__label__tiasang Tái hiện 100 ngày chống dịch đầu tiên      Mỗi công trình nghiên cứu đều ẩn chứa “số phận” riêng của mình, có công trình dù mang giá trị tiên phong nhưng lại ít được cộng đồng khoa học chú ý nhưng cũng có công trình mà ngay ở dạng tiền ấn phẩm đã thu hút và mang giá trị thực tiễn lớn.        Áp dụng các biện pháp cách ly, kiểm tra thân nhiệt ở xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.Nguồn: Báo Người lao động.  The First 100 Days of Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 (SARS-CoV-2) Control in Vietnam” (100 ngày đầu tiên kiểm soát virus họ corona gây bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS-CoV-2) ở Việt Nam), bài báo khoa học của PGS. TS Phạm Quang Thái (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương NIHE) và cộng sự, ứng viên giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022 là công trình được nhiều trích dẫn và mang giá trị thực tiễn. Không chỉ được xuất bản trên Clinical Infectious Diseases – một tạp chí có hệ số ảnh hưởng là 8,886, xếp hạng 9/148 tạp chí ngành miễn dịch học, hạng 2/78 tạp chí về các bệnh truyền nhiễm – nội dung của bài báo còn giúp định hình chính sách ứng phó của Việt Nam với COVID-19 và hơn nữa, giúp chứng minh một cách thuyết phục trước những cái nhìn đầy nghi hoặc ẩn chứa câu hỏi của quốc tế “Vì sao Việt Nam có thể ứng phó thành công ở giai đoạn đầu đại dịch”?  Ứng phó thế nào trong nguy nan?  Ở năm thứ ba của đại dịch tại Việt Nam, khi hơn 200 triệu liều vaccine đã được tiêm và thông điệp 5 K đã trở thành quen thuộc, hẳn nhiều người không muốn nhớ lại những thời khắc âu lo, thậm chí hoảng loạn, giữa những làn sóng lây nhiễm đầu tiên do virus SARS-CoV-2 gây ra. Quả thật vào thời điểm đó, virus và hành vi lây truyền của nó vẫn còn là một ẩn số, ngay cả với nhà chuyên môn, khiến người ta có cảm giác như phải chống lại một kẻ thủ ác vô hình.  Nhìn lại những ngày đầu này, PGS. TS Phạm Quang Thái, người giữ vai trò tổ phó tổ Thông tin phản ứng nhanh của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, cho biết, tuy chỉ chiếm một thời lượng nhỏ trong toàn bộ quá trình chống dịch từ năm 2020 đến nay nhưng thời kỳ 100 ngày đầu của đại dịch ở Việt Nam giữ một vai trò quan trọng: nó giúp trả lời những câu hỏi rất căn bản và có giá trị tới hiện tại, ví dụ như cần ứng xử ra sao để tránh bị lây nhiễm. “Khi đó, qua nhiều kênh thì chúng tôi được biết Trung Quốc đang phải vật lộn với dịch. Nếu Trung Quốc mà còn như vậy thì chả sớm hay muộn, mình cũng rơi vào hoàn cảnh này”, PGS. TS Phạm Quang Thái nhớ lại. “Qua những cuộc họp chuyên môn ở quy mô rất nhỏ, xét những tình huống nguy kịch theo y văn của Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy phải ngay lập tức thi hành các biện pháp phòng chống như với SARS để phòng chống dịch, thậm chí còn làm kỹ hơn cả hồi ứng phó với SARS năm 2003”.  Dù đã thấy nguy cơ dịch xâm nhập toàn cầu nhưng phải đến trung tuần tháng 1/2021, những bằng chứng đầu tiên về bệnh dịch mới xuất hiện ở Việt Nam, sau trường hợp hai bố con người Trung Quốc từ Vũ Hán tới Nha Trang và TP.HCM – trường hợp người lây cho người đầu tiên ở ngoài biên giới Trung Quốc với những triệu chứng điển hình, và trường hợp hai công nhân đi tập huấn ở Vũ Hán trở về xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc – một người bị lây nhiễm nhưng không triệu chứng. Dưới góc độ dịch tễ học, đây là những bằng chứng quý giá để các nhà chuyên môn tập trung tìm hiểu về đặc tính của virus, vốn vẫn được hiểu một cách mù mờ. “Lúc đó chưa ai biết một cách rõ ràng cả”, PGS. TS Phạm Quang Thái lý giải nguyên nhân vì sao, mình và nhóm nghiên cứu quan tâm “nhặt nhạnh”, ghép nối từng chi tiết một từ các trường hợp mắc bệnh. Rất có thể, câu trả lời sẽ được phát lộ từ đó. “Là người của tổ thông tin phản ứng nhanh, chúng tôi may mắn được tiếp cận với rất nhiều thông tin từ hai ổ dịch lớn lúc đó là Sơn Lôi và Bạch Mai”, anh nói. Thông thường, tổ thông tin có trong tay kết quả xét nghiệm vào cuối ngày, khoảng 9 đến 10 giờ đêm, thậm chí 12 giờ đêm. “Ban ngày không có kết quả xét nghiệm, trống thời gian từ 9 giờ sáng đến ba giờ chiều. Lúc đó mình tập trung suy nghĩ nên làm gì tiếp theo để định hướng và dự báo là ngày mai, tuần tới, tháng tới thì khả năng dịch sẽ diễn ra như thế nào. Trong số những việc mình nghĩ nên làm, có một việc là tổng hợp các thông tin, càng nhiều và càng chi tiết càng tốt, rồi phân tích”.      Công trình đã chia sẻ kinh nghiệm chống dịch của Việt Nam ra thế giới. Kết quả về lây truyền không triệu chứng cũng như biện pháp phòng chống dịch ngay lập tức được WHO, CDC Mỹ chú ý và sử dụng để đưa ra khuyến cáo về các biện pháp kiểm soát dịch cho các quốc gia trên thế giới. Nó góp phần trả lời rất nhiều câu hỏi như tốc độ lây lan của dịch như thế nào, phụ thuộc vào các chính sách gì? Ví dụ như chính sách đóng cửa biên giới, chính sách cô lập và cách ly ổ dịch có giá trị gì? Lúc đó nhiều quốc gia chưa thực sự rõ việc áp dụng nó mang lại giá trị gì không. (PGS. TS Phạm Quang Thái).      Trong vòng 100 ngày, kể từ thời điểm ghi nhận ca nhiễm đầu tiên, PGS. TS Phạm Quang Thái và cộng sự đã có đủ số liệu cho công bố. Tình huống của Sơn Lôi và Bạch Mai, đặc biệt là Bạch Mai với việc loang dịch ra rất nhiều tỉnh thành, đã đem lại rất nhiều thông tin hữu ích. Nền tảng cơ bản cho một bài báo đã có. Anh cho rằng, trong giai đoạn đầu tiên ấy, ngay cả thế giới cũng rất cần những bằng chứng và số liệu về đặc điểm lây truyền của virus bởi “ở tâm dịch Trung Quốc lúc đó, thông tin vẫn còn bị hạn chế. Mình cũng cần công bố thông tin của Việt Nam và khi đó, nó cũng góp phần vào hoạt động chung của toàn cầu trong phòng chống dịch”.  Tuy nhiên, để có một bài báo được Clinical Infectious Diseases chấp nhận thì nội dung không chỉ dừng ở mô tả. “Nếu lúc đó mình chỉ hài lòng với những phân tích số liệu ban đầu thì bài báo sẽ rất nông, chất lượng chỉ vừa phải. Qua trao đổi với các chuyên gia trường Đại học Oxford, trong đó có những người rất giỏi về mô hình tính toán như TS. Marc Choisy, ông thầy từng hướng dẫn nghiên cứu sinh mình, ý tưởng viết một bài báo với những luận giải chặt chẽ và mở rộng vấn đề đã hình thành”, anh nói.    PGS. TS Phạm Quang Thái (Viện Vệ sinh dịch tễ TW).   Việc tái hiện một bức tranh khá hoàn chỉnh về việc ứng phó sự lan truyền của bệnh dịch với những tham số dịch tễ học theo không gian và thời gian đã cho thấy hiệu quả của chính sách phản hồi – từ việc cần cách ly tối thiểu 14 ngày, xét nghiệm PCR, truy vết tiếp xúc gần vì có những người không có biểu hiện triệu chứng nhưng vẫn lây nhiễm… đến việc cần đeo khẩu trang, duy trì khoảng cách tiếp xúc… Ở thời điểm “mỗi quốc gia chống dịch theo một kiểu và hiệu quả rất khác nhau”, ngay từ lúc là tiền ấn phẩm thì công trình mô tả tỉ mỉ tác nhân gây bệnh với những phát hiện mới và lý giải thuyết phục về chính sách chống dịch dựa trên bằng chứng như vậy đã nhận được phản hồi tích cực của cộng đồng quốc tế. Sau đó, bài báo đã nhận được 66 lượt trích dẫn1.  Trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng”, ngay cả người trong cuộc không ngờ rằng tác động của bài báo này còn vượt khỏi phạm vi chuyên môn.  Bằng chứng chống dịch thành công  Thông thường, để các nhà khoa học thấy được những ứng dụng từ công trình nghiên cứu của mình, cần rất nhiều thời gian. Tuy nhiên trong trường hợp ngành y và trong đại dịch, ứng dụng đã đến rất sớm, thậm chí ngoài mong đợi. Với câu chuyện 100 ngày đầu chống dịch ở Việt Nam, PGS. TS Phạm Quang Thái cho biết, những đề xuất về đặc điểm dịch tễ, phương thức lây truyền của tác nhân gây bệnh, khung thời gian cách ly…, đã được báo cáo lên Ban chỉ đạo quốc gia và áp dụng ngay trong suốt quá trình chống dịch và đã chứng thực hiệu quả trong việc khống chế các ổ dịch trong thời điểm Việt Nam chưa có vaccine.  Hiệu ứng lan tỏa của công trình, trên thực tế, còn lớn hơn thế. “Công trình đã chia sẻ kinh nghiệm chống dịch của Việt Nam ra thế giới. Kết quả về lây truyền không triệu chứng cũng như biện pháp phòng chống dịch ngay lập tức được WHO, CDC Mỹ chú ý và sử dụng để đưa ra khuyến cáo về các biện pháp kiểm soát dịch cho các quốc gia trên thế giới”, anh nói và lý giải, “nó góp phần trả lời rất nhiều câu hỏi như tốc độ lây lan của dịch như thế nào, phụ thuộc vào các chính sách gì? Ví dụ như chính sách đóng cửa biên giới, chính sách cô lập và cách ly ổ dịch có giá trị gì? Lúc đó nhiều quốc gia chưa thực sự rõ việc áp dụng nó mang lại giá trị gì không”.  Một trong những điểm khiến anh và cộng sự cảm thấy hài lòng là việc phát hiện ra sự nguy hiểm của lây nhiễm không triệu chứng mà ban đầu chưa được giới chuyên môn nhận biết một cách rõ ràng. Như những nấc thang hiểu biết về COVID, ban đầu người ta chủ yếu cho rằng bệnh chỉ lây truyền từ động vật sang người, sau đó nhận định là lây truyền được từ người sang người nhưng tỉ lệ thấp. “WHO còn cho rằng cứ 5 người nhiễm bệnh thì chỉ có 1 người tiếp tục làm lây nhiễm và người không có triệu chứng thì không lây truyền cho người khác”, PGS. TS Phạm Quang Thái nói. Cách hiểu này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phòng dịch: tại sân bay hay biên giới, người ta chỉ áp dụng biện pháp sàng lọc bằng máy quét hồng ngoại, kiểm tra nhiệt độ hoặc dựa vào triệu chứng nên đã bỏ lọt rất nhiều người nhiễm như trường hợp gây ra ổ dịch tại Sơn Lôi, Bạch Mai, Ninh Thuận, Hạ Lôi…, qua đó dẫn tới khả năng lan truyền thứ phát sau khi người nhiễm ra khỏi khu cách ly. “Tỉ lệ cao của các trường hợp phát triển các triệu chứng sau khi được cách ly (73,9%) hoặc không phát triển triệu chứng (43%) đã nhấn mạnh vào một trong những thách thức chính của việc kiểm soát SARS-CoV-2 và thế mạnh trong cách tiếp cận của Việt Nam. Các trường hợp bị nghi ngờ nhiễm đã được nhận diện và cách ly trên nguy cơ lây nhiễm về mặt dịch tễ hơn là dựa vào những biểu hiện triệu chứng. Nếu không thực hiện các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt, truy vết tiếp xúc tỉ mỉ, rất có thể những trường hợp như vậy đã âm thầm lây truyền virus và ảnh hưởng đến các nỗ lực kiểm soát khác”, bài báo phân tích.  Do đó, PGS. TS Phạm Quang Thái cho biết, không phải không có phần tự hào: “Kết quả của nghiên cứu đã góp phần thay đổi thực hành chống dịch, trong đó điều chỉnh các chiến lược về sàng lọc và xét nghiệm trước khi ra khỏi khu cách ly. Với sự chặt chẽ như vậy trong chống dịch, Việt Nam đã giữ được an toàn trong suốt năm đầu tiên của đại dịch”.  Vào thời điểm đó, rất nhiều nghi ngờ giới quan sát quốc tế đặt ra là làm sao Việt Nam, một quốc gia thậm chí còn rất khó khăn trong việc chấp hành luật giao thông và lại giáp biên giới với Trung Quốc – điểm xuất phát của dịch bệnh, lại có thể kiểm soát được dịch?2 Việc xuất bản một bài báo liên quan đến cách thức chống dịch trên một tạp chí khoa học uy tín có bình duyệt là một trong những lời giải thích rõ ràng và thuyết phục nhất. Nhìn nhận lại tình huống này, PGS. TS Phạm Quang Thái cho rằng, “khi có được những kết quả hay thì không có lý do gì mà lại không xuất bản. Nếu không xuất bản thì đó là một thiệt thòi không phải chỉ về mặt chuyên môn đâu mà còn là thiệt thòi bởi thế giới không biết Việt Nam mình chống dịch thành công như thế nào, cán bộ y tế cũng như toàn hệ thống đã phải vất vả ra sao. Đấy là động lực để chúng tôi xuất bản”.    Ảnh VOX chụp vào ngày 10/2/2021 cho thấy ai cũng chấp hành việc đeo khẩu trang.  Dù bài báo này đã thuyết phục được giới chuyên môn nhưng giới truyền thông vẫn còn cảm thấy có những điểm cần làm rõ. Đó là lý do phóng viên các hãng thông tấn, báo chí như BBC, CNN, Washington Post, Reuteur… đã phỏng vấn PGS. TS Phạm Quang Thái cũng như những thành viên khác của nhóm nghiên cứu về cách thức chống dịch của Việt Nam, ngay sau khi bài báo được đưa lên Medrxiv vào tháng 5/2020. “Sự ứng phó có tổ chức khiến những quyết định được áp dụng ở quy mô quốc gia được triển khai một cách nhanh chóng và hiệu quả mà không gây nhiều tranh cãi”, giáo sư Guy Thwaites, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu lâm sàng Oxford tại TP.HCM và một trong số các tác giả nghiên cứu, trả lời Reuteur3 và sau đó là CNN. “Nỗ lực truy vết của Việt Nam rất tỉ mỉ, không chỉ với những người tiếp xúc trực tiếp (F1) mà còn với những người tiếp xúc gián tiếp (F2, F3…). Đó là một trong những cách thức phản hồi độc đáo của họ. Tôi không nghĩ có quốc gia nào lại thực hiện cách ly ở mức độ này”4.  Không chỉ là một trong những tác giả của bài báo, PGS. TS Phạm Quang Thái còn là cán bộ của NIHE, một viện nghiên cứu giữ vai trò chủ chốt trong phòng chống đại dịch ở Việt Nam, nên cũng được báo chí quốc tế đặt câu hỏi về bí quyết chống dịch. “Sử dụng truy vết tiếp xúc, chúng tôi xác định địa điểm của mọi người và yêu cầu họ ở nhà và nếu có biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào, có thể đến các trung tâm y tế để xét nghiệm miễn phí”, anh trả lời CNN. Việc mọi người chấp hành nghiêm túc những quy định phòng chống dịch, theo quan điểm của anh là do “người dân đã hiểu về sự nguy hiểm của bệnh truyền nhiễm hơn nhiều người sống ở các quốc gia hoặc giàu có hơn hoặc không mấy khi phải đối mặt với bệnh truyền nhiễm – châu Âu, Anh hoặc Mỹ. Mặt khác, chính phủ cũng hiểu được những điều cần được áp dụng một cách nghiêm ngặt và hướng dẫn cách ngăn ngừa sự lây truyền của dịch bệnh”4.  Trả dịch tễ về đúng vị trí  Làm ra được một công trình có ý nghĩa thiết thực như thế này là niềm vui vô cùng lớn của người làm nghiên cứu dịch tễ. Nó còn giúp củng cố thêm những điều đã nằm lòng, “nghiên cứu là phải hợp tác và chia sẻ, không ai có thể làm một mình. Sự cởi mở đem đến những giá trị lớn hơn ban đầu bởi dựa trên một đống số liệu ban đầu, nhiều người cùng làm thì kết quả hay hơn nhiều”, PGS. TS Phạm Quang Thái nói.  Dĩ nhiên, việc hợp tác với những đồng nghiệp ở nhiều tổ chức khác nhau, và chuyên ngành khác nhau không phải bao giờ cũng dễ dàng. “Các bạn có thế mạnh là công cụ tính toán có thể đưa rất nhanh những cách thức lý giải vấn đề nhưng liệu nó có đúng về mặt dịch tễ hay sinh học hay không? Vậy là phải giải thích về mặt dịch tễ là khi đó, tải lượng virus thế nào, người mắc ở giai đoạn nào của lây nhiễm, người đó có thể lây cho người khác trong bao nhiêu lâu…”, anh chia sẻ. Công việc của những chuyên gia dịch tễ, trong trường hợp như thế này, là định hướng và trao đổi với từng nhóm nhỏ. “Thậm chí, ông thầy Marc Choisy của mình ngày nào cũng hỏi ‘số liệu này có nghĩa là gì?’, ‘tại sao phân tích thế là không được?’… Mình phải giải thích là làm như thế thì không đúng về mặt sinh học” (Marc Choisy là một nhà toán sinh học quan tâm đến mô hình hóa các động lực lây truyền của bệnh truyền nhiễm).  Với một công trình có nhiều cách tiếp cận, không ai có thể tự làm được từ A đến Z trong một chuỗi công việc thiết kế – thu thập số liệu – phân tích số liệu – phiên giải ý nghĩa – đặt ra khuyến nghị chính sách, PGS. TS Phạm Quang Thái cho biết. “Mỗi người một việc, tất cả cùng chia sẻ. Nói chung phải ngồi với nhau hàng ngày hàng giờ. Đó là một vòng lặp liên tục trong nhiều tháng, cuối cùng mới ra được bài báo”, anh nói.  Trong hai năm 2020 và 2021, ngoài công trình này, anh và cộng sự còn có nhiều bài báo khác phản ánh những phát hiện khác nhau của từng giai đoạn chống dịch và những khía cạnh khác nhau của dịch bệnh. “Có lẽ, nếu nhìn vào đại dịch thì một trong những điều quan trọng có thể rút ra là vai trò quan trọng của những hiểu biết về dịch tễ. Lúc khởi đầu đại dịch, chúng ta chỉ có những hiểu biết về dịch tễ với việc áp dụng khẩu trang và chính sách cách ly, truy vết…, và khi có vaccine rồi thì vẫn cần giám sát dịch tễ với thông điệp 5K”, anh đề cập đến vai trò của lĩnh vực mình theo đuổi đã nhiều năm.  Có phải đại dịch khiến người ta mới thấy được giá trị của lĩnh vực này? “Ồ làm dịch tễ không chỉ với mỗi bệnh truyền nhiễm đâu mà các bệnh khác cũng phải cần vì mọi phương pháp dịch tễ vẫn được áp dụng vào để tìm ra tác nhân gây bệnh. Dịch tễ liên quan đến nhiều ngành khác nhau vì tìm hiểu về virus vi khuẩn, hay làm điều trị, thử nghiệm vaccine cũng phải hiểu dịch tễ. Nếu có tư duy dịch tễ thì có thể phát hiện vấn đề nhanh hơn”, anh nói.  Dường như chia sẻ về chuyên ngành mình gắn bó là niềm vui của bất kỳ nhà nghiên cứu nào nhưng với những người làm dịch tễ như PGS.TS Phạm Quang Thái còn mang một ý nghĩa khác. “Y học dự phòng được xác định quan trọng đã lâu nhưng sự quan tâm thiếu hợp lý trong nhiều năm cũng khiến nhiều thứ nó cứ bị chệch choạc đi. Do đó, tôi hy vọng trong những năm tới, y học dự phòng sẽ không bị bỏ quên nữa”.  Nếu có nhiều kinh phí đầu tư thì số người làm dịch tễ sẽ tăng lên ư? “Tôi không chắc lắm nhưng kỳ thực là làm dịch tễ thì không được nhiều kinh phí như các lĩnh vực khác nên chắc chắn một điều là không có đam mê thì không làm được”, anh trả lời như một xác quyết về con đường mình đã chọn. □  ——————-  1. https://academic.oup.com/cid/article/72/9/e334/5879764  2. https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Vi-sao-Viet-Nam-chong-dich-Covid19-thanh-cong-26751  3. After aggressive mass testing, Vietnam says it contains coronavirus outbreak | Reuters  4. https://edition.cnn.com/2020/05/29/asia/coronavirus-vietnam-intl-hnk/index.html    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Những trận hạn hán ảnh hưởng gì đến thủy điện trên dòng Mekong?      Những phát hiện mới về những trận hạn hán lớn trên dòng Mekong có thể giúp giảm được vết carbon của các đập thủy điện trong khi đem lại những cái nhìn mới vào việc thiết kế các đập thủy điện hiệu quả hơn và bền vững hơn.      Đó là kết quả rút ra từ nghiên cứu “The Greater Mekong’s Climate-Water-Energy Nexus: How ENSO-Triggered Regional Droughts Affect Power Supply and CO2 Emissions” (Mối liên hệ Khí hậu – nước – năng lượng trên sông Mekong: Các đợt hạn hán vùng do ENSO kích hoạt ảnh hưởng đến việc cung cấp năng lượng và phát thải CO2 như thế nào) được xuất bản mới đây trên tạp chí Earth’s Future, do TS. Nguyễn Tân Thái Hưng, TS. Đặng Đức Thành và cộng sự ở Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore thực hiện. Năm 2021, họ đã từng có một số công bố liên quan đến chủ đề hạn hán, trong đó có nghiên cứu về lưu lượng nước trên các con sông lớn tại 16 quốc gia châu Á trong quãng thời gian từ năm 1200 đến năm 2012.  Trong nghiên cứu mới, họ tập trung vào vùng đồng bằng sông Mekong, một khu vực xuyên quốc gia tập trung nhiều đập thủy điện và được xem là trục chính trong phát triển kinh tế của cả vùng. Việc có nhiều đập thủy điện vận hành trên sông đã dẫn đến những lo ngại về môi trường sinh thái và tác động xã hội. Các nhà nghiên cứu cho rằng, để giải quyết được những lo ngại này, cần có thêm những hiểu biết mới bởi chúng đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á và giảm thiểu tác động đến sinh kế của các cộng đồng sống ven sông.  Trong quá trình đi tìm những hiểu biết mới, các nhà khoa học phát hiện ra, chưa có nghiên cứu nào tập trung vào hiệu suất thực tế của các đập thủy điện này: chúng có phù hợp với đặc điểm khí hậu thủy văn của Đông Nam Á không? Khi nào lưu lượng nước biến đổi? Nó có chỉ dấu gì cho chi phí sản xuất điện và phát thải CO2? Đó là lý do TS. Nguyễn Tân Thái Hưng, TS. Đặng Đức Thành và cộng sự tập trung vào mạng lưới điện ở hai quốc gia là Lào và Thái Lan – cơ sở hạ tầng thương mại điện quốc tế đầu tiên được phát triển trong vùng.  Các đập thủy điện ở Thái Lan có tổng công suất lắp đặt là 42.531 MW trong khi công suất lắp đặt của các đập thủy điện ở Lào là 6.688 MW. Hằng năm, Thái Lan nhập khẩu 5.362 MW từ Lào. Một cách tự nhiên, việc làm ra điện phụ thuộc vào lưu lượng nước trên sông Mekong bởi tất cả các đập thủy điện ở Lào và 5/14 đập của Thái Lan đều được đặt trên dòng sông này. Ngoài ra, nhà máy nhiệt điện than Hongsa Lignite ở Xaignabouri, Lào cũng nhận nước từ sông Mekong để làm mát. Trên cơ sở nhu cầu điện năm 2016, các nhà nghiên cứu ước tính các đợt hạn hán kéo dài làm giảm thiểu sản lượng điện cung cấp cho mạng lưới điện Lào – Thái khoảng 4.000 GWh/năm, tăng thêm phát thải carbon dioxide 2,5 triệu tấn và tăng chi phí 120 triệu USD trong vòng một năm. Tuy nhiên trên thực tế thì hạn hán dường như không làm giảm lượng điện. Do đó, họ cho rằng trong suốt các đợt hạn hán, lượng điện bị hụt có thể được bù đắp bằng nhiên liệu hóa thạch (khí và than). Do đó, những thay đổi hàng năm về nguồn nước ảnh hưởng đến lời hứa cung cấp năng lượng sạch của các đập thủy điện.     Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra các sự kiện El Nino làm giảm lượng gió mậu dịch, bề mặt Thái Bình Dương ấm hơn thường lệ và độ ẩm ở Đông Nam Á cũng suy giảm. Đây là nguyên nhân dẫn đến các đợt hạn hán, làm giảm lưu lượng nước trên Mekong và ảnh hưởng đến các đập thủy điện.  Vậy chúng ta có thể làm gì để việc cung cấp điện trở nên bền vững hơn? “Câu trả lời nằm trong các mô hình tính toán”, phó giáo sư Stefano Galelli, tác giả chính của công bố, cho biết trên trang web của trường. “Nghiên cứu của chúng tôi đã xây dựng các mô hình nước – năng lượng thế hệ mới có độ phân giải cao để giải thích mỗi đập thủy điện tương tác với các điều kiện ngoại cảnh như hạn hán hoặc nhu cầu điện gia tăng. Chúng tôi có thể sử dụng những mô hình này để điều phối sự vận hành nước – năng lượng khắp các quốc gia sông Mekong hoặc để chuẩn bị cho các đập thủy điện khả năng ứng phó bất ngờ trước mỗi cơn hạn hán lớn”.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Vùng đông bắc Việt Nam: Chưa đánh giá hết giá trị sinh thái của vùng đất ngập nước      Mặc dù có nhiều giá trị đóng góp gián tiếp nhưng giá trị sinh thái của vùng đất ngập nước ở Hải Phòng, Quảng Ninh vẫn chưa được đánh giá hết và cần có một chính sách quản lý và khai thác hợp lý, theo gợi ý của các nhà khoa học.    Chính sách trồng rừng của Quảng Ninh đã giúp khôi phục diện tích rừng ngập mặn. Nguồn: Báo Môi trường.  Đó là một trong những kết quả đáng chú ý trong công bố “Economic valuation of wetland ecosystem services in northeastern part of Vietnam” (Giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái vùng đất ngập nước ở vùng Đông Bắc Việt Nam) của nhóm các nhà nghiên cứu Đại học KHTN (ĐHQGHN), Viện Địa lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), ĐH Công nghệ Sydney mới được xuất bản trên tạp chí Knowledge and Management of Aquatic Ecosystems.  Theo ước tính vào năm 2019, trên phạm vi toàn cầu, giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái vùng đất ngập nước (WES) vào khoảng 47 nghìn tỉ USD hằng năm. Hơn cả giá trị kinh tế, các dịch vụ hệ sinh thái còn có vai trò đem lại cải thiện chính sách với khu vực duyên hải, quản lý và giám sát với những nguồn lực định hướng các thay đổi sinh thái trong vùng đất ngập nước. Do đó, nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thử tìm hiểu WES ở vùng Đông Bắc Việt Nam, bao gồm 7 vùng nghiên cứu: vùng Móng Cái – Đầm Hà, cửa sông Tiên Yên, huyện đảo Vân Đồn, vịnh Cửa Lục, Cẩm Phả, Quảng Yên và Văn Úc. Vì vai trò của các hệ sinh thái ngập nước với môi trường tự nhiên và đời sống kinh tế xã hội rất đa dạng nên thay vì sử dụng cách tiếp cận kinh tế thuần túy, họ sử dụng cách tiếp cận dịch vụ hệ sinh thái và phân tích những tương quan theo không gian và thời gian mà các dịch vụ do vùng đất ngập nước có thể mang lại. Qua đó, họ muốn giải đáp là việc ước tính giá trị mà các hệ sinh thái đất ngập nước mang lại cho con người ở vùng Đông Bắc có khả thi không? Giá trị chúng là gì? Các giá trị đó đã thay đổi như thế nào trong 20 năm qua và trong tương lai có thể thay đổi như thế nào?  Nhóm nghiên cứu đánh giá giá trị dịch vụ sinh thái theo hướng trực tiếp và gián tiếp, trong đó trực tiếp là 1) cá biển, 2) nuôi trồng hải sản, 3) nuôi chim biển, 4) lúa gạo, 5) nuôi ong, 6) du lịch và giải trí; gián tiếp là 1) bảo vệ khỏi thảm họa thiên nhiên, 2) lưu trữ carbon, 3) giá trị tối ưu (đo đạc mức sẵn sàng chi trả cho bảo tồn, phục hồi, phát triển nguồn lực tự nhiên), 4) giá trị phi sử dụng, 5) tổng dịch vụ sinh thái.  Tổng giá trị WES của vùng đạt 392 triệu USD/năm, trong đó cao nhất là Quảng Yên 1880 USD/ha/năm, Cẩm Phả và Cửa Lục 1.440 USD/ha/năm. Thu nhập của người dân Quảng Yên và Cẩm Phả chủ yếu từ đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, du lịch nên mang giá trị WES cao nhất. 70% người dân được phỏng vấn cho biết, tuy hiệu quả kinh tế thấp của lúa thấp nhưng vẫn cần duy trì canh tác, song song với chuyển đổi cấu trúc mùa vụ, chuyển sang trồng cây ăn quả, rau củ hữu cơ. Đáng chú ý, nghề mới nuôi ong trong rừng ngập mặn đem lại thu nhập cao từ 5.000 đến 7.000 USD/năm.  Mặt khác, người dân đều nhận thức được lợi ích và giá trị của những vùng đất ngập nước đối với sinh kế, đồng thời nhận thức được việc khai thác quá mức cũng dẫn đến ô nhiễm. 65% người dân cũng biết vai trò của vùng đất ngập nước với các hiện tượng khí hậu cực đoan như ngập lụt, xói lở đất. Do hệ thống cửa sông ngắn và dốc ở Quảng Ninh, tốc độ dòng chảy cao, dẫn đến xói lở, làm gia tăng lượng bùn và đá, đặc biệt trong suốt thời kỳ lũ lớn.  Trên cơ sở bản đồ sử dụng đất từ năm 2000 đến 2019 và giá trị trung bình mỗi năm từ hệ sinh thái ngập nước, trong 20 năm, giá trị ESV thu được từ các diện tích đất nông nghiệp gia tăng từ 25 triệu USD năm lên hơn 40 triệu USD nhưng các hệ sinh thái nông nghệp suy giảm từ 73 triệu USD xuống 59 triệu USD; vùng rừng ngập mặn ở bãi triều được giữ vững do được tái phục hồi với 19 triệu USD; giá trị từ các thềm biển, bãi cuội sỏi, cát giảm gấp đôi trong khi diện tích nuôi trồng hải sản được mở rộng… Do đó về tổng thể, giá trị ESV của toàn vùng có thể bị suy giảm từ 390 triệu USD xuống 380 triệu USD.  Các nhà nghiên cứu cho rằng, để tránh suy giảm ESV trong tương lai, cần có cải thiện các chỉ số giá trị gián tiếp để đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế của vùng, đặc biệt là hệ sinh thái ở các bãi triều, thềm biển, cửa sông, rừng ngập mặn, hướng đến sự cân bằng giữa bảo tồn môi trường và phát triển kinh tế.    Author                T. Nhàn        
__label__tiasang Herta Müller và những linh hồn rỗng      “… cô hỏi: Khi nào thì chiến tranh kết thúc. Tôi nói: Chiến tranh đã kết thúc được hai năm nay”. [Atemschaukel – Herta Müller]  Chiến tranh đã kết thúc được hai năm nay nhưng sau đó nhân vật tôi – Leo Auberg – lại giục cô gái đang ngồi ăn kiến trở về một cái trại. Chiến tranh có thể đã kết thúc nhưng những cái trại thì không. Cái đói cũng không. Sự phi nhân lại càng không.      Atemschaukel (Tựa đề bản dịch của PhanBook và NXB Hội Nhà Văn: Nhịp thở chao nghiêng) được Herta Müller cho phát hành năm 2009, cùng năm bà nhận giải Nobel và lên đọc diễn từ về một chiếc khăn mùi xoa. Đúng hơn là câu hỏi về một chiếc khăn mùi xoa mà mẹ bà sẽ thường hỏi mỗi khi thấy bà ra khỏi nhà: “Con có mang theo khăn mùi xoa chưa?” Câu hỏi ấy với bà là một dạng thức của tình yêu. Rồi bà nhớ đến câu chuyện của nhà thơ Oskar Pastior, nhân vật nguyên mẫu của Leo Auberg trong Atemschaukel, một thanh niên Đức sống ở Rumania bị đưa vào trại lao động cải tạo Gulag ở Liên Xô sau Thế chiến II như một sự trả lại cái tàn ác bằng chính sự tàn ác, người mà trong cuốn sách này cũng được một người đàn bà Nga bố thí cho một chiếc khăn mùi xoa, với hy vọng anh có thể trở về nhà và đứa con trai trạc tuổi anh của bà cũng có thể trở về nhà. Một món đồ thật tầm thường nếu như anh đang ở nhà, nhưng vì lúc này, “nhà” là một nơi xa ngái, nên bỗng chốc, vẻ đẹp của nó khiến anh đau đớn. Anh dùng nó để xì mũi, để quàng khăn, để chấm những giọt nước mắt mà anh tự phỉnh phờ mình rằng đó là nước mắt lạnh.    Khi Herta Müller được xướng tên cho giải Nobel năm đó, giới phê bình văn chương Mỹ hỏi: Herta là ai? Chưa từng nghe tới. Hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng. Không có cuốn sách nào của bà trong hiệu sách. Thêm một nhà văn vô danh đoạt giải. 18 thành viên ban giám khảo Nobel là người ngoài hành tinh mới đọc một tác giả như thế. Tiếc là họ không trao cho John Updike… Tất cả những lời khiếm nhã ấy không nói lên gì nhiều về Herta Müller, ngược lại, nó nói nhiều hơn về những người phủ định bà. Hãy để tôi mượn một mẫu câu thật hay mà bà đã sử dụng trong Atemschaukel rằng “Nhớ nhà. Cứ như thể là tôi cần nó”, thực sự thì “Nobel. Cứ như thể Herta cần tới nó”. Đúng ra, chúng ta – con người của thiên niên kỷ thứ ba – cần văn chương của Herta Müller hơn bà cần chúng ta. Rất ít nhà văn xứng đáng với câu này, nhưng Herta Müller xứng đáng, rằng được có mặt trên đời để thưởng thức văn chương của bà là may mắn và cũng là bất hạnh của chúng ta.    Chúng ta – con người của thiên niên kỷ thứ ba – cần văn chương của Herta Müller hơn bà cần chúng ta. Được có mặt trên đời để thưởng thức văn chương của bà là may mắn và cũng là bất hạnh của chúng ta.    Chúng ta cần văn chương của bà để ghi nhớ, rằng lịch sử không chỉ tồi tệ hơn, mà tồi tệ hơn một triệu lần so với những gì ta nghĩ mình đã biết, rằng một con người có thể sa sút đến mức nào và bị triệt tiêu đến mức nào thì không còn là một con người nữa. Nhưng cũng vì lý do đó mà chúng ta không muốn phải cầu viện tới văn chương của bà, chúng ta đã ngủ quên trong giấc mộng đẹp của hòa bình rồi còn đâu, xin đừng ai lay nhắc về những tiền kiếp khốn cùng xa xưa ấy.    Atemschaukel gồm rất nhiều chương nhỏ, mỗi chương kể về một thứ, hoặc một điều, hoặc một người cụ thể trong thế giới Gulag. Thường là những thứ nhỏ tới li ti, như xi măng, than đá, hay mẩu bánh mì, hay một mái tóc, hoặc một cô gái tâm thần ăn kiến và nhện, một người bị rơi vào hố vữa và mãi mãi không còn ngoi lên được nữa. Không có một chương nào về một chủ nghĩa hay lý tưởng chính trị, không một dòng phân trần rằng mình không thuộc về phe phát xít, mình không phải gián điệp, ngay cả một lời tỏ ra căm giận sự toàn trị cũng không. Tất cả những kẻ ở đây như những kẻ phạm nhân trong Trại Lao Cải của Franz Kafka, không biết bản án là gì, mà tại sao phải biết, có biết cũng chỉ là một kiểu thủ tục mà thôi, điều quan trọng hơn cả là đòn hành hình thì da thịt sẽ tự biết mà không cần ai phải nói. Không ai đủ sức để nhìn thứ gì lớn lao hơn. Lớn lao nhất chắc là “thần đói”, bấy nhiêu rồi cũng quay về những ảo tưởng về “thần đói”, vị thần bảo trợ, thiên thần hộ mệnh của kẻ nào đang sống (tựa đề bản dịch tiếng Anh cuốn sách này là “hunger angel – thiên thần đói), còn “thần đói” lảng vảng là còn đang thở.    Thế giới Gulag ảm đạm và sơ sài tới mức người ta có thể lên một danh sách tách bạch những gì hiện hữu để mà nhớ lại. Chỉ có bằng ấy thứ quanh ta và ta còn biết làm gì ngoài hão huyền và nhân tính hóa về chúng để duy trì chính sự tỉnh táo đang trên bờ vực chấp chới của mình? Con người phát triển một mối quan hệ với từng thứ vật chất như rau tân lê, một chiếc xẻng tim, một bể hóa chất, nhưng con người đã suy thoái đến mức từ chủ ngữ bị giáng thành tân ngữ trong câu.      Đọc Herta Müller như bước vào một lễ bốc mộ ngôn từ, những xác từ đã đổi thay về nghĩa, chỉ còn bộ xương ngôn từ trắng hếu phô ra nhưng thịt của ngôn từ thì đã phân hủy.      Một số văn sĩ mở rộng ngôn từ theo trục hoành, như Shakespeare, bằng cách sáng tác ra từ ngữ mới và đào ngữ vựng theo chiều ngang, số đó tuy ít nhưng vẫn là nhiều so với những người như Herta Müller, những người mở rộng ngôn từ theo trục tung, không cần dùng từ mới nhưng lại thay đổi kết cấu cơ bản của nó, thay đổi những nguyên tử cấu thành bên trong nó, để xi măng không còn là xi măng nữa, và giấc mơ cũng không còn là giấc mơ mà trở thành một đòn trả đũa, ngay cả con người cũng chẳng còn nguyên vẹn là con người, con người trở thành xi măng, xi măng trở thành kẻ trộm, kẻ trộm lại thành…, cứ thế. Đọc Herta Müller như bước vào một lễ bốc mộ ngôn từ, những xác từ đã đổi thay về nghĩa, chỉ còn bộ xương ngôn từ trắng hếu phô ra nhưng thịt của ngôn từ thì đã phân hủy.        Müller đã tìm được một đường hầm ngầm nào đó bên dưới những con chữ, bà có hàng tá những câu văn có khả năng “dịch chuyển tức thời” từ điều này sang điều kia, chẳng hạn một câu ở gần cuối tác phẩm, khi lúc này nhân vật chính đã được trở về nhà:    “Bảy năm kể từ khi trở về quê hương là bảy năm tôi không có chí. Nhưng mỗi khi nhìn thấy súp lơ trắng trên đĩa, từ 60 năm nay tôi lại ăn chí của chỏm áo len trong ánh bình minh đầu tiên. Cả kem tươi cho đến bây giờ vẫn không phải là kem tươi”.    Chỉ từ cùng một “chất liệu” là màu trắng, nhưng con chí gặm nhấm da đầu thời Gulag đã trở thành kem tươi, thành áo len, những thứ tuyệt nhiên không thể có trong thế giới hậu Gulag – chỉ một đường hầm ngôn từ ấy mà nhà văn đã đủ sức làm Gulag bành trướng trong tâm tưởng, một Gulag không bao giờ thực sự chấm dứt mà cơi nới mãi ra, phình lên như một vũ trụ ngày càng nở rộng và không có gì khác bên ngoài đó, hỏi có cái gì bên ngoài nó là vô nghĩa.    Hay những câu khác: “Đến tận giờ tôi cũng không hiểu vì sao tôi lại đổ xúp rau vào lọ nước hoa. Điều này liệu có liên quan tới câu nói của bà: Bà biết, cháu sẽ quay trở về. […] Hay là bất chấp thần đói, trong đầu tôi vẫn hình dung người ta thường mang theo quà lưu niệm sau mỗi chuyến đi xa”;    và “50 trang Zarathustra làm giấy quấn thuốc đổi được một đơn vị muối, 70 trang thậm chí được 1 đơn vị đường. Tôi đổi cuốn Faust bìa vải cho Peter Schiel lấy lược thiếc chải chí cho riêng mình. Tôi ăn tuyển tập thơ ca 8 thế kỷ dưới dạng bột ngô và mỡ lợn, còn cuốn Weinheber mỏng thì hóa thành hạt kê”.    Than ôi! Nước hoa – súp rau; Zarathustra – muối và đường; Faust – lược chải chí; thơ ca – bột ngô và mỡ lợn – những phép biến hình ấy không theo một quy tắc biến hình logic nào, tất cả đã bị vò nát đến lõng bõng rồi được nhét vào một lò mổ, nơi sát sinh mọi ý nghĩa và triết học và những điều lãng mạn và những thứ mà tâm hồn ta sống vì. Nào là Zarathustra, nào là Faust, nếu như những con người ấy có tồn tại trên đời và bị đẩy vào một trại Gulag, họ liệu còn có thể nói được những lời minh triết cao ngạo rằng kẻ nào leo tới đỉnh núi cao nhất sẽ cười trước mọi bi kịch đau thương dù có thật hay tưởng tượng, liệu họ có còn đủ sức mà giao kèo cùng quỷ dữ, hay chính họ cũng chỉ còn là sở hữu của thần đói, bị nhốt bên trong mình mà vẫn không thấy mình thuộc về mình, hay có lẽ họ cũng chỉ đi ăn xin, cũng ốm xi măng, cũng lấy đi mẩu bánh mì cuối cùng của một người vừa chết và nhận ra mình chỉ là con bọ tầng hầm.    Không ai viết về cái đói giống như Herta Müller, tàn bạo mà không ủy mị, khốc liệt mà không giật gân hay mua nước mắt. Trước Müller, nhà văn Thụy Điển Knut Hamsen, cũng là chủ nhân giải thưởng Nobel Văn chương, từng có một tiểu thuyết nổi tiếng mang tên Đói mà trong đó ông kể về một tay nhà báo nghèo chống cự với cơn đói trong khi cố gắng kiếm sống bằng một bài báo mà y mãi không sao nặn ra nổi một chữ. Cái đói của Hamsen cũng dẫn tới trùng trùng ảo giác, nhưng cái đói của Müller đã trở thành một bản thể vươn lên từ ký sinh trùng thành thần thánh, và Chúa có thể bị giết nhưng thần đói thì không bao giờ chết. Cái đói toan tính và lừa mị, người ta sợ cái đói không phải vì sợ nó mà vì sợ sẽ mơ về một điều gì khác tốt đẹp hơn cái đói. Người ta sợ cả hy vọng và những giấc mơ. Con người đã bị hút sạch sẽ khỏi chính cuộc đời mình theo cách ấy. Họ đều là những linh hồn rỗng.    Rỗng ngay từ đầu, nhân vật tôi đã không ở đó ngay từ đầu, như trong câu mở của Atemschaukel:    “Tôi đem theo tất cả những gì tôi có.  Hoặc là: tôi đem theo tất cả những gì là của tôi.  Tôi đem theo tất cả những gì tôi có. Nhưng chúng không phải là của tôi”.    Chỉ để nói một ý thật đơn giản nhưng Müller đã mất những bốn câu để cố gắng diễn giải mối quan hệ giữa “tôi” và “những gì của tôi”, và rồi sau đó là một đoạn liệt kê những món đồ mà mọi người dúi vào tay nhân vật chính khi biết anh sẽ phải tới chỗ người Nga, họ cho anh tất vì đã biết cũng chẳng cứu vãn được gì. Bốn câu chỉ để người ta biết anh không có gì theo mọi nhẽ, anh là một thế thân, mọi thứ của anh đều được nhồi nhét từ bên ngoài nhưng anh về bản chất đã trống hoác.    Để rồi cho tới tận những dòng cuối cùng, khi anh đã đi qua một hành trình chết đi sống lại để về nhà, anh vẫn không hơn gì một cái quan tài rỗng, chẳng đựng cái xác nào ở trong nó. Một người hùng trong tiểu thuyết truyền thống luôn rời khỏi “vương quốc” để bước vào hành trình khám phá một “kho báu” nào đó. Vậy mà Leo Auberg cũng lên đường, cũng trở về, song kho báu anh thu hái được chỉ là anh “đã từng ở đó”. Trước và sau Gulag, không có anh. Anh làm sao xây đắp được những ký ức mới trong khi những ký ức không chịu ngủ yên – những ký ức cũ như một bao xi măng ướt không bao giờ khô lại, không cho ta đắp gạch lên để che giấu nó.    Hình ảnh cuối cùng của Nhịp thở chao nghiêng, Leo Auberg nhảy với cái ấm pha trà, với lọ đường, với hộp bánh quy, với gạt tàn thuốc lá, với chìa khóa nhà, với điện thoại, với cả một hạt nho khô mà anh sẽ nuốt nó vào miệng và thấy một điều gì đó “xa xôi”. Một hình ảnh nên thơ khủng khiếp mà cũng đáng sợ tột cùng, nên thơ vì con người có thể nhìn ra điệu luân vũ bên trong những đồ vật tầm thường nhất, nhưng đáng sợ vì trước đó, anh đã định nói chuyện với một người đàn ông song anh lại thôi, anh muốn nói chuyện với một con chó song anh lại thôi, anh chỉ có thể giam linh hồn mình trong một căn phòng với đồ đạc vô tri, chẳng khác gì một người tự đào hố chôn mình, song nếu không tự chôn mình thì anh cũng đâu còn biết làm gì với mình thêm nữa.□      Author                Hiền Trang        
__label__tiasang Cơ chế kích hoạt phản ứng tự lành của vật liệu polymer      Được thực hiện hoàn toàn ở trong nước, bài báo của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu (ĐH Bách khoa, ĐHQG TP.HCM) và cộng sự xứng đáng là nghiên cứu tiên phong về vật liệu polyurethane (PU) sở hữu đồng thời cả cơ tính ưu việt lẫn tính năng tự chữa lành (self-healing) ấn tượng khi được hơ nóng ở nhiệt độ vừa phải (khoảng 65°C).      Việc bài báo “Tailoring the Hard–Soft Interface with Dynamic Diels–Alder Linkages in Polyurethanes: Toward Superior Mechanical Properties and Healability at Mild Temperature” (Thiết kế giao diện vùng cứng – vùng mềm với những liên kết động lực Diels–Alder: hướng đến các cơ tính và tự lành chất lượng cao ở nhiệt độ trung bình) xuất bản trên tạp chí chuyên ngành Chemistry of Materials Chemistry of Materials của Hiệp hội Hóa học Hoa Kỳ (ACS), tập san uy tín trong lĩnh vực Kỹ thuật hóa học và Khoa học vật liệu (top 10 theo thống kê của Scopus) đã phần nào nói lên nội hàm khoa học và tầm ảnh hưởng của nó.  Đi theo xu hướng vật liệu tự lành  Để hình dung ra nỗ lực của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu, chúng ta hãy nhìn tổng thể xu hướng nghiên cứu về vật liệu tự lành trên thế giới.  Từ vài thập kỷ trở lại đây, xu hướng nghiên cứu về các lớp vật liệu tự lành như ceramic (gốm), concrete (bê tông), polymer tự lành luôn là một chủ đề rất nóng trong lĩnh vực khoa học vật liệu. Chỉ tính riêng vật liệu tự lành polymer (và composite của chúng) thì mỗi năm đã có vài trăm bài báo mới được công bố. Tính năng tự chữa lành là gì? Đây là khả năng vật liệu nhờ một số cơ chế đặc biệt mà có thể tự phục hồi các tổn thương (vết xước, vết cắt…) trở về trạng thái gần như nguyên vẹn ban đầu (Nature 2001, 409, 794-797). Khả năng này có được nhờ việc pha thêm các thành tố ngoại lai giúp chữa lành (thuật ngữ chuyên dụng là “healing agent”), hoặc dựa trên các tương tác động giữa các thành phần nội tại trong vật liệu.  Nếu trước đây, vật liệu polymer tự lành nhờ cấy thêm các vật liệu ngoại lai (extrinsic self-healing) được quan tâm phát triển thì trong khoảng thời gian gần đây, vật liệu polymer tự lành nội tại (intrinsic self-healing) lại được chú ý nhiều hơn. Dù tự lành bằng nội tại hay ngoại lai, vật liệu polymer tự lành đều có nhiều ứng dụng như nguyên liệu chế tạo thiết bị cảm biến, linh kiện điện tử, lớp bảo vệ bề mặt, cấy ghép y học… Với khả năng ứng dụng phong phú, cộng thêm lợi ích kinh tế (giảm thiểu chi phí sửa chữa, bảo trì) mà chúng mang lại, vật liệu polymer tự lành là lĩnh vực thu hút khá đông các cơ sở nghiên cứu và cả các công ty công nghệ, đặc biệt ở Hoa Kỳ.    Nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Lệ Thu đã “thiết kế” vật liệu polyurethane chứa các thực thể động DA nằm ngay trên giao diện giữa các vùng cứng và vùng mềm. Đây chính là điểm độc đáo nhất của nghiên cứu bởi thiết kế thông minh này giúp cho quá trình tái hợp DA có thể diễn ra ngay ở nhiệt độ hơi nóng nhẹ chứ không cần phải nung lên nhiệt độ quá cao.    Hứa hẹn nhiều ứng dụng là vậy nhưng polymer tự lành lại là một vật liệu “khó chiều”. Trong quá trình tổng hợp vật liệu, những người làm nghiên cứu phải chuẩn bị vật liệu vô cùng chính xác và tỉ mỉ, nhiều khi chỉ lệch một vài mili gram trong quá trình chuẩn bị thì kết quả đã khác. Bên cạnh đó, người ta không thể nghiên cứu về vật liệu này mà lại thiếu đi các thiết bị chế tạo/phân tích thiết yếu, chẳng hạn như máy phân tích nhiệt quét vi sai (differential scanning calorimetry DSC) để xác định sự chuyển pha của vật liệu polymer theo nhiệt độ, hoặc kính hiển vi điện tử quét (scanning electron microscope SEM) để quan sát các vết nứt cực nhỏ ở thang đo vài micromet, v.v. Đây đều là các thiết bị đắt tiền mà không phải phòng thí nghiệm nào (kể cả ở nước ngoài) cũng được trang bị đầy đủ. Và khó khăn cuối cùng là việc phải làm nổi bật được tính mới, tính độc đáo của vật liệu mình đang chế tạo so với vật liệu của các nhóm khác.  Chúng ta nên nhớ, là một xu hướng nóng nên mỗi năm, có hàng trăm bài báo về vật liệu tự lành polymer được công bố, chỉ tính riêng vật liệu polyurethane thôi thì cũng đã có mấy chục công trình. Do vậy, nếu vật liệu chúng ta nghiên cứu không có điểm gì đặc biệt thì chúng ta sẽ rất ít cơ sở để thuyết phục được ban biên tập của các tạp chí chấp nhận công trình cho bình duyệt.      Điểm độc đáo của công trình  Trong công trình này, PGS.TS Nguyễn Thị Lệ Thu và cộng sự đã đi sâu vào nghiên cứu polymer tự lành nội tại, loại vật liệu phát triển sau nhưng đang được ưa chuộng hơn vì tính ổn định và tác dụng lâu dài của nó. Để phát triển vật liệu polyurethane tự lành, người ta thường tập trung vào phản ứng Diels-Alder (DA) thuận nghịch giữa furan và maleimide. Nhìn tổng quan, cấu trúc phân tử của polyurethane gồm hai vùng là vùng cứng (hard domain) và vùng mềm (soft domain). Tuy nhiên cho đến nay, ở những vật liệu này, các liên kết DA thường nằm ở vùng cứng trong khi muốn kích hoạt phản ứng tự lành, ta phải nung nóng vật liệu (khoảng 110-180oC) để phân tách các liên kết DA rồi cho chúng tái hợp lại. Việc triển khai theo cách này có một thách thức là có thể ảnh hưởng xấu đến tính toàn vẹn của vật liệu.  Nhằm loại trừ điều đó, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Lệ Thu đã “thiết kế” vật liệu polyurethane chứa các thực thể động DA nằm ngay trên giao diện giữa các vùng cứng và vùng mềm. Đây chính là điểm độc đáo nhất của nghiên cứu bởi thiết kế thông minh này giúp cho quá trình tái hợp DA có thể diễn ra ngay ở nhiệt độ hơi nóng nhẹ chứ không cần phải nung lên nhiệt độ quá cao.  Thông thường, để kích hoạt phản ứng DA cho quá trình tự lành, ta phải nâng nhiệt độ để tăng độ linh động. Việc này lại dẫn đến sự polymer hóa và oxy hóa không mong muốn của các nhóm chức, kết quả là làm suy yếu kết cấu của vật liệu. Vật liệu của nhóm nghiên cứu lại có các liên kết DA nằm ngay giữa hai vùng, do đó chỉ cần nâng nhiệt độ một chút (khoảng trên 60o) là phản ứng tự lành đã được kích hoạt. Ý tưởng này nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng để thực hiện cần phải có kiến thức sâu và kỹ thuật tốt để làm chủ hoàn toàn quá trình tổng hợp polyurethane có giao diện đặc biệt này.                 “Là một người có nhiều năm nghiên cứu trong các lĩnh vực đo đạc cơ tính và vật liệu tự lành, cá nhân tôi đánh giá rất cao ý nghĩa khoa học và tiềm năng phát triển của nghiên cứu này” TS. Lê Thanh Sơn    Cơ chế này cũng góp phần giúp vật liệu PU có cơ tính tốt hơn. Thêm vào đó, tính năng tự lành và cơ tính của vật liệu có thể được tinh chỉnh bằng cách thay đổi hàm lượng liên kết DA. Là một người có nhiều năm nghiên cứu trong các lĩnh vực đo đạc cơ tính và vật liệu tự lành, cá nhân tôi đánh giá rất cao ý nghĩa khoa học và tiềm năng phát triển của nghiên cứu này.  Một ưu điểm khác của bài báo là được viết với kết cấu chặt chẽ, từ ngữ phong phú và đa dạng. Có lẽ do bị giới hạn bởi số trang theo quy định của tạp chí nên nhiều chi tiết của nghiên cứu, chẳng hạn như phần phương pháp thí nghiệm, không được đưa vào phần văn bản chính. Các tác giả đã đưa các chi tiết đó vào phần phụ lục (Supporting Information), tạo nên một phụ lục với thông tin vô cùng phong phú (33 trang phụ lục, 24 hình vẽ, và phần video minh họa dễ hiểu). Điều này vô hình trung rất có lợi cho các nhà nghiên cứu, vì họ có thể tham khảo thông tin mà không cần phải trả tiền cho nhà xuất bản.  Không phải là kết quả ngẫu nhiên  Khi đề cập đến nghiên cứu được đề cử cho Giải thưởng Tạ Quang Bửu của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu, có người đặt câu hỏi với tôi là để có công trình xuất sắc này, nhà khoa học cần quãng thời gian dài hay ngắn? Tôi nghĩ rằng, trong nghiên cứu khoa học, không có một khoảng thời gian chuẩn cho việc có những phát kiến mang tính đột phá. Có người công bố những nghiên cứu độc đáo chỉ sau vài năm làm khoa học, cũng có người phải mất vài ba chục năm mới đạt được những thành tựu đột phá. Điều đó không hẳn là do năng lực nghiên cứu của người này hơn người kia, mà thật ra trong nghiên cứu khoa học, cái “duyên” đôi khi rất quan trọng. Lẽ dĩ nhiên, dù trong trường hợp lâu hay mau thì một quá trình tìm tòi, tích lũy là điều rất cần thiết. Nếu nhìn vào quá trình nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu (https://orcid.org/0000-0002-6452-2639) thì có thể thấy chị cũng đã có thời gian nghiên cứu về vật liệu polymer tự lành sử dụng cơ chế DA, tiêu biểu là các bài báo nhóm chị công bố năm 2015 (Polym. Chem., 2015,6, 3143-3154) và 2018 (J. Polym. Sci., Part A: Polym. Chem., 56(16), 1806-1814). Nó cũng giống như một quá trình “phôi thai”, định hình cho phát kiến độc đáo lần này.  Trong quá trình chuẩn bị như vậy, nhóm nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu đã nỗ lực trang bị cho mình kỹ năng làm chủ các kỹ thuật phân tích phức tạp và không thể thiếu nếu muốn nghiên cứu chuyên sâu về khoa học vật liệu và công bố trên những tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao, ví dụ kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân proton (1H NMR), nhiễu xạ tia X góc rộng (XRD), tán xạ tia X góc rộng (WAXS)… Tại sao lại như vậy? Ví dụ kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân proton là một kỹ thuật quang phổ sử dụng cộng hưởng từ hạt nhân (ở đây là hạt nhân proton 1H) để nghiên cứu cấu trúc phân tử của mẫu với sự phân bố các hạt nhân 1H trong phân tử và các nhóm chức liên quan. Trong các kỹ thuật phân tích hóa hữu cơ, phổ 1H NMR là phương pháp có thể xác định cấu trúc hợp chất hữu cơ đơn phân tử cực kỳ chính xác. Về lý thuyết thì như vậy, nhưng trong phân tử hữu cơ có rất nhiều sự móc nối (coupling) giữa các hạt nhân gần nhau cũng như hiện tượng che chắn từ trường (shielding), có thể làm các đỉnh trên phổ (chemical shift) bị xê dịch hoặc phân tách (splitting). Vì thế, để có thể phân tích chính xác phổ 1H NMR, cần phải có kiến thức chuyên sâu về hóa học hữu cơ và cấu tạo phân tử.  Việc sử dụng các kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân proton hay nhiễu xạ tia X góc rộng, đòi hỏi người dùng phải có kiến thức chuyên ngành để đọc hiểu chính xác kết quả phân tích. Dẫu rằng các thiết bị đo hiện đại có phần mềm hỗ trợ để xác định hợp chất hữu cơ (đối với NMR) hoặc cấu trúc tinh thể (đối với XRD) một cách tự động nhưng đối với các vật liệu phức tạp, đặc biệt là vật liệu mới thì vẫn có sai sót. Tóm lại, kiến thức chuyên môn của người phân tích vô cùng cần thiết và phải được tích lũy theo thời gian.     Hội tụ được nhiều yếu tố như vậy trong một công trình, tôi nghĩ nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt học thuật mà còn có tác dụng tích cực trên phương diện kinh tế – giáo dục. Toàn bộ các tác giả đều đang công tác trong nước tại ĐHQG TP. HCM vừa là minh chứng cho nội lực nghiên cứu của trường nói riêng, vừa là sự khích lệ đối với các cơ sở giáo dục – đại học Việt Nam nói chung. Việc làm chủ các kỹ thuật phân tích phức tạp như cộng hưởng từ hạt nhân proton, tán xạ/nhiễu xạ tia X góc rộng cũng phản ánh năng lực của các cơ sở nghiên cứu trong nước hiện nay.  ***  Thông thường, con đường từ một nghiên cứu cơ bản đến một ứng dụng trên thực tế sẽ rất dài. Nghiên cứu này cũng vậy, dù polyurethane là lớp vật liệu polymer với nhiều tính năng phong phú, có thể được ứng dụng trong nhiều ngành như sản xuất ô tô, sản xuất thiết bị điện tử, xây dựng, và cả y tế… Tuy nhiên, triển vọng của nó trong tương lai rất tươi sáng, ví dụ, acrylic polyurethane là loại sơn có độ bóng cao, duy trì được tính năng trong thời gian dài ngay cả khi tiếp xúc với tia cực tím, và có khả năng kháng hóa chất rất tốt. Đây là vật liệu đã được thương mại hóa và được sử dụng trong ngành sản xuất ô tô. Trong lĩnh vực y tế, PU có thể được sử dụng để chế tạo các điện cực tiếp xúc gắn lên da để đo điện tim đồ hoặc điện não đồ. Đặc tính cơ học tốt, có thể kéo dãn, bền nhiệt… của PU có thể giúp tăng thời gian sử dụng của các điện cực này (Adv. Funct. Mater. 2020, 2006432). PU có đặc tính tự chữa lành cũng đã được đề xuất cho các ứng dụng y sinh như da nhân tạo, phẫu thuật thẩm mỹ (Chem. Sci., 2016, 7, 4291). Trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử, PU cũng đã được ứng dụng làm điện cực cho các siêu tụ điện (ACS Nano 2015, 9, 6242) v.v.   □  ——-  * Học viện Công nghệ Quốc gia – Cao đẳng Kushiro, Nhật Bản.    Author                Nguyễn Thanh Sơn*        
__label__tiasang Khi khoa học dữ liệu “nhìn” vào thế giới cổ điển      Với một cách tiếp cận mới, các nhà khoa học dữ liệu Hàn Quốc đã đặt một cái nhìn xuyên suốt ba thế kỷ, “cân đong đo đếm” 900 tác phẩm viết cho piano của 19 nhà soạn nhạc để giải đáp câu hỏi: Ai là nhà soạn nhạc có nhiều đổi mới sáng tạo bậc nhất? Cuối cùng câu trả lời có thể gây ngạc nhiên bất cứ nhà nghiên cứu âm nhạc và nghệ sĩ biểu diễn nào…      Tượng nhà soạn nhạc J. S. Bach đặt trước nhà thờ St. Thomas (Leipzig, Đức), nơi ông từng đảm trách vị trí giám đốc âm nhạc cho đến khi qua đời. Nguồn: DW.  Con người thường có thói quen phân loại các sự vật, hiện tượng, con người xung quanh theo các cặp tính chất mang tính so sánh như vô dụng – hữu dụng, tốt – xấu, tốt – tốt hơn, đẹp – đẹp nhất… Thế giới âm nhạc cổ điển cũng không ngoại lệ. Từ lâu trong lịch sử, người ta đã cố tìm cách chọn ra “nhà soạn nhạc vĩ đại nhất”, “nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng nhất”, “nhà soạn nhạc có nhiều cách tân nhất”… Dựa trên những tiêu chí nhất định, mỗi người đều có một đáp án cho riêng mình và đôi khi người ta cũng nhầm lẫn: ngay cả các nhà soạn nhạc thiên tài cũng từng bị đương thời coi là tầm thường. Ví dụ lúc sinh thời, J. S. Bach chỉ được coi là người chơi đàn organ tài năng và nhà tư vấn về đàn organ hơn là một nhà soạn nhạc đích thực. Những người ở Leipzig tuyên bố tuyển ông vào vị trí giám đốc âm nhạc (Thomaskantor) danh giá của dàn hợp xướng nhà thờ St Thomas chỉ vì “người giỏi nhất [nhà soạn nhạc Telemann] vắng mặt”. Thế nhưng sau khi ông qua đời, những nhà soạn nhạc thế hệ sau đã tôn thờ ông: “Bach không phải dòng suối nhỏ mà là cả đại dương” (Beethoven), “Bach như một nhà thiên văn học với sự trợ giúp của các mật mã đã tìm thấy những ngôi sao kỳ diệu nhất” (Friederick Chopin), “Bach là điểm bắt đầu và kết thúc của mọi thứ âm nhạc” (Max Reger), “Các thể loại âm nhạc hiện đại vay mượn tất thảy từ Bach” (Niccolai Rimsky-Korsakov)…  Với một chút tò mò về thế giới âm nhạc cổ điển phương Tây, một nhóm gồm ba nhà nghiên cứu ở Viện KH&CN Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) đã kiểm tra khả năng trợ giúp của các mô hình tính toán dựa trên mô hình hóa và phân tích dữ liệu không đồng nhất ở quy mô lớn, vốn hứa hẹn dẫn đến những hiểu biết mới về hành vi và tài năng của con người. Họ thử lật lại vấn đề “ai là nhà soạn nhạc có nhiều cách tân nhất” trong lịch sử âm nhạc, trải dài từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20 qua những giai đoạn phát triển là Baroque (1700–1750), Cổ điển (1750–1820), Tiền Lãng mạn (1800–1820), và Lãng mạn (1820–1910) với 19 nhà soạn nhạc xuất sắc, mở đầu là Johann S. Bach, Georg F. Handel và khép lại bằng Maurice Ravel. Kết quả của nghiên cứu này là công trình “Novelty and influence of creative works, and quantifying patterns of advances based on probabilistic references networks” (Những tác phẩm mới và có ảnh hưởng, và những mẫu hình xác định số lượng của những tiên tiến dựa trên cơ sở các mạng tham chiếu xác suất), mới được xuất bản vào ngày 30/1/2020 trên tạp chí EPJ Data Science1.  Thuật toán “đo đếm” âm nhạc  Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng một mô hình tính toán để tìm ra tính mới của 900 tác phẩm viết cho piano của các nhà soạn nhạc, nghiên cứu sự tương quan của chúng với những đặc điểm đã biết của âm nhạc tại thời điểm họ sáng tác. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của các tác phẩm đó tới những tác phẩm của các nhà soạn nhạc hậu thế và tìm ra sự “tiến hóa” của các phong cách sáng tác trong lịch sử ba thế kỷ âm nhạc.      Vượt qua những “ứng cử viên” mà mọi người có thể nêu lên như J S Bach – người thiết lập nền tảng cho âm nhạc, L V Beethoven – người tạo cuộc cách mạng trong những thể loại âm nhạc mà ông chạm tới…, Sergei Rachmaninov – nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano Nga từng “khước từ” sự hấp dẫn của âm nhạc 12 âm, tân cổ điển và nhiều hình thức tiên phong khác thịnh hành vào đầu thế kỷ 20 để làm giàu cho phong cách lãng mạn cùng Piotr Ilyitch Tchaikovsky, Johannes Brahms…, đã trở thành nhà soạn nhạc có nhiều cách tân nhất.      Với nền dữ liệu mà theo sự miêu tả của ba nhà nghiên cứu Hàn Quốc là lớn, phong phú và không đồng nhất, họ đã “tháo dỡ” các tác phẩm âm nhạc, đưa những chương, phần mở đầu, phần kết, các đoạn phát triển chủ đề, thậm chí các nốt nhạc… vào một đơn vị cơ bản khác, các từ mã (codeword) – về cơ bản từ mã biểu thị tất cả các nốt được chơi liền mạch trong một đơn vị thời gian. Thuật toán của họ đã phân tích trình tự của các từ mã trong những tác phẩm của một nhà soạn nhạc cụ thể rồi so sánh chúng với những tác phẩm được sáng tác trước đó của nhà soạn nhạc cũng như các tác phẩm ra đời cùng thời kỳ. Sự tương đồng giữa các hợp âm phóng chuỗi (sequenses) được sử dụng để tạo ra những bản nhạc mang tính mới của từng nhà soạn nhạc và để xác định nhà soạn nhạc nào có tầm ảnh hưởng.  Theo quan điểm của họ, tính mới trong tác phẩm của nhà soạn nhạc được đo lường bằng sự khác biệt của nó với những tác phẩm trong quá khứ và sự khác biệt ấy phải là của riêng nhà soạn nhạc; sự ảnh hưởng được đo lường bằng cách tác phẩm đó “phủ bóng” lên các tác phẩm tương lai như thế nào, và nó truyền cảm hứng và khơi nguồn sáng tạo của các nhà soạn nhạc thế hệ sau như thế nào. Trong thông cáo báo chí của Viện KAIST về công trình này, TS. Jouyong Park – tác giả chính của bài báo, đã giải thích: “Mô hình của chúng tôi cho phép tính toán mức độ chia sẻ của giai điệu và hòa âm giữa các tác phẩm được viết trong nhiều thời kỳ và quan sát sự ‘tiến hóa’ của các phong cách âm nhạc cổ điển được thể hiện thông qua sự ảnh hưởng của các nhà soạn nhạc nổi bật lên những nhà soạn nhạc khác.”  Vậy rút cục những thuật toán mà họ áp dụng đem lại kết quả gì? Thật bất ngờ, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã có những mẫu hình mà gần như không nhà âm nhạc học, nghệ sĩ biểu diễn hay người yêu nhạc cổ điển có thể ngờ tới. Vượt qua những “ứng cử viên” mà mọi người có thể nêu lên  như J S Bach – người thiết lập nền tảng cho âm nhạc, L V Beethoven – người tạo cuộc cách mạng trong những thể loại âm nhạc mà ông chạm tới…, Sergei Rachmaninoff – nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano Nga từng “khước từ” sự hấp dẫn của âm nhạc 12 âm, tân cổ điển và nhiều hình thức tiên phong khác thịnh hành vào đầu thế kỷ 20 để làm giàu cho phong cách lãng mạn cùng Piotr Ilyitch Tchaikovsky, Johannes Brahms…, đã trở thành nhà soạn nhạc có nhiều cách tân nhất (tiếp theo là Bach, Brahms và Mendelsohn. Kết quả này khác biệt với nhận xét của nhiều nhà âm nhạc học khi coi những tác giả cùng thời như Igor Stravinsky hay Arnold Schönberg vượt trội hơn Rachmaninoff về sự cách tân.    Nhà soạn nhạc Lãng mạn Nga Sergei Rachmaninoff. Nguồn: Classical FM.  Thuật toán mà các nhà khoa học dữ liệu Hàn Quốc áp dụng cho thấy, Rachmaninoff là người tạo ra nhiều bản nhạc kết hợp nhiều nốt mang tính mới bậc nhất và các tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn cuối đời mang nhiều tính mới hơn so với những tác phẩm sáng tác thời kỳ đầu. “Điều đó gợi ý là không phải bao giờ tính mới, tính sáng tạo cũng là thuộc tính riêng có của tuổi trẻ”, các nhà khoa học Hàn Quốc nhận xét. Nhận xét này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu về những người thắng giải Nobel Kinh tế của hai giáo sư kinh tế Bruce Weinberg (trường Đại học Ohio) và David Galenson (trường Đại học Chicago) trên tạp chí De Economist vào tháng 5/2019 khi phát hiện ra có những đổi mới sáng tạo mang tính thực nghiệm cần các quá trình thử và sai lâu dài, vì thế chúng có xu hướng xuất hiện vào giai đoạn cuối sự nghiệp của một nhà khoa học đoạt giải Nobel 2.  Các thuật toán còn đem lại cho họ một kết quả khác: tính riêng biệt và thành công là hai đặc điểm quan trọng của những tác phẩm giàu tính sáng tạo nhưng không phải bao giờ chúng cũng kết hợp với nhau một cách hoàn hảo. Ví dụ, Handel dường như ít tính mới hơn Bach và nhiều nhà soạn nhạc khác nhưng lại ảnh hưởng các nhà soạn nhạc thời kỳ Cổ điển và Lãng mạn nhiều hơn. Tương tự, Beethoven, Schubert và Liszt ít tính mới hơn Mendelssohn và Schumann nhưng rút cục lại có nhiều ảnh hưởng lên những sáng tác cho đàn piano và truyền cảm hứng cho những sáng tác tiếp theo. Bên cạnh đó, sự tách bạch giữa tính mới và sự ảnh hưởng thể hiện rõ nét trong thời kỳ Cổ điển, đặc biệt là Mozart: tác phẩm của ông có ít từ mã mang tính mới nhất và ông thường chọn sử dụng những kỹ thuật sáng tác từ thời kỳ Baroque tuy nhiên tác phẩm của ông lại có các giá trị nghệ thuật ở mức cao khiến ông có nhiều ảnh hưởng với hậu thế. Theo TS. Park, “dù cần thiết để tạo ra một tác phẩm giàu sáng tạo nhưng tính mới lại không làm nên các phẩm chất sáng tạo và nghệ thuật trong một tác phẩm, vốn là những yếu tố tạo ra các giai điệu và hòa âm có khả năng lan tỏa đến hậu thế. Điều đó giải thích tại sao việc có nhiều tính mới không nhất thiết dẫn đến kết quả nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng hay không”.  Do đó, để coi một nhà soạn nhạc là “vĩ đại nhất” thì không thể dựa vào một thuộc tính là sự cách tân, đó là trường hợp của Beethoven, người có tính mới ở tầm trung bình. Ông đặc biệt nổi bật ở thời kỳ Tiền Lãng mạn, các nhà soạn nhạc trẻ thời kỳ này học hỏi các từ mã của ông và ngưỡng mộ ông hơn bất cứ nhà soạn nhạc tiền bối nào khác. Sự ngưỡng mộ đó được duy trì ở cả thời kỳ Lãng mạn. Nhiều nhà soạn nhạc Lãng mạn có những tác phẩm mang nhiều tính mới, cũng hành xử tương tự. Vì thế Beethoven được coi là nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng nhất.      “Nếu chúng ta coi công trình này là sự đánh giá toàn diện về các nhà soạn nhạc thì chưa đủ”. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tác phẩm âm nhạc, ngay cả tính năng của nhạc cụ trong thời kỳ âm nhạc mà các nhà soạn nhạc sống cũng ảnh hưởng đến tác phẩm của họ, “có ví dụ đơn giản về quãng âm trong nhạc đàn giữa thời kỳ của Bach (chỉ gồm khoảng 4 quãng) và Rachmaninoff (cây đàn đủ 88 phím hoàn chỉnh như hiện nay) thì tỉ lệ lặp lại những âm cùng khu vực cao hơn rất nhiều”, nghệ sĩ piano Nguyễn Đức Anh.      Có thể tin cậy cách tiếp cận mới?  Không rõ các nhà khoa học Hàn Quốc có dự đoán được tác động của bài báo này không nhưng giới nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp truyền thống – nghĩa là dựa vào bản chất âm nhạc trên cơ sở các tài liệu ghi chép, dựa vào các tổng phổ, phong cách sáng tác, sự hình thành và phát triển của các thể loại âm nhạc…, đã phản ứng dữ dội. Trả lời phỏng vấn của The Telegraph, TS. David Trippett, một nhà âm nhạc học hàng đầu trường Đại học Cambrige và là tác giả cuốn “Wagner’s Melodies: Aesthetics and Materialism in German Musical Identity” (Những giai điệu của Wagner: Tính mĩ học và chủ nghĩa duy vật trong bản sắc âm nhạc Đức), đã lập tức chỉ trích công trình này là “nhàm chán”, không đủ khả năng xác định được chất lượng âm nhạc cũng như so sánh chất lượng âm nhạc. Là một chuyên gia về âm nhạc thế kỷ 19 và là một nghệ sĩ piano, ông nhận xét, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã quên bản chất của “cái độc đáo và sáng tạo vốn đã gắn liền với chất lượng âm nhạc”.  Mặc dù dự đoán “khả năng là vào một ngày nào đó, chúng ta có thể đặt tất cả các thang đo âm nhạc vào một cái nồi ma thuật và sử dụng sức mạnh của trí tuệ nhân tạo để ‘chế biến’ chúng” nhưng ông cũng cảnh báo “hiện chưa có cách nào làm được điều đó. Tôi không muốn bác bỏ nghiên cứu của các nhà khoa học khác nhưng đây chỉ là những bước sơ khởi”.  Trong bài báo của mình, ba tác giả Hàn Quốc cũng thừa nhận, điểm thiếu sót nhất của nghiên cứu này là mới chỉ phân tích tính mới và tầm ảnh hưởng của các nhà soạn nhạc trên thể loại tác phẩm viết cho piano. Có thể, các tác phẩm thuộc những thể loại khác như giao hưởng, concerto, âm nhạc thính phòng và các tác phẩm viết cho dàn nhạc khác của 19 nhà soạn nhạc sẽ đem lại những kết quả khác.  Ở góc độ một nghệ sĩ biểu diễn, Nguyễn Đức Anh – từng theo học tại Nhạc viện Freiburg và hiện đang biểu diễn và giảng dạy tại Leipzig, Đức, nhận xét: “Đây là một nghiên cứu thú vị để cho thấy tầm ảnh hưởng của các nhà soạn nhạc vĩ đại trên một góc nhìn trọn vẹn”. Với hai vị trí dẫn đầu danh sách “nhà soạn nhạc cách tân nhất”, anh phân tích, không chỉ là người hệ thống và quy chuẩn hệ thống thang âm qua hai bộ tác phẩm “Bình quân luật cho đàn phím”, Bach còn có những sáng tác phức điệu xuyên suốt cuộc đời được coi là sách giáo khoa về đàn phím cho thế hệ sau. Còn Rachmaninoff là đại diện cho sự nghiêm ngặt mà lại gần gũi, hướng đến thẩm mỹ của đại chúng khi thường sáng tác trên các chủ đề âm nhạc Nga với niềm hoài nhớ và sử dụng các âm điệu trưởng và thứ thông thường. “Tiếng lòng của người viết nhạc được giãi bày nhiều hơn, được thừa hưởng từ toàn bộ nền tảng trước đó, hẳn là ông cũng có những dấu ấn khác đã được định vị trong lịch sử”, anh nói.  Tuy nhiên, nghệ sĩ Nguyễn Đức Anh cũng lưu ý, “nếu chúng ta coi công trình này là sự đánh giá toàn diện về các nhà soạn nhạc thì chưa đủ”. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tác phẩm âm nhạc, ngay cả tính năng của nhạc cụ trong thời kỳ âm nhạc mà các nhà soạn nhạc sống cũng ảnh hưởng đến tác phẩm của họ, “có ví dụ đơn giản về quãng âm trong nhạc đàn giữa thời kỳ của Bach (chỉ gồm khoảng 4 quãng) và Rachmaninoff (cây đàn đủ 88 phím hoàn chỉnh như hiện nay) thì tỉ lệ lặp lại những âm cùng khu vực cao hơn rất nhiều”, anh nói.    Bức tranh của một họa sĩ vô danh vẽ nhà soạn nhạc Joseph Haydn (áo xanh) biểu diễn cùng nhóm tứ tấu của mình ở Vienna, Áo. Nguồn: Bảo tàng quốc gia, Vienna.   Bản thân các nhà khoa học dữ liệu và khoa học tính toán cũng đưa ra nhiều nhận xét trái ngược. Giải thích về sự khác biệt của kết quả nghiên cứu này với suy nghĩ thông thường của mọi người, TS. Nguyễn Quang (trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, TPHCM) cho rằng, “các mô hình tính toán (cách định nghĩa tính mới) khác nhau có thể cho ra kết quả khác nhau. Ở đây tác giả xử lý dữ liệu từng nốt nhạc và tìm kiếm sự tương quan của các nốt theo thời gian, dựa trên khoa học mạng lưới. Do đó, kết quả phân tích có thể đưa ra một cách xếp hạng khác: Bach xếp thứ hai nhưng Beethoven đứng xa”.  Dù tương đồng với nghệ sĩ Lưu Đức Anh về điểm hạn chế của nghiên cứu khi mới nhìn nhận vấn đề ở một khía cạnh “cách tiếp cận này có thể không mô tả được hết ý nghĩa của các bản nhạc và sự cảm nhận âm nhạc của con người, ví dụ có khi phải nghe nhiều nốt, nghe hết một đoạn mới thấy hết cái hay chẳng hạn”, TS. Nguyễn Quang cũng nhận xét thêm: “Tuy vậy cái hay của nghiên cứu này là chỉ ra một hướng đi mới bên cạnh hướng đi truyền thống là dùng khoa học dữ liệu ứng dụng cho phân tích âm nhạc”. Đó cũng là quan điểm của GS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Trung tâm nghiên cứu liên ngành, ĐH Công nghệ TPHCM) – năm lần liên tiếp lọt vào danh sách Các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới với những bài báo về các mô hình tính toán có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực như cơ học, toán ứng dụng, y sinh, khoa học vật liệu…, “việc dùng một phương pháp khác để nghiên cứu trên dữ liệu sẵn có như thế này rất thú vị. Nó cũng là cách kiểm chứng kết quả của các nghiên cứu trước hoặc phát hiện cách tối ưu hơn nữa những nghiên cứu hiện tại”.  ***  Người ta có thể biết được cái nhìn của những nhà nghiên cứu, những nghệ sĩ hiện tại về kết quả nghiên cứu nhưng có lẽ không có cách nào để biết được những nhà soạn nhạc có mặt trong danh sách 19 người nghĩ gì. Có lẽ, riêng với Rachmaninoff, người được ba nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho là cách tân hơn cả Bach, Beethoven, Mozart, Brahms và những bậc thầy khác, hẳn ông sẽ bối rối hơn là tự hào, dù từng đau đớn vì bị coi là “một nghệ sĩ piano tài ba nhưng là một nhà soạn nhạc tồi, đến mức không còn dám chắc chắn về khả năng sáng tác của mình…” và đã nghĩ đến chuyện ngừng sáng tác hoàn toàn. Ông ngưỡng mộ Bach, Bộ Bình quân luật đã khơi gợi ông sáng tác 24 prelude trên 24 âm trưởng và thứ, đồng thời chuyển soạn cho piano phần prelude, fugue, gigue từ Partita số 3 cho violin độc tấu của Bach. Với bản tính khiêm nhường và nhút nhát, có thể ông cũng sẽ chờ đến kết quả mới, nơi những bậc tiền bối của mình tiếp tục được ghi nhận.  —  1. https://epjdatascience.springeropen.com/articles/10.1140/epjds/s13688-019-0214-8  2. http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Sang-tao-khong-phai-la-doc-quyen-cua-nguoi-tre-16365  “Anh không thể coi Bach, Mozart và Beethoven là những nhà soạn nhạc được yêu thích nhất: đơn giản họ chính là âm nhạc”. (Nhạc trưởng Mĩ Michael Tilson Thomas)  “Tôi tin vào Chúa, Mozart và Beethoven”. (Richard Wagner)  “Vẻ đẹp trong khoa học chính là vẻ đẹp trong âm nhạc của Beethoven”. (Nhà vật lý Victor Weisskopf)  “Nếu chúng ta không thể tạo ra tác phẩm có vẻ đẹp như của Mozart, ít nhất chúng ta cố gắng sáng tác với độ thuần khiết như ông”. (Johannes Brahms)  “Mozart là vị Chúa của âm nhạc… Ông đã xây nên những tòa lâu đài lộng lẫy từ những vật liệu tầm thường nhất”. (Tchaikovsky)    Author                Tô Vân        
__label__tiasang 10 phát kiến thiết thực cho các nước đang phát triển      Những phát kiến hữu ích nhất cho các nước đang phát triển nhiều khi chỉ đòi hỏi những giải pháp công nghệ đơn giản nhất    Kính mắt chứa dịch lỏng tự điều chỉnh   Kính mắt là sản phẩm tương đối rẻ và khá  phong phú. Tuy nhiên, hiện tại thế giới đang phát triển, điều đang thiếu  là những chuyên gia đo mắt định hình kính phù hợp với thị lực của người  đeo. Tại vùng phụ cận hoang mạc Sahara châu Phi, chỉ có một chuyên viên  đo mắt trên đầu 1 triệu người dân, và ở một số quốc gia, con số còn tệ  hơn, với một chuyên viên đo mắt trên đầu 8 triệu người dân.   Tuy nhiên, phát kiến của Josh Silver có thể  giúp giải quyết khó khăn cho người dân các nước đang phát triển. Ông đã  sáng tạo ra loại kính mắt mà người dùng có thể tự điều chỉnh với cấu  trúc bên trong chứa chất lỏng. Việc tăng hoặc giảm số lượng chất lỏng có  trong thấu kính sẽ tạo ra độ khúc xạ phù hợp với mắt của người dùng.  Kính này khá bền, chi phí thấp và quan trọng nhất là nó cho phép bệnh  nhân có thể tự điều chỉnh lượng chất lỏng cho đến khi 2 mắt cùng có thể  nhìn rõ vật cùng lúc. Quá trình làm kính tự điều chỉnh mắt kính theo ý  muốn thường kéo dài chỉ chưa đầy 1 phút, và đến nay đã có hơn 40.000 cặp  kính tự điều chỉnh được phân phối trên khắp thế giới.  Tập đoàn Dow Corning sau khi được biết về  phát kiến của Silver đã dành 3 triệu USD kinh phí và đội ngũ chuyên gia  cho dự án nhân đạo ChildVision Initiative, nhằm thiết kế, sản xuất và  phân phối các phiên bản kính đặc biệt theo thiết kế của Silver cho trẻ  em ở các nước đang phát triển. Dow Corning tin rằng loại kính này không  chỉ cải thiện tầm nhìn cho trẻ em mà còn tạo điều kiện thuận lợi giúp  chúng học tập hiệu quả hơn.  Chân giả cao su Jaipur  Chân giả Jaipur là một thứ chân cao su dùng  cho những người bị cắt cụt dưới gối, thường là nạn nhân của các vụ nổ  bom mìn. Thiết bị này được sản xuất bởi ông Ramchander Sharma dựa theo  sự hướng dẫn của Tiến sĩ P.K. Sethi vào năm 1969. Sáng kiến độc đáo của  ông Sharma hình thành trong một lần ông đang đi xe đạp và tình cờ lưu  tâm về tính bền chắc của vỏ lốp cao su. Sau lần đó, ông Sharma suy nghĩ  làm thế nào mà một cái chân bằng cao su cứng có thể giúp cho người tàn  tật bước đi tự nhiên hơn. Cái chân giả đó phải dễ sử dụng và rẻ tiền để  chế tạo, rắn chắc, không thấm nước và có thể mô phỏng tối đa những tính  năng của chân con người. Sử dụng cao su cứng đã giải quyết được khá  nhiều những vấn đề này, và vật liệu này đặc biệt hiệu quả trong việc  giúp người sử dụng cử động tự nhiên. Họ không chỉ có thể đi bộ, mà còn  ngồi xổm, đứng lên từ chỗ ngồi, và thậm chí còn chạy được. Chân giả  Jaipur hiệu quả đến mức có thể giúp đa số người sử dụng trở về công việc  họ từng làm trước đây.  Toàn bộ chi phí cho một chân giả khoảng 28  USD, có độ bền sử dụng khoảng 5 năm, và hàng ngàn người nghèo khổ ở Ấn  Độ được dùng sản phẩm này. Chân giả cao su Jaipur đã giúp Tiến sĩ Sethi  đón nhận giải thưởng Padma Siri từ Chính phủ Ấn Độ, và năm 2009, tạp chí  TIME vinh danh thiết bị này là một trong “50 phát minh tuyệt vời nhất”.  Xe cứu thương eRanger      Theo kỹ sư người Anh Mike Norman: “Những  chiếc xe cứu thương hiến tặng (từ phương Tây) không thể dùng để cáng  bệnh nhân xa quá 80 yard (tương đương 91,44 m) ở châu Phi”. Trong khi  đó, loại xe ô tô 4X4 thì quá xóc khiến hành trình đến bệnh viện gây quá  nhiều nguy hiểm cho các ca cấp cứu. Điều này đặc biệt đúng với các bà mẹ  ở nông thôn châu Phi, nơi các biến chứng trong lúc sinh con cùng với sự  thiếu hụt dịch vụ chăm sóc y tế, đã góp phần làm tăng cao tỷ lệ tử vong  của các sản phụ. Để khắc phục tình trạng này, xe cứu thương eRanger của  Mike Norman đã ra đời, thực chất là một chiếc xe gắn máy có gắn theo  một chiếc cáng cứu thương ở đằng sau xe dành cho bệnh nhân. Mẫu thiết kế  đã kết hợp những tiện ích của một chiếc xe máy với năng lực vận tải của  một khoang phụ chở hàng. Xe có tổng chi phí chỉ khoảng 6.200 USD, bền  chắc, và dễ bảo trì.   Với phương thức giảm xóc hoạt động rất tốt  trên những địa hình gồ ghề, eRanger có thể chở các bệnh nhân đến những  bệnh viện ở xa một cách an toàn hơn nhiều so với các loại phương tiện  giao thông khác. Một quận ở Malawi báo cáo rằng đã giảm khoảng 60% tỷ lệ  tử vong ở sản phụ kể từ khi dùng eRanger vào năm 2003. Ngày nay eRanger  đã có mặt ở 17 quốc gia châu Phi, và những dự án thí điểm khác đang  được triển khai ở Afghanistan và Haiti.  “Đèn chai” năng lượng mặt trời   Lâu nay, những ngôi nhà dày đặc trong các  “khu ổ chuột” ở thủ đô Manila không hề có điện sinh hoạt để dùng. Tình  trạng càng tồi tệ khi các ngôi nhà được dựng quá sát nhau và không hề có  cửa sổ hay các nguồn ánh sáng tự nhiên. Vì vậy, trong nhà luôn quá tối  ngay cả vào ban trưa. Các gia đình kiếm sống, làm việc nhà, và ăn uống  cùng nhau trong không gian tối đen. Họ rất cần có nguồn sáng rẻ, bền  vững và thân thiện với môi trường. Xuất phát từ nhu cầu này mà Amy Smith  và nhóm sinh viên MIT trong lúc làm việc ở Haiti đã phát minh ra ý  tưởng “đèn chai mặt trời”, một giải pháp khéo léo và khá đơn giản. Chiếc  “bóng đèn” này thực chất là một cái chai nhựa 1 lít đựng đầy nước và  vài muỗng chất tẩy trắng. Chai được gắn cố định vào mái nhà và nó sẽ  hoạt động như một thứ ánh sáng trời. Tuy nhiên, không giống như ánh sáng  trời chỉ chiếu tia sáng theo một đường thẳng, “đèn chai mặt trời” khúc  xạ và phát tán ánh sáng mặt trời theo một góc 360 độ, làm sáng khắp căn  phòng bên dưới. Hiệu suất của đèn chai khá mạnh vì tương đương với bóng  đèn điện 60 watt. Đèn chai dễ lắp đặt và các vật liệu hoàn toàn sẵn có,  thời gian sử dụng mỗi đèn chai khoảng 5 năm.   Sau khi xem các video clip trên YouTube về  những chiếc “đèn chai mặt trời” ở Haiti, nhà hoạt động Iliac Diaz đã đưa  thiết kế vật dụng này về Manila qua Một Lít Ánh sáng, một tổ chức phi  lợi nhuận hợp tác với các chính phủ. Họ bán mỗi “đèn chai mặt trời” với  giá 1 USD và đã lắp đặt được 12.000 đèn chai cho 10.000 hộ gia đình ở  Manila, Philippines, Diaz cho biết.   Cho gạo nếu đi học     Năm 2007, ông John Breen đã hiến tặng trang  web FreeRice.com cho Chương trình lương thực thế giới của Liên Hiệp Quốc  (UNWFP). Mục tiêu của nó là vừa cung cấp giáo dục miễn phí và cứu trợ  nạn đói cùng một lúc. Trẻ em sẽ chơi một chương trình từ vựng Anh ngữ  qua mạng, và ai trả lời chính xác mỗi câu hỏi sẽ được thưởng các hạt gạo  (1 câu trả lời đúng = 10 hạt gạo, 5 câu đúng = 50 hạt gạo, v.v.). Theo  thời gian các câu hỏi sẽ dần khó lên và các câu trả lời sai sẽ được lặp  đi lặp lại hoặc được thay thế bằng những câu hỏi dễ dàng hơn. Ngoài  ngoại ngữ, bọn trẻ còn có thể học văn học, địa lý, toán học và hóa học.  Tại sao lại không cho gạo vô điều kiện? Vì Freerice.com không hề có gạo.  Người chơi kiếm gạo thông qua các biểu ngữ của nhà tài trợ xuất hiện  khi mỗi lần trả lời một câu hỏi đúng. Số tiền được tạo thành từ các biểu  ngữ này sau đó sẽ được dùng để mua gạo cứu trợ nạn đói. Theo trang web  này, tất cả số gạo kiếm được từ Freerice.com hiện đã được phân phát ở  Haiti, nhưng trước đây cũng từng được phân phát tại Bangladesh,  Campuchia, Uganda, Nepal, Bhutan và Myanmar.  Máy giặt và máy sấy quay dùng sức người   Các gia đình ở nông thôn Peru đang sống với  số tiền chi tiêu từ 4 USD đến 10 USD một ngày. Đối với những người phụ  nữ ở đây, việc giặt quần áo sạch vừa để đảm bảo vệ sinh, vừa để giữ thể  diện cho gia đình. Nhưng do không có điện nên mọi sự giặt giũ đều bằng  tay, và mất tới 6 giờ để giặt và làm khô quần áo. Công việc diễn ra 3-5  lần mỗi tuần, quá mất thời gian và nặng nhọc khiến nhiều phụ nữ bị mắc  bệnh mỏi cổ tay, đau lưng mãn tính, đau tay và các bệnh liên quan đến  đường hô hấp. Trước tình trạng này, nhà phát minh Giradora đã tung ra  một loại máy giặt và máy sấy quay sử dụng điện năng từ sức người. Người  sử dụng chèn quần áo vào cái trống và ngồi lên nắp trong khi chân đạp  lên một cái bơm. Cơ chế này sẽ đảo quần áo giặt và sau đó quay tròn cho  đến khi chúng gần như được vắt khô, làm giảm đáng kể thời gian giặt và  phơi quần áo. Điều này rất quan trọng ở Peru, nơi vào mùa đông quần áo  ướt có thể phải mất tới 3 tuần mới khô, và nấm mốc sinh sôi rất nhanh  trong môi trường ẩm như vậy. Giải pháp này rất hiệu quả vì giúp người  nội trợ giặt một lúc cả lô quần áo thay vì từng chiếc một. Và điều khiến  chị em mừng nhất là có thể ngồi xuống làm việc thay vì phải đứng liên  tục. Giradora thậm chí tuyên bố rằng sản phẩm có thể cung cấp “các cơ  hội thu nhập cho phụ nữ thông qua dịch vụ giặt ủi, cho thuê hoặc bán  hàng trực tiếp”. Máy giặt có giá bán 40 USD, bằng 1/5 giá tiền của chiếc  máy sấy quay rẻ nhất trên thị trường.   Trang web chống tham nhũng   Trong thế giới đang phát triển, tham nhũng  là một thực tế khó chịu mà người bình dân không thể thay đổi. Tham nhũng  làm mất năng suất quốc gia, làm triệt tiêu năng lực sáng tạo của cá  nhân, và làm giảm chất lượng đời sống của người dân. May mắn là các  trang mạng xã hội có thể phần nào giúp chống tham nhũng. Trang mạng  ipaidabribe.com chuyên thu thập và công bố các báo cáo “nặc danh” về các  vụ trả tiền hối lộ, các trường hợp vòi tiền hối lộ, và các “thông lệ”  hối lộ đang tồn tại ở Ấn Độ. Trong vòng 2 năm qua, trang web đã nhận tới  400.000 báo cáo, 80% trong số đó liên quan tới các quan chức Chính phủ  Ấn tìm cách kiếm các khoản tiền phi pháp. Để ngăn chặn kiện cáo,  ipaidabribe.com sẽ không công bố bất kỳ tên ai hoặc thông tin mật nào.  Trang web đã mang lại một số kết quả thực tiễn, ví dụ như hội đồng giao  thông ở Karnataka gần đây đã dùng thông tin từ trang này để giành sự ủng  hộ nhằm cải tổ ban phương tiện giao thông. Kết quả là 20 quan chức cao  cấp bị “cảnh cáo”, và sau đó tất cả mọi bằng lái xe được tổ chức đăng ký  qua mạng, mọi kỳ sát hạch được tự động hóa và giám sát bằng video. Các  thông tin từ ipaidabribe.com ngày càng được công chúng biết đến, và sự  quan tâm tới trang web này ngày càng gia tăng. Trên thực tế, trang web  rất nổi tiếng và 17 quốc gia khác đã yêu cầu về giấy phép để được thành  lập các trang ipaidabribe cho riêng họ.  Mỗi người một con bò   Cho ai một con cá, người ấy sẽ ăn hết trong  ngày. Dạy ai cách đánh cá, người đó tự nuôi thân được suốt đời. Tổ chức  Heifer Quốc Tế đã áp dụng câu ngạn ngữ này tại những nông trại gia súc  sản xuất thân thiện với môi sinh. Kể từ năm 1944, họ đã quyên góp viện  trợ các loại gia súc nuôi lấy thịt cho 12 triệu hộ gia đình tại 125 quốc  gia trên thế giới. Viện trợ gia súc nhiều khi là giải pháp tốt hơn viện  trợ máy nông nghiệp, vì máy móc phải tốn dầu mỡ và thường xuyên bảo  trì, còn gia súc có thể cung cấp sức mạnh để kéo cày, cung cấp phân bón  làm màu mỡ đất đai, thêm trứng và sữa cho nhu cầu tiêu thụ hằng ngày  hoặc để bán, hoặc lấy len làm quần áo và giữ ấm. Người nhận sẽ không  phải trả tiền cho các động vật hiến tặng nhưng phải học hỏi cách thức  chăn nuôi và hứa hẹn phải tiếp tục ‘chuyền tay quà tặng’. Nghĩa là khi  con vật hiến tặng sinh sản, ít nhất một con trong lứa sinh phải được san  sẻ cho hàng xóm gần kề, và người kế tiếp này cũng phải bắt buộc nghiên  cứu cách thức để chăm sóc vật nuôi. Quy trình này cứ lặp đi lặp lại hình  thành một thế hệ gia súc mới làm giàu cho cả cộng đồng.   Quả cầu tre dò mìn     Massoud Hassani là người Hà Lan gốc  Afghanistan, lớn lên ở rìa phía Bắc của thủ đô Kabul. Lúc nhỏ, Hassani  và chúng bạn thường đuổi bắt quả cầu lăn trên sa mạc xem ai có thể trở  thành người nhanh nhất tóm được thứ đồ chơi này. Tuy nhiên, trò chơi  luôn ngừng khi chúng tới quá gần sân bay, nơi mà các loại bom mìn và  những vật liệu chưa nổ có từ thời Xô viết vẫn còn tồn tại trong lòng  đất. Sau khi cha bị ám sát chết vào năm 1993, Hassani và gia đình chuyển  đến sống ở Hà Lan, và trở thành một sinh viên thiết kế. Dự án tốt  nghiệp của Hassani là thiết bị Mine Kafon, có hình dạng giống với quả  cầu lăn ông từng chơi cùng chúng bạn thời thơ ấu. Thiết bị này có công  năng phá bom mìn, chi phí thấp, vận hành theo sức gió và dễ sử dụng.  Nhìn bên ngoài, Mine Kafon như một quả bồ công anh khổng lồ. Thiết bị  cao khoảng 1,8 m với những chiếc cọc tre tua tủa từ phần lõi. Đầu mỗi  cọc tre lại được gắn một cái đĩa dẹt na ná như bàn chân người. Mine  Kafon nặng như người thật nên khi nó lăn theo sức gió qua một quả mìn,  quả mìn sẽ phát nổ. Mỗi lần nổ những chiếc đĩa ở đầu cọc sẽ vỡ nát,  nhưng thiết bị có thể chịu được 4 lần nổ mìn mới cần phải sửa chữa. Thậm  chí Mine Kafon còn sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) nhằm giúp  các công nhân có thể xác định khu vực nào chưa được dò mìn.   Mine Kafon không thể so với các thiết bị dò  mìn thông thường mà người sử dụng có thể dễ dàng chủ động điều khiển tùy  ý. Nhưng với giá thành khoảng 60 USD, Mine Kafon rẻ bằng 0,00012% chi  phí các cỗ xe dò mìn Aardvark của NATO. Hassani cho rằng thiết bị của  mình hữu dụng trong việc giúp nông dân kiểm tra các khu vực nghi vấn  trước khi nhờ NATO gửi đến những đội dò mìn chuyên nghiệp.   Trang bị y tế được phân phối cùng Coca Cola   Trong thời gian Simon Berry làm tình nguyện  viên ở đất nước Zambia, anh nhận ra rằng dù đi đến đâu cũng được ai đó  chào bán một chai Coca Cola. Một ngôi làng có thể hết sạch vaccine và  các dược phẩm y tế căn bản, nhưng Coca Cola thì không bao giờ thiếu.  Điều đó khiến Berry nảy ra ý nghĩ: liệu sức mạnh phân phối hàng của Coca  Cola có thể được dùng để cứu sống mạng người ở châu Phi?   Điều tra sâu hơn, anh nhận thấy Coca Cola  luôn chuyển hàng tới các thành phố lớn và một số thị trấn, nhưng sau đó  hàng sẽ được phân phối đi khắp cả nước bởi vô số những chiếc xe máy, xe  gia súc kéo, hay thậm chí xe kéo tay. Do người dân được trả tiền để phân  phối Coca Cola, họ đưa hàng tới mọi nơi có thể được. Vậy là Berry suy  nghĩ: nếu anh có thể thay thế vài chai Coca Cola trong các thùng nước  ngọt bằng dược phẩm thì anh có thể phân phát thuốc trên khắp Zambia. Tại  sao không tận dụng khoảng trống giữa các chai nước ngọt để nhét thuốc  vào? Nghĩ là làm, Simon Berry đã tạo ra những miếng nhựa không thấm nước  có tên gọi AidPod đặt giữa khoảng trống giữa các chai để vận chuyển  thêm thuốc. Những khoảng trống đó được tận dụng để chứa muối hydrate trừ  sâu răng các sản phẩm bổ sung kẽm cùng với xà bông, nước dưỡng da trẻ  em và các đồ lặt vặt khác. Những miếng AidPod này làm từ nhựa PET nên  người sử dụng có thể đổ đầy nước vào khe chứa, sau đó những tia cực tím  từ mặt trời sẽ tiêu diệt mọi vi khuẩn chứa trong nước. Điều này rất quan  trọng vì thuốc thang sẽ không hiệu quả nếu người dân không dùng kèm với  nước triệt khuẩn. Hiện tại, Simon Berry đang làm việc trên một mô hình  kinh doanh rất khả thi và phát triển một chương trình thí điểm dựa trên  việc bán các sản phẩm AidPod cho những bà mẹ mới sinh, và họ có thể dùng  hoặc bán các sản phẩm này nếu cần. Chính phủ hỗ trợ chương trình của  anh, và Coca Cola đến nay vẫn tiếp tục hợp tác.            Thanh Hải dịch.   Nguồn:  http://listverse.com/2012/12/20/top-10-ideas-that-are-saving-the-world           Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 sự kiện nổi bật năm 2011      Tạp chí TIME của Mỹ vừa bình chọn 10 sự kiện thế giới nổi bật của năm 2011, như sau:    Khi người thanh niên Bouazizi tự thiêu trên một đường phố ở thị trấn Sidi Bouzid của Tunisia, tiếng than đau đớn của anh trước cuộc sống cực nhục dưới một chế độ chuyên quyền ngột ngạt, đã được người dân khắp nơi trong vùng hưởng ứng. Chỉ trong vòng vài tuần, vụ tự thiêu phản đối đó đã châm ngòi cho cách mạng đường phố lan rộng ra khắp khu vực Trung Đông. Và không ở đâu, nó đem lại những thay đổi ngoạn mục hơn ở Ai Cập, nước đông dân nhất trong khối Arab và cũng là trung tâm văn hóa của khối. Chính quyền của Tổng thống Mubarak, được hỗ trợ đáng kể bởi Mỹ, đã thống trị suốt ba thập kỷ qua và hiện diện trong mọi ngóc ngách của xã hội Ai Cập.  Nhưng sự kiện người Tunisia lật đổ Tổng thống lâu năm Zine el Abidine Ben Ali đã tiếp thêm can đảm cho vô số các nhóm bất đồng chính kiến ở Ai Cập. Thông qua các phương tiện truyền thông xã hội và Internet, những người phản kháng đã tổ chức Ngày Nổi dậy hôm 25/1/2011. Hàng chục nghìn người dân đã đổ ra đường phố để phản đối Mubarak. Quảng trường Tahrir ở thủ đô Cairo – một nút giao thông kém thân thiện với người đi bộ – trở thành tâm điểm biểu tượng của cuộc cách mạng. Chỉ trong vài tuần, chính quyền lâu năm, tưởng như tồn tại mãi, đã tan rã. Ngày 11/2, chính quyền thông báo sự ra đi của Mubarak. Giờ đây, theo lệnh của chính quyền quân sự tạm thời, Mubarak đang bị xét xử với các tội danh tham nhũng và đàn áp tàn bạo phe đối kháng khiến gần 1.000 người thiệt mạng. Ai Cập đã tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên hôm 27/11 nhưng cuộc đấu tranh còn lâu mới kết thúc: vài tuần trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu, hàng nghìn người lại tập trung ở quảng trường Tahir, bày tỏ sự lo âu của họ trước những cam kết không rõ ràng của quân đội về một nền dân chủ thực sự. Với việc các đảng Hồi giáo ở Ai Cập trở lại mạnh mẽ trong cuộc bỏ phiếu ngày 27/11, cuộc chiến giành quyền lực chỉ càng trở nên phức tạp hơn.  2. Tiêu diệt trùm khủng bố Osama Bin Laden.  Đêm chủ nhật, ngày 1/5/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố trên truyền hình về cái chết của trùm khủng bố Osama Bin Laden, kẻ thù bị truy nã số 1 của nước Mỹ. Bin Laden bị phát hiện đang ẩn náu trong một khu nhà ở một thị trấn nhỏ, cách thủ đô Islamabad của Pakistan không xa. Cuộc đột kích bí mật sau đó – do Đội đặc nhiệm Hải-Không-Bộ của Hải quân Mỹ (Navy SEALs) tiến hành, khiến cả thế giới (và cả giới lãnh đạo của Pakistan) bất ngờ. Theo các thông báo chính thức, thi thể của Bin Laden được chôn cất theo nghi thức Hồi giáo và địa điểm chôn cất là ngoài khơi biển Arab.            Một người biểu tình Ai Cập cầm bức hình của Osama bin Laden.        Cái chết của Bin Laden đã khép lại cuộc truy đuổi kéo dài cả thập kỷ, vốn là nguyên nhân ban đầu kéo nước Mỹ can dự vào cuộc chiến ở Afganistan, đồng thời gióng hồi chuông báo tử cho Al-Quaeda, một lực lượng đã dần đánh mất khả năng lôi kéo và sức mạnh của mình trong thập kỷ sau vụ tấn công ngày 11/9/2001. Quan trọng hơn, việc phát hiện ra nơi ẩn náu của Bin Laden – không phải trong một hang núi mà ở vùng ngoại ô yên tĩnh cách một học viện quân sự lớn của Pakistan không xa – hiển nhiên đã báo động về các cam kết chống lực lượng hồi giáo cực đoan của Islamabad. Những tháng sau đó, mối quan hệ giữa Washington và Islamabad sa sút nghiêm trọng: Quốc hội Mỹ liên tục kêu gọi cắt giảm viện trợ cho quân đội Pakistan mà cơ quan tình báo của nó, ISI, bị cho là có lịch sử nhiều năm tiếp tay cho các nhóm vũ trang ở Afganistan và Ấn Độ.  3. Thảm họa động đất, sóng thần và hạt nhân ở Nhật Bản  James Nachtwey, nhiếp ảnh gia xuất sắc của TIME, người từng dành nhiều năm để ghi lại sự tàn phá của chiến tranh, đã phải bàng hoàng thốt lên trước sự tàn phá mà trận động đất ngoài khơi đông bắc của Nhật Bản ngày 11/3 và trận sóng thần kéo theo đó gây ra: “Thật không thể tin được. Nó giống như ngày tận thế.”  Với cường độ 9,0 độ richter, trận động đất là một trong những thảm họa tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại, nó mạnh đến nỗi làm cho trục nghiêng của trái đất dịch chuyển 10 cm. Nó cũng đặt Nhật Bản trước những thử thách lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II.            Hàng trăm người Nhật tạm trú trong một phòng thể chất,  ảnh chụp ngày 14/3        Động đất và sóng thần tàn phá các thành phố suốt dọc bờ biển Honshu ở đông bắc nước Nhật. Ước tính gần 16.000 cư dân thiệt mạng, và thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ đôla. Một phần thiệt hại là do thảm họa thứ ba kéo theo sau hai cú giáng liên tiếp động đất và sóng thần: sự cố ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 (Fukushima Daiichi) sau khi sóng thần tràn vào và làm hỏng hệ thống làm mát của nó. Sự cố Fukushima được xem như dư chấn dài nhất sau trận động đất, đẩy nước Nhật vào tình trạng khẩn cấp trong hàng tháng trời, kéo theo sự sợ hãi về tình trạng nhiễm xạ và đánh động toàn cầu về sự an toàn của năng lượng hạt nhân.  4. Khủng hoảng tài chính ở châu Âu  Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính đã để lộ ra toàn bộ tình trạng kém cỏi và đôi khi cả vô trách nhiệm của hệ thống tạo ra tăng trưởng và sự thịnh vượng ở các nền kinh tế thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, đặc biệt là Hy Lạp, nơi kèm theo gói giải cứu của IMF và châu Âu là yêu cầu nước này phải cắt giảm ngân sách và áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng khác. Để đáp lại, hàng chục nghìn người dân ở Athens và các nơi khác, đã xuống đường biểu tình, phản đối các định chế tài chính và giới lãnh đạo đã biến họ thành những nạn nhân đầu tiên của sự hỗn độn này. Các cuộc biểu tình chống thắt lưng buộc bụng tương tự cũng làm rung chuyển Tây Ban Nha, nơi các indignados – người bất bình – đã chiếm lĩnh quảng trường biểu tượng của Madrid là Puerta del Sol mấy tuần liền.            Thủ tướng Silvio Berlusconi (giữa) phải ra đi do khủng hoảng tài chính        Ở cả hai nước này, các Chính phủ đương nhiệm đều sụp đổ và các Thủ tướng đều bị dồn ép phải ra đi. Mối nguy tài chính từ Hy Lạp đã lan sang Ý – nền kinh tế lớn thứ ba của khu vực đồng tiền chung Euro, đẩy nước này đến bờ vực và buộc Thủ tướng Silvio Berlusconi – người từng đứng vững trước cả loạt bê bối tình dục và tài chính, phải ra đi. Cuộc khủng hoảng đã thử thách các giềng mối của châu Âu, đe dọa giải thể đồng euro, cũng như khiến các cử tri ở Đức – đầu tàu kinh tế chính của châu lục và chủ nợ lớn nhất – trở nên bất mãn và gây ra sự bất bình ở nơi này nơi khác trước những chính sách thắt lưng buộc bụng do Brussels áp đặt hay trước việc chính phủ nước họ phải tham gia giải cứu các nước láng giềng.  5. Chính quyền Gaddafi sụp đổ   Bốn thập kỷ tồn tại của chế độ độc tài Muammar Gaddafi ở quốc gia giàu dầu mỏ Lybia đã kết thúc một cách ghê rợn vào ngày 20/10/2011, song những ngày tháng trước cái chết của Gaddafi cũng đẫm máu không kém.            Các cuộc nổi dậy ở Libya        Đầu tháng 3, những cuộc nổi dậy được châm ngòi bởi cuộc cách mạng Mùa xuân Arab ở hai nước láng giềng là Ai Cập và Tunisia, đã bùng nổ thành cuộc nội chiến thật sự khi lực lượng dân quân hầu như không được huấn luyện vùng dậy chống lại lực lượng vũ trang của Gaddafi. Nhiều đồng minh cũng như tướng lĩnh nổi danh đã bỏ Gaddafi để chạy sang phe nổi dậy.   Lo lắng trước nguy cơ sẽ có thảm sát một khi Gaddafi đàn áp quân nổi dậy ở Benghazi, trong tháng ba, LHQ đã thông qua một nghị quyết mà thực chất là hợp pháp hóa sự can thiệp của nước ngoài ở Lybia. Các chiến dịch của NATO chính thức bắt đầu vào đầu tháng 4, và đẩy lùi các lực lượng của Gaddafi một cách chắc chắn. Nhưng cuộc chiến còn kéo dài nhiều tháng bởi quân nổi dậy Libya phải chật vật bảo vệ vùng lãnh thổ họ mới tái chiếm được, trong khi các đồng minh phương Tây – do Vương quốc Anh, Pháp và Mỹ cầm đầu – vẫn do dự không muốn tham chiến. Đến cuối cuộc chiến, ước tính khoảng 20.000 đến 40.000 người Lybia đã thiệt mạng; hàng chục nghìn người khác mất chỗ ở và phải sống tị nạn. Thiệt hại lớn của lực lượng Gaddafi trong các cuộc không kích đã tạo điều kiện cho lực lượng nổi dậy có thể tiến tới chiếm giữ thủ đô Tripoli, buộc Gaddafi và những cận vệ trung thành phải rút về thành phố quê hương Sirte. Ngày 20/10, quân nổi dậy đã bắt giữ và giết chết Gaddafi khi ông ẩn náu trong một ống cống. Thi thể của ông được để trong một kho lạnh vốn dùng để bảo quản thịt ở thành phố cảng Misratah để người dân có thể đến xem.    6. Mùa xuân Ả Rập ngập cỏ dại  Ở Tunisia và Ai Cập, các cuộc biểu tình rộng khắp trong cách mạng Mùa xuân Arab đã lật nhào các nhà độc tài cầm quyền lâu năm. Nhưng các cuộc nổi dậy tương tự ở Syria và Yemen lại không diễn ra theo cách đó. Tổng thống Syria Bashar Assad và Tổng thống Yemen Ali Abdullah Saleh điều hành một xã hội bất ổn và phức tạp suốt nhiều năm, củng cố quyền lực thông qua mạng lưới các đồng minh ở khắp các phe phái và bộ tộc. Các cuộc nổi dậy trong năm 2011 đã phá vỡ tình thế đó trong sự bùng phát bạo lực dữ dội.            Biểu tình ở Yemen        Vào tháng 11, Tổng thống Yemen Saleh đã đồng ý từ bỏ quyền lực, sau các cuộc nổi dậy của các bộ tộc, một cuộc nổi dậy của người Hồi giáo và cuộc đào ngũ của các nhân vật chủ chốt trong quân đội. Khoảng 2.000 người biểu tình đã thiệt mạng trong tiến trình đó, và đến nay vẫn chưa rõ trật tự chính trị nào sẽ được thiết lập ở một trong những nước nghèo nhất trong thế giới Arab.   Tình hình ở Syria, thậm chí còn ảm đạm hơn nhiều. Chính quyền Assad cố gắng bám trụ quyền lực, đối đầu với người biểu tình hàng tuần liền bằng xe tăng và súng cối. Cuộc đổ máu – mà LHQ ước tính cướp đi sinh mạng của hơn 3.500 người – đã khiến các nước làng giềng và đồng minh của Syria phải kinh sợ và đã có nước lên tiếng kêu gọi Tổng thống Assad từ chức. Liên đoàn Arab yêu cầu chấm dứt ngay tình trạng bạo lực, và gần đây đã áp dụng các biện pháp trừng pháp Nhà nước Syria, nhưng động thái này dường như sẽ chỉ nhấn Assad và những người vẫn còn trung thành với ông chìm sâu hơn vào bể máu.  7.    Nạn đói ở vùng Sừng châu Phi            Một phụ nữ Somalia mất nơi ở        Sừng châu Phi dường như là vùng đất bất ổn lâu năm nhất trên thế giới bởi vô số các cuộc bạo loạn, bởi chủ nghĩa hồi giáo cực đoan, và sự yếu kém của chính quyền Somalia. Trận hạn hán khủng khiếp nhất trong 60 năm qua, theo một số số liệu ghi nhận được – càng làm tăng thêm tình trạng khủng hoảng ở khu vực này trong năm nay. Tháng 7, LHQ công bố phần lớn miền nam Somalia ở trong tình trạng đói ăn – một phép tính phức tạp cho thấy, hơn 30% dân số địa phương bị suy dinh dưỡng cấp tính – không phải một thuật ngữ có thể xem nhẹ. Hàng trăm nghìn người Somalia đói ăn đã tìm đến các trại tị nạn ở biên giới với Kenya, ngày nào cũng có hơn 1.000 người. Trại tị nạn ở Dadaab, nơi trú ẩn lớn nhất thế giới của người tị nạn, đã quá tải. Các nỗ lực cứu trợ ở miền nam Somalia thì lại gặp trở ngại bởi sự thống trị của al-Shabab, một lực lượng vũ trang Hồi giáo có liên hệ với Al-Quaeda. Trong khi quan chức LHQ còn thận trọng trong việc đưa ra con số tử vong chính xác từ nạn đói, thì một vài ước tính cho rằng con số này lên đến hàng chục nghìn người.    8. Vụ thảm sát ở Uyota  Ngày 22/7, người dân NaUy trải qua một trong những vụ bộc phát bạo lực đẫm máu nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II. Ở Oslo, một chiếc xe được cài bom đã phát nổ gần khu văn phòng của chính phủ, làm 8 người thiệt mạng và gây choáng váng cho những người NaUy đang xem TV đưa hình ảnh khói bốc lên từ trung tâm của thủ đô yên bình bên bờ biển. Tin tức càng trở nên khủng khiếp hơn khi một tay súng bắn chết 69 người khi họ đang tham gia một trại hè thanh niên do Đảng Lao động trung tả cầm quyền tổ chức trên đảo Uyota.            Người thân của một nạn nhân trong vụ tấn công trên đảo Utoya của Anders Breivik tổ chức lễ tưởng niệm hôm 25/7        Trong khi các bình luận viên đinh ninh thủ phạm của các vụ tấn công là những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, thì cuối cùng chính quyền phát hiện ra đó là Anders Behring Breivik, 32 tuổi, người Na Uy, một kẻ cuồng tín phe cực hữu. Chính Breivik đã đưa lên mạng một tuyên bố chứa đầy sự thù ghét người nhập cư, người theo chủ nghĩa đa văn hóa, và người theo cánh tả trước khi ra tay hành động không lâu. Breivik, kẻ đã nhận hết tội, được một nhóm các bác sĩ tâm lý chẩn đoán mắc chứng tâm thần phần phân liệt hoang tưởng. Họ kết luận rằng anh ta “bị điên” trong khi tiến hành các vụ tấn công. Kết luận này cuối cùng có thể sẽ đưa anh ta vào viện tâm thần thay vì vào tù tại phiên tòa tuyên án dự kiến diễn ra vào tháng tư năm 2012. Những hành động ghê tởm của Breivik đã khiến Na Uy, mà chính phủ của nó đang đóng vai trò nổi bật trong các nỗ lực kiến tạo hòa bình ở các khu vực khác trên thế giới, phải tự vấn về sự trỗi dậy của chủ nghĩa cực hữu cực đoan ở nơi này hay nơi khác ở châu Âu.    9. Giấc mơ về nhà nước Palestine vẫn dang dở  Với tiến trình hòa bình ở Trung Đông vẫn đuối như trước nay, giới lãnh đạo của Chính quyền Palestine đã chọn cách trực tiếp kêu gọi LHQ khi theo đuổi mục tiêu nhà nước độc lập của họ. Từ vài tháng trước phiên họp của Đại hội đồng LHQ hồi tháng 9, các quan chức của Isarel và Mỹ đã cảnh báo về động thái này, lập luận rằng việc công nhận nhà nước Palestine chỉ có thể đạt được thông qua đàm phán trực tiếp với Isarel. Nhưng người dân Palestine phản đối, họ cho rằng chính phủ cánh hữu đương nhiệm của Thủ tướng Israel Banjamin Netanyahu bộc lộ quá ít sự nhún nhường cần thiết để đạt được một nền hòa bình chính thức và, đặc biệt là khi họ đang tiếp tục mở rộng các khu định cư của người Israel ở Bờ Tây và Đông Jerusalem.            Người Palestine tuần hành ở Bethlehem        Khi Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas xuất hiện ở trụ sở LHQ vào tháng 9 với bài diễn văn khuấy động Đại hội, tuyên bố về nỗ lực để được công nhận đầy đủ tại Hội đồng Bảo an, ông đã được chào đón như một người anh hùng khi về nước. Tuy nhiên, trong những tháng tiếp theo, thực tế chứng tỏ những nỗ lực đó đã chết từ trong trứng nước: việc cầm chắc bị Mỹ phủ quyết, cũng như việc Wahington gây áp lực lên các thành viên của Hội đồng Bảo an, gần như khẳng định rằng nỗ lực của người Palestine sẽ không thể kết trái và thậm chí còn không đạt được gì ở Đại hội đồng, nơi các lãnh thổ bị chiếm đóng ít nhất cũng có thể nhận được sự thừa nhận mang tính biểu tượng của quốc tế.  10. Cuộc tuyệt thực chấn động Ấn Độ của Anna Hazare   Trong một năm với quá nhiều các cuộc biểu tình phản đối trên toàn cầu như năm 2011, có lẽ hành động bày tỏ sự bất đồng gây chấn động nhất là ở Ấn Độ, nơi liên minh cầm quyền khai chiến với các vụ tham nhũng liên quan đến nhiều chính trị gia hàng đầu. Nhà hoạt động 74 tuổi Anna Hazare với phong cách của Gandhi, đã tỏ rõ khí chất giống như Mahatma khi thực hiện một loạt cuộc tuyệt thực để phản đối tình trạng tham nhũng, mà theo lời những người ủng hộ ông, đã lan tràn trong mọi lĩnh vực của xã hội Ấn Độ. Các cuộc tuyệt thực của ông đã châm ngòi cho các cuộc tuần hành ủng hộ ở nhiều thành phố lớn của Ấn Độ và tăng áp lực, buộc chính phủ phải tạo ra một cơ quan thanh tra độc lập có khả năng điều tra các chính trị gia cấp cao của nước này – kể cả Thủ tướng – và đưa tội phạm tham nhũng ra tòa.            Một người ủng hộ nhà hoạt động xã hội  kỳ cựu Anna Hazare giương cao tấm chân dung của ông vào ngày thứ 9 tuyệt  thực của ông ở New Delhi hôm 24/8.        Dự luật chống tham những mà giới phê bình lo sợ rằng có thể phương hại đến nền dân chủ mạnh mẽ, mặc dù không hoàn hảo, của Ấn Độ khi đặt nó dưới sự kiểm soát của một định chế không được tạo ra bằng phiếu bầu, vẫn đang được tranh luận ở Quốc hội. Nhưng sự ủng hộ rộng khắp mà Hazare giành được, đặc biệt từ tầng lớp trung lưu đang lớn mạnh ở Ấn Độ, là một dấu hiệu cho thấy sự bất mãn ngày càng tăng và điều mong mỏi của người dân ở nước dân chủ lớn nhất thế giới này.  Duyên Anh dịch theo  http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,2101344_2101368_2101659,00.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang 20 năm mảng Sầm Sơn vượt Thái Bình Dương      Cách đây đúng 20 năm, vào ngày 16/5/1993, tại bãi biển này đã làm lễ hạ thủy một chiếc bè mảng tre. Và ngày 17/05/1993, chiếc mảng tre này gồm có 5 người đứng đầu là Tim Severin, một nhà bác học về biển người Ireland bắt đầu chuyến hành trình&#160; vượt Thái Bình Dương.    Mục đích của chuyến đi là để chứng minh bằng thực tế một  học thuyết mà nhiều nhà khoa học đã đề xuất: Từ hàng nghìn năm trước đây  đã có những cuộc vượt biển từ vùng Đông Nam Á, từ bán đảo Đông Dương,  từ phía Nam Trung Quốc… bằng các phương tiện thô sơ, tạo nên việc giao  thoa văn hóa giữa châu Á và vùng Trung Nam châu Mỹ.  Khác với các mảng đánh cá thông thường, mảng này được tăng cường bởi ba lớp tre luồng với tổng cộng đã lắp ghép lại 550 cây và hàng nghìn mối buộc lạt mây. Mảng phải làm theo lối cổ xưa, khi không có những đinh sắt hay dây thép dây ni lông chằng buộc, không có những miếng foam hỗ trợ cho bè mảng khỏi chìm. Đó là công sức của gần một trăm lao động phường Trường Sơn thị xã Sầm Sơn ngày nay, đã miệt mài trong gần sáu tháng trời dưới sự chỉ huy của người đứng đầu thị xã Hà Minh Khiêm. Sau khi hoàn tất và được hạ thủy an toàn với một cái lễ đầy màu sắc dân gian tại đền Độc Cước, chiếc mảng được bộ đội biên phòng kéo ra Bãi Cháy Hạ Long. Tại đây, bè được lắp “động cơ”, đó là ba cánh buồm nâu được may cắt công phu và tẩy nhuộm theo đúng phong cách dân gian bởi những người thợ tài hoa vùng Phong Cốc Hà Nam, Yên Hưng Quảng Ninh. Thế là chiếc mảng Sầm Sơn đã hoàn chỉnh, sẵn sàng bước vào cuộc hành trình.   Để có thể trang bị các thiết bị cứu sinh và liên lạc hiện đại,những trang bị của thế kỷ 20 duy nhất có trên chiếc mảng cổ xưa có tuổi hai nghìn năm, chiếc mảng tre được cẩu lên tàu của Công Ty Vận Tải Biển Việt Nam từ Hạ Long chạy sang Hongkong. Sau khi hoàn tất công tác chuẩn bị, ngày 17/05/1993, chiếc mảng tre bắt đầu chuyến hành trình ven theo đảo Đài Loan, ghé qua Nhật Bản sau đó hướng thẳng sang phía Đông vượt Thái Bình Dương.   Đoàn thám hiểm gồm có 5 người đứng đầu là Tim Severin, một nhà bác học về biển người Ireland. Ông đã thực hiện nhiều chuyến thám hiểm nhằm lặp lại những chuyến đi của người xưa như ngay từ thời còn là sinh viên, ông đã cùng bạn bè lặp lại chuyến đi của Marco Polo, nhà du lịch người Ý thế kỷ 13 đã vượt sa mạc sang Trung Quốc. Bằng chuyến vượt Thái Bình Dương lần này, Tim muốn chứng minh bằng thực tế một học thuyết mà nhiều nhà khoa học đã đề xuất: Từ hàng nghìn năm trước đây đã có những cuộc vượt biển từ vùng Đông Nam Á, từ bán đảo Đông Dương, từ phía Nam Trung Quốc… bằng các phương tiện thô sơ, tạo nên việc giao thoa văn hóa giữa châu Á và vùng Trung Nam châu Mỹ.   Sau Tim, một thành viên thứ hai không kém phần quan trọng, đại diện cho những người đã làm nên chiếc mảng tre khổng lồ và là người thông thạo nhất kỹ thuật dân gian trong việc chế tạo và điều khiển mảng, một người con của Sầm Sơn đã nhiều đời nay chuyên sinh sống cùng với mảng tre, đó là anh Lương Viết Lợi, địa chỉ tại Xóm Núi phường Trường Sơn thị xã Sầm Sơn. Chưa từng đi xa, chưa từng lên tới Hà Nội, không biết một chữ tiếng Anh, chàng trai 34 tuổi không choáng ngợp trước ánh đèn Hongkong hay các đô thị Nhật Bản, hết sức tự tin hòa mình cùng tập thể đoàn thám hiểm, cùng sống và làm việc hăng say trong suốt 6 tháng trời lênh đênh, núp trong căn lều thô sơ bằng tranh tre nứa lá do chính tay mình dựng lên.         Mặc dầu mới vượt được 85% khoảng cách Thái Bình Dương ngăn cách châu Á và châu Mỹ,hành trình 6 tháng trời với 5.500 hải lý đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chiếc mảng tre thô sơ mà theo nhận định của các nhà dân tộc học hàng hải thế giới cùng với ghe bầu,mảng tre Sầm Sơn là sản phẩm độc đáo của xứ này (tức Việt Nam) mà ”không có tại bất cứ nơi nào khác trên thế gian này” (ý kiến của đô đốc hải quân Pháp Pâris François-Edmond 1806-1893,quản thủ Bảo Tàng Hàng Hải Pháp).            Với ba thành viên còn lại là bác sĩ Joe trẻ tuổi, anh Max và Trondur là hai vận động viên chơi du thuyền yacht có hạng, những cánh buồm vượt đại dương là chuyện bình thường nhưng với buồm cánh dơi và chiếc xiếm dân gian Việt Nam thì phải coi Lợi là người thầy, người huấn luyện tận tâm. Trải qua bao khó khăn hải hành trên chiếc bè thô sơ, luôn luôn dính sát mặt nước đại dương, những lần gặp cướp biển, những nguy cơ bị tàu lớn đè bẹp, những trận giông bão trên đường bị cuốn theo dòng chảy Kuroshio, chiếc mảng đã tới tọa độ 31độ 41Bắc, 148 độ 27 Tây còn cách bờ bang California nước Mỹ khoảng 1000 hải lý, thuyền trưởng Tim quyết định rời bỏ mảng để được một chiếc tàu Nhật đi ngang qua chở đoàn về Tokyo. Lúc này, một trận bão lớn sắp đổ tới và 5,6 cây luồng đã bật khỏi các mối nối chằng buộc bằng mây, đe dọa tới mạng sống của đoàn.  Mặc dầu mới vượt được 85% khoảng cách Thái Bình Dương ngăn cách châu Á và châu Mỹ, hành trình 6 tháng trời với 5.500 hải lý đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chiếc mảng tre thô sơ mà theo nhận định của các nhà dân tộc học hàng hải thế giới cùng với ghe bầu, mảng tre Sầm Sơn là sản phẩm độc đáo của xứ này (tức Việt Nam) mà “không có tại bất cứ nơi nào khác trên thế gian này” (ý kiến của đô đốc hải quân Pháp Pâris François-Edmond 1806-1893, quản thủ Bảo Tàng Hàng Hải Pháp).  Từ thô sơ tới hiện đại         Chiếc bè do Tim chỉ huy vượt Thái Bình Dương được chế tạo theo mẫu bè dân gian Sầm Sơn nhưng đã được nâng cao lên bởi khoa học hiện đại mà người thiết kế chính là kỹ sư đóng tàu người Anh Colin Mudie. Đó là một cái tên khá nổi tiếng mà bất cứ người nào làm công tác huấn luyện hải quân trên thế giới đều biết. Ông là tác giả của rất nhiều các tàu buồm huấn luyện cho hải quân nhiều nước như Anh, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản…   Cảng Đà Nẵng của chúng ta vào tháng 11 năm 2011 đã được đón tiếp chiếc tàu buồm mang tên Sudarshini do chính Colin vẽ kiểu cho Hải quân Ấn Độ, con tàu  vào thăm với màn trình diễn ngoạn mục: hàng chục thủy thủ dàn hàng trên các nhánh ngang của cột buồm, chơi vơi trên mặt nước hàng chục mét… Chính lao động vất vả giữa sóng nước trên các con tàu chạy bằng sức gió xa xưa là điều kiện tốt nhất để rèn luyện những kỹ năng thủy nghiệp, cứu sinh khi tai nạn, là nguồn gây cảm hứng trước vẻ đẹp khốc liệt của đại dương, là lò rèn luyện can trường biết dựa vào sức mình khi chẳng may bị quăng ra khỏi một con tàu hiện đại không còn trong tay các thiết bị điện tử của thế kỷ 21! Bởi vậy tàu buồm luôn luôn vẫn là lò rèn luyện người đi biển mà các trường hải quân cũng như các trường đào tạo tàu buôn vẫn cần dùng tới ,với những cuộc đại hội tàu buồm toàn thế giới tổ chức hằng năm vô cùng hoành tráng. Colin đã làm chủ mảng các con tàu này không phải là điều ngẫu nhiên.   Năm 1958 cặp vợ chồng kỹ sư đóng tàu 30 tuổi Colin và Rosemary đã liều mạng thực hiện chuyến bay bằng khinh khí cầu vượt Đại Tây Dương. Quả cầu rớt xuống biển, cặp vợ chồng thoát chết nhờ chiếc giỏ khí cầu chở người đã được họ thiết kế như một chiếc ca nô. Bằng phương tiện nhỏ bé này, hai người đã vượt sóng trước khi có người tới cứu. Với tình yêu bầu trời và biển cả như vậy, họ cùng đeo đuổi sự nghiệp các con tàu buồm suốt cả cuộc đời. Khi Tim mang tới nhà hai ông bà những đoạn tre luồng và lạt mây, những mẫu mảng tre, những điều thu thập được từ Sầm Sơn, Colin cảnh báo ngay với Tim “Ai cũng biết rằng mảng có vấn đề về tính ổn định khi bị nghiêng góc lớn, và việc lật lại một chiếc mảng lớn càng khó hơn sau khi nó bị lật úp  vì nó có độ ổn định ban đầu rất lớn”. Nói thẳng ra là, mảng tre của Việt Nam rất ổn định, song đó cũng là nhược điểm nguy hiểm nhất của nó: khi mảng bị nghiêng đến một góc nhất định, nó sẽ bất thình lình bị lật úp, và một khi đã bị lật úp thì gần như không thể lật nó ngửa trở lại. Và tất nhiên là, đang đi ở giữa đại dương mà mảng bị lật úp thì thủy thủ đoàn sẽ gặp rắc rối to.   Colin tỏ ra rất thích thú với bất kỳ thử thách kỹ thuật lạ thường nào, và ông đã phát huy hàng loạt những kỹ năng đáng nể. Là một nhà thiết kế hàng đầu về các tàu buồm huấn luyện, ông còn có cả một lượng kiến thức bách khoa về các loại thuyền buồm truyền thống và những con tàu buồm lịch sử. Nhờ đó ông đã lập được vô số bản thiết kế cho bất kể loại thuyền nào, từ bản sao chiếc thuyền buôn của thế kỷ 17 cho đến chiếc thuyền buồm cánh dơi. Theo đề nghị của Tim, ông đã sẵn sàng để làm một bản thiết kế sơ bộ cho một chiếc mảng tre vượt đại dương dựa theo các số liệu đã thu thập được tại Sầm Sơn, cũng như là tham khảo các mẫu bè cổ và thuyền buồm trong sử sách. Để cẩn thận hơn, ông đã cùng vợ là bà Rosemary đã viết và cho chạy một chương trình máy tính nhằm nghiên cứu tính ổn định lý thuyết của mảng khi chịu các tải trọng khác nhau. Colin có một thái độ nể trọng sâu sắc đối với các dân tộc bản địa đã xây dựng và phát triển các phương tiện thủy của mình theo các bước tiến hóa trải qua hàng thế kỷ. Vì vậy, Tim và Colin đã nhất trí tiến hành công việc theo từng bước với sự tham gia sát sao của những người thợ làm mảng ở Sầm Sơn.  Đầu tiên, Colin đưa ra bản thiết kế sơ bộ để làm một mô hình mảng dài khoảng nửa mét, chính xác đến từng chi tiết. Tim đem mô hình này đến gặp những người dân chài ở Sầm Sơn và nhờ họ làm một mảng mẫu, với chiều dài bằng phân nửa chiếc mảng thật. Với cách làm này, Tim và Colin đã học hỏi được thêm vài điều về các kỹ thuật cần thiết để làm một chiếc mảng lớn hơn rất nhiều so với mảng tre Sầm Sơn. Và Tim đã dùng mảng mẫu này để đi thử. Sau khi Colin đưa thêm vào các chi tiết cho bản thiết kế cuối cùng, Tim tiến hành làm mảng tre với kích thước thật dành cho chuyến đi xuyên đại dương. Đó là chiếc mảng như hình vẽ kèm theo với các đặc tính: dài 18,3m; rộng 4,6m; mớn không xiếm 0,41; mớn có xiếm 1,3m; buồm 75m2; đáy 3 lớp luồng buộc lạt mây tre.  Tháng mười năm 2012 vừa qua, để chuẩn bị cho cuộc kỷ niệm 20 năm mảng Sầm Sơn vượt Thái Bình Dương, tôi đã nối điện thoại với Colin. Từ vùng Hampshire, tận cùng phía Nam của nước Anh, tôi nghe được giọng nói rành mạch, rõ ràng của một ông già suốt đời gắn bó với biển cả và những cánh buồm nay đã ở tuổi trên 80. Ông rất mừng vì đã nghiên cứu mảng tre Việt Nam, ông cũng muốn biết chúng ta có những nghiên cứu gì về mảng về thuyền dân gian. Tôi thật xấu hổ không biết nói sao khi biết rằng trong các trường của chúng ta hiện nay đầy ắp những tập hồ sơ đóng bìa xanh chữ vàng ngay ngắn với các tiêu đề tàu đệm khí, tàu WIG,với những nghiên cứu về CAD/CAM… trong đóng tàu, hàng hải… mà tịnh không có một đề tài nào về buồm, về mảng về ghe bầu, những vấn đề luôn được nêu ra làm đầu đề nghiên cứu tại các đại học danh tiếng tại Paris, Seattle, Roma… Hình như câu chuyện về mảng Sầm Sơn nhỏ bé này cũng có mối liên hệ tới những vấn đề to tát mà chúng ta thường đang lớn tiếng nói ngày hôm nay về biển đảo, về cái gọi là “chiến lược biển”!         Author                Quản trị        
__label__tiasang 20 năm sự kiện Rostock-Lichtenhagen: Thảm nạn của người nhập cư và vết nhơ nước Đức      Lễ tưởng nhớ 20 năm sự kiện  Rostock-Lichtenhagen, vụ bạo động tấn công người nước ngoài lớn nhất  nước Đức kể từ thế chiến thứ 2, được thành phố Rostock tổ chức trọng đại  sau nhiều năm chuẩn bị công phu, thu hút sự quan tâm cả nước Đức.    Tháng trước tròn 20 năm kể từ vụ bạo động tấn công người nước ngoài lớn nhất nước Đức kể từ thế chiến thứ 2, xảy ra năm 1992, nhằm vào trại tỵ nạn Rostock-Lichtenhagen cùng ký túc xá người Việt kế cạnh.   Đó là thời kỳ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, số người xin tị nạn tại Đức tăng kỉ lục, tới 430.000 người/năm, gây áp lực lo ngại không thể gánh nổi lên cả nhà nước lẫn dân chúng. Một cuộc thăm dò dư luận tháng 2/1992 cho thấy 74% người Đức mong muốn hạn chế tị nạn vốn được Hiến pháp Đức coi là quyền cơ bản con người nhà nước phải bảo đảm. Các Đảng cực hữu nhân đó đưa ra những khẩu hiệu kích động bài ngoại “thuyền đã đầy”.   Truyền thông cũng ra sức cổ vũ, ngày 9/9/1991, tờ báo lớn Spiegel giật tít: “Cuộc tấn công của người nghèo” kèm bức hình chiếc thuyền Đen-Đỏ-Vàng, mầu cờ Đức, bị đông đảo người tỵ nạn nhấn chìm. Tít trên báo Bild còn đòi: “Tị nạn: Bonn, hãy làm điều gì đó”.   Bị kích động, tại Hoyerswerda, người Việt hành nghề bán dạo bị một nhóm cực hữu và dân chúng tấn công; ký túc xá lao động Mozambique vùng đó bị quậy phá. Rồi phát triển lên đỉnh điểm tại Rostock-Lichtenhagen, khởi đầu từ chính quyền địa phương bị quá tải khi tiếp nhận khoảng 400 người tị nạn, cho dựng lều ngủ trên bãi cỏ trong điều kiện sống thiếu thốn, ồn ào, mất trật tự vệ sinh, trước một chung cư 11 tầng mang tên Sonnenblumenhaus, tầng 7 dùng làm trụ sở tiếp nhận tỵ nạn ZAst.   Phớt lờ trước ta thán của các hộ dân sống chung quanh, trước cảnh báo của Sở Y tế về nguy cơ bệnh tật lây lan, thành phố vẫn không lắp đặt nhà vệ sinh công cộng, cũng không chuyển điạ điểm. Lòng kiên nhẫn của dân chúng, chủ nhân đất nước trước chính quyền chỉ được coi là công bộc của họ, vốn có giới hạn; ZAst lập tức bị đe dọa tấn công, ấn định thời hạn chính quyền phải giải quyết nếu không sẽ dùng bạo lực.   Thời hạn ngày 22/08/1992 đến, khoảng 2.000 người dân tụ tập trước hiện trường toà nhà Sonnenblumenhaus phản đối. Hơn 200 tên cực hữu, nhân cơ hội đó phá tường, ném đá, bom xăng tự chế vào ban công, gào thét khẩu hiệu phát xít: “Nước Đức của người Đức”. 160 nhân viên cảnh sát được huy động tới ngăn chặn, nhiều xe bị đốt phá, 13 cảnh sát bị thương. Ngày tiếp theo 23/8/1992, bọn cực hữu lôi kéo từ khắp nước Đức tới, lên đến 500, dân chúng tăng lên 3.000 đứng vòng ngoài cổ vũ.   Một khi bạo động đã mang khẩu hiệu phát xít thì không ngoại trừ bất kỳ người nước ngoài nào, ngay lập tức ký túc xá lao động người Việt kế cạnh trở thành mục tiêu tấn công. Khi cảnh sát đến ngăn chặn, chúng đã tràn lên được tầng 6. Tới lượt cảnh sát bị đám đông áp đảo tấn công lại bằng gạch, đá, bom xăng tự chế và pháo sáng. Bộ trưởng Nội vụ Liên bang phải báo động, điều hàng trăn cảnh sát Liên bang và cảnh sát biên phòng các nơi tới chi viện, tận 2 giờ sáng ngày 24/8/1992 trật tự mới vãn hồi. Rốt cuộc ZAst vẫn phải di dời địa điểm như đòi hỏi ban đầu của dân chúng.   Nhưng đã quá muộn, cuộc bạo động đã biến thái sang cực đoan với khẩu hiệu Hitler, đòi “người nước ngoài phải cút đi“ – điều nhà chức trách đã không lường trước, phạm tiếp sai lầm thứ 2, khi cảnh sát bị chúng quay lại tấn công, để bảo toàn lực lượng liền ra lệnh triệt thoái. Hậu qủa 120 người Việt lao động hợp tác với nhiều trẻ em và hai phụ nữ mang thai trong ký túc xá bị cảnh sát bỏ rơi, trở thành miếng mồi ngon cho chúng tấn công điên cuồng, không gặp bất kỳ cản trở nào, mặc dù trong đó có cả tổ phóng viên truyền hình ZDF tác nghiệp, lẫn đặc trách ngoại kiều Rostock cũng phải chung số phận.   Cả ký túc xá, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, hoảng loạn khiếp đảm, đối đầu với bọn cực hữu lúc này đã lên hơn 800 tên hò hét tấn công, được kích động bởi chừng 3000 người dân đứng vòng ngoài hò reo. Gạch, đá, bom tự chế thi nhau ném vào ngôi nhà không được bảo vệ, đơn độc đương đầu chịu trận. Chúng hò nhau tuyên chiến: “Chúng tao sẽ tóm được tất cả bọn mày”, rồi phá cửa nhảy vào đổ xăng khắp nhà châm lửa. Đến 21 giờ 38 phút, lực lượng cứu hoả mới nhận được điện khẩn của một người dân, tới chữa cháy, nhưng bị đám đông cản đường, mãi tận 23 giờ, cảnh sát tới giải toả, mới có thể bắt đầu; lúc đó toàn chung cư đã ngập chìm trong lửa khói. Những người bị kẹt trong đám cháy may phá thông được lối thoát hiểm chui qua mái nhà chung cư cao tới 11 tầng, sang chung cư kế giáp thoát thân. Khoảng 23h30, đám cháy được dập tắt, họ tìm được bao người Việt còn mắc kẹt cùng đường, tuyệt vọng trốn khắp mọi xó xỉnh trong những tầng nhà lửa chưa kịp bén.   Như một điều kì diệu, thật may mắn không ai bị thiệt mạng, được cảnh sát hộ tống sơ tán. Cứu thoát được người Việt, nhưng cảnh sát vẫn không thể làm chủ được tình huống, đụng độ với bọn cực hữu lần này lên tới 1.000 tên tấn công bằng đá, hỏa tiễn và bom tự chế, phải dùng vòi rồng, xịt hơi cay, dai dẳng hết ngày hôm sau mới chấm dứt, kết cục 65 cảnh sát bị thương, nhiều ô tô bị thiêu rụi.  Vụ bạo động rung chuyển xã hội, chấn động chính trường Đức lúc đó, trở thành sự kiện gây lo ngại nhất cho thế giới thời bấy giờ, và mãi mãi đi vào lịch sử đau đớn nhất của nước Đức đối với người nước ngoài, chỉ sau thế chiến thứ 2. Với ý nghĩa cảnh báo to lớn của nó, cuối tháng trước, lễ tưởng nhớ 20 năm sự kiện Rostock-Lichtenhagen, được thành phố Rostock tổ chức trọng đại sau nhiều năm chuẩn bị công phu, thu hút sự quan tâm cả nước, truyền thông không ngày nào không đề cập.   Trước ngày tổ chức lễ tưởng nhớ, gần 6.000 người từ khắp nước Đức đổ về Rostock-Lichtenhagen biểu tình chống phân biệt chủng tộc: “Wo, wo, wo wart Ihr 1992? – Bạo động năm 1992, các người đã ở đâu, ở đâu?”.   Tham gia lễ tưởng nhớ, hơn 3.000 người mang theo hoa hướng dương, tấm trải picnic, và cả sự căm giận, tập trung tại bãi cỏ trước chứng tích ngôi nhà Sonnenblumenhaus, ký túc xá người Việt bị tấn công. Trên lễ đài, bên cạnh một cây xanh được trồng làm biểu tượng hòa bình, Tổng thống Đức, ông Gauck, mở đầu bài phát biểu: “cuộc bạo động đã qua, nhưng vết nhơ cho thành phố Rostock tới nay vẫn còn đây“.   Ở Đức, Tổng thống do Hội nghị toàn liên bang bầu trực tiếp, được coi là niềm tin, chỗ dựa của mỗi người dân bất kể họ là ai, tôn giáo nào, hệ tư tưởng gì, (vì vậy khi trúng cử, tổng thống tự động ngừng tham gia đảng phái); thay vì đổ hết tội lỗi cho cực hữu vẫn còn tồn tại ở một bộ phận, nằm ít nhiều trong tư tưởng dân chúng, Gauck khẳng khái nhận trách nhiệm: “Vụ bạo động chống người nước ngoài năm 1992 chứng tỏ sự bất lực của nhà nước“. Và để khẳng định để giải quyết nó không có phương tiện hữu hiệu nào khác ngoài nền tảng dân chủ, ông nhấn giọng: “Dân chủ phải có khả năng tự bảo vệ”, và để đạt được “cần hai điều kiện tiên quyết, người dân không ngoảnh mặt, dám dũng cảm đương đầu, nhưng trước hết nhà nước phải đủ khả năng bảo vệ nhân phẩm và cuộc sống của mỗi con người, dù đó là ai” – rốt cuộc vẫn là vai trò chủ nhân của từng người dân và trách nhiệm công bộc của nhà nước được dân giao phó.   Trong số 120 nạn nhân người Việt của vụ bạo động, tại Rostock hiện vẫn còn 35 người sinh sống, nhiều người có mặt trong buổi lễ mang theo cả con cháu, nhưng hầu hết đều ngại ngùng từ chối khi được mời làm khách danh dự, mặc dù họ chính là nhân chứng sống của lịch sử không ai có thể thay thế, người Đức rất cần.   Trên khán đài duy chỉ có ba người Việt, trong số đó có Đại sứ Việt Nam Nguyễn Thị Hoàng Anh, và bà Phương Kollath, nguyên lao động hợp tác thời Đông Đức, nay là phiên dịch, thạc sĩ sư phạm, chuyên gia đào tạo chương trình nâng cao cho giáo viên, cảnh sát, doanh nhân, nhân viên sở ngoại kiều Đức, và là thành viên người Việt duy nhất trong các Hội nghị Thượng đỉnh, cùng các bộ trưởng khác bàn về chính sách di trú và hoà nhập do Thủ tướng Merkel chủ trì. Bà lý giải với báo giới hiện tượng ngại ngùng của người Việt, “do không quen xuất hiện trước tập thể đông người. Trước kia, bà cũng thế, như hầu hết người Việt, luôn sống thu mình”.   Nghĩa là ngay cả khi đã sống trong lòng một thế giới cởi mở, vẫn khó hoà nhập cùng thế giới; ai trăn trở, không thể không đặt câu hỏi vì chính dòng giống con Lạc cháu Hồng, vậy phải làm sao để “sánh vai với các cường quốc năm châu” đây, khi mà lợi ích vận hệ của chính mình bị đe doạ vẫn “thu mình”, “ngại” không lên tiếng?!        Author                Quản trị        
__label__tiasang 2017 – Công nghệ và những  thách thức chính sách mới      Công nghệ là lực lượng toàn cầu đang trỗi dậy và tích lũy sức mạnh; nhưng với một quốc gia như Việt Nam, thế chủ động để kiểm soát  ‘chủ quyền’ – trong đó có chủ quyền làm chính sách, vẫn đang nắm vững trong tầm tay. Quyết định cuộc cờ và các nước đi như thế nào, vì vậy vẫn đang trong tầm tay của những người làm chính sách.      Tòa án Công lý Châu Âu đã ra tuyên bố Uber là công ty taxi chứ không phải là công ty công nghệ vào ngày 20/12 vừa qua.  Nếu như tháng cuối cùng của năm 2017 mở ra với tâm điểm là sự tăng giá phi mã của Bitcoin, thì những ngày cuối tháng, một sự kiện khác, vẫn liên quan đến các công ty công nghệ, thu hút sự chú ý của dư luận, đó là việc Tòa án Công lý Châu Âu ra tuyên bố Uber là công ty taxi chứ không phải là công ty công nghệ. Xuyên suốt năm 2017, trên thế giới, ‘công nghệ’ là từ khóa được thảo luận nhiều nhất: từ những mẫu hình, ứng dụng trí tuệ thông minh nhân tạo (công nghệ AI) liên tục được ra mắt; tới sức hút khó cưỡng của tiền mã hóa, lẫn những tranh cãi về mặt chính sách và pháp lý phức tạp chưa có hồi kết của các quốc gia để điều chỉnh các xu hướng công nghệ này.  Những dự báo về mức độ phát triển của công nghệ, giới chuyên gia đã đưa ra từ lâu, nhưng dường như tốc độ của nó còn đi nhanh hơn nhiều so với những dự báo. Từ trước đến nay, luật pháp luôn phải chạy theo cuộc sống. Nhưng có lẽ chưa bao giờ, những nhà làm luật, ngay chính ở những quốc gia tiên tiến nhất, lại lúng túng và chia rẽ gay gắt khi đứng trước bài toán xây dựng luật mà bước tiến quá nhanh của công nghệ đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Điều này thực ra không quá khó hiểu, bởi công nghệ đang xóa nhòa biên giới địa lý và thách thức gay gắt chủ quyền quốc gia – thứ ‘chủ quyền’ theo cách truyền thống mà toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia lẫn luật pháp và ứng xử quốc tế đặt nền tảng trên đó. Đồng Bitcoin chẳng hạn – được phát hành bởi một thực thể vô danh chứ không phải là Ngân hàng trung ương theo cách truyền thống. ‘Thuật toán’ và giải mã thuật toán là yếu tố quyết định số lượng tiền được lưu thông trên thị trường – chứ không phải là một Ngân hàng Trung ương nào cả. Và giá trị giao dịch thực tế lại được ấn định bởi thị trường – thuần túy là thị trường toàn cầu, chứ không phải chính quyền của một quốc gia nào có thể ấn định hay can thiệp. Và cũng cần lưu ý thêm rằng – Bitcoin chỉ là một, trong rất rất nhiều các loại tiền mã hóa (cryptocurrency), đang nở rộ gần đây. Những đồng tiền này vượt khỏi biên giới quốc gia, và cũng không nằm trong tầm điều chỉnh của mọi ngân hàng nhà nước. Trong khi tiền tệ – theo cách thức đã định hình nhiều nghìn năm nay – là một trong những yếu tố căn bản xác lập chủ quyền cao nhất của mọi nhà nước bởi nó cũng là công cụ quyền lực căn bản của chính quyền (bên cạnh bộ máy quân đội, an ninh và công cụ luật pháp). Công nghệ – mà hình thái nổi trội nhất của nó hiện nay là tiền mã hóa, đang trở thành một lực lượng mới – thách thức và đối trọng lại những quyền lực truyền thống của nhà nước. Một thứ quyền lực xuyên biên giới, phi tập trung và vận động tiến lên không ngừng. Ứng xử với nó như thế nào, quả là một cơn đau đầu không hề dễ chịu.      Công nghệ đang xóa nhòa biên giới địa lý và thách thức gay gắt chủ quyền quốc gia – thứ ‘chủ quyền’ theo cách truyền thống mà toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia lẫn luật pháp và ứng xử quốc tế đặt nền tảng trên đó.        Chẳng thế mà thái độ và động thái cụ thể của các quốc gia với Bitcoin là rất khác nhau. Trong khi một số nước cởi mở và hào hứng tiếp đón, như Nhật, Úc chẳng hạn – thừa nhận đồng tiền; thậm chí đón đầu bằng cách tự tạo ra các loại tiền mật mã của riêng mình (Trung Quốc, Nhật). Số đông khác, dù biết là không thể ‘chắp tay đứng nhìn’ nhưng vẫn lưỡng lự với nan đề: thừa nhận nó như một phương tiện thanh toán – một đồng tiền đúng nghĩa thì đối mặt với rủi ro một ngày, (mà ngày đó có thể rất gần), đồng nội tệ bị hất cẳng ra khỏi cuộc chơi vì người dùng (người dân) ‘yêu’ và tin nó hơn là đồng tiền ‘nhà nước’. Mà không thừa nhận – đồng nghĩa là đứng ngoài hẳn cuộc chơi, mà đồng thời cũng không thể cấm cản công dân quốc gia mình bằng cách này cách khác tham gia vào cuộc chơi đó. Đơn giản là vì internet và công nghệ là không biên giới.  Trở lại với Việt Nam, không nằm ngoài xu thế đó, trên bình diện xây dựng chính sách, năm 2017 cũng là năm mà những tranh luận xoay quanh vấn đề ‘luật hóa’ hoạt động thuộc xu hướng kinh tế công nghệ, kinh tế chia sẻ (sharing economy) diễn ra sôi nổi và gây nhiều chia rẽ. Nổi bật là ba câu chuyện: áp quy định pháp lý như thế nào cho Uber, Grab; làm thế nào để thu được thuế từ các hoạt động thương mại điện tử trên Facebook, Google; và cuối cùng, hóc búa nhất, có thừa nhận tiền mã hóa không, thừa nhận với mức độ như thế nào? Cả ba câu hỏi này đều chưa có câu trả lời rõ ràng, và đương nhiên sẽ vẫn là chủ đề tranh cãi không chỉ riêng năm 2018 mà còn là trong nhiều năm tới.  Lựa chọn theo hướng nào đều có những cái giá phải trả. Nhưng đứng trước nền kinh tế chia sẻ và công nghệ vượt mọi biên giới quốc gia, Việt Nam, theo người viết, nên có cái nhìn lạc quan và cởi mở. Phán quyết của Ủy ban châu Âu – mà ý nghĩa và hệ quả quả nó không chỉ riêng cho trường hợp cá biệt của Uber mà cả với xu hướng kinh tế chia sẻ, chưa hẳn là mẫu hình để Việt Nam đi theo. Với một quốc gia như Việt Nam, khuyến khích xu hướng công nghệ là cần thiết. Là một nước đi sau, lợi thế công nghệ sẽ giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách thay vì cách đi tuần tự như những mô hình phát triển cũ. Công nghệ là một con sóng lớn. Và như một người lướt sóng, khi đứng trước một con sóng, hoặc là chủ động tiến lên, nắm lấy con sóng để vượt lên và thành công; hoặc bị con sóng xô ngã.    Author                Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang 2020: Việt Nam trước ngưỡng cửa mới      Trong một thế giới đầy năng động và cũng đầy biến động, Việt Nam rất cần tinh thần cởi mở, sẵn sàng đón nhận, sàng lọc, vận dụng cái mới một cách linh hoạt, sáng tạo và năng động.    Năm 2019 Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, như Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) của nước ta năm 2019-2020 do Diễn Đàn Kinh tế Thế Giới (WEF) ở Thụy Sĩ công bố đã đạt mức cao nhất từ trước đến nay, xếp thứ 67/141 nền kinh tế.  Chỉ số Năng lực Đổi mới Sáng tạo của Việt Nam cũng có cải thiện. Ngày 24/7/2019 tại New Delhi- Ấn Độ, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã công bố Báo cáo về xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2019. Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí, tăng 3 bậc lên vị trí 42 trên 129 quốc gia/nền kinh tế được xếp hạng so với năm 2018. Thứ hạng này đã cải thiện 17 bậc so với xếp hạng năm 2016 và đưa Việt Nam vươn lên xếp thứ nhất trong nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ 3 trong ASEAN sau Singapore và Malaysia.  Kinh tế Việt Nam dự báo có thể đạt tốc độ tăng trưởng 7,02%/năm, vượt chỉ tiêu tăng GDP 6,8% do Quốc hội quyết định, trong đó công nghiệp chế biến, chế tác đóng góp 2,5%, dịch vụ và thương mại 2,75%. Nổi bật là tốc độ bán lẻ và dịch vụ thị trường trong nước tăng 11,8% trong khi chỉ số giá tiêu dùng CPI chỉ tăng khoảng 2,6% so với năm 2018.  Tính chung 11 tháng năm 2019, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 177.560 doanh nghiệp, tăng 6,8%, số doanh nghiệp mớí đăng ký đạt 138.139 doanh nghiệp, tăng 5,3% về số doanh nghiệp và tăng 17,1% về vốn đăng ký.      Tổng Cục Thống kê mới tính lại tổng sản phẩm quốc nội, công bố GDP Việt Nam tăng thêm 25,4%, GDP bình quân đầu người đạt 3000 USD/người. Tuy nhiên, việc tính lại GDP không làm tăng thu nhập bình quân trên thực tế của người dân, và chúng ta cần tránh coi đây là liều thuốc an thần để tiếp tục tăng thêm bội chi ngân sách, tăng nợ Chính phủ.      Xuất khẩu và nhập khẩu vượt ngưỡng 500 tỷ USD, dự báo đạt 517 tỷ USD, tăng 9,2%, thấp hơn so với năm 2018 nhưng vẫn là một thành tựu đáng ghi nhận trong điều kiện biến động hiện nay. Xuất khẩu hàng hóa đạt 263 tỷ USD, tăng 7,9%, xuất siêu 1 tỷ USD. Mặc dầu gặp thiên tai (hạn hán) nông nghiệp đã đạt được những thành tựu và tiến bộ rất đáng khích lệ. Xoài, thanh long, vải thiều… đã được xuất khẩu sang những thị trường có đòi hỏi cao như Nhật Bản, Mỹ, Liên minh châu Âu…  Tổng lượng khách du lịch đến Việt Nam trong năm 2019 có thể đạt trên 17 triệu lượt khách, tăng khoảng 16% so với năm 2018. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt 38,02 tỷ USD vốn cam kết, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7%.  Sản lượng công nghiệp tăng 9,5%, riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tác năm 2019 dự kiến tăng khoảng 11%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Lần đầu tiên tập đoàn kinh tế tư nhân Vingroup đã sản xuất ô tô du lịch nhãn hiệu VinFast chứ không chỉ lắp ráp các xe nước ngoài như một số hãng khác.  Thách thức từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư với sự xuất hiện của người máy, trí thông minh nhân tạo, Internet vạn vật, hệ thống điều hành máy móc sản xuất tự động được kết nối với hệ điều hành số hóa, không cần con người, đang tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội, từ cấp nhà nước cho đến từng gia đình và mỗi cá nhân.  Tuổi thọ của một sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường liên tục bị rút ngắn, luôn bị thách thức bởi sự xuất hiện của các sản phẩm và dịch vụ mới với nhiều tính năng ưu việt hơn. Nhiều ngành nghề, công việc đã và sẽ được thay thế bằng người máy và trí thông minh nhân tạo. Các dây chuyền sản xuất với người máy hoạt động liên tục 24/24 giờ, không cần nghỉ ngơi suốt 7 ngày/ tuần, không đòi tăng lương, không đình công đang mở ra thời đại được Marx tiên đoán là “của cải sẽ tuôn ra dào dạt” nhưng cũng làm đảo lộn lý thuyết về giá trị thặng dư và người bóc lột người. Ở Việt Nam, đã bắt đầu có hiện tượng lao động giản đơn bị thay thế bởi người máy và trí thông minh nhân tạo, tuy nhiên phần nhiều diễn ra ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.  Công nghệ in 3D đang thay đổi ngành dệt may, da giày, y học, xây dựng, sản xuất vũ khí… Một ngôi nhà có thể được xây thô chỉ trong 48 giờ. Một doanh nghiệp may ở Việt Nam có thể may đo áo dài cho một phụ nữ ở Mỹ theo những số đo 3 chiều được cung cấp. Kinh tế số hóa, chuỗi khối (blockchain) tạo ra cơ hội liên kết chặt chẽ xuyên quốc gia giữa các doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, kinh tế tự do (Gig economy) cho phép lao động có chuyên môn ngồi ở nhà, cùng một lúc có thể làm nhiều việc cho các khách hàng ở trong nước hay ngoài nước, tránh bị kẹt xe và ô nhiễm không khí, nhận thù lao qua chuyển khoản tại ngân hàng.  Thương mại điện tử vượt qua biên giới hành chính quốc gia, giao hàng tận nhà, thanh toán qua mạng đang phát triển nhanh chóng, làm cho không ít cửa hàng tạp hóa truyền thống bị phá sản ở nhiều nước. Đồng tiền điện tử đã được một số nước chấp nhận; Trung Quốc cũng đang chuẩn bị phát hành đồng tiền điện tử của riêng mình.  Sức ép tái cơ cấu kinh tế đang gia tăng và không chờ đợi một ai. Giá trị gia tăng của công đoạn gia công đang bị giảm sút mạnh như sơ đồ dưới đây minh họa cho thấy:  Ý thức về những biến động mạnh mẽ trên thế giới và bước đầu diễn ra ở Việt Nam, ngày 27.9.2019 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết 52-NQ/TW về “chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Trong đó khẳng định chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Đồng thời yêu cầu nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội.”.  Tuy nhiên, để thực hiện thành công Nghị quyết này rất cần một chương trình hành động cụ thể và kịp thời của các ngành, các cấp.  Cần một Đổi mới lần hai  Những năm gần đây, nhiều tỉnh, thành phố và một số bộ, ngành đã chủ động vận dụng chính phủ điện tử, cải cách hành chính, cắt giảm giấy phép con, thủ tục hành chính, qua đó giảm bớt chi phí về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp và công dân. Đó là những tiến bộ đáng trân trọng. Tuy nhiên, có thể thấy rõ rằng nước ta đang bị tụt hậu so với các nước ASEAN 4 và đang chậm chân trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Vướng mắc chủ yếu thuộc về “thể chế, thể chế, thể chế” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã xác định.  Năm 2019, chiến dịch chống tham nhũng đã đưa ra ánh sáng những vụ tham nhũng cực lớn như AVG liên quan đến hai Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông trước đây hay vụ đầu tư mở rộng Tập đoàn Gang Thép Thái Nguyên TISCO liên quan đến một Phó Thủ tướng cho thấy cần cải cách thể chế, giám sát quyền lực hiệu quả hơn.  Giữa tháng 12, Tổng Cục Thống Kê tính lại tổng sản phẩm quốc nội, công bố GDP Việt Nam tăng thêm 25,4%, GDP bình quân đầu người đạt 3000 USD/người. Tuy nhiên, việc tính lại GDP không làm tăng thu nhập bình quân trên thực tế của người dân, và chúng ta cần tránh coi đây là liều thuốc an thần để tiếp tục tăng thêm bội chi ngân sách, tăng nợ Chính phủ.  Vấn đề minh bạch Ngân sách Nhà nước của nước ta tuy đã có tiến bộ nhưng còn hạn chế. Tình trạng lạm dụng ngân sách để chi tiêu, đi nước ngoài kém hiệu quả vẫn chưa được khắc phục. Theo so sánh quốc tế, kinh tế càng phát triển khi minh bạch ngân sách cao hơn:  Trong khi chưa sẵn sàng thực hiện những thay đổi mạnh mẽ, điều có thể và cần làm ngay là thực hiện công khai, minh bạch của các cơ quan nhà nước, trước hết là về ngân sách. Cần chấm dứt sử dụng tiền doanh nghiệp để chiêu đãi, đi nước ngoài… vì đó là hành vì thương mại hóa quyền lực và lợi ích nhóm.  Năm 2020 sẽ là năm tiến hành đại hội Đảng bộ các cấp, thảo luận dự thảo các Báo cáo trình ra Đại Hội XIII của Đảng, là năm Việt Nam đảm nhiệm chủ tịch luân phiên của ASEAN và là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Giữa những vận hội mới đang mở ra cùng những biến động, thách thức khó lường, chúng ta rất cần một Đổi mới lần hai để “nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật, nói đúng sự thật”, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.  Thế giới biến động khó lường   Khác với thập kỷ trước tương đối ổn định, tình hình thế giới trong thập kỷ 2010-2019 đã có những biến đổi trái chiều. Tiến trình hội nhập quốc tế tiến triển chậm hơn, vấp phải nhiều phê phán, có nơi bị đảo ngược như nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit), và đỉnh điểm là Chiến tranh Thương mại Mỹ-Trung, thực chất là cuộc đối đầu chiến lược toàn diện giưa hai nền kinh tế lớn nhất hành tinh. Chưa biết cuộc thương chiến giữa hai cường quốc này sẽ kéo dài bao lâu, có lan sang thành chiến tranh tiền tệ hay sở hữu trí tuệ và các hình thức khác hay không. Đã có dự báo bi quan về khả năng sống lại của thời “Chiến tranh lạnh” đối đầu kéo dài trước kia, nhưng cuộc đối đầu này sẽ kết hợp “vừa đánh, vừa đàm”.  Vai trò của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bị phê phán gay gắt và đòi hỏi phải được cải tổ. Hội nghị COP 25 của Liên Hiệp Quốc bàn về biện pháp ngăn chặn biến đổi khí hậu họp 12 ngày ở Tây Ban Nha không đạt được thỏa thuận như mong đợi về cắt giảm khí thải carbon. Các ví dụ đó cho thấy quá trình hội nhập quốc tế đang được xem xét và thiết kế lại để cân bằng với lợi ích quốc gia của các bên tham gia.  Mặt khác, tại châu Á, những nỗ lực hội nhập vẫn được đẩy mạnh: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương Toàn diện và Tiến bộ (CPTPP) được ký kết và thực hiện. Hiệp định Hợp tác Khu vực Toàn diện (RCEP) đang trong quá trình tiếp tục đàm phán với hy vọng sẽ được kỹ kết trong năm 2020, chứng tỏ động lực toàn cầu hóa vẫn còn tiếp tục phát huy tác dụng ở khu vực này.  Trung Quốc đối diện với khó khăn và bất ổn nhiều mặt nhưng sẽ vẫn quyết tâm theo đuổi tham vọng “Made in China 2025”. Các dự báo đều thống nhất rằng kinh tế Trung Quốc sẽ không sụp đổ và sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất hành tinh vào khoảng 2030 đến 2035. Câu hỏi lớn là Trung Quốc sẽ hành xử thế nào ở vị trí này, thực hiện chủ nghĩa bá quyền áp đặt hay tôn trọng luật pháp quốc tế?  Một thế giới đa cực Mỹ-Trung-EU với sự trỗi dậy của Ấn Độ, liên kết với Nhật Bản và các nước khác đang tạo ra những đối trọng mới.     Theo khoahocphattrien.vn    Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang 21 bài học cho thế kỷ XXI (phần 2)      Những vấn đề thời sự chính trị cũ được viết lại trong những phần sau của cuốn sách với cách nhìn rộng xuyên suốt lịch sử loài người trong hàng triệu năm, thậm chí của sinh quyển hàng tỷ năm. Harari đã tiếp tục đưa ra những thảo luận đặc sắc và đáng suy nghĩ trong thời đại mới này.      Thách thức chính trị  Cộng đồng lớn nhất thế giới  Con người ngày nay ít tham gia vào các hội nhóm (offline) hơn trước đây mấy chục năm, thật vậy. Thế nên một dự án mà Mark Zuckerberg khởi động vào năm 2017 để khuyến khích người dùng tham gia các nhóm (Group) nhiều hơn đã có kỳ vọng kết nối xã hội. Nhưng đến nay, kết quả của nó có vẻ không rõ ràng. Kết nối nhiều hơn, tham gia nhiều nhóm hơn nhưng tất cả đều trên mạng.  Cái mà con người cần hơn bây giờ là kết nối với những trải nhiệm của chính mình. Thay vì tận hưởng những trải nghiệm của bản thân, ví dụ như khi leo lên một đỉnh núi, thì ta lại dành nhiều thời gian trên đỉnh núi đó để đợi những lượt thích từ bạn bè trên mạng hơn là phải ngắm nhìn xung quanh. Kết nối nhiều trên mạng khiến chúng ta mất đi kết nối với cơ thể, giác quan và môi trường vật lý xung quanh mình, và chắc chắn làm giảm cả những mối quan hệ thân thiết khác.  Văn minh nhân loại đang hội tụ  Trong tự nhiên, tinh tinh vẫn sống theo bầy và khỉ đột thì luôn xây dựng một nhóm đơn lẻ chỉ có một khỉ đực duy nhất với các khỉ cái khác. Điều này đã được ghim vào gene và chúng sẽ không thay đổi trong hàng ngàn hay hàng triệu năm tới. Nhưng con người thì lại thay đổi hệ thống xã hội liên tục. Lấy ví dụ người Đức, chỉ trong chưa đầy 100 năm của thế kỷ 20, họ đã tự tổ chức thành sáu hệ thống xã hội khác nhau: Đế chế Hohenzollern, nền cộng hòa Weimar, Đệ tam Quốc xã, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Liên bang Đức và nước Đức thống nhất. Con người có thể dễ dàng thay đổi và thích ứng như vậy đó.  Hay nói đến liên minh châu Âu, khi Hiến pháp chung châu Âu tuyên bố rằng nó lấy cảm hứng và kế thừa các giá trị dân chủ, tự do và pháp quyền từ thời dân chủ Athens 2.500 năm trước. Có thực vậy không? Nền dân chủ Athens chỉ tồn tại như một thí nghiệm miễn cưỡng trong hơn 200 năm ở một góc nhỏ của bán đảo Balkan, còn châu Âu hơn hai mươi lăm thế kỷ qua thì đầy rẫy những chiến tranh và độc tài, như Sparta hay Julius Caesar, những đoàn Thập tự chinh hay chủ nghĩa thực dân, Tòa dị giáo và buôn bán nô lệ, hay các cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất. Thực tế thì văn minh châu Âu sẽ là bất cứ thứ gì mà người châu Âu nghĩ về nó, ở mỗi thời điểm. Nếu như vào năm 1618, người châu Âu bị ám ảnh bởi sự khác biệt giáo lý tí xíu giữa Cơ Đốc và Tin Lành đến nỗi sẵn sàng chém giết và sát hại, thì vào năm 1940 họ lại bất đồng về chủ nghĩa chủng tộc và đấu tranh cho nó. Còn đến những năm 2018 này thì họ không phải bất đồng lớn ở màu da hay giáo lý, mà là vấn đề nhập cư, Liên minh châu Âu và các hạn chế của chủ nghĩa Tư bản.  Thực chất chúng ta đang tiến đến một nền văn minh giống nhau đến không ngờ. Các quốc gia giờ đây đều được tổ chức với chính phủ, quốc hội và tòa án, hầu hết là thành viên của Liên Hợp Quốc, có quốc kỳ và quốc ca mà, nếu dịch lời sẽ khó mà phân biệt bài hát của nước nào với nước nào. Nền văn minh duy nhất này sẽ phải cùng nhau giải quyết những vấn đề chung nhất mang tính toàn cầu.  Chủ nghĩa dân tộc  Đứng trước những vấn đề đó thì chủ nghĩa dân tộc có vai trò gì? Thực chất là rất hạn chế. Nhìn vào gốc tự nhiên, dù con người là một sinh vật xã hội thì gene của nó đã được ấn định qua hàng trăm nghìn năm chỉ để sống trong các cộng đồng nhỏ mật thiết với không quá vài chục người. Các dân tộc thì mới chỉ tồn tại vài ngàn năm gần đây, như mới sáng hôm qua nếu so với chuỗi ngày dài săn bắn hái lượm. Và người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khoa học nào về dân tộc tính trong gene của ai cả.  Nhưng điều đó không có nghĩa các khái niệm dân tộc hay quốc gia có gì sai cả. Ngược lại nó rất cần thiết để con người hợp tác trên diện rộng để chung sống tốt hơn và tạo ra những thành quả vĩ đại. Vấn đề chỉ là không có dân tộc nào là thượng đẳng hơn dân tộc nào khác. Và ngày nay chúng ta không thể chỉ nghĩ đến dân tộc mình mà mặc kệ những dân tộc khác.  Bởi vì các thách thức mà nhân loại phải đối mặt đã vượt quá tầm của bất kỳ dân tộc nào. Chiến tranh hủy diệt, biến đổi khí hậu hay đứt gãy công nghệ (bài 1) đã và đang đe dọa nhân loại mà chỉ có sự hợp tác của các quốc gia, dân tộc mới có thể vượt qua được. Nếu như hai thử thách đầu tiên đã được nói đến nhiều, nó ảnh hưởng đến thể xác của nhân loại, nhưng chúng chỉ có tầm mức vài thế kỷ còn thử thách đứt gãy công nghệ lại có tác động sâu sắc hơn nhiều. Lần đầu tiên sau bốn tỷ năm sự sống hữu cơ tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên ngày nay con người đang hướng vào một kỷ nguyên của sự sống vô cơ được thiết kế thông minh xác định trước. Nó khiến cho trí tuệ và ý thức bị tách rời, các cảm xúc và cấu kết xã hội bị đứt gãy. Khi đó thì chủ nghĩa dân tộc Israel, Nga hay Pháp cũng chẳng thể đem lại giải pháp nào cả.  Rosa Parks đã can đảm ngồi xuống một chiếc ghế xe buýt chỉ dành riêng cho người da trắng tại một chuyến xe Montgomery vào năm 1955. Nguồn: Getty Images  Tôn giáo  Vai trò của tôn giáo cũng đã giảm đi nhiều. Nếu như trước dây để làm nông nghiệp hay chữa bệnh việc cầu mong thánh thần là điều không thể thiếu thì ngày nay hầu hết không còn. Vai trò của tôn giáo có lẽ chỉ thu hẹp lại vấn đề tinh thần.  Các tôn giáo nếu có ảnh hưởng lên các vấn đề chính trị hay xã hội thì chỉ là vỏ bọc. Ví dụ như nếu lãnh tụ tối cao Khamenei cần đưa ra một quyết định gì về kinh tế thì các chuyên gia kinh tế sẽ hoạch định giống như các nước khác, để sau đó Khamenei sử dụng các quyền hạn tôn giáo đóng gói các chính sách khoa học dưới lớp vải của các lời huấn thị trong kinh Quran.  Trong thế kỷ 19 và 20, các triết gia Hồi giáo, Do Thái giáo, Hindu giáo và Cơ Đốc giáo đã phê phán nhiều lần chủ nghĩa vật chất hiện đại, chủ nghĩa tư bản vô hồn thì rốt cuộc sau hàng chục năm, các quốc gia của họ vẫn vận hành những nền kinh tế na ná như nhau. Chưa nói đến những thách thức mang tính toàn cầu ở trên.  Tuyệt vọng và hy vọng  Chiến tranh  Nhìn lại về chiến tranh có thể nói rằng chúng ta đang ở trong những thập kỷ hòa bình nhất trong lịch sử. Nếu ở trong các xã hội nông nghiệp thời kỳ đầu bạn sẽ thấy 15% dân số chết do bạo lực. Ngay trong thế kỷ 20 với những cuộc chiến tranh hiện đại, con số này là 5% thì ngày nay bạo lực chỉ chiếm có 1% nguyên nhân tử vong. Những căng thẳng ở nhiều nơi trên thế giới làm ta lo lắng nhưng thực chất khả năng xảy ra chiến tranh hiện nay rất thấp.  Nguyên nhân bởi vì kết quả có được từ chiến tranh ngày nay không còn như xưa, năm 2018 khác hẳn 1914. Cụ thế vào năm 1914, các giới tinh hoa khắp địa cầu bị lôi cuốn vào cuộc thế chiến thứ I vì những lợi ích rõ ràng về kinh tế và quyền lực chính trị. Trước đó, nước Anh chỉ mất có 57 lính trong trận Tel el-Kebir quyết định để xâm chiếm được Ai Cập, từ đó kiểm soát thung lũng sông Nile và kênh đào Suez. Đế chế Anh đã mở rộng thành đế chế lớn nhất lịch sử nhờ những cuộc chiến tranh nhỏ thành công như vậy. Các cường quốc châu Âu như Pháp, Ý hay Bỉ bắt chước người Anh, họ tràn vào Việt Nam, Libya hay Công. Khi đó nỗi sợ của họ không phải sự phản kháng của người bản xứ mà là ai đến trước. Hoa Kỳ thì sao, họ đã quá thành công với cuộc xâm lược Mexico vào năm 1846 để có được California, Nevada, Arizona, New Mexico, Texas rộng lớn và hàng loạt bang khác. Đã có 13.000 lính Mỹ chết để đổi lấy 2,3 triệu kilomet vuông.      Lần đầu tiên sau bốn tỷ năm sự sống hữu cơ tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên ngày nay con người đang hướng vào một kỷ nguyên của sự sống vô cơ được thiết kế thông minh xác định trước.      Nhưng ngày nay cái giá cho những cuộc chiến như vậy là quá lớn. Các nước đều hiểu là lợi ích và thịnh vượng có thể kiếm được từ thương mại và công nghệ hơn vì chiến tranh. Iran trông thế thôi, thực chất là họ không dính vào cuộc chiến nào kể từ sau khi bị Iraq xâm lược năm 1981. Israel cũng vậy, cuộc chiến lớn nhất của họ đã kết thúc từ năm 1967 và họ đạt được thịnh vượng ngày nay dù có nhiều chiến tranh trong khu vực, chứ không phải nhờ chiến tranh. Có thể nói là việc Israel không bị hút vào cuộc nội chiến Syria là thành tựu vĩ đại nhất của Thủ tướng Bẹnamin Netanyahu. Bởi nếu muốn, lực lượng tự vệ Israel có thể chiếm Damacus chỉ trong một tuần, hay chinh phục dải Gaza và xóa sổ chính quyền Hamas còn dễ dàng hơn. Nhưng họ đã tránh làm việc đó bởi hiểu rõ nó chẳng mang lại lợi lộc gì, dù bề ngoài các chính trị gia luôn có những lời lẽ hiếu chiến.  Thế nhưng cũng không nên đánh giá thấp nguy cơ chiến tranh cũng như đánh giá thấp sự ngu ngốc của loài người. Vào những năm 1930, các tướng lĩnh, đô đốc, nhà kinh tế và nhà báo Nhật đồng ý với nhau cần kiểm soát được Triều Tiên, Mãn Châu và vùng bờ biển Trung Hoa nếu không Nhật Bản sẽ phải chịu cảnh trì trệ kinh tế. Thực tế thì tất cả bọn họ đã sai, nước Nhật chỉ có được sự thần kỳ kinh tế sau khi thua trận và từ bỏ tất cả những vùng lãnh thổ trên. Saddam Hussein cũng đã tính toán thế nào để lao vào xâm lược Iran một cách điên cuồng năm 1981? Sự ngu ngốc đó của các chính trị gia vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay.  Khiêm nhường  Phần lớn các dân tộc lớn đều coi mình là cái nôi của văn minh nhân loại. Người Hy Lạp cho rằng lịch sử chỉ bắt đầu với Homer, Sophocles, Plato ở quanh kinh thành Athens, Sparta, Alexandria. Những người theo dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa thì cho nhà Hạ, nhà Thương mới là khởi thủy của lịch sử và những thành quả gì của người phương Tây, người Hồi hay người Ấn chỉ là những bản sao của những phát kiến bắt nguồn từ Trung Hoa. Người Hồi giáo thì cho rằng những gì diễn ra trước nhà tiên tri Muhammed là không đáng kể và từ khi kinh Quran được mặc khải, quốc gia họ sẽ là những nơi tốt đẹp nhất và họ cần phải lan tỏa hào quang đó. Cũng vậy người Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga cũng đã coi mình là văn minh phát triển và đi khai hóa những vùng đất mông muội khác.    Trong thế kỷ 21 với những phương tiện kết nối, con người lại cảm thấy bất an hơn. Nguồn: http://dazomedia.com/   Thực sự thì không phải như vậy, không có quốc gia, dân tộc nào tồn tại khi con người ngừng cuộc sống di cư và sống cố định một nơi. Nếu có cái gọi là nguồn gốc nhân loại thì đó chỉ có thể là những hang đá ở châu Phi thời đồ đá. Kể từ đó đạo đức, nghệ thuật, tinh thần và sáng tạo đã là những khả năng phổ quát và ăn sâu vào ADN của mọi con người. Ngay cả những tôn giáo với rao giảng đạo đức cũng thường quá đề cao mình. Người Israel thường dùng cụm từ “ba tôn giáo vĩ đại” để chỉ Cơ Đốc giáo (2,3 tỷ tín đồ), Hồi giáo (1,8 tỷ tín đồ) và Do Thái giáo (15 triệu tín đồ), thực chất là còn ám chỉ đến khởi nguồn duy nhất là Do Thái giáo, là tôn giáo đầu tiên rao giảng các quy tắc đạo đức phổ quát. Như thể loài người trước Abraham và Moses là mông muội và đạo đức chỉ có sau Mười Điều Răn. Điều này là vô căn cứ và xấc xược vì từ thời kỳ Đồ Đá các bộ tộc cũng đã có các quy tắc đạo đức của mình. Hơn thế nữa, các minh chứng khoa học đã chỉ ra rằng nhân tố đạo đức có gốc rễ sâu xa cả trước khi loài người ra đời. Tất cả các loài thú có tính xã hội như chó sói, cá heo và khỉ đã có các quy tắc đạo đức thích nghi với tiến hóa để tăng cường hợp tác nhóm. Ví dụ như chó sói có quy tắc là nếu con nào cắn đối thủ khi đã nằm ngửa ra và đầu hàng thì cả bầy sẽ không chơi với nó nữa. Ở bầy tinh tinh, con đực đầu đàn sẽ không lấy ăn một quả chuối của những con yếu hơn.  Sự khiêm nhường của mỗi con người, dân tộc, quốc gia hay tôn giáo hiện giờ có lẽ là điều cần thiết hơn cả.  Chúa  Và trong các sự khiêm nhường, con người thường tỏ ra cung kính trước Chúa nhưng cũng rất hay nhân danh Chúa để chèn ép người khác. Sở dĩ như vậy bởi vì có hai cách định nghĩa về Chúa. Cách thứ nhất là khi chúng ta nghĩ đến những bí ẩn vũ trụ lớn nhất mà con người không giải thích được và đưa vị Chúa bí ẩn này ra là người tạo tác và thấu hiểu tất cả những bí ẩn đó. Ví dụ như vì sao định luật hấp dẫn lại tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật thể? Vì Chúa định ra thế. Còn nếu Ngài không muốn mà chuyển sang, ví dụ tỷ lệ nghịch với lập phương khoảng cách chẳng hạn, thì vũ trụ này sẽ biến đổi ngay lập tức.      Những căng thẳng ở nhiều nơi trên thế giới làm ta lo lắng nhưng thực chất khả năng xảy ra chiến tranh hiện nay rất thấp.      Nhưng người ta lại có một Chúa khác, người đề ra các luật lệ nghiêm khắc và thế tục. Các luật lệ này được ẩn trong những bộ sách sang trọng, giải thích chi tiết nhất những gì Ngài muốn và không thích, ví dụ như về phụ nữ được mặc áo cộc tay hay quan hệ tình dục đồng giới, uống rượu vang mỗi tối thứ Sáu hay tham gia cuộc Thập tự chinh. Và người ta thường nói về Chúa bắt đầu với vị Chúa thứ nhất, về những bí ẩn mà con người không (chưa) giải thích được như vì sao có Vụ Nổ Lớn, để ai cũng phải kính phục và nghe theo, rồi ngay sau đó đánh tráo lá bài với vị Chúa thứ hai và viện dẫn ra hàng loạt các điều luật ghi trong sách thánh.  Không phải là những điều ghi trong sách thánh là sai, mà nó thực sự chẳng khác với các luật lệ của nhà nước và tổ chức thế tục là bao. Ví dụ một trong những điều răn là không ăn trộm thì luật pháp nhà nước cũng có mà. Thế nên không cần và không nên nhân danh Chúa ở đây. Kể cả những điều luật về đạo đức mà luật pháp không quy định, ví như phải giúp đỡ người hoạn nạn, thì các vị thần và đấng tối cao cũng chỉ là một trong những độc lực tạo cảm hứng, và không bắt buộc. Như đã nói trong chương trước, đạo đức ở một số dạng là tự nhiên và đến cả một số loài thú có tính xã hội cũng đều có các quy tắc đạo đức riêng.  Thế nhưng đôi khi con người có thể tránh được những hành vi sai trái với người khác thì lại không thể ngừng làm đau hay tổn thương bản thân mình. Có lẽ khi đó Chúa là người cần có nhất vì Người có thể mang lại sự bình an trong tâm trí bạn.      Đôi khi con người có thể tránh được những hành vi sai trái với người khác thì lại không thể ngừng làm đau hay tổn thương bản thân mình. Có lẽ khi đó Chúa là người cần có nhất vì Người có thể mang lại sự bình an trong tâm trí bạn.      Chủ nghĩa thế tục  Ở một đầu kia có những người tin vào Chủ nghĩa thế tục, tức là không tồn tại và không cần thiết phải có các thế lực siêu nhiên. Thay vào đó, trí tuệ và đạo đức là những thành quả và di sản tự nhiên của xã hội loài người. Những người thế tục tin vào khoa học, những bằng chứng và thống kê, họ tôn trọng tự do và hạn chế trao quyền lực tối thượng cho bất cứ văn bản, thể chế hay lãnh đạo nào. Những người thế tục ngưỡng mộ Galileo Galilei, người dám đặt câu hỏi nghi ngờ Trái đất nằm bất động ở tâm vũ trụ; họ ngưỡng mộ đám đông thường dân đã tràn vào ngục Bastille năm 1789 và lật đổ thể chế bạo ngược của Louis XVI; họ ngưỡng mộ Rosa Parks, người đã can đảm ngồi xuống một chiếc ghế xe buýt chỉ dành riêng cho người da trắng.  Trên thực tế lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng xã hội với những con người dũng cảm, thừa nhận ngu dốt và đặt các câu hỏi khó đã thịnh vượng và hòa bình hơn so với những xã hội ở đó con người phải tuân thủ những câu trả lời duy nhất không được bàn cãi. Những người thế tục cũng tôn trọng trách nhiệm, không ỷ lại hay chờ đợi những nhiệm vụ cho thế lực tối cao nào. Trên thực tế thì những người thế tục lại là những người đặt mục tiêu trách nhiệm và đạo đức quá cao và hầu hết mọi người đơn giản là không thể (lúc nào) cũng đáp ứng được. Và đôi khi vì quá tin vào những quan sát khách quan mà họ lại trở nên cứng rắn thành một giáo điều. Ví dụ như những nhà tư bản luôn nói “thị trường tự do và phát triển kinh tế là kim chỉ nam duy nhất” bất chấp thực tế hiện nay. Các cuộc khủng hoảng hay hệ quả của sự phát triển vẫn được coi là những “cơn sốt vỡ da” và mọi thứ sẽ tốt hơn khi tăng trưởng hơn chút nữa.  Họ cũng ủng hộ đến cuồng tín những giá trị tự do và nhân quyền, quyết mang chúng đến những nơi tối tăm như Iraq, Afghanistan hay Công và tin rằng các cuộc tổng tuyển cử sẽ biến những nơi này thành những xã hội như Đan Mạch. Quyền con người được mặc nhiên công nhận ngay từ khi con người sinh ra, nhưng nếu bạn định nghĩa mình là “cá nhân sở hữu các quyền tự nhiên không thể xâm phạm”, bạn không biết mình thật sự là ai và không hiểu các lực lượng lịch sử đã định hình xã hội này. Những quyền đó sẽ còn bối rối hơn nữa khi trí tuệ nhân tạo, sự sống nhân tạo cũng tham gia đòi hỏi các quyền của mình. Có lẽ chúng ta nên nhìn lại và khiêm nhường hơn về khả năng của con người. □    Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang 22 tỉ phú có tài sản nhiều hơn mọi phụ nữ châu Phi      Chỉ trong một thập kỷ qua, số lượng tỷ phú trên thế giới đã tăng gấp đôi và 22 người đàn ông giàu nhất thế giới hiện nay có nhiều tài sản hơn tất cả phụ nữ ở châu Phi.      Ảnh phụ nữ châu Phi của Oxfam.   Đó là những thông tin được Oxfam đưa ra trong thông điệp về bất bình đẳng tại Hội nghị Davos, Thụy Sĩ do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tổ chức hôm 20/1.  “Phụ nữ và trẻ em gái là một trong số những người hưởng lợi ít nhất từ hệ thống kinh tế ngày nay”, Amitabh Behar, giám đốc Oxfam Ấn Độ phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới thường niên ở Davos.  Theo thông tin của Bloomberg, sẽ có ít nhất 119 tỷ phú sở hữu khối tài sản trị giá khoảng 500 tỷ USD tham dự Davos trong năm nay, chủ yếu đến từ Mỹ, Ấn Độ và Nga.  Báo cáo của Oxfam chỉ ra các nền kinh tế méo mó (broken economies) của chúng ta thường bơm thêm tài sản vào túi người giàu đồng thời bỏ qua lợi ích của những người nghèo nhất trong xã hội, mà chủ yếu là phụ nữ. Những người  giàu nhất đang tích lũy tài sản với tốc độ đáng kinh ngạc. “Nhìn vào phần chóp của kim tự tháp kinh tế thấy hàng nghìn tỷ USD tài sản trong tay một nhóm rất nhỏ, chủ yếu là đàn ông”, báo cáo của Oxfam cho biết.  Báo cáo thường niên của Oxfam về bất bình đẳng toàn cầu đã đưa ra những con số giật mình như sau:  Nếu một phần trăm người giàu nhất thế giới chỉ trả 0,5% thuế tài sản của họ trong 10 năm, thì đã tương đương với khoản đầu tư cần thiết để tạo ra 117 triệu việc làm mới trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người già và trẻ em.  Số liệu trên được Oxfam đưa ra dựa trên dữ liệu của tạp chí Forbes và ngân hàng Credit Suisse của Thụy Sĩ, tuy nhiên một số nhà kinh tế vẫn đang bàn cãi về các con số này.  Những con số khác đáng suy ngẫm cũng được Oxfam đưa ra: cho thấy 2.153 tỷ phú hiện có nhiều tài sản hơn 4,6 tỷ người nghèo nhất hành tinh.  Trong số những người thiệt thòi, phụ nữ và trẻ em gái thường chịu gánh nặng đặc biệt bởi vì họ thường là những người chăm sóc giữ cho “bánh xe của nền kinh tế, doanh nghiệp và xã hội của chúng ta chuyển động”, Behar nói.  Họ “thường có ít thời gian để có được một nền giáo dục, kiếm được một cuộc sống kha khá hoặc lên tiếng về cách các xã hội của chúng ta vận hành” và “do đó bị mắc kẹt dưới đáy của nền kinh tế”, ông nói thêm.  Báo cáo của Oxfam cho biết phụ nữ và trẻ em gái đã dành 12,5 tỷ giờ làm việc các công việc chăm sóc hằng ngày – ước tính trị giá ít nhất 10,8 nghìn tỷ USD mỗi năm mà không được trả lương. Trên toàn cầu, 42% phụ nữ không thể có việc làm vì họ chịu trách nhiệm cho tất cả công việc chăm sóc, so với chỉ 6% của nam giới.  Báo cáo của Oxfam kêu gọi các chính phủ trên thế giới cần “xây dựng một nền kinh tế nhân văn thay vì thúc đẩy sự theo đuổi vô tận lợi nhuận và giàu có”.  Bảo Như dịch  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2020-01-billionaires-richer-percent-world-population.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang 25 năm góp một tiếng nói tử tế      Thế mà cũng đã 25 năm, kể từ ngày tôi cùng một số bạn bè trí thức tâm huyết đến với tờ báo Tia Sáng thân thiết.      Trong số những người gặp nhau trong những buổi đầu xây dựng tờ báo, có hai người tôi rất mến mộ và nay đã khuất là anh Nguyễn Văn Chiển và anh Lê Đạt. Mỗi người một phong cách, nhưng nét chung là an nhiên tự tại, đĩnh đạc đường hoàng, không ồn ào, không nóng nảy, lời nói nhỏ nhẹ, dù nhiều lúc không thể không phẫn nộ trước những cảnh nhiễu nhương trong xã hội nhưng bao giờ cũng giữ được bình tĩnh, bao dung, không hằn học. Tính cách đó đã ảnh hưởng đến hướng chủ đạo của những bài viết của tôi trên Tia Sáng, như “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” – một bài báo, trái với mong muốn của tác giả, đã gây phiền phức không đáng có cho một số người; và trước đó tôi cũng đã có bài “Chuyện tử tế trong khoa học” trong tâm trạng tuy có buồn phiền nhưng chưa đến nỗi lo lắng, bi quan… nhằm góp một tấm lòng, một tiếng nói trung thực, ngay thẳng chỉ để xây dựng một xã hội tử tế, làm nền tảng văn hoá tiến lên văn minh, hiện đại cùng thế giới và thời đại ngày nay. Đúng như phương châm của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mà mỗi ngày càng chứng tỏ hết sức sáng suốt.    Sống tử tế trong xã hội ta thật không phải dễ. Tôi luôn tự nhủ mình như vậy, và hằng mong Tia Sáng tiếp tục là diễn dàn, hay nói như các bạn, là góc nhìn của những trí thức dấn thân vì một xã hội tử tế.     Thế hệ chúng tôi tất nhiên không thể là đại diện cho tương lai đất nước.Có bao nhiêu nhiệt huyết xin truyền lại ngọn đuốc cho các bạn trẻ và chúc cho Tia Sáng mỗi ngày có thêm nhiều tiếng nói trẻ trung hơn, dấn thân hơn, trí tuệ hơn, mà vẫn đủ điềm đạm, khoan dung.   GS. Hoàng Tụy    Author                Quản trị        
__label__tiasang 3 chọi 3      1. Đội h&#236;nh  S&#225;ng tạo, c&#225;i thiện, h&#242;a b&#236;nh thế giới  l&#224; 3 kh&#225;i niệm được con người S&#193;NG TẠO ra  để tạo n&#234;n &#253; nghĩa cho thế giới n&#224;y  để cạnh tranh với 3 sự v&#244; nghĩa lớn nhất trong hiện sinh của mu&#244;n lo&#224;i:  luẩn quẩn, d&#227; man, tranh chấp li&#234;n mi&#234;n bằng bạo lực.&lt; body&gt;      2. Lối chơi  Xét trên mối tương quan với [sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới] thì [luẩn quẩn, dã man, tranh chấp liên miên bằng bạo lực] vô nghĩa.   Vì chúng có thể tồn tại, lớn mạnh độc lập với ý nghĩa và cũng không có nhu cầu tự định nghĩa hay định nghĩa cái khác.   Chúng vốn dĩ là bản năng LỚN của sinh vật.   Chúng luôn có mặt trước khi những cảm thức hay ý niệm sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới xuất hiện (tức là nảy ra trong cảm xúc, tư duy) và trở thành khái niệm (tức là được gọi tên chính thức).  *  Để so sánh lối chơi của hai bên, hãy thử hình dung về hai đội bóng.   Trước tiên, hãy thử hình dung về một đội chỉ dùng sự dã man để giành lấy quả bóng và bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích đưa bóng vào lưới nhiều hơn. Nếu trong mọi trận đấu đều giữ công thức chơi luẩn quẩn ấy, nó có xu hướng hủy tất cả các ý nghĩa khác mà những trận bóng có luật, niềm kiêu hãnh chơi đẹp, khao khát cống hiến, thể hiện tài năng có thể tạo ra và phát triển lâu dài.  Luật rừng sẽ hủy mọi luật chơi thú vị khác.   Nên, vấn đề quan trọng bậc nhất trong cuộc đấu tranh nhân bản của con người là xây dựng những luật chơi khác, với sự hấp dẫn riêng của chúng. Để những luật chơi ấy mưa dầm thấm lâu vào cuộc sống mỗi con người. Bằng cách đó, có thể kiềm tỏa luật rừng và sự hấp dẫn của luật rừng.  Mức độ văn minh ở các môi trường sống cũng có thể được đo bằng số trò chơi được sáng tạo, luật chơi được đảm bảo không vỡ thành luật rừng và khán giả luôn cổ vũ tinh thần đó: trước và sau thắng thua theo luật của một trận cờ vua, một trận đấu bốc, một cuộc chọi trâu, một cuộc bút chiến, một cuộc tranh cử…, không có sự sắp đặt tỷ số, sự đe dọa, gỡ gạc bằng bạo lực hay những trò chơi bẩn khác.  Nhưng thực tế cuộc sống cho thấy thế giới luôn chưa đủ văn minh, chưa đủ năng lực áp dụng rộng rãi những luật chơi tử tế, thông minh và bảo vệ chúng. Luật rừng vẫn thường xuyên được lôi ra trong ứng xử, ngay cả trong cái gọi là luật pháp.  Và đội bóng còn lại với lối chơi đẹp và mơ ước về sân chơi đẹp đang phải thi đấu với một đội bóng chơi xấu. Và phải nỗ lực tuân thủ luật chơi đẹp của mình.     3. Tính chất trận đấu  Nhân chi sơ tính không bản thiện cũng không bản ác mà trong người có cả những hạt mầm thiện, ác.   Tùy độ khỏe của mỗi loại hạt mầm được di truyền, tùy tính chất của mảnh đất cơ thể-tâm hồn mỗi người riêng có (và sự phát triển hay suy thoái của chúng), tùy tác động của “khí hậu” từ môi trường bên ngoài mà mỗi loạt  hạt trở thành trội hay lặn và có mức độ/cấp độ trội lặn, nảy nở khác nhau ở mỗi người.   Trong mỗi con người, các hạt cũng có nhiều thời điểm trội, lặn khác nhau.   Các cây thiện, ác đã phần nào định hình cũng có thể lớn thêm, héo úa hoặc tàn lụi thông qua tác động của sinh tồn, sinh hoạt trong cộng đồng hoặc của tư duy.  Tính chất và quy trình cũng tương tự như vậy với những hạt mầm bảo thủ hay những hạt mầm cởi mở để kích thích sáng tạo, chấp nhận khác biệt, chúng đều có thể lớn thêm, héo úa hoặc tàn lụi.  Nếu bạn đặt cược niềm tin vào thuộc tính duy nhất thiện hay ác, cởi mở hay bảo thủ của loài người, của mỗi con người hay của con người mình và tuyệt đối hóa chúng, khuôn cứng chúng, có thể thấy bạn đã tiếp cận lệch quá xa trọng tâm vấn đề: tính vô thường của đời sống và sự cạnh tranh, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa những sinh vật (trong sự biến chuyển của tự nhiên). Vấn đề ở đây không đơn thuần là niềm tin ngoài cuộc, không ai có thể ở ngoài cuộc, mà là bạn có thể chọn hoặc bị đẩy sang thi đấu cho đội nào, ở những thời điểm nào. Tùy theo kết hợp của sự nhạy cảm với sự sợ hãi và lòng can đảm trong bạn.     4. Hiệp 1  Việc tạo ra được 3 khái niệm sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới và rất nhiều giá trị tinh thần, cơ sở vật chất trong việc thực hành đã thể hiện đẳng cấp của con người và giá trị đẩy con người đi xa của ngôn ngữ, lao động. Nhân tạo không đồng nghĩa với không tốt đẹp.   Sự lan truyền, phát triển lên nhiều cấp độ, tự phủ định, chi tiết hóa trong lý thuyết và thực hành của 3 khái niệm sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới chứng tỏ sự lớn mạnh của những mầm mống làm mới, hướng thiện trong nhân loại. (Cũng có thể thấy những mầm mống làm mới, hướng thiện trong những động vật khác như chó, mèo, khỉ, cá heo, chim…).   Sự lớn mạnh đó trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm với 3 bản năng LỚN (luẩn quẩn, dã man, tranh chấp liên miên bằng bạo lực) cổ xưa và vẫn luôn bám rễ trong mỗi con người .  Việc tìm ra khái niệm hòa bình thế giới cũng chứng tỏ khả năng tư duy khái quát của con người khi tìm thấy gốc rễ và rốt ráo của cái thiện nằm ở đó: hòa bình thế giới – cái chưa từng xảy ra. Chừng nào còn chưa có hòa bình thế giới thì chừng đó tổng lượng cái thiện trong loài người còn nhẹ hều.  Năng lực thực hành 3 khái niệm cạnh tranh với 3 bản năng LỚN vô nghĩa kia thể hiện đẳng cấp của từng cá nhân trong việc tạo nên những thứ có ý nghĩa.  Những khái niệm này trở thành cái đích vĩnh cửu vì không có giới hạn và luôn bị trì níu bởi sự đeo bám quyết liệt của những bản năng LỚN kia như một lời nguyền: không bao giờ con người có thể hoàn toàn sáng tạo, hoàn toàn thiện (với những gì biết đau) để có được một hòa bình thế giới hoàn hảo trong sự khác biệt (bao gồm cả hòa bình với những động vật ưa hòa bình).  Mỗi cá nhân (nếu muốn) chỉ có thể đóng góp phần của mình để xây đường tiệm cận cái đích vĩnh cửu đó. Những anh hùng, siêu nhân nếu có thì cũng chỉ có thể tạo ra cái thiện, sáng tạo cho bản thân hắn ta và may ra, kích thích được điều đó ở người khác chứ không tạo được ra những cái thiện hay sáng tạo để phân phối cho những người dựa dẫm vào họ. Một lần nữa, sự khẳng định thêm chắc chắn: bạn không có cơ hội đứng ngoài cuộc chơi.     5. Hiệp 2  Một cá nhân có thể nhiều lúc coi rẻ sáng tạo, xa lạ cái thiện, cười cợt khao khát hòa bình thế giới.   Có thể vì cá nhân đó đang phải hứng chịu những điều ngược lại trong môi trường của mình.  Có thể vì cá nhân đó không có mong muốn đó khi những hạt mầm mong muốn đó đang lặn.   Có thể vì hạt mầm đã nhú lên nhưng lờ đờ. Khao khát sáng tạo, khao khát hướng thiện của cá nhân đó không đủ mạnh hơn thói a dua phê phán, tuyệt vọng theo người khác.  Có thể bởi những sức tra tấn của cái ác công khai hay sức ì trệ kinh hoàng của đám đông làm cá nhân đó sợ hãi.  Cũng có thể đó là một nỗi sợ khác: mong muốn chân thiện mỹ của của cá nhân đó phải chịu nhiều cay đắng khi bị lừa phỉnh, hành hạ bởi những sự đội lốt sáng tạo, nhân danh cái thiện, hòa bình thế giới của những kẻ ưa duy trì sự luẩn quẩn, ưa sự dã man và ưa những tranh chấp bạo lực. Con chim sợ cành cây cong.  Có thể vì cá nhân đó vì nỗi sợ của mình mà mặc cảm trước những người vẫn còn mong muốn đó. Càng sợ càng mặc cảm. Càng mặc cảm càng sợ.  Cá nhân ấy rất dễ không coi cái thiện hay hòa bình là một cuộc chơi đẹp (nhất là trong trường hợp chưa từng được hưởng hay chạm vào chúng; chỉ tích tụ những cú đấm của dã man, bất công, thèm đàn hồn cái đau ấy trở lại cuộc sống).   Hoặc cá nhân ấy đã đầu hàng.  Có thể thấy sức lũ của bản năng LỚN kia vô cùng lớn.  Bạn luôn có nguy cơ đầu quân cho đội bạn.     6. Trận lượt về  Nhưng cũng có thể thấy dòng chảy của những khao khát sáng tạo, cái thiện, và hòa bình thế giới mạnh mẽ và bền bỉ thế nào để sau khi được tạo thành sản phẩm khái niệm và nảy nở (ở hiệp 1), tiếp tục tồn tại trên thế giới đến giờ dù luôn bị xung năng vô nghĩa của con người đánh tráo, lợi dụng, làm giả, vùi dập. Dù luôn có những người từng mong muốn sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới đã đầu hàng (ở hiệp 2).  Nhìn vào chính mật độ đánh tráo, lợi dụng, làm giả, vùi dập các ý niệm này, có thể thấy, chúng đã thực sự trở thành những thương hiệu lớn để phải đánh tráo, lợi dụng, làm giả, vùi dập nhiều như vậy.  Nhìn vào sự dã man giảm dần trong thế giới vẫn còn đầy rẫy dã man này (nếu không thấy sự giảm (dù chậm) này, hãy tìm hiểu để biết những mức độ và mật độ dã man của nhiều giai đoạn, khu vực trước đây); nhìn vào sự trưởng thành của những con người, tổ chức, cộng đồng đang nỗ lực trực tiếp hoặc gián tiếp làm giảm sự dã man, đau khổ, chia tách, kỳ thị, thiếu thốn tri thức, ít ỏi cảm hứng sáng tạo, e dè khám phá trên thế giới, có thể thấy rõ hơn sự tiếp tục phát triển, hấp dẫn của thương hiệu ấy.   UNICEF, Chữ thập đỏ, Hòa bình xanh, WTO, Hiệp ước phi biên giới Schengen, Olympic, World Cup, các giải ngoại hạng cầu thủ đủ các quốc tịch màu da cùng chơi cho một câu lạc bộ, National Geographic, Current Tv, Wikipedia, mã nguồn mở, Microsoft, Google, Pixar, Youtube, NASA, Tây ba lô, Ta ba lô…  Bạn luôn có nguy cơ đầu quân cho đội bạn.     7. Bình luận giờ giải lao  Một cá nhân có thể dè chừng trước những người luôn chỉ biết hô hào sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới cốt để ăn bám những thương hiệu này và không có những hành vi chứng thực.  Nhưng nếu cá nhân đó cười cợt nhu cầu này trong người khác, trong chính bản thân mình và không cảm thấy nó là những cái đích có ý nghĩa cuối cùng và mãi mãi của con người thì (nếu không phải là một cá nhân sáng tạo kiệt xuất, đem lại cho thế giới những sản phẩm sáng tạo gỡ gạc cho sự bi quan của mình) cá nhân đó đang tham gia nuôi dưỡng sự vô nghĩa bẩm sinh của thế giới   [luẩn quẩn, dã man, tranh chấp liên miên bằng bạo lực].  Và nếu bạn đang sống ở một môi trường không còn dày đặc những điều như thế, cách chống lại hữu hiệu nhất đối với sự tấn công từ những nơi như thế đến tinh thần, tài sản, mạng sống của bạn và những người bạn yêu quý, muốn bảo vệ là hãy chia sẻ. Ít nhất là tri thức và tài sản. Ít nhất là với những con người ở những môi trường của những bản năng LỚN đó đang có mong muốn và có hạt mầm mong muốn   [sáng tạo, cái thiện, hòa bình thế giới].     8. 1 phút cho quảng cáo  Sáng tạo không có bản chất là thiện hay ác. Nhiều khi những phim kinh dị, bạo lực, những vụ án ghê tởm, những kẻ độc ác vẫn hấp dẫn chúng ta bởi tính sáng tạo trong chúng.   Nhưng nó vốn đã có được quá nhiều thành tích vang dội trong những cái gọi là lịch sử tội ác, chiến tranh nhân loại (nghệ thuật đánh nhau, nghệ thuật tuyên truyền, nghệ thuật dối trá,  nghệ thuật hủy diệt, nghệ thuật tra tấn, nghệ thuật làm vũ khí, nghệ thuật làm ăn trong thời chiến…). Nó cũng là một kho tư liệu hiện sinh khổng lồ khiến không cần cuộc chiến nào nữa thì với tư duy phân tích, khái quát cùng trí tưởng tượng, con người có thể khai thác, triển khai mãi không hết trong tiểu thuyết, phim ảnh, hội họa, nghiên cứu…   Nên, khi những cuộc chiến lớn ấy vừa ngớt thì việc suy ngẫm và đẩy mạnh kiến tạo hòa bình thế giới (nơi vẫn còn sự hoành hành của tàn tích chiến tranh, sự hiện diện của các cuộc chiến “nhỏ”, cái đói, sự dã man, bệnh tật, thiên tai, ô nhiễm, hủ lậu, cuồng tín,  vô cảm…) bằng vô số gói giải pháp cả về vật chất lẫn tinh thần có lẽ là thử thách lớn nhất của thời đại này đối với sáng tạo.  Để đối đầu với thử thách này (với một vũ khí trung lập là công nghệ – cái mà thứ bản năng LỚN kia cũng có thể xui lí trí lạm dụng để mở rộng cái ác) thì sáng tạo phải hợp tác với cái (tâm) thiện trong vô số hành vi của nó.  Những sáng tạo có xu hướng kích thích những sự dã man đẩy thế giới đến vô nghĩa cần bị giới hạn bởi câu hỏi vị nghệ thuật hay vị nhân sinh và cần cọ xát với những năng lượng kiểm duyệt, tự kiểm duyệt. Và câu hỏi hay sự cọ xát này cũng chỉ nên giới hạn ở việc đặt ra cho những sáng tạo dạng như vậy.  Thử thách lớn nhất tiếp theo của sáng tạo có lẽ là phát triển được sự đa bản sắc trong một thế giới dần phẳng, đông người, cạn dần tài nguyên, nhiều hiểu biết;  bảo vệ nó khỏi những cuộc khủng hoảng, thiên tai ở mức toàn cầu; và gìn giữ được phong cách ấy khi ra vũ trụ.     9.  Xin mời trở lại trận đấu  trong con người mình…    Author                Quản trị        
__label__tiasang 315 người Việt chết và “chỉ 0,09%”!      Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ho&#224;, trong năm 2007 c&#243; 107 người Việt lao động chết ở Malaysia, v&#224; con số n&#224;y phản &#225;nh 0,09% tổng số lao động Việt Nam tại đ&#226;y. Dựa v&#224;o con số n&#224;y, b&#224;i b&#225;o tr&#234;n Tuổi Trẻ mang tựa đề &#8220;Lao động VN tại Malaysia: Tỉ lệ tử vong chỉ 0,09%&#8221;. T&#244;i phải hỏi tại sao &#8220;chỉ&#8221;, trong khi c&#243; h&#224;ng trăm người chết ?    Thật ra, theo thống kê chính thức của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, trong thời gian từ 2004 đến nay đã có 315 lao động Việt Nam tại Malaysia chết.  Tính trên tổng số lao động, con số này tương đương với tỉ lệ tử vong 0,24%.  Ba trăm mười lăm người Việt đã chết trên xứ người, với những nguyên nhân mù mờ, là một điều rất đáng quan tâm.  Mỗi cái chết là một thảm trạng cho gia đình của nạn nhân.  Con số 315 tử vong cũng có nghĩa là 315 gia đình đang lâm vào cảnh khó khăn, khốn đốn.  Chẳng những là 315 cái tang gia đình, mà còn là một sự mất mát không nhỏ cho quốc gia Việt Nam.  Cần nhắc lại rằng những người lao động kém may mắn này chết trong độ tuổi sung mãn nhất của đời người.  Nếu tuổi thọ trung bình trong nam giới của cả nước là 71 tuổi, tính trung bình mỗi cái chết tương đương với 46 năm sống bị mất, và tính chung 315 người chết có nghĩa là trên 14.000 năm sống (life-years) bị mất đi. Đó là một sự mất mát lớn, chứ không thể nói là nhỏ được.  Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa còn cho biết “so với người đang lao động ở trong nước thiệt mạng giữa độ tuổi 25-30 thì tỉ lệ người lao động VN tử vong ở thị trường Malaysia thấp hơn 2-3 lần”.  Tôi e rằng so sánh này thiếu cơ sở thực tế.  Tôi không có số liệu tử vong trong người lao động ở Việt Nam, nhưng qua kiểm tra y văn thì thấy có một nghiên cứu dân số rất chi tiết tại huyện Ba Vì vào năm 2000-2001, và nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tử vong trong độ tuổi 25-34 là khoảng 0,14% [1].  Như vậy, nguy cơ tử vong của người lao động Việt tại Malaysia cao hơn nguy cơ tử vong trong cộng đồng dân số Việt Nam đến 71%.  Thật ra, so sánh như thế cũng chưa khách quan, vì những người được tuyển đi lao động nước ngoài thường có sức khỏe trên trung bình (nếu không thì khó mà được tuyển đi lao động nước ngoài).  Do đó, trong thực tế nguy cơ tử vong của người lao động Việt tại Malaysia có thể cao gấp 2 lần đồng hương trong nước.  Điều đáng quan tâm hơn nữa là nguyên nhân tử vong chưa rõ ràng.  Đọc qua những “nguyên nhân” tử vong do một quan chức thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước (như “chất lượng khám sức khỏe cho người lao động đi Malaysia chưa cao; cách sinh hoạt của người lao động không phù hợp; người lao động không quen với nếp sống đô thị hiện đại, tác phong làm việc”) tôi không thấy đó là nguyên nhân gì cả, mà chỉ là những yếu tố gián tiếp gián tiếp có thể liên quan đến tử vong.  Chúng ta không thể nào làm ngơ hay không điều tra khi có đến 315 người đã chết mà không rõ nguyên nhân.   Theo tôi, chính phủ Việt Nam cần phải bày tỏ thái độ và hành động, kể cả điều tra nghiêm chỉnh, để chứng tỏ cho chính phủ và các doanh nghiệp Malaysia biết rằng chúng ta quí trọng sinh mạng của công dân Việt Nam.  Nếu chúng ta không quí trọng công dân Việt thì ai quí trọng chúng ta?     Chú thích:  [1] Con số này tôi trích từ bài báo “Pattern of mortality in Bavi, Vietnam, 1999-2001” trên tập san Scan J Public Health 2003; Suppl 62:8-11.    NVT      Author                Quản trị        
__label__tiasang 4 giải pháp chống tham nhũng      &#225;c vụ tham nhũng gần đ&#226;y, đặc biệt l&#224;&nbsp; PCI, cho thấy hiểm họa nghi&#234;m trọng của tham nhũng đối với sự ph&#225;t triển của đất nước v&#236; tham nhũng đ&#227; trực tiếp x&#226;m hại h&#236;nh ảnh v&#224; thể diện quốc gia, chứ kh&#244;ng chỉ đơn thuần l&#224;m thất tho&#225;t tiền bạc của Nh&#224; nước v&#224; x&#227; hội. V&#236; vậy, nếu trước kia đ&#243; chỉ l&#224; một trong c&#225;c ưu ti&#234;n, th&#236; nay phải l&#224; vấn đề sống c&#242;n h&#224;ng đầu, kh&#244;ng thể kh&#244;ng thực hiện bằng mọi quyết t&#226;m&nbsp; của cả hệ thống ch&#237;nh trị v&#224; to&#224;n x&#227; hội, chứ kh&#244;ng phải chỉ l&#224; việc ri&#234;ng của c&#225;c cơ quan hay quan chức Nh&#224; nước.     Nhiều người lý giải rằng do hệ thống pháp lý còn nhiều thiếu sót, thậm chí sơ hở, khiến các thế lực tham nhũng luôn thoát khỏi sự trừng phạt thích đáng của luật pháp, vì thế chỉ cần kiện toàn và bổ sung các văn bản pháp luật. Thật ra, luật pháp sẽ vẫn chỉ là những quy định trên giấy nếu các biện pháp chống tham nhũng không được bảo đảm thực thi trên thực tế. Sự hiệu quả của việc áp dụng và thực thi luật mới là điều cần quan tâm.   Người ta cũng nói đến đề nghị kê khai tài sản của cán bộ khi nhậm chức, hoặc ý định tăng lương cho bộ máy hành chính và tư pháp để công chức và thẩm phán yên tâm làm việc mà không tơ tưởng đến tư lợi. Đề nghị này tốt, nhưng lại thiếu thực tế trong hoàn cảnh Việt Nam, vì có quá nhiều cách để bọn tham nhũng giấu giếm tài sản, chúng cũng đủ khôn ngoan để không bao giờ trực tiếp nhận của hối lộ, và dù lương có cao chăng nữa thì món lợi từ tham nhũng vẫn hấp dẫn hơn so với sự thanh liêm cần phải gìn giữ.   Chiều hướng gia tăng các vụ tham nhũng nghiêm trọng trong thời gian qua cho thấy nhiều chính sách, biện pháp chống tham nhũng hiện tại chỉ mang tính hình thức nhiều hơn thực chất. Vì vậy để loại bỏ thực trạng tham nhũng mất lòng dân này, cuộc chiến chống-tham-nhũng cần thực thi 4 giải pháp có tính đột phá sau:  Thứ nhất, từ bỏ tuyệt đối nền hành chính xây dựng trên quan niệm “xin-cho” hay “cấp phép” tồn tại hơn 50 năm nay. Đây là gốc rễ của tham nhũng. Cho đến khi nào quyền của người dân chỉ có thể được hành xử hoặc các hành vi và giao dịch pháp lý chỉ có thể phát sinh hiệu lực khi xin được sự chấp thuận hoặc phê duyệt của nhà chức trách dưới hình thức cấp phép, thì khi ấy tham nhũng vẫn tiếp tục còn đất sống.  Thứ hai, bảo đảm nâng cao hơn nữa sự độc lập và tính chuyên nghiệp của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp  nhằm tăng cường sự nghiêm minh của luật pháp và tính công minh của các bản án trừng phạt bọn tham nhũng. Bộ máy tư pháp cần được khởi động ngay lập tức khi phát hiện hành vi tham nhũng, thay vì xem xét trách nhiệm hành chính trước như lối “xử lý nội bộ” hiện nay.   Thứ ba, công nhận quyền thách thức của người dân trước tòa án về tính hợp hiến của các văn kiện lập quy do cơ quan hành pháp ban hành, như Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị, v.v…, ít nhất tạm thời trong khuôn khổ các tòa án hành chính hiện nay, nhưng sẽ lý tưởng hơn, trước Tòa bảo hiến. Cơ quan công quyền chắc chắn sẽ thận trọng hơn khi ấn định những quy tắc hạn chế quyền hiến định của người dân, dù vô tình hay cố ý. Chậm trễ thiết lập Tòa bảo hiến sẽ vô hiệu hóa nỗ lực chống nạn lạm quyền, nguồn gốc của tham nhũng.  Thứ tư, tôn trọng quyền được cung cấp và tiếp cận thông tin trung thực, đầy đủ và độc lập của người dân đối với mọi vấn đề xã hội, đặc biệt liên quan đến hoạt động của các cơ quan công quyền và công việc của các viên chức Nhà nước, thông qua báo chí và truyền thông. Sự công khai và minh bạch trước công luận sẽ giúp phá tan thành lũy ẩn nấp của các thế lực tham nhũng.   Thật ra những giải pháp nêu trên đều đã được nhiều người đề xuất và phân tích khi bàn đến cải cách hành chính và tư pháp từ nhiều năm nay.Vấn đề là các giải pháp này cần được tổ chức thực hiện đồng bộ, nhanh chóng và hiệu quả với sự tham gia của toàn xã hội, chứ không phải đây là việc riêng của các cơ quan hay quan chức Nhà nước.   Những tháng còn lại của năm 2009 có thể nói là rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, bởi đây là giai đoạn tâm điểm của những ảnh hưởng và thách thức thực sự đối với nền kinh tế đang hội nhập toàn diện của chúng ta. Đứng vững để vượt qua và tiếp tục phát triển sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu là bài toán khó của nhiều quốc gia, với Việt Nam lại còn khó hơn vì chúng ta chưa kịp có được tiềm lực kinh tế nội tại đủ mạnh, lại thiếu vắng bộ máy kỹ trị chuyên nghiệp giúp chống đỡ hữu hiệu các cơn bão táp kinh tế thị trường. Tham nhũng đang tạo ra hiểm họa lớn vì làm xói mòn nghiêm trọng nội lực vốn yếu kém đó. Chống tham nhũng do vậy cần một cuộc cách mạng thật sự.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 4 Phẩm chất một trường đại học đẳng cấp Quốc Tế      Trong gần một năm trở lại đây, mặc dù đã tốn khá nhiều giấy mực để bàn về dự án (tạm gọi) là trường đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng cho đến nay dường như chúng ta vẫn chưa có một quan niệm rõ ràng về “đẳng cấp quốc tế” nghĩa là gì, và do vậy thiếu định hướng trong việc phải làm gì để xây dựng được một trường đại học ở đẳng cấp này. Bài viết ngắn này nêu lên và phân tích một số phẩm chất chung, quan trọng nhất của những trường đại học được coi là hàng đầu thế giới hiện nay.    Trước tiên, trường đại học đẳng cấp quốc tế dù ở Việt Nam hay ở bất kỳ nước nào khác cũng phải có những phẩm chất nhất định. Đặc biệt quan trọng, trường phải là nơi hội tụ của những giáo sư và nhà quản lý tầm cỡ quốc tế, được khẳng định thông qua thành tích nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm quản trị đại học của họ. “Đồng thanh tương ứng” – chính những tinh hoa này của trường, đến lượt mình, sẽ thu hút được những sinh viên giỏi nhất, những giáo sư xuất sắc nhất, cũng như những nguồn tài lực dồi dào nhất. Trong thời đại toàn cầu hóa này, không nên chỉ giới hạn việc tìm kiếm nhân tài người bản địa hay có gốc gác bản địa, mà cần phải có chính sách trọng dụng người tài bất kể quốc tịch. Điều này cũng có nghĩa là lưu lượng và tính đa dạng của đội ngũ giáo sư và sinh viên quốc tế là một biểu hiện chứng tỏ đẳng cấp quốc tế của một trường đại học. “Đồng khí tương cầu” – để khẳng định đẳng cấp quốc tế của mình thì một trường dứt khoát phải có mối liên hệ, trao đổi học thuật khăng khít với những trường đại học đẳng cấp quốc tế khác, cả trong và ngoài nước. Và tất nhiên, điều này chỉ có thể có được nếu như có một sự tương đồng nào đó về phương diện “văn hóa học thuật” giữa các trường này.  Đối với các trường đại học, số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu có lẽ là thước đo chính xác nhất, được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá uy tín khoa học, và do vậy đẳng cấp quốc tế của chúng. Quan trọng không kém, chính những nghiên cứu tiên phong của các giáo sư hàng đầu sẽ là niềm cảm hứng về tư duy và sáng tạo cho các đồng nghiệp trẻ và sinh viên, và chính điều này đảm bảo tính bền vững cho uy tín của trường. Vì vậy, tất cả trường đại học đẳng cấp quốc tế trên thế giới đều là những trường đại học nghiên cứu. Tất nhiên, song song với hoạt động nghiên cứu, một trường đại học đẳng cấp quốc tế cũng phải là nơi có chất lượng giảng dạy và học tập cao nhất.   Không có trường đại học đẳng cấp quốc tế nào là trường đơn ngành vì khoa học ngày càng trở nên có tính đa ngành. Ngay cả Viện công nghệ Massachusetts ở Mỹ hay Trường Polytechnique ở Pháp cũng có những khoa xã hội và nhân văn nổi tiếng. Ví dụ, Khoa Kinh tế học của MIT liên tục là khoa hàng đầu thế giới, ngang hàng với ĐH Chicago, Harvard, và Princeton. Rồi Khoa Ngôn ngữ học với những tên tuổi như Noam Chomsky là niềm tự hào lớn của MIT, giúp trường này vượt xa Harvard trong bảng xếp hạng. Môi trường đa ngành giúp những bộ óc xuất sắc nhất từ nhiều ngành khác nhau có thể tương tác và học hỏi lẫn nhau, tạo nên một môi trường học thuật năng động, có khả năng đưa đến những phát kiến có tính đột phá.   Để thu hút được những người giỏi nhất (cả giáo sư, nhà quản lý, và sinh viên) và tạo điều kiện tốt nhất cho họ phát triển tối đa tài năng của mình trong một môi trường đa ngành, hiển nhiên trường đại học phải có một cơ sở hạ tầng (trường lớp, thư viện, phòng thí nghiệm, khu thể thao giải trí…) thật tốt, đòi hỏi một nguồn tài chính rất lớn và tương đối ổn định. Hệ quả là trường phải đa dạng hóa nguồn tài trợ. Kinh nghiệm của Harvard cũng như của những trường hàng đầu thế giới chỉ ra rằng không thể trông chờ vào học phí (chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng kinh phí vận hành trường) và cũng không nên phụ thuộc quá nhiều vào tài trợ của chính phủ mà trường phải chủ động tạo nguồn thu từ các hoạt động nghiên cứu và tư vấn, đồng thời huy động tài trợ từ khu vực kinh doanh và phi chính phủ.   Để đạt được những phẩm chất cần thiết vừa nói ở trên thì buộc trường đại học đẳng cấp quốc tế phải có một hệ thống quản trị tốt và tiên tiến nhất. Kết quả từ một nghiên cứu công phu do Ngân hàng Thế giới và UNESCO đồng chủ trì (và được ông Thomas Vallely gần đây trích dẫn) chỉ ra rằng, một hệ thống quản trị đại học tiên tiến phải đảm bảo được tính độc lập và tự chủ, có một không gian học thuật rộng rãi, biết trọng dụng và dung dưỡng nhân tài, có nguồn tài chính ổn định, và phải tự chịu trách nhiệm  (accountability) đối với tất cả các bên liên quan. Thiếu một trong những yếu tố này, một trường đại học sẽ không vươn tới được đẳng cấp quốc tế và sẽ không thể làm bạn với các trường đẳng cấp quốc tế khác. Việc trường Đại học Warwick của Anh từ chối hợp tác với Singapore vì chính phủ nước này tuyên bố sẽ can thiệp nếu các nghiên cứu khoa học của Warwick có tính phê phán đối với chính sách của chính phủ là một ví dụ rất điển hình.  Nói một cách ngắn gọn, một trường chỉ có thể khẳng định đẳng cấp quốc tế của mình sau khi đối chiếu một cách toàn diện với những tiêu chuẩn quốc tế cao nhất, được thể hiện cụ thể thông qua việc trường này xuất hiện và có thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng của những trường danh tiếng nhất trên thế giới.    —–  * Giảng viên của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP. Hồ Chí Minh.      Vũ Thành Tự Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang 4 vấn đề chính cần quan tâm      Hai bài báo của GS Phạm Duy Hiển và PGS Trần Ngọc Vương đều mạnh dạn nói thẳng vào những điều còn tồn tại, còn e dè trong các lĩnh vực khoa học xã hội và tự nhiên; đồng thời nêu ra mối quan hệ giữa đối tượng (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) với người làm nghiên cứu (các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội) và cách tiếp cận giải quyết vấn đề này của xã hội (chiến lược quốc gia, cách quản lí) để cho đối tượng nghiên cứu có thể được phát triển đúng mức. Điều đó cũng có thể nói là một phần trong văn hóa của nghiên cứu.  Do tầm mức của vấn đề được đặt ra, có lẽ trước hết xin trao đổi sơ qua một vài điều sau đây:         1. Tới nay chúng ta bị lẫn lộn giữa khoa học và công nghệ, nhiều tổ chức khoa học nay khoác thêm cái áo công nghệ nhưng tư duy vẫn chỉ thuần khoa học chứ chưa có dáng dấp của công nghệ. Từ đó làm cho khoa học không làm đúng vai trò của mình mà công nghệ cũng không được phát triển đúng tầm.  2. Chiến lược khoa học và chiến lược công nghệ khác nhau. Chúng ta nhiều khi lấy chiến lược khoa học để thế vào chỗ chiến lược công nghệ là không hợp vì một đằng đối tượng của khoa học là nghiên cứu qui luật một đằng đối tượng của công nghệ là sản xuất và dịch vụ, ra sản phẩm.  3. Trong khoa học, nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào sáng tạo cá nhân với sự hỗ trợ của tiến bộ khoa học mới. Trong công nghệ, yếu tố tổ chức con người làm việc theo kĩ nghệ, theo qui trình hiện đại là rất cần thiết và cũng là điều chúng ta còn thiếu. Công nghệ và kỹ nghệ dựa trên việc phối hợp có bài bản của nhiều chuyên gia để làm ra sản phẩm mới là chính.  4. Xu hướng hành chính hóa mọi thứ trong xã hội chúng ta làm trì trệ các phát triển sáng tạo. Không chỉ trong khoa học, trong giáo dục, trong y tế, trong mọi lĩnh vực xu hướng hành chính hóa đang diễn ra quá phổ biến và làm cho nhiều tổ chức bị xơ cứng không đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện đại. Việc đề cập tới vấn đề này ở tầm mức xã hội để báo động những nguy cơ của nó là cần thiết, bài của GS Phạm Duy Hiển có thể mở màn cho trao đổi này. Tuy nhiên cũng cần chỉ ra những cách thức vượt qua xu thế này trong xã hội ta.  5. Đi vào phê phán những nhược điểm của khoa học xã hội hiện tại là cần thiết nhưng chưa phải cấp bách, vì việc sửa chữa các nhược điểm đó chưa thể vượt ra ngoài cái khuôn khổ đã quen biết. Vì vậy cần đề cập tới vấn đề khoa học xã hội trong bối cảnh hiện tại, trước sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ mới đang đưa vào làm cho khoa học xã hội buộc phải biến đổi. Đây là điều cấp bách cần định hướng đúng thì mới góp phần làm thay đổi cách nhìn nhận và nghiên cứu cổ điển của khoa học xã hội.  6. Sự trì trệ trong khoa học xã hội cũng cần được nhận diện với việc hành chính hóa nghiên cứu. Thói quen làm theo khuôn mẫu, làm nghiên cứu theo chỉ đạo từ lãnh đạo chính trị cần được được thay đổi bằng việc đưa các yếu tố mới vào và phát huy sự tích cực chủ động dùng các phương pháp làm việc mới.  7. Sự phối hợp giữa tin học và khoa học xã hội là điều cấp thiết để có thể tạo mặt bằng mới cho các nghiên cứu khoa học xã hội. Cần thay đổi thói quen cũ và hình thành cách làm việc khoa học công nghệ ngay trong nghiên cứu khoa học xã hội.  8. Để khoa học có thể thực sự trở thành động lực của phát triển, cần quan tâm: 1)phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ cho mọi hoạt động nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, 2)phát triển đội ngũ người nghiên cứu với tư duy kĩ nghệ và làm việc trên cơ sở hạ tầng công nghệ mới, 3)xây dựng chiến lược đưa tri thức vào mọi hoạt động nghiên cứu và ứng dụng, phối hợp những hoạt động liên ngành, 4)phát triển xã hội học tập trên cơ sở nền công nghệ mới.    —————  CHÚ THÍCH ẢNH:  Đưa tri thức vào mọi hoạt động nghiên cứu và ứng dụng      Ngô Trung Việt    Author                Quản trị        
__label__tiasang 4 yếu tố tác động đến mô hình CNH,HĐH của nước ta trong giai đoạn mới      Với tư cách là môi trường, điều kiện và không gian của quá trình phát triển kinh tế quốc gia, thế giới (nền kinh tế) toàn cầu hóa gắn cung cấp các cơ sở để xác định và thực thi mô hình tăng trưởng và phát triển mới. Trong số này, gắn với quá trình CNH, HĐH của nền kinh tế Việt Nam, xin nhấn mạnh bốn yếu tố: Xu hướng tự do hóa (di chuyển các nguồn lực); Tính mở (tính không bị giới hạn) của quá trình phát triển; Tính kết nối mạng của các quá trình kinh tế trên phạm vi toàn cầu; Vai trò nổi lên của các tập đoàn xuyên quốc gia.     Xin nêu một số hàm ý trực tiếp nhất đến mô hình CNH, HĐH từ các yếu tố trên.  Xu hướng tự do hóa đồng nghĩa với việc các rào cản việc di chuyển các nguồn lực trên thế giới bị hạ thấp (tiến tới “không”). Các nguồn vốn tài chính, công nghệ, thiết bị, nhân lực (bao gồm nhân lực trí tuệ) có thể tự do di chuyển trên toàn cầu để đến chỗ nào mà chúng có điều kiện phát huy tác dụng cao nhất và sinh lợi nhiều nhất. Khi đó, hệ quả đối với một nước đi sau sẽ là “không sợ thiếu vốn, không sợ thiếu công nghệ, không sợ thiếu người tài, chỉ sợ thiếu chính sách đúng để thu hút các nguồn lực sẵn có trên toàn thế giới”.                                    Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi tiệc trưa do Hội đồng Thương mại Mỹ  – Việt và Phòng Thương mại Mỹ tổ chức    Chỉ xin đề cập riêng đến dòng vốn đang tự do lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu làm ví dụ minh họa cho xu hướng tổng thể này. Hiện nay, hàng ngày có hàng ngàn tỷ USD di chuyển trên các kênh vốn quốc tế. Khối lượng lớn và tốc độ lưu chuyển vốn nhanh là kết quả trực tiếp của quá trình tự do hóa việc di chuyển các nguồn vốn. Đối với nền kinh tế Việt Nam đi sau, nhìn chung là nghèo và thiếu vốn, nhất là vốn để tiến hành CNH nhanh theo hướng hiện đại, việc tiếp cận đến nguồn vốn quốc tế là yếu tố cơ bản, quyết định để tăng trưởng nhanh, chuyển dịch cơ cấu mạnh và tiến kịp thế giới. Nhưng muốn hút được dòng vốn đó thì điều kiện tiên quyết là phải tự do hóa các kênh lưu thông vốn vào Việt Nam. Nguyên lý phải là như vậy. Nhưng tự do các kênh lưu thông vốn lại chứa đựng những rủi ro khó lường, nhất là khi hệ thống tài chính – ngân hàng của nước ta chưa phát triển, chưa tạo lập được một cơ cấu vững chắc.  Mâu thuẫn này xác định một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, cả trên phương diện ngành lẫn trên phương diện thể chế: phát triển và củng cố hệ thống tài chính – ngân hàng là nhiệm vụ chiến lược ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ hệ nhiệm vụ CNH, HĐH của giai đoạn tới (đáng ra nhiệm vụ này phải hoàn thành về cơ bản trước khi Việt Nam gia nhập WTO). Có một cấu trúc tài chính mạnh, nền kinh tế sẽ tự tin hơn khi tiến hành các bước đi quyết định trong tiến trình tự do hóa các dòng đầu tư và tài chính.  Tính mở của hệ thống kinh tế toàn cầu hóa hàm ý về không gian vô tận cho sự phát triển. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với bất cứ nền kinh tế thị trường nào, nơi mà quá trình phát triển luôn luôn dựa trên một nguyên lý tiền đề: sự khan hiếm. Trung Quốc đang vận dụng rất thành công lợi thế toàn cầu hóa này khi lựa chọn nguồn cung đầu vào tài nguyên thiên nhiên cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc ở các nước ngoài Trung Quốc (để dành tài nguyên quốc gia thành nguồn dự trữ chiến lược). Trung Quốc đang thành công với chiến lược châu Phi nhằm vượt qua những giới hạn về nguồn cung đầu vào trong nước hoặc do các nguồn cung cấp đầu vào chiến lược trên thế giới đã bị các cường quốc “già” khống chế.  Việt Nam không thể không tính đến nguyên lý phát triển này trong giai đoạn tới, khi mà sự khan hiếm đầu vào toàn cầu và xung đột do tranh chấp tài nguyên gia tăng mạnh, còn bản thân nước ta thì không phải là nước giàu có về tài nguyên.   Kết nối mạng của nền kinh tế toàn cầu hàm ý rằng muốn tận dụng được các lợi thế phát triển do thời đại và loài người đem lại, cách thức duy nhất là phải gia nhập mạng, kết nối với các thành tố mạng toàn cầu để làm thông suốt các đường dẫn các nguồn lực về nước mình, “nội địa hóa” chúng để thúc đẩy công cuộc phát triển nền kinh tế quốc gia. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để gia nhập được vào mạng lưới kinh tế toàn cầu. Tham gia thật sự vào mạng lưới kinh tế toàn cầu đương nhiên không phải là một quá trình tự động, tự do vô điều kiện. Để nhập mạng (một cách hiệu quả), có hai điều kiện tiên quyết. Đó là:   – Có hệ thống thể chế tương thích với các luật lệ và quy định quốc tế;   – Tạo lập được một cơ cấu kinh tế (ngành) đáp ứng được yêu cầu “làm ra cái thế giới cần, với mức chi phí và chất lượng mà thế giới chấp nhận”.   Xét theo hai điều kiện tiên quyết nói trên, để hội nhập quốc tế thật sự, để có thể huy động tối đa nguồn lực quốc tế và các cơ hội phát triển mà quá trình toàn cầu hóa tạo ra, Việt Nam còn nhiều việc phải làm.   Trong mấy năm gần đây, quá trình cải cách thể chế được đẩy mạnh, đặc biệt là ở việc tạo lập khung khổ luật pháp. Tuy nhiên, ở góc độ thể chế kinh tế thị trường và nền hành chính nhà nước hiện đại, bước tiến vẫn còn chậm và thiếu đồng bộ. Đây là một điểm yếu sinh tử của quá trình hội nhập. Dường như việc tập trung vào các nỗ lực đầu tư để tăng trưởng nhanh đã phần nào làm lu mờ đi hệ nhiệm vụ quan trọng bậc nhất này của quá trình CNH, HĐH.  Vai trò nổi lên của các công ty xuyên quốc gia. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng đặc biệt của lực lượng chủ thể này trong việc thúc đẩy các quá trình kinh tế thế giới, tạo động lực mạnh để kéo các nền kinh tế đi sau nhập vào hệ thống kinh tế thế giới, nhờ đó, các nền kinh tế này có thể tăng tốc phát triển. Vai trò dẫn dắt và tạo động lực thu hút đầu tư của Intel, của Toyota, v.v. khi các công ty này đầu tư vào một nền kinh tế nào đó, dù đó là nền kinh tế còn nhỏ yếu (Honduras ở Trung Mỹ chẳng hạn), giúp các nền kinh tế này nhanh chóng “lột xác” thành hiện đại là điều đã được thực tế kiểm định.   Cho đến nay, một cách thực tiễn, không phải Chính phủ, cũng không phải các trường đại học mà là các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò là nguồn cung cấp tri thức và công nghệ quan trọng nhất cho các nền kinh tế. Mọi khoản đầu tư của các công ty xuyên quốc gia đều gắn với việc chuyển tải tri thức và công nghệ, gắn với trình độ quản lý và tiếp cận thị trường quốc tế cao nhất. Mà đó chính là những thứ mà các nền kinh tế đi sau cần nhất để đạt mục tiêu “tiến kịp thế giới”.  Cần lưu ý rằng cuộc cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu giữa các công ty xuyên quốc gia luôn luôn là động lực mạnh nhất thúc đẩy phát triển và phổ biến rộng rãi các thành tựu công nghệ – kỹ thuật.  Do vậy, đối với nước ta hiện nay, việc ưu tiên thu hút các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào cần phải trở thành một chủ trương chiến lược mang tính khả thi hiện thực cao. Cần phải coi việc thu hút nhiều công ty xuyên quốc gia là cách thức cơ bản để nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ và sức cạnh tranh quốc gia. Nếu đặt ưu tiên này trong việc mở ra chiến lược biển, một chiến lược mà việc triển khai nó luôn đòi hỏi phải có thực lực tài chính mạnh, trình độ khoa học – công nghệ cao, càng thấy tầm quan trọng nổi bật của lực lượng kinh tế này.    Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, cả trên phương diện ngành lẫn trên phương diện thể chế: phát triển và củng cố hệ thống tài chính – ngân hàng là nhiệm vụ chiến lược ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ hệ nhiệm vụ CNH, HĐH của giai đoạn tới.    Trần Đình Thiên    Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 chủ trương để cải cách tư pháp thành công      Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.    Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.   Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.        Chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt mọi đảng phái, công an, quân đội, Chính phủ, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án.        Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt Chính phủ, công an, quân đội, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.   Từ chối cải cách theo chiều sâu, lãng mạn phát triển theo “đặc thù riêng của đất nước chúng ta”- cái đặc thù ấy là những nhóm lợi ích ngày càng lớn mạnh đã chia sẻ ngày càng công khai các nguồn tài nguyên quốc gia-từ ruộng đất của nông dân tới các nguồn khoáng sản, bờ biển, rừng núi và sóng truyền thông. Người có tiền thường có năng lực chi phối chính sách kinh tế rất mạnh, chúng ta mau chóng sẽ có những chính thể sốt sắng vì quyền lợi của người giàu và có thế lực. Những người đang nắm chính quyền ở nước ta không tôn thờ một chủ nghĩa tư bản mang tính cướp bóc ấy.   Vậy thì, dù gọi là tôn dân-nhà nước của dân, hay tôn chủ nghĩa xã hội, tăng quyền cho các tòa án giám sát chính quyền sẽ là một hướng đi trúng.  Năm chủ trương cụ thể:         Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.                                                             Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.  Muốn cho tòa án mạnh, thì các thẩm phán phải độc lập. Vậy nên, cải cách tư pháp, nếu muốn thực sự thành công và giúp dân chúng kiểm soát Chính phủ, phải hướng tới các chủ trương cụ thể như sau:  Thứ nhất, các thẩm phán phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít theo những nhiệm kỳ dài, ví dụ 12 năm, vênh với nhiệm kỳ của cơ quan hành pháp. Sau khi được bổ nhiệm, thẩm phán không bị thay đổi nơi trị nhiệm. Làm như vậy, các thẩm phán sẽ bớt sợ hãi hơn trước các cuộc tái bầu cử hay bổ nhiệm (cứ 5 năm một lần như hiện nay).  Thứ hai, quỹ lương, ngân sách hoạt động của các tòa phải không lệ thuộc vào ngân sách địa phương. Ngạch tư pháp phải hạch toán, phân bổ ngân sách riêng từ trung ương, lãnh đạo các địa phương tuyệt nhiên không nên có ảnh hưởng gì tới chi tiêu của các tòa án. Thêm nữa, lương của thẩm phán cũng phải đủ nuôi họ và gia đình một cách tương đối đàng hoàng (theo thời giá hiện nay lương cho thẩm phán tòa phúc thẩm khoảng 10 triệu đồng/tháng là mức khiêm tốn cần trông đợi).   Thứ ba, đã đến lúc phải từng bước thay mô hình “các con búp-bê ma-trutsch-ka” hiện nay, theo đó mỗi địa phương là một nhà nước nho nhỏ với đủ các cơ quan cảnh sát, quân đội, tòa án. Thành lập các tòa sơ thẩm theo khu vực, không tuân theo địa giới hành chính; thành lập các tòa phúc thẩm khu vực; những điều này kết hợp với sự tự do về ngân sách, sẽ làm cho tòa án ngày càng độc lập với chính quyền các tỉnh.  Đây là một đường lối đã được thông qua tại Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, song sức cản chủ yếu nằm ở quan chức địa phương. Những quan tòa soi mói và không dễ khuất phục chưa chắc đã là điều mà lãnh đạo các tỉnh mong muốn hiện nay.  Thứ tư, thẩm phán không nên chỉ là công nhân xử án, chỉ quen các thao tác tuân theo những hướng dẫn đã có sẵn. Bảo đảm cho họ mọi sự độc lập và tự do khi tuyên xử, và phải có những sự chuẩn bị cho cả xã hội về một vị thế mới của người thẩm phán. Họ nên là những nhân cách được dân chúng tin tưởng và kính mến trước hết về mặt đạo đức, về cảm nhận công lý, về bảo vệ niềm tin. Muốn vậy, nên nghiên cứu rất kỹ cách người Nhật, người Hàn đang cải cách nền tư pháp hiện nay. Theo thiển ý của tôi, không nên thu nạp thẩm phán từ các nhân viên thư ký tòa như hiện nay, mà nên bổ nhiệm họ trong số những luật sư đã hành nghề có uy tín nhiều năm.           Việc từng bước giảm bớt hội đồng nhân dân cấp huyện, tách các tòa án huyện ra khỏi cơ cấu hành chính để thành lập các tòa sơ cấp theo khu vực là điều có thể làm được trong vòng vài năm tới. Nếu làm được như vậy, chúng ta đang khám phá ra quá khứ, bởi một hệ thống tòa án từ sơ cấp- tòa phúc thẩm khu vực, tòa phá án tách rời với địa giới các tỉnh đã từng tồn tại ở Miền Bắc Việt Nam cho tới những năm 1953… chúng chỉ bị thay thế bởi các tòa án nhân dân sau Chiến dịch biên giới Việt Trung. Đọc Hiến pháp năm 1946 người ta vẫn còn thấy nguyên hình hài của chúng.         Thứ năm, nền tư pháp chỉ có thể được cải cách, nếu bắt đầu từ nền đào tạo luật học. Cũng như y khoa chữa bệnh cho người, người học luật nên có kinh nghiệm sống, chí ít là nên đã có một bằng cử nhân. Không có kinh nghiệm sống đa dạng thì làm sao phán xử được về sự đời. Các luật sư phải là người đã có một bằng đại học, học thêm 3-4 năm nữa để hành nghề luật. Vì thế luật học không nên đào tạo ở bậc đại học, mà chỉ nên đào tạo ở bậc sau đại học- hiểu theo nghĩa đã có một bằng đại học trước đó. Thêm nữa, dạy luật không chỉ là lý thuyết, mà nên dạy nghề. Người học phải trải qua các tín chỉ được thực hiện ở các văn phòng luật sư, các cơ quan nhà nước hay tòa án. Đây là một vấn đề rất mấu chốt, vì tòa án sẽ tốt lên đáng kể nếu các luật sư được tranh tụng công khai ngày càng giỏi và dám thách thức quan tòa.  ———–  CHÚ THÍCH ẢNH:  Nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH tại Hà Nội (5/1/1946). Ảnh tư liệu.  Ý kiến của Bạn?      Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
0.37209302325581395
__label__tiasang .    Trần Văn Thọ    Author                Quản trị        
__label__tiasang 7 tiêu chí nhận dạng nhân tài trong khoa học công nghệ      Tôi đã đọc khá nhiều bài viết về chủ đề “Nhân tài và sử dụng nhân tài”. Tuy nhiên tôi chưa thấy có bài viết nào chỉ ra, dù là vắn tắt thôi các tiêu chí dễ dàng nhận ra đâu là nhân tài đích thực trong KH &amp; CN mà đây lại là việc làm rất cấp bách, rất quan trọng giúp cho nhà quản lý tìm được người để giao việc.    Trong bài báo rất ngắn gọn này, tôi xin đề xuất một số tiêu chí quan trọng nhất để nhanh chóng nhận dạng ra đâu là nhân tài theo các cấp độ khác nhau (xin miễn phân tích và bình luận nhiều vì việc đó đã được rất nhiều người viết rồi), đó là:  1) Tiêu chí cao nhất, khó nhất: có công trình được đưa vào sách giáo khoa do một tác giả khác viết dùng làm tài liệu để giảng dạy (định luật, định lý, công thức, phương pháp…) ở các trường Đại học có uy tín. Ở Việt Nam ta không biết được mấy người đây đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học thực nghiêm như Sinh học, Hoá học…  2) Được các nước là cường quốc về khoa học công nghệ tài trợ toàn bộ mời sang đọc semina ( Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức…)  3) Nhận được nhiều lần tài trợ của các tổ chức khoa học quốc tế có uy tín (ví dụ: IFS*- Inter. Found. for Sci., Stockholm, Sweden… hay Humboldt…)  4) Có quan hệ, cộng tác quốc tế về nghiên cứu khoa học công nghệ với những nhà khoa học quốc tế danh tiếng của các cường quốc về khoa học công nghệ ( các viện sỹ, các giáo sư) và được họ đánh giá cao  5) Người đầu tiên khởi xướng, triển khai có kết quả một hướng khoa học công nghệ mới ở trong nước và khu vực (đây chính là đầu ngành), thậm chí có vai trò khơi mào cho sự ra đời một hướng, một ngành khoa học mới liên quan. Chỗ này nói lên “tầm” ảnh hưởng của nhà khoa học này vượt ra khỏi cả ngành của họ.  6) Có nhiều công bố khoa học quốc tế. Tiêu chí này tôi chỉ để ở vị trí thứ 6 rất khiêm tốn thôi (Tại sao?).  7) Giải thưởng khoa học công nghệ có uy tín quốc tế và trong nước  *)”IFS Mandate: IFS is an international, non-governmental organization, founded in 1972. The mandate of IFS is to assist in building capacity in developing countries in sciences related to the management, conservation, and sustainable use of natural resources.  The strategy to achieve this objective is to identify young, talented scientists who have the potential for becoming the future research leaders and lead scientists in their nations, and to effectively support them in their early careers.”  Một bạn đọc ở Viện KH&CN Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang 71 phóng viên thiệt mạng trong năm 2013      Năm 2013, tổng cộng có 71 phóng viên bị  thiệt mạng trong khi tác nghiệp, báo cáo mới nhất của Tổ chức Phóng viên  không biên giới cho biết.       Vùng đất nguy hiển nhất cho phóng viên tác nghiệp là Syria – 10 phóng viên đã thiệt mạng tại đây trong năm nay,  Somalia và Pakistan cũng nguy hiểm gần bằng Syria; tiếp theo là Ấn Độ và Philippines.  Tổ chức Phóng viên không biên giới nhấn mạnh rằng, phóng viên báo giấy cận kề với nguy hiểm nhiều nhất – 37%; tiếp sau là phóng viên phát thanh và truyền hình. 96% số phóng viên tử nạn là đàn ông.  Trong khi đó, con số blogger bị thiệt mạng khi đang tác nghiệp trong năm nay là 39.  Như vậy, số phóng viên và bloggers thiệt mạng khi tác nghiệp trong năm nay đã giảm so với năm ngoái – tương ứng là 88 và 47.  Bên cạnh đó, năm 2013 đã có 178 phóng viên trên toàn cầu bị cầm tù. Một lần nữa, Syria lại đứng đầu danh sách; tiếp theo là Trung Quốc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Eritrea.  Năm 2013 cũng là năm xảy ra nhiều vụ bắt cóc người của ngành truyền thông. Theo Tổ chức Phóng viên không biên giới, 87 phóng viên đã bị bắt cóc, so với 38 vụ của năm ngoái.  TT dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang 8 đặc điểm của văn hóa khoa học      Trước những kết quả nghiên cứu có vẻ khá hiển nhiên, chúng ta thường nói “Cái đó không làm nghiên cứu cũng biết”. Thói quen suy nghĩ kiểu “không làm nghiên cứu cũng biết” vô tình làm cho chúng ta thụ động, chỉ khoanh tay nhìn thế giới, mà không chịu khó tìm tòi và đào sâu suy nghĩ. Thói quen này còn là một hàng rào cản trở tiến bộ khoa học, bởi vì nói như thế là mặc nhiên công nhận một giả định rằng những gì mình biết là chân lí, không cần làm gì thêm. Vả lại, vấn đề không phải đơn thuần là biết hay không biết, mà là định lượng cái biết của mình bao nhiêu, biết như thế nào, biết từ đâu… Nói tóm lại, phải có một văn hóa khoa học trong học hành, hoạt động khoa học…        Theo định nghĩa của giới xã hội học, văn hóa bao gồm những qui ước, giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên. Hoạt động khoa học dựa vào một số qui trình, qui ước đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận và lấy làm chuẩn, và do đó hoạt động khoa học tạo nên văn hóa khoa học. Chẳng hạn như trong khi làm thí nghiệm, tất cả các dữ liệu liên quan đến phương pháp, số liệu, hình ảnh, hay nói chung kết quả đều phải được ghi chép cẩn thận trong nhật kí thí nghiệm, và nếu cần phải có một đồng môn kí vào nhật kí. Tất cả các kết quả phải được trình bày trong các buổi họp hàng tuần trước đồng nghiệp và được “soi mói” cẩn thận. Hay trong thực hành lâm sàng, bác sĩ phải trình bày những ca bệnh mình phụ trách trong buổi họp giao ban, để các đồng nghiệp khác bàn luận. Đó là một khía cạnh của văn hóa khoa học.                                 Giữa các quốc gia, văn hóa khoa học có thể khác nhau, nhưng theo tôi nó có những đặc điểm phổ quát mà đại đa số những người làm khoa học chấp nhận. Đó là:  Thói quen đặt câu hỏi. Đứng trước một sự kiện hay sự vật, người có văn hóa khoa học phải đặt câu hỏi tại sao, đào sâu suy nghĩ, và từ đó phát hiện vấn đề.  Một khi đã phát hiện được vấn đề thì giải pháp để giải quyết cũng có thể theo sau. Chính vì thế mà có người nói trong khoa học, biết được câu hỏi, biết được vấn đề cũng có nghĩa là đã thành công 50% trong nghiên cứu. Nhưng ở nước ta, học sinh và sinh viên nào đặt vấn đề, tranh luận với thầy là bị phê bình ngay “con nít mới học vài ba chữ biết gì mà nói”, hay “không biết thì dựa cột mà nghe”, hay thậm chí “hỗn với thầy cô”. Trưởng thành trong môi trường thứ bậc trong học thuật như thế, không ngạc nhiên khi sinh viên của chúng ta ra ngoài du học tuy rất khá trong việc trả bài, học trong khuôn khổ của sách giáo khoa, nhưng khi học cao lên một bậc hay thoát ra ngoài sách vở thì họ rất lúng túng trong nghiên cứu khoa học, vì họ không biết cách đặt vấn đề và cũng thiếu tự tin để trình bày vấn đề.    “Nói có sách, mách có chứng”. Kiến thức mang tính kế thừa từ đời này sang đời khác. Thành ra, đối với người có tinh thần khoa học nghiêm túc, phát biểu có cơ sở và tài liệu tham khảo là điều đương nhiên. Mở bất cứ một sách giáo khoa hay thậm chí sách tham luận nào ở các nước Tây phương, chúng ta đều thấy phần tài liệu tham khảo dồi dào, ngay cả những thư từ trao đổi cá nhân cũng được trình bày cẩn thận với sự cho phép của đương sự. Cách làm việc này còn là một cách kế thừa di sản của người đi trước, và cũng là một cách ghi nhận công trạng của họ.   Nhưng rất tiếc là ở nước ta, văn hóa “nói có sách mách có chứng” này vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. Có thể tìm thấy khá nhiều sách, bài báo khoa học ở Việt Nam không kèm theo một tài liệu tham khảo nào. Vì thế người đọc không biết tất cả những phát biểu trong sách, bái báo đó là phát kiến của tác giả, hay mượn của người khác mà không chịu ghi nhận.  Phải nói thêm rằng “nói có sách, mách có chứng” có nghĩa là dựa vào tài liệu tham khảo gốc mà người phát biểu phải có trong tay và từng đọc qua, không trích dẫn nguồn tài liệu hạng thứ, hay từ một nguồn nào đó mà người phát biểu chưa từng đọc qua. Trong khá nhiều bài báo nghiên cứu khoa học ở nước ta, nhiều tác giả có xu hướng trích dẫn không căn cứ vào tài liệu gốc, hệ quả là nhiều phát biểu rất sai lầm.    Tôn trọng sự thật khách quan. Làm khoa học là một hành trình đi tìm sự thật, khai hóa, truyền bá cái mà chúng ta gọi là “văn minh”, và vì thế khoa học đặt sự thật trên hết và trước hết, trước tất cả những định kiến cá nhân. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.  Người viết bài này từng có một kinh nghiệm thú vị: khi phân tích mối tương quan giữa lượng đường trong máu và độ cholesterol trong máu, nhà nghiên cứu phát hiện một bệnh nhân với số liệu “trệch hướng” với mô hình, và đơn phương quyết định bỏ số liệu của bệnh nhân này để phân tích lại. Đây là một vi phạm nghiêm trọng. Trong hoạt động khoa học, tất cả những thất bại hay bất bình thường đều được khai thác, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi thêm, để chúng ta phát hiện một cái mới thú vị khác. Thuốc viagra được phát hiện một cách tình cờ vì phản ứng của thuốc không nằm trong “dự kiến” của các nhà nghiên cứu là một ví dụ.   Làm việc và thực hành dựa vào bằng chứng khách quan. Trong khoa học, niềm tin và kinh nghiệm cá nhân không thể xem là khách quan, và không thể làm nền tảng để hành động, nếu những kinh nghiệm đó chưa qua thử nghiệm khách quan. Vì vậy, chúng ta phải hành xử và phán xét dựa trên cơ sở dữ kiện nghiên cứu được thu thập một cách khách quan, chứ không dựa vào cảm tính hay theo phong trào hay áp lực.   Người Việt chúng ta thường quen phát biểu theo kinh nghiệm cá nhân, niềm tin, thậm chí theo cảm tính. Chẳng hạn như năm ngoái, khi bệnh xơ hóa cơ delta bùng phát, một số chuyên gia phát biểu một cách khẳng định rằng (“theo kinh nghiệm của tôi”) nguyên nhân bệnh là do tiêm chích thuốc nhiều lần. Và có lẽ thói quen thực hành dựa vào bằng chứng khách quan đã làm thiệt thòi y học cổ truyền ở nước ta. Các thuật điều trị cổ truyền đã được thực hành qua hàng nghìn năm, nhưng hiệu quả của chúng vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chúng ta vẫn còn tin và hành xử theo tin đồn, theo truyền thuyết, thậm chí theo những niềm tin dị đoan.    Hệ thống hóa những gì mình biết, không dấu diếm. Trong hoạt động khoa học, tất cả những giả thuyết, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích, kết quả, và ý nghĩa của kết quả đều phải được hệ thống hóa trong một báo cáo khoa học, và công bố cho toàn thế giới biết. (Tất nhiên, đôi khi vì quyền lợi kinh tế và an ninh quốc gia, một số phương pháp không được công bố). Đặc điểm “văn hóa mở” này rất quan trọng và có lẽ là một yếu tố thúc đẩy phát triển khoa học ở các nước Tây phương. Đọc lại những nghiên cứu khoa học đơn giản từ thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tôi không khỏi thầm khen những ghi chép cẩn thận (có khi cẩn thận đến từng dấu chấm và con số lẻ) của những nhà nghiên cứu thời đó, không có dấu diếm gì cả. Nhưng ở nước ta, “văn hóa giấu nghề” hình như vẫn còn tồn tại trong không ít nhà khoa học. Những câu chuyện về giáo sư cố tình không truyền hết kĩ năng cho sinh viên và nghiên cứu sinh ở nước ta đôi khi nghe qua rất khôi hài, nhưng rất tiếc là lại thực tế.    Trong hoạt động khoa học, báo cáo khoa học thường được gửi cho một tập san chuyên ngành để đồng nghiệp có cơ hội thẩm định, và nếu không có vấn đề, sẽ công bố để đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới biết được. trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Nhưng ở nước ta, phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ được công bố trong các tập san nội địa dưới hình thức bản tóm tắt hay không qua bình duyệt nghiêm chỉnh.   Dân chủ. Hoạt động khoa học là một môi trường dân chủ, hiểu theo nghĩa tất cả các phát kiến của nhà khoa học đều được đồng nghiệp bình duyệt nghiêm túc, và ngược lại, nhà khoa học cũng có cơ hội bình duyệt các nghiên cứu của đồng nghiệp mình. Dân chủ trong khoa học còn có nghĩa một mô thức (paradigm) nào đó được đa số cộng đồng khoa học chấp nhận, thì mô thức đó được xem là chuẩn để thực hành. Nhưng đến khi mô thức đó được chứng minh không còn thích hợp hay sai, thì vẫn theo tinh thần dân chủ, mô thức đó sẽ được thay đổi bằng một mô thức mới.   Tinh thần dân chủ khoa học còn có nghĩa là các nhà khoa học lớn và có kinh nghiệm phải lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học trẻ, chứ không có tình trạng “cây đa cây đề” dùng uy tín cá nhân để lấn ép đồng nghiệp trẻ. Bất cứ ai từng đi dự các hội nghị khoa học ở các nước Tây phương đều thấy những nhà khoa học cao tuổi, những người mà chúng ta hay gọi là “cây đa cây đề” nghiêm chỉnh lắng nghe đồng nghiệp trẻ trình bày, hay trả lời nghiêm chỉnh những phê phán, phản biện từ đồng nghiệp trẻ đáng tuổi học trò hay con cháu mình. Rất tiếc ở nước ta vẫn còn khá nhiều giáo sư lâu năm tự cho mình cái quyền lên lớp giới trẻ mà không chịu lắng nghe hay đánh giá thấp ý kiến của giới trẻ. Có nhiều vị thậm chí không chịu tiếp cận một cái nhìn mới về một vấn đề cũ, và hệ quả là các trao đổi chỉ có một chiều, thiếu dân chủ, làm cho hoạt động khoa học mất hào hứng và tất nhiên là thiếu dân chủ.   Kế thừa. Điều đẹp nhất của văn hóa khoa học không chỉ là dân chủ mà còn mang tính kế thừa, chuẩn bị cho một thế hệ tiếp nối. Không có kế thừa, khoa học sẽ là đi vào bế tắc rất nhanh. Ở các nước phương Tây (như ở Úc nơi người viết bài này đang làm việc), người ta có những kế hoạch cụ thể, kẻ lập ra những ngân sách đặc biệt, để nuôi dưỡng thế hệ nghiên cứu khoa học trẻ, những người đã có học vị tiến sĩ và đang làm nghiên cứu hậu tiến sĩ. Ngân sách này được phân phối cho các trung tâm nghiên cứu có điều kiện và cơ sở vật chất để sử dụng các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ và từng bước đào tạo họ thành những nhà nghiên cứu độc lập, những con chim đầu đàn. Ngoài ra, trong các hội nghị quốc gia, những “cây đa cây đề” thậm chí nhường những chức vụ và vai trò quan trọng cho giới trẻ đảm trách để chuẩn bị họ cho một tương lai kế thừa sự nghiệp của những người đang sắp về hưu.   Nhưng ở nước ta, việc chuẩn bị cho thế hệ kế tiếp vẫn còn là một… ý nguyện. Nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản từ trong và ngoài nước vẫn chỉ là những cái bóng bên cạnh các “cây đa cây đề”, chưa được giao những trọng trách. Có người chờ đợi mòn mỏi, và không đủ kiên nhẫn (cũng không thể trách họ) nên đành phải tìm cách ra nước ngoài và khả năng quay về nước thật thấp. Hệ quả là ngày nay, chúng ta thường nghe đến tình trạng “lão hóa” trong đội ngũ nghiên cứu khoa học nước nhà. Theo thống kê năm 2000, chỉ có 15% thầy cô đại học có học vị tiến sĩ (một học vị cần thiết cho nghiên cứu khoa học độc lập), và trong số mang hàm giáo sư, phần lớn ở độ tuổi 60 – 65. Với một lực lượng yếu như thế, không ngạc nhiên chúng ta chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên trường quốc tế như là một tập thể.   Trách nhiệm xã hội. Bản chất của khoa học là nhân đạo, và vì thế hoạt động khoa học còn phải có trách nhiệm với xã hội. Người làm khoa học, nói cho cùng, cũng là một thành viên trong xã hội, chứ không thể nào đứng ngoài hay đứng cao hơn xã hội. Nhà khoa học phải thông qua các cơ chế dân chủ để truyền đạt tri thức, để có tiếng nói; không thông qua các cơ chế này là biểu hiện của sự kiêu ngạo. Mới đây, khi Việt Nam có dự án xây một nhà máy điện hạt nhân, các nhà khoa học trong và ngoài nước cũng đã góp ý khá sôi nổi, và đó chính là một cách thể hiện trách nhiệm xã hội của người làm khoa học. Trong thực tế, không phải lúc nào các nhà khoa học cũng thành công trong việc thuyết phục chính quyền, nhưng ai cũng nhất trí là nhà khoa học phải có trách nhiệm với xã hội, và lên tiếng là một điều cần thiết.    ***  Trong thập niên vừa qua, văn hóa khoa học đã trở thành một “đề án” được thảo luận rộng rãi ở các nước Tây phương, và được xem là một yếu tố trong phát triển kinh tế – xã hội. Vì thế, trong thời kì hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta rất cần phát triển một văn hóa khoa học như là một bộ phận của văn hóa dân tộc.  Theo đó phải dứt khoát đoạn tuyệt với hình thức chủ nghĩa (như hám bằng cấp, học hành tài tử hiện đang còn rất phổ biến trong người Việt). Thay vào đó là trang bị văn hóa tìm tòi cho mỗi học sinh khi họ cắp sách đến trường, trang bị cho họ tư duy ham hiểu biết, say mê sáng tạo, trọng phương pháp, sẵn sàng thích ứng với môi trường mới, dân chủ, và có ý thức trách nhiệm với xã hội và đồng bào, biết áp dụng tinh thần khách quan và khoa học vào mọi phương diện của đời sống cá nhân và xã hội, phải biết hợp tác, và ở một số người, biết lãnh đạo theo những nguyên  tắc dân chủ văn minh.   Để đo lường trình độ văn hóa khoa học của một quốc gia, chúng ta cần phát triển những tiêu chuẩn khách quan để đánh giá qua những chỉ tiêu đầu vào (như số nhà khoa học, kĩ sư, chuyên gia; số trung tâm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh; đầu tư cho khoa học…), hoạt động (đào tạo, đề bạt, hiểu biết về khoa học trong công chúng, báo chí khoa học…), và đầu ra (bằng sáng chế, bài báo khoa học, thành tựu trong ứng dụng khoa học, thương mại hóa…).   Công trình “vớ vẩn”  Trong một lần nói chuyện về đề tài béo phì và sắc đẹp con người, người viết bài này đề cập đến một nghiên cứu ở Anh mà trong đó các nhà khoa học đo lường các chỉ số nhân trắc như chiều cao, vòng eo, vòng mông, cân nặng, và sử dụng các thuật toán thống kê để phát triển một mô hình định lượng “đẹp” dựa vào các đo lường trên. Đồng nghiệp và sinh viên trong cử tọa cười ồ lên và tỏ ra ngạc nhiên về ý tưởng mà họ cho là rất lạ lùng đó. Có người còn nói “Đúng là ở Tây phương người ta thừa tiền của để làm những nghiên cứu vớ vẩn”! Thực ra công trình nghiên cứu “vớ vẩn” đó có ứng dụng rất lớn trong y tế và thương mại. Nó không chỉ là phương tiện dành cho các thanh niên để đi tìm người bạn đời, mà còn là một cơ sở khoa học để các nhà sản xuất quần áo thời trang dựa vào đó mà phát triển những chuẩn mực thích hợp cho từng độ tuổi và giới tính của một quần thể, và qua đó họ có thể đánh giá được thị trường tiêu thụ ra sao.         Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai cai trị nước Mỹ?      Trả lời câu hỏi Ai cai trị nước Mỹ? có lẽ nhiều người sẽ nói: chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này. Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.      Một số quan điểm thông thường  1. Quan điểm cho rằng mỗi quốc gia đều do một giai cấp nào đó thống trị, thí dụ các nước theo chủ nghĩa tư bản (CNTB) như Mỹ là do giai cấp tư sản thống trị.   Ở đây có hai vấn đề. Thứ nhất, khái niệm giai cấp thống trị (ruling class) quá rộng trong khi bộ phận quyết định đường lối chính sách quốc gia chỉ có thể là số ít. Trong một xã hội hiện đại, các quyết sách lớn đều rất phức tạp và cần giữ bí mật; vì thế nhà nước không thể do số đông lãnh đạo. Thứ hai, trong xã hội hiện đại các giai cấp đều bị phân hóa rất rõ ràng. Tại các nước tư bản, tăng trưởng kinh tế dẫn tới xã hội CNTB phúc lợi, giai cấp công nhân không còn là giai cấp vô sản như thời của Mác nữa, mà một bộ phận đáng kể đã chuyển lên thành tầng lớp trung lưu, hữu sản. Giai cấp tư sản cũng chia làm tư sản công nghiệp và tư sản tài chính, có vai trò khác nhau và mâu thuẫn với nhau. Tầng lớp trung lưu có số người đông nhất; qua bầu cử dân chủ và qua các tổ chức xã hội công dân, họ có tiếng nói quyết định trong xã hội. Người Mỹ cho rằng ở nước họ tất cả mọi người đều là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng có thể không bình đẳng về kết quả; ai cũng có thể giàu hoặc nghèo tùy thuộc sự phấn đấu của mình. Căn cứ theo thu nhập, xã hội Mỹ chia làm hai tầng lớp giàu và nghèo, đều là thiểu số, và một tầng lớp trung lưu chiếm đa số. Hai đảng Cộng hòa và Dân chủ không đại diện giai cấp, chỉ là các nhóm lợi ích, lập ra để tranh nhau chức Tổng thống (TT).   2. Quan điểm cho rằng chính quyền Mỹ là do tầng lớp nhà giàu nắm giữ.   Nước Mỹ có mức độ phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt. Số liệu năm 2007 cho thấy 1% số gia đình (thuộc tầng lớp trên, upper class) sở hữu 34,6% tài sản tư nhân cả nước; 19% tiếp theo (gồm giới các nhà quản lý, chuyên gia, chủ doanh nghiệp nhỏ) nắm 50,5%. Nghĩa là 20% số dân sở hữu 85% tổng tài sản tư; còn 80% số dân (là những người làm thuê) chỉ sở hữu có 15%. Hiện nay 46% nghị sĩ hai viện quốc hội Mỹ thuộc diện nhà giàu (hiểu là có tài sản trên 1 triệu USD; người giàu nhất là Darrel Issa, đảng Cộng hòa, có 451 triệu USD); nhưng chưa phải là giàu lắm. Nói tầng lớp giàu có nắm chính quyền cũng không chính xác, vì 1% số dân Mỹ là 3,5 triệu người, bằng một quốc gia nhỏ. Hơn nữa không ít tỷ phú Mỹ lại tránh xa quyền lực, như Bill Gates và Warren Buffett đều không tham gia chính đảng nào, họ cam kết góp gần hết tài sản cho công tác từ thiện và ủng hộ Tổng thống Obama tăng thuế đánh vào người giàu.   3. Quan điểm cho rằng bên cạnh Chính phủ Mỹ còn có một chính phủ vô hình do các nhà tư bản tài chính đứng đầu thực sự nắm quyền lãnh đạo nhà nước.   Quan điểm này thấy rõ trong cuốn Chiến tranh tiền tệ [1]. Sách trích dẫn nhiều tài liệu của phương Tây, đưa ra những tư liệu giật gân, không rõ độ tin cậy, như:   – Từ thế kỷ XIX, nền tài chính toàn thế giới thuộc quyền kiểm soát của gia tộc Rothschild (người Do Thái) có tổng tài sản tích lũy hơn 50 nghìn tỷ USD (?), gấp 4 lần GDP nước Mỹ. Rothschild Family hiện có tài sản 500 tỷ USD, đứng đầu tập đoàn tài chính quốc tế và kiểm soát tất cả các chính quyền phương Tây thông qua hệ thống ngân hàng (?);   – Cơ quan Dự trữ Liên bang FED, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ, là một ngân hàng tư nhân! Chủ tịch FED đều là người Do Thái (gần đây là Greenspan, nay là Bernanke). FED chính là Tổng thống vô hình đang thống trị nước Mỹ, vì FED có quyền in và phát hành đồng dollar Mỹ, còn gọi đồng tiền của FED (Federal Reserve Note); – Chính phủ Mỹ không có cổ phần ở FED. Họ phải vay tiền của FED để chi tiêu với thế chấp là tiền thuế thu nhập (khoản thu tài chính lớn nhất trong nước) do dân Mỹ nộp vào tài khoản của FED. Hiện nay nước Mỹ nợ nước ngoài 2500 tỷ USD (chủ yếu là công trái Mỹ do Trung Quốc, Nhật nắm) nhưng lại nợ FED những 44 nghìn tỷ USD;   – Nhiều TT Mỹ từng kiên quyết chống lại việc các nhà băng châu Âu muốn lập ngân hàng trung ương Mỹ do tư nhân kiểm soát để nắm quyền phát hành tiền tệ. TT Jackson từng giải tán ngân hàng tư nhân, trên bia mộ của ông khắc mỗi một câu: Tôi đã giết ngân hàng. TT Lincoln từng phát hành đồng tiền riêng của chính phủ, gọi là Tiền Xanh (greenback) nhằm phá thế kìm kẹp của đồng tiền do ngân hàng tư nhân phát hành, vì thế ông bị ám sát chết. Nhưng rốt cuộc FED vẫn được lập vào năm 1913, cho dù nhiều TT Mỹ chống lại việc đó;   – Có một Câu lạc bộ tinh hoa thống trị thế giới với nòng cốt là Hội đồng Quan hệ quốc tế Mỹ, nhóm Bilderberg và Ủy ban Ba bên (Trilaterial Commission). Ở đây tinh hoa là các trùm tài chính quốc tế, họ muốn lập chính phủ thế giới và tiền tệ thế giới (?).  Hiện nay dân Mỹ đang lên án các nhà tư bản tài chính là kẻ gây ra khủng hoảng kinh tế. Có điều khó hiểu là G. Soros một trùm tài chính người Mỹ gốc Do Thái lại ủng hộ phong trào này và phản đối việc chính phủ giải cứu các ngân hàng. Soros cũng cam kết hiến tất cả tài sản của mình cho công tác từ thiện.  Thuyết Tinh hoa quyền lực  Trong quá trình nghiên cứu vấn đề cấu trúc quyền lực ở Mỹ, xoay quanh chủ đề nước này sau Thế chiến II có tồn tại quyền lực tập trung hay không, một số học giả Mỹ cho rằng nước Mỹ là do một thiểu số tinh hoa quyền lực gồm những trùm sò của ba ngành kinh tế, quân sự, chính trị thống trị.   Chế độ phân quyền hai cấp liên bang và bang, nguyên tắc tam quyền phân lập, tập tục hai đảng thay nhau cầm quyền và cơ chế bầu cử dân chủ tạo cảm giác xã hội Mỹ là do dân làm chủ và không có vấn đề quyền lực tập trung; chính phủ Mỹ là “của dân, do dân, vì dân”. Tỷ phú David Rockefeller từng nói: Tôi tin rằng chính phủ Mỹ là đày tớ của nhân dân chứ không phải ông chủ của họ [2]. Sau thắng lợi tiêu diệt các thế lực độc tài phát xít trong Thế chiến II, nước Mỹ ở vào thời kỳ phồn vinh, phần lớn trí thức Mỹ tự hào cho rằng nước họ là đại diện của quốc gia tự do dân chủ; bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng bị các nhóm khác cân bằng và kiềm chế; người dân qua lá phiếu bầu của mình thực hiện quyền làm chủ nhà nước, không tồn tại vấn đề quyền lực quá tập trung.   Quan điểm trên bị lung lay khi xuất hiện cuốn Cấu trúc quyền lực cộng đồng: Một nghiên cứu về các nhà quyết sách (Community Power Structure: A Study of Decision Makers, 1953) của Floyd Hunter và Tinh hoa quyền lực (The Power Elite, 1956) của C. Wright Mills. Hai tác giả giải thích cấu trúc quyền lực theo cách khác với phái chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) và phái Mác xít. Đây là bước thăm dò của giới khoa học chính trị về cấu trúc và sự phân phối quyền lực ở Mỹ trên tầng nấc quốc gia, hình thành lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc quyền lực trong ngành khoa học xã hội và chính trị.  Mills cho rằng cấu trúc quyền lực ở Mỹ đã có thay đổi bản chất: quyền lực nhà nước quan trọng nhất đã tập trung vào 3 lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự; 3 lĩnh vực đó hòa quyện với nhau, những người nắm 3 loại quyền lực này là các trùm tập đoàn công ty, chính khách trùm sò và lãnh tụ quân sự. Họ cấu tạo nên tinh hoa quyền lực của nước Mỹ, có lợi ích nhất trí, gắn kết nhau cùng hoạch định các quyết sách trên phạm vi toàn quốc, là một “tập đoàn nhỏ” khống chế quyền lực tập trung.   Mills vạch trần sự thật: phía sau sự phồn vinh, chế độ dân chủ mà người Mỹ tự hào đang bị đe dọa nghiêm trọng; trong thời gian chiến tranh lạnh, quyền lực của đông đảo nhân dân Mỹ đang bị mất dần. Các giám đốc điều hành (CEO) đại công ty đến nhậm chức trong chính phủ Mỹ (như sau này McNamara Chủ tịch công ty Ford Motor làm Bộ trưởng Quốc phòng), tướng lĩnh cấp cao trong quân đội chuyển sang lãnh đạo đại công ty; quyền lực đang tập trung vào tay các nhà lãnh đạo quân đội, công ty và chính khách, tức nhóm tinh hoa thống trị quốc gia. Hơn thế nữa, địa vị của giới lãnh đạo quân đội và đại công ty đang lên cao, địa vị của các nhà chính trị thì đang hạ thấp. Mills và Hunter cho rằng quyền lực thoạt tiên bén rễ trong các tổ chức chứ không phải trong các cá nhân, các hội đoàn, nhóm lợi ích và đảng phái như nhiều nhà chính trị dòng chính quan niệm, cũng không phải là các giai cấp như các nhà Mác xít nghĩ.   Mills đồng ý với 3 tiêu chuẩn phân chia các tầng lớp xã hội do Max Weber đề xuất: tiền vốn (tư bản), quyền lực và danh vọng (3 thứ này có thể chuyển hóa lẫn nhau). Ông vạch ra sai lầm của Thuyết cân bằng phổ biến trong nhận thức của người Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập nhằm ngăn chặn sự tập trung quyền lực, nhưng trong thực tế cơ chế đó bị thách thức. Dân chúng chỉ chú ý tới tầng lớp trung lưu mà mơ hồ về cấu trúc quyền lực tổng thể, nhất là tầng lớp trên và tầng lớp dưới. Tầng lớp trên ngày càng nhất thể hóa và đã xuất hiện tinh hoa quyền lực. Ông cho rằng CNTB Mỹ là CNTB quân sự; mối quan hệ quan trọng nhất giữa đại công ty với nhà nước thì xây dựng trên sự nhất trí về nhu cầu của quân đội và công ty. Sự nhất trí đó tăng cường sức mạnh của mỗi bên và làm suy yếu vai trò của các chính khách. Giới truyền thông đại chúng Mỹ giúp các nhân vật tinh hoa quyền lực có được vinh quang mà tầng lớp trên ở bất cứ nước nào cũng chưa từng được hưởng. Truyền thông đại chúng và cơ chế giáo dục ở Mỹ đã che giấu sự vô đạo đức của tầng lớp trên và việc tầng lớp này tước đoạt quyền lợi của dân chúng.   Wright Mills là nhà phê phán xã hội có ảnh hưởng nhất ở Mỹ thập niên 50. Thuyết Nước Mỹ tồn tại tinh hoa quyền lực cấu tạo bởi nhóm 3 đại gia (The Big Three, gồm các trùm chính quyền, quân đội, công ty độc quyền) của ông được gọi là chủ nghĩa Mills (Millsian). Nó cùng với chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa đa nguyên tạo ra cục diện bộ ba ở Mỹ. Trong hơn 50 năm qua sách Tinh hoa quyền lực được tái bản nhiều lần. Tuy tình hình xã hội Mỹ ngày nay khác ngày ấy, nhưng quan điểm của Mills hiện vẫn có giá trị trong việc giải thích cấu trúc quyền lực ở Mỹ.  Những người theo thuyết cân bằng và theo chủ nghĩa đa nguyên công kích thuyết tinh hoa quyền lực; họ cho rằng trải qua cuộc cách mạng quản lý, CNTB gia tộc đã suy yếu, xã hội phương Tây không còn tồn tại tinh hoa đơn nhất và tập trung (tức tinh hoa quyền lực) nữa, mà chỉ còn một quần thể tinh hoa đã phân tán về quyền lực và cạnh tranh lẫn nhau.   Phái Mác xít giải thích cấu trúc quyền lực từ điểm xuất phát là sự đối kháng giai cấp và nhấn mạnh đấu tranh giai cấp xảy ra ở mọi nơi mọi lúc; họ cho rằng việc Mills bỏ khái niệm giai cấp thống trị, đưa ra khái niệm tinh hoa quyền lực, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tinh hoa quyền lực với thể chế là cách làm không triệt để, dễ đi tới coi nhẹ tác dụng chủ đạo quá trình quyết sách của của giới tinh hoa thương mại, hạ thấp kinh tế xuống ngang hàng với chính trị và quân sự.   Quan điểm Tinh hoa quyền lực của W. Mills có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào phản chiến và phong trào sinh viên ở Mỹ hồi thập niên 60. Đáng tiếc ông mất sớm (1916-1962) nên không thể tiếp tục cống hiến trên lĩnh vực này.  Phái theo chủ nghĩa phê phán (criticism) ca ngợi cách đặt vấn đề có tính phê phán của Mills; tuy không hoàn toàn đồng ý với ông nhưng họ viết khá nhiều sách phát triển học thuyết của ông.   Trong số các tác phẩm ấy, đáng kể nhất là cuốn Ai thống trị nước Mỹ? (Who Rules America?) của G.W.Domhoff xuất bản năm 1967, được xếp thứ 12 trong số 50 bestseller về xã hội học thời gian 1950-1995. Sách này sau đó lại bổ sung và tái bản, đến năm 2010 đã xuất bản lần thứ 6, có những thông tin về Barack Obama.   Tiếp đó là cuốn Ai đang thống trị nước Mỹ? (Who’s Running America?) của Thomas R. Dye, xuất bản năm 1976, mỗi đợt bầu Tổng thống mới lại tái bản có bổ sung, đến nay đã có bản thứ 7 (The Bush Restoration). Bản nào cũng có một chủ đề: nước Mỹ vẫn bị thống trị bởi các nhóm tinh hoa quyền lực chiếm địa vị cao trong các thiết chế quan trọng.   Nhiều năm qua, giới trí thức Mỹ không ngừng tranh luận vấn đề Ai thống trị nước Mỹ. Trên mạng có riêng một website Who Rules America.net dành cho việc này. Hai phái chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa tinh hoa (Elitism) hăng hái tranh cãi với nhau.   Dư luận dường như nhất trí ở một điểm: nước Mỹ không do số đông (masses) lãnh đạo. Vấn đề là nước này có tồn tại tinh hoa quyền lực hay không?   Cuốn Ai thống trị nước Mỹ: Sự biến đổi quyền lực, chính trị và xã hội (Who Rules America? Power, Politics and Social Change) của G.W.Domhoff bản in năm 2006 được coi là tác phẩm kinh điển nghiên cứu về tinh hoa quyền lực nước Mỹ. Domhoff khẳng định nước Mỹ bị thống trị bởi tầng lớp tinh hoa đang sở hữu và điều hành những tài sản có thu nhập lớn như ngân hàng và tập đoàn công ty, họ làm chủ cấu trúc quyền lực chính trị và kinh tế của nước Mỹ. Họ là chủ sở hữu hoặc CEO các công ty làm ra khối lượng của cải khổng lồ, là những cố vấn pháp lý của công ty… gọi chung là cộng đồng doanh nhân.   Khái niệm tinh hoa quyền lực do Mills đề ra đã làm rung chuyển giới trí thức Mỹ và gây ra cuộc tranh luận suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cuộc tranh cãi đó động chạm tới nhận thức về các khái niệm tinh hoa, dân chủ, quyền lực, nhận định về cấu trúc quyền lực và xu thế phát triển của nó trong xã hội Mỹ, và dẫn tới các vấn đề thuộc khái niệm rộng hơn – lĩnh vực xã hội học tinh hoa (Sociology of Elites). Các nhà chính trị học nhiều nước, kể cả Trung Quốc, đang vận dụng quan điểm của Mills để xem xét vấn đề tinh hoa quyền lực tại nước mình.   Vai trò của Tổng thống  Dĩ nhiên TT Mỹ thuộc vào tầng lớp tinh hoa quyền lực, tuy rằng không ít TT xuất thân nghèo hoặc bình thường. Vì do dân trực tiếp bầu ra, nói chung các TT đều đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân. Nhưng do chịu rất nhiều sức ép từ các lực lượng trong xã hội cho nên họ phải thỏa hiệp, không phải bao giờ cũng hoàn toàn vì lợi ích của đa số dân.  Có một sự thật không thể phủ nhận là nước Mỹ tồn tại một số nhóm lợi ích cực đoan có những hoạt động vi phạm truyền thống dân chủ của nước này và gây khó khăn cho các TT.   Đáng kể nhất là Tổ hợp công nghiệp-quân sự (Military-industrial complex). Trong diễn văn từ nhiệm đọc ngày 17/1/1961, TT Eisenhower từng cảnh báo nhân dân Mỹ: Trong khi thừa nhận ngành công nghiệp và quân sự có cống hiến cho việc đảm bảo an ninh của nước Mỹ, chúng ta không thể không thấy là sự cộng tác giữa chính phủ liên bang với giới quân sự và giới lãnh đạo ngành công nghiệp tuy cần thiết nhưng lại có thể dẫn đến tệ nạn lạm dụng quyền lực. Ông khuyến cáo nhân dân Mỹ cần chú ý giám sát tổ hợp công nghiệp-quân sự [3].   Oliver Stone đạo diễn bộ phim JFK (phim về vụ ám sát TT J.Kennedy) từng nói Kennedy bị ám sát vì ông muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng tập đoàn công nghiệp-quân sự không đồng ý. Phát biểu của Stone làm rung chuyển dư luận, vì các báo cáo điều tra vụ ám sát Kennedy đều không nói gì tới vấn đề này. Năm 1968 Thượng nghị sĩ Robert Kennedy bị ám sát chết trong khi tranh cử TT cũng chỉ vì muốn kế tục nguyên vọng kết thúc chiến tranh Việt Nam. Về sau con trai duy nhất của J. Kennedy cũng chết trong một tai nạn máy bay bí ẩn, đúng như lời bà góa Jacqueline nói: Có những kẻ muốn tiêu diệt gia tộc Kennedy.  Thứ hai là Tập đoàn chính trị Do Thái. Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có gần 7 triệu người, chỉ chiếm 2,5% số dân nhưng có ảnh hưởng lớn tới chính trường Mỹ; chủ yếu vì họ hăng hái nhất trong việc tham gia bầu cử, hơn nữa họ giàu có và khống chế bộ máy truyền thông nước này [4]. Tuy chưa có chính trị gia gốc Do Thái nào làm TT Mỹ nhưng họ thường sử dụng chiêu vận động hành lang nghị trường để gây ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại, khiến chính phủ Mỹ tỏ ra thiếu công bằng trên vấn đề Trung Đông. Chẳng hạn Mỹ đã viện trợ không hoàn lại cho quốc gia Do Thái Israel tổng cộng khoảng 1700 tỷ USD nhằm giúp nước này có sức mạnh kinh tế và quân sự đủ để trụ được trong vòng vây của thế giới A Rập. Thái độ thiên vị ấy đã làm người A Rập căm phẫn, hậu quả khiến nước Mỹ phải trả giá cho cuộc chiến dai dẳng chống khủng bố.  Tất cả các đời TT Mỹ đều phải đương đầu với những nhóm lợi ích nói trên. Nhiều người đã dũng cảm đấu tranh chống lại. Sáu trong số 44 TT Mỹ từng bị ám sát, trong đó 4 người chết [5], có lẽ vì họ đi ngược lại ý đồ của các nhóm ấy.   Một lực lượng nữa thường xuyên gây sức ép với chính quyền Mỹ là quần chúng nhân dân. Ngoài việc thông qua các đại diện của mình trong quốc hội để tác động lên chính phủ, phần lớn dân Mỹ, nhất là tầng lớp trung lưu, đều ở trong các tổ chức của công dân, như các tổ chức phi lợi nhuận (Non-profit Organization, NPO, thí dụ công đoàn, các hội ngành nghề, quỹ từ thiện, đoàn luật sư, think-tank v.v..). Các tổ chức này là nơi liên kết dân chúng để thống nhất quan điểm, bảo vệ lợi ích tập thể của họ, thực hiện xã hội hòa hợp và giám sát chính quyền. Các tổ chức đó hình thành xã hội công dân (XHCD), một lĩnh vực tồn tại độc lập với nhà nước, thực sự là đối trọng đáng vì nể của chính phủ.   Lực lượng XHCD Mỹ rất hùng hậu. Năm 2010 nước Mỹ có hơn 1,5 triệu NPO có tính quốc tế (U.S.-based International Nonprofit Organization), giả thử Ban quản trị mỗi NPO có 10 người, thì ít nhất có 15 triệu dân quản lý NPO, nếu kể cả thành viên chính thức và không chính thức thì số người tham gia NPO có cả cả trăm triệu. Tổng tài sản của các tổ chức này lên tới 3000 tỷ USD, như Quỹ Bill & Melinda Gates có tài sản 33,5 tỷ USD, tương đương GDP quốc gia xếp thứ 82 về thu nhập, trên cả 111 quốc gia khác.   NPO tận dụng các phương tiện truyền thông, mạng Internet, nhất là các mạng xã hội, tạo ra sức ép dư luận rất lớn mà chính quyền không thể bỏ qua. NPO không chỉ nói lên ý kiến nguyện vọng của dân đối với nhà nước mà còn tổ chức các phong trào đấu tranh đòi chính quyền sửa các chính sách dân không tán thành. Thí dụ những cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ có mấy trăm nghìn người tham gia phản đối sự phân biệt chủng tộc và chống chiến tranh Việt Nam hồi thập niên 60 đã làm chính phủ Mỹ phải thay đổi chính sách liên quan. Một số cuộc biểu tình kéo dài ngày này sang ngày khác làm chính quyền đau đầu. Những cuộc đấu tranh ấy có thể dẫn tới khủng hoảng chính trị nếu chính phủ không khéo léo giải quyết các yêu cầu của dân chúng.  Nước Mỹ gồm rất nhiều sắc tộc từ khắp thế giới đến định cư chứ không có sự thuần nhất chủng tộc (như Đức, Nhật thời xưa), quan niệm giá trị, tư tưởng chính trị của dân chúng rất đa dạng phức tạp, lại thêm giá trị cá nhân và vai trò làm chủ của công dân được đề cao thái quá, vì thế công việc của chính quyền gặp nhiều khó khăn. Thí dụ thị trấn Ojai ở bang California chỉ có 8000 dân (phần lớn là người hưu trí), trữ lượng dầu mỏ dưới lòng đất rất lớn nhưng dân ở đây đồng tâm nhất trí không cho khai thác dầu, chính phủ và các công ty cũng đành chịu.   Nhìn chung các TT Mỹ luôn ở vào thế trên đe dưới búa, phải vắt óc nghĩ cách thỏa hiệp điều hòa lợi ích của những phía gây sức ép lên họ. Các TT đều đau đầu vì phải đối phó với Quốc hội, đảng đối lập, dân chúng và các nhóm lợi ích. Chưa một TT nào giàu lên nhờ chức vụ của mình, ngược lại chỉ nghèo đi và tổn thọ [6].   ***  Nước Mỹ hiện nay đang ở vào thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Đây là hậu quả tất nhiên của việc chuyển đổi mô hình kinh tế và toàn cầu hóa kinh tế. Thí dụ việc chuyển những ngành công nghiệp dùng nhiều nhân lực sang các nước nghèo, việc ưu tiên phát triển công nghệ cao và dịch vụ tài chính (là những ngành dùng ít nhân công nhưng thu lợi cao) đã gây ra nạn thất nghiệp tại nước Mỹ. Đây cũng là hậu quả của lối tiêu dùng kiểu Mỹ: làm ít tiêu nhiều, vay tiền của tương lai để chi tiêu hôm nay, rốt cuộc ngập trong nợ nần. Vì toàn cầu hóa kinh tế là trào lưu không thể ngăn cản cho nên khó tránh khỏi khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa khủng hoảng diễn ra trên phạm vi toàn cầu nên từng quốc gia rất khó vượt qua nếu không có sự phối hợp toàn cầu.  Cũng như ở nhiều nước phương Tây khác, chính phủ Mỹ tỏ ra bất lực trong việc đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng. Dân chúng (chủ yếu là tầng lớp trung lưu) nhận thấy phải tự cứu mình, họ tổ chức Phong trào Chiếm Phố Wall, nêu khẩu hiệu “Chúng tôi là 99%” chống lại tình trạng 1% số dân nắm giữ 40% tài sản và chiếm hơn 20% thu nhập, chống lại việc nhà nước tài trợ cứu các ngân hàng. TT Obama và một số nhà giàu Mỹ cũng ủng hộ phong trào này. Hiện nay giới tinh hoa tài chính Mỹ đang là đối tượng bị phong trào nói trên lên án, bởi họ chỉ tìm cách hợp pháp tăng thu nhập của mình trong khi thu nhập của dân bị giảm do khủng hoảng kinh tế.  Mối quan hệ tay ba chính quyền-dân chúng-nhà tư bản ngày một căng thẳng. 69% dân Mỹ không tin vào hệ thống ngân hàng và tài chính, 65% không tin Chính phủ, Quốc hội, và các đại công ty. Phong trào Chiếm Phố Wall đang lan rộng. Nền dân chủ Mỹ bị lung lay. Khủng hoảng kinh tế có khả năng trở thành khủng hoảng chính trị.   Đại suy thoái kinh tế thế giới thập niên 30 thế kỷ XX dẫn đến sự xuất hiện những lãnh tụ tài giỏi như TT F. Roosevelt ở Mỹ, Churchill ở Anh hoặc các nhà độc tài như Mussolini ở Ý, Hitler ở Đức (do các cử tri Đức bầu lên). Cuộc tranh cử TT Mỹ vẫn đang tiếp diễn nhưng chưa đến hồi quyết liệt. Lập trường ủng hộ dân của Obama có thể làm ông gặp khó trong cuộc bầu cử năm 2012; nhưng hiện nay xem ra chưa thấy ứng viên TT nào sáng giá hơn, có khả năng cứu nền kinh tế Mỹ. Người ta chỉ có thể chờ xem.  Ghi chú  [1] Chiến tranh tiền tệ, bản dịch tiếng Việt, Nxb Trẻ, 6/2008   [2] http://www.brainyquote.com/quotes/authors/d/david_rockefeller.html#ixzz1dMafNJNW  [3] Eisenhower warns of military-industrial complex  http://www.history.com/this-day-in-history/eisenhower-warns-of-military-industrial-complex  http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=1860&print=true  [4] Người Do Thái ở Mỹ – lực lượng quyết định chính sách của Mỹ tại Trung Đông  http://htx.dongtak.net/spip.php?article2587  [5] Các TT Lincoln, Garfield, McKinley và Kennedy bị ám sát chết. hai TT Truman và Reagan bị ám sát nhưng không chết.  [6] Nước Mỹ áp dụng chế độ lương thấp cho viên chức nhà nước (khác với Singapore); lương TT không cao hơn giáo sư ĐH. Có 6 TT Mỹ về hưu trong nghèo túng, mắc nợ không trả được. 4 TT chết khi đang tại chức (Harrison, Taylor, Harding, F.Roosevelt)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn cơm trước kẻng      Phản hồi bài “Vấn đề tiêu chuẩn Đảng viên” của GS. Nguyễn Đức Bình góp ý với dự thảo văn kiện Đại hội Đảng X trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 25/02/2006         Là một doanh nhân, tôi giải quyết bài toán: “Đảng viên có nên làm kinh tế tư nhân hay không?” dựa trên thực tế đang diễn ra trong xã hội, ít quan tâm đến lý luận, học thuyết, mệnh đề. Không hiểu tại sao chúng ta lại mất nhiều thời gian để tranh luận “nên hay không nên…”, trong khi đảng viên đã làm kinh tế gần 20 năm nay rồi. Hãy thử hỏi một doanh nhân bất kỳ, rằng: “Đối tác, bạn hàng, đồng nghiệp của doanh nhân từ trước kia và hiện nay có ai là đảng viên hay không?”; thì người hỏi sẽ nhận được câu trả lời là: “Có!”. Thậm chí, có người còn cho câu hỏi trên là… vớ vẩn!   Thực tế trên thương trường hiện nay, có 3 loại đảng viên tham gia làm kinh tế: (1) đảng viên không còn làm việc cho Nhà nước, nay ra tổ chức kinh doanh thông qua gia đình (vợ, chồng, con, cháu) đứng tên hộ, nhưng đảng viên vẫn là người điều hành. (2) đảng viên có chức, có quyền làm kinh tế “chui” núp dưới nhiều loại hình (như vụ điện kế điện tử, đoàn xe tải ở Đồng Nai…) để giao dịch nội gián hoặc tiện cho việc móc ngoặc, tham ô, tham nhũng. (3) đảng viên vẫn làm việc trong Nhà nước nhưng chỉ giữ một chức vụ bình thường, làm kinh tế theo kiểu “đánh quả”, ăn theo từng phi vụ để tranh thủ cải thiện cuộc sống… Có thể còn nhiều hình thức nữa, nhưng vì chưa giao dịch làm ăn  nên tôi chưa biết.  Tiếp xúc, giao dịch làm ăn chung với những loại hình kinh doanh này, tôi nhận ra: cùng một đối tượng đảng viên, nhưng mỗi loại làm ăn mỗi khác. Những đảng viên không còn trong bộ máy Nhà nước và những đảng viên đương chức nhưng giữ chức vụ bình thường thì làm kinh tế rất đàng hoàng. Những người đảng viên này rất chịu khó, cần cù và trong làm ăn thì biết người biết ta. Tuy vậy, do Đảng chưa cho phép đảng viên làm kinh tế,  nên họ rất ngại kiện tụng, tranh chấp; nhiều khi gặp đối tác lật lọng, họ đành chấp nhận phần thua thiệt. Và, do làm “chui” nên họ cũng “chui” luôn nhiều loại thuế mà lẽ ra nếu kinh doanh công khai, họ phải chịu nộp thuế sòng phẳng như những doanh nhân khác.  Còn loại đảng viên đang nắm giữ quyền cao chức trọng mà làm kinh tế riêng tư thì thật là “trời ơi đất hỡi”. Ví dụ như hùn làm ăn mà không bỏ vốn, mua cổ phần nhưng không trả tiền… Thị trường nào mà những đảng viên loại này nhúng tay vào thì y như rằng thị trường đó bị méo mó, biến dạng, bởi họ dùng quyền, chức để thao túng, giành giật, tranh chấp. Khi phải cạnh tranh ở thương trường, thay vì thể hiện bản lĩnh của một người chủ doanh nghiệp, tính quyết đoán của một doanh nhân, thì họ lại dùng một câu hỏi mà đối tác nghe phải… lạnh gáy: “Có biết tôi là ai không?”. Chính đối tượng này đã làm lũng đoạn nhiều thị trường, tiêu biểu nhất là những thị trường có tính độc quyền cao.  Thực tế là đảng viên đã làm kinh tế tư nhân từ lâu và nếu đây là chuyện lớn của Đảng (không phải của dân), thì lẽ nào trong suốt thời gian vừa qua, Đảng không biết, không nghe, không thấy? (từ đó suy ra còn biết bao nhiêu điều do cuộc sống bức bách thúc ép phải chuyển biến mà Đảng chưa nắm bắt kịp?). Vì vậy, việc đưa vào văn kiện của Đảng để bàn nên hay không cho phép đảng viên làm kinh tế cũng giống như “hai bên nội, ngoại hợp thức hóa cho những đứa con đã lén cha, mẹ “ăn cơm trước kẻng” vậy”. Nhưng nội, ngoại cũng đừng lạc quan mà tin rằng: khi không cho phép thì dâu, rể sẽ ly dị, chia tay hoặc vì thế mà ốm yếu hay chết yểu!  Còn việc đảng viên làm kinh tế là tham gia “bóc lột”, thì theo tôi cũng nên giải bằng lời giải thực tế từ cuộc sống. Đảng có đánh giá cao đảng viên của mình quá không? Là một doanh nhân tuổi nghề bằng với tuổi của đất nước đổi mới, tôi đã đủ trải nghiệm để nhận định: với môi trường kinh doanh tranh tối tranh sáng như hiện nay, lại đang hội nhập kinh tế quốc tế, thì chỉ để trụ được ở thương trường đã là khó, tìm kiếm được lợi nhuận lại càng khó hơn nhiều. Trong khi đảng viên đã quá quen sống trong môi trường bao cấp, nay, nếu được Đảng cho phép làm kinh tế công khai, phải cạnh tranh bình đẳng, sòng phẳng, thì liệu sẽ có bao nhiêu đảng viên trụ được ở thương trường? Vì vậy, tôi lo lắng ngược lại: “đảng viên chưa bóc lột được ai, thì đã bị thương trường lột trắng tay rồi”.       Tạ Thị Ngọc Thảo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ cải cách để thu hút nhà đầu tư nước ngoài      Ấn Độ vừa công bố những cải cách lớn, đưa quốc gia này trở thành nền kinh tế cởi mở nhất thế giới về thu hút vốn đầu tư nước ngoài.    Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi   Thứ Hai đầu tuần, chính phủ Ấn Độ đã công bố một số chính sách cải cách lớn nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia này. Theo đó, Ấn Độ cho phép thực hiện 100% vốn FDI ở một số lĩnh vực như quốc phòng, lương thực thực phẩm, truyền thông và hàng không dân sự.  Với những thay đổi trong lĩnh vực quốc phòng, giờ đây các công ty nước ngoài có thể tiếp cận thị trường Ấn Độ và sở hữu các công ty nội địa – điều này được đánh giá là một bước thay đổi quan trọng trong bối cảnh Ấn Độ đang tìm cách “nâng cấp” quân đội của mình. Ngành dược phẩm cũng nhận được những lợi ích lớn với chính sách các công ty nước ngoài có thể sở hữu tới 74% cổ phần tại các công ty nội địa. Nhưng cải cách được trông chờ nhất nằm ở lĩnh vực bán lẻ, theo đó quy định rằng các công ty nước ngoài phải nhập tối thiểu 30% nguồn nguyên liệu sản xuất từ các công ty trong nước đã được hoãn lại trong thời hạn ba năm. Như vậy, các công ty lớn như Apple và Ikea có thể bắt đầu tính đến chuyện mở cửa hàng tại quốc gia này.  “Với những thay đổi này, Ấn Độ hiện nay là nền kinh tế cởi mở nhất thế giới về FDI,” thông cáo của chính phủ Ấn Độ cho hay.  Thực hiện những lời hứa trong chiến dịch vận động bầu cử năm 2014 về việc cải tổ nền kinh tế, chính phủ của thủ tướng Narendra Modi đã và đang có những nỗ lực toàn diện để loại bỏ tình trạng quan liêu vốn đã trở thành “thương hiệu quốc gia” và đưa nền kinh tế Ấn Độ trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn. Kết quả là, năm 2015 Ấn Độ thu hút được trên 55 tỉ USD vốn FDI, một bước nhảy vọt so với con số 36 tỉ USD năm 2014.  Trên tài khoản Twitter cá nhân, thủ tướng Modi viết: “Những cải cách để gọi vốn FDI này sẽ tạo công ăn việc làm và mang lại lợi ích cho nền kinh tế.”  Chi Nhân dịch theo Time    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ không muốn làm vật thí nghiệm      SPIEGEL ONLINE giới  thiệu một phóng sự đặc biệt về việc Ấn Độ đã trở thành địa bàn thử nghiệm y học toàn cầu như thế nào.     Các tập đoàn dược phẩm kiếm được tiền tỷ nhờ kinh doanh thuốc chữa bệnh – tuy nhiên việc phát triển các loại thuốc chữa bệnh mới thường tốn kém và có nhiều rủi ro. Hiện nay Ấn Độ được coi là thiên đường cho việc tiến hành nghiên cứu lâm sàng: các bác sỹ Ấn Độ được đào tạo tốt, nhiều người sử dụng tiếng Anh thành thạo và được xã hội hết sức tôn kính. Người Ấn tin tưởng thầy thuốc vả lại rất nhiều bệnh nhân ở đây nghèo đến mức phải chấp nhận làm thí nghiệm lâm sàng vì đây là cơ hội duy nhất để họ được chữa trị.   Theo các chuyên gia thuộc Buko-Pharma Reports (Đức) thì hàng năm có gần một triệu người Ấn bị chết vì không được chăm sóc y tế. Khoảng 700 triệu người bệnh không có điều kiện tiếp cận các bác sỹ chuyên khoa vì 80% bác sỹ chuyên khoa sống ở thành thị trong khi 70% dân số Ấn Độ lại tập trung ở nông thôn.   Ấn Độ đang có những bước tiến rất nhanh để trở thành một quốc gia công nghiệp nhưng hệ thống y tế của nước này lại ở trong một tình trạng khá hỗn loạn – từ đó dẫn đến những bi kịch trong các nghiên cứu lâm sàng. Theo một nghiên cứu của Bộ Y tế Ấn Độ, từ năm 2007 đến 2010 đã có 1.725 người Ấn Độ bị chết trong và sau khi tham gia thử nghiệm các loại thuốc chữa bệnh.   Tại Mỹ và châu Âu có nguyên tắc một số người tham gia thử nghiệm các loại thuốc chữa bệnh nhằm mang lại sự tốt lành cho mọi người, nhưng ở Ấn Độ thì sau khi đã có kết quả nghiên cứu và các loại thuốc được đưa ra thị trường thì phần lớn dân Ấn Độ lại khó có thể tiếp cận các loại thuốc mà chính họ đã thử nghiệm vì giá thuốc quá cao.   SPIEGEL ONLINE đã tiến hành một loạt cuộc trao đổi với các thầy thuốc, đại diện các tập đoàn dược phẩm, với người bệnh và giới nhà báo ở Ấn Độ về chủ đề này.  Nghiên cứu tiêm chủng thành bê bối   Bà Ventkatama KudumulaIhre kể, khi từ trại hè trở về, Sarita, cô con gái 14 tuổi của bà có dấu hiệu không bình thường. Sarita bị sốt, ngủ li bì và sáng ngày hôm sau thì mất. Bà Ventkatama và gia đình sinh sống ở Andra Pradash, một vùng thôn quê của Ấn Độ.   Bác sỹ nói cháu bị sốt rét. Mãi nhiều tuần sau bà mẹ mới biết trước khi mất cháu đã tiêm phòng ung thư cổ tử cung ở trường trong khi vợ chồng bà hoàn toàn không biết gì về việc tiêm phòng này. Bà mẹ chỉ biết kêu trời vì không còn biết tin ai.   Thực tế là tháng 7/2009 tổ chức phi chính phủ Path, với sự tài trợ của Quỹ Bill và Melinda Gates đã tiến hành cái gọi là nghiên cứu thăm dò HPV (humane Papillomaviren),một loại virus gây ra các dạng ung thư cổ tử cung khác nhau ở người. Người ta đã sử dụng hai loại thuốc đã được cấp phép lưu hành là Gardasil (của hãng Merck) và Cervavix (của GlaxoSmithKline). Đã có 24.000 nữ học sinh tuổi từ 10 đến 14 được tiêm phòng.  Mãi đến bây giờ người ta mới biết sau đợt tiêm phòng đó đã có ít nhất 7 nữ học sinh thiệt mạng, theo Chính phủ Ấn Độ và Path thì nguyên nhân tử vong không phải vì tiêm phòng mà có ba em bị chết vì sốt rét như Sarita, một em bị rắn cắn và hai em gái 14 tuổi chết vì tự vẫn.   Tuy vậy vụ này đã trở thành một vụ bê bối về dược phẩm vì Path tiến hành tiêm phòng mà không lấy ý kiến phụ huynh học sinh. Các em gái sau khi tiêm phòng không được tiếp tục theo dõi do đó không biết có các tác động phụ hay không. Khi biết về các ca tử vong thì nhiều tuần lễ đã trôi qua nên không thể xác định được nguyên nhân tử vong vì nạn nhân đã được chôn cất hay hỏa táng từ lâu.  Cho đến nay những vụ việc xảy ra liên quan đến nghiên cứu về HPV vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Bộ Y tế Ấn Độ thoái thác trả lời. Điều gì làm cho các quan chức ngành y tế phải im lặng?     Dư luận sục sôi  Bà Jayashree, một nhà làm phim Ấn Độ, người từng làm nhiều phim tư liệu liên quan đến các vụ bê bối về dược phẩm ở Ấn Độ, đã vào cuộc để truy tìm dấu vết. Bà không muốn người Ấn phải tiếp tục làm “vật thí nghiệm”. Năm 2005 Ấn Độ đã chỉnh sửa luật, theo đó các tập đoàn dược phẩm quốc tế cũng được phép tiến hành nghiên cứu lâm sàng nếu các thí nghiệm đó cho đến thời điểm này chưa được tiến hành ở những nơi khác. Điều này biến Ấn Độ thành một địa bàn hấp dẫn để thử nghiệm dược phẩm.   Theo ước đoán của giới chuyên gia, nếu thử nghiệm thuốc ở Ấn Độ, các hãng dược phẩm có thể giảm chi phí tới 40% . Chi phí phát triển một loại dược phẩm mới có thể lên tới 800 triệu Euro. Ấn Độ có hơn 1,2 tỷ người nên có nhiều người tình nguyện thử thuốc, họ thường là những người nghèo khó và chưa hề dùng thuốc chữa bệnh bao giờ nên họ chính là những ứng viên thử thuốc lý tưởng vì tác dụng của thuốc ở những người này có độ chính xác cao nhất.  Từ lâu chính phủ Ấn Độ phấn đấu để nước này trở thành địa bàn sản xuất dược phẩm hàng đầu ở châu Á. Điều này có khả năng trở thành hiện thực vì trước khi sửa đổi luật, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất dược phẩm chỉ ở mức dưới 100 triệu Euro nhưng trong năm 2011 con số này đã lên đến nửa tỷ Euro. Do đó người ta không thích đề cập những trục trặc liên quan đến nghiên cứu của các hãng dược phẩm nước ngoài, hơn nữa khi mà các hãng nước ngoài cho không dược phẩm như ở đợt tiêm phòng mà Path đã tiến hành, thì đây cũng là bước chuẩn bị xây dựng cơ sở vật chất cho việc thực hiện tiêm phòng rộng rãi trong cả nước. Tuy nhiên phải chăng vì thế mà có thể xem nhẹ những quy tắc đạo đức đã được quốc tế thừa nhận?   Nhà báo Jayahree kể, ngày 13/3/2010, mẩu tin ngắn về cái chết của một số nữ sinh trong một đợt tiêm chủng quốc tế đăng tải trên tờ báo địa phương “Deccan Chronicle” đã gây chấn động dư luận. Ngay lập tức người Ấn nghĩ tới những vụ bê bối dược phẩm từng xảy ra trước đây ở nước này. Thí dụ vụ bê bối xảy ra năm 2003, hồi đó có khoảng 400 phụ nữ điều trị vô sinh tại một số bệnh viện tư nhân, nhưng người ta đã điều trị họ bằng một loại thuốc chữa ung thư mà không hề thông báo cho bệnh nhân cũng như không có sự chấp thuận của họ.   Jayashree kể “ba năm sau, Quỹ Uday (Uday Foundation) của Ấn Độ đã phanh phui, trong các vụ thử nghiệm lâm sàng ở Bệnh viện Đại học tại Delhi đã có 49 trẻ sơ sinh bị thiệt mạng”. Trong số các loại dược phẩm được đưa ra thử nghiệm có cả thuốc hạ áp huyết Valsartan của hãng dược phẩm Novartis. Novartis thừa nhận có tham gia các vụ thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em tuy nhiên khẳng định hoàn toàn không dính líu gì đến các vụ tử vong trẻ sơ sinh mà báo chí đề cập.   Dư luận sục sôi khi ít lâu sau có tin một loạt hãng dược phẩm như GlaxoSmithKline, Pfizer hay AstraZeneca đã tiến hành thử nghiệm thuốc chữa bệnh ngay ở Bophal Memorial Hospital & Research Centre (BMHRC), cơ sở này được xây dựng năm 1984 nhằm mục đích chăm sóc y tế cho các nạn nhân vụ bê bối khí độc (do sản xuất hóa chất bảo vệ cây trồng) ở Bophal. Tại đây người ta không thử nghiệm các loại thuốc để phục vụ những nạn nhân bị nhiễm khí độc mà lại thử các loại thuốc dành cho thị trường tây phương. Theo kết quả nghiên cứu “độc lập” của Anh thì đã có 14 người bị chết trong quá trình thử nghiệm thuốc tại BMHRC, không một hãng dược phẩm nào chịu bồi thường thiệt hại cho thân nhân những người đã chết.  Không thể điều tra  Mới đây truyền thông Ấn Độ cũng phản ứng hết sức quyết liệt trước vụ bê bối về thử nghiệm HPV. Những nhà hoạt động nhân quyền đã rung chuông báo động. Nữ nghị sỹ Ấn Độ Brinda Karat đã đưa vụ này ra trước Nghị viện. Và tháng 4/2010 Nghị viện đã đình chỉ công trình nghiên cứu đang được tiến hành.   Một Ủy ban gồm các nhà chuyên môn đã chính thức được thành lập để thẩm tra sâu rộng hơn về bối cảnh của vụ việc này. Tuy nhiên sau hai tuần đã có nhiều chuyên gia ngừng công việc điều tra, theo phóng viên Jayashreee thì “họ không thể tiến hành điều tra thực sự mà chỉ được ‘gãi’ qua loa ở bên trên cho xong chuyện.” Câu hỏi được đặt ra là, tại sao ban đầu chiến dịch tiêm chủng này chính thức mang tên “nghiên cứu theo dõi” – với chức năng đó thì yêu cầu đặt ra thấp hơn – nhưng thực tế lại là “nghiên cứu lâm sàng”. Tuy nhiên dù sao thì Ủy ban này cũng đã có một báo cáo sơ bộ, nhưng ngay cả bản báo cáo đó cho đến nay vẫn chưa được công bố.           Trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2010 đã  có 1725 người Ấn bị chết trong hoặc sau khi tham gia vào chương trình  nghiên cứu dược phẩm. Các tập đoàn dược phẩm lấy cớ đã thực hiện đúng  các quy tắc, thân nhân các nạn nhân hầu như không nhận được khoản tiền  bồi thường nào.         Tháng 8/2011, Bộ trường Y tế Ấn Độ Ghulam Nabi Azad cho hay, số các ca tử vong tại các cuộc thí nghiệm lâm sàng tăng liên tục trong những năm qua. Theo báo cáo của bộ trưởng thì trong thời gian từ 2007 đến 2011 đã có tổng cộng 1.725 người bị chết trong hoặc sau khi tham gia thử nghiệm dược phẩm: 2007 – 132 người chết, năm 2008 – 288 người, năm 2009 – 637 người. Và trong nửa năm đầu của 2010 đã có tới 462 người thiệt mạng.  Những ca tử vong này không nhất thiết liên quan đến các loại thuốc thử. Thường thì những người tham gia thử nghiệm bị chết vì những căn bệnh mà họ mắc phải trước đó như bệnh ung thư hoặc các bệnh về tim mạch. Một vấn đề còn để ngỏ là khi nào thì các tập đoàn dược phẩm trả tiền bồi thường cho thân nhân những người quá cố.   Được biết tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới Pfizer đã chi trả tiền bồi thường cho hai trường hợp tử vong trong vụ thử thuốc áp huyết cao Thelin (Sitaxentan) làm hai người Ấn Độ thiệt mạng. Tuy bị chất vấn nhiều lần nhưng Pfizer không tiết lộ về mức bồi thường. Người phát ngôn của hãng cho hay, hãng đã thực hiện nghiêm túc các quy định về thử nghiệm thuốc Good Clinical Practice (GCP) và việc chi tiền bồi thường hoàn toàn không có nghĩa là loại thuốc này ở một khía cạnh nào đó có vấn đề. Tuy nhiên tháng 12/2010 Pfizer đã thu hồi loại thuốc Thelin đang được bán trên thị trường.  Sanofi Aventis cũng thực hiện bồi thường cho thân nhân hai trường hợp người tình nguyện thử thuốc: một trường hợp là 150.000 Rupia (2.200 Euro), trường hợp khác là 200.000 Rupia (2.900 Euro). Nhà sản xuất cũng không tiết lộ chi tiết về các vụ này. Phát ngôn viên của hãng tại Ấn Độ cũng khẳng định hãng thực hiện nghiêm túc các quy định của GCP.  Trong bốn năm qua, tập đoàn Bayer tiến hành thử nghiệm lâm sàng ở Ấn Độ và đã xảy ra 138 ca tử vong. Dư luận Ấn Độ đòi tập đoàn Bayer phải làm rõ về các vụ việc này và công khai các số liệu nghiên cứu.   Hãng Bayer không trả lời những câu hỏi của SPIEGEL ONLINE, phát ngôn viên Kerstin Crusius không đề cập đến các vấn đề cụ thể. Câu trả lời quen thuộc của người phát ngôn là: “Sự phát triển các loại thuốc chữa bệnh ở Ấn Độ cũng thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc quốc tế về khoa học và đạo lý như ở các nước khác.”    Một vấn đề thuộc về toàn cầu hóa  Từ nhiều năm nay các chuyên gia về dược đã tiên đoán các nghiên cứu lâm sàng sẽ được tiến hành ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển. Bên cạnh Trung Quốc thì Ấn Độ là một điểm nóng. Lợi thế của nước này là ở chỗ nhiều người dân ở đây cả đời chưa hề sử dụng thuốc chữa bệnh lần nào.  Ngày nay dược phẩm là sản phẩm hình thành từ nhiều nơi trên thế giới. Các chất hữu hiệu thường có xuất sứ từ Ấn Độ, Israel, Trung Quốc hay Lithuani. Ngay cả hoạt động nghiên cứu của các tập đoàn dược phẩm từ lâu đã phân bố rộng khắp trên thế giới. Một số nghiên cứu cho thấy trên một nửa hoạt động thử thuốc trên thế giới diễn ra ở bên ngoài các thị trường có tên tuổi như Mỹ, EU và Nhật bản.   Nghiên cứu ở các quốc gia mới nổi so với các quốc gia công nghiệp có thể rẻ hơn tới 40%. Liệu “Dược phẩm Ấn Độ” có thể lên ngôi và thay thế “Computer Ấn Độ” hay không?   Tuy còn có khoảng cách rõ rệt so với các quốc gia công nghiệp, các chuyên gia vẫn nhận thấy khá rõ xu hướng phát triển: “Nhu cầu ngày càng tăng đối với các nghiên cứu lâm sàng và đồng thời lại diễn ra xu hướng tụt giảm số người thử nghiệm thích hợp ở các quốc gia công nghiệp, điều này có thể trở thành một nguy cơ đối với tiến bộ y học “, theo nhận xét của nhà phân tích Todd Clark, Chủ tịch Cơ quan tư vấn doanh nghiệp dược phẩm của Mỹ VOI. Chất lượng của các trung tâm nghiên cứu ở các nước thứ ba đã được cải thiện rõ rệt trong mười năm qua, do đó các trung tâm này ngày càng quan trọng hơn trong việc phát triển các loại thuốc chữa bệnh.   Điều này cũng đã được Cơ quan quản lý dược phẩm của Châu Âu (Ema) xác nhận. Năm 2005 có khoảng 20% những người tham gia thử nghiệm thuộc các nước đang phát triển và các nước mới nổi (trong đó có các quốc gia châu Phi, châu Á, Nam Mỹ và Đông Âu), đến năm 2008 đã tăng lên 34%.   Sự dịch chuyển sang các nước mới nổi và đang phát triển thường được lý giải vì người châu Âu và Bắc Mỹ không thiết tha với việc tình nguyện tham gia thử nghiệm lâm sàng. Theo số liệu của Hội các nhà nghiên cứu thuộc các hãng sản xuất dược phẩm (VFA) thì qua một cuộc thăm dò ý kiến 300 bệnh nhân mãn tính có tới 80% số người được hỏi coi việc nghiên cứu phát triển các loại thuốc chữa bệnh mới có ý nghĩa to lớn đối với sự tiến bộ trong điều trị, Nhưng chỉ có 13% tỏ ra sẵn sàng tham gia thử nghiệm lâm sàng.   Nhưng nếu hỏi ý kiến những người chịu trách nhiệm trong khâu tổ chức và thực hiện các thử nghiệm lâm sàng của các hãng dược phẩm thì người ta sẽ nhận được những câu trả lời hoàn toàn khác: không hề có khó khăn trong việc tìm kiếm những người thử nghiệm thích hợp. Đây là ý kiến của bà Charlotte Taylor, phát ngôn viên của Quintiles. Điều này đúng cả với châu Âu và Mỹ.   Việc các tập đoàn dược phẩm dịch chuyển sang châu Á thực chất vì nhiều lý do khác nhau. Chi phí nhân sự và lao động ở đây thấp hơn so với các nước công nghiệp. Theo tính toán của các nhà kinh tế dược phẩm thì để phát triển một loại dược phẩm mới các hãng phải chi nhiều trăm triệu Euro – tuy nhiên họ có thể tiết kiệm từ 30 đến 50% chi phí khi chuyển sang châu Á.   Hơn nữa Ấn Độ có hơn 1,2 tỷ dân trong số đó có nhiều người hoàn toàn chưa tiếp cận với thuốc chữa bệnh. Đối với nghiên cứu lâm sàng thì điều này thường được coi là một lợi thế. Ngược lại thử nghiệm ở các nước công nghiệp thì lại có vấn đề vì nhiều người làm thử nghiệm đã từng sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau, điều này có thể gây nhiễu đến kết quả thử nghiệm thuốc.   Việc các hãng dược phẩm tiến hành thử nghiệm thuốc chữa bệnh ở Ấn Độ không gây khó khăn cho việc cấp giấy phép được đưa vào sử dụng tại thị trường EU. Không có quy định về việc phải thử nghiệm thuốc ở tại nước hoặc vùng lãnh thổ nơi mà thuốc sẽ được phép lưu hành. Yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc đánh giá thử nghiệm là người tham gia thử nghiệm tương thích với người bệnh trong tương lai, có nghĩa là kết quả thử nghiệm lâm sàng ở Ấn Độ cũng có thể áp dụng đối với người châu Âu.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Án mạng bởi cảnh sát và nguyên lý nhà nước pháp quyền      Công luận bất bình khi đầu tháng này Toà án Tuy Hòa, Phú Yên tuyên phạt 5 sĩ quan công an thành phố can tội “dùng nhục hình khiến nghi can tử vong“, với mức án 1,5-5 năm tù giam cho 3 bị cáo, và 1-1 năm 3 tháng tù treo cho 2 bị cáo còn lại.       Ông Lê Đức Hoàn, Phó Công an TP Tuy Hòa, vừa trưởng ban chuyên án, vừa có dấu hiệu bắt giữ người trái pháp luật, Toà  cho miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, với lý do không chỉ đạo dùng nhục hình. Trước đó, công tố viện đề nghị phạt 1 bị cáo từ 5 năm – 5,5 năm tù giam, 4 bị cáo còn lại hưởng án treo, với lý do “các bị cáo nôn nóng điều tra, không nhằm mục đích gây thương tích chết người“.  Vụ án liên quan trực tiếp tới mạng sống con người, nhưng xảy ra qúa đơn giản; nạn nhân Ngô Thanh Kiều, 32 tuổi nghi can trong 1 vụ trộm cắp, bị cảnh sát đưa về đồn dùng nhục hình từ 8 giờ 30 phút đến 13 giờ 30 phút, gây thương tích trên 70 chỗ, chấn thương sọ não, rồi chết.   Từ vụ án ở Đức  Cùng thời gian trên vụ án một người tỵ nạn ở Đức bị chết cháy trong trại giam cảnh sát xảy ra cách đây 9 năm được tái thẩm, chấn động công luận không kém. Vụ án mạng khởi nguồn lúc  8 giờ sáng, ngày 06.01.2005, khi đồn cảnh sát Dessau nhận được một cú điện thoại từ một nữ lao công đường phố cho biết bị một người đàn ông xỉn tới quấy rầy lảm nhảm đòi mượn điện thoại di động. Đó chính là Oury Jalloh, 37 tuổi, người Sierra Leoner, Phi châu, sang Đức xin tỵ nạn từ 4 năm trước, có 1 con với người Đức nhưng người mẹ đã cho làm con nuôi, nằm trong diện chờ trục xuất với bản án 3 năm rưỡi tù giam tội buôn bán ma túy tòa tuyên trước đó vài tuần. Cảnh sát tới, Oury Jalloh cự tuyệt xuất trình giấy tờ, còn kháng cự, liền bị bắt đưa về đồn. Tại đồn, cảnh sát đo được 2,98 phần nghìn độ cồn, cả ma túy trong máu. Không thể trả lời bằng tiếng Đức, không có giấy tờ tùy thân, lại chống đối, bị cảnh sát lập biên bản, lục soát người, thu giữ đồ đạc, rồi tống vào phòng tạm giam số 5, chờ điều tra. Phòng này chuyên giam giữ nghi can có dấu hiệu tự tử, thiết kế như phòng vệ sinh có thêm một bệ xi măng sát tường thay cho giường, 2 bên có 2 vòng sắt để còng tay, cuối bệ cũng 2 vòng để còng chân, trên trải một nệm xốp bọc loại da chống cháy; được trang bị hệ thống giám thanh nối với trực ban, còi cứu hoả, và theo quy trình cứ 30 phút cảnh sát tới kiểm tra 1 lần. Oury Jalloh đang trong cơn xỉn rượu, phê ma túy, tức tối ra sức gào thét, tới mức cảnh sát trưởng nhóm Andreas S, trực ban phải vặn nhỏ hệ thống giám thanh để trực điện thoại.   Khoảng 24 giờ, còi cứu hỏa tại phòng giam phát tín hiệu, nhưng bị Andreas S tắt 2 lần, tới khi còi báo động tại cửa thông gió rú lên không thể tắt mới chịu đi kiểm tra, nhưng lại lần chần, bỏ thời gian tìm cộng sự, gọi điện báo cấp trên; tới được phòng giam thì Oury Jalloh đã chết cháy. Tất cả diễn ra chỉ trong chừng 10 phút.  ***  Sau vụ án mạng, chính quyền ra thông cáo ngắn như tin vắn tai nạn giao thông, một kẻ tỵ nạn sàm sỡ với phụ nữ bị cảnh sát bắt, rồi tự tử trong phòng giam. Nếu mặc định cảnh sát luôn trung thành, thanh kiếm bảo vệ chế độ và nhân dân, còn Oury Jalloh là kẻ xấu cần loại ra khỏi xã hội như thời Hitler, thì tin trên chỉ mang tính thời sự, chẳng mấy ai bận tâm.   Nhưng cảnh sát cũng như bất kỳ chức danh nghề nghiệp cao cả nào đều là người, chẳng phải thánh, không phải cứ nêu mục đích tốt đẹp là làm được thế, thực tế thậm chí còn ngược lại; còn Oury Jalloh dù bất hảo vẫn là người, bất kể tính mạng ai đều trên hết được hiến định, cảnh sát phải bảo đảm khi nằm trong tay họ bất luận hoàn cảnh nào, không thể cứ báo chết là chết! Không thể như loài vật quay lưng lại nỗi đau của đồng loại, Hiệp hội „Sáng kiến vì Oury Jalloh“ lập tức được thành lập, tổ chức biểu tình chống nhà nước phân biệt chủng tộc, che dấu, không trừng phạt tội phạm, thu hút hàng ngàn người tham dự. Sáu tuần sau, cảnh sát bị điều trần trước Nghị viện tiểu bang, bởi cơ quan dân cử phải có trách nhiệm pháp lý giám sát cơ quan nhà nước, một khi lợi ích người dân mà họ đại biểu bị phương hại bởi nhà nước.  Đài truyền hình nhà nước ARD có trách nhiệm phản ảnh mọi tiếng nói người dân, về tận bản quán  gia đình Oury Jalloh mời nhân thân sang Đức đấu tranh, và làm phóng sự điều tra với chủ đề, „Tại sao Oury Jalloh chết trong phòng giam“, đặt ra nhiều câu hỏi nghi vấn, thu hút công luận quan tâm.   Tới tháng 5.2005, cảnh sát viên Hans-Ulrich M., 48 tuổi, trực tiếp khám xét, bị Viện Kiểm sát cho điều tra tội cẩu thả gây chết người, còn cảnh sát trưởng nhóm Andreas S., 46 tuổi, tội vi phạm thân thể dẫn tới tử vong. Nhưng không vì thế người dân nguôi ngoai, chừng nào án mạng bởi cơ quan công lực chưa sáng tỏ, thì chừng đó họ vẫn theo đuổi. Một năm sau, nhân ngày mất Oury Jalloh, dân chúng lại tổ chức mít tinh tưởng niệm, biểu tình với khẩu hiệu „công luận có quyền đòi được giải thích“. Bất bình chuyển sang cả bạo lực lẻ tẻ, tháng 12.2006, tường nhà của viên cảnh sát trưởng nhóm gây ra vụ án mạng bị  tạt mầu bôi bẩn, ga ra ô tô của bác sỹ  khám nghiệm tử thi Oury Jalloh bị phóng hoả.  Sau 2 năm điều tra, tháng 3.2007, hai cảnh sát liên quan bị truy tố trước toà án Dessau-Roßlau. Qua 59 phiên xét xử, có mặt cả mẹ Oury Jallohs, từ Guinea tới ở tư cách đồng nguyên cáo, với 5 lần giám định hiện trường từng chi tiết, tới tháng 12.2008, toà tuyên tha bổng bị cáo. Theo bản án, nạn nhân đã sử dụng bật lửa ga giấu trong túi quần chọc thủng vỏ nệm đốt lớp xốp bên trong gây ra hoả hoạn. Không có một dấu hiệu nào có thể kết luận bị người khác đốt. Tuy nhiên bao chứng cứ ngờ vực không thể giải toả; biên bản khám người liệt kê đồ vật tịch thu, sau vụ án mạng được bổ sung có bật lửa nhưng cảnh sát để sót. Nệm chống cháy được giám định do đã dùng nên có thể chọc thủng để đốt. Chân tay nạn nhân bị còng, nhưng thực nghiệm cho thấy vẫn có thể cầm được bật lửa. Nghĩa là tất cả đều „có thể“, tức không thể loại trừ nạn nhân tự thiêu. Chỉ vì không tìm được chứng cứ ngờ vực thủ phạm khác, nên Toà kết luận nạn nhân chính là thủ phạm. Toà đứng về phiá bị cáo lý giải, theo nguyên  tắc nhà nước pháp quyền, toà phải tuyên trắng án, bởi đơn giản không đủ chứng cứ kết luận bị cáo là thủ phạm, và chỉ trích công tác điều tra không đạt kết qủa, để mất đi mọi cơ hội làm sáng tỏ mọi câu hỏi đối với vụ án.  Trước đó, Viện Kiểm sát đọc cáo trạng, kết luận Oury Jalloh dùng bật lửa gây hoả hoạn có phần lỗi của cảnh sát khám người để sót nó trong túi quần nạn nhân, còn cảnh sát trưởng nhóm không kịp thời cứu hoả.  Bản luận tội chánh án đọc bị gián đoạn tới nửa tiếng do Tổ chức Sáng kiến vì Oury Jalloh có mặt chật cứng tại phiên toà chửi ruả, thoá mạ, gào thét: bọn lừa dối ! Bọn giết người. Họ xông cả lên bàn chủ toạ phiên toà, buộc cảnh sát phải can thiệp.   Còn chính trường Đức thì sôi sục, bởi họ đại diện cho lợi ích người dân, không thể không lên tiếng khi cảnh sát là cơ quan chuyên môn độc lập được trao chức trách bảo vệ dân lại gây thiệt mạng dân. Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang phát biểu, thật đáng xấu hổ, khi một người trong tay cảnh sát đã phải chết khủng khiếp. Thống đốc tiểu bang tuyên bố trước nghị viện, vụ án làm xấu hổ tất cả chúng ta, và gửi tới nhân thân người bị hại lời xin lỗi. Tổ chức Sáng kiến vì Oury Jalloh ra lời kêu gọi toàn Liên bang biểu tình phản đối phán quyết toà án.   Cả Viện Kiểm sát lẫn đồng nguyên cáo đều kiện lên phúc thẩm. Tháng 1.2010, bản án sơ thẩm bị Tòa án Tối cao Liên bang tuyên hủy. Theo toà, bản án sơ thẩm  có nhiều lỗ hổng chứng cứ, không chỉ ra được, tại sao nạn nhân bị còng vẫn có thể dùng bật lửa ga đốt, trong khi tay không bị cháy và không gào lên vì đau. Và nếu gào thì lẽ ra cảnh sát phải nghe được qua hệ thống giám thanh. Vụ án được chuyển cho tòa án Magdeburg tái thẩm.   ***  Vụ xử tái thẩm được mở từ tháng 1.2011. Sang tháng 1.2012, nhân ngày tưởng niệm 7 năm Oury Jalloh thiệt mạng, hơn 200 người lại biểu tình với biểu ngữ „Vụ án Oury Jalloh là vụ giết người“. Cảnh sát tới giằng xé những khẩu hiệu bị luật pháp cấm làm 2 người bị thương nặng. Sang tháng 2.2012, hàng chục người biểu tình chiếm trụ sở ủy ban Dessau đòi công bố đoạn băng cảnh sát đàn áp biểu tình tháng trước. Tới tháng 12.2012 kết thúc xét xử, rốt cuộc Toà cũng chỉ tuyên phạt tiền cảnh sát trưởng nhóm 10.800 Euro, do can tội chậm trễ cứu nạn nhân. Lần này, bản báo cáo của chuyên gia giám định độc lập do Viện Kiểm sát ủy quyền tái dựng diễn tiến vụ cháy, công bố tháng 1.2012, vẫn kết luận nạn nhân tự đốt, nhưng lại không tái lập hiện trạng xác nạn nhân cháy để củng cố kết luận. Luật sư bên nguyên đệ đơn đòi giám định lại, bị toà từ chối cho rằng, tất cả mọi chứng cứ tới giờ đều khẳng định thủ phạm đốt không ai khác ngoài nạn nhân.   Để bác bỏ giả thiết nạn nhân tự đốt, sau khi vận động quyên góp được 30.000 Euro, Tổ chức Sáng kiến vì Oury Jalloh thuê giám định lại, vốn là quyền độc lập của người dân. Chuyên gia người Anh, Maksim Smirnou từng điều tra hơn 300 vụ phóng hoả trong 10 năm, được ủy quyền thực hiện 10 tháng ròng. Tái dựng lại đúng hiện trường, với nhiều lần thử nghiệm dùng lợn vốn có mô bì gần người, đốt ở mức bỏng như Oury Jalloh, cho kết qủa: Để đốt cháy tấm nệm trong vòng 10 phút và cơ thể nạn nhân cháy hết lớp da như đã xảy ra phải dùng từ 2-5 lít xăng.  Nếu không, cả nệm lẫn cơ thể chỉ để lại vết sém, bỏng nhẹ. Mặt khác khám nghiệm tử thi có dấu vết hợp chất do xăng cháy tạo ra. Từ đó kết luận nạn nhân chết cháy không thể đốt bằng bật lửa, mà chắc chắn do một người nào đó đổ xăng đốt. Tháng 11.2013, bản tái giám định được gửi tới Viện Kiểm sát tối cao đòi điều tra lại và công bố ra truyền thông, làm chấn động dư luận trong ngoài nước cùng mọi giới chức liên quan. Báo Anh, tờ The Guardian cho rằng vụ án được thế giới chú ý hơn cả vụ giết người nước ngoài bởi bọn Đức Quốc xã mới. Báo Taz với bài „sự bất lực của cơ quan tư pháp“, mỉa mai, việc mổ tử thi lần 2, cùng chứng cứ qua thực nghiệm, đã phản ảnh bộ mặt thực của một nhà nước được gọi là pháp quyền.    Tới đầu tháng 4.2014, Viện Kiểm sát cho thụ lý lại hồ sơ điều tra tiếp và tuyên bố vụ án cực kỳ nghiêm trọng, khủng khiếp. Bởi đổ xăng, đốt chết cháy nạn nhân thuộc tội giết người cấp độ nặng, hình phạt còn thêm tình tiết tăng nặng bởi thủ phạm là cảnh sát bị xét thêm tội lợi dụng quyền lực nhà nước trao.   Hình phạt tăng nặng áp dụng cho người thi hành công vụ ở Đức đã trở thành án lệ, nhằm ngăn ngừa tội phạm người nhà nước, nếu không người dân sẽ trút bất bình lên chính chế độ, vốn là quyền tự do của họ được Hiến pháp bảo đảm. Như trường hợp xảy ra cách năm trước, 2 cảnh sát Udo R, 42 tuổi, đội trưởng, Michael A, 27 tuổi, đội phó, bị toà án Berlin tuyên phạt tới 3 năm 9 tháng và 4 năm 9 tháng tù giam, can tội nhận tiền bảo kê tổng cộng chỉ 663 Euro từ 12 lượt người Việt bán thuốc lá lậu. Trong phần luận tội, chánh án lý giải, tính chất hành vi của 2 bị cáo cực kỳ nghiêm trọng: sử dụng quyền lực mưu lợi. Hay như năm trước, Viện Kiểm sát cáo buộc cựu Tổng thống Wulff nhận quà 770 Euro và đòi nộp phạt tới 20.000 Euro để được đình chỉ điều tra.  Thẩm phán trong nhà nước pháp quyền  Khoa học chính trị ngày nay không còn bàn cãi về khái niệm nhà nước pháp quyền với chức năng phân định: 1- lập pháp, 2- hành pháp, 3- tư pháp; được xây dựng trên nền tảng: a-kinh tế thị trường, b- xã hội dân sự, c- tự do truyền thông được coi là quyền lực thứ 4. Quyền cơ bản con người đạt được tới đâu đều tùy thuộc vào tính chất mức độ pháp quyền của nhà nước đó đạt được cùng nền tảng kinh tế và xã hội tạo nên. Sở dĩ nạn nhân bất hảo Oury Jalloh thân cô thế cùng nơi xứ người, chết cháy trong trại giam cảnh sát, đã không bị bỏ mặc, chấn động nước Đức kéo dài 9 năm nay để tìm bằng được công lý chính nhờ thiết chế nhà nước pháp quyền của họ; cùng xã hội dân sự họ ý thức được phải tự bảo vệ lấy đồng loại, chống mọi bất công; truyền thông bảo đảm là thời hàn biểu đo lường nhiệt độ bức xúc của xã hội; mọi đảng phái ý thức được mình đại diện cho lợi ích người dân; nghị sỹ ý thức được trách nhiệm đại biểu thay mặt dân. Và điều cốt lõi trực tiếp bảo đảm công lý chính là Toà án đóng vai trò cán cân, được hiến định hoàn toàn độc lập chỉ tuân theo pháp luật (Điều 97, Hiến pháp Đức).   Tuy nhiên thẩm phán không phải vua, một khi đã độc lập thì phải chịu trách nhiệm cá nhân với phán quyết của mình, như bất kỳ thể nhân nào. Cách năm trước, ông Helmut Knöner, thẩm phán toà án điạ phương Herford, Westfallen, Đức, đã phán miễn phạt cho tất cả 42 lái xe quá tốc độ bị ra đa chụp, gửi đơn chống lên toà. Ông cho rằng cơ sở pháp lý để chụp lái xe quá tốc độ là Luật Chống khủng bố bị lạm dụng, hoàn toàn sai khi áp dụng các điều khoản luật đó vào giao thông, và đòi thành phố không được phép chụp tới chừng nào có luật mới sửa đổi, đưa ra được những quy định bắt buộc, chụp lúc nào ở đâu với thiết bị gì. Chính quyền đặt thiết bị ra đa chụp qúa tốc độ phải vì tính mạng người dân chứ không thể để kiếm tiền phạt ẩn náu đằng sau việc đặt máy chụp. Để phản đối, chính quyền điạ phương viện dẫn danh sách địa điểm đặt máy chụp tốc độ đã được Hội đồng nhân dân chuẩn thuận, tiếp đó trình Chính phủ vùng theo quy định trong luật đường bộ. 50% máy chụp lưu động được đặt ở những khu vực cần bảo vệ đặc biệt, như trường học, nhà trẻ, viện dưỡng lão; 30% đặt ở những vị trí do các hiệp hội hoặc công dân hoặc đảng phái đòi hỏi yêu cầu. Viện Kiểm sát tuyên bố cho điều tra Knöner với cáo buộc xử sai luật.   Còn ở ta, khác với vụ Oury Jalloh chánh án lúc xét xử không đủ chứng cứ buộc tội cảnh sát giết người làm công luận bất bình bởi không giải toả được ngờ vực ngược lại, thẩm phán Lương Quang đã khép tội cảnh sát „dùng nhục hình khiến nghi can tử vong“. Nghĩa là: 1- Sử dụng dụng cụ và cách thức biết chắc gây chết người, tức có động cơ, (chính vì vậy hiện nay luật hình sự ta và các nước đều cấm dùng nhục hình); 2- Nạn nhân chết bởi hệ quả đó. Hai dấu hiệu trên, theo luật hình sự hầu hết các nước đều cấu thành tội danh „giết người“. Nhưng hình phạt, thẩm phán Lương Quang đã không áp dụng cho tội danh giết người, với lý giải (trích phỏng vấn trên báo Người Lao Động):   1- „Vụ án này hết sức phức tạp, nhạy cảm, cả trung ương cũng rất quan tâm. Chúng tôi chịu rất nhiều áp lực. Phải biết chọn giải pháp nào cho an toàn… để bảo đảm mối quan hệ cho tốt. Tại tòa có những cái cần nói rõ nhưng cũng có những cái không nên nói, phức tạp, rối rắm, gây ra dư luận không tốt“.  Nghĩa là thẩm phán đã: 1.1- không xét xử độc lập, 1.2- không theo pháp luật, 1.3- mà chỉ vì động cơ cá nhân mình sao cho an toàn, tránh dư luận.  2- “Ôm rơm nặng bụng. Bỏ lọt tội phạm, cũng đành vậy. Chứ chuyện gì phải căng thẳng. Có nguyên tắc là làm việc mà không hài lòng thì kiến nghị lên cấp trên để xử lý“. Thể hiện thẩm phán thiếu trách nhiệm cá nhân đối với thẩm quyền được giao, trong khi công lý tính mạng con người được pháp luật đặt trong tay ông.    3- ” (Đánh chết người mà chỉ chịu từ án treo đến 5 năm tù), tôi thấy không nhẹ, công an mất bao nhiêu lực lượng đó là quá đau. Tôi thấy đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp. Xét xử tức là dùng các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sử trong văn bản luật để đo lường các hành vi phạm pháp của bị cáo, trong luật học gọi là áp dụng luật. Nhưng thẩm phán đã lấy thiệt hại của bị cáo “mất bao nhiêu lực lượng đó là quá đau“ làm thước đo luận tội.   Chắc chẳng một người dân nào không bất bình trước một thẩm phán trách nhiệm trình độ, xử sai như vậy. Liệu nhà nước có buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý hay để mặc nỗi bất bình lòng dân trút lên nhà nước?    Author                Quản trị        
__label__tiasang An ninh mạng hay an toàn dữ liệu cho Việt Nam?      Việt Nam không thể chống đỡ những cuộc tấn công của các nhóm tin tặc chuyên nghiệp và được sự hậu thuẫn của chính phủ các nước khác nếu không thể làm chủ được các thiết bị phần cứng và phần mềm trong hệ thống mạng.      Catalog gián điệp của Cơ quan an ninh Mỹ NSA cho thấy cơ quan này có vô vàn các công cụ cài cắm vào hầu hết các thiết bị phần cứng và giải pháp phần mềm trong hệ thống mạng.   Hệ thống mạng của Việt Nam rất dễ bị tổn thương  Giữa năm 2016, sau chiến thắng của Philippines trước Tòa án Trọng tài thường trực PCA, bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về đường chín đoạn trên Biển Đông, Philippines và Việt Nam trở thành mục tiêu tấn công của các nhóm tin tặc Trung Quốc. Nổi cộm lên vào thời điểm đó, là một loạt sân bay lớn của Việt Nam (bao gồm cả sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất) bị vô hiệu hóa toàn bộ màn hình hiển thị và loa phát thanh, thay vào đó là những thông tin xúc phạm và xuyên tạc về chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cùng với đó là thông tin cá nhân của 400.000 khách hàng hạng Bông Sen Vàng của Vietnam Airlines bị phát tán trên mạng và bản thân trang web của hãng hàng không này cũng bị thay đổi giao diện và nội dung.  Vụ việc năm 2016 được các chuyên gia an ninh mạng nhận định không chỉ là một cuộc tấn công có chủ đích mà còn được chuẩn bị bài bản, công phu, theo quy trình APT (Advanced Persistent Thread – các mối đe dọa thường trực cao cấp). Quy trình này bao gồm bảy bước từ gửi thư điện tử giả mạo để xâm nhập mạng của đối tượng, cài các cửa hậu (một dạng phần mềm cho phép lấy cắp dữ liệu hoặc điều khiển hệ thống từ xa), chiếm quyền các tài khoản cá nhân khác trong mạng, trinh sát nội bộ nhằm thu thập thông tin về môi trường mạng của đối tượng, kiểm soát đối tượng liên tục, lấy cắp thông tin. Để dễ hình dung, ATP là phương thức áp dụng công nghệ chiến tranh ngoài đời thực vào tấn công an ninh mạng: Bước đầu giống như việc cử một toán trinh sát để dò la tin tức, vẽ bản đồ tất cả các vị trí của pháo đài đối phương và báo về cơ quan chỉ huy. Nhờ có được bản đồ, toán thứ hai nắm được các điểm yếu của đối phương để cắt hàng rào bảo vệ của pháo đài, tạo ra nhiều lỗ hổng để toán thứ ba, chui vào và nằm vùng trong pháo đài. Toán thứ tư mang vũ khí hạng nặng tấn công từ ngoài vào. Và cuối cùng là một đội ngũ được cử đến để “dọn dẹp” chiến trường. Hoạt động của các “toán lính” hay chính  là các mẩu phần mềm gài vào máy của nạn nhân, không dễ gì bị phát hiện. Thứ nhất, chúng có vẻ ngoài vô hại khi tách biệt nhau và dễ dàng “rút lui, không để lại dấu vết” khi bị đánh động. Hơn nữa, những toán đầu nắm rất rõ tình hình của đối tượng, đảm bảo lấy thông tin nhanh nhất và ít bị lộ nhất (chẳng hạn, thời điểm nào cả cơ quan đi ăn trưa, lúc nào nào họ tắt máy đi về, khi nào tốc độ đường truyền internet nhanh nhất,..).  Ông Vũ Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Phụ trách mảng chống mã độc của BKAV bình luận về sự kiện này trên VnExpress cho rằng, những gì hacker công khai chỉ là “phần nổi” của những gì họ nắm được: “hacker muốn cho thấy chúng đã xâm nhập được sâu vào hệ thống của Vietnam Airlines thế nào”. Tuy nhiên, lời của ông Sơn không chỉ đúng cho riêng vụ tấn công hàng không này mà rộng ra, đó là lời cảnh báo về sự dễ tổn thương của tất cả hệ thống thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam. Những mã độc tấn công Vietnam Airlines sau đó được BKAV tìm thấy đang “trú ẩn” ở nhiều hệ thống máy tính và website của nhiều cơ quan khác. Từ nhiều năm nay, Việt Nam vẫn bị các hacker Trung Quốc tấn công, đặc biệt là vào các thời điểm căng thẳng trên biển Đông, theo báo cáo của một loạt công ty bảo mật Mỹ như Crowdstrike, ESET, Threatconnect vào năm 2014-2015. Ở Trung Quốc, có khoảng 20 nhóm APT được phát hiện ở thời điểm năm 2013 và nhiều trong số đó được chính phủ hậu thuẫn với nguồn lực vô cùng dồi dào. Chẳng hạn, như APT1 với 1000 máy chủ chỉ huy kiểm soát đặt tại 13 quốc gia.  Các chuyên gia an ninh mạng nhận định rằng, thực lực của Việt Nam chưa thể chế ngự được APT. Dương Ngọc Thái, chuyên gia bảo mật của Google còn viết trên trang cá nhân của mình là: “không ngạc nhiên” khi hacker các nước “ra vô như đi chợ” trong hệ thống mạng của các cơ quan Nhà nước của Việt Nam. Trên thang đo mức độ độc hại của phần mềm, dựa trên các tiêu chí về mức độ giấu giếm (ngụy trang), mức độ nhận biết (tấn công vào những lỗ hổng không ngờ tới), mức độ rộng rãi (tập trung vào mục tiêu cụ thể hay đại trà) và mức độ thường trực (tấn công một lần hay tấn công liên tục, dai dẳng), APT được coi là một trong những phương thức gây tổn thương nghiêm trọng nhất và thường được các nhóm hacker lớn hoặc trực thuộc chính phủ sử dụng để tấn công vào một mục tiêu cụ thể. Để hiểu rõ vị trí, năng lực của Việt Nam, chúng tôi xin dựa vào mô hình độ chín không gian mạng do Robert F. Lentz, cựu Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về không gian mạng đưa ra nhằm bất kì tổ chức nào cũng có thể soi chiếu và đánh giá năng lực của mình. Mô hình này bao gồm năm mức độ A, B, C, D, E theo thứ tự từ cao nhất đến thấp nhất. Trong đó, các mức A và B chỉ các tổ chức mới sử dụng các lý thuyết và công nghệ có sẵn (chẳng hạn như phần mềm diệt virus) để “dập tắt lửa”. Ở các mức còn lại đòi hỏi kĩ năng càng cao trong việc tích hợp hệ thống, chia sẻ và phân tích dữ liệu giữa các cơ quan, dự đoán các mối nguy hiểm và đưa ra những quyết định tự động, tiến tới khả năng chịu đựng và phục hồi nhanh chóng sau các cuộc tấn công dai dẳng. Theo mô hình này, Việt Nam chưa đạt đến điểm C do mức độ tích hợp hệ thống giữa các cơ quan còn thấp, trong khi để có thể chế ngự APT cần ít nhất ở điểm B. Hơn thế nữa, việc nhích lên tới điểm C với Việt Nam cũng là con đường khá chông gai, vì đa số các nền tảng công nghệ và giải pháp từ phần cứng đến phần mềm của Việt Nam đều sử dụng nguồn đóng và phụ thuộc vào một số ít nhà cung cấp mà hacker đã có sẵn hàng chục bộ cửa hậu để “giăng bẫy” (chẳng hạn như đơn vị APT1 nói trên có hơn 40 bộ cửa hậu đành riêng cho hệ điều hành Windows của Microsoft).  Hãy quên câu chuyện an ninh mạng…  Nhiều người ví tình hình an ninh mạng của Việt Nam hiện nay giống như “xây nhà rồi nhờ người khác trông hộ” vì phụ thuộc chủ yếu vào các sản phẩm của nước ngoài. Liệu có khả năng nào để Việt Nam tiếp tục sử dụng nền tảng công nghệ và giải pháp của nước ngoài nhưng vẫn đảm bảo an ninh mạng hay không? Rất tiếc là không. Những ý tưởng như tìm cách kiểm thử các giải pháp, thiết bị để đảm bảo chúng không bị nhiễm mã độc hoặc kết hợp giải pháp của nhiều bên (với quan niệm rằng, hacker chỉ có khả năng tấn công vào một vài hãng nhất định) rất khó khả thi trên thực tế.  Về cơ bản, an ninh mạng chỉ có thể được đảm bảo khi một quốc gia làm chủ được công nghệ phần cứng và phần mềm trong hệ thống mạng hoặc nắm toàn bộ chuỗi cung ứng, sản xuất của chúng. Nếu không, thì nhiều khả năng các thiết bị đó đã bị cài cắm trước khi đến tay chúng ta. Trên thực tế đã có những hình thức tinh vi qua mặt cả những hãng sản xuất mà Cơ quan An ninh Mỹ (NSA) và nhóm Năm con mắt (Five Eyes, liên minh tình báo gồm Mỹ, Canada, Anh, New Zealand) dùng để cài cắm vào các sản phẩm, chủ yếu thuộc các hãng của Mỹ để nghe lén và thu thập thông tin từ người dùng trên khắp thế giới. Vào năm 2013, tờ tuần báo Der Spiegel (Đức) đã xuất bản một bài báo phơi bày “Bộ công cụ gián điệp của NSA” trong đó tập hợp các phương pháp mà tổ chức này và các thành viên trong nhóm Five Eyes sử dụng để xâm nhập hầu hết các thiết bị trong hệ thống mạng, từ phần cứng, phần sụn đến phần mềm của những nhà sản xuất tiếng tăm như HP, Dell, Apple, Huweii, Cisco, Jupiner…mà chính những hãng này cũng không hề hay biết.    Sau vụ việc của Edward Snowden, người ta càng thấy được ưu điểm vượt trội của phần mềm nguồn mở. Không chỉ vì những gì mà NSA chưa phá được đều thuộc về giới nguồn mở mà còn bởi toàn bộ ê kíp nhà báo, nhà hoạt động vì quyền riêng tư và Snowden đều sử dụng nguồn mở để bảo vệ cho những dữ liệu mà Snowden lấy được từ NSA không lọt ra ngoài.   Vụ phanh phui của Edward Snowden cùng năm đó cũng cho thấy các hãng công nghệ lớn trên thế giới còn cùng với NSA (một cách tự nguyện hoặc bị ép buộc bởi mệnh lệnh hành chính) để phá các tiêu chuẩn bảo mật của mình để lấy trộm thông tin từ khách hàng. Theo tài liệu rò rỉ của Edward Snowden, NSA dành 250 triệu USD mỗi năm cho Dự án thúc đẩy tình báo điện tử, để “chủ động dấn sâu vào thị trường công nghệ thông tin nội địa và nước ngoài nhằm gây ảnh hưởng và tận dụng tối đa thiết kế của những sản phẩm thương mại” và “lợi dụng chúng”. Có trường hợp, sau khi Chính phủ Mỹ biết được đối tượng theo dõi của mình vừa mới đặt hàng phần cứng máy tính mới, công ty sản xuất thiết bị này tại Mỹ đã đồng ý gài cửa hậu vào sản phẩm của mình trước khi giao hàng. Bản thân công ty viễn thông lớn nhất Singapore, Singtel cũng cho phép nhóm Five Eyes truy cập vào thông tin đi qua cáp quang SEA-ME-WE 3 để nghe lén các cuộc điện thoại. Cáp quang này cũng đi qua Việt Nam.  Mà chú trọng đến an toàn dữ liệu  Điều mà Việt Nam hiện nay cần tập trung không phải là an ninh mạng mà là an toàn dữ liệu – những gì Việt Nam tạo ra và có thể bảo vệ được. Trong vòng đời an toàn dữ liệu bao gồm sáu pha từ tạo ra dữ liệu, lưu giữ, sử dụng, chia sẻ, lưu trữ và phá hủy, mấu chốt là ngay từ pha đầu, phải đảm bảo môi trường tạo ra dữ liệu là “sạch”. Sau đó, ngoại trừ khi sử dụng và phá hủy, tất cả các pha còn lại đều đòi hỏi dữ liệu phải được mã hóa, đảm bảo người ta phải trả một cái giá đắt nhất có thể nếu muốn lấy cắp dữ liệu. Tất cả các pha đều đòi hỏi phải phân quyền truy cập và sử dụng thông tin giữa các thành viên trong tổ chức một cách chặt chẽ để có thể theo dõi và quản lý được “đường đi nước bước của dữ liệu” (Nhưng điều đó cũng có nghĩa là phải cân nhắc xem nên bảo vệ những dữ liệu cụ thể nào vì với quy trình sáu bước phức tạp như trên, nếu khối lượng dữ liệu “mật” quá lớn thì cái giá để bảo vệ nó sẽ là vô hạn). Hướng tiếp cận này đưa đến hai gợi ý quan trọng, đó là Việt Nam phải tự xây dựng các giải pháp phần mềm bao gồm từ hệ điều hành, các công cụ văn phòng, phần mềm soạn thảo và gửi email… để hình thành một “môi trường sạch” cho việc tạo ra, lưu giữ và lưu trữ dữ liệu, đồng thời phải đầu tư cho các nghiên cứu mật mã để tạo ra các công nghệ mã hóa thông tin hiệu quả.  Nói đến khía cạnh an toàn và an ninh, phần mềm nguồn mở thường được coi là lựa chọn hàng đầu do mô hình phát triển của nó dựa vào cộng đồng, tức là các lỗi của mỗi sản phẩm nguồn mở đều được rà soát và kiểm tra bởi hàng trăm tổ chức, doanh nghiệp và hàng nghìn cá nhân trong cộng đồng đó, đông hơn đội ngũ kiểm thử của bất kì tập đoàn nguồn đóng nào. Để phát triển các phần mềm tạo ra môi trường sạch cho dữ liệu cũng như các công cụ mã hóa thông tin dựa trên phần mềm nguồn mở, Việt Nam nên chú trọng xây dựng một nguồn nhân lực về công nghệ thông tin không chỉ có trình độ khai thác nguồn tải nguyên khổng lồ từ các kho nguồn mở trên thế giới đem lại mà quan trọng hơn là nắm vững và hiểu được văn hóa của nguồn mở, đủ sức xây dựng một cộng đồng đóng góp cho việc tạo ra những sản phẩm nguồn mở dành cho Việt Nam nhưng phát triển cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở trên thế giới.  ———  Bài viết có sự đóng góp nội dung của chuyên gia nguồn mở Lê Trung Nghĩa.      Author                Hảo Linh        
__label__tiasang An ninh sinh thái      Không quá khó khăn để có thể nhận ra mối quan hệ giữa sức tàn phá của thiên tai và sự hủy diệt rừng của nhân dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, ĐăkLắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Đăk Nông trong trận lũ lịch sử hậu quả của cơn bão số hai.         Tất cả những địa phương nói trên đều là những nơi đã từng có tài nguyên rừng hết sức giàu có và cũng là nơi diễn ra nạn chặt phá rừng hết sức khủng khiếp. Và đây cũng là tình trạng chung trên toàn quốc. Vấn đề được đặt ra là ai tàn phá thiên nhiên và ai phải chịu hậu quả của sự tàn phá đó? Cũng không quá khó để khẳng định : một bộ phận nhỏ cư dân (bao gồm cả những kẻ phá rừng và những người tiêu dùng sử dụng vô tội vạ các sản phẩm từ gỗ tự nhiên) tàn phá và hưởng lợi từ sự tàn phá đó trong khi đó đại bộ phận cư dân phải gánh chịu hậu quả của sự tàn phá. Lại cần phải nhấn mạnh một lần nữa là khối cư dân này đa phần lại thuộc bộ phận nghèo và không có những phương kế bảo hiểm cho đời sống của mình. Như vậy, rõ ràng từ vấn đề sinh thái đã đặt ra vấn đề về sự bất bình đẳng xã hội mà cụ thể là những vấn nạn sinh thái đã làm tăng khoảng cách giàu – nghèo trong toàn xã hội.   Đi kèm với điều này là câu hỏi về vai trò trách nhiệm của nhà nước trong việc điều tiết các vấn đề xã hội. Trong sự tàn phá môi trường sinh thái và sự bất lực của việc tái tạo rừng. Một điều đơn giản nhất là “lâm tặc” sẽ không thể phá rừng thành công đến vậy nếu không có sự làm ngơ, nếu không muốn nói là tiếp tay, của một bộ phận quan chức ở địa phương.   Từ sự kiện này, chúng ta có thể liên tưởng đến hai sự kiện khác đang làm “nóng” công luận : dự án xây dựng khu du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Tam Đảo và dự án giao cho một số doanh nghiệp đầu tư cải tạo công viên Thống Nhất. Nếu không có sự lên tiếng của báo chí và các nhà chuyên môn, giới trí thức và các nhà nghiên cứu thì chắc chắn những dự án này đã được tiến hành theo dự kiến của các cơ quan công quyền.   Về dự án cải tạo công viên Thống Nhất. Chúng ta gặp điệp khúc muôn thuở của chính quyền địa phương là “thiếu kinh phí”. Không có tiền nhưng tại sao thành phố Hà Nội lại đủ tiền dành cho một dự án đầy bê bối là làm phim lịch sử kỉ niệm ngàn năm Thăng Long, tại sao họ lại sẵn sàng đổ tiền (của nhân dân) cho một cuộc phiêu lưu mà phần thất bại là rất rõ trong khi lại không đầu tư cho một công trình mà số đông người dân sẽ được hưởng lợi trong một thời gian lâu dài? Giao cho một doanh nghiệp đầu tư vào công viên thống nhất nghĩa là phần diện tích xanh ít ỏi sẽ phải bị chia sẻ với các mục đích kinh doanh và sẽ càng là kinh hoàng hơn nữa khi người ta có ý định biến công viên Thống Nhất thành một Disneyland dành cho người nhiều tiền lắm của, phần tiếp tay cho sự bất bình đẳng về đời sống tinh thần trong xã hội. (Điều này cũng đã xảy ra ở Hồ Tây, khi mà không ít không gian của Hồ Tây đã được bán hoặc cho tư bản trong nước và nước ngoài thuê, trong khi đó ngay cả ở một nước tư bản là nước Pháp thì toàn bộ không gian hai bên bờ sông Sein cũng được dành làm không gian công cộng mà toàn bộ người dân được hưởng lợi).   Về dự án cho tư bản nước ngoài đầu tư xây dựng du lịch sinh thái ở Tam Đảo, một trong những điều không thể hiểu nổi trong lí lẽ của chính quyền ở Vĩnh Phúc là khu vực này không còn rừng. (Điều “quái gở” này đã được một đơn vị chuyên môn có uy tín của một trường đại học xác nhận). Điều còn “quái gở” hơn là cái lôgíc của những quan chức địa phương. Họ cho rằng nếu đã không còn rừng thì thay vì khôi phục rừng, hãy phá nốt rừng để xây khu du lịch.   Rõ ràng đã đến lúc an ninh sinh thái cần phải được nhận thức lại trong chiều kích chính trị của nó và đối tượng cần thay đổi nhận thức đầu tiên chính là các quan chức ở các địa phương.         Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn ở có hậu      “Phát triển bền vững” là cụm từ đầu môi chót lưỡi trong thiên hạ hiện nay. Ai cũng xài nó, để cổ vũ một cách sống, để ràng buộc sự phát triển của một xã hội, để quảng cáo một thương hiệu, để cải thiện một công nghệ, để cứu Trái đất, để bán một sản phẩm, để áp đặt một chính sách, để tỏ ra thời thượng, để giáo dục thế hệ trẻ, để kiếm tiền, hay mua danh. Khi trở thành lời đầu môi chót lưỡi thì từ ngữ mất đi ý nghĩa thực sự. Như tiếng “cảm ơn” xoen xoét ở cửa miệng mọi người. Nhưng không vì vậy mà chúng ta không thèm nói cảm ơn nữa, hay không cần dạy con trẻ nói “Cảm ơn” khi được giúp đỡ hay cho quà.    Xét ý nghĩa cốt lõi của sự phát triển bền vững thì ông bà chúng ta đã thực hành và răn dạy nhau từ ngàn năm nay, thể hiện qua túi khôn dân gian là tục ngữ ca dao, như làm ăn phải có căn cơ, sống phải tích đức cho con cháu, ăn ở sao cho có hậu, kẻo đời cha ăn mặn đời con khát nước.   Trong nền văn minh lúa nước, con người phải thường xuyên trông trời trông đất để sống hài hòa với thiên nhiên và biết vận dụng qui luật thiên nhiên để phát triển, chuộng sự ăn chắc mặc bền, đề cao những giá trị bền vững, “ăn kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt”; phát triển vì tương lai, “con hơn cha nhà có phúc”; và vun bồi quan hệ cộng đồng, “có qua có lại mới toại lòng nhau.” Những thực hành này có thể đã bị một bộ phận dân ta coi là cũ kỹ không hợp thời trước trào lưu sống hiện đại (thực tế là sống chụp giựt trong một xã hội thay đổi quá nhanh, gần như quay cuồng).  Cho nên “phát triển bền vững” được đưa vào Việt Nam như “một khái niệm mới”, theo định nghĩa của Wikipedia tiếng Việt: “Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa”.   Câu này có lẽ diễn dịch lại định nghĩa trong báo cáo của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc có tiêu đề “Tương lai chung của chúng ta, chương 2: Hướng tới sự phát triển bền vững.” Phần mở đầu bản báo cáo này viết: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ tương lai. Nó bao hàm hai khái niệm quan trọng:  Khái niệm “nhu cầu”, đặc biệt là nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới, phải được dành cho ưu tiên trên tất cả, và ý tưởng về sự hạn chế mà trình độ kỹ thuật và tổ chức xã hội áp đặt lên khả năng của môi trường để đáp ứng nhu cầu của hiện tại và tương lai.  Do vậy, theo báo cáo này, những mục tiêu của phát triển xã hội và kinh tế phải được xác định theo quan niệm bền vững ở tất cả mọi quốc gia – đã phát triển hay đang phát triển, theo xu hướng thị trường hay do Trung ương hoạch định. Những cách diễn dịch có thể khác nhau, nhưng phải cùng có những đặc tính chung nhất định và phải cùng xuất phát từ sự nhất trí về khái niệm cơ bản của phát triển bền vững và trên một khuôn khổ chiến lược rộng nhằm đạt được điều đó.   Phát triển bao hàm một sự thay đổi tiến bộ về kinh tế và xã hội. Về mặt lý thuyết, con đường phát triển bền vững theo nghĩa vật chất có thể được theo đuổi ngay cả trong bối cảnh chính trị và xã hội khe khắt nhất. Nhưng sự bền vững vật chất không thể nào an toàn trừ phi những chính sách phát triển quan tâm đến những vấn đề cần được cân nhắc như sự chuyển đổi trong quyền sử dụng nguồn tài nguyên và trong phân phối chi phí cùng lợi nhuận. Ngay cả quan niệm hẹp nhất về sự phát triển bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm đối với công bằng xã hội giữa các thế hệ, một mối quan tâm phải được mở rộng một cách hợp lý đến sự công bằng trong mỗi một thế hệ. (dịch từ http://www.un-documents.net/ocf-02.htm)  Văn chương và ý tưởng trong các văn bản của Liên Hiệp Quốc bao giờ cũng hay ho tốt đẹp.          Nhà văn Lý Lan        Các nước thành viên thực hiện tới đâu và như thế nào là chuyện khác. Dù sao, phát triển bền vững cũng đã là một vấn đề toàn cầu. Và nhiều người tin đó là con đường tốt nhất để Trái đất còn là nơi sống được cho nhân loại trong tương lai. Hiện có không ít những tổ chức thuộc Chính phủ lẫn phi Chính phủ được hình thành và đặt bản doanh ở các nước tiên tiến, như Canada, Mỹ, Úc, và các nước châu Âu, với nguồn tài trợ dồi dào và hoạt động tích cực rộng khắp, với các chi nhánh đặt tại những nước đang phát triển ở Á và Phi châu, ra sức vận động và tuyên truyền cho sự phát triển bền vững, thông qua nhiều hoạt động từ gây áp lực với các nhà cầm quyền đến quảng bá cách sống cần kiệm trong dân chúng.  Vài thí dụ về những hoạt động này: Gây áp lực với các Chính phủ và tập đoàn kỹ nghệ giảm lượng khí thải carbon vào khí quyển; bảo tồn những khu rừng, đầm lầy, môi trường sống của những sinh vật hoang dã; duy trì đa dạng sinh thái; hỗ trợ những phương thức sản xuất “xanh” ít gây ô nhiễm; phá vỡ những thế độc tôn, độc quyền, độc canh; ngăn chặn việc khai thác bừa bãi cạn kiệt những nguồn tài nguyên thiên nhiên; chống lại sự tước đoạt phương tiện sản xuất và bóc lột sức lao động người nghèo; giáo dục giới trẻ tình yêu thiên nhiên, quan điểm sống vừa đủ, chống xa hoa và chuộng sự công bằng.   Hiện nay ở phần lớn các trường đại học ở Mỹ đều có chương trình phát triển bền vững, tùy từng nơi các hoạt động bao gồm từ vận động sinh viên đi xe đạp xe bus thay vì lái xe hơi, tiêu thụ thực phẩm nuôi trồng tại địa phương, thậm chí tự mình nuôi trồng lấy một số thực phẩm mình dùng hằng ngày; dùng lại, tái chế; hay hạn chế những sản phẩm nhân tạo để giảm lượng rác thải ra; tiết kiệm năng lượng như tắt đèn, tắt các thứ máy móc khi không thực sự cần đến.   Khi công chúng, đặc biệt là giới trẻ có tri thức, quan tâm và ủng hộ phong trào phát triển bền vững thì sức mạnh của phong trào buộc phần lớn các thế lực kinh tế chính trị phải kiêng dè và chuyển thái độ o bế. Chẳng hạn hãng dầu BP sau sự kiện để xì dầu ở vùng vịnh Mexico đã phải cố tô điểm lại mặt mũi bằng nỗ lực tuyên truyền “BP và phát triển bền vững” rằng BP quan tâm (có hỗ trợ tài chánh) đến sức khỏe và an toàn, năng lượng và môi trường, nhân loại và nhân quyền (theo website chính thức của BP, www.bp.com)   Trên website chính thức của Công ty Monsanto (trùm hạt giống cây trồng và kỹ thuật nông nghiệp) cũng đặt lên hàng đầu trong phần cam kết (commitments) mục nông nghiệp bền vững (sustainable agriculture) với các khẩu hiệu: Sản xuất nhiều hơn. Bảo tồn nhiều hơn. Phát triển đời sống. Chẳng là Monsanto đã bị các phong trào thực phẩm hữu cơ qui cho những tội như hủy hoại môi trường thiên nhiên vì phương thức chuyên canh công nghiệp sử dụng phân bón và hạt giống lai hoặc điều chỉnh gene. Nông nghiệp hiện đại (được công nghiệp hóa) cũng dồn các nhà nông nhỏ với phương thức canh tác truyền thống đến chỗ phá sản, và do đó phá hủy truyền thống văn hóa nông thôn.   Mô hình thường được đưa ra cho sự phát triển bền vững là một căn nhà mà cái mái “Phát triển bền vững” được đặt trên ba cây cột “Phát triển kinh tế”, “Bảo vệ môi trường”, và “Tiến bộ xã hội”. Ba cây cột này có to chắc và đồng đều thì cái mái nhà mới bền vững nổi. Nhưng tại sao những ý tưởng hay ho, những vận động rộng khắp của những người tìm kiếm sự phát triển bền vững vẫn chưa đạt tới sự bền vững nhất định cho thế giới hiện nay? Xã hội thì khủng hoảng kinh tế, cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn, đất trời ngày một lắm thiên tai… Câu trả lời còn đang được tìm kiếm hay đã sờ sờ ra đó mà người ta không muốn và không thể làm gì được?    Author                Quản trị        
__label__tiasang An toàn và trật tự xã hội- nhìn từ hệ thống các biển báo ở Đức      Ở nước Đức, khắp nơi từ ngoài đường phố, đến bệnh viện, trường học, công sở hoặc bất cứ nơi vui chơi, giải trí nào, bạn rất dễ dàng tìm thấy các “biển báo”. Những biển báo ấy là những chỉ dẫn, nhưng đôi khi lại hàm chứa những cơ sở để ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Và không rõ từ bao giờ những biển báo như thế đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống thường ngày và góp phần tạo nên một xã hội có trật tự ở nơi đây.        1. Biển báo cấm đỗ sai qui định  Đi đến nhiều nơi, bạn sẽ nhìn thấy biển báo cấm đỗ: “Widerrechtlich geparkte Fahrzeuge werden kostenpflichtig abgeschleppt”. Biển báo này có nghĩa là nếu bạn đỗ xe không đúng qui định, giả sử như ở trước cửa ra vào hoặc garage của một nhà nào đó, chủ nhà hoàn toàn có quyền gọi điện cho cảnh sát đến để chuyển xe của bạn đi chỗ khác. Bạn không những bị phạt vì đã đỗ sai qui định, mà còn phải chịu toàn bộ những chi phí phát sinh. Không chỉ là lời nhắc nhở chung chung, biển báo đó đã ràng buộc trách nhiệm, chứa đựng ngay chế tài đối với bất cứ ai vi phạm.                  2. Khi tham gia giao thông   Ra đường bạn phải chú ý các biển báo giao thông để chấp hành đúng luật lệ, đấy là việc đương nhiên thuộc nghĩa vụ của bạn.   Bạn sẽ không bao giờ thấy cảnh đâu đâu cũng có cảnh sát đứng bên đường, nhưng bạn sẽ thấy mọi thứ đều rất có trật tự.   Tại sao vậy? Ở nhiều nơi công cộng người ta đều cho đặt camera, nếu bạn vượt đèn đỏ hoặc đi quá tốc độ cho phép, tức khắc hành vi vi phạm và biển số xe của bạn sẽ được lưu giữ lại. Do quản lý thông tin rất tốt, chỉ vài ngày sau, bạn sẽ lập tức nhận được hóa đơn yêu cầu nộp phạt. Từ lúc vi phạm đến lúc nhận được hóa đơn tiền phạt bạn cũng không biết người cảnh sát cụ thể nào đã phạt mình do vậy cũng đừng nghĩ đến khả năng xin xỏ hay hối lộ.   Bạn lờ đi không nộp phạt ư? Vậy thì bạn sẽ tiếp tục nhận được giấy gọi hầu tòa. Mọi việc đúng sai lúc này sẽ được giải quyết ở Tòa án. Nếu đúng là bạn đã vi phạm và trốn tránh nộp phạt, tiền phạt của bạn lúc này sẽ tăng gấp nhiều lần so với việc nếu như bạn đã nghiêm chỉnh nộp phạt.   Và cứ như thế người dân Đức hiểu rằng tốt hơn hết, không muốn mất thời gian và tiền bạc thì cứ nghiêm chỉnh mà chấp hành luật lệ giao thông.  3. Trên xe buýt  Bạn lên xe buýt, bạn không được nói chuyện với tài xế khi xe đang chạy đâu nhé. Bước lên xe, bạn sẽ nhìn thấy ngay biển báo: “Während der Fahrt nicht mit dem Fahrer sprechen” –  biển báo này có nghĩa là vì lý do an toàn, khi xe đang chuyển bánh, bạn không được hỏi hay nói chuyện với lái xe. Lên xe, bằng những biển báo định sẵn ở mỗi vị trí, bạn cũng sẽ biết đâu là chỗ ngồi dành cho người già, người tàn tật, phụ nữ có thai, đâu là chỗ ngồi dành cho bạn và đầy đủ những chỉ dẫn ghi rõ khi gặp trường hợp khẩn cấp trên xe, bạn sẽ phải làm gì.                  4. Biển báo ở bể bơi hoặc đến những nơi chơi thể thao  Giả sử bạn đến bể bơi hoặc nơi vui chơi giải trí, bạn gửi đồ vào một nơi qui định, có tủ riêng khóa cẩn thận. Ở đó bạn cũng sẽ nhìn thấy biển thông báo “Für Garderobe wird keine Haftung übernommen”. Biển báo này có nghĩa rằng bể bơi sẽ không chịu trách nhiệm về việc mất đồ của bạn. Ở bể bơi cũng có khu vực dành riêng cho những ai thích nhảy cầu, nhưng ở đó cũng có biển báo ghi rất rõ: “Springen auf eigene Gefahr” – biển báo này có nghĩa rằng bạn đã được cảnh báo trước và sẽ hoàn toàn tự chịu trách nhiệm nếu như tai nạn xảy ra.                  5. Biển báo nguy hiểm ở các công trình đang xây dựng  Ở những nơi có công trình xây dựng đang thi công, tất cả đều được bảo đảm những biện pháp an toàn và luôn kèm theo biển báo “Betreten der Baustelle verboten. Eltern haften für Ihre Kinder”. Đây là biển báo cấm vào khu vực đang có công trình xây dựng. Nếu tai nạn xảy ra, người vi phạm sẽ phải tự chịu trách nhiệm. Cha mẹ sẽ là người chịu trách nhiệm cho trẻ nhỏ.                  6. Biển báo phân loại rác  Hàng ngày ở Đức việc phân loại rác được thực hiện khá nghiêm túc và tự giác. Tương ứng với từng loại rác, có những thùng rác tương ứng. Thùng nào được đổ loại rác nào đều có những chỉ dẫn rất cụ thể. Từ những việc rất nhỏ như việc vứt rác, bạn cũng phải để ý xem mình đã vứt rác đúng qui định chưa. Nếu thùng rác nhà bạn mà rác được đổ không đúng, cơ quan quản lý về môi trường họ có lý do để phạt bạn.                  7.  Ghi chú “Không chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin”  Trên rất nhiều những tờ thông tin, kể cả lịch tàu, kết quả xổ số trên tivi, thông tin về giá cả, chứng khoán… dưới đó thường ghi rất rõ “Alle Angaben ohne Gewähr”. Điều này có nghĩa là người cung cấp thông tin hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của thông tin đó. Bạn đừng nhầm lẫn nhé, bạn sẽ không thể khởi kiện người đã cung cấp thông tin này, nếu như thông tin đó không chính xác hoặc bị thay đổi so với thực tế. Việc ghi rõ như vậy, người cung cấp thông tin đã loại trừ được những rủi ro cho mình vì đã cảnh báo trước với đối tượng tiếp nhận thông tin.   8. Biển báo nhà có nuôi thú dữ  Nếu bạn bước vào nhà ai đó có nuôi động vật, mà không để ý biển báo, chẳng may bạn bị động vật gây thương tích, bạn sẽ tự chịu trách nhiệm vì gia chủ đã gắn biển cảnh báo nhà có nuôi súc vật. Lỗi lúc này lại thuộc về bạn và bạn hoàn toàn không có quyền khởi kiện đòi bồi thường. Đương nhiên nếu chủ nhà có nuôi thú dữ mà lại không có biển báo này dán trước cửa nhà, để xảy ra tai nạn cho bạn, chủ nhà đó cũng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường.                  9. Biển báo nơi công cộng  Ở những nơi công cộng,nhiều nơi có đặt biển cấm như cấm hút thuốc, cấm làm ồn, cấm chụp ảnh… Do vậy, đến bất cứ đâu bạn cũng phải quan sát, phải để ý những biển báo này.  Khi rời khỏi vị trí làm việc hay học tập, hay những chỗ công cộng, ngay từ nhỏ, trẻ em Đức đã được dạy rằng: “Bạn tuyệt đối không quên kiểm tra lại tất cả mọi thứ xem nó có an toàn và gọn gàng đúng như những gì bạn đã được nhìn thấy khi bước vào hay không”.                   Vào mùa đông ở Đức thường có tuyết rơi nhiều, nếu vỉa hè trước cửa nhà bạn là một lối đi chung, tuyết rơi mà bạn không dọn sạch, người đi qua đường bị ngã, bị tai nạn ngay trước cửa nhà bạn mà nguyên nhân là do bạn đã không dọn sạch tuyết trước cửa nhà, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhiều đoạn đường mùa đông không có người dọn tuyết và trên đoạn đường qua đó thường ghi rõ biển báo: “Kein Winterdienst. Betreten auf eigene Gefahr”. Khi xuất hiện biển báo này mọi người đều hiểu rằng đây là đoạn đường không được dọn dẹp tuyết vào mùa đông, nếu đi qua đoạn đường này, người đó phải tự chịu trách nhiệm cá nhân.                  10. Biển báo cấm cho động vật hoang dã ăn thức ăn  Bạn đến sở thú, bạn đã lấy thức ăn của bạn ra cho động vật ăn. Theo luật bảo vệ động vật hoang dã ở Đức bạn sẽ bị phạt nếu như ở đó đã treo biển cấm cho động vật hoang dã ăn – “Füttern verboten”. Lý do được đưa ra là việc cho ăn như vậy sẽ làm mất đi sự cân bằng tự nhiên của động vật hoang dã. Nếu đã được cảnh báo nhưng bạn vẫn làm, bạn sẽ bị phạt.                        Ở bất cứ đâu, con người cũng cần đến sự minh bạch của hệ thống luật pháp, mà tối thiểu con người cần phải được biết việc gì được làm và việc gì không được làm một cách thật cụ thể, rõ ràng nhất.        Lẽ dĩ nhiên có thể nhiều biển báo ở Đức phù hợp với nước Đức, người Đức, văn hóa Đức nhưng chưa chắc đã phù hợp và dễ dàng áp dụng trong điều kiện văn hóa, xã hội ở Việt Nam, hơn nữa cần những loại biển báo nào, nội dung, hình thức những biển báo đó ra sao thì mới phù hợp với Việt nam, điều đó còn cần phải bàn luận và trao đổi tiếp, nhưng vượt lên tất cả những trở ngại đó, là khía cạnh ý nghĩa và hiệu quả xã hội mà những biển báo đem lại – những biển báo trực quan, dễ hiểu, dễ nhớ, luôn kèm theo chế tài có tính giáo dục, phòng ngừa và răn đe một cách trực tiếp. Phải chăng đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi cách tư duy quản lý theo kiểu “khẩu hiệu, phong trào, còn trách nhiệm thì hòa cả làng” bằng tư duy “chỉ dẫn, cảnh báo và áp dụng chế tài trực tiếp cho cá nhân vi phạm”? Phải chăng có như thế những bộ luật đồ sộ, những điều luật phức tạp mới có điều kiện được hiện thực hóa vào cuộc sống, pháp luật khi ấy mới trở nên gần gũi như cơm ăn, nước uống hàng ngày và xã hội vì thế mới trở nên an toàn và thực sự có trật tự?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh Sáu Dân thân thiết của mỗi chúng ta      Hôm anh Nguyễn Khải mất vậy mà cũng có chuyện rắc rối về nơi an táng theo các thứ thủ tục rườm rà và kỳ lạ của chúng ta. Việc ấy đến tai anh Võ Văn Kiệt – Sáu Dân, anh liền gọi điện thoại cho một đồng chí lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, bảo: “Nếu không giải quyết được chỗ an táng cho anh Khải theo nguyện vọng của gia đình và anh em, thì tôi xin nhường suất của tôi cho anh ấy. Chắc tôi cũng có được một suất ở nghĩa trang thành phố, phải không?”…    Hôm sau, tang lễ anh Khải được tiến hành rất sớm, lúc sáu giờ sáng,  mà dạo ấy chưa sang hè, sáu giờ trời còn rất tối. Tôi phải đón taxi đi cho kịp. Vậy mà khi đến nơi đã thấy anh Sáu Dân ở đấy rồi. Sau đám tang, anh bảo tôi lúc nào sang nhà chơi, bên quận 2. Buổi tối ăn cơm ở nhà anh, có người nhắc lại chuyện hôm trước, anh nói: “Mình có đến ba suất, một ở thành phố này, một ở nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội, một ở dưới quê, khi nào có anh em cần mình xin sẵn sàng nhường!”.  Những người ít nhiều có được quen anh Sáu Dân đều biết một nét trong tính cách của anh: anh nói cứ tưởng như đùa vui, nhưng đấy là anh nói rất thật. Bằng cái trí trông nhẹ nhàng mà rất cao và rất sâu, và bằng cái tình rất chân thật hòa quyện với tầm nhìn xa cả về hai phía quá khứ và tương lai, thấm đượm suy tư sâu xa và có thể cả trằn trọc về lịch sử, anh thường có những ứng xử vượt khuôn khổ, phá vỡ những cứng nhắc của cơ chế, khiến cho cuộc sống bỗng dễ sống hơn, con người đối với nhau hiền hòa, nhân hậu hơn, lòng người nhẹ nhõm, xã hội an bình hơn. Vì anh biết, cuộc đời này còn lắm nhọc nhằn, vốn chẳng hề đơn giản một bề, cả trong những chuyện đại sự quốc gia, những tình huống con người bị kẹt trong những éo le của lịch sử, cho đến những chuyện tưởng thường tình mà không dễ hằng ngày, sống cho có nghĩa có tình, có trước có sau với nhau là quan trọng, quan trọng lắm, có khi lại là quan trọng nhất, hơn tất cả những  lời nói ồn ào, to tát. Ngồi nói chuyện với anh, có thể nghe thấy cùng lúc, giản dị mà thâm trầm, cả mấy chiều kích ấy trong con người anh: sự trầm tư lịch sử, sự sắc sảo của một người lãnh đạo từng trải, sự quyết liệt, rất nhiều khi không khoan nhượng về những vấn đề có tính quyết định, tính minh triết do bao nhiêu trầm luân tích lũy, cả một chút nỗi buồn vì sự bất lực của tình thế và của chính mình, và đồng thời, rất lạ, vẫn còn nguyên tấm lòng nhân hậu và niềm vui trong veo, hồn nhiên của một người nông dân, một người nông dân rất Nam Bộ, rất Việt Nam. Tôi vẫn nghĩ rằng chính vì có tất cả những điều đó, không phải trộn lẫn mà nhuần nhuyễn, mà anh đã nói được những lời thật cần, thật đẹp, thật công bằng, thật thâm thúy và đầy sức thuyết phục, cả về những nhân vật lịch sử từng khó được minh định như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… cho đến những con người hiện đại như tướng Dương Văn Minh, những con người do những éo le của tình thế đã từng đứng ở phía bên này hay phía bên kia của một cuộc chiến tranh mà ta, mà anh từng làm như những người anh hùng, song giá như đừng phải làm để trở thành anh hùng như vậy thì còn tốt hơn nhiều… Vậy đó, trong tất cả những điều ấy, trộn lẫn vô cùng phức tạp do số phận kỳ lạ của đất nước và dân tộc ta suốt thế kỷ qua, thật lạ và thật tuyệt, anh hiện lên như một người lãnh đạo  xông xáo, quyết liệt như ít ai xông xáo và quyết liệt bằng, lại cùng lúc như một nhà hiền triết, vừa đầy ưu tư vừa thanh thản giữa cuộc thế này. Có lẽ còn một nét khác nữa, cũng rất đặc biệt trong con người anh: ta biết anh từng trằn trọc lo biết bao nhiêu cho những người nông dân nghèo khốn, vẫn còn rất nghèo khốn, hẳn suốt đời anh chưa từng bao giờ ngớt đau vì bài toán nông dân, nông thôn đến nay vẫn chưa hoàn toàn có lời giải thỏa đáng, anh là một người nông dân Nam Bộ đến tận xương tủy…, đồng thời cũng ít người có quyền chức lớn hiểu, yêu quý, thân thiết, tôn trọng trí thức và những người trí thức bằng anh. Anh biết nền  tảng của cuộc sống, của đất nước là những người lao động chân lấm tay bùn kia, những người thợ cuộc sống vẫn còn rất gian nan kia…, nhưng dắt dẫn đời sống tinh thần của dân tộc, ngẫm sâu về trí tuệ cha ông và nhìn xa về phía trước, nhìn rộng ra toàn cầu, nghiệm suy và dự báo, nhen nhúm niềm tin và cảnh  báo hiểm nguy thì phải là trí thức, trong đó có những người văn nghệ sĩ, tất cả, theo chỗ tôi được biết, đều coi ông là một người anh, một người bạn lớn, có thể tâm sự với ông tất cả, và ông cũng tha thiết mong muốn và sẵn sàng chia xẻ với họ mọi điều, gửi gắm cho họ những trách nhiệm thật lớn…  Con người 86 tuổi đã dậy rất sớm, khi còn mờ đất, để đến đám tang Nguyễn Khải, khi chưa có vị lãnh đạo nào khác đến, và cả nhiều bạn bè cũng chưa kịp đến, là một con người như vậy đó, tôi biết, không dễ có nhiều đâu trên đời này. Chúng ta vừa phải vĩnh biệt một con người như vậy, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một vị tướng hàng đầu của công cuộc Đổi mới, anh Sáu Dân thân thiết của mỗi chúng ta.    Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ảo giác” về vẻ đẹp hoàn hảo      Sự bùng nổ của các cuộc thi sắc đẹp trong những năm gần đây là biểu hiện cho thấy thị hiếu của công chúng xã hội, xu hướng tôn sùng vẻ đẹp hoàn hảo. Nhưng cùng với việc truyền thông tràn ngập về các cuộc thi sắc đẹp, thì theo TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS), các tiêu chí của vẻ đẹp phi thực tế càng gây sức ép lên phụ nữ và xã hội nói chung.    Thương mại hóa cơ thể?    Việt Nam đang trở thành cường quốc thi hoa hậu với hàng chục cuộc thi hoa hậu cấp quốc gia. Theo bà, điều đó thể hiện gì về nhu cầu của công chúng xã hội?    Việc con người hướng tới cái đẹp là điều rất tự nhiên, nhất là người Việt Nam bây giờ có điều kiện để khao khát cái đẹp sau nhiều chục năm phải kìm nén nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp, coi đó là xa xỉ. Bây giờ được phép bày tỏ, thể hiện, khao khát thì người ta thấy điều đấy là tuyệt vời, cảm thấy thích thú và hạnh phúc khi có nhiều cuộc thi, nhiều người đẹp, nhất là khi diễn ngôn chung của các cuộc thi sắc đẹp là gắn liền với lòng tự hào dân tộc, các hoa hậu là đại diện cho Việt Nam. Có lẽ, sau nhiều năm thiếu thốn, mặc cảm thấp kém, nghèo hèn, bây giờ người ta tự hào về những thứ sẽ giúp Việt Nam khẳng định vị trí rằng chúng tôi không kém, không xấu, chúng tôi có người rất đẹp, rất giỏi, có sản phẩm tốt.    Nhìn chung phần lớn công chúng và giới truyền thông đại chúng cho rằng các cuộc thi này giúp nâng cao thế mạnh của người Việt Nam, tôn vinh vị thế của Việt Nam với thế giới. Rất ít người nhìn thấy khía cạnh thương mại hóa cơ thể người phụ nữ, cũng như việc các cuộc thi này và truyền thông rầm rộ đang tạo ra, củng cố các chuẩn mực sắc đẹp hoàn hảo phi thực tế, áp lực mà các chuẩn mực ấy tạo ra cho phụ nữ.    Ảnh: CAND  “Công nghiệp sắc đẹp” có gì là không tốt cho phụ nữ?    Thường thì số đông công chúng, truyền thông và các hội đoàn của phụ nữ không nhìn thấy sự nguy hại của cuộc thi này ở chỗ nó tôn vinh những vẻ đẹp hoàn hảo phi thực tế, khiến nhiều phụ nữ bị ám ảnh, chạy theo những cách làm đẹp tốn kém, thậm chí nguy hại đến sức khỏe và tính mạng cốt để đạt được các tiêu chuẩn của một vẻ đẹp nhân tạo. Chính Hội phụ nữ cũng tổ chức ra hoa hậu áo dài, nữ sinh thanh lịch rồi Công đoàn cũng tổ chức thi công đoàn viên thanh lịch, rất nhiều các cuộc thi hoa khôi, hoa hậu ở các độ tuổi, các cấp độ ở khắp mọi nơi.    Chẳng hạn, về chiều cao, tôi nhớ trong cuộc thi hoa hậu đầu tiên thì hoa hậu Việt Nam cao 1,58m, nhưng giờ đây hoa hậu đã cao 1,7-1,8 m. Trước đây, nỗi ám ảnh, nỗi mặc cảm chiều cao hầu như không được đề cập tới, cho đến khi các tiêu chuẩn hình thể của người phương Tây được áp dụng vào các cuộc thi hoa hậu dồn dập thì chiều cao mới tự nhiên trở thành vấn đề. Phần lớn những tiêu chuẩn khác như da trắng, mắt to, mũi cao đều dập khuôn theo vẻ đẹp phương Tây.    Trong khi các chuẩn mực được tôn vinh ấy không thực sự đại diện cho vẻ đẹp đa dạng của phụ nữ Việt Nam thì nó lại nguy hiểm ở chỗ tạo ra “ảo giác” rằng đẹp thì phải như vậy. Các kênh truyền thông cũng góp phần tôn vinh vẻ đẹp theo kiểu phương Tây là hoàn hảo khiến hàng triệu phụ nữ Việt Nam ám ảnh bởi vẻ đẹp của làn da trắng, sống mũi cao mắt hai mí to, khuôn mặt V-line, đôi chân dài trên một mét …Vẻ đẹp này có lẽ đã trở thành ước mơ của hàng triệu bé gái trên đất nước này.    Nhưng cũng có ý kiến nói rằng các cuộc thi ra đời là do nhu cầu xã hội, và biết đâu theo đuổi điều đó lại tốt cho phụ nữ?    Không, nó không thực sự tốt cho phụ nữ nói chung, nó tốt cho túi tiền của những người kinh doanh sắc đẹp. Phụ nữ nên biết làm đẹp nhưng tạo ra một ngành công nghiệp để lôi cuốn hàng triệu phụ nữ chỉ mơ đổi đời nhờ vương miện thì có phải là việc nên làm? Một vài nhãn hàng, một số doanh nghiệp có thể tổ chức thi hoa hậu để quảng bá cho thương hiệu của mình cũng không sao nhưng nếu biến thi hoa hậu thành ngành công nghiệp hoa hậu, thành cỗ máy kiếm tiền cho môt vài cá nhân rồi gán cho nó cái mác là đại diện cho phụ nữ Việt Nam hay khoác cho nó cái áo chính trị là  niềm tự hào quốc gia thì có đúng không?    Có ý kiến cho rằng các cuộc thi hoa hậu ra đời nhiều như vậy vì xã hội thực sự có nhu cầu. Còn những ai không muốn xem thì cứ tắt ti vi đi nhưng có gì hay khi tôn vinh những chuẩn rập khuôn về vẻ đẹp thay vì tôn trọng vẻ đẹp đa dạng của con người và khuyến khích người ta tự tin về cơ thể của mình và trân trọng nó.    Đã nhiều năm nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu cho thấy các cuộc thi hoa hậu là một cách thương mại hóa cơ thể người phụ nữ chứ thực ra không mang lại lợi ích cho giới nữ nói chung. Vì những cuộc thi đó đưa ra tiêu chuẩn về vẻ đẹp để cho phụ nữ noi theo, người ta lợi dụng cơ thể người phụ nữ để bán hàng cho chính phụ nữ. Đằng sau những cuộc thi sắc đẹp là cả một ngành công nghiệp làm đẹp hưởng lợi rất nhiều từ kết quả cũng như toàn bộ quá trình của các cuộc thi đó. Các nhãn hàng, với nguồn marketing khổng lồ nhắm vào phụ nữ, thúc đẩy họ  chi tiền cho phẫu thuật thẩm mỹ, cho các loại mỹ phẩm được quảng cáo để đuổi theo vẻ đẹp của các hoa hậu. Nhìn chung có thể nói là các cuộc thi hoa hậu không tạo ra tiêu chuẩn vẻ đẹp chung chung mà là các tiêu chuẩn vẻ đẹp để bán được hàng.  Nhìn chung có thể nói là các cuộc thi hoa hậu không tạo ra tiêu chuẩn vẻ đẹp chung chung mà là các tiêu chuẩn vẻ đẹp để bán được hàng.    Hình ảnh về cái đẹp lý tưởng ngày càng cực đoan hơn bao giờ hết. Thậm chí những đứa trẻ 3-4 tuổi cũng được “dạy” để trở nên gợi cảm hơn trong các quảng cáo và trong toàn bộ văn hóa đại chúng. Ngay từ khi còn rất nhỏ, các bé gái đã được dạy rằng phải trở nên nóng bỏng và gợi cảm cùng với khuôn mặt xinh đẹp hoàn hảo và cơ thể mảnh mai. Mọi bộ phận trên cơ thể phụ nữ được khai thác một cách triệt để để bán mọi sản phẩm, từ dầu gội đầu đến chai nước ngọt.    Miss Baby Viet Nam 2019 trao vương miện cho Miss Baby Viet Nam 2020 tại cuộc thi Miss Baby Vietnam 2020. Theo điểm a, khoản 1 Điều 5 Quy chế tổ chức thi hoa hậu, hoa khôi, người đẹp ban hành kèm theo Quyết định số 87/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL quy định thí sinh phải từ 18 tuổi trở lên Ảnh: Daidoanket  Đâu là ranh giới giữa vẻ đẹp mà phụ nữ tự nhiên mong muốn và vẻ đẹp hoàn hảo bị truyền thông, quảng cáo tới mức thành áp lực?    Quá nhiều nguồn thông tin từ quảng cáo, báo chí, sách vở đều nói với phụ nữ ở mọi độ tuổi, kể cả những đứa trẻ con đi học mẫu giáo rằng chân dài, mũi cao, da trắng, mắt to mới là đẹp. Tất cả những điều đó trở thành mặc nhiên đến mức người ta thậm chí còn không đặt câu hỏi tại sao cứ phải như thế mới là đẹp, tại sao lại không tôn trọng vẻ đẹp tự nhiên đa dạng của phụ nữ.    Đáng lẽ báo chí truyền thông phải tỉnh táo không nên đưa tin quá đà thì ngược lại quá tập trung vào đưa tin về vẻ đẹp của từng bộ phận trên thân thể của các người đẹp dự thi, đưa tin chi tiết về tiền kỳ, hậu kỳ của các cuộc thi, trên khắp các đài truyền hình quốc gia, khắp các mặt báo. Sau đó là seri các tin tức về cuộc sống giàu sang, nhung lụa của các cô gái sau đăng quang. Ở phương Tây, cái nôi sinh ra các cuộc thi hoa hậu, truyền thông cho các cuộc thi hoa hậu cũng không rầm rộ như vậy. Thông điệp từ các kênh truyền thông của chúng ta là gì nếu không phải là niềm tin rằng có sắc đẹp là có cuộc sống xa hoa sung sướng.    Thông điệp từ các kênh truyền thông của chúng ta mang lại niềm tin rằng có sắc đẹp là có cuộc sống xa hoa sung sướng. Những thông điệp đó rất nguy hại vì nó gây nên ảo giác rằng chỉ cần có sắc đẹp là sẽ thành công trong cuộc đời.    Những thông điệp đó rất nguy hại vì nó đánh đồng cuộc sống vật chất xa hoa với sự thành công của người phụ nữ và gây nên ảo giác rằng chỉ cần có sắc đẹp là sẽ thành công trong cuộc đời. Những giá trị mà người Việt thường đề cao như lao động chuyên cần, siêng năng học hỏi, sáng tạo, năng động… để đi đến thành công trở nên lỗi thời. Hình ảnh những ngôi nhà dát vàng, những chiếc túi hàng hiệu giá hàng chục nghìn đô la, câu chuyện về những chuyến du lịch sang chảnh … của các hoa hậu, người đẹp được đông đảo các kênh truyền thông đại chúng đưa lên có thể khiến cho  giới trẻ nghĩ đấy mới chính là tiêu chí của sự thành đạt, là những giá trị mà họ phải hướng tới, là hình mẫu về một cuộc sống hạnh phúc mà phải họ phấn đấu đạt được.    Điều đó đi ngược lại những gì mà phụ nữ phải phấn đấu suốt bao nhiêu năm qua để khẳng định những giá trị quan trọng khác ngoài hình thể của mình như trí tuệ, bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, sự bền bỉ, óc sáng tạo, sự năng động … Các cuộc thi sắc đẹp tràn lan với sự tiếp tay của truyền thông đang có nguy cơ che mờ những giá trị đó. Đáng lo ngại là truyền thông ngày nay đã trở nên một thứ quyền lực cực kỳ mạnh mẽ  nên các tiêu chuẩn về hình thể mà nó tạo ra có nguy cơ khiến hàng triệu người tự nguyện hành xác bằng các chế độ dinh dưỡng khắc nghiệt, hủy hoại sức khoẻ hoặc các cuộc đại phẫu sắc đẹp không hồi kết, bất chấp hậu quả, kể cả tính mạng. Ước mơ về vẻ đẹp hoàn hảo đang không ngừng ám ảnh họ.    Liệu có cách nào khiến cho các cuộc thi này biến thành một không gian để truyền bá những giá trị phù hợp với phụ nữ, giải phóng phụ nữ không?    Tôi không tin những cuộc thi này có thể trở thành nơi truyền bá những thông tin đó vì tiêu chí quan trọng nhất mà họ cần là đẹp hình thể. Thế làm sao để các nhà tổ chức nói ngược lại rằng vẻ đẹp hình thể không quan trọng và thúc đẩy những giá trị khác của phụ nữ? Còn truyền thông ư? Viết về vẻ đẹp của tài năng, của sự sáng tạo, lòng hảo tâm hay sự năng động của những tấm gương phụ nữ cần đầu tư nhiều thời gian và tâm trí hơn là chụp những bức hình người đẹp kiêu sa trên sân khấu lộng lẫy. Tạo nên và nuôi dưỡng thói quen tiêu dùng thông tin theo kiểu hời hợt như vậy dễ dãi hơn là kể những câu chuyện về những vẻ đẹp tinh thần đa dạng và giáo dục sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị đời thường. Muốn viết về những vẻ đẹp đó để công chúng nhận ra và tôn vinh chúng cần phải có tâm và sự khổ luyện!    Người bình thường bị lãng quên?    Vậy truyền thông, và chính đại chúng lại có xu hướng bỏ qua những người phụ nữ bình thường?    Vâng, quá chú ý đến người đẹp sẽ dẫn đến việc bỏ qua những người phụ nữ quanh ta – những người chiếm đại đa số trong phụ nữ. Các chương trình quảng cáo trên truyền hình cũng có xu hướng tương tự như các tạp chí thời trang. Phụ nữ có tuổi, phụ nữ béo, phụ nữ gầy không bao giờ có mặt trong các quảng cáo thời trang. Điều đó phải chăng nên được hiểu là những người này không cần thời trang, họ không cần phải mặc đẹp? Thương hiệu thời trang Lane Bryant của Mỹ đã khuấy động cuộc tranh cãi xung quanh một quảng cáo trên tivi giới thiệu môt người mẫu ngoại cỡ trong các mẫu đồ lót mới. Tuy nhiên kênh truyền hình ABC và FOX thoạt đầu đã từ chối phát quảng cáo này trên chương trình Khiêu vũ cùng các ngôi sao và Thần tượng âm nhạc Hoa Kỳ, nói rằng nó “quá đặc biệt”. Sau đó thì hai kênh này cũng đồng ý cho quảng cáo nhưng lại đưa vào cuối chương trình. Lane Bryant đã nhận xét rằng trong khi rất miễn cưỡng để đưa quảng cáo này vào chương trình thì cả hai kênh đều rất sẵn lòng quảng cáo đồ lót của Victoria’Secret song song với chương trình đó. Sau rất nhiều tranh cãi qua lại, một câu hỏi vẫn chưa có lời giải đáp: Tại sao những người phụ nữ bình thường – với cân nặng là 75kg và mặc quần áo cỡ 14 lại bị truyền thông bỏ qua?      Cuộc thi “Hoa hậu Thiếu niên Việt Nam” đã không được các cơ quan chức năng cấp phép tổ chức. Một số thí sinh đã ghi danh từ khi cuộc thi Hoa hậu Thiếu niên Việt Nam khởi động. Ảnh: vnexpress    Câu chuyện tương tự cũng xảy ra ở Việt Nam. Khó mà có thể tìm thấy các quảng cáo với hình ảnh phụ nữ mập mạp hoặc gầy ốm với làn da vàng phổ biến với người Việt. Mọi quảng cáo trên truyền hình, phim ảnh hay các sản phẩm truyền thông khác, từ quảng cáo bột giặt, nước rửa bát, cây lau nhà hay mì gói cho đến phân bón, nhà đất, ô tô hay các dịch vụ ngân hàng, nếu có hình ảnh phụ nữ thì đó luôn luôn là những cô gái trẻ đẹp, mảnh mai, với làn da trắng không tì vết.    Và những cô gái trẻ chịu ảnh hưởng rất lớn. Một tổng quan từ 21 nghiên cứu về tác động của truyền thông đối với hơn 6.000 thiếu nữ từ 10 tuổi trở lên phát hiện ra rằng những người thường xuyên xem các trang tạp chí thời trang thường không hài lòng với cơ thể của mình. Nhưng điều đó không chỉ dừng lại ở tạp chí thời trang. Các tạp chí phổ thông dành cho thanh thiếu niên như Disney Girl, Barbie, Total Girl cũng thường dạy cho các cô gái trẻ rằng cơ thể của họ cần phải được cải thiện.    Đối với các cô gái trẻ, họ quan niệm thế nào mới là phụ nữ? Hình ảnh nào được cho là lý tưởng để họ phải noi theo? Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chiến lược tiếp thị của Công ty Walt Disney, một trong những nhà kinh doanh lớn nhất về lĩnh vực giải trí cho thanh thiếu niên, đã bị một số các nhà nghiên cứu chỉ trích là đưa ra những hình ảnh và thông điệp nhấn mạnh vẻ đẹp hình thức và những điều kiện vật chất để đạt được mục đích trở thành xinh đẹp.    Làm cách nào để phụ nữ bước ra khỏi những ma trận thông tin khiến cho chính phụ nữ trở nên căng thẳng hơn, tự ti hơn như vậy?    Trên thế giới thì người ta không còn hâm mộ các cuộc thi sắc đẹp nữa, thậm chí có nhiều cuộc biểu tình phản đối trước các cuộc thi sắc đẹp. Không có những cách truyền thông rầm rộ cho các cuộc thi sắc đẹp hay các truyền thông nhấn mạnh vào vẻ đẹp của các cô gái một cách rộng rãi như ở Việt Nam hiện nay, để tránh tạo ra văn hóa ám ảnh về cơ thể.    Vấn đề là ở Việt Nam còn ít người ý thức được về điều này. Cần có các nghiên cứu, các sáng kiến truyền thông nhằm thúc đẩy và tài trợ các phân tích về vai trò và tác động của việc đưa hình ảnh các cô gái và phụ nữ lên truyền thông, không đánh đồng giữa vẻ đẹp cơ thể như một tiêu chí để tiến thân, thành công, giàu có và hạnh phúc.    Tầm quan trọng của vẻ đẹp bị thổi phồng tới mức mà những người không đẹp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong công việc và cuộc sống. Một nghiên cứu gần đây ở Mỹ cho thấy những phụ nữ gầy có thu nhập trung bình cao hơn khoảng 16,000USD mỗi năm so với những phụ nữ có cân nặng vừa phải. Một nghiên cứu khác phát hiện rằng 57 phần trăm nhà tuyển dụng cho biết là những ứng viên đạt yêu cầu chuyên môn nhưng không hấp dẫn thường gặp nhiều khó khăn hơn khi mới vào làm, và 61% các nhà quản lý (thường là nam) nói những phụ nữ mặc trang phục bó sát cơ thể tại nơi làm việc thường gặp nhiều thuận lợi hơn.    Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi! □    Thu Quỳnh thực hiện  —–  Chú thích  1) S. Marikar, “Lizzie Miller Fuels Debate About Plus-Size Acceptance,” ABC News, September 2, 2009, abc news.go.com/Entertainment/BeautySecrets/story?id =8463526.  2) N. Hellmich, “Do Thin Models Warp Girls’ Body Im- ages?” USA Today, September 26, 2006, usatoday.com/ news/health/2006-09-25-thin-models_x.htm.  3) C. Stewart, “Disney Provokes Girls’ Body Image- Image Anxiety?” Orange County Register, June 16, 2010, ocregister.com/articles/provokes-253659-anxiety -women.html.  4) Timothy A. Judge and Daniel M. Cable, “When It Comes to Pay, Do the Thin Win? The Effect of Weight on Pay for Men and Women,” Journal of Applied Psy- chology 96, no. 1 (2010): 95–112, timothy-judge.com/ Judge%20and%20Cable%20%28JAP%202010%29.pdf.  5) R. Gonzalez Rey and M. Parra, “The Beauty Advan- tage,” Newsweek, July 19, 2010, newsweek.com/feature/ 2010/the-beauty-advantage.html. https://www.newsweek.com/beauty-advantage-how-looks-affect-your-work-your-career-your-life-74313    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Ảo tưởng về sức mạnh Trung Quốc      Những nhà tiên tri về sự nổi lên của Trung  Quốc (TQ) đã xuất hiện từ nhiều thập kỷ vừa qua. Họ đều tô vẽ hình ảnh  của thế giới vào thế kỷ thứ 21 với TQ là một tác nhân thống soái. Sự tin  tưởng này là một điều có thể hiểu được, và rất phổ biến; nhưng thực ra,  đó là một sai lầm.    Chúng ta hãy nhớ lại cách đây không lâu, vào những năm 1980, người ta cũng tiên đoán là Nhật Bản sẽ là “số một” và tham gia vào Câu lạc bộ các đại cường, trước khi Nhật Bản chìm vào ba thập kỷ suy thoái, và cho thấy rằng họ chỉ là cường quốc có một chiều không gian (kinh tế), và không có một nền tảng rộng lớn mang đặc tính quốc gia để dựa vào. Trước đó, Liên Xô cũng được gọi là siêu cường thế giới (một giả định đã gây ra cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài nửa thế kỷ). Để rồi siêu cường này sụp đổ nhanh chóng vào năm 1991. Nghiên cứu sau này cũng cho thấy Liên Xô chỉ là cường quốc có một chiều không gian (quân sự), đã bị ngạt thở từ nhiều thập kỷ. Sau Chiến tranh Lạnh, một số học giả cho rằng Liên minh châu Âu, sau khi được mở rộng và củng cố, sẽ nổi lên như một đại cường mới, và là một cực của hệ thống quốc tế. Nhưng châu Âu cũng tự phơi mình như cường quốc một chiều không gian (kinh tế) và không có khả năng trước nhiều thách thức toàn cầu. Do đó khi bàn tới TQ hiện nay, chúng ta nên điềm tĩnh hơn một chút.  Chắc chắn TQ là cường quốc đang nổi lên quan trọng nhất của thế giới, vượt xa các quốc gia khác như Ấn Độ, Brazil hay Nam Phi. Và trên một số phương diện, TQ đã vượt qua một số cường quốc hạng trung như Nga, Nhật, Anh, Pháp, Đức; và theo nhiều thước đo, TQ đã trở thành cường quốc lớn thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ, và về một số phương diện, họ đã vượt qua người Mỹ. TQ có nhiều nhân tố để trở thành cường quốc thế giới: Dân số đông nhất thế giới, diện tích lục địa lớn, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, quĩ dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, ngân sách quốc phòng lớn thứ hai trên thế giới, chương trình không gian, mẫu hạm, viện bảo tàng lớn nhất thế giới, đập thủy điện lớn nhất thế giới, hệ thống xa lộ lớn nhất thế giới, và hệ thống đường xe lửa cao tốc tốt nhất thế giới. TQ là quốc gia dẫn đầu về mậu dịch quốc tế, là người tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới, là người phát sinh ra nhiều nhất các loại khí thải gây ảnh hưởng nhà kính, là quốc gia đứng hàng thứ hai về nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) và là quốc gia đứng hàng thứ ba về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI – Oversea Direct Investment). Và sản xuất nhiều nhất thế giới về nhiều loại hàng hóa.  Tuy thế, khả năng sản xuất chỉ là một chỉ số về sức mạnh của quốc gia, và trên trường quốc tế, đó không phải là chỉ số quan trọng nhất. Nhiều thế hệ các học giả xã hội học đã xác định chỉ số quan trọng nhất của sức mạnh quốc gia là ảnh hưởng đối với nước khác. Đó là khả năng định hình các sự kiện và hành động của các quốc gia khác. Như học giả nổi tiếng Robert Dahl đã nhận xét: “A có quyền lực trên B khi có khả năng xui khiến B làm chuyện gì đó mà B không thể làm khác được”. Dĩ nhiên có nhiều cách thức mà các quốc gia có thể sử dụng để tác động tới hành động của nước khác, hay tới diễn biến của một sự kiện: lôi kéo, chinh phục bằng ngôn từ, hợp tác, ép buộc, chi tiền, lôi cuốn hay đe dọa dùng vũ lực. Sức mạnh và sự thực hiện nó có quan hệ nội tại tự có.  Có rất ít lĩnh vực mà người ta có thể nói TQ thực sự có ảnh hưởng lên các quốc gia khác, tạo ra tiêu chuẩn toàn cầu hay định hình khuynh hướng toàn cầu. Họ cũng không cố gắng giải quyết các vấn đề quốc tế. TQ là một cường quốc thụ động, phản ứng của họ là né tránh những thách thức, và lẩn trốn khi có khủng hoảng quốc tế xảy ra. Các cuộc khủng hoảng hiện nay ở Syria và Ukraina là những ví dụ điển hình về tính thụ động của Bắc Kinh.  Hơn thế nữa, nếu lục lọi các con số thống kê đầy ấn tượng về TQ, bạn sẽ thấy những yếu kém tràn lan, những khó khăn quan trọng, khiến TQ có thể là con hổ giấy của thế kỷ 21.  Điều này có thể được cảm nhận trong năm lĩnh vực: Chính sách ngoại giao quốc tế của TQ, khả năng quân sự, hiện diện văn hóa, sức mạnh kinh tế và các yếu tố nội địa làm giảm vị trí của TQ trên trường thế giới.     1- CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO  Trong 40 năm qua, TQ đã đi từ tình trạng bị cô lập đối với cộng đồng quốc tế trở thành một thành viên của cộng đồng quốc tế. Ngày nay, Bắc Kinh có quan hệ ngoại giao với 175 nước; TQ trở thành thành viên của hơn 150 tổ chức quốc tế, và tham gia hơn 300 hiệp ước đa phương. Mỗi năm, Bắc Kinh tiếp đón nhiều chính khách nước ngoài hơn hẳn các quốc gia khác, và các nhà lãnh đạo TQ đi ra nước ngoài đều đặn. Nhưng đến nay trong lĩnh vực ngoại giao Bắc Kinh vẫn chỉ giữ vai trò cường quốc bán phần một cách rõ nhất. Một mặt, TQ được coi là biểu hiện của một đại cường thế giới; họ là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, thành viên của nhóm G-20, và là người tham gia vào các hội nghị quốc tế thượng đỉnh quan trọng. Mặt khác, các viên chức TQ vẫn còn rụt rè và thụ động trong các hoạt động này, và trước những thách thức mang tính toàn cầu. TQ không lãnh đạo, họ cũng không định hình nền ngoại giao quốc tế, không hướng dẫn chính sách ngoại giao của nước khác, không thành lập được những đồng thuận toàn cầu, không thành lập được liên minh để giải quyết vấn đề. Bắc Kinh không chủ động tham gia giải quyết những vấn đề lớn của thế giới, mà ngược lại, họ tỏ ra thụ động và hay phân vân khi tham gia vào những nỗ lực đa phương do nước khác tổ chức (thường là do Hoa Kỳ tổ chức). Bắc Kinh thích ngồi bên lề và chỉ giản dị kêu gọi các nước khác giải quyết tranh chấp bằng các “biện pháp hòa bình”, và tìm ra giải pháp “cùng thắng”. Những ngôn từ trống rỗng đó không giúp giải quyết được gì cả. Bắc Kinh cũng dị ứng với những biện pháp áp đặt, và chỉ đi theo những biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, khi tình hình cho thấy rõ rệt là nếu không làm như vậy, Bắc Kinh sẽ bị cô lập, và hình ảnh quốc tế của Bắc Kinh sẽ bị hoen ố. Đó không phải là cách hành xử của một quốc gia lãnh đạo thế giới.          Ngoại  giao của Bắc Kinh giữ nguyên tính chất ích kỷ, thiển cận, và sự tham  gia của họ vào chính sách quản trị toàn cầu là tối thiểu và mang tính  chất chiến thuật, chứ không phải mang tính cách tiêu chuẩn và chiến  lược.        Chính sách ngoại giao của Bắc Kinh thực sự là màn tuồng trình diễn, chỉ mang tính tượng trưng hơn là có nội dung. Chúng có mục đích hàng đầu là củng cố tính hợp pháp của Đảng Cộng sản TQ đối với quần chúng trong nước; bằng cách cho thấy các nhà lãnh đạo TQ vai kề vai với các nhà lãnh đạo thế giới. Cùng lúc báo hiệu cho cộng đồng thế giới là đất nước đã trở lại vị trí đại cường sau nhiều thế kỷ bất lực.  Tính chất thụ động này có những ngoại lệ, nằm trong các vấn đề được coi là quyền lợi cốt lõi và hạn hẹp của họ: Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, nhân quyền và tranh chấp lãnh thổ. Trong những vấn đề này, Bắc Kinh tỏ ra siêu cứng rắn, với những chính sách ngoại giao áp chế để bảo vệ quyền lợi của họ và thường tỏ ra vụng về phản tác dụng cho hình ảnh và mục đích của họ. TQ có đóng góp trên nhiều vấn đề quản trị thế giới: Các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc, hoạt động chống cướp biển vùng vịnh Eden, các biện pháp chống khủng bố ở Trung Á, viện trợ phát triển cho nước ngoài, chống phổ biến vũ khí hạt nhân, y tế công, cứu trợ thiên tai, và chống tội phạm quốc tế – trong những lĩnh vực này, TQ có đóng góp không đáng kể so với tầm vóc của sự giàu có, hay ảnh hưởng tiềm ẩn của họ.  Tại sao chính sách ngoại giao quản trị thế giới của TQ lại bị gò bó như vậy? Có ba lý do chính:  Thứ nhất, có sự bi quan sâu sa ở trong nội bộ TQ về những ý tưởng tự do và về quan điểm cơ bản trong quản trị thế giới. Họ nghĩ đó là những cái “bẫy” cuối cùng do phương Tây lập ra (nhất là Hoa Kỳ) để làm chảy máu TQ khi đề nghị TQ can thiệp vào những cuộc khủng hoảng và những nơi mà TQ không có quyền lợi trực tiếp. Như thế sẽ làm phân tán nguồn lực, và ngăn cản “sự nổi lên” của TQ.  Thứ hai, người dân TQ sẽ phê phán chính phủ TQ phân tán của cải ra nước ngoài, trong khi ở trong nước vẫn còn nhiều nhu cầu khẩn cấp.  Thứ ba, TQ có một phương án tiếp cận mang tính “đổi chác”, để mở rộng nỗ lực, nhất là khi liên quan tới tiền bạc. Điều này bắt nguồn từ văn hóa thương mại, nhưng được nới rộng ra cho nhiều lĩnh vực trong cách hành xử của TQ. Người TQ muốn biết chính xác họ sẽ được lợi gì, và khi nào, từ những dịch vụ đầu tư nào đó. Như thế, quan niệm toàn bộ về hoạt động từ thiện, và đóng góp bất vụ lợi cho phúc lợi quần chúng rất xa lạ đối với lối suy nghĩ của TQ.  Kết quả là trong lĩnh vực ngoại giao – quản trị song phương, đa phương và toàn cầu – Bắc Kinh đã cho thây sự thụ động rõ rệt và ngập ngừng tham gia. Họ còn lâu mới trở thành người tham gia có trách nhiệm như Robert Zoellick kêu gọi vào năm 2005. Ngoại giao của Bắc Kinh giữ nguyên tính chất ích kỷ, thiển cận, và sự tham gia của họ vào chính sách quản trị toàn cầu là tối thiểu và mang tính chất chiến thuật, chứ không phải mang tính cách tiêu chuẩn và chiến lược. Tính chất thực sự của ngoại giao TQ là kinh doanh. Hãy coi kỹ những phái đoàn tháp tùng Chủ tịch nước hay Thủ tướng của TQ đi ra nước ngoài, người ta thấy có rất nhiều CEO của các công ty đi tìm nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, cơ hội mậu dịch hay đầu tư. Chính sách ngoại giao trọng thương như vậy không giúp cho Bắc Kinh được sự kính nể của thế giới, và thực ra thì đã có sự phê phán và thầm thì khắp thế giới. (Nhất là ở châu Phi và châu Mỹ La-tinh).     2- SỨC MẠNH QUÂN SỰ  Khả năng quân sự của TQ là một lĩnh vực khác cho thấy tính chất đại cường bán phần của nước này. Họ ngày càng trở thành cường quốc khu vực, nhưng không bao giờ là cường quốc mang tính toàn cầu.   Chắc chắn là TQ đã hiện đại hóa quân đội từ 25 năm qua. Hiện nay ngân sách quốc phòng của họ đứng thứ hai trên thế giới (131,6 tỉ USD cho năm 2014). Họ có đạo quân thường trực lớn nhất thế giới, chế tạo nhiều vũ khí tối tân, hải quân ngày càng du hành xa bờ hơn nữa ở miền Tây Thái Bình Dương, đôi khi qua tới Ấn Độ Dương, và tàu sân bay hiện đại. Do đó, quân đội TQ không dễ bị đánh bại. Chắc chắn nó có đủ sức để bảo vệ Tổ quốc, và có thể gây chiến thành công với Đài Loan (nếu không có sự can thiệp nhanh chóng của Hoa Kỳ). TQ được nhìn nhận như một đại cường quân sự khu vực ở châu Á, và như vậy, làm thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực. Nhưng lực lượng quân sự TQ vẫn còn chưa có sức mạnh viễn phóng ra toàn thế giới: TQ không có căn cứ quân sự ở nước ngoài, không có mạng lưới viễn thông và hậu cần dài tay, hệ thống vệ tinh bao phủ thế giới còn thô sơ; hải quân chủ yếu vẫn là lực lượng ven bờ; không quân không có khả năng tấn công tầm xa, hay khả năng tàng hình được chứng thực; và bộ binh không có khả năng triển khai nhanh chóng.  Hơn thế, về chiến lược mà nói, TQ là một “đại cường cô đơn”, thiếu bạn bè thân thiết và không có đồng minh. Ngay cả đối với người bạn thân cận nhất (Nga), có nhiều yếu tố bất tín nhiệm, và nghi ngờ mang tính lịch sử, nằm sâu dưới cái vỏ quan hệ hài hòa giữa hai nhà nước. Không một quốc gia nào trông vào Bắc Kinh để tìm kiếm an ninh và bảo vệ (có lẽ ngoại trừ Pakistan). Điều này chứng tỏ TQ thiếu một ảnh hưởng chiến lược, với tư cách là một đại cường. Ngược lại, các quốc gia khác ở châu Á lại tìm cách tăng cường liên kết quân sự với Hoa Kỳ, và tìm cách cải thiện quan hệ giữa họ với nhau. Nguyên nhân chính vì sự bất trắc và mối đe dọa họ nhìn thấy từ TQ.     3- QUYỀN LỰC MỀM  Mặc dù chính phủ TQ đã có nhiều chi phí và nỗ lực để xây dựng quyền lực mềm, và để cải thiện hình ảnh trên khắp thế giới kể từ năm 2008 nhưng uy tín toàn cầu của TQ tiếp tục ở mức từ trung bình tới xấu.  TQ không phải là cục nam châm cuốn hút mọi người – cả về văn hóa, xã hội, kinh tế hay chính trị do cả trong bốn lĩnh vực này đều mang tính riêng biệt (sui generis), thiếu sự hấp dẫn phổ quát ngoài biên giới và ngoài các cộng đồng người Hoa.  Các sản phẩm văn hóa TQ – nghệ thật, phim ảnh, văn chương, âm nhạc, giáo dục – vẫn được ít người biết đến ở bên ngoài TQ. Và những sản phẩm này không tạo được chiều hướng văn hóa toàn cầu. Nền kinh tế phát triển đáng ngưỡng mộ của TQ chỉ là sản phẩm của một tập hợp riêng biệt các nhân tố (features) – kinh tế cạnh tranh tầm vóc lớn, kế hoạch hóa nhà nước theo kiểu Liên Xô, kinh doanh cá thể, lực lượng lao động lớn có kỷ luật, định chế lớn cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D), và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài khổng lồ không thể đem áp dụng cho các quốc gia khác. Hệ thống chính trị TQ giống như một hỗn hợp điện tử, gồm có Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa chuyên chế châu Á, chủ nghĩa Khổng giáo truyền thống, và một nhà nước có guồng máy an ninh nội bộ mạnh mẽ. Sự đặc thù của TQ không thể nhân rộng ra – không có quốc gia nào muốn thử nghiệm làm như vậy; và người ta cũng không thấy người nước ngoài nào muốn xin tị nạn chính trị hay xin mang quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.     4- SỨC MẠNH KINH TẾ  Sức mạnh kinh tế TQ có gì lạ? Đây là lĩnh vực mà người ta hy vọng TQ sẽ là một đại cường mang tính toàn cầu, và là người định hướng cho thế giới. Tuy nhiên, ảnh hưởng của TQ lên thế giới quá nông cạn so với kỳ vọng.   TQ là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng hàng hóa xuất khẩu thường là hàng tiêu dùng cấp hạng thấp; hàng của họ cũng có ít thương hiệu nổi tiếng quốc tế. Chỉ có một số nhỏ công ty đa quốc gia của họ thành công ở nước ngoài. Toàn bộ số vốn TQ mang đầu tư ra nước ngoài chỉ chỉ đứng hàng thứ 17 trên thế giới; và các chương trình viện trợ nước ngoài chỉ là một phần nhỏ của quĩ viện trợ của Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hay Ngân hàng Thế giới.  TQ vẫn là một nền kinh tế chế biến và lắp ráp, chứ chưa phải là nền kinh tế sáng tạo và sáng chế. Hầu hết hàng hóa sản xuất ở TQ để xuất khẩu ra nước ngoài đã được sáng tạo ra ở nước khác. Tình trạng ăn cắp phổ biến quyền sở hữu trí tuệ, và chính sách nhà nước “sáng tạo bản địa” (đã đổ hàng tỷ USD cho R&D mỗi năm), là chỉ dấu cho thấy rõ rệt họ đã thất bại trong việc sáng tạo ra các mặt hàng. Điều này có lẽ sẽ thay đổi với thời gian, nhưng cho tới nay, TQ đã không tạo được tiêu chuẩn quốc tế trong công nghệ hay dây chuyền sản xuất. (Cũng giống như trong khoa học tự nhiên, khoa học y tế, xã hội và nhân văn). Tương tự, TQ chỉ có hai trường đại học nằm trong danh sách 100 đại học tốt nhất thế giới (theo báo cáo của Times Higher Ranking- World University Ranking for 2013-2014).          Khi  chúng ta khảo sát sự hiện diện của TQ và cách hành xử của họ trên thế  giới ngày nay, chúng ta cần bỏ qua những nét gây ấn tượng bề ngoài và tự  hỏi: “Liệu ngày nay TQ có được ảnh hưởng lên các quốc gia và lên quĩ  đạo các sự kiện quốc tế trong các lĩnh vực khác nhau? Câu trả lời ngắn  gọn là: “Không nhiều lắm, nếu không nói là chẳng có gì cả”.        Nếu TQ muốn đẩy mạnh sáng tạo, dĩ nhiên họ phải đầu tư thêm cho R&D. Theo National Science Foundation (Quĩ Khoa học Quốc gia), năm 2009, TQ chỉ dành có 1,7% GDP cho R&D; so với Mỹ 2,9%, Đức 2,8%, và Nhật Bản 3,3%. Chi phí cho R&D của TQ cũng không nằm trong danh sách 20 quốc gia chi phí nhiều nhất cho R&D của thế giới. 80% quĩ này ở TQ được dùng cho phát triển hàng hóa, và chỉ có 5% dùng cho nghiên cứu cơ bản. Một chỉ dấu cho hiện tượng này là TQ không có nhiều giải Nobel. Từ 1949-2010, có 584 giải Nobel được phát ra, người gốc Hoa chỉ được có 10 giải. Nhưng tám trong số 10 người này lại sống ở nước ngoài. Chỉ có hai ngoại lệ là Lưu Hiểu Ba được Giải Hòa bình năm 2010, và Mạc Ngôn được giải Văn chương 2011. Một chỉ dấu khác là những bài viết có trích dẫn sách TQ. Số bài viết (trong mọi ngành khoa học) của TQ được trích dẫn là 4%, so với Mỹ 49%.  Kết quả là quốc gia này đang tiến tới “cái bẫy thu nhập trung bình”. Con đường duy nhất để tránh cái bẫy này là sáng chế, giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore đã làm trước đây. Và điều này đòi hỏi nhiều thứ hơn là quĩ đầu tư cho R&D của chính phủ. Nó đòi hỏi hệ thống giáo dục dựa trên tư duy phê phán, và tự do khám phá. Điều này lại đòi hỏi một hệ thống chính trị tương đối cởi mở và dân chủ, và không cho phép chính sách kiểm duyệt hay “vùng cấm” trong nghiên cứu. Các điểm yếu của TQ cũng nằm trong ODI. Mặc dù chính phủ dành đặc quyền cho các công ty đi ra ngoài, nhưng tới giờ vốn đầu tư ra nước ngoài của TQ còn quá nhỏ, chỉ nằm trong danh sách 20 quốc gia hàng đầu thế giới, mặc dù tiền vốn chảy ra ngoài tăng rất nhanh, và đứng hàng thứ ba trên thế giới. (88.2 tỷ USD vào năm 2012). Điểm đến và cơ cấu của ODI TQ thay đổi nhanh chóng từ năm 2011, nhưng một số lớn là quĩ porfolio (đầu tư vào chứng khoán hay gửi ngân hàng) chảy qua các vùng như Virgin Islands thuộc Anh, hay đảo Grand Cayman. Như thế, một số lớn ODI của TQ không phải là đầu tư hải ngoại. Chúng là những số tiền mang ra nước ngoài để trốn thuế. Điều này không chỉ đúng với chính phủ TQ, mà còn đúng cho vốn của các cá nhân nữa. Trong Sách Xanh về Di dân TQ trên thế giới do Center for Chinese Globalization ấn hành, người ta báo cáo là từ năm 1990, đã có 9.3 triệu người TQ di cư ra nước ngoài, mang theo 2.800 tỷ Nhân dân tệ (46 tỷ USD). Đây không phải là điều mới mẻ, nhưng khuynh hướng này ngày càng tăng trong thập kỷ vừa qua. Khi giới tinh hoa kinh tế rời bỏ đất nước với số lượng lớn như vậy, và quá lo lắng bảo đảm an toàn cho số tiết kiệm cá nhân của họ, điều đó nói lên sự thiếu tin tưởng vào hệ thống chinh trị, kinh tế của chính phủ.  Tuy nhiên, gần đây, cách thức đầu tư hải ngoại của TQ có thay đổi: TQ tăng cường đầu tư và mua sắm khắp châu Á, Mỹ La-tinh, châu Âu và Hoa Kỳ. Người mua TQ mua hết các loại tài sản – bất động sản thương mại hay gia cư, xí nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở nghiên cứu, nông trại, rừng, mỏ, mỏ dầu khí, và các tài nguyên khác. Các công ty TQ tích cực mua hoặc hòa nhập với công ty nước ngoài. Các tư nhân TQ cũng mua nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị trên thị trường đấu giá. Như thế, cách thức đầu tư hải ngoại của TQ đã thay đổi, nhưng kết quả thế nào chưa ai biết rõ.  Còn các công ty đa quốc gia TQ đang làm gì? Ở nước ngoài, họ có sức cạnh tranh không? Cũng như các loại hình hoạt động khác, họ có nhiều yếu kém hơn là sức mạnh. Về mặt bề ngoài, theo số liệu của Fortune Global 500, các công ty TQ xếp hàng thứ hai, chỉ thua các công ty đa quốc gia của Mỹ. Nhưng việc xếp loại này chỉ dựa trên tổng thu nhập và lợi nhuận, chứ không dựa vào nơi chốn công ty làm ra tiền. Khi quan sát danh sách công ty TQ trong năm 2013, người ta thấy ngay rất ít công ty hoạt động ở nước ngoài, và chỉ có một số nhỏ kiếm được hơn nửa số thu nhập ở hải ngoại. Như thế, chúng không phải là những công ty đa quốc gia thực thụ, mà đúng hơn, chỉ là những công ty hoạt động nội địa.  Nhiều công ty kỳ vọng vươn ra thế giới và đã thử sức nhưng không thành công. Có nhiều câu chuyện thất bại hơn là thành công cho những công ty đa quốc gia TQ. Những vụ mua bán, sáp nhập công ty thường đổ vỡ, bởi vì lãnh đạo công ty TQ không hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ, hoặc vì va chạm văn hóa.  Về nhiều mặt, điểm yếu kém của các công ty đa quốc gia TQ là nguồn nhân lực, nhất là trong quản lý. Các công ty TQ thường không thuê người nước ngoài có chuyên môn làm quản trị cao cấp (hai trường hợp ngoại lệ là Huawei và Haier) vì họ chú trọng tới thứ bậc, và vị trí nhân viên rõ ràng, người TQ không thích hợp với cách quản trị ngang hàng – nguồn gốc của phân quyền và sáng kiến cá nhân. Khuynh hướng này đã mang lại hậu quả là sự va chạm văn hóa trong các vụ sáp nhập công ty TQ với công ty của phương Tây. Các công ty TQ còn cho thấy họ khó thích ứng với môi trường luật lệ, thuế má, chính trị của nước ngoài. Sự minh bạch trong quản trị công ty thường không được thực hiện. Qui trình lấy quyết định của họ bị mờ đục, cách hành xử phổ biến trong kinh doanh là đút lót/tham nhũng, qui trình kế toán bị gian dối. Người ta khám phá ra nhiều công ty TQ đã khai man với các cơ quan kiểm tra chứng khoán ở Mỹ, trước khi phát hành IPO (bán cổ phiếu lần đầu tiên cho công chúng).  Sự yếu kém của các công ty TQ trong cạnh tranh nổi rõ trong nhãn hiệu quốc tế về hàng hóa. Chỉ có một số ít công ty có khả năng hoạt động ở nước ngoài: Bia Tsingtao, smartphone màu trắng của Haier, viễn thông của Huawei, hàng không TQ, ô tô Geely, và một số ít nhãn hiệu khác.     5- MỘT SỐ THƯỚC ĐO KHÁC  Một số thước đo khác về sản xuất nội địa cũng cho thấy không có cấp hạng tốt. Năm 2014, Freedom House xếp hạng TQ thứ 183 trên tổng số 197 quốc gia về tự do báo chí. Năm 2013, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) xếp TQ hạng thứ 29 về chỉ số cạnh tranh thế giới; hạng thứ 68 về tham nhũng; và hạng thứ 54 về đạo đức làm việc.   Bản báo cáo về Phát triển Con người của Liên hiệp quốc năm 2013 cho thấy rõ: mặc dù TQ có những tiến bộ kinh tế, xã hội, đáng khâm phục của từ thập kỷ 1980, quốc gia này vẫn mang tính chất của một nước đang phát triển. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng hàng thứ 101 trên tổng số 187 quốc gia về chỉ số tổng hợp. Thu nhập bình quân đầu người (tính theo sức mua tương đương – ppp) khoảng 8.000USD/năm, tuy thế 13,1% dân số vẫn sống dưới mức 1,25USD/ngày. Về tuổi thọ, tử vong trẻ sơ sinh, bảo hiểm y tế, chất lượng giáo dục, và bất bình đẳng xã hội… TQ còn thua xa các quốc gia công nghiệp. Trong khi sự hủy hoại môi trường và ô nhiễm của nước này đứng vào hạng xấu nhất trên thế giới, và là nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ của bệnh ung thư. Mặc dù những nỗ lực gần đây của chính phủ – mở rộng hoạt động y tế, bảo hiểm sức khỏe – hầu hết người dân TQ vẫn phải đối mặt với những bất trắc lớn khi bị bệnh tật. Chỉ số Gini (để đo độ bất bình đẳng xã hội, với 0 là bình đẳng hoàn toàn, 1 là bất bình đẳng hoàn toàn) nằm gần mức 0.5 là mức cao nhất thế giới. Các trường học sơ cấp và trung cấp đã có thành tựu ngang tầm quốc tế, nhưng hệ thống đại học còn chậm lụi rất nhiều so với các trường tốt trên thế giới.  Qua những thước đo như vậy, rõ rệt là uy tín trên trường quốc tế chỉ ở mức trung bình là cao nhất. Trong nhiều khía cạnh, TQ đứng ngang hàng với các quốc gia có thành tựu thấp, và ít được kính trọng trên thế giới.     KẾT LUẬN  Những nhận xét này không phải để làm giảm bớt những thành tựu phát triển thần kỳ của TQ trong ba thập kỷ vừa qua, nhưng chúng chỉ giúp ta nhận thức rõ là TQ không đứng đầu thế giới trong các lĩnh vực phát triển và TQ chỉ là một đại cường thế giới bán phần. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quốc gia này đã đi tới điểm ngoặt về nhiều phương diện: Tăng trưởng tổng thể đang nằm ngang (lý do vì chi phí sản xuất tăng cao, và lợi thế so sánh giảm), và chính phủ đang cố duy trì mức tăng trưởng 7%, rất quan trọng để tạo đủ công ăn việc làm cho người dân, thâu nhận nhân công mới vào thị trường lao động, và duy trì ổn định xã hội. Có lẽ họ đã thử làm, nhưng chính phủ không thể chuyển đổi nền kinh tế từ phụ thuộc vào xuất khẩu, đầu tư qua một nền kinh tế dựa trên tiêu thụ nội địa, và một nền kinh tế dựa trên tri thức sáng tạo. Nền sản xuất không leo lên được bậc thang cao hơn về giá trị và công nghệ, và “cái bẫy thu nhập trung bình” đã xuất hiện, và có thể tồn tại lâu dài. Nợ của nhiều địa phương tăng cao, và nhiều địa phương nằm bên bờ vực phá sản. Bất bình đẳng xã hội trở nên gay gắt, và tham nhũng tràn lan ở cả trong nhà nước và ngoài xã hội, mọi lĩnh vực xã hội đều bất mãn. Số người giàu có chạy trốn khỏi đất nước ngày càng tăng, giới trung lưu bị tù hãm, hệ thống chính trị bị hóa thạch và trở nên đàn áp. Cùng lúc đất nước không chấp nhận cải tổ chính trị và luật pháp. (Những cải tổ này rất cần cho giai đoạn tăng trưởng sắp tới), bởi vì chúng va chạm trực tiếp tới tính độc quyền của Đảng Cộng sản TQ.  Nhiều nhà TQ học hiện nay cho rằng chính Đảng Cộng sản TQ là chướng ngại cho sự tăng trưởng và phát triển trong tương lai của TQ. Đảng trở thành một định chế ngày càng bất an, sơ cứng, yếu ớt, đã bị tê liệt từ năm 2008. Một phần lý do của sự tê liệt này là sự chuyển đổi lãnh đạo xảy ra vào năm 2012 và cuộc đấu tranh phe phái (vụ Bạc Hi Lai là một). Họ còn phải đối phó với các cuộc nổi loạn ở khắp nước (đặc biệt là ở Tây Tạng và Tân Cương). Còn có thêm một số nhân tố khiến Đảng co cụm lại, và tăng cường đàn áp trong năm năm qua, kể cả mối lo sợ do Mùa xuân Ả Rập mang lại.  Nhưng người ta không nhận thấy tiến triển về cải tổ từ khi Tập Cận Bình được chuyển giao quyền lực. Ngược lại, đàn áp chính trị lại được tăng cao từ khi họ Tập nắm quyền. Ngay cả Hội nghị toàn thể lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII tháng 11-2013 được loan báo là sẽ có cải tổ chính trị, cuối cùng chỉ là một mơ ước chứ không phải sự thật.  Đó là những vấn đề cháy bỏng rất nguy hiểm mà các chuyên gia về TQ nghĩ rằng quốc gia này đang đối mặt. Đó là một loạt thách thức cho người dân và chính phủ TQ phải giải quyết. Như thế, người quan sát không thể mù quáng nghĩ rằng tương lai TQ sẽ có được động lực phát triển như 30 năm qua trên con đường đi tới vị thế của một đại cường thế giới.     David Sambaugh là giáo sư về chính trị và chính sách đối ngoại tại Đại học George Washington, Giám đốc Chương trình Chính sách TQ, thành viên của Viện nghiên cứu Brookings. Ông đã xuất bản cuốn “China goes global: The Partial Power”, Oxford University Press 2013.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Atatürk – Người khai sinh nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại*      Trong thế kỷ XX, trên thế giới xuất hiện  những nhân vật được xem là nhà kiến tạo quốc gia vĩ đại, những người lên  nắm quyền khi đất nước đang trong giai đoạn hỗn loạn khủng khiếp, họ đã  hiện đại hóa đất nước bằng cách xây dựng hệ thống mới và đạt được tăng  trưởng nhanh kéo dài. Ở châu Á có thể kể đến Lý Quang Diệu của  Singapore, Park Chung Hee của Hàn Quốc, Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc  đại lục; ở châu Âu có Mustafa Kemal Atatürk của Thổ Nhĩ Kỳ…    Sau Thế chiến I, Atatürk lên nắm quyền vương quốc Ottoman cổ đang tan rã, củng cố một số vùng lãnh thổ biên giới còn lại và xây nên những định chế mới nhằm biến đổi Thổ Nhĩ Kỳ thành một quốc gia hiện đại, mang phong cách phương Tây và hướng đến phương Tây. Ông thành lập quốc hội lâm thời năm 1920 khi ông 39 tuổi, tuyên bố quốc gia độc lập năm 1923 và tiếp tục cầm quyền đến khi mất năm 1938.            Dù rất ngưỡng mộ Atatürk, Andrew Mango đã  dựng nên một bức chân dung hoàn toàn chân thực về một nhà độc tài kiêu  ngạo, tàn nhẫn và độc đoán. Công trình cần mẫn suốt nhiều năm của ông đã  tái hiện lại rõ ràng cuộc đời phức tạp của con người đã tạo nên Thổ Nhĩ  Kỳ hiện đại.        Trong 18 năm cầm quyền, Atatürk đã thực hiện những cải cách triệt để theo hướng áp dụng văn hóa hiện đại hoàn toàn vô thần. Các giám mục tôn giáo bị loại bỏ, các trường tôn giáo riêng bị đóng cửa, giáo dục được thế tục hóa và tòa án tôn giáo bị xóa bỏ. Ông áp dụng hệ thống tư pháp mới, với các bộ quy định về luật thương mại, hàng hải và tội phạm dựa trên luật dân sự Thụy Sĩ và luật hình sự Ý. Năm 1928, Atatürk xóa bỏ vai trò tôn giáo chính thức của Hồi giáo khỏi Hiến pháp. Ông áp dụng Dương lịch, số đếm phương Tây, trọng lượng và các thước đo quốc tế, sử dụng họ , và đặt các ngày nghỉ hằng tuần là Chủ nhật phương Tây thay cho thứ Sáu Hồi giáo. Năm 1928, ông tiếp tục áp dụng chữ cái Latinh để thay thế chữ viết Ả Rập-Ba Tư. Từ thời ông, phụ nữ có quyền bầu cử và tham gia công quyền. Ông đã đi khắp đất nước để thuyết phục người dân thay đổi.    Trong mối quan hệ nhạy cảm và lộn xộn giữa thế giới Ả Rập và các tộc người thiểu số như Kurd với một đế chế của thế giới Hồi giáo cũ đang đứng giữa những giao tranh của phương Đông và phương Tây, Kitô giáo và Hồi giáo, Atatürk đã tạo được những thay đổi vĩ đại. Và câu chuyện cuộc đời ông thật sự là một huyền thoại về “một con người vừa được tôn sùng vừa đáng khiếp sợ”.  Nếu Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc [do Byung-Kook Kim chủ biên, NXB Đại học Harvard ấn hành tháng 4/2011, cũng trong bộ sách Các nhà kiến tạo quốc gia vĩ đại của AlphaBooks] đi sâu nghiên cứu phân tích những vấn đề về nền tảng xã hội, kinh tế vĩ mô, những chiến lược chính trị… thì Atatürk – Người khai sinh nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại lại có một cách tiếp cận khác hẳn với chân dung một vị lãnh tụ vĩ đại. Cuốn sách này là một ký sự tuyệt vời. Chưa từng có cuốn sách nào được xuất bản ở Việt Nam cho thấy một xã hội quân sự của thế giới Hồi giáo được thiết lập từ truyền thống đến hiện đại như thế nào; quá trình biến đổi từ một quốc gia mang nặng hệ tư tưởng Hồi giáo – và do đó trì hoãn sự phổ biến những kiến thức mới dựa trên nền tảng tư duy – thành một quốc gia thế tục, hiện đại theo hướng phương Tây ra sao.    Tác phẩm đồ sộ này còn cho chúng ta thấy rõ những yếu tố xung quanh quá trình sinh thành của một nhà kiến tạo quốc gia trong thời hiện đại, sự huyền thoại hóa tin đồn và những vấn đề tinh tế tản mạn trong một bộ máy chính trị khổng lồ khiến người ta không thể đọc mà không nghĩ đến Việt Nam. Bên cạnh đó, không thể hiểu Hồi giáo mà không hiểu vai trò của đế chế Ottoman, không thể hiểu Ottoman trong lịch sử nếu không hiểu hậu duệ hiện đại của nó là Thổ Nhĩ Kỳ, và không thể hiểu bất cứ gì nếu không biết vị lãnh tụ vĩ đại của nó đã được sinh thành và nuôi dưỡng, trở thành một huyền thoại như thế nào.    Lột tả được bức tranh rộng lớn đó qua cuộc đời chỉ một nhân vật, cuốn tiểu sử này thật sự mang màu sắc của một cuốn tiểu thuyết, vừa chi tiết vừa đơn giản với lối văn chương giản dị, rõ ràng. Và một điều quan trọng, dù rất ngưỡng mộ Atatürk, Andrew Mango đã dựng nên một bức chân dung hoàn toàn chân thực về một nhà độc tài kiêu ngạo, tàn nhẫn và độc đoán. Công trình cần mẫn suốt nhiều năm của ông đã tái hiện lại rõ ràng cuộc đời phức tạp của con người đã tạo nên Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại.  —  * Tác giả: Andrew Mango, NXB Thế giới và Alpha Books | 2015    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba chìa khóa phát triển      Năm 2015, Việt Nam kỉ niệm 70 năm ngày độc lập. Nếu tính cuộc đời làm việc trung bình của mỗi người là 30 năm, thì Việt Nam đang ở giữa thế hệ thứ ba sau ngày độc lập. Cha ông ta nói, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Hy vọng trong thế hệ thứ ba này, Việt Nam sẽ vươn lên chạm ngưỡng nước phát triển. Muốn vậy, những cánh cửa phát triển phải được mở ra. Vấn đề đặt ra: Đâu là chìa khóa, và ai đang nắm giữ những chìa khóa, để mở cánh cửa phát triển này?  &#160;    Năng lực lãnh đạo  Chìa khóa đầu tiên và phát huy tác dụng ngay tức thì, đó là năng lực lãnh đạo của những người cầm lái, ở bất cứ lĩnh vực và cấp độ nào. Năng lực lãnh đạo hiện đang không tương xứng với các đòi hỏi của phát triển. Các mô-típ lãnh đạo thời chiến hoặc nặng tính quan trường kiểu phong kiến đã lạc hậu, nhưng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong thời bình, mà điển hình là sự áp đặt máy móc bởi những mệnh lệnh ‘hành là chính’, hoặc các chính sách trên giời, từ trên xuống dưới…  Để giải quyết rốt ráo bài toán năng lực lãnh đạo, không có cách nào khác là cải cách cơ chế bầu cử, bổ nhiệm công chức và trọng dụng người tài.   Câu chuyện năng lực lãnh đạo và trọng dụng người tài đã được nhiều người gióng lên suốt hàng chục năm qua nhưng không có chuyển biến gì đáng kể. Vậy những người thuộc thế hệ thứ ba, tức những người vẫn được coi là trẻ, lại không ở trong hệ thống, cũng không thuộc diện được ‘cơ cấu’, sẽ làm gì trong bối cảnh này?  Rất may là năng lực lãnh đạo ngày nay không còn chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chính trị. Dù rằng, chính trị là lĩnh vực quan trọng nhất cần phải cải cách để tạo sự phát triển, nhưng các lĩnh vực khác cũng đang rất cần những tài năng lãnh đạo trẻ để thổi thêm luồng sinh khí mới và để được dẫn dắt. Đó có thể là trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, hoặc các hoạt động thuần túy dân sự v.v…  Trong sự liên thông mang tính bản chất, sự thay đổi tích cực trong đời sống dân sự sẽ có tác động trở lại với các hoạt động chính trị. Vì suy cho cùng, mục đích tối hậu của chính trị là để phục vụ người dân, giúp họ sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn. Nếu không thì chính trị không thể tồn tại lâu dài.  Vậy nên, nếu bạn là thủ khoa mà thi trượt công chức thì cũng đừng lấy đó làm buồn. Sẽ đáng buồn hơn nếu bạn tìm cách yên phận ở trong hệ thống, thay vì bước ra ngoài để trở thành một lãnh đạo trẻ, tham gia vào việc dẫn dắt đời sống phát triển. Nhìn xa hơn thì chính các bạn sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước chứ không phải những công chức “sáng cắp ô đi tối cắp về”.   Có chìa khóa trong tay, nhưng có dám dùng nó để mở cánh cửa phát triển hay không thì lại đòi hỏi lòng quả cảm để vượt qua thói quen nương tựa đã trở thành cố hữu.  Đổi mới sáng tạo  Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, một trong những nút thắt cổ chai phát triển của Việt Nam hiện thời là năng suất lao động quá thấp so với các nước phát triển. Cùng khoảng thời gian làm việc, cùng sức vóc mà một người của họ làm việc bằng hàng chục người của mình, thì làm sao ta có thể cạnh tranh với họ được? Giải pháp là đâu? Là thực sự đổi mới sáng tạo, vì đâu còn đường nào khác.  Không chỉ dừng ở sáng tạo công nghệ, lĩnh vực quản trị  kinh tế – xã hội và ngay cả trong việc quản trị đời sống cá nhân cũng đang cần những đổi mới sáng tạo rốt ráo (trong cuộc chạy đua này, ai quản trị cá nhân tốt, ai biết rõ mục tiêu, ai sử dụng được thời gian hiệu quả, người đó sẽ chiến thắng).   Đó là những việc có thể làm ngay, và quan trọng hơn, lợi thế của việc thực hành đổi mới sáng tạo thuộc về thế hệ thứ ba, những người trẻ tuổi.Khi tiến hành đổi mới sáng tạo, cái giá phải trả chỉ là sự trì trệ bế tắc, ngắc ngoải lâm sàng, nhưng cái được là cả không gian phát triển mới. Vậy thì còn chần chừ gì nữa? Sao còn ngồi đó than vãn, thay vì đứng lên, cầm chiếc chìa khóa đổi mới sáng tạo này để mở ra những chân trời mới.   Phát triển giáo dục  Chiếc chìa khóa thứ ba, được nói đến nhiều nhất và cũng có tác động lâu dài nhất, là phát triển giáo dục. Vậy những người thuộc thế hệ thứ ba này có thể làm được gì trong một môi trường giáo dục nhằm đào tạo con người công cụ nặng tính áp đặt? Câu trả lời là rất nhiều, thậm chí không giới hạn.   Sự phát triển công nghệ, đặc biệt là của giáo dục số, đã gỡ bỏ hầu hết các rào cản giáo dục mà thế hệ trước phải gánh chịu. Giờ đây, nếu muốn thì bất cứ ai cũng có thể tự bù đắp những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục hiện thời, thông qua tiếp cận các chương trình giáo dục trực tuyến toàn cầu của các đại học danh tiếng trên thế giới.  Như thế, thay vì trông chờ một sự thay đổi được ban phát không biết bao giờ mới tới, những người thuộc thế hệ thứ ba hoàn toàn có thể tự thân khai sáng, tự kiến tạo sự thay đổi theo cách của riêng mình. Đến đây, những chìa khóa phát triển đã hiện ra trước mắt. Và chính thế hệ thứ ba này, trong đó có bạn và tôi, là người đang nắm giữ những chiếc chìa khóa của phát triển.Vấn đề là có đủ muốn để đứng lên và mở những cánh cửa phát triển hay không mà thôi.            Singapore chỉ cần một thế hệ để vươn lên từ một làng chài nghèo thành quốc gia ‘hạng nhất’; Hàn Quốc cũng chỉ cần chưa đầy hai thế hệ sau cuộc chiến tàn khốc để vươn lên từ nước đói nghèo thành nước phát triển.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba điều mong ước      Trong cuộc trao đổi với Tia Sáng về những bất cập trong vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng về ngắn hạn cũng như dài hạn ở Việt Nam, TS Lê Đăng Doanh đã đưa ra 3 khuyến nghị mà ông mong ước Chính phủ sẽ sớm thực hiện.      Theo quan điểm của ông, trong thời gian qua vấn đề an ninh năng lượng đã được các nhà hoạch định chính sách chú trọng tới mức độ nào trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam?  Việt Nam cũng như toàn nhân loại đang đối mặt với khủng hoảng năng lượng: cầu tăng quá nhanh, cung không đủ đáp ứng, giá dầu thô tăng vọt, đe dọa tăng trưởng của các nước nghèo, nhập khẩu dầu lửa. Các nguồn nguyên liệu hóa thạch truyền thống như dầu lửa, than đá v.v. không bao lâu nữa sẽ cạn kiệt. Cho đến nay, Việt Nam đã rất lúng túng và đối phó kém hiệu quả trước những nguy cơ này. Mặc dầu than đá sắp cạn kiệt nhưng vì lợi ích của doanh nghiệp, Tập đoàn Than và Khoáng sản vẫn xuất khẩu hằng năm trên 40 triệu tấn than đá mà Chính phủ không có ý kiến gì.  Việc phân cấp đầu tư, về nguyên tắc, là đúng đắn và cần thiết nhưng trong thực tế đã phân cấp thiếu những quy định chặt chẽ, có tính ràng buộc đã dẫn đến cấp phép tràn lan những siêu dự án, trong đó có các dự án thép khổng lồ mà không cần cân đối với khả năng cung ứng điện. Chính việc tăng nhu cầu đột biến này đã vượt xa các dự kiến và làm cho cung-cầu trở nên mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi tuyên bố chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ thứ 21, Việt Nam lại đối mặt với tình trạng thiếu điện trầm trọng, dẫn đến cắt điện tràn lan, làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài, tăng thêm chi phí rất lớn cho doanh nghiệp và gây bức xúc đối với người dân.   Các nguồn năng lượng có thể khai thác như khí sinh học, năng lượng gió, năng lượng Mặt trời v.v. chậm được triển khai. Tiêu dùng năng lượng, tuy còn ở mức rất thấp, để sản xuất ra 1 đơn vị GDP của Việt Nam cao gấp đôi Nhật Bản vì sử dụng các công nghệ cũ, tiêu thụ quá nhiều năng lượng. Có thể nói, quy hoạch năng lượng cho đến nay chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.  Vậy để giải quyết sự mất cân đối về năng lượng cần có những giải pháp nào?    Để giải quyết mất cân đối về năng lượng cần phải xử lý cả về cung lẫn cầu, không thể chỉ giải quyết nguồn cung để đáp ứng những nhu cầu kém hiệu quả, thâm chí phi lý như các nhà máy thép công nghệ lạc hậu. Cho đến nay, nhu cầu công nghiệp tăng nhanh không kiểm soát chưa được xử lý thích đáng: cân đối năng lượng cho từng dự án chưa được thực hiện chặt chẽ, tiêu chuẩn công nghệ về hiệu quả năng lượng chưa được tôn trọng. Tiết kiệm điện chưa được coi trọng. Từ bao đời nay, cái kiềng ba chân, lãng phí đến 90% năng lượng sử dụng, vẫn chưa được thay thế bằng các loại bếp có hiệu quả hơn. Nhu cầu năng lượng cho từng vùng chưa được cân đối bằng các nguồn năng lượng thích hợp của địa phương. Việc xây dựng ào ạt thủy điện ở miền Trung nhưng không có đường điện chuyển tải đã dẫn đến lãng phí lớn.  Tình trạng giá xăng, giá điện liên tục gia tăng trong thời gian qua được giải thích là nhằm bù lỗ cho nhà nhập khẩu xăng và nhà sản xuất điện. Chính sách bù lỗ kiểu này liệu có thực sự đảm bảo ổn định kinh tế và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế?   Giá dầu thô tăng phụ thuộc vào giá dầu thế giới, nằm ngoài khả năng khống chế của Việt Nam. Điều cần làm là kiểm soát vị thế thống lĩnh thị trường (thị phần chiếm trên 60% thị trường) để hệ thống kinh doanh có hiệu quả hơn. Giá điện được tăng lên theo đòi hỏi đơn phương của Tập đoàn điện lực EVN (và những quan chức trước đây của EVN nay hoạt động trong các hiệp hội) mà không hề đòi hỏi EVN phải công khai tài chính, phải được kiểm toán độc lập, giảm tổn thất trên đường dây chuyển tải, giảm chi phí quản lý.   Việc sử dụng nhà thầu Trung Quốc tràn lan đã dẫn đến tình trạng “sống dở chết dở” với các nhà máy nhiệt điện tốn kém hàng tỷ USD nhưng chỉ hoạt động được vài tháng lại có sự cố. Trách nhiệm thuộc về ai không hề được làm rõ. Trong khi thiếu vốn đầu tư vào điện thì EVN lại đầu tư quá 30% vào những ngành nghề ngoài điện như khách sạn, bất động sản, chứng khoán.   Việc kiểm soát vị thế độc quyền của EVN cho đến nay đều không thực hiện được, ngay cả lộ trình thị trường hóa ngành điện của Bộ Công thương cũng bị EVN chặn lại. Rõ ràng là không thể tăng giá điện bất chấp thu nhập của người dân để thỏa mãn đòi hỏi đơn phương, không được kiểm soát vị thế độc quyền của EVN. Đã đến lúc phải có những bước tiến cụ thể để giám sát EVN, giúp EVN hoạt động có hiệu quả hơn, vì điều ấy có lợi cho chính bản thân EVN, giúp EVN hoạt động phù hợp với tư duy cạnh tranh.  Nếu có thể chỉ ra những việc Chính phủ cần làm ngay đối với vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam, ông sẽ cho khuyến nghị gì?  Tôi có ba khuyến nghị sau: Một là, Chính phủ thực hiện ngay Lộ trình thị trường hóa ngành điện, cắt giảm ngay những đầu tư ra ngoài chuyên ngành của EVN. Đã đến lúc phải có liều thuốc có hiệu lực, có hành động thiết thực trên lĩnh vực này. Hai là, tái lập trật tự về phân cấp đầu tư, bảo đảm các cân đối cần thiết về năng lượng đối với các dự án đầu tư tiêu thụ quá nhiều điện, năng lượng. Nếu cần, nên đình chỉ một số dự án thép đã vượt quá nhu cầu trong nước. Cần phát động một chương trình rộng lớn để thực hiện tiết kiệm điện trong toàn dân, cần chấm dứt những nghịch cảnh như trong khi nhiều gia đình bị cắt điện nhưng đèn trang trí, khẩu hiệu v.v. quá lãng phí vẫn thắp sáng suốt đêm, thậm chí còn bật sáng cả ban ngày. Ba là, phải bất đầu ngay các biện pháp quy hoạch và chuẩn bị thiết thực để bảo đảm cân bằng năng lượng cho nền kinh tế bằng phát triển các nguồn năng lượng tái sinh, kể cả năng lượng hạt nhân cho những thập kỷ tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba lời cảm ơn và vài suy ngẫm      D&#249; &#244;ng Ho&#224;ng Kiều đ&#227; ch&#237;nh thức r&#250;t lui dự &#225;n x&#226;y dựng khu du lịch Raas tại Đầm Bấy nhưng &#244;ng vẫn cam kết c&#249;ng UBND tỉnh Kh&#225;nh H&#242;a tiếp tục tổ chức cuộc thi Hoa hậu thế giới 2010 sẽ diễn ra tại Nha Trang.     Điều mà báo TN, một trong tờ báo ngày thuộc loại lớn ở VN sáng nay không nêu trong bài, là giấc mộng “ngàn sao” như tên đặt cho khu phức hợp resort trên có tới 174ha mặt nước thuộc vịnh Nha Trang, gần khu vực lõi Hòn Mun thuộc khu bảo tồn biển. Thông tin từ Hanoinet cho thấy, Khu vực Đầm Bấy có liên quan đến vị trí an ninh quốc phòng, một phần đất dự án nói trên chồng lấn lên diện tích mà trước đó UBND tỉnh Khánh Hoà đã giao cho Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, hơn nữa tại đây còn có một làng chài 36 hộ với trên 100 cư dân sinh sống đã lâu đời. Dư luận hết sức lo ngại bởi cứ mỗi lần tổ chức thi hoa hậu tại Nha Trang, dân chúng lại mất đất, làng biển lại bị giải toả, di dời…  Nhân sự kiện HHTG 2010, ông Hoàng Kiều đề nghị UBND tỉnh Khánh Hòa cấp thêm gần 100 ha đất ở Sông Lô – dọc theo 2 bên đại lộ Nguyễn Tất Thành, đoạn tiếp giáp Khu du lịch Diamond Bay để xây dựng một khu du lịch sinh thái khác với khoảng 100 phòng nghỉ dưỡng cao cấp, nhiều công trình dịch vụ vui chơi dã ngoại và bến cảng cùng với khu dịch vụ hậu cần đón khách từ đất liền ra đảo. Thông tin này được Thể thao văn hóa cho thấy, sự kiện hoa hậu thế giới tạo cơ hội cho các nhà đầu tư quyền khai thác đất và mặt nước ở Nha Trang.     Ba lời cảm ơn  Trước hết phải cảm ơn ông Hoàng Kiều. Lời cảm ơn này bắt nguồn không phải vì công mang cuộc thi người đẹp về Việt Nam mà vì ông đã từ bỏ ý định khai thác du lịch trên vịnh Nha Trang, một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Sự quan ngại từ các cơ quan nghiên cứu khoa học, bảo tồn biển và công luận đã có công hiệu. Quan trọng hơn, với một nhà sản xuất và kinh doanh công nghệ cao như ông Hoàng Kiều, tranh cãi về học thuật trên cơ sở khoa học đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỳ khu và cũng phải dựa trên chứng lý khoa học. Khi chưa thể chứng minh điều phản biện là sai, tốt nhất là chọn con đường ngưng thực hiện như một cách chấp nhận tính đúng tạm thời. Triết thuyết này do Karl Popper đưa ra và được G. Soros phát triển thành Mô thức mới cho thị trường tài chính.   Lời cảm ơn thứ hai xin dành cho các lời phản biện xuất phát từ tấm lòng với thế hệ tương lai. Khi chúng ta, lớp người hiện tại, chưa thể và chưa đủ tầm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách đúng đắn và hợp lý, cách tốt nhất là khoan vội làm gì. Nếu không thể khai thác an toàn và hiệu quả các nhà máy điện hạt nhân khi chưa chuẩn bị đầy đủ nguồn nhân lực cũng như tài lực để không bị lệ thuộc vào luận giải nào, thì động thái “từ từ hãy tính” xem ra có tính hợp lý. Khi chưa hạch toán đầy đủ giữa chi phí, lợi ích và nguy cơ trong bảng cân đối của bài toán đầu tư khai thác quặng bauxit ở Tây Nguyên, trong đó không chỉ đơn thuần là bài toán đầu tư tài chính mà chưa tính hết cả nguy cơ ảnh hưởng tới khả năng phát triển bền vững, thì khoan vội triển khai.   Lời cảm ơn thứ ba có lẽ không phải từ hiện tại, mà thế hệ mai sau sẽ gửi tới chúng ta. Khi thế hệ tương lai có đủ tri thức và các nguồn lực để khai thác hiệu quả các dự án tầm cỡ như vậy mà không phải sửa sai hay phải chấp nhận “bài học có tính lịch sử nào” thì chắc chắn, các chủ nhân ông của đất nước lúc đó, hậu duệ của chúng ta, sẽ phải cảm ơn quyết định mang tầm chiến lược của lúc này. Ở thủy điện Hòa Bình có lưu giữ bức thư gửi thế hệ mai sau. Thì quyết định chưa khai thác tài nguyên thiên nhiên hào phóng ban tặng vịnh Nha Trang cũng nên lưu thành thư trao trọng trách gánh vác sứ mệnh đó cho thế hệ sau này.      Và vài suy ngẫm  Những ai có quan tâm đến sự hình thành và phát triển về cái gọi là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chắc không thấy bị xúc phạm trước các lời phê phán, chỉ trích khi nó mang tính phản biện cần thiết. Bất kỳ dự án nào đều phải trải qua công đoạn này. Chủ doanh nghiệp hay người điều hành khi thực thi trách nhiệm xã hội đều hiểu rằng lợi ích lâu dài của doanh nghiệp khi làm các điều tốt. Trong Xây dựng để trường tồn và Từ tốt đến vĩ đại, thông điệp chủ đạo là “làm hay bằng cách làm tốt” (doing well by doing good). Đó là đường hướng quản trị kinh doanh chủ đạo hiện nay. Đồng thời với nó, theo giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, là chủ trương “tư bản biết rung cảm với nỗi đau của nhân loại” (compassionate capitalism). Điều này không phải là từ trên trời rơi xuống mà từ quá trình phát triển của doanh nghiệp tư bản và các nghiên cứu thực địa cho thấy, người tiêu dùng mong chờ doanh nghiệp như vậy. Trước sự chờ mong đó, không gì khác hơn là doanh nghiệp phải làm như vậy. Nếu không, họ đã phải trả giá khi người tiêu dùng và xã hội phê phán “những gã khổng lồ vô hồn” từ đầu thế kỷ 20. Hiểu được tiến trình này sẽ hiểu được rằng các hoạt động thiện nguyện, từ thiện, nhân đạo đáp ứng hai vấn đề của doanh nghiệp: một là chứng tỏ sự dấn thân của nó, không tách rời khỏi trào lưu chung của xã hội mà nó tồn tại, hai là lợi ích của nó. Công ty Raas đã làm nhiều chương trình từ thiện, đóng góp cho xã hội và tôi tin rằng, doanh nghiệp này sẽ tiếp tục làm nhiều hơn nữa. Nhưng giữa từ thiện và chỉ trích dự án là hai điều hoàn toàn tách bạch. Cho nên, nhận định sự xúc phạm sau khi nhận lời chỉ trích chính là sự xúc phạm tới doanh nghiệp và người điều hành nó.   Ngộ nhận không nên có về sự xúc phạm là tạo cho doanh giới một cách hiểu sai. Mệnh đề “Doanh nghiệp làm nhiều điều tốt cho xã hội” không thể dẫn tới mệnh đề “Những điều gì doanh nghiệp làm đều là tốt cho xã hội”. Đã vậy, thì “làm điều tốt” chẳng thể là “miễn tử bài” cho doanh nghiệp trong mọi trường hợp.              Con số 20 triệu USD cho 1 cuộc thi người đẹp đúng bằng tính toán của các bậc giáo sư khả kính cho dự án đại học đẳng cấp quốc tế. Người ta có thể quên Việt Nam từng tổ chức hoa hậu thế giới, nhưng người ta sẽ tìm tới Việt Nam một đất nước có nguồn nhân lực dồi dào về nhân lực có trình độ cao để đầu tư. Bởi lúc đó họ là người hưởng lợi.           Cuối cùng, 20 triệu USD cho một cuộc thi hoa hậu làm gì cho hình ảnh Việt Nam? Dễ thấy rằng hiệu quả là một số hình ảnh đất nước xuất hiện trên các kênh truyền hình lớn và được hàng triệu người xem trên thế giới đón nhận. Điều này không có gì phủ nhận được. Nhưng hình ảnh Việt Nam xuất hiện trong quãng thời gian đó lưu cữu bao lâu trong tâm trí người xem trên toàn thế giới, đó là điều chưa được đề cập tới. Một nghiên cứu cho thấy, sau 6 kỳ quảng cáo liên tục thì người tiêu dùng may ra mới nhớ tới có một quảng cáo như vậy. Và sau đó, phải tiếp tục “dội bom” thì mới có một số ít “chịu đọc”. Quá trình từ biết tới ghi nhận và nhớ là một tiến trình dài, đòi hỏi có chiến lược marketing rõ ràng, ngân sách hùng mạnh mới tạo sự nhớ. Chưa kể là phải lập lại để gợi nhớ. Nếu vậy, thì 20 triệu USD chắc chỉ đủ người ta biết, chưa đủ để người ta nhớ.   Hữu xạ tự nhiên hương. Hàm ý của nó không phải là tốt rồi thì không quảng bá mà chính là có tốt mới nên quảng bá. Có thể dụ hay lừa người tiêu dùng bằng một hình ảnh đẹp, một cử chỉ tốt nhưng không thể dụ hoài hay lừa mãi được. Bài học từ Olympic Bắc Kinh là một minh chứng vừa gần vừa thiết thực. Hàng trăm triệu USD cho một kỳ Olympic hoành tráng, một công trình kiến trúc tổ chim ấn tượng. Olympic đã qua, công trình vẫn còn đó. Ấn tượng trong đầu người xem về công trình có thể còn, nhưng hình ảnh gợi nhớ nhất là sự lừa dối khi để một giọng hát thật chỉ vì chiếc răng xấu xí phải thu mình, nhường chỗ cho một ngoại hình đẹp. Một quốc gia đang nỗ lực xóa đi hình ảnh xấu từ đồ giả, kém chất lượng, vi phạm bản quyền qua hàng loạt vụ bê bối kem đánh răng, đồ chơi nhiễm độc cho tới mới đây là sữa nhiễm melamine không thể dùng cách tạo ấn tượng bằng sự giả dối.   Doanh nghiệp Việt Nam không thể tiếp tục với lợi thế nhân công rẻ. Lời khuyên chân tình của đại diện thương mại EU cũng là nỗi băn khoăn bao năm không dứt của doanh nghiệp Việt Nam. Ai chả muốn thoát vị thế gia công rẻ mạt để tiến lên, giành lấy các công đoạn “ngon ăn” trong chuỗi dây chuyền giá trị. Nhưng làm sao để thoát khi nguồn nhân lực còn thiếu và yếu mà cỗ máy giáo dục và đào tạo chưa thể một sớm một chiều giải quyết.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba yếu tố tạo nên sự thành công của Philipp Rösler      Philipp Rösler là một cái tên mà đến nay không còn xa lạ với chính trường nước Đức, cũng như người dân Đức.    Xuất thân là một cậu bé mồ côi người Việt, Rösler được một cặp vợ chồng người Đức nhận làm con nuôi và đưa sang Đức khi mới 9 tháng tuổi1.  Từ tháng 10 năm 2009, Rösler được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế Đức. Trong Đại hội Đảng toàn liên bang của Đảng dân chủ tự do FDP dự kiến tổ chức từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 5 năm 2011 sắp tới, Rösler sẽ chính thức trở thành người kế nhiệm Westerwelle trong cương vị là Chủ tịch Đảng FDP, đồng thời giữ chức Phó thủ tướng của nước Cộng hòa liên bang Đức2.   Năm nay Rösler 38 tuổi, là Bộ trưởng trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Đức và có thể sẽ là Chủ tịch Đảng FDP trẻ tuổi nhất trong lịch sử của Đảng này vào tháng 5 tới đây.   Điều gì tạo nên thành công của Rösler hôm nay?   Tôi cho rằng, thành công của Rösler là sự tổng hợp đầy đủ của ba yếu tố sau đây:  1. Yếu tố cá nhân  Philipp Rösler là một người thông minh, có tài, năng động và quyết đoán – đó là những nhận xét, hơn thế là sự thừa nhận của không chỉ thủ tướng Merkel3,  hay người tiền nhiệm Westerwelle, mà ngay cả chính những đối thủ khác trong cuộc tranh cử vào chức Chủ tịch này, cũng như các Đảng đối lập4.   Điều tạo nên những tố chất ấy có phần do bẩm sinh5, có phần do phấn đấu, nỗ lực liên tục của chính Rösler6.    2. Yếu tố gia đình  Không có cặp vợ chồng người Đức nhận nuôi dạy thì chắc chắn Philipp Rösler sẽ không có ngày như hôm nay. Rösler cũng thừa nhận ông ảnh hưởng rất nhiều từ sự giáo dục của người cha nuôi7.   Hiện tại Rösler có một gia đình đầm ấm, có vợ (Wiebke Rösler) và hai cô con gái sinh đôi – nguồn động lực để Rösler phấn đấu trong công việc8.   3. Yếu tố ngoài gia đình (môi trường giáo dục và môi trường xã hội)  – Về môi trường giáo dục:  Nếu như giáo dục ở ta nặng về lý thuyết sách vở, coi “trẻ nhỏ là đối tượng giống như một cái bình nước phải đổ đầy“, thì giáo dục ở các nước Phương Tây coi trọng kỹ năng và thực hành, coi “trẻ nhỏ là đối tượng giống như một ngọn đuốc cần phải được thắp sáng”.   Triết lý và cách làm khác nhau thì ắt dẫn đến kết quả khác nhau.   Có lẽ chính từ triết lý này mà họ đào tạo ra được những con người mà theo tôi quan sát và cảm nhận có những ưu điểm như:     Tự tin hơn (ngay từ nhỏ trẻ em nước ngoài rất tự tin, khi lớn thì càng tự tin);    Có tư duy phản biện tốt hơn (biết nhìn rộng vấn đề, biết phản biện nhiều chiều và tính sáng tạo rất cao. Chính nhờ thói quen phản biện, thậm chí phản biện chính mình, người ta mới dần phát hiện ra những lỗi lầm và tìm ra được những giải pháp tối ưu);    Chuyên nghiệp hơn (chuyên nghiệp ngay trong cách giao tiếp với bạn học hay đồng nghiệp; chuyên nghiệp trong cách giao việc cho những người thạo nghề; chuyên nghiệp ngay cả khi hỗ trợ nhau những lúc gặp khó khăn);     Tự do hơn (giáo dục tạo cho người học những không gian tự do riêng, vì thế cũng hình thành tính tự quyết cao hơn, một phần do ngay từ bé, trẻ nhỏ không chịu sự chỉ đạo, ép buộc nặng nề từ phía người lớn);     Trách nhiệm cao hơn (trách nhiệm với bản thân, với gia đình, công việc và xã hội).  Nền giáo dục ở Đức đã và đang đào tạo ra nhiều người tài, theo nghĩa là người có năng lực, trình độ và làm việc một cách chuyên nghiệp. Chẳng vậy mà người ta vẫn nói: “nước Đức là một nước không giàu có về tài nguyên, nhưng vô cùng giàu có về đội ngũ trí thức và người lao động chuyên nghiệp, có trình độ cao“9.    Và thật may mắn, Philipp Rösler đã được hưởng thụ một nền giáo dục như thế!  – Về môi trường xã hội:  Nước Đức là một nhà nước có trật tự, một nhà nước dân chủ và thượng tôn luật pháp.  Đây là nơi mà phẩm giá, tài năng, tự do của con người luôn được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Đây cũng là nơi mà mọi ý tưởng, quan điểm, chính kiến của con người đều được trân trọng.  Tóm lại, thiếu một trong ba yếu tố trên, thì không có một Philipp Rösler như hôm nay. Liệu chúng ta có thể học được gì từ nước Đức, để nước Việt có nhiều nhà lãnh đạo tài năng như Philipp Rösler?  —  Chú thích:  1Rösler kennt seinen Geburtstag nicht (Rösler không biết ngày sinh của mình);http://www.netzeitung.de/entertainment/people/1507099.html.    2Rösler wird neuer FDP Chef (Rösler sẽ trở thành chủ tịch mới của Đảng FDP) ; http://www.manager-magazin.de/politik/deutschland/0,2828,755207,00.html.   3Merkels Liebling  (Người được thủ tướng Merkel tin tưởng); http://www.zeit.de/2011/15/Roesler. Bài viết tổng hợp về cuộc đời và sự nghiệp của Philipp Rösler: http://www.spiegel.de/wikipedia/Philipp_R%C3%B6sler.html.   4Rösler wird neuer FDP Chef Rösler sẽ trở thành chủ tịch mới của Đảng FDP); http://www.manager-magazin.de/politik/deutschland/0,2828,755207,00.html.    5Bẩm sinh ở đây ý muốn nói những tố chất di truyền đặc trưng, riêng biệt ngay từ khi sinh ra đã có.   6Sự nỗ lực cá nhân ở đây ý muốn nói đó là quá trình phấn đấu, rèn luyện liên tục của chính Rösler.    7Vom Weisenkind zum Vizekanzler (Từ đứa trẻ mồ côi trở thành Phó thủ tướng);  http://www.bild.de/politik/inland/philipp-roesler/vom-waisenkind-zum-vizekanzler– gesundheitsminister-parteivorsitzender-17269948.bild.html.   8Philipp Rösler – Polician and Doctor (Philipp Rösler – nhà chính trị và bác sĩ); http://www.dw-world.de/dw/article/0,,3998647,00.html.   9Do có nhiều người tài, nên nước Đức cũng thu hút được “chất xám” của nhiều nước khác trên thế giới đến làm việc. Người tài thường muốn được làm việc với những người tài. Điều này cũng là tự nhiên, vì đối với bất cứ người lao động nào, môi trường làm việc xem ra mới là điều quan trọng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bác bỏ cái gọi là chứng cứ lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền trên Biển Đông      Qua bằng chứng lịch sử cổ xưa của cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và Đông Nam Á trên Biển Đông.    Phán quyết của Toà trọng tài thường trực (PCA) hôm 12/7/2016, phủ nhận các tuyên bố về vùng biển lịch sử của Trung Quốc trên biển Đông là một diễn biến mới quan trọng trong dài hạn trên nhiều phương diện.  Thứ nhất, lần đầu tiên có một toàn án quốc tế ra phán quyết phủ nhận các tuyên bố về cái gọi là Đường chín đoạn cũng như phủ nhận tính pháp lí của việc Trung Quốc độc chiếm biển Đông và ngăn cản trái phép việc thực thi chủ quyền và đặc quyền kinh tế của các nước khác.  Thứ hai, phán quyết của Tòa cho rằng không một đảo nào trên vùng tranh chấp Biển Đông có thể được coi là một đảo “đúng nghĩa” (tức là tự thân nó có thể hỗ trợ cho đời sống của con người). Vì thế, không một đảo nào có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí với thềm lục địa. Phán quyết này rõ ràng không chỉ liên quan đến Trung Quốc hay Philippine mà còn ảnh hưởng đến tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.  Thứ ba, phán quyết này cũng sẽ đẩy khu vực vào một tương quan mới, buộc các bên phải có chính sách phù hợp đi theo phán quyết này. Dù phán quyết của Tòa là không ràng buộc, nhưng rõ ràng sự phản ứng của Trung Quốc với tư cách là một siêu cường sẽ cho thấy cách thức và chiều hướng tình hình Biển Đông sẽ diễn biến. Có vẻ như ngay trong ngày đầu tiên sau phán quyết thì Trung Quốc đã chơi “không đẹp”. Một loạt sao Hoa ngữ đăng status ủng hộ Beijing trên Weibo. Làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan có vẻ như đang được dịp nổi lên ở Trung Hoa, và một sự khiêu khích rõ ràng khi cho máy bay dân sự hạ cánh xuống đá Vành Khăn thuộc Trường Sa. Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân cũng nói về khả năng nước này lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.  Giới quan sát Phương Tây lo ngại rằng điều này có thể là mở đầu cho một cuộc xung đột mang tính toàn cầu giữa Trung Quốc –siêu cường đang nổi lên và các thiết chế quốc tế do phương Tây bảo trợ. Trung Quốc đang tập hợp một mặt trận các nước ủng hộ mình và tờ China daily hôm nay tuyên bố là đã có 70 nước ủng hộ lập trường của Beijing:    Trong trường hợp xấu nhất, Trung Quốc có thể rút ra khỏi Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (The United Nations Convention on the Law of the Sea -UNCLOS) và thiết lập một hệ thống quốc tế riêng không lệ thuộc vào Phương Tây.  Cho dù tất cả các bằng chứng và tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đều dựa trên cơ sở “Lịch sử”, và họ tuyên bố rằng ít nhất là từ thời Hán, các tàu thuyền của họ đã đến các quần đảo trên biển Đông. Nhìn từ góc độ lịch sử, một cách thức tiếp cận tương tự đối với các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác có thể sẽ làm người Trung Quốc thất vọng khi phát hiện ra rằng hàng nghìn năm trước nhà Hán các cư dân Việt cổ, Champa, Malay đã tung hoành trên vùng biển, quần đảo, và duyên hải này, đặc biệt là từ trước thế kỷ XVII, khi mà sự hiện diện của Trung Hoa là rất mờ nhạt.  Ai là chủ nhân thực sự trong lịch sử trên vùng Biển Đông  Chúng ta hãy xem khung cảnh của “sự hiện diện lịch sử” trên vùng biển Đông.    Bản đồ Trung Quốc thời Tần (Valerie Hansen and Kenneth R. Curtis, 2010)  1. Trước khi Tần Thủy Hoàng đưa quân xuống phía nam Trường Giang (210s BC), khu vực này đã diễn ra cuộc di cư của các cư dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesians mà tiếng Malay là một nhánh, từ Đài Loan) xuống Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cách đây 5000-7000 năm mang theo lúa nước, lợn, dừa, khoai mỡ, và kỹ nghệ làm gốm… qua các hòn đảo, duyên hải trên Biển Đông (Peter Bellwood 2006, 2007, 2014; Solheim 2007). Trong khi đó phần lớn khu vực phía nam sông Trường Giang bắt đầu chứng kiến sự di cư/ xâm lấn của người Hoa từ phía bắc xuống chỉ bắt đầu từ thời kỳ nhà Hán (206 BC- 220 AD) (Herold J. Wiens 967)     Bản đồ về các cuộc di dân của cư dân nói tiếng Nam Đảo  Vì thế, nhiều nghìn năm trước khi có sự hiện diện của người Hán, biển Đông là môi trường sôi động của các mối giao tiếp thương mại, hàng hải, đặc biệt giữa người Việt, Champa và các nhóm Nam Đảo.  Bản đồ phân bố nhiều loại hình hiện vật trao đổi và vật phẩm thương mại như khuyên tai hai đầu thú và các chuỗi hạt đã quý tìm thấy trong văn hóa Óc Eo, Sa Huỳnh chính là hiện thân của các mối giao lưu giữa các nhóm cư dân xung quanh biển Đông, và với cả Ấn Độ (Ian Glover 1989).     Các vật phẩm từ đá nefrit và sự phân bố của nó bắt đầu từ Đài Loan (3000 BC)  Nguồn: Hsiao-Chun Hunga, Yoshiyuki Iizuka, Peter Bellwood. Et al, (2007)   Bản đồ các trung tâm trống đồng dọc theo biển Đông cũng cho thấy quy mô và sự phát triển của các tuyến trao đổi vật phẩm và truyền bá kỹ thuật trong thời kỳ kim khí ở Đông Nam Á. Vùng duyên hải Việt Nam rõ ràng là một trong những trung tâm đúc đồng của giai đoạn này và sự gắn kết của khu vực này với quần đảo Indonesia là rõ ràng.    Bản đồ về các trung tâm trống đồng ở Đông Nam Á, 300 BC-100 AD (Ambra Calo, 2014)  Các thương nhân Malay cũng làm chủ hoạt động thương mại giữa Trung Quốc với Đông Nam Á ít nhất cho đến thế kỷ XIII bằng việc đưa hương liệu, gia vị như đinh hương, nhục đậu khấu, hồ tiêu và vàng… đến Quảng Châu và mang về các hàng hóa Trung Quốc (Oliver Wolters 1967, 1970).  Vào đầu thế kỷ V (khoảng 408-409), nhà sư Pháp Hiển của Trung Quốc, sau khi đi đường bộ đến Ấn Độ, đã trở về trên các con tàu thương mại Ba Tư và Đông Nam Á (từ Ấn Độ đến Sri Lanka, đến Sumatra, và sau đó về Trung Quốc). Chuyến hành trình bão táp này đã được Pháp Hiển ghi lại trong cuốn Phật Quốc Ký, tường trình việc con tàu của ông bị bão đánh dạt hơn 1000 km về bờ biển phía bắc Trung Quốc, thay vì địa điểm hướng đến là Quảng Châu (Tansen Sen 2003). Một nhà sư khác là Nghĩa Tĩnh đi trên các con Tàu Đông Nam Á mà ông gọi là Kunlun bo, những con tàu này có thể dài 50 m và trọng tải 600 tấn (Manguin 1996;  Micheal Jacq-Hergoualc’h 2002: 58; John N. Miksic 2013: 66). Vì thế, việc Trung Quốc tuyên bố mối liên hệ của họ với các con tàu đắm và hàng hóa chúng mang theo không phản ánh việc họ là chủ nhân của các con tàu thương mại, cũng như không nói lên sự tham gia của người Hán vào các hoạt động thương mại trên biển Đông.     Hình thuyền khắc trên quần thể Borobudur (Java, Indonesia, thế kỷ VIII)  2. Thương nhân và các nhà du hành Hồi giáo đến Champa vào thế kỷ X đã gọi khu vực biển miền trung Việt Nam là “Biển Champa”. Người Chăm đã đóng vai trò đặc biệt trong mạng lưới trao đổi biển Đông nhiều thế kỷ (Anthony Reid 1997). Họ có kỹ thuật hàng hải ưu việt, xây dựng các hạm thuyền mạnh và đã từng đi ngang qua biển Đông, đến một số hòn đảo phía tây Philippine để khai thác vàng (Peter Burns and Roxanna Brown 1991). Người Chăm cũng có mối liên hệ rộng rãi với các cư dân xung quanh biển Đông, đặc biệt là các cộng đồng Malay trên quần đảo Indonesia. Một công chúa Champa đã kết hôn với nhà vua Majapahit trên đảo Java, nơi mà các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy các mảnh gốm sứ Việt Nam thế kỷ XIV-XV (John Miksic, ed., 2009).  Cũng bắt đầu từ thế kỷ XIII khi chính sử sách Trung Quốc ghi nhận vùng biển trong vịnh Bắc Bộ ngày nay, với tên gọi “Giao Chỉ Dương” – Biển Giao Chỉ (Li Tana 2011). Sự công nhận này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên trong một giai đoạn mà tham vọng bành trướng xuống phía nam của nhà Nguyên đã bị đánh tan, đặc biệt là trước sức mạnh của hải quân Đại Việt, Champa và Java (1293). Đại Việt Sử Ký toàn thư cũng ghi nhận sự mở rộng giao thương hàng hải của các hải cảng phía bắc Việt Nam với bên ngoài, trong đó có Vân Đồn (Nguyễn Văn Kim 2015), trong khi các vua Lí, Trần cũng thường xuyên cho hạm đội tuần tra biển và cử các hoàng tử đi trấn trị duyên hải.  3. Rõ ràng là trước thế kỷ XVIII, bằng chứng lịch sử của người Việt, người Chăm và các nhóm cư dân Đông Nam Á khác là thuyết phục hơn rất nhiều so với các ghi chép rời rạc và việc cấm hải thường xuyên của Trung Quốc.  Trong khi đó, người Hán không phải là các cư dân biển hay có liên hệ chặt chẽ với biển. Vùng đất khởi đầu của văn minh Trung Hoa là khu vực trung lưu sông Hoàng Hà, nơi có các mối liên hệ về phía Tây, ăn sâu vào lục địa nhiều hơn là biển (xem Victor Mair). Trong nhiều thời kỳ lịch sử, các vương triều Trung Quốc tiến hành chính sách cấm hải hơn là có sự thân thiện và cởi mở với biển. Gần nhất là chính sách hải cấm của nhà Minh nhằm chống lại cướp biển Nhật Bản (wokou, John W. Dardess 2013), và hải cấm thực hiện dưới thời Khang Hy nhà Thanh.  Trong khi đó, phải đến nhà Thanh (cuối thế kỷ XVII), Trung Quốc mới bắt đầu xác lập ở Đài Loan và các hòn đảo lân cận, và đến đầu thế kỷ XX thì lần đầu tiên chính quyền Trung Quốc mới bắt đầu đặt vấn đề về chủ quyền các hòn đảo trên biển Đông (năm 1909, Bill Hayton 2014: 50-51); trong khi trước đó hơn 150 năm, các chúa Nguyễn và sau đó là các vua của vương triều Nguyễn đã tổ chức khai thác, tuần tra, xây dựng miếu thờ, trồng cây, cắm mốc giới, vẽ bản đồ, xác lập biên chế hành chính, và tuyên bố chủ quyền đối hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (xem Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, Đại Nam Thực Lục, châu bản triều Nguyễn…)  Các tư liệu Trung Quốc cũng phải thừa nhận sự có mặt rộng rãi và vai trò chủ đạo của thương nhân Đông Nam Á, Arab và Ba Tư trên biển Đông và miền Nam Trung Hoa trước nhà Tống, đặc biệt là ở Quảng Châu. Nhiều nhà sư Trung Quốc du hành sang Ấn Độ như Pháp Hiển (399-414), Nghĩa Tĩnh (635-713) đều ghi chép việc họ đi nhờ các con tàu Đông Nam Á và Arab để đến Ấn Độ, như đã đề cập bên trên. Các ghi chép về các vùng bên ngoài Trung Quốc, thậm chí đến nhà Tống như của Chu Khứ Phi (Lĩnh Ngoại Đại Đáp), Triệu Nhữ Quát (Chư phiên chí) đều dựa trên lời kể của các thủy thủ và những nhà du hành đã đi qua vùng Biển Ấn Độ Dương và biển Đông trên những con thuyền thương nhân ngoại quốc.  Phải đến nhà Nam Tống là lần đầu tiên mới có các ghi chép về sự xuất hiện của các con tàu Trung Quốc ở biển Đông (Lo Jung-pang 2012). Tuy nhiên các nỗ lực bành trướng xuống phía nam của nhà Nguyên sau đó bị đánh bại. Hơn một thế kỷ sau đó, Trung Quốc tiến hành các cuộc du hành của Trịnh Hòa (1371-1433) qua Biển Đông đến Ấn Độ Dương. Cần lưu ý rằng cuộc hành trình này đã bị thổi phồng và huyền thoại hóa một cách quá đáng. Chúng hoàn toàn không phải là để khám phá đất đai hay tuyên bố chủ quyền mà đơn thuần là cuộc phô trương thanh thế và đòi hỏi các nước triều cống mà thôi. Trịnh Hòa cũng không hề “dám” mạo hiểm đi qua các quần đảo và đá ngầm ở vùng trung tâm biển Đông mà chọn đi men theo duyên hải phía đông Việt Nam. Ngay sau chuyến đi cuối cùng (1433), vua nhà Minh yêu cầu phá hủy phần lớn hạm đội của Trịnh Hòa. Và Trung Quốc hạn chế giao lưu bằng đường biển, đặc biệt là chính sách cấm hải để chống buôn lậu, cướp biển và các cuộc nổi dậy duyên hải (Dian Murray 1987, Robert J. Antony 2003, 2007, 2010, 2014). Chính vì điều này mà tất cả các bản đồ của Trung Quốc và phương Tây vẽ về Trung Quốc đến đầu thế kỷ XX đều lấy giới hạn cực nam đến đảo Hải Nam.     Trung Quốc quốc sỉ địa đồ, 1930s  Phần lớn các bản đồ tuyên bố chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc đều là bản đồ tư nhân, tự tạo trong những năm 1920s-1940s. Các bản đồ này phản ánh tham vọng trỗi dậy của Trung Quốc và dùng các vùng đất được cho là đã mất vào tay Phương Tây để kích động tinh thần dân tộc của dân Trung Quốc, hơn là dựa trên bất cứ bằng chứng lịch sử hay tuyên bố chủ quyền nào trước đó. Như bản đồ về nỗi sỉ nhục của Trung Quốc trên đây đã gộp toàn bộ bán đảo Triều Tiên, Trung Á và Đông Nam Á vào lãnh thổ Trung Quốc.        Tất cả các bản đồ của Trung Quốc và phương Tây vẽ về Trung Quốc đến đầu thế kỷ XX đều lấy giới hạn cực nam đến đảo Hải Nam. Phần lớn các bản đồ tuyên bố chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc đều là bản đồ tư nhân, tự tạo trong những năm 1920s-1940s. Hình thái rút gọn của các bản đồ này trở thành đường 11 đoạn (sau này là 9 đoạn) ra đời 1947, và được sử dụng một cách không chính thức. Bản thân chính quyền Trung Quốc cũng không (và không thể) đưa ra bất cứ một lí giải nào vì sao lại có các đường này và đâu là mốc giới cụ thể với vị trí kinh độ, vĩ độ.    Hình thái rút gọn của các bản đồ này trở thành đường 11 đoạn (sau này là 9 đoạn) ra đời 1947, và được sử dụng một cách không chính thức. Bản thân chính quyền Trung Quốc cũng không (và không thể) đưa ra bất cứ một lí giải nào vì sao lại có các đường này và đâu là mốc giới cụ thể với vị trí kinh độ, vĩ độ.     Bản đồ các đảo trên Biển Đông: Nam hải chư đảo vị trí đồ (1947) (Chris Chung, 2013)  ————-  * Vũ Đức Liêm hiện là Nghiên cứu sinh ngành Lịch sử Việt Nam tại Đại học Hamburg, CHLB Đức.  Tham khảo thêm:  Bill Hayton. The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. New Haven: Yale Uni Press, 2014  E. E. Kuzmina, Victor H. Mair., ed., The Prehistory of the Silk Road By. Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 2008.  Herold J. Wiens, Han Chinese Expansion in South China. – New Haven: The Shoe String Press 1967  Hsiao-Chun Hung, Yoshiyuki Iizuka, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, B. Bellina, Praon Silapanth, Eusebio Dizon, Rey Santiago, Ipoi Datan, and Jonathan H. Manton, Ancient jades map 3,000 years of prehistoric exchange in Southeast Asia, PINAS vol. 104 (2007)  John W. Dardess. A Political Life in Ming China: A Grand Secretary and His Times. Lanham, Md.: Rowman & Littlefield, 2013  Jung-pang Lo. China as a Sea Power, 1127-1368 A Preliminary Survey of the Maritime Expansion and Naval Exploits of the Chinese People During the Southern Song and Yuan Periods, NUS Press: 2012  Manguin, Pierre-Yves, 1996. Southeast Asian Shipping in the Indian Ocean during the first Millenium AD’, in H. P. Ray and J-F. Salles (eds), Tradition and Archaeology: Early maritime Contact in the Indian Ocean. Lyon/ New Delhi: Manohar/ Maison de l’ Orient mediterraneen/ NISTADS, pp. 181-98  Michel Jacq-Hergoualc’h. The Malay Peninsula: Crossroads of the Maritime Silk-Road (100 BC-1300 AD) , Leiden: brill, 2002  Nola Cooke, Tana Li, James A. Anderson. The Tongking Gulf Through History. Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 2011  Tran Ky Phuong, Bruce Lockhart., eds., The Cham of Vietnam: History, Society and Art. NUS Press, 2011  Wilhelm G. Solheim, ‎David Bulbeck, ‎Ambika Flavel. Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao. Diliman, Quezon City: The University of the Philippines Press, 2006  http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacAnthonyReidNguoiChamHangHai.htm  https://www.academia.edu/18678584/Drawing_the_U-Shaped_Line_Chinas_Claim_in_the_South_China_Sea_1946-1974  https://www.youtube.com/watch?v=4e1NEr_spaU  http://afe.easia.columbia.edu/special/travel_records.pdf  https://assets.documentcloud.org/documents/2990864/Press-Release-on-South-China-Sea-Decision.pdf  https://www.youtube.com/watch?v=WY0acUCvZEs  https://www.youtube.com/watch?v=le7r93whykg  http://ph.china-embassy.org/eng/zt/nhwt/t83761.htm  http://thediplomat.com/2013/08/history-the-weak-link-in-beijings-maritime-claims/  http://tgvn.com.vn/toan-van-phan-quyet-cua-toa-trong-tai-32625.html    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Bắc Kinh với các cuộc đàm phán về CoC      Các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nhận thức sâu sắc rằng Trung Quốc sẽ được nhiều hơn mất từ sự trì hoãn vô hạn việc kết thúc các cuộc đàm phán về quy tắc ứng xử trên Biển Đông (CoC).     Không chỉ là một chiến lược gia quân sự sắc sảo, nhà triết học cổ đại Trung Quốc Tôn Tử cũng là một người ủng hộ bình đẳng của pháp luật. Trong cuốn Binh pháp Tôn Tử, ông lập luận: “Khi nói đến việc thiết lập các quy tắc và quy định, tất cả mọi người, sang hèn, nên được đối đãi như nhau.” Thật đáng tiếc, hiện nay các giới chức của Trung Quốc dường như cho bài học bình đẳng này là không thích hợp trong lĩnh vực quan hệ quốc tế.   Trong ức đoán của Bắc Kinh, Trung Quốc chẳng vai lứa với các quốc gia chiếu dưới cũng không trong nhóm nước đứng đầu; nó tự nguyên sơ đã riêng là một Vương quốc trung tâm.   Cái nhãn quan hống hách này nổi bật nhất đã phô bày ra ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh vẫn từ chối chấp nhận các quy định ứng xử của các bên và thay vào đó thích bắt nạt như là cách để kiểm soát lãnh thổ tranh chấp hơn.           Trong vòng cương toả của một CoC có tính  ràng buộc, Trung Quốc có khả năng có vị thế bình đẳng với các quốc gia  khác. Ngược lại, trong một hệ thống quyền lực chính trị tiền-CoC, một  nước Trung Quốc khổng lồ có nghĩa là nó được hưởng một lợi thế bất  xứng dứt khoát trước các nước láng giềng Đông Nam Á nhỏ bé của mình.         Năm 2002, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã ra Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea – DoC), theo đó kêu gọi việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ mà không “đe dọa hoặc sử dụng vũ lực” và mong muốn đi đến thông qua một quy tắc ứng xử (Code of Conduct – CoC) để “xúc tiến hòa bình và ổn định trong khu vực”. Nhưng từ đó đến nay các bước đi đơn phương tiếp tục củng cố và mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ tranh chấp đã biến DOC thành “trò đùa”. Trường hợp nổi bật gần đây bao gồm việc Trung Quốc chiếm giữ bãi cạn Scarborough vào năm 2012, kế hoạch Trung Quốc xây dựng một hòn đảo nhân tạo nhỏ trong quần đảo Trường Sa, và tiếp tục củng cố các tiền đồn của họ trên đảo san hô vòng đang tranh chấp Việt Nam và Philippines.   Các quan chức Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng các tuyên bố quả quyết của Trung Quốc về vùng biển tranh chấp là một “lợi ích cốt lõi” của quốc gia và Bắc Kinh sẽ không cho phép ‘thỏa hiệp’ hoặc ‘nhượng bộ’ trong việc theo đuổi tham vọng lãnh thổ của mình. Sự tham gia của Trung Quốc trong các cuộc thảo luận cho một CoC là chỉ giả vờ, bởi các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nhận thức sâu sắc rằng Trung Quốc sẽ được nhiều hơn mất từ sự trì hoãn vô hạn việc kết thúc các cuộc đàm phán về CoC.   Năm 2013, tổng GDP của ASEAN kém hơn Trung Quốc 35%, trong khi chi tiêu quân sự tính gộp của các quốc gia thành viên ASEAN kém hơn ngân sách quốc phòng của Trung Quốc 25%. Với các ưu thế quân sự và kinh tế, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng hải giám trang bị tốt hơn và lớn hơn của họ để phá hoại tàu thuyền và đe dọa ngư dân nước ngoài; đồng thời đưa giàn khoan dầu đến vùng biển tranh chấp và triển khai các rào cản thương mại nhầm gây thiệt hại cho đối phương.   Như sư tử và thỏ rừng trong truyện ngụ ngôn Aesop, các nước thành viên ASEAN có thể “phát biểu công khai và tỏ rỏ rằng tất cả họ phải có phần bằng nhau’, nhưng Trung Quốc chỉ đơn giản đáp:”phát biểu của các anh, Thỏ rừng ơi, thiếu vuốt và nanh mà chúng tôi lại có’.   Bắc Kinh có thể sẽ trả giá cho lời nói đầu môi về đàm phán quy tắc ứng xử trong tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc biết rằng việc xem xét các luật lệ chặt chẽ của một CoC sẽ phá hoại chiến lược thành công của họ lâu nay nhằm mở rộng chủ quyền trên thực tế thông qua đe dọa và cưỡng bức. Nhưng các cuộc đàm phán thất bại cho một CoC có thể không hoàn toàn vô ích. Ít nhất chúng cho phép các nước thành viên ASEAN hút sự chú ý quốc tế trước các hành động của Bắc Kinh trong tranh chấp lãnh thổ. Vì vậy các quốc gia Đông Nam Á sẽ cần phải làm nhiều hơn trong việc tham gia vào việc theo đuổi một giải pháp công bằng và bền vững cho một trong những cuộc xung đột địa chính trị đầy biến động và gây chia rẽ nhất trên thế giới.   Tiến sĩ Benjamin Herscovitch là thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu độc lập tại Bắc Kinh.  T.Q Nam dịch  Nguồn:  http://www.businessspectator.com.au/article/2014/7/21/china/beijing-sinks-south-china-sea-code-conduct    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 1: Một bản hiến pháp hiệu quả và phù hợp      Một ngôi nhà lớn cũng như một quốc gia hùng mạnh không thể chỉ xây dựng trên một trụ cột. Thực tiễn cho thấy nhà nước Mỹ thịnh vượng, bền vững như ngày hôm nay được xây dựng trên nhiều trụ cột, trong đó trụ cột thứ nhất chính là bản hiến pháp phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển của đất nước.    Không một công ty, một doanh nghiệp nào khi mới thành lập tự nhiên đã là người khổng lồ, không một quốc gia nào tự nhiên sinh ra đã hùng mạnh. Quá trình phát triển của nước Mỹ trở thành một cường quốc như hiện nay cũng là sự hội tụ của nhiều yếu tố và trải qua nhiều biến động và thăng trầm của lịch sử và phát triển lâu dài. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, khi mới thành lập, nước Mỹ là một vùng đất hứa và là một quốc gia trung bình, có tiềm năng phát triển, chưa phải là cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Vượt qua nhiều biến động thăng trầm từ những ngày dựng nước, đến công cuộc giải phóng nô lệ của Abraham Lincoln, vượt qua Chiến tranh thế giới thứ nhất dưới thời Woodthrow Wilson, đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh thế giới thứ hai của thời kỳ Roosevelt những năm 1940, nước Mỹ mới trở thành một cường quốc. Rồi trải qua cuộc Chiến tranh Lạnh thời kỳ Kennedy và sự sụp đổ của Đông Âu năm 1989, Hoa Kỳ mới thực sự trở thành siêu cường…  Nước Mỹ được xây dựng nên như ngày hôm nay là nhờ ba trụ cột: (1) Một bản hiến pháp hiệu quả, phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng của đất nước và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển. Đại diện tiêu biểu là James Madison, Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ; (2) Vai trò của những chính trị gia, nhà lãnh đạo xuất chúng, có tầm nhìn đã hoạch định và thực thi được các chính sách phù hợp với bản Hiến pháp đã được thiết lập. Nhân vật tiêu biểu nhất là Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên. (3) Một nền giáo dục lành mạnh, thực tiễn để đào tạo ra các thế hệ công dân khai sáng, có kiến thức và hiểu biết, từ đó hình thành các thế hệ lãnh đạo tương lai tài giỏi cho đất nước… Nhân vật tiêu biểu là Thomas Jefferson, Tác giả Tuyên ngôn Độc lập, Tổng thống thứ ba của Mỹ.  Các thế hệ lãnh đạo đầu tiên của nước Mỹ nhận thức và hiểu được rằng, nền độc lập giành được từ người Anh là chưa đủ để đảm bảo việc xây dựng một quốc gia thịnh vượng. Năm 1787, khi tham dự Hội nghị Lập hiến, George Mason người soạn Tuyên ngôn Nhân quyền cho bang Virginia đã viết thư cho con trai: “Cuộc Cách mạng giành độc lập từ nước Anh và quá trình xây dựng chính quyền mới lúc đó chẳng là gì so với công trình vĩ đại [Ý nói là việc soạn bản Hiến pháp] đang ở trước mắt cha… Việc thiết lập chính quyền này có thể sẽ mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho hàng triệu người, cả hiện nay và trong tương lai. Đó vẫn là mục tiêu cao cả, đầy hấp dẫn và thách thức sự hiểu biết của loài người.”  Các sử gia trên thế giới đều đánh giá rằng có hai văn bản quan trọng nhất làm cơ sở cho sự hùng mạnh và bền vững của nước Mỹ là bản Tuyên ngôn Độc lập được soạn năm 1776 và Hiến pháp Mỹ soạn thảo năm 1787. Có thể nói bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ mà sau này được Hồ Chủ tịch trích dẫn trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta năm 1945 chính là bản tuyên bố sứ mệnh, mục tiêu của người dân Mỹ mong muốn xây dựng một quốc gia độc lập, thịnh vượng… Còn bản Hiến pháp Mỹ là bộ luật tối cao, là khuôn khổ, là công cụ để người dân và chính phủ Mỹ đạt được mục tiêu mà Tuyên ngôn Độc lập đã nói. Có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là văn bản thể hiện ý chí, khát vọng và tình cảm còn bản Hiến pháp Mỹ thể hiện lý trí, sự khôn ngoan và sự trù liệu kỹ càng để người dân Mỹ đạt được mục tiêu đó.    Trong những bản hiến pháp đang có hiệu lực trên thế giới hiện nay, Hiến pháp Mỹ là bản hiến pháp cổ xưa nhất với lịch sử tồn tại trên 220 năm và đến nay, bản Hiến pháp Mỹ đã được sửa đổi 27 lần nhưng trừ 10 tu chính án đầu tiên là Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) ban hành ngay sau khi thông qua hiến pháp thì những lần sửa đổi sau chỉ sửa, bỏ đi hay thêm các điều khoản nhỏ chứ không phải viết lại mới hoàn toàn. Về căn bản, cấu trúc của chính quyền, quyền hạn, tổ chức, cách bầu chọn các cơ quan của Liên bang Hoa Kỳ vẫn không thay đổi so với khi Hiến pháp được soạn ra… Các sử gia và chính khách Mỹ đều khẳng định rằng bản Hiến pháp Mỹ đã đặt nền tảng cho quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, góp phần quan trọng biến một miền đất của 13 tiểu bang lỏng lẻo và yếu kém bên bờ Đại Tây Dương đang đứng trước nguy cơ tan rã và nội chiến đã trở thành một quốc gia hùng mạnh như hiện nay.   Tại Hội nghị lập hiến, Benjamin Franklin đã kêu gọi những đại biểu khác ủng hộ bản Hiến pháp và tự đánh giá bản thân: “Tôi thừa nhận rằng lúc này có nhiều điểm trong bản Hiến pháp tôi không thể chấp nhận, nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác. …Với những suy nghĩ đó, thưa Ngài Chủ tịch, tôi đồng ý với bản Hiến pháp này với mọi lỗi lẫm của nó, nếu có, bởi tôi nghĩ rằng chúng ta cần một chính quyền chung… Tôi cũng nghi ngờ rằng không một Hội nghị nào có thể làm ra được một bản Hiến pháp tốt đẹp hơn. Thưa Ngài, tôi nghĩ bản Hiến pháp này cũng làm những kẻ thù của chúng ta ngạc nhiên, những kẻ đang tin tưởng trông chờ rằng chúng ta cũng giống như những người xây dựng Tháp Babel; rằng các tiểu bang của chúng ta đang ở bên bờ miệng vực của sự tan rã, gặp nhau tại đây chỉ để cắt cổ họng của người khác.”  Trong suốt 10 năm sau cuộc cách mạng Mỹ 1776-1786, chính dân tộc Mỹ đó, những con người đó, đất đai đó với 13 tiểu bang khá độc lập với nhau liên minh với nhau dưới một bản Hiến pháp mờ nhạt năm 1781 mang tên Các điều khoản Hợp bang đã tạo nên tình trạng rất lộn xộn, thậm chí có nguy cơ tan rã do thiếu vắng một chính quyền hiệu quả. Theo mô hình này, cả 13 tiểu bang chỉ thuần túy tham gia liên minh với nhau chứ không có một chính quyền chung. Cơ quan điều hành khi đó là Quốc hội Hợp bang, nhưng về hình thức cũng chỉ giống như đại hội đại biểu các tiểu bang nhưng không có thực quyền, không có bộ máy hỗ trợ, không có tòa án, không có quân đội nên không thể điều hành liên minh hiệu quả, khiến nước Mỹ đứng trước nguy cơ nội chiến và tan rã. Trước thực trạng đó, James Madison cho rằng, điều đầu tiên cần là phải xây dựng được một mô hình, một thể chế phù hợp và hiệu quả, tức là cần soạn thảo một bản hiến pháp mới, làm nền tảng cho một quốc gia muốn thịnh vượng và bền vững.  Đây là ý tưởng rất thông minh bởi lúc đó hầu hết các chính trị gia đương thời sa lầy vào những cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội Hợp bang mà Madison cho là những tranh luận vụn vặt. Hầu hết những người dân Mỹ và cả các chính khách khác đều bất bình với những rối ren lộn xộn. Khi cuộc sống không được đảm bảo, sự lộn xộn về kinh tế và cả chính trị khiến đất nước không phát triển nên họ đã chỉ trích chế độ đương thời và mong muốn sự thay đổi. Những tiếng la ó có ở khắp mọi nơi, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân xuất hiện đòi lật đổ chính quyền cộng hòa non trẻ do mất niềm tin. Thậm chí, còn có đề xuất 13 tiểu bang khi đó nên chia thành ba quốc gia Bắc, Trung, Nam hoặc mời một vị hoàng gia ở châu Âu sang làm Vua nước Mỹ. Nhiều chính trị gia khác thể hiện thái độ bất mãn hoặc thờ ở, bàng quan với thời cuộc.   Nhưng James Madison và Alexander Hamilton đều có cách tiếp cận và xử lý vấn đề với tinh thần xây dựng và sáng tạo. Cả hai nhân vật này khi đó mới 36 và 30 tuổi. Họ đều là những chính trị gia trẻ, tiêu biểu cho thế hệ chính khách thứ hai của Mỹ, đã hợp tác và chia sẻ quan điểm với nhau và cùng thống nhất mục tiêu chúng là nỗ lực vận động xây dựng một chính quyền Liên bang mới, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Họ đều thống nhất rằng nước Mỹ cần một chính quyền liên bang mạnh và hiệu quả chứ không phải là một nên dân chủ thái quá và lộn xộn. Với suy nghĩ đó, Madison và Hamilton đã nỗ lực vận động chính giới Mỹ tổ chức Hội nghị Lập hiến tại Philadenphia từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1787, tập hợp các chính khách và lãnh tụ có uy tín của cả 13 tiểu bang để soạn thảo ra một bản Hiến pháp mới.  Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia hùng mạnh nhưng rồi lại lụi tàn, từng có nhiều đế chế ban đầu được lập nên bởi những vị vua khai sáng, uy tín và đức hạnh, nhưng rồi lại chấm dứt bằng chế độ độc tài, chuyên chế hoặc rồi lại vô kỷ cương, vô chính phủ với một ông vua bù nhìn, nhu nhược, ngu dốt… Vì thế, Madison hiểu rằng để xây dựng được một mô hình chính quyền hiệu quả, thì cần phải hiểu cặn kẽ mọi ngóc ngách của các mô hình chính quyền từng tồn tại trên thế giới rồi tìm ra một mô hình phù hợp. Để chuẩn bị cho Hội nghị Lập hiến, mùa Xuân-Hè năm 1786, Madison rời bỏ mọi công việc tại chính quyền tiểu bang và liên bang, một mình lặng lẽ trở về ngôi nhà của ông ở Montperlier, tiểu bang Virginia mải mê vùi đầu vào hàng trăm cuốn sách. Ðó là những cuốn rất nổi tiếng của các tác giả Thế kỷ Ánh sáng như Khế ước Xã hội, Tinh thần Pháp luật, Về Một Cộng đồng hoàn hảo và những cuốn khác về lịch sử tồn tại và diệt vong của các nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, Hợp bang Thuỵ Sĩ thế kỷ 14, Liên bang Bỉ, Phổ giữa thế kỷ 17… Madison đặt mục tiêu tìm ra những nguyên lý và trở ngại cho sự hoạt động bền vững của chính quyền. Madison nghiền ngẫm những ý tưởng và rồi viết những điều ông thấy bổ ích về những đặc điểm hình thành và nguyên nhân sụp đổ của các mô hình trên thế giới vào cuốn sổ nhỏ có tên là Những ghi chép về các mô hình liên bang cổ xưa và hiện đại. Rồi ông tự ghi chép và phân tích những điều yếu kém của thể chế Hợp bang của Mỹ khi đó vào cuốn Những trục trặc trong hệ thống chính quyền Mỹ. Ông quá thông minh và đã rất thực tiễn khi hiểu rằng để xây dựng một mô hình nhà nước Mỹ vững mạnh thì cần phải tìm ra những nguyên lý đúng đắn trên cơ sở cả lý thuyết và thực tiễn.   Tìm hiểu tất cả những điều đó đã dẫn Madison đến kết luận rằng, dù hoàn toàn đồng ý với Jefferson rằng “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” nhưng Madison lại cho rằng rồi đây trong cuộc đời, mỗi người chúng ta sẽ trở nên rất khác nhau. Chúng ta trưởng thành khác nhau, sở hữu những tài sản và trí tuệ khác nhau và tất yếu sẽ có những quan điểm khác nhau. Hơn nữa, con người rồi sẽ tự tìm những biện pháp để bảo vệ tài sản và quan điểm của mình, đó là những nhóm lợi ích. Ông viết thêm: “Mọi xã hội văn minh tất yếu đều chia thành những tầng lớp khác nhau với lợi ích khác nhau, tất yếu sẽ tạo ra những con nợ và chủ nợ, người giàu và người nghèo, nông dân, nhà buôn hay người thợ sản xuất…” Ðối với Madison, sự bình đẳng có nghĩa là các tầng lớp, phe phái và các nhóm lợi ích khác nhau đó phải có cơ hội và điều kiện tự bảo vệ mình và để kiểm soát lẫn nhau. Do vậy, ông kết luận rằng “Ước nguyện lớn lao nhất của một chính quyền là sự cân bằng đủ để trung lập những xung đột đó, để kiểm soát bộ phận dân chúng này không chiếm dụng quyền và áp bức các bộ phận khác, và tự kiểm soát mình khỏi việc ban thành những đạo luật đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội.”   Từ những nghiền ngẫm này, Madison bắt đầu hình thành phác thảo của riêng ông về mô hình chính quyền liên bang Mỹ. Ông cũng viết rất nhiều thư cho Jefferson, Washington và các chính trị gia khác để thảo luận về mô hình này. Nhờ những kiến thức từ lý thuyết, thực tiễn và những trao đổi, tranh luận mà khi tới dự Hội nghị Lập hiến, Madison đã có sự chuẩn bị hơn hết thảy các đại biểu khác. Quan điểm và những lập luận về mô hình nhà nước liên bang của ông đã thuyết phục được hội nghị. Dù không phải tất cả các dự định của ông được thông qua nhưng phác thảo của ông đã trở thành nền tảng cho mô hình nhà nước liên bang Hoa Kỳ. Các đại biểu khác không có sự chuẩn bị chu đáo như ông tới mức ông được ca ngợi rằng là người duy nhất hiểu cặn kẽ mọi vấn đề về Hiến pháp trong khả năng mà trí tuệ con người có thể vươn tới được, bởi ở ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa một chính trị gia xuất sắc và một học giả uyên thâm. Ông là bộ não, là “Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ”  Vấn đề mấu chốt đối với ông là phải xây dựng được một hệ thống chính quyền đại diện cho dân chúng theo một cách thức phù hợp nhất, ổn định nhưng không quá bảo thủ, năng động nhưng không quá vội vàng và đủ đảm bảo sự bình đẳng giữa nhóm lợi ích khác nhau đó. Ví dụ như đa số không được đàn áp thiểu số và ngược lại thiểu số không chiếm đoạt quyền của đa số, ví như tránh nguy cơ những con nợ hợp sức tự xoá bỏ những món nợ, ngược lại các chủ nợ không được chèn ép và bức bách họ. Trong khi một số đại biểu ủng hộ mô hình chính quyền tập trung mạnh bằng cách sáp nhập tất cả các tiểu bang thành một quốc gia duy nhất; một số khác muốn duy trì quyền tự quyết và tự chủ của tiểu bang và các tiểu bang chỉ liên minh với nhau; còn đa số các đại biểu khác không có chính kiến và thiếu sự hiểu biết sâu sắc về chính quyền thì Madison kiên quyết ủng hộ mô hình nhà nước liên bang.  Sau này, Madison cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thông qua Hiến pháp ở Virginia, rồi hợp tác với Alexander Hamilton viết loạt các bài luận Người Liên bang để giải thích và vận động người dân Mỹ hiểu và phê chuẩn Hiến pháp.          James Madison (1751-1836)    Là một người cực kỳ thông minh và, ngay từ khi là sinh viên trường Princeton năm 1771, James Madison đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực chính quyền và luật pháp. Năm 1775 khi mới 24 tuổi, Madison tham gia Ủy ban cách mạng của quận Orange; 25 tuổi, tham dự Hội nghị soạn thảo bản Hiến pháp cho tiểu bang Virginia. Trong những năm 1776-1777, ông tham gia Viện dân biểu thị xã, sau đó, tham gia Hội đồng Hành pháp tiểu bang. 30 tuổi, Madison đại diện cho tiểu bang Virginia tại Quốc hội Hợp bang. Mặc dù là đại biểu trẻ nhất, nhưng ông đã đóng một vai trò rất quan trọng trong các cuộc tranh luận. Ông là người chỉ đạo ngầm đằng sau các cuộc họp ở Hội nghị Mount Vernon (1785), rồi tham gia Hội nghị Annapolis tiền đề cho Hội nghị Lập hiến (1786) và là người có nỗ lực lớn nhất vận động tổ chức Hội nghị Lập hiến.    Madison được mệnh danh là “Cha đẻ của Hiến pháp Mỹ” vì sự đóng góp lớn lao trong việc soạn thảo văn kiện này cũng như trong quá trình thông qua Hiến pháp. Là một trong những lãnh tụ của Hạ viện Mỹ (1789-1797), Madison đóng góp chính vào Tuyên ngôn nhân quyền. Năm 1792, ông và Jefferson đã thành lập Ðảng Cộng hòa – Dân chủ để chống đối các chính sách tài chính – kinh tế của Hamilton và Đảng Liên bang.   Ông cũng có công lớn soạn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill Of Rights) bảo vệ quyền tự do của con người và cùng Thomas Jefferson sáng lập đảng Dân chủ Mỹ. Ông cũng trở thành Tổng thống thứ 4 của Mỹ. Trên cương vị này, ông có điều kiện và tư cách để thực thi những chính sách và chính bản hiến pháp mà ông góp phần soạn nên…          —  (*) Giám đốc Alpha Books    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”      Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?”*, tác giả Phạm Thị Hoài đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”.     Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức (trích): Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.  Năm 1990, trong quy trình thống nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới”, (Hết trích).    Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”. Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp. Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên “Grundgesetz” và gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật, bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội hàm khái niệm “Luật cơ bản” và nội hàm “Hiến pháp”. Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm phạm – tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là “Luật Cơ bản”, còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo “Phúc quyết” thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý, tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức, nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.     Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế, cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà bình để vượt qua nó.     Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp”.     Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.     Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến pháp.  —    * http://www.procontra.asia/?p=1623    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 1: Phân biệt giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của nhân dân      Người dân nói chung, trong đó có cộng đồng trí thức, đang  tích cực thảo luận một cách rộng rãi về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp  1992 và một trong các vấn đề được coi là “nhạy cảm” khi góp ý, đi cùng  với các ý kiến và quan điểm khác nhau, là vị trí và vai trò của Đảng  CSVN được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp 1992 và cũng là Điều 4 (giữ  nguyên) của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.       Quan điểm của tác giả cho rằng trước hết, không thể tránh né vấn đề này, bởi lẽ bản chất và trọng tâm của Hiến pháp là nói về quyền lực công (hay quyền lực nhà nước), trong khi Đảng CSVN lại đang nắm giữ quyền lực đó trên thực tế, vậy thì làm sao có thể bàn đến tổ chức quyền lực nhà nước mà lại bỏ qua vai trò của Đảng CSVN. Thứ hai, như một cơ thể sống được vận hành bởi các dòng khí hay năng lượng, quyền lực công trong xã hội chính là các dòng khí và năng lượng ấy; do đó, nếu không được tổ chức hợp lý để vận hành tốt, cơ thể sống cũng như đời sống xã hội sẽ bị rối loạn.  Nói về việc sở hữu hay nắm giữ quyền lực nhà nước, Điều 2 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi ghi rõ rằng: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” ; trong khi đó Điều 4 lại khẳng định: “Đảng CSVN … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đương nhiên, hai điều khẳng định có tính nguyên lý căn bản này đã và đang tồn tại trong cả Hiến pháp trước đây, không chỉ tại văn bản dự thảo sửa đổi này. Vẫn đề ở chỗ sự tồn tại song song của hai nguyên lý này có là điều mâu thuẫn, bất hợp lý và phi thực tế hay không, xét cả về lý thuyết và thực tế? Và đó chính là bài toán đang cần lời giải từ các học giả và nhà chuyên môn, trong đó có giới luật học.  Trước hết nói về quyền lực. Bàn về Hiến pháp tức là nói đến quyền lực nhà nước. Xét theo ý nghĩa chung, khác với các loại quyền lực khác, quyền lực nhà nước có tính đặc thù ở chỗ gắn với bộ máy và phương tiện cưỡng chế thi hành như cơ quan hành chính, thủ tục pháp lý, lực lượng vũ trang v.v.. Do đó, một khi Điều 2 của Dự thảo Hiến pháp tuyên bố rằng mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân thì phải hiểu rằng người dân không thể thực thi các quyền lực ấy một cách trực tiếp được mà phải thông qua bộ máy nhà nước do mình thành lập lên. Hay nói một cách khác, chủ thể nắm giữ và thực thị quyền lực nhà nước chính là bộ máy nhà nước, mà không phải người dân.  Đương nhiên, trên thực tế có các tình huống mà nhân dân thực thi quyền lực của mình một cách trực tiếp, đó là cách mạng. Khi đó, như ông cha ta đã từng nói: “Chở thuyền, đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền đi cũng là dân”, nhân dân sẽ là người phá bỏ hoặc làm thay đổi căn bản nhà nước đang tồn tại để thiết lập nên một nhà nước mới nhằm bảo đảm tốt hơn cho việc đáp ứng các nguyện vọng của mình.   Chính theo bản chất của sự việc như vậy, cho nên Hiến pháp của nhiều nước có một cách diễn đạt khác, khúc triết hơn, đó là “quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân” chứ không phải là “thuộc về” họ. Nói như vậy tức coi nhân dân là “nguồn của quyền lực” chứ không phải chủ thể nắm giữ hay thực thi quyền lực. Nếu cùng nhau xác định như thế thì lời kêu gọi của nhiều người vừa qua rằng chúng ta hãy làm để cho “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” là không chính xác và phi thực tế. Nói đúng hơn phải là làm sao để Nhà nước bảo đảm cho người dân thực thi được các quyền cụ thể của mình.  Vậy còn quyền lực của Đảng. Câu hỏi là quyền lực của một Đảng được hình thành như thế nào và Đảng có nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước hay không?  Ở bất cứ quốc gia nào khi người dân bắt đầu tham gia các hoạt động chính trị thì Đảng hình thành. Quyền lực của Đảng, hiểu theo khả năng mà nó tác động vào tiến trình vận hành và phát triển của xã hội, được kết tinh từ ý chí và hành động của các đảng viên và những người ủng hộ Đảng. Số lượng Đảng viên và những người ủng hộ Đảng càng đông thì đương nhiên Đảng càng mạnh. Tuy nhiên, quyền lực đó của Đảng (gọi là quyền lực chính trị) không nhất thiết đồng nghĩa với quyền lực nhà nước, bởi sự phân biệt ở đây không phải là khả năng tác động mà là cách thức tác động vào các tiến trình xã hội. Chẳng hạn, Nhà nước có thể ra lệnh cho lực lượng cảnh sát thực thi hoạt động cưỡng chế thực thi pháp luật trong khi Đảng không thể làm như vậy. Với giới hạn tự nhiên và khách quan như vậy, ở đâu cũng vậy, Đảng muốn hiện thực hóa quyền lực chính trị của mình đều phải tiến hành thông qua Nhà nước, mà việc đầu tiên là phải giành lấy quyền được can thiệp vào Nhà nước ấy. Tuy nhiên, sự hình thành, cấu trúc và chức năng của Nhà nước lại là một phức hợp, bởi Nhà nước không chỉ là phương tiện dành cho Đảng sử dụng, mà quan trọng hơn nó còn là công cụ của người dân để tổ chức các hoạt động xã hội. Có nghĩa rằng, có rất nhiều hoạt động mà Nhà nước buộc phải làm theo chức năng thông thường của nó mà không có sự tác động chính trị của Đảng, chẳng hạn như bảo đảm và duy trì trật tự công cộng và cung cấp các dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội. Do đó, như một nguyên lý và thực tế phổ biến, các Đảng chính trị khi tham gia vào quyền lực nhà nước thường chỉ tham vọng chi phối hoặc tác động vào các định hướng phát triển lớn hay chính sách cơ bản của Nhà nước mà thôi.  Trở lại Điều 4 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi với quy định rằng Đảng CSVN là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều khẳng định rất quan trọng này, đồng thời cũng gây tranh cãi trong thời gian qua, cần được lý giải như thế nào?  Có ba câu hỏi cần được trả lời trước hết, đó là: thứ nhất, không có Đảng thì Nhà nước có hình thành được không? Thứ hai, sau khi hình thành rồi thì Nhà nước có cần Đảng lãnh đạo hay không? Và thứ ba, Đảng có cần và có thể lãnh đạo một cách tuyệt đối và toàn diện đối với cả Nhà nước và xã hội hay không?   Có thể nói trong xã hội hiện đại, nếu không có sự tác động và hỗ trợ của các đảng phái chính trị, Nhà nước rất khó hình thành bởi xây dựng Nhà nước là một công việc rất gian nan và phức tạp, đòi hỏi không chỉ nhiều sức lực mà còn cả tinh hoa trí tuệ của dân tộc. Chỉ có những người có nhiệt huyết và hiểu biết, có lý tưởng, ý chí và bản lĩnh được tập hợp trong các tổ chức Đảng mới có thể đứng ra lãnh đạo quần chúng trong xã hội để hình thành nên Nhà nước; đồng thời trong một thế giới đa dạng và phức tạp như hiện nay thiếu một lực lượng chính trị tiên tiến làm nòng cột, Nhà nước đó rất dễ dàng mất đi phương hướng hành động đúng đắn của mình. Phân tích như vậy để thấy rằng Đảng lãnh đạo Nhà nước là cần thiết và có cơ sở.   Nhưng Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cách nào? Đó là bài toán khó. Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng cũng tạo ra các nguy cơ cho chính bản thân Nhà nước và xã hội nếu: thứ nhất, Đảng không hấp thụ thường xuyên được các yếu tố tinh hoa từ xã hội thì sẽ suy thoái và dẫn Nhà nước suy thoái theo; thứ hai Đảng chỉ nghĩ tới quyền lợi ích kỷ của mình thì sẽ dẫn tới sự xung đột với bộ phận nhân dân còn lại; và thứ ba, Đảng can thiệp một cách tuyệt đối và toàn diện vào đời sống Nhà nước và xã hội thì sẽ tạo ra sự đơn điệu, sơ cứng trong đời sống, làm thui chột sự sáng tạo của nhân dân. Chính vì vậy, ở phần lớn các quốc gia, Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối và chủ trương chính sách lớn, thông qua sự can thiệp vào các yếu tố ở thượng tầng kiến trúc như nhân sự lãnh đạo chủ chốt và cấp cao, cũng như tinh thần và nội dung của các đạo luật cơ bản liên quan đến đời sống phát triển quốc gia và con người.   Việc này cũng đồng nghĩa với một thực tế khác là Đảng không thể lãnh đạo xã hội, bởi so với Nhà nước thì xã hội luôn luôn rộng lớn hơn, phong phú và đa dạng hơn, trong khi Đảng, bao giờ cũng vậy, chỉ là tổ chức chính trị của một bộ phận hay nhóm người cụ thể. Việc duy trì đời sống tự nhiên của xã hội bằng việc giữ cho nó không bị phiến diện hay bóp méo bởi các khuynh hướng chính trị khắt khe, nhiều khi quá hẹp hòi và thực dụng sẽ không thể tạo cho quốc gia luôn luôn có một sức sống mãnh liệt để ứng phó và thích nghi với mọi đổi thay của thế giới.Vì vậy một Đảng chính trị nếu muốn mở rộng các tác động và ảnh hưởng của mình lên đời sống xã hội cần phải được thực hiện thông qua quảng bá và thuyết phục để mọi người đi theo mà tuyệt nhiên không thể là sự áp đặt.    Tóm lại, có thể chốt lại ở đây điều gì? Nhân dân là chủ thể quan trọng nhưng không nắm giữ mà tạo ra nguồn gốc của quyền lực. Quyền lực nhà nước luôn luôn nằm trong tay chính bản thân Nhà nước. Nhà nước đồng thời cần được sự lãnh đạo và dẫn dắt của Đảng chính trị. Vấn đề, do đó, ở chỗ Nhà nước cần được tổ chức làm sao để bảo đảm rằng luôn luôn duy trì và bảo vệ được tính nguyên vẹn của nguồn gốc quyền lực, đồng thời lại được định hướng bởi lực lượng tinh hoa nhất của xã hội được kết tinh trong Đảng chính trị. Nguyên lý này, có thể được mô phỏng như một cái cây cần có bộ rễ chắc bám vào đất để đứng một cách vững vàng, đồng thời cần cái ngọn vươn cao để hấp thụ sự khí trời trong lành, nếu không như vậy, sẽ dẫn đến sự trì trệ, bất ổn thậm chí rối loạn.     Bài 2: Các bất hợp lý trong tổ chức quyền lực nhà nước hiện nay        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 2: Các bất hợp lý trong tổ chức quyền lực nhà nước hiện nay      Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo  công cuộc xây dựng không chỉ một chính thể mới, Nhà nước mới mà còn cả  một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, bằng cách đốt cháy giai đoạn,  tức bỏ qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa.     Với mục tiêu vĩ đại ấy, đương nhiên Đảng CSVN phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, tuyệt đối và toàn diện đối với toàn bộ xã hội. Tuy nhiên, trở lại bản chất tự nhiên của quyền lực công, Đảng không phải và không thể là Nhà nước, do đó, để bảo đảm được tính hiệu lực thực tế của quyền lực lãnh đạo của Đảng, hay nói một cách khác là “nhà nước hóa quyền lực chính trị”, bộ máy nhà nước ta đã được tổ chức cũng theo nguyên tắc tập trung quyền lực vào một đầu mối duy nhất thuộc thượng tầng kiến trúc, được gọi là Quốc hội.   Tuy nhiên, bởi Quốc hội là cơ quan nhà nước, do đó, nó vẫn buộc phải tuân theo tính quy luật của một cơ quan quyền lực công, tức là do dân bầu; và mặc dù có thể đa số Đại biểu Quốc hội là Đảng viên thì nó vẫn có một sự độc lập tương đối với Đảng. Khoảng cách này được bù đắp bởi một sáng tạo trong cách thức tổ chức của Đảng CS rất đặc thù của nhà tư tưởng cộng sản chủ nghĩa tiền bối vĩ đại là Lenin, theo đó, một hệ thống tổ chức rộng lớn và chặt chẽ các cơ sở của Đảng được thiết lập trong tất cả các bộ phận và cấu trúc của bộ máy nhà nước và thiết chế xã hội và được vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều này sẽ bảo đảm cho toàn bộ Nhà nước và xã hội sẽ đi theo đúng đường ray chính trị do Đảng CS đặt ra.   Lịch sử đã và sẽ tiếp tục vận động theo một logic khoa học như vậy nếu như không có sự chuyển đổi mang tính cách mạng tại Đại hội Đảng CSVN khóa 6 năm 1986 với quyết định phá bỏ hệ thống kinh tế kế hoạch cũ, thiết lập nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, và sau đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong suốt hơn 20 năm qua. Nhà nước và xã hội được nuôi sống bởi nền kinh tế. Hệ thống kinh tế thay đổi đương nhiên sẽ dần dần kéo theo hoặc ít nhất đặt ra nhu cầu của sự thay đổi tận gốc dễ đối với toàn bộ các thiết chế của kiến trúc thượng tầng của xã hội, trong đó đương nhiên bao gồm cả Đảng và Nhà nước. Đó không có gì khác hơn là bản chất của phép biện chứng trong vận động của sự vật. Trên thực tế, quá trình thay đổi này diễn ra như thế nào, liên quan đến các quan hệ mang tính quyền lực?          Con người với mục đích và năng lực hành động  khác nhau thông qua các nhóm lợi ích sẽ có xu hướng phản kháng lại  quyền lực nhà nước, và cứ thế, nỗ lực và chi phí duy trì trật tự và ổn  định của bộ máy nhà nước lại tăng lên làm tiêu hao hết dần các nguồn lực  cho sự phát triển.          Xin nhắc lại rằng quyền lực chính trị của Đảng được hình thành từ sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng viên và những người ủng hộ Đảng, còn quyền lực nhà nước được thực thi và bảo đảm bằng các công cụ có tính cưỡng chế. Như vậy, với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, tính đa dạng và sự khác biệt về địa vị kinh tế, đặc tính xã hội, phương pháp tư duy, hay nói một cách tổng quát là sự khác biệt trong tôn chỉ và mục tiêu hành động của các thành viên trong xã hội đã xuất hiện trở lại. Hậu quả của quá trình này là sự hình thành tất yếu của các nhóm lợi ích, trước hết được gắn kết bởi lợi ích kinh tế, sau đó sẽ là lợi ích xã hội, văn hóa và chính trị. Quá trình này không chỉ tác động vào các nhóm xã hội ngoài Đảng mà còn cả Đảng viên một khi Đảng viên cũng được quyền hoạt động kinh tế tư nhân, hay chí ít thì người thân trong gia đình họ cũng được làm như vậy. Thực tế này về mặt tự nhiên dẫn đến tình trạng tính thống nhất trong ý chí và hành động, là nền móng của quyền lực chính trị của Đảng, bị phá vỡ; hay xuất hiện sớm hơn và biểu hiện rõ rệt nhất là sự giảm dần của tính thống nhất ấy trong các bộ phận khác nhau của xã hội bên ngoài Đảng. Xã hội bắt đầu chuyển động theo các khuynh hướng khác nhau, tuy nhiên lại không có sự dẫn dắt một cách chính thống và có tổ chức bởi các thiết chế chính trị, do đó làm phát sinh tình trạng bất ổn. Để cân bằng lại và duy trì trật tự và ổn định, một khi quyền lực chính trị của Đảng giảm sút thì quyền lực nhà nước sẽ phải tăng lên và do đó, các biện pháp hành chính và cưỡng chế được gia tăng áp dụng. Quyền lực nhà nước, một khi được nhấn mạnh và thực thi thái quá sẽ trở thành “con dao hai lưỡi”, hay mang lại tác dụng ngược đối với chính mục tiêu và tôn chỉ của Nhà nước là bảo đảm sự ổn định và phát triển. Con người với mục đích và năng lực hành động khác nhau thông qua các nhóm lợi ích sẽ có xu hướng phản kháng lại quyền lực nhà nước, và cứ thế, nỗ lực và chi phí duy trì trật tự và ổn định của bộ máy nhà nước lại tăng lên làm tiêu hao hết dần các nguồn lực cho sự phát triển.    Các biểu hiện bề nổi của quá trình vận động trong xã hội nói trên đã được nhìn thấy rõ ràng. Đó là nạn tham nhũng tràn lan trong khu vực công, kỷ cương nhà nước và hiệu lực pháp luật suy giảm, đạo đức xã hội xuống cấp kèm theo bất ổn thậm chí rối lọan xã hội gia tăng.  Tựu trung, từ góc độ khoa học, có thể khái quát hóa lập luận trên như sau: quyền lực trong xã hội, ví như các dòng năng lượng, bao gồm hai dòng chủ là quyền lực chính trị (được sự dẫn dắt bởi các đảng phái và tổ chức chính trị) và quyền lực nhà nước (được nắm bắt và sử dụng bởi bộ máy nhà nước). Cả hai dòng quyền lực này đều đi ra từ một nguồn duy nhất là nhân dân. Trong một bối cảnh mới là nền kinh tế thị trường và xã hội mở, nguồn quyền lực là nhân dân sẽ ngày càng phong phú và đa dạng, do đó, tổ chức quyền lực hợp lý chính là tái cấu trúc hệ thống cũ để bảo đảm rằng hai dòng quyền lực chủ có thể hấp thụ một cách tối đa các nguồn quyền lực từ nhân dân, sau đó được kết hợp với nhau một cách hợp lý và hài hòa để tạo nên sức mạnh chung, vận động theo cùng một hướng cho sự phát triển của đất nước và dân tộc, mang lại công bằng, dân chủ và văn minh cho mọi người dân.   Bởi vậy, nhu cầu của sự đổi mới quan trọng nhất hiện nay là đổi mới cách thức tổ chức quyền lực nhà nước hay nói một cách cụ thể là đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Và nay là thời điểm chín muồi để xem xét khía cạnh này, bên cạnh hàng loạt các vấn đề khác đang được bàn đến trong quá trình góp ý sửa đổi Hiến pháp.     Đọc thêm:   Bàn về luật hóa sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam  Bài 1: Phân biệt giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của nhân dân  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6223    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 2: Lãnh đạo tài năng, có tầm nhìn      Họ là những người đã chung tay xây dựng nên một bản hiến pháp tốt nhất và phù hợp nhất với nước Mỹ. Nhưng phát triển một quốc gia thì một bản hiến pháp tốt là chưa đủ. Hiến pháp cần phải được thực thi bởi những cá nhân xuất sắc và với tư tưởng xuất sắc, có tầm nhìn… Những cá nhân ấy hợp thành cả một thế hệ lãnh đạo.    Nhân vật tiêu biểu nhất cho những nhà lãnh đạo này là Alexander Hamilton, được coi là chính trị gia kiệt xuất nhất của Mỹ. Sau này, ông là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ, và được coi là “kiến trúc sư” cho nền kinh tế và chính trị Mỹ thời dựng quốc.  Trong giai đoạn lập quốc của nước Mỹ kể từ những xung đột đầu tiên với người Anh đầu những năm 1770 đến khi thiết lập xong nhà nước Liên bang Hoa Kỳ năm 1792, nước Mỹ đã trải qua hai thế hệ lãnh đạo. Thế hệ đầu tiên tiêu biểu là George Washington (1732-1799), là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ thời kỳ Cách mạng và những nhân vật kiệt xuất như Benjamin Franklin (1706-1790), chính khách Mỹ, Thống đốc bang Massachusetts, người có hình trên tờ 100 đô la, Patrick Henry Lee (1732 – 1794), người khởi xướng nền độc lập cho các thuộc địa, Chủ tịch đầu tiên của Quốc hội Hợp bang… và George Mason (1725-1792), cha đẻ Tuyên ngôn Nhân quyền của tiểu bang Virginia và Đạo luật Nhân quyền Mỹ năm 1790, John Hancock (1737-1793), Chủ tịch Quốc hội Hợp bang, người đầu tiên ký Tuyên ngôn Độc lập Mỹ…   Thế hệ đầu tiên này (trừ Benjamin Franklin) sinh ra trong khoảng những năm 1730-1745 với lòng quả cảm và là thế hệ đầu tiên dẫn dắt và lãnh đạo cuộc Cách mạng Mỹ dẫn đến nền độc lập… Nhưng tư duy chính trị của các nhân vật này mới dừng lại ở lòng yêu nước, sự nhiệt thành và mong muốn một xây dựng đất nước thịnh vượng. Thành tựu lớn lao nhất của thế hệ đó là cuộc cách mạng giành độc lập với người Anh mà “sản phẩm tinh hoa kết tinh” nhất chính là bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776…   Thế hệ chính khách, lãnh đạo thứ hai của Mỹ tiêu biểu là James Madison (1751-1836); Alexander Hamilton (1759-1804); John Marshall (1755-1835), Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ, Chánh án vĩ đại nhất đã làm nên sự độc lập của ngành tư pháp Mỹ; James Monroe (1758-1831), Tổng thống thứ 5; Edmund Randolph (1753-1813), Thống đốc Virginia, Ngoại trưởng Mỹ… Thế hệ này sinh ra trong giai đoạn 1750-1760, khi Cách mạng Mỹ nổ ra, họ mới khoảng 20 tuổi nhưng được học hành bài bản hơn. Khi trưởng thành họ bắt đầu chứng kiến và tham gia cuộc Cách mạng Mỹ và đặc biệt là họ nhìn thấy được những yếu kém của nền chính trị Mỹ thời kỳ Hợp bang sau khi giành độc lập. Thành tựu lớn lao nhất của họ là kế tục sứ mạng dẫn dắt quốc gia non trẻ từ tay thế hệ thứ nhất để xây dựng chính quyền Liên bang Hoa Kỳ vững mạnh hơn và “sản phẩm trí tuệ” tiêu biểu tinh hoa nhất của họ chính là bản Hiến pháp Mỹ.  Tôi nhận thấy, mỗi thế hệ chính khách Mỹ đều mang trong mình một sứ mệnh lịch sử và họ hoàn thành tốt sứ mệnh này. Với thế hệ đầu tiên, sứ mạng đó là giành độc lập cho các thuộc địa và thế hệ thứ hai là tạo dựng nền tảng cho một nhà nước Liên bang trên nền độc lập đó. Các thế hệ tiếp theo lại có sứ mệnh xây dựng một nhà nước Mỹ thịnh vượng trên cái nền tảng đó, hoặc xử lý những khủng hoảng của quốc gia, của thế giới mà họ gặp phải.  Quan điểm của Hamilton là để phát triển một quốc gia thì một bản hiến pháp tốt là chưa đủ, nó cần phải được thực thi bởi những cá nhân xuất sắc và với tư tưởng xuất sắc, có tầm nhìn và cả một thế hệ lãnh đạo, một ê kíp lãnh đạo tài năng.   Trước khi Hội nghị Lập hiến nhóm họp một năm, tại Hội nghị Annapolis năm 1786, Hamilton và Madison thống nhất quan điểm cần có một mô hình chính quyền mới mạnh mẽ và hiệu quả hơn nhưng dường như có sự phân công nhiệm vụ giữa hai chính trị gia trẻ trung này. Madison dành cả một năm tìm hiểu về các mô hình nhà nước cổ xưa và hiện đại để rồi phác thảo một bản hiến pháp phú hợp nhất cho nước Mỹ. Còn Hamilton đã dành thời gian nghiền ngẫm về những gì rồi đây nước Mỹ sẽ phải làm. Ông cho rằng, nước Mỹ cần phải được xây dựng trên một trật tự mới, có một bản hiến pháp mới với một chính quyền mới nhưng Hamilton còn muốn rằng chính quyền mới phải thực thi được những chính sách kinh tế, tài chính, thương mại, và cả ngoại giao, quốc phòng phù hợp. Vì thế, trong khi những chính khách khác mải mê tranh cãi tại Quốc hội, sa đà vào những lợi ích và mưu đồ cá nhân hoặc than vãn với nhau, còn Madison đang mải mê với những ý tưởng về Hiến pháp và mô hình nhà nước Liên bang thì Hamilton trở về New York nghiềm ngẫm và trù liệu những chính sách mới mà nước Mỹ rồi sẽ phải thực thi. Tôi rất lấy làm thú vị khi Hmailton còn đặc biệt khôn ngoan khi dự trù trước rằng có thể Washington làm Tổng thống, có thể mình sẽ thành Bộ trưởng Tài chính… Chính những sự chuẩn bị đó khiến ông vượt trên các chính khách khác đương thời khi chính quyền mới được thiết lập và chương trình hành động của ông đã thắng thế.  Đại biểu Quốc hội Hợp bang khi đó khá yếu kém, sa đà vào các tranh cãi vụn vặt. Hầu hết các chính khách khi đó đều chỉ đại diện cho các lợi ích địa phương, cục bộ. Mải mê theo đuổi lợi ích và chức vụ riêng… mà không thảo luận, suy nghĩ nghiêm túc về tầm nhìn và hướng phát triển của dân tộc. Washington và Hamilton gọi họ là những chính trị gia thiển cận, hẹp hòi, theo chủ nghĩa địa phương. Vai trò họ quá mờ nhạt và không mang lại sự thay đổi. Hầu hết các chính khách khi đó loay hoay giữa lợi ích cá nhân và lợi ích đất nước, chẳng biết đi về đâu…  Do kinh tế khó khăn, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân xuất hiện ở vài nơi trên nước Mỹ, bất ổn trong xã hội xuất hiện, nông dân mất niềm tin vào chính quyền, ngân khố trống rỗng, uy tín của chính quyền cộng hòa giảm sút nghiêm trọng, và hầu như không ai có được một giải pháp nào toàn diện… Tương lai của liên minh 13 tiểu bang bị nghi ngờ đến mức khi đó Hamilton viết thư cho Washington rằng cả nước Mỹ đang sôi lên và chỉ cần một mồi lửa cũng đủ để bùng lên cả đám lửa. Hamilton nghĩ về một tương lai mạnh mẽ hơn, ông muốn và ủng hộ mô hình chính quyền Anh. Vì thế, ông liên kết với James Madison để vận động theo hướng ông tin tưởng.  Trong bức thư gửi Washington ngày 3 tháng Bảy năm 1787, Hamilton viết:  “Trong chuyến đi của tôi về New Jersey và từ khi đến đây, tôi đặc biệt lo âu khi nhận thấy tâm trạng của công chúng và càng tin tưởng rằng Hội nghị Lập hiến này là cơ hội sống còn cuối cùng cho chúng ta thiết lập lại sự thịnh vượng của đất nước trên một nền tảng vững chắc hơn. Tôi cũng nói chuyện với những người hiểu biết, không chỉ ở thành phố này mà còn ở nhiều miền trong tiểu bang. Họ đồng ý rằng một cuộc cách mạng kỳ diệu mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn đang ở trong tâm trí tất cả mọi người. Họ nghĩ rằng do nỗi sợ hãi làm chấn động công chúng nên Hội nghị này sẽ không tiến đủ xa. Họ dường như tin rằng một mô hình nhà nước vững mạnh sẽ phù hợp với sự trông chờ của công chúng hơn là bất kỳ mô hình nào khác. Bất chấp việc những viên chức chính quyền đang làm mọi cách có thể để tạo ra những mối ác cảm về Hội nghị này, xu hướng chung hiện nay dường như đi theo hướng ngược lại.   Xin thú thật với Ngài rằng tôi rất lo âu về những chia rẽ bè phái tại Hội nghị khi tôi rời Philadelphia. Tôi sợ rằng chúng ta sẽ bỏ lỡ “cơ hội vàng” cứu vãn nước Mỹ khỏi sự chia rẽ, tình trạng hỗn loạn vô chính phủ và cảnh nghèo đói. Không có một biện pháp hỗn tạp hay yếu ớt nào có thể giải quyết dứt điểm vấn đề này. Cần phải có quyết định sáng suốt và không có gì mang lại sự thành công cho Hội nghị này bằng sự hài lòng của dân chúng.”  Trong suốt thời kỳ trước và sau Hội nghị Lập hiến, Hamilton đã nghiền ngẫm rất nhiều sách lược, xây dựng một tầm nhìn, phát triển ê kíp lãnh đạo và hoạch định chiến lược về kinh tế, tài chính. Chính ông là người dựng ra tầm nhìn cả 100 năm cho nước Mỹ với rất nhiều hành động phi thường như lập ngân hàng quốc gia, thống nhất tiền tệ, thuế khóa, thúc đẩy sản xuất trong nước, tìm kiếm liên minh và quan hệ với nước Anh… Sau này, dù không còn tham chính những học thuyết và chính sách của ông vẫn được thực thi.   Ngay sau khi nhậm chức, Hamilton đã thuyết phục Washington ký hiệp ước thương mại với người Anh chứ không phải với người Pháp, bất chấp việc Pháp là đồng minh và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập. Ông cho rằng, để đất nước Mỹ phát triển, cần phải xây dựng mối quan hệ thương mại với cường quốc của thế giới dù cho đó là kẻ thù ngày xưa. Hamilton cũng thiết lập uy tín cho quốc gia, thiết lập Ngân hàng Quốc gia Mỹ, tiền thân của FED sau này, thống nhất các loại tiền của các tiểu bang về liên bang. Ông cũng xây dựng một loạt đạo luật liên quan đến việc đánh thuế và thúc đẩy sản xuất trong nước.  Hamilton là tiêu biểu cho cả một thế hệ lãnh đạo khai sáng, chân chính… Ông nỗ lực làm tất cả những gì có thể, sáng tạo ra những quan điểm mới và chính sách mới, thậm chí diễn giải hiến pháp để bào chữa và bênh vực cho chính sách mà ông sẽ làm…        Alexander Hamilton    Alexander Hamilton (1757–1804) là luật sư,   chính trị gia, chuyên gia tài chính người Mỹ. Ông là Bộ trưởng Ngân khố   đầu tiên của Hoa Kỳ, người đã thiết lập hệ thống tài chính – ngân hàng,   đặt nền móng cho nền kinh tế Mỹ, khi trở thành Bộ trưởng Ngân khố ông   mới 32 tuổi.    Ông đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chính   quyền trung ương, nên vào năm 1786, đại diện cho tiểu bang New York  tại  Hội nghị Annapolis. Tại đây, ông cùng Madison thúc giục Quốc hội  Hợp  bang triệu tập Hội nghị Lập hiến nhằm soạn thảo mô hình chính quyền  mới  cho liên bang. Năm 1787, Hamilton tham dự Hội nghị Lập hiến tham  gia Ủy  ban soạn và có đóng góp rất lớn.   Ông là tác giả chính của tác phẩm The  Federalist Papers  (Người liên bang) viết chung với James Madison. Những  tư tưởng lớn lao  chứa đựng trong đó đã đưa tác phẩm này sánh ngang với  những danh tác  chính trị của nhân loại, làm nền tảng, giải thích rõ ràng  về ý nghĩa và  mục đích của Hiến pháp Hoa Kỳ.   Năm 1789, Washington đã bổ nhiệm Hamilton   giữ chức Bộ trưởng Tài chính, bộ quan trọng nhất trong giai đoạn đầu   dựng nước. Được coi là kiến trúc sư của nền tài chính, kinh tế, và cả   chính trị ngoại giao Mỹ thời kỳ lập quốc, ông đã xây dựng nền tảng cho   một nhà nước hùng mạnh. Ông đã thành lập Ngân hàng Đệ nhất Hoa Kỳ, để   tài trợ cho các khoản nợ của liên bang; đảm trách các khoản nợ của các   tiểu bang và khuyến khích sản xuất, phát triển quan hệ thương mại với   nước Anh. Hamilton tham gia sáng lập Ðảng Liên bang, tiền thân của đảng   Cộng hòa sau này để đối trọng lại Jefferson, Madison và Ðảng Cộng hòa –   Dân chủ.          —  (*) Giám đốc Alpha Books         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 2: Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản      Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn  quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp  đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những  quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải  mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.     Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân” đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.   Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lý giải trong “Báo cáo Thuyết minh”: “Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp”. Từ mục đích đó, DTHP có nhiệm vụ “làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân…”.   Đã là quyền con người thì do “tạo hoá” sinh ra nằm trong chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm, yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng dân chủ tiến bộ ưu việt.   Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới 48 điều về “quyền và tự do của con người và của công dân”, chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ 138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15 điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính, xếp thứ 17.   Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, “lẽ phải không ai chối cãi được”, nhưng một khi quyền lực nhà nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân Pháp “mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” đến nước ta tuyên bố “khai hoá văn minh”, nhưng thực tế lại “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)” hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực hiện quyền đó.   Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm “hạt cơ bản” trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác, quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp, khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được thực hiện.   Có thể hiểu qua ví dụ về “quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp Đan Mạch quy định tại điểm (1): “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ”. Ở Đức, xuất phát từ Điều 1, Luật Cơ bản, “nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà nước”, Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người (năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà, được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí 600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến định.   Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt, khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.  Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm “khẳng định giá trị, vai trò”, “nội dung quyền con người”, nên Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, không hề quy định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi, như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống bình thường.   Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản, nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như Điều 38 DTHP: “Công dân có quyền làm việc”, họ không thể hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt. Điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”, họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự, Điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ” (nghĩa là trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá” (nhà nước miễn phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (trách nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?), Điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (nhà nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn” (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.   Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến pháp quyền cơ bản “có tài khoản ngân hàng”, dự kiến thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản một khi đã hiến định là được thực thi.   Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.   Đọc thêm:  Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6162    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 3: Hệ thống giáo dục gắn với thực tế và khai sáng      Một hệ thống giáo dục thực sự dân chủ và khai sáng mới đào tạo ra các thế hệ công dân tốt và hình thành các thế hệ lãnh đạo tài năng tiếp nối.    Vĩ nhân tiêu biểu và là lãnh tụ đóng góp lớn nhất cho quan điểm này chính là Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 và tác giả Tuyên ngôn Độc lập. Jefferson cho rằng việc có bản hiến pháp tốt là chưa đủ, việc có các nhà người lãnh đạo giỏi, có tầm nhìn… cũng chưa đủ đảm bảo cho một quốc gia bền vững và thịnh vượng. Bởi khi thế hệ lãnh đạo đó mất đi, nếu không có thế hệ lãnh đạo tài năng mới thì thể chế đó cũng sớm lụi tàn. Vì thế, ông cho rằng cần nhiều thế hệ lãnh đạo tài năng, kế tục, nối tiếp nhau, như một ngôi nhà cần phải được xây dựng bằng nhiều lớp gạch… Và xa hơn, cần một dân tộc được khai sáng, cần những thế hệ công dân có giáo dục…  Quan điểm của Thomas Jeffferson đặc biệt hấp dẫn và có tầm nhìn rất xa. Trong lịch sử Việt Nam và thế giới, chúng ta cũng thường chứng kiến rất nhiều triều đại, nhiều quốc gia được sáng lập bởi các vị vua anh minh nhưng rồi lại tàn lụi khi không còn người lãnh đạo giỏi tiếp nối. Vì thế, điều then chốt là phải tạo dựng một nền giáo dục thực sự khai sáng. Cần một thế hệ công dân tốt, được khai sán… để từ chính họ nảy sinh những nhà lãnh đạo tài năng mới… để họ có thể lựa chọn được nhà lãnh đạo tốt… mạnh dạn, dám nói, dám làm.   Và Jeffferson đã làm gì? Ông đã cho xây dựng Trường Đại học Virginia, cải cách hệ thống giáo dục, nỗ lực phát triển hệ thống thư viện rộng khắp. Ông đã tặng toàn bộ thư viện 6.000 cuốn sách hay nhất, hữu ích nhất của mình cho Thư viện Quốc hội Mỹ và lan tỏa ý tưởng phát triển một hệ thống thư viện khắp cả nước. Trường Đại học Virginia đi đầu trong việc cải cách chương trình giáo dục…  Một câu hỏi luôn đặt ra trong tâm trí Jefferson, đó là liệu nhà nước cộng hòa Mỹ vừa được thiết lập sẽ duy trì sự tồn tại và phát triển như thế nào? Ông thuộc thế hệ đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ và là một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước có nhiệm vụ thiết lập chính quyền trên nền tảng mới; nhưng chính ông lại nghi ngờ rằng những thể chế chính quyền dù được thiết lập hoàn hảo cũng không đủ bảo đảm tự do, độc lập và thịnh vượng lâu dài trên đất nước Mỹ, bởi ông tin rằng phải chính những người dân được học hành, có kiến thức mới bảo vệ được quyền lợi và sự tự do của mình.   Jefferson viết “Giáo dục làm người ta ý thức được cội nguồn dân tộc, biến đổi những thói xấu cố hữu thành những đức tính tốt đẹp, có lòng nhân ái. Không phải ai khác mà chính từng thế hệ, kế thừa kiến thức của những người đi trước, bổ sung vào đó những điều mới mẻ, không ngừng nâng cao kiến thức và thịnh vượng cho nhân loại…” Jefferson tin rằng giáo dục và quyền công dân là không thể tách rời và khẳng định những điểm mấu chốt nhất về vấn đề này là: (1) dân chủ không thể tồn tại lâu dài nếu không có sự khai sáng (dân trí, kiến thức); và (2) dân chủ không thể được thi hành đúng đắn nếu không có những viên chức chính quyền khôn ngoan và trung thực. Ông viết: “Không bao giờ và sẽ không bao giờ một quốc gia ngu dốt lại giành được sự tự do”. Với ông, sự ngu dốt và sự dân chủ, thịnh vượng của quốc gia không bao giờ cùng tồn tại, cái này sẽ phá hỏng cái kia hoặc ngược lại. Một chính quyền chuyên chế sẽ kìm kẹp và cướp đi quyền tự do của dân chúng nếu họ ngu dốt.   Với ông, giáo dục phổ thông rất quan trọng và là sự bổ sung cần thiết cho một chính quyền tự do vì “Mọi chính quyền đều sẽ thoái hoá và suy đồi nếu chỉ dựa vào tầng lớp cai trị. Bản thân dân chúng mới là bức tường thành duy nhất bảo vệ nền dân chủ và đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhưng để xã hội được an toàn thì trí tuệ và kiến thức của họ phải được cải thiện đến một mức độ nào đó, vì những người bỏ phiếu cần phải được chuẩn bị sao cho anh ta có thể trình bày được ý kiến của mình một cách đúng đắn bằng chính lá phiếu”.   Ông tin rằng giáo dục tiểu học quan trọng hơn nhiều so với giáo dục bậc đại học, “bởi điều đó sẽ đảm bảo một xã hội an toàn hơn khi toàn bộ dân chúng có được trình độ học vấn một cách tương đối hơn là nếu chỉ một ít có trình độ rất cao nhưng đa số lại dốt nát như ở Châu Âu” vì bằng việc biết đọc, biết viết, mọi người dân đều trở thành những “người bỏ phiếu” có chất lượng, được thông tin đầy đủ và hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Thậm chí, Jefferson cho rằng cần phải tước quyền bầu cử của những công dân lười biếng, không chịu tiếp cận nền giáo dục do chính quyền tạo ra. Nâng cao dân trí của nhân dân nói chung sẽ xoá bỏ sự chuyên chế và áp bức về vật chất lẫn tinh thần, như thể những ý tưởng đen tối lộ rõ trước buổi bình minh.   Để thực hiện tư tưởng của mình, ngay từ khi cuộc Cách mạng Mỹ nổ ra, Thomas Jefferson đã muốn cải cách trường William & Mary, nơi ông học trước đây. Ông muốn biến cơ sở giáo dục buồn tẻ và yếu kém này thành một “vườn ươm” nuôi dưỡng các thế hệ mới sôi nổi, nhiệt thành và gắn bó với mục tiêu xây dựng một xã hội tốt đẹp. Với ông, chỉ thông qua khoa học các kiến thức mới mẻ sẽ được phát hiện và việc áp dụng các kiến thức này sẽ dẫn tới sự tự trị và sự khai sáng của loài người. Ông cho rằng tài năng có thể phân bố ngẫu nhiên trong toàn xã hội bất kể giàu nghèo, địa vị, tầng lớp nhưng năng lực thực sự chỉ xuất hiện khi được giáo dục cẩn thận.   Là Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ (1801-1808), cảm thấy bổn phận phải cống hiến và xây dựng đất nước, Jefferson đã đệ trình Quốc hội một điều khoản sửa đổi Hiến pháp nhằm buộc chính quyền phải có trách nhiệm đối với giáo dục. Trong bức Thông điệp Liên bang ngày 2/12/1806, ông viết “Giáo dục cần phải được coi là mối ưu tiên của toàn xã hội… Tôi nghĩ rằng đạo luật quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật của chúng ta chính là qui định bắt buộc phổ biến kiến thức cho mọi người dân. Không nền tảng nào đảm bảo tự do và hạnh phúc của dân chúng bằng nền tảng giáo dục”. Chính phủ phải có trách nhiệm, chính xác hơn là bổn phận thiêng liêng hỗ trợ giáo dục.   Ông cũng đề xuất cải cách hệ thống giáo dục toàn diện trên khắp tiểu bang Virginia. Từ năm 1814, Jefferson đã vận động thành lập một trường Đại học thật sự đầu tiên của nước Mỹ, đó chính là trường Đại học Tổng hợp Virginia. Với ông, trường Đại học này không chỉ đào tạo ra các giáo sư và các nhà khoa học mà còn phải tạo ra các nhà lãnh đạo tương lai của đất nước. Ông muốn thiết lập một hệ thống để đảm bảo rằng những tài năng sẽ có cơ hội thể hiện và được xã hội phát hiện… Và giáo dục phổ thông là yếu tố sàng lọc cần thiết loại bỏ những thứ vô giá trị của tầng lớp đặc quyền, thúc đẩy giới tinh hoa của đất nước nổi lên.   Trong suốt sáu năm làm Hiệu trưởng của trường, Jefferson hoàn toàn dành mọi công sức để xây dựng nên “trường Đại học thật sự đầu tiên của nước Mỹ”. Ông vận động quyên góp tiền, phác thảo bản vẽ kiến trúc trường, thuê người xây dựng, cẩn thận chọn lựa đội ngũ giáo viên, phát triển chương trình dạy học, đề ra nội qui của trường và nhiều cải tiến khác: thiết lập các môn học không bắt buộc, cắt bỏ sự ràng buộc giữa nhà trường và nhà thờ, chuyển chương trình học kinh điển sang các môn khoa học thực tiễn, nới lỏng kỷ luật của trường, phát triển các ngành mới. Ông muốn tạo ra một môi trường tự do và tiến bộ cho các giáo sư và sinh viên cùng nhau nghiên cứu và tìm tòi kiến thức.   Việc chọn lựa các môn học của ông cũng được cân nhắc kỹ càng. Ông cho rằng, để tạo ra những con người yêu nước tất yếu việc giáo dục phải bao gồm lịch sử và luật pháp vì theo ông trong khi khoa học là “mũi giáo”, là công cụ phát hiện thế giới bên ngoài thì lịch sử là “tấm áo giáp” chống lại sự chuyên chế, đồng thời sẽ mang lại cho con người tầm nhìn xa, trông rộng và sự điềm tĩnh, phát hiện mọi tham vọng xấu xa. Việc hiểu biết lịch sử sẽ là rất cần thiết để duy trì nền cộng hoà còn việc học luật pháp là nhằm xây dựng trật tự cho các hoạt động của xã hội. Không chỉ dừng lại đấy, Jefferson còn thành công trong việc truyền tải tư tưởng về một nền giáo dục tự do và rộng khắp vào Thư viện Quốc hội Mỹ, biến nơi đây thành một nơi lưu trữ và bảo tồn lớn nhất mọi dạng tri thức của nhân loại và dễ tiếp cận cho mọi người dân…             Thomas Jefferson   Thomas Jefferson (1743–1826) là tổng thống  thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người sáng lập ra Đảng Dân chủ–Cộng  hòa Hoa Kỳ và là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành  lớn nhất thời cận đại. Ông sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell,  bang Virginia, lúc đó còn là vùng biên giới hoang vu, trong một gia đình  kĩ sư gốc Anh. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, rồi sau đó vào trường Đại  học William & Mary (1760–1762). Năm 23 tuổi, ông trở thành luật sư.  Bảy năm sau, ông thôi hành nghề với một tài sản kha khá và với mối ác  cảm sâu sắc về giới luật sư, rồi sống cuộc sống của một nhà quý tộc nông  thôn độc lập.    Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang  dòng chữ: “Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả  của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín  ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia”.           —  (*) Giám đốc Alpha Books    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài biện hộ cho ông chánh án      Giống như các chàng công tử quý phái thời La Mã cổ đại khi thấy những người thứ dân bị xét xử ở tòa, họ đã tình nguyện vào biện hộ không đòi chi phí; từ đó tạo nên nghề luật sư, và tiền trả cho luật sư được gọi là thù lao. Tôi không phải là quý tộc, ông Chánh án Tòa tối cao cũng chẳng phải là thứ dân; ông cũng chẳng khiến tôi làm; nhưng khi thấy ông bị Quốc hội chất vấn thì “máu nghề nghiệp” của tôi nổi lên và tôi xin nộp bản biện hộ này lên công luận để bênh vực cho ông. Vì thực sự là Ông Chánh án không hề nhờ tôi; nên tôi xin quý vị đang đọc giả vờ làm đại biểu để tôi có thể làm công việc của mình. Nếu Viện Kiểm sát có bản cáo trạng thì- là luật sư – tôi có bản biện minh trạng cho thân chủ của mình. Và nó như thế này.        Trong cuộc chất vấn, thân chủ chúng tôi đã được yêu cầu giải trình chín vấn đề: năm vấn đề liên quan đến nền tảng hệ thống tư pháp; bốn vấn đề mang tính vụ việc. Năm vấn đề đầu có thể rút lại còn ba là: bản án bị sửa và oan sai; dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết; duyệt án cùng tiền lệ của vụ Đồ Sơn. Cái gì là nền tảng thì sẽ lâu dài, từ xưa để lại và sau này vẫn còn. Cái gì là vụ việc thì sẽ ngắn, giải quyết xong thì hết. Ở đây tôi xin biện hộ cho thân chủ chúng tôi về các vấn đề có tính nền tảng còn xin để các vấn đề kia cho các đồng nghiệp khác.     1. Tổng quát   Đối với các vấn đề có tính chất là từ xưa để lại và sau này vẫn còn thì thân chủ chúng tôi mới tại chức trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi được quý vị tin tưởng và bổ nhiệm vào chức vụ hiện thời thì tình cảnh của thân chủ tôi giống như một người được cho vào ở một căn nhà xây đã lâu, về mỹ thuật thì nó rất đẹp, không nước nào có; nhưng về kỹ thuật thì thuộc loại tồi. Chính cái tính chất sau của nó mà nay khi nó bị mưa to gió lớn đánh vào, quý vị sốt ruột với thân chủ chúng tôi, chủ nhân căn nhà.   Với năm vấn đề mà quý vị đã nêu thì căn nhà kia giống như đang bị dột. Quả thật nó đang bị dột! Căn nhà bị dột thì thân chủ chúng tôi gánh chịu hậu quả ngay! Ấy là sự chất vấn của quý vị. Thế nhưng căn nhà kia không phải do thân chủ chúng tôi xây lên. Do đó, việc nó bị dột không phải lỗi của thân chủ chúng tôi. Từ quan niệm, kiểu thiết kế, đến lối xây dựng căn nhà đó, tất cả do những người trước để lại; mà những người trước ấy chính là các vị tiền nhiệm của quý vị. Họ đã thiết lập khi bỏ phiếu biểu quyết tán đồng, mà thường là 90% hay hơn. Căn nhà ấy đã được xây dựng với một nhiệt tình cách mạng; trong đó nhà nước nắm tất cả, và ban phát tất cả cho dân chúng như ước nguyện của họ. Làm như thế là để thiết lập một chế độ chính trị vạn lần đẹp hơn tất cả những cái đã có trong lịch sử trước kia. Do vậy, khi thiết kế căn nhà các kiến trúc sư đã không hề xem đến kinh nghiệm đã có hàng trăm năm nay của các hệ thống tư pháp khác vốn cũng đã trải qua những khó khăn như chúng ta và đã tìm ra giải pháp, tuy chúng mang tính tương đối nhưng mọi người bị buộc phải chấp nhận; nhờ thế nó tạo nên trật tự trong cuộc sống xã hội. Chúng ta chê bai tính tương đối của các hệ thống kia, cho rằng chúng thiếu tính triệt để và đã xây căn nhà của mình với mục đích đạt đến cái tuyệt đối vốn không có trên thế gian này: theo đuổi công lýý đến cùng! Do vậy căn nhà kia… bị dột! Và quý vị đang buộc thân chủ chúng tôi phải chịu trách nhiệm!   Do sự công bằng mà chúng ta theo đuổi, nên chăng thân chủ chúng tôi phải được đánh giá theo quan điểm (i) có nhận ra các điều trên không; (ii) đã chữa được đến đâu; chứ không phải theo quan điểm: tại sao, trách nhiệm thế nào và đến đâu?   Chúng tôi cho rằng thân chủ của chúng tôi phải được xem xét một cách công bằng hơn; bởi vì nhiều công việc chúng ta đang làm hiện nay và sau này, trong một số lãnh vực nào đó – trong đó có tư pháp – chỉ là sửa chữa những hậu quả để lại của nhiều thế hệ trước kia. Họ đã thực hiện công việc của mình dựa trên những qui luật rút ra từ kết quả của những cuộc nghiên cứu khoa học, công phu, theo một diện rộng và trải qua nhiều thời đại. Tuy nhiên họ đã không nhận ra được rằng đấy là quy luật rút ra từ những người đã chết và khi biến chúng thành luật pháp áp dụng cho từng cá nhân đang sống thì người sau không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp hành. Người đang sống không thể làm theo cách làm của người đã chết. Họ có thể theo gương về mặt tinh thần; nhưng không thể hành động theo khuôn khổ của người đã chết mà nay qui định thành “pháp lệnh” và bị chế tài. Mục đích việc làm không xấu, nhưng nó không khả thi và bây giờ để lại nhiều hậu quả, đặc biệt là về tâm lý. Vậy bây giờ chúng ta tất cả cần nhận ra điều này để cùng bắt tay sửa chữa trong địa vị, hoàn cảnh và khả năng của mình; chứ không phải tìm cách đổ tội cho ai đó. Nói đến đây, chúng tôi nghĩ đến những người đã từng thực hiện các việc kia; nay đứng ngoài chỉ trích làm như mình vô can! Thật đáng khen ngợi!   Vậy khi đặt ra trách nhiệm ấy cho thân chủ chúng tôi, thì nên chăng quý vị cũng đặt ra trách nhiệm cho chính mình rằng phải làm gì để giúp đỡ những người như thân chủ chúng tôi hầu họ có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiệm vụ của họ. Phải chăng quý vị chỉ quy trách để có thể nói với cử tri: “Vâng chúng tôi có nói rồi”; nghĩa là chỉ làm để cho nồi xúp de xì hơi an toàn rồi đâu vẫn vào đấy? Để không miên man trong phần tổng quát, chúng tôi xin đi vào các vấn đề cụ thể, phụ thêm cho những gì thân chủ chúng tôi đã trình bày.   2. Bản án bị sửa và oan sai  Bản án bị sửa và oan sai là do trình độ của thẩm phán. Vâng đúng vậy. Việc này liên quan đến: sự tuyển chọn thẩm phán, trình độ thẩm phán và sự trợ giúp thẩm phán nâng cao trình độ theo một cơ chế tự động và nội tại. Ba công việc này hiện nay ra sao? Chúng ta hãy nhìn vào sự thật. Vì nếu chúng chưa được giải quyết thì với việc phải “đôn” lái xe và đánh máy lên làm thẩm phán, dẫu có nói là “vơ vét” hay không cũng chỉ là từ ngữ sử dụng, râu ria của vấn đề.   a. Sự tuyển chọn thẩm phán   Mọi người trong ngành tư pháp đều biết hai sự kiện. Một là sinh viên tốt nghiệp thi vào làm thư ký tòa án thì phải mất khoảng bảy năm và phải vào Đảng mới đủ điều kiện làm thẩm phán. Hai là việc cho vào Đảng là quyết định của từng chi bộ tại các địa phương.   Thân chủ chúng tôi có thể làm gì trước hai thực tế này? Quý vị sẽ làm gì để khắc phục nếu không “vơ vét” như thân chủ chúng tôi?  b. Trình độ thẩm phán  Trừ một số do hoàn cảnh lịch sử để lại, các thẩm phán đều được đào tạo cơ bản ở các trường đại học luật. Kiến thức được trường luật trang bị sẽ giúp họ hành nghề sau này và mức độ trở nên thành thạo lâu hay chóng cũng tùy thuộc số kiến thức ấy. Điều này khiến chúng ta xem đến phương thức đào tạo sinh viên ở các trường luật.  Các vị đã thấy ngay từ khi thành lập, các trường đại học chuyên nghiệp đều do các bộ lập ra và nắm giữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nắm các trường đại học thuộc ngành nghệ thuật tự do (nhân văn, khoa học tự nhiên…). Sự kiện này cho thấy các trường đại học đào tạo sinh viên là để phục vụ mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của nhà nước. Do đó trong một thời gian dài sinh viên tốt nghiệp ra trường là làm cán bộ, công chức nhà nước hay vào các xí nghiệp quốc doanh. Trường luật không đi ra ngoài khuôn khổ này. Sinh viên luật được đào tạo để trở thành cán bộ hay công chức nhà nước; công việc của họ là viết luật cho dân chúng áp dụng. Họ phục vụ nhà nước. Dùng hình ảnh mô tả thì học xong “họ nhìn lên” nhà nước. Vì là người sẽ viết ra các “quy phạm pháp luật” nên luật trang bị cho họ được giảng dạy theo cách tại sao. Vậy họ được học “luật tại sao”. Và để trả lời người ta hướng họ về triết học. Luật trang bị cho sinh viên mang tính triết học và nó được gọi là “khoa học pháp lý”, rất nặng về câu chữ và lý luận. Khi quy về triết học thì không ai được đi ra ngoài các nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa. Và để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối, luật được giải thích là công cụ của chính trị, việc áp dụng nó thuộc về chủ quyền quốc gia. Khi tranh luận về luật, vấn đề quan điểm, lập trường luôn luôn được đặt nặng; người ta có khuynh hướng gạt bỏ những lập luận trái ngược rồi tự thưởng cho mình bằng cách kênh kiệu.   Tuy nhiên cuộc sống không phải do triết học thống lĩnh. Luật sở dĩ có vì nó cần thiết cho trật tự xã hội. Do đó, luật là để phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Nhà nước ban hành luật là để cho công dân áp dụng. Công dân áp dụng luật thì phải biết nó thế nào. Họ cần “luật thế nào”. Trong một quốc gia, về số lượng, thành phần nhà nước rất nhỏ so với thành phần dân chúng. Do đó sinh viên luật ra đời, để kiếm sống, họ phải phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Ngay cả thẩm phán khi xét xử thì họ cũng phục vụ xã hội. Họ nói ai phải ai trái trong một cuộc tranh chấp đang diễn ra trước mặt họ theo luật pháp của quốc gia. Khi ấy, thẩm phán trực tiếp phục vụ xã hội, gián tiếp phục vụ nhà nước. Phục vụ xã hội thì bắt buộc “họ nhìn xuống” và phải biết “luật thế nào”. Trường luật đã trang bị cho họ “luật tại sao” và “họ nhìn lên”! Thẩm phán cũng vậy, luật sư cũng thế! Họ được đào tạo theo một đường; nhưng khi hành nghề thì phải làm theo một nẻo!  Vì chỉ được dạy “luật tại sao” nên sinh viên tốt nghiệp trường luật không có một ý niệm gì về một khả năng gọi là cách suy xét theo luật học (legal reasoning). Sự tài ba của thẩm phán và của luật sư nằm ở khả năng này. Đó là khả năng biết phân tích và tổng hợp sự việc đã xẩy ra (mà mình đang xem xét để quyết định đúng hay sai), rồi lần lượt chọn ra các mảng sự việc quan trọng, nhiều ít khác nhau, hầu đặt ra các câu hỏi, cuối cùng có câu trả lời rồi áp luật pháp vào. Từ đó mới có các quyết định thuyết phục được các bên can dự. Vâng, các bên chứ không phải nhà nước.   Khi muốn biết “luật thế nào” thì ngoài cách đặt câu hỏi theo phương pháp đã nêu thì thẩm phán phải biết với những câu hỏi tương tự thì người đi trước đã giải quyết như thế nào. Vậy là phải có nhiều kinh nghiệm của người xưa truyền lại; trong luật người ta gọi là án lệ. Trong hệ thống giảng dậy luật pháp của ta, hai thứ này không có! Trình độ thẩm phán, trong những năm đầu, gây ra bởi những sự thiếu vắng này. Vậy trình độ của thẩm phán có phải hoàn toàn là trách nhiệm của thân chủ chúng tôi không?   c. Cơ chế tự động giúp thẩm phán nâng cao khả năng  Tự một mình mình, thẩm phán không thể nâng cao khả năng. Đó là sự thật giống như một học sinh không có bạn. Thẩm phán phải được hỗ trợ. Trong một vụ án hình, thẩm phán được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích trái ngược nhau: kiểm sát viên và luật sư của bị cáo. Trong một vụ dân sự thẩm phán cũng được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích khác nhau nhưng đều là luật sư. Chính khi nghe hai ý kiến khác nhau, thẩm phán xem xét và quyết định. Hệ thống tòa án chúng ta được khởi đầu bằng các vụ xử hình sự. Ở đó công lý được bảo đảm bằng một cơ cấu “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” do ba đơn vị thực hiện là công an, viện kiểm sát và tòa án. Ba đơn vị khác nhau thật, nhưng rất tiếc chúng cùng một gốc: tất cả đều là cơ quan nhà nước chưa nói đến chuyện họ cùng ở trong Ban Nội chính của một địa phương. Do đó oan sai đã xẩy ra. Phải có một đơn vị khác gốc thì mới thực sự có sự “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” hữu hiệu. Pháp lệnh luật sư ở ta chỉ mới có từ năm 1987. Nhưng họ được đối xử ra sao?   Thứ nữa, các bản án của tòa không được công bố rộng rãi. Điều này làm cho sinh viên luật muốn học thực tế, muốn tạo khả năng suy luận cũng không có phương tiện. Vì không phổ biến rộng rãi bản án; nên thẩm phán có thể viết “ý kiến luật sư không xác đáng” mà không sợ luật sư phản đối; họ cũng chẳng phải lo rằng lý lẽ của mình sẽ bị đem ra công luận để mà chau chuốt câu văn, lập luận rõ ràng. Họ thiếu cả áp lực lẫn sự kích thích để phải tuyên các bản án rõ ràng với lý luận sắc bén.   Thiếu kích thích nằm ở chỗ nhiệm kỳ năm năm của họ. Một thẩm phán muốn tự mình nâng cao khả năng thì cần một thời gian dài. Thẩm phán có còn cố gắng chăng trước câu hỏi: “liệu có được bổ nhiệm kỳ sau không?” Chân thiện mỹ là một cái gì lâu dài và phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Năm năm một lần không phải là một thời gian dài. Nó dành cho các chức vụ chính trị để tránh sự lạm dụng quyền hành và khuyến khích thay đổi trong các biện pháp đề ra. Tính chất của luật pháp khác hẳn. Nó phải tạo ra sự ổn định và tiên đoán được; do dó nó cần bền vững và có biểu tượng của sự bền vững để hôm nay khi nhìn lại hôm qua mọi người biết về ngày mai. Thẩm phán là biểu hiện của sự bền vững đó. Nhiệm kỳ năm năm là không phù hợp cho cố gắng muốn nâng cao khả năng mình của thẩm phán cũng như cho biểu hiện về sự bền vững của tòa án. Có sự nhầm lẫn về bản chất giữa chính trị và tư pháp.      3. Dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết  Vấn đề này liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự nhiều hơn là hình sự; bởi vì đa số các vụ hình sự đều trở thành chung quyết tại cấp phúc thẩm; chỉ có các vụ dân sự mới lên tới tòa tối cao.   Nói đến việc tòa án nhân dân tối cao có giải quyết hay không việc kêu oan của dân chúng thì phải nhìn vấn đề trong một tổng thể. Thứ nhất là việc xét xử ở cấp sơ thẩm rồi phúc thẩm; vì nếu hai cấp này đã giải quyết công minh vụ việc thì không cần phải đưa cấp tối cao. Thứ hai là bằng chứng vì việc xét xử ở các phiên tòa thực sự là việc xem xét bằng chứng mà các bên nêu ra để dựa trên đó luật được áp dụng và bản án được tuyên.   a. Việc xét xử ở các cấp tòa   Trong một vụ án có hai vấn đề tòa phải xem xét để ra bản án. Lấy một vụ đi vay tiền để nói cho dễ hiểu. A nói với B cho vay 5 tỉ và hẹn sau một năm sẽ trả lại. Nếu A không trả nợ hết mà bị đưa ra tòa thì ở đây có hai vấn đề: (i) việc đưa tiền cho vay và trả nợ và (ii) sự cam kết sẽ trả lại. Vấn đề (i) là sự kiện, còn (ii) là pháp lý. Vấn đề (i) liên quan đến bằng chứng, là đi tìm sự thật; vấn đề (ii) liên quan đến khả năng lập luận của thẩm phán để áp dụng luật có liên quan. Để bảo đảm sự công minh một vụ án được xét lần đầu tại cấp sơ thẩm; nếu bên nào không thích bản án sơ thẩm thì có quyền đem nội vụ lên cấp phúc thẩm rồi sau đó cấp tối cao.   Khi có hai vấn đề phải xem xét trong một vụ và ở các cấp tòa khác nhau thì luật tố tụng ấn định tòa các cấp sẽ xét xử cả hai vấn đề như nhau hay mỗi cấp chú trọng từng vấn đề khác nhau. Nghĩa là các tòa sẽ xét xử trùng nhau hay không. Do luật lệ về bằng chứng sẽ đề cập sau này tòa án ở chúng ta xem xét trùng lập ở cả ba cấp vì chúng ta coi trọng “sự thật khách quan”. Do cả ba cấp làm trùng nhau nên hiện nay việc xét xử các vụ dân sự của ta không có điểm dừng. Hệ thống ba cấp giống như cái thang có ba bậc, các bên tranh chấp có thể leo lên đến bậc cao nhất rồi lại xuống bậc thấp nhất rồi lại đi lên tiếp! Có vụ kéo dài đến cả chục năm. Bởi thế, sự hữu hiệu của hệ thống tòa án ta kém; niềm tin của dân chúng vào tòa án thấp. Khi thấy tòa xử kéo dài một vụ xù nợ, một người hàng xóm sẽ rút ra kết luận rằng cứ đi vay rồi xù cũng chẳng sao; tức là khi không sợ quyền uy của tòa án thì người ta lại càng hay làm sai rồi lại càng đưa ra tòa xử. Thủ tục tố tụng như thế này khuyến khích sự sai trái và làm tòa án bị tràn ngập công việc; tòa càng bị càng trở nên kém hữu hiệu. Do vậy mới có đề nghị – về mặt thủ tục là – tòa án tối cao không nên xem xét bằng chứng mới; nghĩa là không xử các việc mà dân chúng kêu oan. Khi nghe đề nghị như thế thì thân chủ chúng tôi cũng đã xem xét thấu đáo thủ tục xét xử ở các nước khác. Ở đó luật tố tụng của họ cho tòa phúc thẩm không xem xét bằng chứng mới; còn cấp tối cao chỉ xét xử khi quyết định của tòa phúc thẩm không đúng với hiến pháp.  Có vị đại biểu đã tuyên bố phải để cho dân kiện lên đến tòa tối cao hầu bảo đảm quyền khiếu nại của họ. Quyền ấy là cao nhất. Khi nói như thế vị đại biểu ấy đã cố thiết lập “sự tuyệt đối” trên thế gian này! Buộc cả ba cấp tòa phải xử như nhau. Điều mà đã gây ra sự thiếu kính trọng đối với tòa án, biểu tượng của quyền uy của quốc gia hiện nay. Chúng ta hãy xem ở các hệ thống pháp luật khác người ta làm như thế nào và họ có bảo vệ “quyền cao nhất” của người dân hay không?   Trong các hệ thống pháp luật khác – thông luật của Anh, Mỹ; dân luật của Pháp, Đức – luật tố tụng của họ quy định (qua văn bản hay tập tục) tòa sơ thẩm xem xét các vấn đề pháp lý lẫn sự kiện và tuyên án; nếu một trong hai bên kháng cáo thì tòa phúc thẩm chỉ xem các vấn đề pháp lý của bản án đã tuyên. Rất hiếm khi tòa phúc thẩm xem chứng cứ mới vì coi rằng tòa sơ thẩm đã làm đủ và đúng theo luật. Để làm việc ấy, luật tố tụng dân sự của họ được xây dựng trên hai nền tảng chính liên quan đến bằng chứng.   b. Luật về bằng chứng  Luật của ta chỉ liệt kê các loại chứng cứ mà không ấn định loại nào có giá trị hơn loại nào và để cho tòa thẩm định. Vì thế, luật mới sợ tòa dưới thẩm định sai và cho tòa trên được xem xét lại, không sợ trùng việc vì nguyên lý nền tảng là “sự thật khách quan”.  Ở Pháp hay Mỹ họ có luật về mức độ tin cậy của bằng chứng. Ở Pháp công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư (vì thế mới có công chứng viên). Ở Mỹ bằng chứng có giá trị phải là bằng chứng có liên quan (relevant), chứ không phải là của bất cứ ai (hearsay), hay của những ai được phép không phải tiết lộ (privileged). Để ý ta thấy luật của họ lấy bằng chứng (một sự kiện vật chất) làm nền tảng; còn chúng ta lấy sự thẩm định của thẩm phán làm gốc; (tức là lấy con người). Vì bằng chứng là nền tảng nên luật tố tụng của Mỹ cho phép hai bên “đào bới” bằng chứng. Nguyên đơn có thể xin tòa buộc bị đơn phải trưng ra bằng chứng dẫu bất lợi cho mình. Họ không cho giấu bằng chứng. Luật của Pháp cho xét xử bằng giấy tờ; nghĩa là thẩm phán dựa theo các bản lý đoán của hai bên mà quyết. Mỗi bên cứ nêu bằng chứng và lập luận lên tòa; qua luật sư, họ phải gửi bản sao cho bên kia xem. Bên kia sẽ trả lời, nêu bằng chứng khác để đánh đổ lập luận vừa nhận. Cứ việc “lời qua tiếng lại” đến khi không còn gì nói nữa thì hai bên xin tòa nghị án. Thẩm phán không tác động gì trong quá trình này. Bên nào đưa bằng chứng thiếu thì ráng mà chịu.   Như thế nghĩa là luật của cả hai hệ thống buộc các bên phải trưng ra hết mọi bằng chứng ở cấp sơ thẩm; các bên chủ động đẩy diễn tiến phiên tòa; thấy đủ hết rồi mới xin tòa xử. Vậy khi tòa đã xử thì không thể kêu ca nữa về bằng chứng, về “sự thật” đã đưa ra. Kháng cáo lên tòa trên là chỉ phàn nàn về cách lập luận của chánh án; tức là xin xem xét các vấn đề pháp lý để tăng hay giảm hình phạt.   Luật tố tụng của chúng ta để chánh án chủ động trong xét xử, lại không đặt ra mức độ tin tưởng của chứng cứ; chỉ nhấn mạnh “sự thật khách quan” và để cho lòng người xác định; nên mới xẩy ra những gì chúng ta đã thấy. Lịch sử phát triển của nền tư pháp trên thế giới cho thấy chính người dân tranh chấp trước, họ đến xin tòa giải quyết cho họ. Ở thế đó, tòa để cho hai bên chủ động; giúp họ tìm bằng chứng, chứ không đi lấy hộ; ai có bằng chứng “thật hơn” thì tòa dựa vào đó và sẽ lập luận. Nếu hai bên làm sai từ đầu (thí dụ hợp đồng vô hiệu) thì tòa bảo “không cưỡng chế thi hành được” (unenforceable). Và hai bên về tự giải quyết lấy, ai làm bạo thì đã có luật hình. Như là một quy luật tâm lý, khi phải tự xử mình lúc làm sai, thì người ta sẽ tìm cách làm đúng ngay từ đầu.   Luật pháp của chúng ta làm ngược lại, giao cho tòa án sứ mạng bảo vệ quyền lợi của công dân; buộc thẩm phán phải chủ động. Hễ cứ có việc gì xẩy ra, anh Việt kiều lừa tiền, lừa tình chẳng hạn, thì dư luận đặt ngay câu hỏi: cơ quan nào có trách nhiệm, ai quản lý! Ít ai bảo: “Anh, chính anh phải chịu trách nhiệm, anh phải tự quản lý anh.” Cá nhân nào cũng sợ “làm mất lòng người khác” nên bán cái cho xã hội. Xem như thế những vấn đề tiềm ẩn trong hệ thống luật pháp của chúng ta còn liên quan đến nhận thức.   c. Uy lực của bản án đã xử  Luật pháp phải có tác dụng là bảo cho công dân biết; (i) nếu anh làm như thế thì (ii) anh sẽ bị đối xử như vậy, như vậy”. Vế (i) giúp người dân ổn định, vế (ii) giúp họ tiên đoán được. Sự tiên đoán kia phải dựa trên thực tế tức là các quyết định tòa án đã ra; vì giữa cách đối xử mà luật định và biện pháp tòa án đưa ra có khác nhau (do có xét đến hoàn cảnh cụ thể). Để giúp cho luật pháp tiên đoán được, các hệ thống khác đặt ra nguyên tắc là đối với các vụ án có cùng một tính chất thì kết quả của vụ án trước ràng buộc vụ án sau. Cùng nguyên tắc nhưng kỹ thuật sử dụng của mỗi hệ thống khác nhau. Bên thông luật gọi một bản án chung thẩm là tiền lệ (precedence); dân luật gọi là án lệ (jurisprudence). Tòa sơ thẩm ở Anh, Mỹ khi xử bị bắt buộc phải tra cứu và áp dụng tiền lệ. Tòa sơ thẩm ở Pháp không bị buộc phải tuân theo án lệ, nhưng khi bản án bị kháng cáo thì tòa phúc thẩm sẽ dẫn án lệ. Vậy, tòa dưới “chẳng dại gì” mà không tuân theo án lệ.   Cách sử dụng tiền lệ, tra cứu án lệ, tạo nên một sự hơi khác biệt trong cách thức áp luật vào sự kiện của các thẩm phán ở hai hệ thống kia; nhưng cả hai đều giống nhau trong phương pháp suy luận khi phân tích sự kiện. Đó là tài năng của thẩm phán. Và ở hai cấp tòa thì trình độ này khác nhau; cho nên vấn đề pháp lý được tòa phúc thẩm xem xét khi bản án bị kháng cáo và chỉ vấn đề này.   Chính trên cái tổng thể này mà tòa phúc thẩm ở các hệ thống khác họ không xem xét chứng cứ mới; hoặc có thì rất ít. Chính nhờ vào (i) tín lực của bằng chứng và cách buộc đưa ra nó; (ii) quyền của tòa bác hay nhận; (iii) án lệ; và (iv) xét lại khả năng lập luận của thẩm phán ở tòa dưới (tức là vấn đề pháp lý của nội vụ) nên ở họ không có chuyện “án dân sự xử kiểu nào cũng được”. Tòa án có uy. Dân nghĩ đến tòa án là đã sợ; nên ngần ngại nuốt lời đối với gì mình đã cam kết.   Các nước phát triển – mà luật pháp của họ được coi là một nguồn gốc của luật quốc tế – họ làm như thế. Nếu thân chủ chúng tôi có nêu vấn đề lên ở đâu đó thì có phải là một cái lỗi hay không? Chúng ta có nên tiếp tục thiết lập sự tuyệt đối trong hệ thống tòa án của chúng ta không, sau bao nhiêu hậu quả của nó đã thấy?   Gần đây trong báo giới có bàn về câu hỏi tòa phúc thẩm có xem xét chứng cớ mới hay không; tức là một vấn đề cũng giống như chúng tôi đang biện hộ cho thân chủ ở đây. Có các câu trả lời khác nhau đã được đưa ra. Người bảo có và lý do là để “tìm ra sự thật khách quan nhất”. Nguời bảo không thì nói rằng đó là để tránh sự “không công bằng” và xóa “áp lực sổ đen” cho thẩm phán.   Thưa qúy vị, vai trò của hệ thống xét xử không phải là để làm việc ấy. Vai trò của tòa án là bảo đảm niềm tin của công dân vào chế độ; là duy trì chế độ; là bảo đảm sự ổn định và tiên đoán được của luật pháp, hầu tạo sự an tâm cho công dân, khuyến khích họ làm đúng qua đó phát triển sự lương thiện trong xã hội. Đấy mới là nguyên lý của hoạt động xét xử.   Khi thiết lập hệ thống tư pháp chúng ta hầu như không để ý đến nguyên lý này vì chúng ta khởi đầu từ tòa án nhân dân, xét xử những vụ hình sự; mãi sau này mới xét những vụ dân sự; nên ta đã đem những nguyên tắc xét xử của hình sự sang dân sự vốn khác tính chất. Mối quan tâm chính khi xử một vụ hình là chấm dứt tội phạm, răn đe người khác, và phạm nhân đi tù. Đó là những mục tiêu ngắn hạn và tác động của nó lan tỏa không rộng; vì không phải ai cũng muốn vi phạm hình sự. Trái lại tác động của một bản án dân sự lan tỏa rộng, do đó nó kéo dài. Bởi vì hành vi dân sự (vay nợ) hay việc dân sự (sinh con) chính là cuộc sống, và ai cũng phải sống. Vay tiền thì ai cũng có một hai lần làm trong cuộc đời mình. Một bản án dân sự bênh con nợ sẽ khuyến khích người dân xù nợ, và việc này rất dễ lan rộng vì nó có lợi nếu làm. Khi người đi vay xù nợ thì người có tiền sẽ không muốn cho vay, tiền của người sau biến thành vàng chôn dưới đất. Nền kinh tế thiếu tiền mặt thì làm sao phát triển?   Ưu tư của thân chủ chúng tôi là vào những vấn đề này chứ không phải “quyền cao nhất” của dân chúng; khi nhìn sang các hệ thống khác mà người ta đã có cách giải quyết.   4. Duyệt án – Vụ Đồ Sơn  Hai vấn đề này là những thứ nằm tiềm tàng từ lâu trong hệ thống tòa án của ta. Vấn đề đầu thân chủ chúng tôi đã phát biểu tại diễn đàn Quốc hội. Về vấn đề sau thì nó không phải chỉ mới xuất hiện trong thời gian nhiệm chức của thân chủ chúng tôi. Nó là những gì thuộc về tính chất của ngôi nhà.   Tòa án có thực sự độc lập không? Chúng ta phải xem, phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới thấy hết vấn đề được. Nguyên tắc độc lập xét xử luôn được khẳng định; chỉ có điều ta có muốn làm hay không. Đồ Sơn là một bài học rất lớn mà báo chí đã nói thay ngành tòa án. Thân chủ chúng tôi ủng hộ việc lên tiếng của báo chí. Phải để cho cơ quan tư pháp độc lập. Quý vị có thể nói rằng pháp luật qui định độc lập thế rồi, sao tòa án không độc lập? Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Khi một anh sống ở địa phương, quyền lợi gắn bó ở đó, bổ nhiệm, nhận xét, khen thưởng đều gắn với cấp ủy, chính quyền địa phương thì anh lựa chọn thế nào? Thưa quý vị phải nhìn thẳng vào sự thật chứ ạ!   Để kết thúc bài biện minh này, thì trách nhiêm thực sự mà thân chủ chúng tôi chịu, theo thiển ý, chỉ là nhận thức ra được tình hình của căn nhà đến đâu và đã sửa chữa nó được đến mức nào chứ không phải về những vấn đề nền tảng mà quý vị đã nêu vốn do tính chất bẩm sinh của căn nhà gây ra. Thân chủ chúng tôi nếu có sai sót chỉ là ở cách thức trình bày chứ không phải ở nội dung. Nhưng sau khi biết những gian truân của thân chủ chúng tôi khi ở trong căn nhà dột, hẳn quý vị cũng cảm thông với thân chủ chúng tôi và sẽ sẵn sàng giúp đỡ thân chủ chúng tôi trong cố gắng tân trang căn nhà. Đó là việc làm cần thiết của tất cả chúng ta cho tổ quốc thân yêu này: nhận ra vấn đề, cùng chung sức làm, thay vì quy trách.      Nguyễn Ngọc Bích    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học nào từ Trumpism và Brexitism      Chiến dịch tranh cử của Donald Trump là một “phong trào” (như ông ấy nói). Nó lý giải tại sao một người “ngoại đạo” về chính trị như ông Trump lại đắc cử làm Tổng thống (thứ 45) của Mỹ. Đó là một hiện tượng hy hữu làm nhiều người bất ngờ. Nhưng Trumpism không phải là ngẫu nhiên, mà nó phản ánh một xu thế. Cũng như vậy, Brexitism không phải là chuyện ngẫu nhiên khi người Anh bỏ phiếu quyết định rút khỏi EU.      Donald Trump. Ảnh: New York Post.  Nay khi dư luận ồn ào tạm lắng xuống, có mấy bài học cơ bản nổi lên đáng quan tâm. Có lẽ lúc này trao đổi về xu thế và bài học có ích hơn là đoán mò về chính sách cụ thể của Trump, vì nó giống như trò chơi sổ số, hay câu chuyện “thầy bói sờ voi”. Ngay cả bản thân Trump cũng chưa chắc biết mình phải làm gì và làm thế nào. Có lẽ phải mất vài tháng thì chính quyền Trump mới ổn định được về nhân sự và chính sách của mình.    Toàn cầu hóa thoái trào và chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy  Như trong một vở kịch có quy mô toàn cầu, cả thế giới bị sốc và ngỡ ngàng xem cử tri Mỹ bỏ phiếu cho Donald Trump vào Nhà Trắng (8/11), cũng giống như trước đó xem cử tri Anh bỏ phiếu cho nước Anh rút khỏi EU (23/6). Có thể nói, đó là một cuộc chính biến bằng lá phiếu phản kháng của người dân. Trumpism hay Brexitism không phải là đặc sản riêng Anglo-Saxon, mà nó có thể xảy ra bất cứ ở đâu khác. Ví dụ, tại Philippines, các cử tri đã bỏ phiếu cho Rodrigo Duterte, một chính khách “phi truyền thống”. Ông ấy cũng làm nhiều người ngỡ ngàng khi xoay trục sang Trung Quốc và “ly khai” với đồng minh Mỹ.    Toàn cầu hóa đã đem lại thịnh vượng cho toàn thế giới, trừ giai cấp lao động tại các xã hội phương Tây. Nó vô tình thúc đẩy xu hướng chuyên chế, cực đoan của những người theo chủ nghĩa dân tộc, và giúp phong trào dân túy lan nhanh như “virus Zika”. Trumpism đã lợi dụng sự tức giận của dân chúng, tuy chính sách của Trump chỉ làm tăng thêm xu hướng bất bình đẳng. Theo Thomas Picketty, phải định hướng lại toàn cầu hóa. (“globalization must be fundamentally re-oriented”, Thomas Picketty, Guardian, Nov 16, 2016).  Các nhân vật dân túy ở Mỹ (và Anh) đã chớp thời cơ, đẩy tâm trạng bức xúc của dân chúng lên thành cao trào chống lại thế lực cầm quyền. Họ lợi dụng sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và biệt lập chống lại chủ nghĩa quốc tế và toàn cầu hóa, lấy chủ nghĩa đơn phương và chuyên chế chống lại chủ nghĩa đa phương và tự do hóa. Hiện tượng Trumpism hay Brexitism có thể làm thay đổi cơ cấu quyền lực và bàn cờ chính trị/kinh tế của một nước, hay một cộng đồng, vượt ra ngoài những dự đoán theo tư duy thông thường.  Giới cầm quyền đã không thấy được sự biến chuyển to lớn đó, nên không ứng phó kịp thời, mắc sai lầm và mất quyền lực. Chỉ sau khi Trump đánh bại tất cả các ứng viên khác của Đảng Cộng hòa, trở thành ứng viên duy nhất mà đảng này phải miễn cưỡng chấp nhận, thì người ta mới giật mình hỏi nhau “Trump thật sự là ai” (đáng tiếc là đã quá muộn). Nhưng lúc ấy vẫn ít người tin là Trump sẽ thắng, vì họ vẫn chưa hiểu rõ tâm trạng cử tri Mỹ và lý do tại sao người ta lại ủng hộ Trump như vậy. Sự bất bình và khủng hoảng lòng tin của người dân Mỹ là một ẩn số lớn mà giới tinh hoa trong cả hai đảng đã vô cảm không nhận ra (nên trở thành “vô minh”). Vì vậy, vô cảm và “vô minh” là bài học lớn cho các đảng cầm quyền.    Thực tế nói trên cũng chứng tỏ thể chế chính trị dựa trên tự do dân chủ (liberalism) của giới tinh hoa đã bị thất thế trước trào lưu dân túy của giới lao động. Có lẽ giới tinh hoa bị suy yếu vì họ vô cảm và dễ thỏa mãn (bởi “comfort zone”), do ngộ nhận và thiếu một tầm nhìn để tập hợp lực lượng, hướng tới những đổi mới cần thiết. Trong khi đó, giới lao động mạnh lên vì ngọn cờ phản kháng mị dân dễ tập hợp dân chúng đang tức giận và bức xúc muốn thay đổi bằng mọi giá, còn mạnh hơn những gì xảy ra tám năm trước khi họ bầu Obama làm Tổng thống. Hay nói cách khác, “người đẩy thuyền đi là dân, và lật thuyền cũng là dân”.  Khủng hoảng thể chế và chuyển đổi quyền lực  Toàn cầu hóa và tự do thương mại không có lỗi, nhưng cách quản trị và phân phối thành quả của nó có vấn đề. Người dân bất bình và mất lòng tin, bởi giới cầm quyền đã vô cảm và ngộ nhận trước khoảng cách thu nhập và hố ngăn cách xã hội. Các học giả (như Francis Fukuyama, Noam Chomsky, và Minxin Pei) và các nhà tư bản (như Bill Gates) đã cảnh báo về sự suy đồi (decay) của Chủ nghĩa Tư bản Công nghiệp (đã lỗi thời). Để thay đổi, Bill Gates đã từng đề xướng mô hình “Chủ nghĩa Tư bản Sáng tạo” (Creative Capitalism).     Hệ thống chính trị đã suy đồi của Mỹ chỉ có thể được cải tổ bằng một cú sốc mạnh từ bên ngoài (như Trumpism), làm cho nó khủng hoảng, tạo tiền đề và cơ hội để đổi mới thể chế. Chiến thắng lớn nhất của Trump là đã đánh đổ giới tinh hoa chính trị của cả hai đảng: trước hết là giới cầm quyền Đảng Cộng hòa (trong bầu cử sơ bộ) và sau đó là giới cầm quyền Đảng Dân chủ mà đại diện là Hillary Clinton. Sau thất bại thảm hại trước một kẻ “ngoại đạo” như Trump, đã đến lúc giới cầm quyền Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa phải cải tổ lại thể chế chính trị. Hình như có một mẫu số chung nào đó về quy luật đổi mới thể chế chính trị đã suy đồi và lỗi thời, dù các nước có chế độ khác nhau, chỉ khác là tại các nước không có thể chế dân chủ, người ta phải “bỏ phiếu bằng chân”.  Ở các nước chuyên chế đang chuyển đổi hệ thống, tình hình lâu nay càng tồi tệ. Cải cách kinh tế thị trường bị mắc kẹt bởi thể chế chính trị lỗi thời, không theo kịp với hội nhập kinh tế toàn cầu, trong một thế giới đầy biến động, nên có nguy cơ tụt hậu. Giới cầm quyền bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng, tranh thủ vơ vét tài sản và thâu tóm quyền lực, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, gây bất ổn định xã hội và mất lòng dân. Muốn thoát khỏi nguy cơ tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình, chỉ có một cách là đổi mới thể chế.     Trong khi đó, Trung Quốc đã theo mô hình “Chuyên chế Dẻo dai” (Resilient Authoritarianism) nên cất cánh thành công về kinh tế trong một giai đoạn, nhưng nay đã hết đà, đang lao xuống dốc (“China’s Great Leap Backward”, James Fallow, Atlantic, December 2016). Tập Cận Bình muốn tìm lối thoát mới bằng mô hình “Kiểm soát Tinh vi” (Controlocracy), bên trong chống tham nhũng bằng “đả hổ diệt ruồi”, trong khi bên ngoài bành trướng theo “Giấc mộng Trung Hoa” bằng “Một vành đai, Một con đường”. Trung Quốc không chỉ gây sức ép để phân hóa các nước láng giềng ASEAN, và áp đặt bản đồ “đường chín đoạn” nhằm biến Biển Đông thành cái ao riêng của họ, mà còn tham vọng vượt cả Mỹ, và muốn phân chia thiên hạ với Mỹ bằng một ván cờ nước lớn (như “Grand Bargain” hay “G2”).  Một thời kỳ mới đầy rủi ro và bất định       Nước Mỹ đã có vấn đề từ nhiều năm nay, và người dân đã lên tiếng phản kháng qua các phong trào “từ dưới lên” (bottom up) như “Occupy Wall Street” và “Tea Party”. Trong một lần phỏng vấn bởi Chris Hedges (Israeli News, April 2010), Noam Chomsky đã cảnh báo, “Nếu có ai đó ra tranh cử mà hấp dẫn và trung thực, thì đất nước này sẽ nguy to, vì sự thất vọng, mất lòng tin, giận dữ chính đáng, và thiếu một sự đáp ứng sâu sát… Tôi không nghĩ là còn lâu nữa. Nếu các thăm dò dư luận là đúng thì không phải là Đảng Cộng hòa, mà là cánh hữu của Đảng Cộng hòa, là những kẻ khùng, sẽ thắng cử lần tới… Và nếu nó xảy ra thì sẽ còn nguy hiểm hơn cả nước Đức… Tôi chưa bao giờ thấy thế trong cả cuộc đời mình… Tâm trạng cả nước rất đáng sợ. Mức độ giận dữ, thất vọng, và thù ghét các thể chế không được tổ chức một cách có xây dựng. Nó sẽ bùng nổ như những giấc mơ tự hủy diệt”.     Nhưng rất ít người lắng nghe Chomsky, một trí thức hàng đầu của nước Mỹ. Giới cầm quyền chỉ thích nghe Henry Kissinger, kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc. Tất cả các Tổng thống (kể cả Barack Obama và Donald Trump) đều tìm lời khuyên của Kissinger, người phải chịu trách nhiệm về vụ ném bom diệt chủng tại Campuchia và tàn sát hàng loạt dân thường tại Bangladesh. Bằng chủ trương “tương tác mang tính xây dựng” (“Constructive Engagement”), Kissinger đã giúp Trung Quốc trỗi dậy không hòa bình, điều mà chính cố Tổng thống Nixon trước khi qua đời đã tỏ ra ân hận và ví với Frankenstein. Lập trường và quyền lợi của Kissinger đã gắn liền với “China Lobby”. Sẽ đáng lo ngại nếu tới đây Trump nghe lời khuyên của Kissinger, và Tổng thống mới của Mỹ có thể chơi ván cờ nước lớn với Bắc Kinh (như “G2”). Nếu vậy, “quyền lợi các nước nhỏ hơn sẽ bị bỏ qua hay gạt sang một bên”. (“Deciphering Trump’s Asia Policy”, Mira Rapp-Hooper, Foreign Affairs, November 22, 2016).  Từ lâu, Donald Trump đã có thái độ thù nghịch (antipathy) đối với cam kết truyền thống của Mỹ tại châu Á. Chưa biết thái độ đó của Trump có thay đổi hay không, khi ông ta trở thành Tổng thống. Theo các chuyên gia, ai kiểm soát được Biển Đông sẽ làm chủ châu Á, và ai làm chủ được châu Á sẽ làm chủ thế giới. Vì vậy, Biển Đông là “Asia’s Cauldron” (Robert Kaplan, Random House, March 2014). Trung Quốc trỗi dậy là hiện tượng “Phương đông hóa” cán cân quyền lực, bất lợi cho Mỹ (“Easternisation: War and Peace in the Asian Century”, Gideon Rachman, Bodley Head, 2017). Các cố vấn chính sách của Trump cũng khuyến nghị một lập trường cứng rắn (như của Tổng thống Reagan) là “Hòa bình qua Sức mạnh” (“Peace Through Strength”, Alex Grey & Peter Navarro, Foreign Policy, Nov 7, 2016).  Sau khi Donald Trump tuyên bố sẽ rút khỏi TPP (ngày 21/11, ngay sau hội nghị APEC tại Peru), thì uy tín của Mỹ ở khu vực đang đổ vỡ, vì TPP là một chân kiềng của chiến lược “tái cân bằng” (dựa trên kinh tế, ngoại giao, an ninh). Thủ tướng Singapore Lee Hsien Loong nhận xét, “Uy tín đồng minh của Mỹ đang bị thử thách. Liệu còn ai tin vào Mỹ hay không?” Quyết định về TPP của Trump là “cú đòn chí tử giáng vào chủ trương “tái cân bằng” sang Châu Á-Thái Bình Dương của Tổng thống Barrack Obama”. (“Is There Anyone in Asia Who Still Trusts America”, Berkshire Miller, Foreign Policy, November 23, 2016).  Mặc dù Tổng thống Obama bị chỉ trích là mềm yếu trong triển khai chiến lược “xoay trục” (như “tiếng kèn ngập ngừng”), nhưng không thể phủ nhận tầm nhìn của ông. Dù Tổng thống Trump có tăng số lượng tàu chiến lên 350 chiếc thì cũng không thay thế được vai trò của TPP. Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực buộc phải điều chỉnh chiến lược để thích ứng với cục diện mới. Đối với Việt Nam, việc tăng cường quan hệ cả về đối tác song phương lẫn đa phương với một số nước trong khu vực (như hình thành một tứ giác chiến lược “Japan-Australia-India-Vietnam Partnership”) lại càng quan trọng.        Author                Nguyễn Quang Dy        
__label__tiasang Bài học rút ra từ đại dịch COVID      Rồi nhân loại sẽ bước qua đại dịch, với những đột phá khoa học và thất bại trong những quyết sách chống dịch. Chúng ta có thể học gì cho tương lai?      Một người tưởng nhớ về những nạn nhân COVID trong tác phẩm nghệ thuật sắp đặt  “Ở Mỹ: Hãy nhớ” – mỗi lá cờ trắng tượng trưng cho từng người chết vì COVID. Ảnh ngày 29/9/2021. Nguồn: washingtonpost.com.  Từ góc độ sử học, chúng ta cần đánh giá năm COVID như thế nào? Nhiều người tin rằng tổn thất khủng khiếp do coronavirus gây ra là bằng chứng cho sự bất lực của nhân loại trước sức mạnh của thiên nhiên. Thực tế năm 2020 đã cho thấy nhân loại còn lâu mới đầu hàng. Dịch bệnh không còn là thách thức không thể kiểm soát. Khoa học đã biến chúng thành thời cơ để tìm cách vượt qua. Vậy tại sao vẫn có quá nhiều người chết và khổ đau? Bởi vì các quyết định chính trị tồi. Trong quá khứ, khi phải đối mặt với một bệnh dịch như Cái chết Đen, con người không biết điều gì đã gây ra nó và làm thế nào để ngăn chặn. Khi đại dịch cúm 1918 xảy đến, các nhà khoa học giỏi nhất đã không thể xác định được loài virus, đã đưa ra các biện pháp đối phó vô ích và không thể phát triển một loại vaccine hiệu quả.  Nhưng với COVID-19, tình thế rất khác. Hồi chuông cảnh báo đầu tiên về trận dịch tiềm ẩn được gióng lên từ cuối tháng 12/2019. Đến ngày 10/1/2020, các nhà khoa học không chỉ phân lập được virus mà còn giải mã bộ gene của nó và công bố lên internet. Sau đó vài tháng, người ta đã biết rõ các biện pháp có thể làm chậm và ngăn chặn các chuỗi lây nhiễm. Trong vòng chưa đầy một năm, một số vaccine hiệu quả đã được sản xuất hàng loạt. Trong cuộc chiến giữa con người và mầm bệnh, chưa bao giờ con người lại mạnh mẽ đến thế.  Chuyển đổi cuộc sống số  Cùng với thành tựu chưa từng có về công nghệ sinh học, năm COVID cũng chứng kiến sức mạnh của công nghệ thông tin. Trong các thời đại trước đây, loài người hiếm khi ngăn chặn bệnh dịch bởi con người không thể theo dõi các chuỗi lây nhiễm trong thời gian thực và bởi vì chi phí tốn kém của việc phong tỏa kéo dài. Vào năm 1918, bạn có thể cách ly những người bệnh cúm nặng, nhưng không thể theo dõi quá trình di chuyển của người mắc bệnh không triệu chứng hoặc đang trong giai đoạn ủ bệnh. Và nếu ra lệnh cho toàn bộ dân số của một quốc gia phải ở nhà trong vài tuần, điều đó sẽ dẫn đến một nền kinh tế bị tàn phá, xã hội suy sụp và đói kém trên diện rộng.      Công nghệ giám sát số đã giúp việc theo dõi và xác định chính xác các vật trung gian truyền bệnh dễ dàng hơn rất nhiều, giúp việc kiểm dịch chọn lọc hơn và hiệu quả hơn.      Năm 2020, công nghệ giám sát số đã giúp việc theo dõi và xác định chính xác các vật trung gian truyền bệnh dễ dàng hơn rất nhiều, giúp việc kiểm dịch chọn lọc hơn và hiệu quả hơn. Quan trọng hơn, tự động hóa và internet đã làm cho việc phong tỏa kéo dài trở nên khả thi, ít nhất là tại các nước phát triển. Trong khi tại một số khu vực đang phát triển, trải nghiệm của con người vẫn gợi nhớ về nỗi u ám của bệnh dịch trong quá khứ, thì tại các nước phát triển, cách mạng số đã thay đổi mọi thứ. Trong hàng ngàn năm, sức lao động đóng vai trò thiết yếu đối với sản xuất lương thực, với khoảng 90% người dân làm nông nghiệp. Ngày nay, chỉ 1.5% người dân Hoa Kỳ làm việc tại các trang trại, không những đủ nuôi sống tất cả cư dân mà còn đưa Hoa Kỳ trở thành nhà xuất khẩu thực phẩm hàng đầu. Hầu như tất cả các công việc đồng áng đều do máy móc thực hiện, và chúng miễn nhiễm với bệnh dịch. Do đó, việc đóng cửa chỉ gây ra tác động nhỏ đối với canh tác nông nghiệp.  Hãy tưởng tượng một cánh đồng lúa mì trong thời kỳ đỉnh điểm của Cái chết Đen. Nếu người nông dân ở nhà trong vụ mùa thu hoạch, kết quả là sẽ chết đói. Nếu người nông dân vẫn ra đồng, họ có thể lây bệnh cho nhau. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan mà người xưa phải đối mặt.  Với cánh đồng lúa mì của năm 2020, một tổ hợp được định hướng bằng GPS có thể thu hoạch toàn bộ cánh đồng với hiệu suất cao hơn nhiều, và không có nguy cơ lây nhiễm bệnh. Trong khi vào năm 1349, một người nông dân trung bình thu hoạch được khoảng 5 giạ lúa một ngày, thì đến năm 2014, một máy gặt đập liên hợp đã lập kỷ lục với năng suất 30,000 giạ lúa trong một ngày. Có thể nói, COVID-19 không có tác động đáng kể đến sản xuất toàn cầu đối với các cây trồng chủ lực như lúa mì, ngô và lúa gạo. Nhưng để nuôi sống mọi người, chúng ta còn phải vận chuyển nông sản phân phối, thậm chí xa hàng nghìn km. Trong suốt chiều dài lịch sử, thương mại là kẻ tiếp tay cho đại dịch. Các mầm bệnh chết người di chuyển khắp thế giới nhờ các tàu buôn và các đoàn lữ hành. Ví dụ, Cái chết Đen đã quá giang từ Đông Á sang Trung Đông dọc theo con đường Tơ Lụa, và chính các tàu buôn của người Genova sau đó đã chở nó đến châu Âu. Thương mại nguy hiểm bởi mỗi chiếc tàu dù bé đều cần thủy thủ để vận hành, và những con tàu đông đúng là điểm nóng bệnh dịch.    Các nhà nghiên cứu tại Viện Vi sinh Quốc gia tại Munich, cơ sở nghiên cứu đã chẩn đoán ca COVID-19 đầu tiên của Đức. Ảnh: Rafael Heygster/Helena Manhartsberger.  Vào năm 2020, thương mại toàn cầu có thể tiếp tục hoạt động suôn sẻ hơn nhiều vì thủy thủ đoàn ít lại. Một con tàu container hiện nay đã được tự động hóa có thể chở nhiều hàng hóa hơn cả một đội thương thuyền của cả một vương quốc thời sơ khai. Năm 1682, đội tàu buôn của Anh có tổng sức chở 68,000 tấn và cần 16,000 thủy thủ. Ngày nay, một con tàu vận tải OOCL Hong Kong có thể chở đến 200,000 tấn với chỉ 22 thủy thủ.  Nhưng ở một diễn biến khác, thời đại mới với những con tàu với hàng trăm khách du lịch và máy bay chở đầy hành khách là cửa ngõ phát tán COVID-19 quan trọng. Nhưng du lịch không phải là nhu cầu thiết yếu như thương mại. Khách du lịch có thể ở nhà, doanh nhân có thể họp qua Zoom, trong khi những con tàu gần như tự động và và những chuyến tàu hàng giữ cho sự luân chuyển kinh tế toàn cầu. Trong khi du lịch quốc tế giảm mạnh trong năm 2020, khối lượng thương mại toàn cầu chỉ giảm 4%.  Trong các ngành dịch vụ, tự động hóa và cách mạng số thậm chí còn tác động sâu sắc hơn. Con người của năm 1918 chắc không ai có thể tưởng tượng rằng các văn phòng, trường học, tòa án và nhà thờ có thể tiếp tục hoạt động trong tình trạng đóng cửa. Họ làm sao có thể tưởng tượng cách học sinh và giáo viên trò chuyện khi đang phải cách ly tại nhà. Tất nhiên là các tương tác trực tuyến có nhiều nhược điểm, nhất là những tổn thất tinh thần to lớn.   Năm 1918, loài người chỉ sống trong thực tại, và khi virus cúm quét qua, nhân loại không còn nơi nào trốn chạy. Nhân loại ngày nay sống trong hai thế giới – thực và ảo, và khi coronavirus lưu hành qua thế giới thực, nhiều người đã chuyển phần lớn cuộc sống của họ sang thế giới ảo, nơi virus không thể bám đuổi.      Nhân loại ngày nay sống trong hai thế giới – thực và ảo, và khi coronavirus lưu hành qua thế giới thực, nhiều người đã chuyển phần lớn cuộc sống của họ sang thế giới ảo, nơi virus không thể bám đuổi.      Tất nhiên, con người là một thực thể không thể số hóa toàn bộ. Năm COVID đã nêu bật vai trò của các ngành nghề được trả lương thấp trong việc duy trì văn minh nhân loại: y tá, công nhân vệ sinh, tài xế xe tải, thu ngân, người giao hàng. Người ta thường nói mọi nền văn minh chỉ cách sự man rợ dăm ba bữa ăn. Vào năm 2020, những người giao hàng là sợi tơ mỏng manh gắn kết văn minh, và là huyết mạch gắn kết thế giới thực giữa chúng ta.  Kết nối internet  Khi nhân loại số hóa và tự động hóa cuộc sống, chuyển dịch sang hoạt động trực tuyến, chúng ta phải đối mặt với những nguy hiểm mới. Một trong những điều đáng chú ý nhất của năm COVID là internet không bị quá tải và gián đoạn. Một cây cầu khi có lưu lượng giao thông quá mức có thể bị tắc nghẽn hoặc sụp đổ, nhưng internet thì không, mặc dù trong năm COVID, các văn phòng, nhà thờ, trường học chuyển sang trực tuyến hầu như chỉ trong một đêm.  Chúng ta nhận ra cuộc sống vẫn tiếp diễn dù cả một quốc gia đang bị phong tỏa. Hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật số gặp sự cố.   Công nghệ thông tin đã giúp chúng ta kiên cường hơn trước virus sinh học, nhưng khiến chúng ta lệ thuộc nhiều hơn và dễ bị tấn công hơn trước virus máy tính, từ các phần mềm độc hại đến cấp độ chiến tranh mạng. Mọi người thường hỏi: “Sau COVID, điều gì đang chờ chúng ta?”. Có lẽ ứng viên hàng đầu là một cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Coronavirus mất vài tháng để lan truyền và lây nhiễm cho hàng triệu người, còn cơ sở hạ tầng kỹ thuật số có thể sụp đổ trong vòng một ngày. Khi đó, bạn nghĩ phải mất bao lâu để chuyển đổi ngược, từ email trở về thư tay?  Điều gì đáng giá hơn?  Năm COVID đã phơi bày một hạn chế thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với những hạn chế của khoa học và công nghệ. Đó là chính trị. Khi đưa đến một quyết sách, chúng ta phải cân nhắc nhiều lợi ích và giá trị, và vì không có cách tối ưu để xác định lợi ích và giá trị nào là quan trọng hơn, nên không có cách nào khoa học để quyết định những gì chúng ta nên làm.    Phòng thí nghiệm của công ty Bioscientia, nơi các kit chẩn đoán coronavirus được nghiên cứu, đánh giá và lưu trữ. Ảnh: Rafael Heygster.  Ví dụ: Khi quyết định có áp đặt lệnh phong tỏa hay không, người ta thường chỉ cần đặt câu hỏi: “Có bao nhiêu người mắc COVID-19 nếu chúng ta không ban bố lệnh phong tỏa?”. Chúng ta cũng nên đặt câu hỏi: “Có bao nhiêu người sẽ bị trầm cảm nếu chúng ta áp đặt một đợt phong tỏa? Bao nhiêu người sẽ thiếu dinh dưỡng? Bao nhiêu người phải nghỉ học hoặc mất việc? Bao nhiêu người bị bạo hành hoặc sát hại bởi vợ/chồng của họ?”  Ngay cả khi tất cả dữ liệu của chúng ta là chính xác và đáng tin cậy, chúng ta nên luôn hỏi: “Điều gì đáng giá hơn và được ưu tiên? Làm thế nào để cân đối các con số đang đối nghịch nhau?” Đây là vấn đề chính trị hơn là khoa học. Các chính trị gia cần cân bằng giữa các vấn đề y tế, kinh tế và xã hội để đưa ra chính sách toàn diện.  Trong năm COVID, giám sát đại chúng đã được hợp pháp hóa và phổ biến hơn. Chống lại dịch bệnh là quan trọng, nhưng nó có đáng để hủy hoại sự tự do? Bất kỳ dữ liệu nào thu thập về con người, đặc biệt về dữ liệu sinh học, phải được sử dụng để hỗ trợ con người hơn là để thao túng và kiểm soát. Bác sĩ riêng biết những điều cực kỳ riêng tư của tôi, và tôi chấp nhận điều đó vì tin tưởng bác sĩ sẽ sử dụng dữ liệu này vì lợi ích của tôi. Bác sĩ của tôi không được bán dữ liệu này cho bất kỳ công ty hay đảng phái chính trị nào.   Giám sát luôn phải là giao tiếp hai chiều. Nếu sự giám sát chỉ từ trên xuống dưới, thì đây là con đường mau chóng dẫn đến chế độ độc tài. Vì vậy, bất cứ khi nào giám sát cá nhân bị tăng cường thì đồng thời giám sát chính phủ và các tập đoàn lớn cũng phải tương xứng. Ví dụ, trong bối cảnh đại dịch, các chính phủ đang phân bổ một lượng tiền khổng lồ. Quy trình này phải được minh bạch hơn nữa. Với tư cách một công dân, tôi muốn dễ dàng xem ai nhận được tiền và ai là người quyết định số tiền đi đâu. Tôi muốn đảm bảo tiền được cấp cho các doanh nghiệp thực sự cần hơn là cho một đại công ty mà chủ sở hữu của nó là bạn của một bộ trưởng. Nếu chính phủ nói, quá phức tạp để thiết lập một hệ thống giám sát như vậy thì bạn đừng tin vào điều đó. Nếu không quá phức tạp để giám sát từng cá nhân, thì cũng không quá phức tạp để giám sát chính phủ.      Một lý giải cho sự ngăn cách giữa thành công về khoa học và thất bại trong các quyết sách chống dịch là các nhà khoa học có xu hướng hợp tác toàn cầu, trong khi các chính trị gia lại có xu hướng thù địch. Sự thiếu hợp tác toàn cầu không chỉ thể hiện trong cuộc chiến thông tin mà còn trong sự tranh giành các trang thiết bị y tế đang khan hiếm.      Không cho phép tập trung quá nhiều dữ liệu vào một nơi. Không phải trong đại dịch, cũng không phải sau đại dịch. Độc quyền dữ liệu là công thức của chế độ độc tài. Nếu cần thu thập dữ liệu sinh trắc học để ngăn chặn đại dịch, điều này nên được thực hiện bởi một cơ quan y tế độc lập hơn là cảnh sát. Và dữ liệu này nên được tách khỏi kho dữ liệu của chính phủ hoặc các tập đoàn lớn. Chắc chắn sự phân tán dữ liệu sẽ gây ra sự kém hiệu quả, nhưng đó là một tính năng hơn là một lỗi. Sự kém hiệu quả và mặt khai thác dữ liệu sẽ ngăn chặn sự trỗi dậy của nền độc tài kỹ thuật số.  Tùy thuộc vào các chính trị gia  Khi Cái chết Đen giết chết hàng triệu người, không ai mong đợi nhiều từ các vị vua và hoàng đế. Khoảng 1/3 dân số Anh đã chết trong làn sóng dịch hạch đầu tiên, nhưng cũng không khiến vua Edward III bị mất ngôi. Rõ ràng ngăn chặn đại dịch là việc vượt quá khả năng của nhà cai trị, nên không ai đổ lỗi cho họ.  Nhưng ngày nay, loài người có trong tay các công cụ hữu hiệu để ngăn chặn COVID-19. Một số quốc gia, từ Việt Nam đến Úc, đã chứng minh ngay cả khi thiếu vaccine, vẫn có các công cụ để ngăn chặn đại dịch, mặc dù phải trả giá đắt về kinh tế-xã hội. Chúng ta có thể đánh bại virus, nhưng không chắc mình có sẵn sàng trả giá cho chiến thắng. Đó là lý do tại sao các thành tựu khoa học đặt lên vai các chính trị gia một trách nhiệm lớn lao.  Điều không may là quá nhiều chính trị gia đã không thực hiện được trách nhiệm này. Ví dụ, các tổng thống dân túy ở Mỹ và Brazil đã hạ thấp sự nguy hiểm của dịch bệnh, từ chối ý kiến các chuyên gia mà chỉ lưu tâm đến các thuyết âm mưu. Họ đã không đưa ra kế hoạch hành động đúng đắn cho liên bang trong khi nỗ lực phá hoại hành động ngăn chặn dịch bệnh của chính quyền các tiểu bang và thành phố. Sự cẩu thả và thiếu trách nhiệm của chính quyền Trump và Bolsonaro đã dẫn đến hàng trăm nghìn ca tử vong có thể phòng tránh được.  Tại Anh, ban đầu Chính phủ bận tâm Brexit hơn là COVID-19. Chính sách phân ly của chính quyền Boris Johnson đã thất bại trong việc cô lập nước Anh khỏi mối nguy hại thật sự: virus. Quê hương Do Thái của tôi cũng phải hứng chịu sự quản trị yếu kém. Trên thực tế, Israel cũng là một “quốc đảo” tương tự như Đài Loan, New Zealand và Síp, với biên giới khép kín và chỉ có một cửa khẩu nhập cảnh chính: sân bay Ben Gurion. Tuy nhiên, vào thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch, chính quyền Netanyahu đã cho phép du khách đi qua sân bay mà không kiểm dịch hoặc thậm chí bỏ qua các biện pháp sàng lọc thích hợp, và từ chối áp đặt lệnh đóng cửa.  Cả Anh và Israel đều đi đầu trong việc phân phối vaccine nhưng các đánh giá sai lầm ban đầu đã khiến họ phải trả giá đắt. Tại Anh, đại dịch cướp đi sinh mạng của 120,000 người, đứng thứ sáu thế giới tỷ lệ tử vong trung bình. Trong khi đó, Israel có tỷ lệ mắc đứng hàng thứ bảy thế giới và để ngăn thảm họa tiếp diễn, họ phải ký thỏa thuận “đổi dữ liệu lấy vaccine” chia sẻ dữ liệu [y tế] có giá trị khổng lồ với Pfizer để đổi lấy đủ vaccine sớm nhất. Giao dịch đã gây lo ngại về quyền riêng tư và độc quyền dữ liệu, đồng thời chứng minh dữ liệu của công dân là một trong những tài sản nhà nước giá trị nhất.  Trong khi chỉ vài quốc gia hoạt động tốt, nhân loại nói chung đến nay vẫn thất bại trong việc ngăn chặn đại dịch hoặc đề ra kế hoạch toàn cầu để đánh bại virus. Những tháng đầu năm 2020 diễn ra như một vụ tai nạn trong cuộn phim quay chậm. Truyền thông hiện đại giúp mọi người trên thế giới theo dõi theo thời gian thực những hình ảnh đầu tiên từ Vũ Hán, sau đó là Ý, và nhiều quốc gia khác – nhưng không có lãnh đạo toàn cầu nào xuất hiện để ngăn chặn thảm họa đang nhấn chìm thế giới. Các công cụ đã sẵn sàng, thì chúng ta vẫn thường xuyên thiếu sự khôn ngoan chính trị.  Liên kết quốc tế   Một lý giải cho sự ngăn cách giữa thành công về khoa học và thất bại trong các quyết sách chống dịch là các nhà khoa học có xu hướng hợp tác toàn cầu, trong khi các chính trị gia lại có xu hướng thù địch. Làm việc dưới sự căng thẳng và không chắc chắn, các nhà khoa học khắp thế giới tự do chia sẻ thông tin và nương tựa vào những phát hiện và hiểu biết của nhau. Nhiều dự án nghiên cứu quan trọng được thực hiện bởi các nhóm đa quốc gia. Ví dụ, một nghiên cứu quan trọng đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp đóng cửa được tiến hành đồng thời bởi các nhà nghiên cứu từ 9 tổ chức: 1 tại Anh, 3 tại Trung Quốc, 5 tại Mỹ. Ngược lại, các chính trị gia đã không thể thành lập một liên minh quốc tế chống lại virus và không thể đồng thuận về một kế hoạch toàn cầu. Hai siêu cường là Mỹ và Trung Quốc cáo  buộc nhau che giấu thông tin, phổ biến tin giả và các thuyết âm mưu, thậm chí cố tình phát tán virus. Nhiều quốc gia khác rõ ràng đang cố ý làm sai lệch hoặc che giấu dữ liệu về diễn biến của đại dịch.      Nếu một đại dịch khác tấn công nhân loại vào năm 2030 thì đó không phải là một thảm họa tự nhiên không thể kiểm soát, cũng không phải là sự trừng phạt của Chúa Trời, mà là thất bại của con người – chính xác hơn – là thất bại về chính trị.      Sự thiếu hợp tác toàn cầu không chỉ thể hiện trong cuộc chiến thông tin mà còn trong sự tranh giành các trang thiết bị y tế đang khan hiếm. Mặc dù cũng có nhiều trường hợp hợp tác và tài trợ hào phóng, nhưng đã không có nỗ lực nghiêm túc nào để tổng hợp nguồn lực để hợp lý hóa sản xuất và phân phối công bằng. Chủ nghĩa dân tộc vaccine đã tạo ra sự bất bình đẳng mới giữa các quốc gia.  Thật đáng buồn khi nhiều người không hiểu một sự thật đơn giản về đại dịch: chừng nào virus vẫn tiếp tục lây lan ở bất cứ đâu, không quốc gia nào có thể an toàn thật sự. Cứ cho Anh và Israel thành công trong việc diệt trừ virus bên trong biên giới, thì virus tiếp tục lây lan tại Ấn Độ, Brazil hoặc Nam Phi vẫn tạo ra những đột biến mới khiến vaccine mất tác dụng và thúc đẩy một làn sóng lây nhiễm mới.  Trong tình cảnh hiện nay, lời kêu gọi về lòng vị tha có thể vượt lên trên được chủ nghĩa quốc gia. Tuy nhiên, trường hợp khẩn cấp hiện nay cần sự hợp tác toàn cầu chứ không phải lòng vị tha, vì điều này mới đảm bảo lợi ích quốc gia thực sự.   Chống virus cho thế giới  Những cuộc tranh luận xảy ra trong năm COVID sẽ còn vang vọng nhiều năm nữa. Nhưng tất cả các phe phái chính trị nên đồng thuận về ít nhất ba điểm chính yếu:  Thứ nhất, chúng ta cần bảo vệ cơ sở hạ tầng số thiết yếu của mình. Đó là giải pháp cứu rỗi chúng ta trong đại dịch, và nó có thể sớm trở thành nguồn gốc cho một thảm họa khác thậm chí còn tồi tệ hơn.  Thứ hai, mỗi quốc gia nên đầu tư nhiều hơn vào hệ thống y tế công cộng của mình. Điều này có vẻ hiển nhiên, nhưng các chính trị gia và cử tri đôi khi vẫn ăn may mặc dù bỏ qua những bài học rõ ràng nhất.  Thứ ba, chúng ta nên thiết lập một hệ thống toàn cầu mạnh mẽ để giám sát và ngăn chặn đại dịch. Trong cuộc chiến lâu dài giữa nhân loại và mầm bệnh, trận địa chính là cơ thể mỗi chúng ta. Nếu bất kỳ cửa ngõ nào bị xuyên thủng, toàn mặt trận sẽ đều nguy khốn. Ngay cả những người giàu nhất hành tinh cũng có lợi ích cá nhân trong việc bảo vệ những người nghèo nhất ở các nước kém phát triển. Nếu một virus nhảy từ dơi sang người ở một ngôi làng hẻo lánh trong một cánh rừng heo hút, chỉ có thể nó sẽ xâm nhập phố Wall chỉ vài ngày sau đó.  Nền tảng của hệ thống chống lại dịch hạch toàn cầu vẫn đang tồn tại dưới mô hình WHO và một vài tổ chức khác. Nhưng ngân sách dành cho hệ thống này rất ít ỏi, và hầu như không đem lại lợi ích chính trị. Chúng ta phải trang bị cho nó các ảnh hưởng chính trị và ngân sách cần thiết để nó không bị lệ thuộc các suy nghĩ bất chợt của các chính trị gia thực quyền. Như đã lưu ý trước đó, tôi không tin các chuyên gia không được bầu chọn nên được giao nhiệm vụ đưa ra các quyết sách quan trọng. Phương thức cũ nên được duy trì. Nhưng một số cơ quan y tế toàn cầu độc lập sẽ là nền tảng lý tưởng để tổng hợp dữ liệu y tế, theo dõi các nguy cơ tiềm ẩn, cảnh báo và điều hành công tác nghiên cứu và phát triển.  Nhiều người lo ngại COVID là sự khởi đầu cho một làn sóng dịch bệnh mới. Nhưng nếu các bài học trên được tiếp thu, cú sốc như COVID có thể xảy đến ít thường xuyên hơn. Loài người không thể ngăn chặn sự xuất hiện của các mầm bệnh mới, bởi đây là tiến trình tự nhiên đã diễn ra hàng tỷ năm và còn tiếp tục trong tương lai. Nhưng hiện nay chúng ta có kiến thức và công cụ cần thiết để chăn chặn sự lây lan của chúng. Nếu một đại dịch khác tấn công nhân loại vào năm 2030 thì đó không phải là một thảm họa tự nhiên không thể kiểm soát, cũng không phải là sự trừng phạt của Chúa Trời, mà là thất bại của con người – chính xác hơn – là thất bại về chính trị.□  Cao Hồng Chiến lược thuật   Sử gia Yuval Noah Harari, tác giả của các cuốn sách nổi tiếng: Sapiens, Homo Deus, 21 bài học của thế kỷ 21, và Sapiens: Lược sử loài người bằng tranh.  Nguồn bài và ảnh: https://www.ft.com/content/f1b30f2c-84aa-4595-84f2-7816796d6841    Author                Yuval Noah Harari        
__label__tiasang Bài học từ bi kịch Lysenko      Chúng ta, những người làm khoa học, tin rằng khoa học không bao giờ nói dối và sự thật sẽ luôn chiến thắng. Tuy nhiên, đôi khi nó có thể cần rất nhiều thời gian.      Quan điểm của Lysenko về di truyền học được Stalin tán dương và hậu thuẫn bởi nó phù hợp với ý thức hệ Soviet. Nguồn: gonosiana.com.  Trong hơn 30 năm, từ thập niên 30 tới 60 của thế kỷ 20, nhờ vào sự hậu thuẫn của Stalin và tiếp đó là Khrushchev, Lysenko đã áp đặt quan điểm sai lầm của ông ta về di truyền học lên nền sinh học Liên Xô. Bản thân Stalin khi đó cũng rất thích thú và tán dương quan điểm của Lysenko, cho rằng những phẩm chất có được do sự đào luyện hoàn toàn có thể được truyền lại cho các thế hệ mai sau. Quan điểm này rất phù hợp với ý thức hệ Soviet khi ấy, nhắm tới xây dựng một hình mẫu con người lý tưởng mới. Lợi dụng đặc quyền của mình, Lysenko loại bỏ tất cả những nhà khoa học khác quan điểm với ông ta; đúng vào thời kỳ nở rộ ngành di truyền học trên thế giới. Từ nửa sau những năm 1930, đã có rất nhiều nhà di truyền học Soviet bị giết hại hay lưu đày tới những trại lao động cải tạo. Năm 1948, nhiều nhà di truyền học bị Lysenko kết tội “ngụy khoa học tiểu tư sản” và tất cả đều bị sa thải. Tổng cộng, có tới 3.000 nhà sinh học đã bị bỏ tù, sa thải, hay bị giết chỉ vì chống lại quan điểm của Lysenko. Phải tới năm 1962, ba nhà vật lý Soviet nổi tiếng là Ginzburg, Kapitsa và Zel’dovich mới có cơ hội công khai chỉ ra những sai lầm trong lý thuyết của Lysenko và sự bịp bợm của ông ta. Năm 1964, Sakharov tuyên bố trước Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô rằng Lysenko “phải chịu trách nhiệm cho sự tụt hậu đáng hổ thẹn của nền sinh học Soviet, đặc biệt trong lĩnh vực di truyền học, bởi hành vi phổ biến những quan điểm ngụy khoa học, bởi sự phiêu lưu không căn cứ của ông ta, khiến cho nền học thuật bị xói mòn, và cho sự lăng mạ, sa thải, bắt giữ, thậm chí cái chết của rất nhiều những nhà khoa học chân chính”.  Bằng cách nào người ta có thể che giấu sự thật trong vài thập kỷ trước sự chứng kiến của cả một cộng đồng các nhà khoa học đầy năng lực như vậy. Tôi từng trao đổi về điều này với một số nhà khoa học Liên Xô. Họ giải thích đó là hậu quả của một thời kỳ mà môi trường học thuật đầy sự nghi kỵ cùng với chính sách hạn chế tự do tư tưởng cực đoan và phi lý. Nhiều nhà khoa học đã an phận thủ thường, không dám lên tiếng; họ biết rằng nếu lên tiếng thì chẳng những không giúp gì cho việc bảo vệ sự thật mà còn tự chuốc lấy nguy hiểm cho sự nghiệp, thậm chí cả tính mạng. Còn những nhà quản lý vì sợ hãi cấp trên thường tỏ ra cực đoan hơn mức cần thiết. Họ không hề phân biệt giữa những người có mục đích chống đối chính quyền với những người lên tiếng vì sự tiến bộ của đất nước. Chính điều đó đã dẫn tới nạn chảy máu chất xám trong giới trí thức Liên Xô, một tổn thất nghiêm trọng đối với chế độ.  Ngày nay thật khó hình dung một kịch bản tương tự có thể xảy ra, bởi hiển nhiên nó đi ngược lại lợi ích của khoa học cũng như quốc gia. Internet và những nền tảng công nghệ khác cho phép mỗi chúng ta có khả năng tiếp cận dễ dàng và tức thời với rất nhiều thông tin, khiến việc che giấu sự thật là điều hầu như bất khả thi.  Ở Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, chúng ta đang đối diện nhiều thách thức. Những mặt hạn chế do hậu quả tồn dư của thế kỷ 20, trong đó một nửa dưới sự cai trị của thực dân Pháp, một nửa trải qua chiến tranh và nghèo đói, càng khiến việc giải quyết những thách thức phía trước thêm khó khăn. Nhưng để vượt qua, trước hết chúng ta phải dũng cảm nhận diện, thẳng thắn chỉ ra những thách thức ấy. Với một quá khứ hào hùng như của Việt Nam, chúng ta không có lý do gì để sợ hãi khi nhìn thẳng vào sự thật.  Chỉ tính riêng so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta không nắm ưu thế về trình độ và kỹ năng lao động; sự phát triển kinh tế của chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguồn lao động giá rẻ, thứ hấp dẫn những nhà đầu tư ngoại quốc: thu nhập tối thiểu của lao động Việt Nam chỉ là 110 USD/tháng, so với 160 USD của Trung Quốc hay 230 USD của Thái Lan. Việt Nam cũng vắng bóng trong danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á; trong khoảng 15 năm qua, công bố khoa học của Việt Nam thấp hơn 18 lần so với Malaysia và 8 lần so với Thái Lan. Trong khi có 130 nghìn sinh viên Việt Nam du học nước ngoài, chỉ có 2.000 sinh viên quốc tế du học ở Việt Nam. Trên thế giới, chúng ta đứng thứ 170 trên 180 về chất lượng không khí, 154 trên 173 về các thiên tai.  Để vượt qua những trở ngại khó khăn, chiến thắng những thách thức, chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, cần phải hiểu rõ chúng bởi tương lai đất nước nằm trong tay họ. Chúng ta cần khuyến khích họ mở to mắt và dám lên tiếng về điều họ nhìn thấy. Thế hệ trẻ không thể trưởng thành nếu họ chỉ được tiếp cận một chiều với những giấc mơ hồng. Tôi vẫn thường cảm nhận rằng hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chưa trang bị cho họ khả năng đối diện với tương lai đầy thử thách, thất bại trong việc dạy họ bày tỏ thái độ, biết nói “không” và biết phẫn nộ trước những điều cần phẫn nộ, hay dám thay đổi những nguyên tắc khi chúng không còn phù hợp với thực trạng của một thế giới không ngừng biến động.  Sự thay đổi hướng tới tiến bộ ở mọi nơi, không chỉ Việt Nam, đều đòi hỏi vai trò của thế hệ trẻ. Chỉ họ mới có đủ tiềm năng để cống hiến bằng nhiệt huyết, lòng dũng cảm và sự quyết tâm mà sứ mạng đó đòi hỏi. Chúng ta cần phải khôi phục tinh thần công dân năng động, giúp lớp trẻ cảm thấy có trách nhiệm với tương lai của đất nước, biết trăn trở về những lợi ích chung hơn là của bản thân. Chúng ta cần hướng dẫn họ trở thành những người trưởng thành có trách nhiệm, nghĩa là để cho họ có quyền tự do biểu đạt những gì mà họ mong muốn, miễn rằng điều đó mang tính tích cực và được thực hiện trên tinh thần xây dựng. Xa hơn nữa, chúng ta cũng cần bao dung với những trường hợp khi nhiệt huyết của tuổi trẻ vô tình khiến họ trở nên đi xa hơn giới hạn cho phép.  Đó là tất cả những điều cần phải làm để giúp thế hệ trẻ trở nên năng động sáng tạo hơn, biết quan tâm tới tương lai của đất nước, và ý thức được rằng nó nằm trong tay họ, rằng họ sẽ trở nên sớm già nua nếu không hành động, ngay từ bây giờ, và họ sẽ bỏ lỡ cơ hội để có thể để lại một thế giới tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau.  Hải Đăng dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần      Một công ty cổ phần chỉ thực sự duy trì được bản chất là công ty của cổ đông, do cổ đông, vì cổ đông, khi bảo vệ được yếu tố minh bạch trong quyền lực điều hành. Đây cũng là quy luật tất yếu để chúng ta đánh giá liệu một Nhà nước có thực sự là của dân, do dân, và vì dân.     Quyền lực Nhà nước đến từ đâu?  Thủa hồng hoang, khi loài người mới hình thành, thì những tập tính của động vật còn rất rõ nét, chưa có trật tự như xã hội ngày nay. Khi đó con người có thể có những “quyền” nguy hiểm, gây ảnh hưởng tới sự an nguy và quyền lợi tối thiểu của cá nhân và cộng đồng. Gọi là “quyền” vì người ta có thể thực hiện hành vi mà không phải xin phép ai, ví dụ như việc người này tàn sát hay cướp bóc người khác – cũng tựa như việc hai con bò húc nhau – không phải xin phép ai. Nhưng loài người thông minh đã nhanh chóng nhận ra sự tồn tại của cá nhân và cộng đồng không thể duy trì, phát triển nếu kéo dài thực tế này. Nên họ đã cùng nhau thỏa thuận loại bỏ những quyền nguy hiểm như vậy và đảm bảo điều này bằng việc giao quyền kiểm soát cộng đồng cho một chủ thể trung gian. Chủ thể trung gian này chính là tiền thân của Nhà nước.  Ngoài ra, người ta cũng nhận ra cần phải tập hợp quyền lợi kinh tế manh mún của nhiều cá nhân lại vào tay một chủ thể trung gian có năng lực điều hành, qua đó làm tăng quy mô và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của cộng đồng. Chủ thể trung gian ấy cũng chính là Nhà nước. Việc tập trung quyền lực vào tay một chủ thể trung gian cũng tương tự như một công ty cổ phần được thành lập bởi các cổ đông, khi họ thấy rằng từng thành viên tiếp tục làm ăn riêng lẻ không mang lại hiệu quả, vì vậy cần trao quyền định đoạt tài sản cá nhân của mình sang bàn tay của một chủ thể trung gian bằng hình thức góp vốn.   Nếu như nhân dân đóng góp chủ yếu cho nhà nước bằng tiền thuế và sức lao động dưới hình thức lao động công ích và nghĩa vụ quân sự; thì các cổ đông chủ yếu đóng góp cho công ty bằng tiền. Nhưng thay vì đầu tư hết tiền bạc vào công ty, các cổ đông khôn ngoan bao giờ cũng giữ lại cho mình một góc tài sản để chi dùng cá nhân. Tương tự như vậy các thành viên xã hội cũng không dại gì tự nguyện trao hết tất cả các quyền của mình cho nhà nước: phần quyền còn giữ lại này chính là các quyền tự do cơ bản của công dân thường được ghi nhận trong các tuyên ngôn nhân quyền, trong các bản hiến pháp.          Không phải là nhà nước trao quyền cho các thành viên xã hội, mà là ngược lại – các thành viên xã hội trao quyền cho nhà nước.         Như vậy, bản chất vấn đề ở đây không phải là nhà nước trao quyền cho các thành viên xã hội, mà là ngược lại – các thành viên xã hội trao quyền cho nhà nước.   Qua việc phân tích nguồn gốc quyền lực của công ty cổ phần và của nhà nước, chúng ta có thể thống nhất với nhau một số điểm:   –    Nhà nước và công ty là chủ thể nhân tạo, nên nó không có quyền tự thân. Tất cả quyền mà nhà nước là do nhân dân trao cho, cũng như quyền lực công ty là do các cổ đông thành viên trao cho.   –    Mọi hành vi của công ty, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng, đều phải nằm trong một khuôn khổ được các cổ đông đồng ý từ trước. Tương tự như vậy, mọi hành vi của Nhà nước điều chỉnh, can thiệp vào những quyền tự do của công dân khi xã hội trước đó đã đồng ý về điều này.    –    Khi công ty làm ăn thua lỗ, cũng như khi nhà nước không còn đáp ứng được mục đích nhân dân đặt ra thì các thành viên có thể từ chối tiếp tục đóng góp hoặc trong trường hợp trầm trọng thì có thể tiến hành giải thể.   –    Tài sản chi dùng cá nhân là độc lập với tài sản công ty, thì nhân quyền là góc quyền tự do của từng cá nhân, nhà nước không được phép xâm phạm.   Hiến pháp và điều lệ công ty  Giữa hiến pháp và điều lệ công ty có những điểm tương đồng rất cơ bản.  Nếu hiến pháp quy định về việc thành lập, hoạt động của các cơ quan nhà nước chủ chốt như quốc hội, thủ tướng, tòa án, kiểm toán thì điều lệ công ty sẽ quy định về hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát, kế toán …  những thiết chế chủ chốt của công ty.          Hiến pháp là một loại khế ước đặc biệt mà Rousseau gọi là khế ước xã hội.        Nếu hiến pháp quy định mối quan hệ giữa nhà nước và công dân thì điều lệ công ty điều chỉnh mối quan hệ giữa cổ đông và công ty. Nếu các công dân thực hiện quyền lực trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý, thì các cổ đông thực hiện quyền lực trực tiếp thông qua đại hội cổ đông; nếu các công dân thực hiện quyền lực gián tiếp thông qua quốc hội, chính phủ, tòa án thì các cổ đông của mình cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến đường lối, các quyết định của công ty thông qua lá phiếu bầu hội đồng quản trị.   Nhưng trên tất thảy, điểm tương đồng lớn nhất giữa hiến pháp và điều lệ công ty là ở chỗ, cả hai đều là những khế ước được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa các thành viên. Điều lệ công ty là một bản khế ước thỏa thuận giữa các cổ đông để phục vụ quyền lợi cao nhất của các cổ đông. Tương tự như vậy, hiến pháp là một bản khế ước được thỏa thuận bởi nhân dân để phục vụ quyền lợi cao nhất của nhân dân.  Chính vì vậy hiến pháp là một loại khế ước đặc biệt mà Rousseau gọi là khế ước xã hội. Khế ước xã hội hiện thân một cách minh thị[1] ở các bản hiến pháp thành văn hoặc hiện thân một cách mặc thị ở các quốc gia có “hiến pháp bất thành văn“.   Lời nói đầu Hiến pháp bang Massachusetts năm 1780 đã trực tiếp đồng nhất hiến pháp và khế ước xã hội như sau:  “Cơ quan chính trị được thành lập bởi liên minh tự nguyện giữa các cá nhân; nó là một khế ước xã hội, qua khế ước này toàn thể nhân dân ký kết thảo ước với từng công dân, và mỗi công dân ký kết với toàn thể nhân dân rằng mọi người sẽ bị điều hành bởi những luật nhất định vì mục tiêu tốt lành chung.“   Một ví dụ kinh điển nữa cho hình thức thể hiện minh thị của khế ước xã hội là Mayflower Compact[2]:  Vào năm 1620 thì một nhóm bất đồng về tôn giáo (Pilgrim) đã rời bỏ nước Anh trên con thuyền mang tên là Mayflower để đi tìm vùng đất tự do cho mình. Khi con thuyền còn lênh đênh trên đại dương thì các thành viên có mặt trên con tàu đã bàn định về “nhà nước” tương lai của mình. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1620, họ đã cùng nhau ký một thỏa thuận (Compact tiếng Anh cổ có nghĩa là hợp đồng) về sau được giới học thuật gọi là Mayflower Compact để thiết lập nên “nhà nước” tương lai của mình. Khi con tàu cập bến vào vùng đất trống mà ngày nay là Plymouth – USA, thì Mayflower Compact đã đóng vai trò là hiến pháp cho chính quyền Plymouth trong những ngày đầu tiên.            Các học thuyết này làm giảm tính minh bạch của quyền lực nhà nước, tạo điều kiện hoặc hợp thức hóa cho sự lạm quyền.         Tuy không trực tiếp, rõ rệt nhưng chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy hình bóng[3] về khế ước xã hội ngay trong bản hiến pháp đầu tiên của lịch sử Việt Nam – Hiến pháp 1946.   Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 ghi:  “Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,…”  Sau đó Điều 70 khoản c quy định về thủ tục sửa đổi hiến pháp như sau:  “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.“  Hành động phúc quyết ở đây có thể ví với hành động phê chuẩn hợp đồng.   Những cách giải thích không minh bạch về quyền lực Nhà nước   Trước khi có quan điểm “nhà nước của dân, do dân, vì dân“ được các quốc gia văn minh chấp nhận rộng rãi từ thế kỷ 18, các nhà nước phong kiến luôn đưa ra những sự giải thích rối rắm, huyền bí khi giải thích về nguồn gốc Nhà nước và bản chất quyền lực Nhà nước. Các vị vua phong kiến đã hậu thuẫn cho các học thuyết thần quyền về nguồn gốc nhà nước để lý giải cho sự cai trị độc đoán của mình và trạng thái vô quyền của nhân dân. Các học thuyết này đều có điểm chung: nhà vua nhận quyền lực từ một đấng siêu nhiên (Ngọc hoàng ở phương Đông, hay Thượng đế ở phương Tây) để thiết lập nên nhà nước và thay mặt đấng siêu nhiên trị vị nhà nước đó; nếu nhân dân chịu cảnh lầm than bởi bàn tay tàn bạo của một vị vua nào đó, thì họ không nên lật đổ nhà vua, mà nên tự sám hội, xem xét xem dân tộc đó đã phạm lỗi gì để thượng đế nổi giận cử một ông vua như vậy xuống trần gian trừng phạt dân tộc đó.   Vào cuối thế kỷ 17, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì các học thuyết thần quyền không còn chỗ đứng, nhưng nhân loại lại phải tiếp tục đối mặt với các nhóm học thuyết của những thể chế độc tài, ví dụ như học thuyết giám hộ.   Học thuyết giám hộ thừa nhận về nguyên tắc thì quyền lực nhà nước là thuộc về toàn dân giống như học thuyết khế ước xã hội, nhưng trong đó khẳng định rằng vì trình độ dân trí thấp, không đủ khả năng nắm bắt các vấn đề phức tạp trọng đại của quốc gia, nên người dân cần chấp nhận đi theo sự dẫn dắt của lãnh đạo quốc gia, giống như đứa trẻ vị thành niên cần phải có người giám hộ trong các giao dịch dân sự có giá trị lớn vậy. Học thuyết này có ưu điểm là vừa xoa dịu được sự phản kháng của tầng lớp thiểu số, bởi họ thừa nhận nhà nước là của toàn dân, vừa bảo đảm được đặc quyền chính trị của kẻ thống trị bởi họ được ghi nhận là người giám hộ. Trong lịch sử, chế độ bảo hộ của thực dân Pháp lên nước ta là một ví dụ điển hình cho học thuyết giám hộ.           Trong việc trao quyền cho người điều hành một Nhà nước, cũng phải có một sợi dây liên kết mật thiết giữa lợi ích của nhân dân và quyền lực của người lãnh đạo.        Không như học thuyết khế ước xã hội thừa nhận trọn vẹn Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, thì các học thuyết trên đây phủ một màn sương mù lên quyền lực nhà nước làm cho quyền lực nhà nước như một con rồng thần bí, nhân dân chỉ thấy cái đầu rồng, còn thân và đuôi của nó thì ẩn trong mây. Các học thuyết này làm giảm tính minh bạch của quyền lực nhà nước, tạo điều kiện hoặc hợp thức hóa cho sự lạm quyền.   Vì sao cần minh bạch trong trao quyền điều hành  Ở trong mỗi công ty, sợi dây liên hệ giữa lợi ích cổ đông và quyền lực thành viên hội đồng quản trị cùng các lãnh đạo khác là rất rõ ràng. Việc lựa chọn nhầm người cầm quyền ở công ty ngay lập tức gây ra sự sụt giảm cổ tức của cổ đông, và khi điều này xảy ra thì những người cầm quyền này sẽ nhanh chóng phải ra đi, không cứ họ phải có một vi phạm nhỏ nào, mà chỉ đơn giản là khi không đáp ứng được lợi ích kỳ vọng của các cổ đông. Hay nói cách khác sợi dây lợi ích trong công ty là rất minh bạch và nhạy bén theo cả hai chiều. Khi duy trì được sợi dây này thì sẽ tạo động lực mạnh mẽ buộc người lãnh đạo công ty phải phấn đấu nỗ lực trong việc bảo vệ và phát huy quyền lợi của cổ đông nếu muốn duy trì quyền lực.   Cũng tương tự như vậy, trong việc trao quyền cho người điều hành một Nhà nước, cũng phải có một sợi dây liên kết mật thiết giữa lợi ích của nhân dân và quyền lực của người lãnh đạo. Nếu như quyền lực của lãnh đạo Nhà nước được quyết định chủ yếu bởi những tác nhân nằm ngoài lợi ích của cử tri, thì người lãnh đạo sẽ ít quan tâm lợi ích của cử tri vì lợi ích của cử tri không đóng vai trò sống còn đối với sự nghiệp chính trị của họ.  Minh bạch trong đánh giá hiệu quả hoạt động   Đối với công ty cổ phần có một công cụ đánh giá vô cùng nhanh nhạy đối với hiệu quả hoạt động của công ty đó là thị trường chứng khoán. Chỉ cần một quyết định bổ nhiệm CEO hay sự ra đi của một nhân sự cao cấp của công ty có thể làm cho giá cổ phiếu của công ty thay đổi ngay tức thì. Chiến lược kinh doanh, sản phẩm mới và kể cả những vụ bê bối đều được phản ánh thông qua sự trồi sụt giá cổ phiếu của công ty.   Đáng tiếc là đối với nhà nước không thể nào có một công cụ như vậy. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tài chính như Standard & Poor, Moody có thể xếp hạng tín dụng của các quốc gia; Humanright Watch có thể đưa ra các chỉ số về quyền cơ bản của công dân… Nhưng không có một chỉ số nào đánh giá một quốc gia toàn diện khách quan nhanh nhạy như chỉ số chứng khoán đối với công ty.   Vì thiếu một công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động kiểu như thị trường chứng khoán, nên các chính trị gia dễ dàng huyễn hoặc dân chúng về những thành công của mình, hoặc thoái thác trách nhiệm để có thể tái cử một cách dễ dàng.  (Đón đọc kỳ tới: Đưa tinh túy tinh thần doanh nghiệp vào Nhà nước)  [1] Theo GS Nguyễn Văn Bông thì khế ước xã hội chỉ tồn tại dưới dạng mặc thị, không tìm thấy dưới dạng minh thị. Nhưng tôi thì cho rằng khi GS Bông đưa ra quan điểm này đã bỏ qua Hiến pháp Massachusetts và Mayflower Compact năm 1620. Xem Nguyễn Văn Bông (1974), Hiến pháp và chính trị học – Quyển I, NXB Luật Khoa Sài Gòn, tr. 73  [2] Xem thêm http://www.allabouthistory.org/mayflower-compact.htm  [3] Tuy hiến pháp 1946 không trực tiếp khai sinh ra một nhà nước mới như trường hợp Mayflower Compact hay hiến pháp bang Massachusetts năm 1780, nhưng đã đóng vai trò là cơ sở cho việc vận hành quyền lực nhà nước của chính quyền cách mạng, làm cơ sở cho nhà nước của dân, do dân, vì dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán giá điện      Tăng giá là cách thị trường phản ứng lại đối với sự thiếu hụt. Nhờ sự tăng giá mà cơ hội đầu tư được mở ra. Nhiều nhà đầu tư sẽ “nhảy vào” khai thác. Hệ quả là cung được đẩy lên, và sự thiếu hụt được khắc phục. (Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, chúng ta phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn triền miên chủ yếu là vì sự thiếu hụt đã không thể làm cho giá cả tăng lên được).        Nếu điện năng đang bị thiếu hụt nghiêm trọng, thì việc tăng giá điện có thể là một phản ứng khách quan của thị trường. Thế nhưng, tại sao dư luận xã hội lại tỏ ra hết sức băn khoăn đối với kế hoạch tăng giá của ngành điện lực?  Trước hết, có vẻ như các quy luật của thị trường đang bị bóp méo nghiêm trọng bởi tình trạng độc quyền của ngành điện lực. Thực chất, điện năng đang thiếu hụt đến đâu? Thiếu hụt bao nhiêu và thất thoát bao nhiêu? Có một cơ quan đánh giá độc lập nào xác nhận không? “Tình trạng một mình một chợ” đã làm cho những lập luận của ngành điện tỏ ra không đáng tin cậy. Rủi ro hơn, những lập luận của Bộ Công nghiệp cũng chịu chung một số phận tương tự: Sự dính líu mang tính chủ quản đã làm tổn hại nghiêm trọng đến lòng tin của những người tiêu dùng về khả năng hành xử khách quan của Bộ.  Hai là, việc tăng giá điện chưa chắc đã dẫn đến cơ hội đầu tư bình đẳng cho các nhà đầu tư. Tình trạng độc quyền có thể làm cho cơ hội đó rơi hết vào tay những doanh nghiệp thân quen trong ngành. (Ngoại trừ, một số cơ hội nhỏ bé hơn ở những chỗ xương xẩu hơn may ra mới được mở ra cho các nhà đầu tư khác). Cạnh tranh lành mạnh vì vậy vẫn có thể không xảy ra. Hệ quả tiếp theo là, cho dù việc sản xuất điện năng có được tăng cường thì giá cả cũng khó có thể được giảm xuống. Mà như vậy thì sự “hy sinh” của những người dân sẽ hữu ích đến đâu?  Ba là, lập luận của ngành điện về việc tăng giá điện để tăng cường đầu tư mới nghe thấy có lý, nhưng suy cho kỹ thì vẫn chỉ là cái lý của kẻ độc quyền. Tăng giá để có vốn đầu tư thì rõ ràng là biến tất cả mọi người tiêu dùng của nước ta trở thành các cổ đông của ngành điện. Thế nhưng, họ sẽ là một thứ cổ đông có một không hai trên thế giới- những cổ đông không được sở hữu cổ phần, không được chia cổ tức, không được quyền quản lý công ty. Có ai trong số chúng ta chấp nhận trở thành một thứ cổ đông như vậy không?  Cuối cùng, việc tăng giá điện có thể là cần thiết. Nhưng cần thiết hơn là phải nhanh chóng hình thành cơ chế thị trường và phá bỏ vị thế độc quyền của ngành điện. Thiếu cơ chế thị trường, thiếu cạnh tranh lành mạnh, chúng ta sẽ khó lòng xác định được một cách chính xác về việc phải tăng giá điện bao nhiêu là vừa. Và không khéo, mọi sự tăng giá chẳng qua chỉ là để bù lại cho sự kém hiệu quả của ngành điện mà thôi.      Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán trách nhiệm      Chế độ trách nhiệm đối với thủ trưởng của cơ  quan công quyền để xảy ra tham nhũng và tiêu cực* tưởng chừng khá đơn giản và sáng tỏ: người đứng đầu cơ quan thì phải  chịu trách nhiệm về mọi công việc của cơ quan kể cả việc cấp dưới tham  nhũng và tiêu cực. Tuy nhiên, với cách thức tổ chức hệ thống công vụ như  hiện nay, đây thật sự là một bài toán khó.    Trước hết, đó là do sự thiếu tương ứng giữa trách nhiệm và quyền hạn. Trách nhiệm phải gắn với quyền hạn. Không thể đòi hỏi một quan chức phải chịu trách nhiệm về những việc mà người đó không có quyền quyết định. Thực tế cho thấy, không phải thủ trưởng nào trong hệ thống của chúng ta cũng có quyền lựa chọn và quyết định về các cấp phó của mình (và có thể một số nhân sự quan trọng khác). Nếu trách nhiệm phải được truy cứu trên cơ sở hành vi (ở đây, trước hết là hành vi đề bạt), thì người phải chịu trách nhiệm sẽ là một quan chức cấp trên. Tuy nhiên, cách áp đặt chế độ trách nhiệm như vậy sẽ hết sức rủi ro. Vì quan chức này thường không có điều kiện để theo dõi hoạt động hằng ngày của người được mình đề bạt (kể cả trước và sau khi đề bạt).  Thủ trưởng cơ quan có thể có quyền đề cử cấp phó của mình (trên thực tế, không phải bao giờ cũng như vậy) và phải chịu trách nhiệm về việc đề cử đó. Ngày xưa, các quan lại cũng có quyền tiến cử những người hiền tài cho nhà vua và phải chịu trách nhiệm nặng nề về sự tiến cử của mình. Tuy nhiên, chúng ta đã đánh đổ chế độ quân chủ từ lâu. Trong hai hành vi: hành vi đề cử và hành vi quyết định đề bạt, hành vi nào đáng phải chịu trách nhiệm cao hơn?!   Hai là, phạm vi liên đới trách nhiệm khó có thể xác định được một cách rõ ràng. Ví dụ, ở cấp phòng, một công chức tham nhũng thì trưởng phòng phải chịu trách nhiệm. Nhưng phòng lại nằm trong sở, thế giám đốc sở có phải chịu trách nhiệm không? Bao nhiêu phòng để xảy ra tham nhũng giám đốc sở mới phải chịu trách nhiệm?  Chưa nói đến cơ chế song trùng trực thuộc: vừa có thủ trưởng theo chiều ngang, vừa có thủ trưởng theo chiều dọc. Ví dụ: sở vừa trực thuộc ủy ban nhân dân, vừa trực thuộc bộ chuyên ngành tương ứng. Một giám đốc sở sẽ có hai thủ trưởng cấp trên trực tiếp. Đó là chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh và bộ trưởng tương ứng. Nếu giám đốc sở tham nhũng thì vị nào trong hai vị này phải chịu trách nhiệm?  Ba là, cơ chế tập trung quan liêu chậm được khắc phục. Nét đặc trưng của cơ chế này là: quyền hạn tập trung cho cấp trên, đồng thời trách nhiệm cũng đẩy hết cho cấp trên. Các công việc cụ thể đã được đẩy lên cho cấp trên bằng nhiều cách: xin ý kiến chỉ đạo; xin phê duyệt; xin ban hành quyết định v.v. Khi tham nhũng, tiêu cực xảy ra, trách nhiệm có thể dính đến các cấp rất cao. Việc áp đặt trách nhiệm pháp lý cho các quan chức cao cấp là rất khó khăn. Thông thường, điều này không thể thực hiện được vì thiếu công đoạn xử lý trách nhiệm chính trị. Mà cách thức, thủ tục xử lý trách nhiệm chính trị thì lại còn là những vấn đề rất mới và về cơ bản chưa được vận hành trên thực tế.     Những khó khăn nói trên cho thấy, việc xác lập chế độ trách nhiệm đối với thủ trưởng của cơ quan công quyền để xảy ra tham nhũng và tiêu cực cần được giải quyết trong tổng thể của các nỗ lực nhằm cải cách hệ thống hành chính-nhà nước nói chung. Tuy nhiên, đây là công việc khó khăn, phức tạp và đòi hỏi phải có thời gian. Trước mắt, chế độ trách nhiệm cần phải được xác lập trên cơ sở những quyền hạn thực tế mà các quan chức đang có. Ngoài ra, trách nhiệm chỉ xác lập được trên cơ sở hành vi. Mà rõ ràng nhất là hành vi kiểm tra, giám sát các công chức cấp dưới. Việc áp đặt trách nhiệm tràn lan, không căn cứ vào hành vi có thể chỉ mang đến những kết quả ngược lại. Đơn giản là: điều này chỉ khuyến khích những người đứng đầu các cơ quan che giấu tham nhũng và tiêu cực mà thôi.   —  * Gắn với việc triển khai NQ Trung ương IV)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn định tội danh giết người      Sự kiện Đoàn Văn Vươn, Tiên Lãng chấn động người Việt cả trong lẫn ngoài nước, bởi đụng chạm tới lưong tri, bản chất nhân đạo của con người không thể ngoảnh mặt trước vận mệnh bất cứ đồng loại nào của mình, vừa đánh vào ý thức chủ nhân đất nước của mỗi công dân phải có trách nhiệm lên tiếng trước mọi vấn đề hệ trọng của đất nước, nền tảng cho mọi quyết sách hợp lòng dân của chính quyền.      Về mặt khoa học hình sự, tội danh tức tên gọi tội trạng, mỗi con người có 1 tên gọi, thì mỗi tội trạng cũng có một tội danh, để phân biệt với các tội danh khác, bao giờ cũng được ấn định kèm khung hình phạt dành riêng cho nó trong bộ luật hình sự ở bất kỳ quốc gia nào, và do chỉ nhìn nhận dưới góc độ hình sự, nên thường không khác mấy giữa các chính thể khác nhau. Mỗi tội danh được thành lập bởi một hay nhiều dấu hiệu hành vi tội phạm. Những tội hình sự liên quan tới tính mạng con người, nếu chia theo dấu hiệu hậu qủa tội phạm, có thể phân loại thành 2 nhóm tội danh, nhóm tội danh chấm dứt sự sống của nạn nhân, tức phải có dấu hiệu người chết, và nhóm tội danh không chấm dứt sự sống nạn nhân, không có dấu hiệu người chết. Ở Đức, nhóm tội danh chấm dứt sự sống nạn nhân, gồm: 1-Tội danh „Giết người“, tiếng Đức gọi là Mord, được quy định tại điều 215 trước kia và 211 hiện nay: “(1) Bị phạt tù chung thân, (2) Kẻ giết người là kẻ làm nạn nhân chết, do thích giết người, hoặc để thoả mãn quan hệ xác thịt, hoặc nhằm chiếm đoạt tài sản, hoặc với những lý do nhỏ nhặt; mang tính chất dã man triệt hạ nạn nhân, hoặc bằng phương tiện nguy hiểm, hoặc để thực hiện hành vi phạm tội khác hay che đậy nó“. Trên thực tế xét xử ở Đức, thường toà chỉ tuyên tội danh này khi có đủ 2 dấu hiệu: a- Bị cáo có chủ đích chấm dứt sự sống nạn nhân bằng được. b- Nạn nhân chết tại chỗ. Như vụ Đức xử kẻ giết người nghĩa hiệp chấn động cả nước cách 2 năm trước. Ngày 12.9.2009, Dominik Brunner, doanh nhân 50 tuổi, đứng ra bảo vệ mấy trẻ em cùng đi trên tầu trước 3 thanh niên chấn lột tiền của chúng. Khi bọn trẻ và Dominik Brunner xuống ga tầu tại Solln, 2 thanh niên Markus S 18 tuổi và Sebastian L 17 tuổi cùng nhảy xuống theo xông tới đánh chết Dominik Brunner ngay sân ga. Sebastian L bị toà tuyên phạt tội danh gây thương tích dẫn tới hậu qủa chết người. Trong khi đó, Markus S lại bị tuyên phạt tội danh giết người, bởi khi nạn nhân đã ngã gục xuống bất động, nghĩa là “chết lâm sàng“, còn thực hiện hành vi phạm tội nhảy lên đạp thẳng vào ngực nạn nhân làm nạn nhân tử vong, bị toà kết luận cố tình làm nạn nhân chết bằng được.  2- Tội danh Làm chết người (điều 212 Totschlag): “(1) Ai có hành vi chấm dứt sự sống con người nhưng không bị khép tội danh giết người sẽ bị phạt tù giam không dưới 5 năm. (2)Trong trường hợp đặc biệt nặng, có thể phạt tù chung thân“. Không ít văn bản chuyển ngữ sang tiếng Việt sai tội danh này, thành tội danh Giết người. Trong khi đó, nội hàm 2 tội danh này hoàn toàn khác nhau, đều cùng 1 hệ qủa có người chết (Tot), nhưng tội danh Giết người chỉ thành lập khi có thêm dấu hiệu chủ đích giết bằng được, trong khi tội danh Làm chết người không có dấu hiệu đó. Chỉ có thể thấu hiểu điều trên khi trực tiếp theo dõi phán quyết các vụ án hình sự Đức, như trường hợp Sebastian L, vẫn chưa tới mức bị kết tội làm chết người (Totschlag), mà chỉ gây thương tích với hậu quả chết người (Tot), bởi sau hành vi đánh đập của thủ phạm, nạn nhân vẫn chưa chết. Nhưng nếu áp dụng tội danh cáo buộc như đối với Đoàn Văn Vươn, sẽ không thể thoát tội danh giết người. 3- Tội Bức tử. 4- Tội ngộ sát. 5- Tự vệ làm chết người.   Còn nhóm tội danh có động cơ chấm dứt sự sống con người nhưng không có dấu hiệu chết người, gồm tội danh, như: – Tội mưu sát (khi chưa hành động). – Tìm cách giết người, hay còn gọi giết người bất thành (hành vi giống tội giết người,  nhưng nạn nhân may mắn không chết), như vụ án mấy năm trước đây xảy ra ở Bodenwerder, Đức. 2 anh em trai gốc Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi, 25 và 31 tuổi, lái xe đuổi theo ô tô em gái cùng cha khác mẹ định bỏ chồng (bị đạo Hồi cấm), vượt lên được, chặn lại, đấm đạp em gái dã man, gào thét tao giết mày, rồi đập cả đầu nạn nhân vào vô lăng bất tỉnh nhân sự. Hậu qủa, nạn nhân bị tàn tật suốt đời. Viện Kiểm sát cũng chỉ có thể cáo buộc bị can 2 tội danh: Tội danh Gây thương tích nguy hiểm, và tội danh Tìm cách giết người, bởi không có người chết.   Cũng có thể chia các tội danh trên theo dấu hiệu động cơ, gồm nhóm có động cơ chấm dứt sự sống nạn nhân bằng được, như: tội danh Giết người, Tìm cách giết người, Bức tử, Mưu sát…; nhóm không có động cơ đó, như  Làm chết người, Ngộ sát, Tự vệ làm chết người…  Các tội danh trên trong bộ luật hình sự Đức về cơ bản cũng tương tự Bộ Luật Hình sự Việt Nam 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định tại Chương XII. Vậy tại sao, bị can Đoàn Văn Vươn bị cơ quan điều tra cáo buộc tội danh Giết người ? Trong khi cả  dấu hiệu có động cơ giết người bằng được, lẫn dấu hiệu có người chết, đều không thành lập với chứng cứ hiển nhiên. Có thể có 3 lý do:  1- Về mặt khoa học hình sự, tất cả tội danh liệt kê trên đều có thể giải thích bằng cách lấy tội danh Giết người làm chuẩn, thay đổi các dấu hiệu trong nội hàm của nó sẽ cho nội hàm của các tội danh khác, chẳng hạn tội danh Ngộ sát là tội Giết người, nhưng chỉ khác do vô tình, được hiểu có chết người nhưng không có động cơ; hoặc tội danh Tìm cách giết người, là tội Giết người, nhưng bất thành, không có người chết. Tương tự, giải thích nhóm tội danh cũng vậy, có nhóm “tội giết người chưa đạt“, được hiểu không có dấu hiệu người chết, gồm Mưu sát, Tìm cách giết người; và nhóm “tội giết người đã hoàn thành“ gồm tội danh Giết người, Ngộ sát, Bức tử… Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là cáo buộc tội danh gì đối với bị can Đoàn Văn Vươn, nói cách khác, tên gọi tội trạng Đoàn Văn Vươn là gì, chứ không phải dùng cách giải thích tội trạng để cáo buộc lập lờ bị can: “Khởi tố bị can Đoàn Văn Vươn tội Giết người“, rồi lại giải thích, nhưng “thuộc nhóm “Tội giết người chưa đạt“. Chưa đạt, nghĩa là tội danh Giết người chưa thành lập bởi thiếu dấu hiệu hậu qủa chết người. Vậy thì nó chỉ có thể là tội danh Mưu sát hoặc tội danh Tìm cách giết người. Cơ quan điều tra, tố tụng Hải Phòng đã không gọi đúng tên sự vật, không thể coi có căn cứ khoa học – nền tảng của công lý!          Hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành, chẳng hạn không thể cáo buộc tội danh hay hành vi ăn cắp, khi không nạn nhân nào mất gì cả.        2- Như đã  phân tích trong bài “Tội giết người không có người chết?“, cáo buộc Đoàn Văn Vươn tội Giết người có thể xuất phát từ tư tưởng, quan niệm “hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành, chẳng hạn không thể cáo buộc tội danh hay hành vi ăn cắp, khi không nạn nhân nào mất gì cả. Với quan niệm “Có khả năng trên“, người ta có thể cáo buộc tội danh “Giết người“ tràn lan bất cứ ai mang theo dụng cụ, phương tiện có thể gây chết người khi họ sa vào tranh chấp, chỉ cần lập luận đó là “tội giết người chưa đạt“ là “xong“. Nguy hiểm hơn, nếu áp dụng quan niệm đó cả vào lĩnh vực chính trị xã hội, như khi bàn về Dự luật biểu bình, Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước bác bỏ dự luật, chỉ với lập luận biểu tình có “khả năng“ dẫn tới chống phá nhà nước (dạng giết từ trứng nước hay nhầm còn hơn bỏ sót), trong khi thế giới rất trọng thị nó, ngày quốc tế lao động 1.5 hay Quốc tế phụ nữa 8.3 chính là thành tựu của biểu tình để lại cho nhân loại từ thế kỷ trước.  3-Lực lượng cưỡng chế đã bắn, rồi sau đó cho đốt, triệt phá nhà nạn nhân, vốn không được phép khi chưa có lệnh toà án (ở các nước hiện đại), bởi vụ án nguyên thủy mang tính hành chính cưỡng chế chứ không phải hình sự, chính trị. Đưa ra cáo buộc tội Giết người, Cơ quan điều tra tố tụng Tiên Lãng có thể bao biện hành vi vi hiến của chính quyền Tiên Lãng sử dụng lực lượng vũ trang là để vãn hồi trật tự chống “kẻ giết người“.  Như vậy, chiểu theo các tội danh liệt kê trên, đối chiếu với tường thuật vụ án, bị can Đoàn Văn Vươn chỉ có thể bị cáo buộc 1 trong 3 tội danh: 1- Mưu sát, nếu có bằng chứng bị can lên kế hoạch tỷ mỷ giết những ai. 2- Tìm cách giết người, nếu chứng minh được hoặc ông Vươn trực tiếp nổ súng giật mìn, hoặc tổ chức nổ súng giật mìn; nạn nhân lẽ ra đã phải chết, nhưng thoát được, hoàn toàn nhờ yếu tố tự nhiên may mắn. 3- Tự vệ gây thương tích, nếu 2 tội danh trên không được thành lập, và chứng minh được hành vi công vụ cưỡng chế là hợp pháp. Trong trường hợp này, tùy mức độ, thấp nhất có thể coi vi phạm hành chính, miễn điều tra hình sự, và chắc chắn sẽ được công luận đồng tình rộng rãi.  Phán tội danh do toà án tuyên, còn cáo buộc tội danh thuộc quyền và trách nhiệm của cơ quan điều tra, công tố, nhưng không thể tùy ý, mà phải xuất phát từ chứng cứ hiện trường, bởi định tội danh khi cáo buộc cực kỳ hệ trọng giúp toà sau này xử đúng người đúng tội. Chính vì vậy, ở Đức lúc điều tra, tố tụng 1 vụ án, tội danh cáo buộc thường thay đổi nhanh chóng theo kết qủa điều tra. Điều đó còn phản ảnh năng lực, uy tín, thể diện của các cơ quan này, họ cũng sẽ bị pháp luật chế tài nếu vi phạm. Lạ lùng, tới nay, tội danh “Giết người“ cáo buộc Đoàn Văn Vươn vẫn không thay đổi, mặc cho chứng cứ hiển nhiên đòi hỏi, và công luận bức xúc, sôi sục lên tiếng.  Ủy ban Tiên Lãng đã sai phạm như Thủ tướng kết luận, còn cơ quan điểu tra, tố tụng Hải Phòng, Tiên Lãng sao đây?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bán hàm      Sau một thời gian im ắng, không biết tại sao hiện nay lại nổi lên một đợt tin “vinh danh [người Việt Nam] vĩ nhân thế giới”, mà vài báo có đăng tải [thí dụ ngày 21/7/2005 online@tuoitre.com.vn, về một bản thông báo của “viện tiểu sử danh nhân Hoa kỳ” về những bộ óc vĩ đại, và “Giáo dục và Thời đại” trên mạng gdtd@fpt.vn số 87, ngày 21/7/2005, về một vị gọi là vĩ nhân Việt Nam.    Cách đây mấy năm, vì loại tin như vậy, tôi đã viết bài báo “Bán hàm” đăng trên báo trong nước. Bài “Bán hàm” này của tôi cũng được in lại trong cuốn sách của tôi “Chung quanh việc Học”, nxb Thanh Niên 2004, cùng với một số thông tin chi tiết khác chung quanh những vấn đề liên quan [thí dụ, như về cái hội tư New York Academy of Sciences, đóng một số tiền có thể gia nhập, hoặc việc mấy công ty kinh doanh tiểu sử câu khách nhẹ dạ hám danh, nhất là khách ở các nước chưa phát triển, đóng tiền để được họ đăng tên]. Là người định cư lâu năm ở nước ngoài, tôi không có quyền lợi gì trong vấn đề, nghĩa là không có ý gì khác ngoài việc thông tin trung thực nhắm tránh sự ngộ nhận, vì lòng trân trọng của tôi đối với nước nhà.       Một trong những vấn đề quan trọng nhất của giáo dục đào tạo là vấn đề “đúng tiêu chuẩn”. Nói một cách đơn giản, đó là vấn đề giữ sao cho bằng cấp đánh giá đúng được với khối lượng hiểu biết, danh hiệu đúng được với cấp bậc, chức vụ đúng được với khả năng làm việc. Thuở xưa ở nước ta, vào những thời thịnh, khi các tiêu chuẩn về việc học hành đào tạo giữ được đúng, thì dư luận tôn trọng kẻ sĩ; vào thời suy vong, thì dư luận mỉa mai kẻ có hư danh mà không có thực học. Ngày nay, có lẽ là thời trước mắt đang thịnh về kinh tế, nhưng đồng thời dường như dư luận coi việc chấn chỉnh nền giáo dục đào tạo là việc bức xúc. Có những điều hiển nhiên dễ thấy như: nếu trao bằng y khoa bác sỹ cho người không đủ hiểu biết, thì chữa bệnh, giải phẫu, có thể chết người; nếu trao bằng kỹ sư cho người không đủ hiểu biết, thì sụp cầu, vỡ đập, tai hoạ có thể xảy ra… Nhưng cũng có những điều khó thấy hơn, tưởng như không quan hệ gì mấy, thật ra âm ỉ hơn, hậu quả lâu dài hơn, khó chữa hơn, mà duyên do cũng vẫn là vì không “đúng tiêu chuẩn”. Hiểu sai, lý luận sai, đạo lý sai, giải mã thông tin sai, chuyển giao hiểu biết sai… rồi một ngày nào đó tất nhiên sẽ đưa đến những lựa chọn sai, quyết định sai, như đã từng thấy trong thế kỉ 19 ở ta.       Tôi không có ý định nói dông dài; chỉ xin tập trung vào một khía cạnh của vấn đề: danh hiệu sai. Nếu danh hiệu chỉ là thứ áo mã, thì có lẽ không hại lắm. Nhưng trong một xã hội mà tiếng nói của người có “danh vọng trong nền học vấn” còn đang có trọng lượng lớn, “danh hiệu không đúng tiêu chuẩn” có tầm quan trọng của nó: chỉ phán “sai một  li” là công việc có thể lệch “đi một dặm”. Thế mà “danh hiệu không đúng tiêu chuẩn” thì dường như đang nhởn nhơ đầy dẫy, được coi như trò đùa trong thiên hạ. Nếu quả thật giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, nếu quả thật việc chấn chỉnh nền giáo dục đào tạo là việc bức xúc, thì song song với những khâu khác, thiết tưởng cũng nên có giải pháp giải quyết khâu này. Nhưng tìm ra được một giải pháp có hiệu quả, chắc là khó, vì hiện nay, đang nở rộ thời thượng tôn xưng, tiếm xưng, vinh phong… Nào là giáo sư viện sĩ, nào là giáo sư tiến sĩ, nào là danh nhân thế giới, danh hiệu thật, danh hiệu giả, vàng thau lẫn lộn.       Vì vậy tôi xin được luận một chút về kinh nghiệm người xưa.       Trong một bài viết trước đây, tôi có nhắc việc tổ tiên ta thuở xưa có kinh nghiệm phân biệt rõ ràng: chức, tước, phẩm, hàm. Nhưng đặc biệt chú trọng phân biệt chức và hàm: chức là để thực hiện công việc, cho nên rất quan trọng; hàm là để cho có danh, cho nên phần nào coi là phù phiếm. Vì thế nên chính quyền thuở xưa có lệ cho phép mua “hàm” : người có tiền có thể trả một số tiền để được phong một [hư] “hàm”, (đó cũng là trường hợp của những ông “hàn”, mà ta còn thấy ngay hồi trước Cách mạng Tháng tám 1945: hàn lâm viện đãi chiếu, hàn lâm viện cung phụng, vv.). Ngoài cái danh, người mua được “hàm”  còn có chút vai vế trong làng, ra đình được ngồi chiếu trên, được miễn sưu dịch đi phu cho nhà nước, cho nên danh cũng không phải hoàn toàn là hão. Số tiền mua thường là để xây trường, mở chợ, xây cầu…, cũng là việc ích chung. Đôi bên cùng có lợi, mà không phạm vào công việc hành chính nhà nước.       Ngày nay, nghe đồn có một vài người hám danh, dùng tiền của cơ quan để: trả niên liễm cho một vài hội khoa học tư ngoại quốc để tiếm xưng “viện sĩ”, trả niên liễm cho mấy nhà xuất bản cái mà họ gọi là danh sách “danh nhân thế giới”, để được đề cao vv. Thay vì để việc này tiếp tục, vừa không đẹp cho hình ảnh nước nhà, vừa phạm vào việc “danh hiệu không đúng tiêu chuẩn” nói trên, có thể nào bắt chước tổ tiên ta trong cách giải quyết không? Xin nêu hai thí dụ. Nước ta hiện nay chưa có [và chưa cần thiết có] Viện Hàn lâm, có thể nào qui định cho phép những ai muốn, bỏ tiền ra mua một hư hàm “Viện sĩ”. Như vậy, không những thỏa mãn được ham muốn của họ, mà còn lấy tiền của họ để làm việc công ích như giúp học bổng cho sinh viên học sinh, tu sửa trường sở, bồi dưỡng cho những cán bộ giảng dạy chân chính v.v? Đồng thời lại giúp họ tránh được việc tiếm dụng công quĩ để trả niên liễm như kể trên: đã đành đó không phải là tham nhũng (vì theo từ điển, “tham nhũng” là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân để lấy của), nhưng dường như hành động đó không xa với định nghĩa của “tham ô” (“lợi dụng quyền hạn hoặc chức trách để dùng lạm của công”)? Lại có thể nào cho phép mấy nhà xuất bản của một vài cơ quan nhà nước, trước đây đã bỏ của công ra đăng những cuốn sách tôn vinh một vài “danh nhân không đúng tiêu chuẩn”, nay được phép “bán chỗ” trong các “danh sách danh nhân” địa phương cho những ai muốn có tên trên các danh sách đó, xen lẫn với vài tên danh nhân thế giới? Tiền thu được vào công quĩ để làm những việc thực sự có ích cho nền giáo dục đào tạo nước nhà, phải chăng cũng là một việc tốt?       Tôi ở xa, vì lòng thành mà phát biểu, nếu không phù hợp, xin thông cảm cho tôi. Nhưng vấn đề quá quan trọng để có thể coi nhẹ, đùa bỡn hay giễu cợt.  Bùi Trọng Liễu      Author                Quản trị        
0.152
__label__tiasang Bản Hiến pháp sáu mươi năm trước và những món nợ lịch sử      Những gì chưa trả được người ta gọi là nợ. Lịch sử gồm nhiều điều đã biết và vô vàn ẩn số mà chúng ta chưa biết, những sự thật ấy nếu được nghiên cứu và phổ biến một cách trung thực có thể giúp người đời sau hiểu quy luật hưng thịnh của các tộc người. Năm 1946, người Việt Nam đã có một bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam Châu Á lúc bấy giờ. Chỉ tiếc rằng sáu thập kỷ tiếp theo dân tộc ta đã không có cơ hội đi xa hơn trong chủ nghĩa lập hiến. Nhiều sự thật liên quan đến bản hiến văn ấy dường như vẫn chưa được soi rọi đầy đủ. Ngày xuân, bài viết dưới đây góp vài lời bàn về ba điều chưa thật rõ xung quanh Hiến pháp 1946.        Hồ Chí Minh-một người cộng sản đã từng làm việc cho Đệ tam quốc tế, chắc chắn ít hay nhiều phải chịu các ảnh hưởng lập pháp đã diễn ra thời đó tại Liên Xô. Giã từ Hiến pháp 1924 với nhiều tư tưởng của Lê-nin, Liên Xô đã bước sang thời kỳ của Hiến pháp 1936 dưới ảnh hưởng đáng kể của Stalin. Bản Hiến pháp 1936 cũng như Hiến pháp 1977 sau này của Liên Xô đều là những cương lĩnh chính trị ghi nhận vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng Sản trong một nhà nước công nông, ghi nhận sở hữu toàn dân, hệ thống nông trang kiểu hợp tác xã được xác lập. Từ 07 thành viên, thu nạp thêm Môn-đa-vi và 03 nước Ban-tích, trong những năm 40 của thế kỷ trước có lẽ Liên Xô đang ở trong giai đoạn bành trướng sức mạnh, ảnh hưởng của Stalin đến toàn thế giới chắc là không thể nhỏ.   Ấy vậy mà thật thú vị là tất cả 70 điều của Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều không hề có bóng dáng của Hiến pháp Liên Xô 1936. Thậm chí so với những gì đã diễn ra trong lịch sử pháp luật ở Trung Hoa lục địa sau khi Đảng Cộng Sản thâu tóm quyền lực quốc gia năm 1949, có thể thấy bản hiến văn năm 1946 của Việt Nam chứa đựng những tư tưởng dân chủ hơn hẳn. Người ta thấy những dấu hiệu phân chia và đối trọng quyền lực, thấy rõ thái độ thượng tôn và tiếp nối truyền thống tư pháp đã có từ thời thực dân, chứ tuyệt nhiên không phủ nhận và xây mới hoàn toàn như Mao Trạch Đông đã làm với hệ thống pháp luật thời Quốc dân đảng. Nhiều người giải thích bản hiến văn 1946 như một thỏa hiệp cho giai đoạn dân chủ nhân dân, một bước đệm cho cuộc cách mạng vô sản sẽ diễn ra sau đó. Đó là sự suy diễn lô-gích một chiều, thường là của các nhà soạn sử khi Đảng đã có thực quyền. Người ta cũng có thể giải thích bởi những đóng góp của nhân sĩ yêu nước không cộng sản đã được tập hợp dưới ngọn cờ độc lập dân tộc vào việc soạn thảo bản hiến văn này. Cũng có thể, như một giấc mơ tránh đổ máu và chiến tranh lan rộng, Hồ Chí Minh mong muốn cho Việt Nam một bản hiến văn để có thể chung sống trong một Liên hiệp Pháp. Cũng có thể do mối quan hệ cá nhân giữa các lãnh tụ Hồ Chí Minh và Stalin, hoặc do mối quan tâm không đáng kể của Stalin đến khu vực Đông Dương, tất cả những ẩn số đó có thể giải thích thêm cho sự thật rằng Hiến pháp 1946 rất ít chịu ảnh hưởng của Liên Xô.  Nếu không chịu ảnh hưởng của Liên Xô, thì ngược lại những bước đi chập chững đầu tiên của Việt Minh và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lại có sự góp mặt và chứng kiến đáng kể của người Mỹ. Những dấu ấn của chúng có thể thấy ở Tuyên ngôn độc lập và bản hiến văn năm 1946. Điều trớ trêu và đầy bi kịch này ít được nhắc đến trong sử liệu của Việt Nam. Dường như người Mỹ đã cung cấp chẳng những khí tài, mà cả tư tưởng và những hy vọng độc lập cho các nhóm vũ trang chống thực dân và phát xít. Chỉ tiếc rằng sau cái chết của Roosevelt vào tháng 4 năm 1945, chính quyền Mỹ đã nhân nhượng đáng kể quyền lợi của thực dân, thậm chí công khai đứng sau các thế lực thực dân để đàn áp các lực lượng kháng chiến ở Việt Nam. Một bi kịch lớn, có lẽ chẳng riêng cho người Mỹ. Người ta thấy vai trò và quyền lực của chủ tịch nước rất lớn. Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không thể bị khởi tố trừ tội phản quốc, có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại. Vị trí này làm cho người ta liên tưởng đến quyền lực của tổng thống theo Hiến pháp nước Mỹ hơn là chế độ đại nghị của người Pháp. Điều này đã giảm đi rất đáng kể trong các bản hiến văn theo mô hình Xô Viết sau này, chủ tịch nước chỉ có chức năng nghi lễ mà ít mang tính quyền lực. Những vấn đề này dường như ít được giới sử học Việt Nam quan tâm. Nước nhỏ, dân tộc nhỏ chỉ có thể hiểu lịch sử của chính mình trong chao đảo quyền lực giữa các nước lớn.   Bản Hiến pháp 1946 được thông qua chỉ có hơn 1 tháng trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, người Pháp bắt đầu cuộc đàn áp vũ lực. Khi ấy quân Tưởng đã rút, mâu thuẫn đôi khi đẫm máu giữa Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh dường như cũng đã được dẹp sang một bên, người ta đã thấy xu hướng chính phủ kháng chiến dường như hoàn toàn do Đảng cộng sản kiểm soát. Từ đây xuất hiện câu hỏi liệu bản hiến văn này có còn giá trị trong thời kỳ kháng chiến và thực sự những người cầm quyền có muốn tuân thủ nó nữa hay không. Quốc hội tuy đã thông qua, song không công bố và đưa bản hiến văn này cho toàn dân phúc quyết, bởi vậy nó chưa thể có hiệu lực về phương diện pháp lý. Các tiền đề chính trị-xã hội đã không còn tồn tại để bản hiến văn năm 1946 có thể có hiệu lực ngay sau khi nó vừa được ban hành. Bản hiến văn ấy chưa từng được sửa theo cách thức mà nó đề nghị; nó đã bị thay thế bởi những tuyên bố chính trị khác.  Người Việt Nam đã có ít nhất 04 bản hiến pháp (nếu không kể tới các bản hiến pháp của chính quyền Sài Gòn). Ấy vậy mà dân tộc ta dường như vẫn chưa có may mắn được làm quen với tư tưởng lập hiến. Hiến pháp 1946 đã có thể là một bản khế ước tốt để ràng buộc và khống chế công bộc với lợi ích của ông chủ nhân dân. Nó chỉ lóe lên như một ánh chớp trước tiếng súng đêm kháng chiến mà dường như có rất ít giá trị thực tế. Chỉ khi bàn nhiều về chủ quyền nhân dân, sáu mươi năm sau ngày thành lập nước Việt Nam mới, người ta bỗng nhớ tới bản hiến văn này với những ước mong và hoài niệm./.      Chú thích ảnh: Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúc đồng (1946)- Nguyễn Thị Kim    Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản lĩnh      &#160;“Một con người có bản lĩnh”, đó là một lời khen tặng biểu thị một sự đánh giá về nhân cách. “Một dân tộc có bản lĩnh” thể hiện trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ấy. Và đó là niềm tự hào của những người trong những cộng đồng người kết thành dân tộc ấy. Niềm tự hào đó là một nguồn sức mạnh. Hơn thế, biết tự hào về bản lĩnh của dân tộc mình là một niềm hạnh phúc.    Vì rằng, “có những đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi đã nghe về các bạn qua lịch sử, qua văn hóa lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt, và đặc biệt là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh”. (Philip Kotler).  Đất nước mà “huyền thoại marketing thế giới” thiện ý thiện ý đề cao như vậy, cũng đã có lúc dường như đã gần biến mất trong cả một mưu đồ đồng hóa suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc từ năm 111 trước CN cho đến năm 905 sau CN. Sau gần mười thế kỷ kiên cường đấu tranh để tồn tại vói tư cách là một quốc gia độc lập, lần lượt đánh tan các đạo quân xâm lược phương Bắc, thì đên nửa đầu thế kỷ XIX, tên của quốc gia ấy bị xóa khỏi bản đồ thế giới trong ngót một trăm năm đô hộ của phương Tây, để rồi người ta chỉ biết đến một bộ phận của xứ Đông dương thuộc Pháp.  Thế là đến cái tên cũng chẳng còn chứ chẳng phải chỉ là “lạ hoắc”! Ấy thế mà sau một nghìn năm chìm trong đêm dài trung cổ, dân tộc ấy vẫn đứng dậy được, mà đứng sừng sững trước một thế lực phong kiến chưa lúc nào ngừng tham vọng nuốt chững cái dân tộc sống trên mảnh đất phương Nam cứng đầu không chịu khuất phục trước “thiên triều” bằng bản lĩnh của chính mình. Rồi cũng với bản lĩnh ấy, sau một trăm năm nô lệ, dân tộc ấy đã đứng dậy làm cách mạng giải phóng dân tộc, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, kéo theo nó là cả phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, làm sụp đổ cả hệ thống thuộc địa, tiếp đó lại đánh tan chủ nghĩa thực dân mới, đứng đầu bởi một đế quốc chưa từng biết đến mùi thất bại đang làm mưa làm gió trên thế giới, một đột phá tâm lý mà “hội chứng Việt Nam” đến nay vẫn chưa nguôi! Đó là một sự thật lịch sử của cả dân tộc. Mỗi một người con của dân tộc ấy đều có quyền tự hào, và đều có thể cảm nhận niềm hạnh phúc về bản lĩnh của dân tộc mình.  Hoàn toàn không là chuyện phải viện đến quá khứ nhằm mượn tên tuổi và y phục của người xưa để hiện lên trên sân khấu mới của lịch sử. Mà là, từ ánh phản chiếu của lịch sử để rọi sáng cái bản lĩnh vốn tiềm tàng trong sức sống của dân tộc, có lúc trước những bề bộn bê bối của cuộc mưu sinh, những tầm nhìn thiển cận và sai lầm ở một vài đường đi nước bước của sự nghiệp đất nước, trong những khúc quanh của dòng chảy bất tận của cuộc sống… cứ tưởng như bản lĩnh ấy đã phôi pha, thất thoát. Nhưng không! Bản lĩnh ấy vẫn chìm sâu trong đời sống dân tộc, khi được khơi dậy, nó sẽ bùng phát mạnh mẽ. Vấn đề là biết cách khơi dậy, khởi động sức sống bất tận ấy, mà đi tới. Xem ra, cứ lúc nào bị dồn đến chân tường, bản lĩnh dân tộc lại bật dậy, mở ra một chân trời mới. Sự nghiệp Đổi Mới là một ví dụ. Rồi vượt qua những khúc mắc, e ngại dưới sức ép của quán tính một thời “bước đi một bước, giây giây lại dừng” để bỏ lỡ thời cơ của hội nhập, để rồi trở thành “ngôi sao mới nổi trên bầu trời thưong mại thế giới”, là một ví dụ khác.  Bản lĩnh dân tộc là chuyện của hiện tại chứ không chỉ là lịch sử, cái tọa độ hôm nay cho phép nhận ra quá khứ và hiện tại vẫn liên thông với nhau, vì vậy, thế hệ trẻ hôm nay hoàn toàn cảm thông và xúc động trước cái bản lĩnh toát lên từ một câu thơ Thiền của một thiền sư viết cách đây mười thế kỷ : “Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”, làm trai phải có chí xông lên trời thẳm, việc gì cứ phải lẽo đẽo theo vết chân của Phật tổ Như Lai!  Chính cái bản lĩnh dám là mình, bản lĩnh sáng tạo tự tìm đường mà đi tới chứ không chịu dẫm lên vết chân của người, bản lĩnh ấy chống giáo điều từ gốc, dám bứt phá không chỉ từ ngọn, đã khiến cho dân tộc ta tồn tại và phát triển đến hôm nay. Với bản lĩnh ấy, dân tộc ta tự tin vững bước đến với thế giới trong tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu. Xét đến cùng, bản lĩnh ấy là bản lĩnh văn hóa, là cái bề dày truyền thống văn hiến Việt Nam, điểm tựa vững chắc nhất để dân tộc ta tồn tại và phát triển.    Tương Lai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản lĩnh lãnh đạo      Trong cuộc gặp mặt hồi tháng trước của Tổng Bí thư với Liên hiệp các hội KH&amp;KT Việt Nam đã có nhiều trí thức bày tỏ những ưu tư, trăn trở trước hiện tình đất nước đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng như cách đây ba mươi năm. Vì không có cơ hội tham gia buổi gặp mặt, tôi xin góp&#160; câu chuyện sau để hưởng ứng cuộc trao đổi ý kiến đáng nhớ đó.      Chúng ta đều biết, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đảng đã giành được những thắng lợi vẻ vang, đồng thời cũng đã có lúc phạm sai lầm lớn. Đặc biệt, những sai lầm trong khoảng mười năm sau thống nhất đất nước đã khiến lòng tin của dân đối với Đảng sa sút trầm trọng.  Nhưng ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng ấy tôi vẫn giữ được niềm tin.  Đó là nhờ giữa lúc bế tắc đó, tôi đã được may mắn nhìn thấy ở các lãnh tụ Đảng một tinh thần thật sự cầu thị, bình tĩnh tiếp thu ngay cả những ý kiến mà thoạt nghe tưởng như rất khó chấp nhận.   Số là khoảng tháng 5-6 năm 1979,  tôi cùng với 4 anh em trí thức khác được Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn mời xuống Đồ Sơn gặp để trao đổi ý kiến về tình hình kinh tế xã hội. Kế hoạch trù định làm việc trong 2 tuần nhưng nửa chừng phải dừng lại để về Hà Nội vì có tin Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng vừa mất.              Cuối kỳ họp đầu tiên Quốc Hội khoá XIII nhiều vị lãnh đạo sau khi được bầu vào các chức vụ cao nhất  đã long trọng hứa sẽ lắng nghe ý kiến, nguyện vọng người dân.  Lời hứa đó nên được coi như lời thề, vì lịch sử cho thấy thời nào mà lãnh đạo biết gần dân, nghe dân, thì dù đất nước khó khăn đến mấy dân cũng không mất niềm tin. Mà còn niềm tin thì còn tất cả, khó khăn sẽ được khắc phục, đất nước sẽ vững bước đi lên.        Trong mấy ngày đó chúng tôi đã có điều kiện góp ý trực tiếp và thẳng thắn với TBT. Phát biểu đầu tiên tôi nêu thắc mắc: cùng với nhiều anh em khoa học, tôi đã cố gắng tìm hiểu nhưng vẫn chưa hiểu lý luận làm chủ tập thể là thế nào.  Sau khi được TBT giải thích kỹ càng, tôi thưa lại: tất cả sự giải thích ấy tôi đã được nghe trong nhiều cuộc thảo luận chính trị, song tôi vẫn băn khoăn một điều cơ bản: ta nói làm chủ tập thể là hình thức dân chủ cao hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong lúc đó ngay dân chủ tư sản ta cũng chưa đạt được. Và để dẫn chứng tôi nêu ra nhiều việc và đọc lên cho TBT nghe mấy câu truyền miệng mà hồi đó khá phổ biến ở vỉa hè Hà Nội: năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ. Hồi ấy lý luận làm chủ tập thể được coi là cơ sở lý luận và điểm mấu chốt trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, một sáng tạo lớn của Đảng, cho nên tôi hiểu rằng tôi đã chạm một điểm nóng, cực nóng, chưa biết rồi sẽ gặp phản ứng gì.  Hôm sau, TBT nêu câu hỏi: làm thế nào chống tiêu cực (hồi ấy tiêu cực là từ dành để nói tham nhũng). Tôi đáp: với cách quản lý kinh tế như ta, không thể chống tiêu cực được. Bởi  công chức cán bộ lương quá thấp, không sống nổi thì họ phải xoay xở mọi cách để sống và khi xoay xở tất nhiên không tránh tiêu cực. Bắt đầu là tầng lớp cán bộ công chức cấp thấp nhất, rồi leo dần lên cấp cao hơn vì kinh tế càng khó khăn thì cấp cao hơn cũng dần dần không sống nổi bằng lương. Cứ thế tiêu cực sẽ đi từ cấp thấp nhất lên cấp cao dần. Có thể lúc bấy giờ tiêu cực chỉ mới lên tới cấp trung gian – cái cấp mà, như người dân mô tả, “trung ít gian nhiều” – nhưng nguy hiểm là một khi tiêu cực đã bắt đầu có chút lý do dựa vào cuộc sống để được dung thứ, thì nó sẽ phát triển không biên giới, và lây dần sang cả những cán bộ công chức mà hành vi tiêu cực hoàn toàn không thể biện minh bằng lý do cuộc sống. Không ai có thể cưỡng lại cái quy luật đó, cũng không ai dám chắc với cơ chế này tiêu cực sẽ dừng lại ở cấp nào. Nói cách khác, tiêu cực, tham nhũng gắn liền với cách quản lý, nó là một khuyết tật hệ thống của cơ chế quản lý. Vậy vấn đề là phải thay đổi cơ chế quản lý thì mới chống được tiêu cực, mới chống được tham nhũng.   Một hôm khác TBT nêu băn khoăn: ta có nhiều đơn vị tiên tiến: Duyên Hải, Đại Phong, rồi Vũ Thắng, v.v… tại sao không nhân lên nổi? Tại sao phong trào thi đua cứ đi xuống dần, cứ nhạt dần? Tôi thưa lại: lấy ví dụ hợp tác xã Vũ Thắng là đơn vị tiên tiến trong nông nghiệp, hằng năm được Nhà nước cấp không 1000 tấn than, lại còn bao nhiêu ưu ái khác về cán bộ, v.v…, nếu nhân lên thì cả nước lấy đâu ra đủ than, đủ cán bộ tốt, v.v… cấp cho mọi hợp tác xã? Theo tôi, cách quản lý kinh tế như vậy chỉ có Trung Quốc và ta làm, mà cả hai đều thất bại. Còn về thi đua thì phải thấy rằng ở Liên Xô phong trào stakhanovit có thể thành công vì đó là thi đua giữa công nhân nhà máy, ở đó năng suất lao động từng người có thế đánh giá bằng những số liệu khách quan. Nếu áp dụng cho các ngành khác, ví dụ giáo dục, thì làm gì có những số liệu khách quan như thế, cho nên thi đua sớm muộn sẽ dẫn đến báo cáo thành tích giả tạo (chẳng hạn, nếu lấy tiêu chí thi đua là ít học sinh bị đúp lớp thì chắc chắn mau chóng sẽ không còn học sinh bị đúp nhưng không vì thế mà chất lượng giáo dục tăng lên, trái lại). Cho nên ở Liên Xô ngay từ 1935 đã có chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ thi đua trong giáo dục. Tại sao ta không rút kinh nghiệm việc ấy mà cứ máy móc áp dụng thi đua trong mọi ngành? Trong kháng chiến khi tinh thần yêu nước, hy sinh chịu đựng rất cao, hơn nữa thành tích thi đua không gắn liền với quyền lợi vật chất thiết thực thì thi đua ít bị méo mó, còn ngày nay, khi lợi ích vật chất ngày càng lấn át lợi ích tinh thần, thì thi đua trong nhiều ngành rất dễ trở thành không lành mạnh. Vì vậy tôi đề nghị nên xem lại việc mở rộng máy móc thi đua trong mọi ngành, đặc biệt trong giáo dục.        Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, TBT Lê Duẩn dù rất buồn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.              Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị TƯ thứ 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng  mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiều. Thủ Tướng cho biết: những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh. Về sau tôi được biết Hội nghị TƯ 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương.  Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng.           Ngoài ra dĩ nhiên chúng tôi còn góp nhiều ý kiến khác, xung quanh việc coi trọng lợi ích vật chất, mở rộng quyền tự chủ của các xí nghiệp, bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, v.v… Thậm chí khi bàn về chính sách nông nghiệp có người đã không ngần ngại chỉ rõ: chính sách của Đảng đã bần cùng hóa nông dân. Tóm lại, thật sự đã có không khí nói thẳng nói thật trong mấy ngày đó.  Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, TBT Lê Duẩn dù rất buồn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.  Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị TƯ thứ 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng  mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiều. Thủ tướng cho biết: những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh. Về sau tôi được biết Hội nghị TƯ 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương. Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng, còn chuyện thi đua thì cũng lắng xuống vài năm rồi lại được dựng lại do sự trỗi dậy của tư tưởng thành tích, gây biết bao tiêu cực, hệ lụy.        Ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì Tổ quốc thân yêu ngày càng  nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.         Theo tôi tư duy đổi mới đã thật sự hình thành từ Hội nghị TƯ 6, tuy chưa quyết liệt và còn phải vất vả mấy năm nữa mới trở thành đường lối đổi mới chi phối toàn bộ hoạt động của Đảng mà nhờ đó chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng gay gắt những năm 80.  Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng ngay khi khó khăn nhất, nếu lãnh đạo chịu khó lắng nghe những tiếng nói tâm huyết ngược với lời ca tụng thông thường thì không những lấy lại được niềm tin mà còn tìm ra được lối thoát. Còn như cứ thích nghe những lời tán tụng đường mật thì đó chính là con đường dẫn tới hủy hoại niềm tin, mà mất niềm tin thì mất hết, đúng như Nguyên Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo.   Điều làm tôi lo lắng là thái độ thật sự cầu thị của các lãnh đạo  ngày nào dường như ngày càng ít thấy trong bộ máy quyền lực. Đã có biết bao ý kiến, đề nghị tâm huyết của trí thức am hiểu đã bị bỏ qua mà cái giá phải trả ngày càng lộ rõ.  Trong khi đó tệ nạn tiêu cực, tham nhũng đã diễn biến đúng như dự báo, nghĩa là từ cấp thấp nhất đã leo dần lên nhiều cấp và lan ra toàn xã hội. Đến mức mà khi kỷ niệm ngày sinh thứ 90, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã phải thốt ra: căn nhà của chúng ta quá nhiều rác rưởi dơ bẩn, phải quét sạch đi thì sự nghiệp cách mạng mới có thể thành công.   Đã qua hơn một phần ba thế kỷ từ ngày thống nhất đất nước mà trước mắt vẫn còn đó các vấn đề hệ trọng sống còn, với những khó khăn, thách thức có phần, có mặt phức tạp gay gắt hơn.   Nhưng cũng thật kỳ diệu: ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân, những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì Tổ Quốc thân yêu ngày càng  nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản lĩnh tổ chức đời sống cộng đồng hôm nay      &#160;Năm 1802 ông Nguyễn Ánh lên ngôi, lần đầu  tiên người Việt quản trị một đất nước Việt thống nhất có một tầm vóc lớn  gấp đôi từ xưa cho tới lúc đó trong lịch sử! Bạn hãy hình dung bạn đang  lái chiếc xe con, nay nhảy sang lái chiếc xe tải, và trên những chiếc  xe này là toàn bộ đời sống của cộng đồng xứ sở.    Mới được 56 năm thì hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng vào 1858, tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, và năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ).  Đến 1887 thì sự cai trị của Pháp trên toàn xứ Việt được hoàn thành.  Như thế người Việt thực tế mới chỉ có kinh nghiệm 60 năm tự cai quản nước Việt thống nhất với tầm cỡ lãnh thổ đương đại như của hôm nay, tính từ 1802 đến 1862.  Hơn thế nữa, sự quản trị của 60 năm đó là nền quản trị thuộc diện sơ sài nhất của một nhà nước phong kiến tiểu nông được trang bị bởi một ý thức hệ nhập khẩu Khổng giáo cực giản cực đoan. Xã hội căn bản chỉ gồm vua-quan-dân, và phương pháp quản trị chủ yếu nhất là ra lệnh bằng miệng trực tiếp.  Chúng ta phải thực sự hiểu ra điều này,và phải thú nhận sự thật này một cách thật sâu thật lắng, để mà biết ra được cái năng lực rất thiếu, kém về quản trị xứ sở của mình trong lịch sử.  Nền cộng hòa non trẻ được thiết lập mong manh trên phạm vi toàn quốc vào mùa thu năm 1945 giữa một bối cảnh nửa hòa bình nửa chiến tranh với các thế lực xâm hấn và xâm lấn. Ngay từ cuối tháng 9 năm 1945 quân đội Pháp đã quay trở lại Việt Nam. Nền cộng hòa non trẻ đã phải kí ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946, cho phép quân đội Pháp ra miền bắc thay thế quân Trung Hoa đang đóng đó với sứ mệnh giải giáp quân đội Nhật Bản. Nền cộng hòa non trẻ vừa mới làm được một số công việc chuẩn bị căn bản cho nền quản trị toàn quốc, trên thực tế chỉ trong vài tháng trời.  Tiếp theo đó, người Việt chỉ quản trị toàn bộ lãnh thổ đương đại thống nhất của mình từ năm 1975, tính cho đến hôm nay 2012 vẻn vẹn gần được 37 năm, sau một thời gian dài đứt đoạn lịch sử.   Do vậy, sự thiếu vắng năng lực, kinh nghiệm tổ chức xã hội này của người Việt hiện nay là lẽ đương nhiên. Vì thế cần kiểm hạch nền quản trị đời sống hiện nay, để quyết tâm học hỏi, lựa chọn, và dựng xây công cuộc tổ chức đời sống cộng đồng của mình, trong bối cảnh dân tộc hôm nay đi thẳng vào hội nhập toàn cầu, cạnh tranh và hợp tác. Mọi nỗi kiêu kì ấu trĩ sẽ chỉ làm suy yếu cộng đồng, và đứng ngồi đó tiễn biệt trong nuối tiếc các chuyến ra đi mất mát của thời gian cùng cơ hội mà đáng lẽ được giành cho cộng đồng xứ sở, cho mỗi con người của xứ sở chúng ta hôm nay.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn thêm về thuế thu nhập cá nhân      Chính phủ đang trình Quốc hội dự thảo Luật Thuế Thu nhập cá nhân. Mặc dù đang trong quá trình soạn thảo, Luật Thuế Thu nhập được rất nhiều đối tượng quan tâm do tác động của thuế thu nhập đến đời sống của mọi tầng lớp xã hội. Từ khởi điểm phải nộp thuế thu nhập 5 triệu đồng, việc Chính phủ hạ xuống còn 3 triệu và 1 triệu đồng đối với những người độc thân đã “dấy lên làn sóng” phản đối rộng khắp trong xã hội. Bài viết này nhằm đích góp một tiếng nói về cái cách mà Chính phủ chuẩn bị (và có thể sẽ áp dụng để) đánh thuế thu nhập cá nhân.        Thuế thu nhập cá nhân (gọi tắt là thuế thu nhập) là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân. Về mặt kinh tế học, nếu chính phủ muốn thu một khoản như nhau bằng cách đánh thuế thu nhập cá nhân trực tiếp hoặc đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng hàng hóa của cá nhân, thì đánh thuế vào thu nhập đem đến sự mất độ thỏa dụng cá nhân thấp hơn khi đánh thuế vào việc mua hàng của cá nhân đó, mặc dù, chính phủ vẫn thu được một khoản như nhau. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, việc đánh thuế gián tiếp dễ hơn nhiều so với đánh thuế trực tiếp. Đơn giản vì việc đo chính xác thu nhập của cá nhân trên thực tế là rất khó (do nền kinh tế chậm phát triển thường là nền kinh tế tiền mặt). Đây là nguyên nhân chính biện hộ cho việc chính phủ các nước chậm phát triển thích sử dụng thuế gián thu hơn thuế trực thu.               Đóng thuế không đơn thuần là sự cưỡng bức mà còn hàm nghĩa “trách nhiệm” và “quyền lợi” của người dân. Đóng thuế tức là khẳng định quyền của dân, là hành vi xác nhận tư cách công dân và trình độ dân chủ đích thực của người dân.            Nguồn thu ngân sách của Chính phủ Việt Nam hiện phụ thuộc rất nhiều vào khoản thu từ dầu thô và từ thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, các nguồn thu này về bản chất là không ổn định và thiếu tính bền vững.   Về dài hạn, để giữ ổn định vĩ mô và bảo đảm nguồn nuôi sống bộ máy của mình, Chính phủ cần có những khoản thu khác. Thuế thu nhập cá nhân là một nguồn thu phù hợp.   Mặc dù việc đánh thuế thu nhập cá nhân có thể được lập luận bằng cách “tạo thói quen nộp thuế” hay “kiểm soát thu nhập”, việc xây dựng Luật Thuế Thu nhập cá nhân cần được xem xét đầy đủ hơn dưới góc độ 5 thuộc tính của một hệ thống thuế “tốt”: (1) tính hiệu quả, (2) tính đơn giản, (3) tính linh hoạt, (4) tính trách nhiệm chính trị, và (5) tính công bằng.  – Tính hiệu quả kinh tế được hiểu là hệ thống thuế không nên can thiệp vào sự phân bổ hiệu quả nguồn lực. Việc đánh thuế thu nhập với mức thu nhập tối thiểu chịu thuế quá thấp cộng thuế suất cao sẽ làm cho các cá nhân tìm kiếm cơ hội phân bổ nguồn lực sang các việc làm không chịu sự kiềm chế của thuế thu nhập. Chẳng hạn, giáo viên sẽ tích cực dạy thêm để tăng thu nhập thay vì tích cực dạy dỗ chính khóa. Bác sĩ sẽ lo chữa bệnh “tư” để tăng thu nhập “ngoài” thay cho việc chăm sóc chu đáo bệnh nhân trong bệnh viện. Tức là hoạt động kinh tế chính thức giảm, còn các hoạt động phi chính thức tăng lên.  – Tính đơn giản về mặt hành chính là hệ thống thuế phải đơn giản để dễ dàng quản lý và không tốn kém về mặt hành chính. Luật thuế thu nhập ra đời sẽ phát sinh nhiều chi phí, bao gồm chi phí trực tiếp (chi phí cho bộ máy quản lý) và chi phí gián tiếp (chi phí về mặt thời gian công sức mà các cá nhân bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế).   Ngoài ra, chi phí quản lý để đánh giá chính xác thu nhập thực của các cá nhân cũng như những khoản chi phí để khấu trừ như chi phí y tế và chi phí giáo dục là cực kỳ phức tạp. Một bệnh nhân từ nông thôn lên Hà Nội chữa bệnh, chi phí anh ta bỏ ra không chỉ là những chi phí khám chữa bệnh (có hóa đơn) mà cả chi phí đi lại, ăn ở trong thời gian khám chữa bệnh và các chi phí “ngầm” khác mà sẽ không thể có hóa đơn. Như vậy, chi phí thực tế mà một bệnh nhân phải trả có thể cao hơn nhiều so với những gì anh ta có để chứng minh là chi thực của anh ta.  Trong một nền kinh tế mà đa số các giao dịch được thực hiện bằng tiền mặt thì việc đánh thuế thu nhập gặp rất nhiều khó khăn và chi phí trực tiếp cũng như gián tiếp có thể rất lớn. Đặc biệt, khi năng lực tổ chức bộ máy và năng lực của cán bộ thu thuế không cao thì tính phức tạp sẽ tăng lên và theo đó, chi phí cũng lớn lên.   – Tính linh hoạt là, hệ thống thuế có khả năng phản ứng dễ dàng (hoặc tự động trong một vài trường hợp) đối với những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế.  Thuế suất đánh vào thu nhập cá nhân cần phải có sự điều chỉnh linh hoạt với biến động của nền kinh tế. Cùng một mức thuế suất đánh vào thu nhập cá nhân trong thời gian lạm phát thấp là rất khác với thời điểm lạm phát cao. Như vậy, mức thuế suất cần phải điều chỉnh thấp (một cách tự động hoặc linh hoạt) trong thời điểm thuế cao. Thuế suất hiện nay được coi là quá cao, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát tăng cao như hiện nay.  – Tính trách nhiệm về mặt chính trị: hệ thống thuế nên thiết kế để xác lập quan hệ quyền và trách nhiệm giữa nhà nước và công dân một cách rõ ràng và minh bạch.  Về nguyên tắc, bất kỳ một cá nhân nào có thu nhập đều bị đánh thuế. Hành vi thu – nộp thuế phản ánh mối quan hệ giữa công dân và nhà nước. Theo cách hiểu thông thường và phổ biến nhất hiện nay, thuế thu nhập cá nhân phản ánh quyền lực của nhà nước đối với công dân. Thuế là công cụ để nhà nước thực thi vai trò điều tiết thu nhập giữa người giàu và người nghèo để tạo lập và duy trì công bằng xã hội.   Nhưng mặt khác, việc nộp thuế thu nhập còn là cách người nộp thuế thể hiện trách nhiệm công dân của mình. Ngoài ra, bằng cách nộp thuế để nuôi sống nhà nước, người đóng thuế thể hiện quyền lực của mình đối với nhà nước: nhà nước do dân (dân bầu ra nhà nước), của dân (dân nuôi nhà nước), vì thế, phải phục vụ dân (vì dân). Khái niệm “dân làm chủ” có cơ sở hiện thực từ chính hành vi nộp thuế thu nhập. Đóng thuế không đơn thuần là sự cưỡng bức mà còn hàm nghĩa “trách nhiệm” và “quyền lợi” của người dân. Đóng thuế tức là khẳng định quyền của dân, là hành vi xác nhận tư cách công dân và trình độ dân chủ đích thực của người dân.  Khía cạnh quan trọng bậc nhất này của thuế cho đến nay, ở nước ta chưa được hiểu đầy đủ, thậm chí, bị bỏ qua.   Nhà nước là do dân bầu ra. Do đó, mọi người dân đều có trách nhiệm “nuôi” nhà nước (thông qua việc đóng thuế thu nhập). Vì vậy, về mặt nguyên lý, mọi người có thu nhập đều phải (có nghĩa vụ) và được (quyền) đóng thuế thu nhập. Đây là một khía cạnh quan trọng của sự bình đẳng trong một xã hội văn minh. Không thể có chuyện trong xã hội, có nhóm người phải đóng thuế nuôi nhà nước, còn một nhóm người lại được quyền không phải đóng thuế. Nếu tình huống là như vậy thì hệ thống thuế thu nhập sẽ chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm thiểu số.   Cũng theo nguyên lý đó, khi hệ thống thuế thu nhập ra đời, cách thức chi tiêu ngân sách cũng cần phải công khai, minh bạch, và cần dựa phần lớn vào ý kiến đóng góp của người dân nhằm phản ánh lợi ích của “người chủ” – người đóng thuế.  – Công bằng: hệ thống thuế phải công bằng trong đối xử với các cá nhân1.   Quy tắc đầu tiên của nguyên lý này là mọi người có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập. Nhưng người thu nhập thấp thì đóng thuế ít, người thu nhập càng cao thì đóng thuế càng cao2.   Trên thực tế, người ta thường dựa vào thu nhập của đối tượng và đặc tính của đối tượng (ví dụ như người độc thân và người có gia đình) để xem xét sự công bằng. Tuy nhiên, điều này lại vấp phải một khó khăn rất lớn, đặc biệt ở những nước mà các hoạt động kinh tế phi chính thức trở thành phổ biến. Ví dụ, thuế thu nhập cá nhân đối với 2 thanh niên độc thân với thu nhập như nhau nhưng một người làm cho công ty nhà nước, còn một người làm trên thị trường lao động phi chính thức. Trong trường hợp này, anh thanh niên làm cho công ty nhà nước sẽ phải chịu thuế (do thu nhập của anh được thể hiện trên bảng lương) còn anh thanh niên kia không bị đánh thuế do cán bộ thuế không biết được thu nhập của anh ta. Sự công bằng không tồn tại trong trường hợp này. Trong nền kinh tế phổ biến các hoạt động kinh tế phi chính thức (giúp việc gia đình, bán hàng rong, xe ôm, đạp xích lô…), tình trạng này vi phạm thô bạo nguyên tắc công bằng theo chiều ngang.  Xét đến nguyên tắc công bằng theo chiều dọc, sự vi phạm nguyên tắc này còn trầm trọng hơn do tính yếu kém của bộ máy quản lý và thu thuế. Trước đây, thu nhập tối thiểu phải chịu thuế là 5 triệu. Số người thực sự nộp thuế là thấp hơn rất nhiều so với số người đáng lẽ ra phải nộp thuế. Như vậy, đã có một số lượng lớn những người có thu nhập trên 5 triệu trốn được thuế. [Nếu lần này, Luật thuế thu nhập chỉ nhằm mục đích tạo thói quen nộp thuế và để người dân có nghĩa vụ với Nhà nước, tại sao trước hết lại không tạo thói quen cho những người có thu nhập trên 5 triệu? Nếu Luật nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách thì việc thu đủ từ những người trên 5 triệu đã là rất lớn]. Vấn đề đặt ra ở đây là sự yếu kém của hệ thống quản lý và thu thuế hiện tồn. Hệ thống đó không kiểm soát được những người có thu nhập cao (trên 5 hay trên 3 triệu đồng). Khi hạ thấp mức thu nhập tối thiểu phải chịu thuế xuống thì rất nhiều cá nhân nằm vào “tầm ngắm” này. Những người có thu nhập cao sẽ có nhiều cơ hội hơn để tránh và trốn thuế, còn những người có thu nhập “thấp” sẽ ít có cơ hội hơn và phải chịu thuế. Hệ thống quản lý và thu thuế yếu kém đã hạn chế cân bằng theo chiều dọc.            Thuế thu nhập cá nhân là rất nhạy cảm và tác động rất lớn đến mọi tầng lớp dân cư. Vì vậy, Chính phủ cần công bố phương pháp đánh thuế để dân xem xét và đóng góp ý kiến, vì thuế mà người dân đóng sẽ “nuôi” bộ máy Nhà nước.            Trong một nền kinh tế với đặc tính đặc thù cho một nền kinh tế chậm phát triển (hoạt động kinh tế phi chính thức còn lớn) và tính yếu kém trong hệ thống thuế, thì việc vi phạm đến các nguyên tắc công bằng là rất nghiêm trọng. Để hạn chế sự vi phạm này, điều trước tiên là cần phải hoàn thiện bộ máy quản lý và thu thuế. Nếu không, ý tưởng về một hệ thống thuế lũy tiến sẽ tự động biến thành hệ thống thuế lũy thoái.   Việc đánh thuế vào thu nhập cá nhân là điều phải làm và nên làm trong mọi nền kinh tế. Tuy nhiên, phương pháp đánh thuế, liều lượng tác động của thuế cũng như sự phản ứng của các nhóm cộng đồng khác nhau cần phải điều tra khảo sát kỹ. Thuế thu nhập cá nhân là rất nhạy cảm và tác động rất lớn đến mọi tầng lớp dân cư. Vì vậy, Chính phủ cần công bố phương pháp đánh thuế để dân xem xét và đóng góp ý kiến, vì thuế mà người dân đóng sẽ “nuôi” bộ máy Nhà nước. Trước khi ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ cần xem xét đến mức sống dân cư (thu nhập thực chứ không phải chỉ thu nhập danh nghĩa), xem xét đến phản ứng của các nhóm cộng đồng, đặc biệt các nhóm dễ bị tổn thương để đưa ra mức thu nhập tối thiểu chịu thuế cũng như thuế suất hợp lý. Ngoài ra, Chính phủ cần tham khảo kinh nghiệm các nước đi trước.  Tất nhiên, thuế là một hình thức cưỡng bức. Vì lợi ích cá nhân trực tiếp, không ai muốn nộp thuế. Do đó, việc người dân phản ứng lại việc Chính phủ “lấy tiền” trong túi của họ là điều khó tránh khỏi. Cần nhớ một nguyên tắc tổng quát trong việc đánh thuế của một nhà kinh tế người Pháp: đánh thuế cũng như việc nhổ lông ngỗng; làm sao để nhổ nhiều lông ngỗng nhất mà con ngỗng kêu  ít nhất.    Phạm Sỹ An – Trần Đình Thiên    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn tiếp về triết lý dân tộc      Muốn xây dựng một triết lí riêng cho dân tộc phải xuất phát từ lịch sử, từ truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, kế thừa và chắt lọc tinh túy của các nền triết học đã ảnh hưởng tới dân tộc ta, kế thừa những tư tưởng lớn nảy sinh trong quá trình chống thiên tai và dịch họa để tồn tại. Đồng thời phải căn cứ tình hình cụ thể hiện tại của đất nước đang chuẩn bị hòa nhập với thế giới.        Đạo Phật vào nước ta khá sớm, trước tiên ở khu vực chùa Dâu, đến thế kỷ XI đã trở thành quốc đạo và tiếp tục phát triển ở triều Trần. Ngày ấy Trương Hán Siêu đã phê phán gay gắt: “danh thổ khắp nơi thì một nửa đã là chùa chiền, lũ lượt đi ở chùa không cày mà có ăn, không dệt mà có mặc”. Triết lí của đạo Phật thì cao siêu nhưng dân ta tiếp nhận ở đạo Phật chủ yếu là lòng từ bi, khuyên làm điều thiện tránh làm điều ác.  Mặc dầu không có đền chùa, Khổng giáo đã có ảnh hưởng lớn và rất sâu sắc đến nhân dân ta. Lấy chữ nhân làm trung tâm, đạo Khổng đã dạy cho nho sĩ và dân nước ta đạo lí làm người. Làm người thì phải biết trọng lễ nghĩa, biết giữ chữ tín, biết hòa với mọi người mà không hùa về ai, còn dạy người cầm quyền trước hết phải biết tu thân, tề gia rồi mới trị quốc, bình thiên hạ! Nói như Mạnh Tử: dân làm quý, xã tắc làm thứ, vua làm khinh. Đến đời Nguyễn Trãi còn viết: mến người có nhân là dân, mà chở thuyền lật thuyền cũng là dân. Qua hàng nghìn năm lịch sử những lời dạy của các thầy Khổng Mạnh đã thấm sâu vào các sĩ phu và qua họ ảnh hưởng tới nhân dân nước ta.  Với việc xây dựng Văn Miếu năm 1075, vai trò của Khổng giáo được khẳng định là đạo học chính thức ở nước ta. Trong ngót nghìn năm các triều đình phong kiến đã lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm nội dung để thi tuyển các quan lại phục vụ chế độ phong kiến, và chế độ thi cử đó chỉ chấm dứt năm 1919. Các sách đó vừa dạy chữ vừa dạy người, ngay sách vỡ lòng Tam tự kinh đã dạy con trẻ: ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lí.  Nhưng cả hai đạo trên đều không thay thế mà hòa quyện vào cái đạo truyền thống của dân tộc là đạo thờ cúng tổ tiên, trong đó có việc thờ cúng Thành hoàng ở mỗi đình làng, là nơi gắn kết tình làng nghĩa xóm. Nếu nước trọng sĩ thì làng trọng sĩ: già làng là người huy động trai tráng rào làng chống giặc hoặc đắp đê chống lụt. Chính sự liên kết các làng xóm để chống thiên tai và dịch họa đã sớm hình thành nhà nước sơ khai ở nước ta. Tinh thần yêu nước thương nòi đã sớm hình thành với câu: nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng. Chính quyền quân chủ tập trung tổ chức nhân dân chống thiên tai và giặc ngoại xâm đã củng cố lòng yêu nước đó. Tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời khi Lý Thường Kiệt chống Tống xâm lược và lần thứ hai được Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới ngày 2.9.1945. Trước họa ngoại xâm để huy động đại đoàn kết dân tộc, Hội nghị Diên Hồng đã được vua Trần tổ chức lần thứ nhất vào thế kỷ XIII và Hồ Chí Minh tổ chức lần thứ hai bảy thế kỷ sau đó. Truyền thống yêu nước thương nòi đó là nét vô cùng đặc sắc của cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng, bị người Hán cai trị hàng nghìn năm không những không bị đồng hóa mà ngược lại đã đồng hóa nhiều quan lại phương Bắc đến trị họ (như trường hợp Vũ Hồn).  Đến khi thực dân Pháp vào thống trị, nước ta mới biết đến triết học duy lí của Đềcác và của thế kỉ ảnh sáng dẫn tới các cuộc cách mạng tư sản dân quyền. Nỗi khổ của nhân dân ta trong suốt nghìn năm thống trị của chế độ phong kiến, tiếp đến dưới ách của chế độ thực dân các quyền tự do dân chủ của cá nhân lại tiếp tục bị hạn chế. Nhưng chính nhà trường của thực dân đã đào tạo nên những trí thức yêu nước như Ngô Gia Tự, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Trần Văn Giàu… Tuy là những chiến sĩ cộng sản, họ vẫn thấm nhuần đạo lí làm người của Nho giáo.  Khổng Tử là người duy vật không tin ở thần thánh, khi nói: Quỷ thần kính nhi viễn chi. Người dạy học trò quan tâm đến những việc của đời nay, không giống các đạo khác hướng người ta hi vọng vào thế giới bên kia. Chính vì vậy nên các sĩ phu yêu nước của ta đã tiếp thu chủ nghĩa Mác một cách dễ dàng. Thấy được bế tắc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sĩ phu Nguyễn Tất Thành, con một nhà khoa bảng, đã gặp chủ nghĩa Mác và xem nó như một công cụ giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã thấm nhuần đạo lý làm người nên Người đã lấy đạo lý đó để dạy đảng viên và cán bộ là phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư và cán bộ phải thực sự là người đầy tớ của dân. Như vậy bằng cách chống lại những thói hư tật xấu còn tồn tại trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu như: ích kỉ, gian dối, háo danh…, Hồ Chí Minh đã bổ sung một khía cạnh còn thiếu của chủ nghĩa Mác là chỉ chú trọng đến đấu tranh xã hội mà ít quan tâm đến rèn luyện con người. Đó là sự đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho chủ nghĩa Mác ở nước ta. Chính vì tin tưởng vào nhân cách chính trực của nhà nho Huỳnh Thúc Kháng, mà khi đi vắng người đã giao cho cụ chức Chủ tịch nước chỉ với một lời dặn: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.  Ngày nay nước ta từ một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nông dân chiếm số đông, giai cấp công nhân đại công nghiệp chưa lớn mạnh, bên cạnh đó lại có giai cấp tư sản nước ngoài và đội ngũ các nhà tư sản doanh nghiệp ngày càng đông, đồng thời bắt đầu xuất hiện đội ngũ công nhân áo trắng. Chúng ta lại đang trên đường hòa nhập vào một thế giới đầy rủi ro và bất trắc, trong đó vẫn thống trị “triết lí của sức mạnh mù quáng, cá lớn nuốt cá bé” thì phải chăng triết lí của chúng ta là: dựa vào truyền thống yêu nước của dân ta, là Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, trung thành với chính sách Đại đoàn kết và đạo lí làm người của Hồ Chí Minh.        NGND Nguyễn Văn Chiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về “Cơ hội của Thánh Gióng” *      Có lẽ ai cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc trao đổi rất thú vị, thẳng thắn, đầy trách nhiệm với dân tộc của TS. Vũ Minh Khương về thực trạng xã hội, về tình thế của đất nước, về những gì đang chờ đợi ta ở phía trước, những gì cần phải làm thật đáng suy ngẫm. Tuy vậy người viết bài này mong muốn trao đổi thêm với anh về một vài vấn đề chưa thật rõ hoặc không ổn.        Với tư cách của một người làm công tác nghiên cứu khoa học, Vũ Minh Khương có thể dự báo những thay đổi của đất nước (về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…) trong vài ba năm tới? Những kịch bản nào có thể xảy ra? Đây là điều vô cùng quan trọng. Dự báo càng chính xác, chúng ta càng có khả năng lèo lái con thuyền của dân tộc. Nếu chỉ: hoặc là “chúng ta bắt kịp vận tốc của thế giới” hoặc “chúng ta bị tụt hậu” e rằng đơn giản quá chăng?      Vũ Minh Khương khẳng định: “Chúng ta đã nhìn rõ con đường mình cần phải đi và hoàn toàn có thể nghĩ đến chuyện tham gia vào cuộc đua trở thành cường quốc”.    Cá nhân tôi thì chưa nghĩ như vậy. Ở đây chúng ta cần phải phân biệt rõ giữa con đường mình cần phải đi với hướng đi. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh là đất nước đã trải qua nhiều bước đi thăng trầm nhưng riêng hai chữ “loay hoay” thì theo tôi, chúng ta đã và vẫn đang. Cho đến hôm nay chúng ta cũng chỉ mới nhìn thấy hướng đi. Con đường đi cụ thể ra sao thì còn rất nhiều chuyện để bàn. Điều này cũng tương tự như một người đi lạc, chỉ mới biết được rằng đi về phía ấy sẽ ra khỏi vùng núi đồi ấy mà thôi. Con đường cụ thể cần vạch ra: đi vòng qua mé sườn đồi, hoặc tụt thẳng xuống vách núi dựng đứng hoặc tìm cho được… cáp treo thì còn bỏ ngỏ. Việc tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế để hội nhập chỉ là điều kiện thúc đẩy phát triển. Hội nhập không phải là con đường. Hội nhập là xu thế tất yếu, không thể cưỡng lại. Hội nhập và con đường để trở thành cường quốc là hai chuyện không như nhau. Cần nhớ rằng trong một trăm mấy chục nước thành viên của WTO số cường quốc chỉ trên dưới một chục. Vậy đâu là con đường đất nước cần phải đi? Đây thực sự là một câu hỏi lớn. Hội nhập thì không phải. Chế độ chính trị mới với đa nguyên đa đảng ư? Cũng không hẳn! Hãy nhìn sang Philippines, Indonesia và một số nước khác tương tự sẽ rõ. Chế độ dân chủ kiểu phương Tây ư? Rất có thể! Nhưng trong số các quốc gia theo chế độ dân chủ có bao nhiêu nước thực sự là cường quốc? Con đường nào họ đã đi qua? Có một mẫu số chung nào chăng. Nói cách khác, điều gì làm nên sự khác biệt giữa các cường quốc ấy với các nước có cùng chế độ dân chủ còn lại? Tại thời điểm đang xét, Việt Nam vẫn còn nằm trong tốp gần cuối của các nước đang phát triển, đề cập đến cuộc đua trở thành cường quốc liệu có thích hợp?               Cần phải kích hoạt được hoài bão và khát vọng của nhiều người trong giới trẻ. Ảnh: TP Online            Đáng tiếc là Vũ Minh Khương có phần vội vàng khi viết: “Lý thuyết phát triển cho rằng đây (sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh – NVC) là động lực lớn nhất để phát triển” và “Hiện thực lịch sử và lý thuyết đều chứng minh chỉ có sức mạnh tinh thần mới làm nên kỳ tích”. Với quan niệm tuyệt đối hóa sức mạnh tinh thần, anh nhiều lần đề cập đến việc “khơi dậy sự thể hiện hoài bão, khát vọng”, “cần khơi dậy, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên”, “khơi dậy khát vọng và trí tuệ toàn dân”… Anh cho rằng “Hoài bão, khát vọng sẽ sinh ra ý chí và phẩm chất để chinh phục mục đích”.  Tất cả những gì anh viết, kể cả những điều viện dẫn từ Lý thuyết phát triển đều chỉ là những điều kiện cần. Nếu chỉ có sức mạnh tinh thần không thôi chắc chắn không đủ để làm nên kỳ tích. Hoài bão và khát vọng không khác bao nhiêu với nhiệt tình cách mạng, mà chỉ có nhiệt tình cách mạng thì… Dĩ nhiên Vũ Minh Khương có nói đến việc khơi dậy trí tuệ của toàn dân (1 lần) nhưng có vẻ như anh quá nhấn đến hoài bão và khát vọng (6 lần). Ngoài ra, có một điều cũng cần phải được minh định: rốt cuộc động lực lớn nhất để phát triển là gì, là sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh (theo Lý thuyết phát triển) hay sức mạnh tinh thần (theo Vũ Minh Khương)?  Có lẽ khó có thể cho rằng anh đã giải mã được vấn đề: “Nhà lãnh đạo phải tạo môi trường, phải khuyến khích họ lên tiếng và bộc lộ. Nhà lãnh đạo phải có cơ chế “nuôi dưỡng” hoài bão và khát vọng đó. Đồng thời chính họ phải có hoài bão và khát vọng lớn hơn nữa để tạo thành khát vọng toàn dân”.   Xuất phát điểm của anh là ở nhà lãnh đạo. Điều này, ở một góc độ nào đó, là không sai. Vai trò của người lãnh đạo, ai cũng biết là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, Vũ Minh Khương chưa chạm đến tận cùng của vấn đề. Ở đây có hai điều cần phải xem lại. Thứ nhất, rõ ràng là Vũ Minh Khương cứ mãi loay hoay với hoài bão và khát vọng. Nhà lãnh đạo chỉ có hoài bão và khát vọng không thôi thì hẳn khó làm nên chuyện gì, chưa kể là có thể gây ra đại họa. Chắc nhiều người trong chúng ta chưa quên chiến dịch chim sẻ; cả nước cùng nấu sắt nấu thép bên Tàu cách nay mấy chục năm. Thứ hai, những nhà lãnh đạo vừa có hoài bão, khát vọng vừa có khả năng “đọc” thực trạng xã hội, hoạch định chiến lược phát triển, quản lý và điều hành đất nước hiệu quả ở đâu ra? Nói cách khác, làm thế nào để những nhà lãnh đạo như thế luôn xuất hiện? Đây mới là cái gốc của mọi chuyện.  Câu hỏi thứ hai này mở ra một vấn đề rộng lớn hơn. Vấn đề không chỉ ở chỗ làm xuất hiện nhà lãnh đạo kiệt xuất đóng vai trò đầu tàu mà là tổng quát hơn, tạo một môi trường xã hội sao cho từng cá nhân trong cộng đồng được đặt ngồi đúng chỗ của mình, tạo sự kết nối giữa từng thành viên trong xã hội để làm bật lên sức mạnh cộng hưởng của toàn dân tộc. Chìa khóa của vấn đề, theo chúng tôi, là ở cách tổ chức xã hội. Chính điều này tạo nên sự khác biệt giữa các cường quốc với các quốc gia cũng theo chế độ dân chủ còn lại trong WTO. Nói các khác, chính cách tổ chức xã hội là mẫu số chung của các cường quốc này (dĩ nhiên không hoàn toàn như nhau).                            Trong xã hội, chỗ đứng của mỗi người phụ thuộc vào năng lực cá nhân, tư cách phẩm hạnh và mức độ phấn đấu. Ảnh: VNN            Cách tổ chức xã hội khoa học, chặt chẽ sẽ đặt mỗi cá nhân vào đúng chỗ dành cho mình, làm cho mỗi cá nhân phát huy tối đa khả năng đã bộc lộ, khơi dậy những khả năng còn tiềm ẩn. Không những thế, cách tổ chức xã hội tốt còn gắn kết các cá nhân trong sự hợp tác chặt chẽ, khai thác triệt để năng lực đồng sáng tạo của các thành viên trong cùng một nhóm, một tổ chức và trong toàn thể cộng đồng, tạo sức mạnh chung cho cả một dân tộc.   Cách tổ chức xã hội tốt sẽ dựng nên một xã hội quy củ theo tinh thần thượng tôn pháp luật với những chuẩn mực giá trị xã hội được tôn vinh: tinh thần công dân, ý thức cộng đồng, tinh thần bác ái, ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng quyền con người, ý thức tự giác… Trong xã hội ấy ai cũng tìm được chỗ đứng của mình, chỗ đứng ấy phụ thuộc vào năng lực cá nhân, tư cách phẩm hạnh và mức độ phấn đấu.   Cách thức tổ chức xã hội khoa học, chặt chẽ sẽ thiết lập nên một hệ thống chính trị với các thiết chế chính trị cơ bản mạnh có khả năng quản lý, điều hành xã hội, phát triển đất nước, và một hệ thống cơ quan hành chính các cấp hoạt động linh hoạt, hiệu quả, minh bạch, thực sự vì dân.  Trở lên là chuyện vĩ mô, nay xin trao đổi thêm về vài chuyện nhỏ nhặt hơn. Vũ Minh Khương viết: Đổi mới của 20 năm trước là chúng ta “cởi trói” cho một cơ thể khỏe mạnh bị trói buộc. Vẫn biết rằng mọi so sánh là khập khiễng song ở đây đúng là có chuyện không ổn. Dẫu rằng người Việt đã chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ nhưng hai chữ nhược tiểu e rằng vẫn còn phù hợp, khái niệm “một cơ thể khỏe mạnh” xem ra khó được chấp nhận. Người Việt chúng ta đã thắng nhưng đó là chiến thắng của chính nghĩa, của nghệ thuật chiến tranh: lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy chí nhân thay cường bạo. Nếu không tỉnh táo để có những nhìn nhận khách quan về lịch sử cũng như thực trạng xã hội hiện thời chúng ta rất dễ đưa ra những kết luận đầy cảm tính.  Khi bàn về giới trẻ, Vũ Minh Khương cho rằng: tôi cảm nhận thấy một điều lớn hơn đó là ngọn lửa sôi sục vươn lên trong nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ… Tuy nhiên họ đang tản mạn, lúng túng và bị kìm nén. Đây là nhận xét không chính xác, có phần lạc quan tếu, có khoảng cách khá xa với thực trạng xã hội. Thực tế thì hiện nay giới trẻ đang mất phương hướng bởi lẽ như chính Vũ Minh Khương đã viết: hiện xã hội ta đang bị đảo lộn thang giá trị…; vật chất trở thành thước đo của mọi sự phấn đấu, nỗ lực. Không thể căn cứ vào vài ba trăm bài viết hưởng ứng gửi về tòa soạn báo Tuổi Trẻ hoặc vài ba chục ý kiến giao lưu trực tuyến của một số người để có thể cho rằng cảm nhận nói trên của Vũ Minh Khương là đúng. Nếu không đánh giá đúng thực trạng giới trẻ chắc rằng chúng ta không thể đề ra chiến lược thích ứng trong tình hình hiện tại. Tai hại hơn, Vũ Minh Khương cho rằng giới trẻ đang tản mạn, lúng túng và bị kìm nén. Thực ra thì Vũ Minh Khương muốn nhắn gửi thông điệp gì ở đây?  Có lúc TS. Vũ Minh Khương đã phạm phải sai lầm đáng tiếc như trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có tinh thần Thánh Gióng như vậy? Vũ Minh Khương nói: Theo tôi, trước hết chúng ta phải nhìn thẳng vào mình và phải biết xấu hổ, nếu cần. Ta hãy tự hỏi: tại sao một dân tộc giàu nhân văn, yêu cái đẹp như vậy mà tỷ lệ người bị HIV, nghiện ma túy lại cao hơn Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…? Tại sao người Việt vốn trọng tín nghĩa, khảng khái, chân chính, thậm chí sẵn sàng chết vì lòng trung nghĩa mà nay lại bị xếp hạng nạn tham nhũng cao nhất nhì Đông Nam Á?  Không ai có thể đồng ý với anh về việc đem những đặc điểm chung của dân tộc như trọng tín nghĩa, khảng khái, sẵn sàng chết vì lòng trung nghĩa đối lập với nạn tham nhũng, tuy là quốc nạn, nhưng chỉ có ở giới chức quyền – một bộ phận của dân tộc đã bị tha hóa.  Dẫu gì thì cũng rất cám ơn anh, người đã bước đầu kích hoạt được hoài bão và khát vọng của nhiều người trong giới trẻ.  ———    * Cơ hội của Thánh Gióng – Tuổi Trẻ 18 – 6 -2005      PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về những chỉ tiêu bốc đồng      Trong xây dựng và kiến tạo, đưa ra những chỉ tiêu “trên trời” là điều tối kỵ nhưng điều này nhiều khi được ngụy tạo dưới hình thức là nhằm thúc đẩy sớm đạt được những thành quả tiến bộ. Điều ấy khiến những người dẫu có nhìn thấu sự thất bại, đổ vỡ cũng khó lòng phản bác, chưa kể có khi họ còn bị “chụp mũ” chậm tiến, hay chống đối. Hơn nữa, do dễ được ngụy tạo bởi động cơ tốt đẹp, nên tác giả của những chủ trương này thường được cho là vô tội, người ta không nhìn ra hoặc ít quy trách nhiệm cho họ, kể cả đã gây ra tổn thất lớn khi thực hiện.    Vào những thập niên 60 của thế kỷ XX, trường cấp 1 Bắc Lý, Lý Nhân, Hà Nam, là lá cờ đầu của toàn ngành giáo dục. Lúc đó các lớp học của chúng tôi, thường mít tinh, trống giong cờ mở, hô khẩu hiệu: “Quyết tâm học tập để đuổi kịp và vượt Bắc Lý”. Lớn lên, tôi được nghe kể lại, trong một lần họp các trưởng ty giáo dục toàn miền Bắc, có một vị trưởng ty tuyên bố, sẽ  đưa tất cả các trường cấp 1 thuộc ty của ông thành “Bắc Lý”. Thế rồi ngay lập tức bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên (1905-1975) hỏi ông ta: Anh T anh có biết để được một “Bắc Lý” thì Bộ, Ty, Phòng…  phải làm những gì không? Anh hãy cố gắng làm cho ty của anh trường ra trường, lớp ra lớp trước đã, ông Bộ trưởng nói tiếp.  Trong câu chuyện này, có lẽ vị trưởng ty kia không có ý phá hoại, mà chỉ là thiếu hiểu biết nên bốc đồng, hay nhiễm máu “phong trào”, hoặc quen “hô khẩu hiệu”, mới thành ra thế. Cũng may mắn là ông đã được bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên lập tức chấn chỉnh. Nhưng nếu giả sử, một ngài bộ trưởng nào đó, lại hưởng ứng-khuyến khích tuyên bố của vị trưởng ty bốc đồng nọ, thì hậu quả sẽ như thế nào cho giáo dục?  Ngày nay, một trong những ví dụ có thể kể đến về các mục tiêu “trên trời” trong ngành giáo dục là Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020. Tiến sĩ Lương Hoài Nam đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 đặt ra mục tiêu nghe rất “kêu”: đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng và Đại học có đủ năng lực ngoại ngữ, sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập…  Còn 4 năm nữa mới đến năm 2020, nhưng đã có thể thấy trước là mục tiêu đó không đạt được, cho dù chỉ ở mức 50%”. Hay “Đến năm 2020, mục tiêu của đề án dạy ngoại ngữ trong giáo dục quốc dân có đạt được không? Tôi xin trả lời luôn là không- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ thẳng thắn trả lời đại biểu về thất bại của đề án phổ cập ngoại ngữ gần 10.000 tỷ Đồng đầy tham vọng được đưa ra từ năm 2008” (xem bài “Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 thất bại, vì đâu?”, Thế Giới & Việt Nam, 21/11/2016). Có lẽ người ta sẽ còn đặt ra nhiều câu hỏi cho đề án này, đặc biệt ai sẽ là người chịu trách nhiệm !? Rằng nó cần phải được đánh giá đầy đủ sau năm 2020.             Còn nhiều suy ngẫm hơn, khi đọc nhận định tiếp theo của tiến sĩ Lương Hoài Nam (cũng cùng trong bài báo trên): “Công bằng mà nói, đây không phải là mục tiêu 2020 duy nhất bị thất bại. Chúng ta có thể nhìn thấy trước một số mục tiêu không thể trở thành hiện thực như Việt Nam có một số trường đại học trong Top 200 thế giới, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020 (mà Đề án Ngoại ngữ 2020 nhắc đến)”. Thật khó hiểu vì sao, những người đứng đầu một nền học thuật, lại có thể đưa ra những mục tiêu hoang tưởng đến như vậy.     Ngoài những mục tiêu bốc đồng được “vẽ ra” trong các đề án giáo dục như vừa nêu, người ta còn đưa ra nhiều tiêu chí xa vời bắt buộc người giảng dạy phải hoàn thành, mà không tính đến hệ lụy của nó. Chẳng hạn đòi hỏi tất cả các giáo viên phổ thông phải viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm. Việc làm bắt buộc này, không chỉ làm khổ các thầy cô, mà còn làm cho công việc học thuật trở nên nông cạn và mang tính hình thức. Có lẽ nên chăng thay vì tất cả, chỉ nên tập trung xem xét và khen thưởng thích đáng cho những thầy cô có sáng kiến, mang lại hiệu quả thực tế cho việc dạy và học.       Những tiêu chuẩn khắt khe về chứng chỉ ngoại ngữ cho các giảng viên, khiến cho không ít giảng viên, kể cả những người có công bố quốc tế tốt, cũng trở thành những người “mắc nợ”. Thực tế là, một giảng viên dù có chứng chỉ ngoại ngữ cao đến bao nhiêu, nếu không có môi trường giao tiếp thường xuyên, không thường xuyên dịch, không viết bài cho công bố quốc tế, thì cái chứng chỉ kia không biết được dùng để “dọa” ai!?    Đành rằng hiểu biết càng sâu, càng rộng thì càng đáng quý. Nhưng khốn thay, chúng ta đang còn phải nỗ lực cho những công việc cụ thể cấp bách, mà cũng vẫn còn bất cập. Vì thế cần hết sức tránh những tiêu chí còn xa vời, mà thực tế chưa đòi hỏi, chưa kể đời sống của những người làm thầy còn bị chịu rất nhiều sức ép. Trong bối cảnh thực tế hiện nay, có lẽ chỉ nên tập trung vào những tiêu chuẩn cơ bản thiết yếu mà mỗi thầy cô nhất thiết phải gắng đạt bằng được, với sự giám sát của các đơn vị chuyên môn. Bên cạnh đó là khen thưởng kịp thời cho những thầy cô có những thành tích tốt trong giảng dạy, nâng cao hiểu biết và nghiên cứu khoa học.  Khi còn là chủ nhiệm bộ môn Đại số (6/2006-7/2017) của đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả thường nói với các thành viên bộ môn rằng: viết sách và công bố khoa học là không dễ, không phải khi nào cũng làm được, vì thế những ai còn chưa làm được thì hãy gắng, còn những ai làm tốt thì bộ môn luôn ghi nhận và trân trọng. Bởi trong thực tế, không ai lại không muốn là tác giả của những cuốn sách, cũng như những công trình khoa học. Chưa kể bên cạnh họ, luôn có các đồng nghiệp có những ấn phẩm tốt được công bố hàng năm, và điều này cũng đã đủ gây sức ép cho họ. Mặt khác họ lại đều là những người học tập xuất sắc được giữ lại, rất tự trọng, và luôn nỗ lực vươn lên.  Tuy thế những năm gần đây, không ít trường đại học, đua nhau đưa ra những tiêu chuẩn ôm đồm và thiên về định lượng trong nghiên cứu khoa học cho mỗi giảng viên. Trong khi đó, trên thực tế hiện nay năng lực nghiên cứu của người Việt, nói chung còn rất hạn chế, thiếu truyền thống. Chưa kể cách đào tạo, cũng như không gian học thuật của chúng ta, đã ảnh hưởng không tốt đến khả năng nghiên cứu khoa học của mỗi cá nhân. Vì vậy có lẽ thay vì thúc ép họ, thì hãy nên kiến tạo môi trường học thuật, tôn trọng và khuyến khích khoa học thực sự. Mặt khác, chúng ta đang thiếu những ấn phẩm khoa học đạt chuẩn quốc tế hay hội nhập, nhưng lại thừa mứa những ấn phẩm khoa học không đạt chuẩn.  Việc thúc ép nghiên cứu cộng với việc không chú trọng chất lượng, hay đánh giá thỏa đáng ý nghĩa của các công bố đạt chuẩn quốc tế, sẽ chỉ làm gia tăng những ấn phẩm khoa học chất lượng hạn chế-dễ dãi trong các công bố. Đặc biệt cùng với đó, là làm khó cho những cá nhân đang nỗ lực hướng về những công bố đạt chuẩn quốc tế cao. Đó là một trong những mặt trái của vấn đề, khi đưa ra những tiêu chuẩn bốc đồng trong nghiên cứu khoa học, nhất là một khi chỉ chú ý về số lượng.          Những chỉ tiêu bốc đồng, thường được đề ra, trước hết bởi những người rất thiếu hiểu biết, thứ nữa là rất thiếu xây dựng, trách nhiệm, hay có thể học đòi mà không hiểu bản chất của công việc, hoặc đôi khi còn là những thủ đoạn để hướng đến những  mục đích khác… Thông thường những chỉ tiêu bốc đồng được áp đặt xuống công chúng, sẽ để lại những hệ quả nghiêm trọng. Nó có thể sẽ gây hoang mang trong công chúng, kích thích “làm thì láo báo cáo thì hay”… Tệ hại hơn, đâu đó còn ứng xử với nghiên cứu khoa học như kiểu lao động tạo ra những sản phẩm theo quý-theo mùa, rất xa lạ với sáng tạo khoa học. Điều này sẽ gây bất lợi cho những cá nhân đeo đuổi những công bố có chất lượng cao.         Cuối cùng người viết cho rằng, thay vì tạo sức ép phi thực tế lên môi trường học thuật hiện nay, đặc biệt trong sáng tạo khoa học, nên  đòi hỏi chất lượng cao hơn, hay theo chuẩn hội nhập đối với tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư. Để làm sao có sự cân đối giữa số lượng học hàm học vị cao  với số lượng và chất lượng các công bố quốc tế. Và hơn tất cả, là cần biết đưa ra những mục tiêu đúng đắn-phù hợp-khả thi, để động viên kích thích sự phát triển không ngừng. Rằng đó mới chính là cách làm bài bản, kiến tạo. Rằng cần phải nghiêm khắc xử lý với những nơi đưa ra những chỉ tiêu bốc đồng, làm suy giảm lòng tin, gây hoang mang trong cộng đồng. Đặc biệt ở những nơi cần sự “tĩnh lặng” như môi trường học thuật.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Bàn về sự ấu trĩ      Những tưởng trong một xã hội mà ai cũng bằng này cấp nọ, tràn lan cử nhân, tiến sĩ, kỹ sư… như bây giờ thì “giặc dốt” chỉ là câu chuyện của quá khứ. Nhưng, thực ra nó vẫn còn tồn tại (thậm chí là còn đáng sợ hơn xưa) dưới một “lớp áo” khác: sự ấu trĩ hay sự ngộ nhận về hiểu biết. Nói một cách nôm na bằng ngôn ngữ bình dân là: dốt mà không hề biết là mình dốt.    Có thể tạm chia những người có ảnh hưởng trong xã hội (bất cứ xã hội nào) thành 5 nhóm sau đây: có quyền, có tiền, có tiếng, có bằng, và có chữ.  Một biểu hiện của bệnh ấu trĩ ở những người có quyền là việc họ thường xuyên đưa ra những quyết sách tồi nhưng bản thân họ lại không nhận ra được điều đó. Một nhà lãnh đạo giỏi có thể không cần phải biết tất cả mọi thứ, giỏi tất cả mọi việc, nhưng sẽ biết ai là người mình nên lắng nghe và ai là người mình nên tin tưởng, sẽ phân biệt được đâu là quân tử và đâu là ngụy quân tử, đâu là thực tài và đâu là ngụy tài. Nhà lãnh đạo ấu trĩ thường không có khả năng này, bởi họ đã mất đi khả năng phân biệt ai là ai, cái gì là cái gì và mình là ai.           Người có tiền ấu trĩ thường là những người  kiếm tiền bằng những cách không chính đáng nhưng lại rất tự hào về điều  đó, và/hoặc dùng tiền họ kiếm được để cổ xúy cho những cái không nên cổ  xúy. Tương tự như vậy, những người có tiếng ấu trĩ không tự ý thức được  cái “tiếng” mà mình có được là theo kiểu nào (danh tiếng hay tai tiếng),  và mình sẽ dùng nó như thế nào.         Những người có tiền lại ảnh hưởng đến xã hội thông qua cách họ kiếm tiền và xài tiền. Người có tiền ấu trĩ thường là những người kiếm tiền bằng những cách không chính đáng nhưng lại rất tự hào về điều đó, và/hoặc dùng tiền họ kiếm được để cổ xúy cho những cái không nên cổ xúy. Tương tự như vậy, những người có tiếng ấu trĩ không tự ý thức được cái “tiếng” mà mình có được là theo kiểu nào (danh tiếng hay tai tiếng), và mình sẽ dùng nó như thế nào. Nên mới có chuyện một cô người mẫu rất tự hào vì mình đã trở nên nổi tiếng nhờ việc khoe thân khắp các mặt báo, hay rất nhiều người mang danh là “nghệ sĩ” nhưng công chúng hiếm khi thấy họ khoe những tác phẩm nghệ thuật hay sáng tạo nghệ thuật mà chủ yếu là khoe nhà, khoe xe, khoe áo quần. Thực ra khoe không phải là xấu, nhưng vấn đề nằm ở chỗ, điều đáng để khoe không phải là những gì mình kiếm được hay đạt được, mà là những gì mình đóng góp cho cộng đồng.  Người có bằng thường cũng được cộng đồng vị nể và những hành xử của họ thường được xem là chuẩn mực để người khác noi theo. Thế cho nên cái tai hại mà sự ấu trĩ của họ gây ra là nó khiến cho những người xung quanh họ mất đi niềm tin vào những giá trị chuẩn mực. (Theo kiểu “Ôi trời, đến tiến sĩ mà còn hành xử như thế thì mình làm vậy cũng có gì đâu mà ngại!”). Có một nghịch lý là sự ấu trĩ của một người có thể gia tăng tỉ lệ thuận với số bằng cấp mà họ sở hữu, nhất là khi cái bằng đó không phải là kết quả của một quá trình học tập để “khai minh” bản thân mà chỉ là một vật trang sức để làm bản thân họ thêm lấp lánh. Bởi lẽ, cái bằng đó có thể khiến cho họ ngộ nhận rằng mình cũng hơn người hoặc cũng chẳng kém ai mà quên đi rằng vẫn còn quá nhiều điều cần phải học hỏi để nâng cao nhận thức và hiểu biết của mình.  Những người có chữ  (hay còn gọi là “tinh hoa”) là một trường hợp đặc biệt. Bởi họ luôn được xem là “đôi mắt” hay “tầm nhìn” của xã hội, cho dù họ có thể không có quyền hay có tiền…. Là “tinh hoa”, “trí thức” nên tất nhiên họ sẽ không có những cái ấu trĩ bình thường của những người bình thường. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ không có “điểm mù”. Liệu họ có thực hiện được sứ mệnh định hướng, định hình xã hội trong lĩnh vực, ngành nghề của mình hay chưa? Liệu họ có bứt ra được những giới hạn của thời đại mình đang sống để có được một viễn kiến xa hơn, rộng hơn? Liệu họ có hướng được xã hội của mình đi vào một thời đại mới tốt đẹp hơn bằng chính tầm nhìn, trí tuệ đó của mình, hay vẫn chỉ loay hoay với những thị phi trong thời đại của mình? Không ít người dù ngậm ngùi nhưng cũng phải đồng tình với nhận xét (trong một bài viết của GS. Trần Hữu Dũng) rằng Việt Nam đang ở trong “thời vắng những nhà văn hóa lớn” khi mà những ngôi sao dẫn đường trên bầu trời tinh hoa ngày càng ít ỏi và le lói.  Nói tóm lại, ai trong chúng ta cũng có thể mắc phải căn bệnh ấu trĩ. Bởi như Einstein từng nói: “Có hai thứ được coi là vô tận: Vũ trụ và sự ngu dốt của con người”. Và ông còn nói thêm rằng: “Về phần vũ trụ thì tôi không chắc lắm, nhưng sự dốt nát của con người thì chắc chắn là như thế”. Như vậy, dốt nát chưa phải là bi kịch lớn nhất của con người, mà bi kịch lớn nhất của con người là “dốt mà không biết mình dốt”. Để không lún sâu vào cái dốt mênh mông ấy, mỗi người cần có một trách nhiệm với bản thân là liên tục “phản tỉnh” chính mình, phản tỉnh với những điểm mù (nếu có) của mình. Ngay cả với giới tinh hoa, nếu không liên tục “phản tỉnh chính mình” hay “phản tư chính mình” thì người hiểu biết sẽ dễ trở thành người ít hiểu biết hay người ấu trĩ trong một số vấn đề (kể cả những vấn đề thuộc chuyên môn hay sở trường của mình), và khi đó sẽ không chỉ khó thực hiện được tốt cái vai trò thức tỉnh xã hội vốn có của mình, mà còn có thể gây nguy hại cho xã hội.  Tôi xin dùng một câu chuyện có tên là “Rời hang” (lấy cảm hứng từ “Dụ ngôn hang động” trong tác phẩm “Cộng hòa” của Platon) để kết lại việc lạm bàn về chủ đề “sự ấu trĩ”:   “Ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa, có một cái hang và có một cộng đồng lớn sống trong cái hang đó. Vì cái hang ấy vô cùng lớn với các ngóc ngách rất lắt léo và cộng đồng ấy đã sống ở đó qua nhiều thế hệ, nên lâu ngày họ mặc nhiên tin rằng cái hang ấy là cả thế giới và ánh sáng từ đống lửa trong hang là ánh sáng duy nhất mà họ có. Cho đến một ngày nọ, có một người bỗng vô tình lọt ra được ngoài hang. Ban đầu, anh ta cảm thấy đau đớn vì bị lóa mắt trước ánh mặt trời và cơ thể chưa thích ứng được với khí hậu và thời tiết của thế giới bên ngoài. Nhưng khi đã quen dần và cảm nhận được sự ấm áp của ánh mặt trời, sự sinh động huyền ảo của vạn vật, của cỏ cây hoa lá, anh ta nhận ra rằng đây mới thực sự là thế giới của “con người”. Anh ta quyết định quay trở về hang và ra sức thuyết phục, tìm cách đưa mọi người rời hang để về với thế giới. Thế nhưng, sau khi nghe anh ta kể câu chuyện ở thế giới bên ngoài hang, những người trong hang không những không tin, mà còn quyết định giết chết anh ta, vì cho rằng đó là những điều bịa đặt, và vì lo sợ rằng, những nỗ lực và việc làm của anh ta sẽ gây ra sự rối loạn, cũng như đe dọa cuộc sống êm ấm hạnh phúc bao đời của cộng đồng trong hang…”.   Mỗi khi ngẫm nghĩ về câu chuyện này, tôi lại tự hỏi mình rằng: Mình đã “rời hang” chưa? Gia đình mình, tổ chức mình, cộng đồng mình… đã “rời hang” chưa? Nếu mình đã rời hang và ra với ánh sáng thì thật là tuyệt vời. Nhưng nếu vẫn còn ở trong hang và mình cũng biết rõ điều đó (và đang từng bước tìm cách rời hang) thì cũng không phải là điều tệ hại. Còn nếu mình đang ở trong hang mà lại cứ tưởng rằng đã rời hang rồi và ra với ánh sáng rồi thì thật là bất hạnh. Nhưng có một điều còn bất hạnh hơn vô vàn lần, đó là, mình đã thực sự rời hang rồi, nhưng không phải là “rời hang” để ra “ánh sáng”, mà là rời cái hang này để rồi lại chui vào một cái hang khác, to hơn, tăm tối hơn, nhưng mình lại không hề nhận ra điều đó…  Và mỗi con người, ai cũng có thể có đến mấy “cái hang” (chứ không phải chỉ một). Gia đình mình, tổ chức của mình, xứ sở mình, và thậm chí cả thế giới này đều có thể là những cái hang. Nhưng, “cái hang” to nhất, tăm tối nhất chính là cái hang “vô minh và ấu trĩ” bên trong con người của mình.  Nếu như hành trình khai minh bản thân, đưa bản thân “rời hang” đã khó, thì hành trình khai minh xã hội, dẫn dắt cộng đồng mình và cùng cộng đồng mình “rời hang” lại càng gian nan gấp bội phần. Đó là một hành trình đầy gian khó, rất dài lâu và nhiều hiểm nguy, nhưng là một hành trình tất yếu mà chắc hẳn ai trong chúng ta cũng thấy rằng không thể không bước tiếp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về văn hóa giao thông      Luật lệ, tinh vi đến mấy cũng chỉ là  phương tiện. Chúng phải được thi hành nghiêm túc và với tinh thần trách  nhiệm của mọi người thì mới thành “văn hóa giao thông” được. Không cần  phải nói nhiều, bất cứ ai sống ở Việt Nam cũng đều nhận ra rằng chúng ta  chưa có văn hóa giao thông; hoặc nếu có ở một thời điểm nào đó, thì  ngày nay cũng đã mất từ lâu rồi.    Di chuyển và di cư là hai đặc điểm mà con người chia sẻ với nhiều loài muông thú khác trên mặt đất này.  Giống cá hồi thường sinh ra ở đầu nguồn nước, trứng chôn ở dưới lớp cát sỏi. Sau khi nở thành cá con, chúng xuôi dòng ra biển và lớn lên ở những vùng nước vừa lạnh vừa mặn. Nhưng đến cuối đời, chúng lại ngược dòng về nơi sinh gốc, do một bản năng tự nhiên và còn khó hiểu, lại đẻ trứng, chôn xuống cát sỏi rồi chết. Và cứ như thế, cá hồi đã sống, di cư, hồi cư, và chết trong một chu kỳ tương tự hàng trăm triệu năm nay.   Tương tự, nhiều giống chim miền Bắc bán cầu thường bay hàng ngàn cây số mỗi mùa thu về miền xích đạo, để rồi sang Xuân lại bay về hướng Bắc. Ở Mỹ châu có loài bướm Monarch, mỗi năm bay từ California về Mexico nghỉ mùa Đông, sinh sản, rồi lại bay về Cali vào mùa Xuân. Cá Ông, loài thủy sinh lớn nhất trên địa cầu, cũng di dân hàng năm từ miền Bắc cực xuống miền nhiệt đới, sinh sản, rồi lại ngược dòng về Bắc cực. Và ngay cả loài chim cánh cụt, theo như một phim tài liệu gần đây, cũng dời miền ven biển vào đất liền để sinh sản, nhịn đói hàng tháng trời, và khi chim con đủ sức, cả bộ lạc lại lặn lội về mé biển, nơi có thức ăn.  Con người chúng ta phát xuất từ châu Phi khoảng 200.000 năm trước, cũng là một giống di cư với đặc điểm là chúng ta ra đi nhưng ít khi trở lại. Khoảng 70.000 năm trước, một số tổ tiên ta rời khỏi lục địa Phi sang lập nghiệp ở Trung Đông, rồi từ đó mới tản mát nhóm sang Âu châu, nhóm sang Á châu, theo hai ngả đường bộ qua núi, sa mạc và đường ven biển. Nhóm men theo bờ biển có lẽ đông hơn vì cuộc sống tương đối dễ dàng hơn nhờ vào thủy sản dễ đánh bắt và đầy dẫy. Họ vòng quanh Ấn Độ, rồi sang tới Đông Nam Á của chúng ta ngày nay.   Các vết tích khảo cổ cho thấy vùng Bắc Trung bộ Việt Nam đã có người sinh sống từ 20 – 25.000 năm trước.(1) Vùng Thanh Hóa có dấu vết người sinh sống từ hơn 20.000 năm. Động Người Xưa trong Rừng quốc gia Cúc Phương có ba bộ xương người chôn ngay ở cửa động và dùng phương pháp Carbon-14, các nhà khảo cổ khẳng định thời gian họ sống là khoảng 7,500 năm trước.   Từ Đông Nam Á, cha ông chúng ta tiến xuống Úc châu. Mãi đến thời kỳ Băng đá cuối cùng, khoảng 12,000 năm trước, người từ miền Bắc châu Á mới di dân sang Alaska rồi từ đó tràn xuống Bắc và Nam Mỹ. Ngày nay, không còn góc nào trên địa cầu là không có người sinh sống.Nhưng hầu hết chúng ta, ở mỗi nơi, đều “chọn nơi này làm quê hương” chứ không trở lại nguyên quán như các loài thú vật khác.  Vậy ta có thể nói một trong những bản năng cơ bản của con người là đi, là chạy, là bơi, và gần đây nhất là bay. Giao thông nằm trong DNA của chúng ta, từ khi con người đầu tiên biết đứng lên và đi bằng hai chân.  Phương tiện giao thông là một hiện tượng khá mới  Hàng trăm ngàn năm nay, con người chỉ biết có một cách đi từ điểm A đến điểm B: bằng đôi chân mình. Ngay thế kỷ này, một số bộ lạc châu Phi vẫn còn đi bộ như phương tiện di chuyển chính.  Những phương tiện giúp ta đi đây đi đó có lẽ chỉ mới được phát hiện từ khoảng 6.000 năm nay, từ khi con người bắt đầu định cư ở một nơi và sinh sống bằng nông nghiệp thay vì săn bắt. Đầu tiên chắc phải là những gia súc lớn: lừa, ngựa, trâu, bò… vừa giúp cha ông ta làm nông nghiệp, vừa là phương tiện hữu hiệu khi cần ra chiến trường. Tần Thủy Hoàng bên Trung quốc hay Alexander bên Hy Lạp đều chinh phục các nước lân cận trên lưng ngựa. Ở nước ta, Hai Bà Trưng cỡi voi đánh giặc cũng chỉ khoảng 2.000 năm nay.  Nhưng song song với súc vật và voi, con người cũng còn nhiều sáng kiến: bó thân cây chuối lại với nhau có thể giúp ta sang bên kia sông an toàn và khô ráo. Khoét một thân cây ra và ta có thể đi ngược xuôi con sông dài. Ghép nhiều thanh gỗ lại và ta có thuyền.Kéo thêm cánh buồm nữa là ta ra khơi và về lại được.  Lịch sử cho thấy vùng biển Đông Nam Á rất nhộn nhịp buôn bán từ nhiều thế kỷ trước khi người châu Âu sang tới đây. Gió mùa mỗi năm đổi chiều hai lần đã giúp cha ông ta buôn bán khắp vùng: gạo từ Việt Nam, Thái Lan sang các vùng biển đảo đổi lấy thủy sản khô, xà cừ, tiêu, quế và các gia vị khác. Khoảng thế kỷ thứ 12 đã có dấu vết da nai từ Lào được bán ở Nhật cho các hiệp sĩ may áo giáp. Hay tơ lụa từ Trung quốc, Nhật bày bán ở Nam Dương, Mã Lai. Hiện nay, dọc miền duyên hải Việt Nam, ngư phủ vẫn thường tìm được những tầu đắm từ vài trăm năm trước chở đầy gốm sứ từ nhiều miền đất nước.  Sau cuộc Cách mạng Công nghệ, máy móc được đem vào sử dụng. Thay vì ngồi chờ cơn gió mùa đổi chiều, con người có thuyền máy chạy bằng củi, rồi than, rồi dầu hỏa, và mới nhất là hạt nhân. Từ thuyền máy sang chiến thuyền chỉ có một bước nhỏ, và từ đó các đế quốc đi vòng cả địa cầu thành hình. Người Anh vẫn thường tự hào là mặt trời không bao giờ lặn trên quốc kỳ của họ, vì họ có tiền đồn cũng như thuộc địa khắp năm châu bốn bể.  Thế kỷ 20 chứng kiến thêm những phương tiện mau hơn, lớn hơn, và đi xa hơn. Trên đất, Henry Ford, dung cao su, thép và dầu hỏa để sáng chế ra xe hơi. Tốc độ xe hơi nhanh gấp mười lần xe bò, ngay từ lúc đầu. Rồi tới xe lửa, nối liền lục địa Mỹ vào năm 1869. Trước đó, đi từ New York qua San Francisco bằng ngựa mất ít nhất ba tuần, bằng xe bò ít nhất vài tháng, bằng xe lửa chỉ mất một tuần.  Thế chiến thứ nhất (1914-1918) chứng kiến xe tăng và máy bay. Thế chiến thứ hai (1939-1945) tiến bộ hơn với tầu ngầm và tầu sân bay, đưa máy bay sang tận gần đất địch; tên lửa không người lái,v.v.   Sau hai thế chiến là thời đại vàng son của giao thông: xăng rất rẻ;(2) các sáng chế trong chiến tranh được đem áp dụng vào cuộc sống, và ta có máy bay dân sự nối liền năm châu, tầu thủy, tầu chở hàng, và văn minh nhất là đưa người lên cung trăng rồi đưa họ trở lại an toàn.(3)  Nhìn kết quả thì thật là hoành tráng; nhưng nhìn kỹ thì các phát minh này chỉ trong vòng chưa tới 300 năm. Do đó, cái gọi là văn hóa giao thông cũng là một hiện tượng, một phát minh khá mới của loài người.     Có “Văn hóa giao thông” không?  Đương nhiên là phải có.  Chim bay cũng theo một hệ thống. Rất ít khi nào hai con chim đụng vào nhau ở trên trời. Loài dơi, thường bay vào buổi tối từ các hang động và bay từng đoàn, còn phát ra tín hiệu như radar để vừa tránh nhau vừa tránh các chướng ngại trên đường bay.  Cá lội cũng theo một trật tự rõ ràng. Có khi nào hai con cá đụng nhau đến xưng đầu lên không? Nhiều loại cá sống theo từng đoàn lớn, tương tự như cả một làng đông người, nhưng chúng bơi tuy sát nhau mà vẫn thoải mái không khi nào đụng nhau.   Con người cũng vậy, tuy là chúng ta chỉ mới phát minh ra văn hóa này. Trong một thời gian rất dài, tổ tiên chúng ta chỉ biết có đi bộ, như đã nói ở phần đầu. Nhưng từ khi có ôtô, và con người ngày càng di động, chúng ta chen chúc nhau trên lộ giới vào các giờ cao điểm, con người cũng phải nghĩ ra phương cách để giao thông hiệu quả hơn. Nghĩa là chúng ta đi đến nơi, về đến chốn trong một thời gian ngắn nhất và an toàn nhất.  Vài định luật chung: Đầu tiên là chia con đường thành hai phần, dành cho hai hướng đi ngược nhau. Trừ một số quốc gia chịu ảnh hưởng của Anh quốc, hầu hết các nước trên thế giới đồng ý là mỗi bên đi về hướng tay phải của mình. (Năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiếc “Cầu Vàng” (Golden Gate) ở San Francisco đã chứng minh hùng hồn luật căn bàn này.)(4)  Khi hai con đường gặp nhau: ai nhường ai? Ai ưu tiên đi trước? Hầu hết các nơi trên thế giới đều ưu tiên cho xe đi thẳng ở một ngã tư, sau đó các xe quẹo trái mới có thể an toàn tiến hành. Khi càng nhiều xe thì giới chức lập ra hệ thống đèn ba mầu: xanh, vàng, đỏ như ta đang dùng hiện nay. Ở những ngã tư quá nhiều xe, chúng ta còn thêm mũi tên xanh dành riêng cho các xe quẹo trái và mới đây nhất, còn có đồng hồ báo cho người lái xe có bao nhiêu giây nữa để sử dụng.  Rồi tới tốc độ. Đầu thế kỷ 20, còn tương đối ít xe và xe còn chạy chậm, tốc độ chưa phải là vấn đề quan trọng lắm. Nhưng khi xe đạt tới hàng trăm cây số một giờ, chính quyền các đô thị phải hạn chế tốc độ trong những khu vực hoặc giờ nhậy cảm. Bây giờ thì gần như khắp nơi đều có tốc độ tối đa, tùy theo hoàn cảnh, và có khi còn đặt thêm tốc độ tối thiểu nữa, để giao thông trôi chảy hơn.  Khi các “xa lộ” xuất hiện, khuynh hướng chung là dành những đường cao tốc này cho các xe lớn và nhanh hơn; nhiều nơi chỉ dành cho xe bốn bánh trở lên. Mục đích là để giao thông trên các lộ này tiến hành mau hơn. Cứ tưởng tượng, nếu quốc lộ 1A ở Việt Nam chỉ dành cho xe bốn bánh, chúng ta có thể cắt thời gian tải trái cây từ Cần Thơ tới Chợ Đồng Xuân ở Hà Nội được hơn một nửa thời gian hiện nay.  Luật lệ có phải là văn hóa?  Đây là câu hỏi cốt lõi của vấn đề.Và câu trả lời là KHÔNG.  Luật lệ, tinh vi đến mấy đi nữa, chỉ là phương tiện. Chúng phải được thi hành nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm của mọi người thì mới thành “văn hóa giao thông” được. Không cần phải nói nhiều, bất cứ ai sống ở Việt Nam cũng đều nhận ra rằng chúng ta chưa có văn hóa giao thông; hoặc nếu có ở một thời điểm nào đó, thì ngày nay cũng đã mất từ lâu rồi.  Đến đây, không phải là vọng ngoại, nhưng tôi muốn dùng một xã hội tương đối là có văn hóa giao thông, nước Mỹ nơi tôi sống hơn 40 năm, để làm rõ hơn cái thiếu văn hóa giao thông ở Việt Nam, nơi tôi lớn lên và đang sống từ gần 4 năm nay.  Đầu tiên là tư duy. Như tất cả mọi xã hội đương đại, chúng ta quá đông nên phải có những cơ cấu bất đắc dĩ để giữ trật tự chung trong xã hội. Không mấy ai thích công an, nhất là khi công an mang vũ khí, nhưng chúng ta chấp nhận là xã hội nào cũng có những phần tử xấu, lợi dùng lòng tốt hay tính dễ tin của đồng loại để trục lợi. Do đó phải có cảnh sát, công an để giữ an ninh, trật tự cho mọi người. Và cũng vì xã hội ngày càng phức tạp nên ta mới có những đội phòng cháy, chữa cháy; mới có bảo hiểm y tế, nhân thọ, xe cộ, nhà ở, tài sản, v.v.; mới có các loại thuế, các nhà tù, các xe rác, v.v.  Giao thông cũng vậy. Ta có gần như đủ luật về giao thông; nhưng cái khác giữa Mỹ và Việt Nam là ở Mỹ, đa số dân chúng xem việc tuân hành luật giao thông  là một nghĩa vụ chung nhưng có lợi ích cho chính cá nhân mình. Tư duy này được dạy từ tấm bé và các bậc phụ huynh đa số cũng tuân thủ nghiêm túc nên các em nhỏ đã hiểu được rằng khi mọi người chấp hành đúng luật thì mọi ngươì đều an toàn. Đến ngã tư đèn đỏ chẳng hạn, người gặp đèn đỏ tự động dừng lại, nhường đường cho người có đèn xanh; và khi đèn đổi màu, người đã chờ lại được ưu tiên. Và như vậy tránh kẹt đường ở mỗi ngã tư cũng như ít khi xẩy ra tai nạn.  Ở Việt Nam ta thì hầu như ta có tư duy ngược lại: mỗi tấc đất là tấc vàng phải tranh thủ cho bằng được; mỗi giây tiết kiệm được làm cho ta hãnh diện về “tài lái xe” của mình; người nào “khôn” thì vượt đèn đỏ thoải mái mà không bị tuýt còi; lái xe lên lề đường là “quyền” của chủ xe; và đi ngược chiều giao thông  là chuyện tự nhiên vì các xe khác sẽ tìm cách tránh mình. Nghĩa là chúng ta không đặt quyền lợi chung (trong đó có cả quyền lợi của chính mình) lên hàng đầu, và chỉ nghĩ tới làm sao ta đi xuôi lọt là xong. Ai chết mặc ai. Nhiều người còn lấy làm hãnh diện vì người Việt còn giữ một thái độ coi thường luật pháp, khinh chê công an GT, và coi những ai tuân hành luật pháp là “ngây thơ” hay “dại dột.” Hoặc dùng một từ hơi cũ chúng tôi thường nói thời trước 75 là “cù lần.”  Từ cái tư duy coi thường luật pháp này, ta mới có hiện tượng quái gở về giao thông  ở Việt Nam: không ai nhường ai bao giờ. Đã bao lần quí bạn thấy xe cứu thương, cứu hộ, chữa cháy cũng bị kẹt trong làn giao thông  vì không ai tránh ra, nhường đường cho xe cấp cứu? Và nếu chúng ta tự nghĩ một ngày nào đó, chẳng may ta ở bên trong cái xe cứu thương đó thì sao. Liệu ta có tới Phòng Cấp Cứu kịp thời không, hay là chết giữa đường? Tôn trọng luật pháp có lợi không những cho cộng đồng mà còn cho chính bản thân ta nữa.  Khác biệt thứ hai có lẽ giới hữu trách mang phần lớn trách nhiệm: thi hành luật pháp không nghiêm túc; từ đó sinh ra lờn mặt, coi thường nhân viên công lực, và nhất là tham nhũng.  Không ai phủ nhận là ở Mỹ vẫn có những cảnh sát “bẩn”, lợi dùng chức quyền của mình để làm tội ác; nhưng tỉ lệ không đến nỗi tràn lan như ở nước ta. Trước hết, luật pháp Mỹ bảo vệ những quyền lợi căn bản của mỗi người dân: cảnh sát có quyền tuýt còi và cáo buộc họ vi phạm luật GT, nhưng người dân cũng có quyền đòi ra tòa công khai để chứng minh mình không sai phạm. Và không bị cảnh sát trả thù.   Hơn nữa, lương của CSGT ở Mỹ đủ sống, nên áp lực vòi tiền của dân không cao lắm.Ở nước ta, có những địa phương cho phép CSGT chia số tiền phạt với chính quyền, mặc nhiên đã chính thức hóa tham nhũng. Ban Nội chính của Việt Nam đã công bố một kết quả khảo sát, theo đó CSGT nằm trong nhóm tham nhũng phổ biến nhất. (5)   Cách đây không đầy một tháng, khi chất vấn ông bộ trưởng Giao thông-Vận tải, bà Lê Thị Nga, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội bầy tỏ ngạc nhiên khi thấy ông cục trưởng Cục CSGT đường bộ, đường sắt nói rằng “nhận của lái xe, nhận của người tham gia giao thông  dăm ba chục, một vài trăm mà nói là tham nhũng thì không thỏa đáng.”(6)  Bà còn đặt thêm câu hỏi: “Tại sao một xe quá tải chạy từ Nam ra Bắc trước dày đặc các trạm, chốt cảnh sát giao thông (CSGT), thanh tra giao thông mà vẫn chạy từ điểm đầu đến điểm cuối được?”(6)  Vậy nếu tham nhũng tràn lan, như đa số dân Việt hiện nay chứng kiến, thì làm sao bắt họ tôn trọng luật pháp vì lợi ích chung?  Chỉ hai khác biệt trên — tư duy và tham nhũng — đủ cho chúng ta thấy người Việt ta còn phải tranh đấu một đoạn đường dài nữa mới bắt kịp xã hội bên ngoài. Ngay cả những nước lân cận như Lào, Thái chẳng hạn; có nhiều người Việt sang Lào về cứ tấm tắc khen ngợi cái “văn hóa giao thông” của người Lào. Không phải “phú quí mới sinh lễ nghĩa”; cốt lõi vấn đề là tư duy và tham nhũng.    Giao thông trên mặt nước   Nước Việt ta chi chít sông rạch và một bờ biển suốt chiều dọc đất nước. Ngoài hơn 3,000 cây số bờ biển, ông bộ trưởng GT-VT mới cho biết hồi đầu tháng tám là:  “Cả nước có hơn 80,500 km sông, kênh, rạch, trong đó có gần 42,000 km có hoạt động giao thông vận tải nhưng mới quản lý được hơn 19,000 km (chiếm tỷ lệ 45%).” (7)  Trong khi đó, các phương tiện giao thông  trên mặt nước ngày càng gia tăng và trọng tải cũng tăng, theo nhận định của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:   “Phương tiện có trọng tải từ 200-1.000 tấn chiếm tỷ lệ chủ yếu, cá biệt có loại đến 2.000 tấn, nhưng lại trang bị rất thô sơ, thiếu thiết bị hỗ trợ hành trình như thông tin liên lạc, máy đo sâu, hải bàn, ra đa, thiết bị định vị…”(7)  Nếu giao thông  trên bộ ở Việt Nam còn thiếu văn hóa, tuy đã có cơ chế và nhiều luật lệ, thì giao thông  trên mặt nước còn sơ đẳng hơn nhiều. Cho tới khoảng 50 năm trở lại đây, thuyền bè còn tương đối ít hơn nhiều so với xe cộ trên đất, nên ít ai thấy cần phải có luật lệ GT. Cho đến nay, chúng ta cũng còn rất ít qui chế cho giao thông  trên mặt nước.  Khi xẩy ra tai nạn mới đây ở Cần Giờ, báo chí mới phát hiện ra là chúng ta còn thiếu nhiều luật về giao thông trên mặt nước.   Nhân buổi hội nghị sơ kết ba năm thực hiện cuộc vận động xây dựng phong trào”Văn hóa giao thông vì sự bình yên sông nước” ở Nha Trang, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, phó chủ tịch thường trực Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tiết lộ:  “Theo thống kê, cả nước có trên 1,000 tàu cao tốc chở khách. … Tuổi bình quân tàu cao tốc Việt Nam khá cao, có hai phương tiện trên 30 năm, hơn 20 phương tiện tuổi quá 25 năm, còn lại từ 20 năm trở xuống. Nhưng bất cập là trong các qui định hiện hành ở Việt Nam chưa có qui định nào về tuổi, niên hạn sử dụng tàu cao tốc.  Vấn đề thứ hai là có nên hạn chế tốc độ tàu cao tốc trên sông không?Bây giờ ta chưa có qui định nào. …  Thứ ba, chúng ta nói nhiều về an toàn phương tiện nhưng lại thiếu quan tâm đến an toàn hạ tầng giao thông  đường thủy, chưa có qui định nào về việc này cả. …Chúng ta cũng đang thiếu rất nhiều biển cảnh báo luồng lạch nguy hiểm trên các đường thủy nội địa..” (8)  Ngay cả người sử dụng giao thông  đường thủy cũng thiếu cảnh giác về an toàn. Hai phóng viên Ngọc Ẩn và Quang Khải của báo Tuổi Trẻ tường thuật ngày 10-8-2013 trên chuyến đò ngang sông Sài Gòn rằng:  “Trên đò lúc nào cũng có ít nhất ba nhân viên phát áo phao cho hành khách. Tuy nhiên không phải hành khách nào cũng chịu mặc áo phao… Có hành khách nhất định không chịu cầm áo phao, khi nhân viên nhắc nhớ thì cự cãi, dẫn đến suýt ẩu đả.”(9)  Ngay tại ĐBSCL đây, mỗi ngày có hàng chục ngàn du khách dùng thuyền đi tham quan, đi chợ nổi, hoặc đi lại trong những vùng không có cầu, đường… Thế nhưng, áo phao còn là một cái gì xa lạ với cả nhân viên lẫn khách hàng. Các tours du lịch phần lớn cũng phớt lờ. Vì miếng cơm manh áo, mỗi ngày có bao nhiêu người lái đò và công ty du lịch đặt lợi nhuận hoặc kế sinh nhai lên trên sự an toàn của những người đặt niềm tin vào dịch vụ của họ, không những là du khách trong và ngoài nước mà còn những học sinh đi học, các bà nội trợ đi chợ, các người buôn bán lớn nhỏ? (10)     Vậy ta phải làm gì ở thời điểm này?  Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng rằng cái đầu chỉ huy tất cả, từ bản thân mỗi người cho tới toàn xã hội. Do đó, tư duy là cái chúng ta phải thay đổi đầu tiên, và thay đổi ngay. Phải bắt đầu ngay tại mỗi gia đình, khi các em còn nhỏ xíu.Bố mẹ nào cũng dạy cho con biết vâng lời, biết lễ phép… nên chắc cũng không có gì khó nếu ta dạy thêm cho các em tinh thần cộng đồng và thượng tôn luật pháp. Sau này rất có thể các em sẽ tranh đấu để đòi thay đổi luật pháp, nhưng ở những năm 2 – 5 tuổi, hầu như chưa có bé nào đủ bản lĩnh để đòi xã hội phải thay đổi.   Và nếu bố mẹ dạy con như vậy thì chính họ cũng phải hành xử tương tự. Thế là chúng ta đã bắt đầu thay đổi tư duy giao thông  ở Việt Nam rồi. Và như vết dầu loang trên mặt nước, những người thi hành luật giao thông  nghiêm chỉnh sẽ là những người có lý do để hãnh diện với chính mình, với gia đình mình, và với cộng đồng mình. Họ sẽ là những người khôn ngoan chứ không phải “ngây thơ” hay “dại dột.”  Khâu thứ hai là thuộc về nhà nước và gồm “củ cà rốt và cây gậy”: phải điều chỉnh lương cho CSGT đủ nuôi gia đình đồng thời phạt rất nghiêm bất cứ ai ăn hối lộ. Chỉ khi nào người dân thấy CSGT làm việc nghiêm chỉnh, trong sáng, và sạch sẽ thì họ mới thấy cần phải tuân theo luật. Điểm này, ông Lý Quang Diệu đã chứng minh khá rõ ràng ở Singapore. Tưởng cũng nên nhắc lại Singapore là một nước rất mới — lập quốc năm 1965 – nhưng về văn hóa giao thông  và giáo dục nói chung thì đã bỏ xa cái mảnh đất 4,000 năm văn hiến này.  Khi các em đến tuổi tham gia GT, gia đình và nhà trường phải cộng tác để dậy các em về văn hóa giao thông  đồng thời kiểm soát cách các em sử dụng xe đạp, rồi lên tới xe máy, và biết đâu cả xe hơi nữa. Từ những luật căn bản như đi bên tay phải, ngừng ở đèn đỏ, không đi ngược chiều GT, … cho đến một qui luật chung cho GT: khi không có đèn hoặc ưu tiên cho bên nào, phương tiện lớn nhường phương tiện nhỏ hơn.  Áp dụng qui luật chung này, người đi bộ trẻ và khỏe sẽ nhường đường, nhường ghế, mở cửa… cho người khuyết tật, người già yếu, phụ nữ mang thai, trẻ em… người đi xe đạp sẽ nhường cho người đi bộ … người đi xe máy sẽ nhường cho người đi xe đạp… người đi xe hơi sẽ nhường cho người đi xe máy… xe tải sẽ nhường cho xe hơi…. v.v. Chỉ trừ xe lửa: vì đường rầy dành riêng cho xe lửa và loại phương tiện này không dễ dừng lại, nên mọi người, mọi xe đều phải nhường cho xe lửa.  —  * Giám đốc, Chương trình Giáo dục tổng quát, ĐH Hoa Sen, TP HCM  (1)    Eleanor Jane Sterling, Martha Maud Hurley và Lê Đức Minh: “Vietnam: A Natural History”, Yale University Press, 2006, pp. 24-25  (2)    Tôi mua chiếc xe (cũ) đầu tiên vào năm 1972 ở Mỹ. Giá xăng lúc đó là 25 xu một gallon (gần 4 lít) nghĩa là xăng rẻ như Coca Cola. Sau khi OPEC gây khủng hoảng toàn cầu về dầu hỏa năm 1973, cơ quan tình báo CIA tiên đoán là giá xăng sẽ tang lên gấp 4 lần. Đa số dân chúng không tin là sẽ đắt như vậy. Mùa hè năm nay, giá xăng ở California là gần 4 đô la một gallon, cũng xấp xỉ giá xăng ở Việt Nam.  (3)    July 20, 1969  (4)    Golden Gate là chiếc cầu treo với hai trụ ở hai đầu cầu. Hôm lễ kỷ niệm, lần đầu tiên cơ quan quản lý cầu mở cho người bộ hành trong lòng cầu, nhưng họ không nghĩ đến luật căn bản là phải đi bên tay mặt. Khi hai nhóm từ hai bên cầu gặp nhau ở giữa cầu; tất cả bế tắc vì không có lối tránh nhau. Mà người từ phía sau vẫn ùn ùn kéo thêm vào, tăng sức ép ở giữa cầu. Rốt cuộc, những người ở giữa cầu phải ném xe đạp, xe trẻ em, và những gì không cần thiết xuống nước. Rất may là không có ai mất mạng hôm đó.   (5)    10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất   Dân Trí, 30/11/2005 – Vương Hà  http://dantri.com.vn/xa-hoi/10-co-quan-tham-nhung-pho-bien-nhat-90860.htm  (6)    Tiêu cực làm tai nạn giao thông thêm nghiêm trọng   Tuổi Trẻ, 31/08/2013, T. Phùng  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/566486/tieu-cuc-lam-tai-nan-giao-thong-them-nghiem-trong%C2%A0.html#ad-image-0  (7)    Chỉ kiểm soát được 45% giao thông đường thủy  Tuổi Trẻ, 13/08/2013, Lê Kiên  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/563490/chi%CC%89-kie%CC%89m-soa%CC%81t-duo%CC%A3c-45-giao-thong-duong-thuy.html  (8)     Nhiều lỗ hổng trong quản lý đường thủy      Tuổi Trẻ, 10-8-2013 — Duy Thanh  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/563024/nhieu-lo-hong-trong-quan-ly-duong-thuy.html#ad-image-0  (9)    TP.HCM: người dân chưa tự giác mặc áo phao  10/08/2013     —    Ngọc Ẩn – Quang Khải  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/563025/tp-hcm-nguoi-dan-chua-tu-giac-mac-ao-phao.html  (10)    Hiểm họa trong du lịch sông nước miền Tây  Nhóm phóng viên từ VN, Radio Free Asia, 30-8-2013   https://achautudo.info/b/http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/safety-negligence-in-mekong-tourism-08302013084835.html    Author                Quản trị        
0.38095238095238093
__label__tiasang   Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về vốn xã hội      Với việc nước ta gia nhập vào WTO, hành trình của dân tộc ta đang ở một bước ngoặt. Đây không chỉ là chuyện thương mại sẽ phải đương đầu với “giá rẻ của sản phẩm bắn thủng mọi thành lũy” mà C.Mác từng chỉ ra. Đương nhiên cũng có chuyện đó. Chẳng hạn, từ 1.1.2007 các doanh nghiệp Mỹ được quyền mở rộng công ty liên doanh bán lẻ tại Việt Nam và hai năm sau được phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ với 100% vốn nước ngoài. Nếu không có sự chuyển đổi quyết liệt kết cấu hạ tầng thương mại còn quá lạc hậu của ta hiện nay với sự thiếu đồng bộ, thiếu tính liên kết, thì thời cơ chưa thấy đã thấy sự thách đố gay gắt. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, sự thách đố đó không chỉ là thách đố của kinh nghiệm trên thương trường mà là sự thách đố đối với bản lĩnh của cả dân tộc.    Nói bước ngoặt là nói đến sự thách đố đó. Thách đố của kinh nghiệm lèo lái con thuyền trên sông rạch, nay đã đến quãng nước lợ ở cửa sông, pha vị mặn của biển. Đã đến lúc phải căng buồm lên đón gió đại dương để giong thuyền ra khơi giữa muôn trùng sóng lớn, chấp nhận một “cuộc chơi” mới mà kinh nghiệm cũ, tri thức cũ xem ra không còn đủ nữa. Trong “cuộc chơi” này, ai thông minh sáng suốt thì được nhiều hơn mất, ai dại khờ thì mất nhiều hơn được, có thể “được–mất” rất to nhưng hầu như không thể “được hết” hoặc “mất hết”. Chỉ có một tình huống chắc chắn là mất hết, đó là khi co mình lại, đóng cửa vào, neo thuyền lại cho “an toàn”, khước từ hội nhập. May thay, chúng ta đã vượt qua cái cửa ải khó khăn này mà có lúc do chính chúng ta gây nên.  Cánh cửa WTO đã mở để chúng ta chủ động bước vào.  Chủ động, đó là bản lĩnh của nguời biết mình, biết ta. Chủ động để bình tĩnh trong nhận định và phân tích tình hình một cách nghiêm cẩn, không tự thị mà cũng chẳng tự ti. Vừa tự tin để có bản lĩnh dấn thân nhưng lại vừa thật lòng khiêm tốn học hỏi người để hạn chế sự thiếu kinh nghiệm, thiếu hiểu biết của mình. Đây là điều không thể khác vì hội nhập kinh tế quốc tế là một “cuộc chiến” đang diễn ra gay gắt và phức tạp với nhiều trận đánh, trong mỗi trận đánh ấy, sự sắp xếp lực lượng hai bên rất có thể là khác nhau. Hoàn toàn không loại trừ khả năng chính đồng minh trong trận này có thể là đối thủ trong trận sau. Trong quá trình ấy, quan hệ đối tác hợp tác và quan hệ đối phương tranh chấp đan xen nhau, sự cạnh tranh trên đại thể, được nhìn nhận là động lực đặc trưng mạnh nhất của kinh tế thị trường toàn cầu hiện đại, thì trong cụ thể,  có thể có tính chất lành mạnh trong trường hợp này, lại cũng có thể có tính không lành mạnh trong trường hợp khác. Chính ở đây, bản lĩnh được thể hiện.  Phải trên quan điểm đó mà bàn về “vốn xã hội”. Vì nói đến vốn xã hội, thực chất là nói đến con người, nguồn lực quyết định của phát triển. Con người trong mối tương tác với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Mối tương tác đó chịu sự tác động của hệ thống quản lý. Hệ thống quản lý ấy đang thúc đẩy hay đang kìm hãm tính năng động của con người. Và tính năng động của từng con người tạo nên tính năng động xã hội, thúc đẩy sự phát triển. Ấy thế mà, không có con người chung chung, “con người” luôn luôn là “con người này” theo cách nói của Hégel, tức là con người, trong một khung cảnh xã hội  nhất định đang chịu sự tác động, sự chi phối của một hệ thống quản lý  nhất định. Vì thế, vốn xã hội chịu sự quy định của cả ba yếu tố cơ bản đó.      Xin nêu mấy vấn đề sau:     1. Thế kỷ chúng ta đang sống là thế kỷ mà vai trò cá nhân con người  được khẳng định cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ gắn liền với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức. Khoa học và công nghệ thực sự đã trở thành sức sản xuất trực tiếp, chẳng những thế, hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm sẽ ngày càng giữ vai trò hơn hẳn các nhân tố về tư liệu sản xuất, tiền vốn, nguyên liệu. Chính vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động là phẩm chất hàng đầu của con người sống trong thời đại của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục””.1  Để có những con người như vậy, phải xác định thật rõ cuộc cách mạng về thông tin, về khoa học và công nghệ trước hết là “cuộc cách mạng về các quan niệm“.2 Trong “cuộc cách mạng về các quan niệm” đó, có quan niệm về nguồn lực con người, về chất xám và hàm lượng của nó trong sản phẩm kinh tế có ý nghĩa quyết định. Vốn xã hội nằm ở đây. Nói như thế chỉ cốt lưu ý đến nét đặc thù do thời đại mang lại chứ thật ra, trong tiến trình lịch sử, thì từ khi có xã hội loài người cho đến nay, có bao giờ mà con người không là nhân tố quyết định của sự phát triển của nền văn minh qua các thời đại? Dẫn ra những ý trên để làm điểm tựa trong suy ngẫm về vốn xã hội: ba mươi năm sau chiến tranh, đặc biệt là hơn 20 năm Đổi mới, bên cạnh những thành tựu kinh tế tương đối rõ nét, thì hai lĩnh vực yếu kém nhất, cũng là lạc hậu nhất của đất nước ta là văn hóa, giáo dục và khoa học, công nghệ! Hai lĩnh vực này lại là chìa khóa của phát triển, trực tiếp quyết định nguồn lực con người của phát triển “những con người có giáo dục”. Thấy cho kỹ, cho sâu vấn đề này không dễ.  Đúng là “có thực mới vực được đạo”. Không có những tiến bộ về kinh tế, không vượt qua được “cái ngưỡng” của mức nghèo khổ phản ánh qua chỉ số GDP đầu người, thì cũng khó mà nói đến phát triển trong ý nghĩa đích thực của nó. Thế nhưng, bứt lên về kinh tế tuy đã hết sức gay go, song sẽ khó hơn nhiều là bứt lên về văn hóa, vì rằng“ giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất, cái mùi, cái vị, cái hương, cái thơ của đời sống, đó là giá trị văn hóa, giá trị tinh thần” – một cách diễn đạt rất hay của Phạm Văn Đồng. Cho nên, “Người ta không chỉ sống bằng bánh mì”, tiếng nói đó cất lên ở Liên Xô trong thời kỳ còn là hình mẫu cho một “xã hội mơ ước” của chúng ta. Thế rồi, tất nhiên thôi, tác giả  của cuốn sách với tên gọi đó đã bị đòn hội chợ, “thân bại danh liệt” vì bị kết tội là “mơ hồ trong quan điểm”, là sự “phản bội lại lý tưởng của nhân dân” bởi chính nội dung của cuốn sách là hé lộ ra một sự thật vốn được giấu kín trong cái vỏ quyền uy đáng sợ của “chuyên chính vô sản”. Cái sự thật được nói lên có phần còn rụt rè, e ngại nhưng không kém phần dũng cảm đó, rồi sẽ là một trong những nguyên nhân cơ bản đẩy tới sự sụp đổ  của một chế độ được xây dựng hơn 70 năm.  “Bánh mì” thì lúc ấy Liên Xô không thiếu. Người ta còn đủ lực để đưa con người Xô Viết vào vũ trụ trước Mỹ. Nhưng dân chủ và tự do thì thiếu, rất thiếu. Một xã hội mà con người chỉ được nhìn theo một hướng, nghĩ theo một cách, làm theo một mệnh lệnh, không được quyền sống thật, nói thật, là một xã hội  không được xây trên một nền móng đích thực. Nói “lâu đài xây trên cát” thì thật tàn nhẫn, vì đâu phải là cát, mà là núi xương, sông máu đấy chứ, song đau đớn thay, hình ảnh ấy tuy tàn nhẫn song có cái hạt nhân duy lý của nó. Vì rằng, khi lâu đài đó sụp, tuyệt đại bộ phận dân chúng dửng dưng, kể cả những người vốn được xem là trung kiên, nòng cốt cũng đứng nhìn chứ không ghé lưng vào chống đỡ. Đương nhiên, cùng với nguyên nhân sâu xa nói trên, sự thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp kéo dài đã đưa tới sự trói buộc, kìm hãm sức sản xuất, năng suất lao động ngày càng giảm, khoa học công nghệ không theo kịp bước phát triển thế giới đã đẩy nền kinh tế Xô Viết đến bờ vực. Trọng bệnh bên trong đã làm suy yếu nội tạng, khiến không còn sức chống đỡ với sự tấn công từ bên ngoài bấy lâu phục sẵn, chờ dịp. Đây là sự kiện dữ dội kết thúc thế kỷ XX, một thế kỷ “ngang ngạnh và bướng bỉnh” với biết bao nhiêu sự biến, tráng lệ huy hoàng có, khốc liệt và khủng khiếp có. Phải nhìn vào bình diện văn hóa, vào đời sống tinh thần để nhận diện cho đúng những sự kiện kinh tế và thể chế.  Tác giả của câu nói về văn hóa đã dẫn ở trên, Phạm Văn Đồng đã từng tinh tế, tuy vẫn còn dè dặt và thận trọng gợi lên một dự cảm “đến một lúc nào đó người ta sẽ nói đời cần thơ hơn cần cơm”. Rồi ông đã chọn lấy một câu của chính M.Gorki , “nhà văn thời thượng” của thời đoạn ấy, để gợi lên với văn nghệ sĩ từ những năm 1962, lúc mà sự cực đoan, quá khích đã cứ muốn dìm chết cá nhân đi liền “chủ nghĩa cá nhân”: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, hãy săn sóc làm sao cho nó phát triển tự do. Lúc một người không có cái gì là riêng của mình. Thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết”3. Bước vào thế kỷ XXI, với vai trò cá nhân được khẳng định, được đề cao gắn liền với nền văn minh trí tuệ, ý tưởng đó cùng với sự kiện dữ dội nói trên càng gợi lên nhiều điều để suy ngẫm về cái vốn xã hội.  Thì ra, cá nhân xem ra chẳng là gì trước cái mênh mông biển người trong xã hội, thế nhưng, vốn xã hội không nằm đâu khác ngoài những cá nhân đó. Vả chăng, như C.Mác khẳng định “Điều kiện đầu tiên của mọi lịch sử loài người dĩ nhiên là sự tồn tại của những con người sống”! Mà lịch sử, xét đến cùng là sự vận động trong thế tương quan giữa những lực lượng để tìm ra một véctơ đường chéo hình bình hành vạch ra con đường phát triển của nó. Những “lực lượng” ấy không có gì khác, là những cá nhân hợp thành. Mỗi cá nhân hành động theo những mục đích riêng tư không ai giống ai, với những năng lực, trình độ, bản lĩnh cũng hết sức khác nhau. Tất cả những cái khác nhau đó đụng độ, va đập, triệt tiêu lẫn nhau đồng thời bổ sung cho nhau hợp thành một véctơ lực đẩy sự phát triển đi tới không gì cản lại được của xã hội. Vì đó là sự sống. Dòng chảy của cuộc sống là liên tục không gì có thể ngăn chặn. Lực cản chỉ có thể làm chậm lại. Nhưng rồi sự sống vẫn phải tự khơi thông dòng chảy cho chính nó. Vốn xã hội nằm trong dòng chảy liên tục đó. Vì thế, nếu mỗi cá nhân được vận động và phát triển theo đúng cái mà nó có thì vốn xã hội sẽ được bồi đắp. Lưu thông, chu chuyển cũng là sự bồi đắp, tăng trưởng.   Nhưng nếu mỗi cá nhân bị thui chột đi bởi sự áp đặt về cách nghĩ, cách cảm, bởi sự độc quyền, chuyên chế bóp chết mọi tìm tòi, sáng tạo thì vốn xã hội cũng sẽ thui chột và tiêu tan. Khi bầu không khí trong đời sống tinh thần xã hội đỡ ngột ngạt, nhớ lại một thời đã qua, người ta mới rùng mình nghĩ lại thân phận “con sâu, cái kiến” mà cứ được khoác cho cái áo quá rộng, quá sặc sỡ của người làm chủ. Nhưng cũng đừng nghĩ rằng, cứ giải phóng cá nhân đi, thì tự khắc có phát triển.  Có thể có phát triển theo nghĩa những tiệm tiến nhỏ giọt, vì đó là sự vận động của cuộc sống. Nhưng, phát triển bền vững thì không. Bởi lẽ sâu xa là: Văn hóa không thể và không hề là “mì ăn liền”. Thoạt nhìn, cứ ngỡ như chúng ta có thể “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hướng tới một mục tiêu nào đó của một chương trình hành động, một chiến lược kinh tế xã hội nào đấy. Song bình tĩnh và nghiêm cẩn phân tích kỹ, sẽ thấy “nhanh và mạnh” thì trong một thời đoạn nào đấy là có thể. Nhưng, bền vững theo ý nghĩa chặt chẽ của nó thì không. Vì văn hóa chứ không phải kinh tế quyết định sự bền vững đó. Đây là bài học lớn mà loài người, bằng sự trải nghiệm của lịch sư, đã đúc kết được.   Có nhiều lý do, nhiều tác nhân phức tạp không thể kể hết. Song cơ bản nhất thì gạch non không xây nên được bức tường vững. Những cá nhân tạo nên hợp lực của véctơ đường chéo hình bình hành đẩy xã hội đi tới chưa được luyện đủ ngày, đủ tháng trong nhiệt độ cần có của ngọn lửa thời gian. Văn hóa của từng con người vốn được hun đúc nên từ sự chuẩn bị lâu dài của nhiều thế hệ. Mỗi cá nhân nhận lĩnh được của cha ông từ mối quan hệ di truyền, trong nguồn mạch của lịch sử theo cung cách “từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe” như Trịnh Công Sơn từng cảm nhận với sự nhạy cảm thiên tài của người nghệ sĩ.. Ấy vậy mà những tố chất di truyền và giáo dục, trong đó có giáo dục gia đình là hết sức quyết định. Ác một nỗi là chúng đều đòi hỏi điều kiện tiên quyết là thời gian! Mọi sự rút gọn, “đi tắt, đón đầu” trong chuyện này đều phải trả giá. Chỉ có điều, tức thời người ta chưa nhận ngay ra cái giá đó, mà cũng lại phải trải qua sự khảo nghiệm của thời gian. Sự hụt hẫng của nhân tài trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong bộ máy quản lý, trong đội ngũ lãnh đạo là cái giá phải trả của sự vội vã bởi sự mê hoặc của “đại nhảy vọt”, của “một ngày bằng hai mươi năm”, của “bổ túc văn hóa” chứ không là sự đào tạo có bài bản, nghiêm cẩn của một hệ thống giáo dục theo một quy trình chặt chẽ bắt buộc.  Thời gian, yếu tố nghiệt ngã của văn hóa, của vốn văn hóa, nền móng của sự phát triển. Xét đến cùng, văn hóa trước hết phải là sự phát triển của con người trong toàn bộ sự phong phú các mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh, trong tính toàn vẹn của sự tồn tại tích cực của con người. Đó không chỉ là các quan hệ hiện có mà còn là lịch sử của các quan hệ đó, tức là mối liên hệ với quá khứ, sự tiếp nhận những thành tựu của quá khứ, cũng như sự rũ bỏ những gánh nặng của quá khứ.   Chỉ có thể từ đấy mà suy ngẫm về vốn xã hội.     2. “Nền văn minh, đó là những con đường, những cảng và những bến cảng”. Ngẫm cho kỹ thì câu nói hàm súc mang chút dí dỏm pha ý vị triết lý ấy có cái lý của nó. Nhưng, còn con người? Ai đã làm nên những con đường, những cảng và bến cảng đó? Ai? Con người hiện diện trong cuộc sống, và rồi trong lịch sử như thế nào, khi bóng dáng của họ đã mờ phai, chỉ còn lại “những con đường, những cảng và bến cảng”? Phải chăng vì thế mà Arnold Toynbee thường xuyên dùng từ xã hội  (society) thay vào từ nền văn minh (civilization), còn Marcel Mausse thì cho rằng”khái niệm về nền văn minh chắc chắn là không rõ ràng bằng khái niệm về xã hội mà nó đề ra”. Có cái lý gì đây khi các học giả đó đặc biệt chú trọng đến khái niệm xã hội? Phải chăng họ muốn khuyến cáo phải chú ý đến con người, đến thân phận của con người, hạnh phúc của con người, cái mà con người nhận được và con người nhằm tới trên con đường họ đã đi, đang đi và sẽ đi.  Trên đất nước ta hôm nay, “những con đường”, rồi “những cảng và bến cảng” đang mọc ra hàng ngày. Những thành tựu kinh tế được hiện diện đậm nét trên từng trang báo. Hoạt động kinh tế đang giữ nhịp cho đời sống. Thế còn xã hội thì hiện diện ở đâu? Câu hỏi ấy cũng na ná như nỗi băn khoăn của Becton Brêcht “thế rồi hiệp thợ nề đi về đâu” khi nghĩ về bức “vạn lý trường thành”. Xã hội rất khái quát, nhưng xã hội cũng rất cụ thể. Quanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, các công trình đồ sộ và hiện đại, là các khu ổ chuột chật chội, nhem nhuốc các quán trọ, các chỗ tá túc của hàng nghìn công nhân mà xem ra xưa kia, những tường trình của Ph.Ăngghen trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” hay những miêu tả của M.Gorky trong “Người Mẹ” cũng không sáng sủa gì hơn! Những công nhân này đến từ đâu? Từ nông thôn, nông nghiệp. Họ là những nông dân buộc phải rời quê hương bản quán để tìm công ăn việc làm ở đô thị, nơi họ đã và đang gánh chịu thân phận những “phó thường dân” bị hành hạ bởi “cơ chế hộ khẩu” với 320 văn bản nhà nước “ăn theo” cái sổ hộ khẩu đó!  Phải rời quê hương bản quán vì sau đột phá “khoán”, nông thôn, nông nghiệp đã “cứu được một bàn thua trông thấy cho đô thị và công nghiệp” trước khủng hoảng trầm trọng kéo dài đẩy đất nước đứng bên bờ vực, để rồi hôm nay, tuy làm ra hạt gạo xuất khẩu đứng thứ nhì thế giới, đại bộ phận nông dân vẫn còn nghèo khổ. Nông thôn đất chật người đông, thừa người thiếu việc. Đất đã ít, lại phải dành cho công nghiệp hóa, đô thị hóa. Chuyển quỹ đất nông nghiệp cho công nghiệp, cho đô thị là cần thiết để phát triển, nhưng mượn cái bình phong quy hoạch và dự án để đem “quốc gia công thổ” ra chia chác cho nhau, chưa nói đến hàng chục ngàn hecta đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong các “quy hoạch treo”, “dự án treo” trong lúc nông dân không có đất sản xuất thì đó là tội ác.  Vì thế, vốn xã hội có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ sở hữu, mà quan trọng nhất là sở hữu kinh tế. Không giải quyết thật đúng đắn vấn đề này, không sao tạo ra được động lực xã hội. Không có động lực, thì vốn xã hội không sinh sôi nảy nở mà chỉ bị triệt tiêu dần. Sự phân tích kinh tế về sở hữu chỉ rõ sở hữu là quan hệ sản xuất, nhưng sở hữu cũng là thước đo của trình độ phát triển kinh tế, nó là tất yếu với trình độ đó và chỉ mất đi khi đã vượt lên một trình độ mới. Sở hữu là một tổ hợp các quyền về pháp lý cũng như về kinh tế, tổ hợp ấy có khả năng chia tách ra từng bộ phận. Khi nói về chế độ sở hữu, chí ít cũng phải nói đến bốn nhân tố quan trọng: nguồn gốc cuả sở hữu, mục đích của sở hữu, quyền sở hữu và nghĩa vụ của sở hữu. Vì không đặt đúng tầm mục đích của sở hữu mà chỉ chăm chăm nghĩ đến quyền sở hữu để khư khư giữ chịt lấy cái quyền sở hữu ấy, xem đó như là cứu cánh của chủ nghĩa xã hội. Cái lệch nặng nhất trong quan niệm về chế độ sở hữu là ở chỗ này. Và cũng từ cái lệch đó mà vốn xã hội bị xâm phạm nghiêm trọng. Rồi chính sự xâm phạm này đã ảnh hưởng nặng nề, làm mai một nguồn vốn xã hội. Vì quyền thường gắn với lợi, nên xu hướng người có quyền thường tìm mọi cách, thường là cách bất hợp pháp, để mở rộng nó ra, nhằm thu được nhiều lợi.   Điều phổ biến thường thấy là nhân danh quyền sở hữu toàn dân  hoặc sở hữu tập thể, nhưng thực chất là cá nhân đại diện cho cái quyền được mở quá rộng đó để thu lợi về cho mình hoặc cho phe nhóm cùng lợi ích. Cùng với việc mở rộng quyền một cách tùy tiện như vậy lại có những hạn chế quyền cũng tùy tiện không kém . Mà việc hạn chế đó thường rơi vào số đông dân cư, những người “thấp cổ bé họng”. Trong đó, chẳng hạn như chuyện người nông dân gặp khó khăn trong chuyển đổi mục đích sử dụng trên mảnh đất thuộc quyền của mình, hoặc những áp đặt không công bằng và thỏa đáng với nhiều khuất tất trong “đền bù giải tỏa”. Sự thao túng này là nguồn cơn của sự bất ổn định xã hội mà ngọn lửa âm ỉ là các vụ khiếu kiện cá nhân và tập thể ngày một nhiều. Chừng nào vấn đề sở hữu, đặc biệt là sở hữu đất đai, chưa được giải tỏa khỏi sự trì kéo của tư duy cũ, mô hình cũ đã tự chứng minh không còn lý do tồn tại, chừng ấy vốn xã hội còn thất thoát nặng.   Nhân bàn về “vốn xã hội”, xin nhắc lại sự kiện Thái Bình năm 1997. Tìm hiểu nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ xung đột xã hội ở nông thôn tại một nơi vốn là lá cờ đầu của hầu hết các lĩnh vực xây dựng và phát triển nông thôn của cả nước, một sự kiện khá điển hình, giúp làm sáng tỏ vấn đề “vốn xã hội”. Trước hết, xin gợi lại một vấn đề cứ tưởng như xưa cũ rồi: “Làng của Việt Nam tự quản lý lấy chính nó. Nhà nước không nên can thiệp vào công việc của làng, trừ phi làng không thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng thuế thân, thuế đất, đi phu, đi lính”4 . Tác giả của “La commune anammite”, P.Ory, đã từng lưu ý những nhà cai trị thực dân như vậy. Thế nhưng chúng ta thì lại quên. Các tổ chức tộc họ, phe giáp, phường hội… với những vai trò khác nhau phải lựa chọn cách ứng xử trước áp lực của lệ làng, của hương ước có khả năng dung hòa các quan hệ xã hội khác nhau, tạo nên đời sống tương đối ổn định của cái làng Việt Nam trong tính tự quản vốn có của nó. Những cái đó đã mất đi cùng với sự ra đời của một cách tổ chức xã hội mới sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, đặc biệt là sau 1954 ở Miền Bắc.  Cơ cấu xã hội ở nông thôn được hình thành trong quá trình hợp tác hóa đã đơn giản hóa đến mức tối đa, chỉ còn lại một bên là những nông dân với các hộ gia đình xã viên, bên kia là Ban Chủ nhiệm HTX, Đảng ủy, Ủy ban và các đoàn thể, bao gồm cả Mặt trận Tổ quốc đều đã được “nhà nước hóa”. Các hình thức tự quản vốn có hầu như bị xóa sạch. Không một lực lượng xã hội nào được tồn tại có tính tự trị, tự quản tương đối độc lập ngoài những đoàn thể tổ chức đã “nhà nước hóa” hay là những “cánh tay nối dài” của tổ chức Đảng cơ sở. Người ta đã không hiểu được rằng, khi phá vỡ tính tự trị của làng xã thì cũng đồng thời xóa mất tính trung hòa do sự chế ước và dung hợp của những quan hệ cộng đồng tạo nên. Bài học Thái Bình thường được phân tích là bài học về sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước và hệ thống chính trị ở nông thôn, nhưng còn một bài học nữa ít được phân tích, đó là bài học về tổ chức xã hội. Ở đây là tổ chức quyền lực và “xã hội dân sự” tại nông thôn. Không thấy rõ điều này sẽ là sự thất thoát lớn nguồn vốn xã hội có bề dày truyền thống của cộng đồng nông thôn. Và có lẽ cũng không chỉ nông thôn.  Đại hội X đặt vấn đề “Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”. Đó chính là nguyên lý của sự tạo dựng “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”. Nguyên lý đó nói rõ rằng “ quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi”. Nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước, để Nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý sự vận hành của xã hội. Làm sao để quyền của dân đã được trao ấy, các cơ quan, tổ chức được trao quyền, không được lạm quyền, không được tiếm quyền nhằm biến chúng thành đặc quyền để chỉ thủ lợi riêng cho cá nhân hoặc phe nhóm, đi ngược lại lợi ích của dân.  Ngoài quyền lực được trao cho Nhà nước, dân vẫn phải có quyền lực của mình, một biểu hiện của quyền lực đó là sự tự quản trong mọi hoạt động xã hội về chính trị, về kinh tế, về văn hóa giáo dục, về truyền thông đại chúng, thể dục thể thaov.v… mà không nhất thiết phải có bàn tay của Nhà nước nhúng vào. Đó là các “lĩnh vực tư” mà dân tự quản lấy bên cạnh “lĩnh vực công” do Nhà nước đảm nhiệm. Cả hai lĩnh vực này song hành với nhau, và cả hai đều đòi hỏi phải xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân. Không tạo dựng và hoàn thiện các tổ chức tự quản, các hoạt động của “xã hội dân sự”, sẽ làm thất thoát một nguồn vốn xã hội quan trọng.  Để làm rõ thêm ý này xin đưa thêm một thông tin. Gần đây, tổ chức “Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân” (CIVICUS) đã đưa ra một định nghĩa về “xã hội dân sự” như sau: XHDS là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”5. Đây cũng là một gợi ý mới để tìm hiểu về “vốn xã hội”. Theo đánh giá của CIVICUS thì 74% số công dân là thành viên tối thiểu một tổ chức, 62% là thành viên của từ 2 tổ chức, và tính bình quân mỗi công dân tham gia 2,3 tổ chức. Trong đó, nhóm hội viên lớn nhất thuộc về các tổ chức quần chúng, đoàn thể phụ nữ, tổ chức phúc lợi xã hội, các tổ chức cộng đồng địa phương, các tổ chức thể thao, vui chơi, giải trí, các tổ chức giáo dục, nghệ thuật, âm nhạc và các hội nghề nghiệp. Sự đánh giá này đúng đến đâu chắc còn cần phải trao đổi kỹ. Tuy nhiên, những thông tin nói trên đưa ra từ một cuộc khảo sát có bài bản cũng là một gợi ý tốt để nghĩ về cách phát huy nguồn vốn xã hội sắp tới gắn liền với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.     3. Từ hai vấn đề đã trình bày ở trên có thể kết luận rằng: có khai thác, phát huy được vốn ấy hay không là tùy thuộc vào hệ thống quản lý, đây là vấn đề nhạy cảm, nhưng không thể lẩn tránh trong tìm tòi khoa học. Dù diễn đạt khéo léo, tế nhị thế nào chăng nữa thì sự thật vẫn là: vốn xã hội của ta đang bị thất thoát nặng. Nguyên nhân có nhiều. Song nguyên nhân cơ bản nhất là sự yếu kém của hệ thống quản lý.  Chỉ xin gợi những ví dụ mà ai cũng biết:  *  Nhìn ở bình diện cá nhân: vẫn con người Việt Nam ấy, sao khi làm việc ở một cơ sở khoa học hay công nghệ hoặc công ty ở nước ngoài thì có thể phát huy được tài năng, song nếu trở về làm việc trong nước thì không được như thế, thậm chí lại bị mai một dần đi ?  ** Nhìn ở bình diện quốc gia: lấy xuất phát điểm của 1975, Hàn Quốc và nước ta suýt soát như nhau, thế nhưng sau 30 năm, bây giờ Hàn Quốc thế nào, ta thế nào? Nhìn vào nguồn lực con người của một đất nước, hãy so sánh Singapore và ta. Với diện tích và dân số, đảo quốc này chỉ suýt soát bằng tỉnh Thanh Hóa của ta, về tài nguyên khoáng sản có thể nói không có gì, họ chỉ có con người : 3 triệu người Singapore đã làm ra tổng sản lượng quốc nội (GDP) là 140 tỉ USD, gần gấp 3 lần của hơn 80 triệu người Việt Nam chúng ta. Nguyên nhân tại sao?  Có lẽ không thể tìm về khí hậu, đất đai, tài nguyên, sinh thái.., tuy nhiên, nếu có sự nghiên cứu công phu để chỉ ra những tác động của chúng đến con người, đến việc phát huy những mặt mạnh hay nuôi dưỡng những mặt yếu của con người Việt Nam chắc cũng có những đóng góp thú vị về tìm hiểu “vốn xã hội”.   Nhưng trước hết, nguyên nhân dễ thấy nhất, không phải nghiêu cứu gì nhiều, đó là hệ thống quản lý. Về điều này thì tốt nhất là dẫn ra đây nhận định của Đại hội X: “Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chậm làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành… Một bộ phận cán bộ đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ.”6  Vốn xã hội sẽ tiếp tục thất thoát nếu những vấn đề trên không được khắc phục, cũng có nghĩa cứ để sự yếu kém của hệ thống quản lý kéo dài thì sự tương tác giữa ba nhân tố : “con người, khung cảnh xã hội và hệ thống quản lý” tạo dựng nên nguồn lực xã hội sẽ bị suy thoái, vốn xã hội sẽ có nguy cơ giảm sút.     Tp Hồ Chí Minh ngày 10.6.2006        Chú thích :  1 và 2.Peter F.Drucker. “Post-Capitalist society” Harper Business 1993  3. Phạm Văn Đồng , “Tuyển tập văn học”. NXBVăn học.Hà Nội.1996,     4.. P.Ory “La commune anammite”, Challamel-Paris. 1894     5. “Đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam”. Báo cáo nghiên cứu, Dự án CIVICUS CSI-SAT     6.  Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXBCTQG. Hà Nội 2006  Tương Lai      Author                Quản trị        
0.38095238095238093
__label__tiasang   Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về vốn xã hội cho sự phát triển của Việt Nam      Vốn xã hội trở thành một đề tài đang ngày càng được quan tâm thảo luận một cách sôi nổi và đa dạng, đặc biệt là trong đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách. Trong bài tham luận này, tôi xin được tập trung làm rõ mấy vấn đế như nguyên nhân và sự cần thiết đưa ra nội dung vốn xã hội, những đặc điểm của vốn xã hội của Việt Nam, những giải pháp để phát triển vốn xã hội trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.    Nguyên nhân và Sự cần thiết của đề tài vốn xã hội  Vấn đề trước tiên là cùng phải nhìn lại, làm rõ, và thống nhất nguyên nhân và sự cần thiết của việc đặt ra đề tài vốn xã hội. Nếu không đặt lại vấn đề này một cách mạch lạc và nhất quán rất có thể chúng ta sẽ không rút ra được những kết luận và hành động hữu ích đằng sau đề tài vô cùng quan trọng này.Hẳn chúng ta đều có thể dễ dàng thống nhất rằng nguyên nhân và sự cần thiết đối với vốn xã hội là xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước một cách toàn diện và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vì thế, một yêu cầu bắt buộc chính là các khái niệm, phương pháp triển khai và sử dụng vốn xã hội phải phù hợp với Việt Nam và phải tương thích với yêu cầu thế giới; phải đảm bảo thiết thực cho sự phát triển của Việt Nam và thế giới. Trong sự phát triển của nhân loại nói chung và các cộng đồng, các quốc gia nói riêng có sự tồn tại, tích lũy và phát triển của các loại hình vốn khác nhau, trong đó, vốn xã hội luôn luôn tồn tại và đóng một vai trò hết sức quan trọng bên cạnh vốn tư bản, vốn kinh tế – là những nguồn vốn người ta thường quan tâm trong cách hiểu thông thường. Trong thực tiễn phát triển, các nhà khoa học đã phát hiện và chứng minh được sự tồn tại và tầm quan trọng của vốn xã hội. Người ta bắt đầu quan tâm đến khái niệm vốn xã hội khi lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản (vốn tư bản), các nguồn lực (vốn con người, vốn công nghệ,…) và môi trường (vốn tài nguyên) tương đương nhau nhưng một bên phát triển một bên thì suy tàn. Từ đó, nhân loại đúc rút và tiến hành làm hoàn thiện khái niệm vốn xã hội, những nội dung liên quan và mối tương quan với các nguồn vốn khác. Có thể nói, vốn xã hội có vai trò như chất keo kết dính các nguồn vốn khác lại và cũng là một hệ số để tăng hiệu quả tổng hợp của các nguồn vốn đó. Ngược lại, trình độ phát triển của các loại hình vốn khác có vai trò tạo môi trường để vốn xã hội tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, khi mà các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các cộng đồng, các quốc gia ngày càng trở nên đang dạng, đan xen, phức tạp, thì hiển nhiên, vai trò và tầm quan trọng của vốn xã hội ngày càng tăng và trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Vốn xã hội ngày càn có vai trò quan trọng trong sự phát triển, đặc biệt là ở khả năng vừa đảm bảo tính ổn định (vai trò như một chất keo) vừa có thể tạo ra tính đột phá (vai trò như một hệ số). Chính vì vậy, việc nhận thức được sự tồn tại, hiểu rõ được quy luật phát triển và phương thức sử dụng và phát huy một cách hiệu quả vốn xã hội trở thành một yêu cầu bức thiết đối với mọi quốc gia và đối với toàn thể nhân loại. Rõ ràng, vốn xã hội là một tồn tại tất yếu, sự phát triển của vốn xã hội là một quy luật và phương pháp phát triển tất yếu của nhân loại.    Thế giới của toàn cầu hoá thông tin và tri thức nhân loại, chúng ta sẽ dễ dàng tiếp cận rất nhiều các định nghĩa khác nhau về cùng một khái niệm vốn xã hội; rất nhiều các quan điểm, các mô hình và biện pháp sử dụng và phát triển vốn xã hội khác nhau.  Trong khi đó, trình độ phát triển của Việt Nam nhìn chung còn kém, còn lạc hậu so với thế giới; nên, một mặt cần phải đón nhận nhiều yếu tố vốn xã hội tiên tiến, mặt khác sẽ vấp phải những hạn chế về năng lực tiếp cận và làm chủ các khái niệm, phương pháp hiện đại. Mặt khác, Việt nam lại có một nền văn hoá phong phú với bản sắc riêng và đầy sức sống, sở hữu nhiều giá trị và truyền thống tốt đẹp. Các ngồn vốn xã hội tốt đẹp vốn có của Việt Nam cần được nhận dạng, dìn giữ, và phát huy; đó có thể là: tính cộng đồng, các giá trị nhân văn của “tình làng, nghĩa xóm”; các quan hệ phường, hội kinh doanh, các làng nghề,… Các khái niệm và quan điểm về vốn xã hội hầu hết lại xuất phát từ văn minh phương Tây nên hiển nhiên sẽ có những độ vênh khi được chuyển tải một cách trực tiếp vào xã hội Việt Nam. Từ tất cả các lý do kể trên, yêu cầu phù hợp với Việt Nam là một yêu cầu bắt buộc và sẽ bao gồm hai nội dung chính: một là, phải cần thiết và thích hợp với trình độ phát triển chung của kinh tế – xã hội Việt Nam, đảm bảo cộng đồng có thể hấp thụ và phát huy; hai là, phải đảm bảo bao hàm và phát triển được những điểm mạnh vốn có về vốn xã hội của nước ta.Việt Nam cũng sống trong cộng đồng chung của nhân loại đang ngày càng liên quan và lệ thuộc vào nhau, do vậy, tính chất của vốn xã hội Việt Nam phải đảm bảm tính tương thích với thế giới, để hội nhập và huy động được các nguồn vốn xã hội và các loại hình vốn khác của thế giới phục vụ cho sự phát triển của Việt Nam.  Vốn xã hội là một nguồn vốn có tính hai mặt; nó có thể hướng đến sự phát triển hoặc thiên về tính bảo tồn, kìm hãm phát triển; nó có thể có làm hài hoà lợi ích của mọi thành viên trong cộng đồng nhưng nó cũng có thế tạo nên xung đột giữa các cộng động, giữa cộng đồng lớn với cộng đồng nhỏ. Vì vậy, cần phải xác định thật rõ yêu cầu hướng về sự phát triển chung của đất nước, của dân tộc một cách mạnh mẽ và bền vững, hài hoà tất cả các lợi ích của các cộng đồng bên trong và bên ngoài.  Những đặc trưng của vốn xã hội.  Để dễ dàng thống nhất một khái niệm phù hợp về vốn xã hội, chúng ta nên thống nhất các đặc trưng của khái niệm này. Khái niệm vốn xã hội chứa hai đặc tính “vốn” và “xã hội”.  Đây là một loại hình vốn, vậy nên nó có các đặc tính như: tính sinh lợi; tính có thể hao mòn; tính sở hữu; tính có thể đo lường, tích luỹ, chuyển giao. Thuộc tính sinh lợi cho biết vốn xã hội phải có khả năng sinh ra một nguồn lợi nào đó cả về mặt vật chất và tinh thần. Tính có thể hao mòn là thuộc tính hệ quả của tính sinh lợi, một điểm khác biệt quan trọng của vốn xã hội với các loại vốn khác là vốn này càng sử dụng càng tăng. Nhưng cũng chính vì vậy mà vốn xã hội có thể bị suy giảm và triệt tiêu nếu không được sử dụng, có thể bị phá hoại một cách vô tính hay cố ý khi vi pháp quy luật tồn tại và phát triển của loại hình vốn này. Là một loại hình vốn nên vốn xã hội cũng sẽ thuộc sở hữu của một cộng đồng xã hội nào đó, là một loại hình vốn nên nó có thể được đo lường, tích luỹ và chuyển giao. Một đặc điểm khác biệt nữa của vốn xã hội là nó được làm tăng lên trong quá trình chuyển giao. Minh chứng rõ ràng và sinh động chính là lịch sử tồn tại, phát triển, giao lưu, giao thoa giữa các nền văn hoá – văn minh trên thế giới. Thuộc tính xã hội của loại hình vốn này được thể hiện ở những điểm chính sau đây:  Một là, nó phải thuộc về một cộng đồng nhất định, là sự chia sẻ những giá trị chung, những quy tắc và ràng buộc chung của cộng đồng đó. Như vậy, những mẫu số chung chính vừa là điều kiện và phương pháp để hình thành và phát triển vốn xã hội. Trong thế giới của toàn cầu hoá ngày ngay, sự xác định một công đồng không chỉ còn phụ thuộc vào các yếu tố giới hạn địa lý thông thường, hoặc chỉ mở rộng ra đến tôn giáo, giới tính; đến các định chế nhóm, tổ chức, cơ quan, nhà nước; mà còn là các cộng đồng trong một “biên giới mềm”, “biên giới thông tin”. Thật vậy, sự phát triển của thương mại toàn cầu và các phương tiện và công nghệ thông tin cho phép các nhóm xã hội được hình thành một cách đa dạng và phong phú hơn và ngày càng ít lệ thuộc vào khả năng lưu thông và địa giới hành chính thông thường. Mặc dù có tính cộng đồng cao nhưng cần phải nhận thức rõ rằng: vốn xã hội hoàn toàn không mâu thuẫn với vai trò và quyền lợi cá nhân. Cá nhân được hưởng lợi và cùng sở hữu các nguồn lợi do vốn xã hội mang lại và ngược lại sự phát triển của cá nhân cũng làm bền vững thêm, tác động làm thay đổi những nội dung của vốn xã hội.  Hai là, những điểm chung nêu trên phải được sự công nhận rộng rãi và phục vụ lợi ích cho cộng đồng đó. Những điểm chung nêu trên vừa có tính tự nguyện vừa có tính bắt buộc đối với các thành viên trong cộng đồng, trong đó tính tự nguyện bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo nhưng đề duy trì sự tồn tại và phát triển lâu dài thì tính bắt buộc và ràng buộc cùng rất quan trọng. Chính vì vậy, kết quả cuối cùng và bền vững nhất của vốn xã hội là dẫn tới việc hình thành nên các thể chế, định chế mới hoặc làm tăng hiệu quả của các thể chế, định chế đang tồn tại. Ví dụ như việc hình thành những liên minh, liên kết trong lĩnh vực kinh doanh, tạo nên những định chế mới; sự phát triển của vốn xã hội làm tăng hiệu quả của các tổ chức đoàn thể, tổ chức Nhà nước, …  Những giải pháp pháp huy vốn xã hội.  Sau khi hiểu rõ mục đích và sự cần thiết của vốn xã hội đối với Việt Nam, có thể đưa ra một số giải pháp cơ bản sau đây để phát huy vốn xã hội phục vụ cho sự phát triển của Việt Nam:  Một là, quán triệt tầm quan trọng, sự cần thiết, và một khái niệm phù hợp về vốn xã hội cho sự phát triển của đất nước. Các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách quốc gia hơn ai hết phải là những người nhận thức rõ và đồng thuận với các vấn đề nêu trên. Phải dựa trên những mẫu số chung như sau để tạo nên một nguồn vốn xã hội toàn Việt Nam, phù hợp với Việt Nam: tình dân tộc, nghĩa đồng bào, đại đoàn kết toàn thể dân tộc; những cơ hội chung và mối nguy chung trong bối cảnh mới. Để có thể tương thích với thế giới cần phải dựa vào những đặc tính ưu việt của văn hoá Việt, chủ động đóng góp vào sự phát triển chung của thế giới, của nhân loại. Kết quả của quá trình trên là phải định hình và thổi bùng lên một tinh thần quốc gia Việt Nam mạnh mẽ và phù hợp trong giai đoạn mới. Khi đó, mỗi người Việt đều chia sẻ những giá trị chung như:  –         Giàu lòng tự trọng, trọng danh dự, tinh thần tự tôn, tự lực, tự cường.  –         Đoàn kết.  –         Có khát vọng khám phá, chinh phục, chủ động học hỏi và đóng góp tinh hoa của dân tộc mình vào tinh hoa của nhân loại.  –         Giàu lòng bác ái, đậm tính nhân bản, nhân văn.  –         Không ngừng hướng đến sự công bằng, tự do cho dân tộc và nhân loại.  Có thể khẳng định, khi mà mỗi con người Việt đều mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp được hun đúc từ một tinh thần quốc gia chung, khi đó, chúng ta sẽ sở hữu một nguồn vốn xã hội lớn nhất, thiết thực nhất.  Hai là, để phát huy vốn xã hội phải ngay lập tức có những giải pháp chống lại sự vi phạm, làm tổn hại, hao mòn nguồn vốn xã hội hữu dụng tại Việt Nam. Trong thực tiễn Việt Nam thời gian qua có nhiều vấn đề ảnh hưởng đến nguồn vốn xã hội mà chúng ta đang có. Có thể nêu ra một số vấn đề nghiêm trọng nhất như: sự xuống cấp của đạo đức xã hội, thượng tôn các giá trị vật chất ngắn hạn và không chính đáng, những thú vui tầm thường; các vấn đề chính trị xã hội làm giảm lòng tin của nhân dân: nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí; sự xuống cấp nghiêm trọng của nền giáo dục… Nhận dạng và kiên quyết đấu tranh lại những điều làm tổn hại đến vốn xã hội là một nhiệm vụ quan trọng, khẩn bách và có thể thực hiện ngay. Phát triển giáo dục và thông qua giáo dục là biện pháp căn bản nhất để giải quyết những tồn tại nêu trên; phải dựng cho được một nền giáo dục toàn dân (cho toàn dân và huy động sức của toàn dân), toàn diện (thể chất, kiến thức, kỹ năng, phương pháp, đa ngành, đa lĩnh vực) và suốt đời.  Ba là, tập trung bồi dưỡng và phát huy những nguồn vốn xã hội trong những cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước, để tạo nền tảng và những đột phát để phát triển vốn xã hội Việt Nam. Ba cộng đồng vô cùng quan trọng là các nhà lãnh đạo chính trị, đội ngũ doanh nhân, và tầng lớp trí thức. Cần thiết phải hình thành nên những vốn xã hội riêng của ba cộng đồng này, làm hài hoá và hướng ba nguồn vốn đó đến nguồn vốn xã hội tổng thể hướng về sự phát triển của quốc gia Việt Nam. Chính ba cộng đồng này sẽ tạo nên kiến thức, chính sách, và điều kiện vật chất để làm giàu vốn xã hội Việt Nam, từ đó làm động lực và thúc đẩy sự phát triển của mọi cộng đồng còn lại trong nước và các cộng đồng có chung giá trị ở khu vực và quốc tế.  Phương pháp thực hiện cơ bản là đi từ những điểm chung để tạo ra nhưng sự gắn kết, hội tụ; định chế hoá và thể chế hoá các gắn kết đó để duy trì và phát triển liên tục. Cả ba giải pháp nêu trên đều có thể thực hiện ngay, thực hiện song song, thực hiện từng bước; kết hợp giữa tuần tự và đột phá để nhanh chóng nâng cao nhận thức và hiệu quả của vốn xã hội Việt Nam như là động lực và phương pháp quan trọng cho sự phát triển nhanh, mạnh, và bền vững của đất nước.  Đặng Lê Nguyên Vũ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về Vốn xã hội ở Việt Nam      Có rất nhiều ý kiến khi trình bày về khái niệm vốn Xã hội (VXH). Sự phong phú của những nội dung này được thể hiện qua rất nhiều tài liệu, công trình đã được công bố trong và ngoài nước và đã được tóm lược lại trong thời gian qua trên diễn đàn của Tạp chí Tia sáng để chuẩn bị cho hội thảo này.    Trong bài trình bày này của mình, tôi không bàn thêm các vấn đề lý luận trên mà muốn nêu lên và thử tìm cách trả lời một số câu hỏi mang tính ứng dụng chính như sau:  – Nếu VXH là khả năng liên kết, hợp tác, tạo nên mạng lưới các cá nhân trong cộng đồng hoặc giữa các cộng đồng trong xã hội thì cái gì là chất kết dính tạo nên giá trị tài sản xã hội?  – Việt nam hiện nay giàu hay nghèo về VXH?  – Giải pháp gì cần được áp dụng để làm giàu VXH cho Việt Nam?  Tuy các ý kiến rất đa dạng khi bàn về nội dung và thể hiện của VXH nhưng nhìn chung đều thống nhất về tính thứ bậc và hệ thống của nhiều giá trị và truyền thống tạo nên VXH. Cụ thể là phải có một quá trình hình thành lâu dài mới tạo nên được lòng tin cậy lẫn nhau, quan hệ có đi có lại, những chế tài và mẫu mực chung, các mạng lưới tổ chức họat động một cách tự giác. Đây là nền tảng chính để VXH xuất hiện và hoạt động.  Quá trình hình thành trên lại có điểm xuất phát từ những đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự tôn trọng lời hứa, ý thức trách nhiệm với bổn phận…,và một lần nữa các đức tính truyền thống này xuất phát từ nguồn gốc của sự đồng cảm về kinh nghiệm lịch sử, sự đồng nhất về tôn giáo, tâm lý đạo đức, quá trình giao tiếp xã hội lặp lại và lâu dài. Có thể hình dung các lớp vấn đề trên được chồng lên nhau như một kim tự tháp, lớp nọ làm nền cho lớp kia để tầng trên cùng có thể xuất hiện VXH.  Nhờ có hình thức kết cấu phân tầng, làm cho cả hệ thống của VXH rất đa dạng, có tính thích nghi cao trong mọi tình huống và điều kiện thay đổi. Khi chịu tác động phá họai từ bên ngoài, các tầng trên có thể bị xói mòn nhưng vấn còn gốc để tái tạo trở lại. Ngược lại khi bị tổn thương nặng ở nền móng thì cả hệ thống bị đe dọa sụp đổ và khó có thể sửa chữa một cách dễ dàng.  Nhìn nhận một cách khách quan về quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam. Chúng ta nhận thấy Việt Nam là một trong những nơi đặc biệt mà VXH có điều kiện hình thành và phát triển phong phú, dựa trên những đức tính và nguồn gốc truyền thống thuận lợi. Đáng tiếc rằng, trong thời gian qua, xã hội Việt Nam đã phải trải qua nhiều biến động đáng có và không đáng có làm cho nền tảng của hệ thống hình thành nên VXH phải chịu đựng những tác động to lớn. Trong mấy chục năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế sản xuất nhỏ theo cơ chế thị trường sang cơ chế kế hoạch tập trung rồi lại quay trở lại cơ chế thị trường tiến lên sản xuất lớn. Về giao dịch quốc tế, Việt Nam từ trạng thái mở cửa và liên kết chặt chẽ với một số nước trong phe XHCN chuyển sang tình trạng bị đóng cửa, cấm vận và quay lại hội nhập ngày càng rộng với quốc tế. Có thể kể ra hàng loạt những biến động to lớn khác từ một nền sản xuất nông nghiệp chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ xã hội cộng đồng nông thôn chuyển sang xã hội đô thị hóa; từ hòa bình sang chiến tranh, sang hòa bình… Hàng loạt những biến động to lớn trên đã diễn ra dồn dập trong mấy chục năm qua tác động mạnh mẽ vào toàn bộ hệ thống các giá trị xã hội làm cho nền tảng hình thành VXH Việt Nam thay đổi một cách to lớn. Có những bộ phận cũ mất đi, có những thành phần mới xuất hiện. Có những nền tảng truyền thống bị xuống cấp, có cả những bộ phận mới cũng bị sứt mẻ. Bên cạnh đó cũng có những phần mới được hình thành không phù hợp với nền tảng cũ.  Có thể điểm lại một số ảnh hưởng này từ các góc nhìn khác nhau. Rà soát lại những truyền thống quý báu của đất nước, chúng ta thấy trải qua nhiều thăng trầm, dù phải chịu đựng nhiều tác động nhưng sự gắn bó giữa Nhà nước và nhân dân về căn bản vẫn được bảo tồn. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Vận mệnh của đất nước, thành bại của chính quyền được nhân dân quan tâm theo dõi. Ngược lại, những khó khăn, đòi hỏi bức thiết của đời sống nhân dân cũng được Nhà nước chú ý chăm lo. Vượt qua bom đạn chiến tranh, ý chí tự tôn, lòng tự hào của dân tộc Việt Nam vẫn phát triển gắn liền với lòng vị tha của dân tộc. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” nhưng khi binh lửa đã tan thì năm châu, bốn biển lại là anh em. Có lẽ một trong những truyền thống quí báu của dân tộc ta là tinh thần tự lực tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, mỗi một cá nhân, mỗi một gia đình, tập thể luôn phát huy tinh thần “Cứu mình trước khi trời cứu”. Truyền thống “lá lành đùm lá rách trước hết trong từng dòng họ, cộng đồng, tạo nên sự hợp tác hỗ trợ giữa các thành viên trong xã hội.  Bên cạnh các giá trị truyền thống, chúng ta còn tiếp thu được nhiều điểm mới làm nền tảng cho VXH. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh cùng với sự trưởng thành của bộ máy nhà nước. Hàng lọat cam kết quốc tế  mới được xây dựng, từng bước hòa nhập hệ thống pháp lý của Việt Nam với thông lệ chung của thế giới. Song song với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và phát triển cơ sở hạ tầng, vai trò của hệ thống truyền thông, phương tiện thông tin đại chúng tạo nên sức mạnh công luận ngày càng rộng rãi.  Bên cạnh các truyền thống được duy trì và các quan hệ mới hình thành cũng có nhiều giá trị xưa đã không còn. Trải qua các thăng trầm của lịch sử rất nhiều giá trị tinh thần về tôn giáo, chính trị, đạo đức, văn hóa đã thay đổi. Rất nhiều hình thức tổ chức nhà nước và đoàn thể quần chúng đã biến đổi cả về hình thức lẫn nội dung. Các quy định, luật lệ, pháp luật thành văn và không thành văn trong xã hội cũng biến đổi rất nhiều. Những biến động to lớn đó dẫn đến những thay đổi về giá trị và thước đo xã hội.  Bên cạnh những lợi ích to lớn do những quá trình mới đem lại thì chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận về mức độ tổn thương khá nghiêm trọng các giá trị xã hội mà thể hiện quan trọng nhất là năng lực hợp tác và phối hợp yếu kém trong cuộc sống hôm nay. Có thể kể ra một số các biểu hiện của sự tổn thương của các giá trị xã hội như: tình trạng phối hợp yếu kém giữa cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước, tình trạng tổ chức và hoạt động một cách hình thức của các hội, đoàn quần chúng; tình trạng lỏng lẻo trong liên kết của các họat động kinh tế; sự biến động và phân ly trong quan hệ gia đình; tình trạng mất đoàn kết ở nhiều cơ quan, đơn vị. Những hiện tượng trên diễn ra tương đối nhiều dẫn đến một loạt các hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng.  Hậu quả thứ nhất là sự chia rẽ, mất đoàn kết, không gắn bó trong nhiều hoạt động xã hội. Người ta vẫn nói đùa một cách chua chát rằng một người Việt Nam thì hơn một người Nhật Bản, nhưng nhiều người Việt nam thì thua nhiều người Nhật Bản vì còn bận đấu đá tranh giành nhau. Một hậu quả khác là hiện tượng “chạy theo đuôi cái xấu”. Đó là tình trạng các cá nhân, tập thể trong xã hội không những không có sức đấu tranh chống lại cái xấu mà còn có xu hướng a dua, bắt chước cái xấu một cách không tự giác với tâm lý ích kỷ mong đem lại lợi ích cho mình mà không quan tâm đến quyền lợi của các đối tượng xã hội khác. Có thể kể ra nhiều ví dụ về hiện tượng này. Một gia đình xây nhà lấn ra đường chung, các hộ khác không những không phản đối ngăn chặn mà cũng tự mình mỗi người xây ra một chút để đem lại lợi nhỏ cho mình. Cuối cùng đường phố bị thu hẹp, nghẽn tắc, tất cả mọi người chịu thiệt. Đây cũng là hiện tượng dẫn đến tình trạng học sinh đua nhau quay cóp bài trên lớp, cán bộ đua nhau mang quà cáp đến nhà thủ trưởng….  Một hậu quả khác của tình trạng xói mòn các giá trị xã hội là hiện tượng “Chí Phèo”. Ở rât nhiều cơ quan, địa phương, cộng đồng xuất hiện những phần tử chầy bửa, phá bĩnh, không chấp hành các luật lệ chung, ngang nhiên phá hoại các quyết định và gây rối hoạt động. Tuy nhiên, cơ quan, đoàn thể, cộng đồng chẳng những không đấu tranh loại trừ mà đa số lại nhắm mắt buông xuôi, thậm chí khoanh tay, lùi bước trước những hoạt động đơn lẻ gây cản trở bước tiến chung. Kết quả là tốc độ phát triển của xã hội bị chậm lại ngang bằng sự bảo thủ, cản phá của một số đối tượng chậm tiến. Chúng ta cũng có thể thấy một biểu hiện tinh vi hơn của tình trạng “Chí Phèo” xuất phát từ cơ chế đồng thuận. Thoạt nghe thì rất nhân bản nhưng nhiều trường hợp, nguyên tắc đồng thuận chẳng những làm thui chột mọi ý chí cầu tiến, tinh thần sáng tạo của những các nhân xuất sắc mà còn hạ thấp tốc độ phát triển chung của tập thể, cộng đồng, ngang tầm với mức độ trì trệ, bảo thủ của những phần tử chậm tiến nhất.  Một hậu quả xấu khác là tình trạng “tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại” khá phổ biến hiện nay. Đó là tình trạng báo cáo láo, thông tin sai của một số cơ quan nhà nước, một số địa phương mà đó còn là nếp sống phô trương, giả tạo của một số doanh nghiệp, gia dình, cộng đồng, Tình trạng chạy theo thành tích, che giấu khuyết điểm dẫn đến thông tin sai lạc, làm mất đi sức đề kháng và sự tỉnh táo của xã hội. Trong nhiều trường hợp thậm chí dẫn đến thảm họa về dịch bệnh, an ninh lương thực, an ninh chính trị, khủng hoảng trong gia đình và xã hội.  Về mặt kinh tế, một khi các giá trị xã hội bị suy giảm thì bộ mặt của nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng cũng không thể lành mạnh. Thị trường chỉ có thể vận hành  trong điều kiện các đối tác tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một môi trường công khai, cạnh tranh, minh bạch với các quan hệ lâu dài. Đa số doanh nghiệp hiện nay có xu hướng làm ăn nhỏ, thích tiến hành các hoạt động có chu kỳ thu hồi vốn ngắn và muốn bí mật mọi thông tin về hoạt động của mình. Xu thế “nhỏ, ngắn, bí mật” khiến nền kinh tế thị trường lành mạnh có xu hướng chuyển sang “kinh tế ngầm” dẫn đến những khó khăn của nhà nước trong quản lý, hỗ trợ và làm nản lòng các nhà đầu tư. Rõ ràng, bước vào giai đoạn CNH-HĐH, đô thị hóa, giai đoạn của kinh tế tri thức và hội nhập thì Việt nam phải nhanh chóng xây dựng lại các giá trị xã hội vốn có của mình dựa trên nền tảng quí báu và phong phú đã được xây đắp trong suốt quá trình lịch sử vẻ vang của dân tộc. Để làm được công việc khó khăn nhưng cần thiết trên, chúng ta phải khắc phục một loạt những nguyên nhân đã dẫn đến sự xói mòn các giá trị xã hội đã nêu trên và đó cũng chính là những giải pháp chính mà chúng tôi muốn đề cập…  Thứ nhất, phải khắc phục tình trạng “quan hệ ngắn” đang diễn ra hiện nay. Edwin Tower trong những tác phẩm nổi tiếng của mình như “Cú sốc tương lai”, “Sự thăng trầm của quyền lực”….cách đây hàng chục năm đã chỉ ra xu thế chung của xã hội loài người khi bước vào giai đoạn hậu công nghiệp hóa là rút ngắn và tăng tốc các mối quan hệ xã hội. Điều này một mặt phù hợp với nền tảng khoa học công nghệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế…..Mặt khác gây khó khăn cho việc tạo dựng lòng tin, xác lập các mối quan hệ giao tiếp cần thiết của xã hội. Có rất nhiều cách các nền kinh tế tiên tiến đang áp dụng để kéo dài các mối quan hệ giữa người với người như xác lập các khuôn khổ luật pháp và chiến lược mang tính dài hạn, tăng cường hoạt động thông tin minh bạch và liên tục, hình thành các thể chế đa dạng trong xã hội để liên kết con người với nhau…  Một giải pháp quan trọng khác là vấn đề thông tin định danh. Khổng Tử nói “Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì việc mới thành”. Muốn quan hệ xã hội trở nên lành mạnh thì phải đứng vững trên cơ sở xác định giá trị đích thực của mỗi con người. Năng lực và đạo đức phải trở thành thước đo để giao trách nhiệm và nghĩa vụ. Đồng thời, trách nhiệm và nghĩa vụ phải đi kèm với quyền hạn và lợi ích. “Danh nào, phận nấy” phải là tiêu chuẩn đối xử trong xã hội, cả trong bộ máy quản lý nhà nước lẫn trong các tổ chức đoàn thể quần chúng và đơn vị sản xuất kinh doanh. Những thước đo mang tính hình thức như bằng cấp, danh hiệu, tước hàm, thứ bậc… phải được cân định lại một cách khoa học, đáng tin cậy và được xã hội thực tế chấp nhận theo tiêu chuẩn đích danh như trên.  Vấn đề thứ ba là các vấn đề lịch sử phải minh bạch và được bảo tồn một cách trung thực. Thái độ ứng xử và các quy tắc hoạt động của con người trong tương lai luôn được định dạng và điều chỉnh dựa vào kinh nghiệm và thước đo từ quá khứ. Tình trạng không tôn trọng, thiếu ý thức bảo vệ, thậm chí làm sai lạc hoặc che mờ quá khứ phải được sửa chữa. Những điểm chốt của lịch sử về mặt sự kiện, thời gian, nhân vật, vấn đề,… cần được làm sáng tỏ một cách khách quan bằng các kết luận, xử lý mang tính đa dạng, công khai, khoa học.  Các hoạt động truyền thông đại chúng phải hoạt động một cách khách quan, mọi công cụ thông tin, hệ thống số liệu thống kê, các hoạt động nghiên cứu, đánh giá, giám sát trong xã hội cần đạt đến mức chuẩn hóa để đảm bảo các kênh thông tin về quan hệ xã hội diễn ra một cách minh bạch và đáng tin cậy cho nhân dân.  Điều quan trọng nhất là hệ thống luật lệ trong xã hội, cộng đồng và từng tổ chức phải được xác lập và xây dựng một cách công bằng và công khai. Tính thứ bậc của các quy định, luật lệ phải được khẳng định một cách tuyệt đối với mức độ quyền hạn cao nhất là Hiến pháp và các cam kết quốc tế và dưới đó là hệ thống luật và văn bản dưới luật để tạo nền móng tin cậy cho một nhà nước pháp quyền.  Một khi các mối quan hệ trở nên dài hạn, sự phân định danh phận trong xã hội rõ ràng, lịch sử minh bạch, thông tin thông suốt, luật lệ công minh thì giá trị xã hội chân chính sẽ được tái lập và phát triển rực rỡ. Chỉ khi đó giá trị xã hội – nguồn vốn quí báu của dân tộc Việt Nam mới thực sự trở thành lợi thế so sánh để dân tộc cất cánh đi lên.      TS. Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo cáo của Chính phủ về tình hình KT-XH năm 2012: 5 chỉ tiêu cơ bản không đạt      Theo Báo cáo của Chính phủ, dự kiến có năm chỉ tiêu không đạt trong số 15 chỉ tiêu nghị quyết Quốc hội  đề ra trong kế hoạch năm 2012.    Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội năm 2012 và kế hoạch năm 2013 trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 16-10) cho thấy nền kinh tế đang có dấu hiệu chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn.  Theo tính toán của Chính phủ, trong số 15 chỉ tiêu nghị quyết Quốc hội đề ra trong kế hoạch năm 2012, dự kiến có năm chỉ tiêu không đạt kế hoạch là: tốc độ tăng trưởng (GDP), tỉ lệ tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP, tạo việc làm, mức giảm tỉ lệ hộ nghèo và tỉ lệ che phủ rừng. Trong đó, GDP năm 2012 chỉ tăng 5,2% (chỉ tiêu đặt ra là 6 – 6,5%).  Báo cáo của Chính phủ liệt kê nhiều hạn chế, bất cập của nền kinh tế vĩ mô: kinh tế chưa thật sự ổn định vững chắc, vẫn còn nguy cơ lạm phát cao trở lại; tổng dư nợ tín dụng tăng thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra và chênh lệch lớn so với tốc độ tăng huy động vốn, tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng được giải quyết chậm. Khu vực doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, khả năng hấp thụ vốn thấp, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng; sản xuất kinh doanh phục hồi chậm; chỉ số phát triển công nghiệp tăng chậm và còn thấp; sức mua của thị trường trong nước thấp, tồn kho của một số ngành còn ở mức cao. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp khó khăn. Trước tình trạng như vậy, Chính phủ đặt ra mục tiêu năm 2013 tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012 (GDP tăng khoảng 5,5%, lạm phát tăng 7-8%).  Nhận xét bản báo cáo của chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Một số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế nêu báo cáo của Chính phủ đánh giá chưa sát với tình hình, số liệu báo cáo còn có độ vênh so với thực tế, chưa phản ánh hết mức độ khó khăn của đời sống xã hội và nền kinh tế, đặc biệt là khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa”.  Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế cho thấy thực trạng đáng lo ngại về năng lực hấp thụ đầu vào và tổng cầu của nền kinh tế đang suy giảm mạnh. “Hai nút thắt của nền kinh tế là nợ xấu và hàng tồn kho đang làm tắc nghẽn quá trình chu chuyển nguồn lực quốc gia” – ông Nguyễn Văn Giàu nói. Theo ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư, chỉ số tồn kho tính đến tháng 9: công nghiệp chế biến chế tạo tồn 20,4%, sản phẩm từ nhựa tồn hơn 50%, ximăng hơn 50%, sắt thép trên 40%, thuốc lá hơn 40%, may mặc gần 40%, gia cầm và thủy sản 34%, tồn kho bất động sản cũng là vấn đề rất lớn.  Vì vậy, Ủy ban Kinh tế đề nghị “khẩn trương giải quyết cơ bản các nút thắt của nền kinh tế là hàng tồn kho và nợ xấu”. Ủy ban này cũng yêu cầu “Ngân hàng Nhà nước xác định chính xác, minh bạch quy mô nợ xấu, các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu; xử lý nợ xấu trên nguyên tắc ngân hàng thương mại phải tự chịu trách nhiệm, tự chủ động giải quyết. Sớm có những giải pháp hữu hiệu đảm bảo liên thông giá vàng trong nước và quốc tế”.  Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gợi ý báo cáo của Chính phủ phải khẳng định cụ thể đến giữa năm 2013 sẽ giảm lượng hàng tồn kho, nợ xấu bao nhiêu, và ngân hàng cần phải tăng cho vay, kể cả cho vay tiêu dùng để kích cầu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo chí khoa học ở Việt Nam: Ước mơ còn dang dở      Báo chí khoa học Việt Nam đã ít nhiều đem khoa học đến gần hơn với công chúng nhưng chưa hoàn thành nhiệm vụ giúp người dân thực sự hiểu về khoa học một cách toàn vẹn và sâu sắc.      Ảnh: wfsj.org  Tháng 12/2019, một loại virus gây bệnh viêm đường hô cấp cấp được phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc. Hơn một năm qua, bóng ma của loại virus mà sau này được định danh là Covid-19 vẫn đang bao phủ toàn cầu. Tính đến tháng 4/2021, đại dịch Covid-19 đã khiến hơn 2.9 triệu người chết, 136 triệu người nhiễm bệnh, đình trệ các hoạt động thương mại, dịch vụ, giáo dục, xáo trộn cuộc sống của hàng tỉ người trên thế giới1.    Trong lúc gồng mình chống lại virus, thế giới cũng chao đảo bởi một cơn đại dịch khác: đại dịch thông tin (infodemic) – mà trong kỉ nguyên truyền thông xã hội, mức độ lan truyền còn khủng khiếp hơn virus. Khi hiểu biết của giới chuyên môn về loại virus này còn hạn chế, sự bùng phát của tin đồn, tin bịp, tin xuyên tạc không chỉ khiến dư luận hoang mang mà còn cản trở công tác phòng và chống dịch. Đến mức WHO đã cảnh báo rằng đại dịch thông tin có thể phải trả giá bằng mạng sống của rất nhiều người.    Trong bối cảnh đó, vai trò của truyền thông trở nên vô cùng quan trọng. Một hệ thống truyền thông khoa học minh bạch và chuyên nghiệp sẽ góp phần lọc bỏ thông tin độc hại, tạo ra những người đọc thông minh, đủ năng lực thẩm định những thông tin sai trái, bảo vệ bản thân và gia đình trước cơn đại dịch.     Kì vọng về một nền báo chí khoa học toàn thiện     Nhưng không phải cho đến đại dịch Covid-19 mà báo chí luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với truyền thông khoa học2. Một nền báo chí khoa học chuyên nghiệp sẽ góp phần củng cố vai trò trung tâm của khoa học – công nghệ trong tiến trình phát triển đất nước3. Nghiên cứu về thực trạng báo chí khoa học ở Việt Nam (khảo sát từ năm 2016 đến 2021), chúng tôi nhận thấy các nhà báo Việt Nam luôn kì vọng báo chí khoa học sẽ làm tốt vai trò và chức năng này.      Các tác phẩm báo chí của Việt Nam viết về khoa học thường hời hợt, hạn chế hàm lượng tri thức và tinh thần phản biện khoa học. Về phía khách quan, có thể thấy rằng nhà báo khoa học Việt Nam khó có thể tìm được những đề tài khoa học thực sự hấp dẫn. “Nghiên cứu chỉ dùng để đút ngăn bàn” là một thực tế phổ biến ở Việt Nam. Hơn nữa, các nhà khoa học không được đào tạo để truyền bá kết quả nghiên cứu cho công chúng.      Trước tiên, các nhà báo cho rằng nhiệm vụ then chốt của báo chí khoa học là phổ cập kiến thức và nâng cao nhận thức của người dân, các cơ quan chuyên trách và đơn vị hoạch định chính sách về các vấn đề khoa học. Đặc biệt, trong bối cảnh trình độ dân trí ở nước ta còn chưa cao, ngoài kiến thức thu nạp từ nhà trường phổ thông, người dân hiếm có cơ hội được tham quan bảo tàng khoa học, dự khán triển lãm công nghệ để tiếp cận nguồn tri thức khổng lồ và không ngừng biến đổi của nhân loại. Đại đa số người dân thường dựa vào báo chí như kênh thông tin khoa học chủ đạo. Vì vậy, báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử phải là những nguồn cung cấp thông tin hữu ích, giúp trang bị cho người dân những kiến thức khoa học căn bản, cần thiết cho đời sống và công việc hằng ngày.    Không chỉ cập nhật tri thức, mà quan trọng hơn, các nhà báo còn nhận thức rằng báo chí cần đặt ra những câu hỏi, khai vỡ những ưu điểm và hạn chế của những ứng dụng khoa học, phân tích những tác động tích cực cũng như hệ quả tiềm tàng của chúng với đời sống. Từ đó, báo chí có thể đưa ra những định hướng, chỉ dẫn cho công chúng và cơ quan quản lý trong quá trình tiếp nhận và ứng phó với những vấn đề khoa học gây tranh cãi như biến đổi khí hậu, vệ sinh an toàn thực phẩm, công nghệ gene, ứng dụng tế bào gốc và trí tuệ nhân tạo trong khám chữa bệnh.    Hơn nữa, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, sự phụ thuộc hoặc thiếu tỉnh táo trong chuyển giao công nghệ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của nền kinh tế mà còn dẫn đến nhiều hệ lụy lâu dài đối với phát triển. “Liệu Việt Nam đang trở thành bãi rác công nghệ?” là câu hỏi nhiều lần làm nóng nghị trường và cộng đồng khoa học trong nước. Khủng hoảng môi trường biển tại Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung năm 2016 hay sự dang dở của tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông là những bài học đắt giá cho sự bất cập trong quản lý ứng dụng khoa học công nghệ ở Việt Nam. Thông qua nguồn tri thức tiếp thu từ báo chí khoa học, công chúng hình thành tư duy và kĩ năng để đánh giá, chọn lựa và phản biện các chủ trương, chính sách về khoa học và công nghệ, đặc biệt là đối với những vấn đề thiết thân với đời sống hằng ngày của mỗi người. Báo chí lúc này trở thành một diễn đàn, nơi người dân có thể cất lên tiếng nói góp phần hoàn thiện chính sách. Chỉ khi người dân biết rõ, hiểu đúng và đủ khả năng làm chủ khoa học và công nghệ thì khoa học mới thực sự trở thành trung tâm của sự phát triển bền vững.    … nhưng “lực bất tòng tâm”     Trong đại dịch Covid-19, có thể nói, báo chí Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể trong việc lan tỏa những thông tin khoa học đúng đắn về phòng chống dịch bệnh, trấn an người dân. Tuy nhiên, trong những ngày đầu bùng phát dịch, báo chí đã không được “tỉnh táo” như vậy mà còn nhiều lúng túng, thậm chí có phần “hùa theo” những tin sai lệch trên mạng xã hội. Còn trong những ngày gần đây, báo chí lại tiếp tục xoáy sâu vào những tai biến (dù chiếm một tỉ lệ rất nhỏ) sau khi tiêm vaccine, rất dễ gây hoang mang dư luận.      Giữa đại dịch thông tin, càng cần sự định hướng của báo chí khoa học. Ảnh: undrr.org    Cách xử trí có phần “không đồng nhất” trong đại dịch vừa qua phản ánh phần nào thực trạng và năng lực nói chung của báo chí khoa học ở Việt Nam. Báo cáo của PGS. TS Nguyễn Đức An (ĐH Bournemouth, Vương quốc Anh) (2014)4 về báo chí khoa học ở Đông Nam Á và Sổ tay báo chí khoa học viết về môi trường, biến đổi khí hậu, sức khỏe của Red (2021)5 đều cho rằng báo chí khoa học ở Việt Nam còn thiếu và yếu. Kết quả khảo sát thông điệp khoa học công nghệ trên báo chí, cùng với phỏng vấn sâu các nhà báo khoa học của chúng tôi cũng cho thấy mong muốn của các nhà báo về một nền báo chí khoa học chuyên nghiệp dường như chưa thể đạt được.    Từ trước đến nay, có thể dễ dàng nhận thấy sự vắng bóng của thông tin khoa học trên ấn phẩm báo chí. Chắc chắn sẽ có những phản biện rằng tại sao lại thiếu khi chuyên mục “Khoa học công nghệ” hay “Khoa học giáo dục” luôn có mặt tại chân trang hay trên tiêu mục website của nhiều tờ báo? Tuy nhiên nếu nhìn kĩ, hầu hết các tác phẩm nằm trong các chuyên mục này hiếm khi chạm tới cốt lõi của vấn đề khoa học. Đa số thông tin được “dán nhãn” là khoa học thường chỉ xoay quanh các sự kiện công nghệ, giáo dục hoặc y tế. Một trưởng ban đại diện của một tờ báo lớn tại khu vực miền Trung chia sẻ rằng vụ việc người nhà bệnh nhân hành hung bác sĩ cũng được xếp vào tin khoa học và thậm chí nó có khả năng thu hút nhiều lượt xem hơn những thông tin khoa học có chiều sâu. Sự thất thế này được một số nhà báo giải thích rằng khoa học không phải là ưu tiên của tòa soạn báo chí và càng không phải là một đề tài có khả năng “câu view”, “hút độc giả”. Trước khi Covid-19 trở thành một vấn đề được cả thế giới lưu tâm, không mấy khi một vấn đề khoa học được chọn xuất hiện ở trang bìa hay bài đinh của các tờ báo Việt Nam.    Không chỉ thiếu, các tác phẩm báo chí viết về khoa học thường hời hợt, hạn chế hàm lượng tri thức và tinh thần phản biện khoa học. Chúng ta dễ dàng bắt gặp trên báo những kết quả nghiên cứu mới được công bố bởi một tạp chí, viện nghiên cứu quốc tế hay một công nghệ mới được triển khai tại các nước phát triển chỉ được lược dịch dưới dạng tin vắn hoặc tin ngắn. Ví dụ, khi khảo sát về công nghệ biến đổi gene trên báo in trong hai năm 2017-2018, chúng tôi nhận thấy gần hai phần ba số lượng tin bài được khảo sát mang tính tức thời – sự kiện (event-oriented) hơn là tính hệ thống – vấn đề (issue-oriented). Cuốn theo sự kiện, hiếm thấy báo chí dành dung lượng cho những tuyến bài bình luận, điều tra hoặc phản ánh dài hơi, đi sâu phân tích về phương pháp nghiên cứu, đánh giá ưu, nhược, những mâu thuẫn lợi ích, cũng như tác động lâu dài của ứng dụng khoa học đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam.      Khi robot Sophia đến Việt Nam vào năm 2018, báo chí Việt Nam hoặc là viết những thứ không liên quan đến trí tuệ nhân tạo, hoặc là thổi phồng những tác động của công nghệ này. Ảnh: https://nhipsongdoanhnghiep.cuocsongantoan.vn/    Năm 2018, Robot công dân đầu tiên Sophia đến tham dự Diễn đàn cấp cao và triển lãm quốc tế về công nghiệp 4.0 do Chính phủ và Ban kinh tế Trung ương tổ chức. Thời điểm đó báo chí ngập tràn những tin tức về dung mạo, trang phục, lịch trình di chuyển của Sophia nhưng lại không có nhiều tác phẩm cho độc giả thấy 4.0 và trí tuệ nhân tạo đã, đang và sẽ đem lại những gì cho Việt Nam. Nếu chỉ dừng lại ở tường thuật mà không thể chuyển tải một thông điệp, không nêu được vấn đề, báo chí khoa học không thể tác động lâu dài đến nhận thức của độc giả. Không những thế, sự hồ hởi, lạc quan quá mức đối với những lợi ích của khoa học biến nhà báo trở thành những cổ động viên, thay vì những người gác cổng thận trọng, giúp độc giả tỉnh táo nhận thức được chân giá trị khoa học và công nghệ.    Ở chiều ngược lại, đôi khi báo chí Việt Nam lại phóng đại, cường điệu hóa những nguy cơ chưa được chứng minh để thu hút sự chú ý của độc giả. “Robot Sophia sẽ tận diệt loài người”, “Thực phẩm biến đổi gene – Khi bước tiến công nghệ trở thành vũ khí hủy diệt” là những tiêu đề không khó bắt gặp trên nhiều trang báo mạng. Chính một nhà báo tham gia phỏng vấn chia sẻ rằng có một thời gian, chỉ cần đọc báo Việt Nam thì cảm thấy ăn bất cứ cái gì cũng có khả năng gây ung thư. Nhạy cảm với rủi ro là cần thiết nhưng thiếu chứng lý khoa học trong tường thuật không chỉ khiến công chúng bối rối mà còn đẩy nhiều doanh nghiệp, ngành sản xuất rơi vào tình trạng điêu đứng. Thực tế cho thấy, những vụ việc như nước mắm nhiễm arsen, sữa nhiễm melamine, cà phê nhuộm pin hay bưởi gây ung thư đã phần nào bị thổi bùng bởi sự ngây ngô và thiếu tinh thần phản biện của không ít nhà báo. Họ mải mê chạy theo sự kiện đến mức không kịp kiểm chứng thông tin hay chấp nhận bỏ qua thao tác phối kiểm nguồn tin.     Nguyên nhân và thách thức     Đi tìm nguyên nhân cho sự thiếu chuyên nghiệp trên, có thể tạm chỉ ra một vài yếu tố khách quan và chủ quan như sau.    Về phía chủ quan, các nhà báo viết về khoa học ở Việt Nam không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ chính tòa soạn họ đang làm việc. Ban biên tập thường không xem khoa học là một mảng đề tài cần lưu tâm như chính trị, xã hội, giải trí hay thể thao. Rất nhiều phóng viên chia sẻ rằng khái niệm báo chí khoa học chưa thực sự được hiểu đúng và đủ ở Việt Nam. Thậm chí có phóng viên còn cho rằng tạp chí khoa học chuyên ngành là một nhánh của báo chí khoa học! Và kể cả khi ban biên tập nhận thức được tầm quan trọng của thông tin khoa học, họ vẫn cảm thấy bối rối trong việc triển khai tuyến bài liên quan đến lĩnh vực này.      Đã có lúc, đọc báo chí Việt Nam thấy ăn gì cũng có thể bị ung thư. Trong ảnh là sách của Vũ Thế Thành để phản ứng lại với những tin tức thiếu chính xác liên quan đến thực phẩm.      Nhiều phóng viên thừa nhận chưa tìm ra cách thức để truyền tải thông điệp khoa học một cách chính xác, dễ hiểu và hấp dẫn đến công chúng. Một thực tế là, đội ngũ phóng viên phụ trách mảng khoa học ở Việt Nam đa phần là phóng viên kiêm nhiệm. Vì vậy, tin bài của họ thường chung chung, nặng tính thông tấn. Các phóng viên thiếu nền tảng tri thức và kĩ năng cần thiết của một nhà báo chuyên trách để chủ động tiếp cận, mổ xẻ và phân tích các vấn đề khoa học một cách tường minh và sâu sắc.    Thêm vào đó, các nhà báo cũng chịu áp lực không nhỏ của việc chi trả nhuận bút qua lượt truy cập. Bởi vậy, chỉ cần thiếu tỉnh táo, người làm báo rất dễ rơi vào cái bẫy của việc đưa tin một cách giật gân để thu hút sự chú ý của độc giả. Sự lên ngôi của PR, can thiệp của truyền thông “bẩn” cũng là một trong những yếu tố khiến báo chí khoa học khó tuân thủ các nguyên tắc công bằng, cân bằng, khách quan và tôn trọng sự thật.    Về phía khách quan, có thể thấy rằng nhà báo khoa học Việt Nam khó có thể tìm được những đề tài khoa học thực sự hấp dẫn. “Nghiên cứu chỉ dùng để đút ngăn bàn” là một thực tế phổ biến ở Việt Nam. Hơn nữa, các nhà khoa học không được đào tạo để truyền bá kết quả nghiên cứu cho công chúng. Họ “ru rú” trong tháp ngà và không mặn mà với báo chí. Một số nhà khoa học còn e ngại báo chí “nói sai”, “nói dại” nên ít nhiều né tránh truyền thông. Một số nhà khoa học cởi mở hơn thì bận rộn và thiếu kĩ năng giao tiếp với báo chí. Quy chế phát ngôn đặc thù ở một số đơn vị cũng trói buộc các chuyên gia trong việc kết nối với báo chí. Vì vậy, các nhà báo chỉ quanh đi quẩn lại phỏng vấn một vài gương mặt quen thuộc. Đối với một số vấn đề mới, đặc biệt là những vấn đề gây nhiều tranh cãi, các phóng viên khoa học thậm chí không thể tìm được chuyên gia có trình độ phù hợp để tham vấn ý kiến.  Việc thiếu một mạng lưới các nhà báo khoa học, hạn chế về năng lực khai thác thông tin quốc tế, thiếu hỗ trợ từ các cơ quan quản lý khoa học, ràng buộc bởi cơ quan chủ quản…cũng là nguyên nhân dẫn đến sự nghèo nàn của báo chí khoa học Việt Nam. Sự thiếu vắng của một nền báo chí khoa học chuyên nghiệp có thể cản trở tiến trình hội nhập của Việt Nam – một quốc gia đang phát triển vốn là điểm tiếp nhận hơn là đầu mối của phát minh khoa học.    Để vượt qua được những trở lực đó, cần có sự chung tay đồng bộ và quyết liệt của tất cả các cấp ngành có liên quan, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng khoa học, tòa  soạn và bản thân mỗi phóng viên. Đó là một hành trình dài và không đơn giản. Thay đổi đầu tiên và mang tính cốt lõi mà chúng ta có thể làm ngay là nâng cao nhận thức của các tòa soạn về báo chí khoa học. Chỉ khi nào báo chí khoa học được đặt đúng vị trí của nó và người làm báo khoa học có đủ năng lực thì chất lượng báo chí khoa học mới được cải thiện. Và không còn con đường nào khác hơn ngoài đào tạo. Chương trình đào tạo báo chí khoa học (SJCOOP) do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Các nhà báo khoa học thế giới (WFSJ) tổ chức năm 2013 là một minh chứng cho hiệu quả của công tác đào tạo. Nhiều nhà báo trưởng thành từ chương trình này đã trở thành những cây bút khoa học tiêu biểu ở Việt Nam.    Đại dịch Covid-19 đã gây ra những tổn thất không thể đo đếm cho thế giới. Tuy nhiên, đó cũng là cơ hội để con người nhìn lại những giá trị căn bản của cuộc sống. Covid-19 đã tái khẳng định tầm quan trọng của báo chí khoa học trong việc giúp công chúng tiếp nhận thông tin một cách chính xác và nhanh chóng. Từ đó, họ có thể có những hành động phù hợp để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng trước cơn đại dịch. Sự hồi sinh của báo chí khoa học thực sự là một tín hiệu đáng mừng. Và với sự trở lại của báo chí khoa học thế giới, chúng ta có quyền hy vọng vào một sự thức giấc, hy vọng kịp thời, của báo chí khoa học Việt Nam.□  ——-  *Nghiên cứu sinh ngành báo chí, Đại học Bournemouth, Anh. Bài viết là một phần của luận văn nghiên cứu về báo chí khoa học ở Việt Nam của tác giả.      Tài liệu tham khảo:   [1]. Worldometer (2021), Covid-19 Coronavirus pandemic, Nguồn: https://www.worldometers.info/coronavirus/ [Truy cập: 10/04/2021].  [2]. Nelkin, D (1995), Selling science: How the press covers science and technology. Nxb Freeman, New York.  [3]. Nguyễn Đức An & Trần Thị Yến Minh (2019), Science journalism for development in the Global South: A systematic literature review of issues and challenges. Public Understanding of Science, 28(8), tr. 973–990.  [4]. Nguyễn Đức An (2014), The curent status of science journalism in Southeast Asia, Research Report Prepared on behalf of World Federation of Science Journalists for the International Development Research Centre.  [5]. RED (2021), Sổ tay báo chí khoa học viết về môi trường, biến đổi khí hậu, sức khoẻ, Dự án nâng cao hàm lượng thông tin khoa học trong tác phẩm báo chí.    Author                Trần Thị Yến Minh        
__label__tiasang Báo chí – Nhà báo và tầng lớp trí thức hiện đại      Khái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức – kẻ sĩ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí – một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây – đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào.    Trong xã hội truyền thống, vai trò nắm giữ học vấn và dẫn đạo tư tưởng của trí thức được nắm giữ bởi tầng lớp sĩ (kẻ sĩ, sĩ phu) – tầng lớp đứng đầu tứ dân trong bảng thang sĩ – nông – công – thương. Mục tiêu lớn nhất của kẻ sĩ là ông quan (thông qua thi cử). Phẩm chất trí thức, trong trường hợp này, không phải là phẩm chất duy nhất của kẻ sĩ. Nó chỉ là một thành tố trong một cấu trúc nhân cách phức tạp hơn: ông quan. Tính tòng thuộc và không độc lập của phẩm chất trí thức bắt nguồn từ thực tế này.  Từ kẻ sĩ trở thành ông quan, như thế, không phải là sự phát triển về chất của tri thức mà là sự thay đổi, một dịch chuyển về thứ bậc xã hội. Từ đây kẻ sĩ không còn ở trong tứ dân mà thuộc về một đẳng cấp xã hội mới trong mô hình vua –  quan – dân. Đây không phải là mô hình ở đó các vai trò xã hội (tương ứng với nó là những mô hình nhân cách) tồn tại trên cùng một mặt bằng. Vua – quan – dân là một tổ chức theo trục dọc, mang tính tôn ti chặt chẽ. Quan lại cai trị dân, là “phụ mẫu chi dân” nhưng trong quan hệ với thiên tử ông ta chỉ là một thần tử với những bổn phận và khuôn phép đã được quy định trước, không thể việt vị. Vì lẽ đó, ông quan vẫn chỉ là một thứ – nhân cách, bị chế định và bị quy chiếu vào một nhân cách cao hơn: thiên tử. Nếu như đòi hỏi tối cao của người trí thức là truy cầu chân lý và vì thế thường đóng vai trò phản biện đối với trật tự xã hội hiện tồn thì chức phận của một ông quan lại đòi hỏi phải được đặt lên hàng đầu phẩm chất của chữ trung. Với trật tự hiện hành, ông quan có thể dâng biểu tấu, điều trần, thậm chí đàn hặc, nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn thuộc về thiên tử. Lịch sử đã ghi lại đây đó những lời can gián thật thống thiết của những danh thần nhưng, như thực tế đã xác nhận, phần lớn chúng đều chỉ là những lời độc thoại. Và thường thì việc can gián cần phải được tiến hành với rất nhiều những nghi thức. Tận cho đến cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ, dù không bị ràng buộc bởi cân đai của một triều thần, khi dâng bản điều trần phê phán lối học tập hư văn, phù phiếm mà theo ông triều đình phải chịu một phần trách nhiệm vẫn phải có những lời rào đón, thăm dò với không ít những e dè. Bi kịch lớn nhất của kẻ sĩ với tư cách trí thức quan liêu, đúng như Trần Nho Thìn đã chỉ ra qua trường hợp của Nguyễn Trãi, là ở chỗ: luôn “có nguy cơ bị biến thành một công chức đơn thuần, thừa hành lệnh trên, một thứ chuyên viên cao cấp chứ không phải là một nhà văn hóa chính trị”. Và điều này là có lý do. Không có một thiết chế văn hóa nào, trong một xã hội chuyên chế, đảm bảo cho nhân tố trí thức ở ông quan có thể hiện diện, tồn tại một cách độc lập.  Không phải kẻ sĩ nào cũng có cơ may tham gia vào đội ngũ trí thức quan liêu. Phần lớn họ tồn tại trong dân gian với cương vị thầy đồ, thầy thuốc, thầy địa lý… Không gian để họ hành xử: trong biên giới của một làng xã cụ thể. Tính chất tự trị của làng xã cùng với khả năng mưu sinh bằng những tác nghiệp cụ thể chứ không phải từ bổng lộc của vua ban khiến kẻ sĩ có được cái tự tại, nhàn dật của một kẻ ngoài vòng cương tỏa nhưng cũng vì thế mà họ bị đẩy ra xa hơn với trung tâm điều phối chính thống của xã hội. Ngoài việc hành nghề, kẻ sĩ chủ yếu tác động đến đời sống cộng đồng bằng cách nêu gương từ chính những ứng xử của mình trong cuộc sống. Cũng có khi họ đóng vai trò tạo lập và hướng đạo cho dư luận để đối đầu với quan lại khi những bậc cha mẹ dân này không thực hiện đúng chức trách của mình. Khả năng tác động của họ đến thực tiễn, trong trường hợp này, có thể trực tiếp hơn, đa dạng hơn nhưng vì ở một vị thế thấp hơn trên bảng thang thứ bậc xã hội nên phạm vi, và tính chất tác động cũng khiêm tốn hơn; tuy liên tục trong thời gian nhưng không thoát khỏi tính chất nhỏ lẻ.  Như thế: trong cả hai trường hợp sự tồn tại của kẻ sĩ trong xã hội truyền thống ta không thấy những cơ sở cho phép họ tồn tại với tư cách người sản xuất những tư tưởng, tìm kiếm chân lý (một thuộc tính quan trọng bậc nhất của người trí thức hiện đại). Chẳng những thế, bị mặc định trong thân phận của một thần tử, nhân cách của kẻ sĩ luôn bị quy chiếu, tòng thuộc vào thiên tử khiến cho sự độc lập, chủ động, năng động của họ trước những vấn đề của thực tiễn đời sống bị giảm thiểu. Cái tâm thế Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông với nỗi niềm Chừng nào thánh đế ơn soi thấu của Nguyễn Đình Chiểu không hề là sáo ngữ mà là một thực tế nghiệt ngã của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến.  Giới thuyết về mô hình trí thức – kẻ sĩ như trên tất yếu đặt ta trước một kết luận: trở thành Nhân cách độc – tiêu chí quan trọng nhất để nhận diện về sự ra đời của tầng lớp trí thức – hiện đại. Đấy, là cả một sự biến đổi không dễ dàng và bởi những nguyên nhân chắc hẳn là rất phức tạp mà trường hợp Nguyễn Trường Tộ là một minh chứng. Toàn bộ hành xử của Nguyễn Trường Tộ cho thấy sự cố gắng để duy trì sự độc lập trong nhãn quan cũng như hành xử của mình với tư cách một trí thức. Thoát khỏi khoa cử bởi có một cái nhìn hoàn toàn độc lập và tỉnh táo của một người chủ trương thực học – điều mà không một nhà khoa bảng nào đương thời có được – Nguyễn Trường Tộ còn kiên trì hơn bao giờ hết khi giữ khoảng cách với triều đình Nguyễn. Bất chấp biệt nhãn của Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ luôn từ chối danh phận của một quan chức dù không ít lần ông được giao những nhiệm vụ thực sự quan yếu của triều đình. Chính trong sự độc lập ấy mà phẩm chất một trí thức của Nguyễn Trường Tộ được bộc lộ trọn vẹn nhất. Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ mới chỉ đạt được sự độc lập trong nhận thức hiện thực. Không có một thiết chế nào giúp những tư tưởng của ông được tồn tại công khai dưới ánh mặt trời và có được một sức mạnh vật chất cần thiết. Những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ chỉ được biết đến một cách hạn chế bởi Tự Đức và một vài đại thần cao cấp của triều đình. Những do dự và biến động chính trị đã khiến những tâm huyết của Nguyễn Trường Tộ bị bỏ qua, chìm trong bóng tối.  Chính từ khía cạnh này mà chúng ta nói đến vai trò của báo chí trong sự hình thành của tầng lớp trí thức hiện đại.  ***  Cần phải khẳng định một điều: người Pháp đến Việt Nam cố nhiên không phải để thiết lập một chế độ dân chủ. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu tiên của quá trình thực dân, với ý đồ xóa bỏ cơ tầng văn hóa bản địa để cấy vào đó một mô hình văn hóa được sao chép từ chính quốc (mà Sài Gòn là một thử nghiệm) đã đưa lại một sự đồng dạng nhất định, chí ít là trên cơ sở của những thiết chế, giữa hai nền văn hóa. Ở giai đoạn tiếp theo, khi những văn hóa bản địa được tôn trọng (nhằm lợi dụng từ trong truyền thống những nhân tố hữu ích cho việc vận hành một cách ổn định bộ máy cai trị) thì với những biến đổi về kinh tế sau hai cuộc khai thác thuộc địa đã kéo theo nó những thay đổi căn bản trong cấu trúc xã hội. Một minh chứng tiêu biểu: tại thời điểm này, người ta buộc phải ghi nhận sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ở thành thị với một số lượng và vai trò văn hóa ngày một chiếm một tỷ lệ quan trọng. Đặc điểm của tầng lớp này đã được Đào Duy Anh khái quát một cách ngắn gọn: “điều kiện sinh hoạt vật chất của họ dồi dào chừng nào thì lòng hâm mộ của họ đối với văn hóa Tây phương càng nồng nàn chừng ấy”. Lẽ tự nhiên, tầng lớp dân cư này, trong bộ gen của mình, có sự tương thích đặc biệt với một môi trường sống mà ở đó tính chất dân chủ ít nhiều đã được tôn trọng và bắt đầu bén rễ. Cũng chính trong môi trường như thế, chỉ trong môi trường như thế (với sự trợ giúp đặc biệt của chữ quốc ngữ, cho dù vẫn tồn tại một dòng báo chí bằng chữ Hán và đặc biệt là Pháp ngữ) mà báo chí xuất hiện. Nói chính xác hơn thì đây là một quan hệ tương hỗ: báo chí thúc đẩy tư tưởng dân chủ phát triển và ngược lại những yếu tố dân chủ trong xã hội đã khiến báo chí phát triển nhanh chóng và có một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của xã hội.  3. Sự ra đời của báo chí, lẽ tự nhiên, làm xuất hiện một chân dung mới: ký giả, hay nhà báo. Những danh xưng này, trong ngôn ngữ đương đại thiên về ý nghĩa nghề nghiệp thuần túy nhưng ở vào thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lại có nét nghĩa chỉ một nhóm có vai trò ưu đẳng trong xã hội (status group). Với quốc dân, họ là đại diện cho luân lý và tri thức, có chức phận dẫn dắt, hướng đạo. Trong một xã hội vốn có truyền thống trọng quan tước, ký giả thậm chí được liệt vào tầng lớp “quan lại cao cấp”. Danh xưng ký giả thời kỳ ấy thậm chí còn danh giá hơn cả ấn tri huyện. Đây là lý do khiến Tản Đà, năm 1916, khước từ lời mời vào học đặc cách của Giám đốc trường Hậu Bổ để lựa chọn con đường trở thành một ký giả, một nhà báo (chứ không phải là một nhà văn theo nghĩa hiện đại như vẫn thường được quan niệm).  Và theo chúng tôi, nhà báo là nhân vật văn hóa cho thấy sự mở đầu cho một tầng lớp trí thức hiện đại, một sự tiếp biến của mô hình nhân cách kẻ sĩ từ truyền thống đến hiện đại.  Điểm tương cận giữa nhà báo và kẻ sĩ, như trên đã nói, là vị thế của một nhóm tinh hoa có khả năng là đại diện cho đời sống tinh thần cộng đồng. Hẳn phải có lý do để Phạm Quỳnh, năm 1917, sau khi đưa ra một thực tế: “Lắm nước như nước Pháp nươc Anh, dư luận (do nhà báo khởi xướng – TVT chú) thật là giữ quyền chúa tể trong nước, chi phối cả cuộc sinh hoạt quốc dân về chính trị, xã hội, kinh tế” đã hồ hởi tuyên bố: “Nước Nam ta sau này hay hay dở, các nhà báo cũng có phần vào đấy”.    Tuy nhiên, quan trọng hơn, báo chí còn đem lại một không gian mới cũng như một khả năng mới cho sự tồn tại độc lập cũng như khả năng tác động đến thực tiễn của nhà báo với tư cách người trí thức trong xã hội hiện đại.  Thứ nhất, công chúng của tờ báo khiến cho viết báo trở thành một nghề. Nếu như ông quan luôn bị ràng buộc bởi ơn mưa móc, bổng lộc từ thiên tử và vì thế không thể giữ một vai trò phản biện cho trật tự xã hội hiện hành thì tư cách nhà báo cho phép người trí thức hiện đại có khả năng tồn tại độc lập. Chẳng những thế anh ta có điểm tựa từ công chúng để đối diện với bộ máy quyền lực. Người trí thức đến đây đã thoát khỏi thân phận ký sinh vào tồn tại của ông quan. Điều này cũng có nghĩa là một khoảng cách cần thiết giữa trí thức và bộ máy quyền lực đã được xác lập và chính trên cơ sở này mà năng lực tư duy độc lập, khả năng bén nhạy trong việc nhận diện và phản biện về những tồn tại của thể chế xã hội đương thời của người trí thức được kích hoạt và triển khai.  Mặt khác, báo chí đưa lại cho nhà báo khả năng tác động đến thực tiễn xã hội một cách trực tiếp và hết sức sâu rộng. Nếu như tác động của nhà trường chủ yếu trong phạm vi học sinh sinh viên thì bất kỳ ai, thuộc về bất kỳ tầng lớp nào, chỉ cần biết đọc cũng là đối tượng tiềm tàng cho sự tác động của báo chí. Sự nghiệt ngã trong chế độ kiểm duyệt của nhà nước bảo hộ không phải lúc nào cũng có thể duy trì, và dù thế nào chăng nữa vẫn luôn có kẽ hở trước một thực tiễn báo chí sinh động. Những tư tưởng của nhà báo vì thế luôn tìm được đường đến với công chúng. Dù chỉ tồn tại với một số báo duy nhất thì tư tưởng của những người cầm bút tờ Le Nhà quê của Nguyễn Khánh Toàn vẫn để lại tiếng vang của nó trong đại chúng. Số lượng lớn của những tờ báo, đặc biệt là báo chí tư nhân cũng là một không gian rộng lớn để những ký giả xuất hiện với những tư tưởng mà họ theo đuổi truy tìm từ đó tác động trực tiếp đến đời sống xã hội. Điều này giải thích vì sao những trí thức lớn nhất của thời kỳ này (dù xuất thân từ những địa hạt tri thức khác nhau) đều tìm đến với những tờ báo và không hiếm khi họ gắn chặt tên tuổi của mình với một tờ báo nào đó. Nhà báo là biểu hiện tập trung nhất phẩm chất, năng lực đối diện với thực tế đời sống của người trí thức hiện đại. Trên thực tế, không ít những tờ báo đã đóng vai trò như là trung tâm của sự diễn tiến tư tưởng xã hội. Lục Tỉnh Tân Văn là tiếng nói của cuộc vận động Minh Tân với những tên tuổi của Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản. Đăng Cổ Tùng Văn là cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục – những nhà chí sĩ cũng đồng thời là những nhà báo. Phong trào Âu hóa rầm rộ những năm 30 được xúc tiến dưới sự dẫn đạo của Nguyễn Tường Tam và những yếu nhân của Phong Hóa và Ngày Nay… Điều này giải thích vì sao nếu trước tác của kẻ sĩ xưa chủ yếu là với tư cách của một văn thần (khi thừa mệnh, phụng chỉ chấp bút những văn bản hành chức năng) hoặc với tư cách một văn nhân, một nghệ sĩ tài hoa trong ngôn từ mà không mấy khi hiện diện với tư cách của một nhà tư tưởng, nhà chính trị với chính kiến độc lập thì thời kỳ này tên tuổi của những Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn An Ninh, Vũ Đình Hòe…chủ yếu được biết đến với những tư tưởng, chủ thuyết mà họ đề xuất.  ***  Từ những miêu tả và phân tích tuy còn là những phác thảo sơ lược trên có thể thấy: báo chí là môi trường cũng là một trong những nguyên nhân đặc biệt quan trọng cho sự xuất hiện của một mẫu hình mới: nhà báo- biểu hiện tập trung và sinh động cho những phẩm chất của người trí thức hiện đại. Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thường được nhận diện trước tiên và chủ yếu qua những cuốn sách, những nhà tư tưởng, những trào lưu văn học cụ thể. Tuy nhiên, những thiết chế văn hóa còn quan trọng hơn thế. Chúng đem đến một khung khổ mới cho không gian tinh thần của xã hội.  ————  * Thạc sĩ khoa Ngữ văn- ĐHSP HN  Wd  Sự tồn tại của kẻ sĩ trong xã hội truyền thống ta không thấy những cơ sở cho phép họ tồn tại với tư cách người sản xuất những tư tưởng, tìm kiếm chân lý (một thuộc tính quan trọng bậc nhất của người trí thức hiện đại).    Trần Văn Toàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo chí trong phòng chống tham nhũng      Báo chí khắc tinh với quan tham. Lý do là vì báo chí là cơ chế giám sát các quan chức rất khắt khe và hiệu quả. Chính vì thế trong các giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh về phòng chống tham nhũng trong những năm vừa qua, người đứng đầu Chính phủ đã đề nghị các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương cần phát huy vài trò giám sát của báo chí.    Thực tế những năm vừa qua cho thấy, trong phòng chống tham nhũng các thiết chế kiểm tra, thanh tra, điều tra… là cần thiết nhưng không thể thay thế được cho sự giám sát của báo chí. Đơn giản là vì các thiết chế nói trên vận hành chủ yếu theo chế độ trách nhiệm, còn báo chí thì lại vận hành chủ yếu theo chế độ lợi ích. Càng theo sát các quan chức, các phóng viên càng giúp cho báo mình có được những thông tin mà người dân muốn biết. Càng cung cấp được nhiều thông tin mà người dân muốn biết, thì báo càng dễ bán được ở trên thị trường. Càng bán được báo ở trên thị trường thì các báo càng dễ bán được cả những dịch vụ như quảng cáo, nhắn tin… Và trăm mối đều sẽ dẫn đến cái sự có lợi và sự có tiền. Đây là logic đơn giản của chế độ lợi ích. Và đây là một sự khuyến khích liên tục và không ngừng nghỉ. Chưa hết, càng có nhiều tiền thì các tờ báo lại càng có điều kiện để cử các phóng viên của mình theo sát các quan chức.  Mỗi khi bạn từ bỏ việc bao cấp cho các tờ báo và bắt chúng phải hoạt động theo cơ chế thị trường thì thực chất bạn đã thả hổ về rừng. Hãy tuân thủ những quy tắc của đạo đức và chế độ công vụ, nếu như bạn không muốn bị “hổ” vồ. Khác với các quan chức làm nhiệm vụ kiểm soát, các phóng viên báo chí là rất khó được nhận biết. Họ có thể là bất cứ ai đang đi trên đường hoặc đang ngồi trong nhà hàng. Họ có mặt ở khắp mọi nơi và trong mọi lúc. Tệ hại hơn, bạn khó có thể nhận biết được là mình đã bị họ ghi âm, ghi hình như thế nào. Bởi vì rằng trong thời đại ngày nay, các thiết bị ghi âm, ghi hình đều bé xíu, thậm chí một chiếc điện thoại di động, một chiếc máy tính bỏ túi cũng đều có thể trở thành những thiết bị ghi âm, ghi hình như vậy.  Do động lực tự nhiên và to lớn của báo chí trong việc giám sát các quan chức, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thiết chế này như một công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực và chống tham nhũng. Các nước này đã tạo ra một không gian rộng lớn cho hoạt động của báo chí và một sự bảo vệ pháp lý vững chắc cho các nhà báo. Và họ đã gặt hái những thành công to lớn trong việc giám sát quyền lực và bảo đảm chế độ trách nhiệm.  Ở nước ta, báo chí cũng có thể làm được những điều mà báo chí của các nước có thể làm. Hoạt động giám sát việc sử dụng xe công là một ví dụ cụ thể. Vấn đề là phải tạo điều kiện thuận lợi để báo chí có thể thực hiện được chức năng giám sát của mình. Ở đây, những kinh nghiệm của các nước là một nguồn thông tin bổ ích mà chúng ta cần phải tham khảo.  Thực ra, lạm dụng sự giám sát của báo chí không phải là không có vấn đề. Một trong những vấn đề như vậy là việc vi phạm quyền riêng tư của con người. Các quan chức thì trước hết cũng là những công dân. Trong đời sống tư, các quyền con người, mà trước hết là quyền riêng tư của họ phải được bảo vệ. Hệ thống pháp luật và hệ thống tòa án của đất nước ta sẽ phải có đủ sự tinh tế để phân định được đâu là đời sống tư và đâu là đời sống công. Và các tờ báo cũng phải có đủ văn hóa để phân định được ranh giới này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo chí trong phòng chống tham nhũng      Báo chí khắc tinh với quan tham. Lý do là vì báo chí là cơ chế giám sát các quan chức rất khắt khe và hiệu quả. Chính vì thế trong các giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh về phòng chống tham nhũng trong năm 2008, người đứng đầu Chính phủ đã đề nghị các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương cần phát huy vai trò giám sát của báo chí.    Thực tế những năm vừa qua cho thấy, trong phòng chống tham nhũng các thiết chế kiểm tra, thanh tra, điều tra… là cần thiết, nhưng không thể thay thế được cho sự giám sát của báo chí. Đơn giản là vì các thiết chế nói trên vận hành chủ yếu theo chế độ trách nhiệm, còn báo chí thì lại vận hành chủ yếu theo chế độ lợi ích. Càng theo sát các quan chức, các phóng viên càng giúp cho báo mình có được những thông tin mà người dân muốn biết. Càng cung cấp được nhiều thông tin mà người dân muốn biết, thì báo càng dễ bán được ở trên thị trường. Càng bán được báo ở trên thị trường thì các báo càng dễ bán được cả những dịch vụ như quảng cáo, nhắn tin… Và trăm mối đều sẽ dẫn đến cái sự có lợi và sự có tiền. Đây là lôgíc đơn giản của chế độ lợi ích. Và đây là một sự khuyến khích liên tục, không ngừng nghỉ. Chưa hết, càng  có nhiều tiền thì các tờ báo lại càng có điều kiện để cử các phóng viên của mình theo sát các quan chức.  Do động lực tự nhiên và to lớn của báo chí trong việc giám sát các quan chức, nhiều nước trên thế giới đã tạo ra một không gian rộng lớn cho hoạt động của báo chí và một sự bảo vệ pháp lý vững chắc cho các nhà báo.    Mỗi khi bạn từ bỏ việc bao cấp cho các tờ báo và bắt chúng phải hoạt động theo cơ chế thị trường thì thực chất bạn đã thả hổ về rừng. Hãy tuân thủ những quy tắc của đạo đức và chế độ công vụ, nếu như bạn không muốn bị “hổ” vồ. Khác với các quan chức làm nhiệm vụ kiểm soát, các phóng viên báo chí là rất khó được nhận biết. Họ có thể là bất cứ ai đang đi trên đường hoặc đang ngồi trong nhà hàng. Họ có mặt ở khắp nơi và trong mọi lúc. Tệ hại hơn, bạn khó có thể nhận biết được là mình đã bị họ ghi âm, ghi hình như thế nào. Bởi vì rằng trong thời đại ngày nay, các thiết bị ghi âm, ghi hình đều bé xíu, thậm chí một chiếc điện thoại di động, một chiếc máy tính bỏ túi cũng đều có thể trở thành những thiết bị ghi âm, ghi hình như vậy.   Do động lực tự nhiên và to lớn của báo chí trong việc giám sát các quan chức, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thiết chế này như một công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực và chống tham nhũng. Các nước này đã tạo ra một không gian rộng lớn cho hoạt động của báo chí và một sự bảo vệ pháp lý vững chắc cho các nhà báo. Và họ đã gặt hái những thành công to lớn trong việc giám sát quyền lực và bảo đảm chế độ trách nhiệm.  Ở nước ta, báo chí cũng có thể làm được những điều mà báo chí của các nước có thể làm. Hoạt động giám sát việc sử dụng xe công vừa qua là một ví dụ cụ thể. Vấn đề là phải tạo điều kiện thuận lợi để báo chí có thể thực hiện được chức năng giám sát của mình. Ở đây, những kinh nghiệm của các nước là một nguồn thông tin bổ ích mà chúng ta cần phải tham khảo.  Thực ra, lạm dụng sự giám sát của báo chí không phải là không có vấn đề. Một trong những vấn đề như vậy là việc vi phạm quyền riêng tư của con người. Các quan chức thì trước hết cũng là những công dân. Trong đời sống tư, các quyền con người, mà trước hết là quyền riêng tư của họ phải được bảo vệ. Hệ thống pháp luật và hệ thống toà án của đất nước ta sẽ phải có đủ sự tinh tế để phân định được đâu là đời sống tư và đâu là đời sống công. Và các tờ báo cũng phải có đủ văn hóa để phân định được ranh giới này.       Nguyễn Sĩ Dũng       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bao giờ khoa học và đại học Việt nam mới chịu gia nhập WTO?      Mọi người đang hăng hái lên thuyền ra khơi, sao đám người kia vẫn còn nhởn nhơ trên bến? Mà lý ra chính họ phải ngồi vào khoang lái mới phải!        Lao động cơ bắp từ các tay chèo không thể đưa thuyền vươn xa ra đại dương. Nguồn năng lượng giờ đây phải là tri thức của thời đại. Nơi sản sinh và truyền bá những tri thức đó, để đất nước không bị thua thiệt trong cuộc chơi toàn cầu bằng sức mạnh kinh tế và bằng dân trí, chính là các trường đại học tiên tiến và một nền khoa học bắt kịp mặt tiền trên thế giới. Cả hai giờ đây đều chưa sẵn sàng.  Trước hết, còn nhiều vùng đất bao la trên bản đồ khoa học chưa có dấu chân người Việt. Công nghệ cao và khoa học mũi nhọn – nguồn sức mạnh của các nước tiên tiến- ta chưa có đã đành. Nhiều ngành khoa học trực tiếp liên quan đến nền kinh tế thị trường, về toàn cầu hoá, về con người hiện đại trong vai trò chủ nhân của thiên nhiên và xã hội…, những lĩnh vực sát sườn với đời sống đó vẫn còn quá mới mẻ đối với chúng ta.    Cấu trúc các ngành khoa học nặng về hàn lâm (academic disciplines) lâu nay không còn thích hợp nữa, khi giờ đây trên bản đồ khoa học thế giới ngày càng hình thành nhiều khoa học liên ngành (interdisciplinarity) xuất phát từ yêu cầu cuộc sống. Sự tụt hậu này là một trong những lý do khiến khoa học của ta “chân không đến đất, cật không đến trời”, chẳng những chưa có mấy vai trò trong nền kinh tế, mà rất ít hy vọng trở thành nguồn sức mạnh văn hoá như đúng bản chất của nó.   Nhờ giao thoa với các khoa học tự nhiên, trước hết là công nghệ xử lý thông tin, khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới đã bứt phá ra khỏi các hệ tư tưởng để trở thành những động lực trực tiếp của nền kinh tế thị trường. Vậy tại sao nhiều người vẫn cứ xem đây như một vùng “cấm ky”? Nói không ngoa, giờ đây không phải khoa học tự nhiên và công nghệ, mà chính khoa học xã hội và nhân văn với những tư duy và công cụ hiện đại mới là cái gì tối cần thiết đối với chúng ta.    Quản lý khoa học nặng về hành chính không thể tạo nên hành trang đưa các nhà khoa học hội nhập với thế giới. Hành chính hoá cao độ ắt phải tư duy theo lối mỳ ăn liền, dần dà làm triệt tiêu đội ngũ tinh hoa trong khoa học công nghệ. Bởi thế, rất ít “đấu thủ” Việt Nam xuất hiện trên các tạp chí khoa học quốc tế, trong số đó, gần hai phần ba là từ các ngành toán và vật lý. Bức tranh độc đáo Việt Nam này làm cho không ít người ngộ nhận rằng các tạp chí khoa học quốc tế chỉ là sân chơi của khoa học cơ bản. Nên nhớ rằng chỉ riêng Elsevier (có trụ sở ở Hà Lan) đã xuất bản gần 2000 đầu tạp chí khoa học, thể hiện đầy đủ diện mạo khoa học thế giới, trong đó khoa học cơ bản (cần một định nghĩa!) chỉ chiếm một phần nhỏ.  Áp lực đè nặng lên nhà khoa học ở các nước là sự xuất hiện trên các diễn đàn khoa học danh tiếng trên thế giới. Không phải để lấy danh, mà là lẽ sống, là niềm đam mê, và vì nếu không nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế như thế, nhà trường không thể đào tạo ra những sản phẩm có chất lượng.   Vậy, tại sao trong khi giới doanh nhân của ta đang phải nhảy lên các sân chơi quốc tế, nắm rõ luật chơi và đẳng cấp các đối thủ của mình, thì những “nhà trí thức” vẫn còn luẩn quẩn ở sân nhà và bằng lòng với luật chơi của mình?             Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tàng Văn hóa biển?      Đúng là chúng ta nên có một Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, như thông điệp truyền đi từ hội thảo “Văn hóa biển đảo” ở Nha Trang mới đây. Nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành, nếu không nó sẽ khó tránh khỏi viễn cảnh giống như Bảo tàng Hà Nội, một công trình khổng lồ mà rỗng ruột!    Qua theo dõi báo chí và thăm thú nhiều bảo tàng trong nước nói chung, nhiều ý kiến đã nêu lên những cái chưa được của quan niệm làm bảo tàng ở Việt Nam. Vì bảo tàng đâu chỉ là nơi minh chứng một quyết định của một thời mà còn là nơi để các thế hệ say mê học tập quá khứ để nhìn về tương lai, nơi trưng bày những sự vật sinh động, nhân văn lôi cuốn mọi người? Nếu với cách làm bảo tàng hiện nay, có lẽ chúng ta không thể chấp nhận như một vài bảo tàng nước ngoài mà tôi đã thấy, ví dụ nó diễn giải con người đã giải quyết việc “ị” trên tàu như thế nào, từ thời các tàu buồm cho tới con tàu hiện đại, một việc khá tầm thường theo cách nhìn chung của chúng ta, nhưng lại khá sinh động và rất “khoa học công nghệ”, rất nhân văn.   Bảo tàng Dân tộc tại Hà Nội là một thí dụ thành công: người tham quan đã từng được ôn lại sinh hoạt thời bao cấp với những chi tiết tỉ mỉ, trẻ em có thể chơi “ô ăn quan” đúng như các cụ ta xưa kia vui đùa. Chỉ tiếc là cái thuyền Thanh Hóa để gần cửa ra vào của Bảo tàng chẳng nói lên được điều gì về cuộc chinh phục sông biển của dân tộc… Cho nên thay đổi một cách sâu sắc cách làm bảo tàng, sử dụng thật tốt các bảo tàng với yếu tố biển sẵn có như Bảo tàng Hải quân Hải Phòng, Bảo tàng Cọc Bạch Đằng tại Quảng Yên, Bảo tàng Quy Nhơn, Bảo tàng Trận Rạch Gầm-Xoài Mút tại Mỹ Tho… có thể là việc cần làm ngay, thiết thực, là bước tập dượt cho một bảo tàng chuyên mang yếu tố biển sau này.   Một yếu tố vô cùng quan trọng nữa là hiện vật và các câu chuyện, là nội dung trong khối nhà to lớn mà ta sẽ gọi là Bảo tàng Văn hóa biển. Có thể nói rằng, cái “ruột” của bảo tàng đó hiện nay quá sơ sài, nếu không muốn nói là chẳng có gì, tức là chúng ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu sinh hoạt sông biển của dân tộc, từ việc làm ghe đóng thuyền, may buồm, tới việc đan lưới đánh cá và các câu ca dao hò vè… Có bạn sẽ phản đối và dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu về lễ hội Nghinh Ông, về các lễ Cầu Ngư… nhưng cứ xem bộ phim về biển đảo mà Truyền hình Việt Nam đã xây dựng cũng đủ biết tư liệu quá nghèo: lại các ảnh Hội An từ tư liệu nước ngoài cũ kỹ, lại thuyền trống đồng… Có một chi tiết trong bộ phim này mà tôi không quên là có một ông tiến sĩ dân tộc học trước cái mô hình thuyền buồm cánh dơi đã giải thích say sưa về cái xiếm nhưng nhầm nó với chức năng bánh lái thuyền, một cái nhầm chết người về kỹ thuật!   Trong khi đó những việc làm từ Trung Hoa đáng để chúng ta học tập. Từ vài chục năm trước, với ý chí bành trướng ra đại dương, họ đã có một kế hoạch tỉ mỉ lôi cuốn toàn dân, trước hết là giới học giả, khoa bảng trong cuộc ngược về quá khứ tìm tòi truyền thống, hướng tới tương lai đại dương, biển xanh, trong tất cả mọi ngành nghề từ khoa học xã hội lẫn tự nhiên, từ tỉnh miền núi Vân Nam tới những bảo tàng thuyền ở Phúc Châu, Phúc Kiến, từ những kho sách cổ tại Bắc Kinh tới những cuộc truy tìm các hậu duệ Hoa cho là còn sót lại tại Kenya (1) Phi Châu, từ hàng trăm nghìn đầu sách về lịch sử chinh phục biển trong nước tới cả những cuộc liên kết cổ động cho Gavin Menzies (2), một ông sĩ quan Anh về hưu nhưng mê “vịt tiềm Bắc Kinh”… Nhìn những cuốn sách trong bộ “Cổ thuyền” (3), một công trình nghiên cứu của họ, chứng minh cuộc chinh phục biển trong quá khứ, chúng ta không thể tự hỏi, ở nước ta đã có những công trình tương tự như vậy hay vẫn chỉ là việc nhắc lại những Paris, Pietri, những công trình bất hủ nghiên cứu về thuyền bè của chúng ta đã có tuổi đời hơn nửa thế kỷ?  Các công trình của các trường đầy ắp các đề tài “thiết kế tàu 5 vạn tấn”, “thiết kế tàu cánh ngầm”, những đề tài copy và paste, cắt và dán nhưng liệu có đề tài nào đề cập tới buồm cánh dơi, cách tính toán và công nghệ dân gian ra sao?   Trong khi đó chúng ta nên biết rằng tàu thuyền Việt Nam luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều thế hệ các học giả nước ngoài, là nỗi đam mê của John Doney và Edwards người Mỹ, của bà Francoise Aubaile-Sallenave (4) người Pháp. Suốt mùa hè năm 2009 Edwards đã một mình rong ruổi một chiếc xe máy cà tàng từ Móng Cái tới Kiên Giang với một chiếc máy ảnh để lưu giữ hàng nghìn tấm hình thuyền bè mà ông sợ “sẽ mất rất nhanh theo thời gian”! Có lẽ Tim Severin (5), nhà du lịch huyền thoại người Anh biêt rõ về nơi làm buồm cánh dơi tại Hà Nam, Phong Cốc, Quảng Yên hơn rất nhiều các học giả nước ta.       Đúng là chúng ta nên có Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê  nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có  khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành. Chúng ta biết rằng cuộc nghiên cứu cọc Bạch  Đằng (6) vừa qua đã có mặt nhiều trung tâm khảo cổ hàng đầu thế giới, sử  dụng nhiều công nghệ mới, trong đó có sonar quét bên…Mục đích cuối cùng là Bảo tàng Văn hóa biển phải có khả năng truyền bá lòng yêu biển, lôi kéo toàn dân tộc tiến ra đại dương làm giàu từ biển và sẵn sàng hy sinh bảo vệ sông biển mà tiền nhân đã giành được!     (1) Tháng 10 năm 2010, các nhà khảo cổ Trung Quốc đào bới ở ven bờ Malindi, Kenya cộng với những bằng chứng nhân chủng học để cố chứng minh Trịnh Hòa thời nhà minh đã tới nước này và bị đắm tàu!   (2) Tác giả một số sách gây sốc, trong đó có cho rằng Trịnh Hòa nhà thám hiểm thời nhà Minh đã đi vòng quanh thế giới trước Magellan, và đã bị chính các nhà khoa học Anh bác bỏ.  (3) Có hàng chục công trình về cổ thuyền, gần đây tháng 05/2011 là cuốn “Trung Quốc Cổ Thuyền Đồ Phả” 中国古船图谱 của tác giả Vương Quan Trác王冠倬  (4) Tác giả “Bois et Bateaux du Vietnam” xuất bản tại Paris năm 1987  (5) Người đã thực hiện rât nhiều chuyến du lịch lặp lại của người xưa. Trong cuốn “China Voyage” xuất bản năm 1994, ông tả lại chuyến vượt Thái Bình Dương bẳng mảng tre (làm tại Sầm sơn) với buồm (may tại Hà Nam Quảng Yên )   (6) Cuộc khai quật nghiên cứu trận Bạch Đằng tiến hành năm 2009 thực hiện bởi Tiến sĩ Lê Thị Liên, Cô Huong Nguyen Mai, Cô Charlotte Pham, Tiến sĩ Mark Staniforth, Tiến sĩ Jim Delgado, Ông Jun Kimura và ông Randall Sasaki             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn đa dạng sinh học biển xuyên quốc gia      Việt Nam có đường biên giới trên biển với nhiều quốc gia láng giềng – đó  chính là cơ sở để thiết lập các khu bảo tồn biển xuyên biên giới mà theo  kinh nghiệm thế giới sẽ giúp cho công tác giám sát, bảo vệ lãnh hải và  tài nguyên được an toàn hơn.    Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), “Một khu bảo tồn xuyên biên giới (Transboundary Protected Area – TBPA) là vùng trên đất liền hay trên biển có hai hoặc nhiều đường biên giới chung giữa các quốc gia, các đơn vị lãnh thổ như tỉnh, vùng, vùng tự trị hoặc các vùng nằm ngoài giới hạn chủ quyền và phạm vi quốc gia, có vai trò bảo tồn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các biện pháp khác”   Hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã phát triển mạnh và luôn được coi là vấn đề quan trọng trong các đàm phán ngoại giao, đa phương và song phương. Rất nhiều công ước quốc tế quy mô toàn cầu, khu vực đã được ký kết như Công ước Di sản, Công ước Ramsar, Công ước Đa dạng sinh học, Chương trình Ủy ban con người và sinh quyển MAB của UNESCO…  TBPA có lịch sử phát triển đã gần 80 năm. Năm 1932, TBPA đầu tiên của Mỹ và Canada được thành lập mang tên Waterton – Glacier. Đến năm 2007, danh mục TBPA của thế giới đã lên đến 227.   Việt Nam có đường biên giới lục địa với Trung Quốc, Lào, Campuchia và trên biển với nhiều quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, Brunei…, đó chính là cơ sở thiết lập các khu TBPA với các quốc gia láng giềng trên đất liền và trên biển.  Riêng đối với các khu TBPA trên biển, từ 30 năm trước, các tổ chức quốc tế IUCN, WWF, IMO đã tích cực thúc đẩy ba mô hình: Transboundary Marine Protected Area (khu bảo tồn biển xuyên biên giới -TBMPA) đối với các vùng biển đã phân định ranh giới quốc gia; Marine Peace Park (Công viên biển hòa bình – MPP) đối với các vùng còn tranh chấp xung đột; và Particularly Sensitive Sea Areas (PSSA) – khu biển đặc biệt nhạy cảm hàng hải.   Tiềm năng phát triển TBMPA của Việt Nam       Các khu vực có tính đa dạng sinh học biển cao tại vùng biển Việt Nam    Theo bản đồ hiện trạng phân bố các khu có tính đa dạng sinh học biển cao của Việt Nam ở trên, có thể thấy Việt Nam có bốn khu có tiềm năng phát triển thành các khu TBMPA:  Khu vực Vịnh Bắc Bộ. Hiện có bốn khu bảo tồn biển quốc gia đã được thành lập gồm: Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh), Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh), Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng), Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị). Vịnh Bắc Bộ hiện không còn tranh chấp về biên giới – lãnh thổ với Trung Quốc, bởi vậy ta có thể đề xuất với Trung Quốc xây dựng một số TBMPA hoặc PSSA thí điểm phía Bắc vịnh hay toàn thể vịnh Bắc Bộ;  Khu vực biển quần đảo Hoàng Sa. Vùng này có tính đa dạng sinh học cao, tuy còn vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, nhưng Việt Nam có thể đề xuất xây dựng MPP, PSSA tại khu vực này.  Khu vực quần đảo Trường Sa. Khu vực này gồm có: Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và đang đề xuất thêm khu bảo tồn biển Đảo Thuyền Chài. Vùng biển đảo Trường Sa đang có sự tham gia và chiếm giữ các đảo của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc; Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông (DOC), tuy nhiên các xung đột, va chạm vẫn thường xuyên xảy ra và rất khó sớm có giải pháp chính trị để phân chia lãnh thổ biển rõ ràng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể đưa ra một đề xuất để các bên liên quan sớm xem xét: lồng ghép mô hình hợp tác MPP, PSSA Trường Sa cho tiểu vùng hay toàn vùng biển quần đảo Trường Sa như là một bước tiến trong công tác bảo tồn thiên nhiên.  Khu vực Vịnh Thái Lan, gồm: Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Vùng cận biển này có thể đề xuất với tất cả hay riêng rẽ từng quốc gia Campuchia, Malaysia, Thái Lan để xây dựng TBMPA hay PSSA.  ***  Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập quốc tế toàn diện thì việc thiết lập TBPA, TBMPA, MPP, hay PSSA là rất cần thiết. Bởi vậy cần nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển TBPA trên đất liền và cả trên biển; lồng ghép vào các chương trình hoạt động bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học quốc gia, quốc tế, cũng như lồng ghép vào các hoạt động ngoại giao và quan hệ quốc tế, các chương trình phát triển bền vững đại dương.  Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đề xuất các chính sách riêng biệt cho bốn vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa, Vịnh Thái Lan, phù hợp với công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển hợp, lý tuân thủ Công ước Luật biển UNCLOS 82, DOC 2002 và các công ước quốc tê về đa dạng sinh học biển, công ước RAMSAR, Công ước Di sản, các công ước của IMO….  Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành để điều phối quản lý và phát triển các khu xuyên biên giới trên đất liền và trên biển giữa các cơ quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông và các bộ ngành, địa phương liên quan.  —       Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Bảo tồn di sản đô thị: rất cần sức ép dư luận từ cộng đồng      Trước tình trạng một số di sản đô thị ở TP. HCM đang biến mất nhanh chóng hoặc “lọt thỏm” và dần bị “bức tử” bởi các khu đô thị mới, TS. Nguyễn Thị Hậu cho rằng, chỉ khi ý thức cộng đồng được nâng cao mới có thể tác động và buộc nhà quản lý phải có động thái gìn giữ di sản.      TS. Nguyễn Thị Hậu và nhà văn Nguyễn Trương Quý trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: T.Nhàn.  Đó là một trong những quan điểm của TS. Nguyễn Thị Hậu, Phó tổng thư ký hội Khoa học Lịch sử Việt Nam về thực trạng không ít di sản đô thị tại TP.HCM như khu Ba Son, đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ, cảnh quan ven sông, biệt thự … đang biến mất hoặc bị biến dạng. Trao đổi với các chuyên gia, học giả và công chúng tại tọa đàm “Bảo tồn di sản đô thị trong quá trình hiện đại hóa” do Tia Sáng tổ chức ngày 3/7, TS Nguyễn Thị Hậu đã chỉ ra, phong trào bảo vệ di sản từ phía cộng đồng cư dân có ảnh hưởng gần như mang tính quyết định tới các nhà quản lý trong các trường hợp như Thương xá Tax hay quần thể di tích ở khu vực Chợ Lớn, và vì vậy sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn di sản đô thị.  Tư duy “một chiều”  Theo TS. Nguyễn Thị hậu, bảo tồn di sản đô thị ở TP. HCM gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn giữa lợi ích từ phát triển kinh tế với mục tiêu gìn giữ di sản. Các nhà đầu tư và giới quản lý chỉ nhìn đô thị dưới một khía cạnh, đó là giá trị kinh tế mà quên đi TP. HCM là tổng hòa của bốn đặc trưng quan trọng: “một đô thị sông nước, một trung tâm kinh tế, một đô thị của sự đa dạng văn hóa và là đô thị được quy hoạch và xây dựng theo kiểu phương Tây”. Chính tư duy này có thể “ép” những di sản đang còn “sống” đứng trước nguy cơ biến mất chỉ trong “ngày một ngày hai”. Bởi vì nhiều di sản đô thị chỉ được bảo tồn đơn lẻ (trong khi đó, di sản đô thị cần phải được bảo tồn mang tính hệ thống), bị nhiều nhà đầu tư lớn “gửi chân” và dần dần “thâu tóm” các di sản để xây dựng các công trình hiện đại.  Nguyên nhân thứ hai đến từ nhận thức của giới quản lý đô thị – chưa đánh giá đúng vai trò của di sản đô thị ở các giai đoạn lịch sử cũng như có cái nhìn “một chiều” về các thời đại lịch sử khác nhau. “Ở TP. HCM có hai kiểu tâm lý khá phổ biến là chỉ những thứ ‘cổ’ từ thời Lý, Trần, Lê mới quý, còn thời Nguyễn cũng ‘không là gì’ và phân biệt ‘di sản của ta/ không phải của ta’. ‘Ta’ ở đây có thể là người Việt, hay của những người vào Sài Gòn sau năm 1975. Tâm lý không đặt mình vào vị trí của người khác đó rất nguy hại cho việc bảo tồn di sản đô thị”, TS. Nguyễn Thị Hậu nói.  Mặt khác, một số quy định luật pháp nói chung và cơ chế quản lý đất đai nói riêng hiện nay đang khiến việc bảo vệ di sản trở nên khó khăn hơn. “Ví dụ, di sản là của ai? của chính quyền quản lý hay của nhà đầu tư? Hay của cộng đồng dân cư. Về lý thuyết, cụm từ ‘sở hữu toàn dân’ là một khái niệm rất mênh mông, trừu tượng và dễ bị lợi dụng”, TS. Nguyễn Thị Hậu nói. Đồng tình với ý kiến này, TS. Vũ Hoài Đức, Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội cho rằng: “Sẽ khó lòng bảo vệ được di sản, bởi vì về mặt luật pháp, chỉ có di tích lịch sử đã được xếp hạng mới được bảo vệ. Do đó, các khái niệm văn hóa như di sản, di tích cũng cần phải được làm rõ dưới khía cạnh luật pháp”.  Tiếng nói của cộng đồng   Trước thực trạng đó, TS. Nguyễn Thị Hậu cho rằng, việc cấp thiết hiện nay là phải giữ được các vùng “lõi” di sản đô thị ở TP. HCM, tránh tình trạng “cáo gửi chân”, mượn danh nghĩa tiếp tục gìn giữ di sản nhưng lại “âm thầm” xóa bỏ di sản. Để làm được điều đó, chỉ có thể kỳ vọng vào sức mạnh, sự lên tiếng của cộng đồng, một trong bốn tác nhân tác động lên di sản đô thị gồm cộng đồng, chuyên gia, nhà quản lý và nhà đầu tư. “Ý thức [bảo tồn di sản] của cộng đồng càng lớn thì nhà quản lý đô thị càng chịu sức ép phải có trách nhiệm với di sản”, TS. Nguyễn Thị Hậu nói. Bà dẫn chứng về thực tế từ những năm 2010 tới nay, tiếng nói và vai trò của cộng đồng ngày càng có sức mạnh trong việc đồng thuận hay phản đối những dự án liên quan đến di sản văn hóa. Ví dụ như trường hợp quần thể di tích ở khu vực Chợ Lớn và các công trình nhà thờ công giáo cho thấy vai trò của cộng đồng, bao gồm người dân và các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc duy trì đời sống, sinh hoạt liên quan đến các công trình hay cảnh quan di tích.  Nhà văn, kiến trúc sư Nguyễn Trương Quý, người từng viết nhiều tản văn về đời sống đô thị Hà Nội cho rằng, bộ mặt di sản đô thị đang dần biến đổi, khó lòng giữ được “nguyên trạng nguyên si” bất kỳ một đô thị nào. Anh cũng đặt niềm tin ở cộng đồng, chính các nhóm dân cư khác nhau, đặc biệt là nhóm người trẻ trong đô thị sẽ tiếp tục “chế tạo di sản” hoặc tự quy hoạch những khu vực nhở và giữ được “phần hồn” của di sản đô thị.      Author                Lê Anh Vũ        
__label__tiasang Bảo tồn di sản từ chính sách quy hoạch ở địa phương      Hiện nay, trên đà phát triển “nóng” của đô thị hóa và nhiều dự án, những huyện ngoại thành đã và đang trở thành quận nội thành, làng nông nghiệp thành khu đô thị mới đã làm mất đi cảnh quan và “quy hoạch” làng quê truyền thống, trong đó đáng báo động nhất là tình trạng xâm hại phạm vi, cảnh quan và thậm chí phá hoại các di tích lịch sử văn hóa.      Cảnh quan Cổ Loa nhìn từ trên cao. Nguồn: Internet.  Sự chuyển biến xã hội, cơ cấu nghề nghiệp và dân số… đã làm xuất hiện nhu cầu lớn về đất đai với chức năng mới, giá trị đất tăng vọt tạo nên những cơn “sốt đất”. Sâu xa hơn, trong những Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương, hầu như quy hoạch bảo tồn di sản văn hóa không được coi như một loại hình quy hoạch quan trọng (như quy hoạch đất đai, ngành nghề, khu dân cư…) mặc dù di sản văn hóa đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến những quy hoạch khác. Ít nhất ở một số điều sau:  – Đất đai: Phạm vi của di tích không thể coi như đất nông nghiệp, đất vườn hay thổ cư… bình thường. Bởi đó chính là “không gian thiêng/tâm linh” mang giá trị phi vật thể bên cạnh giá trị vật thể là các công trình xây dựng như thành lũy, đình, chùa, đền, miếu, lăng tẩm… Vì vậy không thể xem nhẹ giá trị và sử dụng “đất di tích” một cách bừa bãi, vì mất không gian thiêng di tích sẽ bị mất, giảm giá trị của chính nó.  – Phát triển kinh tế địa phương: Di tích trở thành một điểm trong các tuyến du lịch, có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch tâm linh, văn hóa, lịch sử, sinh thái kết hợp các loại khác… Từ đó, địa phương có thể phát triển các ngành nghề thủ công, những đặc trưng như ẩm thực, lễ hội…  – Cộng đồng: được cung cấp và nâng cao những hiểu biết về lịch sử văn hóa nơi mình sinh sống, từ đó nhận thức được giá trị của di sản và tự giác tham gia vào việc bảo tồn di sản bằng những cách khai thác phù hợp. Giá trị “phi vật thể” của di sản được chuyển hóa thành lợi ích “kinh tế bền vững” của cộng đồng.  Đó là những yếu tố quan trọng để Dự án bảo tồn hay các quy hoạch bảo tồn mang tính tổng hợp, liên ngành và trong giai đoạn dài có quyền tham gia vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội. Hiện nay phương pháp quy hoạch tổng hợp đa ngành được vận dụng nhằm hạn chế nhược điểm của quy hoạch bảo tồn chỉ dựa vào quy hoạch xây dựng khu di tích. Để thể hiện đầy đủ ý nghĩa và nội dung của di tích thì những Dự án quy hoạch bảo tồn cần có đầy đủ các tiêu chí sau:  – Đặc trưng và các giá trị nổi bật khu vực/quốc gia (giá trị tự thân và giá trị tiềm ẩn)  – Mối quan hệ cơ tầng văn hóa: địa lý – khảo cổ – tộc người  – Mối đe dọa từ tự nhiên và con người: thực trạng và dự báo  – Hiện trạng di tích: nhất là khả năng bền vững trong môi trường mới: đô thị hóa, biến đổi khí hậu…  – Lịch sử và kinh nghiệm bảo tồn khu di tích (nếu có)  – Các giá trị văn hóa khác trong khu vực di tích  – Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng kỹ thuật  – Quy hoạch phát triển du lịch gắn kết dịch vụ – văn hóa – sinh thái  – Cơ hội phát triển kinh tế và những giải pháp thích ứng  – Sự tham gia của cộng đồng trong kinh tế, du lịch, bảo tồn di sản  – Môi trường thể chế, chính trị phù hợp, thuận lợi  – Sự tham gia, phối hợp và hỗ trợ của các đối tác  – Xây dựng quỹ bảo tồn và nguồn tài trợ…  Khác với việc bảo tồn các di tích ở đô thị như phố cổ, bảo tồn những công trình còn tồn tại mang tính chất chính là công trình khảo cổ học như khu di tích Cổ Loa thì trước mắt và đầu tiên, vai trò của nhà nước là cực kỳ quan trọng, theo xu hướng “bảo tồn từ trên xuống / top – down” do nhiều yếu tố tác động đến bảo tồn liên quan đến cơ chế chính sách và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, về lâu dài, “bền vững” hay không thì vai trò cộng đồng cũng quan trọng không kém, theo xu hướng “bảo tồn từ dưới lên/ bottom – up” bởi vì chỉ có cộng đồng/ cá nhân và tổ chức xã hội mới có đủ nguồn lực để bảo tồn được di sản cũng như giúp cho di sản sống cùng cộng đồng.    Những kinh nghiệm từ Di sản văn hóa thế giới Angkor ở Campuchia hay nhiều Di sản văn hóa thế giới ở Thái Lan – cũng là những khu di tích khảo cổ nổi tiếng – là những tham góp cần thiết cho quy hoạch bảo tồn và phát triển du lịch khu di tích Cổ Loa.    Author                Nguyễn Thị Hậu        
__label__tiasang Báo Trung Quốc: Vì sao lương công nhân thấp?      Công nhân buộc phải chịu mức lương thấp do chủ doanh nghiệp ấn định bởi  họ chưa thực sự được làm chủ đất nước, không có quyền tự tổ chức công  đoàn của mình.    Bài “Vì sao lương công nhân Trung Quốc thấp?” đăng trên Thời báo Hoàn Cầu số ra ngày 8/8/2012 và nhiều báo TQ khác mà chúng tôi tóm dịch dưới đây giải thích: công nhân buộc phải chịu mức lương thấp do chủ doanh nghiệp ấn định bởi họ chưa thực sự được làm chủ đất nước, không có quyền tự tổ chức công đoàn của mình, mặc dù Điều 1 Hiến pháp TQ viết : “Nước CHND Trung Hoa do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Đây là lý do TQ hàng năm xảy ra hàng nghìn cuộc biểu tình chống chính quyền và Đảng CSTQ phải thừa nhận bất ổn xã hội là điều đáng lo nhất hiện nay.  Sau khi xảy ra mấy vụ công nhân nhảy lầu tự vẫn vì lương không đủ sống, dưới sức ép của dư luận, Tập đoàn Công nghệ Foxconn [Foxconn Technology Group, của Đài Loan đóng tại Trung Quốc] trong một tháng liên tiếp tăng lương hai lần cho công nhân Trung Quốc, kết quả lương mới cao hơn gấp đôi lương cũ. Công ty Honda sau khi phải ngừng sản xuất do công nhân Trung Quốc bãi công, cũng đồng ý tăng lương 24%.   Các sự kiện nói trên phơi bày một sự thật là l âu nay công nhân Trung Quốc đã bị trả lương quá thấp. Chuyện này xảy ra phổ biến ở Trung Quốc.  Foxconn là công ty xuyên quốc gia nổi tiếng có tên trong danh sách 500 công ty mạnh nhất toàn cầu, thế mà trước đây họ chỉ trả lương cho công nhân Trung Quốc ở mức 900 Nhân dân tệ (RMB ; hiện nay 1 RMB tương đương 0,159 USD) một tháng. Nhà máy phụ kiện của Honda tại Phật Sơn (Quảng Đông) cũng chỉ trả lương 1500 RMB. Ngày 1/5/2010 tỉnh Quảng Đông mới bắt đầu thực thi tiêu chuẩn lương tối thiểu, quy định mức lương này ở Phật Sơn là 920 RMB. Thâm Quyến quy định tiêu chuẩn lương tối thiểu là 900-1000 RMB, thi hành từ 1/7/2010.   Chỉ sau khi xảy ra sự kiện Foxxconn và Honda tăng lương do chịu sức ép từ dư luận, chính quyền các địa phương nói trên mới làm được một việc tối thiểu là điều chỉnh tiêu chuẩn lương thấp nhất cho người lao động.   Công nhân Trung Quốc làm việc trong các công ty lớn khi đòi tăng lương đều phải dựa vào việc chính phủ nâng mức tiêu chuẩn lương tối thiểu. Đây thực sự là một chuyện ngược đời, thế mà rất ít người Trung Quốc thắc mắc. Trong khi công nhân phương Tây làm cho các công ty đó khi đòi tăng lương họ chẳng cần dựa vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định.     Vậy tiêu chuẩn lương tối thiểu được quy định như thế nào?     Trong thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy, các nhà máy  “máu và nước mắt” [ở phương Tây] thời ấy đều thuê nhiều lao động nữ và trẻ em nhằm hạ giá thành sức lao động. Chính quyền phải đặt ra tiêu chuẩn lương tối thiểu để bảo vệ quyền lợi cơ bản của lao công nữ và nhi đồng. Ngày nay chính phủ các nước phát triển cũng quy định lương tối thiểu để bào vệ quyền lợi của lao công người nhập cư, người làm hợp đồng, học sinh làm thêm. Việc đó hoàn toàn không có liên quan gì tới vấn đề chế độ lương của các công ty nhà máy lớn.  Thí dụ lương tối thiểu ở Mỹ (do nhà nước quy định) là mỗi giờ 7,5 USD, thế nhưng lương công nhân 3 công ty xe hơi lớn nhất Mỹ thì cao tới trên 100 nghìn USD/năm, chưa kể các khoản phúc lợi, nghĩa là mỗi giờ được trả 43,75 USD [so sánh: lương Tổng thống Obama là 400 nghìn USD] ; nếu tính cả các khoản phúc lợi và tiền hưu trí thì mỗi giờ họ được nhận 75 USD,  nghĩa là cao gấp 10 lương tối thiểu. Thí dụ một thợ chuyên làm việc lắp bánh xe cho ô tô xuất xưởng mỗi ngày lĩnh 340 USD ; nếu kể cả phúc lợi và tiền hưu trí thì mỗi ngày nhận 600 USD. Lương tối thiểu do chính quyền Mỹ quy định chỉ có liên quan tới những người làm tạp công như đưa cơm, rửa bát đĩa v.v… Có thể thấy mức lương tối thiểu do chính quyền Trung Quốc quy định (900-1000 RMB/tháng, tương đương hơn 3 triệu VNĐ) là quá thấp.  Mỹ và Nhật  quy định lương tối thiểu bằng 32% GDP bình quân đầu người, do đó lương tối thiểu ở Mỹ là 15.000 USD/năm, ở Nhật – 11.000 USD. Tỷ lệ của lương tối thiểu so với GDP bình quân đầu người ở một số nước còn cao hơn. Như ở Pháp là 51% (15.500 USD/năm), Australia – 51% (19.000 USD/năm),  Anh – 61% (hơn 22.000 USD/năm), Bỉ – 52%, Hà Lan – 47%, Bồ Đào Nha – 42%, Canada – 41%, Thụy Sĩ và Tây Ban Nha – 37%, Austria – 35%. Tỷ lệ này ở Hàn Quốc, Đài Loan, Phillippines cũng cao hơn 32%.  Theo số liệu của IMF, Trung Quốc năm 2009 có GDP bình quân đầu người tính theo sức mua là 6576 USD, 32% của con số này là 1190 RMB/tháng. Thế nhưng lương tối thiểu của mấy thành phố phát triển nhất ở Trung Quốc  đều không đạt mức này. GDP bình quân đầu người năm 2008 của thành phố Quảng Châu là hơn 80.000 RMB ; 32% là 2130 RMB/tháng. Thế nhưng sau đợt tăng lương mạnh năm 2010, lương công nhân Quảng Châu cũng chỉ mới vượt mức 1000 RMB, tức chưa bằng một nửa tỷ lệ 32%.  Các tính toán nói trên chỉ muốn nói lên hai vấn đề:   – Lương tối thiểu ở Trung Quốc rõ ràng thấp hơn trình độ phát triển kinh tế nước này;   – Lương tối thiểu chỉ để áp dụng cho tạp công, học sinh làm thêm, lao công thuê theo giờ.   Theo thông lệ của các đại công ty, tiêu chuẩn lương công nhân của họ bao giờ cũng cao gấp mấy lần mức lương tối thiểu. Thế mà công nhân Trung Quốc làm cho công ty ô tô Honda hàng tháng chỉ nhận được lương danh nghĩa là 1510 RMB [235 USD, khoảng 5 triệu VNĐ], trừ đi các khoán khấu trừ, đến tay chỉ còn 1211 RMB. Nếu trừ đi chi tiêu hàng tháng (ăn, trọ, tiền điện thoại, nhu yếu phẩm …) thì chỉ để dành được 456 RMB.   Vậy các công ty xe hơi Nhật đặt nhà máy tại Mỹ trả lương như thế nào? Có người nói họ cũng trả lương rất thấp cho công nhân Mỹ, nhằm tăng sức cạnh tranh. Thực ra lương thợ Mỹ tại các nhà máy xe hơi Nhật cũng vào khoảng 100.000 USD/năm. Sở dĩ nhà máy Nhật có sức cạnh tranh là do họ đặt nhà máy tại các vùng có giá sinh hoạt rẻ và lương thấp ở miền Nam nước Mỹ. Hơn nữa, chủ Nhật không đuổi thợ khi kinh tế suy thoái.   Công nhân Nhật làm việc cho nhà máy Nhật đặt trên đất Trung Quốc được trả lương rất cao. Một thợ Nhật mới hơn 20 tuổi sang Trung Quốc tăng cường cho nhà máy Honda được lĩnh lương hàng tháng là 50.000 RMB [hơn 7.500 USD], nếu kể các khoản phúc lợi khác (như phụ cấp xa gia đình 300 USD/ngày [nguyên văn như vậy], bằng 2 tháng lương thợ Trung Quốc; được nhà máy bao ăn ở miễn phí) thì  cao gấp 50 lần thu nhập của công nhân Trung Quốc ; như thế là rất vô lý vì GDP bình quân đầu người của Nhật chỉ gấp 5-10 lần Trung Quốc.  Điều đáng nói ở đây là sự khác biệt lớn tới vô lý như thế lại được người Trung Quốc  coi là chuyện bình thường, thậm chí còn coi đó là “ưu thế so sánh” của Trung Quốc.  Mấy năm qua, các nhà kinh tế Trung Quốc bàn nhiều, tán dương nhiều về cái ưu thế này. Một nhà kinh tế gạo cội tỏ ý không tán thành chuyện có người lo ngại về mức lương thấp của công nhân Trung Quốc. “Lương thấp là nguyên nhân làm nên sức cạnh tranh của Trung Quốc. Hãy xem nước Mỹ, lương công nhân của họ cao khủng khiếp, vì thế sao mà họ có được sức cạnh tranh?”, “Vấn đề lương lao động Trung Quốc thấp đều là do báo đài làm rùm beng, chứ số người e ngại về chuyện lương thấp chỉ là thiểu số. Lương thấp thì có nhiều việc làm hơn” – ông này nói.    Mấy năm trước, ông Trương Ngũ Thường, một đại gia tổ sư kinh tế học dòng chính Trung Quốc lớn tiếng nói :  Thuyết cho rằng phân hóa giàu nghèo ở Trung Quốc quá lớn là “láo toét”, là do Ngân hàng Thế giớí và rất nhiều người ưa bày chuyện dựng nên mà thôi. Thậm chí ông còn nói công nhân mất việc là đáng đời. Ông kể : “Bạn tôi mở một xí nghiệp phần mềm ở Đông Hoàn ; trong một năm có tới phần nửa công nhân bỏ việc… Nếu ai thực sự muốn tìm việc thì đến Đông Hoàn sẽ kiếm được ngay một chỗ làm lương tháng 600 RMB”.   Không ít nhà kinh tế dòng chính khác đều chê người lao động Trung Quốc thích đòi lương cao. Đại gia bất động sản Nhiệm Chí Cường trả lương 300 RMB cho tốp nông dân ông lấy từ một làng quê quen biết lên Bắc Kinh lao động, sau hai tháng họ bỏ về quê hết, họ thà chịu sống nghèo ở nhà còn hơn đi làm. Ông Cường rủa: (Họ nghèo) Thật đáng kiếp!     Thực ra mức lương 300-600 RMB ấy còn thấp hơn nhiều mức lương mà Foxconn và Honda trả cho thợ Trung Quốc (900 và 1500 RMB).   Ở Mỹ, sau Thế chiến II, công đoàn ở Mỹ có vai trò rất quan trọng trên chính trường. Trong những ngày bầu cử Quốc hội hoặc Tổng thống, người lao động Mỹ thể hiện rất rõ tinh thần làm chủ xã hội. Năm 1960, Kennedy và Nixon tranh cử Tổng thống, tính cho tới chiều ngày bỏ phiếu, Nixon dẫn đầu về số phiếu, nhưng đến tối thì tình hình lật ngược, kết quả Kennedy thắng cử. Đó là do chiều tối những người lao động đi làm về mới đến phòng bỏ phiếu. Lá phiếu của tầng lớp lao động chiếm đa số dân đã đánh bại Nixon, chứng tỏ họ có vai trò quyết định trên vấn đề lựa chọn người lãnh đạo đất nước. Bởi lẽ đó các chính khách Mỹ kể cả Tổng thống đều rất coi trọng công đoàn và người lao động.  Tại Trung Quốc thì khác. Người lao động Trung Quốc không có quyền tự tổ chức công đoàn của mình để có thể mặc cả với chủ thuê lao động. Chẳng những chủ xí nghiệp-công ty có quyền tùy ý hạ mức lương phát cho người lao động mà còn có quyền đuổi việc bất cứ ai.   Hồ Anh Hải lược dịch.    Các ghi chú trong ngoặc ( ) là của người dịch   Nguồn: http://blog.huanqiu.com, ngày 8/8/2012    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm: Tư duy lập pháp      Kết luận 14 của Bộ chính trị (BCT) ban hành ngày 22/9/2021 đã nhắm vào một trong những vấn đề nóng bỏng của nền quản trị quốc gia hiện nay. Đó là bảo vệ cho những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, vì sự thịnh vượng của đất nước.      Trong thời gian qua, tâm lý đùn đẩy trách nhiệm, an phận thủ thường đang ngự trị ở trong không ít các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Chúng ta ai cũng thấy, tình trạng công việc bị đình trệ mà không ai dám quyết đáp. Cấp xã đùn đẩy công việc cho cấp huyện, cấp huyện-cho cấp tỉnh, cấp tỉnh- cho cấp Trung ương. Gần đây hàng ngàn tỷ đồng vốn ODA cho đầu tư công đã được phân bổ, nhưng lại bị một số bộ, ngành trả lại cho Chính phủ. Phải chăng đã không ai ở đó có đủ quyết đáp để thúc đẩy công việc và triển khai các dự án thành công? Điều đáng nói là trong lúc dịch Covid đang ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế. Quý ba năm 2021 GDP nước ta đã tăng trưởng âm trên 6%; hàng triệu lao động đang mất việc làm. Đầu tư công được coi là cứu cánh của nền kinh tế. Làm sao đầu tư công có thể trở thành cứu cánh được, nếu như các bộ, ngành lại trả lại các khoản đầu tư phát triển lớn như vậy?!  Có thể, các bộ, ngành đã trả lại vốn đầu tư công, chỉ vì họ không thể tuân thủ hết được 1001 các thủ tục mà pháp luật đã áp đặt, chứ chưa hẳn là vì họ thiếu tinh thần trách nhiệm. Trong trường hợp này, Kết luận 14 của BCT ra đời phải chăng có thể góp phần tháo gỡ những vướng mắc, cản trở về thủ tục? Theo Kết luận thì các sáng kiến nếu vì lợi ích chung thì chỉ cần không trái với Hiến pháp và Điều lệ của Đảng là đã có thể trình cấp thẩm quyền phê duyệt để có thể triển khai. Khi triển khai nếu không đạt được hoặc chỉ đạt được một phần kết quả thì vẫn được miễn truy cứu trách nhiệm.   Kết luận 14 quả thực có thể mở đường cho một định hướng tư duy mới để thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm trong toàn bộ nền quản trị của đất nước ta. Quan trọng nhất là các tư tưởng cơ bản của Kết luận phải được cụ thể hóa trong hoạt động lập pháp của Nhà nước.  Có ba vấn đề liên quan đến lập pháp ảnh hưởng rất lớn đến sự đổi mới, sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ, công chức. Một là, sự chồng chéo, sự xung đột của các văn bản pháp luật. Hai là sự lạm dụng điều chỉnh trong hoạt động xây dựng pháp luật. Ba là xu thế đòi hỏi phải làm luật thật chi tiết.  Rõ ràng, khi pháp luật chồng chéo và xung đột, thì cách tốt nhất là trả lại vốn đầu tư công như đã nói ở trên, vì cán bộ, công chức làm kiểu gì cũng sẽ sai phạm. Đơn giản là vì tuân thủ luật này, thì sẽ vi phạm luật khác. Trong bối cảnh như vậy, thì không làm gì cả là vừa an toàn và vừa có lợi. Càng làm nhiều thì càng sai phạm nhiều. Cuối cùng, không khéo những người không làm gì cả sẽ được lên chức, những người dám quyết đáp để thúc đẩy công việc lại bị kỷ luật, thậm chí bị tù tội.  Để khắc phục sự chồng chéo, sự xung đột giữa các văn bản pháp luật, chúng ta cần phải hoàn thiện quy trình lập pháp, mà trước hết là hoàn thiện kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, các văn bản này đang được soạn thảo phân tán ở rất nhiều bộ, ngành và phần lớn bởi những người không được đào tạo về kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Tốt nhất là nên soạn thảo văn bản một cách tập trung. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đều cần được soạn thảo bởi một cơ quan có chuyên môn sâu về công việc này. Một cơ quan như vậy có thể là Cục soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp chẳng hạn. Các bộ chuyên môn chỉ tập trung nghiên cứu và thúc đẩy chính sách lập pháp. Nếu chính sách lập pháp của họ được Chính phủ phê chuẩn thì sẽ được chuyển cho Cục soạn thảo văn bản để được soạn thảo thành văn bản quy phạm pháp luật. Làm được như vậy, không chỉ chất lượng các văn bản pháp luật sẽ được nâng cao, mà sự chồng chéo, sự xung đột cũng sẽ được khắc phục.   Hai là sự lạm dụng điều chỉnh. Không biết từ bao giờ, nhưng mỗi khi đối mặt với bất cứ một vấn đề gì trong cuộc sống, chúng ta đều nghĩ rằng phải ban hành pháp luật. Đây là một lỗi rất lớn về tư duy. Bởi vì rằng tự do quan trọng hơn điều chỉnh. Tự do là một giá trị tự thân và một giá trị tuyệt đối. Điều chỉnh là một giá trị tương đối và chỉ có giá trị khi đó là một sự cần thiết. Có tự do mới dễ sáng tạo, mới dễ dám nghĩ dám làm. Điều chỉnh có thể giúp chúng ta xử lý một vấn đề nào đó, nhưng đó phải là một sự bắt buộc vì không còn lựa chọn khác. Bởi vì rằng lạm dụng điều chỉnh cũng trói chặt chân tay của chúng ta. Khi làm bất cứ một việc gì cũng phải tuân thủ 1001 các quy định chặt chẽ của pháp luật, thì cán bộ, công chức còn có thể dám nghĩ, dám làm theo cách nào được đây?   Chính vì vậy, nếu nói về việc dám nghĩ, dám làm, thì ở đây chúng ta cần phải đổi mới tư duy lập pháp của mình. Trước hết là chớ nên lạm dụng điều chỉnh, chớ nên gặp bất cứ vấn đề gì thì cũng nghĩ là phải ban hành pháp luật để xử lý. Cách tư duy nói trên sẽ đẻ ra vô tận xiềng xích trói chặt tất cả chúng ta, cũng như trói chặt nhiều cơ hội và tiềm năng của đất nước. Cứ nghĩ mà xem, khi đòi hỏi phải phục hồi kinh tế đang ngày càng trở nên nóng bỏng, mà hàng năm trời chúng ta vẫn không thể phê duyệt được các dự án đầu tư công, thì chúng ta có phải là thật sự đã trở thành con tin của những quy định pháp luật rối rắm và chồng chéo hay không?!  Để tránh việc lạm dụng điều chỉnh, Quốc hội các nước trên thế giới đều tổ chức xem xét các dự luật một cách rất cẩn trọng qua ba lần thảo luận. Trong đó, lần thảo luận thứ nhất là về việc có thật sự cần phải ban hành một đạo luật như vậy hay không. Về cơ bản, Quốc hội các nước sẽ bác bỏ bất kỳ dự luật nào nếu thấy không cần thiết hoặc nếu thấy quyền tự do của người dân bị ảnh hưởng nặng nề. Có lẽ Quốc hội nước ta cũng cần tổ chức một phiên thảo luận như vậy để xem xét về sự cần thiết của các dự luật.  Ba là xu thế đòi hỏi phải làm luật thật chi tiết. Giống như việc lạm dụng điều chỉnh, không biết từ bao giờ chúng ta cứ nhất nhất khẳng định làm luật thì phải thật chi tiết; Luật thông qua là phải áp dụng được ngay, không cần phải có bất kỳ văn bản hướng dẫn hoặc cụ thể hóa nào. Tuy nhiên, cách tư duy này sẽ đẻ ra những đạo luật bó chặt khả năng sáng tạo của các cán bộ, công chức trong việc áp dụng pháp luật để xử lý nhiều vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Luật pháp đã quy định quá cụ thể và chi tiết thì không có cách gì để có thể vận dụng sáng tạo được.  Vấn đề đặt ra là luật khung tốt hơn hay luật chi tiết tốt hơn? Quả thật, không có một câu trả lời khái quát là luật gì tốt hơn ở đây. Nếu chúng ta muốn phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ, công chức thì luật khung sẽ tốt hơn; Nếu chúng ta muốn chống việc tự tung, tự tác, việc tham nhũng thì luật chi tiết sẽ tốt hơn. Vấn đề quả thực phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức và trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức. Đội ngũ cán bộ, công chức càng có đức, có tài thì càng nên ban hành nhiều luật khung và ngược lại. Các lĩnh vực mới, các lĩnh vực cần phát huy sự chủ động, sáng tạo thì luật pháp phải tạo khuôn khổ là chính, chứ không điều chỉnh chi tiết hết mọi hành vi có liên quan.  Tóm lại, tư duy lập pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thể chế hóa Kết luận của Đảng về việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.□    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Bảo vệ dữ liệu cá nhân: Cơ quan nhà nước cần làm gương      Chừng nào vẫn còn khoảng trống chính sách về quyền kiểm soát dữ liệu, chừng đó các cơ quan nhà nước vẫn chưa chú trọng nghĩa vụ – trách nhiệm của mình đối với dữ liệu cá nhân của người dân.     Người dân làm các thủ tục qua cổng dịch vụ công ở TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Thành ủy TP. Hồ Chí Minh.  Vào năm 2020, tỉnh Đồng Tháp thông báo rằng có hiện tượng sử dụng không đúng mục đích thông tin cá nhân của người dân phản ánh kiến nghị qua tổng đài 1022 – nơi để người dân phản ánh, góp ý, kiến nghị về hiệu quả dịch vụ công, tiếp cận thông tin, chính sách của tỉnh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến người dân phản ánh, kiến nghị mà còn cả quá trình tương tác với người dân của tỉnh.  Trong khi Chính phủ Việt Nam nỗ lực ngăn ngừa các đơn vị tư nhân lạm dụng khai thác dữ liệu cá nhân thì dường như lại quên nhìn lại chính mình – các đơn vị nhà nước trong việc sử dụng và quản lý các dữ liệu cá nhân của người dân. Một nghiên cứu gần đây của Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông cùng Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp thực hiện và công bố vào tháng 7/2022 hé lộ một phần nào đó thực trạng này. Nhóm tác giả chúng tôi đã khảo sát tất cả các cổng thông tin điện tử, cổng dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng thông minh của 63 tỉnh, thành trên cả nước. Trong đó có 50 ứng dụng thông minh (ƯDTM), 63 cổng dịch vụ công trực tuyến (DVCTT), 63 cổng thông tin điện tử (TTĐT) mà trên đó có tổng cộng 78 kênh thu thập dữ liệu cá nhân qua các chuyên mục (i) Hỏi đáp, (ii) Phản ánh kiến nghị, (iii) Lấy ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.  Kết quả cho thấy, chỉ có bốn trong số 63 cổng TTĐT và ba trong số 63 cổng DVCTT có đăng tải văn bản quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhưng với nhiều tên gọi, thể hiện nhận thức chưa đồng nhất về vấn đề này (Ví dụ: chính sách/ quy định/ thông báo về bảo vệ thông tin cá nhân; chính sách bảo mật; hoặc chính sách về quyền riêng tư.. Trong khi đó, tính “bảo mật” và tính “riêng tư” của dữ liệu là hai khái niệm khác nhau). Đây là một tỷ lệ quá thấp khi mà cổng TTĐT và cổng DVCTT là hai kênh tương tác chính thống của chính quyền địa phương với người dân và người dân sẵn sàng, thậm chí là buộc phải trao gửi dữ liệu, thông tin cá nhân cho hai cổng này để thực hiện những thủ tục quan trọng trong cuộc sống của mình như kết hôn, khai sinh, thừa kế…hay phản ánh những bức xúc ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thân của họ.    Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa đưa ra một định nghĩa rõ ràng về quyền kiểm soát dữ liệu thu thập từ khu vực công.    Trái ngược với thực tại trên thì một tỉ lệ khá cao là 32/50 tỉnh, thành phố đã đăng tải công khai chính sách về quyền riêng tư trên ứng dụng điện thoại tương tác với người dân của mình. Nhưng lí do không hẳn là các tỉnh ý thức hơn về bảo vệ dữ liệu người dân trên điện thoại, mà chỉ bởi đó là yêu cầu kĩ thuật bắt buộc của các “chợ ứng dụng” như Google Play và App Store. Nội dung chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân của các ƯDTM có phần khá hơn các cổng TTĐT và DVCTT ở chỗ không chỉ giới hạn khái niệm dữ liệu cá nhân trong phạm vi thông tin trực tiếp gắn liền với danh tính như tên, họ, số căn cước công dân…mà còn mở rộng ra các thông tin về vị trí, hành vi người dùng, hình ảnh, dữ liệu điện thoại khi dùng ứng dụng. Hơn nữa, một số chính sách của các ƯDTM còn nhắc đến quyền riêng tư của trẻ em và có nội dung chi tiết hơn về các đối tượng được trao quyền tiếp cận dữ liệu cá nhân. Tuy vậy, những nội dung này vẫn khá chung chung. Chẳng hạn, trong đa số chính sách này, cơ quan chịu trách nhiệm quản lý dữ liệu được ghi là “Chúng tôi”, nhưng cụ thể “chúng tôi” này là ai thì lại chưa được làm rõ. Cả ƯDTM lẫn các cổng DVCTT và TTĐT đều bỏ qua nhiều quyền được biết của chủ thể dữ liệu: Thời gian lưu trữ thông tin là bao lâu? Thông tin được chia sẻ với những ai? Rủi ro và biện pháp ngăn chặn khi rò rỉ dữ liệu cá nhân? Thông tin liên hệ để khiếu nại, hỏi đáp về thông tin cá nhân?…  Về cơ bản, nội dung của các chính sách này “chi tiết” đến đâu phụ thuộc vào độ…tự nguyện và hiểu biết của các tỉnh đứng sau các cổng thông tin và ứng dụng điện thoại này. Thành ra, thường là các tỉnh chỉ làm tốt được một vài khía cạnh này còn “quên đi” những khía cạnh khác trong việc bảo vệ dữ liệu người dân. Ví dụ, tỉnh Thừa Thiên Huế là một nơi hiếm hoi trong 63 tỉnh, thành công bố chính sách về bảo vệ dữ liệu cá nhân trên tất cả các giao diện điện tử tiếp xúc với người dân nhưng lại không chỉ đúng và chỉ rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý các dữ liệu này. Tức là nếu người dân bị lộ lọt thông tin thì họ không biết tìm ai để báo cáo, khiếu nại cả. Một trường hợp khác, Hậu Giang là địa phương duy nhất ở Việt Nam có chính sách về quyền riêng tư trên ứng dụng thông minh của tỉnh xác định rõ Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan thu thập và quản lý dữ liệu, và thể hiện cam kết chịu trách nhiệm trước sự cố lộ lọt thông tin cá nhân người dân “Trong trường hợp máy chủ lưu trữ thông tin người dùng bị hacker tấn công dẫn đến mất mát dữ liệu cá nhân, chúng tôi có trách nhiệm thông báo đến người dùng thông qua ứng dụng Hậu Giang.” Nhưng trong chính sách của họ chưa đề cập đến thông tin cá nhân của trẻ em cũng như chưa thể hiện cam kết đối với Quyền được thông báo về các thay đổi trong chính sách quyền riêng tư (privacy policy) của người dân.  Lỗ hổng pháp lý  Sẽ không công bằng nếu “đổ lỗi” hết cho ý thức hay hiểu biết của các cơ quan nhà nước về thực tại này. Cần nhìn nhận rõ, nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là do lỗ hổng pháp lý, thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể để các địa phương nắm bắt được các chuẩn mực, dễ dàng bám sát, tuân theo.  Cổng dịch vụ công quốc gia để người dân phản ánh, kiến nghị các bức xúc ở địa phương.  Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa đưa ra một định nghĩa rõ ràng về quyền kiểm soát dữ liệu thu thập từ khu vực công. Chẳng hạn, trong Điều 2 Thông tư 25/2010/TT-BTTTT quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có ghi, đối tượng áp dụng là “cơ quan nhà nước theo quy định tại Nghị định 64/2007/NĐ-CP đang quản lý, vận hành cổng thông tin điện tử (sau đây gọi là cơ quan chủ quản)”. Nhưng cơ quan nhà nước – cơ quan chủ này là ai thì các quy định này lại không làm rõ. Vậy nên, nếu sự cố xảy ra như trong trường hợp của tỉnh Đồng Tháp, nếu công dân quyết định đưa vụ việc ra tòa án, trách nhiệm bồi thường thuộc về ai? Ủy ban nhân dân, cơ quan chủ quản của cổng TTĐT hay là Sở TT&TT, đơn vị vận hành nó? Nếu vi phạm liên quan đến dữ liệu hộ tịch, thì liệu cơ quan xử lý và kiểm tra dữ liệu này – là Sở Tư pháp, có phải chịu một phần trách nhiệm?  Đáng lẽ, các quy định cần phải tách bạch rõ vai trò, trách nhiệm và quy trình làm việc của các bên có liên quan đến việc thu thập, quản lý, lưu trữ, xử lý… dữ liệu cá nhân của công dân, bao gồm các đơn vị vận hành các giao diện điện tử tương tác với người dân (như Sở TT&TT hoặc các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân), trách nhiệm pháp lí của cơ quan thu thập và quản lý dữ liệu (UBND các địa phương) và các đơn vị khác cũng tham gia xử lý và sử dụng dữ liệu.    Sự không rõ ràng trong các quy định hiện nay là lí do mà trong chính sách quyền riêng tư của gần 50% các giao diện tiếp xúc với người dân xác định chủ thể quản lý dữ liệu một cách mơ hồ là “chúng tôi”.    Sự không rõ ràng trong các quy định hiện nay là lí do mà trong chính sách quyền riêng tư của gần 50% các giao diện tiếp xúc với người dân xác định chủ thể quản lý dữ liệu một cách mơ hồ là “chúng tôi”. Điều này vừa dẫn đến việc không chỉ người dân mà chính nội bộ chính quyền cũng sẽ bối rối khi xác định đầu mối chịu trách nhiệm giải quyết các khiếu nại hành chính và tư pháp, thông báo các vi phạm dữ liệu cá nhân khi có sự vụ lộ lọt thông tin diễn ra. Người dân khi muốn truy cập, sửa chữa, xóa dữ liệu cũng không biết phải liên lạc ra sao. Hơn nữa, sự không rõ ràng này cũng tạo ra khoảng trống khiến các cơ quan chức năng “vượt rào” trong việc chia sẻ dữ liệu của người dân. Theo khảo sát của chúng tôi, chính sách quyền riêng tư của ƯDTM của tỉnh Quảng Ninh (Smart Quảng Ninh) ghi rằng “Chúng tôi có thể kết hợp thông tin cá nhân do bạn cung cấp với các thông tin khác ngoài Dịch vụ hoặc từ các bên thứ ba để phân tích các nội dung mà bạn quan tâm. Chúng tôi có thể sử dụng thông tin cá nhân của bạn để xác định xem liệu bạn có thể quan tâm đến các sản phẩm hay dịch vụ của bên thứ ba nào không.”  Nhưng bên thứ ba này là ai thì lại không được làm rõ.  Cổng DVCTT của Thừa Thiên – Huế ghi rằng sẽ “có thể cung cấp các số liệu thống kê tổng hợp” cho “những bên thứ ba có uy tín”, nhưng cũng không chỉ rõ những thống kê này đã được “lọc” thông tin nhận diện cá nhân như thế nào.      Ngoài ra, các văn bản pháp luật cũng chưa quy định cá nhân, tổ chức có thể khiếu nại, khởi kiện đơn vị sử dụng dữ liệu không đúng mục đích ra sao; cũng như cơ chế xử lý vi phạm giải quyết, khiếu nại, khiếu kiện, bồi thường thiệt hại. “Lỗ hổng” này dẫn tới thực trạng thiếu tương tác phản hồi của chính quyền địa phương đối với yêu cầu liên quan đến dữ liệu cá nhân. Cũng trong nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đã thực hiện kiểm tra “thử” bằng cách gửi yêu cầu cập nhật thông tin tài khoản và tiếp cận các phương thức bảo vệ dữ liệu cá nhân (dùng “tạm” đầu mối liên hệ hiển thị trên trang chủ các cổng DVCTT và TTĐT) tới 130 email điện tử, nhưng chỉ nhận về chín phản hồi. Trong đó, chỉ có duy nhất một phản hồi từ tỉnh Bến Tre là cung cấp đầy đủ thông tin như được yêu cầu.  Đánh giá cũng cho thấy chỉ có tám chính sách về quyền riêng tư cung cấp email công vụ của cơ quan nhà nước, còn lại là email cá nhân/doanh nghiệp. Thậm chí chính sách về quyền riêng tư trên các ƯDTM của Cần Thơ và Quảng Nam còn dùng chung địa chỉ liên hệ quanb1401083tggdev@gmail.com, Việt Nam cũng chưa có một Luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, và chưa quy định cơ chế khiếu nại rõ ràng cho người bị ảnh hưởng.  Hiểm nguy trước mắt  Mặc dù báo cáo của chúng tôi chưa điều tra sâu hơn về việc các cơ quan nhà nước thu thập và quản lý dữ liệu của người dân bên trong nội bộ cơ sở dữ liệu trên thực tế ra sao. Tuy nhiên, ở bước đầu, các chính sách về quyền riêng tư – một dạng thỏa thuận điện tử thiết lập trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trước chủ thể dữ liệu là người dân, là căn cứ để người dân bảo vệ các quyền đối với dữ liệu của họ được thu thập qua các giao diện tương tác trực tuyến, đã không được quan tâm nghiêm túc, thì khó có thể kì vọng nhiều ở khâu thực hành bên trong các cơ sở dữ liệu.  Kể từ năm 2015, Việt Nam đã nỗ lực gia tăng mức độ sẵn có của dữ liệu bằng cách triển khai sáu cơ sở dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ TT&TT đã xây dựng, đưa Giao diện tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia vào sử dụng, kết nối với hơn 90 bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp với mười cơ sở dữ liệu, tám hệ thống thông tin. Riêng trong năm 2021, Giao diện đã đạt 180.919.031 giao dịch dữ liệu, với khoảng 500 nghìn giao dịch mỗi ngày, giúp hạn chế kê khai thông tin nhiều lần, tăng cường sử dụng lại dữ liệu.  Bên cạnh những điểm lợi tích cực, việc tập trung hóa dữ liệu của công dân cũng dẫn đến nhiều nguy cơ tiềm tàng. Có thể đã có rất nhiều câu chuyện tương tự trường hợp ở Đồng Tháp nhưng chưa được công bố. Trên thực tế, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã chứng kiến cổng TTĐT của TP. Đà Nẵng công khai họ tên, địa chỉ nhà riêng, số an sinh xã hội của công dân trên mục Hỏi-Đáp. Theo thống kê của Viettel Security, trong quý 1/2022, hằng tuần có đến trên dưới 100 GB dữ liệu cá nhân bị lộ lọt trên không gian mạng. Đáng lưu ý là thông tin đăng nhập dịch vụ công đã trở thành một trong những dạng dữ liệu được rao bán phổ biến. Bên cạnh đó, Bộ Công an cũng nhiều lần cảnh báo nguy cơ các cổng TTĐT, website của cơ quan nhà nước bị các đối tượng mạo danh phục vụ mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.  Dẫu chưa có số liệu thống kê cụ thể, từ đây có thể suy ra, dữ liệu khu vực công đang trở thành một trong những nguồn lộ lọt dữ liệu cá nhân phổ biến tại Việt Nam, “sánh vai” cùng các nguồn truyền thống như doanh nghiệp hàng không (Việt Nam Airlines), doanh nghiệp kinh doanh điện tử (Thế giới di động, Điện máy xanh), doanh nghiệp giải trí viễn thông (VNG), …  Thiệt hại cả về kinh tế lẫn niềm tin  Khi dữ liệu cá nhân của người dân được cơ quan nhà nước thu thập nhưng không được bảo vệ, thì việc lộ lọt thông tin là rất dễ xảy ra, gây thiệt hại có giá trị kinh tế lớn. Đây là thực tế không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên toàn cầu. Theo báo cáo năm 2021 của IBM Security thống kê phí tổn từ lộ lọt dữ liệu, thiệt hại kinh tế từ lộ lọt dữ liệu trung bình tăng 10%/năm, từ 3.86 triệu USD lên 4.24 triệu USD. Trong đó, khu vực công đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể – 78.7% từ mức 1.08 triệu USD năm 2020 lên 1.93 triệu USD năm 2021. Dữ liệu định danh cá nhân được ghi nhận là có thiệt hại cao nhất với 180 triệu USD/trường hợp.    Dữ liệu khu vực công đang trở thành một trong những nguồn lộ lọt dữ liệu cá nhân phổ biến tại Việt Nam, “sánh vai” cùng các nguồn truyền thống như doanh nghiệp hàng không (Việt Nam Airlines), doanh nghiệp kinh doanh điện tử (Thế giới di động, Điện máy xanh), doanh nghiệp giải trí viễn thông (VNG), …    Tại Việt Nam, nguy cơ thiệt hại về kinh tế được thể hiện rõ trong bối cảnh Bộ Công an được giao nhiệm vụ nhanh chóng hoàn thiện cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, 100% tài khoản định danh điện tử của cá nhân sẽ thực hiện được việc xác thực với danh tính điện tử do Bộ Công an cấp, với mục tiêu đưa cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia trở thành xương sống cho các giao dịch kỹ thuật số trong cả khu vực công lẫn tư. Mới đây, ngày 03/08/2022, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 48/2022/TT-BTC quy định mức thu chế độ thu, nộp, quản lý, và sử dụng phí khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư. Theo điều 2 Thông tư này, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và định danh điện tử như ngân hàng, nhà mạng viễn thông, các tổ chức chứng thực chữ ký số, văn phòng công chứng, … đều phải “xin” truy cập dữ liệu có “nộp phí.” Quy định này càng làm gia tăng giá trị kinh tế của dữ liệu công dân, và cùng với đó là phí tổn nếu những dữ liệu này không được bảo vệ cẩn thận.  Bên cạnh rủi ro thiệt hại về tiền bạc, nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân còn khiến người dân e ngại khi tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến. Điển hình như thực tế nhiều người dân còn lo ngại về việc căn cước công dân có gắn chip điện tử sẽ có chức năng định vị, có thể theo dõi, xác định vị trí của công dân, ảnh hưởng đến các hoạt động riêng tư cá nhân. Sự “e ngại” và thiếu niềm tin này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự tham gia của người dân vào chuyển đổi số nói chung, và quá trình phát triển chính phủ số nói riêng.  Sự “e ngại” đó của người dân đã thể hiện qua những con số biết nói. Dẫu chuyển đổi số luôn được chính phủ hô hào mạnh mẽ trên các kênh truyền thông như một chìa khóa vạn năng cho cải cách hành chính, đưa người dân lại gần chính quyền, thì kết quả khảo sát hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam (PAPI) 2021 cho thấy chỉ mới dưới 1% số người được hỏi cho biết họ đã sử dụng Cổng dịch vụ công trực tuyến quốc gia để thực hiện dịch vụ công. Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia 2021 cũng đưa ra kết luận tương tự, với trụ cột Xã hội số có giá trị chỉ đạt 0.3989/1 điểm.  Cần hoàn thiện khung khổ pháp lý  Khi phát hiện ra sự vụ lộ lọt thông tin cá nhân của công dân qua cổng dịch vụ công, Đồng Tháp đã ngay lập tức ban hành công văn thông báo rộng rãi và yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như đơn vị cho thuê và khai thác hạ tầng cổng này (VNPT) phải siết chặt việc bảo mật dữ liệu cá nhân của công dân.  Vụ việc ở Đồng Tháp tuy đáng quan ngại, nhưng phản ứng của tỉnh là có trách nhiệm và minh bạch, nhất là trong bối cảnh các cơ quan công quyền địa phương nói chung sẽ chọn cách tránh đối mặt với một sự kiện như vậy, “đóng cửa bảo nhau” mà không thông báo cho người dân. Nhưng việc dựa vào ý thức tự nguyện của các cơ quan như vậy sẽ là không đủ mà còn cần những quy định pháp luật rõ ràng. Với tốc độ chuyển đổi số nhanh chóng cùng xu thế tập trung hóa dữ liệu đang dâng cao như hiện nay, khoảng trống trong khung chính sách, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân ngày càng mở ra những hiểm họa khôn lường.  Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật khác đã quy định quyền riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, bảo vệ thông tin cá nhân là bất khả xâm phạm. Việc hoàn thiện khung chính sách, pháp luật quốc gia về bảo vệ dữ liệu cá nhân cần chú trọng tiếp cận từ góc độ quyền con người đã được hiến định này. Đây là thách thức, cũng như là cơ hội để chính phủ làm gương trong các hoạt động thu thập, phân tích, chia sẻ dữ liệu cá nhân người dùng.□  ——  *Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS), đồng tác giả của báo cáo.    Author                Tống Khánh Linh        
__label__tiasang Bảo vệ nguồn lợi hải sản: Khi biển không còn cá…      Nếu không có những giải pháp kịp thời, trong tương lai, có lẽ những vùng biển giàu tài nguyên của Việt Nam chỉ còn là ký ức.      Sản lượng khai thác hải sản có xu hướng tăng nhưng chất lượng và sự phong phú của các nguồn tài nguyên biển đã bị suy giảm. Nguồn: thuysanvietnam.com.vn  Năm 1958, từ chuyến đi thực tế ở Hồng Gai, nhà thơ Huy Cận đã viết những vần thơ chan chứa tự hào về những vùng biển giàu nguồn lợi hải sản “cá bạc biển Đông lặng”, “cá thu biển Đông như đoàn thoi” trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”… Sau hơn nửa thế kỷ “biển cho ta cá như lòng mẹ” ấy, bức tranh tổng thể về nguồn lợi hải sản Việt Nam đã thay đổi chóng mặt. Trong hai cuộc trao đổi với Người đưa tin và Tuổi trẻ, lần lượt vào năm 2019 và 2021, cả hai ông viện trưởng Viện Nghiên cứu hải sản (Bộ NN&PTNT) lẫn phó vụ trưởng phụ trách Vụ Bảo tồn và Phát triển nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủy sản) đều thừa nhận những thực tại mà những người ngoài ngành cũng phải bất ngờ: theo số liệu điều tra, trữ lượng nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 đã giảm khoảng 14 – 15% so với giai đoạn 2000 – 2005; giai đoạn 2016-2020 (khoảng 3,95 triệu tấn) tiếp tục suy giảm 22,1 % so với giai đoạn 2000-2005; giai đoạn 2011-2015 (giảm 9,5%)1.  Giữa những con số này, có một điểm đáng chú ý là theo năm tháng, nếu sản lượng khai thác hải sản có xu hướng tăng thì chất lượng và sự phong phú của các nguồn tài nguyên biển đã bị suy giảm rất nhiều. Trên trang web của mình, Tổng cục Thủy sản cũng phải chỉ ra, “nhiều loài trước đây rất phổ biến nhưng hiện nay đã trở lên khan hiếm như cá đé (Ilisha elongata) hay cá sủ (Otolithes biauritus)… Đây là những biểu hiện về sự suy giảm tính đa dạng sinh học về loài đối với nguồn lợi hải sản biển Việt Nam”2.    Theo đà này, có thể một ngày không xa, sẽ không còn cơ hội để chúng ta “kéo xoăn tay chùm cá nặng” nữa.    Vậy có cách nào chặn đứng được nguy cơ đó?    Tìm những “nồi Thạch Sanh” giữa biển    Nếu đọc báo cáo của Viện Nghiên cứu hải sản, có thể thấy một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng cạn dần nguồn lợi từ biển do “bị tác động rất lớn từ các hoạt động của con người như phá hủy nơi sinh cư (các rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn…), sự phát triển thiếu kiểm soát ngành khai thác hải sản, ô nhiễm môi trường do các hoạt động kinh tế khác ở trên đất liền và trên biển”2. Thoạt nhìn, ai cũng thấy phạm vi tìm đáp án cho bài toán này hết sức rộng mở và liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực. “Trong số các giải pháp mà chúng ta có thể áp dụng thì tôi thấy, việc triển khai có hiệu quả các khu bảo tồn biển hiện có là cách chúng ta có thể tập trung vào”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc, một nhà nghiên cứu đã có nhiều năm kinh nghiệm về kinh tế thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học ở trường ĐH Nha Trang, cho biết.    Đến năm 2020, Việt Nam có tối thiểu 20 khu bảo tồn biển được thành lập và đi vào hoạt động, nâng tổng diện tích vùng biển nằm trong khu bảo tồn lên khoảng 1%.  Không nên coi các mô hình bảo tồn biển như một công cụ quản lý độc lập mà nên kết hợp với những công cụ khác và những chính sách khác thì mới có thể thành công.        Từ 20 năm nay, có tới 16 khu bảo tồn biển (marine protected area) đã tồn tại ở Việt Nam, trải dài từ vịnh Bắc Bộ với Cát Bà, Bạch Long Vỹ đến vùng duyên hải Trung Bộ như Cù Lao Chàm, Lý Sơn… và vùng biển Nam Bộ như Côn Đảo, Phú Quốc… Trong công bố “Impacts on the ecosystem and human well-being of the marine protected area in Cu Lao Cham, Vietnam” (Những tác động lên hệ sinh thái và con người của khu bảo tồn biển ở Cù Lao Chàm, Việt Nam) xuất bản trên tạp chí Marine Policy, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc viết “Là những nơi ngăn cấm hoặc hạn chế các hoạt động đánh bắt tôm cá và các nguồn lợi hải sản khác của con người, các khu bảo tồn biển được coi là những công cụ quản lý hữu hiệu để làm giảm bớt và cuối cùng là phục hồi sự suy giảm của các rạn san hô và hệ sinh thái ven biển. Trên phạm vi toàn cầu, các nhà khoa học đã ghi nhận giá trị của các khu bảo tồn biển, đặc biệt những nơi không cho phép đánh bắt (no-take marine protected areas), trong việc cải thiện hệ sinh cảnh biển, bao gồm cả khả năng phát triển nguồn cá, cũng như hỗ trợ nguồn sinh kế thông qua khuyến khích việc sử dụng nguồn lợi hải sản bền vững”.    Đó là lý do vì sao trong hội thảo “Bàn giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản theo Luật Thủy sản năm 2017” do Tổng cục Thủy sản tổ chức vào tháng 12/2019, PGS. TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và hải đảo (Bộ NN&PTNT), đã ví các khu bảo tồn biển như “nồi cơm Thạch Sanh, tuy nhỏ nhưng ăn mãi không hết” còn trên trang earthisland.org, Sarah Ohayon, một nhà động vật học ở ĐH Tel Aviv (Israel) đánh giá “những khu bảo tồn cấm khai thác là những viên kim cương trên vương miện đại dương”3. Nhìn từ góc độ nào, trong vai trò gìn giữ sự đa dạng sinh học hay tạo nguồn cung cho khai thác bền vững, các khu bảo tồn biển cũng là giải pháp mà các nơi đang đứng trước nguy cơ suy kiệt nguồn lợi hải sản như Việt Nam cần tận dụng. “Đa phần các khu bảo tồn biển bảo vệ các hệ sinh thái có vai trò mật thiết với các loài cá như các rạn san hô, các thảm cỏ biển hay rừng ngập mặn… Không riêng Việt Nam mà thế giới cũng chú trọng vào ba đối tượng đó để giúp sinh sôi phát triển các loài hải sản”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc nói.              Thu phí tham quan tại các KBTB được xem là  một giải pháp để thực hiện tốt bảo tồn biển. Nguồn: baotainguyenmoitruong.vn  Về tổng thể, một khu bảo tồn biển ở Việt Nam được chia thành nhiều phân khu chức năng khác nhau, tùy thuộc các giá trị cần bảo vệ, bao gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng dịch vụ – hành chính, vùng đệm, theo Nghị định 26/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản. Hiện tại, ngoài các hoạt động đánh bắt, các khu bảo tồn biển Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của chất thải nhựa hay biến đổi khí hậu. Tuy nhiên theo PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc, nếu các bên khai thác như du lịch, đánh bắt hải sản… chấp hành quy định một cách nghiêm túc ở các phân khu thì sau ít nhất ba đến năm năm, hệ sinh cảnh với những thành phần đa dạng sẽ có tiềm năng được phục hồi. Điều đó đã diễn ra ở nhiều khu bảo tồn biển trên thế giới. TS. Kelly Kryc, một chuyên gia về chính sách đại dương ở Cơ quan Khí quyển và đại dương Mỹ (NOAA), cho rằng “Tôi không rõ đại dương trong tương lai như thế nào nhưng nếu con người cho nó một cơ may nghỉ ngơi thì nó sẽ có cơ hội vô cùng lớn để tự chữa lành”3.  Trong giới nghiên cứu biển, ai cũng biết đến cơ hội quý báu ấy. Nó cũng là khởi điểm của hiệu ứng tràn (spillover effect) – một hiện tượng xảy ra ở các khu bảo tồn biển khi hệ sinh cảnh được phục hồi, các nguồn tôm cá và sinh vật biển khác sinh sôi nảy nở tràn ra ngoài khu vực được bảo vệ. “Tuy ở Việt Nam chưa có công bố nào về đánh giá hiệu ứng tràn thông qua việc đo lường nguồn tôm cá và sinh vật biển trước và sau khi xảy ra hiệu ứng này nhưng nhiều công bố trên thế giới đã cho thấy điều đó, có nơi tăng 20%”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc nói.      “Nếu các bên khai thác như du lịch, đánh bắt hải sản… chấp hành quy định một cách nghiêm túc ở các phân khu thì sau ít nhất ba đến năm năm, hệ sinh cảnh với những thành phần đa dạng sẽ có tiềm năng được phục hồi. Điều đó đã diễn ra ở nhiều khu bảo tồn biển trên thế giới” (PGS. TS. Quách Thị Khánh Ngọc)      “Bức tranh màu xám”    Những gì diễn ra sau hai thập niên cho thấy không dễ để các khu bảo tồn biển trở thành những “nồi Thạch Sanh” trên biển. PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc chia sẻ “Nếu nói về mức độ thành công của các khu bảo tồn biển ở Việt Nam, tôi thấy vẫn chưa thực sự rõ ràng. 20 năm đã qua kể từ ngày thành lập khu bảo tồn biển đầu tiên nhưng vẫn chưa có đánh giá nào mang tính hệ thống và toàn diện về hai đóng góp lớn của các khu bảo tồn biển là đóng góp vào sự đa dạng sinh học và kinh tế xã hội”.    Người ta thường quan niệm, để kêu gọi sự chú ý của nhà quản lý, các nhà nghiên cứu vẫn hay “nói quá” mọi chuyện lên. Tuy nhiên trong trường hợp này, mọi chuyện ngược lại bởi các nhà quản lý còn “mạnh miệng” hơn cả nhà khoa học. Khi đánh giá về các khu bảo tồn biển Việt Nam, ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo tồn và Phát triển nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủy sản) đã thẳng thắn cho biết tại hội thảo tháng 12/2019 của Tổng cục Thủy sản, “đây là một bức tranh màu xám bởi tổng diện tích các khu bảo tồn hiện chỉ chiếm 0,134% diện tích toàn bộ vùng biển, nghĩa là chỉ đạt 56% so với mục tiêu của Quyết định 742/QĐ-TTg về Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020”. Bức tranh toàn cảnh này còn được PGS. TS Nguyễn Chu Hồi phác họa thêm một vài chi tiết giúp hình dung ra sự èo uột của nó: “Vào năm 2010, chúng ta mới quy hoạch được 16 khu bảo tồn biển. Đến nay, lẽo đẽo duy trì 16 khu gần 10 năm thì mới có 11 khu bắt đầu có ban quản lý hay có kế hoạch quản lý, chưa dám nói quản lý hiệu quả hay chưa. Cho nên, dù có tám cam kết từ 2015, trong đó có một cam kết gồm ba nội dung liên quan đến thủy sản và khu bảo tồn biển có hiệu quả, nhưng đến nay chúng ta đã không đạt được những cam kết đó”.          Du khách ngắm vẻ đẹp của hệ sinh thái rạn san hô ở Hòn Mun, Khánh Hòa. Nguồn: Báo Khánh Hòa .    Nếu được đặt câu hỏi “vì sao nên nỗi?” thì có lẽ, những thông tin phản hồi từ cả nhà quản lý lẫn nhà khoa học đều khiến người ta bối rối, bởi đó là một mớ bòng bong đan cài trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế, nguồn lực… Xét về mô hình tổ chức các khu bảo tồn, “có năm mô hình khác nhau, cái thì trực thuộc huyện, trực thuộc chi cục thủy sản, sở NN&PTNT tỉnh, thành phố, các vườn quốc gia (Bái Tử Long, Cát Bà, Núi Chúa, Côn Đảo là các vườn quốc gia mà khu bảo tồn biển trực thuộc)”, ông Lê Trần Nguyên Hùng phân tích và chỉ ra “chính vì những mô hình, hệ thống tổ chức khác nhau nên thẩm quyền thực thi pháp luật, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các khu bảo tồn gặp rất nhiều khó khăn”.    Bên cạnh đó, cũng giống như chuyện xảy ra với các hạt kiểm lâm, nguồn lực đầu tư, cả về nguồn kinh phí lẫn nhân lực, cho các khu bảo tồn này rất hạn chế. Ông Lê Trần Nguyên Hùng thừa nhận “trong số các ban quản lý hiện nay thì chỉ có Cù Lao Chàm là có quân số đông nhất, còn lại với các khu bảo tồn khác, con số này chỉ ở khoảng 7 đến 10 người”. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, có thể nhận ra, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thốn nhân lực ở đây chính là kinh phí, “như với khu bảo tồn Cồn Cỏ có 700-800 triệu mỗi năm, không thể triển khai các hoạt động liên quan đến bảo tồn”. Theo lý giải của ông, ở địa phương, kinh phí dành cho các nhiệm vụ về bảo vệ và phát triển nguồn lợi của các địa phương rất ít, đặc biệt “ở các tỉnh khó khăn về ngân sách thì xin một đồng của địa phương vô cùng khó, vì vậy mới diễn ra cảnh thiếu trang bị, thiếu tàu trong khi quản lý phải đi đôi với kiểm tra kiểm soát”…    Xác nhận của ông cũng tương đồng với nhận xét của PGS. TS Quách Trần Khánh Ngọc “các ban quản lý cũng được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước nhưng hầu như rất nhỏ, mặc dù vùng biển họ quản lý lại lớn”.      “Tôi luôn tin là với nguồn lực hạn chế và nghề cá nhân dân chưa được hiện đại hóa thì mô hình đồng quản lý (co-management) – mô hình quản lý có sự tham gia của người dân có thể là giải pháp tốt”. (PGS. TS. Quách Thị Khánh Ngọc)      Nếu đặt tất cả các yếu tố ấy cạnh nhau, ai cũng có thể cảm nhận rõ cái vòng luẩn quẩn mà các khu bảo tồn biển khó thể thoát ra, dù tồn tại đã lâu. Ông Lê Trần Nguyên Hùng không giấu thất bại: “Chính vì thế mà hiệu quả quản lý [của các khu bảo tồn biển] rất thấp. Thiếu tàu, thiếu trang thiết bị, thậm chí có những ban quản lý không có tàu để thực thi quản lý. Như vậy, cơ chế làm sao bền vững được”.    Mặc dù phức tạp như vậy nhưng nếu hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học biển chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm riêng ngành thủy sản (hay của ban quản lý khu bảo tồn) thì vẫn còn dễ giải quyết. Trên thực tế, đó là bài toán liên ngành. “Việt Nam chưa làm được tốt như mong muốn vì trên một vùng biển có quá nhiều hoạt động phải tính đến như du lịch, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, vận tải, dầu khí… Muốn quy hoạch và quản lý thì tất cả các bên phải cùng ngồi lại trao đổi và hợp tác thì việc phát triển kinh tế biển bền vững mới có thể đạt được. Ví dụ chúng ta biết là việc thu hút nhiều khách du lịch và xây cất các resort nghỉ dưỡng ven biển đem lại một nguồn lực kinh tế cho ngành du lịch nhưng cũng làm ảnh hưởng đến môi trường biển, đó là câu chuyện của đánh đổi (trade-off)”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc nói.    Trong câu chuyện này, thẩm quyền giải quyết đã vượt quá tầm với của một ban quản lý. Họ bất lực bởi việc đánh bắt cá trộm còn có thể thấy sờ sờ trước mắt để đuổi bắt, răn đe nhưng những tác hại của ô nhiễm, của sức ép du lịch lên hệ sinh thái thì cần đến cả thời gian để kiểm chứng. Năm 2021, các nhà nghiên cứu mới làm vỡ lẽ một hiện trạng buồn: sự suy giảm tới 90% các rạn san hô tuyệt đẹp ở Nha Trang, nguy cơ vĩnh viễn mất đi những thảm cỏ biển ở khu bảo tồn biển Lý Sơn (Quảng Ngãi) cũng như ở đầm Lăng Cô (TT- Huế), ven biển Cửa Đại (Quảng Nam), vịnh Vân Phong (Khánh Hòa). Trong trao đổi với báo KH&PT vào năm 2021, PGS. TS Hoàng Công Tín, trường ĐH Khoa học (ĐH Huế) cho biết: “Hiện nay các thảm cỏ biển miền Trung đang phải đối mặt với nhiều nguyên nhân gây suy thoái do hoạt động của con người như nuôi trồng thủy hải sản, xây dựng cảng biển, phát triển các cơ sở hạ tầng, các khu du lịch cũng như tình trạng khai thác các nguồn tài nguyên quá mức, ô nhiễm rác thải nhựa,… Thậm chí, sự đô thị hóa trên đất liền cũng có tác động đến các thảm cỏ biển phía dưới các thủy vực”4.    Có lẽ, những điều như vậy đều nằm ngoài tiên liệu của những người lên kế hoạch thành lập các khu bảo tồn biển gần 20 năm trước.    Liệu có vô vọng?    Đó là câu hỏi mà nhiều người đặt ra khi đứng trước thực trạng này. Liệu có cách nào để các khu bảo tồn biển có thể trở thành nơi đem lại sự sống cho biển cả và hơn nữa, thành “những nồi Thạch Sanh” sinh kế cho ngư dân bám biển? Thật khó đưa ra một giải pháp hoàn hảo để hóa giải mọi khó khăn mà các khu bảo tồn biển phải đối mặt.    Ở góc độ một nhà nghiên cứu, tự nhận là chưa khảo sát đầy đủ các khu bảo tồn ở Việt Nam nhưng đã theo dõi các mô hình quản lý trên thế giới, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc cho rằng, không nên coi các mô hình bảo tồn biển như một công cụ quản lý độc lập mà nên kết hợp với những công cụ khác và những chính sách khác thì mới có thể thành công. “Ở nhiều nước, họ ban hành nhiều chính sách đi kèm để đảm bảo hài hòa lợi ích các bên tham gia, ví dụ chính sách khác quản lý quota (hạn ngạch) đánh bắt, cơ chế đền bù cho ngư dân vì bị giới hạn thời gian đánh bắt, giới hạn phạm vi đánh bắt… từ phí du lịch…”, chị nói. Nhưng theo phân tích của chị, có những cơ chế hay với nước ngoài nhưng lại chưa thật sự phù hợp với Việt Nam, ví dụ cơ chế quota khó khả thi khi các tàu cá Việt Nam đa phần là nhỏ, không cài các thiết bị rada giám sát hành trình hoặc có thì cũng có thể ngắt vận hành thiết bị khi vào khu vực cấm. Việt Nam cũng chưa có hệ thống cảng biển hiện đại để có thể xác định được lượng đánh bắt của từng tàu. Thêm một đặc điểm khác là nguồn hải sản ở các nước và Việt Nam cũng khác nhau: ở châu Âu, cá chủ yếu là đơn loài trong khi Việt Nam thì đa loài, việc áp dụng quota khá thách thức…    Vậy thì có cách nào khả thi cho Việt Nam? “Tôi luôn tin là với nguồn lực hạn chế và nghề cá nhân dân chưa được hiện đại hóa thì mô hình đồng quản lý (co-management) – mô hình quản lý có sự tham gia của người dân có thể là giải pháp tốt. Tôi thấy Cù Lao Chàm là điển hình tương đối thành công và không thấy nhiều khu bảo tồn ở Việt Nam làm được như vậy”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc nói. Điều thuận lợi của Cù Lao Chàm không chỉ ở việc có một đội ngũ cán bộ đông nhất trong số các khu bảo tồn mà còn là khuyến khích được người dân tham gia bảo vệ biển. “Theo tôi nghĩ, chủ yếu họ tạo ra đồng lợi ích cho các bên liên quan bởi cộng đồng địa phương phải có được lợi ích trong bảo tồn. Những hô hào chung chung về nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ tài nguyên biển không thực sự dẫn đến sự thay đổi trong hành động của họ. Sự đồng thuận và ủng hộ của người dân đối với công tác bảo tồn biển cần được khơi dậy từ động lực nội tại của họ và động lực ấy phải gắn với lợi ích mà gia đình và cộng đồng của họ có được từ bản tồn biển”, chị nhận xét.    Sự hợp tác của ban quản lý và cộng đồng địa phương, có lẽ, không phải muốn là được. “Qua khảo sát, tôi thấy họ rất gần gũi, sâu sát với cộng đồng, cơ chế điều phối minh bạch và rạch ròi nên đã tạo được niềm tin và sự ủng hộ của cộng đồng”, chị nói. Dĩ nhiên, cơ chế lợi ích đi kèm để ngư dân có được lợi ích khi tham gia và thấy được lợi ích lâu dài sẽ đến nhưng điều cốt lõi là phải xây dựng được niềm tin và khơi dậy được sự quan tâm của cộng đồng. “Tôi cảm nhận là cộng đồng địa phương cũng có đóng góp nhất định vào công tác bảo tồn ở Cù Lao Chàm, ví dụ như không dùng túi nilon, ống hút nhựa. Hằng năm, các vụ vi phạm về đánh bắt cũng có xảy ra nhưng chủ yếu là do người ngoài cộng đồng địa phương”, chị cho biết thêm.    Thế cuộc xoay vần, với khu bảo tồn ở một hòn đảo xinh đẹp vào mùa du lịch, số khách còn đông hơn cả số dân (trên 3.000 người/ngày, theo xác nhận của ông Lê Trần Nguyên Hùng) thì những nguy cơ ảnh hưởng đã hiện hữu. Thông tin xây dựng khu nghỉ dưỡng với biệt thự, nhà hàng, trung tâm fitness, spa… trên đảo, dù đã được điều chỉnh theo hướng thu hẹp và lùi vào sâu trong đảo, cũng khiến người ta lo ngại về một tương lai nhiều nguy cơ rủi ro cho hệ sinh thái5. “Tôi nghĩ chỉ phát triển du lịch tốt khi hệ sinh cảnh được duy trì vì mục tiêu của du lịch là muốn thấy môi trường tự nhiên tươi đẹp. Nếu không còn cá, san hô… thì Cù Lao Chàm không còn là nơi người ta muốn đến nữa. Do đó, phát triển kinh tế phải đi cùng sự bảo vệ tài nguyên và môi trường. Đó là thông điệp về bảo tồn biển”, PGS. TS Quách Thị Khánh Ngọc cho biết.    Nhưng thật ra, với trường hợp này, một tương lai rủi ro của đánh đổi lợi ích (trade-off) sẽ không đến trong một ngày…  ——–  1. https://tuoitre.vn/hai-san-can-kiet-dan-bao-ton-de-dam-bao-sinh-ke-cho-ngu-dan-20211225142818711.htm  http://www.rimf.org.vn/bantin/chitiet/vi-%C4%91au-nguon-ca-o-bien-%C4%91ong-%C4%91ung-truoc-nguy-co-can-kiet  2. http://www.rimf.org.vn/baibaocn/chitiet/tinid-2170  https://tongcucthuysan.gov.vn/vi-vn/b%E1%BA%A3o-t%E1%BB%93n-ptnl-th%E1%BB%A7y-s%E1%BA%A3n/doc-tin/015570/2021-01-25/ket-qua-thuc-hien-chuong-trinh-bao-ve-va-phat-trien-nguon-loi-thuy-san-giai-doan-2012-2020  3.https://www.earthisland.org/journal/index.php/articles/entry/when-it-comes-to-marine-protected-areas-bigger-is-better/  4.https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/suy-giam-co-bien-o-mien-trung-chuyen-khong-binh-thuong/20210617105029279p1c160.htm  5.https://vietnambiz.vn/du-an-khu-du-lich-sinh-thai-bien-cu-lao-cham-bi-quang-nam-cat-giam-gan-10-lan-dien-tich-117787.htm    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân      Để quyền làm chủ của nhân dân có tính thực  chất, về nguyên tắc mọi người dân phải được quyền tham gia điều chỉnh  tất cả mọi vấn đề mà họ cho là cần thiết, và theo quy định của hiến pháp  hiện hành, nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình qua Quốc hội và Hội  đồng Nhân dân.     Tuy nhiên, đây là một hình thức thực thi quyền làm chủ một cách gián tiếp luôn có độ trễ cao. Hai hình thức cơ quan này không phải khi nào cũng có thể phản biện hoặc điều chỉnh các quyết sách của Chính phủ, hoặc khi được phản biện hay điều chỉnh thì sự đã rồi. Chưa kể, không phải khi nào Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân cũng phản ánh sâu sát được quan điểm và quyền lợi của người dân địa phương.  Nhìn sang nước Pháp, có thể thấy rằng hiện nay họ thực thi quyền làm chủ của người dân tốt hơn chúng ta, ở chỗ họ cho phép người dân địa phương không chỉ được phản biện, đối thoại, mà còn được tự do đàm phán (không chỉ về tiền đền bù đất đai và tài sản mà cả những nhu cầu khác, như trạm y tế, trường học, hạ tầng đường sá, v.v) với chủ đầu tư của những dự án có ảnh hưởng tới quyền lợi của cộng đồng. Chủ đầu tư sẽ phải giải trình cho tới khi thuyết phục được người dân địa phương. Nếu không, dự án sẽ bị hủy bỏ.  Tuy nhiên, để tổ chức được việc đối thoại và cung cấp thông tin cho người dân, nước Pháp xây dựng một đạo luật quy định quy trình cụ thể, trong đó lập ra Ủy ban Quốc gia về Thảo luận Công (Commission Nationale du Débat Public), một cơ quan độc lập với Chính phủ và có toàn quyền với trọng trách của mình, đó là đảm bảo hoạt động cung cấp thông tin và tổ chức đối thoại cho người dân một cách khách quan, công bằng, không bị méo mó và thao túng.   Tính độc lập và chịu trách nhiệm toàn diện ở một số cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân, vừa ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của Chính phủ, vừa tránh tình trạng khi có hậu quả nghiêm trọng xảy ra không ai đứng ra giải trình một cách đầy đủ để chịu chế tài một cách nghiêm minh. Lâu nay ở ta, xảy ra tình trạng các cơ quan ban ngành khi phải đưa ra một quyết định khó khăn thường dễ đùn đẩy trách nhiệm ra quyết định lên cấp cao hơn. Trong khi đó, bản thân cơ quan cấp cao hơn lại không thể có đủ chuyên môn và sự sâu sát với cơ sở và tình hình các địa phương để đưa ra quyết định đúng đắn nhất, và khi có hậu quả xấu xảy ra, rất khó buộc người lãnh đạo một cơ quan cấp trên phải từ chức vì một vấn đề lẽ ra trên nguyên tắc phải thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ban ngành cấp dưới.  Tuy nhiên, việc một số cơ quan Nhà nước có vai trò độc lập và chịu trách nhiệm toàn diện vẫn chưa đủ để đảm bảo rằng quyền lợi của nhân dân được đảm bảo cao nhất. Đối với những vấn đề trọng đại như quyền con người, chủ quyền lãnh thổ, hay an ninh tài chính quốc gia, cần có những quy định cụ thể, không mập mờ và không thể xâm phạm, được bảo chứng bằng những văn bản pháp lý cao nhất. Điều này giúp tránh tình trạng các cơ quan Nhà nước mặc dù được phân vai độc lập nhưng rút cục vẫn xuề xòa nhượng bộ lẫn nhau gây ra hậu quả tiêu cực.   Ví dụ như ở nước Mỹ, giữa Quốc hội và Chính phủ có vai trò độc lập, nhưng điều đó không ngăn đạo luật về trần nợ công bị liên tục điều chỉnh, khiến nợ công của Mỹ tăng dần lên qua thời gian ảnh hưởng sâu sắc tới an toàn tài chính công, mà đối tượng bị thiệt hại chính là nhân dân, những người phải đóng thuế để Chính phủ có tiền trả nợ. Ngược lại, ở Ba Lan người ta đơn giản chỉ cần đưa vào hiến pháp một con số cụ thể đối với trần nợ công là 60%, mà nếu vượt quá thì Chính phủ nghiễm nhiên phải tìm mọi cách giảm trừ bằng cách cân đối ngân sách thay vì tìm cách đàm phán với Quốc hội.   Những thực tế trên đây cho thấy, những khiếm khuyết trong mô hình quản lý Nhà nước gây ra tình trạng một số cơ quan lạm quyền hoặc xuề xòa tự nhân nhượng lẫn nhau, có thể tồn tại ở mọi quốc gia, kể cả những quốc gia đã phát triển. Tuy nhiên, chúng có thể khắc phục được, nếu không chỉ các nhà quản lý có đủ quyết tâm mà mọi tầng lớp xã hội tích cực tham gia vào quá trình mổ xẻ, nhận diện những nguy cơ rõ ràng gây tổn hại tới quyền làm chủ của mình, chỉ ra giải pháp cụ thể trong thể chế pháp lý và cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước, và quan trọng là tạo nên đủ sức ép cải tổ trong dư luận.  Khi các giải pháp cải tổ đem đến sự phồn vinh, thịnh vượng cho đất nước thì quyền lực của Nhà nước sẽ tăng lên thay vì giảm đi, vì quyền lực đó song hành mật thiết cùng quyền lợi của nhân dân, phát huy được cao nhất các nguồn lực vật chất và tinh thần của nhân dân. Sự song hành đó giúp các nhà lãnh đạo của quốc gia có thể vững vàng đối diện với những thách thức cả trong lẫn ngoài.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắt buộc tiêm chủng vaccine COVID-19: Giải pháp cuối cùng      Giữa tình thế cần phải gỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế đi lại, tụ tập, vui chơi giải trí để quay trở lại cuộc sống cũ và phát triển kinh tế, dịch bệnh COVID-19 lại vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Với nguy cơ gây áp lực cho hệ thống y tế, nhiều quốc gia đã từng nghĩ đến việc áp dụng biện pháp bắt buộc tiêm chủng vaccine COVID-19.  Tuy nhiên cho đến thời điểm này, Việt Nam và đa số các quốc gia trên thế giới vẫn coi tiêm chủng vaccine COVID-19 là tự nguyện. Theo Reuters, tính đến cuối tháng 12/2021, chỉ có bảy quốc gia chính thức triển khai chính sách bắt buộc tiêm chủng cho toàn dân từ 18 tuổi trở lên và khoảng 20 quốc gia bắt buộc tiêm chủng đối với nhóm người làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề nhất định. Vì sao bắt buộc tiêm chủng vẫn là một quyết định không dễ dàng?      Đến tận nhà để tiêm ở Phú Thọ. Ảnh: H.T/ Sở Y tế Phú Thọ.  Vaccine là cách tốt nhất để kiểm soát dịch bệnh?  Đại đa số các nghiên cứu hiện nay đều cho thấy các vaccine COVID-19 đều có khả năng giảm thiểu nguy cơ bệnh nặng và tử vong đáng kể, dù với bất kể biến chủng nào. Theo báo cáo của Trung tâm Phòng ngừa dịch bệnh CDC Hoa Kỳ mới được công bố vào cuối tháng hai vừa qua, hiệu quả bảo vệ của vaccine (vaccine Pfizer/BioNTech, Moderna, J&J) khỏi trường hợp phải thở máy và tử vong do nhiễm COVID-19 là khoảng 90%. Những người đã tiêm có nguy cơ tử vong vì COVID-19 thấp hơn rất nhiều so với những người chưa tiêm chủng. Số liệu của Our World In Data cũng cho thấy, đơn cử tại Thụy Sĩ và Hoa Kỳ, tỉ lệ tử vong vì COVID-19 của nhóm người chưa tiêm chủng là khoảng 8%, gấp 8 lần so với nhóm tiêm đủ hai mũi là gần 1% và gấp 16 lần nhóm được tiêm một mũi tăng cường là chưa đến 0,5%. Hàn Quốc, một quốc gia có tỉ lệ tiêm chủng đủ hai mũi gần 90% (và con số này còn cao hơn ở những người cao tuổi), hiện nay đang có số ca nhiễm ở mức cao nhất thế giới – 600 nghìn ca một ngày nhưng tỉ lệ tử vong của nước này lại đang ở mức thấp nhất thế giới, chỉ khoảng 0.14%.   Các vaccine COVID-19 không hoàn toàn ngăn ngừa được việc lây nhiễm COVID-19. Tuy nhiên, khả năng lây lan virus của những người đã tiêm vaccine vẫn thấp hơn so với người chưa tiêm chủng. Thứ nhất, người tiêm vaccine ít có khả năng bị nhiễm hơn, và nếu họ không bị nhiễm, đồng nghĩa với việc giảm thiểu tối đa khả năng lây cho người khác. Thứ hai, nếu bị nhiễm, người đã tiêm vaccine trung hòa virus nhanh hơn những người chưa tiêm. Bởi vậy, những người đã tiêm vaccine có khoảng thời gian lây lan ngắn hơn và truyền những virus “yếu” hơn so với những người chưa tiêm. Vaccine COVID-19 cũng có những tác dụng phụ. Tuy nhiên đa số các phản ứng phụ đều chỉ kéo dài một vài ngày (như sốt, ớn lạnh, đau mỏi người, sưng ở vết tiêm), không nghiêm trọng. Các trường hợp bị sốc phản vệ và tác dụng phụ nghiêm trọng như đông máu và viêm cơ tim là rất hiếm gặp, dưới 15 người trên một triệu người.   Những lập luận ủng hộ bắt buộc tiêm chủng vaccine COVID-19 cũng nhắm đến việc bảo vệ hệ thống y tế khỏi quá tải. Trong số bảy quốc gia thực hiện chính sách bắt buộc tiêm chủng toàn dân từ 18 tuổi trở lên, có bốn nước thuộc nhóm đang phát triển. Virus Sars-CoV-2 lây lan nhanh và tác động đặc biệt nguy hiểm đối với những người có hệ miễn dịch dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người có bệnh nền, trì hoãn tiêm chủng có thể dẫn đến số ca phải nhập viện tăng đột biến khi dịch dâng cao. Và điều đó đã diễn ra trên thực tế ở nhiều nước và khu vực. Ví dụ gần đây nhất là Hong Kong khi tốc độ tiêm vaccine quá chậm và tỉ lệ tiêm vaccine ở người cao tuổi đặc biệt thấp (mới khoảng 15% người trên 80 tuổi đã tiêm đủ hai mũi), khiến số người nhập viện vì chưa tiêm vaccine có triệu chứng nặng tăng đáng kể và số ca tử vong ở người cao tuổi trở nên đáng báo động. Hơn nữa, vaccine không chỉ giảm gánh nặng cho hệ thống y tế ở thời điểm đại dịch mà còn cả sau đại dịch với những di chứng hậu COVID-19. Những người đã tiêm vaccine cũng có các triệu chứng hậu COVID-19 ít hơn và nhẹ hơn so với những người chưa tiêm. Tiêm vaccine càng nhanh, phủ càng rộng còn phòng tránh cho những người vì lý do y tế không thể tiêm hoặc cho những đối tượng chưa có khả năng tự bảo vệ như trẻ em.     Cho đến hiện tại, vaccine vẫn là một trong các giải pháp hiệu quả nhất để kiểm soát dịch bệnh. Nhờ vaccine, các nước trên thế giới mới có thể gỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế đi lại, cho phép tụ tập, ăn uống, tổ chức sự kiện, thậm chí là không yêu cầu đeo khẩu trang ở nơi công cộng, dần trở về cuộc sống bình thường trước đại dịch.   Bắt buộc tiêm chủng không phải là mới  Nhìn vào biểu đồ của The New York Times với dữ liệu được tổng hợp từ trang Our World in Data cho thấy khi tỉ lệ tiêm chủng mũi một và mũi hai đạt khoảng 70% dân số, đường đồ thị có xu hướng đi ngang thay vì đi lên, thể hiện tốc độ tiêm chủng bắt đầu chậm lại, trong khi diễn biến của dịch bệnh vẫn chưa hoàn toàn được kiểm soát.  Điều này có nghĩa những người đã tiêm chủng đầy đủ có xu hướng tiếp tục lựa chọn tiêm các mũi tiếp theo, trong khi ngoài nhóm vốn khó tiếp cận dịch vụ y tế, nhóm ngần ngại tiêm ngay từ đầu vẫn sẽ không lựa chọn tiêm chủng, dù những người xung quanh họ có lựa chọn ra sao đi nữa. Vì vậy, để đạt được mục tiêu tiêm chủng của quốc gia nhằm phòng ngừa và đẩy lùi dịch bệnh, chính sách bắt buộc tiêm chủng được nhiều nước cân nhắc triển khai trong thời gian gần đây.   Bắt buộc tiêm chủng phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm là không mới theo góc độ y tế, được triển khai nhằm bảo vệ sức khỏe của trẻ em trước khi nhập học tiểu học (89/142 quốc gia, theo Our World In Data), hoặc ngăn lây nhiễm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong cộng đồng. Hai trường hợp điển hình cho thấy tính hợp pháp của việc bắt buộc tiêm chủng ở Mỹ và châu Âu đó là vụ kiện Jacobson v. Massachusetts ở Mỹ và vụ kiện Vavřička and Others v. the Czech Republic ở Cộng hòa Séc. Trong vụ kiện đầu tiên, năm 1905, một người đàn ông tên là Henning Jacobson kiện bang Massachusetts, Mỹ lên tòa án Liên bang vì phạt 5 USD do ông ta từ chối tiêm chủng vaccine đậu mùa – vốn là quy định bắt buộc của bang này. Còn vụ kiện thứ hai diễn ra vào năm 2021 vừa qua, Pavel Vavřička kiện Chính phủ Séc lên Tòa án Nhân quyền châu Âu (ECtHR) vì phạt ông ta do không đưa con đi tiêm vaccine phòng viêm gan B, bại liệt và uốn ván.       Việc tiêm chủng một khi trở thành nghĩa vụ pháp lý sẽ mang tính ràng buộc và áp dụng phổ quát cho các đối tượng thuộc phạm vi áp dụng. Vì vậy, các biện pháp cưỡng chế, khen thưởng và chế tài sẽ được ban hành kèm theo nhằm khuyến khích sự thực thi đồng bộ.      Trong vụ kiện Jacobson v. Massachusetts, nguyên đơn Jacobson cho rằng việc bắt buộc tiêm vaccine ngừa bệnh sởi hoặc phải đối mặt với hình phạt tiền là “thù địch với quyền tự do vốn có của con người trong việc quyết định cách thức chăm sóc sức khỏe của chính mình theo cách tốt nhất mà họ tự đánh giá được.” Bảy trên chín thẩm phán đã bác bỏ lập luận này và nhấn mạnh rằng “Quyền tự do được bảo đảm bởi Hiến pháp… nhưng không cho phép mỗi người có quyền tuyệt đối trong mọi trường hợp mà hoàn toàn không bị hạn chế. Có những hạn chế đa tầng mà mọi người nhất thiết phải tuân theo vì lợi ích chung (…)”. Trong vụ Vavřička and Others v. the Czech Republic, tòa án Nhân quyền châu Âu vào tháng 4/2021 đã ra phán quyết rằng quy định pháp luật bắt buộc tiêm ngừa chín bệnh truyền nhiễm cho trẻ em tại Czech không vi phạm Điều 8 về quyền tôn trọng cơ thể của con người và biện pháp này tương xứng với mục tiêu bảo vệ sức khỏe công cộng, lưu ý đến bối cảnh dịch sởi và đậu mùa vừa bùng phát mạnh mẽ tại một số quốc gia châu Âu lúc bấy giờ.  Đã phải là giải pháp tốt nhất?    Dù khẳng định được tính đúng đắn về mặt pháp lý của chính sách bắt buộc tiêm chủng trong bối cảnh cần thiết, các tiền lệ bắt buộc tiêm chủng trước đây không nên được xem là cơ sở đương nhiên cho những hành động sau này.   Bắt buộc tiêm vaccine không dễ để ban hành và cưỡng chế thực thi. Trong hai vụ kiện trên, có thể thấy vấn đề tiêm chủng bắt buộc luôn là đối tượng tranh cãi của những nhóm lập pháp ủng hộ học thuyết về gắn kết xã hội (social compact theory) – vốn đề cao việc bảo vệ các lợi ích công cộng như sức khỏe cộng đồng, an ninh quốc gia hay môi trường; và nhóm đề cao học thuyết giới hạn quyền lực nhà nước (governmental restraint theory) – yêu cầu thừa nhận một không gian cho các quyền tự do của từng cá nhân và được nhà nước tôn trọng. Tuy thừa nhận lợi ích công cộng nên được đề cao hơn quyền tự do cá nhân trong từng thời kỳ, trong vụ Jacobson v. Massachusetts, tòa án cũng nhấn mạnh: quyền tự do của cá nhân có thể phải chịu hạn chế vì sự an toàn của cộng đồng trước áp lực của những mối nguy hiểm nghiêm trọng như đại dịch, nhưng “phải được thực thi bởi các quy định hợp lý” và “nếu được ủy ban y tế chứng minh là cách thức tốt nhất để ngăn chặn khả năng lây nhiễm.” Điều này có nghĩa, nhà nước không nên mặc định được trao thẩm quyền tuyệt đối để nhân danh lợi ích công cộng thực hiện các biện pháp hạn chế quyền con người, mà cần phải chứng minh tính hợp pháp, hợp lý của biện pháp cần phải thực hiện vì mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng. Cách tiếp cận này cân nhắc đến mối quan hệ không cân xứng về mặt quyền lực và sự phụ thuộc giữa cơ quan công quyền và người dân, cũng như đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật và tránh các hành vi độc đoán, duy ý chí dưới danh nghĩa lợi ích công cộng.    Nhân viên y tế tiêm vaccine tại nhà thi đấu Phú Thọ, quận 11. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Hơn nữa, tuy cùng có chung mục đích là bảo hệ sức khỏe cộng đồng và kiểm soát dịch bệnh, so với tiêm chủng các loại bệnh nhiễm nhi thông thường trong vụ Jacobson v. Massachusetts và Vavřička and Others v. the Czech Republic, tiêm chủng vaccine COVID-19 có một số điểm khác.   Thứ nhất, cần ý thức bối cảnh hiện nay rằng với sự lây lan và nguy cơ phát sinh nhiều biến chủng mới từ coronavirus, cả người dân và chính phủ đều đang phải đưa ra những quyết định trong sự thiếu hụt hoặc bất cân xứng thông tin. Trong hai vụ kiện điển hình nói trên, các vaccine và công nghệ chế tạo ra chúng đã được lưu hành và kiểm chứng mức độ hiệu quả và an toàn trên hàng thập kỉ. Tuy nhiên, các vaccine COVID-19 đều dùng công nghệ mới như virus vector và mRNA với quá trình phát triển thần tốc chỉ khoảng một năm. Đây không phải là luận điểm để lật lại tính an toàn và hiệu quả của vaccine, mà để nói rằng những quan ngại hay lo lắng về vấn đề này cũng là điều dễ hiểu. Nếu nhà nước chưa đối thoại, chia sẻ, trấn an người dân về tất cả những vấn đề liên quan đến việc tiêm chủng, sẽ có phần bất công nếu dùng biện pháp cưỡng chế bắt buộc họ tiêm vaccine COVID-19. WHO khuyến cáo rằng “bắt buộc tiêm chủng là giải pháp cuối cùng” sau khi chính phủ đã thực sự tìm mọi cách để thuyết phục công chúng.      Nếu bắt buộc những người ngần ngại hoặc phản đối vaccine phải tiêm chủng vì lợi ích của cộng đồng, cần phải có chính sách đền bù cho những rủi ro họ phải chịu từ các phản ứng phụ của việc tiêm chủng.      Thứ hai, nếu bắt buộc những người ngần ngại hoặc phản đối vaccine phải tiêm chủng vì lợi ích của cộng đồng, cần phải có chính sách đền bù cho những rủi ro họ phải chịu từ các phản ứng phụ của việc tiêm chủng. Tuy nhiên chính sách này vẫn chưa được nhiều nước làm rõ. Theo một nghiên cứu của WHO được công bố vào năm 2011, chỉ có mười chín quốc gia trên thế giới có các chương trình bồi thường cho thiệt hại về sức khỏe sau khi tiêm chủng bắt buộc. Việc xác định các trường hợp tử vong có liên quan đến các vaccine thông thường vốn đã khó, đối với vaccine COVID-19 lại càng khó hơn vì đây là các vaccine mới, chưa thể có đầy đủ các bằng chứng cụ thể trong một thời gian ngắn. Do đó, việc mở rộng quyền lực cho nhà nước sử dụng trong bối cảnh khẩn cấp nhưng không đi kèm với các hành lang pháp lý về phạm vi chịu trách nhiệm trong các tình huống không mong muốn khi ban hành chính sách tiêm chủng bắt buộc chưa thật sự thuyết phục người dân. Bên cạnh đó, không ngoại trừ trường hợp việc cưỡng chế tiêm chủng bằng quy định pháp luật có thể gây ra tác dụng ngược khi nhà nước chưa tạo dựng lòng tin sâu rộng trong công chúng về hiệu quả và an toàn của vaccine. Áo là quốc gia thành viên EU đầu tiên phát động chiến dịch bắt buộc tiêm chủng toàn dân trên 18 tuổi từ tháng 2/2022 với chính sách “cà rốt và cây gậy”, khi vừa thưởng tiền cho người dân chịu tiêm vaccine  đồng thời xử phạt bằng tiền hay thậm chí bắt giữ các cá nhân có hành vi từ chối hay chống đối tiêm chủng ngừa COVID-19. Tuy nhiên, số người biểu tình phản đối lên đến gần 50.000 cho thấy chính sách thưởng-phạt này khó thuyết phục được dân chúng. Ở Pháp, khi chính phủ yêu cầu người dân trên 12 tuổi phải trình diện “chứng nhận sức khỏe” (health pass) chứng minh đã tiêm hai mũi hoặc xét nghiệm âm tính với COVID-19 vào tháng 11/2021 thì mới được vào các không gian công cộng như bệnh viện, thư viện, quán bar, ngay lập tức mức độ nghi ngờ vaccine trong công chúng từ 41% tăng lên hơn 60%. Còn khi Chính phủ Anh yêu cầu các nhân viên điều dưỡng bắt buộc phải tiêm vaccine với chính sách “no jab, no job” (không tiêm thì mất việc), họ ước tính tới 40 nghìn người mất hoặc nghỉ việc trong vòng ba tháng (từ tháng 11/2021 đến tháng 1/2022).  Nhà nước cần lưu ý gì?  Sau vụ Jacobson v. Massachusetts, các nguyên tắc về hạn chế và tạm đình chỉ thực hiện quyền con người – gọi là Các nguyên tắc Siracusa, được đưa vào phụ lục của Nghị quyết UN Doc E/ CN.4/1985/4 của Hội đồng kinh tế, xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc cũng cho thấy sự dung hòa giữa học thuyết gắn kết xã hội và giới hạn quyền lực nhà nước trong nghĩa vụ quốc tế về bảo vệ nhân quyền. Theo đó, dù trong bối cảnh khẩn cấp, sự can thiệp của nhà nước phải đáp ứng một số điều kiện nhất định cho những hạn chế về quyền con người, bao gồm (i) được pháp luật quy định, (ii) nhằm một mục tiêu chính đáng và (iii) những hạn chế đó là cần thiết và tương xứng với mục tiêu đặt ra, có nghĩa là không có sự lựa chọn nào khác ít hạn chế hơn. Chính sách bắt buộc tiêm chủng phòng ngừa COVID-19 cũng thuộc phạm vi áp dụng của các nguyên tắc này.    Cần phải phân biệt những người chống vaccine và trì hoãn tiêm chủng để có biện pháp truyền thông phù hợp. Ảnh: bma.org.uk  Xét đến điều kiện đầu tiên, các quốc gia sẽ ban hành các quy định pháp lý khác nhau cho vấn đề bắt buộc tiêm chủng tùy vào chính sách mà họ theo đuổi. Việc tiêm chủng một khi trở thành nghĩa vụ pháp lý sẽ mang tính ràng buộc và áp dụng phổ quát cho các đối tượng thuộc phạm vi áp dụng. Vì vậy, các biện pháp cưỡng chế, khen thưởng và chế tài sẽ được ban hành kèm theo nhằm khuyến khích sự thực thi đồng bộ. Dù vậy, lưu ý rằng một khi chính sách tiêm chủng bắt buộc được thừa nhận chính thức trong quy định của luật pháp, nhiều hệ quả xã hội sẽ mang tính cấu trúc và hệ thống hơn như phân biệt đối xử, chỉ trích, kỳ thị, thậm chí kêu gọi nghiêm trọng hóa và thậm chí hình sự hóa hành vi vi phạm sẽ diễn ra ở mức độ cao hơn. Lý do là vì những người không vi phạm có được sự chính danh trong việc lên án và yêu cầu xử lý các hành vi vi phạm dựa trên cơ sở pháp luật, dù về mặt bản chất các quy định này giới hạn quyền tự do của con người – vốn là một vấn đề nhạy cảm cần được cân nhắc kỹ lưỡng theo khía cạnh luật nhân quyền ngay cả ở bối cảnh khẩn cấp.   Vì vậy, đối với điều kiện thứ hai và thứ ba, tiêm chủng bắt buộc chỉ nên được xem xét nếu cần thiết và tương xứng với việc đạt được một mục tiêu y tế công (như miễn dịch cộng đồng, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương, tránh khủng hoảng hệ thống y tế) và/hoặc mục tiêu kinh tế – xã hội quan trọng được xác định bởi một cơ quan y tế công. Nếu có bằng chứng cho thấy một hay các mục tiêu này có thể đạt được bằng các can thiệp chính sách ít mang tính cưỡng bức hoặc ít hạn chế quyền con người hơn (ví dụ như truyền thông, giáo dục), việc yêu cầu tiêm chủng bắt buộc sẽ không còn hợp lý.      Cần xác định mục tiêu quan trọng nhất của chính sách bắt buộc tiêm chủng là nhằm thúc đẩy mục tiêu y tế công cộng trong bối cảnh khẩn cấp, chứ không nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý hay trừng phạt bằng cách giới hạn các quyền con người mang tính tuyệt đối như quyền được thụ hưởng dịch vụ y tế, bằng cách yêu cầu trả phí chữa trị COVID-19 nếu không tiêm chủng hoặc các hạn chế quyền bất hợp lý khác.      Ngoài ra, việc đánh giá thường xuyên tiến trình thực hiện biện pháp trong bối cảnh nhiều biến động để xem xét thời hạn áp dụng và tác động của chính sách là cần thiết, nhằm phản ánh đúng các mối quan tâm cấp thiết trong cộng đồng cũng như tránh sử dụng quyền lực nhà nước quá mức cần thiết và trở nên độc đoán, gây ra thêm các tác động tiêu cực đến xã hội. Tiêu biểu, sau gần nửa năm bắt buộc tiêm ngừa vaccine đối với nhân viên y tế, Chính phủ Anh đã có động thái “quay đầu” khi xét thấy chính sách này là “không còn tương xứng” với mục tiêu đảm bảo sức khỏe công cộng. Ngoài lý do nhận thấy chi phí xã hội phải chịu khi thực thi chính sách là quá cao, các nghiên cứu của nước này chỉ ra biến chủng Omicron tại Anh xuất hiện từ tháng 12/2021 không mang độc tính cao như biến chủng Delta, vì vậy mối đe dọa sức khỏe cộng đồng trở nên không còn quá cấp thiết để làm cơ sở cho các biện pháp chặt chẽ.   Vì vậy, cần nhìn nhận việc triển khai chính sách bắt buộc tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 không chỉ đơn thuần là lựa chọn làm hay không làm, mà là nên làm như thế nào để có thể giải bài toán tỉ lệ tiêm vaccine tăng chậm trong khi vẫn đảm bảo được niềm tin của công chúng vào chính sách của nhà nước là hợp lý, đúng đắn, tôn trọng quyền con người. Điều đáng lưu ý là cần xác định mục tiêu quan trọng nhất của chính sách bắt buộc tiêm chủng là nhằm thúc đẩy mục tiêu y tế công cộng trong bối cảnh khẩn cấp, chứ không nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý hay trừng phạt bằng cách giới hạn các quyền con người mang tính tuyệt đối như quyền được thụ hưởng dịch vụ y tế, bằng cách yêu cầu trả phí chữa trị COVID-19 nếu không tiêm chủng hoặc các hạn chế quyền bất hợp lý khác.    Chính sách tiêm chủng bắt buộc có thể gây ra tác dụng ngược. Tức là không những không tiêm, những người chống vaccine còn càng phản ứng dữ dội hơn. Ảnh: South China Morning Post.    Bài học cho Việt Nam  Tiêm chủng là một biện pháp can thiệp để thực thi mục tiêu chính sách y tế. Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007 tại khoản 1 Điều 29 chỉ quy định hình thức sử dụng vaccine, sinh phẩm y tế là bắt buộc đối với người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch và đến vùng có dịch. Ngay cả khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch SARS-CoV-2, dịch bệnh này không được quy định trong danh mục tám loại bệnh truyền nhiễm phổ biến tại Thông tư 38/2017/TT-BY để làm cơ sở yêu cầu bắt buộc tiêm vaccine. Do đó, Nhà nước Việt Nam chỉ đóng vai trò khuyến khích và hỗ trợ công dân sử dụng vaccine, cũng như không có tổ chức, doanh nghiệp nào có quyền bắt buộc người lao động phải tiêm vaccine phòng bệnh mới được tham gia lao động. Đối với trẻ em, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long vào ngày 31/1 vừa qua nhấn mạnh “không bắt buộc song khuyến cáo người dân tiêm chủng”, sau khi tham khảo kinh nghiệm các nước và phối hợp với các tổ chức quốc tế nhằm đánh giá mức độ an toàn của vaccine cho đối tượng trẻ em. Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 30 của Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm 2007 và Điều 15 Nghị định 104/2016/NĐ-CP đã ghi nhận căn cứ yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai biến nặng khi sử dụng vaccine trong Chương trình tiêm chủng mở rộng và chống dịch.   Đến nay, với hơn 186 triệu liều vaccine được phân bổ, Việt Nam đã có 79,2% dân số được tiêm đủ liều và chiến dịch khuyến khích tiêm mũi tăng cường vẫn đang được đẩy mạnh. Vì vậy, có thể thấy Chính phủ Việt Nam một mặt rất thành công trong việc đẩy mạnh tiêm chủng toàn dân, một mặt lại có bước đi rất thận trọng và đã chuẩn bị hành lang pháp lý khá đầy đủ để tuân thủ pháp luật quốc tế và quốc gia về đảm bảo quyền con người trong bối cảnh dịch bệnh, khẩn cấp.       Cần xác định mục tiêu quan trọng nhất của chính sách bắt buộc tiêm chủng là nhằm thúc đẩy mục tiêu y tế công cộng trong bối cảnh khẩn cấp, chứ không nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý hay trừng phạt bằng cách giới hạn các quyền con người mang tính tuyệt đối như quyền được thụ hưởng dịch vụ y tế, bằng cách yêu cầu trả phí chữa trị COVID-19 nếu không tiêm chủng hoặc các hạn chế quyền bất hợp lý khác.      Do đó, việc ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc tiêm chủng tại địa phương, cụ thể là Quyết định số 1383/QĐ-UBND vào ngày 26/2 vừa qua của thành phố Móng Cái đối với năm trường hợp chưa thực hiện tiêm chủng vaccine phòng Covid -19, có thể gây hiểu lầm về mặt truyền thông là trái với Hiến pháp và chính sách của nhà nước. Thứ nhất, quyết định này không phải là văn bản quy phạm pháp luật để đáp ứng điều kiện hạn chế quyền con người trong bối cảnh khẩn cấp theo Nguyên tắc Siracusa và khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Việt Nam. Bên cạnh đó, mô tả về quá trình triển khai cho thấy các biện pháp được các cán bộ, nhân viên y tế thực hiện trên thực tế là truyền thông và vận động quần chúng, không mang tính cưỡng chế hay xử phạt hành chính nhằm “bắt buộc” người dân tiêm chủng. Vì vậy, dù việc thực thi không có dấu hiệu trái luật và việc đặt tên văn bản có thể chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, vận động hoặc “răn đe” để nâng cao ý thức người dân, các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền cần lưu ý cơ sở khoa học và bản chất pháp lý của biện pháp bắt buộc tiêm chủng, những điều kiện phải đáp ứng khi ban hành hay “đặt tên” cho một biện pháp cụ thể, cũng như các hệ quả xã hội có thể xảy ra khi truyền thông chưa đúng.  Ngoài ra, việc yêu cầu người dân ký cam kết phải chịu trách nhiệm trước pháp luật tại một số địa phương cũng thiếu cơ sở pháp luật. Thứ nhất, quy định hiện nay chưa đặt ra nghĩa vụ pháp lý để buộc người dân tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19. Thứ hai, việc từ chối tiêm vaccine không phải là hành vi làm lây lan bệnh truyền nhiễm theo Điều 240 Bộ Luật Hình sự 2015, và cũng không chắc chắn cấu thành hành vi “không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền” theo Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.   Phân biệt nhóm ngại tiêm chủng và nhóm chống tiêm chủng là rất quan trọng để có biện pháp tác động hợp lý, đảm bảo quyền con người và thượng tôn pháp luật. Việc từ chối tiêm vaccine trong một vài hoàn cảnh nên được hiểu là động thái trì hoãn do sự bất cân xứng về thông tin gây trở ngại tâm lý cho người dân. Trong trường hợp này, các biện pháp truyền thông thể hiện sự chia sẻ và minh bạch của nhà nước là điều cần làm. Ngược lại hành vi từ chối vaccine được xem là không chấp hành biện pháp của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi tồn tại một sự cự tuyệt mang tính chất hệ thống để không tiêm vaccine trong mọi tình huống, vì vậy cần có chế tài mang tính giáo dục, răn đe. Người dân phải được thông báo rõ ràng về quyền tự quyết định, tự định đoạt để đưa ra những lựa chọn cá nhân phù hợp trong khi nhà nước cần làm đúng vai trò truyền thông, giáo dục, khuyến khích tiêm chủng để đảm bảo mục tiêu chung. □  ——  Tác giả: Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  Tài liệu tham khảo  1 https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/71/wr/mm7112e1.htm?s_cid=mm7112e1_w  2. https://www.bloomberg.com/news/articles/2022-03-17/how-south-korea-is-beating-covid-despite-600-000-new-cases-a-day  3. https://theconversation.com/no-vaccinated-people-are-not-just-as-infectious-as-unvaccinated-people-if-they-get-covid-171302  4. https://www.news-medical.net/news/20220306/Myocarditis-and-pericarditis-in-COVID-19-vaccine-recipients.aspx  5. https://www.nytimes.com/2022/03/21/health/covid-hong-kong-deaths.html  6. https://unric.org/en/who-mandatory-vaccinations-are-a-last-resort/  7. https://www.nature.com/articles/s41591-021-01661-7  WHO (2020), Coronavirus disease (COVID-19): Herd immunity, lockdowns and COVID-19, https://www.who.int/news-room/questions-and-answers/item/herd-immunity-lockdowns-and-covid-19  Aljazeera (2022), Anti-vaccine protesters rally in France, Germany, Austria, Italy, https://www.aljazeera.com/news/2022/1/9/more-than-100000-rally-in-france-against-covid-vaccine-rules  The New York Times (2022), Tracking Coronavirus Vaccinations Around the World, https://www.nytimes.com/interactive/2021/world/covid-vaccinations-tracker.html  Stuart Blume (2017), Immunization: How Vaccines became Controversial – Stuart Blume – Google Books. Reaktion Books.  Thành phố Móng Cái (2022), Áp dụng biện pháp bắt buộc tiêm chủng vắc xin phòng Covid -19 đối với các trường hợp chưa thực hiện tiêm chủng vắc xin phòng Covid -19 theo quy định, https://mongcai.gov.vn/vi-vn/tin/tp-mong-cai–ap-dung-bien-phap-bat-buoc-tiem-chung-vac-xin-phong-covid–19-doi-voi-cac-truong-hop-chua-thuc-hien-tiem-chung-vac-xin-phong-covid–19-theo-quy-dinh/773296-58053-322694.  The Guardian (2022), No 10 set for U-turn over mandatory Covid jabs for NHS staff in England, https://www.theguardian.com/society/2022/jan/31/covid-mandatory-jabs-nhs-staff-england-omicron-u-turn.  Reuters (2021), Factbox: Countries making COVID-19 vaccines mandatory, https://www.reuters.com/business/healthcare-pharmaceuticals/countries-making-covid-19-vaccines-mandatory-2021-08-16/    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Bắt chước, sáng tạo và… ăn cắp.      Giờ tập viết của học sinh lớp một. Cô giáo dặn dò: “Các em hãy nghe kĩ lời cô nói, làm cho đúng những điều cô làm mẫu. Phải bắt chước cô mà viết cho đúng…”. Và bây giờ các em đang tập viết một chữ cái vào vở của mình.         Các giờ tập viết của lớp một đều diễn ra như thế. Em nào cũng phải cố bắt chước cô, nét lên nét xuống, nét cao nét thấp, nét đậm nét nhạt, nhất nhất đều phải đúng theo mẫu đã được viết sẵn ở đầu dòng. Xem ra đối với trẻ con cái hoạt động bắt chước này cũng không phải dễ dàng gì. Đứa thì méo mồm, đứa thì trợn mắt, đứa thì ngoẹo đầu… cố điều khiển ngòi bút của mình để tô cho đúng cái nét bút chì mà cô đã viết mẫu.  Bắt chước là một hoạt động quan trọng và chủ yếu trong quá trình học tập, bao gồm học để biết và tập để làm cho đúng. Đứa trẻ trước khi đến trường đã phải học tập nhiều thứ: tập đứng, tập đi, tập nói… Trẻ làm được những điều đó là do bắt chước,với sự giúp đỡ của người lớn, thực ra là người lớn dạy chúng bắt chước, bắt buộc chúng phải  bắt chước. Nếu bố mẹ không quan tâm dạy nói cho con thì đứa trẻ cũng phải “tự mình bắt chước” và cuối cùng nó vẫn có thể nói được.   Trong các loài vật thì con người có khả năng bắt chước tốt nhất. Bởi một lẽ dễ hiểu là con người thông minh hơn loài vật và các giác quan phát triển đồng đều hơn loài vật. Một trẻ bị điếc bẩm sinh thì dẫu nó có thể phát âm được nhưng cuối cùng vẫn câm vì không có khả năng nghe để bắt chước mà nói. Loài khỉ được mệnh danh là có tài bắt chước, nhưng một con khỉ sống chung với người cũng không thể nói tiếng người được vì cơ quan phát âm của nó không phát triển .  Khi ta đòi hỏi học sinh phải bắt chước để viết tập cho đúng thì hiển nhiên ta không đòi hỏi học sinh sáng tạo, thậm chí cấm học sinh sáng tạo.  Cô giáo cũng không được phép sáng tạo. Chẳng hạn, cô không được phép dạy các em viết chữ cái theo kiểu “thư pháp” nghĩa là sau khi viết xong, ai muốn hiểu đó là chữ gì cũng được!    Trong trường hợp này, may ra chỉ có các nhà sáng tác mẫu chữ cái hay các nhà viết sách giáo khoa mới được quyền sáng tạo. Nhưng cũng không dễ gì để họ có thể sáng tạo.   Đã từng có một lần chúng ta tiến hành cải cách chữ viết. Tác giả cải cách muốn các chữ cái được viết một cách đơn giản hơn và do đó viết được nhanh hơn. Các chữ cái được viết giống như trong sách in. Chữ “bờ” không viết là  “b” có bụng trên và bụng dưới, mà viết là “b” chỉ có một bụng dưới. Chữ “hờ” không viết là “h” mà viết là “h”… Trước kia viết “khuynh” thì nay viết là “khuynh”… Cuộc cải cách này đã thất bại vì bị dư luận bảo thủ lên án nặng nề. Các nhà sáng tạo đành “chào thua”, ta lại trở về lối viết cũ…  Trong lần cải cách gần đây nhất, liên quan đến việc học chữ cái, một tác giả chỉ dám đưa ra một chút sáng tạo nho nhỏ. Đó là dạy viết chữ  “e” trước, dạy viết chữ “a” sau. Lí do rất đơn giản: đối với trẻ con lớp một, viết chữ  “e” dễ hơn viết chữ “a”. Thế là ngay lập tức hàng loạt bài báo được đăng tải nhằm lên án tác giả với nhiều tội danh khác nhau: thay đổi trật tự a, b, c,… là gây mầm mống nổi loạn cho học sinh; dạy e trước làm cho trẻ con nói ngô nói ngọng; dạy e trước làm cho giáo dục của ta càng ngày càng tụt hậu so với các nước dạy a trước; ngay gần đây thôi có người khẳng định rằng trật tự a,b,c.. giống như bảng tuần hoàn Men-đê-lê-ép, làm sao mà thay đổi được?  Mới hay sáng tạo đâu phải là việc dễ dàng, đâu phải là việc ai cũng có thể làm được!  Có nhiều học giả nói rất đúng rằng “trong bất cứ Iĩnh vực nào, bất cứ hoạt động nào cũng có thể sáng tạo và cũng cần phải sáng tạo” (điều khẳng định đó chẳng qua cũng chỉ là bắt chước người xưa nói mà thôi, không chứa yếu tố sáng tạo nào!). Từ đó suy ra là trong hoạt động bắt chước cũng có thể sáng tạo, thậm chí càng cần phải sáng tạo. Vì thế hoàn toàn không phải là nghịch lí khi ta nói “bắt chước một cách sáng tạo”. Hiện nay, khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường, khi ta vào WTO, hiển nhiên ta phải bắt chước các nước tư bản xem người ta điều hành đất nước họ như thế nào. Cố nhiên bắt chước lần này cũng cần phải sáng tạo, không rập theo khuôn mẫu của người ta. Phải chăng vì thế mới có khái niệm “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”?   Trong các lĩnh vực nghệ thuật và khoa học là những lĩnh vực vốn dành cho sáng tạo thì thường xảy ra hiện tượng bắt chước trầm trọng đến mức phải gọi là ăn cắp, tức là “đạo”… Nào là đạo văn, đạo thơ, đạo nhạc, đạo họa, đạo toán…; mà không chỉ ở nước ta, ở các nước khác cũng không hiếm, mà đạo chích không phải chỉ là kẻ tầm thường mà còn có cả những nhân vật nổi tiếng hẳn hoi… Trong các lĩnh vực này, ăn cắp có nghĩa là  lấy thành quả sáng tạo của người khác để làm sáng tạo của mình… Chép nguyên một đoạn văn của người ta mà không để trong ngoặc kép và không nêu nguồn thì đúng là ăn cắp. Vẽ lại một bức tranh của người ta rồi đem dự thi cũng là ăn cắp. Viết một định lí đã có vào luận văn của mình là ăn cắp… Tuy nhiên cũng có trường hợp người ta không chép nguyên văn, không vẽ lại đúng hệt… mà chỉ ăn cắp cái ý tưởng mà thôi. Vì vậy nhiều khi người ta còn phải tranh luận, thậm chí kiện tụng để xem trường hợp này, nọ có phải là ăn cắp hay không.  Một lần có một bài làm Văn thi vào đại học được điểm 10 và được đăng lên báo. Ban đầu có nhiều người khen là hay, nhưng về sau lại có nhiều người chê. Những người chê cho rằng bài văn đó chẳng có ý gì mới, chẳng có gì sáng tạo, mà toàn nói lại ý kiến của người khác. May mà em học sinh viết bài văn đó không bị quy là đạo văn hay đạo ý tưởng mà chỉ bị phê bình là thiếu sáng tạo, nghĩa là chỉ toàn là bắt chước.   Thật ra, nhiệm vụ của học sinh khi đi thi hoặc làm bài kiểm tra là phải chứng tỏ rằng mình đã hiểu đúng được những gì mà chương trình, SGK, thầy cô yêu cầu em phải hiểu đúng. Vậy nếu họ chép lại, nói lại những điều đã học… thì chẳng có gì đáng để phê phán!  Ở bậc PT, trong môn Văn, học sinh được làm quen với khá nhiều tác phẩm kinh điển: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, truyện Kiều, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập, Ngục trung Nhật kí…, rồi Chí phèo, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng Xà-nu, Mùa lạc… Đã có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình văn học…, rất nhiều luận văn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ bàn về các tác phẩm ấy rồi… Mà thử hỏi trong các “nghiên cứu” đó có bao nhiêu phần trăm là mới mẻ, là sáng tạo… hay cũng chỉ làm cái việc tổng hợp lại, sắp xếp lại và bình thêm chút ít mà thôi…? Thế thì tại sao chúng ta lại yêu cầu một học sinh lớp 12 trong vòng 120 phút có thể viết về “Ngục trung nhật kí” hay “Bình Ngô đại cáo” với những ý kiến riêng độc đáo, độc lập và sáng tạo của mình? Thật là không hợp lí khi chúng ta bắt trẻ con phải “sáng tạo”, phải làm những điều mà người lớn già đầu bạc tóc vẫn chưa làm được.  T                 hực ra người ta không muốn chê em học sinh được điểm 10, mà chỉ muốn nhân dịp này để lên án cách giảng dạy trong trường học của chúng ta. Nhiều ý kiến cho rằng chúng ta đang tiến hành một cách dạy lạc hậu: dạy nhồi, dạy nhét, thầy áp đặt ý kiến của mình (tức là của sách giáo khoa) cho học sinh, không khuyến khích học sinh sáng tạo, độc lập suy nghĩ, và từ đó làm cho học sinh học vẹt, học tủ, học theo mẫu, học để đi thi, học để lấy bằng, bằng mọi cách… Rồi người ta lên án cách ra đề thi Văn, cho rằng đề thi là nguyên nhân làm cho học sinh không sáng tạo. Rồi tiếp theo đó xuất hiện một số đề thi theo dạng mở, đại loại như (tôi không nhớ nguyên văn): hãy nói về trái tim có điều kì diệu, hãy viết về một bài học có nghĩa mà cuộc sống đã dạy cho em, hãy viết về người thân yêu nhất của mình, hãy viết về một lỗi lầm mà em đã mắc phải… Tôi tin chắc rằng trước những đề thi như thế thì học sinh một là không biết viết gì, hai là sẽ viết một cách “sáng tạo” nghĩa là bịa ra những chuyện không có thật đối với mình, và ba là ăn cắp chuyện đâu đó đã đọc được…  Chỉ có thể sáng tạo trên cơ sở hiểu biết sâu sắc, tường tận và ngọn ngành những kiến thức liên quan đến vấn đề mà anh đang nghiên cứu. Mà không phải cứ hiểu biết sâu sắc rồi thì ai cũng sáng tạo được. Bởi vậy, yêu cầu sáng tạo là quá cao, không thể đặt ra đối với tất cả mọi học sinh. Yêu cầu truớc hết ở bậc phổ thông là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông, toàn diện…, chứ không phải yêu cầu chủ yếu là sáng tạo.  Đã là “đi học” thì trước hết là phải “học” và “tập” cái đã, kể cả học thuộc lòng và tập làm như máy nếu cần. Hãy xem xét hai hiện tượng: Một là bài văn điểm 10 không sáng tạo, chỉ bắt chước. Hai là kì tuyển sinh ĐH năm ngoái có hàng chục ngàn điểm 0. Câu hỏi đặt ra là hiện tượng nào làm chúng ta đau lòng hơn? Có biết bao nhiêu học sinh đến trường mà không học được gì cả, không bắt chước được gì cả! Không học được gì, không bắt chước được gì thì làm sao nói đến sáng tạo, độc lập suy nghĩ?  Vậy điều trước hết mà chúng ta phải lo lắng và quan tâm là làm sao cho học sinh chịu học, chăm học để tiếp thu những kiến thức đã được tổng kết của nhân loại. Chúng ta phải đi lại từ bước cơ bản nhất: “Thầy có dạy, trò có học”, “thầy dạy thật, trò học thật”, rồi từ đó mới có thể phấn đấu “thầy dạy tốt, trò học tốt” và tiến lên “thầy dạy sáng tạo và trò học sáng tạo”.                          Văn Như Cương    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bầu cử trong bối cảnh đại dịch và chuyển đổi số      Việt Nam có lẽ là quốc gia đang phát triển hiếm hoi có đủ các cơ sở thiết yếu cho việc áp dụng hình thức bỏ phiếu qua bưu điện hay bỏ phiếu điện tử.    Đến hẹn lại lên, năm năm một lần cử tri Việt Nam lại có cơ hội thực hiện quyền hiến định của mình là bỏ phiếu để bầu cử các đại biểu đại diện cho mình trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội. Nếu như bầu cử là một quy trình ra quyết định tập thể của một cộng đồng người thì bỏ phiếu chính là phương pháp qua đó các thành viên của cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định tập thể, là tuyên bố rõ rệt nhất khẳng định khả năng tham gia vào đời sống chung và đóng góp cho sự phát triển của xã hội cũng như xứng đáng được hưởng các thành quả từ sự phát triển của xã hội đó.  Bởi vậy, bầu cử và bỏ phiếu là quyền hiến định của công dân, phản ánh nguyên tắc quyền lực Việt Nam thuộc về nhân dân. Qua hành động bỏ phiếu bầu cử của mình, công dân không chỉ có cơ hội nhìn lại các chính sách, hành động chính quyền nhiệm kỳ cũ; cho điểm đánh giá thông qua lá phiếu của mình. Quan trọng hơn, thông qua bỏ phiếu cử tri còn gián tiếp cùng với nhau lựa chọn những người sẽ nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy lập pháp, hành pháp, và tư pháp, cũng như ấn định chính sách quốc gia cho năm năm tới. Tính chính danh của một chính quyền được đánh giá chủ yếu thông qua sự liêm chính của một cuộc bầu cử.    Diễn tập chuẩn bị cho công tác bầu cử ở khu cách ly: Cán bộ bầu cử đặt hòm phiếu phụ ngoài khuôn viên nhà của cử tri, rồi dùng loa gọi, hướng dẫn người cách ly cách thức bỏ phiếu, sau đó khử khuẩn, niêm phong hòm phiếu và vận chuyển về điểm bầu cử. Nguồn ảnh: Thanhnien  Với vai trò và chức năng quan trọng như vậy, để bảo vệ tính chính danh cho việc nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước của mình trong bối cảnh các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lãnh thổ, dân cư, và đặc biệt là công nghệ luôn thay đổi và phát triển, các chính quyền cũng luôn phải cân nhắc điều chỉnh hình thức và phương pháp của bầu cử và bỏ phiếu. Bên cạnh hình thức bỏ phiếu trực tiếp, bằng giấy tại các địa điểm được chỉ định sẵn với sự quản lý, giám sát của các công chức phụ trách việc bầu cử thì không ít quốc gia đã áp dụng hình thức bỏ phiếu qua bưu điện và thậm chí là bỏ phiếu điện tử thông qua mạng Internet hoặc các mạng nội bộ khác.  Nguyên tắc tối hậu vẫn là làm sao bảo đảm cho cử tri thực thi được quyền lựa chọn hiến định của mình một cách chính xác, trung thực, và hiệu quả; đặc biệt khi có các yếu tố bất lợi có thể tác động và cản trở cử tri thực thi quyền ví như trở ngại tự nhiên (khoảng cách địa lý, chiến tranh); thiên tai, địch họa (dịch bệnh, thảm họa thiên nhiên); hay tối ưu hóa chi phí (đi lại, cư trú); hỗ trợ người yếu thế (khuyết tật). Các hình thức bỏ phiếu mới này càng ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng. Trong khi bỏ phiếu qua bưu điện đã xuất hiện từ thế kỷ 19, có lẽ sớm nhất là ở Mỹ thì bỏ phiếu điện tử bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990. Số quốc gia sử dụng hai hình thức bỏ phiếu qua bưu điện và bỏ phiếu điện tử bên cạnh hình thức bỏ phiếu trực tiếp ngày càng tăng. Đây có lẽ cũng là là một xu thế của tương lai, khó cưỡng lại.   Ở Việt Nam, ngày bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 đã được ấn định là Chủ nhật, ngày 23/5/2021. Mọi công tác tổ chức và chuẩn bị đang được chính quyền tích cực triển khai nhằm đảm bảo cho hoạt động bầu cử diễn ra thuận lợi, thành công; đặc biệt là cho cử tri.   Nhưng  đại dịch Covid 19 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu đặt ra một thách thức không nhỏ cho kỳ bầu cử lần này của Việt Nam. Chính quyền các cấp đang nỗ lực ngăn chặn và kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh cũng như chữa trị cho những người bị lây nhiễm. Tuy nhiên, các con số thống kê và ý kiến chuyên môn cho thấy không dễ để kiểm soát cũng như đẩy lùi dịch bệnh này một sớm một chiều. Rủi ro bùng phát và lây lan dịch bệnh ở Việt Nam cũng còn rất cao, nhất là khi lơ là hoặc không đảm bảo các quy định cũng như biện pháp phòng chống dịch.  Chính trong bối cảnh đó, một câu hỏi đặt ra là làm sao có thể tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp một cách thành công; đảm bảo cho việc thực hiện quyền làm chủ hiến định của công dân; bảo vệ tính chính danh của việc nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước của chính quyền trong khi vẫn bảo đảm công tác phòng chống dịch; bảo vệ an toàn, sức khỏe tính mạng cho người dân? Bất kỳ ai cũng có thể nhìn ra ngay lợi ích của việc bỏ phiếu qua bưu điện hoặc bỏ phiếu điện tử trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Các lợi ích, giá trị, cũng như tính khả thi cho việc áp dụng một trong hai hoặc cả hai hình thức bỏ phiếu này bên cạnh hình thức bỏ phiếu truyền thống, chính yếu là dễ dàng nhận ra và không thể phủ nhận.  Nhất là trong bối cảnh việc tổ chức bầu cử ở Việt Nam khá chặt chẽ với: Danh sách cử tri; Danh sách đại biểu ứng cử; Khu vực bầu cử được xác định rõ ràng chính xác. Hệ thống bưu điện được triển khai rộng khắp tới tận cấp xã phường thị trấn với nhiều đơn vị cung ứng dịch vụ khác nhau. Hệ thống Internet được phủ toàn quốc qua cả phương tiện cáp quang, sóng điện thoại hay sóng vệ tinh. Cơ sở dữ liệu quản lý dân cư, quản lý cư trú sắp hoàn thành. Việt Nam có lẽ là quốc gia đang phát triển hiếm hoi có đủ các cơ sở thiết yếu cho việc áp dụng hình thức bỏ phiếu qua bưu điện hay bỏ phiếu điện tử.      Rào cản cho việc áp dụng các hình thức bỏ phiếu mới có lẽ nằm ở các quy định hiến pháp và pháp luật có liên quan; đúng hơn là ở cách hành văn của các quy định đó.      Tuy nhiên, rào cản cho việc áp dụng các hình thức bỏ phiếu mới có lẽ nằm ở các quy định hiến pháp và pháp luật có liên quan; đúng hơn là ở cách hành văn của các quy định đó. Hiến pháp 2013, Điều 7 hay Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 (Luật Bầu cử), Điều 1 sử dụng cụm từ “trực tiếp. Hay như Điều 69 Luật Bầu cử quy định về nguyên tắc bầu cử với các quy định như: “Cử tri phải tự mình đi bầu cử.” Hay “Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.” có thể được giải thích là yêu cầu cử tri phải đến tận địa điểm bầu cử để tự mình ghi phiếu bầu và bỏ phiếu vào hòm phiếu chứ không được bỏ phiếu qua bưu điện hay điện tử. Bên cạnh đó, việc thiếu vắng các quy phạm tùy nghi như: trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hoặc thiếu vắng các đề cập trực tiếp đến bỏ phiếu qua bưu điện hay điện tử cũng có thể khiến cho Hội đồng bầu cử quốc gia e ngại nhất là khi xét đến nguyên tắc: Nhà nước chỉ được làm nhũng gì luật cho phép.  Tuy nhiên, rào cản này hoàn toàn có thể vượt qua bằng một trong hai cách. Thứ nhất, đó là sử dụng quy định về thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, và pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Giải thích trực tiếp là nguyên tắc của bầu cử chứ không phải bỏ phiếu; có nghĩa rằng cử tri cần tự mình bỏ phiếu. Còn có thể bỏ phiếu bằng bất kỳ hình thức nào: tại địa điểm, qua bưu điện, hay điện tử. Thứ hai, bền vững hơn đó là sửa đổi Hiến pháp và luật. Quy định rõ các hình thức bỏ phiếu có thể sử dụng. Cách thứ nhất thì có thể làm được ngay. Cách thứ hai thì sẽ mất nhiều thời gian hơn.   Năm 1946, trước khi đi Pháp, khi được cụ Huỳnh Thúc Kháng hỏi về sách lược quản trị đất nước đối phó với thù trong, giặc ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Mong cụ Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như được giải thích, là câu đối của câu “Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” (Lấy tâm chúng sinh làm tâm của mình). 75 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh chia sẻ sách lược đó, chúng ta mới lại thấy cả hai yếu tố nhân tâm và thời cuộc lặp lại, cho phép chúng ta có thể ứng vạn biến thay đổi hình thức bỏ phiếu vì dân vì nước như vậy. □  —–  * Tác giả Trần Kiên là TS, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội.    Author                Trần Kiên        
__label__tiasang Bẫy giá trị thấp !      Trong giai đoạn từ 2005 đến 2017 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân vào khoảng 6,2%, xuất khẩu tăng trên 35 lần từ 5,4 tỷ USD lên khoảng 192 tỷ USD, tăng trưởng xuất khẩu bình quân là 34% năm, cao hơn mục tiêu Quốc hội đề ra khá nhiều.      Hình 1. Chênh lệch xuất nhập khẩu. Nguồn: TCTK.  Tình trạng thâm hụt thương mại cao và triền miên đỉnh điểm là năm 2008 (18 tỷ USD) đã không còn. Thậm chí, năm 2016 thặng dư thương mại khoảng 1,8 tỷ USD và năm 2017 ước tính khoảng trên 2,3 tỷ USD (Hình 1). Không những thế, đến nay, không chỉ thị trường xuất khẩu của Việt Nam ngày càng được mở rộng mà chủng loại hàng hóa cũng nhiều hơn và đã xuất hiện những sản phẩm có chất lượng và mang tính đặc trưng của Việt Nam đã vươn tới nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ… Cơ cấu thị trường xuất khẩu có bước dịch chuyển dần, đến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Á là 50%, châu Âu 25% và châu Mỹ tăng lên trên 25%…    Hình 2. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước và FDI. Nguồn TCTK.  Nếu như nhìn sâu hơn vào cơ cấu của xuất khẩu thì sẽ thấy rất nhiều lo ngại. Số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng giá trị xuất khẩu tăng lên nhanh chóng, từ 47% năm 2000 lên 57,2% năm 2005 và đến năm 2017 tỷ lệ này xấp xỉ 73% (Hình 2). Đối với nhập khẩu tỷ lệ nhập khẩu của khu vực FDI trong tổng nhập khẩu cũng tăng từ 27,8% năm 2000 lên 37,1% năm 2005 và khoảng 59% năm 2017 (Hình 3).    Hình 3. Tỷ trọng nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước và FDI. Nguồn: TCTK.  Có thể thấy thặng dư thương mại hay thâm hụt thương mại đều do khu vực FDI quyết định. xét riêng về chênh lệch xuất nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI (hình 4) cho thấy khu vực kinh tế trong nước luôn thâm hụt thương mại và mức độ thâm hụt thương mại của khu vực này ngày càng sâu hơn, trong khi đó khu vực FDI luôn có thặng dư thương mại và ngày càng ấn tượng    Hình 4. Chênh lệch XNK của khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI. Nguồn: TCTK.  Một điều ngạc nhiên là tuy tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng giá trị xuất khẩu từ năm 2005 – 2017 tăng lên trên 16 điểm phần trăm, nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực này trong GDP chỉ tăng khoảng 3 – 4 điểm phần trăm; nếu năm 2005 giá trị tăng thêm của khu vực FDI chiếm trong GDP là 15,2% đến năm 2017 tỷ lệ này chỉ khoảng 19%. Điều này cho thấy sản xuất của khu vực này cơ bản là gia công, tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo ngày một thấp. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất của giai đoạn 2013 – 2017 kém hơn giai đoạn 2007 -2012 ở hầu hết các ngành, nếu 2007 – 2012 tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất khoảng 36% thì giai đọan 2013 – 2017 thấy tỷ lệ này giảm xuống 28%. Điều này có nghĩa nếu giai đoạn trước làm ra 100 đồng sẽ có 36 đồng là giá trị tăng thêm, giai đoạn hiện nay làm ra 100 đồng chỉ còn 28 đồng giá trị tăng thêm. Tỷ lệ này sụt giảm mạnh mẽ nhất là ở nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Điều này phần nào phản ánh mức độ gia công của nền kinh tế Việt Nam ngày càng ở mức cao! Một lần nữa phải nhắc lại trường hợp đôi giày Nike 100 USD, phần Việt Nam nhận được là 22 USD, nếu có thể phân tách: trong 22 USD đó, nghĩa vụ thuế, đặc biệt là thuế đất đai và thuế gián thu, vốn là phần doanh nghiệp đóng thay người tiêu dùng chiếm bao nhiêu phần trăm. Nhiều người e ngại, con số thực nhận còn thấp hơn nhiều. Với Samsung cũng vậy. Sau 20 năm đổ bộ, đến năm 2016, trong hơn 30 tỷ USD xuất khẩu, phần đóng góp của Việt Nam (bao gồm cả xuất khẩu tại chỗ của một vài doanh nghiệp phụ trợ ở khâu bao bì) chỉ vào khoảng 20 triệu USD.  Nhìn từ góc độ khác, tính toán mô hình cân bằng tổng thể trong các giai đoạn cho thấy xuất khẩu tuy làm tăng giá trị sản xuất so với giai đoạn trước khoảng 12% nhưng lan tỏa đến giá trị gia tăng giảm (-13.3%) và quan trọng hơn là lan tỏa đến nhập khẩu tăng rất mạnh (52%). Sử dụng bảng cân đối liên ngành 2012 và 2016 cho thấy hàm lượng giá trị tăng thêm trong xuất khẩu giảm ở hầu hết các ngành (Hình 5).    Hình 5. Hàm lượng giá trị tăng thêm trong xuất khẩu một số sản phẩm vật chất1. Nguồn: Tính toán từ bảng cân đối liên ngành 2012 của TCTK và bảng 2016 cập nhật  Tương tự như bẫy thu nhập trung bình, bẫy giá trị thấp xuất hiện khi chúng ta không có cách nào để cải thiện tình trạng lóp ngóp ở đáy của chuỗi giá trị. Với những phân tích nêu trên, có thể thấy, Việt Nam đã bước chân và lún khá sâu vào chiếc bẫy này. Điều gì sẽ xảy ra nếu các doanh nghiệp FDI rời khỏi Việt Nam khi những lợi thế về chính sách và nhân công giá rẻ của Việt Nam không còn nữa.  Trong khi khối doanh nghiệp FDI phát triển mạnh mẽ bằng những ưu đãi về chính sách thì khối kinh tế trong nước chủ yếu vẫn dựa vào khu vực kinh doanh cá thể (31% GDP), khối doanh nghiệp tư nhân mãi vẫn không chịu lớn (8% GDP). Khu vực kinh tế tư nhân (bao gồm kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân) ngoài việc bị khu vực kinh tế nhà nước và FDI chèn lấn, mà còn chèn lấn lẫn nhau và không muốn lớn lên. Không thiếu các doanh nghiệp Việt Nam đều dính dáng tới vấn đề lợi ích thân hữu khiến sân chơi chung bị làm méo mó không chỉ bằng những quyền lực không tên, mà cả bằng những ưu đãi chính sách giấy trắng mực đen. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt lại luôn lăm le cạnh tranh nhau không lành mạnh, tiêu diệt lẫn nhau.  Để có được nội lực, nền kinh tế phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, ngay ngắn. Nếu nền kinh tế cứ mãi không lớn được, chúng ta đã trao thêm quyền cho doanh nghiệp nước ngoài để đòi thêm yêu sách, lợi ích, bẫy giá trị thấp sẽ càng ngày càng thấp hơn và chúng ta mãi mãi sẽ chịu cảnh làm thuê ngay trong nhà mình.  —————-  1 Ngành 1: Nông lâm nghiệp và thủy sản, 2: Công nghiệp khai thác, 3: Công nghiệp chế biến sản phẩm công nghiệp, 4: Sản xuất các sản phẩm dệt may, trang phục và đồ da, 5: Sản xuất các sản phẩm dầu mỏ và khí đốt, 6: Sản xuất các sản phẩm hóa chất, 7: Sản xuất các sản phẩm khoáng phi kim loại, 8: Sản xuất và chế biến kim loại và các sản phẩm kim loại, 9: Sản xuất thiết bị, máy móc, 10: Công nghiệp chế biến chế tạo khác.    Author                Bùi Trinh        
__label__tiasang Bệ đỡ từ văn hóa, lịch sử      Trong bối cảnh nền quản trị toàn cầu và hầu hết các nước đều bối rối, chậm trễ trong việc ứng phó với đại dịch, nhờ đâu mà Việt Nam thành công một cách thần kỳ? Theo GS.TS Phạm Quang Minh, trường đại học KHXH&NV Hà Nội, đó là nhờ vào một truyền thống văn hóa, lịch sử đặc biệt và sự minh bạch của chính phủ trong đại dịch.      Lịch sử chiến tranh đã tôi luyện cho người Việt Nam một tinh thần, ý thức kỷ luật rất cao. Minh họa: Ký họa “Qua suối” của Trần Hoàng Sơn. Nguồn ảnh: vhtt.danang.gov.vn  Đại dịch Covid-19 là mối đe dọa an ninh phi truyền thống trên toàn cầu mà thế giới chưa từng phải chứng kiến kể từ năm 1945 đến nay, nhưng quản trị từ cấp độ toàn cầu cho đến khu vực đều thể hiện sự phản ứng chậm trễ. Thay vì hợp tác và chứng tỏ vai trò lãnh đạo, hai nền kinh tế đứng đầu thế giới lại tìm cách công kích đổ lỗi cho nhau. Nhóm các nền kinh tế lớn (G7) và tổ chức có tiếng nói mang tầm khu vực như Liên minh châu Âu (EU) cũng đều thể hiện sự lúng túng. Các tổ chức quốc tế như WHO không có khả năng, không có tiếng nói, không có quyền lực để yêu cầu các nước tuân thủ theo các khuyến cáo, còn Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phải đến ngày 23 tháng 3 năm 2020 mới thông qua Nghị quyết số 2532 kêu gọi chấm dứt xung đột quân sự trên phạm vi toàn cầu để tập trung chống dịch.    Trong thời gian tới đây, đại dịch sẽ vẫn tiếp tục thử thách nền quản trị toàn cầu bởi khả năng lây nhiễm, khi không một nước nào có khả năng tiêm ngay vaccine cho toàn bộ công dân mình trong một thời gian ngắn, tình trạng “chính trị hóa vaccine” – sử dụng vaccine như một công cụ ngoại giao hoặc “chủ nghĩa dân tộc vaccine” – các nước giàu tích trữ đầu cơ vaccine đã xuất hiện, sẽ khiến các nước nghèo, các nước đang phát triển rất khó tiếp cận hoặc chịu phụ thuộc để có vaccine.      Điều cần làm nhất với nhà nước sau khủng hoảng chính là đầu tư vào KH&CN, vì chỉ KH&CN mới là mũi nhọn có thể tạo ra thay đổi lớn, mới đem lại tiềm lực cho chúng ta ứng phó lâu dài với mọi biến động tới đây.      Đứng trước những thách thức to lớn trong đại dịch, Việt Nam thực sự là một trong những điểm sáng khi linh hoạt đảm bảo cả hai mục tiêu chống dịch với nguồn lực khiêm tốn nhất và nhanh chóng quay trở lại “trạng thái bình thường mới”.     Thành công đến từ hai phía     Nhưng điều gì giúp cho chúng ta thực hiện thành công chính sách ứng phó với dịch bệnh một cách uyển chuyển như vậy? Nếu chỉ nói về sự nhanh chóng, quyết liệt trong quy trình ứng phó của Chính phủ là không đủ mà phải đi cắt nghĩa vì sao cả triệu triệu con người Việt Nam có thể cộng hưởng với chính sách đó, ngay tắp lự điều chỉnh hành vi vào các khuôn khổ cách ly, giãn cách xã hội.    Tôi cho rằng có lẽ không phải ngay tức thời chúng ta có được sự ứng phó như vậy khi đứng trước một đại dịch hoàn toàn mới mà bởi căn nguyên sâu xa, chúng ta có một nền tảng văn hóa, lịch sử đặc biệt giúp đất nước chuyển từ trạng thái hòa bình sang trạng thái chiến tranh rất nhanh chóng. Có lẽ ít quốc gia nào thực hiện được khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc”, cả nước như bước vào thời chiến trong những ngày tháng ba, tháng tư năm 2020 nhanh chóng như chúng ta. Chính trong những ngày chống dịch khốc liệt như thế, rất nhiều tác phẩm thơ ca cổ động, khích lệ người dân chống dịch đã xuất hiện, không khác gì với tinh thần yêu nước mà chúng ta đã đi qua những năm tháng chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ vô cùng cam go gian khó. Hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, với nhiều cuộc chiến tranh đã tôi rèn cho những người nông dân từ hàng nghìn năm nay một tinh thần quả cảm, trong thời bình thì “cày sâu cuốc bẫm”, nhưng khi đất nước có chiến tranh là lại đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương. Họ không hề cảm thấy quá khó khăn khi phải tuân thủ các quy định như cách ly, giãn cách, đeo khẩu trang – dầu sao vẫn còn đơn giản hơn nhiều so với “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” thời kháng chiến.    Chúng ta cũng có ưu thế của một thể chế chính trị chuyên chính, nơi mà người dân tuân thủ rất nghiêm ngặt các chỉ thị, chính sách quyết liệt của trung ương. Nhìn chung chỉ có ở một đất nước mà chiến tranh gần như là nhịp sống thường ngày trong suốt chiều dài lịch sử thì người dân mới có cách ứng xử uyển chuyển như vậy. Lịch sử chiến tranh đã tôi luyện cho người Việt Nam một tinh thần, ý thức kỷ luật rất cao và yêu cầu luôn phải đặt gia đình, cộng đồng xã hội lên trên hết nên khi mệnh lệnh được ban ra, thì triệu người nhất tề như một.    Chỉ có điều kiện ấy mới giúp chúng ta thực hành thành công những chính sách triệt để tới mức “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”. Còn ở các nước châu Âu, nơi người dân quen với nhịp sống tôn trọng tối đa cái tôi, sự tự do cá nhân không dễ gì có thể đồng thuận với các chính sách quyết liệt như vậy.      Có lẽ ít quốc gia nào thực hiện được khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc” nhanh chóng như chúng ta. Tranh cổ động, thơ, ca cổ động được sáng tác cũng giống với cách chúng ta đi qua những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, chống Pháp. Tranh cổ động của Lê Đức Hiệp. Nguồn: Nhandan.com.vn    Chính vì vậy, có thể nói rằng chúng ta chống dịch bằng quyết tâm chính trị, bằng một nền tảng văn hóa, bằng yếu tố tinh thần lịch sử chứ không phải bằng sức mạnh kinh tế, tiềm năng khoa học kỹ thuật. Thành công này cũng giống với cách chúng ta đi qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc của thế kỷ 20, như GS David Elliott, tác giả của công trình nổi tiếng “The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta” [Chiến tranh Việt Nam: Cách mạng và thay đổi xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long] đã từng nhận xét rằng sở dĩ chúng ta chiến thắng được là vì nhờ vào lòng quả cảm của triệu triệu người dân Việt Nam chứ không chỉ riêng yếu tố lãnh đạo của Đảng.    Về quản trị nhà nước, chúng ta được chứng kiến một điểm rất mới so với trước đây là tính minh bạch trong thực thi mọi chính sách chống dịch: từ các quyết sách lớn cho đến từng tin nhắn về tình hình lây nhiễm, truy vết. Để có được lòng tin và sự đồng thuận của người dân trong khủng hoảng, điều đầu tiên mà mọi người dân đều muốn biết là nhà nước đại diện cho mình đang làm gì, làm như thế nào, chính phủ ấy có vì dân không. Việc sẵn sàng minh bạch mọi thông tin, bằng mọi phương tiện thông tin đại chúng, đã cho thấy khả năng dám đối mặt với thách thức, tự tin vào năng lực quản lý nhà nước trong bối cảnh khủng hoảng. Bài học thực tiễn ngay những lúc khủng hoảng nhất như khi bệnh dịch lây lan ở Bạch Mai hay Đà Nẵng, cho thấy chỉ có minh bạch thông tin mới giúp tất cả chúng ta kịp thời ứng phó. Nhìn sang nơi khởi phát đại dịch, chúng ta nhìn thấy ngay bài học thiếu minh bạch, không kịp thời chia sẻ thông tin của Trung Quốc trong giai đoạn đầu đã gây ra một cơn khủng hoảng lòng tin và phải trả giá đắt. Đại dịch Covid-19 là phép thử cho tính chính danh của mỗi chính phủ, và thông qua đó không chỉ người dân thấy được trách nhiệm của chính phủ, mà chính các cơ quan quản lý cũng thấy được năng lực của mình, tự cập nhật và kiểm điểm mình.    Nhìn chung, trong bối cảnh của các cuộc khủng hoảng, chiến tranh thì sự điều phối quyết liệt nhằm đem lại sự ổn định xã hội của nhà nước là rất quan trọng, nhưng câu hỏi đặt ra là nhà nước tiếp tục thể hiện vai trò của mình như thế nào để bước ra khỏi khủng hoảng? Câu trả lời là Nhà nước vẫn đóng vai trò rất quan trọng, nhưng không phải bằng cách can thiệp vào tất cả các lĩnh vực của đời sống vì không đủ sức và không đủ khả năng. Nhà nước chỉ được coi là xứng đáng với vai trò dẫn dắt tiên phong của mình nếu như biết tập trung cao độ đầu tư vào khoa học và công nghệ (KH&CN). Gần đây, trong công trình nổi tiếng “Entrepreneur State” [Nhà nước khởi tạo], giáo sư Mariana Mazzucato đã phân tích bí quyết thành công, sự thịnh vượng của nền kinh tế Hoa Kỳ chính là nhà nước đã biết đầu tư tối đa cho khoa học và đổi mới công nghệ. Chỉ có nhà nước mới đủ tiềm lực hỗ trợ về KH&CN cho các công ty, cho những phát minh, sáng chế và chấp nhận những rủi ro của nghiên cứu khoa học và công nghệ chứ các cá nhân, các tập đoàn không thể tự mình làm được điều đó.     Chúng ta đã chống dịch Covid nhờ vào quyết tâm chính trị, bằng văn hóa, bằng những yếu tố tinh thần. Nhưng còn tới đây, con đường lâu dài phía trước chỉ có thể dựa vào khoa học dẫn đường, mà ở đó chỉ có Nhà nước mới có khả năng đóng vai trò dẫn dắt tiên phong.□     Bảo Như ghi     Author                Phạm Quang Minh        
__label__tiasang Bệnh dịch và số phận của con người xã hội      Bệnh dịch không chỉ thử thách sức đề kháng của con người sinh học, chúng là chất thử nghiệt ngã đối với con người xã hội, kinh tế và chính trị. Sau hàng triệu năm tiến hóa sinh học và kỹ thuật tổ chức xã hội, có lẽ nỗi ám ảnh này sẽ chưa mất đi trong tương lai gần.      Bức họa Khải hoàn của thần chết (Pieter Bruegel the Elder, c. 1562.)  Mùa thu năm 1820, tham tri Lễ bộ Nguyễn Du đang chuẩn bị cuộc hành trình sang Bắc Kinh. Vị quan chức được nhà vua mới lên ngôi Minh Mệnh cử đi sứ trong một nhiệm vụ đặc biệt: báo tang vua cha Gia Long và xin cầu phong. Không may là một trận dịch tả đã tràn qua Việt Nam vào thời điểm đó, và nhà thi hào cùng với hàng trăm nghìn người Việt khác đã bỏ mạng. Trận dịch này bắt đầu từ năm 1816, quét qua Ấn Độ từ 1820 và bắt đầu vào Việt Nam trong cùng năm, lan từ Hà Tiên lên Bắc thành. Sử nhà Nguyễn thống kê: số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Nhà nước bỏ ra 730.000 quan tiền để cứu chẩn, mai táng.  Với quy mô dân số Việt Nam dưới 10 triệu người vào đầu thế kỷ XIX, hơn 4% dân số đã bị thiệt mạng. Nếu một trận dịch với tỉ lệ tương tự vào năm 2020, 4 triệu người Việt Nam sẽ bị đe dọa tính mạng.  Dịch bệnh không chỉ là vấn đề y tế, đó là số phận của con người, của xã hội loài người, của thể chế chính trị, và của các nền văn minh. Sự chết chóc do chúng mang lại không chỉ phản ánh các hệ quả sinh học lên giống loài mà còn hưng vong triều đại, thăng trầm xã hội và thịnh suy đế chế và sự cân bằng chính trị-quân sự toàn cầu. Cung nỏ, vó ngự, thuốc súng có sức mạnh kiến tạo hay hủy diệt xã hội, và vi trùng cũng thế. Vào đầu thế kỷ XVI, những kẻ chinh phục Tây Ban Nha mang theo gươm, súng và ngựa cập bến một châu lục vừa được khám phá: châu Mỹ, với mục tiêu chinh phục đế chế Inca vĩ đại. Thực tế, bệnh đậu mùa mà họ mang theo mới chính là vũ khí chết chóc nhất, khiến cho hơn một nửa dân bản địa mất mạng. Trong số này có nhà vua Huayna Cupac. Cái chết của ông đẩy người Inca vào nội chiến, hỗn loạn, và đưa tới việc Francisco Pizarro với đạo quân 168 người có thể đánh chiếm một vùng lãnh thổ bằng cả Italia và Tây Ban Nha cộng lại.  Sự `mong manh’ của các cấu trúc chính trị-xã hội  Tại sao bệnh dịch lại là vấn đề ám ảnh loài người?  Việc sống tập trung tại các đồng bằng và thành thị là một điểm yếu “sinh học” của loài người. Dân số đủ đông để dịch bệnh tồn tại liên tục và có thể tạo ra nguy cơ bùng nổ dịch bất cứ lúc nào. Lấy đậu mùa làm ví dụ. Dù khảo cổ học tìm thấy dấu vết của chúng từ cách nay 350.000 năm tuy nhiên bằng chứng về sự lan rộng của chúng chỉ thực sự gia tăng từ khoảng 10.000 năm TCN. Không phải ngẫu nhiên mà đó là thời điểm xuất hiện nông nghiệp và con người bắt đầu xác lập các khu định cư ở vùng Trung Đông. Các xã hội có tập hợp khoảng 100.000 đến 200.000 dân là đủ để cho các mầm bệnh duy trì thường xuyên. Nguy cơ đó rõ ràng là lớn gấp nhiều lần ở các thành phố hơn hai mươi triệu dân như Mexico City hay Thượng Hải. Làm nông nghiệp và thuần hóa động vật là một cầu nối khác giữa con người với các virus. Với việc thuần hóa động vật, chúng ta không chỉ mời bò, gà, lợn, cừu… vào nhà mà còn cả một thế giới các đạo quân sinh học khác, từ chuột tới các loài vi khuẩn gắn liền với các động vật này. Điều nghiêm trọng hơn là các động vật này là cầu nối nhiều loài vi rút có mặt ở nhiều giống loài tự nhiên đối với con người. Lấy chủng virus Corona làm ví dụ. Báo cáo gần đây của WHO cho thấy có nhiều bằng chứng virus corona chủng mới có mối liên hệ với các loại virus corona tương tự được biết tới ở dơi, cụ thể là ở phân loài dơi Rhinolophus có địa bàn phân bố ở miền Nam Trung Quốc, và châu Á, châu Phi. Riêng tại các hang dơi ở Trung Quốc đã tìm thấy 500 loại virus corona khác nhau. Nghiên cứu huyết thanh học được tiến hành với người dân nông thôn sống gần các hang động có dơi sinh sống cho thấy tỉ lệ huyết thanh dương tính với virus corona ở phân loài dơi này là 2,9%. Điều này cho thấy sự tiếp xúc giữa con người với dơi có thể phổ biến mặc dù mắt xích trung gian của sự lan truyền virus này vẫn chưa được nhận dạng.      “Cái chết đen”, ám chỉ tới trận dịch hạch lan tràn trên lục địa Á-Âu giữa thế kỷ XIV, là một trong các ví dụ tiêu biểu về cách thức một bệnh dịch trong vòng bốn năm đã thay đổi diện mạo của thế giới và nền văn minh nhân loại.      Các bức tường thành, làng xóm, các thành phố và đô thị là không gian lí tưởng cho bệnh dịch. Dân cư đông đúc và tình trạng kém vệ sinh là môi trường để các loài động vật cư trú bên cạnh con người, trong khi thương mại, chiến tranh, du hành, hành hương, truyền giáo, và các quá trình khác của toàn cầu hóa thúc đẩy sự lan truyền của bệnh dịch với quy mô chưa từng có.  “Cái chết đen” là một trong các ví dụ tiêu biểu về cách thức một bệnh dịch trong vòng bốn năm đã thay đổi diện mạo của thế giới và nền văn minh nhân loại.  Cái chết đen ám chỉ tới trận dịch hạch lan tràn trên lục địa Á-Âu giữa thế kỷ XIV. Nổi tiếng trên khắp châu Âu với tên gọi Cái chết đen, dịch bệnh này được cho là gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis và lây lan thông qua loài bọ chét sống trên chuột đen. Quy mô của bệnh dịch này cũng tiến hóa theo bước đi của lịch sử nhân loại, gắn liền với ba trận dịch lớn có quy mô toàn cầu:  1. Trận dịch thời Justinian (541).  2. Cái chết đen (1348).  3. Trận dịch thứ ba (1855).  Chúng là những ví dụ cho thấy sự ‘mong manh’ của các cấu trúc chính trị-xã hội của con người, đồng thời phản ánh hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, chiến tranh, thương mại và mở rộng đế chế đã tạo ra các mạng lưới mà theo đó không chỉ có tơ lụa mà chuột và vi khuẩn cũng được du hành toàn cầu.  Gắn liền với chúng là vận mệnh của hàng trăm triệu người, hưng vong của nhiều triều đại, xã hội và đế chế. Đó là vào năm 1344, Janibeg-Hãn của Kim Trướng Hãn Quốc (một nước Hồi giáo do người Mông Cổ thiết lập ở Trung Á) tiến hành cuộc tấn công vào bán đảo Crimea và bao vây thành phố Caffa (ngày nay là Feodosia). Thành phố này là một trung tâm thương mại chiến lược trên biển Đen và đang nằm dưới sự kiểm soát của các thương nhân Genoa. Khi chiến thắng đang ở tầm tay, đạo quân Mông Cổ bất ngờ bị dịch hạch vào tháng 10/1346. Quân lính bị chết chỉ sau 7-10 ngày nhiễm bệnh.  Trong sự tuyệt vọng, Janibeg cho lính thu thập xác người bị dịch hạch và ném vào trong thành. Đây là câu chuyện đầu tiên về việc con người sử dụng “vũ khí sinh học” trong chiến tranh. Vào tháng 10/1347, Janibeg chiếm được thành phố và những thương nhân Genoa chạy về Italia. Bệnh dịch nhanh chóng theo chân họ về đảo Sicily và sau đó là Genoa. Tới mùa hè năm 1348, Marseilles và Paris trở thành các nạn nhân tiếp theo. Năm sau đó, chúng xuất hiện ở vùng thung lũng sông Rhine và tràn vào vùng đất ngày nay là lãnh thổ nước Đức. Ở phía Tây, dịch bệnh cũng vượt qua eo biển tới London, trong khi một năm sau đó, chúng chinh phục Denmark và bán đảo Scandinavia (nơi 60% dân Norway được cho là bỏ mạng).  Vào lúc đỉnh điểm của các trận dịch này, có 800 người chết ở Paris một ngày. Con số này ở Pisa là 500 và 600 ở Vienna. Một nửa dân số của thành phố Siena đã chết trong vòng một năm. Tương tự Floren mất 50.000 dân trên tổng số 100.000 người. Người chép sử của thành phố Siena là Agnolo di Tura đã than khóc:  “Không từ nào có thể tả hết tính chất khủng khiếp của những sự kiện này… Tôi đã chính tay mình chôn cất năm đứa con trai của mình”.  Sử gia người anh Alistair Horne ước tính trong vòng bốn năm từ khi Janibeg ném các xác chết vào thành Caffa, một phần ba dân số thế giới từ Iceland tới Ấn Độ đã bị thiệt mạng. Những thống kê khác chỉ ra con số khoảng 50% dân số thế giới đã bị chết, và con số này có thể vào khoảng 75-100 triệu người.  Trận dịch hạch lớn cuối cùng là vào năm 1855, bắt đầu ở Trung Quốc, và đã giết chết 10 triệu người chỉ riêng ở Ấn Độ. Chỉ đến năm 1895 bác sĩ Alexandre Yersin mới tìm ra nguyên nhân của dịch này khi nghiên cứu sự bùng phát ở Hong Kong.    Vũ điệu tử thần (trong Biên niên sử Nuremberg).  Câu chuyện về các trận dịch, vì thế, là câu chuyện về số phận, trình độ kỹ thuật, và khả năng tổ chức của các xã hội người. Nó giúp chúng ta hiểu thêm về tình hình sức khỏe, vệ sinh, sức đề kháng của xã hội, mô hình thể chế hay khả năng thích ứng của các hệ thống chính trị. Hãy lấy cuộc viễn chinh của Napoleon vào nước Nga làm ví dụ. Năm 2001, các công nhân xây dựng tìm thấy một hố chôn tập thể khoảng 2.000-3.000 người tại Vilnus, Lithuania. Từ các bộ đồng phục và huy hiệu, đồng phục… người ta tin rằng đạo quân này chính là những người lính Pháp được chôn cất vội vã trên đường tháo chạy khỏi nước Nga vào năm 1812. Điều đáng chú ý là các nhà khoa học tìm ra nguyên nhân cái chết của 1/3 những người lính này là do sốt phát ban. Đây là một chỉ dấu quan trọng góp thêm những cánh cổng vào quá khứ. Trước giờ, các sử gia vẫn chủ yếu hướng tới thời tiết mùa đông nước Nga, ý chí của người Nga, sự thiếu chuẩn bị của người Pháp… Nhưng rõ ràng là vị hoàng đế vĩ đại Napoleon không chỉ bị đánh gục bởi các bộ óc thiên tài của người Nga mà còn bởi chấy rận (các vật chủ truyền bệnh).  Xét rộng ra, “Cái chết đen” đã tham gia vào việc thay đổi nhiều trang sử của nhân loại.  Dịch bệnh này đã làm thay đổi con người sinh học. Nghiên cứu của Sharon DeWitte (University of South Carolina) khảo sát phụ nữ London trong hai giai đoạn: năm 1000–1200 và 1350–1540 và gợi ý rằng “Cái chết đen” gây ra tác động làm giảm chiều cao của phụ nữ.  Thay đổi thể chất và tinh thần xã hội  Dịch hạch không chỉ thay đổi thể chất mà còn tinh thần của xã hội. Trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng trước cái chết, những người Thiên Chúa giáo cuồng tín đã tập hợp lại thành các Flagellants. Từ này trong gốc Latin có nghĩa là roi da, ám chỉ việc họ tự nguyện hành hạ cơ thể mình để cứu chuộc tội lỗi hòng xin Chúa trời giúp thoát khỏi dịch bệnh. Tập hợp thành hàng vạn người, họ kéo qua các lãnh địa và làng mạc châu Âu, đặc biệt là trên lãnh thổ các vùng đất ngày nay là Đức, Pháp, Ý. Thực tế việc tập trung đông người và di chuyển liên tục đã làm tăng nguy cơ lây bệnh của những người này, trong khi các vết thương hở trên cơ thể tạo ra cơ hội cho bệnh tật xâm nhập.  Một hệ quả nghiêm trọng hơn là việc họ reo rắc thù nghịch tôn giáo và tộc người đằng sau các cuộc hành trình này. Người Do Thái được cho là nguyên nhân của dịch bệnh. Dù cũng bị ảnh hưởng của dịch, nhưng việc giữ vệ sinh và lối sống tương đối phân tán của người Do Thái làm cho họ ít bị ảnh hưởng. Người Thiên Chúa giáo cáo buộc người Do Thái đã đầu độc các nguồn nước để hủy diệt các xã hội châu Âu và việc lan truyền các tin đồn này tạo ra nhiều cuộc phá hủy và tàn sát đối với cộng đồng Do Thái. Nhiều nhóm trong số này tại các thành phố như Strasbourg, Mainz, Cologne, Munich… đã bị giết hại một cách thảm khốc.  Tâm lí bài người Do Thái có lẽ đã dần được hình thành từ những tin đồn, nỗi ám ảnh và sự hoảng loạn như thế. Rome không được xây trong một ngày, và lịch sử lâu dài này đã gây ra hậu khủng khiếp với các lí thuyết tộc người, chủng tộc hiện đại của chủ nghĩa phát xít Đức thế kỷ XX.  Tất cả các khía cạnh chính trị, xã hội của châu Âu đều bị tác động bởi trận dịch hạch giữa thế kỷ XIV.  Cấu trúc chính trị xã hội là một ví dụ. Ở London vào năm 1357, 1/3 tài sản của thành phố bỏ hoang vì không có đủ dân số. Lương bổng ở các thành phố bắt đầu gia tăng sau trận dịch. Đất đai bỏ hoang cũng thúc đẩy làn sóng di chuyển của nông dân. Chuyển dịch xã hội vì thế gia tăng theo không gian địa lý và cấu trúc xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà sự năng động xã hội này sẽ thúc đẩy cho một bước tiến mới của lịch sử châu Âu ở giai đoạn sau.      Từ việc người Do Thái bị săn lùng giữa những Cái chết đen cho tới giá khẩu trang tăng gấp 10 lần, câu chuyện của dịch bệnh vượt xa khỏi các bệnh viện. Đó là phép thử nghiệt ngã không chỉ với tính dẻo dai của tổ chức xã hội, tiềm lực của tích lũy xã hội mà còn là khả năng phản ứng của thể chế chính trị và nhà nước nhằm đối phó trong thời gian ngắn với sự sống còn của giống loài.      “Cái chết đen” tham gia góp phần làm thay đổi lịch sử châu Âu, lịch sử các đế chế và lịch sử toàn cầu. Người Mông Cổ và các vương quốc của họ bắt đầu mất đi các sự kết nối cần thiết, phân tán, và bị địa phương hóa mạnh hơn. Đúng hai thập kỷ sau trận dịch, một người nông dân-nạn nhân của các nạn đói và dịch bệnh tên Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo người Hán giành lại quyền kiểm soát vùng bình nguyên giữa hai con sông Hoàng Hà-Trường Giang và lập ra một đế chế mới có tên Đại Minh.  Khi sức ép của quân Mông Cổ lên châu Âu giảm đi, đó là thời cơ cho một đế chế khác nổi lên giữa lục địa Á-Âu: Ottoman. Dịch hạch rõ ràng đã đã làm thay đổi ngôi thứ của các đế chế. Việc quân Ottoman kiểm soát các tuyến đường thương mại và việc các thành thị dọc Địa Trung Hải của Italia bị tàn phá bởi dịch bệnh đã gây ra một chuyển dịch lớn về địa chính trị ở châu Âu nhằm chuẩn bị cho thời kỳ tư bản hiện đại. Đó là việc các trung tâm kinh tế sầm uất của Venice, Genoa… sẽ dần dần được thay thế bởi người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, và sau đó là Anh, Pháp…  Những cường quốc này sẽ thúc đẩy thương mại đường biển thay vì con đường tơ lụa trên bộ truyền thống. Điều đó mở ra các cuộc phát kiến địa lý, tìm ra châu lục mới, thương mại hàng hải toàn cầu, chế độ nô lệ, chủ nghĩa thực dân….  Một chú giải nhỏ cuối cùng của câu chuyện quá khứ đau thương này xin được dành cho nàng công chúa của nước Anh: Joan, cô con gái được yêu chiều của vua Edward III (1312–1377). Vị vua đang can dự vào một trong các cuộc chiến tranh, dàn xếp chính trị và hôn nhân quan trọng nhất của Tây Âu có tên gọi: Chiến tranh Trăm năm (1337 – 1453). Để bảo đảm cho thắng lợi của mình trước người Pháp và mở rộng các vùng đất đang kiểm soát trên lục địa, Edward III quyết định gả con gái cho hoàng tử kế ngôi Peter của vương triều Castile (Tây Ban Nha). Cuộc hôn nhân chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt mới của cuộc chiến mà hệ quả của nó là việc vẽ lại bản đồ châu Âu.  Sau ba năm đính ước, mùa hè năm 1348, Joan được hộ tống từ Anh tới Tây Ban Nha bằng một hạm tàu vũ trang nghiêm ngặt gồm bốn chiếc. Một trong số đó được dành riêng cho xiêm y và đồ trang sức của nàng công chúa. Khi hạm thuyền tới Bordeaux, bệnh dịch đã tràn tới thành phố này, tuy nhiên người Anh dường như chưa nhận thức được tính chất nghiêm trọng của nó. Rất nhanh chóng, những người tùy tùng bỏ mạng, và tới lượt nàng công chúa 15 tuổi, qua đời ngày 1/7/1348.  Joan đã lỡ hẹn một cuộc hôn nhân, còn nước Anh lỡ hẹn với một đồng minh. Lịch sử không có nếu. Còn những gì diễn ra sau sự lỡ hẹn này là kết cục cuối cùng nước Anh thất bại trong cuộc chiến Trăm năm, nước Pháp tập quyền bắt đầu hưng thịnh, và lịch sử châu Âu sang trang mới.  Sẽ là cường điệu quá mức khi nói rằng chuột đen hay những con bọ chét đã vẽ lại bản đồ châu Âu, đánh tráo trật tự đế chế hay xác lập quyền lực toàn cầu, nhưng rõ ràng chúng đã tham gia vào các thời khắc quan trọng như thế của lịch sử con người. Và sẽ còn tiếp tục can dự trong tương lai.  Để kết lại, nếu có bài học gì từ quá khứ các trận dịch và số phận đau thương của con người thì đó chính là khả năng kiểm soát dịch bệnh và ổn định tình hình của người quản trị xã hội. Các tin đồn và hệ quả bi thảm của chúng là khía cạnh khác cần phải được xem xét nghiêm túc từ góc độ chính sách. Lịch sử cho thấy bản thân dịch bệnh đã là thảm họa, tuy nhiên các tin tồn và phản ứng thái quá có thể tạo ra sự hỗn loạn và chết chóc ở tầm mức lớn hơn nhiều, bao gồm có chiến tranh, bạo lực xã hội, xung đột tộc người, tôn giáo….  Từ việc người Do Thái bị săn lùng giữa những “Cái chết đen” cho tới giá khẩu trang tăng gấp 10 lần, câu chuyện của dịch bệnh vượt xa khỏi các bệnh viện. Đó là phép thử nghiệt ngã không chỉ đối với tính dẻo dai của tổ chức xã hội, tiềm lực của tích lũy xã hội mà còn là khả năng phản ứng của thể chế chính trị và nhà nước nhằm đối phó trong thời gian ngắn với sự sống còn của giống loài.□    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Bệnh viện tư điều trị COVID theo yêu cầu: Giúp giảm áp lực hệ thống y tế công      Nếu cho phép người có khả năng chi trả được tự chi trả khi sử dụng dịch vụ của các cơ sở y tế tư nhân, thì nguồn lực và ngân sách công mà họ không sử dụng sẽ được dùng để phục vụ người không có điều kiện chi trả.      Báo Tiền phong phản ánh, ở các bệnh viện điều trị COVID, tình trạng quá tải diễn ra ở tất cả các tầng từ bệnh nhẹ đến bệnh nặng và nguy kịch. Nguồn ảnh: Tiền phong.   Trong hoàn cảnh số lượng ca nhiễm tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam đặc biệt tăng cao, gây áp lực nghiêm trọng đến khả năng điều trị của các cơ sở y tế công, đe dọa đến tính mạng của nhiều người dân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế do phải tiếp tục kéo dài giãn cách xã hội, Bộ trưởng Bộ Y tế, thay mặt Đảng và Chính phủ, đã kêu gọi sự chung tay của các bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân.(1) Đáp lại lời kêu gọi trên, đã có một số bệnh viện tư tham gia vào công tác chống dịch và điều trị cho bệnh nhân COVID.(2) Tuy nhiên, khi các cơ sở y tế tư nhân tham gia điều trị bệnh nhân COVID thì lại phải tuân thủ theo những quy định về chi phí, định mức hoạt động như đơn vị công lập. Điều này đặt nhiều cơ sở y tế tư nhân vào hoàn cảnh khó khăn.(3) Nếu như không có các giải pháp phù hợp sẽ dẫn tới việc các cơ sở ý tế tư nhân rút lui, từ chối tiếp tục nhận điều trị bệnh nhân COVID, hoặc đóng cửa hoàn toàn. Điều này sẽ gây áp lực lớn hơn nữa đến hệ lụy hệ thống y tế nói chung, vốn đã quá tải.   Trong bối cảnh hệ thống y tế quá tải và cần huy động nguồn lực hiệu quả hơn để phục vụ điều trị cho người dân,(4) riêng TP. Hồ Chí Minh đã có đề xuất với Bộ Y tế và Tài chính (i) hướng dẫn mức chi trả cho các bệnh viện tư nhân khi điều trị bệnh nhân COVID-19 trong trường hợp Nhà nước đảm bảo một phần hoặc toàn bộ chi phí điều trị (gọi là Gói miễn phí) (5) và (ii) cho phép các cơ sơ y tế tư nhân có đủ điều kiện thu dịch vụ khi chữa COVID-19, điều trị bệnh nhân COVID-19 theo yêu cầu và thu giá dịch vụ tương ứng (gọi là Gói dịch vụ – áp dụng với các bệnh nhân có điều kiện chi trả và sẵn sàng thanh toán phí điều trị COVID-19 để được chữa trị theo yêu cầu).(6)   Chúng tôi cho rằng đề xuất cho phép có Gói dịch vụ – cho phép các cơ sơ y tế tư nhân có đủ điều kiện thu dịch vụ khi chữa COVID-19, điều trị bệnh nhân COVID-19 theo yêu cầu là một đề xuất đúng hướng trong hoàn cảnh hiện nay.   Nếu như chính sách này được thực hiện thành công thì có thể được mở rộng áp dụng cho các tỉnh thành khác, qua đó đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội sau:  1- Tăng cường, mở rộng năng lực điều trị COVID của hệ thống y tế vốn đã quá tải: Điều rõ ràng là tại TP Hồ Chí Minh hệ thống y tế đã quá tải nguồn lực điều trị COVID-19, mặc dù đã được Trung ương và các tỉnh khác chi viện.(7) Theo số liệu mới nhất tại TP Hồ Chí Minh hiện có 63 bệnh viện với số giường bệnh là 5.494. Trong số này mới có 10 bệnh viện chuyển đổi công năng, tham gia điều trị COVID với 966 giường (17,6%), quá ít so với nhu cầu điều trị COVID.(8) Như vậy, có thể nói, nếu có các chính sách phù hợp, năng lực điều trị của hệ thống y tế có thể được cải thiện với sự tham gia nhiều hơn của các bệnh viện tư.  Điểm cần lưu ý, đó là kể cả trong trường hợp số giường điều trị được huy động thêm từ khu vực tư nhân (ví dụ là 1000) chỉ để dùng cho người có khả năng chi trả (gói dịch vụ) thì toàn bộ hệ thống vẫn sẽ có thêm 1000 giường để chữa cho cả người có khả năng chi trả lẫn người không có khả năng chi trả! Việc những người có khả năng chi trả chuyển sang sử dụng dịch vụ y tế tư nhân sẽ giải phóng chỗ, giường bệnh trong khu vực y tế công, qua đó người không có khả năng chi trả sẽ được tiếp cận nhiều hơn đến các dịch vụ của khu vực công!       Kể cả trong trường hợp số giường điều trị được huy động thêm từ khu vực tư nhân (ví dụ là 1000) chỉ để dùng cho người có khả năng chi trả (gói dịch vụ) thì toàn bộ hệ thống vẫn sẽ có thêm 1000 giường để chữa cho cả người có khả năng chi trả lẫn người không có khả năng chi trả.      2- Tập trung nguồn lực, ngân sách cho những đối tượng cần thiết, người nghèo: Việc nhà nước cung cấp dịch vụ chữa trị COVID miễn phí cho toàn xã hội là hết sức nhân văn. Tuy nhiên, ngân sách của nhà nước luôn là hữu hạn, đặc biệt trong tình hình dịch bệnh, nên việc “bao cấp” hoàn toàn như hiện nay cho cả người có điều kiện chi trả và người không có điều kiện chi trả sẽ có tính “cào bằng”. Và việc hạn chế không cho người có khả năng chi trả tự trả tiền để tiếp cận các dịch vụ của khu vực tư mà lại sử dụng ngân sách có hạn để chi trả cho cả người nghèo lẫn người giàu sẽ tạo ra sự “không công bằng” không cần thiết trong xã hội!    Nếu cho phép người có khả năng chi trả được tự chi trả khi sử dụng dịch vụ của các cơ sở y tế tư nhân, thì nguồn lực và ngân sách công mà họ không sử dụng sẽ được dùng để phục vụ người không có điều kiện chi trả! Việc này tốt cho cả xã hội nói chung, và đặc biệt tốt cho người không có khả năng chi trả, giờ đây họ có thể tiếp cận tốt hơn, nhiều hơn tới dịch vụ y tế công!   Điểm phải lưu ý là không phải ai có khả năng chi trả cũng muốn chi trả, muốn chuyển sang sử dụng dịch vụ y tế tư! Việc những người có khả năng chi trả tự chi trả cho bản thân cần được khuyến khích trong bối cảnh ngân sách hạn chế, bởi họ làm như vậy là gián tiếp giúp cho người không có điều kiện chi trả, qua đó làm cho xã hội công bằng hơn!   3- Tăng thu ngân sách: Việc các bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân có thể thu tiền theo đúng với mức dịch vụ y tế mà họ cung cấp cho những người có khả năng chi trả, ngoài việc đảm bảo họ tiếp tục có thể hoạt động theo lời kêu gọi của Đảng và chính phủ còn tạo ra nguồn thu ngân sách. Số tiền thuế thu được từ các dịch vụ này có thể được nhà nước sử dụng để chỉ trả cho dịch vụ y tế công, phục vụ người nghèo!  Tóm lại, chúng tôi cho rằng việc động viên, khuyến khích các bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân tham gia điều trị COVID là hết sức cần thiết. Nếu mô hình tại TP HCM có thể thành công, Việt Nam có thể cân nhắc nhân rộng ra toàn quốc, khi đó năng lực điều trị của toàn hệ thống y tế sẽ tăng lên đáng kể, giúp cho Việt Nam chống chọi tốt hơn với đại dịch COVID.  4. Tiếp tục duy trì gói miễn phí tại bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân: Điểm cuối cùng trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập là việc thiết kế chính sách. Đó là khi cho phép các bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân thu phí khi họ cung cấp Gói dịch vụ thì Gói miễn phí mà hiện nay họ đang cung cấp không bị triệt tiêu, teo tóp đi. Cụ thể như sau:  4.1 Khi đươc phép cung cấp Gói dịch vụ cho những người sẵn lòng chi trả, các bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân vẫn phải cam kết và duy trì một tỷ lệ (ví dụ 20-30%) giường bệnh để cung cấp Gói miễn phí cho người không có điều kiện chi trả. Chi phí điều trị sẽ được ngân sách nhà nước hoàn trả lại cho các bệnh viện tư theo quy định của Bộ Tài chính và Bộ Y tế.  4.2 Những bệnh nhân được chữa trị ở các bệnh viện tư nhân, nếu được xác nhận là thành phần nghèo, sẽ được nhà nước hỗ trợ về tài chính theo nghĩa nhà nước sẽ bù lại số tiền chị trả ở bệnh viện tư nhân nếu cao hơn mức chi trả ở bệnh viện công.   4.3 Những ca trầm trọng cần có máy thở, những phương tiện tinh vi hơn… thì sẽ được chữa trị ở bệnh viện công. Những thiết bị này rất đắt tiền, theo nguyên tắc, đa số chỉ có ở các bệnh viện công.□  —  Về các tác giả: (i) TS Nguyễn Ngọc Anh (DEPOCEN); (ii) GS Trần Nam Bình (UNSW Sydney); (iii) GS Lê Văn Cường (Paris School of Economics)  Chú thích:  (1) https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/rat-can-su-chung-tay-cua-benh-vien-co-so-y-te-tu-nhan-587191.html.   (2) https://tuoitre.vn/4-benh-vien-tu-nhan-se-tiep-nhan-va-dieu-tri-benh-nhan-covid-19-20210727080739955.htm.   (3) https://vnexpress.net/benh-vien-tu-duoi-vi-chi-phi-dieu-tri-covid-19-4348345.html   (4)  https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/huy-dong-va-dieu-phoi-nguon-luc-hieu-qua-hon-de-phuc-vu-dieu-tri-cho-nguoi-dan-1491882592  (5) Theo quy định hiện hành của Việt Nam (Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/9/2010 của Chính phủ) trong thời gian đang có dịch diễn ra như hiện nay thì bệnh nhân mắc bệnh dịch Covid-19 sẽ được khám và điều trị miễn phí.   https://chinhsachonline.chinhphu.vn/Chi-tiet-cau-hoi/Benh-nhan-mac-COVID19-duoc-dieu-tri-mien-phi/29445.vgp  Xem thêm Văn bản số 505/BYT-BH của Bộ Y tế để biết hướng dẫn chi tiết.   (6) https://vnexpress.net/kien-nghi-cho-co-so-y-te-tu-nhan-thu-dich-vu-dieu-tri-covid-19-4345775.html và https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/tp-hcm-kien-nghi-de-y-te-tu-nhan-thu-dich-vu-kham-va-dieu-tri-covid-19-769070.html   (7) https://tuoitre.vn/tp-hcm-qua-tai-nguon-luc-dieu-tri-covid-19-20210714091416909.htm.  (8) https://nld.com.vn/thoi-su/tp-hcm-kien-nghi-cho-co-so-tu-nhan-thu-phi-dieu-tri-covid-19-20210825232140815.htm     Author                Nguyễn Ngọc Anh, Trần Nam Bình, Lê Văn Cường        
__label__tiasang Biện chứng của tháng Tám      Đã gần 70 năm trôi qua kể từ ngày nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên Cách mạng tháng Tám lịch sử.        Hai giá trị rất to lớn mà tháng Tám đã mang lại cho dân tộc ta là độc lập và tự do. Mặc dù để bảo vệ thành công hai giá trị này, nhân dân ta đã phải tiếp tục chiến đấu và hy sinh thêm 30 năm nữa.  Độc lập là một giá trị vĩnh hằng, nhưng không phải là một giá trị bất biến. Nó luôn luôn phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc. Đất nước Việt nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ của ội nhập và toàn cầu hóa. Trong thời kỳ này, độc lập vừa là sự tự chủ, cũng vừa là sự hợp tác với bên ngoài. Độc lập vừa là tinh thần tự lực, tự cường, cũng vừa là sự tiếp thu thành tựu của thế giới, sự tận dụng các nguồn lực của thế giới để vươn lên. Nếu chúng ta không vươn lên để đuổi kịp các nước đi trước, chúng ta khó bảo đảm được một cách đầy đủ quyền độc lập của mình. Mối quan hệ giữa tính độc lập và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc trong thế giới hôm nay là biện chứng. Đó là quy luật đấu tranh và tồn tại thống nhất của hai  mặt đối lập. Chúng đấu tranh với nhau, nhưng chúng tồn tại bên nhau. Không có cái này thì không có cái kia và ngược lại.  Trong thời Pháp thuộc, chúng ta không có quyền tự quyết, thực dân Pháp đã áp đặt rất nhiều thứ cho dân tộc ta, kể cả hệ thống pháp luật và chế độ chính trị. Ngay  nay, chúng ta, đã giành được toàn quyền tự quyết. Tuy nhiên, tự quyết không có nghĩa là muốn quyết thế nào cũng được. Càng hội nhập sâu hơn, chúng ta càng phải quyết phù hợp hơn với luật chơi chung. Cân đối giữa bản sắc dân tộc và chuẩn mực quốc tế là một sự cân nhắc khó khăn. Ngoài trí tuệ, sự nhạy cảm và bản lĩnh của chính mình, chúng ta không thể trông chờ vào sự mách bảo của bất kỳ ai.  Giá trị to lớn thứ hai mà Cách mạng tháng Tám mang lại là tự do, Tự do cũng là một giá trị vĩnh hằng, nhưng cũng không phải là một giá trị bất biến. Tự do đóng vai trò quyết định đối với sự giàu có và thịnh vượng của đất nước. Bởi vì tự do là động lực đồng thời là công cụ để phân bổ tối ưu  mọi nguồn lực. Không có tự do, một cá nhân không thể phát huy hết tiềm năng và sức mạnh sáng tạo của mình. Không có tự do, nguồn nhân lực và tài lực của đất nước không ghể được phân bổ hợp lý tối đa. Tuy nhiên, tự do không đương nhiên mang lại cho chúng ta công bằng. (Mà công bằng là một trong những giá trị mà dân tộc ta đã theo đuổi trong gần suốt thế kỷ XX). Ngược lại, tự do và cơ chế thị trường có thể làm cho sự phân cách giàu nghèo có thể ngày càng mở rộng.  Cân đối giữa tự do và công bằng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ khó khăn, thiếu việc mở rộng dân chủ và bảo đảm quyền tham gia quyết định của người dân khó có thể thực hiện được nhiệm vụ nói trên.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu: Ai gánh chịu nhiều nhất?      Giữa lúc còn chưa thoát khỏi tình cảnh đói nghèo, bất bình đẳng thì những người yếu thế trong xã hội lại phải hứng chịu thêm những tác động của biến đổi khí hậu, điều mà một số nhà nghiên cứu gọi là một cuộc khủng hoảng đang rình rập. Để thoát khỏi cảnh này, một trong những chiến lược sinh tồn của họ là di cư đến những vùng đất mới.      Biển “bán hoặc cho thuê đất” của một nông hộ ở Bạc Liêu trong đợt hạn năm 2016. Ảnh: Kham/Reuters.  Di cư vì môi trường  Trước khi kịch bản nước biển dâng xảy ra, dự đoán sẽ nhận chìm vùng đất của 18 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long xuống dưới mực nước biển một mét trong khoảng 50 đến 100 năm nữa, thì chúng ta đã phải chứng kiến những kỷ lục mới về hạn mặn. Điển hình là năm 2015-2016, hạn hán tồi tệ nhất trong vòng một thế kỷ đã khiến nước mặn xâm nhập sâu hơn 80 km vào đất liền và phá hủy ít nhất 160.000ha lúa. Cơn hạn này đã ảnh hưởng đến nông nghiệp toàn Việt Nam, khiến tổng sản lượng nông nghiệp cả nước giảm xuống 2,7%, theo ước tính Bloomberg thời điểm đó1.     Những áp lực môi trường đó đã dẫn tới một hệ quả là xu hướng người dân phải rời bỏ nơi mình sinh sống, di chuyển tới nơi khác để tránh những tác động của thời tiết cực đoan ngày càng nhiều. Một công bố vào năm 2017 của Lê Thị Kim Oanh và Lê Minh Trường2, Đại học Văn Lang, TP.HCM đã ước tính sơ bộ cho thấy biến đổi khí hậu là yếu tố chi phối quyết định của 14,5% người di cư rời khỏi Đồng bằng sông Cửu Long. Dựa theo ước tính này thì mỗi năm có khoảng hai ba chục ngàn người di cư khỏi Đồng bằng sông Cửu Long vì lý do môi trường. Không chỉ cuộc khảo sát của Đại học Văn Lang trên nhóm người di cư từ Đồng Tháp và Bến Tre cho thấy tình trạng di cư vì môi trường mang tính điển hình ở hai tỉnh có người di cư tới TP. Hồ Chí Minh đông nhất hiện nay mà nghiên cứu trên quy mô cả nước cũng đã cho thấy điều đó. Công bố vào đầu năm nay của TS. Nguyễn Việt Cường, Khoa Quốc tế, ĐHQG Hà Nội3, khảo sát dữ liệu dân cư trong cả nước cũng cho thấy quyết định đi hay ở của lao động làm nông nghiệp chịu ảnh hưởng từ sức ép môi trường, khi anh chứng minh rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm mưa rất lớn, nóng hoặc lạnh cực đoan với xu hướng di cư. Các địa phương có lượng mưa giảm, gia tăng hạn hán, nhiệt độ tăng lên thì cũng sẽ phải hứng chịu làn sóng người lao động có kỹ năng thấp rời đi, những địa phương nào có lượng mưa tăng lên, khí hậu mát mẻ phù hợp với sản xuất nông nghiệp sẽ đón nhận người lao động có kỹ năng thấp tới để làm nông nghiệp.       Những bài toán đặt ra cho bức tranh di cư vì môi trường đang ngày càng thành hình rõ nét thì chính sách cho người di cư gần như vẫn là khoảng trống ở nước ta, khi mà hầu như người di cư không thể với tới được các chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ công cần thiết ở nơi mình di cư đến.      Còn đối với những người chọn cách ở lại, họ cũng có xu hướng sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ người di cư gửi về và trợ cấp xã hội. Tuy nhiên, rủi ro vẫn bủa vây. Một nghiên cứu gần đây của TS Trần Quang Tuyến và cộng sự cho thấy, cuộc sống của người ở lại không cải thiện nhiều, cụ thể là có tới 40% số hộ trong nhóm phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ người di cư và trợ cấp xã hội cho biết mức sống của họ không được cải thiện trong năm năm qua.4  Đó là những đo lường xu hướng di cư trong quá khứ, còn các kịch bản môi trường và dự báo di cư mà giới chuyên môn đưa ra trong tương lai 30 năm tới sẽ ảm đạm hơn rất nhiều. Báo cáo Groundswell mới đây của Ngân hàng Thế giới dự báo, nếu nước biển dâng và nhiệt độ tăng lên theo kịch bản xấu nhất, ước tính từ nay đến năm 2050, Việt Nam sẽ có khoảng 3,1 triệu người (tương đương khoảng 3,1% dân số) phải di cư nội địa vì biến đổi khí hậu. Con số này chiếm tới 26% tổng số dân di cư trong nước, biến “di dân vì biến đổi khí hậu” trở thành một nhân tố quan trọng có thể làm thay đổi toàn bộ mô hình di cư và các kế hoạch phát triển ở Việt Nam. Trong kịch bản biến đổi khí hậu diễn ra theo hướng “dễ thở” và kinh tế bao trùm hơn thì Ngân hàng Thế giới vẫn dự báo sẽ có khoảng 1,9 triệu người sẽ phải di dân vì biến đổi khí hậu.    Mấy thập niên qua, các gánh nặng do thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu ngày càng lớn mà chúng ta đều không thể tránh được. Tới đây, khi kịch bản biến đổi khí hậu chắc chắn xảy tới, nhiều cư dân ở các vùng chịu ảnh hưởng không còn lựa chọn nào khác ngoài di cư thì Nhà nước chuẩn bị được gì cho họ? Khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới trong báo cáo Groundswell đòi hỏi những chuẩn bị mang tính hệ thống cho việc phát triển bao trùm để giảm thiệt hại cho những nhóm nghèo nhất, lập kế hoạch cho các giai đoạn di cư, nhưng trước tiên hơn cả vẫn là giải quyết những vấn đề tồn đọng lâu nay về lưới an sinh xã hội cho người di cư. Trong công bố của mình, TS. Nguyễn Việt Cường nhấn mạnh đến vấn đề làm thế nào để giảm thiểu được các cú sốc và rủi ro cho người di cư bằng các lưới phúc lợi xã hội ở nơi đến, vì thực ra người di cư vì khí hậu đều bị động trước các cú sốc do thiên tai gây ra.  Nhưng nhìn vào quá khứ, có lẽ chúng ta chưa làm gì được nhiều.     Một trong những bằng chứng nói lên điều đó là cảnh những đoàn người lũ lượt trở về Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng duyên hải Trung Bộ trong đợt bùng phát dịch thứ tư ở TP. Hồ Chí Minh và khu vực lân cận đã cho tất cả chúng ta mường tượng thấy rõ mồn một về dòng di cư từ những vùng tới đây sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu. Đồng bằng sông Cửu Long, vựa gạo và tôm cá trù phú và cũng là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp có tầm quan trọng trên thị trường lương thực toàn cầu, đã không còn đủ sức nuôi nấng tất cả những đứa con của mình. Trong khoảng một thập niên qua, có khoảng một triệu rưỡi đến một triệu bảy người di cư ra khỏi vựa lúa này, theo các ước tính khác nhau gần đây. So với các vùng khác trên cả nước, vùng châu thổ này có tỷ lệ nhập cư thấp nhất, tỷ lệ xuất cư cao nhất và là vùng duy nhất có tỷ lệ tăng dân số 0,0% trong giai đoạn 2009 – 2019. Dòng di cư của Duyên hải Nam Trung Bộ cũng không hề kém Đồng bằng sông Cửu Long, khi hai vùng này lần lượt chiếm hơn 19% và 18% tổng số người di cư của cả nước, theo Điều tra di cư quốc gia gần đây nhất công bố vào 2016.        Những người dân mắc kẹt trong lũ ở Quảng Bình, mùa lũ năm 2020. Ảnh: Trương Thanh Tùng.   Dẫu những bài toán đặt ra cho bức tranh di cư vì môi trường đang ngày càng thành hình rõ nét thì chính sách cho người di cư gần như vẫn là khoảng trống ở nước ta, khi mà hầu như người di cư không thể với tới được các chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ công cần thiết ở nơi mình di cư đến. Khảo sát của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ và Oxfam năm 2015 cho thấy 99% người lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức không có bảo hiểm xã hội do không có hợp đồng lao động, hoặc chỉ có hợp đồng lao động ngắn hạn hay hợp đồng miệng, 76,5% chưa tham gia bảo hiểm y tế, 71% không tiếp cận được tới dịch vụ y tế công. Không chỉ người di cư chịu thiệt thòi mà con cái họ cũng không có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ xã hội, khi 13,2% trẻ dưới 6 tuổi là con của người di cư không được tiếp cận với bảo hiểm y tế, có tới 21,2% trẻ di cư được khảo sát trong độ tuổi từ 6-14 không được đi học.      Gia tăng bất bình đẳng      Xu hướng đáng chú ý tiếp theo mà các đánh giá gần đây đã chỉ ra là biến đổi khí hậu làm trầm trọng hơn hiện trạng nghèo đói, nhất là nghèo đói cùng cực, nghèo lương thực ở các vùng thường hứng chịu thảm họa thiên tai. Trong một công bố vào năm 20155, đo lường ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan như lũ, bão, áp thấp nhiệt đới, triều cường, ngập lụt, hạn hán… và sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê về mức sống hộ gia đình trên cả nước, TS. Mohamed Arouri, TS. Nguyễn Việt Cường, TS. Adel Ben Xoussef các cộng sự đã tính toán được ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt và bão – làm giảm phúc lợi ngay lập tức ở các hộ gia đình ở các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng lần lượt là 5.2% và 5.9%.       Trong kịch bản biến đổi khí hậu diễn ra theo hướng “dễ thở” và kinh tế bao trùm hơn thì Ngân hàng Thế giới vẫn dự báo sẽ có khoảng 1,9 triệu người Việt Nam sẽ phải di dân vì biến đổi khí hậu.      “Biến đổi khí hậu sẽ khiến các nhóm nghèo đói, dễ tổn thương càng nghèo hơn vì so với các nhóm khác họ đã có ít nguồn vốn xã hội, kỹ năng thấp từ trước rồi”, TS. Nguyễn Việt Cường cho biết. Tác động lên của thiên tai lên các nhóm yếu thế sẽ khoét sâu vào những bất bình đẳng đã có trong xã hội. Quá khứ đã cho chúng ta một bài học rõ ràng về điều này: Công bố vào năm 2014 của TS. Bùi Anh Tuấn, GS. Mardi Dungey, TS. Nguyễn Việt Cường và TS. Phạm Thu Phương sử dụng số liệu Khảo sát Mức sống dân cư năm 2008 đã cho thấy thiên tai làm tăng tỷ lệ nghèo của những người bị ảnh hưởng lên 2.7 điểm phần trăm (từ 18.9% lên 21.6%), và làm tăng bất bình đẳng chi tiêu trong toàn bộ dân số, đo lường bằng hệ số Gini, lên 0.65%6.    Để hình dung rõ hơn về những cú sốc mới có thể khiến cho tình hình bất bình đẳng và nghèo đói ở Việt Nam trở nên trầm trọng hơn như thế nào, chúng ta cần thêm một chiếc kính soi chiếu vào những vùng vẫn còn nghèo lương thực và sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của thiên tai. Trong một nghiên cứu mới đây, TS. Trần Quang Tuyến, Khoa Quốc tế, ĐHQG HN và TS. Vũ Văn Hưởng, trường Đại học Kinh tế, ĐHQH HN, sử dụng dữ liệu khảo sát 2.500 hộ gia đình sáu tỉnh Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, đo lường được sự thiếu hụt thực phẩm trong 12 tháng vừa qua, đo lường sự thiếu hụt thực phẩm giàu protein trong khẩu phần ăn của các hộ gia đình trong bảy ngày gần nhất. Trong 12 tháng gần nhất, chỉ có khoảng 26% hộ gia đình người Kinh/Hoa bị thiếu đói thì tỉ lệ này ở người dân tộc thiểu số là 51%. Trung bình số ngày không có thức ăn giàu protein của người dân tộc thiểu số cao hơn gấp đôi so với người Kinh/Hoa (3,67 so với 1,53 ngày).     “Chúng ta cũng cần nhớ rằng khả năng vươn lên thay đổi vận mệnh của chính mình và của con cái, ở các nhóm khác nhau có sự chênh lệch rất lớn”, TS. Trần Quang Tuyến nhấn mạnh. Cũng trong một công bố khác cách đây hai năm, TS. Trần Quang Tuyến đã tính toán cho thấy, trong cùng một điều kiện kinh tế xã hội tương đồng, thì khả năng vươn lên, chuyển đổi nghề nghiệp của người con trong gia đình có bố là lao động tay chân kém so với người có bố là lao động trí óc tới 17 lần. Nếu đặt trong bối cảnh các cú sốc thiên tai ngày càng nhiều, thì người nghèo càng ít có cơ hội vươn lên.     Tất cả những gì mà TS. Nguyễn Việt Cường và Trần Quang Tuyến tính toán đều là trước năm 2020, khi chúng ta vẫn đang có thành quả tăng trưởng GDP đáng nể suốt từ sau thời kỳ đổi mới, cũng như trước kịch bản mà Báo cáo biến đổi khí hậu của Việt Nam (Climate change in Vietnam: Impacts and adaptation) cho Hội nghị biến đổi khí hậu (COP26) đưa ra. Báo cáo này nhận định biến đổi khí hậu sẽ là một tác nhân kéo tụt tăng trưởng của Việt Nam trong vòng 40 năm tới. Nhiệt độ tăng lên 1oC, Việt Nam sẽ tổn thất khoảng 1.8% GDP, nhiệt độ tăng 1.5oC thì tổn thất 4.5% GDP, nếu không kịp chuẩn bị ứng phó. Đây cũng là lúc chúng ta hoàn toàn đóng lại giai đoạn dân số vàng, vừa không còn được hưởng động lực tăng trưởng từ nguồn lao động giá rẻ dồi dào như trước vừa tăng chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe người cao tuổi lên gấp bốn lần hiện nay.     Đối diện với biến đổi khí hậu, Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào trong số vành đai biển đảo không có khả năng bẻ lái quy luật tự nhiên mà chỉ có thể tối ưu nguồn lực con người mà mình đang có để chung sống thích ứng. “Trong bối cảnh u ám ấy vẫn có thể có lối thoát”, TS. Trần Quang Tuyến nói, “vì rõ ràng, nguồn lực tự nhiên có giới hạn, nên một viễn cảnh còn phụ thuộc tự nhiên còn chịu tác động tiêu cực hơn. Phải giảm lao động trong nông nghiệp, tăng di cư là không tránh khỏi thì người di cư cần phải được chuẩn bị bằng đào tạo kỹ năng, vốn con người, vốn xã hội. Nhà nước có thể chuẩn bị những điều đó được từ bây giờ”. □  —  Chú thích  1 https://www.businessinsider.com/vietnam-drought-economic-slowdown-2016-4  2 https://www.researchgate.net/publication/319153515_Correlation_between_Climate_Change_Impacts_and_Migration_Decisions_in_Vietnamese_Mekong_Delta  3 Nguyen Viet Cuong (2021), “Do weather extremes induce people to move? Evidence from Vietnam”, Economic Analysis and Policy. Elsevier, vol. 69(C), pages 118-141.  4 Con số này ở các nhóm lao động phi nông nghiệp và làm công ăn lương chính thức thấp hơn nhiều (tương ứng 17% và 15%). Hoang, C. V., Tran, T. Q., Nguyen, Y. H. T., & Nguyen, K. D. (2019). Is Land Ownership a Key Factor in the Choice of Livelihood in the Mekong Delta, Vietnam? Human Ecology, 47(5), 681-691. Springer.  5 Arouri, M., Nguyen, C., & Youssef, A. B. (2015). Natural disasters, household welfare, and resilience: evidence from rural Vietnam. World Development. Elsevier, vol. 70(C), pages 59-77.  6 Anh Tuan Bui, Mardi Dungey, Cuong Viet Nguyen and Thu Phuong Pham (2014). The impact of natural disasters on household income, expenditure, poverty and inequality: evidence from Vietnam, Applied Economics. 46:15, 1751-1766.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khoét sâu khoảng cách giữa các quốc gia      Hầu hết các quốc gia nghèo nhất đều nghèo hơn đáng kể vì hiện tượng nóng lên toàn cầu trong khi các nước giàu đều giàu lên.      Một gia đình ở Indonesia ăn cơm khi nước ngập đến chân, căn nhà này đã phải nâng nền lên nhiều lần để tránh lũ. Ảnh: National Geographic.   Đã nghèo càng nghèo hơn     Ảnh hưởng từ Cách mạng Công nghiệp, lượng phát thải khí nhà kính do hoạt động của con người gây ra đã tăng từ mức không đáng kể lên đến hơn 40 tỷ tấn một năm, nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên khoảng 1oC so với thời kỳ tiền công nghiệp. Nhưng dù biến đổi khí hậu diễn ra trên toàn cầu thì không phải nước nào cũng chịu hậu quả như nhau. Đặc biệt, các nước vốn có khí hậu ấm áp hay nhiệt đới càng chịu ảnh hưởng nặng nề khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Các vùng nghèo nhất trên thế giới như châu Phi, Nam Á như Sudan, Angola, Ấn Độ dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu (Việt Nam cũng là một trong 10 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất). Một bài báo năm 2020 của World Bank ước tính biến đổi khí hậu có thể đẩy thêm 68 đến 135 triệu người vào đói nghèo mỗi năm.    “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng hầu hết các quốc gia nghèo nhất đều nghèo hơn đáng kể vì hiện tượng nóng lên toàn cầu”, nhà khoa học khí hậu Noah Diffenbaugh, tác giả chính của nghiên cứu công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) cho biết. “Trong khi đó, phần lớn các quốc gia giàu có đều giàu hơn so với trước đây”.    Các tác giả nhận thấy, kể từ năm 1961 đến năm 2010, hiện tượng nóng lên toàn cầu đã khiến cho thu nhập của mỗi người dân ở các nước nghèo nhất giảm 17 – 30%. Theo ước tính của nhóm nghiên cứu, năm quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng kinh tế nặng nề là Ấn Độ, Sudan, Nigeria, Indonesia, Brazil.    Trong khi đó, khoảng cách giữa nhóm các quốc gia giàu nhất và các quốc gia nghèo nhất hiện đã lớn hơn 25% so với khi không có biến đổi khí hậu. Thậm chí, trong ngắn hạn, một số quốc gia giàu có ở xứ lạnh như Na Uy, Canada, Thụy Điển còn được hưởng lợi về kinh tế lên đến 34%, khi biến đổi khí hậu khiến nhiệt độ ở các quốc gia lạnh này tăng lên mức nhiệt phù hợp để phát triển kinh tế (dù về dài hạn sau này, khi mức nhiệt tăng quá ngưỡng, các quốc gia này rồi cũng sẽ chịu thiệt hại).     Ai gây biến đổi khí hậu nhiều nhất?     Để góp phần giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, “chúng ta” cần giảm mức tiêu thụ và phát thải. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự ấm lên toàn cầu như đã nói ở trên, song, nhóm các quốc gia dễ bị tổn thương nhất thực ra lại đóng góp ít nhất vào sự tích tụ khí thải nhà kính.  Trong khi những nước phát thải nhiều nhất được hưởng mức GDP bình quân đầu người ngày nay cao hơn trung bình khoảng 10% so với mức họ có thể có trong một thế giới không có hiện tượng ấm lên toàn cầu, thì thu nhập ở những nước phát thải thấp nhất đã bị kéo xuống khoảng 25%, trợ lý giáo sư Marshall Burke – đồng tác giả của bài báo trên PNAS cho biết.    Lượng khí thải nhà kính hiện nay chủ yếu tương quan với mức độ giàu có của các quốc gia: theo đó, các nước giàu nhất chỉ chiếm khoảng 16% dân số thế giới, nhưng lại thải ra đến gần 40% lượng phát thải CO2. Trong khi đó, những quốc gia nghèo nhất theo phân loại của World Bank, chiếm đến 60% dân số thế giới, chỉ phát thải chưa đến 15%. Nếu tính theo đầu người, lượng phát thải của một người dân sống ở Mỹ là 20 tấn CO2 tương đương (CO2-eq) – gấp hai lần so với lượng phát thải của một người ở Liên minh châu Âu hoặc ở Trung Quốc, và gấp gần 10 lần so với một người ở Ấn Độ.    Sự chênh lệch giữa các quốc gia này bắt nguồn từ lịch sử: các quốc gia phát triển góp phần gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu nhiều hơn so với tỷ lệ phát thải hiện tại của họ do họ đã đóng góp vào sự tích lũy khí nhà kính trong bầu khí quyển trong một thời gian dài. Chẳng hạn, đóng góp của Mỹ vào lượng khí thải tích lũy là 25%, của Liên minh châu Âu là 22%, Trung Quốc là 13% trong khi Ấn Độ chỉ là 3%.    Các quốc gia dễ bị tổn thương về khí hậu đã nhấn mạnh điểm này trong các cuộc đàm phán quốc tế về khí hậu. Trong các cuộc thảo luận trước Thỏa thuận khí hậu Paris vào năm 2015, các đại biểu Ấn Độ đã thúc giục phải có “bồi thường khí hậu” từ các quốc gia giàu có – họ đáng chịu trách nhiệm về phần lớn lượng khí thải CO2 khiến Trái đất nóng lên trong quá khứ. Và một liên minh các quốc đảo, dẫn đầu là Quần đảo Marshall, đã đấu tranh mạnh mẽ để các quốc gia giàu có hơn, ít bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu hơn, hướng đến mục tiêu giữ cho nhiệt độ ấm lên ở mức 1,5oC vào năm 2100, thay vì mục tiêu 2oC ở phần đầu của cuộc đàm phán.    Chênh lệch phát thải carbon không chỉ diễn ra giữa các quốc gia mà còn ở ngay trong mỗi quốc gia. Chẳng hạn, một báo cáo của tổ chức Oxfam đã chỉ ra rằng, chỉ 10% người giàu nhất đã tạo ra một nửa lượng khí thải carbon trên toàn thế giới, trong khi những người nghèo nhất (chiếm 50% dân số toàn cầu) chỉ đóng góp 10% khí thải carbon.     Chính sách không “tiếp tay” cho bất bình đẳng ?     Nếu không có biện pháp hạn chế và thích ứng với biến đổi khí hậu, hiện tượng này sẽ tiếp tục khuếch đại tác động đối với vấn đề bất bình đẳng, làm suy yếu những nỗ lực phát triển, khiến nhiều người rơi vào cảnh đói nghèo và không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản. Chẳng hạn, nếu mức tăng nhiệt độ toàn cầu là 1,5oC, 245 triệu người rơi vào tình cảnh thiếu nước, còn với mức tăng 2oC, con số này sẽ là 490 triệu người.    Nhu cầu bức thiết hiện nay là cần có các chính sách chuyển đổi nhanh chóng và hiệu quả trong sử dụng năng lượng, giao thông, sản xuất và tiêu thụ thực phẩm cũng như các hàng hóa khác. Nhưng câu hỏi đặt ra là: những chính sách này sẽ được thiết kế như thế nào? Bởi chính những biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng có thể “tiếp tay” cho sự bất bình đẳng, nếu như các chính sách áp đặt quá nặng nề lên các nước nghèo.    Chẳng hạn, do các chính sách này ảnh hưởng đến giá thực phẩm và năng lượng, chúng có thể sẽ làm chậm tiến trình tiếp cận năng lượng và ảnh hưởng đến những người nghèo nhất – những người phải chi phần lớn thu nhập của mình cho các hàng hóa này. Do đó, các biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu cần đi đôi với các giải pháp bù đắp chi phí cho người nghèo và người dễ bị tổn thương ở mỗi quốc gia.    “Chúng tôi nhìn nhận việc giảm thiểu biến đổi khí hậu là điều kiện cần để nâng cao chất lượng cuộc sống một cách bền vững. Nhưng đồng thời, chúng tôi cho rằng, điều cần phải được đặt lên hàng đầu là đảm bảo công bằng trong mọi giai đoạn hoạch định chính sách môi trường. Từ việc lập kế hoạch, phát triển và thực thi chính sách, những nỗ lực giảm phát thải được phân chia một cách công bằng và đảm bảo hướng đến những mục tiêu rộng hơn, chẳng hạn như giảm đói nghèo và bất bình đẳng, tạo ra công ăn việc làm ổn định, nâng cao chất lượng không khí và cải thiện dịch vụ y tế công cộng”, nhóm tác giả của bài viết “Gắn kết vấn đề khí hậu với bất bình đẳng” trên trang của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết.    Do đã phát thải rất nhiều trước đây cũng như có khả năng chi trả cao hơn, các quốc gia giàu có nên mở đường trong việc thực hiện các chính sách khí hậu một cách mạnh mẽ. Việc hỗ trợ tài chính giữa các quốc gia cũng có thể làm giảm gánh nặng hạn chế phát thải cho các nước nghèo hơn và tăng cường sự tham gia vào các nỗ lực giảm biến đổi khí hậu. Một giải pháp khác là tạo ra các quỹ thích ứng có nhiệm vụ đảm bảo chuyển giao công nghệ từ các nước giàu – nơi cho ra đời hầu hết các bằng sáng chế – cho các nước nghèo hơn.    Song song với việc hạn chế phát thải, các chính sách thích ứng cũng phải được thực hiện để làm giảm mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nhóm dân số dễ bị tổn thương nhất. Điều này có nghĩa là chúng ta phải đưa ra những quy tắc điều chỉnh từ việc xây dựng ở các khu vực có nguy cơ, như phân vùng lũ lụt, quyền sử dụng đất và cho đến các tiêu chuẩn xây dựng. Các cộng đồng nghèo nhất cũng phải được cung cấp các dịch vụ y tế tốt hơn và có cơ chế bảo hiểm mới.    Các nhà khoa học lưu ý, để thiết kế các chính sách khí hậu, các nhà quản lý nên nhớ rằng, mỗi cá nhân và mỗi quốc gia có khả năng giảm thiểu phát thải và ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu khác nhau. Nếu không, một chính sách khí hậu tồi sẽ có nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng hiện có.□     Mỹ Hạnh tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến động và kiểm soát COVID – 19: Ý kiến của hai nhà toán học (Phần 1)      Lời tòa soạn: Dịch COVID-19 đã diễn ra hơn một năm rưỡi, người dân của nhiều quốc gia, trong đó bao gồm cả Việt Nam phần nào bắt đầu trải nghiệm hiệu ứng “mệt mỏi vì dịch bệnh” (pandemic fatigue), cảm thấy không còn quyết tâm trong việc chấp hành các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt nữa. Vì vậy, đây có lẽ là thời điểm thích hợp để nhắc lại thời điểm bùng phát dịch bệnh để ta một lần nữa thấy rằng chiến lược phát hiện – ngăn chặn sớm và quan tâm đến hệ thống các cơ sở y tế vẫn hết sức quan trọng.      Eward Jenner, ông tổ của ngành vaccine cấy chủng đậu mùa ở dạng nhẹ cho một cậu bé. Nguồn: regnum.ru    Đại dịch COVID-19 vẫn chưa kết thúc nên có lẽ còn quá sớm để đưa ra kết luận. Tuy nhiên, có lẽ cũng rất kịp thời để chúng ta, những nhà toán học tóm tắt lại những bài học mà chúng ta nên biết và khẩn cấp áp dụng ngay bây giờ. Bởi vậy, câu hỏi của chúng tôi là: Tại sao sự biến động và kiểm soát COVID-19 lại là chủ đề đầy thú vị với các nhà toán học và tại sao để kiểm soát được đại dịch, người ta lại rất cần sự tham gia của họ?     Đầu tiên, chúng tôi sẽ đưa ra một cách tiếp cận “từ dưới lên”, dựa trên tiến trình của các sự kiện từ thời điểm khởi đầu và thay đổi theo thời gian. Chúng xảy ra theo những cách khác nhau ở các quốc gia khác nhau, và mục tiêu của phần đầu tiên là để so sánh những sự thay đổi này giữa một vài quốc gia.   Dù vậy, có một số vấn đề phổ quát mà chúng tôi tách riêng ra để nói, như cách chúng tôi vẫn thường làm trong toán học. Các vấn đề này bao gồm lịch sử của một số đại dịch đã ảnh hưởng như thế nào đến quan điểm phòng dịch của người dân ở một vài quốc gia và sự phát triển của một số công cụ toán học cơ bản. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nói đến một vấn đề tổng quát mà một trong hai tác giả bài viết, đã khẳng định trong ngày 12/3/2020 trong một email gửi tới văn phòng của một cơ quan y tế của Đức:    “Sự mở rộng và biến đổi của COVID-19 ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ phản ánh tình trạng hệ thống y tế của họ. Điều này, ví dụ, là quá rõ ràng trong trường hợp của dịch Ebola”.     Thực ra, chính xác phải là thành tố y tế công cộng trong hệ thống y tế đóng vai trò thiết yếu [trong việc kiểm soát đại dịch].    Phần thứ hai của bài viết sẽ không viết theo hướng “thiên về các quốc gia” mà “thiên về các vấn đề”. Với một vấn đề, chúng tôi sẽ “đi từ trên xuống” về các giải pháp và cách ứng dụng các giải pháp ấy trong những tình huống cụ thể. Chúng tôi sắp xếp nội dung phần này theo các phương pháp toán học được sử dụng trong các giải pháp đó. Đây là một ví dụ đặc biệt cần toán học: phát triển vaccine và chiến lược sử dụng nó mà không bỏ qua nhưng nguyên tắc y đức cơ bản.      Từ dưới lên     Quay trở về quá khứ  Nhân khẩu học vốn được phát triển hàng thế kỉ rất lâu trước khi nó trở thành một lĩnh vực toán học độc lập. Trong một thời gian dài, nó chỉ được coi là một công cụ toán học trong việc nghiên cứu sự phát triển của các bệnh truyền nhiễm. Đây là một ví dụ: Ở Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu, người ta lây nhiễm cho các cá nhân bệnh đậu mùa ở thể nhẹ và nhờ đó mà các cá nhân này đạt được miễn dịch sau đó. Phương pháp này làm cho một số người tử vong, nhưng vào năm 1766, nhà toán học người Thụy Sĩ Daniel Bernoulli sử dụng cách tiếp cận nhân khẩu học để chỉ ra nếu áp dụng phương pháp này cho tất cả mọi người, thực ra nó lại làm tăng tuổi thọ của cả cộng đồng. Ngày nay, việc đánh giá hiệu quả chi phí của các giải pháp y tế công cộng như vậy đã được sử dụng rộng rãi; và nó dựa trên các phương pháp của toán kinh tế.       Trong thời điểm dịch cúm Tây Ban Nha diễn ra, người dân châu Âu cũng đeo khẩu trang giống như chúng ta ngày nay. Nguồn:  Vintage_Space/Alamy    Thế kỉ 19 chứng kiến sự khám phá ra các vi khuẩn là mầm bệnh của rất nhiều bệnh và các nghiên cứu này được thực hiện bởi các phương pháp vi sinh vật học. Các công cụ toán học dùng cho việc theo dõi một đại dịch theo hướng nhân khẩu học mãi đến thể kỉ 20 mới được sử dụng. Lúc đó một vài bác sĩ còn cho rằng mọi đại dịch kết thúc chẳng qua bởi vì cuối cùng cũng không còn đủ người để bị nhiễm bệnh nữa, thật là một tiền đề ngây thơ cho ý tưởng toán học – dịch tễ học về miễn dịch cộng đồng. Tuy nhiên, kể cả một lượng lớn các bài báo khoa học lúc đó về dịch cúm 1918-1919, được đặt tên một cách sai lầm là dịch cúm Tây Ban Nha (thực ra cúm này không bắt nguồn từ Tây Ban Nha mà bắt đầu từ Mỹ – ND), cũng chỉ trao đổi về hai khả năng để dập tắt dịch bệnh: phương pháp điều trị lâm sàng tốt hơn và các đột biến của sinh vật gây bệnh.     Nhìn từ góc độ virus học, cúm Tây Ban Nha là một dạng cực đoan của thứ mà người ta vẫn gọi là cúm mùa. Virus là nguyên nhân của đại dịch này có thể là một trong số rất nhiều loài, chi của nó được ký hiệu bằng A, B, C hoặc D mà mỗi chi có thể có nhiều loài. A là chi nghiêm trọng nhất, nó có các tiểu loài A(HxNy), x = 1,..,18 và y = 1,…11, trong đó x và y biểu diễn các protein trên bề mặt của virus. Chiến lược kiểm soát đại dịch cúm mùa “bình thường” thì ai cũng biết, kể cả người không có chuyên môn: xác định chủng virus vào mùa thu, phát triển vaccine nhanh nhất có thể và tiêm cho những người được cho là có nguy cơ cao. Tuy nhiên, số lượng người bị nhiễm và tử vong bởi cúm mùa có thể cao ngang với số người tử vong bởi một vài đại dịch sẽ được mô tả dưới đây.     Cúm Tây Ban Nha thuộc về tiểu loài A(H1N1). Những tấm ảnh thời kì đó cho thấy con người đeo khẩu trang cũng giống như chúng ta đeo ngày hôm nay. Trong những năm 1957-1958, một sự “rẽ nhánh” của cúm mùa xuất hiện, gọi là cúm châu Á gây ra bởi tiểu loài A(H2N2). Nó bắt nguồn từ Trung Quốc và sau đó trở thành một đại dịch, lây lan qua những nước láng giềng rồi sang Anh và đến Mỹ. Ước tính số ca nhiễm ở khoảng 500 triệu người và số người tử vong vào khoảng 3 triệu. Ban đầu nó cũng kinh khủng như cúm Tây Ban Nha, nhưng về sau vaccine, loại tiền thân của vaccine chống cúm mùa thường niên của chúng ta bây giờ, ra đời.     Cúm Hồng Kông vào năm 1968-1969, xuất hiện do virus A(H3N2) cũng có những đặc điểm tương tự như trên.     Cùng với những đại dịch trên và những dịch bệnh mới xuất hiện, và thậm chí là được chúng truyền động lực, các công cụ toán học mới về y tế công cộng nổi lên vào đầu thế kỉ 20, được dẫn lối bởi một vài nghiên cứu vào cuối thế kỉ thứ 19. Công cụ này có hai loại. Loại thứ nhất là công cụ gọi là “mô hình toán học thống kê”. Mục tiêu của nó là nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố, hay còn gọi là các định thức, tới sức khỏe của một quần thể. Những yếu tố này có thể là như thiếu vệ sinh hay môi trường ô nhiễm. Yếu tố này cũng có thể là một phương thức phòng bệnh hoặc điều trị như tiêm chủng hay một loại thuốc; trong trường hợp này mục đích của nghiên cứu là đánh giá hiệu lực của phương pháp đó. Lập kế hoạch trích mẫu là một loại mô hình toán học thống kê tương tự. Chúng là các phương pháp điều tra mẫu cơ bản đang được dùng rất nhiều trong đại dịch COVID 19 này nhưng không phải lúc nào cũng làm sáng tỏ được vấn đề.       Mô hình mô phỏng tính toán đầu tiên về đường cong dịch tễ của J. Brownlee, 1907. Nguồn: nghiên cứu của các tác giả.     Loại thứ hai được gọi là “mô hình toán học sự phát triển của dịch bệnh” hay ngắn gọn là “mô hình toán học”. Có hai loại mô hình này. Thứ nhất, người ta sẽ dùng cho đường cong đại dịch, chính là tính tổng số ca nhiễm tích lũy đến một thời điểm t nào đó (như một hàm của biến t). Trong trường hợp này, mô hình toán học có vai trò ước tính hoặc dự đoán đường cong này dưới một loạt các giả thiết về tính lây truyền của các đối tượng bị nhiễm. Với mô hình này, có thể thấy ngay cần quan tâm liệu tính lây truyền liệu có phải là một hằng số hay giảm dần theo thời gian. Thứ hai, người ta có thể dùng để xây dựng các mô hình khoanh vùng. Mô hình đầu tiên trên thế giới là cho dịch sởi, được xuất bản vào năm 1889 bởi P.D. En’ko. Vào khoảng năm 1900, các mô hình khoanh vùng cho cho sốt rét ra đời. Và vào những năm 1920, người ta định nghĩa và nghiên cứu sâu sắc về các mô hình mới cho sự phát triển của dịch sởi trong một quần thể đóng (một quần thể hoàn toàn không có sự di dân). Các mô hình này về sau có tầm ảnh hưởng lớn bởi những đặc trưng cơ bản của nó về sau xuấn hiện trở lại trong nhiều mô hình toán học liên quan đến dịch bệnh trong các bối cảnh khác hoặc các bối cảnh phức tạp hơn.     Những công cụ nói trên đã có rất nhiều ứng dụng. Xử lý những dịch bệnh lớn theo phương pháp toán học không còn là vấn đề của riêng môn nhân khẩu học nữa, mặc dù nó vẫn là một công cụ chính trong việc đánh giá số ca nhiễm và số ca tử vong. Các mô hình toán thống kê được sử dụng để đánh giá hiệu lực của các loại thuốc chống virus, như chống nhiễm HIV, và hiệu lực của vô vàn các vaccine như các vaccine phòng ngừa các loại cúm. Mô hình toán học liên quan đến dịch bệnh được dùng trong cả việc lập kế hoạch để tiêu diệt dịch đậu mùa, bại liệt, sởi và có lẽ còn nhiều dịch bệnh khác. Lên kế hoạch cho chiến lược tiêm chủng sẽ cần cả mô hình toán thống kê và mô hình toán học.     Sự phát triển và tiến bộ xã hội có lẽ khiến chúng ta đều phần nào tự mãn về năng lực đối phó với dịch bệnh của mình. Nhưng rồi trong giai đoạn 2002 đến 2019, một vài sự kiện diễn ra đã lật lại niềm tin đó và gợi lại những kí ức về những đại dịch mà chúng ta không thể dập tắt trước đây.      Những sự kiện bất ngờ 2002-2018     Vào tháng 11/2002, dịch SARS đầu tiên (Hội chứng suy hô hấp) bùng phát. Đó là căn bệnh lây từ động vật sang người bởi một virus tên là SARS-CoV-1, một chủng của loài SARS-CoV. Nó được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc và chưa từng lây lan nhiều bên ngoài các quốc gia láng giềng và Canada. Vào tháng 7/2003, dịch bệnh này được tuyên bố là đã hoàn toàn bị tiêu diệt sau khi gây ra 8.096 ca bệnh và 774 người tử vong.     Tương tự, bệnh Suy hô hấp Trung Đông (MERS) gây ra bởi virus corona MERS-CoV, dẫn đến khoảng 2500 ca bệnh và 870 người tử vong từ năm 2012-2020. Dịch bệnh này tập trung ở Ả Rập Saudi và xuất hiện ở một mức nào đó tại Hàn Quốc, với các ca bệnh xuất hiện chủ yếu trong giai đoạn 2014-2015. Động vật truyền bệnh đa số là lạc đà, bệnh này còn được gọi là cúm lạc đà.     Hơn thế, một dịch cúm khác xâm nhập vào thế giới của chúng ta có nhiều đặc điểm giống với dịch cúm Tây Ban Nha trước kia. Mầm bệnh là một chủng mới gọi là A(H1N1)09 của loài virus cúm H1N1. Nguồn gốc của nó vẫn còn gây tranh cãi. Một giả thuyết cho rằng, động vật truyền bệnh có thể là lợn, nó lây cho một người ở trang trại lợn Mexico vào khoảng tháng một năm 2009. Bởi vậy nó còn được gọi là cúm lợn hay cúm Mexico. Nó lây lan từ Bắc Mỹ sang toàn thế giới và được tuyên bố là “biến mất” (extinguished) vào tháng 8/2010. Ước tính số ca nhiễm và tử vong là lớn khủng khiếp, nhưng có vẻ là số ca nhiễm nhiều hơn và ít người tử vong hơn so với cúm Tây Ban Nha. Có nhiều cáo buộc với Tổ chức Y tế Thế giới liên quan đến vaccine chống lại cúm lợn (một trong số đó là WHO không công khai khả năng xung đột lợi ích giữa các nhà khoa học của mình và công ty sản xuất vaccine phòng bệnh này).   Cuối cùng, một loại cúm khác lây từ động vật sang người, với cái tên khá nổi tiếng là cúm gia cầm, hay còn có tên khoa học là cúm gia cầm có khả năng gây bệnh cao (HPAI). Mầm bệnh là virus cúm A(H5N1). Người ta biết đến nó khá lâu trước đây nhưng đỉnh điểm là vào những năm từ 2013-2017. Liệu virus này có lây truyền qua không khí từ gà sang người hay không vẫn còn đang được tranh cãi rất gay gắt bởi những hậu quả kinh tế nghiêm trọng nó có thể mang lại. Cúm gia cầm lan truyền nhanh chóng trên khắp thế giới nhưng số người bị nhiễm vẫn rất nhỏ, chỉ khoảng 70 người.       Trong số các quốc gia có chính sách như nhau với dịch COVID-19, Hy Lạp có số người tử vong cao hơn, lí do là bởi hệ thống y tế nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ đợt khủng hoảng nợ vào những năm 2010. Nguồn: AP Photo/Thanassis Stavrakis    Bên cạnh một loạt các dạng cúm và các dịch bệnh gây ra bởi virus corona SARS-CoV-1, SARS-CoV-2 hay MERS-CoV, còn những dịch bệnh khác nữa. Chúng ta nên so sánh nó với những đại dịch đã nói ở trên bằng các thước đo của Toán học. Ở đây tôi muốn nói đến dịch Ebola. Sự bùng phát lớn nhất của Ebola nằm ở Tây Phi từ năm 2013 đến 2016, gây ra 28,646 ca nhiễm và 11,323 người tử vong. Có sự khác biệt căn bản giữa một bên là bệnh cúm hay SARS-CoV-1 hay SARS-CoV-2 và bên kia là Ebola, dẫn đến mô hình toán học của hai dịch bệnh này là khác nhau. Người mang mầm bệnh cúm hay virus corona có thể truyền cho người khác lâu trước khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, nghĩa là lâu trước khi thời kì ủ bệnh kết thúc. Một người bị nhiễm Ebola chỉ trở thành nguồn lây nhiễm khi kết thúc thời gian ủ bệnh. Sau đó người này có thể ngay lập tức bị cách li cùng với những người cuối cùng họ tiếp xúc gần để ngăn cản sự lây nhiễm lan ra rộng hơn hơn, nếu có cơ sở y tế ở gần đó. Bởi vậy, Ebola không lan sang các quốc gia có mạng lưới y tế dày đặc, nhưng nó khiến các quốc gia không có hệ thống y tế như vậy phải lao đao. Chiến lược của WHO để kiểm soát dịch bệnh lúc đó là sai lầm. Họ khăng khăng nhắm tới thuốc và vaccine (mà mãi đến tháng 12/2019 mới ra đời) mà bỏ quên việc chăm sóc y tế cơ bản. Trong khi đó, mục tiêu hữu ích nhất lúc đó là nhanh chóng đào tạo các cán bộ y tế ở làng xã và các “y sĩ nghiệp dư” như nhân loại đã từng làm hàng thập kỉ trước.     Nhìn vào một vài quốc gia     Chỉ một vài quốc gia rút ra những kinh nghiệm trong 18 năm vừa rồi để phòng xa cho sự bùng phát rất có khả năng diễn ra của một dịch bệnh mới. Một số khác thì chỉ đến khi những dấu hiệu đầu tiên của COVID-19 xuất hiện mới có những giải pháp đúng đắn, và rất nhiều quốc gia thì bắt đầu rục rịch chuẩn bị khi dịch đã gần đạt đến cao trào.       Chỉ một vài quốc gia rút ra những kinh nghiệm trong 18 năm vừa rồi để phòng xa cho sự bùng phát rất có khả năng diễn ra của một dịch bệnh mới      Chúng tôi sẽ liệt kê một vài ví dụ. Để cho đơn giản, chúng tôi sẽ luôn luôn mô tả kết quả của chiến lược một quốc gia bằng cách đưa ra số ca nhiễm tích lũy và số người tử vong đến ngày 1/6/2020.     Chúng ta sẽ bắt đầu với những nước đã lên kế hoạch từ sớm.    Đài Loan: Vào năm 2004, một năm sau khi bùng phát dịch SARS, chính phủ đã thành lập Trung tâm Chỉ huy Y tế Quốc gia (NHCC) để chuẩn bị cho toàn quốc đối phó với một dịch bệnh mới có thể xảy ra. Từ năm 2017 trở đi, đứng đầu cơ quan này là Bộ trưởng Bộ Y tế Chen Shih-chung nổi tiếng, người học ngành nha khoa ở Đại học Y khoa Đài Bắc. Phó Tổng thống Đài Loan từ năm 2016 – 2020, Chen Chien-jen , từng là Bộ trưởng Bộ Y tế từ năm 2003 – 2005 sau khi học về di truyền, y tế công cộng và dịch tễ học tại Đại học Quốc gia Đài Loan, Đại học John Hopkins ở Mỹ rồi làm nghiên cứu. Bởi vậy, những quyết định kiểm soát dịch COVID-19 được đưa ra bởi những chính trị gia có chuyên môn về những vấn đề y tế, bao gồm cả y tế công cộng.     Đài Loan có 23 triệu dân và rất nhiều trong số họ đến và trở về từ Trung Quốc. Kể từ ngày 31/12/2019, khi WHO thông báo về dịch bệnh ở Vũ Hán, tất cả các chuyến bay từ đây đều được kiểm tra, sau đó là kiểm soát tất cả hành khách đến từ những nơi khác. Một “Bảng hành động” được đưa ra trong giai đoạn từ ngày 20/1 – 24/2/2020, liệt kê 124 giải pháp cần thực hiện. Công chúng hằng ngày được cập nhật thông tin rõ ràng về dịch bệnh trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Truy vết tiếp xúc, tức là việc theo dõi về những người có triệu chứng, những ca nhiễm và tất cả những mối quan hệ của họ được thiết lập trên thẻ bảo hiểm sức khỏe điện tử của tất cả mọi người. Xét nghiệm virus PCR luôn sẵn sàng và khu cách li được tổ chức rất tốt. Vào cuối tháng một, nước này đã có quy định đeo khẩu trang và nguồn cung khẩu trang cũng đã rất sẵn sàng.     Với sự chuẩn bị như vậy, đến 1/6 có 442 ca nhiễm ở Đài Loan và 7 ca tử vong.     Việt Nam: Chiến lược của Việt Nam tương tự như Đài Loan ở hầu hết tất cả các mặt, trừ truy vết tiếp xúc. Ủy ban phòng chống dịch bệnh COVID-19 được thiết lập trong Bộ Y tế. Họ ngay lập tức biến kế hoạch thành hành động vào 23/1 khi những ca nhiễm đầu tiên trở về tại sân bay, trong đó có người trở về từ Anh. Tất cả các trường học đều đóng cửa vào ngày 25/1 và kể từ ngày 1/2, tất cả mọi người tới Việt Nam đều phải trải qua hai tuần cách li.     Cũng có những biện pháp được siết chặt hoặc nới lỏng tùy theo sự tiến triển của dịch bệnh, chẳng hạn như thời gian cách li hay là việc đeo khẩu trang. Bộ Y tế cũng đưa thông tin chính xác và rõ ràng tới tất cả người dân trên tất cả phương tiện, bao gồm cả tin nhắn điện thoại. Ngoài ra, còn có hệ thống thông tin được “cá nhân hóa” tới từng người dân nhờ vào mạng lưới tổ dân quân tự vệ. Những dân quân tự vệ này xác định ba nhóm người: F0 là người bị nhiễm bệnh đã được công bố, F1 là những người bị nghi nhiễm hoặc có tiếp xúc với người bị nhiễm. F2: là những người đã tiếp xúc với F1. Mỗi người phải tự theo dõi xem mình thuộc nhóm nào. Và các dân quân tự vệ này sẽ in ra thông tin hướng dẫn cho từng người, phụ thuộc vào việc họ thuộc nhóm đối tượng nào, chẳng hạn như là hướng dẫn họ đi xét nghiệm. Chỉ duy nhất xét nghiệm PCR được công nhận.     Trái ngược với Đài Loan, truy vết tiếp xúc của Đài Loan không sử dụng các công cụ điện tử mà dựa vào chính bản thân người dân, được chỉ dẫn bởi lực lượng dân quân tự vệ, cùng với một số lượng lớn những cán bộ y tế được đào tạo bài bản, ví dụ như là các giảng viên đại học.     Vào cuối năm 2019, dân số Việt Nam là 98.257.747. Tính đến ngày 1/6/2020, Việt Nam có 328 ca nhiễm và 0 có ca tử vong. Những dữ liệu này được thu thập bởi bộ phận nhân khẩu học của Tổng cục Thống kê và qua hệ thống thông tin y tế, đáng tin cậy.     Khái quát các phương án kiểm soát dịch của Đài Loan và Việt Nam cho chúng ta thấy ba thành phần chính trong khía cạnh dịch tễ của họ: truy vết tiếp xúc, phong tỏa, giãn cách cá nhân và xã hội theo nghĩa rộng, bao gồm cả cách li y tế và kiểm soát biên giới, và đeo khẩu trang. Chúng ta có thể gọi chiến lược này là “chiến lược phát hiện – ngăn chặn”. Ngoài ra, phía y khoa – lâm sàng cũng được quan tâm, từ các cơ sở y tế cơ bản như các trạm y tế cho đến các bệnh viện lớn. Việc duy trì những điều này có ảnh hưởng quyết định tới số người tử vong bởi SARS-CoV-2.    Trái ngược với Đài Loan và Việt Nam, có vẻ như tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều không chuẩn bị gì vào thời điểm tháng 12/2019. Chỉ một số ít thực hiện các giải pháp tương đối có hệ thống và nghiêm ngặt trên toàn bộ dân số ngay khi những ca đầu tiên được công bố. Điều này đúng ví dụ như với Trung Quốc vào tháng 1/2020, Slovakia và Hy Lạp vào 27-28/2, với Úc vào 10/3 và Đan Mạch vào 12/3. Đan Mạch cũng thực hiện một chiến lược khác, dựa trên việc truy vết tiếp xúc mạnh mẽ và cách li nhưng mãi đến tháng 9/2020 mới thực hiện.     Dẫu cho kết quả thế nào, thì sự tăng giảm số ca đầy kịch tính ở Trung Quốc ai cũng biết. Ở Đan Mạch, với dân số khoảng 6 triệu người, có khoảng 12 nghìn ca được công bố và 593 người tử vong, tương tự như vậy ở Úc với dân số là 8.86 triệu người, có khoảng 17 nghìn ca và 672 người tử vong.   So sánh giữa Slovakia, một quốc gia với số dân là 5.5 triệu người với Hy Lạp, với 10.72 triệu người, kết quả rất đáng kinh ngạc bởi nó cho thấy rõ vai trò của bác sĩ và bệnh viện. Ở Slovakia, có 1523 ca nhiễm và 28 người tử vong. Trong khi đó con số ở Hy Lạp là 3058 ca và 183. Số ca tử vong ở Hy Lạp cao hơn rất nhiều dù họ hành động ở thời điểm tương đương và họ có tỉ lệ số ca/số dân gần như giống nhau, không còn nghi ngờ gì, là tình cảnh quá tải trong hệ thống y khoa – lâm sàng, là hậu quả từ cuộc khủng hoảng nợ từ năm 2010 trở đi.     Tiếp theo, chúng ta chuyển sang nhóm các nước phản ứng chậm và thiếu tính hệ thống, sử dụng nhiều biện pháp không có cơ sở và chỉ áp dụng trên một bộ phận dân số. Đây là một số trong họ với dân số hàng triệu người cùng số ca nhiễm tích lũy và số ca tử vong:     Bỉ: 11.46 triệu người; 59,348 ca nhiễm; 9,606 ca tử vong.    Tây Ban Nha: 46.94 triệu người; 289,046 ca nhiễm; 27,136 ca tử vong.    Ý: 60.36 triệu người; 235,561 ca nhiễm, 34,045 ca tử vong.    Pháp: 66.99 triệu người; 154,591 ca nhiễm, 20,296 ca tử vong.    Đức: 83.02 triệu người; 187,000 ca nhiễm; 8,831 ca tử vong.    Số ca tử vong khá thấp ở Đức chủ yếu phản ánh hệ thống y khoa – lâm sàng đủ tốt để thích ứng với đại dịch. Còn ngược lại là trường hợp ở Pháp. Ở đó, có khoảng 100 nghìn giường bệnh đã bị dẹp trong giai đoạn từ 1993 đến 2018. Vào ngày 17/3, Pháp đột ngột đưa ra một quyết định phong tỏa nghiêm ngặt, không dựa trên những lí giải dịch tễ.    Cuối cùng là những quốc gia quyết định không làm gì cả, ít nhất là trong một khoảng thời gian dài. Quan điểm hay lí lẽ mà họ đưa ra, trên tất cả, là một niềm tin vào miễn dịch cộng đồng, theo đó, đại dịch sẽ tự ngừng lại. Đó là chiến lược của Thụy Điển, một đất nước có 10,23 triệu dân, dẫn đến 37.814 ca nhiễm và 4.403 người tử vong. Ở Anh thì, trong 66,65 triệu dân số, khoảng 290.000 ca nhiễm và 41.128 ca tử vong và ở Mỹ, con số này là 328,2 triệu, 2,04 triệu và 115.000 ca tử vong.     Tổng quan về các chiến lược khẳng định rằng, như đã nói trong phần giới thiệu, kết cục xảy ra như thế nào quả thực phụ thuộc rất lớn vào tình trạng y tế công cộng. Cũng cần lưu ý thêm rằng ngày nay, trong mọi ngôn ngữ trên thế giới, khái niệm “y tế công cộng” được định nghĩa bởi chính từ này hoặc gần như vậy. Chẳng hạn, trong tiếng Đan Mạch, nó là “folkesundhed”, nghĩa là “sức khỏe của người dân”.□   (còn tiếp)     Hảo Linh dịch  —-  Chú thích: Các số liệu trong bài tính đến 1/6/2020.    Author                Bernhelm Booß-Bavnbek – Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Biến động và kiểm soát COVID: Ý kiến của hai nhà toán học (phần 2)      Trong phần thứ hai này, chúng tôi sẽ phác thảo những nguyên tắc khoa học, cụ thể là toán học trong nghiên cứu các bước tiến triển của một dịch bệnh. Bao gồm: Sự khám phá ra virus mới, đặc tính cơ bản của nó, xét nghiệm sự tồn tại của virus trong cơ thể người; Dữ liệu về sự phát triển của Covid-19 trong một quần thể dân cư; Nỗ lực phân tích toán học và dự báo sự phát triển đó sử dụng đường cong đại dịch, hay cách mô tả đại dịch tương tự bằng mô hình ngăn chặn, cách để chấm dứt một đại dịch bằng vaccine và cuối cùng là chúng ta có thể học được gì và nên làm gì?    Virus SARS-CoV-2 mới  Sau sự bùng phát của dịch bệnh viêm phổi không rõ nguyên nhân vào năm 2019 từ Vũ Hán, trong tháng 1/2020, các nhà khoa học Trung Quốc đã xác định được một virus mới là nguồn gốc dịch bệnh. Họ theo một quy trình thông thường, đó là, chỉ ra 26 kháng nguyên thường gặp gây bệnh đường hô hấp trong các bệnh nhân đó. Và họ phát hiện ra không có kháng nguyên nào trong số đó ở mức độ đủ lớn để gây bệnh. Họ nghi ngờ SARS-CoV nhưng cũng không tìm thấy dấu vết của virus này. Sau đó họ xem xét tất cả các loại vi khuẩn tương tự (sự trùng khớp hệ gene ở một mức nhất định) với SARS-CoV và phát hiện ra một loại virus xuất hiện một lượng lớn trong mẫu bệnh phẩm lấy từ đường hô hấp của các bệnh nhân. Sử dụng kính hiển vi điện tử và các phân tích dạng thức toán học (mathematical pattern analysis) cho thấy nó cùng một loài với SARS-CoV-1 và MERS-CoV; nên họ đặt tên nó là SARS-CoV-2.   Bắt đầu từ nghiên cứu của Trung Quốc, xuất hiện rất nhiều công bố về đặc trưng của kháng nguyên này và cách thức hoạt động của nó. Ở khía cạnh virus học mà nói, việc giải trình tự gene có ý nghĩa quyết định. Virus này được cho là có nguồn gốc từ động vật nhưng nó nhanh chóng thiết lập cách thức lây nhiễm từ người sang người. Mang đặc trưng kết hợp của SARS và cúm mùa, thể hiện ở việc chủ yếu lưu trú trong hệ hô hấp của bệnh nhân và lây lan nhanh, khiến COVID-19, căn bệnh do SARS-CoV-2 gây ra đặc biệt nguy hiểm.     Xét nghiệm ở TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Trương Thanh Tùng  Về khía cạnh lâm sàng, nhiều giai đoạn tiến triển của bệnh đã được xác định: Thời gian ủ bệnh thông thường là 5,2 ngày, thời gian để người bệnh có khả năng lây cho người khác trung bình là 4,6 ngày, nghĩa là, giai đoạn lây nhiễm thực ra bắt đầu trước cả khi người bệnh có những biểu hiện triệu chứng. Khoảng thời gian lây nhiễm là 6 ngày đối với những ca bệnh nhẹ hoặc không có triệu chứng còn với những ca nặng hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thời gian này trung bình là 22 ngày và kết thúc bằng việc người bệnh hồi phục hoặc tử vong.   Có rất nhiều giải pháp kiểm soát dịch bệnh dựa trên đặc điểm virus học và đặc điểm lâm sàng của SARS-CoV-2 sẽ được trình bày ở những phần tiếp theo. Những nghiên cứu này vẫn đang tiếp diễn và thậm chí nghiên cứu sau có thể phản bác lại nghiên cứu trước. Tuy nhiên, trong bài báo này, chúng tôi sẽ chỉ nói về yếu tố cơ bản nhất làm nên một giải pháp được thiết kế tốt, đó là xét nghiệm lây nhiễm.   Bước đầu tiên của một chương trình xét nghiệm là xác định quần thể đích. Chúng ta sẽ xét nghiệm ai? Những người đã tiếp xúc với các trường hợp bị nhiễm bệnh? Hay với những người kêu ca về những triệu chứng của cơ thể mình giống người bị nhiễm COVID-19? Hay tất cả mọi người đến từ vùng có dịch?   Tiếp theo, mục đích của việc xét nghiệm là gì? Để xác định sự có mặt của virus hay một loại kháng thể nào đó trong cơ thể người được xét nghiệm? Dựa trên mục tiêu xét nghiệm, ta có loại xét nghiệm virus và xét nghiệm huyết thanh. Xét nghiệm virus thông thường gọi là xét nghiệm PCR (xét nghiệm chuỗi phản ứng Polymerase). Hàng chục xét nghiệm huyết thanh với đủ loại chất lượng cũng đang được phát triển và thậm chí còn được thực hành rộng rãi ở một số nước. Chỉ ra các đặc điểm của một loại xét nghiệm dựa trên quần thể đích và mục tiêu xét nghiệm là vấn đề kinh điển của ngành dịch lễ học lâm sàng.   Trở về với vai trò của xét nghiệm trong các chiến lược kiểm soát dịch bệnh, chúng tôi chỉ muốn nói rằng ở các quốc gia bất kể giàu nghèo với các cán bộ y tế công cộng thiếu cẩn trọng, việc lựa chọn quần thể xét nghiệm thường được quyết định bởi sự thiếu hụt kit xét nghiệm và bởi lợi ích nhóm (những cơ quan, tổ chức muốn vơ vét kit xét nghiệm cho mình).  Nhân khẩu học: Dịch tễ học mô tả  Đây là thống kê y khoa kinh điển, dùng để biểu diễn một dịch bệnh cụ thể bằng số ca nhiễm và số người tử vong cùng với dữ liệu về thời gian, địa điểm và vài dữ liệu đi kèm như giới tính, tuổi và đôi khi cả nghề nghiệp của những ca bệnh.     Biểu đồ cho thấy số ca nhiễm và số người mất vượt mức tại 16 quốc gia trong những ngày phong tỏa. Nguồn: Financial Times.  Về mặt nguyên tắc, các phương pháp tìm số người nhiễm bệnh và số người tử vong do COVID-19 là giống như tất cả các dịch bệnh khác. Và có sự chênh lệch rất lớn giữa cách tính toán các quốc gia. Cả việc chẩn đoán ca bệnh lẫn cách mô tả nguyên nhân tử vong đều chỉ mang tính chính xác tương đối hay nói cách khác là hầu như không đáng tin cậy. Cụ thể là, việc đưa ra chẩn đoán chính xác cho một người dựa trên mô tả của họ về tình trạng sức khỏe phụ thuộc rất nhiều vào cách truy vết quốc quốc gia đó và trình độ của hệ thống y tế. Một khó khăn khác nữa đó là có nhiều bệnh nhân mắc SARS-CoV-2 nhưng không thể hiện bất kì một triệu chứng nào.  Chúng tôi đã nói về Việt Nam ở phần trước, nơi đã sử dụng hệ thống thông tin sức khỏe và nhân khẩu học thông thường. Và trong dữ liệu của họ bao gồm cả những trường hợp không có triệu chứng được phát hiện nhờ truy vết tiếp xúc. Nhiều quốc gia khác sử dụng dữ liệu về số ca nhiễm và tử vong từ “hệ thống báo cáo y tế”. Những hệ thống như vậy một phần nào đó dựa trên phương pháp lấy mẫu từ nhiều nguồn, như từ các bệnh viện và các trạm y tế. Ở Đức, Viện Robert Koch, viện trung ương chuyên về các bệnh truyền nhiễm, sẽ báo cáo các dữ liệu về COVID-19. Ở Mỹ, Đại học Johns Hopkins đóng vai trò tương tự. Có cả các quốc gia khác sử dụng dữ liệu từ các văn phòng bảo hiểm y tế.   Tuy nhiên, rất nhiều quốc gia không có hệ thống thông tin y tế hay hệ thống báo cáo y tế, hoặc có thì họ không dùng cho COVID-19. Một loạt các phương pháp thay thế được áp dụng. Chẳng hạn, Pháp chỉ đếm các trường hợp bị nhiễm trong bệnh viện và các trường hợp tử vong trong bệnh viện hoặc trong nhà dưỡng lão có kết nối với hệ thống y tế.   Chúng ta có thể nói rằng dữ liệu về số ca nhiễm và dữ liệu về số ca tử vong của COVID-19 trong nhiều công bố ở thời kì đầu dịch bệnh là không đáng tin cậy trừ một số rất ít các trường hợp ngoại lệ. Hơn nữa là họ cũng xuất bản nguồn gốc của các dữ liệu đó.   Một ý tưởng thay thế khác khá quan trọng là so sánh tình trạng hiện tại với những năm trước đó. Chúng ta tạm giả thiết rằng, tần suất xuất hiện số ca bệnh ngày càng lớn, sẽ dẫn đến số người mất ở quốc gia đó tăng lên, và con số người mất tăng thêm này chính là do Covid-19. Như đã chỉ ra ở trên về những khó khăn trong việc chẩn đoán, ý tưởng này chỉ áp dụng cho việc đếm số ca tử vong chứ khó mà có thể đếm các trường hợp nhiễm COVID-19 khác. Như vậy, trong phương pháp tính “số ca tử vong vượt mức”, chúng ta chỉ tính số người mất vì bất cứ lí do nào của năm diễn ra dịch bệnh nhiều hơn bao nhiêu số người mất cùng thời điểm trong quá khứ. Đối với Anh chẳng hạn, tính đến 1/6/2020, Cơ quan Dịch vụ Y tế Quốc gia của nước này đưa ra con số 41,128 người tử vong vì COVID-19. Trong khi Cơ quan Thống kê Quốc gia của nước này thì tính được số người mất ở thời điểm đó nhiều hơn 62,000 người cùng kì năm trước!  Cuối cùng, chúng tôi muốn giới thiệu một ý tưởng thú vị khác dựa trên hình thức cổ điển nhất của một mô hình thống kê toán học. Biểu đồ trên tờ Financial Times cho thấy ở mỗi trong 16 quốc gia được chọn, các điểm trên biểu đồ thể hiện mối tương quan lần lượt giữa số lượng ca nhiễm trên một triệu dân và số người mất vượt mức cùng thời điểm trong những ngày phong tỏa. Chỉ cần nhìn qua thì chúng ta cũng thấy là nó tỉ lệ thuận với nhau. Một phân tích tương quan đơn giản dựa trên biểu đồ như vậy cũng cho phép chúng ta từ giá trị này có thể tính được giá trị còn lại ở bất cứ quốc gia nào.  Nhân khẩu học cao cấp  Khái niệm này trong nhiều trường hợp vượt ra ngoài thống kê y tế cổ điển, và tất cả các trường hợp đó đều liên quan đến COVID-19. Đầu tiên, người ta thực hiện các điều tra lấy mẫu thay vì sử dụng dữ liệu của toàn bộ “quần thể đích”. Các điều tra này, ví dụ, được dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội lên tiến triển của nhiều khía cạnh của dịch bệnh. Đặc biệt là các yếu tố mang tính chất nguyên nhân – kết quả được nghiên cứu rất kĩ lưỡng trong một vài quốc gia. Thứ hai, nhiều loại dữ liệu về ca nhiễm và các ca tử vong sẽ được thu thập hơn, chẳng hạn như là tỉ lệ nhiễm và tỉ lệ tử vong theo nhóm tuổi. Thứ ba, các bộ dữ liệu không những được công nhận và có thể xuất bản, mà có thể được biến đổi và lý giải theo nhiều cách khác nhau. Để làm được điều đó, dữ liệu phải trải qua một quy trình chuẩn hóa (standardization). Một ví dụ tưởng tượng là tỉ lệ tử vong về COVID-19 ở Đan Mạch, nếu Đan Mạch chia các nhóm tuổi giống như Việt Nam thì trong mỗi nhóm tuổi, tỉ lệ này ở hai nước phải giống nhau.   Ở phần dưới đây, chúng tôi sẽ nhắc đến mô hình thống kê toán học như một công cụ toán học cơ bản để phát triển phương pháp phòng ngừa COVID-19. Với sự giúp đỡ của công cụ này, một người có thể nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều yếu tố lên vài kết quả của một biến số E đáng quan tâm nào đó trong một thử nghiệm lâm sàng. Ở đây, khi xem xét ảnh hưởng của yếu tố này, cần nhớ đến việc kiểm soát một yếu tố khác, cũng có thể gây nhiễu hành động của biến E. Có vẻ như một mặt, hầu hết những nhà nhân khẩu học và mặt khác là phần lớn các nhà dịch tễ học lâm sàng, quên mất rằng quy trình toán học của chuẩn hóa cũng giống như kiểm soát một yếu tố gây nhiễu. Tuy nhiên, một nhà toán học như tôi không ngạc nhiên về điều đó!  Mô hình đường cong dịch tễ  Giả thiết C là một dịch bệnh, V là một vùng địa lý và t0 là thời điểm xuất hiện ca nhiễm đầu tiên của C tại V, và hàm f(t) với t ≥ 0 số ca nhiễm được báo cáo và quan sát của C tại V trước hoặc tại thời điểm t nhất định. Thì f được gọi là đường cong đại dịch của C tại V. Đo f(t) theo thời gian đều liên quan đến những nhánh của nhân khẩu học. Quá trình này bởi vậy phải đối mặt với tất cả những bất cập sẽ được nói sau đây.   Tìm hiểu các tính chất của f các khu vực V khác nhau là mối quan tâm chính của người dân ở một quốc gia bị tấn công bởi C. Hiểu biết đó cũng thiết yếu đối với các cơ quan y tế muốn kiểm soát C. Càng nhiều thông tin càng tốt. Hiện chúng ta có thể biết được thêm cách thức lây bệnh của C như thế nào bằng cách quan sát hàm f(t)? Cụ thể hơn, có cách nào dự báo được những đặc điểm trong sự tiến triển của C ở tương lai, sau khi quan sát các giá trị của f(t) qua một thời gian nhất định?     Số ca tử vong do dịch bệnh theo chiến lược “không làm gì” của Neil Ferguson, được vẽ lại dưới sự cho phép  của Khoa Y tế công cộng, Đại học Hoàng gia London.  Câu trả lời cho những câu hỏi này nói chung là dựa vào việc mô hình hóa f, nghĩa là phải đưa ra một vài giả thiết về hình dáng của mô hình này và ước tính một vài biến số trong đó. Rất nhiều công bố khoa học đã đề cập đến vấn đề này. Một vài trong số đó sử dụng các phương pháp của toán kinh tế.  Chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến một ứng dụng, gọi là hệ số lây nhiễm cơ bản R0. Nó xuất hiện liên tục trong các công bố nổi tiếng. Để định nghĩa nó, hãy cùng nhìn vào một đối tượng s bị nhiễm bệnh ở thời điểm t* ≥ t0. Hàm µ(s, t*) là số lượng tất cả những người khác bị lây bệnh từ s sau thời gian t* bao gồm cả nhiễm vòng thứ hai và vòng thứ ba. R0 là trung bình µ(s, t*) của tất cả các s. Bởi vậy, nó phụ thuộc vào t*. T* chính xác là điều mà nhiều người quan tâm: nếu giá trị của R0 nhỏ hơn 1 thì nghĩa là sau thời gian t* C sẽ bị biến mất. Trong trưởng hợp C=Covid-19, ngay từ đầu R0 được đưa ra đã là 5.7, nghĩa là t* là thời điểm rất gần với khi bùng phát dịch của C.   Mô hình khoanh vùng  Chúng tôi đã đề cập đến nguồn gốc lịch sử của mô hình này trong kì trước. Chúng tôi phân biệt hai dạng mô hình toán học về sự tiến triển của dịch bệnh. Mô hình loại thứ nhất thể hiện diễn biến tạm thời của một số lượng đối tượng nhất định tại một trạng thái nhất định, chẳng hạn trạng thái “bị nhiễm bệnh”. Ngược lại, mô hình khoanh vùng cũng thể hiện những thay đổi của trạng thái đó ở một số thời điểm nhất định nhưng dưới dạng di chuyển của một đối tượng từ vùng này sang vùng khác.   Trong mô hình SIR mà chúng tôi từng đề cập ở kì trước, được sử dụng rất phổ biến vào những năm 1920, đặc biệt đơn giản và đóng vai trò tiền đề cho rất nhiều mô hình khác, đặc biệt là các mô hình của COVID-19. Mô hình này liên quan đến ba vùng: S là susceptible – dễ bị tổn thương, những đối tượng chưa bị nhiễm bệnh, I là infected – đối tượng đã bị nhiễm bệnh và R là removed – loại bỏ, bao gồm những đối đã hồi phục và có miễn dịch hoặc tử vong. Sự dịch chuyển giữa ba vùng này được biểu diễn bằng các phương trình dành cho số lượng của các đối tượng trong S(t), I(t) và R(t) trong thời gian t. Các phương trình này liên quan đến một số biến nhất định như xác suất vùng này chuyển thành vùng kia. Dưới một loạt giả thiết, kết quả của các phương trình cho S, I, R có thể chỉ là biểu thức hoặc con số cụ thể.     TP. HCM những ngày giãn cách xã hội theo chỉ thị 16. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Ứng dụng quan trọng đầu tiên của mô hình này là để ước tính hệ số lây nhiễm R0. Nó có thể được biểu diễn bởi những biến cơ bản.   Thứ hai, S∞ của S(t) với t -> ∞ bắt buộc phải dương, nghĩa là luôn có một số phần nhất định trong dân cư sẽ không bao giờ bị nhiễm. Nó dẫn tới khái niệm miễn dịch cộng đồng, tuy vậy, lại gây ra nhiều lúng túng cho những người tưởng rằng họ hiểu về vấn đề này.   Sau sự bùng nổ của Covid-19, rất nhiều mô hình khoanh vùng được đưa ra và phân tích. Trong các mô hình này, họ phải đưa vào những tham số liên quan đến chiến lược kiểm soát dịch của quốc gia đó. Chẳng hạn như chiến lược “không làm gì cả” hay chiến lược “hạn chế” sẽ bao gồm ít các yếu tố chính xác hơn so với chiến lược “tầm soát – dập dịch”. Trong công bố được thảo luận rất nhiều bởi Neil Ferguson và cộng sự mô tả hình dáng của hàm I, cho thấy số ca nhiễm của chiến lược “không làm gì cả”. Số ca nhiễm từ khi giá trị 0, sẽ tăng dần, đạt đỉnh, giảm xuống và cuối cùng là đạt đến 0 ở thời điểm tvui, điều này hẳn là truyền động lực cho những nước như Anh, Mỹ, Thụy Điển và Brazil thực hiện chiến lược “không làm gì” trong một thời gian quá dài, lờ đi những gì mà Ferguson đã dự báo là có 500 nghìn ca tử vong vì dịch bệnh ở Anh và 2.2 triệu người chết ở Mỹ trước khi dịch bệnh kết thúc ở khoảnh khắc tvui.  Hiện tại, mô hình khoanh vùng thực ra không có vai trò thực tiễn nào cả, lí do chính bởi vì nó chứa quá nhiều các tham số mà ta không biết. Vài tham số như sự lây nhiễm được ước tính với sự hỗ trợ của mô hình đường cong dịch tễ, cũng không phải là một hướng đi thay thế thành công cho lắm.   Những biện pháp phòng ngừa và chữa trị  Cho đến thời điểm hiện tại thì chưa có một biện pháp chữa trị nào chắc chắn. Chỉ có những phương pháp được dùng để chữa trị những khía cạnh không cụ thể của một ca bệnh, như là giảm đau, trợ thở hoặc rút ngắn thời gian hồi phục bằng thuốc kháng sinh. Vì vậy chúng tôi sẽ chỉ nói về các biện pháp phòng ngừa, nghĩa là tiêm chủng.   Mục đích của tiêm chủng một vaccine phòng ngừa các tổn thương về sức khỏe liên quan đến COVID-cũng được xác định tương tự như với các loại bệnh khác. Trước tiên, cần phải xác định quần thể cần tiêm chủng: Chúng ta cần bảo vệ ai? Sau đó, những tổn thương sức khỏe nào chúng ta muốn ngăn ngừa? Chúng ta muốn biện pháp phòng ngừa này có tác dụng bao lâu? Đây là một khía cạnh quan trọng của vaccine, nhưng thường bị bỏ qua khi một vaccine mới được công bố. Chẳng hạn, vaccine sởi sẽ có tác dụng trọn đời với hầu hết các đối tượng. Với COVID-19, có thể các công ty chỉ hướng đến việc phát triển vaccine có tác dụng trong vài tháng, với hi vọng rằng SARS-CoV-2 sẽ biến mất sau đó. Cuối cùng, hiệu lực của vaccine cần phải được xác định, thể hiện tỉ lệ số người trong cộng đồng sẽ được bảo vệ.  Ngày nay, cộng đồng khoa học đều thống nhất một quy trình mà vaccine phòng chống căn bệnh truyền nhiễm nào cũng phải tuân thủ. Điều đó cũng đúng với COVID-19 và bởi vậy chúng tôi sẽ nhắc lại nó ở đây:   Đầu tiên, một hoặc nhiều dự tuyển vaccine được đưa ra. Mỗi dự tuyển đó sẽ phải qua bước “thử nghiệm lâm sàng” để nghiên cứu thêm về những đặc điểm quan trọng của nó. Thử nghiệm lâm sàng bao gồm ba pha, I, II và III. Pha I xem xét chủ yếu là khía cạnh dược học của vaccine chẳng hạn như phản ứng phụ của các mức liều tiêm khác nhau.   Các mô hình toán thống kê đặc biệt quan trọng với pha II và pha III. Pha II nhằm đưa đến những khái niệm ban đầu về hiệu lực của những vaccine được chọn. Bởi vậy, họ sẽ tạo ra một nhóm nhỏ những người thuộc quần thể đích. Ở đây, có hai vấn đề cơ bản sẽ xuất hiện. Vấn đề thứ nhất là xác định đầu ra của biến mà ta quan tâm. Thường thì chỉ có thể nghiên cứu được “tính sinh miễn dịch”- là sự hình thành kháng thể, nhưng chưa phải là khả năng bảo vệ trước dịch bệnh. Đây là một vấn đề đặc biệt phức tạp và nhiều chiều trong trường hợp của Covid-19. Thứ hai, quần thể đích cần phải bảo đảm là bên cạnh những người được tiêm vaccine, cần phải có cả những người không được tiêm vaccine và phơi nhiễm với mầm bệnh. Bởi vì tỉ lệ nhiễm COVID-19 trong dân số của một quốc gia có thể rất nhỏ, nhóm người này có thể sẽ phải trải qua thí nghiệm “thử thách”, có nghĩa là chủ động lây nhiễm cho họ. Họ thường là các tình nguyện viên và nguy cơ tử vong của họ rất nhỏ nếu họ không nằm trong nhóm tuổi mà tỉ lệ tử vong vì COVID-19 cao, như là người già. Đối mặt với vấn đề đạo đức này, Mỹ từng sử dụng tù nhân và đổi lại là rút ngắn hạn tù cho họ. Việt Nam cũng từng gửi mẫu vaccine trước đây của mình sang Mỹ để thử cho Pha II vì hội đồng đạo đức của Việt Nam không chấp nhận bất kì thí nghiệm nào kiểu “thử thách” như vậy.   Thông thường có khi phải trải qua nhiều pha II mới có thể chọn được vaccine tiềm năng để tiếp tục đưa vào thử nghiệm ở pha III. Người ta gọi pha III là thử nghiệm thực địa (field study) theo nghĩa là mẫu đối tượng được lựa chọn mang tính đại diện cho toàn bộ cộng đồng dân cư mà ta quan tâm, chẳng hạn như toàn bộ người dân của một quốc gia trong một độ tuổi nhất định. Đầu ra của biến không phải là tính sinh miễn dịch mà khả năng bảo vệ đối với dịch bệnh ở mức hiệu lực ta mong muốn. Cỡ mẫu thử nghiệm được quyết định trước phụ thuộc vào nhu cầu ước tính hiệu lực. Như đã nói ở trên, quyết định về thời gian thử nghiệm là một yếu tố quan trọng. Nếu ta chỉ cần hiệu lực bảo vệ cao trong hai tuần sau khi tiêm là đủ thì thử nghiệm có thể dừng sau hai tuần; quan niệm này thể hiện rõ việc tiêm chủng chống cúm mùa. Nếu chúng ta hướng đến hiệu lực bảo vệ vaccine kéo dài trong 10 năm sau tiêm chủng, thì thử nghiệm sẽ phải kéo dài 10 năm. Đây là một trong những yếu tố kéo dài thời gian phát triển của vaccine Ebola. Chúng ta hi vọng các công ty không lập lờ điểu này chỉ mong để tung ra thị trường vaccine COVID-19 sớm.   Thảo luận  Đại dịch hoạt động giống như một chiếc kính lúp. Ở một vài nơi, nó thể hiện một xã hội vận hành hiệu quả như thế nào. Ở những nơi khác, nó làm lộ ra những bê bối và sự bất bình đẳng xã hội không thể chấp nhận nổi. Đặc biệt, nó thể hiện tình trạng hệ thống y tế công công của một quốc gia.   Bài báo này của tôi chỉ nhằm mục tiêu mô tả vai trò của toán học trong đại dịch. Như đã nói ở trên, có hai phần của phần thảo luận này. Giờ chúng ta hãy nói đến phần thứ nhất: Chúng ta có thể học hỏi được gì từ đại dịch? Ở kì trước, tôi đã đưa ra khái quát các nhánh của toán học đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích dịch bệnh. Ở kì này tôi đưa ra những ứng dụng phổ biến nhất; cách chúng tôi đặt tên và sắp xếp các công cụ cũng khá là tương ứng với các nhánh của toán học. Bởi vậy, việc phân tích mẫu hình toán học trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và các mô hình toán học trong việc đánh giá chất lượng của chiến lược xét nghiệm; các phương pháp nhân khẩu học trong thu thập dữ liệu; rất nhiều cách để mô hình hóa sự phát triển của dịch bệnh dựa trên toán học và dịch tễ học lâm sàng trong việc phát triển vaccine.       Vai trò thực tiễn của đường cong đại dịch hay mô hình khoanh vùng thực ra hạn chế hơn nhiều so với những gì vẫn được “quảng bá” trên các tạp chí. Nhưng mặt khác, phủ nhận sự tồn tại nền tảng toán học trong chiến lược kiểm soát cũng tồi tệ không kém.      Bằng cách này, bài báo nhằm mục đích làm rõ vai trò của toán học trong việc đưa ra các quyết định. Một mặt, vai trò thực tiễn của đường cong đại dịch hay mô hình khoanh vùng thực ra hạn chế hơn nhiều so với những gì vẫn được “quảng bá” trên các tạp chí. Những quyết định dựa trên hai mô hình này thậm chí có thể đưa đến những hậu quả thảm khốc, chẳng hạn, những quyết định dựa trên ý tưởng toán học về miễn dịch cộng đồng. Bởi vậy, đặt niềm tin mù quáng vào các tranh luận toán học là không chấp nhận được.  Mặt khác, phủ nhận sự tồn tại nền tảng toán học trong chiến lược kiểm soát cũng tồi tệ không kém. Đây là điều mà Đan Mạch đã làm với chiến lược “truy vết và phong tỏa” đề xuất bởi một “nhóm chuyên gia” gồm những người nghiên cứu và cán bộ y tế, chỉ thể hiện ý muốn [phiến diện] của nhóm y tế, công nghiệp và nhà nước mà thôi.   Bình luận này dẫn chúng tôi tới phần hai của phần thảo luận này, chúng ta phải làm gì trong tương lai? Chúng tôi đã nhấn mạnh điều này từ tháng năm khi bắt tay vào viết bài báo với dòng chữ: “Do đại dịch COVID-19 vẫn chưa kết thúc…” Và khi chúng tôi đặt dấu chấm hết cho bài báo của mình vào giữa tháng bảy, nó vẫn chưa kết thúc! Nó không chỉ tiếp tục hoành hành mà còn biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau. Bởi vậy, lẽ tự nhiên là phải phân tích những đặc điểm hiện tại của dịch bệnh dưới những công cụ mà chúng tôi đề cập phía trên và tự hỏi chính mình: Bài học nào chúng ta rút ra trong chiến lược kiểm soát mà giờ đây chúng ta có thể áp dụng?   COVID-19 không còn lây lan từ chỉ một nguồn nữa. Nó tái xuất hiện lại trong những vùng lớn và nhỏ trên khắp thế giới, có thể là dưới nhiều hình thức và cách lây lan: trong một nhà dưỡng lão ở Pháp, trong hai quận ở Đức, trong một thành phố lớn như Bắc Kinh, trong toàn tỉnh như Tây Ban Nha hay toàn quốc như New Zealand. Chúng ta sẽ gọi chúng là các “ổ dịch” để phân biệt với các “nhóm lây nhiễm”, vốn chỉ bao gồm một nhóm người. Theo dõi sát sao tiến trình của các ca nhiễm trong các ổ dịch như vậy sẽ bắt gặp rất nhiều khó khăn.   Vậy câu hỏi tiếp theo lại nảy ra sẽ là: Tại sao các ổ dịch đang hoạt động cứ âm ỉ duy trì và rồi lại bùng lên. Chúng tôi đã trình bày ba thành phần của những chiến lược kiểm soát thành công: truy vết tiếp xúc, phong tỏa và đeo khẩu trang. Trong khi truy vết tiếp xúc nhiều nước vẫn tiếp tục triển khai một cách do dự, thì phong tỏa và đeo khẩu trang thì phần lớn lại bị bỏ qua, hẳn là kết quả của các chính sách của chính phủ muốn được nổi tiếng.   Tiếp theo, ta nên làm gì? Sử dụng các mô hình toán học ở đây thì chiến lược kiếm soát dịch bệnh sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng. Chúng ta chỉ còn lại sự kết hợp của hai giải pháp: trong một ổ dịch, phải biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt như yêu cầu giãn cách xã hội và ngăn cấm tụ tập đông người; còn ở biên giới thì hoặc là đóng cửa hoặc là cho phép người nhập cảnh nhưng phải đi kèm với việc cách li y tế. New Zealand, khi cả nước có thể coi là một ổ dịch, đã thực hiện những biện pháp chặt chẽ như vậy. Kết quả là không có ca nhiễm mới nào, ngoại trừ hai ca nhiễm vào ngày 14/7 trong “khu cách li đã được kiểm soát”. Chúng tôi hi vọng các ổ dịch khác cũng thực hiện tương tự như vậy. □   Hảo Linh dịch    Author                Bernhelm Booß-Bavnbek – Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Biện pháp  đối phó với vụ Trung Quốc mang giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam      Theo TTX Việt Nam, TQ đưa giàn khoan khủng tới gần đảo Tri Tôn. Vị trí điểm đặt giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí của Việt Nam (cụ thể, như bản đồ cho thấy, cách đảo Lí Sơn khoảng 119 hải lí và cách đường ranh EEZ khoảng 80 hải lí). Thử xét cơ sở lập luận của mỗi bên để chúng ta có thể có biện pháp đối phó thích đáng.       Cần lưu ý rằng đường ranh giới EEZ 200 hải lí của VN (đường màu hường) đã được vẽ theo đúng các toạ độ nêu trong hồ sơ VN nộp Uỷ ban ranh giới thềm lục địa LHQ ngày 6/5/2009. Đường này dừng lại ở điểm cách đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa lần lượt khoảng 60, 70 hải lí. Do đó, có vẻ quan điểm của chính phủ VN là các đảo ở đây không được hưởng hoặc chỉ hưởng một phần hiệu lực EEZ về phía VN hay TQ. Nếu trường hợp sau là đúng thì phần sau của phát biểu trên có thể hàm ý rằng vị trí đó còn nằm trong vùng biển mà Việt Nam có thể được hưởng theo quy định của Công ước về luật biển (UNCLOS) từ một[/nhiều] đảo/đá của quần đảo Hoàng Sa và do quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam (cụ thể là nằm trong EEZ của đảo Hoàng Sa hay đảo Phú Lâm – hai đảo có tiềm năng thoả định nghĩa đảo theo UNCLOS 1 nhất).  Trong khi đó, theo VN Express, để biện hộ cho việc triển khai giàn khoan 981 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng “[c]ác công việc liên quan đang nằm hoàn toàn trong khu vực thuộc quần đảo Tây Sa.”  Trước nhất, lưu ý rằng TQ đã tuyên bố đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa (đường đa giác màu hường nhạt) khi phê chuẩn UNCLOS ngày 15/5/1996, và từ giữa thập niên 1980 sau khi chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa khá lâu (hơn 10 năm) TQ có vẻ tự tin là quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về họ2 . Theo đó, có nhiều khả năng là phát biểu của Hoa Xuân Oánh dựa trên cơ sở là vị trí giàn khoan (cách đảo Tri Tôn khoảng 17 hải lí) nằm bên trong EEZ của quần đảo Hoàng Sa theo cách tính của họ cũng từ đường cơ sở này và hơn nữa không vượt quá trung tuyến của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa như VLIZ (Viện nghiên cứu biển Flanders – Bỉ) vẽ ra trong bản đồ trên 3 (với giả định là cả hai phía đều có EEZ và có hiệu lực như nhau). Tuy nhiên, cơ sở này có tiền đề không vững vì đường cơ sở thẳng mà họ vạch ra không phù hợp UNCLOS do TQ không phải là nước quần đảo.4    Thứ hai, cũng có khả năng TQ tin rằng với những thay đổi nhân tạo mà họ đã thực hiện trên quần đảo Hoàng Sa, đặc biệt là ở đảo Phú Lâm thì ít ra đảo này đã thoả đầy đủ điều kiện theo định nghĩa của điều 121 UNCLOS, tức là có EEZ và EEZ này có hiệu lực đủ 5 để bao gồm luôn vị trí đặt giàn khoan 981 (cách nó khoảng 103 hải lí). Do đó, đây có thể là một cơ sở vững hơn cho tuyên bố của họ dù tính chất đảo của Phú Lâm vẫn còn là nghi vấn.  Thứ ba, chắc chắn họ cũng đã thấy vị trí giàn khoan cách đảo Hải Nam khoảng 183 hải lí, tức là cũng nằm trong EEZ 200 hải lí và thềm lục địa của đảo này. Đây là một cơ sở vững vàng nhất theo UNCLOS. Tuy nhiên, họ chưa nói ra có thể vì vị trí giàn khoan chỉ cách Lí Sơn khoảng 119 hải lí và bờ biển VN khoảng 132 hải lí, tức là dù tính từ Lí Sơn hay từ bờ biển VN thì điểm đó vẫn nằm trong sâu trong EEZ của VN hơn nhiều so với trong EEZ của Hải Nam. Do đó, nếu nêu điều này ra họ sẽ bị thất lợi vì vị trí giàn khoan rõ ràng đã vượt quá trung tuyến6  vào EEZ phía VN, và hơn nữa họ cũng bỏ lỡ dịp để khẳng định lại chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và đường cơ sở trái phép của họ.   Ngoài ra, để ý rằng vị trí giàn khoan cũng nằm hoàn toàn trong đường ‘lưỡi bò’ và tiến sĩ Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore có bình luận trên BBC rằng “Việc TQ cho đặt giàn khoan trên thềm lục địa của VN là chỉ dấu rằng Trung Quốc đang khẳng định quyền thăm dò và khai thác tài nguyên trong đường chín đoạn của mình cho dù nguồn tài nguyên đó có nằm trong EEZ của quốc gia khác hay không.” Tuy nhiên, chúng ta không thấy họ đá động gì tới đường này dù từ trước tới nay họ vẫn tuyên bố TQ có chủ quyền không tranh cãi đối với các đảo/đá và các vùng biển liên quan bên trong đường này. Điều này có thể do họ không muốn công luận đào sâu ĐLB có nhiều vấn đề này vốn đã bị rất nhiều học giả phê phán.  Để ý rằng hiện nay hai nước chưa có thoả thuận về phân giới biển bên ngoài vịnh Bắc Bộ nên dĩ nhiên bên nào cũng có quyền yêu sách tối đa quyền được hưởng của mình.7  Theo phân tích trên, dù có dựa vào chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay không thì tuyên bố của bên nào cũng có vẻ đã theo UNCLOS (dù khác nhau về mức độ hợp lí và công bằng). Như vậy, thuần tuý về mặt pháp lí thì vị trí giàn khoan nằm trong vùng chồng lấn, ít ra về EEZ của hai bên, tức là nằm trong khu vực tranh chấp theo như tuyên bố của hai bên. Theo luật quốc tế thì không bên nào được thực hiện các hoạt động thăm dò, khai thác kinh tế trong các khu vực có tranh chấp. Vì thế, nếu TQ không rút giàn khoan ra ngoài và hai bên không thương lượng được về cách phân giới biển ở đây thì với thực tế là nước nhỏ, VN chỉ còn có cách là đưa vụ việc ra trọng tài quốc tế phân xử và nhân cơ hội tranh thủ tìm cách giải quyết vấn đề chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, do Trung Quốc đã vận dụng Điều 298 của UNCLOS để tránh việc áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho một số loại tranh chấp nên trọng tài UNCLOS không có thẩm quyền để phán quyết vùng biển đó thuộc về bờ biển hay đảo nào. Dù vậy, trọng tài vẫn có thẩm quyền công nhận có tồn tại tranh chấp trong khu vực đó bất chấp vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, tính chất các đảo đá, hiệu lực được hưởng…như thế nào. Khi đó, TQ sẽ không được đơn phương khoan dầu khí ở đó. Từ đó, với sức ép ngoại giao và công luận quốc tế, hi vọng họ sẽ rút giàn khoan ra khỏi khu vực và không tái diễn hành động ngang ngược này trong tương lai.  Dĩ nhiên, đây chỉ là một biện pháp trước mắt để trục giàn khoan TQ ra khỏi EEZ của VN và hiệu lực còn tuỳ vào thái độ của TQ. Tuy nhiên, đây cũng là một bước tiến tích cực trong vấn đề chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa vì khu vực này được chính thức công nhận là có tranh chấp mà TQ không thể chối bỏ như hiện nay.Điều này có thể có tác dụng ngăn ngừa các hành động ‘thực thi chủ quyền’ tương tự của TQ, kể cả các hành động như quấy rối ngư dân, tàu thuyền, đơn phương cấm đánh bắt cá… trong khu vực này trong tương lai.  * (CTV Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)  Bài viết được ý kiến đóng góp của ông Dương Danh Huy (TV Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)  ———–    [1] Điều 121 Công ước LHQ về Luật biển quy định về đảo và đảo đá như sau:      1. Đảo (island) là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc xung quanh, nổi trên mặt nước khi triều cao.      2. Ngoại trừ [trường hợp] như quy định trong điểm 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo được xác định theo đúng các quy định trong Công ước cho lãnh thổ đất liền khác.      3. Đảo đá (rock) không thích hợp cho việc cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.   [2] Từ năm 1980 trở về trước, TQ còn đưa ra các tuyên bố, tài liệu chứng minh chủ quyền Hoàng Sa thuộc về họ, cụ thể như tài liệu  CHINA’S INDISPUTABLE SOVEREIGNTY OVER THE XISHA AND NANSHA ISLANDS công bố ngày 30/1/1980… Sau đó thì họ chỉ còn thừa nhận có tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và phủ nhận có tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa.   [3] Thật ra, quần đảo Hoàng Sa khó có thể được hưởng EEZ theo UNCLOS, thậm chí các đảo có tiềm năng là đảo theo định nghĩa UNCLOS như Phú Lâm, Hoàng Sa có được EEZ hay không và nếu có thì hiệu lực tới mức nào vẫn là các câu hỏi không dễ trả lời.   [4] Theo Quy định của UNCLOS thì những quốc gia quần đảo (như Philippines, Indonesia…) mới có thể vẽ đường cơ sở bằng cách nối những điểm nằm ngoài cùng trên cáo đảo/đá xa nhất lại với nhau (theo một số ràng buộc nhất định).    [5] Theo các án lệ từ trước tới nay việc phân giới biển giữa đất liền và đảo nhỏ thường dùng trung tuyến có điều chỉnh (chú ý tới độ dài hai bờ biển đối diện và các yếu tố có ảnh hưởng khác) ví dụ trong vụ Nicaragua kiện Columbia, toà dùng tỉ lệ 3:1 giữa các điểm cơ sở của hai bên. Do đó, việc đảo Phú Lâm được hưởng thậm chí  ½ hiệu lực (nếu quả là đảo theo UNCLOS) cũng là điều rất đáng ngờ.   [6] Trong trường hợp các nướccó bờ biển liền kề hay đối diện có vùng biển được hưởng chồng lấn thì theo thông lệ quốc tế cũng như các án lệ đã có, người ta dùng trung tuyến làm đường phân giới.    [7] Thật ra, điểm 1 điều 74 UNCLOS có quy định: “Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển liền kề hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng.” Chính Luật về EEZ và thềm lục địa của TQ ngày 26/6/1998 (đoạn 3 trong điểu 2) cũng có nêu: “Các mâu thuẫn liên quan đến EEZ và thềm lục địa của nước CHNDTH và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với nguyên tắc công bằng, bởi một hiệp định phân định cho các khu vực tuyên bố.” Do đó, đòi hỏi tối đa 200 hải lí ở vùng chồng lấn là đi ngược với luật pháp QT và của chínhTQ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biết mình, biết người 1      Suy nghĩ thực hiện Nghị quyết Đại hội X Năm 2006 nước ta có 2 sự kiên đặc biệt quan trọng: Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quyết tâm phấn đấu đưa nước ta thoát khỏi số phận nước nghèo vào năm 20102, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) – nếu đàm phán thành công. Về nhiều mặt đây là sự cam kết với chính mình và cam kết với cả thế giới: Việt Nam quyết tâm bước vào một thời kỳ phát triển mới.    Quyết tâm và cam kết này vừa là thành quả phấn đấu trong 30 năm đầu tiên của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất và độc lập, vừa là ý chí của cả dân tộc ta tham gia vào sân chơi chung bình đẳng trên thương trường quốc tế, đưa nước ta hội nhập toàn diện vào xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới. Nói một cách khác, lần đầu tiên trong lịch sử của mình Việt nam có vị thế và bản lĩnh coi cả thế giới là đối tác của mình, cả thế giới chấp nhận vị thế này của Việt Nam. Cả nước ta, nói cụ thể hơn nữa là toàn thể dân tộc ta bước vào một cuộc đua tranh toàn diện với cả thế giới.  Nhìn lại quá khứ đầy máu và nước mắt của một quốc gia trong ngót hai thế kỷ vừa qua đã có lúc bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới, làm sao không tự hào về bản lĩnh mới và vị thế mới ngày nay đất nước ta giành được? Nhìn vào tầm vóc cuộc đua tranh nước ta có vị thế tham gia và chấp nhận tham gia, làm sao tránh khỏi giây phút ngỡ ngàng. Chính điều này đòi hỏi mỗi người Việt Nam chúng ta phải tự nhìn nhận lại chính mình trước khi bước vào “cuộc chiến” lần đầu tiên đối mặt: “Cuộc chiến” xóa bỏ số kiếp nước nghèo và chấn hưng đất nước – “cuộc chiến” lớn nhất so với tất cả những gì đất nước ta đến nay đã trải qua: giành lấy chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới hiện đại.  Xem xét lại thực lực mọi mặt của mình, ước lường cuộc đua tranh sẽ tham gia, trang bị cho mình ý chí, hiểu biết và phẩm chất phải có trước khi xung trận, đó là việc nhất thiết phải làm – bắt đầu từ việc suy ngẫm biết mình, biết người.  Dưới đây xin nêu lên những điều thiết yếu nhất.  I. Một quan điểm cần khẳng định đối với hội nhập kinh tế thế giới  Từ khi tiến hành đổi mới, chúng ta đã bắt đầu từng bước tự giác nhận thức sự vận động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới ở nấc thang hiện tại. Nhận thức này – tuy là hình thành từng bước và còn đang tiếp tục hình thành, là cơ sở của tư duy mới dẫn dắt sự phát triển mọi mặt của đất nước 20 năm qua. Tuy nhiên, đã đến lúc phải nêu bật một điều then chốt:  Hội nhập kinh tế thế giới là một quan điểm chiến lược, là con đường đất nước phải trải qua để tiến lên trở thành nước công nghiệp hiện đại, là con đường cả nước ta phải chủ động bước vào với quyết tâm chính trị cao nhất.  Sự vật thường được nhìn nhận từ góc độ người đứng nhìn. Điều này cũng có nghĩa quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới có nhiều chiều cạnh. Bất luận quá trình toàn cầu hóa này diễn ra như thế nào, có những mặt trái phải ra sao, được đánh giá theo ý thức hệ gì đi nữa.., song từ góc độ lợi ích của đất nước, chúng ta cần khẳng định: Nước ta phải hội nhập, chủ động hội nhập, để thực hiện mục tiêu chiến lược là đưa đất nước tiến lên giàu có, văn minh.  Nói rằng thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, phải kinh qua hội nhập kinh tế thế giới là chuẩn xác. Lẽ đơn giản là dù con đường tiến lên CNH-HĐH ở mỗi quốc gia  mỗi khác song tất cả đều phải hội nhập vào sự vận động của kinh tế thế giới. Ngày nay không thể có công nghiệp hóa trong phạm vi một quốc gia, lại càng không thể công nghiệp hóa trong nền kinh tế khép kín. Công nghiệp hóa ngày nay của bất kể quốc gia thành viên “trẻ” nào trên thương trường quốc tế cũng đều phải chịu sự cọ sát, cạnh tranh với cả thế giới, muốn thế phải hội nhập thành công vào sự vận động của kinh tế thế giới.  Điều cần lưu ý là nước ta tiến hành CNH-HĐH vào lúc xuất hiện “thế giới phẳng” (nói theo cách diễn đạt của Thomas Friedman), nghĩa là từ nhiều thập kỷ qua sự phát triển của kinh tế thế giới và quá trình toàn cầu hóa ngày nay hầu như đã hình thành một thị trường thế giới duy nhất, nhiều chuẩn mực chung trên thương trường được thiết lập. Trong hợp tác cũng như trong cạnh tranh quá trình toàn cầu hóa đang ngày càng làm mờ nhạt nhiều khác biệt của “quốc gia”, đồng thời ngày càng làm nổi lên nhiều cái phổ cập, nhiều cái chuẩn mực chung của “thế giới”. Đấy chính là những yếu tố tạo dựng nên luật chơi chung trên sân chơi của cộng đồng quốc tế. Ngày nay bản đồ phân công lao động thế giới đã thay đổi vượt xa mọi dự đoán. Tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ – nhất là công nghệ thông tin, và sự xuất hiện của kinh tế tri thức từ gần nửa thế kỷ nay càng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình vận động này. Cơ hội trên thế giới xuất hiện hiều hơn bao giờ hết, song những biến động trên thế giới do những thách thức truyền thống và phi truyền thống gây ra ngày càng nhiều. Điều đặc biệt quan trọng là thời gian và tốc độ ngày càng trở thành yếu tố quyết định cho thành công hay thất bại.  Hệ quả cốt yếu nhất của tình hình nêu trên là: Ngày nay có thể sản xuất bất kể cái gì, tại bất kỳ đâu, đem bán ở nơi nào, miễn là làm chủ được thị trường, làm chủ được công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm chủ được xu thế vận động của kinh tế thế giới. Hiện tượng này là một bước phát triển mới của tự do, song cũng là một thách thức chết người với những nước đi sau, những kẻ đến muộn. Điều đáng lo ngại nhất trong tình hình này là không gian kinh tế cho các nước nghèo do sức cạnh tranh yếu nên đang nhỏ đi tương đối so với qui mô lớn lên không ngừng của kinh tế thế giới hiện nay. Đã thế, trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng có nhiều thể chế quản lý ở quy mô thế giới và khu vực, khiến cho không gian chính sách quốc gia của hầu hết các nước đang phát triển tiếp tục bị thu hẹp (Robert M. Hamwey 9-2005) – nghĩa là quyền và khả năng quyết sách của những nước này bị co lại, sự phụ thuộc gia tăng.  Như vậy, phải chăng có sự khác biệt lớn giữa cái thế giới thực mà chúng ta đang sống và cái thế giới chúng ta ý thức được để tính toán, để cân nhắc trong khi xây dựng chiến lược phát triển đất nước?  Muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, nước ta không có con đường khác ngoài con đường CNH-HĐH. Thế nhưng ngày nay không thể tiến hành CNH-HĐH chỉ nhằm trực tiếp đáp ứng đòi hỏi phát triển của đất nước, mà còn phải tiến hành CNH-HĐH thế nào để sản phẩm trụ được trên thị trường và có lãi nhất, phải ít trả giá nhất về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và môi trường, và để thu về được nhiều của cải và mọi nguồn lực khác (khoa học, công nghệ, tri thức, năng lực quản trị đất nước, năng lực kinh doanh, vốn và quyền năng con người, vốn xã hội, tầm cao văn hóa mới…) đáp ứng đòi hỏi phát triển của đất nước. Song CNH- HĐH như thế nào là có lãi nhất, ít trả giá nhất ở vào thế giới thế kỷ 21, phụ thuộc rất sâu sắc vào khả năng nắm bắt xu thế vận động của kinh tế thế giới và hội nhập thành công vào sự vận động này. Đây là vấn đề đang đòi hỏi rất nhiều trí tuệ và nghị lực.  Rõ ràng CNH-HĐH phải xuất phát từ tầm nhìn thế giới để đi đến những quyết định cho nước mình. Khó khăn hơn nữa là dù chúng ta quyết định lựa chọn sản phẩm và con đường thực hiện nào, sự phán xét cuối cùng vẫn là thị trường, là xu thế vận động của kinh tế thế giới. Không có tầm nhìn thế giới một cách chuẩn xác và nhạy bén để vạch ra chiến lược CNH-HĐH xác đáng, không thường xuyên giữ cho con đường CNH-HĐH đi cùng một nhịp với xu thế vận động của kinh tế thế giới, đừng hy vọng thu về nhiều lãi và mọi nguồn lực khác để phát triển đất nước, kết quả gặt hái được sẽ là nhiều thất vọng.  Hiển nhiên cho đến nay chúng ta chưa xác lập được rõ ràng một chiến lược CNH-HĐH bám sát xu thế vận động của kinh tế thế giới. Những gì chúng ta đã làm và đang làm trong suốt 20 năm đổi mới và hiện nay còn đang đậm nhạt bóng dáng “nền kinh tế hế hoạch” trước đây, còn vấn vương nhiều “bao cấp”, và trên thực tế là vẫn đi bên lề – nếu như không muốn nói có phần nào đó đi lạc lõng –  xu thế vận động của kinh tế thế giới. Có thể nhận biết thực trạng này qua những hiện tượng:  – sự vận động chậm chạp của chuyển đổi cơ cấu kinh tế – nhất là tình trạng phát triển kết cấu hạ tầng phần cứng và phần mềm quá chậm so với đòi hỏi cũng như so với điều kiện cho phép;  – kết cấu hạ tầng xã hội, hệ thống chính trị và hệ thống quản lý nhà nước hầu như không theo kịp đòi hỏi phát triển kinh tế;  – sự phát triển nguồn nhân lực chưa vượt lên hay đi song song với yêu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là tỷ lệ lao động nông nghiệp và trong nông thôn còn quá cao, chất lượng lực lượng lao động thấp;  – trong nền kinh tế cả nước, tỷ lệ giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp;  – tính hiệu quả cả nền kinh tế chưa xứng với mức các nguồn lực bỏ ra, nếu đem so sánh với nhiều nước đang phát triển cùng trình độ sẽ thấy rõ điều này;  – khả năng mở ra thị trường mới, sản phẩm mới còn rất hạn chế;  – khả năng thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài còn thấp cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả.  – …        Trước hết có nghĩa Đảng phải đi tiên phong và có phẩm chất cách mạng thực hiện tự do dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội công dân, giải phóng con người và mọi nguồn lực của đất nước, xây dựng sự đồng thuận vững chắc của toàn dân tộc, để trong một tương lai không xa dựng lên được một nước Việt Nam thịnh vượng, hạnh phúc.         Đành rằng không thể bỏ qua thực tế khách quan là xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta rất thấp. Song sẽ là biện hộ che đậy những yếu kém nếu ta nhất nhất đổ mọi lỗi lầm cho tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Thật ra đem kinh tế nước ta so sánh với các nước mới công nghiệp hóa (NICs) ở vào thời điểm 20 năm kể từ khi họ xuất phát thì phải nói nước ta đi chậm so với những nước này3, nếu so với láng giềng Trung Quốc càng thấy rõ sự chậm chạp của nước ta. 20 năm đổi mới và phát triển là một khoảng thời gian đủ dài để đạt lấy một trình độ phát triển cao hơn. Vì vậy có thể nói nguyên nhân hàng đầu của sự chậm chạp này chính là sự bất cập trong tư duy chiến lược kinh tế, mặt nào đó còn là sự bất cập trong tư duy nhìn nhận thế giới.  Nếu nhìn vào những thành tựu đã thay da đổi thịt nền kinh tế nước nhà trong 20 năm đổi mới được cả thế giới đánh giá cao, thì phải nói chủ yếu đấy là những thành tựu của  phần lớn những sản phẩm không nằm trong diện ưu tiên cao nhất của chiến lược phát triển, những sản phẩm không phải là những bộ phận quyết định trong chiến lược CNH-HĐH. Đấy là những thành tựu của những sản phẩm kinh tế không được tập trung đầu tư hay được hưởng những ưu đãi thỏa đáng nhất; đấy là những thành tựu của những chính sách đúng đắn (tiêu biểu là Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2001 – được tặng cho cái tên là “khoán 10 trong công nghiệp”) ra đời dưới áp lực của cuộc sống – nghĩa là tính tự giác, tính chủ động và đón đầu chưa cao, là kết quả những nỗ lực phi thường của các thành phần kinh tế – trước hết là thành phần kinh tế tư nhân –  những nỗ lực tìm cách luồn lách vượt qua những rào cản còn tồn tại khá phổ biến trong nước, vượt qua mọi thách thức cạnh tranh bên ngoài… Đó là tình trạng cái mà chúng ta mất nhiều công của đầu tư để phát triển thì không mang về hiệu quả như mong muốn, cái mà không nằm trong diện ưu tiên đầu tư phát triển thì lại mang về những kết quả vượt bậc. Một nền kinh tế muốn có sức cạnh tranh, không thể tiếp tục một chiến lược phát triển xa thực tế và một phương thức phân bổ kém hiệu quả những nguồn lực cho phát triển. Tuy nhiên những thành tựu đạt được trong hoàn cảnh như vậy cho thấy nền kinh tế nước ta hoàn toàn có thể phát triển năng động hơn và vững chắc hơn nếu có các quyết sách thỏa đáng.  Nghiêm khắc mà nói, 20 năm qua chiến lược CNH-HĐH được vạch ra đi một đằng, nhưng sự phát triển kinh tế của đất nước gần như tự thân đi theo một đường riêng, những đoạn đường trùng hợp nhau khá mong manh và hiếm hoi, không ít những đoạn không gặp nhau hoặc ngược chiều nhau – ví dụ: đầu tư không hiệu quả hay hiệu quả thấp vào nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng trên cơ sở bao cấp của nhà nước, sự trì trệ của khu vực kinh tế quốc doanh đầy ưu ái và những hệ quả tiêu cực đối với toàn bộ nền kinh tế do chính sách bảo hộ gây ra… Đáng lưu tâm là tính tự phát khá phổ biến – đó là những hiện tượng đầy tính cơ hội, manh mún, gặp gì làm nấy trong mọi thành phần kinh tế – kể cả quốc doanh: gặp ô-tô làm ô-tô, gặp đóng tầu làm đóng tầu, chỗ nào cũng xi-măng lò đứng, mía đường, chỗ nào cũng xây dựng cảng biển…, và tất cả hình như đều thiếu một luận cứ kinh tế vững chắc trong một tổng thể chiến lược kinh tế rõ nét.  Sự phát triển như thế đang đẻ ra nhiều gánh nặng mới cho nền kinh tế.  Tất cả những hiện tượng này rọi thêm ánh sáng vào các nguyên nhân vì sao thành tựu đạt được chưa bền vững, chất lượng chưa cao, chưa cân xứng với công sức bỏ ra, chưa thỏa đáng với những điều kiện và thời cơ cho phép, chưa cân xứng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bị hủy hoại, không ít giá trị đã hun đúc nên được theo chiều dài lịch sử của đất nước bị mai một hoặc đảo lộn…  Để làm rõ được, mất thì phải đem tất cả lên bàn cân so sánh một cách không khoan nhượng. So sánh với ý thức cạnh tranh quyết liệt với cả thế giới, có thể nói nền kinh tế nước ta đến nay vẫn còn là một nền kinh tế đắt.  Ta hôm nay đem ra so với ta hôm qua thì không dễ nhận ra điều này.  Một điều cần đặc biệt lưu ý cho tương lai: Nhận biết bất cập về thế giới, về toàn cầu hóa kinh tế đã khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều thời cơ quan trọng và đất nước phải trả giá. Điều này đã tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế và chiến lược CNH đất nước. Hiệp địnhThương mại Việt – Mỹ ký chậm mất 2 năm, lẽ ra nước ta hôm nay đã là thành viên của WTO và không phải oằn lưng gánh chịu thêm những gánh nặng mới của vòng đàm phán Doha, những cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong các năm 1995, 1997 và hiện nay chưa được tận dụng…  Và, dù không bao giờ lấy lại được nữa, nhưng xin đừng bao giờ quên: Việc bỏ lỡ thời cơ lớn nhất – thời cơ ngay trong lòng cộng đồng dân tộc và trên thế giới dành cho đất nước ta ngay sau đại thắng mùa xuân năm 1975 đã gây ra cho đất nước bao nhiêu hệ lụy nghiêm trọng.  Cả “cuộc chiến” cho sự nghiệp chấn hưng đất nước còn ở phía trước, vì vậy nên từ lỡ thời cơ rút ra những bài học rất đáng rút ra.  Điều đáng lo ngại nhất bây giờ là tất cả những thành tựu đạt được chưa chuẩn bị những điều kiện tốt nhất, chưa tạo ra được những tiền đề tốt nhất cho những bước phát triển tiếp theo của nền kinh tế nước ta; những hệ quả do những yếu kém để lại cần khắc phục không phải là nhỏ nếu như không muốn nói là có thể uy hiếp những bước phát triển tiếp theo của đất nước; khả năng của nước ta đối chọi với những biến động trong kinh tế thế giới khá mong manh. Tất cả chứng minh: Nền kinh tế nước ta còn đi bên lề hoặc chưa định hướng mạnh mẽ vào xu thế vận động của kinh tế thế giới trong quá trình toàn cầu hóa.  Nước ta có thể hội nhập kinh tế thế giới thắng lợi, có thể sớm vươn tới một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại với cách nhìn nhận thế giới và với một chiến lược phát triển như chúng ta đang có?  Xin nhắc lại: Quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay còn nhiều bất công, do những “cá mập” chi phối, tiềm ẩn biết bao nhiêu biến động khó lường… Song tất cả những hiện tượng này không phải là lý do để chúng ta ngập ngừng, để kéo dài sự bảo hộ…, mà chỉ là những lý do đòi hỏi nước ta phải tự trang bị cho mình tốt hơn nữa bản lĩnh và khả năng cần thiết giành lấy kỳ được thắng lợi trong hội nhập kinh tế thế giới: thực hiện thành công xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.  Đấy là quan điểm chiến lược cần xác định với tất cả lòng yêu nước và ý chí chính trị cao nhất của cả nước, của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, để hội nhập thông minh và dũng cảm vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới một khi nước ta trở thành thành viên của WTO.    II. Những yếu kém lớn của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập  1. Lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của nước ta chưa được phát huy tối ưu  Nền kinh tế nào muốn cất cánh cũng phải xuất phát từ mặt đất, nghĩa là từ chỗ thấp nhất nó đang đứng, nhưng con đường cất cánh thì hình như chỉ có một: Phát huy lợi thế so sánh mình đang có, rồi chuyển sang phát huy lợi thế cạnh tranh, từng bước cải thiện lợi thế ấy.  Là nước đi sau, chúng ta lại càng phải tìm cách đi sáng tạo trên con đường này nếu không muốn thường trực quẩn quanh trong nghèo nàn lạc hậu. Sau khi trở thành nước CNH, nước ta vẫn phải tiếp tục con đường này để chuyển hẳn sang phát huy lợi thế cạnh tranh – nhưng ở nấc thang cao hơn, bài bản hơn. Hầu như đấy là con đường mang tính quy luật phát triển. Nói CNH-HĐH phải giành lấy phân công lao động quốc tế tối ưu chính là nói theo tinh thần này.  Chúng ta mất 10 năm đầu trong nền kinh tế bao cấp nên không quan tâm đến lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh. Trong 20 năm đổi mới chúng ta ý thức nhiều hơn đến lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh. Song phải nói chiến lược phát triển đất nước nói chung, chiến lược CNH-HĐH nói riêng trong những năm đổi mới còn nặng về định hướng xã hội chủ nghĩa với nội dung chưa xác định được thật rõ ràng – trên thực tế là mang nhiều nét bảo hộ, bao cấp và hướng nội – theo tinh thần quốc doanh là chủ đạo và hạn chế các thành phần khác. Có lúc lại giải thích định hướng XHCN là thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, nhưng trước sau nền kinh tế vẫn giữ nhiều dấu ấn bao cấp và bảo hộ…Trong 20 năm đổi mới việc phân bổ các nguồn lực trong phát triển kinh tế và nhiều chính sách đã ban hành chứng tỏ chúng ta chưa thật tự giác định hướng nền kinh tế đi vào con đường phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh.  Khi nói đến phát huy lợi thế so sánh, trước hết có nghĩa là ưu tiên thu hút và phân bổ các nguồn lực đầu tư – kể cả FDI và các nguồn lực bên ngoài khác – vào việc phát huy các lợi thế đất nước sẵn có bên trong (như nguồn nhân lực, đất đai, thị trường, vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu, một số tài nguyên nhất định, sự ổn định chính trị…), đồng thời thực hiện các quyết sách cần thiết cho yêu cầu này. Đến một giai đoạn phát triển nhất định thì phải đẩy mạnh kinh tế đối ngoại để chuyển sang xây dựng và phát huy lợi thế cạnh tranh trên cơ sở xây dựng các liên kết, liên doanh giữa trong nước và bên ngoài. Đó là những liên kết, liên doanh theo chiều dọc (trong phạm vi sản phẩm và ngành), hoặc liên kết theo chiều ngang giữa các sản phẩm thuộc các ngành hoặc các tập đoàn khác nhau. Nền kinh tế phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh trước hết và chủ yếu là một nền kinh tế hướng ngoại, là nền kinh tế đặc biệt coi trong ngoại thương, là CNH-HĐH theo hướng mang về nhiều lãi và những nguồn lực khác để phát triển đất nước.  Hiện nay ở nước ta cứ 100 đồng của GDP làm ra có tới 60 đồng là dành cho xuất khẩu, chủ yếu là nhờ tận dụng lợi thế so sánh, nói lên tiềm năng lợi thế so sánh của nước ta rất lớn. Thế nhưng các chính sách ban hành, các thể chế hiện hành, các chính sách thu hút FDI (còn nhiều dấu ấn bảo hộ và hướng nội)…, và nhất là việc phân bổ các nguồn lực đầu tư lại không ưu tiên nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, phát triển các dịch vụ, cải tiến các thể chế, những ưu đãi khuyến khích khoa học và công nghệ… nhằm phục vụ cho yêu cầu phát huy lợi thế so sánh.  Phải chăng vì những nguyên nhân nói trên tỷ lệ lãi giành được trong mỗi sản phẩm nhìn chung thấp? – chủ yếu do tiêu thụ nhiều lao động và nguyên liệu, nhưng hàm lượng công nghệ thấp. Phải chăng vì thế nền kinh tế nước ta chậm chuyển sang được phát huy lợi thế cạnh tranh – nghĩa là chưa  thực hiện được bao nhiêu các liên kết, liên doanh với bên ngoài để làm ra các sản phẩm dưới dạng giữ nguyên thiết kế chế tạo gốc của chính hãng (original equipment manufacturing – OEM), tiến xa hơn nữa là làm ra các sẩn phẩm của liên kết, liên doanh nhưng tự mình thiết kế lấy (own design manufacturing – ODM), và cuối cùng là tiến tới khai thác liên kết, liên doanh để làm ra các sản phẩm có thương hiệu riêng của mình (own brand manufacturing – OBM)4 như nhiều nước đã làm được.  Lấy Trung Quốc làm ví dụ, chúng ta thấy Trung Quốc lúc đầu thu hút FDI để làm các sản phẩm lắp ráp, gia công theo thiết kế chế tạo gốc (OEM), sau đó thông qua liên kết, liên doanh chuyển sang sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao giữ nguyên thương hiệu gốc của các tập đoàn nước ngoài nhưng được sản xuất tại Trung Quốc (ODM); tiến lên một bước nữa gần đây Trung Quốc làm ra nhiều sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao nhờ các liên kết, liên doanh nhưng do TQ tự thiết kế và mang thương hiệu riêng của TQ (OBM). Ai cũng thấy ngày nay sản phẩm Trung Quốc thôn tính thị trường thế giới như thế nào – từ ô-tô, máy điện toán cao cấp…, đến đồ chơi trẻ con và… vân vân. Trên thế giới chỗ này chỗ khác tại các nước phát triển đã có những xí nghiệp hoặc thậm chí cả một thành phố nhỏ phải đóng cửa vì hàng rẻ của Trung Quốc…  Rõ ràng, để hội nhập giành thắng lợi, phải tự giác phát huy mạnh mẽ lợi thế so sánh của nước ta, và tích tụ mọi điều kiện để chuyển nhanh sang phát huy lợi thế cạnh tranh, cạnh tranh quyết liệt có khi đến mức mất còn.  Xin lưu ý, quyết định chiến lược nào, thể chế nào, chính sách thu hút FDI nào, chính sách hợp tác như thế nào, thì tạo ra sản phẩm ấy, hiệu quả ấy. Không phải cứ duy ý chí và quyết tâm cao là giành được thắng lợi mong muốn. Ở nước ta, nếu không tìm cách sớm thoát khỏi tình trạng “nền kinh tế đắt”, nếu không có các chính sách và những thể chế thân thiện và khuyến khích thỏa đáng FDI, nếu không phát huy tốt hơn nữa nguồn nhân lực và nâng cao khả năng quản lý đất nước, tất cả để phát huy tốt hơn nữa lợi thế so sánh và dần dần chuyển sang phát huy lợi thế cạnh tranh, tất yếu hội nhập kinh tế thế giới sẽ không đạt được mục đích. Điều này sẽ có nghĩa khoảng cách tụt hậu so với thế giới bên ngoài rộng mãi, khó mà nghĩ đến đuổi kịp ai.  2. Một số vấn đề trong chiến lược công nghiệp hóa của nước ta thời hội nhập toàn diện vào toàn cầu hoá kinh tế thế giới  Điều nổi bật là nước ta tiếp tục công nghiệp hóa – hiện đại hóa vào lúc Châu Á nói chung và Đông Á nói riêng trở thành khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, có nhiều thể chế song phương, đa phương đã đi vào hoạt động, nổi bật nhất hiện nay là xu thế hình thành các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) bên cạnh các Hiệp định Thương mại song phương (BTA), đã và đang hình thành các khung khổ hợp tác ASEAN + 1, các khung khổ ASSEAN + 2, ASEAN + 3 Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và rộng hơn nữa là APEC. Vào một tương lai không xa nước ta cũng phải đi theo xu thế ký kết những FTA… Trong tình hình đó, ngoài sự cạnh tranh của các nền kinh tế năng động trong khu vực, sự xuất hiện của Trung Quốc với tính cách là công xưởng sản xuất của thế giới về nhiều loại sản phẩm – từ hàng may mặc đến những hàng công nghiệp hiện đại như đồ điện dân dụng, xe hơi, máy vi tính, các sản phẩm công nghiệp điện tử cao cấp… – càng tác động mạnh mẽ vào quá trình CNH ở nước ta, đồng thời cũng tác động vào các thị trường trên thế giới mà sản phẩm của nước ta đi tới. Quá trình CNH của nước ta hiển nhiên không thể đứng ngoài sự vận động của kinh tế khu vực, nhất là đứng trước thực tế cạnh tranh quyết liệt của sản phẩm Trung Quốc và các nước ASEAN 4 (Thái Lan, Indonesia, Philippines), cạnh tranh quyết liệt ngay trên thị trường nội địa của nước ta.  Thực tế hiện nay là: Trừ một số nông phẩm, nguyên liệu và một số mặt hàng công nghiệp gia công (như may mặc, giày dép, một số rất ít mặt hàng công nghiệp khác…) nhìn chung lợi thế cạnh tranh của nước ta rất thấp. Không xử lý được vấn đề khả năng cạnh tranh thấp, quá trình CNH-HĐH của nước ta có nguy cơ thất bại – ví thử sản xuất chỉ để tiêu dùng trong nước thì sản phẩm của nước ta cũng không thể trụ được, trong khi đó việc mở cửa thị trường nước ta theo những thể chế của WTO và những thể chế song phương và đa phương khác ta đã ký kết là bắt buộc.  Trong bối cảnh hội nhập như vậy, lại đứng giữa một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, tiếp tục quá trình CNH-HĐH với mục đích là mang về lãi và những nguồn lực khác để phát triển kinh tế đất nước và hoàn thành sự nghiệp này vào năm 2020, trước hết có nghĩa là phải tìm cho ra những “kẽ lách” mới (niches) và xây dựng được chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh. Chúng ta đã ý thức được đòi hỏi khách quan mang tính sống còn này hay chưa? Đã tập trung mọi nỗ lực của chúng ta vào hướng cạnh tranh?  Câu trả lời của chúng ta hình như mới chỉ là những lời kêu gọi hạ quyết tâm, song còn thiếu nhiều quyết sách và hành động đem lại hiệu quả mong muốn.  Xin nói thêm rằng bản thân quá trình CNH-HĐH tự nó là đối nghịch với nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín, trước sau sẽ đi đến thất bại trong nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín. Xin lưu ý điều này để có quyết tâm dứt khoát:  Ngày nay nước ta muốn tiếp tục công cuộc CNH-HĐH đất nước thì chỉ có một con đường là nâng cao khả năng mọi mặt của đất nước để phát huy lợi thế cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.  Nhưng bằng cách nào?  Trước hết cần xác định, dù là tìm ra được kẽ lách nào trên thị trường thế giới và trong nước ta5, nhất thiết nó phải là kẽ lách cho những sản phẩm có nhiều hàm lượng công nghệ và có tỷ suất lãi cao (high rate of return). Chỉ có kẽ lách đáng mong muốn này mới có ý nghĩa đối với công cuộc CNH-HĐH của đất nước ta. Thấy sâu sắc được đòi hỏi này, mới có hướng đi tìm câu trả lời.  Đặc điểm nổi bật của sản phẩm công nghiệp nước ta dành cho xuất khẩu là gia công, phát huy lợi thế lao động rẻ và một số nguyên liệu nào đó sẵn có trong nước; sản phẩm may mặc chiếm tới khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó trên 80% giá trị xuất khẩu là dành cho nhập nguyên liệu và máy móc), sản phẩm xuất khẩu các máy móc chỉ chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó khoảng 50-70% giá trị xuất khẩu là dành cho nhập các linh kiện, máy móc và phụ tùng…). Nói chung, xuất khẩu như vậy tỷ suất lãi thấp, hàm lượng công nghệ thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nhiều khó khăn và chậm. Hệ quả chung là toàn bộ quá trình CNH-HĐH không thể phát triển năng động và khó tiến vào những lĩnh vực hiện đại có hàm lượng công nghệ và tỷ suất lãi cao hơn, việc mở thị trường mới và chiếm thêm nhiều thị phần cũng khó khăn. Toàn bộ quá trình này cắt nghĩa vì sao nền kinh tế nước ta có nguy cơ tụt hậu kéo dài.  Giải pháp tối ưu cho việc tìm ra kẽ lách mong muốn là liên kết liên doanh với các tập đoàn mạnh nước ngoài.  Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trước hết cũng là phải hình thành những liên kết liên doanh với các tập đoàn mạnh nước ngoài.  Cả hai giải pháp trên làm nổi bật vai trò quan trọng của FDI, đặc biệt là trong việc chuyển từ sản xuất các sản phẩm dưới dạng giữ nguyên thiết kế chế tạo gốc của  chính  hãng (original equipment manufacturing – OEM), lên các sản phẩm của liên kết, liên doanh nhưng tự mình thiết kế lấy (own design manufacturing – ODM), và cuối cùng là tiến tới khai thác liên kết, liên doanh để làm ra các sản phẩm có thương hiệu riêng của mình (own brand manufacturing – OBM)6 như nền kinh tế Trung Quốc đang vươn lên thành công xưởng sản xuất của thế giới. Nói một cách khác, cần tham khảo, nghiên cứu, học hỏi những kinh nghiệm của Trung Quốc và tìm ra cách vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của nước ta.  Nền kinh tế nước ta hiện nay đang yếu cả trên 2 phương diện (a) khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế; (b) chính sách thu hút FDI với yêu cầu tạo ra những liên kết, liên doanh khả dĩ giúp nền kinh tế nước ta rút ngắn các cung đoạn sản phẩm OEM-ODM-OBM.  Các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách ở nước ta chắc hiểu rất rõ phải làm gì để khắc phục hai yếu kém nói trên để điều chỉnh chiến lược CNH-HĐH của đất nước cho phù hợp. Việc đầu tiên là cần nhận thức sâu sắc hai yếu kém lớn này và quyết tâm có những quyết sách khắc phục đúng với ý thức chủ động hội nhập kinh tế thế giới.  Đã xuất hiện một thực tế là một số doanh nghiệp công nghiệp nước ta (hầu hết là ngoài quốc doanh) không chờ đợi các quyết sách của Đảng và Nhà nước cho 2 vấn đề trọng đại này. Đứng trước tình hình tràn ngập hàng rẻ Trung Quốc ở mọi nơi, họ đã tự đề ra cho mình phương châm “sống chung với lũ để vượt lũ”. Họ tận dụng mọi chính sách và thể chế hiện có, tự tìm các đối tác liên kết liên doanh theo chiều sâu, huy động các nguồn lực để tự làm lấy khâu nghiên cứu – triển khai (R&D) và làm ra sản phẩm mới với thương hiệu riêng (OBM), cạnh tranh được ngay trên thị trường nước ta và xuất được vào thị trường Trung Quốc. Đấy là hàng may mặc cao cấp, đồ điện và điện tử dùng trong gia đình, trang bị nội thất, vật liệu xây dựng cao cấp, một số mặt hàng khác như ống nước nhựa cao cấp, dây dẫn điện, đồ uống…  Tuy còn khiêm tốn về chủng loại mặt hàng, về kim ngạch đạt được, song những nỗ lực “sống chung với lũ để vượt lũ” như vậy là những con chim én báo hiệu mùa xuân một phong cách kinh doanh mới với triển vọng mới. Đó là những gợi ý tốt và phong phú cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách ở nước ta.  Xin lưu ý các nước ASEAN4 hầu như xuất siêu liên tục sang Trung Quốc, chính là nhờ phát huy được lợi thế cạnh tranh, với kết quả tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của họ vào thị trường này khá cao (thường gấp đôi tỷ lệ của Việt Nam hoặc hơn nữa). Trong khi đó xuất khẩu của ta vào Trung Quốc khoảng trên dưới 80% kim ngạch là nguyên liệu thô, sản phẩm thô, điều này giải thích vì sao Việt Nam đang nhập siêu lớn trong buôn bán với Trung Quốc.  3. Nhìn nhận rõ thêm vai trò của FDI  Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của FDI đối với sự nghiệp CNH-HĐH và phát triển đất nước, dành cho FDI hầu hết mọi ưu đãi có thể trong điều kiện cho phép, ra sức cải thiện và đổi mới các thể chế, luật pháp, chính sách, môi trường kinh doanh… để thu hút FDI. Đấy là những nỗ lực rất lớn, được cả thế giới thừa nhận. Thậm chí chỗ này chỗ khác xuất hiện một số hiện tượng thái quá, tạo ra những ưu đãi hoặc cách đối xử với FDI vượt quá khung khổ pháp lý cho phép, các bên phía ta giành giật nhau khiến thế đàm phán của ta suy yếu, gây ra những thua thiệt không đáng có – tuy nhiên đây chỉ là hiện tượng phụ.  Mặc dù có những nỗ lực lớn như vậy, khối lượng FDI đã thực hiện đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, khoảng 1/3 kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu có sự tham gia của FDI, môi trường kinh doanh của FDI được cải thiện nhiều… Nhưng so sánh với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam sau 20 năm đổi mới vẫn bị coi là nước “chưa thân thiện” với FDI, khả năng cạnh tranh thu hút FDI còn thấp so với những điều kiện thuận lợi cho phép; đã bỏ lỡ một số làn sóng FDI có thể thu hút được (1995, 1998), chưa có những chuyển biến mạnh mẽ để thu hút làn sóng mới của FDI hiện đang diễn ra trong khu vực. Việc khai thác FDI để tranh thủ chuyển giao công nghệ, cải tiến phương thức quản trị kinh doanh, tiếp cận và khai phá thị trường mới bên ngoài… nhìn chung thấp.   Nếu đem nước ta ra so sánh với Trung Quốc và các nước ASEAN4, còn phải lưu ý: Ta chưa khai thác được bao nhiêu vai trò của FDI trong việc tạo ra các liên kết, liên doanh theo chiều dọc và chiều ngang như đã trình bày trong các phần trên để cải thiện và đổi mới lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế nước ta, để đẩy mạnh đổi mới cơ cấu kinh tế trong nước, đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH, và chung cuộc là để đưa kinh tế nước ta vươn rộng ra thị trường bên ngoài.  Vì mục đích chính của bài viết này là tìm hiểu những tồn tại, nên xin miễn nói nhiều đến những thành tựu và ưu điểm trong thu hút FDI. Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh một thực tế làn sóng FDI lên cao ở nước ta vào những năm 1995 trở về trước và phần nào đang hồi phục từ 1-2 năm gần đây đều gắn với sự thông thoáng trong môi trường kinh doanh và sự đơn giản hóa công việc quản lý của bộ máy nhà nước đã tạo ra được ở hai thời kỳ này.  Vậy những yếu kém chính trong vấn đề thu hút FDI là gì?  (a) Trước hết phải nói tính tiên liệu được (predictability) trong môi trường kinh doanh ở nước ta nhìn chung thấp; đây là một trong những khó khăn lớn những nhà đầu tư nước ngoài vấp phải trong môi trường kinh tế nước ta.  Ai cũng biết, làm ăn mà không tiên liệu được thì nhiều rủi ro, không dám làm ăn lâu dài, không dám làm ăn lớn. Môi trường đầu tư mà như vậy thì chỉ có khả năng khuyến khích cách làm ăn chụp giựt, làm ăn nhỏ, dễ làm khó bỏ, mang đầy tính đầu cơ, rất có hại cho nước chủ nhà và không thể tính đến những liên kết, liên doanh dài hạn cho tương lai, cho việc cùng nhau khai phá thị trường mới cho nước chủ nhà…; cuối cùng chính nước chủ nhà rơi vào tình trạng không tiên liệu được còn tệ hại hơn so với người đầu tư nước ngoài và rất bị động.  Tính không tiên liệu được trong môi trường đầu tư ở Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau đây:  – Tính nhất quán trong hệ thống chính sách và hệ thống quản lý của bộ máy nhà nước thấp.  – Các chính sách kinh tế, luật pháp, kế hoạch kinh tế và quy hoạch phát triển thay đổi luôn.  – Luật pháp, quy hoạch phát triển kinh tế, các chính sách đã ban hành nhiều khi bị bóp méo khi thực thi. Nguyên nhân: năng lực nghiệp vụ của bộ máy quản lý nhà nước và của cán bộ còn nhiều mặt hạn chế, tệ nạn quan liêu tham nhũng, tính tranh giành cục bộ địa phương…  – Khả năng ứng phó còn rất hạn chế đối với những biến động  bên trong (thiên tai, sự khan hiếm, biến động thị trường, vấn đề đất đai…) hay từ bên ngoài lan tới (khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, giá nguyên nhiên liệu trên thị trường thế giới, khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh ở các khu vực khác…).  – Có lúc xảy ra tính bất nhất hoặc dao động trong chính sách đối ngoại (ví dụ: một mặt khuyến khích hợp tác, mặt khác lại đả kích gay gắt trên báo chí hoặc có những bước đi đối ngoại khó hiểu, ngược chiều với khuyến khích hợp tác kinh tế…).  – Tính dao động lúc tả lúc hữu do xung đột những quan điểm lớn trái ngược nhau (mở cửa hay hạn chế mở cửa, bảo hộ hay không bảo hộ, nói xóa bao cấp nhưng trên thực tế chỗ này chỗ khác và ở mức độ nhất định còn bao cấp…)  (b) Do còn bị tư duy cũ chi phối, nên tính bảo thủ và bảo hộ còn tác động sâu xa đến khuyến khích thu hút FDI.  – Tư duy kinh tế còn nặng về hướng nội, nên trừ một số ngành như may mặc, giày dép…, phần lớn các dự án thu hút FDI  hướng về thị trường nội địa, kèm theo nhiều tiêu chí bảo hộ do ta đề ra như tỷ lệ “nội địa hóa”, thuế suất nhập khẩu cao cho đầu vào, những hạn chế hữu hình và vô hình khác.  – Bảo hộ trực tiếp hoặc gián tiếp sản phẩm cùng loại của các xí nghiệp quốc doanh.  – Những đặc quyền riêng dưới nhiều dạng rơi rớt từ thời bao cấp dành cho quốc doanh, ảnh hưởng đến nguyên tắc đối xử bình đẳng quốc gia (national treatment) – đặc biệt là trên các phương diện vốn, đất đai, quyền kinh doanh, hạn chế trong một số ngành kinh tế quan trọng như điện lực, giao thông…  – Hạn chế các tập đoàn có FDI vào Việt Nam được kinh doanh đa ngành nghề, hạn chế khâu thương mại nội địa của những tập đoàn này (gần đây tình hình này đã được cải thiện).  – Những hạn chế trong các lĩnh vực ngân hàng và một số dịch vụ khác.  – …  Cần phân biệt đàm phán giành lấy lộ trình thích hợp cho việc mở cửa nền kinh tế nước ta và tự ta ở trong nước chủ động đẩy nhanh tiến độ hội nhập là hai việc khác nhau. Đàm phán thì phải giành lấy lộ trình tối ưu để bảo đảm an toàn cho hội nhập, song điều này cũng không có nghĩa kéo dài đàm phán đến mức lỡ thời cơ như đã xảy ra. Mặt khác tự ta phải lựa chọn cho mình những lộ trình ngắn nhất cho phép chủ động đi nhanh trong quá trình hội nhập. Xin phép được diễn đạt một cách nôm na: Trước khi bơi dứt khoát phải tập bơi, nhưng muốn bơi thì phải nhảy xuống nước với ý chí can đảm. Một quốc gia trong hội nhập vào kinh tế thế giới cũng phải hành xử như vậy.  (c) Giá đất đai và chi phí trung gian quá cao, nhìn chung nước ta còn là một nền kinh tế đắt  – Với tư cách là nước chủ nhà, nhà nước đã có nhiều cố gắng cải tiến việc cung cấp đất đai, mặt bằng cho các dự án có FDI. Mặc dù vậy, đây vẫn là vấn đề gay cấn số 1, bắt nguồn từ thực trạng quản lý đất đai ở nước ta có nhiều yếu kém và công tác quy hoạch phát triển còn nhiều thiếu sót. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nước ta bỏ lỡ nhiều cơ hội và những dự án tốt. Có thể dự báo ngay trước mắt và trong tương lai vấn đề đất đai sẽ còn nóng bỏng hơn nữa, đòi hỏi phải sớm có quyết sách thay đổi cơ bản tình hình này.  – Trong thực tế đầu tư kinh doanh ở nước ta, hầu như chi phí có hai phần – xin tạm gọi như vậy. Phần chính thức là các chi phí tính theo giá được quy định do nhà nước hay trong hợp đồng; phần không chính thức là phần “không có giá” – nghĩa là biên độ của giá này tùy thuộc vào “bối cảnh”. Những chi phí trung gian này chủ yếu gồm 2 khoản: phần đền bù thêm cho việc giải tỏa mặt bằng và những tiêu cực phí cho cán bộ và cơ quan chức năng có liên quan. Cho đến nay chưa có cách gì thống kê làm rõ thực trạng chi phí này lên đến mức nào trong tổng vốn đầu tư phải bỏ ra, song có thể tạm kết luận đây là một trở ngại lớn trong cạnh tranh với những quốc gia khác về vấn đề thu hút FDI.  – Mặc dù nhà nước ta đã áp dụng chế độ “một cửa”, song trên thực tế đang tồn tại tình trạng “một cửa, nhiều khóa”, nạn giấy phép con, các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành luật đi xa hay vượt ra ngoài luật… Thực tế này chẳng những gây nhiều tốn kém trực tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài, mà còn gây những tổn thất khác do lãng phí thời gian, lãng phí cơ hội, nhiều khi không tính được bằng tiền đối với các nhà đầu tư nước ngoài.  – v.v …  Còn nữa       Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biết mình, biết người 2      Còn thiếu hẳn một chiến lựơc coi FDI là cứu cánh thực hiện CNH-HĐH khai thác thị trường mới và giành thị phần ngày một lớn hơn.    Đáng chú ý là những vấn đề lớn sau đây.  – Rất thiếu lực lượng lao động có tay nghề cao,  thiếu đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và quản trị kinh doanh giỏi để cung cấp cho các dự án FDI làm ra những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Công tác tiếp thị thị trường FDI và đội ngũ cán bộ phụ trách vấn đề FDI các ngành các cấp có nhiều yếu kém; đặc biệt là còn rất yếu trong vấn đề cung cấp thông tin giúp các bên đối tác (phía ta cũng như phía nước ngoài) có nhiều khả năng lựa chọn các cơ hội và có những quyết định nhanh chóng.  – Chậm phát triển kết cấu hạ tầng, thiếu các mạng xí nghiệp vệ tinh thỏa mãn đầu vào cho những dự án FDI lớn, thiếu những quyết sách hữu hiệu cho việc hình thành những liên kết, liên doanh thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế.  – Nhìn chung còn thiếu nhiều chính sách và những nỗ lực chính trị khác – kể cả trong lĩnh vực ngoại giao, nhằm giữ gìn chữ tín, tạo sự tin cậy làm ăn lâu dài, khiến cho giới FDI và nước chủ nhà có sự hợp tác cùng hội cùng thuyền, cùng ngồi chung một thuyền đi vào những thương trường mới, sản phẩm mới.  – Chưa chú ý xây dựng văn hóa hợp tác kinh doanh nhằm nâng đất nước ta lên thành môi trường lý tưởng thu hút FDI.   – v.v…  Hiện nay, những đối tác lớn bên ngoài đang có yêu cầu đa dạng hóa thị trường đầu tư, trong khi đó nước ta có vị thế kinh tế và chính trị ngày càng được cải thiện, chế độ chính trị ổn định, kinh tế phát triển năng động. Tình hình này đang mang lại cho nước ta cơ hội lớn đón bắt làn sóng FDI mới vào nước ta. Đã bắt đầu có dấu hiệu một “boom” mới về FDI vào Việt Nam. Thực tế này thôi thúc phải đẩy mạnh cải cách toàn diện, mau chóng thực hiện các lộ trình đã cam kết trong khung khổ WTO và trong những cam kết song phương và đa phương, nhằm tạo mọi điều kiện nắm bắt lấy cơ hội quan trọng này.  4. Những vấn đề lớn cần lưu ý sau khi gia nhập WTO  Ý thức cho kỳ được điều cốt tử  Sau khi nước ta gia nhập WTO không phải mọi chuyện đều vui. Không phải ai cũng vui. Hội nhập kinh tế thế giới còn có nhiều điều cay đắng.  Là nước nghèo và chưa ra khỏi tình trạng chậm phát triển, khả năng thích nghi và cạnh tranh đều yếu kém, nên những điều cay đắng đối với nước ta không phải là ít và dễ chịu đựng.  Nạn nhân đầu tiên là những sản phẩm không trụ được trên thị trường thuế quan thấp hoặc có thuế suất bằng không – nhất là sản phẩm của những ngành công nghiệp non trẻ; sự bảo hộ cuối cùng là bảo hộ bằng các biện pháp kỹ thuật cũng phải dỡ bỏ dần.  Nạn nhân đầu tiên là những sản phẩm lỗi thời bị các sản phẩm mới thay thế một cách không thương tiếc trên thị trường mở cửa cho cả thế giới.  Nạn nhân đầu tiên là những người lao động không thích nghi kịp hoặc không đáp ứng được những đỏi hỏi do sản phẩm mới đặt ra…  Nạn nhân đầu tiên là mọi phương thức làm ăn trong những khung khổ pháp chế và những chế định trái hay không khớp với những tiêu thức chung đã được thừa nhận trong WTO…  Còn nhiều nạn nhân khác nữa.  Nạn nhân “nặng ký” nhất là sự tụt hậu về tư duy trong một thế giới đã thay đổi sâu sắc.  Cho nên hội nhập dù có mang tính tất yếu sống còn đi nữa, xin đừng quên sự thật lạnh lùng mà các nạn nhân khác nhau đang phải đối mặt. Bởi vì trên sân chơi chung và bình đẳng của thị trường, mỗi sản phẩm có lợi thế cạnh tranh khác nhau, mỗi quốc gia, tập đoàn, mỗi con người thường có những điều kiện và khả năng phấn đấu khác nhau. Trên thế giới kẻ được người thua trong hội nhập là chuyện xảy ra hàng ngày, trong phạm vi một quốc gia cũng vậy.   Đương nhiên vai trò nhà nước, các thể chế và tổ chức xã hội ở nước ta có trách nhiệm lớn trong việc cùng với toàn dân khắc phục những khập khiễng này; nhưng quyết định vẫn là sự nỗ lực của từng công dân, từng doanh nghiệp quyết vượt qua mọi khó khăn.  Hiện tại thời đại toàn cầu hóa kinh tế thế giới đã đạt tới nấc thang phát triển: Ngày nay cả thế giới thách thức một người, một người có khả năng coi cả thế giới là đối tượng lao động của mình.  Thành – bại, vinh – nhục đối với một quốc gia, một doanh nghiệp, một cá nhân tùy thuộc vào khả năng ý thức điều cốt tử này. Một sản phẩm đưa ra thị trường, hay kết quả làm việc của một lao động – dù là trong cơ quan hành chính sự nghiệp, ngày nay đều phải chịu một thước đo chung và mọi thử thách khác của cả thế giới, đồng thời cũng có thể nhằm vào cả thế giới.  Câu chuyện đối với nước ta không phải là ngồi than vãn sức cạnh tranh của mình chênh lệch quá lớn so với thiên hạ, vì nước đi sau nào thoát được sự chênh lệch này? Câu chuyện đích thực của nước ta là phải ý thức được cái điều cốt tử này để có phương hướng hành động – từ suy nghĩ của một cá nhân cho đến chính sách của nhà nước.  Một khi nhìn thấy sản phẩm hay kết quả lao động của mình chịu sự thách thức của cả thế giới, thì sẽ không đem ta hôm nay ra so sánh với ta hôm qua nữa, mà là so sánh với cả thế giới; ta sẽ nhận biết ta rõ hơn – nghĩa là biết mình rõ hơn, sẽ hiểu cơ hội và thách thức đến từ đâu – nghĩa là biết người rõ hơn. Một khi có ý thức có thể coi cả thế giới là đối tượng lao động của mình, thì sẽ có ý chí tìm cách thoát khỏi cái vung trời lơ lửng úp trên đầu đang thu hẹp tầm nhìn của chúng ta, sẽ lựa chọn quyết sách nuôi chí lớn. Cuối cùng là sẽ tìm ra con đường biến cả thế giới thành đối tượng lao động của mình. Nghĩ, sống và làm ăn lâu dài là từ đây. Chống tình trạng ăn xổi ở thì và tự ti là từ đây. Quyết tâm đi tới dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh nhất thiết phải có ý chí này.  Cả nước, trước hết là nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, cần xác lập ý chí này làm động lực đẩy mạnh cải cách toàn diện, nhằm giải phóng mọi nguồn lực của đất nước, để có thể chủ động khai thác những quy chế của WTO. Mọi cái giá phải trả để vào WTO chỉ có ý nghĩa khi nước ta có bản lĩnh khai thác được tối đa những quy chế này.  Đối với mỗi công dân Việt Nam, mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc ta, yêu nước bây giờ trước hết là dám chấp nhận thách thức của cả thế giới, có ý chí coi cả thế giới là đối tượng lao động của mình, cả nước cùng nhau ra sức xây dựng xã hội học tập, xã hội thông tin để hun đúc ý chí như thế.  Một nước CNH-HĐH, hay bãi rác?   Khi là thành viên của WTO, câu hỏi này càng trở nên nóng bỏng đối với nước ta.  Bởi lẽ: khả năng tiếp thụ kém, khả năng cạnh tranh kém, nền kinh tế nước ta dễ có nguy cơ trở thành “bãi rác” khi mở cửa và hội nhập toàn diện vào kinh tế thế giới. Điều này không phải là hoang tưởng, mà đang là sự thực chua xót tại nhiều nước đang phát triển là thành viên của WTO từ hàng chục năm nay tại Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh. Tầm nhìn kinh tế hạn chế, tư tưởng ăn xổi ở thì, hiện tượng thiếu chăm lo thỏa đáng cho cái lâu dài, cùng với phương thức làm ăn “bóc ngắn cắn dài” và đầu tư theo kiểu vào lỗ hà ra lỗ hổng như những PMU 18, những đường hầm Văn Thánh… và nhiều yếu kém khác xảy ra trong thực tế đời sống kinh tế nước ta đang có xu hướng thai nghén “cái bãi rác”.  Trong quá khứ không xa đã xảy ra các công trình xi-măng lò đứng, là “mía – đường”, nhiều xí nghiệp công nghiệp đã chết khác… Trong hiện tại là phong cách làm ăn tranh thủ được gì làm nấy – như xe máy, ôtô, đóng tầu, cán thép, xuất khẩu than, các nguyên liệu và sản phẩm thô khác… Phương thức làm ăn này khá thụ động, chứa đựng nhiều điều nan giải. Một trong những ví dụ thời sự hiện nay là duy trì ngành công nghiệp ô-tô như thế nào trong bối cảnh phải mở cửa thị trường nhập ô-tô cũ, tán thành hay chống đều chưa có lý lẽ thuyết phục – vì chưa đặt câu chuyện ngành công nghiệp ô-tô vào tổng thể chiến lược CNH-HĐH của nước ta ở thời điểm toàn cầu hóa hiện nay trên thế giới! Chặng đường CNH-HĐH đã đi quá nửa về thời gian, mà hôm nay vẫn khó hình dung nước ta vào khoảng năm 2020 là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại sẽ có diện mạo như thế nào, kinh tế tri thức phát triển đến đâu. Nhìn vào quy hoạch phát triển cho những yêu cầu lớn như kết cấu hạ tầng, đô thị hóa, mở mang công nghiệp và các ngành dịch vụ khác…, nỗi lo “bãi rác” càng không thể xem thường.  Ngoài ra còn phải nói so với số dân, quỹ đất ở nước ta rất hẹp (dưới mức bình quân của cả thế giới, mật độ dân số cao hơn cả của Trung Quốc…), yêu cầu mở mang kết cấu hạ tầng trong những năm tới rất lớn, do nhiều nguyên nhân giá đất ở nước ta rất cao. Ngoài ra còn phải tính đến thị trường đất đai và bất động sản hiện nay mang nhiều tính đầu cơ và đang gây một sức ép đáng kể lên nền kinh tế. Giả thử cho đến năm 2020 nước ta cần một mạng đường bộ các loại gấp 2 lần hoặc hơn nữa như hiện có để đáp ứng những yêu cầu phát triển của một nước công nghiệp, điều gì sẽ xảy ra và tốn kém như thế nào? Có thể nói vắn tắt: quỹ đất hiếm, quản lý kém hiệu quả, giá đất cao, chất lượng quy hoạch thấp, những điều này đang trực tiếp ảnh hưởng đến thu hút FDI nói riêng và quá trình CNH – HĐH (bao gồm cả quá trình đô thị hóa) nói chung. Tình hình đất đai như vậy tác động không lợi vào việc phát huy lợi thế cạnh tranh của đất nước.  Chất lượng nguồn nhân lực như hiện nay chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và quá trình CNH-HĐH nói riêng. Điều này cũng đang trở thành nỗi lo đáng kể cho việc phát huy lợi thế cạnh tranh với tính cách là thành viên WTO. Ngoài ra còn phải kể đến những yếu kém khác trong năng lực quản lý đất nước, trong năng lực làm chính sách…  Xin nhắc lại: Vào WTO mà không tận dụng được mọi điều kiện để phát huy lợi thế cạnh tranh là thất bại, tất yếu đi tới “bãi rác” – không một duy ý chí nào có thể cưỡng lại nổi.  Xem xét như vậy, nên chăng tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn chiến lược phát triển?  Nội dung của cuộc điều chỉnh này là ưu tiên phân bổ nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng phần cứng và phần mềm, phát triển nguồn nhân lực, chấm dứt hẳn việc dùng ngân sách nhà nước hay các nguồn nhà nước đi vay để đầu tư hay hỗ trợ đầu tư vào các dự án công nghiệp, ban hành các thể chế và chính sách giải phóng và không phân biệt đối xử mọi nguồn lực của cả nền kinh tế, khuyến khích thu hút FDI, khuyến khích hình thành các liên kết, liên doanh giữa trong nước với FDI; cải tiến mạnh mẽ hệ thống ngân hàng, ban hành những khuyến khích định hướng và cung cấp tối đa các dịch vụ thông tin, dịch vụ kỹ thuật – tất cả nhằm tạo ra thị trường đầu tư tốt nhất cho những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và tỷ lệ lãi cao, có khả năng chiếm được thị phần lớn ở trong nước cũng như trên thế giới. Đấy chính là tinh thần coi cả thế giới là đối tượng lao động của mình.  Xin lưu ý, sản phẩm và thành quả lao động của nước ta trong hội nhập  có đạt thương hiệu được thị trường thế giới xác nhận, thì đất nước mới có cơ may sớm tiến lên giàu mạnh. Mà ai cũng biết con đường xây dựng thương hiệu chỉ hứa hẹn thành công bằng chữ tín của bản thân và bằng những mối liên kết, liên doanh có hiệu quả với các đối tác có tên tuổi ở thế giới bên ngoài.  Nói ngắn gọn, vào WTO là để tìm cách mở rộng không gian kinh tế cho sự nghiệp chấn hưng đất nước và phải tránh bằng được nguy cơ “bãi rác”. Muốn thế phải từ bỏ con đường nhà nước làm công nghiệp hóa, để chuyển hẳn sang con đường nhà nước tạo mọi điều kiện mang tính định hướng, để cho công nghiệp phát triển theo xu thế vận động của kinh tế thế giới. Nghĩa là nhà nước tìm cách để cho thị trường làm công nghiệp hóa theo hướng đáng mong muốn. Ngành công nghiệp nào ra đời, kinh tế phát triển theo hướng nào…, chủ yếu phải dựa trên cơ chế thị trường, phù hợp với xu thế vận động của kinh tế thế giới, nhà nước đưa ra được những điều kiện định hướng và những ưu đãi, những khuyến khích có hiệu quả. Vai trò nhà nước không nên đi quá phạm vi này, lại càng không được trực tiếp làm kinh tế. Tóm lại, nhà nước phải thực hiện tốt vai trò bà đỡ của mình đối với nền kinh tế, làm cho nền kinh tế vận động đúng nguyên lý cơ bản: Thị trường quyết định sản phẩm, sản phẩm quyết định chính sách.  Thúc đẩy doanh nghiệp xông ra thị trường, để doanh nghiệp chịu sự đào thải và tôi luyện của thị trường, nhà nước hậu thuẫn hết lòng – đó là con đường thành công của nhiều quốc gia. Nhà nước xông vào thị trường, nhà nước làm kinh tế, thường xảy ra là nhà nước bị thị trường đào thải, con đường này đã khiến cho nhiều quốc gia mất cả chì lẫn chài. Trong khung khổ thể chế WTO “luật chơi” này càng nhạy cảm.  Bài toán nào cho phát triển nông nghiệp và nông thôn?  Trước hết cần nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn ở nước ta gắn kết hữu cơ với quá trình đô thị hóa, vừa là tiền đề vừa là kết quả của quá trình CNH-HĐH.   Phát triển nông nghiệp và nông thôn vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề văn hóa, vừa là vấn đề môi trường, đòi hỏi phải xử lý đồng bộ trong quá trình đô thị hóa cũng như trong quá trình CNH-HĐH. Đặc biệt 2/3 số dân nước ta còn đang sống trong khu vực nông thôn, nông dân lại là lực lượng chủ lực trong những giai đoạn cách mạng vừa qua, nên phát triển nông nghiệp và nông thôn còn là vấn đề phát triển đất nước nói chung và là một vấn đề chính trị trọng đại. Trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta như vậy, vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ khó nhất trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, quyết định thành bại sự nghiệp CNH-HĐH, bảo đảm ổn định chính trị và an ninh của đất nước.  Hội nhập kinh tế thế giới, nhất là sau khi gia nhập WTO còn đặt ra vấn đề sản phẩm nông nghiệp nước ta cạnh tranh như thế nào với cả thế giới về giá cả, chất lượng, điều kiện lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường.., nhất là các nước phát triển thường hỗ trợ cho sản phẩm nông nghiệp của họ tới 30 – 40% giá thành và nhiều dịch vụ kỹ thuật khác. Ngoài ra để nâng cao lợi thế cạnh tranh, vấn đề thời sự trong nông nghiệp nước ta là làm gì để nâng cao hàm lượng chế biến trong sản phẩm nông nghiệp, phát triển những sản phẩm nông nghiệp cao cấp khác có thị trường tiêu thụ trong nước và trên thế giới.  Cái khó lớn nhất của nông nghiệp và nông thôn nước ta là cái nghèo, đặc biệt là cái nghèo ở các vùng sâu vùng xa. Song bù lại, nhìn chung nước ta có lực lượng lao động trong nông nghiệp và nông thôn hùng hậu, có đức tính lao động cần cù, phần lớn được hưởng chế độ giáo dục phổ cập, có nhiều ngành nghề phi nông nghiệp, có nhiều tiềm năng tiếp thụ tiến bộ kỹ thuật cho sản phẩm mới.  Nhìn vào những kinh nghiệm thành công ở nông thôn nước ta, ở nông thôn các nước Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…, phải chăng phát triển nông nghiệp và nông thôn của Việt Nam thời hội nhập nên đi trên cả 2 hướng:  (a)   Nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của những sản phẩm nông nghiệp hiện có, phát triển sản phẩm nông nghiệp mới;  (b)  Phát triển những xí nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa phục vụ những yêu cầu của địa phương, phục vụ phát triển công nghiệp cả nước nói chung, khuyến khích trực tiếp tham gia xuất khẩu.  Để làm được như vậy, vai trò nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tạo những điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng; hình thành các thể chế pháp luật và những chính sách khuyến khích, ưu đãi nông nghiệp và nông thôn; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, pháp lý, thông tin; hỗ trợ đào tạo ngành nghề; phát triển thương mại và ngoại thương; thiết lập hệ thống ngân hàng hoạt động hữu hiệu; thu hút nguồn vốn trong nước và nước ngoài về nông thôn…  Dân dã đã tổng kết, phát triển nông nghiệp và nông thôn đi theo 2 hướng nêu trên là phương thức phát triển nông nghiệp và nông thôn dời nông nghiệp nhưng không dời làng. Nhìn vào các thị trấn, thị tứ mới hình thành trong các vùng nông thôn đông dân ở nước ta trong 20 năm qua, có thể nói đấy là con đường phát triển nông nghiệp và nông thôn đầy hứa hẹn, cần được hỗ trợ bằng những quy hoạch phát triển được tính toán thấu đáo và bằng những chính sách khôn ngoan. Thực tế này cho thấy nông nghiệp và nông thôn nước ta hoàn toàn có khả năng phát triển nhanh và vững chắc.  Tuy nhiên không thể phủ nhận áp lực rất lớn của các định chế và nhiều chính sách khác của WTO đối với sản phẩm nông nghiệp của các nước đang phát triển – trong đó có nước ta. Vấn đề sản phẩm nông nghiệp cũng là một trong những vấn đề đàm phán gay go nhất trong vòng Doha hiện nay và chưa ngã ngũ. Song thẳng thắn mà nói, thách thức lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta là nhà nước có làm tốt được vai trò và nhiệm vụ phải làm của nó như đã trình bày hay không? Điểm lại, phải thừa nhận nhà nước ta chưa làm được nhiều, đã thế lại mất khá nhiều thời giờ và công sức vào những chuyện như phát triển hay không phát triển kinh tế trang trại, phát triển đến đâu? Hạn điền hay không hạn điền? Những hợp tác xã ta cố duy trì theo Luật Hợp tác xã thì thiếu sức sống, trong khi đó những hợp tác xã do dân tự lập ra theo cách làm của dân có sức sống lạ thường và đang cần những hỗ trợ đích đáng – nếu không sẽ dễ biến tướng và bị thao túng… Đem so sánh nhà nước ta làm gì cho nông nghiệp với việc nhà nước Thái Lan, Hàn Quốc hay Đài Loan làm gì cho nông nghiệp, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào. Đảng ta thường nhấn mạnh liên minh công nông, nhưng trên thực tế những yếu kém này là chỗ yếu nhất trong thực hiện liên minh công nông. Gia nhập WTO, cần đặc biệt quan tâm khắc phục yếu kém này.  …Tạo ra yếu tố nhân hòa tốt nhất  Là nước nghèo, lại đi sau, sự lựa chọn tối ưu cho nước ta là tận dụng mọi lợi thế nước đi sau để tìm cách phát huy tối đa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của mình, vượt lên thu hẹp khoảng cách tụt hậu, tìm đường tiến lên hàng ngũ các nước công nghiệp hiện đại.  Trong loạt bài “Thời cơ vàng” tôi đã có dịp trình bày, lần đầu tiên trong lịch sử của mình, nước ta đang hội tụ được mọi điều kiện bên trong, bên ngoài cần thiết cho sự nghiệp chấn hưng đất nước. Chỉ cần tạo ra được yếu tố nhân hòa tốt nhất, nước ta sẽ làm nên tất cả. Đó là xây dựng và phát huy con người Việt Nam, tinh thần dân tộc Việt Nam, xây dựng một Nhà nước Việt Nam làm bà đỡ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển của Việt Nam.  Tự do dân chủ, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự ở trình độ ngày nay là những thành quả vô cùng quý báu của văn minh nhân lọai, là xu thế tiến bộ đang nảy nở trong nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với nước ta, đấy chính là các điều kiện không thể thiếu để tạo ra yếu tố nhân hòa tốt nhất, đúng với tinh thần: giải phóng con người, con người là trung tâm của sự phát triển. Có con người được giải phóng mới có tất cả. Nói cho cùng cái đích này mới thật là xã hội chủ nghĩa. Một quốc gia có những con người như thế mới có thể cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thế giới.  Tiến cùng thế giới, tiến cùng thời đại, không có lý do gì để chối bỏ những thành tựu của văn minh nhân loại. Hội nhập là để tranh thủ mọi điều kiện mau chóng vận dụng thành công những thành tựu của văn minh nhân loại. Mang danh định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng phải tìm cách làm chủ những thành tựu này. Chỉ có con người được giải phóng, tinh thần dân tộc được phát huy, Việt Nam mới có thể sớm trở thành một thành viên bình đẳng trong WTO, bằng không sẽ chỉ tranh được cái chân thành viên loại hai, ba, bốn.., – nghĩa là tụt hậu mãi mãi.  III. Trách nhiệm của Đảng lãnh đạo  Đại hội X khẳng định đẩy mạnh chỉnh đốn và xây dựng Đảng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của khóa này. Đấy là một quyết định chính xác, nói lên quyết tâm làm tròn sứ mệnh là đảng lãnh đạo của đất nước trong thời đổi mới, tiến hành CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế thế giới.  Nếu nhìn vào những tha hóa và yếu kém nhiều đảng viên mắc phải đến mức có đồng chí lãnh đạo phải thừa nhận có những lỗi lầm thuộc về hệ thống, chúng ta cắt nghĩa tình trạng này như thế nào? Mọi người đều thấy nhiều hiện tượng tha hóa biến chất của đảng viên đã ảnh hưởng xấu đối với đời sống văn hóa, tinh thần của đất nước, đang làm đảo lộn nhiều thang giá trị phải gìn giữ. Báo cáo Chính trị tại Đại hội X nghiêm khắc thừa nhận những yếu kém xảy ra đang làm cho lòng tin của nhân dân vào Đảng bị tổn thương, giảm sút.  Đứng trước tình tình này, không thể không đặt ra câu hỏi: Suốt 20 năm đổi mới vừa qua không một lúc nào Đảng ta sao lãng nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thế nhưng tại sao lại có sự hẫng hụt như vậy về phẩm chất và năng lực lãnh đạo so với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng?  Phải đi tìm người thày là lịch sử để có câu trả lời tin cậy.  Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử và truyền thống cách mạng hào hùng của Đảng ta, phải chăng Đảng ta xác lập được vai trò lãnh đạo của mình là nhờ vào 4 yếu tố chính sau đây:  • giác ngộ những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cỏch mạng nước ta  • vạch ra được đường lối đúng đắn giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng,  • tổ chức thực hiện thành công đường lối cách mạng đã vạch ra,  • toàn Đảng và từng đảng viên xả thân chiến đấu và đi tiên phong trong việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng đã đề ra.  4 yếu tố nêu trên cho phép kết luận: Đi tiên phong về tư duy nhận thức nhiệm vụ cách mạng, có phẩm chất chiến đấu ngoan cường thực hiện nhiệm vụ cách mạng – chính hai điều kiện này đã xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đã đem lại thắng lợi cho dân tộc, cho đất nước từ Cách mạng Tháng Tám đến nay.  Phân tích sự hẫng hụt về phẩm chất và năng lực của Đảng hiện nay cũng cho thấy trong Đảng hiện nay có hai yếu kém cơ bản: (a) tính tiền phong chiến đấu và (b) phẩm chất cách mạng của Đảng đang có khoảng cách không thể xem thường so với nhiệm vụ cách mạng ngày nay đòi hỏi.  Phải chăng vì chưa làm rõ hai yếu kém cơ bản này trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, nên công tác chỉnh đốn và xây dựng Đảng chưa đi vào được thực chất của vấn đề, và điều này cắt nghĩa vì sao nhiệm vụ chỉnh đốn và xây dựng Đảng luôn luôn được đặt lên hàng đầu mà đến nay vẫn không mang lại kết quả mong muốn?  Không phải ngẫu nhiên, để dứt khỏi đường mòn và tiến được vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI đã phải đề ra yêu cầu: Nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới tư duy.  Nhìn vào những thành tựu giành được trong 20 năm đổi mới, điều rất rõ là những thành tựu này đều gắn với đổi mới tư duy của Đảng và gắn với ý chí thực hiện đường lối đổi mới; những yếu kém vấp phải trong thời gian này đều có nguyên nhân từ sự lạc hậu của tư duy và sự sa sút của phẩm chất cách  mạng.  Giai đoạn cách mạng mới của đất nước trong thời kỳ hội nhập toàn diện vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới đặt ra cho nước ta những đòi hỏi và những nhiệm vụ chưa hề có. Đi tiên phong về tư duy nhận thức những đòi hỏi và nhiệm vụ mới của đất nước, đi tiên phong về tư duy nhận thức những thời cơ và thách thức mới, có trí tuệ và bản lĩnh dẫn dắt đất nước thành công trên con đường chấn hưng đất nước, có phẩm chất xả thân phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đấy chính là nội dung cốt yếu của nhiệm vụ đổi mới chỉnh đốn và xây dựng Đảng.  Nói một cách khác, nhiệm vụ cách mạng của Đảng trước đây là đi tiên phong trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, ngày nay là đi tiên phong trong sự nghiệp giải phóng mọi nguồn lực của đất nước, dẫn dắt đất nước tiến bước thắng lợi trên con đường hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới, tất cả nhằm thực hiện thành công sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Nói ngắn gọn, Đảng phải đi tiên phong trong việc vận dụng mọi thành quả văn minh của nhân loại để tạo mọi điều kiện cho quốc gia mình, dân tộc mình sớm đi tới đích. Lãnh đạo có nghĩa là như vậy.  Đặt vấn đề như vậy trước hết có nghĩa Đảng phải đi tiên phong và có phẩm chất cách mạng thực hiện tự do dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội công dân, giải phóng con người và mọi nguồn lực của đất nước, xây dựng sự đồng thuận vững chắc của toàn dân tộc, để trong một tương lai không xa dựng lên được một nước Việt Nam thịnh vượng, hạnh phúc. Đấy chính là chủ nghĩa xã hội đích thực Đảng ta cần đem hết trí tuệ, nghị lực và nhiệt tình cách mạng lãnh đạo dân tộc ta phấn đấu thực hiện bằng được.  Đặt vấn đề như vậy, phải đổi mới hẳn nội dung chỉnh đốn và xây dựng Đảng.  Đặt vấn đề như vậy phải đổi mới hẳn phương thức và nội dung Đảng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo hệ thống chính trị của đất nước.  Đặt vấn đề như vậy có nghĩa làm cho sự lãnh đạo của Đảng trở thành tiền đề cho việc dẫn dắt đất nước thành công trên con đường hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày nay, bảo đảm cho Việt Nam sớm trở thành một thành viên có vị thế xứng đáng trong WTO nói riêng và trên trường quốc tế nói chung.  Đại hội VI là một mốc son trong lịch sử Đảng ta, mở ra thời kỳ đổi mới và thay đổi hẳn vị thế của đất nước, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới. Những người đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam hãy đem tất cả trí tuệ và lòng yêu nước của mình, dốc lòng phấn đấu thực hiện cam kết của Đảng trước dân tộc đã ghi trong Nghị quyết của Đại hội X: Sớm đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và chậm phát triển vào năm 2010.  Đi tiên phong về nhận thức con đường phát triển của đất nước thời hội nhập vào kinh tế thế giới toàn cầu hóa ngày nay, đi tiên phong tạo ra yếu tố nhân hòa tốt nhất trong cộng đồng dân tộc để xây dựng thành công nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ và văn minh – đấy chính là thước đo, là hòn đá thử vàng đối với người cộng sản Việt Nam, là con đường tiếp tục kế thừa sứ mệnh của Đảng đối với đất nước, đối với dân tộc mà Đảng ta đã gánh vác trên vai mình kể từ ngày thành lập. Đấy là con đường Đảng trường tồn với dân tộc.     Thay cho phần kết luận: Sự lựa chọn của chúng ta  Hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong một thế giới phát triển năng động và đầy biến động, nước ta lựa chọn phương thức ứng xử nào?  Muốn hay không, trước hết cần phải thừa nhận trên thế giới ngày nay có nhiều biến động và tác động ngoài ý muốn của chúng ta. Ai dự báo được điều gì một khi giá dầu lửa trên thế giới lên tới 100 USD một thùng hoặc hơn nữa? Tác động như thế nào vào kinh tế thế giới, vào khu vực, vào nước ta? Chiến tranh Iraq sẽ đi tới đâu? Cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Bắc Triều Tiên chưa giải quyết xong lại xuất hiện thêm vấn đề làm giàu uranium ở Iran – một trong những nước OPEC xuất khẩu nhiều dầu nhất thế giới… Nếu đồng dolar tiếp tục mất giá… vân vân… Hôm kia là áp dụng luật chống phá giá đối với cá basa của ta, hôm qua là tôm… Hôm nay là giày dép và đồ may mặc vào thị trường EU… Những hoạt động khủng bố… Nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm H5N1…  Chúng ta lựa chọn cách ứng xử nào trong thế giới này?  Toàn cầu hóa kinh tế đang tiếp tục làm đảo lộn cả thế giới. Nhưng toàn cầu hóa kinh tế không đảo lộn được nguyên lý: Có thực mới vực được đạo! Mạnh vì gạo, bạo vì tiền…  Nước ta hình như chỉ có một sự lựa chọn: Phải làm cho mình giữ được cái nguyên lý mà toàn cầu hóa kinh tế phải kiêng nể. Nghĩa là nước ta phải giàu nhanh lên, mạnh nhanh lên. Đến mức: Phải giàu mạnh nhanh lên, hay là chết!?  Đi với cả thế giới để giàu mạnh nhanh lên, hay là chết!  Người Việt Nam, trước hết người đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể vô cảm với thách thức này?  Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bill Gates: “Nghiên cứu vì người nghèo”      Mới đây tại Lindau (Đức) đã diễn ra cuộc gặp gỡ hàng năm giữa 59 nhà khoa học được giải thưởng Nobel thuộc các lĩnh vực&#160; hóa học và vật lý học, y học và tâm lý học và các nhà nghiên cứu trẻ từ nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với các nhà khoa học trẻ thì đây là dịp họ được tư vấn về hoạt động nghề nghiệp vô cùng bổ ích.  Bill Gates là người sáng lập hãng Microsoft và là một trong những người giầu nhất thế giới đã tham dự cuộc gặp gỡ này và trong cuộc trả lời phỏng vấn báo Frankfurt toàn cảnh (F.A.Z.) ông đã nói về vấn đề tiêm chủng, mục tiêu toàn cầu về&#160; y tế và vai trò của quỹ rất hùng mạnh do ông sáng lập.        Thưa ông, ông và Quỹ-Bill-và-Melinda-Gates đã trở thành một trong những đối tượng có thế lực nhất khi đề cập đến y tế toàn cầu, đến việc hỗ trợ tăng cường công tác y tế đặc biết với các nước thuộc Thế giới thứ ba.  Ông trông chờ gì ở những sinh viên ưu tú, nhà khoa học trẻ trong vấn đề này? Ông mang theo thông điệp gì tới Lindau?    Điều quan trọng nhất là các bạn trẻ nhận biết được những tiềm tăng to lớn trong những sáng chế phát minh đặc biệt vì lợi ích của người nghèo. Ở đây tôi muốn đề cập trước hết tới các loại thuốc tiêm chủng, các loại giống cây trồng mới và việc cung ứng thuốc chữa bệnh mới. Tôi nghĩ rằng thế hệ trẻ cần đặt ra câu hỏi với chính mình, sáng chế phát minh có ý nghĩa định hướng đang thực sự thiếu ở chỗ nào. Thí dụ tôi nghĩ đến bệnh sốt rét. Bệnh này đã bị triệt tiêu ở các nước giầu có, nhưng hiện tại vẫn có tới hàng triệu trẻ em ở các nước nghèo bị chết vì sốt rét.     Theo ông, cho đến nay các nước giầu đã cung cấp đủ thuốc tiêm phòng cho các nước nghèo chưa?    Hoàn toàn không đủ như tôi mong muốn. Chúng tôi ủng hộ 50 triệu đôla cho việc nghiên cứu thuốc tiêm phòng bệnh sốt rét, có nghĩa là đã tăng gấp đôi khoản tiền đầu tư nghiên cứu về vấn đề này. Thông điệp hiện nay là: Hãy giúp đỡ thực sự  cụ thể và sự giúp đỡ đó cần phải kiểm chứng, ước lượng được    Hiện nay ông đã có một đội ngũ tham mưu đáng nể về mặt khoa học và đã có cái nhìn sâu sắc trong lĩnh vực nghiên cứu. Ông đánh giá như thế nào về những tiến bộ trong việc phát triển các loại thuốc tiêm chủng mới?    Đối với tôi thước đo chính là số lượng trẻ em bị chết vì năm căn bệnh gây chết người nhiều nhất. Trong những năm sáu mươi mỗi năm có khoảng 20 triệu trẻ em chết vì những căn bệnh đó, năm 2010 con số này dưới 9 triệu. Nguyên nhân chính là nhờ được tiêm chủng. Trong những năm 60 mỗi năm có khoảng 2 triệu trẻ em là nạn nhân của bệnh đậu mùa, đến năm  2010 con số này là không. Bệnh sởi mỗi năm gây 2 triệu ca tử vong nay chỉ còn  300.000. Những loại vakzin mới mà chúng tôi mới giới thiệu cách đây hai tuần tại sáng kiến tiêm chủng toàn cầu  GAVI  sẽ cứu nhiều triệu trẻ em ở châu Phi thoát chết vì các bệnh dịch. Đó là ba loại vakzin chống vật gây bệnh viêm màng não, Rotavirus và bệnh phế cầu (Pneumococcus). Từ hai đến bốn năm nữa chúng ta sẽ loại trừ được bệnh bại liệt (Polio).     Việc chữa được Polio – bệnh bại liệt ở trẻ em – từng được coi là một thành công vĩ đại nhất trong lịch sử y tế. Và có phải như tuyên bố của các cơ quan y tế chính thức thì căn bệnh này đã bị tiêu diệt từ nhiều năm nay?    Thực tình tôi rất đau đầu về chuyện này. Năm 1988 chúng tôi bắt đầu phân phối loại thuốc tiêm chủng đầu tiên . Hồi đó loại siêu vi trùng làm cho mỗi năm có khoảng 300.000 trẻ em bị bệnh bại liệt.  Năm 2002  con số này đã giảm  xuống chỉ còn khoảng  3000 trường hợp. Hiện nay chúng ta vẫn ở mức này. Việc tiêu diệt 1% cuối cùng này tỏ ra vô cùng khó khăn nhất là ở Nigeria, Pakistan mặc dù dân chúng và cả chính phủ đã tích cực  phát động các chiến dịch tiễu trừ loại siêu vi trùng gây bệnh này.      Thưa ông, giới công nghiệp đã làm hết mình chưa?    Họ có thể làm được nhiều hơn nữa. Đã có những hoạt động như trường hợp  GSK mới đây, người ta đã giảm giá thuốc tiêm phòng virusrota cho các nước nghèo tới 75%. Tổ chức Quỹ của chúng tôi  đã có hẳn một bảng xếp hạng riêng đối với ngành công nghiệp. Qua đó có thể thấy, ngay cả  GSK cũng có thể làm được nhiều hơn nữa. Hàng năm tôi có hai cuộc gặp gỡ với các vị chủ tịch Hội đồng quản trị các tập đoàn dược phẩm. Với họ tôi không có đòi hỏi gì hơn là mỗi năm hãy trích ra vài phần trăm lợi nhuận của họ để cống hiến cho sự nghiệp này, chỉ vậy thôi. Dù sao thì chúng tôi cũng đã có những tiến bộ, dù có sự chậm chạp đi nữa.      Cách đây vài năm trong dịp ông viếng thăm định kỳ các viện nghiên cứu được ông đồng tài trợ, tôi đã mạn phép hỏi ông, khi nào sẽ có các loại vakzin phòng bệnh aids, sốt rét và bệnh lao, khi đó ông rất lạc quan và nói khoảng từ  mười đến hai mươi năm nữa. Vậy hiện nay ông thấy điều này thế nào, các thuốc phòng vẫn chưa hề có?    Ba căn bệnh lớn này là những bệnh đặc biệt phức tạp. Việc phát triển vakzin chống  Aids đã đạt được một số tiến bộ, nhưng những tiến bộ này chưa lớn đến mức để ta có thể đưa ra một thời hạn nhất định vì điều trị chống bệnh  Aids gần đây đã ít nhiều có kết quả nên tiền đầu tư phát triển loại vakzin phòng bệnh có phần giảm xuống. Ở Mỹ một ca điều trị cho bệnh nhân  Aids tốn khoảng 8000 đôla. Do đó nếu có thuốc phòng Aids vẫn còn có lợi. Đối với bệnh lao cũng vậy. Riêng đối với bệnh sốt rét đạt được nhiều tiến bộ nhất. Đã có một loại thuốc tiêm chủng tương đối có hiệu quả, tuy chưa phải là mĩ mãn nhưng người ta đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong thử nghiệm lâm sàng.     Cùng với quỹ của mình ông không những là một trong những người tham gia lớn nhất mà còn có thế lực nhất trong lĩnh vực hỗ trợ y tế ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Vì vậy có lúc ông bị coi là đã lèo lái chương trình nghiên cứu theo ý muốn của mình và sao nhãng các lĩnh vực khác.     Không. Sự thật là, so với nhu cầu thì khoản tiền đổ vào các nước nghèo còn quá ít ỏi. Chúng ta cần có nhiều nhà tài trợ cho những chương trình nghiên cứu. Chúng tôi tài trợ cho nhiều dự án  khác nhau và tất nhiên cũng có thể có lúc chúng tôi đã có những quyết định sai lầm. Trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh sốt rét  đã có một vài ý tưởng thú vị mà chúng tôi không tài trợ. Nhưng nếu không có chúng tôi thì chẳng có tài trợ gì cả.  Nếu có sáu ý tưởng để nghiên cứu và chúng tôi ủng hộ ba ý tưởng trong số đó thì vẫn còn hơn là  có sáu phương án khác nhau mà chẳng có đồng tài trợ nào. Chúng tôi buộc phải lựa chọn.     Xuân Hoài  Theo F.A.Z.4.7.2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bình dân hóa thịt lợn: Cái giá phải trả ?      Sự bùng nổ của đàn lợn đã không đi cùng với khả năng xử lý chất thải, đe dọa môi trường tự nhiên, sức khỏe và sinh kế của người dân.     Tháng ba, sau nhiều năm chịu đựng mùi hôi của phân lợn, Nguyễn Thị Bông, 47 tuổi, cùng những phụ nữ thôn 5, xã Phú An, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, kéo nhau lên Ủy ban Nhân dân xã khiếu nại một trại nuôi lợn.  “Không thể thở nổi. Ban đêm đi ngủ còn phải đeo khẩu trang”, Bông ngồi bên hiên nhà kể lại, trong một buổi chiều tháng sáu hiếm hoi có thể mở toang cửa nhà đón gió hè. “Cái mùi ấy hôi tanh nồng nặc làm tôi đau đầu, choáng váng”.  Năm 2014, trại lợn quy mô 10.000 con cùng các hố chứa chất thải lộ thiên mọc lên cạnh nhà bà. Chất thải dẫn ra từ trang trại sớm nhuộm đen ao cá gần nhà. Trong khi đàn ông, người trẻ trong làng đi học, đi làm xa, những phụ nữ trung niên làm việc tại nhà như Bông hứng chịu nhiều nhất sự ô nhiễm này.  Trại lợn đã rút cạn bầu không khí trong lành của một vùng quê với đồi núi bao bọc. Không chỉ mỗi ngôi làng của Bông ngạt thở trong chất thải chăn nuôi. Có hàng loạt ngôi làng như vậy ở Đồng Nai, cũng như trên khắp Việt Nam. Sự bùng nổ của đàn lợn đã không đi cùng với khả năng xử lý chất thải, đe dọa môi trường tự nhiên, sức khỏe và sinh kế của người dân bản địa.  Những người phụ nữ ở xã Phú An, Tân Phú, Đồng Nai đang đứng trước một hố nước thải của trại lợn. Ảnh: Võ Kiều Bảo Uyên.  Tình yêu với thịt lợn của người Việt  Khi Bông còn bé, thịt lợn là biểu tượng của giàu có, bà thường phải chờ đến ngày Tết mới được ăn vài lát thịt. Mọi thứ đã đổi thay. Sau ba thập kỷ Đổi mới, thịt lợn hiện diện dày dặn trong bữa ăn của người Việt. Kể cả trong những món vốn không có thịt, như bún riêu cua, giờ đã được thêm vào miếng chân giò. Theo Bộ Y tế, lượng thịt bình quân mà người Việt Nam tiêu thụ đã tăng 10 lần, từ chưa tới 14 gr/người/ngày vào năm 1985 đến gần 140gr/người/ngày vào năm 2020. Thịt lợn chiếm tỷ trọng hơn 70% lượng thịt tiêu thụ mỗi năm với 3,8 triệu tấn.    “Ngay cả khi trại nuôi lợn được xây xa khu dân cư theo đúng quy định thì cũng chỉ giảm ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, chứ không thể ngăn được thiệt hại môi trường, và cuối cùng thì con người vẫn phải chịu hậu quả”, ông Thắng nói.    Nghiên cứu của TS. Arve Hansen, Trung tâm Phát triển và Môi trường, Đại học Oslo (Na Uy) đã chỉ ra tăng trưởng kinh tế và thay đổi trong chế biến thực phẩm, khẩu vị người dùng là những chất xúc tác thúc đẩy tình yêu thịt của người Việt. Nhưng mối tình đó sẽ khó bùng nổ nếu không có sự chuyển đổi từ mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ truyền thống sang chăn nuôi tập trung sau Đổi mới. Mười năm qua, số lượng vật nuôi đã và đang tăng lên trong khi số hộ chăn nuôi giảm xuống, nhường chỗ cho các doanh nghiệp, trang trại. Cục Chăn nuôi ước tính, năm 2021 các doanh nghiệp, trang trại đã đóng góp khoảng 60% tổng sản lượng sản xuất thịt lợn cả nước, nông hộ chỉ rơi ở mức 35-40% và sẽ tiếp tục giảm.  Nguồn cung thịt lợn trong nước trở nên dồi dào, đã góp phần phổ biến miếng thịt. Theo Tổng cục Thống kê (GSO), đàn lợn sau 20 năm đã tăng gấp đôi từ khoảng 16 triệu con vào năm 1995 đến hơn 30 triệu con vào năm 2016; do dịch tả lợn châu Phi và đại dịch Covid-19 con số này hiện khoảng 28 triệu con.       Lượng thịt lợn tiêu thụ/đầu người/năm từ năm 1990 đến năm 2029 (dự kiến) ở Việt Nam trong tương quan với thịt bò, thịt gà. Nguồn: OECD  “Điều này có ý nghĩa lớn với tất cả hộ gia đình, giờ đây họ đã có thể tiếp cận thịt lợn dễ dàng hơn các thế hệ trước rất nhiều”, TS. Hansen chia sẻ qua một cuộc phỏng vấn online.  Báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ước tính, Việt Nam là nhà sản xuất thịt lợn lớn thứ hai châu Á, sau Trung Quốc và lớn thứ sáu trên toàn cầu. Phần lớn lượng thịt phục vụ cho nhu cầu nội địa, một số ít xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Hong Kong.  “Nhưng theo sau sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thịt là những rủi ro hiển hiện trước mắt: ô nhiễm đất, nước và không khí; đặc biệt khi chất thải từ các trang trại lớn không được kiểm soát”, TS. Hansen nói thêm.  Xả thải quá nhiều  Nhận định của nhà nghiên cứu khớp với thực tế đang diễn ra. Nhiều thịt lợn hơn trên bàn ăn đồng nghĩa môi trường phải gánh vác chất thải nhiều hơn. Trong nhiều năm, các cơ quan chức năng đã xử phạt hàng loạt trại lợn vi phạm xả thải. Báo chí trong nước nhiều lần đưa tin trại lợn bóp chết các sông, suối, thậm chí đe dọa cả những con sông lớn đang cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu người bao gồm cả TP.HCM.       Mức độ tăng trưởng quy mô đàn lợn của Việt Nam 1995 – 2021. Nguồn: Tổng cục Thống kê  “Chăn nuôi lợn đang gây hại cho môi trường nhiều nhất so với các loài, đó là điều không thể chối cãi”, Nguyễn Tất Thắng, Tổng thư ký Hội Chăn nuôi Việt Nam khẳng định.  Nghiên cứu công bố năm 2017 của World Bank đã chỉ ra, phân lợn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng chất thải của ngành chăn nuôi Việt Nam, đồng nghĩa với việc nó góp phần lớn nhất vào tác động ô nhiễm của ngành. Mặt khác, các trại lợn lại tập trung chủ yếu ở các vùng dân cư đông đúc ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, và Đông Nam Bộ. Cũng theo báo cáo, lợn đóng góp giá trị nhiều nhất cho ngành chăn nuôi cả nước, nhưng gần một nửa lượng phân của loài này được xả thẳng ra môi trường mà chưa qua xử lý –  tỷ lệ cao nhất trong chăn nuôi. Dù các trang trại thâm canh cao có tỉ lệ xử lý và tái sử dụng phân lớn hơn nhiều so với các hộ chăn nuôi nhỏ nhưng điều đó không có nghĩa ảnh hưởng tiêu cực của chúng giảm đi. Chất thải từ các cơ sở chăn nuôi lớn hiện đang vượt quá khả năng tái chế và xử lý khoảng 20%. Hơn nữa, khi hàng nghìn con lợn được nuôi tập trung trong một diện tích nhỏ, mức độ ô nhiễm càng trở nên “đậm đặc”. Nói cách khác, lượng phân lợn thải ra từ các trang trại này luôn vượt quá ngưỡng chịu đựng của môi trường và người dân xung quanh.  Nhưng nỗi ám ảnh từ chất thải của lợn không chỉ đến từ phân – vốn đã rất khó thu dọn do ở dạng sệt – mà còn đến từ cả nước thải ra từ việc tắm mát và vệ sinh chuồng trại. Với khí hậu nắng nóng ở Việt Nam, vấn đề này càng nghiêm trọng hơn. Dự án hỗ trợ nông nghiệp carbon thấp (LCASP) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, việc sử dụng nước quá nhiều là nguyên nhân chính khiến ngành công nghiệp chăn nuôi này trở thành nguồn ô nhiễm.      Theo LCASP, nông dân thường sử dụng khoảng 30 lít nước/con lợn/ ngày để làm mát và vệ sinh cho lợn. Con số này còn lên đến 60 lít đối với một số trang trại ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hằng năm ngành chăn nuôi lợn đã thải ra khoảng 300 triệu m3 nước bẩn. Con số này theo báo cáo năm 2020 của Bộ NN&PTNT chiếm gần 66% tổng lượng nước thải ngành chăn nuôi.    Để đáp ứng được những quy định của Luật Chăn nuôi, các chủ trại phải lắp đặt công nghệ hiện đại, thứ có thể ngốn đến 40% chi phí xây dựng trang trại. Đây là điều bất khả với các doanh nghiệp trong bối cảnh gặp nhiều áp lực kinh tế sau dịch tả lợn châu Phi, đại dịch Covid và giá thức ăn gia súc đang leo thang chóng mặt.    Nước thải sau đó hòa lẫn với nước tiểu cùng với một tỉ lệ nhỏ phân lợn – mức quá thấp để có thể xử lý bằng các công nghệ tách ép phân vốn sẵn có ở các nước phát triển. Các chủ trại đã không thể dùng hết lượng nước thải khổng lồ để tưới bón cây, cũng không thể san bớt cho những vùng canh tác nông nghiệp khác khi không thể xử lý được mùi hôi trong lúc vận chuyển. “Khi đó, họ tìm cách tống thẳng chúng ra ao, suối…”, ông Thắng cho hay.  Tước mất sinh kế  Khi mảnh ruộng xanh trước nhà biến mất, thay vào đó là một trại chăn nuôi lợn quy mô lớn, cũng là lúc gia đình Trần Thị Lưu, 42 tuổi, hàng xóm của Bông cảm thấy như thể mất đi ngôi nhà của mình. Vợ chồng cô phải thường xuyên di tản hai con nhỏ về nhà bố mẹ cô cách đó tầm 10 km để trốn mùi tanh. Nhưng cuộc chạy trốn không phải lúc nào cũng suôn sẻ vào thời điểm phong tỏa do đại dịch Covid-19.  “Chúng tôi đã phải ở lại nhà, chịu trận mấy tháng trời”, Lưu nhớ lại, khẩu trang vẫn không kéo xuống khỏi mặt. “Nhà không còn là nơi an toàn, vui vẻ nữa. Không ai muốn ghé nhà chúng tôi, họ sợ mùi phân lợn”.  Chưa có một xét nghiệm chất lượng nước nào diễn ra ở làng sau ngày trại lợn hoạt động, nhưng hồ chứa chất thải đen kịt cách nhà vài bước chân khiến cô nghi ngờ nguồn nước giếng khoan. Lưu bấm bụng chi gần 500 ngàn đồng mỗi tháng – bằng hai ngày công của cô để chuyển sang nước đóng chai, cố gắng dè sẻn tận dụng cho mọi sinh hoạt. Nhưng đó chưa phải là thiệt hại lớn nhất.  Cả Lưu và Bông đều phải bỏ nghề nuôi tằm mà họ đã theo đuổi 10 năm nay, khi liên tiếp mấy vụ liền, tằm không ra kén và chết dần. Bằng kinh nghiệm của mình, những phụ nữ Phú An tin nguyên nhân nằm ở thuốc xịt khuẩn của trại lợn.  “Từ ngày có dịch tả lợn châu Phi, họ [nhân viên trại lợn] càng xịt nhiều hơn, xịt xe ra vào trại, xịt cả bên ngoài trại vài bận mỗi ngày”, Lưu kể. Những hộ nuôi tằm ở Phú An đã dùng bạt nilon bao quanh khu nuôi tằm hòng chặn hóa chất bay vào. Tằm vẫn chết dần.  Toàn bộ tiền tiết kiệm cùng khoản vay hơn 20 triệu đồng để đầu tư vào con tằm của vợ chồng cô mất trắng. Lưu dẹp những nong tằm vào góc nhà, đến một nhà máy gia công giày da làm công nhân với thu nhập chỉ bằng một nửa so với nghề cũ.  Có một nghịch lý rằng dù chăn nuôi được xem là nhóm ngành trọng điểm trong kinh tế nông nghiệp ngay sau Đổi mới nhưng mãi đến năm 2018, Việt Nam mới ban hành một bộ luật riêng biệt nhằm đuổi kịp quy mô sản xuất đang ngày càng phình to. Đầu năm 2020, Luật chăn nuôi chính thức có hiệu lực. Lần đầu tiên, các khía cạnh môi trường, quy chuẩn xây dựng chuồng trại, quản lý chất thải mới được luật hóa một cách chi tiết, rõ ràng. Theo đó, các trang trại chăn nuôi không được phép xây dựng trong khu dân cư mà phải có khoảng cách an toàn “từ khu vực chăn nuôi trang trại đến đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi và từ nguồn gây ô nhiễm đến khu vực chăn nuôi trang trại”. Các tỉnh cũng đề ra mục tiêu đến năm 2025, 100% trang trại chăn nuôi phải hoặc phải dời ra khỏi khu dân cư, chuyển đến khu chăn nuôi tập trung, hoặc phải ngừng hoạt động.  Cắt giảm đàn lợn  Những phụ nữ Phú An phải chờ ít nhất ba năm nữa để chứng kiến trại lợn rời khỏi đất làng. Tuy nhiên, Tổng thư ký hội chăn nuôi không xem đó là một giải pháp nhiều hứa hẹn.  “Ngay cả khi trại được xây xa khu dân cư theo đúng quy định thì cũng chỉ giảm ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, chứ không thể ngăn được thiệt hại môi trường, và cuối cùng thì con người vẫn phải chịu hậu quả”, ông Thắng nói.  Lợn không thải ra nhiều khí mê-tan (CH4), nhưng phân của chúng thì có. Các chuyên gia cho rằng, các bể phân lợn khổng lồ là lò sản sinh CH4, có khả năng làm Trái đất ấm lên gấp 28 lần so với khí C02 nếu tính trong 100 năm và con số đó có thể lên đến hơn 80 lần nếu tính trong vòng 20 năm.  Chị Lưu và hai con phải đeo cả khẩu trang khi sinh hoạt ở nhà. Sau lưng họ là các né gỗ để nuôi tằm giờ đang xếp xó thành chồng. Ảnh: Võ Kiều Bảo Uyên.  Sử dụng các công trình như hầm khí sinh học (biogas) biến chất thải thành năng lượng được nhiều trại lợn trong nước áp dụng như giải pháp chủ đạo hạn chế phát tán phân ra môi trường, làm giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, theo ông Thắng, biogas không giải quyết được hết số phân lợn khi mà mật độ đầu lợn căng đặt gây áp lực lớn với các hầm chứa. Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Quốc tế về Nông nghiệp Nhiệt đới, một tổ chức nghiên cứu và phát triển quốc tế về đa dạng sinh thái nông nghiệp, trụ sở ở Columbia, cũng cho thấy sự thiếu hiệu quả của biogas trong mối tương quan với quy mô leo thang của đàn lợn ở Đồng bằng sông Hồng.  Trong lúc các vấn đề trong nước chưa được giải quyết, trách nhiệm môi trường của ngành chăn nuôi lợn lớn nhất Đông Nam Á đang phình ra ngoài biên giới.  Việt Nam đang nhập khẩu ngũ cốc làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi để hỗ trợ sản xuất lượng thịt vốn đã tăng gần 30% trong thập kỷ qua. Cho đến nay, Việt Nam là nhà nhập khẩu ngô lớn nhất Đông Nam Á, và sẽ là nhà nhập khẩu lớn thứ năm trên toàn cầu vào năm 2022, theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA). Đáng chú ý, nguồn nguyên liệu này được chủ yếu nhập từ Argentina và Brazil, hai quốc gia Nam Mỹ đang bị chỉ trích đốn hạ rừng lấy đất trồng độc canh các loại ngũ cốc làm ra thức ăn cho lợn. Cuối cùng, một miếng thịt lợn trên bàn ăn của người Việt còn liên đới tới cả nạn mất rừng ở bên kia bán cầu, càng góp phần làm Trái đất nóng lên.  Thời điểm hiện tại, tình yêu thịt lợn được cho là đang có xu hướng giảm trong nước, ở mức từ 30-31kg/người mỗi năm trong quãng 2016-2018, còn 26 kg trong thời điểm 2019-2020. Tuy nhiên, Nguyễn Xuân Dương, cựu Cục trưởng Cục Chăn nuôi,  Phó Chủ tịch thường trực Hội chăn nuôi Việt Nam cho rằng, mức giảm quá nhỏ để làm hạ dốc tỷ trọng lợn trong cơ cấu chăn nuôi. Việt Nam đứng trước tình huống khó khăn: Làm thế nào để đảm bảo tính sẵn có của thịt lợn mà vẫn bảo vệ được môi trường.  Theo ông Dương, Luật Chăn nuôi đã rất khắt khe với quản lý chất thải. Để đáp ứng được những quy định này, đòi hỏi các chủ trại phải lắp đặt công nghệ hiện đại, thứ có thể ngốn đến 40% chi phí xây dựng trang trại. Đây là điều bất khả với các doanh nghiệp trong bối cảnh gặp nhiều áp lực kinh tế sau dịch tả lợn châu Phi, đại dịch Covid và giá thức ăn gia súc đang leo thang chóng mặt do mất mùa vì hạn hán ở Nam Mỹ cũng như ảnh hưởng từ chiến tranh giữa Nga và Ukraine.  “Giảm quy mô đàn lợn là lựa chọn lúc này”, ông Dương nhấn mạnh giải pháp chuyển tỷ trọng sang các vật nuôi khác ít xả thải hơn. Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng, chính phủ nên hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua hình thức mua năng lượng được tạo ra từ hầm biogas.  “Giảm thiểu chất thải từ chăn nuôi lợn không hề dễ dàng. Chúng ta không nên để các trại nuôi đơn độc, thậm chí chúng ta cũng phải đánh đổi bằng cách giảm ăn thịt lợn”, cựu Cục trưởng Cục Chăn nuôi nói thêm.  Chờ đợi trong vô vọng  Phân lợn không chỉ đe dọa không khí, đất, nước, mà có thể cả lời hứa cắt giảm 30% CH4 vào năm 2030 của Việt Nam tại COP26. Một báo cáo của World Bank cho thấy, tổng lượng phát thải CO2 trong chăn nuôi đã xấp xỉ 15 triệu tấn năm 2015. Trong khi đó, theo kế hoạch giảm phát thải CH4 được đưa ra hồi đầu tháng tám theo cam kết COP 26 của Chính phủ, lượng phát thải khí CH4 trong ngành này sẽ không vượt quá 15,2 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030. Tuy nhiên đồng thời, chính phủ cũng ước mơ cùng năm đó trở thành cường quốc xuất khẩu thịt lợn với giá trị xuất khẩu 3 tỉ USD, tăng gần 70 lần so với hiện tại (45 triệu USD), nắm giữ 10% thị trường toàn cầu (28,5 tỷ USD).  Đầu tháng bảy, trang trại lợn trước nhà Bông và Lưu ở Đồng Nai đã bị chính quyền tỉnh phạt khoảng 600 triệu đồng, buộc ngừng hoạt động trong sáu tháng. Bất chấp tất cả, đến giờ trại vẫn ngang nhiên hoạt động.  Trong nhóm phụ nữ khiếu nại lên xã, Lưu đã không có mặt, bởi nếu đi cùng, đồng nghĩa Lưu sẽ nghỉ việc và mất một ngày công ở nhà máy. Nhưng một lý do quan trọng khác khiến cô giữ lại tiếng nói của mình: “Tôi không tin là chúng tôi có thể thắng được trại lợn”.  Bông và Lưu đều muốn rời khỏi làng ngay lúc này, sau nhiều lần chờ đợi trong vô vọng quyết định của ủy ban Nhân dân tỉnh, cơ quan chịu trách nhiệm thanh tra và xử lý các vi phạm môi trường trong chăn nuôi.  “Xã bảo chúng tôi lên Trung ương mà báo. Chúng tôi không đủ tiền để đi xa như vậy”, Bông nói. “Chỉ còn cách duy nhất là chịu đựng. Chúng tôi có thể đi đâu khác?”.□  ——-  Bài viết nằm trong chương trình One Health và dự án More Than Meats the Eye do Mạng lưới Báo chí Trái đất (The Earth Journalism Network) trực thuộc Internews tổ chức với mong muốn xem xét lại các tác động của hoạt động sản xuất và tiêu thụ thịt gia súc, gia cầm lên môi trường và sức khoẻ con người ở châu Á Thái Bình Dương. Dự án quy tụ tám cơ quan báo chí, truyền thông từ nhiều quốc gia, Tia Sáng là một trong số đó. Bạn đọc của Tia Sáng có thể đọc thêm trường hợp của Malaysia, cũng tương tự như Việt Nam (Tiếng Anh).     Author                Võ Kiều Bảo Uyên        
__label__tiasang Bình đẳng giới nhìn từ vụ bê bối của Đại học Y khoa Tokyo      Vụ bê bối sửa điểm của trường Đại học Y khoa Tokyo vừa vỡ lở: Trong ít nhất là một thập kỷ, trường này đã hạ 20% điểm đầu vào của phần lớn nữ sinh và tăng 20% điểm của nam sinh để đảm bảo tỉ lệ nữ sinh trong trường không quá 30%. Lí do được đưa ra là, các sinh viên nữ ra trường có nguy cơ bỏ việc nửa chừng khi sinh con, gây thiếu bác sĩ trong tương lai. Cuộc trao đổi giữa Tia Sáng với TS. Khuất Thu Hồng (Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội) cho thấy mặc dù đây là hành động cực đoan, nhưng quan điểm phân biệt đối xử với nữ giới đằng sau nó, lại rất phổ biến trên thế giới, kể cả Việt Nam.        Lãnh đạo trường Đại học Y khoa Tokyo xin lỗi vì vụ bê bối. Ảnh: TheGuardian.  Lời biện minh cho bất bình đẳng giới  Bà nghĩ gì về sự kiện của trường Đại học Y khoa Tokyo vừa qua?  Tôi nghĩ rằng sự kiện này phản ánh quan niệm rất đặc trưng châu Á, cụ thể là nước Nhật, về cái gọi là “lợi ích của quốc gia” hay “lợi ích của tập thể”. Họ nghĩ rằng bằng việc gạt bỏ nữ sinh đủ tiêu chuẩn và chấp nhận các thí sinh nam điểm thấp hơn, họ đã bảo vệ lợi ích chung cho xã hội là đảm bảo đủ số lượng cán bộ y tế – bác sĩ – phục vụ cho cộng đồng. Họ cho rằng làm vậy là đúng – họ nghĩ họ đang đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân.  Vậy vấn đề này liên quan như thế nào đến phân biệt đối xử với nữ giới, thưa bà?  Sâu xa nó là câu chuyện về giới, là việc dùng lợi ích cộng đồng – xã hội để biện minh cho hành vi phân biệt đối xử về giới.  Từ ngàn đời nay, người phụ nữ Nhật bản đã được định vị trong vai trò nội trợ, chăm sóc gia đình, phục vụ chồng con. Sự phân công lao động theo giới ở xã hội Nhật sâu sắc đến mức mà cho đến hôm nay gần như không thay đổi. Việc gắn chặt trách nhiệm chăm sóc gia đình cho người phụ nữ đã gạt họ ra ngoài cơ hội sự nghiệp, công việc độc lập bên ngoài.  Quyết định của trường Đại học Y Tokyo là một minh chứng điển hình cho quan điểm nói trên. Chính phủ và xã hội Nhật Bản thay vì tạo ra những chính sách giảm bớt gánh nặng gia đình để người phụ nữ có thể tự do lựa chọn sự nghiệp của mình thì lại tìm cách gạt phụ nữ ra – củng cố sự phân công lao động theo giới truyền thống. Đấy là sự phân biệt đối xử về giới vô-cùng sâu-sắc, nhưng nó lại được ngụy trang bởi lý do rằng cần đảm bảo nguồn nhân lực trong ngành y tế để phục vụ lợi ích của người dân.  Thực tế là sau khi vụ này diễn ra thì kênh truyền hình NHK của Nhật Bản có phỏng vấn các bác sĩ nữ là liệu họ có “hiểu tại sao trường Y Tokyo này hành động như vậy”, thì đa số đều trả lời là họ có hiểu được cho hành động đấy…  Làm sao họ có thể trả lời khác được. Trước hết tôi không chắc những câu trả lời đấy là chân thành trước hàng triệu khán giả vốn tin rằng bổn phận của phụ nữ là ở nhà phục vụ chồng con. Nhưng ngay cả khi câu trả lời đó là thành thực, thì cũng không có gì để khẳng định những nữ bác sĩ và nhân viên y tế được hỏi không phải là những người đã nhập tâm tất cả những giá trị xã hội và văn hóa của Nhật Bản. Có thể họ tin rằng tình trạng thiếu nhân lực y tế do một số nữ nhân viên y tế nghỉ việc để chăm sóc gia đình là lỗi của phụ nữ. Do vậy họ cho rằng việc gạt bỏ nữ sinh đủ tiêu chuẩn và thay thế bằng các nam sinh là hợp lý.    Lãnh đạo trường Đại học Y khoa Tokyo xin lỗi vì vụ bê bối. Ảnh: TheGuardian.  Cũng như ở Việt Nam thôi – rất nhiều phụ nữ tin rằng họ phải hi sinh (hạnh phúc) cá nhân của họ cho hạnh phúc của chồng con. Rất nhiều phụ nữ sẵn sàng hi sinh sự nghiệp của mình để cho con cái được học hành nhiều hơn, chồng mình có thể thăng quan tiến chức, v.v… Và họ tin rằng họ làm điều đấy là đúng. Họ được dạy từ bé và được nhắc nhở suốt đời rằng phụ nữ như thế mới là tốt.  Nhưng nếu như vậy thì bao giờ người phụ nữ mới có thể có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận cơ hội nghề nghiệp và đạt được vị trí xã hội như nam giới?  Để đạt được bình đẳng giới, không chỉ là vấn đề của các chính sách xã hội, bản thân nền văn hóa Nhật cũng phải thay đổi, những phụ nữ Nhật cũng phải thay đổi – họ cũng phải đấu tranh để dành được những cơ hội của họ trong cuộc đời – thay vì chấp nhận như vậy.  Vị trí của phụ nữ là ở trong gia đình?  So sánh từ trường hợp Đại học Y khoa Tokyo ở Nhật Bản, liệu có điểm gì tương đồng với Việt Nam, khi một số công ty tránh tuyển nữ giới hay yêu cầu phải cam kết làm việc một thời gian mới được có con?  Đây cũng vẫn là câu chuyện về vị trí của người phụ nữ trong xã hội Á Đông. Dường như Việt Nam và Nhật Bản chia sẻ khá nhiều điểm chung trong quan niệm về vị trí phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội. Ở hai nước, người ta nghĩ rằng vị trí tốt nhất của người phụ nữ là ở trong gia đình. Một khi đã ở trong gia đình rồi thì rất khó để đảm đương thêm công việc trong xã hội. Mặc dù điều kiện lịch sử khiến phụ nữ Việt Nam khác với phụ nữ Nhật Bản. Phụ nữ Việt Nam tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, lao động tạo thu nhập và đảm nhiệm các công việc xã hội không kém nam giới, nhưng người Việt Nam vẫn nghĩ rằng phụ nữ phải ưu tiên công việc gia đình của mình hơn công việc bên ngoài, đặc biệt là phải đặt sự nghiệp của cá nhân mình dưới hạnh phúc gia đình và sự nghiệp của chồng con.      Thay vì tạo ra những chính sách giảm bớt gánh nặng gia đình để người phụ nữ có thể tự do lựa chọn sự nghiệp của mình thì lại tìm cách gạt phụ nữ ra – củng cố sự phân công lao động theo giới truyền thống. Đấy là sự phân biệt đối xử về giới vô-cùng sâu-sắc, nhưng nó lại được ngụy trang bởi lý do rằng cần đảm bảo nguồn nhân lực trong ngành y tế để phục vụ lợi ích của người dân.      Tại sao phụ nữ lại không thể vừa làm việc vừa chăm sóc gia đình? Nam giới cũng vậy. Nếu mà nam giới và phụ nữ cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình thì phụ nữ và nam giới vẫn có thể làm được những việc mình muốn. Và cả hai xã hội thay vì tạo điều kiện để người phụ nữ tự do lựa chọn, lại khuyến khích phụ nữ hy sinh bản thân vì lợi ích của nam giới. Không chỉ những thành viên trong gia đình mà cả chính phủ cũng rất thích phụ nữ chuyên tâm làm công việc nội trợ, vì chính phủ sẽ bớt được gánh nặng phúc lợi xã hội trong chăm sóc người già, trẻ em… Nhưng khi những trách nhiệm đó dồn lên vai người phụ nữ, họ sẽ không bao giờ có được cơ hội để phát huy năng lực của mình, để tự lựa chọn công việc mình yêu thích, thay vào đó, họ được dạy để tin và chấp nhận rằng gia đình mới là chỗ đứng của mình, rằng chăm sóc gia đình là phù hợp với mình nhất; hoặc là tin rằng chỉ có phụ nữ mới làm tốt công việc chăm sóc gia đình, nam giới không thể làm được, nên là nam giới cứ tự do đi làm những gì bên ngoài mà họ thích, còn phụ nữ phải gắn chặt vào gia đình.  Thực tế là phụ nữ ngày nay cũng thay đổi rất nhiều, họ có nhiều cơ hội hơn để học hỏi và phát triển, nên nhiều khi sự phát triển của phụ nữ cũng là thách thức cho vị trí của nam giới. Và trong một chừng mực nào đó, thực quá tiện lợi nếu phụ nữ cứ tiếp tục vai trò nội trợ. Nhưng ở Việt Nam, phụ nữ không những phải “đảm việc nhà” mà còn phải “giỏi việc nước”. Phụ nữ Việt Nam được dạy rằng lao động sản xuất là nghĩa vụ vinh quang với Tổ quốc, còn trách nhiệm với gia đình là thiên chức thiêng liêng.  Mặt khác, với chính sách xã hội – hãy nhìn xem có bao nhiêu chính sách xã hội cho phụ nữ và chúng đã giải phóng người phụ nữ được đến đâu. Những dịch vụ xã hội cơ bản như là y tế, giáo dục đã thực sự giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ hay chưa? Nhà trẻ, mẫu giáo hoặc là những dịch vụ chăm sóc người già đã đủ và đủ tốt để phụ nữ yên tâm làm việc hay chưa? Nỗ lực hiện tại vẫn chưa đủ vì gánh nặng chăm sóc vẫn chủ yếu dồn lên vai người phụ nữ. Đừng chỉ nhìn ở Hà Nội hay Sài Gòn, mà hãy nhìn ra 70% phụ nữ Việt Nam sống ở nông thôn, những dịch vụ xã hội đó hỗ trợ họ được đến đâu?  Phụ nữ phải cố gắng hơn?  Dường như sự phân biệt đối xử phụ nữ trong công việc không chỉ tồn tại ở Nhật Bản hay Việt Nam mà còn trên toàn thế giới?  Chính xác. Phụ nữ ở trên toàn thế giới đều bị coi nhẹ hơn nam giới. Ở một số nước nơi mà phụ nữ có vị trí ngang bằng với nam giới, thì phụ nữ phải cố gắng và vượt qua rất nhiều trở ngại. Gần đây tôi có đọc cuốn Lean in của tác giả Sheryl Sandberg và thấy tác giả cũng phải vượt lên rất nhiều cản trở. Cũng với trình độ và năng lực như cô, một người đàn ông sẽ không phải vất vả đến thế.  Cuốn Lean In cũng khá được hưởng ứng tại Việt Nam. Tuy nhiên, Sheryl Sandberg, tác giả của cuốn sách này có vẻ đang kêu gọi phụ nữ phải cố gắng và khéo léo hơn trong việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Nhưng nếu kêu gọi những nỗ lực tự thân ở người phụ nữ, phải chăng lại thêm gánh nặng cho họ?  Đúng thế. Câu chuyện như Lean in hay các chuyện khác chỉ kể lại những câu chuyện của chính các tác giả. Họ có thể cũng thách thức một số quan niệm truyền thống, nhưng về cơ bản, những gì họ làm chỉ là thích ứng với xã hội này chứ chưa đấu tranh để thay đổi nó. Phải nói, họ là những phụ nữ xuất chúng và mạnh mẽ. Nhưng chỉ có một số ít người làm được như họ, còn đại đa số thì không. Phần lớn phụ nữ không có năng lực hoặc cơ hội như vậy – cho nên câu chuyện ở đây là thay đổi trật tự xã hội, trật tự giới, cân bằng quyền lực giữa nữ và nam giới thì mới tạo ra sự thay đổi thực sự. Còn như hiện nay thì chỉ là một vài phụ nữ có thể “làm gì đó” trong một xã hội nam quyền.  Vậy theo bà sự thay đổi cần có nên là thế nào?  Sự thay đổi đó không chỉ ở cấp độ chính sách mà còn cả ở nhận thức người dân nói chung nữa. Chính sách thay đổi mà xã hội chưa thay đổi nhận thức thì rất khó để tạo ra thay đổi căn bản. Cần có một critical mass, tỉ trọng nhất định các thành viên trong cộng đồng cùng chia sẻ quan điểm bình đẳng giới và song song với đó là các chính sách thúc đẩy thì mới có thể hiện thực hóa được chúng.  Những người đề ra chính sách cũng là sản phẩm của xã hội và thời đại, được định hình bởi những suy nghĩ và quan niệm về thân phận hay vai trò không bình đẳng của nam giới và phụ nữ, thì việc để có chính sách làm thay đổi hiện trạng không phải là dễ. Và kể cả những người có đầu óc tiến bộ và cách mạng để đưa ra chính sách tích cực, nếu không có đủ người dân trong xã hội cùng đồng lòng tán thưởng và thực hiện thì cũng rất khó.      Cần có một critical mass, tỉ trọng nhất định các thành viên trong cộng đồng cùng chia sẻ quan điểm bình đẳng giới và song song với đó là các chính sách thúc đẩy thì mới có thể hiện thực hóa được chúng.      Thay đổi cấu trúc xã hội tức là thay đổi chính mình, và điều đấy là rất khó. Có những định kiến đã ăn sâu vào mỗi người đến mức là mình tưởng nó là vô thức – từ đời này qua đời khác – Từ lúc một đứa trẻ trai hay gái sinh ra nó đã được định hướng theo một con đường trong hệ thống xã hội này – và một khi đã đi trên con đường đó thì việc rẽ sang hướng khác là rất khó.  Vậy điểm mấu chốt theo bà sẽ không nằm ở chính sách mà ở giáo dục?  Chính xác. Và nó không chỉ nằm ở giáo dục trong nhà trường, mà giáo dục trên mọi phương diện. Nghe có vẻ sáo rỗng nhưng đúng thế. Từ mẩu quảng cáo đến mẩu tin ngắn đều phải thể hiện tinh thần đó, truyền tải tinh thần bình đẳng giới một cách nhất quán, xuyên suốt và có tầm ảnh hưởng lớn đến công chúng thì có thể lúc đó sự thay đổi mới diễn ra nhanh chóng và bền vững.  Tuy ở Việt Nam có nhiều chính sách khá tiến bộ về giới, nhưng khi xem TV, đọc báo, thậm chí đến trường hay ra ngoài xã hội, lại toàn chứa những thông điệp thật tréo ngoe, không phản ánh quan điểm của các chính sách đó. Và những cách hành xử từ dưới lên trên cũng không phản ánh hay ăn nhập với chính sách, quan điểm tiến bộ.  Có rất nhiều chuyện thể hiện việc “Nói một đằng làm một nẻo”. Không phải ai đó không muốn thực hiện các chính sách tốt đẹp mà vì từ người thiết kế thông điệp truyền thông đến những diễn viên đóng phim, từ người xây dựng sách giáo khoa cho đến thầy cô, không phải tất cả mọi người đều hiểu, muốn hiểu hay đủ năng lực để hiểu, để truyền tải thông điệp bình đẳng giới, về vai trò của phụ nữ một cách thống nhất và theo hướng tiến bộ. Cho nên, chúng ta đi được một bước nhưng lại lùi lại bốn bước. Chúng ta không đi theo đường thẳng mà là con đường zic-zac, đôi lúc còn thụt lùi. Ví dụ như cách đây mấy năm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có đưa ra một danh mục bảy mươi mấy nghề mà phụ nữ không được làm. Những người đưa ra danh mục đó có thể nghĩ rằng họ đang bảo vệ phụ nữ khỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại. Nhưng ở khía cạnh khác, điều đó lại ngăn cản một số phụ nữ có được cơ hội làm việc thay vì thất nghiệp.  Với một số phụ nữ khác, những công việc đó có thể là nguy hiểm nặng nhọc nhưng mang lại cho họ thu nhập tốt hơn so với công việc hiện có. Vấn đề ở đây là tại sao không tìm cách giảm bớt mức độ nguy hiểm và độc hại của những công việc đó để phụ nữ có thể làm được, mà lại gạt phụ nữ ra khỏi chúng?  Cần một tầm nhìn sâu rộng, một quyết tâm rất lớn và một sự kiên trì rất lâu dài mới có thể thay đổi được những quan niệm như đã nói ở trên. Và có rất nhiều lý do để người ta không làm, hoặc gác lại những việc đấy đến mãi mãi. Rằng là nghèo đói quá phải ưu tiên phát triển kinh tế thay vì đầu tư vào giáo dục thay đổi nhận thức người dân chẳng hạn. Hay an ninh quốc gia đang bị đe dọa phải đầu tư nhiều hơn vào quốc phòng chẳng hạn, thay vì để thiết kế ra những chương trình giáo dục làm thay đổi nhận thức người dân một cách sâu xa, căn bản…  Rất cảm ơn bà đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn!   Hảo Linh – Tuấn Quang thực hiện                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Bình đẳng  không phải  là lời nói dối      Người ta rất dễ nhìn thấy xã hội đầy rẫy những bất công và từ đó mà lầm tưởng rằng bình đẳng chỉ đơn thuần là một giấc mơ không bao giờ đạt được.    Nguyên tắc đạo đức về bình đẳng và những điều bất bình đẳng xảy ra  Nguyên tắc đạo đức mà người ta sống theo đó là một cái gì rất thật. Nó chi phối hành động, suy nghĩ của người ta trong đời sống hằng ngày. Sống theo một nguyên tắc rằng mọi người đều bình đẳng không thể đảm bảo rằng cả thế giới này mọi người ai cũng hạnh phúc như nhau. Nhưng điều đó không có nghĩa là người ta phải suy nghĩ và hành động để đảm bảo rằng có người bất hạnh. Nguyên tắc sống và những chuyện xảy ra là khác nhau, có thể chẳng liên quan đến nhau, và cả hai đều là sự thật.  Tôi không thể thích được nguyên tắc sống mà theo đó người ta cần phải kém mình. Có thể vì họ cho rằng vì có những điều bất bình đẳng xảy ra nên nguyên tắc của họ là thuận theo tự nhiên và hợp lẽ? Đó chỉ là sự lầm tưởng, hoặc một sự ngụy biện. Nếu bạn khinh người ta vì người ta nghèo thì chẳng qua là sự lựa chọn của bạn thôi, chẳng có gì là thuận theo tự nhiên và hợp lẽ cả. Hoàn toàn có thể đối xử với một người ăn mày trên hè phố như với một người bạn.  Hãy nói về tình yêu. Ở lĩnh vực đó người ta dễ thấy sự tự nhiên và hợp lẽ của bất bình đẳng nhất. Tôi dành thời gian và công sức nhiều hơn cho người tôi yêu. Điều đó chẳng có gì là sai trái cả. Nó còn rất đẹp là khác! Nhưng tôi cũng không thấy rằng điều đó nhất thiết phải là nguyên tắc sống của tôi. Tôi sẽ vẫn sẵn sàng dành thời gian và công sức cho những người tôi chẳng hề quen biết, khi tôi cảm thấy cần như vậy. Không thể nói rằng vì tôi không yêu bạn nên tôi không làm gì giúp đỡ bạn đâu và cho rằng đó là một chân lý, một nguyên tắc đạo đức không thể không theo.  Người ta không thể dành tình cảm như nhau cho tất cả mọi người, nhưng đấy cũng chỉ là một điều xảy ra như thế, chứ không phải là một nguyên tắc sống bắt buộc phải theo. Có những người chẳng yêu ai cả, cũng chẳng ghét ai. Giả sử bạn có như thế thì cũng không việc gì mà xấu hổ và tự ti. Bạn vẫn đáng được tôn trọng.    Những điều bất bình đẳng xảy ra cũng chỉ là một cách nghĩ  Không nói đến nguyên tắc sống nữa. Giờ chỉ xét đến những gì xảy ra mà người ta có thể gán cho nó ý nghĩa “bất bình đẳng”. Giả dụ như: có người sinh ra đã thông minh hơn người khác. Có thể nó là sự thật, nhưng chẳng có sự thật nào tách được khỏi cách nghĩ của con người. Sự thật ấy cũng chỉ là một cách nghĩ mà thôi, và hoàn toàn có thể nghĩ khác đi mà vẫn đạt được tất cả các phẩm chất mong muốn của tư duy. Tôi có thể cho rằng không có ai thông minh hơn ai cả mà vẫn cứ logic như thường. Thậm chí cá nhân tôi còn cảm thấy hợp lý hơn là cách nghĩ rằng trí thông minh của con người là hơn kém nhau.  Người ta chỉ có thể so sánh được sự vật hiện tượng với một khung tham chiếu. Mọi so sánh hơn kém do đó đều bất khả bởi không thể trùng khít các khung tham chiếu cho những con người không thể giống nhau hoàn toàn. Chỉ có những khung tham chiếu về các khía cạnh rất nhỏ lẻ. Ví dụ như tôi cao hơn bạn theo cách thức đo đạc tính từ chân lên tới đỉnh đầu. Hoặc là cụ thể ở bài toán này bạn có nhiều câu trả lời đúng với đáp án hơn tôi. Vì thế thật ra chỉ có biểu hiện của trí thông minh là có thể hơn kém nhau trong những khung tham chiếu về các khía cạnh nhỏ lẻ. Về mặt logic, không thể so sánh là ai hơn ai một cách toàn thể cả. Mà ngay cả khi người ta thực hiện hành động so sánh những khía cạnh nhỏ lẻ trong những hoàn cảnh cụ thể thì đấy cũng chỉ là một cách nghĩ. (Cách nghĩ so sánh dẫn đến hơn kém đó tiếng Anh gọi là “deficit theorization of difference”.) Có khi chỉ cần nhận ra sự độc đáo của mỗi người, mỗi hoàn cảnh đã là đủ rồi.   Tôi không khuyên đừng nên so sánh. Có điều so sánh cũng chỉ là một cách nghĩ, và người ta cần sử dụng suy nghĩ của mình một cách nhân văn hơn.   Một bài báo về một nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong sách giáo khoa có những đoạn như thế này:  “Đến 8/8 bài đề cập đến nghề đòi hỏi trình độ, trí tuệ, sáng tạo như: nhà nghiên cứu, nhà khoa học đều là nam giới. Hoàn toàn không có nữ giới là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học. Nam giới tham gia lĩnh vực này vẫn là tuyệt đối. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 16/19 bài đề cập đến các nghề đòi hỏi chuyên môn, trí tuệ, sức khỏe như: bộ đội, công an, thủy thủ, phi công… đều là nhân vật nam, hoàn toàn không có sự tham gia của nữ giới.”  “Nữ giới trong nhóm nghề nghiệp trí thức duy nhất mà SGK đề cập là giáo viên với 23/34 bài xuất hiện nữ giáo viên, 30/38 tranh minh họa giáo viên là nữ so với 4/38 tranh thể hiện nhân vật nam, 4 tranh còn lại thể hiện cả nhân vật nam và nữ. 7/7 tranh minh họa trong ngành nghề, công việc đòi hỏi sự khéo léo, đảm đang, cần cù (như may, dệt, khâu vá…) đều là nữ; nghề lao công, hình ảnh nữ cũng chiếm vị trí tuyệt đối!  Nghề nông, một nghề vốn được xem là vất vả, mệt nhọc và thu nhập thấp thì tỷ lệ phụ nữ cũng xuất hiện nhiều hơn nam giới với 12/22 bài.”  (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120204/bat-binh-dang-gioi-tu-sach-giao-khoa.aspx)  Ở đây nhà báo chỉ muốn coi nam và nữ là bình đẳng, còn các phạm trù nghề nghiệp như nhà khoa học, thợ thủ công, nông dân, v.v là bất bình đẳng. Người nghiên cứu thì cao siêu hơn người lao công! Nhà báo đang cổ xúy cho sự bất bình đẳng trên thế giới.  Nếu như các công việc là bình đẳng với nhau thì có vấn đề gì khi sách giáo khoa gắn nam giới với nghiên cứu, nữ giới với dệt may và khâu vá? Vấn đề là sự quy kết cứng nhắc như thế tạo ra bất hạnh cho nhiều người, cả nam giới và nữ giới. Nam giới được trông đợi làm một số ngành nghề nhất định, nếu mà đi chệch ra thì bị xã hội khinh thường và chê cười. Đó chẳng phải là một bi kịch sao?  Nghiên cứu, dệt may, khâu vá, làm ruộng, quét rác, v.v. là bình đẳng. Các phạm trù nghề nghiệp mà một người cụ thể được xếp vào không thể nói lên người đó làm việc có đòi hỏi trí tuệ hay không. Có những nhà nghiên cứu chẳng làm công việc gì phức tạp hơn người. Người ta có thể viện tới một cái gọi là “sự mô tả chung không nhất thiết phải đúng trong mọi trường hợp” để mà nói rằng nhìn chung thì công việc nghiên cứu đòi hỏi nhiều trí tuệ hơn làm ruộng chẳng hạn. Cứ cho là đang như thế đi, thì cũng hoàn toàn có thể thay đổi. Làm ruộng mà giỏi thì cũng cần phải nghiên cứu. Mà nghiên cứu giỏi thì có khi cũng cần đi làm ruộng. Mọi thứ đâu có quá tách biệt. Hơn thế nữa, nhìn xem một công việc có phức tạp hay đòi hỏi nhiều trí tuệ để đánh giá giá trị của công việc đó chỉ là một cách nhìn. Ở một cách nhìn khác, các công việc đem đến ý nghĩa cho đời hoặc hạnh phúc cho người làm việc đều được coi trọng như nhau. Chắc gì một nhà nghiên cứu đã làm ra gì tốt đẹp cho đời, và chắc gì công việc khó khăn của họ đem đến niềm vui cho chính bản thân họ.  Con người không chỉ bình đẳng khi họ ở trong các phạm trù trừu tượng. Ngay cả khi họ thoát ra khỏi các phạm trù để là những con người độc đáo thì họ vẫn bình đẳng. Bình đẳng không phải là thứ để gắn với một phạm trù nào như tiền bạc hay chỉ số IQ để mà so sánh hơn kém. Bình đẳng là một khái niệm dùng để loại bỏ tất cả những phạm trù, để trở về một điều hết sức giản dị: người ta đều độc đáo, đều bình đẳng và đều cần được đối xử tốt.  Bất bình đẳng mới là nói dối  Nếu những điều bất bình đẳng xảy ra cũng chỉ là một cách nghĩ thì lo lắng về bất bình đẳng để làm gì? Với tôi, cách nghĩ là điều quan trọng. Việc người ta hay chính bản thân bạn làm cho bạn khốn khổ, chẳng cần biết là như thế đã khốn khổ hơn mức trung bình của toàn thể nhân loại chưa, vẫn có thể là một điều bạn không mong muốn. Và rất có thể nó có nguyên nhân từ các suy nghĩ về bình đẳng và bất bình đẳng của những người tác động lên bạn cũng như chính bạn.  Hiểu rằng có những cách nghĩ khác nhau về bình đẳng và bất bình đẳng làm cho người ta có khả năng lựa chọn, sáng tạo bản thân mình và thế giới tốt hơn. Tôi viết bài này có dùng những khẳng định, những lối nói kiểu khuyên bảo như là “cần” hoặc “xin đừng nhầm lẫn”, nhưng đấy cũng chỉ là cách tôi trình bày niềm tin của mình. Cũng xin được lưu ý là tôi tin vào những điều tôi đã viết không có nghĩa là tôi tin rằng cách suy nghĩ của tôi “cao siêu” hơn người. Tôi không có giả định đó. Tôi viết ra những điều này vì có những người cứ cho rằng bất bình đẳng là một chân lý không thể nào khác. Tôi thì lại cho rằng hoàn toàn có thể nghĩ và hành động khác đi.  Tôi chưa bao giờ có thể đồng ý đồng lòng với “Sư phạm cho người bị trị” (Pedagogy of the Oppressed) của Paolo Freire. Ông ta có thể nói nhiều điều hay, xong điều đầu tiên đập vào mắt, vào trí tuệ và tình cảm của tôi khiến tôi không thể nào chịu được là ông ấy áp đặt luôn một mối quan hệ bất bình đẳng trong giáo dục. Người bị trị cần phải giáo dục riêng! Con người ta là bình đẳng và cần phải hành động dựa trên sự bình đẳng đấy. Những kẻ áp đặt rằng người khác đang bị trị, nghĩa là đang hèn kém, phải hành động dựa trên sự hèn kém đó (dù là để nâng người ta lên) chính là những kẻ áp bức. Paolo Freire chính là một kẻ áp bức, dù là kẻ áp bức này có mong muốn tốt đẹp là nâng người ta lên. Giáo dục kiểu Freire là giáo dục kiểu hô hoán lên là “mày là đứa bị áp bức” và đưa người ta vào “chương trình/trại cải tạo dành cho người bị trị” với thông điệp rằng “mày may nhé! mày mà không được giáo dục theo phương pháp đối thoại của tao là mày còn bị trị dài dài!” Thực tế những nhà sư phạm phản biện theo phương pháp của Paolo Freire có thể đã giúp ích được cho rất nhiều người, nhưng vẫn ở trong khuôn khổ của sự bất bình đẳng và áp bức.  Một năm trước thì tôi cũng chưa dám viết ra những lời này về Paolo Freire, vì tôi còn phải suy xét và chưa đủ khả năng để trình bày rõ ràng suy nghĩ của mình. Paolo Freire là một nhân vật có uy tín rất lớn trong sư phạm phản biện. Chống đối lại ảnh hưởng của ông lên cách suy nghĩ của người ta rất khó. Nhiều lúc, tôi quan sát thấy sinh viên tự xem họ là người “yếu thế” và giáo viên là “kẻ mạnh”. Lúc nào con người cũng phải ở trong một thế bất bình đẳng vậy sao?  Tôi không quan niệm đấu tranh cho bình đẳng của phụ nữ, của người khuyết tật, của người da màu, v.v là tìm cách nâng họ lên ngang tầm với nam giới, với người lành lặn, với người da trắng, v.v. Họ đã ngang tầm rồi, luôn luôn ngang tầm, chỉ có điều là xã hội không chịu thừa nhận và đối xử không tốt với họ mà thôi.  Tôi cũng không hiểu tại sao và bằng cách nào mà tôi luôn tin rằng mình là bình đẳng với tất cả mọi người mặc dù gia đình và xã hội có thể xếp tôi vào những vị trí thấp kém, những phạm trù mang nghĩa “bị áp bức” hay “bị trị”. Tôi không nghĩ mình “bị trị” mà chỉ nghĩ mình không được đối xử tốt. “Bị trị” ư? Thế thì những kẻ “thống trị” còn “bị trị” hơn vì đầu óc của họ bị kìm hãm trong một thứ nhà tù tinh thần nên lúc nào cũng chỉ biết có sự bất bình đẳng. Bất bình đẳng mới là nói dối.  Suy nghĩ của con người chính là một hiện thực, một hiện thực hết sức quan trọng. Và lối suy nghĩ rằng mọi người đều bình đẳng với tôi là một cái gì đó thông thường, có thật, có những tác động tốt đẹp tới đời sống. Tôi không phủ nhận cách nghĩ bất bình đẳng, nhưng tôi muốn “giao tiếp” để bình đẳng cũng là một sự lựa chọn về suy nghĩ trong tư duy của mọi người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bitcoin: Tin tốt và xấu về tiền ảo      Đầu tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định rằng: “việc phát hành, cung ứng, sử dụng bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm tại Việt Nam” do những rủi ro không thể lường trước. Theo các chuyên gia, đúng là bitcoin có ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng cũng đầy tiềm năng để thúc đẩy sự tự do, đổi mới sáng tạo của xã hội. Bài viết dưới đây của giáo sư Neal Koblitz, một trong hai tác giả độc lập sáng tạo ra Hệ mật đường cong Elliptic vào năm 1985, nền tảng cho công nghệ chữ kí số của Bitcoin nhằm phân tích về ảnh hưởng của đồng tiền này và cách tiếp cận nó.      Bitcoin được quản lý bởi cộng đồng và việc vận hành chính xác của nó được đảm bảo nhờ tính chất toán học của một số công cụ mật mã.  Bitcoin là gì và nó hoạt động như thế nào?  Tiền mặt là phương thức thanh toán chủ yếu cho đến gần đây. Ở nhiều nơi trên thế giới, giờ đây thanh toán bằng tiền mặt đã được thay thế bằng thanh toán điện tử, chủ yếu là thẻ tín dụng. Các hệ thống thanh toán này được kiểm soát bởi các ngân hàng lớn và sử dụng những đồng tiền chính phủ như USD, đồng Euro hay Yên Nhật.  Bitcoin là một loại tiền tệ mới, ra đời năm 2009, không cần một trung tâm kiểm soát như ngân hàng hay chính phủ, mà hoàn toàn do cộng đồng người dùng quản lý. Việc vận hành chính xác của nó được đảm bảo nhờ các tính chất toán học của một số công cụ mật mã.  Hai công cụ cơ bản trong hệ thống Bitcoin là chữ kí số, dựa trên Hệ mật đường cong Elliptic (Elliptic Curve Cryptography), và một hàm băm. Chữ kí số đảm bảo người trả tiền thừa nhận thanh toán của mình, và bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng. Hàm băm là một thuật toán công khai mà đầu vào là một chuỗi bit thể hiện dữ liệu giao dịch, các khóa công khai, cùng một số thông tin khác, và trả kết quả đầu ra là một chuỗi 256 bits có vẻ ngẫu nhiên, tương ứng với một số thập phân dài 78 chữ số.  Hàm băm được dùng để tạo ra một chuỗi khối (blockchain). Chuỗi khối, bằng cách xếp các giao dịch theo thời gian, cho phép người dùng xác thực rằng không có đồng bitcoin nào được sử dụng hai lần. (Ngăn chặn gian lận việc tiêu một đồng tiền hai lần là bài toán cốt lõi của mọi hệ thống tiền điện tử). Mỗi khối trong chuỗi – bao gồm danh sách của vài nghìn giao dịch xảy ra trong vòng khoảng mỗi 10 phút – phải được xác thực trước khi nối vào chuỗi.  Những nhóm người đào (một từ vốn được dùng cho thợ mỏ đào quặng vàng, bạc hay đồng) cạnh tranh để giành quyền xác thực một khối. Người thắng cuộc là người đầu tiên tìm được đầu ra của hàm băm nhỏ hơn một ngưỡng nhất định (hiện tại, ngưỡng này là khoảng 1055, nghĩa là 23 chữ số thập phân đầu tiên phải bằng 0). Tìm được đầu ra thỏa mãn điều kiện này gọi là “bằng chứng công việc” (proof of work). Tiền thưởng cho người đào mỗi lần bao gồm hai phần: một phần là một lượng nhất định bitcoin mới sinh ra (khởi đầu là 50 bitcoin, hiện nay là 12,5, cứ bốn năm nó giảm một nửa và sẽ hoàn toàn biến mất vào năm 2140) và phần còn lại là tổng phí của tất cả các giao dịch trong khối. Các giao dịch nói chung đều có phí (để khuyến khích người đào chọn đưa giao dịch vào trong khối của họ), nhưng nó rất nhỏ so với phí giao dịch bằng thẻ tín dụng.   Mặt sáng của đồng Bitcoin  Khẩu hiệu trên đồng tiền của Mỹ là “Ở Chúa, chúng ta đặt niềm tin”. Tuy nhiên, một hệ thống tài chính toàn cầu phụ thuộc mạnh vào đồng USD đòi hỏi không mấy niềm tin vào Chúa mà vào sự ổn định của nền kinh tế và hệ thống tiền tệ của nước Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, nhiều người tin rằng các chính trị gia và các nhà băng Mỹ hầu như lúc nào cũng hành xử vô trách nhiệm. Gần đây hơn, các chuyển biến chính trị ở Châu Âu cũng khiến nhiều người nghi ngờ về tương lai của đồng euro. Với công nghệ giao thức “ngang hàng” (peer to peer), bitcoin hoàn toàn độc lập với hệ thống tiền tệ của các chính phủ. Khẩu hiệu của bitcoin – cố tình châm biếm khẩu hiệu trên đồng tiền của Mỹ – là “Ở Mật mã học, chúng ta đặt niềm tin”.  Nhiều nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền có các lý do khác để không tin tưởng vào các hệ thống tiền tệ được kiểm soát bởi chính quyền trung ương. Điều gì sẽ xảy ra nếu một chính phủ gây áp lực lên các ngân hàng, ngăn chặn các giao dịch điện tử với một tổ chức xã hội đang đấu tranh phơi bày những hành động sai trái của chính phủ đó?  Một nguy cơ khác từ hệ thống thanh toán hiện nay là các ngân hàng và tập đoàn lớn thu thập được lượng thông tin khổng lồ về thói quen tiêu dùng của người dùng mà có thể được dùng nhằm gây hại cho chúng ta. Khi những thông tin này được cung cấp cho một bên thứ ba, chúng ta không chỉ bị săn đuổi bởi những công ty quảng cáo mà còn bị xâm phạm cuộc sống riêng tư và sự nghiệp. Chẳng hạn, bạn bị nhà tuyển dụng từ chối chỉ vì họ cho rằng bạn là “nhà hoạt động chống đối các tập đoàn” do họ biết bạn đã ủng hộ tiền cho chiến dịch phản đối các dự án phá hoại môi trường, đối xử bất công với người lao động của các công ty lớn.  Với bitcoin, bạn có thể tránh được những sự xâm phạm đó vì bạn có thể dùng nhiều “ví” khác nhau cho các mục đích tiêu dùng khác nhau. Một ví bitcoin chỉ là một tập hợp các giao dịch được ký bằng cùng một mã khóa. Một người có thể có nhiều chữ ký số với nhiều mã khóa khác nhau. Điều này khiến cho việc lần ra chủ nhân của giao dịch khó hơn.  Bitcoin còn giải thoát người nghèo khỏi chi phí thẻ tín dụng cao ngất ngưởng, cho họ các tiện ích như người giàu với giá rẻ. Chẳng hạn, những lao động di cư người Mexico làm việc ở Mỹ hay người Philipines ở các tiểu vương quốc Ả Rập có thể chuyển tiền về cho gia đình bằng bitcoin, gần như không mất phí giao dịch.  Có hai điểm của bitcoin hấp dẫn những người bán hàng. Đầu tiên là phí giao dịch thấp và người mua phải trả, chứ không phải người bán. Với thẻ tín dụng, việc phải chịu phí là một khó khăn với người bán hàng, khiến họ phải tăng giá. Thứ hai, giao dịch không thể đảo ngược. Giống như tiền mặt, không có cách nào để hủy sau khi đã thanh toán. Trong khi đó, một trong những điều đau đầu của người bán là khi khách hàng trả bằng thẻ tín dụng, họ có thể dễ dàng phản đối giao dịch và rút lại tiền (“bồi hoàn”).  Mặt tối của Bitcoin  Một thực tế khiến nhiều người nghi ngờ về độ tin cậy của bitcoin là tỉ giá bitcoin biến động khủng khiếp. Hiện tại, giá trị của bitcoin đang cao kỷ lục nhưng cũng đã từng có những lúc con số này tụt xuống thảm hại. Lí do cho sự trồi sụt này bao gồm số người dùng và lượng giao dịch nhỏ (so với đồng USD), sự chi phối của những kẻ đầu cơ, tác động của các tin đồn và tin tức chính thống. Nếu một chính quyền tuyên bố kế hoạch siết chặt hoặc kiểm soát các giao dịch bitcoin, niềm tin vào tiền điện tử có thể sụt giảm. Nhưng nếu một hệ thống bán lẻ lớn đưa ra dự định chấp nhận thanh toán bằng bitcoin, giá trị của nó có thể tăng đột ngột.  Hầu hết những người bán hàng chấp nhận thanh toán bằng bitcoin đều không thực sự sở hữu ví bitcoin. Thay vào đó, họ trả cho một công ty trung gian, chẳng hạn như BitPay, để đổi ngay số bitcoin thanh toán từ người mua sang USD hoặc một đồng tiền hiến định nào khác. Hầu hết lượng bitcoin được tích trữ mà không tiêu ngay là để cho mục đích đầu cơ.  Mặc dù bản thân mạng lưới bitcoin có vẻ như được thiết kế tốt, trong mối liên hệ với thế giới tài chính, nó phải phụ thuộc vào các công ty và tổ chức ngoài mạng lưới và có thể trở nên không đáng tin cậy. Chẳng hạn, năm 2013, sàn giao dịch bitcoin lớn nhất là Mt. Gox. Đứng đầu bởi Mark Karpelès, tay này điều hành rất kém, công ty làm mất 744.408 bitcoin của khách hàng (trị giá tới 400 triệu USD vào thời điểm đó) một thời gian ngắn trước khi tuyên bố phá sản tháng 2 năm 2014.  Những người đề cao sự ẩn danh và ẩn dấu vết của bitcoin nên hiểu rằng các đặc tính này không được đảm bảo. Mặc dù dữ liệu của chuỗi khối không trực tiếp ám chỉ danh tính người dùng trong thế giới thực, chuỗi khối là một cuốn sổ cái công cộng phơi bày lịch sử của tất cả mọi giao dịch và từ đó có thể lần ra danh tính thật sự của người dùng. Bất kỳ ai muốn ẩn danh hoàn toàn phải hi vọng rằng tất cả những người giao dịch với cô ta cũng mong muốn giữ danh tính đời thực của họ bí mật như thế. Nếu không, một thanh tra có thể kiểm tra các giao dịch của cô ta để xác minh ai là người làm việc với cô ta. Biết được bạn bè hoặc đối tác của một ai đó nhiều khi là đủ để đoán đúng danh tính của họ. Như đã đề cập, có thể đảm bảo một mức độ ẩn danh đáng kể bằng cách dùng nhiều ví cho các loại giao dịch khác nhau.  Người ta cũng chỉ trích phương thức “bằng chứng công việc” của bitcoin – quá trình thử tính hàng tỉ tỉ đầu ra của hàm băm – phung phí một lượng lớn điện năng và tài nguyên tính toán mà đáng ra có thể dành cho các dự án có ý nghĩa xã hội hoặc khoa học.  Có lẽ sự phản đối bitcoin dữ dội nhất đến từ phía cảnh sát và các cơ quan an ninh, những người chỉ ra rằng một tỉ trọng lớn người dùng bitcoin là tội phạm liên quan đến buôn bán vũ khí, văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, khủng bố, dòng tiền phi pháp và tống tiền. Ví dụ, một loại tội phạm công nghệ cao phổ biến gần đây là ransomware (virus tống tiền). Hacker đột nhập vào dữ liệu của một bệnh viện chẳng hạn, mã hóa toàn bộ dữ liệu và yêu cầu rằng bệnh viện chỉ nhận được khóa giải mã để khôi phục lại dữ liệu sau khi họ chuyển một khoản bitcoin lớn cho hắn.  Đã có lúc, một trong những đối tượng dùng bitcoin nhiều nhất là website Silk Road (Con đường tơ lụa), chuyên mua bán các loại thuốc cấm. Tháng 10 năm 2013, chính quyền Mỹ đóng cửa trang web này. Bộ não đằng sau nó, Ross Ulbricht, bị bắt và buộc tội buôn lậu ma túy, hack máy tính, lừa đảo, rửa tiền và nhiều tội danh khác. Tháng 5 năm 2015, Ulbrich bị kết án tù chung thân.  Một trong những chiến thuật hữu hiệu của giới tư pháp là “lần theo dấu vết của đồng tiền”. Một lượng tiền lớn không thể dễ dàng di chuyển khắp thế giới, vì vậy những tổ chức tội phạm ở quy mô lớn thường ưu tiên phương thức khác, chẳng hạn như sử dụng hệ thống phức tạp các tài khoản ngân hàng. Nhưng những hệ thống như vậy thực ra khá dễ phân tích và các ngân hàng luôn bị yêu cầu phải hợp tác với nhân viên điều tra. Tuy nhiên, lần theo dấu vết của đồng bitcoin thì khó hơn rất nhiều – nhưng không phải là bất khả thi nếu cơ quan tư pháp và an ninh thu thập được đủ thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.  Điều gì nên làm?  Chúng ta nên làm gì khi đứng trước một loạt những điểm tích cực và tiêu cực gây hoang mang như vậy? Bitcoin và các đồng tiền điện tử khác, ví dụ như Ethereum, là một dạng công nghệ mới. Người ta có thể nắm rõ các đặc tính kỹ thuật của nó nhưng không thể biết được những loại hình tác động của nó lên xã hội. Thế giới vẫn chưa dành ra đủ nhiều nỗ lực để tìm cách tối đa hóa lợi ích của nó và hạn chế những nguy cơ. Quan điểm cá nhân của tôi là chính phủ không nên phản ứng bằng sự sợ hãi và cấm đoán tuyệt đối. Thay vào đó, họ nên khuyến khích việc nghiên cứu rộng hơn, bao gồm nghiên cứu về các vấn đề giám định tư pháp liên quan đến bitcoin (để truy vết các hoạt động tội phạm) và dần dần cân nhắc việc ban hành luật vừa có tính khả thi, vừa khuyến khích dùng bitcoin cho các mục đích hợp pháp.          Hảo Linh dịch         Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Blog và nền báo chí công dân      Blog được ghép từ hai chữ “web blog” là một loại nhật ký trực tuyến, mặc dù xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ 1990 nhưng chỉ thực sự phát triển trong vòng 5-6 năm trở lại đây.        Theo thống kê của Technorati (được coi như google của blog) thì đến tháng 11/2006, trên toàn thế giới có khoảng 60 triệu blog, cứ khoảng nửa giây lại có một blog mới ra đời, tức là có khoảng 175.000 blog mới xuất hiện mỗi ngày và cứ khoảng nửa năm thì số lượng blog tại tăng gấp đôi. Mỗi ngày có khoảng 1,6 triệu tin bài được tải lên blog.   Với sự xuất hiện và bùng nổ này của blog, bên cạnh các website, forum, mailing list … không gian mạng (cyberspace) lại có thêm một nhân tố mới, ngày càng trở nên quan trọng. Sự phát triển của blog nói riêng và của cộng đồng trên mạng nói chung cho thấy nhu cầu được giao lưu, chia sẻ, được mọi người biết đến, và có tiếng nói là những nhu cầu hết sức cơ bản của con người.  Thực ra không phải chỉ đến bây giờ con người mới có những nhu cầu này, nhưng công nghệ thông tin ngày nay cho phép thực hiện những nhu cầu này một cách dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, và rẻ hơn. Công nghệ thông tin theo nghĩa đó đã thu hẹp khoảng cách của xã hội loài người. Chẳng hạn một blogger (người viết blog) ở Việt Nam có thể cảm thấy mình gần một blogger ở Pháp, Thuỵ Điển, hay ở Mỹ hơn so với một người Campuchia, hay thậm chí một người Việt Nam khác có thể chỉ ở cách đó mấy chục mét, thậm chí ngay sát vách. Lý do là các blogger đã hình thành một cộng đồng trên mạng để chia sẻ và thảo luận dựa trên những mối quan tâm chung.  Như vậy, có một cộng đồng ảo rất thật, một cộng đồng mà trên đó nhu cầu về giao tiếp, chia sẻ, có tiếng nói được thực hiện. Một blog có thể được tạo ra cho gần như bất kỳ mục đích gì. Có những weblog chuyên thảo luận về những sở thích cá nhân như âm nhạc, thể thao, đua ô tô, leo núi v.v. Bên cạnh đó, cũng có những blog được tạo ra để thảo luận về những vấn đề rất nghiêm túc như văn học, nghệ thuật, triết học, chính trị quốc tế. Theo một nghĩa nào đó, các blogger, những người vừa là tác giả, đồng thời là khán giả của các blog đã trưởng thành trong thế giới ảo, và điều này đối với nhiều người cũng quan trọng như là trưởng thành trong một thế giới thực.  Mỗi một blog là một kênh trao đổi thông tin mở. Không chỉ tác giả mà cả những khán giả có thể vào xem và viết bình luận. Tính năng kiên kết cho phép nối kết một blog với rất nhiều blog khác, và nhờ đó tạo nên một mạng lưới blog toàn cầu. Công nghệ hiện đại cũng cho phép có thể đưa được ảnh (photoblog), nhạc (podcasting), và video (vlog) lên blog. Như vậy có nghĩa là blog đã thực sự trở thành một nguồn tin tức mở, và mỗi blogger theo một nghĩa nào đó đã trở thành một “nhà báo công dân”. Chẳng hạn như trong trận bão Katrina ở Mỹ, hay vụ đánh bom ở ga tàu điện ngầm ở London năm ngoái, hay thậm chí là tin tức về cơn bão vừa rồi ở miền Trung. Nhớ lại là hồi 11/9/2001 khi nước Mỹ bị tấn công, người ta còn chưa nói nhiều tới blog.  Việc mỗi một blog có thể trở thành một nguồn tin mở, và mỗi một blogger có thể trở thành một nhà báo công dân chắc chắn sẽ có tác động đến việc làm báo truyền thống. Tuy nhiên, tác động cụ thể của nó như thế nào thì có lẽ còn phải chờ thời gian mới đánh giá được một cách chính xác. Chẳng hạn như theo Friedman, tác giả của “Thế giới phẳng”, trong vụ đánh bom tàu điện ngầm ở London, chỉ trong vòng 24 giờ, BBC đã nhận được 20.000 bài viết qua thư điện tử, hơn 1.000 bức ảnh, và hơn 20 đoạn quay video. Việc thẩm định, chọn lọc, và sử dụng những nguồn tư liệu hết sức đồ sộ, phong phú, và đa dạng này thực sự là một thách thức cho các nhà biên tập của BBC, và đây là thách thức chung cho làng báo truyền thống: Một mặt họ rất muốn có một cách nhanh nhất những thông tin trực tiếp, từ nhiều góc độ khác nhau, đại diện cho nhiều tiếng nói khác nhau; mặt khác, việc chọn lọc, xử lý, biên tập những tin này quả thực không đơn giản.  Một vấn đề khác của blog là không ít blog trong số 60 triệu blog hiện có được xây dựng vì những mục tiêu không tốt đẹp. Đồng thời, tồn tại nhiều hành vi sai trái trên mạng, chẳng hạn như chép bài của người khác đưa lên trang blog và coi đó là của mình (ăn cắp trên mạng), thậm chí có những trường hợp bêu xấu người khác (vu khống trên mạng), và những hành vi vu cáo này, ở mức độ cực đoan, có thể dẫn tới những sự hậu quả nghiêm trọng về mặt danh dự, uy tín, hay sinh mạng chính trị của người bị vu cáo (“ám sát” trên mạng).  Suy đến cùng thì công nghệ thông tin và tiến bộ của khoa học kỹ thuật chỉ là những phương tiện, và bên cạnh những ích lợi mà chúng có thể đem lại thì bao giờ cũng có những mặt tiêu cực, và mặt nào chiếm ưu thế phụ thuộc rất nhiều vào những người sử dụng. Rõ ràng là khó có thể trông chờ vào việc cộng đồng mạng có thể có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ uy tín của tập thể và cho mỗi thành viên. Xã hội ngày càng mở, con người ngày càng mở rộng khoảng không gian của mình, không chỉ trong không gian vật lý mà còn trong không gian mạng. Dù thế nào đi chăng nữa, thì việc xuất hiện và phát triển của blog cũng là một phát triển hợp quy luật, thỏa mãn được một số nhu cầu rất cơ bản của con người, và vì thế là một xu hướng không thể và không nên cưỡng lại. Vấn đề là làm thế nào để khai thác được mặt tích cực, đồng thời giảm thiểu được những tác hại tiêu cực do blog có thể đem lại.        Vũ Thành Tự Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bỏ biên chế – Thiên sinh ngã tài… tất hữu dụng!      Anh Ng., được đ&#224;o tạo b&#224;i bản về cơ kh&#237;, v&#224; mặc d&#249; đầy &#8216;ho&#224;i b&#227;o&#8217; nhưng sau mấy chục năm vẫn chẳng l&#224;m được việc g&#236; đ&#225;ng kể như &#253; nguyện. Về hưu được v&#224;i th&#225;ng anh tr&#225;ch t&#244;i: Về hưu sướng thế m&#224; b&#225;c kh&#244;ng bảo em sớm! Anh m&#234; sưu tầm v&#224; l&#224; chuy&#234;n gia được trọng vọng của c&#225;c bảo t&#224;ng, l&#224;m việc dễ d&#224;ng &#8220;chẳng đ&#225; n&#224;o vấp, chẳng d&#226;y n&#224;o qu&#224;ng!&#8221;.    Một nhà thơ, tổng biên tập một báo trung ương đau đầu về cái ngân quỹ không đủ nuôi “báo cô” 40  nhân sự “con cháu-gửi gắm” không sao đào tạo lại hay sa thải nổi. Bực mình anh gủi bưu điện 4 đơn từ chức. Một năm sau khi về “trí sĩ” anh in một tiểu thuyết, dịch ba tập thơ, đi vòng quanh mấy tỉnh đánh bóng bàn nghiệp dư “khỏe người, ít bệnh!”. Anh A. tiến sĩ khoa học ở Nga về, trước dạy đại học thấy cảnh học chả ra học, dạy chả ra dạy bỏ đi làm tư vấn cho mấy “đại gia”. Xông xênh uống rượu với C.T.Th., nguyên một Giám đốc bảo tàng tỉnh giỏi có tiếng về  văn hóa Nam Bộ và Hán Nôm. Ông này từ khi “thôi quản lý” cho ra hàng loạt đầu sách, chủ biên mấy bộ sách đồ sộ mà nếu làm giám đốc cả đời ông cũng không làm nổi. Anh K… một KTS ra trường làm 2 năm Nhà nước, chỉ pha trà, với họp. Chán quá đi luyện tiếng Anh làm công ty nước ngoài, sau 5 năm lương “kịch trần” thì lại bỏ ra ngoài làm “tự do”.    Ngược lại ta thấy có các “bảng giá” từ vài ngàn tới vài chục ngàn USD xin vào biên chế các ngành “dễ ăn” các chỗ làm “thơm” như hải quan, thuế, hàng không, dầu khí, quản lý đất đai, xét duyệt dự án … Chạy chức quan to thì cả vài trăm triệu VNĐ như báo chí đã khui ra. Ngược xuôi hai chiều vào ra biên chế cũng đều vì hai chuyện: Kiếm cơm và dụng cái tài của mình. Hai thứ đó thuận hợp với nhau thì cá nhân hạnh phúc, cộng đồng thịnh vượng. Nghịch nhau, vênh nhau thì cá nhân bất hạnh, đất nước thiệt hại. Xem phim Khổng Tử tôi nhớ đoạn ông đứng nhìn mặt trời lặn, buồn vì đi du thuyết khắp thiên hạ mà chả vua nào dùng (ông và học thuyết của ông). Một anh bạn cùng làng hỏi: Đứng làm gì?Nhìn mặt trời lặn. Bạn nói: Trời sinh ra người tài không phải để đứng nhìn trời. Không ai dùng thì mở trường dạy học. Khổng Tử không tìm cách “vào biên chế” nữa mà mở trường tư để làm nên một phần văn minh Trung Hoa. Lý Bạch có lần nhớ Đỗ Phủ hỏi đùa: Cái “cậu Đỗ” ấy giờ còn khổ vì làm thơ nữa không. Đỗ Phủ cũng “ra khỏi biên chế” khi viết bài có câu mà Bác Hồ đã trích trong Di chúc của Người: “Khỏi bệ vua ra, cố (cầm cố) áo hoài/Bến sông say khướt, tối lần mai./Nợ tiền nợ rượu ai chẳng thế./Sống bảy mươi năm đã mấy người!”(lời dịch của Tú Xương?). Cao hơn nữa là khái quát của Lý Bạch: “Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng”. Ta tự dùng một cách đầy trách nhiệm và bản lĩnh để vì mọi người một cách hữu hiệu nhất. Nếu hai ông này làm quan thì lâu đài thi ca Trung Hoa đã sạt mất một góc lộng lẫy nhất. Có nhà nghiên cứu cho rằng kinh tế Mỹ có thời làm bá chủ là bởi vì các nhà khoa học, phát minh Mỹ chỉ coi công việc của mình là xong khi đã có sản phẩm được thương mại hóa – được nhân dân dùng cụ thể. W. Goethe (Gớt) thì nói: 9/10 tài năng là để tạo ra được điều kiện cho 1/10 kia phát triển.   Đáp:  Đất nước, chính quyền làm được cho họ điều đó thì thịnh vượng. Xưa nay vẫn vậy. Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng: Ta có đủ các tật xấu: ham săn bắn, ham rượu, ham gái, ham ăn ngon…có làm bá được không? Quản Trọng bảo: Được! Chỉ cần biết dùng người tài, bỏ bọn xu nịnh. Sau đó, Quản Trọng “tinh giảm biên chế”, đưa ra chính sách “kinh tế thị trường”, phát triển công thương, thu hút người tài. Nước Tề làm bá. Quản Trọng chết. Tề Hoàn Công bị bọn xu nịnh bỏ chết đói trong tháp kín. Nước Tề suy bại.  Gần đây báo chí nói có làn sóng “chảy máu chất xám” của bộ máy hành chính-quốc doanh ở ta. (Tất nhiên ở đây ta không tính đến các vị đã “hạ cánh an toàn” hoặc trở thành các nhà tư bản mới qua cổ phần hóa cũng như những người sau khi tích lũy các lợi thế, các quan hệ trong thời gian làm quan nay lợi dụng các “kinh nghiệm, vốn liếng” đó tách ra “ở riêng”).  Tôi thấy mừng hơn lo vì hiện tượng đó cho ta thấy rõ hơn ba vấn đề: Bộ máy-Viên chức -Người tài.  a. Bộ Nội Vụ thông báo chủ trương tinh giảm biên chế hàng chục năm nay thất bại, bộ máy phình to, cồng kềnh bậc nhất thiên hạ. Ngân sách không gánh nổi quỹ lương. Mặt khác năm 2006-07 cả nước có 16000 viên chức thôi việc, riêng TPHCM hơn 6000 người. Hầu hết đều vì lương không đủ sống (Tuổi trẻ 22/8/08). Nhưng lạ thay bớt đi 16000 người mà mọi viêc hành chính quản trị không vì thế mà trì trệ hơn! Thế thì giảm nữa đi có sao không? Nếu 1 người còn lại làm việc bằng 4-5 người hiện nay tôi chắc cũng xong và lương họ có thể tăng gấp 4-5 lần. Sao không “nhất cử lưỡng tiện” nhân dịp này để viên chức giỏi làm nhiều hơn, hưởng nhiều hơn. Dân cũng sẽ đỡ bị sách nhiễu phiền hà. Song khổ nỗi chỉ người giỏi mới ra, người kém, lười thì lại không cách nào tinh giảm được. Đó là lỗi hệ thống!     Hệ thống pháp luật cần được hòa chỉnh theo hướng Nhà nước pháp quyền, (tam quyền phân lập vẫn là mô hình tối ưu), để ai cũng có quyền, có “không gian pháp lý” mà mưu cầu hạnh phúc cho mình một cách bình đẳng. Pháp lý, công nghệ hành chính cần cải tổ, hiện đại hóa thì chính trị gia giỏi, người tài và viên chức giỏi mới làm được việc. Hoàn thành một dự án ngoài KCN mất 316 thủ tục và 400 ngày (Cũng báo Tuổi trẻ cùng ngày) thì nửa nước làm viên chức cũng không xong! Có cụ già bảo thời phong kiến chỉ thấy có mỗi một lý trưởng, một phó lý, một trương tuần cầm một cái gậy tre là xong. Nay sao mà lắm “quan” đến thế!  b. Quản lý là một nghề ngày càng tinh xảo, nhưng cách vận hành công quyền hiện nay không phát huy được tài năng của người có tài quản lý. Rất nhiều vị chỉ khi về hưu mới mạnh bạo phản biện, mới đưa ra nhiều sáng kiến vì khi đương nhiệm họ bị “cơ chế” trói buộc. Sự “tự trói buộc” bằng hệ thống quản trị lạc hậu  làm thui chột tài năng quản lý. Sự tùy tiện trong quản trị nuôi dưỡng cái tâm lý đối lập quan với dân, làm căng thẳng quan hệ giữa các nhóm quyền lợi và cơ chế xin cho vẫn tồn tại ở nhiều lĩnh vực trong  xã hội. Nó là một cản trở lớn nhất đối với quá trình dân chủ hóa.    Hơn bao giờ hết chúng ta đang cần các nhà chính trị chuyên nghiệp có tài và một đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề làm dịch vụ công. (Bài học Singapore có vẻ hữu ích. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên ta: Sang kinh tế thị trường thì quan trọng nhất là phải có một đội ngũ thu thuế giỏi!). Hệ thống hành chính, dịch vụ công, khu vực quốc doanh đang trì trệ nhất.    c. Chuyện người tài có nhiều nhầm lẫn. Việc  60-70% người bảo vệ học vị sau đại học và được phong GS, PGS năm qua là những người đang nắm các cương vị lãnh đạo hành chính là điều không bình thường. Chỉ có hai khả năng: Một đó là bằng cấp giả, tài “dỏm”. Hai nếu bằng thật, tài thật thì là lãng phí tài năng. Chỗ của các nhà khoa học là ở các viện và trường nhưng khổ thay ở đó họ cũng không có điều kiện nghiên cứu và giảng dạy theo “sở trường” và sở thích của mình. Nếu chưa trị được cái bệnh “quan khoa học, quan văn nghệ” thì còn trì trệ về văn hóa và khoa học, công nghệ. Ở đây cũng phải sửa hệ thống, cách vận hành hệ thống. Nhà lãnh đạo quản lý cần không gian pháp lý để trổ tài, đưa ra quyết sách mang dấu ấn cá nhân. Trí thức cần không gian pháp lý để có tiền và tự do tư duy, phát minh hay giảng dạy. Việc các doanh nghiệp săn lùng người tài, kể cả công nhân tay nghề cao, việc nhiều người tài bỏ biên chế (kìm hãm cái tài của họ), tìm tới những nơi khác tốt hơn là dấu hiệu đáng mừng. Tổng thống Hàn Quốc nói: Một người tài (nếu dụng được cái tài của mình) có thể lo cho 1 triệu người cũng không ngoa. Nhưng mặt khác việc các doanh nghiệp, tập đoàn, viện, trường ĐH… kêu không tuyển được nhân sự từ công nhân lành nghề tới cán bô cao cấp – chuyên gia có tài, chứng tỏ số người tài ở ta không nhiều như ta tưởng.  Tôi nghĩ nhân “làn sóng chảy máu chất xám”, và viên chức bỏ việc này mà có sự điều tra, nghiên cứu nghiêm túc, khách quan, không “sĩ diện” và ngụy biện về các hệ thống hiện hành và cơ cấu nguồn nhân lực hiện có thì chắc sẽ rút ra được nhiều kết luận, giải pháp thiết thực.      Nguyễn Bỉnh Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ chỉ số xếp hạng chính quyền điện tử: Khó cũng phải có      Những lợi ích do Chính phủ điện tử mang lại đã rõ ràng và sự thành công ở giai đoạn đầu của chính quyền Quảng Ninh cũng đã cho thấy xây dựng Chính phủ điện tử không phải là câu chuyện xa vời. Tuy nhiên, công cụ nào để đo đếm chất lượng thực sự của Chính phủ điện tử?      Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng cùng các thành viên trong đoàn chăm chú theo dõi giải pháp CQĐT do FPT triển khai tại Quảng Ninh. Nguồn:fpt.com.vn  Cách mạng công nghệ 4.0, Chính phủ điện tử đang dần trở thành những từ khóa “thời thượng” trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.  Đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ sau khi ban hành Nghị quyết 36a/ NQ – CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 về Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một bộ chỉ số cụ thể nào được xây dựng để đánh giá mức độ thực hiện chính quyền điện tử tại các địa phương, dẫn đến tình trạng phát triển không đồng đều và thậm chí, không minh bạch về thông tin, không tăng hiệu quả quản lý hành chính.  Xây dựng Chính phủ điện tử – nhu cầu tất yếu của sự phát triển  Khái niệm Chính phủ điện tử xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21, sau sự bùng nổ của việc ứng dụng công nghệ thông tin sâu rộng vào toàn bộ các hoạt động của đời sống và đặc biệt là sự phát triển kinh tế. Sự ra đời của thương mại điện tử (e-commerce), doanh nghiệp điện tử (e-business) cùng các phương thức hợp tác, kinh doanh xuyên biên giới nhờ kết nối mạng Internet đặt các Chính phủ trước yêu cầu đối mới phương thức quản lý phù hợp.  Các định nghĩa, mô hình xây dựng Chính phủ điện tử nở rộ khắp nơi, với nhiều thảo luận đến từ các chuyên gia về hành chính và kinh tế. Đi kèm với đó là những ưu điểm không thể chối cãi của việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thông tin vào công tác điều hành của Chính phủ, hay nói cách khác, là đẩy mạnh và phát triển Chính phủ điện tử.  Tại Việt Nam, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính manh nha xuất hiện từ năm 2001, với sự ra đời của Đề án 112/2001 về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2005. Tuy nhiên, đến năm 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo ngừng thực hiện đề án do sai phạm trong quá trình thực hiện, không đạt được bất kì mục tiêu nào trong 5 nhóm mục tiêu chính, và làm thất thoát ngân sách nhà nước theo kết luận của cơ quan kiểm toán. Sau đó, gần như không còn hoạt động tích cực nào đáng kể liên quan đến Chính phủ điện tử.  Tuy nhiên, cũng tương tự như tất cả các quốc gia khác, đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đặc biệt là các công nghệ điện toán đám mây, Internet vạn vật, sự nở rộ của các hoạt động kinh doanh trên không gian mạng, Chính phủ tiếp tục đứng trước nhu cầu thay đổi mô hình quản lý phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đồng thời, cũng là yêu cầu của hoạt động cải cách thủ tục hành chính. Xây dựng Chính phủ điện tử trở thành lựa chọn để phát triển. Chính phủ điện tử trong bối cảnh hiện nay còn được bổ sung những cách tiếp cận rất mới, tăng sự tương tác của Chính phủ với người dân và doanh nghiệp, đặt dưới quan hệ một bên cung cấp dịch vụ và một bên thụ hưởng dịch vụ, đòi hỏi yêu cầu về chất lượng phải được nâng cao.  Năm 2012, Quảng Ninh bắt đầu triển khai thực hiện xây dựng mô hình Chính quyền điện tử một cách toàn diện đầu tiên trong cả nước. Tính đến quý I năm 2018, kế hoạch xây dựng Chính quyền điện tử đang bước vào giai đoạn 2: 2017 – 2020. Những con số báo cáo của giai đoạn 1 đã mở ra những hi vọng lớn cho việc đẩy mạnh chính quyền điện tử trên phạm vi cả nước: 400 đơn vị hành chính của tỉnh tham gia ứng dụng chính quyền điện tử; trên 3,7 triệu lượt văn bản trao đổi qua mạng (3 năm); tiết kiệm 1 năm trên 30 tỷ đồng chi phí hành chính, riêng tiết kiệm chi phí gửi nhận văn bản 1 năm gần 15 tỷ đồng, liên tục đứng đầu về chỉ số cạnh tranh PCI, chỉ số cải cách hành chính PAR Index. Sự thành công của Quảng Ninh đang tạo ra hiệu ứng lan tỏa tới nhiều tỉnh, thành phố trong việc đẩy mạnh chính quyền điện tử như Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội.  Cần một công cụ đánh giá để hoạt động xây dựng Chính phủ điện tử đi vào thực chất  Những lợi ích do Chính phủ điện tử mang lại đã rõ ràng, sự ủng hộ của Chính phủ đã có, sự hài lòng của người dân Quảng Ninh và sự thành công ở giai đoạn đầu của chính quyền Quảng Ninh cũng đã cho thấy xây dựng Chính phủ điện tử không phải là câu chuyện xa vời không thể đạt được. Tuy nhiên, công cụ nào để đo đếm chất lượng thực sự của Chính phủ điện tử?  Chỉ số cải cách hành chính hiện nay chỉ được áp dụng để đánh giá tổng thể hoạt động cải cách hành chính của các địa phương, mà ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử chỉ là một phần trong đó. Các chỉ số khác như chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) cũng không tập trung đánh giá hiệu quả quản lý khi ứng dụng chính quyền điện tử mà chỉ tập trung phản ánh hiệu quả quản lý hành chính chung. Hiện nay, hoạt động triển khai chính quyền điện tử mới chỉ được thực hiện tại một vài tỉnh, thành phố độc lập, nên cũng không có một chỉ số đánh giá cụ thể nào trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, nếu hướng đến việc nhân rộng mô hình từ Quảng Ninh, thì sự ra đời của một bộ chỉ số riêng là cần thiết và phải được xây dựng từ thời điểm này.  Bộ chỉ số sẽ đóng vai trò như một thước đo thống nhất trên phạm vi cả nước, xếp hạng và cho thấy kết quả xây dựng chính quyền điện tử tại từng tỉnh. Căn cứ vào đó, các bài học kinh nghiệm giữa các tỉnh sẽ được chia sẻ và nhân rộng. Chính phủ sẽ có cơ sở để hỗ trợ cho các tỉnh trong trường hợp cần thiết. Sự ra đời của một bộ chỉ số không chỉ có ý nghĩa đánh giá đơn thuần, mà còn là kết quả của sự minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và là một trong các phương thức để người dân, tổ chức, doanh nghiệp thể hiện quyền giám sát của mình với chính các cơ quan hành chính.  Việc xây dựng bộ chỉ số, đi kèm với một bảng xếp hạng, đánh giá sẽ không tránh khỏi tranh cãi giữa các tỉnh. Tuy nhiên, không vì lí do này mà vai trò của bộ chỉ số giảm đi. Bộ chỉ số sẽ thúc đẩy sự hợp tác của chính các cơ quan hành chính tại các tỉnh với chủ thể thực hiện đánh giá chỉ số trong việc cung cấp dữ liệu, công khai thông tin đến chính người dân và doanh nghiệp – đối tượng trực tiếp thụ hưởng dịch vụ do các cơ quan cung cấp. Quan trọng hơn, bộ chỉ số sẽ làm tăng thêm tính cạnh tranh giữa các tỉnh, tăng hiệu quả thực sự của hoạt động xây dựng chính quyền điện tử sau thời điểm khảo sát và đánh giá.  Bộ chỉ số đồng thời cũng sẽ thể hiện chất lượng quản lý hành chính ở một khía cạnh khác hẳn so với các chỉ số sẵn có như PCI, PAPI, PAR Index, góp phần xây dựng một bức tranh toàn cảnh về hoạt động quản lý hành chính trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin.  Sự thất bại từ việc thực hiện Đề án 112/2001 cũng đã cho thấy, việc thiếu thông tin minh bạch, thiếu sự giám sát từ khu vực tư nhân liên quan đến các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước dẫn đến những sai phạm không thể cứu vãn, thất thoát ngân sách và mất lòng tin từ nhân dân. Xây dựng một bộ chỉ số đánh giá chính là phương thức trực quan sinh động nhất khắc phục những yếu điểm này – vấn đề tồn tại từ rất lâu trong nền hành chính Việt Nam.     Vai trò của bộ chỉ số:  – Một thước đo thống nhất trên phạm vi cả nước,  – Phản ánh và xếp hạng việc xây dựng chính quyền điện tử của từng tỉnh,  – Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hoạt động quản lý hành chính trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin.    Author                Nguyễn Thùy Linh; Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện đại      Năm 2014 là năm giới luật học trên toàn thế giới kỷ niệm 200 năm cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Thibaut và Savigny về sự cần thiết, vai trò và tính khả thi của pháp điển hóa pháp luật dân sự. Cuộc tranh luận này không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh thức nhận thức pháp quyền của tầng lớp tinh hoa, giúp chuẩn bị tiền đề lý luận cho việc xây dựng Bộ luật Dân sự (BLDS) Đức, mà còn khơi dậy niềm cảm hứng cho các công trình pháp điển hóa khắp nơi trên thế giới.    1.    Tranh luận Thibaut và Savigny về pháp điển hóa pháp luật dân sự  Năm 1814, Anton Friedrich Justus Thibaut (4/1/1772 – 20/3/1840)- giáo sư luật học của Đại học tổng hợp Heidelberg1 công bố tác phẩm Sự cần thiết ra đời bộ pháp điển hóa Luật dân sự thống nhất ở nước Đức, trong đó lần đầu tiên đặt vấn đề xây dựng BLDS như công trình pháp điển hóa toàn diện, nhằm thống nhất, khái quát hóa toàn bộ hệ thống dân luật2.   Mặc dù công trình này không trình bày phương pháp và cách thức pháp điển hóa, nhưng Thibaut đã đưa ra ba lập luận mang tínhnền tảng nhằm lý giải tại sao cần phải pháp điển hóa pháp luật dân sự: (i) Để thúc đẩy sự phát triển của thị trường (ii) Để đảm bảo tính minh bạch, và sự thống nhất của pháp luật (iii) Để cải cách pháp luật đáp ứng sự phát triển không ngừng của xã hội3.   Ngay sau đó, Friedrich Carl von Savigny (21/2/1779 – 25/10/1861) người được đánh giá như là Goethe của ngành luật, đã phản bác lại ý tưởng của Thibaut bằng việc công bố tác phẩm “Nhiệm vụ của thời đại chúng ta đối với hoạt động lập pháp và khoa học pháp lý”4.  Theo ông việc pháp điển hóa có thể sẽ làm đóng băng sự phát triển của hệ thống luật tư. Với quan niệm “khoa học pháp lý thực chất là khoa học lịch sử”, và do vậy cần “ nghiên cứu kỹ càng luật La Mã, nghiên cứu tập quán sử dụng pháp luật của người dân, chính xác hóa khái niệm trước khi pháp điển hóa”5.  Savigny cùng với người kế thừa kiệt xuất của mình là Georg Friedrich Puchta (3/8/1798 – 8/1/1846) đã gây dựng trường phái pháp luật lịch sử, tập trung phân tích, đánh giá lại những giá trị luật La Mã để xây dựng nền tảng lý luận vững chắc cho sự ra đời BLDS Đức6.   2.    Vai trò của bộ pháp điển hóa pháp luật dân sự  Học giả nổi tiếng người Pháp Jean Maillet trong một bài báo rất đáng chú ý trên Tulane Law Review năm 19697,  đã dựa trên ý tưởng của Thibaut để phân tích các vai trò căn bản mà BLDS truyền thống thuộc thế hệ pháp điển hóa thứ nhất- thế hệ pháp điển hóa của thời khai sáng, tiêu biểu nhất là BLDS Pháp, BLDS Đức hướng tới:  Thứ nhất, pháp điển hóa pháp luật dân sự được xem như công cụ hữu hiệu nhất để trình bày một cách hợp lý, logic và toàn diện các quy tắc pháp lý của đời sống dân sự8.  Chủ đích cơ bản nhất là qua đó đảm bảo tính xác định, tính dự báo của hệ thống luật tư và thúc đẩy khả năng tiếp cận pháp luật của công dân9.   Thứ hai, pháp điển hóa pháp luật dân sự nhằm đạt sự thống nhất toàn bộ hệ thống pháp luật trong một quốc gia10.  Đó chính là một trong những lý do thúc đẩy Thibaut đề nghị ban hành BLDS là bởi Thibaut tin rằng việc loại bỏ sự đa dạng và khác biệt trong hệ thống luật dân sự ở Đức sẽ là tiền đề cho sự thống nhất chính trị của nước Đức. BLDS do đó, trở thành biểu trưng của sự thống nhất quốc gia. Ngoài ra, sự thống nhất pháp luật cũng giúp cho việc loại bỏ các rào cản pháp lý để thúc đẩy sự phát triển của thị trường, của giao lưu thương mại11.   Thứ ba, pháp điển hóa giúp cho việc chính đáng hóa hệ thống quy tắc pháp lý12.  Luật pháp phải là sản phẩm của quá trình dân chủ, thông qua quá trình ban hành pháp luật của quốc hội, công dân của quốc gia đấy trở thành chủ thể của BLDS của quốc gia mình.   Với sự ra đời của hàng loạt BLDS mới sau này như BLDS Hà Lan (1992), BLDS Quebec(1994), BLDS Romania (2011), BLDS Hungary (2014), hay BLDS Việt Nam (1995, 2005), lý tưởng về việc xây dựng và ban hành công trình pháp điển hóa mang tính hệ thống bao quát toàn bộ hệ thống luật tư ngày nay dường như vẫn còn nguyên sức sống. Tuy nhiên, quan niệm về chức năng của BLDS đã có sự đổi mới, phản ánh sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt là Internet. Trong xu hướng đó, đã có nhiều học giả kêu gọi BLDS thế hệ 2.0.13   Theo Michael McAuley, quá trình pháp điển hóa BLDS trong xã hội hiện đại phải phản ánh được ba đặc tính cơ bản: thứ nhất BLDS phải được thiết kế đơn giản và dễ hiểu đối với những người dân bình thường; thứ hai nó phải đưa ra được một tuyên bố hợp lý và toàn diện về trật tự pháp luật dân sự; và thứ ba nó phải thể hiện quy tắc pháp lý dưới những cách thức và phương tiện mà những người không phải chuyên gia cũng có thể hiểu được. Michael McAuley cho rằng để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong thời đại kỹ thuật số, BLDS thậm chí cần được cơ quan lập pháp chính thức ban hành dưới “hai phiên bản (versions)”- một phiên bản là bản chính văn, phiên bản còn lại là bản chính văn đó dưới dạng kỹ thuật số hay e-codes (BLDS điện tử) được ban hành cùng với những hướng dẫn, giải thích áp dụng với thiết kế sao cho bất cứ một người dân bình thường nào cũng có thể tiếp cận không chỉ chính điều khoản cần tra cứu mà còn có thể dễ dàng tiếp cận những điều khoản liên quan.14  Nếu như Michael McAuley đứng từ góc nhìn hình thức của BLDS thì Jan Smits đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của tính đa dạng của các loại nguồn pháp luật đối với vai trò của BLDS hiện đại15 như các luật mẫu của các thiết chế quốc tế, hay thậm chí các quy tắc, điều lệ của các hiệp hội, chưa kể đến các tập quán thương mại phổ biến. Do đó, Jan Smits lập luận rằng nếu nhấn mạnh đến tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của chủ thể, bộ pháp điển hóa nên được đánh giá chủ yếu dưới tư cách là công cụ quản lý thông tin: các giải pháp pháp lý từ nhiều nguồn khác nhau được thu thập và mã hóa bằng BLDS, sau đó, thông tin được phân bổ cho người dân như người tiêu dùng các giải pháp pháp lý đó.  Trong thời kỳ hiện nay, khi Nhà nước không còn là thiết chế độc quyền ban hành các giải pháp pháp lý, cũng như độc quyền tài phán như trước đây, BLDS nếu muốn được thiết kế thành công phải đạt tới cả giá trị nội dung và hình thức phù hợp với nhu cầu mới của người dân như là người tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý của đời sống hiện đại.   3.    Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện đại    Giá trị của các Bộ luật Dân sự Việt Nam16  BLDS năm 1995 là công trình pháp điển hóa pháp luật dân sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thay đổi nhận thức về mối quan hệ Nhà nước và đời sống dân sự. BLDS này, có thể nói đã thể hiện vai trò quan trọng như một tuyên ngôn pháp lý của nhà nước về từ bỏ cơ chế quản lý tập trung kế hoạch hoá, hướng tới phát triển kinh tế thị trường, trả lại và tôn trọng các nguyên lý cơ bản nhất của đời sống dân sự cho người dân. Các nguyên tắc căn bản như: tự do kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng, tôn trọng và bảo vệ quyền tư hữu đã từng bước được ghi nhận, góp phần giải phóng sức sáng tạo của người dân, và tạo nên thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao của đất nước.   Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tư duy về nhà nước hành chính vẫn hết sức nặng nề. Không khó để chỉ ra các thiết chế của BLDS còn chứa đựng nhiều quy phạm mang tính mệnh lệnh như các quy định về hộ tịch kiểm soát cá nhân, phương pháp can thiệp trực tiếp vào hợp đồng bằng chế tài hành chính xử lý hợp đồng vô hiệu, chế định về hình thức sở hữu có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình sở hữu. Về mặt kỹ thuật pháp lý, BLDS không thực sự đóng góp vào thúc đẩy đời sống dân sự, chẳng hạn cho đến năm 1997 khi Luật doanh nghiệp ra đời, cùng với Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế 1989 có tới ba văn bản luật với những chủ đích pháp lý trái ngược nhau cùng điều chỉnh quan hệ hợp đồng, gây những rắc rối không hề nhỏ đối với đời sống dân doanh.   Mười năm sau đó, đứng trước yêu cầu mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, BLDS Việt Nam 2005 được thiết lập nhằm đáp ứng chuẩn mực pháp lý quốc tế, gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Cùng với các văn bản khác được ban hành cùng năm như Luật Thương mại 2005, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005, BLDS đã cố gắng đáng kể trong việc xóa bỏ rào cản pháp lý cản trở đời sống dân sự. Thành công đáng kể nhất phải kể đến là BLDS đã khẳng định được vai trò là luật gốc trong hệ thống luật tư, thống nhất pháp luật hợp đồng và cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm. Mặc dù vậy, sự thay đổi về tư duy quản trị nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi vẫn chưa hoàn toàn được thực thi. Các quy định về các hình thức sở hữu vẫn tiếp tục được duy trì, các quy định về hợp đồng trọng thức, hay các quy tắc mang tính cấm đoán như trong giao dịch về thế chấp vẫn thể hiện tư duy làm thay, lo thay các chủ thể của đời sống dân sự, chưa thực sự khai thông năng lực sáng tạo chủ thể, khai thác tối đa giá trị pháp lý của tài sản.  Năm 2014, một lần nữa theo chu kỳ mười năm, dự thảo BLDS mới được đưa ra và đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của giới luật gia. Một BLDS hoàn hảo hơn đang được kỳ vọng mạnh mẽ.   Sứ mệnh của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện đại    BLDS Việt Nam hiện đại, trước hết, phải là BLDS thân thiện với người dân: từ ngôn ngữ pháp lý, đến cách trình bày hay thậm chí “giao diện” của BLDS đều phải giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận và áp dụng. Dựa trên yêu cầu hình thức đó, BLDS phải đáp ứng mạnh mẽ các kỳ vọng về nội dung sau:        BLDS Việt Nam hiện đại, trước hết, phải là BLDS thân  thiện với người  dân: từ ngôn ngữ pháp lý, đến cách trình bày hay thậm  chí “giao diện”  của BLDS đều phải giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận  và áp dụng. Dựa  trên yêu cầu hình thức đó, BLDS phải đáp sứ mệnh đầu  tiên và căn bản  nhất của BLDS là thừa nhận và tôn trọng các nguyên tắc  cơ bản nhất của  đời sống dân sự.          Sứ mệnh đầu tiên và căn bản nhất của BLDS là thừa nhận và tôn trọng các nguyên tắc cơ bản nhất của đời sống dân sự. Các chế định pháp lý như Chủ thể, Tài sản, Hợp đồng, Thừa kế, Bồi thường Thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS, trước hết, phải được thiết kế nhằm phản ánh mong ước của tất cả mọi cá nhân về quyền tự do chủ thể, về bảo vệ tính tuyệt đối của quyền tư hữu, nguyên tắc tự do kết uớc, tự do định đoạt di sản, nguyên tắc về trách nhiệm do lỗi.  BLDS sẽ hoàn hảo nếu được xây dựng như một thiết chế hỗ trợ, cung cấp các giải pháp pháp lý tối ưu cho người dân, nhằm tối đa hóa giá trị của tài sản, thúc đẩy các giao lưu dân sự. Dựa trên nguyên tắc bảo vệ tính tuyệt đối của quyền tư hữu, hệ thống pháp luật về tài sản công khai, minh bạch sẽ giúp cho người dân khai thác không chỉ giá trị vật chất tài sản, mà tối đa hóa giá trị pháp lý, tiền tệ của tài sản. Dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng, hệ thống pháp luật hợp đồng nếu được thiết kế đúng với kỳ vọng của các chủ thể kết ước sẽ giúp họ giảm thiểu chi phí giao dịch trong việc tiếp cận, đàm phán, thực thi hợp đồng. Dựa trên nguyên tắc về trách nhiệm do lỗi, hệ thống pháp luật bồi thường thiệt hại giúp duy trì trật tự dân sự ổn định bằng việc vãn hồi công lý cần có sau khi hành vi xâm phạm từ phía chủ thể khác.  BLDS là sản phẩm của lịch sử, là thành tố của văn hóa pháp lý, phản ánh truyền thống pháp lý của một quốc gia. BLDS được kỳ vọng như một dấu hiệu giúp cho thế giới bên ngoài nhận diện đặc trưng, cốt cách tinh thần của quốc gia; nhìn vào các quy tắc về tổ chức gia đình, hay thừa kế trong BLDS Việt Nam, người quan sát có thể gọi tên tập quán sống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. BLDS bao giờ cũng phản ánh chuẩn mực, quy tắc sống được thừa nhận chung của cộng đồng. Vì thế dù cá nhân có quyền tự do sở hữu, tự do hợp đồng, tự do định đoạt di sản…, nhưng các quyền tự do này luôn được giới hạn bởi trật tự công và đạo đức xã hội như là trật tự dân sự mà cả cộng đồng quốc gia đó chung sống và định hướng theo đuổi.  4.    Vĩ thanh  BLDS hiện đại nếu muốn xác lập được giá trị của mình trong đời sống xã hội, phải được thiết kế như là thứ tài sản quý báu cho tất cả mọi người dân, là một tuyên ngôn pháp lý quan trọng nhất phản chiếu đời sống dân sự và định hướng phát triển của quốc gia.  Mặt khác, giống như cuộc tranh luận giữa Thibaut và Savigny, điều hết sức cần thiết với Việt Nam hiện nay, chính là bản thân của quá trình thảo luận công khai và rộng rãi về chính sách của BLDS. Nhận thức pháp quyền không phải tự nhiên đạt tới, các cuộc cải cách pháp lý không nhất thiết áp đặt theo chiều dọc từ trên xuống, quá trình tranh luận về tương lai BLDS phải được xem như cơ hội thúc đẩy tiếng nói của mọi người dân về trật tự sống mà họ muốn theo đuổi. Ở đó, ước vọng về quyền tư hữu đất đai hay những nhu cầu của cộng đồng LGBT về thừa nhận quyền kết hôn đồng giới như sự ghi nhận các quyền dân sự căn bản nhất của con người sẽ được lắng nghe và thảo luận. Ở đó, đề nghị mạnh mẽ của doanh nhân về bảo hộ quyền tự do kinh doanh, quyền tự do giao kết hợp đồng sẽ có cơ hội được tranh luận với nhu cầu can thiệp của nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên yếu thế như người tiêu dùng. Ở đó, các giải pháp giải quyết những thất bại của thị trường như vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng bằng cách áp đặt chế định trách nhiệm dân sự nghiêm ngặt hơn sẽ phải được tính toán thận trọng để cân bằng tăng trưởng với an sinh.  200 năm đã qua kể từ cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Thibaut và Sagviny, nhưng những giá trị mang ý nghĩa phổ quát của nó vẫn còn nguyên ý nghĩa. Quá trình tái pháp điển hóa pháp luật dân sự của Việt Nam lần này, là cơ hội thảo luận dân chủ công khai để hình dung về trật tự dân sự văn minh mà quốc gia theo đuổi.   —  *Khoa Luật- ĐHQG Hà Nội  Nghiên cứu sinh Viện Luật tư Molengraaff, Đại học tổng hợp Utrecht, Hà Lan  —  1 Chisholm, Hugh, ed. (1911). “Thibaut, Anton Friedrich Justus”. Encyclopædia Britannica (11th ed.).Cambridge University Press.  2 Nguyễn Minh Tuấn, Trường phái pháp luật lịch sử ở Đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5 (289) 2012 , tr. 39–47  3 Reimann, Mathias. The Historical School Against Codification: Savigny, Carter, and the Defeat of the New York Civil Code. The American Journal of Comparative Law (1989): 95-119.  4 Xem Nguyễn Minh Tuấn  5 Xem Nguyễn Minh Tuấn  6 Rai, Neetij. Volksgeist: In View of Friedrich Carl Von Savigny. Available at SSRN 1695389 (2010).  7 Jean Maillet, The Historical Significance of French Codifications. Tulane Law Review 44. (1969-1970)  8 Xem Jean Maillet  9 Chủ đích này cũng là quan điểm nổi tiếng của Jeremy Bentham khi nhấn mạnh thúc đẩy khả năng tiếp cận và nhận thức (cognoscibility) pháp luật là một trong những nguyên nhân chủ yếu của việc pháp điển hóa BLDS Napoleon 1804.  10 Xem Jean Maillet  11 Ý tưởng này trong thời hiện đại là động lực mạnh mẽ cho sự ra đời của xu hướng nhất thể hóa pháp luật thương mại toàn cầu như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hay Bộ Nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế.  12 Xem Jean Maillet  13 Smits, Jan Martien. Private Law 2.0: On the Role of Private Actors in a Post-national Society. Eleven International Pub., 2011.  14 McAuley, Michael  15 Xem Smits, Jan Martien  16 Xem thêm Bùi Thị Thanh Hằng, Đỗ Giang nam; Tái pháp điển hóa Bộ luật dân sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời đại pháp quyền, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, VPQH, số 15/2013, tr.21-30    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ Luật Lao động 2019: Những câu hỏi còn để ngỏ      Mới được thông qua cách đây hai tuần, Bộ Luật Lao động (sửa đổi) được cho là có nhiều điểm mới tiệm cận hơn với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế cơ bản đồng thời cố gắng dung hòa quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi cùng chị Đặng Thị Hải Hà, chuyên gia về lao động trong phát triển bền vững, sáng lập tổ chức nghiên cứu, tư vấn lao động RESPECT Việt Nam, về tính khả thi của những nội dung mới này.      Chị Đặng Thị Hải Hà trình bày nghiên cứu về quan hệ lao động tại một hội thảo về chính sách tăng trưởng bao trùm cho Việt Nam, do USAID tổ chức năm 2018.             Sau khi Bộ Luật Lao động vừa được thông qua vào ngày 20/11 vừa qua, có nhiều ý kiến cho rằng đây là sự kiện khá bất ngờ bởi việc xem xét thông qua bộ luật này trước đây đã bị trì hoãn nhiều lần và có những vấn đề rất gai góc không dễ dàng đạt được sự đồng thuận. Là một chuyên gia về lao động có nhiều tư vấn cho các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, chị nhận định Bộ Luật Lao động mới đã đạt được những điểm gì quan trọng nổi bật?      Việc Bộ Luật Lao động được thông qua vào ngày 20/11 vừa qua sau nhiều năm trì hoãn là một tin vui. Trước đó mỗi lần một dự thảo ra đời là không biết bao nhiêu cuộc tranh luận “nóng rãy” những rồi lại “nguội tanh”, thậm chí còn sợ bị rơi vào quên lãng.   Một trong các vấn đề gai góc gây tranh cãi và khó thống nhất nhất là quy định thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Đây là một nội dung không hề đơn giản đối với bất kỳ quốc gia nào, xét trong đặc thù chính trị – xã hội của Việt Nam lại càng không dễ đạt sự đồng thuận.   Do đó nhiều năm qua, Việt Nam là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế ILO nhưng vẫn chưa phê chuẩn một trong bốn công quốc cơ bản của ILO là Công ước về Tự do hiệp hội, theo đó mọi người lao động được quyền tự do chọn lựa và thành lập công đoàn của mình để được bảo vệ về quyền lợi chính đáng trước những doanh nghiệp (người sử dụng lao động) có hành vi bóc lột sức lao động, vi phạm các tiêu chuẩn lao động cơ bản.   Trong bối cảnh như vậy, việc Bộ luật lao động 2019 thừa nhận vai trò đặc biệt của tổ chức này bên cạnh công đoàn cơ sở ở cấp doanh nghiệp có thể là bước đi đầu tiên giúp Việt Nam tiệm cận hơn các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế cơ bản. Mặc dù chắc chắn vẫn còn nhiều hoài nghi liệu quy định này có khiến quyền lợi của người lao động thực sự tốt lên hay không và tới đây các văn bản dưới luật sẽ ra sao nhưng bản thân tôi cho rằng đây là một thành công đáng ghi nhận.     Để có thể vừa đạt được mục tiêu góp phần “tăng trưởng kinh tế”, lại vừa đóng góp vào “phát triển xã hội”, thì chỉ riêng với Bộ luật Lao động 2019 hoàn thiện trên văn bản là không đủ.    Ngoài ra tôi cũng muốn nhấn mạnh đến hai nội dung gây nhiều tranh cãi hai năm trước. Đó là (i) đề xuất bỏ lương tối thiểu của nhiều chuyên gia kinh tế vì lý do lương tối thiểu có thể gây hại cho nền kinh tế và (ii) đề xuất bỏ chế độ nghỉ thai sản với lý do lao động nữ có thể mất việc làm sau khi nghỉ sinh quá lâu. Hai nội dung này đã không có mặt trong Bộ luật lao động 2019 cho thấy không còn sự lúng túng trong việc lựa chọn giữa các mục tiêu lớn đã được quốc tế thừa nhận và số đông dư luận đồng tình.      Bộ luật Lao động ở quốc gia nào cũng mang trên mình gánh nặng của hai mục tiêu chính là góp phần “tăng trưởng kinh tế” và “phát triển xã hội”. Bộ luật của Việt Nam đã xem xét hai mục tiêu này từ góc độ nào?      Trên thế giới nhiều năm qua đã tồn tại một câu hỏi gây tranh cãi: “Tăng trưởng kinh tế và thương mại có giúp tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập và ổn định xã hội hay không?”   Để trả lời câu hỏi này, các chuyên gia chia làm hai phe chủ đạo: Một phe ủng hộ tự do thương mại; phe còn lại phản đối. Phe ủng hộ tin rằng thương mại chắc chắn tạo ra việc làm, tăng thu nhập, tức là tăng vị thế xã hội cho người lao động. Phe phản đối không tin vào kịch bản này và cho rằng quả ngọt của thương mại chỉ rơi vào túi người sử dụng lao động và cần phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của người lao động vì họ luôn yếu thế hơn.  Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Việc sửa đổi Bộ luật lao động cũng đã chia rẽ những người quan tâm thành hai phía – một phía bảo vệ người lao động và phía còn lại đứng về phía doanh nghiệp. Ví dụ về thời giờ làm thêm, phía doanh nghiệp muốn tăng tổng giờ làm thêm trong năm từ 200 giờ lên 400 giờ nhằm đảm bảo tính cạnh tranh về lao động so với Bangladesh, Trung Quốc là hơn 400 giờ, Hàn Quốc hơn 600 giờ, và Indonesia hơn 700 giờ, v.v. Trong khi đó phía bảo vệ người lao động muốn giữ nguyên số giờ làm thêm, thậm chí giảm số giờ làm việc bình thường tiêu chuẩn hằng tuần từ 48 giờ xuống 44 giờ nhằm đảm bảo tính nhân văn của pháp luật, theo đó người lao động vừa có đủ thu nhập vừa có thời gian dành cho gia đình, tái tạo sức lao động, v.v.  Có thể thấy hai từ khóa quan trọng là “cạnh tranh” và “nhân văn” được thể hiện trong quan điểm của hai phía:   Đối với phía ủng hộ doanh nghiệp: Tăng giờ làm thêm sẽ nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng trưởng, đảm bảo việc làm và cũng tạo cơ hội cho người lao động làm thêm – Tuy nhiên luận điểm này đã ngầm khẳng định mọi doanh nghiệp đều tuân thủ pháp luật lao động và/hoặc chia sẻ lợi ích sòng phẳng/công bằng với người lao động.  Đối với phía bảo vệ lao động: Cạnh tranh bằng cách tăng giờ làm thêm và không giảm giờ làm thông thường (sẽ) không lấy gì đảm bảo được người lao động không bị bóc lột sức lao động và tăng thu nhập – Tuy nhiên luận điểm này ngầm khẳng định mọi doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động và/hoặc không bao giờ chia sẻ lợi ích sòng phẳng/công bằng với người lao động.     Trên thực tế, chúng ta đã đi đến sự đồng thuận như thế nào từ những góc nhìn hết sức khác biệt như vậy?     Chắc bạn cũng không quên một số tít báo “tạo sóng” trên mạng xã hội về vấn đề này như “Đại biểu Quốc hội khóc khi đề nghị giảm giờ làm cho công nhân” – Có ý kiến cho rằng nhờ cơn sóng này mà số đông dư luận và đa số đại biểu Quốc hội đã ủng hộ phương án không tăng số giờ làm thêm lên 400 giờ/năm.   Đây chính là sự xung đột giữa tính mạch lạc về kinh tế với sự cảm tính về cảm nhận xã hội mà quá trình xây dựng các chính sách về lao động việc làm thường gặp phải. Phải nhấn mạnh rằng trong nhiều trường hợp luận điểm nào thu hút sự cảm thông của số đông thường có ưu thế hơn, dù chưa chắc đó là luận điểm thuyết phục hơn.       Những tranh luận “đi đến cùng” sẽ được thể hiện dựa trên chất lượng của nghiên cứu mà các bên dựa vào làm căn cứ và cũng như cách họ cùng nhau trả lời câu hỏi được đặt ra.      Điều này khiến các cuộc tranh luận đều có khả năng kéo dài mãi, đi đến ngõ cụt, trừ khi tiếng nói trung lập nhất, thường là Nhà nước, vốn cần phải đảm bảo cả hai mục tiêu kinh tế và xã hội, ra quyết định cuối cùng, và thường là cố cân bằng nguyện vọng của hai bên.   Trên thực tế, việc thông qua Bộ Luật lần này đã đạt được phần nào đó nỗ lực cân bằng nguyện vọng của cả doanh nghiệp và người lao động, một mặt vừa tăng tính “cạnh tranh”, mặt khác vẫn đảm bảo sự “nhân văn”.   Tuy nhiên để có thể vừa đạt được mục tiêu góp phần “tăng trưởng kinh tế”, lại vừa đóng góp vào “phát triển xã hội”, thì chỉ riêng với Bộ luật Lao động 2019 hoàn thiện trên văn bản là không đủ. Hai mục tiêu này còn phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả thực thi Bộ luật trên thực tế.     Như vậy, qua việc xem xét thông qua Bộ luật lần này, chúng ta phần nào vẫn phải dựa vào yếu tố cảm tính, và các nội dung sửa đổi mới chỉ mang tính “trấn an” với đồng thời cả hai luồng quan điểm khác biệt?     Đúng như vậy. Cụ thể như vẫn là với vấn đề thời giờ làm thêm, so với các lần dự thảo trước, các tranh luận cuối cùng trước khi thông qua Bộ luật đã có nhiều số liệu nghiên cứu cụ thể hơn, thực tế hơn và các trao đổi cũng logic hơn đối với người theo dõi.       Nhiều chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu nhìn thấy những bất cập căn bản. Việc họ cần làm là hợp tác và lắng nghe lẫn nhau một cách tập trung hơn, có mục tiêu hơn và áp dụng công nghệ kỹ thuật mới một cách hiệu quả hơn, đặc biệt cho quá trình hướng dẫn thực hiện Bộ luật trong thời gian tới.      Tuy nhiên khả năng sự cảm tính xã hội vẫn thắng thế vì các điểm mấu chốt của vấn đề làm thêm để khiến hai bên lại gần nhau nhất vẫn chưa được làm rõ đến tận cùng. Cụ thể như chúng ta chưa xem xét thấu đáo về hiệu quả thực thi chính sách giờ làm thêm. Số liệu của năm 2018 cho thấy trong số hơn 700,000 doanh nghiệp trên cả nước, chỉ có hơn 6000 cuộc thanh tra được thực hiện, trong đó tổng số vi phạm tăng 335% (so với năm 2017), với hơn 187,086 tỷ đồng là số tiền thanh tra kiến nghị phạt vi phạm. Tuy nhiên chỉ có 32,234 tỷ là số tiền phạt vi phạm thực tế. Tức là chỉ có chưa đến 20% vi phạm bị xử phạt theo pháp luật lao động.  Vậy giả sử 700.000 doanh nghiệp đều bị thanh tra thì sẽ có bao nhiêu vi phạm về thời giờ làm thêm? Bao nhiêu người lao động làm thêm giờ mà không được trả lương làm thêm, hoặc trả chậm, trả thiếu?       Tăng số giờ làm thêm là vấn đề gây tranh cãi.  Nếu có thể ước tính những con số này thì trong cuộc tranh luận vừa qua, phía bảo vệ người lao động sẽ thuyết phục được số đông hơn cả nước mắt, và phía doanh nghiệp sẽ phải xem lại các con số về vi phạm lao động, đặc biệt phải cùng nhìn lại với Nhà nước về các cam kết đối với tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn về thương mại và phát triển bền vững trong các Hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia mà Việt Nam đang đàm phán tham gia hiện nay.   Chính những con số thuyết phục sẽ giúp hai bên sẽ nhìn nhận hiện trạng lao động một cách toàn diện hơn, hoặc cùng trả lời một câu hỏi theo hướng đi gần về phía nhau hơn.     Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng việc tăng giờ làm thêm là phù hợp với nguyện vọng của đa số người lao động?     Xuất phát từ thực tế nhiều năm trước chúng ta có thể đặt ra một câu hỏi kép: “Tại sao trước đây có những cuộc đình công đòi tăng giờ làm thêm – nhưng đồng thời cũng có những cuộc đình công đòi giảm giờ làm thêm?”  Câu trả lời thực tế nhất với số đông người lao động thời điểm đó là (i) họ đòi tăng giờ làm thêm khi lương cơ bản không tăng nhưng doanh nghiệp trả đủ lương làm thêm và các phụ cấp liên quan; (ii) họ đòi giảm giờ làm thêm vì doanh nghiệp không trả đủ lương làm thêm và/hoặc bắt buộc họ làm thêm giờ để đạt chỉ tiêu sản xuất.   Điều này cho thấy yêu sách hoặc nguyện vọng của người lao động là không bất biến và phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ với chính người sử dụng lao động của họ. Tuy nhiên trong tranh luận của các đại biểu về giờ làm thêm, dường như chỉ có hai lựa chọn “có” hoặc “không” để dẫn tới hai khả năng là “tăng” hoặc “giảm”. Theo tôi đó là các góc nhìn chưa toàn diện và cũng chưa phản ánh thực tế, một khi đưa ra các con số cứng trong luật thì việc áp dụng sẽ còn khó khăn hơn.  Vừa qua, phía doanh nghiệp đưa ra con số 99% doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận đồng ý tăng giờ làm thêm (theo nghiên cứu của ILO). Nhưng phía bảo vệ người lao động lại rất phản đối, cho rằng con số này không phản ánh thực tế, rằng rất “lạ và bất ngờ” nếu đa số người lao động đều muốn làm thêm.1 Ở đây những tranh luận “đi đến cùng” sẽ được thể hiện dựa trên chất lượng của nghiên cứu mà các bên dựa vào làm căn cứ và cũng như cách họ cùng nhau trả lời câu hỏi được đặt ra, cụ thể như với câu hỏi về đình công nêu trên.      Theo chị, đâu là những vấn đề tiếp theo cần được giải quyết để Bộ luật Lao động có thể đảm bảo được hai mục tiêu quan trọng là góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội?      Với sự thông qua Bộ luật lần này, chúng ta đã đặt được nền móng cơ bản cho nhiều vấn đề lớn như đã nói ở trên. Ngoài ra nhiều chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu nhìn thấy những bất cập căn bản. Việc họ cần làm là hợp tác và lắng nghe nhau một cách tập trung hơn, có mục tiêu hơn và áp dụng công nghệ kỹ thuật mới một cách hiệu quả hơn, đặc biệt cho quá trình hướng dẫn thực hiện Bộ luật trong thời gian tới.  Một cách đơn giản, tôi cho rằng các bên đại diện người sử dụng lao động, người lao động, và đặc biệt là các cơ quan nhà nước liên quan (không chỉ cơ quan quản lý về lao động) cần nỗ lực cùng nhau trả lời các câu hỏi thực tế và xuyên suốt hơn, ví dụ:  – Hiệu quả thực thi của Bộ luật lao động 2019 có khiến số lượng các vi phạm lao động giảm xuống, các cuộc đình công, khiếu nại, kiện tụng của người lao động được tập hợp, tổng kết, phân tích cụ thể để phân biệt và xử lý rạch ròi doanh nghiệp vi phạm và không vi phạm?  – Hiệu quả thực thi của Bộ luật lao động 2019 có khiến doanh nghiệp làm ăn tử tế, tuân thủ pháp luật kém cạnh tranh hơn doanh nghiệp vi phạm về chi phí tuân thủ, chi phí quản lý lao động?   – Các quy định pháp luật có khiến doanh nghiệp và người lao động sát lại gần nhau hơn hay khiến mâu thuẫn, xung đột giữa họ tăng cao hơn?   Thậm chí trong tương lai đàm phán/ thực thi các Hiệp định thương mại tự do có đặc trưng tôn trọng quyền con người, quyền lao động hoặc phát triển bền vững, các bên có thể nỗ lực trả lời các câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng:   – Nếu tuân thủ các yêu cầu về phát triển bền vững, quyền con người trong các hiệp định thương mại tự do sắp tới thì ngoài lợi ích giảm thuế, doanh nghiệp sẽ có lợi gì?  – Nếu tuân thủ hiệu quả, chi phí có cao không và quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế đủ công bằng để doanh nghiệp tuân thủ không bị giảm cạnh tranh so với doanh nghiệp vi phạm?  Riêng nội dung này, chúng tôi đã có rất nhiều phân tích về việc các yêu cầu về tuân thủ còn quá chung chung, thiếu cụ thể nên khả năng diễn giải không chính xác và áp dụng không hiệu quả đang là vấn đề lớn nhất trước khi các quy định phát huy được tác dụng của chúng.      Xin cảm ơn chị về cuộc trao đổi! □     Bảo Như thực hiện  —–  1https://thukyluat.vn/news/trong-nuoc/dai-bieu-quoc-hoi-khoc-khi-de-nghi-giam-gio-lam-cho-cong-nhan-67633.html  Quá trình xem xét thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi vẫn chưa xem xét đến cùng các vấn đề mấu chốt liên quan đến số giờ làm thêm, bao gồm: (i) hiệu quả thực thi của chính sách giờ làm thêm; (ii) tính tự nguyện làm thêm giờ của người lao động và (iii) năng suất lao động. Bài toán cân đối mục tiêu kinh tế xã hội đã bị đơn giản hóa quá mức, bởi không thể chỉ nhìn vào 44h hay 48h một tuần, hay 200h hoặc 400h làm thêm một năm, mà có thể kết luận năng suất lao động tăng hay giảm, hay liệu doanh nghiệp có tăng lợi nhuận và người lao động có thể tăng thu nhập… Cần phải nhìn vào rất nhiều yếu tố và phân tích mối liên kết giữa các yếu tố này với nhau mới có thể đi đến những kết luận bớt cảm tính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn đề xuất nhằm khơi thông phản biện xã hội      Phản biện xã hội đã có mầm mống ở nước ta, và dù khởi đầu khó khăn, song nếu được phát triển, sẽ giúp cho Nhà nước thêm mạnh, xã hội thêm cởi mở và chính quyền có trách nhiệm với người dân. Phản biện xã hội với những nhen nhúm đầu tiên đã diễn ra.    Diện mạo mới của truyền thông: Bên cạnh những nỗ lực tìm lấy chỗ đứng xứng đáng của các tổ chức báo chí nước ta, diện mạo của truyền thông đang thay đổi trong một thế giới biến đổi nhanh nhờ Internet và các tiến bộ mau chóng kế tiếp nhau trong lĩnh vực truyền thông. Chưa bao giờ người Việt Nam có dịp tiếp cận với truyền thanh, truyền hình quốc tế, cổ điển và ảo nhiều như hiện nay. Mạng Internet, blog cá nhân, các diễn đàn tự do trên mạng có thể tạo nên những sóng ngầm dữ dội, sức mạnh phản biện của chúng có thể có sức mạnh đáng kể khi tỷ lệ cư dân Việt Nam ngày càng trẻ và ngày càng quen với mạng Internet.          Một dự luật về hội không được ưu tiên trong chính sách lập pháp trong thời gian qua, song theo quan sát của tôi, những hiệp hội ngầm dường như đã được kích hoạt và lớn mạnh dần bởi các lợi ích làm cho hội viên gắn bó với nhau.          Hiệp hội: Dù rằng Nhà nước Việt Nam có vẻ như rất cần trọng tới mức dè dặt với việc mở cửa tư duy về hiệp hội, bằng chứng là một dự luật về hội không được ưu tiên trong chính sách lập pháp trong thời gian qua, song theo quan sát của tôi, những hiệp hội ngầm dường như đã được kích hoạt và lớn mạnh dần bởi các lợi ích làm cho hội viên gắn bó với nhau. Quan sát hàng ngàn vụ đình công từ Nam chí Bắc với quy mô từng cuộc có khi lan rộng tới hàng ngàn, hàng vạn công nhân, tôi e rằng khó có thể phủ nhận một bàn tay tổ chức tuy vô hình song vô cùng khéo léo đang ẩn sau những người thợ bị bóc lột. Quan sát các cuộc khiếu kiện tập thể đôi khi diễn ra dài ngày ở các đô thị lớn, người trong nghề an ninh khó có thể giấu được nỗi lo âu rằng chúng được dẫn dắt và chuẩn bị chu đáo bởi những bàn tay ẩn. Thì cũng thế, thuế nhập xe máy ô tô giảm rồi lại tăng, người ít hiểu nhất cũng có thể đoán được mối lợi được chia sẻ giữa những người có quyền làm chính sách và các ông chủ lớn lắp ráp, nhập khẩu ô tô. Theo một cách hiểu, chúng đều là hiệp hội, nghiệp đoàn, tổ chức của những nhóm người. Chưa đăng ký, chưa công khai hoạt động… không có nghĩa là chúng không tồn tại. Xã hội càng phân cực và càng dè dặt với quyền tự do lập hội, e rằng các hiệp hội ẩn này càng lan nhanh; việc phản biện chính sách có thể không diễn ra theo những phương cách văn minh, mà có thể theo những thói quen của xã hội ngầm. Việc nông dân An Khánh, Hà Tây cản trở lối vào của khu công nghiệp ở đó, việc cư dân phong tỏa lối vào của các khu xử lý rác khổng lồ ở nhiều địa phương … có vẻ như đủ để cảnh báo cho các nguy cơ đó.  Những người lữ hành cô đơn: Nếu người ta đọc GS Hoàng Tụy khi tìm hiểu chính sách giáo dục, đọc Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh khi nghiên cứu chính sách kinh tế, tài chính, đọc GS Tương Lai cho các phân tích xã hội, đã thấp thoáng những ý kiến phản biện, tuy còn rời rạc và dường như chưa được liên kết của các nhà nghiên cứu có uy tín. Khi bầu không khí học thuật ngày càng được đảm bảo sẽ cởi mở hơn, những ý kiến phản biện đa chiều của các học giả độc lập có thể gia tăng. Không hiếm khi, từ những ý kiến đơn lẻ đó hợp thành những dư luận xã hội mang tính phản biện rất rộng rãi.  Các nhà tài trợ: Chương trình nghiên cứu và giảng dạy kinh tế Fulbright tại Đại học Kinh tế TP.HCM, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Thế giới, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc và hàng chục nhà tài trợ khác đang ráo riết hoạt động tại Việt Nam (USAID của Mỹ, AUSAID của Úc, DFID của Anh, GTZ của Đức, DANIDA của Đan Mạch, CIDA của Canada, SIDA của Thụy Điển, JETRO của Nhật Bản..). Trong các chương trình của họ thường có những nội dung phản biện chính sách công rất đáng kể. Các ấn phẩm của họ, khi công khai khi ngấm ngầm, đều được công bố và thảo luận đôi khi rộng rãi tại Việt Nam, nhiều hay ít góp phần dẫn dắt dư luận và nâng đỡ dần năng lực và thói quen phản biện chính sách cho người Việt Nam.          Cho những người làm nghề nghiên cứu dám phát biểu cái mà mình thu nhận được và không bị trừng phạt bởi việc công bố những kết quả nghiên cứu không nhất thiết cổ vũ cho các đề xuất chính sách của chính quyền.          Vỉa hè, dư luận xã hội: Có một hiện tượng ít được nghiên cứu công khai trong xã hội nước ta, đó là các tin đồn vỉa hè và cái gọi là dư luận quần chúng. Khó nắm bắt, khó điều tra, thực hư lẫn lộn… song sóng gió của các tin đồn đó đôi khi khuynh đảo cuộc sống của hàng triệu người dân. Người ta nhớ đến các làn sóng mua bán chứng khoán theo tin đồn, mua bán tàng trữ gạo, mua bán tích trữ USD theo tin đồn, mua bán nhà đất theo tin đồn. Trong vô số những dư luận đó, không hiếm các nhận xét mang tính phản biện chính sách đương thời. Đương nhiên những tin vỉa hè ấy chẳng thể đúng, song nhìn lại thực tế đôi khi người ta không thể không có vài mối vấn vương.    Bốn đề xuất nhỏ nhằm khơi thông phản biện xã hội  Ngân sách tách biệt cho Mặt trận: Nếu muốn tăng cường chức năng giám sát của Mặt trận tổ quốc, nhất là đối với chính sách công của các địa phương, vào thời điểm hiện nay điều có thể làm được là tách biệt ngân sách của Mặt trận khỏi ngân sách địa phương. Theo mô hình của Tổng Công đoàn Việt Nam, có thể có một ngân sách chung quốc gia cho Mặt trận tổ quốc và phân bổ chúng từ trung ương trực tiếp cho các địa phương. Việc thay đổi các chính sách thuế cũng nên góp phần tạo cơ hội cho Mặt trận có thể huy động được các nguồn tài trợ khác nhau, giúp gia tăng tiềm lực nghiên cứu cho Mặt trận. Có được một vị thế độc lập, có một nguồn kinh phí đủ huy động các lực lượng nghiên cứu, Mặt trận mới bước đầu có cơ sở vật chất để tạo dựng năng lực phản biện chính sách của mình.  Nuôi dưỡng xã hội dân sự: Từ dè dặt, canh chừng, quá cảnh giác với các nguy cơ của xã hội dân sự, nếu Chính phủ muốn được lợi từ phản biện chính sách thì phải có thái độ hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự, ví dụ tạo điều kiện dễ dàng cho lập hội, miễn thuế tài sản đối với doanh nghiệp và nhà hảo tâm quyên góp tài sản cho các tổ chức dân sự. Chính phủ cũng có thể gián tiếp hỗ trợ các tổ chức dân sự thông qua việc mở thầu rộng rãi việc cung cấp một số dịch vụ công, ví dụ trợ giúp pháp lý, hỗ trợ người nghèo, các chính sách phát triển nhằm vào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc tạo hỗ trợ về trụ sở, thông tin, diễn đàn, cung cấp thông tin cho các tổ chức này. Điều ấy chỉ xảy ra nếu Chính phủ có đủ sự tự tin rằng càng được tổ chức xã hội tăng cường phản biện thì Chính phủ càng gần dân, càng vững mạnh.  Ủy ban kiểm duyệt báo chí: Báo chí ngày càng hiển nhiên trở thành một quyền lực kể cả ở nước ta, chính quyền có lẽ sẽ đến lúc phải chung sống với báo chí tự do, hơn là thắt chặt kiểm soát theo kiểu cũ của cơ quan chủ quản đối với thuộc cấp. Một cơ chế kiểm duyệt báo chí công khai, ràng buộc trách nhiệm báo chí trong khi cho phép họ một sự tự do đáng kể trong đưa tin trung thực và bình luận chính sách một cách khách quan có thể là một cách khuyến khích giám sát và phản biện xã hội từ công chúng.  Độc lập nghiên cứu: Phản biện thường cũng là công việc của những người phân tích chính sách công có đủ thông tin, kỹ năng nghiên cứu và thái độ khoa học độc lập. Muốn khuyến khích điều ấy, tự do tư tưởng, tự trị đại học, tự do trong nghiên cứu cần phải được bảo đảm, chí ít làm cho những người làm nghề nghiên cứu dám phát biểu cái mà mình thu nhận được và không bị trừng phạt bởi việc công bố những kết quả nghiên cứu không nhất thiết cổ vũ cho các đề xuất chính sách của chính quyền. Muốn làm được việc ấy, có thể suy tính để dần bắt đầu bằng tự trị đại học, làm cho các cơ sở đào tạo phải tự lo lấy nguồn kinh phí, tự cạnh tranh để duy trì sự tồn tại của mình thông qua uy tín nghiên cứu. Tự tin về ngân sách riêng của mình, các cơ sở nghiên cứu mới dần dần có niềm tin để ủng hộ các nhóm nghiên cứu độc lập, đủ sức phản biện các chính sách của chính quyền.  Phạm Duy Nghĩa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Pháp      &#160;Cộng hòa  Pháp là một quốc gia có truyền  thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm  xây dựng “nhà nước của dân, do dân  và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên  bốn nguyên tắc cơ bản sau:        Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con người  Nguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ  bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng  liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp  Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản  Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến  pháp năm 1946”.   Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng  được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được  củng cố bằng các quyền kinh tế và Theo Bản Tuyên  ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là  vĩnh viễn và  chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn  với mỗi con  người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc  liệt kê các  quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước  đo hoàn  chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con người. tham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ.   Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân  quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ  thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù  hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự  do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân  quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất  khả xâm phạm.  Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến  pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện  phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.  Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng  thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện  bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có  chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng  cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.  Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến  pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết  nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối  bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.  Hai là, Hiến pháp phân quyền  Theo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn  Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết  Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị  viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp  trao cho Tòa án.   Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)  Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực  tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu  vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu  đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu  một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách  nhiệm của các dân biểu.   Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho  người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương  (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước  ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các  dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong  tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.  Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.  Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại  diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm  Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng.  Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội  (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua  các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính  sách quan trọng cho Chính phủ.   Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của  Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp.  Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay  lập tức trở thành Tổng thống.   Trong trường hợp không có ứng viên nào dành  được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ  hai. Trong lần bầu thứ hai này, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống.   Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng  điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình  trước Quốc hội.   Nhánh Tư pháp:   Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải  thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và  có một địa vị đặc biệt.  Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song  nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự  (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét  xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi  Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các  trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.  Ba là, chế độ Đại nghị duy lý  Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong  mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để  thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.    Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của  Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số  trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của  Đảng xung đột lợi ích nhân dân.   Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block).   Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân   Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền  thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà  cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không  thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu  trong cuộc bầu cử sau).  Lời kết    Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền  con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của  nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã  hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã  xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có  như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất  quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu  hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như  Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bọn tham nhũng chống Đảng      Căn bệnh tham nhũng đã được nói nhiều, bàn nhiều, viết nhiều. Nhiều biện pháp, nhiều nghị quyết, nhiều ban bệ được lập ra để chống cái bệnh hiểm nghèo đó, nhưng xem ra vẫn chưa có cách gì ngăn chặn được. Gần đây căn bệnh đó đã bùng phát mạnh mẽ và có khả năng trở thành đại dịch.    Căn bệnh này khác thường và nguy hiểm là ở chỗ: kẻ nào mắc bệnh mà bị phát hiện ra thì nguy hiểm đến tính mạng, còn nếu không bị phát hiện thì lại sống ung dung sung sướng. Bởi vậy không thể hy vọng các con bệnh tự mình đi khám bệnh…  Tuyệt đại bộ phận người dân không thể mắc bệnh này, dẫu có muốn mắc bệnh cũng chịu. Chỉ có quan chức mới bị mà thôi. Đối với quan chức nhiễm bệnh thì thường chức càng to bệnh càng trầm trọng, quan chức hạng bé thì bệnh chỉ ở mức sơ sơ.  Trong số những kẻ tham nhũng đã được phát hiện thì đảng viên chiếm đa số và trong số những kẻ tham nhũng sẽ được phát hiện thì chắc chắn đảng viên cũng chiếm đa số. Điều đó không có gì khó hiểu, vì trong thiết kế tổ chức cán bộ hiện nay, những quyền cao chức trọng phải do đảng viên nắm giữ. Ông giám đốc PMU 18 nhất định phải là đảng viên rồi, hơn thế ông ta còn được bầu là đảng viên trong sạch, ông thứ trưởng cấp trên của ông ta càng phải là đảng viên, và còn là phó ban “chống tham nhũng” nữa kia!  Bệnh tham nhũng gây ra nhiều thiệt hại to lớn về tiền của cho dân và cho nước. Nhưng có một thiệt hại hết sức nặng nề không thể tính bằng tiền và của. Đó là nó làm giảm uy tín của đảng, giảm lòng tin của dân vào đảng.  Đảng ta là đảng cầm quyền. Vì thế nhà nước của ta là Nhà nước của Đảng, do Đảng và vì Đảng (cố nhiên nếu đảng là đảng của dân và dân là dân của đảng thì khi ấy ta sẽ thực hiện được phương châm: Nhà nước của dân, do dân và vì dân). Bởi vậy một khi bệnh tham nhũng trở thành mãn tính nặng nề thì không chỉ Nhà nước ta mất uy tín mà chính là đảng ta mất uy tín. Đó mới là điều đáng sợ bậc nhất.  Nếu kẻ thù của chúng ta có thể tìm ra cách gì đó để làm cho bệnh tham nhũng trong đảng viên ngày càng trầm trọng, thì chúng đã tìm ra một ngón đòn chống đảng còn mạnh hơn nhiều ngón đòn khác kể cả ngón “diễn biến hòa bình”. Bọn tham nhũng chỉ cần làm cho mọi người hiểu “chống tham nhũng tức là chống Đảng”, thì chẳng còn ai dám chống chúng nữa.  Bởi vậy cần đặt vấn đề chống tham nhũng một cách quyết liệt hơn, có tính chất sống còn hơn. Cần quy tội bọn tham nhũng là bọn chống đảng và cần tiêu diệt bọn chúng ngay từ trong trứng. Đảng ta đã có nhiều kinh nghiệm đối phó với những phần tử chống đảng, thì lẽ nào không tiêu diệt được bọn tham nhũng đang chống đảng từ trong đảng?          Author                Văn Như Cương        
__label__tiasang BOT và PPP: Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình      Những phản đối và hệ lụy xung quanh các sai phạm trong thực hiện các tuyến BOT giao thông vừa qua cho thấy cần thiết nhìn lại các ưu, nhược điểm trong cơ chế hợp tác công tư (PPP) và thảo luận về giải pháp minh bạch hoá hình thức này.      Tài xế phản đối thu phí cao tại trạm BOT Cai Lậy bằng cách nộp phí bằng tiền lẻ gây ùn tắc đường. Ảnh: vnexpress.    Ba nguyên nhân dẫn tới phản ứng của người dân  Nhìn ở bề nổi, hiện tượng người dân nói chung và các lái xe nói riêng phản ứng chống lại một cách dữ dội tại các trạm thu phí đường BOT vừa qua đã nói lên một thực tế có tính cảnh báo: đó là họ đang phải trả quá nhiều phí tới mức không chịu đựng nổi cho việc lưu thông bình thường trên đường, là điều mà trước đây họ không phải làm như vậy. Nói một cách khác, chính khách hàng của các con đường BOT mà ngành giao thông đang rất tự hào đã trở thành nạn nhân của các con đường ấy và họ đang kêu cứu một cách tập thể. Theo tôi có ba vấn đề là căn nguyên của câu chuyện này:  Trước hết, chủ trương BOT hoá một cách rầm rộ, ồ ạt và đại trà mạng lưới đường bộ là một sai lầm. Về thực chất BOT chỉ là một phương thức đầu tư phát triển hạ tầng, đường xá, nhưng qua phương thức này Bộ Giao thông muốn nhanh chóng có được mạng lưới đường bộ mới, hiện đại hơn, thậm chí là các con đường cao tốc phủ khắp cả nước. Về lâu dài, điều đó là cần thiết, nhưng nhu cầu ấy chưa thực sự cấp bách đối với nền kinh tế và đời sống hiện nay của người dân. Đơn giản nói về khái niệm “nhu cầu” một cách lý thuyết, đó phải là các đòi hỏi và ham muốn về một điều gì đó gắn với khả năng chi trả, chưa nói tới hiệu năng sử dụng và tương quan tổng thể của các nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng tại cùng một giai đoạn hay thời điểm. Xét theo ý nghĩa như vậy, rất nhiều con đường to rộng và đẹp hơn được xây dựng không căn cứ vào nhu cầu cấp thiết, bởi trên thực tế chúng có ít xe cộ chạy qua, đặc biệt là các xe tải chở hàng vốn là phương tiện trực tiếp phục vụ sản xuất – kinh doanh. Cho nên, BOT hoá một cách thái quá, tức là vừa hút vốn đầu tư nhiều để xây đường vừa thu tiền cao cho việc sử dụng đường, đã làm cho cả nền kinh tế lẫn đời sống dân sinh trở nên “quá tải”.      Bằng việc thu tiền trên các con đường có sẵn và độc đạo, BOT đã hợp thức hoá sự tước đoạt quyền tự do lựa chọn phương tiện và cách thức đi lại của người dân.      Thứ hai, mọi chính sách được ban hành buộc phải quan tâm đến bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân. Trong trường hợp xây đường BOT, nhiều con đường không phải là xây mới mà là nâng cấp các con đường cũ do nhà nước đã đầu tư như là tài sản công để người dân có quyền tự do sử dụng. Có nghĩa rằng bằng việc thu tiền trên các con đường có sẵn và độc đạo, BOT đã hợp thức hoá sự tước đoạt quyền tự do lựa chọn phương tiện và cách thức đi lại của người dân. Trước đây, Bộ trưởng Bộ Giao thông đã từng nói trước Quốc hội rằng để được đi trên còn đường chất lượng cao thì người dân phải trả tiền chứ! Lập luận đó thoạt nghe thì có lý, nhưng không thể cưỡng bức người dân làm việc trái với ý muốn và nhu cầu của họ.  Thứ ba, mục tiêu của BOT là có những con đường chất lượng tốt để phương tiện lưu thông nhanh và an toàn hơn, qua đó sẽ đạt được các hiệu quả về kinh tế và dân sinh. Tuy nhiên, trên thực tế không ít con đường BOT lại không đáp ứng được yêu cầu đó. Đành rằng phải thừa nhận hệ thống đường bộ đã được nâng cấp rất nhiều trong thời gian qua nhưng tính hiệu quả kinh tế mang lại thì tôi e rằng vẫn chưa đo đếm được.  BOT đang bị lợi dụng  Về lý thuyết thì đầu tư vào kết cấu hạ tầng được coi là lĩnh vực nhiều rủi ro và không hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, đó là thực tiễn ở các nước, nơi các dự án BOT chỉ được triển khai trong phạm vi hạn chế, được cân nhắc và lựa chọn kỹ càng, gắn với các cơ chế bảo đảm về rủi ro và ưu đãi của chính phủ. Tại Việt Nam, thật bất ngờ là một xu hướng ngược lại đã diễn ra kể từ năm 2010/2011 đến nay, theo đó, đầu tư làm đường BOT trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết và đã có sự cạnh tranh ngầm và khốc liệt giữa các doanh nghiệp tư nhân để giành cơ hội tham gia vào lĩnh vực này. Thậm chí, xây đường và thu phí đã trở thành một công thức đơn giản để tối đa hoá lợi nhuận một cách an toàn cho nhiều doanh nghiệp, đồng thời còn là cứu cánh đối với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Thực chất của câu chuyện này, như được giới nghiên cứu phân tích, không có gì khác hơn là nhà nước bán cả thương quyền với giá rẻ (tức quyền kinh doanh cơ sở hạ tầng giao thông) và chủ quyền (tức ép buộc người tham gia giao thông phải trả phí như là một loại thuế mới) cho khu vực tư nhân.  Ngoài ra, nhìn từ phương diện tài chính, điều đáng quan tâm và quan ngại là việc sử dụng quá mức các khoản vay thương mại từ ngân hàng, chiếm từ 80 – 90% vốn đầu tư đường BOT. Thông lệ các nước không có điều này bởi đối với các dự án BOT, một mô hình tài trợ dự án rất phức tạp sẽ được thiết kế một cách chuyên nghiệp và tinh vi nhằm bảo đảm rằng các rủi ro của khoản đầu tư dài hạn sẽ được chia đều cho nhiều bên khác nhau tham gia như cổ đông sở hữu, ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư và ngân hàng thương mại. Công thức huy động vốn quá đơn giản cho các dự án BOT tại nước ta, một lần nữa lại chứa đựng các nguy cơ tiềm tàng của chu kỳ nợ xấu mới và sự bấp bênh của hệ thống ngân hàng.  Chúng ta cần hiểu rằng theo thông lệ, PPP ra đời không phải trước hết vì lý do thiếu hụt nguồn ngân sách nhà nước để xây dựng kết cấu hạ tầng mà chủ yếu do quản lý kém hiệu quả trong các dự án do nhà nước trực tiếp đầu tư. Chẳng hạn, nếu thiếu vốn thì nhà nước hoàn toàn có thể phát hành trái phiếu để có tiền đầu tư, bởi vừa qua và ngay tại thời điểm này, tỷ suất lợi nhuận được chấp nhận trong các dự án BOT cộng với chi phí vốn đã và đang cao hơn khá nhiều so với lãi suất trái phiếu chính phủ. Vậy tại sao các cơ quan quản lý và chính quyền nhiều địa phương lại ưa lựa chọn hình thức BOT? Nếu ở các nước khác thì câu trả lời sẽ là vì quản trị dự án của tư nhân chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, do đó xét về dài hạn chi phí tổng thể sẽ rẻ hơn. Còn tại nước ta, phải chăng cũng vì lý do quản lý, nhưng đó không phải là năng lực quản trị dự án mà đơn giản là các cơ quan chịu trách nhiệm của nhà nước sẽ “né” được gánh nặng phải quản lý trực tiếp các dự án này. Xét từ lợi ích cục bộ của các cơ quan này, “cái được” luôn luôn được đảm bảo, đó là quyền được bắt tay hợp tác một cách công khai với khu vực tư nhân để kinh doanh, trong khi các rủi ro nếu có lại không phải gánh chịu. Nhà đầu tư tư nhân, tuy nhiên cũng tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng cách chỉ bỏ một chút ít tiền túi ban đầu, sau đó thu hồi lại nhanh thông qua chi phí xây dựng dự án. Rủi ro về khoản đầu tư còn lại sẽ đươc chuyển cho các ngân hàng với việc tối đa hoá các khoản vay thương mại. Tuy nhiên, các ông chủ cũng như các nhà quản trị ngân hàng cũng sẽ không phải lo trách nhiệm, bởi việc cho vay các dự án BOT và thế chấp bằng chính quyền thu phí của dự án không chỉ hợp pháp mà còn là một cơ hội kinh doanh an toàn và không thể tốt hơn. Cuối cùng, người quan ngại thực sự về hệ luỵ của các dự án này sẽ chỉ còn là những ai phải trả phí đường mỗi khi lưu thông.  Có thể nói rằng cơ chế PPP đang được áp dụng ở Việt Nam không đơn giản là đối tác công – tư mà thực chất là sự liên kết đầu tư và kinh doanh giữa ba chủ thể là cơ quan chính quyền, doanh nghiệp tư nhân và ngân hàng thương mại. Yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của sự liên kết này để hạn chế tiêu cực và tham nhũng đương nhiên là cần thiết. Tuy nhiên vấn đề ở chỗ ai sẽ là chủ thể có cả quyền lực lẫn năng lực để đòi hỏi hay thúc đẩy việc thực hiện điều này?  Giải pháp cho PPP và BOT  Vừa qua, một số giải pháp cấp bách trước mắt đã được Chính phủ triển khai để hạn chế nhược điểm của BOT, đó là cho kiểm toán và thanh tra một số dự án, công trình BOT đường giao thông và bước đầu đã phát hiện và xử lý các sai phạm và gian lận trong cả khâu đầu tư, xây dựng lẫn vận hành và thu phí. Tuy nhiên, để hạn chế các nhược điểm của PPP nói chung và BOT nói riêng một cách căn cơ và lâu dài, theo tôi cần phải tiến hành các giải pháp tiếp theo như sau:  Thứ nhất, cần quan niệm PPP không chỉ từ góc độ là một hình thức đầu tư mà quan trọng hơn, đó là hoạt động vừa bán thương quyền vừa trao chủ quyền của nhà nước cho khu vực tư nhân. Như tôi đã đề cập, thương quyền là các cơ hội có giới hạn trong việc tiếp cận dự án kết cấu hạ tầng để kinh doanh, kiếm lời mà không phải chịu sự cạnh tranh trên thương trường; còn chủ quyền là đặc quyền thu phí trực tiếp từ người dân một cách rộng rãi và lâu dài như một loại thuế bổ sung. Do đó, cần trả lại thẩm quyền quyết định về cho Quốc hội để ban hành một đạo luật riêng về PPP.  Thứ hai, bởi thẩm quyền quyết định các dự án PPP cụ thể đang được trao cho nhiều cơ quan bộ ngành và địa phương một cách dàn trải, dẫn đến tình trạng mất khả năng kiểm soát một cách thống nhất và tập trung, cần thành lập mới hay giao cho một cơ quan chuyên trách thẩm định và phê duyệt cuối cùng các dự án này. Đồng thời, quá trình thẩm định các dự án PPP rất cần có sự tham gia của các chuyên gia độc lập.  Thứ ba, riêng đối với các dự án PPP về kết cấu hạ tầng giao thông công cộng, hãy trả lại nguyên lý căn bản của các dự án này cho chính nó, chỉ coi PPP là một phương án thay thế được lựa chọn bên cạnh trách nhiệm căn bản và không thay đổi của nhà nước trong việc xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ người dân và doanh nghiệp từ chính tiền đóng thuế của họ. Nói một cách cụ thể, đối với tất cả các con đường BOT đang là đường độc đạo, cần xây dựng bổ sung các con đường khác từ ngân sách nhà nước để người dân có quyền lựa chọn đi hay không đi các con đường thuộc sở hữu tư nhân. Bảo đảm nguyên tắc này chính là tôn trọng các quyền pháp lý căn bản và lợi ích chính đáng của người dân.    Author                Nguyễn Tiến Lập        
__label__tiasang Brexit của trí thức ?      Với Brexit và kết quả của bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, có vẻ như khả năng ảnh hưởng lên xã hội của cả giới trí thức lẫn giới truyền thông đều đang bị suy giảm. Ít nhất, phe được các giới này ủng hộ đều đã không giành phần thắng. Sự suy giảm vai trò của giới truyền thông là hoàn toàn có thể giải thích được: giới này quả thực đang bị mạng xã hội và truyền thông phi chính thức lấn lướt.  Thế nhưng sự suy giảm vai trò của giới trí thức thì sao? Ngày xuân, “rượu vào, lời ra”, xin thử lạm bàn về hiện tượng này.      Trí thức chính là lực lượng dẫn dắt cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số.  Trước hết, trí thức được coi là những người làm việc trong các lĩnh vực lao động tinh thần phức tạp có chức năng phản biện, định hướng và dẫn dắt sự định hình văn hóa và chính trị của một đất nước. Với định nghĩa trên, thì giới truyền thông là một phần cấu thành của giới trí thức. Vậy thì hiệu ứng giá dầu đã xảy ra ở đây. Giá dầu giảm xuống kéo chi phí giao thông giảm theo, vai trò của truyền thông giảm xuống kéo vai trò của trí thức giảm theo. Ngoài ra, những tư tưởng dù có sức lôi cuốn bao nhiêu, những nghiên cứu dù có sức thuyết phục bao nhiêu, thì nhiều khi đều giống như hoa nở trong rừng thẳm chẳng mấy ai biết tới. Giới trí thức vì vậy phụ thuộc rất nhiều vào giới truyền thông để tư tưởng của họ, nghiên cứu của họ được phổ biến trong xã hội. Với sự phụ thuộc này, người ta ít nghe truyền thông hơn, thì cũng có nghĩa là người ta ít nghe trí thức hơn. Cái sự vạ lây như vậy tạo ra duyên quan họ “em xinh, em đứng một mình cũng xinh”, nhưng ít tạo ra khả năng tác động và ảnh hưởng.  Thứ hai, trí thức thường có xu hướng ủng hộ cái đúng đắn. Cái đúng đắn, rất tiếc, không phải bao giờ cũng giữ vai trò chủ lưu trong xã hội. Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy đang trỗi dậy có vẻ không phải là những thứ được giới trí thức đánh giá cao. Thế nhưng, đây là những thứ đang tác động rất mạnh đến lá phiếu của cử tri. Và các nhà chính trị hoặc là cảm nhận được xu thế, hoặc là chủ động khuấy đảo những thứ âm binh này lên đã được hưởng lợi ngoạn mục. Điều đáng nói ở đây là: cái họ được hưởng lợi thì đã rõ, nhưng khả năng của họ khống chế những thứ âm binh đã được gọi lên thì quả thực là chưa rõ. Âm binh nhiều khi gọi lên thì dễ, nhưng khống chế được chúng thật không dễ. Mà không khống chế được thì cái giá phải trả chưa biết sẽ lớn đến chừng nào. Lịch sử của chiến tranh, của khủng hoảng trên thế giới cho chúng ta thấy rất rõ điều này.  Thứ ba, thúc đẩy toàn cầu hóa, thúc đẩy tự do thương mại, giới trí thức, đặc biệt là những trí thức trẻ, đã không hiểu hết nỗi lo và tâm trạng bất an của tầng lớp lao động bình dân và những người lao động lớn tuổi. Toàn cầu hóa tạo ra nhiều cơ hội, nhưng, rất tiếc, những cơ hội này không được chia đều cho tất cả mọi người. Những người trẻ tuổi, được đào tạo cơ bản dễ dàng tìm việc làm, dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống mới ở khắp mọi nơi trên hành tinh. Muôn vàn cơ hội đang được mở ra cho họ. Ngược lại, những người lao động phổ thông, những người lao động đã lớn tuổi, về cơ bản, đang bị bỏ lại phía sau. Công ăn, việc làm đối với họ ngày một khó khăn hơn; tương lai đối với họ ngày một ít chắc chắn hơn. Người no không hiểu được lòng kẻ đói. Những tư tưởng và giá trị được giới trí thức cổ vũ vì vậy trở thành những thứ gì đó xa lạ, không đáng tin cậy đối với tầng lớp dân cư này. Khả năng ảnh hưởng của giới trí thức đối với họ vì vậy cũng bị suy giảm nghiêm trọng. Kết quả là các nhà chính trị nghe theo giới trí thức cổ vũ cho toàn cầu hóa, cho tự do thương mại đã lần lượt thua cuộc. Các nhà chính trị hiểu được nỗi lo của tầng lớp lao động bình dân, lao động lớn tuổi đã giành phần thắng.  Những phân tích trên cho thấy, nói vai trò của giới trí thức suy giảm không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, suy giảm trong các cuộc tranh chấp chính trị và suy giảm trong cuộc sống thực là hai chuyện khác nhau. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra không chỉ như một thành tựu, mà còn như một định mệnh của xã hội loài người. Với công nghệ in 3D, internet của vạn vật, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo…, loài người đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Trong giai đoạn này không chỉ cách thức sản xuất, kinh doanh sẽ thay đổi đến chóng mặt, mà thay đổi theo còn là tất cả mọi mặt đời sống của xã hội loài người. Ai sẽ là lực lượng dẫn dắt trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này nếu không phải là trí thức? Ai sẽ phải đưa ra các tư tưởng, các giải pháp để đổi mới sản xuất, kinh doanh, để hoàn thiện các thể chế của xã hội loài người nếu không phải là trí thức?  Vâng, trí thức sẽ là lực lượng trung tâm cho thời kỳ phát triển mới. Và những gì đúng cho thế giới thì cũng sẽ đúng cho Việt Nam ta. Thách thức to lớn ở đây là: tự coi mình là trí thức thì dễ, thấy hết được tất cả các cơ hội và những thách thức to lớn mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra cho đất nước ta thì không dễ. Không dễ hơn nữa là thấy được cách thức, hệ thống chính sách-pháp luật có thể bảo đảm thành công cho đất nước.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Bức tranh đa sắc của truyền thông Việt năm 2011      Chúng ta sắp đi qua một năm 2011 sôi động với những sự kiện nổi bật, biến chuyển sâu sắc của đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, và đã được phản ánh sinh động qua bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam .      Lạm phát và đòi hỏi tái cấu trúc nền kinh tế  Câu chuyện về vấn đề lạm phát của Việt Nam vốn đã nóng bỏng từ năm 2007, nhưng sau đó chìm dưới bóng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sang năm 2011, song song với tình hình khủng hoảng nợ công châu Âu, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu lộ rõ những vấn đề bất ổn riêng, với mức lạm phát chạm mức 20%, rất cao so với mặt bằng chung của khu vực và quốc tế; trong khi đó, mức nợ công tuy chưa vượt ngưỡng an toàn (nếu theo quy chuẩn của EU là 60%) nhưng vẫn đang lặng lẽ nhích lên.                  Báo chí trong nước đã có nhiều bài phân tích đánh giá, chỉ ra nguyên nhân của bất ổn kinh tế Việt Nam là do cơ cấu đầu tư bất hợp lý, chi tiêu công quá cao và thiếu hiệu quả, mức tăng cung tiền quá nhanh thể hiện qua mức tăng tín dụng cao hơn nhiều so với mức tăng GDP, năng suất lao động không tăng tương xứng với mức tăng nhu cầu tiêu thụ (đặc biệt là nhập khẩu) .v.v. Những khó khăn trong đời sống người dân và doanh nghiệp dưới sức ép của lạm phát cùng mức lãi suất cao vọt đã được phản ánh trung thực kịp thời, góp phần thúc đẩy Chính phủ phải hành động.    Nhìn chung, trong giám sát việc thực thi các giải pháp và chính sách kinh tế của Chính phủ thì báo chí và dư luận đã theo dõi khá sát những vấn đề mang tính bề nổi, những giải pháp ngắn hạn tạm thời, ví dụ như chính sách bình ổn giá xăng, giá điện. Câu chuyện kiểm soát giá  trở thành tiêu điểm chú ý của công chúng khi có lúc quan điểm giữa hai Bộ Tài chính và Bộ Công thương tương phản gay gắt, trong đó quan điểm của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ trong việc giám sát chặt chẽ tình hình lỗ lãi của các doanh nghiệp xăng dầu được sự đồng tình rộng rãi của dư luận.   Tuy nhiên, chưa có nhiều những đánh giá sắc nét đối với những vấn đề mang tính dài hơi hơn, như đánh giá hiệu quả chính sách của Chính phủ trong tái cơ cấu đầu tư công, hoặc đánh giá triển vọng an toàn nợ công trong bối cảnh Chính phủ sẽ phải gia tăng vay nợ để đầu tư cho hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, trong đó nổi rõ nhất là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận mà riêng thỏa thuận sơ bộ về tài chính giữa Nga và Việt Nam ký trong năm nay đã lên tới 8 tỷ USD.    Bảo vệ chủ quyền: báo chí cũng là chiến sĩ  Năm 2011 chứng kiến sự vào cuộc mạnh mẽ của báo chí trên mặt trận bảo vệ chủ quyền quốc gia, khởi đầu từ vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam gây ra bởi tàu hải giám Trung Quốc ngày 26/5 và vụ việc tương tự xảy ra ngày 9/6 với tàu Viking II.                 Ngay khi báo PetroTimes của Tập đoàn Dầu khí, thông tin về các hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam đã ngay lập tức lan truyền đến gần như tất cả các mặt báo. Sự cứng rắn và quyết liệt của báo chí đã khẳng định những quan điểm bảo vệ chủ quyền và xử lý tranh chấp  trên biển của Việt Nam, đồng thời cổ vũ một cách mạnh mẽ lòng yêu nước và tự cường dân tộc. Làn sóng yêu nước của nhân dân đã hậu thuẫn một cách hữu hiệu cho thế và lực của ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếng nói của nhân dân giúp khẳng định tính chính danh trong quan điểm của Việt Nam về biển Đông, qua đó thu hút sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.   Không chỉ các Chính phủ trên thế giới mà ngay cả báo chí quốc tế cũng bày tỏ sự quan tâm một cách công bình, khách quan về diễn biến trên biển Đông. Điểm nhấn quan trọng là qua những nỗ lực không mệt mỏi của giới khoa học Việt Nam, hai tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới là Nature và Science đã nhận thức rõ và lên tiếng cảnh báo về tình trạng lợi dụng khoa học cho mục đích tuyên truyền của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Đông.   Có thể thấy rằng, sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân và việc cung cấp thông tin, phản ánh các quan điểm, ý kiến người dân của báo chí đã góp phần quan trọng, đem đến những chuyển biến tích cực cho Việt Nam trong quá trình giải quyết vấn đề biển Đông.    Giáo dục và mảng tối của những giá trị giả  Giáo dục Việt Năm năm qua tiếp tục là một mảng màu tối trong bức tranh chung. Đầu tiên là nạn đạo văn, mà cứ lâu lâu lại thấy báo chí phản ánh, và điều đáng nói là hiện tượng đạo văn xảy ra trong đội ngũ những người… học cao: giáo sư, tiến sĩ, giảng viên ĐH… Cho tới những ngày cuối cùng của năm 2011 này, báo chí còn tiếp tục “tố” việc một giảng viên ĐH Đồng Nai mượn hàng chục trang tài liệu của đồng nghiệp để làm luận án tiến sĩ.                 Song song với đạo văn là vấn nạn bằng giả. Một trong các vụ đình đám là, vào giữa năm, Huyện ủy An Phú (An Giang) bê bối vì có tới 52 cán bộ Đảng viên ở đây bị phát hiện dùng bằng giả. Một số người trong đó thừa nhận đã chi tiền (dăm bảy triệu đồng) để mua bằng; một chủ tịch xã bị tố cáo nhờ người thi hộ THPT bổ túc (!).   Liên tiếp những vụ việc sử dụng bằng giả bị “phơi áo” trên báo chí từ Phó phòng CSGT đến lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, y tế bị phản ánh không trung thực khi khai báo bằng cấp và sử dụng bằng rởm.   Cứ mỗi khi một vụ đạo văn hay xài bằng giả bị tung lên báo, dư luận lại ồn ào, rồi mọi nguyên nhân sâu xa đều lại được quy cho giáo dục: Chỉ có một nền giáo dục kém chất lượng, rất có vấn đề về tiêu chuẩn đánh giá, mới không phân biệt nổi thực tài và bất tài, mới chấp nhận những dối trá, lừa lọc, “nén bạc đâm toạc tờ giấy” như thế. Nhưng, xét cho cùng thì ngay cả giáo dục kém có lẽ cũng chưa phải nguyên nhân sâu xa của hiện tượng, mà sâu nhất là cơ chế tuyển dụng, dùng người trong xã hội ta có những biểu hiện bất ổn. Rõ ràng là chỉ ở một cơ chế trọng bằng cấp, gắn bằng cấp (thay vì năng lực thực tiễn) với chức vụ và bổng lộc, trọng hư danh, cán bộ mới bị “kích thích” phải chạy bằng cấp, phải trộm văn của người làm của mình một cách sôi nổi như thế.  Luật biểu tình và “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước”  Sau những tổng kết thực tiễn quan trọng, Chính phủ và Quốc hội đã đồng thời thúc đẩy sự ra đời của Luật biểu tình trong kỳ họp Quốc hội tháng 11/2011. Mọi chuyện sẽ có thể êm đềm trôi qua và dự án Luật biểu tình sẽ được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội trong nhiệm kỳ 2011-2016 một cách suôn sẻ, nếu như không có một bất ngờ đến từ tân đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước (TP.HCM).                 Viện dẫn lý do dân trí chưa đủ cao và những thông tin thiếu chính xác và không khách quan, ông Phước đã bác bỏ nỗ lực luật hóa quyền biểu tình vốn đã được Hiến pháp 1992 thừa nhận. Ngay lập tức, trên cả báo chí lẫn các mạng xã hội, “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước” đã tạo ra một cuộc tranh luận chính trị nảy lửa và rộng lớn với rất nhiều trải nghiệm thú vị.   Chính nhờ từ bài phát biểu “lạ”đã là một trong những nguyên nhân khiến những giá trị lý luận và thực tiễn của quyền biểu tình giành được sự quan tâm rất lớn của dư luận, và càng cho thấy rằng việc xây dựng luật này hiện nay là cần thiết, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân, và phù hợp với sự phát triển của xã hội hướng tới văn minh tiến bộ.   Lê Văn Luyện và sự mắc lỡm của báo chí  Một trong những lý do khiến cho làng báo trở nên bận rộn bất thường trong năm 2011 là vụ án tiệm vàng Ngọc Bích (Bắc Giang) ngày 24/8. Lê Văn Luyện, người mà cho đến nay vẫn chưa bị kết tội, trở thành tấm bia hứng chịu mọi sự phẫn nộ của xã hội, trong đó dường như lực lượng phóng viên là những người tích cực nhất.                 Độc giả được cập nhật từng phút, từng giờ các thông tin của vụ án, từ việc lực lượng chức năng đã phá án ra sao, mô tả hiện trường như thế nào, Lê Văn Luyện gây án một mình hay có đồng bọn, anh ta đã nhận tội ra sao, ăn gì trước khi gây án, béo lên hay gầy đi sau mấy tháng ở trại,… Cũng có những hình ảnh về cánh tay bị chém đứt lìa của cháu bé nạn nhân được một số tờ báo đăng tải.   Sau tất cả những sự phẫn nộ bùng nổ trên mặt báo, dường như không có nhiều phóng viên nhận ra rằng, họ đã đứng sai vị trí của mình khi thay mặt cho tòa án để kết tội Lê Văn Luyện. Nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án, đã không được hầu hết phóng viên và phần lớn độc giả quan tâm. Bài viết với tiêu đề “Nếu phạm tội, Lê Văn Luyện có bị tử hình?” đăng trên báo Người Lao Động ngày 31/8 trở thành một ngoại lệ hiếm hoi trong cả dàn đồng ca “đòi nợ máu” của cả báo chí lẫn dư luận.  Bộ trưởng Đinh La Thăng: làn gió mới trên chính trường  Ông Đinh La Thăng là một gương mặt mới trên chính trường trên cương vị Bộ trưởng Giao thông – Vận tải.                 Sự quyết liệt trong cả lời nói lẫn hành động của ông đã thổi vào chính trường một luồng gió mới mẻ, dường như đánh thức rất nhiều quan chức đang ngủ say và khơi dậy tinh thần cống hiến chính trị – cái mà từ lâu chỉ thường được tìm thấy trên các văn bản báo cáo thành tích. Quá phấn khích với điều này, báo chí đã lập tức biến ông Đinh La Thăng thành một “hiện tượng”.   Thế rồi không lâu sau đó, cũng chính báo chí đã tô đậm hình ảnh một Bộ trưởng của những quyết định vi hiến và phong cách điều hành có phần gia trưởng, bất chấp họ tán dương hay phê phán những quyết định cấm cán bộ chơi golf và yêu cầu thuộc cấp đi làm bằng xe buýt do chính ông ban hành. Và bản thân ông Thăng, sau một thời gian làm tốn nhiều giấy mực của báo chí, dường như cũng đã tự hạ nhiệt cơn sốt mang tên mình bằng những hình ảnh vui nhộn của ông trên sân bóng. Dư luận hi vọng tiền đạo Đinh La Thăng sẽ giữ được thói quen ghi bàn trong những trận đấu then chốt với nạn tắc đường, tai nạn giao thông và đầu tư xây dựng cơ bản.    Maraton truyền thông: Rùa thắng tê giác  Năm 2011 chứng kiến sự thiên lệch rất rõ rệt của báo chí dành cho hai sự kiện có tính chất và mức độ nghiêm trọng khá tương đồng, đó là chiến dịch giải cứu “cụ Rùa” và sự tuyệt chủng của loài tê giác Java ở Việt Nam.                 Ấn tượng để lại cho dư luận trong chiến dịch giải cứu “cụ Rùa”, tiếc thay, tập trung nhiều vào hàng loạt bản tin về sự rề rà của những cuộc họp, hội thảo đánh giá tình hình, tìm kiếm giải pháp; sự rình rang trong việc triển khai giải pháp khi huy động hàng chục dân quân, cứu hộ viên tiến hành thử nghiệm đủ các giải pháp, đến khi làm thật thì người ta dùng một chiếc lưới “hàng chợ” kém chất lượng và để “cụ” trốn mất. Có lẽ do cảm thấy bế tắc trước một việc tưởng chừng rất đơn giản này, có vị doanh nhân nọ còn cao hứng đề xuất dùng trực thăng để trục vớt “cụ”. Báo chí theo sát từng bước trong suốt hành trình giải cứu kéo dài hàng tháng trời và đây có thể là tư liệu quý cho các tác giả kịch bản hài kịch ở Việt Nam, vốn là những người luôn than bí đề tài.   Rình rang và dồn dập đưa tin về “cụ” Rùa bao nhiêu, báo chí lại lạnh nhạt bấy nhiêu với cái chết của cá thể tê giác Java cuối cùng ở Việt Nam. Một viên đạn được tìm thấy ở chân cá thể này và chiếc sừng của nó đã bị cắt mất. Những thông tin đau xót từ các Quỹ bảo vệ động vật thế giới dễ dàng chìm trong quên lãng, trong khi những vết lở loét ở thân “cụ Rùa” trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của các phóng viên trong nhiều tháng trời, ngay cả khi dư luận đã khá yên tâm rằng chúng không mấy nguy hiểm. Điều này phản ánh một thực tế là lâu nay báo chí đã chưa làm được nhiều trong việc gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về thảm họa mất đa dạng sinh học, vấn đề nghiêm trọng có tính chất toàn cầu.  Thủng lưới… VFF  Nếu như đội tuyển U23 Việt Nam bế tắc trong việc tìm đường đến khung thành đối phương ở SEA Games 26 thì các ông chủ ở các CLB lại ghi được những bàn thắng ngoạn mục vào lưới… VFF (Liên đoàn Bóng đá Việt Nam). Phát biểu gay gắt của bầu Kiên (Hà Nội ACB) tại Hội nghị tổng kết V-League mùa giải 2011 đã vỗ mặt VFF với đủ các nghi vấn từ đạo đức trọng tài cho đến năng lực điều hành của bộ máy Liên đoàn.                Hiệu ứng từ bài phát biểu để đời này của bầu Kiên sẽ không thể xảy ra, nếu trước đó ông không khôn khéo kéo báo chí vào trụ sở VFF, vốn có truyền thống “đổ bê tông” ngăn chặn mọi pha “lên bóng” của cánh phóng viên. Ở một tổ chức xã hội hóa cao như VFF, nơi quyền lực thực sự không hoàn toàn nằm trong tay lãnh đạo liên đoàn và bộ mặt của nó được phơi bày trên sân bóng với camera chụp chiếu đủ bốn góc, người ta không thể không đếm xỉa đến phản ứng của báo chí và dư luận.   Sự vào cuộc tích cực của các phóng viên đã kích hoạt một làn sóng phản đối VFF và cuối cùng đưa đến một cuộc cách mạng với sự ra đời của một mô hình quản lý hoàn toàn mới: Công ty Cổ phần Bóng đá Việt Nam – VPF. Thế mới biết, khi sức mạnh giám sát của báo chí được coi trọng thì mành lưới nào cũng có khả năng bị xuyên thủng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bùn đỏ từ khai thác bauxite – “bom bẩn” rình rập      Bùn đỏ là hỗn hợp bao gồm các chất như sắt, mangan… và một lượng kiềm dư thừa phát sinh trong quá trình dung hòa, tách quặng alumin. Xét trên góc độ môi trường, bùn đỏ là một loại chất thải rất độc hại, được ví như “bùn bẩn” hay “bom bẩn”.    Theo hãng tin AP, cảnh sát Hungary đã chính thức mở cuộc điều tra nguyên nhân dẫn tới vụ vỡ hồ chứa bùn đỏ, sau khi ban bố tình trạng khẩn cấp ở ba vùng phía Tây của nước này.     Chưa từng có trong lịch sử    Đây là một thảm hoạ sinh thái mà Hungary chưa từng trải qua, và cũng là thảm họa sinh thái lớn nhất trong lịch sử chế biến nhôm và alumin xảy ra tại một quốc gia có truyền thống và giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực này.    Điều đáng lo ngại nhất là lịch sử công nghệ sản xuất nhôm và alumin chưa hề xảy ra chuyện một bể chứa bị vỡ khiến biển bùn đỏ tràn ngập các khu dân cư như trường hợp ở Hungary. Do đó, hiện tại, các chuyên gia chưa thể nói được gì về những hậu quả của dung dịch kiềm gây ra cho môi trường và hệ sinh thái, ngắn cũng như dài hạn.    Thảm họa bùng phát chiều 4/10 tại nhà máy sản xuất nhôm Ajka Timfoldgyar thuộc thị trấn Ajka, cách thủ đô Budapest chừng 164km về phía Tây Nam. Tính đến hôm qua, tổng cộng 1,1 triệu m3 bùn đỏ độc hại từ nhà máy này đã tràn ra một khu vực rộng tới 40 km2.    Dòng lũ bùn đỏ đã cuốn trôi hơn 270 căn nhà, xe cộ, phá hủy một số cây cầu. Ít nhất bốn người đã thiệt mạng, sáu người mất tích và 123 người bị thương, phần lớn bị bỏng do hóa chất trong bùn đỏ thấm qua quần áo. Trong số bị thương, 62 người đã nhập viện, 8 người đang nguy kịch.    Các chuyên gia thuộc tổ chức môi trường Greenpeace cho biết, ảnh hưởng của dòng bùn này có thể nghiêm trọng hơn vụ tràn cyanide tại Baia Mare ở Romania năm 2000, khi đó dòng nước bị nhiễm cyanide từ một hồ chứa của mỏ vàng chảy ra gây ô nhiễm dòng sông Tisza và Danube.    “Thảm họa này lớn gấp 7 lần sự cố xảy ra tại Baia Mare, ảnh hưởng lên hệ sinh thái rất rộng và mất nhiều thời gian để khử độc, vì các kim loại nặng và natri cacbonat là hỗn hợp độc hại rất nguy hiểm,” Katerina Ventusova, một chuyên gia về chất độc của Greenpeace nói.    Bộ trưởng Môi trường Hungary cho rằng đây là thảm họa tràn hóa chất nghiêm trọng nhất trong lịch sử của Hungary và ước tính phải mất một năm và hàng chục triệu USD để dọn sạch lượng bùn đỏ này.    Bùn đỏ còn gọi là “bom bẩn”    Bùn đỏ là hỗn hợp bao gồm các chất như sắt, mangan… và một lượng kiềm dư thừa phát sinh trong quá trình dung hòa, tách quặng alumin. Xét trên góc độ môi trường, bùn đỏ là một loại chất thải rất độc hại, được ví như “bùn bẩn” hay “bom bẩn”.    Tuy vậy, các kim loại nặng độc hại, hoặc chất chì hay phóng xạ trong bùn đỏ không thực nguy hiểm đến tính mạng con người vì hàm lượng của chúng không đáng kể. Điều thực sự nguy hiểm và độc hại là lượng nước thải kèm theo bùn đỏ, xuất phát từ cách xử lý và lưu trữ bùn đỏ theo kiểu hiện tại, vì bùn đỏ trước khi thải và chôn lấp sẽ được rửa nhiều lần nhằm tận thu kiềm.    Dẫu vậy, lượng bùn thải cũng vẫn bị kiềm hóa ở mức độ rất đáng kể: cứ một tấn bùn đỏ lại đi kèm với 2-3m3 nước thải có nồng độ kiềm rất mạnh.    Đại diện các tổ chức công nghiệp ở Mỹ và Anh cho rằng, nếu được xử lý đúng đắn, loại bùn thải này không độc hại. Theo tiêu chuẩn EU, bùn đỏ từ quá trình luyện bauxite thành nhôm không bị coi là chất thải độc hại. Tuy nhiên, hiện trên thế giới chưa có nước nào xử lý triệt để được vấn đề bùn đỏ. Cách phổ biến mà người ta vẫn thường làm là chôn lấp bùn đỏ ở các vùng đất ít người, ven biển để tránh độc hại.    Nhà môi trường học Gergely Simon của Hungary đưa ra giả thiết, lượng bùn thải này được tích lũy suốt hàng chục năm qua nên có độ kiềm cực cao, pH lên tới 13, hơn cả loại thuốc tẩy mạnh nhất và gấp 1 triệu lần dung dịch trung hòa là nước tinh khiết.    Như vậy, đối với con người và động vật sống, một cách trực tiếp, dung dịch bùn đỏ có thể gây bỏng da, hoặc tổn thương nặng nếu vào mắt hay miệng, mà không được tẩy rửa nhanh chóng và kịp thời.    Đối với môi trường, bản thân chất kiềm không có tác động lâu dài tới môi sinh vì sẽ bị loãng đi khi hòa tan vào nước, tuy nhiên, kiềm trong bùn đỏ có thể tiêu diệt một phần thảm thực vật, làm hư hại diện tích đất canh tác. Đặc biệt, khi chảy xuống sông, bùn đỏ sẽ làm chết mọi sinh vật như tôm, cá…    Xử lý bùn đỏ trong dự án Nhân Cơ, Việt Nam    Theo một bản tin của TTXVN số ra ngày 1/12/2009, ông Ngô Tố Ninh, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần alumin Nhân Cơ thuộc Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), cho biết, điều quan trọng nhất trong bản báo cáo tác động môi trường Dự án nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ đã được Hội đồng khoa học tỉnh Đắk Nông thông qua, là các phương án xử lý, tái chế bùn đỏ trong quá trình khai thác quặng bauxite, sản xuất và luyện alumin ở Nhân Cơ mà dự luận quan tâm.    Theo đó, tổng lượng bùn đỏ gần 1,4 triệu tấn/năm (tương đương khoảng 945.000 m3), khi Dự án sản xuất alumin Nhân Cơ đạt 650.000 tấn alumin/năm. Đối với Dự án Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ, sẽ tiến hành xử lý bùn đỏ bằng phương pháp chôn lấp, sau đó tiến hành hoàn thổ, phục hồi môi trường. Bùn đỏ trước khi thải ra bãi sẽ được rửa ngược dòng 6 bước nhằm tận thu kiềm và alumin kèm theo bùn đỏ.    Hồ chứa bùn đỏ (rộng hơn 200ha) có các lớp chống thấm tốt để kiềm bám bùn đỏ không bị thẩm thấu vào nước ngầm, nước chứa trong bãi chứa bùn đỏ được thu gom và bơm hoàn toàn về Nhà máy.    Các thành phần bùn đỏ có hại cho môi trường được cách ly hoàn toàn, không để rò rỉ hay thẩm thấu gây ảnh hưởng tới môi trường; thành phần chất lỏng đi theo bùn đỏ hoặc sinh ra trong quá trình lưu trữ (như nước mưa hòa với bùn đỏ) sẽ được thu hồi, tái sử dụng tại Nhà máy alumin.    Hồ chứa bùn đỏ xây dựng phải đảm bảo các tiêu chí như: không gây ra hiện tượng thẩm thấu các chất ô nhiễm môi trường; lòng hồ phải được xử lý thi công và lót vải địa kỹ thuật hoặc vải nhựa có độ thấm đạt các yêu cầu của tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt nam đối với bãi chôn lấp rác thải nguy hại; không có hiện tượng phát sinh và phát tán bụi ra môi trường; đảm bảo khả năng hoàn thổ trả lại đất cho canh tác trong thời gian ngắn nhất với chi phí nhỏ nhất; không tiềm ẩn bất cứ khả năng gây thảm họa nào đặc biệt là khả năng vỡ đập gây ô nhiễm môi trường và nguy hiểm trên diện rộng…    Hồ thải bùn đỏ được lựa chọn là các thung lũng phía nam khu vực Nhà máy alumin. Các đập ngăn sẽ được xây dựng để tạo ra các hồ thải theo các giai đoạn hoạt động của nhà máy. Tổng thể tích của các hồ theo tính toán đảm bảo được 30 năm vận hành cho nhà máy.     Xung quanh hồ sẽ xây dựng hệ thống kênh thu nước mặt, nước mưa từ lưu vực xung quanh để dẫn thoát ra khỏi phạm vi lòng hồ, đảm bảo lượng mưa xuống hồ chỉ là lượng mưa thu trực tiếp từ diện tích mặt thoáng của hồ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Buôn bán rùa quý hiếm: Cuộc chiến giữa thuật toán và “mật ngữ”      Chỉ thị 29 năm 2020 của chính phủ và thuật toán quét của Facebook nhằm siết chặt việc mua bán động vật hoang dã không thể ngăn được các tay buôn tung hoành với khả năng lẩn trốn đầy khôn khéo và tinh vi.       Cơ quan kiểm lâm đang kiểm tra cơ sở nuôi nhốt rùa của ông Hoàng Minh Triển, Đắk Lắc. Ông Triển đã nuôi nhốt trái phép 127 cá thể rùa nguy cấp, quý, hiếm. Ảnh: Tri thức & Cuộc sống  Ngày 28/9/2022, nick “Quang Dùa Tướng” post lên nhóm “Rùa núi vàng bốn mùa” hình 5 chú rùa núi vàng và viết “ alo alo chiển nhà chiển nhà”. Hình máy bay đại diện cho từ “bay”, tiếng lóng của từ “bán”, có lẽ là để chặn thuật toán của Facebook phát hiện. Bên dưới nick Sang Lê viết “Bán thì hô giá công khai chứ ib làm gì” thì Quang Dùa Tướng trả lời “f.b nó đập gậy vào mặt. Mất f.b bạn ạ  k biết thì tìm hiểu thêm đừng nói bừa b nhé”.  Rùa núi vàng thuộc nhóm IIB – các loài động vật rừng có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng nếu không hạn chế khai thác để phục vụ thương mại. Việc buôn bán không có bảng kê lâm sản của kiểm lâm sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến 12 năm đối với cá nhân.  Ngày 18/3/2021, TAND thành phố Buôn Ma Thuột tuyên án phạt đối tượng Hoàng Minh Triển 10 năm tù giam cho hành vi nuôi, nhốt trái phép 127 cá thể rùa nguy cấp, quý, hiếm. Điều đáng nói, trước đó, đường dây nóng bảo vệ động vật hoang dã của ENV đã nhiều lần nhận được thông tin từ người dân về việc con trai đối tượng thường xuyên sử dụng mạng xã hội để quảng cáo, buôn bán trái phép nhiều loài rùa quý, hiếm khác nhau. Những loài này đều được phát hiện tại cơ sở nuôi nhốt của đối tượng Hoàng Minh Triển.  Vậy các vụ bắt giữ và phạt nặng liên quan đến mua bán rùa cấm có làm giảm số lượng bài đăng liên quan đến mua bán rùa hay không? Kết quả phân tích số liệu của chúng tôi cho thấy câu trả lời là không. Trong năm 2019, có hai vụ bắt giữ lớn liên quan đến buôn bán trái phép các loài rùa cấm, rùa quý nhưng số lượng bài buôn bán loài động vật này trên Facebook vẫn tăng lên mạnh mẽ.    Dân buôn rùa cấm trên mạng đang dùng nhiều “chiêu” để lách thuật toán của Facebook để tiếp tục dùng mạng xã hội này như một “chợ mạng” buôn bán rùa trong “sách đỏ” một cách nhộn nhịp.    Động thái quét và chặn các hiện tượng buôn bán rùa cấm của Facebook đã làm gần như biến mất những post rao bán rùa công khai, nhưng chưa khiến hành vi “tội phạm mạng” này chấm dứt, mà trở lên tinh vi hơn. Dân buôn rùa cấm trên mạng đang dùng nhiều “chiêu” để lách thuật toán của Facebook để tiếp tục dùng mạng xã hội này như một “chợ mạng” buôn bán rùa trong “sách đỏ” một cách nhộn nhịp.  Tinh vi thời 4.0  Giữa tháng 7/2022, một nick Facebook là Ho Sacani post hai tấm ảnh một chú rùa lên một nhóm cộng đồng chơi rùa cảnh có hàng nghìn thành viên và hỏi “Mọi người cho em hỏi con này gọi là rùa gì ạ”. Giữa một loạt các bình luận tỏ ra e sợ, gọi đây là “hàng bỏng tay”, “bóc lịch 7 quyển”, một nick Bùi Tuấn đáp lại: “Để lại cho mình” và viết rằng có một ông anh “toàn chơi những con này và đã có sẵn một con”.  Câu hỏi “bâng quơ” của Ho Scani về Rùa đầu to trên Facebook  Rùa trong post Facebook đó là Rùa đầu to – một trong 92 loài được bảo vệ cấp cao nhất theo pháp luật Việt Nam do bị đe dọa tuyệt chủng. Số phận con rùa đầu to đó ra sao? Nếu Ho Sacani gửi tin nhắn riêng tư cho Bùi Tuấn để bán thì Facebook không thể kiểm soát được.  Đối với những tay buôn rùa quý hiếm, chông gai nhất là làm sao giữ được tài khoản và các thông tin quảng cáo bán rùa của mình thoát khỏi lưới kiểm duyệt của Facebook. Sau đó, một khi khách hàng tìm đến họ qua tin nhắn, việc buôn bán sẽ xảy ra trót lọt, Vì buộc phải tuân thủ quy định bảo vệ quyền riêng tư, Facebook không thể giám sát hoặc can thiệp nội dung tin nhắn của người dùng.  Một quảng cáo bán rùa núi vàng trên Facebook.  Không thể post công khai, các tay buôn này lập ra và hoạt động trong các hội nhóm Facebook ở chế độ “riêng tư” – chỉ có những người được chấp nhận làm thành viên mới đọc được thông tin đăng tải trong đó. Chưa hết, mọi nội dung trong đó đều được cân nhắc từ khóa để lẩn trốn thuật toán của Facebook.  Chúng tôi nhận thấy điểm chung của các nhóm này là tên nhóm hoặc phần giới thiệu nhóm luôn núp bóng dưới những từ ngữ dành cho giới bảo tồn, như “Hội yêu rùa cảnh Việt Nam”, “Cộng đồng rùa núi vàng Việt Nam”… nhằm che mắt các cơ quan chức năng và sự quản lý của Facebook. Đa phần muốn tham gia các hội nhóm này, người tham gia sẽ phải trả lời một số câu hỏi rồi sau đó Quản trị viên mới xét duyệt yêu cầu. Một số nhóm như “Hội yêu rùa Việt Nam”, khi thành viên xin gia nhập sẽ phải trả lời các câu hỏi như: bạn vào nhóm với mục đích gì, bạn có nuôi loại rùa gì? Kể tên? Bạn có biết chăm sóc loại rùa đó như thế nào không? Kể tên thức ăn yêu thích của loài rùa đó.  Khi trao đổi với một số nhóm về lý do của việc đặt câu hỏi như vậy, một số người trong hội cho biết, mục đích của việc đưa ra các nội quy này là để thu nhập những thành viên “sạch” – những người có nhu cầu mua, bán thật thay vì các thành viên “ngầm” từ các tổ chức phi chính phủ tham gia và có các hoạt động khuyến cáo hoặc chỉ trích hoạt động mua bán đó.  “Anh em lưu ý một số từ nha, cẩn thận không lại mất nhóm”, một post được gim ngay trên đầu nhóm riêng tư “Cộng đồng rùa núi vàng Việt Nam”, có 7,8 nghìn thành viên. Đi kèm là danh sách từ khóa “Tiền, ib, lúa, bay, bao nhiêu, nhiêu, số, bạc, đồng, triệu, ngàn, sđt, bán, mua, chuyển khoản, giá, nhắn tin, xu, xèng, money, check, kiểm tra”.  “Từ việc thả cửa cho ae b.b=> Nhóm sắp sập” là một post khác được gim lên. “Sau 3 tháng không có vi phạm, không có anh em đồng quy vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng của FB, nhóm đã Hồi sinh”. Bên dưới comment “Vì 1 cộng đồng chung ae tránh từ khóa cho nhóm phát triển”.  Điều đó chứng tỏ nhóm “Cộng đồng rùa núi vàng Việt Nam” đã từng bị Facebook đóng do vi phạm từ cấm liên quan đến buôn bán rùa. Giờ đây, họ đã biết cách để tránh các từ khóa mà trước hết là những từ liên quan đến từ “bán” và “tiền”. Các nhóm khác cũng có hành động tương tự. Trong nhóm luôn có một người đóng vai trò gần như quản trị viên thường xuyên đăng tải danh sách các từ khóa để các thành viên lưu ý, luồn lách khỏi các tiêu chuẩn của Facebook. Chẳng hạn như họ luôn sử dụng các “mật ngữ” như “ba.n”, “i,b”, “nv” thay vì “bán”, “inbox” và “rùa núi vàng”. Kể cả giá tiền của con rùa cũng được “mật mã hóa” như: 1.8.0kaaaa, 2 chịu 8 (2.800.000đ), 1    3    0     0 (1.300.000 đồng)…       Chúng tôi đã tổng hợp trên Facebook hơn 25 nghìn bình luận trong khoảng 2016 – 2021 và lọc ra 604 bình luận chứa thông tin rao bán các loài rùa quý, hiếm, bị cấm buôn bán dưới mọi hình thức trên gần 200 Fanpage, Facebook cá nhân và đặc biệt là các nhóm Facebook. Trong đó, chúng tôi tập trung khảo sát theo chín loại rùa quý hiếm được buôn bán nhiều nhất trên mạng xã hội như: rùa Núi vàng, rùa Sa nhân, rùa Sulcata, rùa Câm (rùa Ao vàng), rùa Hộp lưng đen, rùa Bốn mắt, rùa Răng, rùa Đất lớn, rùa Mũi lợn. Các loài rùa này thuộc nhóm nguy cấp của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), sách đỏ IUCN (Danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế), nằm trong Nhóm 2B Phụ lục I Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP. Muốn nuôi loại rùa này vì mục đích thương mại thì bản thân trang trại cũng như người cung cấp, bán rùa phải được cấp phép, có đăng ký mã số cơ sở nuôi, trồng các loài động vật hoang dã nguy cấp với cơ quan quản lý CITES cho từng con rùa một.  Một post rao bán rùa Sulcata trên Facebook    Có thể nói, số lượng từ khoá tăng dần và đa dạng hơn theo từng năm do các chính sách của Facebook bắt đầu khắt khe hơn trong việc quét các từ lóng và khoá các tài khoản vi phạm.    Bên cạnh những từ khóa liên quan đến “bán” và “tiền”, lẽ dĩ nhiên là các nhóm này cũng có một “ma trận mật mã” để gọi tên các con rùa quý hiếm. Rùa núi vàng có số lượng bình luận áp đảo cho thấy nhu cầu và nguồn cung mạnh mẽ. Để chỉ loài rùa này, các tay buôn rùa có vô số từ khóa đánh lạc hướng sự quản lý của Facebook:  Năm 2017: Những từ khóa sau đây được sử dụng 1 lần: “nui vàng”, “hộp”, “rua nui vang”, “rua nui vag”, “nv”. Những từ khóa được sử dụng 2 lần là “baby”, “hôp lưng đen”.  Năm 2018: Những từ khóa sau đây được sử dụng 1 lần: “rùa núi vàg”, “rua hôp”, “núi vang”, “nui vang”, “rùa hộp”, “xa nhân”, “đốm đen”. Những từ khóa được sử dụng 2 lần là “RUA NUI VANG”, “sa nhan”. Từ khóa được sử dụng 2 lần trở lên là “vàng”.  Năm 2019: Những từ khóa sau đây được sử dụng 1 lần: “vàng 99.99%”, “#ruanuivang”, “nuos vàng”, “núi vành” , “núi vang”, “to vàng chấm đen”, “bé mai đen tuyền”. Từ khóa được sử dụng 2 lần là “vàng đực”, Những từ khóa được sử dụng 2 lần trở lên là “vàng” (3 lần), “đực vàng” (3 lần), “nv” (4 lần).  Năm 2020: Những từ khóa sau đây được sử dụng 1 lần: “rùa hộp lung đen”, “baby vàng”, “rua nui vag baby”, “nui vang baby”, “rùa núi vàg”, “#rua_nui_vang”  Những từ khóa được sử dụng 2 lần: “núi vang”, “rua vàng”, “#rùa #núi #vàng”, “r.ùa vàng”, “rua núi vàng”,  “#Núi_Vàng”.  Những từ khóa được sử dụng 2 lần trở lên là rùa vàng (22 lần), #Rùa_Núi_vàng (3 lần).  Năm 2021: Những từ khóa được sử dụng 1 lần là “nv baby”, “rùa núi vnafg”,  “núi vành” , “tùa núi vàng”, “thỏi vàng”, “rùa núi”, “ru@ cạn núi”.  Những từ khóa được sử dụng 2 lần là “rua nui vang”, “#ruanui”, “rua núi vàng”, “#ruavang”.  Những từ khóa được sử dụng 2 lần trở lên là “#ruanuivang” (8 lần), NV (16 lần).  Qua đây ta có thể thấy, số lượng từ khóa được sử dụng trong năm 2017 là 7 từ, trong năm 2018 là 10 từ, trong năm 2019 là 11 từ, trong năm 2020 là 14 từ, trong năm 2021 là 13 từ. Có thể nói, số lượng từ khóa tăng dần và đa dạng hơn theo từng năm do các chính sách của Facebook bắt đầu khắt khe hơn trong việc quét các từ lóng và khóa các tài khoản vi phạm. Do vậy người bán và người mua đã tìm nhiều cách lách luật hơn để có thể ngang nhiên buôn bán rùa hiếm trên Facebook.  “Rùa hộp lưng đen” được nhắc đến với những mật mã như: hôp lưng đen, hôph lưng đen, rua hôp, rùa hộp, rùa hộp lung đen, h.ộp lưng đe.nn, hld  Rùa sa nhân: sa nhan, xa nhân  Rùa Sulcata: sul  Rùa Bốn mắt: 4 mắt  Rùa Câm (Ao vàng): Yellow pond  Rùa Mũi lợn: lợn, mũi heo  Rùa đất lớn: đất, sen vàng, sen vang  Rùa răng: sen đen, càng đước  Lắt léo con đường vận chuyển tới người mua  Dường như cách mua bán và giao dịch qua mạng và gửi hàng đến mà cả người mua và bán ít khi gặp nhau được ghi nhận như cách giao dịch phố biến hiện nay đối với việc buôn bán động vật hoang dã qua internet. Khi cần, người có nhu cầu có mua thể yêu cầu chụp ảnh các góc cạnh khác nhau của con rùa qua tin nhắn, rồi chuyển tiền nếu thấy ưng ý. Người mua càng hỏi kĩ về con rùa thì người bán càng chất vấn “Bạn có mua thật không?” và cứ chuyển tiền đi thì sẽ có hàng.  Cách buôn bán qua mạng còn khiến người bán không cần lộ diện bởi sau khi nhận tiền xong, họ sẽ thuê người trung gian vận chuyển rùa. Nếu giao dịch bị bắt gặp thì cũng chỉ bắt được người vận chuyển mà người này dĩ nhiên là sẽ chối bỏ trách nhiệm nhanh chóng. Đây cũng là một lỗ hổng trong quản lý mà dường như người buôn bán đã nắm và tận dụng để thực hiện hoạt động kinh doanh.  ﻿     Theo hồ sơ Buôn bán các loài rùa cạn và rùa nước ngọt xuyên quốc gia của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) Việt Nam, mặc dù pháp luật Việt Nam, Lào và Campuchia nghiêm cấm săn bắt và buôn bán các loài động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý, hiếm nhưng chỉ áp dụng cho những loài bị bắt trong tự nhiên chứ không áp dụng cho các loài được gây nuôi trong các trang trại thương mại. Điều này dẫn đến tình trạng người nuôi có thể dễ dàng buôn bán ĐVHD được bắt từ tự nhiên sau khi hợp pháp hóa nguồn gốc của chúng từ các trang trại gây nuôi.  Một cuộc khảo sát do Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên – Việt Nam (ENV) thực hiện từ năm 2014-2015 cho thấy các hành vi bất hợp pháp của việc buôn bán ĐVHD đang trở nên phổ biến hơn ở các trang trại đã được cơ quan chức năng cấp giấy phép chính thức. Tất cả 26 trang trại tham gia cuộc khảo sát có liên quan đến buôn bán ĐVHD nhưng chỉ một nửa trong số họ thừa nhận sự “lách luật” của mình. Tất cả những người được hỏi đều nói rằng họ đã mua ĐVHD được bảo vệ trước đó mà không có giấy tờ hợp pháp.  Liệu có siết chặt được chợ mạng?  Theo số liệu ghi nhận các vụ mua bán rùa quý, hiếm bị bắt giữ tại Việt Nam giai đoạn 2018 – 2021 từ Tổ chức WCS, chúng tôi đã khảo sát mối tương quan giữa số lượng bài đăng mua bán rùa trên MXH với các vụ bắt giữ trong thời gian 2018 – 2021. Cụ thể:       Có thể thấy rằng, trong năm 2021, việc buôn bán rùa dường như giảm mạnh. Từ khoảng trung bình 500 số cá thể rùa bị bắt giữ và 25 vụ án bắt giữ rùa quý, hơn 100 số bài post trên mạng xã hội trong 3 năm 2018, 2019, 2020, chỉ còn gần 200 cá thể, 14 vụ án và 65 bài post vào năm 2021. Nhưng liệu có phải đó là do các cơ quan chức năng đã siết chặt hiệu quả các thông tin buôn bán rùa quý trên MXH?  Đúng là gần đây chính sách của Facebook, nhà mạng, nhà cung cấp mạng xã hội đã có nhiều thay đổi trong việc phòng ngừa, đấu tranh chống buôn bán trái pháp luật ĐVHD. Các nhà cung cấp dịch vụ ứng dụng lớn trên toàn thế giới như Facebook, Google… đã sử dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm duyệt thông tin liên quan đến các hoạt động vi phạm pháp luật về ĐVHD như đăng tin, rao bán, quảng cáo trên không gian mạng. Ví dụ như mạng xã hội Facebook cho phép người dùng báo cáo (report) các bài viết có liên quan đến ĐVHD, sau khi tiếp nhận nền tảng mạng xã hội này sẽ tiến hành biện pháp kỹ thuật vô hiệu hóa bài viết, thông tin.  Cùng với đó, Lực lượng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an cũng đã tiến hành phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như Facebook, Google, để xác minh, ngăn chặn, gỡ bỏ các trang mạng vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD theo yêu cầu của Công an các đơn vị, địa phương.  Tuy nhiên, bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc EVN cho biết gỡ các bài đăng về buôn bán ĐVHD là chưa đủ: “Gỡ bỏ chỉ là một phần nhỏ vì gỡ một thì họ có thể mở hai, ba, bốn tài khoản mới”. Bà Hà nói thêm: “Chúng tôi khuyến nghị một số nền tảng mạng xã hội cần thắt chặt hơn tiêu chuẩn cộng đồng để ngăn chặn triệt để không chỉ hành vi buôn bán mà cả hành vi nuôi nhốt, kích thích nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã”, bà Hà nói.  Phát hiện và “bắt tại trận” các vụ buôn bán rùa quý đã khó. Kiểm soát việc quảng cáo buôn bán này trên MXH cũng chông gai không kém. Pháp luật Việt Nam hiện nay mới chỉ siết chặt việc buôn bán ĐVHD trên các sàn thương mại điện tử. Trong khi đó, mạng xã hội khá đa dạng về cách thức đăng bài, cách thức giao kết hợp đồng, thỏa thuận mua bán hay phương thức thanh toán nên các quy định dành cho sàn thương mại điện tử không thể áp dụng cho mạng xã hội.  Hiện nay, để kiểm soát bài đăng về mua bán ĐVHD trên mạng xã hội, chỉ thể dùng chế tài xử phạt với hành vi quảng cáo ĐVHD online, theo Luật Quảng cáo và Nghị định 38/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, chế tài này chỉ phạt nặng (lên đến 100 triệu đồng) đối với ĐVHD nguy cấp, còn với các ĐVHD đang ở mức nguy cơ tuyệt chủng thì chỉ bị phạt từ 1 triệu đồng đến 1.5 triệu đồng. Sự chênh lệch này khiến những tay buôn rùa vẫn thản nhiên buôn bán nhiều loài rùa quý, trong đó có rùa núi vàng.     Ông Bùi Xuân Thành (cán bộ Kiểm lâm tỉnh Điện Biên) cho biết: “Các cơ quan chức năng nói chung và lực lượng Kiểm lâm nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong phòng, chống và xử lý các hành vi vi phạm về ĐVHD, tuy nhiên, một số vướng mắc, bất cập trong quy định về quản lý, bảo vệ ĐVHD đã cản trở ít nhiều nỗ lực thực thi này”. □      Author                Nhóm phóng viên MDI        
__label__tiasang Các chuẩn mực giá trị trong khoa học ở Việt Nam      Quá trình chuyển đổi hệ thống kinh tế theo hướng thị trường đã làm xuất hiện một số tổ chức khoa học ngoài khu vực nhà nước. Nhưng cho đến nay hầu hết những đặc điểm đó đã tạo cơ sở cho sự hình thành những chuẩn mực giá trị trong hệ thống khoa học Việt Nam.    1) Vì cơ quan khoa học ở Việt Nam luôn được đặt trực thuộc một cấp hành chính, nên cũng được sắp xếp theo thứ bậc hành chính. Người lãnh đạo tổ chức khoa học cũng được gắn cấp bậc theo thứ bậc hành chính. Như vậy, trong cộng đồng khoa học Việt Nam ở quốc nội, điều nổi lên rõ rệt trên bề mặt của xã hội, là sự sắp đặt địa vị và quyền hạn của cơ quan khoa học theo địa vị và quyền hạn được phân chia đẳng cấp trong hệ thống hành chính. Đây có lẽ là đặc điểm quan trọng nhất chi phối thang bậc giá trị của các cơ quan khoa học Việt Nam.  2) Sự chi phối của cấp bậc hành chính vào giá trị khoa học được thể hiện trước hết ở sự phân biệt giá trị của công trình khoa học theo cấp bậc hành chính. Chính đây là nguyên nhân thúc đẩy người ta chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm các đề tài “cấp nhà nước”, hầu như ngày càng thiếu vắng những tìm tòi mang tính cá nhân của các nhà nghiên cứu. Đây có lẽ là thứ chuẩn mực độc đáo nhất thế giới. Với chuẩn mực này, người ta không biết sẽ xếp hạng thế nào đối với những công trình “cấp cá nhân” của Karl Marx với Tư bản luận, của Khổng Tử với những pho “Kinh” đồ sộ, của sử gia Ngô Sĩ Liên với Đại Việt Sử ký toàn thư.  3) Báo chí trong nước nhiều lần nói về các quan chức làm chủ nhiệm chương trình danh nghĩa và gọi họ là “cai đầu dài” trong khoa học. Chúng tôi không muốn nói như vậy, bởi vì, thật ra khoản tiền cấp cho các đề tài không đáng là gì so với các khoản bổng lộc và tham nhũng có thể tìm kiếm được qua các chức vụ của họ. Đề tài và chương trình ấy chỉ có ý nghĩa trang sức cho chức vụ, hơn nữa, là cơ sở để tính điểm phong GS và PGS…  4) Điều đáng suy nghĩ là, có những vị GS tự thấy không đủ tư cách khoa học ở chính cái đơn vị nghiên cứu của mình, thì đã tìm cách đạt được những chức vụ Đảng hoặc chức vụ hành chính, lấy đó làm cái đệm để tiến lên các chức vụ cao hơn, rồi ở vị trí này, họ lại đi tìm kiếm những đề tài “cấp nhà nước”. Dù các giáo sư này viết ra những bản đề cương không mấy chất lượng, nhưng vì đây là đề xuất của cơ quan cấp cao, nên được vị nể và cuối cùng đề cương vẫn được phê chuẩn với kinh phí hàng tỉ đồng mỗi năm. Rồi các vị đã biến nhân viên các cơ quan hành chính, cơ quan Đảng, thậm chí Quốc hội… thành những “nhà” hoạt động khoa học. Một số “nghị sĩ” cũng dành thời gian làm nhiệm vụ… nghiên cứu khoa học, trong khi nhiều bộ của Chính phủ (cơ quan hành pháp) lại thay thế họ soạn thảo các dự án luật; một số giảng viên và sinh viên thì được huy động tham gia các hoạt động chính trị – xã hội, kể cả việc tràn xuống đường phố dẹp ùn tắc xe cộ, thay thế công việc của cảnh sát giao thông. Một bộ phận xã hội bị đảo lộn chức năng và vai trò, trong đó có cả việc đảo lộn chức năng và vai trò của cơ quan khoa học. Hơn nữa, gần đây người ta lại thấy xuất hiện tiêu chuẩn về “nghiên cứu khoa học” trong một văn bản hướng dẫn xem xét nâng ngạch, bậc cho chuyên viên hành chính: trong đó ghi rõ tiêu chuẩn “có một công trình nghiên cứu khoa học”(!)  5) Một vấn đề nổi lên trong hệ thống khoa học nước ta là việc suy tôn các danh hiệu. Việt Nam có quá nhiều các loại danh hiệu để phong tặng cho đội ngũ giáo chức các cấp, nào là lao động tiên tiến, lao động giỏi, chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động, thầy giáo dạy giỏi, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú… Tiêu chuẩn để phong “Nhà giáo ưu tú” là phải có 5 năm là… “chiến sĩ thi đua”, trong đó phải có 2 năm là chiến sĩ thi đua “cấp bộ”. Mà muốn là chiến sĩ thi đua, đương sự phải có thành tích trong công tác xã hội và các “phong trào quần chúng” chứ không phải chỉ có thành tích khoa học.  6) Các chức danh khoa học cũng không thực sự phản ánh giá trị đích thực của khoa học. Thí dụ, phải có một số giờ giảng cho các lớp đại học và hướng dẫn luận văn sau đại học (post-graduate thesis). Như vậy có nghĩa, việc phong GS chỉ dành cho những người làm việc trong các ngành vốn có sẵn sinh viên hoặc “được phép” đào tạo sau đại học bằng một văn bản quyết định hành chính. Điều này khác hoàn toàn với các nước có nền khoa học phát triển, là hiệu trưởng đại học (chứ không phải Nhà nước) “bổ nhiệm” chức vụ giáo sư khi có nhu cầu lựa chọn người lãnh đạo hoặc mở ra một ngành khoa học, đặc biệt coi trọng là những ngành mới, hoàn toàn chưa có sinh viên hoặc đào tạo sau đại học.   7) Vài thập niên lại đây ở Việt Nam nổi lên trào lưu “phong” viện sĩ, đầu tiên là do Viện HLKH Liên Xô khởi xướng. Viện này phong “viện sĩ” (academic hoặc member) cho những người có đóng góp vào sự phát triển khoa học của Liên Xô. Có ba loại viện sĩ: viện sĩ chính thức, viện sĩ thông tấn, viện sĩ nước ngoài. Một số người Việt Nam đã được phong “viện sĩ nước ngoài”, trong đó, có người đạt thành tích thật sự trong khoa học; song cũng có vị… Bộ trưởng… bỗng dưng được phong viện sĩ vì một thành tích rất lạ, được ghi trên mảnh bằng viện sĩ, là… “phát minh”… “công thức trộn vật liệu làm đường cấp phối”.  Vì ở trong nước chỉ mới quen một cách dịch “academy” là “viện hàn lâm”, cho nên “member” của các “academy”, đương nhiên sẽ được hiểu là “viện sĩ” của các “viện hàn lâm”, và cứ như thế, các “viện sĩ” Việt Nam mọc ra như nấm sau mưa. Do không có thông tin đầy đủ, một số tờ báo ở trong nước, ngay cả thời gian gần đây, vẫn xưng tụng các “viện sĩ” này như một thứ “hàng hiệu” của khoa học Việt Nam. Thật là một tấn tuồng bi hài.  Ý kiến của bạn?  Vũ Cao Đàm – Đại học QGHN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các cơ quan nhà nước Thu thập và Khai thác dữ liệu công dân: Nhìn từ thẻ căn cước công dân gắn chip      Trong bối cảnh mất an toàn dữ liệu gia tăng, tình trạng lộ lọt, mua bán và khai thác trái phép dữ liệu cá nhân diễn ra ngày càng phổ biến hơn trên môi trường số. Vậy hướng đi nào giúp bảo vệ an toàn dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của công dân tốt hơn, từ câu chuyện ‘thẻ căn cước công dân’ (CCCD) lẫn rộng hơn là tiến trình chuyển đổi số toàn diện?      Bộ Công An đang gấp rút cấp thẻ công dân gắn chip cho người dân, đặt ra mục tiêu đến tháng 6/2021 cấp cho 50 triệu người. Ảnh: nhandan.com.vn  Từ CCCD gắn chíp điện tử đến thu thập dữ liệu cá nhân ở khu vực công  Hiện tại, Luật Căn cước công dân 2014 quy định 23 loại thông tin cá nhân được thu thập và lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu CCCD và Thông tư 06/2021/TT-BCA của Bộ Công an quy định về mẫu thẻ CCCD có gắn chíp điện tử (dòng MRZ – machine-readable zone) thì chíp này chỉ ‘lưu trữ thông tin cơ bản của công dân’ được gắn ở mặt sau thẻ CCCD (Điểm d Khoản 3 Điều 3). Tuy nhiên các loại thông tin nào là thông tin cơ bản theo quy định pháp luật hiện hành và trong thời gian sắp tới, theo (Dự thảo) Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được cơ quan có thẩm quyền làm rõ. Quan trọng hơn, chưa có thông tin công bố đầy đủ về quá trình lưu trữ và khai thác dữ liệu này như thế nào để phục vụ hoạt động của công dân. Tương tự như vậy, trong các lĩnh vực khác như hộ tịch, y tế, giáo dục, các cơ quan nhà nước khi tiến hành cung cấp dịch vụ công theo yêu cầu của công dân cũng chưa có thông báo cụ thể và chính thức đến người dân về các loại thông tin cá nhân được lưu trữ hay hủy bỏ theo vòng đời dữ liệu.   Chia sẻ dữ liệu trong khu vực công và giữa khu vực công với khu vực tư – đảm bảo dòng chảy dữ liệu liên thông  Theo thông tin được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công an, chíp điện tử sẽ được tích hợp thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế, ngân hàng,… của người dân. Để đạt được mục tiêu này, buộc phải có sự chia sẻ dữ liệu cá nhân giữa Bộ Công an với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Tài chính và các ngân hàng nhà nước cũng như ngân hàng tư nhân. Như vậy, xuất hiện hai mối quan hệ liên quan đến dữ liệu cá nhân:  Ở khía cạnh thứ nhất là chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Hiện tại, Nghị định 47/2020/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước với nguyên tắc dữ liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước được chia sẻ phục vụ các hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng dữ liệu. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, không được xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Phạm vi chia sẻ ở đây là giữa nội bộ các cơ quan nhà nước, nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước chứ chưa đề cập đến chia sẻ dữ liệu công dân do cơ quan nhà nước thu thập và xử lý đến bên thứ ba.       Khi xây dựng văn bản pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân cần quy định trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần có sự đồng ý của chủ thể là: ‘vì lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu’.      Khía cạnh thứ hai là chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, đơn vị tư nhân. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về điều kiện, quy trình chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể này. Về nguyên tắc, mối quan hệ ở đây là ba bên: Công dân, tức chủ thể dữ liệu; Cơ quan Nhà nước là bên thu thập dữ liệu và đang quản lý dữ liệu đã được thu thập; và bên thứ ba là tổ chức, doanh nghiệp – có thể được tổ chức Nhà nước chuyển giao dữ liệu. Về nguyên tắc, việc chuyển giao dữ liệu của công dân của bên thứ nhất (là một công dân cụ thể)  do bên thứ hai nắm giữ (là một cơ quan nhà nước cụ thể) cho một bên thứ ba (là một tổ chức, cá nhân cụ thể) cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu (là bên thứ nhất). Trên thực thế, để phục vụ mục đích phát triển kinh tế xã hội – giao dịch này là cần thiết. Đơn cử, trước đây Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội từng nêu ý tưởng chia sẻ dữ liệu dân cư cho doanh nghiệp khai thác. Tuy nhiên, các điều kiện cụ thể gồm sự đồng ý của chủ thể dữ liệu; phạm vi và mức độ khai thác dữ liệu; cơ chế đảm bảo an toàn dữ liệu; sự giám sát độc lập của một cơ quan/ tổ chức độc lập nhằm đảm bảo an toàn, tránh lạm dụng và thương mại hóa trái phép là những câu hỏi đặt ra và chưa có văn bản pháp lý nào quy định rõ ràng.   Như vậy, trong trường hợp Bộ Công an muốn tích hợp dữ liệu ngân hàng, chữ kí số của người dân (từ các đơn vị tư nhân cung cấp) vào chíp điện tử thì chưa đủ cơ sở pháp lý. Hiện nay, tuy đã có Nghị định hướng dẫn tổ chức tín dụng, tổ chức cung cấp dịch vụ chữ kí số khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhưng đây là hình thức khai thác một chiều, đơn vị tư nhân có yêu cầu khai thác đến cơ quan quản lý dữ liệu dân cư và phải được chấp thuận mới được khai thác.   Khuyến nghị giải pháp bảo đảm an toàn dữ liệu cá nhân   Để xử lý các vấn đề nêu trên, bốn nhóm công việc cần được xem xét và thực hiện.   Thứ nhất, để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân và tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, các cơ quan này cần thông báo đến người dân ở hình thức văn bản, phát thanh hay truyền hình về các loại dữ liệu cá nhân được thu thập; công bố quá trình lưu trữ, xử lý dữ liệu cá nhân; công bố các bên thứ ba có thể tiếp cận với dữ liệu cá nhân của công dân.  Thứ hai, khi xây dựng văn bản pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân cần quy định trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần có sự đồng ý của chủ thể là: ‘vì lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu’. Quy định này vừa đảm bảo tính hợp pháp, thuận tiện của việc chia sẻ dữ liệu dân cư giữa các cơ quan nhà nước phục vụ công tác quản lý vừa đảm bảo thuận tiện cho người dân trong giao dịch dân sự hay thực hiện thủ tục hành chính. Tuy nhiên, để tránh tình trạng lạm quyền, cần quy định các trường hợp được coi là ‘vì lợi ích của chủ thể dữ liệu’.      Việt Nam cần có hành lang pháp lý về việc chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công với khu vực tư. Trước tiên, đây là cơ sở để tích hợp thông tin ngân hàng của người dân vào chíp điện tử CCCD như định hướng, tuyên bố của Bộ Công an.      Thứ ba, từ tình hình thực tế pháp luật – xã hội, Việt Nam cần sớm xây dựng văn bản luật chung về dữ liệu cá nhân, trong đó mỗi lĩnh vực chuyên ngành sẽ có quy định cụ thể và tiêu chuẩn ngành riêng phù hợp với quy định chung và của ngành. Hiện nay, Bộ Công an đang triển khai xây dựng Dự thảo về Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân mang ‘dáng dấp’ của văn bản luật chung điều chỉnh về vần đề này nhưng lại chưa đủ ‘tầm’ để bao quát hết các lĩnh vực vì chỉ dựa trên căn cứ pháp lý là Luật An ninh mạng và Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước.  Thứ tư, Việt Nam cần có hành lang pháp lý về việc chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công với khu vực tư. Trước tiên, đây là cơ sở để tích hợp thông tin ngân hàng của người dân vào chíp điện tử CCCD như định hướng, tuyên bố của Bộ Công an. Về lâu dài, đây là cơ sở pháp lý để khai thác dữ liệu lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức, đơn vị tư nhân nhằm tạo ra dịch vụ tốt hơn, phù hợp hơn với mỗi người dân mà vẫn đảm bảo dữ liệu an toàn, không bị bán tràn lan. □       Author                Nguyễn Lan Phương - Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Các con đường đến cửa tử của rừng      Những dự án đường cao tốc mới nổi lên sau đại dịch đang đe dọa sự sống còn các khu rừng của Việt Nam.     Chuyên gia thực vật Võ Quang Trung chỉ tay về dấu tích còn sót lại của cầu Mã Đà được xây trong chiến tranh. Cây cầu nằm giữa địa phận tỉnh Đồng Nai và Bình Phước. Ảnh: Thành Nguyễn.  Võ Quang Trung, 34 tuổi, chuyên gia thực vật của Khu Bảo tồn Văn hóa – Thiên nhiên Đồng Nai, say sưa kể về sự thông minh và tinh nghịch của những chú voi con ở rừng Mã Đà, thuộc khu bảo tồn.  “Ở đây có khoảng 20 con voi hoang dã, là khu vực duy nhất trong cả nước có voi Việt Nam thuần chủng, vì khu rừng không có biên giới với bất kỳ quốc gia nào”, Trung nói.  Vào tháng ba, chính quyền tỉnh Bình Phước, nơi có một phần Mã Đà, đã kiến ​​nghị Thủ tướng Phạm Minh Chính cho phép xây dựng một tuyến đường cao tốc xuyên qua lõi rừng. Nếu dự án được thông qua, đồng nghĩa 44 ha rừng trong khu bảo tồn sẽ bị đốn hạ.  Mã Đà là một phần của khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Bởi vậy, việc xây dựng đường cao tốc này được cho là bất hợp pháp. Nhưng vẫn có khả năng dự án này sẽ thành hiện thực, đẩy số phận của quần thể voi quý hiếm cũng như của Mã Đà phải đối mặt với một tương lai chấp chới. “Không có sự can thiệp của UNESCO, Việt Nam vẫn có đầy đủ các quy định bảo vệ môi trường tự nhiên, nhưng việc thực thi pháp luật thường không hiệu quả lắm”. Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Con người và Sinh quyển của UNESCO cho biết. “Nó [dự án] thậm chí còn không nên có trong suy nghĩ, chứ đừng nói đến việc đưa ra xem xét” ông nói thêm.  Làm sao cứu Mã Đà?  Khu vực xây cầu Mã Đà, đoạn đoạn giáp ranh giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, tháng 6/2022. Ảnh: Thành Nguyễn  Đứng giữa Mã Đà, Trung kể với phóng viên về cánh rừng nguyên sinh của vùng Đông Nam Bộ này: “Khu bảo tồn trải dài hơn 100.000 ha. Nếu may mắn, bạn có thể bắt gặp đàn bò tót đang uống nước gần trảng cỏ… Kia là một con gà gô… Ở đây còn có những con chim già đẫy Java”.    Công trình đường cao tốc không chỉ làm giảm diện tích rừng, mà còn “chia cắt hệ sinh thái, làm mất đi tính liên tục, liên kết hành lang đa dạng sinh học; các loài động vật sẽ mất đi sinh cảnh trú ngụ và gặp nhiều rủi ro do các phương tiện lưu thông”.    “Thế hệ trước của khu bảo tồn đã làm mọi cách để bảo vệ hệ sinh thái này,” Trung nói về những đồng nghiệp trước đây của mình, nhiều người đã đổ máu do bị lâm tặc nổ súng tấn công. “Bây giờ tôi và các đồng nghiệp tiếp tục truyền thống này”.  Mã Đà được giữ gìn nguyên vẹn đến ngày hôm nay là nhờ quyết định cứng rắn của tỉnh Đồng Nai. Chính quyền tỉnh này đã đóng cửa rừng Mã Đà, ngưng cấp phép khai thác gỗ từ năm 1996. Ban quản lý khu bảo tồn nhận xét, quyết định này của tỉnh vô cùng cấp thiết nhằm bảo vệ các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, cũng như bảo tồn, phục hồi nhiều khu vực đã bị tàn phá trong chiến tranh và giai đoạn sau đó. Đây cũng được coi là hành động mang tính tiên phong ở Việt Nam vì mãi đến năm 2016, chính phủ mới ra lệnh cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên trên cả nước.  Một barrie đặt tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, trước lối vào khu vực cầu Mã Đà, đoạn giáp ranh giữa tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, tháng 6/2022. Ảnh: Thành Nguyễn  Đây không phải là lần đầu tiên tỉnh Bình Phước đề xuất một dự án đường cao tốc như vậy. So với tuyến đường hiện tại, tuyến cao tốc sẽ rút ngắn hơn 60 km từ tỉnh này đến sân bay Long Thành và cụm cảng biển nước sâu Cái Mép – Thị Vải. Riêng đoạn cao tốc chạy xuyên qua lõi rừng dài 40 km. Báo của tỉnh ví lối đi tắt này như kênh đào “Panama của Bình Phước” – “một lối đi tắt mang lại nhiều thuận tiện, cơ hội phát triển không chỉ riêng cho Bình Phước mà cả khu vực” miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, mặc cho nhiều lần thuyết phục, tỉnh Đồng Nai vẫn kiên quyết “không chấp thuận” với lí do bảo vệ rừng. Bởi vậy, trong suốt 20 năm qua, dự án nhiều lần được nhắc đến rồi lại bị xếp xó.  Bò tót ở Mã Đà. Ảnh: Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai  Đến giờ, Bình Phước vẫn kiên trì theo đuổi dự án này. Nhất là khi nó có cơ hội lớn trở thành một trong những cơ sở hạ tầng trọng điểm được đầu tư trong chiến lược phục hồi kinh tế sau đại dịch, làm “vốn mồi” để thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân. Chiến lược này sẽ bao gồm 500 nghìn tỉ đổ vào 1.900 km đường cao tốc mới. Báo điện tử chính phủ cho biết: “Chưa bao giờ chúng ta dành nguồn lực lớn như vậy cho các dự án cao tốc – dự kiến hoàn thành trong các năm 2025-2026.”  Sau chuyến thị sát Mã Đà, Thủ tướng Phạm Minh Chính vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng về số phận của khu rừng. Nhưng ông yêu cầu “triển khai các dự án ngắn nhất có thể, hiệu quả nhất, giải phóng mặt bằng ít nhất, ít ảnh hưởng tiêu cực nhất”. Ông đề nghị Bộ GTVT, chính quyền tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và các cơ quan liên quan bàn bạc, thống nhất phương án quy hoạch.  Mái nhà của hàng nghìn loài động vật và thực vật một lần nữa bị đe dọa dù ban quản lý khu bảo tồn đã phản đối dự án kịch liệt ngay từ đầu. Họ đánh giá, công trình không chỉ làm giảm diện tích rừng, mà còn “chia cắt hệ sinh thái, làm mất đi tính liên tục, liên kết hành lang đa dạng sinh học; các loài động vật sẽ mất đi sinh cảnh trú ngụ và gặp nhiều rủi ro do các phương tiện lưu thông”.  “Lâm tặc vốn càng lúc càng tinh vi và manh động, con đường sẽ tạo thêm thuận lợi cho những người này dễ dàng ra vô rừng săn, bẫy thú quý hiếm”, Trung nói. “Khu bảo tồn không đủ nhân lực để bố trí nhiều chốt chặn giám sát trên suốt 40km” .  Những Mã Đà khác…  Không phải một mình Mã Đà hứng chịu sự đe dọa từ những dự án cao tốc. Đầu tháng bảy vừa qua, sau những trận lũ bất thường tàn phá miền Trung ngay giữa mùa khô năm nay, tất cả thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn thống nhất xóa sổ hơn 1.000 ha rừng để làm cao tốc Bắc – Nam. Đáng chú ý, Ủy ban không có thẩm quyền ra quyết định này theo luật lâm nghiệp, thay vào đó phải là Quốc hội. Nhưng cuối năm ngoái, trước áp lực phải hoàn thành các dự án trọng điểm quốc gia càng nhanh càng tốt, Chính phủ đã đề nghị Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thẩm định kế hoạch giải tỏa rừng. Phóng viên đã liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng không nhận được phản hồi tại thời điểm viết bài.    “Thật xa vời khi nghĩ rằng những cây mới có thể thay thế cho những khu rừng đã mất. […]Phải mất hàng trăm năm mới hình thành nên một hệ sinh thái rừng tự nhiên – có tiền không có nghĩa là bạn có thể mua được” – Ngô Văn Hồng.    Các chuyên gia cảnh báo quyết định san ủi rừng dọc các tỉnh Duyên hải miền Trung một cách vội vàng phục vụ cho cao tốc có thể tàn phá sinh thái, đem lại nhiều rủi ro cho người dân nơi đây.  Theo dữ liệu của Global Forest Watch, một ứng dụng web nguồn mở theo dõi tình hình các khu rừng trên thế giới theo thời gian thực, các tỉnh có đường cao tốc đi qua ở Việt Nam là những nơi bị mất rừng nhiều nhất trong những năm gần đây. Đây cũng là những nơi hứng chịu bão lụt, sạt lở đất và hạn hán thường xuyên nhất Việt Nam.  Ruộng rẫy đều chìm dưới lòng hồ Thủy điện Buôn Tua Srah, người dân phải phát rẫy tại khu vực đệm Rừng đặc dụng Nam Ka, huyện Lăk, Đăk Lăk,tháng 7.2016. Ảnh: Thành Nguyễn  Phùng Đức Tùng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong, cho biết cao tốc Bắc Nam vô cùng cần thiết với đất nước, bởi nó sẽ giúp giảm chi phí logistics của Việt Nam, vốn đang cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu. Tuy nhiên, anh cũng lưu ý rằng, miền Trung là khu vực rất nhạy cảm với biến đổi khí hậu: “Cần đánh giá tác động môi trường một cách độc lập và kỹ lưỡng đối với các dự án ảnh hưởng đến hệ sinh thái ở khu vực này. Đại dịch Covid-19 đã cho thấy sức chống chọi với rủi ro và thiên tai của người dân miền Trung rất thấp do khả năng kinh tế hạn hẹp. Thêm một sự biến đổi môi trường nào ở đây, là đặt thêm gánh nặng lên vai người dân”.  Kể cả rừng sản xuất, nơi tạo ra sinh kế cho nhiều hộ gia đình miền Trung, cũng sẽ phải nhường đất cho cao tốc. “Mất đất trong lúc không có sinh kế thay thế, có thể sẽ dẫn đến rủi ro là người dân ‘đói đất’ tiếp tục xâm lấn rừng tự nhiên để ‘tìm’ đất sản xuất”, Nguyễn Hải Vân, một nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Địa lý và Phát triển Bền vững của Đại học Lausanne (Thụy Sĩ), đồng thời là Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên Nhiên cảnh báo. “Các báo cáo tác động môi trường của Việt Nam chưa thể tính toán đầy đủ những tác động và hệ luỵ gián tiếp tích lũy này”.  Theo Tổng cục Lâm nghiệp, trung bình mỗi năm, Việt Nam mất 2.430 ha rừng. Chỉ tính từ 2012 – 2017, diện tích rừng tự nhiên bị mất do phải nhường đất cho các dự án được cấp phép chiếm gần 90% tổng diện tích rừng bị mất, gấp gần chín lần các hành vi phá rừng trái pháp luật. Và điều này đang có xu hướng gia tăng.          Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2012-2017, 38.000 ha rừng bị mất do các dự án phát triển kinh tế. Nhưng chỉ tính riêng năm 2017-2020, con số này đã tăng gần gấp đôi, lên 60.000 ha. Nhiều dự án trong số này thuộc lĩnh vực hạ tầng giao thông, thủy điện và du lịch.          Thất bại trong trồng rừng thay thế  Về mặt pháp lý, chủ đầu tư dự án phải có nghĩa vụ trồng lại rừng thay thế cho phần đã chặt bỏ, hoặc nộp kinh phí trồng rừng cho nhà nước. Tuy nhiên, chưa chắc những cây trồng thay thế đã đủ khả năng khỏa lấp cho mất mát của tự nhiên. Ngô Văn Hồng, chuyên gia lâm nghiệp kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức bản địa và Phát triển cho biết: “Thật xa vời khi nghĩ rằng những cây mới có thể thay thế cho những khu rừng đã mất”.  Hầu hết các dự án trồng rừng đều thất bại. Nhiều cây giống bị chết do không phù hợp với thổ nhưỡng địa phương hoặc không được chăm sóc đúng cách. Tệ hơn, các nhà đầu tư và chính quyền địa phương thường trồng lại bằng cây keo và bạch đàn – những loại cây chỉ có giá trị kinh tế mà không phải giống bản địa, có khả năng giữ đất, giữ nước kém. Ngoài ra, do khó tìm được khoảnh đất trống đủ rộng, diện tích trồng mới thường nằm rải rác, không thể thành rừng.  “Lẽ ra chủ đầu tư và chính quyền địa phương nên phối hợp với các tổ chức có chuyên môn trồng rừng để làm việc này. Chính quyền cũng cần cởi mở hơn để người dân, các tổ chức xã hội tham gia giám sát dự án”, Hồng đề xuất.  Đáng chú ý, cộng đồng bản địa chịu tác động từ dự án có thể sẽ không được thụ hưởng sự đền bù này. Theo luật Lâm nghiệp, việc trồng rừng thay thế có thể phải thực hiện ở một điểm cách xa nơi cũ, hoặc có thể ở địa phương khác nếu địa phương bị mất rừng không bố trí được quỹ đất. Tổng cục Lâm nghiệp cũng nhắc lại kế hoạch này ở dự án cao tốc Bắc-Nam.  “Cuối cùng, họ [người dân bản địa] không còn được tán rừng nào bảo vệ,” Hồng nói. “Phải mất hàng trăm năm mới hình thành nên một hệ sinh thái rừng tự nhiên – có tiền không có nghĩa là bạn có thể mua được”.  Tại Hội nghị COP 26 ở Glasgow năm ngoái, Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố rằng Việt Nam không chỉ cam kết mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà cùng với Indonesia, trở thành quốc gia thứ hai ở Đông Nam Á ký kết chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030 .  Theo chuyên gia Hải Vân, để đạt được các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, Việt Nam không nên chỉ dừng lại ở việc đền bù rừng bị mất. Chị nói: “Trong tất cả các quyết định phát triển, chính phủ cần đặt ra mục tiêu ‘không phá rừng’ và thậm chí là hướng tới ‘đảm bảo rừng tăng trưởng dương’”.  Vào tháng sáu, UNESCO đã cảnh báo sẽ thu hồi danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai nếu cao tốc Mã Đà được thông qua. Bộ GTVT cũng đã kiến ​​nghị Thủ tướng Chính phủ từ chối dự án vì “vi phạm nhiều luật” và đề xuất xem xét các phương án khác không đi xuyên lõi rừng.  Mặc dù được bảo vệ bởi cùng một khung pháp lý và quy định, nhưng rừng ở Việt Nam đã có những số phận khác nhau. Chính phủ vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng liên quan đến cao tốc Mã Đà, nhưng chính quyền tỉnh Đồng Nai vẫn xác quyết phản đối dự án. Mã Đà tạm thời bình an vô sự.  “Rừng Mã Đà vẫn còn nguyên vẹn là nhờ sự ủng hộ từ nhiều phía, đặc biệt là từ chính quyền tỉnh. Không phải ở đâu cũng may mắn như chúng tôi ”, Trung nói khi đang đứng ở một chốt kiểm lâm. Cách đó khoảng 1km, bên kia sông thuộc địa phận tỉnh Bình Phước, nhiều rừng tự nhiên đã không còn nữa, thay vào đó là những hàng cao su bạt ngàn.□  —–  Bản Tiếng Anh của bài viết đầu tiên được đăng trên Mekong Eye và Tia Sáng được phép xuất bản phiên bản Tiếng Việt. Bài viết nhận được sự hỗ trợ của Mạng lưới báo chí Trái đất của Internews.     Author                Võ Kiều Bảo Uyên        
__label__tiasang Các cường quốc hải dương, tuyến thông thương và hiểm lộ trên biển      Biển và đại dương ngày càng quan trọng hơn trong đời sống nhân loại vì nhiều lý do ngoài không gian sinh tồn, nguồn nguyên nhiên liệu và cơ hội thông thương. Quốc gia nào nắm sức mạnh trên biển sẽ có cơ may hạn chế nguy cơ chiến tranh trên bộ cho mình.     Các cuộc đối đầu thay bậc đổi ngôi trong suốt chiều dài lịch sử cận đại đã đầy dẫy những trận đánh trên bộ long trời lở đất, tuy nhiên, hầu hết đều đã được quyết định bằng sức mạnh hải quân(1). Nhiều cuộc chiến chống xâm lược của Việt Nam từ thời Ngô Quyền đến thời nhà Trần, Lê, Nguyễn và cả các cuộc chiến về sau của Việt Nam đều bắt đầu và kết thúc phần lớn với vai trò của hải chiến và hải quân.  Các chiến lược gia có tầm nhìn thế giới như Sa Hoàng Peter Đại Đế, Thống Chế Sergey Georgiyevich Gorshkov( Liên Xô), Alfred Thayer Mahan (Mỹ), Minh Trị Thiên Hoàng (Nhật) đều dành nhiều tâm huyết cho sức mạnh trên biển. Thủ Tướng Ấn Độ Nehru cũng đã xác định “Để được an ninh trên lục địa, chúng ta phải thống lãnh biển khơi.”(2)  1-    Cường quốc biển và cường quốc hải dương  Giới quan sát hải dương thường dùng cả hai thuật ngữ sea power (cường quốc biển) và maritime power (cường quốc hải dương) để chỉ quốc gia có sức mạnh trên biển. Tuy nhiên cường quốc biển thường được hiểu là nước có sức mạnh hải quân mà thôi. Tuy vậy đôi lúc hai thuật ngữ này cũng được dùng tương đương nhau. Theo Mahan, chiến lược gia hải dương của Mỹ, cường quốc biển (sea power) nhằm mô tả một quốc gia “có năng lực nhà nước nhằm sử dụng biển khơi. Điều này tùy thuộc vào số lượng tàu hải quân, đội thương thuyền, đội tàu ngư nghiệp và khám phá hải dương, hệ thống tiện ích cảng, công nghệ đóng tàu, hệ thống tài chính và bảo hiểm hàng hải.”   Theo Mahan, để nắm ưu thế trên biển thì một cường quốc hải dương sẽ phải bảo đảm ba yếu tố hải quân mạnh, thương mại phát triển và hệ thống các căn cứ. Tuy nhiên triết lý để thống trị biển của Mahan về sau phát triển thành các nhân tố: 1) vị trí địa lý, 2) thực lực vật chất, 3) độ kéo dài của lãnh thổ, 4) dân số (độ lớn và đặc tính dân chúng, tinh thần hướng biển và khả năng hấp thu khoa học kỹ thuật biển), 5)đặc điểm dân tộc và 6) đặc điểm chính quyền.(3)    Tác giả Vijaya Sakhuja phát triển đẳng thức Ray S.Live(4)  Pp= (C+E+M)(S+W)   lên một mức khác gắn liền với sức mạnh hải dương là   Pmp=(G+E+M+T)(S+W) với các thành phần như sau  Pmp= perceived maritime power (sức mạnh hải dương)  C= Critical Mass=Population+Territory (Số đông quyết định= Dân Số+ Lãnh Thổ)   E= Economic capability (năng lực kinh tế)  M=Military capability (sức mạnh quân sự)  S= Strategic purpose (mục tiêu chiến lược)   W= Will to pursue national strategy (ý chí mưu cầu chiến lược quốc gia)  P= Power =S+W (sức mạnh =mục tiêu chiến lược +ý chí mưu cầu)   Và G= Geographical factors (Địa thế)      Sức mạnh của một cường quốc hải dương sẽ là một sức mạnh tổng hợp của đoàn kết nhân dân, của nền kinh tế, sức mạnh võ trang, của mục tiêu chiến lược và ý chí thực hiện các mục tiêu ấy.       Các tác giả còn có những phân tích đối với các nước không phải là các cường quốc biển nhưng hưởng lợi tối đa từ kinh tế biển và không tập trung phát triển năng lực hải quân. Có những quốc gia bậc trung (medium power) kết liên minh với các cường quốc hải dương để tận thu các nguồn lợi hải dương, tìm kiếm lợi cho nền kinh tế đất nước.     2-    Tầm quan trọng của SLOC và các hiểm lộ trên biển (chokepoints)  Các tuyến thông thương biển (Sea-lines of communication – SLOC) là những con đường hàng hải chính yếu nối các cảng thương mại, cảng tiếp vận và quân cảng. Các con đường này dễ bị phong tỏa vào thời chiến.  Trong cách mạng Mỹ và trong các cuộc chiến Napoleon, hầu hết các SLOC nằm trong tay Hải quân Anh và khi lực lượng này mất kiểm soát các SLOC, họ bị thất thủ Yorktown và sau đó quân đoàn lớn nhất bị đánh tan và rồi thua trận. Trong thời kỳ Napoleon, người Anh phong tỏa các quốc gia liên hệ với Napoleon, làm gia tăng khó khăn đời sống dân Pháp khiến họ mất hết niềm tin vào hoàng đế Pháp.  Vào Thế chiến I và II, hải quân Đức cố gắng kiểm soát các SLOC từ Bắc Mỹ đến và đi Anh quốc bằng tàu ngầm khiến quân Đồng minh phải mang hộ tống hạm và các đoàn convoy ra mở lối khai thông SLOC. Trong Thế chiến II, Hải quân Mỹ đã phong tỏa thành công các SLOC đến Nhật và bóp nghẹt đường sống của đảo quốc nghèo tài nguyên này.  Trong Chiến tranh Lạnh, châu Âu đã phải nhờ cậy nhiều đến Bắc Mỹ do Liên Xô sử dụng chiến thuật đóng chặt các SLOC đến châu Âu để phát huy thế mạnh số đông của họ tại khu vực này.  Các hiểm lộ biển (chokepoints)(5)  Trên thế giới có khoảng 200 eo biển (vùng nước hẹp nối hai vùng nước rộng) hoặc kênh đào, tuy nhiên chỉ có một số ít trong đó có thể được xem như hiểm lộ. Một hiểm lộ là một eo hay kênh có vị trí chiến lược và có thể đóng kín để ngăn cản giao thông thủy cho tàu dầu, tàu buôn, tàu khách hay tàu chiến. Những cuộc phong tỏa này sẽ gây ra khủng hoảng tầm thế giới.(6)  Những eo như eo Gibraltar đã được UNCLOS 1982 bảo vệ để bảo đảm cho tàu bè và phi cơ được tự do thông thương cho tất cả cộng đồng thế giới.  Eo Gibralta: Nằm giữa Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, với một bên gắn với đất liền là thuộc địa Gibraltar của Anh và Tây Ban Nha ở bờ Bắc còn ở bờ Nam là Morocco. Phi cơ quân dụng của Mỹ đã phải bay ngang qua nút cổ chai này (với quyền bay do UNCLOS 1982 quy định) để tấn công Libya vào 1986 vì Pháp không cho Mỹ sử dụng không phận.  Nhiều lần trong lịch sử nhân loại, eo Gibraltar đã bị nghẹt, không thông thương được vì những hoạt động địa chất đến mức nước không thông từ Đại Tây Dương qua khiến cho Địa Trung Hải phải cạn nước. Nhiều tầng muối dưới đáy biển đã chứng minh hiện tượng này đã xảy ra vào nhiều thế kỷ trước.   Kênh đào Panama: được hoàn thành năm 1914, dài 50 dặm Anh, nối liền Đại Tây Dương với Thái Bình Dương và tiết giảm 8000 hải lý cho tàu thuyền đi từ bờ Đông sang Tây Hoa Kỳ. Có khoảng 12 nghìn con tàu băng ngang qua kênh này hàng năm. Hiện nay, kênh thuộc quyền quản hạt của Cộng hòa Panama.  Eo Magellan: Trước khi kênh Panama hoàn thành, tàu thuyền đến và đi hai bờ Đông Tây châu Mỹ phải đi vòng xuống cực nam châu Mỹ. Nhiều nhà hàng hải đã phải bỏ thuyền chạy lấy người khi ngang qua các dòng nước hiểm trở len lỏi giữa các doi đất liền của Chile và Argentina.  Eo Malacca: Nằm trong Ấn Độ Dương, hải lộ quan trọng này là con đường tắt cho các tàu dầu từ Trung Đông đến các quốc gia khát dầu ở vòng cung Thái Bình Dương (đặc biệt là Nhật), băng qua eo biển hẹp mà hai bên là Indonesia và Malaysia. Tổng cộng có gần 42 nghìn tàu thông thương qua đây hàng năm. Tại đây có thông tin cho rằng Hải Quân Việt Nam đã có một căn cứ tàu ngầm khiến Trung Quốc bày tỏ quan ngại.(7)  Eo Bosphorus và Dardanelles: Con đường yết hầu trên biển này nối liền Hắc Hải có các cảng của Ukraina và Địa Trung Hải do Thổ Nhĩ Kỳ nắm giữ.  Kênh Suez: Dài 103 dặm Anh, nằm toàn bộ trong đất Ai Cập và là con đường nối biển duy nhất giữa Hồng Hải và Địa Trung Hải. Đi cùng các căng thẳng Trung Cận Đông, con kênh này là miếng mồi cho nhiều nước dòm ngó kể từ khi hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1869 bởi nhà ngoại giao Pháp Ferdinand de Lesseps. Anh quốc làm chủ kênh này từ năm 1882 đến 1922. Ai Cập quốc hữu hóa vào năm 1956. Trong cuộc chiến Sáu Ngày 1967, Israel chiếm giữ kênh này nhưng sau đó đã lui binh để thương lượng hòa bình. Hình 7. Kênh Suez  Eo Hormuz: Địa danh cổ họng này đã trở nên quen thuộc trong cuộc chiến Vùng Vịnh 1991. Eo Hormuz là một điểm xung yếu trên con đường SLOC vận chuyển dầu lửa huyết mạch ra khỏi vịnh Ba Tư. Eo biển này hiện được Hoa Kỳ và đồng minh kiểm soát. Eo biển này nối Vịnh Ba Tư và Biển Ả Rập và được bao quanh bởi Iran, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập.  Eo biển Bab el Mandeb: Tiếng Ả Rập có nghĩa là Cổng nước mắt. Eo biển này kết nối Hồng Hải và Ấn Độ Dương, eo Bab el Mandeb một hoa dung đạo cho vận tải hàng hải giữa Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương được bao quanh bởi Yemen, Djibouti, và đất nước non trẻ Eritrea.  Tại Đông Nam Á, nếu kênh đào Kra được cho phép sử dụng như một lựa chọn thay thế cho eo Malacca, các khả năng ảnh hưởng đến kinh tế, môi trường cũng cần được xem xét để tận dụng cao nhất lợi ích cho hòa bình và phát triển khu vực.     Nói về các hiểm lộ trong lịch sử Việt Nam, người Việt đã từng xử lý các trận chiến lớn bằng quân bộ như tại nút thắt cổ chai Chi Lăng năm 1427, hoặc bằng thủy hải quân tại yếu huyệt Bạch Đằng (938,981 và 1288), Xoài Mút (1785), hoặc bằng thủy bộ kết hợp trong chiến thắng phòng tuyến Như Nguyệt (1077)- điểm then chốt chặn mọi nẻo tiến quân vào Thăng Long. Đáng lưu ý là hải quân Trung Quốc với thuyền lớn đều đi từ của biển vào, còn quân Đại Việt những lần trên đều dựa vào thế trận nửa nước nửa bờ.   Cũng tại một chokepoint khác của biển Việt Nam, quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã có một trận thư hùng quyết định chiến trường vào năm 1801 tại cửa Thị Nại mà người đời sau gọi đó là Xích Bích của Việt Nam.(8) Hiểm lộ Thị Nại cũng là nơi vua Trần Duệ Tông tử trận trong trận phạt Chiêm năm 1377.   3-    Biển Việt Nam- vùng biển vì hòa bình   Biển Việt Nam, tức biển Đông Nam Á bao bọc đất nước Việt Nam và gắn liền với dân tộc từ khi lập nước ngay cả trong tên gọi đất “nước”. Để là một cường quốc hải dương và thực hiện thành công mục tiêu 2020, 55% GDP là từ biển, người Việt sẽ phải thực hiện nhiều việc hơn đẳng thức của Vijay, nhiều việc hơn bộ ba hay bộ sáu của Mahan. Quan hệ hữu hảo của hải quân và nhân dân Việt Nam với một số nước trong thời gian gần đây là những võ khí bảo vệ SLOC, khai thông hiểm lộ và chính là đóng góp to lớn của Việt Nam vào tự do giao thông hàng hải và hòa bình khu vực.   Những đúc kết của thế giới về SLOC và hiểm lộ cho thấy có nhiều cách thức để cân bằng lực lượng trên biển nhằm vãn hồi, duy trì hòa bình và phát triển giàu mạnh chứ không phải dựa vào số đông quân lực, số nhiều trang thiết bị, độ dài của hàng không mẫu hạm, độ to của dàn khoan. Trớ trêu của lịch sử là những khẩu đại bác khổng lồ không cứu vãn thế trận của phát xít Đức(9).     Việt Nam có một SLOC đi ngang và có nhiều hiểm lộ để vươn tầm ngoài Malacca vì độ quan trọng của SLOC sẽ quyết định số lượng của các điểm trọng yếu khác, ngoài hiểm lộ.  Tiến hành xây dựng hơn 3.000km bờ biển cùng tất cả các đảo trong quyền kiểm soát trở thành những địa điểm văn hóa, du lịch, trung tâm ngư nghiệp có giá trị kinh tế biển cao đồng thời với bảo đảm khả năng phòng thủ là nâng cao sức mạnh Việt Nam. Sức mạnh mềm của một “eo Việt Nam” tương lai (10) sẽ là một phần quan trọng trong sức mạnh tổng hợp của đất nước. Trong nỗ lực vì hòa bình như tên gọi của đại dương này, những thông tin về SLOC và các hiểm lộ có lẽ cũng cần thiết cho ngư dân, cho giới kinh doanh và những ai quan tâm đến công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc.  —  (1) Jurgen Schwarz, Wilfried A. Herrmann, Hank Frank Seller – Maritime Strategy in Asia – White Lotus- 2002, trang 19  (2) Arthur Hellman,”The Eagle and the Elephant”, Wall street Journal, 7 March 2006  (3) Vijay Sakhuja- Asian Maritime Power in the 21 st Century- Institute of South Esat Asian Studies- 2011, trang 21,24  (4) Jurgen Schwarz, Wilfried A. Herrmann, Hank Frank Seller- Maritime Strategy in Asia – White Lotus- 2002, trang 24  (5) Jean-Paul Rodrigue, Straits, Passages and Chokepoints  A Maritime Geostrategy of Petroleum Distribution< http://people.hofstra.edu/jean-paul_rodrigue/downloads/CGQ_strategicoil.pdf> 20/09/2011  (6) Matt Rosenberg and The Mining Co.Com, Inc., Chokepoints<http://geography.about.com/library/weekly/aa052597.htm> đọc 08/08/2011  (7) VOA, Giới chức Trung Quốc ‘quan ngại’ việc VN mua tàu ngầm,<http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam-china-03-01-2010-85810312.html> đọc 19/8/2011  (8) Quốc Lê, Đất Việt, Biển Lửa Thị Nại, Trận Xích Bích của Người Việt <http://m.baodatviet.vn/Home/QPCN/Bien-lua-Thi-Nai–tran-Xich-Bich-cua-nguoi-Viet/20119/165389.datviet>, ngày 21/09/2011  (9) Siêu Pháo Khổng Lồ To Nhất Thế Giới <http://www.dulichvietnam.com.vn/PortletBlank.aspx/6DA01F2CE29B40EC991FE12EDBB70353/View/Chuyen-la/Sieu_phao_khong_lo_to_nhat_The_gioi/?print=350527980> đọc 21/09/2011  (10) Todd Kelly, Vietnamese Claims to the Truong Sa Archipelago  [Ed. Spratly Islands]<http://www.hawaii.edu/cseas/pubs/explore/todd.html> 22/09/2011         Author                Quản trị        
__label__tiasang Các môn chung- một vấn đề của ĐH thời hội nhập      Theo Hiệp định WTO và Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), chúng ta không hạn chế việc các trường đại học nước ngoài vào đầu tư mở trường ở Việt Nam. Nhưng có một vấn đề chúng ta cần phải đặt ra để suy nghĩ và tìm giải pháp thích hợp, đó là chương trình đào tạo của các trường đại học nước ngoài với các trường đại học trong nước khác biệt nhau khá xa. Tạm chưa nói đến các môn khoa học chuyên ngành, trong bài viết này, tôi chỉ bàn về các môn học chính trị (bao gồm Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh) và Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng. Đây là mảng có những sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học của ta và của nước ngoài (bao gồm các trường ở nước ngoài và trường nước ngoài đặt ở Việt Nam).    Trong chương trình đại học Việt Nam, thời lượng học các môn này là từ 20 đến 24 đơn vị học trình, tùy ngành, tức là từ 300 đến 360 tiết. Từ trước đến nay, không ít người cho rằng những môn này rất căn bản, rất cần thiết, nhưng trên thực tế, chúng không có trong chương trình của phần lớn các trường đại học nước ngoài. Sự chênh lệch khoảng 300-400 tiết so với chương trinh đại học nước ngoài là một trong những lý do khiến bằng cấp của ta khó được các nước công nhận. Ngược lại, về phía ta, liệu chúng ta có công nhận bằng cấp của các sinh viên tốt nghiệp đại học nước ngoài công tác tại Việt Nam không, nếu anh chị em này thiếu hụt mấy trăm tiết học các môn chung như đã nói? Chúng ta phải đặt ra vấn đề này vì một sinh viên tốt nghiệp trường đại học trong nước học đến gần 400 tiết các môn này cũng được sử dụng ở các cơ quan, doanh nghiệp hệt như người tốt nghiệp các trường đại học nước ngoài không học chúng. Đây là một sự không công bằng đối với cử nhân được đào tạo từ các nguồn khác nhau. Cho nên, theo tôi, đã đến lúc Bộ Giáo dục & Đào tạo và các cơ quan liên quan cần xem xét lại sao cho thấu đáo.  Nếu quan niệm đây là những môn mà nhất thiết công chức của Việt Nam phải học thì chúng ta có thể đào tạo họ trong các chương trình ở Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và các trung tâm giáo dục quốc phòng. Trước khi thi vào ngạch công chức, các ứng viên cần phải học qua các môn học đó. Ứng viên xin vào làm việc tại các doanh nghiệp, các đơn vị khác thì không nhất thiết phải học những môn này. Còn nếu quan niệm các môn học này là bắt buộc đối với tất cả những người có trình độ đại học thì cũng phải nghĩ đến chuyện bổ túc kiến thức cho sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học nước ngoài trước khi tuyển dụng họ vào làm việc ở tất cả các cơ sở của Việt Nam, từ cơ quan nhà nước cho đến doanh nghiệp quốc doanh, tư doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  Tuy nhiên, trên thực tế, ta chỉ có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, xã hội v.v… của Việt Nam, thậm chí các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam thực hiện điều kiện nói trên, chứ không thể yêu cầu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thậm chí các doanh nghiệp tư nhân làm như vậy. Đây là một bài toán đặt ra mà Bộ Giáo dục & Đào tạo phải giải quyết.  Riêng về phần mình, tôi nghĩ rằng để những người có trình độ đại học có một nhận thức luận đúng đắn thì họ cần được nghiên cứu các môn đã nêu, nhưng nên đưa các môn riêng rẽ đó vào khuôn khổ những môn có phạm vi rộng lớn hơn, như là một bộ phận của môn học chung đó. Chẳng hạn Triết học Mác – Lênin có thể được giảng dạy trong các chương trình triết học nói chung hoặc là Lịch sử triết học; Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể đưa vào dạy trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có thể đưa vào Lịch sử Việt Nam giai đoạn hiện đại; Kinh tế chính trị có thể nhập vào môn Lịch sử các học thuyết kinh tế v.v… Vê môn Giáo dục thể chất thì nội dung của nó cần được cải tiến cho thiết thực hơn, và tốt nhất là chuyển thành giáo dục ngoài giờ thông qua hình thức câu lạc bộ – câu lạc bộ bóng bàn, câu lạc bộ điền kinh, câu lạc bộ bơi lội v.v…. Môn học này cần được sinh viên hào hứng đón nhận với niềm say mê chứ không nên thành nỗi khiếp sợ của nhiều người. Còn về môn Giáo dục quốc phòng thì nó có thể dạy ở các trung tâm Giáo dục quốc phòng có đầy đủ điều kiện, không chỉ cho sinh viên mà cho toàn bộ thanh niên. Số giờ dạy các môn nói trên cũng cần được tính toán một cách hợp lý. Theo tôi, đó là một cách giải quyết để ít nhất chương trình của chúng ta có những phần tương thích với chương trình của nước ngoài. Đây là một vấn đề đặt ra khi ngành đại học của chúng ta hội nhập với thế giới.      GS.TS Nguyễn Minh Thuyết      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà chính trị Pháp đi thi (lại) tú tài môn triết      Theo đề nghị của báo Le figaro, một số nhà  chính trị Pháp đã đồng ý “thi lại” môn triết với đề thi: “Chính trị có  được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?”      Ngày 17/6, toàn nước Pháp bắt đầu kỳ thi tú tài (tương đương với thi tốt nghiệp phổ thông trung học ở ta). Theo truyền thống kỳ thi bắt đầu bằng môn triết, cho tất cả thí sinh, được chia làm ba ban: “S” (Scientifique, định hướng đi về Khoa học tự nhiên), “ES” (Economique et Sociale, Kinh tế và Xã hội), và “L” (Littéraire, Văn, định hướng về khoa học xã hội-nhân văn).    Đề thi Triết cho ba ban năm nay như sau (chọn một trong hai đề):    Ban Khoa học:    – Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?  – Có phải một tác phẩm nghệ thuật lúc nào cũng có một ý nghĩa?    Ban Kinh tế – Xã hội:    – Nghệ sĩ đưa ra một điều gì để hiểu chăng?  – Phải chăng ý thức của cá nhân chỉ là phản ánh của xã hội trong đó cá nhân ấy sống?    Ban Văn:    – Có phải tôi là con người mà quá khứ của tôi đã làm ra tôi?  – Tôn trọng mọi sinh vật có phải là một bổn phận đạo đức?    Ngoài ra thí sinh cũng có thể chọn viết một bài luận về một đoạn văn của Cicéron (ở Ban Khoa học), của Spinoza (ở Ban Kinh tế-xã hội), của Tocqueville (ở Ban Văn).    Vẫn như thường lệ, các đề thi tú tài triết thu hút sự quan tâm lớn của dư luận xã hội. Theo đề nghị của báo Le Figaro, một số nhà chính trị Pháp đã đồng ý “thi lại” môn triết với đề thi: “Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?”    Aurélie Filipetti, cựu bộ trưởng Bộ Văn hóa (đảng Xã hội) nói: “Tôi thấy đây là một đề hay. Là thời sự vĩnh cửu của chính trị. Đây là mối quan hệ giữa hành động và đạo đức. Đề tài đầy tính thời sự.”    Đối với nhiều người, câu trả lời hẳn đã rõ ràng. Jean Pierre Chevènement tuyên bố “Không, chính trị không được thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật. Hãy nhớ lại cuốn sách của Pierre Mendès France, Sự thật dẫn đường cho những bước đi lớn của họ. Đấy là lịch sử của những nhà cộng hòa lớn đã làm nên nước Pháp hiện đại. Họ dựa trên một nền giáo dục tập thể chân chính và nhận được một sự ủng hộ vững chắc của nhân dân. Sự thật, đấy là chọn lựa tốt, và không phải ai cũng ngang tầm được với nó.”     Trên Twitter, Fançois Fillon phản ứng: “…Tuy nhiên họ biết rõ về điều này: giữa sự thật và chính trị, các quan hệ thường rất căng thẳng…”     Nhưng nhiều người khác thì nghiêm khắc hơn trong lập luận của mình. Philippe de Villiers cho rằng “nếu chính trị thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật, thì nó sẽ chết vì điều đó, và đấy đúng là trường hợp hiện nay. Chính trị, chính trị thật sự, phải được thiết lập trên sự tôn trọng đặc quyền đối với lợi ích chung. Trong các thời kỳ suy thoái, mọi thứ đều trở thành nói dối. Hãy nhớ hô ngữ nổi tiếng của Soljenitsyne: “Thôi, đừng nói dối nữa!”     Benoît Hamon, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục (Xã hội cánh tả) đối lập những người coi hành động chính trị phải “hướng đến cái lý tưởng, và do vậy dấn mình vào một cuộc tìm kiếm sự thật” và những người “nhân danh chủ nghĩa thực dụng, căn cứ vào thực tế” để bằng lòng (với một kiểu hành động) “thích hợp”… Về phần mình, Eric Woerth (Những người Cộng hòa) đưa ra ý tưởng về minh bạch, theo ông là không thể tuyệt đối: “Không phải mọi sự đều phải nói ra hết.”     Rama Yade, thuộc Liên minh Dân chủ và Độc lập, thì thẳng thắn hơn, bà công nhận: “Vâng, chính trị vượt ra ngoài sự bắt buộc của sự thật. Thậm chí tôi sẽ nói rằng nó từ chối điều đó (sự thật). Vả chăng đấy là điều tác động đến tôi nhiều nhất qua kinh nghiệm của tôi. Tôi công nhận và lấy làm tiếc về điều đó, ba lần than ôi!” Bà còn bộc lộ với chúng tôi dàn ý bài bà sẽ làm nếu bà đi thi hôm nay. Trong phần thứ nhất bà sẽ đặc biệt nêu lên rằng “chính trị xử lý một đòi hỏi cao hơn đòi hỏi của sự thật; chẳng hạn ý tưởng về sự cân bằng xã hội”. Sau đó bà sẽ triển khai ý tưởng rằng “điều quan trọng không phải sự thật nói cho đến cùng, mà là sự thật của nó (của xã hội).” Cuối cùng, trong phần thứ ba, bà sẽ bàn về những hệ quả của thực trạng ấy.     Nhiều nhà chính trị được hỏi đã mổ xẻ quá khứ: Laurent Wauquez (Những người Cộng hòa) gầm lên: “Đã ba mươi năm nay rồi chúng ta đã nghĩ nhất thiết không được nói sự thật với người Pháp để mà có thể cai trị đất nước.” Jean-Vincent Placé phê phán “những lời hứa dại dột” của các nhiệm kỳ bảy năm và năm năm đã qua. Về phần mình, từ Liban, Bruno Le Maire khẳng định: “Nói dối, không tôn trọng các cam kết đã làm suy yếu nền chính trị”.    Còn François Bayrou, người đã cho xuất bản cuốn sách Bàn về sự thật trong chính trị, thì giải thích “trong một thời gian dài, người ta đã có thể chủ trương rằng chính trị và sự thật thuộc về hai lĩnh vực, một bên là hiệu quả, bên kia là tiếp cận đạo đức học”. Nhưng “ngày nay, nếu nó xa rời việc quan tâm đến sự thật, thì chính trị trở thành bất lực. Thế giới của Internet cho phép những thẩm tra thường trực”, “sự lột bỏ màn che phủ đó khiến cho nền chính trị vô liêm sỉ mất đi sự ủng hộ của dân chúng”.    Trong dịp này một tờ báo Pháp cũng nhắc lại một câu nói thâm thúy của cố Thủ tướng Anh W. Churchill: “Sự thật (trong chính trị) là một điều quá mong manh, cho đến nỗi người ta phải xây cả một trường thành những lời nói dối để bảo vệ nó!”        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhân tố quan trọng trong cuộc chiến với tham nhũng      Tham nhũng là một trong những vấn nạn lớn  nhất đối với xã hội loài người. Mỗi năm, thế giới đã mất hàng nghìn tỉ  đô la vì tham nhũng, chiếm khoảng 3% GDP của các quốc gia1. Bài viết này sẽ xác định thế nào là tham nhũng cũng như đưa ra các  nhân tố chính trong việc đảm bảo phòng chống tham nhũng có hiệu quả.     Thế nào là tham nhũng?  Theo cách hiểu đơn giản nhất, tham nhũng là “sự lạm dụng quyền lực công” phục vụ cho “lợi ích tư”2.    Tham nhũng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như nhận hối lộ, nhũng nhiễu vì vụ lợi, gian lận, biển thủ, dành ưu ái cho bà con thân thuộc… “Lợi ích tư” (vụ lợi) có thể là tiền, vật có giá trị, lời hứa thăng chức, lời hứa cho con cháu đi du học…  A được coi là tham nhũng khi có hành vi nhận, đồng ý nhận hoặc đề nghị nhận bất kỳ lợi ích nào cho A hoặc bất kỳ người nào vì một việc đã làm hoặc sẽ làm trong khả năng quyền hạn của A3.   Do vậy, suy cho cùng tham nhũng chính là sự lạm quyền. Chống tham nhũng là chống lạm quyền.  Nhà nước pháp quyền (the rule of law), Tính minh bạch (transparency) và Trách nhiệm giải trình (accountability) là những phần không thể thiếu trong việc đẩy lùi sự lạm quyền, tham nhũng. Bởi chính các nhân tố này mới giúp các hình phạt của Bộ luật hình sự áp dụng đối với tham nhũng, chứ tăng lương chỉ là kêu gọi “lương tâm” mà không có chế tài.    Các nhân tố quan trọng trong việc phòng chống tham nhũng    Nhà nước pháp quyền (The rule of law)  Nhà nước pháp quyền giữ vai trò trung tâm trong các thiết chế dân chủ. Tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án…) phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật.   Ba yếu tố tạo nên nhà nước pháp quyền, đó là (1) Tính tối thượng của luật pháp cũng như không có cơ hội cho sự chuyên quyền, (2) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, (3) Hiến pháp như một phần không thế thiếu trong hệ thống pháp luật4.    Các nhân tố này đóng vai trò trong việc bảo vệ lợi ích công cộng, đảm bảo quyền lợi cá nhân cũng như trừng phạt những kẻ lạm quyền. Uslander chỉ ra rằng nơi nào nhà nước pháp quyền yếu, nơi đó càng nhiều tham nhũng5.    Để nguyên tắc nhà nước pháp quyền được thực thi, các quan tòa phải hoàn toàn độc lập khi xét xử mà không bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là bởi các chính trị gia, lãnh đạo của nhánh hành pháp. Thực ra, tham nhũng phổ biến nhất ở nhánh hành pháp (chính phủ).   Trên thực tế, hầu hết các quốc gia, nhánh hành pháp thường “lấn lướt” lập pháp, do vậy tòa án độc lập để soi xét hành vi nhánh này là hết sức quan trọng.   Ở Mỹ, Tổng thống (người đứng đầu chính phủ-nhánh hành pháp) chi phối Nghị viện thông qua các Nghị sỹ cùng đảng (Đảng của tổng thống thường có nhiều ghế hơn các đảng phái đối lập). Nhưng nếu có hành vi lạm quyền, tham nhũng của Tổng thống hay các quan chức chính phủ thì sẽ chịu sự phán xử của các quan tòa độc lập.   Nhiều nước ở khu vực Sahara, Châu Phi, các lãnh đạo của chính phủ có quyền lực tối thượng, họ chi phối hoạt động của các quan tòa. Do vậy tham nhũng được xem như “đại dịch” khắp mọi nơi, và nhà nước được lập nên như cơ hội làm giàu của một số cá nhân lãnh đạo hơn là vì lợi ích người dân6.    Tính minh bạch (Transparency)  Minh bạch được hiểu là người dân được quyền tiếp cận các thông tin chính xác, kịp thời từ phía chính quyền bao gồm thông tin về xã hội, kinh tế và chính trị7.    Để đảm bảo tính minh bạch được thực thi có hiệu quả, (1) các văn bản pháp luật và các chính sách phải được công khai, (2) đảm bảo tính công bằng, hợp lý, nhất quán trong các văn bản pháp luật, (3) phải thông báo các văn bản pháp luật và các sửa đổi đến các bên có liên quan.   Tính minh bạch giúp người dân “biết, bàn và kiểm tra” các hoạt động và chính sách của chính quyền. Thông qua đó, sẽ phát hiện ra sự lạm quyền, tham nhũng cũng như sự yếu kém trong quản lý nhà nước.           Mặc dù nhánh hành pháp (chính phủ) nhận thức  được tầm quan trọng của tính minh bạch nhưng vì các áp lực chính trị và  tính quan liêu nên nhánh này thường kiểm soát thông tin theo ý muốn của  họ. Các quy định pháp luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp sẽ ngăn  cản sự lạm quyền này cũng như giúp người dân nhận thức rõ về quyền được  biết thông tin này.         Tính minh bạch còn yêu cầu các nhân viên cơ quan công quyền phải minh bạch các tài sản của họ. Điều đó sẽ giúp dễ dàng hơn trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng.  Ngoài ra, điều đó cũng giúp người dân quan tâm hơn đến các vấn đề của quốc gia, thúc đẩy thảo luận công khai, tạo ra sức mạnh trong việc đấu tranh với tham nhũng. Cũng chính vì vậy, các quan chức trong cơ quan công quyền luôn sợ hãi bị phát hiện nếu có hành vi tham nhũng.   Quyền tiếp cận thông tin của công dân cần được đảm bảo bằng các quy định của pháp luật, cũng như các cơ chế bảo vệ quyền này được thực thi trên thực tế là thiết yếu.   Mặc dù nhánh hành pháp (chính phủ) nhận thức được tầm quan trọng của tính minh bạch nhưng vì các áp lực chính trị và tính quan liêu nên nhánh này thường kiểm soát thông tin theo ý muốn của họ. Các quy định pháp luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp sẽ ngăn cản sự lạm quyền này cũng như giúp người dân nhận thức rõ về quyền được biết thông tin này.     Trách nhiệm giải trình (Accountability)  Trách nhiệm giải trình là một trong những tiêu chí cơ bản để thẩm định, đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan công quyền. Người giải trình có thể chịu các hậu quả pháp lý như bỏ phiếu tín nhiệm, từ chức…   Trách nhiệm giải trình góp phần quan trọng thúc đẩy bộ máy chính quyền hoạt động có hiệu quả, giảm tham nhũng bởi nó cho phép trừng phạt các chính trị gia đã ban hành các chính sách kém hiệu quả, không hợp lý.   Thông thường, trách nhiệm giải trình được thực hiện thông qua sự ủy nhiệm của người dân cho các dân biểu để yêu cầu nhánh hành pháp chịu trách nhiệm về hoạt động và các chính sách. Nói cách khác, các cơ quan của chính phủ phải công khai chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện sự ủy thác và việc chi tiêu ngân sách.   Trách nhiệm giải trình duy trì tính chịu trách nhiệm của chính phủ và thúc đẩy các nhân viên cơ quan công quyền cam kết với những lời hứa của họ.   Ngoài ra, báo chí và cam kết của các lãnh đạo cấp cao cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh với tham nhũng.   Báo chí cần đưa tin nhanh chóng, trung thực về các hành vi tham nhũng. Để báo chí hoạt động có hiệu quả, sự cần thiết phải sự đa dạng truyền thông như tạp chí, các trang internet…   Với các cam kết của các lãnh đạo cấp cao, những cuộc phỏng vấn hay thăm dò có thể được sử dụng để phát hiện các vụ án tham nhũng của cấp dưới8.   Nhà nước pháp quyền, tính minh bạch, tính chịu trách nhiệm giải trình được xem như là những yếu tố cốt lõi giúp giảm tham nhũng.   Các nhân tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Chẳng hạn như, tính minh bạch sẽ giúp cải thiện trách nhiệm giải trình bởi vì nếu không có sự tiếp cận thông tin chính xác, rõ ràng, kịp thời thì thật khó để xác định các cam kết của những người trong bộ máy chính phủ đã được thực hiện hay chưa.    —  * Đại học Victoria, New Zealand  1 Nwabuzor A, Corruption and Development: New Initiatives in Economic Openess and Strengthed Rule of Law, (Journal of Bussiness Ethics, 2005), trang 1.  2 Yassin El-Ayouty, Combating Corruption for Development: The rule of Law, Transparency and Accountability, trang 3.   3 Luật Hình sự New Zealand 1961, Phần 6. New Zealand được xếp là nước ít tham nhũng nhất thế giới (theo Tổ chức minh bạch thế giới, năm 2011).   4 Botchway F, Good Governance: The Old, the New, the Principles, and the Elements, (HeinOnline, 2000), http://heinonline.org.  5 Uslaner E, Corruption, Inequality, and the Rule of Law, (Cambridge University Press, New York, 2008) trang 227.  6 Yassin E, Combating Corruption for Development: The rule of Law, Transparency and Accountability (Green Publishing Group, 2003), trang 8.  7 Kolstad I, Wiig A, Is Transparency the Key to Reducing Corruption in Resource-Rich Countries? (World Develoment, 2009) tại [2].  8 The World Bank (1999) Assessing political commitment to fighting corruption, trang 2.  9 Lederman D, Loayza N, Soares R, Accountability and Corruption – Political Institutions Matter (2001) trang 8.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thế hệ như là đối tượng nghiên cứu khoa học      Từ lâu, các thế hệ cũng như tên gọi và đặc tính của nó là những vấn đề đã được giới thiệu và phát triển trong giới học thuật cũng như đời sống phương Tây.  &#160;    Ngược dòng thời gian, gốc gác của việc đặt tên thế hệ này có thể nói được bắt đầu từ năm 1926, khi nhà văn nổi tiếng người Mỹ, Ernerst Hemingway, trong cuốn The Sun also rises (Mặt trời vẫn mọc) dùng khái niệm Lost Generation (Thế hệ lạc lõng) để chỉ những người sinh trong khoảng 1883 – 1900 và cho rằng tác giả của cụm từ này là nữ văn sĩ Gertrude Stein. Từ sau đó đã xuất hiện cách cách gọi: Greatest Generation (Thế hệ vĩ đại nhất) chỉ những người sinh trong khoảng 1901 – 1924; Silent Generation (Thế hệ im lặng) chỉ những người sinh trong khoảng 1925-1942; Baby Boomers (Thế hệ trẻ em bùng nổ) chỉ những người sinh trong khoảng 1943-1960; Generation X chỉ những người sinh từ năm 1960 – 1980; và Generation Y chỉ những người sinh từ năm 1981 – 2000.  Và mỗi thế hệ – với tên của mình – lại chuyên chở một đặc tính riêng biệt.Lost Generation – Thế hệ lạc lõng, ngụ ý những người sinh ngay trước và trong Thế chiến thứ nhất và chịu quá nhiều đau khổ bởi chiến tranh. Trong hồi ký “Hội hè miên man”, Hemingway cũng kể, Stein đã nghe được cụm từ này từ chủ ga-ra sửa xe cho bà. Khi một thợ cơ khí trẻ không thể sửa chiếc ô-tô, người chủ ga-ra đã mắng cậu: “Cả lũ bọn mày là génération perdue”. Khi kể lại câu chuyện cho Hemingway, Stein đã thêm vào: “Tất cả bọn trẻ các cậu, những người từng phục vụ trong quân đội, cũng đều như vậy. Các cậu là thế hệ lạc lõng,” Hemingway viết trong cuốn hồi ký.  Còn thuật ngữ Greatest Generation xuất phát từ cuốn sách cùng tên của Tom Brokaw năm 1998. Trong cuốn sách này, Brokaw viết, “tôi tin rằng, đó là thế hệ vĩ đại nhất mà xã hội đã sản sinh ra.” Ông cho rằng, những người đàn ông và đàn bà sinh ra và lớn lên sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trải qua cuộc Đại suy thoái (The Great Depression) và ngay sau đó, lại bị cuốn vào Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã tranh đấu không phải vì danh vọng hay sự thừa nhận mà bởi vì đó là việc đúng phải làm.  Silent Generation chỉ những người chịu nhiều thiệt thòi nhất vì Chiến tranh Thế giới thứ hai, có tính cách an phận – và đó là lý do tại sao họ được gọi là thế hệ lặng lẽ. Cụm từ này được tạp chí Time nhắc đến lần đầu tiên trong một bài báo có tên “Thế hệ trẻ hơn” và chính thức được định danh từ đó.  Baby Boomers có lẽ là thế hệ nổi tiếng nhất, sinh ra sau chiến tranh, có số lượng đông đảo và sản sinh ra nhiều cá nhân xuất chúng.  Những thuật ngữ khác  Nếu như giới phương Tây nói chung thống nhất với nhau những thuật ngữ như Lost Generation, Baby Boomers, Generation X, Generation Y… như đã nói ở trên, thì cũng có nhiều thuật ngữ khác được sử dụng ở những nơi khác.  Tại Trung Quốc, cụm từ Thế hệ post-80s được dùng để chỉ những người sinh sau 1980, đặc trưng bởi tinh thần lạc quan và đầu óc nhạy bén trong kinh doanh.   Tại Hàn Quốc, những thuật ngữ quen dùng có thể kể đến như Thế hệ 386, Thế hệ 1969, Thế hệ 19 tháng Tư – mỗi tên gọi đều gắn liền với sự vận động của lịch sử, xã hội nước này trong nửa sau của thế kỷ XX.   Tại Việt Nam, lâu nay cách gọi thế hệ 7X, 8X, 9X đã trở nên quen thuộc. Xét ở một góc độ nào đó, thế hệ 8X, 9X ở Việt Nam có rất nhiều đặc điểm giống với thế hệ Baby Boomers tại phương Tây: đều sinh sau chiến tranh, số lượng lớn đột biến (so với thế hệ trước), tuổi thơ chịu nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh để lại, mâu thuẫn về tư tưởng với thế hệ cha mẹ (mâu thuẫn giữa một thế hệ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh và một thế hệ sinh ra và lớn lên thời hậu chiến). Trên thực tế, trước khi các khái niệm này trở nên phổ biến, trong đời sống xã hội của nước ta cũng đã phổ biến một vài khái niệm khác như Thế hệ Tây học (chỉ những người đi học ở các trường thuộc hệ thống do Pháp xây dựng trước năm 1954) hay Thế hệ Chống Mỹ cứu nước…  Đối tượng của nghiên cứu khoa học   Các thế hệ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học xã hội (nghiên cứu đặc tính giữa các thế hệ để lý giải sự mâu thuẫn về chuẩn mực, tư tưởng, suy nghĩ của các thế hệ ông /bà – cha/mẹ – con cái) mà là của nhiều ngành.   Trước đây, các nhà giáo dục đã dành rất nhiều công sức nghiên cứu thế hệ Baby Boomers. Bởi sau chiến tranh, thế hệ này sinh ra nhiều đột biến, nhu cầu đi học tại tất cả các bậc học tăng nhanh chưa có tiền lệ, giáo dục chuyển từ tinh hoa sang đại chúng, rồi phổ cập. Không phải nước nào cũng đủ nguồn lực để bao cấp giáo dục, nhất là giáo dục đại học như trước nữa. Vấn đề này không chỉ gói gọn trong lĩnh vực giáo dục mà còn lan cả sang chính sách công.  Và hẳn nhiên các nhà kinh doanh cũng không bỏ qua cơ hội nắm bắt “tâm lý thế hệ” để có những chiến lược phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng của mình. Chiến dịch “bỏ nhãn lon” của Coca Cola thành công rực rỡ trong mấy năm gần đây vì đã đánh trúng nhu cầu “cá nhân hóa” của Thế hệ Y trên phạm vi toàn cầu (hay 8X, 9X ở Việt Nam). Ngược lại, Budweiser, vì không có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời nên đã mất đi vị thế dẫn đầu đối với đối tượng khách hàng thuộc Thế hệ Y, mặc dù trong nhiều chục năm trước đó, đây là hãng bia được ưa thích nhất của thế hệ Baby Boomers.   Mới đây nhất, các nhà nghiên cứu về tâm lý học hành vi trong tiêu dùng lại có một công bố đáng chú ý khi họ phát hiện ra rằng, so với các thế hệ trước, Thế hệ Y ít có nhu cầu tiết kiệm tiền để chi tiêu những khoản lớn (như mua nhà, xe hơi). Thống kê cho thấy, trong năm 2010, cứ 100 người mua ô tô ở Mỹ, chỉ có 27 người ở độ tuổi 21-34 – thua xa con số tương ứng trong 25 năm trước đó (38/100). Đó cũng là lý do tại sao Tạp chí The Atlantic (Đại Tây Dương) lại đặt cho Thế hệ Y một cái tên mới, đầy ẩn ý “Thế hệ rẻ nhất” (The Cheapest Generation). Ngược lại, thế hệ này lại bỏ nhiều thời gian, công sức và tiền của hơn cho những sản phẩm/dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu tinh thần như chờ hàng chục tiếng chỉ để mua bằng được một chiếc IPhone mới hay sẵn sàng trả phí cao hơn để được ngồi uống cà phê Starbuck thay vì quán cà phê thông thường.   Nói tóm lại, các thế hệ cũng như tên gọi và đặc tính của nó là những vấn đề đã được giới thiệu và phát triển trong giới học thuật và đời sống phương Tây; ngược lại, vì nhiều lý do vẫn chưa được biết đến rộng rãi ở Việt Nam. Việc phân tích, nghiên cứu vấn đề này với sự tham gia của các nhà nghiên cứu từ nhiều ngành, lĩnh vực là cần thiết. Đồng thời việc xem xét phân loại các thế hệ như một biến đầu vào cho các phân tích cũng sẽ giúp giải thích nhiều hiện tượng thú vị của xã hội đương đại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng KH&CN trên đất Việt      Đất nước ta vừa trải qua một năm Bính Thân với nhiều biến động và khó khăn. Biến đổi khí hậu và nguồn nước thượng nguồn sông Mekong bị chặn lại đã dẫn đến khô hạn và nhiễm mặn chưa từng có ở đồng bằng sông Cửu Long; lũ lụt dồn dập tàn phá nhiều tỉnh miền Trung; tai họa môi trường do Formosa gây thiệt hai nặng nề cho bốn tỉnh phía Bắc miền Trung. Đây cũng là năm đầu thực hiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), trong đó Việt Nam bộc lộ những yếu kém về năng lực cạnh tranh, dẫn tới xuất khẩu sang các nước ASEAN giảm sút trong khi nhập khẩu từ các nền kinh tế ASEAN tăng vọt. Kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục đối mặt với mất cân đối ngân sách, nợ công tăng cao, hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém…      Thách thức sẽ ngày càng lớn  Trong bối cảnh nhiều khó khăn trên đây, cần ghi nhận những nỗ lực cải cách đã góp phần giúp tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 6,21%; lần đầu tiên trong lịch sử đã có 110.000 doanh nghiệp mới đăng ký và đi vào hoạt động v.v. Tuy nhiên, chúng ta không được phép tự bằng lòng, bởi những thách thức tới đây sẽ càng chồng chất.  Ô nhiễm môi trường của nước ta đã trở nên rất nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế và đời sống của người dân, và dự kiến xu hướng ô nhiễm tới đây sẽ còn trầm trọng hơn.  Sản xuất kinh tế của nước ta vẫn phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ, công nghiệp vẫn là gia công lắp ráp, 70% kim ngạch xuất khẩu dựa vào đầu tư nước ngoài và xét về GDP/người nền kinh tế nước ta đang ngày càng tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực.  Trong năm 2017, toàn cầu hóa đứng trước những biến động khôn lường. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể bị loại bỏ hoặc bị trì hoãn; sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc và các nước ASEAN khác sẽ còn khốc liệt hơn ngay trên sân nhà. Hãy xem, nền kinh tế hùng cường của nước Mỹ cũng đã trả giá đắt cho toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: công nghiệp dệt may, da giày và đồ gỗ của nước Mỹ đã bị phá sản, hàng triệu người bị thất nghiệp. Nếu không nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp thì hiện tượng giải công nghiệp hóa (de-industrialization) như đã diễn ra ở Mỹ hoàn toàn có thể xảy ra ở nước ta trong thời gian tới với những ngành như công nghiệp lắp ráp ô tô hay sắt thép.  Trên thế giới cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự xuất hiện của người máy, trí thông minh nhân tạo, Internet của vạn vật, ô tô điện tự lái v.v. sẽ tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của kinh tế, xã hội và đời sống với tốc độ như vũ bão. Cuộc sống đang thay đổi từng ngày, cái gì còn đúng ngày hôm nay có thể sẽ không còn đúng trong ngày mai. Trước đây, để chụp ảnh ta phải mua phim, mang ra hiệu ảnh rửa phim, in ảnh và trả tiền, ngày nay hằng ngày người ta chụp hàng tỷ bức ảnh bằng kỹ thuật số mà không phải trả một xu nào và, hãng phim Kodak hùng mạnh một thời cũng đã biến mất. Nếu trước kia có thể cần canh tác ba vụ lúa để bảo đảm an ninh lương thực thì ngày nay chỉ có thể làm một vụ lúa và một vụ tôm vì nhiễm mặn bắt buộc phải thích nghi. Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa, chưa hội nhập có thể làm sắt thép mà không phải tính toán đến giá thành thì ngày nay sắt thép phải cạnh tranh ngay trên sân nhà, sản phẩm kém hiệu quả sẽ không thể bán được nữa.      Nếu không nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp thì hiện tượng giải công nghiệp hóa (de-industrialization) như đã diễn ra ở Mỹ hoàn toàn có thể xảy ra ở nước ta trong thời gian tới với những ngành như công nghiệp lắp ráp ô tô hay sắt thép.      Lợi thế về lao động và tài nguyên thiên nhiên giá rẻ của những nước đang phát triển như Việt Nam sẽ ngày càng giảm sút. Người máy và trí thông minh nhân tạo đang thay thế lao động của con người ở rất nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),  trong thời gian tới, khoảng 86% lao động trong công nghiệp may mặc ở Việt Nam sẽ mất việc làm, bị thay thế bằng dây chuyền sản xuất tự động sử dụng người máy và sẽ mất việc làm. Nhiều công việc của luật sư, phân tích kinh tế, tổng hợp tin tức trong ngành báo chí v.v. đã được thay thế bằng người máy và trí thông minh nhân tạo. Thời gian cần thiết để thiết kế công trình giảm 40%, thời gian thi công, bốc xếp và chi phí sản xuất nhiều ngành cũng giảm rất mạnh. Lợi thế của lao động thủ công giá rẻ chỉ còn tồn tại ở một số nghề như cắt tóc gội đầu. Tới đây, chỉ một số loại lao động có chuyên môn cao như bác sỹ chữa răng và ngoại khoa là chưa có nguy cơ bị người máy và trí thông minh nhân tạo thay thế.  Đổi mới là yêu cầu sống còn  Trước những thách thức đó, chào đón Mùa xuân mới Đinh Dậu, yêu cầu khẩn thiết là đất nước ta phải tạo ra một Mùa xuân Đổi mới bằng cải cách và tái cơ cấu sâu rộng về thể chế, kinh tế-xã hội, thực hiện có hiệu quả việc thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để kịp thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Mùa xuân của trời đất sẽ tự nhiên đến, Mùa xuân của Đổi mới và cách mạng KH&CN phải do chúng ta tự tạo ra.  Không cách nào khác, yêu cầu sống còn là chúng ta phải chủ động đổi mới, trọng dụng người tài, khuyến khích sáng tạo, chấp nhận tranh luận giữa những ý kiến khác nhau để tìm giải pháp mới, tạo ra một không khí cầu thị, cởi mở từ nhà khoa học đến người nông dân và doanh nghiệp. Những ý kiến khác nhau nhưng cùng nhằm phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh đều cần được tôn trọng và xem xét một cách thấu đáo. Dũng cảm từ bỏ những nếp suy nghĩ xưa cũ, lạc hậu, không còn phù hợp với sự phát triển mau lẹ của nhân loại là biểu hiện của sự sáng suốt và thức thời  Cụ thể, trong quản lý Nhà nước các chính sách quan trọng đều cần được thảo luận và phản biện một cách khoa học trước khi ban hành và thực hiện để tránh phải trả giá vì những suy nghĩ lỗi thời. Trong kinh tế, cần có quy định chặt chẽ loại bỏ các phương thức kiếm lời theo lối hưởng chênh lệch giá, khai thác tài nguyên thông qua lợi ích nhóm bất chính, thay vào đó phải tạo ra động lực mạnh mẽ thông qua cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích tiến bộ KH&CN, sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới, khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Trong giáo dục, thay vì khuyến khích học sinh phải vâng lời và học thuộc lòng, cần đòi hỏi học sinh tò mò, đặt câu hỏi và học phương pháp suy nghĩ khoa học.      Cỗ xe muốn đi nhanh cần có động cơ mạnh nhưng cũng phải phanh ăn để tránh cho xe lao xuống vực sâu. Cỗ xe kinh tế và KH&CN của nước ta hiện nay động lực chưa mạnh song “cỗ phanh” chế tài còn rất lỏng lẻo.      Trên thực tế, đã có những ví dụ tiên tiến về đổi mới và vận dụng KH&CN rất cần được phổ biến rộng rãi. Trong khi gần đây Hà Nội thí điểm để khoán xe công chín triệu đồng/tháng thì ở Đồng Tháp, đồng chí Bí thư từ nhiều năm nay đã lặng lẽ đi làm bằng xe máy, không cần xe biển xanh, tài xế và chi phí gì của ngân sách, sáng thứ bảy thân mật ngồi uống cà phê với doanh nhân để phát hiện và giải quyết những vướng mắc cho doanh nghiệp – tỉnh Đồng Tháp đã đạt vị trí thứ hai về Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của 63 tỉnh, thành phố, hơn hẳn nhiều đơn vị “đàn anh” khác. Ở Trà Vinh, để giúp người nông dân làm nông nghiệp trong điều kiện xâm nhập mặn, doanh nghiệp Mỹ Lan đã sản xuất và đưa vào ứng dụng cảm biến đo độ mặn của nước sông và khởi động ngay máy bơm nước vào đồng ruộng khi độ mặn giảm xuống dưới mức cho phép.  Chúng ta còn cần rất nhiều những điển hình tiên tiến như vậy trong Nam ngoài Bắc để có thể tạo ra một cao trào Đổi Mới lần thứ hai. Bài học dám tìm tòi giải pháp mới, thực hiện thí điểm trong thực tế để cải cách thắng lợi của công cuộc Đổi Mới 1986 lại càng cần được đề cao và mở rộng hơn bao giờ hết trong bối cảnh cách mạnh công nghiệp và hội nhập quốc tế ngày nay.       Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang Cách mạng và trí thức      Tạp chí Xưa và Nay, số 286, tháng 6 năm 2007 có đăng lại trích đoạn hồi kí viết bằng tiếng Pháp của luật sư, nhà trí thức yêu nước Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) kể lại cuộc gặp gỡ đầy cảm động của ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua họp ở Việt Bắc mùa Xuân năm 1952.        Trong cuộc gặp gỡ này, với một sự chân thành hiếm thấy, luật sư Tường đã tâm sự với vị Chủ tịch nước về hành trình “lột xác” đầy gian khó của mình từ một trí thức thành thị trở thành một trí thức của kháng chiến. Hồ Chủ Tịch đã lắng nghe những ý kiến của ông, một trí thức “không bị giam mình trong một đảng phái chính trị nào, không bị gò bó trong một giáo lí cứng nhắc nào”, trình bày về việc xây dựng Nhà nước của Dân và vì Dân liên quan tới hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội; về việc phân quyền trong bộ máy Đảng và Nhà nước; về vấn đề trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo; về những nguy cơ làm biến chất một chính Đảng khi chính Đảng đó trở thành chính Đảng cầm quyền duy nhất. Trong những ý kiến của ông, nhiều ý kiến còn có giá trị tham khảo cho ngày nay, điển hình như ý kiến cho rằng: “Tất cả mọi vi phạm pháp luật phải dẫn tới trách nhiệm không chỉ chính trị (khai trừ khỏi Đảng), hành chính (cắt chức, hạ chức, cho về hưu) mà còn cả hình sự (tịch thu, tiền phạt, án tù). Phải quyết định trách nhiệm bao giờ cũng là cá nhân vì trách nhiệm tập thể là vô nghĩa. Mọi quyết định đều phải mang một chữ ký, người ký tên chính là người sẽ phải đưa ra xét xử”.   Cuộc trò chuyện của Hồ Chủ Tịch và luật sư Nguyễn Mạnh Tường có thể nói là một hình ảnh tuyệt đẹp về mối quan hệ giữa trí thức và cách mạng. Nó đẹp trong thái độ thành thật và trách nhiệm trí thức của Nguyễn Mạnh Tường. Và nó còn đẹp hơn nữa trong sự lắng nghe của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những ý kiến dẫu có thể còn nhiều bồng bột nhưng hết sức chân thành của một trí thức ngoài Đảng. Đó là thái độ của một người “hiểu rõ giá trị một cương vị, và trên cương vị một lãnh tụ, chịu trách nhiệm về số phận của một dân tộc, mà vì vậy không thể tự cho phép mình, qua một giọng nói nào, một nét mặt nào, một động thái nào của con mắt hoặc bàn tay, biểu thị một dấu hiệu vội vã, nhẹ dạ, tự phát, thiếu suy nghĩ, không tự kiềm chế được và bật ra từ bề sâu tình cảm”.   Sẽ là thừa khi một lần nữa nhắc lại rằng cuộc Cách mạng tháng Tám là cuộc Cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại Việt Nam. Ở đây, tôi chỉ muốn nhắc lại một hiện tượng đặc biệt. Đó là sau Cách mạng tất cả văn nghệ sĩ, thuộc tất cả những trào lưu, trường phái khác nhau và nhiều khi đối lập nhau đều đi theo cách mạng và trung thành với cách mạng cho đến những năm cuối cùng của cuộc đời mình, kể cả những người mà trong cuộc đời đã phải chịu những oan khuất do những sai lầm của lịch sử. Hãy nhớ lại cử chỉ tuyệt đẹp của Hồ Chủ Tịch khi người trao tất cả quyền hành của mình cho chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng trong thời gian người sang đàm phán tại Pháp. Vậy mà trước đó chưa lâu, chính cụ Huỳnh là người có những phê phán hết sức gay gắt chủ nghĩa cộng sản và Đảng cộng sản trên tờ Tiếng dân của cụ. Đâu là cội nguồn của điều kì diệu ấy? Phải chăng chính là niềm tin tuyệt đối trên cơ sở một lí tưởng chung cao cả nhất: quyền lợi của dân tộc. Niềm tin ấy đã làm hóa giải những nghi ngờ, những sai lầm có thể có. Chính vì niềm tin ấy nên con trai của học giả, trí thức Phạm Quỳnh, người bị Cách mạng xử, mới có thể tự nguyện trở thành người nhạc sĩ Cách mạng xuất sắc. Và hơn nữa, có thể nói, cuộc Cách mạng đã đem đến một điều “cần thiết hơn trăm nghìn điều khác”, một điều mà như chính nhà phê bình Hoài Thanh đã nói trong Thi nhân Việt Nam cả thế hệ Thơ mới tìm kiếm mà không thể có được: “Một niềm tin đầy đủ”.   Cách mạng tháng Tám đã để lại một bài học lớn về mối quan hệ giữa một chế độ và tầng lớp trí thức. Mối quan hệ ấy được xây dựng trên cơ sở niềm tin và sự trân trọng phẩm tính trí thức đích thực. Người trí thức cần được ứng xử không chỉ như những chuyên gia mà quan trọng hơn, như những con người luôn giữ được vị thế “độc lập suy nghĩ”. Bài học đó còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.      Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng, văn hóa và giáo dục      Gần đ&#226;y, kỷ niệm 140 năm ng&#224;y sinh của nh&#224; văn Maxim Gorki, ch&#250;ng ta c&#243; dịp đọc một t&#225;c phẩm l&#226;u nay &#237;t được biết đến của &#244;ng, viết năm 1918, ngay giữa những ng&#224;y đầu C&#225;ch mạng Th&#225;ng Mười Nga, c&#243; t&#234;n &#8220;Những &#253; tưởng kh&#244;ng hợp thời&#8221;. &#8220;Kh&#244;ng hợp thời&#8221;, Gorki tự gọi những &#253; tưởng của m&#236;nh như vậy bởi v&#236;, l&#224; người s&#225;ng suốt nhất v&#224; cũng dũng cảm nhất, trong thời điểm s&#244;i động vừa phức tạp vừa hứng khởi tột c&#249;ng ấy, đ&#250;ng như một nh&#224; văn h&#243;a lớn, với một sự hiểu biết v&#244; c&#249;ng s&#226;u sắc v&#224; một t&#236;nh y&#234;u thống thiết đối với nh&#226;n d&#226;n Nga v&#224; nước Nga, &#244;ng đ&#227; b&#236;nh tĩnh nh&#236;n thấy v&#224; n&#243;i đến thực tế l&#226;u đời v&#224; cấp b&#225;ch của nước Nga, những g&#236; c&#225;ch mạng đ&#227; l&#224;m được, v&#224; những g&#236; c&#225;ch mạng chưa l&#224;m được, đ&#250;ng hơn, kh&#244;ng thể l&#224;m được đối với thực tế ấy, những g&#236; l&#224; cơ bản nhất m&#224; nước Nga v&#224; nh&#226;n d&#226;n Nga c&#242;n phải đối mặt, l&#226;u d&#224;i, v&#224; tận trong nền tảng s&#226;u thẳm nhất của m&#236;nh.    Chắc chắn không ai có thể nghi ngờ sự ủng hộ nồng nhiệt của Gorki đối với cách mạng và đối với Lê-nin. Là nhà văn hóa lớn, xuất thân từ “dưới đáy” xã hội Nga, hơn ai hết ông hiểu sự cần thiết sống còn và tầm vĩ đại của cuộc cách mạng lật đổ chế độ Sa hoàng, giải phóng nước Nga, tạo những điều kiện chưa từng có cho nước Nga có thể thay đổi. Nhưng tỉnh táo, đầy tinh thần trách nhiệm và dũng cảm đến kinh ngạc, ông cũng nói rằng: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”. Cách mạng đã gạt bỏ cản trở bên ngoài, trên bề mặt (ngoài da) để cho phép tiến hành chữa trị những căn bệnh chí tử của thực tế Nga, nhưng công cuộc chữa trị chỉ được bắt đầu sau cách mạng chứ không phải trong cách mạng, bằng cách mạng. Cách mạng đã thành công, nhưng những căn bệnh trầm kha thì vẫn còn nguyên đấy, thậm chí nếu trước kia nó ở trên bề mặt thì bây giờ cách mạng đưa nó lặn vào trong nội tạng chứ không hề trừ tiệt được nó. Và như vậy thì lại còn nguy hiểm hơn, nếu coi mọi sự đã xong và dừng lại. Hoặc cứ tiếp tục theo một cách ấy. Theo Gorki, lại còn có điều khác nữa, cũng nghiêm trọng không kém, đến từ chính cuộc cách mạng mà ông dấn thân vào hết mình. Thẳng thắn, nghiêm khắc, vì hết sức trách nhiệm, ông viết: “Chúng ta sống trong một cơn bão của các xúc cảm chính trị, trong sự hỗn độn của một cuộc chiến đấu giành quyền lực; cuộc chiến đấu này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản năng đen tối. Điều đó là tự nhiên, nhưng lại đe doạ bẻ cong đi tính cách của chúng ta, và làm cho nó phát triển một cách giả tạo theo một hướng nhất định”.         Nhầm lẫn lớn nhất của giáo dục vừa qua và hiện nay chính là ở chỗ nó không nhận ra được rằng cách mạng là vĩ đại, nhưng cách mạng chỉ dọn đường, chỉ có thể dọn đường, chứ nhất định không thể làm được việc chữa trị cho xã hội và con người; công việc đó phải là do chính nó, giáo dục, một bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa, phải làm. Đó là vai trò, là vị trí, là thiên chức của nó.        Không thể không liên tưởng đến một lãnh tụ khác cũng từng làm nên một cuộc cách mạng lớn trong thời hiện đại, đồng thời là một bậc hiền triết, Nelson Mandela, người đã lãnh đạo thành công công cuộc phá bỏ chế độ A-pác-thai ở Nam Phi. Sau chiến công lớn đó của nhân dân Nam Phi, cũng bình tĩnh và minh triết đến kinh ngạc, ông nói: “Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”. Cách mạng là quan trọng và cần thiết, nhưng cách mạng không làm thay đổi được phần bên trong của xã hội và con người, không chữa trị được những căn bệnh nội tạng, những căn bệnh ngăn con người thật sự trở thành con người tự do. Không được phép tin rằng cách mạng đã tạo nên được con người tự do. Cũng có thể hiểu, đấy không phải là “chức năng” của cách mạng, không nằm trong khả năng của nó. Nó làm công việc dọn dẹp cho cuộc chữa trị.  Chữa trị cho xã hội, cho đất nước, cho dân tộc, cho con người, Gorki khẳng định, công việc đó, trách nhiệm đó, chức năng đó là của văn hóa, của văn học nghệ thuật. Và chúng ta hiểu, đương nhiên, của giáo dục, bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa. Đó là chức năng thiêng liêng của văn hóa, văn học nghệ thuật, và của giáo dục.              “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”.                                    Maxim Gorki            “Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”.                               Nelson Mandela        Lẽ nào đọc Gorki và Mandela mà không lập tức liên tưởng đến những vấn đề của chính chúng ta. Mỗi cuộc cách mạng trong những hoàn cảnh lịch sử riêng ắt có những khác biệt lớn nhỏ riêng, nhưng dẫu có khác đến đâu thì những nguyên lý và quy luật chung vẫn không thể khác. Những điều Gorki và Mandela minh triết cảnh báo có chừa chúng ta không? Chắc chắn là không. Đó là ngọn lửa địa ngục mà các dân tộc đều bắt buộc phải đi qua, để đến được ngưỡng cửa của cuộc chữa trị, tới lúc ấy mới có thể bắt đầu. Cần đủ tỉnh táo và dũng cảm như các ông để biết nhìn thẳng và nhìn xa hơn về những vấn đề của chúng ta.    Chúng ta đã có được một cuộc cách mạng chấm dứt một trăm năm nô lệ, và sau đó liên tục hai cuộc chiến tranh anh hùng để hoàn tất cuộc cách mạng ấy, giành lại độc lập dứt khoát cho dân tộc. Sự nghiệp đó rất vĩ đại. Vĩ đại vì nó đã quét đi được những trở ngại bên ngoài, “ngoài da”, để cho phép chúng ta tự nhìn sâu lại trong chính mình, những tật bệnh, những nhầm lẫn và chậm trễ chí tử đã làm cho đất nước ta chậm phát triển. Nhìn rõ, và bắt tay vào công cuộc chữa trị, như ta vẫn gọi, cuộc chấn hưng dân tộc.  Đối với chúng ta hiện nay, có thể nói tất cả các vấn đề về văn hóa đều đang nóng bỏng. Có lẽ ai cũng có thể cảm nhận được điều này: Chúng ta đều đang hết sức lo lắng về kinh tế, càng lo lắng hơn trong khủng hoảng toàn cầu hiện tại. Nhưng sâu sắc hơn, trằn trọc hơn, lâu dài và khó khăn hơn, thậm chí chừng nào đó cũng chưa hoàn toàn thấy rõ được đường ra cho rành rẽ, là lo lắng về văn hóa. Trong đó, vừa nóng bỏng, cấp bách, vừa căn bản, lâu dài, là về giáo dục. Cho nên, những điều vừa đọc trên kia có lẽ thật có ích cho chúng ta để suy nghĩ về giáo dục, nền giáo dục mà chúng ta đang khó nhọc tìm lối ra hiện nay, cả về đường hướng cơ bản, lâu dài, lẫn bước đi cụ thể, trước mắt, đều còn rất lúng túng – nếu chúng ta dám nhìn thẳng và nói thẳng.   Nhầm lẫn lớn nhất của giáo dục ta vừa qua và hiện nay chính là ở chỗ nó không nhận ra được tất cả tình thế trên, không nhận ra được rằng cách mạng là vĩ đại, nhưng cách mạng chỉ dọn đường, chỉ có thể dọn đường, chứ nhất định không thể làm được việc chữa trị cho xã hội và con người; công việc đó phải là do chính nó, giáo dục, một bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa, phải làm. Đó là vai trò, là vị trí, là thiên chức của nó. Công việc của nó, nói một cách hoàn toàn không quá đáng, là làm lại con người, từ con người nô lệ hôm qua, mà cách mạng đã cởi xiềng cho nhưng vẫn còn nguyên xi là con người nô lệ trong tâm hồn, thành con người tự do thật sự, nghĩa là con người tự do từ tận bên trong của chính mình.  Mấy năm lại đây nhiều người đã nói đến triết lý giáo dục. Triết lý giáo dục mà nền giáo dục này đang thiếu và cần, chính là như vậy. Nó loay hoay nhiều năm nay, rối rắm, luẩn quẩn, vừa trì trệ vừa tích cực, càng tích cực thì càng rối rắm, lúng túng, và lại càng… trì trệ, chính là vì thiếu một triết lý như vậy làm cốt lõi, nhất quán, quyết liệt, xuyên suốt. Phải từ yêu cầu của một cuộc chấn hưng dân tộc sâu sắc và toàn diện sau khi cách mạng và chiến tranh đã quét sạch cho ta những trở lực “ngoài da” để suy tính về một nền giáo dục khác, cho một thời đại khác của dân tộc. Không làm thế, thì nói cho đúng, chỉ có thể tạo ra được những công cụ cho những công việc gì đó chứ không phải là giải phóng thực sự con người, để cho chúng ta có được một đất nước của những con người tự do. Có lẽ cũng có thể hiểu như thế về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Có độc lập mà không có tự do thì độc lập cũng là vô nghĩa”.   Gần đây có người hỏi tôi muốn nói cụ thể điều gì khi nhấn mạnh yêu cầu tự trị đại học? Tôi hiểu tự trị đại học theo đúng tinh thần đó. Cách mạng, chính trị là vô cùng quan trọng. Nhưng chỉ có văn hóa, chỉ có văn học nghệ thuật, chỉ có giáo dục mới xây dựng nên được con người thật sự tự do. Giáo dục có tính độc lập của nó, sau cách mạng và chính trị. Nếu không thì sự “cởi trói” mà cách mạng và chính trị đem lại … cũng chẳng để làm gì. Xin nhắc lại: Đây chính là ý của Hồ Chí Minh.  Đương nhiên, từ điểm xuất phát này, còn có vô số những công việc cụ thể, nhọc nhằn, khó khăn cần làm, những bước đi cụ thể cần suy tính rất kỹ càng, những “chiến lược” từng đoạn cần được vạch ra và thực hiện. Nếu không theo tinh thần lớn đó, thì khó thoát ra được khỏi tình thế luẩn quẩn đã lâu, để sống được đàng hoàng cùng thiên hạ văn minh.  Mong thay!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách tiếp cận mới trong phòng chống lũ      Với dải đất miền Trung ngày càng phải đối mặt với bất thường và khắc nghiệt của bão lũ, những giải pháp ứng phó theo kiểu truyền thống có thể sẽ không còn phù hợp nữa. Thay vào đó, miền Trung cần một cách tiếp cận mới để có thể ứng xử một cách linh hoạt trước thiên tai. Đó là quan điểm của PGS. TS Trần Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Động lực học thủy khí môi trường (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN), nơi thực hiện rất nhiều dự án nghiên cứu và tư vấn trong lĩnh vực khí tượng, thủy văn cho các tỉnh miền Trung trong nhiều năm qua.      PGS. TS Trần Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Động lực học thủy khí môi trường (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN)  Theo anh, việc phòng chống lũ ở miền Trung có những đặc điểm gì khác những khu vực khác?  Miền Trung là vùng đất nơi chịu rất nhiều ảnh hưởng của các cơn bão, trong đó chủ yếu bão tập trung vào bốn tháng cuối năm, từ tháng 9 đến tháng 12 và trung bình có từ 0,3 đến 1,7 cơn bão/tháng. Nét điển hình ở đây là các dòng sông có độ dốc lớn, lưu vực sông nhỏ nên khi mưa tương đối lớn thì lũ sẽ lên rất nhanh. Địa hình miền Trung cũng phức tạp với việc phân chia thành ba khu vực khác nhau rõ rệt. Do bối cảnh thiên tai giữa các tỉnh rất khác nhau nên cơ cấu tổ chức của các cơ quan đảm trách phòng chống thiên tai được hình thành ở các tỉnh cũng khác nhau. Khi làm việc với các tỉnh miền Trung, tôi nhận thấy hiệu quả của việc phòng tránh thiên tai hết sức phụ thuộc vào điều kiện và nguồn lực địa phương.  Và có một nét nữa mà chúng ta cần chú ý là việc chống lũ ở các tỉnh miền Trung cũng khác ngoài Bắc, ví dụ như ở ngoài Bắc trông chờ rất nhiều vào đê điều nhưng trên thực tế thì ở khu vực từ Hà Tĩnh trở ra mới có đê còn từ Hà Tĩnh trở vào không có đê, chỉ có bối – những con đê nhỏ đắp vòng hai đầu nối với đê chính để bảo vệ một vùng đất nông nghiệp hoặc khu dân cư, mùa lũ có thể ngập băng nhưng đầu mùa thì có đê bối bảo vệ mùa màng.        Điều quan trọng nhất là các tỉnh không biết trước được nguy cơ rủi ro có thể đến, ta không có kế hoạch trước 5 năm về nó trong khi các quốc gia như Nhật Bản hay Trung Quốc họ có một cơ chế riêng cho việc như thế này…      Anh có nhận xét gì về năng lực ứng phó với thiên tai bão lũ ở các tỉnh miền Trung?  Năng lực ứng phó khẩn cấp và tại chỗ trong mùa bão của các tỉnh đều tương đối tốt do đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm sau rất nhiều năm, tuy nhiên năng lực chuẩn bị và khắc phục hậu quả sau bão lũ thiên tai thì chưa thực sự tốt. Trước hết, năng lực chuẩn bị phụ thuộc vào năng lực  con người, tài chính và thiết bị kỹ thuật. Điểm này thực sự khó khăn với các địa phương. Thông thường thiết bị kĩ thuật có thể mua nhưng con người có năng lực sử dụng nó không ở lại địa phương trong khi các thiết bị dự báo cảnh báo cần phải được sử dụng hằng ngày và chi tiết hóa thông tin thu nhận theo khu vực… Một phần nguyên nhân là đầu tư của địa phương cho những người như vậy còn chưa đủ bởi trong vô vàn điều cấp thiết ở địa phương thì cái cấp thiết này còn mờ nhạt. Vì vậy địa phương có thể lập được trung tâm phòng chống thiên tai nhưng xin một hai  biên chế cho trung tâm đó rất khó, đấy còn chưa kể người ở vị trí đó có đủ năng lực hay không vì người được đào tạo tốt thì đi hết.   Vai trò của dự báo rất quan trọng bởi nếu biết trước được thì ứng xử của chúng ta trước bão lũ sẽ khác đi, thiệt hại cũng sẽ bớt đi. Nhưng chỉ có được điều này nếu chúng ta có được các trạm đo được vận hành tốt, nếu không thì chịu. Ai cũng biết một đồng đầu tư vào phòng chống thiên tai sẽ giúp giảm bớt thất thoát do rủi ro 10 đồng nhưng điều này không rõ ràng trên “giấy trắng mực đen”…  Thứ hai là năng lực khắc phục hậu quả sau bão lũ chưa tốt do chưa có một cơ chế phù hợp cho địa phương có thể làm việc này, ví dụ trong trường hợp có một cái đê hay cái cầu bị trôi thì làm cách nào để chúng ta xây dựng lại nó? Các địa phương rất lúng túng trong chuyện này vì các công trình quy mô nhỏ, không đòi hỏi quá nhiều kinh phí thì có thể trích từ quỹ phòng chống thiên tai nhưng với công trình lớn như làm lại cầu hết hàng trăm tỉ thì thường phải dùng ngân sách dài hạn. Nếu vượt quá một con số kinh phí nào đó thì phải chờ trung ương phê duyệt mà việc phê duyệt đó phụ thuộc vào luật đầu tư công…   Điều quan trọng nhất là các tỉnh không biết trước được nguy cơ rủi ro có thể đến, ta không có kế hoạch trước 5 năm về nó trong khi các quốc gia như Nhật Bản hay Trung Quốc họ có một cơ chế riêng cho việc như thế này… Thực ra chu kỳ chuẩn bị của chúng ta rất ngắn, nếu qua trên 6 tháng không kịp chuẩn bị thì lại chuẩn bị bước sang chu kỳ mới mà về nguyên tắc thì khắc phục hậu quả mùa trước sẽ chuẩn bị tốt cho mùa sau.     Thành phố Huế chìm trong lũ hôm 13/10. Ảnh: Đoàn Nguyên/Zing.  Trong bối cảnh này, có thể có những giải pháp nào giúp miền Trung vượt qua khó khăn để giảm thiểu thiệt hại mùa lũ?  Tôi cho rằng giữa rất nhiều giải pháp kết hợp kinh nghiệm bản địa và kinh nghiệm quốc tế thì gần đây có một giải pháp khá hiệu quả là mô hình quản lý lũ tổng hợp do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) giới thiệu và bắt đầu áp dụng thử nghiệm tại một số địa phương ở Việt Nam. So với cách quản lý lũ theo cách truyền thống mà chúng ta vẫn thường áp dụng chỉ tập trung vào việc giảm lũ và giảm mức độ thiệt hại do lũ gây ra thì quản lý lũ tổng hợp tích hợp cả quản lý đất và nước trên toàn bộ lưu vực sông, áp dụng các nguyên tắc quản lý rủi ro và thừa nhận có thể không kiểm soát lũ lụt một cách triệt để được. Do áp dụng trên cả lưu vực sông nên một kế hoạch quản lý lũ tổng hợp không chỉ hạn chế rủi ro cho một tỉnh, một địa phương mà còn không làm tăng rủi ro cho nơi khác.   Trong quản lý lũ tổng hợp cũng tích hợp những giải pháp tương đối mang tính cục bộ như có thể địa phương này được phép bổ sung một vài đoạn đê kè trên địa phương nhưng việc triển khai nó phải được tính toán là không làm gia tăng rủi ro cho khu vực khác; hoặc các giải pháp “truyền thống” như trồng rừng; giải pháp vận hành hồ chứa thủy điện theo thời gian thực…  Trong cuộc họp Hội đồng tư vấn KH&CN về an toàn hệ thống thủy điện trên bậc thang thủy điện sông Đà năm 2019, đại diện của Bộ TN&MT đã cho là việc vận hành liên hồ chứa thủy điện ở miền Trung đã có lúc gần với vận hành theo thời gian thực.  Đúng vậy, tuy nhiên để đạt được tiêu chuẩn thời gian thực thì chúng ta còn cần rất nhiều yếu tố khác nữa. Hiện tại, việc phối hợp vận hành liên hồ chứa đều áp dụng theo một cẩm nang cho trước, do đó không mang tính tối ưu. Nó khiến hành động ra quyết định của ban quản lý hồ vẫn nằm trong một phạm vi cho trước nên không có sự linh hoạt trước diễn biến thực tế. Tuy nhiên, cái khó của ban quản lý hồ là muốn có được quyết định tối ưu thì phải có thông tin tương đối đầy đủ từ các hồ chứa khác, điều không phải lúc nào cũng có trong thực tế. Hồ này muốn xả nhưng lượng nước xả và lượng nước tích sẽ còn phụ thuộc vào hồ thượng nguồn nữa. Vì vậy thiệt hại vẫn có, vẫn xảy ra.        Cái khó của ban quản lý hồ là muốn có được quyết định tối ưu thì phải có thông tin tương đối đầy đủ từ các hồ chứa khác, điều không phải lúc nào cũng có trong thực tế. Hồ này muốn xả nhưng lượng nước xả và lượng nước tích sẽ còn phụ thuộc vào hồ thượng nguồn. Vì vậy thiệt hại vẫn có, vẫn xảy ra.      Muốn thông suốt và thống nhất thì chúng ta phải trao đổi thông tin vận hành hồ theo hướng liên tỉnh trong khi việc quản lý hồ chứa phức tạp, có hồ  tỉnh phụ trách, có hồ thuộc EVN, có hồ tư nhân… và chưa có nền tảng quy định để có nơi quản lý, điều hành liên vùng, liên tỉnh như một trung tâm vận hành thông tin chẳng hạn. Trung tâm này phải có hệ thống hạ tầng thông tin chuẩn và hệ thống mô hình tính toán chuẩn để có thể chạy được 6, 7 kịch bản khác nhau, qua đó mới chọn được phương án tối ưu. Do đó muốn vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực thì chúng ta phải thay đổi tư duy quản lý, đây là việc khó vì nó phụ thuộc vào nhiều bộ như Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương.   Nếu áp dụng cách tiếp cận mới là quản lý lũ tổng hợp ở miền Trung thì các tỉnh trong lưu vực một con sông sẽ phải phối hợp với nhau rất chặt chẽ?  Rõ ràng chúng ta phải quản lý lũ theo tính chất liên tỉnh và tiếp cận theo quy mô lưu vực. Cách tiếp cận đúng là ngăn chặn lũ từ xa, nhiều chuyện xảy ra ở thượng nguồn là nguyên nhân dẫn đến hậu quả ở hạ nguồn. Vấn đề liên quan đến quản lý lũ, xâm nhập mặn và tài nguyên nước thì chúng ta phải quản lý theo lưu vực và xuyên biên giới, tức là không theo biên giới hành chính. Trong khi đó, các giải pháp và kế hoạch chống lũ hiện nay đều dựa trên biên giới hành chính và xây dựng trên kế hoạch phát triển cấp tỉnh.  Tôi cho rằng, muốn thực hiện hiệu quả giải pháp quản lý lũ tổng hợp, cần xem xét vấn đề một cách tổng thể, không chỉ phụ thuộc vào một địa phương, một ngành đơn lẻ như trước bởi một nơi làm không xuể. Lũ ở khu vực Tây Trường Sơn, đặc biệt là Hà Tĩnh và Quảng Trị, gia tăng đáng kể sau khi xây đường Hồ Chí Minh. Các nguyên tắc làm đường là đi ngang để lợi về giao thông nhưng lại luôn cắt dòng chảy, nếu đặt cống để thoát lũ nhanh cho phù hợp với cường độ mưa bất thường bây giờ thì lại dễ xảy ra hiện tượng bồi lắng mùa cạn. Có mâu thuẫn như vậy nên khi làm đường giao thông mà không đặt vào kế hoạch tổng thể thì lợi mặt này sinh ra hại khác.     Ngập lụt ở Sesan, Stung Treng, Campuchia, sau khi mực nước sông Mekong dâng lên vượt qua mức nguy hiểm 10,7 m. Nguồn: khmertimeskh.com  Theo anh, một nơi gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện vật chất và con người như miền Trung thì có thể áp dụng một cách hiệu quả của giải pháp quản lý lũ tổng hợp hay không?   Vừa rồi chúng tôi có tham gia hợp phần hai của dự án “Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung”(ENDRP) do Worldbank tài trợ và Bộ NN&PTNT triển khai. Mục tiêu của hợp phần này nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan điều phối liên ngành về phòng chống thiên tai tại trung ương và địa phương, đảm bảo khả năng phục hồi sau thiên tai. Cùng với nhiều đối tác khác, chúng tôi xây dựng kế hoạch quản lý lũ tổng hợp theo lưu vực sông, hướng dẫn lồng ghép kế hoạch quản lý thiên tai tổng hợp vào kế hoạch phòng chống thiên tai cho các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa trong các lưu vực sông Ba, sông Cái Ninh Hòa và sông Cái Nha Trang. Yếu tố lồng ghép ở đây là xây dựng kế hoạch thiên tai cấp tỉnh nhưng hồn cốt của nó là quản lý lũ theo lưu vực sông. Sau khi thống nhất kế hoạch chung rồi thì quay lại với bài toán theo địa lý hành chính, mỗi tỉnh làm theo kế hoạch của mình kế hoạch phòng chống thiên tai cấp tỉnh.   Với kế hoạch quản lý thiên tai tổng hợp này, các tỉnh miền Trung sẽ phải chấp nhận thực trạng là không kiểm soát lũ lụt một cách triệt để được?  Đó là cách nhìn nhận mới, chỗ nào ta xác định chống được lũ, chỗ nào xác định là không thể chống lũ triệt để thì phải có những quyết định di dời hoặc giải pháp sống chung với lũ, thích ứng với lũ… Muốn làm được như vậy phải nhận được sự đồng thuận của các ngành, các tỉnh vì những giải pháp đó liên quan chặt chẽ đến kế hoạch phát triển lâu dài của địa phương. Ví dụ như trường hợp sông Cái Nha Trang. Qua tính toán, chúng tôi thì phần trung lưu Diên Khánh lại dễ bị ngập hơn phía dưới. Nếu theo lẽ thường chúng tôi có thể làm cửa thoát lũ hoặc làm đê ở khu vực có nguy cơ ngập nhưng thấy “cứu” được khu trung lưu thì khu vực hạ lưu là thành phố Nha Trang lại bị ngập. Về cơ bản thì không nâng cấp được nền của thành phố Nha Trang lên nữa. Nếu có giải pháp tổng thể “cứu” được cả hai khu vực thì không nói làm gì nhưng trong trường hợp này, dựa trên tính toán có thể đưa ra kịch bản là “cứu” trên kia là cứu lúa cứu ngô còn ngập mét vuông nào ở Nha Trang là ảnh hưởng đến đô thị, công nghiệp, du lịch… Rủi ro dưới này cao hơn rất nhiều so với trên kia. Những dự án như thế này giúp địa phương hiểu rõ, gắn với định hướng đầu tư trong tương lai.  Nhưng áp dụng kế hoạch như thế này thì có nghĩa sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển của địa phương trong tương lai?  Khi chúng tôi báo cáo kế hoạch quản lý lũ tổng hợp theo lưu vực sông, người ta hay hỏi những câu như  ‘vậy thì thành phố Nha Trang nên phát triển theo hướng nào?”, “phát triển khu trung tâm hành chính phía Tây Nha Trang như thế nào?’… bởi họ hiểu rằng, khi áp dụng kế hoạch đó, họ sẽ phải điều chỉnh kế hoạch đầu tư phát triển của địa phương. Qua phân tích theo từng khu vực của chúng tôi, họ cũng hiểu chỗ nào nên hi sinh, chỗ nào nên bảo vệ bằng được. Với Nha Trang, chúng tôi đánh giá nên bảo vệ hạ lưu Nha Trang còn trung lưu Diên Khánh nên thích nghi với lũ còn nếu chống lũ bằng cách làm cũ là xây đê kè thì sẽ gây rủi ro lớn cho thành phố Nha Trang.   Anh cho rằng kế hoạch như vậy sẽ thuyết phục được các địa phương?  Chúng tôi biết là có những lời tư vấn khiến địa phương cảm thấy “ngại” vì sẽ làm thay đổi quá nhiều định hướng phát triển của họ, nếu áp dụng theo. Khi có thông tin tư vấn của chúng tôi, có thể họ sẽ điều chỉnh lại kế hoạch. Tôi nghĩ đây là cả quá trình thuyết phục của trung ương với địa phương, không dễ gì thay đổi quyết định. Là người tư vấn thì chúng tôi chỉ có thể cung cấp thông tin “nếu như thế này thì sẽ như thế nào” và cho họ thấy vấn đề mà trước đây họ không nhìn thấy, còn việc họ có tham khảo không thì còn có rất nhiều lực cản nữa.   Dựa vào những căn cứ nào để anh nói với địa phương “chỗ này dễ ngập”, “ chỗ kia có thể thoát lũ”?  Dĩ nhiên đó là kết quả của một quá trình khảo sát thực tế và phân tích tính toán trên nhiều khía cạnh. Việc khảo sát thực tế và tích lũy số liệu theo thời gian cho mình số liệu gần nhất với thực tế và số liệu đủ dày theo cả thời gian và vị trí địa lý. Chúng ta nên nhớ là ngập lụt ở các vị trí khác nhau đều hoàn toàn khác nhau nên độ phân giải của các bản đồ địa hình phải ở mức 5 mét, 10 mét. Để làm được điều đó phải có kinh nghiệm địa phương, nhiều thời gian lăn lộn. mình mới có được bộ công cụ phù hợp và có khả năng mô tả được các quy luật khí tượng, thủy văn chính của khu vực đó. Mô hình chúng tôi sử dụng để mô phỏng được ngập lụt  đem lại thông tin có tính không gian, biểu thị cả vùng không gian ngập lụt như thế nào, sâu bao lâu.   Việc thực hiện dự án như vậy, chúng tôi huy động chuyên gia ở nhiều lĩnh vực như thủy động lực học liên quan đến các yếu tố mang tính chất vật lý như lượng mưa như thế này thì lũ sẽ như thế nào, ngập ở đâu, ngập trong bao lâu? độ sâu?; chuyên gia về kinh tế xã hội đánh giá rủi ro trong ngập lụt, nếu ngập ở khu vực cánh đồng 5m có khác với ngập 50 cm ở đô thị hoặc khu công nghiệp không? Có như vậy mới có thể trả lời rủi ro tích lũy ở mỗi khu vực như thế nào.  Việc lập kế hoạch như vậy có nhận được đồng thuận của địa phương không?  Chúng tôi mời cán bộ các ngành, địa phương tham gia từ thiết kế kế hoạch và có chắt lọc ý kiến của họ trong các giải pháp. Quan sát các cuộc họp thì tôi thấy khi đưa ra kết quả đánh giá khoa học và khách quan, chúng tôi đều nhận được sự đồng thuận giữa các nhóm trong địa phương và giữa địa phương với nhau. Thậm chí, một địa phương trên thượng nguồn dòng sông như Đắk Lắk với 20% lưu vực sông Ba nhưng họ nhưng đề nghị Bộ NN&PTNT gợi ý cho họ giải pháp tương tự để họ có thể quản lý lũ tổng hợp với lưu vực cho sông Sêrêpốk.   Có lẽ, cần thời gian để đánh giá toàn diện hiệu quả của quản lý lũ toàn diện theo lưu vực sông nhưng tôi hi vọng đó sẽ là một giải pháp tốt để chúng ta vượt qua các mùa lũ.  Cảm ơn anh!  Thanh Nhàn thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách Bảo hiến      Thảo luận tại hội trường Quốc hội về Dự thảo  Hiến pháp sửa đổi, có hai xu hướng khác nhau liên quan đến vấn đề bảo  hiến. Nhiều đại biểu kiên trì bảo vệ mô hình bảo hiến hiện hành, trong  khi nhiều đại biểu khác ủng hộ thiết lập một định chế bảo hiến chuyên  biệt được gọi là Hội đồng Hiến pháp.     1. Lập luận và bình luận  Những đại biểu theo khuynh hướng giữ nguyên hệ thống bảo hiến chính trị-hành chính hiện hành – trong đó quyền bảo hiến được trao cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, không thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách là Hội đồng Hiến pháp, dựa trên các lập luận sau: hệ thống bảo hiến hiện hành được thiết lập bao năm qua vẫn vận hành tốt; việc xây dựng pháp luật đã tuân thủ một quy trình chặt chẽ, khoa học, hạn chế tối đa các vi phạm hiến pháp, nên vấn đề lập một cơ quan bảo hiến chuyên biệt để xử lý các văn bản vi hiến là không cần thiết; một cơ quan bảo hiến chuyên biệt như Hội đồng Hiến pháp chỉ phù hợp với chế độ đa nguyên, đa đảng, chế độ kìm chế đối trọng quyền lực, không phù hợp với thể chế chính trị nhất nguyên, một đảng lãnh đạo, và thống nhất quyền lực như Việt Nam.       Tính chính đáng của hiến pháp được hiểu là sự chấp thuận của xã hội đối với hiến pháp. Một trong những lý do chính dẫn đến cuộc sửa đổi hiến pháp lần này ở Việt Nam là nhu cầu về việc thiết lập một thể chế bảo hiến mới. Trong đa số các diễn đàn tham vấn công chúng về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi từ tháng 1 đến cuối tháng 3 năm 2013 vừa qua, thái độ xã hội đối với việc thiết lập một thể chế bảo hiến mới là tích cực, như đã được tường thuật trên các báo chí chính thống của quốc gia. Nếu Hiến pháp sửa đổi không có một thay đổi nào về thể chế bảo hiến, có thể dự đoán rằng tính chính đáng của bản thân bản hiến pháp sẽ bị ảnh hưởng phần nào.   Quan trọng hơn, bảo hiến đã là tâm điểm của các thảo luận hiến pháp ở Việt Nam, mà từ đó đã sinh ra các vấn đề hiến pháp quan trọng khác trong quy trình sửa đổi hiến pháp. Từ bảo hiến mà sinh ra các thảo luận về sự phân biệt giữa hiến pháp và luật, quyền lập hiến thuộc về nhân dân và quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Từ bảo hiến mà mở rộng ra thảo luận về một chủ đề rộng hơn là “kiểm soát quyền lực nhà nước.” Từ bảo hiến mà sinh ra các thảo luận về quyền con người như các quyền tự nhiên được hiến định thay vì các quyền do nhà nước “ban phát”… Tóm lại các vấn đề hiến pháp chính yếu ở Việt Nam hiện nay như “quyền lập hiến thuộc về nhân dân”, “kiểm soát quyền lực nhà nước,” và “quyền con người”… khởi xuất trực tiếp từ vấn đề trung tâm – “bảo hiến.” Do vậy, nếu sửa đổi hiến pháp không có một bước tiến đáng kể nào trên phương diện bảo hiến, điều này sẽ ảnh hưởng đến tính chính đáng của các vấn đề hiến pháp chính yếu khác và của bản hiến pháp nói chung.   Nhiều đại biểu Quốc hội đã ủng hộ phương án thành lập Hội đồng Hiến pháp, và họ đã đi xa hơn trong đề nghị rằng Hội đồng này phải có chức năng tài phán, quyết định, thay vì chỉ kiến nghị.   Các đại biểu theo khuynh hướng này cho rằng hệ thống bảo hiến hiện hành không vận hành hiệu quả và do vậy cần một thể chế bảo hiến chuyên biệt. Để củng cố lựa chọn này, các đại biểu cũng viện dẫn đến chủ trương đã được khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội X về xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong các hoạt động lập pháp, hành pháp, và tư pháp.   Lập luận của khuynh hướng này sẽ thuyết phục hơn, nếu những đại biểu ủng hộ thuyết phục những người phản đối rằng: một thể chế bảo hiến chuyên biệt đã từng và sẽ vẫn có thể tồn tại trong một chế độ xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng về nhất nguyên, một đảng lãnh đạo, và thống nhất quyền lực; thể chế bảo hiến có thể được vận dụng như một phương tiện để thực hiện các mục tiêu đặc thù của quốc gia; sự thiết lập một thể chế bảo hiến sẽ củng cố sự chính đáng của bản thân bản hiến pháp, các thể chế chính trị do nó xác lập, và do vậy tạo nên sức mạnh của lãnh đạo chính trị do nhận được sự chấp nhận rộng rãi của xã hội; một thể chế bảo hiến ra đời sẽ thúc đẩy sự phát triển học thuật hiến pháp học trong nước và sự phát triển của các thể chế hiến pháp quốc gia nói chung theo “xu thế của thời đại.” Trong khoảng ba thập kỷ trở lại đây, vấn đề bảo hiến một cách chuyên biệt và chuyên nghiệp đã là “xu thế của thời đại”, được chấp nhận một cách phổ quát ở các quốc gia có hiến pháp thành văn bất kể sự khác biệt về chế độ chính trị.   Tuy nhiên, những người ủng hộ việc thiết lập Hội đồng Hiến pháp băn khoăn về cấu trúc phụ thuộc và thẩm quyền tư vấn hạn hẹp của nó. Kỳ thực, vị trí pháp lý không rõ ràng của của Hội đồng Hiến pháp trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi mở đường cho việc hình thành luồng ý kiến phản đối sự thiết lập thể chế này. Do vậy, nhà thảo hiến cần làm rõ hơn vị trí pháp lý của định chế này.   2. Cấu trúc Hội đồng Hiến pháp   Điều 120 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi quy định: “Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập.” Quy phạm này dẫn đến một suy luận rằng Hội đồng Hiến pháp là một cơ quan của Quốc hội nên hạn chế tính độc lập của nó.   Việc “Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập” không có nghĩa Hội đồng này là cơ quan của Quốc hội. Theo Hiến pháp hiện hành cũng như trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, Chính phủ, Chủ tịch nước… cũng do Quốc hội thành lập, nhưng không phải là cơ quan của Quốc hội. Việc Quốc hội thành lập ra Hội đồng Hiến pháp chỉ có thể được hiểu là Quốc hội lựa chọn ra các thành viên của Hội đồng này, chứ không có nghĩa Hội đồng này là một cấu phần của Quốc hội.   Theo chương V của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi quy định về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chỉ có Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, và các Ủy ban chuyên môn, không gồm Hội đồng Hiến pháp.   Hội đồng Hiến pháp được quy định trong một chương độc lập (chương X) với chương về Quốc hội. Như vậy, nó là một thể chế hiến định độc lập chứ không phải là một cơ quan của Quốc hội.   3. Thẩm quyền Hội đồng Hiến pháp  Theo Điều 120 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, Hội đồng Hiến pháp được dự trù sẽ kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật của các định chế chính quyền trung ương và yêu cầu, kiến nghị các cơ quan hữu quan xem xét lại văn bản pháp luật được cho là vi phạm hiến pháp. Điều đó có nghĩa, quan điểm của Hội đồng Hiến pháp chỉ có tính chất tư vấn, không có tính chất quyết định, không có tính chất tài phán.   Nếu nhà thảo hiến vẫn muốn thiết lập Hội đồng Hiến pháp như trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, thẩm quyền của nó phải có tính chất quyết định hơn, điều mà nhiều học giả và các đại biểu Quốc hội ủng hộ đã đề nghị. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một nước, ấn định những cơ cấu công quyền căn bản của quốc gia với những quyền lực có tính cách độc lập. Một Hội đồng Hiến pháp hay một thể chế bảo hiến chuyên biệt, để được quy định trong Hiến pháp một cách chính đáng, phải là một định chế căn bản của quốc gia về mặt cấu trúc và có những thẩm quyền có tính chất độc lập theo nghĩa quyết định của nó có tính chất ràng buộc pháp lý chứ không phải có tính chất tham khảo.   ***  Để thiết lập một thể chế bảo hiến độc lập về cấu trúc và thẩm quyền, nhà thảo hiến có thể sẽ cần phải đi xa hơn trong Hiến pháp hơn là chỉ quy định: “Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, trình tự, thủ tục hoạt động của Hội đồng Hiến pháp và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Hiến pháp do luật định.” (Khoản 3, điều 102, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi). Hiến pháp, hơn là luật, cần phải xác định cụ thể hơn về: thành viên của cơ quan bảo hiến (ai, với tiêu chuẩn như thế nào thì sẽ được lựa chọn vào cơ quan này), khả năng tiến cận công lý hiến pháp (ai có quyền đệ đơn lên cơ quan bảo hiến); hậu quả của một quyết định bảo hiến; kích cỡ của cơ quan bảo hiến (có bao nhiêu người); nhiệm kỳ của thành viên. Đây là những vấn đề căn bản về thể chế của một cơ quan bảo hiến và sẽ phải do Hiến pháp, chứ không phải luật, xác lập. Chỉ khi nào các vấn đề thể chế căn bản này được làm rõ trong Hiến pháp, vị trí pháp lý của của cơ quan bảo hiến mới rõ ràng, và nhà thảo hiến mới có thể thuyết phục được các dân biểu khóa 13 bấm nút cống hiến cho sự ra đời một thể chế hiến pháp nhân văn ở Việt Nam, và do vậy họ (cả nhà thảo hiến và dân biểu) sẽ được ghi nhớ trong lịch sử lập hiến của dân tộc.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách hành chính: chuyện thiếu-thừa      Một trong những nhiệm vụ cơ bản của cải c&#225;ch h&#224;nh ch&#237;nh l&#224; phải l&#224;m cho bộ m&#225;y h&#224;nh ch&#237;nh gọn nhẹ hơn. Tức l&#224; phải bỏ đi những bộ phận, những c&#225; nh&#226;n thừa trong bộ m&#225;y. Nhưng, kh&#243; nhất vẫn l&#224; nhận ra c&#225;i g&#236; thiếu, c&#225;i g&#236; thừa. T&#244;i xin kể hai mẩu chuyện dưới đ&#226;y, những chuyện đ&#243; c&#243; thể l&#224; thật, m&#224; cũng c&#243; thể chưa c&#243; bao giờ (mượn lời h&#225;t trong phim Tể tướng Lưu g&#249;).    Chuyện thứ nhất. Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.  Hóa ra, chỉ cần loại hết những cái thừa, ta sẽ có một kiệt tác.  Chuyện thứ hai. Ở một khu rừng nọ có bọn lâm tặc hoành hành rất mạnh. Người ta lập một trạm kiểm lâm ở đó, với 5 kiểm lâm viên. Họ rất bận rộn, nên phải có một cấp dưỡng. Lâu dần, họ mang theo cả vợ con, nên có thêm cái nhà trẻ. Rồi thì đến y tá, thường trực, văn thư, chuyên trách Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên… đủ cả. Sau ít năm đã hình thành được một Trạm Kiểm lâm rất bề thế. Chỉ có điều, từ đó bọn lâm tặc tránh sang đường khác, thành ra Trạm chẳng còn bắt được tên lâm tặc nào. Khi chủ trương tinh giảm biên chế đưa xuống, người ta buộc phải xem ai thừa thì “tinh giảm” đi. Xét đi xét lại, thấy ai cũng đang rất bận rộn với công việc được phân công, duy chỉ có 5 chàng kiểm lâm viên là thừa! Thế là 5 chàng kiểm lâm viên được “về hưu một cục”, và buổi tiễn họ về hưu cũng là buổi Trạm nhận được bằng khen về công tác tinh giảm biên chế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách hệ thống đào tạo tiến sĩ      Nhiều người cho rằng nhiều qui định về ti&#234;u chuẩn trong Dự thảo Quy chế đ&#224;o tạo tiến sĩ được Bộ GD&amp;ĐT soạn thảo v&#224; đưa ra lấy &#253; kiến, trước khi ch&#237;nh thức ban h&#224;nh để &#225;p dụng từ kh&#243;a tuyển sinh năm 2010, nếu kh&#244;ng được thay đổi th&#236; ch&#250;ng ta c&#243; nguy cơ đ&#224;o tạo ra rất nhiều &#8220;tiến sĩ giấy&#8221;. V&#236; vậy, vấn đề muốn b&#224;n ở đ&#226;y l&#224; việc phải cải c&#225;ch chiến lược v&#224; qui tr&#236;nh đ&#224;o tạo v&#224; bảo về luận &#225;n tiến sĩ ở trong nước ra sao, để cho c&#225;c tiến sĩ bảo vệ trong nước cũng xứng đ&#225;ng l&#224; tiến sĩ ngang như tiến sĩ bảo vệ ở nước ngo&#224;i, chứ kh&#244;ng phải l&#224; về nội dung của bản Dự thảo Quy chế đ&#224;o tạo tiến sĩ đ&#243;.    Muốn vậy theo tôi, chúng ta cần:  Xem xét lại chỉ tiêu số lượng đào tạo tiến sĩ.   Đối với các nghiên cứu sinh (NCS) du học ở các nước tiên tiến, chúng ta tin tưởng họ sẽ đảm bảo chất lượng cho những bằng tiến sĩ của người Việt bảo vệ ở chỗ họ, và chúng ta có thể công nhận những bằng PhD đó là những bằng “tiến sĩ quốc tế”.  Còn với việc đào tạo trong nước, khả năng chúng ta có thể đào tạo được bao nhiêu thì đào tạo bấy nhiêu, nhưng phải đảm bảo chất lượng của mỗi tiến sĩ được đào tạo. Nếu có sự thiếu hụt về số lượng, thì phần thiếu hụt phải được bù lại bằng việc đào tạo ở nước ngoài, và bằng việc đầu tư thêm nhiều tiền của để kích thích hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong nước. Những “khẩu hiệu” như “phải đào tạo được 10 nghìn tiến sĩ trong nước trong vòng 10 năm” rất vô lý nếu như chúng ta không có khả năng tương ứng. Nếu như có thể “bắt ép” các cán bộ đi học cao học để “phổ cập cao học cho cán bộ” được (tuy rằng nhiều người học xong cao học trình độ không cao lên), thì “việc phổ cập tiến sĩ” rất bất hợp lý vì nó sẽ tức khắc đẻ ra nhiều tiến sĩ giấy.   Quốc tế hóa các hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ.   Để đảm bảo tiến sĩ có chất lượng quốc tế, bản thân hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ cần có chất lượng quốc tế. Ngay các nơi tiên tiến trên thế giới cũng hay mời các phản biện người nước ngoài vào các hội đồng bảo vệ tiến sĩ, để đảm bảo tính quốc tế các luận án. (Bản thân người viết bài này cũng từng tham gia các hội đồng bảo vệ tiến sĩ ở các nước châu Âu khác nhau). Ở Việt Nam, việc có phản biện quốc tế trong hội đồng bảo vệ tiến sĩ là đặc biệt cần thiết. Nếu như chúng ta chưa thể áp dụng đòi hỏi này cho tất cả các luận án tiến sĩ, thì trong quá trình chuyển đổi có thể tạo 2 mức tiến sĩ khác nhau: mức “tiến sĩ nội địa” (qui trình bảo vệ như trước), và mức “tiến sĩ quốc tế” (qui trình khắt khe hơn nhiều, và đồng thời những người này phải được trọng dụng hơn).  Đầu tư thích đáng cho mỗi NCS trong nước.   Việc gửi một NCS đi học ở nước ngoài tốn cho Chính phủ khá nhiều tiền (riêng tiền học bổng đã hơn 10 nghìn USD một năm cho một NCS). Đào tạo trong nước có thể đỡ tốn kém hơn nhưng nếu muốn đảm bảo chất lượng cũng cần được đầu tư không quá thấp (ít ra cũng phải được bằng ½ NCS đi học nước ngoài, tức là phải đầu tư tối thiểu 25-30 nghìn USD cho một NCS trong toàn bộ thời gian làm NCS). Tiền đó để cấp học bổng cho NCS đủ cao để họ yên tâm sống mà làm việc nghiêm chỉnh và tự hào về công việc của mình, và để trang trải các chi phí khác, ví dụ như đi dự hội nghị khoa học quốc tế, mời GS nước ngoài vào hội đồng bảo vệ, phụ cấp cho GS hướng dẫn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách Nhà nước theo tinh thần doanh nghiệp và những trở ngại      Phương thức quản lý nhà nước theo kiểu quản lý doanh nghiệp qua bài Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần* của tác giả Võ Trí Hảo là rất đáng quan tâm. Phương thức này được phương Tây dùng từ lâu và nhiều người ở ta cũng đã thấy. Tuy nhiên, để vận dụng vào nước ta thì trước mắt vẫn còn không ít trở ngại.     Tinh thần doanh nghiệp tức là tinh thần gắn trách nhiệm với lợi ích, việc có lợi thực sự thì mới làm, trước khi làm gì cũng suy xét tính toán chi ly; phân công phân cấp rõ ràng, trách nhiệm phân minh, giỏi thưởng sai phạt ngay. Quản lý nhà nước như quản lý doanh nghiệp là nguyên tắc xuyên suốt công tác tổ chức bộ máy nhiều nhà nước tiên tiến. Cách làm này rất hiệu quả: đơn giản hóa bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu suất làm việc (và do đó đồng lương) của viên chức, thực hiện được mục tiêu Chính phủ nhỏ, xã hội lớn.   Như Võ Trí Hảo đã nói: cách quản lý này có một ưu điểm là dễ tìm ra “bị đơn”, tức tìm ra người chịu trách nhiệm, vì thế dễ cải tiến, hoàn thiện tình hình trong từng lĩnh vực. Ở nước ta nhiều mặt cứ yếu kém mãi chính là do chẳng biết ai chịu trách nhiệm. Trong tình huống như thế, mọi người đều… vô trách nhiệm.   Trong quản lý, nhân tố quyết định là phân công phân cấp rành mạch, đề cao tự chủ tự quyết. Thí dụ, về phương án làm đường sắt cao tốc (ĐSCT) Bắc Nam, năm ngoái, dư luận đã phản biện quyết liệt, và phương án ĐSCT không được đa số đại biểu Quốc hội đồng ý thông qua. Nhưng sau đó không thấy ai chất vấn vì sao ngành giao thông vận tải lại trình một dự án thiếu thuyết phục như vậy. Vì sao họ đã không tự nghĩ và tự quyết thấy ngay rằng Việt Nam hiện nay chưa cần và chưa làm nổi, khai thác nổi ĐSCT; dù có làm được thì khi khai thác sẽ lỗ vốn chỏng gọng (ngành đường sắt cao tốc Trung Quốc hiện nợ như chúa chổm và để xảy ra tai nạn thảm khốc), gây thiệt hại nặng nề về kinh tế mà không một “lợi ích xã hội ” nào có thể bù đắp nổi.   Nếu quản lý nhà nước theo tinh thần doanh nghiệp thì mọi quyết sách thuộc ngành nào sẽ do ngành đó nghiên cứu đưa ra. Ông Đinh La Thăng có cái lý của mình khi nói Bộ trưởng là Tư lệnh ngành, mọi việc phải để ông quyết, nếu sai, ông chịu trách nhiệm. Suy ra: “trên” đừng có bắt ông làm cái này cái nọ. Chính vì kiểu quản lý tập trung, lãnh đạo tập thể mà khi quyết sách sai, tiền đóng thuế của dân thất thoát bao nhiêu (điển hình là vụ Vinashin) thì cái sai nghiễm nhiên thuộc về tập thể, cùng lắm chỉ thấy một vài lãnh đạo cấp doanh nghiệp Nhà nước phải gánh trách nhiệm chứ mà không thấy vị lãnh đạo của Bộ, ngành nào mất chức, giảm lương. Mớ bòng bong không minh bạch ấy làm mất lòng dân, mặt khác trình độ cán bộ lãnh đạo không thể nâng cao được.  Lãnh đạo mỗi ngành phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về ngành mình, chớ có đổ cho người khác và cũng chớ để cho người khác dạy bảo mình làm từng việc. Năm ngoái khi Nhà Trắng công bố kế hoạch làm việc của Tổng thống Obama, trong đó có việc đến thăm và nói chuyện ở một trường trung học, dân Mỹ nhao nhao góp ý kiến là ông chớ có nói về chủ trương giáo dục. Rốt cuộc Obama chỉ dám nói về kinh nghiệm học tập của bản thân ông mà thôi, thế mà báo Mỹ cho biết nhiều nơi phụ huynh và hiệu trưởng không cho học sinh xem buổi truyền hình trực tiếp bài nói ấy của ông. Tổng thống Mỹ đâu có được phép “dạy bảo” dân hoặc cấp dưới theo kiểu “quan phụ mẫu” thời xưa.  Tóm lại, lĩnh vực giao cho ai thì để người ấy toàn quyền làm; nếu tình hình không có chuyển biến tốt thì liệu mà từ chức sớm. Cấp lãnh đạo cao nhất chỉ nên làm chức năng nghiên cứu vạch đường lối, chiến lược phát triển dài hạn của cả nước, mọi việc cụ thể hãy giao cho các Tư lệnh ngành, Tư lệnh địa phương. Thế mới là dân chủ thực sự.  Hiệu quả của cách quản lý kiểu doanh nghiệp rất rõ ràng. Xin nêu vài thí dụ.  Ông Hindman Thị trưởng thành phố Columbia bang Missouri quản lý TP 100 nghìn dân này theo kiểu công ty mà Ủy ban Thành phố (chỉ có 7 người) được coi như Hội đồng Quản trị, mọi việc quản lý TP hàng ngày giao hẳn một người gọi là City Manager (được TP trả lương 120.000 USD/năm ; tuy toàn bộ UBTP đều làm không lương) thực thi. Với chức trách chấp hành các quyết nghị của Ủy ban TP, vị này coi như CEO công ty, được quyền tổ chức bộ máy làm việc riêng của mình. Công ty làm rất tốt việc của họ, từ cung cấp điện nước cho tới vệ sinh môi trường v.v… Tổng số viên chức ăn lương của TP, kể cả cảnh sát và lính chữa cháy, chỉ có 1.100 người. Kết quả Hindman (sinh 1933) được dân bầu làm Thị trưởng 5 khóa liền (1995-2010), nếu chưa già thì chắc vẫn còn được bầu.   Đại học Harvard cũng đặt dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Quản trị Harvard Corporation, một công ty chuyên lo gây nguồn tài chính và quản lý công việc nội bộ nhà trường, kể cả bổ nhiệm Hiệu trưởng. Nhờ thế Harvard có nguồn tài chính lên tới 27,4 tỷ USD (năm 2010), chẳng kém ngân sách nước ta. Thành tích giáo dục của họ thì miễn chê.   Công ty Apple đứng thứ nhì thế giới về giá trị thị trường (304 tỷ USD, gấp 3 lần GDP Việt Nam), có dự trữ tiền mặt tới 76,4 tỷ USD, hơn cả Bộ Tài chính Mỹ. Lãnh đạo một công ty lớn nhưng Steve Jobs chủ yếu lo việc hoạch định chiến lược phát triển công ty; mọi việc khác để các phòng ban và công ty con tự lo. Và các quyết sách đúng đắn của ông đã cứu công ty này từ chỗ giá cổ phiếu bằng khoảng 1-2 USD khi ông trở lại lãnh đạo Apple (1996) tăng lên tới 400 USD (2010). Khi ông ốm nặng phải từ chức CEO, cả thế giới đều tiếc nuối. Ngày 5/10 vừa qua, ông qua đời, cả nhân loại thương tiếc. Tổng thống Obama ca ngợi Steve Jobs là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất nước Mỹ. M. Bloomberg Thị trưởng huyền thoại của New York nói nước Mỹ đã mất đi một thiên tài, người sẽ được nhớ đến cùng với Einstein và Edison. CEO công ty Samsung (đang kiện cáo Apple) ca ngợi ông là doanh nhân vĩ đại… Phong cách lãnh đạo doanh nghiệp của Steve Jobs đáng để lãnh đạo các quốc gia noi theo.   —  (*) http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4404    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô? (Phần I)      Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành của nhà nước đối với mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, không phải bây giờ mới xuất hiện; nhưng ở ta đặt ra ngày càng bức bách, thu hút cả nước quan tâm, bởi nền kinh tế xã hội của ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, kèm vô số hệ lụy lên mọi mặt đời sống, xã hội, đạo đức, văn hoá, y tế, giáo dục… vốn cũng chỉ có thể giải quyết được trên nền tảng; bên cạnh những thành tựu được hầu hết giới học giả, chính khách thừa nhận chính là vấn đề thể chế.    Mô hình kinh tế  Nói đến thể chế kinh tế không thể không bắt đầu từ hai mô hình kinh tế  cơ bản được khoa học kinh tế phân loại thành “kinh tế thị trường” theo  đuổi mục đích lợi nhuận và đối lập với nó là “kinh tế quản lý tập trung”  hay “chỉ huy” nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đặc trưng ở các nước  khối xã hội chủ nghĩa. (Để tránh “kị húy” hoặc ngộ nhận tưởng có mối  quan hệ một một giữa bốn khái niệm “kinh tế chỉ huy”, “chủ nghĩa xã  hội”, “doanh nghiệp nhà nước”, “đảng cộng sản”, cần biết rằng, nền kinh  tế chỉ huy không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa mà có ở không ít nước.  Cũng không phải cứ đảng cộng sản tham chính hay chấp chính là nền kinh  tế mang mô hình quản lý tập trung, bởi thế giới hiện đại hầu như nước  nào cũng có đảng cộng sản, hoặc tham chính hoặc chấp chính tại nhiều  quốc gia; ngay cả những nước đứng đầu như Đức, Đảng Cộng sản tham gia  chính phủ hai tiểu bang. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy, không phải đặc  trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội mà có ở mọi quốc gia). Để đạt mục  đích nói trên, nền kinh tế thị trường có dấu hiệu đặc trưng sở hữu tư  nhân, tự do kinh doanh, phân phối theo lợi nhuận (thị trường chỉ là khái  niệm khoa học chỉ hoạt động tự do mua bán hiểu theo nghĩa chuyển quyền  sở hữu từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác); ngược lại nền kinh tế  quản lý tập trung dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất (các doanh  nghiệp cũng mua bán nhưng không thay đổi chủ sở hữu vẫn là nhà nước,  nên không gọi là thị trường), do nhà nước trực tiếp điều hành theo kế  hoạch từ trên xuống, phân phối theo lao động. Bên cạnh đó còn mô hình  kinh tế biến thể từ hai mô hình cơ bản, cũng dựa trên công hữu tư liệu  sản xuất nhưng doanh nghiệp tự chủ, áp dụng ở Nam Tư cũ (lúc đó được gọi  là “chủ nghĩa xét lại”). Từ thập niên 90 xuất hiện thêm mô hình biến  thể, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hay định hướng xã  hội chủ nghĩa ở Việt Nam.   Sự xuất hiện các biến thể đó là do hai mô hình kinh tế cơ bản trên chỉ  mới là điều kiện cần, con người chọn lựa hay không, hay tìm tòi những mô  hình khoa học mới là do lợi ích nó mang lại cho con người quyết định,  tức điều kiện đủ. Lợi ích kinh tế trước hết nằm ở hiệu quả, được Mác  khái quát, năng suất lao động là thước đo tính ưu việt của hình thái  kinh tế xã hội này đối với hình thái kinh tế xã hội khác, có nghĩa mô  hình chỉ là phương tiện phục vụ cho lợi ích con người chứ không phải  ngược lại. Việc Việt Nam và Trung Quốc buộc phải chuyển dổi mô hình cũng  không ngoài lý do lợi ích.   Nhưng mô hình kinh tế nào cũng gắn với chính thể quốc gia đó vốn quyết  định phân phối lại thu nhập quốc dân. Chính vì thế, như ở Đức, được bao  hàm trong khái niệm hiến định “chính thể Đức là một nhà nước liên bang  dân chủ, xã hội”, nền kinh tế Đức đương nhiên mang nội hàm mặc định “nền  kinh tế thị trường, xã hội” hiểu theo nghĩa vừa bảo đảm cho bất cứ ai  cũng có cơ hội kinh doanh trở thành “tỷ phú”; nhưng vừa bảo đảm tài lực  cho an sinh và phúc lợi toàn dân; bất cứ ai kể cả người nước ngoài được  quyền sinh sống ở Đức sinh con đều có lương con; thai nghén, chửa đẻ,  chăm con nhỏ được nghỉ việc hưởng trợ cấp; thất nghiệp; ốm đau, tai nạn  nghề nghiệp, về hưu có bảo hiểm trả; bất kỳ người dân nào không có hoặc  kém thu nhập đều được nhà nước bảo đảm đời sống cơ bản (nghĩa là mức  bình thường) về ăn, ở, nuôi dạy con cái, học hành, đi lại, chữa bệnh..,  nếu không sẽ bị họ kiện ra toà chế tài nhà nước phải thực hiện. Vì vậy, ở  Đức không ai không có chỗ ở, bị bỏ đói rách thiếu thốn, ốm đau, thất  học, thiếu điện nước, lò sưởi, phương tiện đi lại cần thiết…, ngoại  trừ chính họ dùng tiền trợ cấp đó vào mục đích khác như rượu chè, cờ  bạc, đĩ điếm, xì ke, ma túy…   Còn nước ta hiện đã hiến định mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã  hội chủ nghĩa“. Cải cách thể chế kinh tế ở ta vì vậy chính là tạo lập  hành lang pháp lý bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo đúng mô hình cơ  bản của “nền kinh tế thị trường” (vốn là một khái niệm phổ quát dù tính  chất gì); trên nền tảng đó bảo đảm mục đích tốt đẹp “dân giàu nước mạnh,  xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính là nội hàm của khái  niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” đi kèm trong hiến pháp mang tính chế  tài đối với nhà nước. Cải cách đó vì vậy thuộc tầm cấp vĩ mô, trách  nhiệm hiến định của Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ, trước nhân dân;  quyết định sự tín nhiệm của từng người dân (tổng hợp lại chính là chủ  nhân đất nước) đối với chính thể (sẽ được bàn tới ở một chuyên đề khác).    Mô hình doanh nghiệp    Tuy nhiên, nền kinh tế như một cơ thể sống, dù thuộc mô hình nào, cũng  bao gồm các tế bào doanh nghiệp tương thích hợp thành. Nên vấn đề cải  cách thể chế kinh tế không thể thành công, nếu chỉ mỗi ở cấp vĩ mô, mà  trước và trên hết, có bột mới gột nên hồ, phải cải cách chính tế bào xây  dựng nên nó tạm gọi là cải cách vi mô, không thể bê y nguyên doanh  nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa xưa nay đặt vào  mô hình kinh tế thị trường, hay chỉ cần bổ sung doanh nghiệp các thành  phần khác là đủ; giải thích tại sao nước ta chưa được thế giới thừa nhận  nền kinh tế thị trường, không phải do con số doanh nghiệp nhà nước mà  do bản chất doanh nghiệp nhà nước không thay đổi, phải chịu chật vật  trong các đàm phán hiệp định kinh tế thế giới.  Xuất phát từ mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đảng và nhà  nước điều hành kinh tế thông suốt theo chiều dọc từ trung ương tới điạ  phương, theo chiều ngang bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước mô hình trên  được hành chính hoá trở thành một bộ phận của các cấp hành chính: cấp I  (thuộc trung ương), cấp II (tỉnh thành), III (huyện), chịu sự điều khiển  của chính quyền các cấp này, đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành  nền kinh tế vĩ mô. Từ đó, sự vận hành bên trong doanh nghiệp cũng phải  tuân thủ nguyên tắc quản lý nhà nước (được dạy trong các giáo trình kinh  tế cơ bản) như “thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế”, “tập trung  dân chủ”, “kế hoạch hoá”, “phân phối theo lao động”…Các nguyên tắc vận  hành đó tự động đặt vai trò, trách nhiệm quyết định kinh doanh lên  đảng, nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên (gọi là “bộ tứ”). Thuật ngữ  “nền kinh tế chỉ huy” không chỉ phản ảnh đặc trưng của mô hình mà cả tế  bào doanh nghiệp tạo nên nó; kinh doanh bằng quyền lực nhà nước, chứ  không phải bằng thị trường. Xét về mặt khoa học, doanh nghiệp vận hành  như vậy hoàn toàn đúng với mô hình kinh tế quản lý tập trung đã được  khoa học phân loại.   Tuy nhiên xét về lợi ích, doanh nghiệp vận hành như thế đã biến lãnh đạo  doanh nghiệp trở thành công chức nhà nước vốn có trách nhiệm nhất nhất  chấp hành chỉ thị cấp trên, nghị quyết đảng ủy; bù lại, trách nhiệm pháp  lý cá nhân đối với kết quả kinh doanh cùng các vi phạm pháp luật của  doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quyết định số phận tương lai sống còn của  doanh nghiệp, họ được lợi không phải gánh chịu hoàn toàn, ngoại trừ cá  nhân họ vi phạm hình sự. (Một mô hình bù trừ như vậy được gọi là cân  bằng, có thể tồn tại vĩnh cửu, chỉ thay đổi một khi vị trí cân bằng đó  thay đổi bởi một cú hích nào đó). Vụ án Dương Chí Dũng là một điển hình,  nếu không bị cáo buộc tham nhũng thì cũng chẳng mấy hề hấn dù kinh  doanh ụ nổi gây thiệt hại cho Vinashin tới cả chục triệu đô la bởi nó  được thông qua mọi cấp lãnh đạo liên quan; so với trường hợp tập đoàn  Enron Mỹ phá sản, Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường  tới 45 triệu đô la (gấp hơn bốn lần trị giá thiệt hại ụ nổi). Bộ máy  nhân công doanh nghiệp cũng hưởng lương theo ngạch bậc như công chức từ  cấp thấp lên cao, không tùy thuộc kết quả kinh doanh, mặc dù chính họ  quyết định nó. Bù lại, hiện tượng “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” chính là  sản phẩm công chức hoá hoạt động doanh nghiệp, chứ không hẳn họ thiếu  năng lực hay đạo đức kinh doanh. Đặc biệt khi chuyển đổi sang mô hình  kinh tế thị trường như ở ta hay Trung Quốc, cho phép lãnh đạo sở hữu tư  nhân tài sản, doanh nghiệp, cổ phần, thì ngay lập tức từ khởi thủy vụ  lợi phát triển nhanh chóng thành tham nhũng, doanh nghiệp sân sau, rút  ruột công trình, dự án vô bổ… được thế bùng phát không thể kiểm soát,  chừng nào thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn như xưa nay.   Trong khi đó, xuất phát từ bản chất mô hình nhằm mục đích lợi nhuận,  doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác (ngoại  trừ doanh nghiệp công ích), không thể đóng vai trò công cụ nhà nước  điều hành kinh tế vĩ mô; công cụ đó là hành lang pháp lý và tài lực để  thực hiện nó chứ không phải doanh nghiệp; từng doanh nghiệp chịu tác  động của cả nền kinh tế, chứ mỗi mình nó rủi ro nay phất mai phá sản như  Vinaschin không thể nói trước, làm sao đủ sức thay đổi cục diện để đóng  vai trò công cụ điều hành. Nó cũng không có chức năng xã hội vốn thuộc  nhà nước, được nó cung cấp nền tảng tài lực, trực tiếp như thuế lợi tức,  thu nhập, môn bài… các khoản bảo hiểm xã hội phải đóng, gián tiếp như  thuế giá trị gia tăng, bắc cầu như thuế thu nhập của nhân công doanh  nghiệp. Nó là một pháp nhân độc lập, như bất kỳ doanh nghiệp tư nhân  nào. Giám đốc đại diện chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn trước pháp  luật hiểu theo nghĩa bị kiện và thưa kiện khi xảy ra tranh chấp, làm  việc và trả thù lao theo hợp đồng ký kết với đại diện chủ doanh nghiệp  (nhà nước), tuân thủ điều lệ doanh nghiệp vốn đóng vai trò chế tài như  hiến pháp đối với tổng thống, thủ tướng; không chịu bất cứ sự chỉ huy  kinh doanh của bất cứ cấp hành chính nào. Tuy nhiên điều đó không có  nghĩa doanh nghiệp là một vương quốc, giám đốc là vua; tương tự như tổng  thống thủ tướng, doanh nghiệp bị giám sát bởi các cơ quan nhà nước liên  quan, do các văn bản lập pháp thích ứng chế tài. Cũng xuất phát từ chỗ  sinh ra chỉ nhằm mục đich kinh doanh, doanh nghiệp cũng không chịu tác  động chính trị hay xã hội, bị cấm thành lập trong doanh nghiệp bất kỳ  đảng phái nào, hội đoàn gì; ngoài công đoàn để đối thoại với giới chủ  (thậm chí cử người tham gia hội đồng quản trị) bởi chính họ cùng trực  tiếp làm ra giá trị gia tăng, lợi nhuận doanh nghiệp. Ngạch lương nhân  công được trả theo thoả thuận trong hợp đồng ký kết cá nhân hoặc tâp  thể, nghĩa là phụ thuộc lợi nhuận, không phải trả lương như cho công  chức do nhà nước ấn định thang bậc. Đồng lương đó tạo sức ép lên cả  người trả lương lẫn người nhận phải kinh doanh có hiệu qủa nếu không sẽ  bị phá sản, cả hai đều thiệt.   Một khi mô hình doanh nghiệp nhà nước chẳng khác gì tư nhân đối với nền  kinh tế, thì bài toán phân công lao động tối ưu là nhà nước tập trung  quản trị đất nước, còn người dân chuyên làm kinh tế.    (Xem tiếp phần II, Những thực tế đặt ra)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô? (Phần II)      Việc cải cách thể chế kinh tế thực hiện như thế nào lại thuộc phương án lựa chọn tức chính sách, do nhà nước quyết định. Tuy nhiên thành công hay không, ở mức độ nào, tương lai ra sao, trớ trêu lại không tùy thuộc chủ quan của nhà nước mà phụ thuộc vào người thực hiện và thụ hưởng kết qủa của nó, tức người dân, lợi ích họ, trong cả chính sách vi mô lẫn vĩ mô, cả trong chuyển đổi mô hình kinh tế, lẫn xã hội, chính trị.     Khởi thủy và kết thúc một quy trình quyết sách. Trong nền kinh tế chỉ huy ở các nước XHCN trước đây, mọi quyết sách đều được khởi xướng từ cấp cao nhất dưới dạng nghị quyết, từ Đảng sang nhà nước, đoàn thể, ban hành xuống (điển hình như ở Liên Xô, các nước XNCN Đông Âu cũ với chính sách “quốc hữu hoá“, “xây dựng các tổ hợp“…, còn các nước qúa độ như ta thì “cải tạo công thương nghiệp tư nhân“, “thành lập công ty quốc doanh“, nằm trong “cách mạng quan hệ sản xuất“, “đóng vai trò mở đường“) kèm các phương thức quán triệt, thảo luận, học tập, triển khai tuần tự trên xuống bằng các quyết định hành chính mà không nhất thiết phải có văn bản lập pháp, tới từng người dân; hầu như không gặp trở ngại, phản đối gì từ trên xuống, từ trong Đảng, bộ máy nhà nước ra ngoài. Điều đó đúng với mô hình khoa học đã phân loại này, bởi phần do mô hình kinh tế hoàn toàn mới so với trước đó, chưa được kiểm nghiệm thực tế, phải sáng tạo thí điểm, phần do được  mặc định phục vụ lợi ích đồng đều cho tất cả, không ai sở hữu nhà máy, cổ phần, đất đai… để hơn ai như trong thực tế nền kinh tế thị trrường.      Quyết sách trong nền kinh tế thị trường quy trình diễn ra theo chiều ngược lại, bởi mô hình này đã có sẵn. Do gắn liền với thị trường, nên lợi ích bị phân hoá, thậm chí đối lập; cùng một chính sách, thị trường có thể sẽ phản ứng khác nhau, bất kể khu vực nhà nước hay tư nhân, có thể doanh nghiệp này lợi, phất, doanh nghiệp khác thiệt, phá sản, lao động nơi này chắc chắn, nơi khác mất việc… Vì vậy mọi chính sách kinh tế để được mọi người dân đóng vai trò chủ nhân đất nước xuất phát từ lợi ích chính họ khả dĩ chấp nhận được, đều phải khởi đầu từ việc đón bắt các tín hiệu của thị trường. Nhưng thị trường không đơn thuần là một cái chợ, nhà nước là chủ chợ, mà là cả một nền kinh tế liên quan tới toàn xã hội, đến mọi pháp nhân và cá nhân tham gia trong đó; tín hiệu thị trường chính là ý kiến, đòi hỏi của mọi tầng lớp nhân dân, tức xã hội dân sự, của mọi đảng phái theo đuổi những mục tiêu nhất quán nào đó, của các nhà khoa học nhìn nhận vấn đề dưới dạng quy luật, của bộ máy hành chính thực thi…, được cơ quan lập pháp đại diện đầy đủ cho mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp nghiên cứu, xem xét, bàn cãi, thoả hiệp thành chính sách, tức vạch ra những mục tiêu, phương thức đạt được, biến nó thành văn bản lập pháp mới, hoặc sửa đổi các văn bản cũ, kết thúc một quy trình ban hành chính sách. Như vậy nhà nước không thể tự quyền (chỉ được làm những gì luật pháp cho phép), bộ máy hành chính (ở ta theo Hiến pháp đứng đầu là Thủ tướng)  không thể tự quyết, một khi chưa có văn bản lập pháp, hoặc chưa được văn bản đó ủy quyền. Vì vậy mọi chính sách chỉ có giá trị thi hành một khi được đưa vào văn bản lập pháp bằng các chuẩn mực quy tắc xử sự đong đo đếm được có chế tài, để buộc tất cả bộ máy nhà nước các cấp tự động thực thi, không cần mệnh lệnh hành chính vốn chỉ áp dụng trong nội bộ hệ thống hành chính.      Đặc trưng doanh nghiệp nhà nước hiện nay ở ta. Khác với doanh nghiệp nhà nước trong mô hình kinh tế thị trường, hoàn toàn độc lập chịu tác động của quy luật thị trường, cũng khác với trong mô hình kinh tế tập trung khối XHCN trước đây do cơ quan hành chính đóng vai trò cấp trên điều hành trực tiếp để hoàn thành kế hoạch nhà nước giao, doanh nghiệp trong mô hình thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ta được điều chỉnh bằng “Luật Doanh nghiệp Nhà nước“ số 4/2003/QH11 thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI, ban hành ngày 26.11.2003. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước ta áp dụng hình thức tổ chức của các loại hình doanh nghiệp cơ bản trong nền kinh tế thị trường (trách nhiệm hữu hạn, cổ phần, tập đoàn, liên kết ngang, dọc, chéo…), nhờ đó có tư cách pháp nhân tương đương để tham gia vào nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước. Về cơ bản, cũng không còn là nơi được phân bổ thực hiện kế hoạch kinh tế tổng thể từ trung ương đến điạ phương với các chỉ tiêu pháp lệnh từ kế hoạch doanh thu, tới kế hoạch nguyên vật liệu, vốn, trang thiết bị, lao động, qũy lương, trích lập khen thưởng… như trước đây, mà được tự chủ tương đối, gắn một phần lợi ích kinh tế với kết qủa kinh doanh. Điểm không thay đổi so với trước là vai trò quyết định của cơ quan hành chính với tư cách, “người quyết định thành lập công ty“; trong tổng số 95 Điều khoản, khái niệm “người quyết định thành lập công ty“ có mặt tại 23 vị trí, được coi là người quyết định trực tiếp hoặc cuối cùng như “tư lệnh“ đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp vẫn là một bộ phận thuộc quyền cấp hành chính thành lập nó, đúng với mô hình kinh tế chỉ huy đã được khoa học phân loại. Tới văn bản lập quy, vai trò đó càng được cụ thể hoá hơn, điển hình như Nghị định 2010/NĐ-CP thành lập SCIC. Trong tổng cộng 79 điều của nghị định có tới 20 điều xác lập quyền và trách nhiệm điều hành của Thủ tướng. Tuy nhiên quyền quyết định của người quyết định thành lập công ty bị luật pháp giới hạn như thế nào và chịu trách nhiệm tới đâu đối với quyết định đó vốn là điều bắt buộc của một văn bản pháp lý thì bỏ ngỏ. Kết qủa, doanh nghiệp nhà nước hiện nay ở ta mang hình thức tổ chức của nền kinh tế thị trường, nhưng bản chất hoạt động vẫn thuộc mô hình cơ bản quản lý kinh tế tập trung, không một cá nhân nào chịu hoàn toàn trách nhiệm pháp lý (bị phạt tiền, phạt tù) đối với hoạt động của doanh nghiệp cùng hiệu qủa của nó.      Doanh nghiệp nhà nước ta hiện ở đâu trong nền kinh tế quốc dân và thế giới? Theo số liệu của Bộ Tài chính và Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương,  năm 2011 nước ta còn 1.039 DNNN. Trong giai đoạn 2006 – 2010, nó thu hút tới 45% tổng vốn đầu tư, nhưng chỉ tạo ra 25-27% GDP, cung cấp chừng 23% việc làm, đóng góp ngân sách 17,6% chỉ bằng 4/5 khu vực tư nhân vốn chỉ chiếm 28% tổng vốn đầu tư nhưng lại tạo ra tới 46% GDP.      Riêng các tập đoàn và tổng công ty nhà nước ở ta, lỗ luỹ kế hết năm 2011 lên tới 26.100 tỷ đồng. Tổng nợ phải trả tính đến 30/10/2010 lên 1.088.290 tỷ đồng, gấp tới 1,67 lần vốn chủ sở hữu.   Tính riêng trong năm 2008, hiệu quả đầu tư của 56/91 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) dưới 15%, tức thấp hơn mặt bằng lãi suất năm đó là năm có chỉ số CPI trung bình lên tới 20%, nghĩa là thua lỗ. Tương tự, năm 2010 tỷ lệ ROE 16,5%, tương đương với lãi suất vay thương mại phổ biến trên thị trường năm ấy.     Xét trên bình diện thế giới, DNNN ở các nước công nghiệp, bình quân chỉ chiếm dưới 10% GDP, còn ở các nước đang phát triển trên 10%.     Từ các số liệu trên, về mặt lo gíc học dễ dàng suy ra, con đường cải cách thể chế kinh tế là giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu tập đoàn tổng công ty. Nhưng liệu kết quả có khắc phục nổi những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước nói trên, khi nó hoạt động trong mô hình kinh tế  mới nhưng cơ bản vẫn giữ nguyên bản chất như trong mô hình kinh tế cũ, ngay cả khi giả sử cả nước chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nước ?     Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, giai đoạn 2011 – 2015” liệu mang tính chế tài? Được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2012, đề án có mục đích đảm bảo DNNN có cơ cấu hợp lý…  làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo… Đề án đưa ra 5 nhiệm vụ: – Phân loại doanh nghiệp theo tỷ lệ vốn nhà nước và thua lỗ để xử lý thích ứng… – Thoái vốn đầu tư không thuộc ngành nghề kinh doanh chính… – Tái cơ cấu doanh nghiệp theo ngành lĩnh vực… – Tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty… – Hoàn thiện thể chế… Sáu giải pháp được đề cập gồm: – Quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Trung ương Đảng và kết luận của Bộ Chính trị… – Khẩn trương hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới DNNN của các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước… – Từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước trình Đề án tái cơ cấu để phê duyệt trong Quý III năm 2012 và triển khai thực hiện… – Các Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật xây dựng phương án tái cơ cấu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt… – Các Bộ, ngành trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền thể chế, cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước… – Tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước trong thực hiện tái cơ cấu, phương án sắp xếp, cổ phần hóa đã được phê duyệt… Đơn vị nào không thực hiện được phải kiểm điểm, làm rõ nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.      Đề án đã được phê duyệt này không phải là một văn bản lập pháp, mà là một văn bản hành chính do người đứng đầu cơ quan hành chính ban hành, nên người thực hiện không phải chịu trách nhiệm pháp lý với kết qủa tái cơ cấu doanh nghiệp mà chỉ chịu trách nhiệm hành chính trước Chính phủ, Thủ tướng, tức kiểm điểm hoặc cùng lắm bị cách chức. Trong khi đó, bản chất của đề án này chính là tái cơ cấu doanh nghiệp bằng thể chế hoá, nghĩa là liên quan tới các văn bản lập pháp mang tính chế tài điều chỉnh mọi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong mô hình kinh tế thị trường (như Luật doanh nghiệp nhà nước lẽ ra cần được sửa đổi).       “Điều hành kinh tế giống như chỉ huy một cuộc chiến“ ? Đó là giật tít bài phỏng vấn Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh của Báo Đầu Tư. Nó cho thấy trách nhiệm nặng nề, ý chí kiên quyết, biện pháp nhạy bén, linh hoạt, tư tưởng sẵn sàng đối đầu với khó khăn như trong cuộc chiến của Chính phủ cùng các thành viên. Tuy nhiên cũng từ đó về mặt khoa học kinh tế  lại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả vĩ mô lẫn vi mô. Phó Thủ tướng cho rằng “Điều hành kinh tế cũng giống như chỉ huy cuộc chiến“, có nghĩa cơ quan hành chính vẫn điều hành trực tiếp doanh nghiệp như cấp dưới của họ trong mô hình kinh tế chỉ huy trước đây? “Kéo pháo vào rồi kéo pháo ra“ trong Điện Biên Phủ được Phó Thủ tướng viện dẫn để giải thích lý do tất yếu khi “nhập công ty biến thành tập đoàn“, rồi lại “tách tập đoàn thành công ty“ bị giới chuyên gia cho là “vòng luẩn quẩn“.      Thực tế trong nền kinh tế chỉ huy, nhà nước tách, nhập, giải thể doanh nghiệp đều hầu như không hạch toán kinh tế mà chỉ nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, và hệ quả cũng chỉ liên quan tới lợi ích chung của nhà nước, không liên quan tới lợi ích chỉ riêng ai, và cũng không ai bị chế tài pháp lý khi chính sách phi kinh tế. Trong mô hình nền kinh tế thị trường, tách hay nhập hầu như không phụ thuộc ý chí chủ quan của nhà nước, mà là quá trình tự thân vận động mang tính đào thải, do chính bản thân doanh nghiệp đó quyết định. Mạnh thì “nuốt“ các doanh nghiệp khác để phình to có thể lên tới tập đoàn thậm chí đa quốc gia; yếu phá sản thì bị các doanh nghiệp khác nuốt. Nhà nước sáng suốt chỉ ở chỗ, hỗ trợ tài chính, tạo hành lang pháp lý với chế tài thích ứng để quá trình đào thải phát triển đó minh bạch và công bằng.      Trả lời câu hỏi của phóng viên lo ngại, “nếu quá thận trọng trong thoái vốn… thì tiến trình tái cơ cấu khó có thể tiến nhanh được? Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh trả lời “Nhà nước cũng phải chấp nhận có lúc được, lúc thua“. “Nếu thấy, trong tương lai, trị giá cổ phần nhà nước ở doanh nghiệp nào đó có khả năng tăng, thì có thể đầu tư lâu dài hơn, chứ chưa nhất thiết phải bán ngay“. Câu hỏi đặt ra, ai là người “nếu thấy“ và cá nhân họ phải chịu tránh nhiệm gì, nếu  cái “thấy “ của họ “ngắn“ hoặc sai? Tức liên quan tới năng lực kinh doanh vốn không phải giáo sư, tiến sỹ, chính khách, quan chức nào cũng có. Đó là một nghề cần năng khiếu như tài tử, đòi hỏi mạo hiểm, chấp nhận rủi ro, trả giá bằng tài sản của chính cá nhân mình; trong khi “hành chính“ là một nghề của công chức, và cũng không có khả năng trả giá đó. Vậy, liệu có nên để cơ quan hành chính trực tiếp kinh doanh (ngôn ngữ dân gian gọi là “đi buôn“ hay thậm chí “đánh bạc“) như thế, hay chỉ cần ký hợp đồng thuê giám đốc tài năng điều hành doanh nghiệp nhà nước và chịu chế tài với kết qủa hoạt động của nó, như trường hợp Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường tới 45 triệu đô la khi tập đoàn Enron Mỹ phá sản ?  Hay như năm 2010, Chính phủ Tiểu bang Sachsen Đức đã đòi Cựu Ban Giám đốc 8 thành viên của ngân hàng Sachsen LB thuộc sở hữu Tiểu bang, phải bồi thường 60 triệu Euro vì đã để ngân hàng này vào thế phá sản vào tháng 8.2007, mặc dù họ không hề tham nhũng vụ lợi.     (Còn tiếp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách và tái cơ cấu kinh tế  để phát triển kinh tế số hóa      Nền kinh tế số hóa hay còn được gọi là Nền Kinh tế Internet (Internet Economy), nền kinh tế mới, hay nền kinh tế mạng (Web Economy) có thể được quan niệm bao gồm: 1) Kết cấu hạ tầng kỹ thuật gồm mạng viễn thông, hệ thống mạng, trang thiết bị, nguồn nhân lực về công nghệ thông tin; 2) Kinh doanh điện tử, quy mô hàng hóa, giao dịch được thực hiện qua mạng, sử dụng máy tính; 3)Thương mại điện tử, ngân hàng điện tử, thanh toán điện tử.      Giao hàng của Tiki, một doanh nghiệp thương mại điện tử ở Việt Nam. Ảnh: Báo đầu tư.   Quy mô của nền kinh tế số hóa trên thế giới được Forbes ước lượng đạt 3000 tỷ USD (2016) và tăng lên nhanh chóng. Phát triển kinh tế số hóa là một yếu tố quan trọng để hội nhập quốc tế hiện nay như quảng cáo, tiếp thị qua mạng (Facebook hay Instagram), giải trí (Netflix, Pinterest), vận tải (Uber, Grab), bán buôn, bán lẻ (Alibaba, Amazon, Lazada), kinh tế chia sẻ (Airbnb) cung cấp trăm ngàn phòng cho thuê qua mạng mà không sở hữu bất kỳ bất động sản nào, giáo dục từ xa, giáo dục điện tử qua mang (Coursera, KHAN Academy) v.v., tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, gia đình và cá nhân. Nền kinh tế số hóa phát triển vượt biên giới, kết nối toàn cầu, và nếu không phát triển kinh tế số hóa, kết nối qua mạng, giới thiệu công ty, sản phẩm, dịch vụ, cung cấp thông tin qua mạng, ngày nay không thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.  Các nước ASEAN có kế hoạch tăng kinh tế số hiện nay từ 150 tỷ USD lên 1000 tỷ USD trong 10 năm tới. Xếp hạng của AT Kearney (axiata ASEAN Digital Revolution, 2017) cho thấy Việt Nam xếp sau Thái Lan, Malaysia và Brunei về sự phát triển kinh tế số hóa.  Trường Fletcher thuộc Đại học Tufts (Hoa Kỳ) đã soạn thảo Báo cáo Hành tinh số hóa (Digital Planet 2017)1, trong đó đã công bố Chỉ số Phát triển số hóa (DEI-Digital Evolution Index). DEI được xây dựng dựa trên 100 chỉ số gồm bốn nhóm chính:  ● Kết cấu hạ tầng kỹ thuật về mạng Internet;  ● Nhu cầu về công nghệ số của người tiêu dùng;  ● Môi trường pháp lý (luật pháp, chính sách của chính phủ);  Sáng tạo và đổi mới (tỷ lệ đầu tư vào nghiên cứu, triển khai, số doanh nghiệp khởi nghiệp về công nghệ số).  Báo cáo này cũng xếp hạng các nước được đánh giá thành bốn nhóm:  ● Vượt trội (Stand Out) gồm những nước có trình đô phát triển kinh tế số hóa cao và tiếp tục phát triển năng động như Singapore, Hong Kong, New Zealand, Estonia, Nhật Bản, Israel…  ● Chững lại (Stall Out) là những nền kinh tế đã đạt được trình độ phát triển kinh tế số hóa cao nhưng nhịp độ tiến triển bị chậm lại như Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ v.v. Nhóm nước này chứng tỏ đạt được trình độ cao về kinh tế số hóa trong quá khứ không bảo đảm những nước đó sẽ tiếp tục duy trì được vị trí cao trong tương lai. Báo cáo khuyến nghị các nước này phải tự đổi mới nền kinh tế, loại bỏ những cản trở trong đối mới sáng tạo. Các nước thuộc nhóm này cần học hỏi kinh nghiệm từ những nước thuộc nhóm Vượt trội để tiếp tục tăng trưởng dựa trên sáng tạo công nghệ.  ● Đột phá (Break Out) gồm những nền kinh tế hiện nay chỉ đạt được trình độ số hóa chưa cao nhưng đang triển khai sự phát triển số hóa năng động thông qua chính sách và đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nhóm nước này bao gồm Trung Quốc, Malaysia, A Rập Saudi, nước Nga. Nhóm này có thể gia nhập nhóm Vượt trội trong tương lai.  ● Chững lại (Watch Out) gồm những nước có trình độ kinh tế số hóa thấp và sẽ bị tụt hậu so với các nước khác.  Việt Nam được xếp thứ 48/60 nền kinh tế với điểm số 2,19/5 điểm và ở trong nhóm các nền kinh tế Đột phá (Break Out).  ***  Nhờ tự do hóa và chấp nhận cạnh tranh trong công nghệ thông tin và truyền thông, giá cước phí đã giảm đáng kể, năm 2017, Việt Nam đã có 64 triệu người sử dụng Internet, chiếm 67% dân số. Nếu xét lao động trong 8,6 triệu hộ nông dân chiếm 38% tổng số lao động và lao động trong các hộ gia đình thuộc kinh tế phi chính thức chiếm 32% thì đây là một tỷ lệ sử dụng Internet khá cao. Tuy vậy, đa số người sử dụng Internet, chiếm 60% người sử dụng chưa biết vận dụng vào kinh doanh.      90% thanh toán ở Việt Nam vẫn là trả tiền mặt khi nhận hàng (COD, Cash On Delivery). Điều này cho thấy rào cản để vận dụng trong kinh doanh kinh tế số hóa, mua bán trực tuyến, thanh toán điện tử không phải là vấn đề kỹ thuật mà là tạo niềm tin trong kinh doanh.        Hơn 31% GDP là kinh tế hộ gia đình siêu nhỏ, không có thương hiệu, kinh doanh phi hình thức không cần hóa đơn, chứng từ thì đóng góp vào kinh tế số hóa của Việt Nam chủ yếu do khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước đóng góp. Để thực sự chuyển sang nền kinh tế số hóa, rất cần chính sách chuyển khối kinh tế hộ gia đình thành các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp và hoạt động theo luật pháp, kết nối theo chuỗi giá trị. Cần thực hiện công khai minh bạch, cắt giảm hẳn chi phí ngoài pháp luật, thay vì đầu tư vào “quan hệ thân hữu”, “doanh nghiệp sân sau”, “công nghiệp phong bì” đầu tư vào khoa học-công nghệ thì kinh tế số hóa mới thực sự thâm nhập vào kinh tế-xã hội nước ta.  Từ 2008, Việt Nam đã có “ví điện tử” và hiện nay đã có 9 doanh nghiệp triển khai dịch vụ thanh toán điện tử, nhưng hiện nay 90% thanh toán ở Việt Nam vẫn là trả tiền mặt khi nhận hàng (COD, Cash On Delivery). Điều này cho thấy rào cản để vận dụng trong kinh doanh kinh tế số hóa, mua bán trực tuyến, thanh toán điện tử không phải là vấn đề kỹ thuật mà là tạo niềm tin trong kinh doanh.  Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Chính phủ có vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế số hóa. Mặc dầu đã ban hành từ rất sớm luật pháp, nghị quyết về vận dụng công nghệ thông tin v.v. nhưng xếp hạng về Chính phủ điện tử (E.Government) theo Liên Hiệp Quốc (UNPAN) của Việt Nam còn quá thấp, chỉ xếp thứ 89 trong 193 nền kinh tế, mặc dầu đã tăng 10 bậc2 so với năm 2014, xếp thứ 6 trong 11 nước ASEAN, sau Singapore (thứ 4), Malaysia (60), Philipiné (71), Thái Lan (77) và Brunei (83) trong bảng xếp hạng của UNPAN.  Việc xây dựng kho dữ liệu tương thích giữa các bộ, ngành, địa phương, tính công khai minh bạch, khung pháp luật như chữ ký điện tử v.v. còn cần rất nhiều nỗ lực. Chữ ký điện tử tuy đã được công nhận nhưng thanh tra, kiểm toán vẫn đòi hỏi chữ ký “tươi”, doanh nghiệp vẫn phải in một núi hóa đơn, chứng từ để trình xét duyệt. Chính phủ đã liên tục ra Nghị quyết về Chính phủ điện tử như Nghị Quyết 36a, ngày 14 tháng 10 năm 2015, đặt mục tiêu đến năm 2017 nâng cao tất cả các chỉ số về dịch vụ công trực tuyến, hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực, nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về Chính phủ điện tử nhưng không có Chương trình hành động cụ thể, thiếu trách nhiệm giải trình. Ngày 14.5.2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì buổi làm việc của Chính phủ về Chính phủ điện tử, quyết định thành lập Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử do Thủ tướng trực tiếp đứng đầu, khẩn trương triển khai các mặt công tác về xây dựng Chính phủ điện tử. Rất hy vọng với quyết tâm mới, Việt Nam sẽ có bước tiến mới trong phát triển nền kinh tế số hóa và Chính phủ điện tử.  —-  Chú thích:  1 Digital Planet 2017, How Competitivenes and Trust in Digital Economies vary across the world , The Fletcher School, Tufts University.  2 UNPAN, E.Government Survey 2016, UN, publicadministration.un.org.       Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang Cái dụng của vô dụng là đại dụng      Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, liệu chúng ta có cần phải xây dựng các ngành khoa học tự nhiên hay không? Để trả lời câu hỏi này thì trước hết lại phải trả lời một câu hỏi khác lớn hơn: chúng ta sẽ xây dựng một xã hội với định hướng giá trị văn hóa như thế nào trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa sẽ diễn ra mãnh liệt vào thế kỷ 21?    Các ngành khoa học tự nhiên (KHTN) là một sản phẩm du nhập từ nền văn hóa khác. Văn hóa truyền thống của chúng ta không tôn vinh các hoạt động tìm hiểu bí ẩn của thế giới tự nhiên. Chúng ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, mà Khổng Tử thì không muốn bàn đến đề tài này, cho đó là chuyện quỷ thần, khuyên các học trò nên giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Đề tài đáng bàn cho người quân tử chỉ là chuyện nhân nghĩa, tu thân, tề gia, trị quốc… tức là các vấn đề triết lý nhân sinh. Đáng chú ý là những đề tài này cũng không giống các ngành triết học của phương Tây, vì nó không dựa vào hệ thống khái niệm và lô-gic như phương Tây. Ở đây tôi chỉ muốn lưu ý tới sự khác biệt Đông Tây mà chưa dám bàn đến chuyện hay dở.      Các dân tộc phương Đông chỉ bắt đầu quan tâm tới khoa học kỹ thuật phương Tây khi tiếng súng từ các                 pháo hạm của bọn thực dân xâm lược nổ vang trên bờ biển của họ. Cuộc đụng độ Đông – Tây này dẫn tới làn sóng cải cách sâu rộng ở các nước phương Đông mà nội dung là xem xét lại nền văn hóa truyền thống để loại bỏ đi những gì hủ bại và học tập những gì là tinh túy của văn hóa phương Tây. Ở nước ta, phong trào này diễn ra vào nửa đầu thế kỷ 20. Rất tiếc là đối với KHTN chưa có sự xem xét nào đáng kể. Đại để chỉ là những lời kêu gọi học tập khoa học phương Tây để xây dựng đất nước hùng mạnh. Tâm thức phổ biến chỉ là nhìn thấy hiệu quả ứng dụng mà thấy cần thiết phải học tập và xây dựng ngành KHTN. Hoàn toàn ngược với văn hóa người phương Tây nghiên cứu cơ bản vì ham muốn hiểu biết và những ứng dụng kỹ thuật chỉ là hệ quả của những khám phá quy luật. Nhiều khi những ứng dụng lại bất ngờ ngay cả đối với người khám phá ra quy luật. Nhưng ở ta lại thường bắt buộc các nhà KHTN phải trả lời trước về những ứng dụng của đề tài nghiên cứu. Và trong dư luận xã hội lại cho rằng các KHTN của chúng ta chẳng làm được cái gì ra trò (lẽ dĩ nhiên có vấn đề: với điều kiện đã có, có thể tốt hơn hiện nay không? Nhưng đó không phải là đề tài của bài viết này). Sự thất vọng càng tăng thêm khi trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, người ta thấy rằng chỉ cần có tiền là có thể mua được các sản phẩm kỹ thuật cao mà chẳng cần đến các nhà KHTN: hệ thống điện thoại viễn thông ta có hiện nay là một ví dụ. Câu hỏi tiếp theo là: thế ta cần xây dựng ngành KHTN để làm gì? Một cách hỏi khác: liệu chúng ta có cần phải xây dựng ngành KHTN hay không? Để trả lời câu hỏi này thì trước hết lại phải trả lời một câu hỏi khác lớn hơn: chúng ta sẽ xây dựng một xã hội với định hướng giá trị văn hóa như thế nào trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa sẽ diễn ra mãnh liệt vào thế kỷ 21?                     Theo sự hiểu biết của tôi thì nếu chỉ xuất phát thuần túy từ khía cạnh thực dụng, câu trả lời sẽ là: chúng ta có thể không cần. Nhiều người sẽ bảo: không được. Chúng ta bây giờ cần có điện, đường sá giao thông hiện đại, liên lạc viễn thông để có thể sản xuất hàng hóa xuất khẩu… những cái này liên quan đến KHTN… Đúng là những thứ đó liên quan đến KHTN, nhưng những thứ đó đều có thể mua được trong hoàn cảnh kinh tế toàn cầu hóa, nếu chúng ta có tiền. Vấn đề sẽ là: ta có thể làm ra tiền mà không cần xây dựng các ngành KHTN hay không? Hình như là có thể: những nước nhiều dầu hỏa đã làm như thế, nếu chúng ta ít dầu hỏa thì cũng có thể bán cà phê, hạt điều… xuất khẩu quần áo, giày dép… Bài toán kinh tế rất có thể có lời giải. Có người sẽ phản đối: chúng ta cần đào tạo kỹ sư, phải có giáo viên toán, lý, hóa… Thế nhưng vấn đề này cũng có thể giải quyết bằng tiền bạc. Vả lại, để có giáo viên dạy các môn đó không nhất thiết phải xây dựng các ngành KHTN với các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.  Như vậy vấn đề sẽ quy về giá trị văn hóa: liệu chúng ta có muốn sống trong một xã hội có tiện nghi vật chất nhưng không có các nhà nghiên cứu toán học, vật lý… hay không? Tôi muốn lưu ý là chủ nghĩa thực dụng không phải chỉ ở phương Tây mới có như nhiều người lầm tưởng: thời xưa ở Trung Hoa, phái Mặc học đã từng cho rằng chỉ có những gì liên quan đến nhu cầu ăn và mặc của con người mới là quan trọng và coi thường tất cả những hoạt động văn hóa. Đã có tranh luận về dụng và văn. Về thái độ thực dụng thời hiện đại, tôi muốn trích dẫn nhận xét phê phán của một học giả Trung Quốc đương đại: “Lợi ích kinh tế dùng con số để diễn đạt quả thật rất có sức thuyết phục, nhưng con số đã che lấp các giá trị phán đoán. Rất nhiều tổn thất đều là vô hình, chúng ta không dễ nhìn thấy… Hiện đại hóa mà người Trung Quốc hiểu có thể đi theo những con đường khác nhau, nhưng mục đích chỉ có một: làm sao giành được lợi ích kinh tế một cách nhanh nhất”. Học giả này kêu gọi bảo vệ hình thái giá trị lý tưởng – cái đại dụng của cái tưởng như vô dụng.                 Tuy nhiên tôi hoàn toàn không có ý cho rằng KHTN chỉ có ý nghĩa như một giá trị văn hóa mà xã hội có thể lựa chọn thoải mái, tựa như lựa chọn xem có nên phát triển môn bóng chày ở nước ta hay không. Việc xây dựng các ngành KHTN, trước hết là thể hiện sự tôn vinh một lĩnh vực hoạt động trí tuệ hữu dụng nằm trong mục tiêu phát triển toàn diện con người, sau nữa, đó là sự đầu tư chắc chắn cho tương lai của dân tộc. Thế kỷ 20 có thể cho phép nhiều nước giàu tài nguyên (như dầu hỏa) tạo nên mức sống vật chất cao cho xã hội, mà không nhất thiết phải có sự phát triển trí tuệ cao. Thế kỷ 21 chắc sẽ không có nhiều cơ hội như thế. Tôi tin rằng ở thế kỷ 21 chỉ có các cộng đồng có phát triển trí tuệ cao mới có tương lai. Việc xây dựng các ngành KHTN như là một nghề nghiệp của hoạt động trí tuệ hữu dụng chính là nhằm vào phát triển tố chất trí tuệ của cộng đồng. Ta có thể lấy nước Đan Mạch ở Bắc Âu làm thí dụ. Vào những năm 30, 40 của thế kỷ 20, đất nước nhỏ bé này đã có một nhà vật lý xuất chúng là N.Bohr. Đan Mạch thời đó đã trở thành nơi quy tụ các nhà vật lý tài năng khắp thế giới góp phần quyết định trong việc xây dựng nền móng của cơ học lượng tử. Viện nghiên cứu vật lý của N.Bohr ngày nay là di sản văn hóa mà người Đan Mạch rất tự hào. Không có bằng chứng nào về đóng góp trực tiếp của N.Bohr vào sự phồn vinh kinh tế của Đan Mạch ngày nay, nhưng liệu có thể phủ nhận những đóng góp vô hình của ông chăng? Tôi nghĩ đó chính là cái đại dụng của cái tưởng như vô dụng.                   Nghiên cứu KHTN liên quan chặt chẽ đến trình độ trí tuệ của cộng đồng chẳng phải là điều gì mới lạ trong nhận thức của các nhà chuyên môn, song trong ứng xử thực tiễn, khía cạnh này thường ít được đặt ra, vì nó có vẻ hơi xa vời so với những yêu cầu cấp bách của những vấn đề kinh tế xã hội nóng bỏng đang thôi thúc hàng ngày. Phải chăng chính cách ứng xử như thế biểu hiện sự tiếp thu văn hóa đối với các ngành khoa học cơ bản vẫn chưa vượt ra ngoài khuôn khổ “Đông học vi thể, Tây học vi dụng” hồi đầu thế kỷ 20 ở Trung Quốc? Phải chăng  đó cũng là một nguyên nhân khiến cho ngay cả Nhật Bản cũng chưa hài lòng với các thành tựu nghiên cứu KHTN của mình, ít nhất cũng vì nó không tương xứng với các thành tựu kinh tế?  Những tiến bộ kỹ thuật mà KHTN và các ngành khoa học khác đem lại cho xã hội loài người lại tác động trở lại đối với các ngành khoa học cơ bản, khiến cho công việc nghiên cứu khoa học trở thành một nghề nghiệp chuyên môn mang tính xã hội rất cao: khoa học ngày nay không còn là công việc của một vài nhà khoa học xuất chúng nhằm thỏa mãn trí tò mò cá nhân. Khoa học đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền sản xuất hậu công nghiệp, được tổ chức, đầu tư và quản lý với quy mô lớn mang nhiều thuộc tính toàn cầu hóa. Định hướng ứng dụng được nhấn mạnh và tính chất lãng mạn của công việc nghiên cứu cơ bản cũng mất dần theo. Trong bối cảnh như thế thì việc thiết kế xây dựng các ngành KHTN ở nước ta như thế nào để nhanh chóng bắt kịp trình độ các nước tiên tiến là một vấn đề rất khó khăn. Theo tôi hiểu thì chúng ta đang ở giai đoạn xuất phát của một quá trình lâu dài mà hình như còn chưa có hoạch định nào cả.    Nguyễn Văn Trọng    Author                Quản trị        
0.4
__label__tiasang         Trần Ngọc Thơ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái giá của pháp luật      Ở Đức, hầu hết mọi văn bản luật ban hành đều  phải hạch toán tài lực thực thi, mà trước hết&#160; là chi phí hành chính cho thực thi  văn bản luật đó.     Mấy ngày qua người dân tá hỏa trước thông tin theo Nghị định 71/2012/NĐ-CP khi đi xe nếu bị phát hiện xe không chuyển tên chính chủ sẽ bị phạt 800.000 – 1.200.000 đồng đối với xe máy, và 6 triệu – 10 triệu đồng đối với ô tô. Không thể không mổ xẻ nghị định này nhất là khi nó tác động tới gần một nửa số chủ xe, bởi ước 30-45% xe lưu thông không chính chủ.   Luật pháp không có mục đích nào khác ngoài cuộc sống của mỗi người dân nhưng mục đích vì dân không phải cứ xưng lên là có. Nó chỉ trở thành hiện thực, khi và chỉ khi chính nó được sử dụng làm thước đo phân biệt đúng sai cho mọi văn bản pháp luật. Như ở Đức, năm trước, Toà án ở Herford, Westfallen, đã tuyên hủy quyết định phạt tiền của chính quyền thành phố đối với 42 lái xe quá tốc độ bị ra đa chụp được, bằng cách sử dụng thước đo “vì dân” như sau: “Máy đo tốc độ nhằm mục đích bảo đảm an toàn tính mạng tài sản cho người dân, chứ không phải công cụ nhà nước kiếm tiền phạt, mà như vậy thì văn bản luật phải quy định rõ những chỗ nào được phép đặt, như đường cua gấp, nơi che khuất, hay chỗ thường xảy ra tai nạn chẳng hạn, thông báo minh bạch để lái xe biết phòng tránh. Thay vì điều đó, chính quyền lại nhè đặt ra đa tại những chỗ có nhiểu xe chạy qúa tốc độ, nghĩa là kiếm tiền bằng cách trục lợi luật pháp”.   Trong khi đó, Thượng tá Tạ Văn Ký, Phó trưởng phòng CSGT, CATP Hà Nội giải thích mục đích phạt người đi xe không chuyển đổi tên chính chủ, chỉ đơn thuần: “Qua kiểm tra đã phát hiện nhiều chủ phương tiện mua, bán xe ô tô, mô tô, xe máy chưa làm thủ tục sang tên, chuyển quyền sở hữu theo quy định; làm thất thu thuế của Nhà nước và gây khó khăn cho công tác quản lý, điều tra giải quyết các vụ án hình sự, tai nạn giao thông cũng như xử lý vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông”. Để đạt mục đích đó, ông “đang chỉ đạo CBCS… tập trung tăng cường phát hiện, lập biên bản xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm”, và thi hành triệt để, “sáng 10/11, CSGT Thành phố Hà Nội đã triển khai toàn bộ lực lượng, tuần tra kiểm soát hướng dẫn giao thông và xử phạt các trường hợp vi phạm. Gắt gao tới mức, “đối với những người mượn xe thì cần phải có giấy ủy quyền của chủ phương tiện hoặc phải chứng minh được chủ phương tiện là ai, như cần phải có sổ hộ khẩu, giấy chứng minh hoặc giấy khai sinh”. Kiên quyết đến độ, “việc đăng ký xe sau 30 ngày mua bán thì phải sang tên đổi chủ, sau 30 ngày đó nếu không làm thủ tục này, khi CSGT phát hiện sẽ tiến hành xử phạt”. Bất chấp vi phạm quyền giấy tờ riêng tư về khai sinh, hộ khẩu, vi phạm luật dân sự được ủy quyền sử dụng tài sản, đánh đồng mọi hoàn cảnh đa dạng của người dân, cả nhà chung nhau một xe, mượn xe, cho dùng tạm, cho thuê xe, mua bán chưa chính thức…, dẫn tới bị o ép nhiêu khê, mất thời gian công sức của người lái, phải mang và giữ gìn giấy tờ người khác, và bất khả thi khi xác thực tại chỗ, buộc ai không chịu đựng được hoặc cùng đường đành đút lót cho được việc.  Luật dùng chế tài phạt vi phạm giao thông là thông lệ thế giới không cần bàn cãi. Xe mua bán không chuyển quyền sở hữu, gây thất thu thuế nhà nước bị luật pháp chế tài cũng là lẽ đương nhiên nốt. Nhưng cũng như bất cứ sản phẩm nào do con người làm ra, kể cả luật pháp, luật giao thông hay luật thuế đều có “giá” của nó. Ở Đức, hầu hết mọi văn bản luật ban hành đều phải hạch toán tài lực thực thi, thông thường được giải trình thành một mục trong báo cáo dự thảo, trước hết về chi phí hành chính cho thực thi văn bản luật đó. Chẳng hạn người ta ước tính được lao động chui trốn thuế, mỗi năm ở Đức lên trên 300 tỷ Euro, ngang ngửa một nửa thu ngân sách Đức, nhưng không thể ban hành luật điều tra tràn lan để phát hiện, bởi trước hết không bù đắp được tiền lương chi trả cho lực lượng đó. Hay mới hôm 13/11, Ủy ban thành phố Freiberg đã đệ trình dự luật ra Hội đồng thành phố, đề nghị đánh thuế 100 Euro trên 10m2 sàn kinh doanh đối với các cơ sở “đèn đỏ”, với thuyết trình thu được tổng cộng 860.000 Euro/năm, trong khi chi phí mọi hoạt động hành chính cho nó chỉ hết 80.000 Euro.   Tiếp theo, phải hạch toán được ngân sách nhà nước và các đối tượng bị luật điều chỉnh phải chịu những chi phí nào? lấy nguồn thu nào bù đắp. Không trả lời được, không thể ban hành. Như vậy “giá” là dấu hiệu khả thi cho một văn bản luật. Vậy cái giá phải trả khi Nghị định 71/CP đưa ra chế tài mua bán xe không chuyển quyền sở hữu bằng cách phạt người đi xe đó, tính cả vô hình và hữu hình là bao nhiêu, ai chịu?   Trước hết người đi xe và sở hữu xe là hai khái niệm khác nhau, cũng như quyền sử dụng đất và sở hữu đất, không thể bắt đất chỉ cho phép chính chủ dùng. Người bán xe không chuyển quyền sở hữu để tránh nộp thuế thuộc lĩnh vực thuế khoá lẽ ra phải do luật thuế điều chỉnh, và trách nhiệm truy thu thuế thuộc về thuế vụ, áp dụng cho chủ xe, không được phép áp dụng cho người lái, bởi sai đối tượng. Ngược lại, người lái xe chỉ có trách nhiệm trình bằng lái và giấy chứng nhận xe được phép lưu thông có chủ sở hữu là đủ, nếu vi phạm sẽ bị phạt hành chính và thuộc chức năng cảnh sát giao thông – nước nào cũng vậy cả. Nhưng để truy thu thuế chính chủ xe, Nghị định 71/CP đã khoác trách nhiệm thu thuế lên cả cảnh sát giao thông vốn không đúng chức năng, lẫn người lái xe không chịu trách nhiệm gì về thuế khoá, nghĩa là luật này dựa trên giá của người lái xe bị bắt bí do liên quan tới chiếc xe, mà thuế vụ đã bất lực không thu nổi thuế chủ của nó. Giá này hữu hình là thời gian người lái phải giải trình với cảnh sát, mất công nhỡ việc của họ, thậm chí gây thiệt hại khó lường khi chạy xe cấp cứu hay nhỡ những lịch hẹn không thể làm lại. Giá vô hình là họ phải hy sinh quyền riêng tư được pháp luật bảo vệ, khi phải trình hộ khẩu, khai sinh, giải trình quan hệ, là những dữ liệu cá nhân không được phép vi phạm, như ở Đức người ta sẽ kiện cảnh sát ra toà, nếu đòi hỏi điều đó.   Tiếp theo, tất cả người đi xe cả nước không trừ một ai, dù chủ xe hay không, đều trở thành đối tượng điều chỉnh của luật này, bị kiểm tra, xét hỏi, trong khi lẽ ra chủ xe mới thực sự là đối tượng, chẳng khác nào mọi chợ búa luật bắt phải khám xét tất tận chủ hàng, để chống hàng lậu. Cả nước có hàng mấy chục triệu cả ô tô xe máy, cần bao nhiêu cảnh sát chuyên môn kiểm tra xe để buộc đủ từ 30-45% xe không chuyển tên cho chính chủ phải nộp thuế? Hay cảnh sát viên nào thích kiểm tra xe nào, lúc nào cũng được? Chỉ khi tổng hợp được mọi khoản mục giá phải trả trên, mới có thể khẳng định được Nghị định 71/CP đúng hay sai. Không phải cái gì có mục đích tốt đẹp đều đúng, đó chỉ mới điều kiện cần, muốn khẳng định được phải thoả mãn điều kiện đủ, tức cái giá phải trả để thực hiện nó khả thi.   Riêng cái giá của nghị định 71/CP không chỉ dừng lại ở điều khoản phạt xe chạy không chuyển tên chính chủ rất “đắt” như trên. Còn nhiều điều khoản không đưa ra được những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự đong đo đếm được theo đúng nguyên tắc đòi hỏi của một văn bản pháp lý, dẫn tới hành xử tùy thuộc vào động cơ và nhận thức của nhà chức trách. Cái giá phải trả chính là người đi xe phải chịu thiệt hại và tệ nạn mãi lộ không thể khắc phục hiện nay. Chẳng hạn, Điều 8, điểm i) phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng nếu bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau (ai là người đo lường, và mức độ ảnh hưởng bao nhiêu?). Tương tự Điều khoản trên, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng nếu không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn (ai là người thẩm định tại chỗ điều kiện an toàn?) Hay phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng nếu lùi xe mô tô ba bánh không quan sát (ai là người xác nhận?) Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng nếu không hướng dẫn hành khách ngồi đúng vị trí quy định trong xe?! Nguyên nhân, do Nghị định này đưa ra không ít khoản mục như coppy giáo trình dạy lái xe phải thế nọ phải thế kia chỉ thuần túy lý thuyết định tính.  Mặc dù nghị định phạt xe chạy không chuyển tên chính chủ, bất cập, không khả thi, bị người dân phản ứng dữ như vậy, nhưng bộ máy thực thi lẽ ra phải có ý kiến phản hồi tới tận cơ quan làm luật như ở các nước hiện đại để sửa đổi, thì lại cố đẽo chân cho vừa giày, bằng cách “tổ chức quán triệt cho 100% cán bộ giao thông thành phố; tuyên truyền cho các cơ quan, đoàn thể, học sinh, sinh viên các trường học về Nghị định 71 của Chính phủ”, tương tự như Bộ trưởng Đinh La Thăng từng kêu gọi trên báo chí đóng phí giao thông là yêu nước. Nghĩa là dựa trên cái giá của người dân phải gánh chịu, thay vì nhà chức trách, đã hưởng lương thì phải tự tìm được cách giải quyết thoả đáng, để bảo đảm lợi ích cho người dân chủ nhân họ.   Người dân đủ khả năng nhận thức được một văn bản luật có phù hợp với lợi ích của họ hay không, không nhất thiết phải giáo dục. Nên mấu chốt không nằm ở tuyên truyền mà ở chỗ phải thấu hiểu nguyện vọng của người dân, ở biện pháp điều tra xã hội học dự luận xã hội, ở thẩm định văn bản luật đó bằng các khảo nghiệm thực tế, để điều chỉnh thích ứng. Ý kiến của “Ủy ban An toàn giao thông đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu đưa mức phí sang tên đổi chủ xuống thấp nhất vì mức phí hiện nay là quá cao”, chính nằm trong cách làm của thế giới hiện đại. Hay theo ông Nguyễn Mạnh Hùng – Chủ tịch hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam: “mắt xích” là việc các cơ quan chức năng phải tham mưu để giảm lệ phí trước bạ thì người dân sẽ tự nguyện thực hiện. Ví dụ như lệ phí trước bạ nhà đất có 1% thì thử hỏi có ai mua xong mà không muốn thực hiện sang tên đổi chủ ngay đâu?”    Rõ ràng Nghị định 71/CP được cải cách như trên cùng dự báo hiệu quả đạt được khác hẳn bản chất Nghị định 71/CP hiện xây dựng trên cái giá “trăm dâu đổ lên đầu tằm” người dân theo cách làm truyền thống xưa nay, là một bước đột phá tư duy làm luật theo chuẩn mực thế giới hiện đại, cần được biến thành quy trình làm luật nói chung, thuộc phạm trù cải cách thiết chế không thể thiếu, nếu muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấm chơi golf ngày nghỉ và những nhầm lẫn về pháp luật      Báo chí những ngày gần đây bàn nhiều về chủ đề quyết định cấm chơi golf mà bộ trưởng Bộ giao thông vận tải Đinh La Thăng đưa ra. Có người khen, có người chê, có người đồng tình, có người phản đối. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là thay vì bàn về tính hợp pháp của lệnh cấm, nhiều bài báo lại bàn sang những căn cứ khác như chơi golf là xa xỉ trong khi kinh tế đất nước còn khó khăn…    Thực chất đây là hai vấn đề khác nhau, tôi nghĩ rằng cần phải tách bạch để trao đổi. Cá nhân tôi cho rằng tính hợp pháp trong mọi quyết định quản lý nhà nước phải được đặt lên hàng đầu. Cũng dưới khía cạnh này, có thể thấy quyết định cấm chơi golf của Bộ trưởng có ít nhất ba sự nhầm lẫn sau đây:  1. Nhầm lẫn về “lãnh địa” pháp luật điều chỉnh và không điều chỉnh  Rất nhiều quan hệ xã hội ngày nay chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Hàng ngày mỗi người tham gia vào rất nhiều các “quan hệ pháp luật” khác nhau. Ở cơ quan, bạn tham gia vào quan hệ pháp luật lao động. Hết giờ làm việc, đi ngoài đường bạn tham gia vào quan hệ pháp luật giao thông, đi chợ mua đồ bạn tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự hay về nhà bạn tham gia vào quan hệ pháp luật gia đình.v.v. Những quan hệ pháp luật này xuất hiện trên cơ sở có sự điều chỉnh của qui phạm pháp luật, trong đó qui định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.  Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa pháp luật có khả năng điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật. Pháp luật cũng như từng quan hệ pháp luật đều có giới hạn riêng. Có rất nhiều lĩnh vực hoặc quan hệ xã hội mà pháp luật không điều chỉnh hoặc không thể điều chỉnh được. Chẳng hạn không có một đạo luật nào điều chỉnh về cách bạn yêu như thế nào, không luật nào điều chỉnh cách bạn ăn, ngủ ra sao, cách bạn phải đi lại trong nhà của mình như thế nào, cách bạn tiêu khiển, giải trí ra sao. Đấy là lãnh địa pháp luật không điều chỉnh – lãnh địa của tự do cá nhân.   Lệnh cấm chơi golf trong ngày nghỉ thực chất đã xâm phạm vào “lãnh địa” mà pháp luật không điều chỉnh – lãnh địa của tự do cá nhân. Vào những ngày nghỉ, bất kỳ ai cũng có thể lựa chọn cách nghỉ ngơi, giải trí, tham gia những hoạt động mà họ muốn, miễn sao không trái luật. Nếu pháp luật can thiệp cả cách họ giải trí ra sao, khi ấy tự do cá nhân sẽ không còn tồn tại.  2. “Nhầm vai” trong quan hệ pháp luật   Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, mỗi người phải đóng rất nhiều vai. Điều quan trọng là cần phải hiểu tương ứng với quan hệ pháp luật nào thì cần phải đóng vai gì.  Chẳng hạn, nếu trong quan hệ công việc bạn là bộ trưởng, nhưng khi về với gia đình của mình tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, bạn là một thành viên trong gia đình. Cũng vì lẽ đó, bạn không thể lấy quyền của mình là “bộ trưởng trong công việc” ở quan hệ pháp luật khác mà về nhà cũng là “bộ trưởng với bố đẻ mình” trong quan hệ pháp luật gia đình.   Dù bạn có là bộ trưởng hay thủ tướng, khi ra ngoài đường, tham gia quan hệ pháp luật giao thông, bạn bình đẳng như mọi công dân bình thường khác. Cũng vì lẽ đó, bạn không thể lấy quyền của mình là Bộ trưởng Giao thông mà ra ngoài đường vượt đèn đỏ được.   Tương tự như vậy, dù bạn có là thủ trưởng cơ quan hay là bộ trưởng, thì khi bước chân ra khỏi nơi làm việc, về nguyên tắc, người lao động không còn dưới quyền chịu sự quản lý trực tiếp của bạn nữa, mà quan hệ giữa hai bên là quan hệ pháp luật dân sự bình đẳng. Hay nói cách khác, ngoài giờ làm việc, bạn hoàn toàn không có quyền can thiệp vào cách mà người lao động dưới quyền bạn làm gì, nghỉ ngơi ra sao, nếu không có sự đồng ý của họ. Chính vì lẽ đó, có thể nói, lệnh cấm chơi golf cả trong ngày nghỉ của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải là một “sự nhầm vai” trong quan hệ pháp luật, lấy quyền uy trong một quan hệ pháp luật này để điều chỉnh một quan hệ xã hội khác không thuộc thẩm quyền của mình.   3. Nhầm lẫn nguyên tắc ưu tiên tính hợp pháp so với tính hợp lý trong quản lý nhà nước  Khi ban hành các quyết định quản lý nhà nước, các chủ thể quản lý phải bảo đảm cả tính hợp pháp và tính hợp lý, nhờ đó quyết định đưa ra mới có khả năng thực thi và được xã hội chấp nhận. Trong mọi trường hợp, tính hợp pháp luôn có ưu thế hơn so với tính hợp lý, nên không thể vì lý do hợp lý mà coi thường Hiến pháp, luật và quyết định của cấp trên, tự ban hành những quy định riêng trái với quy định của pháp luật.   Về tính hợp pháp, điều đáng bàn ở lệnh cấm chơi golf của Bộ trưởng Thăng là về mặt giới hạn phạm vi áp dụng. Nếu như cấm chơi golf trong giờ làm việc thì miễn bàn, nhưng đây là lệnh cấm chơi trong cả những ngày nghỉ. Như đã trình bày ở trên, lệnh cấm này không có căn cứ pháp luật, vi phạm quyền tự do cá nhân, vi phạm quyền nghỉ ngơi đã được Hiến pháp 1992 (Điều 50, Điều 56 Câu 2) và Bộ luật Lao động 1994 (Điều 71 đến Điều 81) bảo vệ.  Tóm lại, khi ban hành quyết định quản lý nhà nước cần phải cân bằng, bảo đảm hài hòa và tối ưu hóa các nhóm lợi ích, trong đó có lợi ích của cơ quan quản lý, lợi ích của đối tượng thi hành và của toàn xã hội. Tuy nhiên dù với bất cứ lý do gì, tính hợp pháp, tính có căn cứ pháp luật vẫn cần phải được ưu tiên hàng đầu. Không thể căn cứ vào bất kỳ lý do nào, để bỏ qua tính hợp pháp, vi phạm quyền con người. Một quyết định quản lý nhà nước không dựa trên cơ sở tính hợp pháp sẽ tạo nên tiền lệ xấu, nguy hiểm hơn là tiền lệ ấy nếu được lặp lại sẽ khiến trật tự pháp luật bị đảo lộn và mọi đòi hỏi với pháp luật có thể sẽ trở nên vô nghĩa.  —    * Đại học Saarland, CHLB Đức    (1) Xem thêm các bài viết: Bộ trưởng Thăng yêu cầu lãnh đạo GTVT không chơi golf, Báo Khoa học và đời sống online, đăng ngày 19/10/2011, truy cập tại: http://bee.net.vn/channel/1987/201110/Bo-truong-Thang-yeu-cau-lanh-dao-GTVT-khong-choi-golf-1814846/; Vì sao người dân ủng hộ cấm chơi golf?, Báo khoa học và đời sống Online, đăng ngày 25/10/2011, http://bee.net.vn/channel/1983/201110/Vi-sao-nguoi-dan-ung-ho-cam-choi-golf-1815219/; Cấm chơi golf được nhiều người ủng hộ, đăng trên Báo Đất Việt, ngày 21/10/2011, truy cập tại: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Cam-choi-golf-duoc-nhieu-nguoi-ung-ho/201110/173856.datviet.   (2) Xem thêm: Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh, Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 11/2011, tr. 19–24; Bùi Thị Đào, Mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà nội, Số 2/2008, tr. 11–17; Trần Văn Duy, Bàn về tính hợp pháp, hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước, Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Số 11 (259)/2009, tr. 31–35.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cam kết tài chính cho biến đổi khí hậu: Trách nhiệm của nước giàu ở đâu?      Tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26 diễn ra ở Glasgow, các quốc gia giàu đã thảo luận việc sẽ tăng tài trợ để giảm thiểu và ứng phó với hậu quả biến đổi khí hậu. Nhưng điều đó có thành hiện thực không khi lời hứa 100 tỉ USD đầu tư hằng năm cho khí hậu từ cách đây hơn một thập niên vẫn chưa thành hiện thực!      Một người phụ nữ ở Satkhira, Bangladesh đứng giữa đống đổ nát của ngôi nhà bị hư hại do cơn bão Amphan vào tháng 5/2020. Cơn bão mạnh nhất ở khu vực này trong nhiều thập kỷ qua, được hình thành bởi sự nóng lên của tầng bề mặt nước biển ngày càng trầm trọng do biến đổi khí hậu. Nguồn: Getty.  Cách đây 12 năm, tại Hội nghị thượng đỉnh Khí hậu Liên Hiệp Quốc diễn ra ở Copenhagen, các quốc gia phát triển đã đưa ra một cam kết quan trọng. Họ đã hứa huy động 100 tỷ USD thường niên cho các nước nghèo hơn đến năm 2020, để thích ứng với biến đổi khí hậu và hạn chế gia tăng nhiệt độ toàn cầu. Nhưng lời hứa đó đã không được thực hiện. Một báo cáo năm ngoái cho Liên Hiệp Quốc đã kết luận rằng “kịch bản thực tế duy nhất” cho thấy mục tiêu 100 tỷ USD là ngoài tầm với. “Chúng ta chưa làm được,” tổng thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres thừa nhận.    So với khoản tài chính cần thiết để ngăn chặn biến đổi khí hậu chạm tới ngưỡng nguy hiểm thì cam kết 100 tỷ USD không phải là con số đáng kể. Bởi sẽ cần đến hàng nghìn tỷ USD mỗi năm để đạt được các mục tiêu Paris 2015 về hạn chế nóng lên toàn cầu ở mức thấp hơn 2oC, nếu không muốn nói là chỉ giữ ở mức 1,5oC, cao hơn một chút so với mức tăng nhiệt độ ở thời kỳ tiền công nghiệp. Và các nước đang phát triển (được nhắc tới trong cam kết Copenhagen) sẽ mất hàng trăm tỷ USD mỗi năm để ứng phó với tình trạng đang nóng lên vốn là điều không thể tránh khỏi. “Nhưng 100 tỷ USD là biểu tượng về thiện ý mà những quốc gia đã hứa hẹn”, Saleemul Huq, Giám đốc Trung tâm Quốc tế về Biến đổi khí hậu và phát triển tại Bangladesh nói.    Tạp chí Nature phân tích nguyên nhân nào khiến cam kết hỗ trợ tài chính này bị thất bại, những quốc gia nào sẽ nào đáng phải chịu trách nhiệm cho điều đó và cơ chế tài chính cho biến đổi khí hậu sẽ biến đổi ra sao trong tương lai.     Các nước giàu đã bội ước     Đại diện của các quốc gia chưa bao giờ đạt được đồng thuận về việc làm thế nào để tính toán chính xác được mức đóng góp của mỗi nước cho việc chống biến đổi khí hậu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), một cơ quan liên chính phủ chủ yếu gồm các nước phát triển, đánh giá dựa vào các báo cáo từ những quốc gia giàu có. Theo công bố tháng chín vừa qua, năm 2019, các nước giàu có đã đóng góp 80 tỷ USD tài trợ cho các nước đang phát triển, tăng một chút so với con số 78 tỷ USD vào năm 2018. Phần lớn trong số này là viện trợ hoặc cho vay lấy từ ngân sách, chuyển trực tiếp từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc phân phối qua quỹ của các ngân hàng phát triển đa phương (gọi tắt là MDB). Một phần nhỏ hơn là tiền của tư nhân mà nước huy động được thông qua các khoản vay có bảo lãnh và các khoản vay đối ứng với các quỹ công ích.      Nguồn tài trợ cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu ở 46 nước kém phát triển nhất – chỉ đạt 5.9 tỷ USD giai đoạn năm 2014-2018, chưa bằng 20% số tiền mà các nước giàu nói là họ đã bỏ ra.      Nhưng một số phân tích cho thấy các con số trên của OECD đã bị phóng đại quá nhiều. Theo một báo cáo năm 2020, tổ chức phi chính phủ Oxfam ước tính tài chính khí hậu công chỉ đạt 19-22.5 tỷ USD trong giai đoạn 2017-2018, nghĩa là chỉ bằng một phần ba so với ước tính của OECD. Đó là bởi Oxfam lập luận rằng, ngoài các khoản tài trợ, với các khoản vay, các nước chỉ nên tính phần chênh lệch mà họ cho các quốc gia đang phát triển vay với lãi suất thấp hơn giá thị trường chứ không phải tổng giá trị của khoản vay. Tổ chức này cũng lên tiếng rằng một vài quốc gia còn gián tiếp tính cả viện trợ phát triển là các dự án khí hậu. Chẳng hạn, theo Tracy Carty, cố vấn chính sách cấp cao về biến đổi khí hậu tại Oxfam, Nhật Bản coi toàn bộ giá trị của một số dự án là “có liên quan đến khí hậu” ngay cả khi dự án đó không có mục tiêu chính là hành động vì khí hậu. Một ví dụ khác, một số dự án công trình đường bộ cũng được báo cáo là viện trợ khí hậu, và hầu hết hoặc toàn bộ chi phí của các dự án này đều được tính vào báo cáo tài trợ của OECD nói trên, theo Romain Weikmans, chuyên gia tài chính khí hậu tại Viện Quan hệ Quốc tế Phần Lan tại Helsinki nhận định.    Nhiều quốc gia có thu nhập trung bình-thấp đều nhất trí với Oxfam, và còn trình bày thêm: năm 2015, Bộ Tài chính Ấn Độ phản đối ước tính 62 tỷ USD viện trợ khí hậu của OECD đưa ra trong năm 2014 và cho rằng con số thực tế chỉ là 1 tỷ USD. Đại sứ biến đổi khí hậu Dianna Black-Layne của Antigua và Barbuda, nguyên là nhà đàm phán khí hậu cho Liên minh các quốc đảo và các quốc gia giáp biển nhỏ ở vị trí thấp so với mực nước biển, cho rằng các nước giàu đã cố tình thổi phồng các khoản viện trợ của họ.         Quốc gia nào không chi trả đủ?     Mặc dù các nước giàu đều nhất trí với mục tiêu 100 tỷ USD nhưng lại không hề đưa ra thỏa thuận chính thức nào về số tiền mỗi quốc gia cần đóng góp. Thay vào đó, các nước tuyên bố cam kết với hi vọng rằng các nước khác cũng sẽ tuân theo. Đa số các phân tích về một mức đóng góp công bằng của các quốc gia đều đều đi đến một kết luận chung: Đóng góp của Hoa Kỳ quá thấp.    Một báo cáo hồi tháng 10 do Viện Tài nguyên thế giới (WRI) tại Washington, Hòa Kỳ, nhận định, theo các tính toán bất kể dựa vào quy mô nền kinh tế, lượng phát thải hay dân số, Hoa Kỳ lẽ ra phải đóng góp 40-47% trong số 100 tỷ USD. Nhưng WRI ước tính đóng góp trung bình thường niên từ năm 2016 đến 2018 của nước này chỉ khoảng 7.6 tỷ USD. Úc, Canada và Hy Lạp cũng đóng góp kém hơn nhiều mức họ phải tham gia. Còn Nhật Bản và Pháp đã chuyển tới các nước đang phát triển số tiền nhiều hơn mức họ cần đóng góp – tuy nhiên hầu hết tất các hỗ trợ này đều dưới dạng khoản vay, không phải viện trợ.    Cơ cấu chi tiêu mất cân đối     Phần lớn nguồn tài chính cho các vấn đề khí hậu được sử dụng cho các dự án làm giảm phát thải khí nhà kính. Thỏa thuận Paris nhắm đến việc cân đối giữa các dự án này và cả các dự án giúp người dân ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu. Nhưng năm 2019, OECD nhận thấy, chỉ 20 tỷ USD dành cho các dự án nhằm ứng phó – chưa bằng một nửa số tiền đầu tư cho những dự án giảm phát thải. Trong khi đó, Liên Hiệp Quốc ước tính các quốc gia đang phát triển cần 70 tỷ USD mỗi năm để trang trải chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu, và sẽ cần tới 140-300 tỷ USD vào năm 2030.    Các nhà tài trợ có thể ưu ái cho các dự án giảm thiểu phát thải do kết quả rõ ràng và có thể đo lường được – bằng việc tính lượng phát thải carbon giảm đi hoặc bị thu giữ. Trong khi đó rất khó để đánh giá thành quả của việc thích ứng với biến đổi khí hậu. Jessica Omukuti, nhà nghiên cứu về tài chính cho biến đổi khí hậu tại Đại học Oxford, Anh cho biết: “Không một cá nhân hay nhóm nào có thể thích nghi hoàn toàn với biến đổi khí hậu bởi vì rồi sau đó sẽ lại sinh ra các rủi ro khí hậu mới và những tổn thương mới”. Chính trị gia ở các nước phát triển cũng nhận thấy rằng họ được cộng đồng quốc tế và cử tri trong nước khen ngợi nhiều hơn, vì đã dành chi phí cho cắt giảm phát thải, cô nói, trong khi nguồn tài trợ cho thích ứng chỉ được xem như giúp đỡ một vài quốc gia riêng lẻ.      Một nguyên do khác dẫn đến sự mất cân đối giữa tài trợ cho giảm thiểu tác hại và thích ứng với biến đổi khí hậu là giờ đây tiền đổ về các nước nghèo theo hướng cho vay ngày càng nhiều hơn là viện trợ. “Tiền dành cho thích ứng gần như không bao giờ theo dạng cho vay được” – Huq nói. “Nếu bạn cho người nghèo tiền để giúp họ đối phó với tác động của biến đổi khí hậu, thì nó không thể sinh lời”.    Đặc biệt, nguồn tài chính tư nhân gần như luôn luôn dành cho dự án giảm thiểu phát thải mà có thể mang lại lợi tức đầu tư, như các nông trại pin mặt trời và ô tô điện.    Phần lớn nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ dành cho các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng lại không phải các nước nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất. “Vô số các nước châu Phi đang phàn nàn là không thể vượt qua các thủ tục [để tiếp cận tài chính cho các vấn đề khí hậu] bởi vì nó phức tạp và nhiều kĩ thuật,” theo Chukwumerijie Okereke, nhà kinh tế học tại Đại học Liên bang Alex-Ekwueme, Ndufu-Alike ở Ikwo, Nigeria. “Và họ không nhận được đầy đủ các hướng dẫn và đào tạo nâng cao năng lực về vấn đề này”.    Kể cả tiền đến được quốc gia cần hỗ trợ nhất còn không giải ngân đạt được mục tiêu. Tháng 7 vừa qua, Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế tại London báo cáo rằng họ đã cố gắng theo dõi nguồn tài trợ cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu ở ‘46 nước kém phát triển nhất’ – chỉ đạt 5.9 tỷ USD giai đoạn năm 2014-2018, chưa bằng 20% số tiền mà các nước giàu nói là họ đã bỏ ra. “Những người dễ bị tổn thương nhất trên hành tinh thực sự đã nhận được bao nhiêu?”, Huq đặt vấn đề.      Liên Hiệp Quốc ước tính các quốc gia đang phát triển cần 70 tỷ USD mỗi năm để trang trải chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu, và sẽ cần tới 140-300 tỷ USD vào năm 2030.      Các nước giàu đang muốn gì?     “Do nguồn tài chính viện trợ không đạt được 100 tỷ USD mỗi năm, nên cần phải bù lại bằng một kế hoạch viện trợ 500 tỷ USD trong vòng năm năm”, Huq nói. Vào tháng bảy, ‘nhóm V20’, gồm các Bộ trưởng Bộ Tài chính từ 48 quốc gia dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu đã kêu gọi kế hoạch này với các khoản tài trợ phải tăng thêm, và ít nhất 50% trong đó phải dành cho hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu. Huq còn lưu ý rằng các nước cũng đang nỗ lực dành ngân sách quốc gia cho công cuộc chống biến đổi khí hậu. Đơn cử, Chính phủ Bangladesh cho biết tổng chi tiêu liên quan đến khí hậu là khoảng 3 tỷ USD, tương đương với 7% ngân sách nhà nước, hoặc 0.73% tổng sản phẩm nội địa. Không chỉ nhà nước phải chi ngân sách, mà chi tiêu ở cấp độ hộ gia đình cũng rất lớn. Theo một tính toán khác của Oxfam, chỉ riêng các gia đình nghèo ở nông thôn Bangladesh đã tiêu tốn tổng cộng khoảng 2 tỷ USD/năm cho phòng chống thiên tai và phục hồi thiệt hại.    Một số cam kết mới đã được đưa ra: Tại cuộc họp nhóm G7 gồm các quốc gia phát triển diễn ra vào tháng sáu vừa qua, Canada, Nhật Bản, và Đức đã công bố cam kết của mình, đồng thời các nước cũng tái khẳng định cam kết đóng góp 100 tỷ USD thường niên đến năm 2025. Tháng chín vừa qua, Liên minh châu Âu đã cam kết cung cấp thêm 5 tỷ USD nữa vào năm 2027, và Tổng thống Joe Biden cũng cam kết Hoa Kỳ sẽ đóng góp 11.4 tỷ USD thường niên đến năm 2024, trở thành quốc gia đóng góp tài chính khí hậu lớn nhất. Nhưng nếu tính theo tổng tỷ trọng nền kinh tế thì Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên đã đóng góp gần gấp đôi những gì Hoa Kỳ hứa hẹn, mặc dù tổng quy mô nền kinh tế chỉ khoảng bằng 3/4 Hoa Kỳ.    Vấn đề đặt ra là liệu các quốc gia giàu có thể minh chứng sự nghiêm túc trong thực hiện cam kết không. Một số ý kiến cho rằng để tránh nhầm lẫn, các cam kết không nên bao gồm tài chính tư nhân.      Một số chính phủ đang giải quyết việc kêu gọi thêm nguồn tài trợ cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu. Vào tháng tám, Đan Mạch cho biết họ sẽ phân bổ 60% nguồn tài chính khí hậu cho ứng phó, và các quốc gia khác, bao gồm Hà Lan và Anh, cũng đã cam kết tăng cường tài chính cho mảng này.     Tài chính khí hậu: bao nhiêu là đủ?     Huq cho rằng khái niệm tài chính khí hậu ngày càng trở nên vô nghĩa. Huq nói, “tiền nào bỏ ra cũng là tiền khí hậu”, ông nói. “Chỉ là bạn sử dụng nó khôn ngoan hay không mà thôi”.    Tuy nhiên, Sáng kiến Chính sách Khí hậu (CPI), một nhóm nghiên cứu phi lợi nhuận tại San Francisco, California ước tính dòng chảy tài chính khí hậu giữa các nước lên đến 632 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2019-2020, hay khoảng 0,7% tổng GDP thế giới. Khoảng một nửa trong số này là tài chính tư nhân, phần lớn được dùng cho tăng cường năng lượng tái tạo.      COVID và các tác động của đại dịch lên nền kinh tế đã khiến tập trung vào chi tiêu cho các lĩnh vực như y tế công cộng (năm ngoái, các nước phát triển đã chi hàng nghìn tỷ để ứng phó với đại dịch COVID-19), nên những kỳ vọng trung và dài hạn cho tài chính khí hậu trở nên bất định.        Con số này còn thấp hơn ước tính của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu thuộc Liên Hiệp Quốc, nghĩa là cần 1.6-3.8 nghìn tỷ USD hằng năm để hạn chế tình trạng tăng nhiệt độ quá 1,5oC. Đáng thất vọng là nhiên liệu hóa thạch vẫn đang được trợ cấp, ước tính nhận khoảng 554 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2017-2019. Và năm 2020, chi tiêu cho quân sự toàn cầu thường niên đã đạt mức 2 nghìn tỷ USD.      Một ngôi nhà tạm bị hư hại ở gần sông Meghna, Bangladesh, thuộc khu vực ven biển đang bị đe dọa bởi xói mòn và xâm nhập mặn. Nguồn: Getty.  CPI cảnh báo rằng COVID và các tác động của đại dịch lên nền kinh tế đã khiến tập trung vào chi tiêu cho các lĩnh vực như y tế công cộng (năm ngoái, các nước phát triển đã chi hàng nghìn tỷ để ứng phó với đại dịch COVID-19), nên những kỳ vọng trung và dài hạn cho tài chính khí hậu trở nên bất định. Theo Sarah Colenbrander, giám đốc chương trình khí hậu và bền vững tại Viện Phát triển Nước ngoài, một think- tank có trụ sở tại London, thách thức thực sự hiện nay là làm thế nào để đảm bảo càng nhiều nguồn tài chính tư nhân được sử dụng cho các dự án giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu. “Nếu chúng ta không làm như vậy, chúng ta sẽ thất bại về mục tiêu khí hậu thậm chí còn thê thảm hơn những gì chúng ta đã làm”, bà khẳng định.□     Cao Hồng Chiến lược dịch   Nature 598, 400-402 (2021)  doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-02846-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm nghĩ đầu xuân      Đầu xuân Mậu Tý, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã gửi thư tới tòa soạn Tia Sáng chia sẻ những cảm nghĩ và mong ước của mình về tương lai nền giáo dục và KH&amp;CN Việt Nam. Tia Sáng xin trân trọng trích đăng một số ý kiến của các nhà khoa học.                    Tôi chúc cho Việt Nam tiến bước nhanh hơn nữa trong khoa học hiện đại, cả trong nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản. Tôi mong các nhà khoa học Việt Nam sẽ được tôn trọng hơn và được đánh giá cao trong xã hội; hệ thống trường đại học của Việt Nam nâng cao chất lượng đào tạo, nghiêm ngặt và công bằng hơn trong tuyển chọn, hiện đại hóa các giảng viên (bao gồm cả trong lĩnh vực vật lý thiên văn), tạo cơ hội làm việc cho các nhà khoa học trẻ, rửa sạch nạn tham nhũng để trở thành những trường đại học mà đất nước có thể tự hào với một chất lượng đào tạo trình độ cao xứng đáng với những gì mà nó có.  Và trên hết, tôi mong rằng, năm 2008 sẽ giảm thiểu được tình trạng chảy máu chất xám và đất nước có thể làm được tất cả những gì mà nó có thể để mang đến cho thế hệ trẻ một tương lai đủ hấp dẫn để họ không phải ra đi.  GS.Pierre Darriulat                Nền giáo dục ở trình độ đại học của nước ta chưa đạt được mức độ cao, so với đa số các nước trong vùng. Sinh viên ngành khoa học có xu hướng học những môn có áp dụng tức thời như môn tin học, nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nếu ta muốn sánh vai cùng các nước tiên tiến thì các ngành khoa học khác cũng cần được phát triển. Khoa học cơ bản nên được phát triển song song với khoa học kỹ thuật.    GS.Nguyễn Quang Riệu  (Giám đốc nghiên cứu khoa học, Đài Thiên văn Paris)                Cách đây khoảng 40 năm nền Khoa học, Công Nghệ của Hàn Quốc và của Việt Nam có một điểm chung là khởi đầu gần như từ con số không, nhưng cái khác biệt là lúc ấy cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc của họ đã kết thúc hơn mười năm rồi còn mình lại đang ở trong giai đoạn khốc liệt nhất. Từ đó đến nay trong quá trình kiến thiết, ở Nam Hàn họ đã đặt sự nghiệp phát triển giáo dục, đại học và nghiên cứu khoa học là quốc sách hàng đầu. Kết quả- đặc biệt về công nghệ- kỳ diệu như thế nào ta đã biết, còn ở Bắc Hàn với chính sách ưu tiên cho công an và quân sự (hạt nhân, hỏa tiễn) xin được miễn bàn.  Còn mong ước gì cho khoa học nước nhà sau khi so người lại nghĩ đến ta? Trước hết là chất lượng của nền đại học, cái nôi nuôi dưỡng cho sự tiến triển của khoa học và công nghệ. Không có đại học chất lượng cao thì làm sao có được một nền khoa học tốt đẹp cho đất nuớc.  Sau hết tôi không khỏi nhớ lại chính sách cởi trói cho văn học, nông nghiệp, thương mại, kinh tế thời Đổi Mới. Và ước mong một cởi trói thứ hai cho nền khoa học, đại học, giáo dục khỏi những tư duy và phương thức quản lý hãy còn nhiều bất cập.    GS.Phạm Xuân Yêm  (Nguyên giám đốc nghiên cứu Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp-CNRS)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cân bằng của tự nhiên      Tất cả những ước muốn đổi thay hay kiến tạo của con người, dù động cơ có tốt đẹp đến mấy, thì đều bị kiểm chứng khắt khe bởi “luật cân bằng” của tạo hóa, và có tồn tại bền vững hay không là tùy thuộc vào sự phù hợp với “luật cân bằng” của tạo hóa đến đâu.    Tất cả chúng ta đều mong muốn một xã hội công bằng và có quy củ, nhưng trong tự nhiên cũng như xã hội, các quần thể bao giờ cũng được điều chỉnh bởi “luật tối ưu” cục bộ và tính cộng sinh cục bộ. Dường như tạo hóa được chi phối bởi “luật cân bằng”, và sự cân bằng của tạo hóa đôi khi chống lại cái mong muốn công bằng và quy củ của con người. Như những gì mà loài người đã trải qua, tất cả những ước muốn đổi thay, hay kiến tạo của con người, dù động cơ có tốt đẹp đến mấy, thì đều bị kiểm chứng khắt khe bởi “luật cân bằng” của tạo hóa, và có tồn tại bền vững hay không là tùy thuộc vào sự phù hợp với “luật cân bằng” của tạo hóa đến đâu.       Xin kể lại một câu chuyện có thật, đã xảy ra ở một trường cấp 3 mà sau này đã bị giải thể. Ngày ấy vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, ông hiệu trưởng của trường đó, rất muốn xây dựng trường thành một trường điểm. Vì vậy, ông ta quản giáo viên rất chặt, thậm chí không muốn giáo viên làm thêm bất cứ việc gì, tất nhiên trong đó có cả việc dạy thêm. Nhưng trớ trêu thay, không ai trong trường, bao gồm cả ông hiệu trưởng, sống được bằng lương. Kết cục là ở đó người ta gầm ghè nhau suốt ngày, đơn kiện lên sở liên tục về chuyện này chuyện kia. Các thầy cô khổ quá nên chỉ đứng lớp giảng bài cho xong giờ khiến chất lượng giảng dạy của trường rất thấp, thậm chí còn xuất hiện tệ nạn trò hối lộ thầy để xin điểm. Thế rồi một lần, ông bị một giáo viên, bắt tận tay, cùng với người làm chứng, vi cái tội, ông đã mang 2 bao xi-măng mà ông ăn bớt, từ việc xây dựng trường về nhà mình, thế là ông bị mất chức. Cái sự ông bị trả giá chỉ là chuyện nhỏ, nhưng cái điều đáng bàn ở đây, chính là cái luật sinh tồn-tính cân bằng của tạo hóa đã bị người ta phá vỡ. Hình như ông đã xây dựng trường theo một quy củ-đúng quy chế, nhưng ông đã đi ngược  lại cái “luật cân bằng”  của tạo hóa!?  Ngày nay không phải đa số không muốn thay đổi, không muốn làm lại, để đất nước khá hơn. Nhưng tại sao nhận thức thì như thế, mà khó làm đến thế ?! Mặc dù các cách lý giải cho nghịch lý này vốn đã quá nhiều, nhưng có lẽ thử bình tâm nhìn lại một chút về đội ngũ hưởng lương trong khu vực công từ xưa đến nay, sẽ có cái nhìn thực tế hơn chăng?  Số đông trong một thời gian quá dài đồng lương không đủ sống, gần như cả một xã hội công chức như thế. Nhưng cuộc sống vẫn phải đi lên, vẫn phải sống! Và không ai bảo ai, phải lăn vào kiếm tiền, để thoát nheo nhóc… Mỗi một cá nhân công chức, đã phải mưu sinh trong hai thế giới, một thế giới cơ quan với đồng lương nhà nước, và một thế giới ngoài cơ quan với thu nhập không công khai. Mọi người đều phải thế, nhà nhà đều phải thế. Hơn thế nữa, dường như hai cái thế giới này hỗ trợ cho nhau. Người ta còn có thể chấp nhận làm việc tại cơ quan, là nhờ những đồng tiền kiếm được từ bên ngoài. Ngược lại chỗ đứng ở cơ quan, cũng tạo cho họ một cái thế nhất định với thế giới bên ngoài. Cuộc sống cứ thế kéo dài, đại đa số người ta làm công việc cơ quan chỉ mang tính chất đối phó, nghĩa vụ, giữ chân, và tạo thế cho mình. Một thực trạng kéo dài như vậy, và người ta phải vui vẻ chấp nhận-thích ứng, vả lại không chấp nhận thì cũng chẳng làm gì khác được. Rằng đó là một kiểu “cân bằng tự nhiên” cục bộ trong các cơ quan. Tất nhiên cái thích ứng với không gian đó, sẽ được thể hiện dưới dạng tối ưu: “tiền nào của ấy”,  hay “khó người khó ta”, chẳng ai bảo ai, người ta theo nhau, học nhau, biết điều mà sống(!)    Không phải không có người không biết trăn trở, mong mỏi, có một giải pháp hữu hiệu nào đó, để tiến lên phía trước, để không bị sa chân vào cái bẫy thu nhập trung bình của thế giới, hoặc chí ít xã hội cũng bớt đi tiêu cực, hay xuống cấp về đạo đức.  Dân gian có thơ rằng:  “Của bụt mất một đền mười   Bụt hãy còn cười, bụt chả lấy cho.”  Không biết chúng ta đã lấy đi cái gì của bụt, mà loay hoay không sao trả được, để mong ngài đại xá(?) Cũng như con người đã lấy đi màu xanh của rừng, cướp đi không gian sinh tồn của bao loài, để đến hôm nay, chính con người đang bị trả giá, bởi sự nổi giận của thiên nhiên. “Cái gì của Ceasar thì trả lại cho Ceasar“, âu cũng là lời nhắc nhở người ta nhiều điều. Và phải chăng khoán 10, ruộng đất trả lại cho nông dân, cũng chính là cái điều người ta trả lại tự nhiên cái vốn dĩ của nó, để đã làm nên một bứt phá ngoạn mục trong nông nghiệp. Nhưng dường như để giữ được sự thăng bằng, bình thường theo dòng chảy của tạo hóa, nhân loại luôn bị trả giá từ những điều bất bình thường, bất tự nhiên, xuất hiện thường trực. Và hơn thế nữa, chính trong cái không gian bất cân bằng cục bộ đó, cũng tạo nên một cộng đồng thích ứng, chưa kể những tầng lớp thành đạt-hưởng lợi từ nó, vì thế sự đổi thay luôn là những thách thức to lớn đối với con người.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Cần cải cách triệt để hơn      Vài năm gần đây, mặc dù chính sách và cơ chế hoạt động KH&amp;CN có nhiều đổi mới theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà khoa học, cơ quan khoa học, nhưng đến nay hoạt động nghiên cứu triển khai của chúng ta vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực. Và rõ ràng là tác động của KH&amp;CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội trong những năm qua còn mờ nhạt so với sự năng động của giới doanh nhân kết hợp với sự hoạch định chính sách sáng suốt của các chính trị gia trong việc thiết lập một nền kinh tế thị trường phát triển thật sự năng động và vững chắc.     Việc đổi mới sức cạnh tranh của nền kinh tế cho đến nay chủ yếu vẫn là tiếp nhận các công nghệ hiện đại sẵn có với vốn đầu tư nước ngoài cùng cách thức quản lý chuẩn mực quốc tế, và tiếp nhận phần công việc có phần thấp cấp hơn trong phân chia lao động quốc tế. Vì thế sự yếu kém của khoa học VN có thể còn ít nhận thấy. Nhưng trong tương lai không xa khi kinh tế phát triển hơn, với yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và vị thế quốc gia, vai trò của khoa học sẽ ngày càng trở nên cấp bách. Nếu không có những cải cách mạnh mẽ ngay từ bây giờ, khoa học VN sẽ không có cơ hội trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế mà vần chỉ là bộ phận ăn theo và đóng vai trò tỉa tót, phụ trợ mà thôi, còn VN sẽ mãi là sân sau và một trong số các xưởng gia công của thế giới.   Đóng góp cho khoa học thế giới cũng giúp khẳng định vị thế quốc gia và tự hào dân tộc. Người Hàn Quốc đã tự hào biết bao khi những đột phá khoa học trong nghiên cứu tế bào gốc của họ đã làm cả thế giới kính nể. Tiếc rằng sau đó đã phát hiện ra nhà khoa học nọ do muốn đốt cháy giai đoạn đã ngụy tạo phát minh. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng họ đang tiến gần tới trình độ tiên tiến nhất của thế giới. Chúng ta vẫn đòi hỏi nhà nước phải tăng kinh phí cho khoa học. Thực tế thì kinh phí vẫn tăng hàng năm. Nhà nước không thể chi nhiều hơn số tiền mà nền kinh tế hiện tại cho phép. Đồng tiền của dân không phải để chúng ta chia phần nửa theo kiểu bao cấp, cào bằng, nửa theo kiểu phong kiến là ưu ái một số cá nhân và nhóm người nào đó có vị thế – không tương xứng với đóng góp khoa học của họ. Nó phải được phân phối hiệu quả theo cách để thúc đẩy phát triển khoa học theo những chuẩn mực quốc tế trong cạnh tranh toàn cầu. Khoa học có những đặc thù riêng so với sự vận động của nền kinh tế vốn được quyết định bởi các quy luật của thị trường: có những vấn đề có thể được giải quyết ngay để đáp ứng nhu cầu thực tế cấp bách, có vấn đề cần có những đầu tư nghiên cứu dài hơi hơn, nó cần có sự cân đối hài hòa từ các nghiên cứu sâu sắc và bao quát tới việc mổ xẻ những vấn đề rất cụ thể của thực tiễn, và khoa học luôn chứa đựng những bất ngờ có tính đột phá. Bởi vậy các quốc gia tiên tiến đều coi trọng và tài trợ những kinh phí bao cấp cho khoa học. Nhưng không vì thế mà hoạt động khoa học thoát khỏi các chuẩn mực nghiêm ngặt và cạnh tranh thi đua lành mạnh – vốn luôn là động lực phát triển của tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Thật đáng suy nghĩ khi mà thành tích xây dựng lực lượng khoa học thời bao cấp của chúng ta lại đang là một nhân tố gây ỳ cho sự phát triển tiếp theo của khoa học. Liệu đến bao giờ chúng ta tiến hành cải cách một cách triệt để chính sách và cơ chế quản lý khoa học? Cụ thể hơn nữa là chúng ta có học được cách cải cách khoa học của người Trung Quốc, như chúng ta đã làm được trong lĩnh vực kinh tế? Có cần thiết phải mời, thuê chuyên gia nước ngoài giúp  chúng ta quản lý và giám  định các hoạt động khoa học, như trong kinh tế?    TSKH Phạm Đức Chính,   Viện Cơ học, Viện KH&CN VN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần cải cách về mặt pháp lý      Điều trước hết l&#224; văn bản chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục lần n&#224;y phải được cải c&#225;ch về mặt ph&#225;p l&#253;, tu&#226;n thủ quy tr&#236;nh l&#224;m luật ở c&#225;c nước ti&#234;n tiến, nghĩa l&#224; buộc phải qua &#237;t nhất 2 &#8220;r&#224;o cản&#8221;, Ch&#237;nh phủ v&#224; Quốc hội, tại mỗi &#8220;r&#224;o cản&#8221; lại được c&#225;c ủy ban chuy&#234;n m&#244;n li&#234;n quan thẩm định, đệ tr&#236;nh &#253; kiến đề xuất.  Chỉ với quy tr&#236;nh l&#224;m luật đ&#243;, chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục lần n&#224;y mới c&#243; thể hy vọng tr&#225;nh được số phận bất khả thi như c&#225;c chiến lược trước n&#243;.    Khởi đầu cách đây 9 năm, năm 2000, tổ chức hơn 30 nước công nghiệp OECD hiện đang tiến hành một chương trình khảo cứu quốc tế mang tên PISA đánh giá xếp hạng chất lượng giáo dục phổ thông trung học năm cuối của họ, bằng phương pháp thực nghiệm, cho điểm, trải qua 3 giai đoạn, từ năm 2000 đánh giá khả năng đọc, từ năm 2003 đánh giá khả năng toán, và từ năm 2006 đánh giá trình độ các môn học tự nhiên, được phân bổ cho hơn 60 nước tham gia (gồm cả những nước đối tác của OECD), thực hiện tại nước mình, với ít nhất 5000 học sinh thử nghiệm. Cho dù  bản thân PISA luôn được tranh cãi phản biện, nhưng ít nhất các quốc gia OECD, sau từng giai đoạn, cũng biết được thứ hạng chất lượng giáo dục phổ thông nước mình trên bình diện quốc tế – cơ sở cho việc ban hành chính sách cải cách giáo dục của họ.   Trong khi đó, văn bản chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam dài 23 trang, bắt đầu bằng nêu những thành tích, tiếp đến là các yếu kém, được coi là cơ sở thực tế cho 11 giải pháp chiến lược đề xuất. Về mặt khoa học, các cơ sở thực tế nêu ra chỉ mang định tính kiểu “thiếu thực tiễn, không phù hợp… Thiếu cân đối, chưa chú trọng… Chưa đáp ứng được nhiệm vụ… Nghèo nàn lạc hậu…”,  hoặc xảy ra đâu đó, như “muốn mở trường họ khai bịa có nhiều tiến sĩ, thực ra chỉ có một…”, mà không được đo lường bằng những con số toàn cục, nên khó có thể khẳng định được bản chất vấn đề như trong trường hợp định lượng được bảo đảm bằng thuật toán thống kê. Một khi cơ sở thực tế đưa ra đã không thể khẳng định được bản chất vấn đề thì 11 giải pháp dựa trên đó cũng không thể dám chắc thay đổi được toàn bộ vấn đề. Và đây chính là rủi ro của văn bản phát triển giáo dục Việt Nam đã đề xuất.   Giáo sư Hoàng Tụy đã đúng khi cho rằng, bàn đến giáo dục đào tạo trước hết phải đề cập đến cốt lõi của nó, tư tưởng, triết lý, mà rốt cuộc phản ảnh ở mục tiêu đào tạo giáo dục. Chắc các chuyên gia ngành giáo dục không lạ với mô phỏng phổ biến, vẽ một vòng tròn trong đó có 2 mũi tên qua lại giữa thầy và trò, nằm trong khung hình vuông biểu tượng “nhà trường”, trên một nền được ghi “môi trường kinh tế xã hội”. Nghĩa là khởi nguồn và đích nhắm, mục tiêu của giáo dục đào tạo chính là nền tảng kinh tế xã hội. Ở ta, trước “đổi mới”, đó là mô hình kinh tế quản lý tập trung cùng cơ chế hành chính bao cấp; đời sống kinh tế xã hội mọi mặt đều tuân theo kế hoạch do Nhà nước quản lý từ trên xuống. Nền đào tạo giáo dục, với người thầy dạy gì, ở đâu, dạy như thế nào, lương bao nhiêu, với người trò học gì, trường nào, vào ngành nghề gì, ra trường làm ở đâu, trường lớp sách vở đồ dùng dạy học… đều do Nhà nước quyết định; lớp được coi là đơn vị học và quản lý hành chính có cơ cấu lãnh đạo cùng các tổ chức xã hội như cơ quan Nhà nước, xuyên suốt phổ thông, học nghề, đại học; tất cả nhằm phục vụ cho yêu cầu của nền kinh tế xã hội lúc đó. Chính mục tiêu khái quát đào tạo học sinh vừa hồng vừa chuyên đưa ra thời đó được diễn giải nhằm vào những nội dung trên.              Với chính sách „đổi mới“, nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu như giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài.          Với chính sách “đổi mới”, nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu như giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài. “Chỉ tiêu học sinh khá giỏi, lên lớp, tốt nghiệp”, từng được xem là mục tiêu phấn đấu của người thầy, hô hào cổ vũ một thời, do không còn thích hợp, nên trở thành chứng “bệnh”. Học thêm, dạy thêm các nước tiên tiến vẫn khuyến khích, đến ta trở thành quốc nạn, dạng “làm tiền” học sinh, chỉ vì chính sách trả lương người thầy vẫn là cung cách của xưa kia, cộng với khối lượng kiến thức tối thiểu cần trang bị cho học sinh đã không được pháp định. Kiến thức ra trường của sinh viên đại học 4 năm nước ta sẽ không bao giờ bằng các nước tiên tiến, nếu vẫn tiếp tục như xưa nay đầu tư cho mục tiêu “vừa hồng” một quỹ thời gian chính khoá lên tới 2 học kỳ, bao gồm các môn chính trị, quốc phòng, thể chất… mà ở các nước tiên tiến quỹ đó họ dành cho chuyên ngành. Nghĩa là mình thua họ 1/4 kiến thức chuyên môn (điều nghịch lý là kiến thức “vừa hồng”, ta học trong trường nhiều hơn nhưng vẫn kém xa họ, vì các môn đó họ bổ túc, tự học, ôn luyện, qua tham gia câu lạc bộ, diễn đàn, phong trào, vững hơn ta nhiều). Đặc biệt sinh viên ta ra trường hầu hết rất thụ động, hậu quả của học và bị quản lý trong đơn vị lớp, không thể chủ động như sinh viên các nước tiên tiến nhờ ở đại học hoàn toàn tự do tổ chức lấy cuộc sống, chương trình học, thực tập và làm thêm, như một người tự hành nghề trong xã hội.   Nhìn dưới góc độ pháp lý, có thể hình dung được tương lai của văn bản chiến lược phát triển giáo dục lần này sẽ kết thúc thế nào, nếu không thay đổi được phương thức ban hành xưa nay.               Văn bản chiến lược giáo dục không chỉ đủ điều kiện “cần” về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện “đủ” bởi chế tài do hệ thống tư pháp, toà án, viện kiểm sát đảm nhận.          Thực trạng nền giáo dục đào tạo nước ta bây giờ chính là kết quả của những chiến lược giáo dục trước đó được thực hiện dưới dạng chủ trương, theo cơ chế hành chính xin cho, dựa chủ yếu vào chỉ thị từ trên, phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan ở dưới. Không có chế tài nào buộc người ta phải thực hiện, không cá nhân có thẩm quyền nào chịu trách nhiệm về số phận của nó. Vì vậy, điều trước hết là văn bản chiến lược phát triển giáo dục lần này phải được cải cách về mặt pháp lý, tuân thủ quy trình làm luật ở các nước tiên tiến. Ở họ chính sách chỉ được phép thực thi khi trở thành văn bản lập pháp, nghĩa là buộc phải qua ít nhất 2 “rào cản”, Chính phủ và Quốc hội, tại mỗi “rào cản” lại được các ủy ban chuyên môn liên quan thẩm định, đệ trình ý kiến đề xuất. Trong văn bản lập pháp đó, bao giờ cũng có mục quan trọng là nhân sự và tài chính dành cho cơ quan hành pháp thực thi và mức tài chính đầu tư cho các hạng mục được nêu trong chính sách. Văn bản luật như vậy không chỉ đủ điều kiện “cần” về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện “đủ” bởi chế tài do hệ thống tư pháp, toà án, viện kiểm sát đảm nhận. Chỉ với quy trình làm luật đó, chiến lược phát triển giáo dục lần này mới có thể hy vọng tránh được số phận các văn bản trước nó, chí ít những giải pháp chiến lược đề xuất bị hoài nghi bất khả thi, bức xúc dư luận chắc chắn sẽ được kết luận, tỷ như xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế vào năm 2015, hoặc đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, mà không nêu được tổng kinh phí đầu tư là bao nhiêu? Lấy ở đâu ra? Nhân sự nào cho 4 trường đẳng cấp quốc tế? 2 vạn tiến sỹ đào tạo ra tìm việc làm chỗ nào? Và cha đẻ của nó sẽ được luật pháp thừa nhận không ai khác ngoài Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm với đứa con của mình!   ———–  * Tiến sĩ – Cộng hòa LB Đức    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần cập nhật về những tạp chí có uy tín      Cuộc bàn luận về chất lượng tạp chí chuyên ngành quốc tế ở ngành Khoa học xã hội nhân văn cho thấy áp lực phải công bố quốc tế bằng mọi giá có thể dẫn người ta tới sai lầm khi lựa chọn nơi công bố.      Minh họa: Science.  Hiện tại ở Việt Nam có tình trạng các nhà khoa học rất khát khao công bố quốc tế, bằng mọi cách và không mấy kén chọn về chất lượng các tạp chí, một phần do các quỹ, các trường thúc đẩy các chỉ tiêu về số lượng công bố quốc tế và một phần khác do chúng ta mới bước chân vào con đường công bố quốc tế này nên các thông tin về chất lượng tạp chí cũng còn hạn chế, đồng thời cũng không hiểu biết nhiều về các chuẩn mực quốc tế. Tất cả những điều này khiến dẫn đến hiện tượng một số nhà khoa học Việt Nam đã tìm đến các tạp chí mà yêu cầu chuyên môn không cao để có thể được đăng bài một cách nhanh chóng.  Mặt khác, có một số tạp chí trong làng xuất bản thế giới hiểu được nhu cầu của các nhà khoa học ở thế giới thứ ba là cần phải có công bố quốc tế nên đã chào mời và gửi nhiều thông tin tới họ. Bản thân tôi cũng thường xuyên nhận được các lời mời đăng bài kiểu này và có thể các nhà khoa học khác ở Việt Nam cũng như vậy. Điều đáng nói là các tạp chí này, đặc biệt là các tạp chí mới nổi, đều nhận xuất bản bài báo sau một thời gian rất ngắn mà không đảm bảo trải qua một quy trình bình duyệt chặt chẽ.   Ngược lại nếu chúng ta chỉ dựa vào danh mục của ISI Web of Science và Scopus thì sẽ bỏ sót các tạp chí tốt khác trong ngành khoa học xã hội và nhân văn.  Để có được cái nhìn khách quan về vấn đề này, chúng ta hãy nhìn ra các nền học thuật quốc tế. Ví dụ ở Đức, tôi không thấy họ quá chú trọng việc phải xuất bản công trình trên các tạp chí thuộc danh mục ISI hay Scopus bởi đây là các tạp chí của những nhà xuất bản trong hệ thống Anh – Mỹ, trong khi trong  giới học thuật thế giới còn có rất nhiều tạp chí xuất bản bằng những ngôn ngữ khác, rất đa dạng và khác biệt như tiếng Trung, Nga, Hàn, Ả Rập, Nhật… Nó phản ánh một tính chất rất quan trọng trong khoa học xã hội và nhân văn, đó là phải đa dạng trong xuất bản chứ không cứ phải tuân theo duy nhất một chuẩn mực tạp chí nào. Mặt khác, không nhất thiết phải là bài tạp chí mà việc công nhận xuất bản dưới dạng các chương sách của các nhà xuất bản uy tín trong khoa học xã hội cơ sở dữ liệu của SAGE, các nhà xuất bản hàng đầu như Routledge, Palgrave Macmillan, World Scientific, Taylor&Francis… hay các đại học uy tín cũng quan trọng không kém gì, đôi khi các chương sách, sách còn có sức sống lâu bền hơn.   Ngay trường hợp của Tạp chí Việt Nam học (Journal of Vietnamese Studies – JVS) của ĐH Berkeley (Mỹ), Giáo sư Peter Zinoman – Tổng biên tập đầu tiên và là người sáng lập tạp chí này trong những ngày đầu cũng nói rằng, họ không quá quan tâm tới danh mục ISI hay Scopus. Mục tiêu mà tạp chí này hướng tới là “chúng tôi chỉ mong muốn JVS sẽ xuất hiện trong giá thư viện của 400 trường đại học hàng đầu thế giới”. Tuy nhiên, vì  các nhà khoa học phải chịu áp lực  đăng bài ở danh mục ISI, Scopus, nên cuối cùng sau 14 năm thành lập, đến năm 2020 tạp chí JVS mới gia nhập vào danh mục Scopus với mong muốn để các học giả đăng bài nhiều hơn.     Tạp chí Việt Nam học của ĐH Berkeley là diễn đàn thảo luận của nhiều nhà Việt Nam học ở Việt Nam và quốc tế, nhưng sau 14 năm thành lập mới vào cơ sở dữ liệu Scopus.  Lựa chọn nào cho công bố quốc tế?  Theo kinh nghiệm của tôi thì để xác định một tạp chí uy tín trong khoa học xã hội và nhân văn, cần căn cứ vào các tiêu chí sau đây:   Một là chỉ chấp nhận xuất bản những nghiên cứu có tính mới, tính nguyên gốc (original), mới về phương pháp, nguồn tư liệu, cách diễn giải.   Hai là tạp chí đó phải có sự phản biện chặt chẽ, của ít nhất hai phản biện thực sự độc lập, không chịu ràng buộc về quan hệ, về uy tín và ảnh hưởng của người viết và độc lập về mặt chính trị. Ít nhất là như vậy và nếu chỉ tin vào một danh mục ISI, Scopus thì không đủ.   Ba là tạp chí đó phải được cộng đồng các nhà khoa học chân chính thừa nhận, thể hiện ở việc họ đăng bài hoặc là thường xuyên tham khảo, trích dẫn, chia sẻ những bài báo ở đó.  Thông thường, các trung tâm nghiên cứu hoặc các trường đại học lớn trên thế giới thường đưa ra những danh mục tạp chí có uy tín với các tiêu chí như vậy để khuyến nghị các nhà nghiên cứu nên công bố ở đó, ví dụ khi tôi nghiên cứu, thỉnh giảng ở nước ngoài thì các cơ sở đó thường khuyến nghị tham khảo danh mục của JSTOR (digital library of academic journals, books, and primary sources)1. Ở Việt Nam, các nhà khoa học uy tín ở các trường, các trung tâm nghiên cứu cũng nên cung cấp, khuyến nghị danh mục tạp chí đáng tin cậy theo các ngành của mình để cho các nhà nghiên cứu trẻ tham khảo. Trong bối cảnh Việt Nam mới bắt đầu hình thành thói quen công bố quốc tế, tôi cho rằng chúng ta rất nên có thông tin đầy đủ, cập nhật về những tạp chí có uy tín ở các ngành khác nhau cho các nhà nghiên cứu của chúng ta.   Nhưng ngay thời điểm hiện tại, khi chưa có được khuyến nghị về các đầu mục tạp chí, cơ quan xuất bản phù hợp thì các nhà khoa học trẻ nên làm thế nào để lựa chọn được nơi công bố và học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu?      Thông qua nghiên cứu “Liên minh châu Âu qua con mắt châu Á” với nhóm của GS Martin Holland, một số nhà nghiên cứu trẻ đã trưởng thành rõ rệt trong đó hai người đã bảo vệ tiến sĩ và hiện nay đều có các nghiên cứu, công bố chất lượng.   Từ kinh nghiệm làm việc của mình tôi nhận thấy, các kết quả nghiên cứu có giá trị thường xuất phát từ các đề tài nghiên cứu khoa học, tốt nhất là các đề tài nghiên cứu chung với các học giả uy tín quốc tế. Các chương trình nghiên cứu đó thường do các giáo sư có uy tín quốc tế chủ trì, có từ một vài nhà khoa học đến từ nhiều nước tham gia, vì vậy nếu nhà nghiên cứu trong nước tham gia thì sẽ được học hỏi về phương pháp với yêu cầu cụ thể về chuyên môn và được tiếp cận những tài liệu có liên quan về lý thuyết để tham khảo, so sánh, để cuối cùng có thể viết bài xuất bản dưới hình thức đồng tác giả hoặc tác giả độc lập dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học có uy tín quốc tế.  Ví dụ, năm 2009 tôi đã tham gia cùng nhóm của giáo sư Martin Holland đến từ Đại học Canterburry New Zealand, tiến hành một dự án nghiên cứu lớn có tên gọi “Liên minh châu Âu qua con mắt châu Á” (The EU through the eyes of Asia), một dự án tập hợp các nhà nghiên cứu có uy tín nhằm đánh giá, đo lường nhận thức của người châu Á về Liên minh châu Âu trong vòng hai năm. Các nhà nghiên cứu Việt Nam tham gia dự án này đã học hỏi được rất nhiều vì được tiến hành nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của các giáo sư có kinh nghiệm, cách làm bảng hỏi, phỏng vấn, thu thập và phân tích dữ liệu, được trình bày báo cáo nghiên cứu tại các cuộc tọa đàm khoa học với các thành viên đến từ các nước khác để nhận được chia sẻ, góp ý, phản biện rồi mới xuất bản công bố. Khi dự án nghiên cứu kết thúc, kết quả của nó đã được xuất bản thành hai cuốn sách do Nhà xuất bản World Scientific xuất bản và đã trở thành cuốn cẩm nang cho lãnh đạo của Liên minh châu Âu.  Cách tiếp theo là các bạn nên tham gia các hội thảo quốc tế có uy tín để các nghiên cứu của mình được cộng đồng các nhà khoa học biết tới. Thông thường, khi các trường đại học có uy tín tổ chức hội thảo, họ thường mời các nhà khoa học uy tín tới, và báo cáo được trình bày tại hội thảo đều được phản biện một cách nghiêm túc. Sau đó, hội thảo thường tìm cách công bố những báo cáo có giá trị dưới nhiều hình thức, ví dụ như in thành kỷ yếu hoặc đăng trong một số chuyên đề của tạp chí nào đó. Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức này không phải không có “cạm bẫy” bởi rất nhiều tổ chức đội lốt tổ chức khoa học uy tín đứng ra tổ chức hội thảo để thu tiền với phí cao. Do vậy, cần chọn hội thảo trên tiêu chí uy tín của nơi tổ chức là các trường, các think tank, các hiệp hội nghiên cứu và cả sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín.   ***  Tôi vẫn cho rằng, công việc nghiên cứu và xuất bản ít nhiều là một quá trình mang dấu ấn cá nhân, nó thể hiện mong mỏi được đóng góp cho học thuật quốc tế của mỗi nhà nghiên cứu. Do đó nếu chúng ta chỉ hướng đến việc đăng bài trên những tạp chí kém chất lượng thì vô hình trung chỉ tính số lượng thôi chứ cá nhân ấy không có đóng góp gì nhiều cho khoa học ở những bài báo như vậy.□  —  Chú thích:  1 https://en.wikipedia.org/wiki/JSTOR    Author                Phạm Quang Minh        
__label__tiasang Cần chấp nhận 4 cơ chế quản lý trong dự án của GS T. Vallely.      Bản đề cương xây dựng trường đại học hàng đầu của Việt Nam mà ngài Thomas Vallely gửi tới Thủ tướng Phan Văn Khải và Chính phủ nước ta chứng tỏ ngài T.Vallely (sau đây xin phép viết tắt là T.V.) rất am hiểu bối cảnh lịch sử của Việt Nam (VN).    Ngoài nguyên nhân khách quan do lịch sử thế kỷ XX gây nên sự lạc hậu của giáo dục VN, thiết tưởng cũng phải nêu những nguyên nhân chủ quan, mà nếu không khắc phục được thì không thể thực hiện được bản đề cương của ngài T.V. hay những đề xuất của giáo sư Hoàng Tụy: đó là chủ nghĩa giáo điều quan liêu bảo thủ một thời gian dài đã khống chế nền khoa học nước ta, như phân biệt máy móc giữa hồng và chuyên, đòi hỏi cứ phải mèo đỏ mới bắt được chuột… Thậm chí trong những năm 60 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng của Đại cách mạng văn hóa ở Trung Quốc mà một số giáo sư giỏi đã không thể ở lại giảng dạy ỏ trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tiếp đó, người có công lớn trong việc đào tạo đội ngũ trí thức VN, cố giáo sư Tạ Quang Bửu cũng bị cho là theo thiên tài chủ nghĩa. Ngày nay tuy đường lối đã cởi mởi hơn sau Đổi mới, tôi vẫn muốn nhắc lại những sự kiện đau xót đó là một trong những nguyên nhân chủ quan khiến nền giáo dục nước ta bị tụt hậu và nếu không vượt qua được thì ta khó lòng thực hiện được đề cương rất tâm huyết của ngài T.V. và những đề xuất của giáo sư Hoàng Tụy!  Có thể bắt đầu xây dựng một trường Khoa học cơ bản cả tự nhiên và nhân văn ở Thủ đô, sau đó hoặc đồng thời xây dựng một trường Đại học công nghệ ở Thành phố HCM, nhưng theo một đề án riêng và khả năng tài chính riêng của thành phố.  Nhân đây tôi muốn nhắc lại chuyện, cách đây 10 năm, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã có một quyết định khá chiến lược là: xây dựng ba trường Trung học chất lượng cao tiêu biểu trong cả nước để lựa chọn những học sinh ưu tú cho đại học và thành lập trường Đại học Quốc gia với một quy chế đặc biệt, giúp nó thoát khỏi sự ràng buộc của một nền hành chính bảo thủ và quan liêu. Rất tiếc là khi thực hiện quyết định chiến lược đó, lẽ ra phải xây dựng một Đại học Quốc gia hoàn toàn mới, trên những tiêu chí mới, thì ta lại đi sáp nhập thành một cục một số trường đại học cũ đã xơ cứng. Vì mỗi trường đã có một lịch sử phát triển như một vương quốc riêng nên không dễ gì họ có thể chung sống hòa hợp với nhau được, rút cuộc Trường Đại học Sư phạm đã đòi tách riêng và nay bên trong Đại học Quốc gia là ba trường đại học có bộ máy riêng, cơ sở vật chất riêng và cung cách hoạt động, chất lượng đào tạo cũng không hơn trước bao nhiêu tuy có xây dựng được một số cơ sở nhà cửa khang trang hơn! Kết quả là mặc dầu có một quyết định chiến lược nhưng thiếu quyết tâm chỉ đạo chiến lược, nền giáo dục nước ta vẫn không thể bứt phá lên được.    4 nguyên lý cơ bản trong cơ chế quản lí  Tôi cho rằng đề cương của ngài T.V. là có tầm nhìn chiến lược. Muốn thay đổi  nền giáo dục VN một cách cơ bản phải bắt đầu tư đại học chứ không phải chỉ từ mẫu giáo hoặc tiểu học. Để thoát khỏi cơ chế tập trung sơ cứng, phải bắt đầu bằng xây dựng mới một trường đại học hàng đầu ở VN, một đầu máy mới đủ mạnh, đủ sức kéo các toa tầu cũ lên phía trước. Đồng ý với giáo sư Hoàng Tụy đẳng cấp của trường đại học mới đó là Đại học đẳng cấp quốc tế, chứ không phải cái tên đại học quốc tế nêu trên báo Tuổi trẻ ngày 8/12/2005 được. Tên gọi của đại học đó sẽ bàn sau nhưng cũng có thể là Đại học Thăng Long như một số đề nghị. Về tính chất trường đại học đó phải là một trường đại học nghiên cứu, có cả hai cấp cử nhân và tiến sĩ, ở đó các giáo sư đều phải là những nhà khoa học đang nghiên cứu những vấn đề bức thiết của đất nước hoặc của khoa học hiện đại. Đáng tiếc là khác mô hình tổ chức của Mỹ, các viện nghiên cứu cơ bản của ta lại tách khỏi các trường đại học…! Đó là một thực tế phải tính đến khi xây dựng mới trường đại học đẳng cấp quốc tế của VN. Đã có nhiều đề xuất liên kết Viện khoa học và Công nghệ VN và Viện Khoa học xã hội và Nhân văn với Đại học Quốc gia HN, nhưng các cơ thể đó cũng không dễ gì kết duyên với nhau được.          Theo suy nghĩ của tiểu ban đề án của Bộ Giáo dục- Đào tạo thì mãi đến năm 2008-2009 mới bắt đầu tuyển sinh cho Đại học mới, như vậy là quá chậm: sự tiến bộ vũ bão của khoa học thế giới không đợi cách đi như rùa ấy của chúng ta!        Để xây dựng thành công trường Đại học hàng đầu của VN, chúng ta cần chấp nhận bốn nguyên lý cơ bản trong cơ chế quản lí các trường đại học, đảm bảo cho sự thành công các trường đại học ưu tú của Mỹ. Trong bốn nguyên lý cơ bản mà ngài T.V. nêu ra thì hai nguyên lí đầu có lẽ là khó thực hiện nhất trong khi ở ta hiện nay trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo vẫn tồn tại dai dẳng cơ chế quản lí tập trung quan liêu và bảo thủ: các trường đại học không được phép xây dựng một chương trình riêng chỉ tập trung vào việc nâng cao tay nghề cho sinh viên của trường mình. Ví dụ; tại Đại học Bách khoa sinh viên năm đầu đáng lẽ phải nâng cao ngoại ngữ và các môn cơ bản để nghiên cứu tạp chí nước ngoài thì họ lại mất nhiều thì giờ vào không ít những môn vô bổ. Nhiều người chắc ngần ngại khi chấp nhận nguyên lý thứ hai mà ngài T.V. nêu ra nhưng tôi cho rằng chỉ có tự do thảo luận mới sáng tỏ được chân lý, nhất là trong các khoa  học nhân văn, không thể áp đặt và để tồn tại những vùng cấm kỵ. Nếu coi trường đại học hàng đầu của VN là một khu vực chiến lược, thì các vị lãnh đạo cao nhất của nước ta cũng nên theo kinh nghiệm của Trung Quốc trong Đại cách mạng văn hóa, Hồng vệ binh đánh tơi bời các giáo sư đại học, nhưng có một khu vực chiến lược tuyệt đối cấm không ai được đụng tới là nơi nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử. Đại học hàng đầu của VN không nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử, nhưng đào tạo những nhân tài cho đất nước, cũng xứng đáng được coi như một khu vực chiến lược của đất nước. Cho nên ở trường đại học đó nếu có những cuộc thảo luận và phát biểu khác với chủ trương của lãnh đạo hiện nay, thì chỉ nên khoanh nó trong lĩnh vực học thuật mà không nên vội quy kết về chính trị.  Bắt đầu như thế nào?  Tôi nghĩ Thủ tướng Phan Văn Khải là người đề ra việc này thì ông sẽ có biện pháp thúc đẩy để đề án xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế sớm được thực hiện. Đồng ý với giáo sư Hoàng Tụy thời cơ lúc này là rất thuận lợi và cấp bách, nếu trong văn kiện Đại hội X Thủ tướng kịp bổ sung vấn đề này thành một nhiệm vụ lớn của kế hoạch 5năm sắp tới. Nếu chúng ta bắt đầu ngay thì chỉ trong dăm bảy năm nữa chúng ta sẽ có lớp nhân tài, nếu được là lớp hiền tài thì thật quý. Tuy nói vì sự nghiệp trăm năm trồng người, nhưng thực ra trồng một cây gỗ quý phải mất hàng trăm năm, chứ trồng nhân tài thì không mất đến chục năm nếu bắt đầu ngay.  Việc đầu tiên là Thủ tướng Chính phủ với cương vị là Chủ tịch Hội đồng Quốc gia về giáo dục nên giao ngay cho một nhà khoa học hàng đầu của ta, tốt nhất là đã có kinh nghiệm đi giảng dạy ở Mỹ và các nước phương Tây, lập một tiểu ban dự án xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, giống như 50 năm trước Chính phủ đã tin và giao toàn quyền cho cố giáo sư Trần Đại Nghĩa đứng ra xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội. Có thể bắt đầu xây dựng một trường Khoa học cơ bản cả tự nhiên và nhân văn ở Thủ đô, sau đó hoặc đồng thời xây dựng một trường Đại học công nghệ ở Thành phố HCM, nhưng theo một đề án riêng và khả năng tài chính riêng của thành phố. Theo kinh nghiệm 10 năm trước về xây dựng Đại học Quốc gia, thì dứt khoát không nên dựa vào một trường đại học sẵn có vì trường nào cũng có tính bảo thủ khó vượt qua. Tất nhiên sau này sẽ lựa chọn những giáo sư đủ tầm cỡ của Đại học Quốc gia hiện nay và của hai Viện nghiên cứu Khoa học Quốc gia giảng dạy ở Đại học mới. Theo suy nghĩ của tiểu ban đề án của Bộ Giáo dục- Đào tạo thì mãi đến năm 2008-2009 mới bắt đầu tuyển sinh cho Đại học mới, như vậy là quá chậm: Sự tiến bộ vũ bão của khoa học thế giới không đợi cách đi như rùa ấy của chúng ta! Muốn đi tắt đón đầu thì phải có giải pháp mạnh dạn hơn, ví dụ không bê nguyên xi một trường đại học cũ lên Hòa Lạc mà dành địa điểm đó cho Đại học đẳng cấp quốc tế với diện tích và cơ ngơi tương tự Đại học Quyxơn Xiti của Philippines (549ha). Trong khi chờ đợi xây dựng mới, có thể mượn một cơ sở của Đại học Quốc gia hiện nay làm địa điểm tạm thời ở Hà Nội. Tôi nghĩ đề án phải được thông qua sớm và nhân sự phải được quyết định càng sớm càng tốt, tốt nhất là trước Đại hội X và nếu vào đầu năm học 2006- 2007 đã có thể tuyển sinh một vài trăm sinh viên hoặc ít hơn cũng được, theo những tiêu chuẩn mới, nghĩa là sinh viên phải qua TOEFL chẳng hạn, có chế độ mới cho cả giáo sư và sinh viên và bắt đầu giảng dạy theo chương trình mới là đẹp nhất.  Với phương án vừa làm vừa xây dựng thì cũng không phải đợi đến 2009 chúng ta mới bắt đầu đào tạo lớp tiến sĩ mới, có trình độ quốc tế. Điều kiện để thành công là trường đại học đẳng cấp quốc tế phải được sự tin tưởng tuyệt đối của Thủ tướng Chính phủ và có chế độ đặc biệt để thầy trò ngày đêm có thể tập trung vào khoa học mà không phải bận bịu và lo lắng tới đời sống hàng ngày.  GS. NGND. Nguyễn Văn Chiển      Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chấp nhận sự đa dạng      Hiện nay hệ thống pháp lý ở Việt Nam đã có những thay đổi căn bản để bảo vệ quyền của người chuyển giới, nhưng đó mới chỉ là điểm khởi đầu cho nhiều nỗ lực tiếp theo nhằm không chỉ công nhận những quyền hiển nhiên của người chuyển giới mà còn phải thay đổi nhận thức của xã hội trong ứng xử với họ.      Một cảnh trong phim Danish girl về đề tài chuyển giớiđược giải Oscar năm 2016.  Bị kỳ thị khi sống đúng với bản dạng giới  Từ ngoại hình, cử chỉ cho tới cách nói chuyện tự nhiên như bất kỳ người đàn ông nào khác, Phong1, một người chuyển giới nam (transgender2) không hề gợi cho chúng tôi một ý niệm nào về việc trước đây anh từng mang ngoại hình là nữ. Nhưng Phong đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi tìm việc làm và chịu đựng nhiều kỳ thị ở công sở cũng như nhiều không gian công cộng khác. “Khi em nộp hồ sơ xin việc, nhìn thấy giới tính của mình khác với giới tính được ghi trong hồ sơ, họ đặt ra câu hỏi về giới tính của em sau đó khẳng định em không phù hợp với công việc đó. Thậm chí khi em đã trúng tuyển, họ rà soát về giới tính và biết em là người chuyển giới thì lại nói rằng khách hàng của công ty không muốn tiếp xúc khi em thể hiện mình là người chuyển giới và yêu cầu em phải điều chỉnh lối ăn mặc và ngoại hình cho phù hợp với công việc thì mới nhận được. Em đã học đại học, có kinh nghiệm làm việc nhất định, nhưng họ không chấp nhận năng lực, vẫn bị từ chối khi xin việc chỉ vì em sống thật với bản thân mình”, Phong nói.  Trường hợp bị kỳ thị trong môi trường công sở như Phong không phải là hiếm. Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế, môi trường (ISEE)3, có 53% người chuyển giới nữ và 60% người chuyển giới nam bị các nhà tuyển dụng từ chối nhận vào làm việc trong khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực. Và ngay cả khi được nhận vào làm việc thì có tới 69% người chuyển giới nữ và 66% người chuyển giới nam thường bị kỳ thị, xa lánh ở nơi công sở. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra, không chỉ bị phân biệt đối xử ở các không gian công cộng, người chuyển giới còn bị kỳ thị, xa lánh bởi chính người thân, ngay dưới mái nhà họ đang sinh sống. Thống kê xã hội học về kỳ thị đối xử trong gia đình của người chuyển giới cho thấy, 62% người chuyển giới nữ, 80% người chuyển giới nam bị chửi mắng, gây áp lực, 61% người chuyển giới nói chung bị ép thay đổi ngoại hình, cử chỉ, thậm chí có tới 14% trong số họ phải chịu các hành vi bạo lực như nhốt, giam giữ, đánh đập, đuổi khỏi nhà. Riêng ở phạm vi gia đình, các hành vi phân biệt đối xử với người chuyển giới còn nhắm tới việc ngăn chặn thông tin về thành viên trong gia đình là người chuyển giới bị tiết lộ ra ngoài đồng thời cố gắng thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ bằng các biện pháp y học, tâm linh hay lối sinh hoạt và ngăn cản các mối quan hệ tình cảm của họ. Nhìn chung, các hành vi phân biệt đối xử xuất phát bởi sự định kiến và dè bỉu các bản dạng giới (gender identity)4 và xu hướng tính dục của người chuyển giới “khác” với các bản dạng giới và xu hướng tính dục được coi là “thông thường”.     “Theo tôi, điều quan trọng nhất đối với người chuyển giới là phải thay đổi nhận thức xã hội, tức là xã hội cần phải thừa nhận họ – rằng họ có quyền tồn tại hiển nhiên như tất cả những người không chuyển giới và hoàn toàn bình đẳng với tất cả mọi người. Người chuyển giới không có lỗi, nhưng cách mà xã hội chúng ta đang đối xử với họ hiện nay cứ như là họ có lỗi lớn vậy”.  TS. Khuất Thu Hồng     Đứng trước những kỳ thị, định kiến bủa vây từ mọi phía, hầu hết người chuyển giới đều mong chờ được xã hội công nhận thân phận của mình dựa trên sự thừa nhận về mặt luật pháp, điển hình là quyền chuyển giới trong Bộ Luật dân sự 2015. Mặc dù một số quy định trong “quyền” này vẫn còn gây tranh luận bởi quy định phải phẫu thuật mới được công nhận chuyển giới5, nhưng về cơ bản với quyền chuyển giới này, người chuyển giới có thể sửa đổi các thông tin về hộ tịch, giới tính ghi trên giấy tờ, điều này khiến họ dễ dàng làm các thủ tục hành chính hơn so với trước đây. Ví dụ, người chuyển giới sẽ tránh được tình trạng đi xin việc nhưng giới tính được ghi trên giấy tờ không khớp với ngoại hình của họ, hoặc đơn giản hơn, họ sẽ vào đúng nhà vệ sinh công cộng dành cho giới tính thực của mình mà không phải chịu cái nhìn soi mói khi vào “nhầm” nhà vệ sinh công cộng dành cho giới tính khác.  Khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ công  Tuy nhiên, ngay cả khi được thừa nhận về mặt pháp lý, người chuyển giới vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn khác, chủ yếu do cơ sở hạ tầng của các dịch vụ công, đặc biệt là dịch vụ y tế chưa thể hỗ trợ cho người chuyển giới. Theo một nghiên cứu mới đây của Phạm Quỳnh Phương và cộng sự6, đa số người chuyển giới sử dụng các loại thuốc điều chỉnh hormon với các hướng dẫn dựa trên cơ chế “thông tin truyền miệng” trong cộng đồng chuyển giới chứ không có sự tư vấn đúng từ các bác sĩ.  Ngoài ra, về mặt tâm lý, người chuyển giới thường phải chịu đựng sự căng thẳng do luôn chịu định kiến trong xã hội, luôn phải đấu tranh giữa các luồng tư tưởng phải sống đúng với bản dạng giới của mình hay sống với khuôn mẫu giới khác mà người xung quanh khuyến cáo và đòi hỏi nhưng chưa có bất kỳ một trung tâm tư vấn nào về tâm lý cho người chuyển giới. “Với chúng em, phải xác định sống như thế nào cũng thật sự rất khó. Nếu sống đúng với ngoại hình mà chúng em đã phải mang thì sẽ gặp thuận lợi hơn trong các mối quan hệ xã hội, không bị kỳ thị nhưng đó lại không phải là chính mình, điều đó sẽ khiến chúng em gặp stress. Ngược lại, sống đúng là mình thì phải luôn chịu đựng sự soi mói, kỳ thị của mọi người. Dù có lựa chọn sống theo cách nào thì em vẫn luôn gặp phải những bức bối mà khó có thể tâm sự cùng với bất kỳ ai, từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp … Thậm chí nhiều bác sĩ vẫn còn định kiến và lại khuyên em là phải uống thuốc để điều trị bệnh”, Trường, một người chuyển giới nam cho biết.  Thay đổi nhận thức  Nhưng liệu rằng, giải quyết được tất cả những khoảng trống về pháp lý hiện nay cũng như cung cấp đủ dịch vụ cơ bản để người chuyển giới nhận được sự hỗ trợ tư vấn tốt về tâm lý và y tế đã là đủ để đảm bảo quyền của người chuyển giới? “Theo tôi, điều quan trọng nhất đối với người chuyển giới là phải thay đổi nhận thức xã hội, tức là xã hội cần phải thừa nhận họ – rằng họ có quyền tồn tại hiển nhiên như tất cả những người không chuyển giới và hoàn toàn bình đẳng với tất cả mọi người. Người chuyển giới không phải là bệnh hoạn hay tệ nạn. Họ được sinh ra như vậy. Họ không lựa chọn để làm người chuyển giới, ngược lại, hầu hết thường phải trải qua nhiều năm tháng đầy dằn vặt, khổ đau trong cuộc đấu tranh vật lộn với chính mình để chối bỏ điều đó. Người chuyển giới không có lỗi, nhưng cách mà xã hội chúng ta đang đối xử với họ hiện nay cứ như là họ có lỗi lớn vậy” – TS. Khuất Thu Hồng, chuyên gia về gia đình và giới, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) phân tích.  Theo TS. Hồng, sự thay đổi về mặt luật pháp thuần túy mới chỉ là sự thay đổi mang tính “kỹ thuật” về việc một người chuyển giới được chuyển đổi quyền nhân thân như mang tên mới hay quyền được mang đúng giới tính mà mình mong muốn (tùy theo quy định của pháp luật yêu cầu người chuyển giới đã qua phẫu thuật hay không). Đây là căn cứ quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho người chuyển giới khi họ gặp các vướng mắc về pháp lý. Tuy nhiên, nền tảng pháp lý này mới chỉ là viên gạch móng cho việc xây dựng rất nhiều giải pháp tiếp theo để thay đổi nhận thức của xã hội về người chuyển giới, đi đến nhận thức đúng và có thái độ đúng đắn trong ứng xử với người chuyển giới.          “Để thay đổi được nhận thức xã hội, truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng. Truyền thông ở Việt Nam đã có những thay đổi nhanh chóng trong thời gian vừa qua. Chỉ mới cách đây 10 năm, truyền thông còn có cái nhìn kỳ thị với người chuyển giới, các bài báo thường dùng những từ rất tiêu cực như “lại cái”, “bóng”, “trai không ra trai, gái không ra gái” để mô tả về người chuyển giới và gán cho họ là biến thái về mặt tâm lý, bệnh hoạn về mặt đạo đức, xấu xa về mặt tư cách hoặc cho rằng chuyển giới là một căn bệnh. Tóm lại trong quan điểm của truyền thông, người chuyển giới không bình thường, so với đại đa số – những người không chuyển giới. Trong vài năm gần đây, phong trào đấu tranh của các nhóm cộng đồng, các tổ chức vì quyền của người chuyển giới đã làm thay đổi cách mà truyền thông viết về người chuyển giới. Đặc biệt là sự ban hành các quy định pháp luật tiến bộ cũng dẫn đến những thay đổi tích cực trong giới truyền thông. Cách viết tiêu cực về người chuyển giới giảm đi rất nhiều tuy nhiên giọng điệu chủ yếu vẫn là cảm thông, thương xót, nhân đạo mang hơi hướng ban phát, trịch thượng. Ngoài ra, vẫn còn nhiều bài viết sai, ví dụ như đây đó có bài này viết giật tiêu đề kiểu như “chuyển giới giết chết tình địch…”. Chúng ta đều biết là đàn ông hay đàn bà thì đều ghen tuông, và vì ghen tuông thì cũng có đàn ông giết người tình, đàn bà giết người tình, tại sao không viết “đàn ông giết người tình”? mà lại phải nhấn mạnh vào “người chuyển giới”? Cái cách viết như vậy khắc họa sự khác biệt về giới của họ và coi sự khác biệt về giới như là nguyên nhân dẫn tới những điều tệ hại xấu xa. Do đó, cần có sự thay đổi tích cực từ phía truyền thông hơn nữa”.  TS. Khuất Thu Hồng    ————  1 Nhằm đảm bảo đời tư cho người chuyển giới, tên của những người chuyển giới trong bài viết này đều là tên giả.  2 Là tình trạng tâm lý giới tính của một người không phù hợp với giới tính của cơ thể, họ có thể phẫu thuật hoặc chỉ dùng hormon để chuyển giới đúng với giới tính của họ.  3 Lương Thế Huy, Phạm Quỳnh Phương, Có phải bởi vì tôi là LGBT? Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, Hà Nội, nhà xuất bản Hồng Đức, 2016, trang 56.  4 Là cảm nhận, cách mỗi người nhìn nhận về giới tính của mình.  5 Theo Luật Dân sự 2015 (có hiệu lực từ 1/1/2017) Pháp luật Việt Nam công nhận quyền chuyển đổi giới tính. Từ căn cứ này, cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, điều này cũng mang lại sự tranh luận về việc sẽ chỉ công nhận người chuyển giới khi họ đã qua phẫu thuật hay không (và ở mức độ triệt sản hay tạo hình?)? Hay có thể thừa nhận khi có sự điều chỉnh về hormon và giám sát tâm lý?  6 Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình, Mai Thanh Tú, Khát vọng được là chính mình: Người chuyển giới ở Việt Nam – những vấn đề thực tiễn và pháp lý, Hà Nội, nhà xuất bản Thế giới, 2012, tr 68 – 72.    Author                Nguyễn Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cần chặt chẽ và minh bạch      Ngày 25/05/2011, Đại sứ quán Thụy Điển – thay mặt các đối tác phát triển Việt Nam, đại diện bởi các đại sứ Thụy Điển, Anh, Nhật, Đan Mạch, Thụy Sĩ, …&#160; và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, UNDP, ADB, …&#160; cùng với Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng thay mặt cho Chính phủ Việt Nam phối hợp tổ chức hội nghị Đối thoại Phòng, chống tham nhũng lần thứ 9, với chủ đề Phòng, chống tham nhũng trong ngành khai khoáng ở Việt Nam.        Các hội nghị Đối thoại Phòng, chống tham nhũng là hoạt động được tổ chức định kỳ là cơ hội để Chính phủ Việt Nam – lần này có sự tham gia của đại diện Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Ban chỉ đạo TW về Phòng, chống tham nhũng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương, và các Bộ, ngành liên quan, trình bày và thảo luận về thực trạng, tiến trình, và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, với các đối tác phát triển,   Phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực khai khoáng là vấn đề được các đối tác phát triển của Việt Nam đặc biệt quan tâm. Khoáng sản có thể là nguồn tài nguyên tạo ưu thế và sự thịnh vượng cho các quốc gia và dân tộc. Nhưng kinh nghiệm từ các nước với “lời nguyền tài nguyên” cho thấy sự giàu có về khoáng sản không hoàn toàn giúp một quốc gia bớt nghèo hơn và có phúc lợi tốt hơn cho mọi công dân 1. Chiến lược khai khoáng không phù hợp và yếu kém trong công tác quản lý chống tham nhũng khoáng sản chính là lực cản ngăn các quốc gia chuyển hóa lợi thế về tài nguyên tự nhiên thành tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo.  Thất thoát thuế và các nguồn thu của Nhà nước  Trong thực tế quá trình khai thác và kinh doanh khoáng sản đang còn nhiều bất cập gây thất thoát thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước. Theo báo cáo2 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Tư vấn Phát triển (CODE) thì không có sự thống nhất trong cách tính thuế tài nguyên ở các địa phương. Một số địa phương tính thuế tài nguyên căn cứ theo mức giá trên hóa đơn tại thời điểm doanh nghiệp khai thác bán khoáng sản cho đối tác, ví dụ như đối với titan ở Bình Định. Doanh nghiệp và một số cơ quan quản lý địa phương cho rằng phương thức này dẫn tới hiện tượng doanh nghiệp khai thác khoáng sản thỏa thuận với đối tác tiêu thụ ghi giá trên hóa đơn thấp hơn so với giá thị trường nhằm trốn một phần thuế tài nguyên. Thuế tài nguyên và các nguồn thu khác của Nhà nước cũng bị thất thoát rất lớn qua một kẽ hở khác là việc doanh nghiệp tự kê khai sản lượng tháng, quý cho cơ quan thuế trong khi hầu như không có cơ chế giám sát sản lượng hoặc còn rất lỏng lẻo. Tình trạng buôn lậu tài nguyên khoáng sản vẫn diễn ra qua nhiều năm, chẳng hạn đối với than và titan, mặc dù cơ quan Nhà nước đã tăng cường giám sát và kiểm tra trong thời gian gần đây.         … Kinh nghiệm từ các nước với “lời nguyền tài nguyên” cho thấy sự giàu có về khoáng sản không hoàn toàn giúp một quốc gia bớt nghèo hơn và có phúc lợi tốt hơn cho mọi công dân.         Đối với nguồn thu từ phí mua, sử dụng thông tin, và tiền hoàn trả chi phí thăm dò mỏ có sử dụng vốn NSNN, trên thực tế ở hầu hết các địa phương được khảo sát, Nhà nước hầu như không thu được các khoản thu này, hoặc thu còn rất hạn chế. Ví dụ như đối với các mỏ than ở Quảng Ninh, hầu như Nhà nước không thu được khoản tiền hoàn trả thăm dò mỏ trong suốt các năm qua, nguyên nhân do sự phân quyền quản lý thiếu rõ ràng và lẫn lộn chức năng quản lý.  Một bất cập khác là phí bảo vệ môi trường, hiện nay theo ý kiến của đa số cơ quan quản lý và bản thân doanh nghiệp thì phí này hiện nay quy định vẫn còn thấp và thiếu công bằng giữa các loại khoáng sản khác nhau. Ví dụ, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác than là 6 nghìn đồng/tấn, còn đối với khai thác đá ốp lát là 50 nghìn đồng/tấn, trong khi khai thác than bị đánh giá là gây tác động tiêu cực tới môi trường lớn hơn so với khai thác đá ốp lát. Phí bảo vệ môi trường là khoản thu lớn mà địa phương được giữ lại toàn bộ dùng để chi phí cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn, nhưng đôi khi không được địa phương sử dụng đúng mục đích, chẳng hạn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng không mang tính bảo vệ môi trường như nhà văn hóa, đường giao thông, …   Năng lực quản lý hạn chế, quy định chồng chéo và chưa rõ ràng  Theo báo cáo tham luận của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản ở Việt Nam còn nhiều điểm bất hợp lý. Nhiều quy định của Luật Khoáng sản không còn phù hợp với thực tế, nội dung quy định hoạt động điều tra cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản chưa rõ nét, khó thực hiện. Việc cấp phép hoạt động khoáng sản vẫn mang nặng cơ chế xin – cho. Theo dẫn chứng trong phát biểu của TS. Trịnh Xuân Bền, Cục Địa chất và Khoáng sản – Bộ TN&MT, thì có doanh nghiệp khi làm thủ tục xin cấp phép thăm dò khoáng sản đã phải đi xin tới 26 con dấu.        Các nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đang gánh vác cho quốc gia những gánh nặng bất hợp lý. Chiến lược phát triển kinh tế bất cân đối, quy hoạch và chiến lược khai khoáng không phù hợp, đã khiến Việt Nam lãng phí các nguồn tài nguyên khoáng sản của mình. Vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam là rất đáng quan tâm trong bối cảnh Việt Nam sẽ sớm phải nhập khẩu than. Bên cạnh đó, nguồn thu của Ngân sách Nhà nước từ dầu mỏ đang buộc phải san sẻ để trả nợ và cứu vãn những thua lỗ trước đây của Vinashin. Đây là những vấn đề đáng được đặt bên cạnh các nội dung của hội thảo Phòng, chống tham nhũng trong ngành khai khoáng ở Việt Nam, qua đó giúp chúng ta hình dung một tổng quan đáng lo ngại về thực trạng khai thác và sử dụng khoáng sản của Việt Nam.        Tham luận của Thanh tra Chính phủ cũng chỉ ra một số sơ hở về cơ chế, chính sách. Ví dụ, Nghị định số 59/CP ngày 12/6/2005 của Chính phủ quy định “than mỏ là loại hàng hóa kinh doanh có điều kiện, nhưng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh”, trong khi Thông tư số 04/2007/TT-BCT ngày 22/10/2007 của Bộ Công thương lại hướng dẫn rằng than không phải là mặt hàng cấm, chỉ là mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Các văn bản vừa mâu thuẫn, vừa sơ hở trên đây tạo điều kiện để các cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng mua bán hóa đơn GTGT hợp pháp hóa nguồn than trái phép để bán, và mang đi xuất khẩu than tiểu ngạch. Về quy hoạch khoáng sản của Trung ương, sau khi phê duyệt gần như chưa thực hiện công bố công khai nội dung quy hoạch và hướng dẫn thực hiện quy hoạch, dẫn tới tình trạng mỗi địa phương hiểu theo một cách khác nhau, thực hiện cũng khác nhau, không đúng nội dung quy hoạch, thậm chí có thể cấp phép hoạt động khoáng sản tại địa điểm thuộc khu vực cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản vì lý do an ninh – quốc phòng.  Tham luận của Thanh tra Chính phủ cũng chỉ ra thực tế là hiện nay thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản đang được giao cho các UBND cấp Tỉnh, trong khi năng lực của các cơ quan tham mưu của địa phương còn hạn chế, khiến hoạt động quản lý, cấp phép còn nhiều thiếu sót. Về vấn đề này, tham luận của Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định: phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản chưa hợp lý và chưa đảm bảo phù hợp với năng lực cơ quan thực hiện. Trong 5 năm 2005-2009, các địa phương đã cấp tổng cộng hơn 4000 giấy phép khai thác các loại, gấp 10 lần số lượng giấy phép do TW cấp trong phạm vi cả nước.      Các đối tác phát triển khuyến nghị cần nâng cao tính minh bạch   Phát biểu tại hội nghị Đối thoại Phòng, chống tham nhũng lần thứ 9, hầu hết các đại sứ và đại diện các tổ chức quốc tế đều nhất trí khẳng định Việt Nam cần chú trọng nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình để phòng chống tham nhũng hiệu quả hơn.   Các đối tác phát triển đề nghị Chính phủ Việt Nam cân nhắc tham gia thực thi Sáng kiến Minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng – Extractive Industries Transparency Initiative (EITI).                  EITI là một liên minh tự nguyện giữa các Chính phủ, các công ty, các tổ chức xã hội và quốc tế, trong đó các bên tham gia thực thi một tiêu chuẩn toàn cầu về minh bạch nguồn thu từ lĩnh vực khoáng sản, bao gồm hai cơ chế chủ yếu:  – Yêu cầu các công ty khai khoáng công khai các khoản chi cho Chính phủ và ngược lại, yêu cầu Chính phủ công khai nguồn thu mà Chính phủ nhận được từ các công ty khai khoáng;  – Yêu cầu thành lập một cơ quan độc lập để đối chiếu các số liệu thu được. Cơ quan này được quản lý và giám sát bởi một ủy ban hỗn hợp    Việc tham gia EITI của Việt Nam sẽ giúp người dân giám sát được nguồn thu từ hoạt động khoáng sản, giảm xung đột và tính cạnh tranh không bình đẳng giữa các thành phần doanh nghiệp và giảm kẽ hở cho tham nhũng. Qua đó, uy tín của Chính phủ và nguồn thu cho ngân sách được tăng lên, lòng tin của các nhà đầu tư được tạo dựng, thu hút thêm dòng vốn đầu tư của nước ngoài.   Cũng theo nghiên cứu của VCCI và CODE3 thì hiện nay đa số các cơ quan quản lý Nhà nước (như Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kiểm toán Nhà nước), các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam… đều cho rằng Việt Nam nên tham gia EITI nhằm tạo ra môi trường minh bạch hơn trong ngành khai thác.                       P.V  ————–  1: Tham luận của Đại sứ Thụy Điển Staffan Herrstrom.    2, 3: Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng – EITI và khả năng tham gia của Việt Nam, báo cáo của VCCI và CODE        Vai trò của tính minh bạch và trách nhiệm giải trình              … Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đã được rộng rãi công nhận là phương thuốc để loại bỏ cội rễ của tham nhũng.               Vâng, minh bạch. Nhưng minh bạch trong những gì?              Minh bạch trong quản lý nguồn thu. Những thanh toán của doanh nghiệp và nguồn thu của Chính phủ phải được thông báo. Công dân phải có khả năng kiểm tra việc thu thuế, giải ngân, và đầu tư nguồn thu của Chính phủ.              Minh bạch trong đấu thầu và cấp giấy phép khai thác để tránh sự không công bằng, tránh đặc quyền đặc lợi và quan hệ thân thiết để có được các hợp đồng khai thác.              Và nhân tố thứ hai vô cùng quan trọng: Trách nhiệm giải trình…              Chúng ta có thể tăng cường trách nhiệm giải trình được không khi xã hội dân sự ít có cơ hội tham gia giám sát? Có thể đòi hỏi trách nhiệm giải trình được hay không khi công chúng giữ im lặng? Việc nâng cao trách nhiệm giải trình có khả thi được hay không khi báo chí không có trong cuộc chơi?              Với điểm cuối cùng này thì tính minh bạch và trách nhiệm giải trình phải được cùng kết hợp. Một nền báo chí mạnh mẽ, chuyên nghiệp và tự do cần phải được khuyến khích, chứ không phải là [bị] làm nhụt chí, [phải giúp] phát hiện những sai phạm trong quản lý và những hành vi tham nhũng. Nếu không làm như vậy, thất bại sẽ ở ngay trước mắt.    (Tham luận của Đại sứ Thụy Điển Staffan Herrstrom trong hội nghị Đối thoại Phòng, chống tham nhũng lần thứ 9 )            Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có giải pháp ngăn ngừa những nhà khoa học thiếu trung thực      Trong buổi l&#224;m việc với Bộ KH&amp;CN gần đ&#226;y Ph&#243; Thủ tướng – Bộ trưởng Bộ GD&amp;ĐT đ&#227; y&#234;u cầu l&#227;nh đạo Bộ KH&amp;CN triển khai một số giải ph&#225;p nhằm n&#226;ng cao hiệu quả&nbsp; hoạt động KH&amp;CN, trong đ&#243; &#244;ng nhấn mạnh cần đổi mới ch&#237;nh s&#225;ch, cơ chế t&#224;i ch&#237;nh đối với KH&amp;CN, chấm dứt việc c&#225;c nh&#224; KH phải n&#243;i dối.    Từ nhiều năm nay, chuyện nhà KH nói dối diễn ra với rất nhiều kiểu, nhiều cách lắt léo khác nhau, nhưng có thể quy vào hai trường hợp điển hình:  1. Các nhà KH buộc phải nói dối. Họ chính là những người đang thực sự làm KH và trong số họ ngay cả người có tài năng tâm huyết, dù được tuyển chọn làm chủ trì đề tài và làm ra kết quả hữu ích thật, cũng không thể sống “thật” với KH theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vì: Tiền đề tài nhẽ ra chỉ được dành cho nghiên cứu lại phải “phù phép” lấy ra thêm thắt cho đồng lương giáo sư ít ỏi (vài ba triệu đồng) của mình và cộng sự; nếu nhà KH không có quyền lực hành chính (thậm chí có), hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng ngày phải hệ lụy từ cô kế toán, cậu văn thư, đến các trưởng phó phòng hành chính quản trị, viện phó, viện trưởng… để có được chữ ký, con dấu đỏ hợp pháp hóa cho các chứng từ, biểu mẫu, báo cáo “giả”, hóa đơn đỏ, nhằm “qua mặt” được các cuộc kiểm tra tài chính của cấp trên, để giải ngân, nghiệm thu… Kết quả là không ít % kinh phí đề tài không cánh mà bay; cùng với nó là sự chán nản, nhụt chí thậm chí mất lòng tin giữa nhà khoa học và nhà quản lý…  2. Không ít các nhà KH thuộc hàng ngũ cây đa cây đề, đã đề xuất với cơ quan quản lý KH cấp trên về những chương trình, dự án, đề tài (chủ yếu thuộc lĩnh vực nghiên cứu triển khai và ứng dụng, KHXH&NV), với những mục tiêu thật hoành tráng nhưng thiếu tính khả thi, hiệu quả và địa chỉ sử dụng “mơ hồ” nhưng vẫn tổ chức nghiệm thu với một hội đồng gồm các chức sắc quen thuộc, nể nang nhau, đánh giá xuất sắc rồi xếp vào tủ (cho đến nay vẫn chưa có tiêu chí đánh giá và quản lý các đề tài này một cách thực sự khoa học) hoặc bịa ra những điều kiện bảo đảm để nhận các dự án đầu tư lớn của Nhà nước. Một số nhà quản lý có quyền lực, mang danh nhà KH “đã biến” công việc thuộc chức trách, nhiệm vụ của cơ quan mình thành các đề tài nghiên cứu với kinh phí hàng tỉ đồng (GS. Hoàng Tụy gọi đây là một dạng tham nhũng mới – tham nhũng trong khoa học). Nói không ngoa vì lợi ích riêng, họ đã chủ động nói dối, lấy tiền đóng thuế của dân chi vào những việc ngoài KH.   Việc đầu tư kinh phí tới hàng nghìn tỉ đồng để xây dựng các Phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) là một chủ trương đúng đắn. Khi tổ chức tuyển chọn các đơn vị chủ trì nhận dự án đó, lãnh đạo các đơn vị, tổ chức KH nào cũng đều khẳng định mình đầy đủ cơ sở vật chất, hạ tầng, nhân lực và nhiệm vụ KH… Nhưng khi triển khai đạt hiệu quả thấp (thanh tra 3 PTNTĐ của ĐHQG TP.HCM, Vinashin, Bộ NN&PTNT đều phát hiện lãng phí hàng trăm triệu đồng trong xây dựng cơ bản, một số thiết bị chưa được lắp đặt,  không có người sử dụng) thì lại nêu lý do chính là thiếu những cái mà khi lập hồ sơ họ cho là đã có đủ. Một Chương trình trong điểm quốc gia được duyệt kinh phí gần 700 triệu đồng, nhưng ông Trưởng ban Chương trình còn muốn “vẽ” thêm việc cần làm để được duyệt trên 1 tỷ, trong khi một  thành viên của Chương trình cho rằng chỉ cần 300 triệu là đủ. Đó là hai ví dụ trong nhiều trường hợp nhà khoa học chủ động nói dối.  Với những quy định tài trợ cho NCCB mới được ban hành gần đây, trường hợp các nhà khoa học buộc phải nói dối đã giảm đi rất nhiều. Còn trong các lĩnh vực nghiên cứu khác dường như chúng ta chưa có giải pháp nào tỏ ra hữu hiệu để ngăn ngừa một số nhà KH chủ động nói dối. Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế tác dụng, thậm chí vô hiệu hóa nhiều chính sách quản lý KH&CN tiến bộ như công khai tuyển chọn và đấu thầu các đề tài nghiên cứu, Nghị định 115…, từ đó nảy sinh nhiều vấn nạn nhũng nhiễu, lãng phí, gây nghi ngờ giữa các nhà khoa học,… hiệu quả hoạt động KH&CN thấp.  Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới chính sách, cơ chế quản lý tài chính trong khoa học không chỉ là để các nhà khoa học không phải nói dối mà còn là ngăn ngừa được những nhà khoa học thiếu trung thực không thể nói dối.               TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có nhiều giải pháp cụ thể khác nữa      Gần đây có nhiều ý kiến khác nhau của cán bộ khoa học về một số chủ trương, chính sách đối với việc sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, về việc phát triển thị trường công nghệ, về các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, v.v… Theo tôi dù các chủ trương, chính sách đó chưa thực sự mang lại những hiệu quả đáng kể trong hoạt động khoa học và công nghệ của cả nước, nhưng cũng nên ghi nhận cố gắng của Bộ KH&amp;CN trong việc tìm kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển khoa học và công nghệ của nước nhà        Bài toán phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta, theo một cách nhìn giản lược nào đó thì có vẻ đơn giản, nhưng thực ra là một vấn đề phức tạp hơn chúng ta vẫn tưởng rất nhiều. Tôi cũng đã được đọc nhiều ý kiến đóng góp và phê phán, nương nhẹ có và gay gắt cũng nhiều, vạch ra đủ thứ yếu kém thì ai cũng đồng tình, còn các kiến giải được đưa ra “rằng hay thì thật là hay”, nhưng suy đi tính lại thực hiện được lại không dễ chút nào, không vấp trên thì vấp dưới, không đụng trước thì đụng sau, khó có kiến giải nào êm được mọi bề, thông được mọi lối.Mà có lẽ bản thân vấn đề quả là cực kỳ phức tạp thật, quản lý theo kiểu “tập trung, bao cấp” không ổn đã đành, mà muốn quản lý theo “cơ chế thị trường” thì vẫn còn là thiên nan vạn nan, thị trường không dễ có, người cung hiếm  đã đành mà kẻ cầu cũng chẳng mấy ai mặn mà. Đã hàng chục năm ta đã từng quen với cung cách quản lý tập trung, Bộ KH&CN tập trung một số các quan các thầy lại, hình dung ra xã hội cần thứ này thứ nọ, rồi đề ra một hệ thống các chương trình, đề tài, công bố cho thiên hạ biết (mà chỉ cho một phần thu hẹp của “thiên hạ” được biết thôi), rồi đăng ký, rồi xét duyệt, rồi quyết định ai được làm gì, được hưởng gì trong cái hệ thống đề tài đó; rồi sau đó một thời gian là hội thảo, là đánh giá, là nghiệm thu, là xuất sắc, và hồ hởi tổng kết, khen thưởng, tôn vinh, vân vân…, kết thúc một chu trình hoạt động khoa học công nghệ, để lại tiếp tục một chu trình mới.   Kinh tế đất nước được “đổi mới” đã từ hai chục năm, dẫu cơ chế thị trường còn chưa hoàn chỉnh nhưng đã được thiết lập một cách chắc chắn, còn cơ chế quản lý khoa học công nghệ thì đến bây giờ mới chập chững đặt chân lên những bậc thang đầu của “đổi mới”, lại trong bối cảnh nền khoa học công nghệ của ta về thực chất không lớn hơn con số không được bao nhiêu, nên khó là cái chắc, ta không thể tránh được. Không biết cách nhìn đó có làm mếch lòng các nhân tài vốn quen nhìn sự đời qua cái sáng láng của chính mình hay không  thì tôi thành thực xin lỗi, nhưng tôi vẫn xin từ cách nhìn xuất phát đó để mạo muội góp vài thiển ý sau đây:  Trên thế giới, khoa học và công nghệ đã được phát triển gần như song hành với nền sản xuất công nghiệp và nền                               kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Thị trường khoa học và công nghệ được hình thành và phát triển dần theo sự phát triển của thị trường kinh tế, đã thực sự trở nên sôi động trong thế kỷ 20 vừa qua, và đặc biệt trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thông tin và tri thức toàn cầu hóa hiện nay. Về thực chất, trình độ nền kinh tế nước ta hiện nay cũng chưa vượt xa trình độ của các nền kinh tế tiền tư bản được bao nhiêu. Nhưng ta hy vọng là ta không nhất thiết phải trải qua các bước phát triển mà các nước đi trước đã phải đi qua. Với sự phát triển toàn cầu hoá hiện nay, “thế giới là phẳng” và ta có thể tự đặt mình trên cùng một bình diện gần gũi với các nước phát triển, chứ không nhất thiết phải đứng từ xa mà “kính nhi viễn chi” với khoảng cách như giữa “chiếc xe Lexus hiện đại và cây ôliu” trước đây1. Kinh tế với công nghệ cao, kinh tế thông tin và tri thức có thể làm xích gần lại các quốc gia và dân tộc, tạo cơ hội cho các nền kinh tế có khả năng cùng phát triển trên cùng một bình diện chung. Có khả năng, nhưng có làm được hay không là tùy ở năng lực thích nghi và tiềm năng trí tuệ của từng dân tộc. Chính đây là một nhân tố quan trọng quyết định việc chọn lựa con đường phát triển của đất nước ta, và từ đó mà đề ra các chính sách quản lý sự phát triển nền khoa học và công nghệ.   Ta đã thấy rõ là không thể và không nên tiếp tục cách quản lý cũ theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp đối với hoạt động khoa học và công nghệ, nhưng cũng cần nhận thật rõ những khó khăn phức tạp khi chọn cơ chế thị trường để quản lý loại hoạt động đó. Quan trọng nhất của việc tạo cơ chế này là việc phát triển các nguồn cầu và nguồn cung cho thị trường đó. Nền sản xuất hàng hóa của ta có thể chưa ở trình độ cao, nên không ít người nghĩ rằng nhu cầu đối với khoa học và công nghệ chưa nhiều, nhưng thực tế không phải vậy. Ngày nay, các giải pháp công nghệ cao, công nghệ tính toán và xử lý thông tin,… có thể thâm nhập vào mọi loại sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao, việc nắm bắt thông tin về sản phẩm và thị trường là một yếu tố có tính quyết định của mọi hoạt động kinh doanh…, cho nên có thể nói không có giới hạn nào hạn chế các ý tưởng sáng tạo, các giải pháp chứa hàm lượng khoa học và công nghệ cao cho việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, phải chăng đó là một nguồn cầu hết sức to lớn của bản thân nền kinh tế? Từ việc dự báo được nguồn cầu, việc kích thích các yêu cầu của người dùng mà hình thành nên nguồn cung, các giải pháp đáp ứng của nguồn cung về phía khoa học và công nghệ, không chỉ đối với bản thân công việc sản xuất và kinh doanh, mà còn đối với các công việc tổ chức, quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh nữa. Tất nhiên, các công việc đó là công việc của bản thân thị trường, nhưng sự quản lý của nhà nước theo hướng góp phần hình thành, khuyến khích và thúc đẩy phát triển thị trường đó là rất quan trọng. Tuy nhiên, khoa học và công nghệ của một quốc gia không thể chỉ do thị trường quyết định  tất cả, mà bất kỳ ở đâu thì một bộ phận quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ cũng phải do nhà nước trực tiếp tổ chức và quản lý. Một số chủ trương đổi mới về quản lý khoa học và công nghệ gần đây, kể cả chủ trương trọng dụng nhân tài, tuy đề cập đến mọi khu vực nói chung, nhưng trước hết là trực tiếp đến đối tượng cán bộ khoa học công nghệ làm việc trong khu vực do nhà nước quản lý; lớp đối tượng này cũng bao gồm đại đa số cán bộ khoa học và công nghệ chủ yếu và nòng cốt của nền khoa học và công nghệ nước ta cho đến thời điểm hiện nay. Sử dụng hay trọng dụng nhân tài trong đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ này trước hết phải là phát huy mọi năng lực sáng tạo, mọi tinh thần chủ động đóng góp và tham gia ý kiến vào mọi hoạt động khoa học và công nghệ của nước nhà, từ các công việc lớn như hoạch định các chính sách, xác định các phương hướng chiến lược, các lĩnh vực ưu tiên, tiến hành một cách dân chủ việc đề xuất các chương trình quốc gia, các đề tài trọng điểm,… cho đến các công việc cụ thể như tổ chức thực hiện các đề tài, xây dựng các nhóm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, làm công việc đào tạo cán bộ… Tôi hy vọng là với ý thức trọng dụng đó, lần này ở một số cơ quan lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo khoa học công nghệ sẽ hình thành được những bộ phận tư vấn đầy trí tuệ, có những hiểu biết hiện đại của thời đại để hoạch định được cho đất nước nói chung, và cho nền khoa học công nghệ nước nhà nói riêng, những con đường đi đúng đắn. Một nét mới trong chủ trương đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học là việc đề cập đến một cách khá cụ thể nội dung ưu đãi về lương bổng và thu nhập đối với một số đặc biệt các “nhân tài”, kể cả nhân tài đã thành danh cũng như nhân tài trẻ tuổi. Tôi chưa đánh giá được tính khả thi của những chủ trương đầy thiện chí này, nhưng hoan nghênh mọi bước đi mạnh dạn theo hướng thực hiện chủ trương đó, dù chắc chắn sẽ gặp không ít những phản đối từ phía này hay phía khác.  Tăng cường năng lực trí tuệ của quản lý nhà nước đối với sự phát triển khoa học và công nghệ, khuyến khích việc mở rộng một thị trường năng động của các hoạt động khoa học và công nghệ, phát huy đầy đủ mọi năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong một môi trường dân chủ rộng rãi,… chắc chắn sẽ tạo nên những bước tiến lớn cho nền khoa học và công nghệ của nước nhà trong một thời kỳ phát triển mới.   ———    Chiếc Lexus và cây ôliu và  Thế giới  phẳng là hai cuốn sách viết về “toàn cầu hóa” của tác giả nổi tiếng Thomas L. Friedman. Cuốn thứ nhất đã được xuất bản bằng tiếng Việt bởi NXB Khoa học xã hội năm 2005, và cuốn thứ hai cũng đã có bản dịch tiếng Việt.        GS. Phan Đình Diệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đưa đặc quyền vào khung lập pháp      Đặc quyền được hiểu là quyền của một người được làm một việc hoặc hưởng một lợi ích mà người khác không được phép làm, không được phép hưởng. Chẳng hạn, trong trường hợp nhiều người điều khiển xe cùng muốn băng qua ngã tư, thì người nào đi theo hướng có đèn xanh được quyền đi qua, người nào đi theo hướng có đèn đỏ phải dừng lại và chờ đợi; thế nhưng, người có đặc quyền được miễn tuân thủ quy tắc đó và được phép vượt qua ngã tư, bất kỳ lúc nào và bất kể đèn xanh hay đỏ.         Trong xã hội trọng pháp, mọi công dân, trên nguyên tắc, đều hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo các điều kiện và cách thức giống nhau. Bởi vậy, đặc quyền, do tính chất phân biệt đối xử gắn liền với nó, thực sự là một phá cách, ngoại lệ đối với các nguyên tắc được thiết lập trong luật cơ bản.      Sự thừa nhận đặc quyền trong xã hội có tổ chức được lý giải bởi nhu cầu ưu tiên bảo vệ một lợi ích chính đáng trong trường hợp lợi ích được bảo vệ xung đột với các lợi ích chính đáng khác. Ví dụ, khi cho phép xe cứu thương, cứu hỏa vượt đèn đỏ trong quá trình thực hiện việc cứu người, chữa cháy, luật phải buộc người điều khiển xe di chuyển theo hướng có đèn xanh hy sinh quyền của mình, dừng lại để nhường đường và, do đó, có thể sẽ bị chậm trễ trong việc thực hiện kế hoạch riêng. Song, việc triển khai trễ vài phút một kế hoạch thường chỉ gây thiệt hại nhỏ, trong khi chậm cứu thương, chữa lửa, thì thiệt hại nhân mạng, nhà cửa lớn hơn nhiều. Bởi vậy, không ai có khả năng nhận thức bình thường mà lại tranh cãi về việc thiết lập đặc quyền vượt đèn đỏ của người điều khiển xe chữa lửa, cứu thương thực hiện công vụ.     Quyền (và nghĩa vụ) của chủ thể trong cuộc sống pháp lý được ghi nhận trong các quy tắc mang tính nguyên tắc; để bảo đảm tiêu chí công bằng, những quy tắc này phải được thông qua theo các thể thức thảo luận và biểu quyết dân chủ tại cơ quan lập pháp, nghĩa là được chứa đựng trong các văn bản luật. Thế thì, cũng chỉ cơ quan đại diện dân cử mới có thẩm quyền thừa nhận các ngoại lệ đối với nguyên tắc do mình thiết lập, thể hiện thành các đặc quyền. Trao quyền thiết lập đặc quyền cho cơ quan khác cũng có nghĩa là thừa nhận khả năng cơ quan khác vô hiệu hóa thẩm quyền xây dựng nguyên tắc của cơ quan đại diện dân cử. Điều đó trái với các nguyên tắc cơ bản chi phối sự tổ chức và vận hành của nhà nước pháp quyền.  Vả lại, cần thấy rằng giải quyết xung đột giữa các lợi ích chính đáng để tạo ra đặc quyền là công việc đặc biệt tế nhị của người làm luật, đòi hỏi thái độ khách quan, công tâm, sòng phẳng trong việc cân phân các lợi ích trái ngược, từ đó xác định lợi ích cần được ưu tiên bảo vệ.   Một cách hợp lý, người làm luật trước hết phải lắng nghe các ý kiến bênh vực cho các lợi ích khác biệt, được các nhóm đại diện đưa ra, sau đó phải quyết định lựa chọn trên cơ sở lương tri, đạo lý, lẽ phải. Được thông qua bằng biểu quyết dân chủ, đặc quyền được thiết lập theo ý chí của số đông và được luật biến thành ý chí chung của tất cả. Lồng đặc quyền trong văn bản pháp quy của cơ quan lập pháp cũng đồng thời mang ý nghĩa của việc tất cả mọi người tự nguyện từ bỏ các quyền lợi bình thường của mình, vì lợi ích bất thường, nhưng thực sự chính đáng, của người hưởng đặc quyền. Điều đó cần thiết để đặc quyền trở nên minh bạch và được toàn xã hội tôn trọng bằng ý thức tự giác của các thành viên.    Ở Việt Nam, Quốc hội hoạt động không chuyên nghiệp và không thường xuyên; bởi vậy, quyền xây dựng pháp luật được chia sẻ giữa cơ quan lập pháp và hệ thống hành pháp. Tất cả các văn bản luật (trên thực tế cũng do các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp soạn thảo) đều chỉ có những quy định rất chung; cụ thể hóa các quy định ấy, thành các giải pháp được áp dụng cho các trường hợp đặc thù, là việc của Chính phủ và các bộ. Với quyền hạn rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, hệ thống hành pháp có điều kiện kiểm soát, chi phối sự ra đời và vận hành của các quyền và cả các đặc quyền.     Đặc biệt, các đặc quyền có giá trị vật chất và gắn với chức vụ công được ghi nhận chủ yếu trong các văn bản lập quy, chứ không phải trong luật. Một trong những ví dụ điển hình là đặc quyền của công chức cao cấp trong việc sử dụng hoặc xác lập quyền sở hữu đối với nhà công vụ, được thiết lập bằng một nghị định Chính phủ.       Đối với người thụ hưởng đặc quyền, thuận lợi của việc ghi nhận đặc quyền trong văn bản lập quy của cơ quan hành pháp là hiển nhiên: các văn bản loại này được soạn thảo và ban hành theo các thủ tục, thể thức mà trong đó không có vai trò góp ý, phản biện chính thức của người dân cũng như của đại biểu dân cử. Thuận lợi này được nhân đôi trong khung cảnh pháp lý Việt Nam do việc kiểm tra tính hợp hiến, hợp luật của văn bản lập quy được thực hiện theo một cơ chế mang tính chất nội bộ, khép kín: cơ quan cấp trên trong tôn ti trật tự hành chính kiểm tra văn bản lập quy của cơ quan cấp dưới. Với cơ chế đó, người dân chỉ đóng vai trò người thứ ba, quan sát, chờ đợi; người dân không thể chủ động làm gì, mỗi khi bức xúc trước việc thụ hưởng một đặc quyền ghi nhận trong một văn bản lập quy được cho là không hợp hiến hoặc không hợp pháp.     Điểu nguy hiểm nữa là thói quen coi đặc quyền như là cái gì đó tất nhiên gắn với quyền lực và trở thành tiêu chí phân biệt giữa người nắm quyền lực công với người dân thường, là dấu hiệu đặc trưng của địa vị xã hội cao, của trọng trách nhà nước. Thói quen ấy, phát triển trong điều kiện việc tạo ra đặc quyền nằm trong tay hệ thống hành pháp, trở thành nguồn “động lực” thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống bảo vệ đặc quyền thành một lá chắn kín kẽ, bảo đảm vô hiệu hóa sự công kích xã hội và pháp lý từ bên ngoài.          Chừng nào việc đặt cơ sở pháp lý cho các đặc quyền chưa thuộc về cơ quan lập pháp một cách trọn vẹn và được thực hiện theo một lộ trình minh bạch, thì chưa thể nói đến công bằng xã hội. Mà, nếu pháp luật không đảm đương được vai trò bảo đảm công bằng xã hội, thì việc tự giác tuân thủ pháp luật của người dân chỉ là chuyện xa vời.         Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần giải pháp đột phá trong học và thi ở THPT      Hàng chục năm qua xã hội đã phải gồng mình chịu đựng một nền giáo dục lạc hậu lại tốn kém một cách phi lý đối với đất nước còn nghèo. Mặc cho những cảnh tỉnh của nhiều thức giả và chính khách, nhiều người vẫn ngủ say với ảo tưởng cứ đủng đỉnh học và thi kiểu này kinh tế vẫn tăng trưởng cao, đều đều. Nay thì mọi sự đã rõ: với một nền giáo dục què quặt, sớm muộn kinh tế sẽ gặp khó khăn. Sau đây xin kiến nghị giải pháp đột phá về tổ chức việc học và thi ở THPT nhằm giảm bớt căng thẳng không cần thiết cho xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và chấm dứt hội chứng thi vốn là nguồn gốc những lãng phí lớn đã đến lúc không thể chấp nhận được.  Thật ra nhiều ý kiến dưới đây đã được phát biểu rải rác trong nhiều dịp(2), song vì đến nay chưa được các cơ quan hữu trách chú ý, nên với tình hình mới, xin được trình bày lại một cách tập trung, có hệ thống, và tường minh hơn. Rất mong những đề nghị khẩn thiết này sẽ được Bộ GD&amp;ĐT nghiên cứu và có ý kiến phản hồi.      Trước hết xin bàn về tổ chức việc học, từ đó mới thấy rõ cần thi như thế nào cho hợp lý.  1.      Giảm tải và nâng cao chương trình THPT bằng giải phảp phân ban mềm  Từ nhiều năm nay chương trình trung học phổ thông không ngớt bị kêu ca quá tải, nhưng vẫn chưa có giải pháp thoả đáng. Đương nhiên quá tải không chỉ do chương trình mà còn do cách dạy không thích hợp, nhưng theo tôi, còn có một nguyên nhân cơ bản nữa là tổ chức học và thi chưa hợp lý.  Suy cho cùng vấn đề này liên quan tới một điểm hệ trọng về triết lý giáo dục là quan hệ giữa hai mục tiêu văn hóa (bồi dưỡng văn hóa phổ quát, “dạy người”) và kinh tế (đào tạo nghề nghiệp, “dạy nghề”) của giáo dục. Trên nguyên tắc hai mục tiêu này phải kết hợp hài hòa, nếu chỉ chú trọng một bên mà coi nhẹ bên kia, gây sự xung đột hay lệch pha giữa hai mục tiêu thì trước sau gì giáo dục cũng sẽ cản trở sự phát triển lành mạnh của xã hội.  Trước đây THPT chỉ có một chương trình thống nhất, nhằm mục tiêu cung cấp văn hóa phổ quát. Đến 1994, với mục đích hướng nghiệp sớm cho học sinh, Bộ GD&ĐT đưa ra chủ trương phân ban ở THPT. Nhưng suốt 15 năm trời, tiêu tốn khá nhiều tiền của, công sức để thí điểm liên tục các chương trình phân ban mà vẫn không thành công. Nhiều người kiên quyết phản đối phân ban vì vẫn giữ quan điểm giáo dục phổ thông phải tập trung bảo đảm văn hóa phổ quát.          Tình trạng yếu kém của giáo dục kéo dài nhiều năm qua không thể nói là vô can đối với những khó khăn kinh tế hiện nay. Cho nên trong nhiều biện pháp khắc phục các khó khăn ấy những biện pháp về giáo dục cũng phải được coi là then chốt và lâu dài.          Sự phản đối này không phải không có lý, vì khoa học, công nghệ càng phát triển, thế giới càng tràn ngập thông tin thì văn hoá phổ quát càng cần thiết để khỏi bị lạc hướng trong rừng thông tin và giúp cho con người được thật sự tự do, làm chủ vận mệnh của mình. Viện cớ kinh tế đòi hỏi nhân lực ngày càng phải được trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu để xem nhẹ văn hoá phổ quát là một sai lầm.  Tuy nhiên vấn đề không đơn giản chỉ có thế. Ít ra trong vài thâp kỷ gần đây cuộc sống trong xã hội hiện đại đã có những thay đổi lớn: một mặt các vật phẩm tiêu dùng, dich vụ, có xu hướng cá tính hóa,  cố gắng phù hợp nhất có thể được với điều kiện, tính tình, ưa thích của cá nhân người dùng; mặt khác, trong thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, lứa tuổi 15-17 có tâm lý muốn tự lập sớm, suy nghĩ sớm về tương lai nghề nghiệp, phát triển mạnh cá tính, ôm ấp nhiều hoài bão, ước mơ táo bạo. Muốn giáo dục có kết quả, nhà trường phổ thông phải chú ý hai đặc điểm đó, không thể gò bó tất cả học sinh ở lứa tuổi này vào một chương trình thống nhất, mà cần có nhiều hướng lựa chọn khác nhau tùy theo sở thích, xu hướng, nguyện vọng từng cá nhân. Do đó phân ban dưới một hình thức nào đó đã trở nên thật sự cần thiết.  Cái dở của các chương trình thí điểm trước đây của Bộ GD&ĐT không phải ở chỗ phân ban, mà ở chỗ phân ban cứng, buộc học sinh phải chọn ban dứt khoát quá sớm (ngay từ đầu cấp 3) và khi đã chọn ban nào rồi thì phải theo ban đó tới cùng. Ở cái tuổi đang dò dẫm chưa tự hiểu hết bản thân mình học sinh rất khó chọn đúng ban thích hợp với mình ngay từ đầu nhưng với cách phân ban cứng nếu lỡ chọn nhầm ban thì không có cách sửa chữa sai lầm. Không phân ban thì nhiều học sinh phải học quá kỹ nhiều điều không cần thiết cấp bách đối với họ, nhưng phân ban cứng thì lại bắt buộc học sinh học chuyên quá nhiều môn cùng một lúc (như ban khoa học tự nhiên phải học chuyên cả 4 môn toán, lý, hóa, sinh). Thành ra trong cả hai cách, chương trình đều quá nặng đối với số đông học sinh, trong khi đó đối với số ít học sinh có thiên hướng mạnh về một vài môn nhất định lại không được học đủ sâu về các môn đó mà phải mất quá nhiều thì giờ học kỹ những môn họ không có nhu cầu và sở thích.                     Để tránh những khuyết điểm ấy giải pháp tối ưu, theo kinh nghiệm nhiều nước tiên tiến, là phân ban “mềm”: về mỗi môn như toán, lý, hóa, sinh, văn…, có hai chương trình, một bình thường, một nâng cao, còn các môn khác chỉ cần một chương trình thống nhất. Tùy sức và thiên hướng mỗi học sinh có thể chọn, về mỗi môn, một chương trình, bình thường hay nâng cao, để đăng ký xin học. Đăng ký chương trình nào thì học và thi lấy tin chỉ chương trình đó, mỗi năm có thể chọn khác nhau, năm nay chọn chương trinh nâng cao về môn nào đó, năm sau thấy khó có thể đổi sang chương trình bình thường, hay ngược lại. Đến lớp12 (cuối cấp), đủ số tín chỉ cần thiết thì được cấp bằng tôt nghiệp, không cần thi tốt nghiệp nặng nề, vất vả như ta hiện nay.          Giải pháp tối ưu, theo kinh nghiệm nhiều nước tiên tiến, là phân ban “mềm”: về mỗi môn như toán, lý, hóa, sinh, văn…, có hai chương trình, một bình thường, một nâng cao, còn các môn khác chỉ cần một chương trình thống nhất. Tùy sức và thiên hướng mỗi học sinh có thể chọn, về mỗi môn, một chương trình, bình thường hay nâng cao, để đăng ký xin học.          Thường mỗi học sinh chỉ chọn học nâng cao vài môn. Điều đó cho phép chương trình nâng cao càng lên lớp trên càng khác (cao hơn) chương trình bình thường, thậm chí lớp 12 có thể có hai hay ba chương trình nâng cao để lựa chọn, với mức cao nhất có thể ngang chương trình năm thứ nhất đại học. Kết quả học tập chương trình nâng cao này được bảo lưu, khi lên đại học khỏi phải học lại. Làm như vậy, vừa hợp sức của số đông (đơn giản nhất có thể học chương trình bình thường về mọi môn), vừa cho phép học sinh tự điều chỉnh kế hoạch học từng năm một, không phải bị ràng buộc cứng nhắc vào sự lựa chọn ban đầu thường khó chính xác được ngay. Hơn nữa, ai có khả năng đặc biệt về một môn nào đều có thể tranh thủ học được một phần chương trình đại học để về sau rút ngắn thời gian học đại học.  Sau nhiều năm các phương án phân ban cứng kế tiếp đưa ra thí điểm đều không đạt kết quả, chúng tôi đã đề nghị  Bộ GD&ĐT nên nghiên cứu thực hiện phân ban mềm như ở nhiều nước phát triển đã làm. Đáng mừng là năm học 2007-2008 chương trình phân ban mới đã có những thay đổi bước đầu theo hướng đó. Tuy nhiên, thật đáng tiếc, do vẫn còn muốn giữ các chương trình và sách giáo khoa đã lỡ soạn và in theo kiểu phân ban cứng, nên giải pháp đưa ra có tính chất nửa vời: vẫn duy trì hai ban cứng (ban khoa học tự nhiên, và ban khoa học xã hội), chỉ thêm ban cơ bản mềm hơn, cho phép học mọi môn theo chương trình bình thường, ngoài ra học nâng cao về vài môn tùy chọn. Vì tính chất linh hoạt đó ban cơ bản được đại đa số học sinh (70%) hưởng ứng. Đó là một tiến bộ đáng hoan nghênh, đồng thời nó cũng cho thấy trong năm học tới cần mạnh dạn tiến thêm bước nữa, bỏ hẳn các ban cứng (khoa học tự nhiên và xã hội), còn ban cơ bản nên để học sinh khi đã chọn học nâng cao môn nào thì không cần phải học chương trình bình thường môn ấy nữa. Tóm lại, nên phân ban mềm hoàn toàn như ở nhiều nước phát triển. Với cách phân ban đó, tổ chức việc học ở THPT sẽ gần giống với đại học, bước đầu thực hiện phân luồng để giảm bớt khó khăn khi tuyển sinh ĐH và CĐ.  Có người e ngại điều kiện thực tế của ta chưa cho phép thực hiện phân ban mềm, song kinh nghiệm vừa qua cho thấy với 70% học sinh chọn ban cơ bản các trường không có khó khăn gì đặc biệt, nên việc tiến lên phân ban mềm chắc chắn cũng sẽ khả thi. Cái lợi căn bản là việc học bớt nặng nề nhờ thích hợp hơn với sở thích và khả năng từng người, đồng thời như sau đây sẽ trình bày rõ, với cách tổ chức việc học như thế, thi tốt nghiệp THPT sẽ không còn cần thiết.  2.  Thi tốt nghiệp THPT: không cần thiết và nên bỏ  Học sinh chúng ta phải thi cử liên miên và năng nề, tốn kém, mà chất lượng giáo dục của ta lại thua kém thiên hạ. Vây không phải cứ thi nhiều thì mới bảo đảm chất lượng giáo dục. Trái lại, chính vì tập trung lo thi nhiều hơn lo học cho nên mới sinh ra xu hướng tiêu cực học chỉ cốt để thi, đặc trưng của một nền giáo dục hư học.   Sau nhiều năm đấu tranh vất vả chúng ta đã bỏ được thi tiểu học và thi THCS. Còn lại hai kỳ thi THPT và tuyển sinh ĐH, Bộ GD&ĐT có dự kiến kết hợp hai kỳ thi đó làm một, song không được sự ủng hộ của dư luận vì xét ra việc kết hợp đó không hợp lý. Nhưng vấn đề không chỉ ở chuyện kết hợp hai kỳ thi mà quan trọng hơn là cần xem xét lại chính sự cần thiết của mỗi kỳ thi ấy.  Để có giải pháp hợp lý, trước hết cần hiểu ý nghĩa việc kiểm tra và thi trong quá trình học. Mỗi môn học có hai phần: một phần, tạm gọi là “cứng”, gồm các khái niệm cơ bản, các sự kiện, công thức cần ghi nhớ (thậm chí thuộc lòng), các kỹ năng đặc biệt cần nắm vững, phần này phải luyện tập thành thạo và kiểm tra, nghiêm túc trong từng chương và thi khi kết thúc giáo trình. Còn phần kia, tạm gọi là “mềm”, thuộc về tư duy logích, năng lực trừu tượng, khái quát, tiếp cận các vấn đề phức tạp, liên kết, tổng hợp các tri thức, phát triển trực quan, trí tưởng tượng, đầu óc tìm tòi sáng tạo, và cả khả năng biểu đạt tư tưởng chuẩn xác, rành mạch – phần này phải chắt lọc, tích lũy qua nhiều môn, tổng hợp thành cốt lõi của cái thường được hiểu là “văn hóa phổ quát”, hay như có người nói, là cái còn lại trong đầu sau khi quên hết các kiến thức cụ thể về từng môn đã học. Phần này tuy khó kiểm tra hay thi theo từng môn nhưng lại có ích cho suốt cả đời người và là cái nền bảo đảm sự vươn xa của từng chuyên gia trong thế giới trí thức ngày nay.  Chương trình mỗi cấp học, phổ thông hay đại học, gồm nhiều môn, mỗi môn chia ra nhiều học trình sắp xếp theo một trình tự nhất định. Nếu từng phần của học trình đều có kiểm tra và khi kết thúc từng học trình đều có thi nghiêm túc, thì cuối cấp không cần kiểm tra hay thi lại một lần nữa: phải biết quên đi nhiều thứ đã học mà không cần lâu dài thì mới nhớ được thêm nhiều thứ cần thiết khác khi ra đời và làm việc thực tế. Nói như Alvin Toffler, mù chữ thời nay không phải là những người không biết đọc, biết viết, mà là những ai không biết học (learn), biết giải học (unlearn, cởi bỏ cái đã học), và biết học lại (relearn)!  Vậy thi tốt nghiệp để làm gì?  Có người bảo phải có thi tốt nghiệp việc học mới nghiêm túc, đó chỉ là ngụy biện. Muốn việc học nghiêm túc, điều cần làm là kiểm tra thường xuyên, nghiêm túc suốt từ dưới tới lớp cao nhất, chứ không phải cứ cho lên lớp bừa bãi, rồi đến cuối cấp tổng kiểm tra bằng một kỳ thi tốt nghiệp.  Dù sao kết quả học tập 12 năm trời không thể dồn lại được quyết định chỉ trong một kỳ thi năm ba ngày. Điều đó gây căng thẳng tâm lý không cần thiết lại mang nhiều yếu tố may rủi (thí sinh nào nhỡ ốm đau đúng vào dịp thi tốt nghiệp thì quá thiệt). Và lại, thi trắc nghiệm tuy đang được tích cực áp dụng vì có một số thuận tiện cho cơ quan quản lý, nhưng bản chất nó chỉ thích hợp để kiểm tra trình độ tối thiểu, còn muốn phân biệt giỏi dở thì đòi hỏi nhiều nghiên cứu công phu rất khó thực hiện tốt trong điều kiện VN (giàu có như Mỹ mới có khả năng tổ chức thi trắc nghiệm có hiệu quả, mà không phải mọi sự đã ổn)(3).  3.  Bỏ thi THPT thì đổi mới tuyển sinh ĐH và CĐ như thế nào?  Cùng với việc bỏ thi tốt nghiệp THPT, điều hết sức cần kíp là thay đổi cách tuyển sinh ĐH và CĐ. Trong lúc các trường đại học và cao đẳng ngày càng phức tạp, đa dạng về tính chất cũng như trình độ mà việc tuyển sinh lại theo một qui trình, cách thức thống nhất như hiện nay là không hợp lý. Do tư tưởng quản lý tập trung quan liêu còn rất nặng nên từ việc đăng ký thi, ra đề thi cho đến việc coi thi, giám sát thi, chấm thi, tất cả thành một hệ thống phức tạp vượt quá tầm kiểm soát hữu hiệu của Bộ GD&ĐT, khiến cho mặc dù đã được liên tục chỉnh sửa đến nay kỳ thi tuyển sinh ĐH và CĐ vẫn rất nhiêu khê, tốn kém và còn nhiều bất cập. Việc tổ chức thi tập trung ở các thành phố khiến thí sinh ở nông thôn và vùng xa phải chịu thêm một áp lực tâm lý năng nề và một gánh nặng chi phí về tiền trọ, đi lại, ăn ở và cả học luyện thi trước ngày thi. Đó là một bất công lớn đối với họ, mà cho đến nay các cơ quan quản lý không hề quan tâm.          Theo tôi, tốt nhất nên thay kỳ thi tuyển sinh ĐH và CĐ hiện nay bằng một kỳ thi sơ tuyển (ST)  nhẹ nhàng kiểu như SAT ở Mỹ, chỉ nhằm kiểm tra xem trình độ văn hóa phổ quát của thí sinh có đạt mức tối thiểu cần thiết để theo học ở đại học hay không; còn việc có được tuyển hay không thì sẽ do từng đại học xét cụ thể, dựa trên học bạ và kết quả thi ST của đương sự.          Vậy giải pháp hợp lý nên như thế nào? Theo tôi, tốt nhất nên thay kỳ thi tuyển sinh ĐH và CĐ hiện nay bằng một kỳ thi sơ tuyển (ST)  nhẹ nhàng kiểu như SAT ở Mỹ, chỉ nhằm kiểm tra xem trình độ văn hóa phổ quát của thí sinh có đạt mức tối thiểu cần thiết để theo học ở đại học hay không. Vì chỉ có mục đích sơ tuyển nên chỉ thi về khả năng đọc, viết, tư duy logích, ngoại ngữ (cho nên có thể thi trắc nghiệm một phần), và có thể thi ở nhiều nơi phân tán khắp nước, bất cứ ai cũng có thể xin dự thi, chứ không chỉ học sinh lớp 12 THPT; thậm chí có thể tổ chức 2, 3 lần thi, cách nhau mấy tuần, vào mấy tháng hè. Ai qua được kỳ thi ST thì mới có thể nộp đơn xin dự tuyển vào một hay một số đại học hay cao đẳng, còn việc có được tuyển hay không thì sẽ do từng đại học xét cụ thể, dựa trên học bạ và kết quả thi ST của đương sự. Mỗi đại học thông báo rõ những điều kiện dự tuyển vào trường đó. Có đại học chỉ đòi hỏi kết quả thi ST, nhưng phần lớn các đại học có chất lượng đều đòi hỏi thêm học bạ THPT của thí sinh phải ghi rõ kết quả học tập chương trình nâng cao về một số môn phù hợp với hướng đào tạo của chuyên ngành mà thí sinh muốn xin vào học. Gặp trường hợp chưa rõ thì thí sinh có thể được gọi đến phỏng vấn, hoặc phải qua một cuộc sát hạch tùy trường quy định.  Cách tuyển sinh như thế linh hoạt (ai cũng dự thi ST được, chứ không nhất thiết phải có bằng tốt nghiệp THPT) , nhẹ nhàng (thi ST không đòi hỏi phải học thuộc lòng hay phải luyện thi vất vả như lâu nay),  ít tốn kém, thuận tiện cho số đông (không phải tập trung ở các thành phố lớn) và phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng trường ĐH hay CĐ (từng trường được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm tuyển sinh), cho nên có hiệu quả hơn. Có thể có lo ngại là khó kiểm soát tiêu cực, nhưng kinh nghiệm cho thấy chính phương thức tuyển sinh nặng nề, phức tạp, tập trung như hiên nay mới tiềm ẩn nhiều tiêu cực khó kiểm soát. Trong  chuyện này cũng như nhiều chuyện khác về quản lý kinh tế, thủ tục càng rườm rà, phức tạp, càng dễ bị lợi dụng.  ***  Việc học và thi của con em chúng ta ở THPT như hiện nay quá nặng nề, vất vả so với các nước khác, tạo ra cho họ một thế bất lợi lớn khi ganh đua với bạn bè cùng trang lứa ở các nước khác. Do đó đổi mới tổ chức học và thi cũng là một nhiệm vụ cần kíp để tạo thuận lợi cho việc hội nhập, hợp tác và cạnh tranh quốc tế.  ——————  (1)  Xem Tia Sáng 12, 20/6/2008, hoặc http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3949/index.aspx.  (2) Xem chẳng hạn Tia Sáng 14,  20/7/2007 và Tia Sáng 2+3,25/1/200  (3) Một giáo sư Mỹ có kể lại trong một lần thi trắc nghiệm về một môn ông hoàn toàn không học, chỉ nhờ có kinh nghiệm thi trắc nghiệm nên ông đã đạt kết quả tốt hơn hẳn nhiều bạn bè đã học rất kỹ môn đó ! (N. Koblitz,  Random curves, Springer 2008, trang 51)    Mục đích thi là tổng kiểm tra kiến thức về toàn bộ các môn trong suốt cấp học, cho nên đòi hỏi thí sinh phải nhớ, phải thuộc mọi thứ đã học và đã từng được kiểm tra và thi rồi, kể cả nhiều điều không thật sự cơ bản mà như vừa nói, ai cũng có thể và nên quên bớt sau khi ra trường. Lợi ích của một kỳ thi tốt nghiệp rất ít, nếu lại thi tập trung, quy mô, như thi THPT của ta thì càng tốn kém, căng thẳng mà về lâu dài có thể dẫn đến học vẹt, học chỉ để đi thi. Mấy năm trước, thi tốt nghiệp THPT loại ra 5-7% thí sinh, hai năm gần đây loại nhiều hơn do thi nghiêm túc, nhưng cũng chỉ khoảng 20%. Đối với xã hội việc loại ra 20% này chẳng có tác dụng gì thiết thực mà đối với cá nhân là một sự tổn thương tinh thần lớn bất kể vì lý do gì, cho nên gần đây Bộ GD&ĐT có chủ trương số 20% này cũng được cấp chứng chỉ học hết THPT. Hóa ra, tốn nhiều tiền, huy động nhiều phương tiện, cuối cùng chỉ để phân biệt cái bằng tốt nghiệp với cái chứng chỉ, thật quá lãng phí.  Trong mọi trường hợp cần dứt khoát đoạn tuyệt với lối thi tốt nghiệp cổ lỗ, nặng nề và tốn kém không cần thiết. Hãy tập trung lo cho việc học cẩn thận, nghiêm túc từng khoá trình, từng năm học, đó mới là bảo đảm kết quả việc học một cách thiết thực và thực chất.  Hoàng Tụy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần lắng nghe các ý kiến phản biện chân thành      Trí tuệ, trung thực, thẳng thắn, gợi mở và mang tính phản biện cao là những đặc trưng tiêu biểu của Tia Sáng trong suốt chặng đường xây dựng và trưởng thành với không ít thăng trầm, gian nan nhưng cũng rất đỗi tự hào.      25 năm qua, với một đội ngũ cộng tác viên trong nước và ngoài nước có đẳng cấp rất cao trong nhiều lĩnh vực, khiến bất cứ ai trong giới khoa học nghe đến cũng phải nể trọng, Tia Sáng không chỉ tạo diễn đàn nghiêm túc và cởi mở, có chất lượng hàng đầu cho giới trí thức nói chung, trí thức khoa học và công nghệ nói riêng, mà còn được nhiều độc giả yêu mến bởi tính chất tổng hợp của thông tin, sự phân tích lý luận và thực tiễn sâu sắc, lập luận logic trong nhiều bài viết về các vấn đề khoa học và công nghệ được đầu tư công phu bởi những nhà khoa học có kinh nghiệm và uy tín hàng đầu. Nhiều bài viết có sức thuyết phục lớn đối với những người làm công tác lãnh đạo, quản lý và người làm chính sách.  Với tư cách của một độc giả, một cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về KHCN, tôi mong muốn Tia Sáng hãy làm tốt hơn nữa vai trò tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách phát triển KHCN của Đảng, Chính phủ và của Bộ KH&CN; đặc biệt cần tổ chức nhiều hơn các cuộc toạ đàm, hội thảo về quản lý khoa học và nghiên cứu triển khai, để đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước qua diễn đàn của Tia Sáng làm tốt vai trò phản biện khoa học đối với các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách.  Vẫn biết xưa nay, lời nói tâm huyết, nói thẳng nói thật thường không dễ nghe, nhưng tôi thiết nghĩ và mong muốn đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý KHCN rất cần lắng nghe, làm quen với các ý kiến phản biện chân thành, trí tuệ, khoa học từ Tia Sáng, để những chính sách mình đưa ra bớt rủi ro, dễ đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, đồng thời tránh được chính sách sau hàng chục năm “vẫn còn nguyên giá trị” chỉ vì tính lịch sử và không thể đi vào cuộc sống.   Chúc những người làm báo Tia Sáng tiếp tục thực hiện tốt thiên chức của mình, góp phần vào sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ của đất nước.      * TS Trần Đắc Hiến – Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ KH&CN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một chiến lược xây dựng văn hóa làng      Với cuộc đô thị hóa rầm rộ hiện nay và sẽ kéo dài vài thập niên nữa, nông thôn-làng xã mới thật sự “khủng hoảng” và biến đổi căn bản về chất. Khoảng trên 80% di sản vật thể là ở Làng. Nổi bật là các công trình kiến trúc đình, chùa, đền, miếu, nhà ở, điêu khắc và các làng nghề thủ công.    Các nghề thủ công biến dạng để hòa nhập kinh tế thị trường. Truyền thống của nó sẽ được bảo tồn trong các dòng sản phẩm mới. Thuận lợi là thị trường đòi hỏi tính độc đáo truyền thống của các nghề nên càng bảo tồn tốt càng giàu có hơn. Ngược lại các di sản khác không có đất sống và sẽ là các di sản “chết”. Việc trùng tu, phục chế, bảo quản, sử dụng và xây mới đều hết sức bế tắc. Mất cắp, bị phá bỏ, bị trùng tu sai, phục chế hỏng và xây mới kiểu “làm đồ giả cổ” đang được báo động từ Chùa Bút Tháp, chùa Dâu, Yên Kinh, Yên Tử, thành Sơn Tây… tới các làng miền Trung và miền Nam, các di sản của người Việt, người Chăm, người K’me, người Hoa, người Tây Nguyên… Tất cả đều nằm trong báo động đỏ.  Cũng khoảng 80% di sản phi vật thể là sản phẩm từ làng. Nay lớp “tinh hoa” của làng sẽ bỏ đi hết, người làng còn lại học làm người thành thị và người toàn cầu ngay ở làng. Trước đây người làng hưởng thụ văn hóa ở làng, của làng, sáng tạo văn hóa ở làng. Từ quan họ tới hò, vè, ca dao dân ca, từ cồng chiêng tới tuồng, chèo, múa… đều “ra tỉnh” và được cải biên thành “sản phẩm  du lịch”. Đại bộ phận các lễ hội cũng vậy. Đặc biệt sức sáng tạo văn hóa ở làng, của làng suy giảm đến kiệt quệ hẳn. Những di sản mấy trăm năm ngày nay bị chính dân làng chối bỏ. Thanh niên làng không thích chèo hay quan họ bằng phim hành động và game online. Cơ cấu sản xuất và hưởng thụ văn hóa làng của làng muốn hay không cũng đang bị xoá bỏ. Niềm say mê và niềm tự hào về văn hóa của làng mình đã rời bỏ mỗi người dân làng. Chiến lược phát triển nông thôn cần một chiến lược xây dựng đời sống văn hóa ở Làng mới mong vớt vát được phần nào những gì cha ông để lại.  Nguyễn Bỉnh Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một cuộc du nhập khoa học mới      Trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết rất cần một bước đột phá về nhận thức trong giới khoa học và đại học về thực trạng đội ngũ khoa học để cấp thiết tiến hành một cuộc du nhập khoa học lần thứ hai nghiêm túc và bài bản hơn lần trước. Có như vậy khoa học &amp; công nghệ mới có thể thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.        Khi bắt tay xây dựng miền Bắc sau chiến tranh vào những năm 1950-60, chuyên gia các nước XHCN đã được mời sang Việt Nam giúp ta đào tạo đội ngũ và xây dựng những cơ sở ban đầu trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật ở hầu hết các Bộ, ngành. Vươn lên nắm bắt khoa học từ nghèo nàn lạc hậu sau thế giới hàng trăm năm, các nhà lãnh đạo lúc ấy ý thức sâu sắc tầm quan trọng của một đội quân mới cho cuộc chiến đấu mới chống đói nghèo lạc hậu, đội quân làm khoa học chuyên nghiệp. Cho nên, mặc dù trong tình trạng chiến tranh, hàng vạn thanh niên ưu tú vẫn không phải vào quân ngũ mà lên đường xuất ngoại, ban đầu sang các nước XHCN, về sau cả các nước Tây Âu, có người còn được cắm lại lâu dài hàng nhiều năm sau.   Bằng hai con đường mời chuyên gia và đào tạo chuyên gia ở các nước tiên tiến, chúng ta đã bước đầu hình thành đội ngũ làm khoa học ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Trung Quốc, Ấn Độ, Đại Hàn… đi sau phương Tây, cũng đều du nhập khoa học theo cách này, và họ đã thành công. Nhưng thực hiện hai bước trên chưa đủ để khoa học được du nhập. Những bước nội địa hóa tiếp theo mới quyết định sự thành công và thất bại. Lực lượng tri thức du nhập từ bên ngoài theo nhiều kênh khác nhau phải đạt đến trình độ tự phát triển trên mảnh đất mới. Như nhiều hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, muốn tự phát triển theo kiểu phản ứng dây chuyền, lực lượng bên trong hệ thống phải đủ lớn mạnh để đạt đến cái gọi là khối lượng tới hạn, mà trong trường hợp này chính là mốc khởi đầu của một nền khoa học non trẻ, được thể hiện ở hai mặt sau đây.   Thứ nhất, lực lượng khoa học tinh hoa tuy chưa đông đảo như ở các nước tiên tiến, nhưng có thể nói chuyện ngang ngửa được với họ. Đây là đặc điểm chung của mọi lĩnh vực trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, nhưng yêu cầu này còn gắt gao hơn trong KHCN. Không có giới tinh hoa này, chúng ta sẽ đứng ngoài cuộc chơi toàn cầu về KHCN, một bi kịch không ai muốn thấy. Chấp nhận những chuẩn mực phổ quát trên thế giới về nghiên cứu khoa học là điều kiện tiên quyết để khi bước lên sân chơi quốc tế ta có thể nói chuyện ngang ngửa với đồng nghiệp.  Thứ hai là hình thành một hệ thống các cơ sở nghiên cứu nghiêm túc, bộ mặt khoa học của quốc gia, có đủ điều kiện nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo nhân lực, trước hết là về một số ngành liên quan đến quốc kế dân sinh, sau đó mở rộng cho tầm nhìn xa hơn. Nếu những chuyên gia mang mảnh bằng từ các nước tiên tiến về trình làng mà không có điều kiện tiếp tục nghiên cứu khoa học, duy trì quan hệ quốc tế, trưởng thành lên để còn đào tạo ra những ê kíp mới, thì của cải bỏ ra để đào tạo họ xem như đổ xuống sông xuống biển. Nhưng có hệ thống các cơ sở nghiên cứu hiện đại vẫn chưa đủ, quan trọng hơn là môi trường học thuật lành mạnh. Phải không được lạm dụng bộ máy quản lý hành chính, có thế từ hoạt động KH&CN mới luôn nảy nở ra tinh hoa và tinh hoa được giao phó sứ mệnh lôi kéo đội ngũ KH&CN đi lên. Hệ thống hành chính có chức năng của nó, nhưng không thay thế được tổ chức nghề nghiệp làm khoa học vận hành theo cách riêng.   Chính sách trọng dụng nhân tài khoa học được thảo luận sôi nổi gần đây ở nước ta không gì khác hơn là hoàn thiện môi trường học thuật lành mạnh đó cho số đông, chứ không phải loay hoay tìm chế độ ưu đãi cho một số rất ít người được xem là kiệt xuất, nhưng biết đâu lại nhầm địa chỉ. Thiếu môi trường học thuật lành mạnh, hệ thống các cơ sở khoa học và đại học sẽ bị xơ cứng bởi cơ chế hành chính hóa, chẳng những vô hiệu quả, mà còn là mảnh đất nảy sinh ra bao nhiêu tiêu cực khác, như ta sẽ thấy trong phần sau. Nhiều nước kém phát triển đã rơi vào tình trạng này làm cho chính sách du nhập khoa học bị phá sản.    Thực trạng đội ngũ KH&CN  Chất lượng đích thực của đội ngũ làm khoa học theo hai tiêu chí trên là cơ sở để xem xét trình độ khoa học của nước nhà. Khi chưa đạt đến khối lượng tới hạn, đội ngũ chưa đủ chất lượng, khi đất nước chưa hình thành một nền khoa học lành mạnh, thì giáo dục và công nghệ – hai đầu ra của khoa học – chưa thể cất cánh, cụm từ KHCN là động lực phát triển vẫn chỉ là khẩu hiệu. Bởi vậy không nên tránh né việc đánh giá chất lượng đội ngũ nếu muốn tìm lời giải cho hiện trạng KHCN của đất nước. Mọi bản báo cáo thành tích sẽ trở nên tù mù bởi đủ sắc màu được tô vẽ nếu đội ngũ đang thực sự có vấn đề.   … Thế hệ đầu tiên trưởng thành từ cuộc du nhập khoa học lần thứ nhất, từng là tướng lĩnh một thời, giờ đây đã thành U-70, 80, hầu hết đều buông tay gác kiếm. Không thể phủ nhận sứ mạng của họ trong việc đào tạo ra bao nhiêu thế hệ kế cận có tri thức khoa học công nghệ, giúp ích cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Nhưng nếu xét tác động của KHCN đến kinh tế xã hội như di sản của toàn bộ công cuộc du nhập khoa học lần thứ nhất, thì như cựu Thủ tướng Phan Văn Khải đã chính thức thừa nhận trước Quốc hội:   “Nhìn chung, công cuộc đổi mới chưa thành công trong giáo dục và KHCN. Hai lĩnh vực này còn nhiều mặt yếu kém… tách rời nhau, ít gắn kết với sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội”.  Trong các báo cáo chính thức của những cơ quan quản lý khoa học, những yếu kém thường chỉ nói ra cho có lệ, đằng sau hàng loạt thành tích, khác hẳn với nhận định của vị cựu Thủ tướng. Nếu hòa trộn thành tích và yếu kém trong các bản báo cáo đó lại với nhau, ta sẽ được bức tranh về thực trạng KHCN nước nhà như sau: “Việt Nam có một đội ngũ KHCN không xoàng (thành tích nhiều!), nhưng… khổ thân cho họ!…, họ chưa biết, thậm chí không chịu… gắn kết nghiên cứu với sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cơ chế chính sách cũng đang kìm hãm tính sáng tạo của họ”.   Bắt mạch thấy thế, kê toa ắt phải có những thần dược giúp kích thích, cạnh tranh…, mà trên thực tế đã dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy chạy, bất chấp chuẩn mực, rối loạn kỷ cương, hiếm thấy ở các nước khác. Giá như những nhà lãnh đạo chịu giả dạng đi vi hành để nhận ra chuyện bếp núc này ở các cơ sở thì tốt biết mấy! Khoa học Việt Nam có nguy cơ bị sốc thuốc bởi cho uống quá liều mà chưa khám kỹ thể trạng của bệnh nhân, tức là chất lượng thật sự và môi trường làm việc của đội ngũ khoa học.   Theo thống kê của ISI, Thomson Scientific, trong mười năm qua số bài báo quốc tế (article) dùng nguồn nội lực, có địa chỉ thuần tuý Việt Nam, vẫn dẫm chân tại chỗ quanh con số 80 bài/năm, chủ yếu là về Toán và Vật lý lý thuyết. Chưa đầy một nửa số bài báo quá ít ỏi đó lại phân bố trên nhiều ngành KHCN, xã hội nhân văn, đủ thấy chất lượng quá yếu kém của các hướng nghiên cứu phục vụ trực tiếp quốc kế dân sinh như thế nào (thông tin chi tiết xin xem một số bài gần đây được lưu trữ trên website của Tia Sáng, Hoạt động Khoa học và VietnamNet).   Thậm chí, năm 2006 các nhà khoa học chúng ta chỉ gửi đi có 72 bài dùng nguồn nội lực. Sao không đau lòng khi đem con số này so với 332 bài của chỉ riêng một trường Đại học Chulalongkorn làm ngay trên đất Thái Lan. Thế mà người Thái chưa dám nghĩ rằng giới tinh hoa của họ có thể nói chuyện ngang ngửa với đồng nghiệp trên thế giới. Vậy câu hỏi đặt ra: chúng ta, hay người Thái, đi nhầm đường?  Từ hơn ba năm nay, khi những bằng chứng cụ thể này về tình trạng đội ngũ của chúng ta được đưa lên báo chí và các cuộc hội thảo, những người có trách nhiệm vẫn không động tĩnh gì. Những tiếng nói phản hồi đây đó thậm chí còn cho thấy ngược lại: “ta có cách của ta!”. Trong một cuộc hội thảo hoành tráng của giới khoa học gần đây, trước những thông tin đau lòng trên, một vị nhạc trưởng của chúng ta chẳng những không hề bị sốc, mà còn phấn khích mới lạ: “…Tôi tiếp xúc với nhiều chuyên gia nước ngoài thấy họ cũng thường thôi!…, trình độ khoa học của chúng ta không kém họ đâu, ta chỉ kém tiếng Anh thôi!… Chúng ta sẽ tổ chức một nhóm phiên dịch các bài báo khoa học đăng trong nước ra tiếng Anh gửi sang, họ sẽ đăng tất mà!”.   Thế là từ nay cây đũa chỉ huy của vị nhạc trưởng này sẽ trỏ vào mấy người nhắc vở phía sau sân khấu để từ đó tiếng kèn trống được vang lên truyền đi khắp thế giới. Không thể không đau lòng khi liên tưởng đến bác phu xích lô trong khi gò lưng đạp xe trước chợ Bến Thành, vẫn hăng hái trò chuyện bằng tiếng Anh như người hướng dẫn du lịch chuyên nghiệp cho ông Tây ngồi phía trước chiêm ngưỡng phố xá Sài Gòn. Dân ta sẽ nghĩ gì khi các vị học giả cao sang chót vót, chữ nghĩa phẩm trật đầy người, lại cứ ú ớ trước mấy ông Tây? Ai dám giao tay lái con thuyền WTO của đất nước này cho mấy vị?   Chờ xem vị nhạc trưởng ra tay thế nào, chỉ muốn nhắn nhủ một điều mà có khi ít người để ý. Muốn gửi một công trình đăng trên tạp chí quốc tế, nhà khoa học chẳng những phải biết tự lượng sức mình xem có lọt qua cổng mấy ông phản biện sừng sỏ trên thế giới không, mà còn phải thông thạo những nét tinh tế trong ngôn ngữ trình bày của riêng từng tạp chí. Ai sẽ huấn luyện kỹ năng này cho những người phiên dịch?   Ta du nhập khoa học từ các nước tiên tiến mà lại không chịu chấp nhận cái quan trọng nhất là chuẩn mực để kiểm định chất lượng. Bao nhiêu nhà khoa học của chúng ta sao có thể quên cái thời suốt ngày chạy đôn chạy đáo để tên mình sớm xuất hiện trên các tạp chí quốc tế mà còn kịp đóng dấu vào mảnh bằng tiến sĩ mang về trình làng. Nếu không quên, chúng ta hãy lên tiếng cho những người quản lý biết chuyện này đi!.   Hóa ra, việc không chấp nhận chuẩn mực quốc tế phổ quát đó chẳng những làm cho đội ngũ chúng ta ngày càng yếu kém, tự gạt mình ra bên lề cuộc chơi toàn cầu, mà tệ hơn, chính nó là nguyên nhân làm cho môi trường học thuật bị vẩn đục rất khó chữa, mà đây lại là tiêu chí quan trọng thứ hai được bàn đến trong phần đầu bài viết. Một khi cái rào cản chất lượng nghiêm túc bị tháo gỡ, một khi giới tinh hoa thực thụ bị tê liệt trước uy lực của các quan chức, ai có thể cản nổi người ta nhân danh khoa học xông lên vì danh, quyền và tiền trong cái cơ chế thị trường khốc liệt này? Thủ tướng vừa mới đây đã quyết định đình chỉ giữa chừng đề án chính phủ điện tử trên một tỷ đồng là một trong rất nhiều thí dụ của cái cơ chế xét duyệt đề tài khoa học mà lại phi khoa học đang phổ biến này.   Phải làm gì đây?   Phải du nhập khoa học lần thứ hai, nghiêm túc và bài bản hơn lần trước. Đội ngũ hiện nay không thể đảm nhận việc đào tạo hàng loạt tiến sĩ thứ thiệt mà các trường đại học đang rất cần. Bộ GD-ĐT ước tính chi ra 70 triệu USD hàng năm để đào tạo 1000 TS ở nước ngoài. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, ta sẽ đi lại con đường cũ. Cho nên, nhà nước cần đầu tư thêm 125 triệu USD hàng năm trong mười năm liền để xây dựng cơ sở đào tạo– nghiên cứu trong nước, và mời chuyên gia nước ngoài (chi tiết xem bài “Đào tạo hai vạn TS xịn” trên VietnamNet). Cộng hai khoản lại vẫn còn quá bé so với 2% ngân sách nhà nước dành cho KHCN. Nhưng nếu thành công, chương trình này sẽ tạo ra bước ngoặt thật sự cho sự phát triển kinh tế xã hội, đổi đời cho đại học và khoa học, và tránh cho đất nước khỏi thảm họa chỉ biết bán sức lao động giản đơn và của cải cha ông để lại để trở thành một thị trường béo bở cho hàng hóa và công nghệ lỗi thời của nước ngoài. Nên nhớ rằng thành quả của chương trình này không phải là những mảnh bằng mà các ông nghè sẽ mang ra trình làng. Có mảnh bằng mà thiếu mảnh đất làm khoa học, thiếu niềm đam mê, thiếu những cơ sở nghiên cứu tầm quốc tế ở các trường đại học, thiếu môi trường học thuật lành mạnh thì… Ta vẫn cứ là Ta!    Cho nên rất cần một bước đột phá về nhận thức trong giới khoa học và đại học. Vật cản lớn nhất có khi lại là mấy thứ cân đai áo mão đầy ánh hào quang đang bó chúng ta lại, khiến công chúng không nhận ra ta là ai. Nên nhanh chóng cởi bỏ mấy thứ lỉnh kỉnh này. Vừa sòng phẳng, vừa đạo lý, đúng bản chất của người trí thức.      Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một đội ngũ những nhà chính trị chuyên nghiệp      Một nền quản trị quốc gia chuẩn mực sẽ như  một cỗ máy chạy tốt, giúp đạt được những sản phẩm mà người sử dụng mong  muốn. Còn với một cỗ máy được thiết kế lạc hậu, không phù hợp thì càng  vận hành càng phát sinh nhiều vấn đề, càng đẻ ra nhiều phế phẩm.     Có thể thấy rằng mô hình quản trị hiện nay của Việt Nam, thực chất, vẫn theo những nguyên tắc cơ bản của mô hình Xô viết, mà chưa thay đổi về hệ chuẩn. Một số trong những khiếm khuyết rất lớn của mô hình Xô viết là sự chồng chéo chức năng, hệ thống chế độ trách nhiệm trước dân ít hiệu quả.  Hiện nay, chúng ta đang cố gắng cải tổ quản lý nhà nước để phục vụ nhân dân tốt hơn, tuy nhiên, nếu không thiết kế được một hệ thống trách nhiệm trước dân và hệ thống khuyến khích phục vụ dân phù hợp, thì đây là một nhiệm vụ khó khăn. Chỉ khi nào tiếng nói của người dân có ảnh hưởng trực tiếp trong việc quyết định vị trí của người lãnh đạo, thì khi ấy người lãnh đạo mới chịu áp lực để toàn tâm toàn sức phục vụ dân.   Một điểm yếu khác trong mô hình quản trị Nhà nước hiện nay là sự lẫn lộn giữa vai trò giữa các chính khách và các công chức. Xảy ra tình trạng các công chức lại thích nói chuyện chính trị, giỏi nói chuyện chính trị, nhưng lại hoàn toàn không thạo việc, không biết triển khai một chính sách đã được thông qua như thế nào. Ngược lại, nhiều chính khách lại ham điều hành các công việc cụ thể. Họ, tất nhiên, không giỏi về điều hành và lại gỡ bỏ mất hệ thống trách nhiệm đối với các công chức.  Chúng ta thiếu một đội ngũ chính khách chuyên nghiệp. Một chính khách chuyên nghiệp phải có những kỹ năng khác với một công chức. Kỹ năng của chính khách là xác định  các mục tiêu cần ưu tiên thực hiện và thuyết phục, vận động được sự ủng hộ để có thể hiện thực hóa thành những chính sách cụ thể. Như vậy, kỹ năng của nhà chính trị ở đây là tập hợp được lực lượng ủng hộ các chính sách, chứ không phải là lên kế hoạch triển khai, phê duyệt, ra lệnh, kiểm tra…   Do thiếu vắng các chính khách chuyên nghiệp nên đã có những chính sách được thông qua vội vàng trong bối cảnh chưa thu được sự ủng hộ cần thiết từ người dân, từ xã hội.   Để tránh tình trạng những hạn chế, bất cập sẽ tiếp tục phát sinh ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn, nhất thiết chúng ta cần điều chỉnh cỗ máy Nhà nước sao cho tương thích với những đòi hỏi tự nhiên của một nền kinh tế, xã hội đang phát triển đi lên. Nhu cầu xã hội hiện nay đang đòi hỏi một đội ngũ những chính khách chuyên nghiệp hơn, với một mô hình quản lý mới, trong đó có sự tách bạch giữa chức năng của các chính khách với những người thực thi công vụ. Đồng thời, một nhiệm vụ không thể bỏ qua là việc xác lập một chế độ trách nhiệm trước dân rõ ràng và một hệ thống khuyến khích phục vụ dân hiệu quả.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một e-Văn Miếu      Gần đ&#226;y c&#243; nhiều dư luận xung quanh dự &#225;n Di sản tiến sĩ. Kh&#244;ng nhiều người ủng hộ việc x&#226;y dựng một khu &#8220; Văn Miếu thời hiện đại&#8221;, với viễn cảnh cả một đ&#224;n r&#249;a đ&#225; khoảng 16.000 con&nbsp; c&#245;ng tr&#234;n lưng những tấm bia ghi t&#234;n tiến sĩ thời nay.  Như thiển &#253; của t&#244;i th&#236; dựng bia tiến sĩ hiện đại l&#224; việc rất n&#234;n l&#224;m, v&#224; đ&#225;ng ra phải l&#224;m từ l&#226;u! Duy c&#243; điều, kh&#244;ng n&#234;n bằng đ&#225; m&#224; l&#224; một e-Văn Miếu.    Đã từ lâu, tôi ước ao nước ta có một e-Văn Miếu. Trong cái e-Văn Miếu đó, mỗi tiến sĩ đều được (phải) có một trang riêng. Để cho đẹp, cho “truyền thống” và “dân tộc”, có thể vẽ như bia đá trên lưng rùa! Vào trang của tiến sĩ nào, ta không những chỉ biết tên họ, mà còn có thể được đọc luận án của họ. Tốt hơn nữa là cập nhật thường xuyên công trình nghiên cứu mới của từng tiến sĩ. Khi đó, mỗi tiến sĩ không chỉ được vinh danh, mà quan trọng hơn là được ghi nhận việc họ đã làm, những công trình lao động mà họ đã đóng góp cho đời. Chỉ cần một cái “nhấp chuột” để vào thăm e-Văn Miếu, “khách thập phương” không chỉ thán phục, trầm trồ với những cái tên không nói lên gì nhiều, mà có thể học hỏi rất nhiều điều, và hơn nữa, có thể áp dụng nhiều nghiên cứu đã có vào thực tiễn. Nếu cần, và nếu chịu khó, cũng có thể xác định được đâu là tiến sĩ rởm, đâu là tiến sĩ đích thực! Hơn nữa, e-Văn Miếu đâu chỉ ghi danh tiến sĩ, ở đó có thể ghi lại những đóng góp có giá trị cho khoa học của tất cả mọi người, cho dù họ chưa có bằng cấp gì đi nữa. Làm được như vậy, e-Văn Miếu sẽ trở thành một cơ sở dữ liệu quý giá, mà việc duy trì nó không cần kinh phí quá cao. Tất nhiên là thấp hơn rất nhiều so với việc để ra hàng chục hecta đất, xây hàng chục tòa nhà. Việc “ghi danh” vào e-Văn Miếu không chỉ là vinh dự, mà còn là trách nhiệm của mỗi tân tiến sĩ. Nhà nước có thể quy định mỗi tân tiến sĩ phải cung cấp những thông tin cần thiết cho e-Văn Miếu, như kiểu nộp luận án cho thư viện theo quy định hiện hành.  Cũng cần nói ngay rằng, ý tưởng lập e-Văn Miếu như trên không phải là cái gì mới mẻ. Hiện nay, một kiểu e-Văn Miếu như vậy đã tồn tại trong cộng đồng toán học thế giới. Chỉ cần vào trang web http://genealogy.math.ndsu.nodak.edu là các bạn có thể biết thầy của một ông tiến sĩ toán là ai, thầy của ông thầy đó là ai,…Hơn nữa, có thể biết được họ đã có những công trình gì. Nếu bạn truy cập từ một cơ sở đã trả tiền thì còn có thể tải các công trình khoa học của họ nữa. Các nhà toán học vẫn thường vào cái “e-Văn Miếu toán học” đó để xem “ông cha” khoa học của mình là ai, và cũng nhiều khi để có thể tự hào rằng, mình là “hậu duệ” của một nhà toán học nổi tiếng trong lịch sử! Có thể những “e-Văn Miếu” tương tự cũng có đối với nhiều ngành khoa học khác, nhưng người viết bài này chưa có thông tin.  Vậy thì có nên xây cái Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ trên mấy chục hecta đất nữa không? Tôi nghĩ không nên đặt vấn đề nên hay không nên xây, mà chỉ nên hỏi ai bỏ tiền ra xây mà thôi. Nếu có ai đó muốn xây một Trung tâm như vậy, chắc rằng pháp luật không thể cấm. Có điều đó là việc riêng của họ, không phải việc của Nhà nước. Họ có thể thuê đất, dù rộng bao nhiêu cũng được, theo giá thị trường,  nhưng không được cấp đất. Tôi chắc vẫn có người chịu làm, chỉ cần khéo tính toán một chút. Ngày nay, vẫn còn không ít tiến sĩ thích lưu danh thiên cổ bằng cách khắc tên mình trên bia đá, đặt lên lưng chú rùa đá. Vậy nên người chủ dự án có thể ra giá: rùa càng to thì càng phải nộp nhiều tiền, rùa ở hàng một thì đắt hơn rùa hàng hai,… Chắc chắn không thể bán được đến 16.000 con rùa đá, nhưng nếu đặt giá và quảng cáo cho khéo thì chắc vẫn có lãi! Xét cho cùng, việc làm đó cũng chẳng hại đến ai, mà có thể còn phát triển được nghề làm rùa đá, tạo được một số công ăn việc làm. Tất nhiên cũng như khi xét cấp phép cho mọi công ty, cũng cần phải tính đến việc bảo vệ môi trường. Ở đây chủ yếu là môi trường văn hóa.  Dù mong nước ta sớm có một e-Văn Miếu đàng hoàng, “to, đẹp”, tôi vẫn hơi lo khi ngày ấy ra đời. Vì lúc đó, mình cũng bị ghi vào cái e-Văn Miếu đó, và công việc của mình sẽ bị cả bàn dân thiên hạ săm soi. Nhưng biết làm sao được, đã có gan làm khoa học, có gan nhận bằng tiến sĩ thì cũng phải chịu khó để không bị thiên hạ chê là rởm!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một nhạc trưởng với nhiều kịch bản      Khi đói, chúng ta thường nói: “Làm sao cho đủ ăn”. Nhưng làm sao để giàu quả là cực khó. Là nước nông nghiệp, đôi khi ta lúng túng đi hỏi nông dân “trồng cây gì, nuôi con gì?” để có “cánh đồng 50 triệu, 100 triệu trên một hécta?”… Rồi cái tuồng “đốn” rồi “trồng”, “đào” và “lấp”… diễn ra như “điệp khúc” bởi kế hoạch KT-XH 5 năm hay hàng năm của đất nước đều chỉ có một hướng duy nhất là phát triển. “Làm cho nhanh, làm cho tốt, làm cho nhiều”, đó là phương châm hành động từ nào.    Chúng ta chưa quen xây dựng “kịch bản” cho những lúc “thoái trào” và cả lúc “cao trào”. Đó là thực tế những gì đã và đang diễn ra hàng chục năm nay, ngày càng dồn dập và ác liệt. Năm, mười năm nay chúng ta là nước đứng đầu hoặc tốp đầu vài ba nước xuất khẩu gạo, cà phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu và thủy sản nước ngọt… nhưng chưa phải là nền sản xuất lớn, nông dân chưa giàu và vì vậy “sản xuất phát triển thiếu bền vững”, “khoảng cách giàu nghèo doãng ra” như TW và Chính phủ từng nhận định. Điều đó nói lên tính “bất trị” của thị trường mà chỉ có những kịch bản được xây dựng hoàn hảo và đạo diễn thuộc tầm lão luyện thì mới khống chế được con ngựa bất kham – khủng hoảng. Mà yêu cầu cũng rất khiêm tốn là hạn chế chớ không phải ngăn không cho nó xảy ra.  Từ một tháng nay, qua VTV1 hằng đêm chúng ta thấy cảnh con cá tra ứ đọng và giải pháp cứ bị động: “Nay ăn cơm nguội, cơm nóng để mai… ăn cơm nguội”; tin vui về con tôm thẻ chân trắng, rồi cảnh nông dân triệt hạ vườn cây ăn trái, rừng tràm… để trồng lúa… mà tâm trạng lẫn lộn: buồn thì buồn không biết bao lâu, còn vui rồi thì nhất định sẽ buồn, mà hình như cái buồn dự báo cũng không xa. Mới đây thôi, quí I và nửa quí II-2008 giá gạo thế giới cũng lên cơn bão, nhưng nông dân bán lúa giá 7.000đ/kg không được mấy ngày và chỉ có mấy người, rồi sụt dần, sụt dần và nhất định sẽ có ngày bị ế như đã từng nhiều năm bị ế. Nhưng cầu mong cho nó đừng ế trong cuối năm nay và năm 2009 để nông dân ta bớt khốn khó hơn bởi giá đầu vào của cây lúa (và cả con cá) tăng lên từng ngày! Tình hình trên đã từng xảy ra và cũng có người đã từng nói: “Kinh tế thị trường, tự do kinh tế thì phải vậy chớ sao”. Nói thế thì hết nói! Cũng như bọn làm và bán phân giả cho nông dân bị phạt có 2 triệu đồng là “đúng luật” thì cũng hết bàn! Hôm dự hội thảo do Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT cùng Tạp chí Tia Sáng tổ chức tại thành phố HCM, Giáo sư Tương Lai có đưa ra cảnh báo phải “đề phòng những kịch bản xấu” về kinh tế-xã hội, môi sinh cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chỉ nhìn vào cây lúa, con cá mà tôi thấm ý với những “kịch bản” mà giáo sư đưa ra. Người viết xin mạo muội “chế” thêm kịch bản cho hai sản phẩm chiến lược này của vùng sông nước Cửu Long. Kịch bản thứ nhất là phân chia lợi nhuận – siêu lợi nhuận lúc con cá lên ngôi và khi hạt gạo trở thành hạt ngọc. Đây là lúc ai cũng có lãi cao, nhưng nhất định không phải là nông dân, vì “thói quen” bán lúa tại ruộng, nên khi giá cao mấy ai còn lúa mà bán, và cá đến lứa phải cất ao, nông dân đâu có nhà máy, kho lạnh mà trữ nên cũng không nhiều người bán được giá cao – vì đỉnh giá ở trong nước chỉ có mấy tuần lễ mà thôi. Vậy nên cần có kịch bản điều tiết lợi nhuận, lập quỹ dự phòng mà trong đó doanh nghiệp và nông dân phải đóng góp. Còn tình hình xấu thì cũng phải có nhiều kịch bản gánh vác trách nhiệm: Khi thị trường mất cân đối cung cầu, những bất trắc bất khả kháng của thị trường và đặc biệt là dịch bệnh, thiên tai, thảm họa… Kịch bản xấu thì trách nhiệm đóng góp không chỉ có doanh nghiệp, nông dân mà còn phải có thêm Nhà nước, nghĩa là cả ba vai diễn. Nhưng tất cả những kịch bản nhỏ đều nằm trong đại kịch bản là qui hoạch và điều hành nền sản xuất phải tuân theo qui luật của thị trường và một guồng máy tổ chức khoa học năng động tương ứng, trong đó nổi rõ vai trò của nhạc trưởng không chỉ tài hoa về nghệ thuật mà còn có năng lực kỷ trị mới đủ sức lèo lái đúng theo “kịch bản” đã vạch ra.  Kinh nghiệm chỉ ra rằng, nền kinh tế còn mang nặng tính tiểu nông và tính tự phát thì mỗi khi cây con nào lên ngôi, bao nhiêu người phất lên thì điều chắc chắn là có ngày không xa những cây con ấy phải xuống và hơn ngần ấy số người phất lên là số người phá sản, mà chỉ có người ít vốn, ít đất bị phá sản mới ngặt, vì họ là số đông. Hy vọng hạt gạo từ nay đến năm 2009 và rồi những cây con khác, đặc biệt là con tôm thẻ chân trắng vừa tập bò “lên ngôi” sẽ không gặp phải “kịch bản xấu” là nhờ ở tài năng của nhạc trưởng!.  ———–  * Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang       Nguyễn Minh Nhị*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một phiên bản nâng cấp cho hệ điều hành      Đã đến lúc cần đổi mới thể chế để tìm lại những động lực phát triển cho nền kinh tế vì hầu như ai ai cũng thấy rằng các động lực vốn mạnh mẽ thời Đổi mới cách đây hơn 20 năm dường như nay đã cạn kiệt. Nói theo ngôn ngữ của thời @ thì Việt nam đang rất cần một phiên bản nâng cấp cho hệ điều hành.    Nếu nhìn bao quát rồi dành chút thời gian để suy ngẫm và liên tưởng thì chúng ta sẽ thấy sự tương đồng lý thú giữa xã hội hiện đại với chiếc máy vi tính –một  phương tiện phổ cập trong thời đại bùng nổ thông tin.      Máy tính nào cũng có phần cứng, các phần mềm ứng dụng và hệ điều hành giúp cứng và mềm kết hợp với nhau một cách tối ưu và nhanh nhất nhằm đáp ứng các bài toán do thực tiễn đặt ra. Ứng với một thế hệ phần cứng nhất định sẽ có những phần mềm phù hợp (đôi khi ngược lại) cùng một hệ điều hành tương thích, bởi lẽ, khi các phần cứng và mềm trở nên quá lớn, quá phức tạp vượt ra ngoài khả năng gánh vác của hệ điều hành thì cả hệ thống máy tính sẽ vận hành ì ạch. Và lúc đó, các chuyên gia tin học sau nhiều phen sửa chữa, vá víu tạm chương trình sẽ phải nghiêm túc ngồi xuống để soạn ra một phiên bản nâng cấp của hệ điều hành.      Xã hội cũng có hệ điều hành, phần cứng và phần mềm của nó. Có thể tạm phân loại hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, công xưởng …các cơ sở văn hóa, giáo dục, quốc phòng và hành chính quốc gia cùng các yếu tố vật chất khác như tài nguyên khoáng sản, các nguồn lực tài chính là phần cứng. Chính sách phát triển các lĩnh vực cụ thể như kinh tế, văn hóa, giáo dục, an sinh – xã hội v.v… kỹ năng nghề, trình độ chuyên môn, văn hóa của nguồn nhân lực là phần mềm thì hệ điều hành sẽ là những luật lệ, quy chế có định hướng tư tưởng và bao trùm có chức năng điều tiết sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm trong cấu trúc xã hội nêu trên nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ. Thực chất, hệ điều hành  là thể chế chính trị – xã hội của một quốc gia .      Điểm khác biệt đáng nói ở đây là xã hội con người năng động và phức tạp hơn bất kỳ một hệ máy tính nào. Yếu tố cứng và mềm của máy tính dù sao cũng tương đối ổn định trong một vòng đời sản phẩm nhưng đối với thế giới “phẳng” và toàn cầu hóa cao như ngày nay thì đồng vốn tư bản ( phần quan trọng của phần cứng) và nhân tài (phần chủ yếu của phần mềm) lại rất dễ dàng chuyển dịch khiến hệ điều hành cũng phải luôn luôn trở nên tương thích một cách năng động hơn, thậm chí phải chủ động xây dựng các phiên bản nâng cấp dự phòng. Cuộc tranh đua giữa các quốc gia ngày nay vì vậy, chủ yếu là cạnh tranh qua chất lượng hệ điều hành hay chất lượng của thể chế chính trị- xã hội.             Những quốc gia tài nguyên thiên nhiên phong phú, con người cần cù, tài năng nhưng lại chỉ ở vị trí thấp trong bảng xếp hạng phát triển của Liên hợp quốc. Rõ ràng việc cải thiện hệ điều hành ở những nơi đó phải là hành động ưu tiên .            Quốc gia thắng cuộc trong toàn cầu hóa chắc sẽ là nơi thu hút được nhiều nhân tài, vật lực và tạo ra nhiều giá trị gia tăng tính theo đầu người đồng thời cũng là nơi có chất lượng cuộc sống cao theo chuẩn mực quốc tế. Ở nơi đó hệ điều hành hay yếu tố thể chế  đóng vai trò kiến tạo tích cực do tương thích với sự phát triển của phần cứng và mềm .  Ngược lại, có những quốc gia tài nguyên thiên nhiên phong phú, con người cần cù, tài năng nhưng lại chỉ ở vị trí thấp trong bảng xếp hạng phát triển của Liên hợp quốc. Rõ ràng việc cải thiện hệ điều hành ở những nơi đó phải là hành động ưu tiên .  Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và hệ điều hành.  Theo cách định nghĩa của Ngân hàng Thế giới thì thể chế hay hệ điều hành chính là các quy định, quy chế mà  theo đó các cá nhân, công ty và nhà nước tác động lẫn nhau (1). Nói một cách nôm na thì đó là luật chơi giữa 3 nhóm chủ thể. Trong hoạt động kinh tế – xã hội loài người đã sản sinh ra và cũng đã thải loại đi nhiều luật chơi – có thứ luật chơi khuyến khích tối đa thị trường, nơi liên kết những cá nhân tự do hành động vì tư lợi của mình và cũng tồn tại những luật chơi có mục đích hạn chế, kìm hãm thậm chí không chấp nhận mọi hoạt động có động cơ cá thể.  Ngày nay hầu như đại đa số các nền kinh tế trên thế giới đều lựa chọn mô thức kinh tế thị trường tuy với mức độ rất khác nhau do áp dụng những luật chơi (hay thể chế) không giống nhau, đi đôi với việc sử dụng những tổ chức cùng cơ cấu vận hành thị trường cũng khác nhau.  Xét một ví dụ, các nước phát triển phương Tây được đánh giá là những nền kinh tế dẫn đầu không những bởi chỉ số GDP tính theo đầu người mà còn ở năng lực tạo ra những đổi mới cơ bản trong công nghệ và tổ chức: những đổi mới đòi hỏi cao nhất về tính sáng tạo, tài năng con người và đóng vai trò làm động lực chủ yếu cho việc tăng năng suất lao động xã hội.          Yếu tố quyết định đối với khả năng tạo ra những đổi mới cơ bản của một nền kinh tế lại nằm trong môi trường thể chế của nó và như vậy cũng không ngạc nhiên khi Ngân hàng thế giới khẳng định rằng “Thể chế được nhìn nhận như là yếu tố chính quyết định sự phát triển lâu dài của một quốc gia .            Internet, công nghệ gien di truyền, vi sinh, công nghệ Nano, năng lượng phản vật chất và các dạng năng lượng sạch khác v.v…là những minh họa sinh động cho khái niệm này. Có một câu hỏi được đặt ra rất tự nhiên: cùng chọn cơ chế thị trường để phát triển nhưng tại sao số đông các quốc gia lại không thể bứt phá để làm nên những đổi mới cơ bản ?  Câu trả lời đơn giản tới mức hơi bất ngờ đối với nhiều người: yếu tố quyết định đối với khả năng tạo ra những đổi mới cơ bản của một nền kinh tế lại nằm trong môi trường thể chế của nó  và như vậy cũng không ngạc nhiên khi Ngân hàng thế giới khẳng định rằng “Thể chế được nhìn nhận như là yếu tố chính quyết định sự phát triển lâu dài của một quốc gia.  Do vậy , trước những thành công hay thất bại của một chính sách kinh tế ( hoặc văn hóa, giáo dục, khoa học- công nghệ … ) cần phải đánh giá toàn diện và công bằng  nguyên nhân chủ quan thuộc hoạt động của các chủ thể liên đới trong lĩnh vực này cùng với nguyên nhân khách quan thuộc bản chất của thể chế chính trị- xã hội. Có thể hiểu đây chính là một cách “kiểm toán” toàn bộ hệ thống để xác định các mặt mạnh và yếu của phần mềm ứng dụng (hay chính sách kinh tế, văn hóa, khoa học…) cũng như sức mạnh hoặc “lỗ hổng” của hệ điều hành (hay thể chế chính trị-xã hội). Thống kê dữ liệu “ kiểm toán” trong một khoảng thời gian (ví dụ như 1 hoặc 5 năm) sẽ giúp các cơ quan lãnh đạo điều chỉnh chính sách kinh tế và hoàn thiện thể chế đúng hướng, đúng lúc, đúng việc, đúng người.   Vấn đề năng suất lao động, nợ công và động lực phát triển  Gần đây trên các diễn đàn chính thức vấn đề năng suất lao động, nợ công và động lực phát triển của nền kinh tế đang được bàn luận sôi nổi.  Hãy thử phân tích các vấn đề này xuất phát từ mối tương quan giữa hệ điều hành- phần cứng – phần mềm hiện nay, trước tiên là năng suất lao động (NSLĐ). Theo số liệu chính thức thì NSLĐ của Việt nam chỉ bằng 1/15 Singapore và 1/5 Thái Lan. Nguyên nhân của tình trạng  đáng báo động này thì nhiều, chẳng hạn như chất lượng nhân lực kém, công nghệ lạc hậu, ít đầu tư cho khoa học- công nghệ và trình độ tổ chức thấp v.v…  Một câu hỏi phát sinh: tại sao lại như vậy khi Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chính sách khuyến khích phát triển nâng cao năng suất lao động?  Câu trả lời là trên thực tế những chính sách đó thiếu động lực để đi vào cuộc sống. Trong hoàn cảnh hiện nay khi mà các quan chức giữ vị trí quản lý ở các Bộ, ngành, Tổng công ty quốc doanh và các địa phương đang được Nhà nước phân quyền và ủy quyền sử dụng khối tài sản khổng lồ thuộc sở hữu toàn dân ( ít nhất là trên danh nghĩa, theo lý luận của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN) thì đối với doanh nghiệp, con đường ngắn nhất để sinh lợi  phải là nuôi dưỡng những mối quan hệ “cánh hẩu” với những quan chức Nhà nước thoái hóa ở các ngành, các địa phương. Vì lẽ đó, một cách tự nhiên, động lực sáng tạo và đổi mới công nghệ hay kinh doanh sẽ bị thui chột đi thậm chí còn bị coi là không thức thời. Tình trạng tham nhũng trong “một bộ phận không nhỏ” quan chức, đảng viên cũng phát sinh từ đây và căn bệnh trì trệ, chậm đổi mới khiến năng suất lao động thấp cũng ký sinh trên nền tảng thuận lợi này. Rõ ràng tiêu chuẩn phân phối theo thành quả sáng tạo kinh doanh và nâng cao năng suất lao động – một đòi hỏi chủ đạo của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường đích thực đã bị bóp méo. Đây rõ ràng là một “lỗ hổng” lớn trong hệ điều hành vốn vẫn coi doanh nghiệp Nhà nước phải là những quả đấm thép có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng do Nhà nước thay mặt quản lý thông qua các đại diện được ủy quyền của mình (2). Việc các đại diện được phân quyền và ủy quyền đó có xứng đáng hay không  còn phụ thuộc vào tính minh bạch trong quy trình tuyển chọn và cần được công luận cho ý kiến khi Dự thảo về công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội dự kiến sắp được đưa ra trong thời gian tới.  Ngoài ra, tiêu chí tuyển chọn, cất nhắc và đãi ngộ nhân sự trong hệ thống công quyền còn nhiều vấn đề tồn tại mang tính thể chế dẫn đến tình trạng người có tài, có đức nhiều lúc, nhiều nơi phải chịu thiệt thòi trước các nhóm lợi ích cục bộ thiếu chữ Tâm và năng lực khiến bộ máy công quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương còn kém hiệu năng, nhũng nhiễu dân và xa rời thực tế (các ví dụ sinh động như việc ra công văn cấm ngực lép đi xe máy, cấm cỗ cưới trên 300 mâm, cộng điểm cho Bà mẹ Việt nam anh hùng khi thi Đại học và vấn nạn tham nhũng vặt , cố tình gây khó cho doanh nghiệp và dân để đòi tiền lót tay v.v…là minh chứng cho nhận định này). Trong lĩnh vực tổ chức nhân sự đã hình thành những nhóm lợi ích làm giàu trên sự cồng kềnh , phì đại của bộ máy và tình trạng mua, bán chức quyền.          Để duy trì hệ thống gồm ít nhất là 03 bộ máy hành chính, trên phạm vi toàn quốc và trong tất cả các lĩnh vực thì nền kinh tế phải chịu một khoản chi không nhỏ gián tiếp hoặc trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm và dịch vụ khiến Việt nam mất tính cạnh tranh trong bối cảnh  năng suất lao động  đang thấp và hiệu năng của nền hành chính công chưa cao.             Hiện nay, bộ máy hành chính của cả Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị- xã hội ngày một phình to tới mức đã trở thành gánh nặng của nền kinh tế khiến các đại biểu quốc hội phải nghiêm túc đặt vấn đề lấy đâu ra khoản tiền  chiếm tới 35 % chi ngân sách (3) để trả lương và 40.000 tỷ để tăng lương hàng năm cho bộ máy quá cồng kềnh (4). Một trong những khởi nguồn của thực trạng này chính là nhận thức  cho rằng sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng phải được hiện thực hóa bằng một bộ máy song trùng với các cấp chính quyền , được hưởng lương với hệ số chuyên trách và đi kèm với nó là cả một hệ thống các tổ chức chính trị- xã hội đóng vai trò cánh tay nối dài của Đảng , được ngân sách tài trợ. Rõ ràng, để duy trì hệ thống gồm ít nhất là 03 bộ máy đã nêu,  trên phạm vi toàn quốc và trong tất cả các lĩnh vực thì nền kinh tế phải chịu một khoản chi không nhỏ gián tiếp hoặc trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm và dịch vụ khiến Việt nam mất tính cạnh tranh trong bối cảnh  năng suất lao động  đang thấp và hiệu năng của nền hành chính công chưa cao.   Gánh nặng chi phí để duy trì một bộ máy quá lớn những người ăn lương và trợ cấp từ ngân sách  cùng vấn nạn lãng phí, tham nhũng, đầu tư tràn lan kém hiệu quả trong khu vực quốc doanh là nguyên nhân chính của tình trạng nợ công đã đạt ngưỡng nguy hiểm hiện nay. Rõ ràng để khắc phục vấn nạn này không thể chỉ dựa vào tái cơ cấu kinh tế mà phải cải cách thể chế chính trị, bởi lẽ,  tinh giản bộ máy của Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội cánh tay nối dài của Đảng ở các cấp mà vẫn nâng cao được hiệu năng lãnh đạo là một quyết định liên quan tới hệ điều hành. Nâng cao hiệu lực chống tham nhũng, lãng phí của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, giám sát  trong điều kiện kinh tế thị trường nhưng còn thiếu vắng vai trò phản biện thực sự, công khai của các tổ chức XHDS hẳn là những vấn đề thuộc về lĩnh vực cải cách và hoàn thiện thể chế chính trị. Xác định đúng phạm vi kinh doanh của khu vực doanh nghiệp Nhà nước và chủ trương phù hợp lòng dân về sở hữu đất đai chắc chắn cũng là những quyết định mang tính thể chế .  Đúng như nhận định của ông Bộ trưởng bộ KHĐT Bùi Quang Vinh (5) trong một phát biểu gần đây đã cho rằng: đã đến lúc cần đổi mới thể chế để tìm lại những động lực phát triển cho nền kinh tế vì hầu như ai ai cũng thấy rằng các động lực vốn mạnh mẽ thời Đổi mới cách đây hơn 20 năm dường như nay đã cạn kiệt.  —-  (1). Hiệu Minh. ” Hoa hậu, nhà kinh tế và thể chế kinh tế” tuanvietnam.net ngày 5/01/2010.  (2).http://www.viet-studies.info/Kinhte/PGMinh/TanManPhanIII.htm  (3).VTV1 Thời sự 19h ngày 29/10/2014.   (4).http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/203225/-khong-dan-nao-dong-thue-nuoi-noi-bo-may-nay-.html  (5).http://baodautu.vn/bo-truong-bui-quang-vinh-khong-thay-doi-ve-chat-khong-the-tang-truong-7-8.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một triết lý riêng cho sự phát triển của dân tộc      Để hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà nhằm hòa nhập với một thế giới sôi động, để giải quyết những bất cập trong giáo dục của ta hiện nay, giáo sư Hoàng Tụy cho rằng cần thay đổi triết lý trong giáo dục.    Vấn đề đặt ra rất đúng nhưng giải quyết thật là khó, vì cái triết lý giáo dục hiện nay tất nhiên nằm trong cái triết lý của cả dân tộc chúng ta. Mà như cách đây mấy năm, tôi có viết là chúng ta vẫn chưa có được một triết lý riêng, một triết lý viết thành văn của dân tộc mình. Mặc dầu dân tộc chúng ta thật là anh hùng vì đã đánh bại được hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, nhưng khi thắng lợi rồi vẫn không xây dựng được một triết lý của riêng mình!  Thực vậy, trong hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, các vua chúa đều vay mượn cái triết lý của người ngoài và cai trị dân theo giáo huấn của Khổng Tử. Trong các trường học, người ta luôn dạy: Khổng Tử viết: Đức thánh Khổng nói! Ai tuân theo lời dạy đó là tôi trung, ai chống lại là giặc, những kẻ sĩ không muốn cộng tác thì treo ấn từ quan về ở ẩn.  Cái triết lý đó chỉ sụp đổ khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta và truyền bá cái triết học của Vônte, Rutxô, Môngtétkiơ đã dẫn đến Đại cách mạng Pháp 1789. Rõ ràng cái triết lý này của thế kỷ Ánh sáng tiến bộ gấp nhiều lần cái triết lý thời phong kiến của chúng ta. Phan Chu Trinh chỉ đòi cái triết lý dân chủ tư sản đó cho dân ta mà cũng không được!  Trong thời gian tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận một triết lý của người nước ngoài: triết lý của Mác, nhưng Người đã vận dụng sáng tạo nó để giải phóng dân tộc mình. Người đã không máy móc theo triết lý đó mà đã đề cao đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy Người đã huy động được các nhân sĩ, trí thức yêu nước dù có thuộc giai cấp phong kiến hoặc tư sản, đưa cách mạng tháng Tám và kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thậm chí khi cần thiết Người đã tuyên bố giải tán Đảng cộng sản và thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp nhận sáng tạo những cái tích cực của chủ nghĩa Mác đồng thời vận dụng những tinh túy của Khổng giáo trong nghệ thuật trị nước có lẽ cái triết lý của Hồ Chí Minh có thể tóm gọn trong câu: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Người còn nói: Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.  Thời Mác còn sống, cách mạng công nghiệp đã giải phóng con người khỏi lao động cơ bắp nặng nhọc. Nhưng từ đó tới nay, khoa học kỹ thuật đã tiến những bước khổng lồ, phần lớn lao động nặng nhọc và nguy hiểm đã được tự động hóa. Với sự phát minh ra máy tính điện tử thì lao động trí óc cũng được giảm nhẹ khiến con người giải quyết được những bài toán vô cùng phức tạp. Đội ngũ giai cấp công nhân áo xanh đã dần được thay thế bằng những công nhân áo trắng. Người ta đã nói tới thời đại kinh tế tri thức. Những tiến bộ của thông tin liên lạc đã khiến cả Trái đất thành nhỏ bé mà mỗi nước chỉ là một xóm nhỏ trong cái làng chung đó. Nếu Mác còn sống, chắc ông cũng phải hoàn thiện hoặc xây dựng một triết lý mới cho thời đại chúng ta. Tiếc rằng chưa xuất hiện một thiên tài xuất chúng như vậy! Cho nên trong ngôi làng chung của thế giới nhỏ bé này vẫn thống trị cái triết lý của sức mạnh mù quáng, triết lý cá lớn nuốt cá bé.  Vì vậy, trong công cuộc đổi mới cùng với quán triệt và hành động theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần vận dụng sáng tạo, “bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Nguyễn Ái Quốc) để xây dựng một triết lý riêng cho sự phát triển của dân tộc. Có như vậy mới mau chóng đuổi kịp thiên hạ được.  GS.NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một tư duy ngược      Để bảo tồn và phát triển bền vững từ giá trị di sản Cổ Loa, cần có những giải pháp tức thời và dài hạn. Mà xuyên suốt trong đó, cần tư duy “ngược”, coi thành, hào mới là vùng lõi bảo tồn chứ không phải là chỉ có vùng Thành Nội đang được định danh là “lõi” trong các quy hoạch hiện nay. Đồng thời, để phát triển bền vững, cần dựa trên quá trình tham gia của người dân – các chủ thể văn hóa chứ không phải họ ở lại “bên lề” di tích.      Phối cảnh tổng thể Khu di tích thành Cổ Loa. Nguồn ảnh: Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.   Xác định lại trọng tâm – thành hào mới là “lõi”  Trong Quyết định số 1083/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa năm 2012 và cụ thể hơn, trong Quyết định 1004/QĐ-TTg về việc Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa (tỷ lệ 1/2.000) năm 2015 đã xác định “vùng lõi” ưu tiên cần bảo tồn ở Cổ Loa. Tuy nhiên, các quy hoạch này lại đang đặt ra trọng tâm bảo tồn “ngược” với giá trị thực sự của tòa quân thành này. Nếu như, theo các nhà văn hóa học, khảo cổ học và lịch sử, giá trị quan trọng nhất của Cổ Loa chính là các vòng thành đất với tuổi đời 2.300 năm, độc đáo, có quy mô lớn và sớm nhất Đông Nam Á, thì việc đặt ra các vòng lõi như QĐ 1004 đã vô hình trung đánh giá thấp giá trị của các vòng thành Ngoại, thành Trung. Cụ thể, Thành Nội và khu Cánh cung phía Nam Thành Nội; được coi là khu tập trung đậm đặc các quần thể di tích tưởng niệm thời kỳ An Dương Vương được coi là vùng “lõi”, đã được xác định cần ưu tiên tối đa bảo tồn, phát huy khai thác giá trị cốt lõi của Khu di tích; còn phân vùng “trung” là từ thành Trung đến vùng Lõi thì ưu tiên cải tạo và chỉnh trang khu dân cư, gìn giữ cấu trúc định cư truyền thống, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định và nâng cao chất lượng sống khu dân cư; phân vùng “ngoại” từ hào thành Ngoại vào đến vùng Trung ưu tiên bảo tồn, phát triển khai thác môi trường sinh thái.      “Thực tế Thành cổ không có chủ. Đây là nguy cơ dẫn tới hủy hoại di tích lịch sử đặc biệt quan trọng này”. PGS.TS Nguyễn Văn Huy.        Cách hiểu và định giới như vậy là một sai lầm, “khi anh quan niệm đó là lõi quan trọng nhất thì những khu vực bên ngoài là không phải lõi – thì kém quan trọng hơn ư? Mà toàn bộ ba vòng thành và hào đều chính là lõi, nếu Thành Nội có tuổi đời là 2.300 năm, thì các thành và hào còn lại cũng có tuổi đời bằng Thành Nội, có vai trò bình đẳng như nhau trong một cấu trúc chỉnh thể”. PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn và Phát huy giá trị di sản thuộc VUSTA nói.  Xác định sai giá trị của Cổ Loa đã dẫn tới lỗ hổng về quản lý nhà nước. Trong bài viết trước, chúng tôi đã phân tích khoảng trống trong quản lý những đoạn thành hơn 2.300 năm tuổi sót lại đến nay, còn chưa được xác định một cách rõ ràng và hợp lý. PGS.TS Nguyễn Văn Huy đã nhận định “Thực tế Thành cổ không có chủ. Đây là nguy cơ dẫn tới hủy hoại di tích lịch sử đặc biệt quan trọng này”. Do đó, theo ông, để “xác định sổ đỏ cho thành và hào”, tức là phải xác định mốc giới về pháp lý, quyền sở hữu, làm bản đồ chi tiết 1/500, trên cơ sở đó mới xác định “đâu là di tích, đâu là thành và hào cần phải bảo vệ”, cần bắt đầu từ vòng Thành Ngoại, nơi vẫn còn nguyên vẹn hơn so với Thành Trung, Thành Nội và gần như không có nhà cửa dân sinh, sau đó tới đo đạc và phân giới ở vòng Thành Trung và Thành Nội. Mấu chốt để bảo vệ di sản là giải quyết những vấn đề này.    Theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, cần làm gấp việc phân giới, đo đạc để xác định đâu là thành, hào để bảo tồn. Trong ảnh: Một góc vòng thành Trung và hào nước của Thành Trung (bìa trái) đều đang được người dân canh tác (trồng cây lưu niên lên Thành Trung và trồng lúa hoặc hoa màu lên hào nước). Ngoài ra, theo ông, trong tương lai, nếu làm du lịch sinh thái, thì con đường (bìa phải) rất thuận tiện cho du khách ngắm được trọn vẹn vòng thành và cảnh quan của Cổ Loa. Ảnh: Bảo Như.    Việc này cần được TP Hà Nội giao cho đơn vị xây dựng quy hoạch chi tiết 1/500 của Cổ Loa thực hiện ngay, nếu để chậm trễ ngày nào thì ngày đó các vòng thành sẽ bị hủy hoại, mà thực trạng hiện nay là vòng Thành Nội bị phá hủy rất nhiều. Tuy nhiên, muốn xác định được các tiêu chí cho toàn bộ hoạt động phân giới, cắm mốc trên, nhất thiết phải có cách tiếp cận liên ngành, với sự tham gia góp ý về mặt chuyên môn của các nhà sử học, nhà văn hóa học, các đơn vị làm phát triển cộng đồng, để cùng bàn bạc và xác định cho đơn vị thực hiện quy hoạch chi tiết các ranh giới. “Chứ một mình ban quản lý di tích, chỉ một phía các nhà nghiên cứu lịch sử, hay nghiên cứu văn hóa như tôi cũng không thể xây dựng tiêu chí một cách toàn diện được”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói.  Không để người dân – chủ thể của di sản ở “bên lề” bảo tồn  Song song với quá trình xác định và phân giới các khu vực cần bảo tồn, mà người dân và các doanh nghiệp ở Cổ Loa phải tuân thủ (theo luật Di sản, tất cả các vùng được khoanh để bảo vệ phải được giữ nguyên trạng về mặt bằng và không gian), thì cần phải tìm giải pháp phát triển du lịch bền vững. “Làm thế nào để người dân sống với di sản? hầu như chẳng ai nghĩ tới điều này cả”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy trăn trở và cho rằng, cần phải tìm cách để người dân vừa bảo tồn, vừa làm du lịch dựa trên “vốn” di sản này. Tuy nhiên, liệu đây có phải là một mơ ước xa xỉ trước thực tế, người dân vẫn đang quay lưng với di sản, còn du lịch tại đây chưa hề phát triển được gì ngoài những đợt du khách tới theo mùa lễ hội. Khi chúng tôi tới thôn Chùa, xã Cổ Loa, người dân trong thôn cho biết rằng, họ cũng chỉ biết sơ sơ là chính phủ đã có dự án phát triển du lịch ở Cổ Loa, nhưng hầu như “vẫn chưa có động tĩnh gì”.  Việc người dân tỏ thái độ thờ ơ với các hoạt động bảo tồn di tích, cho rằng đó là “việc của Ban quản lý chứ không phải việc của chúng tôi”, hay tới mức xây dựng các công trình lấn chiếm, phá nhiều đoạn thành đất và hào có căn nguyên từ đâu? Quay trở lại hai mươi năm trước, chính người dân nơi đây là những người bảo tồn di sản, như ông Lê Viết Dũng, Phó ban quản lý (phụ trách) khu di tích Cổ Loa cho biết, “nếu không còn người dân sống thì khu di tích này đã biến sang hình thái khác từ lâu rồi, nói một cách sòng phẳng và công bằng là nếu không có dân thì di tích không giữ được đến bây giờ”. Vẫn chính những con người Cổ Loa đó, vì sao lại thay đổi?  Bởi vì “người dân ở đây không được lợi gì từ việc bảo tồn và phát triển du lịch như hiện nay cả”, theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy. Còn ở phạm vi rộng hơn, “chúng ta đang bảo tồn di tích bằng một tư duy từ trên xuống. Nếu nhìn từ trên xuống, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy lợi ích của mình, lợi ích kinh tế hoặc chính trị mà không nhìn thấy lợi ích và những vấn đề của người dân. Nếu từ dưới lên thì lại khác, khi đó chính quyền sẽ hiểu ra vấn đề của người dân ở đâu, còn người dân cũng sẽ hiểu được mình cần làm gì để bảo tồn và phát triển du lịch, và được hưởng lợi gì”, TS. Nguyễn Thị Hậu, Phó tổng thư ký Hội khoa học Lịch sử Việt Nam nhận xét.  Nhìn vào các quyết sách để phát triển gắn với bảo tồn di sản Cổ Loa, vai trò mang tính quyết định của nhà nước đã được xác định, “trong các quy hoạch được Thủ tướng chính phủ phê duyệt đều có định hướng, giải pháp… Và UBND thành phố Hà Nội có trách nhiệm thực hiện”, như TS. Nguyễn Thế Hùng, Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trả lời chúng tôi. Nhưng chưa kể tới việc còn nhiều khoảng trống về quản lý và phối hợp giữa các bên (như chúng tôi cũng phân tích trong loạt bài này), thì những định hướng này vẫn đang chỉ “đi một chân”, mà thiếu một “chân” quan trọng, đó là người dân – chủ thể của di sản. Người dân đang sống trong di sản không được đề cập vào trong các quy hoạch với tư cách một “chủ thể” của di sản, có quyền ra quyết định, quyền tham gia vào các quyết sách có tác động lớn, thậm chí có thể thay đổi hẳn cấu trúc cộng đồng mà chỉ được nhắc tới một cách “bị động”.  Việc “đánh thức” di sản cần có chính sách, quy hoạch của nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp. Nhưng làm thế nào để những chủ thể văn hóa tham gia được vào các khâu này và tự quyết định được số phận của cộng đồng mình? Chỉ có như vậy mới tránh được những mâu thuẫn xung quanh quá trình phát triển các khu du lịch. Bởi vì đã có nhiều bài học, khi các nghiên cứu của UNESCO chỉ ra rằng, không chỉ ở Việt Nam, mà tại nhiều nước đang phát triển khác, hầu hết người dân địa phương không hưởng lợi, mà chỉ có các tập đoàn tư nhân hoặc quan chức. Thậm chí, ngay cả khi có một chiến lược phát triển du lịch và định hướng đào tạo cho người dân tham gia bảo vệ di sản, thì vẫn không thu hút được chính người dân tham gia bảo vệ di sản vì người dân không nhìn thấy lợi ích đủ lớn.    Người dân đang phơi và thu lúa ngay bên cạnh đền của thôn Chùa. Nhịp sống thường ngày ở Cổ Loa là điểm nhấn hấp dẫn khách du lịch, cho thấy đây thực sự là một “di sản sống”. Ảnh: Bảo Như.  Để khắc phục vấn đề này, UNESCO đã đưa ra hướng dẫn Quản lý du lịch tại các khu di sản1, trong đó nêu rõ bất cứ chương trình du lịch bền vững nào cũng cần sự tham gia của những người có lợi ích, hoặc các bên quan tâm gồm các cơ quan chính phủ, các tổ chức nghiên cứu bảo tồn di sản, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các nhà kinh doanh bất động sản và các cộng đồng địa phương. Yếu tố thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng chính là xây dựng lòng tin: chính quyền phải công khai thông tin về chính sách phát triển, tương tác với người dân và cam kết thực hiện. Cách thức hợp tác có hiệu quả chính là sử dụng phương pháp Đánh giá có sự tham gia của người dân nông thôn (PRA) cho phép người dân địa phương cất tiếng nói, mô tả về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của họ. PRA có thể tạo điều kiện dễ dàng cho việc trao đổi thông tin không chính thức giữa chính quyền, các nhà nghiên cứu, nhân viên NGO và người dân. Dựa trên các thông tin đó, nhà nghiên cứu (là các nhóm nghiên cứu liên ngành chủ yếu gồm nhân học, khoa học phát triển, lịch sử, nhà nghiên cứu chính sách, nhà kinh tế, môi trường) đưa ra các phương án tư vấn, giúp chính quyền hoạch định chính sách phù hợp với quyền lợi của chủ đầu tư và người dân địa phương. Điều quan trọng nhất, là những kế hoạch này phải có sự tham gia ngay từ đầu của người dân, thay vì công bố các dự thảo kế hoạch quản lý để lấy ý kiến công chúng (như cách làm hiện nay, và chúng ta vẫn đang tin rằng đó là cách làm có sự tham gia của người dân), những người xây dựng kế hoạch cần bắt đầu bằng việc cùng người dân xác định xem họ cần cái gì, và một di sản có thể đem lại lợi ích gì. Toàn bộ quy trình trên cần sự tư vấn của các nhà nghiên cứu phát triển, chứ cán bộ làm chính sách hiện nay chưa được đào tạo để thực hiện những việc này.  Quay trở lại Cổ Loa, bà Nguyễn Thị Lưu, người trông coi ngôi đền của thôn Chùa đã 20 năm, kể về việc bà và những người dân Cổ Loa tỏ thái độ quay lưng với những việc “của” ban quản lý khu di tích, nhưng mặt khác lại đầy lòng tự hào khi kể cho chúng tôi nghe về đoàn chèo, tuồng góp của thôn Chùa đã tham gia vào các cuộc biểu diễn đón du khách vào mùa xuân như thế nào, bà có khả năng hướng dẫn, đón khách du lịch muốn đi tham quan làng ra sao. Rõ ràng, người dân muốn và sẽ tham gia vào quá trình bảo tồn cũng như phát huy giá trị di sản, nếu được đánh thức về giá trị di sản, được tham gia và hưởng lợi.  Tuy nhiên, vấn đề là lãnh đạo TP Hà Nội có muốn và quyết tâm làm hay không, “muốn Cổ Loa phát huy được giá trị của mình, lãnh đạo thành phố phải đổi mới, quan tâm thật sự và thúc đẩy cổ loa trở thành điểm du lịch sáng giá nhất của thủ đô” PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói. Nếu không, “hôm nay chúng ta đang nói về vấn đề của Cổ Loa, nhưng thực ra nó đã là một căn bệnh trầm kha, đã tồn tại từ hai mươi năm trước. Nếu vẫn tiếp tục như hiện nay, thì hai mươi năm nữa cũng không có gì thay đổi” ông nói thêm. Và lúc đó còn gì để bảo tồn và làm “vốn” cho phát triển bền vững, như dự định tốt đẹp và đầy hi vọng trong các quyết định quy hoạch của Chính phủ về Cổ Loa?  ——————  Tham khảo:   1Arthur Pedersen, Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu Di sản thế giới, UNESCO, 2002.  Các mốc thời gian ra chính sách với bảo tồn và phát huy giá trị di tích của Cổ Loa:   1962: Được công nhận là di tích quốc gia.  2002: Có quyết định về việc phê duyệt chi tiết khu vực di tích Cổ Loa của UBND TP Hà Nội  2012: Có Quyết định Về việc phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa của Thủ tướng Chính phủ và được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.  2015: Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thành Cổ Loa của Thủ tướng Chính phủ.  Hiện nay: Vẫn đang chờ quy hoạch chi tiết 1/500.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cần nhiều não cho một nền công nghiệp nông nghiệp      Có lần ông Lý Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT công ty gốm sứ Minh Long, lấy làm tiếc: “Việt Nam toàn món ăn ngon, nhưng không đóng gói được.” Ông nêu ví dụ như cá lóc nướng trui.      Bà Võ Thị Cúc (ấp Long Trị, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh) đã mày mò để biến trái bần hoang dã thành đặc sản (bột lẩu và mứt) bán trong và ngoài nước.  Quả thật, ẩm thực Việt Nam là một thế mạnh, rất mạnh. Nhưng trừ những người đã đến Việt Nam, chẳng mấy ai biết đến cái thế mạnh ấy. Người trong nước cũng chẳng thể đem cái thế mạnh ấy ra ngoài nước. Nhiều người nói: “Đấy là chuyện thiếu não”. Nhưng lại có người đặt ra vấn đề: “Đóng gói rồi biết bán cho ai?”  Trong khi đó, người Nhật lại quan tâm đến một số cái ngon trong ẩm thực Việt Nam, và họ đem những cái ngon ấy “đóng gói” để lưu thông trên chính thị trường của họ. Ông Nguyễn Phụng Hoàng, cháu nội bà Giáo Khỏe, người dựng thương hiệu mắm nổi tiếng ở kinh đô mắm Châu Đốc, cho biết: “Người Nhật đã đạt được công nghệ biến nước mắm thành một loại gel và đóng vào ống giống như wasabi-mù tạt. Khi ăn chỉ cần nặn ra và pha với nước là có được thứ nước mắm đạt 90% so với nước mắm thật.” Nghe đến đó tôi lặng người. Nên chuyện thừa tiến sĩ mà thiếu não rõ ràng không sai. Hiện nay, qua hợp tác làm ăn với Nhật, công ty của ông Hoàng cũng có những sản phẩm mắm chưng dưới dạng bột đóng gói.  Chẳng là người miền Tây và dân Sài Gòn thường rất hảo mắm chưng – dùng con mắm bằm hoặc xắt hột lựu, đem trộn với trứng, thịt, nấm mèo, hành hoặc củ nén bằm rồi đem hấp cách thủy. Con mắm mỗi lần muốn ăn phải cất công ra chợ. Có khi có loại này mà không có loại kia, trong khi muốn món mắm chưng ngon phải có một vài loại mắm như mắm sặt, mắm trèn, mắm lóc. Hiện nay, người Nhật đã giúp cho công ty ông Hoàng và Viện nghiên cứu thủy sản II sản xuất con mắm dưới dạng bột, chỉ cần cho các thứ trứng, thịt, v.v. vào là có thể chưng. Nhưng chuyện đóng gói này mới nửa vời. Làm sao có thể đóng gói toàn bộ một chén mắm chưng, lúc đó mới có thể tính đến bán hàng trên amazon.com.  Dưa chua Hàn Quốc, sushi Nhật đều có bán trên amazon.com, nhưng đặc sản ẩm thực – thế mạnh địa phương của Việt Nam còn chưa được ngành tiếp thị địa phương vực lên và bán cái tinh hoa, thay vì chạy theo số lượng bán gạo thô với một giá rất bèo. Kiểu xuất khẩu gạo với sản lượng cao vượt bậc chỉ là bóc lột tài nguyên của đất mà không tính thứ tài nguyên ấy vào vốn. Chỉ là hủy hoại môi trường.  Những cái não làm chính sách lại gây ngăn trở cho những người sản xuất gạo ngon, tính chuyện làm thương hiệu gạo Việt và xuất khẩu. Điều kiện chính sách hiện nay đã giết chết thương hiệu gạo do những công ty nhỏ và vừa xây dựng.  Từ thời Tây còn ở miền Nam, nhà văn Sơn Nam đã nói đến chuyện bên Tây đã thuộc được da rắn ri voi. Có một má chín (comprador) từ Singapore sang Việt Nam tìm xuống Gò Quao, Kiên Giang mua da rắn. Đến nay rắn ri voi chưa được nuôi rộng rãi vì chưa ai tính đến việc thuộc da chúng để đẩy giá rắn lên đủ lời khuyến khích người dân nuôi. Vừa bán thịt, vừa bán da. Nhờ da rắn ri voi có thể phát triển ngành công nghiệp thời trang phụ trợ.  Nói chung, Việt Nam chỉ có thể mạnh lên từ nông nghiệp bằng cách động não phát triển công nghệ nông nghiệp và mở ra một viễn cảnh mới – chất lượng thay vì số lượng – của một ngành công nghiệp nông nghiệp.  Chúng ta không thể sản xuất gà công nghiệp với giá thành thấp bằng nông dân Mỹ, thế mạnh chúng ta là động não để phục tráng các giống gà như gà kiến chẳng hạn – con gà còn giữ được ít nhiều gene của gà rừng, thịt ngon. Những con gà được nuôi theo quy mô nhỏ, “bán thâm canh” để chúng sống nhiều chất tự nhiên hơn. Rồi bán với giá cao hơn gà công nghiệp. Vì con gà đã được nuôi dưỡng trong môi trường tự nhiên, ngày càng ít và có thể ngưng hẳn việc sử dụng kháng sinh. Những điều đó cũng đòi hỏi não tính toán.  Cũng thế chúng ta không thể sản xuất thịt heo, thịt bò với giá thấp hơn các nước phương Tây. Hiện nay loại này đang nhập ồ ạt vào Việt Nam. Kể cả thịt trâu nhập từ Ấn Độ được ghi thịt bò bán với giá gian lận thương mại. Nông dân Việt Nam không thể nuôi con heo con bò cạnh tranh với thịt ngoại nữa rồi. Chỉ còn con đường duy nhất là tuyển lại các giống heo, bò ngon, sức đề kháng mạnh, đưa vào nuôi trên những vùng xa, vùng cao, cách xa các khu dân cư. Đó là một thị trường ngách của heo sạch, bò sạch.  Một chủ quán bán thức ăn tây trên đường Lê Thị Riêng nói với tôi rằng, Tây rất khoái ăn thịt bò Việt Nam, vì thịt bò ta đặc biệt thơm mùi sữa. Đó là một ưu điểm cần tận dụng khai thác.  Về giáo dục, rất ít học sinh được định hướng để đi vào ngành công nghiệp nông nghiệp đang là xu hướng có thể sống còn của kinh tế nước Việt.  Hiện nay, may mắn là ở miền Tây, với sự năng động của nông dân trước thời tiết biến đổi, hạn hán nhiều, nước bị chặn nguồn, diện tích lúa đang được giảm xuống để chuyển qua xen canh kiểu lúa-tôm, lúa-sen. Các giống lúa chịu mặn cũng đang được nghiên cứu thử nghiệm. Các hệ thống quan trắc nước mặn và hệ thống công nghệ canh tác ướt khô xen kẽ đã được thiết kế để giảm phát thải khí nhà kính và dữ liệu được tải lên đám mây với sự trợ giúp của internet of things, người dân mua dịch vụ chỉ cần chạy một ứng dụng trên SmartPhone là có thể biết được độ mặn.  Đặc biệt, là xu hướng sản xuất sạch và minh bạch, có thể truy cập nguồn gốc đang nổi lên để thích ứng với sự chọn lựa của người tiêu dùng và nuôi dưỡng lại môi trường.  Philip Kotler cũng thừa nhận về ẩm thực Việt Nam. Bệ đỡ của ẩm thực là nông nghiệp. Tăng hàm lượng công nghệ để gia tăng giá trị sản vật sau thu hoạch, và đóng gói, mới có thể biến Việt Nam thành “nhà bếp của thế giới” như nhận định của vua tiếp thị Kotler.    Author                Khởi Thức        
__label__tiasang Cần phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế      Để những người có chức danh giáo sư, phó giáo sư thực sự là những giảng viên có thành tích, uy tín cao và giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu khoa học, đào tạo từ đại học trở lên, theo tôi, một số điểm trong Dự thảo Quyết định ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư cần được thay đổi theo tinh thần phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.      Thành viên Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành cần có uy tín chuyên môn và khoa học cao.    Để tiện theo dõi, trong bài viết, các mục cần thay đổi sẽ được ghi lại toàn văn, sau đó là phần bình luận tại sao phải sửa. Và cuối cùng là phần kiến nghị sửa đổi.  Điều 7. Tiêu chuẩn chung của chức danh giáo sư, phó giáo sư  Mục 2c: Giảng viên đã có trên 10 năm liên tục làm nhiệm vụ đào tạo từ trình độ đại học trở lên tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ mà trong ba năm cuối có thời gian không quá 12 tháng đi thực tập, tu nghiệp nâng cao trình độ thì thời gian này không tính là gián đoạn của ba năm cuối.  Tiêu chuẩn này vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế là tuyển chức danh không phụ thuộc thời gian giảng dạy trước đó mà chủ yếu theo thành tích nghiên cứu (trên bình diện quốc tế có rất nhiều người được tuyển làm giáo sư mà trước đó không tham gia giảng dạy), vừa không tuyển được các cán bộ trẻ có thành tích nghiên cứu xuất sắc, đặc biệt là không thu hút được các tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài về nước làm việc.  Kiến nghị sửa đổi: Giảng viên đã có trên ba năm liên tục làm nhiệm vụ đào tạo từ trình độ đại học trở lên tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ mà trong ba năm cuối có thời gian không quá 12 tháng đi thực tập, tu nghiệp nâng cao trình độ thì thời gian này không tính là gián đoạn của ba năm cuối.  Điều 8. Tiêu chuẩn chức danh giáo sư  Mục 4: Đến năm 2019, ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: hai bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus; hoặc ít nhất một bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và  một quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới; hoặc ít nhất một bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và một bằng độc quyền sáng chế. Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn là tác giả chính và đã công bố được ít nhất một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus.  Tiêu chuẩn này quá thấp so với điều kiện bảo vệ luận án tiến sĩ ở phần lớn các nước khác là công bố hai bài báo trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI, Scopus. Tiêu chuẩn này cũng mâu thuẫn với yêu cầu đào tạo ba nghiên cứu sinh. Nếu giáo sư chỉ là tác giả chính có hai bài báo ISI/Scopus thì không đủ khả năng đào tạo tiến sĩ, dù chỉ là một người.  Với tiêu chuẩn này, báo chí quốc tế và dư luận trong nước có thể nêu vấn đề chức danh giáo sư ở Việt Nam có tiêu chuẩn thấp, không có lợi cho uy tín của Bộ nói riêng và nền khoa học Việt Nam nói chung.  Kiến nghị sửa đổi: Đến năm 2019, ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: bốn bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus; hoặc ít nhất hai bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và một quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới; hoặc ít nhất hai bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và một bằng độc quyền sáng chế. Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn là tác giả chính và đã công bố ít nhất ba bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus. Từ năm 2020, ứng viên phải có thêm ít nhất một bài báo khoa học theo quy định tại Khoản này.  Mục 7: Hướng dẫn chính ít nhất ba nghiên cứu sinh đã có bằng tiến sĩ hoặc đã có quyết định cấp bằng tiến sĩ theo quy định của pháp luật.  Trong những năm qua, đã có hiện tượng vừa có bằng tiến sĩ xong đã lo đào tạo tiến sĩ để chuẩn bị trước cho việc đăng ký chức danh giáo sư sau này. Từ đó đã tạo ra nhiều tiến sĩ “rởm”.  Quốc tế không dùng tiêu chuẩn này để phong giáo sư. Có bạn bè quốc tế coi tiêu chuẩn này của Việt Nam là ấu trĩ.  Vì vậy cần bỏ hẳn điều khoản này. Nếu cần khuyến khích đào tạo thì chỉ cần đào tạo được một nghiên cứu sinh là đủ.  Điều 9. Tiêu chuẩn chức danh phó giáo sư  Mục 4: Đến năm 2019, ứng viên là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus hoặc một quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới hoặc một bằng độc quyền sáng chế.  Tiêu chuẩn này quá thấp so với điều kiện bảo vệ luận án tiến sĩ ở phần lớn các nước khác là công bố hai bài báo trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI, Scopus.      Theo thông lệ quốc tế, khi bầu các hội đồng chuyên môn, người ta lấy phiếu tín nhiệm của các nhà khoa học, chuyên gia, những người tham gia hội đồng cần phải có uy tín khoa học cao trong cộng đồng. Uy tín khoa học dựa vào thành tựu nghiên cứu của cả sự nghiệp của một người. Lấy công bố quốc tế trong 5 năm cuối để đặt ra tiêu chuẩn cứng cho người tham gia hội đồng thì thật là ấu trĩ. Nếu như thế thì có rất nhiều người được giải Nobel sẽ không được tham gia hội đồng chuyên môn nào cả.        Kiến nghị sửa đổi: Đến năm 2019, ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: hai bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus; hoặc ít nhất một bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và một quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới; hoặc ít nhất một bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và một bằng độc quyền sáng chế. Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn là tác giả chính và đã công bố được ít nhất một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus. Từ năm 2020, ứng viên phải có thêm ít nhất một bài báo khoa học theo quy định tại Khoản này.  Mục 6: Chủ trì thực hiện ít nhất một nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ hoặc tương đương hoặc hai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.  Tiêu chuẩn này sẽ gây khó khăn đối với những người trẻ có thành tích xuất sắc vì nhiệm vụ khoa học và công nghệ không nhiều và cần có thời gian để thực hiện. Đặc biệt là tiêu chuẩn này sẽ không thu hút được các tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài về nước làm việc.  Quốc tế không dùng tiêu chuẩn này để phong giáo sư.  Kiến nghị sửa đổi: Bỏ hẳn điều khoản này.  Mục 7: Hướng dẫn ít nhất ba học viên đã được cấp bằng thạc sĩ hoặc đã có quyết định cấp bằng thạc sĩ hoặc hướng dẫn chính ít nhất một nghiên cứu sinh hoặc hướng dẫn phụ hai nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ hoặc đã có quyết định cấp bằng tiến sĩ.  Tiêu chuẩn này sẽ tạo ra áp lực đào tạo cho ứng viên, dẫn đến tình trạng thạc sĩ kém chất lượng.  Kiến nghị sửa đổi:Hướng dẫn ít nhất hai học viên đã được cấp bằng thạc sĩ hoặc đã có quyết định cấp bằng thạc sĩ hoặc hướng dẫn chính ít nhất một nghiên cứu sinh hoặc hướng dẫn phụ hai nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ hoặc đã có quyết định cấp bằng tiến sĩ.  Điều 11. Điểm quy đổi bài báo khoa học, báo cáo khoa học và kết quả ứng dụng khoa học công nghệ  Mục 1: Một bài báo khoa học có phản biện và được công bố trên tạp chí trong nước có mã số chuẩn quốc tế ISSN được tính tối đa 1,0 điểm; nếu công bố trên tạp chí nước ngoài có mã số chuẩn quốc tế ISSN được tính tối đa 1,5 điểm. Một bài báo khoa học được công bố trên tạp chí khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus được tính tối đa 2,0 điểm. Hội đồng Giáo sư nhà nước lựa chọn, phân loại các tạp chí khoa học được tính điểm, công bố trên trang thông tin điện tử của Hội đồng và Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo.  Theo tôi, cần phân biệt tạp chí trong nước ra làm hai loại: trong và ngoài danh mục của Hội đồng chức danh nhà nước, đồng thời hạn chế việc đăng trên các tạp chí trong nước không có uy tín nhằm nâng cao chất lượng một số tạp chí được chọn lọc. Số lượng các tạp chí thuộc danh mục này cần có hạn chế. Với tạp chí nước ngoài không thuộc danh mục ISI/ Scopus nên xếp cùng loại với tạp chí trong nước thuộc danh mục của Hội đồng chức danh nhà nước.  Số tạp chí thuộc danh mục Scopus nhiều gấp ba lần so với danh mục ISI nên chất lượng tạp chí trong danh mục Scopus nhìn chung kém hơn tạp chí trong danh mục ISI.  Kiến nghị sửa đổi:Một bài báo khoa học được công bố trên tạp chí trong nước có mã số ISSN nhưng không thuộc danh mục của Hội đồng chức danh nhà nước được tính tối đa 0,5 điểm; các bài báo khoa học được công bố trên tạp chí trong nước thuộc danh mục của Hội đồng chức danh nhà nước hay trên các tạp chí quốc tế có mã số ISSN được tính tối đa 1,0 điểm; các bài báo công bố trên các tạp chí thuộc danh mục Scopus, nhưng không thuộc danh mục ISI được tính tối đa 1,5 điểm. Một bài báo khoa học được công bố trên tạp chí khoa học thuộc hệ thống ISI được tính tối đa 2,0 điểm.  Hội đồng Giáo sư nhà nước lựa chọn, phân loại các tạp chí khoa học được tính điểm, công bố trên trang thông tin điện tử của Hội đồng và Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi hội đồng ngành chỉ được có nhiều nhất ba tạp chí thuộc danh mục này.  Điều 12. Điểm quy đổi sách phục vụ đào tạo  Mục 1: Sách phục vụ đào tạo được tính điểm công trình khoa học quy đổi phải được Hội đồng khoa học do Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập và nghiệm thu. Sách phục vụ đào tạo được xuất bản từ năm 2017 trở đi phải có mã số chuẩn quốc tế ISBN và nộp lưu chiểu trước khi hết hạn nộp hồ sơ. Điểm quy đổi tính như sau:  a) Tính tối đa 2,0 điểm cho  một giáo trình.  b) Tính tối đa 3,0 điểm cho  một cuốn sách chuyên khảo.  c) Tính tối đa 1,5 điểm cho  một cuốn sách tham khảo.  d) Tính tối đa 1,0 điểm cho một cuốn sách hướng dẫn. Từ điển chuyên ngành được tính điểm như sách hướng dẫn.  Không nên tính điểm nhiều cho viết sách vì việc in sách và thẩm định sách ở Việt Nam còn dễ hơn rất nhiều so với việc có được một công bố quốc tế, gây ra tình trạng ứng viên in ra hàng loạt sách và giáo trình chất lượng rất kém, có hại cho công tác giảng dạy và truyền bá kiến thức; đồng thời việc tính điểm viết sách nên cân đối với tính điểm công bố quốc tế.  Kiến nghị sửa đổi: Sách phục vụ đào tạo được tính điểm công trình khoa học quy đổi phải được Hội đồng khoa học do Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập và nghiệm thu. Sách phục vụ đào tạo được xuất bản từ năm 2017 trở đi phải có mã số chuẩn quốc tế ISBN và nộp lưu chiểu trước khi hết hạn nộp hồ sơ. Điểm quy đổi tính như sau:  a) Tính tối đa 2,0  điểm cho một cuốn sách chuyên khảo.  b) Tính tối đa 1,5  điểm cho một giáo trình.  c) Tính tối đa 1,0 điểm cho một cuốn sách tham khảo. Từ điển chuyên ngành được tính điểm như sách tham khảo.  d) Tính tối đa 0,5 điểm cho một cuốn sách hướng dẫn.  Điều 26. Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành  Mục 3: Có uy tín chuyên môn và khoa học cao, là nhà khoa học đầu ngành thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhiệm.  Hội đồng ngành và liên ngành là yếu tố quyết định đối với việc bầu chọn ứng viên chức danh nên phải là những người có uy tín cao trong cộng đồng các nhà khoa học cùng ngành/liên ngành. Đây là điều kiện tiên quyết để có thể chọn được những người có trình độ và công tâm tham gia hội đồng. Vì vậy cần bổ sung việc lấy phiếu tín nhiệm của cộng đồng để làm căn cứ đề xuất cho Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành ở nhiệm kỳ trước và Tổng thư ký Hội đồng Giáo sư nhà nước.  Kiến nghị sửa đổi: Có uy tín chuyên môn và khoa học cao, là nhà khoa học đầu ngành thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhiệm, được hơn 50% các giáo sư và phó giáo sư cùng ngành/ liên ngành bỏ phiếu tín nhiệm.  ————–  * Trích bài viết của GS Ngô Việt Trung – nguyên Viện trưởng Viện Toán học; đầu đề do Tia Sáng đặt.    Author                Ngô Việt Trung        
__label__tiasang Cần sớm có luật biểu tình      Thực tế bạo động liên quan tới làn sóng biểu  tình phản đối Trung Quốc vừa qua đã cho thấy tính cấp thiết của luật biểu tình đối với cả nhà nước lẫn người dân.     Từ thực tế tất yếu xảy ra  Bất ổn biển Đông gây ra bởi Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan dầu Hải Dương 981, nặng 30.000 tấn, từ đầu tháng ở địa điểm lấn sâu 80 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam, dự tính kéo dài tới tháng 8.2014. Đường ranh giới EEZ nói trên cách đảo Phú Lâm 60 hải lí, và quần đảo Hoàng Sa Việt Nam bị Trung Quốc đánh chiếm rồi tuyên bố chủ quyền 70 hải lí. Như vậy, vị trí Hải Dương 981 cũng nằm bên trong EEZ của quần đảo Hoàng Sa. Nhưng Trung Quốc không phải quốc gia quần đảo, nên dù tuyên bố chủ quyền thì đường EEZ này cũng không được Công ước Quốc tế về luận biển thừa nhận. Vị trí Hải Dương 981 cũng cách đảo Hải Nam, Trung Quốc, 183 hải lí, tức cũng nằm trong EEZ 200 hải lí của đảo này, nhưng lại cách bờ biển Việt Nam chỉ 132 hải lí, nên đã vượt quá trung tuyến phạm vào EEZ của Việt Nam. Nghĩa là dù tính toán trên cơ sở nào, chiểu theo Công ước, vị trí Hải Dương 981 cũng xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế EEZ Việt Nam.   Nhưng bất chấp, với tuyên bố trước sau như một, vị trí giàn khoan nằm trong EEZ của họ “không thể tranh cãi”, Trung Quốc từ đầu tháng tới nay đã huy động tới trên trăm tầu các loại, hải giám, hải cảnh, tàu hàng, tàu cá giả dạng bọc thép, đầu kéo, tầu chiến, tầu tên lửa tấn công nhanh kèm máy bay tuần thám hỗ trợ, bố trí thành bốn vòng bảo vệ, tấn công, khiêu khích, xua đuổi các tầu chấp pháp Việt Nam đang thực hiện chủ quyền. Vòng một ngay chân giàn khoan gồm các tàu hậu cần phục vụ, tàu kéo. Cách giàn khoan từ một đến 1,5 hải lý là các tàu vận tải và tàu hải cảnh, hải giám. Vòng thứ ba là các tàu chính phủ có tốc độ cao, trọng tải lớn. Còn vòng ngoài cùng là các tàu quân sự.   Trách nhiệm giải quyết tranh chấp chủ quyền thuộc về nhà nước, dù ở nước nào cũng chưa và không bao giờ thay thế được bằng hội đoàn hay biểu tình. Tuy nhiên, đường biên còn thuộc phạm trù tổ quốc, quê hương, dân tộc mang ý nghĩa vô giá thiêng liêng, nên hành động Trung Quốc không thuần túy chỉ mang tính pháp lý vi phạm Công ước Quốc tế mà đã đánh thẳng vào lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, lương tri của mọi người Việt ở bất cứ đâu, hiện quốc tịch gì, giai tầng nào, tất yếu gây nên làn sóng biểu tình sôi sục khắp nhiều tỉnh thành, cả trong lẫn ngoài nước, rộng lớn chưa từng có xưa nay, cho dù nơi đó có luật biểu tình hay không. Thực tế đó khẳng định chân lý thời đại: biểu tình là “quyền tạo hoá của mỗi con người” không phụ thuộc thể chế nhà nước, luôn tồn tại, câu hỏi có chăng chỉ là sẽ xảy ra ở đâu và bao giờ? Thừa nhận và bảo đảm nó thì mang lại hiệu qủa tích cực. Phủ nhận, cấm đoán hậu quả có thể khôn lường, hệ lụy đổ xuống cả người biểu tình lẫn dân chúng và nhà nước.    Lý thuyết và thực tế về biểu tình và xã hội dân sự     Khái niệm phổ quát về “biểu tình” được hiểu là một sự “đồng tình” tập hợp “nơi công cộng” để “biểu đạt” chính kiến tư tưởng tình cảm của họ, thường xảy ra khi xuất hiện chính sách hay sự kiện nào đó, nhằm ủng hộ hay phản đối nó. Vì vậy thực tế ở những nước thừa nhận biểu tình với nội hàm trên, không bao giờ do nhà nước tổ chức. Đó chính là dấu hiệu đầu tiên phải có của biểu tình. Bởi nhà nước có trách nhiệm và đủ quyền lực để ban hành và triển khai chính sách, luật pháp; không cần và không thể giải quyết bằng biểu tình vốn mang đặc tính đám đông. Lịch sử thế giới đã chứng minh khi nhà nước sử dụng biểu tình thay thế cho pháp luật vốn được thực hiện bởi chế tài, chứ không phải bởi đám đông, hậu hoạ sẽ như thế nào. Cuộc biểu tình chống người Do Thái do Đức Quốc xã tổ chức diễn ra suốt đêm mồng 9 rạng ngày 10/11/1938, đã giết chết 400 người, phá hủy 1.400 nhà thờ, xí nghiệp, nhà ở, nghĩa điạ Do Thái, khởi đầu cho chính sách Đức Quốc xã sử dụng lò thiêu, trại tập trung, diệt chủng tới chừng sáu triệu người Do Thái, được đông đảo dân chúng Đức lúc đó cuồng tín ủng hộ.   Biểu tình là tập hợp, nhưng không do nhà nước, vậy tất yếu phải có ai đó khởi xướng, tổ chức không với danh nghĩa nhà nước. Đó là dấu hiệu thứ hai, biểu tình phải có. Trong thế giới hiện đại, gánh vác sứ mạng đó không tổ chức nào khác ngoài hội đoàn độc lập với nhà nước, hoặc do một cá nhân hay một nhóm người tự tập hợp khi sự kiện xảy ra. Những tổ chức và hoạt động như vậy thuộc phạm trù xã hội dân sự, hay xã hội công dân được khoa học mô hình hoá thành khoảng không gian công cộng nằm giữa ba vòng tròn ngoại tiếp nhau, vòng tròn nhà nứơc (hoạt động bằng quyền lực), thị trường (hoạt động bằng trao đổi, tiền bạc, kinh tế) và gia đình (hoạt động bằng tình cảm, quan hệ riêng tư). Biểu tình nằm trong không gian xã hội dân sự đó nên không thể do nhà nước tổ chức; còn nếu do nhà nước tổ chức thì đó không phải biểu tình theo nghĩa phổ quát mà là một hoạt động của nhà nước, cho dù vẫn gọi là biểu tình.   Biểu tình là hình thức biểu đạt chính kiến tư tưởng tình cảm nhưng không phải chung chung hay đối với cá nhân cụ thể, mà đối với một chính sách nào đó của nhà nước hay trước một sự kiện nào đó xảy ra mà họ muốn xã hội nhà nước quan tâm giải quyết. Đó chính là dấu hiệu thứ ba của biểu tình. Luật biểu tình nhiều nước quy định chi tiết dấu hiệu này, như không được hô khẩu hiệu hay trưng biểu ngữ nêu tên một cá nhân nào đó, còn nếu người đó phạm tội phải chống thì đã có luật hình sự chế tài, không phải việc của biểu tình. Biểu tình ở ta bùng phát do hành động Trung Quốc vi phạm chủ quyền, nên nội dung “biểu đạt” chỉ giới hạn trong phạm vi phản đối hành động đó, đồng thời với tư cách chủ nhân đất nước thể hiện “chính kiến” của mình đòi và ủng hộ nhà nước phải có biện pháp bảo vệ chủ quyền. Lấy dấu hiệu trên làm thước đo, cho thấy nhiều băng clip quay cảnh biểu tình vừa qua được truyền đi khắp thế giới có nhiều khẩu hiệu hô hào vượt ra ngoài giới hạn trên, làm giảm ý nghĩa phản kháng Trung Quốc xâm phạm mà biểu tình nhắm tới, gây ngỡ ngàng khó hiểu trong giới truyền thông quốc tế.  Là một “tập hợp” cùng “đồng tình”, biểu tình (tập hợp trong thời gian ngắn định trước) hay hội đoàn độc lập (tập hợp vô thời hạn, không định trước) đều bao gồm những con người tự nguyện không vì chính cá nhân họ. Đó là dấu hiệu thứ tư của biểu tình, hội đoàn, được thế giới trân trọng tới mức như ngày 1/5 hay 8/3 chính là thời điểm biểu tình cao đỉnh hồi đó, ngày nay được thế giới long trọng kỷ niệm. Dẫn xuất từ dấu hiệu này là cả hội đoàn lẫn biểu tình, cơ cấu tổ chức không theo nguyên tắc hành chính cấp trên ra lệnh cấp dưới chấp hành, mà chỉ là sự thoả thuận phân công công việc, tự nguyện thực hiện. Tổ chức khác đi, tôn chỉ mục đích tốt đẹp của hội đoàn hay “biểu đạt ý kiến” về vấn đề biểu tình nhắm đến, chỉ còn là phương tiện phục vụ cho động cơ người cầm đầu. Do biểu tình là tự nguyện, đồng tình, nên không ai được phép mua chuộc hay cưỡng bức ai tham gia, vốn thuộc hành vi hình sự, do luật hình sự chế tài. Tuy nhiên luật nhiều nước cũng phân định rõ hành vi ủng hộ, phục vụ biểu tình như cung cấp miễn phí đồ ăn thức uống phương tiện đi lại, hay kêu gọi, vận động… thuộc luật biểu tình điều chỉnh, không thuộc luật hình sự.   Dấu hiệu thứ năm của biểu tình là tổ chức nơi công cộng, không được diễn ra tại trụ sở công quyền, doanh nghiệp, nhà dân, đúng với bản chất của biểu tình thuộc xã hội dân sự nằm ngoài vòng tròn kinh tế, nhà nước, gia đình. Ngay cả khái niệm “nơi công cộng” cũng phải định nghĩa, luật pháp nhiều nước đưa ra những chỉ giới cụ thể để cấm biểu tình xâm phạm vào những chỗ cần tránh tập trung đông người, như nghĩa điạ, di tích, tiền sảnh nhà quốc hội, chính phủ… Làn sóng biểu tình phản đối Trung Quốc vừa qua, nhiều nơi đã vi phạm dấu hiệu này khi họ tràn vào các doanh nghiệp, nhà ở vốn không liên quan gì tới mục đích biểu tình nhắm tới.  Dấu hiệu cuối cùng cực kỳ quan trọng quyết định quyền biểu tình liệu có trở thành thực tế hay không, ngay cả khi được hiến định. Đó là không được sử dụng bạo lực – dấu hiệu phân biệt biểu tình khác với bạo lực đường phố thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hình sự, cũng khác với cách mạng bạo lực thuộc phạm trù chính trị xảy ra một khi “bên trên (nhà nước) không thể tồn tại như vậy và bên dưới (nhân dân) cũng không chịu được như vậy – Lê-nin”. Vì vậy khi nói biểu tình là đã mặc định ôn hoà, bởi không có khái niệm biểu tình bạo lực.   Khi thiếu luật biểu tình    Tuy nhiên, biểu tình dù được cho là quyền cơ bản thiêng liêng tới đâu, thì cũng khó có thể trở thành hiện thực, bởi biểu tình bao giờ cũng là một tập hợp người, khó tránh khỏi quy luật “hội chứng đám đông” dẫn tới bạo lực vượt ra ngoài khả năng phòng tránh của chính người biểu tình, nếu không được bảo đảm tiền đề pháp lý loại trừ hội chứng đó. Lý giải tại sao ở những nước thừa nhận và bảo đảm quyền biểu tình đều có luật biểu tình, xuất phát từ nguyên lý nhà nước pháp quyền được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhắc tới trong Thông điệp đầu năm, “nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép (tức bị chế tài, giới hạn quyền lực), còn người dân được quyền làm tất cả, chỉ trừ những gì luật cấm”, chứ không phải ngược lại, người dân bị cấm tất cả trừ khi có luật cho phép. Nói cách khác, nếu thiếu luật thì nhà nước bó tay không biết được phép làm gì, còn người dân hoàn toàn tự do không bị cấm. Do đó, rốt cuộc nhà nước cần luật biểu tình, chứ không phải người dân, và nếu vì thiếu nó dẫn tới biểu tình xảy ra bạo lực, thiệt hại, thì nhà nước có chức năng làm luật phải chịu trách nhiệm đó.     Chờ tới bao giờ?   Khác với những nước biểu tình trở thành văn hoá thường nhật, biểu tình ở ta xưa nay mang đặc thù riêng, chủ yếu do các hội đoàn nằm trong hệ thống chính trị xã hội đứng ra tổ chức, nên cả người biểu tình lẫn cơ quan chức năng nhà nước đều thấy không cần thiết luật biểu tình, bởi đã có nhà nước trực tiếp bảo đảm, và thực tế chưa bao giờ xảy ra bạo động cả để đặt ra đòi hỏi cần thiết bức bách. Hội nhập với thế giới hiện đại, biểu tình ở ta được hiến định là quyền cơ bản; người dân ý thức được quyền biểu tình của cá nhân họ. Biểu tình phản đối Trung Quốc vì vậy tất yếu đã xảy ra. Khi bạo lực chớm phát, do thiếu luật biểu tình cơ quan chức năng không thể tự động hành xử mà buộc phải báo cáo chờ chỉ đạo. Đó chính là thời gian vàng ngọc bị mất đi lẽ ra đủ để ngăn ngừa bạo lực bùng phát. Lý giải tại sao thiệt hại lớn tới mức đó, mặc dù lực lượng cảnh sát an ninh ở ta chắc không thua kém gì các nước. Trong khi những cuộc biểu tình quy mô như thế ở những nước như Đức, bạo động có xảy cũng không thể tới tầm đó, được dập tắt kịp thời. Bởi thông thường lực lượng cảnh sát được huy động chốt chặn các điểm nút biểu tình đi qua, mở đầu khoá đuôi cho đoàn biểu tình, và có mặt bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu chỉ cần hành vi bạo lực xuất hiện được thông báo tới, không cần bất cứ một mệnh lệnh nào từ cấp cao nhất cả. Tất cả đều do luật biểu tình điều chỉnh. Và cảnh sát, nội chính phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu để xảy ra bạo động, hay thiệt hại, do không tuân thủ luật định. Toà án sẽ phán quyết nếu có tranh chấp giữa cơ quan công lực với người biểu tình phải viện tới toà. Cách đây mấy năm, một vụ biểu tình cực hữu đăng ký trước với thành phố Leipzig, bị thành phố từ chối với lý do số lượng người biểu tình dự tính quá sức bảo vệ của lực lượng cảnh sát sẽ dẫn tới bạo động, bị họ viện tới toà án chống lại. Toà đứng về phiá biểu tình phán, nhà nước không thể vì năng lực của mình mà cấm quyền cơ bản của công dân, nếu không đủ thì phải viện tới các tỉnh thành khác hỗ trợ.  Do tầm quan trọng của nó, luật biểu tình đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề xuất xây dựng cách đây ba năm, giao Bộ Công an soạn thảo, nằm trong dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của QH khóa XIII. Lúc đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu khẳng định, đa số các ý kiến đều “đồng tình” phải nhanh chóng xây dựng luật này vì đây là vấn đề thực tế đòi hỏi. Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh, đặt vấn đề thẳng thắn, không nên “sợ”, né tránh thực tế cuộc sống, quy thành vấn đề nhạy cảm, “cần sớm” có luật để người dân có thể biểu tình đúng luật.   Cơ quan hành pháp đã đề xuất, soạn thảo, Quốc hội “cơ quan quyền lực cao nhất” đã “đồng tình”, và thấy rõ “cần sớm”, nhưng ba năm đã trôi qua, thiệt hại to lớn do thiếu luật nay đã được thực tế kiểm chứng, vậy cả cơ quan công lực lẫn người dân và nhất là những người bị thiệt hại có quyền đặt câu hỏi với các đại biểu thay mặt mình, “sớm” tới bao lâu nữa mới có thể có luật biểu tình?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thẩm định quốc tế cho chức danh GS, PGS      Ở cương vị một giáo sư học tập và làm việc ở nước ngoài đã 46 năm, tôi đã tham gia rất nhiều hội đồng chức danh giáo sư và phó giáo sư của Đại học Toronto, và cũng thẩm định nhiều hồ sơ chức danh ở những nước khác, tôi xin đóng góp những ý kiến sau đây.      GS.TS Lương Văn Hy – nguyên Trưởng khoa Nhân học, Đại học Toronto, Canada.  1. Nếu học thuật và đào tạo ở Việt Nam muốn hội nhập khu vực và quốc tế mạnh hơn và để tăng chất lượng đào tạo và nghiên cứu cho phát triển đất nước, tôi đề nghị trong việc thẩm định hồ sơ: A. nên tăng số người thẩm định công trình nghiên cứu trong hồ sơ chức danh; và B. phải có ít nhất 1/3 là thẩm định quốc tế cho chức danh phó giáo sư, và ½ là thẩm định quốc tế cho chức danh giáo sư. Hiện nay, điều 47 của Dự thảo đề cập đến khả năng có thẩm định quốc tế, nhưng không bắt buộc có thẩm định quốc tế. Nếu trong tài trợ khoa học như chương trình Nafosted, nhà nước đã đòi hỏi phải có công bố kết quả nghiên cứu trong tạp chí quốc tế và như thế là phải qua tiến trình thẩm định quốc tế, thì tại sao không đòi hỏi tương tự trong việc thẩm định hồ sơ chức danh giáo sư và phó giáo sư ? Tại Đại học Toronto nơi tôi công tác, một đại học nghiên cứu thường được xếp hạng đứng đầu Canada và thường được xếp vào 20 đại học hàng đầu của Bắc Mỹ, hồ sơ chức danh phó giáo sư (Associate Professor) cần có ít nhất sáu thẩm định từ ngoài trường về thành quả và chất lượng nghiên cứu của ứng viên, và hầu hết các thẩm định này là từ các giáo sư và phó giáo sư ở những nước khác. Hồ sơ chức danh giáo sư (Professor) tại Đại học Toronto cũng đòi hỏi có ít nhất bốn thẩm định về thành quả và chất lượng nghiên cứu từ ngoài Đại học Toronto, và hầu hết cũng là giáo sư ở những nước khác.  Trong việc mời người thẩm định những công trình học thuật của ứng viên, ở Đại học Toronto, chủ tịch hội đồng cấp cơ sở thường mời giáo sư ở những khoa được xếp vào 20 khoa hàng đầu của thế giới trong ngành của ứng viên. Nếu người thẩm định không công tác ở 20 khoa hàng đầu của thế giới trong ngành của ứng viên thì phải là một nhà khoa học nổi bật về thành tích khoa học, và chủ tịch hội đồng phải thuyết minh về lựa chọn này trong hồ sơ gửi lên trên. Tại sao lại lựa chọn những người thẩm định như thế ? Vì Đại học Toronto chủ trương là những người thẩm định tốt nhất trong một chuyên ngành thường công tác ở những khoa hàng đầu và ở những đại học hàng đầu thế giới, và họ có tiêu chuẩn cao trong học thuật. Người thẩm định phải đọc rất kỹ và phải viết rất chi tiết về những công trình khoa học của ứng viên. Một ứng viên đạt được tiêu chuẩn cao của những nhà khoa học hàng đầu cùng chuyên ngành thì mới bảo đảm là ứng viên thực sự giỏi về nghiên cứu, và mới xứng đáng với chức danh giáo sư và phó giáo sư của đại học. Để tránh thiên vị, người thẩm định không thể là người đã hướng dẫn ứng viên trong quá khứ và cũng không thể là đồng tác giả với ứng viên. (Tại Bắc Mỹ, thẩm định hồ sơ chức danh là thẩm định kín, ứng viên không biết danh tính người thẩm định mà chỉ có HĐCD biết). Dĩ nhiên, ở các đại học không phải đại học nghiên cứu và không được xếp hạng cao lắm, tiêu chuẩn chọn người thẩm định về thành quả và chất lượng công trình nghiên cứu không khắt khe bằng ở những đại học nghiên cứu có đẳng cấp. Việc này phản ảnh nguyên tắc phi tập trung trong việc phong chức danh giáo sư và phó giáo sư ở Canada và ở Mỹ.      Để phù hợp với chuẩn quốc tế, điều 53 về việc hủy bỏ chức danh cũng nên đề cập đến những trường hợp phạm tội đạo văn trong những công trình khoa học hay đào tạo.      Ở Việt Nam, nếu hầu hết các công trình nghiên cứu và đào tạo được công bố bằng tiếng Việt, nhất là trong những ngành khoa học xã hội và các ngành nhân văn, thì liệu việc thẩm định quốc tế có khả thi? Tôi nghĩ là nếu hồ sơ của ứng viên đòi hỏi phải có những bài tạp chí hay chương sách đăng ở nước ngoài, thì dù người thẩm định không biết tiếng Việt, họ cũng có thể thẩm định chất lượng dựa vào các bài và chương sách bằng tiếng nước ngoài. Hơn nữa, trong giới nghiên cứu KHXH&NV về Việt Nam, không ít nhà nghiên cứu có thể đọc thông thạo tiếng Việt, ngay cả khi tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của họ. Nếu hội đồng chức danh đưa vào tiêu chí phải có thẩm định quốc tế thì cũng nên xác định rõ là người thẩm định quốc tế phải có chức danh cao hơn ứng viên và thường công tác ở các đại học hay khoa hay viện nghiên cứu thường được xếp hạng tương đối trong các bảng xếp hạng quốc tế có uy tín về tổng thể chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo của các đại học và viện nghiên cứu. Một bảng xếp hạng như Webmetrics không phải là về tổng thể chất lượng nghiên cứu và đào tạo.  2. Tôi ngạc nhiên trước việc Dự thảo một mặt xem sách và chương sách chuyên khảo là kết quả công trình nghiên cứu khoa học (điều 2.9.b) và một mặt khác lại xếp sách và chương sách chuyên khảo vào danh mục công trình phục vụ đào tạo, và đánh đồng sách hay chương sách chuyên khảo với với các công trình phục vụ đào tạo khi tính điểm (điều 8 và điều 12 trong Dự thảo).  Trong nhiều ngành khoa học xã hội và nhiều ngành nhân văn ở Bắc Mỹ, việc in được một quyển sách hay một chương sách chuyên khảo như thế ở các nhà xuất bản có uy tín phải qua tiến trình phản biện kín, nhiều bản thảo bị từ chối, và nếu được in thì từ lúc nộp cho đến lúc được in thường mất từ hai đến ba năm ở các nhà xuất bản có uy tín. Ở các đại học nghiên cứu hàng đầu ở Bắc Mỹ, trong các ngành KHXH&NV, một chương sách chuyên khảo trong sách của một nhà xuất bản có uy tín được xem tương đương với một bài trong một tạp chí ISI, và một sách chuyên khảo ở một nhà xuất bản như thế tương đương với ba đến năm bài trong tạp chí ISI. Tôi biết là việc in sách ở Việt Nam hiện nay thường không qua tiến trình phản biện kín và dễ hơn nhiều so với ở Bắc Mỹ. Ngay cả ở Bắc Mỹ, cũng có vài nhà xuất bản thương mại xuất bản rất dễ dãi, không qua tiến trình phản biện kín, và tác giả trả tiền in ấn. Trong giới học thuật quốc tế, chúng tôi biết những nhà xuất bản nào dựa vào tiến trình phản biện kín nghiêm ngặt, và những nhà xuất bản nào xuất bản dễ dãi. Chúng tôi gọi những nhà xuất bản dễ dãi là “vanity press”, xuất bản để phục vụ cái danh hão của tác giả. Một học giả  có một chương sách hay một quyển sách ở một nhà xuất bản tiếng Anh dễ dãi như thế thì rất khó được xem là một nhà nghiên cứu nghiêm túc. Song, trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, tuy là việc xuất bản sách dễ hơn nước ngoài nhiều nhưng cũng có một số sách và chương sách rất có chất lượng. Chính trong bối cảnh vàng thau lẫn lộn trong việc in sách ở Việt Nam mà việc thẩm định quốc tế về mặt chất lượng lại càng quan trọng.  3. Tôi đồng ý với tinh thần của những đề nghị của GS. TS. Ngô Việt Trung trong bài gần đây ở tạp chí Tia Sáng. Việc đòi hỏi công bố quốc tế nhiều hơn liệu có gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu bảo vệ luận án tiến sĩ trong nước, nhất là trong các ngành KHXH&NV, khi đăng ký chức danh phó giáo sư hay giáo sư? Trong các ngành này, tôi biết có luận án tiến sĩ xuất sắc được bảo vệ trong nước hay công trình nghiên cứu rất có chất lượng được tài trợ trong nước mà kết quả có thể được công bố ở các tạp chí quốc tế có uy tín hay in trong sách của các nhà xuất bản quốc tế có uy tín. Tuy nhiên, khác với GS. Ngô Việt Trung, tôi thấy cần phải tách sách chuyên khảo ra khỏi danh mục các công trình phục vụ đào tạo. Nếu một quyển sách chuyên khảo được chứng minh là có ít nhất hai phản biện kín và rất chi tiết hay được các nhà thẩm định cả quốc tế lẫn trong nước đánh giá cao trong tiến trình xét duyệt hồ sơ chức danh giáo sư/phó giáo sư, thì sách chuyên khảo này nên được xem tương đương với ba đến năm bài tạp chí khoa học có phản biện kín, ít  ra là cho hồ sơ trong khoa học xã hội và trong các ngành nhân văn. Một chương sách chuyên khảo được chứng minh là có ít  nhất hai phản biện kín và rất chi tiết, hay được các nhà thẩm định cả quốc tế lẫn trong nước đánh giá cao trong tiến trình xét duyệt hồ sơ chức danh, cũng cần được xem tương đương với một bài tạp chí khoa học có qua phản biện kín.  4. Một băn khoăn của không ít học giả là nếu tiêu chuẩn nâng cao nữa so với Dự thảo, thì liệu các hội đồng, nhất là hội đồng cấp cơ sơ của ngành KHXH&NV, có đủ thành viên đạt chuẩn công bố quốc tế như thế hay không? Tôi nghĩ là nền học thuật ở Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập mạnh hơn với quốc tế, và có thể xem là đang ở trong thời kỳ quá độ. Trong hội đồng cấp cơ sở, nhất là ở các ngành KHXH&NV, thì số thành viên có bài ở các tạp chí ISI, Scopus, hay sách và chương sách ở các nhà xuất bản có uy tín trên thế giới có thể không nhiều. Trong bối cảnh này, việc mời các nhà khoa học khu vực hay quốc tế thẩm định hồ sơ nghiên cứu khoa học của các ứng viên là một giải pháp bổ sung cho việc thẩm định của các nhà khoa học trong nước.  5. Ngoài ra, để phù hợp với chuẩn quốc tế, điều 53 về việc hủy bỏ chức danh cũng nên đề cập đến những trường hợp phạm tội đạo văn trong những công trình khoa học hay đào tạo.    Author                Lương Văn Hy        
__label__tiasang Cần thay đổi cách đánh giá công bốkhoa học trong việc xét chức danhGS, PGS theo Quy định mới      Quy chế mới x&#233;t chức danh GS, PGS m&#224; Thủ tướng vừa ban h&#224;nh (QĐ174-2008-QĐ-TTg, ng&#224;y 31/12/2008), mặc d&#249; về mặt quy tr&#236;nh thủ tục x&#233;t duyệt c&#242;n &#237;t được đổi mới v&#224; nh&#236;n chung chưa đ&#225;p ứng kỳ vọng phải tạo sự thay đổi căn bản của giới chức KHCN cũng như GDĐT. Tuy nhi&#234;n, để b&#249; lại một số hạn chế v&#224; bất cập trong Quy chế mới n&#224;y, ch&#250;ng ta vẫn c&#243; thể cải thiện được việc n&#226;ng cao chất lượng x&#233;t bổ nhiệm GS, PGS, khi c&#243; quy định cụ thể về c&#225;ch t&#237;nh điểm c&#244;ng tr&#236;nh khoa học tại khoản 4 điều 8 trong Nghị định. Theo đ&#243;, việc t&#237;nh điểm c&#244;ng tr&#236;nh khoa học phải dựa tr&#234;n cơ sở chất lượng thực sự của c&#225;c c&#244;ng bố.     Một trong những bất cập trong những đợt xét GS, PGS trước đây là có phân biệt tạp chí quốc gia loại I, loại II nhưng lại đánh đồng giữa công bố trên tạp chí quốc gia và quốc tế, đánh đồng giữa các công bố trên tạp chí với các báo cáo Hội nghị khoa học xuất bản dưới dạng tuyển tập báo cáo (proceedings). Với cách đánh giá và cho điểm không tính đến chất lượng các công bố như trên, chúng ta đã bỏ qua các tiêu chí tối thiểu trong đánh giá KHCN và vô hình trung cũng góp phần cào           Theo như tôi thấy cách đánh giá các công trình khoa học trong việc xét duyệt chức danh GS, PGS hiện nay cũng khá uyển chuyển. Quy định nói rằng các công trình khoa học được cho từ 0 điểm đến 1 điểm. Do vậy tùy thuộc vào các thành viên hội đồng xét duyệt căn cứ vào chất lượng bài báo cho điểm, có thể cho bài báo ở SCI là 1 điểm, bài báo ở hội nghị trong nước là 0 điểm, hay ngược lại. Nhưng thực tế, tôi được nghe nói lại, các hội đồng đều cho các bài báo khoa học 1 điểm, không phụ thuộc vào bài báo quốc tế hay không. Như vậy vấn đề thuộc về con người chứ không hẳn thuộc về quy định. Quy định chi tiết thì cứng nhắc, quy định uyển chuyển thì không có tác dụng. Cái khó của nước mình là như vậy. Nhưng tôi cho rằng chuyện cho điểm này cũng không hệ trọng lắm, bởi vì theo quy định mới đây mới chỉ là yêu cầu tối thiểu, sau đấy còn có quy trình bổ nhiệm của cơ sở sở tại. Tùy theo cơ sở sở tại mà có thể có yêu cầu về công bố khoa học cao hơn, chẳng hạn yêu cầu tất cả các công bố khoa học đều phải là SCI chẳng hạn.  Điểm tôi thấy bất cập ở quy định GS, PGS là thời gian thâm niên và yêu cầu hướng dẫn nghiên cứu sinh. Các yêu cầu này đã loại bỏ những người trẻ tuổi có năng lực. Nhưng chuyện này đã bàn cãi rất nhiều rồi, cũng chẳng đi đến đâu.  Nếu mạnh dạn, các cơ sở sở tại xé rào, tự bổ nhiệm chức vụ GS, PGS của cơ sở mình theo những quy định của mình, không cần qua hội đồng xét duyệt Nhà nước, gọi đó là GS, PGS cơ sở, bao giờ đủ thâm niên thì hợp thức hóa. Nhưng chuyện này cũng chẳng biết có thể làm được không.                          Trần Minh Tiến          bằng tiêu chí “chất lượng công trình nghiên cứu”, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một nhà khoa học. Cách đánh giá này  không chỉ đã góp phần nâng đỡ 2/3 số GS, PGS không xứng đáng (như GS Hoàng Tụy đã nhận xét), mà còn bỏ sót nhiều người tài không được đứng trong đội ngũ các nhà khoa học tinh hoa của đất nước. Nay không những chúng ta cần đánh giá cao hơn – cũng có nghĩa là tính điểm cao đối với các công bố quốc tế mà cũng như cần thay đổi cách tính điểm các công bố trên các tạp chí quốc gia, quốc tế theo chuẩn mực mới, cụ thể:   – Một bài báo công bố trên các tạp chí quốc gia loại 1 sẽ được tính 1,0 điểm,    – Một bài đăng trên các tuyển tập Hội nghị quốc gia (có Hội đồng biên tập, được xuất bản chính thức và nộp lưu chiểu) được tính 0,5 điểm.   – Bài báo công bố quốc tế trên Tạp chí SCI (Scientific Citation Index) được tính 5.0 điểm,   – Bài báo công bố quốc tế trên Tạp chí thuộc SCIE (Scientific Citation Index Expanded) được tính 2.5 điểm.  – Bài báo công bố trên tạp chí quốc tế không thuộc 2 danh sách trên hoặc báo cáo Hội nghị quốc tế (proceedings) được tính như tạp chí quốc gia loại 1.   Như vậy, theo chuẩn mực mới phù hợp với thông lệ quốc tế, chúng ta không thể tính đồng hạng các công bố quốc gia và quốc tế, cũng không thể tính như nhau giữa các công bố trên tạp chí với các tuyển tập báo cáo hội nghị. Cách tính mới này chắc chắn không chỉ có tác dụng khuyến khích mà còn đem lại sự công bằng cho những nhà khoa học đã và đang hội nhập quốc tế thành công qua các công bố quốc tế của họ. Tuy vậy, cách tính mới cũng không phương hại đến những ai chưa có điều kiện công bố quốc tế.  Tính công trình theo chuẩn mực mới chắc sẽ góp phần xoá bỏ một số bất cập trước đây, khi một số nhà khoa học đủ tiêu chuẩn GS, PGS quốc tế nhưng lại không đáp ứng được các tiêu chuẩn GS, PGS của Việt Nam. Cách làm mới cũng góp phần trẻ hoá đội ngũ GS, PGS từ nguồn nhân lực trẻ được đào tạo quốc tế và có công bố quốc tế.                                                                                              PGS.TS Nguyễn Ngọc Châu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần tin tưởng mạnh mẽ vào tương lai      Tithonos là hoàng tử của thành Troy, anh trai của Priam. Eos, nữ thần Bình minh, trúng tiếng sét ái tình khi thấy chàng đang chăn cừu. Họ đã hạnh phúc bên nhau khi vị hoàng tử còn trai trẻ và lũ cừu thì xinh xắn. Eos, hẳn rất mãn nguyện được thức dậy mỗi buổi sáng cạnh người yêu trên giường ngủ, nên một hôm nàng đề đạt với Zeus, vị thần tối cao, biến Tithonos trở thành bất tử. Thực tế diễn ra đúng như nàng đề đạt. Tuy nhiên, Eos lại quên không nói rõ ý muốn của nàng rằng Tithonos không chỉ trở nên bất tử, mà còn trẻ mãi không già. Vậy là, Tithonos trở nên già nua lẩm cẩm, miệng nhai đi nhai lại những câu chuyện cũ mèm. Rồi Eos trở nên chán ngấy, tới mức phù phép biến chàng thành con ve sầu, kẻ chỉ biết ca mãi một bài ca. Tithonos là hoàng tử của thành Troy, anh trai của Priam. Eos, nữ thần Bình minh, trúng tiếng sét ái tình khi thấy chàng đang chăn cừu.      Tôi e rằng mình cũng giống như Tithonos già nua, sẽ làm độc giả phát chán lên vì những kiến nghị lặp đi lặp lại về những điều mà tôi cho là tốt đẹp… Hay một so sánh gần hơn là Cato Già, vị thượng nghị sỹ La Mã, người luôn kết thúc mọi diễn văn của mình bằng câu nói nổi tiếng: “Theo ý tôi, thành Carthage phải bị hủy diệt.” Cuối cùng thì Carthage cũng bị hủy diệt, vào năm 146 trước Công nguyên, nhưng Cato thì qua đời trước đó ba năm…   Nhưng đồng thời, tôi vẫn xin chúc tất cả mọi độc giả cùng ban biên tập của Tạp chí Tia Sáng một năm mới hạnh phúc, và cho phép tôi bày tỏ niềm hi vọng rằng năm mới sẽ mang lại cho lớp trẻ Việt Nam những cơ hội tốt đẹp hơn so với năm trước. Cơ hội tốt để họ được phát triển, phát huy năng lượng, sự độ lượng, nhiệt tình, kỹ năng và tài năng của mình. Nhưng để điều ấy trở thành hiện thực, bản thân chúng ta cũng phải thay đổi: trí tuệ và nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đoàn kết và bớt ích kỷ, chuyên nghiệp hơn và tin tưởng mạnh mẽ vào tương lai.  Tôi biết rằng những đổi mới trên đây không chỉ cần vài năm, mà đòi hỏi sự cố gắng qua vài thế hệ. Nhưng chúng ta có thể giúp tiến trình ấy diễn ra nhanh hơn nếu có quyết tâm. Chúng ta, các nhà khoa học và kỹ sư, phải cảm thấy trọng trách của mình là đóng vai trò chính yếu trong những đổi mới ấy. Đạo đức, sự nghiêm khắc học thuật, tinh thần đồng đội, và sự chuyên nghiệp là những phẩm chất không thể thiếu trong công việc của chúng ta. Cộng đồng chúng ta trong truyền thống luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử, ở mọi quốc gia, trong việc thúc đẩy tinh thần tiến bộ, hòa bình, và khoa học phi biên giới.  Từ sâu trong tim mình, tôi chúc tất cả chúng ta có đủ dũng cảm, sức mạnh, và quyết tâm cống hiến vì sự tiến bộ trên tinh thần ấy.          Thanh Xuân dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cạn vốn      Năm cũ đi qua, năm mới vừa đến, cái từ được nghe nhiều nhất, nghe  khắp mọi nơi là vốn. Hình như ai cũng thiếu vốn. Vậy nên lẽ ra mừng xuân  thì phải có cài chủ đề gì vui vui, đằng này Tia Sáng lại cũng đưa ra  chủ đề “vốn”. Mà mình cũng đã cạn vốn. Không phải chỉ cạn tiền, mà như  cạn nhiệt tình, nên không biết viết gì nữa. Ngẫu nhiên lật một trang  Sông của Nguyễn Ngọc Tư, bắt gặp ngay câu: “Đất nước này vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà sống, rồi bỗng dưng hai thứ đó vắng teo”.    Sao lại bỗng dưng? Có cái gì lại bỗng dưng mà vắng teo đâu.  Hình như trước đây Chế Lan Viên cũng nói đại ý:   Một đất nước thường sống bằng tiềm lực, Trong mỗi quả thị nghèo đều có một nàng tiên.  Ngày nay vốn anh hùng, vốn thần thánh, vốn tiềm lực, cạn cả rồi chăng?  Không còn vốn thần thánh để răn đe, nên người nông dân hiền lành  chất phác cũng sẵn sàng tiêm thuốc độc vào hoa quả cho người khác ăn,  miễn là mình thêm chút vốn tiền.  Không còn vốn anh hùng nên giữa đường có thấy sự bất bằng, người ta cũng bỏ qua. Nên một tên côn đồ với con dao trong tay có thể khống chế cả xóm.  Nhớ lại hồi còn chiến tranh, cái vốn niềm tin sao mà lớn quá. Ai  cũng tin sẽ đến ngày hết chiến tranh, đất nước thống nhất. Chỉ là không  biết bao giờ thôi. Người ta đoán già, đoán non, mang cả “sấm Trạng  Trình” ra để đoán. Có người dẫn câu:  Mười người chết bảy còn ba  Chết hai còn một mới ra thái bình  Nhưng không ai thích câu đó, vì nghe ghê gớm quá, vì người ta chỉ tin  vào những gì tốt đẹp thôi. Vậy là tìm được câu sau, cũng của Trạng  Trình:   Mã đề giương cước anh hùng tận  Thân Dậu niên lai kiến thái bình.  Đó là vào năm 1965, năm Tỵ. Người ta đoán là sang năm Ngọ, mã đề giương cước thì anh hùng chết sạch! Nhưng vì niềm tin lớn quá nên người hay chữ lại giải nghĩa rằng “anh hùng tận” ở đây là tất cả đều là anh hùng, ứng với cái câu cửa miệng thời đó “ra ngõ gặp anh hùng”. Và người ta đều mong sang năm Thân (1968), năm Dậu (1969), cái sự thái bình bắt đầu được kiến tạo.   Thế mới phục Trạng Trình, viết để người ta giải thích thế nào cũng được.  Nhưng giải thích thế nào, cũng lại tùy thuộc cái vốn của người đọc mà  thôi. Mấy câu đó mà đưa ra bình bây giờ, cũng lại vào năm Tỵ, chắc phải  có nghĩa khác.  Ngẫm ra trong mọi loại vốn, có lẽ cái vốn niềm tin là quan trọng nhất. Chỉ xin kể câu chuyện nhỏ này thôi.  Có hai người tù binh nằm chung một xà lim, một già, một trẻ. Hai người  ngày ngày đào tường để mong trốn thoát. Cho đến hôm đào thông được ra  ngoài, người tù già đưa cho anh bạn tù trẻ cái bọc nhỏ và dặn: “Lão già  rồi, có trốn ra cũng không đủ sức về đến nhà. Chú cầm lấy cái gói này.  Đây là khúc bánh mỳ mà lão đã giữ để phòng xa. Nay đưa để chú phòng  thân. Chỉ nhắc chú một điều, trước khi mở ra ăn thì nên tự hỏi là đã đến  mức tuyệt vọng chưa, hay vẫn còn cố được. Nếu thấy vẫn chưa phải là lúc  tuyệt vọng nhất thì khoan hãy mở”. Anh bạn trẻ, trải qua bao khó khăn,  về được đến nhà. Kể lại câu chuyện cho cả nhà nghe, anh ta nói rằng đã  rất nhiều lần định mở cái gói, nhưng lại tự nhủ là vẫn chưa đến nỗi  tuyệt vọng, nên để dành lại cho lúc khó khăn hơn. Chính vì niềm tin là  vẫn còn vốn đó nên anh ta đủ nghị lực về được đến nhà. Trịnh trọng đặt  cái gói lên bàn và mở ra cho cả nhà xem, anh chàng kinh ngạc vì đó chỉ  là một hòn đá!  Đất nước bốn ngàn năm, cái vốn niềm tin đâu chỉ nhỏ như hòn đá. Vậy nhưng xin đừng phung phí nó. Hết cái vốn đó rồi, khi tuyệt vọng biết bấu víu vào đâu?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần xét đến chất lượng và các tiêu chí khác      Dự thảo “Quy định về việc đánh giá kết quả thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên kết thúc năm 2006” (Tia Sáng 4/5/2007 [1]) là một bước tiến cần thiết và đáng hoan nghênh để đưa khoa học Việt Nam hội nhập quốc tế. Nhưng Dự thảo có xu hướng quá đặt nặng vào số lượng ấn phẩm khoa học xuất bản với những thang điểm cụ thể, tôi e rằng thiếu tính hợp lý và cần nên xem xét lại. Tôi đề nghị nên xem xét đến chất lượng nghiên cứu và các tiêu chí khác.        Tuy rằng số lượng ấn phẩm khoa học là một tiêu chí quan trọng số một trong việc đánh giá năng suất và thành tựu của một nhà khoa học, nhưng trong thực tế ấn phẩm khoa học thường xuất hiện dưới nhiều dạng, và chúng không có giá trị giống nhau. Chẳng hạn như một bài báo nghiên cứu gốc (original paper) chắc chắn phải có giá trị cao hơn một bài bình luận hay một bài điểm báo (review). Do đó, cần phải phân biệt các loại ấn phẩm khoa học rõ ràng, chứ không nên gói gọn trong những tên gọi chung chung như “quốc tế” hay “quốc gia”.                  Dự thảo đề nghị tính điểm công trình công bố trên các tạp chí quốc tế và báo cáo đăng kí poster tương đương nhau (5 điểm), theo tôi, là không hợp lý. Trong các hội nghị khoa học quốc tế ngày nay, các báo cáo được xếp hạng từ cao đến thấp như sau: những bài nói chuyện được mời (invited lecture), những báo cáo bằng miệng (oral presentation), rồi mới đến những báo cáo bằng poster. Chẳng hạn như trong các hội nghị y khoa quốc tế (với hơn 2000 báo cáo), chỉ có 5-10 báo cáo được mời, 5 đến 10% báo cáo được hội đồng khoa học tuyển chọn cho trình bày bằng miệng, và phần còn lại 90 đến 95% là báo cáo poster. Do đó, ở các đại học phương Tây, khi xem xét đề bạt giáo sư hay nhà nghiên cứu, không một hội đồng nào tính đến các báo cáo trong hội nghị, nhất là báo cáo dạng poster.   Thật ra, rất khó để có những thang điểm cụ thể như Dự thảo đề ra, vì một ấn phẩm khoa học không thể đánh giá đơn giản bằng điểm. Chẳng hạn như làm sao chúng ta biết một bài điểm báo (review) có giá trị hơn một chương sách, dù cả hai đều phải tốn nhiều thì giờ và công sức để viết, và phải là nhà khoa học có uy tín mới được mời viết. Hay một bài xã luận trên một tạp chí (cũng phải là nhà khoa học có tiếng mới được mời viết) không được xem có giá trị bằng một bài báo gốc (original paper). Ngoài ra, phải tính điểm như thế nào cho những công trình nghiên cứu với nhiều tác giả (nghiên cứu y sinh học ngày nay không thể nào thực hiện bởi một tác giả)[2]. Khó khăn thứ hai là lấy cái chuẩn nào (hay mô hình nào) để lập ra một thang điểm cho một bài báo? Nếu không có cơ sở khoa học cho các thang điểm, tôi e rằng Dự thảo sẽ không mang tính thuyết phục. Tuy nhiên, nếu thật sự chúng ta cần một thang điểm, tôi đề nghị nên xem qua thang điểm của các đại học khác để tham khảo. Tôi trình bày thang điểm dưới đây chỉ để tham khảo, chứ cá nhân tôi cũng dè dặt vì không thoải mái khi không biết cơ sở tính toán ra sao.                                Con số ấn phẩm khoa học tuy quan trọng, nhưng nó không phản ảnh được một khía cạnh quan trọng hơn: đó là chất lượng. Một nhà khoa học có thể có hàng trăm công trình được công bố trên những tạp chí “xoàng” hay ít được ai trích dẫn, thì các công trình đó không thể được xem là có chất lượng cao. Nói đến chất lượng nghiên cứu là nói đến sáng kiến mới liên quan đến ý tưởng, phương pháp, phân tích, và cách diễn dịch, thậm chí cách trình bày một nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu có chất lượng cao phải là một công trình có ý tưởng độc đáo, hay một phương pháp độc đáo, hay một cách diễn dịch mới cho một vấn đề cũ.    Chất lượng ấn phẩm khoa học rất khác nhau, không chỉ giữa các tạp chí, mà ngay trong cùng một tạp chí. Hiện nay, có hơn 108.000 tạp chí khoa học trên thế giới với đủ thứ chất lượng “thượng vàng hạ cám”. Con số này chưa kể đến các tạp chí trực tuyến (online journals). Do đó, một công trình nghiên cứu dù có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì công trình sẽ được in trong một tạp chí nào đó, cũng có thể mang tiếng “tạp chí quốc tế”. (Thật ra, định nghĩa thế nào là một tạp chí quốc tế cũng không dễ, nhưng hiện nay, người ta hiểu ngầm rằng cụm từ này chỉ các tạp chí ở Mỹ và Âu châu).   Chất lượng một bài báo khoa học hay một công trình nghiên cứu thường được đánh giá qua hai chỉ tiêu: hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor), và số lần trích dẫn (citation). Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng là số lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước. Do đó, những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao cũng có thể đồng nghĩa với chất lượng cao của công trình nghiên cứu.  Chẳng hạn như một nghiên cứu được công bố trên các tạp chí như Science, Nature, Cell, PNAS, New England Journal of Medicine, Lancet, Physical Review… chắc chắn phải có chất lượng cao hơn các nghiên cứu công bố trên các tạp chí ở Á châu, Âu châu hay tạp chí chuyên ngành ở Mỹ. Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số tác dụng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học).    Nhưng hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tạp chí chứ không hẳn phản ảnh chất lượng của một bài báo cụ thể. Vì thế, một cách đánh giá chất lượng khác công bằng hơn là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo mà nhà khoa học đã công bố. Có thể nói ví von rằng số lần trích dẫn là âm vang của một công trình nghiên cứu. Tần số trích dẫn càng cao thì giá trị của công trình và uy danh nhà khoa học càng cao theo.                                 Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của Viện khoa học thông tin (ISI), trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố!  Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn: chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.   Câu hỏi đặt ra là hệ số ảnh hưởng và số lần trích dẫn có thật sự phản ảnh chất lượng khoa học? Câu trả lời ngắn là “có”. Trong một nghiên cứu về lý do trích dẫn, các nhà khoa học trình bày những lý do sau đây: (a)ghi nhận công trạng của tác giả; (b)kính trọng tác giả; (c)phương pháp liên quan; (d)bài báo cung cấp thông tin nền có ích; (e)trích dẫn để phê bình hay phản nghiệm; và (f) trích dẫn để làm cơ sở cho các phát biểu trong bài báo. Ngoài ra, một nghiên cứu trong thập niên 1970 về tần số trích dẫn các nghiên cứu công bố trước khi các nhà khoa học được trao giải Nobel cho thấy tính trung bình, số lần trích dẫn là 62 (so với tần số trung bình của tất cả các nhà khoa học là 6 lần). Do đó, dù có vài biệt lệ và khiếm khuyết, số lần trích dẫn và hệ số ảnh hưởng của tạp chí phản ảnh chất lượng nghiên cứu.   Số lượng ấn phẩm khoa học của một cá nhân phản ảnh một phần tính siêng năng (hay lười biếng), nhưng tần số trích dẫn và tạp chí cho chúng ta biết uy tín, năng lực và phẩm chất của nhà khoa học.  Cũng như trong chẩn đoán bệnh tật không thể chỉ dựa vào vài đo lường và xét nghiệm, hoạt động khoa học và khoa bảng không thể đánh giá bằng những “cân, đo, đong, đếm”. Các tiêu chí vừa nêu chỉ là những giá trị tham chiếu, chứ không phải là những thước đo chính xác để thẩm định năng suất và khả năng của một nhà khoa học. Trong thực tế, năng suất và chất lượng khoa học còn được phản ảnh qua các “tiêu chí” gián tiếp như: giải thưởng cấp quốc gia và quốc tế, bằng chứng về đóng góp cho chuyên ngành cấp quốc gia và quốc tế, sự công nhận của đồng nghiệp quốc tế (qua việc được mời nói chuyện hay chủ tọa các phiên hội thảo chuyên ngành), giảng dạy, khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu, khả năng thu hút nghiên cứu sinh và hậu tiến sĩ (postdoc), cống hiến cho cộng đồng và Nhà nước…  Nói tóm lại, tôi đề nghị nên cẩn thận rà soát lại bản Dự thảo Quy định về việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, nhất là nên xem chất lượng nghiên cứu như là một trong những tiêu chí quan trọng.  Ngoài ra, cũng nên tham khảo các thang điểm nước ngoài và các tiêu chí gián tiếp khác để nâng cao tính khách quan (và hi vọng là công bằng hơn) cho các nhà khoa học.   ———————  Chú thích và tài liệu tham khảo:   [1] Theo Dự thảo, ngoài vấn đề bất hợp trong việc cho điểm (chẳng hạn như một công trình công bố trên các tạp chí quốc tế có điểm bằng với một poster trình bày trong một hội nghị quốc tế), có thể nói các thang điểm trên đây chưa mấy rõ ràng. Chẳng hạn như nếu một hội nghị quốc tế tổ chức ở Việt Nam thì báo cáo ở đó chưa rõ số điểm sẽ tính thế nào. Ngoài ra, rất khó mà định nghĩa thế nào là “sách chuyên khảo”.     [2]  Trong khoa học thực nghiệm ngày nay, một công trình nghiên cứu trung bình cũng phải có đến 5 tác giả; một công trình quy mô như tìm gien chẳng hạn có khi có đến 100 tác giả thuộc nhiều nhóm trên thế giới. Vấn đề tính điểm cho các tác giả trong các công trình đó không đơn giản chút nào, vì còn tùy thuộc vào đóng góp của từng cá nhân tác giả: có người chỉ cung cấp bệnh nhân, có người đóng góp về phương pháp, có người đóng góp trong phân tích dữ liệu, có người lãnh đạo, thậm chí có người là “tác giả dỏm” (tức chẳng có đóng góp gì xứng đáng nhưng vì có “quan hệ chính trị” với nhóm nghiên cứu hay có tên tuổi nên được cho vào danh sách tác giả), đó là chưa kể hiện tượng “tác giả ma” (ghost authorship). Đó là chưa kể đến những khó khăn về vị trí của tác giả trong bài báo. Trong y khoa, tác giả đứng tên sau cùng có thể là tác giả chính hay “sếp” của bài báo (chứ không phải là người có đóng góp ít nhất)! Ở các nước phương Tây, khi xem xét đề bạt, hội đồng khoa học thường yêu cầu ứng viên giải trình chính xác vai trò của mình trong công trình nghiên cứu, chứ không chỉ đơn giản có tên trong bài báo.       Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảng biển Trà Vinh: Mấy vấn đề cần quan tâm      Cảng biển Trà Vinh được xây dựng nhằm phục vụ việc nhập than cho Trung tâm nhiệt điện Trà Vinh với tổng công suất thiết kế 4200 MW. Trung tâm tọa lạc tại ấp Mù U và Láng Cháo, thuộc xã Dân Thành và một phần ấp Cồn Trứng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải.      Những chiếc tàu tải trọng lớn đầu tiên đi vào luồng kênh Tắt đến kênh Quan Chánh Bố để ra sông Hậu. Nguồn: Báo Đồng Tháp.   Ban đầu hai kè của cảng được thiết kế độc lập với hai kè bảo vệ luồng tàu biển vào ra của dự án Kênh Tắt + Kênh Quan Chánh Bố trổ ra sông Hậu. Sau đó, hai dự án hợp nhất các kè bảo vệ vừa Cảng biển vừa luông tầu kênh Tắt.    Kè Bắc và kè Nam đã hoàn thành. Biên của cảng đã cơ bản được định hình từ đầu năm 2016. Cảng đã bắt đầu phục vụ việc nhập than.  Theo dõi để đánh giá tác động của cảng lên đường bờ biển của Trà Vinh và các tỉnh lân cận, và diễn biến bên trong cảng, là một nhiệm vụ vừa dài hạn vừa trước mắt, cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại bền vững của cảng và của huyện Duyên Hải nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng.    Ảnh vệ tinh tập hợp được từ năm 2016 đến đầu năm 2017 cung cấp một số thông tin rất bổ ích cho nhiệm vụ này, nhất là các vấn đề bên trong cảng cần quan tâm.  Kênh Tắt được thông luồng ngày 20.01.2016 và là nguồn chính đưa nước sông Hậu vào cảng. Ảnh vệ tinh (Hình 1) cho thấy hàm lượng bùn cát theo Kênh Tắt đổ vào và lan tỏa trong cảng ngày 18.04.2016 khi triều xuống (trái). Màu hàm lượng tương phản khá rõ trong ảnh. Khi triều lên ngày 10.04.2016 (phải), màu nước “pha chè” thể hiện dòng chảy và sự vận chuyển trầm tích khá phức tạp bên trong cảng.    Hình 1.Ảnh vệ tinh VNREDSAT 1 tháng 4.2016    Hình 2. Ảnh vệ tinh LANDSAT 8 tháng 1 và tháng 2.2017  Hàm lượng trầm tích trong cảng tùy thuộc vào triều và vào mùa khô hay mùa mưa. Nhìn chung qua 4 ảnh vệ tinh (hình 1 và hình 2) một năm sau khi thông luồng Kênh Tắt, hàm lượng này trong nước bên trong cảng có chiều hướng tăng. Điều này cần được xác nhận bằng số liệu đo đạc.  Trong ảnh vệ tinh Landsat 8 ngày 14.02.2017, (hình 3), A, B và C là vị trí nơi QL53, TL913, và đường quốc phòng đã bị Kênh Tắt cắt đứt. A, B và C trước đây nằm trên 3 giồng trong hệ thống giồng biển được hình thành trong quá trình Trà Vinh tiến ra biển.  Kè Nam là kè của Kênh Tắt. Kè gần như đi cặp với luồng Kênh Tắt ra tới cửa của cảng. Độ sâu của luồng theo thiết kế là -6,5 mét. Kè Bắc, cong, gồm có 4 đoạn. Từ cửa biển vào đất liền là các đoạn được chúng tôi đánh số 1, 2, 3 và 4 để tiện theo dõi.  Vùng 5 là nơi tàu cập bến để đổ than. Một cầu cảng đã đi vào hoạt động. Đang hoàn tất cầu cảng thứ hai. Cảng đang được nạo vét sâu -9,5 mét để tàu 50 ngàn tấn có thể vào, đồng thời phải đủ rộng để các tàu than xoay đầu. Vùng 6 là vùng cửa cảng thông ra biển. Vùng 7 là nơi giao thoa dòng chảy và trầm tích trong cảng.    Hình 3. Toàn cảnh Cảng biển Trà Vinh (Ảnh Lamdsat 8 14.02.2017)  Ảnh vệ tinh trông rõ Cảng biển Trà Vinh thời gian gần đây nhất là ảnh Landsat 8, chụp ngày 14.02.2017, lúc 03:13:55 GMT, tọa độ ảnh 10.17365, 106.00220.  Tháng 2.2017 là tháng có triều cường cộng thêm gió chướng tốc độ khá cao. Sóng đánh vào kè Bắc rất mạnh. (xem ảnh trích từ video).    Hình 4. Sóng vỗ từ hai phía vào đoạn kè 2 (ảnh trích từ video ngày 28.02.2017)  Dòng chảy từ biển vào cảng chia thành 2 hướng. Một hướng đi thẳng dọc theo kè Nam và tắt dần vì dòng chảy từ Kênh Tắt đổ ra. Hướng thứ hai rẽ phải đi về hướng cầu cảng rồi bẽ cong hướng sang đoạn 2 và vỗ vào kè. Phía ngoài đoạn 2, sóng vỗ vào kè. Ảnh vệ tinh và hình từ video cho thấy sóng vỗ vào đoạn 2 từ hai phía.  Đoạn 3 xuôi theo hướng sóng, có độ sáng thấp nhất trong 4 đoạn. Đoạn 4 chỉ có sóng vỗ kè từ phía bên ngoài. Chú ý vùng sóng vỡ ở góc bên ngoài đoạn 4. (H.5).    Hình 5. Dòng chảy biển vào cửa Cảng (trái) và sóng vỗ vào đoạn 4 của kè (phải)  Từ các lần đi khảo sát thực địa và thông tin mà các ảnh vệ tinh trong hai năm 2016, 2017 cung cấp về Cảng biểnTrà Vinh, theo chúng tôi cần làm rõ mấy vấn đề dưới đây.  1) Một lý do cơ bản để Dự án luồng Kênh Tắt + Kênh Quan Chánh Bố được duyệt là luồng này không phải nạo vét hàng năm như phải giải quyết rất tốn kém với luồng tự nhiên Định An. Như đã nói ở đầu bài viết, tình hình tích tụ bùn cát trong cảng, đặc biệt ở cửa vào cảng, và dọc Kênh Tắt cần được theo dõi và định lượng.    Tốc độ gió đo được ngày 28.2.2017  (2) Bài toán cốt lõi cần giải một cách đầy đủ: sự giao thoa sông (đến từ Kênh Tắt) – biển (qua cửa của cảng), không gian của cảng không rộng, địa hình đáy rất lồi lõm do đã bị nạo vét trước đây (để tôn nền các nhà máy điện) và hiện nay do yêu cầu của cảng, hướng và tốc độ gió theo mùa, …  Kết quả tính toán cần làm rõ sự vận chuyển và lắng đọng bùn cát, các lực tác động lên hai kè, đặc biệt lên kè Bắc.  (3) Đoạn 2 của kè Bắc chịu tác động của sóng từ bên ngoài và từ bên trong trên hai phân đoạn khác nhau vào mùa gió chướng cộng với triều cường. Ảnh vệ tinh ngày 14.02.2017 là một minh chứng. Hiện tượng sóng vỗ vào đoạn từ bên trong cũng được nhận thấy, ở một mức độ yếu hơn, trong ảnh vệ tinh Landsat 8, ngày 29.01. 2017 (hình 2, trái). Cần định lượng sự tác động này để có biện pháp gia cố nếu cần.   (4) Trong Vùng 5, có chỗ sẽ được đào sâu đến 9,5 mét. Nếu vùng sâu này tiếp cận sát các đoạn 4, 3 của kè Bắc, sự ổn định của kè này sẽ ra sao, nhớ rằng kè còn chịu một tác động lớn của sóng từ bên ngoài mỗi lúc có triều cường trùng hợp với gió chướng 1. Do vậy, việc đào sâu vùng 5 và luồng tàu 50.000 tấn cập cảng cần được khảo sát và luận chứng kỹ.  (5) Tất cả các vấn đề trên đây phải tính đến yếu tố biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Những tình huống cực đoan sẽ xảy ra ngày càng thường xuyên với cường độ ngày càng mạnh.  (6) Trước quyết định hợp nhất kè chắn cát của dự án Luồng vào sông Hậu qua Kênh Tắt + Kênh Quan Chánh Bố với kè chắn sóng của Cảng biển Trà Vinh, và đề nghị của Chính phủ với uốc hội, tăng vốn cho dự án Kênh Quan Chánh Bố từ 3.148,5 tỷ đồng lên 10.319,2 tỷ đồng, ngày 14/11/2013 tôi đã có văn bản gửi tới Quốc hội 2 kiến nghị:  (a) Quốc hội cần yêu cầu xác định rõ cơ chế tài chính trong mô hình kết hợp này giữa một dự án đầu tư của một doanh nghiệp (cho dù là doanh nghiệp nhà nước) với một dự án sử dụng ngân sách nhà nước, và những hệ lụy về mặt tài chính và ngân sách;  (b) Quốc hội cần yêu cầu Chính phủ có một báo cáo tác đông môi trường mới của công trình mới gồm cảng biển với đê chắn sóng về phía Bắc kết hợp với Kênh tắt và đầu ra với đê chắn sóng phía Nam. Báo cáo tác động môi trường mới này phải được phê duyệt đúng theo Điều 21, khoản 7 của Luật bảo vệ môi trường.  Tại kỳ họp thứ 6 khóa XIII tháng 11.2013, Quốc hội đã chấp nhận tăng vốn cho dự án kênh QCB từ 3.148,5 tỷ đồng lên 9.000 tỷ đồng. Về hai kiến nghị trên đây, cho tới nay tôi chưa được hồi âm.       Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Càng đi xa càng tốt      Người Trung Hoa có câu: Cơ tử sự tiểu. Thất tiết sự đại, nghĩa là: Chết đói là việc nhỏ. Thất tiết mới là việc lớn. Người Việt có câu : Giấy rách giữ lấy lề, cũng đều là nói đối với con người giữ gìn nhân cách quan trọng hơn là miếng cơm manh áo. Đối với người ngày xưa, khi làm bất cứ việc gì, khía cạnh kinh tế được xem xét cuối cùng, khía cạnh văn hóa được chú trọng đầu tiên, nhất là văn hóa của một cộng đồng, trong đó là sự thống nhất của các mặt triết học, tôn giáo và nghệ thuật. Mỗi một sản phẩm dù đơn giản như một chiếc chõng tre, cầu kỳ như một hương án thờ cúng cũng mang tinh thần này, cho nên xã hội nông nghiệp cổ, dù thu nhập không cao, tích lũy xã hội không lớn, nhưng là một xã hội có tính văn hóa phổ quát.    Sự tan rã dần dà của văn hóa nông thôn cổ bắt đầu từ những cuộc chống mê tín dị đoan thái quá dẫn đến phá hủy nhiều công trình kiến trúc và nghệ thuật truyền thống, tới mức sau hai cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20, di sản văn hóa truyền thống do khí hậu, chiến tranh, triệt hạ chỉ còn 1/3, trong đó cũng chỉ còn rất ít nguyên vẹn. Sự thay đổi lối sống và cơ chế sản xuất là bước thứ hai, những sinh hoạt dân gian cũ thay đổi văn hóa phi vật thể dân gian (như Quan họ, dân ca, hò vè) không tiếp tục sản sinh nữa, trong khi ngôi nhà văn hóa mới không hình thành, hoặc nếu có thì rất mờ nhạt. Công cuộc Đổi mới có ảnh hưởng tích cực đến đời sống nông thôn, như các chương trình bỏ ngăn sông cấm chợ, khiến hàng hóa được lưu thông, cắt giảm thuế nông nghiệp và khoán sản phẩm khiến năng xuất tăng vọt, nông thôn thoát ra khỏi tình trạng đói nghèo. Tiếp sau đó là những dự án đưa công nghiệp về nông thôn, thiếu những quy hoạch, làm cho đất nông nghiệp giảm đi đáng kể, nông dân mất đất bất đắc dĩ trở thành thị dân thất nghiệp, tham nhũng từ tiền đền bù đến đất đai, thậm chí cả bao thầu đường giao thông, làm tan nát cả lòng người về ngôi làng đẹp đẽ ngàn đời và tạo ra một môi trường ô nhiễm toàn cảnh, cũng như sự suy thoái về đạo đức. Trong bước đi hiện tại nông thôn đang đô thị hóa với một chất lượng sống rất thấp dù tốn kém.             Tranh Nguyễn  Văn Cường        Trong quá trình đô thị hóa, dù là thích thú hay bắt buộc, nông thôn luôn nhìn ra thành phố bắt chước các kiểu thức và các phương tiện hiện đại. Họ có nhà cao cửa rộng mình cũng xây nhà cao cửa rộng, họ có xe máy, ô tô mình cũng mua xe máy, ô tô . Sự rượt đuổi thành phố không hẳn là nhu cầu của người già, nhưng thanh niên không hề ngần ngại từ bỏ hoàn toàn nền văn minh vật chất cổ truyền có sẵn trong làng xã đổi lấy một thứ gọi là văn minh công nghiệp, kết quả là tượng Phật, gốm Lý Trần, chuông đồng khánh đá, hoành phi câu đối cổ, sắc phong… và cả cối đá, cối xay quây tre, cối giã gạo đòn dài, cày bừa, gặt hái…cái thì rơi vào tay bọn buôn đồ cổ, cái thì vứt bỏ không thương tiếc, và đổi lấy nào là xe công nông, xe máy Tàu, bàn ghế nhựa, đồ gỗ Đồng Kỵ, bát đĩa Trung Quốc. Tức là cái mà nông thôn mất đi đều là báu vật đồ cổ và những nông cụ tiêu biểu cho một nền sản xuất nông nghiệp ngàn đời, và cái đem về đều là những sản phẩm công nghiệp vừa tồi vừa phi văn hóa tính. Đương nhiên trong xã hội hiện đại, không thể không cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp cũng như làm cho đời sống nhà nông tốt hơn. Nhưng kinh tế nông thôn từ sau Đổi mới đến nay, mới thoát ra cảnh thiếu ăn thiếu mặc, chưa có tiềm lực thực sự để nâng cấp đời sống tương xứng với sự hiện đại hóa nông thôn, hơn nữa quá trình này người ta xếp ra ngoài vai trò của văn hóa, và hiện đại hóa ở mức độ chất lượng thấp. Tức là nông thôn cũng có đủ các thứ như đời sống thành thị, nhưng chất lượng phương tiện và hàng hóa kém hơn nhiều bậc. Đó là xe máy rẻ nhưng độ bền và độ an toàn kém, chỉ cần một lần va chạm là toi cả xe lẫn người, đường dây điện rẻ tiền dễ cháy, chóng hỏng, thép, xi măng và gạch loại tồi nhà dễ nứt dễ lún, xe công nông tự tạo hệ số an toàn kém, túi ni lông quá mỏng đi chợ về đến nhà đã rách…Đánh hơi thấy một thị trường rộng lớn, nhưng thích giá rẻ, người Tàu đã nhanh chóng đáp ứng mọi nhu cầu của người nông dân Việt Nam từ máy móc nông nghiệp, đồ điện tử cho đến hàng tiêu dùng hằng ngày, cũng như mọi chất hóa học dễ dùng như thuốc tăng trọng cho động thực vật, men rượu nấu nhanh, thuốc sâu . Thị trường này thu hút rất nhiều cửu vạn lên cửa khẩu và buôn bán lẻ từ biên giới về mọi vùng nông thôn, làm tê liệt những ngành khoa học cho nông nghiệp trong nước đến mức trong con mắt người nông dân các kỹ sư nông nghiệp không có giá trị gì. Phần còn lại những tổ hợp sản xuất nông thôn làm nốt, đó là sữa đậu nành đóng chai, bia, Cô ca cô la rởm, bánh kẹo tạp nham và vô vàn mặt hàng nội địa khác đều không có nguồn gốc nhãn mác và hạn sử dụng. Hằng năm ở mỗi địa phương cấp xã hay cấp thôn có thể có đến hàng chục vụ tại nạn giao thông và tai nạn sản xuất một phần lý do do phương tiện kém an toàn, có hàng chục người chết vì ung thư và nhiều bệnh khác như viêm gan và suy hô hấp do thực phẩm có nhiều chất tăng trọng và bảo quản. Đời sống vật chất nông thôn ở nhiều vùng nếu nhìn bề ngoài thì thật no ấm dư dật, nhưng nếu nhìn toàn cảnh là một bức tranh xám xịt đáng liên hồi báo động.  Ý thức được phần nào vấn đề này, nông dân có những cách giải quyết cục bộ. Một mặt họ tiếp tục nuôi trồng theo phương pháp hiện đại và tắm tưới bằng đủ các loại hóa chất cho những nông sản bán đi, đặc biệt là đưa ra thành thị. Mặt khác họ làm vườn rau sạch riêng trong nhà và nuôi vài lợn gà theo truyền thống, chỉ để cho gia đình. Riêng có ô nhiễm nguồn nước và không khí cả làng thì đành bó tay. Đối với thế hệ trẻ thì bằng mọi cách xuất khẩu nhân lực ra xã hội, càng đi xa càng tốt. Và cuối cùng chính các thành phố đang chịu sức ép từ nông thôn khi nó phải tiêu thụ nông sản chứa đầy chất độc hại và lực lượng lao động dư thừa tràn ra thành phố.     Một cuộc tổng kiểm kê nông thôn là cần thiết, nhằm xác định các giá trị văn hóa, tinh thần hữu ích khả dĩ loại bỏ hủ tục, định ra một phương án nông thôn hiện đại, một kết cấu làng xã mở hoán chỉnh lần thứ hai, như sự thành công của cơ cấu làng xã lần thứ nhất trong thế kỷ 16 ít nhất đã bền vững 400 năm. Ngay trong số sách văn hóa nghệ thuật đã xuất bản, di vật văn minh vật chất Việt Nam trong các bảo tàng đến 99% có nguồn gốc nông thôn. Văn hóa Việt chính là văn hóa làng, một tế bào độc lập từng có bầu trời riêng, chung đúc văn minh Việt ở phương thức trồng lúa nước cùng tinh thần tam giáo hiện thực. Quá trình này không đơn giản, chỉ có sức thức tỉnh kiên trì để người nông dân tự ý thức vai trò nền tảng dân tộc của mình. Nơi đã từng sinh ra Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hải Thượng Lãn Ông, chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương. Nơi từng là hình ảnh sống động của Nho- Lão-Phật, mãi mãi là cố hương, cố nhân cho mỗi người Việt  Phan Cẩm Thượng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Căng thẳng thương mại với Mỹ: Những khó khăn và tính toán của Trung Quốc      Trong thời gian qua, những căng thẳng thương mại Mỹ – Trung đã leo thang chóng vánh và trở thành một trong những quan tâm của nhiều quốc gia, cụm từ “chiến tranh thương mại” đã được khai thác tối đa, nhưng tôi cho rằng, đằng sau vấn đề thương mại ấy là một cuộc đua khốc liệt hơn nhiều. Và đó là cuộc đua để thắng trong tương lai dựa trên nền tảng công nghệ (CN).      Nguồn ảnh: Reuters.    Mục đích của Mỹ  Căng thẳng thương mại là cái cớ để Mỹ đáp trả vấn đề Trung Quốc (TQ) xâm phạm sở hữu trí tuệ của các công ty Mỹ và chuẩn bị cho một cuộc cạnh tranh kế tiếp trong tương lai gần, khi mà bằng việc mua hoặc “chiếm đoạt” CN, TQ đã nhanh chóng trở thành “đối thủ cạnh tranh chiến lược” như báo cáo An ninh Chiến lược Quốc gia năm 2018 của Mỹ xác định.    Nếu nhìn vào danh mục các hàng hoá nhập khẩu từ TQ lần này có thể thấy Mỹ sẽ đánh thuế đối với màn hình cảm ứng, thép tấm nguyên liệu, máy móc thiết bị y tế, linh phụ kiện máy bay, pin và một số hàng hoá khác. Những mặt hàng này đều phù hợp với các ngành mà Mỹ muốn đảm bảo ưu thế trước TQ như bán dẫn, xe điện và sản phẩm y tế hiện đại. Ngoại trừ các mặt hàng bị áp thuế, Nhà Trắng cũng chuẩn bị hạn chế TQ đầu tư vào hoạt động R&D và các ngành CN của Mỹ.  Chính phủ Mỹ đã nhìn nhận các lĩnh vực công nghệ cao là nơi Mỹ cần dẫn đầu để chống lại các “tay chơi” nước ngoài xấu tính. Trong báo cáo An ninh Chiến lược Quốc gia (Mỹ) năm 2018, TQ thậm chí còn trở thành “mối đe doạ lớn nhất”. Với sự quan ngại ấy, dễ hiểu vì sao nếu cách đây 10 năm không có trường hợp nào bị Uỷ ban Đầu tư nước ngoài tại Mỹ (CFIUS) xử lý liên quan đến TQ, thì trong năm 2016 – 2017 số vụ đầu tư bị yêu cầu ngừng giao dịch liên quan đến TQ chiếm tới 25% số vụ mà CFIUS thụ lý. Là một uỷ ban thuộc Bộ Tài chính, nằm trực tiếp dưới quyền quản lý của Bộ trưởng, CFIUS được thành lập từ thời tổng thống Reagan nhưng hoạt động của CFIUS đã tích cực một cách rõ rệt dưới thời tổng thống Trump. Mặc dù CFIUS không công khai các thương vụ đầu tư về điều tra liên quan  đến an ninh quốc gia nhưng nếu lần theo các hoạt động của uỷ ban này có thể thấy CFIUS đã dành rất nhiều sự chú trọng cho hai nhóm thoả thuận (i) những thương vụ can dự vào các sản phẩm kĩ thuật CN nào đó – như bán dẫn và (ii) tất cả những thương vụ có liên quan đến nhà đầu tư TQ.  Trong 5 tháng đầu năm 2018, đầu tư của TQ vào Mỹ chỉ đạt 1,8 tỷ đô-la Mỹ (giảm tới 92% so với năm ngoái) và ở mức thấp nhất trong vòng 7 năm qua. Bên cạnh đó, các công ty TQ cũng đã phải bán 9,6 tỷ đô-la Mỹ tài sản ở Mỹ trong cùng thời gian. Đầu tư của TQ vào Mỹ đã giảm mạnh từ năm 2017. Năm 2016, đầu tư TQ lên cao kỷ lục 46,5 tỷ đô-la Mỹ, nhưng năm 2017 đã giảm gần 1/3 còn 29,7 tỷ đô-la Mỹ. Làn sóng giảm đầu tư trùng với thời điểm tổng thống Trump nhậm chức. Điều này cho thấy CFIUS đã rất mạnh tay trong các hoạt động giám sát luồng vốn TQ.  Những khó khăn của TQ  Trái ngược với ngôn từ phản đối dữ dội và tấn công cá nhân tổng thống Trump trong giai đoạn đầu của “đấu khẩu thương mại”, khi việc áp thuế bắt đầu có hiệu lực, truyền thông nhà nước TQ đã cho thấy nhiều sự điều chỉnh chóng vánh. Đầu tiên, ông Tập Cận Bình vắng mặt trong các bài xã luận trên trang nhất của tờ Nhân dân Nhật báo, dấu hiệu cho thấy TQ không muốn phát đi các tín hiệu quá mạnh về chủ nghĩa dân tộc trong thời điểm này. Truyền thông nhà nước cũng được yêu cầu không nhắc đến chiến lược Chế tạo tại TQ 2025. Tiếp đó, các bài công kích ông Trump cũng biến mất. Và cuối cùng, “hội nghị” Bắc Đới Hà vừa kết thúc tuần trước tập trung vào nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quan hệ kinh tế Trung – Mỹ. Điều này đặt ra câu hỏi phải chăng TQ bắt đầu cảm nhận được khó khăn mà “cuộc chiến” gây ra hay nước này đang có những tính toán thận trọng để tránh mắc sai lầm lớn hơn trong việc đối đầu trực diện với Mỹ?  Tổn thất tiềm ẩn đối với xuất khẩu của TQ có thể lên tới 5% giá trị xuất khẩu, cao hơn nhiều so với mức 0,7% của Mỹ nhưng đó có thể không phải là khó khăn lớn nhất. Những tổn thất “ngoài thương mại” có thể là điều mà đất nước này quan tâm hơn.  Tỷ giá và suy giảm dự trữ ngoại tệ. Có quan điểm cho rằng việc phá giá đồng Nhân dân tệ (NDT) sẽ góp phần làm giảm thiệt hại cho TQ trong cuộc đối đầu thương mại với Mỹ và nói rằng Ngân hàng Nhân dân TQ (PBoC) đã chủ động làm việc này khi quan sát thấy đồng NDT đã mất giá gần 10% trong vòng vài tháng qua (từ 6,3 NDT đổi 1 USD xuống còn 6,8 NDT đổi 1 USD). Nhận định này có thể không hợp lý. Mặc dù TQ vẫn tăng thặng dư thương mại với Mỹ nhưng tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này nửa đầu năm 2018 chỉ đạt mức 5,4%, thấp hơn nhiều so với 19,3% cùng kỳ năm 2017. Điều này cho thấy tỷ giá thấp không đem lại nhiều lợi ích cho TQ về xuất khẩu. Việc tiếp tục “phá giá” có thể phản tác dụng khi mà TQ đang nhập khẩu nhiều hàng hoá cơ bản – chẳng hạn dầu mỏ – và các hàng CN cao. Bên cạnh đó, việc duy trì kỳ vọng phá giá có thể làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư dẫn đến sự tháo chạy của luồng vốn như những gì xảy ra trong suốt năm 2016. Cuối cùng, PBoC có thể sẽ phải tăng lãi suất để đối phó với việc tỷ giá giảm quá mạnh và ngăn luồng vốn tháo chạy. Điều này rõ ràng không có lợi cho các doanh nghiệp của TQ.  Chính sách tái cân bằng nền kinh tế với mục tiêu giảm tỷ lệ đòn bẩy bị chậm lại. Căng thẳng thương mại xảy ra trong bối cảnh chính phủ TQ coi việc giảm nợ của nền kinh tế là một trong ba “cuộc chiến” quan trọng trong năm nay. Những tác động bất lợi từ căng thẳng với Mỹ có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế TQ, nhưng quan trọng hơn, nó có thể tác động đến tâm lý của nhà đầu tư trong và ngoài nước, khiến cho cuối cùng PBoC sẽ phải nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Điều này sẽ làm chậm quá trình giảm tỷ lệ đòn bẩy. PBoC đã ba lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng trong năm nay.  Tác động đến chiến lược nâng cấp ngành “Made in China 2025”. Với tham vọng sẽ vươn lên hàng ngũ các nước dẫn đầu về CN trong 10 lĩnh vực then chốt và tăng tỷ lệ tự chủ về CN vào năm 2025, TQ thực hiện cùng lúc cả việc (i) mua bán, sáp nhập hoặc đầu tư ở nước ngoài (như Mỹ) để có CN nguồn và (ii) yêu cầu các công ty nước ngoài tại TQ phải chuyển giao CN. Nhưng “cuộc chiến” mà tổng thống Trump khơi ra đã làm cả hai nguồn tiếp cận CN này của TQ bị thu hẹp. Tại Mỹ, Uỷ ban Đầu tư nước ngoài tại Mỹ (CFIUS) đã rất mạnh tay trong các hoạt động giám sát luồng vốn TQ.         Tổn thất tiềm ẩn đối với xuất khẩu của TQ có thể lên tới 5% giá trị xuất khẩu, cao hơn nhiều so với mức 0,7% của Mỹ.                  Những tính toán của TQ  Lôi kéo đồng minh. Trước sự “tấn công của Mỹ”, TQ đã nhanh chóng có các hoạt động lôi kéo EU để cân bằng các áp lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, ý tưởng lôi kéo EU đã thất bại vì EU đã bác bỏ đề xuất hợp tác chống lại việc tăng thuế quan thương mại mà Mỹ áp lên hàng hóa châu Âu và TQ.  Những phản ứng có lợi cho sản xuất trong nước. Trong việc áp thuế trả đũa, doanh nghiệp Mỹ chịu tác động rất lớn bởi chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp này (phần lớn đặt ngoài lãnh thổ Mỹ) sẽ bị xáo trộn. Trong khi đó, do 128 mặt hàng hiện nay mà TQ đánh thuế chủ yếu là hàng tiêu dùng như nông sản và thực phẩm (89 mặt hàng), rượu (5 mặt hàng), thép ống (33 mặt hàng) nên tác động đến chuỗi cung ứng của doanh nghiệp TQ rất hạn chế.  Leo thang căng thẳng kiểu TQ. TQ thường có cách trả đũa kinh tế là sử dụng các quy định trong nước nhắm vào một số ngành hoặc công ty nhất định để trừng phạt thay vì làm công khai (như cách của Mỹ). Theo số liệu của AmCham, nếu như giai đoạn 2013-2015, khó khăn lớn nhất với các doanh nghiệp Mỹ là chi phí lao động tại TQ gia tăng, khó khăn thứ hai chính là sự gia tăng của các quy định và kiểm tra hành chính thì từ 2016- 2017 còn nỗi lo lớn nhất là sự gia tăng của các quy định và kiểm tra hành chính không rõ ràng. Đồng thời, chủ nghĩa bảo hộ kiểu TQ đã từ vị trí thứ năm nhảy lên thứ ba trong số các lo ngại của doanh nghiệp Mỹ.  Đợi đến bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ vào tháng 11/2018. Nhìn vào các phản ứng của TQ có thể thấy mức độ phản ứng khá kiềm chế và mang tính thụ động. TQ có thể đang đợi các đòn trả đũa của mình phát huy tác dụng đối với nhóm lợi ích trong lòng nước Mỹ (nông dân, các hãng vận tải biển v.v.) và để xem liệu nó có thành một áp lực đủ lớn khiến tổng thống Trump phải thay đổi cách tiếp cận vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ hay không. Tất cả các nước cũng có chung sự chờ đợi và quan sát này.  Khẳng định cam kết của “Made in China 2025”. Khi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung có một mục đích quan trọng là làm TQ thất bại trong việc thực hiện chiến lược Made in China 2025, thì sau cuộc họp Bắc Đới Hà vào tuần trước, thông báo của Quốc vụ viện TQ ngày 8/8 cho biết, chính phủ quyết định điều chỉnh Tiểu ban lãnh đạo Khoa học CN và giáo dục quốc gia thành Tiểu ban lãnh đạo Khoa học CN quốc gia, trong đó ông Lưu Hạc được giao làm tổ phó. Tín hiệu này cho thấy TQ dường như sẽ đẩy nhanh việc hoàn thành mục tiêu này trước năm 2025.  Tác động đối với Việt Nam  Tăng trưởng kinh tế. Độ mở kinh tế của Việt Nam hiện nay thuộc nhóm cao nhất thế giới, tăng trưởng kinh tế cũng hưởng lợi nhiều nhờ xuất khẩu, vì vậy, môi trường xuất khẩu xấu đi sẽ tác động đến tăng trưởng của Việt Nam. Nghiên cứu của NCIF cho thấy tăng trưởng Việt Nam bị suy giảm mạnh không kém so với Mỹ, TQ, Hàn Quốc hay Singapore khi căng thẳng leo thang.  Xuất khẩu. Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung sẽ làm suy giảm tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Khi mức đánh thuế tăng từ 1000 dòng thuế (trị giá 50 tỷ USD) nhắm vào hàng hoá TQ tăng lên 6000 dòng thuế thì số hàng hoá trùng lắp với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ tăng lên và nguy cơ bị “vạ lây” cũng tăng theo. Tuy nhiên, do Mỹ đã có luật thuế chống lẩn tránh nên khả năng sản xuất hoặc hàng hoá TQ chạy qua Việt Nam để lách luật vào thị trường Mỹ sẽ giảm đi đáng kể.  Tỷ giá. Trong một năm qua, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng 12 tỷ USD nhưng vẫn ở mức cơ bản của tuần nhập khẩu. Những căng thẳng thương mại leo thang sẽ làm giảm giá đồng VND và Ngân hàng nhà nước có thể sẽ phải hy sinh một phần dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá, ổn định tâm lý của doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước (SBV) cũng đã có hai hoạt động nhằm ổn định tỷ giá là (i) Hút mạnh thanh khoản trong hệ thống và (ii) Thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) để hút VND về. Mặc dù cán cân vốn đang thặng dư và hỗ trợ tốt cho dự trữ ngoại tệ nhưng nửa cuối 2018 cán cân này có tiếp tục duy trì được thặng dư hay không vẫn là một câu hỏi. Vì vậy trong ngắn hạn, ổn định tỷ giá sẽ là thách thức mới cho điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ năm 2018.    Author                Phạm Sỹ Thành        
__label__tiasang Cảnh báo về những núi rác khổng lồ      Thế giới đứng trước nguy cơ bị chết ngạt vì  rác thải. Bất chấp mọi nỗ lực về sinh thái, sản lượng chất thải toàn cầu  đang tăng lên, và theo kết quả một nghiên cứu gần đây nhất, lượng rác  thải còn tiếp tục tăng, ít nhất đến năm 2075. Điều đặc biệt gây lo ngại  là thành phần rác thải đang thay đổi, và nước càng giầu có thì rác thải  càng độc hại.    Phải chăng trái đất này là một bãi rác khổng lồ? Theo tạp chí “Nature”, năm 2010, toàn địa cầu này mỗi ngày sản sinh ra 3,5 triệu tấn rác. Nhưng con số này nay đã trở nên quá lạc hậu, theo Daniel Hoornweg thuộc ĐH Ontario (Canada) và các đồng nghiệp của ông, lượng rác thải đang không ngững tăng vọt.   Rác thải nói chung là vấn đề nổi cộm, gây bức xúc đặc biệt ở các đô thị và những địa phương đang đô thị hóa. Một người ở thành phố tạo ra lượng rác thải cao gấp hai đến gấp bốn lần so với người dân ở nông thôn trong khi đó sự đô thị hóa lại đang diễn ra rất mạnh mẽ. Năm 1900, người dân ở đô thị trên toàn thế giới mỗi ngày thải ra khoảng 300.000 tấn rác. Một trăm năm sau, con số này tăng gấp mười, lên 3 triệu tấn; đến năm 2025, con số này sẽ tăng tối thiểu gấp đôi, tức sáu triệu tấn mỗi ngày. Để vận chuyển khối rác thải hàng ngày, cần số xe ô tô chở rác xếp hàng dài khoảng 5.000 km! Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu xu hướng này không thay đổi thì đến năm 2100, mỗi ngày thế giới lại có thêm 11 triệu tấn rác thải rắn.   Các nhà nghiên cứu cảnh báo, hiện nay tác động của tình trạng rác thải đối với trái đất đã rất lớn. Hạn chế tăng trưởng dân số, cải thiện công tác quản lý nguồn tài nguyên ở các thành phố và tiến bộ công nghệ, thí dụ xử dụng chất liệu đóng gói nhẹ hơn, là những yếu tố có thể tạo nên một bước ngoặt đối với tình trạng này.   Vấn đề là ở chỗ: hiện nay những biểu hiện tích cực còn rất nhỏ nhoi. Hoornweg và các đồng nghiệp của ông đưa ra ba kịch bản. Theo kịch bản lạc quan nhất thì lượng rác thải sẽ lên đến đỉnh cao vào năm 2075. Nếu xu hướng như hiện nay tiếp diễn (kịch bản hai) hoặc tình trạng còn tồi tệ hơn nữa (kịch bản ba), thì lượng rác thải còn tiếp tục tăng sau năm 2100.     Rác thải tăng nhanh ở châu Á và châu Phi   Hiện tại, các quốc gia công nghiệp ở châu Âu và Bắc Mỹ tạo ra một lượng rác thải lớn nhất. Trong kịch bản “Business as usual”, Hoornweg và các đồng nghiệp cho rằng bắt đầu từ năm 2050 lượng rác thải hàng ngày ở các quốc gia này giảm dần. Lý do là tăng trưởng dân số ngày càng giảm, ý thức về môi trường ngày một tăng và tiến bộ về công nghệ. Xu hướng này sẽ diễn ra sớm hơn ở một số thành phố nhất định: Thí dụ San Francisco đề ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa lượng rác thải xuống bằng không. Hiện nay tại đây 55% lượng rác thải các loại đã được tái chế để đưa vào sử dụng.  Tiếc rằng trước tin vui này lại có hai tin buồn.   •  Tin buồn thứ nhất: Trong khi ở các nước công nghiệp đang có dấu hiệu của sự cải thiện tình hình thì ở những nơi khác lượng rác thải lại có xu hướng tăng nhanh; thí dụ ở Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc. Từ năm 2025 có nhiều khả năng tình hình đó sẽ diễn ra ở Nam Á và từ năm 2050 là ở châu Phi – các nhà khoa học coi sự phát triển ở châu Phi có ý nghĩa quyết định đến mức độ và thời điểm rác thải lên đến đỉnh cao nhất.     •   Tin buồn thứ hai: mức sống càng cao, lượng rác thải càng giảm, nhưng sự thay đổi thành phần rác thải lại diễn ra từ trước đó và sự thay đổi này hoàn toàn không phải là một dấu hiệu tích cực.   Bài báo của tạp chí Nature nêu rõ, càng có nhiều tiền thì đóng gói bao bì càng nhiều hơn, rác thải điện tử, đồ chơi, thiết bị, đồ dùng gia đình ngày càng nhiều trong các bãi rác. Chuyên gia về bảo vệ môi trường của ĐH Dresden cũng có nhận định tương tự: “Càng công nghiệp hóa, tỷ lệ rác thải độc hại tăng lên.” Nếu xét về yếu tố bảo vệ môi trường, “điều đáng quan tâm không phải chỉ là số lượng mà phải tính cả đến chất lượng rác thải”.    “Rác thải thịnh vượng”    Bãi rác khổng lồ ở Pakistan.  Các nhà sinh thái đặc biệt quan ngại về “rác thải thịnh vượng”, thí dụ các loại nhựa tổng hợp đang tạo thành những bãi rác khổng lồ trên các đại dương, do va đập, chúng trở thành những hạt nhỏ li ti và cá, rùa biển, chim biển và các loài động vật biển khác nuốt phải những hạt nhựa độc hại này. Các nhà nghiên cứu còn nghi, những hạt mịn này ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của các loài tảo mà tảo hầu như là nền tảng cho sự sống ở dưới nước.     Trên đất liền, các bãi rác là nguy cơ đe dọa nguồn nước ngầm; ngay cả việc đốt rác cũng gây nhiều điều bất lợi. Hoornweg và cộng sự ước tính, thế giới hiện có khoảng 2.000 cơ sở xử lý rác bằng cách thiêu đốt, trong đó có những cơ sở lớn nhất, mỗi ngày có thể thiêu hủy khoảng 5.000 tấn. Điều này không chỉ tốn kém mà khí thải từ những lò thiêu rác này còn ảnh hưởng xấu đến không khí, tro bụi của chúng ảnh hưởng xấu đến đất đai.   Những chất dùng trong sản xuất công nghiệp gây nhiều lo ngại nhất – với sự công nghiệp hóa ở châu Á và châu Phi, những vùng dân cư đông đúc, loại rác thải này sẽ ngày càng nhiều hơn. Hoornweg và công sự viết “Qua số liệu về sự vứt bỏ điện thoại di động, người ta có thể đọc được sự thịnh vượng của một quốc gia.”  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấp thiết cải cách tiêu chuẩn  thành viên các Hội đồng chức danh      Việc Chính phủ vừa đưa ra công luận bản Dự thảo Quy định tiêu chuẩn chức danh GS, PGS với điểm mới nổi bật là yêu cầu bắt buộc các ứng viên phải là tác giả chính 2-3 bài báo khoa học công bố quốc tế (chuẩn ISI, hay rộng hơn – chuẩn Scopus) hay bằng độc quyền sáng chế có giá trị đã nhận được sự quan tâm, đồng tình rộng rãi của cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, bản dự thảo tiêu chuẩn chức danh GS, PGS có một khiếm khuyết cơ bản là trong khi đòi hỏi các ứng viên phải có công bố quốc tế ISI và Scopus, thì lại không đòi hỏi như vậy đối với thành viên các Hội đồng chức danh GS (HĐCDGS) – vốn đóng vai trò thẩm định và nắm khâu quyết định trong việc cải cách tiêu chuẩn các chức danh.      Việc cải cách tiêu chuẩn các chức danh GS, PGS ở thời điểm này là quá muộn so với những cải cách trong việc tài trợ các đề tài nghiên cứu cơ bản mà Bộ KH&CN đã thực hiện với sự hình thành và hoạt động Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (Nafosted) từ năm 2009: Theo đó, các chủ trì đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB) trong lĩnh vực KHTN&KT phải đạt yêu cầu tối thiểu có công bố quốc tế ISI (cao hơn chuẩn Scopus) trong năm năm gần nhất, trước khi đề tài được xem xét. Từ các đề tài mà họ thực hiện trong hai, ba năm phải có được ít nhất hai bài báo quốc tế ISI, trong đó chủ trì đề tài phải là tác giả chính (tác giả liên hệ hay tác giả đứng tên đầu) của ít nhất một bài.  Ngay từ đợt xét đầu tiên, 80% các chủ trì đề tài NCCB cũ trong ngành Cơ học gồm phần nhiều là các GS chức sắc gọi là đầu ngành nhưng không đạt tiêu chuẩn đầu vào về công bố quốc tế, trong khi hơn 50% chủ trì được duyệt là các TS trẻ và trung tuổi lần đầu tiên có được cơ hội chủ trì đề tài mà theo cơ chế cũ họ không với tới được. Trái ngược với nhiều ý kiến cho rằng Chương trình sẽ thất bại, không lấy đâu ra người chủ trì các đề tài, và các đề tài không thể hoàn thành, chương trình NCCB của Bộ KH&CN đã thành công vượt mọi mong đợi và là điểm sáng trong quản lý khoa học nước nhà. Mặc dù có những chủ trì phải rút lui đề tài, có những chủ trì không hoàn thành nhiệm vụ phải hoàn lại một phần kinh phí (điều chưa từng xảy ra trước đây), nhiều chủ trì phải xin gia hạn, nhưng phần đông các đề tài được lựa chọn khắt khe đã hoàn thành nhiệm vụ, số các đề tài mới và số công bố quốc tế tăng nhanh hằng năm, cuốn hút được nhiều TS trẻ.      Có những chức sắc cấp cao thuộc chính các HĐCDGS Ngành hiện nay đã xin và bị từ chối, không chỉ một lần,đề tài NCCB vì không đạt tiêu chuẩn tối thiểu về công bố quốc tế.      Khác với cải cách toàn diện Chương trình NCCB của Bộ KH&CN, bản Dự thảo tiêu chuẩn chức danh GS, PGS có một khiếm khuyết cơ bản là trong khi đòi hỏi các ứng viên phải có công bố quốc tế ISI và Scopus, thì lại không đòi hỏi như vậy đối với các thành viên các HĐCDGS – vốn đóng vai trò thẩm định và nắm khâu quyết định với thành công của cải cách tiêu chuẩn các chức danh. Vì vậy, cần đòi hỏi công bố quốc tế đối với thành viên các HĐCDGS, tương tự như thành viên các hội đồng trong chương trình NCCB, thậm chí cần yêu cầu cao hơn, nhất là đối với các HĐCDGS ngành (như đối với tám hội đồng ngành của Chương trình NCCB trong lĩnh vực KHTN&KT).  Trong Dự thảo có một điểm mới là yêu cầu các thành viên HĐCDGS ngành phải có chức danh GS – lại là một cản trở cho tiến trình cải cách. Nhiều giáo sư và thành viên các HĐCDGS ngành của đa số các ngành hiện nay đều mang nặng tư duy cũ và yếu kém về chuyên môn – thậm chí không đạt tiêu chuẩn tác giả chính các bài báo quốc tế của chức danh PGS mới. Trong khi đó tám hội đồng ngành của Chương trình NCCB trong lĩnh vực KHTN&KT được lựa chọn dân chủ từ các nhà khoa học công bố quốc tế xuất sắc nhất của các ngành, với các GS, PGS và cả TS tham gia bình đẳng phục vụ cho mục tiêu chung của khoa học nước nhà một cách trung thực, minh bạch và công tâm nhất, tuân theo chuẩn mực khách quan quốc tế. Ở điểm này thì lại cần giữ quy định cũ để có thể chọn được các HĐCDGS ngành từ các GS và PGS xuất sắc nhất.  Website của HĐCDGS Nhà nước cần mở để các GS, PGS, TS các ngành đạt tiêu chuẩn công bố quốc tế của chức danh PGS từ các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đăng ký lý lịch khoa học vào các ngành cụ thể theo mẫu quy định, và được cập nhật hằng năm (các thông tin công bố quốc tế đều có thể kiểm tra khách quan được). Do tính chất đa ngành hiện nay, nhiều đồng nghiệp có thể đồng thời đăng ký ở các ngành gần và giao nhau. Ví dụ nhiều chuyên gia các ngành Cơ khí, Xây dựng, Thủy lợi, Giao thông có thể đăng ký đồng thời vào cả ngành Cơ học, vốn đại diện cho phần đông trong số họ trong Chương trình NCCB hiện nay. Thông tin đó sẽ giúp HĐCDGS NN nắm được tình hình từng ngành và đặt ra các tiêu chí cụ thể sát thực tế hơn cho từng ngành. Ví dụ, đối với các ngành Toán, Lý, Cơ, Tin, Hóa, Sinh học… cần lấy tiêu chuẩn quốc tế ISI, thậm chí cao hơn nữa là SCI (Trung Quốc lấy chuẩn này). Dựa vào đây, Bộ GD&ĐT và HĐCDGS NN tiến hành thăm dò online lấy ý kiến các nhà khoa học đạt chuẩn quốc tế các ngành để chọn ra các HĐCDGS ngành có năng lực và xứng đáng nhất từ các GS, PGS. Không chỉ tính phiếu tín nhiệm, mà cả phiếu phản đối nữa, nhằm giúp loại bỏ những tiêu cực trong các ngành. Đó chính là cách làm đã thành công của Quỹ Nafosted và Bộ KH&CN đối với Chương trình NCCB.  Các HĐCDGS cơ sở cần mở rộng cho cả các TS có thành tích công bố quốc tế tốt, và mời thêm người bên ngoài cơ sở, nếu không đủ số GS, PGS đạt chuẩn công bố quốc tế. Ở những ngành công bố quốc tế còn quá yếu, bước đầu danh sách ứng viên HĐCDGS ngành có thể tạm mở rộng cả cho cả các GS chưa đạt chuẩn công bố quốc tế và cả các TS đạt chuẩn công bố quốc tế, và mời thêm chuyên gia từ ngành gần gũi.  Thành viên các HĐ ngành của Chương trình NCCB còn bị giới hạn số nhiệm kỳ liên tiếp: các thành viên, không quá sáu đến tám năm liên tục, Chủ tịch và Phó chủ tịch – không quá từ bốn đến sáu năm.Trong giai đoạn quá độ hiện nay, nhiệm kỳ các HĐCDGS ngành cũng nên được rút ngắn xuống từ hai đến ba năm, như của Chương trình NCCB, giúp các hội đồng này có thể được đổi mới liên tục cùng với đà tiến bộ của khoa học Việt Nam.      Phần lớn các giáo sư và thành viên các HĐCDGS ngành của đa số các ngành hiện nay đều mang nặng tư duy cũ và yếu kém về chuyên môn – thậm chí không đạt tiêu chuẩn tác giả chính các bài báo quốc tế của chức danh PGS mới.      Tiêu chuẩn tác giả chính hai bài báo quốc tế đối với các ứng viên chức danh và thành viên HĐCDGS cần là của năm năm gần nhất, chứ không phải là của thời xa xôi khi đương sự còn được đào tạo ở nước ngoài và đã xa rời khoa học chuẩn mực nhiều năm – hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Với chức danh GS cần yêu cầu một nửa số điểm công trình phải là từ công bố quốc tế – điều đó là không khó với những ai đã qua ngưỡng tác giả chính các bài báo quốc tế nội lực, như kinh nghiệm Chương trình NCCB đã cho thấy.  Các GS, PGS đã đạt chuẩn cần được xem xét bổ nhiệm lại sau năm năm – trong thời gian đó đương sự vẫn phải tham gia nghiên cứu và đào tạo, và là tác giả chính các bài báo quốc tế.  Chúng ta cần có những thành viên của các HĐCDGS là những nhà khoa học có đức, có tài và có trách nhiệm trong việc lựa chọn các nhà khoa học đầu tàu xứng đáng ở thời điểm năng lực đỉnh cao của họ để họ kéo con tàu khoa học Việt Nam đi lên, chứ không phải khi họ đã ở tuổi xế chiều và đã qua thời kỳ đó. Chúng ta không thiếu các tài năng trẻ, những người tâm huyết với khoa học nước nhà, và họ cần được cởi trói, mà sợi dây trói ở đây chính là cơ chế và các HĐCDGS kiểu cũ.  Việc những nhà khoa học đầu tàu nổi bật về nghiên cứu cơ bản và đào tạo theo chuẩn mực quốc tế, với nhiều đóng góp cho tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của khoa học nước nhà những năm qua như Nguyễn Bá Ân, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Xuân Hùng… đã không được/bị từ chối chức danh GS cho thấy những bất cập và tiêu cực ở các HĐCDGS, trong khi họ ban phát hư danh cho biết bao GS, PGS yếu kém (kể cả chính họ), và trực tiếp hay gián tiếp tạo ra vô số các TS, sách, công trình, đề tài khoa học dỏm rời xa chuẩn mực quốc tế.  Có thể nói nhiều HĐCDGS ngành hiện nay không có uy tín đối với các nhà khoa học, đặc biệt là cộng đồng đang làm việc hết mình hướng tới chuẩn mực quốc tế, và đang là một yếu tố chính cản trở tiến bộ của khoa học nước nhà (giống như nhiều Hội đồng NCCB cũ trước khi Quỹ Nafosted ra đời năm 2009, mà hầu hết các thành viên cũng chính là các chức sắc ngự trị trong các HĐCDGS ngành). Vì vậy, trong tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước, cải cách các HĐCDGS là một vấn đề cấp bách hiện nay của khoa học Việt Nam.  * Ý kiến phản hồi về bài viết, xin gửi về địa chỉ tctiasang@gmail.com    Author                Phạm Đức Chính        
__label__tiasang Cấp thiết xây dựng thư viện số      Để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&amp;CN, từng bước thực sự trở thành động lực phát triển KT-XH của đất nước, cùng với việc cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, môi trường pháp lý cho hoạt động KH&amp;CN như yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi làm việc với Bộ KH&amp;CN vừa qua, theo tôi có một nhu cầu hết sức thiết thân đối với các nhà khoa học đó là cần sớm có một Thư viện số (Digital Library) cho cộng đồng khoa học nước nhà.        Đã từ lâu chúng ta vẫn phải cặm cụi làm nghiên cứu khoa học trong điều kiện thiếu thông tin khoa học quốc tế như suốt những năm thời bao cấp. Gần như toàn bộ các Viện NCKH, các trường đại học của Việt Nam đều không có direct access tới các tạp chí KHCN quốc tế, điều mà ngày càng không thể chấp nhận được nữa trong giai đoạn phát triển hội nhập hiện nay. Đã đến lúc chúng ta nên có khuyến cáo đề nghị tập thể lên các nhà quản lý KH ở nước ta, làm sao sớm tổ chức xây dựng được một Digital Library- một cơ sở hạ tầng cực kỳ quan trọng cho việc phát triển KHCN.  Vào trang web sau của trường ĐH Oxford http://www.inasp.info/pubs/diglibpak/ và download Bản tin “Accessing Electronic Information” của tác giả Amina, chúng ta sẽ thấy Pakistan- một nước đang phát triển có nhiều nét tương tự Việt Nam- đã xây dựng thành công Digital Library (DL) cho cộng đồng các Viện KHCN và các trường ĐH của nước này.  Với kinh phí cho năm đầu tiên (2003 – 2004) chi là 313 ngàn USD (xem page 16) positive impact của DL đối với nghiên cứu và triển khai của Pakistan trở nên quá rõ rệt (xem page 24) và đến năm học 2005 – 2006, kinh phí cho DL đã được tài trợ lên mức 2,2 triệu USD không chỉ bao gồm tiền mua bản quyền các tạp chí KHCN quốc tế mà còn bao gồm nhiều hoạt động phổ biến hỗ trợ kỹ thuật trao đổi thông tin KH… trong Pakistan và giữa các nhà KH Pakistan và cộng đồng KH quốc tế.  Chúng tôi nghĩ rằng 1 triệu USD/năm có thể vẫn là số tiền không nhỏ trong điều kiện kinh phí NCKH của Việt Nam, nhưng các nhà lãnh đạo, quản lý KH chắc chắn phải có quan tâm đến việc thành lập một DL cho nước nhà nếu như muốn KHCN thực sự phát triển. Trong khi việc thiếu electronic access tới các tạp chí KH quốc tế không cảm thấy bức xúc lắm trong các cơ sở hành chính, quản lý KH hoặc các trường ĐH chỉ làm đào tạo và không có các hoạt đồng NCKH, đối với các nhà chuyên môn đang cặm cụi làm nghiên cứu triển khai thì đây thực sự là một nhu cầu, một mong ước từ hàng chục năm nay!!!  Nếu như các nhà khoa học ủng hộ khuyến cáo này của chúng tôi, xin đề nghị gửi e-mail tới tạp chí Tia Sáng (tiasang@fpt.vn) để chia sẻ các suy nghĩ của mình trên diễn đàn của tri thức VN.  ——  * Viện Khoa học & Kỹ thuật Hạt nhân,   Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam – Bộ KH&CN.             Đào Tiến Khoa*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện công nghệ trong chống dịch Covid- 19: Hướng tới đối tác công – tư      Sử dụng các ứng dụng công nghệ số vào chống dịch Covid 19 được Chính phủ lựa chọn là một trong ba giải pháp mũi nhọn (cùng với truy vết nhanh và vaccine). Cách tiếp cận này là đúng đắn bởi trong suốt thời gian chống dịch hơn một năm qua, các ứng dụng công nghệ, gồm bốn nhóm chính (1) khai báo y tế, (2) hỗ trợ truy vết người có nguy cơ, (3) sử dụng dữ liệu để lên các kịch bản ứng phó; và (4) ứng dụng công nghệ để truyền thông, cập nhật thông tin, nâng cao nhận thức của người dân trong dịch đã chứng tỏ được hiệu quả. Điểm sáng đáng ghi nhận ở đây là các công ty công nghệ đã tham gia tích cực cùng với Chính phủ để cùng thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp/ ứng dụng công nghệ này. Dù vậy, về dài hạn để ‘nâng tầm’ mối quan hệ giữa các cơ quan chính phủ và khối doanh nghiệp tư nhận trở thành đối tác công – tư thực thụ nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa và bền vững cho nhà nước, cho cộng đồng người dân, và bản thân doanh nghiệp, nhiều khía cạnh từ pháp lý đến cơ chế tài chính cần được cân nhắc để hoàn thiện.      Khai báo y tế tại sân bay ở Việt Nam. Ảnh: vietnamairport.vn  Từ chú trọng khía cạnh pháp lý để đảm bảo mối quan hệ bền vững   Hiện nay các nhóm ứng dụng công nghệ kể trên được phát triển theo cơ chế – cơ quan nhà nước khởi xướng ý tưởng, sau đó công ty công nghệ tham gia phối hợp với các cơ quan nhà nước phát triển, xây dựng, vận hành các ứng dụng này. Ví dụ, ứng dụng truy vết tiếp xúc Bluezone về cơ bản do Công ty Công nghệ BKAV thực hiện; hệ thống tờ khai y tế do Viettel thực hiện. Đại diện cho phía cơ quan nhà nước, vai trò chủ trì thuộc về Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Y tế. Như vậy, xét về nguyên tắc, chủ sở hữu các ứng dụng công nghệ này là cơ quan nhà nước. Do đó, cơ quan nhà nước cũng sẽ là đầu mối phải chịu trách nhiệm về mặt pháp luật đối với tất cả những vấn đề phát sinh nếu có trong quá trình xây dựng, vận hành các ứng dụng đó.   Một trong những vấn đề cần đặc biệt chú ý ở đây là bảo vệ an toàn cho các thông tin, dữ liệu cá nhân nói chung, thông tin y tế cá nhân của người sử dụng mà các ứng dụng thu thập, xử lý, lưu trữ và chia sẻ. Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ hiệu quả là không cần bàn cãi, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam bởi an toàn dữ liệu liên quan trực tiếp đến niềm tin của người dân – những người trực tiếp cung cấp thông tin. Trong suốt giai đoạn ứng phó với dịch, thông tin, lịch trình di chuyển của nhiều công dân không may mắn bị nhiễm Covid 19 đã bị chia sẻ tràn lan trên mạng xã hội, trong các nhóm ‘chat’, trang thông tin. Trong nhiều trường hợp, ‘gạch đá mạng xã hội’ – tức những bình luận, chỉ trích ác ý nhắm vào cá nhân, gia đình, người thân của những người này. Những tổn thương về tâm lý, xã hội mà các cá nhân phải hứng chịu là rõ ràng. Nhìn rộng hơn, khi bất cứ ai cũng có thể trở thành ‘miếng mồi’ cho cộng đồng tấn công; tâm lý e ngại, không hợp tác, không cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước sẽ xuất hiện. Niềm tin bị suy giảm sẽ trực tiếp khiến công việc của những người chống dịch trở nên khó khăn hơn. Bảo vệ thông tin, do đó chính là bảo vệ niềm tin của người dân đối với các cơ quan nhà nước.       Khi chống dịch đã đi vào bài bản, để mối quan hệ nhà nước – tư nhân, thực sự trở thành đối tác công-tư bền vững, đóng góp lâu dài vào tiến trình hồi phục kinh tế hậu Covid nói riêng, sự phát triển chung về thị trường khoa học – công nghệ nói riêng, cần đến những tiếp cận mang tính có hệ thống hơn về pháp lý, về tài chính      Kể cả mối quan hệ hợp tác, phối hợp hiện nay giữa các bộ với doanh nghiệp hiện nay là rất tốt đẹp và tích cực, điều đó không loại trừ tính cần thiết việc xác lập một cơ chế hợp đồng gắn với trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan nhà nước và đối tác triển khai giải pháp công nghệ. Cụ thể, trên hợp đồng này, cơ quan nhà nước là chủ thể sở hữu giải pháp đó; công ty công nghệ là nhà thầu thực hiện. Tất cả thông tin, dữ liệu thu thập được trong suốt tiến trình, xây dựng, vận hành đều là tài sản thuộc về nhà nước. Và theo đó, trách nhiệm cao nhất để đảm bảo an toàn thông tin và dữ liệu thuộc về nhà nước. Khi có bất kỳ sự cố nào xảy ra với dữ liệu của công dân, cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp để xử lý. Và nếu công dân không hài lòng với việc bảo vệ dữ liệu của cá nhân mình, công dân có thể khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính cơ quan nhà nước đó (chứ không phải là khởi kiện doanh nghiệp).   Ở chiều ngược lại, cơ quan nhà nước – hay chủ sở hữu giải pháp, có cơ chế ràng buộc trách nhiệm với ‘nhà thầu công nghệ’ bao gồm giám sát quá trình thực hiện, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật cả trong giai đoạn xây dựng giải pháp lẫn tiến trình vận hành giải pháp công nghệ. Việc kiểm toán an ninh mạng là cần thiết để đảm bảo rằng vấn đề an toàn và an ninh, bao gồm an toàn an ninh dữ liệu đảm bảo các chuẩn mực cần thiết.   Cũng cần nhìn nhận rộng hơn rằng, yếu tố mất an toàn, đặc biệt là an toàn dữ liệu không chỉ xảy ra đối với ‘phần mềm’ mà còn đến từ các nhân sự thực hiện – đặc biệt là những người nằm ngoài ‘giới công nghệ’. Một nhân viên y tế hay nhân viên từ ban ngành khác được quyền tiếp cận dữ liệu, nhưng lại không được đào tạo, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ về bảo vệ dữ liệu có thể là rủi ro làm lộ lọt dữ liệu. Kiểm toán an ninh mạng, do đó giúp nhận biết và ‘vá’ kịp thời các rủi ro trong suốt hệ thống này.      Đến cơ chế tài chính cho dài hạn  Hiện nay, trong nhiều trường hợp, sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ đang mang tính tự nguyện – dưới dạng đóng góp nhân lực cho cơ quan nhà nước khi cần kíp để thực hiện yêu cầu chống dịch. Tuy nhiên, về dài hạn, song song với việc hình thành mối quan hệ hợp đồng cơ quan nhà nước – nhà thầu công nghệ; cần tính đến cơ chế tài chính mang tính minh bạch và bền vững theo mô hình nhà nước đặt hàng công ty công nghệ về giải pháp. Bởi ‘tình nguyện’ dù sao cũng chỉ có thể huy động trong ngắn hạn và mang tính thời điểm. Doanh nghiệp trước hết sẽ ưu tiên cho việc kinh doanh của họ và sẽ không thể hỗ trợ hiệu quả một khi các yêu cầu hỗ trợ kéo dài. Hơn thế nữa, một khi bị ràng buộc về trách nhiệm pháp lý (để giảm thiểu các rủi ro), sẽ là bất công cho doanh nghiệp nếu không được trả thù lao hợp lý cho công việc của họ.   Vì vậy, giải pháp cơ quan nhà nước, sử dụng tiền từ ngân sách, đặt hàng doanh nghiệp thực thi là giải pháp mang tính căn cơ và đúng đắn hơn cho dài hạn. Xét ở khía cạnh ‘cơ hội’, chống dịch Covid 19 là một cơ hội mà nhà nước có thể đầu tư nguồn lực tài chính để thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ còn non trẻ ở Việt Nam. Đấu thầu minh bạch các nhiệm vụ, mở rộng ‘cửa’ tham gia rộng rãi cho doanh nghiệp, đặc là doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ biến ‘covid 19’ trở thành cú hích cho lĩnh vực công nghệ số.   Cuộc chiến ‘chống dịch’ ở nước ta có khả năng vẫn còn kéo dài. Nỗ lực ứng phó của các cơ quan nhà nước, trong đó bao gồm huy động sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân là điểm sáng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, khi chống dịch đã đi vào bài bản, để mối quan hệ nhà nước – tư nhân, thực sự trở thành đối tác công-tư bền vững, đóng góp lâu dài vào tiến trình hồi phục kinh tế hậu Covid nói riêng, sự phát triển chung về thị trường khoa học – công nghệ nói riêng, cần đến những tiếp cận mang tính có hệ thống hơn về pháp lý, về tài chính. Bước đầu ‘chống giặc’ không tránh khỏi việc ‘giao nhiệm vụ miệng’ – nhưng khi chống dịch trở thành bình thường mới, thì cần chuyển sang quan hệ hợp đồng. Sự chuyên nghiệp được hình thành, bản thân nó trở thành cơ chế bảo vệ cho chính cơ quan nhà nước, cho doanh nghiệp; và sau cùng người dân được hưởng lợi bởi chính sự an toàn, không chỉ an toàn sức khỏe mà còn an toàn về quyền riêng tư và đời sống cá nhân mỗi người.□    Author                Nguyễn Quang Đồng, Nguyễn Lan Phương        
__label__tiasang Câu chuyện của niềm tin      1. Như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng  như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.      Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi có bạn bè mới,  thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không  có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn  nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên.   Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do  học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền  được người khác tôn trọng.   Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ.  Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là  xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng  bản gốc.  Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin  chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự,  không gây cho mình cảm giác khó chịu.  Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng.  Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng  tôi.  Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. Điều khoản cho biết, nếu mất xe  thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất  thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được  câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.  Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự  tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác  lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực,  xác nhận…    Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.  2. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa.   Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây.  Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận?  Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?   Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp  như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang  đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong.   Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy.   Tôi ngẫm ra: Càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.  3. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi  thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một  chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên  ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng  phải niêm phong rồi mới được mang theo.   Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định!  Quy định gì? Quy định không được tin nhau.  Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau  khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa  đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh  cho ra ngoài.  Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có  hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra  này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2  mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn  thì mới được ra?  Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì  các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một  câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.  Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả  đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét  đó để phải chịu cảnh khám xét?  Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất  qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì  sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và  chờ đợi cảnh được khám xét.  Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể.   Tôi rút ra kết luận: Nhiều người Việt không tin người Việt. Nhiều người  Việt không hiểu rằng mình có quyền phải được người khác tôn trọng.   4. Chúng tôi ra về, nhưng vẫn ám ảnh câu hỏi: Vì sao người Việt  không tin nhau? Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác  thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện?   Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y  bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời  gian cho những thứ này?   Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.   Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”?   Và khi nào thì người ta không tin nhau?   Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.  Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.  Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?  Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức  có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác,  đề phòng.   5. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển.  Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường  trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã  trờ thành một lối sống của xã hội? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa  người với người đã trở nên cạn kiệt?  Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài.  Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù  địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của  mình?  Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy  mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài  kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó thực sự có một sự  hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Muốn vậy cần  xóa bỏ mọi nghi kỵ lẫn nhau giữa mọi tầng lớp xã hội.  ***  Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã  hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm  sao phát triển?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện melamine và rủi ro trong xã hội hiện đại      Các giới chức y tế nước ta đang tập trung nhân lực vào việc phát hiện melamine trong sữa. Thông tin này làm cho công chúng hoang mang và thắc mắc là trẻ em có nên uống sữa hay không. Ngay cả Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đích thân đến siêu thị để xem xét sữa xem có bị pha trộn melamine hay không.       Theo báo chí, Việt Nam đã có 18 hiệu sữa được phát hiện hàm chứa melamine, còn trên thế giới đã có hơn 35 sữa bột có vết melamine.  Nhưng cần phải nhấn mạnh rằng không phải chỉ sữa mới bị pha trộn melamine; còn nhiều thực phẩm nữa cũng đã được phát hiện hàm chứa melamine. Danh sách mà các sản phẩm và thức ăn hàm chứa melamine rất dài, kể cả:      * Các giới chức ở Hồng Kông cho biết họ phát hiện vết melamine trong bánh gạo rang giòn (cereals and crackers) cho trẻ em do một công ty của Trung Quốc sản xuất. Ngoài ra, melamine còn tìm thấy trong bánh kem do Trung Quốc sản xuất;      * Bánh biscuit cũng chứa melamine ở Hà Lan;      * Cà phê hiệu Brown;      * Trà bán trong siêu thị Unilever, thậm chí kẹo chocolate nổi tiếng Cadbury cũng chứa melamine đã được tìm thấy ở Hồng Kông;      * Hai loại bánh “snacks” hiệu Ritz;      * Kẹo ngọt ở Nhật bị thu hồi;      * Ở Hàn Quốc, có đến 305 sản phẩm từ Trung Quốc bị tẩy chay;      * Ở Indonesia, cơ quan y tế tìm thấy melamine trong 12 loại thực phẩm từ Trung Quốc, trong số này có bánh biscuit, kẹo, và nước ngọt.  Thật ra, hầu hết các thực phẩm được chế biến bằng qui trình công nghiệp đều không ít thì nhiều hàm chứa hóa chất có thể độc hại cho sức khỏe. Bao bì bằng nhựa và nylon thường hàm chứa một hay nhiều hóa chất như polyethylene (sử dụng cho bình sữa, bao bì chứa nước ngọt, ngũ cốc, v.v…), polyethylene terephthalate (tức PET hay PETE), polypropylene, polyvinyl chloride (PVC). Ớt bột chứa chất sudan, một loại hóa chất có thể gây ung thư. Benzene cũng tìm thấy trong nước ngọt, nước trái cây, nước khoáng có pha mùi trái cây, nước ngọt tạo năng lực (enery drink). Vân vân …  Hóa chất độc hại chung quanh chúng ta  Nhiều người có lẽ không biết rằng rất nhiều thực phẩm bày bán ở các siêu thị như thịt bò, thịt heo, thịt gà, v.v… đều hàm chứa các hormone tăng trưởng nhân tạo (synthesis growth hormone) và một số hóa chất có hại cho sức khỏe. Cũng giống như trường hợp melamine trong sữa, nhiều nhà sản xuất sử dụng hormone tăng trưởng để gia tăng năng suất thịt trong một thời gian ngắn. Thật ra, từ thập niên 1950, nông dân Âu châu đã sử dụng estrogen nhân tạo tăng trưởng để tăng trọng lượng gà một cách nhanh chóng (hóa chất này có thể gây ung thư). Tương tự, rau quả nhập từ nước ngoài cũng hàm chứa nhiều hóa chất không có lợi – nếu không muốn nói là có hại – cho sức khỏe. Một thực tế ít ai chịu nhận là hóa chất độc hại có mặt chung quanh chúng ta.  Những sự thật trên đây cho thấy nếu các giới chức y tế (hay bất cứ ai) chịu khó tìm tòi, xét nghiệm, hay soi rọi thì chắc chắn sẽ phát hiện nhiều hóa chất độc hại khác, chứ không riêng gì melamine. Thật ra, cho đến nay, chưa có thông tin nào cho thấy melamine gây tác hại đến sức khỏe của người dân ở nước ta. Nhưng hằng ngày, người dân phải trực diện với hàng loạt thực phẩm khác có khi còn độc hại hơn cả melamine.  Vấn đề, do đó, không phải là thực phẩm hay sữa có hay không có hàm chứa melamine (hay hóa chất khác); mà là liều lượng an toàn là bao nhiêu. Theo các chuyên gia ở New Zealand và Âu châu thì nồng độ melamine an toàn trong sữa và thực phẩm là 5 ppm (5 phần triệu). Nồng độ này được đưa ra với tinh thần bảo thủ (tức thấp hơn 100 lần cho phép). Cần nói thêm rằng 5 ppm có nghĩa tương đương với 1 giọt mực trong một bồn 52 lít nước. Cho đến nay, chưa có sữa nào từ Việt Nam được xét nghiệm hàm chứa nồng độ đó.  Vấn đề cũng không phải là melamine, mà còn là các hóa chất độc hại khác. Theo báo Đất Việt trích dẫn nguồn Tổ chức Y tế Thế giới thì hằng năm có hàng triệu người Việt bị nhiễm độc chất qua thực phẩm, phơi nhiễm hàng hóa độc hại và môi trường. Vẫn theo nguồn tin này, có gần 1/4 rau quả nhập vào Việt Nam có chất bảo quản độc hại. Nhìn như thế để thấy rằng vấn đề melamine chỉ là vấn đề nhỏ trong một tổng thể gồm nhiều hóa chất độc hại hơn mà người tiêu dùng phải tiếp nhận hằng ngày.  Văn hóa sợ hãi  Quan sát về những mối quan tâm và phản ứng trước vụ melamine trong sữa cho thấy một xu hướng thú vị: khi xã hội trở nên an toàn, xã hội dường như có nhu cầu đặt sự nguy hiểm trở lại trong cuộc sống. Có thể nói chúng ta đang sống trong một “Xã hội rủi ro”, một xã hội mà trong đó nhận thức của chúng ta về sự hiểm nguy, và những khái niệm về an toàn bị thay đổi hoàn toàn. Xã hội này tạo nên một cách hành xử mà tôi tạm gọi là “văn hóa sợ hãi”. Và, chúng ta đã trở thành những kẻ nô lệ của sự sợ hãi. Cái văn hóa sợ hãi này bắt nguồn từ nguyên lí cho rằng không nên dùng bất cứ một vật thể nào khi mà nó chưa được chứng minh là an toàn.  An toàn đã trở thành một trong những giá trị căn bản nhất của các xã hội phương Tây. Trong hệ thống giá trị văn hóa này, mọi tai nạn, rủi ro đều có thể ngăn ngừa được. Người ta không chấp nhận quan điểm cho rằng những tai nạn và thương tổn không thể ngăn ngừa được. Người ta cảm thấy khó đương đầu với những sự bất an, một phần vì những tiến bộ vượt bậc do khoa học đem lại cho con người và xã hội. Kiến thức khoa học càng tích lũy nhiều chừng nào, những sự kiện ngẫu nhiên càng trở nên khó chấp nhận chừng nấy, nhất là sự ngẫu nhiên đó gây ra thương tật. Do đó, khi vài người sống gần nhau có vẻ bị một bệnh tật giống nhau nào đó, xã hội đòi hỏi câu trả lời. Và, câu trả lời (hay thủ phạm) thường là những công nghệ mới.  Theo nguyên lí phòng ngừa, rủi ro là một khiếm khuyết của xã hội đáng lẽ không nên tồn tại. Chính vì thế mà gần đây người ta cho rằng hai chữ “tai nạn” là một cái gì không phải đạo. Ở Mỹ và Anh, giới y tế công cộng muốn loại bỏ danh từ “accident” (= tai nạn) trong các danh mục bệnh tật, vì theo họ, “accident” thể hiện một cái gì vô trách nhiệm. Năm 2001, Tập san y học British Medical Journal tuyên bố rằng họ sẽ tẩy chay danh từ “accident” trong tập san. Họ (ban biên tập) cho rằng ngay cả bão, động đất, và tuyết lở là những sự kiện có thể tiên đoán được, và rằng các nhà chức trách có thể cảnh báo cho chúng ta biết trước. Một số người làm trong lĩnh vực chăm sóc trẻ con cũng khăng khăng cho rằng những vết bầm trên đầu gối là vết thương có thể phòng ngừa, hơn là tai nạn!  An toàn trong thời đại toàn cầu hóa  “An toàn” là một khái niệm phức tạp và tương đối. Không có một sản phẩm nào, kể cả sản phẩm thiên nhiên, có độ an toàn tuyệt đối. Rau quả đem lại dinh dưỡng, nhưng hóa chất trong và ngoài rau quả có thể gây tác hại đến sức khỏe. Thuốc để điều trị bệnh cũng không phải hoàn toàn an toàn, bởi vì bên cạnh những lợi ích là những rủi ro và nguy cơ. Máy bay cho chúng ta đi lại nhanh chóng và tiện nghi, nhưng chính máy bay cũng có thể gây ra cái chết cho hàng loạt hành khách. Khí cầu (airbags) trong xe ô-tô được thiết kế để cứu người lái xe và hành khách, nhưng nó cũng có thể là một vật thể giết người.  Nguy cơ, nếu được định nghĩa một cách nghiêm chỉnh, là xác suất một tai nạn hay sự cố xảy ra trong một thời gian và trong một môi trường nhất định. Không dễ đo lường nguy cơ, nhất là tần số của nó quá thấp trong cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân gây ra các bệnh kinh niên thường không rõ ràng (bệnh ung thư là một ví dụ), hay những thực phẩm có thể gây ra bệnh tật cũng không được định nghĩa rõ ràng. Chúng ta tin rằng có một mối liên hệ giữa thực phẩm và ung thư, nhưng vì các bệnh ung thư thường xảy ra ở một tần số rất thấp, nên các chương trình phòng chống ung thư đường ruột không cho thấy một hiệu quả nào của việc cải tiến thực phẩm.  Tại sao ngày nay trong khi khoa học phát triển rất cao và kiến thức khoa học càng ngày càng dồi dào, mà chúng ta lại càng ngày càng tỏ ra lo ngại về những nguy cơ rất thấp so với tình trạng của vài thập niên trước khi khoa học chưa tiến bộ và kiến thức khoa học còn hạn chế? Nhiều nhà xã hội học danh tiếng như Ulrich Beck và Anthony Giddens đã từng bỏ ra khá nhiều thời giờ để đi tìm câu trả lời. Họ đi đến kết luận rằng mấu chốt của vấn đề nằm ở cái mà họ gọi là trào lưu hậu hiện đại.  Hậu hiện đại là một quá trình phát triển mà tất cả chúng ta đều phải trải qua trong một môi trường của những nguy cơ, những bấp bênh, và tình trạng thiếu an toàn. Môi trường tự nhiên tạo nên con người; con người, qua quá trình làm việc, tạo nên văn hóa. Do đó, môi trường rủi ro này chi phối đến phản ứng của chúng ta trong thế giới mà chúng ta sinh sống, và cho ra đời cái văn hóa sợ hãi như hiện nay. Quan tâm đến những rủi ro trong cuộc sống hằng ngày không còn là những chuyện ngoại vi, mà nó đã được kết nối vào văn hóa, và nếp sống trong thời hậu hiện đại.  Nhưng mối quan tâm đến sự rủi ro ngày nay còn là một sản phẩm của quá trình toàn cầu hóa và những cảm giác bất an gắn liền với hệ thống thế giới. Quan tâm đến rủi ro xuất hiện lần đầu tiên vào thập niên 1950, thời gian mà các đại công ty Mỹ lo ngại rằng chủ quyền kinh tế của họ ở Âu châu sẽ bị mất. Đến thập niên 1970, thời gian mà người ta nhận thấy ảnh hưởng của các hóa chất trong môi trường có khả năng lan rộng trên bình diện toàn cầu. Những cuộc cách mạng công nghệ, cũng như bất cứ những thay đổi nào trong xã hội, đều gắn liền với một vài tai nạn. Thay đổi càng mới lạ chừng nào thì những hậu quả càng ít được biết chừng nấy. Do đó, công chúng càng ngày càng không tin tưởng vào khoa học, bất tín nhiệm vào các công ty kinh doanh và cả hệ thống công nghệ. Từ đó, sự rủi ro trở thành một sản phẩm của toàn cầu hóa.  Cần chiến lược lâu dài  Nỗi ám ảnh cá nhân với những cái rủi ro nhỏ nhất đã dần dà tích lũy thành một mối đe dọa cho xã hội nói chung. Giới truyền thông và giới trí thức, nhất là những người xuất hiện dưới danh nghĩa khoa học (hay ngụy khoa học) đóng một vai trò không nhỏ trong việc sản xuất ra nỗi ám ảnh cho công chúng. Có thể ví von rằng mối quan tâm về sự độc hại của melemine ở nước ta hiện nay chẳng khác gì mối quan tâm của giới trí thức trong thời Byzantine khi họ hỏi có bao nhiêu thiên thần có thể nhảy nhót trên một cây kim.  Trong cuộc sống đa chiều và chịu nhiều phụ thuộc lẫn nhau, chúng ta khó mà đòi hỏi một sự an toàn tuyệt đối. Do đó, nhận thức về những rủi ro trong cuộc sống hằng ngày là một điều cần thiết. Nhưng nhận thức như thế là để chúng ta biết những điều không nên hành động, chứ không phải để thụ động và đòi hỏi thế giới phải tuyệt đối an toàn. Dù muốn hay không, chúng ta phải chấp nhận một mức độ rủi ro trong cuộc sống đa chiều. Mức độ rủi ro có thể chấp nhận được tùy thuộc vào nhận thức của từng cá nhân.  Lợi ích và tác hại đều đi song song trong mỗi quyết định. Vấn đề không phải là tránh nguy cơ, mà là cân bằng giữa lợi và hại. Sự cân bằng này tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Một người 80 tuổi có thể không quan tâm đến việc thưởng thức một trái táo dù biết rằng hóa chất bảo quản trái táo có vết hóa chất có thể gây độc hại. Nhưng một trẻ em thì không có cái xa xỉ để ăn loại táo đó trong suốt quãng đời của mình.  Có nhiều lí do để tập trung vào việc tìm kiếm melamine trong sữa. Nếu sức khỏe là mối quan tâm số 1 của chúng ta và việc truy tìm melamine trong sữa nhằm mục tiêu bảo vệ sức khỏe, thì cũng có nhiều lí do khác để mở rộng cuộc truy tìm các hóa chất độc hại khác trong thực phẩm cho trẻ em và người. Tuy nhiên, làm theo phong trào hay áp lực có thể làm hài lòng một số người, nhưng trong thực tế sẽ khó đem đến hiệu quả cao cho xã hội. Xã hội cần một hệ thống kiểm tra an toàn và vệ sinh thực phẩm mang tính khoa học cao và minh bạch hơn để bảo vệ sức khỏe cho người dân về lâu về dài hơn là tập trung tài lực vào việc truy tìm sự có mặt của một hóa chất nào đó trong thực phẩm.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện một món nợ      Nhiệm vụ khoa học, công nghệ địa phương là làm sao “có nhiều người nông dân thông minh, nhiều làng thông minh để hướng đến một nền nông nghiệp thông minh, nông thôn thông minh”. Đó là điều mà đến nay chúng ta vẫn còn nợ người nông dân.      Ông Lê Minh Hoan, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: DanViet.  Một dịp đến thăm bà con nông dân trồng Quýt hồng nhìn thấy vườn tược sai quả mà phấn chấn vô cùng. Người dân quê này nổi tiếng về trồng Quýt hồng và trái cây này đã trở thành thương hiệu của địa phương. Nông dân khấm khá lên cũng nhờ vào Quýt hồng và các trái có múi khác. Nông dân quê mình cần cù lắm và cũng thông minh lắm!  Chợt một anh nông dân chỉ vào cần xé Quýt phân trần: “Đây là Quýt loại nhỏ, tụi tui còn gọi là Quýt “dạt”, bán chỉ có hai ngàn đồng một ký thôi, có khi vô mùa còn rẻ hơn nữa, bao nhiêu mồ hôi đổ ra mà giá rẻ đến đứt ruột”. Anh tiếp lời: “Khách đến tham quan vườn rất thích nước quýt ép tươi vừa thơm vừa ngọt. Nhưng ngặt một nổi, uống tại chỗ thì được, còn không biết cách nào vô chai để được năm ba hôm không bị hư để khách mua mang về. Anh có biết công nghệ nào ép và giữ trái cây mà không phải để các chất phụ gia bảo quản không để nhà vườn tận dụng những loại quýt bán rẻ này không? Nếu được, nhà vườn tụi tui có thêm thu nhập khấm khá đó”. Một câu hỏi đơn giản vậy thôi mà tìm câu trả lời hoài không ra. Nước ép trái cây thì nhiều doanh nghiệp lớn đã làm được rồi, nhưng làm sao có những công nghệ đơn giản hơn để người nông dân làm tại vườn được đây? Mỗi lần nhớ lại câu hỏi đó, thấy như còn một “món nợ” chưa trả với người nông dân quê mình…  Nông nghiệp thì có tính mùa vụ. Lúc chính vụ thì cho ra trái đồng loạt, vậy là “được mùa” thì sản lượng dôi dư ra, bán tươi không kịp thì “dội chợ”, “rớt giá”, rồi dẫn đến câu chuyện phải “giải cứu”. Người ta hay “kêu ca” nông nghiệp xứ mình chỉ chủ yếu bán nguyên liệu thô, mà bán thô là chỉ hưởng “tầng đáy” của chuỗi giá trị. Tầng giá trị cao hơn là bán sản phẩm, cao hơn nữa là tạo ra các dịch vụ như bảo quản, chế biến tinh. Vậy, muốn thoát ra cái bẫy nông sản “dội mùa” thì cần có công nghệ bảo quản, sơ chế, chế biến. Nếu từng hộ nông dân không làm được thì nhiều hộ liên kết trong các hợp tác xã lại làm. Mỗi khi vô vụ mùa, nông sản nào loại ngon thì bán trước, loại ít ngon hơn thì bảo quản dài ngày hơn để bán dần, loại nào không đúng quy cách thì chế biến thành mứt, thành khô, thành nước ép… Quy luật giá cả là thể hiện ở sự khan hiếm hay dư thừa mà thôi!  Vai trò của khoa học, công nghệ ngày càng quan trọng thì khỏi phải bàn cãi rồi, nhất là trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khoa học, công nghệ góp phần đưa hàm lượng tri thức vào sản phẩm để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Khoa học, công nghệ tầm vĩ mô thì tạo ra giá trị cho sản phẩm cấp độ quốc gia. Khoa học, công nghệ cấp địa phương thì tạo ra giá trị cho sản phẩm cấp độ địa phương. Đâu đó ở xứ người còn tạo ra giá trị cao từ những phụ phẩm nông nghiệp. Vậy thì, trồng lúa đâu chỉ thu nhập từ bán lúa, mà là bán gạo và các sản phẩm sau gạo. Ngay cả rơm rạ, tro trấu và nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp tưởng đâu “bỏ đi”, giờ đây, cũng nhờ vào khoa học, công nghệ mà sản xuất thành nhiều sản phẩm có giá trị: chiết xuất tinh chất vi lượng, năng lượng sinh học và nguyên vật liệu sinh học… . Các sản phẩm giá trị gia tăng từ con cá tra, như: dầu cá, collagen, gelatine, da cá… đã minh chứng cho yếu tố khoa học, công nghệ đã và đang làm thay đổi vượt bậc giá trị như thé nào. Muốn có “tư duy kinh tế” – lấy giá trị gia tăng làm mục tiêu – thay cho “tư duy sản xuất” – lấy sản lượng làm mục tiêu – phải nhờ vào các giải pháp khoa học, công nghệ.    Quýt hồng lai vung. Ảnh: Internet.  Đất nước mình dồi dào nguồn phụ phẩm nông nghiệp, hằng năm lượng phụ phẩm chiếm đến 15 – 20% giá trị chính phẩm. Thị trường sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp còn nhiều tiềm năng phát triển. Chính quyền, doanh nghiệp và nông dân cần xem việc phát triển sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp như là một ngành mũi nhọn mới, tạo ra nhiều sản phẩm mới. Việc chủ động biến phụ phẩm thành chính phẩm tuy không hề dễ dàng nhưng sẽ là một hướng phát triển nông nghiệp bền vững, chủ động giúp nhiều cây trồng, vật nuôi phát huy tối đa giá trị trong tương lai. Đó là hướng đi phổ quát của các nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới. Giá trị gia tăng giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến hòa quyện với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau.  Đứng trước mục tiêu chuyển đổi để thích ứng với biến đổi khí hậu và xu thế thay đổi của thị trường, nhiệm vụ khoa học, công nghệ địa phương cũng cần được định hình lại. Các viện, trường trong vùng phải là những hạt nhân kết nối với các trung tâm ứng dụng khoa học, công nghệ địa phương, bám sát nguyên lý chuỗi giá trị để có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ gắn với cuộc sống xã hội. Với tư duy “sản xuất nông nghiệp”, nhiệm vụ khoa học, công nghệ giúp tăng năng suất, sản lượng. Với tư duy “kinh tế nông nghiệp”, nhiệm vụ khoa học, công nghệ là tăng hàm lượng tri thức, tạo ra giá trị gia tăng cao trong từng công đoạn của chuỗi ngành hàng nông sản.  Chúng ta đang sống trong cơn bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Làm sao “đừng để ai bị bỏ lại phía sau” trên hành trình phát triển của địa phương, đất nước. Làm sao hỗ trợ người nông dân để bà con tiếp cận được khoa học, công nghệ nhằm tối ưu hóa tiện ích cho cuộc sống, tối đa hóa lợi nhuận của mỗi nhà, mỗi cộng đồng? Làm sao “Hệ tri thức Việt số hóa” đến được hàng chục triệu nông dân Việt? Nền Nông nghiệp thông minh đâu chỉ là chuyện riêng của những doanh nghiệp, mà “còn là, cần là và phải là” của hàng chục triệu nông dân Việt. Vậy là, “muốn có một nền nông nghiệp thông minh, cần có những người nông dân thông minh”. Và, muốn có những người nông dân thông minh, cần có những ngôi “làng thông minh”.  “Làng thông minh”, ở đó những người nông dân với sự hỗ trợ của công nghệ có tầm nhìn và tư duy vượt qua khỏi hàng rào của làng xã, kết nối với các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp. “Làng thông minh”, ở đó những người nông dân biết thiết kế ra những sáng kiến mới gần gũi, thiết thực cho cuộc sống của chính mình, xóm làng của mình. “Làng thông minh”, ở đó người nông dân biết kết nối thành những liên minh, tận dụng tài nguyên bản địa kết hợp với sức mạnh của công nghệ, tạo ra những sản phẩm khác biệt có giá trị cao.  Nhiệm vụ khoa học, công nghệ địa phương là làm sao “có nhiều người nông dân thông minh, nhiều làng thông minh để hướng đến một nền nông nghiệp thông minh, nông thôn thông minh”. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ địa phương là làm sao góp phần hỗ trợ các dự án khởi nghiệp về nông nghiệp công nghệ cao cấp, nông nghiệp chuyên đề công nghệ cao, làm thay đổi căn bản nền nông nghiệp đất nước. Những câu chuyện đó sẽ không bao giờ trở thành hiện thực nếu chúng ta tiếp tục “bàn”. Phải hành động! Chúng ta ăn cơm của người nông dân, nghĩa là đã “nợ” bà con mình rồi. “Nợ” thì phải cùng nhau về làng “trả” thôi!  “Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần!”  Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Lê Minh Hoan        
__label__tiasang Câu chuyện trí thức hay là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết      Bàn về trí thức hay bàn về vai trò của trí thức thực chất cũng chính là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết.&#160;    “Trí thức và vai trò của trí thức” hay “câu  chuyện về trí thức” là một đề tài không mới, nhưng chưa bao giờ cũ. Đây  cũng là một đề tài rất phức tạp và dễ gây tranh cãi, nhưng là một đề tài  đầy ý nghĩa đối với bất cứ xã hội nào, trong bất cứ thời đại nào. Có rất nhiều góc nhìn khác nhau về trí thức, mỗi góc nhìn lại cho ta một cách hiểu về trí thức và vai trò của trí thức. Nếu ta có được nhiều góc nhìn về một vấn đề thì ta sẽ có cơ hội hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ và sâu sắc hơn, vì khi đó không chỉ thấy “cây”, mà còn thấy “rừng”.  Trong phạm vi bài viết này, từ một góc nhìn, tôi cho rằng, trí thức là người có trí và luôn dùng cái trí của mình để góp phần thức tỉnh xã hội nhằm hướng mọi người đến cái đúng và cái đẹp.   Nếu ai đó “có trí” (sự hiểu biết) nhưng lại “không thức” (không thức tỉnh xã hội) mà để cho xã hội “ngủ” thì bị gọi là “trí ngủ”, chứ không phải là “trí thức”. Nếu ai đó thích làm cái việc của trí thức là “đánh thức xã hội” nhưng lại “thiểu trí”, “lệch trí” hay “vô trí” thì gọi là “trí dỏm” (cũng có học hàm, học vị nhưng đầu óc lại trống rỗng, hoặc cũng có chút hiểu biết nhưng hiểu biết đó lại thể hiện sự lệch lạc và ẫu trĩ). Và nếu ai đó “có trí”, “có thức”, nhưng “thiếu tâm” (thiếu động cơ trong sáng) thì gọi là “trí gian” (gian manh, xu thời, cơ hội). Cả 2 loại “trí dỏm” và “trí gian” đều là “ngụy trí thức”, còn “trí ngủ” là “trí thức vô trách nhiệm”.          Sau khi GS. Ngô Bảo Châu chia sẻ ý kiến của mình trên Báo Tuổi trẻ  đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau luận bàn về vấn đề thế nào là “trí thức”. Tạm gác lại những khía cạnh khác, chỉ xét riêng về khía cạnh trao đổi thuật ngữ thì thấy có hai luồng ý kiến: Người thì đồng tình cho rằng trí thức là lao động trí óc, việc đánh giá là dựa trên kết quả, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội. Người thì phản đối cho rằng trí thức không chỉ là người chú trọng đến chuyên môn hẹp của mình, mà cần phải là một nhà khoa học có lương tri, nhìn thẳng vào thực trạng xã hội, dấn thân vì cộng đồng, phản biện, lên tiếng vì dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.   Tôi nghĩ mỗi người vốn dĩ không ai giống ai, từng người tùy theo sức lực, khả năng, sự đam mê mà lựa chọn cách thức, con đường đi riêng cho mình. Những trí thức có cách cống hiến bằng chính kết quả lao động hoặc bằng những hành động cụ thể của mình góp ích cho xã hội thì đã là đáng quí.               Những trí thức mà không những giỏi chuyên môn, ngoài ra còn thể hiện sự cảm thông trước nỗi đau của người dân, dám lên tiếng phản biện, dùng trí của mình để dẫn dắt, thức tỉnh xã hội thì lẽ dĩ nhiên sẽ còn đáng quí hơn. Như vậy, có thể thấy về bản chất giữa các khái niệm “trí thức” hay “trí thức của công chúng” theo tôi không hề có sự mâu thuẫn.              Phản biện xã hội thời nào cũng cần, vì đó chính là tác nhân quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên khi liên hệ với trường hợp Việt Nam cũng nên đặt ngược lại vấn đề liệu dư luận xã hội, thể chế ở Việt Nam đã đủ rộng lượng, đủ khoan dung, luật pháp Việt nam đã đủ thông thoáng để mở đường cho phản biện và tiếp thu phản biện chưa? Cần phải làm gì để cải thiện tình hình hiện nay và cần bắt đầu từ đâu?    Nguyễn Minh Tuấn              NCS Đại học Saarland, CHLB Đức        Có thể hình dung ba điều kiện để hình thành một con người “trí thức”, đó là: (1) “sự hiểu biết” (có trí); (2) “thức tỉnh xã hội”; và (3) “vì mục đích cao quý” (hướng xã hội đến cái đúng và cái đẹp, hướng xã hội đến cái chân-thiện-mỹ). Nếu không hội đủ cả 3 điều kiện này (mà chỉ có 1 hay 2 trong 3 điều kiện) thì hoặc là “trí ngủ”, hoặc là “trí dỏm”, hay “trí gian”, chứ không phải là “trí thức”. Hay nói một cách nôm na, trí thức là người “có Trí”, “có Thức” và “có Tâm” (có 3T).  Từ cách hiểu này, chúng ta có thể thấy rằng, bàn về trí thức hay bàn về vai trò của trí thức thực chất cũng chính là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết.   Tôi rất thích một câu nói của Einstein “Thế giới này là một nơi nguy hiểm, không phải vì những kẻ xấu xa mà vì những người chỉ biết đứng nhìn và không làm gì cả”. Câu nói này nói về trách nhiệm xã hội (trách nhiệm “làm người”) của một người bình thường đối với cái xã hội hay cái cộng đồng mà mình đang sống. Một người bình thường vô cảm thì đáng phê phán, còn một người có hiểu biết sâu sắc và được lắng nghe mà yên lặng thì còn đáng phê phán hơn. Một người bình thường còn có trách nhiệm xã hội như vậy, đối với những người có hiểu biết thì trách nhiệm xã hội này còn lớn hơn.   Nói cách khác, vai trò của những người có hiểu biết là: dùng sự hiểu biết (và cả uy tín) của mình để góp phần giúp cộng đồng phân định rõ hơn sự đúng-sai, phải trái, chân-giả, thiện-ác, hay-dở, tốt-xấu, nên-không nên… trước những vấn đề chung mà xã hội đã, đang và sẽ gặp phải hay trải qua; dùng sự hiểu biết của mình để truyền bá tinh thần, tư tưởng, quan điểm mà mình tin là cần thiết để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ; dùng sự hiểu biết của mình để góp phần xác lập những chuẩn mực xã hội, những thang giá trị xã hội và đồng thời ra sức bảo vệ những chuẩn mực và giá trị đó; dùng sự hiểu biết của mình để góp phần định hướng, định hình xã hội… Tất nhiên sự phân định, sự truyền bá, sự xác lập hay sự định hướng, định hình này cũng cần phải dựa trên cái nền là những giá trị vượt không gian và vượt thời gian, những giá trị có tính phổ quát của thế giới đương đại hay thế giới tương lai.      Và tất nhiên, để thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thì người hiểu biết có thể nói, có thể viết, hay có thể làm gì đó (bởi lẽ không phải tất cả những người hiểu biết đều giỏi nói hay giỏi viết). Vì làm một điều tốt cũng là cách gián tiếp góp phần đấu tranh tiêu diệt cái xấu; làm một điều đúng, cũng là cách gián tiếp góp phần chỉ cho người khác thấy những cái sai…  Thêm nữa, khi nói đến trí thức là nói đến vấn đề “chân lý”. Không ai được phép độc quyền chân lý, nhưng ai cũng được quyền góp phần xác lập chân lý. Giới trí thức thường tự phân biệt giới mình với những giới khác ở chỗ luôn nỗ lực khám phá chân lý, xác lập chân lý và bảo vệ chân lý. Đó cũng là lý do vì sao mà người ta thường nói, chân lý thường không thuộc về số đông hay “kẻ mạnh”, mà thường thuộc về những người có hiểu biết (hay còn gọi là giới trí thức, giới tinh hoa). Nếu chân lý có thuộc về “kẻ mạnh” (nhưng thiếu hiểu biết) thì điều đó chắc chắn cũng chỉ là tạm thời mà thôi.  Khi bàn về trí thức thì người ta thường bàn về vai trò, trách nhiệm, công việc, sứ mệnh, thiên chức của trí thức. Tuy nhiên, cũng cần phải bàn về “điểm mù” của trí thức, dù trí thức có cái trí hơn người. Bởi lẽ, trí thức cũng là con người, mà đã là con người thì cũng sẽ có cái nhầm, có lúc sai mà mình không hề biết; Bởi lẽ, trí thức cho dù có trí thế nào đi nữa thì sự hiểu biết vẫn chỉ là hữu hạn. Điểm mù ở đây được hiểu là “mình không biết cái mà mình không biết” hay “mình cứ tưởng mình hiểu rất rõ một thứ nhưng thực ra mình chẳng hiểu gì cả hay hiểu một cách lệch lạc”. Khi chia sẻ, tranh luận hay góp ý sẽ giúp mỗi người nhìn thấy điểm mù của người và của mình. Khi nhận ra điểm mù của mình cũng là lúc “mình biết rõ cái mà mình không biết”; và khi nhận ra những “cái mà mình không biết” cũng là lúc cảm thấy mình thực sự hiểu biết. Đó cũng là điều kiện để mình có thể hiểu biết thực sự và là cơ hội để đẩy nhận thức và hiểu biết của mình đi xa hơn.   Do vậy, cùng với trách nhiệm “thức tỉnh xã hội” thì trí thức cũng có một trách nhiệm với bản thân là liên tục “phản tỉnh chính mình”, phản tỉnh với những điểm mù (nếu có) của mình. Nếu không liên tục “phản tỉnh chính mình” hay thậm chí là “phản tư chính mình” thì người hiểu biết sẽ dễ trở thành người ít hiểu biết hay người ấu trĩ trong một số vấn đề (kể cả những vấn đề thuộc chuyên môn hay sở trường của mình), và khi đó sẽ không chỉ khó thực hiện được tốt cái vai trò “thức tỉnh xã hội” vốn có của mình, mà còn có thể gây nguy hại cho xã hội.  Ở bất cứ xã hội nào thì sứ mệnh của trí thức vẫn thế. Và đối với những xã hội mà trong đó còn đầy rẫy sự bất thường thì một trong những sứ mệnh lớn nhất của trí thức chắc hẳn là góp phần đưa sự bất thường đó trở về sự bình thường. Nói cách khác, trong những xã hội mà sự bất thường của sự việc, sự vô minh của cái đầu, vô cảm của trái tim đang bao trùm thì trách nhiệm của người trí thức, của những người có hiểu biết còn nặng nề hơn (vì có quá nhiều cái cần phải khai sáng, cần phải thức tỉnh) và nguy hiểm hơn (vì không dễ dàng gì để làm cái chuyện khai sáng hay thức tỉnh trong những xã hội này).  Nhưng, đã là người có hiểu biết thì không thể không làm gì cả, bằng cách này hay cách khác, dù nhỏ bé hay lớn lao, dù ồn ào hay lặng lẽ…  Sài Gòn, 25/01/2012       Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở      Vào thời buổi bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, con người ngỡ ngàng trước chính bản thân mình. Trâu sắt ra đời thay cho trâu sinh học. Năng lượng trong tự nhiên được thuần hóa, sử dụng được theo ý muốn.      Sản xuất đồ dùng hàng loạt thành công trên quy mô ngày càng lớn. Trao đổi buôn bán vượt dần ra khỏi chợ thôn chợ làng… Con người sửng sốt, và cần một hình dung mới, vĩ đại, cho thực tế này. Từ đó môn giá trị học bắt đầu được người ta hình thành, để kiến tạo nhận thức cho thời buổi bình minh mới mẻ ấy.  Người ta nhận ra “giá trị sử dụng” của sản vật (GTSD) điều làm cho một thực thể tự nhiên trở nên một thực thể xã hội tiềm tàng, một khi nó có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của hai người dùng trở lên. Khi đem trao đổi các sản vật với nhau ở ngoài chợ, thì ta có “giá trị trao đổi” (GTTĐ) của chúng được thực hiện. Rồi trừu tượng hóa hiện thực này lên một nấc, để vượt qua một cuộc trao đổi trực tiếp “một cái chả của ông này, bằng ba cái nem của bà kia» ở một nơi-vào một thời điểm nhất định, người ta có “giá trị” (trừu tượng) của một sản vật (GT). Thực thể tự nhiên trở thành hàng hóa mang GT, mà đồng tiền, một thể loại hàng hóa được tạo ra và tiến hóa dần để đại diện được gần nhất và tiện dụng nhất cho GT, được lưu hành. Qui mô và mức độ xã hội hóa của xã hội phụ thuộc vào qui mô của cái chợ của các chợ.  Mọi cái đến đây có vẻ xuôi sẻ.  Một số nhà kinh tế luận tiếp tục đẩy suy tư lên, rằng GT của một sản vật, ở mức độ chung nhất, là thời gian lao động trung bình của toàn xã hội (TLTX) để sản xuất ra sản vật ấy ở một thời điểm nhất định.   Khi “niềm tin GT” này được tin tưởng một cách giản thô máy móc, cả một thế giới khác đầy khả năng được trải ra. Vậy thì “về tiềm năng khoa học”, người ta (sẽ) có thể đo đạc được GT của tất cả các sản vật, từ đó sẽ tổ chức ra được một nền sản xuất và phân phối “khoa học nhất có thể” để tạo nên được một xã hội được thiết kế và điều khiển được tỉ mỉ. Nền sản xuất và phân phối này sẽ hoạt động thật nhịp nhàng, không sản xuất thừa để rồi phải đem đổ sản vật xuống biển, không sản xuất thiếu để con người phải nhốn nháo đói khổ. Một nền kinh tế được lập trình-kế hoạch hóa trong toàn bộ sẽ chào đời.  Giòng suy nghĩ này được đẩy tiếp lên nữa.  Một khi nền kinh tế đã lập trình-kế hoạch hóa được trong toàn bộ, chúng ta có cái cốt lõi để lập trình-kế hoạch hóa không chỉ toàn bộ đời sống sản xuất và phân phối, mà là toàn bộ đời sống xã hội trong mọi mặt. Tất cả đều sẽ được vận hành sạch sẽ, trơn tru, hiệu quả, tốt đẹp. Cái duy nhất cần phải kiểm soát, là những yếu tố, hoặc những ai cố tình, gây trục trặc hỏng hóc các kế hoạch đã được lập trình.  ***  Câu chuyện này trên thực tế bị hỏng, chưa phải vì đâu xa, mà vì bản thân tư duy giá trị học này, chào đời và bị hạn chế tự nhiên ở thuở bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, đã không hiểu rõ được cái tưởng như là hoàn toàn hiển nhiên, “nhu cầu”, cái cội rễ của thị trường.  Ở thuở bình minh ấy, các nhu cầu kinh tế xã hội khi ấy chủ yếu mới ở mức độ của các nhu cầu thiết yếu đơn sơ, ăn no, mặc ấm, có chỗ trú ngụ dẫu thật tồi tàn. Ngay đi lại xa xôi thì cũng chưa phải là nhu cầu của toàn dân. Nhu cầu bị hình dung ở mức đơn giản nhất, và dễ điều khiển được nhất. Với toàn xã hội thì điện thắp sáng, nước sạch mở vòi uống được ngay, giáo dục phổ cập, bảo hiểm y tế toàn dân… chưa từng tồn tại, còn quyền làm người, quyền tự do của xã hội công dân, đời sống văn hóa tinh thần sáng tạo của toàn xã hội, thì gần như không có gì, ngoại trừ với tầng lớp thượng lưu nhỏ bé. Nền khoa học và công nghệ để có thể sẵn sàng đáp ứng đời sống của toàn xã hội thì mới chỉ ngấp nghé đó đây. Cả một thế giới vĩ đại của các nhu cầu của đời sống con người về cơ bản còn chưa hề phát lộ. Các xã hội ngàn năm trung cổ, chiếm đa phần, còn đang ngủ yên giấc. Số ít các xã hội vừa mới thức dậy với công nghiệp hóa sơ khai thì đang nằm trong móng vuốt và tâm linh của những con thú tư bản man dại, đói khát, tham tàn. Bạo lực là ngôn ngữ phổ quát của các cư xử của các xã hội. Chân lý vĩnh cửu để thay đổi được xã hội, cho đến lúc đó, là dùng bạo lực chống lại bạo lực, thay thế nền độc tài này bằng nền độc tài khác.  Nhu cầu bị quan niệm thô sơ và sai lạc trong bối cảnh như thế đã làm ngu hóa toàn bộ tư duy về GT. Người ta đã khái quát hóa giá trị học từ cái chợ làng thô sơ của những xã hội thô sơ, và tưởng rằng mình đã tìm ra cả vũ trụ trong toàn bộ.  Hôm nay thì tất thảy chúng ta đều hiểu rằng câu hỏi thúc bách cho nền kinh tế không phải là chúng ta “cố sản xuất nhiều nhất thì được bao nhiêu sản vật loại này, càng nhanh càng tốt”, mà là “sản xuất cái gì bây giờ, theo tiêu chuẩn kinh tế-kĩ thuật-tiêu dùng gì, chỉ bao nhiêu đơn vị, trong thời bao lâu, cho toàn thế giới”. Chúng ta hiểu ra rằng chế tạo ra một sản vật bây giờ phải gắn liền với hệ quả về hệ thống môi sinh, phải giải quyết cả một hệ thống giải pháp trong toàn bộ, và hệ quả về hệ thống môi sinh đó phải được tính vào giá thành dưới dạng thuế của xã hội cho việc lưu hành sử dụng chúng, cho việc xử lý hoặc tái chế chúng để sẽ kết thúc sạch sẽ được chu trình đời sống của sản vật đó (xử lý rác thải, tái chế), rồi để làm tiến hóa sản vật nữa (nghiên cứu, phát triển). Câu chuyện không phải chỉ còn là loay hoay với cái “thời gian lao động trung bình của toàn xã hội” (tưởng tượng) để sản xuất ra sản vật ấy.   Tất cả chỉ vì cái tinh thần thời xưa ấy chưa hiểu ra, rằng con người và các nhu cầu của họ, hôm nay thì càng dễ thấy chúng rõ hơn, vừa phải có tính đời sống thực tế nghiêm ngặt, vừa phải có tính sáng tạo khắt khe, vừa vô cùng rộng lớn, phức tạp, vừa luôn luôn thay đổi rất nhanh chóng. Hôm nay các sản vật nếu trả lời sai lệch nhu cầu khi tham gia vào thị trường, thì chúng sẽ lập tức trở thành phản-hàng hóa, chúng không trở về thành các “vật thể tự nhiên” ngay được “như ngày xưa” (ngày xưa chỉ việc tống khứ chúng vào thiên nhiên !), vì chúng đã trở thành rác thải trong một đời sống xã hội văn minh, chúng mang một phản giá trị, nói dễ hiểu là một giá trị âm, chúng đòi hỏi một khoản đầu tư mới về tiền của để được xử lý, hoặc tốt hơn nữa, để được tái chế. Tiền tệ cũng hầu như thôi không còn nằm ở dưới dạng vật thể, mà đã thuộc về bộ nhớ điện tử, cùng những mệnh giá chứng khoán của mọi sản vật tham gia vào thị trường chứng khoán đang chạy lên xuống tít mù; nhưng bán một con gà trong chuồng, thu tiền vào tài khoản là có thể mua đổi ra luôn thành một mẩu (dưới dạng cổ phiếu của) đội bóng đá xứ gà Gô-loa, tức thì.  Vậy nên nếu như còn sót lại một nhà sản xuất cổ điển nào hôm nay hằng cố sản xuất một cách bất chấp một tỉ bộ quần áo đại cán để hòng bán cho hơn một tỉ người Trung Hoa, thì họ sẽ phải “mua đất đem chôn” một tỉ bộ quần áo đó, vì có biếu không thì cũng không một người Trung Hoa nào, từ người dân thường đến người lãnh đạo, chịu diện chúng vào người. Và nước Đức dù lúc này đang dùng điện hạt nhân rộng rãi thì lại đang lo chuẩn bị một đống tiền khổng lồ để sẽ đóng được dần cho bằng hết các nhà máy điện hạt nhân của mình lại, để đỡ phải canh cánh về cái môi sinh thiết yếu của mình, điều thật vô cùng khó hiểu cho các nhà giá trị học thuở xưa.  Sự ngu hóa của giá trị học thô sơ một thuở đã nói đến ở trên kia đã kích thích các ảo tưởng vĩ đại về việc tổ chức đời sống tương lai duy nhất cho toàn thể thế giới. Ảo tưởng này nếu được củng cố bởi đầu óc thần thánh, thì nó sẽ trở thành một thứ dây trói vô cùng dai dẳng khó lòng mà thoát ra được cho đời sống của chính các con người của xã hội. Ảo tưởng này càng được thực hành, thì các hệ lụy càng nặng nề bề bộn, vì nó ăn sâu vào các cấu trúc xã hội, và ai cũng sẽ bị vướng vào đó bất kể ý muốn, một cái đầm lầy nợ chằng chéo lẫn nhau. Nếu sự quả quyết thi hành ảo tưởng này được nhất nhất quyết dụng, thì các phương pháp hành chính và bạo lực đương nhiên sẽ phải được thực thi một cách bất cần lên xã hội.  ***  Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở này thực tế đã là một câu chuyện nằm từ lâu trong bảo tàng học thuật. Về trí tuệ, một khi mỗi con người thấy ra được sự ngây thơ của mình ngày hôm trước, thì con người mình đã dứt khoát tiến lên thêm được một bước nữa rồi. Các nhà bảo tàng của con người luôn luôn mang trong mình chức năng quí báu đó, chức năng hậu nghiệm, bên cạnh những chức năng khác nữa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện về tế bào bất tử HeLa: Cái giá nào cho sự tiến bộ ?      Liệu việc tôn trọng các tiêu chuẩn đạo đức và quyền riêng tư có tạo thêm gánh nặng và cản trở các phát minh công nghệ đột phá? Liệu trong không gian số, con người là những bộ dữ liệu sống nhiều tiềm năng khai thác dưới góc nhìn của những công ty công nghệ?     Việc lấy và chia sẻ tế bào của Henrietta Lacks mà cô chết trong khốn khó nhưng không hề hay biết đã dẫn đến cuộc khủng hoảng đạo đức trong nghiên cứu y học. Nguồn ảnh: Nytimes.  Cuộc đời bất hạnh của Henrietta Lacks và di sản để lại cho loài người  Henrietta Lacks là một người phụ nữ da đen vô danh, sinh ra và lớn lên ở khu vực nông thôn tại Virginia, Mỹ. Cô không có bất kỳ bằng cấp học vấn cao nào, sống cuộc đời gian khó bằng nghề trồng thuốc lá bên năm đứa con. Số phận bất ngờ đưa cô trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử y học và khoa học, nhưng với một cách đầy bi kịch. Henrietta bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung vào năm 1951, khi cô mới chỉ 31 tuổi. Trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Johns Hopkins ở Baltimore, Maryland vào năm 1951, một bác sĩ tên George Gey đã âm thầm lấy một mẫu tế bào từ cơ thể của cô để nghiên cứu. Khác với đại đa số tế bào thông thường, tế bào này có thể sống sót và tiếp tục sinh sôi phát triển, thậm chí nhân bản rất nhanh chóng trên các môi trường nuôi cấy. Chúng có khả năng tái tạo một cách không giới hạn và không bị tổn thương bởi các yếu tố như stress hoặc tuổi tác. Tế bào này được gọi là tế bào HeLa, là tên viết tắt của Henrietta Lacks.  Các tế bào ung thư của Henrietta Lacks sau đó được Bệnh viện Johns Hopkins chuyển giao miễn phí đến các nhà khoa học khác nhau để nghiên cứu, và từ đó đã trở thành một tài nguyên quan trọng của ngành khoa học. Trong suốt hơn 100.000 dự án y học đã và đang được thực hiện đến nay, các tế bào HeLa đã mở đường cho hàng loạt sáng chế vaccine ngừa ung thư cổ tử cung (HPV), bại liệt, điều trị HIV/AIDS, cùng với những đột phá khác như thụ tinh trong ống nghiệm. Thậm chí, các tế bào HeLa hiện đang được sử dụng trong các nghiên cứu ứng phó với virus SARS-CoV-2 gây nên đại dịch COVID-19 nặng nề trên toàn thế giới suốt giai đoạn 2020-2022.    Giữa việc sử dụng AI và bảo vệ quyền riêng tư, cái nào sẽ là ưu tiên hàng đầu?    Tuy nhiên, Henrietta Lacks không bao giờ được biết đến hay nhận được bất kỳ đền bù nào cho việc đóng góp lớn lao của mình cho khoa học và y học. Cô đã qua đời vào năm 1951, chỉ vài tháng sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Những tháng cuối đời của cô trôi qua trong bất hạnh và nghèo túng. Gia đình Henrietta Lacks càng không biết gì về việc này và vẫn tiếp tục sống trong cảnh khốn cùng, không được tiếp cận với nền giáo dục và y tế công bằng cho đến khi một nhà bác học địa phương đã liên hệ với họ vào những năm 1970. Năm 2013, một cuốn sách mang tên “The Immortal Life of Henrietta Lacks” (tạm dịch: Cuộc đời bất tử của Henrietta Lacks) của tác giả Rebecca Skloot đã được xuất bản. Cuốn sách không chỉ ghi nhận đóng góp của Henrietta Lacks mà còn đặt ra nhiều ra nhiều câu hỏi liên quan đến quyền con người và đạo đức trong nghiên cứu y học, cũng như các đánh đổi giữa quyền riêng tư của cá nhân và sự tiến bộ chung của xã hội.  Quyền của cá nhân và lợi ích cho tập thể: Cái giá bắt buộc vì đại cuộc?  Đầu tiên, xét về kết quả của việc tự ý lấy và chia sẻ các tế bào HeLa bởi bác sĩ George Grey, khó có thể phủ nhận hành vi này đã mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu y tế và nhân loại theo nhiều cách. Trước hết, sự phân phối miễn phí các tế bào này trong giới khoa học tạo ra những lợi thế to lớn với chi phí tương đối tối thiểu. Vô số những thử nghiệm y sinh nhờ đó đã có vật liệu dồi dào mà không có bất kì rào cản nào. Công lao âm thầm của Henrietta Lacks đã và sẽ tiếp tục đem đến những khám phá y sinh quan trọng của nhân loại.  Tuy nhiên, lời biện hộ cho việc lấy và chia sẻ tế bào của Henrietta Lacks mà không có sự đồng ý hay nhận thức của cô đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng đạo đức trong xã hội nói chung và trong nghiên cứu y học nói riêng. Câu chuyện của Henrietta Lacks vô hình trung trở thành điểm tựa cho rất nhiều trường hợp khác, dựa trên thuyết vị lợi và thuyết hệ quả (consequentialism). Theo đó, người ta lý luận rằng sự xâm phạm quyền của một cá nhân hay một nhóm người là hợp lý để tối đa hóa tổng thể lợi ích xã hội. Từ đó, những người thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương có thể được chọn để trở thành vật hy sinh nhân danh lợi ích công cộng. Vì vậy, không ít những scandal nghiên cứu tàn bạo chấn động trong lịch sử Hoa Kỳ có nạn nhân là những người da đen và nhóm dân tộc yếu thế.  Nguồn: ssir.org  Cụ thể, dự án nghiên cứu bệnh giang mai thực hiện từ năm 1932 đến 1972, còn gọi là dự án Tuskegee, được xem là vết nhơ lớn trong cộng đồng nghiên cứu y học. Dự án được bảo lãnh bởi Cơ quan Y tế Công cộng Hoa Kỳ, hứa hẹn với 600 người đàn ông da đen sống trong cảnh nông nô bần cùng, thiếu phương tiện tiếp cận với nền văn minh và dịch vụ y tế là sẽ miễn phí chữa bệnh, ăn uống, bảo hiểm và mai táng cho họ. Trong khi thực tế, dự án đưa họ vào một thí nghiệm quan sát tiến trình tự nhiên của bệnh giang mai. Trong 600 người, có 399 người đã bị nhiễm bệnh từ trước và 201 người khỏe mạnh. Những người bị nhiễm không hề được chữa như đã hứa mà chỉ được sử dụng giả dược là aspirin và bổ sung khoáng chất. Họ bị mù, bại liệt, tâm thần và có đến 128 người đã chết, trong khi vợ lẫn con mới sinh của họ cũng bị lây nhiễm trầm trọng. Những người chủ trì dự án đã không đưa ra bất kỳ thông tin gì về rủi ro và cách tiến hành dự án, và tất nhiên không cho họ có cơ hội cân nhắc đồng ý tham gia. Nhưng đây không phải là ví dụ duy nhất, nhiều nhóm yếu thế khác từng bị đưa vào thí nghiệm y học tàn nhẫn mà không được thông tin đầy đủ hay hỏi ý kiến như thí nghiệm giang mai tại Guatemala vào năm 1940 được triển khai trên 5.500 tù nhân, quân lính bị giam giữ, bệnh nhân tâm thần và cả trẻ mồ côi người Guatemala, hay thử nghiệm phóng xạ lên nhóm 1.500 người phụ nữ Puerto Rico vào năm 1950 để chế tạo thuốc ngừa thai.  Điểm chung của các thí nghiệm này là sự áp đặt và sử dụng quyền lực xã hội, chính trị của nhóm người “thượng đẳng” với giai tầng mà họ coi là yếu thế, thấp kém hơn trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu khoa học, cũng như sự bất cân xứng thông tin giữa các chuyên gia chủ trì thí nghiệm và người dân bình thường. Dự án có thể đạt được những phát minh tiến bộ thay đổi cục diện y học thế giới, mang lại danh tiếng, tiền tài cho những người chủ trì dự án. Tuy nhiên, những người đã “lấy thân mình hy sinh” cho những thí nghiệm đó thì không được biết đến, không được đền đáp xứng đáng, thậm chí còn không biết mình đã được đưa vào thí nghiệm. Thành tựu y học nức tiếng mà họ đóng góp nhiều khi không đem lại lợi ích cho họ mà lại phân bố cho nhóm người khác trong xã hội. Thế hệ con cháu của họ hoặc là sống lầm lũi trong những khu ổ chuột bần hàn từ đời này sang đời khác như trường hợp của Henrietta Lacks, hoặc đau đớn hơn là đối diện với căn bệnh hiểm nghèo và cái chết thảm khốc ở các trường hợp còn lại.  Đáng nói hơn, thông tin và dữ liệu cá nhân của những người này không được quản lý và bảo mật chặt chẽ, có thể gây nên các định kiến xã hội và kỳ thị, bất công cho họ và người có liên đới. Tiêu biểu, việc đặt tên tế bào HeLa gắn với tên riêng của Henrietta Lacks có thể vinh danh cô và gia đình, nhưng danh tính bệnh nhân liên quan đến những thí nghiệm về bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục và mang tính di truyền khác sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của họ và những người xung quanh, đặc biệt nếu họ sống trong xã hội bị chia rẽ và phân cấp giai tầng nặng nề.  Đâu là ranh giới?  Việc sử dụng các tế bào cho nghiên cứu khoa học mà không có sự đồng ý của chính người tham gia là trọng tâm của cuộc xung đột giữa việc phát triển khoa học công nghệ và quyền riêng tư. Từ trường hợp tế bào HeLa và các tranh cãi xoay quanh còn tiếp diễn đến nay, nhiều người nghĩ rằng, quyền riêng tư là một rào cản đối với khoa học. Nhiều lập luận cho rằng nếu các tiêu chuẩn đạo đức được tuân thủ và người được kêu gọi tham gia đủ hiểu biết về rủi ro thí nghiệm, họ sẽ không đồng ý tham gia và từ đó nhân loại thiếu vắng một phát minh cần thiết cho sự sinh tồn của loài người.       Những khoảng mờ trong quy định về đạo đức và pháp luật đã làm “trỗi dậy” những hành vi lạm dụng quyền riêng tư trên danh nghĩa khoa học ở khía cạnh tinh vi hơn. Những đối tượng chịu hi sinh dữ liệu cá nhân cho các công nghệ này không chỉ là những người yếu thế về mặt kinh tế, xã hội mà còn là những người yếu thế về mặt thông tin không có hiểu biết kĩ thuật đằng sau những công nghệ AI này.    Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng không phải mọi thí nghiệm nào “bất chấp tất cả vì lợi ích khoa học” cũng đem đến những thành công vang dội trong tương lai. Còn trước mắt, những “nạn nhân” tham gia thí nghiệm đó đều không được thông tin đầy đủ và bồi thường thỏa đáng. Điều này lại đi ngược lại những nguyên tắc đạo đức của nghiên cứu khoa học.  Trong lĩnh vực nghiên cứu y sinh, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là yêu cầu các nhà nghiên cứu và cung cấp dịch vụ y tế hành động vì lợi ích tốt nhất của người tham gia thí nghiệm hoặc bệnh nhân của họ. Nguyên tắc này yêu cầu các nhà nghiên cứu cần cố gắng tối đa hóa lợi ích và đảm bảo tối thiểu những rủi ro mà người tham gia nghiên cứu gặp phải. Cách phân tích lợi ích – rủi ro này có thể thấy qua phán quyết của toà án Maryland trong vụ kiện nổi tiếng Grimes v Kennedy Krieger Institute, Inc được xử sơ thẩm vào năm 2001 và phúc thẩm vào năm 2018. Trong vụ kiện này, gia đình Grimes đã kiện cơ sở nghiên cứu Kennedy Krieger (KKI) vì đã thử nghiệm chất chứa chì trên trẻ em ở khu vực có mức độ ô nhiễm cao ở Baltimore, Maryland, mà không thông báo nội dung chương trình thử nghiệm để lấy ý kiến đồng thuận của các bậc cha mẹ.  Toà kết luận rằng các bậc cha mẹ ở bang Maryland không thể đồng ý cho con cái vị thành niên của họ tham gia vào nghiên cứu có nguy cơ gây hại, dù là ở mức tối thiểu, nếu nó không mang lại triển vọng lợi ích trực tiếp cho các đối tượng này. Kể cả trong trường hợp những đứa trẻ được hưởng lợi từ việc tham gia vào nghiên cứu, việc tuyển dụng các em vào thí nghiệm cũng không thể chấp nhận về mặt đạo đức nếu cha mẹ chúng không hiểu đầy đủ về những rủi ro và lợi ích của nghiên cứu một khi họ đồng ý cho con cái mình tham gia.  Vào năm 1998, toàn bộ DNA của người dân Iceland đã được Chính phủ cung cấp cho deCODE Genetics, một công ty công nghệ tư nhân lập bản đồ. Ảnh: EDN hub.  Phán quyết này cho thấy, một trong những cách quan trọng nhất mà các nhà nghiên cứu có thể chứng minh lợi ích là có được sự đồng ý từ những người tham gia nghiên cứu, xuất phát từ ý nghĩa của quyền riêng tư. Sự đồng ý được thông báo cụ thể (informed consent) là một quá trình trong đó các nhà nghiên cứu cung cấp cho người tham gia thông tin về bản chất của nghiên cứu, những rủi ro và lợi ích tiềm ẩn, cũng như quyền của họ với tư cách là người tham gia. Khi những người tham gia nghiên cứu không hiểu đầy đủ về quyền của họ, các nhà nghiên cứu lúc này có nghĩa vụ thực hiện các bước bổ sung (chẳng hạn như đơn giản hóa ngôn ngữ diễn đạt) để đảm bảo rằng những người tham gia được thông báo đầy đủ và có thể đưa ra quyết định rõ ràng, chủ động.  Nhìn chung, các quy định này nhằm bảo vệ những người tham gia thí nghiệm, dù trên cơ sở tình nguyện, khỏi những rủi ro về sức khoẻ. Trong thời đại ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), vấn đề đạo đức nổi lên khi dữ liệu cá nhân được sử dụng để phát triển các giải pháp y tế sử dụng công nghệ AI. Dù hành lang pháp lý ngày càng được kiện toàn hơn, vẫn tồn tại nhiều hành vi xâm phạm quyền riêng tư và gây nên phẫn nộ trong công chúng. Hệ quả để lại không chỉ dừng ở phạm vi sức khoẻ vật lý, bảo toàn nhân phẩm, mà còn là quyền riêng tư của họ và những người liên quan.  Quyền riêng tư và giá trị đạo đức trong cuộc cách mạng AI  Trong thời đại số hóa hiện nay, dữ liệu cá nhân trở thành một tài sản quý giá, được ví là “dầu mỏ” của kỷ nguyên công nghệ mới. Đặc biệt, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dữ liệu cá nhân giúp các chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về lịch sử y tế, tình trạng sức khỏe, kết quả điều trị và phân tích dự đoán bệnh của bệnh nhân. Các dự án chăm sóc sức khỏe của những gã khổng lồ công nghệ như Google DeepMind Health và IBM Watson Health là những ví dụ điển hình. Tuy nhiên, không phải cơ sở dữ liệu nào cũng đủ phong phú cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng việc hoàn thiện các công nghệ này, nên tình trạng “khát” dữ liệu sẽ luôn diễn ra khi AI ngày càng phổ biến.  Các công nghệ trí tuệ nhân tạo về y sinh đòi hỏi một cơ sở dữ liệu lớn (big data) từ các hồ sơ sức khỏe điện tử, hình ảnh y tế, thiết bị hỗ trợ và bộ gene người… Điều này cho phép các phương pháp điều trị được cá nhân hóa và trở nên chính xác hơn. Bằng cách phân tích một lượng lớn dữ liệu, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể xác định những mô hình và xu hướng có thể giúp họ chẩn đoán đúng bệnh sớm hơn, từ đó phát triển các kế hoạch điều trị và dự đoán kết quả của bệnh nhân chính xác hơn.  Tuy nhiên, việc thu thập và kiến tạo nên một bộ cơ sở dữ liệu lớn để xử lý, vận hành hiệu quả là điều không hề dễ dàng. Thứ nhất, dữ liệu về y tế rất phức tạp, đa dạng và nhạy cảm. Tùy vào tính chất và độ hiếm gặp của từng loại bệnh, số lượng dữ liệu của chúng sẽ không giống nhau, và sự thiên lệch trong dữ liệu là khó tránh khỏi. Vào năm 2018, một nghiên cứu của Đại học California phát hiện ra rằng Watson for Oncology, một hệ thống AI của IBM sử dụng cơ chế xử lý ngôn ngữ tự nhiên và học máy để hỗ trợ điều trị 13 loại bệnh ung thư cho hơn 84.000 bệnh nhân đã đưa ra các khuyến nghị không phù hợp và thậm chí còn gây hại cho họ. Lý do là vì dữ liệu đầu vào bị thiên lệch nên đề xuất thường dựa trên các phương pháp điều trị không tính đến các yếu tố bệnh nhân riêng lẻ. Các nhân viên điều hành dự án này nói rằng các khuyến nghị của Watson for Oncology dựa trên dữ liệu thật của bệnh nhân, nhưng trên thực tế họ đã thay thế bằng dữ liệu của hàng ngàn bài báo nghiên cứu khoa học, và tiếp tục lấy dữ liệu từ chính những bệnh nhân được chữa trị bởi công nghệ này. IBM cũng chưa bao giờ công bố các hạn chế của công nghệ này trước khi vụ việc bị bại lộ. Điều này làm dấy lên lo ngại về độ tin cậy và tính chính xác của các hệ thống AI trong chăm sóc sức khỏe, cũng như việc lạm dụng bệnh nhân như những con chuột thí nghiệm để đào tạo cho thuật toán và lấy dữ liệu đầu vào một cách âm thầm.  Thứ hai, do tính chất nhạy cảm của những dữ liệu liên quan đến sức khỏe và di truyền, vấn đề bảo mật là rất quan trọng nhưng lại đi kèm với những đánh đổi liên quan đến hiệu quả xử lý của thuật toán. Hai đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân kiểu mẫu trên thế giới là Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (General Data Protection Regulation – GDPR) của Liên minh châu Âu (EU) và Đạo luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân (Personal Data Protection Act – PDPA) của Singapore có quy định sử dụng công nghệ ẩn danh (anonymization) để bảo vệ danh tính của cá nhân và hạn chế rủi ro lộ lọt thông tin. Các biện pháp này dù đảm bảo được quyền riêng tư thông tin của chủ thể dữ liệu, nhưng lại làm giảm chất lượng và độ hữu dụng của bộ dữ liệu do một số thông tin bị loại trừ, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính chính xác của ứng dụng AI. Nhiều kỹ thuật khác như giả danh (pseudomization) thay thế các thông tin có thể định danh trực tiếp như tên và địa chỉ bằng cách mã hóa, hay đưa vào những yếu tố gây nhiễu (noise) được cho phép trong một số trường hợp để cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân trong khi giảm bớt sự can thiệp vào tính nguyên vẹn của bộ dữ liệu. Tuy nhiên, biên độ đánh đổi vẫn còn tồn tại. Từ đây, câu hỏi được đặt ra là liệu giữa việc sử dụng AI và bảo vệ quyền riêng tư, cái nào sẽ là ưu tiên hàng đầu? Một số người cho rằng, để đạt được tiến bộ và phát triển của AI, có thể phải đánh đổi một phần quyền riêng tư cá nhân. Tuy nhiên, điều này lại gây ra nhiều tranh cãi, đặc biệt là khi các công ty sử dụng dữ liệu cá nhân để phân tích và cải thiện sản phẩm của mình, mà không được sự đồng ý.  Ví dụ, vào năm 1998, toàn bộ DNA của người dân Iceland đã được Chính phủ cung cấp cho deCODE Genetics, một công ty công nghệ tư nhân, lập bản đồ bởi với ý định sử dụng dữ liệu này tạo ra các loại thuốc mới mà không thông qua ý kiến của họ. Vào năm 2019, các nguyên đơn trong vụ Dinerstein v. Google đưa ra cáo buộc rằng Google đã truy cập bất hợp pháp vào hồ sơ y tế của hàng trăm nghìn bệnh nhân để “đào tạo” các thuật toán chẩn đoán và tìm kiếm học máy với mục đích cấp bằng sáng chế và thương mại hóa một dịch vụ y tế vì lợi nhuận. Hàng loạt những thông tin định danh và nhạy cảm như tên họ, ngày sinh, chẩn đoán y tế và thông tin điều trị đã bị thu thập trái phép. Nếu bộ dữ liệu này được bán lại cho các công ty thương mại, tài chính hay bảo hiểm, những người này sẽ đối mặt với hàng loạt rủi ro cao như bị phân biệt đối xử, hạn chế tiếp cận dịch vụ, mất cơ hội tuyển dụng, quảng cáo quấy rối, giả mạo danh tính hay thậm chí bị theo dõi với ý đồ bất chính. Hơn nữa, nếu thông tin về một số khiếm khuyết di truyền trong lịch sử gia đình bị tiết lộ, thế hệ con cháu của những người này cũng gặp phải nhiều bất cập trong cuộc sống mà không nhận được trợ cấp, đền bù tương xứng. Trong khi đó, thành tựu mà họ góp công được phân bổ cho nhóm người còn lại trong xã hội vốn không phải gánh chịu bất kỳ tổn thất tương tự nào.  Câu chuyện tế bào bất tử HeLa và những bê bối khác trong thử nghiệm y sinh vẫn không hề cũ kể cả trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của công nghệ AI với những khoảng mờ trong quy định về đạo đức và pháp luật đã làm “trỗi dậy” những hành vi lạm dụng quyền riêng tư trên danh nghĩa khoa học ở khía cạnh tinh vi hơn. Những đối tượng chịu hy sinh dữ liệu cá nhân cho các công nghệ này có thể không chỉ là những người yếu thế về mặt kinh tế, xã hội mà còn là những người yếu thế về mặt thông tin. Theo nghĩa này, bất cứ người bình thường nào cũng có thể yếu thế về mặt thông tin bởi họ không có chuyên môn và đủ hiểu biết về mặt kĩ thuật đằng sau những công nghệ AI này. Các tác hại gây ra không chỉ dừng lại ở phạm vi vật lý, mà còn về nhân phẩm và cơ hội của cá nhân bị xâm phạm và thế hệ sau của họ. Nghiêm trọng hơn, trong khi các thí nghiệm khoa học vẫn có thể được giám sát trực tiếp bởi con người, hệ thống thuật toán của AI được huấn luyện thường xuyên và tự động học máy bằng cách mô phỏng hệ thần kinh của bộ não, vì vậy không cần sự can thiệp của con người. Rủi ro là đến cả những kỹ sư thiết kế mã thuật toán có thể không kiểm soát hết cách thức hoạt động và kết quả mà AI tạo ra, khiến hệ thống này trở thành một “hộp đen” đầy nguy hiểm tiềm tàng khó đoán định.  ***  Quyền riêng tư không nên và không phải là cái giá để trả cho sự tiến bộ. Bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân có thể giúp nâng cao niềm tin của công chúng và tăng cường sự tham gia tình nguyện vào nghiên cứu, do đó giúp bù đắp chi phí đền bù tổn thất hay khắc phục lỗi hệ thống, dẫn đến kết quả đưa ra sẽ chính xác và đáng tin cậy hơn. Do đó, câu hỏi đặt ra không phải là lựa chọn tuân thủ các giá trị đạo đức hay bất chấp tất cả để tạo nên bước đột phá tiến bộ cho thế giới, mà là cần định hướng nghiên cứu dựa trên kim chỉ nam đạo đức. Các doanh nghiệp và nhà phát triển ứng dụng AI cần đảm bảo rằng người dùng được cung cấp thông tin về việc thu thập và sử dụng dữ liệu cá nhân của họ, bảo vệ dữ liệu khỏi sự tấn công của các hacker với cơ chế bảo mật an toàn. □  ——-  Tài liệu tham khảo  1. Noel Jackson (2020), Vessels for Collective Progress: The use of HeLa cells in COVID-19 research, https://sitn.hms.harvard.edu/flash/2020/vessels-for-collective-progress-the-use-of-hela-cells-in-covid-19-research/  2. The New York Times (2021), What Ever Happened to IBM’s Watson?, https://www.nytimes.com/2021/07/16/technology/what-happened-ibm-watson.html    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Câu chuyện ý chí      Câu chuyện nào thì cũng là vô tận. Nữa là câu chuyện về “ý chí”.    Về đại thể, có thể xem ý chí như một chủ ý dẫn dắt một  quá trình hành động, bắt đầu từ quan niệm  về hành động (“hiểu biết”, có  thể còn rất mơ hồ), đến hình dung trước về kết quả hành động (“chủ  đích”, có thể rồi cũng hóa ra thật mơ hồ), rồi quyết định hành động  (“quyết đoán”, về bản chất là “tự quyết”, liên quan đến “tự do”), và  nhận lĩnh trách nhiệm về hành động (“đạo hạnh”).  Ý chí là kẻ chủ trì  toàn bộ quá trình này.  Ý chí xúc cảm   Câu chuyện ngày xưa ông Ngu rời núi, thật là chuyện vĩ đại, ở cái thời chỉ có xẻng cùn, sọt nát, cùng người nhà thưa thớt của ông. Nhưng ông Ngu đã “thấy” cả một tương lai bất tận, nơi đó con mình, cháu mình, chắt mình, chút mình, chít mình… rồi sẽ nối việc… Và ông Ngu cứ việc hành chí rời núi.          Ý chí xúc cảm hoạt động “bằng  mọi giá”, dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt  động bằng hiệu năng, với “cái giá thấp nhất có thể”, dựa trên sự kiểm  tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.        Ý chí này, ý chí xúc cảm. Một mục tiêu được đặt ra, mọi giá cả, mọi khó khăn, mọi ngặt nghèo về không gian, mọi rắc rối về thời gian, và cả việc làm sao để nghiệm thu, đều không thành vấn đề… Tinh thần của ý chí xúc cảm có thể chốt lại như thế này: “tất-cả-để”.  Trong đời sống, của mỗi cá nhân, hay của mỗi cộng đồng, ở những thời điểm thử thách sống còn, ý chí xúc cảm là điều vĩ đại. Nó giúp mỗi người hay mỗi cộng đồng đủ sức để có thể vượt lên được từ nghịch cảnh vô cùng khắc nghiệt: Một người tay không bị trôi lênh đênh nhiều ngày đêm giữa biển cả, một vùng quê nước lụt trắng tràn, một thành phố chợt hóa thành bãi rác-nghĩa địa khổng lồ sau một cơn địa chấn-sóng thần kinh hồn… Không có nó, người ta chỉ còn biết nhắm mắt xuôi tay.   Ý chí trí tuệ  May mắn thay, thế giới con người ngày càng văn minh hơn, xét về tổng thể cho đến nay. Những đại họa do chính con người gây hấn vẫn rập rình đó đây, nhưng không còn là những biểu đạt chính yếu nhất của đời sống hôm nay trên toàn cầu. Dòng chảy của kiến thiết nay đã thành ra trọng yếu hơn dòng chảy của bạo hoại. Và trên cái nền tảng của dòng chảy kiến thiết, con thuyền loài người ngày càng cần đến hơn một ý chí khác: “Ý chí trí tuệ”, cái ít được biểu đạt trong ý niệm truyền thống về ý chí, đặc biệt là ở phương Đông xưa kia.           Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh  vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng  thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai  miền đất đang luôn luôn trôi dịch này.         Khác với ý chí xúc cảm, thứ ý chí “tất-cả-để” dựa trên biển cảm xúc đầy bản năng, ý chí trí tuệ hoạt động trên vòng vận động của quan sát, học hỏi, phân tích, đánh giá, lựa chọn, quyết định, tổng hợp, thiết kế lộ trình, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, nghiệm kết… Ý chí này là của lý trí, là của tự do, là của lý trí của tự do, là của tự do của lý trí, là cái chỉ có thể có ở con người.  Ý chí xúc cảm hoạt động “bằng mọi giá”, dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt động bằng hiệu năng, với “cái giá thấp nhất có thể”, dựa trên sự kiểm tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.  Ý chí xúc cảm cố gắng tổng huy động các cơn bão xúc cảm. Ý chí trí tuệ nhắm lấy sự tỉnh táo làm cột buồm thống lĩnh.  Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi không gian hành động, vận dụng “chủ nghĩa đại trà”. Ý chí trí tuệ khoanh định không gian kiểm soát được của mỗi hoạt động.  Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi thời gian cho hành động, với tinh thần “một lần, và cho mãi mãi”. Ý chí trí tuệ là ý chí lộ trình, chia định thời gian hoạt động thành những thời hạn, để sau mỗi thời hạn đó có thể quyết định được là sẽ tiếp tục hoạt động này, hay cải cách hoạt động này, hoặc từ bỏ nó, hoặc chuyển đổi sang hoạt động khác; ý chí trí tuệ phải phối hợp được các hoạt động của hệ thống tổng thể đa tiết điệu trong thời gian.  Ý chí xúc cảm gắng nhắm tập trung hết vào “một”, một hoạt động tâm điểm, duy nhất. Ý chí trí tuệ nhắm đặt ưu tiên hệ thống tổng thể lên trên mỗi hoạt động riêng của nó, dẫu như có một hoạt động riêng nhất định nào đó được ưu tiên chính yếu trong một thời điểm.  Ý chí xúc cảm gắng chủ trương “cứ thế mà làm, “chống nghĩ lại”. Ý chí trí tuệ phân tách bản thân hoạt động “hiện thực” ra khỏi lãnh vực suy nghiệm, để hướng tới khả năng kiểm tra trở lại được, không chỉ hoạt động “hiện thực” ấy, mà cả chính chủ trương tinh thần đang dẫn dắt nó.  Ý chí xúc cảm đề cao tận dụng mọi tập tục để cuốn hút được mọi sức mạnh của xúc cảm. Ý chí trí tuệ khai phóng các phương thức mới, và lựa chọn lại, làm mới lại, thích ứng lại các yếu tố cổ truyền hữu dụng trước khi cho phép chúng được gia nhập, được tích hợp trở lại vào các chương trình kiến thiết mới.   Ý chí xúc cảm hướng tới linh thiêng hóa, trường cửu hóa các quyết định. Ý chí trí tuệ hướng tới giải thiêng, thế tục hóa, kiểm kê, kiểm tra, phán xét, phê phán trở lại các quyết định.  Ý chí xúc cảm hướng đến say số lượng, mê ôm đồm, gộp gạp mọi yếu tố “có ích” dù nhỏ bé hay nhất thời, bất kể mâu thuẫn hỗn tạp mà chúng có thể đang và sẽ gây nên. Ý chí trí tuệ hướng tới tính hợp lý, chắt lọc, hòa hợp, ăn ý.  Ý chí xúc cảm tuy có thể bền bỉ, nhưng mục tiêu lại thường hướng tới tính cấp cứu, kết quả tức thì, đặc tính cổ võ. Ý chí trí tuệ hướng tới tính kiến thiết, tính trừu tượng, tính nền tảng, tính dài lâu.  Ý chí xúc cảm có thể lấy mục tiêu hoạt động “đi đến tự do”, nhưng cách thức hoạt động không được tham vấn bởi tự do, rốt cuộc mục tiêu hoạt động “đi đến tự do” thường không đạt đến. Ý chí trí tuệ lấy tự do làm bản thể cho chính ngay sự tồn tại và vận hành của nó.  Ý chí xúc cảm không có ý niệm về quyền-hạn, quyền lực chế ngự được. Ý chí trí tuệ lấy quyền-hạn, quyền lực chế ngự được, làm điều kiện cho sự chính đáng của sự tồn tại của nó.  Ý chí xúc cảm không cần có quy chế tài phán độc lập. Ý chí trí tuệ coi qui chế tài phán độc lập là cái đảm bảo cho tính điều tiết được của sự tồn tại của nó.  Ý chí xúc cảm một khi được kéo dài thường trở thành xu hướng độc đoán, cấm đoán các xu hướng khác, để dành ưu tiên tối đa cho hoạt động được nó bảo lãnh. Ý chí xúc cảm có xu thế bảo vệ quá mức hoạt động được bảo chế của mình. Ý chí trí tuệ coi việc hài hòa các xu hướng của toàn bộ hệ thống của các hoạt động là bắt buộc cho sự bền vững của hệ thống.  Ý chí tổng thể, hay “ý chí”  Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai miền đất đang luôn luôn trôi dịch này. Và cách thức mà ý chí tổng thể xử lý mối tương quan giữa xúc cảm và trí tuệ sẽ làm nên câu chuyện đạo hạnh.   Trước các nỗi khổ đau của con người, cá nhân và cộng đồng, ý chí không thể chỉ dừng ở phân tích các nỗi khổ đau ấy, mà phải “chịu trách nhiệm” về chúng, mà kẻ đứng ra đòi hỏi điều đó chính là “đạo hạnh”. Sự thờ ơ có thể là sự lạc đường, sự mất phương hướng, sự dỗi dàng lâm thời của ý chí, nhưng không phải là người bạn đường dài của ý chí. Nhiều thành phần của đạo hạnh có thể sẽ và phải được cộng đồng tham chiếu, chuyển dần thành “pháp quyền”, qua một quá trình xây dựng lâu dài, bền bỉ, cập nhật, rà soát đi rà soát lại, thành tính bắt buộc (“pháp”), nhưng vì sự tự do và ích lợi của mỗi người và của cộng đồng trên tổng thể (“quyền”). Ví dụ như “trong giao thông mỗi ai thấy người gặp nạn một mình, thì phải tham gia cứu trợ” vốn từ một yêu cầu đạo hạnh đã trở thành một điều luật giao thông ở nhiều nước.   Nhưng dù vấn víu phức tạp đến như thế nào, ý chí chỉ là ý chí trọn vẹn một khi nó được nảy nở trên nền của tự do. Tự do, là tự do lựa chọn: ngay cả khi trước mặt tự do chỉ có một thứ để lựa chọn, nó cũng bảo dưỡng quyền chấp nhận điều đó, hay khước từ điều đó. Tuy nhiên ý chí tự do phải lo trả món nợ với pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng đức hạnh, mang tính khuyến nghị.  Ý chí cộng đồng  Ý chí cộng đồng hình thành từ các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của công dân, từ “ý chí công dân”, chứ không phải từ “lòng dạ thần dân”. Ý chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành viên của nó.   Ông Rousseau thật vô cùng xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng. Đúng thế. Bởi nếu lợi ích của nhóm đa số quyết định lợi ích của cộng đồng, thì nhóm đa số có cùng lợi ích sẽ độc tài chuyên chế trên các nhóm khác, hay trên các cá thể khác. Chưa hết. Và các công cuộc liên kết các nhóm để có nhóm đa số tạm thời nhằm trấn áp thiểu số còn lại trong mọi lĩnh vực xã hội sẽ làm nên những cuộc bạo động nhốn nháo không ngừng không nghỉ trong xã hội. Và tất nhiên, lợi ích của cộng đồng càng không phải là lợi ích của số ít trong cộng đồng.          Ông Rousseau thật vô cùng  xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không  phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng.         Lợi ích của cộng đồng là tổng thể của những lợi ích khác nhau, những lợi ích xung khắc nhau, của các cá nhân, của các nhóm cộng đồng. Và chính do đó mà phải xây dựng kĩ lưỡng từ đó lên được một hợp đồng xã hội thỏa đáng, một cách năng động và linh hoạt theo thời gian, để một cộng đồng có thể sống ổn thỏa và hạnh phúc với nhau dài lâu.  Ý chí cộng đồng ấy thông qua nền thương nghị cộng đồng được hóa thân dần vào nền pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng nền đức hạnh mang tính khuyến nghị.  Ví dụ giản dị, mỗi nhóm người dân tộc trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu rằng người Kinh (Việt) là nhóm người đa số.          Ý chí cộng đồng hình thành từ  các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của  công dân, từ “ý chí công dân”, chứ không phải từ “lòng dạ thần dân”. Ý  chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành  viên của nó.        Ví dụ giản dị, mỗi con người trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu như “những người khác là đa số”. Trừu tượng ư ? Không. Chẳng hạn những người bẩm sinh đồng tính phải được tôn trọng và lợi ích của họ phải được tính đến trong hợp đồng xã hội. Cũng như vậy với những người thuận tay trái, những người tàn tật, những người suy nghĩ không giống số đông, vân vân.   Ví dụ giản dị, nếu tất cả các nghị sĩ đều ủng hộ một điều luật, trừ một vị nghị sĩ. Ý kiến của vị nghị sĩ “lạc lõng” đó phải được tôn trọng, phải được lưu bút. Và bản thân con người nghị sĩ đó, phải được tôn trọng.  —  Và một ví dụ giản dị sau cùng.  Rằng nếu có một ai đó mong mỏi Tết này được đốt một bánh pháo vào Giao Thừa, thì ý kiến của họ cần được xã hội ghi nhận, không mặc cảm. Để rồi một ngày kia, biết đâu ý chí của xã hội sẽ tìm ra được một giải pháp thỏa mãn được mong mỏi này?   Có thể bắt đầu phác thảo ý chí đó bằng việc hướng đến xây dựng được một nền giáo dục, trong nhà, ngoài phố, và ở trường học, trong đó mỗi con người không còn chí chết chạy đuổi theo “chủ nghĩa lạm dụng”, để tự mình khỏi trở thành “những người hùng của chủ nghĩa lạm dụng”, để rồi họ lớn lên vui vẻ tự do, và sẽ chỉ tự do lập chí đốt cho mình đúng một bánh pháo vào thời khắc Giao Thừa?        Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu hỏi 2005      “Điều gì quí vị tin là có thật nhưng không thể chứng minh được?”, (What do you believe is true even though you cannot prouve it?), đó là câu hỏi được tạp chí Edge đưa ra hồi đầu năm cho các nhà khoa học và tư tưởng lớn trên thế giới.      Cho đến nay đã có hơn 120 bài viết tham gia vào chủ đề này được đăng tải trên nhiều tờ báo lớn trên thế giới. Tia Sáng xin trích đăng lại một số các bài viết của các học giả lỗi lạc trên thế giới về câu hỏi nói trên. Chúng tôi cũng hy vọng sẽ nhận được các bài viết cộng tác của bạn đọc về chủ đề này trong thời gian tới.  Điều gì đã khiến loài người trở thành loài thông minh duy nhất trên thế giới này?    MARC D. HAUSER .                Nhà tâm lý thuộc Đại học Havard, tác giả cuốn Wild Minds (Những tâm hồn hoang dã)  Dưới đây là ước đoán mà tôi cho là tốt nhất: chỉ chúng ta, con người mới có thể sáng tạo ra các thuật toán máy tính, từ đó dẫn tới vô vàn các ứng dụng trong cuộc sống. Thuật toán đó chính là khả năng nắm bắt bất cứ các thực thể bí hiểm nào và biến chúng thành những hình thức biểu đạt đa dạng vô cùng. Vì vậy, chúng ta đã có thể lý giải được các hiện tượng xa lạ và diễn giải chúng được thành những từ ngữ, từ các từ ngữ trở thành các câu văn và từ các câu văn mới tới Shakespeare. Chúng ta cũng đã biến những khối mầu vô hồn trở thành có ý nghĩa, biến các mảng màu thành các hình dạng, từ các hình dạng trở thành bông hoa và từ bông hoa đã tới những cành hoa ly trong tranh của Matisse. Và chúng ta biến các hành động trở thành ý nghĩa, biến các hành động thành chuỗi hành động, biến các chuỗi hành động thành những sự kiện. Dù cho sự kiện này dẫn tới hành động gây chết chóc hay hành động tạo anh hùng.  Tôi dám cá rằng khi chúng ta khám phá được sự sống trên các hành tinh khác, rằng ngay cả khi các phương tiện để chạy máy tính có khác đi thì chúng sẽ tạo ra các hệ thống mở để có thể diễn đạt bằng các thuật toán tương tự và từ đó lại sinh ra tiến trình máy tính hóa trong toàn vũ trụ.   TODD FEINBERG, M.D.  Nhà tâm lý và nghiên cứu thần kinh thuộc trường Y, Đại học Albert Einstein, tác giả cuốn Altered Egos (Khi bản ngã biến đổi).  Tôi tin chắc rằng loài người sẽ không bao giờ lựa chọn việc tạo ra “trí tuệ” cho một thế hệ máy tính cao cấp. Chỉ có trong chuyện khoa học viễn tưởng thì mới có cảnh một con người bị kết án là giết người khi không còn kết nối với máy tính. Tôi tin chắc-nhưng chưa thể lý giải nổi điều này bởi vẫn nghĩ một thực thể chỉ có thể nhận thức và có một tâm hồn khi nó là một thực thể sống.                Sống, tất nhiên chưa chắc đủ để đảm bảo có một tâm hồn. Thí dụ một nhà máy có thể có đủ các bộ phận máy móc cần thiết để thực hiện các chức năng chuyển hóa, tức là sống nhưng chắc chắn nó không thể có một bộ óc, một tâm hồn. Ở một khía cạnh khác, thí dụ như đối với loài vượn người thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Toàn bộ những đặc điểm nhận thức mà chúng ta (con người) chia sẻ với loài vượn người để làm lên cuộc sống, thí dụ như sự thông minh, khả năng nhận biết, khả năng tự nhận thức, có hình thức sống cộng đồng… chỉ khiến loài vượn người gần giống với con người ở các khía cạnh cảm nhận như “sống” và có nhận thức.  Nhưng để thực sự sống thì điều hiển nhiên là sinh vật đó, bên cạnh sự “sống” còn phải sở hữu một khả năng điều khiển được tâm hồn của mình. Nói như vậy thì các con chip ở thung lũng Silicon không hoàn toàn sống và những chiếc máy tính không thể là các sinh vật. Tôi nói như vậy bởi (cái) phần tử vật chất đặc biệt và (cái) cách điều khiển bộ não là điều tiên quyết trong việc tạo ra nhận thức và (sự) “sống”. Máy tính sẽ chẳng bao giờ có thể có được nhận thức bởi để có thể “nhận thức như chúng ta”, nó cần phải trải qua một số giai đoạn của cuộc sống như con người, tức là phải lớn dần lên và bất hạnh thay, cũng phải chết như con người.    A.T sưu tầm và dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấm và vạch trong Biển Đông: nhìn nhận từ Luật chứng cứ bản đồ      Ngày 07 tháng 5 năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) phản đối đệ trình của Việt Nam và đệ trình chung của Malaysia-Việt Nam gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS). Để hậu thuẫn cho các yêu sách của mình, Trung Quốc (TQ) đã kèm một bản đồ có vẽ một đường hình chữ U nhiều chấm bao trùm phần lớn Biển Đông vào công hàm phản đối.      Bài nghiên cứu này là đưa ra một phân tích về mặt pháp lý quốc tế bản đồ nói trên.      I. BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC  A. Nền tảng  Nguồn gốc của đường chữ U bắt đầu từ các hoạt động của Uỷ ban thẩm tra Bản đồ Đất và Nước của Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), thành lập vào năm 1933. Trách nhiệm của Uỷ ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên các đảo ở Biển Đông và in ra các bản đồ cho thấy các đảo này thuộc chủ quyền của TQ. [1]  Đường nhiều chấm được chuẩn nhận chính thức đầu tiên phát xuất từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tờ bản đồ đang bàn do Sở lãnh thổ và Ranh giới Bộ Nội vụ THDQ in ra vào tháng 12 năm 1946. [2] Trên bản đồ này, đường chữ U gồm 11 vạch liên tục bao kín phần lớn Biển Đông và các thể địa lý giữa đại dương. [3] Bắt đầu từ ranh giới Trung-Việt, hai vạch đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ. Vạch thứ ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng. Vạch thứ năm và thứ sáu trên đường đứt đoạn đi qua Bãi cạn James (4° N), thể địa lý biển cực nam mà TQ và THDQ tuyên bố chủ quyền. Di chuyển theo hướng đông bắc, hai vạch tiếp theo nằm giữa quần đảo Trường Sa phía này, và Borneo (Indonesia, Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan), phía kia. Vạch thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines với THDQ. [4] Sau khi loại Quốc dân Đảng khỏi Trung Hoa đại lục, CHNDTH cũng phát hành bản đồ vẽ với cùng các vạch trên. [5] Như vậy, từ đó trở đi, ở hai phía của eo biển Đài Loan đều thấy có bản đồ đường chữ U xuất hiện. Một trong thay đổi đặc biệt cần lưu ý: từ năm 1953, bản đồ Biển Đông TQ chỉ vẽ 9 thay vì 11 vạch (2 vạch ở Vịnh Bắc Bộ đã bị xoá). [6]  B. Công hàm TQ gửi Tổng thư ký LHQ (ngày 07 tháng 5 năm 2009)  Ở cấp độ quốc tế, tranh cãi xung quanh đường 9 chấm đã rộ lên trước Liên Hợp Quốc (LHQ) vào năm 2009 liên quan tới đệ trình chung của Malaysia-Việt nam[7] và đệ trình riêng của Việt Nam[8] cho CLCS. CLCS đưa ra khuyến nghị cho các nước ven biển có nhu cầu xác lập ranh giới bên ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (nm). [9] Thời gian đệ trình của các chính phủ Việt Nam và Malaysia có thể được giải thích bởi thời hạn chót của họ là vào tháng 5 năm 2009. [10] Để đáp trả các đệ trình này, trong cùng ngày TQ đã chính thức gửi Tổng thư ký LHQ hai công hàm riêng biệt có kèm bản đồ đó [11], bằng cách này lần đầu tiên xác nhận đường chữ U, ở cấp quốc tế trong một tranh chấp cấp nhà nước, [12] với phản ứng giống hệt nhau sau đây:  TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như biết đáy biển và lòng đất dưới biển (xem bản đồ kèm theo). Lập trường nêu trên đượcChính phủ TQ nhất quán thể hiện, và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi. [13]  Đọc Công hàm này, một học giả Đài Bắc suy ra một số khẳng định của TQ:  1. Chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển tiếp giáp chúng (bản đồ kèm theo cho thấy các thể địa lý biển sau đây trong đường đứt khúc theo tên: quần đảo Tây Sa, [14] quẩn đảo Nam Sa, [15] quần đảo Trung Sa, [16] và quẩn đảo Đông Sa[17]).  2. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển liên quan bao gồm đáy biển và tầng đất dưới đáy biển của chúng.  3. Tính nhất quán của vị thế chính thức của TQ về các yêu sách biển và lãnh thổ ở Biển Đông.  4. Sự nhận biết của các nước bên thứ ba liên quan đến yêu sách của TQ về biển và lãnh thổ ở Biển Đông.  5. Đường chữ U mô tả những yêu sách của TQ về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. [18]  Tuy nhiên, dường như công bằng để nói rằng giải thích chính thức của TQ trích dẫn trên, theo như ý nghĩa chính xác của bản đồ đính kèm, vẫn còn là mơ hồ. Cụ thể, bản chất pháp lý chính xác của các khu vực biển bao bọc bởi đường 9-chấm-vẫn còn mờ mịt, mặc dù có việc “làm rõ” của TQ. Điểu này được thể hiện rõ ràng bởi các phản ứng đang dạng mà họ gây ra tại các hội nghị chuyên ngành được tổ chức kể từ đó. [19]  Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay chỉ có một nước là Philippines thực hiện nỗ lực giải thích.[20] TQ nhanh chóng trả lời với một công hàm mới, một lần nữa công hàm này chẳng làm cho rõ ràng hơn bao nhiêu. Trong công hàm mới này, đề ngày 14 tháng 4 năm 2011, TQ nêu rằng “chủ quyền và các quyền và quyền tài phán liên quan của TQ trong Biển Đông” được hỗ trợ bằng “chứng cứ lịch sử và pháp lý phong phú”’.[21] Điều rõ ràng trong tài liệu ngoại giao mới này là sự thiếu vắng của bất kỳ đề cập nào tới bản đồ trên. Từ sự thiếu vắng này, chúng ta có thể suy ra sự từ bỏ đường 9 chấm hay không? Chắc chắn, không thể giả định có một sự quay ngoắt (volte-face) một cách hời hợt. Hơn nữa, dù họ đang chủ trương làm dịu đi các quan ngại về tự do hàng hải ở Biển Đông, [22] ví như can thiệp gần đây của TQ đối với tàu thuyền Việt Nam và Philippines mà thôi cho thấy các yêu sách quá đáng của họ như trên bản đồ vẫn còn nguyên vẹn.  II. CÁC YÊU SÁCH  Công hàm ngày 07 tháng 5 năm 2009 của TQ, dù là có thể mới trong các khía cạnh vể biển của nó nhưng chỉ lặp lại những khẳng định tương tự như đã đưa ra trong quá khứ liên quan đến các thể địa lý. [23] Hơn nữa, nhiều học giả chủ yếu của TQ và Đài Loan đã đề ra các cách giải thích riêng của họ về đường 9 chấm. Giữa sự rối rắm này, người ta chỉ có thể chắc chắn một điều là các khẳng định TQ về Biển Đông không vượt quá ranh giới này. [24] Những quan điểm và giá trị pháp lý của các khẳng định này sẽ được thảo luận sau đây.  A. Yêu sách lịch sử  1. Thực hành Nhà nước (State practice)  Mặc dù các khẳng định kiểu này dường như không là nét đặc biệt trong chính sách chính thức của TQ, Đài Bắc có truyền thống ủng hộ lập trường này đối với đường chữ U khá mạnh, như có thể thấy trong một loạt các tuyên bố. Ví dụ, trong năm 1991 tại một trong những Hội thảo về Biển Đông, một đại diện Văn phòng Kinh tế và Thương mại Đài Bắc ở Jakarta (Indonesia) tuyên bố:  Biển Đông là một vùng nước thuộc thẩm quyền của THDQ. THDQ có quyền và đặc quyền trong Biển Đông. Bất kỳ hoạt động nào trong Biển Đông phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ. [25]  Hướng dẫn Chính sách cho Biển Đông năm 1993 (chuẩn nhận bởi Bộ trưởng Hành Chánh) lưu ý rằng:  Trên cơ sở lịch sử, địa lý, luật pháp quốc tế, và nhiều sự kiện, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Macclesfield, và quần đảo Pratas luôn là phần lãnh thổ cố hữu của THDQ. Chủ quyền của nước THDQ đối với chúng không còn chút nghi ngờ nào. Khu vực Biển Đông trong ranh giới vùng nước lịch sử là khu vực biển thuộc thẩm quyền của nước THDQ, THDQ sở hữu tất cả các quyền và lợi ích trong đó. [26]  Trong năm 1994, Bộ trưởng Bộ Hành Chánh, Trương Kim Ngọc (Chang King-yu), nói rằng “các vùng biển được bao bọc bởi đường chữ U ở Biển Đông là vùng nước lịch sử của chúng ta và THDQ được hưởng tất cả các quyền trong đó” (nhấn mạnh thêm). [27]  Chính sách của Đài Bắc được suy luận xa hơn từ các phản đối đã thực hiện chống lại cách ứng xử của các nước ven biển trong khu vực. Đáp trả với việc Malaysia chiếm đóng hai thể địa lý tại quần đảo Trường Sa và việc Philippines quyết địnhsáp nhập bãi cát ngầm Scarborough trên bản đồ của họ, Đài Bắc tuyên bố:  Biển Đông là một vùng nước của THDQ. THDQ có tất cả các quyền và đặc quyền trong vùng Biển Đông. Bất kỳ hoạt động nào (kể cả việc thảo luận về hợp tác chung hoặc Quy tắc ứng xử, vv) trong Biển Đông phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ. (nhấn mạnh thêm) [28]  Một số chuyên gia đã cóp nhặt nhiều lập luận pháp lý cho tuyên bố mong manh này. [29] Ví dụ, Triệu Quốc Tài (Guocai Zhao) nhận xét:  TQ sở hữu quyền lịch sử các hòn đảo, đá ngầm, bãi cát ngầm, các bãi cạn, và các vùng nước trong đường 9 chấm. Biển Đông được coi là vùng nước lịch sử của TQ, điều đó được thừa nhận phổ quát vào thời điểm đó. Cho đến nay điều này đã kéo dài nửa thế kỷ. [30]  2. Phân tích pháp lý  Việc xem xét các bài viết học thuật về các tuyên bố lịch sử liên quan đến các khu vực biển làm phát sinh rất nhiều nhầm lẫn về thuật ngữ. Các khái niệm thích hợp như quyền lịch sử / sở hữu lịch sử, các vùng nước lịch sử, và vịnh lịch sử không dễ dàng phân biệt và làm sáng tỏ. [31] Để tránh việc tìm hiểu kéo dài không cần thiết và phần nào thừa thãi về sự khác biệt giữa các quyền lịch sử và sở hữu lịch sử, chỉ cần nói rằng “quyền lịch sử” là chủng (genus) mà theo đó người ta có thể đặt các loại (species) “vùng nước lịch sử” vào. Tương tự, “vịnh lịch sử” là một loại “vùng nước lịch sử”. [32] Trong bối cảnh của đường 9 chấm, cách ứng xử của Đài Bắc dường như bao hàm sự công nhận các vùng nước lịch sử liên quan đến một phần chủ yếu của Biển Đông.  Không có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về các vùng nước lịch sử, nhưng theo cách hiểu rộng rãi, nó biểu thị các quyền dành  cho một nước ven biển đối với một hoặc nhiều khu vực biển mà nước đó bình thường sẽ không được hưởng. Phạm vi các quyền đi cùng với vùng nước lịch sử có thể khác nhau đáng kể. Các điều kiện pháp lý cho việc thụ đắc các vùng nước lịch sử đã được xem xét trong một nghiên cứu năm 1962 do Văn phòng Ban thư ký Liên Hợp Quốc của Vụ Pháp chế (OLA) thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban pháp luật quốc tế. [33] Theo quan điểm của OLA:  Có vẻ có một sự nhất trí chung nhất rằng khi xác định liệu một nước có quyền sở hữu lịch sử đối với một khu vực biển hay không phải xem xét tới ít nhất ba yếu tố. Những yếu tố này là: (1) việc thực thi thẩm quyền của nước yêu sách quyền lịch sử đối với khu vực đó (2) tính liên tục của việc thực thi thẩm quyền (3) thái độ của các nước khác. [34]  Đài Bắc lẫn TQ đều không đáp ứng các tiêu chí này cho vấn đề đó. Điều kiện (1) và (2) đòi hỏi nước có yêu sách phải thực thi thẩm quyền thông qua các hành vi thể hiện chủ quyền ở mức đủ thường xuyên và có hiệu quả. Liên quan tới khu vực họ yêu sách, việc thể hiện thẩm quyền của họ cùng lắm chỉ có thể nói là ở mức không thường xuyên. Việc tự do đánh bắt và đi lại của các nước khác vẫn không bị cản trở. [35] Do đó, không yêu sách lịch sử nào có thể thực hiện ở đây. Các đòi hỏi lý thuyết cần để thoả mãn điều kiện (3) là không chắc chắn. Về cơ bản, việc thảo luận xoay quanh vấn đề liệu các nước khác có cần phải ngầm bằng lòng với việc thực hiện chủ quyền của TQ trên Biển Đông hay liệu việc họ không có bất kỳ phản ứng nào là đủ hay không. [36] Nhưng dù theo quan điểm nào, cả hai dường như đều đồng ý rằng sự phản đối của các nước khác có thể ngăn chặn việc thực thi chủ quyền hòa bình và liên tục, và điều này đích xác là những gì đã xảy ra đối với Biển Đông (xem phần IV-B).  Một số người đã vặn lại rằng tuyên bố phải được xem xét dưới ánh sáng của các quy tắc luật quốc tế đã tồn tại khi bản đồ đường chữ U được vẽ ra, tức là năm 1946 (cái gọi là học thuyết của luật liên thời gian [intertemporal law]). [37] Điều này là khá khác thường, vì cách tiếp cận này chỉ làm yếu thêm một luận điểm vốn đã không thuyết phục. Vào thời điểm đó, bề rộng của lãnh hải hợp pháp chỉ là 3 hải lý, khiến cho các yêu sách lịch sử càng thêm quá đáng hơn. [38] Với thực tế rằng các vùng nước lịch sử thường liên quan đến vịnh hoặc một dải lãnh hải, [39] do đó không có gì ngạc nhiên khi nhận thấy một chuyên luận gần đây về vùng nước lịch sử không thấy cần thiết để đề cập tới yêu sách lịch sử của đường 9 chấm. [40] Hơn nữa, ngay cả khi vì mục đích lập luận người ta nhắm tới giả thuyết cho rằng TQ có thể thực hiện một yêu sách lịch sử lớn chưa từng có (cái không có –quod non) thì cũng nên nhớ rằng các yêu sách lịch sử không tạo ra một chế độ liên quan tới mọi nước (erga omnes), mà là phụ thuộc vào sự công nhận tường minh hay hàm ý trên tầm mức quốc gia như một tác giả mới đây đã nhấn mạnh. [41]  Một lưu ý cuối cùng, việc sử dụng cách gọi “Biển Nam Trung Hoa” không có ý trao chủ quyền lịch sử cho TQ. [42] Theo luật pháp quốc tế, việc đặt tên đơn thuần một khu vực không thiết lập chủ quyền đối với khu vực đó. [43] Tên này đã bị các quốc gia có liên quan phản đối mạnh mẽ, trong đó có Việt Nam. [44] Bản đồ nước ngoài dùng tên Biển Nam Trung Hoa chỉ đơn giản là để phù hợp với cách gọi tên do Tổ chức Thủy văn Quốc tế về Ranh giới các Đại dương và biển công bố (1953), cách gọi tên đó “không có bất kỳ ý nghĩa chính trị nào”. [45] Vì thế việc lựa chọn từ ngữ này về phần các nước phương Tây không có hàm ý nhìn nhận chủ quyền của TQ. Ngoài ra, về mặt lịch sử người TQ cũng dùng nhiều tên gọi khác nhau cho vùng biển này như là “Biển Giao Chỉ” (đời Tống và Minh) và “Biển Nam” (đời Thanh (1905), THDQ (1913) và CHNDTH (1952 và 1975)). [46]  3. Những diễn biến mới  Những diễn biến gần đây có thể làm cho sự thảo luận dễ dàng hơn. Thật vậy, rất có thể là Đài Bắc đang từ bỏ luận điểm lâu dài của họ. Các tuyên bố trong những năm gần đây gợi cho thấy một sự thay đổi trong quan điểm của họ, đưa chính sách của Đài Loan về vấn đề này cùng hướng với chính sách của TQ. Việc đề cập tới quyền / vùng nước lịch sử vắng đi trong khi trọng tâm dường như là chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và lãnh hải của chúng. [47] Ví dụ gần đây nhất là tuyên bố hồi tháng 5 năm 2009 phản đối các hồ sơ củaViệt Nam và Malaysia – Việt Nam gửi cho CLCS:  Chính phủ THDQ nhắc lại rằng quần đảo Điếu Ngư Đài (Diaoyutai), quần đảo Nam Sa (Trường Sa), quần đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Macclesfield) và quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) cũng như các vùng biển xung quanh là cácvùng lãnh thổ và các vùng biển cố hữu của THDQ dựa trên các quyền sở hữu chủ quyền không thể chối cãi biện minh bằng các cơ sở lịch sử, địa lý và luật quốc tế. Theo luật quốc tế, THDQ được hưởng tất cả các quyền và lợi ích đối với các quần đảo nói trên, cũng như các vùng biển xung quanh và đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng. [48]  B. Các yêu sách đảo  1. Cách giải thích 1: Tất cả các thể địa lý trong đường chữ-U là lãnh thổ Đài Bắc/TQ  Người đề xuất trước nhất cách giải thích yêu sách lãnh thổ này, nhà ngoại giao Indonesia Hasji Djalal, trong khi thừa nhận tính chất “khó hiểu” của đường chữ U, đã nêu các tìm hiểu của mình dựa trên việc phân tích cẩn thận các tuyên bố của TQ, đặc biệt là những tuyên bố hình thành trong cuộc họp của Tổ chức Hàng không dân dụng (ICAO) quốc tế năm 1979. [49]  Smith ghi nhận rằng các thể địa lý giữa đại dương nằm bên trong “các vạch phân bổ này” là những thể địa lý mà TQ tuyên bố chủ quyền. Ông nhấn mạnh rằng các dấu vạch này không gợi ra bất kỳ yêu sách ranh giới biển nào và sẽ không có chút tác động nào đối với việc giải quyết tranh chấp biên giới biển. [50]  Dzurek cũng tin tưởng rằng đường chữ U không phân ranh các biên giới thuộc thẩm quyền trên biển của TQ, với việc tin tưởng này dựa trên một lập luận về bản đồ học, cụ thể là, sự kiện rằng các dấu vạch chia cắt Malaysia và quần đảo Natuna đi chệch khỏi đường phân giới thềm lục địa Indonesia-Malaysia đã thoả thuận. [51]  Như đã nói ở trên, việc thực hành nhà nước hiện nay của Đài Bắc dường như chứng minh một sự chuyển đổi về phía vị thế này.  Câu hỏi tinh tế về các đảo trong Biển Đông thuộc nước nào, đòi hỏi phải phân tích nghiêm ngặt một ma trận sự kiện phức tạp và ứng dụng các khái niệm pháp lý đa dạng (chẳng hạn như phát hiện, ngày tới hạn [ngày mà các hành động của các bên liên quan thực hiện sau ngày đó sẽ không được toà xét đến-ND] , và tính hiệu quả), sẽ đưa chúng ta quá xa khỏi chủ đề hiện tại. [52] Với điều này trong trí, có lẽ thích hợp để nhấn mạnh ở đây rằng bản đồ TQ không thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ hợp lệ đối với các đảo cho từng bản đồ. Trong vụ Burkina Faso / Mali, Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) đưa ra lời giải thích “dứt khoát”[53] về giá trị chứng cứ của bằng chứng bản đồ:  Các bản đồ chỉ đơn thuần tạo thành thông tin, chúng thay đổi về tính chính xác theo từng trường hợp; và bằng sự tồn tại của một mình chúng, chúng không có thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ, nghĩa là, một tài liệu được luật quốc tế phú cho hiệu lực pháp lý nội tại cho mục đích xác lập các quyền lãnh thổ. Tất nhiên, trong một số trường hợp, bản đồ có thể có được hiệu lực pháp luật như vậy, nhưng trong những trường hợp như thế hiệu lực pháp luật không phát sinh duy nhất từ giá trị nội tại của chúng mà chính vì do bản đồ đó thuộc về loại biểu hiện vật lý về ý muốn của một nước hoặc các nước có liên quan. Ví dụ, trường hợp khi các bản đồ được kèm theo một văn bản chính thức mà chúng là một phần không thể thiếu. Ngoại trừ trường hợp xác định rõ ràng này, các bản đồ chỉ là bằng chứng bên ngoài có độ tin cậy khác nhau hay không đáng tin cậy, chúng có thể được sử dụng, cùng với các bằng chứng khác loại gián tiếp, để thiết lập hoặc tái thiết lại các sự kiện thật. [54]  Ý kiến nhân tiện (obiter dictum) này đã được trích dẫn một cách đồng tình trong một loạt các trường hợp tranh cãi. [55] Một số người đã đọc đoạn văn này như một bác bỏ “dứt khoát” đối với khái niệm về quyền sở hữu theo bản đồ. [56] Trong mọi trường hợp, Tòa án dường như còn để mở một cửa sổ nhỏ[57] (“các bản đồ … kèm theo một văn bản chính thức mà chúng tạo thành một phần không thể thiếu’”) đề cập đến nhưng công cụ như các hiệp ước[58] và do đó không áp dụng được trong trường hợp này.  2. Cách giải thích 2: Đường chữ U là đường ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được tạo ra từ các đảo ở Biển Đông  Một số học giả TQ dường như ủng hộ thuyết này, mặc dù lý luận của họ hơi khác nhau và thường liên kết với thuyết các quyền / vùng biển lịch sử. Triệu Lý Hải (Zhao Lihai) viết:  Đường chín chấm chỉ rõ lãnh thổ và chủ quyền của TQ về bốn quần đảo trong Biển Đông và khẳng định ranh giới biển của các đảo của TQ ở Biển Đông mà các đảo này đã được bao gồm trong phạm vi TQ ít nhất từ thế kỷ 15. Tất cả các hải đảo và các vùng nước lân cận trong đường biên giới phải thuộc thẩm quyền và kiểm soát của TQ.[59]  Kiều Vĩnh Khoa (Jiao Yongke) nêu:  Các khu vực nước bên trong đường biên giới ở Biển Đông của TQ tạo thành các vùng nước mà TQ có quyền sở hữu lịch sử đối với chúng, chúngtạo thành vùng đặc quyền kinh tế đặc biệt, hay vùng đặc quyền kinh tế lịch sử của TQ, do đó phải có địa vị tương tự như vùng đặc quyền kinh tế theo các quy định của UNCLOS [Công ước LHQ về Luật Biển]. [60]  Cuối cùng, Trâu Khoa Uyển (Zou Keyuan) tin rằng TQ đã khẳng định một tuyên bố lịch sử, nhưng tuyên bố này là “tương đương với tình trạng pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa”. [61]  Cách giải thích thứ hai này về các vạch liên tục là phụ thuộc hoàn toàn vào cách đầu tiên. Nó suy từ nguyên tắc “đất thống trị biển” mà cách tiếp cận này nhất thiết phải dựa trên tiền đề là TQ có chủ quyền đối với các thể địa lý ở Biển Đông. [62] Những người ủng hộ thuyết này xem đường chữ U như một ranh giới trên biển nối các ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phát sinh từ các đảo. Một loạt các câu hỏi nẩy lên. Vấn đề gai góc đầu tiên liên quan đến việc phân định vùng biển đó. Suy cho cùng, một nước ven biển không thể chỉ đơn giản áp đặt việc phân giới lên các nước khác một cách đơn phương. Sự hợp lệ của hành động như vậy sẽ phụ thuộc vào sự tuân thủ các chuẩn mực luật pháp quốc tế. [63]  Hơn nữa, còn có vấn đề là các thể địa lý biển có thể tạo ra các khu vực biển (bất chấp ai là chủ sở hữu hợp pháp) hay không? Tất cả phụ thuộc vào việc thể địa lý đó có hội đủ điều kiện là đảo theo nghĩa pháp lý hay không. Công ước 1982[64] có chứa một điều khoản cho mục đích này, Điều 121, nêu như sau:  1. Một hòn đảo là một khu đất hình thành tự nhiên, bao quanh bởi nước, nằm bên trên mặt nước khi triều cao.  2. Ngoại trừ như quy định tại mục 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một đảo được xác định theo quy định của Công ước này áp dụng cho lãnh thổ đất liền khác.  3. Đá không thể duy trì sự cư trú của con người hay có đời sống kinh tế của riêng mình sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. [65]  Do đó, các bề mặt có đất trong vùng Biển Đông sẽ tạo ra thêm các vùng đặc quyền kinh tế (và thềm lục địa) nếu chúng đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt nêu trên. [66] Do đó, tính chất đảo của một loạt các tính năng hàng hải tại Biển Đông đã bị rơi vào nghi vấn. Oude Elferink thận trọng nêu rằng “ít ra có một số đảo trong Biển Đông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các thể địa lý có tính đảo khác gần như chắc chắn có thể được coi là rơi vào vòng khống chế của Điều 121 (3) [đá].” [67] Nếu biết ra rằng những bề mặt đất đó không phải là đảo, (ít nhất là một phần) thì cách giải thích vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của đường chữ U là không có giá trị pháp lý.  Về mặt này, rất đáng để đề cập ngắn gọn đến các bước do TQ mới thực hiện ở cấp độ quốc tế ủng hộ di sản chung của loài người bằng cách cố gắng bảo vệ khu vực này chống lại sự xâm nhập không chính đáng của một vài nước. [68] Về thực chất, các can thiệp này nhằm mục đích chống lại đệ trình của Nhật Bản cho CLCS vể đảo Okinotorishima ở Thái Bình Dương. [69] Tuy nhiên, hành động này ngay lập tức bị phản ứng ngược đối với Biển Đông, Indonesia đã chất vấn đường 9 chấm của TQ ngay chính trên cơ sở của các cơ quan đại diện của đất nước này nêu ra trước cuộc họp của các nước thành  viên năm 2009 cũng như trước Cơ quan quốc tế đáy biển, đó là, các mỏm đá không thể duy trì sự cư trú của con người, đời sống kinh tế riêng không tạo ra một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.[70]  Dù các diễn biến có thể thú vị như thế nào, điều bắt buộc này, mà đúng hơn là việc điều tra nặng thực tế và kỹ thuật về tình trạng pháp lý chính xác của các thể địa lý khác nhau ở Biển Đông theo Điều 121 (3) của Công ước năm 1982 vượt quá xa phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.  III. CÁC YẾU TỐ LÀM SUY YẾU SỨC MẠNH CHỨNG MINH CỦA BẢN ĐỒ     Theo một quy tắc đã được ghi nhận, [71] các thẩm phán quốc tế được hưởng sự tự do đặc biệt rộng rãi trong việc xác định trọng lượng của tài liệu chứng cứ. [72] Cảnh giác về quyền tự do theo nguyên tắc này, chúng tôi đã xem xét các tiền lệ[73] liên quan đến bản đồ để suy ra các yếu tố[74] thường được thẩm phán hoặc trọng tài sử dụng để đánh giá hiệu lực chứng minh của bằng chứng bản đồ. Cần nhấn mạnh rằng trong khi làm như vậy, chúng tôi dựa vào các tiền lệ liên quan cho đất liền lẫn trên biển không phân biệt. Mặc dù đúng là các nguyên tắc quy định việc thụ đắc những vùng biển và phân giới biển khác biệt đáng kể so với những quy tắc làm cơ sở cho việc thụ đắc và phân giới lãnh thổ, [75] câu hỏi cốt yếu này (chế độ pháp luật áp dụng được) là tách biệt với câu hỏi về bằng chứng (các bản đồ). Hơn nữa, học thuyết dường như không có sự phân biệt có ý nghĩa giữa bản đồ đất liền và bản đồ biển trong việc phân loại các quy tắc bằng chứng, và ICJ đã trích dẫn các quy tắc pháp lý bổ sung trong các vụ trên đất liền khi đánh giá các bản đồ do các bên tham gia tranh chấp nộp vào có chứa một yếu tố liên quan đến biển. [76]  Các yếu tố sau đây chứng tỏ sự thiếu sót về chứng cứ vốn có của đường 9-chấm của TQ.  A. Cách tiếp cận thận trọng với chứng cứ bản đồ  Như một quan sát bước đầu, cần chỉ ra rằng xu hướng chung là các tòa và các toà án quốc tế không đưa ra các phán quyết chỉ đơn thuần dựa trên các kết luận về bản đồ. [77] Mặc dù những bản đồ chính xác phản ánh ý định của các bên có thể thực sự tạo thành “một cơ sở vững chắc và liên tục cho việc thảo luận” sự vắng mặt của chúng “là một sự bất tiện đáng tiếc”’, [78] chúng thường sẽ đóng vai trò phụ trong việc làm vững thêm bằng chứng khác cùng chỉ về một hướng. [79] Trở lại với quyết định cho vụ Burkina Faso / Cộng hòa Mali:  Các bản đồ vẫn không thể có giá trị pháp lý hơn so là giá trị của bằng chứng củng cố trong việc chuẩn nhận một kết luận mà một tòa án đi đến bằng các phương tiện khác không dính dáng tới các bản đồ, trừ khi các bản đồ thuộc loại biểu hiện vật lý ý muốn của Nhà nước, tự chúng không thể được xem như là bằng chứng về một đường biên giới, vì trong trường hợp đó chúng sẽ hình thành một giả định không thể bác bỏ, thật sự đồng nghĩa với quyền sở hữu pháp lý. Giá trị duy nhất mà chúng có là bằng chứng thuộc loại phụ hoặc khẳng định thêm, và điều này cũng có nghĩa rằng chúng không thể được gán cho đặc tính của một giả định không thể bác bỏ (juris tantum) như là để thực hiện một sự đảo ngược trách nhiệm chứng minh. [80]  Lập trường thận trọng này đã được phát hiện và ghi nhận theo ý kiến của học giả có thẩm quyền, [81] và trong một số trường hợp đã được sự chấp thuận đáng kể. [82]  B. Các bản đồ không tương thích nhau     Khi trình bày các khẳng định mâu thuẫn lẫn nhau, sắp xếp các sự kiện cho chỉnh trang đòi hỏi cố gắng lớn. [83] Khá tương tự như vậy, khi các tài liệu bản đồ mâu thuẫn với nhau, chúng sẽ mất đi sự tin cậy. [84] Như ICJ đã nêu trong trường hợp Kasikili / Sedudu:  “dưới ánh sáng của sự không chắc chắn và không thống nhất của tài liệu bản đồ được đệ trình, Tòa tự thấy mình không thể rút ra kết luận từ những bằng chứng bản đồ đưa ra trong trường hợp này.” [85]  Các bản đồ với đường 9-chấm vẽ ra một hình ảnh Biển Đông khác biệt với bằng chứng bản đồ và các tài liệu khác của các nước ven biển trong khu vực. Sẽ khó khăn để đạt được một sự hiểu biết chính xác ranh giới biển và chính trị chỉ dựa trên việc đặt các bản đồ kế bên nhau. Ngoài ra, các điều mà đường chữ U thể hiện cũng không nhất quán. Như đã đề cập ở trên, đường chữ U trong bản đồ ở TQ trước năm 1953 bình thường gồm có 11 vạch, [86] trong khi các phiên bản sau này của đường nhiều chấm chỉ gồm 9 đoạn. Một bản đồ điện tử trực tuyến gần đây của Cục Khảo sát và Bản đồ Nhà nước TQ ngày 21 tháng 10 năm 2010 lại thêm một đoạn nữa vào phía Bắc giữa Đài Loan và nhóm Ryukyu, trong đó có đảo Yonaguni là hòn đảo ở cực tây, tất cả đều thuộc về Nhật Bản. [87] Không có lý do nào được đưa ra cho việc loại bỏ bí ẩn hai vạch trong quá khứ hay việc thêm vào vạch thứ 10 mới gần đây. [88]  C. Ký hiệu bản đồ rời rạc / nhập nhằng  Bản đồ không rõ ràng đã xuất hiện trong các tố tụng qua trọng tài trong quá khứ. Trong vụ Trọng tài Eritrea / Yemen, Eritrea đã nộp các bản đồ mô tả một đường chấm chấm hỗ trợ yêu sách của mình. Tòa án đưa ra một tuyên bố ngắn về phương pháp chứng cứ của bên liên quan:  Trong một số trường hợp Tòa án có thể không đồng ý với các đặc tính của các bản đồ mà bên đưa ra mong muốn. Hơn nữa, nếu không có chỉ dẫn cụ thể từ chính bản đồ, Tòa án không muốn gán ý nghĩa cho các đường chấm thay cho màu sắc hoặc thay cho việc ghi địa danh trên bản đồ. Các kết luận trên cơ sở này do Eritrea thúc hối liên quan tới một số bản đồ của họ không được chấp nhận. [89]  Đương nhiên,có sự tương tự của trường hợp này với đường chữ U, sự thiếu vắng một chú giải (legend), và lời lẽ bí ẩn chứa trong công hàm của TQ gửi Tổng thư ký LHQ đã soạn sẵn. Sự lúng túng càng lớn hơn bởi vì cách mô tả của đường 9-chấm sai lệch với các tiêu chuẩn vẽ bản đồ quốc tế được Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra đích xác cho mục đích về tính rõ ràng. [90] Cần nhớ rằng TQ là một thành viên của tổ chức quốc tế này. [91]  D. Ý định không rõ ràng  Như Thẩm phán Oda đã chỉ ra một cách đúng đắn trong ý kiến riêng của ông trong vụ Kasikili / Sedudu, “một tuyên bố lãnh thổ chỉ có thể được thực hiện với dấu hiệu rõ ràng về ý định của chính phủ, dấu hiệu đó có thể được phản ánh trong các bản đồ. Một bản đồ tự nó, nếu không có bằng chứng hỗ trợ khác thì không thể biện minh cho một tuyên bố chính trị” (nhấn mạnh thêm). [92] Trong trường hợp này (in casu) tiêu chí về ý định rõ rệt về phía chính phủ TQ không được đáp ứng một cách thoả đáng. Sự đa dạng về cách giải thích đường chữ U do các học giả luật học đưa ra cũng như công hàm mơ hồ của TQ đề ngày7 tháng 5 năm 2009 là chứng cứ cho kết luận này. Bên cạnh các cấu trúc câu khó hiểu, các từ ngữ được sử dụng trong công hàm, cụ thể là “vùng biển có liên quan” và “vùng biển tiếp giáp” là đặc biệt khó hiểu vì chúng không xuất hiện bất cứ chỗ nào trong UNCLOS. Sự mơ hồ có vẻ như cố tình làm trầm trọng thêm, vì TQ vẫn chưa thông qua luật tạo cho đường chữ U bất kỳ hiệu lực trong trật tự luật pháp trong nước. [93] Ngay cả khi người ta có thể bới ra các ý định đằng sau bản đồ này, ý nghĩa pháp lý của chúng không nên được đánh giá cao. Trở lại bài viết nói trên của Thẩm phán Oda:  Một bản đồ được sản xuất bởi một cơ quan chính phủ có liên quan đôi khi có thể chỉ ra vị thế của chính phủ liên hệ đến lãnh thổ hay chủ quyền của một khu vực cụ thể hay đảo. Tuy nhiên, một mình sự kiện đó không có tính quyết định về tư cách pháp lý của khu vực hay đảo đang có vấn đề. Đường ranh giới trên những bản đồ như vậy có thể được hiểu như là thể hiện cho yêu sách tối đa của nước có liên quan, nhưng không nhất thiết biện minh cho yêu sách đó. [94]  E. Thiếu tính trung lập  Khi bản đồ được vẽ lên bởi một chuyên gia khách quan, giá trị chứng minh của nó có xu hướng tăng lên. [95] Trái lại, các tài liệu bản đồ được sản xuất theo chỉ thị của một trong các bên tranh chấp sẽ được xét với sự nghi ngờ nhiều hơn, và do đó sự phụ thuộc vào tài liệu như vậy chỉ là ngoại lệ không phải là quy tắc. [96] Các trọng tài trong vụ Trọng tài kênh Beagle nhận xét như sau:  Trong khi các bản đồ đến từ các nguồn khác hơn những bản đồ của các bên không thuộc vụ đó được coi là nhất thiết phải chính xác hơn hoặc khách quan hơn, trước nhất (prima facie) chúng có tình trạng độc lập, điều này có thể tạo cho chúng giá trị lớn trừ khi chúng chỉ là các bản sao chép của – hoặc dựa trên bản gốc xuất phát từ – các bản đồ do một trong các bên vẽ ra, hoặc giả được xuất bản trong một nước có liên quan, hoặc thay mặt cho, hoặc theo yêu cầu của một Bên, hoặc rõ ràng có động cơ chính trị. Nhưng chỗ nào mà tư cách độc lập của chúng không để lộ cho việc nghi ngờ về một hoặc các cơ sở nêu trên, chúng có ý nghĩa tương đối cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ liên hệ trong đó chúng cho thấy sự tồn tại của một sự hiểu biết chung theo một nghĩa nào đó, như về cách giải quyết đó là gì, hoặc, chúng mâu thuẫn ở đâu, sự thiếu vắng của bất kỳ sự hiểu biết chung như vậy. [97]  Việc thiếu tính trung lập là rõ rành rành đối với đường 9 chấm. Như đã thảo luận trong phần II-A, lịch sử của đường chữ U có thể được truy ngược về một ủy ban nội bộ do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thành lập để cập nhật các bản đồ TQ và tái khẳng định vị thế của họ. Một cơ quan chính phủ được thành lập và phân bổ nhân viên đơn phương như thế khó có thể được coi là khách quan đối với các nước có liên quan khác trong khu vực Biển Đông. Không nên quên rằng các nhà vẽ bản đồ có lương tâm vẫn có thể bị sử dụng cho các mục đích lừa đảo:  Một nhà làm bản đồ … có thể được sử dụng để biểu lộ khẳng định của một nước cụ thể như nước của chính ông ta về kích cỡ đầy đủ miền lãnh thổ của nước đó là gì, bất kể tính đúng đắn của khẳng định này và không có việc doạ dẫm rằng việc vẽ đó mô tả phạm vi của một yêu sách chứ không phải là vị trí của một ranh giới được chấp nhận. Qua việc sao chép tiếp theo và việc vẽ lại của các nhà làm bản đồ thiếu phối kiểm không những các sai sót tiếp tục tồn tại mà sự kiện về việc lặp lại có xu hướng chuyển cho chúng sự thừa nhận pháp lý qua việc in ra một số lượng lớn bản đồ thống nhất với lời khai của họ. [98]  F. Không chính xác về kỹ thuật  Trong tiểu luận về giá trị chứng cứ của bản đồ, De Visscher đưa ra các tiêu chuẩn sau đây: “những bảo đảm về tính chính xác nội tại của bản đồ … sự chính xác liên quan tới các điểm đang tranh chấp”. [99] Theo Brownlie, “giá trị chứng minh mà một bản đồ có tương ứng với chất lượng kỹ thuật của nó”.[100] Luật về án lệ cũng chỉ ra đòi hỏi độ chính xác kỹ thuật trong bản đồ. [101] Trong vụ đảo Palmas, trọng tài duy nhất Max Huber đã viết rằng: “điều kiện đầu tiên đòi hỏi của các bản đồ phục vụ với tư cách là bằng chứng đối với những điểm pháp lý là độ chính xác địa lý của chúng.” [102]  ICJ phát biểu rằng:  Trọng lượng thực tế được phân cho các bản đồ đem làm bằng chứng phụ thuộc vào một loạt các cân nhắc. Một số trong các cân nhắc này liên quan đến độ tin cậy kỹ thuật của các bản đồ. Điều này đã nâng lên đáng kể, đặc biệt là do những tiến bộ đạt được qua không ảnh và ảnh vệ tinh từ những năm 1950. Nhưng kết quả chỉ mang tới tính chất trung thực hơn cho bản đồ và sự ăn khớp ngày càng chính xác giữa bản đồ và không ảnh. Thông tin xuất phát từ sự can thiệp của con người, chẳng hạn như tên của các địa điểm và các thể địa lý (địa danh học) và việc miêu tả biên giới và ranh giới chính trị khác, do đó không khả tín hơn. Tất nhiên, độ tin cậy của các thông tin địa danh học cũng tăng lên nhở kiểm chứng thực địa, mặc dù ở mức độ thấp hơn, nhưng theo ý kiến của các nhà vẽ bản đồ, sai sót vẫn còn phổ biến trong biểu thị các đường biên giới, nhất là khi thể hiện các địa danh này này ở các khu vực biên giới khó tiếp cận. [103]  Dưới ánh sáng của những quan điểm này, sự ra đời của công nghệ hiện đại có thể tăng truy đòi của các thẩm phán đối với bằng chứng bản đồ. Một trường hợp nổi bật về điểm này là ý kiến tư vấn của ICJ 2004 đối với bức tường của Israel, trong đó họ dựa (một phần) vào một bản đồ điện tử được đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Israel để xác định các tuyến đường hiện tại và tương lai của các bức tường trong vùng lãnh thổ Palestine. [104] Ngược lại, các bản đồ TQ không có vẻ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Mặc dù đường nhiều chấm của TQ thường đi theo đường đẳng sâu 200 mét (đường nối các điểm có độ sâu 200m với nhau), cho đến nay nó chưa bao giờ được phân ranh giới chính xác, do đó thiếu các toạ độ địa lý chính xác. [105] Ngoài ra, có vẻ có một số sự mâu thuẫn nhỏ giữa các tài liệu bản đồ biển của TQ: các điểm cuối của các vạch tạo nên đường chữ U thay đổi (mức khác biệt chạy từ 1 đến 5nm). [106] Nhưng ngay cả vị trí của chính các vạch đôi khi có sai biệt rõ ràng với những vạch trên bản đồ ở Phụ lục I. [107] Hơn nữa, vì nó liên quan các đường trên biển, ảnh vệ tinh cũng không thật hữu ích.  Một yếu tố bổ sung góp phần vào tính không chính xác của bản đồ TQ là tỉ lệ của nó nhỏ quá mức. ICJ đã than phiền các bản đồ vẽ với tỉ lệ không đủ lớn. Một ví dụ điển hình có thể tìm thấy trong Tranh chấp đất, đảo và biên giới biển:  Honduras đã vẽ một bản đồ thứ hai, năm 1804, cho thấy vị trí của các giáo xứ của tỉnh San Miguel trong Tổng Giáo Phận Guatemala. Tuy nhiên, tỉ lệ của bản đồ này không đủ lớn để có thể xác định xem đoạn cuối của sông Goascoran là đoạn do El Salvador khẳng định, hoặc đoạn do Honduras khẳng định. [108]  Các vấn đề tương tự cũng đã được trình bày trước tòa trọng tài. Ví dụ, Uỷ ban ranh giới Eritrea-Ethiopia cho rằng: “hơn nữa, nhiều bằng chứng về bản đồ theo một tỉ lệ quá nhỏ, hoặc quá thiếu chi tiết đến nỗi nó chỉ có thể được coi là mơ hồ trong lĩnh vực này.” [109]  Cuối cùng, cần lưu ý rằng các bản đồ TQ không chứa bất kỳ chỉ dấu nào về mốc quy chiếu (tức là một quy chiếu sử dụng trong trắc địa để đo đạc) được sử dụng, đó có vẻ là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá độ chính xác kỹ thuật của bất kỳ ranh giới biển nào. [110]  IV. BẢN ĐỒ KHÔNG BỊ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC PHẢN ĐỐI  A. Tiêu chuẩn áp dụng  Ngay cả khi ta chấp nhận rằng đường 9 chấm là một mô tả sai lầm của hiện thực thì điều đó không có nghĩa là nó có thể được gạt sang một bên ngay lập tức. Điều này đã được làm sáng tỏ trong vụ kênh Beagle:  tầm quan trọng của bản đồ có thể không nằm ở chính bản đồ mà trên lý thuyết nó có thể không chính xác mà ở thái độ biểu lộ – hoặc hành động thực hiện – đối với bản đồ đó của các bên liên quan hoặc của các đại diện chính thức của họ. [111]  Các thẩm phán trong vụ Đền Preah Vihear đã rõ rệt hơn, gửi một tín hiệu cảnh báo rõ ràng về những ảnh hưởng tiềm năng của việc sơ suất trong khi đối mặt với sự quyết đoán về bản đồ:  Rõ ràng rằng các trường hợp như vậy đòi hỏi một phản ứng nào đó, về phía nhà chức trách Thái Lan trong một thời hạn hợp lý, nếu họ muốn tỏ sự không đồng ý với bản đồ hoặc nếu có bất kỳ câu hỏi nghiêm trọng nào phải nêu ra liên quan đến nó. Họ đã không làm như vậy, hoặc là sau đó hoặc trong nhiều năm, và do đó phải được xem là đã mặc nhận. Qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset. [112] (Ai im lặng thì dường như là đồng ý, nếu anh ta biết nói đáng lẽ anh ta đã phải nói).  Một ví dụ của mối liên kết giữa bản đồ và sự mặc nhận được Ủy ban Ranh giới Eritrea-Ethiopia nêu lại gần đây: “một bản đồ có thể có chút trọng lượng pháp lý cho từng cái (per se): nhưng nếu bản đồ là thỏa đáng về mặt bản đồ học trong các khía cạnh có liên quan, nó có thể, có vai trò là căn cứ thực tế , có ý nghĩa pháp lý cao, ví dụ như cho hành vi mặc nhận.”[113]  Tất nhiên, các kiểu cách thực tế của các vụ nêu trên là hoàn toàn khác biệt với trường hợp mà chúng ta đang phải đối mặt, tao ra tranh cãi về việc liệu các tiền lệ đó có thể áp dụng được ở đây không. Trong trường hợp này, chúng ta đang đối phó với một đường biên giới biển có mục đích xấu, việc hình thành nó, theo lời của ICJ, là “một vấn đề có tầm quan trọng lớn và việc thỏa thuận không phải là dễ dàng giả định trước”. [114] Hơn nữa, theo quan sát của Strupp:  Yêu sách hình chữ U lạ lùng này là quá bất thường và quá đáng vượt ngoài thực tế trong các thập niên từ 30 tới 60 đến nỗi không thể hiểu được theo cách có “sự mặc nhận đối với yêu sách bản đồ” một công nhận (ngầm) của cộng đồng nước ngoài về những tham vọng “cực kỳ bất thường”, bằng cách áp dụng quy tắc qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset hoặc quy tắc khác, có thể nghiêm ngặt đi đến xem xét. [115]  Strupp cũng nhận xét rằng:  Trong những trường hợp hoàn toàn quá đáng kiểu như “tuyên bố chủ quyền mặt trăng” của “đường chữ U” ở Biển Đông rõ ràng không tồn tại một cơ sở hợp lý nào cả cho một độ “siêu nhạy cảm” to lớn về phía các nước phải đối mặt với các yêu sách bản đồ đối địch về mặt “mặc nhận”. [116]  Tuy nhiên, cần thận trọng khi áp dụng một phương pháp tiếp cận trung gian. Sau khi xem xét một bộ phận lớn về việc thực hành nhà nước, trong công trình có ảnh hưởng của ông về quyền sở hữu lịch sử, Blum đi đến kết luận sau đây:  Các trường hợp phản đối mới đây chống lại “yêu sách bản đồ” dường như chỉ ra rằng các quốc gia, trên thực tế, “luôn giữ một cái nhìn cảnh giác đối với các bản đồ do các quốc gia văn minh xuất bản ” … Nói chung, có vẻ nổi lên rằng các nước sẽ bị đổ lỗi cho sự hiểu biết về các hoạt động lập pháp trong nước của nhau cũng như các hành vi khác được thực hiện theo thẩm quyền của họ, và lời biện hộ về sự không biết sẽ chỉ được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt nhất.Do đó những nước mong muốn bảo toàn quyền của mình được khuyến cáo nên quan tâm theo dõi sâu sát các hành vi chính thức của các nước khác và đưa ra phản đối – thông qua các phương tiện hợp pháp được luật quốc tế công nhận – nếu họ cảm thấy rằng quyền của mình đã bị ảnh hưởng, hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi những hành vi đó. [117]  B. Phản đối / Thiếu sự mặc nhận  Giả sử rằng triển vọng thừa nhận ngầm lồ lộ hiện ra, các nước ven biển được yêu cầu phải bày tỏ sự không chấp nhận chính sách đường chữ U và ý đồ cơ bản của TQ. Một số học giả TQ đã cáo buộc rằng buộc cộng đồng quốc tế đã không lên tiếng về sự bất đồng của mình để ngăn chặn việc củng cố tham vọng của TQ ở Biển Đông:  Khi tuyên bố đường 9 điểm, cộng đồng quốc tế không lúc nào bày tỏ sự bất đồng ý kiến. Không nước lân cận nào đã đưa ra một phản đối ngoại giao. Im lặng khi đối mặt với một tuyên bố công khai có thể nói có nghĩa là mặc nhận, và có thể khẳng định rằng các đường chấm chấm đã được công nhận trong nửa thế kỷ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây một số nước Đông Nam Á, đã tham gia vào tranh chấp chủ quyền Biển Đông, mới đặt ra câu hỏi về tình trạng pháp lý của đường 9 chấm. [118]  Triệu Quốc Khải (Zhao Guocai) cho rằng:  “Từ lúc tuyên bố đường 9- chấm, cộng đồng quốc tế vào thời điểm đó đã không đưa ra bất kỳ sự không bằng lòng nào. Các nước liền kề cũng không đưa ra bất kỳ phản đối ngoại giao nào đối với đường 9-chấm. Những điều này quy thành một sự mặc nhận.” [119]  Sự mặc nhận quốc tế này rất đáng ngờ. [120] Lấy Việt Nam như một trường hợp về điều này, chúng ta có thể thấy rằng hai phát biểu này là không thuyết phục. Các ví dụ bao gồm:  1. Một phản đối đối với các đòi hỏi của TQ qua việc tuyên bố rằng rằng họ sẽ “không công nhận bất kỳ cái gọi là ‘lợi ích lịch sử’ nào, điều đó là không phù hợp với luật pháp quốc tế và vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong các khu vực biển và thềm lục địa của họ trong Biển Đông”.[121]  2. Một tuyên bố đáp trả công hàm của TQ năm 2009:  Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với các quần đảo này. Do đó, yêu sách của TQ đối với các đảo và vùng biển lân cận ở Biển Đông như thể hiện trong bản đồ kèm Công hàm CLM/17 / 2009 và CLM/18/2009 là không có cơ sở pháp lý, lịch sử, thực tế, do đó là không có giá trị và vô hiệu. [122]  3. Một yêu cầu loại bỏ dữ liệu khỏi dịch vụ bản đồ trực tuyến của TQ mô tả đường chữ U (nêu trên) trong hai dịp. [123]  4. Các phản kháng gần đây chống lại sự can thiệp của TQ với tàu thuyền Việt Nam, trong đó tính hợp pháp của đường 9 chấm rõ ràng bị bác bỏ. [124]  5. Nhân dịp buổi họp cuối cùng của các nước thành viên UNCLOS, Việt Nam đã nhắc lại phản đối của mình đối với đường 9 chấm theo mục 14 của Chương trình nghị sự. [125]  Cách ứng xử như vậy phải tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cần thiết để làm các hành vi phản đối thấm đầy hiệu lực pháp lí khiến cho đường chữ U không thể được sử dụng để chống lại nước phản đối. Tuy nhiên, có vẻ như không khả thi khi áp dụng các tiêu chí này cho các phản kháng trước đây đối với đường chữ U trong điều kiện vị thế mơ hồ của TQ đối với bản đồ và những gì nó thực sự muốn nói. Xét cho cùng, chỉ có thể hành động bằng cách phản đối một khi nước đối lập đã thực hiện một tuyên bố chính thức và dễ hiểu. Ý tưởng này được phản ánh trong khái niệm về “tai tiếng”của hành động hoặc sự kiện đang có vấn đề. [126] Chúng tôi đã bàn bạc chi tiết các đặc điểm bí ẩn của đường 9 chấm và những ảnh hưởng về ý định không rõ ràng về phía TQ. Vì vậy, chỉ có thể phản đối đối với những khẳng định thấy được và dễ hiểu về đường chữ U trong các trường hợp hiếm hoi mà chúng xảy ra (ví dụ, công hàm TQ gửi cho Tổng Thư ký LHQ năm 2009). Theo thời gian, các tiêu chí theo sau dựa trên các tiêu chí trước trước đây. Theo lập luận, nếu tính rõ ràng của dòng-9-chấm đã được xác lập thì bản chất của sự mặc nhận như thế có xu hướng được chấp nhận chỉ sau một thời gian dài thụ động.[127] Ví dụ dễ thấy là các vụ tranh chấp về Đánh bắt cá và Quyền qua lại trên Lãnh thổ Ấn Độ trong đó ICJ suy ra sự mặc nhận từ trên 60 và 125 năm im lặng, tương ứng. [128] Đòi hỏi về ý định rõ ràng cũng đã được hoàn thành trong các tuyên bố của Việt Nam rõ ràng nhằm mục đích ngăn chặn cái đòi hỏi trở thành quyền lợi pháp lý mới của TQ. Ngoài ra, tiêu chí rằng phản đối phải nhất quán và không bị gián đoạn có thể nói là đã được tuân thủ, như minh họa của nội dung của các ghi chú nói về phản đối. [129]  KẾT LUẬN  Trong đóng góp này, chúng tôi đã cố gắng để khám phá một số những điều không chắc chắn về pháp lý che đậy các vạch trên bản đồ Biển Đông của TQ. Phân tích của chúng tôi đã đưa đến kết luận rằng đường chữ U, cho dù được giải thích như là một thể hiện lãnh thổ hoặc biển, rõ ràng thiếu tính chính xác, và do đó đặt ra nhiều vấn đề nếu vẫn giữ như là một phần của chính sách chính thức của TQ cũng như của Đài Loan. Nếu bộ phận đáng kể luật các án lệ là điều phải đi theo, bản đồ thể hiện với đường 9 chấm sẽ không có giá trị như là tài liệu chứng cứ trong một vụ xử giả thuyết. Trong khi có thể thấy rằng một số người nhìn ra một xu hướng mới nổi lên tạo ảnh hưởng cho sự dễ dãi đối với bản đồ, [130] chúng tôi sẽ cho rằng các luận điệu như vậy là khá vội vã. Các bản đồ không phải là các bản đồ kèm theo các hiệp ước quốc tế sẽ được tiếp nhận một cách thận trọng dễ hiểu và sẽ được đánh giá theo chức năng của chúng vẫn là điều không thay đổi.  Nhưng có một vấn đề cơ bản hơn ở đây. Duy trì một tuyên bố đơn phương trong một khoảng thời gian kéo dài mà không xem xét tới quyền lợi của các bên quan tâm khác là đồng nghĩa với việc áp đặt một việc đã rồi (fait accompli). Điều này sẽ vuột mất đi khi đối mặt với luật quốc tế, luật này ngăn không cho các nước mạnh yêu sách “giành phần trọn” (lion’s share) gây thiệt hại cho các nước láng giềng yếu hơn. [131] Việc bám chặt vào đường 9 chấm cũng là lỡ nhịp với chế độ chính phủ hiện tại, [132] bao gồm các hội thảo[133] và (đề xuất) hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học. [134] Một giải pháp thực dụng khá thịnh hành trong những năm qua là tìm cách đạt được sự phát triển chung các tài nguyên. Điều này dính dáng tới việc gác các tranh chấp lãnh thổ và biển sang một bên và ký kết các thỏa thuận tạm thời “mà không làm ảnh hưởng” đến kết quả phân định cuối cùng. [135] May mắn thay, TQ, Đài Bắc, và các diễn viên khác trong khu vực đã sử dụng các cơ chế đa phương này và tiếp tục làm như vậy một cách hiệu quả. Chúng tôi hy vọng rằng các nước có tranh chấp từ bỏ các khẳng định cực kỳ quyết đoán về mặt bản đồ và lo tập trung năng lượng của họ vào các kết quả các bên cùng có lợi liên quan đến Biển Đông trên cơ sở UNCLOS.    Người dịch: Phan Văn Song  Hiệu đính: Lê Trung Tĩnh  ————–    * Research Professor, President of the Department of International and European Law and Director of the Centre for International Law, Vrije Universiteit Brussel; Member of the Permanent Court of Arbitration. The substance of this article was prepared for the Second International Workshop organized by the Diplomatic Academy of Vietnam and the Vietnam Lawyers Association, entitled ‘‘The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development’’, 10–12 November 2010, Ho Chi Minh, Vietnam. This article is a revised version of the paper—‘‘Dotted Lines in the South China Sea: Fishing for (Legal) Clarity’’—presented at the Workshop.  **Doctoral Fellow, Research Foundation—Flanders (FWO). Member of the Department of International and European Law and the Centre for International Law, Vrije Universiteit Brussel.        [1] LI Jinming and LI Dexia, ‘‘The Dotted Line on the Chinese Map of the South  China Sea: A Note’’ (2003) 34 Ocean Development and International Law 287 at 289. Trong một công hàm gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tuyên bố rằng “kể từ [sic] năm 1930, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra công khai nhiều lần [sic] phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc và tên các thành phần của nó”, nhưng họ không đề cập đến các hoạt động bản đồ. Vì vậy, trong khi điều này có thể có nghĩa là Trung Quốc chính thức chuẩn nhận các hoạt động đặt tên của Ủy ban, không thể suy ra các bản đồ cũng được chuẩn nhận. Xem People’s Republic of China, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/8/2011’’ (14 April 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.      [2] Zou Keyuan đề cập đến sự tồn tại của một đường ở Biển Đông có sớm hơn được nhà vẽ bản đồ TQ Hu Jinjie (Hồ Tấn Tiếp) vẽ vào năm 1914 và tiếp theo vào những năm 1920 và năm 1930. Đường như vậy cũng có thể tìm thấy trong một số tập bản đồ từ thời kỳ này. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng:  1. Những phiên bản sớm hơn này có trước bản đồ chính thức đầu tiên mô tả “đường chữ U”.  2. Các tập bản đồ nói trên đã được biên soạn bởi các cá nhân, do đó hành động theo khả năng cá nhân của họ.  Xem ZOU Keyuan, ‘‘The Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea and its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute over the Spratly Islands’’ (1999) 14 International Journal of Marine and Coastal Law 27 at 32–33.      [3] In lại trong HU Nien-Tsu Alfred, ‘‘South China Sea: Troubled Waters or a Sea  of Opportunity?’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 203 at 208.      [4] WANG Kuan-Hsiung, ‘‘The ROC’s Maritime Claims and Practices with Special Reference to the South  China Sea’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 237 at 248.      [5] SHEN Jianming, ‘‘China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective’’ (2002) 1 Chinese Journal of International Law 94 at 129, note 122.      [6] Li and Li, supra note 4 at 290. Quan điểm này mâu thuẫn với Zou Keyuan, ông cho rằng hai vạch này bị xoá vào những năm 1960. XemSee Zou, supra note 5 at 34–35.      [7] Malaysia-Socialist Republic of Viet Nam, ‘‘Joint Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 in Respect of the Southern Part of the South China Sea, Executive Summary’’ (May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 6/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mysvnm_clcs33_2009e.pdf.      [8] Socialist Republic of Vietnam, ‘‘Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982, Partial Submission in Respect of Vietnam’s Extended Continental Shelf: North Area (VNM-N), Executive Summary’’ (April 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 7/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_clcs37_2009e.pdf.      [9] United Nations Convention on the Law of the Sea, 10 December 1982, 1833 U.N.T.S. 397 (entered into force 16 November 1994), online: UN http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf [UNCLOS], art. 76(8).      [10] Do Malaysia và Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 14 tháng 10, 1996 và 25 tháng Bảy năm 1994, tương ứng, hạn chót nộp hồ sơ của họ bình thường theo Phụ lục II của nó, Điều. 4, phải là năm 2006 và 2004, tương ứng. Nhưng vì nhiều nước gặp phải khó khăn trong việc đáp ứng hạn chót này của Phụ lục II, vào năm 2001 các nước thành viên UNCLOS đã quyết định sử dụng một điểm khởi đầu để xác định thời hạn này: ngày thông qua CLCS Hướng dẫn Khoa học và Kỹ thuật đã trở thành điểm khởi đầu của thời kỳ 10 năm thay vì ngày UNCLOS bắt đầu có hiệu lực. Xem Decision Regarding the Date of Commencement of the Ten-Year Period for Making Submissions to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Set Out in Article 4 of Annex II to the United Nations Convention on the Law of the Sea, Meeting of State Parties, UN Doc. SPLOS/72 (2001). Đối với tất cả các nước mà UNCLOS đã có hiệu lực trước ngày 13/5/1999, gồm cả Malaysia and Vietnam thì ngày 12 /5/2009 trở thành ngày hạn chót mới.      [11] Bản đồ này được in lại trong Phụ lục Iở cuối bài viết này.      [12] Xem thêm NGUYEN Hong Thao, ‘‘Vietnam and Maritime Delimitation’’ in Ramses AMER và ZOU Keyuan, eds., Conﬂict Management and Dispute Settlement in East Asia (Farnham, Burlington: Ashgate, 2011), 171 at 184, ông lưu ý rằng đây là dịp đầu tiên CHNDTH bày tỏ vị thế chính thức của họ về đường 9 chấm.      [13] People’s Republic of China, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/17/2009’’ (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.; People’s Republic of China, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/18/2009’’ (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf . The map was attached to these letters. It was also reproduced in the following Chinese sources: (2009) 9 China Oceans Law Review at 200 and 202 and ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2009’’ (2009) 9 Chinese Journal of International Law at 622.      [14] Paracel Islands (quẩn đảo Hoàng Sa).      [15] Spratly Islands (quẩn đảo Trường Sa).      [16] Macclesﬁeld Bank (bãi cạn Macclesfiled).      [17] Pratas Islands (quẩn đảo Pratas).      [18] Hu, supra note 6 at 204–6.      [19] See Erik FRANCKX, ‘‘American and Chinese Views on Navigational Rights of Warships’’ (2011) 10 Chinese Journal of International Law 187 at 196, với tài liệu tham khảo thêm ở chú thích 48 chỉ ra rằng một số học giả phương Tây có khuynh hướng xem nó là sự chuẩn nhận cho yêu sách về quyền sở hữu lịch sử, trong khi các học giả khác nghĩ ngước lại căn cứ trên điều mà việc làm rõ không có nêu lên, tức là bất kỳ quy chiếu cụ thể nào tới vùng nước lịch sử.      [20] Republic of the Philippines, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—No. 000228’’ (5 April 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf. Vietnam issued a response to both the Philippines and the PRC, yet refrained from giving any interpretation to these terms. Vietnam, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—77/HC-2011’’ (3 May 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/vnm_2011_re_phlchn.pdf.      [21] People’s Republic of China, supra note 4.      [22] People’s Republic of China, ‘‘Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference’’ (7 July 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t838221.htm; People’s Republic of China, ‘‘Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference’’ (28 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t835066.htm; People’s Republic of China, ‘‘Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference’’ (21 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http:// www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t833157.htm; ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2010’’ (2011) 10 Chinese Journal of International Law 427 at 438.      [23] . Trong nhiều dịp trước công hàm 2009,TQ tái khẳng định chủ quền ‘‘không thể tranh cãi (indisputable)’’ or ‘‘không thể chối cãi (undeniable)” của họ đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Xem ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2009’’ (2010) 9 Chinese Journal of International Law 607 at 612; ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2008’’ (2009) 8 Chinese Journal of International Law 493 at 504–5; ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2007 (I)’’ (2008) 7 Chinese Journal of International Law 485 at 498–9; ZHU Lijiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2006 (II)’’ (2007) 6 Chinese Journal of International Law 711 at 760; CHEN Qiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2004 (II)’’ (2005) 4 Chinese Journal of International Law 607 at 630–1; CHEN Qiang, ‘‘Chinese Practice in Public International Law: 2003 (II)’’ (2004) 3 Chinese Journal of International Law 591 at 598–9; PRC Ministry of Foreign Affairs, ‘‘China’s Indisputable Sovereignty over the Xisha and Nansha Islands’’, (1980) 7 Beijing Review 15, discussed in Otani Yoshio, ‘‘À qui appartient l’archipel des Spratley? Un point de vue sur les revendications chinoises’’ (1996) 1 Annuaire du droit de la mer 179.      [24] Charles C. Hyde, ‘‘Maps as Evidence in International Boundary Disputes’’ (1933) 27 American Journal of International Law 311 at 315; Hasjim DJALAL, ‘‘South China Sea Island Disputes’’ in Myron H. NORDQUIST and John Norton MOORE, eds., Security Flashpoints: Oil, Islands, Sea Access and Military Confrontation (The Hague: Nijhoff, 1998), 109 at 113; F. MU¨ NCH, ‘‘Maps’’ in R. BERNHARDT, ed., Max Planck Encyclopedia of Public International Law vol. III (Amsterdam: Elsevier Science, 1995), 287 at 288; T.S. MURTI, ‘‘Boundaries and Maps’’ (1964) 4 Indian Journal of International Law 367 at 388; Daniel SCHAEFFER, ‘‘L’interprétation du droit de la mer par la Chine: ses effets majeurs en Extrême-Orient’’ (2008) 13 Annuaire du droit de la mer 23 at 43; Georg RESS, ‘‘The Delimitation and Demarcation of Frontiers in International Treaties and Maps’’ (1985) 14 Thesaurus Acroasium 435 at 443.      [25] Dzurek, supra note 3 at 13.      [26] Policy Guidelines for the South China Sea, Point 1, 10 March 1993, in SUN Kuan-Ming, ‘‘Policy of the Republic of China Towards the South  China Sea: Recent Developments’’ (1995) 19 Marine Policy 401 at 408 (Annex I).      [27] Dzurek, supra note 3 at 13.      [28] Republic of China (Taiwan), Statement (1 July 1999), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52353&ctNode51902&mp56.      [29] PAN Shiying, ‘‘South China Sea and the International Practice of the Historic Title’’, Conference on the South China Sea, American Enterprise Institute, Washington, 7–9 September 1994, referenced in ZOU Keyuan, ‘‘Historic Rights in International Law and in China’s Practice’’ (2001) 32 Ocean Development and International Law 149 at 161, note 97; SONG Yann-huei and Peter Kien-hong YU, ‘‘China’s ‘Historic Waters’ in the South China Sea: An Analysis from Taiwan, R.O.C.’’ (1994) 12 American Asian Review 83.      [30] ZHAO Guocai, ‘‘Analysis of the Sovereign Dispute over the Spratlys under the Present Law of Sea’’ (1999) 9 Asian Review at 22 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 293. Tuy nhiên, cần nêu rõ rằng không phải mại chuyên gia pháp lý Đài Loan đều ủng hộ các tiếp cận yêu sách vùng nước lịch sử dù có lập trường chính thức của chính phủ của họ. Xem ZOU Keyuan, ‘‘China and Maritime Boundary Delimitation: Past, Present and Future’’ in Amer and Zou, eds., supra note 15, at 160.      [31] . See Andrea GIOIA, ‘‘Historic Titles’’ in Rudiger WOLFRUM, ed., The Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford: Oxford University Press, 2008), online: MPEPIL http:// www.mpepil.com.      [32] Zou, supra note 33 at 152.      [33] Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays, Study Prepared by the Secretariat, UN Doc. A/CN.4/143 (1962), (1962) 2 Yearbook of the International Law Commission 1 [Historic Waters Study].      [34] Ibid., at 13. Nghiên cứu này còn nêu khả năng về một đòi hỏi thứ tư (biện minh “trên cơ sở nhu cầu kinh tế, an ninh quốc gia, lợi ích sống còn hay một căn cứ tương tự”) nhưng chưa có sự đồng thuận cao về đòi hỏi này. Tuy nhiên, ngưới ta cần phải hoàn thành danh sách này với một đòi hỏi tổng quát hơn rằng quền sở hữu lịch sử phải thật rõ ràng. Xem Ahmed ABOU-EL-WAFA, ‘‘Les différends internationaux concernant les frontières terrestres dans la jurisprudence de la Cour internationale de justice’’ (2010) 343 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 9 at 397.      [35] Zou, supra note 33 at 161 and references, supra note 25.      [36] For a treatment of both positions, xem Historic Waters Study, supra note 36 at 16–19.      [37] Xem, chẳng hạn,bằng tiếng Anh, Markus KOTZUR, ‘‘Intertemporal Law’’ in WOLFRUM, ed., supra note 24. Một phân tích chi tiết hơn bằng tiếng Pháp, xem Paul TAVERNIER, Recherches sur l’application dans le temps des actes et des règles en droit international public (problèmes de droit intertemporel ou de droit transitoire) (Paris: Librairie générale de droit et de jurisprudence).      [38] See Hasjim DJALAL, ‘‘South China Sea Island Disputes’’ (2000) The Rafﬂes Bulletin of Zoology  (Supplement No. 8) 9.      [39] Clive Ralph SYMMONS, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal (Leiden: Nijhoff, 2008) at 17–37. Đưa ra một lập luận tương tự trên cơ sở công trình của Uỷ ban Luật quốc tế về dàn ý của công ước 1958 cũng như trên cơ sở UNCLOS, see Franckx, supra note 22 at 197, and especially note 50.      [40] Lần duy nhất TQ được nêu liên quan tới yêu sách lịch sử của Liên Xô cũ đối với Vịnh Peter the Great (Symmons, supra note 42 at 144).      [41] Tullio SCOVAZZI, ‘‘Book Review of ‘Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal by Clive Ralph Symmons, Leiden, Martinus Nijhoff, 322 pp., 2008’ ’’  (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 637 at 642. See also ibid., at 639–40 and in the same sense Symmons, supra note 42, at 242–5, 299–300. Continental Shelf (Tunisia/Libyan Arab Jamahiriya), [1982] I.C.J. Rep. 18 at 73–4:  Không có định nghĩa về khái niệm lẫn nghiên cứu về chế độ pháp lý của ‘‘vùng nước lịch sử’’ hay ‘‘vịnh lịch sử’’. Tuy nhiên, có các quy chiếu về ‘‘vịnh lịch sử’’ hay ‘‘quyền sở hữu lịch sử’’ hay các lí lẽ lịch sử theo hướng tạo nên một bảo lưu cho các quy tắc xác lập từ đó trở đi. Vấn đề này dường như rõ ràng tiếp tục bị điều tiết bởi luật quốc tế chung, luật này không đưa ra một” chế độ” đơn nhất  cho ‘‘các vùng nước lịch sử’’ hay ‘‘vịnh lịch sử’’, nhưng chỉ cho một chế độ đặc biệt cho mỗi trường hợp cụ thể đã được thừa nhận về “vùng nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử”.      [42] Lập luận này được đưa ra trong WU Fengbing, ‘‘Historical Evidence of China’s Ownership of the Sovereignty over the Spratly Islands’’ in China Institute for Marine Development Strategy, ed., Selected Papers of the Conference on the South China Sea Islands (Beijing: Ocean Press, 1992) at 111 (in Chinese), referenced in Zou, supra note 33 at 161, note 98.      [43] Nói chung, xem Franckx, Benatar, Joe, and Van den Bossche, supra note 2. Nói cụ thể hơn về Biển Đông, xem NGUYEN Hong Thao, Le Vietnam et ses différends maritimes dans la Mer de Bien Dong (Mer de Chine méridionale) (Paris: Pedone, 2004) at 258.      [44] Như đã nêu ở supra note 2, Vietnam gọi khu vực này là ‘‘Biển Đông’’ (‘‘East Sea’’). Xem National Border Committee under the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, online: National Border Committee www.biengioilanhtho.gov.vn/bbg-vie/home.aspx.      [45] International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, 3rd ed. (Monte-Carlo: Imp. Mone´gasque, 1953) at preface and 30, online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-23/S23_1953.pdf. Old maps also use this denomination merely due to the fact that historically European navigators encountered predominantly Chinese ships. See Y. LACOSTE, ‘‘Mer de Chine ou mer de l’Asie du Sud-Est’’ (1981) 24 Hérodote at 13, referenced in Nguyen, supra note 46 at 257      [46] Nguyen, supra note 46 at 257.      [47] Republic of China (Taiwan), ‘‘Statement of the Ministry of Foreign Affairs concerning the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea signed by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and the People’s Republic of China (PRC) in Cambodia on November 4, 2002’’ (5 November 2002), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52357&ctNode51902&mp56:  Chính phủ THDQ tái khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Đông Sa (quần đảo Pratas), Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), Trung Sa (bãi cạn Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa) trong Biển Đông, Đối với các quần đảo này THDQ có tất cảquyền hợp pháp theo luật quốc tế;  Republic of China (Taiwan), ‘‘The Position of the Ministry of Foreign Affairs on Taiwan’s Sovereignty over Islands in the South China Sea’’ (20 November 2007), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem527782&ctNode51903&mp56.  Quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield và quần đảo Pratas luôn luôn là phần cố hữu của các vùng lãnh thổ Đài Loan, dù nhìn từ quan điểm của lịch sử địa lý, pháp luật quốc tế hay thực tế đơn giản. Theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, chủ quyền đối với các quần đảo này của chính phủ Đài Loan là không thể nghi ngờ và Đài Loan hưởng tất cả các quyền tương ứng;  Republic of China (Taiwan), ‘‘The Government of the Republic of China (Taiwan) Reiterates its Sovereignty over the Spratly Islands and has Proposed a Spratly Initiative that Focuses on Environmental Protection Instead of Sovereignty Disputes’’ (15 August 2008), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem532920&ctNode51903&mp56:   Quần đảo Trường Sa, bao gồm cả rạn san hô Swallow (đảo san hô Layang-Layang), nằm trong vùng lãnh hải của Đài Loan. Dù theo quan điểm pháp lý, lịch sử địa lý hoặc luật quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas và các vùng nước lân cận là một phần của lãnh thổ và lãnh hải của Đài Loan;  Republic of China (Taiwan), ‘‘Solemn Declaration of the Ministry of Foreign Affairs of the Republic of China concerning the Philippine Senate Bill 2699 and House Bill 3216’’ (6 February 2009), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem536914&ctNode51902&mp56:  Dù từ góc độ lịch sử, địa lý, thực tế hay luật pháp quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas, cũng như các vùng biển xung quanh, là các vùng lãnh thổ hiện hữu của THDQ. Sự kiện rằng chủ quyền của các khu vực này thuộc về chính phủ của chúng tôi là không thể phủ nhận, Đài Loan được hưởng và xứng đáng với tất cả các quyền tương ứng. Bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với, hoặc sự chiếm cứ, các quần đảo này và vùng nước xung quanh sẽ không được chính phủ THDQ thừa nhận.      [48] Republic of China (Taiwan), ‘‘Declaration of the Republic of China on the Outer Limits of Its Continental Shelf, no 003’’ (12 May 2009), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/content.asp?cuItem538077&ctNode51036&mp56.      [49] Hasjim DJALAL, ‘‘Conflicting Territorial and Jurisdictional Claims in South China Sea’’ (1979) 7(1) The Indonesian Quarterly 36 at 41–2.      [50] Robert W. SMITH, ‘‘Maritime Delimitation in the South China Sea: Potentiality and Challenges’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 214 at 224. Xem thêm GAO Zhiguo, ‘‘The South China Sea: From Conflict to Cooperation?’’ (1994) 25 Ocean Development and International Law 345 at 346: ‘‘nghiên cứu tỉ mỉ các tài liệu Trung Quốc cho thấy rằng Trung Quốc không bao giờ tuyên bố chủ quyền toàn bộ cột nước của vùng biển Biển Đông mà chỉ là các đảo và vùng biển xung quanh bên trọng đường này.’’ Xem thêm phát biểu của Wang Xiguang (Uông Hi Quang), người đã giúp Cục Địa lý Bộ Nội Chính trong việc chế tác các bản đồ trong những năm 1940 và dùng cùng một kỹ thuật nhưng đi đến một kết quả khác: ‘‘đường biên giới quốc qia chấm chấm được vẽ như là trung tuyến giữa TQ và các nước liền kề’’, trong XU Sen’an, ‘‘The Connotation of the 9-Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea’’ trong ZHONG Tianxiang, ed., Paper Selections of the Seminar on ‘‘The South China Sea in the 21st Century: Problems and Perspective’’ (Hainan Research Center of the South China Sea, 2000) at 80 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 290.      [51] Dzurek, supra note 3 at 11.      [52] Một quyển sách nói về cách giải quyết các vần đề này , xem Monique CHEMILLIER-GENDREAU, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (The Hague: Kluwer Law International, 2000).      [53] Anna RIDDELL and Brendan PLANT, Evidence Before the International Court of Justice (London: British Institute  of International and Comparative Law, 2009) at 31.      [54] Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali), [1986] I.C.J. Rep. 554 at 582, para. 54.      [55] Kasikili/Sedudu Island (Botswana/Namibia), [1999] I.C.J. Rep. 1045 at 1098, para. 84, nêu: “Tòa án sẽ bắt đầu bằng việc nhắc lại những gì mà Ban thẩm phán (Chamber) xử vụ tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) phải nói về giá trị chứng cứ của bản đồ”; Tranh chấp lãnh thổ và biển giữa Nicaragua and Honduras trong biển Caribbean (Nicaragua v. Honduras), [2007] I.C.J. Rep. 659 at 723, para. 215, nêu: “Toà án tái khẳng định lập trường của họ trước đây liên quan đến phạm vi vô cùng hạn chế của bản đồ như là một nguồn về quyền sở hữu chủ quyền”; Tranh chấp biên giới (Benin/Niger), [2005] I.C.J. Rep. 90 at 119–20, para. 44, nêu: “nguyên tắc này [như mô tả trong tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) cũng sẽ hướng dẫn Ban Thẩm phán trong việc đánh giá các bản đồ mà các Bên trong trường hợp hiện tại dựa vào”; Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia), [2002] I.C.J. Rep. 625 at 667, para. 88; Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain), Separate Opinion of Judge Kooijmans, [2001] I.C.J. Rep. 225 at 242, para. 68.      [56] Patrick DAILLIER, Mathias FORTEAU, and Alain PELLET, Droit international public, 8th ed. (Paris: L.G.D.J., 2009) at 524, para. 301.      [57] Một bàn luận về khả năng hạn chế này, xem Maurice KAMTO, ‘‘Le matériau cartographique dans les contentieux frontaliers et territoriaux internationaux’’ in Emile YAKPO and Tahar BOUMEDRA, eds., Liber Amicorum Judge Mohammed Bedjaoui (The Hague: Kluwer, 1999) at 371–98.      [58] Riddell and Plant, supra note 56 at 266.      [59] ZHAO Lihai, Studies on the Law of Sea (Beijing: Beijing University Press, 1996) at 37 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 291.      [60] JIAO Yongke, ‘‘There Exists No Question of Redelimiting Boundaries in the Southern Sea’’ (2000) 17 Ocean Development and Management at 52 (in Chinese), translated in Michael STRUPP, ‘‘Maritime and Insular Claims of the PRC in the South China Sea under International Law’’ (2004) 11 Zeitschrift fu¨ r chinesisches Recht 1 at 16.      [61] Zou, supra note 33 at 160.      [62] Grisbadarna Case (Norway v. Sweden), Decision of 23 October 1909, [1910] 4 American Journal of International Law 226 at 231, nêu rằng: ‘‘lãnh hải là thứ phụ thuộc chính yếu của lãnh thổ đất liền’’ (translation from the original French, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 159); North Sea Continental Shelf (Federal Republic of Germany/Denmark; Federal Republic of Germany/Netherlands), [1969] I.C.J. Rep. 3 at 51, para. 96: ‘‘Trong cả hai trường hợp [vùng tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa] nguyên tắc được áp dụng là đất thống trị biển’’. Nghiên cứu sâu hơn và các trường hợp của nguyên tắc này, xem Abou-el-Wafa, supra note 37 at 88–90.      [63] Fisheries Case (United Kingdom v. Norway), [1951] I.C.J. Rep. 116 at 132.      [64] UNCLOS, supra note 12, has been ratified by all interested parties in the South China Sea dispute with the exception of Taiwan (Vietnam: 25 July 1994, PRC: 7 June 1996, Philippines: 8 May 1984,Malaysia: 14 October 1996, Brunei: 5 November 1996, Myanmar: 21 May 1996, and Thailand: 15 May 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/reference_files/chronological_lists_of_ratifications.htm.      [65] Ibid.      [66] Một cách tiếp cận mới giới hạn đáng kể khả năng áp dụng ngoại lệ củaĐiều 121(3) đối với việc phân giới trên biển, xem Bernard H. OXMAN, ‘‘On Rocks and Maritime Delimitation’’ in Mahnoush H. ARSANJANI, Jacob Katz COGAN, Robert D. SLOANE, and Siegfried WIESSNER, eds., Looking to the Future: Essays on International Law in Honor of W. Michael Reisman (Leiden/Boston: Martinus Nijhoff, 2011), 893. Theo lý luận của tác giả, những tranh cãi liên quan đến ý nghĩa chính xác của việc cư trú của con người và đời sống kinh tế sẽ ít quan trọng hơn, bởi vì trong giai đoạn phân giới các đảo nhỏ thường chỉ đóng một vai trò nhỏ.      [67] Alex G. Oude ELFERINK, ‘‘The Islands in the South China Sea: How Does Their Presence Limit the Extent of the High Seas and the Area and the Maritime Zones of the Mainland Coasts?’’ (2001) 32 Ocean Development and International Law 169 at 182. See also Marius GJETNES, ‘‘The Spratlys: Are They Rocks or Islands?’’ (2001) 32 Ocean Development and International Law 191 at 199–201; Barry Hart DUBNER, ‘‘The Spratly ‘Rocks’ Dispute: A ‘Rockapelago’ Defies Norms of International Law’’ (1995) 9 Temple International and Comparative Law Journal 291 at 299–306.      [68] Nó liên quan đến những hành động do TQ thực hiện bởi để đưa vào các mục bổ sung cho chương trình nghị sự tại cuộc họp năm 2009 của các nước thành viên UNCLOS và kỳ họp lần thứ 15 của Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) một năm sau đó. Xem Erik FRANCKX, ‘‘The International Seabed Authority and the Common Heritage of Mankind: The Need for States to Establish the Outer Limits of Their Continental Shelf’’ (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 543 at 563–4. Những nỗ lực như vậy được lặp vào thời điểm Hội nghị của các nước thành viên UNCLOS năm 2011 nhưng không lặp lại tại cuộc họp lần của ISA khoảng một tháng sau đó.      [69] Như chỉ rõ qua danh nghĩa đại diện của giáo sư Jia Yu, đưa ra trong một buổi báo cáo tóm tắt của ISA năm 2009. Mặc dù đóng góp này có tiêu đề là ‘‘Safeguarding the Common Heritage of Mankind’’(Bảo vể di sản chung của loài người) trong công bố cho báo chí của ISA (ISA, ‘‘Press Release SB/15/10’’ (June 2009) at 3, online: ISA http://www.isa.org.jm/files/documents/EN/Press/Press09/SB-15–10.pdf), các phim chiếu slides phân phát vào lúc đó tại buổi báo cáo tóm tắt lại có một tiêu đề cụ thể hơn, đó là ‘‘The Rock of Oki-no-Tori Shall Have No EEZ and Continental Shelf’’ (Mỏm đá Okinotori sẽ có EEZ và thềm lục địa mở rộng). Xem thêm Ted McDORMAN, ‘‘The South China Sea after 2009: Clarity of Claims and Enhanced Prospects for Regional Cooperation?’’ (2010) 24 Ocean Yearbook 507 at 514–15. Về chi tiết và các hành động sau này của các bên về mặt này, xem Yann-Huei SONG, ‘‘The Application of Article 121 of the Law of the Sea Convention to the Selected Geographical Features Situated in the Pacific Ocean’’ (2010) 9 Chinese Journal of International Law 663 at 671–4.      [70] Indonesia, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—480/POL-703/VII/10’’ (8 July 2010), online: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_ vnm_e.pdf. Sự liên kết giữa các hành động can thiệp này với Biển Đông được trình bày trong công hàm này như sau:  Về mặt này, các phát biểu của các đại diện ưu tú của CHNDTH cũng liên quan đến tình hình ở Biển Đông và do đó thật đúng khi nêu rằng những thể địa lý rất nhỏhoặc ở xa xôi ở Biển Đông không xứng đáng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của riêng mình. Cho phép sử dụng các mỏm đá, các rạn san hô và đảo san hô vòng không có người ở cô lập với đất liền và ở giữa biển khơi như một điểm cơ sở để tạo ra các khu vực biển gây quan ngại tới các nguyên tắc cơ bản của Công ước [1982]  và xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng toàn cầu. Vì thế,như  được chứng thực bởi những phát biểu trên, cái gọi là “bản đồ đường 9 chấm” rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và đồng nghĩa với việc đảo lộn… Công ước 1982.      [71] Xem bộ phận luật án lệ rộng hơn và ý kiến các học giả nêu trong Gérard NIYUNGEKO, La preuve devant les juridictions internationales (Brussels: Bruylant, 2005) at 322–35, and more recently Case concerning Pulp Mills on the River Uruguay (Argentina v. Uruguay), [2010] I.C.J. Rep. 1 at 52, para. 168.      [72] Raphae¨le RIVIER, ‘‘La preuve devant les juridictions interetatiques à vocation universelles (CIJ et TIDM)’’ in Hélène Ruiz FABRI and Jean-Marc SOREL, eds., La preuve devant les juridictions internationales (Paris: Pedone, 2007), 9 at 38–48. More generally, judicial bodies select the facts they deem pertinent in a discretionary manner. Xem Jean SALMON, ‘‘Le fait dans l’application du droit international’’ (1982) 175 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 261 at 300. For a critical approach to the freedom of judges with respect to weighing evidence, see Rudiger WOLFRUM, ‘‘Taking and Assessing Evidence in International Adjudication’’ in Tafsir Malick NDIAYE and Rudiger WOLFRUM, eds., Law of the Sea, Environmental Law and Settlement of Disputes: Liber Amicorum Judge Thomas A. Mensah (Leiden: Martinus Nijhoff, 2007), 341 at 342; Patrick KINSCH, ‘‘On the Uncertainties Surrounding the Standard of Proof in Proceedings before International Courts and Tribunals’’ in Gabriella VENTURINE and Stafania BARIATTI, eds., Liber Fausto Pocar—Diritti individuali e giustizia internazionale, vol. 1 (Milan: Giuffre`, 2009), 427 at 438–9; Chittharanjan F. AMERASINGHE, Evidence in International Litigation (Leiden: Martinus Nijhoff, 2005) at 232–61.      [73] Mặc dù không có học thuyết về việc dựa vào tiền lệ (stare decisis) trong luật quốc tế, tòa và tòa án quốc tế thường trích dẫn luật án lệ. Điều này đặc biệt đúng đối với ICJ, là toà có tính tự tham chiếu cao độ và sẽ chỉ đi chệch khỏi án lệ trong quá khứ khi có các lý do đáng kể. Xem Alan BOYLE and Christine CHINKIN, The Making of International Law (Oxford: Oxford University Press, 2007) at 293–9; Gilbert GUILLAUME, ‘‘The Use of Precedent by International Judges and Arbitrators’’ (2011) 2 Journal of International Dispute Settlement 5 at 12.      [74] Frontier Dispute, supra note 57 at 582, para. 55, nêu: ‘‘trọng lượng phân cho các bản đồ với tư cách bằng chứng phụ thuộc vào một số lớn các cân nhắc”; Qatar v. Bahrain, supra note 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Berna´rdez at 274, para. 37, stating: ‘‘[t]he weight of maps as evidence depends on a range of considerations.’’      [75] Xem Case concerning the Delimitation of Maritime Boundary between Guinea-Bissau and Senegal (Guinea- Bissau/Senegal), Decision of 31 July 1989, Dissenting Opinion of Mr. Mohammed Bedjaoui, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 119 at 166–9, paras. 32–7 (lập luận chống lại một chuyển vị tự động các nguyên tắc lãnh thổ sang phân định biển cho các khác biệt “hiển nhiên” và “không thể giảm hơn” về mặt địa lý, mối quan hệ của chúng với các quyền của các dân tộc và các quốc gia quyền đối với các vùng này); Lea BRILMAYER and Natalie KLEIN, ‘‘Land and Sea: Two Common Sovereignty Regimes in Search of a Common Denominator’’ (2001) 33 New York University Journal of International Law and Politics 703 at 703–4 (noting 15       [76] Xem các ví dụ về các vụ liên quan một phần đến các tranh chấp trên biển, supra note 58 citing a passage from Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali) (which is a territorial case).  80. Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 stating: ‘‘only with the greatest caution can account be taken of maps in deciding a question of sovereignty’’, reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 58, para.      [77] Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 nêu: “Chỉ với sự thận trọng lớn nhất các bản đồ có thể được xét tới trong việc quyết định vấn đề chủ quyền”, reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 58, para. 214; Territorial Sovereignty and Scope of the Dispute (Eritrea/Yemen), Decision of 9 October 1998, [2006] XXII Reports of International Arbitral Awards 209 at 296, para. 388, nêu: “như trong tất cả các trường hợp về bản đồ, bằng chứng phải được xử lý thât  tinh tế”. For an opposing view calling into question the reluctant approach of international adjudicators vis-à-vis cartographic evidence, see Romulo R. UBAY Jr, ‘‘Evidence in International Adjudication: Map Evidence in Territorial Sovereignty Dispute Cases’’ (2011) 1 Aegean Review of the Law of the Sea and Maritime Law 287.      [78] Arbitration Between Great Britain and Portugal as Regards Questions Relative to the Delimitation of their Spheres of Influence in East Africa (Manica plateau) (United Kingdom/Portugal), Decision of 30 January 1897, [2007] XXVIII Reports of International Arbitral Awards 283 at 298.      [79] Indo-Pakistan Western Boundary (Rann of Kutch) between India and Pakistan (India v. Pakistan), Award of 19 February 1968, Proposal of Mr. Nasrollah Entezam, [2006] XVII Reports of International Arbitral Awards 1 at 505, nêu: “bản đồ chỉ bằng chứng phụ. Chỉ có bản đồ được chuẩn bị bởi người giám định ngay tại chỗ bằng cách quan sát mới là bằng chứng chính. Thầm chí chúng là bằng chứng chính chỉ cho những điều mà người giám định có thể tự mình quan sát”; Qatar v. Bahrain, supra note 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Bernardez at 274, para. 37, nêu: “ nói chung, giá trị như là bằng chứng do toà và toà án quốc tế gắn cho chúng là có tính củng cố hay xác nhận cho các kết luận đã được rút ra từ các phương cách khác không dính dáng tới các bản đồ, vì các bản đồ như thế không có danh nghĩa pháp lý”; Island of Palmas, supra note 80 at 853–4, nêu: “dù sao đi nữa, bản đồ chỉ có khả năng đưa ra một chỉ định – và đó là một chỉ định rất gián tiếp – và trừ khi được kèm theo một công cụ pháp lý, không có giá trị của một công cụ như vậy, liên quan đến công nhận hoặc từ bỏ quyền”; ibid., at 853: Nếu trọng tài hài lòng về sự tồn tại của các sự kiện pháp lý có liên quan nhưng các sự kiện này lại mâu thuẫn với lời khai của những người vẽ bản đồ có nguồn thông tin không biết rõ, ông ta có thể sẽ không gán trọng lượng nào cho các bản đồ, tuy các bản đồ này rất nhiều và thường có thể được đánh giá cao.      [80] Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56. Xem thêm The Government of Sudan/The Sudan People’s Liberation Movement/Army (Abyei Arbitration), Final Award of 22 July 2009, online: PCA http://www.pca-cpa.org at 256, para. 741:  Toà án tương tự như vậy rất miễn cưỡng để cân bằng biên giới Đông và Tây của khu vực do Ngok Dinka chiếm đóng chuyển giao vào năm 1905 với mô tả bằng bút chì năm 1933 về khu vực chăn thả gia súc mùa khô của Ngok Dinka trên một bản đồ vẽ phác, đặc biệt là khi toà đã có bằng chứng toàn diện và cụ thể hơn.      [81] Sakeus AKWEENDA, ‘‘The Legal Significance of Maps in Boundary Questions: A Reappraisal with Particular Emphasis on Namibia’’ (1990) 60 British Yearbook of International Law 205 at 212; A.O. CUKWURAH, The Settlement of Boundary Disputes in International Law (Manchester: Manchester University Press, 1967) at 224–5; Hyde, supra note 27 at 313–15; Victor PRESCOTT and Gillian D. TRIGGS, International Frontiers and Boundaries: Law, Politics and Geography (Leiden: Nijhoff, 2008) at 194–5; Durward V. SANDIFER, Evidence before International Tribunals, 2nd ed. (Charlottesville: University Press of Virginia, 1975) at 235; Guenter WEISSBERG, ‘‘Maps as Evidence in International Boundary Disputes: A Reappraisal’’, (1963) 57 American Journal of International Law 781 at 781.      [82] E.g., Ian BROWNLIE, The Rule of Law in International Affairs: International Law at the Fiftieth Anniversary of the United Nations (The Hague: Martinus Nijhoff, 1998) at 156.      [83] Manfred LACHS, ‘‘La preuve et la Cour internationale de Justice’’ in Chaı¨m PERELMAN and Paul FORIERS, eds., La preuve en droit (Brussels: Bruylant, 1981), 109 at 109.      [84] Mức phù hợp trong bản đồ không cần phải luôn luôn là tuyệt đối, nhưng nó phải phù hợp trên tổng quát.. Abouel- Wafa, supra note 37 at 432–4.      [85] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58 at 1100, para. 87; see also Dubai/Sharjah Border Arbitration (Dubai v. Sharjah), Award of 19 October 1981, [1993] 91 International Law Reports 543 at 630, para. 168:  Theo quan điểm của Toà án cần phải dẹp sang một bên cả hai bản đồ do ông Walker chuẩn bị, xét về vị trí của Hadlib Azana, vì, mặc dù được chuẩn bị bởi cùng một người, chúng lại mâu thuẫn lẫn nhau về đường ranh giới chung trong khu vực này. Suy đoán thêm về các lý do có thể có cho một mâu thuẫn như vậy là chuyện vô ích.  Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 296, para. 388:  Các bằng chứng cho thời kỳ này bị vây bủa với các mâu thuẫn và sự không chắc chắn. Mỗi bên đã thể hiện sự không thống nhất trong các bản đồ chính thức của mình. Tuy nhiên, xu hướng chung là bằng chứng bản đồ củaYemen là vượt trội về phạm vi và khối lượng so với Eritrea. Tuy nhiên, trọng lượng như vậy có thể được gắn vào bản đồ bằng chứng ủng hộ của một bên được cân bằng bởi thực tế là mỗi bên đã công bố những bản đồ có vẻ đi ngược với khẳng định của mình trong các thủ tục tố tụng.  Delimitation of the Border Between the State of Eritrea and the Federal Democratic Republic  of Ethiopia (Eritrea-Ethiopia Boundary Commission), Decision of 1 January 2002, [2002] 41 International Legal Materials 1057 at 1089, para. 4.67:  Bằng chứng bản đồ là không đồng nhất và nhất quán. Phần lớn hỗ trợ sự tồn tại của một phóng chiếu của Belesa và gán lãnh thổ bên trong nó cho Eritrea. Tuy nhiên, có nhiều bản đồ không làm như vậy, hoặc chỉ làm như vậy một phần      [86] Tuy nhiên xem Separate World’s Geography (Chinese Ya Guang Geographic Publisher, 1951) at 18 (Bản dồ nước Cộng hoà), trong đó chỉ có khoảng nửa số vạch được thể hiện [bản đồ TQ 1951].      [87] Xem Chinese State Bureau of Surveying and Mapping, Map World, online: Map World http://www.chinaonmap.cn. Bản đồ này được in lại một phần trong Phụ lục II ở cuối bài viết này.      [88] Vì vậy, về mặt kỹ thuật hình như chính xác hơn khi nói đường chấm chấm với số vạch thay đổi, chẳng hạn như là đường 11/9/10-chấm. Tuy nhiên, vì cho tới nay đường 9 chấm là đường mà TQ dựa vào trên bình diện quốc tế để minh định lập trường của họ trong tranh chấp của quốc gia đối với quốc gia nên bài đóng góp này thường sẽ dùng khái niệm “đường 9 chấm”, trừ khi các đường với số chấm khác có ý nghĩa pháp lý.      [89] Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 295, para. 382.      [90] Các vạch được TQ sử dụng để vẽ đường chữ U không phù hợp với các quy định kỹ thuật biểu đồ do Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra dùng để chỉ ranh giới biển quốc tế, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, khu thủy sản, vv. Xem International Hydrographic Organization, Regulations of the IHO for International (INT) Charts and Chart Specifications of the IHO, 4th ed. (Monaco: International Hydrographic Bureau, 2010) at B-440, C-407 (International Boundaries and National Limits), online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-4/S4_v4.000_Sep10.pdf . Kiểu lập luận này đã được Ukraina đưa ra chống lại Romania trong vụ ở Biển Đen (Romania v. Ukraine), Counter-memorial of Ukraine, 19 May 2006 at 123–5.      [91] International Hydrographic Organization Membership, online: IHO http://www.iho-ohi.net/english/home/about-the-iho/about-iho-member-states/ms-information.html.      [92] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at 1133–4, para. 40. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 57, nêu: “bây giờ Ban thẩm phán (Chamber) quay sang các bản đồ được in trong trường hợp này. Đối với Ban Thẩm phán không có một bản đồ đơn lẻ có sẵn nào có thể nói một cách đáng tin cậy là phản ánh được những ý định của chính quyền thực dân được thể hiện trong các các văn bản liên quan đến biên giới đang có tranh chấp.” Xem thêm Abou-el-Wafa, supra note 37 at 425–6.      [93] Smith, supra note 53 at 224.      [94] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at 1133–4, para. 40.      [95] Cũng phải nói rõ rằng dù ngay cả trong tình huống như thế, việc chế tác bản đồ cũng không phải là một công việc có “giá trị trung lập” về khoa học. Những bóp mép không chủ ý cũng có thể len vào trong quá trình này do những thiên lệch của nhà vẽ bản đồ và bối cảnh xã hội. Jordan BRANCH, ‘‘Mapping the Sovereign State: Technology, Authority, and Systemic Change’’ (2011) 65 International Organization 1 at 7.      [96] Trừ khi một bản đồ như vậy đi ngược vị thế của họ. Xem chẳng hạn, Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), [2008] I.C.J. Rep. 12 at 95, para. 272. Abou-el-Wafa, supra note 37 at 460–2.      [97] Beagle Channel Arbitration (Argentina v. Chile), Decision of 18 February 1977, [2006] XXI Reports of International Arbitral Awards 53 at 167, para. 142. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56, nêu rằng: ‘‘những cân nhắc khác để xác định trọng lượng của các bản đồ như là bằng chứng liên quan tới tính trung lập của các nguồn của chúng đối với tranh chấp đang xem xét và với các bên đối với tranh chấp đó.’’      [98] Cukwurah, supra note 84 at 224. Xem thêm Hyde, supra note 27 at 315: Các nguyện vọng hung hăng về lãnh thổ của một nước, qua thời gian nhiều năm có thể phản ánh trong một loạt các bản đồ liên tiếp mô tả rõ rệt sự lấn tới dần và thực sự, và những mô tả sau này có thể khác biệt rõ rệt với các mô tả trước đó;dù trên thự tế không có hiệp ước nào mở rộng ranh giới hay điều chỉnh biên giới.      [99] Charles DE VISSCHER, Problèmes de confins en droit international public (Paris: Pedone, 1969) at 46. Xem thêm Joseph Charles WITENBERG, ‘‘La théorie des preuves devant les juridictions internationales’’ (1936) 56 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 1 at 66: ‘‘la valeur scientifique de la méthode ayant présidé´à leur établissement’’; Abou-el-Wafa, supra note 37 at 431.      [100] Ian BROWNLIE, African Boundaries: A Legal and Diplomatic Encyclopaedia (London: Royal Institute of International Affairs, 1979) at 5.      [101] Cukwurah, supra note 84 at 217–20.      [102] Island of Palmas, supra note 80 at 853. Cited in Dubai/Sharjah Border Arbitration, supra note 88 at 630, para. 168. Xem thêm Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075, para. 3.19, nêu: Ủy ban cũng lưu ý rằng các bản đồ, dù thông tin nó cung cấp nhiều như thế nào, không nhất thiết thể hiện chính xác, khách quan thực tế trên mặt đất’      [103] Frontier Dispute, supra note 57 at 582–3, para. 55. Xem thêm Beagle Channel, supra note 100 at 174, para. 154, nêu: “Vì thếTòa án bắt buộc đi đến kết luận rằng bản đồ củaPelliza có tính chất quá không chắc chắn để có giá trị chứng minh đòi hỏi”; Request for Interpretation of the Judgment of 15 June 1962 in the Case concerning the Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Order of 18 July 2011, Dissenting Opinion of Judge ad hoc Cot, [2011] I.C.J. Rep. 1 at 4, para. 21–2 (tuyên bố quyết định của Toà xác định một khu vực phi quân sự tạm thời là “thiếu thận trọng”dưới ánh sáng của tài liệu bản đồ mà ông cho là hạn chế và không đủ đáng tin cậy theo quan điểm kỹ thuật).      [104] Legal Consequences of the Construction of a Wall in the Occupied Palestinian Territory, Advisory Opinion, [2004] I.C.J. Rep. 136 at 168, para. 80. Về việc ICJ chấp nhận ảnh vệ tinh trong các vụ tranh chấp, xem Jana K. HETTLING, ‘‘The Use of Remote Sensing Satellites for Verification in International Law’’ (2003) 19 Space Policy 33 at 38, nghiên cứu sâu hơn của cùng tác giả trong Satellite Imagery for Verification and Enforcement of Public International Law (Cologne: Heymann, 2008) at 157–65.      [105] Dzurek, supra note 3 at 12; Zou, supra note 5 at 51.      [106] Dzurek, supra note 3 at 11.      [107] Xem chẳng hạn bản đồ TQ 1951, supra note 89. Không những một số lượng các vạch chỉ biến đi (ibid.) mà vị trí của những vạch biểu hiện trên rằng bản đồ đó với tỉ lệ 1:23.500.000 rõ ràng là sai biệt với những vạch thấy trong Phụ lục I: ba vạch đầu tiên rõ ràng là thấy được, nhưng vạch đầu tiên nằm theo hướng tây bắc nhiều hơn, vạch thứ hai ở hướng tây nam, và vạch thứ ba theo hướng phía bắc khi so sánh với bản đồ Phụ lục I.      [108] Land, Island and Maritime Frontier Dispute (El Salvador/Honduras: Nicaragua Intervening), [1992] I.C.J. Rep. 350 at 550, para. 315. Xem thêm Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Dissenting Opinion of Vice-President Weeramantry at 1176, para. 73:  Bản đồ dĩ nhiên có thể mang các mức độ trọng lượng khác nhau tùy thuộc vào tác giả và hoàn cảnh trong đó chúng được làm ra. Hơn nữa, tỉ lệ của các bản đồ thường là quá nhỏ không hiển thị rõ ràng các khu vực cụ thể đang là chủ đề của tranh chấp, trong khi các bản đồ khác đủ lớn có thể chỉ ra các khu vực tranh chấp đầy đủ chi tiết.      [109] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1089, para. 4.67. Earlier on in that case (at 1076, para. 3.21), Ủy ban cũng nêu: “một bản đồ … với tỉ lệ quá nhỏ đến nỗi việc nhập vào sẽ trở thành một vấn đề phải suy xét hơn là sự quan sát chính xác, khó có thể có giá trị pháp lý hay bằng chứng cao.” Xem thêm Case Concerning the Location of Boundary Markers in Taba (Egypt/Israel), Decision of 29 September 1988, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 1 at 48, para. 184:  Tòa án không xem xét các chỉ dẫn dựa trên bản đồ là thuyết phục vì tỉ lệ của bản đồ (1:100,000) là quá nhỏ để thể hiện một vị trí trên mặt đất chính xác theo yêu cầu trong những trường hợp này, trong đó khoảng cách giữa các vị trí trụ cột tranh chấp đôi khichỉ một vài mét.  Dispute Concerning the Course of the Frontier Between BP 62 and Mount Fitzroy (‘‘Laguna del Desierto’’) (Argentina/Chile), Resolution of 13 October 1995, [1999] 113 International Law Reports 1 at 224:  Ngay từ đầu, một số quan sát được lưu ý đến về các bản đồ tỉ lệ 1/10.000 do Chile đệ trình. Những bản đồ này được vẽ với một tỉ lệ lớn hơn đáng kể hơn so với bản đồ của Ủy ban Ranh giới hỗn hợp hoặc những bản đồ kèm theo đệ trình yêu sách chủ quyền của Chile ngày 31 tháng năm 1995, cung cấp một biểu diễn chính xác về địa hình thực sự của mặt đất      [110] Maurice KAMTO, ‘‘Sur quelques questions techniques liées à la détermination du tracé d’une frontière maritime de´limitée’’ in Rafael CASADO RAIGON and Giuseppe CATALDI, eds., L’évolution et l’état actuel du droit international de la mer. Mélanges de droit de la mer offerts à Daniel Vignes (Brussels: Bruylant, 2009), 481 at 493–6, tác giả đưa ra một tường trình chi tiết về những khó khăn nghiêm trọng mà Cameroon và Nigeria gặp phải sau đó do sự kiện rằng trong đánh giá của mình ICJ đã dựa trên một biểu đồ Hải quân Anh không chứa bất kỳ chỉ dẫn của mốc đo lường được dùng.      [111] Beagle Channel, supra note 100 at 164, para. 137. See also John G. MERRILLS, ‘‘The International Court of Justice and the Adjudication of Territorial and Boundary Disputes’’ (2000) 13 Leiden Journal of International Law 873 at 875, nêu: “về các vấn đề ranh giới và lãnh thổ các bản đồ có khả năng cung cấp bằng chứng về tình hình trên mặt đất và thái độ của các nước có liên quan đối với nó’’; Henry DARWIN, ‘‘Judicial Settlement’’ in Evan LUARD, ed., The International Regulation of Frontier Disputes (London: Thames & Hudson, 1970), 198 at 207–8.      [112] Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), [1962] I.C.J. Reports 6 at 23.      [113] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075–6, para. 3.22. Một cách tượng tự Uỷ ban nhận thấy rằng (at 1076, para. 3.21):  Tuy nhiên, một bản đồ do một cơ quan chính phủ của một bên vẽ ra, trên một tỉ lệ đủ để cho phép miêu tả của khu vực biên giới tranh chấp là nhận biết được, thường có sẵn để mua hoặc kiểm tra, dù tại nước xuất xứ hoặc ở nơi khác, và bên bị ảnh hưởng bất lợi hành động dựa trên nó, hoặc không phản ứng đối với nó, có thể được dự kiến là sẽ có hậu quả pháp lý quan trọng.      [114] Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 735, para. 253.      [115] Strupp, supra note 63 at 17.      [116] Ibid., at 17, note 98.      [117] Yehuda Z. BLUM, Historic Titles in International Law (The Hague: Nijhoff, 1965) at 150.      [118] Li and Li, supra note 4 at 290. See also ‘‘Carps Among the Spratlys’’ The Economist (10 March 2011), online: The Economist http://www.economist.com/node/18332702?story_id518332702, stating: ‘‘TQ chỉ vào một bản đồ dùng từ thời THDQ công bố trong cuộc nội chiến những năm 1940 và nói rằng cho tới gần đây không ai quan tâm (mided).”      [119] Zhao, supra note 33 at 22, được dịch lại trong Li and Li, supra note 4 at 292.      [120] Như lập luận trong bài viết do Nguyễn Hồng Thao trình bày tại Hội thảo quốc tế lần hai, nhan đề là ‘‘The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development’’, tổ chức vào 10–12 /12/ 2010 tại tp Ho Chi Minh, Vietnam: ‘‘South China Sea—Three Stages, Four Challenges, Two Regional Approaches and One Confidence’’ at 12–13. On file with the authors.      [121] UN, ‘‘Vietnam: Dispute Regarding the Law on the Exclusive Economic Zone and the Continental Shelf of the People’s Republic of China which was Passed on 26 June 1998’’ (1998) 38 Law of the Sea Bulletin 54 at 55.      [122] Vietnam, ‘‘Letter to the Secretary-General of the United Nations—86/HC-2009’’ (8 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_re_chn_2009re_vnm.pdf.      [123] Vietnam, ‘‘Viet Nam Request the Chinese Side to Remove from SBSM Map Service All Data and Information that Violate Viet Nam’s Sovereignty’’ (5 November 2010), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn; Vietnam, ‘‘Viet Nam Asks China to Remove Wrongful Data in Its SBSM Map Service’’ (26 January 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn.      [124] Vietnam, ‘‘Foreign Ministry Spokesperson Nguyen Phuong Nga Answers Question from the Media at the Press Conference on June 9th 2011 Concerning the Viking II Incident’’ (9 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu ‘”những hành vi có hệ thống của phía TQ nhằm tranh chấp một khu vực không có tranh chấp với mục tiêu hiện thực hoá yêu sách ‘đường 9 chấm’ [sic], một mục tiêu không thể chấp nhận đối với Việt Nam”; Vietnam, ‘‘Press Conference on Chinese Maritime Surveillance Vessel’s cutting exploration cable of PetroViet Nam Seismic Vessel’’ (1 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu “Đường chín vạch của TQ ở Biển Đông, còn gọi là ‘đường lưỡi bò’ là hoàn toàn không có căn cứ hợp pháp và trái với Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển mà Trung Quốc là một thành viên. Yêu sách chủ quyền này xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, và do đó nhiều quốc gia bác bỏ. TQ cố gắng để thực hiện tuyên bố này thực tế làm căng thẳng tăng lên trong khu vực.”      [125] Meeting of States Parties to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, ‘‘Twenty-First Meeting’’ (13–17 June 2011), online: UN Office of Legal Affairs, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea http://www.un.org/Depts/los/meeting_states_parties/twentyfirstmeetingstates parties.htm (as further substantiated by participants in that meeting).      [126] . Pensions of Officials of the Saar Territory (Germany, Governing Commission of the Saar Territory), Award of 4 September 1934, [2006] III Reports of International Arbitral Awards 1553 at 1567, nêu: “quyền phản đối của Chính phủ đó chỉ có được vào lúc này khi họ biết về các sự kiện đó”; Fisheries Case, supra note 66 at 139; Nuno Sérgio MARQUES ANTUNES, ‘‘Acquiescence’’ in Wolfrum, ed., supra note 34, 4, para. 21; D.H.N. JOHNSON, ‘‘Acquisitive Prescription in International Law’’ (1950) 27 British Yearbook of International Law 332 at 347, nêu: “nếu không biết thì không thể có sực mặc nhận nào cả”; Jean BARALE, ‘‘L’acquiescement dans la jurisprudence internationale’’ (1965) 11 Annuaire franc¸ais de droit international 389 at 400: ‘‘việc mặc nhận chỉ có thể liên quan đến một tình huống đã được biết đến với nước mặc nhận’, and 401–4; I.C. MACGIBBON, ‘‘The Scope of Acquiescence in International Law’’ (1954) 31 British Yearbook of International Law 143 at 173, nêu: “mệnh đề cho rằng việc sở hữu trên đó quyền sở hữu bằng cách dựa vào thời hiệu (prescription) phải thoả yêu cầu của trạng thái rõ ràng (notoriety) là hiếm khi đáng ngờ”, and 174–6.      [127] Barale, supra note 129 at 404–6.      [128] Martti KOSKENNIEMI, ‘‘L’affaire du passage par le Grand-Belt’’ (1992) 38 Annuaire français de droit international 905 at 931; Fisheries Case, supra note 66 at 138; Right of Passage over Indian Territory (Portugal v. India), [1960] I.C.J. Rep. 6 at 40. Xem thêm Land, Island and Maritime Frontier Dispute, supra note 111 at 577, para. 364.      [129] Fisheries Case, supra note 66 at 138; Chamizal Case (Mexico v. United States), Award of 15 June 1911, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 309 at 329.      [130] E.g. Hyung K. LEE, ‘‘Mapping the Law of Legalizing Maps: The Implications of the Emerging Rule on Map Evidence in International Law’’ (2005) 14 Pacific Rim Law and Policy Journal 159 at 159–75, 188; Abou-el-Wafa, supra note 37 at 438–9.      [131] Abou-el-Wafa, supra note 37 at 128–9.      [132] Xem generally Sam BATEMAN and Ralf EMMERS, eds., Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime (Abingdon: Routledge, 2009).      [133] . Đối với một tổng quan về các phương pháp hội thảo và thành công của nó, xem SONG Yann-Huei, ‘‘The South China Sea Workshop Process and Taiwan’s Participation’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 253 at 256–60.      [134] Xem chẳng hạn. Aldo CHIRCOP, ‘‘Regional Cooperation in Marine Environmental Protection in the South China Sea: A Reflection on New Directions for Marine Conservation’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 334; John W. MCMANUS, SHAO Kwang-Tsao, and LIN Szu-Yin, ‘‘Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park: Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an Emphasis on the Role of Taiwan’’ (2010) 41 Ocean Development and International Law 270; TUAN Vo Si and John PERNETTA, ‘‘The UNEP/GEF South China Sea Project: Lessons Learnt in Regional Cooperation’’ (2010) 53 Ocean and Coastal Management 589 SONG Yann-Huei, ‘‘AMarine Biodiversity Project in the South China Sea: Joint Efforts Made in the SCS Workshop Process’’ (2011) 26 International Journal of Marine and Coastal Law 119.      [135] Robert C. BECKMAN, ‘‘Joint Development of Hydrocarbon Resources in the South China Sea: International Legal Framework’’ (16–17 June 2011), online: National University of Singapore—Centre for International Law http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2011/06/Session-2-Beckman- Session-2-CIL-JD-SCS-pdf.pdf. Xem chẳng hạn. Memorandum of Understanding between Malaysia and the Socialist Republic of Vietnam for the Exploration and Exploitation of Petroleum in a Defined Area of the Continental Shelf Involving the Two Countries, 5 June 1992 (entered into force 4 June 1993), online: NUS-CIL http://cil.nus.edu.sg/1992/1992-memorandum-of-understanding-between-malaysia-and-thesocialist- republic-of-vietnam-for-the-exploration-and-exploitation-of-petroleum-in-a-defined-area-of-thecontinental- shelf-involving-the-two-c/.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấn hưng giáo dục & đào tạo – Rối cờ !?      “Thế là xong! Việc chống tiêu cực trong thi cử chỉ được thể hiện ở quyết tâm trên giấy! Các giáo viên mạnh dạn hô hào, hưởng ứng trong việc chống tiêu cực thẫn thờ nhìn nhau… Chỉ thế thôi ư?!” (giáo viên Trường sinh, Tuổi Trẻ 22/12/06). Trên báo này ta còn thấy nhiều các bài kêu khổ khác “Một đề thi khuyết tật”, “Tội nghiệp con tôi”… bài về việc phòng 303 đọc cho thí sinh (đang là giảng viên các đại học và cao đẳng) chép lời giải trong kỳ thi nâng ngạch giảng viên chính tại đại học SP TPHCM!         Hài hước là sau đó hơn một tuần cũng tại trường này diễn ra hội thảo “Giải pháp chống tiêu cực trong thi cử, làm luận văn“, mà Nguyễn Phan tường thuật lại các việc:“Chợ luận văn, đề án” hình thành ngay cạnh các trường, việc “phong bì cho thầy trước khi thi ”… việc “Thuê làm luận văn, luận án chủ yếu ở cán bộ lãnh đạo!”, cùng với vô vàn lý do được lý giải rất cặn kẽ kèm các con số điều tra (Tuổi Trẻ 20/12 tg3). Ngày 15/11/06 Bộ GD&ĐT ra quyết định từ nay tới 2010 không thành lập “các trường ĐH và CĐ sư phạm địa phương” thì cũng trên Tuổi Trẻ (22/12,tg 10) Thanh Hà giới thiệu “quy hoạch đang được bộ GD&ĐT xây dựng”  với các thông tin rợn người: tới 2020 sẽ có 600 trường ĐH-CĐ, tăng thêm 288 trường (tức gần gấp đôi hiện nay)! Hiện đã có 20 đề án thành lập trường “được TT Chính phủ đồng ý về nguyên tắc” và 10 đề án khác sắp trình TT Chính phủ “xem xét“. Ông Bành Tiến Long nói: “…tập trung đầu tư các trường mới ở vùng sâu,vùng xa,vùng khó khăn… Ở Hà Nội và TPHCM việc lập mới chỉ xem xét với các trường đào tạo  các ngành thuộc văn hóa nghệ thuật(!?), hoặc các ngành nghề mới, mũi nhọn, trình độ cao...”. Như vậy đại học sẽ “nở… khắp nơi” (Thanh Hà) như kiểu lò thép bỏ túi ở Trung Quốc nửa thế kỷ trước chăng?(NBQ). Cũng theo bài báo này, tại hội thảo về quy hoạch mạng lưới ĐH-CĐ Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân lại nói: “Mạng lưới… phải dựa trên nền chất lượng. Thêm một trường ĐH ra đời phải làm tăng chất lượng chứ không được kéo tụt chất lượng của cả hệ thống… không nên đầu tư rải rác… các trường ĐH hướng nghiên cứu sẽ được phát triển tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng…” . Ta biết nghe ông nào đây? Hay là đang vừa đấu tranh nội bộ vừa trưng cầu ý dân? Và dù theo ông nào thì tiền đâu, người đâu mà làm khi chính Bộ GD&ĐT đang kêu thiếu tiền, cơ sở vật chất và giáo viên trầm trọng cho các trường hiện có!                                Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân mấy tháng qua có vẻ như đã là một “người của công chúng” với tần số xuất hiện cùng các phát biểu rất “hấp dẫn“. Ông nói chất lượng bằng cấp trên đại học yếu kém, sẽ chuyển sang đào tạo theo nhu cầu xã hội nhưng lại nói sẽ có thêm 2 vạn TS nữa mà không (cho) biết quy hoạch thế nào, ngành nghề gì, ở đâu. Ông nói về tệ đổi điểm lấy tiền nhưng lại bảo có tặng thầy ít tiền cũng chẳng sao, miễn là thành tâm! (Họ đưa tiền cũng là thành tâm cần điểm đấy chứ, tại sao lại tách kiểu “tôn sư trọng đạo” này ra khỏi danh mục tiêu cực?). Ông nói quá rõ về chất lượng đào tạo tại chức nhưng lại nói phải có “lộ trình” vì nó đụng đến nồi cơm của các trường. Tại sao bắt cán bộ đang tại chức phải đi học tại chức? Không học họ cũng đang tại chức đó thôi? Chẳng nhẽ vì bữa ăn của giảng viên (trong đó có cả những người đang gian lận thi cử để lên chính ngạch…) mà phải bày ra kiểu đào tạo này để làm hại dân hai lần, đã tốn tiền thuế lại phải dùng các công chức dốt? Nói chống bệnh thành tích nhưng ông liên tục đưa ra những con số, những ý tưởng “phiêu lưu“: tăng vùn vụt số SV, số trường, số TS, GS/số dân, khi nào giáo viên sẽ sống được bằng lương, khi nào chất lượng sẽ ngang bằng quốc tế… như những thành tích của tương lai!   Theo dõi ta thấy “Bộ ta” có một số việc làm “phiêu lưu” (Chữ của Lương Xuân Hà trong bài viết xác đáng trên Tia Sáng số 05/12/2006). Điều đó nhanh chóng gây hoang mang  thất vọng và mất lòng tin của người dân  đối với việc đổi mới GD-ĐT do các vị lãnh đạo Bộ đề xướng. Những sự làm không như nói, ngược với nói, lảng tránh, “phiêu lưu” ấy làm người ta lo ngại việc đổi mới chỉ là “trên giấy” và thực tế vẫn là “tội nghiệp con cái chúng tôi“. Người ta sẽ nghi hoặc: đây là quyết tâm thật, muốn làm thật, có năng lực thật hay chỉ là các thủ thuật chính trị để lấy lòng dân tức thời. Tôi không ảo tưởng thực tế sẽ thay đổi ngay được trong vài tháng song tôi có quyền ngờ và lo. Con tôi sang năm vào lớp 1 đang lo chạy trường ở ngay phường bên cạnh, cò ra giá 3-5 triệu đồng và liệu cháu có  thuộc thế hệ “thử nghiệm” thứ tư nữa không đây?  Công đầu tiên to lớn của Bộ và cá nhân ông Bộ trưởng là đã lôi kéo được toàn dư luận quan tâm đến GD-ĐT và phơi bày bức tranh chẳng mấy sáng sủa của nền GD-ĐT hiện nay, nhắm đúng vào việc cốt tử của đất nước là nguồn nhân lực như là phương tiện và mục đích của phát triển kinh tế xã hội mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói rất hay, ngắn gọn, cụ thể và chính xác trong “tuyên ngôn” về “…hành động của chúng ta” ngay sau khi VN gia nhập WTO (đã đăng toàn văn trên nhiều báo). Song Thủ tướng nói chống bão thì có chống bão thật, nói chống tham nhũng thì có xử lý tham nhũng thật, nói cải cách hành chính thì có cải cách thật (các công chức ở quận Gò Vấp của tôi đã thi tuyển và học cười với dân!). Nói thu hút đầu tư, làm bạn với mọi người thì có làn sóng đầu tư mới thật và quan hệ với nhiều nước đều “khởi sắc“… Sự “Nói và làm” ấy của ban lãnh đạo mới làm tôi tin tưởng. Chúng tôi còn lạc quan cho rằng đây là “bình minh thứ hai của đổi mới- thời kỳ hội nhập”.  Tại sao với GD-ĐT lại có chữ “ngờ” to như vậy? Vì nói và làm quá khác nhau, các lời nói cũng “chọi”  nhau luôn. Bí cờ! Vì không định nghĩa đúng bản chất vấn đề, không tìm trúng vấn đề, không tìm ra khâu đột phá, không có thứ tự trước sau của các việc phải làm và có vẻ như chưa tìm được sự đồng thuận của các bộ não sáng suốt nhất và những con tim “thành tâm” nhất với GD-ĐT. Thí dụ như: lấy tiền nhờ chức trách mà không lao động là tham nhũng. Đánh tráo, hạ thấp chất lượng đào tạo để lo “nồi cơm” là tham nhũng. Gian lận trong thi cử là tham nhũng, mua luận văn, chấm đỗ luận văn trùng lặp là buôn lậu (trọng tài, cầu thủ, quan chức bán độ bóng đá phải hầu tòa, bị cấm vĩnh viễn hay bao nhiêu năm đó không được làm bóng đá nữa, buôn lậu thì phải nộp phạt, hàng lậu thì bị tiêu hủy), học giả cấp bằng thật là tham nhũng, thuê làm luận văn là phạm pháp… chứ sao lại gọi chung chung là tiêu cực. Những việc đó phải được xử lý bởi những người có trách nhiệm có quyền hạn (là Bộ ta chẳng hạn) chứ phụ huynh và học sinh như bố con tôi đây nói bao nhiêu lần không cũng đâu có được! Việc tiêu chuẩn hóa cán bộ, “bắt” họ phải có bằng ĐH, Th.s, TS… là hình thức chủ nghĩa, là không thực tế, không hiệu quả thì Bộ ta phải đề nghị thay đổi đi chứ sao lại cam chịu làm hàng giả để giữ nồi cơm (với kẻ sĩ  “thực vô cầu bão” nghe nó thê thảm biết bao!). Chất lượng đào tạo trên đại học kém và mất cân đối thì phải làm rõ ở ngành nào, trường nào, lúc nào, tại ai có chủ trương. Thí dụ như kiên quyết cấm đào tạo “cây nhà lá vườn“, “cơm chấm cơm” nếu không đạt chất lượng, loại bỏ số “thầy không ra thầy“, thà “thiếu còn hơn yếu” (như GS Trần Đông A từng nhận xét về trình độ bác sĩ) và bước đầu thì dựa vào “thị trường hóa“, “liên kết với các đại học quốc tế“! Nếu tỷ lệ sau đại học các ngành khoa học XHNV, văn hóa nghệ thuật quá cao, mất cân đối trầm trọng (trên 40%) và chất lượng quá kém sao không đình chỉ việc này một thời gian? Sao không nêu kế hoạch sàng lọc lại giáo viên và nội dung chương trình, giáo trình? Bao nhiêu người dân nói dạy thêm và thất nghiệp có một nguyên nhân căn bản là chương trình quá tải, bao nhiêu chứng cứ cho thấy chương trình ở tất cả các cấp không đáp ứng nhu cầu thực tiễn sao không “nói không với tiêu cực trong chương trình- từ phổ thông qua đại học” mà chỉ nói không với cái ngọn là thi cử. Giả sử hết tiêu cực trong thi cử mà chất lượng thầy và chương trình, cơ sở vật chất vẫn như hiện nay thì vẫn quá tải và thất nghiệp cơ mà. Có khi lại còn “vô bổ” hơn vì học giả cho sản phẩm “dỏm” vẫn đỡ “đau” hơn là phải học thật cho sản phẩm giả! Tại sao thấy bao nhiêu tiêu cực về phía người dạy mà lại còn chống chế vì “kinh tế” vì “điều kiện”, vì “hoàn cảnh” rồi xuê xoa chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” trong khi nhẽ ra phải báo động đỏ về giáo đức, dấy lên phong trào và có luật pháp để chấn hưng giáo đức làm cho người thầy “biết xấu hổ” trở lại như một thầy giáo đáng kính kêu gọi! Điều này nhiều nhà giáo đã nói, cũng như nhiều bác sĩ đã coi chấn hưng y đức là việc cấp bách nhất của ngành y hiện nay. Trong trả lời online ông Bộ trưởng cảm động vì một cháu bé 15 tuổi kêu học sinh nước ngoài biết nhiều về văn hóa nghệ thuật, xã hội và tự tin hơn học sinh VN. Ông hứa sẽ tăng cường giáo viên dậy nhạc họa. Ai cũng biết dạy vẽ, nhạc như hiện nay làm khổ học sinh như thế nào, vô bổ như thế nào, việc thiếu môn giáo dục nghệ thuật tai hại như thế nào… nếu còn “làm tới nữa” thì chúng ta càng đi xa mục tiêu mà em hoc sinh kia mong ước! Vấn đề là ta thiếu hoàn toàn mỹ dục trong hệ thống chương trình đào tạo của mình. Phong trào”dạy văn dưới cờ” cũng như “dạy sử trên đường phố” không thể là biện pháp chiến lược!… vân vân và vân vân…  Chúng tôi không dám cao ngạo nói rằng các ý kiến của chúng tôi là đúng, cũng không hiến được kế gì hay. Chúng tôi nghĩ rằng Bộ là một thiết chế hành pháp làm chuyên môn chứ không làm phong trào.Và chúng tôi cũng biết việc này khó như “dịch chuyển núi Phú sĩ”. Chúng tôi chỉ trần tình những băn khoăn, ngờ vực của mình trước tình trạng mà chúng tôi cho là “rối cờ” hiện nay của việc chấn hưng GD-ĐT, điều mà chúng tôi thiết tha mong ước với cả đau khổ và phẫn nộ suốt 30 năm nay.   Cầu cho Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cùng Bộ ta chân cứng đá mềm, sáng suốt và thiết thực chấn hưng GD-ĐT nước nhà trong  những năm tháng tới. Để người dân không còn phải than “Tội nghiệp con tôi!” và “Chỉ thế thôi ư !?”          Nguyễn Bỉnh Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấn hưng khoa học từ chuẩn mực và thuật dùng người      Lời cảnh b&#225;o của GS. Pierre Darriulat về nạn chảy m&#225;u chất x&#225;m chỉ c&#243; thể ngăn chặn được tr&#234;n cơ sở nền khoa học v&#224; gi&#225;o dục nước nh&#224; được chấn hưng. M&#224; việc n&#224;y chủ yếu phụ thuộc v&#224;o chuẩn mực v&#224; thuật d&#249;ng người.    Quan niệm về nhân tài  Cho đến nay câu hỏi thế nào là nhân tài vẫn còn gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, khái niệm về nhân tài trong thời đại ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm hầu hết mọi lĩnh vực trong xã hội như khoa học, nghệ thuật, kinh doanh,… và không nhất thiết phải có bằng cấp cao hay chức danh khoa học “hoành tráng”.  Bill Gates là một ví dụ điển hình trong thời đại của chúng ta. Ông đã bỏ dở dang khi theo học ở đại học Harvard  mà vẫn trở thành chủ tịch của tập đoàn phần mềm Microsoft nổi tiếng và trở thành người giàu có thuộc bậc nhất thế giới với tài sản 57 tỷ USD và cho mãi đến thời gian gần đây (7/6/2007) ông mới được cấp bằng cử nhân và Tiến sĩ danh dự thuộc ngành luật vì “Ông là doanh nhân có ảnh hưởng nhất trong cuộc cách mạng máy tính cá nhân“. Một ví dụ khác trong quá khứ, nhà bác học Thomas Edison chưa học xong bậc tiểu học, mà chính xác chỉ theo học được 3 tháng ở một trường tiểu học và sau đó bị đuổi học vì lý do trò Edison có một trí tuệ không bình thường nhưng đã trở thành nhà phát minh vĩ đại trong thế kỷ 19.  Trong thời gian gần đây, trên các diễn đàn Internet chúng ta đã đọc quá nhiều về các câu chuyện lãng phí nhân tài và hiện tượng chảy máu chất xám. Nhiều nhà khoa học được đào tạo, tu nghiệp ở các nước tiên tiến đã trở về quê hương với lòng đầy nhiệt huyết, mong muốn được cống hiến hết mình cho công cuộc dựng xây đất nước. Nhưng cuối cùng, phần lớn trong số họ đành phải ra đi hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh để không phải chứng kiến những công việc nhàm chán hằng ngày đang diễn ra ở một số các cơ quan nghiên cứu. Họ có lòng tự trọng cao và không muốn mình trở thành nhân vật thừa. Không chỉ trong lĩnh vực khoa học, gần đây hiện tượng các công chức bỏ việc hàng loạt cũng đã xảy ra. Tiền lương cũng chỉ là một lý do, nhưng có lẽ lý do chủ yếu nhất đó là họ không có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.  Sự cần thiết của một triết lý giáo dục  So sánh với nền giáo dục của các nước trên thế giới chúng ta không khỏi bâng khuâng và tự hỏi chúng ta đang đi theo trường phái giáo dục nào, nhưng biểu hiện rõ nét nhất của nó là sự nhìn nhận lệch lạc về bằng cấp. Tư tưởng học để ra làm quan, để được vinh thân, phì gia đã hình thành trong mỗi chúng ta từ lúc còn nằm nôi. Có lẽ do đất nước chúng ta đã trải qua hàng nghìn năm nô lệ, cho nên danh vọng và địa vị trong xã hội đã trở thành niềm khát khao trong mỗi con người. Chắc chắn đây không phải là cái đích mà nền giáo dục hướng đến. Cái lớn nhất mà nền giáo dục mang lại là tính nhân văn và tri thức, không mang nặng hình thức khoa cử khuôn sáo. Những thành tích giả tạo trong học tập, nghiên cứu sẽ hủy diệt tương lai của một đất nước. Nó không diễn ra ngay lập tức mà sẽ diễn ra một cách lặng lẽ từ thế hệ này đến các thế hệ khác. Rõ ràng các thế hệ kế tiếp chúng ta đang cần một triết lý giáo dục mới, mang đặc trưng của nền văn minh hiện đại. Đấy cũng chính là nền tảng cơ bản để xây dựng nên các chuẩn mực mới trong xã hội.  Tác hại của sự thiếu chuẩn mực  Hiện nay chúng ta đang sống trong một xã hội ngổn ngang về bằng cấp và chức danh khoa học, nhưng điều đáng buồn nhất là bằng cấp và chức danh không đi đôi với năng lực chuyên môn. Mặc dù chưa có số liệu thống kê một cách đầy đủ nhưng qua đánh giá cục bộ cho thấy con số này chiếm tỷ lệ khá lớn. Thầy cần chức danh “giáo sư”, còn trò cần bằng “tiến sĩ” hai nhóm đối tượng này sẽ góp phần phình to số lượng “học giả” không học thật. Sự cổ vũ cho xu hướng này chính là các tiêu chuẩn không chuẩn để công nhận các loại chức danh, bằng cấp. Tư tưởng cào bằng trong khoa học, một phép trung bình cộng đặt không đúng chỗ thật sự là mối nguy hại cho sự tiến bộ và phát triển khoa học nước nhà.  Chúng ta thừa hiểu rằng một người tốt nghiệp đại học cách đây vài thập niên và trong suốt thời gian đấy người ta không hề có công trình nghiên cứu nào và cũng chẳng bao giờ liên quan đến việc giảng dạy thì chắc chắc kiến thức chuyên môn trong họ chỉ còn là những khái niệm mơ hồ. Thế nhưng chính họ lại nắm giữ các vị trí quan trọng trong việc đào tạo ở các trường đại học vừa mới hình thành. Đây cũng là một trong những nghịch lý trong hệ thống giáo dục-đào tạo hiện nay. Cùng với nhiều vấn đề tiêu cực khác chúng đã trở thành sự thách thức thực sự đối với sự nghiệp trồng người. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ chính vì thế mà ngày càng gia tăng.  Bộ máy quản lý ở các cơ quan nghiên cứu cũng không ngừng phát triển ồ ạt với hiệu quả công việc rất thấp. Đôi khi người ta nghĩ ra chỉ để thăng cấp cho nhau và tạo nên số đông về phe cánh khi cần lấy ý kiến biểu quyết. Nếu so sánh với các viện nghiên cứu ở châu Âu chúng ta sẽ nhận thấy rằng bộ máy của họ rất đơn giản, đâu cần quá nhiều các trưởng, phó phòng như ở Việt Nam. Đã thế, việc bổ nhiệm, đề bạt các chức vụ trong các cơ quan nghiên cứu cũng cho thấy có quá nhiều điều bất cập, thiếu dân chủ và các chuẩn mực hợp lý. Cho nên tình trạng các trưởng phòng chuyên môn quá yếu kém về chuyên môn là chuyện thường ngày. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì người có tài sẽ mãi là người ngoài cuộc. Nếu những nhà khoa học chỉ mới được “trọng” mà không “dụng” thì tài năng sẽ mai một theo thời gian và như thế sẽ dẫn đến sự lãng phí nhân tài, một thứ lãng phí lớn nhất trong các loại lãng phí.  Thành viên các hội đồng khoa học từ cấp cơ sở cho đến cấp cao hơn thường chỉ tập trung những nhà khoa học mà sự nghiệp nghiên cứu đã bị bỏ qua từ rất lâu có khi đến vài thập kỷ và dĩ nhiên họ không còn xứng đáng là đại diện cho các hướng nghiên cứu hiện nay. Tuy vậy họ vẫn muốn là những người cầm trịch trong việc xem xét phân bổ kinh phí, nghiệm thu đề tài hay đưa ra những ý kiến có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp khoa học của các nhà nghiên cứu nghiêm túc. Nguy hại hơn nữa, chính họ đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề ra các tiêu chí cho việc xét chọn, do đó yếu tố khách quan sẽ không được bảo đảm và trở thành công cụ để hợp thức hóa lòng tham. Vừa là thành viên của Hội đồng khoa học đồng thời vừa là ứng cử viên trong việc đấu thầu đề tài, điều này cần phải được nhanh chóng loại bỏ. Với ảnh hưởng của mình họ còn áp đặt danh sách những người kế vị và như thế các loại hội đồng cũng chỉ là nơi để họ thao túng. Điều này cho thấy việc thành lập hội đồng cũng rất tùy tiện và đôi khi còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người có chức vụ. Ở các nước văn minh thành viên hội đồng khoa học phải độc lập với các chức vụ quản lý và phải bao gồm những nhà khoa học có năng lực chuyên môn nổi trội thông qua các công trình khoa học có chất lượng được công bố trong thời gian gần đây. Trong khi đó ở nước ta đã có quan niệm cho rằng nên chọn thành viên hội đồng là những người có chức vụ trong cơ quan nghiên cứu để dễ dàng cho việc theo dõi. Đây là quan niệm quá sai lầm!  Cuối cùng, người ta thường biện bạch cho những tồn tại nêu trên rằng hiện nay chúng ta đang “hụt hẫng” đội ngũ kế cận. Không! Đó chính là sự hụt hẫng giả tạo xuất phát từ sự đố kỵ, ích kỷ và lòng tham không bờ bến của một số trong các vị có chức sắc khoa học.  Việt Nam qua vài chỉ số đánh giá theo chuẩn quốc tế  Chúng ta đang sống trong thời đại hệ thống thông tin toàn cầu, đồng thời cũng là thành viên của WTO và cao hơn nữa là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an liên hợp quốc. Mọi hành động của chúng ta sẽ có được sự phản ánh tức thời. Cho nên chúng ta không thể tự đặt mình ra ngoài chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế.  Theo thống kê mới nhất cho thấy lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay tương đối đông đảo, trong đó cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng hơn 1.4 triệu; cán bộ có trình độ trên đại học khoảng 30 nghìn, trong đó hơn 13 nghìn TS và khoảng 6 nghìn GS-PGS. Với một lực lượng hùng hậu về số lượng như thế, chắc chắn xã hội cũng đã đặt ra nhiều kỳ vọng.  Chúng ta hãy cùng nhìn lại Việt Nam qua một vài chỉ số đánh giá của các tổ chức quốc tế. Có thể đây không phải là những thước đo chính xác bảo đảm sự tin cậy tuyệt đối, nhưng nó đủ tốt, được quốc tế thừa nhận và bao hàm nhiều khía cạnh cần được xem xét một cách khoa học.                Thông qua công cụ ISI Web of Science chúng ta có thể dễ dàng tìm được số lượng các công trình khoa học được công bố đối với mỗi quốc gia cũng như đối với từng cá nhân các nhà khoa học. Chúng ta hãy so sánh thành tích của khoa học Việt Nam trong thời gian 5 năm từ 2004-2008 (tính đến thời điểm tháng 09/2008) với một số quốc gia trong khu vực. Từ đây có thể nhận thấy rằng chúng ta không thể so sánh nổi với Ấn độ và Hàn Quốc, nhưng ngay cả với ông bạn láng giềng Thái Lan chúng ta cũng đã thua kém quá xa. Thái Lan chỉ có hơn 65 triệu dân, nghĩa là vào khoảng 76% dân số Việt Nam (85 triệu) và chắc rằng số lượng các GS-PGS cũng ít hơn so với Việt Nam. Thế nhưng số lượng công trình khoa học của Thái Lan mạnh hơn ta rất nhiều. Trong giai đoạn 2004-2008 Việt Nam chỉ đạt khoảng 20% số lượng công bố của Thái Lan. Đây là vấn đề đáng để chúng ta suy nghĩ, vì nó chính là hệ quả trực tiếp từ các chuẩn mực sai lệch về bằng cấp, chức danh.  Một hướng đánh giá khác về sự tác động của khoa học và công nghệ đến nền kinh tế quốc dân, theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, nền kinh tế tri thức của Việt Nam phát triển rất chậm với chỉ số KEI đạt 2.92 điểm và xếp ở vị trí 91 trong tổng số 128 nước được khảo sát. Thái lan đạt 4.76 điểm xếp vị trí 63.                “Ranking Web of World Universities” đã sắp xếp Top 4000 đại học trên toàn thế giới thực hiện vào tháng 7/2008. Trong đó vị trí 1-25 thuộc về các trường đại học của Mỹ, vị trí 26 là đại học Cambridge, đại học Oxford xếp vị trí 47 và Việt Nam có được 6 trường: Đại học Tự nhiên Tp.HCM xếp vị trí 1848, Đại học Bách khoa Tp.HCM – 1936, Đại học Cần Thơ – 2315, Đại học Quốc Gia – 2623, Đại học Bách khoa Hà Nội – 3137 và Đại học Kinh tế Tp.HCM – 3250. Trong bảng xếp hạng Top 100 trường đại học thuộc châu Á Việt Nam không có được một đại học nào, trong khi đó Thái Lan có đến 9 đại học với vị trí cao nhất là 28 (vị trí 384/4000).   Hành động để chấn hưng nền khoa học  Trước hết mục tiêu đào tạo phải dựa trên nhu cầu thực tiễn. Đào tạo nhiều mà không giải quyết tốt vấn đề sử dụng thì sẽ trở nên gánh nặng cho xã hội. Người có bằng cấp, chức danh khoa học cao mà không có năng lực chuyên môn chắc chắn sẽ trở thành đối tượng ăn bám, cản trở sự phát triển của khoa học. Vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nếu họ nắm giữ các vị trí quản lý trong khoa học, là thành viên của các loại hội đồng. Sự cống hiến trong khoa học phải được nhìn nhận công bằng, không phân biệt giai cấp, thành phần trong xã hội và phải dựa trên những chuẩn mực khách quan. Thiếu chuẩn mực này sự tôn vinh của xã hội sẽ trở thành sự cổ vũ, khuyến khích cho các nhà khoa học chạy theo thành tích ảo. Trong giai đoạn trước mắt nhà nước cần tập trung giải quyết tốt chế độ tiền lương đủ bảo đảm cuộc sống, không nên bổ sung nguồn thu nhập thông qua các đề tài. Cần rà soát lại danh sách cán bộ nghiên cứu khoa học và loại ra những trường hợp không có kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua. Đặc biệt, phải tạo ra môi trường cạnh tranh về năng lực chuyên môn. Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý, thành viên các hội đồng khoa học cần được tiến hành công khai, dân chủ dựa trên thành tích cống hiến trong những năm gần đây để bảo đảm họ có đủ kiến thức và tầm nhìn trong điều hành công việc. Về độ tuổi nghỉ hưu và kéo dài thời hạn công tác nên xem xét lại một cách nghiêm túc để phát huy được sự cống hiến cho khoa học một cách hiệu quả.  Dẫu có muộn màng cũng phải quyết tâm đưa nền khoa học nước nhà tiến lên trong thời gian sắp tới và như thế vẫn còn hơn không có bao giờ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chân lý là cụ thể      Ta hiểu được những ai đã sai và có thể còn sai Và chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng con người…”. Những câu này trong tập thơ ra đời từ 1969 đã khiến cho tác giả lao đao một dạo. Thế rồi ba mươi sáu năm sau, tình cờ trong một lần chỉ hai anh em trên đường công tác, tác giả kể với tôi một chuyện xúc động về câu thơ ấy.        Chuyện là, có hai dịch giả, một người Pháp và một người Mỹ cùng dịch bài thơ đó để in trong một tập sách tham khảo cho bậc học phổ thông của nước họ. Họ không biết nhau, do vậy cũng không hề trao đổi với nhau và cũng chẳng trao đổi với tác giả bài thơ, cả hai người dịch đều đảo lại trật từ của hai cụm từ “chất người” và “cộng sản” trong câu thứ hai như sau:                        “Và chất cộng sản trong ta người thêm chút nữa”.   Khi ngẫu nhiên đọc được câu thơ dịch đó, tác giả bàng hoàng xúc động vì sự thâm thuý trong ý tứ của các dịch giả người Pháp và người Mỹ nọ. Chính họ đã làm cho câu thơ hay hơn, sâu hơn và giàu tính nhân văn hơn. Và cũng do đó, có sức lay động lòng người hơn.   Thế rồi, miên man suy ngẫm, tôi lại vỡ thêm ra rằng, khi cùng hướng theo những khát vọng của con người, khát vọng tự do, và trên tầm tư duy của sự tìm tòi chân lý, người ta dù đứng ở đâu trên trái đất này vẫn rất dễ gặp nhau.  Nhớ lại chỉ hơn một thập kỷ trước đây, khi chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, các tác giả của “Các xu thế lớn năm 2000”, khi nghĩ về thế kỷ XXI đã viết rằng: “Suốt bao thế kỷ, cái thời điểm biểu trưng vĩ đại này đã tượng trưng cho tương lai và những gì chúng ta sẽ nghĩ về nó, trong vòng vài năm nữa, cái tương lai đó sẽ tới. Chúng ta đang nằm dưới sự chi phối của nó… Nó đang khuyếch đại những cảm xúc, gia tốc những đổi thay, nâng cao tầm ý thức và buộc chúng ta phải xem xét lại chính mình, các giá trị và các định chế của mình”. Ấy thế mà giờ đây, thời đại chúng ta đang sống đã “khuyếch đại những cảm xúc, gia tốc những đổi thay”, và rõ ràng là những điều ấy “buộc chúng ta phải xem xét lại chính mình, các giá trị của mình”. Đột nhiên, tôi nhớ lại một câu của M. Gorky một thời chiếm lĩnh tâm trí tôi: “mùi chân lý bay đi rất xa vì đâu cũng là mùi mồ hôi của người lao động”. Tôi biết được rằng, có nhiều tác phẩm của M.Gorki thấm đượm tính nhân văn, diễn đạt sâu sắc khát vọng tự do, khát vọng giải phóng con người. Nhưng có một thời, người ta lại chỉ thích dẫn ra đại loại những“mồ hôi người lao động” kia thôi, vì như vậy “hiện thực xã hội chủ nghĩa” hơn! Bằng “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” ấy, nếu không gạt bỏ thì người ta cũng xếp vào hạng hai những tác phẩm văn chương, nghệ thuật không thuộc dòng hiện thực xã hội chủ nghĩa kia.    Và rồi người ta vui vẻ và hào hứng tự giam mình trong một cái khuôn quá chật chội đó, để rồi tự mình vênh váo với mình theo phép “thắng lợi tinh thần” kiểu  A Q. của Lỗ Tấn “nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia! Thứ mày thấm vào đâu” hoặc giương giương tự đắc theo kiểu “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng tao” như nhân vật nổi tiếng của Nam Cao! Cái khung chật hẹp không chỉ trói buộc những tìm tòi, khám phá của người nghệ sĩ, nó còn là cái mũ kim cô thít chặt đầu óc của con người dám nhìn vượt ra ngoài những gì mà những người nắm chìa khóa của cánh cổng mở ra với thế giới không muốn! Có biết điều đó mới hiểu được cái lôgic của chuyện nhấn mạnh đến “mồ hôi chân lý” kia đấy. Đúng ra, sự tìm tòi chân lý lại đòi hỏi sự vận động và thao tác của bộ óc nhiều hơn là cơ bắp. Sự cố tình đưa đẩy cách chọn, cách hiểu rằng lao động trí óc không nằm trong phạm trù của “mùi chân lý” rất súc tích và giàu sức biểu cảm kia chỉ là sự ấu trĩ của một thời?    Những người thích phóng đại tinh thần cách mạng, xét thật kỹ, lại là một người khiếp nhược không dám hành động vì vừa không đủ sự hiểu biết, vừa không có sự tỉnh táo và quyết đoán cần thiết để chọn lựa giải pháp tối ưu. Đúng hơn, đó là thiếu bản lĩnh, không dám tự khẳng định mình. Chỉ ngặt một điều, có một thời ở ta, mà thật ra thời đó chưa lùi hẳn về dĩ vãng đâu, những người thích “phóng đại tinh thần cách mạng” ấy, mà gọi nôm na là “tả khuynh”, lại thường được xem là “vững vàng” là “kiên định”, dễ được trọng dụng!   V.I Lenin gọi hạng người “cách mạng đầu lưỡi” này là loại “thích ngoạm một miếng rồi chuồn” vào những lúc cách mạng đứng trước những thử thách. Bác Hồ thì chỉ ra sự nguy hại của loại người thích phóng đại tinh thần cách mạng đó. Người đã từng nhắc nhở: “Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực”… Hoặc “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào cho đúng”.   Chân lý thì luôn luôn đơn giản vì chân lý là cụ thể, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian truân. Gian truân nhất là phải phân biệt cho được chân lý với cái na ná như chân lý khiến đôi khi người ta ngộ nhận một cách chân thành và đầy sự sùng kính!   Sự vận động của cuộc sống với những minh chứng nghiệt ngã và sòng phẳng đã giải tỏa bớt đi những ngộ nhận đó. Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập càng đòi hỏi phải nhanh chóng giải tỏa quyết liệt những ngộ nhận, những giáo điều đã từng bít mắt bịt tai để người ta không nhận rõ chân lý. Mà chân lý là cụ thể. Phải biết vén cái màn sương hư ảo bao phủ quá dày đặc khiến cho tầm mắt không đến được với ánh sáng của chân lý thời đại.  Đó là đòi hỏi trước tiên để có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong quá trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng, lại cũng được quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”, một thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước.   Sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Chỉ với một bản lĩnh được tạo ra bởi những phẩm chất đó mới giúp ta xua tan được màn sương hư ảo vẫn còn cố vương vấn, để cho tầm mắt của ta nhận rõ được chân lý.    Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chân thành lắng nghe trung thực tiếp nhận      Nhiều trang báo đã đăng những ý kiến đóng góp với Đảng trong dịp thực hiện chủ trương “Góp ý kiến vào văn kiện Đại hội X”. Trong những trang báo ấy, đã có nhiều ý kiến sâu sắc, có những ý kiến đã động chạm đến những vấn đề vốn được xem là “nguyên tắc” không được bàn cãi! Trong đó, có những ý kiến đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lý luận vốn được xem là “thiên kinh địa nghĩa”, là “thước đo của chân lý”!        Có thể nói, đang có những dấu hiệu của sự cởi mở và mạnh dạn trong việc đăng tải nhiều ý kiến mà trước đây dễ bị truy chụp là “chệch hướng”, là “quan điểm mơ hồ”, là “chạy theo những luận điệu thù nghịch”. Và sự cởi mở này là một dấu hiệu tốt lành được nhen nhóm lên trong đời sống tinh thần của xã hội. Thế mới biết, cái áp lực nặng nề của thói độc quyền chân lý, áp đặt tư duy và tuỳ tiện quy kết vốn tự tung, tự tác một thời đầu độc bầu không khí xã hội, làm tắc nghẽn nhịp cầu nối liền Đảng với dân có tác hại như thế nào. Chính đó là nguy cơ biến Đảng lãnh đạo thành một đảng cai trị vốn hết sức xa lạ với tư tưởng Hồ Chí Minh, xa lạ với tôn chỉ mục đích của Đảng, xa lạ với bản chất chế độ được tổ chức theo nguyên lý “Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”.  Ý kiến khơi gợi ý kiến. Vấn đề dẫn dắt vấn đề. Bầu không khí dè dặt, e ngại đã được xua bớt đi, sự lãnh cảm chính trị và xã hội trong một bộ phận không nhỏ dân chúng đã được thay thế bởi sự mạnh dạn và nhiệt tình trong nhiều ý tưởng được đăng tải trên báo, trong các câu chuyện nghiêm túc tại những cuộc trao đổi chính thức và không chính thức. Và rồi, người ta thấy rằng, những ý kiến ấy không hề làm cho uy tín của Đảng bị mất đi, không làm cho niềm tin bị giảm sút thêm mà ngược lại, một nguồn lực mới được khơi dậy, nguy cơ Đảng xa dân được giảm bớt. Đó là kết quả bước đầu của bài học chân thành lắng nghe và trung thực tiếp nhận, bài học dân chủ.  Đương nhiên, không phải mọi ý kiến đều đúng. Song thái độ ứng xử của người chân thành muốn lắng nghe sẽ giúp tạo ra sự trung thực trong việc “đãi cát tìm vàng”, tìm ra trong những ý kiến, đặc biệt là những ý kiến có vẻ trái tai, những hạt nhân duy lý để giúp tiếp cận chân lý. Chân lý không thể độc quyền, càng không thể nhân danh chân lý của người cầm quyền để ban phát tư tưởng đúng sai. Ngược lại, chân lý được tìm thấy trong sự vận động của thực tiễn.   Điều này không mới mẻ gì, sách giáo khoa của các trường Đảng vẫn thường trích dẫn ý kiến của C.Mác: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Cho nên, khi những ý kiến đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản mà một thời thường bị xem là cấm kỵ, thuộc những “nguyên tắc cơ bản không được đụng tới” lại chính là một ứng xử “mácxít”! Hơn nữa, lý luận thì màu xám còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi như Gớt đã khuyến cáo. Dòng sông cuộc sống triền miên tuôn chảy không bao giờ ngừng nghỉ, cũng vì thế, người ta nói rằng không một ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông. Hình ảnh đó càng đúng khi khớp nối với lý luận. Một lý luận muốn không lạc hậu để trở thành vật cản cho sự phát triển của cuộc sống, lý luận ấy phải luôn luôn tự đổi mới. Và người ta ngày càng ngẫm ra được rằng: chuẩn mực chính là sự thay đổi.  “Đổi mới” có nghĩa là vứt bỏ những gì đã bị cuộc sống vượt qua, những gì mà với khảo nghiệm khách quan và nghiêm khắc của cuộc sống, lý luận ấy đã tỏ rõ sự bất cập, sai lầm hoặc thiếu hoàn chỉnh do vậy phải bổ sung sức sống mới, nhằm hình thành những luận điểm mới, phạm trù mới giúp hoàn chỉnh một lý luận mới phản ánh được thực tiễn đang vận động. Nhờ đó, làm cho lý luận gắn kết được với thực tiễn, gần với chân lý hơn, có tác động thúc đẩy sự phát triển. Rồi cùng với những vấn đề lý luận vốn bị nhìn nhận là “hóc búa” đã được đề cập đến trên nhiều trang báo, trong những cuộc hội nghị trao đổi đóng góp ý kiến, còn có khá nhiều những đóng góp cụ thể vào nhiều vấn đề của đường lối và giải pháp kinh tế, về công tác tư tưởng, công tác tổ chức, về phương pháp lãnh đạo, về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân….  Càng mở rộng dân chủ thì trí tuệ của Đảng càng được khơi thông và cập nhật với thời đại. Vì đó không là trí tuệ của mấy triệu đảng viên mà là trí tuệ của dân tộc. Bởi lẽ, không phải tất cả những tinh hoa của trí tuệ dân tộc đều đã nằm trong Đảng. Còn biết bao “hiền tài” vốn được xem là “nguyên khí quốc gia” đang nằm trong dân. Cách đây đúng nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Quả thật không dễ để có sự “thừa nhận” đó nếu không có được sự chân thành và trung thực muốn tiếp nhận trí tuệ của nhân dân quần chúng nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước lên tầm cao mới.   Vả chăng, nói dòng sông cuộc sống miệt mài tuôn chảy không một phút giây ngừng nghỉ. Song không theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những nhân tố mới, những tương tác mới tạo ra khả năng nảy sinh những hợp trội không dự báo trước được. Trật tự mới, tổ chức mới là do các thành phần liên kết, tương tác với nhau mà cùng tạo thành, chứ không phải được lập nên do một mệnh lệnh nào từ bên ngoài, từ bên trên quyết định. Trong dòng chảy miệt mài với những đột phá hợp trội ấy của cuộc sống, những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Hành trình ấy đòi hỏi phải tự nhìn lại sự hạn hẹp của nhận thức đã có, rà soát lại để nhặt ra những thô thiển, những ngộ nhận, những sai lầm để tự bổ sung cho mình những tri thức mới, giúp thay đổi cách nhìn, cách nghĩ  sát với sự vận động của cuộc sống.   Chính điều ấy đòi hỏi sự chân thành và trung thực lắng nghe và tiếp nhận trí tuệ của nhân dân với nhận thức rằng: sức mạnh vô tận của nhân dân quần chúng là ngọn nguồn sức mạnh của Đảng.      Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất vấn ai ?      Xét từ góc độ sức nóng của truyền thông, vừa rồi, các quan chức đáng ra phải bị chất vấn và các quan chức đã được Quốc hội lựa chọn để chất vấn rõ ràng có một sự lệch pha đáng kể. Đây là điều đáng phải lo lắng hay nên được vui mừng?      Một số người cho rằng đây là điều đáng phải lo lắng. Bởi vì rằng, sự lệch pha nói trên có thể phản ánh môt thực tế là các vị dân biểu đã không mấy quan tâm đến ý kiến của truyền thông. Đáng quan ngại hơn, một số người còn cho rằng, chức năng đại diện của Quốc hội vận hành như vậy là không bảo đảm. Cuộc sống đang nóng vấn đề này, thì các vị dân biểu lại đi quan tâm đến vấn đề khác.  Tuy nhiên, không ít những người khác lại cho rằng đây là điều không chỉ bình thường, mà còn nên được vui mừng. Có thể, việc Quốc hội đã không hoàn toàn nghe theo truyền thông là điều có thật. Thế nhưng, tại sao Quốc hội lại phải nghe theo truyền thông? Chủ thể mà Quốc hội phải nghe theo là cử tri, chứ không phải truyền thông. Mà cử tri là cử tri, truyền thông là truyền thông. Có thể, ở một mức độ nhất định, truyền thông đã phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Thế nhưng không có bất kỳ cơ sở nào để khẳng định rằng truyền thông bao giờ cũng phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Hơn thế nữa, truyền thông còn có thể ảnh hưởng lên cả việc hình thành chính kiến, cũng như lên tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Một sự kiện trở nên nóng, nhiều khi chưa chắc đã vì nó nóng, mà còn vì truyền thông đã cho thêm lửa vào.   Vậy thì, thông tin mà truyền thông cung cấp, chỉ nên là thông tin tham khảo. Các vị dân biểu phải quyết định dựa trên cơ sở của những nghiên cứu, phân tích và số liệu khách quan. Chúng ta ai cũng biết truyền thông là “quyền lực thứ tư”. Đây là một ông vua không ngai, nhưng vẫn là một ông vua thật sự! Nếu cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất lại còn phải nghe theo truyền thông nữa, thì ai sẽ là quyền lực cao nhất hơn ai?  Cuối cùng, sự lệch pha so với truyền thông không phải là không đặt ra những thách thức to lớn cho các vị dân biểu. Trong các phiên chất vấn, cũng như trong các hoạt động khác, các vị dân biểu sẽ phải làm tất cả để chứng minh rằng họ đã có sự lựa chọn đúng đắn hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất vấn, giám sát và thông tin      Mấy năm trước đây, Bộ trưởng Tư pháp của Đan  Mạch đã phải từ chức vì các ông nghị đã thẩm định lại những thông tin  do ông cung cấp khi trả lời chất vấn, và phát hiện ra “vịt” ở trong đó.  Đây là một trường hợp không mấy đặc trưng cho nền quản trị quốc gia nổi  tiếng là trong sạch của Đan Mạch. Tuy nhiên, chuyện cung cấp “thông tin  được xào xáo” cho Quốc hội là điều rất dễ xảy ra.    Xét về bản chất, giám sát là việc Quốc hội thu thập thông tin về hoạt động của ngành hành pháp và đánh giá những thông tin thu thập được đó. (Mặc dù, ở nước ta phạm vi thu thập và đánh giá thông tin sẽ rộng hơn vì phạm vi giám sát của Quốc hội cũng rộng hơn).  Việc thu thập thông tin là rất quan trọng. Dưới đây là các phương thức chính mà Quốc hội nước ta đang được trang bị để thu thập thông tin: 1. Áp đặt chế độ báo cáo; 2. Tổ chức đoàn đi giám sát; 3. Thành lập ủy ban điều tra; 4. Chất vấn. Càng có nhiều phương thức để thu thập thông tin thì càng có đầy đủ cơ sở hơn để xem xét và đánh giá. Xét về mặt này, Quốc hội các nước tỏ ra có nhiều thuận lợi hơn. Đơn giản vì họ có nhiều phương thức hơn. Ví dụ, hoạt động điều trần (Một số ủy ban của Quốc hội nước ta cũng đã bắt đầu tổ chức thu thập thông tin theo cách tương tự. Nhưng hoạt động này được gọi là nghe giải trình chứ không phải là điều trần), thu thập thông tin từ báo cáo của  Ombudsman (tạm dịch là Thanh tra Quốc hội).   Có nhiều phương thức để thu thập thông tin là rất quan trọng. Nhưng có đủ năng lực để xác định thông tin gì là cần thiết và phải thu thập cho được cũng quan trọng không kém. Trên thực tế, các Bộ ngành có thể cung cấp rất nhiều thông tin cho các vị đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, rất nhiều và rất tốt là những chuyện khác nhau. Hàng ngàn trang tài liệu có thể lấy đi vô số thời giờ, nhưng không nhất thiết sẽ mang lại được cho các vị đại biểu Quốc hội những thông tin có ích. Đây cũng là lý do giải thích tại sao Quốc hội các nước thường đòi hỏi rất khắt khe về chủng loại và chất lượng thông tin phải cung cấp cho Quốc hội. Thông tin chuẩn là cơ sở quan trọng hàng đầu để thấy được một cách thực chất  công việc và hoạt động của các cơ quan hành pháp. Thế nhưng, vẫn khó tránh khỏi việc một ông “Bộ trưởng Tư pháp” nào đó có thể dúi cho Quốc hội những thông tin được xào xáo ra từ không khí. Để khắc phục rủi ro này và để bắt được tại trận những Bộ trưởng kiểu như vậy, Quốc hội các nước thường xây dựng một hệ thống thông tin độc lập và rất phát triển của Quốc hội.  Chúng ta thường thấy các vị đại biểu Quốc hội dành khá nhiều thời gian cho việc thảo luận các báo cáo của Chính phủ và các ngành. Đây là lúc khả năng phân tích thông tin trở thành quan trọng nhất. Vấn đề là những thông tin thu thập được nói gì cho các vị đại biểu Quốc hội về hoạt động của các Bộ, ngành, về các mục tiêu đề ra đạt được như thế nào?  Cuối cùng, chất vấn đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động giám sát của Quốc hội. Với hoạt động này việc thu thập thông tin và việc đánh giá thông tin được kết hợp lại với nhau làm một. Tại kỳ họp thứ 4 đang diễn ra này, các vị đại biểu Quốc hội có rất nhiều điều để hỏi, để trực tiếp tranh luận và nhận xét về những thông tin vừa thu nhận được.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chảy máu chất xám” – Chuyện bình thường của kinh tế thị trường      Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay đặc biệt là toàn cầu hóa về kinh tế khi nguồn vốn và lao động được luôn chuyển ngày một dễ dàng và tự do hơn, thì sự luôn chuyển này không chỉ bị giới hạn trong phạm vi của một quốc gia mà còn vươn ra phạm vi khu vực và thế giới. Và thuật ngữ “chảy máu chất xám” (Brain-drain) đang dần được thay thế bởi thuật ngữ “Luân chuyển chất xám” (Brain-circulation).  Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4      Danh mục: Diễn đàn   
__label__tiasang Chảy máu chất xám ngành Y: Lỗi của chính sách tự chủ      Các bệnh viện công trong suốt hơn 20 năm qua ngày càng bị đẩy dần đến tự chủ tài chính, bị cắt dần ngân sách từ nhà nước và phải phụ thuộc ngày càng nhiều (nếu không muốn nói ở nhiều nơi là toàn bộ) vào tiền túi của người dân thuộc mọi tầng lớp đến khám chữa bệnh. Điều đó khiến ngành y tế phát triển thiếu bền vững, mà hiện tượng hàng nghìn nhân viên y tế dứt áo ra đi vừa qua chỉ là một biểu hiện.    Đợt dịch COVID-19 giống như một giọt nước làm tràn ly những áp lực và thu nhập eo hẹp của nhân viên y tế, khiến cho hàng nghìn người đồng loạt bỏ việc. Ảnh: Công Khanh.  Hai năm qua, ngành y tế công của Việt Nam đã chứng kiến hàng nghìn nhân viên y tế nghỉ việc dồn dập. Chỉ trong nửa đầu năm 2022, đã có hơn 9.000 viên chức y tế nghỉ việc, trong đó, hơn một nửa là những người thuộc quyền quản lý của Sở Y tế cấp tỉnh, tức là những người trực tiếp chăm sóc sức khỏe của người dân ở các địa phương. Còn ở hai thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn nhất cả nước, tình hình cũng đáng quan ngại khi trong riêng bốn tháng đầu năm 2022 đã có hơn 600 nhân viên y tế nghỉ việc hoặc chuyển công tác.  Truyền thông và người trong cuộc đều quan sát thấy rằng, các nhân viên rời bỏ khối y tế công chủ yếu là di chuyển sang khối bệnh viện và cơ sở y tế ngoài công lập. Hệ thống các bệnh viện tư nhân, phòng khám đa khoa tư nhân với môi trường làm việc hiện đại tại các địa phương ngày càng nở rộ nhưng thiếu nhân lực, sẵn sàng chào đón họ với mức lương cao hơn gấp 3-4 lần, thậm chí có nơi gấp 5-6 lần.  Lương thấp và chế độ phụ cấp thấp trong hệ thống y tế công lập là vấn đề xưa cũ và là một nguy cơ âm ỉ trong suốt nhiều năm nay. Tác động của dịch COVID-19 giống như một giọt nước tràn ly dẫn đến hiện tượng chảy máu chất xám ngành y tế ồ ạt. Trong suốt thời kì đại dịch và cách li xã hội, người đến khám bệnh tại nhiều cơ sở y tế giảm, khiến các nhân viên y tế bị chậm trả lương hoặc có thu nhập bị thu hẹp đáng kể. Thậm chí có bệnh viện tuyến trung ương cho biết, do lượng bệnh nhân giảm 1/3 trong thời điểm đại dịch, khiến việc lo trả mức lương cơ bản cho nhân viên rất vất vả. Đó còn chưa kể, đại dịch càng nhấn mạnh thêm mức độ nguy hiểm và áp lực tinh thần của ngành y tế.  Việc nhân viên y tế chuyển sang tư để được trả lương cao hơn là có lợi cho người lao động và tương xứng với thực lực của họ. Nhưng điều này tạo sự thiếu hụt về nhân lực ở bệnh viện công và về lâu dài có thể gây ra sự mất cân đối về nguồn lao động giữa hai hệ thống công, tư. Nhiều bệnh viện công cung cấp những dịch vụ mà bệnh viện tư không muốn làm và không thể làm. Việc mất đi nguồn nhân lực quan trọng khiến bệnh viện công khó có thể thực hiện được trọn vẹn những nhiệm vụ mà ngành y tế đặt ra cho họ. Ngành y tế sẽ không thể đảm bảo có đủ nguồn lực (đặc biệt khi mất đi những nhân viên giỏi) để cung ứng dịch vụ cho đại bộ phận dân chúng.    Cơ chế tự chủ dẫn đến việc bệnh viện lạm thu dịch vụ, chẳng hạn như lạm dụng máy móc kỹ thuật hiện đại, lạm dụng thuốc, xét nghiệm nhiều hơn so với mức cần… để tăng nguồn thu. Từ đó, bệnh viện bị đẩy vào tình thế không chỉ kéo người dân chi tiêu nhiều cho các dịch vụ khám chữa bệnh mà thậm chí còn “lạm dụng” cả quỹ bảo hiểm.    Hiện tượng này cũng sụt giảm niềm tin của người lao động và người dân vào hệ thống bệnh viện công lập. Nhiều nhân viên giỏi sang làm ở bệnh viện tư sẽ tạo tâm lý cho những người ở lại và cả những thế hệ nhân viên ngành y tương lai (có thể họ sẽ thấy mất an toàn, không muốn tiếp tục cống hiến cho bệnh viện công lập…). Người dân cũng mất đi niềm tin vào ngành y tế, người giàu có đủ tiền có thể đến bệnh viện tư nhưng người nghèo thì chỉ có thể hoặc là đi bệnh viện công, hoặc là tự chữa bệnh ở nhà.  Càng ngày càng tự chủ  Tại sao giảm 1/3 bệnh nhân đến khám đã ảnh hưởng đến sự sống còn của bệnh viện như vậy? Chẳng phải các bệnh viện công được hỗ trợ từ ngân sách hay sao?  Thực tế, các bệnh viện công trong suốt hơn 20 năm qua ngày càng bị đẩy dần đến tự chủ tài chính, bị cắt dần ngân sách từ nhà nước và phải phụ thuộc ngày càng nhiều (nếu không muốn nói ở nhiều nơi là toàn bộ) vào tiền túi của người dân thuộc mọi tầng lớp đến khám chữa bệnh.  Những chính sách tự chủ đầu tiên là Nghị định 10 và Nghị định 43 của Chính phủ, ra đời lần lượt vào năm 2002 và năm 2006, thúc đẩy các bệnh viện tự chi trả lương cho cán bộ, nhân viên của mình. Trong đó, Nghị định 10 cho phép các bệnh viện công lập có thu được tự ý sử dụng nguồn thu ngoài ngân sách để đảm bảo “cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh”. Bởi vậy, với Nghị định 10, thu nhập của nhân viên y tế sẽ đến từ ngân sách (khiêm tốn nhưng ổn định) và nguồn thu của bệnh viện (bệnh viện thu được càng nhiều tiền từ cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh thì thu nhập càng lớn). Tuy nhiên, theo nghị định này, bệnh viện chỉ được phép sử dụng biên chế do nhà nước giao từ trước. Đến Nghị định 43, bệnh viện mới được trao thêm quyền tự quyết về biên chế và tổng mức thu nhập của người lao động trong năm, kể cả thu nhập tăng thêm. Nhưng, bệnh viện chỉ có được quyền này nếu họ tự đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động của mình. Với bệnh viện mới chỉ tự chủ một phần, nếu muốn thêm biên chế sẽ phải thông qua cơ quan chủ quản. Hơn nữa, dù có nguồn thu lớn hay nhỏ, bệnh viện đều cần phải trích 25% nguồn thu cho quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của nhà nước, tức là cho ngân sách. Nói chung, nhà nước muốn rút dần ngân sách chi trả lương cho các cán bộ nhân viên y tế, khuyến khích các bệnh viện phải tự chủ nếu muốn có thêm quyền tự quyết về nhân sự. Điều này cũng được thể hiện ở điều 2.2 trong Nghị định 43, đó là “thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước”.  Và để tạo điều kiện cho các bệnh viện có tiền chi trả cho nhân viên của mình, thoát li khỏi việc phụ thuộc vào ngân sách, nhà nước đã đưa ra các chính sách để các bệnh viện có thể tạo thêm nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước như chính sách cho phép các bệnh viện được dần tự quyết giá dịch vụ khám, chữa bệnh, được quyền sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị. Đặc biệt chính sách cho phép các bệnh viện được dần tự quyết giá dịch vụ khám, chữa bệnh theo bảy chi phí cấu thành giá dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm: thuốc; vật tư trực tiếp, điện, nước, xử lý chất thải và duy tu; bảo dưỡng tài sản, tiền lương, phụ cấp; sửa chữa lớn tài sản cố định; khấu hao tài sản; chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học. Từ năm 2014-2017, giá dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm 6/7 yếu tố trên (trừ chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học) và từ năm 2018 trở đi, giá dịch vụ được bao gồm cả bảy yếu tố này. Hơn nữa, ngoài việc được tính đủ bảy yếu tố, bệnh viện còn được thêm vào không quá 10% lãi để đầu tư phát triển. Nhưng, cũng như với quyền tự quyết biên chế, quyền tính giá dịch vụ cũng phụ thuộc vào mức độ tự chủ của bệnh viện. Nói cách khác, chỉ có các bệnh viện tự đảm bảo được ít nhất toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, mới có thể được tính đúng, tính đủ giá dịch vụ. Nghị định 60 ra đời năm 2021 tiếp tục kế thừa nguyên tắc trên của Nghị định 85 ban hành năm 2012 (hiện đã hết hiệu lực). Đồng thời, Nghị định 60 trao thêm quyền cho các đơn vị đã tự chủ tài chính, đó là được xác định giá dịch vụ y tế thay đổi theo giá thị trường.  Không chỉ các bệnh viện công, các trạm y tế, nơi đóng vai trò quan trọng trong đợt dịch vừa qua, cũng phải hứng chịu tình trạng chảy máu chất xám ồ ạt. Ảnh: lambinh.tuyenquang.gov.vn/  Tự chủ nhưng sao vẫn bị trói?  Hai mươi năm thực hiện cơ chế tự chủ đã làm tăng đáng kể nguồn lực cho ngành y tế. Lượng bệnh viện công lập tự chủ chi thường xuyên đã tăng nhanh, giảm đáng kể áp lực chi tiêu ngân sách nhà nước cho ngành y tế. Chất lượng cung cấp dịch vụ công ở một số nơi cũng được cải thiện trong chừng mực nào đó, do các bệnh viện phải cạnh tranh với nhau để thu hút bệnh nhân. Nhưng đồng thời, chính sách tự chủ này cũng bộc lộ nhiều bất cập, khiến ngành y tế phát triển thiếu bền vững, mà hiện tượng hàng nghìn nhân viên y tế dứt áo ra đi vừa qua chỉ là một biểu hiện.  Như mô tả ở trên, những chính sách tự chủ của nhà nước dường như đẩy các bệnh viện, cơ sở y tế vào tình thế lưỡng nan: để có được tự chủ về tài chính, họ cần phải được tự quyết về biên chế, thu nhập của người lao động và tự xác định về giá dịch vụ khám chữa bệnh. Nhưng, chính sách chỉ cho họ tự quyết hai yếu tố sau nếu họ đạt được yếu tố đầu. Bởi vậy, các bệnh viện mới chỉ tự chủ tài chính được một phần sẽ phải hoạt động rất chật vật.  Nhưng kể cả các bệnh viện đã tự chủ được tài chính, tưởng như có nhiều quyền lợi hơn, nhưng hóa ra cũng phải loay hoay để đi vừa những khe cửa hẹp. Mặc dù các bệnh viện này được quyền quyết định biên chế và thu nhập của người lao động, nhưng vẫn phải theo quy định ngạch, bậc của nhà nước. Tức là luôn có giới hạn trần cho việc trả lương cho một vị trí nghề nghiệp, bất kể bệnh viện thu về được bao nhiêu. Theo Nghị định 85 và 60, họ được quyền tính đúng, tỉnh đủ bảy chi phí cấu thành giá dịch vụ và thêm 10% lãi (hay còn gọi là tích lũy). Tuy nhiên, các chính sách về giá dịch vụ y tế đang bị “lệch pha” so với Nghị định 85 và 60. Bệnh viện dù tính giá thế nào chăng nữa, cũng không được vượt quá khung giá dịch vụ khám chữa bệnh do nhà nước quy định. Mà khung giá này, lại chưa “tính đúng, tính đủ” để bệnh viện có lãi. Ngoài ra, kể cả có quyền tự quyết về giá, các bệnh viện cũng e ngại “tính đúng tính đủ”. Đúng là, nếu thu thấp thì họ không thể đảm bảo hoạt động, nhưng nếu thu cao, thì làm sao để có thể cạnh tranh với các bệnh viện tự chủ một phần, với cơ sở vật chất tương đương, đang thu chi phí dịch vụ khám chữa bệnh thấp (vì vừa “bị” nhà nước kiểm soát về giá, vừa “được” nhà nước hỗ trợ một phần chi phí hoạt động)?    Nhiều cơ chế, chính sách vừa thiếu để đảm bảo cho thực hiện tự chủ bệnh viện và lại vừa nhiều quy định cứng nhắc, quá chi tiết, đi ngược lại với tinh thần tự chủ.    Nếu cho rằng bảo hiểm y tế là hình thức nhà nước hỗ trợ các bệnh viện để họ có thể cung cấp dịch vụ chất lượng với giá phải chăng cho người dân, thì điều đó không đúng ở thời điểm hiện tại. Một đặc điểm quan trọng của hệ thống dịch vụ y tế công lập của nước ta là một tỉ trọng lớn chi tiêu cho dịch vụ y tế là đến từ tiền túi người dân. Theo báo cáo của Bộ Y tế, chi phí y tế đến từ tiền túi hộ gia đình chiếm khoảng 43%. Trong khi đó, tại các nước phát triển, tỷ lệ này chỉ 14%, còn theo khuyến cáo chung của Tổ chức Y tế Thế giới là khoảng 20%. Cũng theo báo cáo của Bộ Y tế, mỗi người Việt khám bệnh trung bình 2,1 lần/năm với số tiền bình quân 129 USD/người (tương đương khoảng gần 3 triệu đồng/người), trong đó có tới 37% là tiền thuốc (tương đương khoảng 1,1 triệu đồng).  Tỉ trọng chi tiêu từ tiền túi của bệnh nhân cao có liên quan đến một thực tế là quỹ bảo hiểm y tế chưa đảm bảo bao phủ toàn bộ nhu cầu và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và mức độ bao phủ về tài chính còn hạn chế. Tuy nhiên, quỹ bảo hiểm hiện đang rơi vào tình trạng “mức thu thấp hơn mức chi”, nhà nước đã phải dùng đến quỹ dự phòng để duy trì hoạt động. Hiện tại số tiền dự phòng chỉ còn khoảng 35 nghìn tỉ đồng, trong khi mỗi năm, quỹ bảo hiểm y tế phải chi từ 100 – 120 nghìn tỉ đồng.  Tình trạng “thu ít hơn chi” của quỹ bảo hiểm y tế một phần có đến từ mức thu bảo hiểm của Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên, một lí do khác nữa còn là cơ chế tự chủ dẫn đến việc bệnh viện lạm thu dịch vụ, chẳng hạn như lạm dụng máy móc kỹ thuật hiện đại, lạm dụng thuốc, xét nghiệm nhiều hơn so với mức cần… để tăng nguồn thu. Nếu người dân chi trả những chi phí này thông qua bảo hiểm thì có nghĩa là quỹ bảo hiểm phải chi trả cho dịch vụ khám chữa bệnh nhiều hơn so với mức cần thiết. Nói cách khác, bệnh viện bị đẩy vào tình thế không chỉ kéo người dân chi tiêu nhiều cho các dịch vụ khám chữa bệnh mà thậm chí còn “lạm dụng” cả quỹ bảo hiểm.  Khi nguồn chi trả cho các chi phí khám chữa bệnh phần nhiều đến từ tiền túi của bệnh nhân, thay vì từ đầu tư công và bảo hiểm xã hội, thì sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Các bệnh viện tự chủ sẽ gặp khó khăn về tài chính và đảm bảo thu nhập cho người lao động khi lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh giảm (do dịch bệnh, khủng hoảng tài chính…). Việc buộc phải chi trả từ tiền túi của người bệnh cho các dịch vụ khám chữa bệnh làm hạn chế sự tiếp cận dịch vụ y tế khi người dân cần và có thể đẩy các hộ gia đình vào nguy cơ nghèo đói.  Minh họa Thuyết quản lý công mới, là phép cộng của sự giám sát của cơ quan chủ quản và phong cách quản lý linh hoạt của khối tư nhân. Ảnh: vincenzovignieri.com/  Nói chung chính sách tự chủ ở Việt Nam chỉ hiểu trong phạm vi tự chủ tài chính. Nhưng tự chủ không chỉ gồm tự chủ tài chính; và tự chủ tài chính sẽ bị giới hạn nếu không trao cho các bệnh viện nhiều quyền tự chủ khác. Tự chủ tài chính phụ thuộc nhiều vào tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự và tự chủ về hoạt động chuyên môn. Trong khi đó nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu để đảm bảo cho thực hiện tự chủ bệnh viện, ví dụ cơ chế chính sách xây dựng giá dịch vụ y tế, cơ chế sử dụng tài sản công trong liên doanh liên kết, hợp tác công tư, chính sách thực hiện đơn đặt hàng, chính sách về bổ nhiệm, đào tạo và tuyển dụng nhân lực y tế. Nhiều quy định đề ra trong những chính sách này lại cứng nhắc, quá chi tiết, đi ngược lại với tinh thần tự chủ.  Chẳng hạn, để tự chủ tài chính, bệnh viện cần phải thu hút nhân sự, mà lương chỉ là một phần, môi trường làm việc đôi khi có “trọng lượng” lớn hơn. Như vậy, bệnh viện cần có toàn quyền quyết định về nhân sự, bao gồm từ tuyển dụng và bổ nhiệm người lao động. Nhưng hiện nay, tất cả các bệnh viện công đều phải tuân thủ chi tiết hình thức thi tuyển, xét tuyển, trình tự, thủ tục tuyển dụng, trình tự thủ tục bổ nhiệm…theo quy định của nhà nước. Việc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định thường dẫn đến việc quản lý thiếu hiệu quả, thiếu linh hoạt, không đáp ứng được thực tế cuộc sống vốn đa dạng, hoặc phải lách luật để dễ bề quản lý phù hợp với thực tế, trong nhiều trường hợp nguồn lực không đủ để làm theo đúng các quy trình.  Tự chủ tài chính không phải là câu trả lời  Có thể nói cách Việt Nam tiếp cận chính sách tự chủ có phần chệch hướng so với cách tiếp cận thông thường ở những nước phát triển, những nơi tiên phong đầu tiên trong việc thiết kế và áp dụng chính sách tự chủ theo thuyết “quản lý công mới”.    Cũng giống như với các ngành cung ứng dịch vụ công khác, nhà nước cũng cần phải có quy định chung về hệ thống lương bổng cho ngành y tế (mang tính cạnh tranh, có tính tới đặc thù ngành) để đảm bảo sự thống nhất trong việc chi trả cho người lao động trong ngành y.    Thuyết “quản lý công mới” ra đời để để giải quyết những trục trặc của Nhà nước khi theo mô hình quản lý công truyền thống được xem là cứng nhắc, quan liêu, có quá nhiều luật lệ, quy trình, thủ tục. Mô hình nhà nước to theo tiêu chuẩn quản lý công truyền thống không còn phù hợp khi các nước phương Tây lâm vào khủng hoảng tài chính những năm 70. Điều này buộc nhà nước phải cắt giảm chi tiêu đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng dịch vụ công. Thuyết quản lý công mới cho phép nhà nước thực hiện điều này.  Phân cấp quản lý và tự chủ là những cải cách theo thuyết quản lý công mới. Mục đích của tự chủ là để hạn chế sự can thiệp chính trị vào công việc quản lý sự nghiệp, tăng tính hiệu quả quản lý và cho phép các quyết định quản lý được thực hiện mà không bị chính trị hóa (các quyết định sẽ công bằng hơn nếu không có tính chính trị ở trong đó, chính trị có thể có tính phe phái hay nhiệm kỳ), tăng tính thích ứng và mang dịch vụ đến gần với người sử dụng, tăng tính linh hoạt và giải phóng người quản lý khỏi những luật lệ cứng nhắc, mang tính kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước (ở Việt Nam là cơ quan chủ quản).  Tự chủ bao gồm hai khía cạnh là tự chủ quản lý (được tự do trong việc lựa chọn và sử dụng các nguồn lực) và tự chủ chính sách (tự do trong việc lên kế hoạch, mục tiêu, quy trình, thủ tục, quyết định chất lượng và số lượng sản phẩm dịch vụ). Đi kèm với quyền tự chủ là sự dịch chuyển trong cung cách quản lý của cơ quan chủ quản từ tiền kiểm (kiểm soát đầu vào và quy trình thực hiện) sang hậu kiểm (giám sát kết quả).  Quản lý theo kiểu tiền kiểm là việc Việt Nam đang làm hiện nay, đó áp dụng các luật lệ, quy định, tiêu chuẩn, quy trình chi tiết nhằm đảm bảo đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ. Với kiểu quản lý này, các đơn vị sự nghiệp hầu như có ít cơ hội lựa chọn phương thức quản trị mà chủ yếu phải tuân thủ các quy định cơ quan quản lý ban hành.  Trong khi đó, quản lý theo kiểu hậu kiểm là nhà quản lý chỉ quan tâm tới đơn vị sự nghiệp có được thực hiện các mục tiêu dự kiến không và liệu trong lương lai có cần những cải thiện nào không để tăng cường hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ. Quản lý hậu kiểm chủ yếu thông qua mục tiêu, theo dõi, giám sát, kiểm toán và các cơ chế thưởng phạt. Cung cách quản lý này cho phép tính uyển chuyển, linh hoạt, khả năng thích ứng với sự thay đổi và sự sáng tạo.  Mặc dù phí dịch vụ được áp dụng ở nhiều nước nhằm chia sẻ chi phí giữa người dân và nhà nước, đầu tư công cho dịch vụ công thiết yếu như y tế vẫn hết sức quan trọng, là một cơ chế điều phối đảm bảo công bằng và hiệu quả trong cung ứng dịch vụ công.    Ở những nước phát triển, dịch vụ công bao gồm dịch vụ y tế về nguyên tắc được nhà nước đầu tư ngân sách chủ yếu bởi đây là những dịch vụ công thiết yếu. Việc áp dụng những nhân tố thị trường theo thuyết “quản lý công mới” như cạnh tranh, tự do lựa chọn, tự chủ… vào quản lý dịch vụ công không phải để đơn vị “tự bơi” trong thị trường mà nhằm mục đích nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả quản lý, và khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.    Việc nghỉ việc hàng loạt của các nhân viên y tế là một dấu hiệu chất vấn ngành y tế trong cách tiếp cận lâu nay đối với chính sách tự chủ. Khi mục tiêu bảo hiểm toàn dân chưa hoàn thành, điều hết sức quan trọng là cần có giải pháp về cân đối lại chi phí y tế giữa nhà nước và người dân. Đặc biệt tỷ trọng trong chi ngân sách công cho y tế cần có sự điều chỉnh để đảm bảo mức chi tiền túi của người dân cho dịch vụ y tế giảm xuống.  Điều này đòi hỏi ngành y tế cần tiếp tục đầu tư cho các bệnh viện công lập chứ không thể “thả trôi” như hiện nay. Chính sách tự chủ, thay vì tạo các cơ hội cho các bệnh viện tạo nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước, cần tập trung vào việc chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm tải các quy định về quản lý đầu vào. Thay vào đó là tập trung vào việc theo dõi, giám sát, kiểm toán, đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực không có thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng dịch vụ. Những điều này nhằm tạo điều kiện cho người quản lý được linh hoạt trong việc sử dụng các nguồn lực cũng như trong việc xây dựng kế hoạch, đề ra mục tiêu và phương thức thực hiện để đạt được các mục tiêu.  Cũng giống như với các ngành cung ứng dịch vụ công khác, nhà nước cũng cần phải có quy định chung về hệ thống lương bổng cho ngành y tế (mang tính cạnh tranh, có tính tới đặc thù ngành) để đảm bảo sự thống nhất trong việc chi trả cho người lao động trong ngành y. Sự chênh lệch về lương bổng có thể dẫn đến mất cân đối trong lực lượng lao động trong ngành y (nông thôn – thành thị, tuyến trên – tuyến dưới). Nếu bệnh viện hoạt động theo cơ chế này thì sẽ không có kiểu tính lương theo kiểu lương cứng và lương tăng thêm. Việc tạo lập cơ chế lương tăng thêm là một cơ chế khuyến khích bệnh viện tạo nguồn thu, dẫn đến tình trạng lạm thu hiện nay. Cơ chế lương tăng thêm cũng tạo sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các bệnh viện, đặc biệt là giữa bệnh viện tự chủ và bệnh viện mới được tự chủ một phần hoặc chưa tự chủ, giữa bệnh viện tuyến trên và tuyến dưới, và giữa bệnh viện ở thành thị và nông thôn.  Việc đầu tư ngân sách nhà nước cho các bệnh viện công lập giải phóng các bệnh viện khỏi các áp lực phải tự lo nguồn thu để tồn tại và duy trì hoạt động. Thay vào đó, các bệnh viện sẽ có cơ hội tập trung mọi nguồn lực vào việc đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý và cung ứng dịch vụ, hướng tới việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và đa dạng của người dân.□  ——  Nghiên cứu về đề tài tự chủ đại học công và bệnh viện công ở Việt Nam cho luận án tiến sỹ ngành chính sách công tại Đại học Victoria, Wellington, New Zealand. Hiện chị đang công tác trong lĩnh vực phân tích và tư vấn chính sách công cho Chính phủ New Zealand.    Author                Võ Thị Hải Minh        
__label__tiasang Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)      Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.    Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..  Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.  Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.    Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.   Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?  Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.  Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)?   Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?  Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.    I/ Về chế độ sở hữu toàn dân   Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v..   Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:  Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu. Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.  Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.  Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.  Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:  (a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:  Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”. Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.  (b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:  Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.  (Kỳ sau: Về sở hữu đất đai)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)      Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”.       II/ Về sở hữu đất đai  Nếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”.    Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.   Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:  Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.    Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.  Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.  Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:  (a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng.   Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.    Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?  Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay.   Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.  “Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên.   Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.  (b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch.   Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.  Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh.   Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.  Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất.   Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.   Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh.   Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.  Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.  Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.  Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập.   Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.  Tháng 9/2010        Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chỉ dẫn” khó hiểu      Theo dõi một số phát biểu của các quan chức y tế, và nhất là văn bản chỉ dẫn cách chống bệnh tiêu chảy cấp của bộ Y tế, khiến chúng ta không chỉ vì họ nói khó hiểu, mà còn nghi ngờ rằng họ không nắm vững thông tin.         Chẳng hạn như phát biểu trên Dân trí, Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục y tế dự phòng, cho biết: “Chúng ta không thể ngờ một loại dịch bệnh chỉ thường xuyên xảy ra ở những nơi lạc hậu thì lại xảy ra ngay giữa thủ đô Hà Nội”. Bệnh tiêu chảy cấp, trong đó  một số người bệnh có vi khuẩn tả, xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ 19, và hiện nay mỗi năm ở nước ta người mắc bệnh tiêu chảy cấp trồi sụt nhưng trung bình khoảng 1750 người, trong số này có khoảng 20% từ phía Bắc và Hà Nội. Các con số này rành rành trong các bài báo khoa học ở Việt Nam do người Việt phân tích và công bố. Ấy thế mà ông “không thể ngờ”.   Kế đến là vấn đề trách nhiệm. Phát biểu trên Người lao động, thứ trưởng Bộ Y tế “đề nghị các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền mạnh hơn nữa để người dân có ý thức trong việc phòng, chống dịch bệnh”. Tôi phải hỏi tại sao phải đùn đẩy trách nhiệm về các cơ quan truyền thông? Họ là những người đưa tin, chứ đâu phải chuyên gia về y tế. Tại sao Bộ Y tế không chủ động sản xuất ra các bộ phim ngắn hay chương trình tivi để chỉ dẫn cụ thể cách thức phòng chống dịch tiêu chảy cấp cho người dân? Tại sao không thương lượng với các đài truyền hình dành 5 phút mỗi ngày để giải thích, khuyến cáo và hướng dẫn về các yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh cho người dân? Tại sao mình không chủ động làm mà “đề nghị” người khác làm? Trách nhiệm giáo dục y tế cho quần chúng thuộc về ai?   Bộ Y tế có ý kiến gì không? Họ có nhiều ý kiến lắm, nhưng ít ai hiểu họ nói gì. Trong thời gian dịch bệnh tiêu chảy cấp đang bộc phát và công chúng rất quan tâm như hiện nay, chúng ta nghĩ rằng cơ quan y tế cao nhất của nước ta, Bộ Y tế, ắt hẳn phải cung cấp cho chúng ta các thông tin cần thiết và nhanh chóng để phòng ngừa bệnh. Nhưng thật là thất vọng khi truy cập vào trang web của Bộ (www.moh.gov.vn) chúng ta chỉ tìm những thông tin từ các nguồn khác từ… báo chí. Thật vậy, chúng ta sẽ thấy các bản tin từ báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Người lao động, Dân trí… Ở đây có một sự “ngược đời”: Đáng lẽ Bộ Y tế phải là nơi sản sinh ra thông tin, là “newsmaker”, chứ sao lại để cho báo chí đóng vai trò đó? Báo chí và các cơ quan truyền thông có nhiệm vụ chuyển tải và cung cấp thông tin, chứ đâu phải là nơi phát sinh thông tin.   Trên trang web của Bộ có một văn bản chỉ dẫn cách chống dịch bệnh tiêu chảy cấp dài vỏn vẹn 1,1 trang! Thật ra, dài hay ngắn có lẽ cũng không quan trọng; quan trọng hơn là nội dung của văn bản. Nội dung văn bản quá nghèo nàn. Chỉ dẫn quá chung chung. Chẳng hạn như “Hạn chế người ra, vào vùng đang có dịch”. Thế nào là “hạn chế”? Đi thăm bà con ở làng bên cũng không được à? Thế nào là “vùng có dịch”? Phải bao nhiêu người mắc bệnh mới gọi là “vùng có dịch”? Ai là người hay cơ quan đứng ra tuyên bố đó là “vùng có dịch”? Có quá nhiều câu hỏi “thế nào”!  Còn lời khuyến cáo “Nguồn nước ăn uống phải được bảo vệ sạch sẽ” thì không có gì phải bàn hay phản đối. Nhưng chả lẽ lời khuyên chỉ dừng ở đó? Bảo vệ thế nào cho sạch sẽ thì không thấy Bộ khuyến cáo. Có quá nhiều câu hỏi “làm thế nào”.   Văn bản khuyên “Tránh tập trung ăn uống đông người như ma chay, cưới xin, cúng giỗ.” Người ta phải hỏi tại sao tránh? Tụ tập trong các đám tiệc, ma chay là nguyên nhân gây bệnh hay sao mà tránh? Tương tự, người dân khi đọc câu “Không ăn rau sống, không uống nước lã” và “Không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản tươi sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua” phải hỏi ngay “tại sao?” Có quá nhiều câu hỏi “tại sao”.   Tiếng Việt sử dụng trong văn bản đó chỉ có thể mô tả bằng hai chữ: khó hiểu. Tôi chú ý đến câu “Mọi người, mọi nhà đều thực hiện ăn chín, uống sôi”. Ăn chín uống sôi. “Ăn chín” là ăn kiểu gì? Uống sôi là uống cái gì? Uống nước sôi thì có mà mang họa vào thân. Tiếng Việt gì mà lạ lùng thế? Tại sao không viết “Ăn thức ăn nấu chín, và uống nước đã đun sôi”.   Thật ra, toàn bộ văn bản là một loạt khẩu hiệu, hô hào, mang tính ra lệnh. Tuy tựa đề văn bản là “khuyến cáo” nhưng lại sử dụng chữ “Cấm”. Hai lần cấm: cấm đổ chất thải, cấm đi tiêu bậy. Không có giải thích lí do. Không có bàn luận lợi hay hại.        Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chi phí & hiệu quả      Ph&#225;p luật l&#224;m ph&#225;t sinh chi ph&#237;: chi ph&#237; để tu&#226;n thủ, chi ph&#237; để &#225;p đặt sự tu&#226;n thủ v&#224; chi ph&#237; để giải quyết tranh chấp. Chi ph&#237; để tu&#226;n thủ l&#224; chi ph&#237; của x&#227; hội. Chi ph&#237; để &#225;p đặt sự tu&#226;n thủ l&#224; chi ph&#237; của Nh&#224; nước. Chi ph&#237; để giải quyết tranh chấp l&#224; chi ph&#237; của cả x&#227; hội v&#224; cả Nh&#224; nước. C&#225;c chi ph&#237; n&#224;y nh&#236;n chung đều rất lớn, trong kh&#244;ng &#237;t trường hợp ch&#250;ng c&#243; thể lớn đến v&#244; c&#249;ng.    Với luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm xe máy có hiệu lực cuối năm vừa qua,  thì chi phí của xã hội ước tính sẽ vào khoảng trên dưới một chục ngàn tỷ đồng. Nước ta có khoảng trên dưới 20 triệu xe gắn máy. Nếu mỗi người đi xe gắn máy cần mua hai chiếc mũ cho mình và cho người đèo phía sau, và giá mỗi chiếc mũ trung bình với độ 200 ngàn đồng, thì chi phí xã hội sẽ là: 20 triệu x 2 x 200 ngàn = 8 ngàn tỷ đồng. Tổng chi phí của xã hội có thể còn bao gồm cả chi phí cất giữ và bảo quản những chiếc mũ và chi phí nộp phạt nữa, vì vậy chắc chắn sẽ lớn hơn con số nói trên.   Chi phí để áp đặt sự tuân thủ và để giải quyết tranh chấp cũng sẽ rất lớn. Mặc dù, ở thời điểm này, chúng ta chưa có được thống kê cụ thể. Ngoài ra, không phải tất cả các khoản chi phí như vậy đều đã có thể tiên liệu hết được.  Chi phí và hiệu quả không phải bao giờ cũng đi liền với nhau. Nếu xã hội phải bỏ ra 10 ngàn tỷ đồng để mua mũ bảo hiểm, nhưng có đến 75% số mũ bảo hiểm được bày bán trên thị trường lại là kém chất lượng, thì 75% chi phí xã hội- khoảng 7,5 ngàn tỷ đồng, sẽ là những chi phí vô ích. Những chi phí vô ích chỉ gây ra tốn kém, mà không thể góp phần giảm nhẹ tai nạn giao thông.   Do pháp luật luôn luôn làm phát sinh chi phí, nên khi ban hành một đạo luật, cần phải phân tích để xem chi phí bỏ ra và hiệu quả thu được sẽ như thế nào. Chỉ khi hiệu quả mà đạo luật mang lại lớn hơn chi phí mà xã hội và Nhà nước phải bỏ ra,  thì việc ban hành đạo luật mới có ý nghĩa. Bằng không, luật pháp chỉ làm cho cuộc sống thêm khó khăn, tốn kém… Nếu vấn đề tai nạn giao thông gây ra tốn kém 12 ngàn 800 tỷ mỗi năm (Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, chi phí do tai nạn giao thông làm phát sinh hằng năm ở nước ta là 800 triệu USD tương đương với 12 ngàn 800 tỷ đồng), thì giải pháp lập pháp được đề ra buộc lòng phải có chi phí thấp hơn như vậy. Nếu không, chúng ta cần nghĩ đến một giải pháp phù hợp hơn. Không phải bao giờ giải pháp lập pháp cũng là giải pháp hiệu năng nhất. Nhưng, có lẽ, bao giờ cũng là giải pháp tốn kém nhất.   Luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm (cho dù chưa phải do Quốc hội ban hành) là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải loại trừ được những chi phí vô ích của xã hội,  bằng không đạo luật sẽ trở nên tốn kém quá mức để có thể phát huy hiệu quả trong cuộc sống.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ số cạnh tranh và khảo sát thu hút nhân tài của Việt Nam      Trong giai đoạn đất nước ngày càng phát triển và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực học hỏi, không ngừng sáng tạo và phát triển của nguồn chất xám trong nước thì sự đóng góp của những người Việt tài năng trên toàn thế giới là vô cùng cần thiết.    Trong thời gian qua chính phủ và một số doanh nghiệp đã thể hiện những mối quan tâm và có một số chính sách, sự kiện thu hút và đãi ngộ nhân tài. Tuy nhiên các chính sách đó có kết quả đến đâu, ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của đất nước thế nào vẫn là mối băn khoăn của lực lượng trí thức, nhân lực trình độ cao Việt Nam đang ở ngoài nước.  Chỉ số cạnh tranh nhân tài toàn cầu  Theo báo cáo về chỉ số cạnh tranh nhân tài toàn cầu năm 2019 vừa xuất bản (The Global Talent Competitiveness Index) thực hiện bởi INSEAD, Adecco Group và Tata Communications trên dữ liệu của 125 quốc gia về thu hút, phát triển và gìn giữ nhân tài thì 3 quốc gia đứng đầu thế giới lần lượt là Thụy Sĩ, Singapore và Mỹ.    Việc xếp thứ hạng dựa trên 68 chỉ số, với 6 nhóm chỉ số chính: Kích hoạt các nhân tài, Thu hút nhân tài, Phát triển nhân tài, Giữ chân nhân tài, Kỹ năng và trình độ quốc gia, Kỹ năng tri thức toàn cầu. Báo cáo cho thấy rất nhiều các khía cạnh như chi phí cho R&D, giáo dục, quyền cá nhân, bình đẳng giới, môi trường kinh doanh, khả năng tìm lao động có trình độ cao, lượng xuất bản khoa học quốc tế, quỹ hưu, bảo trợ xã hội, an toàn cá nhân…đều đóng vai trong chỉ số cạnh tranh nhân tài.  Việt Nam đứng thứ 92 trong bảng xếp hạng năm 2019 (tụt 5 hạng so với bản báo cáo 2018), chỉ có duy nhất Global knowledge skill là nhỉnh hơn trung bình nhóm các nước thu nhập trung bình thấp, các chỉ số khác đều phải cải thiện mới có hy vọng thu hút, phát triển và giữ được nhân tài.  Khảo sát thu hút nhân tài  Với mong muốn tham gia hỗ trợ và đồng hành cùng chính phủ trong quá trình xây dựng chính sách thu hút, gìn giữ và tạo môi trường thuận lợi cho lực lượng tri thức tham gia xây dựng đất nước một cách lâu dài và có hệ thống, Hội các nhà Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE-Global) có trụ sở tại Paris đã thực hiện khảo sát Thu hút nhân tài từ cuối tháng 12 năm 2018.    17 câu hỏi khảo sát đã được gửi tới các cộng đồng người Việt hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài và nhận được kết quả tham gia ban đầu từ hơn 300 nhà khoa học, chuyên gia, nghiên cứu sinh Việt Nam từ 31 quốc gia trên thế giới. Hơn 52% người tham gia có học vị Tiến sĩ, hơn 30% người tham gia có thu nhập ròng trung bình hơn 60.000 USD/năm từ công việc hiện tại. Đặc biệt bản khảo sát sẽ phân tích các yếu tố chính thu hút những nhân tài quyết định trở về và các vấn đề rào cản đối với họ khi làm việc ở Việt Nam. Các góp ý cụ thể cho chính sách thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài cũng được ghi nhận.  Kết quả ban đầu cho thấy yếu tố chính để thu hút các trí thức chuyên gia về làm việc ở Việt Nam là Gia đình (60%). Một nửa số người tham gia muốn về Việt Nam nếu có các “Cơ hội được nhìn nhận và khả năng thăng tiến trong sự nghiệp”. 50% ý kiến “Mong muốn được tạo những tác động tích cực đến Kinh tế xã hội Việt nam”.  Một trong những rào cản khiến những người muốn trở về ngần ngại là môi trường làm việc (83%) và lo lương bổng không đảm bảo cho cuộc sống (70%). Các chính sách xã hội như bảo hiểm, lương hưu cũng là mối lo lắng của những người muốn quay về. 46% người tham gia e ngại không áp dụng được kiến thức mình đang có trong môi trường Việt Nam.    Do cuộc khảo sát mới được tiến hành trong thời gian ngắn nên số lượng người tham gia còn khá khiêm tốn (hơn 300 người) so với lực lượng lớn những tri thức, chuyên gia người Việt đang công tác ở nước ngoài quan tâm đến chính sách thu hút, sử dụng và gìn giữ nhân tài ở Việt Nam.  Để kết quả khảo sát xác thực hơn, nhóm Khảo sát Thu hút nhân tài rất mong muốn tiếp tục nhận được sự tham gia và đóng góp ý kiến của các trí thức, chuyên gia Việt Nam đã và đang ở các quốc gia khác nhau trên thế giới theo đường link: http://www.avseglobal.org/khao-sat-ve-thu-hut-nhan-tai  Hội AVSE-Global sẽ luôn đồng hành với các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam trên toàn thế giới trong việc chuyển tải các ý kiến về chính sách thu hút và phát triển nhân tài ở Việt Nam. Những người tham gia khảo sát để lại email sẽ nhận được bản kết quả tổng hợp của đợt khảo sát.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/chi-so-canh-tranh-va-khao-sat-thu-hut-nhan-tai-cua-viet-nam/2019021409495044p1c785.htm    Author                Nhóm Công nghệ AVSE-Global        
__label__tiasang Chia vui với người dân Myanmar      Khoảng thời gian của năm mới, thường là lúc  để nghĩ về những mơ ước sắp tới. Khát khao những mong ước cho đất nước  mình, tôi nảy ra ý nghĩ tìm hiểu xem trên thế giới này bước vào năm  2012, nhân dân nước nào có niềm mơ ước hiện thực nhất?   Câu trả lời của tôi là: – Nhân dân Myanmar!    Những thay đổi ở Myanmar trong những tháng vừa qua khiến cả thế giới ngạc nhiên đến sững sờ, nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới không thể không chia vui với nhân dân Myanmar.   Tướng Thein Sein nhậm chức tổng thống Myanmar tháng 3-2011, là vị tổng thống dân cử đầu tiên của Myanmar sau 49 năm dưới quyền thống trị của các tướng lĩnh và quân đội. Ngay sau khi nhậm chức, tổng thống Thein Sein bằng những quyết định đầy trí tuệ và dũng cảm, đã bẻ ghi con tầu quốc gia mình. Từ một chế độ hầu như do quân đội chi phối, Myanmar đã chuyển hướng mạnh mẽ theo con đường phát triển dân chủ.   Chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, tổng thống Thein Sein đã trực tiếp làm được nhiều việc có ý nghĩa đổi đời cho quốc gia mình. Nổi bật nhất là những quyết định đưa các tướng lĩnh cứng rắn của phái quân phiệt – đứng đầu là tướng Than Swe – về nghỉ hưu, giải thể Hội đồng phục hồi luật pháp nhà nước và trật tự (SLORC – tổ chức này năm 1997 chuyển thành “Hội đồng Nhà nước vì Hòa bình và Phát triển” – SPDC – cho đến khi bị giải thể ngày 30-03-2011) – cơ quan đầu não của lực lượng quân phiệt – để giành toàn bộ quyền lực cho chính quyền dân sự mới được lập nên thông qua cuộc bầu cử tháng 02-2011 do quân đội tổ chức; lập Ủy ban nhân quyền với trách nhiệm thực sự; ban hành Luật biểu tình; thả trên 300 tù chính trị và sẽ còn xem xét thả tiếp; thực hiện tự do ngôn luận và tự do báo chí; cho phép đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NDL) và bà Aung San Suu Kyi tham gia tranh cử trong cuộc bầu cử bổ sung đột xuất sắp tới vào 48 ghế còn để khuyết trong Quốc hội; hủy bỏ hợp đồng đã ký với Trung Quốc xây đập thủy điện Myitsone 3,6 tỷ USD vì lý do công trình này sẽ gây những hậu quả tàn phá môi trường không thể khắc phục được; thực hiện nhiều hoạt động ngoại giao quan trọng khác chưa từng có v.v.  Những nguyên nhân nào dẫn đến những thay đổi quyết định như vậy?  Chắc chắn cần có thời gian để tìm ra những câu trả lời chuẩn xác và thuyết phục. Song có thể sơ bộ kết luận những thay đổi này trước hết là kết quả trực tiếp đến từ những quyết định sáng suốt với tinh thần lợi ích quốc gia trên hết của tổng thống Thein Sein sau khi nắm trọn quyền bính đất nước trong tay. Và nếu phải nói thật ngắn trong một câu thì, nguyên nhân sâu xa của những thay đổi nói trên là ý chí vô cùng mạnh mẽ của nhân dân Myanmar, trong đó có tổng thống Thein Sein, về độc lập tự do và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia.  Với những quyết định trên của tổng thống Thein Sein, Myanmar đã đi những bước đầu tiên có ý nghĩa quyết định trên con đường trở thành một quốc gia dân chủ và phát triển. Ngay trước mắt, Myanmar đã củng cố vững chắc thêm vị thế quốc gia độc lập của mình. Vị thế quốc tế của Myanmar trong cộng đồng các nước ASEAN nói riêng và trên trường quốc tế nói chung được nâng cao rõ rệt.   Những thay đổi mới này của Myanmar còn là những đóng góp đáng kể cho việc tăng cường sức sống của cộng đồng ASEAN và giúp tăng cường cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong toàn khu vực.  Toàn bộ con đường đi tới một quốc gia dân chủ và phát triển của Myanmar còn ở phía trước với tất cả những gian nan và thách thức ắt phải có, song hứa hẹn thành công hơn rất nhiều hay thành công sớm hơn rất nhiều so với các cuộc cách mạng không ít xương máu mang tên các mùa hoa diễn ra tại các nước Bắc Phi vừa qua.   Thế mới biết, trên đời này có nhiều con đường khác nhau dẫn tới tự do dân chủ của một quốc gia, một dân tộc, song tất cả những con đường này đều phải bắt đầu từ sự thay đổi. Thế sự xoay vần còn cho thấy từ một tướng lĩnh chủ chốt trong SLORC khét tiếng, có thể tổng thống Thein Sein sau này sẽ được nhân dân của mình ghi nhận như một anh hùng dân tộc, vì ông đã có những quyết định sáng suốt, quả cảm, tuyệt đối đặt lợi ích quốc gia mình lên trên hết.  Những thay đổi đã diễn ra trong lòng Myanmar năm 2011 đã mang lại những thành tựu đầu tiên vô cùng quan trọng trong thực hiện sự nghiệp đoàn kết hòa hợp dân tộc, yếu tố hàng đầu quyết định vận mệnh và tương lai của quốc gia này.   Chân thành chúc nhân dân Myanmar vượt qua mọi thử thách và thành công rực rỡ.  Từ một chế độ hầu như do quân đội chi phối, Myanmar đã chuyển hướng mạnh mẽ theo con đường phát triển dân chủ.   Wd:  Những thay đổi mới này của Myanmar còn là những đóng góp đáng kể cho việc tăng cường sức sống của cộng đồng ASEAN và giúp tăng cường cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong toàn khu vực.  Chú thích ảnh:  Tổng thống Thein Sein tiếp đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Myanmar năm 2010       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược Phát triển      Công cuộc phát triển của Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Thế nhưng, chặng đường đi đến thành công còn rất dài, thách thức và cơ hội đều rất lớn trong sự biến động khôn lường của cục diện phát triển toàn cầu.  Để công cuộc phát triển đi đến một thành công vẻ vang đất nước nhất thiết phải có được một chiến lược phát triển sâu rộng về tầm nhìn, cao quí về cốt cách, thời đại về tư duy, tinh thông về tri thức, và quyết liệt trong hành động.    Xác quyết tầm nhìn và ý chí chiến lược  Là một dân tộc với hàng nghìn năm chịu đựng và hy sinh trong niềm khao khát về một vị thế xứng đáng của đất nước, người Việt Nam dường như ai cũng ẩn chứa trong mình một xúc cảm dân tộc mãnh liệt. Vì vậy, xác quyết tầm nhìn và ý chí chiến lược đáp ứng sự kỳ vọng của toàn dân có sức qui tụ và cổ vũ vô cùng to lớn. Trái lại, tầm nhìn hạn hẹp và ý chí mơ hồ sẽ làm xã hội thất vọng, lòng dân ly tán trong vụ lợi và chụp giật cá nhân. Xác quyết tầm nhìn và ý chí chiến lược, cần chủ ý hai điểm: Một là Việt Nam nên đặt mục tiêu nhân văn lên trên mục tiêu kinh tế; phấn đấu trở thành một đất nước phồn vinh trên nền tảng nhân văn sáng chói bởi sự thành tâm sâu sắc trong hợp tác, sự cầu thị khát khao trong học hỏi, và ý thức trách nhiệm với cộng đồng thế giới. Thứ hai, có hai mốc quan trọng để xác quyết ý chí chiến lược: đó là năm 2025 là kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước và năm 2045 là kỷ niệm 100 năm ngày độc lập. Ở mốc thứ nhất, Việt Nam cần quyết tâm trở thành một quốc gia công nghiệp có sức cạnh tranh cao của châu Á, khu vực kinh tế phát triển sôi động nhất của thế giới trong nửa đầu của thế kỷ 21. Ở mốc thứ hai, Việt Nam xác định trở thành một thành viên trong cộng đồng các quốc gia phát triển.  Thấu hiểu và nắm bắt nhạy bén các cơ hội và thách thức của thời đại trên qui mô toàn cầu  Chiến lược phát triển của Việt Nam cần thấu hiểu và nhạy bén nắm bắt các xu thế định hình nền kinh tế thế giới trong những thập kỷ tới. Chẳng hạn, để nắm bắt xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần coi khả năng cạnh tranh toàn cầu và đẳng cấp quốc tế là tiêu chí hàng đầu cho thực hiện mỗi dự án đầu tư và phát triển. Trong xu thế này, Việt Nam cũng cần chủ động cùng Campuchia và Lào gắn kết thành một khu vực kinh tế năng động để tăng sức cạnh tranh và lợi thế định vị chiến lược của cả vùng Đông Dương. Chẳng hạn, việc thiết lập đường bay vàng từ Hà Nội-TP. Hồ Chí Minh là đúng hướng với tính toán hiệu quả và hiệu lực ở tầm chiến lược.   Về xu thế trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam cần có chiến lược và các chương trình nghiên cứu ráo riết hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập các thị trường này, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.    Xu thế thống trị của ngành dịch vụ, bao gồm giáo dục, y tế, tài chính, du lịch,… gợi ý rằng Việt Nam cần coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn để dốc sức học hỏi, hợp tác, và đầu tư nhằm nhanh chóng vươn lên vị thế cạnh tranh hàng đầu.   Xu thế về sự khan hiếm năng lượng trong tương lai cho thấy đầu tư vào ngành năng lượng xanh và giảm độ thâm dụng năng lượng của nền kinh tế có ý nghĩa chiến lược hơn nhiều so với đầu tư vào nhà máy điện hạt nhân.  Đầu tư, khai thác, gia cường, và phát huy tối đa các thế mạnh cốt lõi  Trong các lợi thế cốt lõi của Việt Nam, có thể kể đến ý chí dân tộc, khả năng tiếp thu nhanh, nhạy bén, và vị trí địa chính trị ở tâm điểm của hai nền kinh tế khổng lồ đang trỗi dậy là Trung Quốc và Ấn Độ. Điều đáng lo ngại là nếu Việt Nam không chủ động đầu tư nuôi dưỡng và khai thác các thế mạnh cốt lõi này, các điểm yếu dễ tổn thương liền kề chúng sẽ trỗi dậy và hoành hành: Ý chí dân tộc bị mai một sẽ trở thành miếng đất màu mỡ cho hoài nghi và bất mãn lan tràn; Khả năng tiếp thu nhanh và sự nhạy bén trong sự thiếu vắng của nền tảng đạo đức và nhân văn làm người dân dễ bị cuốn hút vào vòng xoáy của vụ lợi cá nhân và chụp giựt ngắn hạn trong sự tổn thất chung của cộng đồng; Vị trí địa lý thuận lợi nhưng thiếu tính toán chiến lược để khai thác và phát huy có thể biến Việt Nam trở thành một quốc gia thụ động, ỷ lại.  Xác lập các nguyên tắc chỉ đạo nỗ lực phát triển  Kinh nghiệm thế giới cho thấy bảy nguyên tắc sau rất quan trọng trong tạo nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho các nỗ lực phát triển: tôn trọng qui luật thị trường; trọng hiền tài- tìm kiếm người tài giao trọng trách để họ có cơ hội tốt nhất phụng sự đất nước; tìm chân lý từ thực tế; tuyệt đối không giáo điều; đặc biệt coi trọng và nỗ lực nuôi dưỡng phẩm chất chân chính và lòng trung thực; cầu thị trong học hỏi, tìm kiếm tinh hoa khắp thế giới để vận dụng vào công cuộc phát triển trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước; luôn luôn chủ động và quyết đoán trong đổi thay để thích nghi với cục diện phát triển toàn cầu và cuối cùng là thành tâm và trách nhiệm trong hợp tác.  Từ các phân tích và ví dụ nêu trên, chúng tôi cho rằng, đồng lòng và dốc sức hoạch định nên một chiến lược phát triển sâu sắc và toàn diện không chỉ là đòi hỏi khẩn thiết mà còn là bước đi đột phá có ý nghĩa nền tảng cho sự nghiệp phát triển của Việt Nam trong những thập kỷ tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược phát triển KH&CN của một số nước và những gợi suy cho Việt Nam      Kinh nghiệm hoạch định chiến lược và chính sách phát triển KH&amp;CN mà nhiều nước đã trải qua, với những thành công và thất bại cùng với những bối cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước thật sự có thể gợi suy nhiều điều cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và Chiến lược phát triển KH&amp;CN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.  &#160;    Cách tiếp cận hoạch định chiến lược  Nhiều quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau trên thế giới từ mấy thập kỷ gần đây đã có những thay đổi tư duy, quan niệm và cách tiếp cận hoạch định chiến lược phát triển quốc gia trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa.   Cuộc họp cấp Bộ trưởng của các nền kinh tế OECD đầu năm 2007 tại Paris (Pháp), đã khuyến cáo các nước thành viên sử dụng cách tiếp cận tổng thể và sử dụng một khung khổ chiến lược và chính sách rộng lớn hơn thay cho cách tiếp cận bộ phận với từng chính sách riêng rẽ cho từng lĩnh vực phát triển kiểu truyền thống trong hoạch định chính sách và chiến lược phát triển. Sự chuyển đổi này là một xu thế tất yếu xuất phát từ sự chật hẹp của các khuôn mẫu tư duy và cách tiếp cận bộ phận khi hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển, áp đặt cho một hiện thực phát triển được dự báo là ngày càng phức tạp, liên ngành và đan xen nhiều biến dị bất quy tắc trong tiến hóa của thế kỷ 21, đồng thời cũng xuất phát từ nhu cầu khẳng định quyền tự chủ và khai thác khả năng tự liên kết, tự tổ chức, tự quản lý của các chủ thể phát triển trên phạm vi toàn cầu.             Tiếp cận tổng thể và sử dụng một khung khổ chiến lược và chính sách rộng lớn hơn thay cho cách tiếp cận bộ phận với từng chính sách riêng rẽ cho từng lĩnh vực phát triển kiểu truyền thống trong hoạch định chính sách và chiến lược phát triển          Chẳng hạn như Trung Quốc, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung điển hình với những quan niệm cứng nhắc về các kế hoạch bộ phận hợp thành với những phân cấp, phân ngành của nền kinh tế theo sơ đồ tái sản xuất của K.Marx, trong đó có kế hoạch hóa KH&CN chỉ sau vài năm hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng đã nhanh chóng chuyển sang áp dụng tư duy và cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong hoạch định chiến lược phát triển. Điều đó thể hiện qua cách xác định mục tiêu Trung Quốc phấn đấu đến năm 2020 trở thành một “Quốc gia  định hướng đổi mới” (Innovation-Oriented Country) rất khác với tư duy công nghiệp hóa theo cách diễn đạt đặc trưng vào những năm 50-70 của thế kỷ trước.   Định hướng phát triển KH&CN ở tầm quốc gia  Các nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau như xây dựng tầm nhìn, ra tuyên bố về chiến lược hoặc kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn; xây dựng các lộ trình công nghệ và kế hoạch hành động quốc gia về KH&CN. Tùy theo bối cảnh cụ thể của từng nước các công cụ này được sử dụng với những vị trí và vai trò khác nhau. Thí dụ Trung Quốc do là một nước lớn đang có tham vọng vươn lên thành một trong 5 cường quốc thế giới về KH&CN, nên họ chú trọng đưa ra tầm nhìn phát triển khoa học dài đến 50 năm và kế hoạch phát triển KH&CN 15 năm (2006-2020). Hàn Quốc quan tâm nhiều hơn đến lộ trình công nghệ cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia với tầm trung hạn (10 năm cho giai đoạn 2002-2012), theo đó cứ mỗi mục tiêu quốc gia lại được cụ thể hóa bởi nhóm các sản phẩm chiến lược và các công nghệ cần có để phát triển các sản phẩm quốc gia đó. Nhật Bản với tư cách là một cường quốc về công nghệ, nhưng quá trình phát triển của đất nước lại phụ thuộc rất sâu và rộng vào thế giới bên ngoài, nên họ quan tâm trước tiên đến việc xác định trước một tầm nhìn đến năm 2025, trong đó lường trước những yếu tố bên ngoài sẽ tác động đến môi trường và chính sách phát triển trong nước để có thể chủ động lựa chọn một vị trí và vị thế tồn tại trong các quan hệ liên thuộc với thế giới. Ba đặc điểm quan trọng trong tư duy hoạch định chiến lược phát triển của Nhật Bản theo chúng tôi là: (1) chú trọng nhìn trước, dự báo; (2) thể hiện rất rõ năng lực làm chủ và thái độ chủ động trong tiếp cận xây dựng chiến lược, chính sách và (3) sự kiên trì, nhất quán trong quá trình cập nhật các công cụ nhìn trước công nghệ (5 năm 1lần) và lộ trình công nghệ (mỗi năm một lần). Năng lực và kinh nghiệm này, tất nhiên không phải quốc gia nào cũng có thể học hỏi được, nhưng rất đáng quan tâm. Tuy các nước rất khác nhau trong sử dụng các công cụ định hướng chiến lược phát triển KH&CN nhưng cũng có thể thấy được một số điểm chung trong đó là: Hoạch định chiến lược không thể không bao gồm việc đưa ra các tầm nhìn về tương lai để thông qua đó thể hiện năng lực và thái độ chủ động lựa chọn mục tiêu và qua đó lý giải tại sao các mục tiêu chiến lược lại được lựa chọn. Thứ đến, các mục tiêu chiến lược một khi được lựa chọn phải được cụ thể hóa và minh chứng tính khả thi bằng cách xác định các công nghệ then chốt và lộ trình công nghệ đi kèm, trong đó có tính đến cả nhu cầu thị trường,  năng lực KH&CN và các yếu tố tổ chức khác cần có để hiện thực hóa các công nghệ then chốt đã lựa chọn.                   Thái Lan Mục tiêu              1. Xây dựng Thái Lan thành một “đất nước có nền kinh tế mạnh, xã hội dựa trên năng lực cạnh tranh bằng tri thức, bảo đảm an ninh và chất lượng đời sống xã hội cao”;              2. Tăng tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới lên 35%;              3. Giá trị gia tăng của các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp dựa trên tri thức không thấp hơn mức trung bình của OECD;              4. Phát triển năng lực tự quản lý;              5. Năng lực cạnh tranh KH&CN vượt mức trung bình trong xếp hạng theo IMD ;              Các ưu tiên trọng điểm              1. Công nghệ Sinh học              2. Công nghệ Thông tin và Truyền thông              3. Công nghệ Vật liệu              4. Công nghệ Nano.               Giải pháp              1. Thành lập Cục Đổi mới quốc gia trong Nội các (NIA);              2. Ban hành kế hoạch hành động quốc gia về KH&CN (2002-2006) bao gồm các nội dung chính);              3. Phát triển các cụm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh;              4. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN;              5. Đầu tư nâng cấp hạ tầng KH&CN;              6. Nâng cao nhận thức của công chúng về vai trò của KH&CN;              7. Nâng cao hiệu quả quản lý KH&CN.          Có thể nói xây dựng tầm nhìn, xác định công nghệ then chốt  và các lộ trình công nghệ là 3 công cụ quan trọng mà trong quá trình định hướng chiến lược phát triển KH&CN nhiều nước đã và đang chú trọng áp dụng. Rất tiếc ở Việt Nam, ngoài những nội dung truyền thống cho đến nay trong xây dựng chiến lược  như quan điểm, mục tiêu và các giải pháp chung chung thì cả ba công cụ định hướng chiến lược mà nhiều nước đã áp dụng nêu trên đều chưa được quan tâm và chú ý thích đáng. Rõ ràng một khi cần xây dựng một chiến lược không mang tính hình thức mà để hành động thì không thể không lưu tâm đến 3 công cụ hữu ích này, cho dù làm chủ được các công cụ hoạch định chiến lược này cũng đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cơ quan quản lý và quá trình học tập kinh nghiệm các nước đi trước.  Xác định mục tiêu ưu tiên và trọng điểm chiến lược   Kinh nghiệm Hàn Quốc nổi bật trong việc xác lập được mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất giữa mục tiêu phát triển quốc gia và mục tiêu phát triển KH&CN. Việc xác định 99 công nghệ then chốt cần ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2002-2012 được căn cứ và cụ thể hóa từ 13 định hướng phát triển và 49 sản phẩm và dịch vụ chiến lược quốc gia lại được căn cứ và cụ thể hóa của 5 mục tiêu thể hiện tầm nhìn quốc gia vào năm 2012, trong đó mấu chốt nhất là mục tiêu trở thành quốc gia có năng lực cạnh tranh đứng thứ 10 thế giới, thu nhập bình quân đầu người từ 20,000 đến 30,000 USD/năm. Trung Quốc trong khi sử dụng cách tiếp cận hệ thống đổi mới để gắn các mục tiêu KH&CN vào phát triển kinh tế-xã hội thì vẫn duy trì 3 loại mục tiêu: các mục tiêu cho nghiên cứu cơ bản, mục tiêu về phát triển một số công nghệ then chốt và mục tiêu ứng dụng công nghệ trong một số lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Điều đáng lưu ý trong kinh nghiệm xác định mục tiêu của Trung Quốc là việc đưa ra thứ hạng cụ thể cho năng lực sáng tạo KH&CN đứng vào hàng ngũ 5 cường quốc về KH&CN trên thế giới và phấn đấu đưa ra các kết quả KH&CN có ảnh hưởng ở tầm thế giới. Nhật Bản sử dụng tầm nhìn “Innovation 25” để đưa ra và diễn đạt mục tiêu chung của quốc gia sau đó thông qua các dự án nhìn trước công nghệ để lựa chọn ra 13 lĩnh vực và 858 công nghệ trọng điểm được ưu tiên phát triển. Thái Lan đưa ra các mục tiêu phát triển quốc gia cũng trong tầm nhìn rồi cụ thể hóa bằng 4 lĩnh vực công nghệ nền cần đầu tư phát triển. Nhìn chung, kinh nghiệm các nước có khác nhau nhưng đều thể hiện 3 lớp mục tiêu chủ yếu: (1) các mục tiêu chung theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới đặt ra chung cho cả phát triển kinh tế-xã hội và KH&CN; (2) các mục tiêu cho nghiên cứu cơ bản và các lĩnh vực công nghệ ưu tiên và (3) các mục tiêu ứng dụng công nghệ trong một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm trọng điểm quốc gia. Việt Nam nên và hoàn toàn có thể tham khảo cấu trúc xác định và diễn đạt mục tiêu này trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN 2011-2020.  Các giải pháp thực thi chiến lược phát triển KH&CN  Quá trình nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm một số nước mà chúng tôi có thông tin cho thấy sự lặp lại của một số giải pháp tập trung vào: (1) cải cách thể chế tạo thuận lợi cho phát triển KH&CN thí dụ: xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia ở Trung Quốc, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp ở Nhật Bản, thành lập cơ quan quản lý Nhà nước điều phối chính sách chung và hệ thống đổi mới quốc gia ở Hàn Quốc và Thái Lan; (2) thực thi một số giải pháp chính sách mấu chốt như đào tạo nhân lực và thu hút nhân tài KH&CN (Trung Quốc, Thái Lan), ban hành các chính sách tài chính và tín dụng tạo thuận lợi cho hoạt động đổi mới công nghệ của khu vực doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp trở thành chủ thể chính của đổi mới công nghệ (Trung Quốc); (3) tăng cường đầu tư cho KH&CN: Trung Quốc phấn đấu đầu tư 2% GDP vào năm 2015 và 2,5% GDP vào năm 2020 cho các hoạt động KH&CN; và (4) chú trọng các hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc). Nhìn chung cả 4 nhóm giải pháp nêu trên đều có giá trị gợi suy đối với Việt Nam trong đó đặc biệt đáng lưu ý ở nhóm giải pháp về cải cách thể chế cho phát triển KH&CN khi mà các “khớp nối” gắn kết giữa hoạt động KH&CN với ứng dụng các kết quả KH&CN tạo ra trong sản xuất và kinh doanh vẫn còn lỏng lẻo, chưa rõ ai là chủ thể chính thực hiện các gắn kết giữa hoạt động KH&CN với sản xuất và kinh doanh. Doanh nghiệp thì còn yếu về tiềm lực và động lực đổi mới công nghệ. Trong khi đó, một bộ phận các tổ chức KH&CN đang lúng túng trong quá trình chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN hoặc hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Tầm quan trọng chiến lược của việc hình thành các chủ thể chính gánh vác nhiệm vụ đi đầu trong sự nghiệp đổi mới công nghệ phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội quốc gia như kinh nghiệm của Trung Quốc đã chỉ ra, đòi hỏi việc hoạch định chiến lược KH&CN Việt Nam 2011-2020, bên cạnh việc xác định trúng các mục tiêu ưu tiên còn cần phải đề xuất được những cơ chế hữu hiệu hình thành nhanh chóng đội ngũ các chủ thể của đổi mới công nghệ, có thể là từ các doanh nghiệp hiện hành hoặc từ các tổ chức KH&CN sau chuyển đổi. Đây chính là lực lượng chủ yếu thực thi chiến lược phát triển KH&CN theo tư duy đổi mới, là nguồn đầu tư, nơi sử dụng các đổi mới về KH&CN, là nơi gắn kết hoạt động KH&CN với sản xuất và kinh doanh trong khuôn khổ của hệ thống đổi mới quốc gia.  Các bài học chủ yếu rút ra qua việc xây dựng chiến lược KH&CN của một số nước là: (1) gắn kết ở các mức độ khác nhau quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội với xây dựng chiến lược phát triển KH&CN trong khuôn khổ của tư duy, cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm; (2) chú trọng tạo lập môi trường thể chế thuận lợi cho sự gắn kết và tự gắn kết các hoạt động KH&CN với sản xuất, kinh doanh thông qua vai trò của các doanh nghiệp KH&CN như là chủ thể chính của đổi mới công nghệ; (3) bảo đảm tính khả thi của các mục tiêu chiến lược phát triển KH&CN thông qua sự kết hợp nhuần nhuyễn vai trò của một số công cụ định hướng chiến lược như xây dựng tầm nhìn dài hạn và các lộ trình công nghệ quốc gia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược tiêm vaccine cho Việt Nam      Hiện nay chính phủ và các chuyên gia đã đồng thuận rằng chiến lược tiêm vaccine phải là ưu tiên số một của Việt Nam trong tình hình dịch COVID bùng nổ.    Do đó, chúng tôi đề xuất một chiến lược tiêm vaccine COVID nhất quán, mạch lạc và minh bạch cho Việt Nam, để bảo đảm giảm tối đa các ca tử vong hay bệnh nặng xảy ra cho độ tuổi trên 65 và những người có bệnh nền, đồng thời đảm bảo sẽ có cơ hội phục hồi kinh tế tương đối (1).  Cụ thể hơn, bài viết sẽ (i) ước lượng số lượng vaccine tối thiểu để đảm bảo người trên 65 tuổi và người có bệnh nền – là hai nhóm tử vong và tăng nặng nhất hiện nay (2) – được tiêm vaccine, và (ii) đề xuất cách thức phân bổ vaccine cho các vùng kinh tế để nền kinh tế có thể hoạt động trở lại trong điều kiện Việt Nam chưa chủ động được nguồn vaccine. Để bảo đảm quá trình điều phối và thực thi một chiến lược tiêm vaccine nhất quán và minh bạch, chúng tôi cũng đề xuất chính phủ thành lập một Ban Chiến lược tiêm Vaccine toàn quốc.    Tiêm vaccine tại Nhà Thi đấu Phú Thọ, Q.11 – TP.HCM. Ảnh: HCDC  Ước lượng số lượng vaccine tối thiểu  Chúng tôi đề xuất lộ trình tiêm vaccine sẽ ưu tiên (i) cho người cao tuổi (trên 65 tuổi) và người bị bênh nền (dưới 65 tuổi), (ii) những người ở tuyến đầu chống dịch như qui định của Chính phủ, (iii) những người thuộc nhóm lao động thiết yếu (ví dụ như những người ở tuyến đầu của chuỗi cung ứng hàng hóa), (iv) nhóm những người lao động trong các ngành xương sống để kinh tế có thể khởi động trở lại.  Nhóm (i) có khoảng 7,68 triệu người trên 65 tuổi (ước tính tỷ lệ người trên 65 tuổi là 8% tổng dân số Việt Nam hiện nay – khoảng 96 triệu người). Do số liệu về người bị bệnh nền khá hạn chế, nên dựa trên số liệu gần nhất có được (3), chúng tôi ước tính như sau: Việt Nam có 3-3,5 triệu ca mắc bệnh đái tháo đường, 2 triệu người mắc các bệnh tim mạch và hô hấp mạn tính và gần 126.000 ca mắc mới ung thư (tổng cộng xấp xỉ 5,2 triệu ca). Việt Nam cũng có khoảng 12 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp (Nếu giả thiết là khoảng 30% số người bị tăng huyết áp có thể đươc coi là có bệnh lý nền thì sẽ có con số 4 triệu người. Nếu tỷ lệ này là 50% thì con số người bị coi là có bệnh nền sẽ là 6 triệu người, với tỷ lệ 70% thì sẽ là 8.4 triệu người).      Trước mắt cần có 89,6 triệu liều để tiêm cho nhóm người trên 65 tuổi, người có bệnh nền, người lao động và những người ở tuyến đầu (chống dịch, bảo đảm chuỗi cung ứng hàng hóa).      Để ước lượng tổng số người cao tuổi và người bị bệnh nền dưới 65 tuổi chúng ta cần thêm số liệu người cao tuổi bị bệnh nền để tránh tính trùng. Dựa trên số liệu 7,7 % người cao tuổi bị tăng huyết áp chúng ta có số lượng người cao tuổi bị tăng huyết áp là xấp xỉ 600.000 người (=7.68*0.077); 5,3% người cao tuổi bị đái tháo đường, số lượng người cao tuổi bị tháo đường là xấp xỉ 400.000 người (=7.68*0.053) (4). Đáng tiếc là chúng tôi không có số liệu về các bệnh khác với nhóm người cao tuổi. Như vậy có thể tạm ước tính số vaccine cần thiết cho nhóm người cao tuổi và có bệnh nền dưới 65 tuổi là: 23,9 triệu người nếu giả thiết 100% người tăng huyết áp là người có bệnh nền. Con số này sẽ là 20.28 triệu, 17.88 triệu và 15.48 tương ứng với tỷ lệ 70%, 50% và 30%. Chúng tôi cho rằng tỷ lệ 30-50% là hợp lý hơn cả. Trong phần còn lại của bài viết, chúng tôi dựa trên tỷ lệ 50%, tương đương 17.8 triệu người. Người đọc có thể dễ dàng tự điều chỉnh con số tính toán với các tỷ lệ mà họ cho là hợp lý, hoặc tham khảo Bảng 1 dưới đây.    Nhóm (iv): Dựa trên số liệu của Chính phủ về bảo hiểm lao động, Việt Nam có 24,5 triệu người lao động (5). Một điểm cần lưu ý, tương tự như trên, đó là trong số những người lao động sẽ có những người có bệnh nền như tính toán ở trên. Do không có số liệu, chúng tôi giả thiết rằng tỷ lệ người lao động bị bệnh nền sẽ bằng trung bình tỷ lệ người cao tuổi tăng huyết áp và người cao tuổi đái tháo đường, tức 6.5%, tương đương 1,6 triệu người (=0.065*24,5). Như vậy, số lượng người lao động không bị bệnh nền sẽ là 22.9 triệu người.  Nhóm (ii) và nhóm (iii): Chúng tôi giả thiết rằng số người của hai nhóm này là khoảng 10% của số lượng người của nhóm (i) và nhóm (iv) là 40.7 triệu người (17.88 triệu người thuộc nhóm người trên 65 tuổi và nhóm có bệnnh nền dưới 65 tuổi và 22.9 triệu người lao động dưới 65 tuổi và không có bệnh nền).  Với giả thiết và tính toán nêu trên, tổng cộng số người cần được tiêm trong đợt 1 sẽ là 44.9 triệu người. Tương tự, cho đợt 2, chúng ta cũng cần 44.9 triệu liều vaccine. Chúng tôi cũng nhắc lại là phải bảo đảm là mũi thứ hai phải được tiêm từ một đến ba tháng sau mũi thứ nhất, tùy theo loại vaccine (6).  Như vậy, số lượng vaccine tối thiểu để (a) người trên 65 tuổi và người có bệnh nền được tiêm vaccine, (b) kinh tế có thể hoạt động bình thường trở lại sẽ là 89.6 triệu liều vaccine.  Dựa vào số liệu của Tổng Điều Tra dân số (7), chúng ta biết được tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi ở Việt Nam là 24,3%. Chúng tôi đặt giả thiết tỷ lệ người dưới 18 tuổi ở Việt Nam là 27%. Nếu Việt Nam quyết định tiêm cho những người trên 18 tuổi trước, thì tổng số người được tiêm sẽ là 70 triệu người.  Như vậy đợt 3: sẽ tiêm cho các nhóm còn lại, không nằm trong các diện 1, 2, 3 và 4. Tổng số vaccine cho hai mũi sẽ vào khoảng 50,4 triệu (= 140 – 89,6) liều cho các nhóm này.  Cách thức phân bổ vaccine  Ở thời điểm hiện tại Việt Nam chưa chủ động được nguồn cung vaccine và lượng cung vaccine sẽ đến theo đợt chứ không đến cùng một lúc. Do đó số lượng vaccine phân phối cho các vùng sẽ phụ thuộc vào quyết định của Chính phủ về sự ưu tiên của các vùng.  Thứ tự ưu tiên vẫn là những tỉnh, thành phố đang có dịch bùng phát ở mức độ nghiêm trọng như TP Hồ Chí Minh hay Bình Dương, Đồng Nai và các tỉnh lân cận cần được ưu tiên. Với các tỉnh còn lại, chúng tôi đề xuất một phương án phân phối vaccine tương đối khách quan như sau:  • Cho đợt 1 và 2: phân phối dựa trên tỷ trọng GDP của các vùng  • Cho đợt 3: phân phối dựa trên tỷ trọng dân số của các vùng  Tại từng tỉnh, việc triển khai tiêm vaccine sẽ thực hiện theo trình tự nhóm ưu tiên: Những người trên 65 tuổi, và những người có bệnh nền; Nhóm lao động thiết yếu (essential workers), là những nhóm lao động đảm bảo cho sự vận hành cơ sở hạ tầng và dịch vụ thiết yếu; Nhóm siêu lây nhiễm (super spreaders) – nhóm người, dân cư có tiếp xúc xã hội nhiều (một phần có thể do tính chất ngành nghề, độ tuổi), chỉ chiếm 10% tổng số người bị nhiễm nhưng lại có thể gây ra đến 80% tổng số ca nhiễm (8).  Tóm lại:  a. Việt Nam cần có tối thiểu 140 triệu liều vaccine.  b. Trước mắt cần có 89,6 triệu liều để tiêm cho nhóm người trên 65 tuổi, người có bệnh nền, người lao động và những người ở tuyến đầu (chống dịch, bảo đảm chuỗi cung ứng hàng hóa).  c. 50,4 triệu liều tiếp theo sẽ tiêm cho các nhóm từ 18 đến 65 tuổi.  Hiện nay số liệu về cung ứng vaccine nhập khẩu hay được viện trợ từ nước ngoài chưa chuẩn xác. Đó là chưa tính đến khả năng Việt Nam có thể tự sản xuất vaccine Nanocovax trong nước. Chúng tôi dự kiến, nếu các nguồn cung vaccine đến đầy đủ (dự báo sẽ có 120 triệu liều cuối năm 2021) thì chúng ta có thể bảo đảm những người trong các diện 1, 2, 3 và 4 được tiêm từ đầu tháng chín đến cuối năm 2021.  d. Nếu nguồn cung vaccine đạt được ít nhất 140 triệu liều, thì song song có thể bắt đầu tiến hành tiêm cho những đối tượng không nằm trong các diện 1, 2, 3 và 4 (đợt 3). Chúng tôi hy vọng chiến dịch tiêm chủng có thể kết thúc vào dịp Tết 2022 (9).  —-  Về các tác giả: (i) TS Nguyễn Ngọc Anh (DEPOCEN); (ii) GS Trần Nam Bình (UNSW Sydney); (iii) GS Lê Văn Cường (Paris School of Economics)  Chú thích:  (1) Phát triển dựa trên một bài viết đã được đăng ở báo Tia Sáng ngày 9/8/2021 https://tiasang.com.vn/dien-dan/lo-trinh-tiem-vaccine-chong-covid19-cho-muc-tieu-kep-moi-cua-viet-nam-28376/   (2) Chúng tôi đề xuất ưu tiên tiêm cho người cao tuổi và người mắc các bệnh lý nền vì đây là hai nhóm có nguy cơ tăng nặng và tử vong cao nhất. Hiện nay, theo thống kê của nhóm 5F, từ dữ liệu của Bộ Y tế, cứ 2 người từ 75 trở lên nhiễm thì 1 người tử vong; 3 người 65-74 tuổi nhiễm thì 1 tử vong; 10 người 50-64 nhiễm thì 1 tử vong. Với các nhóm thanh niên nhiễm virus thì tỉ lệ tử vong là rất nhỏ, nhóm18-29 chỉ khoảng 0.1% ở nữ và nam 0.2%, nhóm 30-39 chỉ tương ứng là 0.6% và 0.9%.  (3) “Trung bình mỗi năm, nước ta có khoảng 12 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp, gần 3 triệu ca mắc bệnh đái tháo đường, 2 triệu người mắc các bệnh tim mạch và hô hấp mạn tính và gần 126.000 ca mắc mới ung thư, rối loạn tâm thần.” Nguồn: https://dangcongsan.vn/phat-huy-thanh-tuu-y-te-trong-cham-soc-suc-khoe-nhan-dan/thanh-tuu-y-te/benh-khong-lay-nhiem-can-duoc-quan-tam-phong-ngua-dung-muc-540847.html  (4) http://www.benhvienninhbinh.vn/top-10-benh-thuong-gap-o-nguoi-cao-tuoi-va-cach-phong-tranh  (5) http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/vi/tin-chi-tiet-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-ngay-cang-lon-manh-106e7f5d.aspx  (6) https://vnvc.vn/astrazeneca/  (7) Xem tại trang web http://consosukien.vn/quy-mo-dan-so-viet-nam-nhung-phat-hien-chinh.htm  (8) Xem lại chi tiết trong bài viết thứ nhất trên Tia Sáng.  (9) Hiện tại chúng tôi đặt giả thiết tỷ lệ người dưới 18 tuổi ở Việt Nam là 27%. Nếu Việt Nam quyết định chỉ tiêm cho những người trên 18 tuổi, tổng số người được tiêm sẽ là 70 triệu người. Như thế tỷ lệ người được tiêm là 73% dân số. Trước đây, với chủng virus đầu tiên, tỷ lệ này có thể xem là tỷ lệ để đạt miễn dịch cộng đồng. Nhưng gần đây, vào ngày 3/8/2021, GS Fischer, Tổ trưởng Tổ Tư vấn Chiến lược Tiêm vắc xin ở Pháp, đánh giá là với biến chủng Delta, con số có thể là 95% dân số (xem link: https://www.ladepeche.fr/2021/08/02/covid-19-ou-en-est-on-de-limmunite-collective-9710031.php). Trong trường hợp đó, tổng số lượng liều vắc xin cần cho Việt Nam sẽ là 182 triệu liều thay vì 140 triệu liều như chúng tôi đã đưa ra trong bài.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Nguyễn Ngọc Anh, Trần Nam Bình, Lê Văn Cường        
__label__tiasang Chiến tranh hạt nhân cục bộ      Lãnh tụ Fidel Castro của Cuba mới đây đã xuất hiện trước công chúng và cảnh báo nguy cơ chiến tranh hủy diệt tại Trung Đông và Bắc Á nếu Mỹ và các đồng minh tiếp tục gia tăng sự trừng phạt quốc tế lên Iran về vấn đề hạt nhân của nước này.  Tia Sáng xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của hai tác giả Alan Robok và Owen Brian Toon trên Scientific American tháng 1/2010 phác họa nguy cơ môi trường gây nên bởi “mùa đông hạt nhân” (nuclear winter) sau cuộc chiến tranh hạt nhân giả định giữa Ấn Độ và Pakistan.      Người ta thường lo lắng đến một  cuộc chiến tranh hạt nhân toàn cục giữa Mỹ và Nga, song một cuộc chiến hạt nhân cục bộ giữa Ấn Độ và Pakistan cũng có thể  gây nên thảm họa môi trường cho toàn thể loài người.   Hai mươi lăm năm về trước một tập thể các nhà khoa học đã chỉ ra rằng cuộc chiến hạt nhân giữa Mỹ và Liên bang Xô Viết (cũ) có thể tạo nên một “mùa đông hạt nhân” (nuclear winter). Khói từ những đám cháy gây nên bởi các quả bom hạt nhân sẽ bọc lấy hành tinh và hấp thụ mọi tia sáng Mặt trời và làm cho Trái đất trở nên lạnh giá, tối mịt và khô kiệt giết hết mọi thực vật và hủy diệt mọi nguồn cung cấp thực phẩm cho loài người. Nhiệt độ trên Trái đất sẽ ngang bằng nhiệt độ mùa đông ngay giữa mùa hè. Nhà thiên văn Carl Sagan đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo để hai cường quốc thấy rõ mối nguy cơ hạt nhân không những đối với bản thân hai cường quốc đó mà còn đối với toàn thể nhân loại. Mọi quốc gia trên Trái đất đều lên tiếng đòi hủy bỏ vũ khí hạt nhân. Mùa đông hạt nhân là hệ quả của chiến tranh hạt nhân, có khả năng tiêu diệt sự sống trên hành tinh chúng ta.   Tại sao chúng ta lại bàn đến cuộc chiến hạt nhân bây giờ khi mà chiến tranh lạnh đã kết thúc? Bởi vì nhiều quốc gia khác nhỏ hay lớn có thể gây nên những cuộc chiến cục bộ trong vùng và  những cuộc chiến như vậy vẫn dẫn đến những thảm họa toàn cầu. Giả định trong cuộc xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan nếu hai nước sử dụng khoảng 100 quả bom hạt nhân (chừng 0,4% tổng đầu đạn hạt nhân thế giới 25.000) thả xuống các thành phố và các cơ sở  công nghiệp, cũng đủ làm phát sinh một số lượng khói làm tê liệt nông nghiệp toàn cầu. Một cuộc chiến cục bộ như thế có thể giết hại dân số của nhiều nước .       Quang cảnh hoang tàn của nông nghiệp dẫn đến nạn đói cho nhân loại.  Chiến tranh cục bộ trong vùng có thể đe dọa toàn cầu   Bằng cách sử dụng công cụ máy tính hiện đại và các mô hình khí hậu hai tác giả của bài báo đã khẳng định lại sự đúng đắn của hiện tượng mùa đông hạt nhân đưa ra vào năm 1980 và ngoài ra còn tính được rằng mùa đông hạt nhân sẽ kéo dài lâu hơn người ta tưởng.   Ấn Độ và Pakistan có hơn 100 vũ khí hạt nhân và đây là vùng đáng lo ngại xảy ra một cuộc chiến  hạt nhân. Ngoài ra các nước khác ngoài Mỹ và Nga (hai nước này có hàng nghìn vũ khí hạt nhân) cũng có vũ khí hạt nhân: Pháp, Trung Quốc, Anh có hàng trăm vũ khí hạt nhân. Israel có hơn 80, Bắc Triều Tiên khoảng 10, Iran có thể đang chuẩn bị chế tạo vũ khí hạt nhân .       Đầu đạn hạt nhân mà các nước sở hữu.  Năm 2004 một trong hai tác giả Toon và sau đó là Rich Turco, Đại học California đã đánh giá hậu quả môi trường toàn cầu gây ra bởi một cuộc chiến giả định giữa Ấn Độ và Pakistan. David Albright, Viện Khoa học và An toàn quốc tế và Robert S.Norris Ủy ban bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã ước tính Ấn Độ có 50 đến 60 vũ khí hạt nhân (và đủ plutonium cho 100 vũ khí) còn Pakistan có chừng 60. Hai quốc gia này vẫn tiếp tục gia tăng số lượng vũ khí hạt nhân của mình. Các cuộc thử vũ khí của hai nước này chứng tỏ rằng sức công phá mỗi vũ khí của họ tương đương 15.000 tấn TNT (bằng quả bom Mỹ thả xuống Hiroshima). Toon và Turco cùng với Charles Bardeen, Trung tâm quốc gia nghiên cứu khí quyển đã tạo mô hình một cuộc chiến trong đó mỗi bên Ấn Độ và Pakistan thả 50 quả bom trên lãnh thổ đối phương. Nhiều người cho rằng trong một cuộc chiến như vậy số lượng bom thả xuống không nhiều như vậy, song trong bối cảnh hỗn độn đầy chết chóc và thông tin tê liệt thì các nhà lãnh đạo khó lòng có đủ bình tĩnh để hạn chế quy mô cuộc chiến trong một phạm vi nhỏ hơn. Peter R.Lavoy, Đại học Hàng hải phân tích diễn biến cuộc chiến và đi đến kết luận Pakistan là nước nhỏ hơn sẽ khôn ngoan sử dụng hết kho tàng vũ khí hạt nhân mình có trước khi bị Ấn Độ tràn chiếm các cơ sở quân sự bằng lực lượng không hạt nhân.   Lẽ dĩ nhiên chúng ta mong rằng không điều gì như thế sẽ xảy ra song đứng về quan điểm các nhà hoạch định chính trị thì họ cần phải biết điều gì có khả năng xảy ra. Toon và Turco ước tính rằng 20 triệu người sẽ bị hủy diệt bởi sức nổ, lửa, nhiệt và phóng xạ – quả là một sự hủy diệt khủng khiếp. Họ đã tính ra 50 quả bom ném xuống Pakistan sẽ gây nên 3 teragam khói còn 50 quả bom ném xuống Ấn Độ sẽ gây nên 4 teragam khói (1 teragam = 1 triệu tấn). Số khói này sẽ tích tụ ở tầng đối lưu (troposphere -lớp đáy của khí quyển) và lan lên phía dưới của bình lưu (stratosphere – lớp tiếp theo của khí quyển ).   Robock (một tác giả của bài báo này) đã cùng Luke Oman (NASA), Georgiy L.Stenchikov (Đại học Rutghers) đã xây dựng một mô hình khí hậu sau các vụ nổ bom hạt nhân. Theo mô hình, khói sẽ bao trùm tầng đối lưu trùm lên  Pakistan và Ấn Độ, sau đó gió sẽ thổi khói lan tỏa toàn khí quyển của hành tinh. Khói đen và muội che lấp Mặt trời và bốc dần lên tầng bình lưu. Mưa sẽ không hình thành nên không làm sạch được không khí. Những hạt muội (đường kính chừng 0,1 micron) rơi dần xuống mặt đất một cách chậm chạp. Khói này có thể tồn tại đến một thập kỷ .                           Các đám cháy do bom ném xuống làm phát sinh khói và đẩy khói lên   tầng đối lưu trong vòng 2 ngày. Mặt trời hun nóng các hạt khói và đẩy   chúng lên tầng bình lưu (stratosphere)  trong vòng 49 ngày.   Hiện tượng lắng đọng (precipitation) không xảy ra được nên các hạt phải để   khoảng 10 năm mới rơi xuống mặt đất. Khoảng 100 quả bom hạt nhân   ném xuống Ấn Độ và Pakistan làm phát sinh ít nhất 5 teragam khói.   Sau 49 ngày các hạt sẽ vây bọc quả đất ngăn chặn hết ánh sáng Mặt trời.     Vì khói mà ánh sáng Mặt trời sẽ yếu đi, hành tinh lạnh dần đến nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của 1000 năm qua (khoảng 1,25oCelsius). Độ lắng đọng các hạt xuống mặt đất giảm đi 10 %, chu trình thủy học (hydrologic) bị phá vỡ. Hạn hán phát sinh tập trung vào các miền vĩ tuyến thấp.      Các hệ quả do nhiệt độ giảm được suy từ sự phân tích các số liệu bùng nổ núi lửa (khói bụi từ các vụ bùng nổ núi lửa gây hệ quả tương tự).   Vụ bùng nổ núi lửa Tambora năm 1815 (lớn nhất trong 500 năm qua) đã che Mặt trời và gây nên giảm nhiệt độ khoảng 0,5o C trong vòng một năm. Năm 1816 được gọi là “năm không có mùa hè”. Băng giá phát sinh nhiều nơi. Nông nghiệp tê liệt.   Ngoài ra vì khói lại làm nóng tầng bình lưu nên lớp ozon bị phá hủy. Các kết quả tính toán của Michael J.Mills, Đại học Colorado đã chỉ ra rằng nhiệt độ trên mặt đất có thể giảm đi một lượng nhỏ nhưng tầng bình lưu có thể bị nung nóng lên 50o C bởi vì các hạt muội hấp thụ ánh sáng Mặt trời rất mạnh. Ngoài ra oxyde nitrogen bay lên sẽ phá hủy ozon (NO+O3 = NO2+O2). Nhiệt độ cao và oxyde nitrogen sẽ làm giảm ozon đến mức nguy hiểm. Tia cực tím xuống mặt đất tăng mạnh sát hại động thực vật. Tất cả những điều này sẽ làm cho nông nghiệp càng rơi vào tình trạng nguy kịch dẫn đến nạn đói cho con người. Hiện nay dự trữ lương thực trên thế giới chỉ đủ cung cấp cho nhân loại khoảng hai tháng. Khoảng một tỷ người hiện nay đang sống nhờ lượng dự trữ sẽ chết đói vì chiến tranh giữa Pakistan và Ấn Độ.    Nhiều sự cố lịch sử giúp kiểm tra kịch bản mùa đông hạt nhân  Lẽ dĩ nhiên những hệ quả đưa ra không thể kiểm tra được bằng thực nghiệm. Song chúng ta có thể suy ra các hệ quả đó từ những sự cố đã xảy ra trong lịch sử.   San Francisco bị đốt cháy năm 1906 vì động đất, trong chiến tranh thế giới thứ II nhiều thành phố như Dresden, Hamburg, Tokyo, Hiroshima và Nagasaki cũng bị đốt cháy và khói muội đã bốc lên giống như trong kịch bản các tác giả đưa ra.   Những vụ bùng nổ núi lửa (Tambora năm 1815, Krakatau năm 1883, Pinatubo năm 1991) cũng dẫn đến những kịch bản tương tự. Nhiệt độ giảm đi theo độ dày của đám mây các hạt. Sau vụ Pinatubo nhiệt độ giảm 0,25oC giống như trong mô hình lý thuyết .        Các sự cố lịch sử như núi lửa có thể giúp kiểm tra mô phỏng các   hệ quả của chiến tranh hạt nhân. Năm 1991 núi lửa Pinatubo đã bắn   tro bụi lên không khí (hình trên), làm thành những lớp gồm các hạt   bọc quanh hành tinh (hình dưới).    Một tiểu hành tinh đã rơi xuống bán đảo Yucatan (Yucatan Peninsula), Mexico khoảng 65 triệu năm về trước gây nên sự tuyệt chủng của các khủng long. Bụi và khói từ các đám cháy đã tiêu diệt loài khủng long .      Loài khủng long đã bị tiêu diệt bởi một tiểu hành tinh rơi   va chạm mặt đất gây nên một mùa đông tựa mùa đông hạt nhân.    Các sự cố trên đã cho chúng ta thấy rằng một lượng sol khí (aerosol) lớn có thể làm thay đổi khí hậu một cách tai biến và giết chết các loài.   Các tác giả đã sử dụng các sự kiện trên để làm cơ sở minh chứng cho mô hình lý thuyết của họ.     Loại trừ vũ khí hạt nhân là đường lối chính trị đúng đắn   Có thể nhiều người chưa hình dung hết thảm họa “mùa đông hạt nhân”. Có người cho rằng nếu có chiến tranh hạt nhân thì sẽ có “mùa thu hạt nhân” chứ không phải mùa đông hạt nhân. Các tính toán và các mô hình những năm 1980 chưa tính được hết các hệ quả của khói phát sinh và chưa tính được các đại dương phải để một thời gian dài như thế nào để ấm trở lại. Các tính toán hiện đại dẫn đến thật sự một “mùa đông hạt nhân” mang tính hủy diệt. Số nước sở hữu hạt nhân đang tăng lên. Bắc Triều Tiên hăm dọa sử dụng hạt nhân nếu các tàu của họ bị ngăn cấm hoạt động và việc chuyên chở vật liệu hạt nhân của họ bị thanh sát. Hiện nay thì Bắc Triều Tiên chưa có đủ một kho tàng hạt nhân song trong tương lai gần kho tàng đó sẽ đủ để gây nên một cuộc chiến lớn. Một số chính trị gia cực đoan Ấn Độ biện minh cho một cuộc tấn công hạt nhân để trả đũa các hoạt động khủng bố trên đất Ấn Độ. Vì lực lượng quân sự không hạt nhân của Ấn Độ mạnh hơn Pakistan nhiều cho nên dễ hiểu là Pakistan sẵn sàng sử dụng hạt nhân để đối phó.   Iran đã đe dọa thủ tiêu Israel là một nước đã có vũ khí hạt nhân, còn Israel thì thề quyết không để Iran trở thành một nước sở hữu vũ khí hạt nhân. Tại những điểm nóng đó cuộc chiến hạt nhân có khả năng bùng nổ đột nhiên không lường trước được.   Một con đường duy nhất để tránh chiến tranh hạt nhân là loại trừ vũ khí hạt nhân. Sự giảm vũ khí hạt nhân của Mỹ và Nga có thể là một ví dụ cho quá trình này.   Theo hiệp ước SORT (Strategic Offensive Reductions Treaty-Hiệp ước giảm vũ khí tấn công chiến lược), Mỹ và Nga cam kết giảm đầu đạn hạt nhân chiến lược xuống 1700 – 2200 vào năm 2012. Tháng 7/ 2009 Tổng thống Barack Obama và Tổng thống Dmitry Medvedev đã thỏa thuận giảm số lượng đó xuống còn 1500 – 1675 vào năm 2016. Song số lượng đó cũng đủ tiêu diệt nền nông nghiệp trên hành tinh chúng ta. Nếu số lượng đó bị ném vào các vùng thành thị thì hàng trăm triệu người sẽ bị giết chết và một số lượng 180 teragam sẽ bị đẩy vào tầng bình lưu. Nhiệt độ sẽ hạ thấp dưới ngưỡng đông lạnh ngay trong mùa hè trong nhiều năm.        Hai Tổng thống Obama và Medvedev ký thỏa thuận giảm vũ khí hạt nhân  Sự lan truyền vũ khí hạt nhân, tình trạng chính trị không ổn định, dân số thị thành tăng mạnh là những nguy cơ của xã hội loài người kể từ ngày con người xuất hiện.    Tổng thống Obama đã phát biểu ngày 09/02/2009: Rất quan trọng là Mỹ và Nga phải nối lại các cuộc nói chuyện về giảm vũ khí hạt nhân một cách có hiệu quả để các nước khác sẽ cùng nhau ký kết hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Mô hình “mùa đông hạt nhân” của các tác giả bài báo này hy vọng góp phần vào quá trình loại trừ vũ khí hạt nhân trên hành tinh chúng ta.       Tài liệu tham khảo    [1] Alan Robok & Owen Brian Toon, Local nuclear War,  Scientific American tháng 1/2010    [2] A.Barrie Pittock, Thomas P.Ackerman, Paul J.Crutzen, Michael C.MacCracken, Charles S.Shapiro, Richard P.Turco, Environmental Consequences of Nuclear War   [3] Paul P.Craig, John A.Jungerman, Nuclear Arms Race      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung: Công nghệ là chìa khóa      Công nghệ đang là trọng tâm chính trong cuộc chiến thương mại Mỹ Trung. Và Trung Quốc, vốn còn phụ thuộc nặng nề vào công nghệ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ, dần bộc lộ nhiều yếu điểm khó bù đắp trong một sớm một chiều.      Huawei bị cấm sử dụng các sản phẩm và dịch vụ từ các công ty của Mỹ như Google. Nguồn: trak.in  Cách ly Huawei   Sau nhiều điều tiếng về gián điệp an ninh và thương mại, ngày 15/5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức ký sắc lệnh cấm các công ty Mỹ sử dụng thiết bị viễn thông có nguồn gốc từ doanh nghiệp nước ngoài có “nguy cơ rủi ro đối với an ninh quốc gia”. Lệnh cấm không có tên, nhưng mục tiêu của nó là nhắm đến Huawei, tập đoàn công nghệ lớn nhất Trung Quốc, hiện đang dẫn đầu thế giới về cung cấp viễn thông và thứ 2 về sản xuất điện thoại thông minh.  Lệnh cấm này không có quá nhiều ý nghĩa với Huawei vì từ lâu, hãng này đã không được chào đón tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bắt đầu, những gì diễn ra sau đó mới thực sự là cơn địa chấn –  cùng ngày, Bộ Thương mại Mỹ thông báo đã thêm Huawei vào danh sách các công ty mà các công ty của Mỹ không được làm ăn cùng nếu không có sự cho phép chính thức. Đây là lần thứ hai liên tiếp trong 2 năm qua, một công ty của Trung Quốc chịu lệnh trừng phạt này. Trước đó, vào năm 2018, ZTE – một công ty công nghệ viễn thông khác của Trung Quốc đã bị cấm nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ từ Google, Qualcomm và Dobly..  Tình huống của Huawei được đánh giá là nghiêm trọng hơn ZTE. “Tội lỗi” của ZTE là đã vi phạm lệnh cấm vận của Mỹ đối với Iran, trong khi Huawei bị dán mác “nguy hiểm cho an ninh quốc gia”. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung ngày càng leo thang, lệnh cấm không đơn giản là ngăn chặn Huawei mà còn mang hàm ý biến hãng công nghệ này thành “con tin” trong cuộc chiến. Chưa rõ Mỹ muốn duy trì lệnh cấm này trong bao lâu, nhưng chỉ với lệnh cấm trong 90 ngày, ZTE đã “suýt” không tiếp tục tồn tại.  Ngay sau lệnh cấm, nhiều công ty công nghệ của Mỹ đã ra tuyên bố cắt đứt mối quan hệ làm ăn với Huawei. Google thông báo sẽ thu hồi giấy phép Android trên các điện thoại của Huawei và chỉ cho phép hãng sử dụng Dự án mã nguồn mở Android (AOSP). Một loạt các nhà sản xuất chip của Mỹ, bao gồm Intel, Qualcomm và Micron, cũng ngừng bán hàng cho công ty Trung Quốc này.  Huawei đáp trả màn trừng phạt bằng tuyên bố hãng đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó từ lâu. Các linh kiện quan trọng cần nhập khẩu đã được dự trữ tồn kho cho tối thiểu 90 ngày. Mất giấy phép Android mặc dù gây ra một số khó khăn nhưng không phải là vấn đề lớn khi điện thoại Huawei ở thị trường nội địa vốn chỉ sử dụng AOSP. Hãng này còn bắt tay vào phát triển hệ điều hành Hong Meng OS cho riêng mình và dự kiến sắp hoàn thiện. Huawei đã tự thiết kế bộ vi xử lý nên việc mất quan hệ với Qualcomm cũng không đáng lo ngại.  Mặc dù vậy, nếu xem xét kỹ lượng mức độ phụ thuộc vào các công nghệ Mỹ trong các sản phẩm của Huawei, lời tuyên bố này có vẻ bớt sức thuyết phục – năm ngoái, một danh sách các nhà cung cấp “lõi” toàn cầu của Huawei đã bị phát tán, trong đó có tên 33 công ty của Mỹ, chiếm 60% toàn bộ danh sách.  Lấy ví dụ là điện thoại tân tiến nhất của hãng – P30 Pro, danh sách các thiết bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm bao gồm: Kính Gorilla bao phủ mặt trước và sau của hãng Corning, chip nhớ từ Micron, modun kết nối 3G và LTE của Skyword và Qorvo, cùng với phần mềm Android của Google. Các nhà cung cấp này đều có trụ sở tại Mỹ và sẽ buộc phải tuân thủ lệnh cấm. Trong khi đó, những lựa chọn thay thế là không nhiều. Chẳng hạn, với kính Corning, lựa chọn khả dĩ tiếp theo là AGC Asahi Glass, công ty cung cấp kính Dragontrail được sử dụng trên sản phẩm Pixel 3A của Google. Tuy nhiên Asahi là công ty thuộc Nhật Bản, đồng minh thân cận của Mỹ, nên nhiều khả năng nó cũng sẽ tuân thủ lệnh cấm.    Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Công ty sản xuất thiết bị bán dẫn ở Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc, vào ngày 26/4/2018. Trong chuyến thăm, ông kêu gọi Trung Quốc phát triển các công nghệ lõi của riêng mình. Ảnh: Xinhua.  Chưa rõ là Huawei đã có các phương án dự phòng như thế nào, nhưng hãng này tiếp tục “xây xẩm mặt mày” khi hãng công nghệ ARM tuyên bố họ đã dừng cấp phép sử dụng các thiết kế chip của họ cho Huawei kể từ ngày 22/5. Đây thực sự là cú shock lớn đối với Huawei bởi một phần lý do mà Huawei có thể “mạnh miệng” trước lệnh cấm của Mỹ là hãng này đã có thể tự thiết kế chip cho riêng mình mà không còn phụ thuộc vào Qualcomm, nhờ sử dụng các mẫu thiết kế chip từ ARM. Công ty con của Huawei, HiSilicon đã bắt đầu sử dụng các thiết kế của ARM để chế tạo chip ít nhất là từ năm 2012. Khi chia tay với ARM, các sản phẩm của Huawei sẽ mắc kẹt ở thiết kế ARM mới nhất tính đến 22/5. Cách duy nhất là thiết kế lại chip của mình từ đầu. Thế nhưng đây chắc là một quá trình kéo dài nhiều năm nên câu hỏi là khách hàng có sẵn sàng chờ đợi? Chưa kể, mã nguồn mở Android mà Huawei sử dụng cũng được thiết kế cho các chip dựa vào ARM và các bộ vi xử lý x86 của Intel, AMD,… – các công ty đã “nghỉ chơi” với Huawei.  Kể cả trong trường hợp Huawei có thể vượt qua khó khăn khi thiếu ARM, Mỹ có thể gia tăng áp lực để TSMC – Công ty gia công chip lớn nhất thế giới, có trụ sở ở Đài Loan để huỷ hợp đồng với Huawei. Hiện nay, TSMC tuyên bố vẫn tiếp tục cung cấp sản phẩm cho Huawei, nhưng sẽ kiểm tra lại hệ thống kiểm soát xuất khẩu để đảm bảo tuân thủ luật pháp Mỹ. Lệnh cấm của Bộ Thương mại không chỉ có hiệu lực với các công ty Mỹ, mà còn cả với các công ty quốc tế khác, khi “yếu tố Mỹ” vượt quá 25% giá trị sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty. Nếu TSMC tuân thủ lệnh cấm, đây mới thực sự là đòn chí mạng, bởi các nhà sản xuất chip nội địa hoàn toàn không thể thực hiện được các thiết kế tinh xảo của HiSilicon. Lựa chọn thay thế duy nhất là Samsung, nhưng công ty Hàn Quốc này nhiều khả năng sẽ theo bước Nhật Bản, khi Hàn Quốc đang cần Mỹ để cải thiện tình huống với Triều Tiên.  Người khổng lồ đứng trên đôi chân bằng cát  Đòn đánh của Mỹ đối với Trung Quốc thông qua lệnh cấm dành cho Huawei là một lời nhắc nhở tuyệt vời về sức mạnh mềm của Mỹ, và đồng thời nó cũng chỉ ra lỗ hổng “chết người” của Trung Quốc, vẫn đang trong giấc mộng về vị trí cường quốc công nghệ số một thế giới: Trung Quốc vẫn chưa thể “tự sản tự cung” những công nghệ trọng yếu.   Ngay bây giờ, quốc gia này vẫn đang phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ từ nước ngoài – chỉ 50% chi tiết trong máy bay mà Trung Quốc sản xuất có thể được thực hiện bởi các nhà cung cấp nội địa, và quá trình tự động hoá ngày càng phổ biến tại quốc gia này không thể thiếu robot công nghiệp từ Đức và Nhật Bản. Các nhà sản xuất chip của Trung Quốc có thể dễ dàng tạo ra chip kích hoạt cảm biến vân tay ở Iphone, nhưng những hệ thống trên một chip (systems-on-a-chip) kích hoạt kết nối 4G trên các điện thoại đời mới nhất – loại mà Qualcomm đang sản xuất, thì vẫn ngoài khả năng của hầu hết các hãng.      Cuộc chiến thương mại với Mỹ có thể mang tới cho Trung Quốc nhiều tổn thất, nhưng nó sẽ giúp quốc gia này nhận ra nội lực thực sự không phải đến từ quy mô GDP hay những thứ tương tự, mà là một nền khoa học công nghệ tự chủ và vững chắc.      Trong trường hợp mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là phát triển công nghệ của chính mình để giảm dần sự phụ thuộc vào các đối thủ địa chính trị như Mỹ thì kỹ thuật thiết kế chip mới chỉ là bước đầu tiên. Họ còn phải đi xa hơn – xây dựng ngành công nghiệp sản xuất chip máy tính, hay ngành công nghiệp bán dẫn, xứng tầm quốc tế.  Tờ New York Times từng gọi sự thịnh vượng của Trung Quốc là “được xây dựng trên cát”. Không chỉ Trung Quốc, sự thịnh vượng của thế giới cũng được xây dựng từ trên cát, theo đúng nghĩa đen. Bởi cát là nguyên liệu thô để sản xuất silicon – loại vật liệu cơ bản cho hầu hết bán dẫn hiện nay. Kể từ khi được Jack Kilby của Texas Instruments phát minh vào năm 1958, bán dẫn ngày càng phổ biến khắp thế giới và trở thành bộ phận không thể thiếu trong tất cả các sản phẩm công nghệ. Sự đổi mới sáng tạo trong bán dẫn tạo điều kiện cho sáng tạo trong toàn bộ ngành công nghệ.  Bán dẫn là mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn nhất của Trung Quốc – theo Bernstein Research, năm 2016, Trung Quốc đã mua khoảng 160 tỷ USD bán dẫn, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào. Trong khi đó kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này mới chỉ khoảng 20 tỷ USD. Semiconductor Manufacturing International Corporation (SMIC), tập đoàn sản xuất bán dẫn lớn nhất Trung Quốc hiện mới chiếm 6% doanh thu toàn ngành công nghiệp bán dẫn năm 2018. Để so sánh, thị phần của TSMC là 56%.  Chủ tịch Tập Cận Bình đã xác định xây dựng nền công nghiệp bán dẫn nội địa là ưu tiên chủ chốt, đặc biệt trong Kế hoạch Made in China 2025. Thế nhưng ngành công nghiệp này thực sự tốn kém, cả tiền bạc và thời gian, đồng thời nhạy cảm về chính trị. Jim Fontanelli,  nhà  phân tích cao cấp của Arete Research (London) nhận xét: “Điểm bắt đầu là một ngân sách R&D rất rất lớn” – TSMC dành trung bình khoảng 2,9 tỷ USD mỗi năm, tương đương 8 – 9% doanh thu cho công việc R&D, trong khi đó, SMIC, dù dành đến 16% doanh thu, chi phí R&D mới chỉ đạt khoảng 550 triệu USD.   Kể cả khi sẵn sàng ném nhiều tiền hơn, mọi thứ cũng không hề đơn giản. Quá trình R&D cần thiết để tạo được tiến bộ trong thiết kế chip có thể kéo dài hàng thập kỷ và không thể “đi tắt đón đầu”. Các công ty lớn tại Mỹ có lúc phải dành một năm chỉ để thiết kế một con chip. Trung Quốc có thể có 5.000 kỹ sư để tháo dỡ và nhìn vào cấu trúc chip, nhưng ngay lúc đó, các công ty của Mỹ đã có thể ra mắt thêm 2 thế hệ chip mới. Các nhà phân tích ngành bán dẫn đánh giá là các nhà sản xuất ở Trung Quốc chậm hơn một thập kỷ so với đối thủ quốc tế của họ. Chip tiên tiến nhất của SMIC – một chip 14 nanomete được thử nghiệm sản xuất thương mại trong năm nay, nhưng Samsung đã đạt tiêu chuẩn này từ năm 2014.  Chỉ trong vài năm qua, Trung Quốc đã cố gắng bù đắp cho sự tụt hậu của mình bằng nhiều cách. Hàng chục tỷ USD đã được đổ vào các công ty trong nước để phát triển công nghệ. Nhiều nhà đầu tư, công ty Trung Quốc thành lập liên doanh với Intel, Qualcom, AMD hay xa hơn là nắm giữ cổ phần kiểm soát của Softbank – quỹ đầu tư vào ARM…. Tập đoàn Tsinghua Unigroup từng đề nghị chi 23 tỷ USD để mua hãng sản xuất chip nhớ Micron Technology của Mỹ vào năm 2015 nhưng đã bị từ chối. Thậm chí, các công ty của Trung Quốc còn chấp nhận thua lỗ để trở thành nhà thầu cho các công ty sản xuất chip nước ngoài nhằm tiếp cận hơn với công nghệ. Dù vậy, không có chiến thuật nào đặc biệt thành công. Các nhà máy sản xuất chip như Intel, Qualcomm bao gồm nhiều cỗ máy phức tạp, chuyên biệt được thiết kế để khắc và đúc ở mức độ vi mô. Những kỹ thuật phức tạp như vậy không phải là thứ có thể đến và sao chép một sớm một chiều được. Chưa kể đến việc các công ty công nghệ và chính phủ nhiều quốc gia cũng dè chừng Trung Quốc do lo ngại bị ăn cắp công nghệ.   ***  Dường như còn chặng đường rất xa để Trung Quốc thực sự trở thành thế lực công nghệ dẫn đầu thế giới. Không chỉ là do xuất phát điểm muộn hơn, nguyên nhân trọng yếu hơn là Trung Quốc mới chi đang ứng dụng công nghệ thay vì nghiên cứu từ đầu. Nhiều câu chuyện thành công của các công ty công nghệ tại quốc gia này trong những năm qua đều đi theo công thức kết hợp công nghệ phương Tây với một mô hình kinh doanh sáng tạo để tạo ra sự bùng nổ. Zhang Jun, học giả kinh tế ở Đại học Vũ Hán đã viết trên trang Project Syndicate: “Có rất nhiều khác biệt giữa ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào mô hình kinh doanh định hướng khách hàng và việc trở thành dẫn đầu thế giới trong phát triển và sản xuất công nghệ cốt lõi.”   Cuộc chiến thương mại với Mỹ có thể mang tới cho Trung Quốc nhiều tổn thất, nhưng nó sẽ giúp quốc gia này nhận ra, nội lực thực sự không phải đến từ quy mô GDP hay những thứ tương tự, mà là một nền khoa học công nghệ tự chủ và vững chắc.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn:  https://www.theverge.com/2019/5/20/18632265/seven-questions-we-still-have-about-huaweis-us-blacklisting  https://www.wired.com/story/huawei-loses-arm-chip-design/  https://www.engadget.com/2019/01/30/huawei-us-government-fraud-theft/  https://money.cnn.com/2018/06/08/technology/china-computer-chips-foreign-reliance/index.html  https://www.scmp.com/tech/china-tech/article/2153618/china-reliant-us-core-technology-some-time-so-world  https://www.nytimes.com/2019/05/23/business/dealbook/huawei-china-technology.html  https://qz.com/1335801/us-china-tech-why-the-semiconductor-is-suddenly-at-the-heart-of-us-china-tensions/  https://qz.com/1335801/us-china-tech-why-the-semiconductor-is-suddenly-at-the-heart-of-us-china-tensions/  https://www.economist.com/business/2019/05/25/huawei-has-been-cut-off-from-american-technology      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chín người mười ý” và hình thức tổ chức xã hội      Không biết câu “chín người mười ý” mà người Việt hay nói hằng ngày có gốc gác từ đâu, có lẽ là một sự đúc kết kinh nghiệm sống của ông cha ta, nó thật hay và thật đúng trong đời sống không những với xã hội Việt Nam mà với tất cả mọi xã hội. Nhà tôi có ba cháu nhỏ, cứ mỗi lần các cháu được phép xem một cuốn phim nào đó, là lại nảy sinh cãi vã vì mỗi cháu mỗi ý, lắm khi các cháu tự thỏa thuận với nhau không được, buộc chúng tôi phải dàn xếp. Chỉ có ba đứa nhỏ còn vậy, huống hồ là cả một xã hội?      Khỏi phải lý thuyết gì cao xa cũng có thể khẳng định, chuyện “chín người mười ý” là bản chất của xã hội con người, bất kể là ở đâu, thuộc về nền văn hóa nào. Nếu có xã hội nào mà luôn luôn muôn người một ý, có lẽ đó không còn là xã hội con người bình thường nữa, đó là một xã hội robot, nơi con người đã bị biến thành công cụ, bị điều khiển và chắc chắn xã hội đó sẽ tẻ nhạt và chậm phát triển.  Chiến tranh và độc tài trong một xã hội  Chuyện “chín người mười ý” tưởng chừng đơn giản, ấy vậy mà trên thế giới đã tốn bao nhiêu xương máu vì chuyện này, bởi có những cá nhân, hay nhóm người không hiểu hay cố tình không hiểu. Xã hội được kết cấu bởi các cá nhân và các nhóm người khác nhau, trong đó nhóm nào cũng có cái lý của mình, nhờ cái lý đó mà các thành viên quy tụ chia sẻ với nhau. Khi có nhiều thành phần khác nhau như thế, chắc chắn sẽ có sự xung đột giữa các thành viên trong nhóm hoặc giữa các nhóm với nhau. Những chuyện này xảy ra cũng là điều tự nhiên như hơi thở, là bản chất của xã hội con người, cũng giống như chuyện “chín người mười ý” đã nói. Nội chiến xảy ra là do các nhóm thương lượng, thỏa thuận với nhau không được bằng lời, bằng lý luận dẫn đến sử dụng vũ lực, dùng đến vũ khí.   Có những cá nhân, hay nhóm người mạnh trong xã hội đã xưng hùng xưng bá, khi đã có quyền lực trong tay, thì tìm cách làm hợp lý hóa và hợp pháp hóa tư tưởng, các giá trị riêng của mình, áp đặt lên mọi người như một thứ chân lý phổ quát duy nhất. Dĩ nhiên là, chân lý đó phải có lợi cho trật tự xã hội mà trong đó họ ngồi ở hàng đầu để thống trị người khác, đó là lý của kẻ mạnh trong các xã hội độc tài.  Như vậy có thể nói, tình trạng chiến tranh, độc tài xảy ra trong xã hội con người, là do con người không tôn trọng nhau, không biết dùng lời lẽ trí tuệ để thương thuyết với nhau, để điều tiết các xung đột bất đồng trong xã hội. Hay nói cách khác, các xã hội đó chưa có dân chủ, hay chưa đạt đến xã hội dân chủ thực sự.    Dân chủ như một giải pháp  Các xã hội Tây phương sau một thời gian đánh đấm nhau, cuối cùng cũng tìm ra được một giải pháp, một hình thức tổ chức xã hội hợp lý mà cho đến nay, loài người chưa tìm ra một hình thức nào mới hơn, hợp lý hơn. Đó chính là xã hội dân chủ. Trước tiên, họ nhất trí với nhau trên nguyên tắc công nhận chuyện “chín người mười ý” là bản chất của xã hội. Họ luật pháp hóa “chuyện chín người mười ý” thành một nguyên tắc ứng xử, và cũng luật pháp hóa những nguyên tắc giải quyết bất đồng, xung đột trong xã hội; họ giáo dục công dân “tôn trọng sự khác biệt”, tôn trọng tự do cá nhân của người khác, biết cách thương lượng, giải quyết các xung đột, xem đó là những giá trị, những chuẩn mực, những kỹ năng của đời sống văn minh. Mọi ý kiến, ý tưởng, lập trường, khuynh hướng của các cá nhân, các nhóm trong xã hội đều được tôn trọng, được tự do tồn tại và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Ai muốn theo ý nào, lập trường nào là quyền tự do của mỗi người. Muốn làm cho mình mạnh lên thì tìm đồng chí, lập ra hội, ra nhóm, ra đảng để vận động, thuyết phục người khác. Về chính trị, nhóm nào vận động được nhiều người trong xã hội đi theo, chiếm đa số thì nhóm đó cầm quyền, hoặc liên minh với các nhóm khác cầm quyền, còn những nhóm khác tiếp tục đóng vai trò phản biện, đối trọng với nhóm cầm quyền để làm cho xã hội hài hòa… Và để bảo đảm trật tự của một xã hội “chín người mười ý”, người ta phân biệt rõ giữa công và tư. Họ cho rằng, anh theo nhóm nào, đảng nào, tín ngưỡng nào thì cứ việc, đó là quyền của anh, là chuyện riêng tư của anh (lĩnh vực tư), chứ không phải chuyện công (lĩnh vực công), chuyện chung của mọi thành phần trong xã hội. Các thiết chế như Nhà nước, quân đội, cảnh sát, tòa án, giáo dục phải là thuộc lĩnh vực công, nhằm đảm bảo trật tự xã hội, bảo vệ và thi hành luật pháp, bảo vệ cho quyền lợi của mọi người, của các nhóm khác nhau.   Có thể nói, mô hình xã hội dân chủ là một giải pháp hợp lý mà con người tìm ra, biến “chuyện chín người mười ý”, tưởng chừng như là xấu, là nguyên nhân của đánh đấm nhau một thời thành sức mạnh, kích thích và thúc đẩy sự tiến bộ về mọi mặt, từ khoa học, kỹ thuật, giáo dục đến kinh tế thông qua cơ chế cạnh tranh. Thực tế trên thế giới cho thấy, đất nước nào theo mô hình dân chủ đều không nhiều thì ít cũng phát triển cả, không kể là ở đâu, văn hóa nào. Vì vậy, theo tôi, muốn Đất nước phát triển, khỏe mạnh về văn hóa, kinh tế, giáo dục, khoa học, thì không có con đường nào khác là phải chấp nhận xã hội như bản chất của nó, đó là “chín người mười ý”, và tổ chức quản lý xã hội trên sự công nhận này.          Giáo dục   Về giáo dục, các trường tư thì không nói, nhưng các trường công phải thuộc lĩnh vực công, nhằm đào tạo ra những người công dân trung lập, trang bị cho trẻ nhỏ ý thức về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân tương lai nhằm chuẩn bị cho các em thái độ chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt và có khả năng, có tinh thần tham gia tích cực vào xã hội với bản chất là “chín người mười ý”. Không có một nhóm nào có quyền lấy nhà trường làm phương tiện riêng cho mình. Ở Pháp, người ta cấm các khẩu hiệu tuyên truyền mang tính chính trị trong nhà trường. Trường học là thiết chế công, dành cho con em của mọi thành phần, của mọi nhóm, là nơi gặp gỡ của muôn người muôn ý, nên không có cá nhân nào, hay nhóm nào có quyền sử dụng nó để phục vụ cho ý đồ riêng của nhóm mình. Mục tiêu giáo dục, do đó, không phải là đào tạo học sinh thành những con người công cụ, theo một khuôn mẫu nhất định nào, theo ý chí của một nhóm nào đó, nhưng nói như J. J, Rousseau (1712 – 1778), triết gia đã sống cách chúng ta 250 năm, là nơi đào tạo học sinh LÀM NGƯỜI1, con người tự do, tự chủ và có trách nhiệm. Trường học là nơi chuyển tải những tri thức và phương pháp khoa học, nơi giữ gìn và chuyển tải các giá trị văn hóa tốt đẹp từ thế hệ này sang thế hệ khác, là nơi trang bị cho các em khả năng và tinh thần phản biện để chính các em có khả năng suy xét, và dùng lý trí của mình để tự tạo cho mình một lối đi riêng, hay để chọn cho mình một con đường, một nhóm giữa một xã hội với bản chất là “chín người mười ý”.          ———————–  1 Rousseau, J.J. (1964). Emile hay là về giáo dục. Do Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương (2010) dịch. Hà Nội: NXB Tri Thức    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính cư, ngụ cư và những công dân hạng hai      Đại dịch COVID 19 đã vén màn cho chúng ta thấy phần nào bức tranh hiện thực về những người nhập cư và thân phận bên lề của họ ở các đô thị lớn.      Đoàn xe của người di cư ở TP HCM trở về các tỉnh Tây Nguyên tránh dịch. Ảnh: Báo Gia Lai.  ​Trong chuyến đi nghiên cứu một xóm liều Hà Nội, tôi hỏi chuyện người đàn bà trung tuổi đang tạm trú trong mái lều tối tăm, chật hẹp và dột nát cùng với mấy người đồng hương từ Hưng Yên lên làm cửu vạn ở chợ đầu mối Long Biên. Chị bảo: “Chả giấu gì bác, chúng em là người tạm cư nên không được chính quyền hỗ trợ gì đâu. Họ không đuổi không làm khó dễ là may lắm rồi. Mọi thứ điện nước đều phải mua lại từ người trong ngõ, chả có một thứ bảo hiểm gì sất, ốm đau thì về quê chữa trị, muốn đưa con lên đây đi học thì không có hộ khẩu. Mấy hôm trước bác tổ trưởng dân phố thấy chị em sống khổ quá, bảo ra họp để xét hỗ trợ cho vay cứu tế, ra đến nơi bác ấy lại xin thông cảm vì “chị em không phải người ở đây” nên không trong diện được mời họp…” Câu chuyện của họ cứ cuốn tôi đi theo những nỗi nhọc nhằn mưu sinh trong thân phận cô đơn của người tạm cư.   Thực ra, câu chuyện của người lao động tạm cư trong xóm liều Hà Nội cũng là tình trạng chung cho hầu hết lao động tạm cư đang tìm kế sinh nhai tại các thành phố. Mấy tuần gần đây, trong cơn dịch dã, các thành phố lớn đều siết chặt giãn cách xã hội để chống dịch covid-19, người tạm cư bồng bế nhau ùn ùn rời phố về quê, bất chấp chỉ thị “ai ở đâu, ở yên đấy”. Trước thực trạng như vậy, chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi: Người tạm cư ở đô thị là ai? Họ có vai trò gì trong quá trình đô thị hóa và phát triển? Sao họ không thể ở lại trong thành phố mà phải bỏ về quê? Giải pháp nào giúp cải thiện vấn đề người tạm cư đô thị để họ có thể hội nhập được vào sự phát triển của thành phố, theo tinh thần “nước nổi thì bèo nổi”, không để ai bị bỏ lại phía sau? Bài viết nhỏ này nhìn lại vấn đề người lao động tạm cư ở đô thị và thử nêu lên một vài ý kiến đặng góp phần giải quyết các câu hỏi nêu trên.  Người tạm cư ở đô thị, họ là ai?  Theo Luật Cư trú 2020 mới có hiệu lực từ tháng 7/2021 thì cơ quan quản lý đô thị phân loại người dân thành ba nhóm chính, gọi là thường trú, tạm trú và lưu trú. Nhóm một gồm những người sinh sống lâu dài và ổn định ở địa bàn phường/xã và có đăng ký thường trú, nhóm hai gồm những ai sinh sống trên địa bàn phường/xã từ 30 ngày trở lên và đã được đăng ký tạm trú (có sổ tạm trú), và nhóm ba gồm những người nghỉ lại tạm thời ở lại một địa bàn không phải nơi thường trú hoặc tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày. Chính sách quản lý dân cư và phát triển đô thị dựa vào cách phân loại này để xử lý công việc hằng ngày.  Thực ra, từ thời phong kiến, cách phân loại dân thành các nhóm chính cư (thường trú) và ngụ cư (tạm trú) đã được thực hiện, theo đó dân thường trú được gọi là người chính cư, và dân lưu trú tạm trú trong làng gọi là ngụ cư hay tạm cư. Đã là người ngụ cư thì không có quyền công dân đầy đủ, như quyền bầu cử ứng cử, quyền có tiếng nói trong các cuộc họp ở chốn đình chung, nhưng các nghĩa vụ đóng góp thì được hoan nghênh, thậm chí nặng hơn là dân chính cư. Chỉ khi nào người ngụ cư đáp ứng được một số điều kiện về chỗ ở, thời gian ngụ cư, và sự bảo lãnh của một gia đình là dân chính cư thì việc xin chuyển thân phận thành người chính cư mới được xem xét. Xem ra, người tạm cư ở các đô thị hiện nay có vẻ giống với người ngụ cư thời trước: những công dân hạng hai.  Cho đến nay chưa có một thuật ngữ thống nhất để chỉ những người lao động từ nơi khác tới tạm cư ở đô thị. Trong các văn bản chính thức của nhà nước các cấp, nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng như “lao động ngoại tỉnh”, “lao động thời vụ”, “lao động tự do”, “người nhập cư”, “người tạm trú”, v.v… Dưới thời phong kiến thực dân, người ta gọi nhóm người này là “lưu dân” hay “dân xiêu tán”, hoặc dùng tiếng Tây, gọi họ là vagabonds (những người lang thang)1 hoặc người trôi nổi.2 Dù cách gọi thế nào đi nữa thì các thuật ngữ này cũng bao hàm ba ngụ ý rõ ràng: (1) chỉ người nơi khác đến thành phố, (2) có tính tạm thời (công việc hay cư trú); (3) có sự phân biệt đối xử.     Người dân từ khu vực nông thôn vào thành phố chủ yếu thuộc nhóm lao động có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh. Có thể chia dân tạm cư thành ba nhóm nhỏ: (1) Những người làm nghề tự do như nhặt rác, buôn thúng bán mẹt ở các khu chợ mở, hay bán hàng rong trên phố, làm nghề khuân vác, giúp việc gia đình, và vận tải (cửu vạn, shipper, chạy xe ôm); (2) Những người bị giải tỏa chưa có nơi ở ổn định, những bệnh nhân mãn tính điều trị ngoại trú và người nhà phải bám vào các khu vực quanh bệnh viện (chạy thận, trị ung thư); (3) Lao động được tuyển dụng làm việc trong các công xưởng, nhà máy, dịch vụ, thợ học nghề và sinh viên cao đẳng, đại học. Ngoài ra, các nhóm người nước ngoài (kiều dân) đến sinh sống làm ăn trong thành phố với nhiều công việc và quy mô khác nhau cũng có thể được xếp vào nhóm tạm cư. Nói chung, những người tạm cư thường không có nhà ở ổn định mà thường ở trọ, chung cư cho thuê, trong đó nhiều nhất là ở các xóm lao động nghèo ngoại ô và các khu ổ chuột trong thành phố để giảm thiểu chi phí.    Một người Phú Yên sinh sống ở TP HCM trong đợt 400 người được hỗ trợ xe miễn phí về quê. Ảnh chụp ngày 26/7, Trương Thanh Tùng.      Trong con mắt của các nhà quản trị đô thị, dân tạm cư dường như chỉ mang đến tiêu cực hơn là tích cực cho thành phố, và đấy là lý do tại sao họ được quản lý chặt về phương diện hành chính nhưng vai trò của họ với phát triển của thành phố lại thường bị lờ đi hoặc không được phát huy. Vì thế, các số liệu thống kê về dân tạm cư của các thành phố khá tạm bợ, manh mún và không thống nhất, giữa các ban ngành cũng không có cơ chế nào chia sẻ thông tin. Công an không công bố số liệu điều tra của họ trong khi các ban ngành dân sự thì mỗi khi cần có số liệu lại phải rà soát mà không có một kế hoạch căn cơ, bài bản nào để thu thập, lưu giữ và sử dụng số liệu làm căn cứ đề ra chính sách. Tuy vậy, lần tìm từ các nguồn công khai, chúng ta cũng có thể nắm được số lượng và tỷ lệ người tạm cư ở hai thành phố lớn nhất nước, dù nó không được cập nhật và không thống nhất.  Ở vào thời điểm Hà Nội chưa nhập vào Hà Tây, dân số toàn thành phố là 3.029.203 người, trong đó dân chính cư có hộ khẩu thường trú là 2.660.330 người, chiếm tỷ lệ 87,82% tổng dân số. Như vậy hơn 12% dân số của thành phố thuộc về nhóm tạm cư, trong đó số người đã cư trú ổn định nhưng chưa đủ điều kiện thay đổi thân phận sang chính cư là 106.458 người (chiếm 3,51% dân số), người ngoại tỉnh lao động tự do là 106.196 người, chiếm 3.5% dân số (Vietnamnet 30/11/2004). Sau khi sáp nhập với Hà Tây, dân số Hà Nội tăng lên ở mức 6.913.161 người trong đó dân chính cư có hộ khẩu thường trú chiếm 85,6% dân số thành phố, dân ngoại tỉnh tạm cư chiếm khoảng 14% dân số toàn thành phố, trong đó số người đã cư trú ổn định trên địa bàn là 375.457 người (chiếm tỷ lệ 5,43%), người ngoại tỉnh lưu trú trong thành phố không có nơi ở ổn định và làm nghề tự do là 232.640 người, chiếm tỷ lệ 3,3% dân số; học sinh sinh viên ngoại tỉnh đang học tập ở thành phố là 266.327 người, chiếm tỷ lệ 3,9%; người nước ngoài và Việt kiều tạm trú trên địa bàn là 17.803 người (0,26% dân số). Mật độ dân số bình quân của Hà Nội là 2.069 người/km2, được cho là quá cao, thường xuyên gây áp lực lên các dịch vụ xã hội ở khu vực nội thành vốn đã rất hạn chế.      Cách phân biệt đối xử trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội giữa dân chính cư và ngụ cư có xu hướng đào sâu vị thế xã hội vốn đã rất mong manh của lao động nhập cư.      Ở thành phố Hồ Chí Minh, điều tra năm 2019 cho thấy thành phố có số dân là 8.993.082 người, 2.558.914 hộ. Nếu tính cả những người ngụ cư không có hộ khẩu thường trú tại thành phố thì số dân thực tế là hơn 14 triệu người.3 Thống kê chưa đầy đủ của thành phố trong đợt cứu trợ người nghèo bị ảnh hưởng bởi COVID-19 vào tháng 8/2021 cũng cho biết, thành phố có 84.585 hộ nghèo và cận nghèo và 170 ngàn hộ lao động ngoại tỉnh đang lưu trú tại thành phố cần được hỗ trợ ngay lập tức. Con số này cho thấy người ngoại tỉnh tạm cư ở thành phố cần cứu trợ khẩn cấp chiếm khoảng 12% số hộ gia đình của thành phố. Vì không có một chính sách nhất quán về lao động nhập cư, lãnh đạo thành phố gặp nhiều khó khăn lúng túng trong việc đưa người nhập cư về quê hay giữ họ ở lại, chính sách cứu trợ lao động ngoại tỉnh thế nào, và cuối cùng đi đến quyết định các gói cứu trợ là dành cho người nghèo, không phân biệt dân chính cư hay ngụ cư.  Điều tra của Viện Nghiên cứu Phát triển TP Hồ Chí Minh cho thấy năm 1998, số người không có hộ khẩu thường trú của thành phố là 12,9%. Tỷ lệ này tăng dần theo thời gian, năm 2000 là 15,2% và 2004 là trên 20% chưa bao gồm sinh viên. Điều tra dân số giữa kỳ năm 2004 cho thấy số người ngoại tỉnh đang tạm cư tại thành phố là 1.844.548 người, chiếm tỷ lệ 30,1%. Các con số này, dù có sai lệch ít nhiều, vẫn chỉ ra một sự thật là tỷ lệ người không có hộ khẩu thường trú thường chiếm khoảng trên dưới 20% dân số thành phố. Dù học vấn, việc làm và nơi xuất cư khá đa dạng, trong đó có đến 70% lao động nhập cư mới học xong bậc tiểu học, một ước tính cho thấy lao động nhập cư tại TP Hồ Chí Minh đang đóng góp khoảng 30% GDP của thành phố.4  Những thách thức nào đang đối diện lao động tạm cư trong thành phố?  Dù chưa được nhìn nhận vai trò một cách đúng mức,  lao động ngoại tỉnh đặc biệt có vị trí quan trọng đối với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ lấy mức lương thấp để làm tiêu chí cạnh tranh. Lao động ngoại tỉnh có xu hướng tối đa hóa thu nhập và tối thiểu hóa mức chi tiêu, chấp nhận mức lương thấp, sống trong những điều kiện tù túng nghèo nàn để dành dụm thu nhập gửi về quê, góp phần cải thiện đời sống ở quê nhà, và do đó đã góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở ngay tại nơi xuất cư. Cùng với quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, dòng di cư lao động vào các thành phố sẽ còn tiếp tục gia tăng chứ không giảm đi. Đó là quy luật tất yếu của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Tuy nhiên, có hai vấn đề làm cho người lao động ngoại tỉnh đang phải vật lộn trong thân phận của người ngụ cư. Đó là: (1) Lối mòn trong tư duy của những người quản trị thành phố và làm chính sách về di cư và lao động; (2) Tính chất bấp bênh không ổn định của người lao động ngoại tỉnh khi phải chật vật với thân phận công dân hạng hai. Đây là hai trở lực lớn nhất làm cho lao động ngoại tỉnh khó ổn định cuộc sống và tái sản xuất mở rộng sức lao động.  Có một xu hướng phổ biến trong tư duy của các nhà quản lý hiện nay là sự gia tăng lao động ngoại tỉnh đang gây sức ép lên khu vực đô thị, làm ảnh hưởng đến dịch vụ giao thông, nhà ở, y tế, giáo dục, trật tự vệ sinh và mỹ quan thành phố. Từ đây, các biện pháp hành chính được tạo ra để hạn chế nhập cư; các chính sách phân biệt lao động ngoại tỉnh với lao động địa phương cũng được thực hiện. Về mặt văn hóa, có quan điểm cho rằng lao động ngoại tỉnh mang “văn hóa tứ chiếng” và xô bồ vào đô thị, làm mất đi vẻ đẹp và lối sống hào hoa phong nhã của người đô thị gốc. Tình trạng dán nhãn văn hóa lên lao động nhập cư làm cho khoảng cách giữa dân chính cư và ngụ cư ngày càng rộng ra. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, những điều kiện khắt khe về nhà ở, thời gian lưu trú, trình độ đào tạo và kỹ năng lao động thường được nêu ra như những tiêu chí bắt buộc cho phép lao động ngoại tỉnh nhập cư. Về mặt quản lý địa bàn, dân nhập cư phải chứng minh thân nhân bằng các thứ giấy tờ cần thiết rất phức tạp để được đăng lý lưu trú. Nói chung, lao động nhập cư được xem là đối tượng bị siết chặt trong công tác quản lý đô thị hơn là đối tượng cần được nâng đỡ và tạo điều kiện để họ sản xuất ra của cải đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố. Cách phân biệt đối xử trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội giữa dân chính cư và ngụ cư có xu hướng đào sâu vị thế xã hội vốn đã rất mong manh của lao động nhập cư.    Trước đại dịch, người di cư thường bị coi là “gánh nặng” cho đô thị hơn là có vai trò đóng góp vào nền kinh tế ở đô thị. Ảnh: Pinterest.   Đặc điểm chung của nhóm lao động ngoại tỉnh là tính chất di dộng và tạm thời theo lối sống “một chốn đôi quê”. Ưu tiên của họ là xem thành phố như một nơi chốn để kiếm cơm cho gia đình hơn là nơi đến để định cư lâu dài. Vậy nên vào các dịp tết, lễ, và những kỳ nghỉ dài trong năm, lao động ngoại tỉnh lại lũ lượt kéo nhau về quê để đoàn tụ gia đình. Những khi khó khăn thất bát trong công việc, quê hương cũng là nơi họ trở về để tìm kiếm sự đùm bọc và chở che. Quê hương và gia đình được xem như một thứ bảo hiểm cho tình trạng bấp bênh của họ. Tình trạng đi đi về về diễn ra trong suốt những năm tháng ngụ cư tại thành phố tạo ra những dòng chảy dân số di động, thường xuyên và bất tận.      Ngoài những trở lực về thủ tục hành chính và cư trú, vấn đề nổi cộm của lao động ngoại tỉnh làm việc trong các khu công nghiệp và đô thị là tình trạng an sinh xã hội của họ không được đảm bảo trong khi sự phân biệt chính cư – ngụ cư vẫn hiển hiện trong tư duy làm chính sách. Lúc còn sinh thời, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có lần thẳng thắn chỉ ra một thực tế đang làm gia tăng bất bình đẳng xã hội khi ông nhận định rằng nhóm 20% những người giàu nhất Việt Nam đang thụ hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này. Ông nhấn mạnh một thực trạng là “những người nông dân nghèo ra thành phố làm việc không được đăng ký hộ khẩu, không được hưởng chế độ phúc lợi xã hội, cũng không được hưởng lợi từ các chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính phủ. Ngân sách địa phương không chịu trách nhiệm về họ, con cái họ sinh ra không được đi học hoặc phải chạy tới chạy lui xin xỏ rất khó khăn.” (Vietnamnet, 20/4/2008).         Các số liệu thống kê về dân tạm cư của các thành phố khá tạm bợ, manh mún và không thống nhất, giữa các ban ngành cũng không có cơ chế nào chia sẻ thông tin. Công an không công bố số liệu điều tra của họ trong khi các ban ngành dân sự thì mỗi khi cần có số liệu lại phải rà soát mà không có một kế hoạch căn cơ bài bản nào để thu thập.      Một nghiên cứu do Action Aid Vietnam công bố năm 2014 đã chứng minh tính xác đáng trong nhận định của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Nghiên cứu này cho thấy có đến 90% người lao động nhập cư làm việc ở khu vực phi chính thức không tiếp cận được các dịch vụ an sinh xã hội như y tế, giáo dục, thông tin, và các hỗ trợ người nghèo của Chính phủ như nhóm lao động là người địa phương được hưởng. Những người nhập cư có con nhỏ thường phải cho con học các trường tư và dân lập có chi phí cao hơn và chất lượng thấp hơn trường công lập. Họ cũng phải dùng nước và điện mua từ các hộ cho thuê nhà với giá đắt gấp đôi bình thường.5  Khảo sát của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ cũng cho thấy 13,2% trẻ dưới 6 tuổi là con của người lao động ngoại tỉnh không được tiếp cận với bảo hiểm y tế, trong khi 21,2% trẻ con của người di cư trong độ tuổi từ 6-14 không được đi học. Có tới 99% người lao động ngoại tỉnh làm việc trong khu vực phi chính thức không có bảo hiểm xã hội, do không có hợp đồng lao động, hoặc chỉ có hợp đồng lao động ngắn hạn hay hợp đồng miệng. Thêm nữa, có tới 76,5% người lao động nhập cư làm việc trong khu vực phi chính thức chưa được tham gia bảo hiểm y tế, trong đó hơn 70% không tiếp cận được dịch vụ y tế công.6  Làm gì để thay đổi?  Như đã nói ở trên, điều tra dân số và lao động của các thành phố thường không dành sự quan tâm thích đáng đến nhóm lao động ngoại tỉnh. Trong quy hoạch phát triển ngắn và dài hạn của các đô thị, vị trí của nhóm này rất mơ hồ vì không thấy kế hoạch như phân bổ ngân sách và nguồn lực của thành phố cho nhóm lao động nhập cư. Dường như người ngoại tỉnh vẫn “vô hình” hoặc chỉ được xem là những người “sống ở bên lề” trong các quyết sách của đô thị? Chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế, hỗ trợ giảm nghèo, đầu tư dạy nghề, giúp cho lao động ngoại tỉnh hội nhập vào cuộc sống thành phố vẫn bị làm ngơ, bất chấp một thực tế là nhóm dân cư này thường chiếm khoảng 20% dân số thành phố, hoặc thậm chí hơn, như tỉnh Bình Dương, lao động ngoại tỉnh chiếm đến hơn 35% dân số và đang là một bộ phận lao động quan trọng.  Trước hết, cần phải thừa nhận một thực tế là Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, dân số lao động nông nghiệp sẽ dần dần bị thu hẹp lại và di cư vào đô thị là một hiện tượng tự nhiên và tất yếu trong tiến trình phát triển. Tư duy phân biệt chính cư và ngụ cư không giúp được gì cho người nhập cư ngoài việc kềm chế dòng di cư vào đô thị và đặt người lao động nhập cư ở vào vị thế đã yếu còn yếu hơn. Cách quản lý đô thị bằng phân loại dân cư thành hai nhóm chính cư và ngụ cư không còn thích hợp và không có hiệu quả. Do đó, cần thiết phải thay đổi tư duy và chính sách quản lý lao động mà trước hết là dành ngân sách hằng năm để hỗ trợ người lao động ngoại tỉnh hội nhập vào cuộc sống mới ở đô thị trong đó có hỗ trợ về bảo hiểm y tế và giáo dục thay vì đặt họ sang một bên như đang làm hiện nay. Nguồn hỗ trợ này thực chất cũng là để góp phần huy động nguồn lực lao động của người nhập cư cho phát triển kinh tế của thành phố.  Thứ hai, vấn đề cốt lõi và trước hết của chính sách lao động tạm cư là làm thế nào để người lao động tiếp cận được nguồn an sinh xã hội. Do đó, cần loại bỏ các rào cản, kể cả tư duy lối mòn và phân biệt đối xử trong quy hoạch phát triển đô thị để người lao động nhập cư có thể dễ dàng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, trong đó ưu tiên là đảm bảo việc làm ổn định, bảo hiểm xã hội, trợ giúp nhóm lao động nghèo và cung cấp các dịch vụ cơ bản.  Thứ ba, các nghiên cứu đã chỉ ra hai nhóm yếu thế nhất trong dòng di cư lao động vào đô thị là người thiểu số và phụ nữ. Cùng với xu thế lao động nữ di cư vào đô thị đang tăng lên, nhóm các dân tộc thiểu số từ khu vực nông thôn ra thành phố tìm việc làm cũng tăng lên đáng kể gần đây. Hai nhóm này cần được quan tâm đầy đủ khi xây dựng chính sách an sinh xã hội của thành phố. Các nhà tuyển dụng lao động cần có chính sách hỗ trợ họ và đảm bảo để họ được tiếp cận giáo dục miễn phí và bình đẳng để họ sớm hội nhập và ổn định cuộc sống.  Thứ tư, cho đến nay, lao động di cư tự do vào thành phố chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội và vốn xã hội riêng của cá nhân và nhóm trong khi hiểu biết về luật pháp và công việc ở nơi nhập cư chưa tường tận. Các thành phố cần có các trung tâm hỗ trợ thông tin việc làm, pháp lý cho người lao động ở các địa phương để có cơ sở cho người lao động quyết định di cư hay ở lại. Người lao động cũng cần phải nắm được các quyền lợi của mình trong tiếp cận an sinh xã hội và tham gia vào quá trình này một cách tích cực thay vì thụ động chờ đợi như hiện nay.  Thứ năm, chính sách an sinh xã hội cho nhóm lao động di cư cần phải được đưa vào kế hoạch dài hạn, căn cơ, được thảo luận kỹ càng và trở thành một phần của chiến lược phát triển quốc gia và đô thị, tránh tình trạng đối phó và giải quyết vấn đề tùy hứng, vụn vặt, chỉ làm khi có vấn đề xảy ra như hiện nay.     Tóm lại, di cư là một bộ phận cấu thành của quá trình đô thị hóa và phát triển, và là một phần của xã hội hiện đại do tính năng động của con người ngày càng được cải thiện. Quản lý di cư không có nghĩa là sử dụng biện pháp hành chính để ngăn chặn các làn sóng di chuyển mà là tạo cơ hội để người di cư di chuyển trên cơ sở tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần vào sự phát triển, ổn định xã hội và phồn vinh của đất nước□  ——  Chú thích  1 Shiraishi, Masaya. 1984. State, Villagers, and Vagabonds: Vietnamese Rural Society and the Phan Bá Vành Rebellion. Senri Ethnological Studies, Vol. 13: 345–400.  2 Ở Trung Quốc hiện nay, số lưu dân trong các thành phố lớn đông tới hơn 200 triệu người, được gọi là những lưu dân, dân lưu động hay trong tiếng Anh là floating migrants (người trôi nổi). Xem: Nalini Mohabir, Yanpeng Jiang, Renfeng Ma. 2017. Chinese floating migrants: Rural-urban migrant labourers’ intentions to stay or return. Habitat International, Vol.60: 101-110.  3 Báo điện tử Đảng Cộng sản VN (2019) Dân số Thành phố Hồ Chí Minh đông nhất nước. https://dangcongsan.vn/xa-hoi/dan-so-thanh-pho-ho-chi-minh-dong-nhat-nuoc-539004.html, ngày 11/10/2019.  4 Lê Văn Thành 2010. Đô thị hóa với vấn đề dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh. https://thienthu.weebly.com/uploads/4/8/6/9/4869850/dothihoatphcm.pdf  5 Action Aid Vietnam. 2014. Tiếp cận an sinh xã hội của người lao động nhập cư. Hà Nội.  6 Quang Phương. 2015. Người di cư gặp nhiều rào cản trong tiếp cận an sinh xã hội. Báo Tuổi trẻ, ngày 25/12/2015; https://tuoitre.vn/nguoi-di-cu-gap-nhieu-rao-can-trong-tiep-can-an-sinh-xa-hoi-1026874.htm    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Chính đạo      Trong mọi tôn giáo đều tồn tại một con đường tâm linh chính đạo. Nó thông thường trải qua ba bước gắn với ba cấp độ an định trong tinh thần con người. Bước đầu tiên tạo ra điểm tựa tinh thần từ các biểu tượng và nghi lễ tâm linh, gieo vào lòng người ấn tượng về các nguồn sức mạnh siêu nhiên, với suy nghĩ rằng chúng có khả năng giải quyết mọi nỗi bất an nảy sinh trong nội tâm và thực tiễn đời sống.       Bước thứ hai trên cơ sở kế thừa từ bước thứ nhất, chuyển hóa sự an định lên một cấp độ cao hơn, không chỉ còn xoay quanh việc giải quyết những bất an của bản thân, mà bắt đầu có sự phát triển phong phú hơn với những cảm nhận về mối liên hệ, sự thông cảm giữa bản thân với đồng loại, mà đỉnh cao nhất là tình thương yêu. Đó là quan hệ tương hỗ, bởi khi càng an định chúng ta càng dễ yêu mến đồng loại, và khi càng yêu mến đồng loại chúng ta lại càng dễ đạt được sự an định. Trong quá trình đó, mỗi khi có trở ngại, vướng mắc nảy sinh dẫn tới sự bất an thì các biểu tượng và nghi thức tâm linh lại tiếp tục phát huy vai trò là điểm tựa tinh thần.  Bước thứ ba có thể coi là một cuộc cách mạng cho mỗi cá nhân, khi sự an định ở bước thứ hai hoàn toàn lột xác lên một tầm mức mới. Nó không còn phải vay mượn sự hỗ trợ từ những điều huyền bí, siêu nhiên, hay những nghi lễ cúng bái nặng nề. Ta nhận thấy rằng sự an định vốn dĩ tự khởi phát trong nội tâm, luôn tiềm ẩn sẵn có bên trong mình, một tồn tại vô điều kiện. Nghĩa là bất kỳ ai cũng tiềm ẩn khả năng tự tìm thấy sự vững vàng một cách vô điều kiện, và tinh thần bác ái vô điều kiện.   Ba bước trên đây chính là một quá trình khai mở, giúp con người tự nhận ra những giá trị nhân văn tinh túy bên trong mình – trong Phật giáo gọi đó là Phật tính. Mọi con đường tôn giáo nếu giúp dẫn dắt cho con người trải nghiệm qua ba bước ấy thì đều có thể coi là chính đạo. Và càng hướng tới bước thứ ba thì thần quyền càng giảm xuống, con người càng tự do và tiến bộ hơn, không còn sự phân biệt, bài xích giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, hoặc giữa người theo tôn giáo hay không theo tôn giáo – một tinh thần đại đồng mà những hiền nhân như Mahatma Ganhdi vẫn hướng tới.  Tuy nhiên, điều mà các tổ chức tôn giáo phi chính đạo vẫn thường làm là giam chân con người tại bước thứ nhất, khiến họ lệ thuộc, mê chấp vào thần quyền, và như vậy quyền lợi thu được của các tổ chức tôn giáo này lại càng lớn.  Đó chính là thực trạng tồn tại phổ biến hiện nay ở Việt Nam, một sự trở lại của chủ nghĩa thần quyền, khi nơi nơi đều đang nườm nượp lễ bái, quyên góp xây chùa, dựng tượng, cố gắng càng làm to lớn, rầm rộ thì càng tốt. Để thay đổi thực trạng ấy, sẽ là vô ích nếu chỉ trích tôn giáo như bóng tối của sự mê tín, theo như lý luận của thứ chủ nghĩa duy vật cứng nhắc của nửa thế kỷ trước – lịch sử đã chứng minh chủ nghĩa ấy đã không chỉ thất bại từ lâu mà còn để lại những di chứng tai hại khôn lường.   Con người luôn cần những điểm tựa tinh thần, và tôn giáo chính là lựa chọn hấp dẫn khó cưỡng lại đối với số đông. Điều cần thiết là sự tồn tại và phổ biến trong xã hội những luồng tư tưởng tiến bộ, có thể xuất phát từ ngay trong lòng các tôn giáo. Chúng ta cần những tiếng nói cảnh tỉnh giống như của đức Đạt Ma1 xưa kia, nhắc nhở mọi người rằng, tất cả công sức, tiền của mà họ bỏ ra đều “thiệt không có công đức”. Chúng chỉ có thể mua lấy một sự an tâm tạm thời, với hình dung rằng một đấng linh thiêng ở đâu đó sẽ chứng giám lòng thành và phù hộ cho họ. Còn để có sự an tâm lâu dài, họ phải đi theo chính đạo, đó là đi tìm đấng linh thiêng ở ngay bên trong mình.   ———  1 Lương Võ Đế hỏi đức Đạt Ma: “Trẫm trọn đời xây chùa, cúng dường tăng, đãi chay làm phước, như vậy có công đức gì không?”  Đức Đạt Ma nói: “Thiệt không có công đức.”      Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Chính phủ kiến tạo, phục vụ: Từ góc nhìn pháp luật      Việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên ngôn về một chính phủ kiến tạo, phục vụ và hơn thế, đang nỗ lực chuyển đổi hoạt động của chính phủ theo định hướng này, không chỉ là dấu hiệu của chuyển biến về thái độ mà về thực chất là sự đổi mới có tính nhận thức lý luận về vai trò, chức năng của chính phủ nói riêng và nhà nước nói chung.  Vậy, nhìn từ góc độ pháp luật, điều đó có ý nghĩa thế nào?      Trước hết, nó giúp xét lại một khái niệm được sử dụng rộng rãi nhiều năm qua và trở thành tiền lệ ngôn ngữ, tuy nhiên gây khá nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu thể chế cả trong và ngoài nước, đó là “quản lý nhà nước” (state management). Tiếp đến là khái niệm “bảo vệ lợi ích nhà nước” được xác định như là mục tiêu của “quản lý nhà nước”, trong khi về lý luận, trên thế giới người ta không coi “nhà nước” là một chủ thể có lợi ích riêng, độc lập với xã hội, mà chỉ xét đến “lợi ích công cộng” (tức lợi ích của toàn thể công chúng hay người dân) mà cả nhà nước (hay chính phủ) và mỗi công dân đều có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ. Nói đến “chính phủ kiến tạo, phục vụ”, do vậy, là sự định hình lại vai trò, chức năng và mục tiêu của nhà nước và chính phủ.  Nhà nước, chính phủ sinh ra để làm gì?  Trước hết, nhà nước sinh ra để thực hiện quyền lực đại diện, hay nói cụ thể là để được người dân uỷ nhiệm thực hiện quyền lực công cộng. Quyền này được phân chia thành lập pháp, hành pháp và tư pháp, tương ứng với ba cơ quan Quốc hội, Chính phủ và tòa án. Tuy nhiên, xuất phát từ các nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, nếu như Quốc hội chỉ tập trung vào thực thi quyền lực đại diện thì chính phủ và tòa án, bên cạnh vai trò này còn phải đảm nhiệm các chức năng khác, đó là cung cấp các dịch vụ công. Phân định rõ điều này để đi đến kết luận rằng khi tiến hành dân chủ hoá hoạt động của nhà nước là chúng ta tác động đến khâu thực hiện quyền lực đại diện, nhằm bảo đảm cho người dân không bị tước mất quyền bởi bộ máy nhà nước, qua đó các lợi ích công cộng vẫn được bảo vệ thay cho cái gọi là “lợi ích nhà nước”. Còn đối với khâu cung cấp dịch vụ công, thước đo công việc luôn luôn là hiệu quả thực tế. Bởi thế qua thực tiễn thời gian, khi người dân và xã hội không còn thoả mãn với các dịch vụ công do nhà nước cung cấp thì các hoạt động tương tự có tính cạnh tranh do bản thân xã hội tự thực hiện đã lần lượt xuất hiện, cái được mô tả bằng thuật ngữ đặc thù mà chúng ta ưa dùng là “xã hội hóa”. Chẳng hạn, đối với hoạt động xét xử của tòa án, nếu như ban đầu, mọi tranh chấp của người dân đều được đưa đến tòa án để giải quyết thì ngày nay, các doanh nhân ngày càng ưa chuộng con đường hòa giải ngoài tòa hoặc phương pháp xử lý thay thế bằng trọng tài thương mại; đồng thời bên cạnh đó, phần lớn các tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư đang được ưu tiên giải quyết thông qua các hội đồng hoà giải cơ sở. Đối với việc cung ứng các dịch vụ công của chính phủ, do áp lực từ cả hai phía: xã hội đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ và các nguồn lực của chính phủ ngày càng bị giới hạn ở khắp nơi đã và đang diễn ra một quá trình phối hợp hoạt động theo mô hình đối tác công tư hoặc thậm chí tư nhân hoá việc cung cấp các dịch vụ công, không chỉ các dịch vụ thông thường mà cả các dịch vụ nhạy cảm như an ninh công cộng hay quân sự.  Chuyển đổi sang mô hình chính phủ kiến tạo, phục vụ. Những đòi hỏi gì từ thực tiễn?  Thực tiễn như nói ở trên thể hiện quá trình phát triển bình thường của bộ máy nhà nước, chính phủ và mối quan hệ của nó với xã hội. Ở nước ta, tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, các quá trình này luôn luôn trải qua các thăng trầm và sự chậm nhịp hay trì trệ liên quan đến nó đã và đang trở thành các ách tắc, được gọi là “điểm nghẽn thể chế”,  cản trở tốc độ phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Xét về tiêu chí “kiến tạo”, tức đóng góp thực tế cho tăng trưởng và phát triển, suốt mấy chục năm qua, Đổi mới hầu như vẫn chỉ được coi là quá trình tháo dỡ các rào cản từ chính bản thân bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật tạo ra nhằm hướng tới tự do hoá và giải phóng các nguồn lực cho phát triển, dù đó là việc hạn chế các quyền công dân hay sự phiền hà, nhũng nhiễu từ các thủ tục hành chính được xác lập bất hợp lý. Kết quả là, nói theo ngôn ngữ của luật ngân sách, có tới 2/3 nguồn lực tài chính của chính phủ vẫn được sử dụng cho “chi thường xuyên” để duy trì hoạt động của bộ máy hay để nuôi chính mình. Còn xét theo tiêu chí “phục vụ”, (tức diễn nôm là thoả mãn hay đáp ứng nhu cầu), các hoạt động có tính can dự hay tham gia trực tiếp vào đời sống kinh tế – xã hội đều không có tính cạnh tranh và mang lại rất ít hiệu quả so với đòi hỏi của thực tế, với các ví dụ được trải đều từ sự thua lỗ, thất thoát vốn của các doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư công đến chất lượng kém của các con đường cao tốc, tính thiếu ổn định của các bản quy hoạch hay sự không an toàn của hệ thống quan trắc, giám sát môi trường.      Khi tiến hành dân chủ hoá hoạt động của nhà nước là chúng ta tác động đến khâu thực hiện quyền lực đại diện, nhằm bảo đảm cho người dân không bị tước mất quyền bởi bộ máy nhà nước, qua đó các lợi ích công cộng vẫn được bảo vệ thay cho cái gọi là “lợi ích nhà nước”.      Nói một cách khái quát, “quản lý nhà nước” hướng tới trật tự, kỷ cương, trong khi “kiến tạo” và “phục vụ” hướng tới sáng tạo, phát triển và dáp ứng nhu cầu của đời sống người dân và xã hội. Cả hai khuynh hướng hành động này có mâu thuẫn với nhau không? Câu trả lời chắc chắn là không, xét về cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, một khi đã có sự chủ động tuyên ngôn và nhấn mạnh một tiêu chí mới để xác định vai trò và chức năng của chính phủ, thì cần có sự cụ thể hoá về pháp luật nhằm bảo đảm sự thành công của các hành động tiếp theo.  Hiện thực hoá một chính phủ “kiến tạo” và “phục vụ”: từ góc độ pháp luật  Trước hết, với những hoạt động cải cách cần thiết của hệ thống pháp luật, cần làm rõ ba vai trò và chức năng của chính phủ, bao gồm: thực thi quyền lực công, thực thi pháp luật và cung cấp dịch vụ. Tương ứng với ba vị thế này của chính phủ là ba phương châm hoạt động khác nhau, đó là thực thi quyền lực dân chủ (các hoạt động đối ngoại, lập chính sách, lập pháp…), thực thi pháp luật chuyên nghiệp (các hoạt động thanh tra, điều tra, xét xử và cưỡng chế thi hành pháp luật…), và cung cấp dịch vụ hiệu quả (cung cấp các loại dịch vụ công khác nhau đáp ứng nhu cầu của người dân theo tiêu chuẩn thị trường1). Cần chú ý rằng trên thế giới vẫn tồn tại các mô hình chính phủ khác nhau, theo đó, trong khi hai chức năng tối thiểu luôn luôn được bảo đảm giống nhau là thực thi quyền lực và thực thi pháp luật thì đối với chức năng thứ ba là cung cấp dịch vụ, ít nhiều có sự khác nhau về mức độ, phạm vi các dịch vụ công được cung cấp tuỳ thuộc vào khuynh hướng thị trường tự do hay thị trường xã hội2. Ngoài ra, một khi nhấn mạnh vai trò “kiến tạo”, tức tham gia thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển trực tiếp, chính phủ có thể cung cấp bổ sung các dịch vụ phát triển nhất định, tuỳ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn3.  Thứ hai, pháp luật cần có những cải cách cần thiết để bảo đảm rằng chính phủ không còn thuần tuý là “ông chủ quyền lực”, để tương thích với nó là hành động “cai trị” và “ông chủ tài nguyên và các nguồn lực”, để tương thích với nó là hành động “ban phát”. Để thực thi điều đó, một quá trình dân chủ hoá trong thực thi quyền lực đại diện cần diễn ra nhằm bảo đảm cho người dân được tham gia thực sự vào quá trình lập và ban hành chính sách, pháp luật; đồng thời việc tái công nhận quyền sở hữu của người dân đối với đất đai như là không gian sống cũng cần được thực hiện, đi theo với nó là việc giao các nguồn lợi thiên nhiên cho người dân và cộng đồng để sử dụng, quản lý và khai thác một cách ổn định, lâu dài. Chỉ trong điều kiện như vậy, bộ máy và nhân lực của chính phủ mới thực sự thay đổi về động cơ, tư duy và thái độ để vận hành theo hướng kiến tạo và phục vụ hiệu quả cho nhu cầu quốc kế, dân sinh.  Thứ ba, cần thực hiện các cải cách pháp luật cần thiết để làm giảm bớt cơ chế quản lý, cai trị và xử phạt bằng biện pháp hành chính, tăng cường cơ chế thực thi và cưỡng chế thi hành pháp luật bằng con đường tư pháp. Xin lưu ý rằng một khi đóng vai trò kiến tạo và phục vụ, chính phủ không còn là “bề trên” mà bình đẳng với người dân, đồng hành với người dân trong quá trình sáng tạo, phát triển và tuân thủ, thực thi pháp luật. Do đó, mọi vi phạm, tranh chấp pháp luật cần được xử lý ở mức độ tối đa thông qua các tòa án như là cơ quan chuyên trách, hoạt động độc lập, trung lập và chuyên nghiệp4.    Một khi không xác định rõ các mục tiêu “kiến tạo” và “phục vụ”, các cơ quan của chính phủ đều hành xử theo tư duy và phương châm chung là thực hành “quản lý nhà nước”. Theo đó, nhấn mạnh “quản lý”, tức chính phủ tiếp tục xác lập vị thế “bề trên”, coi người dân là đối tượng bị quản lý, mà hệ quả là tập trung cho công tác kiểm tra, giám sát, trấn áp và xử phạt, thay vì đầu tư các hoạt động sáng tạo và gia tăng giá trị. Còn nhấn mạnh “nhà nước” sẽ đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước chỉ nhìn thấy hay coi trọng các lợi ích của chính mình hơn là quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân.  Cuối cùng, một chính phủ kiến tạo và phục vụ sẽ không phải là một thiết chế được sinh ra để giải quyết các vấn đề của chính nó (qua đó tiêu hao phần lớn các nguồn lực cho nhân sự và hoạt động của bộ máy) mà để xử lý các vấn đề mà người dân và xã hội có nhu cầu. Do đó, cần có các thay đổi cần thiết của khung pháp luật về ngân sách nhà nước để bảo đảm rằng, luôn luôn có một tỷ lệ thích đáng nguồn lực tài chính của nhà nước dành cho các hoạt động cung cấp dịch vụ, bao gồm dịch vụ công và dịch vụ phát triển. Hy vọng rằng một chính phủ được xây dựng và vận hành theo định hướng này, như Thủ tướng tuyên bố, sẽ là một bộ máy gọn nhẹ, tinh giản nhưng linh hoạt và hiệu quả, không còn là nơi sản sinh ra cơ chế xin-cho và tầng lớp các rào cản hành chính để đất nước phải tiêu tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc cho việc tháo gỡ và phá bỏ nó như suốt thời gian qua.  —-  1 Tại các nước phát triển, người ta thống kê 19 loại dịch vụ công do chính phủ cung cấp bao gồm: điện, giáo dục, cứu trợ khẩn cấp, bảo vệ môi trường, dầu-khí, sức khoẻ-y tế, quân sự, bưu chính, ngân hàng công, phát thanh – truyền hình công, thư viện công, an ninh công cộng, vận tải công, dịch vụ xã hội, viễn thông, quy hoạch đô thị, hạ tầng giao thông, xử lý chất thải, hệ thống cung cấp nước. Tuy nhiên, trải qua thực tiễn, khi xét thấy trong bất cứ lĩnh vực nào mà các dịch vụ do chính phủ cung cấp không có tính cạnh tranh về chất lượng và giá cả so với thị trường thì các nước bắt đầu triển khai tư nhân hoá một phần hoặc toàn bộ.  2 Chẳng hạn, nước Đức theo khuynh hướng thị trường xã hội, chính phủ đảm nhiệm việc cung cấp khá nhiều các dịch vụ thiết yếu, trong khi ở Mỹ, bởi tính chất thị trường tự do, chính phủ để tư nhân cung ứng phần lớn các dịch vụ này.  3 Ví dụ, trong điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ yếu, chưa có tiềm lực và phương tiện nghiên cứu sáng tạo công nghệ hay phát triển thị trường quốc tế, chính phủ có thể hỗ trợ cung cấp các dịch vụ này. Tuy nhiên, lưu ý đó không được hiểu là biện pháp hỗ trợ tài chính đơn thuần cho doanh nghiệp.  4 Ví dụ thực tiễn ở nhiều nước, đặc biệt Hoa Kỳ cho thấy các toà án cấp dưới hoạt động rất chuyên nghiệp và hiệu quả, thậm chí liên tục 24/24 giờ để xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật được các cơ quan hành pháp chuyển đến. Trong trụ sở toà án, người ta còn bố trí cả các bộ phận làm việc của công tố viên, cảnh sát và luật sư để bảo đảm việc cung cấp dịch vụ tư pháp được suôn sẻ, nhanh chóng và thuận tiện nhất.       Author                Nguyễn Tiến Lập        
0.3829787234042553
__label__tiasang          Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ mở: Triển vọng và tác động đến quản trị nhà nước ở Việt Nam      “Chính phủ mở” (Open Government) là khái niệm chỉ một bộ máy nhà nước (rộng hơn là một chính phủ) được tổ chức và hoạt động với sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ở mức độ cao, cũng như có sự tham gia rộng rãi và hiệu quả của người dân vào quản lý xã hội. Chính phủ mở, do đó, nhận được sự tin tưởng và có khả năng đáp ứng hiệu quả các nhu cầu của người dân.      Người dân làm các thủ tục hành chính tại Trung tâm Hành chính TP. Đà Nẵng. Ảnh: VGP.  Chính phủ mở không phải là khái niệm mới, vì đã được đề cập từ thời kỳ Khai sáng ở châu Âu. Tuy nhiên, nếu như trước đây khái niệm Chính phủ mở đơn thuần chỉ sự công khai trong hoạt động của bộ máy nhà nước, thì ngày nay, thuật ngữ này còn hàm nghĩa một bộ máy chính quyền biết lắng nghe, tôn trọng tâm tư, nguyện vọng, luôn trăn trở làm những gì tốt nhất để đáp ứng nhu cầu của người dân và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.   Để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong việc cải cách bộ máy nhà nước theo mô hình ‘Chính phủ mở’, từ năm 2011, một mạng lưới có tên gọi là Open Government Partnership (Sáng kiến Đối tác Chính phủ mở – OGP1) đã được thành lập bởi 8 nhà lãnh đạo quốc gia và 9 nhà lãnh đạo của các tổ chức xã hội lớn của các quốc gia đó, bao gồm Brazil, Indonesia, Mexico, Na uy, Philippines, Nam Phi, Anh và Mỹ1. Việc đa số thành viên sáng lập OGP là các nước đang phát triển (Brazil, Indonesia, Mexico, Philippines, Nam Phi) và có sự tham gia của đại diện của cả chính quyền và các tổ chức xã hội cho thấy những đặc trưng nổi bật của Mạng lưới này, đó là: (i) Nó không phải là sáng kiến của các nước giàu, phát triển ở phương Tây; (ii) Nó có sự đồng thuận cao giữa các nước đang phát triển và phát triển; (iii) Nó là sự chia sẻ tầm nhìn giữa chính quyền và các tổ chức xã hội, hay rộng hơn, là giữa chính quyền với người dân.  OGP hoạt động dựa trên các nguyên tắc cơ bản đó là: (i) Tăng cường cung cấp thông tin cho công chúng về các hoạt động của nhà nước; (ii) Hỗ trợ sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước; (iii) Áp dụng các tiêu chuẩn cao nhất về tính liêm chính và chuyên nghiệp cho toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia; (iv) Tăng cường khả năng tiếp cận với các công cụ công nghệ hiện đại nhằm nâng cao tính công khai và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước2. Các nguyên tắc này thể hiện và đáp ứng những yêu cầu bức thiết của cả người dân và chính quyền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong thời đại ngày nay.       Tham gia OGP không chỉ thúc đẩy công cuộc chống tham nhũng, mà quan trọng hơn sẽ mở ra một triển vọng mới cho việc cải cách quản trị nhà nước ở Việt Nam theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay cũng như đáp ứng các yêu cầu của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế.      OGP tạo ra một diễn đàn quốc tế và quốc gia nhằm tăng cường đối thoại và chia sẻ ý tưởng cũng như kinh nghiệm giữa các chính quyền  và tổ chức xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu về Chính phủ mở. Đây có thể coi là một sáng kiến quốc tế nổi bật nhất từ trước tới nay nhằm thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khuyến khích sự tham gia của người dân ở các quốc gia vào quản trị nhà nước. Chính vì vậy, OGP đã thu hút sự quan tâm lớn và sự tham gia nhanh chóng của nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Khởi đầu chỉ có 8 nước thành viên vào năm 2011, tính đến tháng 6/2018, đã có 76 nước (chính quyền trung ương – national governments), 20 chính quyền địa phương (local governments) tham gia và hơn 3.000 tổ chức xã hội là đối tác (civil society partners) của OGP3 – vượt xa  kỳ vọng của các quốc gia khởi xướng. Trong số các quốc gia thành viên OGP, có 2/3 là các nước đang phát triển.  Nhiều quốc gia ở châu Á đã tham gia OGP, trong đó có Indonesia, Philippines, Papua New Guinea và Hàn Quốc… Cũng tính đến tháng 6/2018, các thành viên của OGP đã xây dựng, thực thi 179 kế hoạch hành động (action plans) đưa ra 3.196 cam kết (commitments) thực hiện các nguyên tắc của Chính phủ mở (đã nêu trên), tạo ra một hiệu ứng rộng khắp ở các nước liên quan và lan toả mạnh mẽ đến các quốc gia khác (xem biểu đồ dưới đây)3.  Sự phát triển rất nhanh của OGP, theo lý giải của Bộ trưởng Kuntoro Mangkusubroto của Indonesia, là do “OGP tăng cường sự cởi mở nhằm hướng tới mục tiêu chung là một nhà nước quản trị tốt” – điều mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang hướng tới. Thêm vào đó, một điểm hấp dẫn khác của OGP là sáng kiến này không phải do các quốc gia phát triển áp đặt với các nước đang phát triển, đồng thời không phải là sáng kiến một chiều từ chính quyền hoặc các tổ chức xã hội. Ở khía cạnh thứ nhất, rất nhiều trong số các quốc gia sáng lập và hiện là thành viên của OGP là các nước đang phát triển. Ngược lại, các nước phát triển cũng đặc biệt quan tâm đến OGP. Trong danh sách các nước thành viên OGP hiện nay có 5 thành viên của nhóm G7 (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada, Ý) và rất nhiều nước phát triển khác như Úc, Niu Di-lân, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na-uy, Israel, Tây Ban Nha…Ở khía cạnh thứ hai, các tổ xã hội đã tham gia ngay từ đầu và ngày càng tích cực vào tiến trình GDP cả ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Tổng thống Hoa Kỳ Obama, khi phát biểu tại buổi lễ khai trương OGP ở Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 2011 đã nhấn mạnh ý nghĩa của thiết chế mới này với việc thúc đẩy quản trị tốt và thắt chặt mối quan hệ, sự tham gia của người dân vào hoạt động quản trị nhà nước ở các quốc gia.    Trong thực tế, tất cả các nước thành viên OGP, dù đã hoặc đang phát triển, đều sử dụng OGP như một công cụ để tăng cường hiệu quả quản trị nhà nước, củng cố niềm tin của người dân vào bộ máy nhà nước và nâng cao hình ảnh, vị thế quốc tế của đất nước trên trường quốc tế. Thông qua việc tham gia OGP, một quốc gia đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ tới người dân trong nước và cộng đồng quốc tế rằng họ cam kết tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng chống tham nhũng, với mục đích đem lại sự ổn định và phát triển phồn vinh cho đất nước.   Tham gia OGP cũng đồng nghĩa với việc cam kết hoặc tái cam kết thực thi  Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) – mà hiện đã có hơn 180 nước thành viên, trong đó có Việt Nam. Nói cách khác, OGP chỉ bổ sung sự cam kết, quyết tâm và hỗ trợ các quốc gia trong việc thực thi một công cụ quốc tế sẵn có về quản trị tốt và phòng, chống tham nhũng là UNCAC.  Mọi quốc gia đều có thể tham gia OGP khi hội tụ đủ điều kiện tối thiểu 75% của tổng số 16 điểm, mà được xây dựng dựa trên 4 tiêu chí, bao gồm: (i) Minh bạch ngân sách, (ii) Minh bạch thông tin, (iii) Công khai tài sản và (iv) Sự tham gia của người dân.  Ở Việt Nam, tuy chưa được đề cập chính thức, song hầu hết các yếu tố của mô hình Chính phủ mở từ lâu đã và đang được Nhà nước triển khai, thông qua việc xây dựng Chính phủ điện tử, cải cách hành chính, xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Luật phòng chống tham nhũng, tham gia UNCAC…Bên cạnh đó, với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, trong mấy thập kỷ qua, Việt Nam đã triển khai một loạt sáng kiến, chương trình hành động nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước và phát triển bền vững, tiêu biểu trong số đó là các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), sáng kiến Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI), Chiến lược Phát triển thống kê của Việt Nam… Trong tất cả các tiêu chí nêu trên của OGP, pháp luật Việt Nam đều đã quy định rất cụ thể và đã đạt được những kết quả nhất định trong tổ chức thực hiện. Theo tính toán sơ bộ, Việt Nam hiện chỉ còn thiếu khoảng 4-5 điểm để trở thành thành viên OGP.   Tất cả những điều trên cho thấy OGP là một thiết chế quốc tế rất gần gũi, cần thiết và có tính hiện thực rõ ràng với Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế rất nhanh chóng, sâu rộng, cũng như quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang rất cao, chúng ta có thể hy vọng trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ trở thành thành viên của OGP.  Việc tham gia OGP không chỉ thúc đẩy công cuộc chống tham nhũng, mà quan trọng hơn sẽ mở ra một triển vọng mới cho việc cải cách quản trị nhà nước ở Việt Nam theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay cũng như đáp ứng các yêu cầu của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế. Thực tế cho thấy các mô hình nhà nước phúc lợi, nhà nước kế hoạch hoá tập trung, và cả nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển (theo mô hình Nhật Bản, Hàn Quốc) đều đã không còn phù hợp với thế kỷ 21, bởi tất cả các mô hình này đều lấy nhà nước làm trung tâm, đặt nhà nước ở vị trí thượng tôn so với người dân, vì vậy đã và đang tạo ra những xung đột và trở ngại cho sự phát triển của xã hội. Thế kỷ 21, với những yếu tố đặc trưng như toàn cầu hoá, dân chủ hoá, kinh tế thị trường và cách mạnh công nghiệp 4.0, đòi hỏi cách thức quản trị nhà nước cũng phải thay đổi so với trước đây. OGP là biểu hiện cho mô hình quản trị nhà nước (quản trị quốc gia, quản trị công) mới (new public governance) mà được khởi xướng kể từ thập kỷ 1980, trong đó lấy người dân làm trung tâm (citizen-centered governance). Trong mô hình này, các nhà nước vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng cách thức quản lý, sử dụng quyền lực không còn mang tính chất chuyên chế, mệnh lệnh hành chính một chiều như trước đây. Thay vào đó, chính quyền các cấp chủ động hợp tác, phối hợp với các chủ thể khác như các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi các chính sách quản trị công. Trong quản trị nhà nước kiểu mới, người dân giữ vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng. Người dân chủ động, tích cực tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các cơ quan dân cử và các tổ chức xã hội) vào mọi hoạt động của nhà nước. Trong khi đó, các  tổ chức xã hội là những chủ thể không thể thiếu trong quản trị nhà nước, đóng vai trò cầu nối giữa người dân và nhà nước. Bằng cách đó, quản trị công tính dân chủ cao, tạo ra sự đồng thuận xã hội lớn (xem Bảng 1 dưới đây).    Tóm lại, các nhà nước trên thế giới đang chuyển đổi. Nhận thức và những biểu hiện thực tế về vị trí, vai trò, chức năng, cách thức quản trị của các nhà nước đã và đang thay đổi rất nhiều so với trước đây. Sự chuyển đổi đó do nhiều yếu tố khách quan chi phối, và dựa trên cơ sở lý luận về quản trị công mới mà được thể hiện một cách rõ rệt nhất qua mô hình Chính phủ mở. Mặc dù vẫn còn một số   nội dung chưa cụ thể, song các lý thuyết về quản trị công mới và Chính phủ mở đang được hoàn thiện và đã chứng minh tính chất hợp lý, hiện thực của nó trong thực tế. Quản trị công mới và biểu hiện của nó là Chính phủ mở là xu thế mang tính quy luật trên thế giới trong thế kỷ 21. Xét tổng quát, không quốc gia nào có thể đứng ngoài hay đi ngược quy luật đó. Việt Nam trong thực tế đang vận động phù hợp với quy luật chung, song vẫn còn nhiều điều phải làm để bắt kịp tốc độ của các quốc gia trên thế giới, mà một trong những việc nên làm ngay trong thời gian tới là nghiên cứu tham gia OGP.¨  ———  *PGS.TS, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội  Chú thích:   1 https://www.opengovpartnership.org/  2 Xem Tuyên bố về Chính phủ mở (Open Government Declaration) tại https://www.opengovpartnership.org/open-government-declaration   3 Nguồn: OGP, https://www.opengovpartnership.org/stories/how-ogp-delivering-civil-society-quick-look-latest-figures       Author                Vũ Công Giao*        
__label__tiasang Chính quyền địa phương      Việc đề nghị bỏ hội đồng nhân dân ở cấp huyện  (và một số cấp hành chính khác) để thúc đẩy cải cách hành chính đang đặt ra rất nhiều vấn đề đáng phải băn khoăn.      Chính quyền địa phương là đơn vị hành chính. Nhưng đơn vị hành chính đặt tại các địa phương chưa chắc đã là chính quyền địa phương. Dưới thời phong kiến, chúng ta có không ít các đơn vị hành chính (như lộ, phủ, châu v.v.). Nhưng chúng ta không có chính quyền địa phương. Các đơn vị hành chính đều do chính quyền Trung ương thành lập và đại diện cho chính quyền Trung ương. Các quan chức đều  do vua bổ nhiệm và đều cai trị theo mệnh lệnh của vua.  Chính quyền địa phương không đại diện cho vua, mà đại diện cho cư dân địa phương. Bầu cử địa phương vì vậy là không thể thiếu để hình thành nên chính quyền địa phương.   Trên thế giới, về cơ bản, có hai cách để hình thành nên chính quyền địa phương.  Cách thứ nhất, người dân có thể bầu trực tiếp ra cả người đứng đầu cơ quan điều hành (gọi là thị trưởng, huyện trưởng, xã trưởng…) và cả hội đồng gồm các đại biểu. Trong trường hợp này, cả người đứng đầu cơ quan điều hành và cả các vị đại biểu hội đồng đều chịu trách nhiệm trước dân. Quyền hoạch định và triển khai các chính sách địa phương (chủ yếu là liên quan đến các dịch vụ công) được trao cho người đứng đầu cơ quan điều hành. Quyền thẩm định, phê chuẩn và giám sát việc thi hành các chính sách địa phương được trao cho hội đồng. Bằng việc kiểm tra và chế ước lẫn nhau, hai cơ quan này sẽ bảo đảm chất lượng của nền quản trị công ở địa phương.  Cách thứ hai, người dân cũng có thể chỉ bầu ra hội đồng, và hội đồng lựa chọn người đứng đầu cơ quan điều hành (phần nhiều là thông qua hình thức hợp đồng tuyển dụng theo thời hạn). Trong trường hợp này, chỉ có các vị đại biểu hội đồng chịu trách nhiệm trước dân. Và chỉ có hội đồng mới có quyền (tất cả mọi quyền hành liên quan đến các chính sách địa phương kể cả việc hoạch định, phê chuẩn, thực hiện và giám sát).  Theo bất cứ mô hình bầu cử nào, thì chế độ trách nhiệm trước dân và khuyến khích phục vụ dân trong nền quản trị công ở địa phương cũng được xác lập một cách rất giản dị và hiệu quả.   Với cách thức tổ chức chính quyền địa phương phổ quát như trên, thì việc đề nghị bỏ hội đồng nhân dân ở cấp huyện (và một số cấp hành chính khác) để thúc đẩy cải cách hành chính quả thực đang đặt ra rất nhiều vấn đề đáng phải băn khoăn.  Trước hết, nếu bỏ hội đồng nhân dân do dân bầu, thì ở cấp huyện chúng ta không có chính quyền địa phương, cùng lắm chúng ta chỉ có một đơn vị hành chính.  Hai là, do không nhận được ủy quyền của dân, nên đơn vị hành chính này không thể tự nhiên có quyền, mà phải nhận được sự ủy quyền từ đâu đó. Nếu nó nhận được sự ủy quyền từ chính quyền cấp tỉnh, thì nó là cơ quan đại diện cho tỉnh. Và chúng ta có mô hình tập quyền cho tỉnh. Nếu nó nhận được sự ủy quyền từ chính quyền Trung ương, thì nó đại diện cho trung ương. Và chúng ta có mô hình tập quyền cho Trung ương. Tuy nhiên, việc tập quyền cho tỉnh (hay tập quyền cho trung ương) sẽ tốt hơn so với hiện nay là điều không dễ chứng minh.  Ba là, nếu chúng ta tin rằng một ủy ban hành chính có thể phụng sự nhân dân trong huyện tốt hơn, toàn tâm, toàn ý hơn, trong lúc nó hoàn toàn không phụ thuộc gì vào những người dân trong huyện, thì đó chỉ là một niềm tin không có căn cứ.  Cuối cùng, đúng là thời gian đã chín muồi cho những cải cách thể chế. Tuy nhiên, chỉ có những cải cách hướng tới việc tăng cường hệ thống khuyến khích phục vụ dân và hệ thống chế độ trách nhiệm trước dân mới không dẫn chúng ta đi lạc đường.      Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Chính sách công nghiệp hóa của Việt Nam      Mặc dù có thuận lợi của một nước đi sau và nguồn lao động phong phú nhưng tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam từ thập niên 1990 đến nay lại không phát triển mạnh mẽ như chúng ta mong muốn. Trong khi đó, giai đoạn tới đây lại tiếp tục đặt ra những thách thức mới.      Ba thách thức của trào lưu công nghiệp hiện nay  Xem xét các ảnh hưởng từ biến động của kinh tế thế giới, khuynh hướng thay đổi công nghệ và dòng thác công nghiệp tại châu Á ngày nay, ta thấy có ba thách thức lớn đối với các nước còn đang trên quá trình công nghiệp hóa.  Thách thức đầu tiên là cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới sẽ diễn ra gay gắt vì công nghiệp trên thế giới hiện nay có khuynh hướng tăng chậm, một phần vì thị trường hàng hóa nói chung tăng với tốc độ chậm hơn do kinh tế thế giới suy thoái sau cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008. So với thời kỳ 1997-2007, sản xuất công nghiệp giai đoạn 2007-2014 của thế giới giảm mức tăng trung bình từ 3,2% xuống còn 0,7%. Mỹ và Nhật hoàn toàn không tăng, các nước khác tại châu Á đều giảm, trừ Philippines. Nhiều chuyên gia dự đoán khuynh hướng đình trệ trong sản xuất công nghiệp thế giới có lẽ sẽ tiếp tục trong giai đoạn tới. Một phần nguyên nhân khác của khuynh hướng tăng trưởng chậm là hiện tượng sản xuất thừa, nhất là trong công nghiệp nặng như sắt thép, bắt nguồn từ sự trỗi dậy của Trung Quốc, quốc gia vươn lên thành nền kinh tế thứ hai thế giới chủ yếu bằng công nghiệp và chiếm tới 40 hoặc 50% sản lượng thế giới trên nhiều mặt hàng.  Thách thức thứ hai cũng liên quan thách thức thứ nhất, nhiều nước ở giai đoạn thu nhập trung bình, thậm chí ở mức thu nhập trung bình thấp, đã bắt đầu phải chuyển sang thời đại hậu công nghiệp một cách bất đắc dĩ, tức là tỉ trọng sản phẩm công nghiệp trong GDP bắt đầu giảm và giảm liên tục dù quá trình công nghiệp hóa cũng như trình độ phát triển của nền kinh tế còn ở giai đoạn thấp. Palma (2008) gọi hiện tượng đó là “thoát công nghiệp hóa còn non” (premature de-industrialization).  Hầu hết các nước ASEAN từ khoảng năm 2005 đã bắt đầu hiện tượng hậu công nghiệp hóa. Đặc biệt tại Việt Nam, tỉ lệ của công nghiệp trong GDP mới ở khoảng 20% đã bắt đầu giảm và giảm liên tục. Công xưởng thế giới Trung Quốc đã tác động mạnh đến các nước ASEAN do yếu tố địa lý và các nguyên nhân khác như thể chế (Việt Nam), mạng lưới người Hoa (Thái Lan, Malaysia,…) hoặc quan hệ bổ sung với Trung Quốc trong vai trò cung cấp năng lượng, nguyên liệu (Indonesia). Trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc, ASEAN có đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường lớn này nhưng tác động của nhập khẩu hàng công nghiệp từ Trung Quốc lại mạnh hơn nhiều mà Việt Nam là trường hợp điển hình.  Khảo sát những nước tiên tiến như Mỹ, Nhật, ta thấy thời điểm hậu công nghiệp xảy ra chậm, khi nền kinh tế đã chuyển từ thu nhập trung bình cao lên mức cao. Chẳng hạn trường hợp của Mỹ thì đó là khoảng năm 1950 (Acemoglu 2009) và Nhật vào giữa thập niên 1970 (Komine and Murata 2016). Hình 1 cho thấy Nhật Bản và Hàn Quốc khi đã đạt được mức thu nhập trung bình trên 35.000 USD (theo PPP năm 2005) thì tỉ lệ của công nghiệp trên GDP mới bắt đầu giảm. Trong khi đó, các nước ASEAN hiện nay mới đạt mức khoảng 4000 hoặc 5000 USD đã phải trực diện với tình huống hậu công nghiệp hóa, nghĩa là đã chuyển sang phát triển dịch vụ quá sớm. Nhất là Việt Nam vừa mới trở thành nước thu nhập trung bình thấp đã phải đối diện với nguy cơ đó. Tình hình này sẽ làm tốc độ phát triển chậm lại vì năng suất lao động trong dịch vụ thường thấp hơn công nghiệp.1    Hình 1. Công nghiệp hoá và hậu công nghiệp hoá tại một số nước Đông Á.  Thách thức thứ ba là cuộc cách mạng công nghệ mới với tính chất ngày càng tự động hóa, sản xuất công nghiệp ngày càng ít dùng lao động. Ngay những nhà máy lớn của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Việt Nam trong khoảng 10 năm qua đã giảm đáng kể số lượng lao động mặc dù sản lượng tiếp tục tăng.2 Ngoài ra, sự phân tầng trong thị trường lao động cũng đang diễn ra. Những người có năng lực thích ứng với môi trường công nghệ mới thì năng suất và thu nhập cao, trong khi những công việc dành cho lao động kỹ năng thấp ngày càng ít và tầng lớp lao động kỹ năng thấp sẽ ngày càng rơi vào tình trạng thất nghiệp.  Chiến lược, chính sách của Việt Nam cho giai đoạn mới  Để khắc phục những hạn chế trong giai đoạn vừa qua và đối phó với những thách thức mới, Việt Nam cần có các chiến lược, chính sách gì?  Thứ nhất, với một lực lượng lao động hùng hậu của một quốc gia sắp đạt 100 triệu dân, Việt Nam cần đẩy mạnh công nghiệp hóa trong một diện vừa rộng vừa sâu mới tránh được hiện tượng bước vào thời đại hậu công nghiệp quá sớm.  Về diện rộng, hai lĩnh vực cần chú trọng là công nghiệp cơ khí như xe hơi, xe máy, máy in, máy công cụ, computer, camera, v.v. – đây là ngành mà Việt Nam có tiềm năng cao theo đánh giá của các công ty đa quốc gia, đồng thời, hợp với nhu cầu ngày càng tăng của thế giới  – và công nghiệp thực phẩm chế biến từ nông thủy sản mà Việt Nam có nguồn cung cấp phong phú.  Với các loại máy móc, trên chuỗi cung ứng toàn cầu và tại khu vực Á châu, hiện nay chất lượng sản phẩm sản xuất ở Việt Nam mới ở dạng thấp hoặc trung bình. Việt Nam cần nghiên cứu và tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI chuyển dịch chất lượng sản phẩm lên cao hơn. Đó là kết quả của chuyến đi điều tra thực tế của tôi tại các khu công nghiệp ở Việt Nam vào tháng tám năm 2016. Chính phủ nên đối thoại với các tập đoàn lớn sản xuất máy in, xe máy, xe hơi, v.v. để biết cần có chính sách gì để khuyến khích họ mở rộng và nâng cao diện sản xuất tại nước ta.      Với những nước nông nghiệp đông dân, dư thừa lao động, con đường phát triển hiệu quả, bền vững là công nghiệp hóa, đẩy cơ cấu công nghiệp lên cao trong một giai đoạn dài rồi mới chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp.      Với công nghiệp thực phẩm, chỉ riêng ở Á châu đã có khoảng 500 triệu dân có thu nhập 5.000 USD trở lên, tạo ra thị trường rất lớn về thực phẩm chất lượng cao, nhất là thực phẩm và nước uống bảo đảm an toàn vệ sinh. Việt Nam cần liên kết với các công ty uy tín ở nước ngoài về phương diện này để du nhập công nghệ chế biến, kỹ thuật quản lý, bảo quản và chuyên chở. Đây cũng là lĩnh vực quan trọng trong việc đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn.  Việc thâm sâu (deepening) quá trình công nghiệp hóa cũng quan trọng. Đây là việc mở rộng sản xuất hàng công nghiệp theo chiều dọc, xuất phát từ sản phẩm lắp ráp, chế biến tiến sâu vào sản phẩm trung gian để tăng giá trị tính thêm và tạo thêm công ăn việc làm. Việt Nam cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới về các ngành may mặc và sản phẩm điện tử nhưng đồng thời ngày càng nhập siêu vải, sợi và linh kiện điện tử là những sản phẩm trung gian của các mặt hàng xuất khẩu đó. Xúc tiến thay thế nhập khẩu các mặt hàng trung gian này sẽ làm thâm sâu quá trình công nghiệp hóa.  Ngoài ra, nếu môi trường đầu tư thông thoáng, doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ phát hiện nhiều lĩnh vực có tiềm năng khác.  Thứ hai, Việt Nam cần ưu tiên củng cố nội lực, cụ thể là tăng năng lực quản trị nhà nước và xây dựng tư bản dân tộc ngày càng vững mạnh. Mũi đột phá là các vấn đề cải cách hành chính, cơ chế tuyển chọn cán bộ, và hoàn thiện các thị trường yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động. Đây cũng là điều kiện để Việt Nam tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp. Để tư bản dân tộc phát triển, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân phải được bình đẳng trong việc tiếp cận vốn và các nguồn lực khác.  Thứ ba, Nhà nước phải quan tâm tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam kết nối có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước tạo lập được thương hiệu riêng. Không chỉ cần tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động của doanh nghiệp mà còn phải đi xa hơn, năng động hơn trong việc làm cho tư bản dân tộc cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới. Điều này đòi hỏi các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải nỗ lực nghiên cứu, thường xuyên theo dõi biến động của thị trường và công nghệ thế giới, nghiên cứu kinh nghiệm các nước và nhanh chóng đưa ra các chính sách phù hợp và kịp thời.      Thứ tư, cần rà soát và lập lại chiến lược hội nhập. Song song với việc mở cửa thị trường trong các cam kết về tự do mậu dịch, phải có chiến lược nuôi dưỡng các ngành công nghiệp có tiềm năng. Mặt khác, phải thay đổi chiến lược tiếp nhận FDI và tiếp cận với công nghệ của thế giới. Cụ thể, chỉ cấp giấy phép cho những dự án có công nghệ cao và đóng góp trực tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao, chuyển dịch sản phẩm lên cao hơn trên chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp chủ đạo. Ngoài ra, khuyến khích các dự án liên doanh với doanh nghiệp trong nước và ưu tiên kêu gọi FDI từ những công ty có uy tín và năng lực công nghệ cao trên thế giới. Những công ty đó vốn đã xác lập được văn hóa kinh doanh và luôn giữ thanh danh của mình nên sẽ bảo vệ môi trường và tuân thủ luật pháp của nước họ đến đầu tư. Đối với doanh nghiệp trong nước, cả quốc doanh và tư nhân, cần khuyến khích tiếp thu công nghệ nhiều hơn qua hợp đồng để đổi mới công nghệ nhưng đi kèm với cơ chế kiểm tra trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước để tránh lãng phí kinh phí đầu tư.  Thứ năm, cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trước mắt đáp ứng với nhu cầu trong trào lưu công nghệ mới, và về lâu dài có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường, của công nghệ. Nhà nước nên ưu tiên hỗ trợ những đại học, kể cả đại học tư, có khả năng đáp ứng nhu cầu mới đó.  Lời kết  Ít nhất là cho đến khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao, công nghiệp hóa phải được tiếp tục coi là đầu tàu trong quá trình phát triển. Các chiến lược, chính sách cần nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa cả diện rộng và bề sâu mới tránh được hiện tượng chuyển sang thời đại hậu công nghiệp hóa quá sớm. Mặt khác, phải xác định ngoại lực quan trọng nhưng nội lực có vai trò quyết định trong quá trình công nghiệp hóa, vì vậy cần củng cố nội lực, nuôi dưỡng tư bản dân tộc và quan tâm chọn lựa FDI theo hướng chỉ khuyến khích những dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường và trong những lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước chưa có khả năng sản xuất.     Tư liệu tham khảo:  Acemoglu Daron (2009), Introduction to Modern Economic Growth, Princeton University Press.  Fingleton, Eamonn (1999), In Praise of Hard Industries: Why Manufacturing, Not The Information Economy, Is The Key to Future Prosperity, Buttonwood Press.  Komine, T. và K. Murata (2016), Saishin Nihon Keizai Nyumon, (Nhập môn mới nhất về Kinh tế Nhật bản), Bản tu chỉnh và bổ sung lần thứ 5, Nihon Hyoronsha.  Palma, J. G. (2008), “De-industrialization, ‘premature’ de-industrialization and the Dutch Disease”, in Durlauf S. N. and E. B. Lawrence, eds., The New Palgrave Dictionary of Economics, Second Edition.  Trần Văn Thọ (2006), Biến động kinh tế Đông Á và Con đường Công nghiệp hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.  Trần Văn Thọ (2016), Cú sốc thời gian và Kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức.  Weiss, John (1988), Industry in Developing Countries: Theory, Policy and Evidence, Croom Helm.  ——–  1 Ngay cả trường hợp Mỹ là nước thu nhập rất cao, tiên tiến hàng đầu về mọi lĩnh vực, vẫn còn ý kiến cho rằng Mỹ cần quan tâm hơn nữa việc phát triển công nghiệp và khả năng, dư địa để phát triển còn rất lớn. Xem, chẳng hạn, Fingleton (1999).  2 Tháng 8 năm 2016, tôi có đi khảo sát các nhà máy của Canon, Honda, Brothers, YKK, v.v… tại Việt Nam. Kết quả cho thấy trong khoảng 10 năm qua, sản lượng vẫn gia tăng nhưng số lao động giảm tới trên dưới 30%.       Author                Trần Văn Thọ        
__label__tiasang Chính sách KH&CN hiện nay liệu có giúp thoát bẫy thu nhập trung bình?      Đó là câu hỏi mà nghiên cứu gần đây đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phát triển của NXB Routledge, của hai tác giả người Anh là Robyn Klingler – Vidra và Robert Wade từ Đại học King’s College London và trường Đại học Kinh tế và Chính trị London cố gắng trả lời*.      Việt Nam phải thay đổi từ một nền kinh tế chuyên gia công thành một nền kinh tế mà giá trị gia tăng dựa trên những sản phẩm và quy trình đổi mới sáng tạo. Ảnh: East West Manufacturing  Bẫy thu nhập trung bình là một “nỗi ám ảnh” bao phủ các quốc gia đang phát triển ở ASEAN khi tổng giá trị đầu ra của nền kinh tế không thể đuổi kịp mức độ tăng của giá thành sản xuất. Pietro Masina, Phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu châu Á, Đại học Quốc gia Singapore cho rằng, không một quốc gia ASEAN nào, bao gồm cả Việt Nam hiện có khả năng bước từ một quốc gia có nền công nghiệp phụ trợ phụ thuộc vào chỉ dẫn nước ngoài thành một quốc gia hoàn toàn làm chủ và nội địa hóa cả về quản trị và công nghệ.  Cách rõ nhất để Việt Nam thoát khỏi điều này đã được nhắc đến từ gần 10 năm trước trong các báo cáo của World Bank là phải chuyển từ một nền kinh tế dựa vào lao động giá rẻ sang một nền kinh tế dựa vào năng suất lao động cao hơn, giá trị gia tăng dựa trên đổi mới sáng tạo trong quy trình và sản phẩm nhiều hơn. Các chuyên gia, cụ thể hơn, cho biết rằng, chính phủ phải đầu tư nhiều hơn vào khoa học và công nghệ, bao gồm cả việc đầu tư cho giáo dục các ngành này.  Chính phủ Việt Nam, trong những phát biểu của mình, cũng luôn tỏ ra đồng tình với quan điểm trên. Nhất là khi Việt Nam được “truyền cảm hứng” từ người láng giềng Trung Quốc – một nước có cơ chế hành chính tương đồng với Việt Nam ở điểm TW ban hành nghị quyết, địa phương triển khai hoạt động. Trung Quốc không chỉ có nền khoa học và công nghệ tiên tiến vượt bậc trong chưa đầy ba thập kỉ trở lại đây mà chính sách của họ thể hiện đầy quyết tâm với những mục tiêu dài hạn, chẳng hạn như sáng kiến Made in China 2025, nhằm mục tiêu thúc đẩy quốc gia này dẫn đầu thế giới trong những công nghệ tiên phong như trí tuệ nhân tạo, robotics…  Tuy nhiên, trong 10 năm qua ở Việt Nam, lời nói và hiện thực là cả một khoảng cách xa.  Theo hai tác giả của nghiên cứu, có thể phân các chính sách đổi mới sáng tạo thành ba loại: hướng tới mục tiêu (mission – oriented), hướng tới phát minh, sáng chế (invention-oriented) và hướng tới điều chỉnh hệ thống (system oriented).  Các chính sách hướng tới mục tiêu dài hạn tập trung vào đầu ra có ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ, còn gọi là “đổi mới sáng tạo từ trên xuống”, bày tỏ tham vọng của chính phủ trong việc thay đổi một ngành, lĩnh vực công nghiệp nào đó, chẳng hạn như chính sách Made in China 2025 nói trên của Trung Quốc hay chính sách “đưa người lên Mặt trăng” do John F. Kennedy khởi xướng vào những năm 50.  Các chính sách hướng tới phát minh sáng chế thường chỉ tập trung vào giai đoạn sáng chế hơn là việc khai thác và thương mại hóa nó. Các chính sách này thể hiện dưới dạng tăng đầu tư R&D mạnh mẽ ở tất cả các khối nhà nước, viện, trường; trong đó bao gồm cả việc khuyến khích tư nhân đầu tư vào R&D, tăng số lượng biên chế cho các tổ chức nghiên cứu, đầu tư cho giảng dạy STEM.  Bẫy thu nhập trung bình là một “nỗi ám ảnh” bao phủ các quốc gia đang phát triển ở ASEAN khi tổng giá trị đầu ra của nền kinh tế không thể đuổi kịp mức độ tăng của giá thành sản xuất. Pietro Masina, Phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu châu Á, Đại học Quốc gia Singapore cho rằng, không một quốc gia ASEAN nào, bao gồm cả Việt Nam hiện có khả năng bước từ một quốc gia có nền công nghiệp phụ trợ phụ thuộc vào chỉ dẫn nước ngoài thành một quốc gia hoàn toàn làm chủ và nội địa hóa cả về quản trị và công nghệ.  Cách rõ nhất để Việt Nam thoát khỏi điều này đã được nhắc đến từ gần 10 năm trước trong các báo cáo của World Bank là phải chuyển từ một nền kinh tế dựa vào lao động giá rẻ sang một nền kinh tế dựa vào năng suất lao động cao hơn, giá trị gia tăng dựa trên đổi mới sáng tạo trong quy trình và sản phẩm nhiều hơn. Các chuyên gia, cụ thể hơn, cho biết rằng, chính phủ phải đầu tư nhiều hơn vào khoa học và công nghệ, bao gồm cả việc đầu tư cho giáo dục các ngành này.  Chính phủ Việt Nam, trong những phát biểu của mình, cũng luôn tỏ ra đồng tình với quan điểm trên. Nhất là khi Việt Nam được “truyền cảm hứng” từ người láng giềng Trung Quốc – một nước có cơ chế hành chính tương đồng với Việt Nam ở điểm TW ban hành nghị quyết, địa phương triển khai hoạt động. Trung Quốc không chỉ có nền khoa học và công nghệ tiên tiến vượt bậc trong chưa đầy ba thập kỉ trở lại đây mà chính sách của họ thể hiện đầy quyết tâm với những mục tiêu dài hạn, chẳng hạn như sáng kiến Made in China 2025, nhằm mục tiêu thúc đẩy quốc gia này dẫn đầu thế giới trong những công nghệ tiên phong như trí tuệ nhân tạo, robotics…  Tuy nhiên, trong 10 năm qua ở Việt Nam, lời nói và hiện thực là cả một khoảng cách xa.  Theo hai tác giả của nghiên cứu, có thể phân các chính sách đổi mới sáng tạo thành ba loại: hướng tới mục tiêu (mission – oriented), hướng tới phát minh, sáng chế (invention-oriented) và hướng tới điều chỉnh hệ thống (system oriented).  Các chính sách hướng tới mục tiêu dài hạn tập trung vào đầu ra có ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ, còn gọi là “đổi mới sáng tạo từ trên xuống”, bày tỏ tham vọng của chính phủ trong việc thay đổi một ngành, lĩnh vực công nghiệp nào đó, chẳng hạn như chính sách Made in China 2025 nói trên của Trung Quốc hay chính sách “đưa người lên Mặt trăng” do John F. Kennedy khởi xướng vào những năm 50.  Các chính sách hướng tới phát minh sáng chế thường chỉ tập trung vào giai đoạn sáng chế hơn là việc khai thác và thương mại hóa nó. Các chính sách này thể hiện dưới dạng tăng đầu tư R&D mạnh mẽ ở tất cả các khối nhà nước, viện, trường; trong đó bao gồm cả việc khuyến khích tư nhân đầu tư vào R&D, tăng số lượng biên chế cho các tổ chức nghiên cứu, đầu tư cho giảng dạy STEM.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách ngoại giao con đường tơ lụa: lịch sử bị xuyên tạc      Gần đây nhất, nhà lãnh đạo của Trung Quốc, TBT Tập Cận Bình trong các chuyến thăm của tới các quốc gia ở Trung và Nam Á, đã nhấn mạnh vai trò của việc tái lập các trục hải hành mà Đô đốc Trung Quốc Trịnh Hòa dẫn hạm đội của mình băng qua Ấn Độ Dương bảy lần, như là biểu tượng của hòa bình và thịnh vượng.       Vào tháng Chín năm 2013, chưa đầy một năm sau khi nhậm chức Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tập đưa ra sáng kiến đối ngoại mới được gọi là “Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa”. Trong một diễn văn đọc tại Đại học Nazarbayev của Kazakhstan, khi kêu gọi hợp tác và phát triển của khu vực Á-Âu thông qua sáng kiến đường tơ lụa mới này, ông Tập nêu năm mục tiêu cụ thể: tăng cường hợp tác kinh tế, cải thiện việc kết nối đường bộ, xúc tiến thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho chuyển đổi tiền tệ, và ủng hộ sự trao đổi giữa người dân với nhau.   Một tháng sau, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 16 tổ chức tại Brunei, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất việc xây dựng một”Con đường tơ lụa trên biển” thế kỷ 21 để cùng nhau thúc đẩy hợp tác hàng hải, kết nối, nghiên cứu khoa học và môi trường, và khai thác hải sản. Vài ngày sau đó, trong bài phát biểu với Quốc hội Indonesia ông Tập xác nhận ý tưởng này và nói rằng Trung Quốc sẽ góp quỹ để “phát triển mạnh mẽ quan hệ đối tác hàng hải trong một nỗ lực chung xây dựng con đường tơ lụa hàng hải của thế kỷ 21”, kéo dài từ bờ biển Trung Quốc đến Địa Trung Hải.   Trong cả hai bài phát biểu, ông Tập nhấn mạnh mối quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực từ thời cổ đại và mong muốn tái hiện nó trong một thế giới toàn cầu hóa, hiện đại. Tại Kazakhstan, ông quy cho sứ thần Tây Hán Trương Khiên”gánh vác sứ mệnh hòa bình và hữu nghị” và mở ra cánh cửa liên lạc Đông-Tây và lập “Con đường tơ lụa”. Tại Indonesia, ông đã tán dương đô đốc Trịnh Hòa nhà Minh đã để lại “những câu chuyện đẹp về mối giao lưu hữu nghị giữa dân Trung Quốc với Indonesia.”   Song, ông đã không đề cập đến bi kịch xung đột và truyền bá một trật tự thế giới Dĩ Hoa vi trung. Do các chính sách bành trướng, Đế quốc Hán cho rằng mình có trách nhiệm giáo hóa người Hung Nô nguyên du mục thành một thực thể chư hầu vốn bị xem là kình chống lực lượng người Hán. Năm 138 TCN đế chế nầy phái Trương đến Trung Á để định vị người Nguyệt Chi theo hành trình của người Hung Nô. Tuy nhiên, sứ mệnh của ông đã thất bại, ông đã bị người Hung Nô cầm tù và buộc kết hôn với một phụ nữ địa phương. Trốn thoát sau 10 năm bị giam cầm, ông hiểu ra rằng người Nguyệt Chi không quan tâm đến một liên minh quân sự. Đóng góp duy nhất của Trương Khiên là báo cho triều đình nhà Hán các thể chế và dân chúng trong khu vực Trung Á.   Tương tự vậy, trên thực tế, bảy chuyến thám hiểm của Đô đốc Trịnh Hòa giữa các năm 1405 và 1433 bao gồm sử dụng vũ lực ở các vùng đất nay là Indonesia, Malaysia, Sri Lanka và Ấn Độ, là phong chư hầu và kiểm soát hành lang chiến lược ở Ấn Độ Dương. Ông ta can thiệp vào việc triều chính của Sri Lanka và Indonesia và bắt tù nhân về Nam Kinh, kinh đô nhà Minh. Minh Hoàng đế Vĩnh Lạc nguyên phái Trịnh ra biển Tây để tìm kiếm đứa cháu trai của ông đã bị lật đổ khỏi ngai vàng và phổ biến tính ưu trội của nền văn minh Trung Quốc. Trong quá trình thám hiểm, Trịnh đã đưa rất nhiều vị vua và hoàng tử về khấu đầu trước hoàng đế và trao đổi tặng vật. Các chuyến đi đã bị lãng quên khi chúng hóa ra quá tốn kém và trao quyền quá mức cho một hoạn quan như Trịnh Hòa, theo quan điểm của các quan lại của một triều đình Khổng giáo.   Đế quốc Hán sử dụng chiến thuật tương tự ở Trung Á, đặc biệt là tại các vị trí chiến lược trên tuyến đường thương mại. Vì vậy, không phải tuyến đường bộ cũng chẳng phải là luồng hàng hải, gọi chung là Con đường tơ lụa, là sự giao lưu hòa bình hoặc thúc đẩy hữu nghị thông qua sự hiện diện của Trung Quốc.   Cũng có một vấn đề thuật ngữ “Con đường tơ lụa” hoặc “Tuyến đường tơ lụa”. Nhà địa lý Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra thuật ngữ vào năm 1877 cho các tuyến đường bộ thương mại cổ xưa xuyên qua Trung Á. Kể từ đó, nhiều tuyến đường kết nối Trung Quốc với thế giới bên ngoài được gọi là “con đường tơ lụa” hoặc “Tuyến đường tơ lụa” mặc dù thực tế tơ lụa không phải là mặt hàng sớm nhất lẫn được giao dịch nhiều nhất trên bất kỳ các đường nào. Ngoài ra, thuật ngữ nầy , với sự cố công của các học giả Trung Quốc, đã đề cao tầm quan trọng không xác đáng vai trò của Trung Quốc trong các tương tác liên khu vực tiền hiện đại. Điều này xuất phát từ sự đeo bám của các ảnh hưởng dai dẳng ngoại lai vào xã hội và kinh tế Trung Quốc trong suốt 2000 năm qua.   Có lẽ, giống như nhiều người Trung Quốc, quan điểm của ông Tập về con đường tơ lụa đã được tạo thành bởi hệ thống giáo dục của CHNDTH ngăn cản sự phân tích có tính phê phán các nguồn sử liệu. Cũng có thể là ông Tập đã thực sự bị ảnh hưởng bởi cái thực tế là gia đình ông xuất thân gần kinh đô Tây An Trung Quốc cổ đại, trong lịch sử gọi là Trường An, một nơi được công nhận trong sử sách như là điểm khởi đầu của con đường tơ lụa trên bộ.   Một số quốc gia sẵn sàng chấp nhận những câu chuyện lịch sử bị bóp méo vì những lý do kinh tế.   Ví dụ, năm rồi Chính phủ Sri Lanka đã nhận được một bức tượng họ Trịnh mạ vàng như một món quà từ Hiệp hội Quản lý du lịch quốc tế của Trung Quốc. Hai bên tuyên bố rằng Trịnh Hòa và các cuộc thám hiểm của ông tiêu biểu cho quan hệ thương mại và hòa bình cổ xưa giữa Trung Quốc và Sri Lanka. Bỏ qua các chi tiết Trịnh đã thay đổi chế độ vốn có trong khu vực; bắt cóc một quan lại địa phương, ông Alaskawera, và đã đưa ông nầy về Nam Kinh như một tù nhân. Trịnh cũng đi bằng cáng tới khu Phật tích xá lợi nổi tiếng tại Kandy, một biểu tượng xa xưa về chủ quyền của Sri Lanka.  Xung đột quân sự cũng diễn ra ở một vài nơi của Indonesia, khi một số tờ báo địa phương hoan nghênh đề xuất của ông Tập, ghi nhận rằng “con đường tơ lụa” có thể mang lại “cơ hội to lớn cho sự phát triển của khu vực”. Không cần biết tới một thực tế là ở Sumatra, năm 1407, Trịnh đã thay đổi chế độ bằng cách bắt cóc một nhà lãnh đạo dân tộc địa phương có tên Trung Quốc là Trần Tổ Nghĩa, người bị triều đình nhà Minh miêu tả như một cướp biển. Sau khi Trần bị hành hình công khai ở Nam Kinh, một người đại diện cho lợi ích của triều đình nhà Minh trong khu vực thay thế ông nầy. Cũng năm đó, Trịnh cũng can thiệp vào công việc nội bộ của chính thể Majapahit ở Java, tựa thể để làm suy yếu sức mạnh chủ yếu của khu vực nầy ở Đông Nam Á.   Với một số nước ở châu Á và châu Âu, sáng kiến Con đường tơ lụa của chính phủ Trung Quốc, với dòng tiền và đầu tư dồi dào, có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Còn đối với Trung Quốc, sự thành công của sáng kiến này sẽ mở ra con đường mới cho việc đầu tư nguồn dự trữ tiền tệ khổng lồ của mình, đánh dấu một bước tiến lớn trong tái dựng trật tự thế giới Trung Hoa thời cổ đại. Đó là, mọi nơi được biết đến trên thế giới nầy đều thuộc về một hoàng đế Trung Quốc thừa mệnh Trời.   T.Q.Nam dịch  …………………………..  Về tác giả:   Tansen Sen là giáo sư Đại học Baruch, Đại học tổng hợp thành phố New York. Ông chuyên về lịch sử và các tôn giáo Á Châu, ông đặc biệt uyên bác về mối tương tác Ấn Độ-Trung Quốc, mậu dịch vùng Ấn Độ Dương, Phật giáo, và khảo cổ học về con đường tơ lụa. Ông là tác giả quyển “Phật giáo, ngoại giao và thương mại: Hợp tuyển Quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ, những năm 600-1400” (nxb Đại học Hawaii, 2003) và đồng tác giả (với Victor H. Mair) quyển “Truyền thống Trung Quốc ở châu Á và Lịch sử thế giới”(Hiệp hội Châu Á học, 2012).   ……………………  Tham khảo:   Nicola Di Cosmo, Trung Quốc cổ đại và kẻ thù của nó: Sự gia tăng của quyền lực du cư trong lịch sử Đông Á. Cambridge: nxb ĐH Cambridge, 2002.   Edward L. Dreyer, Trịnh Hòa: Trung Quốc và các đại dương sơ kỳ triều Minh, 1405-1433. New York: Longman, 2007.   Étienne de la Vaissière, Thương nhân xứ Sogdia: Một lịch sử. Leiden: Brill, 2005.   Louise Levathes, Khi Trung Quốc thống trị biển: Hạm đội của Thiên tử, 1405-1433. New York: nxb ĐH Oxford, 1994.   Tansen Sen, “Thay đổi Chế độ: Hai hồi can thiệp quân sự của Trung Quốc ở Nam Á thời trung cổ ” Trong Upinder Singh và Parul P. Dhar (Ed.), Gặp gỡ châu Á: Tìm hiểu lịch sử kết nối. New Delhi: nxb ĐH Oxford, sắp xuất bản.   Geoff Wade, “Bạo lực của triều Minh Trung Quốc chống lại chính thể láng giềng và các mô tả trongchính sửTrung Quốc”. Trong cuốn sách của Upinder Singh và Parul P. Dhar (Ed.), Tao ngộ châu Á: Tìm hiểu lịch sử kết nối. New Delhi: Oxford University Press, sắp xuất bản.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách “nhất quán” đầy mâu thuẫn của Trung Quốc trên Biển Đông Nam Á      Điều nhất quán duy nhất trong chính sách đối ngoại trên Biển Đông Nam Á  của Trung Quốc chính là sự thiếu nhất quán và thiếu chiến lược rõ rệt.     Trung Quốc luôn sử dụng một điệp khúc phổ biến về cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải trên Biển Đông Nam Á là phải thông qua công cụ của chính sách đối ngoại, cụ thể là bằng con đường song phương. Đây là lời giải thích của Trung Quốc về việc từ chối cùng Philippines tham gia Tòa án Trọng tài Thường trực. Tương tự như vậy, đây là lý do để  Trung Quốc cố tình kéo dài thời gian quyết định Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông với ASEAN. Vậy, phải chăng chính sách đối ngoại nhất quán của Trung Quốc trên Biển Đông Nam Á là chính sách song phương?       Không phải thế. Chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong thực tế  rất khác với những gì mà họ đã đề ra. Chính sách này hoàn toàn không nhất quán mà bao gồm cả những yếu tố đa phương, song phương, và (gần đây nhất) là đơn phương, tóm lại là đã đạt đến mức độ thất thường không ai hiểu nổi.      Trong bối cảnh đa phương, Trung Quốc đã từng chứng minh rằng nó sẵn sàng thừa nhận các cam kết có tính ràng buộc lẫn không ràng buộc mặc dù nó hoàn toàn không có ý định tuân thủ. Năm 1996, Trung Quốc đã ký vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), nhưng vẫn tiếp tục khẳng định các yêu sách về chủ quyền hàng hải hoàn toàn không phù hợp với công ước này. Trong phạm vi các cam kết không ràng buộc, Trung Quốc là một bên tham gia Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông Nam Á (DOC). Tuy nhiên,thông qua các hành vi quấy rối liên tục của các tàu Trung Quốc trong vùng biển quốc tế, hành động leo thang tại bãi đá ngầm Scarborough vào năm 2012, và việc tham gia vào các dự án cải tạo đất trong quần đảo Trường Sa vào năm 2014, quốc gia này đã trắng trợn bỏ qua các cam kết chính trị của mình để lờ đi không thực hiện DOC.      Tương tự như vậy, sự tuân thủ các cam kết song phương của Trung Quốc, vốn là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của nước này trên Biển Đông Nam Á, cũng đầy tính lấn át. Vào đầu tháng Năm, Trung Quốc đã đơn phương chuyển giàn khoan dầu Hải Dương -981 của Tổng Công ty dầu khí (CNOOC) vào vùng biển tranh chấp ngoài khơi bờ biển Việt Nam và trong vùng lân cận quanh quần đảo Hoàng Sa. Hành động này đã được thực hiện bất chấp thỏa thuận song phương năm 2011 giữa Trung Quốc và Việt Nam về “các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề liên quan đến vùng biển”, trong đó cả hai quốc gia đã đồng ý giải quyết tranh chấp “thông qua đàm phán hữu nghị và tham vấn.” Tương tự như vậy , vào năm 2012, Trung Quốc đơn phương vi phạm những cam kết về phía mình trong một cuộc đàm phán song phương với Philippines mà qua đó cả hai bên đều phải rút tàu của mình về sau trận đụng độ bất phân thắng bại tại bãi đá ngầm Scarborough. Nói cách khác, cho dù các quốc gia có đồng ý với yêu cầu của Trung Quốc để áp dụng cơ chế song phương thay vì đa phương hoặc trọng tài thì cuối cùng họ cũng chỉ đạt được kết quả giống hệt như nếu họ chống lại các yêu sách của Trung Quốc ngay từ đầu – tức là, sẽ vẫn phải chấp nhận những hành động đơn phương từ phía Trung Quốc.      Có thể rút ra một kết luận khi xem xét việc thực hành chính sách đối ngoại trên Biển Đông Nam Á của Trung Quốc. Kết luận đó là: điều nhất quán duy nhất trong chính sách của nước này chính là sự thiếu nhất quán và thiếu chiến lược rõ rệt của nó. Những mâu thuẫn nói trên này không chỉ gây nghi ngờ về thiện chí của Trung Quốc trong việc đàm phán và diễn giải các thỏa thuận quốc tế mang tính ràng buộc và không ràng buộc, mà còn tạo ra mối nghi ngờ rằng với những sự thiếu nhất quán như vậy từ Trung Quốc, liệu có thể có sự ổn định và hợp tác trong khu vực hay chăng?   —-   Ryan Santicola là một cố vấn quân pháp (judge advocate) trong Hải quân Hoa Kỳ . Quan điểm thể hiện trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chính phủ, Bộ Quốc phòng hoặc Bộ của Hải quân Mỹ.      Phương Anh dịch       Nguồn:   http://thediplomat.com/2014/05/chinas-consistently-inconsistent-south-china-sea-policy/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách ‘Sandbox’: Cần tìm một hướng đi khác      Sau hơn 5 năm khởi động bàn thảo về sandbox, Việt Nam vẫn chưa thực sự có sandbox nào đúng nghĩa. Và doanh nghiệp tiếp tục chọn Singapore là nơi đăng ký pháp nhân để khởi nghiệp kinh doanh công nghệ; thay vì chọn quê hương mình là Việt Nam. Để giải quyết tình trạng chậm trễ này chúng tôikhuyến nghị hai giải pháp tập trung cho hai vấn đề (1) tạo hành lang pháp lý cho sandbox nói chung; (2) thực thi cấp phép sandbox.     Đã từng có một mô hình “dáng dấp” sandbox được áp dụng cho kinh doanh taxi công nghệ cách đây 3-5 năm. Ảnh: Entrepreneur.com  Khi nhà nước `án binh bất động’, Doanh nghiệp không `ngồi chờ’ sandbox  Thử nghiệm cho doanh nghiệp kinh doanh các loại hình mới ở Việt Nam vẫn đang dừng lại ở ‘cơ chế thí điểm’. Một ví dụ điển hình là kinh doanh taxi công nghệ thời điểm 3- 5 năm trước đây, khi Uber, sau đó là Grab tiếp cận thị trường Việt Nam. Mô hình khi đó là: Doanh nghiệp xây dựng đề án thí điểm – và cơ quan quản lý đồng ý thực thi có thời hạn. Dù ít nhiều có ‘dáng dấp’ của sandbox nhưng thực chất mới dừng lại ở thí điểm kinh doanh của một hoặc một vài doanh nghiệp – chứ chưa ‘thí điểm pháp lý’ – tức là chưa xác lập một bộ quy định chính thức để điều chỉnh có thời hạn các doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia’. Bộ chỉ giám sát hoạt động kinh doanh như là trường hợp cá biệt; chứ chưa phát triển các quy định, dù là mang tính tạm thời cho các mô hình kinh doanh và công nghệ mới. Cần lưu ý, việc sửa đổi ‘Nghị định 186 về kinh doanh vận tải’ thời điểm đó về bản chất là ý định tạo lập khung pháp quy chính thức cho mô hình kinh doanh mới; chứ không phải tách riêng nhóm ‘taxi’ công nghệ để áp dụng các quy định mới – như bản chất của thử nghiệm pháp lý.  Trong lĩnh vực dịch vụ công nghệ tài chính (Fintech) – dù chưa có một thống kê chính thức về số lượng startup đăng ký thành lập ở Singapore, ở Estonia, Malaysia, Thái Lan … – nhưng quan sát trong cộng đồng khởi nghiệp khẳng định rõ nét xu thế này. Cách làm phổ biến là đăng ký pháp nhân ở nước ngoài; tuy nhiên đội sáng lập lẫn đội ngũ kỹ thuật phát triển sản phẩm và đội ngũ kinh doanh (tức là toàn bộ nhân sự) vẫn ở Việt Nam; và sản phẩm thực chất phục vụ cho thị trường Việt Nam.    Không có pháp lý rõ ràng, cũng không có ‘sandbox’, những nhóm thiệt hại trực tiếp nhất vẫn là những doanh nghiệp làm ăn chân chính; người dùng khách hàng; và cuối cùng, rộng hơn là toàn bộ nền kinh tế.    Các hạn chế và rủi ro chính của môi trường pháp lý `tranh tối, tranh sáng’  Khi pháp lý không rõ ràng, cách thức thực thi pháp lý thiếu nhất quán sẽ tạo ra những rủi ro và bất lợi dài hạn cho cả doanh nghiệp; lẫn Nhà nước; và nền kinh tế nói chung. ba hệ quả có thể xác định gồm:  Thứ nhất, với doanh nghiệp, rủi ro bị ‘hồi tố’ là luôn hiện hữu nếu không có khung pháp lý chính thức – và điều này, buộc doanh nghiệp phải tìm các giải pháp khắc phục rủi ro như ‘tị nạn pháp lý’ – đăng ký pháp nhân nước ngoài (tất nhiên, một lý do khác nữa với startup là đăng ký ở nước ngoài dễ gọi vốn, dễ mua bán – chuyển nhượng doanh nghiệp hơn là tại Việt Nam. Đối với doanh nghiệp điều này đi kèm với gia tăng chi phí pháp lý; mất cơ hội đón nhận các ưu đãi, hỗ trợ từ trong nước. Nhưng chi phí lớn nhất vẫn là giảm niềm tin về dài hạn với hệ thống pháp lý trong nước, xói mòn niềm tin vào chính sách và hệ thống pháp quyền Việt Nam.  Thứ hai, rủi ro tạo ra các ‘thị trường phi chính thức’ đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Thực tế các sản phẩm Fintech gồm tiền mã hóa, cho vay ngang hàng, tiết kiệm cá nhân – là thị trường có cầu và cung thực sự – và thị trường này hoạt động kể cả khi Ngân hàng Nhà nước không thừa nhận. Nhưng vùng xám này tạo ra một loạt rủi ro cho doanh nghiệp; cho người tiêu dùng gồm: (1) tăng nguy cơ bị lừa đảo; và gia tăng các loại tội phạm tài chính (2) khi tranh chấp xảy ra không ai bảo vệ nhà đầu tư, doanh nghiệp lẫn người dùng; (3) tạo ra tâm lý kinh doanh ‘chụp giật’ – chạy theo lợi ích ngắn hạn – do doanh nghiệp không có đủ niềm tin về việc được bảo vệ cho kinh doanh dài hạn, hợp pháp.  Thứ ba: đối với Nhà nước, hai hệ quả được xác định – (1) thất thoát về thuế – đương nhiên khi doanh nghiệp là người Việt Nam đăng ký pháp nhân nước ngoài – nguồn thuế chính thức, như thuế thu nhập doanh nghiệp; – thuộc về nước ngoài thay vì Việt Nam.  Thứ tư: với các thị trường tiềm năng mới của kinh tế chia sẻ – nơi các hoạt động kinh doanh cần gắn liền với thực thể ‘vật lý’ (physical) ở Việt Nam – động lực phát triển sẽ bị thu hẹp đáng kể. Bởi khác với dịch vụ xuyên biên giới – khi kinh doanh của doanh nghiệp là thuần túy dịch vụ, không bị các kiểm soát pháp lý ‘trong biên giới’ ràng buộc – các dịch vụ như ‘mua bán năng lượng ngang hàng’ ( Peer-to-peer energy trading), gắn chặt với môi trường kinh doanh địa phương. Do đó, khi một loạt các rào cản nêu trên không được giải quyết, lĩnh vực này khó có thể phát triển.  Cần biến cam kết vĩ mô thành hành động thực tế  Mặc dù ở tầm vĩ mô – Chính phủ nêu cam kết cao cho việc thúc đẩy ‘ cách mạng công nghiệp 4.0’ ‘kinh tế số’ ‘Make in Vietnam’ – ở tầm thực thi, các kết quả đạt được chưa rõ nét. Cả Chính phủ lẫn lãnh đạo các bộ đều tuyên bố ủng hộ Sandbox, đều đặt ra nhiều mốc thời gian khác nhau ‘hứa hẹn’ sandbox, nhưng đến thời điểm này, Việt Nam là nước duy nhất trong nhóm năm nước trong khu vực (gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia) – đến thời điểm này vẫn không thực sự thực thi Sandbox. Bản thân các đề án như ‘Đề án Kinh tế chia sẻ’; Chương trình ‘Chuyển đổi số quốc gia’, Chiến lược phát triển Kinh tế số đã ban hành thời gian gần đây là những văn bản mang tính định hướng; không trực tiếp hình thành ‘regulatory sandbox’.    Với mô hình ‘quản lý theo ngành’ như Việt Nam, thực chất thẩm quyền lập quy và cấp phép nằm trong tay các bộ. Vì vậy ‘sandbox’ thuộc về trách nhiệm của từng bộ. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa bộ nào hoàn thành và thực thi sandbox trên thực tế.    Với mô hình ‘quản lý theo ngành’ như Việt Nam, thực chất thẩm quyền lập quy và cấp phép nằm trong tay các bộ. Vì vậy ‘sandbox’ thuộc về trách nhiệm của từng bộ. Trong khi Chính phủ nói nhiều về tầm nhìn – thì ở góc độ thực thi ‘sandbox’ ‘tắc’ lại ở các bộ. Ví dụ: Bộ Giao thông là Sandbox cho ‘Grab, Bee, Fast Go’’; Bộ Văn hóa  Thể thao vD du lịch – quản lý lĩnh vực du lịch, dịch vụ lưu trú – là ‘sandbox’ cho Aibnb, Traveloka …; Ngân hàng nhà nước là sandbox cho fintech (tiền mật mã, cho vay ngang hàng,… Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa bộ nào hoàn thành và thực thi sandbox trên thực tế.  Để giải quyết tình trạng chậm trễ này chúng tôi khuyến nghị hai giải pháp tập trung cho hai vấn đề (1) tạo hành lang pháp lý cho sandbox nói chung; (2) thực thi cấp phép sandbox.  Thứ nhất: Chính phủ cần thành lập ngay tổ công tác của Chính phủ về ‘sandbox’ gồm lãnh đạo các bộ chính gồm Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo để điều phối và thực thi thống nhất tầm nhìn chính sách của chính phủ về chính sách công nghệ. Đầu mối chịu trách nhiệm của tổ công tác nên là Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Tư pháp. Công việc đầu tiên của Tổ công tác cần hoàn thành là đệ trình Chính phủ quy trình pháp lý và hướng dẫn thực thi ‘cơ chế thử nghiệm pháp lý’ cho các sản phẩm công nghệ. Chỉ trên cơ sở quy trình này – các bộ quản lý lĩnh vực mới có căn cứ để thực hiện. Trong tổ công tác, Bộ Tư pháp và Bộ Thông tin và Truyền thông nên là hai cơ quan phối hợp để soạn thảo nhanh chóng quy định này.  Thứ hai: Về mặt thực thi, một Văn phòng quốc gia về ‘sandbox’ nên được thành lập nhằm thực hiện chức năng ‘một cửa’ tiếp nhận hồ sơ đăng ký ‘sandbox’; cấp phép thực hiện; và giám sát thực thi các hồ sơ được cấp phép thử nghiệm. Có ba lý do cần Văn phòng quốc gia (1) tình trạng chồng chéo chức năng quản lý và ma trận văn bản quy định điều chỉnh như hiện nay là thách thức lớn với doanh ghiệp; (2) Bởi đa phần các startup là doanh nghiệp công nghệ, chưa nắm vững yêu cầu pháp lý mới. Do đó nếu giao về từng bộ riêng rẽ, sẽ rất khó cho startup biết chính xác bộ nào là ‘cửa’ mình cần gõ. Và (3) bởi tính mới của sản phẩm, công nghệ – nên một văn phòng liên ngành sẽ dễ dàng xử lý và nhận trách nhiệm – thay vì cơ quan hiện tại sẽ viện lý do: không biết căn cứ vào văn bản nào để xử lý hồ sơ.  Văn phòng này vừa có chức năng nhận thông tin, tư vấn ban đầu cho startup; giúp sàng lọc và hỗ trợ thông tin; sau đó tiến tới giai đoạn nhận hồ sơ và cấp phép. Mô hình Nhật Bản – cả về quy trình lẫn tổ chức cơ quan thực thi, là một hình mẫu tốt cho Việt Nam tham khảo. □    Author                Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Chờ đợi thực thi Luật sở hữu trí tuệ      Trong những cuộc chạy đua để giành lấy sự thịnh vượng giữa các dân tộc, pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta phải được dùng uyển chuyển để khéo léo che chắn cho người trong nước bám lấy tri thức của kẻ đi trước mà tiến lên.    Xuân Thu nhị kì, thế rồi những cuộc họp Quốc hội cũng khép lại. Chỉ riêng trong năm ất Dậu, những người lập pháp nước ta đã để lại cho con cháu những kì tích lập pháp đáng nhớ. Tiếp nối hàng nghìn điều khoản dân luật và thương luật, một đạo luật về sở hữu trí tuệ với 226 điều đã được thông qua ngày 19/11/2005, hy vọng sẽ được thực thi vào giữa năm sau. Ngàn vạn con chữ, ào ạt rơi trên đầu dân chúng, sau khi được Quốc hội thông qua, bỗng chốc trở thành quy tắc dẫn lối cho 82 triệu đồng bào. Liệu Luật sở hữu trí tuệ có làm cho người dân nước ta vững tin hơn trong cuộc ganh đua với các dân tộc láng giềng để giành lấy thịnh vượng. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý mạn bàn về những ưu tiên và ảo vọng cần tránh trong chuẩn bị thực thi đạo luật này.  Gom luật lệ của ít nhất ba lĩnh vực: (i) tác quyền, (ii) sở hữu công nghiệp, và (iii) bảo hộ giống cây trồng cùng các biện pháp bảo hộ, chính sách can thiệp của nhà nước cũng như điều tiết khế ước sử dụng các quyền tài sản đó vào một đạo luật đồ sộ là một việc làm xưa nay hiếm, hiếm ở nước ta, và hiếm cả so với thiên hạ. Thời nay, người ta thường làm các đạo luật ngắn gọn, dễ sửa, dễ hiểu, tiện ứng xử với biến đổi mau lẹ ngoài đời. Các nước thường có những đạo luật đơn lẻ về tác quyền, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hóa; chúng luôn được bồi bổ bởi hệ thống đồ sộ những án lệ giải thích và phát triển pháp luật trên giấy cho phù hợp với cuộc đời. Bởi vậy, tạo dựng nên những bộ luật đồ sộ chắc là đã rất khó, song biến luật trên giấy đó thành thói quen ứng xử tự nguyện của dân chúng mới càng khó hơn.  Nếu không kể tới manh nha bảo vệ bí quyết và thương tín đã có tự lâu đời trong xã hội Việt Nam truyền thống, theo gót kẻ thực dân, pháp luật về sở hữu trí tuệ đã được du nhập vào nước ta từ gần 150 năm nay. Trên thực tế, việc tiếp nhận tư tưởng pháp luật Phương Tây về sở hữu trí tuệ vẫn đang tiếp diễn. Đạo lí của luật này là ban thưởng cho người sáng tạo; dành cho họ những độc quyền khai thác và hưởng dụng thành quả lao động của mình. Như các quyền tài sản tư khác, về nguyên tắc, chủ tác quyền và sở hữu công nghiệp tự do định đoạt về tài sản của mình và có quyền nại đến cơ quan nhà nước mong được bảo hộ khi các quyền đó có nguy cơ bị người thứ ba xâm phạm. Có lẽ khi nhà nước và xã hội bắt đầu thượng tôn sở hữu tư nhân và ra sức giữ gìn quyền tư hữu đó, nước ta mới có cơ hội du nhập thành công pháp luật sở hữu trí tuệ.  Gần hai mươi năm sau đổi mới, nhận thức của người dân Việt Nam về quyền tài sản trí tuệ đã từng bước thay đổi. Trong số 7.600 chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa thì 5.444 được cấp cho tổ chức, cá nhân trong nước. Tỷ lệ văn bằng độc quyền cấp cho kiểu dáng công nghiệp và giải pháp hữu ích cấp cho người trong nước cũng gia tăng. Mức độ quan tâm của các doanh nghiệp về gây dựng hình ảnh, bảo hộ tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và sản phẩm của mình trước hàng nhái, hàng giả đã tăng lên nhanh chóng. Cục sở hữu trí tuệ cũng bắt đầu tất bật với 404 vụ khiếu nại vi phạm sở hữu công nghiệp và 429 vụ khiếu nại về văn bằng. Những vụ kiện hiếm hoi đầu tiên về tranh chấp tác quyền in ấn tác phẩm, chuyển thể và biểu diễn cũng đã lác đác xuất hiện. Người ta đã hỏi nhau về thủ tục đăng kí tác quyền tại Bộ văn hóa thông tin. Thêm vào đó, hiệp hội của những người hành nghề chuyên nghiệp về sở hữu trí tuệ cũng ra đời. Những bản tin và ấn phẩm của họ góp phần cùng giới truyền thông kiên nhẫn truyền vào xã hội Việt Nam những tiếng sấm báo hiệu thời đại của những nền kinh tế và xã hội dựa trên tri thức và đề cao tài sản phi vật thể.  Khi người dân nhận thức được trí tuệ là quyền tài sản tư, họ sẽ có vô vàn sáng kiến để làm sinh sôi nảy nở và bảo vệ lấy thứ tài sản đó. Khi ấy, cũng giống như nha điền địa đăng kí trước bạ nhà đất, Cục sở hữu trí tuệ về cơ bản sẽ là một cơ quan cung cấp dịch vụ đăng kí tài sản trí tuệ. Những tòa án chuyên sâu về loại tài sản này có thể cũng sẽ được hình thành, tách dần ra khỏi hệ thống tòa thường tụng ngày nay.  Ngoài sức ép đổi thay từ bên trong, việc thực thi Luật sở hữu trí tuệ còn chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Cứ 689 bằng sáng chế được cấp ở nước ta, thì 676 văn bằng được cấp cho cá nhân và tổ chức nước ngoài, trong đó dẫn đầu là Hoa Kỳ (356), Nhật bản (257) và Đức (134); chỉ có 22 văn bằng sáng chế được cấp cho người Việt Nam. Người ta hối thúc Việt Nam gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng là điều dễ hiểu. Luật sở hữu trí tuệ đã đáp ứng phần lớn các yêu sách của các đối tác nước ngoài, nếu không có sự hài lòng của họ dường như cánh cửa của Tổ chức thương mại sẽ tiếp tục lầm lì đóng với dân tộc chúng ta.    Nhìn ra thế giới, láng giềng của chúng ta ít khi đi vòng, vậy nên cơ hội để Việt Nam “đi tắt đón đầu” đã ngày càng hiếm. Tuy vậy, công nghệ thông tin và sự bùng nổ tri thức ngày nay có thể là một cứu cánh giúp người nước ta rút ngắn thời gian phát triển. Với chưa đầy 2 phút mò mẫm trên mạng, tôi đã có trong tay 82 tạp chí chuyên ngành có liên quan đến sở hữu trí tuệ bằng vô số thứ tiếng trên thế giới. Bài học “học theo và đuổi kịp” Phương Tây của người Nhật một thế kỉ rưỡi trước đây đã được nhiều nước Phương Đông lặp lại thành công. Bắt đầu bằng đồ chơi trẻ em, áo sơ mi và hàng hóa sử dụng lao động giản đơn hơn 20 năm trước đây, nay người Tàu đã tiến vào thị trường hàng hóa, dịch vụ công nghệ cao với những bước đi của một người khổng lồ.   Thế mới biết trong những cuộc chạy đua để giành lấy sự thịnh vượng giữa các dân tộc, pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta phải được dùng uyển chuyển để khéo léo che chắn cho người trong nước bám lấy tri thức của kẻ đi trước mà tiến lên.                                               Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia  Vào năm 1999, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một chiến lược phát triển cho các nước đang phát triển để giảm bới cách biệt về tri thức và sử dụng tri thức gồm 03 điểm cơ bản:  (1) Thu thập tri thức: qua việc mở rộng ra quốc tế để làm quen và thích nghi với tri thức quốc tế hiện tại song song với việc xây dựng hệ thống tri thức quốc gia.  (2) Hiểu và tiếp nhận được tri thức: thông qua đầu tư vào hệ thống giáo dục, bằng cách đó tạo ra nguồn nhân lực cần thiết để có thể tiếp nhận và sử dụng tri thức.  (3)  Khai thác tri thức: qua việc đầu tư vào Nghiên cứu & Phát triển nâng cao khả năng sử dụng các công nghệ mới-chẳng hạn Internet- để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế.  Quyền sở hữu trí tuệ ảnh hưởng có tính chất quyết định đối với điểm (1) và (3). Một mặt nó tạo điều kiện cho sáng tạo tri thức thông qua hỗ trợ, khuyến khích sở hữu độc quyền và thúc đẩy qúa trình chuyển giao công nghệ nội quốc gia; mặt khác, lại đồng thời hạn chế- một cách tạm thời- khả năng khai thác tri thức, điểm (3). Chính từ nhận thức cơ bản này, mà TRIPS đã dành quyền quyết định cho các nước thành viên cân nhắc tương quan giữa điểm (1) và (3) để có chiến lược xây dựng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu phát triển của mỗi nước.  Chính sách quốc gia về sở hữu trí tuệ vì thế phải dựa trên cơ sở cân nhắc giữa mục tiêu khuyến khích sáng tạo tri thức và mục tiêu nhanh chóng phổ biến, áp dụng  tri thức cho từng giai đoạn phát triển kinh tế. Đối với các nước đang phát triển đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn do hai nguyên nhân chính: a) Tác động và ảnh hưởng của quyền sở hữu trí tuệ đến phát triển kinh tế hầu hết là gián tiếp và xẩy ra  trong những mối tương quan phức tạp và b) các nước đang phát triển chưa có nhân sự và kinh nghiệm thực tế cần thiết. Tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ đối với mỗi ngành kinh doanh, sản xuất là rất khác nhau. Nó  có giá trị lớn nhất đối với các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành đòi hỏi đầu tư lớn trong Nghiên cứu & Phát triển; sản phẩm phụ thuộc vào trình độ cao của nhân viên và tương đối dễ bị ’’bắt chước’’ dễ bị tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho lạc hậu. Ví dụ: Công nghiệp hóa chất và dược phẩm, công nghiệp sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, phát triển phần mềm máy tính.  Chiến lược vĩ mô của Nhà nước, vì vậy, phải là một chiến lược toàn diện liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như: chính sách thuế, chính sách chuyển giao công nghệ và Li xăng, chính sách nhập khẩu song song, chính sách ưu đãi đầu tư vào Nghiên cứu & Phát triển, chính sách Giáo dục-Đào tạo, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp….                                                                                       Nguyễn Vân Nam              Phạm Duy Nghĩa    Nguồn tin: Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cho khế có nhận được vàng?      Vào một buổi tối đã khuya, tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Văn Phước, giám đốc Công ty sách First News, mời lên văn phòng công ty chơi và đưa cho tôi một cuốn sách có nhan đề: Give and Take. Anh bảo: “Em nghĩ cho anh cái tựa tiếng Việt, sẽ hậu tạ nhé!”      Vốn không hứng thú lắm với dòng sách self-help, nhưng đã trót hứa nên đến đó tôi đành vắt óc ra nghĩ xem tên nào nghe được. Sáng hôm sau, tôi nhắn tin cho anh “ nên đặt tên sách là Cho khế nhận vàng. Người Việt Nam ai cũng biết chuyện cổ tích Ăn khế trả vàng nên đặt thế dễ bán sách”.    Một buổi tối năm tháng sau đó, anh Phước gọi điện rủ đi ăn tối để mừng ra cuốn “Give and Take”. Ra tới nhà hàng, tôi được tặng một cuốn sách có tựa Cho khế nhận vàng. Anh Nguyễn Văn Phước lật bìa 4 và chỉ cho tôi một câu danh ngôn anh đã chọn: “Những người đã cho sẽ nhận lại rất nhiều. Những người chưa cho, những gì đã có từ từ sẽ lấy đi hết.”    Trong vòng 36 giờ sau khi nhận được sách, tôi đã miệt mài đọc Cho khế nhận vàng, cuốn sách hóa ra không phải là dòng self-help như tôi đã nghĩ. Đây là một cuốn sách thuộc một thể loại được gọi là “New Perspectives”, nghĩa là đưa ra những góc nhìn hoàn toàn mới dựa trên các nghiên cứu có tính học thuật. Tác giả cuốn sách là Adam Grant, giáo sư trẻ nhất của Trường Kinh doanh Wharton, ngôi trường nằm trong top nhất nhì về MBA ở Hoa Kỳ hiện nay.    Adam Grant bắt đầu cuốn sách bằng cách chia thế giới ra làm hai loại người dựa trên cách họ “tiếp cận và tương tác với người khác”: người sẵn sàng cho (giver) và người chỉ muốn nhận (taker).     Đặc điểm của người chỉ muốn nhận là họ luôn muốn nhận được nhiều hơn những gì mình đã cho đi. Họ cho rằng: “thế giới là nơi người ta tranh đoạt, dẫm đạp lên nhau để tồn tại”, nên “chẳng ai lo lắng cho anh ngoài chính bản thân anh cả”, vì thế luôn cần “đảm bảo rằng những gì mình bỏ ra sẽ thu được thành quả tương xứng”, và “cán cân lợi ích luôn phải nghiêng về phía họ”.    Ngược lại, người sẵn sàng cho luôn cân nhắc đến lợi ích của người khác, “sẵn sàng cho đi nhiều hơn thứ nhận về” “luôn “chú ý vào lợi ích của người khác”, “quan tâm những gì mình có thể mang lại cho người khác”. Người cho khác người nhận ở chỗ sẵn sàng hỗ trợ người khác mà không quá bận tâm tới sự hồi đáp.    Thực tế xã hội cho thấy nhóm sẵn sàng cho thuộc về thiểu số, nhóm chỉ muốn nhận rất nhiều nhưng không thể không kể tới nhóm thứ ba gọi là nhóm dung hoà. Nhóm này hành động trên cơ sở “giúp đỡ người khác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi” và kiểm soát mọi hành vi của mình trên cơ sở tương đồng lợi ích.     Câu hỏi là: nhóm nào trong số ba nhóm trên sẽ thành công? Adam Grant mở đầu cuốn sách với một thông tin dựa trên nhiều nghiên cứu được thực hiện ở Hoa Kỳ: những người sẵn sàng cho luôn “chịu thiệt nhất”, “đứng cuối cùng trong thang bậc thành công”, “lao động kém hiệu quả nhất”, “năng suất thấp nhất”… Một cảm giác thất vọng lan tỏa trong tôi khi đọc những nghiên cứu được trích dẫn bởi Adam Grant, hóa ra, người hào phóng cho đi sự tử tế cuối cùng mãi vẫn là người thất bại?    May mắn là không phải thế. Adam Grant đã nhanh chóng đi vào thông điệp chính của cuốn sách: cho dù người sẵn sàng cho luôn “đứng cuối cùng trong thang bậc thành công” nhưng “những người thành công nhất cũng chính là những người thuộc nhóm sẵn sàng cho”. Những người hào phóng cho đi mới là những người chiến thắng cuối cùng.    Toàn bộ cuốn sách của giáo sư Trường Kinh doanh Wharton đưa ra nhiều câu chuyện thực tế và nghiên cứu học thuật để chứng minh cho thông điệp ấy. Không chỉ chứng minh, Adam Grant lý giải tại sao cuối cùng việc hào phóng cho đi lại trở thành công thức của thành công. Hóa ra, “những người phấn đấu quên mình vì người khác bị cho là mù quáng thì những người tử tế và thành đạt lại là một trường hợp đặc biệt. Họ tử tế một cách khôn ngoan, biết quan tâm đến lợi ích của người khác nhưng vẫn nuôi tham vọng đạt được những mong muốn của riêng mình”, họ đã thành công trong việc dung hòa lợi ích của người khác với lợi ích của cá nhân.    Adam Grant trích dẫn một câu nói ấm lòng: “Tôi sẽ tóm gọn lại nguyên tắc thành công bằng một cụm từ thật ngắn gọn: sự tử tế.” Còn tôi, tôi không biết môi trường Mỹ và Việt Nam liệu có khác nhau, và tôi cũng không chắc chắn hào phóng sự tử tế sẽ thành công ở Việt Nam. Nhưng, sự xuất hiện của cuốn sách bestseller “Cho khế nhận vàng” phiên bản tiếng Việt ít nhất cũng lời một lời nhắc nhở đối với những ai chỉ lo nhận phần hơn về mình, và cũng là lời khích lệ cho những ai đã nỗ lực cho đi rất nhiều nhưng chưa nhận về phần tương xứng. Tuy không chắc, nhưng tôi vẫn có niềm tin rằng: cho khế rồi một ngày sẽ nhận được vàng.    Author                Quản trị        
0.12903225806451613
__label__tiasang Chờ ngày được tôn trọng      Tháng 10 là tháng tôn vinh doanh nhân. Gần 3 triệu hộ kinh doanh và 20 vạn doanh nghiệp đang nỗ lực tranh đua tự tìm lấy cơ hội nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần tạo việc làm cho cộng đồng, tạo của cải cho xã hội và đóng góp vào ngân khố quốc gia. Mong ước cho đến năm 2010, cứ 200 người dân nước ta sẽ có một doanh nhân, cộng đồng nửa triệu con người dũng cảm ấy tạo nên một động lực mới canh tân quốc gia. Để có được ngày ấy, cả dân tộc đang nỗ lực trong những cuộc tự học gian khổ, tập yêu lấy giới doanh nhân và tạo mọi chính sách thuận lợi cho những mầm non tương lai ấy đua tài.        Một ngày tôn vinh thật quý, song chưa quý bằng cả năm được tôn trọng. Doanh nhân Việt Nam vẫn gặp vô vàn rắc rối trong kinh doanh. Không biết có xứ sở nào trên thế giới này người ta lại quy định mỗi lần doanh nhân chỉ được mua không quá hai tập hóa đơn giá trị gia tăng trước ánh mắt xét nét của nhân viên thuế vụ như ở nước ta. Thì cũng thế, làm một hay mười con dấu đáng ra là chuyện tùy nghi của doanh nhân, song ở nước ta, con dấu trở thành một chuyện nghiêm trọng; mỗi doanh nghiệp chỉ được quyền có một con dấu. Khi xung đột lợi ích giữa người quản lí xảy ra, chỉ riêng việc biển thủ con dấu cũng đủ làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhiều phen tê liệt.  Sự bình đẳng với doanh nghiệp quốc hữu cho đến nay vẫn đang là một ước mơ. Nắm trong tay các nguồn tài nguyên, đặc biệt là đất đai, các độc quyền và cơ hội kinh doanh cũng như sự ưu ái của các cơ quan hành chính chủ quản, doanh nghiệp nhà nước trên thực tế vẫn được ưu đãi đáng kể so với doanh nghiệp dân doanh. Chỉ có điều, trong một thế giới ngày càng bị kéo phẳng ra bởi những thế lực mới của cuộc toàn cầu hóa, nếu không cho dân doanh hưởng quy chế bình đẳng với quốc doanh trong nước, thương nhân nước ta khó có cơ hội để tự tin trong cuộc đối đầu với hằng hà sa số tư bản nước ngoài.   Ngày doanh nhân, người ta nghĩ tới những đạo luật chung đã tới tấp được ban hành với mong ước tạo bình đẳng cho doanh nhân thuộc tất cả loại hình sở hữu. Tuy vậy, ngoài pháp luật trên giấy, còn có luật của cuộc đời và luật trong nhãn quan của quan chức thừa hành. Chừng nào chiếc ghế băng mỏng manh dùng chung cho bên nguyên, bên bị trong các phiên tòa kinh tế dân sự vẫn bị hạ thấp hơn cả chỗ ngồi của viên thư lại, và quan tòa Việt Nam vẫn xét hỏi doanh nhân với khẩu khí chẳng khác gì lục vấn bị can phạm tội, thì chừng đó doanh nhân vẫn chờ ngày được tôn trọng./.  ————  Ảnh trên: Trong buổi lễ “100 doanh nhân tiêu biểu năm 2006” lần thứ nhất tổ chức ngày 12/10 tại Hà Nội.        Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chớ vội tị ganh      Muốn biết kết quả ra sao thì phải có thời gian trồng chăm cây, nuôi nấng lên, rồi đến ngày đơm hoa kết trái.  Dùng người tài cao thì không nên vội tiếc, mà càng không nên sớm ganh tị. Tiếc với tị, chẳng thà ăn đói đắp chăn nằm co cho đỡ mệt.        Chuyện Chính phủ xứ ta mời giục thầy Ngô Bảo Châu, thân gọi ở đây là thầy Thichhoctoan, xúc tiến lập Viện nghiên cứu toán học cao cấp, và sẵn sàng tạo các điều kiện thuận lợi cho chương trình này, cùng cả việc sắp xếp nhà cửa công vụ khang trang cho thày, được nhiều người quan tâm theo dõi.  Nên nhìn việc nào đi việc ấy. Xứ ta vốn rối tinh nhiều việc quá rồi.  Riêng cái việc xúc tiến này thực sự là tích cực và nhanh nhẹn, so với cái nền tâm tư ngày rộng tháng dài xưa nay.  —-  Tưởng cũng nên nhắc lại, thầy Thichhoctoan không phải là người trong đảng, lại là lưỡng quốc giáo sư, lưỡng tịch công dân. Việc Chính phủ chủ động mời giục thầy về công việc như thế là cử chỉ mạnh mẽ, phải được hoan nghênh.  Thầy Thichhoctoan cũng là người thiết tha muốn làm nên cái gì cho cái nền toán học của đất nước. Tấm lòng và cái quyết tâm đó của thầy, chớ nên coi thường.  —-  Làm được việc cần nhiều thứ lắm.  Trước hết là tài năng, sức khỏe, thời gian và tâm huyết.  Tiếp đến là sự quyết tâm vào cuộc từ các phía. Và các quyết tâm có những ngôn ngữ riêng của nó.  Việc Chính phủ sắp xếp nhanh chóng nhà cửa công vụ cho thầy là một ngôn ngữ vào cuộc quyết liệt. Việc thầy chấp nhận việc này cũng là sự vào cuộc thẳng băng. Chính phủ có cái sẵn sàng của mình. Thầy Thichoctoan chấp nhận cái uy của chính mình.  Bởi hành sự thì không phải chỉ năng lực và đức độ đã là đủ. Phải có uy, phải có tín. Xưa việc thế này là cái lễ tế cờ.  Nói chuyện bên lề. Đáng nhẽ Chính phủ cứ tặng thẳng băng căn hộ cho thầy Thichhoctoan như giải thưởng về những thành tích toán học vang dội của thầy trên sân khấu thế giới, làm nức lòng hồn Việt. Và Chính phủ mong chờ thầy đóng góp hiệu quả nhất cho đất nước. Như thế còn hay hơn, rõ ràng hơn, dứt khoát hơn, mà cũng “cao tay” hơn.  —        Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp giáo sư Ngô Bảo Châu     Phát biểu tại buổi tiếp Giáo sư Ngô Bảo Châu nhân  chuyến về nước làm việc với Bộ Giáo dục & Đào tạo và  các Bộ, ngành liên quan về việc thành lập Viện Toán học cao  cấp, chiều 8-11, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  nêu rõ, Chính phủ đánh giá rất cao thành công của giáo sư  Ngô  Bảo Châu, gắn liền với đó là tấm lòng của giáo sư đối với nền  giáo dục của đất nước nói chung, bộ môn toán học nói riêng.              Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Đảng, Nhà  nước luôn quan tâm phát triển các ngành khoa học, trong đó có ngành  toán học và coi đây là nền móng căn bản cho sự nghiệp phát triển  công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.              Do vậy, thành công của Giáo sư Ngô Bảo Châu có tác  động rất lớn đến việc đổi mới giảng dạy và học tập môn  Toán, tin tưởng Việt Nam hoàn toàn có thể vươn tới những thành  công đỉnh cao trong ngành Toán học.              Thủ tướng cho biết, trong thời gian ngắn vừa qua,  Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển toán học giai  đoạn 2010 – 2020 cũng như đồng ý thành lập Viện Toán học cao  cấp. Qua đây, Thủ tướng mong muốn Giáo sư Ngô Bảo Châu dành thời  gian cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm đưa Viện Toán học cao cấp  đi vào hoạt động cũng như phối hợp chặt chẽ trong việc đổi  mới và nâng cao chất lượng giảng dạy môn toán.              Cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà  nước cho cá nhân giáo sư và gia đình, Giáo sư Ngô Bảo Châu khẳng  định sẽ nỗ lực hết sức mình để sớm đưa Viện Toán học cao cấp  vào hoạt động cũng như sẵn sàng dành thời gian tối đa để  cùng với Bộ Giáo dục Đào tạo thực hiện chiến lược phát  triển ngành toán học Việt Nam phát triển.              Giáo sư Ngô Bảo Châu bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận  được sự ủng hộ và tạo điều kiện để Viện toán học cao cấp đi vào hoạt  động đạt hiệu quả.                                                                                                                     TTXVN          Muốn biết kết quả ra sao thì phải có thời gian trồng chăm cây, nuôi nấng lên, rồi đến ngày đơm hoa kết trái.  Dùng người tài cao thì không nên vội tiếc, mà càng không nên sớm ganh tị. Tiếc với tị, chẳng thà ăn đói đắp chăn nằm co cho đỡ mệt.  Các bạn bè của thầy, các bạn cũng nên nhìn thật xa, trông thật rộng. Cho xứ sở mình, cho chính mình.  Cũng như để có đội tuyển bóng đá xứ ta ra hồn như hôm nay, xứ ta đã phải thuê nuôi thầy dạy cho đáng đồng tiền bát gạo. Thay vì cứ dạy quẩn nhau, quá lên thành cãi tranh nhau.  Nuôi thầy đáng đồng tiền, đó không chỉ là tiền.  Trước hết, đó là cái chí hạ mình, quyết theo học thầy.  Và người thầy khi đó cũng cảm phục về cái uy mà người ta dành cho mình, tự nhận lấy cái uy đó, như nhận thanh bảo kiếm, mà quyết lòng gắn bó. Chứ không nhận việc xuề xòa, rồi dạy rồi làm theo kiểu vỗ về ba phải.  Kết cục, mong thầy Thichhoctoan bền chí thành công, không phân tâm trước những xì xào vụn vặt.  Cụ Hinh xin mượn lời cụ Bảo Sinh mà nhắn thế này:  “Khi mê, tiền chỉ là tiền.  Ngộ ra mới biết, trong tiền có tâm.”     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chối từ hoang dã      Chống lại cường quyền đơn thuần có thể sẽ đưa đến việc sử dụng tràn lan các bạo lực mới, điều này là tự nhiên nhất như chính trong giới tự nhiên. Và cuối cùng lại hình thành nên các cường quyền mới.    Khi thể chế của ông Saddam Hussein sụp đổ, người dân bắt đầu vào hôi của tại dinh thự tổng thống.  Có vẻ đó chỉ như là sự trả đũa của người dân cho bõ tức đơn thuần.  Nhưng rồi hóa ra đó là cả một cuộc cướp bóc mới đã được nổ tung.  Cả một cộng đồng thiếu một nền tảng căn bản được chuẩn bị để tổ chức cho được một đời sống mới với nhau qui củ và nhân bản, đã tự phơi trần mình ra không kém phần khiếp khủng.  Nếu nền bạo lực ở con người hôm trước được tinh luyện và siêu tập trung hóa, thì hôm sau đã được hoang dã hóa hoàn toàn.  —-  Bài học này, bài học cho toàn thể nhân loại.  Muốn tiến lên, chống lại cường quyền không thôi, không đủ.  Bởi vì chống lại cường quyền đơn thuần có thể sẽ đưa đến việc sử dụng tràn lan các bạo lực mới, điều này là tự nhiên nhất như chính trong giới tự nhiên. Và cuối cùng lại hình thành nên các cường quyền mới.  Nền dân chủ là một hình thái tổ chức đời sống chưa bao giờ sẵn có trong lịch sử tinh thần, trong đời sống của con người.  Phải học, phải tập, phải suy ngẫm, phải tự chế, phải hợp tác. Và phải nhân hậu.  Phải bắt đầu công việc này rất bền bỉ, dài lâu, từ việc gây dựng những cấu trúc nhỏ nhất trong đời sống, đến những cấu trúc lớn nhất. Ngay trong đời sống hàng ngày hôm nay.  Và nền dân chủ được chuẩn bị, được bồi đắp lên để thiết chế quyền lực, để định chế cái bản năng hoang dã ở trong mỗi con người, để đào luyện một nền tảng tinh thần được tiến hóa cho một đời sống biết quí trọng tự do và sự yên vui của mỗi cá nhân.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chối từ lớn lên      Một hiện tượng tâm lý khá phổ biến cho tuổi thiếu niên, là làm sao giáp mặt được với một hiện thực của “người lớn” đang gõ cửa đời sống mình ngày một dồn dập và mạnh mẽ hơn lên.      Tuổi thơ đơn giản hơn rất nhiều.  Tuổi thơ được sống trong… thơ.     “Em sẽ là mùa xuân của mẹ,  Em sẽ là màu nắng của cha.”  (Trịnh Công Sơn)  Vũ trụ của tuổi thơ được cắt nghĩa bởi huyền thoại êm đềm, một tổ hợp của những giải pháp tuy không thấu đáo, nhưng tiện nghi và hạnh phúc. Đức tin, lòng trong trắng là điều quan trọng hơn tất thảy, chính những tư duy, phân tích, luận suy lại ngăn cản hạnh phúc này.  Tuổi thơ được bảo vệ bởi những sức mạnh trong tình thương lớn hơn của cha mẹ, của anh lớn chị lớn. Sự trung thành, ngoan ngoãn, hồn nhiên là những đức tính quan trọng nhất của tuổi thơ đẹp đẽ.  Tuổi thơ được tự do khỏi những trách nhiệm của người lớn. Những trách nhiệm này bắt đầu từ ngôn ngữ, tư duy, phong cách, hành động, hợp tác, liên đới, giao kèo…  Tuổi thơ được cách ly với những cái phức tạp, cái khó, cái xấu, cái ác… Những cái này đòi hỏi nhận thức, vào cuộc, bản lĩnh, lòng quả cảm, sự khôn ngoan, ý chí…    Tuổi thơ được miễn nhiệm với cô đơn, hoạch kế, lập chí, quyết đoán, tư duy độc lập, khả năng điều hành, san sẻ, óc tổ chức, khả năng dẫn dắt.  ***  Rất nhiều thiếu niên gặp khó trong việc phải chấp nhận chào từ biệt tuổi thơ, ngửa mặt tiến về cuộc sống “người lớn”. Học, tư, tập, hành, vẫn không đủ. Cái lớn nhất là phải “giết đi”, về mặt triết học, cái tuổi thơ của chính mình ở bên trong mình, vứt bỏ toàn bộ cái “huyền thoại trong nôi” về đời sống của mình, để xác lập trong mình một vũ trụ quan độc lập, không vay mượn, không nể nang, không chèo kéo. Cùng với đó, phải độc lập, tức là phải ly thân, phải rời khỏi tổ ấm, phải ra khỏi vòng tay cha mẹ, anh chị em, họ hàng, làng xóm, bè bạn, quê hương.   Phải đủ trí tuệ, tâm cam, nghị lực để một mình đối mặt với vũ trụ trong sinh diệt.  Rồi chỉ sau đó, mới lại phải biết hòa giải và cộng sinh trở lại với và vì tất thảy, với vũ trụ, với quê hương, với bạn bè, làng xóm, họ hàng, với anh chị em, cha mẹ, và với lại chính cái tuổi thơ yêu dấu của chính mình.  Đây chính là cái vòng đời vừa giản dị, vừa vĩ đại của một con người.  Việc này đã có hẳn một bộ môn tâm lý học tuổi thiếu niên đảm nhiệm.  ***  Nay nói chuyện một cộng đồng, một dân tộc, cũng vậy.  Xa xưa một cộng đồng cũng nhỏ bé, sống hàng ngàn năm trong cái nôi huyền thoại êm ả hạnh phúc của chính mình. Yêu thương, đầm ấm, no đói có nhau, buồn vui cùng nhau. Không có gì phải suy tìm đâu xa hơn thế nữa.   Nhưng rồi cộng đồng phải lớn lên, phải mở mang. Đơn giản là vì cuộc đời đẩy nó đi lên như thế, về dân số, về lãnh thổ, về giao lưu, về phát triển.  Quay mãi về nấp trốn trong cái nôi huyền thoại êm ả hạnh phúc của chính mình, hay phải dứt bỏ tuổi thơ, phải “giết đi”, về mặt triết học, cái tuổi thơ của chính mình ở bên trong mình, vứt bỏ toàn bộ cái “huyền thoại trong nôi” về đời sống của mình, để xác lập trong mình một vũ trụ quan độc lập, không vay mượn, không nể nang, không chèo kéo?  Để đủ trí tuệ, tâm cam, nghị lực đặng một mình đối mặt với vũ trụ trong sinh diệt.  Để mà rồi chỉ sau đó mới có thể trở về được với chính mình.  Đây là câu chuyện sống chết hôm nay, không còn thời gian để lơ mơ được nữa, cho xứ sở của chúng ta.  Ở cái ngày mà thế giới đang toàn cầu hóa vũ bão.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống dịch trong thời gian tới: Để không trượt vào vết xe cũ      Hiện nay chúng ta vẫn đang truy vết, cách ly tập trung, hạn chế dòng người từ vùng dịch trở về các địa phương, tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp các khu cách ly quá tải và lây nhiễm âm thầm lan rộng trong cộng đồng? Để tránh các nguy cơ khi xảy ra kịch bản hệ thống y tế quá tải, chúng ta cần ưu tiên phủ vaccine cho người trên 50 tuổi, nâng cao năng lực y tế cơ sở, chữa trị tại cộng đồng, theo TS.BS. Nguyễn Thu Anh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock, Đại học Sydney, Úc.      TS Nguyễn Thu Anh.  Tiêm cho người có nguy cơ để bảo vệ các vùng nguy cơ  Nguy cơ rủi ro mới đang được dự báo khi ở các cửa ngõ TP. HCM, những đoàn người đứng chờ trở về Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là vùng có lượng người di cư đi lớn* của cả nước nên số người trở về sẽ vẫn còn rất lớn. Chị nghĩ thế nào về những áp lực y tế sắp tới?   Có lẽ không chỉ tôi mà tất cả chúng ta đều đang nhìn thấy nguy cơ đó rồi. Trong dòng người trở về ĐBSCL chắc chắn có người nhiễm SARS-CoV- 2, một số người có thể đã phát hiện được trong lần xét nghiệm trước khi ra khỏi cửa ngõ TP, tuy nhiên một số còn đang trong giai đoạn ủ hoặc vì xét nghiệm chưa đủ nhậy để phát hiện, một thời gian nữa xét nghiệm lại ra, và sẽ có khả năng lây lan dịch ở khu vực ĐBSCL. Vì vậy, các địa phương này cần chuẩn bị cho kịch bản “vỡ trận” hệ thống y tế khi có quá nhiều người nhiễm có nguy cơ tăng nặng, tử vong trong một thời gian ngắn. Đồng thời, chúng ta cần phải xác định rằng: với các vaccine hiện có, vaccine chỉ bảo vệ người được tiêm chứ không thể đạt miễn dịch cộng đồng. Vì thế phải tiêm vaccine ngay cho người trên 50 tuổi, mặc dù tiêm bây giờ cũng hơi muộn vì người dân đã về rồi, lây truyền cũng đã bắt đầu âm thầm. Tôi đã ngồi tạm tính, số lượng vaccine cần đổ về đây cho người trên 50 tuổi ở 12 tỉnh ĐBSCL rơi vào khoảng 6,5 triệu liều vaccine. Sau khi tiêm vaccine cho người trên 50 ở ĐBSCL, ở Đông Nam Bộ, sẽ tới người cao tuổi vùng nguy cơ khác như Nam Trung Bộ, rồi Tây Nguyên, vì người di cư cũng đang di chuyển về quê.   Thứ hai là không còn cách nào khác, chúng ta phải giãn cách đến lúc phủ mũi thứ hai cho người trên 50 tuổi. May mắn là vùng ngoài Đông Nam Bộ thì các vùng còn lại có mật độ dân số trung bình thấp hơn nhiều lần nên tôi cũng hi vọng là giảm tình trạng lây lan. Giãn cách ở đây là tạo khoảng cách giữa người với người, giảm mật độ người chứ không phải “bế quan tỏa cảng”. Các hoạt động sản xuất đảm bảo an toàn vẫn nên cho phép hoạt động.      Vùng an toàn phải là vùng cân bằng giữa vaccine ưu tiên cho các nhóm nguy cơ, năng lực điều trị tới tận tuyến cơ sở và kiểm soát không tăng nhiều F0 khi hai yếu tố đầu chưa đạt.      Hiện nay, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã phủ được toàn bộ mũi 1 còn mũi 2 là  67% với TP. HCM và gần 30% với Hà Nội. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp thiếu vaccine, nên tạm hoãn thời gian tiêm mũi 2 ở hai nơi này lại để dành vaccine tiêm cho người trên 50 tuổi ở các tỉnh nguy cơ cao của Đồng bằng sông Cửu Long (và sau đó tới các vùng nguy cơ cao còn lại theo thứ tự). Các tỉnh không có nguy cơ cao có thể phải chờ các đợt tiêm sau. Mặc dù cách làm này không phải tối ưu nhưng chúng ta buộc phải làm như vậy để tránh quá tải y tế cho các vùng nguy cơ.   Trong bối cảnh vaccine chưa có, nguồn lực y tế mỏng, phần lớn các tỉnh vẫn đang kiểm soát lây nhiễm trong cộng đồng bằng cách truy vết và cách ly tập trung. Nhưng thực ra, trước đây, TP. HCM, Bình Dương cũng từng quá tải khu cách ly tập trung.  Bây giờ, các tỉnh vẫn đang tổ chức cách ly tập trung và hy vọng làm giảm lây nhiễm ra cộng đồng. Thực ra, vẫn có thể cách ly tập trung khi số lượng người cần cách ly không lớn và địa phương có thể đảm bảo một số điều kiện như thông thoáng để hạn chế tối đa lây nhiễm chéo, đảm bảo nhu cầu đời sống hằng ngày, tránh tình trạng thiếu cả thuốc hạ sốt, cơm ăn nước uống từng xảy ra tại một số nơi cách ly. Tuy nhiên, với số lượng người lao động lớn đi về các địa phương như hiện nay, chắc chắn các khu cách ly tập trung sẽ quá tải, là nguy cơ dẫn tới lây nhiễm chéo.  Vì vậy, chúng ta cũng phải chuẩn bị phương án là nếu không thể cách ly được tốt như đã làm trong năm 2020 thì phải dùng mạng lưới xã phường để hỗ trợ quản lý cách ly tại nhà. Tôi cũng suy nghĩ nhiều về phương án cách ly tại nhà ở các tỉnh khác ngoài TP. HCM và vùng lân cận, vì nó sẽ dễ dẫn đến tình trạng lây lan ra cộng đồng. Nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận là thực ra có thể dịch bệnh đã âm thầm lây lan, hoặc sớm muộn gì cũng lây. Nên ngoài việc ưu tiên khẩn cấp tiêm vaccine cho những người dễ tử vong và tăng nặng, chúng ta phải tăng năng lực hệ thống y tế cơ sở; thay đổi mô hình điều trị như tập huấn cho cán bộ y tế các tuyến từ cơ sở, tập huấn cho người dân, huy động đội ngũ tình nguyện viên để hỗ trợ được F0 tại cộng đồng khi số lượng lớn.   Thuận lợi lớn nhất cho chúng ta lúc này là đã có quy trình, kinh nghiệm chăm sóc, điều trị người mắc Covid từ trường hợp TP. HCM, giờ chỉ cần nhân rộng và thực hiện điều đó. Dĩ nhiên, chúng ta phải tập huấn thì cán bộ cơ sở mới hiểu và làm được chứ không thể ngay lập tức nâng cao năng lực chăm sóc điều trị được.     Người dân ở cửa ngõ Bình Chánh, TP HCM để trở về miền Tây ngày 1/10. Ảnh: Trương Thanh Tùng.     Là một nhà dịch tễ học về các bệnh truyền nhiễm về hô hấp thường làm việc với y tế cấp cơ sở, chị thấy có thể làm gì để giúp nâng cao năng lực y tế cơ sở trong điều kiện ngặt nghèo về thời gian theo chu kỳ ủ bệnh của virus?  Trong thời gian còn đang tạm giãn cách quý giá này, chúng ta phải chuẩn bị cả về quy trình, con người, thuốc men và hệ thống oxy. Điều quan trọng nhất là phải chuẩn bị năng lực chữa trị tại cộng đồng, tại trạm y tế và chỉ chuyển tuyến các trường hợp nặng chứ không dồn tất cả các ca lên tuyến trên gây gánh nặng lên tuyến trên. Hệ thống y tế cơ sở phải chuẩn bị trước như dự trù máy đo độ bão hòa oxy trong máu (SpO2), thuốc cơ bản, tìm kiếm và thương thuyết với nhà cung cấp oxy, các xe oxy di động, lắp hệ thống ống dẫn oxy trong các bệnh viện tuyến huyện trở lên để xe oxy di động đến là có thể lắp vào cho bệnh nhân thở. Các bệnh viện công có nhiều thủ tục đấu thầu, mua sắm nên phải bắt đầu ngay từ bây giờ, nếu không là sẽ không kịp. Một ví dụ đơn giản mà chúng ta đều thấy là oresol và paracetamol thường chẳng bao giờ thiếu nhưng ở giai đoạn đỉnh dịch, một số bệnh viện  đã thiếu cả oresol, do đó cũng phải lên phương án là nếu thiếu oresol thì phải biết cách pha dung dịch bù nước và điện giải từ muối và đường như thế nào. Đó là những cái phải chuẩn bị trước, còn khi có bệnh nhân tăng lên thì nhân viên y tế sẽ sốc, choáng váng, tập huấn cũng không kịp nữa.   Nhiều thứ chuẩn bị dồn dập trong thời gian này nên sẽ rất vất vả nhưng vấn đề là chúng ta có đủ quyết tâm chính trị để làm không. Tôi nghĩ nếu xác định được như vậy thì mình có thể làm được.   Tôi mong mỗi một tỉnh sẽ có một đơn vị y tế đỡ đầu để được hỗ trợ về năng lực. Trường Đại học Y Dược TP. HCM mới xây dựng được mô hình trạm cấp cứu F0, nếu họ đỡ đầu được 1-2 tỉnh, nhân mô hình ấy lên, tương tự bệnh viện Đại học Y Hà Nội đỡ đầu 1-2 tỉnh, Bệnh viện Nhi Trung ương đang ở Vĩnh Long đỡ đầu Vĩnh Long, Bệnh viện Phổi Trung ương ở Đồng Nai có thể vào miền Tây hỗ trợ cho một tỉnh… Cứ nhân dần dần lên như vậy, nâng cao năng lực cho hệ thống y tế thì mới được, chứ còn hỗ trợ từ xa, hỗ trợ online, hỗ trợ bằng các văn bản chính sách không ăn thua.       Ngoài việc ưu tiên khẩn cấp tiêm vaccine cho những người dễ tử vong và tăng nặng, chúng ta phải tăng năng lực hệ thống y tế cơ sở; thay đổi mô hình điều trị như tập huấn cho cán bộ y tế các tuyến từ cơ sở, tập huấn cho người dân, huy động đội ngũ tình nguyện viên để hỗ trợ được F0 tại cộng đồng khi số lượng lớn.      Đòi hỏi sự chuẩn bị ấy ở hệ thống y tế cơ sở trong bối cảnh mỗi ngày chỉ có chục, vài chục F0 thì có phải là lo lắng thái quá không?  Nếu may mắn không bùng phát dịch thì chúng ta quá mừng, nhưng nếu rủi ro bùng phát thì sao? Tôi chỉ sợ là khi đó, chúng ta hỗ trợ an sinh không kịp, đầu tư cho hệ thống cách ly tốt cũng không đủ, và đầu tư cho hệ thống y tế cũng không kịp thì sẽ lại dẫm lại vào con đường mà chúng ta vừa bước ra.   Chúng ta đều hiểu là những vùng có nguy cơ hiện nay như Đồng Bằng sông Cửu Long có một điểm tốt là dân cư thưa hơn TP. HCM nhưng tất cả các điều kiện về y tế, hỗ trợ an sinh đều không bằng TP. HCM. Do đó, muốn an toàn thì phải dự trù xa, nhìn xa trông rộng, tính tới đủ các nguy cơ, còn để bị động thì nếu chúng ta không kiểm soát được thì hệ quả sẽ rất tệ. Với đặc điểm của đại dịch này, khi bùng phát thì quy mô điều trị sẽ tăng cực kỳ nhanh, không ai có thể lường hết được. Tôi nghĩ đừng có chờ tới khi có nhiều bệnh nhân rồi mới chuẩn bị mà phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. Trước đây mình lên kế hoạch, dự trù dựa trên số bệnh nhân, số bác sĩ, tóm lại dựa trên các con số mà mình dự đoán, còn với đặc điểm của COVID thì khi đã bùng dịch, mình không còn cơ hội dự đoán được.    Nhìn rộng ra, việc chúng ta chuẩn bị, tăng năng lực cho hệ thống y tế từ cấp cơ sở thì không chỉ tốt cho việc quản lý dịch bệnh này mà còn tốt cho cả quản lý hậu đại dịch tới đây và các bệnh tật khác. Những năm gần đây, ngành y đang có chiến lược tăng cường năng lực y tế tuyến cơ sở cũng đề án xây dựng mô hình phòng khám bác sĩ gia đình. Đây chính là cơ hội để ngành y thu hút đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng, và nâng cao năng lực cho hệ thống y tế. Ví dụ một trưởng trạm y tế cho nhân viên đi học về COVID, phát hiện bệnh, phân loại bệnh nặng nhẹ, tuyên truyền cho người dân tự cách ly ở nhà và tự chăm sóc như thế nào, tại trạm cần có những trang thiết bị cơ bản như máy đo oxy, máy đo nhiệt độ, thuốc hạ sốt, oserol chứ không phải những thứ quá đắt đỏ ghê gớm. Ở tuyến quận, huyện thì cơ sở y tế cần lo oxy, thuốc chống đông, corticoid… Cán bộ y tế chăm sóc, điều trị Covid cho người dân, có thể đồng thời phát hiện và quản lý các bệnh tật phổ biến khác, tận dụng sự hỗ trợ từ các tổ chức như World Bank hoặc Quỹ toàn cầu cho các mục tiêu này.  Nhìn chung, tất cả sự chuẩn bị ở đây là y tế trong ngưỡng chịu đựng được khi chưa bao phủ vaccine. Chủng Delta lây rất nhanh, tới mức vượt ngưỡng y tế cực nhanh. Tôi có trao đổi với một số bác sĩ, nếu mình lập các bệnh viện dã chiến, số bệnh nhân nằm chỉ chiếm ¼ số giường bệnh thôi là cảnh báo chuẩn bị quá tải vì số ca tăng quá nhanh.     Tỉ lệ bao phủ vaccine, số liệu đến ngày 1/10. Nguồn: TS Nguyễn Thu Anh.   Không có “người xanh”  Bên cạnh sự chuẩn bị năng lực tới ngưỡng cho hệ thống y tế, việc triển khai tiêm vaccine theo đúng đối tượng cũng hết sức quan trọng, làm giảm nguy cơ tử vong do COVID tại các địa phương như chị đã đề cập?   Dự thảo kế hoạch thích nghi an toàn vẫn chưa được phê duyệt, kể cả chưa được phê duyệt nhưng lãnh đạo Bộ Y tế đã công bố, “đánh tiếng” rằng tiêm vaccine cho người cao tuổi là điều kiện tiên quyết để mở cửa thì đến nay các địa phương vẫn chưa thực hiện. Chúng tôi cũng không có số liệu để đánh giá toàn cảnh về tỉ lệ tiêm của người cao tuổi nhưng nhìn chung có thể thấy rằng trừ Hà Nội, TP. HCM, Bình Dương, Long An thì người cao tuổi vẫn chưa được ưu tiên tiêm trước người trẻ, họ tiêm cùng với người trẻ hoặc thậm chí phải tiêm sau.   Hiện nay chúng ta đã tiêm gần 49 triệu liều vaccine, điều tôi luôn mơ ước là số vaccine đã tiêm cho người tuyến đầu và người trên 50 tuổi, với số lượng vaccine đó là gần đủ phủ rồi. Và nếu làm điều đó, chúng ta đã có thể nới lỏng được trên toàn quốc. Nhưng chúng ta đã không làm thế nên sẽ còn đóng cửa các tỉnh, các vùng (đến khi tiêm người trên 50 tuổi và nới dần), không ai dám mở ra khi nguy cơ tăng nặng và tử vong quá lớn.   Để có được các vùng an toàn, chúng ta phải thay đổi quan điểm. Về cơ bản, chúng ta phải sử dụng vaccine để tránh quá tải hệ thống, điều trị từ cơ sở để quản lý nguy cơ tử vong và tăng nặng nhưng với sự khó lường của dịch bệnh, chúng ta không thể quản lý nguy cơ lây nhiễm bằng vaccine đâu mà phải quản lý bằng giãn cách theo các cấp độ khác nhau. Nhưng ở đây, chúng ta vẫn lại vướng phải tư duy cũ là người tiêm vaccine thì an toàn và không làm lây nhiễm cho người khác, chúng ta vẫn còn tin vào miễn dịch cộng đồng.       Tăng năng lực cho hệ thống y tế từ cấp cơ sở thì không chỉ tốt cho việc quản lý dịch bệnh COVID mà còn tốt cho cả quản lý hậu đại dịch tới đây và các bệnh tật khác.      Như vậy việc cho phép những “người xanh” được di chuyển giữa các vùng, kể cả các vùng không có virus là mang theo nguy cơ? Và cũng khá mâu thuẫn với việc tiêm cho người trên 50 vì phần lớn người già thì không di chuyển.  Đúng vậy, tôi muốn nhấn mạnh là “người xanh” không giúp mở cửa kinh tế, chỉ người rủi ro tử vong cao được tiêm vaccine mới giúp mở cửa kinh tế. Không có khái niệm “người xanh” (vì tiêm vaccine rồi vẫn có thể nhiễm virus), chỉ có khái niệm người rủi ro tử vong cao và người rủi ro tử vong thấp hơn… (tùy thuộc vào tình trạng tiêm vaccine, tuổi và bệnh nền). “Người xanh” đi từ vùng dịch đến “vùng xanh” nếu mang theo virus sẽ biến “vùng xanh” thành “vùng tử vong” nếu người trên 50 tuổi ở “vùng xanh” chưa được tiêm đủ liều vaccine.   Từ mục tiêu tới hành động, đến chính sách không xuyên suốt nên mới vướng mắc, do đó mình trách người trẻ tiêm thì cũng chỉ trách một phần thôi, điểm thắt nút chính ở đây là tư duy quản lý bị nhầm lẫn. Người ta không hiểu rằng người già không an toàn thì hệ thống y tế sụp đổ và lại phải giãn cách. Tất nhiên, có thể có những người nghĩ rằng đằng nào người già cũng chết nhưng không một chính phủ một nước nào dám mặc kệ cho nhiều người chết. Vậy là những người xanh đó cũng chẳng được đi lại, chẳng được làm, tất cả lại có nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn như cũ.   Như vậy thì khái niệm “vùng an toàn” không thực sự an toàn?  Đó phải là vùng cân bằng giữa vaccine ưu tiên cho các nhóm nguy cơ, năng lực điều trị tới tận tuyến cơ sở và kiểm soát không tăng nhiều F0 khi hai yếu tố đầu chưa đạt. Tất nhiên nếu mình có nhiều vaccine thì không cần phải lo đếm F0 nữa, còn khi không có vaccine thì mình buộc phải giảm F0 xuống mức hệ thống y tế chịu được. Còn nếu nghĩ “vùng xanh” là vùng không có ca nhiễm là quan điểm sai lầm, vì sớm muộn gì cũng sẽ lây lan. Chẳng phải chúng ta đã thống nhất rằng Việt Nam sẽ không đi theo con đường ZeroCovid nữa hay sao?  Trong trường hợp chúng ta vẫn không nhất quán từ chiến lược tới lời nói và hành động thì rất có thể sai lầm sẽ nối tiếp sai lầm, ví dụ như không xét nghiệm người đã tiêm đủ hai mũi khi họ vào vùng không có dịch là điều rất ngớ ngẩn. Một là nếu đã tiêm hết toàn dân thì không cần xét nghiệm tất cả nữa mà chỉ cần xét nghiệm người có triệu chứng, còn nếu chưa tiêm hết mà người tiêm đủ hai mũi đi vào vùng không có virus thì vẫn cần xét nghiệm vì họ vẫn có thể mang theo virus mà. Nếu tôi là người ở TP.HCM đi tới nơi khác thì vẫn cần xét nghiệm chứ, còn người đi vào TP. HCM thì không cần xét nghiệm bởi vì tôi quá nhỏ bé trong một môi trường nhiều người đã nhiễm. Xét nghiệm là phải dựa trên nguy cơ an toàn của từng vùng chứ không phải dựa trên “thẻ xanh”.   Còn có một vấn đề là dường như cả chính quyền và người dân ở nhiều vùng quá căng thẳng, kỳ thị, thậm chí ngăn không cho người dân trở về.   Với chính quyền các địa phương, chúng ta cũng có thể hiểu được là vì họ vẫn đang ở thế khó: muốn chuyển và sớm muộn gì cũng phải “sống chung” với virus nhưng lại chưa kịp chuẩn bị nhân lực, không đủ nguồn lực cách ly, chưa kịp chuẩn bị hệ thống y tế tới tận cơ sở hay còn chưa có hướng dẫn chăm sóc tại cộng đồng. Nhưng như tôi đã khuyến nghị, “nước xa không cứu được lửa gần”, phải chuẩn bị thôi, nếu không thì sẽ không kịp. Thời gian qua, có nhiều địa phương đã sáng tạo, chủ động trong phòng chống dịch theo đúng nghĩa “thời thế tạo anh hùng”. Tôi hy vọng rằng sẽ tiếp tục có nhiều địa phương như vậy.   Còn đối với người dân, thực sự điều tôi lo và buồn nhất từ năm ngoái là ngăn chặn, rồi tố giác nhau, sứt mẻ cả tình làng nghĩa xóm, có những người đi bộ về quê đã bị gia đình đuổi ra khỏi nhà. Những cách ứng xử như thế sẽ tạo ra tâm lý không hợp tác, trốn tránh, càng lẩn trốn thì càng lây lan.   Trong quản lý dịch bệnh, quản lý khủng hoảng cần phải đặt lòng nhân hậu lên hàng đầu thì mới quản lý được. Tất nhiên là có những luồng suy nghĩ khác nhau, có người cho rằng cần phải nghiêm như thời chiến thì mới quản lý được, nhưng sau một thời gian dài chúng ta thắt lưng buộc bụng, cách ly, khóa chặt một cách nghiêm ngặt nhất, giờ đây sự nghiêm như thời chiến không ăn thua. Nghiêm thì vẫn phải nghiêm nhưng buộc phải đặt lòng nhân hậu, quan tâm đến con người một cách thực sự mới có được sự hợp tác, tuân thủ còn nếu coi những người khác thuộc về bên đối lập thì họ sẽ không hợp tác. □  Cảm ơn chị về cuộc trao đổi!   Thu Quỳnh thực hiện  —  * ĐBSCL, Duyên hải miền Trung lần lượt chiếm 18,5%, 19,6% người di cư trong cả nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống quan liêu, tham ô, lãng phí      V&#236; quan li&#234;u, tham &#244;, l&#227;ng ph&#237; c&#243; hại cho nh&#226;n d&#226;n, cho Ch&#237;nh phủ, cho đo&#224;n thể, cho kh&#225;ng chiến v&#224; kiến quốc, n&#234;n mọi người c&#243; quyền v&#224; c&#243; nghĩa vụ phải chống. Bước đầu th&#236; chống bằng c&#225;ch kiểm thảo v&#224; ph&#234; b&#236;nh. C&#242;n những người, những cơ quan hoặc đo&#224;n thể n&#224;o phạm những điều ấy, th&#236; cần phải thật th&#224; v&#224; c&#244;ng khai tự kiểm thảo v&#224; ki&#234;n quyết sửa đổi.    Gần đây, nhân dân và báo chí đã bắt đầu (tuy còn e dè, thưa thớt) phê bình. Song những tổ chức hoặc cơ quan bị phê bình thì im lìm, không đăng báo tự phê bình, không tìn cách sửa chữa. Đó là thái độ “bưng mắt, bắt chim”, thái độ “giấu bệnh sợ thuốc”, một thái độ không thật thà, không đứng đắn. Mong những ai, những cơ quan nào đã được nhân dân hoặc báo chí phê bình, thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, trên báo chí.  Chúng ta nhiều công việc, ít kinh nghiệm, không tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, mà sợ không kiên quyết tự kiểm thảo và sửa chữa.  Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta.   C.B (Báo Nhân dân, số 68, ngày 31-7-1952)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống vaccine: Nhóm thiểu số đáng sợ      Hai tuần nay, trên trang cá nhân của bác sĩ Ngô Đức Hùng (khoa cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai) đang diễn ra những cuộc “trao đổi sôi nổi” với một tài khoản Facebook. Người đàn ông đứng sau tài khoản này cương quyết từ chối tiêm vaccine COVID-19 vì cho rằng vaccine vẫn còn đang thử nghiệm. Anh ta cũng tin vaccine COVID-19 được tạo ra nhằm mục đích tiêu diệt 15% dân số toàn cầu. Không phải tới tận gần đây với sự ra đời của vaccine COVID-19, làn sóng chống vaccine mới khởi phát. Phong trào này đã bắt rễ hàng thập kỉ ở các quốc gia phát triển như Mỹ và châu Âu, bắt đầu từ phim tài liệu đầy thông tin sai lệch của đài NBC, Mỹ về vaccine phòng chống bệnh ho gà có thể gây bệnh động kinh ở trẻ em vào năm 1982 hay một nghiên cứu bịa đặt số liệu của Andrew Wakefield, Anh về mối liên hệ giữa vaccine MMR (sởi, quai bị, rubella) với chứng tự kỉ ở trẻ em vào năm 1998. Phong trào này đã không chỉ dừng chân ở Mỹ hay châu Âu mà còn vươn sang Việt Nam cách đây khoảng năm, sáu năm về trước.      Phong trào antivaxx từ Mỹ và châu Âu đã lan đến Việt Nam cách đây 5-6 năm nhờ vào mạng xã hội. Ảnh: NYtimes.com.  Hiện nay nguyên liệu của các nhóm chống tiêm chủng không chỉ dừng lại ở phim tài liệu của NBC hay nghiên cứu của Andrew Wakefield mà giờ đã đầy ắp từ chuyện tin đồn thổi phồng hay bịa đặt về tử vong, tai biến sau tiêm chủng, cho đến các thuyết âm mưu về những tỉ phú công nghệ, các tập đoàn dược muốn ăn tiền trên sức khỏe người dân hay các tổ chức tôn giáo bí hiểm muốn dùng vaccine để lập lại trật tự thế giới.  Không chỉ một mình Facebooker trên trang của bác sĩ Ngô Đức Hùng mà có thể hàng nghìn cho đến hàng chục nghìn người Việt Nam đang đặt niềm tin vào các thuyết âm mưu như vậy. Những thông tin này được dịch sang tiếng Việt rồi lan truyền trên mạng xã hội. Chúng được phát tán không chỉ trong các nhóm chuyên về vaccine mà còn “nằm vùng” trong cả các nhóm ăn kiêng một cách cực đoan, chữa bệnh bằng các liệu pháp giả khoa học hay các nhóm “dạy” về cách giữ gìn hạnh phúc gia đình, nơi các thành viên vốn đã có mối quan hệ gắn kết với nhau ở một mức độ nào đó. “Mạng xã hội có sức mạnh vì người ta tin bạn bè của mình” – TS. Nguyễn Đức An, hiện đang là GS nghiên cứu về truyền thông khoa học và sức khỏe ở thời đại hậu sự thật, Đại học Bournemouth, Anh, cho biết  Nếu có điều gì khác giữa làn sóng phản đối các vaccine trước đây và vaccine COVID-19 thì có lẽ đó là vì vaccine COVID-19 được phát triển và phê duyệt trong một thời gian thần tốc chưa đầy một năm giữa cơn hoang mang của cả cộng đồng trước virus Sars-CoV-2 quá mới và lây lan quá nhanh. Công nghệ mRNA sản xuất vaccine Pfizer, Moderna đều như chưa từng sử dụng cho thuốc điều trị hay vaccine trước đây. Quá trình triển khai tiêm ở nhiều nước cũng có thời điểm không “xuôi chèo mát mái” vì phát hiện một vài tác dụng phụ không mong muốn của vaccine khi triển khai trên hàng triệu người, dù rất hiếm gặp nhưng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng như đông máu gây ra bởi vaccine AstraZeneca và hiện tượng viêm cơ tim do vaccine Pfizer/Moderna. Vaccine không còn nhằm mục tiêu đạt miễn dịch cộng đồng mà nhằm đề phòng các cá nhân bị nhiễm không trở nặng và tử vong.      Một trong những cách truyền thông của nhóm từ chối tiêm vaccine đó là khoét sâu vào những trường bị sốc phản vệ. Trong khi trên thực tế, nhìn rộng ra, những trường hợp này chỉ xảy ra với tỉ lệ một vài trên 100.000 ca với vaccine COVID-19, ít hơn cả rủi ro bị sét đánh.      Những điều trên không đồng nghĩa với việc vaccine không an toàn hay không hiệu quả. Nhưng chúng vẫn là cái cớ để các nhóm chống tiêm chủng vin vào khuếch đại sự bối rối của công chúng, đặc biệt là gần đây khi vaccine được triển khai cho trẻ em 12-17 tuổi vào tháng một vừa qua và cho trẻ từ 6-12 tuổi vào tháng 4/2022 sắp tới. “Những người đọc của mình, vấn đề của họ là luôn luôn cực đoan hóa những gì họ đọc được. Nếu họ cho rằng nó là đúng là họ sẽ cực đoan là nó phải tuyệt đối. Thực ra đâu có phải thế?” – bác sĩ Ngô Đức Hùng, một trong những người đầu tiên lên tiếng về anti-vaxx ở Việt Nam chia sẻ.  Lí do vaccine COVID-19 được tung ra thị trường thần tốc như vậy là do các viện nghiên cứu, công ty dược phẩm, các cơ quan phê duyệt, quỹ đầu tư nhà nước và tư nhân đều dồn nhiều thời gian và nguồn lực chưa từng thấy để cùng thực hiện được mục tiêu này. Ngoài ra, công nghệ mRNA cũng cho phép sản xuất với tốc độ rút ngắn hơn rất nhiều so với công nghệ cũ. Dù vaccine COVID-19 là vaccine đầu tiên dùng công nghệ mRNA nhưng công nghệ này đã có nền tảng nghiên cứu hơn 30 năm. Hiện nay, vaccine đã được tiêm cho hơn 6 tỉ người trên toàn cầu và dữ liệu an toàn của nó đã rất rõ ràng.  Nhưng không dễ để thay đổi suy nghĩ của những người chống vaccine, “sự bất tín về vaccine của họ đã thành thành lũy về mặt tâm lý rồi, muốn gỡ không đơn giản” – TS. Nguyễn Đức An nói. Các mạng xã hội như Facebook, Twitter, YouTube dưới áp lực của chính phủ và dư luận đã nỗ lực loại bỏ những thông tin sai lệch, bịa đặt, chống vaccine nhưng kết quả hầu như không đáng kể. Hơn nữa, loại bỏ những tài khoản, nhóm chống vaccine cũng khó như Trò Đập chuột chũi, khóa tài khoản trên mạng xã hội này, họ lại mở tài khoản khác, trên mạng xã hội khác, lôi kéo người tham gia bằng cách khác. Rất nhiều nhóm chống vaccine hiện nay ở Việt Nam đang hoạt động ở những mạng xã hội mang danh “không kiểm duyệt”, nhỏ, ít người biết tiếng như Safechat, Minds, Gettr, Telegram…  Số ít, nhưng có đáng lo?   Vào tháng một vừa qua, Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã kết hợp với Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã triển khai một khảo sát về quan điểm của công chúng về tiêm chủng COVID-19 trên trang Fanpage của Yan Digital. Khi đường link của cuộc khảo sát được dẫn trên Facebook, rất nhiều trong gần ba nghìn bình luận phía dưới là những lời chống đối vaccine mạnh mẽ.  Tuy nhiên, kết quả của cuộc khảo sát cho thấy một bức tranh hoàn toàn trái ngược. Có khoảng gần 15 nghìn người tham gia cuộc khảo sát, chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó đa số (lần lượt là hơn 85% và 87%) tin vào sự an toàn và hiệu quả của vaccine. Chỉ có một số ít (lần lượt là 15% và 13%) không có niềm tin rằng vaccine an toàn và hiệu quả. Cũng cần nói thêm rằng, không phải tất cả những người này đều là những người chống vaccine.  Điều đó có nghĩa là, những người chống vaccine còn có tỉ lệ nhỏ hơn 15% nữa. Đại dịch COVID-19 mặc dù đã đồng thời sản sinh ra một đại dịch thông tin đánh vào nỗi hoang mang và lo sợ về sức khỏe trên toàn cầu nhưng cuối cùng, đại đa số công chúng vẫn tin vào khoa học. “Niềm tin vào khoa học bắt đầu tăng mạnh qua đại dịch và nhãn tiền nhất là niềm tin vào vaccine” – TS. Nguyễn Đức An chia sẻ. Tính đến tháng một năm nay, theo Bộ Y tế, vaccine COVID-19 đã phủ trên 70% dân số, trong đó hơn 90% người trên 18 tuổi đã tiêm đủ hai mũi.    Hiện nay Việt Nam đã phủ vaccine hơn 90% dân số trên 18 tuổi.  Vậy thì các nhóm chống vaccine chỉ là một thiểu số rất nhỏ, không phải là vấn đề, không đáng lo ngại nữa, phải không?  Mọi chuyện có vẻ không đơn giản như vậy. Hiện Việt Nam đang triển khai tiêm mũi tăng cường và đang tính đến việc tiêm mũi bốn cho những người có hệ miễn dịch yếu. Niềm tin vào vaccine không cố định và những người quyết định tiêm chủng vaccine COVID-19 không có nghĩa là họ đã hoàn toàn tin tưởng vào vaccine. Một nhóm nghiên cứu của các bác sĩ tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh khảo sát trên các nhóm đối tượng người bệnh mạn tính, sinh viên, và phụ huynh có con trong độ tuổi tiêm chủng được thực hiện trước mỗi chiến dịch tiêm chủng vaccine COVID-19, kết quả cho thấy rằng những người e ngại vaccine chiếm tỉ lệ khoảng 16%-26%. Công bố mới nhất của nhóm này cho thấy có 26% phụ huynh chưa có ý định tiêm ngừa vaccine COVID-19 cho trẻ trong đó có cả những người đã lựa chọn tiêm vaccine COVID-19 cho chính mình. Lí do chủ yếu của sự do dự tiêm ngừa là vì lo sợ tác dụng phụ của vaccine, chiếm tỷ lệ 80%. Con số này cũng tương đồng với kết quả khảo sát của UNICEF vào tháng một vừa qua. Điều dáng nói là số người tham gia khảo sát của nhóm nghiên cứu ở Đại học Y dược đều chia sẻ rằng nguồn thông tin tham khảo chính của họ về dịch bệnh và vaccine đến từ mạng xã hội.  Nếu đã có sẵn một nỗi e ngại nào đó về vaccine COVID-19, những người này càng dễ bị lung lay bởi những thông tin tiêu cực từ những nhóm phản đối tiêm vaccine. Một trong những cách truyền thông của nhóm từ chối tiêm vaccine đó là khoét sâu vào những trường bị sốc phản vệ. Trong khi trên thực tế, nhìn rộng ra, những trường hợp này chỉ xảy ra với tỉ lệ một vài trên 100.000 ca với vaccine COVID-19, ít hơn cả rủi ro bị sét đánh. “Nhưng thống kê các con số là khô khan, mà bao giờ người ta cũng chỉ đặt câu hỏi: ‘Ôi anh chị nói nó ít khi xảy ra như vậy, với tỉ lệ một vài phần triệu mà tại sao con bé ở bên cạnh nhà tôi lại bị? Bao giờ cũng có câu hỏi ‘Tại sao lại là tôi?’ Chính vì vậy, đưa ra những trường hợp thương tâm sẽ tạo ra những ấn tượng rất lớn tới tâm lí của họ.” – BS. Ngô Đức Hùng nói.  Vaccine là câu chuyện về niềm tin hơn là câu chuyện về lý trí và lí lẽ, theo lời của TS. Nguyễn Đức An. Mạng xã hội với những thuật toán giữ chân, trói người dùng vào những thông tin mà họ muốn nghe, muốn tin, “càng làm tăng thiên kiến xác nhận” của họ, đặc biệt không nhiều người có khả năng tự phản biện lại chúng. “Có người tin vào ma quỷ hay thầy bói chẳng hạn, họ sẽ à, nghe ông kia ông ấy giỏi lắm, phán đúng y hoàn cảnh của mình luôn kìa. Tự nhiên cái niềm tin đó ngày càng được củng cố. Sự bất tín vào vaccine cũng theo một cái dạng như vậy.”– TS. Nguyễn Đức An so sánh niềm tin này như bức tường thành, xây lên ngày một cao, ngày một khó đảo ngược.  Thậm chí, các thông tin tiêu cực về vaccine không chỉ khiến cho những người vốn ngần ngại thêm lo sợ về vaccine mà còn có thể khiến những người đang có niềm tin vào vaccine thay đổi ý định. Một thí nghiệm tâm lý đăng trên tạp chí Nature Human Behavior khảo sát trên 4000 người ở Mỹ và Anh vào thời điểm 9/2020 cho thấy: tỉ lệ người quyết định đi tiêm vaccine COVID-19 giảm 6% sau khi đưa cho họ đọc những thông tin sai lệch về vaccine.  Trên thế giới, theo thống kê của Trung tâm Chống tin thù ghét trên không gian số (Center for Countering Digital Hate), Mỹ, dựa trên phân tích gần một triệu post trên Facebook và Twitter cho thấy, “gần 2/3 nội dung chống vaccine trên mạng xã hội đến từ chỉ 12 cá nhân chống vaccine”. Nhưng những thông tin này đã kéo theo hàng chục triệu các tín đồ. Ở Việt Nam cũng vậy, đứng đằng sau phong trào chống vaccine cũng chỉ là số ít, nhưng họ là “thiểu số đứng đầu to miệng, có trong tay vũ khí là mạng xã hội, tôi không nghĩ ảnh hưởng của họ là nhỏ” – TS. Nguyễn Đức An nói.  Lấy lại niềm tin vào vaccine?   Vậy, những nhóm chống vaccine có ảnh hưởng ở quy mô như thế nào? Những tin tức tiêu cực về vaccine của những nhóm này trên mạng xã hội tác động tới công chúng nghiêm trọng ra sao? Những hội nhóm trên mạng xã hội nào hay cổ vũ việc chống vaccine? Ngoài những thông tin xoáy sâu vào những trường hợp tai biến, động lực nào khiến có người tin theo những thuyết âm mưu kì lạ tưởng như không có cơ sở nào về vaccine?  Hiện nay, rất tiếc, chúng ta chưa có những câu trả lời này ở Việt Nam. TS. Nguyễn Đức An cho rằng cần phải có những nghiên cứu liên ngành y khoa, truyền thông, tâm lý học ở Việt Nam về vấn đề này: “Tôi chỉ có thể nói nó có một mối họa tiềm ẩn”.  Kết cục của mối họa đó có thể phải trả giá bằng mạng sống. Những người không tiêm COVID-19 có nguy cơ tử vong gấp tám lần những người đã tiêm hai mũi và 16 lần so với những người tiêm mũi tăng cường. Trên thực tế, theo thống kê của một số bệnh viện điều trị COVID-19, đại đa số (lớn hơn 80%) những người nhập viện và tử vong là những người chưa tiêm hoặc chưa tiêm đủ liều vaccine COVID-19.  Hơn nữa, ảnh hưởng của các nhóm chống vaccine sẽ không chỉ dừng lại ở chiến dịch tiêm chủng vaccine COVID-19 mà còn ở chiến dịch tiêm vaccine các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác cho trẻ em. Trong đó, để đạt được miễn dịch cộng đồng ở sởi, tỉ lệ tiêm chủng phải đạt hơn 95% dân số. Ở thời điểm năm 2017 – 2019 đã có nhiều tỉnh, thành ghi nhận nhiều trường hợp trẻ em bị sởi, viêm màng não, ho gà, bạch hầu – những bệnh tưởng như đã bị đẩy lùi khỏi cộng đồng hàng thập kỉ nay, giờ lại quay lại do phong trào chống vaccine. Tỉ lệ tử vong của các bệnh này lên tới 50% và nếu vượt qua cửa tử thì cũng để lại những di chứng vô cùng nặng nề. Bác sĩ Trương Hữu Khanh, trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng I, TP. HCM từng thốt lên với báo Pháp luật TP. HCM “người anti vaccine sẽ chính là người gây tội ác với dân tộc”.  Làm thế nào để thuyết phục những người e ngại vaccine và chống vaccine là một vấn đề phức tạp. Theo TS. Nguyễn Đức An, “Cách duy nhất là đối thoại với họ”. Người đối thoại ở đây chính là các bác sĩ, bác sĩ y tế dự phòng – những người mà theo nhiều nghiên cứu vẫn là nguồn tin quan trọng nhất, đáng tin cậy nhất đối với công chúng về các vấn đề sức khỏe. Tuy nhiên, để các bác sĩ có thể lắng nghe, kiên nhẫn, thuyết phục người khác, nhất là những người vốn có thành kiến với vaccine, thì họ cần được hướng dẫn bởi một đội ngũ truyền thông khoa học mạnh.  Đó còn chưa kể là khi truyền thông, cần phân biệt giữa những người chống vaccine và những người e ngại, trì hoãn vaccine. Trong khi những người trì hoãn vaccine chủ yếu là do sợ tác dụng phụ và không chắc chắn vào hiệu quả của vaccine thì những người chống vaccine còn nhiều lí do khác nữa. Chẳng hạn, một nhóm người chống vaccine tin rằng vào miễn dịch tự nhiên, ăn uống theo một chế độ kiêng khem nào đó là đủ, vaccine là không cần thiết. Cũng có nhóm khác cho rằng, yêu cầu họ tiêm là xâm phạm quyền tự do thân thể của họ. Niềm bất tín của những người chống vaccine về độ an toàn và hiệu quả của vaccine cũng sâu sắc, cực đoan hơn so với những người e ngại, trì hoãn tiêm chủng: họ tin vaccine chỉ toàn là chất độc, họ nghi ngờ vaccine chỉ là một âm mưu thâm độc của nhà nước bắt tay với các hãng dược để tiêu diệt và kiếm lợi trên thân xác con người, họ cho rằng nhà sản xuất và nhà đầu tư gắn chip vào vaccine để theo dõi người dân… “Phải bắt đầu từng cá thể nếu muốn thay đổi họ. Phải chia thành các nhóm, các cấp độ khác nhau xem họ thuộc nhóm nào để mình có cách xử lí khác nhau” – TS. Đức An cho biết.  Nhà nước và người dân cũng phải tạo áp lực để các mạng xã hội thay đổi thuật toán và có những biện pháp để đẩy lùi và loại bỏ những thông tin sai lệch, bịa đặt. Các mạng xã hội lớn như Facebook, Twitter hay YouTube hiện nay, tuy đã có động thái nhưng hầu như chưa đáng kể. Thậm chí, trong vụ bê bối “the Facebook Files” (Hồ sơ Facebook) gần đây, các báo cáo cho thấy mạng xã hội lớn nhất hành tinh này còn sửa thuật toán theo hướng tạo điều kiện để các thông tin đánh vào cảm xúc, chia rẽ quan điểm người dùng có cơ hội được tiếp cận nhiều độc giả hơn.  Nhưng có một loạt các mạng xã hội dù không có thuật toán, như Telegram, Gettr, Minds, Safechat…, thì họ không kiểm soát nội dung, kể cả những tin sai lệch và bịa đặt độc hại đến sức khỏe. Đó là những “vùng đất hứa” mới cho các nhóm chống vaccine. Bởi vậy, một trong những mục tiêu của giáo dục trong thời đại này là phải nâng cao năng lực số/dân trí số (digital literacy) – người dân phải có khả năng phản biện và kiểm chứng, lật lại những thông tin mình đọc được trên mạng. Theo một nghiên cứu gần đây của UNICEF, dân trí số của Việt Nam thấp hơn nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia.  Điều thú vị là, báo chí không có vai trò thuyết phục những nhóm chống vaccine bởi chỉ có thể đưa tin theo cách “từ trên xuống”, hướng đến số đông chứ không thể đối thoại với từng cá nhân. Nhưng điều đó không có nghĩa là báo chí vô can. Nếu không đưa tin một cách cẩn trọng, báo chí có thể tiếp thêm “vũ khí, đạn dược” cho những nhóm chống vaccine. “Thông tin tốt đi vào đầu khó lắm nhưng tin dữ, tin xấu đi vào đầu nhanh lắm” – TS. Nguyễn Đức An nói. Trên thực tế, trước năm 2015, báo chí đã nhiều lần tạo dựng sự bất tín của công chúng vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Năm 2007, báo chí chỉ trích mạnh mẽ một vài trường hợp sốc phản vệ của vaccine viêm gan B ở trẻ sơ sinh đã dẫn đến tỉ lệ tiêm chủng vaccine này giảm từ hơn 60% xuống gần 27%. Năm 2013, báo chí lại xoáy vào rất ít trường hợp trẻ sơ sinh bị sốc phản vệ sau khi tiêm vaccine Quinvaxem (vaccine 5 trong 1 gồm bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và Hib) làm đổ vỡ niềm tin của công chúng vào sự an toàn của vaccine. Năm đó so với năm 2012, tỉ lệ tiêm phòng bạch hầu – ho gà – uốn ván giảm từ 99% xuống 83% và tỉ lệ tiêm chủng viêm gan B ở trẻ sơ sinh giảm từ 76% xuống 56%. Theo kết quả mô hình của một nhóm nhà khoa học ở WHO Việt Nam thực hiện năm 2013, điều này có thể dẫn đến 90 nghìn người bị nhiễm viêm gan B và 17.5 nghìn người có thể đã tử vong. Một nghiên cứu của TS. Trần Xuân Bách, Đại học Y Hà Nội, phỏng vấn hơn 400 phụ huynh cho thấy rằng, nếu họ đọc những tin tức về sốc phản vệ trên báo chí-truyền thông, gần 70% sẽ ngần ngại tiêm vaccine và 12% sẽ từ chối tiêm ngay lập tức.  Báo chí đúng là phải đưa tin đa chiều, phải khách quan, nhưng không có nghĩa là dành không gian cho những người từ chối và e ngại vaccine ngang với những người ủng hộ. Đưa tin về những trường hợp tử vong sau tiêm cần phải đi kèm với bối cảnh rằng những trường hợp đó rất hiếm gặp và chưa chắc nguyên nhân là do vaccine. Như lời của TS. Nguyễn Đức An, “Không đổ thêm dầu vào lửa, chỉ cần xác nhận nỗi lo vaccine thôi là các tin này sẽ được chia sẻ đầy trên các diễn đàn”.  “Báo chí phải tạo môi trường cho những thông tin tốt, chính xác để mỗi người có lo lắng lên google tìm kiếm về vaccine sẽ tìm thông tin tin cậy đối trọng lại với tin sai lệch trên mạng xã hội” – anh nói.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Chủ nghĩa bảo hộ điện toán: Lối tư duy tiêu cực trong quản lý internet?      Chủ nghĩa bảo hộ điện toán (digital protectionism) là khái niệm thường được đề cập và lên án bởi các học giả, chuyên gia luật, và trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Tương tự như chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch (trade protectionism), bảo hộ điện toán có mục đích hạn chế sự lưu thông tự do của dữ liệu – một thực thể điện toán vừa mang tính hàng hoá và vừa mang tính dịch vụ. Chủ nghĩa bảo hộ điện toán, khác với bảo vệ dữ liệu (data protection), là một xu hướng đáng lo ngại trong công tác quản lý internet trên toàn thế giới bởi sự can thiệp tiêu cực của xu hướng này đến các quy tắc thương mại hiện hành.    Chủ nghĩa bảo hộ điện toán là gì?  Chủ nghĩa bảo hộ điện toán là thuật ngữ được dùng để chỉ thái độ và động thái làm luật liên quan đến mạng internet mang tính bảo hộ ở cấp chính phủ. Chủ nghĩa bảo hộ là thuật ngữ thường được dùng trong kinh tế để chỉ những động thái can thiệp biến đổi thị trường của chính phủ nhằm mục đích ưu tiên thương mại trong nước và tăng tính cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Trong kinh tế, thái độ và hành vi mang tính bảo hộ thường được gọi là bảo hộ mậu dịch. Tương tự với lối tư duy bảo hộ vốn đã hiện hữu từ lâu trong môi trường kinh tế, bảo hộ điện toán diễn tả thái độ và hành vi can thiệp biến đổi môi trường internet với mục đích hạn chế dòng di chuyển tự do của dữ liệu thông qua yêu cầu nội địa hoá dòng dữ liệu (data localisation) và tăng sự giám sát của chính phủ trên môi trường internet.         Các chính sách quản lý internet non trẻ hiện nay có thể vô tình ngăn chặn giao lưu thương mại trong vận chuyển dữ liệu xuyên biên giới – một tác động đi ngược lại với mục đích an ninh và bình ổn mạng internet.      Có một điểm khác nhau mấu chốt cần được làm rõ giữa hai thuật ngữ thoạt đầu có vẻ tương đồng, đó là chủ nghĩa bảo hộ điện toán (digital protectionism) và bảo vệ dữ liệu (data protection). Mặc dù cả hai thuật ngữ đều được dùng để chỉ việc can thiệp của chính phủ vào dòng di chuyển xuyên quốc gia của dữ liệu trên môi trường internet, động cơ và động thái can thiệp trên thực tế của hai thuật ngữ này hoàn toàn khác nhau. Bảo vệ dữ liệu người dùng internet là một xu hướng làm luật mang tính tích cực đang được đẩy mạnh ở châu Âu, với sự thông qua của Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (GDPR). Chủ trương bảo vệ dữ liệu hướng đến việc quản lý một loại dữ liệu rất cụ thể: dữ liệu cá nhân (personal data) của người dùng internet. Mục đích chính của việc thông qua các điều luật bảo vệ dữ liệu là tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để cá thể sử dụng internet có thể giành lại dữ liệu thuộc về họ từ tay các doanh nghiệp kinh doanh dữ liệu trên mạng internet – một diễn biến vô cùng cần thiết sau những bê bối xung quanh bầu cử Mỹ vào năm 2016 và sự can thiệp của công ty Cambridge Analytica trong vụ bê bối này. Ngược lại, chủ nghĩa bảo hộ điện toán và những động thái làm luật liên quan đến chủ nghĩa này thường có xu hướng xem dữ liệu trên internet như hàng hoá đang được vận chuyển tự do qua lãnh thổ các nước mà không đóng thuế. Hơn thế nữa, chủ nghĩa bảo hộ điện toán thường không phân biệt các loại dữ liệu khác nhau trên môi trường internet: dữ liệu cá nhân, dữ liệu định vị, dữ liệu tự động, hay dữ liệu công cộng đều được gộp chung dưới tên gọi dữ liệu. Thường được phát động dưới danh nghĩa bảo vệ dữ liệu và ‘nội địa hoá’ dữ liệu, chủ nghĩa bảo hộ điện toán gây nên những hiểu lầm cơ bản đối với người dùng internet về mục đích, nội dung, cũng như tác động của lối tư duy này.  Bảo hộ điện toán và bảo hộ mậu dịch: những điểm khác nhau quan trọng   Nhìn chung, cộng đồng thế giới xem bảo hộ mậu dịch là một tư duy kinh tế mang tính tiêu cực và cần được hạn chế bởi các quy ước mậu dịch quốc tế. Tuy bảo hộ mậu dịch đã được ràng buộc bởi nhiều quy ước quốc tế, bảo hộ điện toán vẫn đang là một vấn đề vô cùng mới mẻ. Tuy chủ nghĩa bảo hộ điện toán có thể được xem là tàn dư của lối tư duy bảo hộ trong môi trường kinh tế, bảo hộ mậu dịch và bảo hộ điện toán có ba điểm khác nhau cốt lõi khiến việc tư duy theo chủ nghĩa bảo hộ trong môi trường internet mang tính bất cập.  Thứ nhất, các dịch vụ điện toán phân tích dữ liệu lệ thuộc vào sự di chuyển dữ liệu tự do xuyên biên giới các quốc gia và vùng lãnh thổ. Những dòng dữ liệu di chuyển xuyên biên giới này có thể tạo ra hàng hoá thương mại, dịch vụ thương mại, hoặc sự kết hợp của cả hai. Trên môi trường internet, khái niệm hàng hoá có thể bao gồm cả phim ảnh và âm nhạc – những sản phẩm này khác hẳn với khái niệm hàng hoá vật chất trong tư duy bảo hộ mậu dịch. Cụ thể, rất nhiều hàng hoá điện toán không mất mát giá trị khi đã qua trao đổi: một bản nhạc lưu trữ dưới dạng kỹ thuật số có thể được bán cho hàng trăm ngàn khán giả ở mọi nơi trên thế giới mà không chịu bất kì một mất mát nào về chất lượng cũng như giá trị.  Ngoài ra, người tiêu dùng và đơn vị cung cấp sản phẩm có thể cùng lúc thực hiện trao đổi hàng hoá với rất nhiều đối tượng khác nhau. Hơn nữa, việc giao dịch hàng hoá điện toán có thể xảy ra ở bất kì nơi đâu mà không đòi hỏi việc bên mua và bên bán phải ở cùng một vị trí địa lý tại cùng một thời điểm cố định. Chính vì vậy, việc định nghĩa xác đáng hành động bảo hộ điện toán của một quốc gia trên internet là vô cùng khó khăn: khó mà có thể xác định được liệu một quốc gia đang bảo vệ quyền riêng tư cá nhân của công dân mình, hàng hoá được sản xuất ra từ quốc gia đó, dịch vụ thương mại chịu bảo vệ pháp luật của quốc gia đó, hay đơn giản là đang tiến hành những chính sách bắt nguồn từ tư duy bảo hộ lỗi thời.     Những dữ liệu bị các quốc gia “khóa” và không cho phép lưu chuyển toàn cầu. Nguồn: Ft.com  Thứ hai, việc xác định nhập khẩu – xuất khẩu trong môi trường internet, cũng như việc thẩm định luật thương mại và sở hữu trí tuệ nội địa của dữ liệu trên môi trường internet là vô cùng khó khăn. Dữ liệu trên internet không bao giờ di chuyển theo đường thẳng từ điểm A đến điểm B; ngược lại, không ai có thể xác định cụ thể được một đơn vị dữ liệu sẽ được vận chuyển theo tuyến đường nào trước khi đơn vị dữ liệu đó được gửi đi. Giả sử A và B đang ngồi cách nhau 0.5m trong cùng một căn phòng tại Hà Nội, sử dụng cùng một mạng wifi, và đang muốn chia sẻ kho âm nhạc với nhau qua mạng internet. Một bài hát gửi từ máy tính của A sang máy tính của B có thể sẽ được chia nhỏ ra làm nhiều đơn vị dữ liệu khác nhau, mỗi đơn vị dữ liệu được truyền đi trên mạng internet theo những tuyến đường độc nhất và ngẫu nhiên: ¼ bài hát có thể được truyền sang Thái Lan, Hong Kong, Úc và Hàn Quốc trước khi quay trở về Việt Nam và hạ cánh an toàn tại máy tính của B – trong khi ¾ còn lại của bài hát có thể được truyền đi với bất kỳ tuyến đường nào mà thuật toán định tuyến xác định là tuyến đường nhanh nhất để vận chuyển đơn vị dữ liệu đó. Từ một máy chủ (server) chính, dữ liệu có thể được truyền đi qua rất nhiều đơn vị hành chính quốc gia khác nhau. Tất cả quá trình này xảy ra trong vòng vài nano giây; mỗi nano giây có vô số những hoạt động tương tự xảy ra trên internet. Hơn thế nữa, một đơn vị hàng hoá điện toán có thể được truy cập bởi số lượng người dùng vô cùng lớn trong một thời gian rất ngắn: hãy tưởng tượng hàng triệu lượt truy cập trên toàn thế giới mỗi phút khi các nghệ sĩ lớn như Adele hay Beyonce ra mắt một sản phẩm âm nhạc mới.  Thứ ba, mặc dù các hoạt động thương mại dữ liệu điện toán xảy ra trên môi trường chung toàn cầu là internet, các đối tượng tham gia giao dịch dữ liệu không có cùng mức độ trách nhiệm cũng như khả năng duy trì sự ổn định của môi trường chung này. Cá nhân, đơn vị thương mại, và chính phủ đều tham gia vào các hoạt động thương mại dữ liệu trên internet với các chức năng khác nhau: cá nhân thường là cá thể cung cấp dữ liệu, các đơn vị thương mại thu thập, xử lý, và bán thông tin bắt nguồn từ dữ liệu, trong khi chính phủ can thiệp vào quá trình này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cá thể dữ liệu – đồng thời cũng là người tiêu dùng trên môi trường mạng. Mô hình kinh doanh của các công ty như Facebook hay Google phụ thuộc vào việc cá thể dữ liệu sử dụng dịch vụ mà họ cung cấp một cách miễn phí, nhưng thay vào đó đánh đổi dữ liệu cá nhân mà họ chia sẻ trên các dịch vụ này. Bởi vì trong cấu trúc này, cá thể dữ liệu thường không hiểu hết trách nhiệm và khả năng bảo vệ quyền riêng tư cũng như sở hữu dữ liệu của mình – những hoạt động vô cùng quan trọng trong việc góp phần gia tăng sự an ninh và tính ổn định của mạng internet. Chính vì vậy, chính phủ các nước trên thế giới đang dần đẩy mạnh chính sách quản lý internet để bảo vệ sự an toàn và an ninh trên mạng của công dân nước họ. Tuy nhiên, các chính sách quản lý internet non trẻ hiện nay có thể vô tình ngăn chặn giao lưu thương mại trong vận chuyển dữ liệu xuyên biên giới – một tác động đi ngược lại với mục đích an ninh và bình ổn mạng internet.  Định nghĩa chủ nghĩa bảo hộ điện toán của Mỹ: rào cản thương mại quốc tế trên internet  Một trong những quốc gia lên án chủ nghĩa bảo bộ điện toán gay gắt nhất là Mỹ – với loạt báo cáo thường niên soạn thảo bởi Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) từ năm 2013 đến nay liên tục cập nhật và bành trướng phạm vi định nghĩa chủ nghĩa bảo hộ điện toán. Thái độ gắt gao của Mỹ bắt nguồn từ lợi nhuận mà Mỹ thu được nhờ vào mạng internet: theo ước tính của USITC, sự gia tăng GDP từ 3.4% lên đến 4.8% của Mỹ từ năm 2011 – 2013 là nhờ vào thương mại điện tử, và thương mại điện tử đóng góp 6.5% GDP của Mỹ vào năm 2016. Bên cạnh Mỹ, Canada và Liên minh châu Âu (sở hữu lượng xuất khẩu dịch vụ điện toán lớn nhất thế giới) cũng thường xuyên lên tiếng chỉ trích các hành vi được xem là rào cản thương mại quốc tế, ngăn cản việc xâm nhập thị trường nội địa của doanh nghiệp nước ngoài và tạo nên lợi thế bất hợp lý cho doanh nghiệp nội địa. Ngoài ra, các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng thường xuyên kêu gọi những nỗ lực thiết lập quy định chung về rào cản thương mại để bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng. Đặc biệt, OECD dựa trên các tiêu chuẩn và hiệp định có sẵn từ Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) – cụ thể là Hiệp định về Vệ sinh An toàn Thực phẩm và Kiểm dịch Động thực vật (SPS) và Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) để chỉ ra các rào cản thương mại điện tử. Nhìn chung, có bảy rào cản phi thuế quan chính liên quan đến thương mại điện tử đã được công nhận rộng rãi như sau:  1. Các yêu cầu bản địa hoá (localisation): định nghĩa là những yêu cầu đòi hỏi hoạt động thương mại điện tử phải diễn ra trên vùng lãnh thổ quốc gia, hoặc phải sử dụng nội dung sản phảm và dịch vụ nội địa, ví dụ như phần cứng hoặc phần mềm máy tính. Các quốc gia như Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, và Nigeria đều đưa ra những yêu cầu bản địa hoá này.  2. Hạn chế di chuyển dữ liệu tự do (data flow restrictions): định nghĩa là những yêu cầu đòi hỏi lưu giữ dữ liệu tại máy chủ nội địa, hoặc xử lý dữ liệu nội địa. Trung Quốc là quốc gia tiêu biểu đưa ra những hạn chế dữ liệu này.  3. Vi phạm sở hữu trí tuệ: ăn cắp sản phẩm trí tuệ điện tử (cybertheft), các trang mạng chia sẻ thông tin dữ liệu miễn phí. Trung Quốc là quốc gia có lịch sử xấu với việc chấp hành các quy ước sở hữu trí tuệ quốc tế.  4. Việc thi hành những tiêu chuẩn nội địa riêng khó thi hành: bao gồm những yêu cầu tiết lộ mã nguồn (source code) của doanh nghiệp. Nga là quốc gia đi đầu trong việc đưa ra những tiêu chuẩn nội địa ‘gây khó’ cho doanh nghiệp như trên.  5. Lọc và ngăn chặn nội dung mạng (filtering and blocking): lọc nội dung trang mạng, hoặc ngăn chặn các trang web và dịch vụ mạng như Facebook hay Google. Trung Quốc là quốc gia có chiến lược lọc và ngăn chặn dịch vụ mạng lớn nhất thế giới, nơi mà các dịch vụ mạng nổi tiếng toàn cầu như Google và Facebook không được vận hành chính thức.  6. Tính trung lập của internet (net neutrality): quy tắc quản lý giao thông dịch vụ trên internet một cách công bằng, không ưu tiên các doanh nghiệp dịch vụ lớn và bắt nạt các doanh nghiệp nhỏ. Vấn đề trung lập của internet là một điểm làm luật nhạy cảm tại Mỹ, bởi những diễn tiến phức tạp gần đây khi chính quyền của Donald Trump gỡ bỏ các quy định về tính trung lập của internet được phê duyệt dưới thời Tổng thống Obama. Nhìn chung, quy tắc trung lập của internet có mục đích đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng trong thương mại điện toán, ngăn chặn việc các nhà mạng viễn thông đòi hỏi doanh nghiệp dịch vụ kinh doanh trên mạng phải trả thêm phí để được ưu tiên vận chuyển dữ liệu của mình với tốc độ nhanh hơn trên internet.  7. Nguy cơ an ninh mạng (cybersecurity risks): quản lý an ninh mạng quá lỏng lẻo sẽ dẫn đến mất mát thương mại và suy giảm lòng tin người dùng internet – góp phần làm giảm sự bình ổn hệ thống hạ tầng kỹ thuật mạng. Tuy nhiên, quản lý an ninh mạng quá chặt chẽ sẽ làm hỏng dòng giao dịch tự do thương mại. Một lưu ý chính là khái niệm an ninh mạng hoàn toàn độc lập với sáu khái niệm nêu trên, đặc biệt là khái niệm bản địa hoá và khái niệm hạn chế di chuyển dữ liệu tự do.  Ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại nội địa và quốc tế  Tư duy và động thái làm luật mang tính bảo hộ thường mang lại những chi phí khó lường trước cho cả người dùng internet và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và hàng hoá trên môi trường internet. Cơ sở hạ tầng internet cần sự di chuyển tự do của dữ liệu để có thể hoạt động một cách đáng tin cậy và hiệu quả: việc đặt ra những rào cản mang tính quốc gia sẽ dẫn đến nguy cơ chia nhỏ internet và làm chậm các quá trình thương mại toàn cầu đã và đang diễn ra với tốc độ ngày càng chóng mặt. Theo ước tính năm 2014 của Trung tâm Kinh tế Chính trị châu Âu (ECIPE), một tổ chức nghiên cứu kinh tế chính trị độc lập với trụ sở tại Brussels, ảnh hưởng tiêu cực của việc đòi hỏi nội địa hoá dữ liệu và các động thái bảo hộ điện toán là không nhỏ đối với toàn bộ các quốc gia trên thế giới. Nếu các yêu cầu nội địa hoá dữ liệu được thi hành rộng rãi ở các quốc gia được phân tích trong báo cáo này rủi ro đánh mất đầu tư trong nước ảnh hưởng toàn bộ các quốc gia được đánh giá, bao gồm Brazil (-4.2%), Trung Quốc (-1.8%), Liên minh châu Âu (-3.9%), Ấn Độ (-1.4%), Indonesia (-2.3 percent), Korea (-0.5%), và Việt Nam (-3.1%). Phúc lợi người tiêu dùng cũng sẽ chịu nhiều tổn hại đáng kể, với ước tính thiệt hại lên đến 1.5 tỉ USD cho Việt Nam, 14.5 tỉ USD cho Ấn Độ, 15.9 tỉ USD cho Hàn Quốc, $63 tỉ cho Trung Quốc, và $163 tỉ cho Liên minh châu Âu. Những con số đáng lo ngại này chứng tỏ sự bất bình ổn diện rộng mà tư duy bảo hộ điện toán – một xu hướng tuy mới nhưng được bắt nguồn từ những thói quen và thái độ tiêu cực từ trước khi internet được ra đời – sẽ dẫn đến trong tương lai nếu các quốc gia trên thế giới duy trì lối tư duy bảo thủ, lợi bất cập hại này. ¨  —-  Tác giả công tác tại Đại học Melboure, Úc       Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Chủ nghĩa dân tộc và công dân toàn cầu: Vấn đề quá lớn để nhắm mắt cho qua      “Yêu nước là tự hào về những giá trị tốt đẹp và khao khát sửa chữa những yếu kém của nước mình; yêu nước không ngăn cản việc con người ta thừa nhận lòng yêu nước của người dân nước khác, với những giá trị tốt đẹp của riêng họ. Tuy nhiên, chủ nghĩa dân tộc luôn thổi phồng những giá trị tốt đẹp và phủ nhận những yếu kém của nước mình, đồng thời khinh thường những giá trị tốt đẹp của nước khác. Chủ nghĩa dân tộc muốn, và luôn tự cho nước mình là “vĩ đại nhất”, nhưng một đất nước không cần phải vĩ đại, chỉ cần bản chất nó tốt là được rồi” –  Sydney J Harris, nhà báo Mỹ.      Nước Mỹ vĩ đại là khẩu hiệu mà nhiều tổng thống và người dân Mỹ đều mong muốn thúc đẩy. Trong ảnh: Tổng thống Trump cầm trên tay chiếc mũ “Make America great again” trước những người ủng hộ. Nguồn: Los Angeles Times.   Lòng tự hào về nước Mỹ vĩ đại  Tôi từng dạy một khóa học đại cương cho sinh viên một trường đại học công lập lớn tại Mỹ. Tôi mở đầu bài giảng về “Vai trò của Mỹ trên thế giới”, một trong những chủ đề chính của khóa học, bằng cách đưa lên máy chiếu hình ảnh một nhãn hiệu ô tô khá phổ biến ở Mỹ, trên đó in dòng chữ “Tự hào là một người Mỹ”.   Sau khi cho sinh viên vài giây để suy nghĩ, tôi hỏi họ có tự hào là người Mỹ không, và nếu có thì về điều gì và tại sao. Phần đông sinh viên trả lời có, đồng thời dùng những ví dụ để nhấn mạnh Mỹ là quốc gia “vĩ đại nhất thế giới”, “nhất của nhất”, “siêu cường”, với “vô vàn cơ hội phát triển”.  Xuất phát từ văn hóa đại chúng kết hợp với suy nghĩ hằn sâu trong tâm khảm người Mỹ về sự vượt trội so với các nền văn hóa khác, những câu trả lời nói trên là ví dụ điển hình của tư duy dân tộc chủ nghĩa. Những câu trả lời ấy được xem như điều hiển nhiên không có gì phải phản đối, và dần dần trở thành chân lý vĩnh cửu.  Không chỉ có những sinh viên ấy, một cuộc khảo sát gần đây ở phạm vi 23 quốc gia được thực hiện bởi YouGov – dự án Chủ nghĩa Toàn cầu của Cambridge phối hợp với tờ TheGuardian cho thấy 37% người Mỹ được hỏi cho rằng Mỹ là “quốc gia tốt nhất trên thế giới”, còn 28% cho rằng “tốt hơn hầu hết các quốc gia khác”. Ngược lại, chỉ có 6% người Pháp được hỏi cho rằng đây là nước tốt nhất trên thế giới và tỉ lệ tương ứng ở Anh là 10%. Thấp nhất là Đức, 5%. Còn người Việt Nam thì sao? Có lẽ đa phần người Việt Nam có niềm tin tương tự người Pháp và Đức.  Nếu bạn tin rằng đất nước bạn là “nhất”, thì bạn là người theo chủ nghĩa dân tộc, theo định nghĩa trong từ điển. Tiêu đề trên của tôi nói về người Mỹ tự hào dân tộc hơn mọi quốc gia khác. Thực ra, “lòng tự hào dân tộc” là một cách nói khác đi, bởi vì điều tôi đang đề cập đến chính là chủ nghĩa dân tộc. Điều này không có gì là lạ đối với bối cảnh nước Mỹ cho đến những thế hệ ngày nay.  Như những chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ đã đưa ra rõ ràng, quan điểm thống trị nước Mỹ là một quốc gia được Chúa ưu ái và có một nghĩa vụ thiêng liêng là phổ biến tư tưởng kinh tế, chính trị của mình sâu và rộng – như là một vận mệnh hiển nhiên – đã trở nên ăn sâu vào ADN chính trị của nước Mỹ.    Những người theo chủ nghĩa dân tộc rất đa dạng và có nhiều cấp độ, trong đó bao gồm cả những người đang tự nhận mình là nhà giáo dục quốc tế. Đó là một trạng thái tâm lý vượt qua mọi sự khác biệt về giới tính, chủng tộc, địa vị xã hội hay hội đoàn chính trị. Chủ nghĩa dân tộc, như người ta đã cho rằng, là chất keo tâm lý gắn kết Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với rất nhiều nhóm người khác biệt, có rất ít điểm chung, ở trong một quốc gia có nhiều thái cực khác biệt sâu sắc, một Hoa Kỳ chia rẽ, trên nhiều phương diện.  Sự phân biệt chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của công dân toàn cầu. Lòng yêu nước được định nghĩa đơn giản là “tình yêu hay sự tận tụy với một đất nước”. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc được định nghĩa là sự “trung thành và tận tụy” với một quốc gia; đặc biệt là ý thức quốc gia đề cao một quốc gia trên tất cả các quốc gia khác và đặt ưu tiên vào việc thúc đẩy văn hóa và lợi ích của nó đi ngược với [quyền lợi] các quốc gia hoặc các nhóm siêu quốc gia khác.  Trong cuốn sách Nước Mỹ Đúng hay Sai, tác giả Anatol Lieven nhấn mạnh sự cần thiết của việc người Mỹ xem xét lại tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của mình. Ông mô tả đó là “khả năng bước ra khỏi văn hóa đại chúng của Mỹ để nhìn lại đất nước mình một cách khách quan, chứ không phải một quốc gia biệt lệ trên đỉnh nhân loại”, không tự nhìn mình với tư cách “những người được chọn, những người xuất chúng, hay một Israel của thế giới đương đại”. Như Herman Melville đã nói, họ phải coi nước Mỹ là “một quốc gia bình thường như mọi quốc gia khác”.  Nói thẳng ra, thì những người theo chủ nghĩa dân tộc một cách thụ động đơn giản chỉ tin vào sự vượt trội của văn hóa nước Mỹ so với các nền văn hóa khác, trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc theo kiểu truyền giáo thì tìm cách thể hiện “đức tin” của họ bằng hành động vượt ra ngoài lãnh thổ Mỹ, sao cho những người dân nước khác có thể “thấy được khai sáng”, “trở thành một phần của chúng ta”, và được hưởng nhiều lợi ích từ việc Mỹ hóa và một thế giới quan lấy Mỹ làm trung tâm (US-centric). Nếu cần, các động thái quân sự sẽ được sử dụng để đạt được mục đích này.  Còn những người yêu nước thì luôn “đặt đất nước lên trên chính bản thân mình; lòng yêu nước không phải chỉ là những khoảnh khắc thể hiện cảm xúc điên cuồng nhưng ngắn ngủi, mà là sự cống hiến thầm lặng nhưng đều đặn trong suốt cuộc đời”, như Adlai Stevenson đã từng nói.  Từ quốc gia dân tộc và chủ nghĩa dân tộc tới vấn đề công dân toàn cầu   Khái niệm công dân toàn cầu có ý nghĩa quốc tế hóa khái niệm cổ điển về công dân, trong đó bao gồm các quyền lợi và trách nhiệm nhất định khi một người tuyên bố trung thành với một nhà nước có chủ quyền. Thay vì chỉ tuyên bố trung thành với một quốc gia nhất định, công dân toàn cầu sở hữu một tầm vóc trí tuệ, một “la bàn đạo đức”, một tư duy kết nối vươn rộng ra cả nhân loại.  Trung thành và cống hiến cho nước nhà không tước đi quyền lợi và nghĩa vụ của các công dân toàn cầu với tư cách là thành viên của một cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh mới này, “lợi ích quốc gia” không còn là tối thượng, mà phải được đặt lên bàn cân cùng với lợi ích của người dân các nước khác.  Sẽ không thể có công dân toàn cầu nếu trước đó ta không chỉ rõ những điểm sai trong một số tư duy văn hóa đại chúng nhất định, chứng minh rằng những điều tưởng chừng “hiển nhiên” hóa ra lại vô lý, và những “chân lý vĩnh cửu” thực chất là giả dối. Việc giáo dục công dân toàn cầu nhằm thách thức lại những tư duy sai lệch đó, giúp trang bị cho họ kiến thức, công cụ để mở rộng tư tưởng.   Một yếu tố thiết yếu để trở thành một công dân toàn cầu toàn diện là năng lực liên văn hóa (intercultural competence- IC), hay năng lực toàn cầu (global competence-GC), thường được xem là một bộ công cụ cho phép một người hoạt động hiệu quả trong môi trường liên văn hóa. Báo cáo “Giáo dục năng lực toàn cầu: Chuẩn bị cho giới trẻ của chúng ta bước ra thế giới” của Hiệp hội châu Á đã lưu ý rằng học sinh, sinh viên cần phải có kiến thức và kỹ năng như sau:   1. Nghiên cứu thế giới: Năng lực toàn cầu bắt đầu bằng cách nhận thức, tò mò và thích tìm hiểu về thế giới và cách nó vận hành.   2. Tôn trọng các quan điểm: Các sinh viên có năng lực toàn cầu nhận ra rằng họ có một quan điểm riêng biệt và người khác có thể không cùng chia sẻ quan điểm đó.  3. Trao đổi ý tưởng: Sinh viên có năng lực toàn cầu hiểu rằng các đối tượng có nền tảng khác nhau về văn hóa, địa lý, đức tin, ý thức hệ, của cải và các yếu tố khác có thể sẽ có nhận thức khác nhau đối với cùng một thông tin.  4. Hành động: Việc tìm hiểu về thế giới nhằm tạo ra sự khác biệt trên thế giới sẽ tạo ra những kiến thức và kỹ năng gì? Đầu tiên, cần phải hiểu rằng mỗi ai đều có thể tạo ra sự khác biệt.   5. Áp dụng kiến thức chuyên ngành và liên ngành: Năng lực toàn cầu đều là kỹ năng và không cần kiến ​​thức? Hầu như không. Sự thật là bây giờ cũng như mọi thời điểm khác, nội dung học tập rất quan trọng.  Chủ nghĩa dân tộc và ngành giáo dục quốc tế  Tuy nhiên, nhiều năm qua tôi đã nhận ra một điều rằng đa số đồng nghiệp của tôi ở các trường đại học không muốn thảo luận về vấn đề dân tộc chủ nghĩa. Dân tộc chủ nghĩa ở Mỹ cũng là một tư tưởng chính thống, bị nhiều người Mỹ hiểu nhầm và gán sai cho cái mác yêu nước. Bàn luận về dân tộc chủ nghĩa cũng đồng nghĩa với việc bị coi là một kẻ ngoại đạo. Đề cập tới chủ đề dân tộc chủ nghĩa trong một cuộc trò chuyện “có học”, hay nói cách khác là khi thảo luận với một nhóm tự cho mình là tri thức, đồng nghĩa với nguy cơ bị gán cho cái mác không yêu nước, hay thậm chí phản quốc.  Bất cứ ai đi ngược lại với tư tưởng chính thống đều bị “bịt miệng” với hiệu quả bất ngờ. Một quan điểm trái chiều không bao giờ được lắng nghe một cách công bằng, dù là trên các phương tiện thông tin đại chúng hay các tạp chí nghiên cứu của giới tri thức.”  Sự im lặng thì muôn hình vạn trạng nhưng đều đi đến một kết quả duy nhất – các vấn đề quan trọng đáng thảo luận thì luôn chìm trong bóng tối, trừ một nhóm nhỏ những cá nhân thực sự quan tâm.  Ảnh hưởng sâu sắc tới Việt Nam  Một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc ở những người mà thế giới quan của họ đang chìm trong hệ tư tưởng này, bao gồm cả các quan chức Mỹ làm việc tại Việt Nam và các nước khác, là niềm tin ngạo mạn rằng cách làm của họ là tốt nhất vì họ có văn hóa “ưu việt”. Một thí dụ cho thấy sự ngạo mạn này là một thông tin ngoại giao từ Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã rò rỉ trước vụ Wikileaks. Đó là, Biên bản ghi nhớ về Giáo dục Việt – Mỹ”, đã được gửi một cách bí ẩn, đến nhiều địa chỉ email, trong đó có của tôi (sau này tôi có viết trong một bài cho Inside Higher Ed – một cơ quan truyền thông giáo dục đại học Mỹ).   Tài liệu này yêu cầu bổ sung một loạt các hoạt động liên quan đến giáo dục mà sẽ “định hình lại quốc gia này (Việt Nam), theo một cách đảm bảo là sẽ tác động sâu sắc, tích cực trong vài thập kỷ tới đây. Nếu chúng ta muốn năm 2020 Việt Nam giống Hàn Quốc hơn Trung Quốc, thì bây giờ là lúc hành động”. Văn bản này được soạn chính thức bởi Michael Michalak, đại sứ Mỹ thời điểm đó, để thay đổi bối cảnh là “cuộc khủng hoảng của hệ thống giáo dục ở mọi cấp độ đang gây nguy hại đến tiến trình phát triển kinh tế và hội nhập toàn cầu”.      Người trẻ cần chuẩn bị kỹ năng và kiến thức để trở thành công dân toàn cầu. Sinh viên Trung Quốc cầm một lá cờ Trung Quốc lớn khi chờ ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Công viên Olympic ở Seoul, Hàn Quốc năm 2008. Nguồn: belfercenter.org.  Khi ông ta nói về việc “định hình lại” người Việt Nam, có nghĩa là trong sự tưởng tượng của Mỹ, là để làm cho họ (Việt Nam) trông giống chúng ta hơn (Mỹ). Tài liệu này cũng đề cập thẳng là “chúng ta nắm lấy cơ hội ngày hôm nay và tận dụng cả hai phía – yêu cầu từ phía thủ tướng cũng như sự ngưỡng mộ của người Việt Nam đối với nền giáo dục Mỹ. Nếu chúng ta bước qua cánh cửa mở này, chúng ta sẽ giành được một cơ hội duy nhất để tạo ra tầm ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục của Việt Nam, với sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo hàng đầu”.  Văn bản này tiếp tục (chữ in nghiêng là tôi nhấn mạnh) “ít nhất, chúng ta có thể giúp Việt Nam đào tạo các nhà quản lý và công nhân lành nghề để tiếp tục phát triển kinh tế và giúp người dân thoát khỏi đói nghèo. Nhìn rộng hơn, Mỹ có cơ hội định hình hệ thống giáo dục Việt Nam theo cách lâu dài, đem lại một Việt Nam dân chủ hơn, tôn trọng quyền con người và tự do ngôn luận hơn, và do đó gắn chặt hơn với Mỹ. Trên phương diện này, hỗ trợ cải cách giáo dục đồng nghĩa với các mục tiêu của Sứ mệnh cơ bản nhất của chúng tôi”.  Hơn nữa, nó cũng viết rằng (tôi tiếp tục in nghiêng) “thêm các nguồn viện trợ nước ngoài mới và hỗ trợ tạo quan hệ đối tác công tư chiến lược sẽ tối đa hóa ảnh hưởng của Mỹ lên hệ thống giáo dục Việt Nam và từ đó định hình tương lai xã hội Việt Nam”.  Nước Mỹ được miêu tả như một hiệp sĩ trong bộ áo giáp sáng ngời, với thái độ và tinh thần hào hiệp như đã từng được biết, đến giải cứu hàng triệu học sinh và phụ huynh đang tuyệt vọng của Việt Nam. Thực sự là, giáo dục được coi là công cụ quyền lực mềm tối thượng, tạo hiệu quả cao và là tác nhân thay đổi sâu sắc trong một chiến lược dài hạn nhằm định hình hình ảnh Mỹ ở Việt Nam.  Giống như bất kỳ quốc gia nào, nước Mỹ có những thế mạnh và thành công – với những mô hình, cách tiếp cận, cách nghĩ – có thể được Việt Nam rút kinh nghiệm và học hỏi. Mỹ cũng có những giới hạn, những sai lầm và những vấn đề mang tính cảnh báo. [do vậy] Quan niệm rằng trao đổi giáo dục quốc tế có thể góp phần định hình các xã hội khác trong sự hình dung của nước Mỹ không chỉ đáng hoài nghi và sai lầm, nó còn là sự ảo tưởng và một minh họa điển hình cho việc truyền bá chủ nghĩa dân tộc.   Một thế hệ người Việt bước ra toàn cầu  Một trong những điểm mạnh của Việt Nam hiện nay là một thế hệ công dân toàn cầu đang dần trưởng thành, những người trẻ tuổi cởi mở với thế giới và hào hứng trải nghiệm và học hỏi những gì có thể mang lại lợi ích cho bản thân và đất nước. Một trong những lợi thế quan trọng của Việt Nam là người dân không bị đè nặng bởi tư tưởng mạnh mẽ và âm ỉ của chủ nghĩa dân tộc – không giống như một số quốc gia khác, là trở ngại cho sự phát triển của công dân toàn cầu.  Một yếu tố quan trọng đối với bổn phận công dân một quốc gia là ý thức mạnh mẽ về bản sắc dân tộc, điều đó dựa trên kiến ​​thức đầy đủ về văn hóa và xã hội của một quê hương mình. Để trở thành một công dân toàn cầu (global citizen), trước tiên, người ta phải là một công dân quốc gia (national citizen) tốt, hoặc một người yêu nước, theo định nghĩa của từ điển – là người hiểu điều tốt, xấu và cả điều tồi tệ về đất nước của mình. Nhưng một trong những thách thức mà nhiều người trẻ Việt Nam phải đối mặt là thiếu kiến ​​thức về đất nước của mình, bao gồm cả lịch sử gần đây.   Nếu bạn không có hiểu biết, thông tin đầy đủ và chắc chắn về bản sắc quốc gia dân tộc mình, bạn sẽ dễ dàng tin vào những điều hư cấu (myths) và những lời dối trá, sự thao túng từ phía bên ngoài.   Khi Việt Nam mở rộng cửa hơn bao giờ hết cả về kinh tế và văn hóa, thì nhận thức quốc tế về đất nước này cũng sẽ có lợi hơn bao giờ hết. Có một quyết tâm mạnh mẽ hòa nhập với thế giới để gặt hái những lợi ích của toàn cầu hóa đồng thời giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của nó, từ thúc đẩy nền kinh tế thịnh vượng đến sự chấp nhận và thừa nhận về tính chính đáng trên trường thế giới. Hôm nay, những người trẻ tuổi ở Việt Nam, ngày mai là các doanh nhân, người đổi mới, người có tầm nhìn và là công dân toàn cầu – thì việc đại diện cho quốc gia của mình hay không – sẽ đóng một vai trò cốt lõi trong hành trình sống còn đang diễn ra này.   Còn đối với nước Mỹ, cho đến khi chúng ta giải quyết được vấn đề dân tộc chủ nghĩa và nhìn nhận một cách kĩ lưỡng và sắc bén về những gì giới trẻ Mỹ đang được dạy về đất nước mình và vị thế trên trường quốc tế, hay vai trò của giáo dục quốc tế trong việc tái định hướng thế giới quan cho giới trẻ và ý nghĩa thực sự của việc trở thành công dân toàn cầu, thì chúng ta vẫn chưa làm tròn trách nhiệm của những nhà giáo. Điều này đối với tôi là một vấn đề quá lớn để có thể nhắm mắt cho qua trong ngành giáo dục: nó quá hiển nhiên, nó cần sự quan tâm của chúng ta, nhưng lại đang bị bỏ mặc hoàn toàn.   Giáo dục công dân toàn cầu, nếu được theo đuổi tới cùng, sẽ thay đổi ngành giáo dục quốc tế cả về lý thuyết cũng như thực hành, nhất là tại Mỹ, và đóng góp phần nhỏ của mình trong việc xây dựng một thế giới hòa bình, hợp lẽ, và công bằng hơn. □  Mark Ashwill – Bảo Như lược dịch (từ bản gốc tác giả gửi cho Tia Sáng).  Giáo sư Mark Ashwill là Giám đốc điều hành Capstone Việt Nam, một công ty tư vấn giáo dục cung cấp dịch vụ toàn diện, có văn phòng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Để tìm hiểu kĩ hơn về chủ đề được nhắc tới trong bài viết trong bối cảnh đa văn hóa, hãy tìm đọc chương sách với nhan đề “Đào tạo các Công dân có Năng lực Toàn cầu: Những trường hợp đối lập tại Mỹ và Việt Nam”, do Mark Ashwill và Dương Thị Hoàng Anh đồng tác giả, chương sách này nằm trong cuốn Sổ tay SAGE về Năng lực tầm Quốc tế (2009), do Darla K Deardoff làm chủ biên. Ông Ashwill viết blog trên trang Một Nhà giáo Quốc tế tại Việt Nam (An International Educator in Vietnam).    Author                Mark Ashwill        
__label__tiasang Chủ nghĩa giáo điều trong nghiên cứu khoa học một thời      Tôi có người bạn kỹ sư nông nghiệp, kể  lại sau năm 1975, anh được học môn Thổ nhưỡng học, với bài đầu  tiên trong tập giáo trình là “Quan điểm của chủ nghĩa  Mác-Lênin về độ phì đất đai”. Nghe hơi lạ, sau có dịp kiểm  chứng lại thì thấy đúng sự thật!    Có thể coi câu chuyện nhỏ trên đây là một thí dụ khá tiêu biểu về chủ nghĩa giáo điều trong nghiên cứu khoa học của một thời, đầu tiên ở Liên Xô (cũ), Trung Quốc, rồi lần lần ảnh hưởng tới Việt Nam, nhưng nặng nhất vẫn là ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ Đại cách mạng văn hóa (1966-1976) do Mao Trạch Đông làm chủ soái.  Như chúng ta đều biết, trong suốt thời kỳ Mao Trạch Đông cầm quyền, lời nói của Mao luôn được coi là thiên kinh địa nghĩa. Việc gì của Mao làm cũng được ca tụng, thành công gì trong các hoạt động khoa học, chính trị, văn hóa… cũng đều quy công cho tư tưởng chỉ đạo anh minh của Mao. Các sách khoa học tự nhiên thời đó từ y học, thực vật học cho đến địa chất học… đều phải tôn Mao làm minh chủ.  Trong thời kỳ Đại cách mạng văn hóa, ở Trung Quốc lưu hành rộng rãi một cuốn sách nhỏ loại bỏ túi, bìa đỏ, khổ 7 x 10 cm, gọi là Mao Chủ tịch ngữ lục, mà ai cũng phải thủ sẵn một cuốn dùng làm cẩm nang, kim chỉ nam, giúp giải quyết mọi tình huống gặp phải trong công tác cách mạng cũng như trong cuộc sống đời thường hằng ngày. Ngữ lục thông thường là loại sách sưu tập lời dạy của các bậc cao tăng hiền triết thời cổ (như ở nước ta có Huệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục thời Trần…) để hậu bối học tập, tham khảo, coi là khuôn vàng thước ngọc phải noi theo. Đầu sách có hình Mao Trạch Đông mặc áo đại cán, tiếp theo là mấy câu kêu gọi phải học tập Mao Chủ tịch (viết bằng chữ Hán thảo rất đẹp), lời nói đầu, mục lục, rồi mới đến phần chính văn gồm tất cả 33 mục, tổng cộng 270 trang. Tôi còn giữ một quyển như vậy cho vui, với Lời nói đầu của Lâm Bưu nhân dịp sách tái bản năm 1966. Lúc này Lâm Bưu (1907-1971) với Mao còn là đồng chí thân thiện, đến tháng 9 năm 1971 Lâm mới phát động chính biến định sát hại Mao, trở thành nhân vật phản cách mạng (xem Trần Văn Chánh-Nguyễn Hữu Tài-Huỳnh Quang Vinh, Từ điển Lịch sử Trung Hoa, NXB Thanh Niên, 2006, tr. 552).   Có điều khá lạ lẫm: ai cũng biết Mao Trạch Đông là một trong những ông vua của chủ nghĩa giáo điều và tệ sùng bái cá nhân ở Châu Á, và cuộc Đại cách mạng văn hóa do ông phát động đã làm tổn thương đất nước-con người Trung Quốc như thế nào, đến nay còn phải lo khắc phục hậu quả chưa xong, thế mà trong lời nói đầu của Lâm Bưu ở cuốn Mao Chủ tịch ngữ lục, lại coi “Tư tưởng Mao Trạch Đông là vũ khí tư tưởng lớn mạnh… chống chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa giáo điều”. Chi tiết này làm cho người đọc đâm ra khó hiểu, không biết chủ nghĩa giáo điều theo quan niệm của Mao và của Lâm là thế nào, và như vậy giữa các ông và những người bị các ông chống lại, ai mới thật sự là những kẻ giáo điều chủ nghĩa?  Để trả lời câu hỏi này, tốt nhất nên giở những bộ từ điển triết học cũ của Liên Xô (cũ), được biên soạn đồng thời với thời kỳ Mao Trạch Đông làm cách mạng văn hóa, để tìm hiểu, ở mục GIÁO ĐIỀU, CHỦ NGHĨA GIÁO ĐIỀU: “Giáo điều là một nguyên lý mà người ta tiếp thu một cách mù quáng, bằng sự tín ngưỡng, không có phê phán, không chú ý đến những điều kiện ứng dụng nó. Chủ nghĩa giáo điều là đặc điểm của tất cả những hệ thống lý luận bảo vệ cái lỗi thời, cũ kỹ, phản động và chống lại cái mới, cái tiến bộ…” (Từ điển triết học, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr. 312). Nếu hiểu theo nghĩa này, thì tất cả các nhà cải cách ở Trung Quốc, có lúc không đồng quan điểm với Mao Trạch Đông (như Đặng Tiểu Bình chẳng hạn…), đều là những người theo chủ nghĩa giáo điều, chỉ có Mao mới thật sự là người đại diện cho những tư tưởng tiến bộ nhất thời đại (?!). Hay là, cùng giáo điều cả, nhưng có nhiều kiểu khác nhau: kiểu của Mao Trạch Đông, và những kiểu khác bị Mao chống lại vì nó không đồng quan điểm với ông? Vấn đề này, tin rằng mỗi người trong chúng ta đều có thể tự tìm lấy lời giải đáp hợp lý nhất cho mình.   Riêng trong thời kỳ lãnh đạo của Mao Trạch Đông thì chủ nghĩa giáo điều trở nên cực đoan, theo nghĩa bác bỏ mọi sự hoài nghi và phê phán, đã thật sự chủ đạo tất cả hoạt động chính trị-kinh tế-văn hóa-giáo dục-khoa học, và ngay cả các ngành khoa học tự nhiên cũng không thoát khỏi. Vì vậy, ở mọi công trình biên soạn-nghiên cứu về khoa học tự nhiên trong thời kỳ này, nơi phần đầu sách, ngoài các câu khẩu hiệu thông thường (in chữ đỏ), đều có lời lẽ của các nhà khoa học đưa Mao lên đến tận mây xanh. Thậm chí, nếu quyển sách xuất bản trong thời gian có nhân vật nào đang bị Mao chống, thì nhân vật “phản diện” đó cũng bị lôi luôn ra ngay trong lời đầu sách để công kích một cách không khoan nhượng, như trường hợp Lưu Thiếu Kỳ (1898-1969), từng là chủ tịch nước, bị bức hại đến chết trong thời kỳ Đại cách mạng văn hóa (xem Từ điển Lịch sử Trung Hoa, sđd, tr. 531), sau được đánh giá lại là thành phần tiến bộ chống chủ nghĩa giáo điều.  Để hình dung một cách cụ thể, xin trích dịch ra đây vài đoạn trong vài sách thuộc một số ngành khoa học tự nhiên của thời kỳ nói trên ở Trung Quốc. Mục đích không có ý moi lại chuyện cũ để phê phán một cách vô trách nhiệm những nhân vật đã thuộc về quá khứ, vì sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của họ đều có những lý do thuộc về lịch sử cần được tôn trọng, mà chỉ để giúp một số người trẻ ngày nay có tư liệu tìm hiểu theo tinh thần “ôn cố tri tân”, tránh vết xe đổ của người xưa.   Đây là đoạn đầu “Lời nói đầu” (Tiền ngôn) quyển Anh Hán Tổng hợp Địa chất học Từ hối (Từ vựng Địa chất học Tổng hợp Anh-Hán), do Khoa Học Xuất Bản Xã (Trung Quốc) xuất bản năm 1970: “Ba năm trở lại đây, cuộc Đại cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản đã đạt được những thắng lợi to lớn. Mặt trận xuất bản khoa học-kỹ thuật của chúng ta, dưới sự lãnh đạo của bộ tư lịnh giai cấp vô sản coi lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch đứng đầu và Phó chủ tịch Lâm Bưu đứng kế, đã trải qua một cuộc đấu tranh dữ dội giữa hai giai cấp, hai con đường, hai đường lối, đã triệt để đập tan đường lối xuất bản cải lương chủ nghĩa phản cách mạng mà đại biểu là tên phản động, nội gian, công tặc Lưu Thiếu Kỳ, đã phê phán tình trạng “ba thoát ly” của công tác xuất bản khoa học kỹ thuật gồm thoát ly chính trị giai cấp vô sản, thoát ly sản xuất, thoát ly quần chúng. Từ nay về sau, trên trận địa xuất bản khoa học-kỹ thuật, chúng ta sẽ giương cao hơn nữa ngọn cờ đỏ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông, đề cao chính trị giai cấp vô sản, tuân theo lời dạy vĩ đại về “Nghiêm túc làm tốt công tác xuất bản” của Mao Chủ tịch, toàn tâm toàn ý phục vụ công nông binh, phục vụ chính trị giai cấp vô sản, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phục vụ nhiệm vụ đuổi kịp và vượt lên của đất nước”.  Cuốn Hồ Nam Dược vật chí (Sách cây thuốc tỉnh Hồ Nam) do Hồ Nam Nhân Dân Xuất Bản Xã ấn hành năm 1972 cũng có những lời nói đầu tương tự, trong có đoạn “…Phê phán kịch liệt đường lối y tế cải lương chủ nghĩa phản cách mạng của tên lừa đảo Lưu Thiếu Kỳ, tự giác chấp hành đường lối y tế cách mạng của Mao Chủ tịch…”  Còn nếu trong nghiên cứu khoa học có gì thiếu sót, đó chẳng qua chỉ vì “giác ngộ đường lối chưa cao…” (sách vừa dẫn trên). Tương tự, sách Trung Quốc Cao đẳng thực vật Đồ giám (5 quyển, dày trên 5.000 trang, Khoa Học Xuất Bản Xã, 1971), một công trình đồ sộ có giá trị rất cao khác về thực vật học, cũng đã viết trong bài “Thuyết minh biên soạn” ở đầu sách: “Do chúng tôi học tập chưa đầy đủ trứ tác của Mao Chủ tịch, trình độ nghiệp vụ chưa cao, nên trong công việc vẫn còn tồn tại không ít khuyết điểm và nhầm lẫn, thiết tha hoan nghênh mọi sự góp ý phê bình của độc giả”.   Vậy là ở Trung Quốc, vì lý do chính trị, đã có thời kỳ người ta đánh nhau kịch liệt ngay cả trên lời nói đầu của những công trình khoa học thuần túy. Chính trị hóa, giáo điều hóa công tác nghiên cứu khoa học đến mức đó, coi như hết chỗ nói!   8.2013       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ nghĩa sùng thờ tiền      Một cô gái trẻ đến thăm phòng tư vấn tâm lý  sau nhiều năm không chiến thắng nổi mình. Vấn đề của cô rất đơn giản,  chỉ đến giữa tháng là cô cạn sạch tiền, tuy lương tháng của cô vào loại  khá giả. Cô thường bị bập vào những món đồ hiệu rất đắt tiền, để rồi  cũng chóng chán chúng với cùng một tốc độ mà cô mê man có được chúng.    Một người đàn bà lớn tuổi khác rốt cuộc cũng đến thăm phòng tư vấn tâm lý sau nhiều năm không chiến thắng nổi mình. Vấn đề của bà rất đơn giản, hết tháng vẫn còn gần như nguyên tiền lương, dầu cho món tiền lương của bà khá khiêm tốn. Con cháu, bạn bè, người quen bỏ rơi bà. Bà sống trong căn nhà lạnh không sưởi, nóng không quạt, đèn điện le lói, hầu hết các đồ ăn, đồ dùng đều được bà thu nhặt từ các đồ bỏ đi của các chợ, của các siêu thị, hay của ai khác. Nhìn cách bà ăn mặc người ta khó xác định được bà sống ở thế kỉ nào.  Trước mắt chúng ta là hai bức tranh thuộc hai thái cực trong sử dụng đồng tiền. Còn với nhà phân tâm học nọ, đó lại chỉ là hai góc nhìn của một bức tranh.  Bức tranh gì vậy?  —-  Nhà phân tâm học nọ cho ta biết rằng hai người đàn bà này đều cùng một cội rễ. Họ sùng thờ tiền. Đồng tiền là ma lực lớn nhất dẫn dắt họ vào đời sống, nhưng bằng hai ngả khác nhau.  Ngả thứ nhất, phải được lướt trên cái ván trượt trên bể tiền, không thể kìm lòng được.  Ngả thứ hai, phải được chìm sâu trong cái đáy bể tiền, không thể kìm lòng được.  —-  Những người đã từng sống trong những năm tháng bao cấp cực kì khắc khổ, họ biết đến những gì?  Họ biết đến sức nặng khủng khiếp của đồng tiền vô hình, hoặc đè lên cuộc đời họ, hoặc thổi họ hóa rồng lên mây.  Đồng tiền được hóa phép, để “biến đi”, chuyển thành tem phiếu, chuyển thành bổng lộc, chuyển thành danh dự, chuyển thành chức tước, chuyển thành đặc quyền, chuyển thành thiêng liêng. Người ta tranh đấu cả năm trường để được trở thành có danh gì đó, với khát vọng vốn bị cất ém quá kĩ đến không thành lời, thậm chí không dám trộm nghĩ đến, để cuối năm này được quyền phân phối mua một cái xe đạp mới hoặc được đi họp tối ngày để được ăn uống miễn phí, ăn cơm chúa múa tối ngày, thỏa giấc mơ thầm kín dành phiếu gạo sẽ dư lại ở nhà cho gia đình mình, được bán đi ở cửa sau nhà.  Những người đã từng sống trong những xã hội thả rông tiền mặt, họ biết đến những gì?  Họ biết đến sức mạnh khủng khiếp của đồng tiền hữu hình, hoặc đè lên cuộc đời họ, hoặc thổi họ hóa rồng lên mây.  Để người không may phải bán đi tất cả, tất tần tật.  Để người may mắn phải mua sắm tất cả, tất tần tật.  —-  Một con người, một xã hội chỉ an lành khi mà đồng tiền nằm đúng ở chức năng của nó.  Từ chủ nghĩa sùng thờ tiền, trong cực đoan này hay trong cực đoan kia, con người và xã hội phải tìm cách đi ra được khỏi cái vòng xoáy ấy, cái vòng xoáy hoang dại của sự hoang dại.  Và đó là một tinh thần rộng lớn, cho một chương trình rộng lớn, để xây dựng lên một cuộc đời văn minh thịnh vượng bền vững, với tự do của mỗi con người, sự bình đẳng cho mỗi con người về các quyền làm người, cùng lòng nhân hậu phổ quát làm nền tảng.   Đồng tiền chỉ đến lúc đó mới được thuần hóa, để trở về làm công cụ thông minh của con người. Con người khi đó thôi là kẻ nói dối hộ đồng tiền.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ nghĩa thực dân dữ liệu: Dữ liệu đô hộ chúng ta thế nào?      Chủ nghĩa thực dân dữ liệu (data colonialism) là khái niệm đằng sau quyển sách đồng tác giả của Nick Couldry và Ulises Mejias mang tên ‘Cái giá của sự kết nối: Dữ liệu đang thuộc địa hóa và chiếm đoạt cuộc sống con người như thế nào’ (The Costs of Connection: How Data is Colonizing Human Life and Appropriating It), xuất bản vào năm 2019. Khái niệm chủ nghĩa thực dân dữ liệu lập luận rằng chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên đô hộ mới, một kỷ nguyên mà bạo lực và việc cướp đoạt cưỡng chế không còn là điều cần thiết để hiện thực thực dân có thể được thi hành. Liệu lập luận này có thuyết phục hay không, và nếu Couldry và Mejias đã nhận định đúng, thì chúng ta có thể làm gì để sống chung với hiện thực thực dân này?      Giám đốc tài chính Ruth Porat của tập đoàn Google ví dữ liệu như là ánh nắng mặt trời, chỉ một ngày sau khi Google bị các nhà cầm quyền Pháp phạt 57 triệu USD do vi phạm về quyền riêng tư người dùng. Ảnh: Phonearena.com  Bắt đầu với dữ liệu: như thế nào là dữ liệu?  Chúng ta thường nghe ví von rằng dữ liệu là nguồn tài nguyên màu mỡ đang được khối khoa học công nghệ khai thác như thể nó là một nguồn “dầu mới” (the new oil), với hàm ý rằng dữ liệu là một nguồn tài nguyên tự nhiên có sẵn, cần được mang ra chuyển hóa thành các sản phẩm mang giá trị kinh tế. Trong một ví von khác, Giám đốc tài chính Ruth Porat của tập đoàn Google ví dữ liệu như là ánh nắng mặt trời khi phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vào năm 2019, chỉ một ngày sau khi Google bị các nhà cầm quyền Pháp phạt 57 triệu USD do vi phạm về quyền riêng tư người dùng. Ngụ ý của ví von này là ngược lại với tài nguyên dầu, dữ liệu sẽ không bao giờ cạn kiệt, và chúng ta có thể mặc sức khai thác dữ liệu mà không cần phải lo ngại rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ bị cạn kiệt dữ liệu như cách mà chúng ta đang dần cạn kiệt nguồn tài nguyên dầu, hay là các khoáng sản tự nhiên khác. Như vậy, dữ liệu đến từ đâu, do ai tạo ra, và vì sao lại có nhiều cách ví von về dữ liệu mâu thuẫn với nhau đang cùng tồn tại trong cách mà chúng ta nói về dữ liệu?  Để giải quyết bài toán này thì trước hết chúng ta cần hiểu về tính đa chiều của dữ liệu. Hãy cùng nhau nhìn vào định nghĩa về dữ liệu mà Nick Couldry và Ulises Mejias đưa ra trong quyển sách của họ. Trong quyển ‘Cái giá của sự kết nối’, dữ liệu được định nghĩa là: “Các luồng thông tin, dưới mọi hình thức định dạng, được truyền từ đời sống con người đến các cơ sở hạ tầng thu thập và xử lý dữ liệu”.      Dữ liệu không hề tồn tại tự nhiên như dầu hay ánh nắng mặt trời, mà được cấu trúc tạo ra và thu hoạch một cách có hệ thống bởi lực lượng kinh doanh dữ liệu.      Theo như định nghĩa này, thì dữ liệu có thể là hình ảnh dưới dạng file jpeg hay png, có thể là một dòng thông tin chữ viết lưu trong file Excel, hay là một video ngắn (hoặc dài) có định dạng mp4 hay mov. Cũng theo định nghĩa này thì vì dữ liệu được truyền từ đời sống con người đến các cơ sở hạ tầng thu thập và xử lý dữ liệu, chúng ta không thể nào tách rời đời sống của dữ liệu ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, dữ liệu luôn luôn mang tính chất vật lý. Dữ liệu luôn luôn được lưu trữ ở một nơi nào đó – và nơi mà dữ liệu được lưu trữ không phải là “đám mây” như ví von mà chúng ta thường nghe trong quảng cáo về “điện toán đám mây”, mà là các trung tâm lưu trữ dữ liệu được xây dựng hết sức tốn kém và yêu cầu nguồn nhân lực quản lý và bảo trì rất nghiêm ngặt. Các trung tâm này là một mạng lưới vật chất và con người phức tạp, bao gồm: các hệ thống lưu trữ; máy chủ; thiết bị chuyển mạch và bộ định tuyến; các yếu tố bảo mật thông tin như tường lửa, nguồn điện liên tục (UPS) – pin dự phòng, máy phát điện và nguồn điện dự phòng; hệ thống kiểm soát môi trường – máy điều hòa không khí để làm giảm nhiệt cho các thiết bị này; hệ thống an ninh vật lý – sinh trắc học và hệ thống giám sát video; và đặc biệt là các nhân viên vận hành –  một nguồn nhân sự sẵn sàng giám sát hoạt động và bảo trì thiết bị và cơ sở hạ tầng này suốt ngày đêm.  Như vậy, khi nói về dữ liệu, chúng ta không thể nào tách dữ liệu khỏi cơ sở hạ tầng ngoại vi lưu trữ chúng, và cũng không thể nào tách rời dữ liệu ra khỏi mục tiêu tạo ra lợi nhuận vốn đã định sẵn trong các cấu trúc thu thập dữ liệu. Dữ liệu không hề tồn tại tự nhiên như dầu hay ánh nắng mặt trời, mà được cấu trúc tạo ra và thu hoạch một cách có hệ thống bởi lực lượng kinh doanh dữ liệu mà Nick Couldry và Ulises Mejias gọi tên là ngành định lượng xã hội (social quantification sector), ngành sản xuất đằng sau việc định lượng hóa xã hội đang ngày càng trở nên sâu rộng và mang tính lợi nhuận.    Cuốn sách “Cái giá của sự kết nối” của Nick Couldry và Ulises Mejias.  Ngành định lượng xã hội  Như vậy, ngành định lượng xã hội là gì, và ai là những thành phần chủ chốt trong nhóm ngành mới đang đóng vài trò thay đổi bộ mặt xã hội của chúng ta? Nick Couldry và Ulises Mejias định nghĩa ngành định lượng xã hội bao gồm ba nhóm tổ chức chính, đó là:  1. Các nhà sản xuất thiết bị kỹ thuật số nhằm phục vụ việc kết nối của con người (điện thoại, thiết bị, và ứng dụng thông minh như Alibaba, Baidu, Facebook, Google, WeChat  2. Các nhà môi giới dữ liệu và các tổ chức xử lý dữ liệu (Acxiom, Equifax, Palantir, TalkingData)  3. Các tổ chức/cơ quan phụ thuộc vào dữ liệu lấy từ đời sống xã hội để hoạt động (các doanh nghiệp hàng tiêu dùng (Tiki, Lazada), các tổ chức chính trị (chiến dịch tranh cử của Joe Biden hay Donald Trump tại Mỹ), các dịch vụ kỹ thuật số…).  Mỗi nhóm tổ chức trong ngành định lượng xã hội này có một vai trò và chức năng khác nhau trong bộ máy giúp tạo ra, lưu trữ, và quản lý dữ liệu; tuy nhiên, điểm chung của họ là bổ trợ cho nhau trong việc tạo nên một ảo giác về sự liền mạch của quá trình khai thác dữ liệu. Nếu chúng ta vén bức màn mỏng mà sự phối hợp của các tổ chức này tạo ra, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều sự đứt gãy trong quá trình thu thập và lưu trữ dữ liệu. Một ví dụ cho luận điểm này là sự không đồng đều trong việc các nhà sản xuất thiết bị điện thoại thu thập dữ liệu từ người dùng. Theo một báo cáo nghiên cứu từ Đại học Trinity College Dublin ở Ireland vào tháng ba năm nay, Google thu thập dữ liệu từ người dùng thiết bị Android nhiều hơn Apple thu thập dữ liệu từ người dùng thiết bị iOS 20 lần. Nhóm nghiên cứu đã so sánh dữ liệu mà điện thoại Pixel chia sẻ với Google với dữ liệu iPhone chia sẻ với Apple và nhận thấy rằng Google thu thập dữ liệu điện thoại từ người dùng nhiều hơn 20 lần so với Apple.   Thế nhưng, loại dữ liệu mà hai công ty này thu thập từ người dùng lại khác nhau. Báo cáo cho biết rằng Apple bị phát hiện thu thập vị trí của người dùng ngay cả khi người dùng không đăng nhập vào Apple ID, cũng như thu thập địa chỉ IP cục bộ của người dùng, trong khi Google thì lại không thu thập các dữ liệu này. Ngược lại, Google cũng thu thập địa chỉ MAC Wi-Fi trong khi Apple thì không. Đặc biệt, trong vòng 10 phút sau khi người dùng bỏ SIM vào điện thoại và khởi động, Google thu thập khoảng 1MB dữ liệu trong khi Apple thu thập khoảng 42KB. Khi ở chế độ rảnh, tức là khi người dùng không sử dụng điện thoại, Google thu thập khoảng 1MB dữ liệu cứ sau 12 giờ trong khi Apple thu thập khoảng 52KB.      Nếu chủ nghĩa thực dân trong lịch sử thôn tính lãnh thổ, tài nguyên, và chính sức lao động con người trên lãnh thổ và tài nguyên này, thì việc chiếm đoạt quyền lực của chủ nghĩa thực dân dữ liệu vừa đơn giản hơn, vừa sâu rộng hơn: việc chiếm đoạt và kiểm soát chính cuộc sống con người thông qua quá trình chiếm đoạt dữ liệu về họ diễn ra âm thầm, không cần dùng đến bạo lực, và đã sẵn sàng trong việc chuyển hóa đời sống con người thành lợi nhuận cho giới thực dân công nghệ mới.      Một điều rất đáng lo ngại mà kết quả nghiên cứu này đã cho thấy đó là trên trung bình thì giá thành của iPhone đắt hơn rất nhiều so với điện thoại Pixel của Google. Như vậy, vô hình trung, chúng ta có hai thể chế dữ liệu cho người chi nhiều tiền hơn và người chi tiền ít hơn cho các thiết bị cần thiết cho việc họ tham gia vào xã hội số. Nói cách khác, nếu không trả bằng rất nhiều tiền để có thể mua được một thiết bị di động, thì chúng ta vẫn trả bằng rất nhiều dữ liệu của cá nhân mình mà các công ty sản xuất thiết bị kỹ thuật số đang lặng lẽ thu thập một cách mặc định. Kể cả điều này diễn ra một cách tự động, chúng không hề mang tính tự nhiên hoặc bất khả kháng: việc chúng ta phải “trả giá” bằng dữ liệu để có thể tham gia vào xã hội số là một trật tự xã hội mới được xây dựng trên nền tảng tư bản chủ nghĩa công nghệ mới, một trật tự xã hội dựa trên nguyên lý khai thác triệt để đến từng ngóc ngách đời sống của con người, mà dữ liệu chính là bước đệm trung gian.   Để mô tả chi tiết hơn về trật tự xã hội này, Couldry và Mejias đã xây dựng khái niệm quan hệ dữ liệu (data relations) nhằm mục đích bổ sung cho khái niệm quan hệ lao động (labour relations) của tư tưởng Marx. Quan hệ dữ liệu được định nghĩa là cách con người tương tác với nhau và với thế giới, được hiện thực hóa nhờ vào các công cụ kỹ thuật số. Mối quan hệ này khiến cho đời sống con người không chỉ bị chủ nghĩa tư bản chiếm dụng và trực tiếp khai thác lợi nhuận, mà còn bị chúng giám sát và quản trị liên tục. Quan hệ dữ liệu khoét rỗng (hollow out) không gian dành cho bản ngã của mỗi chúng ta, khiến chúng ta dần mất đi, và nghiêm trọng hơn nữa, là dần quên đi quyền tự do cá thể của chính mình. Chúng ta đang dần đánh mất việc một cá nhân có thể tự do tồn tại như một cá thể tự chủ trong xã hội, Couldry và Mejias lập luận, vì chúng ta đang chịu khuất phục bởi việc dữ liệu về chúng ta bị khai thác liên tục để nhằm tạo ra lợi nhuận cho khối ngành định lượng xã hội. Những dữ liệu này, ngoài ra, còn đang tạo ra một loại kiến thức mới về đời sống xã hội của chúng ta. Kiến thức này được gọi tên là “bộ nhớ đệm xã hội”.     Các ứng dụng giảm cân đang “định hình lại” hiểu biết của chính chúng ta về cơ thể mình. Ảnh: EverydayHealth.com  Bộ nhớ đệm xã hội (social caching)  Bộ nhớ đệm xã hội được đinh nghĩa là một dạng kiến thức mới về đời sống xã hội, hình thành dựa trên việc thu thập và lưu trữ dữ liệu cá nhân với mục đích khai thác lợi nhuận về sau. Điểm mấu chốt của khái niệm này là việc dữ liệu thu thập tự động điện toán đã và đang được chuyển hóa thành những hiểu biết của chúng ta về xã hội, và chúng ta đang ngày càng lệ thuộc vào loại kiến thức mới này để cấu trúc cuộc sống và đưa ra quyết định về cuộc sống của chúng ta.   Để có thể hiểu về loại kiến thức xã hội mới này, chúng ta hãy cùng xem xét hai ví dụ thực tiễn. Ví dụ thứ nhất là ví dụ về sự phổ biến của các ứng dụng giúp giảm cân trên điện thoại. Các ứng dụng giúp giảm cân trên điện thoại có vai trò kép là đưa ra số lượng calorie mà bạn có quyền ăn trong một ngày sau khi bạn nhập các thông tin về chiều cao, cân nặng, tuổi tác, và yêu cầu bạn theo dõi lượng calorie mà bạn dung nạp hằng ngày bằng cách liên tục báo cáo ngược vào trong ứng dụng sau mỗi bữa ăn. Nếu ứng dụng yêu cầu tôi chỉ được dung nạp 1400 calorie một ngày thông qua những thông tin mà tôi đã cung cấp, có khả năng rất cao là tôi sẽ thực hiện điều này. Con số 1400 calorie này là một kiến thức xã hội về cá nhân tôi: những gì tôi ăn trong một ngày sẽ phải tuân theo những gì mà kiến thức này đã mách bảo tôi, và việc liệu tôi có tuân thủ theo đúng những gì mà kiến thức này đã mách bảo hay không sẽ tiếp tục bổ sung vào việc thay đổi kiến thức này: con số 1400 calorie có thể tăng lên hoặc giảm xuống tùy vào những dữ liệu về cân nặng và lượng calorie dung nạp hằng ngày mà tôi cung cấp ngược lại cho các ứng dụng này trong suốt quá trình mà tôi cố gắng giảm cân.       Chúng ta có thể “chẩn bệnh” cho trật tự xã hội mới này dựa trên cách mà nó đang hoạt động: bằng sự khai thác lợi nhuận và bóc lột đời sống con người vô hạn.      Trong suốt quá trình này, sự tương tác duy nhất diễn ra là giữa tôi và ứng dụng đang thuyết phục tôi rằng nó sẽ giúp tôi đạt được mục đích giảm cân của mình, thông qua trung gian là dữ liệu mà tôi liên tục cung cấp cho ứng dụng. Ngoài ra, nếu tôi mang theo điện thoại bên mình mỗi khi tôi chạy bộ hoặc tập thể dục, hoặc nếu tôi đầu tư hơn và mua cho mình một chiếc đồng hồ thông minh để đo lường số bước đi hoặc bước chạy của tôi hằng ngày, thì các ứng dụng giảm cân trên còn có thể tự động dùng những dữ liệu này để điều chỉnh những lời khuyên mà chúng đưa ra cho tôi. Và một lần nữa, thì khả năng rất cao là tôi sẽ tin và làm theo những lời khuyên mà chúng đưa ra, vì tôi tin vào loại kiến thức xã hội mà những ứng dụng này đang dạy cho tôi. Như vậy, khi tôi càng quen dần với việc theo dõi và báo cáo dữ liệu để quyết định xem tôi nên làm gì trong một ngày – ăn gì, uống gì, đi bao nhiêu bước – thì tôi càng dễ chấp nhận logic của sự theo dõi như là một cơ sở hạ tầng giúp tạo nên kiến thức về các mảng đời sống xã hội mà tôi vốn tin là tôi không có, hoặc có rất ít khả năng điều khiển.  Ví dụ thứ hai là ví dụ về ứng dụng hệ thống tín dụng xã hội (hay còn gọi là social credit system) của Trung Quốc, vốn đã được mang ra thử nghiệm ở nhiều tỉnh thành, với mục đích là định nghĩa lại như thế nào là công dân tốt và công dân xấu. Trung Quốc làm điều này bằng cách theo dõi các hoạt động như liệu bạn có trả tiền điện nước hằng tháng đúng hạn hay không, liệu có trả nợ ngân hàng đúng hạn hay không, liệu khi bạn dắt chó đi dạo thì bạn có đeo dây xích cho chó một cách cẩn thận hay không. Đây là một ví dụ thật từ thành phố Jinan, tỉnh Sơn Đông ở Trung Quốc, khi mà họ thử nghiệm theo dõi hành vi người nuôi chó ở nơi công cộng vào năm 2017. Mỗi một người nuôi chó được cho 12 điểm; mỗi khi họ quên xích chó ở nơi công cộng thì họ sẽ bị trừ 3 điểm, lần thứ hai tái phạm sẽ bị trừ 6 điểm kèm với tiền phạt, và đến khi bạn bị trừ hết 12 điểm thì chó của bạn sẽ bị chính phủ tịch thu. Nếu bạn quên gia hạn giấy phép được nuôi chó thì toàn bộ 12 điểm của bạn sẽ bị trừ ngay lập tức. Trong vòng một năm đưa ra chương trình này thì chính quyền của thành phố Jinan đã báo cáo là đã xử phạt hơn 1430 người nuôi chó, và đã tạm tịch thu 120 chú chó xấu số.   Như vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, có một loại kiến thức mới về xã hội của chúng ta đang được tạo ra mỗi ngày thông qua những dữ liệu được thu thập tự động bởi các đối tượng trong khối ngành định lượng xã hội, mà các nhóm ngành này có thể bao gồm cả đối tượng chính phủ. Có hai vấn đề đáng quan tâm chính mà Nick Couldry và Ulises Mejias lập luận về bộ nhớ đệm xã hội. Thứ nhất, họ lập luận rằng chúng ta không nên xem như việc các công ty thương mại và các cơ quan chính phủ liên tục lấy dữ liệu từ chúng ta và tạo ra kiến thức xã hội về chúng ta là một việc tự nhiên bất khả kháng. Bởi vì chúng không hề tự nhiên, và cũng không hề bất khả kháng. Thứ hai, họ lập luận rằng chúng ta nên mở rộng trí tưởng tượng xã hội của chúng ta để có thể cùng nhau tái cơ cấu quan hệ quyền lực giữa các công ty công nghệ, các tổ chức tạo ra kiến thức như là trường đại học, các cơ quan chính trị như là chính phủ, và chính những người sử dụng công nghệ để có thể kết nối với nhau, chính là chúng ta.    Hệ thống tín dụng xã hội hay còn gọi là hệ thống “tính điểm công dân” mà Trung Quốc đang áp dụng muốn định nghĩa lại quan niệm xã hội về việc thế nào là một công dân tốt và thế nào là một công dân xấu. Ảnh: Wired.uk  Chủ nghĩa thực dân dữ liệu: ngôn ngữ mới và cần thiết cho kỷ nguyên công nghệ?  Như vậy, đâu là tính thực dân của dữ liệu, và vì sao chúng ta cần phải hiểu về trật tự xã hội mới mà việc khai thác dữ liệu triệt để của khối định lượng xã hội bằng ngôn ngữ của chủ nghĩa thực dân? Vào năm 1950, Carl Schmitt đã viết trong lời tựa cuốn sách ‘Quy luật của Trái đất’ (The Nomos of the Earth), rằng chủ nghĩa thực dân “là một sự kiện lịch sử không thể lặp lại. Chỉ có thể trong một thế giới tưởng tượng hoang đường, người ta mới có thể hình dung ra một sự tái diễn của chủ nghĩa thực dân thời hiện đại, chẳng hạn như việc con người lên đường khám phá Mặt trăng, hay một hành tinh hoàn toàn mới nào đó, để họ có thể thỏa mãn tự do khai thác vùng đất mới này và giải tỏa cho những tranh đấu của họ trên Trái đất.” Dưới điều kiện của chủ nghĩa thực dân lịch sử, các nguồn tài nguyên lớn được khai thác triệt để nhằm mục đích chiết xuất giá trị kinh tế cho tầng lớp thực dân. Chúng ta đang nhìn thấy một logic tương tự được tái diễn với dữ liệu, được hiểu như là một nguồn tài nguyên vô hạn (ánh nắng mặt trời) và có thể mang lại nguồn lợi kinh tế lớn (dầu tự nhiên). Vậy, liệu có phải rằng Carl Schmitt đã sai, và Nick Couldry và Ulises Mejias đang muốn thuyết phục chúng ta bằng một lập luận mang tính tiếp diễn lịch sử?  Nếu chủ nghĩa thực dân trong lịch sử thôn tính lãnh thổ, tài nguyên, và chính sức lao động con người trên lãnh thổ và tài nguyên này, thì việc chiếm đoạt quyền lực của chủ nghĩa thực dân dữ liệu vừa đơn giản hơn, vừa sâu rộng hơn: việc chiếm đoạt và kiểm soát chính cuộc sống con người thông qua quá trình chiếm đoạt dữ liệu về họ diễn ra âm thầm, không cần dùng đến bạo lực, và đã sẵn sàng trong việc chuyển hóa đời sống con người thành lợi nhuận cho giới thực dân công nghệ mới. Dù nhiều chỉ trích về chủ nghĩa tư bản công nghệ có xu hướng tập trung vào vai trò của những gã khổng lồ kỹ thuật số tại Thung lũng Silicon, Couldry và Mejias cho rằng chúng ta cần phải suy nghĩ rộng hơn, kéo dài hệ tham chiếu lịch sử của chúng ta hơn, và đặc biệt chú ý đến vai trò của Trung Quốc trong trật tự xã hội mới này. Chủ nghĩa thực dân dữ liệu mở đường cho một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản mà chúng ta chỉ mới bước vào giai đoạn sơ khai; tuy chúng ta không biết trước rằng liệu giai đoạn mới này sẽ phát triển ra sao và có hình hài cuối cùng như thế nào, chúng ta có thể “chẩn bệnh” cho trật tự xã hội mới này dựa trên cách mà nó đang hoạt động: bằng sự khai thác lợi nhuận và bóc lột đời sống con người vô hạn.   Kháng cự chủ nghĩa thực dân dữ liệu – làm thế nào để đời sống con người trở nên “đáng sống” hơn dưới hiện thực thực dân dữ liệu?  Sau khi đưa ra nhận định rằng chủ nghĩa tư bản đương đại được đặc trưng bởi một dạng chủ nghĩa thực dân dữ liệu mới, Couldry và Mejias chuyển sang thảo luận về câu hỏi cấp bách là làm thế nào để thách thức và chống lại hiện thực thực dân đáng lo ngại này. Trong phần cuối của cuốn sách, trong chương “Tái kết nối”, hai tác giả lập luận rằng chúng ta cần phản đối việc thực hành và bình thường hóa chủ nghĩa thực dân dữ liệu trong cuộc sống hằng ngày. Dựa trên công trình trước đó của Mejias về tính “siêu giao điểm” (paranodal), hai tác giả ủng hộ chủ trương “đứng về một phía của các giao điểm kết nối kỹ thuật số…  giữ vững vị trí ở bên ngoài mạng lưới xã hội số ngay cả khi vẫn chính thức ở bên trong nó”, để có thể phát triển những cách hiểu và hành động mới đối với chủ nghĩa thực dân dữ liệu. Sự phản kháng này có thể bao gồm việc hợp tác với nhiều đối tượng xã hội khác nhau để có thể xây dựng các giải pháp thay thế cho chủ nghĩa thực dân dữ liệu, thông qua các hoạt động như chiến dịch giáo dục kỹ năng thông tin và kỹ năng dữ liệu, hỗ trợ luật thúc đẩy quyền riêng tư dữ liệu, và tẩy chay việc tham gia vào các nền tảng mạng xã hội, chẳng hạn như Facebook. Ngoài ra, hai tác giả còn khuyến khích từng quốc gia cần phải dựa vào lịch sử chống thực dân của chính họ để có thể đưa ra những bài học chống thực dân dữ liệu phù hợp nhất.   Bằng cách đặt dữ liệu vào trong lịch sử lâu dài hơn về việc các thế lực thực dân chiếm đoạt lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên trên quy mô toàn cầu, khái niệm chủ nghĩa thực dân dữ liệu là thành quả của việc Nick Couldry và Ulises Mejias tìm cách giải quyết một cách hiệu quả hơn những vấn đề không bền vững về tính bành trướng của chủ nghĩa giám sát thông qua các hoạt động tiếp thị, trí tuệ nhân tạo, và internet vạn vật. Nói cách khác, can thiệp lý thuyết của hai tác giả trong khái niệm này giúp chúng ta nhận ra những thiếu sót của các phương pháp tiếp cận pháp lý và phê bình pháp lý hiện tại, giúp mở ra một điểm xuất phát phê bình rộng rãi và đầy đủ hơn. Gắn liền những phát triển hiện thời của dữ liệu với khái niệm lịch sử chủ nghĩa thực dân có thể sẽ giúp chúng ta nhìn nhận thấu đáo hơn về hiện thực xã hội mang đầy những hậu quả khó lường này.    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Chủ nghĩa tư bản thân hữu và quyền bảo vệ tài sản của người giàu      Có khác biệt gì giữa việc tỉ phú Michael Bloomberg làm Thị trưởng thành phố New York với một tỉ phú ở một nước đang phát triển nắm quyền? Nguồn ảnh: REUTERS/Richard Drew/Pool. Giá sách của Học viện Chính trị Quốc gia Không phải ngẫu nhiên mà cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” …      Có khác biệt gì giữa việc tỉ phú Michael Bloomberg làm Thị trưởng thành phố New York với một tỉ phú ở một nước đang phát triển nắm quyền? Nguồn ảnh: REUTERS/Richard Drew/Pool.  Giá sách của Học viện Chính trị Quốc gia  Không phải ngẫu nhiên mà cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” của hai giáo sư trường đại học Harvard Acemoglu và Robinson lại nằm trang trọng trên giá sách thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bên cạnh các tên tuổi như nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz. Cuốn sách này nổi tiếng vì giải thích rằng các nước mãi nghèo là do bị một nhóm nhỏ giàu có và quyền thế thao túng cho lợi ích riêng của mình, bằng cách hy sinh lợi ích của công chúng.  Năm 2017, Việt Nam được dự đoán sẽ có số người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ tới. Đồng thời, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ban hành Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh việc “xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm, gây hậu quả xấu về kinh tế-xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.      Câu hỏi ở đây không phải là việc có cần xóa bỏ nhóm người giàu và quyền thế hay không, mà là làm thế nào để kiềm chế và giảm được lợi ích nhỏ hẹp có thể gây hại đến lợi ích chung.        Acemoglu và Robinson viết rằng nhóm người giàu có và nhóm có quyền thế thường liên kết với nhau để làm giàu và củng cố quyền lực, bằng cách lập các liên minh độc quyền, giảm cạnh tranh và chiếm hữu tài sản công hoặc của người khác. Cuối cùng, lợi ích của nhóm giàu có và quyền lực trở thành lực cản đối với phát triển kinh tế và chèn ép động cơ tăng trưởng của đất nước. Một phần vì tăng trưởng kinh tế thường đi đôi với sự sáng tạo mang lại sức ép cạnh tranh hoặc đi ngược lại lợi ích hiện có của nhóm người giàu có quyền lực.  Cách giải quyết sự giằng xé, mâu thuẫn quyết liệt giữa lợi ích của người giàu, quyền thế với lợi ích của công chúng trở thành mấu chốt quyết định sự phát triển của một quốc gia.  Singapore và Michael Bloomberg  Có khác biệt gì giữa việc tỉ phú Michael Bloomberg làm Thị trưởng thành phố New York với một tỉ phú ở một nước đang phát triển nắm quyền? Trong cuốn sách nghiên cứu “Tài phiệt”, nhà nghiên cứu Winter viết rằng Michael Bloomberg đã chi nhiều tiền hơn bất cứ ai trong lịch sử Hoa Kỳ để nắm một vị trí ở chính quyền. Tuy nhiên, khác với các nhà tài phiệt ở các nước đang phát triển, việc theo đuổi vị trí trong chính quyền của Michael Bloomberg không phải vì sự sống còn của đế chế tài phiệt của ông ta. Nói một cách khác, Michael Bloomberg không cần phải thao túng chính trị để có tài sản và bảo vệ tài sản của mình.  Ở một quốc gia phát triển khác, Singapore, năm 2011 tổng tài sản của 50 người giàu nhất đất nước này là 49 tỉ đô la, chiếm khoảng 20% tổng tài sản của toàn quốc gia. Mặc dù có thể chế chính trị khác với hình thức dân chủ đại diện của các nước phương Tây, tuy nhiên Singapore vẫn đảm bảo quyền sở hữu tài sản được bảo vệ nghiêm ngặt bởi luật pháp. Chính vì vậy, giới tài phiệt ở Singapore “bỏ vũ khí”, không cần tham gia thao túng chính trường, và theo đó họ không có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định chính sách.  Sự khác biệt của Michael Bloomberg hay các tỉ phú Singapore so với giới tài phiệt ở các nước đang phát triển là bản chất của các mối đe doạ đối với tài sản và cách họ bảo vệ tài sản. Ở những quốc gia có nền quản trị bằng pháp luật yếu và quyền sở hữu tài sản không rõ ràng, nhóm nhỏ người giàu và quyền thế thường tìm cách mua chuộc, kiểm soát các quan chức, thậm chí cả lực lượng an ninh, tòa án, báo chí… để làm giàu và để bảo vệ tài sản của mình.      Cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại”   Mức độ tham gia cấu kết trực tiếp của nhóm tài phiệt với quan chức để tăng cường và bảo vệ của cải phụ thuộc vào việc liệu luật pháp và bộ máy công quyền có phân hoá và chịu ảnh hưởng cá nhân hay không, hay đã được đồng bộ và thể chế hoá. Sự can thiệp và cấu kết từ phía nhóm giàu có sẽ trở nên trực tiếp hơn nếu thể chế và các yếu tố bên ngoài không đủ khả năng bảo vệ tài sản của họ.  Vì vậy, Winter cho rằng sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững có liên quan chặt chẽ đến việc thiết lập hệ thống đảm bảo quyền sở hữu tài sản và kiềm chế sự tham lam, ích kỷ của giới nhà giàu và quyền thế, không để lợi ích riêng của họ gây hại đến lợi ích chung.  Quản trị quốc gia không phủ nhận bản chất tư lợi của con người  Như vậy, câu hỏi ở đây không phải là việc có cần xóa bỏ nhóm người giàu và quyền thế hay không, mà là làm thế nào để kiềm chế và giảm được lợi ích nhỏ hẹp có thể gây hại đến lợi ích chung.  Việc xóa bỏ triệt để nhóm người giàu và quyền thế trong xã hội là điều rất khó khả thi. Năm 1915, Robert Michels đã đưa ra khái niệm “Luật thép của tài phiệt”, cho thấy tâm lý cá nhân hay tư lợi là bản năng con người và vì thế mà một cách tự nhiên, thành viên của các tầng lớp sở hữu luôn muốn chuyển giao cho thế hệ sau của cải mà họ, bậc cha mẹ, đã có được. Một nền kinh tế có thể sụp đổ nếu được xây dựng dựa trên giả thiết phi thực tế rằng phần lớn mọi người đều không ích kỷ và các quan chức, chính trị gia không tư lợi.  Nhà kinh tế Ha Joon Chang cho rằng một số nền kinh tế Đông Á có thể sử dụng sự can thiệp của chính phủ vào kinh tế thị trường một cách có hiệu quả vì họ có các chính trị gia và quan chức không tư lợi và có năng lực. Nhưng đây là ngoại lệ do lịch sử để lại.  Những hành động chống tham nhũng của nhà nước gần đây, và những tranh luận công khai về chủ nghĩa tư bản thân hữu trên Tạp chí Cộng sản dường như là dấu hiệu cho thấy mong muốn và nỗ lực phân chia lại của cải và quyền lực một cách công bằng hơn, đồng thời ngăn chặn sự cấu kết, thao túng của những nhóm lợi ích.  Để làm được điều đó, một hệ thống thể chế mạnh cần được thiết lập, bao gồm việc chấp nhận rằng tư lợi là một trong những bản chất mạnh nhất của con người và bản chất này không bị phủ nhận trong quá trình làm chính sách.  Hệ thống luật pháp phải đảm bảo quyền sở hữu tài sản và quyền làm giàu chính đáng. Nền tảng quản trị quốc gia phải cho phép những người nắm quyền sống được bằng lương. Họ giữ vị trí đủ gần để hỗ trợ giới kinh doanh và phát triển kinh tế, đủ xa để không bị thao túng vì lợi ích của giới tài phiệt.    Một thể chế như vậy mới có thể đảm bảo phát triển kinh tế bứt phá nhanh, giàu nội lực, lâu dài và tránh đi vào ngõ cụt của sự phát triển do bị bòn rút kiệt quệ vì lợi ích cá nhân của một nhóm nhỏ giàu có và quyền lực.       Author                Trần Lệ Thùy        
__label__tiasang Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh      Tôi nhớ cách đây hơn 40 năm một số nhà triết học, sử học và xã hội học nêu đề tài chung để cùng nghiên cứu: trong lịch sử tư tưởng dân tộc ta, thử tìm xem tư tưởng gì là tư tưởng gốc? Sau đó có chuyện giặc Mỹ phá bầu trời miền Bắc, các cơ quan ở thủ đô Hà Nội sơ tán, tôi đứt liên lạc với các bạn đồng nghiệp khác ngành, nên không nắm được tình hình nữa.         Mãi đến năm 1998 nhận được kỷ yếu của Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về “Việt Nam học” tổ chức ở Hà Nội, đọc kỹ bài tham luận của nhà sử học Mác-xít Trần Văn Giàu và bài của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mà dưới đây tôi trích vài đoạn mới thấy sáng ra vấn đề tư tưởng gốc của dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước:  “Tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam suốt các thời kỳ lịch sử là tư tưởng yêu nước. Đúng vậy (…). Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời kỳ thịnh suy thì tư tưởng yêu nước có bao nhiêu thời kỳ tiến lên hay suy thoái rồi quật khởi, nhưng lúc nào thực tế cũng chứng minh rằng tư tưởng yêu nước không phải là một triết lý để nhìn đánh, mà nó là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng-sai, tốt-xấu, nên-chăng. Vận nước thịnh suy, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng là ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chống cái thứ vũ khí tinh thần ấy mà tất cả các thế hệ tổ tiên, cha ông đều có góp công của máu xương để rèn luyện”. (Trần Văn Giầu). Tư tưởng yêu nước của dân tộc ta là Chủ Nghĩa Yêu nước; một chủ nghĩa “yêu nước” hình thành từ ngay thời đại Hùng Vương. Rồi được các thế hệ hậu duệ con Rồng, cháu Tiên phát huy ngày càng cao sâu làm nên dòng máu đậm đặc; đượm hương sắc dòng máu Lạc Hồng.  “Mãi đến khi (…) nhà yêu nước vĩ đại sinh ra đời ở đất Lam Hồng đã hấp thụ sâu sắc tinh hoa của truyền thống văn hóa Việt Nam, lại có hiểu biết sâu rộng về văn hóa Phương Đông. Trải qua bao năm bôn ba khắp bốn biển năm Châu, Người đã nhạy bén tiếp thu tinh hoa các nền văn hóa trên thế giới (…). Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam chứa một chất lượng mới, một sức mạnh mới. Người đã xây dựng một chủ nghĩa nhân văn cao cả, coi trọng quyền sống thiêng liêng của con người, một triết lý nhân văn hành động, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người”. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).  Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Lạc Việt là động lực của sự phát triển của xã hội ta và đến đầu thế kỷ XX đã được Nguyễn Ái Quốc phát huy lên đỉnh cao vời vợi để trở thành một chủ nghĩa yêu nước đã cao đẹp, lại cao đẹp thêm.  Có thể xưng tụng được chăng bằng danh hiệu: “Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh?”, khác hẳn mọi thứ chủ nghĩa dân tộc giả danh yêu nước, khoác áo dân tộc lộng lẫy mà làm hoen ố thanh danh dân tộc, thanh danh cả loài người.   Nói tóm lại nội dung của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh gồm hai yếu tố cấu thành:  Tư tưởng yêu nước thương nòi Hồng Lạc, phát huy thành một triết lý sống:  “Ở ĐờI và LÀM NGƯờI (chữ của Bác Hồ dùng) chữ dùng rất bình dị mà ý thâm thúy biết bao. Nó diễn tả biểu tượng NHÂN NGHĨA DÂN TỘC Lạc Việt ngàn đời. “Ở đời và Làm Người”- nền tảng của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, đạo lý làm người ở trên đời, làm một người dân thường sống và đối xử với mọi người, trọn tình trọn nghĩa, trên hết là phục vụ tận tụy đất nước, gắn liền thân mình với số phận của toàn dân tộc, luôn luôn quan tâm đến hạnh phúc của toàn dân, đến tương lai rực rỡ của giống nòi.  Tình “thương người như thể thương thân”. Tình thương bẩm sinh vốn là truyền thống lâu đời nhưng được Hồ Chí Minh phát huy lên tầm cao là tình thương nhân loại lao khổ trong thời đại mà cuộc đấu tranh giai cấp đã lên tới mức gắt gao ở khắp các nước Tây phương của nền văn minh công nghiệp: chỉ có một số rất ít người cực kì giàu sang mà làm khổ làm nhục quần chúng đông đảo, đẩy tới đại đa số nhân loại lao động vào cảnh cùng khổ tối tăm. Vì thấm sâu trong máu tinh thần yêu nước và chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc mình mà Hồ Chí Minh chắt lọc được tinh hoa của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thấm đậm cả trái tim mình, tính nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là chất men tinh túy của tình “BÁC ÁI” Đại cách mạng Pháp, cũng là tinh túy của lòng “NHÂN” theo tinh thần thế giới đại đồng trong triết lý phương Đông. Rõ ràng văn hóa nhân nghĩa Lạc Việt là nền tảng cao đẹp của tư tưởng người Cộng sản Yêu nước Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh. Yếu tố văn hóa truyền thống đó là nhân tố sống động mà Hồ Chí Minh góp vào trào lưu Văn hóa Dân chủ HÒA BÌNH thế giới.  Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh có điểm đặc sắc là nó bao la rộng khắp, gắn yêu nòi giống mình với mọi giống người trên trái đất. Nghĩa là nó tô đậm tinh thần văn hóa hòa bình. Chắc không ai quên mẩu chuyện nhẹ nhàng này: khi chàng thanh niên yêu nước họ Nguyễn vừa đặt chân tới nước Lênin, cuối 1923- đầu 1924 thì một phóng viên trẻ tuổi báo Ngọn lửa nhỏ tới gặp. Hai bạn trẻ chuyện trò thoải mái. Anh phóng viên là một nhà thơ, sau buổi đã tường thuật: “Ông Nguyễn đang độ thanh xuân, chưa phải chiến sĩ của Quốc tế Cộng sản, mà Ông đã gây cho người đối thoại ấn tượng kỳ lạ (…). Từ Nguyễn Ái Quốc toát ra một nền văn hóa không phải như một nền văn hóa Âu Châu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai… Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và thanh lịch chuộng điều độ và ghét thái quá. Qua cử chỉ cao thượng và tính trầm lặng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được cả ngay mai, thấy được viễn cảnh của tình hữu ái đoàn kết, bao la như đại dương…”.  Anh bạn phóng viên trẻ của nước Nga Cộng sản đã sớm phát hiện trong không trung mùi hương hoa sen thoát tục tỏa ra kín đáo qua nụ cười nhân từ, tươi mát, hình ảnh của cả một dân tộc xa xôi mà lại rất gần với tổ quốc mình- hương vị của một nền văn hóa- Hòa Bình thanh cao mà mọi người đang mong ước, sau Cách mạng tháng Mười Nga.  ——-  Chú thích ảnh: Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam        Vũ Đình Hòe    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ quyền nhân dân      Xác lập chủ quyền nhân dân là một trong  những nội dung quan trọng nhất mà mọi bản hiến pháp hiện đại đều hướng  tới. Vậy chủ quyền nhân dân là gì?     Chủ quyền nhân dân là nguyên tắc khẳng định rằng tính hợp pháp (tính chính danh) của Nhà nước phải được xác lập và duy trì dựa vào ý chí hoặc sự đồng thuận của nhân dân. Nói cách khác, chủ quyền nhân dân đòi hỏi muốn cầm quyền thì phải được nhân dân lựa chọn; muốn tiếp tục cầm quyền thì phải được nhân dân ủng hộ.      Với nội hàm như trên, việc xác lập chủ quyền nhân dân là rất quan trọng không chỉ để xây dựng một nhà nước dân chủ, mà còn để khuyến khích nhà nước đó phụ̣c vụ nhân dân. Một nhà nước không do nhân dân, thì không thể vì nhân dân. Một quan chức không do nhân dân, thì ít có khuyến khích để phục vụ nhân dân. Việc xác lập chủ nguyền nhân dân cũng sẽ giúp chúng ta phòng chống tham nhũng hiệu quả hơn. Đơn giản là vì những kẻ tham nhũng sẽ không được nhân dân lựa chọn và sẽ không được nhân dân ủng hộ. Những kẻ có chức rồi mới bị tha hóa và tham nhũng, thì sẽ không được lựa chọn lần thứ hai.      Đợt sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này là cơ hội để chúng ta mở rộng hơn nữa phạm vi của chủ quyền nhân dân nhằm tạo ra động lực mới cho nền quản trị quốc gia và cho cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Cụ thể, hiện nay, nhân dân mới chỉ bầu chọn các vị dân biểu. Sắp tới, phải để nhân dân bầu chọn cả các vị đứng đầu các cơ quan hành chính. (Khi được nhân dân trực tiếp bầu, thì các quan chức này có thể được gọi là xã trưởng, huyện trưởng, thị trưởng, tỉnh trưởng, tổng thống). Thực ra, các vị đứng đầu hành chính mới là những người có công việc động chạm đến lợi ích nhân dân nhiều nhất. Làm cho các vị này phụ thuộc vào nhân dân để có chức quyền là cách làm hay nhất để cải cách hành chính, để nâng cao hiệu quả hoạt động và để phòng, chống tham nhũng. Bởi vì rằng, các vị đứng đầu hành chính sẽ phải hết sức giữ gìn và hết sức tận tụy với nhân dân để được bầu và được bầu lại. Và bộ máy của các vị này cũng sẽ bị ép buộc phải làm như vậy (nếu không thì thủ trưởng của họ sẽ bị mất phiếu). Chúng ta thấy, như vậy thì chế độ trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân của các cơ quan hành chính sẽ được xác lập. Cách làm hiện nay là theo kiểu “dùi đánh đục, đục đánh khăng”- các quan chức hành chính chịu trách nhiệm trước các vị dân biểu, các vị dân biểu chịu trách nhiệm trước dân. Cách làm này chắc chắn là không hiệu quả bằng cách cả các vị dân biểu lẫn các quan chức hành chính đều phải chịu trách nhiệm trước dân.      Hơn thế nữa, chỉ khi cả các vị đứng đầu hành chính và cả các vị dân biểu đều do nhân dân bầu ra, thì chúng ta mới có thể thiết kế được cơ chế để các cơ quan nhà nước kiểm soát quyền lực của nhau như nghị quyết của Đảng đã đề ra. Thiết kế chế độ trách nhiệm theo kiểu “dùi đánh đục, đục đánh khăng” hiện nay thì rất khó làm được điều trên.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ quyền quốc gia là tối thượng      Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an, khẳng định như vậy trước hành vi xâm phạm lãnh hải Việt Nam của tàu Trung Quốc.    –    Phóng viên: Ông nhìn nhận thế nào trước việc 3 tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp thăm dò tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam?  –    Ông Lê Văn Cương: Phải khẳng định đây là hành động vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Việc làm này vi phạm thô bạo Hiến chương Liên Hiệp Quốc (LHQ) và 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình mà Trung Quốc là một trong những nước khởi xướng, vi phạm Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký kết, Tuyên bố về ứng xử biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc và ASEAN năm 1982, vi phạm những cam kết quốc tế được công nhận rộng rãi khác mà Trung Quốc đã ký kết và công nhận.  –    Việc làm của Trung Quốc có phải thể hiện tham vọng của họ ở biển Đông?  –    Không những có tham vọng bành trướng mà còn ngang ngược và trắng trợn. Tàu hải giám Trung Quốc đã có những hành động “quan phương” chứ không phải là “phi quan phương” vì đây chính là những tàu quân sự của Trung Quốc được cải hoán chứ không phải tàu bình thường. Việc làm này đi ngược lại những cam kết trước đây của Trung Quốc. Mới cách đây 6 tháng, tháng 10-2010, Thủ tướng Trung Quốc đã có điện gửi những người đồng nhiệm ASEAN cam kết “Trung Quốc muốn tạo dựng một vùng biển hòa bình và hợp tác”.  –    Trước phản ứng của phía Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du cho rằng “Việt Nam đã tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý, làm tổn hại lợi ích và quyền quản lý của Trung Quốc ở “Nam Hải”, đi ngược lại nhận thức chung của hai nước về vấn đề biển Đông”. Ông nhận xét gì về phát biểu này?  –    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tỏ ra mâu thuẫn trong những phát ngôn của mình. Ngày 21-10-2010, tại Côn Minh, trong cuộc họp vòng 5 nhóm công tác về tình hình biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, chính bà Khương Du đã công khai tuyên bố Trung Quốc luôn coi trọng cao độ, thực hiện nghiêm túc các cam kết nhằm tăng cường lòng tin chính trị, tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp, cùng nhau giữ gìn hòa bình ổn định ở biển Đông. Điều đó cho thấy Trung Quốc đã “nói một đằng, làm một nẻo”.  –    Sau phản ứng của phía Việt Nam, chúng ta cần phải làm gì để thế giới hiểu thêm về hành động ngang ngược của Trung Quốc?  –    Những tuyên bố của ta là đúng lúc, thiết thực nhưng chưa đủ. Chủ quyền quốc gia là tối thượng của một dân tộc, là vĩnh cửu, là trường tồn. Không ai có quyền được mặc cả độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mình cả. Theo tôi, phải nói rõ việc làm của Trung Quốc đã vi phạm gì, vi phạm đến đâu sự độc lập của chúng ta, để cho thế giới biết chúng ta không kích động chủ nghĩa dân tộc mà là tinh thần tự tôn dân tộc.  Theo tôi, nhân dân Trung Quốc là những người hòa hiếu, muốn quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, nhiều nhà lãnh đạo có công xây đắp mối quan hệ Việt – Trung. Vì vậy, ta phải thông báo cho người dân Trung Quốc biết về những hành động của chính phủ họ. Phải củng cố quan hệ song phương với Trung Quốc, phải cho cộng đồng quốc tế biết. Đồng thời vừa phải mở mặt trận ngoại giao vừa phải tạo sự đồng thuận ở Việt Nam để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.  –    Nhận định của ông về diễn biến tiếp theo trên biển Đông là gì?  –    Theo tôi, từ nay đến năm 2020, Trung Quốc vẫn “diễn” tiếp mấy trò như vừa qua. Việt Nam cần phải sẵn sàng ứng phó. Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng. Phải củng cố khối đoàn kết toàn dân, mặt trận thống nhất trên thế giới, đồng thời sẵn sàng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.                                                                                                                Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong Il qua đời      Đài truyền hình trung ương Triều Tiên cho  biết Chủ tịch Kim Jong Il đã qua đời ở tuổi 69, do làm việc quá sức cả về  thể chất lẫn tinh thần.     Chủ tịch Kim Jong Il là người lãnh đạo CHDCND Triều Tiên kể từ khi cha ông là Kim Nhật Thành qua đời vào năm 1994. Ông Kim qua đời trên tàu hỏa trong khi đang tới thăm một khu vực ở ngoại ô Bình Nhưỡng – thông báo cho hay.  Ông từng bị đột quỵ vào năm 2008 và không xuất hiện trước công chúng trong một vài tháng.  Dư luận tin rằng người kế nhiệm ông là cậu con trai thứ ba, Kim Jong-un – được cho là mới 27 tuổi.  Cơ quan thông tấn của Triều Tiên KCNA đã kêu gọi người dân đoàn kết dưới sự chỉ đạo của nhà lãnh đạo trẻ.   “Tất cả các đảng viên, thuộc khối quân sự và dân sự, nên trung thành tuân theo sự lãnh đạo của đồng chí Kim Jong-un, đồng thời bảo vệ và tăng cường hơn nữa mặt trận thống nhất quân và dân của Đảng” – cơ quan thông tấn này cho hay.  KCNA cũng cho biết ông Kim đã trải qua một cơn đau tim.  Tang lễ sẽ được tổ chức tại Bình Nhưỡng vào ngày 28/12 và Kim Jong-un là trưởng ban tổ chức lễ tang.  Sau khi tin Chủ tịch Kim Jong Il qua đời được phát đi, Quân đội Triều Tiên đã được đặt trong tình trạng báo động và Hội đồng An ninh quốc gia đang triệu tập một cuộc họp khẩn cấp – Hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc cho hay.  Trước khi qua đời, Chủ tịch Kim Jong Il đã có những động thái chuẩn bị cho việc bố trí người kế nhiệm – một quá trình mà nhiều người tin rằng sẽ được thực hiện quyết liệt trong năm 2012.   Giáo sư về quan hệ quốc tế Lee Jung-hoon thuộc ĐH Yonsei ở Seoul nhận định, với việc chuyển giao quyền lực cho người con trai còn chưa hoàn tất, cái chết của ông Kim có thể sẽ dẫn đến một “thời kỳ hết sức bất ổn” ở Triều Tiên.  Nguyễn Thảo   http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-16239693         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chữ Việt Nam song song 4.0: Không có cơ sở khoa học và không nên phổ biến      “Bộ chữ” này bộc lộ rất nhiều hạn chế khi so sánh với chữ Quốc ngữ.    Mấy hôm nay, trên một số báo và nhất là trên mạng xã hội lại xôn xao về bộ chữ Việt Nam song song 4.0 (CVNSS 4.0) của 2 tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình được Cục Bản quyền và Tác giả thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cấp giấy chứng nhận bản quyền. Trước những ý kiến lo lắng, băn khoăn về những hệ lụy kéo theo nếu áp dụng bộ chữ này trong thực tế (như tham vọng các tác giả của bộ chữ) tôi thấy mình phải có trách nhiệm trình bày một số hiểu biết về bộ chữ này, để mọi người không bị phân tâm thêm vào những “sáng tạo” kiểu tương tự. Thật ra, cách đây hơn 20 năm, khi đảm nhiệm chức vụ Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN, tôi đã tiếp cận và thẩm định “phát minh” của một học sinh tiểu học (khoảng 10 – 11 tuổi) về cách viết tiếng Việt không dấu. Được biết tác giả Kiều Trường Lâm đã nghiên cứu cách viết tiếng Việt không dấu suốt 27 năm, tức là khi học lớp 2.    Bài thơ “Mưa Xuân” được một độc giả viết lại bằng CVNSS 4.0. Nguồn: Tiền phong.     Nhìn từ cơ sở ngôn ngữ học, tâm lí – sư phạm      Chữ viết là hệ thống kí hiệu được tiếp nhận bằng mắt để ghi lại tiếng nói theo dạng văn bản. Việc đánh giá một bộ chữ viết cần dựa trên những cơ sở ngôn ngữ học, tâm lí – sư phạm, kỹ thuật in ấn và thẩm mĩ.      Về ngôn ngữ học, chữ viết phải phản ánh đúng và đầy đủ hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ đó. Mặt khác, cũng cần phân biệt chữ viết mang tính thực hành, dùng trong thực tiễn của cả cộng đồng với các bộ chữ (kí tự) chỉ sử dụng với mục đích, phạm vi hạn chế. Chữ viết thực hành không phải là bộ kí hiệu của Hội ngữ âm học quốc tế (IPA), được các nhà ngữ âm học dùng để phiên âm tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Chữ viết thực hành khác bộ kí hiệu để truyền tin điện tín, các kí hiệu viết tắt, tốc kí (viết nhanh) do một cá nhân hoặc nhóm người tựquy ước để sử dụng.         Để đạt yêu cầu dễ đọc dễ nhớ về mặt tâm lí – sư phạm, thì các kí tự ghi các âm vị phải nằm trong hệ thống chặt chẽ, phản ánh tính hệ thống các âm vị. Đồng thời, sự phản ánh đặc điểm ngữ âm bằng kí tự phải cụ thể, trực quan, thuận lợi cho thao tác liên hội, loại suy mối liên hệ  âm – chữ khi học đọc, học viết. Về mặt thẩm mĩ, chữ viết trình bày trong văn bản cần rõ ràng và đẹp, tạo sự dễ dàng, thuận lợi và thích thú khi tiếp nhận bằng mắt. Về mặt kĩ thuật in ấn, chữ viết có thể sử dụng trong đánh máy, in ấn trên các thiết bị phổ biến. Ngày nay, trong công nghệ thông tin, bộ chữ viết có thể sử dụng các font chữ, bộ gõ thông dụng, phổ biến.       Chữ Quốc ngữ hình thành từ những thập niên đầu thế kỉ 17, với sự đóng góp của nhiều giáo sĩ dòng Tên đến từ châu Âu, lại được sự ủng hộ và giúp đỡ của nhiều người Việt. Năm 1751, khi cố dạo Alexandre de Rhodes xuất bản Từ điển Việt – Bồ – La, chữ Quốc ngữ tương đối hoàn thiện. Sau một số lần cải tiến, đến cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19, chữ Quốc ngữ hoàn thiện như diện mạo hiện nay. Về mặt ngôn ngữ học, chữ Quốc ngữ là hệ thống chữ ghi âm, sử dụng bảng chữ cái La tinh kết hợp với các dấu phụ để ghi các âm vị âm đầu, vần và thanh điệu. Chữ Quốc ngữ phản ánh đúng và đủ hệ thống ngữ âm tiếng Việt ở thế kỉ 17. Sau gần 400 năm, tiếng Việt đã có những thay đổi, tồn tại dưới dạng nhiều thổ ngữ, phương ngữ khác nhau về ngữ âm, nhưng vẫn có thể dùng chữ Quốc ngữ để ghi.        Về mặt ngôn ngữ học, việc dùng các dấu phụ để ghi thanh điệu nói chung và cách dùng từng dấu (đường nét, vị trí, tên gọi) trong chữ Quốc ngữ phản ánh đúng bản chất ngữ âm của thanh điệu nói chung, từng thanh nói riêng, cũng như phản ánh đầy đủ hệ thanh điệu ở các phương ngữ khác nhau của tiếng Việt ở thế kỉ 17 và hiện nay.      Còn CVNSS4.0 là sự lắp ghép hai bộ phận:      1- Chữ viết không dấu, thay các dấu ghi thanh điệu và một số kí tự không có trong chữ bộ chữ cái La Tinh (như Đ, Ơ, Ô, Â, Ă, Ê) bằng chữ cái;      2- Chữ viết giản hóa để viết nhanh, bằng cách giản hóa các kí tự là tổ hợp chữ cái ghi âm đầu, vần trong chữ Quốc ngữ.     Chúng ta lần lượt đánh giá giá trị khoa học và thực tiễn của các đề xuất trong CVNSS 4.0, mà được các tác giả của nó coi là “phát minh, sáng tạo” trong thời đại công nghệ 4.0 và mong muốn phổ biến rộng rãi.      Nếu đòi thay đổi chữ Quốc ngữ, kinh phí bỏ ra sẽ là khổng lồ và tạo đứt đoạn văn hóa cho người Việt đã học chữ Quốc ngữ từ trăm năm nay. Ảnh minh họa: Internet.     Về đề xuất viết chữ Việt không dấu      Có thể nói, việc dùng dấu phụ để ghi thanh điệu là một sáng tạo độc đáo của những người chế tác chữ Quốc ngữ. Thanh điệu liên quan đến các đặc trưng cao độ từng âm tiết của giọng nói – mỗi âm tiết có thanh điệu riêng, tạo nên nhạc tính trong giọng nói. Thanh điệu xa lạ với những cố đạo khi lần đầu tiếp xúc với tiếng Việt, khiến họ nhận xét: “người Việt, nhất là phụ nữ ‘nói như hát’ ”. Lúc đầu, các giáo sĩ không nhận ra đặc điểm phát âm từng thanh, chỉ dùng 3 dấu phân biệt các thanh. Trong Từ điển Việt Bồ La, A. de Rhodes dùng 5 dấu để ghi 6 thanh tiếng Đàng Ngoài (Bắc Bộ). Đáng chú ý là, việc sử dụng các dấu (đường nét hình vẽ), vị trí đặt dấu, tên gọi các dấu phù hợp với những cảm thức khá chính xác của họ về đặc điểm phát âm từng thanh điệu tiếng Việt Bắc Bộ.      Như vậy, về mặt ngôn ngữ học, việc dùng các dấu phụ để ghi thanh điệu nói chung và cách dùng từng dấu (đường nét, vị trí, tên gọi) trong chữ Quốc ngữ phản ánh đúng bản chất ngữ âm của thanh điệu nói chung, từng thanh nói riêng, cũng như phản ánh đầy đủ hệ thanh điệu ở các phương ngữ khác nhau của tiếng Việt. Về mặt tâm lí-sư phạm, cách làm này cũng tạo sự thuận lợi, dễ dàng, nhất là đối với trẻ em và người nước ngoài khi học đọc, học viết tiếng Việt.     Về mặt kỹ thuật, trước đây, việc dùng các dấu phụ trong chữ Quốc ngữ thường gây khó khăn cho việc đánh máy, in ấn. Để đánh máy, in văn bản chữ Quốc ngữ cần thiết kế máy chữ, đúc các bộ chữ riêng. Khó khăn này được khắc phục trong kĩ thuật truyền tin điện tín: các dấu phụ được quy ước thay bằng chữ cái. Từ thập niên 1980, khi sử dụng máy tính trong in ấn, đánh máy chữ Quốc ngữ thì khó khăn trên được khắc phục triệt để, với các phần mềm gồm các font chữ và cách gõ chuyên biệt. Hiện nay, phần mềm Unicode cho phép đánh các kí tự (chữ cái, dấu phụ đặc thù) của chữ Quốc ngữ một cách dễ dàng, kể cả trộn lẫn trong cùng một văn bản có các kí tự thuộc các hệ chữ cái khác. Thậm chí ngày nay, các tiến bộ công nghệ thông tin như ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI), việc tổng hợp tiếng nói (text to speech) và nhận diện tiếng nói (speech to text) tiếng Việt đã có được những thành tựu đáng kể, dù tiếng Việt, chữ Quốc Ngữ có đặc điểm riêng.      Về mặt thẩm mĩ, việc dùng dấu thanh tạo cho chữ viết một vẻ đẹp riêng; đó là sự  hài hòa không gian chiều ngang (các chữ cái ghi phụ âm, nguyên âm) và chiều dọc (dấu phụ ghi thanh và các nguyên âm đặc biệt). Điều này cho phép các nhà thư pháp có thể viết (vẽ) mỗi âm tiết (chữ viết) như một bức tranh hoàn chỉnh.       Một số người lo lắng việc không dùng dấu ghi thanh điệu như CVNSS 4.0 sẽ làm mất đi đặc điểm riêng – ngôn ngữ thanh điệu của tiếng Việt. Thật ra, cách làm này không ảnh hưởng đến cách phát âm như là ngôn ngữ thanh điệu của tiếng Việt, mà chỉ dẫn đến hệ lụy về chữ viết tiếng Việt (kí hiệu tiếp nhận bằng mắt). Những hệ lụy đó là:      1- Không phản ánh đúng bản chất của thanh điệu nói chung và đặc điểm phát âm từng thanh điệu nói riêng.      2- Gây khó khăn trong việc học đọc, học viết tiếng Việt, nhất là đối với trẻ em và người nước ngoài. Người học không biết chữ cái nào phản ánh thanh điệu trong chuỗi các con chữ, cũng như cách phát âm từng thanh như thế nào.     3- Chữ viết không dùng dấu ghi thanh làm mất đi vẻ đẹp riêng của chữ Quốc ngữ.     4- Công nghệ thông tin cho phép khắc phục các khó khăn trong việc soạn thảo văn bản chữ Quốc ngữ với các dấu phụ ghi thanh điệu và các nguyên âm đặc biệt. Trong khi CVNSS4.0 lại rất rối rắm khi gõ.     Về đề xuất chữ viết nhanh      Sau mấy trăm năm nhiều công trình văn hóa với hàng triệu văn bản được viết in bằng tiếng Việt, chữ Quốc ngữ. Nếu thay đổi, xã hội phải bỏ số kinh phí khổng lồ để in lại các công trình, tác phẩm, tài liệu quan trọng; để rồi sau này, con cháu người Việt phải học lại chữ Quốc Ngữ, để có thể đọc được các di sản văn hóa cha ông để lại. Điều này tạo nên sự đứt đoạn văn hóa, thói quen của gần 100 triệu người Việt.      Đề xuất thứ hai của nhóm tác giả CVNSS 4.0 nhằm “cho phép viết nhanh”. Trong chữ Quốc ngữ, từng bộ phận cấu tạo âm tiết (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối) được phản ánh bằng kí tự riêng. Một số âm vị được phản ánh bằng 2, 3 kí tự (vi phạm nguyên tắc âm vị học); có nhiều kí tự là tổ hợp chữ cái (vi phạm nguyên tắc tiết kiệm). Cách làm này có thể vi phạm nguyên tắc âm vị học (mỗi âm vị ghi bằng 1 kí tự và ngược lại), vi phạm nguyên tắc tiết kiệm (thao tác viết, đánh máy và không gian). Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ là bộ chữ thực hành, không phải là bộ kí hiệu phiên âm âm vị học. Cách biểu thị mỗi thành phần âm tiết bằng kí tự độc lập tạo thuận lợi trong thao tác liên hội, suy luận trong quá trình nhận hiểu – ghi nhớ – phát âm- viết từng âm tiết, khiến việc học đọc, viết trở nên dễ dàng hơn. Trong lí thuyết thông tin, nét (kí hiệu) dư thừa có lượng thông tin thấp, nhưng trong thực tế sử dụng chúng lại có giá trị hiệu chỉnh thông tin. Trong chữ Quốc ngữ , có thể có các kí hiệu dư thừa, chẳng hạn dấu Sắc ở âm tiết có âm cuối P, T, C, CH. Tuy nhiên trong thực tế sử dụng, dấu Sắc trong trường hợp này giúp người học biết phát âm thanh này tương tự thanh Sắc trong các loại âm tiết khác.        Trong CVNSS 4.0, các tác giả đề xuất một loạt thay đổi: bỏ dấu sắc ở âm tiết có chữ cái cuối là: C, P, T, CH; chữ I thay cho Y, Y thay cho UY; ở phụ âm đầu, chữ F thay PH, Q thay QU, C thay K, K thay KH, Z thay D, D thay Đ, J thay GI, G thay GH, W thay NG, NGH. Ở phụ âm cuối, G thay NG, H thay NH, K thay CH. Nguyên âm ghép được rút gọn thành một nguyên âm như UYE còn là Y, UÔ còn U, ƯƠ còn Ư, OE còn E, OA còn O… Những đề xuất trên nhằm mục đích đơn giản hóa các thao tác viết, đánh máy và tiết kiệm không gian (chiều ngang) văn bản. Mục đích này khiến CVNSS4.0 mang tính chất là một bộ kí hiệu ghi tốc kí áp dụng cho mục đích hạn chế, phổ biến trong một nhóm người  nhiều hơn là một bộ chữ viết để áp dụng trong thực hành sử dụng của cả cộng đồng ngôn ngữ.      Những đề xuất này dẫn đến hệ lụy:     1- Khó học, khó nhớ. Việc giản hóa cách viết các vần , vốn có cấu trúc phức tạp làm khó cho thao tác liên hội , loại suy mối liên hệ “âm – chữ” khi học đọc, học viết.  Muốn sử dụng (đọc, viết) được, phải học thuộc quá nhiều quy tắc. Điều này đặc biệt khó với trẻ em và người nước ngoài mới học tiếng Việt.     2- Việc dùng các kí tự xa với các kí tự vốn có trong bảng chữ cái La tinh được sử dụng  trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới, tạo sự khó khăn khi đọc, viết từ ngữ tên riêng (nguyên dạng) gốc nước ngoài bằng chữ cái La Tinh. Đồng thời, cách làm này cũng gây khó đối với người nước ngoài khi tiếp cận với từ ngữ, tên riêng tiếng Việt.     3- Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Nhiều dân tộc có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Chữ viết La tinh hóa của nhiều dân tộc thiểu số dựa trên chữ Quốc ngữ. Nếu thay đổ cách viết các kí tự như đề xuất, thì cũng phải cải tiến nhiều bộ chữ viết dân tộc thiểu số ở nước ta.      Nói tóm lại, các đề xuất cải cách chữ Quốc ngữ theo hướng bỏ dấu và đơn giản hóa cách viết âm đầu, vần, thanh điệu của tác giả CVNSS 4.0 không hợp lí, không có cơ sở khoa học và không thể áp dụng thực tiễn.     Đó là còn chưa tính đến hệ lụy sau đây: Tiếng Việt và chữ Quốc ngữ gắn với truyền thống văn hóa nhiều thế hệ người Việt Nam. Sau mấy trăm năm, nhiều công trình văn hóa với hàng triệu văn bản được viết in bằng tiếng Việt, chữ Quốc Ngữ. Nếu thay đổi, xã hội phải bỏ số kinh phí khổng lồ để in lại các công trình, tác phẩm, tài liệu quan trọng; để rồi sau này, con cháu người Việt phải học lại chữ Quốc Ngữ, để có thể đọc được các di sản văn hóa cha ông để lại. Điều này tạo nên sự đứt đoạn văn hóa, thói quen của gần 100 triệu người Việt.      Khi làm việc với cậu học sinh tiểu học từ hơn 20 trước về “phát minh” chữ viết không dấu của cậu, tôi khuyên cậu không nên mất thời gian vào những việc vô ích, vượt quá sức, nên tập trung thời gian cho việc học tập tốt chương trình phổ thông. Hôm nay, khi lại phải tiếp cận với CVNSS 4.0, tôi mong các tác giả của nó không nên ảo tưởng về “phát minh” của mình và nuôi tham vọng đem thữ chữ này trình Quốc hội và phổ biến trong giáo dục và các lĩnh vực khác.     “Tất cả những gì quý vị hình dung là có thể cải cách đối với chữ Quốc ngữ thì những người đi trước, Tây có ta có, đã bàn nát nước rồi mà đến nay chẳng có cải cách nào được thực hiện cả. Vậy thì từ nay xin đừng bàn đến cải cách chữ Quốc ngữ nữa, có chăng chỉ có thể bàn về chuẩn chính tả”, GS Nguyễn Văn Hiệp, Viện trưởng Viện ngôn ngữ học nhận xét trong tọa đàm “Kỷ niệm 100 năm chữ Quốc ngữ lên ngôi trên phạm vi toàn quốc” tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội, ngày 28/9/2019.  Ông cho biết, vấn đề cần quan tâm là chuẩn hóa chính tả (quy chuẩn cách viết chưa thống nhất như “i” hoặc “y”, vị trí đánh dấu), cách viết tên riêng gốc tiếng nước ngoài (để nguyên dạng, phiên âm hay chuyển tự)…, đây cũng là điều rất cần thiết cho việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên cho máy đọc trong bối cảnh số hóa dữ liệu hiện nay.    Author                Nguyễn Văn Lợi        
__label__tiasang Chưa chú ý lắng nghe dân      Chuyện mở rộng Hà Nội đáng lý ra đã có thể không gây nhiều bức xúc, băn khoăn như vừa qua. Chỉ cần trước đó những người chủ trì đề án chịu khó thực hiện đầy đủ các động tác chuẩn bị chặt chẽ, chu đáo, nhằm tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, thành phần xã hội.    Tương tự, chuyện cấm xe ba gác, hàng rong cuối năm vừa qua sẽ suôn sẻ, nếu thay vì xua đuổi người dân nghèo ra khỏi không gian đô thị một cách vội vã và vô cảm, nhà chức trách tổ chức cho họ có cuộc sống, công việc mưu sinh khác phù hợp, theo một lộ trình hợp lý, với thái độ tận tụy và có trách nhiệm.     Đã có khá nhiều chủ trương, chính sách đúng về mặt lý thuyết, nhưng khi đưa ra thực hiện thì vấp phải phản ứng trái chiều, có khi rất quyết liệt của dư luận xã hội. Đó không chỉ đơn giản vì chủ trương, chính sách đã đi từ bàn giấy vào cuộc sống một cách đường đột, quan liêu khiến người dân bị sốc hoặc dị ứng. Mà mấu chốt của vấn đề là do thái độ cư xử của nhà chức trách hành pháp đối với người dân, thể hiện trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý, điều hành đất nước của người nắm quyền lực công. Không đứng ngoài cuộc, nhưng thay vì được nhà chức trách coi là đối tác chính trong việc xây dựng chính sách và là chủ thể trong việc triển khai chính sách, người dân thường bị đặt ở vị trí “người thứ ba”. Có khi, tệ hơn, dân bị coi là đối tượng quản lý, bị động, chấp nhận.  Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành ở quan chức tâm lý cai trị mà không chú ý đến tình cảm, nguyện vọng của dân. Có thể coi đây là nét đặc trưng của xã hội hành chính hoá, xã hội mà trong đó quan hệ người cầm quyền-người dân mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của quan hệ thượng cấp-thuộc quyền. Cứ hình dung: xác định trước các mục tiêu phát triển xã hội, cả ngắn hạn và dài hạn, theo ý mình, nhà chức trách chủ động hoạch định chính sách để thực hiện các mục tiêu đề ra; sau đó, cũng chính nhà chức trách chủ động soạn thảo các quy tắc pháp lý cần thiết để đặt cơ sở cho việc thực thi chính sách. Bởi vậy mới có cụm từ “luật đi vào cuộc sống”, không có cách diễn đạt tương đương trong ngôn ngữ pháp lý của các nước tiên tiến, được nhắc đi nhắc lại ra rả.  Nhưng hơn hết, tâm lý đó là hệ quả tất yếu của một cơ chế tổ chức và vận hành của một bộ máy công quyền mà trong đó việc thừa nhận vai trò làm chủ của dân chỉ dừng lại ở những khẳng định mang tính khẩu hiệu.   Về mặt lý thuyết, người dân, thông qua đại biểu dân cử, có thể bãi miễn một số chức vụ hành pháp tỏ ra không xứng đáng hoặc hoạt động không hiệu quả. Tuy nhiên, các điều kiện về thủ tục bãi miễn thường rất ngặt nghèo đến mức quyền bãi miễn hầu như chỉ còn giá trị trên giấy. Chẳng hạn, theo pháp luật hiện hành, để xúc tiến thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm đối với một thành viên Chính phủ, cần có đề nghị của ít nhất 20% đại biểu Quốc hội hoặc của Hội đồng Dân tộc hay của một Ủy ban nào đó của Quốc hội. Việc bỏ phiếu còn phải được Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận đưa vào chương trình nghị sự của một kỳ họp Quốc hội.  Người dân cũng không có cơ hội đưa một quan chức hành pháp nào đó ra toà án, trong khuôn khổ một tranh chấp tài phán đối tịch, bình đẳng, trong trường hợp quan chức đề ra quy tắc ứng xử pháp lý bị cho là trái hiến pháp, trái luật, gây thiệt hại cho xã hội. Có bức xúc, thì nhiều lắm, người dân chỉ có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền. Động thái phản ứng trong vô vọng gần đây của Liên minh các hợp tác xã vận tải Thành phố Hồ Chí Minh trước quyết định của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về việc tập thể hoá các phương tiện vận tải ô tô của tư nhân, là ví dụ tiêu biểu.      Không thể dựa vào thiết chế dân cử để giám sát nhà chức trách hành pháp, cũng không trông cậy vào người cầm cân nẩy mực để đòi hỏi công lý, người dân phải nhờ đến các phương tiện truyền thông. Nói khác đi, để thúc giục người cầm quyền huỷ bỏ hoặc điều chỉnh những chính sách, biện pháp quản lý không hợp lòng dân, người dân hiện chỉ có mỗi thứ vũ khí là sức ép của công luận.  Tuy nhiên, sức ép của công luận, dù có quyết liệt, mạnh mẽ đến mấy, cũng chỉ gây ồn ào là cùng, chứ không thể tạo được ảnh hưởng pháp lý thực sự bất lợi đối với chức vụ, công việc của người nắm quyền lực công.  Có thể mô tả ngắn gọn bài học cần rút ra từ những chuyện trục trặc gần đây: cần sớm cải thiện hệ thống luật pháp theo hướng nâng cao vị thế của người dân trong mối quan hệ với nhà chức trách hành chính. Phải trao cho người dân những công cụ pháp lý sử dụng được một cách đơn giản, thiết thực và có hiệu quả trong việc giám sát và phán xét hoạt động của các chức vụ hành pháp. Chỉ khi nào nhận thấy rằng người dân có quyền trừng phạt mình và biết dè chừng trước sự trừng phạt đó, người nắm quyền lực công mới có động lực, đúng hơn là mới chịu sức ép, để quan tâm nhiều hơn đến vai trò chủ động của người dân trong việc hoạch định và thực thi chính sách.     Nguyễn Ngọc Điện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa nên thông qua dự thảo tiêu chuẩn GS, PGS      Mặc dù thời hạn góp ý cho dự thảo quy định tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư đã hết, nhưng một số nhà khoa học, thông qua tạp chí Tia Sáng, khẩn thiết đề nghị các cơ quan chức năng tạm thời chưa thông qua dự thảo này mà nên mở rộng việc thảo luận và sửa đổi, lý do là còn tồn tại nhiều khác biệt giữa quan điểm của Ban soạn thảo với quan điểm của giới hàn lâm – đối tượng áp dụng của quy định trong tương lai.      Các nhà khoa học bày tỏ sự thất vọng với phiên bản sau khi tiếp thu ý kiến của bản dự thảo tiêu chuẩn GS/PGS tại cuộc tọa dàm do tạp chí Tia Sáng tổ chức sáng 5/4/2017. Trong ảnh: Ba giáo sư của ngành toán (từ trái qua): GS Phùng Hồ Hải, GS. Ngô Việt Trung và GS. Hoàng Xuân Phú. Tác giả: Hảo Linh.  Từ ngày 20/1 đến 20/3/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lấy ý kiến công khai cho Dự thảo quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Trong thời gian này, tạp chí Tia Sáng đã nhận được và lần lượt đăng tải ý kiến của nhiều nhà khoa học (xem toàn bộ chuyên đề tại http://tiasang.com.vn/chuyen-de/doi-moi-tieu-chuan-gs-pgs-82). Nhằm tổng kết làm rõ các nội dung đóng góp chính cho bản dự thảo, sáng 5/4/2017, Tia Sáng đã tổ chức buổi tọa đàm với sự có mặt của một số nhà khoa học thuộc các lĩnh vực toán học, vật lý, cơ học, công nghệ thông tin và sinh học. Tại đây, sau khi được tham khảo phiên bản mới nhất của bản dự thảo, các nhà khoa học đều bày tỏ sự thất vọng lớn khi những đề xuất sửa đổi cốt lõi nhất mà họ nêu ra lần lượt bị bỏ qua.  Không thể phủ nhận rằng, so với bản quy định tiêu chuẩn GS, PGS do Chính phủ ban hành năm 2008, bản dự thảo mới đã có một số thay đổi quan trọng, bao gồm tiêu chuẩn cứng về công bố quốc tế – trước đây, nhờ phép quy đổi công trình khoa học mà số lượng nghiên cứu có thể thay thế hoàn toàn cho chất lượng nghiên cứu. Song bên cạnh những sửa đổi thể hiện quyết tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ GS, PGS theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, những người dự tọa đàm cho rằng, một số quan điểm lạc điệu vẫn được bảo lưu và một số tiêu chuẩn khuyết thiếu chưa được bổ sung sẽ trở thành yếu tố cản trở quá trình hình thành một thế hệ mới những người có năng lực thực chất, tương xứng với vai trò chủ đạo trong nghiên cứu và đào tạo từ đại học trở lên.  Công bố quốc tế: GS ngang bằng nghiên cứu sinh  Một trong những quan điểm lạc điệu đầu tiên được đề cập liên quan đến tiêu chuẩn về công bố quốc tế.Dự thảo đề ra, các ứng viên PGS/GS phải công bố ít nhất một/hai bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hai danh mục ISI/Scopus. Theo các ý kiến tại toạ đàm, tiêu chuẩn này là quá thấp, chỉ tương đương tiêu chuẩn để một nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án tiến sĩ, trong khi nghiên cứu sinh mới là người “vỡ lòng trên con đường làm khoa học”, còn người có chức danh GS/PGS là người làm thầy. Bổ nhiệm người có trình độ thấp làm thầy thì đương nhiên sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho nền giáo dục.  Vậy con số công bố quốc tế cần có để được công nhận GS/PGS nên là bao nhiêu? PGS Hoàng Mạnh Thắng (Viện Điện tử Viễn thông, ĐH Bách khoa Hà Nội) cho rằng, sau khi bảo vệ tiến sĩ ba năm – tức thời điểm được phép nộp hồ sơ xin công nhận chức danh PGS, một nhà nghiên cứu, với tốc độ “đẻ bài” thông thường như ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Đài Loan, có thể có ít nhất sáu công bố trên các tạp chí uy tín.  Con số nêu trên khá gần với tính toán của GS Hoàng Xuân Phú, Viện Toán học, về số công bố quốc tế trung bình mà các GS/PGS Việt Nam đã đạt được trên thực tế. Sử dụng số liệu thống kê từ một bài báo1, GS Phú chỉ ra, trong năm 2016, nhóm ngành Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ có 411 GS và PGS được phong với tổng cộng 2.368 bài báo ISI và Scopus, như vậy tỷ lệ bình quân là 5,76 bài/người.  Trong khi đó, con số này ở các GS/PGS được công nhận trong nhóm ngành Khoa học xã hội và Nhân văn chỉ là 0,19 bài/người, tức là thấp hơn đến 30 lần so với nhóm ngành Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ. Có những ngành Khoa học xã hội và Nhân văn vẫn công nhận hàng chục GS/PGS trong năm 2016 nhưng không có bài ISI hay Scopus nào hoặc chỉ có một bài, như các ngành ngôn ngữ học, luật học, giáo dục học và tâm lý học, GS Phú dẫn số liệu từ bài báo nói trên.  Khoảng cách về công bố quốc tế giữa hai nhóm ngành này đã được dự thảo quan tâm, thể hiện ở chỗ đề ra tiêu chuẩn thấp hơn một bài báo quốc tế đối với mỗi chức danh ở nhóm ngành Khoa học xã hội và Nhân văn, song sự khác biệt đó có lẽ chưa thật sự được đưa ra dựa trên cơ sở thực tế.  Về mặt kỹ thuật, GS Phú lưu ý Ban soạn thảo rằng, cách nói “tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI” trong dự thảo không còn đúng nữa vì hệ thống này đã được đổi tên thành Web of Science và do Clarivate Analytics, chứ không phải do Institute for Scientific Information, quản lý.  Sách phục vụ đào tạo: Chỉ khuyến khích nạn sao chép  Quy định các ứng viên GS/PGS phải là tác giả chính hoặc chủ biên các sách phục vụ đào tạo, bao gồm sách chuyên khảo và giáo trình, cũng là một nội dung gây nhiều băn khoăn của dự thảo. “Hiện nay, sách được in rất dễ, không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài, rất nhiều nhà xuất bản mời chào các nhà khoa học viết sách. Trong khi đó, về cơ bản, không hề có cơ quan thẩm định chất lượng khoa học của sách mà việc này hoàn toàn được phó thác cho các hội đồng [chức danh giáo sư] ngành. Như thế hội đồng dễ thì cho qua, hội đồng khó thì trượt, khuyến khích tình trạng chạy chọt vốn đã tràn lan,” theo GS Phùng Hồ Hải, Viện phó Viện Toán học.  Xuất phát từ thực tế không phải ai, kể cả người có trình độ khoa học cao, cũng có đủ năng lực và thời gian để viết sách khoa học, nhiều ý kiến tại tọa đàm chỉ ra rằng đòi hỏi mọi ứng viên GS/PGS phải ra sách thì chất lượng sách thấp là hiển nhiên, và đề xuất loại tiêu chuẩn này khỏi dự thảo vì nó không những không phản ánh đúng trình độ chuyên môn của các ứng viên mà còn có khả năng cản trở việc bổ nhiệm những ứng viên xứng đáng nhưng không chấp nhận đạo văn chỉ để có sách.  Không đề xuất bỏ tiêu chuẩn về sách phục vụ đào tạo nhưng GS Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng, chỉ công nhận sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có ISBN ấn hành, “nếu không thì sẽ loạn sách chuyên khảo”, đồng thời không tính điểm cho giáo trình, vì “thực chất gần như 100% sách giáo trình là chép lại lẫn của nhau, xào xáo cho hợp lệ”.  Tham gia đào tạo: Gây lạm phát thạc sĩ và tiến sĩ  Một tiêu chuẩn khác cũng được đề xuất đưa ra khỏi dự thảo là tiêu chuẩn về tham gia đào tạo học viên cao học (đối với PGS) và tiến sĩ (đối với GS) bởi nó tạo sức ép bắt ứng viên phải tìm mọi cách để có học trò và hiệu ứng tiêu cực khó tránh khỏi là chất lượng đào tạo bị hạ thấp. “Ngành toán có những người vừa bảo vệ tiến sĩ xong đã lo đào tạo nghiên cứu sinh tại các cơ sở kém uy tín ở địa phương để chuẩn bị cho việc được công nhận PGS, GS của mình,” GS Ngô Việt Trung dẫn chứng.  Còn theo GS.TS Hoàng Xuân Phú, ở nhiều nước, chẳng hạn như CHLB Đức, thường chỉ GS/PGS mới đứng tên hướng dẫn nghiên cứu sinh. “Việt Nam thì làm ngược lại, đòi hỏi ứng viên GS/PGS phải hướng dẫn xong mấy nghiên cứu sinh, học viên thạc sĩ mới được công nhận chức danh,” GS. Phú nhận xét và đề nghị loại bỏ tiêu chuẩn này với lý do để bảo đảm chất lượng đào tạo và quyền lợi của người học.  Không dứt khoát như GS Hoàng Xuân Phú, nhưng GS Trần Đức Viên cũng đề nghị không nên coi hướng dẫn nghiên cứu sinh hay học viên cao học là tiêu chuẩn cứng; ứng viên nào hướng dẫn học viên cao học/nghiên cứu sinh thì tính điểm, ứng viên nào không có hoặc có nhưng chưa đủ theo quy định thì có thể bù bằng các bài báo khoa học công bố trong nước hoặc quốc tế.  Các hội đồng chức danh giáo sư: Dấu hỏi về năng lực của người bình xét  Nhưng ngay cả khi đã có những tiêu chuẩn hoàn hảo thì điều này cũng không bảo đảm rằng những người được công nhận GS/PGS đều xứng đáng nếu thiếu những hội đồng bình xét có trình độ, công tâm và trách nhiệm.  Trong khi ở các nước phát triển, ứng viên có đạt hay không là do các hội đồng khoa học quyết định dựa trên thành tích nghiên cứu và khả năng thuyết trình khoa học thì ở Việt Nam, việc bình xét vẫn phải dựa trên các tiêu chuẩn cứng như một cách để giữ được một số chuẩn mực chung. Nhưng nhận thức được nguy cơ mọi tiêu chuẩn đều có thể bị ngụy tạo nên các nhà khoa học nhất trí rằng chỉ nên xem những tiêu chuẩn cứng này như điều kiện tối thiểu, chứ không thay thế lá phiếu của các thành viên trong hội đồng ngành. Song trên thực tế không phải lúc nào lá phiếu của thành viên các hội đồng chức danh giáo sư cũng tạo được độ tin cậy như nó được ủy thác khi người bỏ phiếu vẫn bị gắn với những nghi ngờ về năng lực hay những đàm tiếu về việc bỏ phiếu dựa trên sự yêu/ghét, về thái độ xuê xoa trước các hành vi xin xỏ mà tiếng lóng gọi là “đi hội đồng”. Những nghi ngờ, đàm tiếu này không hẳn là không có cơ sở, bằng chứng mới nhất là vừa rồi, một Ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư ngành Văn học thể hiện sự am hiểu hết sức giới hạn của mình trên báo rằng, “ISI, Scopus là tạp chí của Mỹ”!2 Hay ngay tại buổi tọa đàm do Tia Sáng tổ chức, một nhà khoa học vừa được công nhận PGS hồi năm ngoái chia sẻ câu chuyện của bản thân: sau khi nộp hồ sơ xin công nhận PGS, anh liền nhận được điện thoại từ một số ứng viên khác mời anh cùng tham gia các cuộc “tiếp xúc” với hội đồng ngành.  Việc chưa lựa chọn được người đủ trình độ, liêm chính và trách nhiệm để “cầm cân nảy mực” ở nhiều hội đồng chức danh giáo sư bấy lâu nay xuất phát từ những tiêu chuẩn lựa chọn hết sức mơ hồ, và ở bản dự thảo cập nhật nhất, những tiêu chuẩn đó vẫn chưa được cải thiện. PGS Phạm Đức Chính, Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, người đầu tiên nêu vấn đề phải có yêu cầu về tiêu chuẩn đối với thành viên các hội đồng chức danh giáo sư hệt như đối với các ứng viên GS/PGS trên Tia Sáng, một lần nữa nhấn mạnh tại tọa đàm rằng, mọi kết quả trong việc cải thiện chất lượng đội ngũ GS/PGS phải bắt đầu từ việc cải cách các hội đồng ngành.  Các nhà khoa học đề xuất một quy trình tuyển chọn thành viên các hội đồng chức danh giáo sư theo hướng cụ thể và minh bạch hóa: tiêu chuẩn phải như thế nào để bảo đảm “năng lực của người xét ít nhất cũng phải tương đương người được xét”, và lý lịch khoa học phải được công khai trên mạng, thậm chí có thể tham khảo ý kiến về việc tuyển chọn thành viên các hội đồng chức danh giáo sư trên mạng hoặc trong cộng đồng các GS/PGS.  Cơ chế làm việc của các hội đồng chức danh giáo sư cũng cần được xây dựng một cách cụ thể và chặt chẽ hơn, đảm bảo tính khách quan, loại trừ khả năng tiêu cực, và tránh tình trạng các thành viên hội đồng do thiếu trách nhiệm, hoặc do thiếu hiểu biết về các chuyên ngành hẹp khiến việc xét duyệt hồ sơ ứng viên không mang tính thực chất mà chỉ căn cứ trên những tính toán, cộng trừ điểm quy đổi một cách cứng nhắc vô cảm. “Mỗi ngành đều gồm rất nhiều chuyên ngành hẹp nhưng hiện nay việc đọc phản biện hồ sơ của các ứng viên mới chỉ loanh quanh trong các thành viên hội đồng thôi. Theo tôi, nếu nhận thấy một chuyên ngành hẹp nào đó nằm ngoài tầm hiểu biết của các thành viên thì hội đồng phải có trách nhiệm tìm người đọc phản biện ở bên ngoài,” PGS Đỗ Vân Nam, Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ AIST, ĐH Bách khoa Hà Nội, đề xuất.  Một nội dung nữa mà dự thảo còn thiếu, đó là chế tài nào dành cho các thành viên hội đồng khi họ không hoàn thành trách nhiệm? Ngay cả việc ấn định Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vào vị trí Chủ tịch Hội đồng Giáo sư nhà nước, còn Thứ trưởng vào vị trí Phó Chủ tịch cũng là phi khoa học và tạo ra sự ràng buộc không cần thiết. Đặt giả thiết khi vị Chủ tịch/Phó chủ tịch không hoàn thành trách nhiệm hoặc mắc sai phạm, nhưng vì vị trí đó đã được quy định phải do Bộ trưởng/Thứ trưởng đảm nhiệm, thì làm sao có thể thay vị trí này bằng người khác.  Bất cập từ cách tiếp cận  Theo các nhà khoa học, sở dĩ bản dự thảo còn tồn tại một số bất cập là do cách tiếp cận chưa phù hợp của Ban soạn thảo. “Làm sao có thể coi việc ban hành một quy định liên quan đến giới khoa học như việc riêng của các nhà quản lý và chỉ cho các nhà khoa học góp ý một cách tượng trưng?” GS Hoàng Xuân Phú nêu câu hỏi. “Lẽ ra, trước khi viết dự thảo này thì phải dành một thời gian để tổng kết tình hình công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư trong suốt thời gian qua, để thấy cái gì có thể duy trì, cái gì cần phải khắc phục. Và việc ấy phải có sự tham gia của các nhà khoa học, chứ không phải chỉ có các nhà quản lý.”  Các ý kiến tại tọa đàm cũng đề xuất cách tiếp cận bài bản từ dưới lên, tức là có sự tham gia đóng góp ý kiến của các nhà khoa học ở từng lĩnh vực. Theo họ, chỉ bằng cách đó mới có thể xây dựng những tiêu chuẩn phù hợp, không hạn chế mức độ đóng góp của ngành nào nhưng cũng không đặt ra những tiêu chuẩn trên trời đối với ngành nào, nhất là trong bối cảnh có khoảng cách lớn về công bố quốc tế giữa lĩnh vực Khoa học tự nhiên và Công nghệ với lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn.  Trong quá trình thảo luận, các nhà khoa học luôn nhấn mạnh hai nguyên tắc. Một là phải kiên quyết đi theo các thông lệ quốc tế thì mới hy vọng giải quyết được triệt để những tồn tại trong hệ thống chức danh ở Việt Nam. Trong bối cảnh đặc thù, có thể nhân nhượng tính cả một số loại tiêu chuẩn xa lạ với thông lệ khoa học quốc tế (như số giờ giảng dạy, tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xuất bản sách phục vụ đào tạo…), để thay thế cho một phần kết quả nghiên cứu khoa học đích thực nhưng không thể để yếu tố số lượng lấn át chất lượng, biến những thứ thay thế bất đắc dĩ trở thành tiêu chuẩn chung, và bắt buộc tất cả các ứng viên đều phải đạt. Hai là, không vì chúng ta chưa mạnh mà hạ thấp tiêu chuẩn, hay như cách nói của GS Trần Đức Viên, “đã vào sân thi đấu bóng đá với người ta thì phải đá với 11 cầu thủ trên kích thước sân là 45x90m chứ chả lẽ lại yêu cầu do ‘đặc thù’ người Việt Nam thấp bé nhẹ cân nên vào sân với 13 cầu thủ hay đề nghị đá trên sân 30x70m?”  Và một điều lần lượt được các nhà khoa học nhắc đi nhắc lại trong phần phát biểu của mình, đó là nên lùi thời gian ký ban hành dự thảo, thêm thời gian cho cộng đồng khoa học thảo luận và công khai tất cả các ý kiến ấy lên mạng, để sau này khi quy định được ban hành thì đa số đều tâm phục khẩu phục, tránh những đàm tiếu không đáng có.  Tia Sáng rất tin tưởng rằng, những tiếng nói xuất phát từ trách nhiệm và lương tâm của giới làm khoa học sẽ được Ban soạn thảo lắng nghe và tiếp thu.  ——-  1 “Nhóm ngành KHXH&NV có cần bài báo quốc tế?” (http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20170329/nhom-nganh-khxhnv-co-can-bai-bao-quoc-te/1288253.html)  2 http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/giao-duc/giao-su-rom-xet-duyet-giao-su-that-loi-nguoi-trong-cuoc-3332918/       Author                Thái Thanh        
__label__tiasang Chưa thấy hết mức độ khác biệt  giữa KHTN và KHXH&NV      Trao đổi với phóng viên Tia Sáng, GS. Trần Trí Dõi, Đại học KHXH&NV-Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư ngành Ngôn ngữ học, cho rằng Dự thảo “Quyết định ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư” chưa thấy hết sự khác biệt giữa KHTN và KHXH, từ đó đưa ra một số tiêu chuẩn thiếu tính thực tế.      GS Trần Trí Dõi. Ảnh: Thành Long.  Thưa giáo sư, có điểm nào tiến bộ hay thụt lùi của bản Dự thảo lần này so với Quyết định trước đó không?  Tôi cho rằng, sự “tiến bộ” của bản Dự thảo lần này là đã xác định được một số tiêu chí cụ thể để công nhận đạt chức danh GS và PGS ở mức cao hơn trước đây, đáp ứng được mong mỏi của xã hội hơn. Tuy nhiên, “thụt lùi” của bản Dự thảo lần này là “vẫn tiếp tục lưu giữ” một số cái bất hợp lý của Quyết định trước đây. Trong số những cái bất hợp lý rõ nhất được lưu giữ là những người soạn bản Dự thảo vẫn “chưa thấy hết mức độ khác biệt” giữa khoa học tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ (gọi tắt là khoa học tự nhiên) và khoa học xã hội – nhân văn (gọi tắt là khoa học xã hội); lại càng “chưa thấy hết mức độ khác biệt” giữa những phân ngành trong hai khối ngành khoa học đó. Ví dụ, những người “nghiên cứu và đào tạo” tiếng Anh thuộc ngành Ngôn ngữ học thì những tiêu chuẩn quy định ở điểm 10 và điểm 11 của Điều 2 (về thành thạo tiếng Anh) là không có vấn đề gì. Trong khi đó, những người “nghiên cứu và đào tạo” không phải tiếng Anh cũng thuộc ngành Ngôn ngữ học thì đây lại là “một vấn đề”.  Qua những lần tham gia Hội đồng xét công nhận ở cấp Cơ sở và cấp Ngành, tôi nhận thấy đây là một trong những lý do chính gây ra nhiều sự “tranh cãi”.     Có ý kiến cho rằng, dù thế nào thì giải pháp công nhận và bổ niệm GS, PGS phải theo hướng hội nhập quốc tế. Vậy theo GS, vấn đề “hội nhập quốc tế” cần phải được hiểu như thế nào?  Việc công nhận và bổ nhiệm GS/PGS theo hướng hội nhập quốc tế không có nghĩa là làm như nước khác đã làm hay đặt ra tiêu chuẩn giống “như của quốc tế” mới là hội nhập. Theo tôi, trong Dự thảo có một số tiêu chuẩn, nhìn từ góc độ người giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn (cụ thể là ngôn ngữ học), thì tôi thấy là thiếu cơ sở thực tế. Chẳng hạn, về tiêu chuẩn ứng cử viên PGS (Điểm 4. Điều 9): “Đến năm 2019, ứng viên là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus”. Có người cho rằng với thực trạng khoa học xã hội hiện nay nên đặt ra tiêu chuẩn cao hơn để thúc đẩy sự phát triển. Suy nghĩ ấy thoạt nhìn thì có vẻ tiến bộ, nhưng đề ra tiêu chuẩn cao hơn mà không có được cơ sở xã hội để thực hiện thì sẽ chết yểu đồng thời triệt tiêu sự say mê của những ứng viên dồn công sức cho nhiệm vụ phát triển xã hội của quốc gia nên họ chưa/ không có điều kiện công bố “trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI, Scopus”.  Dự thảo đòi hỏi ứng cử viên phải có số năm giảng dạy là 10 năm, phải là tác giả của ít nhất hai sách phục vụ đào tạo. Vậy theo giáo sư thì yếu tố đào tạo nên được đánh giá ở mức độ nào trong việc xét danh hiệu GS/PGS?  Việc quy định “Giảng viên đã có trên 10 năm liên tục làm nhiệm vụ đào tạo từ trình độ đại học trở lên tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ” (mục c. Điểm 2. Điều 7) mới đủ thời gian nộp hồ sơ để xét công nhận và bổ nhiệm GS/PGS thì đúng là “chưa khuyến khích” hay “chưa tạo điều kiện” cho giảng viên trẻ. Tôi nghĩ rằng với điều kiện hiện nay, chỉ cần đủ có sáu năm liên tục làm nhiệm vụ đào tạo (thậm chí nếu có thành tích nghiên cứu khoa học tốt thì chỉ cần bốn năm liên tục) mà đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn là có thể được xét công nhận và bổ nhiệm GS/PGS. Ở Việt Nam, thời gian trước đây có những người được xét công nhận và bổ nhiệm GS/PGS thường rất cao tuổi, sau đó không còn sức làm việc.  Việc quy định ứng viên PGS “thuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn tham gia biên soạn ít nhất hai sách phục vụ đào tạo” (điểm 5. Điều 9) cũng là một quy định không thực tế, “chưa khuyến khích” hay “tạo điều kiện” cho giảng viên trẻ thuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn.  Quy trình lựa chọn các thành viên vào hội đồng ngành như dự thảo đề ra có gì hợp lý/bất hợp lý không, thưa giáo sư?  Trong Dự thảo, đối với Hội đồng “Cơ sở” có Điều 18 quy định “Quy trình thành lập Hội đồng GS cơ sở” và Điều 19 quy định “Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng GS cơ sở”. Nhưng đối với Hội đồng “Ngành” và Hội đồng Nhà nước thì Dự thảo chỉ có Điều 26 và Điều 33 quy định “Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng” mà không thấy có điều khoản quy định “Quy trình thành lập Hội đồng” như ở cấp Cơ sở. Có lẽ Dự thảo cần bổ sung điều này để minh bạch thông tin trong xã hội.  Tôi cũng đã đọc ý kiến đăng tải trên trên báo Tia Sáng ngày 7.2.2017 cho rằng “Có thể nói nhiều HĐCDGS ngành hiện nay không có uy tín đối với các nhà khoa học”. Để tránh sự bán tín bán nghi khi có một nhận xét như vậy, việc Dự thảo bổ sung “Quy trình thành lập Hội đồng” ở những cấp này là cần thiết.  Với lại, trong điều kiện kỹ thuật tin học như hiện nay, thành viên Hội đồng Giáo sư các cấp nên công khai kết quả nghiên cứu khoa học của mình trong những năm thuộc nhiệm kỳ trước (nếu có) và cập nhật hằng năm sau khi được bổ nhiệm nhiệm kỳ đương nhiệm. Ở cấp Cơ sở thì công bố kết quả nghiên cứu khoa học của thành viên Hội đồng trên website của cơ sở giáo dục đại học; ở cấp còn lại thì công bố kết quả nghiên cứu khoa học của thành viên Hội đồng trên website của Hội đồng Chức danh Nhà nước. Việc minh bạch thông tin của các thành viên Hội đồng là để tạo đồng thuận trong dư luận.  Tiêu chí dành cho các thành viên trong hội đồng đã phù hợp chưa? Theo giáo sư có nên mở ra cho những người chưa phải là GS, PGS nhưng có thành tích nghiên cứu rất tốt không?  Thoạt nhìn thì những tiêu chí dành cho các thành viên trong hội đồng có vẻ hợp lý; nhưng nếu suy nghĩ kỹ thì thấy có những tiêu chí quan trọng nhất lại thiếu cụ thể, còn một vài tiêu chí khác thì lại quá chi tiết. Cho nên có thể có một vài thành viên hội đồng được chọn nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Ví dụ, tiêu chuẩn chuyên môn của thành viên trong hội đồng ngành ghi ở điểm 3. Điều 26 là “Có uy tín chuyên môn và khoa học cao, là nhà khoa học đầu ngành thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhiệm”. Ở đây người ta sẽ đặt câu hỏi: vậy dựa vào “dấu hiệu” hay “thước đo” nào để xác định một giảng viên nào đó “Có uy tín chuyên môn và khoa học cao, là nhà khoa học đầu ngành thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhiệm”? Trong khi đó lại quy định một cách quá chi tiết vào tiêu chuẩn ngoại ngữ của thành viên hội đồng ở điểm 4. Điều 26.  Còn ý kiến góp thêm rằng nên“mở ra cho những người chưa phải là GS, PGS nhưng có thành tích nghiên cứu rất tốt” cần được cân nhắc. Tôi không biết chắc chắn đối với những ngành khoa học khác (như là ở khoa học tự nhiên chẳng hạn) thì có khả năng có “những người chưa phải là GS, PGS nhưng có thành tích nghiên cứu rất tốt” không. Nhưng như ở một vài ngành thuộc khoa học xã hội thì điều đó khó có thể là hiện thực. Vì như ở ngành ngôn ngữ học mà tôi tham gia, khi có một giảng viên đã “có thành tích nghiên cứu rất tốt” thì chắc chắn họ đã đủ tiêu chuẩn và trở thành chí ít cũng là PGS. Cho nên, để đề xuất một khả năng “mở ra” như thế thì phải xác định một cách rõ ràng “thế nào là giảng viên có thành tích nghiên cứu rất tốt” mà chưa phải là GS, PGS.  Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuẩn mực của quản trị quốc gia hiện đại      Chất lượng và hiệu quả của một nền quản trị quốc gia phụ thuộc không chỉ vào tài năng của ban lãnh đạo, mà còn vào những chuẩn mực mà nền quản trị đó tuân thủ. Dưới đây là bảy chuẩn mực mà các nước phát triển trên thế giới và nhiều tổ chức quốc tế đã đúc kết lại:      Chuẩn mực đầu tiên của nền quản trị quốc gia là pháp quyền.    1. Pháp quyền  Ban hành, cũng như thực thi các quyết định thì phải tuân thủ pháp luật. Các cơ quan quyền lực công không thể ban hành các quyết định vượt phạm vi thẩm quyền của mình. Bất cứ lúc nào ban hành quyết định, các cơ quan này đều phải dẫn chiếu điều luật cho phép làm như vậy. Các cơ quan này cũng không thể ban hành các quyết định sai quy trình và thủ tục mà pháp luật quy định. Ví dụ, ban hành một chính sách thì không thể thiếu quy trình thẩm định và quy trình tham vấn công chúng. Ngoài ra, pháp quyền còn đòi hỏi các quyền của người dân phải luôn được tôn trọng và bảo đảm, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh, quyền tự do tài sản, quyền tự do kết ước và các quyền tự do-dân chủ khác.  2. Trách nhiệm giải trình  Trách nhiệm giải trình là thuật ngữ được dịch ra tiếng Việt từ khái niệm “accountability” trong tiếng Anh. Tuy nhiên, thuật ngữ trách nhiệm giải trình trong tiếng Việt không phản ánh hết ngữ nghĩa của “accountability” trong tiếng Anh. Vì vậy, cần bổ sung nội hàm cho khái niệm trách nhiệm giải trình ở đây. Trách nhiệm giải trình gồm ba phần cấu thành: Phần thứ nhất là ban hành quyết định thì phải báo cáo công khai và phải giải trình được mục đích, cũng như các căn cứ để đưa ra quyết định của mình. Phần thứ hai là không giải trình được thì phải chịu trách nhiệm, ở đây có nghĩa là phải bị bãi nhiệm. Thông thường, các quan chức chính trị phải giải trình trước các vị dân biểu, không giải trình được thì sẽ bị bỏ phiếu bất tín nhiệm và mất chức. Một quan chức tuyên bố chịu trách nhiệm về một sai lầm nào đó trước Quốc hội, điều đó phải được hiểu là quan chức này sẽ từ chức để nhận trách nhiệm. Tuyên bố “Tôi xin nhận trách nhiệm” của một quan chức sẽ chẳng có ý nghĩa gì, khi tuyên bố xong thì quan chức đó vẫn ung dung tại nhiệm. Phần thứ ba là ban hành quyết định thì phải chịu trách nhiệm về hậu quả của quyết định đó. Một chính sách được ban hành mà để lại nhiều hệ quả tiêu cực thì phải có người chịu trách nhiệm về việc ban hành chính sách đó. Phải chịu trách nhiệm có thể là người đứng đầu Chính phủ hoặc cả Chính phủ. Những người này hoặc phải từ chức hoặc bị bỏ phiếu bất tín nhiệm và mất chức.  3. Minh bạch  Người dân phải được tạo điều kiện theo dõi và hiểu biết về quy trình ban hành quyết định. Nghĩa là họ phải được nhìn thấy rõ ràng quyết định được đưa ra như thế nào, tại sao quyết định lại được đưa ra như vậy, kể cả việc chính quyền đã thu thập thông tin như thế nào, đã tham vấn với ai và đã tuân thủ các đòi hỏi của pháp luật về quy trình ban hành quyết định hay chưa.  4. Sự tham gia của người dân  Mỗi người dân bị ảnh hưởng hoặc có sự quan tâm đều phải được lôi cuốn vào quy trình ban hành quyết định. Điều này có thể thực hiện bằng cách: người dân được cung cấp thông tin và được tham vấn ý kiến hoặc được tạo điều kiện để đưa ra khuyến nghị của mình, và trong một số trường hợp, được trực tiếp tham gia vào quy trình ban hành quyết định. Việc làm này nhằm bảo đảm cho chính sách được thiết kế phù hợp với cuộc sống, đáp ứng mong mỏi của nhân dân. Việc làm này cũng đồng thời nâng cao tính tích cực chính trị của người dân, biến họ trở thành những chủ nhân thật sự của đất nước. Chỉ khi người dân thật sự tham gia vào quá trình quản trị, họ mới tích cực ủng hộ và thực hiện những chủ trương, chính sách được đề ra.  5. Phản ứng tương thích và kịp thời  Vấn đề phát sinh như thế nào thì phản ứng tương thích như thế ấy. Không thể dồn hết nguồn lực để xử lý một vấn đề nhỏ và bỏ qua những vấn đề lớn ảnh hưởng đến sinh mệnh của hàng triệu người dân. Đồng thời, ngoài việc phản ứng tương thích, chính quyền còn phải phản ứng kịp thời. Ung thư không chạy chữa sớm sẽ bị di căn, các vấn đề của đất nước cũng vậy – không xử lý sớm chỉ ngày càng thêm trầm trọng và nan giải. Như vậy, đòi hỏi đối với một nền quản trị tốt là chính quyền phải phát hiện các vấn đề sớm nhất có thể và phải phản ứng kịp thời để xử lý chúng.  6. Công bằng và không loại trừ  Lợi ích của mọi người dân, của mọi nhóm xã hội đều phải được cân nhắc và coi trọng như nhau trong quá trình ban hành quyết định và thực thi chính sách. Tất cả mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt là những thành phần yếu thế, đều phải có cơ hội tham gia vào quá trình quản trị.  7. Hiệu lực và hiệu quả  Công quyền phải thực thi cho được các quyết định đã ban hành, đồng thời phải tuân thủ các quy trình, bảo đảm việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực đang có về con người, về thời gian và tiền của.  Trong quá trình hội nhập, nhiều chuẩn mực nói trên đã được Việt Nam chấp nhận và, thực tế, đã được áp dụng ở một số bộ, ngành và địa phương. Vấn đề là để xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, chúng ta cần nhận thức tốt hơn và áp dụng đầy đủ hơn các chuẩn mực đã được thế giới công nhận nói trên.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Chuẩn mực đạo đức, công vụ      Với sứ mệnh cao cả, nhân danh quyền lực công để thực thi các nhiệm vụ của mình, do đó, ngoài các chuẩn mực của một công dân, nhân viên công quyền còn phải đáp ứng những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực công vụ khác.       Ở nước ta, trong Mục 1, Chương II của Luật cán bộ, công chức năm 2008, quy định các chuẩn mực đạo đức, công vụ khá bao quát, nhưng còn khá chung chung, chẳng hạn như: “tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân…”. Và các quy định không có chế tài kèm theo nên rất khó thực hiện trên thực tế, chẳng hạn như, “nếu không lắng nghe ý kiến, chịu sự giám sát của nhân dân thì sao?”. Sự khác nhau giữa quy định của pháp luật và quy định thông thường chính là chế tài, là bắt buộc, phải thực thi được trên thực tế.  Ở nhiều quốc gia, ngoài các quy định của luật, nhân viên công quyền còn phải tuân thủ quy định của “Bộ quy tắc ứng xử của nhân viên công quyền”. Một khi có sự vi phạm các quy tắc ứng xử của nhân viên công quyền thì họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý.  Về cơ bản, nội dung chính các quy tắc ứng xử của nhân viên công quyền tập trung vào các đòi hỏi về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành xử công vụ, như:   – Trung thành với Hiến pháp, luật, các nguyên tắc đạo đức lên trên lợi ích cá nhân;   – Không có lợi ích tài chính xung đột với trách nhiệm công vụ được giao;   – Không tham gia vào các giao dịch tài chính (financial transactions) mà sử dụng các thông tin Nhà nước không chính thống hoặc cho phép việc sử dụng không đúng các thông tin đó vì bất kỳ lợi ích cá nhân nào;    – Không đòi hỏi hoặc nhận bất kỳ món quà hay vật có giá trị tiền tệ từ bất kỳ cá nhân, tổ chức đang nhờ sự trợ giúp từ hoạt động công vụ. Một khi nhân viên công quyền vi phạm quy định này, họ sẽ phải bị khởi tố vì tội tham nhũng. Bởi tham nhũng được hiểu là đã, đang nhận hoặc sẽ nhận vật có giá trị liên quan đến hoạt động công vụ từ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Và “liên quan đến hoạt động công vụ” có nội hàm rất rộng, được các quan tòa giải thích tùy vào trường hợp nhất định bởi “luật pháp là gì thì thẩm phán phải nói được nó là gì”, nhưng về cơ bản, điều đó có nghĩa là bất kỳ việc làm nào (hành động hoặc không hành động) trên cương vị giao phó và món quà, vật có giá trị đó có được từ vị trí đó. Dễ hiểu nhất khi xem xét có phải là tham nhũng hay không, đó là nếu không ở cương vị đó thì họ không có cơ hội nhận các món quà, vật có giá trị như vậy.  – Phải luôn trung thực trong việc thực hiện các trách nhiệm, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn, các tài sản công cho mục đích tư lợi.  – Không đối xử thiên vị hay dành sự ưu ái đặc biệt cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào; không phân biệt đối xử về mặt giới tính, dân tộc, tôn giáo, quê quán, tuổi tác, tật nguyền…  – Trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ tài sản cơ quan, quốc gia và chỉ sử dụng các tài sản này khi được phép và vì mục đích công vụ.  – Không tham gia vào các công việc, hoạt động bên ngoài mà xung đột với các trách nhiệm được giao.  – Tránh tạo ra các tình huống xâm phạm luật pháp và các chuẩn mực đạo đức.1  Điều quan trọng nhất là quan tòa được giao trách nhiệm giải thích luật pháp để tránh các lỗ hổng pháp lý xảy ra. Chính vì vậy, những hành vi trái với chuẩn mực chung của xã hội sẽ bị xử lý.        Để tăng cường trách nhiệm của các “công bộc” của nhân dân, việc quy định một cách cụ thể hơn về các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực công vụ ở nước ta là hết sức cần thiết.         Ngoài ra, các quan chức cấp cao của chính quyền phải đáp ứng các chuẩn mực cao hơn, chẳng hạn như trách nhiệm minh bạch tài sản từ đầu nhiệm kỳ cho đến khi kết thúc; giải trình tài sản tăng lên một cách đột biến; trách nhiệm hành xử một cách trung thành, minh bạch; hợp tác với báo chí; luôn gần gũi với người dân, bảo vệ, bênh vực người ở vị trí thế yếu; khi xuất hiện trước công chúng, báo chí, quan điểm cá nhân có thể được thể hiện, nhưng luôn phải giữ phẩm hạnh của một vị trí là một quan chức cấp cao của chính quyền…  Để tăng cường trách nhiệm của các “công bộc” của nhân dân, có lẽ việc quy định một cách cụ thể hơn về các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực công vụ ở nước ta là cần thiết. Quan trọng hơn hết, các quy định cần rõ ràng hơn, và cần có các chế tài,  hay trách nhiệm cụ thể nếu vi phạm các chuẩn mực đó. Thực tế luôn muôn hình vạn dạng, nên chăng cần nghiên cứu, trao trọng trách giải thích pháp luật cho tòa án để áp dụng vào thực tế, có như vậy, họ mới thực sự trở thành trọng tài đưa ra công lý.   —————-  1 US Principles of  Ethical Conduct for Government Officers and Employees, Part I.    Author                Quản trị        
__label__tiasang CHÚC MỪNG NĂM MỚI      Cuối năm 1946, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, trong 2 ngày, thực dân Pháp đã láo xược gửi 3 tối hậu thư đòi chúng ta phải hạ vũ khí, chúng đã buộc nhân dân ta phải cầm súng đứng lên bảo vệ nền độc lập và danh dự của mình. Cả nước vâng theo và tin theo lời kêu gọi của lãnh tụ tối cao- Chủ tịch Hồ Chí Minh, đứng lên bước vào cuộc kháng chiến thần thánh với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”.  Mùa xuân đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến đó – Xuân Đinh Hợi (1947)- cách đây tròn 60 năm, Bác Hồ, trên cương vị Chủ tịch nước đã có bài thơ Chúc tết đầu tiên và Thư gửi các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô đang chiến đấu anh dũng, giam chân quân địch để tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh, mở đầu cuộc trường kỳ kháng chiến thần thánh của dân tộc.         Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,  Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.  Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,  Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.  Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!  Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.  Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!  Thống nhất độc lập, nhất định thành công!    Năm Đinh Hợi (1947)  HỒ CHÍ MINH  Ảnh trên: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc tại Việt Bắc (1947)  THƯ GỬI CÁC CHIẾN SĨ CẢM TỬ QUÂN THỦ ĐÔ CÙNG CÁC CHIẾN SĨ YÊU QUÝ TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ   Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.  Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau.  Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc lại một vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn:  1. Phải hết sức khôn khéo, nhanh chóng, bí mật, phải biết cách hóa chỉnh vi linh.  2. Phải rút kinh nghiệm hàng ngày hàng giờ. Phải đề phòng Việt gian trinh thám.  3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn luôn có sáng kiến để lợi dụng thời cơ.  4. Tuyệt đối đoàn kết.  Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em.  Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em.  Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi cho các em lời chào thân ái và quyết thắng.  Ngày 27 tháng 1 năm 1947  HỒ CHÍ MINH                     Các bản thông tin báo tường trên nhiều đường phố thể hiện lời thề “sống chết với Thủ đô”.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúc mừng người dân Ai Cập, chịu ơn người dân Tunisia      Trong con mắt của nhiều người, xứ Arab là nơi không thể có tiến hóa về dân chủ.  Ở đó chỉ có mỗi một việc là, cứ đứng yên đó.    Và thụt lùi thì rất có triển vọng.  Đời người thì ngắn, mà nếu ta ở vào trong một cái không gian rất chậm tiến hóa, thì ta khó mà có cơ hội nhìn thấy ra sự tiến hóa. Nhìn mãi không thấy, lý trí cũng phải tự hoài nghi trở lại.  Ấy thế mà người dân Tunisia hôm trước, rồi người dân Ai Cập hôm nay đã dứt khoát thể hiện thành công chính kiến của mình. Cái đó chỉ có thể đáng ngả mũ khâm phục mà thôi.  —-  Công việc tiếp theo hôm nay của người dân xứ này là kiến tạo một đời sống xã hội mới bền vững, kỷ cương, thoáng đạt, tự do, và hạnh phúc cùng phẩm giá của mỗi con người được mọi người suy tôn.  Hy vọng rằng nền văn hóa của họ đã tích lũy được tạm đủ những vốn liếng để cùng nhau thương thảo làm nên được đời sống đó. Một công việc rất khó khăn, trắc trở, và nếu không đủ bản lĩnh thì nhiều khi trắng tay trước những kẻ cực đoan đang rình mò cơ hội.  Tất cả công việc còn đang ngổn ngang ở trước mặt họ. Chúc các bạn thành công.  —-  Được chứng kiến những sự vô lý hàng ngàn năm cứ trây lỳ ra đó… rồi một hôm đẹp trời chúng bỗng được con người dọn dẹp và cho vào bảo tàng yên lành, đó là một thứ hạnh phúc tuyệt vời của lý trí.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta chuẩn bị gì cho một xã hội già hóa?      Giai đoạn “cửa sổ vàng” của dân số đang sắp đóng lại. Mất lợi thế nguồn lao động trẻ giá rẻ – động lực chính cho tăng trưởng thâm dụng lao động suốt ba thập niên qua, chúng ta sẽ chuẩn bị gì để bước sang thời kỳ dân số già1 với tốc độ nhanh bậc nhất thế giới.    Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già vào năm 2036, chỉ bốn năm sau đó số người già sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay. Điều này có phải chỉ đặt ra những câu hỏi với chính những người đang trong độ tuổi trung niên về việc cần chuẩn bị sức khỏe, tiền bạc cho những năm tháng về già hay các dịch vụ chăm sóc y tế lão khoa tại bệnh viện hoặc cộng đồng? Trên thực tế việc thay đổi cấu trúc dân số không chỉ ảnh hưởng đến những người đang “toan về già”, mà còn làm thay đổi cả cấu trúc kinh tế xã hội cũng như những gánh vác của thế hệ trẻ, thậm chí của những đứa trẻ chưa ra đời.    Giảm nguồn lao động giá rẻ và cú hích COVID càng khiến Việt Nam phải chuẩn bị nhanh chóng hơn để cho giai đoạn già hóa. Nguồn ảnh: cpcs.vn     Gánh nặng “nợ đồng lần” do nguồn quỹ hưu trí giảm     Ba thập niên vừa qua, chúng ta có một giai đoạn tăng trưởng vượt bậc nhờ động lực chính là nguồn lao động giá rẻ dồi dào, đem lại dòng dịch chuyển lao động đông đảo, từ nông nghiệp sang phi nông, từ nông thôn vào đô thị để làm việc trong cả hai khu vực chính thức (có giao kết hợp đồng lao động) và phi chính thức (bấp bênh, không ký bất kỳ hợp đồng lao động và không tham gia quỹ bảo hiểm nào). Vì thế, trong báo cáo vừa mới công bố về “Thích ứng với một xã hội già hóa” của Ngân hàng Thế giới, các tác giả đã đánh giá sự tăng trưởng kinh tế sôi động trong vài thập kỷ qua nhờ vào hai yếu tố: Lợi tức từ việc gia tăng lực lượng lao động lên gần gấp đôi trong giai đoạn 1990-2018 đóng góp khoảng một phần ba tăng trưởng; sự gia tăng năng suất nhờ vào cải cách thể chế sâu rộng của công cuộc Đổi mới chiếm hai phần ba mức tăng trưởng còn lại. Nhưng dù chúng ta đã chạy đua bền bỉ suốt ba mươi năm làm gia tăng của cải của toàn xã hội và thu nhập của từng người lao động thì đến nay thu nhập bình quân đầu người mới chỉ bằng 20% mức trung bình của ASEAN, đạt 40% mức trung bình toàn cầu và cần phải chạy một quãng đường rất dài mới bắt kịp được các quốc gia phát triển khác trong khu vực và đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2035. Chẳng hạn, nếu vẫn còn được sở hữu nguyên si lực lượng lao động trẻ và năng suất lao động, chúng ta cần ít nhất 30 năm mới đạt mức thu nhập của Hàn Quốc hiện nay.      Mô hình tăng trưởng dài hạn của Ngân hàng Thế giới đưa ra cho thấy rằng tăng trưởng dài hạn sẽ giảm đi 0,9 điểm phần trăm trong giai đoạn 2020-2050 so với 15 năm qua, chủ yếu do tình trạng già hóa dân số làm suy giảm nguồn lực lao động.      Nhưng cửa sổ vàng này chỉ mở ra cho chúng ta đúng một lần và kết thúc khi dân số già. Đây chính là lý do mà một số chuyên gia kinh tế rằng báo cáo “Thích ứng với một xã hội già hóa” của Ngân hàng Thế giới vẽ ra một viễn cảnh xám. Nếu không kịp cải cách sâu rộng cả hệ thống chi trả, chăm sóc người già và tối ưu các nguồn lực hiện có cho tăng năng suất lao động mà vẫn giữ nguyên hiện trạng thì kịch bản dự báo là tăng trưởng dài hạn sẽ chậm lại chủ yếu do sự già hóa dân số của xã hội Việt Nam. Mô hình tăng trưởng dài hạn của Ngân hàng Thế giới đưa ra cho thấy rằng tăng trưởng dài hạn sẽ giảm đi 0,9 điểm phần trăm trong giai đoạn 2020-2050 so với 15 năm qua, chủ yếu do tình trạng già hóa dân số làm suy giảm nguồn lực lao động. Cùng với đó là gánh nặng tài khóa tăng lên: ví dụ, trong ba mươi năm tới, chi tiêu hằng năm cho chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi dự kiến sẽ tăng gấp bốn đến năm lần tính theo tỉ lệ trên nền kinh tế. Chi tiêu cho giáo dục cũng được dự kiến sẽ tăng lên, với việc mở rộng phạm vi và cải thiện chất lượng dịch vụ dẫn tới gánh nặng tài chính trong tương lai sẽ tăng cao.    Riêng nguồn quỹ cho người già cũng sẽ giảm, vì nếu không thay đổi – nghĩa là tỉ lệ người già vẫn tăng lên, tuổi lao động chưa nới thêm, các nguồn đóng góp quỹ chưa tăng – thì phần đóng góp ròng cho Quỹ hưu trí từ ngân sách của Việt Nam được dự báo sẽ âm trong giai đoạn 2028-2034. Nguyên nhân là hệ thống này sẽ khó bao phủ kịp tốc độ già hóa, tùy từng kịch bản mức độ già hóa. Nó sẽ đặt ra thách thức rất lớn để chăm sóc an sinh tối thiểu và sức khỏe cho người lao động trong khu vực chính thức khi họ bước vào tuổi già, chưa kể tới khoảng một nửa lực lượng lao động hiện nay là thuộc nhóm phi chính thức không đóng bất kỳ một quỹ nào để dự phòng bất trắc và hưởng khi về già.    Trong khi đó, Việt Nam đã có một thiết kế hệ thống chi trả quỹ bảo hiểm và hưu trí mất cân bằng cũng như chịu ảnh hưởng của lạm phát trong nhiều năm. Cụ thể, theo PGS.TS Giang Thanh Long, giảng viên ĐH Kinh tế Quốc dân, tính trên toàn bộ hệ thống thì mức đóng của người lao động cho hưởng hưu trí là 22 đồng nhưng mức hưởng trung bình có thể lên tới 56 đồng do cách tính mức hưởng theo quy định hiện nay. “Rất khó có thể cân bằng nguồn quỹ khi mà tỷ lệ đóng và hưởng chênh lệch quá lớn như thế. Nhiều nghiên cứu dự báo quỹ của các tổ chức trong và ngoài nước đều cho thấy sự bất cân đối này”, PGS.TS Giang Thanh Long nói. Hiện nay, khoảng 60% trong tổng số 12 triệu người cao tuổi ở Việt Nam đang hưởng hưu trí hoặc trợ giúp xã hội, trong khi số còn lại không có bất cứ nguồn an sinh thu nhập nào mà phải dựa vào thu nhập từ lao động hoặc hỗ trợ của con cháu. Những người này rất dễ tổn thương trước các cú sốc lớn như COVID-19 hiện nay và buộc phải phụ thuộc vào phúc lợi của nhà nước.      Việt Nam đã có một thiết kế hệ thống chi trả quỹ bảo hiểm và hưu trí mất cân bằng cũng như chịu ảnh hưởng của lạm phát trong nhiều năm. Thiết kế mất cân đối đó đã đủ làm điêu đứng quỹ bảo hiểm, chưa kể suất đầu tư của các quỹ chưa hiệu quả.      Trong khi đó, theo TS. Nguyễn Việt Cường, Khoa Quốc tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, lạm phát là một vấn đề lớn khiến cho mỗi đồng đóng góp của người lao động vào các quỹ bảo hiểm nhằm dự phòng tương lai của chính mình bị giảm giá trị nhiều, tới mức với sự tăng chỉ số giá tiêu dùng trung bình hằng năm trong hai chục năm qua thì cứ 10 đồng đóng góp chỉ còn sức mua bằng 2,7 đồng sau 20 năm. Điều đó sẽ dẫn tới tình trạng phần đóng góp của người về hưu không còn giá trị nhiều và họ lại được chi trả bằng một phần từ những gì mà người trẻ hiện đang đóng góp.     Giảm thiểu “gánh nặng xuyên thế hệ”     PGS.TS Giang Thanh Long cho biết, trên thực tế, không phải chỉ Việt Nam mới đang đối mặt với vòng luẩn quẩn này trong bối cảnh dân số già hóa nhanh mà Nhật Bản cũng đã phải trải qua những “cải cách đau đớn” (painful reforms). Đó là cuộc cải cách hệ thống hưu trí để giải quyết tình trạng “gánh nặng kép xuyên thế hệ” khi mà lực lượng lao động giảm đi và số người cao tuổi hưởng hưu tăng lên và trong thời gian dài hơn. “Gánh nặng kép” thể hiện ở chỗ người lao động trẻ một mặt phải lo đóng góp phần thuế để hỗ trợ người già, trong khi cũng phải lo tích lũy bảo hiểm cho chính họ. Nhật Bản cũng điều chỉnh tăng tuổi lao động theo lộ trình để tăng thời gian đóng bảo hiểm, đồng thời điều chỉnh giảm mức hưởng một cách phù hợp để vừa cân đối thời gian và mức đóng-hưởng và đảm bảo mức sống cho người hưởng hưu.    Để chăm sóc tốt cho người già, Nhật Bản đã chuẩn bị các hình thức chăm sóc lão khoa khác nhau. Trong ảnh là KOTOEN, nơi chăm sóc liên thế hệ – cả người già và trẻ em. Mô hình này được hiệp hội Hưu trí Hoa Kỳ đánh giá là mô hình cộng đồng thành công và bền vững. Nguồn ảnh: kotoen.or.jp    Việt Nam cũng đang áp dụng các giải pháp tương tự, gồm quá trình cải cách nới tuổi về hưu làm tăng thời gian lao động, tăng cả thời gian đóng các quỹ bảo hiểm theo lộ trình, bắt đầu từ năm 2021. Giả sử 70-80% người lao động (55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam) có thể tiếp tục làm việc thì mỗi tháng làm việc đó của những người sắp nghỉ hưu cũng mang lại nguồn lực rất lớn cho từng người lao động và cho cả quốc gia.    Nhưng đây cũng là thời điểm mà Việt Nam phải rốt ráo hơn để người lao động tham gia bảo hiểm dù ở khu vực lao động chính thức hay phi chính thức. Theo PGS.TS Giang Thanh Long. “Vì nếu họ không đóng đến lúc cần hưởng thì hưởng từ đâu? Nếu không tham gia bảo hiểm mà hưởng trợ cấp là hưởng từ thuế của Chính phủ và khi số người cao tuổi càng nhiều, không còn khả năng đóng góp, lại cần trợ giúp thì gánh nặng đương nhiên đè lên vai của những người đang lao động”.     Cải cách để thoát cảnh thâm dụng lao động     Nhưng những cải cách như trên, gồm hệ thống bảo hiểm cho người già, nâng tuổi lao động theo thông lệ quốc tế mới chỉ là một phần trực tiếp. Một nền tảng rộng lớn hơn, một cuộc cải cách sâu rộng hơn là phải thay đổi cơ cấu của nền kinh tế từ thâm dụng lao động sang tăng năng suất lao động, thâm dụng tri thức. Các nền kinh tế đi trước đã tận dụng cơ hội vàng về lao động bằng cách đổi mới, nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, tăng năng suất lao động và khi dân nước họ bắt đầu già thì đã kịp giàu. Còn Việt Nam chúng ta, kể từ khi cửa sổ vàng về lao động mở đến lúc sắp khép lại chúng ta vẫn chưa giàu, viễn cảnh dân số già sồng sộc tới. Chúng ta sắp mất đi cơ hội của giai đoạn năm người trẻ nuôi một người già, để chuyển sang giai đoạn hai người trẻ nuôi một người già.    Theo bài học của các nước đi trước, trước khi đến ngưỡng 2035, chúng ta vẫn còn có một công thức bù đắp: Tổng năng suất lao động sẽ vẫn tăng nếu số người lao động giảm đi nhưng năng suất lao động, vốn con người tăng lên. Như thế chúng ta không thể tiếp tục đi vào lối mòn cũ là lực lượng lao động có năng suất thấp, thấp hơn 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Tung Quốc, 2 lần so với Philippines, 3 lần so với Thái Lan, theo Báo cáo của Đại học Kinh tế Quốc dân và tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố hồi đầu năm nay. Với xuất phát điểm năng suất lao động của Việt Nam hiện nay, chúng ta đang tụt hậu 10 năm so với Thái Lan, 40 năm so với Malaysia và 60 năm so với Nhật Bản. Chúng ta chỉ có thể trông chờ vào một hệ thống thâm dụng tri thức, thâm dụng khoa học công nghệ thay vì thâm dụng sức lao động tay chân. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia khuyến nghị chỉ có giáo dục thực sự hiệu quả – không chỉ giúp thế hệ trẻ có đủ năng lực, kỹ năng mà còn giúp tất cả các độ tuổi khác cập nhật kiến thức, kỹ năng suốt đời cũng như nền tảng khoa học công nghệ là chiếc chìa khóa duy nhất để chúng ta tránh khỏi vòng luẩn quẩn trong bức tranh già hóa.      Chỉ có giáo dục thực sự hiệu quả – không chỉ giúp thế hệ trẻ có đủ năng lực, kỹ năng mà còn giúp tất cả các độ tuổi khác cập nhật kiến thức, kỹ năng suốt đời cũng như nền tảng khoa học công nghệ là chiếc chìa khóa duy nhất để chúng ta tránh khỏi vòng luẩn quẩn trong bức tranh già hóa.      Còn về kinh tế vĩ mô, Việt Nam phải duy trì ổn định để tránh lạm phát như TS. Nguyễn Việt Cường nhận định chỉ nên dưới 5%, sử dụng các công cụ như đánh thuế bất động sản thứ hai để thúc đẩy đầu tư vào sản xuất nhằm tăng nguồn lực của cải quốc gia thay vì đầu tư thiên lệch vào bất động sản ở các thành phố lớn như hiện nay. Cả PGS.TS Giang Thanh Long và TS. Nguyễn Việt Cường đều nhấn mạnh rằng những vấn đề này ai cũng nhìn thấy, vấn đề là các nhà quản lý sẽ quyết tâm làm đến đâu để chúng ta chuyển tiếp sang một giai đoạn dân số già mà không bị ảnh hưởng bởi cú sốc quá lớn về kinh tế.  Nếu có sự chuẩn bị cả thế hệ trẻ và có các chương trình chăm sóc sức khỏe, tích lũy cho những người trong độ tuổi lao động ngay từ bây giờ thì bức tranh có lẽ không quá xám như những gì mà Ngân hàng Thế giới cảnh báo. Vấn đề là chúng ta có rốt ráo chuẩn bị ngay hay không. □  —–  1 Dân số già là tình trạng dân số trong đó người cao tuổi chiếm từ 10-19,9% tổng dân số. Khi người cao tuổi chiếm 20-29,9% trên tổng dân số được gọi dân số rất già và khi người cao tuổi chiếm hơn 30% trên tổng dân số được gọi là dân số siêu già.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Chúng ta có quyền đòi hỏi gì từ Facebook, Google, Apple…?      Quyền được lãng quên, quyền sở hữu dữ liệu lưu động, quyền được giải trình là ba khái niệm mang tính cột mốc trong cách EU kết nối triết lý về chủ nghĩa quyền con người với những công cụ pháp lý thực tế trong thế giới số.       Việc người dùng internet có quyền tự do di chuyển dữ liệu của mình đặc biệt mang ý nghĩa lớn trong bối cảnh mạng xã hội.  Quyền được lãng quên (Điều 17)  Quyền được lãng quên (right to be forgotten) là một trong những quyền đặc thù cho môi trường internet gây tranh cãi nhiều nhất, và cũng là quyền có lịch sử pháp lý phức tạp nhất. Tuy một số quốc gia thành viên như Đức và Tây Ban Nha đã có lịch sử kinh nghiệm thực thi việc bảo vệ quyền được lãng quên theo tinh thần bảo vệ dữ liệu của Chỉ thị 95/46/EC (xem Tia Sáng số 13 -5.7.2018), việc công nhận, định nghĩa, và bảo vệ quyền được lãng quên trong khối EU trước Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (GDPR) vẫn mang tính rời rạc và lệ thuộc vào diễn giải của từng quốc gia thành viên.  Một ví dụ có tầm ảnh hưởng và gây tranh cãi nhất về quyền triệt thoái dữ liệu cá nhân trước khi quyền được lãng quên xuất hiện tại GDPR là vụ kiện rầm rộ xảy ra năm 2014 giữa Google Tây Ban Nha và Cơ quan Bảo vệ Dữ liệu Tây Ban Nha (AEPD). Bên nguyên đơn, AEPD, đại diện cho ông Mario Costeja Gonzalez, đưa đơn khiếu nại lên Toà án Công lý châu Âu (CJEU) và yêu cầu toà ra lệnh cho Google xoá đường dẫn đến bản tin quảng cáo phát mãi hai sở hữu nhà đất của ông Gonzalez trước đó 16 năm, khi ông đang mắc nợ an sinh xã hội. Ông Gonzalez lập luận rằng, vụ việc đã xảy ra trước đó rất lâu, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và thanh danh của ông trong hiện tại: khi tên ông được nhập vào Google, kết quả đầu tiên Google dẫn đến là những điều đã xảy trong quá khứ mà ông muốn quên đi. Điều đáng nói ở đây là, khi nhận được đơn khiếu nại của Gonzalez, AEPD đã bác bỏ yêu cầu từ ông rằng trang web La Vanguardia, một tờ báo điện tử địa phương, phải xoá bỏ thông tin quảng cáo phát mãi sở hữu nhà đất của ông. AEPD xác định rằng việc La Vanguardia vẫn giữ nguyên thông tin đăng tải nói trên là hoàn toàn hợp pháp; tuy nhiên, việc những công cụ tìm kiếm trang web như Google lập mục lục và dẫn đến thông tin này lại có thể vi phạm quyền bảo vệ dữ liệu của công dân. Google đưa đơn kháng án lên Toà án Tối cao Tây Ban Nha; tuy nhiên, Toà án Tối cao xem vấn đề bảo vệ dữ liệu là vấn đề trực thuộc Luật châu Âu và giao quyền xử lý đơn kiện cho CJEU.  Vụ kiện này gây tranh cãi và có tầm ảnh hưởng lớn dựa trên ba lý do chính. Thứ nhất, CJEU xác định rằng Google, dù là công ty được thành lập bên ngoài khuôn khổ địa lý của châu Âu, vẫn phải chịu ràng buộc pháp lý chung của khối EU do Google có sở hữu công ty con, giao dịch thương mại và điều phối giao dịch tại các quốc gia thành viên EU, và phối hợp cộng tác chặt chẽ với công ty mẹ tại Mỹ. Thứ hai, CJEU định nghĩa các hành vi tra cứu, lập mục lục, lưu trữ dữ liệu tạm thời, và thể hiện thông tin trên công cụ Google dưới hạng mục “xử lý dữ liệu”, đồng thời định nghĩa Google và các công cụ tìm kiếm tương tự là đơn vị kiểm soát dữ liệu (xem Tia Sáng số 13 -5.7.2018). Đây là quyết định gây tranh cãi nhiều nhất, vì các công cụ tìm kiếm như Google không đăng tải hoặc tạo ra dữ liệu như các trang tin hoặc blog điện tử, mà chỉ tra cứu và thể hiện thông tin mà công cụ này tìm được. CJEU lập luận rằng, trên tinh thần bảo vệ quyền cơ bản của con người, và nhằm đảm bảo sự bảo vệ quyền một cách “hiệu quả và hoàn chỉnh”, toà có lý do chính đáng để nới rộng định nghĩa đơn vị kiểm soát dữ liệu và bao gồm cả các công cụ như Google. Thứ ba, CJEU ra quyết định rằng công dân có quyền liên lạc trực tiếp các công cụ tra cứu trang web như Google và yêu cầu các công ty này loại bỏ kết quả liên quan đến dữ liệu cá nhân mà họ không còn muốn ai có cơ hội tìm thấy. Dưới Chỉ thị của châu Âu, Google và các công ty có chức năng tương tự buộc phải giải quyết những yêu cầu của công dân châu Âu một cách thoả đáng.      Tuy con người thường có xu hướng tin tưởng vào toán học và những thuật toán phức tạp được tạo nên từ nguyên lý toán học cao cấp, thuật toán được sử dụng hiện nay thường chứa những thành kiến ẩn vì chúng được rèn luyện từ những kho dữ liệu chứa sẵn thành kiến.        Ví dụ nêu trên có thể đã phần nào giải thích được sự phức tạp và mức độ bao quát của quyền được lãng quên dưới góc nhìn bảo vệ dữ liệu của EU. Công bằng mà nói, quyết định của CJEU đã phần nào tạo nên “tiếng xấu” cho quyền được lãng quên, bởi đây được xem là quyết định có phần cực đoan, và không thể hiện được sự điều hoà giữa việc bảo vệ dữ liệu cá nhân với việc bảo vệ các quyền liên quan, như quyền tự do ngôn luận và quyền tự do thông tin. Tuy nhiên, Điều 17 của GDPR đã khắc phục được điểm yếu này bởi nó quy định rõ quyền được lãng quên của công dân EU sẽ không được áp dụng nếu trường hợp thẩm định vi phạm đi ngược lại với các quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin, cũng như các cơ sở pháp lý cơ bản khác như yêu cầu quy định pháp luật, lợi ích công, và công tác lưu trữ nói chung. Đặc biệt, Điều 17a quy định quyền chủ thể dữ liệu được giới hạn khả năng xử lý dữ liệu của đơn vị kiểm soát dữ liệu. Trên lý thuyết, dưới điều luật này, chủ thể dữ liệu có thể yêu cầu một đơn vị kiểm soát dữ liệu như Facebook không xử lý các thông tin mà chủ thể đã cung cấp cho công ty này khi tham gia sử dụng dịch vụ của họ. Chi tiết hơn, chủ thể dữ liệu có thể yêu cầu Facebook chỉ xử lý một số thông tin mà chủ thể đã cung cấp và không xử lý bất kỳ thông tin nào khác. Tuy khó có thể nói được tính khả thi của quy định này trên thực tế, các chuyên gia luật pháp cho rằng đây là một công cụ pháp lý mạnh mẽ giúp các chủ thể dữ liệu tìm ra các phương pháp khắc phục vi phạm và giúp các tổ chức bảo vệ dữ liệu trên toàn châu Âu có cơ sở cưỡng chế các hành vi vi phạm. Một điểm đáng lưu ý khác liên quan đến việc bảo vệ quyền được lãng quên là khái niệm xây dựng hồ sơ (profiling), định nghĩa bởi Điều 4 tại GDPR. Theo quy định hiện tại của GDPR, việc xây dựng hồ sơ về chủ thể dữ liệu là hợp pháp, ngay cả khi việc xây dựng hồ sơ này sử dụng thông tin cá nhân nhạy cảm. Tuy nhiên, trong trường hợp sử dụng thông tin cá nhân nhạy cảm, các đơn vị kiểm soát và xử lý dữ liệu cần phải thực thi các biện pháp bảo vệ dữ liệu người dùng đặc biệt.   Quyền sở hữu dữ liệu lưu động (Điều 20)  Quyền sở hữu dữ liệu lưu động (right to data portability) là một quyền mới, lần đầu tiên được giới thiệu trong khuôn khổ luật bảo vệ dữ liệu tại châu Âu. Nói một cách đơn giản, luật sở hữu dữ liệu lưu động là quyền một người được tự do di chuyển dữ liệu của mình từ đơn vị kiểm soát dữ liệu này sang đơn vị kiểm soát khác. Việc người dùng internet có quyền tự do di chuyển dữ liệu của mình đặc biệt mang ý nghĩa lớn trong bối cảnh mạng xã hội. Những bê bối xung quanh Cambridge Analytica và Facebook đã khiến mạng xã hội này ngày càng trở nên mất uy tín một cách nghiêm trọng trong mắt người dùng, và ngày càng thể hiện rõ sự bất cẩn và tắc trách trong cách Facebook quản lý thông tin và dữ liệu. Một trong những lý do khiến người dùng vẫn sử dụng Facebook sau hàng loạt các vụ bê bối tương tự là việc khó khăn trong cách người dùng di chuyển toàn bộ dữ liệu mà họ đã cung cấp sang một mạng xã hội mới, và ngưng sử dụng dịch vụ của Facebook. Trên lý thuyết, sau khi GDPR có hiệu lực, tất cả các mạng xã hội và đơn vị kiểm soát thông tin có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ dữ liệu mà chủ thể dữ liệu đã cung cấp cho họ bất kỳ lúc nào chủ thể có yêu cầu; đặc biệt, dữ liệu này phải được cung cấp dưới hình thức mở, giúp người dùng có thể mang toàn bộ dữ liệu này đăng tải lên một dịch vụ khác một cách dễ dàng và nhanh chóng. Ngoài việc tạo điều kiện lý tưởng cho chủ thể dữ liệu được tự do lựa chọn dịch vụ dữ liệu mà họ muốn, quyền sở hữu dữ liệu lưu động còn có khả năng tăng tính cạnh tranh và giúp gỡ bỏ sự độc quyền các dịch vụ internet toàn cầu như hiện nay, điển hình là vị trí độc tôn của hai công ty Mỹ là Google và Facebook.  Tuy nhiên, quyền sở hữu dữ liệu lưu động không tránh khỏi những bất cập trong thực thi. Cụ thể, Điều 20 quy định “chủ thể dữ liệu có quyền lưu nhận dữ liệu liên quan đến chủ thể, dữ liệu này phải được cung cấp bởi chủ thể cho đơn vị kiểm soát dữ liệu, và dữ liệu này phải được cung cấp ngược lại cho chủ thể dưới dạng có cấu trúc rõ ràng, với định dạng được sử dụng rộng rãi và có thể đọc được bởi máy tính, và chủ thể có quyền vận chuyển dữ liệu này sang một đơn vị kiểm soát dữ liệu khác mà không chịu bất kỳ sự ngăn cản nào từ đơn vị kiểm soát dữ liệu đã cung cấp dữ liệu cho chủ thể.” Ngoài ra, Điều 20 còn quy định dữ liệu phải được “vận chuyển trực tiếp từ đơn vị kiểm soát dữ liệu này sang đơn vị kiểm soát dữ liệu khác, nếu khả năng kỹ thuật của đơn vị kiểm soát dữ liệu cho phép.” Có hai điểm bất cập mấu chốt trong cách quyền sở hữu dữ liệu lưu động được quy định nêu trên. Bất cập thứ nhất liên quan đến cách định nghĩa dữ liệu mà chủ thể có quyền truy vấn nhằm mục đích lưu nhận. GDPR quy định loại dữ liệu này là dữ liệu “do chủ thể cung cấp.” Trên thực tế, không phải dữ liệu nào do chủ thể cung cấp cũng có thể được hoàn trả ngược trở lại cho chủ thể một cách tự động và dễ dàng. Thử lấy ví dụ một tấm hình nhóm do bạn đăng tải lên Facebook nhân dịp sinh nhật của một đồng nghiệp cùng cơ quan. Nhân dịp sinh nhật đồng nghiệp này, cơ quan bạn tổ chức tiệc mừng, và toàn bộ đội ngũ nhân viên trong cơ quan bạn chụp một tấm hình kỷ niệm. Theo Điều 20, bạn có quyền yêu cầu Facebook cung cấp toàn bộ dữ liệu bạn đã đăng tải trên dịch vụ của họ trước khi bạn xoá tài khoản và chuyển sang sử dụng một dịch vụ khác, như Zing chẳng hạn. Tuy nhiên, Điều 20 cũng quy định rằng việc di chuyển dữ liệu của bạn không được phép xâm hại quyền riêng tư của một chủ thể dữ liệu khác. Trong tình huống bạn di chuyển tấm hình tiệc sinh nhật cơ quan sang Zing, bạn có thể đã xâm hại quyền riêng tư của tất cả những ai xuất hiện trong tấm hình, đặc biệt là trong trường hợp họ không thích hoặc không sử dụng Zing.  Trong một tình huống khác, việc chỉ di chuyển dữ liệu mà người dùng đã cung cấp sang một dịch vụ khác có thể giảm đi giá trị của dữ liệu, và khiến việc thay đổi dịch vụ trở nên kém hấp dẫn. Ví dụ, bạn là một đơn vị tiểu thương kinh doanh mỹ phẩm trên một trang web chợ trực tuyến, và bạn nhận được đánh giá phản hồi rất tốt từ người tiêu dùng: hầu hết các đánh giá bạn nhận được trên trang web này đều giới thiệu dịch vụ và sản phẩm của bạn cho những người tiêu dùng khác, điểm đánh giá của bạn là 4.9/5, và bạn được trang web đặc biệt trao cúp vàng dành riêng cho những đơn vị mua bán thuộc top 100. Sau hơn ba năm sử dụng dịch vụ của trang web, bạn phát hiện trang web này đã bí mật bán dữ liệu cá nhân của bạn cho một chính phủ nước ngoài với mục đích chính trị. Tức giận, bạn muốn đóng tài khoản và chuyển sang sử dụng một trang web khác. Điều 20 chỉ cho phép bạn truy vấn và di chuyển những dữ liệu bạn đã đăng tải; trong trường hợp này, tất cả những dữ liệu mang tính mấu chốt cho việc kinh doanh của bạn như điểm số, đánh giá người dùng, và danh tiếng của bạn trên trang web đều không phải do bạn đăng tải và do đó, không được bảo vệ bởi GDPR. Tình huống này khiến việc chuyển đổi dịch vụ kinh doanh trực tuyến vô cùng khó khăn.  Bất cập thứ hai trong quyền sở hữu dữ liệu lưu động liên quan đến sự mập mờ trong quy định “khả năng kỹ thuật cho phép” của đơn vị kiểm soát dữ liệu. GDPR không (và khó) quy định rõ khả năng kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và đánh giá sơ bộ cho thấy các doanh nghiệp nhỏ lẻ có thể lợi dụng sự mập mờ này để lập luận cho việc từ chối cung cấp dữ liệu người dùng theo quy định.  Quyền được giải trình (Điều 21 – 22)  Quyền được giải trình (right to explanation) không được quy định thành điều luật cố định trong GDPR mà là một lập luận pháp lý liên quan đến Điều 21 (Quyền được phản đối) và Điều 22 (Những quyết định cá nhân tự động hoá, bao gồm cả hành vi lập hồ sơ). Nói chính xác hơn, đây là quyền được cung cấp một lời giải trình, là mà quyền công dân được đòi hỏi các đơn vị kiểm soát và xử lý thông tin cung cấp một lời giải thích thoả đáng về cách thức, lý do, bối cảnh, yều cầu, và các kết cấu phân loại mà đơn vị này đã sử dụng trong quá trình đưa ra quyết định liên quan đến chủ thể dữ liệu một cách tự động hoá. Hãy cùng tham khảo một ví dụ để có thể hiểu rõ hơn về quyền được giải trình. Tại châu Âu, việc tự động hoá nhiều quy trình tư duy bằng cách sử dụng trí thuệ nhân tạo và thuật toán máy tính đang ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều tổ chức đã và đang sử dụng thuật toán để thực hiện công tác tuyển dụng; nhiều ngân hàng đã và đang sử dụng thuật toán để đưa ra quyết định bác bỏ hoặc phê duyệt hồ sơ xin vay nợ. Quyền được giải trình cho phép chủ thể dữ liệu, sau khi cung cấp dữ liệu về chủ thể cho một công ty trong quá trình xin việc, hoặc cho một ngân hàng trong quá trình xin vay nợ, được phản đối và yêu cầu giải trình quyết định mà công ty và ngân hàng này đưa ra. Điểm mấu chốt trong lập luận về quyền nêu trên là cái nhìn nhân văn và toàn diện trong cách EU tiếp cận xu hướng tự động hoá: tuy thuật toán và trí tuệ nhân tạo được tạo ra nhằm mục đích loại bỏ những thành kiến mà con người hay mắc phải, nghiên cứu đã liên tục cho thấy thuật toán máy tính cũng thường xuyên đưa ra những quyết định mang tính thành kiến hệt như con người. Tuy con người thường có xu hướng tin tưởng vào toán học và những thuật toán phức tạp được tạo nên từ nguyên lý toán học cao cấp, thuật toán được sử dụng hiện nay thường chứa những thành kiến ẩn vì chúng được rèn luyện từ những kho dữ liệu chứa sẵn thành kiến. Nói một cách đơn giản, độ hữu ích của một thuật toán chỉ có ý nghĩa bằng độ “sạch” và chính xác của kho dữ liệu mà chúng xử lý. Nhiều ví dụ thực tiễn đã cho thấy, thuật toán máy tính có thể đưa ra những quyết định tuyển dụng ưu tiên cho ứng viên nam, phân biệt các ứng viên da màu, và đặc biệt ưu tiên cho ứng viên da trắng. Tất cả những định kiến và phân biệt này đã được ghi nhận và lưu tâm từ những năm đầu của thập niên 2000.  Một điều đáng lưu ý ở đây là điểm giới hạn đáng kể của GDPR về các quyết định tự động hoá: Chủ thể dữ liệu có quyền phản đối và đòi hỏi giải trình một quyết định đưa ra sau khi quá trình tự động hoá đã xảy ra, nhưng không có quyền phản đối việc tự động hóa các quyết định của đơn vị kiểm soát dữ liệu.  Ý nghĩa của GDPR trong bối cảnh toàn cầu  Việc GDPR chính thức có hiệu lực có ba ý nghĩa chính trong bối cảnh quản lý dữ liệu cá nhân toàn cầu. Thứ nhất, tiêu chuẩn nghiêm ngặt đưa ra bởi GDPR góp phần đồng bộ hoá cơ sở pháp lý trên toàn thể các quốc gia thành viên trong khối EU, đem lại sự bình đẳng trong xử lý vi phạm trên lãnh thổ châu Âu. Sự đồng bộ hoá này sẽ góp phần cắt giảm chi phí về thời gian và tiền bạc cho các tổ chức hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau trong khuôn khổ châu Âu. Thứ hai, tiêu chuẩn nghiêm ngặt của GDPR rất có thể sẽ dần trở thành tiêu chuẩn vàng trong quản lý dữ liệu, và có thể được xem là mô hình đi đầu cho các quốc gia các trên thế giới tham khảo và học hỏi. Tuy không hoàn hảo, GDPR đã đặt ra những định nghĩa và quy định về quyền cũng như về những cá nhân và tổ chức liên quan đến quản lý và xử lý dữ liệu vô cùng quan trọng. Thứ ba, GDPR, tuy không hẳn là một bước ngoặt lớn trong quản lý dữ liệu cá nhân, đã nâng cao tiêu chuẩn bảo vệ dữ liệu bằng cách thắt chặt các quy định liên quan đến những đơn vị kiểm soát, xử lý, nhận, cũng như những đơn vị thứ ba trong toàn bộ vòng đời của dữ liệu. Khi mà người sử dụng internet ngày càng hiểu rõ hơn cách các công ty tư nhân thu lợi nhuận từ dữ liệu của họ, song song với cách mà dữ liệu của họ bị sử dụng với những mục đích chính trị mà họ không cho phép, GDPR đóng vai trò mấu chốt trong việc giúp người sử dụng internet (và tất cả các chủ thể dữ liệu nói chung) yêu cầu dữ liệu cá nhân của họ được quản lý một cách cẩn trọng và có trách nhiệm.          Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Chúng ta đã để lỡ mất rồi!      PGS-TS Nguyễn Văn Huy n&#243;i với t&#244;i như vậy khi b&#225;o tin Gi&#225;o sư Nguyễn Văn Chiển vừa qua đời. Tr&#225;i tim của một nh&#224; khoa học ch&#226;n ch&#237;nh vừa ngừng đập. &#212;ng ra đi c&#243; c&#242;n điều g&#236; băn khoăn, trăn trở? C&#242;n với ch&#250;ng t&#244;i- những người đang mong muốn t&#236;m hiểu về &#244;ng, về cuộc đời v&#224; những cống hiến khoa học của &#244;ng- th&#236; v&#244; c&#249;ng &#226;n hận, bởi ch&#250;ng t&#244;i &#8220;đ&#227; để lỡ mất&#8221; v&#236; sự qu&#225; chậm chạp của m&#236;nh.    Tôi được biết đến GS Nguyễn Văn Chiển lần đầu tiên qua câu chuyện của GS-TS Nguyễn Vy*: “GS Chiển không quên ai cả. Tôi chỉ tham gia một chút vào công trình Tập bản đồ quốc gia Việt Nam (tên gọi khác là Atlas quốc gia), nhưng khi công trình được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, tôi cũng có tên trong đó và được chính ông mời đi nhận giải. Điều này không phải ai cũng làm được.”  Tìm hiểu về ông qua báo chí, tư liệu tôi biết ông là “người tìm đường lặng lẽ”, là “anh cả của ngành địa chất Việt Nam”, một người mà theo nhà văn Tạ Hòa Phương: “Không thể đếm hết những nẻo đường địa chất mà ông đã đặt chân, những con suối, dòng sông ông đã lội qua giữa những ngày đông giá,… Hình như lòng ham mê nghề nghiệp của ông là không bờ bến. Chẳng thế mà sau một thời kỳ trèo đèo, lội suối liên miên hàng tháng trời, trở về Hà Nội, ông tâm sự với học trò rằng: Cứ cảm thấy mặt đất dưới chân, nó chông chênh thế nào ấy… Có lẽ bởi vì mặt đất bằng phẳng, phố phường nhộn nhịp đó vốn không phải là môi trường sống và làm việc của một nhà địa chất thực thụ như ông…”. Nghề nghiệp cho tôi được cái vinh hạnh được gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều nhà khoa học nổi tiếng. Và với ai, tôi cũng được nghe nói về ông với tất cả sự kính trọng.            GS.NGND Nguyễn Văn Chiển – 60 năm tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN, nguyên Viện phó Viện Khoa học Việt Nam, đã ra đi ở tuổi 91 vào hồi 11h40 phút ngày 21 tháng 7 năm 2009 tại nhà riêng ở Hà Nội. Tang lễ GS.NGND Nguyễn Văn Chiển đã được cử hành trọng thể ngày 25 tháng 7 năm 2009 tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, và an táng hồi 15h cùng ngày tại quê nhà: Thôn Ngọc Nội, Xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh.          Đầu tháng 6/2009, tôi còn nhớ rất rõ hôm đó là thứ hai, tôi được đi cùng PGS.TS Nguyễn Văn Huy, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn Di sản Tiến sỹ Việt Nam, đến thăm ông để chuẩn bị những cuộc phỏng vấn ông phục vụ cho ý tưởng một cuộc trưng bày của Trung tâm về “Khát khao học tập và sáng tạo của nhà khoa học”. Lên hết cầu thang ngôi nhà thuộc khu Tập thể Đại học Bách Khoa, tôi không tin vào mắt mình khi đứng trước cửa nhà ông. “Đây là nhà GS Chiển sao ạ?”- Tôi không dấu nổi sự ngạc nhiên trong câu hỏi với PGS Huy. “Ừ!”- Một câu trả lời gọn, không có bất cứ một giải thích nào thêm. Mặc cho tôi nhìn trân trân vào cái cánh cửa bằng gỗ dán đã đến thời kỳ không thể xuống cấp hơn, PGS Huy đưa tay lên gõ cửa. Và trong căn phòng không có gì đáng giá ngoài sách của vị GS đáng kính, tôi đã được nghe biết bao điều trăn trở của hai nhà khoa học với đất nước. GS Chiển khi đó vừa mới ốm dậy, giọng ông nghe thật yếu ớt, nhưng tôi cảm nhận được những gì ông lo lắng, khắc khoải, đau đớn không phải là sức khỏe của mình, không phải là những tiện nghi vật chất mà lẽ ra đối với một người có nhiều cống hiến như ông xứng đáng được hưởng mà là những vấn đề đang xảy ra trong xã hội như: vấn đề giáo dục, y tế; vấn đề Tây nguyên và bô-xit Tây Nguyên… Có lẽ sẽ không bao giờ tôi quên được ánh mắt nhìn thật buồn, giọng nói đầy chua xót của ông: “Một đất nước một thời gian dài đặt trí thức xuống cuối cùng, Công-Nông-Binh-Trí thức, và cho đến nay trí thức vẫn chưa thực sự được coi trọng, được lắng nghe thì đất nước sao phát triển tốt được? Các nhà khoa học giỏi nhất cũng chỉ là những bông hoa tô điểm mà thôi…”. Nỗi niềm của một nhà khoa học đã đi gần hết cuộc đời này tôi cũng đã được gặp lại trong một bài viết của ông với tựa đề “Nỗi niềm tâm sự” đăng trên trang Tia Sáng ít ngày sau cuộc gặp gỡ nói trên. Ông viết bài này khi đọc “Sao để họ đứng ngoài cuộc” (Tia Sáng) của GS Phạm Duy Hiển. “…Tôi có cảm giác rằng một số chương trình khoa học khá tốn kém của Nhà nước rốt cuộc biến thành những vật trang trí!…”.  Sau bao cuộc điện thoại liên hệ, lần thứ hai tôi được gặp ông thì lại ở trong… bệnh viện. Ông bị choáng, ngã khi vừa đi dự một cuộc Hội thảo do tạp chí Tia Sáng tổ chức. Tôi xót xa nhìn ông: ông còn gầy yếu hơn cả lần gặp trước. Nhưng cũng như lần trước, ông không mặn mà lắm với những câu hỏi về sức khỏe của tôi. Ánh mắt của ông tinh anh hơn, giọng nói khỏe khoắn hơn khi ông nói với chúng tôi về công việc. “Việc nghiên cứu, bảo tồn di sản các nhà khoa học của các cháu là tốt, nhưng rất khó. Làm thế nào để phân biệt thật giả? Chúng ta nhầm ít thì còn chấp nhận được. Nhưng nếu nhầm nhiều thì vô hình trung chúng ta đã làm hại cho đất nước vì sự vinh danh ấy.” Ông cũng khuyên chúng tôi nhiều điều về sự trung thực: “Không phải chỉ riêng công việc của các cháu, nghề gì cũng cần sự trung thực. Đừng bao giờ thấy sự thiếu trung thực có lợi cho mình mà làm. Làm nghề bảo tàng cũng như người nghiên cứu sử, thiếu trung thực sẽ làm sai lệch lịch sử của cả một đất nước, gây nguy hại cho các thế hệ sau…”  Chúng tôi muốn nói chuyện với ông nhiều nhưng không dám vì thấy ông đã mệt. Tôi đỡ ông nằm xuống giường và hẹn sẽ lại đến thăm ông. Bắt tay tôi, ông bảo: “Ừ, mấy hôm nữa bác về, bác cháu mình lại gặp nhau.” Nhưng… tôi đã lỡ hẹn với ông. Tôi đã không kịp gặp ông nữa. Giá như tôi liên lạc thường xuyên hơn với ông, giá như… Một trăm lần giá như, một ngàn lời ân hận bây giờ cũng đã muộn. Tôi đã không thể gặp được ông nữa. Ý tưởng quay một buổi phỏng vấn về ông vĩnh viễn tôi không thể thực hiện được. Ông đã mang theo những di sản, những tri thức, kinh nghiệm đúc rút bao năm tháng làm khoa học của mình. Chúng tôi đã để lỡ…   Vĩnh biệt ông, vĩnh biệt Thầy, vĩnh biệt một con người chỉ biết đến hai từ “cống hiến”. Vĩnh biệt một nhà khoa học mà cho đến cuối đời vẫn đau đáu một nỗi niềm: “Hy vọng trong thời gian tới, các dự án phát triển, nhất là các dự án trọng điểm của đất nước, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học không còn bị trở thành vật trang trí.”    ————–  * Nguyên Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng, Nông hóa     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đang sống trong thời khắc quan trọng và đầy thử thách      Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho  rằng chúng ta đã khá chậm trễ với yêu cầu phát triển của thời đại, chậm  bước nhiều so với sự năng động của các nước xung quanh và đáp lại thách  thức này, nhân dân ta, trước hết là thanh niên, chỉ có quyền tuyên bố:  “Chúng tôi chấp nhận thách thức vì danh dự của Tổ quốc, vì tương lai của  đất nước.”    Dưới đây là toàn văn bài phát biểu khai mạc hội thảo “Khởi nghiệp kiến quốc– Công thức thành công từ các cường quốc và bài học cho Việt Nam” ngày 23/11, trong khuôn khổ Ngày hội Sáng tạo vì khát vọng Việt lần 2.  Nhân ngày hội Sáng tạo vì Khát vọng Việt hôm nay, tôi muốn chia sẻ đôi điều suy nghĩ với các bạn thanh niên. Các bạn có biết chúng ta đang sống trong thời khắc hết sức quan trọng và đầy thử thách không? Nhân dân ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh một thế giới đang có rất nhiều thay đổi. Cần nhận thức rõ điều này, để nhìn xa và suy nghĩ nhiều hơn.  Sau nhiều năm phấn đấu, nỗ lực của đất nước, Việt Nam ta từ một nước bị chiến tranh tàn phá, kiệt quệ, đã thoát khỏi tình trạng của một nước nghèo, chậm phát triển, bước sang giai đoạn của một nước thu nhập trung bình thấp. Trước mắt chúng ta có hai khả năng: Hoặc là đất nước sẽ tiếp tục đi lên, trở thành một nước phát triển, có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp tiên tiến, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và hạnh phúc. Hoặc chúng ta dậm chân tại chỗ, sa vào vũng lầy thu nhập trung bình thấp, ngày càng tụt hậu so với các nước trong khu vực.  Đáp lại thách thức này, nhân dân ta, trước hết là thanh niên, tuổi trẻ chỉ có quyền tuyên bố: “Chúng tôi chấp nhận thách thức vì danh dự của Tổ quốc, vì tương lai của đất nước. Và chúng tôi phải thắng trong cuộc đấu tranh này”.  Thời gian không cho phép chần chờ, chúng ta đã khá chậm trễ với yêu cầu phát triển của thời đại, chậm bước nhiều so với sự năng động của các nước xung quanh.  Để thực hiện được mục tiêu nói trên, kinh nghiệm của dân tộc ta và bài học nóng hổi của hai cuộc kháng chiến vừa qua là phải phát huy sức mạnh của toàn dân, trước hết là của thanh niên. Số phận của chúng ta là do chúng ta định đoạt.  – Muốn có một nước độc lập tự chủ, đảm bảo chủ quyền quốc gia, được các nước nể trọng, phải có những con người tự chủ, có ý chí quật cường, không chịu thua kém các nước khác… Các bạn có thể là những con người như vậy không?  – Muốn đất nước phát triển, phải có con người phát triển toàn diện, có tri thức, có năng lực tư duy, biết sáng tạo, con người có thể lực tốt, sống có văn hóa, văn minh, có khả năng lao động có hiệu quả cho cuộc sống của mình và đóng góp tích cực cho cộng đồng. Các bạn có thể là những con người như thế không?  Những con người tự chủ, tự tin, có trí tuệ và nhiệt huyết như vậy, gắn kết nhau bởi tình yêu đất nước, sự khao khát có một nước Việt Nam vững mạnh, sánh vai cùng các nước khác… sẽ là một sức mạnh vô song.  Chúng ta có tự hỏi: Tại sao nước khác làm được mà chúng ta không thể làm được?  Chương trình Sáng tạo vì khát vọng Việt đã diễn ra được một năm, thu được một số kết quả, nhưng đó là bước đầu. Đất nước đang cần sự đóng góp lớn hơn, mạnh mẽ hơn.  Mỗi thanh niên hãy đặt cho mình một mục tiêu cụ thể để phấn đấu và thực hiện một cách sáng tạo và với tinh thần không bao giờ lùi bước. Mỗi đơn vị, mỗi tập thể hãy đề ra kế hoạch hành động rõ ràng nhằm vào yêu cầu phát triển của đất nước, về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém của xã hội ta, đất nước ta và thực hiện nó với quyết tâm cao và tinh thần sáng tạo.  Tất cả chúng ta có tin rằng: chung tay với nhau, chắc chắn không gì không thể.   Chúc các bạn thành công.  15.11.2013        Ngày hội Sáng tạo vì khát vọng Việt 2013 –  do Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Tập đoàn cà phê Trung  Nguyên tổ chức – quy tụ đại diện của giới học giả, trí thức, chuyên  gia, doanh nhân từ Việt Nam, Nhật Bản, Đức, Thuỵ Sĩ, Hoa Kỳ, Các Tiểu  vương quốc Ả rập,… – những người đã đồng hành với Hành trình vì Khát  vọng Việt 2012. Sự kiện diễn ra từ 7.00-22.00 ngày 23/11 tại Dinh Thống  Nhất, TP Hồ Chí Minh.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta sẽ bay tới đâu?      Chúng ta có thể có mọi thứ: có máy bay, có tàu hỏa, máy tính, nhà cao ốc, các khu biệt thự…, nhưng cũng rất có thể chúng ta sẽ thiếu vắng chính con người.     Từ một chuyến bay…  Chiều 19 tháng 7 tôi bay từ Đà Nẵng về Sài Gòn trên chuyến bay mang số hiệu VN1303 của Hãng hàng không Quốc gia, Vietnam Airlines, khởi hành lúc 17h40. Tôi luôn chọn Vietnam Airlines mỗi khi phải di chuyển bằng máy bay. Không chỉ đối với Hãng hàng không, tôi luôn chọn dùng hàng Việt Nam, một cách để ủng hộ doanh nhân và nền kinh tế Việt Nam, dù rằng tôi chẳng có nhiều tiền nên cũng chẳng ủng hộ được bao nhiêu.   Máy bay bay được khoảng 15 phút thì tôi bắt đầu thấy lạnh và tôi bị ho gần hai tháng chưa khỏi. Nhìn quanh không thấy tiếp viên, tôi phải đi xuống tận cuối khoang để hỏi xin một cái chăn. Và một tiếp viên trả lời tôi: “Xin lỗi chị, chúng tôi không còn chăn nữa”. Tôi hỏi: “Tại sao?” Anh ta trả lời: “Chúng tôi chỉ phát chăn cho 20% khách hàng”. Tôi ngạc nhiên: “Tại sao?”. Anh ta thản nhiên trả lời: “Đó là chính sách của Hãng. Chúng tôi phát hết rồi. Sao chị không yêu cầu từ đầu?”. Tôi nói: “Thật là khó hiểu, sao Hãng lại chỉ phục vụ cho 20% khách hàng?” Tôi trở lại chỗ ngồi, một tiếp viên khác đến, và giải thích cho tôi đúng y chang những gì người kia vừa nói.  Khi tôi hỏi: “Thế trẻ em bị lạnh thì sao? người già bị lạnh thì sao? có người đột  nhiên nhiễm lạnh mà ốm thì sao? mùa đông thì sao?” thì câu trả lời duy nhất mà tôi nhận được: “Chị thông cảm! Đây là chính sách của Hãng”. Anh ta bình thản nhìn tôi ngồi lạnh cóng co ro tự ủ ấm bằng cách khoanh chặt hai tay. Tôi nói: “Sao Hãng có thể có một chính sách vô nhân đạo như vậy? Chưa kể chúng tôi trả không ít tiền cho mỗi chuyến bay, mà một cái chăn mỏng cũng không có. Sao có thể đối xử với khách hàng như vậy?” Nói đến đó thì tôi chợt hiểu ra rằng, Hãng hàng không Quốc gia chỉ coi chúng tôi là khách hàng, không coi chúng tôi là con người.    …tới một xứ sở nơi con người có nguy cơ bị biến mất  Ở đây không còn là vấn đề phục vụ tốt hay tồi, mà là vấn đề sức khỏe của con người. Nhưng cả tiếp viên lẫn Hãng hàng không chẳng cần quan tâm. Đối với Hãng, khách hàng chỉ là đối tượng kinh doanh, họ không còn được coi là con người nữa, họ lạnh thì họ phải tự chịu lấy, họ ốm vì đi máy bay bị lạnh thì họ phải tự chịu lấy. Khách hàng chỉ là phương tiện giúp Hãng kiếm lợi nhuận mà thôi.  Cái lạnh trên máy bay không bằng cái giá lạnh bên trong khi mà tôi cảm thấy rằng tôi có thể phát bệnh, hay phóng đại lên một chút: tôi có thể chết rét ở đó và những tiếp viên kia vẫn lặp đi lặp lại: “Chị thông cảm, chính sách của Hãng là như vậy”. (Có khác gì một vở kịch phi lý?) Nhưng thực ra tôi chẳng hề phóng đại chút nào, nếu ta nhớ lại rằng bao nhiêu trẻ sơ sinh, bao nhiêu sản phụ đã bị bỏ rơi cho đến chết trong bệnh viện. Chẳng khó tìm thông tin trên báo. Tôi đã tận mắt chứng kiến một bệnh nhân bị bỏ mặc đến chết trong bệnh viện. Anh ta ngã xuống hành lang, người nhà chạy đi tìm bác sĩ và y tá khắp nơi mà không tìm thấy. Lúc đó bạn tôi cũng chạy đi tìm bác sĩ hộ họ, nhưng cũng không có kết quả. Cuối cùng, rất lâu sau, khi y tá khiêng cáng đến thì anh ta chỉ còn những cơn co giật cuối cùng. Từ đó tôi bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ khủng khiếp đó: “bị bỏ rơi đến chết ngay trong chính bệnh viện”. Đối chiếu với câu chuyện trên máy bay, ta thấy bản chất sự việc là một: trẻ sơ sinh, sản phụ, hay bệnh nhân nói chung, đối với bác sĩ chỉ là khách hàng mà thôi, họ không còn được coi là con người nữa. Trong trường học cũng không khác gì trong bệnh viện. Bằng giả, chức danh dởm, điểm giả, nhà trường tổ chức ném phao cho học sinh… vì sao? Vì rốt cuộc học sinh cũng chỉ là đối tượng hoặc để phục vụ mục đích lợi nhuận của nhà trường, hoặc để phục vụ cho bảng thành tích của nhà trường, học sinh cũng không còn được coi là con người nữa. Các giá trị mà lẽ ra giáo dục và nhà trường phải hình thành cho học sinh: trung thực, tự trọng, cao thượng, can đảm, trọng chính nghĩa, thượng tôn pháp luật…, các giá trị ấy biến mất cùng với việc đào tạo con người bị thay thế bằng đào tạo khách hàng. Dĩ nhiên trong trường học không diễn ra cái chết vật lý như trong bệnh viện, nhưng đó là cái chết về tinh thần, cái chết của tâm hồn và các giá trị người.   Chúng ta có thể có mọi thứ: có máy bay, có tàu hỏa, máy tính, nhà cao ốc, các khu biệt thự…, nhưng cũng rất có thể chúng ta sẽ thiếu vắng chính con người.   Và ta bay về đâu?  Vietnam Airlines là hãng hàng không của đất nước tôi. Tôi lên tiếng về chính sách của nó không phải vì tôi muốn tẩy chay hay muốn đả phá nó, mà vì muốn rồi đây tôi có thể tự hào về nó. Vì hãng hàng không quốc gia là diện mạo của quốc gia. Như mọi công dân khác, như mọi công dân ở những đất nước khác, tôi muốn có thể tự hào về đất nước tôi, về các dịch vụ, các hoạt động, các thành quả và các sản phẩm của đất nước tôi. Và tất cả những thứ đó đều được tạo ra bởi con người. Nếu con người biến mất, con người biến chất, thì làm sao mong những thứ được nó tạo ra có thể tử tế được?  Tôi có bạn làm việc ở Vietnam Airlines. Bài viết này có thể làm bạn buồn, nhưng bạn là người hiểu biết, bạn cũng hiểu như tôi rằng chất lượng công việc, sự hoàn thiện, chỉ có thể có được khi có sự phân tích, thảo luận, trao đổi, góp ý kiến.   Bạn cũng hiểu như tôi rằng nếu như chúng ta không đối xử với nhau như những con người, nếu như trong tất cả mọi lĩnh vực con người đều bị bỏ quên dưới những mục đích khác thì đến lượt mình, chúng ta sẽ phải gánh chịu hậu quả, dưới hình thức này hay hình thức khác. Bởi lẽ những người làm việc trong lĩnh vực hàng không cũng sẽ có lúc phải vào bệnh viện, cũng có con cái đến trường. Những người làm việc ở lĩnh vực giáo dục cũng có lúc đi máy bay.   Chúng ta nghĩ rằng mỗi người cố gắng tự bảo vệ mình. Nhưng trong khi tự bảo vệ mình lại hại người khác thì chúng ta có tự bảo vệ mình nổi không? Những người trồng rau rào riêng một khoảnh đất để trồng rau sạch cho nhà mình. Những người trồng lúa cũng trồng riêng một mảnh đất cho nhà mình ăn. Những người chăn nuôi để riêng một khu vực chăn nuôi cho gia đình. NHƯNG kẻ trồng rau thì phải đi mua gạo, người trồng lúa thì phải đi mua rau, mua gà. Người nuôi gà cũng phải ăn gạo và rau…Rút cuộc sự tự bảo vệ thành ra vô nghĩa lý.   Và tất cả chúng ta rồi sẽ bay về đâu ?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta thích trắng/đen nhưng thực tế rất nhiều vùng xám      Tại sao Mỹ vẫn có những mặt rất bảo thủ trong việc thừa nhận người chuyển giới ?      Laverne Cox trong lễ diễu hành vì cộng đồng LGBT. Nguồn: Ibtimes.co.uk  Việc Caitlyn Jenner (với tên trước đây là Bruce Jenner), từng là vận động viên nam hai lần liên tiếp được huy chương vàng Olympic cho 10 môn phối hợp, là ngôi sao truyền hình Mỹ phẫu thuật chỉnh hình và công khai mình là người chuyển giới nữ đã lên trang nhất của nhiều tờ báo lớn của Mỹ vào giữa năm 2015. Bà là người chuyển giới nữ công khai nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay.     Trước đó, số báo ra vào tháng 6/2014 của Tạp chí TIME với bài viết “Điểm bùng phát về vấn đề chuyển giới” (The Transgender tipping point) đã tạo ra một làn sóng ủng hộ mạnh mẽ trong giới tiến bộ của Mỹ. Bìa báo là bức ảnh chụp toàn thân diễn viên chuyển giới Laverne Cox ngẩng cao đầu đầy tự tin. Cô là ngôi sao trong bộ phim dài tập đang rất ăn khách trên internet “Orange is a New Black” và là gương mặt đại diện cho những phong trào vì người chuyển giới ở Mỹ.  Thế nào là điểm bùng phát? Và tại sao hiện nay vấn đề về người chuyển giới ở Mỹ đã đạt đến điểm bùng phát? Xã hội Mỹ đang dần chấp nhận những người chuyển giới như một phần đương nhiên trong cộng đồng. Việc ngày càng nhiều các ngôi sao giải trí nổi tiếng dám công khai bản dạng giới của mình mà Caitlyn Jenner và Laverne Cox chỉ là hai trong số nhiều trường hợp. Người chuyển giới Mỹ cũng đã có nhiều cơ hội hơn trong việc thể hiện mình ở các lĩnh vực văn hóa. Laverne Cox trở thành ngôi sao truyền hình đắt giá, nhãn hiệu thời trang xa xỉ Barney đưa một người chuyển giới làm người mẫu cho một chiến dịch quảng cáo của mình, hồi ký của nhà văn Janet Mock kể lại việc chuyển giới của cô hồi còn trẻ ở Hawaii nằm trong danh sách sách bán chạy nhất. Những câu chuyện trên là nhờ thay đổi nhận thức lớn trong cộng đồng người Mỹ về người chuyển giới.  Nước Mỹ đã đi qua một chặng đường dài 40 năm để thừa nhận những người chuyển giới. Cho đến trước năm 2013, trong cuốn “Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần” (cuốn sách được coi là kinh thánh về phân loại bệnh tâm thần do Hiệp hội bác sĩ tâm lý Mỹ xuất bản), những người chuyển giới vẫn được ghi là “rối loạn bản dạng giới” trước khi chuyển thành “không thỏa mãn về giới tính”(Từ “rối loạn” được cộng đồng người chuyển giới cảm thấy phản cảm vì nó tạo cảm giác rằng bản dạng giới của họ là lệch lạc hay họ là những con người lệch lạc).  Thế hệ trước ở Mỹ, phụ huynh khi nghe con mình là người chuyển giới không có lựa chọn nào khác ngoài phủ nhận điều đó nhưng giờ đây họ chủ động gọi điện đến các trung tâm tư vấn về chuyển giới để hỗ trợ con mình và đổi đại từ nhân xưng với chúng. Các trường học cũng nỗ lực tạo ra một môi trường thân thiện và bình đẳng đối với các học sinh chuyển giới. Jillian Weiss, giám đốc Quỹ Giáo dục và Pháp lý cho người chuyển giới Mỹ trả lời phỏng vấn của phóng viên Tia Sáng (qua email) cho rằng, bước tiến quan trọng nhất trong chính sách của Mỹ về người chuyển giới đó là việc chính phủ liên bang ban hành bộ hướng dẫn1 các trường công lập đáp ứng nhu cầu của các học sinh chuyển giới vào tháng năm vừa qua. Trong đó, có các nội dung chi tiết hướng dẫn đáp ứng nhu cầu của từng em, đặc biệt là những nhu cầu rất nhạy cảm như để tham gia vào các đội tuyển thể thao phân loại giới, sử dụng phòng vệ sinh và phòng thay đồ, gọi tên và đại từ nhân xưng cho các em như thế nào cho đúng.  “Điều này rất quan trọng vì nó áp dụng trên toàn quốc, lan tỏa đến tất cả 20.000 trường công trên cả nước. Nó cũng quan trọng vì nó sẽ làm giảm nỗi đau của những người trẻ. Là một người lớn lên giữa những năm 1970, không có thông tin và không có sự trợ giúp, tôi hiểu những khó khăn mà bản thân và những người bạn mình đã phải trải qua” – Weiss nói. Bà cũng là một người chuyển giới nữ.  Những điều trên, không nghi ngờ gì, thể hiện một nước Mỹ đang chấp nhận sự đa dạng và khác biệt về giới tính. Tuy nhiên, quốc gia này cũng có những mặt rất bảo thủ trong vấn đề này. Pháp luật Mỹ vẫn gây khó khăn cho người chuyển giới trong việc thay đổi giới tính trên các giấy tờ tùy thân như bằng lái xe, giấy khai sinh, hộ chiếu… Đa số người chuyển giới vẫn không được bảo hiểm khi tiếp cận các dịch vụ liên quan đến chuyển giới trong khi những người có giới tính khác lại được (chẳng hạn như tiêm hormone). Bộ luật chống phân biệt đối xử đối với người chuyển giới ở nơi làm việc có lẽ phải mất hàng năm trời nữa mới được thông qua vì mặc dù đã được thông qua bởi các Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ nhưng bị ách lại bởi các Thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa.  Những người chuyển giới như đang bước đi trên sợi dây để đòi quyền bình đẳng cho mình. Bên cạnh những người ủng hộ và hỗ trợ họ là số lượng người tương đương phản đối dữ dội và miệt thị họ. Một trong những sự kiện gây xôn xao dư luận Mỹ gần đây là việc bảo vệ quyền tiếp cận nhà vệ sinh công cộng của người chuyển giới. Bắc Caroline là bang đầu tiên công khai cấm người chuyển giới lựa chọn nhà vệ sinh theo bản dạng giới của họ. Trước trường hợp của Bắc Caroline, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ngay lập tức lên tiếng về vấn đề này và yêu cầu tất cả các trường học công phải cho phép những học sinh chuyển giới lựa chọn nhà vệ sinh theo mong muốn của họ và ông bị “ném đá” không thương tiếc. Thị trưởng Texas, Greg Abott, viết trên trang Twitter của mình “JFK muốn gửi một người đàn ông lên mặt trăng, Obama thì muốn gửi một người đàn ông vào nhà vệ sinh của phụ nữ”2.  Giới làm luật ở bang Oklahoma cũng biểu tình với mong muốn đảo ngược quyết định của Obama.  Sự cởi mở của xã hội Mỹ chưa đủ để thay đổi những nhà làm luật. Jillian Weiss trả lời phóng viên Tia Sáng: “Trở ngại lớn nhất là các cử tri thiếu giáo dục về bản dạng giới của người chuyển giới. Phần lớn mọi người nghĩ rằng, người chuyển giới giống kiểu nam giả gái như RuPaul3. Vì vậy, họ cũng không thúc đẩy những người đại diện của mình thông qua luật bình đẳng, và vì thế chúng tôi cũng chẳng có đạo luật liên bang nào bảo vệ người chuyển giới khỏi việc phân biệt đối xử […]”  Sự không may của người chuyển giới, là họ chỉ chiếm 0.5% dân số và tồn tại trong một thế giới mà nhận thức của số đông về giới tính chỉ có hai cực và cố định là nam và nữ. “Sự không thỏa mãn với giới tính mình đang chung sống, là cảm giác mà phần lớn nhân loại không bao giờ biết tới” – Elizabeth Ries, giáo sư nghiên cứu về phụ nữ và giới ở Đại học Oregon trả lời tạp chí TIME.  Để hiểu được cảm giác này đòi hỏi một người phải tách biệt được ba khái niệm: giới tính sinh học, giới tính xã hội và xu hướng tính dục. Điều đó có nghĩa là, một người sinh ra có giải phẫu sinh học là nam (giới tính sinh học) có thể nghĩ mình là nữ (giới tính xã hội) nhưng lại không có nghĩa là người đó sẽ bị thu hút bởi nam giới (xu hướng tình dục). Điều này sẽ thách thức nhận thức của số đông vốn nhìn giới tính như một câu hỏi trắc nghiệm chỉ có hai đáp án. “Nói chung, chúng ta thích nghĩ về mọi thứ chỉ có hai màu trắng và đen, trong khi điều này lại mở ra quá nhiều vùng xám” – Ries nói.  “Có những người, đơn giản là họ không hiểu. Và họ cần phải hiểu chúng tôi như những con người bình thường. Những người khác thì họ chống đối chúng tôi mãi mãi. Nhưng tôi tin vào tinh thần nhân đạo của con người, năng lực yêu thương và thay đổi của họ” – Laverne Cox nói.  ——-  1 http://www2.ed.gov/about/offices/list/ocr/letters/colleague-201605-title-ix-transgender.pdf  2 http://time.com/4341419/battle-of-the-bathroom/  3 Là nhân vật truyền hình nam diễn xuất trong bộ trang phục nữ. Tuy nhiên, ngoài đời, ông không phải là người chuyển giới.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Chúng tôi mong nhận được thông tin toàn diện, tin cậy về hoạt động KH&CN từ báo chí      Nhân ngày Báo chí Việt Nam 21/6, GS TS Nguyễn Minh Thuyết, Ủy viên chuyên trách Ủy ban KH-CN&amp;MT Quốc hội, một trong những đại biểu Quốc hội có nhiều ý kiến và câu hỏi chất vấn sắc sảo tại nghị trường Quốc hội, phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của cử tri, đã trả lời phỏng vấn Tia Sáng về vai trò của báo chí, nhất là báo chí khoa học trong công cuộc chấn hưng đất nước.        Xin chúc mừng ông được sự tín nhiệm cao của cử tri (70,5%) trong cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII.  Xin cảm ơn anh. Với kinh nghiệm tích lũy được từ khóa XI, trong nhiệm kỳ này, tôi sẽ gắng thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ mà cử tri đã tin cậy giao phó.    Trong nhiều kỳ họp Quốc hội, hầu như vấn đề khoa học và công nghệ – một trong những quốc sách hàng đầu – không được bàn thảo, chất vấn. Trong khi đó, theo đánh giá của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, khoa học công nghệ và giáo dục là 2 lĩnh vực chưa thành công trong công cuộc đổi mới vừa qua. Theo ông, vì sao?  Nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội là phản ánh ý chí, nguyện vọng của cử tri. Mà như anh đã biết, bên cạnh những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xã hội ta còn tồn tại nhiều vấn đề được cử tri ưu tiên quan tâm hơn như chống tham nhũng, lãng phí, quy hoạch đất đai, đảm bảo đời sống nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hạn chế tai nạn giao thông, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, vệ sinh an toàn thực phẩm,… Những hiện tượng tiêu cực trong các lĩnh vực này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân, gây bức xúc trong dư luận cử tri. Vì vậy, tại nghị trường Quốc hội, không còn mấy thời gian để bàn thảo những vấn đề phát sinh, có tính thời sự trong hoạt động khoa học-công nghệ. Còn những vấn đề cơ bản như ban hành các luật và pháp lệnh tạo hành lang pháp lý cho cho hoạt động khoa học-công nghệ thì đã được Quốc hội dành không ít thời gian bàn thảo, giải quyết.   Phải chăng, còn một nguyên nhân quan trọng nữa là các cấp chính quyền và đại biểu Quốc hội chưa thực sự quán triệt tư tưởng của Đảng coi khoa học – công nghệ là động lực phát triển kinh tế xã hội của đất nước?  Đúng là hiện nay không ít cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự quan tâm đến vai trò của KH&CN. Không ít công trình, dự án, chính sách, chế độ của Nhà nước rất cần được lấy ý kiến đóng góp, phản biện của các nhà khoa học nhưng chỉ được xin ý kiến một cách hình thức, thậm chí là không. Chẳng hạn như sự phá sản của Đề án 112 có nguyên nhân quan trọng là không coi trọng ý kiến của các chuyên gia công nghệ thông tin. Hay như trên báo Tia Sáng (số 11/2007), trong bài viết về những công việc chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, KTS Hoàng Đạo Kính cho rằng nhiều việc đã triển khai không đúng với tinh thần của lễ kỷ niệm do không được đưa ra để các nhà khoa học bàn thảo. Gần đây nhất là việc lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu không tham khảo ý kiến các nhà khoa học trước khi cho phép ngư dân khai thác cáp quang dưới biển,… Điều này một phần do nhận thức, một phần do tác động của hoạt động KH&CN đến sự phát triển kinh tế – xã hội bị “chìm khuất” trong hoạt động của các Bộ, ngành khác nên không phải ai cũng thấy một cách cụ thể. Thêm vào đó, báo chí, nhất là báo chí khoa học chưa làm tốt việc  tuyên truyền, quảng bá sâu rộng, toàn diện và trung thực mọi lĩnh vực của hoạt động KH&CN. Ví dụ, báo chí chỉ đề cập đến những hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong tuyển chọn, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu, trong mua sắm trang thiết bị, trong sử dụng người tài,… nhưng chưa đề cập và lý giải một cách thực sự sâu sắc nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực, lãng phí đó. Hoặc trước những sáng kiến kỹ thuật của người nông dân, những thành công trong các cuộc thi sáng tạo của tuổi trẻ như Robocom, Trí tuệ Việt Nam, các kỳ Olympic Toán, Vật lý,… báo chí nhiều khi tuyên truyền rầm rộ, đề cao quá mức. Thậm chí có báo còn đăng tải những thông tin sai lạc, “phong” cho một nhà toán học của Việt Nam là “thiên tài thế kỷ 21”, hay ngợi ca trí tuệ Việt Nam qua một số “nhà khoa học hoang tưởng”. Trong khi đó, hầu như rất ít các bài viết về các nhà khoa học tài năng, tâm huyết, có những đóng góp thực sự cho đất nước. Theo tôi, ngay cả những nhà khoa học dù không có những công trình tầm cỡ nhưng tận tuỵ, đam mê làm khoa học cũng rất đáng được báo chí nêu gương.   Tôi được biết, ở nước ngoài, không chỉ những tạp chí khoa học như Science, Nature, Science et Vie,… mà những báo lớn như Time, National Courier, News Week,… đều có những trang chuyên đề vừa sâu sắc lại vừa dễ hiểu đối với đông đảo bạn đọc đề cập đến những vấn đề thời sự khoa học. Đó là điều mà báo chí của Việt Nam chưa làm được.  Vậy vì sao báo chí ta chưa làm được điều đó?   Có nhiều nguyên nhân, trong đó, theo tôi, phần quan trọng phụ thuộc vào trình độ và tính chuyên nghiệp của người làm báo khoa học. Tôi được biết không chỉ ở phương Tây, mà ngay ở Trung Quốc, người làm báo khoa học có uy tín hầu hết đều xuất thân là các nhà khoa học có khả năng văn chương, có khiếu làm báo, thì ở ta phần đông người làm báo khoa học tốt nghiệp các trường đào tạo báo chí chung chung,…   Cũng có một nguyên nhân nữa cần phải nói đến là những người làm báo khoa học, nhất là biên tập viên và phóng viên ở các tạp chí khoa học gặp nhiều khó khăn khi tác nghiệp, khi tiếp cận với chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu, các phòng thí nghiệm “có vấn đề”…  Với Quy chế cung cấp thông tin mà Thủ tướng mới ban hành và bản lĩnh của người làm báo, tôi tin rằng nguyên nhân mà anh vừa nói sẽ được khắc phục.   Ông mong muốn điều gì đối với  báo chí khoa học của đất nước?  So với dân số trên 80 triệu, trong thời đại toàn cầu hóa, số lượng và chủng loại báo, tạp chí của Bộ KH&CN, Liên hiệp các Hội KH&KT, của các viện nghiên cứu, trường đại học,… hiện có là quá ít; mặt khác hầu hết vẫn hoạt động bằng kinh phí của Nhà nước, ít được bạn đọc, thậm chí cả các nhà khoa học quan tâm do thiếu năng động, thiếu sâu sát và am hiểu mọi mặt đời sống khoa học của đất nước.   Theo tôi, Nhà nước cần quan tâm đầu tư vật chất và con người (đào tạo những người làm báo khoa học chuyên nghiệp) để hình thành hệ thống báo chí khoa học bao gồm nhiều loại tạp chí chuyên ngành, trong đó chú ý đến các loại tạp chí khoa học xã hội; báo chí phổ biến kiến thức cho mọi đối tượng: thanh thiếu niên, phụ nữ, người cao tuổi,… đáp ứng được yêu cầu phát triển tiềm lực khoa học của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập. Riêng đối với Bộ KH&CN, tôi mong muốn sớm hình thành một tập đoàn báo chí khoa học mạnh, có uy tín về học thuật, hấp dẫn, được đông đảo bạn đọc đón nhận như báo Khoa học và Đời sống cách đây gần nửa thế kỷ.  Nhân đây, cũng xin chúc tạp chí Tia Sáng ngày càng phát triển để thực sự trở thành diễn đàn tin cậy của trí thức Việt Nam.  Xin cảm ơn GS và rất mong trong cương vị của mình, GS sẽ tạo điều kiện để tạp chí Tia Sáng có thể tham gia và tuyên truyền về các hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực khoa học – công nghệ.    PV (thực hiện)                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển biến nhận thức về nhân quyền ở Trung Quốc      Quá trình biến đổi nhận thức về nhân quyền ở  Trung Quốc rất phức tạp vì nó gắn liền với lịch sử độc đáo và phong phú  của đất nước đông dân nhất thế giới và có nền văn hóa hơn 5.000 năm.  Trong phạm vi một bài báo chỉ có thể trình bày đôi nét sơ lược về vấn đề  này.     Nhân quyền, tự do, dân chủ, bình đẳng… những giá trị phổ quát này của loài người vốn không có nguồn gốc tại phương Đông và du nhập Trung Quốc khá muộn, hơn nữa lại đến từ phương Tây, tức là từ kẻ xâm lược bị người Trung Quốc căm ghét. Bản thân những từ thể hiện các giá trị ấy cũng không có trong kho từ vựng Hán ngữ mà do các nhà khai sáng Nhật sáng tạo vào cuối thế kỷ XIX khi họ dịch tác phẩm của những nhà khai sáng phương Tây viết bằng tiếng Hà Lan, Anh, Pháp, Đức ra ngôn ngữ Hán-Nhật.   Bởi vậy các giá trị tiên tiến ấy không dễ được đông đảo người Trung Quốc tiếp nhận; việc thực hiện lại càng khó. Cho tới nay mặc dù nước này đã trải qua những biến đổi long trời lở đất nhưng khái niệm nhân quyền vẫn còn bị phổ biến coi là “nhạy cảm”, chưa phải là “quyền sinh ra đã có” của tất cả mọi người; nhà nước cho phép hưởng đến đâu thì được đến đó, ai yêu cầu cao hơn sẽ bị coi là đối lập với chính phủ. Phương Tây và các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc vẫn cho rằng nước này có tình trạng thiếu nhân quyền. Phương Tây luôn giương lá cờ nhân quyền cao hơn chủ quyền để phê phán chế độ chính trị của Trung Quốc. Nhưng đây cũng là một ngoại lực làm cho nhận thức về nhân quyền của Trung Quốc thay đổi rất nhiều.   Lịch sử nhận thức nhân quyền ở Trung Quốc có thể chia làm hai giai đoạn lớn.  I. Giai đoạn trước ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa  Khái niệm nhân quyền lần đầu tiên được giới thiệu vào Trung Quốc qua tác phẩm Đại Đồng Thư của Khang Hữu Vi xuất bản năm 1902. Nói chung các nhà trí thức Trung Quốc đều nhiệt liệt tán thành tư tưởng nhân quyền của phương Tây, kể cả Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú (sau này năm 1921 sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc và là Tổng Bí thư). Họ sử dụng nhân quyền như một khẩu hiệu đấu tranh chống sự thống trị chuyên chế của chính quyền Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch. Để đáp lại đòi hỏi của giới trí thức, năm 1930 chính phủ Quốc Dân ban hành Lệnh Bảo đảm nhân quyền. Tuy vậy để đối phó với phong trào đấu tranh đòi dân chủ của nhân dân do Đảng CSTQ lãnh đạo, chính phủ Tưởng Giới Thạch trên thực tế vẫn tiếp tục sự cai trị độc tài chuyên chế, hạn chế quyền tự do dân chủ của nhân dân.   Tư tưởng nhân quyền cũng không thấy xuất hiện trong các văn kiện của Đảng CSTQ, tuy rằng Đảng ủng hộ các nhân sĩ dân chủ đấu tranh chống chính phủ Quốc Dân Đảng vi phạm nhân quyền. Đảng CSTQ không coi việc giành nhân quyền và dân chủ trừu tượng là mục tiêu cuộc đấu tranh cách mạng của mình. Các tác phẩm của Mao Trạch Đông không có câu nào viết về nhân quyền, mà chỉ có những cách đề cập đến khái niệm tương tự nhân quyền.  II. Giai đoạn sau ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa   Trong thời kỳ Kháng chiến chống Nhật, để giải đáp nỗi nghi ngờ (của giới nhân sĩ dân chủ trong vùng Quốc Dân Đảng kiểm soát) về việc Đảng CSTQ sẽ học Liên Xô thực thi chuyên chính vô sản và chế độ một đảng lãnh đạo, trong tác phẩm Bàn về chính phủ liên hợp, Mao Trạch Đông nói rõ chuyện đó chỉ xảy ra ở giai đoạn chủ nghĩa xã hội, còn ở giai đoạn Tân dân chủ thì nhiệm vụ của Đảng CSTQ là để nhân dân “giành được quyền lợi tự do đầy đủ”. Tuy nhiên khái niệm nhân dân ở đây là gì thì Mao chưa nói rõ.   Không lâu trước ngày cách mạng thắng lợi, Mao Trạch Đông viết bài Bàn về chuyên chính dân chủ nhân dân, giải thích chuyên chính dân chủ nhân dân là sự kết hợp “mặt dân chủ đối với nội bộ nhân dân và mặt chuyên chính đối với bọn phản động”. Như vậy khái niệm nhân dân đã được nói rõ là đại bộ phận công dân đối lập với một thiểu số “bọn phản động”; quyền lợi và địa vị của hai bộ phận này quyết định bởi địa vị giai cấp của họ.    Tuy vậy trong thời gian từ năm 1949 tới nay, quan điểm nhân quyền của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã có sự thay đổi rõ rệt, chia ra làm 5 thời kỳ.    1. Thời kỳ 1949-1978          Đầu  thế kỷ XXI, khái niệm nhân quyền bắt đầu đi vào hệ thống từ ngữ của Đảng  và Nhà nước Trung Quốc mà không bị tránh né như trước. Năm 2004, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề bảo đảm nhân quyền được đưa vào Hiến pháp.        Đây là thời kỳ nhà nước và giới lý luận Trung Quốc hoàn toàn phủ định nhân quyền. Hệ tư tưởng Trung Quốc thời ấy cho rằng: – Trên thế giới không tồn tại bất cứ khái niệm nhân quyền siêu giai cấp nào, bởi lẽ mọi lợi ích hiện thực đều có tính giai cấp, cho nên bất cứ quyền lợi nào phản ánh lợi ích ấy đều có tính giai cấp. – Nhân quyền là thứ giai cấp tư sản dùng làm công cụ lừa bịp nhân dân, tô son trát phấn cho bộ máy cai trị của họ.  Không những các nhà lãnh đạo không bao giờ nói đến vấn đề nhân quyền mà tất cả các văn bản pháp luật, kể cả Hiến pháp Trung Quốc đều không có bất kỳ thể hiện nào về nhân quyền. Từ nhân quyền không xuất hiện trong mọi ấn phẩm, trừ các sách lịch sử. Trên thực tế, các quyền tự do cơ bản của nhân dân lao động đều ít nhiều bị hạn chế, nhất là tự do ngôn luận, tự do lập hội, đảng. Những người không thuộc giai cấp công nông càng bị hạn chế hơn. Người thành phần trí thức cũ, tư sản, người thuộc phái hữu thì bị tước bỏ mọi quyền tự do, thậm chí bị ngược đãi. Trong Cách mạng Văn hóa, những người bị chụp mũ “phái phản động” – trong đó có rất nhiều công dân chân chính, nhà cách mạng – bị Hồng Vệ Binh đánh đập, tra tấn, xử tù xử tử vô cùng dã man không theo bất cứ luật pháp nào.   Tuy vậy trên mặt trận ngoại giao, chính phủ Trung Quốc vẫn tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh giành nhân quyền của nhân dân các nước trên thế giới.   2. Thời kỳ 1978-1985    Bằng việc đề xuất Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý, Hội nghị lần 3 toàn thể Trung ương Đảng CSTQ khóa XI cuối năm 1978 đánh dấu Trung Quốc tiến sang thời đại giải phóng tư tưởng. Xã hội được mở cửa với nước ngoài, với phương Tây, nhờ thế tư tưởng nhân quyền du nhập phổ biến vào Trung Quốc, tạo ra sức ép dư luận. Từ đó trong xã hội bắt đầu có người cổ súy tư tưởng nhân quyền, và nhìn chung dân chúng bắt đầu được biết về quan điểm của phương Tây đối với vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc. Giới trí thức bắt đầu tiến hành nghiên cứu độc lập về vấn đề nhân quyền, trước hết trong lĩnh vực pháp luật, hiến pháp.   Việc nghiên cứu này có đặc điểm là giới thiệu một cách có phê phán quan điểm nhân quyền và lịch sử phát triển nhân quyền của phương Tây nhưng không thừa nhận Trung Quốc có vấn đề nhân quyền, không cho rằng Trung Quốc nên tiếp thu quan điểm nhân quyền của phương Tây, ngược lại còn chứng minh về lý luận tại sao Trung Quốc cách ly với lý luận nhân quyền. Trên nguyên tắc, giới học thuật về cơ bản nhất trí với quan điểm của nhà nước, vẫn cho rằng trong xã hội có giai cấp thì việc bàn vấn đề nhân quyền là không hiện thực.   Giới học thuật Trung Quốc thời kỳ này cho rằng:           Một mặt nhà nước Trung  Quốc thừa nhận tính quan trọng của nhân quyền cá nhân, mặt khác cho rằng  việc bảo vệ nhân quyền cá nhân phải tùy theo năng lực thực tế của nhà  nước, bởi lẽ nếu dốc toàn lực vào việc nâng cao trình độ bảo vệ nhân  quyền cá nhân cho bằng với tiêu chuẩn của các nước phát triển thì Trung  Quốc sẽ phải bỏ mất nhiều cơ hội phát triển kinh tế, xét về lâu dài là  bất lợi cho việc nâng cao trình độ bảo vệ nhân quyền.         1- Nhân quyền là khẩu hiệu của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến; sau cách mạng tư sản, nhân dân chỉ giành được “nhân quyền trên giấy”; hơn nữa, sau khi đã củng cố chính quyền của mình, giai cấp tư sản còn tước đoạt mọi quyền lợi của nhân dân, xâm phạm nhân quyền cơ bản của họ, bởi vậy nhân quyền không có ý nghĩa gì đối với nhân dân;   2- Các quy định bảo vệ quyền tư hữu tài sản trong hiến pháp và pháp luật của nhà nước tư sản nhằm bảo vệ cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản, tức bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản;   3- Cho dù nhân quyền ở phương Tây có sự phát triển, tiến bộ nhưng nó chỉ thực hiện trong phạm vi luật pháp của giai cấp tư sản, cho nên không có sự thay đổi về bản chất, vẫn là sự phản ánh ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ duy trì và củng cố trật tự xã hội của giai cấp tư sản;   4- Trong quan hệ quốc tế, phương Tây mượn nhân quyền để can thiệp nội trị ở các nước khác;   5- Quy luật lịch sử là chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội, vì thế khái niệm nhân quyền của giai cấp tư sản sẽ phải nhường chỗ cho khái niệm các quyền lợi cơ bản của công dân các nước xã hội chủ nghĩa.  Từ các luận điểm trên, giới học thuật Trung Quốc rút ra kết luận nhân quyền của giai cấp tư sản không có gì đáng để hâm mộ và theo đuổi mà ngược lại cần được vạch trần và phê phán.   Quan điểm phủ định nhân quyền nói trên một lần nữa cho thấy công tác nghiên cứu học thuật ở Trung Quốc trong thời kỳ này vẫn lạc hậu so với nhu cầu thực tế của xã hội. Tình trạng lý luận tụt sau hiện thực ấy là một bi kịch, vì nó có nghĩa là xã hội Trung Quốc bị tước mất động lực phát triển. Dẫu sao việc giới thiệu tư tưởng nhân quyền (mặc dù có kèm phê phán) một cách rộng rãi vào xã hội Trung Quốc, vẫn là hữu ích; trên thực tế nó đã chuẩn bị cho bước phát triển trong thời kỳ tiếp theo.  3. Thời kỳ 1985-1991  Trong giai đoạn này, dưới ảnh hưởng của sự truyền bá mạnh mẽ tư tưởng nhân quyền và do chịu sức ép của phương Tây yêu cầu Trung Quốc cải thiện nhân quyền, Đảng và Nhà nước bắt đầu chủ trương nên nghiên cứu vấn đề nhân quyền. Đặng Tiểu Bình là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên công khai đồng ý việc đề cập vấn đề này. Ngày 6/6/1985, ông nói với các vị khách Đài Loan trong đoàn chủ tịch cuộc hội thảo “Đại lục và Đài Loan”: “Thế nào là nhân quyền? Điều đầu tiên là nhân quyền của bao nhiêu người? Là nhân quyền của thiểu số hay nhân quyền của đa số? hay nhân quyền của nhân dân toàn quốc? Về bản chất, cái gọi là ‘nhân quyền’ của phương Tây và nhân quyền chúng tôi nói là hai chuyện (khác nhau).”  Ở đây ông Đặng phân biệt nhân quyền của phương Tây với nhân quyền của Trung Quốc, chứ không phân biệt nhân quyền của giai cấp tư sản với quyền lợi cơ bản của công dân nước xã hội chủ nghĩa như cách thể hiện từ ngữ trước kia Trung Quốc hay dùng. Đây là một thay đổi rất đáng chú ý. Mặt khác ông gián tiếp tỏ ý thừa nhận Trung Quốc có vấn đề về nhân quyền. Giới học thuật nước này lập tức nhân dịp đó đặt vấn đề thảo luận tại sao trước đây dùng từ quyền lợi công dân mà không dùng từ nhân quyền. Tuy họ vẫn cho rằng Trung Quốc có lý do hợp lý để dùng từ như vậy, nhưng dù sao cuộc thảo luận này đã vượt ra ngoài phạm vi bình luận câu nói của Đặng, mở đầu cho đợt tranh luận rộng rãi hơn xung quanh vấn đề tồn tại về nhân quyền ở Trung Quốc.   Một số học giả có trách nhiệm đã đứng ra kêu gọi nghiên cứu quan điểm nhân quyền của Mác và giới thiệu quan điểm nhân quyền của phương Tây, nhưng ngay lập tức họ bị thế lực lý luận truyền thống kết tội là “phần tử tự do hóa tư sản”; cố gắng của họ bị ngăn chặn. Thí dụ Báo cáo tại Hội nghị lần 4 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa VII hồi tháng 4/1991 có viết: “Mấy năm gần đây, một số cực ít người kiên trì tự do hóa của giai cấp tư sản ra sức đòi xóa bỏ chế độ Đại hội đại biểu nhân dân (tức quốc hội) của nước ta, tuyên truyền ‘dân chủ’, ‘tự do’, ‘nhân quyền’ và ‘tam quyền phân lập’ của giai cấp tư sản, cố súy đi theo con đường nghị viện phương Tây, nhằm mục đích phủ định dân chủ nhân dân và chế độ hội nghị đại biểu nhân dân… ngông cuồng đòi thay chế độ XHCN thành chế độ tư bản.”   Nhưng chỉ sau đó ít lâu, thái độ đối với nhân quyền của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã có biến đổi chưa từng thấy.  4. Thời kỳ 1991-1998  Từ nửa cuối năm 1991, Chính phủ Trung Quốc bắt đầu công bố Sách Trắng về tình hình nhân quyền ở Trung Quốc, mỗi năm một lần, nhằm giới thiệu lịch sử phát triển nhân quyền, tình hình hiện nay và các biện pháp bảo vệ nhân quyền ở Trung Quốc. Việc công bố Sách Trắng nhằm đáp trả sự công kích của phương Tây trên vấn đề nhân quyền của Trung Quốc, vì thế nội dung chính của Sách là nói về thành tích tiến bộ của Trung Quốc trên vấn đề nhân quyền. Dù sao việc công bố này đã gián tiếp cho thấy Chính phủ Trung Quốc thừa nhận nước họ có tồn tại các vấn đề về nhân quyền. Thí dụ Sách Trắng năm 1991 chia 10 phần, trình bày 10 vấn đề, cuối mỗi phần đều điểm lại những thiếu sót về mặt bảo vệ nhân quyền.  Từ đó trở đi công tác bảo vệ nhân quyền và nghiên cứu nhân quyền của giới học thuật đã bắt đầu đi vào quỹ đạo nghiêm chỉnh. Nhiều vùng cấm trong nghiên cứu được mở ra; xã hội bắt đầu chú trọng đến việc nghiên cứu này. Trong dịp Tổng thống Clinton thăm Trung Quốc năm 1998, Chủ tịch Giang Trạch Dân tuyên bố: “Hôm nay, Chính phủ Trung Quốc trang nghiêm cam kết sẽ xúc tiến và bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản”. Lời hứa nghiêm chỉnh này đã tổng kết một giai đoạn phát triển nhân quyền ở Trung Quốc, ngầm tỏ ý sự bất đồng giữa Trung Quốc với Mỹ và phương Tây về vấn đề nhân quyền sẽ có thể được thu hẹp và có khả năng đi tới nhất trí. Trên thực tế trong mấy năm tiếp sau, nhận thức của nhà nước (là nhân tố quyết định), của giới học thuật và của xã hội Trung Quốc đều có tiến bộ về thực chất, cơ bản tán thành quan điểm “nhân quyền trời cho”.   5. Thời kỳ sau 1998  Trong thời kỳ này nhận thức của nhà nước Trung Quốc về nhân quyền nhanh chóng tiếp cận tiêu chuẩn nhân quyền của thế giới. Năm 1999, Chủ tịch Giang Trạch Dân nói tại Đại học Cambridge (Anh quốc): ”Đến giữa thế kỷ sau, hành tinh loài người cư trú này nên tiến một bước thiết thực nhằm thực hiện hòa bình và phồn vinh mãi mãi; nhân dân các nước đều có thể thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của chiến tranh và nghèo khó, tạo dựng cuộc sống mới hưởng tự do. Đây là nguyện vọng chung của tất cả các nước chúng ta.” Hơn nữa, ông còn nói nhân quyền tập thể và nhân quyền cá nhân không mâu thuẫn với nhau và Trung Quốc sẽ cố gắng xúc tiến việc bảo vệ nhân quyền cá nhân, nhưng phải dựa trên cơ sở năng lực kinh tế của mình.   Qua đây có thể thấy một mặt nhà nước Trung Quốc thừa nhận tính quan trọng của nhân quyền cá nhân, mặt khác cho rằng việc bảo vệ nhân quyền cá nhân phải tùy theo năng lực thực tế của nhà nước, bởi lẽ nếu dốc toàn lực vào việc nâng cao trình độ bảo vệ nhân quyền cá nhân cho bằng với tiêu chuẩn của các nước phát triển thì Trung Quốc sẽ phải bỏ mất nhiều cơ hội phát triển kinh tế, xét về lâu dài là bất lợi cho việc nâng cao trình độ bảo vệ nhân quyền.   Có thể tóm tắt quan điểm cơ bản về nhân quyền của Trung Quốc thời kỳ này như sau:   1- Nhân quyền là quyền lợi loài người phổ biến được hưởng, không quốc gia nào được coi nhẹ hoặc tước đoạt nhân quyền của nhân dân nước mình;   2- Nhân quyền cơ bản quan trọng nhất của người Trung Quốc là quyền sinh tồn tập hợp và quyền phát triển, đồng thời phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế để tăng cường bảo vệ quyền lợi của công dân; bảo đảm nhân quyền trước hết là bảo đảm dân được sống no ấm, tức bảo đảm về kinh tế, không nhấn mạnh bảo đảm các quyền tự do dân chủ. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh tức là đã bảo đảm nhân quyền, phương Tây không có quyền nói Trung Quốc thiếu nhân quyền.   3- Chính phủ Trung Quốc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền cơ bản của công dân nước mình, tích cực xúc tiến phát triển bảo vệ nhân quyền;   4- Việc xác định và bảo vệ phạm vi nhân quyền cơ bản là công việc nội bộ của mỗi một quốc gia có chủ quyền, trên nguyên tắc không chịu sự can thiệp từ bên ngoài;   5- Chỉ khi chính phủ một quốc gia nào đó xâm phạm với quy mô lớn nhân quyền của nhân dân nước mình hoặc nước khác thì cộng đồng quốc tế mới nên đứng lên ngăn chặn, nhưng nên cố hết sức tránh dùng vũ lực.  Đáng chú ý là nhân quyền mà Chính phủ Trung Quốc nói tới chủ yếu là nhân quyền tập thể chứ không phải nhân quyền cá nhân; mặt khác chỉ nói vấn đề nhân quyền với nước ngoài là chính, còn đối với nhân dân nước mình thì rất ít đề cập từ nhân quyền. Mãi đến năm 1997, Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng XV mới bắt đầu nói Đảng CSTQ có nhiệm vụ “tôn trọng và bảo đảm nhân quyền”.  Đầu thế kỷ XXI, khái niệm nhân quyền bắt đầu đi vào hệ thống từ ngữ của Đảng và Nhà nước Trung Quốc mà không bị tránh né như trước. Cuối năm 2002, Trung ương Đảng CSTQ chính thức đề nghị viết điều khoản “Bảo vệ nhân quyền của công dân” vào Hiến pháp. Trong kỳ họp tháng 2/2003, Quốc hội Trung Quốc nhất trí với đề nghị này.   Cuối cùng, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề bảo đảm nhân quyền được đưa vào Hiến pháp: Điều 33 Hiến pháp Trung Quốc do kỳ họp lần 2 Quốc hội Trung Quốc khóa X thông qua ngày 14 tháng Ba năm 2004 quy định: “Người nào có quốc tịch nước CHND Trung Hoa đều là công dân nước CHND Trung Hoa. Công dân nước CHND Trung Hoa nhất luật bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm nhân quyền…” Điều 37 quy định: «… Bất cứ công dân nào cũng không bị giam giữ khi chưa có phê chuẩn hoặc quyết định của Viện Kiểm sát Nhân dân hoặc quyết định của Tòa án Nhân dân và do cơ quan công an thi hành…”.   Như vậy Hiến pháp Trung Quốc đã thừa nhận tất cả mọi người có quốc tịch nước CHND Trung Hoa đều được nhà nước bảo đảm nhân quyền, không phân biệt thân phận giai cấp và chính kiến của họ. Điều đó cho thấy quan niệm nhân quyền ở Trung Quốc đã chuyển biến từ lĩnh vực nghiên cứu lý luận trở thành pháp luật và chính sách bảo vệ nhân quyền, quan niệm này đã nhất trí với quan niệm của cộng đồng quốc tế.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện chẻ chữ Hán, cơ và nguy      Việc học được chữ Hán giúp ta rõ ra được thật nhiều những cái gốc rễ của các chữ Hán-Việt đang được sử dụng và tái sử dụng ở xứ Việt. Ngoài ra để giúp tra cứu phần văn bản nguyên gốc chữ Hán của các tác giả Việt xưa đối với ai muốn đi chuyên sâu. Mọi việc học đều là cái “cơ”, đều xứng đáng được cổ vũ. Nhưng ngoài việc cổ súy sự học này một cách chung chung, cũng nên ý thức đến những mối nguy tiềm ẩn, do các tập tục vô thức.    Cần ghi nhớ một điều rằng tất cả các chữ viết của các tộc người trên thế giới ban đầu đều là chữ tượng hình cả, giống như chữ Hán. Và sự ra đời của hệ thống chữ cái là một bước nhảy vọt mà mãi sau này mới có, điều này đòi hỏi một tư duy trừu tượng rất phát triển, để tiến đến xây dựng được một hệ thống lý thuyết, cho phép tạo ra một hệ thống hữu hạn các kí hiệu cùng các qui tắc ghi âm, để rồi từ đó ghi được tự do “vô hạn” các âm thanh của các từ ngữ của một ngôn ngữ nói.     Chữ tượng hình, ở một khía cạnh nhất định, là chữ “chết”, vì nó đã vẽ khắc luôn cả cái nghĩa cố định theo quan niệm của người vẽ chữ vào hình chữ. Dụ như vẽ khắc cái “mái lợp” (宀 “miên” ) che phía trên “con lợn” (豕 “thỉ”) để thành ra chữ “nhà” (家 “gia”).    Người đầu tiên vẽ “mái lợp che con lợn” thực ra chẳng có tội tình gì, mà cũng chẳng uyên bác gì. Ưu điểm là hình vẽ này gần gụi, và ngộ nghĩnh. Nếu không vẽ “mái lợp che con lợn”, thì có thể đã có người khác vẽ “con bò đội nón”, v.v… cũng thú vị chứ. Những hình vẽ đó cho ta biết quan niệm của một thời, thường là rất cổ xưa, của những người đã vẽ ra những chữ đó, và rồi được cộng đồng Trung Hoa lưu dụng. Có những hình vẽ cực kì đơn giản, 一 “nhất”, 二 “nhị”… với một gạch ngang, hai gạch ngang… Xin đừng bịa quẻ này quẻ nọ ra ở đây. Có những hình vẽ có quan niệm tưởng tượng khá xa hơn, 王 “vương”, kẻ dọc nối dọc ba cái gạch, sau này được người ta coi như là tượng trưng cho “kẻ nối trời đất người”. Nhưng cũng có những hình vẽ thì cũng chỉ “có thế mà thôi”, như chữ “mái lợp” (宀 “miên”) chẳng hạn, chẳng có gì để thần bí hóa.    Câu chuyện hôm nay là ở chỗ khác!     Ở chỗ rất nhiều người xứ Đông thờ đê mê những hình vẽ xưa đó của chữ Hán! Họ coi những hình vẽ ấy là linh thiêng, là thần bí, là mặc khải, là rằng xưa phải hơn nay, là rằng ý tưởng xưa phải là chân lý vĩnh cửu. Nhiều thày đồ chẻ chữ Hán xong thì coi như mình đã nắm được huyền cơ của vũ trụ, tha hồ ngông nghênh. Cứ bài hát “mái lợp che con lợn”, và không cần phải suy nghĩ tìm tòi gì hơn như thế nữa.     Trong khi đó chữ phải là khái niệm, đang vận động trong một hệ thống lý thuyết cũng đang vận động.    Phải xây cái văn hóa cho người ta học cái toàn bộ để cắt nghĩa cái chi tiết, chứ không phải là ngược lại như lối thày đồ chẻ chữ.    Vì cái hình vẽ đã khắc rõ mồn một cái “ý” trong chữ, nhiều người cứ phải vặn vẹo bẻ queo uốn éo suy diễn mỗi khi muốn làm mới hay thay đổi nội dung của chữ. Cả một lối sống lối nghĩ loay hoay uốn éo theo, sợ hãi phải đối mặt đường hoàng với cái hôm nay. Lại cổ vũ tinh thần hý hoáy chẻ bẻ một chữ ở trong một góc, rồi giải ra khắp xung quanh…    Những vị tâm thức nông nổi mà tóm được mấy chữ này thì thường kinh dị lắm, hai hôm sau họ đã trở thành chuyên gia giải Kinh Dịch, gieo quẻ Sấm Chớp, nói trạng như ranh.    Chữ tượng hình không ghi lại được âm mới, là một nhẽ, lại cũng không ghi được các âm nhập từ ngôn ngữ khác, do không có hệ thống các kí hiệu nguyên âm, phụ âm cùng các qui tắc phát âm (alphabet). Khi phải “dịch”, chữ tượng hình đành phải “ghi” theo cách “phiên âm”. Nghĩa là chọn những chữ tượng hình đã có sẵn rồi mà đọc lên thì âm nghe na ná gần gần… Cần ghi Michel… thì chọn những chữ “Minh Sơn” cho xong việc, ghi Chèm (tiếng Việt xưa T’lem, theo Trần Quốc Vượng) thành “Từ Liêm”, v.v… Trong các chữ đọc lên na ná âm của một chữ định phiên, thì tùy theo “yêu” hay “ghét” mà chọn chữ có “nghĩa hay” hoặc “nghĩa xấu” để quyết định.    Người Việt mất hết cả các tên gọi riêng của người, của đất đai sông núi, một khi dùng chữ Hán làm chữ hành chính (“danh tự”, “tên chữ”), cũng chỉ vì chữ Hán tượng hình không ghi lại được các âm mới, mà chỉ biết “phiên”, hoặc đổi bịa luôn. Chữ Nôm khi xưa thì chưa phát triển đủ, mà cũng không đủ oai phong.    Và rồi người ta khinh luôn cả chữ Việt, không đủ oai! Nói “hội đồng hương” thì oai hơn là “đám cùng làng”, nói “chép chuyện nhà” thì không oai bằng “gia phả”, đám cưới thì phải treo bằng được chữ “song hỉ” thật lớn ở chính giữa…    Học được chữ Hán, như bất kì ngôn ngữ nào, đều là một cơ hội tốt.    Nhưng hiểu cơ, thì cũng phải lường ra cái nguy ở ngay bên trong, thực ra là ở ngay bên trong chính mỗi chúng ta.    Nhiều người xứ Đông cố treo hoành phi chữ Hán giữa nhà mà không cần hiểu là cái gì viết ở trong đó. Dẫu có viết được câu ấy ra chữ Việt, thì cũng cho như vậy là không đáng viết, vì chữ Việt không phải là chữ của thánh hiền! Mà giả dụ đến ngày nào đó có viết hoành phi bằng chữ Việt, thì cũng dễ không quan tâm đến việc hiểu chúng, vì vốn quen lo thờ chữ, không lo hiểu nghĩa. Xem người người ra chợ chữ ngày Tết mua bán chữ Hán thì biết, nhiều thày chữ viết sai chữ, mà vẫn bán hình vẽ sai chữ chạy như tôm tươi.    Trăm năm nay người Việt dùng chữ Latin, nào ai bắt thờ, và nào ai muốn thờ “thần chữ Latin”?    Hãy học chữ Hán, nhưng với tâm thế như người xứ Đoài học chữ Hán: để giải trí, để mở mang, để giao tiếp, nhưng không để làm phục cổ cái tinh thần nô lệ “bán tự vi sư”. “Nửa chữ, cũng là nhờ có thày”, có thể như thế lắm, vì có khi học mãi mà mới vẽ được chữ 宀 “miên”, hay vẽ nên chữ 豕 “thỉ”, mà vẫn không vẽ xong chữ “gia” 家.    Với việc học, tự do là người thày đầu tiên, rộng lượng, chân thành, cuối cùng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chuyện” con người khoa học Việt Nam      Để vạch ra chiến lược ph&#225;t triển khoa học c&#244;ng nghệ tới 2020 từ kh&#237;a cạnh XH&amp;NV, t&#244;i muốn đề cập tới m&#244; h&#236;nh hay h&#236;nh ảnh con người khoa học ở nước ta. Bởi d&#249; định hướng thế n&#224;o, chọn chiến lược n&#224;o, quản l&#253; kiểu g&#236;&#8230; th&#236; ch&#237;nh những người khoa học l&#224; lực lượng sẽ thực thi. Vậy người khoa học ta l&#224; ai? C&#226;u hỏi n&#224;y đặt trước c&#226;u hỏi họ sẽ l&#224;m g&#236; v&#224; l&#224;m như thế n&#224;o?    Con người khoa học hiện đại xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 với lớp người khoa học đầu tiên được đào tạo tại Pháp và các trường đại học đầu tiên ở Đông Dương. Hầu hết những người khoa học xuất chúng thế hệ đó đều đi theo con đường giải phóng dân tộc, sau trở thành những người khoa học đầu đàn qua hai cuộc kháng chiến. Sau đó chúng ta có người khoa học được đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN Đông Âu mà việc chọn lựa và đào tạo cho tới khoảng 1965 còn khá “chuẩn”. Khi đó theo quan điểm của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu ta còn chọn được những người có tố chất, năng lực, đạo đức và chí hướng để đưa đi đào tạo và ở các nước bạn chưa có việc cấp “bằng Hữu nghị” cho các du học sinh Việt Nam như sau này khi chúng ta chạy theo số lượng và hình thức lấn át chất lượng và thực việc, hạ thấp tiêu chuẩn trong việc tuyển người đi học, trong đào tạo người khoa học và trong sử dụng người khoa học. Đồng thời là việc chúng ta cán bộ hóa (hành chính) người khoa học và quan lại hóa (quan liêu) người khoa học và công tác KHCN. Từ đó hình thành một “nhân sự” đa nhân cách người khoa học = người trí thức + người làm quan là một mẫu người hoàn toàn mới lạ và tất nhiên có nhiều điểm hoàn toàn khác với người khoa học bình thường trên thế giới.   Mô hình người khoa học “đa nhân cách” đó được triển khai trong mấy chục năm và dường như hiện nay có vẻ như càng trầm trọng hơn với các “cải cách”, với sự mở tràn lan các đại học (hàng tỉnh) và các ngành học mới… Tình trạng “dzỏm” về cả nhân sự, đề tài và kết quả nghiên cứu khoa học mà những người khoa học thực sự thường cảnh báo quả là đã đáng báo động từ lâu. Xin nêu ba thí dụ nhỏ: Sở KH&CN TP. HCM đặt hàng một viện của thành phố nghiên cứu đề tài “Khả năng chống ngập của các biện pháp và dự án chống ngập mà thành phố đang thực hiện, thi công” (với hàng loạt các lô cốt nổi tiếng trên đường phố-tin trên Tuổi trẻ). Ông Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động chủ trì một công trình nghiên cứu khoa học cấp Tổng liên đoàn – tức cấp Bộ. Đề tài là “Công tác Công đoàn Cơ sở”. Đề tài nghiên cứu khoa học này được Hội đồng khoa học của Tổng liên đoàn nghiệm thu với các phiếu cho điểm xuất sắc – Tin báo Lao Động). Bản thân tôi được mời làm phản biện cho một công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của một viện kiến trúc với đề tài “Thực trạng kiến trúc Việt Nam” do một số TS và Ths kiến trúc làm. Bài viết gồm các phần gá lắp khác nhau khá lộn xộn trùng lặp, tài liệu trích dẫn phân lớn là các tham luận tại một hội thảo về “Thực trạng kiến trúc Việt Nam” do chính viện này tổ chức. Tất nhiên không có phát hiện hay lập luận khoa học nào trong công trình  này. Sau khi viết ra nhận xét góp ý phản biện. Tôi được đề nghị ghi vào phiếu nhận xét là “Đề nghị sửa chữa để nghiệm thu”. Tất nhiên công trình nghiên cứu khoa học này (cũng như vô số các đề tài nghiên cứu khoa học khác) đã được nghiệm thu, giải ngân mà tất cả các bên liên quan trong và ngoài cuộc đều biết và hiểu với nhau rằng nó chẳng liên quan gì tới nghiên cứu khoa học cả!  Trong cộng đồng một quốc gia thì cộng đồng khoa học và hoạt động khoa học luôn phải là trong sạch nhất, cao thượng nhất, đáng mơ uớc nhất của những con người dấn thân trí tuệ. Nay cộng động này cũng có không ít các tệ nạn xã hội như tham nhũng quan liêu, lừa dối, giả mạo và có khi cả tội phạm… như các lĩnh vực hoạt động khác. Không chỉ thiệt hại tiền của Nhà nước, không tạo được môi trường lành mạnh cho KHCN phát triển, mà mẫu người khoa học của ta còn đánh mất đi một hình ảnh, một ước mơ tốt đẹp dẫn đường cho các tâm hồn thanh thiếu niên hướng thượng, vươn tới những tầm cao trí tuệ mới. Không lạ khi rất hiếm thanh niên ngày nay ước mơ thành người khoa học.   Vì vậy, Chiến lược phát triển KHCN của Việt Nam khó có thể thành công nếu ta không triệt để thay đổi quan điểm về người khoa học và xây dựng một mẫu người khoa học bình thường, đúng nghĩa, thực chất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện công nghệ làm luật      Công nghệ làm máy tính, ô tô… của các nước  tiên tiến là những công nghệ cao. Công nghệ làm luật của họ có vẻ cũng  như vậy. Vấn đề là: tiếp thu công nghệ làm máy tính, ô tô… thật không  dễ, tiếp thu công nghệ làm luật còn khó khăn hơn. Tuy nhiên, chúng ta  vẫn có thể tìm hiểu công nghệ làm luật của họ để vận dụng vào việc làm  pháp luật của Việt Nam.    Quy trình lập pháp phổ biến của thiên hạ thường có hai công đoạn: Công đoạn của chính phủ – hoạch định chính sách và dịch chính sách thành các quy phạm pháp luật; công đoạn của nghị viện – thẩm định chính sách và thông qua thành pháp luật. Đây là hai công đoạn với ý nghĩa khác nhau, không phải là một việc được làm hai lần.   Công đoạn của chính phủ không bắt đầu bằng việc tìm cách đưa các tên luật vào chương trình lập pháp, mà bằng việc nhận biết cuộc sống đang phát sinh vấn đề gì, từ đó nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và đề ra chính sách. (Đây thường là công việc mà các Bộ phải làm). Chính phủ sẽ xem xét và phê chuẩn chính sách được đề ra trước khi việc soạn thảo văn bản (dịch chính sách đã được phê chuẩn thành mệnh lệnh hành động) được bắt đầu. Ở Việt Nam ta, không ít trường hợp công việc này đang được tiến hành theo chiều ngược lại: việc soạn thảo văn bản xảy ra trước, việc trình Chính phủ xảy ra sau. Rủi ro của cách làm này là rất lớn. Nếu Chính phủ không chấp nhận chính sách được đề ra, mọi cố gắng soạn thảo sẽ trở nên vô ích. Đó là chưa nói tới tình trạng văn bản có thể được soạn thảo mà không có chính sách đi kèm. Hậu quả là không thể triển khai văn bản vào cuộc sống.           Thực tế cho thấy thiếu một triết lý rõ ràng, một quy trình mạch lạc, càng nhiều cơ quan được thành lập, càng làm cho việc làm luật trở nên rối rắm, tốn kém  mà chất lượng thì chưa chắc đã được nâng lên.            Thông thường các vấn đề về kỹ thuật soạn thảo văn bản, các vấn đề về chuyên môn là công việc của chính phủ chứ không phải công việc của nghị viện. Điều này không có nghĩa là nghị viện không tham gia vào khâu kỹ thuật văn bản. Tuy nhiên, các ủy ban của nghị viện mới có thể tham gia vào khâu kỹ thuật văn bản, chứ không phải là nghị viện ở phiên họp toàn thể.  Công đoạn lập pháp ở nghị viện các nước chia làm ba bước (còn gọi ba lần đọc), mỗi bước đều có nghĩa lý riêng, không phải là một việc làm ba lần cho kỹ.  Bước thứ nhất, chính phủ trình dự thảo văn bản của mình, trong đó lý giải tại sao vấn đề không xử lý được bằng những công cụ hiện có, do vậy cần đưa ra chính sách để giải quyết vấn đề. Trong bước này, nghị viện chỉ xem xét về việc có thật sự cần một đạo luật như thế không mà thôi.  Bước thứ hai, nghị viện thảo luận về chính sách do chính phủ đề ra sau khi các nghị sĩ đã nghiên cứu dự luật và tham vấn với cử tri. Nếu được thông qua, dự luật được chuyển đến ủy ban tương ứng. Bước thứ hai không chỉ là để thông qua chính sách, mà còn để gửi  thông điệp cho xã hội về chính sách có thể được ban hành, giúp cho  cử tri có thể tham gia ý kiến về dự luật. (Nếu các vấn đề về việc chính sách sắp được ban hành sẽ ảnh hưởng đến người dân như thế nào, ai được, ai mất không được tranh luận rõ tạị Nghị viện, thì người dân khó có thể đóng góp ý kiến).  Sau bước thứ hai, dự án luật sẽ được chuyển cho ủy ban tương ứng. Thông thường, tại ủy ban này, tất cả các vấn đề về câu chữ, kỹ thuật còn lại sẽ được hoàn thiện, sau đó ủy ban sẽ biểu quyết về dự luật và báo cáo trình ra nghị viện để kiến nghị thông qua hoặc không thông qua dự luật. Thông thường khi ủy ban đề nghị thông qua dự luật, nghị viện các nước sẽ thông qua ngay mà ít khi có thảo luận gì thêm.   Bước thứ ba, nghị viện chính thức thông qua dự luật. Giai đoạn này rất ngắn gọn.   Với quy trình lập pháp có các công đoạn mạch lạc như trên thì sản phẩm của nó là các văn bản pháp luật có chất lượng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện dấu chân sinh thái trên đầu người, “mừng” và “lo”      Nghe chuyện dấu chân sinh thái trên đầu người, phải biết “mừng”, và trước hết biết “lo”.    Một trong những tiêu chí quan trọng nhất của bảng xếp hạng “chỉ số hành tinh hạnh phúc” của tổ chức New Economics Foundation (NEF) là tỉ lệ “dấu chân sinh thái” trên đầu người (DCST/ĐN), nghĩa là mức độ can thiệp vào thiên nhiên tính theo đầu người trong đời sống. Nói khác đi, đó là mức độ tiêu thụ các nguồn lực thiên nhiên trên đầu người ra sao. Việt Nam là quốc gia đứng nhì trên thế giới theo bảng chỉ số NEF năm 2012. Tỉ lệ DCST/ĐN của người Việt còn thấp. Và đừng nhầm cái tiêu đề, đây là câu chuyện về “hành tinh hạnh phúc”.  Tin này “mừng” có, “lo” có.  Ở một đất nước có tỉ lệ đất chật-người đông trên đầu người vào loại lớn nhất trên thế giới, lại chưa được công nghiệp hóa cao, hiển nhiên là việc tiêu thụ các nguồn lực thiên nhiên trên đầu người còn chưa bị cao khi so sánh với thế giới. Chỉ nhìn tỉ lệ diện tích mặt đường cho mỗi người chúng ta đang chen vai thích cánh ở các thành phố, là đã thấy ngay câu chuyện rồi.  Ít nhất hai yếu tố sau đây sẽ tiếp tục cuộc nửa mừng nửa lo.  Công nghiệp rồi sẽ phát triển lên, diện tích nhà cửa, công sở, phố xá, cầu cống, đường cảng giao thông… sẽ tăng lên nhanh chóng. Năng lượng sử dụng tăng vọt lên theo sản xuất, giao thông, tiêu thụ. Mỏ, đất rừng bị tăng cường khai phá… Chất thải, ô nhiễm, dịch bệnh chồng chất tiếp lên… Có nỗi mừng về các dịch vụ đời sống sẽ được phong phú hơn lên. Và có nỗi lo về tỉ lệ DCST/ĐN sẽ thành ra cao vọt lên theo. Quản trị hợp lý được các quy hoạch dài hạn và ngắn hạn cho đời sống ngày càng trở nên khẩn thiết.  Việc tăng trưởng dân số nếu không quản trị quy hoạch được thì lại sẽ xói sạch các thành quả của các tiến bộ kinh tế xã hội. Nỗi lo này, nỗi lo triền miên, không thể nào lơ là. Và nỗi mừng tưởng bở sẽ là tỉ lệ DCST/ĐN sẽ giảm đi khi… dân số tăng vọt! Một xã hội quản trị quy hoạch được sự ổn định về dân số sẽ được quyền sử dụng tỉ lệ “DCST/ĐN” lớn hơn rất nhiều cho hạnh phúc đời sống! Chìa khóa của quản trị quy hoạch được dân số thực ra lại phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức phát triển được một xã hội dân sự nền nếp, nơi mà hệ thống các phúc lợi, tiền hưu trí, nền y tế, và các tổ chức cứu tế tương hỗ của xã hội vận hành ổn thỏa. Mà muốn thế thì xã hội phải được cải cách để tiến lên ! Bởi nếu không được như thế, thì sức khỏe, thu nhập và sự trợ giúp cho người già chỉ còn biết trông cậy vào con, vào cháu, và như thế thì phải, allez, mỗi người mỗi nhà lại loay hoay tiếp tục phương pháp con đàn cháu đống mà thôi!   Cho nên nghe chuyện dấu chân sinh thái trên đầu người, phải biết “mừng”, và trước hết biết “lo”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyến đi lịch sử  tới Trung Quốc của Kissinger      40 năm trước, một sự kiện quan trọng, gây ảnh hưởng lớn tới cục diện địa chính trị trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, trong suốt một thời kỳ kéo dài tới tận ngày nay, đó là việc Mỹ bắt tay với Trung Quốc qua chuyến thăm của Nixon vào tháng 2/1972. Tia Sáng xin giới thiệu bài phỏng vấn của Mạng Truyền thông Công cộng (PBS) dành cho cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, về những nấc thang dẫn tới chuyến đi lịch sử này của Nixon.     PBS: Lần đầu tiên ông được nghe Tổng thống cho biết ý tưởng về mở cửa quan hệ với Trung Quốc trong hoàn cảnh nào?  Henry Kissinger: Tôi được đọc về nó trong một văn bản ông ta viết gửi Bộ Ngoại giao, và Nixon nói về mở cửa theo nghĩa chung trong vòng ít tuần sau khi bắt đầu nhiệm kỳ, bởi vì ông ta nghĩ rằng giải pháp này có thể tạo sức ép lên Liên Xô và tác động theo hướng có lợi cho Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Nhưng ý tưởng này không được xây dựng một cách thật cụ thể, chỉ là ông ta muốn làm như vậy mà thôi. Và chúng tôi không hề biết sẽ làm bằng cách nào và đâu là cơ hội thích hợp để tiến hành.  Có phải ông và Tổng thống quyết định giữ kín về chủ trương này trong phạm vi Nhà Trắng và Hội đồng An ninh Quốc gia?   Đầu tiên chúng tôi muốn giữ kín tất cả chuyện này trong phạm vi Nhà Trắng. Một là vì bối cảnh lúc ấy đang là đỉnh cao của phong trào phản đối như mọi thông tin chạy qua các quan chức đều bị rò rỉ. Hai là vì nhiều quan chức cho rằng Tổng thống không được ủng hộ. Ông là vị Tổng thống không chạy theo định hướng quan điểm của tờ New York Times. Hồi đó làm vậy chẳng khác gì chống lại tạo hóa. Ba là nhiều quan chức và nhiều nhà ngoại giao cho rằng mở cửa với Trung Quốc là vô cùng nguy hiểm. Chẳng hạn như sau này khi chúng ta đưa ra một vài động thái, như cho phép mua hàng Trung Quốc ở Hong Kong với giá trị dưới vài trăm USD, đã có tới bốn đại sứ cao cấp gọi điện thoại cho Tổng thống và cảnh báo rằng ông ta đang gây ra rủi ro không thể chấp nhận được vì có thể gây hiềm khích với Liên Xô. Vì những lý do này nên chúng tôi đã cố gắng giữ tương đối kín chủ trương mở cửa với Trung Quốc trong phạm vi Nhà trắng. Ấy là trong giai đoạn đầu.       Ông có thể mô tả Dubrinin1 đã nói gì về những thương vong khốc liệt xảy ra với những người lính Liên Xô tại biên giới với Trung Quốc? Và ý định của ông ta là gì?   Ban đầu chúng tôi phỏng đoán theo cách nghĩ truyền thống, rằng Trung Quốc rất cực đoan và vô cùng dữ dằn. Nhưng rồi một ngày Dubrinin tới và kể tóm tắt cho tôi về một cuộc đụng độ ở sông Yusuri, và nói về khả năng phối hợp giữa Mỹ và Liên Xô đưa tình huống này vào vòng kiểm soát, hoặc đưa mối nguy hiểm vào vòng kiểm soát. Sự kiện này thật không giống với tính cách thông thường của người Liên Xô chút nào, vì hiếm khi nào họ thông báo vắn tắt cho chúng ta biết về một mâu thuẫn giữa họ với một bên thứ ba, cũng hiếm khi ông ta [trong tư cách một đại sứ] có những hành xử vượt xa ra ngoài phạm vi chức trách của mình như vậy. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tôi đã cố tình phản hồi một cách mập mờ để khiến ông ta phải lo lắng. Đến khi ấy, tôi vẫn cho rằng nhiều khả năng Trung Quốc là bên khởi động xung đột trước. Sau này ông ta tiếp tục quay lại hai hoặc ba lần để thông báo về những cuộc đụng độ khác. Chúng tôi đã đánh dấu lại những vị trí xung đột trên bản đồ. Ít tháng sau khi đến San Clemente, tôi đề nghị một người từ Tập đoàn Rand2 – có lẽ tên ông ta là Alan Whiting3, đến trình bày cho tôi nghe tổng quan về Trung Quốc. Ông này cho rằng Liên Xô là bên gây hấn chứ không phải Trung Quốc. Sau đó chúng tôi cùng nhìn vào những điểm được đánh dấu trên bản đồ, và nhận ra rằng tất cả các vị trí xung đột đều nằm gần đường xe lửa của Liên Xô, và cách xa đường xe lửa của Trung Quốc. Vậy là chúng tôi kết luận rằng có lẽ Liên Xô là bên gây hấn trước. Một khi suy nghĩ này đã hình thành trong đầu, chúng tôi kết luận rằng trong một cuộc va chạm giữa hai người khổng lồ của phía cộng sản, nguyên tắc để đảm bảo cân bằng – người Mỹ ít khi để ý điều này – đòi hỏi chúng ta phải hỗ trợ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn. Ở Anh lối suy nghĩ này không có gì là lạ, nhưng ở Mỹ người ta thường không xây dựng chính sách ngoại giao theo tư duy như vậy. Kể từ đó, chúng tôi bắt đầu tích cực khởi động và có những biện pháp để tìm cách liên hệ với Trung Quốc.     Ông hãy mô tả về lần liên hệ đầu tiên của đại sứ Stoessel4 với các nhà ngoại giao Trung Quốc.  Tôi hối thúc Stoessel tìm cách liên hệ. Nhưng ông ta không chịu làm, vì điều này không chính thống, và cũng nhạy cảm nếu [sau này] chạm mặt với nhóm vận động hành lang thân Đài Loan hoặc thân Trung Quốc ở Quốc hội, nên ông ta không muốn phải lãnh trách nhiệm dựa trên lời nói đơn phương từ một cố vấn an ninh [tức Kissinger]. Và ông ta cứ nghĩ rằng đây chỉ là ý tưởng của riêng tôi. Vậy nên tôi phải gọi ông ta về nước và dẫn ông ta tới gặp Tổng thống, rồi Tổng thống chỉ đạo ông ta làm đúng như điều tôi đã yêu cầu từ trước, đó là túm lấy một nhà ngoại giao cao cấp bất kỳ của Trung Quốc mà ông ta gặp được trong một dịp thông thường nào đó, và bảo với người đó rằng chúng ta muốn nói chuyện. Cuối cùng thì ông ta cũng tìm được một nhà ngoại giao Trung Quốc trong một cuộc trình diễn thời trang, và cái ông Trung Quốc này đã quá đỗi choáng khi thấy một người Mỹ tìm cách đến gần, nên đã tìm cách lảng đi chỗ khác. Thế nên Basil Stoessel, một trong những nhà ngoại giao tài ba nhất của chúng ta, bất đắc dĩ phải đuổi theo ông ta, dồn vào một góc để trao thông điệp, và cái vị Trung Quốc này chỉ nín thinh ghi nhận, rồi lại tiếp tục chạy đi. Sau đó vài tuần, trước sự kinh ngạc của Vacsava, và ngay cả đại sứ quán của ta cũng kinh ngạc khi người Trung Quốc gọi điện tới, nói rằng họ đang sắp đến và muốn được tiếp đón. Họ đến bằng cửa trước, với quốc kỳ cắm trên xe hơi, tức là theo cách công khai tối đa, và bắt đầu câu chuyện.    Việc Mỹ tấn công Campuchia ảnh hưởng tới việc đàm phán với Trung Quốc như thế nào?  [Sau cuộc gặp tại đại sứ quán ở Vacsava], thực tế là Trung Quốc đã báo với chúng tôi rằng họ muốn chúng ta gửi một phái viên tới Bắc Kinh. Khi đó Bộ Ngoại giao Mỹ cung cấp hai cuốn báo cáo lớn, một là về nội dung, hai là về quy trình. Cuốn về nội dung liệt kê ra tất cả mọi vấn đề cần quan tâm. Thực ra Nhà trắng khi ấy không hào hứng gì trong việc bàn về các vấn đề tuyên ngôn, tài sản, kiểm soát vũ khí, hay những câu hỏi về nghi thức ngoại giao, vì để duyệt hết tất cả những thứ ấy sẽ mất rất nhiều thời gian. Và theo quy trình thì Bộ Ngoại giao còn muốn thông báo vắn tắt tới 17 quốc gia, cùng với bao nhiêu vị Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ mà tôi chẳng nhớ nổi số lượng. Tổng thống Nixon [vì sốt ruột] đã nói rằng chúng ta sẽ giết chết đứa bé này trước khi nó ra đời, hoặc trước khi nó kịp lớn lên. May thay công việc này trùng hợp vào thời điểm xảy ra vụ tấn công Campuchia, và thế là Trung Quốc cắt liên lạc với chúng tôi.      Ông đã nhờ Pakistan chắp lại mối liên hệ với Trung Quốc ra sao?  Nói rằng chúng tôi gửi gắm qua Pakistan là quá lời. Chúng tôi nhờ một số nước. Trong thực tế chúng tôi đã nhờ một số nước XHCN như Rumani. Nhưng Trung Quốc không tin tưởng những nước này. Và chúng tôi cũng nhờ cả Pakistan. Không phải là tôi mà chính là Tổng thống Nixon, trong một chuyến đi tới Pakistan vào mùa hè 1969, đã nhờ thu xếp qua Yahya Khan5, nhưng sau đó không có gì xảy ra trong vòng một năm.    Ông được biết về lời mời của Trung Quốc gửi Nixon như thế nào?          Nixon đã để mắt tới Trung Quốc từ khá lâu.  Năm 1967, viết trên tờ Các vấn đề đối ngoại (Foreign Affairs), ông đã  khuyến cáo: “… chúng ta đơn giản là không thể bỏ qua Trung Quốc mãi mãi  trong đại gia đình các quốc gia, làm vậy sẽ khiến họ tiếp tục nuôi dưỡng  ảo mộng, ấp ủ thù hận, và đe dọa các láng giềng”.              Năm 1969, quan hệ Trung Mỹ đang ở mức không công nhận lẫn nhau, với  những thông điệp dành cho nhau mang tính thù địch. Sau khi tiếp quản ghế  Tổng thống, Nixon bắt đầu ra dấu hiệu cho một thái độ tan băng đối với  Trung Quốc. Ông ta để cho Ngoại trưởng Willam Rogers tuyên bố rằng Mỹ  muốn tăng cường giao lưu văn hóa và khoa học với Trung Quốc, giảm bớt  những hạn chế về thương mại và visa, đồng thời bắt đầu rút quân khỏi  Việt Nam cũng như các căn cứ quân sự gần Trung Quốc. Để tránh trường hợp  những thông điệp này không đến được công chúng Trung Quốc, ông ta thậm  chí còn nói rõ ý mình hơn nữa. “Nếu có điều gì tôi muốn làm trước khi  chết”, ông nói với tạp chí Time hồi tháng 10 năm 1970, “thì đó là đến  Trung Quốc”.         Hilali6 tới với một mẩu giấy viết tay mà ông ta không cho phép chúng tôi được cầm lại. Sự việc khi ấy có vẻ rất huyền bí. Và sự liên hệ đầu tiên đó cho thấy khá rõ là họ muốn đối thoại, ở cấp lãnh đạo rất cao, và họ cũng đã chuẩn bị mời Nixon tới Trung Quốc.  Chúng tôi đáp lại rằng chúng tôi sẽ không chỉ đến để nói riêng về chủ đề Đài Loan, rằng chúng tôi muốn mỗi bên có thể nói về tất cả những vấn đề có thể ảnh hưởng tới tổng thể quan hệ Trung – Mỹ.      Vì sao ông được chọn đến Trung Quốc để thu xếp cho chuyến thăm của Nixon? Một số người cho rằng dường như Nixon dùng ông như một công cụ trò chơi.  Phải rồi. Trò chơi, đây chỉ là một trò chơi cấp thấp theo tiêu chuẩn của Nixon. Và thực ra, thẳng thắn mà nói, ông ta có khả năng chơi khá hay. Tôi không nghĩ ban đầu ông ta định cử tôi đi. Chúng tôi đã cùng điểm qua một số cái tên, và mỗi lần ông ta cân nhắc ai thì lại thấy rằng hiển nhiên cái người được cử đi này sẽ trở thành một tên tuổi quan trọng, và được hưởng một phần công trạng trong việc mở cửa với Trung Quốc, mà Nixon thì tuyệt đối không muốn chia sẻ công lao này với ai. Vậy nên ông ta nghĩ rằng việc gửi đi cố vấn của mình, người không được phép xuất hiện trên TV và không được tự do trao đổi với báo chí, sẽ là cách an toàn nhất để không cạnh tranh với ông ta trong vấn đề này. Đây cũng là cách dễ nhất để ông ta kiếm soát tình hình. Tôi nghĩ đây là lý do tại sao ông ta chọn tôi.    Ông có thể nói về cách ông nhận được xác nhận đồng thuận cuối cùng từ phía Trung Quốc.  Sau một thời gian chờ đợi, không biết khi nào thì thông điệp sẽ được gửi đến, cuối cùng thì chúng tôi cũng nhận được nó, và nếu không nhầm thì tôi đã đến thông báo [cho Tổng thống] khi ông đang ở phòng chờ [mang tên] Lincoln. Tôi nói với ông ta rằng tôi nghĩ đây là một cuộc cách mạng về ngoại giao, hình như cụm từ chính xác mà tôi dùng là tin nhắn quan trọng nhất kể từ Thế chiến thứ 2. Ông ấy mở một chai Courvoisier và chúng tôi cùng uống mừng một ly. Nhưng chúng tôi cũng nhận ra rằng việc này có thể phá vỡ tình hình cuộc chiến ở Việt Nam và chắc chắn sẽ thay đổi bản chất mối quan hệ với Liên Xô.     Ông có thể mô tả chuyến đi của ông tới Pakistan?  Tôi đã lên kế hoạch đi công du qua châu Á, và tôi cố tình khiến chúng buồn tẻ hết cỡ để tránh sự soi mói của báo giới, đến khi chúng tôi tới Islamabad thì người ta đã bảo nhau rằng chuyến công du này thực sự thất bại, và chỉ còn sót lại đúng một nhà báo đưa tin về sự kiện. Tổng thống Yahya Khan mời chúng tôi dự bữa tối, trong bữa ăn tôi viện cớ bị ốm và Yahya vin vào đó mời tôi về nhà nghỉ dưỡng của ông trên núi. Vậy là chúng tôi tuyên bố với báo giới rằng tôi sẽ ở lại vài ngày trên núi. Chúng tôi thậm chí còn gửi đi một đoàn xe hộ tống để mọi người đều trông thấy và tin rằng đó là chuyện thật. Nhưng thực ra ngày hôm sau tôi dậy từ rất sớm, ngay trước 5 giờ sáng, lên một máy bay của Pakistan và bay tới Bắc Kinh. Đó không phải là một máy bay thương mại. Khi lên máy bay, tôi có mật vụ đi cùng giống như mọi thời điểm khác trong những ngày đó. Chúng tôi bắt gặp bốn người Trung Quốc mặc áo đại cán đang ngồi đó, do Chu Ân Lai gửi đến tháp tùng tôi về Trung Quốc. Nhưng khi ấy chúng tôi không hề biết trước. Đám mật vụ của tôi gần như lên cơn đau tim khi thấy những người này.     Ông có thể kể lại giai thoại về chiếc áo sơ mi?     Một trong những vấn đề với những chuyến công du cao cấp như thế này hóa ra lại là những điều nhỏ nhặt, như bạn dùng đoàn xe hộ tống nào, và bạn làm gì với những chiếc áo sơ mi. Bạn có đủ áo sơ mi cho chuyến đi hay không, và liệu bạn có dám để người ta giặt dọc đường tại các địa phương mà không e ngại nó có thể co lại tới mức không thể mặc được. Số là tôi đã chuẩn bị 3 chiếc áo sơ mi, mỗi cái vào một túi riêng, bảo quản rất cẩn thận. Nhưng rồi trợ lý của tôi để quên chúng ở Pakistan, và thế là tôi không còn áo mặc. Một người trong đoàn của tôi cao tới 6 ft 3 (tương đương 1,9 m) cho tôi áo của anh ta, và cái áo này khiến tôi trông như không có cổ. Chưa kể nó lại được sản xuất ở Đài Loan, với nhãn hiệu sản xuất tại Đài Loan. Tôi vẫn thường nói đùa với người Trung Quốc rằng Đài Loan rất gần với tôi, thực tế thì đúng là vậy.    Ấn tượng của ông về Chu Ân Lai như thế nào?  Chu Ân Lai là một người tinh tế, thông minh, chuyên nghiệp, gây sức hút, và dường như ông ta có vô tận thời gian cho những cuộc chuyện trò. Tôi thường bảo ông ta rằng tôi sẽ không thể dành nhiều thời gian đến thế cho những cuộc gặp sau. Nhưng ông ta vẫn cứ như vậy trong mọi lần gặp tiếp theo, ông ta không thích làm việc buổi sáng, nhưng chúng tôi thường bắt đầu từ ba giờ, và trò chuyện liên tục tới hai, ba giờ sáng hôm sau mà ông ta vẫn không hề bị ai đến làm phiền. Chẳng ai mang tới cho ông một mẩu giấy, và rõ ràng là không có ai gọi điện thoại đến. Ông ta hành xử như thể tuyệt đối chẳng hề có nhiệm vụ nào khác trên thế giới ngoại trừ làm việc với vị khách người Mỹ của mình. Rất rắn. Một người đàm phán rất giỏi. Một trong những người có năng lực nhất mà tôi từng gặp và là một trong những người dễ chịu nhất mà chúng ta có thể gặp hằng ngày.      Việc đàm phán về việc mời Nixon đến thăm có gặp khó khăn gì không?   Chuyến đi của tôi chỉ có đúng khoảng thời gian cuối tuần để bàn việc. Họ có chuyến thăm cấp Nhà nước của Kim Nhật Thành và không biết phải hủy thế nào. Nên Chu Ân Lai phải chia sẻ thời gian giữa chúng tôi và Kim Nhật Thành. Chúng tôi bắt đầu trao đổi về các thông điệp với công chúng, và người Trung Quốc đã dạy cho tôi một bài học mới. Tôi vốn quen làm việc với người Soviet và thường có thói quen đặt ra những yêu cầu mang tính tối đa, và bắt đầu đàm phán ngược lại từ đó. Nhưng người Trung Quốc bảo rằng tạm thời chưa thỏa thuận gì vội, chưa đặt ra điều khoản gì, mà chỉ cần cho chúng tôi biết các anh cần gì, rồi chúng tôi sẽ cho anh biết điều mà chúng tôi cần, và chúng ta cùng nhau thảo ra. Nhưng đang thảo luận giữa chừng thì Chu Ân Lai phải đi dự một bữa tối. Ông ta không thể cho chúng tôi biết lý do là gì. Vậy là chúng tôi chỉ mới kịp thảo luận sơ bộ trước khi ông ấy biến mất mà không rõ lý do. Chúng tôi chỉ còn biết ở lại trong nhà khách Chính phủ mà không hề có ai khác và không thể biết điều gì sẽ diễn ra tiếp theo. Sau đó Hoàng Hoa – sau này là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, một người thân tín với Chu – xuất hiện. Chúng tôi cùng thảo luận nhưng vẫn chưa rõ thực hư. Sáng hôm sau, chúng tôi lại gặp Hoàng Hoa một lần nữa, ông ta đưa ra một văn bản, chúng tôi cũng có sẵn một văn bản. May cho tôi là tôi để ông ta đưa văn bản của họ ra trước, với nội dung tốt hơn nội dung của chúng tôi. Chúng tôi hầu như nhất trí và hình như chỉ đề nghị thay đổi đúng một chữ. Lúc đó Chu Ân Lai mới xuất hiện một lần nữa, và chúng tôi kết luận cuộc gặp, vì tôi phải trở về có mặt ở Paris trước nửa đêm theo giờ Paris, vì một lý do mà tôi không còn nhớ.        Trong giai đoạn đầu của Chiến tranh  Lạnh, đa số người Mỹ nhìn nhận Trung Quốc và Liên Xô là hai quốc gia  riêng biệt nhưng ở cùng phía một chiến tuyến. Phải tới khi xảy ra cuộc  chiến giữa hai bên Washington mới nhận ra hai cường quốc này mâu thuẫn  nhau tới mức nào. Những căng thẳng giữa Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung  Quốc chớm nở từ thập niên 1930, khi Nga ủng hộ Tưởng Giới Thạch hơn Mao  Trạch Đông. Nhưng trong những ngày đầu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,  Nga và Trung Quốc dường như sát cánh bên nhau. Năm 1950 Mao Trạch Đông  ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên kết, Tương trợ với Liên Xô, với cam kết bảo  vệ Trung Quốc trong trường hợp bị Mỹ tấn công. Nhưng gần như ngay lập  tức mối liên minh Trung – Xô bắt đầu có dấu hiệu trục trặc.              Từ giữa thập niên 1950, khác biệt về tư tưởng đường lối giữa Moscow và  Bắc Kinh bắt đầu lộ ra, có sự xa cách trong các vấn đề về tiến độ, hình  thái tiến lên CNXH, và đối sách với phương Tây. Trong khi Trung Quốc chủ  trương tiếp tục chống lại các nước “đế quốc” thì Liên Xô đã bắt đầu cân  nhắc về “chung sống trong hòa bình” với Mỹ. Không lâu sau đó những khác  biệt về tư tưởng này chuyển hóa thành khác biệt ở tầm quốc gia, khi cả  Trung Quốc và Liên Xô cùng cố gắng tăng ảnh hưởng của mình tới các nước  XHCN khác.              Tới đầu thập kỷ 1960, Moscow và Bắc Kinh bắt đầu công kích lẫn nhau công  khai. Tháng 4 năm 1960, Bắc Kinh công khai phê phán “chủ nghĩa xét lại”  của Liên Xô, và Moscow phản ứng lại bằng việc rút hàng nghìn cố vấn  khỏi Trung Quốc, hủy bỏ các chương trình tài trợ kinh tế và quân sự. Năm  1962, Liên Xô ủng hộ Ấn Độ trong cuộc tranh chấp lãnh thổ tồn tại từ  lâu với Trung Quốc. Quan hệ Trung Xô ngày càng tiêu cực trong suốt thập  kỷ 1960. Tới khi Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc năm 1968 và Moscow tuyên  bố quyền can thiệp vào các nước XHCN khác để tự “bảo vệ” trước những  ảnh hưởng chống Cộng sản, Bắc Kinh bắt đầu lo sợ rằng Trung Quốc sẽ là  mục tiêu tiếp theo.                Căng thẳng cuối cùng trở thành đối đầu vào tháng 3, 1969, dọc sông  Ussuri, nơi có ranh giới rất mơ hồ giữa Liên Xô và Đông Bắc Trung Quốc.  Đã có những vụ nổ súng vào nhau trong các ngày 2 và 15 tháng 3, gây ra  nhiều thương vong. Xung đột vũ trang tiếp diễn vào mùa xuân và mùa hè,  trong khi cả hai bên cùng tập trung đông quân vào khu vực điểm nóng.  Trong vòng vài tháng, cả thế giới chứng kiến Trung Quốc và Liên Xô kéo  nhau tới gần viễn cảnh một cuộc xung đột hạt nhân. Liên Xô liên tục ngụ ý  về khả năng một cuộc tấn công mang tính phòng vệ vào các cơ sở hạt nhân  của Trung Quốc, trong khi Trung Quốc xây dựng một mạng lưới đường ngầm  và hầm để phòng khi bị tấn công hạt nhân.              May mắn là cuộc khủng hoảng biên giới đã được giải quyết bằng ngoại giao  vào tháng 9 /1969, khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kosygin bay tới Bắc  Kinh đàm phán cấp cao về biên giới với Thủ tướng Chu Ân Lai. Tuy nhiên,  mối đe dọa tiềm tàng từ Liên Xô đã thúc đẩy Chu và Mao phải bắt đầu suy  nghĩ lại về chiến lược địa chính trị cho Trung Quốc. Họ biết rằng nếu  chiến tranh nổ ra, Trung Quốc sẽ không thể đương đầu với lực lượng  Soviet. Trong khi đó, Mỹ đang hiện diện ở Việt Nam, và chính quyền mới  của Nixon chưa thể hiện một đường lối chính sách rõ ràng đối với Trung  Quốc.              Đối diện với nguy cơ từ hai phía, Bắc Kinh bắt đầu thấy rằng cải thiện  quan hệ với Mỹ là cách tốt nhất để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc. Tốt  hơn là “liên minh với kẻ thù ở xa”, như Mao nói, “nhằm chống lại kẻ thù  ngay ngoài cửa ngõ”. Cũng vào lúc đó, Washington bắt đầu nhận thấy rõ sự  chia rẽ trong quan hệ Trung – Xô. Nixon và Kissinger nhận ra họ có thể  dùng sự đối trọng giữa Moscow và Bắc Kinh để cải thiện được quan hệ với  cả hai. Trong tất cả mọi nguyên nhân, sự chia rẽ trong quan hệ Trung –  Xô là yếu tố là lực đẩy mạnh nhất giúp Mỹ và Trung Quốc tái lập quan hệ  hữu nghị vào tháng 2/ 1972.        Thanh Xuân lược dịch theo PBS  http://www.pbs.org/wgbh/amex/china/sfeature/kissinger.html  http://www.pbs.org/wgbh/amex/china/peopleevents/pande01.html  http://www.pbs.org/wgbh/amex/china/peopleevents/pande06.html  ———–  1 Yuri Dubrinin: Đại sứ Nga tại Mỹ  2 Tập đoàn Rand là một tổ chức phi lợi nhuận nghiên cứu chính sách toàn cầu, được Công ty Máy bay Douglas thành lập nhằm thực hiện những nghiên cứu và phân tích phục vụ quân đội Mỹ. Ngày nay tổ chức này có 1700 nhân viên, được Chính phủ Mỹ cấp kinh phí, đồng thời được tài trợ bởi các nguồn kinh phí công và tư khác.   3 Allen Suess Whiting, giáo sư Khoa học chính trị Đại học Michigan trong giai đoạn 1968-1982  4 Walter John Stoessel, Jr., đại sứ Mỹ tại Ba Lan trong giai đoạn 1968 – 1972   5 Tổng thống Pakistan trong giai đoạn 1969 – 1971   6 Agha Hilaly, đại sứ của Pakistan tại Mỹ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi điện năng của Việt Nam: Ai sẽ chi trả ? (Kỳ 1)      Tiền đâu để Việt Nam có thể chi trả cho việc phát triển hệ thống điện bắt kịp sự phát triển kinh tế? Và liệu có cách nào để các tập đoàn nhà nước tự chủ tài chính mà không tăng giá điện trung bình trên mỗi người dân không?     Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà nước đều có cách ‘đầu tư’ vào thiết bị, công nghệ tiết kiệm điện mà vẫn có ‘lời’. Ảnh: GIZ Energy  Bài viết dưới đây được chia làm hai phần, trong phần I này thảo luận về việc có thể giảm chi phí phát triển hệ thống bằng cách sử dụng năng lượng tái tạo thay cho năng lượng hóa thạch và thúc đẩy việc tiết kiệm điện. Nhưng kể cả vậy, đó mới chỉ giải quyết được một nửa vấn đề.  Khủng hoảng liên tiếp  Chúng ta cần chuẩn bị tinh thần bởi thế kỉ này đang bước vào một giai đoạn đầy biến động. Tổ chức Y tế thế giới tuyên bố đại dịch COVID-19 vào tháng 3/2020 và cho tới tháng 5/20221, số người tử vong vì đại dịch đã lên đến 21.4 triệu người. Phong tỏa và các biện pháp khác để đối phó với đại dịch đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng toàn cầu: nền kinh tế toàn cầu giảm 3.5% năm 2020, nghĩa là giảm khoảng 7% so với dự báo trước đó là tăng trưởng 3.4%2. Nhu cầu tiêu dùng giảm trong cuộc khủng hoảng đẩy giá nhiên liệu hóa thạch tới mức thấp chưa từng có: chẳng hạn như giá khí đốt tự nhiên ở Bắc Á (chỉ số ANEA) từ đỉnh là 6.5 USD/MMBtu (1 triệu đơn vị nhiệt Anh) vào 10/2019 xuống mức 1.8 USD/MMBtu vào tháng 5/20203.  Nền kinh tế thế giới phục hồi mạnh mẽ vào năm 2021 nhưng cuộc chiến tranh Nga-Ukraine nổ ra vào cuối tháng 2/2022 lại kéo lùi triển vọng thế giới hồi phục về mức tăng trưởng kinh tế cân bằng. Giá năng lượng leo thang: vào tháng 3/2022, giá khí đốt tự nhiên ở châu Á đã tăng tới mức trung bình tháng là 39.3 USD/MMBtu. Trong thời điểm đó, hàng loạt cơ sở cung cấp điện chuyển sang dùng nhiều than hơn thay vì khí đốt. Lượng khí thải CO2 tăng hơn hai tỉ tấn vào năm 2021, trở về mức cao nhất trong lịch sử4. Một thực tế chắc chắn giờ đây là biến đổi khí hậu do con người ngày một lan rộng, nhanh chóng mạnh mẽ, gây ra những đứt gẫy nguy hiểm rộng khắp trong thiên nhiên và ảnh hưởng tới đời sống của hàng tỉ người: vòng tuần hoàn của nước hỗn loạn và nhiệt độ cao bất thường, với nhiệt độ kỷ lục đo được đạt tới 38.5oC ở Mái vòm C trên cao nguyên Nam Cực được đo vào ngày 28/3 vừa qua.  Hình 1: Giá khí hóa lỏng tự nhiên ở Châu Á từ năm 2015. Chỉ số JKM tăng vọt lên 50USD/mmBtu vào 3/2022 và vẫn rất cao so với khi trước đại dịch. Ảnh: Tradingviews  Tóm lại, năm 2022, thế giới đối mặt từ khủng hoảng sức khỏe tới khủng hoảng năng lượng, cộng thêm vấn đề của giá cả tăng cao từ năm 2021, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ở mức nguy cấp. Trước những thách thức đó, sự ứng phó của Việt Nam tương đối tốt hơn so với trung bình. Tới tháng 5/2022, số ca tử vong vì COVID-19 là 438 trên một triệu người, so với con số trung bình là 797 trên thế giới. Khi nền kinh tế thế giới năm 2020 suy giảm 3.5%, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 2.9%. Theo Tổng cục Thống kê của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng trung bình chỉ tăng 1.8% vào năm 2021, so với 4.7% ở Mỹ5.  Giá nhiên liệu hóa thạch vẫn cao  Thị trường dầu và khí đốt hồi phục sau cơn sốt tháng Hai – tháng Ba. Nhưng giá của chúng vẫn tăng so với trước khi đại dịch COVID xảy ra (xem Hình 1). Nhiên liệu hóa thạch gần như trở thành một loại tài sản hoặc cổ phiếu: các nhà phân tích dành rất nhiều nỗ lực tìm hiểu nhưng vẫn chưa thể dự báo giá tương lai của chúng. Xu hướng chung vẫn là sự bất định sâu sắc và tiềm ẩn đầy những bất ngờ. Trong giới hạn của những dự báo này, chúng tôi cho rằng có hai nguồn lực thúc đẩy giá thị trường tiếp tục cao trong ba năm tới: sự bất định của địa chính trị và chính sách khí hậu.  Về sự bất định địa chính trị: Sau khi khủng hoảng COVID thuyên giảm, giá dầu thô bật tăng trở lại mức 100 USD một thùng trong sự phục hồi mạnh mẽ năm 2021. Chiến tranh Nga-Ukraine phủ định bất kì một kì vọng nào về giá sẽ quay lại mức trước đại dịch. Xuất khẩu dầu và khí đốt từ Iran và Nga đang phải đối mặt với những rào cản chính trị gay gắt. Nền công nghiệp đá phiến dầu của Mỹ tiết giảm tốc độ mở rộng quy mô để bảo toàn vốn, khiến khả năng tăng quy mô sản xuất bị giới hạn. Do đó, thị trường dầu thô vẫn tiếp tục bị liên minh OPEC+ vốn muốn duy trì giá cao điều chỉnh.    Công nghệ phát điện phân tán hàng đầu hiện nay để giảm nhu cầu điện năng từ lưới điện là điện mặt trời mái nhà.    Về chính sách khí hậu: Xét về giới hạn vật chất, các cơ sở hạ tầng mới dựa trên năng lượng hóa thạch không còn được chấp nhận. Lượng carbon chỉ định cho nhiên liệu hóa thạch đã bị khai thác vượt giới hạn tương đương với nhiệt độ nóng lên toàn cầu là 1.5oC6. Xét về kinh tế: khi càng nhiều chính sách khí hậu mạnh tay với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đánh thuế carbon cao và không được trở giá, việc mở rộng các khu vực khai thác và mỏ lại càng khó thu lợi nhuận hơn. Đó là lí do tại sao dòng tiền lại đổ về các ngành công nghiệp khác, giải thích nguyên nhân các công ty dầu mỏ và khí đốt liên tục lép vế hơn hẳn các ngành kinh tế khác trên thị trường chứng khoán trong suốt 15 năm qua. Ít đầu tư vào năng lực sản xuất đồng nghĩa với giảm nguồn cung, dẫn đến giá cao. Lấy ví dụ như thị trường Khí tự nhiên hóa lỏng đã và sẽ gặp trở ngại về nguồn cung và sẽ tiếp tục như vậy trong nhiều năm tới bởi các cơ sở hóa lỏng mới chỉ vừa bắt đầu được xây dựng thêm.  Giá nhiên liệu hóa thạch cao sẽ làm tăng lạm phát. Trong năm tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng trung bình đã tăng 2.25% ở Việt Nam so với cùng kì năm 2021, chủ yếu là do tăng 16.6%7 chi phí vận chuyển. Ngoài giao thông vận tải, giá năng lượng tăng cao còn ảnh hưởng tới những ngành kinh tế khác của Việt Nam. Dầu mỏ và khí đốt được dùng để sản xuất phân bón – nguyên liệu để sản xuất ra lương thực của chúng ta. Hóa chất, sắt, thép, xi măng, bột giấy, giấy và nhôm cũng đều là những ngành dùng nhiều năng lượng. Hơn nữa, nếu một quốc gia dựa vào nhập khẩu than và khí đốt để sản xuất điện, giá nhiên liệu cao sẽ khiến giá điện tăng.  Đó là điều mà Việt Nam dự định làm – nhập khẩu nhiên liệu. Theo dự thảo Quy hoạch điện VIII, 23 GW điện khí được dự kiến xây dựng từ nay đến năm 2030. Hình 2 thể hiện cơ sở chứa khí hóa lỏng nhập khẩu đang được thi công ở Thị Vải, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4.  Hình 2: Kho chứa Thị Vải, cơ sở đầu tiên nhập khẩu khí hóa lỏng ở Việt Nam, dự kiến sẽ hoàn thành 2022. Ảnh: Google Earth  Năm 2019, dự án Điện khí hóa lỏng Bạc Liêu (LNG Bạc Liêu) được bổ sung vào Quy hoạch tổng thể điện lực quốc gia sau khi các nhà đầu tư đề xuất bán điện ở mức 7 UScent/kWh. Con số này giờ đây có vẻ như quá lạc quan. Vấn đề là, một nhà máy điện khí hóa lỏng muốn bán điện ở giá 8-9 UScent/kWh, thì giá đầu vào của khí hóa lỏng phải trong khoảng 12 USD/MMBtu. Nếu giá khí hóa lỏng là 40-50USD/MMBtu, thì giá bán điện không thể thấp hơn 20UScent/kWh. EVN sẽ chỉ mua một lượng điện rất hạn chế với mức giá đó.8  Khí hóa lỏng giao ở châu Á có giá 20USD/MMBtu vào mùa hè năm 2022. Mọi công ty tư nhân đang có dự án điện khí hóa lỏng được phê duyệt ở Việt Nam đều không có biến chuyển gì về tình hình kinh tế. Họ sẽ không đầu tư nếu không thấy được triển vọng lợi nhuận. Giá khí hóa lỏng quá cao, các dự án này sẽ bị đình hoãn.  Điện tái tạo tránh giá nhiên liệu nhưng gặp giá hệ thống  Đây không phải là lần đầu tiên các dự án mở rộng nhiệt điện bị trì hoãn ở Việt Nam. Điều này đã xảy ra từ vài năm về trước9. Chính sách đối phó với việc thiếu điện là xây dựng thêm nhiều nguồn điện tái tạo.  Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân ban đầu được dự kiến có bốn dự án. Bức ảnh cho thấy chỉ có ba trên bốn dự án này được triển khai. Khu đất thứ hai từ trái sang bị để trống (quan sát dấu đỏ có ngôi sao). Đó là dự án nhà máy điện Vĩnh Tân 3 có công suất lắp đặt 1980 MW, dự kiến nối lưới vào năm 2018. Nhưng nhà đầu tư chính là One Energy (Hong Kong) rút khỏi dự án. Giờ đây khu vực này được bao quanh bởi các trang trại điện mặt trời (quan sát các dấu xanh có chấm). Năm 2017, Quyết định 11 của Thủ tướng Chính phủ khơi mào cho ngành năng lượng tái tạo ở Việt Nam bằng cách công bố giá mua điện đầu vào là 9,35 UScent/kWh đối với các dự án điện mặt trời áp mái. Năm 2018, Quyết định 39 tiếp tục đưa ra giá mua điện đầu vào là 8,5 UScent/kWh đối với các dự án điện gió trên bờ, và 9,8 USccent/kWh đối với điện gió ngoài khơi. Điều này dẫn đến sự gia tăng công suất điện lắp đặt tái tạo, chủ yếu đến từ các nhà đầu tư tư nhân.  Hình 3: Trung tâm điện than dang dở được bao bọc bởi cánh đồng điện mặt trời mới ở Tuy Phong, Bình Thuận, Việt Nam. Dấu đỏ có chữ X là vị trí của dự án Vĩnh Tân 3 không được xây dựng. Nguồn: Google Earth  Các biểu giá bán điện nêu trên không bền vững cho cân đối tài chính của EVN. Giá điện bán lẻ của Việt Nam hiện nay là 8.3 UScent/kWh theo Quyết định 658/QĐ-BCT từ năm 2019. Một công ty không thể tồn tại trong dài hạn nếu nó bán lẻ còn rẻ hơn là giá mua buôn! May mắn thay có khả năng cao là giá mua điện từ làn sóng của các cánh đồng điện gió và điện mặt trời sắp tới nhiều khả năng sẽ thấp hơn. Dù giá các mô-đun pin mặt trời và turbine gió có thể sẽ không giảm nhanh như trước đây chủ yếu là do lạm phát trong chi phí nguyên liệu và vận chuyển, nhưng ngành này ở Việt Nam đã trưởng thành hơn so với thời điểm 2017-2018 và đã có nhiều tiến bộ kĩ thuật trong vòng năm năm qua. Theo tài liệu gần đây10, “chi phí sản xuất điện gió ngoài khơi trung bình trên toàn cầu giảm 56% từ năm 2010 đến năm 2020, từ 0.089USD/kWh vào năm 2010 đến 0.039/kWh vào năm 2020” và “chi phí sản xuất và nối lưới với dự án điện mặt trời giảm 85% từ năm 2010 đến năm 2020”.  Hơn nữa, giá tiền điện tái tạo ở Việt Nam sẽ thấp hơn giá hiện nay vì phương thức mua sắm điện sẽ dựa trên thị trường: đấu giá cạnh tranh và thỏa thuận mua điện trực tiếp. Kết quả của các cuộc đấu giá điện mặt trời và gió ở các nước khác đều dẫn đến giá điện mua vào thấp hơn con số ở Việt Nam đưa ra vào năm 2017-2020. Ví dụ giá điện mặt trời thấp nhất trong các cuộc đấu giá, chỉ khoảng 1.3 UScent/kWh đã từng xuất hiện ở Abu Dhabi, Bồ Đào Nha và Chile. Tuy nhiên, cũng phải xem xét đến một thực tế rằng chính sách đất đai cũng như cơ chế cấp phép dự án năng lượng tái tạo của Việt Nam và các quốc gia khác là không giống nhau.  Tóm lại, các nhà máy điện gió và điện mặt trời có thể xây dựng trong một đến hai năm và không tốn chi phí nhiên liệu đầu vào, do đó về lâu dài giá điện tái tạo rẻ hơn giá nhiệt điện. Điện tái tạo cần nhiều vốn đầu tư ban đầu hơn nhưng dòng vốn này không nhất thiết phải đến từ ngân sách nhà nước. Phần lớn dự án điện tái tạo của Việt Nam là từ nguồn vốn đầu tư tư nhân. Vậy thì chẳng phải bài toán chuyển dịch điện năng đã giải quyết xong rồi chăng?  Rất tiếc là không. Huy động vốn tư nhân xây dựng các dự án điện tái tạo mới chỉ giải quyết được một nửa vấn đề. Phát triển một hệ thống điện đáng tin cậy cần nhiều hơn là việc chỉ xây dựng nhiều nhà máy sản xuất điện tái tạo. Nó đòi hỏi a) mạng lưới truyền tải và phân phối điện hiệu quả, b) công suất dự phòng cho những thời điểm các nguồn điện tái tạo không hoạt động và c) các giải pháp linh hoạt để bù đắp cho những thời điểm điện gió và điện mặt trời không ổn định. Cho tới năm 2022, truyền tải điện là vấn đề cấp bách nhất: nhiều nhà máy điện mặt trời và gió phải giảm công suất vì lưới điện không thể truyền tải tới khách hàng. Các nhà máy điện khí tự nhiên và thủy điện hiện có cung cấp công suất dự phòng và cung cấp giải pháp linh hoạt cho điện tái tạo. Nhưng các nhà máy này sẽ là không đủ nếu lượng điện gió và điện mặt trời tăng nhanh chóng. Trước khi thảo luận về việc ai sẽ chi trả cho đầu tư nâng cấp hệ thống, hãy thử xem liệu có thể tránh khỏi điều này không?  Ai sẽ chi trả cho…nhu cầu giảm?  Câu trả lời hay nhất cho vấn cấp vốn cho tăng công suất truyền tải bổ sung, các nguồn năng lượng dự phòng và những giải pháp linh hoạt là: tránh phải cần đến chúng. Có những cách thức để giảm đòi hỏi tăng trưởng của hệ thống điện đó là: Chính sách sử dụng điện hiệu quả, phát điện phân tán chẳng hạn như sáng kiến lắp đặt hệ thống pin mặt trời mái nhà và các chương trình linh hoạt giảm nhu cầu điện:  Sử dụng điện hiệu quả hơn, thường liên quan đến việc đầu tư vào các thiết bị mới và thực hiện các thực hành quản lý năng lượng thông minh hơn. Tiết kiệm điện năng sẽ dẫn đến tiết kiệm chi phí và nhờ đó bù đắp lại chi phí đầu tư. Những đối tượng sử dụng điện, dù là công ty tư nhân, hộ gia đình hay cơ quan nhà nước, tự xác định và đầu tư vào các giải pháp tiết kiệm điện năng đem lại lợi ích tối đa. Kể cả người sử dụng điện không triển khai các sáng kiến đó, thì những công ty dịch vụ điện năng vẫn có động cơ đầu tư vào các hình thức cải tiến hiệu suất điện năng, và nhận tiền từ một tỉ lệ điện năng tiết kiệm được trong thực tế. Mô hình này đã chứng tỏ hiệu quả ở nhiều quốc gia, nhưng chưa có ở Việt Nam. Trung bình, nền kinh tế Việt Nam đang sử dụng điện kém hiệu quả hơn các nước có trình độ tương đương. Nói cách khác, Việt Nam có tiềm năng tiết kiệm được một lượng điện nhưng chưa thực hiện. Nhà nước cần can thiệp để thúc đẩy các dự án sử dụng điện hiệu quả.  Công nghệ phát điện phân tán hàng đầu hiện nay để giảm nhu cầu điện năng từ lưới điện là điện mặt trời mái nhà. Khởi đầu từ 378 MWp vào năm 2019, công suất điện mái nhà ở Việt Nam đã tăng lên 9.6 GWp vào năm 2020 với hơn 100.000 hệ thống khắp Việt Nam (xem solar.evn.com.vn). Nhiều hệ thống áp mái không do chủ tòa nhà lắp đặt mà do khối tư nhân cấp vốn. Năm 2021, cơ chế khuyến khích đầu tư vào khu vực điện mặt trời áp mái hạ nhiệt, nhưng các công ty công nghiệp tư nhân và các hộ gia đình vẫn còn nhu cầu về các nguồn điện trung hòa carbon. Cũng vẫn có tiềm năng trang bị điện mặt trời áp mái cho khu vực công như trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính. Nếu thêm pin lưu trữ và công tơ hai chiều kết nối thông minh, hệ thống điện áp nhà có thể đem lại nhiều lợi ích về mặt công nghệ đối với lưới điện hơn là đơn giản chỉ giảm tải cho nhu cầu điện vào ban ngày. Hai giải pháp này sẽ hiệu quả về mặt kinh tế hơn nhiều trong vòng 10 năm tới.  Quản lý đáp ứng nhu cầu điều chỉnh nhu cầu sử dụng điện của người tiêu dùng: Các chương trình giảm cầu thường được các công ty điện vận hành. Có vẻ vô lý khi yêu cầu một công ty bán điện giảm nhu cầu dùng điện của khách hàng – kể cả đó là công ty nhà nước. Nhưng có những thời điểm trong ngày các công ty điện bán lỗ, đặc biệt là khi phụ tải điện đạt đỉnh và buộc phải dùng điện từ nguồn turbin khí đắt đỏ. Trong trường hợp đó, giảm cầu vào giờ cao điểm mới đem lại lợi nhuận cho công ty điện, và tránh được việc phải xây dựng thêm các cơ sở phát điện. Các thiết bị thông minh và công nghệ internet vạn vận hứa hẹn đem lại những cơ hội thú vị cho việc quản lý nhu cầu điện năng.  Phần lớn đầu tư cho việc giảm cầu điện sẽ đến từ khối tư nhân. Vai trò của nhà nước là phải tạo điều kiện cho thị trường đó, có thể bắt đầu từ các điển hình. Trong một xã hội trung hòa carbon, tất cả mọi cấp hành chính – Trung ương, tỉnh, thành phố – đều sẽ phải cung cấp các dịch vụ công xanh và thông minh. Điều này chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.  Nhưng dù các giải pháp giảm cầu có hiệu quả đến mấy cũng vẫn chưa đủ để Việt Nam không phải tăng đầu tư mở rộng hệ thống điện. Hình 4 chỉ ra rằng lối sống của các quốc gia thu nhập cao cần gấp bốn lần lượng điện mà Việt Nam sản xuất ngày nay. Các quốc gia thu nhập cao đang đi trước trong việc giảm thiểu khí thải nhà kính và nỗ lực chuyển hướng sang giảm sản xuất điện từ năm 2007. Vào thời điểm kinh tế xã hội của Việt Nam đạt đến mức thu nhập cao, các tiến bộ công nghệ có thể cho phép người ta sống thoải mái với chưa đầy 8000 kWh mỗi năm. Nhưng con số đó vẫn lớn hơn rất nhiều so với những gì ta có bây giờ, và Việt Nam không thể tránh khỏi việc phát triển hệ thống điện.  (Còn tiếp)  Hảo Linh dịch  Dương Thọ (Sáng kiến về Chuyển dịch Năng lượng Việt Nam – VIET SE) hiệu đính  ——    Tài liệu tham khảo:   Hannah Ritchie et al., “Coronavirus Pandemic (COVID-19),” Our World in Data, May 23, 2022, https://ourworldindata.org/excess-mortality-covid.  2Eduardo Levy Yeyati and Frederico Filippini, “Social and Economic Impact of COVID-19,” Working Paper, Brookings Global (Brookings, June 2021), https://www.brookings.edu/research/social-and-economic-impact-of-covid-19/.  3Rystad Energy, “Global Gas Report 2022” (International Gas Union / SNAM, May 2022).  4IEA, “Global Energy Review: CO2 Emissions in 2021” (International Energy Agency, March 2022), https://www.iea.org/topics/global-energy-review.  5Jongrim Ha, Ayhan Kose, and Franziska Ohnsorge, “One-Stop Source: A Global Database of Inflation,” Text/HTML, Policy Research Working Paper (Washington, DC: World Bank, 2021), https://www.worldbank.org/en/research/brief/inflation-database.  6Kjell Kühne et al., “‘Carbon Bombs’ – Mapping Key Fossil Fuel Projects,” Energy Policy, May 12, 2022, 112950, https://doi.org/10.1016/j.enpol.2022.112950.  7Nguyen Thi Thanh Huyen, “Consumer Price Index, Gold and USD Price Indexes in May of 2022,” General Statistics Office of Vietnam, May 29, 2022, https://www.gso.gov.vn/en/data-and-statistics/2022/05/consumer-price-index-gold-and-usd-price-indexes-in-may-of-2022/.  8NGUYỄN HUY HOẠCH, “Giá LNG tăng cao và vấn đề phát triển nguồn điện khí ở Việt Nam = High LNG price and the problem of gas power development in Vietnam,” Năng lượng Việt Nam Online, March 29, 2022, https://nangluongvietnam.vn/gia-lng-tang-cao-va-van-de-phat-trien-nguon-dien-khi-o-viet-nam-28490.html.  9Hoàng Quốc Vượng, “Report 58/2019/BC-BCT on the Progress of Implementing Some Key Power Source Projects in PDP VII Revised – Tình Hình Thực Hiện Các Dự Án Điện Trong Quy Hoạch Điện VII Điều Chỉnh” (MOIT, EREA, June 4, 2019), http://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/tinh-hinh-thuc-hien-cac-du-an-%C4%91ien-trong-quy-hoach-%C4%91ien-vii-%C4%91ieu-chinh-15534-22.html.  10IRENA, “Renewable Technology Innovation Indicators: Mapping Progress in Costs, Patents and Standards” (Abu Dhabi: International Renewable Energy Agency, March 2022), https://www.irena.org/publications/2022/Mar/Renewable-Technology-Innovation-Indicators.       Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Chuyển đổi điện năng  của Việt Nam: Ai sẽ chi trả ? (Kỳ cuối)      Ở kỳ trước, chúng ta biết rằng tăng hiệu quả sử dụng điện và đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất điện năng. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ. Việt Nam vẫn cần hàng tỉ USD mỗi năm để xây dựng một hệ thống điện đáng tin cậy bắt kịp sự phát triển kinh tế. Nó sẽ bao gồm mạng lưới phân phối và truyền tải điện ổn định, các nguồn dự phòng cần thiết khi các nguồn điện tái tạo không hoạt động và cần các giải pháp linh hoạt để bù đắp cho những thời điểm mặt trời và gió “chập chờn”. Ở phần này, chúng ta sẽ bàn luận về việc làm sao để lo tài chính cho những cơ sở vật chất này.     Thu hút khối tư nhân  Dự án điện khí Sơn Mỹ là một trong những dự án điện hợp tác công tư đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: thaibinhduong.vn  Cần tới hàng tỉ USD mỗi năm để tăng công suất sản xuất và truyền tải điện, thêm các nguồn dự phòng cần thiết và các giải pháp linh hoạt. Ngoài các nhà máy điện mặt trời và điện gió, chúng ta đang nói đến các đường dây điện, trạm biến áp, đập thủy điện, các đường truyền tải liên thông với các quốc gia láng giềng, thủy điện tích năng, hệ thống lưu trữ lớn, động cơ đốt trong của các nhà máy điện khí, các nhà máy điện khí chu trình mở hoặc chu trình hỗn hợp, thiết bị để các nhà máy điện than trở nên linh hoạt hơn. Không giải pháp đơn nhất nào có thể chi trả cho tất cả những điều này mà cần tới một gói chính sách pháp lý để có tiền cho việc mở rộng hệ thống điện.  Một cách để tổ chức ngành điện là để một công ty theo ngành dọc cung cấp tất cả các dịch vụ điện. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm vai trò chính trong ngành điện Việt Nam và vẫn sẽ chi phối thị trường, chúng ta sẽ thảo luận về việc làm thế nào để thu xếp tài chính cho họ trong phần sau. Xét về chiến lược định hướng chính sách kinh tế, chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc trao đổi làm cách nào để thu hút đầu tư từ khối tư nhân trước.  Nhu cầu của một nhà vận hành hệ thống điện cần phải được phân thành ba loại: nhu cầu năng lượng, nhu cầu công suất và nhu cầu dịch vụ phụ trợ. Phi điều tiết (loại bỏ hoặc đơn giản hóa các quy tắc hạn chế hoạt động) sẽ tạo điều kiện cho những công ty tư nhân đáp ứng các nhu cầu này vì họ có đươc lợi nhuận từ thị trường. Cơ chế cơ bản của thị trường là dùng giá để tạo cân bằng cung – cầu. Khi nhu cầu cao, giá điện tăng và sẽ thu hút các nhà sản xuất điện giá cao như những người sản xuất điện khí tham gia cung cấp điện. Ngược lại, khi nhu cầu thấp, chỉ có các nhà sản xuất điện giá rẻ tồn tại ở thị trường. Cơ chế này đảm bảo một hệ thống điều độ điện dựa trên ưu tiên theo giá vốn hiệu quả về mặt kinh tế.  Trong thị trường điện, các nhà sản xuất được chi trả tương ứng với số kWh cung cấp. Trung tâm điều độ điện sẽ kêu gọi đấu thầu và sử dụng mức giá đưa ra cạnh tranh nhất để đặt mua trước một ngày.  Thị trường các dịch vụ phụ trợ là những nhu cầu để đảm bảo vận hành lưới điện một cách đáng tin cậy. Một vài nhà máy điện phải đảm bảo khả năng tái khởi động mà không cần tới nguồn bên ngoài, đề phòng trường hợp bị mất điện đột ngột. Một vài đơn vị phải điều tiết tần suất lưới điện, điều chỉnh công suất phù hợp với nhu cầu sử dụng theo thời gian thực. Một vài dịch vụ phụ trợ khác bao gồm kiểm soát hiệu điện thế và duy trì sẵn sàng nguồn vận hành dự phòng trong trường hợp một thành phần của hệ thống điện đột nhiên bị ngắt.  Trong thị trường công suất, nhà sản xuất điện được trả trước tương ứng với mức điện tối đa có thể cung cấp tại một thời điểm cụ thể trong tương lai. Nếu nhà vận hành hệ thống xác định được nhu cầu là 93 GW trong thời điểm từ 14h đến 17h vào mùa hè 2030, họ có thể trả tiền cho các công ty để được đảm bảo sẵn nguồn cung khi đó.  Trong ba thị trường trên, thị trường điện dễ tổ chức nhất. Việt Nam có thị trường bán buôn điện cạnh tranh từ năm 2019. Ưu tiên hiện giờ là khởi động thị trường bán lẻ và đó là điều khả thi. Nhưng trong ngắn hạn không thể dựa vào điều đó để khuyến khích xây dựng các nhà máy điện khí tự nhiên tới năm 2030 – một mốc thời gian khá xa. Còn với thị trường dịch vụ phụ trợ, đây là một cơ hội thu hút đầu tư vào hệ thống trữ năng lượng, tuy nhiên, cần nhớ rằng, quy mô của thị trường này rất hạn chế – “phụ trợ” nghĩa là “ít quan trọng hơn”.  Những người ủng hộ thị trường tự do sẽ biện luận rằng thị trường điện không kiểm soát có thể hoạt động như thị trường công suất: nếu giá điện được phép tăng vọt trong giờ cực kì cao điểm, việc xây dựng các nhà máy điện chuyên sản xuất cho giờ cao điểm vẫn có lãi dù chỉ vận hành vài tiếng trong cả năm. Sự cố mất điện toàn bộ vào tháng 2/2021 tại bang Texas, Mỹ cho thấy ý tưởng mang tính lý thuyết đó thật sự nguy hiểm trên thực tế. Vụ bê bối Enrons ở thời điểm năm 2000-2001 dẫn đến mất điện toàn California cũng thể hiện một thị trường điện không kiểm soát dễ bị thao túng như thế nào.  Vụ mất điện trên diện rộng ở Houston, Texas. Ảnh phía bên trái là trước khi vụ việc xảy ra và phía bên phải, những vùng có mũi tên chỉ là bị mất điện. Ảnh: Dự án quan sát Trái Đất NASA/Joshua Stevens  Kể cả thị trường điện tái tạo cũng có những giới hạn riêng. Ở Việt Nam cũng như các nước, điện tái tạo được khởi đầu bằng việc áp dụng giá FIT (biểu giá hỗ trợ) cho nhà sản xuất. Thật vậy, các nhà máy điện mặt trời không thể có lời nếu bán trên thị trường, bởi họ đều sản xuất cùng một thời điểm, khiến giá điện trên thị trường rất thấp trong thời gian chiếu sáng (đối chiếu thị trường tại nldc.evn.vn). Các bước tiếp theo là thực hiện đấu giá khi các dự án điện mặt trời và gió đề xuất giá bán với EVN, trong đó bên nào bán giá thấp nhất sẽ được chọn. Các dự án điện tái tạo tham gia vào thị trường điện Việt Nam luôn muốn kí hợp đồng trực tiếp khác với một bên mua điện thứ ba – bên đảm bảo doanh thu cho họ dù EVN có trả giá thế nào chăng nữa.  Khi xem xét giới hạn của các thị trường nhằm thúc đẩy những nhà đầu tư vào lưới điện, công suất và dịch vụ phụ trợ, một cách khác chúng ta để lôi kéo khối tư nhân là tính chi phí hệ thống vào các hợp đồng mà nhà đầu tư phải tuân thủ trong các dự án điện. Dưới đây là hai ví dụ:  Ở Việt Nam, thêm thành phần pin lưu trữ điện hai tiếng vào các dự án điện mặt trời sẽ rất hữu ích về mặt công nghệ. Loại pin này gần như sẽ được sử dụng hằng ngày để lưu trữ điện trong thời điểm công suất đạt đỉnh vào buổi chiều và điều độ trong thời điểm buổi tối khi lượng điện tiêu thụ ở mức cao nhất. Tuy nhiên các thảo luận chính sách ở thời điểm 2018 – 2019 kết luận rằng yêu cầu lưu trữ điện bắt buộc với các dự án điện mặt trời ở Việt Nam là quá sớm. Nhưng hiện nay hầu hết các dự án mới ở California, Australia, Trung Quốc đều phải có pin lưu trữ, cuộc thảo luận này ở Việt Nam cần phải được khơi lại.    Trong những năm tới, tăng giá bán lẻ điện là cần thiết để các công ty nhà nước có thể đầu tư vào hạ tầng cần thiết cho chuyển dịch năng lượng.    Các dự án sản xuất điện mới thường chỉ có trách nhiệm xây dựng đường dây truyền tải trung thế nối tới trạm biến áp. Trong ngành điện gió ngoài khơi, nhiều dự án có thể kết nối với một nền tảng xa bờ rồi góp nguồn lực để xây dựng cáp nối với lưới điện cao thế trên bờ. Tài chính cho đường dây truyền tải kết nối nhiều nhà máy điện gió hoàn toàn có thể là một đóng góp của ngành điện gió ngoài khơi với lưới điện truyền tải của quốc gia.  Một cách khác để khắc phục giới hạn của thị trường là hợp tác công tư. Rất nhiều dự án sản xuất điện do EVN hoặc PetroVietnam lĩnh xướng đã dùng hình thức liên doanh để hợp tác với các tổ chức bên ngoài và chuyên gia kĩ thuật. Điều này giảm gánh nặng về vốn cho nhà nước, đổi lại bằng một phần lợi nhuận và một phần kiểm soát đầu ra của dự án. Ví dụ nhà máy điện khí Sơn Mỹ là do PetroVietnam hợp tác với công ty Mỹ AES. Tuy nhiên, cách hợp tác như vậy không thể khiến một dự án có lợi nhuận nếu điều kiện công nghệ và kinh tế không cho phép. Ai đó có thể lo lắng bởi năm 2022 dự kiến là thời điểm hoàn tất các thủ tục tài chính của dự án Sơn Mỹ khi hai bên kí kết thỏa thuận liên doanh, nhưng việc này có vẻ như đã bị hoãn sang năm 2023.  Gần đây, luật Điện lực sửa đổi đã cho phép khối tư nhân có thể tham gia cấp vốn cho các dự án đường truyền tải điện mới. Đây là một phương thức đầy hứa hẹn, nếu được thực thi một cách khéo léo. Phương thức này không thể sử dụng mô hình xây dựng – sở hữu – vận hành – chuyển giao (BOOT), bởi mạng lưới vận hành điện phải mang tính tập trung dể đáp ứng lí do kĩ thuật. Người vận hành lưới điện được quyết định những nguồn nào sẽ sản xuất điện, nên sẽ phải độc lập với trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia để đảm bảo mọi nhà sản xuất được đối xử công bằng trong thị trường cạnh tranh. Hơn nữa, lưới điện là một hạ tầng đảm bảo an ninh đặc biệt, bởi vậy phải do các đơn vị thuộc nhà nước sở hữu, ít nhất là các đường điện cao thế nòng cốt.  Yêu cầu dự án điện mặt trời cần có pin lưu trữ hai tiếng là điều cần thiết.  Tài chính cho khu vực nhà nước  Sau khi huy động hết mức vốn tư nhân cho chuyển dịch năng lượng, các nhu cầu còn lại phải do ngân sách nhà nước đáp ứng. Các doanh nghiệp nhà nước sử dụng nguồn đầu tư công để đảm bảo cả nước được kết nối với nguồn điện đáng tin cậy và giá hợp lý. Tăng trưởng tài chính của các công ty này thông qua ba phương thức: vốn cổ phần, phát hành trái phiếu và tái đầu tư lợi nhuận.  Cổ phần đồng nghĩa với việc mang lại vốn đầu tư mới. Trong giai đoạn mới phát triển, nhà nước có thể mượn tiền từ ngân sách để xây dựng cơ sở hạ tầng. Tình hình hiện giờ đã khác. Nhà nước không cần phải tìm cách tăng vốn cho các công ty năng lượng công ích. Ngược lại, Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại Doanh nghiệp (CMSC) được yêu cầu thoái vốn (theo Quyết định 26/2019/QD-TTg) và có thể bán cổ phần do nhà nước sở hữu.  Nhà nước có thể vay ODA với lãi suất ưu đãi được từ các quốc gia đối tác. Tiềm năng Việt Nam có thể mượn tiền từ các quốc gia khác để đầu tư cho việc chuyển dịch năng lượng là rất giới hạn, do nợ công đang ở mức trần.  Thay vì sử dụng ODA, các doanh nghiệp nhà nước có thể vay tín dụng vốn nước ngoài mà không cần bảo lãnh từ phía nhà nước. EVN đã lần đầu tiên làm như vậy vào năm ngoái, mượn 80 triệu EUR từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) để nâng cấp lưới điện phân phối phía Nam. Các quốc gia đã nói về tài chính chống biến đổi khí hậu hàng thập kỉ nay, nhưng sự cấp bách ngày càng tăng của tình trạng hỗn loạn khí hậu sau rốt cũng thúc đẩy một cơ chế hiệu quả để hỗ trợ tài chính cho các dự án chuyển dịch năng lượng ở những nước như Việt Nam. Cơ chế Phát triển Xanh trước đây không hiệu quả về môi trường như kì vọng, chúng ta vẫn phải chờ xem liệu có một cơ chế nối tiếp tốt hơn để nhân rộng quy mô hay không.  Các công ty triển khai dự án trong lĩnh vực năng lượng, như bất cứ công ty nào khác, có thể vay nợ thương mại từ các tổ chức tài chính. Ví dụ như vốn cho dự án LNG Thị Vải gồm 85,5 triệu USD từ cổ phần của PetroVietnam, 80 triệu USD vay từ ba ngân hàng quốc tế là HSBC (UK), Mega và Phú Bang Đài Bắc (Đài Loan), và 81,2 triệu USD vay từ hai ngân hàng Việt Nam, là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam.  Giá tiền điện của Việt Nam so với các nước khác.  Các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án chuyển dịch năng lượng lớn, như lưu trữ điện hoặc mở rộng mạng lưới truyền tải để kết nối với các nguồn điện tái tạo, có thể gọi vốn trực tiếp từ thị trường vốn bằng cách phát hành trái phiếu xanh. Trái phiếu này cho phép một công ty nhận tiền từ nhiều nhà đầu tư, nhưng khác với vay nợ. So với một người giữ cổ phiếu, người nắm trái phiếu không sở hữu cổ phần của công ty. Một trong những ưu điểm của trái phiếu xanh là các thị trường vốn toàn cầu rất hùng hậu, nên một công ty có thể vay một lượng tiền qua trái phiếu lớn hơn hẳn vay nợ. Nhược điểm với người mua trái phiếu là rất khó để đánh giá mức độ rủi ro đầu tư. Nhà đầu tư cá thể rất khó biết được công ty huy động tiền có thật sự sử dụng đúng mục đích hay không.  Trái phiếu “xanh” khi một công ty hứa sử dụng số tiền kêu gọi được để thực hiện một dự án có tác động tích cực tới môi trường. Các nhà đầu tư có trách nhiệm với xã hội và môi trường thường thích mua trái phiếu xanh hơn là trái phiếu hỗ trợ các ngành phát thải khí nhà kính. Hình thức tài chính này đang phát triển nhanh chóng trên trường quốc tế, và dự kiến sẽ đóng vai trò lớn ở Việt Nam trong thập kỉ tới.  Cuối cùng, các doanh nghiệp nhà nước có thể tái đầu tư lợi nhuận thay vì chia cổ tức, để đóng góp lại cho ngân sách nhà nước. PetroVietnam được chỉ định xây dựng và vận hành các nhà máy điện chủ yếu vì có năng lực tài chính, kể cả đó không phải là nhiệm vụ chính của họ. Chính phủ sa vào tình thế lưỡng nan: Vừa phải có lợi nhuận vừa phải điều chỉnh giá điện thấp vì lợi ích của người dùng. Ví dụ năm 2022, giá điện bán lẻ sẽ vẫn duy trì ở mức năm 2019. Tuy nhiên đến một lúc nào đó EVN sẽ bị thiệt vì không thể tính giá mua nhiên liệu hóa thạch cao hơn vào giá bán cho người dùng. Trong những năm tới, tăng giá bán lẻ điện là cần thiết để các công ty nhà nước có thể đầu tư vào hạ tầng cần thiết cho chuyển dịch năng lượng. Một nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình tài chính hỗn hợp, sử dụng tất cả các hình thức tài chính, có vẻ là phương án khả thi nhất để xây dựng mạng lưới truyền tải điện Việt Nam. Theo đó, mức phí truyền tải hiện nay là 86,25 đồng/kWh theo Quyết định 1769-QĐ-BCT ban hành ngày 3/7/2020 là khá thấp bởi nó chiếm chưa đến 5% giá điện và phải được tăng dần đến mức 168,79 đồng/kWh vào năm 2025 để bù đắp nhu cầu đầu tư của EVN vào hệ thống truyền tải điện quốc gia.  Mỗi nguồn vốn đều có những giới hạn và mức thanh toán khác nhau. Cổ phần và tái đầu tư lợi nhuận là phương thức tiếp cận rẻ nhất nhưng hạn chế nhất. Vốn vay nước ngoài luôn đắt hơn còn khối tư nhân cần mức lợi nhuận cao nhất. Chi phí vay nợ tùy thuộc vào xếp hạng tín dụng của người vay là một luận điểm mạnh mẽ để doanh nghiệp nhà nước tránh thua lỗ.    Thách thức trong chuyển dịch năng lượng không chỉ là chuyện của Việt Nam, mà của tất cả các nước, những ai có thể giải quyết một cách quyết đoán sẽ vươn lên dẫn đầu.    Ai sẽ chi trả cho giá điện tăng?  Nhu cầu tài chính cho công suất dự phòng và các nguồn điện linh hoạt chỉ là một lí do làm tăng giá điện. Lí do khác nữa là lượng nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu ngày càng tăng trong cơ cấu nguồn điện, giá nhiên liệu hóa thạch trên thị trường quốc tế tăng từ năm 2021 cùng với giá nhân công và các chi phí đầu vào khác cũng tăng. Chỉ một yếu tố có thể giảm giá điện trung bình: đấu giá cạnh tranh để mua điện từ các nguồn tái tạo. Nhưng như thế vẫn chưa đủ để tránh tăng giá bán lẻ điện ở Việt Nam.  Từ năm 2003, giá điện được coi như một công cụ để chống lạm phát và bảo vệ người tiêu dùng. Lần cuối giá điện tăng là năm 2019, sau hai năm giữ nguyên, với mức tăng 8,36%, từ 1.720 đồng/kWh lên 1.864 đồng/kWh, chưa tính thuế VAT. Vì không biết chính phủ sẽ lựa chọn như thế nào, chúng tôi tạm bàn luận những hệ quả của việc tăng giá bán lẻ điện lên thêm 1 cent Mỹ (khoảng hơn 200 đồng).  Giá điện sẽ tăng 12,6% so với hiện nay – khoảng 236 đồng/kWh – mức gần như gấp đôi phí truyền tải điện chúng ta vừa thảo luận. Con số này không chỉ đủ để xây dựng lưới điện mà còn thêm cả tiền để đầu tư vào công suất dự phòng và các nguồn linh hoạt – như các nhà máy điện khí hóa lỏng, pin lưu trữ và hệ thống tích nước – những hạng mục khối tư nhân e ngại đầu tư trong điều kiện thị trường hiện giờ.  Chính xác hơn, tăng thêm 1 cent là thế nào? Năm 2020, EVN bán 217 tỉ kWh, tăng 1 cent có thể tăng thu 2,17 tỉ USD cho tập đoàn này.  Tài chính cho đường dây truyền tải nối nhiều nhà máy điện gió ngoài khơi có thể là đóng góp của ngành điện gió ngoài khơi với lưới điện truyền tải của quốc gia.  Viện Năng lượng tính toán chi phí đầu tư trung bình hằng năm cho hệ thống điện trong giai đoạn 2021-2030 là khoảng 12,8 tỉ USD, bao gồm 9,5 tỉ USD cho phát điện và 3,3 tỉ USD cho lưới điện. Dự án Thủy điện tích năng Bắc Ái với công suất phát 1200MW thủy điện linh hoạt trị giá khoảng 1 tỉ USD. Đầu tư cho dự án Điện khí hóa lỏng Nhơn Trạch 3 và 4, tổng công suất 1500 MW điện khí linh hoạt, là khoảng 1,4 tỉ USD.  Xem xét nhu cầu của hệ thống và các lí do để tăng giá điện, mức tăng mong đợi là 1 UScent/kWh. Nếu được thế, EVN sẽ có thêm thời gian cân nhắc mức giá đấu giá năng lượng tái tạo nên là bao nhiêu.  Nhưng tăng giá điện trung bình sẽ có ảnh hưởng vĩ mô khủng khiếp đến lạm phát và tăng trưởng. Về mặt xã hội phải giảm tác động này lên những hộ nghèo nhất. Giá lũy tiến là một cách để bảo vệ người dùng có thu nhập thấp: những hộ tiêu thụ dưới 50kWh mỗi tháng chỉ trả 1675 đồng/kWh. Người tiêu thụ nhiều hơn thì phải trả nhiều hơn, đến 2927 đồng/kWh cho mỗi kWh từ sau 400 kWh trở đi. Kể cả khi giá điện trung bình tăng lên, vẫn có khả năng hỗ trợ cho người nghèo bằng cách giữ mức giá sàn không đổi, hoặc thậm chí là hạ thấp nữa.  Kết luận  Tất cả các quốc gia đang phải đối diện với giá nhiên liệu hóa thạch cao trên thị trường quốc tế. Giờ đây việc đầu tư vào điện mặt trời và gió rẻ hơn vào điện than và điện khí, kể cả chưa tính đến chi phí xã hội của khí thải nhà kính ra môi trường. Vốn tư nhân đã sẵn sàng, nên các công cụ thị trường như đấu giá, thỏa thuận mua điện trực tiếp và tự tiêu thụ điện sẽ thu hút giới đầu tư tư nhân vào những dự án điện mặt trời và gió mới. Nhưng nguồn điện gió và mặt trời không ổn định, nên để đảm bảo nguồn cung điện đáng tin cậy, hệ thống điện cần phải đầu tư vào công suất dự phòng và các giải pháp linh hoạt. Ngoài các nhu cầu về vốn này, hệ thống điện ngày càng mở rộng còn cần đầu tư vào mạng lưới truyền tải và phân phối điện.  Làm cách nào để hỗ trợ tài chính cho hệ thống điện Việt Nam cho những năm tới? Ai sẽ trả tiền? Để trả lời, chúng tôi đề xuất một số giải pháp khả thi cho ngành điện Việt Nam:  Giảm lượng điện tiêu thụ bằng cách thúc đẩy sử dụng điện hiệu quả (đặt ra tiêu chuẩn cho từng ngành, dán nhãn thiết bị điện), phi tập trung hóa việc sản xuất điện (điện mặt trời áp mái với hệ thống lưu trữ) và quản lý nhu cầu sử dụng điện (sử dụng công tơ thông minh, internet vạn vật).  Khai thác chuỗi dự án điện, khí Lô B (ở Ô Môn, Cần Thơ): Trái ngược với giá của thị trường giao ngay quốc tế, giá sản xuất khí nội địa sẽ ổn định. Cần phải chấp nhận rằng chi phí này vẫn rất cao so với tải nền nhưng cung cấp dịch vụ linh hoạt và công suất ở quy mô lớn.  Thúc đẩy các nguồn năng lượng tái tạo. Chính phủ có thể ưu đãi đầu tư và thuê đất cho các dự án năng lượng tái tạo, nhưng nhiệm vụ chính vẫn là điều tiết thị trường. Đẩy mạnh các dự án điện gió trên bờ ở nơi có nhu cầu sử dụng điện cao và năng lực truyền tải điện tốt (ở phía Bắc) để hạn chế tối đa chi phí hệ thống. Khuyến khích mô hình liên doanh đối với điện gió ngoài khơi: ngành dầu khí cần được tái định hướng chiến lược để vượt qua giai đoạn chuyển dịch năng lượng, tận dụng kinh nghiệm sẵn có là cho thuê mặt biển và chia sẻ lợi nhuận.  Tăng giá bán lẻ điện để EVN có thể tái đầu tư, tự chủ tài chính là chính đáng. Áp dụng các biện pháp để giảm bớt gánh nặng cho những người tiêu dùng bình thường, chuyển gánh nặng chi phí điện năng sang những hộ thu nhập cao và khối các ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành thâm dụng năng lượng.  Cho phép các doanh nghiệp nhà nước kêu gọi vốn đầu tư bền vững bằng cách phát hành trái phiếu trên thị trường tài chính. Tài chính doanh nghiệp dựa trên trái phiếu rẻ hơn và dễ nâng quy mô hơn là tài chính dự án dựa trên vay nợ thương mại. Với nhiều bất định chính trị liên quan đến vốn hỗ trợ phát triển và tài chính chống biến đổi khí hậu từ các quốc gia phát triển, trái phiếu xanh có thể là một giải pháp.  Kể cả nếu giá điện tăng 1cent/kWh ở Việt Nam trong năm tới, đó vẫn là một con số thấp so với các quốc gia khác. Hơn nữa, ở các quốc gia khác, giá điện cũng đang tăng lên. Bởi vậy, tăng giá điện vừa phải để đảm bảo nguồn cung ổn định không hề cản trở kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Thách thức trong chuyển dịch năng lượng không chỉ là chuyện của Việt Nam, mà của tất cả các nước, những ai có thể giải quyết một cách quyết đoán sẽ vươn lên dẫn đầu. □  Hảo Linh dịch    Author                Minh-Hà Dương        
__label__tiasang Chuyển đổi số: Cơ hội tạo đột phá trong phát triển đất nước      Bài viết này chia sẻ một số suy nghĩ trong nhận thức về chuyển đổi số- nội dung bản chất và chính yếu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư- và về những việc cần làm để thực hiện quá trình chuyển đổi số của Việt Nam.      Câu chuyện về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nói đến ở nước ta như từ quãng giữa năm 2016. Không lâu sau đó, ngày 4 tháng 5 năm 2017, Chính phủ đã ra Chỉ thị 16 “Về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [2]. Trong Chỉ thị 16, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện sáu nhóm giải pháp về hạ tầng; môi trường kinh doanh và chính phủ số; chiến lược và chương trình hành động; đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực; và nhận thức.  Hơn hai năm sau, ngày 27 tháng 9 năm 2019, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 52 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [3]. Sau khi khẳng định các cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp này, Nghị quyết 52 đánh giá “Mức độ chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế.” Nghị quyết đã nhìn thẳng vào sự thật, rằng những hạn chế nêu trên có “nguyên nhân chủ quan là chính”.  Tại sao mức độ chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này của nước ta lại thấp, dù ba phần tư thế kỷ trước khắp nơi đất Việt người người đã đứng lên theo cụ Hồ làm cách mạng tháng Tám?  Có một số nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu đã được chỉ ra trong Nghị quyết 52, và “Đổi mới tư duy và thống nhất nhận thức” được xác định là vấn đề đầu tiên trong quan điểm chỉ đạo và chủ trương chính sách trong khi hơn một năm trước trong Chỉ thị 16, “nhận thức” đứng cuối trong các giải pháp. Như vậy, tư duy và nhận thức, trước hết của nhiều người đứng đầu ở các cấp, là nguyên nhân đầu tiên làm chậm việc thực hiện Chỉ thị của Chính phủ.  Bài viết này chia sẻ một số suy nghĩ trong nhận thức về chuyển đổi số- nội dung bản chất và chính yếu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư- và về những việc cần làm để thực hiện quá trình chuyển đổi số của Việt Nam.  Chuyển đổi số là gì?  Hiểu một cách đại thể thì chuyển đổi số (digital transformation) là quá trình sử dụng dữ liệu và các công nghệ số để thay đổi phương thức phát triển, thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống và cách làm việc của con người và tổ chức.  Quá trình chuyển đổi số thường được chia thành ba cấp độ. Một là số hoá thông tin (digitization) nhằm tạo ra biểu diễn số của các thực thể (tức tạo ra dữ liệu đặc trưng cho các thực thể này). Hai là số hóa tổ chức (digitalization) nhằm tạo ra hoặc đổi mới mô hình hoạt động hay kinh doanh (business model) của các tổ chức hay doanh nghiệp để thích nghi với sự hiện hữu của các môi trường số hóa, tức chuyển đổi cách thức hoạt động với việc dùng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra giá trị mới lớn hơn của tổ chức. Ba là chuyển đổi (transformation) tổng thể và toàn diện tổ chức, gồm lãnh đạo, nhân viên, văn hoá, quy trình… với mô hình hoạt động mới.    Hình 1 minh họa quá trình chuyển đổi số nêu trên. Các phiên bản số cho phép kết nối các cá thể, các tổ chức trên không gian số (cyber space) với công nghệ như Internet vạn vật, và do đó tạo nên sự liên kết các thực thể trên thế giới vật lý ta đang sống qua sự kết nối của chúng trong không gian số. Sự kết nối giữa thế giới vật lý và không gian số này (physical-cyber connection) chính là hạ tầng để tạo ra các thay đổi của mọi lĩnh vực thời chuyển đổi số khi ta có thể tính toán, điều khiển, quyết định hành động… nhờ dùng dữ liệu và các công nghệ số.  Một thí dụ của chuyển đổi số là câu chuyện của đại từ điển bách khoa toàn thư Encyclopaedia Britannica, xuất bản lần đầu vào năm 1768. Hơn hai thế kỷ sau khi ra đời, bách khoa toàn thư của Britannica với 32 tập sách dày đã luôn là nguồn tài liệu với chất lượng cao về hầu hết các khái niệm quan trọng trên đời. Tuy nhiên, Wikipedia xuất hiện trong thời đại số với lượng thông tin khổng lồ bằng nhiều ngôn ngữ, cập nhật liên tục và cho phép truy nhập hoàn toàn tự do, đã trở thành một thách thức hủy diệt với Britannica. Để vượt qua nguy cơ này, trong suốt hai thập kỷ gần đây, Britannica đã trải qua một quá trình chuyển đổi gian truân. Và sau 244 năm kinh doanh với các tập sách dày, ngày 12.3.2012 Britannica đã thông báo dừng các bản in trên giấy để chỉ kinh doanh với các sản phẩm số, như bách khoa toàn thư trên CD-ROM ra đời năm 2003 hay các sản phẩm của Britannica trên Web. Điều quan trọng để các phiên bản số thành công là việc Britannica đã kiên trì giá trị cốt lõi về chất lượng biên tập nội dung và dịch vụ giáo dục.  Câu chuyện của Britannica là câu chuyện chung về một thực tế khách quan không thể đảo ngược của thời đại số: các công nghệ số đang thay đổi hành vi của người dùng và các mô hình kinh doanh/hoạt động cũ đang giảm dần giá trị.  Nội dung chuyển đổi số của Việt Nam hướng tới ba mục tiêu với trọng tâm khác nhau trong từng giai đoạn: Kinh tế số, Chính phủ số, và Xã hội số.    Hình 2 tóm tắt các phạm vi của kinh tế số với nòng cốt là công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT); phạm vi hẹp gồm các dịch vụ số và kinh tế nền tảng và ở phạm vi rộng là các lĩnh vực cụ thể của kinh tế số [4].  Định hướng của ta là xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số. Hai bước phát triển này không nhất thiết phải tuần tự: Các nguồn dữ liệu quốc gia sớm tạo ra cho phép ta từng bước xây dựng chính phủ số trong khi hoàn thiện chính phủ điện tử. Đô thị thông minh là những bước đi đầu để tiến tới một xã hội số.    Chuyển đổi số là một quá trình lâu dài với tốc độ và quy mô khác nhau ở các quốc gia, ở các lĩnh vực khác nhau. Những bài học thành công và thất bại của chuyển đổi số chỉ ra rằng: cần có tầm nhìn xa và tổng thể, có lộ trình rõ và thực hiện theo từng bước, thậm chí theo từng bước nhỏ. Hình 3 tóm tắt gợi ý của chúng tôi về các bước đi của chuyển đổi số cho một tổ chức hay doanh nghiệp.  Tại sao chuyển đổi số là một cơ hội vô giá cuối cùng?  Việt Nam cũng như hầu hết các nước châu Á đã đứng ngoài cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) vào cuối thế kỷ 18 và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (điện lực) vào cuối thế kỷ 19. Duy nhất có Nhật Bản đã mở cửa học tập châu Âu suốt 45 năm thời Minh Trị (1862-1912) khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra, và đã vươn tới vị trí một cường quốc trên thế giới.  Cũng từ giữa thập kỷ 50 của thế kỷ 20 khi cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra với điện tử, máy tính, và sau là internet, nước Nhật lại một lần nữa bứt phá với một giai đoạn phát triển thần kỳ (1955-1973), nhờ phát huy được tinh thần dân tộc và hình thành năng lực xã hội mạnh mẽ, sự đồng lòng và trách nhiệm cao của các chính trị gia, quan chức, doanh nhân, và trí thức. Cũng trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba này, khi kiên quyết hiện đại hóa đất nước dựa trên tiến bộ của công nghệ, lần lượt trong vòng hai thập kỷ, Hàn Quốc (1982-1995) và Trung Quốc (1983-2011) đã có những bước tiến vượt bậc [5].  Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, dù không chế tạo ra các thiết bị điện tử, máy tính và internet, ta cũng đã dùng được chúng khá rộng rãi trong các hoạt động hàng ngày của Chính phủ, địa phương, doanh nghiệp, và người dân. Có thể xem chừng mực nào đó chúng ta đã sử dụng được thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần này. Tuy nhiên, khác với ba quốc gia trên, chúng ta hầu như không có công nghiệp chế tạo máy móc, vốn là những đòn bẩy chính yếu của phát triển.  Vậy tại sao cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số lại là cơ hội vô giá để phát triển đất nước?    Tuy là cách mạng về công nghiệp, cuộc cách mạng lần này đem đến cơ hội cho cả những quốc gia không có truyền thống công nghiệp như Việt Nam. Chuyển đổi số mở cho ta cơ hội phát triển nền kinh tế số với nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, các dịch vụ số, tài chính số, thương mại điện tử… Chuyển đổi số cho khả năng cải thiện năng suất lao động hiện đang còn thấp ở ta.  Chuyển đổi số cho ta cơ hội từng bước xây dựng một chính phủ số có kết nối với người dân để tạo các dịch công tốt hơn. Khi có những nguồn dữ liệu quốc gia phong phú và khai thác được chúng, chính phủ có khả năng thực hiện đổi mới sáng tạo bộ máy hành chính, làm nền tảng kết nối kinh doanh số với các công dân số.  Chuyển đổi số cho ta cơ hội xây dựng một xã hội số lấy con người làm trung tâm, cân bằng tiến bộ kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xã hội bằng việc áp dụng và tích hợp công nghệ số tại nhà ở, nơi làm việc, giáo dục và giải trí… đặc biệt chuyển đổi số cho phép năng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe.    Tuy cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số bắt nguồn từ công nghệ, nhưng ba yếu tố quyết định thành công là CON NGƯỜI, THỂ CHẾ và CÔNG NGHỆ, và đầu tiên là yếu tố con người.     Nếu tư duy và nhận thức của con người không “chuyển đổi”, thì không thể nào có chuyển đổi số. Sở dĩ nói chuyển đổi số là cơ hội vô giá vì dẫu chưa làm được máy bay, làm tàu vũ trụ… ta có thể thay đổi được chính mình trong cơ hội phát triển của chuyển đổi số, cơ hội chưa biết bao giờ mới lại có với đất nước.     Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với chuyển đổi số như giải pháp cơ bản cần được nhìn nhận như cơ hội trên chuyến tàu cuối. Nếu lỡ chuyến tàu này chúng ta sẽ đi sau các nước phát triển xa hơn nhiều nữa, do thời nay là thời “kẻ thắng cuộc lấy tất” (the winers take all).  Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phải đối mặt với những rào cản trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số như thiếu kỹ năng số và nhân lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ thuật số (16,7%), thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp (15,7%),… Theo báo cáo “Chỉ số phát triển kỹ thuật số của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” của Cisco     Tài liệu tham khảo  1. Think Tank VINASA, Việt Nam thời chuyển đổi số, Nhà Xuất bản Thế giới 2019.  2. Chỉ thị 16/CT-TTg tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 5.2017.  3. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  4. Bukht R., Heeks, R., Defining, Conceptualising and Measuring the Digital Economy (August 3, 2017). Development Informatics Working Paper no. 68. Available at: https://ssrn.com/abstract=3431732or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3431732.  5. Trần Văn Thọ, Thời đại phát triển thần kỳ Nhật Bản thập niên 1960 và hàm ý đối với kinh tế Việt Nam thập niên 2020, Vietnam Summit 2019, Tokyo 16.11.2019.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/chuyen-doi-so-co-hoi-tao-dot-pha-trong-phat-trien-dat-nuoc/20191128035549222p1c785.htm       Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Chuyển đổi số và số phận chuyển đổi      Nghe nhiều người nói, xã hội nước ta trong năm con lợn này sẽ là năm mà xu hướng chuyển đổi số là chủ đạo. Tiếng Việt thật là kỳ diệu. Ai muốn hiểu số là con số (numbers), là số hóa (digitalization), hay là số phận (fate) thì cũng không quan trọng, vì dầu là gì thì chuyển đổi đi lên bao giờ cũng là đáng mừng nếu không thì lại dẫm chân tại chỗ.          Du lịch là một trong những ngành được kỳ vọng sẽ thay đổi mạnh mẽ khi có chuyển đổi số. Ảnh: Dữ liệu 3D trực tuyến về làng Diềm của Vietsoftpro. Nguồn: Vietsoftpro.  Lịch sử khoa học của nhân loại qua mỗi lần chuyển đổi số là mỗi lần tiến lên phía trước nhưng cũng làm cho số phận những nhân vật tiên phong cũng bị chuyển đổi, bi thảm hoặc vinh quang. Câu chuyện điển hình là số phận của Giáo hoàng Sylvester II (tên thật là Gerbert Keyboardurillac, tấn phong năm 999) bị mang danh là phù thủy, và đã bán linh hồn của mình cho Lucifer. (Theo Kinh thánh, Lucifer là tên của đứa con đầu tiên được tạo ra bởi Thiên chúa, được sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa, có năng khiếu với khả năng sáng tạo tuyệt vời. Tuy nhiên, Lucifer sau đó phản bội lại đức tin của mình nên trở thành kẻ đầu tiên bị trục xuất khỏi thiên đàng, đày xuống hỏa ngục, nơi mà Lucifer sau đó được biết đến như Satan). Lời buộc tội này vẫn tồn tại mãi cho đến năm 1648, khi Vatican phải mở lại ngôi mộ của Sylvester II để chứng minh rằng thân thể của Giáo hoàng Sylvester II không bị quỷ Satan xâm nhập1.  Câu chuyện về số phận bi thảm này của Giáo hoàng Sylvester liên quan đến việc chuyển đổi con số và tính toán với các con số.  Số và đếm là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Các nhà động vật học chứng minh rằng các động vật có vú, (không phải là con người), chỉ có thể đếm tới ba hoặc bốn, trong khi tổ tiên đầu tiên của chúng ta có thể đếm được nhiều hơn. Và rằng sự cần thiết của các con số trở nên rõ ràng hơn khi con người bắt đầu dựng nhà để ở, trái với lúc chỉ sống trong hang động. Dấu vết khảo cổ cho thấy việc đếm là hóa thạch các vết khắc trên xương, hoặc các nút thắt trên dây thừng. Ban đầu việc số và đếm cần đến các vật cụ thể như ngón tay, hòn sỏi, que gỗ. 4500 năm trước CN người Sumer ở phía nam Lưỡng Hà (Nam Iraq ngày nay), đã biết dùng các ký hiệu (tokens) thay cho vạch khắc trên xương hay gỗ. Nền văn minh sông Hằng (Ấn Độ) có thể là nơi đầu tiên phát minh ra việc trừu tượng hóa số đếm bằng các chữ số. Các chữ số Ấn Độ trong tiếng Phạn đã tồn tại từ khá lâu trước CN, sau đó được xuất bản chính thức vào cuối thời kỳ Gupta (khoảng 320-540 sau CN). Trái ngược với tất cả các hệ thống số trước đó, các chữ số Ấn Độ không liên quan đến ngón tay, đá cuội, que gỗ hoặc các vật thể khác. Sự phát triển của hệ thống này dựa trên ba nguyên tắc trừu tượng chính (và chắc chắn không trực quan): (a) Các ký tự ghi con số không phải là biểu trưng cho một vật thể trực quan nào cả; (b) Con số là một dãy của một hay nhiều các ký tự số. Số trị của ký tự số phụ thuộc vào vị trí mà chúng chiếm giữ trong biểu diễn của một số (tức là vị trí cuối là hàng đơn vị, tiếp đến là hàng chục…) và (c) Định ra số 0 cũng là một con số hoàn chỉnh, lấp đầy khoảng trống của các đơn vị bị thiếu và mang ý nghĩa của một số trị rỗng.      Ngay lúc này đây, đâu đâu cũng nghe nói về Chuyển đổi kỹ thuật số – hay Chuyển đổi số (Digital transformation). Song, trên thực tế thì nhiều nhà khoa học, nhà quản trị thậm chí còn chưa thống nhất hoặc không cảm thấy hoàn toàn thuyết phục với định nghĩa chuyển đổi kỹ thuật số tại chính công ty, tổ chức của họ.      Các đạo sĩ Hindu giáo thông thái nghĩ về các con số như một khái niệm trí tuệ, một cái gì đó trừu tượng hơn là cụ thể. Đây là điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ trong toán học và khoa học nói chung, bởi vì việc đưa ra các số vô tỷ như là số Pi, hoặc các số ảo chẳng hạn, thì không thế có liên quan gì đến một đối tượng vật chất cụ thể nào cả.  Các chữ số Ấn Độ và hệ thống số vị trí (tức là vị trí con số xếp theo các hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm…) đã được nhà toán học Hồi giáo Al-Khwarizmi (sinh khoảng 780 tại Khiva, Uzbekistan ngày nay) tiếp thụ và truyền bá cho nền văn minh Hồi giáo2. Vào thế kỷ thứ 12, hệ thống chữ số Ấn Độ đã được giới thiệu với thế giới phương Tây thông qua các bản dịch tiếng Latinh về số học của ông. Nên nhớ rằng hệ thống chữ số La Mã lan rộng khắp châu Âu và vẫn là hệ thống chữ số thống trị trong hơn năm trăm năm, nhưng không có tên tuổi một nhà toán học La Mã nào được nhắc tới ngày nay. Hệ thống chữ số Trung Hoa, La Mã, Brahmi (tộc người cổ sống rải rác ở vùng Pakistan, Apganistan, Iran ngày nay) không có số không. Ở châu Âu lúc bấy giờ số 0 bị nghi ngờ thậm tệ, đến nỗi ai bị bắt gặp sử dụng số học thập phân và số 0 thì coi như bắt được bằng chứng là tín đồ của  thần học huyền bí, có khả năng bị Giáo hội Công giáo toàn năng kết án tử hình3. Châu Âu thời Trung cổ chỉ sử dụng chữ số La Mã và tính toán trên bàn tính.  Số học thập phân bắt đầu được sử dụng rộng rãi bởi các nhà khoa học thời Phục Hưng, bắt đầu từ những năm 1400, như Copernicus, Galileo, Kepler và Newton. René Descartes trong thế kỷ 17 đã phát minh ra hệ tọa độ cartesian của ông gồm các số dương và âm với số 0 ở trung tâm của nó. Điều này kết hợp đại số và hình học và dẫn đường cho phép tính và chấp nhận hoàn toàn hệ thống số thập phân trong thế giới phương Tây. Nhưng nó vẫn không được sử dụng phổ biến trong thương mại châu Âu cho đến sau Cách mạng Pháp năm 17934. Có thể nói không ngoa rằng, nếu không có sự chuyển đổi từ số La Mã sang hệ thống số và số học thập phân của Ấn Độ thì thế giới không thể có toán học, vật lý và toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên như ngày nay.    Người đầu tiên đưa về châu Âu chữ số thập phân để tính toán (như ngày nay) chính là Giáo hoàng Sylvester II vào đầu thế kỷ 11, khi ngài học được chuyện này nhờ đọc được một văn bản Ả Rập ở nam Tây Ban Nha. Các nhà băng, kế toán ở châu Âu lúc bấy giờ sợ sự thay đổi này làm mất nghề của họ, đã phao lên rằng Giáo hoàng đã tiếp xúc với Hồi Giáo Ả Rập, bị quỷ ám, tiếp nhận điều này từ quỷ dữ. (Thực ra thì số thập phân đâu có phải là sáng tạo của văn minh Hồi giáo. Họ cũng chỉ học được chuyện này khi xâm lược Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7 sau CN).  Chỉ vì muốn chuyển từ số La Mã lạc hậu sang số thập phân tiên tiến mà một Giáo hoàng đã bị lên án là đi theo quỷ Satan, thật trớ trêu!  Cuộc chuyển đổi từ số thập phân sang nhị phân (binary) cũng li kỳ không kém. Chúng ta đều biết không có toán học nhị phân thì không có máy tính, internet, smartphone…và cũng chẳng có chuyện về chuyển đổi số ta đang bàn hôm nay.  Phương Đông từ rất sớm, quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn 5.000 năm trước CN đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số 2. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được 4 tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 2^2. Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thì thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 2^3. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 2^6. Rồi cứ thế tiếp tục… nhưng không phải là toán học, mà lại biến các đồ hình mang tính chất toán học đó thành các quẻ, rồi các nhà thông thái như Chu Công, Khổng Tử… gán cho các quẻ đó một bài thuyết giảng gọi là hệ từ, soán từ mơ hồ bí ẩn, làm tiền đề cho đời sau làm cái việc gọi là giải dịch, thực chất là bói toán. Và làm cho triết lý toán học (biến dịch) trở thành Kinh Dịch. Thật đáng tiếc! Cái vĩ đại của Dịch là ở chỗ đã sơ khởi cho số học nhị phân (Binary Arithmetic) hiện đại. Cha đẻ của số học nhị phân hiện đại là nhà toán học thiên tài người Đức, Gottfried Leibnitz (1646-1716).Nhà truyền giáo người Pháp, đã từng ở Trung Hoa vào năm 1685, Joachim Bouvet, đã hướng dẫn cho Leibnitz tìm hiểu về đồ họa 64 quẻ Kinh Dịch. Người ta cho rằng những học hỏi về Quẻ Dịch đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phát kiến về Số học nhị phân công bố năm 1703 trong công trình “Explication de l’Arithmétique Binaire” (Giải thích về số học nhị phân)54. Trên cơ sở số học nhị phân đó, nhà toán học người Anh George Boole năm 1854 đã dựng nên môn Đại số Logic hay còn gọi là Đại số Boole (Boolian Algebra), làm nền tảng cho kỹ thuật số (Digital) và kỷ nguyên Máy tính và công nghệ tin học, Internet ngày nay. Đáng tiếc là cổ nhân phương Đông (Trung Hoa và có thể là Việt Nam, vì có người cho rằng Kinh Dịch có gốc từ tộc Việt!) hơn 4.000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Giá như số phận của bát quái không dừng lại ở sự huyền bí mơ hồ, Kinh Dịch không biến thành sách bói toán huyền bí, mê hoặc bao người thì có phải số phận của phương Đông, trong đó có dân Việt chúng ta ngày nay chắc đã khác xa rồi. Âu cũng là sự lập trình của tạo hóa! Mà cũng có thể do chính ta đã tự trói buộc trí tuệ chúng ta, không chịu chuyển đổi theo hướng tiến lên.  Câu chuyện lịch sử cho chúng ta thấy rằng chuyển đổi là một hành trình, có khi kéo dài hàng ngàn năm. Nhưng ngày nay thì khác rồi. Tại Việt Nam (VN) nói riêng, ngay lúc này đây, đâu đâu cũng nghe nói về Chuyển đổi kỹ thuật số – hay Chuyển đổi số (Digital transformation). Song, trên thực tế thì nhiều nhà khoa học, nhà quản trị thậm chí còn chưa thống nhất hoặc không cảm thấy hoàn toàn thuyết phục với định nghĩa chuyển đổi kỹ thuật số tại chính công ty, tổ chức của họ. Chính phủ cũng hô hào, nhưng chắc cũng ở tình trạng tương tự. Cả thế giới cũng chẳng khá hơn. Mặc dù những thuật ngữ như Chuyển đổi kỹ thuật số hoặc Cách mạng công nghiệp 4.0 không quá mới mẻ trong những năm gần đây, nhưng ông Anand Eswaran – Phó chủ tịch phụ trách các dịch vụ của Microsoft và Microsoft Digital từng quyết liệt đưa ra quan điểm rằng: nếu bạn đưa 20 giám đốc điều hành vào phòng và yêu cầu họ xác định “Chuyển đổi  kỹ thuật số” là gì, thì bạn sẽ được đảm bảo có 20 câu trả lời khác nhau. Đành chấp nhận thôi, không có định nghĩa thống nhất thì chúng ta dùng phương pháp mô tả, giải thích vậy.    Trước cửa nhà tôi là một quầy báo, một chị bán hoa tươi, mấy bác xe ôm, một nhóm trông xe và bảo vệ ngân hàng. Nhiều hôm ra khỏi cổng, bác xe hôm gọi giật lại, giơ smartphone ra chỉ cho tôi bảo “Bác xem cái tin này chưa, lạ lắm…”. Nhìn ra xung quanh thì chị bán hoa vắng khách cũng lướt web, mấy anh bảo vệ, trông xe thì vòng dây khóa cả chùm xe lại, rồi dán mắt vào điện thoại, khúc khích cười…Quầy báo vắng hoe, chả ai mua chả ai đọc. Cảnh tượng đúng là biểu trưng cho một chuyển đổi, có thể gọi là đổi sang một nền văn hóa số (Digital Culture). Văn hóa kỹ thuật số này là tâm điểm của mọi tổ chức thành công trong việc chuyển đối số. Văn hóa kỹ thuật số sẽ được phát triển một cách linh hoạt, không những kết nối giữa tất cả bộ phận chức năng trong một công ty, một tổ chức, các tổ chức của một nhà nước với nhau mà còn là nhà nước với nhân dân, công ty với khách hàng và đối tác. Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến kết nối quan trọng nhất là giữa người với người và người với vạn vật… Kết nối (connect) phải hiểu theo nghĩa là có tương tác (interactive). Điều đáng mừng là văn hóa số đã và đang hình thành ở VN. Nhưng chuyển đổi số thì đáng tiếc chỉ là lời nói…Và nói như thế này đã khá lâu, và khá nhiều rồi. Nào là “Nhận thức về VN 4.0”, “Thế mạnh kinh tế số VN – Công nghiệp số, Nông nghiệp thông minh, Du lịch thông minh”; “Thành phố thông minh -Smart City”; và “Nhân lực số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp”…  Để thực hiện những điều nói trên ít nhất đã có chừng này Chỉ thị, Nghị quyết: số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017, số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ và Chỉ thị 16/CT – TTg ngày 4/5/2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.  Chúng ta đang tự hào đi tiên phong trong việc xây dựng hạ tầng 4G, 5G (có sử dụng thiết bị của Huawei), trong khi hè nhau để dìm hàng Bphone của anh Quảng tội nghiệp, tự bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra chế tạo, mà chất lượng chẳng kém Huawei. Các anh cả Viettel, FPT, Mobiphone… đâu rồi, sao không học tập AT&T, Verizone… của Mỹ trợ giá cho iPhone đến 70%, nếu khách hàng ký hợp đồng 2 năm dùng mạng của họ. Nếu các anh cả VN làm được như thế thì Bphone, thuộc nhóm điện thoại khá cao cấp, chỉ còn giá 2, 3 triệu. Trừ đại gia, ai mà chả mua Bphone! Và Bphone chẳng những sẽ sống mà còn phát triển hơn nữa. Các anh cả cũng có lợi là thêm khách hàng, tức thêm doanh thu và lợi nhuận, chẳng mất gì, lại giúp Bphone phát triển, VN có một sản phẩm thật sự đóng góp cho thời đại 4.0… Sự thật là VN ta không có một sản phẩm nào ngoài dịch vụ alo, buôn bán thiết bị, outsourcing phần mềm giá rẻ, buôn đất, buôn tiền… để người dùng ghi nhớ và tự hào, (trừ mấy anh tí hon như Bkav, MISA, Coccoc, Flappy Bird…). Lớn như Viettel cũng chẳng có sản phẩm chế tạo nào để thiên hạ nhớ. Đến như công ty mang danh công nghệ ICT hàng đầu của VN còn được thị trường chứng khoán phân loại vào nhóm buôn bán thiết bị… Không chăm lo chế tạo sản xuất tạo giá trị gia tăng thực sự thì CMCN 4.0 chỉ là Nghị quyết và chỉ thị mà thôi.  Trên thực tế, suýt nữa đây là một cách để VN xây dựng Thành phố thông minh. Financial Times 8/5/20176 tiết lộ, năm 2016, khi TP.HCM dưới quyền ông Thăng đã nhận được đề nghị từ một công ty Hoa Kỳ nhằm thiết lập hệ thống điều tiết xe cộ thông minh, do ngân hàng Morgan Stanley đứng phía sau với khoản tài trợ (tức là cho VN vay) 300 triệu Mỹ kim… Được biết ái nữ của ông Thăng là cô Đinh Hương Ly (còn được gọi là Ly Đinh), làm đến chức phó chủ tịch chi nhánh Morgan Stanley tại VN. Nếu việc này trót lọt, thì VN cần gì phải làm CMCN 4.0 nữa nhỉ? Các kỹ sư VN dù có thể giải quyết việc nước mình và đủ khả năng để làm (chỉ với giá thấp hơn nhiều), thì sẽ đi  làm thuê cho nước ngoài trên chính nước mình với đồng lương rẻ mạt, và tiền thuế của dân (để trả nợ) nhờ 4.0 sẽ chạy vào túi nơi khác một cách ngon lành! Nội lực của VN mãi mãi là con số không.  Công cuộc chuyển đổi số kỳ vọng vào sự hoạt động của Internet cho vạn vật (Internet of Things- IoT). Nói đơn giản đó là một tập hợp các “vật” có khả năng kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào đó. Vấn đề là các “vật” bình thường nay phải biến thành ra thông minh, tức là phải có cơ chế cảm xúc (sensor-cảm biến), cơ chế chấp hành (actuators), cơ chế kết nối. Nói khác đi là phần cứng của một cơ thể. Đó là cả một ngành công nghiệp chế tạo tinh vi, công nghệ cao từ hóa chất-vật liệu đến cơ khí, điện tử, vi điện tử, vi cơ điện… Cho đến lúc này VN vẫn là con số không trong lĩnh vực thiết yếu này. Ở VN ta người ta đơn giản chỉ nghĩ phần cứng chỉ là cái máy tính và đi mua là được, và ta thoải mái phát triển IoT, giống như đi mua xe về chạy taxi, mua thiết bị Huawei về lắp mạng viễn thông thu tiền thuê bao, như từ trước đến nay các đại gia vẫn làm.  Để không bỏ lỡ cơ hội chuyển đổi số, dẫn tới đón hụt chuyến tàu CMCN lần thứ tư, các cơ quan chức năng, các cơ quan quản lý nhà nước, và chính bản thân nhà nước phải đi trước về tầm nhìn cũng như trong hành động. Một việc tối thiểu cho việc chuyển đổi số trong quản lý nhà nước là dữ liệu quốc gia về dân cư đáng lẽ phải làm từ lâu nhưng mãi ngày 26/11/2015, Thủ tướng Chính phủ mới ra Quyết định 2083 phê duyệt chủ trương đầu tư. Chậm còn hơn không. Dự án được Thủ tướng Chính phủ giao thực hiện trong thời gian 2 năm từ 2016-2017, với tổng mức đầu tư sau thuế là 3.367 tỷ đồng được lấy từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước7. Được biết ngày 10/7/2018 Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ lại vừa yêu cầu Bộ Công an khẩn trương xây dựng đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo đúng lộ trình, tiến độ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nay đã là 2019, những chuyên gia ICT như chúng tôi còn chưa thấy mặt mũi nó ra sao để đánh giá và ứng dụng, huống chi là dân thường! Nhà nước từ 2015 đã có kế hoạch làm đến 6 cơ sở dữ liệu quốc gia gồm CSDL quốc gia về Dân cư (do Bộ Công an chủ trì); CSDL Đất đai quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường); CSDL quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp, CSDL quốc gia Thống kê tổng hợp về Dân số (Bộ Kế hoạch và Đầu tư); CSDL quốc gia về Tài chính; CSDL quốc gia về Bảo hiểm (Bảo hiểm Xã hội VN)8. Không biết bây giờ đến đâu rồi? Hay lại là kế hoạch của thời đại 1.0?  Chuyển đổi số sẽ giúp cho sự minh bạch của quản lý xã hội. Chẳng hạn người dân ít nhất phải được truy cập xem dữ liệu của chính bản thân mình lưu trong cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia là đúng hay sai. Liệu cơ sở dữ liệu 3367 tỷ đó có đáp ứng được điều đó hay không, đấy là một test (sự kiểm tra) đơn giản nhất. Lãnh đạo nhà nước chắc chắn là muốn mọi sự minh bạch trong quản lý nhà nước, có thế thì mới có được lòng tin của dân, kinh tế xã hội mới phát triển bền vững. Nhưng thực tế thực hiện điều đó rất khó vì luôn gặp sự chống đối, trên bảo dưới không nghe. Chuyển đổi số, nếu muốn, sẽ là công cụ của  nhà nước để loại trừ lực cản như lời nguyền “minh bạch là kẻ thù của viên chức và doanh nhân” đã lưu truyền tự cổ chí kim, không riêng gì ở nước ta. □     —–  1 Georges Ifrah, The Universal History of Numbers: From Prehistory Nthe Invention of the Compute,   (translated from   French    by David Vellos, E. F. Harding, Sophie Wood and Ian Monk,  John Wiley and Sons,  Nevv York, 2000. pg. 346).  2 Mohammed ibn Musa al-Khwarizmi, Kitab al jabr wal’-muciabala (Rules of restoring and equating), 825 AD (original Arabic text is lost).  3 Ifrah Ibid, pgs. 588 – 589  4 ifrah Ibid, pg. 590  5 Perkins, Franklin. Leibniz and China: A Commerce of Light. Cambridge: Cambridge University Press, 2004. p 117.  6 https://www.ft.com/content/5120e812-33c2-11e7-99bd-13beb0903fa3  7 https://ictnews.vn/cntt/chinh-phu-dien-tu/dau-tu-hon-3-300-ty-dong-xay-csdl-quoc-gia-ve-dan-cu-132986.ict  8 http://vpcp.chinhphu.vn/Home/6-CSDL-quoc-gia-can-uu-tien-trien-khai/20155/16032.vgp    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Chuyện gọi đúng tên      Nhiều người hôm nay chán ngán với tình trạng rối loạn về các tên gọi bát nháo ở khắp nơi. Sự rối loạn về tên gọi trong xã hội tất nhiên rất cần được cảnh báo.    Ai cũng mong có được các tên gọi giản dị, chính xác nhất trong phạm vi có thể. Ví dụ, nếu một sự cố rất nghiêm trọng xảy ra trong xã hội, mà rồi cuối cùng chỉ có tình trạng «kiểm điểm rút kinh nghiệm của tập thể», thì tình trạng đó cần được gọi là tình trạng «không thể truy cứu được trách nhiệm». Như thế tình trạng này hẳn sẽ rõ ràng hơn ra, và buộc chúng ta phải tìm cách tháo giải nó.  Câu chuyện mong mỏi hãy cố gắng «gọi đúng tên» sự vật, bất cứ ai cũng có nhu cầu này.    Nói chuyện này, một số người có thói quen hay nối cái nhu cầu «gọi đúng tên» giản dị với một vấn đề lịch sử nổi tiếng hơn nhiều, «thuyết chính danh của Khổng Tử».    Như thế, chuyện bé bị xé nghe kêu thật to đã đành, mà bản thân câu chuyện lại bị kê lệch đi.   Bản thân ông Khổng Tử quan tâm chính yếu đến chuyện chính trị, đức trị, và đặc biệt là lễ trị, sao cho các xã hội nhiễu nhương thời ông đang sống sẽ trở về lại được khuôn phép như thời nhà Chu lý tưởng của ông. Thời Khổng Tử sống là thời loạn lạc, việc tôi giết vua, con giết cha thường thấy xảy ra.           Một lĩnh vực cọ sát sàn sạt đời sống xã hội của mỗi chúng ta là vấn đề  luật pháp. Các khái niệm của luật pháp thì không thể lơ mơ giải nghĩa  tùy theo tâm trạng của quan tòa được.          Nên chuyện «chính danh» của Khổng Tử liên quan chính yếu đến «danh phận» trong xã hội, và ông Khổng Tử nổi tiếng được cũng nhờ ở chỗ đó. Câu nói nổi tiếng của ông về chính danh là lời kêu gọi «quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử», «vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, bố cho ra bố, con cho ra con». Ông hy vọng một khi đã định lại được danh phận đâu ra đấy, lễ nhà Chu sẽ thực hành lại được, và xã hội sẽ vào lại khuôn phép trật tự như xưa.  Về sau này các triều chính Đông Á lại hóa ra mê Khổng giáo, vì «quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử» thì cũng rất có lợi cho tôn ti trật tự một chiều để củng cố các triều chính. Tất thảy được đẩy lên tới cực đoan: “vua xử bề tôi chết, bề tôi  không chịu chết là đồ bất trung; bố xử con chết, bề con không chết là đồ bất hiếu”. Không còn bóng dáng của lý tưởng tự do, của quyền làm người, của bay bổng học thuật, văn hóa, nghệ thuật, khoa học.   Nếu ta dùng chữ « chính danh » theo nghĩa đời thường là « gọi đúng tên », thì không việc gì phải phiền huy động cả Khổng Tử tham gia vào đây, vì ai cũng thấy cái nhu cầu thiết thực hàng ngày này rồi. Nhưng không nên và không cần nhầm cái nhu cầu phổ biến này với cái « thuyết chính danh » lịch sử nọ của Khổng Tử.    —-  Còn làm sao «gọi đúng tên» được các sự vật, thì lại là mênh mông.   Tên gọi là một phép gán của một từ vào một đối tượng, và nếu những từ đã tồn tại từ lâu đời thì phép gán này có tính quy ước lịch sử của nó. Tỉ như chúng ta gọi cái thể chế công quyền là «nhà nước», chữ «nhà» trong đây có vấn đề của lịch sử.  Các biểu đạt cũng thế, mang nhiều tính quy ước văn hóa lịch sử. Nói «ba cây chụm lại nên hòn núi cao», chữ «cây» ở đây là nghĩa gì vậy ?    Như vậy công việc quan trọng hơn, là trong một lĩnh vực đã xác định, cần xây dựng các khái niệm được định nghĩa rõ ràng về các đối tượng, sao cho các khái niệm này chứa đựng các tri thức mang độ chính xác cao về các đối tượng, rồi xây dựng các lý thuyết hoàn chỉnh từ các khái niệm đó. Để rồi chúng ta có thể làm việc hiệu quả với các khái niệm của các lý thuyết này, mà thước đo tính hữu hiệu của các lý thuyết này là khả năng can thiệp vào thế giới các đối tượng một cách chính xác, hiệu quả, đem lại nhiều ích lợi bền vững cho đời sống.    Và câu chuyện «gọi đúng tên» rộng ra cần được hiểu như một quá trình cố gắng tiến lên về năng lực hiểu biết chính xác, phong phú về thế giới tự nhiên, thế giới con người, cùng với việc mở mang những năng lực để quản trị, để sáng tạo đời sống của chúng ta nhiều vui hạnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện gọi “ông, bà”      Có lần đón khách của khách, một đôi bạn trẻ tay trong tay bước vào sân nhà.  Cụ Hinh vui vẻ “hân hạnh chào đón ông bà”.    Đôi bạn này bật cười như nắc nẻ, cười kênh cang, cười ngoặt ngoẹo, cười quá thế nào mà rồi cả hai lăn kềnh ra giữa sân, tay vẫn bị ngoắc vào nhau, dậy không nổi, làm Cụ Hinh phải ra gỡ giùm tay, bế đỡ người cả hai bạn.  Sau khi được uống rượu áp kinh, anh bạn liếc nhìn cô bạn của mình, đoạn quay sang Cụ Hinh.  – “Chúng em đang xuân thế này, sao Cụ Hinh nỡ gọi chúng em là ‘ông, bà’ ạ?”  Cụ Hinh phân trần.  – “Tôi đang vận động một dự luật cho nghị viện xứ ta, rằng ở chốn công quyền, hễ ai đã trưởng thành, tức là đủ 18 tuổi trở lên, đều phải được gọi là ‘ông, bà’ tùy theo giới tính của họ, không phân biệt nguồn gốc, dòng giống, huyết thống, quốc tịch, nghề nghiệp, tôn giáo, đảng phái, chức tước, sở thích, và độ tuổi của chính họ.  Ở nơi công cộng cũng như vậy, một khi chưa phải là giao tiếp riêng tư. Để tránh trường hợp diễn giả vừa kết thúc bài diễn văn nóng bỏng, ở dưới đã vang lên ‘ôi thằng em bé bỏng của chị hôm nay hay quá!’ “  Cô bạn rụt rè ngoảnh sang Cụ Hinh.  – “Lúc nãy, đáng nhẽ em đã định chào ‘ông Cụ Hinh’ đấy ạ, nhưng mà bạn em đây cứ xúi ‘đừng à, đừng à’. Nhưng bây giờ thì chúng mình quen nhau rồi, Cụ Hinh nha.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện làng đào      Họa sĩ Nguyễn Hữu Khoa, người chuyển sang chuyên tâm vẽ hoa đào thời gian gần đây, kể lại câu chuyện thăng trầm và cả nguy cơ biến mất ngày một ngày hai của làng  đào Phú Thượng, nơi anh sinh ra và lớn lên.    Quê tôi nội ngoại đều ở Phú Thượng, tính theo phả hệ có ghi chép lại được thì đã đến cả chục đời. Người làng Phú Thượng từ xưa tới nay ngoài trồng lúa thì có hai nghề làm thêm nổi tiếng nhất và cũng đem lại thu nhập đáng kể là nghề nấu xôi, chè và nghề trồng đào. Sáng tinh mơ phụ nữ trong làng đã dậy sớm đồ xôi mang vào trong phố bán. Đàn ông thì sáng sáng vác cuốc hoặc thùng tưới ra đồng chăm đào. Công việc hàng ngày cứ đều đặn như thế ngày qua ngày .   Thời bao cấp, dưới cơ chế làm ăn kiểu Hợp tác xã, hộ gia đình nào ở Phú Thượng cũng có dăm sào lúa trên cánh đồng lớn trước làng. Trong vườn nhà, người dân chủ yếu cắm một vài cây đào để đến Tết có đào chơi không phải đi mua. Nhiều nhà vườn rộng thì trồng vài chục cây đào trong vườn để kiếm thêm đồng tiêu Tết. Tết ở làng tôi cũng khấm khá hơn các làng khác cũng bởi thu nhập đem lại từ cây đào.   Hồi tôi còn nhỏ, bố tôi cũng trồng vài chục cây đào trong vườn. Thời ấy, người ta chưa có phong trào chơi đào thế mà chủ yếu là trồng đào tròn phục vụ cho nhu cầu chơi rẻ tiền của người dân thành phố. Công việc của tôi sau mỗi buổi đi học về là trẹo vai gánh nước ao lên vườn tưới đào. Mới khoảng mười lăm, mười sáu tuổi mà vai tôi lệch hẳn vì những gánh nước đè nặng dưới thân hình còm nhom, ốm yếu. Cây đào vốn xuất thân từ các vùng núi cao đem giống về thuần hóa nên khả năng chịu nước kém. Nhiều năm lụt, nước ngập chỉ vài ngày thì cây đào đã thối rễ, lá rũ xuống hoặc úa vàng. Vì thế trồng đào thường phải trồng bằng loại đất thó lấy dưới ao lên, đánh luống cao và phải để đất luôn xốp, thoát nước nhanh. Hết gánh nước thì đến bón phân. Giống đào ưa phân Bắc (hay còn gọi là phân người). Xung quanh nhà tôi, nhà nào cũng đào hố ủ phân. Đến thời kỳ tháng ba bón thúc, cả làng tràn ngập mùi phân. Mùi phân thoang thoảng khắp nơi nhưng chẳng ai phàn nàn.   Trồng đào đã vất vả, đến cuối năm công việc bán đào càng vất vả hơn. Thời bao cấp chưa có mấy nhà có xe máy, người làng đào lại hì hục cưa đào rồi gồng mình đạp xe đến chục cây số mang xuống phố Hàng Lược hoặc vào nội đô rao bán. Mỗi chuyến xe đạp chỉ chở được chừng bốn cành, nếu đào thế chỉ chở được một, hai cây là đạp xe bở hơi tai. Cứ thế làng đào tất bật từ sớm tới tối khuya. Bố con tôi cũng cùng hòa với không khí vội vã này. Có năm tối 30 Tết, vừa về đến nhà sau một ngày rát khô cả cổ để mời chào khách mua đào. Vừa ăn xong bát cơm, có người làng mật báo “Chiều nay cháy chợ đào”, thế là cả mấy bố con lại vội vã vác cưa ra vườn chọn mấy cây đào chưa bán hết cắt mang xuống chợ bán. Đến khi bán hết đào trên đường đạp xe về nhà thì pháo Giao thừa đã nổ râm ran khắp nơi. Lại một năm đón giao thừa ngoài đường.   Nhưng nhờ có cây đào, gia đình tôi cũng như dân làng ít nhiều dịp Tết cũng có cái Tết tươm tất hơn các vùng khác chỉ trông chờ vào cây lúa. Cả năm vất vả chỉ trông chờ vào dịp thu hoạch cuối năm. Mấy ngày Tết, làng trên xóm dưới râm ran hỏi nhau xem Tết này bán được nhiều đào không. Tôi nhớ khoảng năm 1990, mẹ tôi bán được chú lợn tạ đem tiền gửi tiết kiệm, cuối năm cộng với tiền bán đào gia đình tôi mua được chiếc tivi National đen trắng đầu tiên. Khỏi nói anh em tôi vui sướng biết chừng nào, không phải đi bộ xuống nhà bác họ xóm bên xem nhờ. […]   Thời kỳ khoán nông nghiệp, cảm thấy cây lúa không đem lại hiệu quả kinh tế, dân làng tôi đua nhau bỏ lúa trồng đào. Cánh đồng lúa ngút tầm mắt bị thay thế bởi những vườn đào ngày càng mở rộng. Gia đình tôi cũng thôi không trồng đào ở vườn nữa mà chuyển ra mảnh ruộng hơn sào gần nhà trồng. Anh trai tôi khi ấy mới tốt nghiệp Trung cấp thú y. Bản chất lầm lỳ ít nói và năng khiếu đặc biệt về cây cối, anh mua sách cây cảnh về đọc rồi mầy mò làm theo. Hai năm đầu anh cứ hì hục ở vườn uốn uốn, gò gò nhưng chưa có thu hoạch. […] Năm thứ ba nhà tôi bắt đầu được hưởng thành quả của ông anh trai tôi. Vườn đào của gia đình tôi bỗng chốc trở thành vườn đào đẹp nhất vùng đào Nhật Tân, Phú Thượng. Trong khi cả vùng chủ yếu trồng đào tròn truyền thống hoặc loại đào “thế thôi” (tức loại đào thế loằng ngoằng chẳng ra thế, dáng gì) thì anh trai tôi đã tạo ra hàng trăm cây đào thế chiều lòng được tất cả những người chơi đào khó tính nhất. Đào của gia đình tôi tuy không to nhưng cây nào cây ấy gốc sù xì, cằn cỗi như những gốc cây cổ thụ. Hoa thắm lộc biếc nhìn cả trăm cây đều tăm tắp. Đến gần Tết dân buôn đào sành sỏi thường đến đặt mua cả vườn mà chẳng cần biết hoa có trúng vụ hay không. Bố tôi chỉ đem cái xà beng quẳng cho cánh dân buôn tự đào gốc và ngồi đếm tiền.   Trồng hoa đào rất khó vì hoa đào nở phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết tuần cuối cùng giáp Tết. Thường trước Tết hai tháng, người dân phải tuốt lá đào để chất dinh dưỡng của cây đào tập trung vào phát triển hoa. Tuần cuối cùng chỉ cần vài ngày nắng nóng là cả vườn đào đỏ rực, cánh đào tơi tả vì nở sớm. Có năm tuần cuối gió lạnh tăng cường, mắt đào đen sì không nụ hé mà lòng người trồng đào se sắt, đúc nước, đốt đèn cũng chẳng ăn thua. Vì thế dân làng đào những người kinh nghiệm nhất về thời tiết cũng chẳng dám mạnh mồm. Để chắc ăn, nhiều nhà luôn chia vườn tuốt lá làm hai đợt cách nhau dăm ngày đề phòng thời tiết dở chứng thì vẫn còn có cây trúng cây không. Những cây không trúng vụ đành để lại để năm sau bán, gốc càng già càng đẹp.   Trồng đào được vài năm, vì bệnh hen phế quản mãn tính nặng nên anh trai tôi quyết định vào Nam sinh sống. Gạt nước mắt tiễn anh đi mà bố mẹ tôi buồn rười rượi. Bố tôi bán nốt số đào còn lại ở vườn của anh tôi rồi bỏ luôn nghề trồng đào. […]   Cách đây hơn chục năm, Hà Nội thành lập thêm quận Tây Hồ, làng tôi lên phường. Mẹ tôi […] một hôm đi họp trên quận về đưa cho tôi xem một tập hồ sơ có rất nhiều bản vẽ thiết kế và quy hoạch của một khu đô thị và nói “Vườn đào làng ta sắp mất rồi, vườn đào nhà mình cũng bị lấy làm khu đô thị đây này”. Tôi xem tập bản đồ quy hoạch thì đúng là toàn bộ khu vực cánh đồng đào từ Nhật Tân đến Phú Thượng đã nằm gọn trong tấm bản đồ do người nước ngoài làm chủ đầu tư. Lúc bấy giờ tôi cũng chưa cảm thấy gì ghê gớm nhưng nhìn mấy mô hình thiết kế nhà và cả ảnh trụ sở chính của chủ đầu tư bên Indonesia, tôi thoáng nghĩ “Sao không còn thằng nào khá khẩm hơn mà chọn thằng nào thiết kế xấu tệ. Trụ sở chính mà còn diêm dúa, xấu hoắc thế này thì cái khu đô thị này lại thành đồ bỏ đi thôi”.   Thế rồi, thời gian sau đó, làng tôi xôn xao đầu làng cuối ngõ chuyện đền bù. Cầm một lúc cả cục tiền bằng vài chục năm tích cóp từ việc trồng đào, chẳng ai mảy may quan tâm đến việc cây đào sẽ còn hay mất. Họ quan tâm đến việc nhà mình được bao tiền, giá cả có thỏa đáng hay không. Rồi họ bàn tán thì thụt chuyện nhà nọ được vài tỷ làm gì tiêu cho hết, nhà kia vớ bở vì được tính đền bù cả cái ao. Rồi bỗng chốc làng tôi sôi sục vì các cánh thợ xây từ nhiều phương kéo đến. Cả làng như một đại công trường. Khắp nơi mọc lên những ngôi nhà cao tầng kiên cố với các trường phái kiến trúc Đông Tây kim cổ giao duyên. Trong làng những chiếc xe máy mới rú ga, nẹt pô mọi ngõ ngách. Những quán nhậu, cửa hàng tạp hóa mọc như nấm sau mưa. Nhiều cậu thanh niên choai choai thay vì ngồi vật vờ ngoài đường thì kéo nhau vào các quán café hoặc rủ nhau tìm thử cảm giác mới lạ của thứ bột trắng. Khu đô thị mới với những ngôi nhà cao tầng đang dần dần mọc lên. Ngoài đồng, những cây đào còng queo, cằn cỗi vì thiếu sự quan tâm chăm sóc. […]    Vài năm sau, cơn lốc đầu cơ bất động sản quét qua làng tôi. Các quán nước đông kín các tay cò đất từ nghiệp dư đến bán chuyên nghiệp với câu chuyện là tỷ lệ hoa hồng môi giới làm chùn ý chí của những người còn ham muốn trồng đào. Nhiều nhà đất rộng thì cắt ba, cắt tư ra bán. Những mảnh vườn rộng trước còn trồng dăm cây đào giờ cũng hóa bê tông. Những mảnh đất rau xanh trồng đào cũng chung số phận.  Làng đào Nhật Tân giờ đã không còn đất. Nhiều người đã bỏ nghề trồng đào. Nhiều nhà đã phải ra bãi sông để tiếp tục công việc cha truyền con nối. Đất phù sa sông Hồng luôn là loại đất vô cùng màu mỡ cho các loại cây trồng trên đó. Cây đào trồng trên loại đất này như những công tử nhà giàu với khẩu phần thừa mứa nên luôn cho hoa to, mỡ màng, nụ dày, lộc biếc trông vô cùng đẹp mắt. Nhưng ngặt nỗi, vì quá tươi tốt nên gốc đào trồng trên đất này luôn thuồn thuỗn, óng ả, mịn màng […]. Thú chơi đào thế với những gốc đào sù sì, rêu phong của những người khó tính coi như bỏ.     Trên cánh đồng Phú Thượng, một số nhà vẫn cố tranh thủ trồng đào trên những mảnh đất đã được đền bù nhưng chủ đầu tư chưa sử dụng đến với tâm lý trồng được ngày nào hay ngày ấy. Hết sốt đất, nhiều nhà trở lại với công việc quen làm và nhiều người làm giàu được trên mảnh đất tạm bợ này. Cứ mỗi dịp Tết đến, làng tôi lại rộ lên tin người này kiếm được tiền tỷ từ việc bán đào, người kia cho thuê gốc trong nửa tháng tết với giá cả trăm triệu một cây. Kinh tế phát triển, ngôi nhà của người dân cũng như công sở ngày càng to dần lên. Những gốc cây đào thế với tuổi đời vài năm giống như xưa không còn đáp ứng được nhu cầu chơi to, chơi sang của các cơ quan hay giới nhà giàu nữa. Vài năm gần đây, cứ mỗi đận sau Tết, hàng nghìn gốc đào cỡ vài chục năm tuổi từ các tỉnh miền núi phía bắc được các chủ vườn ùn ùn mua về. Những gốc đào rừng to cả gang tay này được ghép với mắt đào bích để đến cuối năm đã trở thành các gốc đào “cổ thụ”, bán được giá cao hơn và đỡ mất công chăm bón nếu bình thường dễ cả vài chục năm mới được. Sắm vai người sành chơi chắc không dễ mấy ai mua được đúng gốc đào ưng ý. Diện tích trồng đào ngày càng thu hẹp. Một số người còn tâm huyết với nghề đành phải đi xa tìm thuê đất trồng. Nguy cơ biến mất của làng đào chỉ còn là ngày một ngày hai.   Sau gần hai chục năm “chinh chiến” với công việc làm báo, làm sách và làm truyền thông cho hàng chục tổ chức phi chính phủ, tôi quyết định bỏ tất cả. Sau nhiều năm cày cuốc, tôi nghiệm ra rằng tiền bạc không đem lại cho tôi hạnh phúc nếu như tôi không có thời gian cảm nhận cuộc sống. Tôi mua sơn dầu, tôi đặt toan, tôi lao vào vẽ. Với một kẻ vốn là dân điêu khắc với hai chục năm ôm máy tính làm đồ họa như tôi thì với sơn dầu, tôi là kẻ ngoại đạo. Vừa vẽ vừa mầy mò tự học […] Trong đầu tôi luôn có nhiều ý tưởng và vẽ nhiều đề tài cùng lúc […] Sau cùng tôi vẽ hoa, lúc đầu tôi vẽ nhiều loại hoa trong đó có đào. Chẳng hiểu duyên sao mà vẽ được vài bức đã có người mua, mua với giá khá cao, thế là có tiền dấn lên làm triển lãm “Xuân nồng” năm 2011. Tôi vẽ đào, bạn bè là dân trồng đào xem rồi nói “Thế này mới là đào chứ, lần đầu tiên mới được xem tranh hoa đào đất Bắc đúng nghĩa”. Ờ mà cũng phải thôi, có thấy ai chuyên tâm vẽ loại hoa quốc hồn, quốc túy trong mỗi dịp xuân về của dân tộc đâu nhỉ. Ngó nghiêng trên mạng hoặc trên các phố chép tranh chỉ rặt một loại tranh đào Tàu nhan nhản và xa lạ. Mà cũng mấy ai hiểu loài hoa này một cách thấu đáo. Làng đào thì cũng chỉ có mình duy nhất là họa sĩ, hiểu cây đào, gắn bó với cây đào. Thế ắt là mình sinh ra để làm việc này rồi.   Thế là tôi chuyên tâm vẽ đào.  Hà Nội 15-1-2014  Triển lãm “Đào Xuân” của họa sĩ Nguyễn Hữu Khoa diễn ra từ ngày 20 đến 24-1 tại Nhà Triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện nhân tài, kẻ sĩ      Nói về ưu đãi, trọng dụng nhân tài là nói về phía người sử dụng, còn phía được gọi là nhân tài, kẻ sĩ thì sao?    Kẻ sĩ thì đông, bằng cấp hoặc học hàm học vị  thì rất cao và ngày càng nhiều, cho dù không kể người mua bán mà có, nhưng ai là nhân tài lại là chuyện không dễ nhìn mà thấy được. Chạy theo mốt thời thượng, dùng họ để trang trí, tô điểm thêm cho danh tiếng của mình thì được, nhưng dùng để làm rường làm cột, làm việc ích quốc lợi dân thì chưa chắc. Ta thường nghe nói sở dĩ “đội ngũ” trí thức của ta bây giờ chưa phát huy được là do lãnh đạo thiếu quan tâm, là do điều kiện làm việc thiếu thốn, thu nhập thấp… Có thể đúng cả nhưng nếu chỉ loay hoay “tháo gỡ” những nguyên nhân như thế thì e không bao giờ khá lên được. Nếu tính từ thu nhập tiền lương, tiện nghi và điều kiện làm việc, thậm chí có cả con số so sánh một giáo sư nước ta chỉ có mấy mét vuông phòng làm việc trong khi ở nước ngoài là thế nọ thế kia… thì không sai. Nhưng… hãy nhìn ngược trở lại trong quá khứ một chút để cùng suy nghĩ. Không ai dám bảo rằng trong thời chống Pháp hay chống Mỹ, do quá khó khăn thiếu thốn nên ta không có những trí thức giỏi. Ngược lại mới đúng, những cây đa, cây đề trong làng khoa học gần như chỉ có từ thời đó để lại.   Nhìn xa hơn nữa thì nước nhà trong các thế kỷ trước người đỗ đạt cao, được bổ làm quan thì rất đông trong số họ đều là người giỏi, được người đương thời kính phục. Còn một số đông hơn bởi nhiều lý do, không đỗ đạt cao nên không được làm quan thì về làng dạy trẻ, có không ít trong số này đào tạo ra nhiều tiến sĩ, cử nhân giỏi chứ không vì “không được sử dụng” mà họ không có đóng góp gì cho dân, cho nước. Nếu không có đội ngũ thầy đồ “tự phát” như trong quá khứ thì liệu các trường Quốc học của các triều đại phong kiến đào tạo được bao nhiêu nhân tài cho đất nước? Tuy không nhiều, nhưng có những ông quan vì nhiều lý do “không trọng dụng” khác nhau, họ bị bãi chức hoặc họ từ chức quan mà không buông xuôi, họ cũng đã tham gia một cách rất mẫu mực vào đội ngũ thầy đồ, thầy thuốc của dân tộc rất có hiệu quả chứ không phải không được trọng dụng thì ăn lương rồi chỉ nói mà chẳng làm ra tích sự gì. Đáng buồn biết bao khi một công ty cơ khí tư nhân ở Long An chế tạo nhiều thiết bị đáp ứng không chỉ nhu cầu sản xuất của nông dân đồng bằng sông Cửu Long mà còn xuất khẩu tới nhiều nước ở Đông Nam Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh, thì một số viện nghiên cứu cơ khí với không ít giáo sư, tiến sĩ lại “đứng ngoài cuộc”. Vậy thì nó chắc chắn còn cái gì khác lớn hơn cả điều kiện và sự trọng dụng nữa.   Theo thiển nghĩ, chúng ta đã và đang có vấn đề nghiêm trọng trong cả giáo dục và đào tạo con người. Chúng ta đang đào tạo ra một lớp “người công cụ” mà không đào tạo được một đội ngũ “con người chủ thể” đủ bản lĩnh, đầy nhiệt huyết để chủ động sáng tạo trong mọi tình huống như giáo sự Trần Đại Nghĩa, người được đào tạo và làm việc ở môi trường đỉnh cao của nền văn minh, nhưng khi về nước, trong điều kiện gần như không có gì, kể cả cái ăn cái mặc thế mà ông vẫn không ngừng sáng tạo và làm được những việc ngoài sức tưởng tượng của chính họ.  Liệu có thể làm lại từ đầu để được một lớp kẻ sĩ như thế không và ai sẽ làm được?1           Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện ông Chu An      Ông Chu An thuộc thế hệ 9X của thế kỉ thứ  mười ba. Ông sinh năm 1292, đời nhà Trần. Mãi sau này người ta mới quen  gọi Chu An là Chu Văn An, bởi vì cái tước Văn Trinh Công mà ông đã được  triều đình phong cho.      Ông Chu An là người mê muội đưa Khổng giáo vào xứ Việt, nơi vốn thấm đẫm đạo Bụt trong những thế kỉ trước đó. Ông đào tạo được một số nhà Khổng học có tiếng.  Thời của Chu An sống là cuối đời nhà Trần, xã hội được xem là nhộn nhạo. Chu An tin rằng cái Khổng học là hay, cái xã hội là dở. Ông nhọc công ép xã hội vào cái học của ông, thấy mãi mà không được.   Không được việc, ông điên tiết, muốn dùng bạo lực cho nhanh lên.   Ông dâng sớ, đòi chém các quan nhũng nhiễu, gọi là sớ đòi chém bảy quan. Sớ không được dùng, ông bỏ việc, đi ẩn, dạy học.  —    Ông Chu An thất chí, ông về ở ẩn và dạy cái gì?  Ông lại dạy Khổng học cho học trò, để rồi học trò học thuộc lòng đạo Khổng chứ không được cãi, rồi lại ra làm quan. Có trò thì tử tế, có trò thì không. Trò không tử tế mà đến nhà ông, thì bị ông la hét, không cho vào.  Xã hội bí bách, ông không tìm cách thay đổi tư tưởng của mình, không tìm cách học hành tìm hiểu cùng mọi người để đạt đến những mở mang hiểu biết mới, và những đổi thay cách thức tổ chức hoạt động đời sống xã hội cho hiệu quả hơn. Không. Ông tin rằng, chân lý tuyệt đối đã ở trong ông rồi, ông chỉ là thày, ông không phải học ai nữa. Nếu ông không thi công được, thì ông bỏ thi công, nhưng ông làm thày, để đào tạo ra những người thi công Khổng học khác.  Cái may mắn cho Chu An là ông được nhiều sĩ phu xã hội kính trọng. Nhưng cũng có thể chính những tiếng vỗ tay đó đã hại ông, làm ông càng đắc chí, nhất định không chịu xem lại tư tưởng của mình và của xã hội.  Cái may mắn cho Chu An, là rồi triều đình cũng để ông yên.  —    Ông Chu An và những người mê mẩn thuyết chém đầu của ông còn gặp một cái may lớn hơn nữa.  Gặp may lớn vì cái sớ đó không được thực hiện, thành ra người ta cứ ngây ngất tưởng như là “nếu chém bảy viên quan nọ, thì xã hội đã đâu vào đấy cả rồi.” Con cá trượt là con cá to.  Bạo lực không thay đổi được tư tưởng, nhiều khi còn càng củng cố cái tư tưởng thâm căn cố đế là khác.  Không phải như thế.  Cải cách xã hội là việc thảo luận xây dựng và vận động áp dụng bằng được một hệ thống qui tắc mới cho sinh hoạt xã hội, để cho đời sống xã hội trở nên hợp lý hóa hơn, để cho nền pháp quyền trở thành cái đồng hồ công lý bên trong sâu thẳm của xã hội, nó gõ nhịp làm cho xã hội vận hành ngày càng trơn tru hơn, nền nếp hơn. Cải cách xã hội không phải là triệt phá, mà là tạo dựng nên được một cuộc chơi mới, trong đó mỗi người tìm lại được một vai trò tích cực và đáng trân trọng của mình trong cuộc chơi mới này, với những cơ hội ngày càng được bình đẳng hóa dần cho những thế hệ tiếp sau. Cải cách xã hội không phải là lật đổ được nhau, mà để hợp tác được với nhau.  —  Xin lỗi ông Chu An, nói như thế, quá bằng đánh đố cả cái thế hệ 9X của thế kỉ thứ mười ba ạ! Thưa ông Chu An, thế hệ 9X của thế kỉ thứ hai mươi còn đang lúng túng chán đây ạ.  Nói như thế, là để nhìn chuyện Chu An, mà con người chúng ta hôm nay nhất định quyết đoán nhìn tới việc tổ chức lại đời sống của xã hội hôm nay, cho thoáng đãng, tự do, bền chắc, nhân ái, phát triển.  Ông Chu An mà còn sống đến ngày hôm nay, đã gọi là ước, thì cứ ước thôi, có lẽ ông đã xin lại cái sớ nọ, cất kĩ sớ đi, và thành người vận động không mệt mỏi các chí sĩ đồng bào công cuộc cải cách triệt để tư tưởng, cải cách phóng khoáng đời sống, cải cách mênh mang tình người.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển sang quản lí theo dự án      Trong hệ thống của chúng ta hiện nay, việc quản lí hầu hết được thực hiện theo kiểu hành chính, có nghĩa là có một trung tâm điều khiển trong mỗi tổ chức, quyết định toàn thể mọi cách hoạt động của các bộ phận khác thông qua chỉ thị, nghị quyết, qui định, qui chế, luật lệ. Đặc trưng chính của quản lí hành chính là sáng tạo và quyền hành tập trung ở cấp lãnh đạo, cấp nhân viên chỉ là thừa hành. Hình thức này có một số cải tiến với cơ chế tham mưu, tư vấn cho phép sáng tạo từ các cấp dưới được đệ trình để cấp trên chấp thuận, duyệt y, khi cấp trên không đủ sức sáng tạo nhận diện vấn đề mới. Nhưng rõ ràng nếu lãnh đạo cấp trên không sáng suốt thì sáng tạo cấp dưới khó mà có được sự chấp nhận kịp thời. Đặc biệt trong quản lí hành chính tính hiệu quả cũng như sự thích ứng của tổ chức với môi trường không được coi trọng bằng việc chấp hành các luật lệ, qui định đã có.        Sự phát triển của kinh tế xã hội ngày nay biến chuyển nhanh do tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ tạo ra sức ép mới buộc phần lớn các công ty và tổ chức lớn trên thế giới dần chuyển sang cách quản lí theo các dự án để thích ứng được với tình thế biến động thường xuyên.   Quản lí theo dự án là quản lí việc đưa các yếu tố mới vào trong tổ chức, thực hiện trong một thời gian xác định với nguồn kinh phí xác định và đạt mục tiêu xác định. Quản lí theo dự án là cách thức để phát huy tiềm năng sáng tạo trong toàn thể tổ chức, là hình thức quản lí đối lập với cách quản lí hành chính vốn dồn sự sáng tạo và điều khiển cho cấp lãnh đạo cao nhất. Để quản lí theo dự án được thực hiện đúng nghĩa của nó, cần phải có cơ chế mới cho cách quản lí này: nhóm dự án hoàn toàn tự chủ việc định hướng chiến lược, thiết lập qui trình làm việc, tuyển chọn chuyên gia, đảm bảo chất lượng… Điều này không thể tự nhiên có được trong cách quản lí hành chính cũ, nếu nó không được những người lãnh đạo sáng suốt tạo hoàn cảnh pháp lý thuận lợi cho sự phát triển.  Quản lí dự án không chỉ để đưa vào tổ chức các yếu tố mới, các sản phẩm mới và dịch vụ mới, mà nó còn là cơ sở để đưa vào thực tế các qui trình làm việc mới, đi kèm với các sản phẩm và dịch vụ mới, do đó đưa những thay đổi, cải tổ vào toàn bộ tổ chức. Qui trình làm việc mới một khi được chính thức thể chế hoá thì sẽ trở thành những cách tổ chức và làm việc mới của mọi cơ quan. Điều này chính là khả năng lớn của quản lí dự án để thích ứng với hoàn cảnh biến động, vượt qua yếu tố trì trệ của quản lí hành chính. Và cũng chính vì tính năng động linh hoạt của quản lí dự án mà nó mở đường cho những phát triển tiếp của quản lí theo qui trình, quản lí tri thức.   Như vậy mọi việc vạch kế hoạch chiến lược, xây dựng qui trình thực hiện, lựa chọn người đủ tri thức chuyên gia vào các tổ dự án, đảm bảo chất lượng…, trước do cấp trên độc quyền quản lí, nay phải được chuyển giao cho các nhóm chuyên gia hàng đầu của tổ chức thực hiện trong quản lí theo dự án. Vai trò lãnh đạo toàn diện tổ chức từ một nhóm lãnh đạo của quản lí hành chính nay được chuyển sang cho nhiều nhóm lãnh đạo theo quản lí dự án, những nhóm chuyên gia có đủ tri thức và năng lực thích ứng với hoàn cảnh mới. Sức sáng tạo của toàn tổ chức do vậy được khai thác và phát huy tối đa. Và hơn nữa, sức sáng tạo đó cũng không còn bị hạn chế riêng trong từng tổ chức mà nay có thể huy động sức sáng tạo trên toàn cầu cho từng dự án.  Với sự phát triển và phổ cập của Internet, đã hình thành kho tri thức của toàn nhân loại, kho tri thức tường minh tích lũy trong các máy tính, và kho tri thức ngầm ẩn trong đầu mọi người đang làm việc trên mạng máy tính. Vì vậy quản lí theo dự án ngày nay còn được hỗ trợ bởi tri thức toàn cầu và sự cộng tác của các chuyên gia tri thức trên toàn cầu. Việc quản lí dự án thực tế không bị hạn chế bởi giới hạn của từng tổ chức riêng lẻ mà có khả năng xâu chuỗi hoạt động của nhiều chuyên gia hàng đầu trên thế giới.   Việc chuyển từ quản lý hành chính sang quản lí dự án đã trở thành một yêu cầu tất yếu của thời đại mới. Vì vậy nó cần được từng bước thực hiện trong lộ trình cải tổ bộ máy quản lý hoạt động kinh tế-xã hội của nước ta.         Ngô Trung Việt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển sang thời kỳ phát triển mới      Dựa trên những gì đã làm được trong năm 2007, chúng ta có thể khẳng định Việt Nam hiện nay có đầy đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài tốt nhất vừa đòi hỏi, vừa cho phép mở đường đi vào một thời kỳ phát triển mới: Chất lượng hơn, bền vững hơn, giá trị gia tăng cao hơn. Vấn đề đặt ra là chuyển sang thời kỳ phát triển mới như thế nào?    Tiền bạc, nguồn lực vật chất, nguồn lực chất xám có thể huy động được cho phép nước ta chuyển lên thời kỳ phát triển cao hơn có thể nói không thiếu. Song huy động chúng bằng trí tuệ nào, với ý chí được thống nhất ra sao? cũng có nghĩa là nhằm vào mục tiêu nào? Và thời gian? Chúng ta nhận thức nó đang là thúc bách, là đang ở ngã 3 “hoặc là… hay là..,”  hay là chỉ là sự tiếp nối bình thường muôn thuở giữa ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai? Đó phải là câu hỏi của mỗi người và của tất cả mọi người khi cùng nhau chia sẻ nỗi bức xúc: Làm gì để đất nước trở thành một quốc gia phát triển?  Chỉ có thể tìm được câu trả lời khi rà soát lại và xác định lại tất cả cho phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới. Ví dụ: Than phát triển mạnh và xuất khẩu nhiều như hiện nay đang phát sinh hệ quả gì? Hàng loạt các mỏ khoáng sản trong các tỉnh biên giới phía Bắc đang được triển khai, sắp tới sẽ là quặng bauxite ở Tây Nguyên, sẽ tiếp tục khai thác để xuất khẩu dầu thô? Như thế có phải là sự lựa chọn tối ưu không cho một quốc gia đất hẹp người đông với một vị thế đầy thách thức hay không? Tiếp tục hay không việc có thêm những công trình kinh tế gây ô nhiễm môi trường đến nỗi báo chí đã phải tặng cho cái tên “kẻ giết người thầm lặng” (Tuổi trẻ ngày 29-10-2007 và các số tiếp theo), trong khi đất nước đang xuất hiện những dòng sông “chết”, các làng ung thư..? Chúng ta lựa chọn ngành đóng tàu biển, ngành bột giấy, ngành khai khoáng… là chiến lược dài hạn, hay “giải pháp tình thế”? Là nước đi sau có nhất thiết phải chấp nhận tất cả những gì các nước đi trước đang thải loại không? Những yếu kém trong khoa học, giáo dục đào tạo kéo dài sẽ được khắc phục bằng những biện pháp hữu hiệu nào để thực sự trở thành động lực của phát triển?  Tư duy “nhiệm kỳ” đang là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong chiến lược và quy hoạch phát triển, trong phát huy sức mạnh của nền kinh tế thống nhất, trong công tác tổ chức cán bộ… Tư duy “nhiệm kỳ” là một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kẻ ăn ốc, người đổ vỏ, các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá. Lối tư duy này đối kháng với lợi ích phát triển chiến lược của quốc gia. Ai không muốn khắc phục tư duy này? Trí tuệ và ý chí nào để cho nó kéo dài sự tồn tại? Vân… vân…  Không chủ quan tự mãn, thì còn rất nhiều câu hỏi như thế phải đặt ra. Và nếu mỗi người trong chúng ta hằng tâm niệm đất nước này là của dân, do dân, vì dân thì sẽ có câu trả lời. Song điều hết sức quyết định là những người lãnh đạo các cấp có gan vượt lên sức ép tâm lý nhiều bề và của chính mình để thực thi câu trả lời đúng đó không?  Tiền bạc, nguồn lực vật chất, nguồn lực chất xám có thể huy động được cho phép nước ta chuyển lên thời kỳ phát triển cao hơn có thể nói không thiếu. Song huy động chúng bằng trí tuệ nào, với ý chí được thống nhất ra sao? cũng có nghĩa là nhằm vào mục tiêu nào? Và thời gian? Chúng ta nhận thức nó đang là thúc bách, là đang ở ngã 3 “hoặc là… hay là..,”  hay là chỉ là sự tiếp nối bình thường muôn thuở giữa ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai? Đó phải là câu hỏi của mỗi người và của tất cả mọi người khi cùng nhau chia sẻ nỗi bức xúc: Làm gì để đất nước trở thành một quốc gia phát triển?  Chỉ có thể tìm được câu trả lời khi rà soát lại và xác định lại tất cả cho phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới. Ví dụ: Than phát triển mạnh và xuất khẩu nhiều như hiện nay đang phát sinh hệ quả gì? Hàng loạt các mỏ khoáng sản trong các tỉnh biên giới phía Bắc đang được triển khai, sắp tới sẽ là quặng bauxite ở Tây Nguyên, sẽ tiếp tục khai thác để xuất khẩu dầu thô? Như thế có phải là sự lựa chọn tối ưu không cho một quốc gia đất hẹp người đông với một vị thế đầy thách thức hay không? Tiếp tục hay không việc có thêm những công trình kinh tế gây ô nhiễm môi trường đến nỗi báo chí đã phải tặng cho cái tên “kẻ giết người thầm lặng” (Tuổi trẻ ngày 29-10-2007 và các số tiếp theo), trong khi đất nước đang xuất hiện những dòng sông “chết”, các làng ung thư..? Chúng ta lựa chọn ngành đóng tàu biển, ngành bột giấy, ngành khai khoáng… là chiến lược dài hạn, hay “giải pháp tình thế”? Là nước đi sau có nhất thiết phải chấp nhận tất cả những gì các nước đi trước đang thải loại không? Những yếu kém trong khoa học, giáo dục đào tạo kéo dài sẽ được khắc phục bằng những biện pháp hữu hiệu nào để thực sự trở thành động lực của phát triển?  Tư duy “nhiệm kỳ” đang là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong chiến lược và quy hoạch phát triển, trong phát huy sức mạnh của nền kinh tế thống nhất, trong công tác tổ chức cán bộ… Tư duy “nhiệm kỳ” là một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kẻ ăn ốc, người đổ vỏ, các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá. Lối tư duy này đối kháng với lợi ích phát triển chiến lược của quốc gia. Ai không muốn khắc phục tư duy này? Trí tuệ và ý chí nào để cho nó kéo dài sự tồn tại? Vân… vân…  Không chủ quan tự mãn, thì còn rất nhiều câu hỏi như thế phải đặt ra. Và nếu mỗi người trong chúng ta hằng tâm niệm đất nước này là của dân, do dân, vì dân thì sẽ có câu trả lời. Song điều hết sức quyết định là những người lãnh đạo các cấp có gan vượt lên sức ép tâm lý nhiều bề và của chính mình để thực thi câu trả lời đúng đó không?    Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện tâm hồn Hà Nội      Còn hơn hai tiếng nữa chuyến tàu hỏa của  mình ở nhà ga Hà Nội mới chạy, bạn bè và tôi quyết định ghé vào một cửa  hàng ăn bình dân ở chợ Hàng Da ngay giữa trung tâm Hà Nội ngàn xưa. Mới  tháng tư thôi mà Hà Nội đã nóng ngột. Tiệm ăn rất đông khách, lụp xụp,  tối tăm.    Chúng tôi cố len vào sâu bên trong, mong được yên ả hơn.  Mấy bàn trong này có mấy đôi anh chị người Âu cao ráo trẻ trung. Mấy cô phục vụ đang í ới nhau như ở chốn không người, kéo gạt hết rác từ trên các bàn ăn xuống đầy sàn nhà nhớt nhát, rồi giang tay quét. Ở ngay gian giữa, mấy nhân viên khác đang mải mê chơi trò cầm bát ăn thừa hất sao cho trúng bồn rác, như thể đang thi đấu bóng rổ. Khuôn mặt các nhân viên cho thấy rõ là họ đang tự xem mình là những chủ trại chăn nuôi, còn chúng tôi muốn tự xem mình là ai thì cứ việc thôi, vô can.  Tại sao đã mấy chục năm hòa bình yên ổn mà chúng ta lại có một cái u xơ nan giải đến như thế này giữa lòng Hà Nội ngàn xưa?  Sự bất lực về vệ sinh văn minh của cửa hàng ăn này ngẫm ra trước hết là một thất bại về năng lực tổ chức của bản thân xã hội. Các cửa hàng ăn này tự cho mình muốn làm gì cũng xong, không ai có quyền đòi hỏi họ phải có tư cách xã hội ra sao. Và lạ lùng thay, chính xã hội cũng tự cho rằng mình không có quyền đòi hỏi đối tác của mình phải có tư cách như thế nào khi tham gia vào đời sống!  Câu chuyện này đáng nhẽ phải rất đơn giản, tuy cần các bước đi.  Ví dụ chúng ta sẽ bắt đầu với tất cả các cửa hàng ăn uống cố định, với lưu lượng khách trên 500 người trong ngày. Nếu nhân viên công quyền đi kiểm tra vệ sinh phát hiện ra những nhân viên cố tình gạt rác từ trên bàn ăn xuống sàn nhà trong giờ dịch vụ ở những cửa hàng này, họ sẽ bị những khoản tiền phạt nặng nề, và bị ghi nhớ. Và nếu tình trạng này kéo dài, ví dụ, nếu 20 lần tái phạm, cửa hàng bị tạm đóng một tuần, nếu 50 lần tái phạm, cửa hàng bị đóng cửa một năm. Ai bảo nhà quản lý không thể làm được cái công việc cho xã hội vào qui củ?  Nói rộng ra, con người và các tổ chức xã hội, bất kể oai phong ra sao, phải được điều hành khi tham gia vào các chu trình xã hội, tựa như xe pháo phải bị các luật định giao thông hướng dẫn và kiểm chế.  Ra khỏi tiệm ăn mà sự tối tăm kinh niên này cứ anh ách trong bụng tôi.  —-  Đây rồi nhà ga Hà Nội, khách đi chuyến tàu của tôi vào nhà ga bằng đường Trần Quí Cáp. Nhà ga rõ ràng có được cải tiến hơn xưa.  Thế nhưng không gian của nhà ga vẫn là một cái góc tối tăm trong một phố hẻm, tựa như một cái góc chợ quê bề bộn.  Đây là nơi mà con người từ khắp mọi miền đất nước, và từ nước ngoài, sẽ bước ra từ toa tàu để khám phá thủ đô của một đất nước.  Đây là nơi mà mọi người sẽ lưu luyến từ biệt thủ đô của một đất nước, để mang tâm hồn Hà Nội lan tỏa về khắp mọi miền đất nước, ra nước ngoài.   Tại sao nơi đây không phải là một quảng trường nhà ga lộng gió, với các tác phẩm kiến trúc, các hình ảnh được trưng bày luân phiên, để lòng Hà Nội phơi phới với khách muôn phương, với chính người Hà Nội?  Một đất nước đi lên cần có được sự đàng hoàng, thoáng đãng, đĩnh đạc như phẩm cách phải có của các công dân, của xã hội, và lý tưởng đó cần được trải hiện lên những kiến trúc của các trung tâm sinh hoạt của xã hội.  Tôi trèo lên ván giường áp mái của toa tàu, cố đẩy những ý nghĩ miên man sang một bên… Phải tìm được cái giấc ngủ tốc hành, để mà đủ sức leo núi ngày tới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện tên riêng viết hoa      Từ ngữ được viết hoa, là một phát minh, mãi  sau này mới có. Xưa kia người ta viết từ nào cũng “như nhau”, như nhau  bởi vì trong đầu người ta chỉ biết có thế.     Chỉ đến khi có sự tiến triển của tư duy, biết phân biệt được từ để gọi chung, và cũng từ ấy nhưng là tên riêng, nhu cầu ấy mới thúc đẩy việc tạo ra “chữ hoa” để mà tạo ra sự phân biệt. Như khi viết Cụ Hinh thì đó không phải là cụ, và cũng chẳng phải là hinh.  Một số nhà viết xứ Việt lại đua nhau theo trò chơi khác: muốn nâng nựng ai, hoặc nâng nựng một tổ chức nào, tóm lại: hứng lên, thì viết hoa nó lên! Nói theo mốt ngày hôm nay, thì đó là triệu chứng “đã dốt, còn tỏ ra nguy hiểm”.  Ca ngợi nhà nào đó, tự nhiên viết trống không “hoa” lên, thành những “Anh”, “Người”, “Ông”, “Cụ”. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bà,” “Chị”, “Em”, “Cháu”, “Chắt”…  Một danh từ chức vụ, tự nhiên người viết lên cơn khen nựng nhau, thế là viết nó thành “hoa” luôn, cứ như là danh từ riêng vậy. Nào bác Giám đốc trang trại, ông Chủ tịch phường, ngài Bí thư xã đội, bác gái vợ Trung tướng, cố Giáo sư, bà Tiến sĩ, v.v. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bảo vệ viên”, “Cấp dưỡng viên”, “Nhân viên”, “Bơm xe viên”…  Các tổ chức, là danh từ chứ không là tên riêng, dù có quan trọng đến đâu đi nữa. Ví dụ, đại sứ quán Việt Nam, chính phủ Việt Nam, quốc hội Việt Nam, nhà nước Việt Nam… thì những từ “đại sứ quán”, “chính phủ”, “quốc hội”, “nhà nước” là danh từ, chứ không phải là tên riêng, xin mời viết thường.  Được viết hoa, xin nhắc lại, chỉ là để phân biệt xem từ đó là danh từ, hay là tên riêng.  Tội đồ Hitler, thì vẫn phải viết hoa Hitler, vì đó là tên riêng, chứ không phải vì kinh tởm ông ta mà tôi viết thành ra không hoa, thành hitler, cho sáng lập trường.  Còn nhân dân, dẫu tôi yêu quí, thì tôi cũng không có quyền viết thành “hoa”, thành Nhân Dân, để chứng minh rằng tôi yêu quí nhân dân.  Nếu tôi muốn không tuân thủ ngữ pháp, hệ thống qui tắc viết nhằm để diễn tả được chính xác thông tin, thì tôi phải đề nghị, trao đổi để thay đổi ngữ pháp, chứ không phải tôi ngọ nguậy tùy hứng.  Vì, tôi không phải là người múa gậy một mình trên văn đàn.  Và một đất nước chỉ vào được qui củ, khi những qui tắc đã thỏa thuận rộng rãi được tôn trọng, trong hết thảy mọi lĩnh vực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện Tết Tây Tết Ta, lịch Tây lịch Ta      Về môn dùng lịch, người Việt theo chủ nghĩa đa nguyên quyết liệt, từ thường dân cho chí quan trường nước nhà.      Nhiều gia đình ở Việt Nam vẫn tự tay gói bánh chưng nhân dịp Xuân về. Ảnh: baoninhbinh.org.vn  Lịch Tây, người Việt dùng nó quanh năm, nhưng nó là “Tây”. Lịch Tàu, người Việt dùng nó đôi khi, nhưng nó là “Ta”. Cái này, phải rất rõ ràng.  Nếu bạn muốn chúc mừng ngày sinh của ai đó, từ trẻ em cho tới các bậc quyền trọng, nhớ nhé, lịch Tây ạ! Không ai lại đi hát “Happy birthday to you”, rồi quà cáp, với thổi nến, vào cái ngày sinh lịch Ta của họ cả. Báo chí cũng thế, nếu bạn muốn viết một bài kỉ niệm ngày sinh của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, ngày sinh lịch Tây.  Nếu kỉ niệm ngày mất của người nào trong gia đình ai đó, hãy hỏi họ trước, xem gia đình kỉ niệm người ấy theo lịch gì. Nói chung, kỉ niệm ngày mất theo lịch Ta thì bí hiểm hơn, phải quy đổi, phải bấm ngón tay, phải nhăn trán, không phải ai cũng tính ra ngay được ngày Ta đâu, nên linh thiêng hơn, đốt vàng đốt mã sẽ có nhí nhẽ hơn. Tôi có mấy anh bạn rất trẻ, nhưng đã rất nổi tiếng về các môn xem đất, cắt ngày, đặt tháng, tử vi, tướng học, số học, hậu tri, tiên tri, chỉ không sành lắm về môn hiện tri thôi. Mấy anh ấy lúc uống bia bao giờ cũng nhắn nhe tôi “anh mà trót viết gì về lịch Ta, lơ vơ thôi nhé, kẻo toi đường cơm áo của bọn em”. Các nhà quân sư hoạch định, các nhà đánh quả, và kể cả các tay trộm quả, bao giờ cũng phải có lịch Ta trong đầu: làm việc gì, gặp ai, xuất quân lúc nào, chân trái hay chân phải đưa ra trước, lòng lợn-tiết canh vịt-thịt chó lúc nào… nhất cử nhất động phải chiểu theo lịch Ta, quên nó, là y như rằng mất dép.  Nhưng không thể có quy tắc “một ăn một” ở đây đâu. Dễ thế, thì viết bài này làm gì.  Ngày mất của một nhà blogger hiện đại, phải lịch Tây nhé, lịch Ta thì còn quái gì tính hiện đại. Thế còn viết một bài báo để kỉ niệm ngày mất của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, gọi điện hỏi ông chủ hay bà chủ của tòa báo trước, để họ còn kịp xin ý kiến lên trên nữa, xem rằng với nhân vật ấy, thì kỉ niệm ngày mất theo lịch gì. Tây ạ, hay Ta ạ, hay cả hai ạ?  Các ngày kỉ niệm các sự kiện lịch sử thì thế nào bây giờ? Lịch sử của chúng ta, về lịch học, tôi chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn Âm Sử, theo lịch Ta, và giai đoạn Dương Sử, theo lịch Tây.  Ranh giới giữa hai giai đoạn này, thì phải biết áng chừng, thông minh là ở chỗ này. Chả có cách nào khác.  Ngày Quang Trung đại phá quân Thanh, ngày Âm. Ngày quân Pháp nổ súng vào thành Hà Nội, ngày ấy, vừa Âm, vừa Dương, tùy từng chi tiết bên phía Tây phía Ta. Ngày kí hiệp định Paris về Việtnam, ngày Dương. Ngày các cụ già Thanh Hóa dùng súng trường bắn rơi máy bay vào ban đêm, không viết ngày Âm đâu nhé.  Phức tạp đến như thế, nhưng có chí, thì nên, người Việt vận hành thành thạo cả hai cái lịch Tây Ta này, thành một cái lịch đa nguyên luận trôi chảy, chẳng thấy ai chết vì như thế cả.  Cứ bắt đầu từ mười lăm tháng Chạp lịch Ta trở đi (các bạn trẻ, kể cả tôi, rất hay nhầm tháng Chạp lịch Ta với tháng Mười-hai của lịch Tây đấy nhé), cả cái xã hội Việt bỗng quay ngoắt trở về sống với lịch của hàng trăm năm trước đó”. Mấy vị người Tây ở xứ Ta vào mấy ngày này bị mất toi phương hướng hoàn toàn, chuyện thường. Sau một hồi khó chịu, lại thấy cũng hay hay.  Các nhân viên của các công sở bắt đầu chơi trò đếm thuận, nhưng tính ngược, xem còn bao nhiêu ngày nữa thì là Tết? Càng ở cơ quan to, công việc càng thoáng, đếm tính càng hăng. Thỉnh thoảng cũng nhầm với nhau, phút chốc thành tiểu hội nghị khoa học. Còn hơn là ngồi không.  Mà thế thật. Lòng người bỗng cứ thoáng dần, nhẹ dần. Rồi lâng lâng.  Mình chợt thoát ra khỏi được cái lịch làm ăn lam lũ quanh năm, cái lịch Tây khốn kiếp nó quản thúc đời mình. Mình được thả hồn với ngày tháng phiêu diêu từ ngàn xưa vọng về. Cái lịch Ta nay chỉ quản có lễ hội với Tết nhất, đáng yêu làm sao.  Ngoài hai mươi Tết trở đi, chôn quên hẳn đi cái lịch Tây man di trói buộc nọ. Hai mươi mấy Tết thì về quê nhỉ? Hai mươi mấy Tết thì lo xong nếp đỗ thịt củi? Lá dong, cô bạn đáng yêu vẫn còn “nửa thụ thụ bất thân” đã nhất định “anh cứ buồn cười, để em lo”, vậy mà chưa thấy đâu… Chuyện nhỏ, phải khéo, lôi thôi, thành chuyện to bây giờ… Trước ba mươi mà gói xong bánh, thì đỡ cập rập bao nhiêu. Sắp ba mươi… tối về nhớ phải cài then chốt cửa cho kĩ à, mấy bác khách trộm là rất rành lịch Ta, rất thích dịp đêm ba mươi đấy. Ôi, giá mà được đốt bánh pháo đêm ba mươi này nhỉ? Chỉ tại cái dân mình, nhẹ nghĩ, ưa nặng, hễ làm được gì, là lại tí toáy lạm dụng cho bằng chết thôi? Không vươn đến tự quản nổi, thì rồi khắc bị người ta quản cho, điên thế cơ chứ. “Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, ngày xưa tuyệt thế… Bây giờ, thôi thì, “Cây nêu, lịch cũ, bánh chưng xanh” vậy.  Ngọn gió Giao thừa lặng lẽ ùa về trên đầu ngọn tre ngoài ngõ. Nhìn quanh, cái gì cũng cũ. Nhưng lòng mình chợt thoáng tươi mới lại, không nhiều, chút ít, vẫn có. Vẫn thế.   Sáng mồng Một, lặng lẽ, tinh tươm. Mùi rơm ẩm sương ở góc vườn quyện đọng hơn, thân thương hơn ngày thường. Như tờ giấy trắng được mở ra, chẳng nỡ viết điều gì phiền muộn. Con gà trống khoác lác đã kịp gân cổ gáy, giành oai quyền báo Mặt Trời của năm Ta đã dậy. Siêu nước dưới nhà chợt cất tiếng reo, giục trà mau mau vào ấm.  Hượm cái đã nào…  “Con gà gáy báo Năm Ta,  Siêu nước dưới nhà giã giục trà Ta.  Bồi hồi bóc tờ lịch Ta,  Ngày nào Đất Nước đủ đà bay lên?”    Author                Hoàng Hồng Minh        
__label__tiasang Chuyện “thày”, hay “thầy”?      Ngày hôm nay xu hướng phổ biến sách báo viết “thầy”, hơn là “thày”.  Trong tiếng Việt, “thầy” và “thày” đều được sử dụng, tùy theo vùng miền, theo thời gian.   Với tôi, tiếng Việt phía bắc trước nay sử dụng chữ “thày” phổ cập, từ rất lâu đời.    Ca dao.  “Không thày, đố mày làm nên.” Chữ “thày” ở đây vần với chữ “mày”.  Chữ “mày” cũng vậy, phổ cập phía bắc từ cổ xưa. Phía miền trung và nam, gọi “mầy”, và cũng gọi “thầy”.  Ca dao.  “Học thày, không tày học bạn”. Chữ “thày” ở đây vần với chữ “tày”.  Chữ “tày” cũng vậy, phổ cập phía bắc từ cổ xưa. Phía miền trung và nam, gọi “tầy”.  Chữ “tày” nghĩa là “bằng với”. Nói “tội tày trời”, nghĩa là tội lớn như trời. Không thấy người Việt nói “tài tày trời”, “công tày trời”, “đức tày trời”… Nghĩa là bảng chân lý văn hóa cho chê, ghét tha hồ, bằng cả trời, cho bõ lòng căm tức, nhưng khen bằng trời thì không được, phạm húy trời. Chê ghét được cổ súy hơn khen mến.  Tôi xưa nay vẫn dùng chữ “thày”, “mày”, “tày” của phía bắc. Rất tiếc là nhiều tờ báo cứ thấy chữ “thày” tôi dùng thì đương nhiên xóa đi, thay nó bằng chữ “thầy”.  Về lịch sử, tiếng Việt vốn lớn lên (cả) từ vùng đồng bằng sông Hồng.   Tôi nghĩ nên sử dụng cả hai cách phát âm, cả “thày”, “mày”, “tày” và cả “thầy”, “mầy”, “tầy”. Quan trọng hơn hết, là không độc đoán xóa đi chữ “thày” của cả ngàn năm.  Tại sao vậy? Vấn đề không đơn thuần là “thói quen”, hay là “gu” trong trường hợp này: bởi lẽ ngôn ngữ là kí ức của một cộng đồng, kí ức đó không chỉ đơn giản là “kỉ niệm”, nó còn là chìa khóa để giúp con người lần lại các kí ức khác, giúp giải mã các kí ức khác.    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Có cần đổi mới tư duy về mục tiêu tăng trưởng?      Dư địa để nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam còn rất lớn. Nhưng để tận dụng dư địa đó, chắc chắn không phải bằng cách cứ chăm chăm vào mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn hàng năm, mà có lẽ, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trường kỳ, sự chú ý cao nhất trong hệ mục tiêu kinh tế vĩ mô chắc chắn phải được dành cho chất lượng tăng trưởng chứ không phải là tốc độ.    Xu hướng giá, đặc biệt là giá năng lượng trên thị trường thế giớđang định hình trên một số cơ sở và nguyên tắc mới khiến sự tự chủ trong nước  ngày càng khó khăn hơn. ảnh: Quốc Tuấn  1. Giai đoạn 5 năm 2001-2005 sắp kết thúc. Chỉ báo cơ bản của nền kinh tế cho cả giai đoạn này là: tốc độ tăng trưởng ngày càng được nâng cao (từ 6,9% năm 2001 lên khoảng 8,4% năm 2005 theo dự báo). Đó là một xu hướng rất tích cực. Trong hoàn cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động bất thường và tác động tiêu cực mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu, xu hướng đó chứng tỏ sức vươn và đà tiến mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Sự khởi sắc trở lại của dòng FDI và sự trỗi dậy đã có thể gây bùng nổ của khu vực tư nhân cũng là những yếu tố quan trọng làm gia tăng tinh thần lạc quan cho giai đoạn tới.  Tuy nhiên, nhìn từ một góc độ khác, tình hình lại không hoàn toàn như vậy. Thậm chí, các chỉ báo về chất lượng tăng trưởng là đáng quan ngại. Các khuyết tật lớn dẫn đến tình trạng tăng trưởng kém hiệu quả (bao cấp, đầu tư nhà nước tràn lan, chỉ số ICOR cao, nạn tham nhũng, hối lộ, lãng phí trở nên đặc biệt nghiêm trọng, v.v.) vẫn chưa có dấu hiệu được đẩy lùi. Đồng thời, năng lực cạnh tranh tăng trưởng quốc gia trong bảng xếp hạng toàn cầu liên tục bị tụt hạng, với mức tụt “quán quân”1. Đây là bằng chứng phản ánh rõ nét thực chất tình trạng và triển vọng “tụt hậu phát triển ngày càng xa hơn” của nền kinh tế nước ta.  Thậm chí, sự tăng trưởng GDP được ghi nhận, trong nhiều trường hợp, lại là kết quả của một sự lãng phí tài sản quốc gia. Ví dụ về sự cố cầu Văn Thánh (TP. HCM), hàng loạt cảng cá ở Cà Mau, Sóc Trăng, chưa làm xong đã hỏng, tốn thêm hàng chục, hàng trăm tỷ đồng để sửa chữa; hay đường Hồ Chí Minh thường xuyên bị sụt lở mỗi năm tốn hàng trăm, thậm chí, hàng nghìn tỷ đồng để vá víu, khôi phục để phục vụ cho một số xe rất khiêm tốn chỉ là những minh họa cho một nghịch lý phát triển: càng đầu tư một cách lãng phí, tài sản quốc gia càng hao hụt thì GDP lại càng tăng. Loại ví dụ này, như báo chí thường nêu và hay được dẫn ra trên diễn đàn Quốc hội, có thể nói là vô số.  2. Tình trạng đối nghịch đó nói lên điều gì?  Thứ nhất, nó nói lên rằng tăng trưởng cao của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn vừa rồi không đi liền với việc cải thiện chất lượng tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh, thậm chí còn là ngược lại. Nếu đặt bức tranh tăng trưởng này vào trong khung cảnh kinh tế quốc tế hiện đại và giữ nguyên xu hướng đó cho 5-10 năm tới, thật không khó khăn gì để tiên đoán số phận của nền kinh tế Việt Nam trong khung cảnh hội nhập và cạnh tranh đang ngày càng trở nên khốc liệt.   Thứ hai, tốc độ tăng trưởng cao đương nhiên là một cách thức quan trọng để đưa nền kinh tế thoát khỏi tụt hậu. Tuy nhiên, do nền kinh tế nước ta xuất phát muộn và có trình độ xuất phát rất thấp nên việc nâng cao tốc độ tăng trưởng GDP – là một giải pháp bị đặt trong những giới hạn nghiệt ngã về nguồn lực và tài năng tổ chức quá trình tăng trưởng – không thể là cách thức duy nhất, càng không phải cách thức cơ bản, để thoát khỏi tụt hậu. Trong khi đó, nếu chúng ta không nhanh chóng thoát khỏi tình trạng này, khả năng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế và khu vực hiện đại, khẳng định vị thế tồn tại của mình trong đó sẽ trở nên đặc biệt gay go, nếu không nói là không thể. Có nghĩa là nếu không có tư duy phát triển mới mẻ hơn, mà cái đang bàn ở đây trực tiếp là tư duy về mục tiêu, thì khó có thể đưa ra một định hướng phát triển đúng cho nền kinh tế, cả trong dài hạn lẫn trung và ngắn hạn.    Thứ ba, những biến động bất thường của thị trường thế giới trong vài năm gần đây và xu hướng gia tăng lạm phát trong nền kinh tế nước ta chỉ ra hai điều căn bản. Một là xu hướng giá cả trên thị trường thế giới đang định hình dựa trên một số cơ sở và nguyên tắc mới, trong đó, sự nổi lên của hai cường quốc kinh tế đang phát triển Trung Quốc và Ấn Độ là yếu tố đặc biệt quan trọng. Hai là một số cơ sở tăng trưởng và ổn định quan trọng hàng đầu của nền kinh tế nước ta là không vững chắc, đơn giản vì chúng không thuộc tầm kiểm soát và điều chỉnh của Chính phủ Việt Nam. Quan hệ cung cầu đầu vào, đầu ra trên thị trường thế giới đang có những thay đổi mạnh mẽ trong nguyên tắc vận động; còn lưu lượng của các dòng tiền và dòng vốn trên thế giới trở nên lớn, nhanh và nhạy cảm một cách bất thường. Đó là chưa kể đến các biến cố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh cũng có thể tàn phá các nền kinh tế theo đúng kiểu toàn cầu hóa: lan tỏa nhanh và hủy diệt.     Một số cơ sở tăng trưởng và ổn định quan trọng hàng đầu của nền kinh tế nước ta là không vững chắc, đơn giản vì chúng không thuộc tầm kiểm soát và điều chỉnh của Chính phủ Việt Nam.   Tình hình này đòi hỏi cần phải có cách tiếp cận mới đến vấn đề tăng trưởng và lạm phát. Giữ nguyên cách tiếp cận truyền thống, trong cách nói biện chứng, hàm nghĩa với “đằng sau – quay” trong phát triển.   3. Có vô vàn lý do để giải thích tình hình trên. Báo chí, nhiều công trình nghiên cứu đã tận tình mổ xẻ, phân tích chúng một cách sâu sắc. Và nhiều điều đã được Chính phủ đón nhận một cách tích cực, thông qua việc biến các gợi ý, đề xuất khoa học thành giải pháp chính sách và quyết sách hành động. Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội vừa qua (18/10/2005) chứng tỏ rất thuyết phục điều đó. Báo cáo đó dấy lên và củng cố một niềm tin về triển vọng kinh tế lạc quan hơn của giai đoạn tới.              Chủ nghĩa thành tích, dàn trải và lãng phí trong đầu tư, đặc biệt là đầu tư cơ sở hạ tầng đang trở thành phổ biến. ảnh: Quốc Tuấn          Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh lại một vài điều thuộc về “yếu tố chủ quan tác động đến tăng trưởng” được coi là mấu chốt.  Thứ nhất, thành tích tăng trưởng kinh tế của giai đoạn 2001-2005 “chủ yếu dựa vào tăng đầu tư vốn”; trong đó, nguồn tăng chủ yếu nhất là  đầu tư nhà nước. Trong 5 năm qua, phần vốn đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội luôn giữ ở mức 55-60%, với hệ số ICOR (hiệu suất vốn đầu tư) duy trì ở mức trên dưới 7,0 (ICOR chung của nền kinh tế là khoảng 5,0). Dù có biện luận kiểu gì – nhà nước cần đầu tư phát triển hạ tầng, sản xuất hàng hóa công, phải duy trì và phát triển một số ngành then chốt nhưng hiệu quả không cao, v.v. nên cần lượng vốn lớn và hiệu suất đầu tư không thể cao – thì như thực tế chỉ ra và được nêu chỉ phần nào trên báo chí, không thể không thừa nhận rằng mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào nhà nước mà chúng ta đang cố gắng duy trì là không hiệu quả, cả về mặt nâng cao tốc độ lẫn cải thiện chất lượng tăng trưởng. Muốn xoay chuyển căn bản tình hình, chắc chắn phải có tư duy mới về mô hình tăng trưởng theo hướng phải đổi mới lập trường về vai trò chức năng của các các lực lượng thị trường trong quá trình tăng trưởng.   Thứ hai, cách xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và ổn định (chống lạm phát) trong vài năm qua bộc lộ nhiều vấn đề về năng lực phối hợp mục tiêu và công cụ chính sách, về tầm nhìn vĩ mô tổng thể và dài hạn của các cơ quan điều hành kinh tế. Có hai điểm cần nhấn mạnh.  Một là cách tư duy cục bộ của các bộ phận chức năng (bộ, ngành) về mục tiêu kinh tế vĩ mô chung (khuynh hướng đứng trên lập trường lợi ích cục bộ khi thay mặt Chính phủ thiết kế các chính sách vĩ mô chức năng, khi hành động và nhận lãnh trách nhiệm thực thi)2.    Hai là khuynh hướng đối phó tình thế ngắn hạn, bị động thay vì tư duy dài hạn để định hướng hành động ngắn hạn một cách chủ động. Việc phải nỗ lực hết sức cho mục tiêu tốc độ tăng trưởng hàng năm ít nhiều chi phối cách hành động đã trở thành cố hữu: đầu năm thong thả, cuối năm dốc sức, bất chấp điều kiện. Chủ nghĩa thành tích, dàn trải đầu tư, chấp nhận lãng phí vốn, dễ dãi hơn với các khuyết tật cơ chế và sai lầm cá nhân, v.v. để hoàn thành mục tiêu tốc độ vẫn tiếp là cách thức chi phối hoạt động đầu tư nhà nước, thậm chí có xu hướng được củng cố thêm.               Dịch bệnh cúm gia cầm đang đặt các nền kinh tế trước nguy cơ bị thiệt hại nặng nề. ảnh: Lê Anh Tuấn             Hai điểm nhấn mạnh nêu trên có liên quan đến một thực tế: cấu trúc thị trường của nền kinh tế nước ta, sau 20 năm phát triển kinh tế thị trường, vẫn còn khiếm khuyết nghiêm trọng. Hệ thống các thị trường hình thành và phát triển không đồng bộ, cơ chế “bộ chủ quản” và “độc quyền của DNNN” còn nặng là những cơ sở để chính sách dễ bị thiên lệch và môi trường kinh doanh không bình đẳng. Tình trạng này là cơ sở để các nhóm lợi ích cục bộ phát huy sức mạnh chi phối, làm cho việc phối hợp mục tiêu và công cụ chính sách vĩ mô trở nên khó khăn và kém hiệu quả.  Nhận định về một khía cạnh thực chất của tăng trưởng trong giai đoạn 2001-2005, Báo cáo của Chính phủ dẫn lại một luận điểm của Nghị quyết Hội nghị TƯ 9 (khóa IX): “mức tăng trưởng còn thấp hơn khả năng thực tế, ít tiến bộ về các nhân tố phát triển theo chiều sâu, năng suất lao động xã hội thấp và tăng chậm, hiệu quả đầu tư kém, chi phí sản xuất và lưu thông cao”.          Cấu trúc thị trường của nền kinh tế nước ta, sau 20 năm phát triển kinh tế thị trường, vẫn còn khiếm khuyết nghiêm trọng. Hệ thống các thị trường hình thành và phát triển không đồng bộ, cơ chế “bộ chủ quản” và “độc quyền của DNNN” còn nặng là những cơ sở để chính sách dễ bị thiên lệch và môi trường kinh doanh không bình đẳng.           Nhận định này hàm nghĩa gì? Trong tầm nhìn dài hạn, hàm nghĩa là rõ ràng: Phương cách tăng trưởng như những năm qua vừa không giải quyết được vấn đề tốc độ (nền kinh tế vẫn tăng trưởng thấp hơn khả năng thực tế), vừa không giải quyết được vấn đề chất lượng (hiệu quả và năng lực cạnh tảnh chậm được cải thiện); rằng dư địa để nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam còn rất lớn. Nhưng để tận dụng dư địa đó, chắc chắn không phải bằng cách cứ chăm chăm vào mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn hàng năm. Có lẽ, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trường kỳ, chúng ta phải tạm thời “quên” tốc độ đi. Để tăng trưởng nhanh lâu bền, sự chú ý cao nhất trong hệ mục tiêu kinh tế vĩ mô chắc chắn phải được dành cho chất lượng tăng trưởng chứ không phải là tốc độ.  Lập luận này dựa trên cách đặt vấn đề dài hạn đối với quá trình tăng trưởng, đồng thời, phù hợp với yêu cầu sinh tồn và phát triển của một nền kinh tế đi sau trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt.  ——–  1 Trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2004, Việt Nam bị tụt 17 bậc,mức tụt cao nhất thế giới; năm 2005, Việt Nam bị tụt tiếp 4 bậc.  2 Minh họa rõ nhất cho hiện tượng này là việc một loạt bộ, ngành, khi đối mặt với lạm phát cao, đều cố gắng thể hiện mình “vô can”, ít “đóng góp vào lạm phát” bằng cách đưa ra những bằng chứng riêng của ngành mìnhhơn là nỗ lực cùng Chính phủ (mà Bộ, ngành đó là một thành viên) xác định hệ nguyên nhân, nhất là các nguyên nhân thuộc về điều hành, và các giải pháp vĩ mô tông thể để đối phó.  Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ cấu kinh tế còn lạc nhịp      Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo không những lan tỏa đến giá trị gia tăng thấp, lan tỏa mạnh đến nhập khẩu mà còn phát thải lượng khí nhà kính ra môi trường ở mức độ cao nhất.    Không chỉ nhiều chuyên gia hết lời ca ngợi thành tựu nền kinh tế Việt Nam 2017 mà trong thông cáo báo chí của cơ quan thống kê cũng như tổ chức quốc tế như WB cũng hồ hởi cho rằng “Nhìn trên góc độ sản lượng sản xuất, tăng trưởng đạt được nhờ vào các ngành chế tạo và chế biến”. Điểm sáng của khu vực này là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 14,40% (là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây, mức tăng của giá trị tăng thêm tương đương mức tăng về giá trị sản xuất?) [1], đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 2,33 điểm phần trăm, tăng trưởng của công nghiệp chế biến chế tạo cao hơn gấp đôi so với mức tăng trưởng GDP (14,4% so với 6,81%). Về phía cầu, mức tăng về xuất khẩu hàng hóa đạt trên 21%, mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, nếu nhìn thật kỹ bức tranh kinh tế rất đẹp đẽ đó, sẽ nhận thấy cơ cấu kinh tế chậm được cải thiện, chưa thực sự hướng tới tăng trưởng bền vững.  Theo tính toán từ mô hình cân bằng tổng thể từ số liệu của bảng cân đối liên ngành của Việt Nam (do Tổng cục Thống kê – TCTK- công bố) cho thấy, trong nền kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo khi tăng một đơn vị sử dụng cuối lan tỏa rất thấp đến thu nhập và lan tỏa mạnh đến nhập khẩu. Nhóm ngành này do được nhiều kỳ vọng nên tỷ lệ đầu tư của nhóm ngành này luôn rất cao và ngày càng tăng, năm 2005 tỷ lệ đầu tư của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo trên tổng mức đầu tư vào khoảng 43%, đến năm 2016 tỷ lệ này lên gần 50%, nhưng một điều trớ trêu là tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất của nhóm ngành này lại giảm rất nhanh: tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị sản xuất của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo theo cấu trúc của bảng I/O năm 2007 của TCTK là 34,1%; đến những năm gần đây (cấu trúc của bảng I/O mới) tỷ lệ này chỉ còn 21% (TBKTSG, 2016) [2]. Điều này có nghĩa, hoạt động sản xuất kinh doanh trong công nghiệp chế biến và chế tạo ngày càng kém hiệu quả, hoặc ngày càng mang nặng tính gia công, kéo theo lượng đầu tư ngày càng phải tăng lên để bù đắp vào sự kém hiệu quả đó.    Mức độ lan tỏa của một số ngành cho một đơn vị tăng lên của cầu cuối cùng. Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên bảng cân đối liên ngành của TCTK.  Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo không những lan tỏa đến giá trị gia tăng thấp, lan tỏa mạnh đến nhập khẩu mà còn phát thải lượng khí nhà kính ra môi trường ở mức độ cao nhất, ngành phát thải ra hiệu ứng nhà kính cao nhất là nhóm ngành sản xuất các sản phẩm khoáng phi kim loại cao hơn mức bình quân chung 3,3 lần. Một điều chú ý rằng hầu như ai cũng nghĩ ngành vận tải thải ra hiệu ứng nhà kính lớn nhưng thực chất lại không phải như vậy.  Việc tăng trưởng của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo cao (14,5%) có liên quan mật thiết với vấn đề về phía cầu, chúng ta mừng rỡ với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa năm 2017 đạt kỷ lục lên đến 21,1%, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng trưởng về xuất khẩu là 17,6%, trong đó khu vực FDI chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ví dụ: Nhà xuất bản mang sách hoặc tạp chí đến nhà in để in thì sản phẩm cuốn sách hoặc tạp chí là sản phẩm của nhà xuất bản, không thể coi đó là sản phẩm của nhà in, tuy nhà in cũng có được một chút công in trong toàn bộ giá trị cuốn sách. Xuất khẩu hàng hóa tăng cao có đáng vui mừng đến mức người nọ phải khuyên người kia kiềm chế sự sung sướng đến vậy không? Tính toán từ số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường [3] và bảng cân đối liên ngành của TCTK cho thấy xuất khẩu hàng hóa lan tỏa đến giá trị tăng thêm thấp nhất, nhưng lại lan tỏa mạnh mẽ đến nhập khẩu, nguy hiểm hơn nữa sản xuất cho xuất khẩu hàng hóa gây nên phát thải khí nhà kính lớn nhất trong tất cả các yếu tố của cầu cuối cùng (51%), trong khi đó xuất khẩu dịch vụ ít gây hiệu ứng nhà kính nhất nhưng lại lan tỏa tốt nhất đến thu nhập.      Lan tỏa từ các nhân tố của cầu cuối cùng nội địa đến các yếu tố kinh tế và môi trường năm 2012. Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên các bảng I/O và số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường.   Trong báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính đến năm 2010, lượng phát thải khí nhà kính (GHG) là khoảng 247 triệu tấn, tính toán của chúng tôi cho thấy lượng khí GHG đến năm 2012 là 300 triệu tấn, bình quân mỗi năm tăng 10% trong khi GDP tăng bình quân từ 2010 – 2012 xấp xỉ 6%. Với cấu trúc kinh tế và ưu tiên chính sách như hiện nay là không hướng tới tăng trưởng bền vững, GDP tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2005 – 2017 khoảng 6,2% (tăng trưởng GDP năm 2017 là 6,81%) trong khi tăng về phát thải nhà kính từ 8 – 10%. Như vậy đến 2020 nếu cấu trúc kinh tế không thay đổi, vẫn khuyến khích tăng trưởng công nghiệp chế biến chế tạo, chính sách vẫn ưu ái xuất khẩu và FDI và không hướng nguồn lực đầu tư vào tăng trưởng xanh thì chất thải nhà kính GHG đến năm 2020 vào khoảng trên 550 triệu tấn, cao hơn mức dự báo của Liên Hợp Quốc cho Việt Nam (đến năm 2020 là 466 triệu tấn). Điều này dường như là nghịch lý với chính sách ưu tiên xuất khẩu hàng hóa cả về chính sách thuế và chính sách tín dụng.  Dường như nguồn lực về chính sách một lần nữa cho thấy đang được đặt nhầm chỗ, dẫn đến việc con người phải đối mặt với thiên tai, không khí ô nhiễm trong tương lai do phát thải nhà kính gây ra.  —————————  Chú thích  [1] Về nguyên tắc, tăng trưởng về giá trị sản xuất thường cao hơn tăng trưởng của giá trị tăng thêm, đặc biệt trong trường hợp tỷ lệ giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến chế tạo mỗi năm giảm hơn 1 điểm phần trăm (tính toán từ điều tra doanh nghiệp hằng năm).  [2] Số liệu GDP có vấn đề, TBKTSG, 19/8/2016.  [3] Ministry of National Resource and Environment “The Initial Biennial  Updated Report of Vietnam to the United Nations Franmework Convention on Climate Change” Vietnam Publishing House of Natural Resources, Environment and Cartography, 2014.  Tài liệu tham khảo  1-Bui Trinh (2015) A study on the Input-Output System for evaluation of infrastructure development in Vietnam, Kyoto University.  2- Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Nguyen Van Huan, Pham Le Hoa (2012) An Integrated Framework for Multi-Purposes Socio-Economic Analysis Based on Input-Output Model, British Journal of Economics, Finance and Management Sciences, Vol 4.  3- Bui Trinh. and Pham, L. H. (2014). Comparing the Economic Structure and Carbon Dioxide Emission between China and Vietnam, International Journal of Economics and Financial Research, Vol. 3, No. 3, pp: 31-38, 2017.  4- Guo, D. and Hewings, G. J. D. (2001). Comparative Analysis of China‟s Economic Structures Between 1987 and 1997: An Input-Output Prospective. Discussion Paper at Regional Economics Applications Laboratory. Urbana.  5- HADDAD, E. A. (1997) Regional inequality and structural changes in the Brazilian economy. Illinois: University of Illinois at Ur-ban-Champaign,. Dissertation.  6- Iris Claus. Kathy Li (2003) “New Zealandís Production Structure: An International Comparison” NZ TREASURY WORKING PAPER 03/16.  7- Miller, R. E. and Blair, P. D. (1985). Input-output analysis foundation and extension. Prentice-Hall, Inc: New Jersey.  8- Nguyễn Hồng Sơn Dịch vụ Việt nam 2020: Hướng tới chất lượng, hiệu quả và hiện đại. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.  9- To TrungThanh, Nguyen, V. P. and Bui, T. (2016). Some comparisons between the vietnam and china‟s economic structure, policy implications. Advances in Management & Applied Economics, 6(3): 153-66.  10- Wassily, L. (1941). Structure of the American economy, 1919-1929. Harverd University Press: Cambridge Mass.    Author                Bùi Trinh        
__label__tiasang Có chăng cái gọi là nguồn lực xã hội kiểu Vũ Minh Khương?      Gần đây có thông tin cho rằng mỗi quốc gia có ba nguồn lực chủ đạo để phát triển đất nước: nguồn lực vật chất, nguồn lực con người và nguồn lực xã hội (Vũ Minh Khương (VMK)- Tuổi Trẻ ngày 10/9/2005). Báo Pháp Luật TP Hồ Chí Minh số ra ngày 5/10/2005 đăng bài Nguồn vốn xã hội của Nguyễn Sĩ Dũng (NSD).     Tác giả này cho rằng một dân tộc muốn tiến tới thịnh vượng đòi hỏi phải đầu tư cả ba loại vốn: vốn tài chính, vốn tri thức và vốn xã hội. Điều kỳ lạ là mặc dù dưới hai cái vỏ ngôn ngữ khác nhau (nguồn lực xã hội và nguồn vốn xã hội) nhưng nội dung của hai khái niệm này không mấy khác nhau.  Theo VMK, nguồn lực xã hội có cội nguồn từ nền đạo lý xã hội, ý chí dân tộc, nhiệt huyết của thế hệ trẻ và tinh thần đoàn kết toàn dân. Với NSD, nguồn vốn xã hội là tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc lẫn nhau trong thiên tai địch họa. Theo ngôn ngữ bác học sang trọng của những người làm công tác nghiên cứu thì nội hàm của hai khái niệm này là gần như nhau. Có vẻ như VMK nói đầy đủ hơn thì phải. Thực ra, nguồn lực xã hội chính là sức mạnh tinh thần mà trong Tuổi Trẻ số ra ngày 18/6/2005 VMK đã từng đề cập. Tuy nhiên cách hiểu này khác với cách hiểu thường thấy về nguồn lực xã hội của nhiều tác giả khác.  Chúng tôi cho rằng để phát triển đất nước (VMK) hay một dân tộc muốn tiến tới thịnh vượng (NSD) thì dĩ nhiên cần và hơn thế nữa, rất cần cái mà VMK gọi là nguồn lực xã hội còn NSD thì gọi là nguồn vốn xã hội. Tuy nhiên, đây chỉ là những điều kiện cần. Chúng chỉ là những điều kiện để có thể bắt tay vào giải bài toán, tựa như điều kiện để mẫu số khác không, biểu thức dưới dấu căn bậc hai không âm. Chúng hoàn toàn không phải là những dữ kiện để từ đó tìm ra cách giải. Khi chúng ta bàn về các giải pháp đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ và tăng tốc phát triển chẳng hạn mà cứ rông dài mãi về hoài bãi, khát vọng, nhiệt huyết, ý chí dân tộc hay đại đoàn kết dân tộc thì sao có thể tìm ra câu trả lời?  Để có thể coi là nguồn lực thì nguồn lực ấy phải xác định, tựa như muốn xác định một lực thì hẳn nhiên phải biết điểm đặt, phương chiều và cường độ. Muốn được gọi là một nguồn lực, ít nhất các thành tố của nó cũng phải lượng hóa được. Có nghĩa là nguồn lực ấy có thể đo lường được và phải thể hiện qua các số liệu đánh giá. Liệu có chăng những dụng cụ đo lường kiểu như hoài bão kế, khát vọng kế, ý chí dân tộc kế? Các yếu tố thuộc phạm trù tinh thần có đặc điểm khác biệt là thường biến và do đó bất định. Nguồn lực con người dầu là khả biến nhưng phạm vi không lớn và hoàn toàn có thể xác định được qua các con số thống kê. Trí lực hoàn toàn có thể xác định được thông qua những quyết sách chiến lược trên giấy trắng mực đen, và những gì mà nó đem lại cũng là những con số thống kê cụ thể.  Các yếu tố thuộc phạm trù tinh thần như hoài bão, khát vọng, ý chí dân tộc, tinh thần đoàn kết… là những yếu tố nội sinh, không phải ai cũng có và có không như nhau, không chuyển giao được. Nguồn lực con người có thể đào tạo thông qua việc truyền thụ các phương pháp giải quyết vấn đề, chuyển giao tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, chuyển giao thông tin nhưng chúng ta không thể truyền thụ và chuyển giao hoài bão, khát vọng… Điều duy nhất mà chúng ta có thể làm là khơi gợi lên, kích hoạt hoài bão, khát vọng.  Việc truyền lửa nhiệt tình cách mạng mà chúng ta lâu nay vẫn gọi thực ra chỉ là lối nói cường điệu. Trong hoàn cảnh chiến tranh, trước những tác động của hoàn cảnh (đất nước bị xâm lăng, đạn bom tàn phá quê hương, máu của những người vô tội tuôn chảy…) cộng với sự khơi gợi từ cộng đồng rồi ý thức tự thân mà các yếu tố nội dung nói trên đã hình thành. Nếu chúng tạo nên một nguồn lực như VMK quan niệm thì nguồn lực ấy được tập hợp ra sao ngoài cái việc kêu gọi (tinh thần đoàn kết), gợi lên và kích hoạt (hoài bãi, khát vọng)… và các yếu tố này tác động như thế nào đến vấn đề cần giải quyết sau loạt hành động kêu gọi hay gợi lên và kích hoạt ấy? Chúng chỉ tác động gián tiếp. Các yếu tố tinh thần kiểu như lòng căm thù giặc sâu sắc hay khát vọng độc lập không thể tiêu diệt hoặc đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi. Chính lực lượng quân sự đủ mạnh ở một mức độ nào đó cộng với đường lối sách lược đúng đắn, nghệ thuật chiến tranh tài tình trên cơ sở khát vọng độc lập và lòng căm thù giặc sâu sắc đã thu giang sơn về một mối.  Tương tự như vậy, hoài bão và khát vọng vươn lên, ý chí dân tộc mạnh mẽ không làm tăng trưởng kinh tế… Việc kêu gọi tinh thần phục vụ nhân dân, chí công vô tư không làm cho thủ tục hành chính nhanh gọn… Sự đề cao tinh thần liêm chính và tính trung thực khi kê khai tài sản không làm cho nạn tham nhũng giảm bớt… Y đức không cắt bỏ được khối u…  Về tác động của những yếu tố tinh thần, có thể lấy thêm bóng đá để làm ví dụ minh họa cụ thể. Sức mạnh tinh thần có thể giúp một đội bóng chiến thắng vài ba trận (dĩ  nhiên là với một số đối thủ nào đó), nhưng không thể giành thắng lợi suốt cả một giải đấu hay một mùa bóng dài. Chính thực lực và tính chuyên nghiệp mới giúp họ đăng quang.  Có lẽ vì quá say sưa với cái gọi là nguồn lực xã hội nên VMK đã cho rằng: một số ít quốc gia, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, đã coi huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là ý chí dân tộc và nhiệt huyết của tuổi trẻ, là bước đi nền tảng cho khai thác nguồn lực vật chất và nguồn lực con người. Kết quả là các quốc gia này đều đã làm nên những kỳ tích phát triển chỉ trong vòng không đầy bốn thập kỷ. Trong khi đó, bất kỳ một học sinh bậc trung học cơ sở nào trên thế giới này đều biết rằng cả ba nước này gần như chẳng có tài nguyên thiên nhiên để mà khai thác, còn tiền bạc và của cải trong dân ở thời điểm cách đây bốn mươi năm thì ai cũng rõ là hầu như chẳng có gì. Nếu tính nguồn lực vật chất bao gồm cả vị trí địa lý thì chỉ riêng Singapore có lợi thế này (cảng biển lý tưởng). Bất kỳ một ai, nếu có tìm hiểu về nước Nhật, đều biết rằng đất nước mặt trời mọc bắt đầu cất cánh kể từ thời Minh Trị thiên hoàng chứ không đợi đến sau Thế chiến hai. Sở dĩ người ta nhấn mạnh giai đoạn này mà quên mất khoảng thời gian tạo dựng nền móng trước đó bởi sau chiến tranh Nhật Bản đã vụt dậy từ đống tro tàn, trong sự kiệt quệ đến tận cùng, làm kinh ngạc cả địa cầu.                Cuối cùng là cái sai thứ tư trong đoạn trích ngắn ở trên: cả ba quốc gia nói trên có những bước tiến thần kỳ bắt nguồn từ trí lực và sau đó là nhân lực, không có cơ sở để nói rằng sự phát triển chóng mặt của những nước này khởi phát từ cái mà VMK gọi là nguồn lực xã hội. Nhật Bản bắt đầu cất cánh với trí tuệ hơn người của Minh Trị thiên hoàng, Singapore với Lý Quang Diệu… Chính sức mạnh của trí tuệ là bước khởi đầu cho mọi cuộc cách tân. Bước đột phá phải là việc hoạch định chiến lược phát triển, chứ không như quan niệm của VMK: khơi dậy và khai thác mạnh mẽ nguồn lực xã hội của dân tộc ta, từ ý chí dân tộc đến nhiệt huyết của tuổi trẻ, từ đạo lý xã hội đến đoàn kết toàn dân đang trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết. Đây là bước đi quan trọng có tính đột phá nhằm mở ra cục diện phát triển cao hơn cho sự nghiệp đổi mới.  Việc hoạch định chiến lược phát triển luôn đóng vai trò quyết định trong sự vươn dậy của một quốc gia. Ở mức độ sâu sắc và toàn diện nhất, nó tạo ra một cấu trúc xã hội mới, lập nên một lộ trình rõ ràng cho cả dân tộc thể hiện qua đường lối, chủ trương, chính sách khoa học và nhất quán. Không những thế, việc hoạch định này còn xây dựng nên nguồn lực con người để thực thi đường lối, chủ trương, chính sách ấy. Cần phải nhấn mạnh rằng sự sai lầm trong nhận thức về khâu đột phá sẽ khiến cho cả một dân tộc phải trả giá.  Chúng tôi cho rằng: khi tìm câu trả lời cho bài toán chấn hưng và phát triển đất nước, bước đi đầu tiên là tối quan trọng, quyết định vận mệnh cả một dân tộc. Duy lý hay duy cảm thể hiện ngay ở khâu lựa chọn đầu tiên này. Kẻ duy lý tìm câu trả lời nơi mọi vấn đề có thể làm cho tường tận, rõ ràng. Người duy cảm cậy nhờ vào những điều không thể nắm bắt, hy vọng vào những yếu tố không thể kiểm soát, thậm chí trông chờ vào sự diệu kỳ chỉ có trong huyền sử – sự diệu kỳ của Gióng. Theo chúng tôi, điều này thể hiện sự bất lực trong việc tìm lời giải cho bài toán cần phải giải.  Nguyễn Trọng Tín, 732 Hùng Vương, Q.6. TP Hồ Chí Minh  Nguyễn Trọng Tín      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế      Trong buổi chất vấn tại kỳ họp Quốc hội lần này, khi được hỏi về trách nhiệm quản lý của bộ, ngành và người đứng đầu bộ, ngành, một số Bộ trưởng cho rằng một trong những nguyên nhân của yếu kém tồn tại là “do cơ chế.” Cử tri băn khoăn rằng, cơ chế do ai tạo ra và ai chịu trách nhiệm đối với cơ chế đó nếu như quả thật cơ chế còn bất cập?    Trước hết, phải hiểu cơ chế là gì? Về mặt pháp lý và chính thống thì không có khái niệm “cơ chế.” Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện.” Như vậy, khi nói đến trách nhiệm quản lý của bộ, ngành và của người đứng đầu bộ, ngành là nói đến cách thức mà theo đó việc quản lý, điều hành của bộ, ngành đó, của người đứng đầu thực hiện việc quản lý, điều hành, là mối quan hệ, điều phối, phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa bộ, ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền cũng như với người dân.  Vậy, ai làm ra cơ chế điều hành và quản lý đó?  Quốc hội làm luật, trong đó có các đạo luật về tổ chức hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của Chính phủ… Chính phủ ra các nghị định về cơ cấu, tổ chức và hoạt động của các bộ, ngành. Bộ trưởng ra các văn bản, quy chế điều hành, quản lý công công việc của bộ và các cơ quan trực thuộc. Các bộ, ngành ra các thông tư liên ngành quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành đó. Như vậy, có hai điều rõ ràng và không thể phủ nhận được, đó là: thứ nhất, các bộ, ngành, trong đó không thể vắng bóng vai trò của người đứng đầu, hoặc trực tiếp soạn thảo các cơ chế đó, hoặc được tham gia soạn thảo và góp ý kiến để ban hành các cơ chế đó; thứ hai, người dân và cử tri không phải là người làm ra cơ chế, có chăng thì họ chỉ có thể đóng góp ý kiến ở một chừng mực quá ư khiêm tốn.  Cơ chế chưa hợp lý là do những người làm ra cơ chế. Cơ chế bị lỗi thời, không theo kịp sự đòi hỏi của xã hội cũng là một phần trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan và các vị đứng đầu đã chưa kịp thời đề xuất hoặc sửa đổi, bổ sung cơ chế. Họ chỉ có thể vô can khi đã làm tròn bổn phận của mình nhưng Chính phủ, Quốc hội hoặc Thủ tướng đã không “nghe” theo đề xuất của họ(!). Với một Thủ tướng năng động trong điều hành và một Quốc hội đòi hỏi cao và vì dân như vậy thì liệu việc lý giải cho sự “vô can” đó có thuyết phục?  Cử tri có thể đổ lỗi cho cơ chế. Họ có thể tự an ủi. Nhưng với cương vị là những người đồng tác giả và thực thi cơ chế, các nhà quản lý, cho dù họ có thể không có trách nhiệm về mặt pháp lý với cơ chế mà điều này thì chưa chắc đã như vậy, nhưng thiết nghĩ họ hẳn không thể đứng ngoài các trách nhiệm khác, chí ít là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm trước cử tri.    Lưu Tiến Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế bảo hiến ở Đức      &#160;Bảo hiến ngày nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có tác động trực tiếp đến cả hệ thống pháp luật. Mô hình bảo hiến ở Cộng hòa Liên bang Đức là một trong những mô hình bảo hiến tân tiến rất đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia trên thế giới đang muốn xây dựng một cơ chế bảo hiến thành công, triệt để theo nghĩa hiện đại.        Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả cho rằng có ba nguyên nhân cơ bản đảm bảo cho thể chế bảo hiến ở Đức thành công:  1. Các nhà lập hiến Đức đã đặt cơ chế bảo hiến trong điều kiện của một chế độ dân chủ bền vững, đồng thời lường tính trước lộ trình để đảm bảo cho cơ chế này được thực thi hiệu quả  Điều khoản vĩnh cửu (Điều 79 khoản 3 của Luật cơ bản) là đảm bảo pháp lý trước tiên cho một cơ chế bảo hiến. Điều khoản này ràng buộc các qui phạm tại Điều 1 và Điều 20 là những điều khoản vĩnh viễn, trong mọi trường hợp không thể thay đổi, vì bất kỳ lý do nào. Nội dung của Điều 1 là qui định về nhân phẩm, quyền cơ bản của công dân, các quyền này có hiệu lực trực tiếp và ràng buộc quyền lực nhà nước. 1 Điều 20 là Điều xác lập các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp như nguyên tắc nhà nước pháp quyền, dân chủ, liên bang và nhà nước xã hội2. Điều 79 khoản 3 này đã vĩnh viễn hóa những đặc trưng nền tảng của một chế độ dân chủ ở Đức.   Không phải ngay từ khi có hiệu lực vào năm 1949 nước Đức đã có ngay một cơ chế bảo hiến đầy đủ. Phải đến năm 1951, Luật tòa án Hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgerichtgesetz – BVerfGG) mới ra đời và cũng phải chờ thêm hai mươi năm sau (năm 1969), kể từ khi Luật cơ bản có hiệu lực, chế định khiếu kiện Hiến pháp của công dân tại Điều 93 khoản 1 số 4a LCB mới được bổ sung, nhằm cụ thể hóa con đường tố tụng Hiến pháp tại Điều 19 khoản 4 LCB. 3 Sau hai mươi năm, đặc biệt là sau cuộc đại nhảy vọt về kinh tế (Wirtschaftswunder) và những chuyển biến xã hội sâu sắc những năm 1950, 1960, CHLB Đức lúc đó mới hội tụ được đầy đủ các điều kiện chín muồi cả về kinh tế xã hội, chính trị pháp lý để hiện thực hóa đầy đủ các qui định về bảo hiến.  2. Các nhà lập hiến Đức đã xác định chính xác vị trí pháp lý của Tòa án hiến pháp liên bang với hai chức năng vừa là cơ quan xét xử, nhưng cũng vừa là một thiết chế hiến định của liên bang, độc lập với các thiết chế khác  Tòa án hiến pháp cộng hòa liên bang Đức đồng thời có 2 chức năng:  Chức năng thứ nhất, Tòa án hiến pháp liên bang là một cơ quan có chức năng xét xử như các Tòa án khác (Theo các Điều 92, 93, 94, 97 Luật cơ bản [dưới đây viết tắt là LCB]). Điều 92 Câu 1 LCB qui định: “Quyền xét xử được trao cho thẩm phán”. Điều này có nghĩa rằng ở Đức, thẩm phán luôn nhận được sự tin tưởng tuyệt đối và cũng nhận lấy trách nhiệm to lớn trước nhà nước và xã hội. Qui định này được bổ sung bởi Điều 97 Khoản 1 LCB: “Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo luật”.  Chức năng thứ hai, theo Điều 1 Khoản 1 LTAHPLB, Tòa án hiến pháp liên bang là một thiết chế hiến định (Verfassungsorgan) giống như các thiết chế khác ở liên bang như Hạ nghị viện (Bundestag), Thượng nghị viện (Bundesrat), Tổng thống liên bang (Bundespräsident) và Chính phủ liên bang (Bundesregierung). 4  Hai chức năng này tạo nên vị trí độc lập của Tòa án hiến pháp liên bang trong hoạt động xét xử.   Việc chia thành 2 Hội đồng xét xử cũng là một qui định thành công.  Theo Điều 2 Khoản 1 và Khoản 2 Luật Tòa án Hiến pháp liên bang (LTAHPLB), 5 Tòa án Hiến pháp liên bang được chia thành 2 Hội đồng xét xử, mỗi Hội đồng xét xử gồm có 8 thẩm phán.  Hội đồng xét xử thứ nhất có nhiệm vụ xét xử các vụ việc liên quan đến việc xâm phạm các quyền cơ bản của công dân (Grundrechte) từ phía nhà nước theo Điều 14 Khoản 1 LTAHPLB, gọi chung là các khiếu kiện Hiến pháp (Verfassungsbeschwerde).  Hội đồng xét xử thứ hai có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề còn lại thuộc thẩm quyền theo Điều 14 Khoản 2 LTAHPLB.   Việc chia thành hai hội đồng xét xử khiến cho tiến độ xét xử các vụ việc liên quan đến Hiến pháp được đẩy nhanh, đồng thời tính chuyên môn hóa cũng được nâng cao do mỗi Hội đồng xét xử phụ trách một nhóm các khiếu kiện hiến pháp độc lập. 6  Tòa án Hiến pháp liên bang có nhiều thẩm quyền bảo vệ hiến pháp, những thẩm quyền này được qui định cụ thể ở các Điều 93, Điều 100, Điều 21 Khoản 2, Điều 41 khoản 2, Điều 61, Điều 93 khoản 1 số 4b. 7 Cụ thể là các quyền sau:  – Quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến nếu đạo luật đó trái với Luật cơ bản (Điều 100 khoản 1 LCB); 8    – Quyền giải thích Hiến pháp (Điều 93 khoản 1 số 2 LCB); 9  – Quyền giải quyết xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Liên bang (Điều 93 khoản 1 số 1 LCB); 10   – Quyền giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa liên bang và tiểu bang (Điều 93 Khoản 1 số 3 và số 4); 11  – Quyền giải quyết khiếu kiện liên quan đến bầu cử (Wahlprüfungsverfahren) (Điều 41 Khoản 2 LCB) 12, giải quyết việc cấm một Đảng phái nào đó hoạt động (Parteiverbotsverfahren – Điều 21 Khoản 2 LCB) 13, Khiếu kiện Tổng thống (Điều 61 Khoản 2 LCB); 14  – và đặc biệt là quyền giải quyết khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân khi bị cơ quan công quyền xâm phạm các quyền cơ bản qui định từ Điều 1 đến Điều 19 LCB (Verfassungsbeschwerde – Điều 93 khoản 1 số 4a). 15   Theo số liệu thống kê thực tế của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức về số lượng giải quyết các vụ việc của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức từ 7/9/1951 đến 31/12/2007 công bố tại website của Tòa án hiến pháp liên bang16  thì: số lượng vụ việc thụ lý là 169.502 vụ việc, trong số đó có tới 163.374 vụ việc (chiếm tới 96,37%) là các khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân (Verfassungsbeschwerde). Điều này cho thấy đa phần các vụ việc trên thực tế của Tòa án Hiến pháp liên bang là giải quyết khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân.   3. Các nhà lập hiến Đức đã đặt ra đầy đủ các điều kiện để đảm bảo cho sự độc lập của Thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang  Về tiêu chuẩn của Thẩm phán: Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang phải đạt những tiêu chuẩn sau:  – từ 40 tuổi trở lên (Điều 3 Khoản 1 LTAHPLB),  – tối thiểu phải thi đỗ kỳ thi quốc gia thứ hai về luật (2. Juristisches Staatsexamen) 17 hoặc là Giáo sư luật (Professor der Rechte) 18 tại trường Đại học ở Đức (Điều 3 Khoản 2 LTAHPLB và Điều 5 Khoản 1 Luật thẩm phán (Deutsches Richtergesetz19).    – không được đồng thời là thành viên của Hạ viện, Thượng viện, Chính phủ liên bang, cũng như bất cứ cơ quan nào của bang (Điều 94 Khoản 1 Câu 3 Luật cơ bản và Điều 3 Khoản 3 LTAHPLB).  Về qui trình bầu thẩm phán: Thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang được bầu theo nguyên tắc bầu đa số tiêu chuẩn (tức là phải đạt được 2/3 số thành viên tán thành) (Điều 94 Khoản 1 Câu 2 LCB và các Điều  từ Điều 5 LTAHPLB). Các thẩm phán được bầu theo nguyên tắc một nửa là từ Hội đồng bầu thẩm phán (Richterwahlausschuss) của Hạ viện (Theo Điều 6 LTCTAHPLB) và một nửa là bởi Thượng viện (Theo Điều 51, 52 LCB và Điều 7 LTCTAHPLB). 20  Về nhiệm kỳ của Thẩm phán: Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang là 12 năm và chỉ được bầu duy nhất một lần (Điều 4 LTAHPLB).        Cơ chế bảo hiến ở Đức thành công vì thể chế này đã hội tụ được đầy đủ cả ba điều kiện để đảm bảo sự thành công là đảm bảo về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, đảm bảo về vị trí pháp lý, thẩm quyền của thiết chế Tòa án hiến pháp và đảm bảo về sự độc lập của thẩm phán. Ngày nay với nhiều giá trị tiến bộ, cơ chế bảo hiến ở Cộng hòa liên bang Đức đã vượt ra khỏi khuôn khổ nước Đức, trở thành giá trị văn minh chung của nhân loại và là một trong những mô hình rất đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia trên thế giới đang muốn xây dựng một cơ chế bảo hiến thành công, triệt để theo nghĩa hiện đại.         Về điều kiện đồng nghiệp giúp việc về khoa học: Tòa án hiến pháp liên bang hiện nay ở Karlsruhe có khoảng 60 đồng nghiệp giúp việc về khoa học (wiss. Mitarbeiter). Đây thực sự là những chuyên gia pháp lý giỏi, được tuyển chọn kĩ lưỡng, là trợ lực quan trọng giúp các thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang có thể hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình. 21  Về thu nhập: Lương của Chánh án Tòa án Hiến pháp liên bang tương đương với lương của Bộ trưởng khoảng 15.500 Euro/ 1 tháng. 22 Lương của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp liên bang tương đương với lương của Chánh án Tòa án Tối cao (Nhóm BBesO R10) khoảng 12.503 Euro/ 1 tháng. 23  Về tính độc lập với ngành hành pháp: Theo Điều 94 Khoản 1 Câu 3 LCB và Điều 3 Khoản 3 LTCTAHPLB thì Tòa án Hiến pháp liên bang:  – Không có giám sát công vụ (keine Dienstaufsicht),  – Không có sự chỉ đạo công tác xét xử từ bên ngoài (keine Dienstweg),  – Không phụ thuộc vào các cơ quan hành chính trong việc trả lương, có ngân sách riêng độc lập (eigener Haushalt) về việc trả lương thẩm phán. 24  Về sự độc lập khi xét xử:  Theo Điều 15 Khoản 2 Câu 1 LTAHPLB, khi xét xử, Hội đồng xét xử phải có ít nhất 6 trên tổng số 8 thẩm phán tham gia và quyết định theo nguyên tắc quá bán (einfach Mehrheit). Trong trường hợp số phiếu bằng nhau thì giải quyết theo Điều 15 Khoản 4 Câu 3 LTAHPLB). Thẩm phán Tòa án Hiến pháp khi phán quyết chỉ tuân theo Hiến pháp và luật, hoàn toàn không chịu bất cứ tác động nào từ phía bên ngoài, không chịu bất cứ sự chỉ đạo nào về mặt chính trị hay hành chính. Đây là tiêu chí, là đòi hỏi quan trọng nhất đảm bảo tính độc lập của thẩm phán.  Về sự ràng buộc của phán quyết: Ý nghĩa đặc biệt nhất trong phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang chính là giá trị của phán quyết được qui định tại Điều 31 Khoản 1 LTAHPLB: “Phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang có hiệu lực ràng buộc đối với các thiết chế hiến định của liên bang, các tiểu bang cũng như tất cả các tòa án và cơ quan hành chính. 25  ———–  * Đại học Saarland, Cộng hòa liên bang Đức  1 Điều 1 LCB qui định: “(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm (unantastbar). Coi trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước. (2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khả xâm phạm và không thể bị lạm dụng hay áp đặt (unveräußerlichen) như là nền tảng của mỗi một cộng đồng, hoà bình và công lý trên toàn thế giới. (3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với tính chất là quyền có hiệu lực trực tiếp (unmittelbar geltendes Recht).”  2 Điều 20 LCB qui định: “(1). Cộng hòa liên bang Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và nhà nước liên bang xã hội. (2). Tất cả quyền lực nhà nước là từ nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước được thực thi bởi nhân dân thông qua bầu cử, trưng cầu dân ý và thông qua các cơ quan độc lập thuộc nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. (3). Quyền lập pháp bị ràng buộc bởi trật tự hợp hiến, quyền hành pháp và tư pháp bị ràng buộc bởi các Đạo luật và các văn bản pháp luật. (4). Tất cả người dân Đức đều có quyền thay đổi nhà nước (Recht zum Widerstand), nếu nhà nước ấy đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản trên đây, khi mà các liệu pháp khác đã được áp dụng nhưng không hiệu quả”.  3 Điều 19 khoản 4 LCB qui định: “Bất cứ ai cho rằng quyền tự do cơ bản của mình bị xâm hại, đều có quyền khởi kiện lại nhà nước”  4 Theo qui định của Luật cơ bản Đức có 5 thiết chế Hiến định của liên bang (Verfassungsorgane) gồm có: Hạ viện liên bang (Bundestag), Thượng viện liên bang (Bundesrat), Chính phủ liên bang (Bundesregierung), Tổng thống liên bang (Bundespräsident) và Tòa án hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgericht). Về nguyên tắc, các thiết chế này là ngang hàng nhau, kiểm soát và cân bằng quyền lực, không cơ quan nào cao hơn cơ quan nào. Các Tòa án tối cao của liên bang (Bundesgerichthofs) trong hệ thống các cơ quan tư pháp (Rechtsprechung) không có được vị trí là thiết chế hiến định như Tòa án hiến pháp liên bang.  5 Luật Tòa án Hiến pháp liên bang Đức (Gesetz über das Bundesverfassungsgericht) lần đầu tiên được công bố vào ngày 12 tháng 3 năm 1951, trên Công báo số 1 từ trang 243, có hiệu lực thi hành từ ngày 17 tháng 4 năm 1951. Mặc dù đạo luật này do Nghị viện ban hành, nhưng thực chất nó xây dựng một qui trình tố tụng hiến pháp bền vững, cùng với qui định tự hành trong hoạt động của Tòa án (Điều 1 Khoản 3 BverfGG), bảo vệ khá tốt sự độc lập của Tòa án, đồng thời với qui định này Nghị viện cũng sẽ không thể dễ dàng sửa luật nhằm tìm cách can thiệp vào công tác xét xử của Tòa án Hiến pháp.  6 Xem thêm: Võ Trí Hảo, Philipp Kunig, Đặc trưng của mô hình tài phán Hiến pháp Đức, Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng quốc hội, Số 8 (4/2009), tr. 52–57.  7 Tòa án Hiến pháp liên bang chỉ làm việc dựa trên cơ sở có khiếu kiện. Chức năng của Tòa án Hiến pháp khác với cơ quan hành chính không phải là thi hành Hiến pháp hay luật, mà là bảo vệ Hiến pháp và pháp luật.  8 Xem: Wernsmann, Konkrete Normenkontrolle (Art. 100 Abs. 1 GG), Jura 2005, S. 328.  9 Xem: Jarass/Pieroth, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland, Kommentar, 11. Aufl., 2011, Art. 93, Rn. 19 f.  10 Xem: Jarass/Pieroth, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland, Kommentar, 11. Aufl., 2011, Art. 93, Rn. 5 f.  11 Xem: Hillgruber/Goos, Verfassungsprozessrecht, 2. Aufl. 2006; Alleweldt, BVerfG und Fachgerichtsbarkeit 2006.  12T.Koch, „Bestandsschutz“ für Parlamente? – Überlegungen zur Wahlfehlerfolgenlehre, DVBl 2000, 1093; Roth, Subjektiver Wahlrechtsschutz und seine Beschränkungen durch das Wahlprüfungsverfahren, FS Graßhof, 1998, S. 53.  13 Xem thêm các phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang: BVerfGE 4, 27/30f.; BVerfGE 11, 239/241ff.  14 Xem: Kunig, Der Bundespräsident, Jura 1994, S. 217f.; Kilian, Der Bundespräsident als Verfassungsorgan, JuS 1988, S. 33.  15 Xem: Zuck, Das Recht der Verfassungsbeschwerde, 3. Aufl., 2006; Hain, Die Individualverfassungsbeschwerde nach Bundesrecht, 2002.  16 Số liệu thống kê thực tế của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức về giải quyết các vụ việc của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức từ ngày 7/9/1951 đến ngày 31/12/2007 công bố tại website chính thức của Tòa án hiến pháp liên bang Đức tại địa chỉ: http://www.bundesverfassungsgericht.de/organisation/gb2007/A-I-1.html truy cập gần nhất ngày 3/4/2012.  17 Hai ngành Luật và Y khoa là ngành đòi hỏi tiêu chuẩn đầu vào cao cũng như quá trình đào tạo lâu nhất ở nước Đức. Để có được chứng nhận kết thúc kỳ thi quốc gia thứ hai Assessor, kết thúc quá trình đào tạo luật chính thức (die voll-juristische Ausbildung), một sinh viên luật trung bình phải mất từ 9 đến 10 năm theo học. Đây là điều kiện cần để một người có thể hành nghề luật như Luật sư, thẩm phán, công chức, công tố viên hoặc tiếp tục nghiên cứu ở trường Đại học hay một Viện nghiên cứu. (Xem thêm: Nigel Foster, Satish Sule, German Legal System and Laws, 3. Edition, Oxford, 2008, p. 86).  18 Điều kiện trở thành Giáo sư đại học (Professor) ở Đức rất khắt khe. Ngoài việc có chứng nhận Assessor, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (Doktorarbeit), người có học vị tiến sĩ phải tiếp tục tích lũy nhiều điều kiện khác như: 1. Hoàn thành bậc sau tiến sĩ (Habilitation), bảo vệ thành công đề tài sau tiến sĩ (Habilitationsschrift); 2. Tích lũy đủ các công trình khoa học; 3. Tích lũy đủ kinh nghiệm giảng dạy và 4. Được một trường Đại học công nhận và bổ nhiệm. (Xem thêm: Nigel Foster, Satish Sule, German Legal System and Laws, 3. Edition, Oxford, 2008, p. 88).  19 Luật thẩm phán của Đức lần đầu tiên được công bố ngày 8/9/1961, tại Công báo số 1 năm 1961 từ trang 1665, có hiệu lực thi hành ngày 1/7/1962. Đạo luật này được sửa đổi, bổ sung, được công bố lần thứ hai ngày 19/4/1972, đăng trên Công báo số 1 năm 1972, từ trang 713.  20 H. Maurer, Staatsrecht I, 6. Aufl. 2010, § 19, Rn.1–28.  21 Xem: Điều 13 Khoản 1 Luật tổ chức Tòa án Hiến pháp liên bang (GeschO BVerfG); Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl. 2011, Rn. 1611ff.  22 Xem cụ thể Luật về thu nhập của thành viên Tòa án Hiến pháp liên bang (Gesetz über das Amtsgehalt der Mitglieder des Bundesverfassungsgerichts) được ban hành ngày 28/02/1964, công bố tại Công báo năm 1964, quyển 1, từ trang 133, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1964.  23 Theo danh mục bảng lương 4, nhóm R, Luật trả lương của liên bang: Anlage IV Tabelle „R“ zum Bundesbesoldungsgesetz, cập nhật đến 28/2/2011.  24 Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl. 2011, Rn. 1611ff.  25 H. Maurer, Staatsrecht I, 6. Aufl. 2010, § 19, Rn.1–28.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế đặc thù để phát triển đô thị Việt Nam: Giải pháp hay vòng luẩn quẩn?      Để giải tỏa áp lực đô thị cho các đô thị lớn và kiểm soát đô thị hóa, giải pháp được xem là hợp lý nhất là thành lập các đô thị nhỏ, không quá xa vùng đô thị trung tâm, và thường được gọi là đô thị vệ tinh.      Thủ Đức là nơi đầu tiên có đơn vị hành chính là thành phố trực thuộc thành phố của Việt Nam. Ảnh: taichinhdoanhnghiep.net.vn   Việc thành lập thành phố Thủ Đức thuộc TP.HCM vào năm 2020 là một giải pháp như thế. Thủ Đức sẽ không chỉ đỡ gánh nặng đô thị cho TP.HCM mà còn được quy hoạch theo hướng là một trung tâm kinh tế tri thức, một cực tăng trưởng mới của vùng Đông Nam Bộ.   Tuy nhiên sau đó, Thủ Đức bị rơi vào thế bị động về cơ chế, chính sách và không thể điều hành, quản trị theo định hướng một đô thị vệ tinh như Đề án thành lập thành phố Thủ Đức đặt ra. Hơn một năm thành lập, Thủ Đức cứ loay hoay trong vấn đề bộ máy, nhân sự và không thể có một chính sách nào mang dấu ấn của một đơn vị hành chính lãnh thổ thành phố thuộc thành phố. Để giải quyết “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách sâu mà cũng chính là lý do của thực trạng này, TP.HCM có kế hoạch sẽ trình Chính phủ, Quốc hội thông qua “Cơ chế đặc thù cho thành phố Thủ Đức” trong thời gian tới như một giải pháp về cơ chế, chính sách riêng cho Thủ Đức. Theo đó, ưu tiên hơn các quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh khác, Thủ Đức sẽ “xin” được tự chủ, tự quyết tám nhóm vấn đề sau: (1) Tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm thông qua việc phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước từ TP.HCM cho TP. Thủ Đức; (2) Gỡ bỏ các điều kiện hạn chế gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực trên địa bàn TP. Thủ Đức; (3) Phân bổ lại ngân sách, tỉ lệ phân chia ngân sách theo hướng tăng cường để lại các nguồn thu cho TP. Thủ Đức. (4) Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư các dự án nhóm A sử dụng nguồn vốn TP. Thủ Đức và dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách TP.HCM trên địa bàn TP. Thủ Đức; (5) Đấu thầu các khu đất công, đấu thầu cung cấp dịch vụ công; (6) Cơ chế tiếp nhận các khoản hỗ trợ, đóng góp của người dân, doanh nghiệp trong việc đầu tư hạ tầng; (7) Tách dự án bồi thường ra khỏi dự án xây lắp; (8) Thẩm quyền về bộ máy quản lý nhà nước và chính sách nhân sự.  Cơ chế đặc thù vốn không có gì mới ở các đô thị Việt Nam. Trước đây, một loạt các đô thị khác như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ đều như vậy. Vừa qua, Quốc hội cũng thông qua cơ chế đặc thù cho bốn đô thị, bao gồm thành phố Hải Phòng, tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế. Cũng giống như Thủ Đức, cơ chế đặc thù của các tỉnh, thành phố này đều đòi hỏi nhiều quyền hơn về mặt hành chính – nhân sự, về huy động vốn đầu tư và được phân bổ ngân sách lớn hơn từ Trung ương.       Mỗi khi gặp vướng mắc về cơ chế, dường như điều duy nhất mà các đô thị có thể giải quyết là…xin cơ chế đặc thù. Điều này đã gây nên một thực trạng không tránh khỏi là “xin cho” trong mối quan hệ Trung ương – địa phương.      Tại sao tỉnh này lại được cơ chế đặc thù mà không phải là tỉnh khác? Nếu một cơ chế đặc thù ở một tỉnh hiệu quả, liệu về sau nó có được nhân ra rộng rãi? Cơ chế đặc thù thực chất là đi ngược lại tính phổ biến của luật pháp. Đây là một giải pháp mềm dẻo của các đô thị thay vì phải xé rào trước tình trạng pháp luật về tổ chức chính quyền đô thị còn chật hẹp. Nhưng cơ chế đặc thù chỉ nên là giải pháp tình thế, một trải nghiệm, một lộ trình trong hành trình đổi mới chính quyền đô thị ở Việt Nam. Vậy mà, giải pháp này đã “tạm thời” tới 20 năm.   Có thể nhiều người biện luận rằng, lí do “trì hoãn” ban hành một luật đô thị đó là mỗi nơi lại có một đặc điểm riêng, thế mạnh riêng về kinh tế, xã hội, văn hóa nên khó mà đưa ra một khung chung. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn lại, việc duy trì cơ chế đặc thù liệu có thực sự là cách tối ưu để các địa phương phát huy được những thế mạnh của mình không?   Thực tế cho thấy, các địa phương vừa mới xin xong cơ chế đặc thù này đã vội chuẩn bị để xin thêm cơ chế đặc thù khác. Chẳng hạn như, với TP.HCM, năm 2017 có Nghị Quyết số 54/2017/QH14 về thí điểm cơ chế, đến năm 2020 lại có chính sách phát triển đặc thù với Nghị Quyết 131/ 2020/QH14 về chính quyền đô thị với nhiều quyền hạn vượt trội về tổ chức và hoạt động so với các đô thị đồng cấp. Nhưng gần đây, thành phố này vẫn xin Trung ương cơ chế đặc thù về quy hoạch. Hay như Hà Nội, ngoài những cơ chế đặc thù trong các luật chuyên ngành (Luật Cư trú, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đầu tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính…) thì Hà Nội có đến 23 cơ chế đặc thù trong Luật Thủ đô, và hiện cũng đang được áp dụng cơ chế đặc thù khác từ Nghị định 63/2017/NĐ-CP năm 2017 nhưng thành phố này vẫn không ngừng xin cơ chế đặc thù. Ví dụ, năm 2018, Hà Nội có Tờ trình gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị xem xét, cho ý kiến về cơ chế đặc thù trong đầu tư ba dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị Hà Nội; cũng năm 2018, UBND thành phố Hà Nội đã kiến nghị với Trung ương cho phép Hà Nội ban hành cơ chế đặc thù để giải quyết việc cải tạo các chung cư cũ, xuống cấp. Năm 2020, Hà Nội xin cơ chế đặc thù về tài chính để đưa bốn huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Hoài Đức thành quận. Hoặc với Đà Nẵng, những năm 2000, thành phố Đà Nẵng nhận được cơ chế đặc thù từ Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển đô thị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trở thành vùng đất phát triển vượt bậc với PCI đứng đầu cả nước nhiều năm liền. Đến khoảng 15 năm sau, khi những tiềm năng sơ khai của Đà Nẵng được khai thác hết nhờ cơ chế đặc thù này thì Đà Nẵng lại vấp phải điểm nghẽn cơ chế mới, phát triển chững lại. Đà Nẵng lại xin tiếp cơ chế đặc thù sâu hơn trước đây. Để giải quyết điểm nghẽn này, ngày 24/1/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2045 với 12 điểm mới so với Nghị Quyết 33 trước đây để phù hợp với một Đà Nẵng của 15 năm sau từ Nghị Quyết 33-NQ/TW… và năm 2020, 2021 Đà nẵng vẫn lại tiếp tục xin cơ chế đặc thù.   Mỗi khi gặp vướng mắc về cơ chế, dường như điều duy nhất mà các đô thị có thể giải quyết là…xin cơ chế đặc thù. Điều này đã gây nên một thực trạng không tránh khỏi là “xin cho” trong mối quan hệ Trung ương – địa phương. Cách quản trị tập trung này càng trở nên luẩn quẩn khi áp dụng với Thủ Đức. Được công nhận là một thành phố nhưng Thủ Đức phải đi “xin” thành phố Hồ Chí Minh cơ chế đặc thù để hoạt động như một chính quyền đô thị. Đến lượt mình, thành phố Hồ Chí Minh, lại phải “xin” Trung ương để có thể trao cho Thủ Đức những cơ chế này trong khi bản thân cũng đang phải “xin” những cơ chế đặc thù khác. Thủ Đức là thành phố trực thuộc thành phố đầu tiên của Việt Nam, nhưng sau này sẽ còn rất nhiều thành phố trực thuộc khác của thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… được thành lập. Việc xin cơ chế đặc thù của các đô thị này còn vất vả hơn các đô thị trực thuộc Trung ương bởi họ sẽ phải trải qua hai vòng đàm phán và vài năm chờ đợi – điều hiếm thấy ở các đô thị vệ tinh trên thế giới. Nếu cứ tiếp tục duy trì hình thức cơ chế đặc thù thì đó là một bước thụt lùi trong công cuộc đổi mới chính quyền đô thị của Việt Nam.  Với cơ chế đặc thù đô thị, có thể nói, cả Trung ương và địa phương đều đang chọn giải pháp an toàn trong trách nhiệm và khá bảo thủ trong tư duy. Kết quả sau cùng có thể thấy là, các đô thị thay vì dồn sức tập trung vận hành chính sách để phát triển thì lại phải dành nhiều sức lực cho việc xin cơ chế. Còn Trung ương thay vì tập trung vào chính sách vĩ mô, chiến lược quốc gia thì lại bận rộn với việc xem xét chấp nhận hay không một cơ chế nào đó cho các đô thị. Thiết nghĩ, thay vì các đô thị cứ xin cơ chế đặc thù, Trung ương cứ phải giải quyết hết cơ chế này đến cơ chế khác, hết đô thị này đến đô thị khác, nên chăng là Thủ Đức, một đô thị mới với nhiều tiếng vang, nhiều kỳ vọng nên đặt vấn đề ban hành một luật chung về chính quyền đô thị. Khi mỗi đô thị hiện đều được Trung ương cho một vài cơ chế riêng, nhỏ lẻ thì nên “gom” và khái quát hóa các cơ chế đặc thù thành một luật chung, với nội dung chủ đạo là hình thành nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa Trung ương và các đô thị sao cho các đô thị có thể tự vận hành và quản trị đô thị hiệu quả mà không cần xin thêm cơ chế đặc thù. □  —-  Tác giả là TS, giảng viên ĐH Luật TP.HCM       Author                Nguyễn Thị Thiện Trí        
__label__tiasang Cơ chế nào để các địa phương tự chủ?      Qua hàng chục năm đối thoại giữa chính quyền Trung ương và địa phương, với rất nhiều các “cơ chế đặc thù” nhưng dường như các địa phương không chỉ không sáng tạo hơn, phát triển mạnh hơn, tự do hơn mà kết cục lại…xin cơ chế riêng nhiều hơn nữa. Nhưng đó mới là phần nổi của tảng băng.      Hà Nội đang đề xuất sửa Luật Thủ đô để “xây dựng, phát triển thành phố Hà Nội xứng tầm”. Ảnh: hanoimoi.com.vn  Tập trung là chính  Địa phương là một khái niệm thống nhất, gồm lãnh thổ, bộ máy và dân cư. Việc trung ương tập quyền, dẫn đến chính quyền địa phương lấy cấp trên, lấp trung ương làm chủ thể phục vụ chứ không phải lấy người dân làm đối tượng phục vụ. Một khi Trung ương áp đặt các chính sách chung xuống cho tất cả các địa phương (thông qua các văn bản lập pháp của Quốc hội, văn bản lập quy của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ) sẽ xảy ra tình trạng các chính sách đó hợp với nơi này nhưng không hợp với nơi kia do tính chất lãnh thổ, dân cư, địa lý, đất đai, văn hóa….của các địa phương là khác nhau. Bởi vậy, dù Trung ương hiện nay khuyến khích các địa phương cạnh tranh lẫn nhau, khuyến khích các địa phương chủ động, sáng tạo, thì chính sách “tự chủ” dành cho địa phương thậm chí còn không đủ cho việc điều hành, quản trị chứ đừng nói đến việc đưa ra chính sách phát triển hay quy hoạch phát triển địa phương. Các chính quyền địa phương hiện nay phải trông chờ sự phê duyệt của Trung ương vào từng hạng mục, từng dự án, công trình.  Ví dụ, theo quy định của Bộ Giao thông Vận tải thì tốc độ xe ben là 50km/h. Tuy nhiên với tốc độ này thì sẽ dễ gây tai nạn ở nhiều đô thị đông dân, gây nguy hiểm cho người dân. Vậy nên, Đà Nẵng năm 2016 phải “làm trái” Trung ương là giảm tốc độ xe ben xuống còn 30-40km/h. Hay năm 2000, Theo Nghị định số 75/NĐ-CP của Chính phủ về công chứng chứng thực thì UBND các phường không có thẩm quyền công chứng bản sao mặc dù đây là việc đơn giản trong các loại việc công chứng, trong khi nhu cầu công chứng bản sao tại TP.HCM là rất lớn, dẫn đến người dân phải xếp hàng tại các phòng Công chứng và UBND các quận, huyện để công chứng bản sao, gây ùn tắc, lãng phí thời gian, tiền của, công sức của người dân. UBND TP. Hồ Chí Minh phải phải ban hành quy định “đi ngược” lại Trung ương cho phép các phường được chứng thực bản sao, đáp ứng nhu cầu của người dân tại TP.HCM. Hai trường hợp trên chỉ là những hoạt động nhỏ trong điều hành tại địa phương, mà lại có ảnh hưởng tức thời tới đời sống người dân, nhưng chính quyền địa phương không thể tự quyết định mà phải lo ngại “xé rào”, “xin” một phương án riêng. Câu chuyện về biên chế của TP. Hồ Chí Minh và sửa luật thủ đô của Hà Nội chỉ là các trường hợp lớn hơn cho điều này.    Trung ương cần tiếp thu lý thuyết phân quyền hay còn gọi là tự quản địa phương – một mô hình tổ chức chính quyền địa phương trong đó quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm của địa phương được đề cao.    Chưa dừng lại ở đó, cách thức tổ chức mối quan hệ tập quyền giữa Trung ương và địa phương còn dẫn đến một nghịch lí: một mặt các chính quyền địa phương phải xoay sở trong các quy định cứng nhắc, nhưng mặt khác là với những chính sách, chương trình “dễ xin”, đang được Trung ương khuyến khích, địa phương sẽ tận dụng mạnh mẽ cơ hội này, dù có thể họ chưa cần hoặc không phù hợp với điều kiện của mình. Điều này dẫn đến việc 63 tỉnh thành là 63 “nền kinh tế” cục bộ và manh mún: Các địa phương đua nhau xây dựng cảng biển quốc tế, khu kinh tế biển, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; thành lập mới trường đại học, học viện, cấp phép khai khoáng, đâu tư tăng đột biến trong thời gian ngắn, tình trạng quy hoạch manh mún, chia lô, tách thửa, giá đất ảo tăng cao do đô thị hóa giả tạo… và khi thành phố Thủ Đức được thành lập, dù chưa có minh chứng gì cho một cú hích về một cực tăng trưởng như mục đích ban đầu và hiện vẫn đang xin cơ chế đặc thù cho sự vận hành, phát triển thì các địa phương khác cũng  đang tích cực xin thành lập đô thị vệ tinh mà không có một luận cứ khoa học nào.  Đỉnh điểm của hậu quả mà hệ thống tập trung mang lại là chính quyền địa phương chỉ tập trung phục vụ, làm hài lòng chính quyền Trung ương. Nhưng đổi lại, chính quyền trung ương lại không có đủ khả năng và nguồn lực để kiểm soát, theo dõi toàn bộ hoạt động của các địa phương. Đó là một nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng lạm quyền, đi ngược lại nhu cầu thực tiễn và lợi ích của người dân. Nếu Trung ương có phát hiện sai phạm ở địa phương, thì phần nhiều là các sự việc đã diễn ra âm ỉ lâu năm, mang tính hệ thống, phức tạp.  Ví dụ, hiện nay căn cứ thu hồi đất và khung giá đất đều do Trung ương quy định và mức độ phân hóa chỉ chênh lệch 20% của cùng một loại đất, nếu áp mức giá chung đó thì chắc chắn quyền lợi của dân cư một số đô thị lớn không bảo đảm vì quá thấp so với giá thị trường. Đó cũng là nguyên nhân chính của hơn 85% vụ khiếu nại, tố cáo ở nước ta. Những xung đột nổi cộm trong thời gian vừa qua không chỉ là câu chuyện của cơ chế quản lý đất đai mà nó là hệ quả tất yếu của khuyết điểm của pháp luật về chính quyền địa phương.  Đà Nẵng buộc phải “đi trái” quy định của Trung ương trong việc hạ vận tốc tối đa của xe ben trong nội đô.  Thay đổi nhưng chưa đủ cải cách   Thời gian qua, để phù hợp với hệ lý luận nhà nước dân chủ, của dân, do dân, Trung ương đã có nhiều đổi mới tổ chức chính quyền địa phương, chỉ đáng tiếc, đều không phải là đổi mới căn bản. Có thể nói, lịch sử chính quyền địa phương Việt Nam thời hiện đại chính là lịch sử của những đề án, kế hoạch, đề xuất về đổi mới chính quyền địa phương. Qua đó cho thấy sự lắng nghe và sự cố gắng của chính quyền Trung ương trong việc đổi mới mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương theo hướng mềm dẻo. Nhưng đồng thời, trong sự cố gắng đó cũng càng cho thấy sự bảo thủ, ngại ngần trong tư duy đổi mới, chưa quyết đoán và chưa làm mới trước yêu cầu thực tiễn. Việc trao quyền “tự chủ” cho các địa phương vẫn mang nặng tính “xin cho”, ban phát chính sách.  Mô hình chính quyền địa phương Việt Nam vì thế có hình thức là hướng về địa phương nhưng đặc điểm tập quyền vẫn mang tính đậm nét. Sau nhiều năm thay đổi, sự phụ thuộc của địa phương vào Trung ương, của chính quyền địa phương cấp dưới vào cấp trên lớn hơn rất nhiều so với mối quan hệ tương hỗ, liên kết giữa các đơn vị đồng cấp với nhau. Mô hình chính quyền địa phương vẫn căn cứ vào cấp hành chính. bộ máy tổ chức chính quyền từ trung ương đến cấp cơ sở đều theo mô hình như nhau, rập khuôn, máy móc, thiếu phân hóa, từ đó, triệt tiêu tính đa dạng, linh hoạt luôn hiện hữu khách quan ở mỗi địa phương. Thêm vào đó, một điều nghịch lý là địa phương phụ thuộc vào trung ương, cấp dưới phụ thuộc vào cấp trên khá chặt chẽ nhưng cơ chế kiểm soát quyền lực của trung ương đối với địa phương thì lại lỏng lẻo, vai trò của cư dân địa phương – đáng ra cần được bảo đảm ở vị trí cốt lõi trong giám sát tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương thì lại mờ nhạt. Vì thế, ở nước ta, những thực trạng trái ngược trong đời sống chính trị, kinh tế xã hội là phổ biến, đó là: Việt Nam có ổn định cao về an ninh chính trị nhưng đâu đó là tình trạng vi phạm dân chủ, bưng bít thông tin, tham nhũng ngày càng tăng hạng. Đời sống người dân được cải thiện nhưng vẫn không đồng đều giữa các địa phương, tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét, GDP tăng hằng năm nhưng đồng hành với đó là nợ công ngày càng lớn.    Chính sách “tự chủ” dành cho địa phương thậm chí còn không đủ cho việc điều hành, quản trị chứ đừng nói đến việc đưa ra chính sách phát triển hay quy hoạch phát triển địa phương.    Cách đây hơn 10 năm, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước (Nghị quyết số 17-NQ-TƯ, ngày 01/8/2007) đã thẳng thắn thừa nhận rằng: sau hơn 20 năm đổi mới chính quyền địa phương mà vẫn còn “lúng túng, chưa đủ rõ”, nhận định này vẫn đúng vào thời điểm hiện nay, tức sau 35 năm đổi mới.  Lý thuyết tự quản địa phương  Như một phần quan trọng của nền pháp lý còn nhiều bất cập, thể chế chính quyền địa phương nước ta hiện nay phải có trách nhiệm gánh vác và hóa giải thực trạng này thông qua việc hình thành cơ chế trao quyền tự chủ cho các địa phương. Để đạt được điều này, Trung ương cần tiếp thu lý thuyết phân quyền hay còn gọi là tự quản địa phương – một mô hình tổ chức chính quyền địa phương trong đó quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm của địa phương được đề cao. Đó là mô hình vừa bảo đảm tính chính trị, vừa đạt được hiệu quả quản trị và đương nhiên đạt được hiệu quả cao về kinh tế đã được minh chứng bởi nhiều quốc gia thuộc nhiều thể chế chính trị và trình độ kinh tế khác nhau.  Khi chuyển giao quyền cho các địa phương, sẽ không có một công thức chung cho các địa phương là được bao nhiêu quyền mà quan trọng là cơ chế (cách thức/ nguyên tắc) chuyển giao. Theo đó, trao quyền lập pháp cho địa phương được hiểu quyền đưa ra các quy phạm điều chỉnh khởi đâu cho nhu cầu ở địa phương chứ không chỉ là quyền chấp hành hay thực hiện các quyền định của trung ương. Quyền lập pháp này được trao nhưng không phải quyền tuyệt đối của địa phương, vẫn có giới hạn từ Hiến pháp, Luật. Tuy nhiên, luật phải đủ rộng để quyền của địa phương có tính tự quyết đồng thời phải có cơ chế giám sát để địa phương không lạm quyền, chủ thể giám sát căn bản phải là cư dân địa phương. So với hiện nay, chắc chắn địa phương sẽ tự chủ hơn, được quyền quyết định. Quan trọng nhất, nếu giao quyền tự chủ cho địa phương thì cơ chế đặt ra là: Trung ương cần giữ lại quyền nào chứ không phải trao quyền nào cho địa phương. Dù không dễ thực hiện nhưng đỉnh cao của sự trao quyền là khi Trung ương chỉ nên giữ lại những quyền mang tính vĩ mô, chiến lược, mang tầm chính sách, hoặc những quyền liên quan đến an ninh, chính trị, thuế, cảnh sát, quân đội, địa phương làm được gì thì để lại cho địa phương theo mô hình “từ dưới lên” (bottom – up).  Về lý luận và thực tiễn, xét riêng tự chủ đô thị, để đủ cho một đô thị vận hành và phát triển bền vững thì cần xem đến chức năng của đô thị để phân quyền đến đâu. Cụ thể, chính quyền đô thị được thiết lập để thực hiện hai chức năng cơ bản là chức năng đại diện, còn gọi là chức năng chính trị (thể hiện ước muốn, nguyện vọng của cư dân địa phương) và chức năng công cộng, cung cấp dịch vụ (điều hành, hành chính). Sự chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương hay áp dụng mô hình chính quyền đô thị theo hướng tăng tính tự quản trước hết sẽ giải quyết ngay vấn đề chính trị, vì bản thân mô hình này đã đạt được mục tiêu chính trị rất thành công vì trong mô hình này quyền tự quyết của cư dân đối với tổ chức chính quyền được bảo đảm; Để thành công trong chức năng công cộng, các dịch vụ thiết thân mà chính quyền đô thị cần được chủ động điều hành, cung ứng là các dịch vụ như: thu gom rác và xử lý chất thải; cấp và thoát nước; dịch vụ môi trường, bảo dưỡng hệ thống đèn đường, công viên và khu vui chơi, giải trí; dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản; một số phúc lợi xã hội; giao thông nội thị; quy hoạch đô thị; công trình công cộng và nhà ở; các loại phí, cứu hỏa và các dịch vụ khẩn cấp khác. Theo đó, rất chính xác khi khẳng định rằng mức độ đáp ứng các dịch vụ công ở đô thị lại luôn là sự phản ánh nhận thức của công chúng đối với vai trò của chính quyền đô thị. Nói một cách khác, mức độ trao quyền cho địa phương sẽ dựa vào sự hài lòng và đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần của người dân ở nơi đó.  Các địa phương đua nhau xây dựng cảng biển quốc tế. Ảnh: vneconomy.vn  Phân quyền (phi tập trung quản lý) không mâu thuẫn hay đối lập với tính đơn nhất/ thống nhất của nhà nước vì Hiến pháp và pháp luật vẫn là một cái “ô lớn” giới hạn việc trao quyền. Ngoài ra, chính quyền Trung ương vẫn giữ quyền lập pháp tối cao. So với tính thống nhất không phân chia của quyền lực nhà nước thì phân quyền là một nguyên tắc thuộc về kỹ thuật tổ chức quyền lực nhà nước nhằm tránh lạm quyền và bảo đảm việc triển khai quyền lực nhà nước hiệu quả. Quyền lực nhà nước vốn luôn tập trung và thuộc về nhân dân, vấn đề là cách thức triển khai nào khiến người dân có thể triển khai quyền lực của mình hiệu quả nhất. Tự quản địa phương là sản phẩm của nhân loại trong hành trình tìm kiếm những phương thức thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả, bảo đảm một cách tốt nhất quyền con người, quyền công dân ở địa phương. Do đó, tự quản địa phương không dẫn đến phân chia quyền lực nhà nước và làm phân tán quyền lực chính trị, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn được bảo toàn.    Tự quản địa phương là sản phẩm của nhân loại trong hành trình tìm kiếm những phương thức thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả, bảo đảm một cách tốt nhất quyền con người, quyền công dân ở địa phương.    Xét riêng điều kiện Việt Nam hiện này, việc dung nạp lý luận tự quản địa phương trong đổi mới tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam là cấp bách vì: Thứ nhất, lý luận này sẽ bảo đảm một thể chế tổ chức chính quyền địa phương tự chủ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn hiện nay; thứ hai, lý luận và thực tiễn tự quản địa phương trên thế giới cho thấy, có sự tương đồng giữa mục đích của Đảng CSVN và những giá trị mà tự quản địa phương mang lại. Thực tiễn quản lý địa phương nước ta cũng cho thấy, mục đích của Đảng CSVN sẽ khó hoàn thành nếu không dung nạp lý luận tự quản địa phương. Thứ ba, có thể nói ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội mà chế độ tự quản địa phương hoàn toàn có sự đồng nhất với Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân nhà nước ta đang hướng đến. Khi vấn đề thượng tôn pháp luật và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là hai trong nhiều tiêu chuẩn đánh giá cốt lõi về Nhà nước pháp quyền XHCN thì đó cũng là hai giá trị nổi bật của chế độ tự quản địa phương.  Nếu mục đích của nhà nước ta là xây dựng Việt Nam thành nhà nước của dân, do dân, vì dân, hướng đến bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát triển bền vững thì việc từ chối tinh thần tự quản địa phương trong cải cách chính quyền địa phương là điều nghịch lý. Cần thừa nhận sự tồn tại và hiện diện của pháp luật tự nhiên chính là tôn trọng quy luật của sự phát triển, cụ thể hơn trong trường hợp này là tiếp nhận lý luận tự quản địa phương và áp dụng tinh thần cốt lõi của chế độ này ở Việt Nam. □  ———  Hiện nay, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia áp dụng mô hình tập trung, hay còn gọi là “tập trung – dân chủ”. Tuy nhiên, tập trung mới là yếu tố quyết định chính trong quan hệ quản lý giữa Trung ương và địa phương, còn dân chủ chỉ mang vai trò phụ, tô điểm, làm bớt đi tính “khắt nghiệt” của tập trung. Với mô hình này, Trung ương là chủ thể quyết định toàn diện từ chính sách chung đến quy định cụ thể trong quản lý ở các địa phương. Mô hình này từng tỏ ra hiệu quả trong điều kiện huy động tổng nguồn lực để giải phóng dân tộc và khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Tuy nhiên, khi bước vào thời kì đổi mới, mô hình tập trung đã bộc lộ nhiều hạn chế. Từ đô thị đến nông thôn, các địa phương đều khó khăn trong vận hành và quản trị. Bằng chứng là sự “phản ứng” của hàng loạt các địa phương dưới hình thức “xé rào” thoát khỏi cơ chế bao cấp, “ngăn sông cấm chợ” mà khởi đầu từ tỉnh Long An từ hơn 35 năm trước và câu chuyện các địa phương liên tục xin cơ chế đặc thù để phát triển trong 20 năm trở lại đây.    Author                Nguyễn Thị Thiện Trí        
__label__tiasang Cơ chế xin-cho “đúng đắn” quá lâu!      Cơ chế xin-cho là một trong những tàn dư còn sót lại của thời kỳ bao  cấp. Nét đặc trưng quan trọng nhất của cơ chế này là quyền tự do ý chí  to lớn của người cho, và vị thế thấp kém của người xin, một vị thế “Bắt  ở trần phải ở trần-Cho may ô mới được phần may ô”.     Công bằng mà nói, cơ chế xin-cho, cũng như mọi loại cơ chế, đều có hoàn cảnh lịch sử riêng của nó. Với một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xin-cho, cũng như bao cấp, đều là cần thiết và đúng đắn. Vấn đề chỉ là: nó “đúng đắn” quá lâu, và trong điều kiện mới, khi những ràng buộc chặt chẽ về pháp lý, về tư tưởng và đạo đức không còn, cơ chế xin-cho đang là một thứ máy cái đẻ ra tiêu cực.  Về mặt pháp lý, trước đây sở hữu tư nhân không được pháp luật công nhận. Việc khai thác cơ chế xin-cho để làm giàu vì vậy ít có động lực và cơ hội để xảy ra. Mặc dù, những chuyện như lấy lòng cô mậu dịch để mua được mấy lạng thịt ngon hơn, hay làm quen với cô bán gạo để đỡ phải xếp hàng thì vẫn xảy ra. Những chuyện này làm chúng ta khó chịu, nhưng không gây tổn hại quá lớn đối với sự công bằng xã hội. Ngày nay, thì mọi chuyện đã khác. Các tỷ lệ phần trăm từ các dự án, các hợp đồng, các nguồn tín dụng… đang chảy vào túi của cả người cho, lẫn của người xin. Và sở hữu tư nhân được pháp luật công nhận có thể bắt đầu từ những nguồn mà pháp luật hoàn toàn không công nhận.  Về mặt tư tưởng-đạo đức, sức ép to lớn của những yếu tố điều chỉnh hành vi này đang mất dần tác dụng. Chúng ta không tỏ ra vô thần hơn, nhưng rõ ràng đang vô đạo hơn. Đã vậy thì khai thác cơ chế xin-cho là một cách làm giàu dễ được lựa chọn.  Vấn đề đặt ra là xin gì và cho gì?   Ở ta hiện nay có thể xin rất nhiều thứ và cho cũng rất nhiều thứ. Ngân sách, chức tước, bằng cấp, dự án, tín dụng, đất đai, các nguồn tài nguyên v.v. và v.v. là những thứ đều có thể xin và đều có thể cho. Kể hết ra thì nhiều thứ lắm, nhưng chung quy vẫn là hai thứ quan trọng nhất: tiền và quyền.  Chuyện xin-cho liên quan đến tiền xảy ra vì thông thường từ 22-23% GDP của đất nước được tập trung vào ngân sách. Và đây là tiền do Nhà nước chi tiêu. Tiền do Nhà nước chi tiêu còn có cả tiền vay của dân và của nước ngoài. Đây là một khối lượng tiền rất lớn. Quy trình phân bổ ngân sách chặt chẽ đến mấy thì vẫn còn có rất nhiều kẽ hở. Và những câu hỏi tại sao lại chi cho nội dung này mà không phải nội dung kia, chi cho tỉnh này mà không phải tỉnh kia nhiều khi thật không dễ trả lời.  Để hạn chế chuyện xin-cho liên quan đến đầu tư từ ngân sách có ba việc có thể làm: Phân cấp và phân quyền về tài chính, ngân sách; phân bổ ngân sách bằng cách thảo luận và quyết định theo đa số tại các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân); xác định hợp lý tỷ lệ GDP được tập  trung cho ngân sách.   Còn chuyện xin-cho liên quan đến quyền đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Trước hết, các quyền này nhiều vô kể. Một số trong những quyền quan trọng nhất là: quyền tiếp cận tín dụng, quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội, quyền tiếp cận thị trường và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên (trong đó có đất đai). Rủi ro lớn nhất ở đây là không dễ thiết kế các tiêu chí để xác định ai được, ai không được và xác thực ai đáng được ai không. Tiêu cực vì vậy rất dễ xảy ra. Để vượt qua rủi ro này, điều quan trọng là phải xác lập nguyên tắc quyền tiếp cận bình đẳng của mọi công dân. Nghĩa là, nếu ông A có quyền vay vốn, thì bà B cũng hoàn toàn có quyền như vậy. Ngoài ra, cần xây dựng một bộ máy thực thi công vụ công tâm và có đạo đức.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Có đạo văn hay không?      Trước dư luận trong giới KHXH gần đây cho rằng trong các công trình bài báo viết về nghệ thuật cồng chiêng, PGS. TS Nguyễn Chí Bền đã “đạo văn” của GS.TS Tô Ngọc Thanh, chúng tôi tìm đọc cuốn sách Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam (2006) của ông Nguyễn Chí Bền xem thực hư ra sao và thấy một số đoạn trong cuốn sách này tương tự với nghiên cứu các tác giả khác. Xin tạm nêu như sau:         1. Thực chất đây là cuốn sách đăng lại gần như toàn bộ cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam – Những phác thảo của ông Bền, do NXB Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2003 (đăng lại bài từ các tạp chí, các hội nghị khoa học). Ở đây, một cuốn sách như “hóa phép” thành hai: cuốn năm 2006 gồm 45 bài, lấy nguyên vẹn 36 bài của cuốn sách xuất bản năm 2003, bỏ một bài (Tản mạn về việc bảo tồn kho tàng văn hóa phi vật thể), lấy thêm 9 bài gọi là mới, hình thành một tác phẩm khoa học với cái tên hoàn toàn mới là Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam. 9 tiểu luận này lại đã công bố, không hề có một bài nào mới thực sự, có nhiều bài đã đăng đến 2 lần. Thậm chí ngay Lời thưa trước ở đầu sách cũng lặp lại gần như nguyên si, chỉ thay thời gian và con số, như 2 chị em sinh đôi vậy!  2. Tại cuốn sách này, bên cạnh các tri thức về nghệ thuật cồng chiêng, giới chuyên môn cũng nhận ra ông Bền còn “thuổng thêm” của GS.TS Tô Ngọc Thanh rất nhiều, có thể lấy ví dụ từ tiểu luận Phác thảo văn học dân gian Gia Lai, ông Bền đã “cầm nhầm” một cách khéo léo như sau:  *Nguyễn Chí Bền   Người Ba Na có hát ru, một thể loại dân ca mang tính chất chung của các thể loại hát ru: giai điệu mềm mại, bình ổn, tốc độ vừa phải hay chậm, nhịp điệu đơn giản. Thông thường hát ru gồm hai câu nhạc ứng với hai câu lời ca.  Đồng thời, dân ca Ba Na còn có avơng (hát giao duyên). Nó thường được sinh hoạt dưới dạng hát đối đáp trai gái. Theo các nghệ nhân có nhiều làn điệu cho thể loại dân ca này. Làn điệu chính có tên là avơng, còn có làn điệu khác như bum sơtang, đjor, sơđri, hơri, brơng, inh rinh.  Cuối cùng hai tộc người này đều có đồng dao. Giống như ở nhiều dân tộc ít người khác trong các pơlei Ba Na, hát đồng dao vẫn được các em nhỏ sử dụng hàng ngày. Đồng dao cũng là một kết hợp thể của âm nhạc và các trò chơi. Lời ca là những câu vần vè chứa 3,4,5 âm tiết.  *Tô Ngọc Thanh (Fônclo Bâhnar, Sở VHTT Gia Lai- Kon Tum, 1988, tr 204-205)  1/ Úm kon (Hát ru): mang tính chất chung của các thể loại hát ru: giai điệu mềm mại, bình ổn, tốc độ vừa phải hay chậm, nhịp điệu đơn giản. Thông thường hát ru gồm hai câu nhạc ứng với hai câu lời ca…  2/Tơ pun Tơpan (Đồng dao): Giống như ở nhiều dân tộc ít người khác trong các pơlei Bâhnar, hát Đồng dao vẫn được các em nhỏ sử dụng hàng ngày. Đồng dao cũng là một kết hợp thể của âm nhạc và các trò chơi. Lời ca là những câu vần vè chứa 3,4,5 âm tiết…  3/Avơng (Hát Giao duyên): Hát Giao duyên thường được sinh hoạt dưới dạng hát đối đáp trai gái. Theo các nghệ nhân có nhiều làn điệu cho thể loại dân ca này. Làn điệu chính có tên là AVơng, còn có làn điệu khác như Bum Sơtang, Đjor, SơĐri, HơRi Brơng, InhRinh.  *Nguyễn Chí Bền viết về Hát kể trường ca như sau:  Với người Ba Na, từ này chỉ một thể loại bao gồm nhiều yếu tố: văn, thơ, diễn xuất thông qua phương thức hát kể.  Làn điệu hát kể này mang tính chất  ngâm vịnh.  Làn điệu hát kể mang nhiều yếu tố trữ tình và bản sắc cảm thụ riêng của người hát kể. Những yếu tố này đậm nhạt, nhiều ít tùy theo từng người hát kể và tùy theo trạng huống tâm sinh lý nghệ thuật của họ trong những lần kể, những không khí buổi kể khác nhau.  Môi trường diễn xướng của h’ri/ hơamon, có thể là nhà rông, hay ở một gia đình nào đó, hoặc chính nhà nghệ nhân. Các khán giả – cư dân của plei đến tham dự ngồi bên ngoài. Họ đốt các đống lửa bao quanh căn nhà.  *Tô Ngọc Thanh (Fônclo Bâhnar, Sở VHTT Gia Lai – Kon Tum, 1988, tr 205 và 250)  …   Hơ Amon (Hát kể “trường ca”)Hơ Amon mà ta thường gọi là “trường ca” là một một thể loại bao gồm nhiều yếu tố: văn, thơ, diễn xuất. Trong chương Năm của công trình này, chúng tôi sẽ có chuyên mục về Hơ Amon. ở đây chỉ xin nói đôi chút về làn điệu hát kể.  Làn điệu hát kể này mang tính chất  ngâm vịnh (récitatif). Làn âm bao giờ cũng bắt đầu từ âm cao nhất, chuyển dần từng bậc theo hướng đi xuống…  Làn điệu hát kể “trường ca” mang nhiều yếu tố trữ tình và bản sắc cảm thụ riêng của người hát kể. Những yếu tố này đậm nhạt, nhiều ít tùy theo từng người hát kể và tùy theo trạng huống tâm sinh lý nghệ thuật của họ trong những lần kể, những không khí buổi kể khác nhau.  …   Hát kể Hơ Amon có thể làm ở nhà rông, hay ở một nhà nào đó, hoặc chính nhà nghệ nhân vào ban đêm. Nhân dân đến tham dự phần lớn ngồi ở bên ngoài. Họ đốt nhiều đống lửa bao quanh căn nhà và làm thành những nhóm người ngồi im lặng, vừa rít tẩu thuốc vừa nghe.    Năm 1981, tác giả Nông Quốc Thắng trong Báo cáo kết quả sưu tầm văn học dân gian ở xã Ya Tul, huyện Ayun Pa – Gia Lai – Kon Tum có bàn về nhiều vấn đề văn học nghệ thuật Gia Rai. Có được tài liệu này, PGS Bền đã “đưa” hầu hết vào tiểu luận Phác thảo văn học dân gian Gia Lai trong cuốn sách của mình. Vì ông Bền “cầm nhầm” nguyên văn với dung lượng rất lớn, có đoạn lên tới vài trang liền nên ở đây, chỉ nêu một ví dụ nhỏ:  *Nguyễn Chí Bền   Trước hết là lời nói vần, nó chưa phải là hát nhưng cũng đã có nhịp điệu khi xướng lên, nó là một chuỗi lời nói, được móc xích với nhau bằng vần điệu. Trong những lời nói vần này có thể kể đến các loại: rlu Yang (cúng thần, khấn thần) hay kã tơ pai (gọi người chết lên uống rượu) hoặc Hoa pơ xát (gọi người chết lên ăn). Đây là những xâu chuỗi lời nói dùng để khấn cầu thần linh hoặc hồn người chết, mục đích là khấn nguyện, thông đạt giữa người và thần, giữa người và hồn. Những loại này thường dùng khi cưới xin, cầu chúc sức khỏe, cúng ở nhà mồ. Đây là loại lời nói vần mang tính chất tín ngưỡng, ngôn ngữ thường ổn định, vần điệu cố định. Thế nhưng so với những loại phù chú hoặc lời khấn của các thầy phù thủy người Kinh thì loại riu Yang này gần gũi hơn với lời nói hàng ngày: dễ hiểu, mộc mạc, chứ không bí hiểm và chưa bị thần thánh hóa ở mức độ cao.  *Nông Quốc Thắng (Giữ gìn, phát huy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Ty Văn hóa và Thông tin Gia Lai- Kon Tum, 1981)  Trước hết, trong dân gian có tồn tại một loại lối nói vần, nó chưa phải là hát nhưng cũng đã có nhịp điệu khi xướng lên, nó là một chuỗi lời nói được móc xích với nhau bằng vần điệu. Trong những lời nói vần này có thể kể đến các loại: Riu Yang (cúng thần, khấn thần) hay Ká tơ pai (gọi người chết lên uống rượu) hoặc Hoa pơ xát (gọi người chết lên ăn). Đây là những xâu chuỗi lời nói dùng để khấn cầu thần linh hoặc hồn người chết, mục đích là khấn nguyện, thông đạt giữa người và thần, giữa người và hồn. Những loại này thường dùng khi cưới xin, cầu chúc sức khỏe, cúng ở nhà mồ. Đây là loại lời nói vần mang tính chất tín ngưỡng, ngôn ngữ thường ổn định, vần điệu cố định. Thế nhưng so với những loại phù chú hoặc lời khấn của các thầy phù thủy người Kinh thì loại Riu Yang này gần gũi hơn với lời nói hàng ngày: dễ hiểu, mộc mạc, chứ không bí hiểm và chưa bị thần thánh hóa ở mức độ cao.  3. Tác giả Tô Ngọc Thanh bàn về các giá trị văn hóa nghệ thuật của tộc người Ba Na, còn tác giả Nông Quốc Thắng lại bàn về tộc người Gia Rai. Vậy mà khi thuổng của hai tác giả nêu trên, PGS Bền đã cố tình gán ghép các giá trị của 2 tộc người Ba Na và Gia Rai làm một, kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ví dụ: Trong đoạn coppy của tác giả Nông Quốc Thắng, ông Bền thêm chữ Ba Na vào trong đoạn viết về Gia Rai: “Ngoài ra, người Gia Rai, Ba Na còn  một loại lời nói vần mang tính chất nghi lễ nữa, đó là loại phát k’đi (lời hát vè) (luật tục)”. Ngược lại, trong đoạn viết về đồng dao Ba Na (copy của Tô Ngọc Thanh), ông Bền đã ghép ngay với đoạn copy của Nông Quốc Thắng (vốn viết về đồng dao Gia Rai). Đương nhiên, bài đồng dao minh họa sau đó (vốn của người Gia Rai) sẽ “bị hiểu” là của người Ba Na!  Hy vọng mấy dẫn chứng kể trên góp phần trả lời cho câu hỏi: Có thực là PGS.TS Nguyễn Chí Bền đạo văn hay không?       Nhất Nguyên    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có gì thay đổi với vị trí mới của giàn khoan 981?      Theo thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc ngày 27/05/2014, giàn khoan 981của CNOOC sẽ dời sang vị trí mới ở toạ độ 15°33.38′ N và 111°34.62’E 1 (lưu ý 111 độ 34.62 phút chứ không phải 111 độ 34 phút 62 giây như một vài báo đưa tin – phút viết dưới dạng thập phân). Theo Google Earth thì vị trí mới cách đảo Lí Sơn khoảng 142 hải lí (trước là 119 hải lí), cách ranh ngoài của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khoảng 57 hải lí. (xem bản đồ)  Như vậy, việc di chuyển này không làm thay đổi tình trạng Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam vì giàn khoan 981 vẫn còn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.      Từ khi bắt đầu vụ đặt giàn khoan trái phép đến nay Trung Quốc chưa dùng đường lưỡi bò để bào chữa cho hành vi ngang ngược của mình. Đây là điều có thể hiểu được vì đường này vốn bị công luận thế giới phản đối. Hơn nữa, nếu dùng đường lưỡi bò làm cơ sở chắc chắn họ sẽ bị các nước ASEAN có tranh chấp trong biển Đông như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia… cùng lên tiếng phản đối. Đó là điều thất lợi cho họ, xử trí với một mình Việt Nam dễ hơn nhiều so với phải đương đầu cùng một lúc nhiều nước ASIAN và công luận bất lợi của thế giới.  Trung Quốc cũng chưa dùng EEZ của đảo Hải Nam để bào chữa cho việc đặt giàn khoan dù nó cách đảo này dưới 200 hải lí. Có lẽ họ thấy rõ nếu dùng cơ sở này thì công chúng dễ phát hiện là họ đã không đảm bảo nguyên tắc công bằng khi giành EEZ quá xa 183 hải lí cho vị trí cũ (hay 190 hải lí) so với 119 hải lí (hoặc 141 hải lí) phía Việt Nam. Do đó, họ dễ bị công chúng phản đối hơn.  Ngoài ra, để ý rằng vị trí mới cách đảo Tri Tôn (mà họ chiếm của Việt Nam bằng vũ lực hồi năm 1974) khoảng 25 hải lí và cách đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa (mà họ tự tuyên bố năm 1996) khoảng 17 hải lí.  Do đó, có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ dùng lập luận cũ để biện bạch cho việc đặt giàn khoan rằng vị trí này nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa mà họ có chủ quyền. Cách lập luận của họ có thể làm cho số đông công chúng không có điều kiện theo dõi luật lệ, lịch sử cũng như các hiểu biết về thực tế các đảo trên biển Đông dễ tin rằng việc làm của họ là chính đáng, hợp pháp. Chẳng hạn, như họ nhấn mạnh khoảng cách khá gần của giàn khoan với đảo Tri Tôn, làm người nghe dễ bị thuyết phục rằng giàn khoan nằm trong vùng biển được hưởng của đảo này vốn đang do họ quản lí. Nhưng sự thực, theo những nghiên cứu về địa pháp lí thì đảo Tri Tôn không thể là một đảo theo nghĩa của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) mà chỉ là đảo đá. Tức là nó chỉ có lãnh hải 12 hải lí, không có EEZ lẫn thềm lục địa (CS). Do đó, dù ở gần đảo Tri Tôn nhưng giàn khoan vẩn nằm ngoài vùng biển mà đảo này có thể được hưởng theo UNCLOS, chưa kể đảo đó là do họ chiếm bằng vũ lực như đã nêu.        Nói vị trí giàn khoan (cũ lẫn mới) nằm trong vùng biển của quần đảo  Hoàng Sa dù theo nghĩa là lãnh hải (chắc chắn không được vì quá 12 hải  lí đối với đảo Tri Tôn và đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa) hay EEZ hoặc CS  chỉ là nói bừa.        Hoặc Trung Quốc cũng nói rằng vị trí giàn khoan chỉ cách đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa một khoảng cách nhỏ (17 hải lí) . Điều này khiến người nghe có thể lầm tưởng rằng giàn khoan sẽ nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa được hưởng theo luật quốc tế. Tuy nhiên, đường cơ sở thẳng của quần đảo Hoàng Sa (đa giác màu hường trong bản đồ trên) do họ tuyên bố không theo quy định nào trong Công Ước LHQ về luật biển (trong Công ước chỉ có quy định đường cơ sở vẽ theo cách này cho các quốc gia quần đảo như Philippines, Indonesia…), chưa kể tới việc họ dùng vũ lực để chiếm nó từ Việt Nam hồi năm 1974. Vì đường cơ sở này có vấn đề nên khó nói tới lãnh hải, EEZ hay thềm lục địa của toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Do đó, nói vị trí giàn khoan (cũ lẫn mới) nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa dù theo nghĩa là lãnh hải (chắc chắn không được vì quá 12 hải lí đối với đảo Tri Tôn và đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa) hay EEZ hoặc CS chỉ là nói bừa.  Một vài học giả TQ cũng đưa thêm luận điệu là giàn khoan nằm trong EEZ của đảo Phú Lâm vì vị trí mới cách đảo này 88 hải lí hoặc 103 hải lí trước đây (đều bé hơn 200 hải lí). Trước nhất, cần lưu ý rằng đảo Phú Lâm nằm trong tình trạng tranh chấp, và ngay cả khi chủ quyền đảo này thuộc Trung Quốc thì cũng còn nhiều lổ hổng trong lập luận đó. Dù đảo Phú Lâm là lớn nhất, có diện tích khoảng 200 ha nhưng nó không có nước ngọt, phải nhờ vào việc tích trữ nước mưa và nước ngọt đưa từ Hải Nam tới để sinh hoạt. Do đó, khó có cơ sở để cho rằng nó có thể ‘duy trì được sự cư trú của con người và có đời sống kinh tế riêng’ để được hưởng quy chế đảo như quy định trong điều 121 UNCLOS. Lưu ý thêm rằng tỉ lệ khoảng cách từ vị trí mới của giàn khoan tới đảo Lí Sơn hoặc bờ biển VN so với khoảng cách từ đó đến đảo Phú Lâm lần lượt là 142:88 (≈1,6:1) và 153:88 (≈1.7:1). Cả hai tỉ lệ này đều bé hơn nhiều so với tỉ lệ mà các toà án quốc tế hay các hiệp định đã dùng để điều chỉnh trung tuyến phân chia EEZ chồng lấn cho tới nay (ví dụ tỉ lệ 3:1 trong vụ Nicaragua kiện Colombia , hoặc tỉ lệ 3.7:1 trong hiệp ước phân giới vịnh Bắc bộ cho trường hợp đảo Bạch Long Vĩ của VN – đảo này có diện tích tương đương đảo Phú Lâm và hơn nữa lại có nước ngọt tại chỗ…). Do đó, ngay cả khi đảo Phú Lâm đúng là đảo theo nghĩa của UNCLOS thì theo các cách phân chia như vừa nêu và kể cả nguyên tắc công bằng trong luật về EEZ và CS năm 1998 2 của chính TQ thì EEZ của nó cũng không thể vươn hơn 88 hải lí. Tức là, lập luận cho rằng vị trí (cũ lẫn mới) của giàn khoan nằm trong EEZ của Phú Lâm cũng không có cơ sở trong luật  lệ 3 quốc tế.          Tỉ lệ điều chỉnh cho trung tuyến giữa đảo Hải Nam và đảo Bạch Long Vĩ là 55: 15 (≈ 3,7:1)                Tỉ lệ điều chỉnh cho trung tuyến giữa 2 bờ Nicaraua và Colombia là 3:1  (các cung màu đỏ là trung tuyến tạm- đường phân giới chính thức dùng các  đoạn thẳng (đơn giản hoá) – các đảo đá Quitasuenho và Semana chỉ được lãnh hải 12 hải lí          Tóm lại, dù giàn khoan 981 ở vị trí nào thì Trung Quốc cũng đã xâm phạm vào EEZ của Việt Nam theo luật và lệ quốc tế cũng như chính luật của Trung Quốc. Tức là, vẫn không có biến chuyển gì theo hướng tích cực từ phía Trung Quốc trừ khi họ rút giàn khoan ra xa khu vực quần đảo Hoàng Sa về phía bên kia trung tuyến giả định (màu xanh sậm trong bản đồ thứ nhất).  ———    [1] Có tin là giàn khoan 981 có thay đổi vị trí tiếp ngày 01/06/2014 nhưng chưa rõ toạ độ.  [2] Đoạn 3 trong Điều 2 của luật này nêu: “Các yêu sách mâu thuẫn liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc công bằng (người viết nhấn mạnh), bởi một hiệp định phân định cho các khu vực yêu sách đó.”  [3] Điểm 1 Điều 74 của UNCLOS nêu: “Việc hoạch định ranh giới EEZ giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đường thoả thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Ðiều 38 của Quy chế Toà án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng (người viết nhấn mạnh).”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ học Việt Nam-Thực trạng và giải pháp      Tại Hội thảo &#8220;Nghi&#234;n cứu khoa học đ&#224;o tạo v&#224; triển khai ứng dụng trong lĩnh vực cơ học&#8221; do Viện Cơ học, Viện KH&amp;CN Việt Nam tổ chức ng&#224;y 6-7.11 tại Tam Đảo, TS.Phạm Đức Ch&#237;nh đ&#227; được Ban tổ chức mời b&#225;o c&#225;o đề dẫn, nhưng một th&#224;nh vi&#234;n của Ban tổ chức (nguy&#234;n l&#224; Viện trưởng Viện Cơ học) cho rằng nội dung của b&#225;o c&#225;o n&#224;y đi chệch mục ti&#234;u cuộc Hội thảo, n&#234;n đ&#227; kiến nghị với Ban tổ chức chỉ xếp b&#225;o c&#225;o của TS.Phạm Đức Ch&#237;nh &#8220;v&#224;o phần tham luận c&#225; nh&#226;n, nếu kh&#244;ng được chấp nhận sẽ xin r&#250;t khỏi danh s&#225;ch Ban tổ chức v&#224; kh&#244;ng tham dự Hội thảo&#8221; (Tr&#237;ch thư gửi Ban tổ chức hội thảo). Theo TS.Phạm Đức Ch&#237;nh, to&#224;n bộ th&#224;nh vi&#234;n Ban tổ chức Hội thảo đ&#227; đồng t&#236;nh với kiến nghị n&#224;y, v&#236; vậy anh cũng sẽ kh&#244;ng b&#225;o c&#225;o tại Hội thảo .  Tia S&#225;ng xin đăng bản b&#225;o c&#225;o của TS.Phạm Đức Ch&#237;nh để c&#225;c nh&#224; khoa học v&#224; nhất l&#224; cộng đồng khoa học ng&#224;nh Cơ xem n&#243; c&#243; thực l&#224; đi chệch với mục ti&#234;u của cuộc Hội thảo hay kh&#244;ng?  —————  &nbsp;                    Cơ học đóng một vai trò chính trên hướng gọi là Engineering (kỹ thuật). Thật vậy, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như công nghệ hóa-sinh, điện tử-hạt nhân, phần lớn các lĩnh vực trong kỹ thuật, từ chế tạo máy, xây dựng, giao thông, hầm mỏ,… tới thủy lợi và khí tượng-thủy văn, đều làm nghiên cứu và thiết kế với các mô hình cơ học về ứng xử và chịu lực của vật liệu, kết cấu, tương tác dòng chảy… Các KS cơ học-kỹ thuật thực hành đã có nhiều đóng góp trong tiến trình xây dựng và công nghiệp hóa đất nước.  Việc thành lập Viện Cơ học thuộc Viện KH&CN VN, rồi Hội Cơ học VN cách đây hơn ¼ thế kỷ đã giúp liên kết các nhà cơ học thuộc các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau từ các ĐH và Viện nghiên cứu, với mong muốn thúc đẩy trao đổi chuyên môn, hợp tác đào tạo và nghiên cứu cơ học. Các quan chức đầu ngành (là các TSKH Cơ học đầu tiên của VN) đã vận động thành công để ngành Cơ học có vai trò độc lập được công nhận, được quan tâm và đầu tư thỏa đáng. Tuy nhiên những năm gần đây nhiều bất cập và tiêu cực nổi cộm dần hình thành đã dẫn tới hệ quả là các kết quả nghiên cứu và xây dựng lực lượng cơ học không đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng cao đối với KHKT của VN trên tiến trình hội nhập – vấn đề được Hội thảo của chúng ta quan tâm. Bài tham luận này được trình bày thành 2 phần:             1. Vị thế của Cơ học VN và Viện Cơ học.              2. Cơ học VN cần được tháo khỏi các trở ngại     Vị thế của Cơ học VN và Viện Cơ học  Một số người trong và ngoài ngành Cơ học vẫn ngộ nhận rằng năng lực và các kết quả nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế của ngành Cơ học VN (với đầu tàu là dân Toán-Cơ của mô hình Liên Xô) chỉ thua hai ngành Toán và Vật lý. Đúng là trong quá khứ thời bao cấp, các bạn trẻ giỏi có xu hướng và được phân theo Toán, Lý, rồi đến Toán-Cơ ,…, và thực lực ban đầu của ngành Cơ và Viện Cơ – nhất là ở thời điểm những năm đầu 80 với số đông các nhà khoa học trẻ được đào tạo từ Đông Âu trở về – cũng đúng là như vậy. Tuy nhiên các con số thống kê thời gian gần đây đã cho một bức tranh khác hẳn.  Báo cáo của Bộ KH&CN về kết quả NCCB các ngành 5 năm 2001-2005 cho các con số cụ thể như sau về số các bài báo và báo cáo hội nghị được công bố:                 TT         Lĩnh vực      Công trình công bố          Tạp chí khoa học      Hội nghị khoa học          Quốc gia      Quốc tế      Quốc tế      Quốc gia          1      Toán học      200      625      218      221          2      Tin học      313      101      159      352          3      Cơ học      289      52      128      677          4      Vật lý      119      159      218      217          5      Hóa học      931      85      205      609          6      Khoa học Sự sống      1058      225      200      311          7      Các Khoa học Trái đất      753      39      219      244          8      KHCN Nanô      84      63      145      93          9      NCCB định hướng CNSH      24      10      23      44                 Tổng cộng      3771      1359      1515      2768            Không kể 2 hướng 8 và 9 được tách ra từ các ngành Vật lý và Khoa học Sự sống, trong số 7 lĩnh vực NCCB thì ngành Cơ học là một trong 2 lĩnh vực yếu nhất về số bài báo đăng tạp chí quốc tế, nhưng lại đứng đầu về số báo cáo hội nghị quốc gia – là thứ dễ dãi nhất.   Lần đầu tiên, thống kê số bài báo quốc tế ISI (SCI & SCIE) 2004-2008 của Viện KH&CN VN được thực hiện đã cho thấy Viện Cơ học xếp thứ 11 trong số các Viện thành viên, so sánh theo tỷ lệ [số bài báo/số biên chế] của 4,5 năm, với thứ tự cụ thể: 1.Viện Toán (1.68), 2.Vật lý (1.05), 3.Sinh học Tây nguyên (0.83), 4.Hóa học (0.54), 5.Vật lý TP. HCM (0.51), 6.Hóa học các HCTN (0.50), 7.Khoa học Vật liệu (0.45), 8.Sinh thái TN Sinh vật (0.30), 9.Công nghệ Sinh học (0.28), 10.Kỹ thuật Nhiệt đới (0.26), 11.Cơ học (0.24).              Hệ thống giảm rung ứng dụng cho cầu dây văng                Thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI) về số các bài báo khoa học quốc tế chuẩn mực cũng cho thấy số các công bố quốc tế của Việt Nam là rất yếu, chỉ cỡ 1/3 con số tương ứng của Malaysia (trong khi số dân nước ta lớn hơn 3 lần số dân Malaysia), 1/5 số bài của Thái Lan, chứ chưa dám so sánh với khối Ðông Á và TQ. Số bài báo quốc tế của chúng ta chủ yếu do hợp tác quốc tế (80%). Ðiều đó cho thấy các nhà khoa học của chúng ta vẫn còn phải dựa nhiều vào hỗ trợ quốc tế (về chuyên môn, phương tiện, hoặc tài chính).  Ngành Cơ học thậm chí còn yếu hơn mức trung bình: số bài báo nói chung của chúng ta ít hơn Thái Lan và Malaysia tương ứng là 5 và 3 lần, nhưng trên lĩnh vực Kỹ thuật (Cơ học) thì lại thua họ tới 6 và 4 lần.       Thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI) về số bài báo quốc tế các ngành của VN và một số nước 11 năm qua (1/1997-12/2007) cho:            Lĩnh vực      VN      Thái Lan      Malaysia        Hàn Quốc      TQ          Y học lâm sàng  Vật lý  Động thực vật học  Toán  Kỹ thuật  Hóa  Nông nghiệp  Địa chất  Môi trường  Khoa học Xã hội  Vi sinh  Sinh học & Hóa sinh  Miễn dịch học  Khoa học vật liệu  Dược  Sinh học phân tử   Kinh tế  Khoa học thần kinh  Khoa học máy tính  Tâm lý học  Khoa học không gian  Liên ngành      765  709  595  466  327  301  212  185  177  176  159  114  110  98  69  45  35  15           14      4 897  681  2 233  156  1 904  2 618  1 023  327  878  563  900  1 144  678  766  709  275  112  167  426  86  63  16         1 705  833  1 119  151  1 457  3 195  654  175  640  265  269  599  89  888  276  79  142  46  387  75      25 050  32 313  5 798  4 490  26 867  31 644  2 907  2 204  2 730  1 911  4 861  12 148  1 467  20 946  5 619  3 395  1 605  3 464  12 194  792  1 125  107      34 430  86 679  17 761  20 468  53 203  127 749  4 382  16 431  10 071  4 277  3 752  20 037  2 006  60 197  7 356  6 081  2 845  4 800  17 355  2 070  4 903  1 708          Tổng cộng      4 667      20 672      13 059      203 637      508 561          Tỷ lệ số bài nội lực năm 2007      20%      47%      53%      75%      78%            Từ các con số này cũng có thể thấy rằng các công bố quốc tế của Việt Nam đều đến từ tất cả các lĩnh vực, và chủ yếu là từ các lĩnh vực khoa học ứng dụng, chứ không phải là đặc thù riêng của các lĩnh vực lý thuyết như Toán hay Vật lý – như ngụy biện của một số người ở ta.   Mặc dù xuất phát điểm (thời kỳ sau thống nhất đất nước) của ngành Cơ không thua kém nhiều các ngành Toán và Vật lý về mặt lực lượng, nhưng đến nay về chất lượng khoa học của ngành Cơ thua xa họ. Các chức sắc đầu ngành Toán và Vật lý là các nhà khoa học vươn tới được các công bố quốc tế độc lập đã giúp định hướng cho thế hệ tiếp nối tới một văn hóa làm khoa học nghiêm túc và đã thiết lập được các mối quan hệ quốc tế giúp duy trì và phát triển các ngành này vượt qua các khó khăn của thời bao cấp trì trệ, ngành Cơ học không có được may mắn như vậy. Các lãnh đạo ngành đã tỏ ra là yếu kém về năng lực công bố quốc tế, nhanh chóng buông xuôi và đưa sự phát triển của ngành xa rời các chuẩn mực khách quan quốc tế. Họ duy trì các chuẩn mực mập mờ, cơ chế quan liêu, đặc quyền đặc lợi, để giành lấy kinh phí nghiên cứu, giữ cho bản thân và những người thân quen yếu năng lực chuyên môn những xuất đi nước ngoài hiếm hoi được viện trợ hay bao cấp Nhà nước – nhất là trong thời bao cấp khó khăn. Điều đó đã làm đẩy nhanh tiến trình chảy máu chất xám, hủy hoại đạo đức và tinh thần khoa học của cả cộng đồng.  Viện Cơ học những năm 80 nhận chủ yếu các nhà cơ học trẻ tiềm năng được đào tạo từ Đông Âu, nay phần lớn trong số đó đã ra đi và bỏ nghề (khác với lớp người thời đó, giới trẻ giỏi ngày nay có xu hướng chọn các ngành kinh tế thay cho khoa học và kỹ thuật). Thay thế cho họ là nhiều người thân quen và quan hệ của các chức sắc, thiếu cả năng lực chuyên môn lẫn tâm huyết nghề nghiệp, nhằm vào bao cấp Nhà nước để dựa dẫm nhưng làm việc vật vờ hoặc sử dụng thời gian Nhà nước làm các việc khác. Số người có năng lực công bố quốc tế ở Viện Cơ hiện chỉ còn vài người (trong khi đó ở các Viện Toán và Vật lý còn được hai ba chục người). Số công bố quốc tế đạt chuẩn ISI  (SCI Expanded) của Viện Cơ học 5 năm qua không bằng con số công bố trong 1 năm của Viện Toán hay Vật lý, mặc dù số biên chế chính thức đều cỡ 100 người như nhau.               Ở Thái Lan hay Malaysia số bài báo quốc tế ISI trên các lĩnh vực Cơ-Kỹ thuật lớn gấp hàng chục lần so với ngành Toán. Ở Singapore, lĩnh vực có số bài báo quốc tế nhiều nhất là lĩnh vực Engineering (Kỹ thuật-Cơ học). Viện Cơ học Bắc Kinh có số biên chế lớn hơn 3 lần Viện Cơ học Hà Nội, nhưng có số công bố quốc tế mức chuẩn SCI nhiều hơn 30 lần, chưa kể mỗi năm họ còn có thêm ba chục bằng sáng chế.          Số công bố quốc tế ngành Cơ học, nhất là công bố nội lực, tập trung chỉ vào một số rất ít người và một số bài quốc tế là của các NCS, TTS của ta làm chung với thầy ở nước ngoài (nhưng có ghi địa chỉ VN).   Điều đáng quan tâm là hàm lượng khoa học trong các đề tài nghiên cứu cơ học là rất thấp, nhất là các đề tài nghiên cứu ứng dụng kinh phí lớn – vốn không được bảo đảm bởi các bài báo khoa học được phản biện độc lập, mà chỉ được nghiệm thu bởi một hội đồng chức sắc rõ mặt rõ tên nể nang nhau. Ý nghĩa ứng dụng của các đề tài này lại càng mơ hồ – vốn chỉ có thể được tài trợ bằng kinh phí bao cấp Nhà nước trực tiếp từ các cơ quan chủ quản hay qua các đối tác. Khi các cơ quan quản lý yêu cầu, Viện Cơ đã không thể đưa ra được các sản phẩm ứng dụng hay công nghệ gì đáng giá và có sức thuyết phục để khoe. Thậm chí có người còn đi xa hơn với luận điểm “NCCB làm cơ sở cho NCƯD không cần phải có công bố quốc tế” để giành thêm cho mình và thân hữu các đề tài NCCB với kinh phí lớn nhất – thêm vào các đề tài NCƯD kinh phí lớn đã có. Có tới cả hai chục đề tài NCCB trong Viện Cơ học, nhưng điều vô lý nổi cộm là 80% số công bố quốc tế chuẩn mực ISI của Viện Cơ học 5 năm qua là thuộc về 3 đề tài được cấp kinh phí ít nhất. Người ta đã làm như vậy kể cả khi hướng dẫn cụ thể của Bộ KH&CN từ năm 2005 nhấn mạnh phải ưu tiên các đề tài có công bố quốc tế. Mọi người đều nhận thấy các đề tài khoa học, nhất là các đề tài gọi là ứng dụng được bao cấp kinh phí lớn, là các vụ đánh quả của một số người, và thiếu chuẩn mực khách quan rõ ràng. Nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng với nội dung chính chỉ là chạy thông các chương trình tính mua hay xin được ở nước ngoài (hoặc thậm chí được cho miễn phí trên Internet) áp với một số số liệu thực tế.  Có một sự kỳ thị rõ rệt đối với những người đã vươn tới được công bố quốc tế, đặc biệt là tại Viện Cơ học. Họ chỉ có thể được các đề tài NCCB kinh phí nhỏ nhất, và cũng không có kinh phí để nhận đào tạo lực lượng trẻ. Thậm chí người ta còn ngăn chặn số ít nhà khoa học có thành tích công bố quốc tế khỏi các hội đồng chuyên môn… Các nhà cơ học trẻ có năng lực công bố quốc tế ở Viện Cơ hiện không có, mà chỉ có ở các ĐH và trong số NCS và TS đang học tập và thực tập ở nước ngoài xuất phát từ các ĐH.              Lãnh đạo Hội Cơ học, Hội đồng NCCB, Hội đồng chức danh GS, Tạp chí Cơ học suốt hơn ¼ thế kỷ qua hầu như không đổi, với thành phần là những cá nhân tuy đã có những đóng góp trong thời kỳ đầu tập hợp và xây dựng lực lượng, nhưng thiếu năng lực công bố quốc tế và nay đều đã lớn tuổi và lạc hậu dần theo thời gian, tạo nên một cơ chế quan liêu cứng nhắc đặc quyền đặc lợi – là sức cản chính cho tíến bộ của ngành Cơ học. Người ta còn giữ quyền chỉ định lớp người kế cận, bất chấp các chuẩn mực khách quan.                                                                                           Chính những tiêu cực nói trên đã làm mất đi rất nhiều sức mạnh và vị thế của Viện Cơ học nói riêng và ngành cơ học so với triển vọng và tiềm năng sức trẻ cách đây hơn ¼ thế kỷ.   Cùng với việc chảy máu chất xám ồ ạt lực lượng đã được đào tạo ở Đông Âu như đã nói, sự buông xuôi của số người còn lại, đã hai chục năm nay hầu như không có TS, KS, CN trẻ nào được đào tạo ở nước ngoài vào Viện Cơ học. Số đông biên chế của Viện được các chức sắc nhận vào chủ yếu do thân quen và quan hệ, thậm chí cũng không phải là sinh viên khá giỏi của các ĐH trong nước. Về mặt này Viện Cơ còn thua cả các ĐH vì họ có nguyên tắc là chỉ nhận giữ lại làm giảng viên từ số ít sinh viên giỏi (trong khi Viện lại phải đảm nhận vị trí đầu tàu nghiên cứu và đào tạo sau ĐH!). Một số người trong Viện được cử đi đào tạo TS ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước (đề án 322) cũng là theo chế độ và do các chức sắc chọn chứ không phải là nhà khoa học trẻ có tiềm năng (những người trẻ giỏi ở Viện Cơ hiện cũng không có). Tình hình mới nhất là hầu hết số bạn trẻ được nhận vào Viện Cơ năm vừa qua, sau một thời gian làm việc đã bỏ đi do lương thấp và công việc chuyên môn không rõ ràng, không hấp dẫn, và không có triển vọng.  Về nhiệm vụ đào tạo  Việc lập ra khoa Cơ kỹ thuật đặt ở Đại học Công nghệ – ĐHQG HN do Viện Cơ học kiêm nhiệm giảng dạy đã không được suy nghĩ nghiêm túc, không xuất phát từ nhu cầu của thực tế, và các khó khăn cả đầu vào lẫn đầu ra hiện nay là đều có thể nhìn thấy trước. Nói là cơ kỹ thuật nhưng thực chất vẫn dạy các giáo trình cũ theo đường mòn của khoa Toán-Cơ (ĐH KHTN) kiểu Liên Xô vốn đã khó khăn từ trước, học viên không có được các kiến thức kỹ thuật chuyên môn cụ thể. Trong ĐHQG HN hầu như không có ngành nào khác cần dạy môn cơ học dù như một môn phụ, trong khi các trường kỹ thuật lại tự đào tạo được những người làm cơ của ngành mình vừa có kiến thức kỹ thuật chuyên môn của ngành, và chọn được những người tốt nghiệp giỏi của mình để dạy cơ. Các viện kỹ thuật chuyên ngành cũng chỉ tuyển người từ các trường theo ngạch dọc của mình chứ không chọn đa dạng như quốc tế. Thậm chí các học viên Cơ học cũng không cạnh tranh được với các học viên Toán và Lý để dạy các môn này ở trường phổ thông. Các học viên gọi là Cơ học kỹ thuật này cũng chẳng có ưu thế về tiềm năng nghiên cứu khoa học (mặc dù NCKH nghiêm túc vẫn còn chưa được thực sự đề cao ở ta), khi mà đầu vào thì kém, trong khi các giảng viên kiêm nhiệm được chọn phần nhiều là dân Toán cơ lớn tuổi thiếu kinh nghiệm giảng dạy và không có năng lực nghiên cứu công bố quốc tế – là các chức sắc và thân hữu (để được hưởng lương kép và chức danh). Tới nay sinh viên học kém thi lại nhiều, trong khi điểm tuyển vào là thấp nhất trong khối A ở ĐHQG HN, mà đều vào miễn cưỡng – hầu hết từ nguyện vọng 2. Đầu ra lại càng mờ mịt. Tại chi hội Cơ học vật rắn nhân Đại hội Cơ học toàn quốc 12/2007, một sinh viên Cơ học ĐHQG HN đã phát biểu thẳng thắn và xác đáng: “Các thầy đã lừa chúng em, nói cứ học đi …, nhưng đến khi ra trường thì không xin được việc làm và chỉ có thể xin đi trái ngành làm thợ tin học …  Một số giải pháp để hội nhập và phát triển  Trong sự yếu kém chung của khoa học nước nhà, có thể nói Viện Cơ học đang trong khủng hoảng. Đất nước đã hơn 20 năm đổi mới, nhưng một số chức sắc (vốn đã được đào tạo đầy đủ ở nước ngoài) vẫn né tránh chuẩn mực quốc tế, nói rằng phải từ từ (?), nhưng thực chất chẳng làm gì giúp hướng tới mục tiêu hội nhập, mà chỉ tìm mọi cách kéo dài cơ chế lạc hậu cũ để duy trì đặc quyền đặc lợi. Vì vậy muốn phát triển và hội nhập trước hết phải được tháo gỡ khỏi những trở ngại hiện hữu.  Việc tiên quyết là phải đề cao các chuẩn mực khách quan trong khoa học, đó là các bài báo khoa học được phản biện kín (đặc biệt là các bài báo công bố tạp chí quốc tế SCI, SCIE), bằng sáng chế, sản phẩm mới hữu dụng tự đứng được trên thị trường, chứ không phải bám vào chiêu bài “ứng dụng hình thức”, “chức danh hình thức”, hay “quan hệ”, như thời gian qua.  Chỉ dựa vào chuẩn mực khách quan khoa học chúng ta mới tạo được môi trường khoa học lành mạnh để các cá nhân phấn đấu vươn lên, đào tạo và hợp tác khoa học thực chất và có hiệu quả.  Các hội đồng chuyên môn phải được chọn là những người có thành tích chuẩn mực khách quan quốc tế tốt nhất trong 5-10 năm qua, bất kể thâm niên, chức danh, chức vụ.   Các chức sắc thâm niên đã qua tuổi hưu 60-65 mà không có kết quả nghiên cứu chuẩn mực quốc tế nào trong 5-10 năm qua (nhất là các cá nhân từ cơ quan nghiên cứu đầu tàu là Viện Cơ học) nên rút lui khỏi các Hội đồng chuyên môn, ban biên tập Tạp chí Cơ học, và các vị trí chủ chốt trong Hội Cơ học. Họ cũng không nên áp đặt đưa người thân tín thay thế mình bất chấp các chuẩn mực khách quan và lợi ích quốc gia – một ví dụ – như Hội đồng NCCB Cơ học năm 2008 mới được thành lập, gồm phần lớn là những người gần gũi của mấy cựu trào chứ không phải là những nhà cơ học tiêu biểu nhất về thành tích công bố quốc tế theo đề xuất của Bộ KH&CN.  Vấn đề sống còn đối với Viện Cơ học là phải vươn lên thực sự là đầu tàu nghiên cứu và đào tạo sau ĐH tới chuẩn mực quốc tế của ngành Cơ học. Tiếp nhận và xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng là quan trọng nhất.  Viện tuy hiện có biên chế đông (100 người) nhưng thiếu trầm trọng cả các đầu tàu khoa học và lực lượng trẻ có năng lực. Viện cần có chính sách ưu tiên thu hút các TS giỏi (nhất là mới từ nước ngoài trở về) đã có các thành tích công nghệ và công bố quốc tế và đang có đà, sinh viên giỏi của các ĐH.   Trong khó khăn chung của khoa học VN không hấp dẫn giới trẻ giỏi, hiện mới chỉ nhận thấy một số ít các nhà cơ học trẻ có tiềm năng từ số sinh viên giỏi của các trường ĐH Bách khoa, Xây dựng, Giao thông Vận tải, và lớp cử nhân tài năng ĐH KHTN, đang làm TS và sau TS ở nước ngoài. Một số khá nhất đang có xu hướng xin làm việc ở nước ngoài, trong khi trong nước chúng ta chưa có chính sách gì thu hút họ. Ngành Cơ học và Viện Cơ học đang rất cần những mầm ươm đó sau khi đã để lãng phí thế hệ vàng đã được đào tạo ở Đông Âu những năm trước đây. Viện Cơ học cần đi trước một bước trong việc hướng tới nguồn trẻ này. Nguồn nội lực trẻ của Viện hiện rất yếu, nếu không nói là không có.  Cần phải có đảm bảo rằng các nhà nghiên cứu khoa học trẻ tài năng sẽ có được điều kiện làm việc, nhận đề tài, thăng tiến thuận lợi (không bị cản trở bởi các chức sắc thâm niên đặc quyền đặc lợi, hẹp hòi và đố kị); Các sinh viên trẻ giỏi phải có điều kiện thuận lợi thăng tiến nghề nghiệp, hướng tới các bằng cấp ThS, TS thông qua nghiên cứu khoa học thực sự ngay từ khi vào cơ quan, và có thu nhập thỏa đáng (chứ không phải chỉ làm đầu sai và lao công cho các chức sắc cai đầu dài  – tuy có chút tiền nhưng không tiến bộ gì thực chất về chuyên môn, hoặc làm khoa học chay không có thu nhập ở mức tối thiểu). Có thực mới vực được đạo. Nếu làm giả ăn thật tiếp tục ngự trị, chức quyền lấn át chuyên môn, không ai có năng lực khoa học thật muốn vào hay ở lại Viện, và sự tàn lụi của Viện trên cái đà hiện nay là không tránh khỏi giống như nhiều xí nghiệp quốc doanh những năm qua.  Chỉ có biết đặt ra mục tiêu chung là chuẩn mực quốc tế khách quan, chúng ta mới động viên được sự hợp tác liên ngành thực thụ trong nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cụ thể của công nghệ đáp ứng các yêu cầu nâng cao của hội nhập. Còn như hiện nay thì các cơ sở khác nhau việc ai người ấy làm theo kiểu riêng như trong lô cốt, và nếu có hợp tác chỉ là hình thức nhằm chia chác nguồn lợi bao cấp từ Nhà nước là chính.  Khi có được môi trường khoa học lành mạnh và tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ có thể khuyến khích và yêu cầu – giống như quốc tế – để các CN, KS tốt nghiệp ở cơ sở này đăng ký học ThS, TS, và cả xin việc ở cơ sở khác. Điều đó giúp cho kiến thức các cá nhân liên quan được đa dạng và giúp thúc đẩy cộng tác khoa học giữa các cơ quan. Khi đó Viện Cơ học có thể phát huy vai trò là một địa điểm giúp đào tạo nâng cao các kiến thức chuyên sâu và tổng quát về Cơ học cho các nhà Cơ học kỹ thuật các lĩnh vực cụ thể.  Vì lợi ích chung của Cơ học nước nhà, chúng ta không nên e ngại chuẩn mực khách quan quốc tế: khó khăn là chung cho tất cả, chứ không phải là của riêng ai. Trên tinh thần ưu tiên các yếu tố tích cực dể những yếu tố đó được có điều kiện nhân rộng và phát triển, chúng ta phải phấn đấu nâng dần số lượng và chất lượng bài báo khoa học được phản biện nghiêm chỉnh, nhất là công bố quốc tế SCI, SCIE, số người có công bố quốc tế nội lực, số các cơ sở khoa học có công bố quốc tế, số bằng sáng chế và sản phẩm công nghệ mới hữu dụng thực thụ. Mong ước là trên cơ sở có được nhiều cá nhân và cơ sở khoa học làm việc nghiêm chỉnh trên mọi hướng và lĩnh vực, chúng ta sẽ có đủ nguồn nhân lực để dần xây dựng được các nhóm liên kết làm cả mô hình cơ học, tính toán số, thực nghiệm, và chế tác mẫu – như mô hình nhiều nhóm cơ học quốc tế hiện nay, vừa có sản phẩm hữu dụng vừa có công bố quốc tế từ chính các vấn đề ứng dụng của thực tiễn.  Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2008  Phạm Đức Chính, Viện Cơ học Hà Nội.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cổ Loa: Liệu có thể cứu vãn?      Có lẽ, hầu hết người Việt Nam đều thuộc nằm lòng truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy, vốn là bài học được nhắc đến nhiều lần trong sách Ngữ Văn và sách Lịch sử phổ thông. Nhưng Thành Cổ Loa, nằm cách Hà Nội chưa đầy 20 km, là nơi khởi nguồn của truyền thuyết từ 2300 năm trước, vẫn còn dấu tích kiến trúc độc đáo của Kinh thành năm xưa lại không nằm trong tâm trí của nhiều người Việt và du khách quốc tế đến Hà Nội.      Ảnh “Một thoáng Loa Thành” do Ban quản lý khu di tích Cổ Loa cung cấp.  Mỗi năm, khu di tích Cổ Loa đón khoảng 130 nghìn lượt khách (để tiện so sánh, cố đô Huế đón một triệu lượt khách trong ba tháng) nhưng chỉ tập trung vào những ngày xung quanh thời điểm Lễ hội Cổ Loa diễn ra vào tháng Giêng. Hơn nữa, mang trong mình những huyền sử đầy bi tráng và lãng mạn, đậm chất Phương Đông, nhưng kì lạ là, nếu tìm kiếm trên mạng Internet, Cổ Loa chỉ có một bài review Tiếng Anh duy nhất trên trang blog du lịch Rusty Compass, được lập ra bởi một người Úc yêu Đông Nam Á đang ở Việt Nam, Mark Bowyer. Mark viết rằng, Cổ Loa được ít người biết đến một cách đáng kinh ngạc, và anh là khách du lịch duy nhất trong hai lần đến thăm.  TS. Richard A. Engelhardt, nguyên là chuyên gia tư vấn khu vực về Văn hóa vùng Châu Á Thái Bình Dương của UNESCO cho biết, lần đầu tiên đến Cổ Loa cách đây 20 năm, ông đã bị ấn tượng bởi kiến trúc thành nhiều lớp được tạo nên bằng đất, hệ thống hào và kênh mương, dựa trên hiểu biết về địa thế và sông nước, thể hiện tài năng quy hoạch địa hình đầy tiên tiến và đổi mới sáng tạo thời kì bấy giờ. Theo nhận định của ông, một nhà Nhân học, Khảo cổ và Lịch sử học tốt nghiệp tại Đại học Yale và Harvard, Mỹ, đó là một công trình độc nhất vô nhị, dung hòa được cả mục đích quân sự và dân sinh, mang tính tiên phong và có ảnh hưởng trên khắp các công trình kiến trúc quân sự và quy hoạch của khu vực Đồng Bằng Sông Hồng và phía Nam Trung Quốc sau đó. Lúc bấy giờ, ông ngạc nhiên về sự nguyên vẹn của ba vòng thành của Cổ Loa và đường nét của nó vẫn có thể thấy rõ trên thực địa, sau hơn 2000 năm. Nhưng vào thời điểm cách đây hai năm khi quay trở lại thăm một lần nữa, ông vô cùng thất vọng bởi những gì mình chứng kiến trước đó đã xuống cấp thê thảm, đến mức không còn nhận ra hình dáng của ba vòng thành nữa trước quá trình hiện đại hóa ở vùng quê này.  Cổ Loa có số phận khá long đong, lận đận cả về mặt được công nhận giá trị, công tác quản lý cho đến quy hoạch. Được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận là Di tích Quốc gia từ năm 1962 nhưng đến mãi gần đây, năm 2012, Cổ Loa mới được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, có giá trị về Lịch sử, Kiến trúc nghệ thuật và Khảo cổ. Trước năm 1995, Cổ Loa được quản lý bởi chính quyền địa phương. Sau đó, được chuyển qua nhiều đơn vị quản lý, từ Ban Quản lý Di tích – Danh thắng thuộc Sở Văn hóa đến Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội (hiện là Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội) nhưng phụ trách trực tiếp chỉ là một tổ trong một phòng với quyền hạn vô cùng khiêm tốn. Đến năm 2014, Ban Quản lý khu di tích Cổ Loa mới được thành lập, là đơn vị hành chính cấp hai trực thuộc Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội. Sau hai năm được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, Thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch tổng thể Khu di tích Cổ Loa thành Công viên Lịch sử – Sinh thái – Nhân văn với tỉ lệ 1/2000. Để thực hiện qui hoạch này thì công việc tiếp theo  là phải triển khai lập quy hoạch chi tiết 1/500 để có cơ sở cắm mốc bảo vệ di tích. Ban đầu, Trung tâm được giao lập qui hoạch “Vùng lõi” (tức vùng trung tâm di tích) nhưng đến năm 2017, nhiệm vụ lập qui hoạch chi tiết cho toàn bộ Khu di tích đã được Thành phố giao cho tập đoàn Bất động sản Sun Group thực hiện.  Khi ban quản lý không thể bảo vệ di tích    Một đoạn thành Nội đang bị san phẳng chỉ vài ngày trước khi chúng tôi đi Cổ Loa thực địa. Trước thực trạng này, TS Trịnh Hoàng Hiệp, Viện Khảo cổ học Việt Nam kiến nghị: “Cần tiến hành bảo vệ và khai quật khẩn cấp với những đoạn thành đang bị phá”. Ảnh: Hảo Linh.   Điều gì là giá trị lớn nhất của Cổ Loa mà từ trước đến nay đều bị đánh giá một cách sai lầm trong các quy hoạch?  Đến thăm Cổ Loa, đa số du khách thường chỉ tập trung tham quan ở “vùng lõi”, thuộc khu vực Thành Nội, với các địa điểm nổi bật như Đền Thượng thờ An Dương Vương, Hồ Giếng Ngọc, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu, … Và, không ngạc nhiên, quy hoạch chi tiết cũng ưu tiên khu vực này và Ban quản lý khu di tích chỉ được phép phụ trách các địa điểm trên, cùng vài khu đất gần trụ sở làm việc với tổng diện tích khoảng 04 ha. Trong khi đó, toàn bộ khu di tích Cổ Loa rộng gần 900 ha và ba vòng thành đất mà ông Lê Viết Dũng, Phó ban Quản lý (phụ trách) khu di tích Cổ Loa khẳng định rằng “đó mới là giá trị cốt lõi, là cái quý nhất ở đây” thì lại do chính quyền địa phương và người dân quản lý, (khai thác) không phải như với đối tượng là đất di tích mà như là đất đai thông thường. Vì thế, vì nhu cầu dân sinh, người dân canh tác trên thành, nuôi cá dưới hào, những hộ dân ở sát chân thành đã được cấp sổ đỏ, một số đoạn trên mặt thành được xẻ, làm thành đường nhựa cho xe cơ giới qua lại… Giờ đây, vòng thành nội đã gần như mất đi toàn bộ hình dáng, chỉ còn sót lại một vài ụ đất rải rác. Hào trong Thành Nội thì đã được lấp để xây nhà và đường hoặc không thì cây và cỏ dại mọc um tùm. Còn hai vòng Thành Trung và Thành Ngoại, mặc dù vẫn còn nguyên đường nét nhưng không còn giữ được độ cao như trước (chiều cao gốc của thành là từ 7-8m, có nơi có thể lên tới 10m, nhưng giờ đây chỉ còn là 3m trở xuống, có nơi chưa đầy 1m) còn hào thì được trưng dụng để làm diện tích trồng lúa. Đó còn chưa kể, các di tích khảo cổ học (chẳng hạn như di chỉ Đồng Vông ở trên doi đất bên sông Hoàng hết sức quan trọng, thể hiện các giai đoạn khảo cổ học phát triển liên tục từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn) đều đang trên bờ vực xóa sổ vì các công trình dân sinh.      Cổ Loa có số phận khá long đong, lận đận cả về mặt được công nhận, quản lý cho đến quy hoạch. Được công nhận là di tích quốc gia từ năm 1962 nhưng đến mãi gần đây, năm 2013, Cổ Loa mới được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt, có ý nghĩa lịch sử, văn hóa quan trọng.      Hơn nữa, nhìn thấy những “vi phạm” trên, Ban quản lý di tích chỉ có chức năng “kiểm tra, phát hiện và báo cáo” chứ không được xử phạt. Gửi báo cáo và góp ý nhiều lần nhưng ý kiến của Ban quản lý thường không được lắng nghe. Một ví dụ nhỏ, đó là Cửa Trấn Nam – một điểm rất quan trọng của di tích, bị che khuất hoàn toàn bởi hàng quán. “Tôi đã làm việc với lãnh đạo xã nhiều lần, kể cả đã phát biểu trong một số cuộc họp trên huyện, đề nghị ủy ban nhân dân xã lưu ý dẹp hàng quán, giao cho ai đó quản lý, có thể giao cho thôn, mà nếu khó khăn thì giao cho chúng tôi. Thì hiện nay nó vẫn cứ như thế thôi. Lời nói vẫn cứ như là viên gạch ném xuống hồ” – ông Dũng nói.  Có một cách trao thêm quyền cho Ban quản lý di tích mà không chồng chéo lên nhiệm vụ của các cơ quan chức năng khác đó là tham gia giám sát độc lập việc xây dựng, thi công trong khu vực Cổ Loa, theo đó bất cứ công trình nào cũng chỉ được triển khai sau khi xin ý kiến và được Ban quản lý chấp thuận. Đó là gợi ý từ quy chế Quản lý, Bảo tồn Phố cổ Hà Nội, mà ông Lê Viết Dũng là người viết Đề án thành lập Ban Quản lý Phố cổ Hà Nội vào năm 1997. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau khi công bố Qui hoạch Tổng thể 1/2000 thì Qui chế Quản lý qui hoạch, trong đó có xác định trách nhiệm của từng cơ quan vẫn chưa được ban hành.  “Vừa làm vừa dò dẫm”    Một đoạn thành nội đã bị một nhà dân san lấp và xây nhà ở. Ảnh: Bảo Như.  Khi chưa có quy hoạch chi tiết 1/500, mọi hoạt động bảo tồn di tích cổ Loa đều bị ngưng trệ. Là một người nhiệt tình với việc bảo vệ di sản và “đau xót” với Cổ Loa từ cách đây hơn 20 năm lúc còn làm trong Ban quản lý Phố cổ Hà Nội, khi đến với Ban quản lý di tích Cổ Loa cách đây hai năm, ông Dũng “ngay trong tuần đầu tiên” đã đề ra một số việc cần làm ngay, trong số đó là làm biển chỉ dẫn cho khách tham quan đi từ các tuyến đường chính vào Khu di tích Cổ Loa và đi khắp các vòng thành. Ngay cả khi huy động được nguồn vốn xã hội hóa, ý tưởng đơn giản này cũng không dễ thực hiện, vì các doanh nghiệp đầu tư, tài trợ sẽ e ngại một khi biết rằng sẽ có một tập đoàn khác tiếp quản khu vực. Ông Dũng kể lại: “Từ khi tôi mới về đây tôi đã phát tín hiệu với rất nhiều người, anh em bạn bè chiến hữu, những người có quan tâm đến di tích, thậm chí là những nhà đầu tư. Nhưng khi đến đây tìm hiểu xong thì họ đều lặng lẽ không thấy quay trở lại bởi vì họ đã biết là khu này rồi sẽ được giao cho ai, rồi làm gì, xu thế như thế nào.”.  “Hiện tại các công việc mà chúng tôi làm vẫn trong tình trạng là vừa làm vừa dò dẫm, vừa nghe ngóng chứ chả dám làm gì lớn” – ông Dũng nói và cho rằng Ban quản lý di tích đang huy động bằng tất cả những gì có thể khai thác được để quảng bá di tích đến với mọi người. Họ cũng đề xuất kế hoạch quản lý di tích đến năm 2020, bản kế hoạch đã hoàn chỉnh qua nhiều lần lấy ý kiến của người dân, của các sở, ngành, chính quyền xã, huyện và cấp lãnh đạo cao nhất của Thành phố nhưng đến nay còn đang chờ Thành phố phê duyệt thì mới có kinh phí. Tuy nhiên, đó chỉ là hoạt động quản lý thường xuyên còn chiến lược phát triển Cổ Loa vẫn là câu chuyện quy hoạch, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên (bao gồm nhà khoa học, doanh nghiệp, các cấp chính quyền) với một sự cam kết lớn. Hiện nay, Ban quản lý di tích cũng chưa được biết Sun Group có “động tĩnh” gì về qui hoạch 1/500 hay chưa.  Lợi thế chưa thể đánh thức     Một đoạn Thành Nội đã bị xẻ đôi để làm nhà ở từ nhiều năm nay. Ảnh: Hảo Linh.   Cổ Loa bây giờ vẫn giữ được không khí thanh bình của làng quê Việt Nam với hàng chục ngôi nhà cổ, mỗi xóm đều có điếm, trong số đó nhiều nơi có kiến trúc và không gian đẹp và nếp sinh hoạt truyền thống gắn với nghề trồng lúa. Tuy nhiên, người dân nơi đây chưa có ý định biến những đặc trưng này thành lợi thế du lịch. Ban đầu, họ còn không dành nhiều thiện cảm cho Ban quản lý di tích. Khi Ban quản lý di tích tạo lập Không gian Việt – một chỗ vui chơi cho người tham quan, giới thiệu về văn hóa Việt và tổ chức các trò chơi dân gian trên nền của khu trường cấp II cũ (do Ban đang quản lý) đã chịu sự phản đối kịch liệt của người dân mà đại diện là Hội người cao tuổi xã Cổ Loa, họ cho là “xẻ thịt di tích”. Đối với chính quyền địa phương cũng vậy, lúc đầu cũng tưởng Ban quản lý khu di tích sử dụng vào mục đích kinh doanh thu lợi. Phải mất nhiều thời gian mới có thể thuyết phục được họ.      Toàn bộ khu di tích Cổ Loa rộng gần 900 ha và ba vòng thành đất mà ông Lê Viết Dũng, Phó ban Quản lý (phụ trách) khu di tích Cổ Loa khẳng định rằng “đó mới là giá trị cốt lõi, là cái quý nhất ở đây” thì lại do chính quyền địa phương và người dân quản lý, khai thác không phải như với đối tượng là đất di tích mà như là đất đai thông thường.      Đánh thức tiềm năng của Cổ Loa đòi hỏi việc xây dựng ý thức của cộng đồng, để người dân tham gia vào làm du lịch là điều không hề đơn giản đối với ban quản lý. Ông Dũng mong ước có thể tổ chức những buổi nói chuyện hằng tuần về phát huy giá trị di sản, về du lịch cộng đồng cho những người dân trong xã Cổ Loa nhưng ý định này chưa nhận được được sự quan tâm của các cấp quản lý. Từng có kinh nghiệm bảo tồn phố cổ Hà Nội, ông Dũng cho biết, một tác động lớn mà khu phố cổ này trở nên nổi tiếng và sôi động trong một thời gian ngắn là nhờ một loạt các dự án nghiên cứu và truyền thông của các tổ chức nước ngoài (từ Thụy Điển, Úc, Pháp, Bỉ và Nhật Bản) trong nhiều năm liền đã làm thay đổi nhận thức người dân qua việc treo paneau, áp phích khắp các đường phố cho đến trao đổi trong các cuộc họp tổ dân phố. Làm về quản lý di sản hơn 20 năm, ông Dũng quá rõ quá trình từ ý tưởng đến thực tế trong lĩnh vực này đòi hỏi sự kiên nhẫn như thế nào (ông đã chứng kiến việc nhỏ như chỉnh trang mặt phố và lát gạch trên đoạn ngắn phố cổ Tạ Hiện ở Hà Nội theo nghiên cứu bảo tồn của chuyên gia người Pháp phải mất gần mười năm mới có thể hoàn thành) nhưng hiện nay số phận của khu di tích Cổ Loa đang hết sức mong manh: “tốc độ di tích bị hủy hoại càng ngày càng lớn và điển hình trong mấy tháng trước, chỉ cần một ca máy xúc là đã đi một đoạn thành rồi” – ông Lê Viết Dũng nói.     Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa không chỉ là việc của Ban quản lý khu di tích, của người dân, của chính quyền mà còn là của tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng như các doanh nghiệp, các nhà Khoa học, … và của tất cả những người yêu nước Việt, yêu văn hoá Việt và có trách nhiệm với truyền thống lịch sử của Tổ tiên người Việt. – ông Lê Viết Dũng.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Có một người phụ nữ Việt như thế      Những ngày này, bà Nguyễn Thị Bình vô cùng  bận rộn chuẩn bị cho dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris.  Người phụ nữ ấy, luôn khiến những người dù trong nước hay nước ngoài,  mỗi lần tiếp xúc với bà thường ngạc nhiên về hai điều: khả năng làm việc  kỳ diệu, sự uyên bác, thuyết phục tỏa ra từ con người bà.        Trong hình dung của nhiều người, bà Nguyễn Thị Bình là một nhà chính trị duyên dáng trong tà áo dài truyền thống đi khắp bốn bể năm châu, sắc sảo, thông minh khi đề cập đến những vấn đề chiến lược…  Đem bạn bè về cho dân tộc  Bà được cử làm Phó trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc giải phóng sang Paris dự hội nghị về vấn đề Việt Nam từ cuối năm 1968. Ngày 6.6.1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ.          Trong hình hình khó khăn và nhiều thử thách, hơn bao giờ  hết Tổ quốc mong chờ sự đóng góp của thanh niên – lực lượng nòng cốt của  đất nước. Các bạn thanh niên cần có sự khao khát, hoài bão, có tinh  thần dấn thân vì lợi ích bản thân, cộng đồng mà trên hết là lợi ích của  Tổ quốc.        Trong suốt thời gian từ năm 1968-1972, hằng tuần, tại Paris, bà con Việt kiều ở Pháp dường như đã quen thuộc với sự xuất hiện của một nữ Bộ trưởng Ngoại giao vô cùng lịch lãm, sang trọng, phong thái uy nghiêm tới Trung tâm hội nghị quốc tế để đàm phán bốn bên. Bà cũng là người phụ nữ lãnh đạo duy nhất của cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử này. Năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, bà là người thay mặt bốn bên ký kết vào bản hiệp định…  Nói về bà, nhà văn Nguyên Ngọc đã chia sẻ: “Có thể nói mà không sợ quá rằng có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau. Những năm tháng ấy, bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin”…  Suốt bao nhiêu năm gắn bó với công tác ngoại giao, bà gọi công việc đó là: ngoại giao nhân dân, nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc.  “Người về hưu bận rộn”  Năm 1976, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, với trách nhiệm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, bà vừa phải tổ chức tiếp quản và cải tạo nền giáo dục cũ ở miền Nam vừa phải chuẩn bị triển khai cải cách giáo dục (lần 3). Bà đã hoàn thành vai trò “tổng chỉ huy” thực hiện công việc cải cách giáo dục với nhiều thành tựu lớn. Trong thời kỳ bà làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nhà nước đã có nhiều chính sách ghi nhận và khẳng định vị thế nhà giáo như cải tiến thang lương, tính thâm niên cho giáo viên, thực hiện chính sách đề bạt cán bộ nữ, tôn vinh ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, tôn vinh các danh hiệu cao quý như Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú…  Đến giờ, khi đã ở tuổi 86, bà vẫn làm việc, chẳng thế mà bà tự nhận mình là “Người về hưu bận rộn”, luôn mong muốn làm gì có ích cho đất nước, cho nhân dân. Bà hiện là Chủ tịch của ba tổ chức: Quỹ hòa bình và phát triển Việt Nam; Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam và là Chủ tịch danh dự của Hội Nạn nhân chất độc màu da cam. Bà vẫn xuất hiện trên các diễn đàn hội thảo quốc tế, phát biểu sôi nổi về các lĩnh vực như: Hòa bình, giáo dục, góp ý cho Chính phủ về tình hình, mục tiêu GD-ĐT. Chính bà cũng là tác giả của sáng kiến đề nghị Chính phủ chọn năm 2005 là năm Chấn hưng giáo dục.  Vừa mới đây, bà và nhóm nghiên cứu của mình trong tổ chức Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam đã công bố đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về thực trạng và những đề xuất trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đãi ngộ đối với giáo viên, tạo ra sự quan tâm đặc biệt của dư luận trong và ngoài ngành.  Đề án Đổi mới căn bản toàn diện GD-ĐT sau năm 2015 cũng đang là mối quan tâm đặc biệt của bà. Theo bà, con người muốn trở nên người lao động chân tay hay trí óc, có năng lực và trí tuệ… trước hết phải có nhân cách, đạo đức. Cho nên, chúng ta cần có một nền giáo dục trung thực, tiên tiến và nhân văn. Tại các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quan trọng về vấn đề này, luôn có tham luận sắc sảo, tâm huyết của bà.  Với thế hệ trẻ Sáng tạo vì Khát vọng Việt, nhà ngoại giao nổi tiếng này vẫn luôn vẹn nguyên sự nhiệt tình và tâm huyết. Trong ngày hội “Sáng tạo vì Khát vọng Việt”, được tổ chức tại TP.HCM vào cuối tháng 11 vừa qua, bà đã dành trọn 1 ngày từ sáng sớm cho đến 23 giờ để đồng hành và tiếp lửa khát vọng cho giới trẻ ở nhiều vùng miền trên cả nước. Khi bước lên bục phát biểu, sau những tràng pháo tay tán dương nồng nhiệt của các bạn trẻ, bà chia sẻ: “Tôi rất vui và hoan nghênh sáng kiến của T.Ư Đoàn và Tập đoàn Trung Nguyên đã cùng tổ chức chương trình Thanh niên sáng tạo vì Khát vọng Việt. Như tất cả chúng ta đã biết, đất nước hiện nay đứng trước những nhiệm vụ rất to lớn và nặng nề để phát triển đi lên sánh vai với các nước khác trên thế giới. Trong hình hình khó khăn và nhiều thử thách, hơn bao giờ hết Tổ quốc mong chờ sự đóng góp của thanh niên – lực lượng nòng cốt của đất nước. Các bạn thanh niên cần có sự khao khát, hoài bão, có tinh thần dấn thân vì lợi ích bản thân, cộng đồng mà trên hết là lợi ích của Tổ quốc. Chúng ta đã từng được bạn bè thế giới mến phục trong cuộc đấu tranh vệ quốc. Ngày nay thanh niên ta nhất định không chịu thua kém ai, nhất định phấn đấu xây dựng cho được một nước Việt Nam tự chủ, hùng mạnh, nhân dân hạnh phúc, nhất định chúng ta phải làm và đạt được mục tiêu cao cả ấy”.  Tuệ Nguyễn        Author                Quản trị        
__label__tiasang Có một thế hệ vàng trong công nghiệp biển nước ta      Chúng ta thường nói tới một thế hệ vàng để chỉ một lớp trí thức được đào tạo từ nhà trường thực dân Pháp đã từ bỏ tất cả những điều kiện sống và làm việc thuận lợi của môt tầng lớp trung lưu vừa hình thành, dấn thân vào công cuộc kháng chiến và xây dựng của dân tộc theo tiếng gọi của Mùa Thu 1945. Đó là những Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, là Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên…, những trí thức trong các ngành y tế, giáo dục, công nghiệp… Vậy trong công nghiệp biển tức là những nghề gắn với biển cả như hải quân, đóng tàu, vận tải, ngư nghiệp… có hay không những con người như vậy.    Mặc dù công nghiệp biển nước ta vào những năm thế kỷ 20 còn rất nhỏ bé, yếu ớt nhưng do nhu cầu của cuộc sống,người Pháp đã bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thuyền. Chỉ ba năm sau khi hạ được đồn Chí Hòa, người Pháp bắt tay ngay vào xây dựng công xưởng Ba Son để lo công tác bảo đảm kỹ thuật cho toàn bộ đội tàu nhằm mở rộng chiến tranh thực dân trên toàn cõi Đông Dương và Trung Quốc. Ba Son lớn lên từng ngày, và để có lớp thợ kỹ thuật người bản xứ, họ đã mở Trường dạy nghề với cái tên đầy đủ là “École des apprentis de l’Arsenal de Saigon” và tuyển dụng những thanh niên học sinh tuổi từ 15 tới 17, có bằng sơ học yếu lược Pháp – Việt, vào học các lớp kỹ thuật từ hai đến ba năm để đến khi ra trường vừa tròn 18 tuổi sẽ bổ nhiệm làm thợ phụ hay thợ chính trong các “trại”, tức các phân xưởng trong công xưởng. Cùng với trường Bá Nghệ (Ecole des Mecaniciens Asiatiques) mà ngày nay là trường Cao Thắng được thành lập vào năm 1909 được người Pháp xây dựng tại Sài Gòn theo mô hình đào tạo kỹ thuật viên cơ khí hải quân Toulon. Nghị định thành lập số BAC ngày 20/02/1906 ký bởi Phó Thủy sư Đô đốc Tư lệnh Hải quân tại Đông Dương De Maroles có ghi rõ “mục đích đào tạo cho nhu cầu ngành hàng hải thương thuyền cho nền cai trị thuộc địa và kỹ nghệ địa phương một đội ngũ cơ khí vững tay nghề về máy móc để sử dụng trên tàu và trên bờ”. Chính những con người mang thương hiệu “Ba Son” và “Bá Nghệ” này đã góp phần tạo nên những bước đi đầu tiên của công nghiệp biển cùa một nước Việt Nam độc lập              Ông Ngô Văn Năm chính là người chỉ  huy trực tiếp việc chế tạo các con tàu “không số” từ loại thuyền vỏ gỗ  cho tới các tàu vỏ thép sau này còn Lý Văn Sâm là người đặt nền móng cho  các ngành công nghiệp biển Việt Nam, là người tổ chức để hình thành các  cơ quan đăng kiểm, hoa tiêu, cung ứng…          Vào những ngày Sài Gòn Gia Định sục sôi cướp chính quyền, chi bộ Công xưởng Ba Son dưới sự chỉ huy của bí thư Tư Bầy (Đôn Văn Bầy) không một chút do dự đã quyết định chọn Năm Dảnh tức Ngô Văn Năm, một “thợ cổ trắng”, một họa đồ viên có 20 năm kinh nghiệm, một tiểu trí thức – như ta tạm gọi như vậy – ngoài Đảng giữ chức Giám đốc một công xưởng hải quân hàng đầu Đông Nam Á với gần 2.000 công nhân viên từ kỹ sư bậc cao cho tới các thợ lành nghề thuộc hàng chục chuyên môn khác nhau. Cùng với Lý Văn Sâm kỹ sư công chánh tốt nghiệp Hà Nội; Đào Văn Quang, Trần Hữu Liêm, Nguyễn Thanh Ba, Huỳnh Kim Ngạnh tốt nghiệp Bá Nghệ, Trần Ngọc Lạc phòng thiết kế Ba Son… Ngô Văn Năm sau đó đã gia nhập Đảng và tham gia suốt cuộc kháng chiến 9 năm và cuộc chiến tranh giành thống nhất đất nước. Ông Ngô Văn Năm chính là người chỉ huy trực tiếp việc chế tạo các con tàu “không số” từ loại thuyền vỏ gỗ cho tới các tàu vỏ thép sau này còn Lý Văn Sâm là người đặt nền móng cho các ngành công nghiệp biển Việt Nam, là người tổ chức để hình thành các cơ quan đăng kiểm, hoa tiêu, cung ứng. Đào Văn Quang giữ chức vụ giám đốc đầu tiên của vận tải biển còn Nguyễn Thanh Ba là vị giám đốc năng động của ngành đóng tàu, từ nhà máy Bạch Đằng ông trở lại đứng đầu Ba Son sau năm 1975. Sau khi đưa tàu ra đón các chiến sĩ cộng sản bị tù đầy ngoài Côn Đảo trở về đất liền, Bảy Ngạnh tức Huỳnh Kim Ngạnh tốt nghiệp lớp tài công sà lúp của Bá Nghệ Sài Gòn đi theo suốt cuộc chiến tranh và trở về Sài Gòn trên con tàu Đồng Nai hiện đại trong tư thế “bảy thuyền trưởng trên một con tàu”. Trừ Hoàng Văn Duyệt quê Ninh Giang Hải Dương và học nghề tại Nga, sáu thuyền trưởng còn lại đều là miền Nam tập kết trong đó có bốn người là “sản phẩm” của Bá Nghệ Sài Gòn. Không chỉ tham gia vào các đội tàu dân dụng, một số dân Bá Nghệ đã tham gia Hải quân Pháp và trở thành những lực lượng nòng cốt đầu tiên cho hàng hải Cách mạng. Phan Thanh Nhã, Lê Văn Một, Nguyễn Văn Hân, Nguyễn Bá Phát đã từng làm lính thủy trên các tàu La Marne, La Motte-Picquet – những con tàu mà thực dân Pháp đã dùng để đánh bại quân Xiêm theo Nhật trong trận hải chiến Koh Chang tháng Giêng năm 1941 – sau này đã trở thành người lãnh đạo Hải quân (Nguyễn Bá Phát), người đầu tiên đưa tàu “không số” tiếp tế cho chiến trường miền Nam (Lê Văn Một), người lãnh đạo một công ty vận tải biển (Phan Thanh Nhã).    Thuyền trưởng Tư Hóa (1915-2013) “được dùng mà nghi ngờ”   Dù không có thời gian tham gia Hải quân Pháp nhưng Nguyễn Văn Quế được coi là người thầy đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Khi hỏi đại tá Trịnh Tuần, Chủ nhiệm Chính trị Hải Quân về vị thuyền trưởng này, ông trả lời ngay không cần suy nghĩ: “Đó là một thầy giáo nhiệt tình, gương mẫu, tận tâm với học viên”. Xuất thân từ một gia đình theo đạo Chúa khá giả Hà Nội, ông tốt nghiệp Bá Nghệ, tham gia cuộc tổng khởi nghĩa năm 45 tại Sài Gòn, rồi ra Bắc, lên rừng làm giáo viên hàng hải cho Đội Lính Thủy Sông Lô năm 1949. Khi gặp lại một số đội viên Lính Thủy năm đó, phần lớn đều đã là cấp tá, tướng, các anh đều tỏ ý tiếc và không hiểu tại sao trong đợt đi học tập tại Trung Quốc cuối năm 1950 không có người thày đáng kính, người thày tận tụy từng nhảy xuống nước dậy bơi, làm mô hình từng con tàu cho anh em học tập trong hoàn cảnh rừng rú thiếu thốn. Thực ra, điều đó cũng dễ hiểu. Vào những năm đó, khi “chủ nghĩa lý lịch” bắt đầu dần được áp dụng thì một người có lý lịch “phức tạp” như thày Quế không được tham gia đi học những lý thuyết Lâm Bưu về “chiến tranh cách mạng”, về chiến tranh du kích… là điều dễ hiểu. Cũng như thế, Tư Hóa là một thuyền trưởng con nhà khá giả Sài Gòn, nhiều đời theo đạo Chúa, tốt nghiệp trường Tây Taberd và Bá Nghệ, đã nhiều lần điều khiển tảu tuyến Sài Gòn – Hongkong – Singapore lại làm thuyền trưởng chiếc tàu “Sông Lô” tiếp tế vũ khí ra Bắc mà chính ông điều khiển cho đốt cháy nó để khỏi vào tay giặc Pháp. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc rồi lập thành tích trong việc dẫn tàu Pháp vào cảng Hải Phòng khi thực dân rút đi để lại một cái Cảng hoang vắng mà việc tàu vào là một thách thức với một chính quyền từ kháng chiến vừa trở về, khiến cả Chủ tịch nước cũng phải quan tâm lo lắng. Hai con tàu vào Cảng Hải Phòng ngon lành dưới sự điều khiển của hai hoa tiêu thuyền trưởng, học sinh Bá Nghệ là Nguyễn Văn Hóa và Nguyễn Ý Nết. Đó là tình trạng phổ biến với nhiều anh em đã từng làm nghề biển với chế độ cũ. Ngay cả thuyền trưởng Lê Văn Một, người đầu tiên vào lúc 10 giờ 30 ngày 11/10/1962, điều khiển một chiếc tàu vỏ gỗ mang tên “Phương Đông 1” rời bến K 15 Đồ Sơn vận chuyển 28 tấn vũ khí vào Nam và cập bến Vàm Lũng, Tân An, Ngọc Hiển, Cà Mau, mở đường cho “Đường Hồ Chí Minh trên Biển”, nhưng mãi sang thế kỷ 21 mới lộ danh tính ,mới được phong anh hùng vào năm 2011. Có lẽ vì Một là con thứ 11 trong gia đình khá giả tại Mỹ Tho với 13 người con, mà cả gia đình đã vào “làng Tây” với tên Pháp là Abel René, được gủi ra Bắc tốt nghiệp trung học Thăng Long Hà Nội rồi đi lính thủy cho Pháp trên tàu chiến La Marne và La Motte-Picquet, vợ lại là người nước ngoài, cô La –O-Khiểu Cachi, người Thái Lan1!  Nhắc lại một thế hệ vàng tham gia công nghiệp biển để chúng ta, nhất  là các bạn trẻ thấy được đã từng có một thế hệ dấn thân vì lòng yêu nước, quyết không chịu sống nhục, không chịu làm nô lệ dù con đường đi gập ghềnh chông gai, có nhiều điều “chính phe ta đánh phe mình”. Và, với những nhà quản lý, hãy tin yêu những con người của biển dấn thân vì nghĩa lớn. Đứng trước biển là khát vọng tự do tìm tòi, phát hiện mà mọi lý thuyết khô cứng, xa rời cuộc sống đều trở nên tầm thường, nhỏ nhen với những người “ăn sóng, nói gió”!  ***  Chú thích:   1. Cuốn Nhật ký của Lê Văn Một được công bố năm 2006 bởi NXB Trẻ, người sưu tầm và biên soạn là Nguyễn Thị Loan, em họ của Lê Văn Một         Author                Quản trị        
__label__tiasang Có nên đấu thầu đề tài nghiên cứu khoa học?      Theo thông báo, năm 2006 Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&amp;CN) sẽ dùng ngân sách cấp kinh phí cho 95 đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc các lĩnh vực KHCN. Sau khi công bố danh mục các đề tài ấy và mời các nhà khoa học tham gia đăng ký xin thực hiện các đề tài, Bộ KH&amp;CN tổ chức đánh giá các hồ sơ đăng ký và chọn hồ sơ xứng đáng nhất để cấp kinh phí. Cách làm này, gọi tắt là “đấu thầu”, đang được Bộ KH&amp;CN xem như một sự đổi mới có tính đột phá để cải tiến phương thức đầu tư cho nghiên cứu khoa học.        Thật ra đây không phải là lần đầu tiên phương thức đấu thầu được áp dụng trong việc phân phối kinh phí thực hiện các nghiên cứu khoa học. Chẳng qua trước đây làm không nghiêm túc, lần này chỉnh đốn lại cách đấu thầu để thật sự tạo cơ hội cho các nhà khoa học trẻ có năng lực được tham gia chủ trì các đề tài Nhà nước trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng với các “cây đa cây đề”. Đó là một cố gắng rất đáng hoan nghênh của Bộ KH&CN, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước đầu tư cho khoa học.   Tuy nhiên, vấn đề không ở chỗ đấu thầu như thế nào để đạt được yêu cầu “chọn mặt gửi vàng” mà là cần suy nghĩ kỹ hơn, xét xem ngay cái việc chọn 95 đề tài KHCN cấp Nhà nước để đưa ra đấu thầu có gì vướng mắc không, và liệu việc đưa ra đấu thầu vài chục nhiệm vụ khoa học cấp Quốc gia theo đề án Bộ KH&CN dự định trình Chính phủ phải chăng là chính sách thích hợp để thúc đẩy khoa học, công nghệ phát triển trong tình hình hiện nay?  Ngày nay, nghiên cứu (nghiên cứu khoa học) có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của mỗi quốc gia. Hoạt động nghiên cứu được tiến hành ở các đại học và viện nghiên cứu, dưới hình thức các đề tài khoa học mà việc thực hiện thường đòi hỏi phải có kinh phí, đôi khi khá lớn. Không kể mỗi trường hay viện có những khoản ngân sách riêng cho nghiên cứu, Nhà nước còn dành một khoản ngân sách quốc gia để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu trong cả nước. Ngân sách này do một cơ quan trung ương (Bộ KH&CN hoặc tương đương) nắm giữ và quản lý. Hoạt động nghiên cứu muốn có hiệu quả cần dành sáng kiến, chủ động tối đa cho từng nhà khoa học, cho nên ở cấp quốc gia thường chỉ xác định một số hướng khoa học ưu tiên để tập trung đầu tư, còn những đề tài cụ thể cần nghiên cứu trong từng lĩnh vực thì họ để cho các chuyên gia trong lĩnh vực ấy ở từng trường và viện được chủ động lựa chọn. Nhà nước không áp đặt, không chọn thay, chỉ kiểm tra hiệu quả đầu tư qua kết quả thực hiện từng đề tài để điều chỉnh sự đầu tư nhằm tác động tích cực đến hoạt động nghiên cứu. Sở dĩ như vậy vì kinh nghiệm cho biết chỉ có chuyên gia trong từng lĩnh vực, chứ không phải các quan chức hành chính, mới biết được chính xác cần nghiên cứu cụ thể đề tài gì và nghiên cứu như thế nào. Không nước nào thực hiện quản lý bằng cách cơ quan trung ương ban hành danh mục các đề tài cụ thể cần nghiên cứu trong từng ngành KHCN rồi chọn người giao nhiệm vụ và cấp kinh phí thực hiện qua cơ chế đấu thầu hoặc tuyển trực tiếp. Kiểu làm đó, về thực chất, không khác gì kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong quản lý kinh tế mà hiệu quả thấp kém như thế nào chúng ta đã biết.  Mặt khác, cho dù việc lựa chọn 95 đề tài là chính xác đi nữa (một khả năng có xác suất thấp), thì bản thân việc đấu thầu các đề tài khoa học cũng tiềm ẩn những  yếu tố tiêu cực khó tránh.   Xây dựng một nhà máy, làm một con đường cao tốc… là những việc mà công nghệ cơ bản đã được biết, chỉ có chất lượng tốt hay xấu và giá thành đắt hay rẻ tùy theo phương án, cho nên có thể đấu thầu để lựa chọn phương án tốt nhất, rẻ nhất, hiệu quả nhất. Điều đó hoàn toàn hợp lý và là cách làm phổ biến trong kinh tế. Còn nghiên cứu khoa học là dò dẫm, tìm cái chưa biết, phát triển tri thức mới để giải quyết một vấn đề chưa có giải pháp sẵn, đó là một quá trình sáng tạo không chắc chắn 100%, thường có những yếu tố bất ngờ, nếu nhà khoa học bị buộc phải hứa hẹn kết quả thì họ sẽ hứa vong mạng hoặc chỉ hứa chung chung, không ích lợi gì.   Vì lý do đó, trong quản lý khoa học ở các nước tiên tiến, người ta không đấu thầu để giao kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu định sẵn. Khi nhà khoa học xin tài trợ cho một đề tài do họ tự đề xuất, họ cũng không bắt buộc phải hứa hẹn kết quả này nọ, mà chỉ cần giải trình rõ nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng và tính khả thi của đề tài. Còn đối với những đề tài có tính cấp thiết quốc gia (như liên quan đến an ninh hoặc quốc phòng) thì phải giao việc nghiên cứu cho những chuyên gia hay tổ chức mà năng lực thực tế đã được kiểm chứng, hoặc treo giải thưởng cho thành tích nghiên cứu xuất sắc về đề tài đó nếu có thể công khai được.   Một vấn đề quan trọng khi chấm thầu là các tiêu chí đánh giá. Cách chấm thầu như đã công bố (cho điểm từng mặt theo một hệ thống tiêu chí khá chi tiết) cũng na ná như cách chấm điểm để xét chọn GS, PGS, tưởng là chặt chẽ nhưng thật ra khó đảm bảo chính xác được. Ở các nước tiên tiến, khi xét các hồ sơ xin tài trợ nghiên cứu người ta căn cứ vào sự thẩm định của những chuyên gia giỏi trong cùng ngành, ở trong nước hoặc trên quốc tế (peer review), và phải dành đủ thời gian cho các chuyên gia này xem xét kỹ từng hồ sơ. Cách làm đó chưa hẳn hoàn toàn tốt, song dù sao cũng bảo đảm hơn là đưa ra xét chọn trong một hội đồng mà nhiều thành viên không phải là chuyên gia thật sự am hiểu và không loại trừ có thể có quan hệ đặc biệt với một số tác giả hồ sơ. Tiếc thay, đây là cách làm phổ biến ở nước ta, từ việc đánh giá luận án tiến sĩ, xét duyệt GS, PGS đến hàng loạt hội đồng đánh giá khác, hầu như ở đâu cũng có bóng dáng, xa hay gần, của văn hóa “vừa đá bóng vừa thổi còi”.  Trên đây là giả thiết việc đấu thầu diễn ra đàng hoàng, trong sạch, không có chuyện “đi cổng sau” hay “cảm tình riêng”. Trong tình hình của ta ở giai đoạn này, khi mà ngay cả tòa án, thanh tra, công an, cũng không hoàn toàn miễn dịch với tham nhũng, lối quản lý tập trung bao hàm cơ chế xin-cho, dù ở dạng nào, cũng tiềm ẩn những yếu tố thử thách không dễ vượt qua đối với tính trung thực của nhà khoa học (dự thầu) lẫn cơ quan quản lý (chấm thầu). Ta đã có quá nhiều bài học, và theo kinh nghiệm, nên tránh sự cám dỗ hơn là đương đầu với nó.      GS. Hoàng Tụy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có nên nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản?      Ngày 18/9 vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Qui định đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên. Theo tôi không ở đâu trên thế giới có chuyện NGHIỆM THU các đề tài khoa học theo như các điều trong qui định đó.    Ở ta hiện có hai loại đề tài được tài trợ của Nhà Nước. Một là các “đề tài trọng điểm”, các “nhiệm vụ quốc gia”, do Bộ KH và CN lựa chọn và tổ chức đấu thầu  để giao trọn một gói kinh phí lớn cho nhà khoa hoc trúng thầu được toàn quyền sử dụng. Loại đề tài này, sau thời gian kết thúc, sẽ được nghiệm thu. Cả việc đấu thầu và nghiệm thu đều được tiến hành bởi các Hội đồng do Bộ KH và CN bổ nhiệm.  Loại đề tài thứ hai là đề tài do các cá nhân và đơn vị tự đề xuất, phải được đưa ra xét duyệt mới được cấp kinh phí (thường rất thấp) và liền sau khi kết thúc thời hạn nghiên cứu (từ một đến ba năm)  phải báo cáo để được đánh giá nghiệm thu và xếp hạng thuộc loại “đạt”, “khá”, hay “xuất sắc”.  Trước đây việc xét duyệt và nghiệm thu đều không có tiêu chuẩn rõ ràng mà dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, cảm tính, hơn nữa các Hội đồng xét duyệt và nghiệm thu đều phần lớn không đủ thẩm quyền chuyên môn làm việc ấy. Gần đây có nhiều ý kiến đổi mới việc nghiệm thu bằng cách xem xét và cho điểm các bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế (gọi tắt là “công bố quốc tế”)  trong thời gian đề tài, theo một “barem” phân các tạp chí thành mấy loại, như: loai 1 (điểm cao nhất) là các tạp chí trong danh sách ISI, loại 2 là các tạp chí quốc tế ngoài danh sách ISI, loại 3 là các tạp chí hàng đầu trong nước, v.v., rồi lấy điểm tổng cộng, từ một hạng nào trở lên thì là “xuất sắc”,  hay “khá”, hay “đạt”.   Mặc dù là người từ mấy chục năm nay luôn chủ trương đánh giá các thành tựu khoa học cơ bản trên cơ sở các công bố quốc tế và tiến hành theo các thông lệ quốc tế, tôi không an tâm lắm với cách đánh giá bằng chấm điểm theo barem có phần máy móc đó. Từ ngày làm quen các phương pháp định lượng trong đánh giá cũng như phương pháp trắc nghiệm trong thi cử, nhiều người ở nước ta có vẻ tin tưởng tuyệt đối ở các phương pháp này mà không thấy mặt hạn chế của chúng. Tuy  các chỉ số định lượng rất có ý nghĩa khi đánh giá hoạt động nghiên cứu của một cộng đồng lớn (chẳng hạn, một ngành học của một quốc gia), nhưng khi đánh giá một cá nhân mà chỉ xét các chỉ số định lượng là không ổn, mà phải kết hợp với đánh giá định tính của các chuyên gia am hiểu, mặt định tính này nhiều khi mới là chính. Chẳng hạn, chỉ một bài báo có giá trị rất cao có thể hơn cả mấy tá bài báo xoàng, nhưng điều đó không thể xảy ra nếu chấm điểm theo barem trên. Và cũng không hiếm bài báo ISI chỉ đáng giá zêrô vì sai hay cóp của một bài báo có giá trị đăng ở một tạp chí ít quen biết hơn. Bất cứ ai đã có kinh nghiệm trong các hoạt động khoa học quốc tế đều không lạ gì những chuyện bất thường như vậy. Có điều là những bất thường đó dù sao cũng hiếm và khi xét hoạt động nghiên cứu của cả một cộng đồng lớn thì những bất thường trung hòa lẫn nhau cho nên các chỉ số định lượng có ý nghĩa đúng hơn, đáng tin cậy hơn. Điều cần nói thêm là các tiêu chí đánh giá không thể thống nhất như nhau cho mọi lĩnh vực, thậm chí cho mọi ngành trong cùng một lĩnh vực.          Đã đến lúc việc học hỏi kinh nghiệm các nước cần nghiêm chỉnh hơn để tiến dần đến, thay vì tách xa ra, các chuẩn mực và thông lệ quôc tế. Đó là tiền đề tối quan trọng để thành công trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập vì trong nghiên cứu khoa học, hơn bao giờ hết,  biệt lập và đứng ngoài trào lưu chung là con đường tụt hậu nhanh nhất, đối với từng cá nhân cũng như đối với cả cộng đồng.          Về chuyện có nên nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản như ta làm hay không thì xin có mấy nhận xét như sau.  1.  Không ở đâu trên thế giới, theo tôi biết, có chuyện NGHIỆM THU các đề tài khoa học theo cách đó.  Sở dĩ họ không nghiệm thu là vì: a) Muốn đánh giá đúng một thành tựu khoa học cơ bản thường phải có thời gian để thành tựu ấy được công bố ra và cộng đồng khoa học trong lĩnh vực ấy kiểm tra tính đúng đắn cùng với ý nghĩa thật sự, tầm quan trọng của nó, v.v. b) Thời gian từ lúc làm xong một công trình đến lúc công trình ấy được đăng trên các tạp chí quốc tế thường phải mất vài năm, do đó một bài báo đăng trong thời gian làm đề tài rất có thể và thường là đã được làm trong thời gian trước đó, còn phần lớn những gì làm trong thời gian đề tài khó có thể kịp đăng hoặc nhận đăng trước khi kết thúc đề tài. c) Ngay ở các nước tiên tiến nhất cũng không thể có một Hội đồng gồm đủ người có thẩm quyền thẩm định mọi công trình thuộc mọi lĩnh vực trong ngành, vì một nhà toán học, hay vật lý, hay sinh học, v.v…, nếu có giỏi, cũng chỉ đủ hiểu biết thẩm định được những gì thuộc chuyên môn hẹp của mình. d) Đánh giá một đề tài vào loại khá hay xuất sắc, ngay sau khi nó vừa thực hiện xong, thường là võ đoán và khó chính xác, mà lại không ích gì nếu việc xét duyệt không làm nghiêm chỉnh. Chính do tính chất hình thức đó nên hàng chục năm qua phần lớn các đề tài đều được nghiệm thu xuất sắc hoặc khá. Chưa kể những yếu tố tiêu cực khác làm méo mó mọi sự nghiệm thu kiểu này.          Tóm lại, nghiệm thu chỉ là sáng tác của riêng VN ta.  Với ý đồ tốt đẹp muốn các hoạt động khoa hoc của ta phù hợp thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tai sao ta không tập trung làm tốt khâu xét duyệt để cấp kinh phí mà cứ khư khư giữ mãi cách nghiệm thu ?  Chẳng lẽ các nước họ không nghiệm thu vì họ khờ, họ dốt hơn chúng ta?            Tóm lại, nghiệm thu chỉ là sáng tác của riêng VN ta.  Với ý đồ tốt đẹp muốn các hoạt động khoa học của ta phù hợp thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tại sao ta không tập trung làm tốt khâu xét duyệt để cấp kinh phí mà cứ khư khư giữ mãi cách nghiệm thu? Chẳng lẽ các nước họ không nghiệm thu vì họ khờ, họ dốt hơn chúng ta?   2.   Không nghiêm thu không có nghĩa là đề tài khi đã được duyệt và cấp kinh phí rồi thì nhà khoa hoc muốn làm gì thi làm. Hiểu như thế rất sai.  Ở bất cứ nước văn minh  nào thì  làm xong một đề tài được nhận tài trợ đều phải có báo cáo đầy đủ. Chỉ có điều cơ quan quản lý không làm cái việc vô lý là cho điểm, đánh giá giá trị đề tài đó là xuất sắc, hay trung bình, v.v. ngay khi kết thúc thời hạn nghiên cứu mà chỉ dùng báo cáo đó để theo dõi, kiểm tra đề tài đã được thực hiện nghiêm túc, đúng như đã cam kết  khi đăng ký để xin tài trợ. Trong đăng ký này, ở các nước không đòi hỏi nhà khoa học phải hứa sẽ có mấy bài công bố quôc tế,  sẽ giải được bài toán cụ thể  này, bài toán toán cụ thể kia, vì những lời hứa như vậy được xem là vô nghĩa. Chủ trì đề tài chỉ phải cam kết  nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề gì –  và mong (chứ không phải cam kết) đạt kết quả gì.  Cơ quan quản lý chỉ đòi hỏi đề tài được thực hiện nghiêm túc, còn giá tri đến đâu thì phải có thời gian cho cộng đồng khoa học phán xét. Đòi hỏi đánh giá vội vã giá trị của những nghiên cứu cơ bản để xếp hạng “xuất sắc”, “đạt”,  khá, v.v. là do chưa hiểu đặc thù của nghiên cứu khoa học, đó  là  áp đặt việc nghiệm thu trong xây dựng cơ bản vào khoa học, tưởng là tiên tiến mà thật ra là thô bạo, ấu trĩ, và có thể cản trở thay vì thúc đẩy khoa học.  Làm xong một cây cầu, một nhà máy thì có thể nghiệm thu ngay lập tức, chứ còn kết quả khoa học cơ bản vừa mới làm xong mà muôn biết giá trị của nó,  không đợi ý kiến phản biện của chuyên gia am hiểu, là chủ quan, khó tránh sai lầm.        Làm xong một cây cầu, một nhà máy thì có thể nghiêm thu ngay lập tức, chứ còn kết quả khoa học cơ bản vừa mới làm xong mà muôn biết giá tri của nó,  không đợi ý kiến phản biện của chuyên gia am hiểu, là chủ quan, khó tránh sai lầm.        3.  Tuy không nghiệm thu ngay được giá trị của đề tài vừa thực hiện xong nhưng sau một thời gian, giá trị ấy được phản ảnh  qua các công bố của chính đề tài ấy và phản ứng của cộng đồng khoa học, nên sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp và mức tăng tiến nghề nghiệp của đương sự (qua việc xét thưởng, đề bạt, nâng lương ,v v.) . Ngay đối với cơ quan tài trợ nghiên cứu thì tuy không đánh giá ngay giá trị của đề tài vừa thực hiện nhưng có thể đánh giá  những kết quả ấy khi xét duyệt để cấp kinh phí đề tài sau đó 3 năm. Hơn nữa còn có thể định kỳ đánh giá hiệu quả tài trợ trên cơ sở những công bố đã có trong từng thời gian. Làm như thế thì đối với nhà khoa học nghiêm túc có mất gì đâu, có thiệt gì đâu mà lo, chỉ có tốt hơn, đúng hơn, công bằng hơn thôi. Tại sao ta  muốn áp dụng kinh nghiệm quốc tế, mà lại làm khác thông lệ quốc tế? Ngay ở Hà Nội có một nhà vật lý lớn trên thế giới đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở Pháp và Mỹ là Pierre Darriulat. Nếu chúng ta còn nghi ngờ thì nên hỏi ý kiến Pierre. Trước đây Laurent Schwartz, một nhà toán học lớn, cũng đã có bàn chuyện đánh giá các nghiên cứu khoa học theo các công bố quốc tế, tôi đã sao các ý kiến đó gửi cho cơ quan quản lý và nhiều đồng nghiệp. Theo tôi ta nên tham khảo ý kiến của các vị ấy, đừng quá tự tin cho mình là sáng suốt hơn họ trong những việc mà chắc chắn họ có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm hơn chúng ta.        Với cơ quan tài trợ nghiên cứu thì tuy không đánh giá ngay giá trị của đề tài vừa thực hiện nhưng có thể đánh giá  những kết quả  ấy khi xét duyệt để câp kinh phí đề tài sau đó 3 năm. Hơn nữa còn có thể định kỳ đánh giá hiệu quả tài trợ trên cơ sở những công bố đã có trong từng thời gian.        4.  Điều cơ bản tôi muốn nhấn mạnh là tính BẤT KHẢ THI của cách nghiệm thu và đánh giá ngay sau khi kết thúc thời gian thực hiện đề tài, nếu làm TRUNG THỰC.  Muốn đánh giá được theo cách cho điểm các công bố trong thời gian thực hiện đề tài, thì ít nhất phải có giả thiết: mọi nghiên cứu vừa làm xong đều có thể viết thành bài báo và được đăng ngay. Giả thiết này rõ ràng không thực tế cho nên nhiều công bố được xét khi đánh giá là về những nghiên cứu đã làm từ trước chứ đâu phải làm khi thực hiện đề tài? Như thế e không trung thực, điều tối kỵ trong khoa học. Có thể biện minh đó  không phải là dối trá gì vì công khai và mọi đề tài đều cùng làm một kiểu. Nhưng thế hóa ra tiêu chuẩn trung thực là: công khai hay giấu giiếm chứ không phải nói đúng hay sai sự thật? Đây là một cách nghĩ đơn giản có thể dẫn đến hậu quả nguy hiểm. Nếu làm như vậy mà gọi là đánh giá, nghiệm thu việc thực hiện đề tài, thì có thể bị cho là ngụy biện. Tôi có thể dẫn ra ví dụ để thấy rằng cách nói dối ấy có thể đưa kẻ bất lương đến chỗ phạm tội đánh lừa thật sự, nhưng tôi nghĩ không cần thiết. Nếu vì an ninh quốc gia mà nói dối thì còn có lẽ biện minh, ở đây không có lý do đó.        Tại sao không đặt nặng vấn đề đánh giá đúng đắn ở ngay khâu xét duyệt và phân  kinh phí  cho các đề tài, cải cách việc xét duyệt cho đàng hoàng hơn, công bằng hơn, hợp với thông lệ quốc tế hơn,  mà chỉ tập trung vào khâu nghiêm thu để thay một cách làm  tắc trách, bậy bạ, bởi một cách làm chỉ mới có vẻ ngoài là bài bản, hợp lý, nhưng thực ra BẤT KHẢ THI ?         Lại có người bảo rằng dự thảo KHẢ THI vì làm xong đề tài vẫn công bố ngay được các kết quả, và họ dẫn chứng bài của họ chỉ gửi 1-2 tháng hay cùng lắm 4-5 tháng là đăng được,  lại còn khẳng định tạp chí nào mà phải đợi mấy tháng mới đăng được bài là tạp chí “có vấn đề” biên tập! Có lẽ những tạp chí nói đó là báo lá cải, báo nhảm nhí thì đúng hơn. Còn tạp chí khoa học đứng đắn thì chỉ có một số rất ít  tạp chí nhận đăng nhanh những bài rất ngắn, không quá 3-4 trang với tính cách thông báo tóm tắt. Nhưng cũng không nhanh đến thế đâu ạ.     5.  Sở dĩ phải thay đổi cách đánh giá khoa học là vì cách xét duyệt đề tài và phân bổ kinh phí  như lâu nay quá bất công, tiêu cực, dẫn đến khi nghiệm thu thì phần lớn đề tài đều là xuất sắc. Đấu tranh chống lại cách làm đó là hết sức cần thiết và đúng đắn. Không đấu tranh là dung túng, đồng lõa với tiêu cực. Nhưng cần đấu tranh cho đúng. Đã dựa theo thông lệ quốc tế thì không nên đưa ra cách nghiệm thu mà trên quốc tế không nơi nào làm cả, rồi nói liều: đó là vận dụng chuẩn mực quốc tế. Chẳng lẽ việc đấu tranh thay đổi cách đánh giá khoa học không đủ chính nghĩa hay sao mà phải dùng đến những cách mà người khác có thể vu cho là bịp?            Nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm.   Khuyến cáo của Đoàn chuyên gia Canada        Tại sao không đặt nặng vấn đề đánh giá đúng đắn ở ngay khâu xét duyệt và phân kinh phí cho các đề tài? Cải cách việc xét duyệt cho đàng hoàng hơn, công bằng hơn, hợp với thông lệ quốc tế hơn, mà chỉ tập trung vào khâu nghiệm thu để thay một cách làm tắc trách, bậy bạ, bởi một cách làm chỉ mới có vẻ ngoài là bài bản, hợp lý, nhưng thực ra BẤT KHẢ THI? Theo kinh nghiệm, trong quản lý kinh tế xã hội cũng như trong quản lý khoa học, những ý tưởng dù tốt nhưng bất khả thi thường biến tướng dần và thoái hóa, dẫn đến những kết quả trái ngược ý tưởng ban đầu. Quản lý bao cấp trước đây cũng xuất phát từ ý tốt nhưng bất khả thi nên đã thoái hóa như thế nào chúng ta đều biết quá rõ.  Cuối cùng, một câu hỏi quan trọng: có nhất thiết mọi thành tựu nghiên cứu cơ bản phải được đánh giá qua công bố quôc tế không? Phải chăng trong hoàn cảnh VN đòi hỏi này không thực tế?  Nhưng nếu trong một ngành khoa học có tính quốc tế như các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, y học, v.v…,  mà không dựa vào các chuẩn mực quốc tế để đo lường từng bước thành tựu của mình thì căn cứ vào đâu so sánh ta với thế giới, làm sao biết được ta tụt hậu, tụt hậu đến đâu và cần làm gì để gỡ sự chậm trễ? Gần mươi năm trước Chính Phủ ta đã từng mời một đoàn chuyên gia Canada sang ta khảo sát và góp ý kiến về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ. Đoàn khảo sát đã để lại một bản báo cáo và kiến nghị khá chi tiết và theo tôi có nhiều gợi ý tốt, lúc bấy giờ đã được các quan chức Bộ KH và CN đánh giá cao. Một trong các khuyến cáo trong bản kiến nghị ấy là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm. Theo tôi đó là một lời khuyên chí lý, nhưng hình như cả lời khuyên đó và bản kiến nghị đối với chúng ta đều chẳng có tác dụng gì. Trong khi đó có nhiều ngành khoa học của ta hằng năm vẫn được cấp những khoản kinh phí không nhỏ về nghiên cứu cơ bản, nhưng rất ít có công trình được công bố trên quốc tế. Có phải là do nghiên cứu cơ bản trong các ngành đó  không cần công bố trên quốc tế hay do có nhiều nghiên cứu được kể là nghiên cứu cơ bản một cách gượng ép?  Sau nhiều cuộc tọa đàm giữa Lãnh đạo Bộ và nhiều nhà khoa học có uy tín về biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản, đã đi đến một ý kiến chung là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm. Nhưng theo Điều 5 của Qui định Bộ KH&CN vừa ban hành, kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện bằng các công trình (bài báo, báo cáo khoa học…) đã công bố hoặc đã được nhận đăng (có giấy nhận đăng của Ban biên tập tạp chí, của Ban tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, của nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật) trên các ấn phẩm khoa học sau:  1. Tạp chí khoa học quốc tế, gồm các tạp chí có tên trong danh sách chỉ số trích dẫn khoa học (danh sách SCI và SCI Expanded) do Viện thông tin khoa học (ISI) công bố và các tạp chí chuyên ngành uy tín khác do Hội đồng xác định.  2. Tạp chí khoa học quốc gia, gồm các tạp chí hàng đầu do Hội đồng xác định dựa trên cơ sở danh sách tạp chí khoa học quốc gia được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước quy định để xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư.  3. Kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế có phản biện do Hội đồng xác định.  4. Kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia có phản biện và có giấy phép xuất bản do Hội đồng xác định.  5. Sách chuyên khảo từ kết quả nghiên cứu được xuất bản tại một nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật và có nộp lưu chiểu do Hội đồng xác định.  Như vậy, Qui định này đồng nghĩa với việc cho rằng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên không nhất thiết phải công bố quốc tế.  GS. Hoàng Tụy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có nên tổ chức lễ phản biện luận án tiến sĩ ?      Mới đây có vài đề nghị nên thay đổi khâu bảo vệ luận án tiến sĩ rất thiết thực và cụ thể. Tuy nhiên, việc đánh giá một luận án tiến sĩ không nên và không thể nào chỉ giới hạn vài giờ trong một buổi lễ phản biện mang nhiều hình thức màu mè hơn là thực chất khoa bảng. Theo tôi, không cần tốn công sức và tiền của để tổ chức lễ phản biện, mà nên gửi luận án đến các chuyên gia, kể cả chuyên gia nước ngoài, để bình duyệt một cách công bằng và nghiêm chỉnh hơn.         Cốt lõi của học vị tiến sĩ (và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác) có thể tóm lược bằng hai chữ: nghiên cứu. Để phát triển và mở rộng tri thức, nghiên cứu sinh phải khảo sát, điều tra, và suy ngẫm. Trong khoa học, người ta dùng cụm từ “nghiên cứu” để nói đến ý tưởng đó.   Trong các bộ môn khoa học, nghiên cứu cũng đồng nghĩa với thử nghiệm, nhưng nghiên cứu trong thực tế còn đi xa hơn là đơn thuần làm thử nghiệm – nó có nghĩa là diễn giải dữ kiện bằng cách đề ra mô hình hay lí thuyết, và am hiểu vấn đề một cách sâu rộng. Đối với y sinh học, nghiên cứu có nghĩa là phân tích và diễn dịch dữ kiện, là phát hiện cái mới trong một lĩnh vực nào đó, là hiểu tường tận vấn đề từ trong ra ngoài, từ A đến Z. Một nhà nghiên cứu phải phát hiện những phương pháp mới giúp cho việc điều trị bệnh nhân hay phòng chống bệnh tật. Các nhà nghiên cứu đi tìm những ý tưởng mới, trừu tượng, những cách tiếp cận mới, thuật mới, nguyên lí mới, hay cơ chế mới.           Là cơ hội để tiệc tùng        Để hoàn tất chương trình tiến sĩ, mỗi nghiên cứu sinh phải trình bày kết quả nghiên cứu của mình trong một tài liệu khá dài và nghiêm chỉnh, thường được gọi là “luận án”. Nghiên cứu sinh phải đệ trình và bảo vệ luận án thành công trước khi được cấp bằng tiến sĩ .“Đệ trình” và “bảo vệ” ở đây bao gồm việc trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, hoàn tất luận án, và bảo vệ phương pháp làm cũng như kết quả nghiên cứu, chứ không nên hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ trả lời xong các câu hỏi trong buổi lễ phản biện.     Ở nước ta, có thông lệ trước khi tốt nghiệp, đại học tổ chức một buổi lễ phản biện luận án để thí sinh có thể trả lời các câu hỏi của hội đồng phản biện. Việc làm này, nói trắng ra, là rất hình thức, vì trong thực tế thí sinh đã biết mình sẽ tốt nghiệp, và buổi lễ chỉ là cơ hội để tiệc tùng (núp dưới danh nghĩa “phản biện”) mà thôi.    Tôi cho rằng một buổi lễ phản biện như thế là không cần thiết, tốn tiền của và thời gian cho thí sinh và trường đại học. Không thể nào đánh giá ý tưởng, phương pháp và kết quả nghiên cứu suốt 3 hay 4 năm một cách qua loa vài giờ như trong buổi lễ phản biện. Làm như thế chẳng những không công bằng cho thí sinh mà còn mang tính phường tuồng. Khoa bảng không phải là sân khấu nơi có người ca hát và vỗ tay, mà là môi trường trao đổi tri thức khoa học với mục tiêu đem phúc lợi lại cho xã hội.   Xin nói ngay rằng việc soạn và bảo về luận án chỉ là một khâu cuối cùng trong qui trình theo học tiến sĩ. Luận án, tự bản thân nó, không có gì quan trọng, nhưng những ý tưởng và nội dung được đúc kết trong quá trình nghiên cứu của luận án chính là cốt lõi, là một tiêu chuẩn để người ta thẩm định xem thí sinh có xứng đáng với học vị tiến sĩ hay không.    Tôi đề nghị một cách làm theo mô hình của các đại học Tây phương như sau. Sau khi nghiên cứu sinh đã hoàn tất luận án, hội đồng khoa bảng trường đại học yêu cầu giáo sư hướng dẫn bàn thảo với nghiên cứu sinh và đề cử 6 chuyên gia độc lập để bình duyệt luận án. Dựa vào danh sách này, trường đại học sẽ chọn và viết thư mời 3 người thẩm định, một trong 3 người phải là người nước ngoài, và hai người còn lại phải là người từ trường đại học khác hoặc khác khoa trong cùng trường. Ba người được chọn sẽ tiêu ra từ 3 đến 6 tháng để đọc và bình luận nội dung của luận án. Thẩm định của họ phải được viết trong 3 báo cáo chi tiết đánh giá từ ý tưởng, phương pháp, kết quả, kể cả cách trình bày. Trong báo cáo mình, mỗi người phải đề nghị hội đồng khoa bảng của trường một trong 4 lựa chọn như sau: (a) cấp bằng mà không cần phải sửa lại; (b) cấp bằng với điều kiện phải sửa luận án và thông qua khoa trưởng của phân khoa; (c) cấp bằng với điều kiện phải sửa luận án và thông qua hội đồng khoa bảng của trường đại học; và (d) bốn là không cấp bằng tiến sĩ.    Kinh nghiệm tôi cho thấy phần lớn các chuyên gia bình duyệt cho điểm (b) và (c), rất hiếm ai cho điểm (a) hay (d). Trong trường hợp đánh giá (b) và (c), nghiên cứu sinh phải tiêu ra một thời gian để sửa luận án và trả lời tất cả các phê bình hay đáp ứng từng yêu cầu một của ba người bình duyệt. Chỉ một điểm nhỏ mà thí sinh không đáp ứng cũng có thể gây ra rất nhiều phiền phức. Sau khi xem xét bình duyệt và trả lời của nghiên cứu sinh, cùng đề nghị của hội đồng khoa bảng, trường đại học sẽ quyết định cấp bằng hay không.   Xin nhấn mạnh một lần nữa: học tiến sĩ không phải chỉ để viết luận án. Thật là bất công cho thí sinh nếu phải tiêu ra 3 hay 4 năm miệt mài nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của một giáo sư, để cuối cùng bị đánh hỏng chỉ vì luận án không đạt yêu cầu hay không qua nổi buổi lễ phản biện!   Có thể xem đào tạo tiến sĩ theo một qui trình liên tục, thì luận án là giai đoạn cuối cùng của qui trình đào tạo. Nếu giai đoạn đầu (tức đề cương nghiên cứu) có vấn đề, hay giai đoạn hai (trong khi tiến hành nghiên cứu) không đúng phương pháp, thì luận án cũng chỉ là một đống chữ nghĩa vô dụng mà thôi. Do đó, điều quan trọng là phải đảm bảo đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học, xứng đáng với trình độ tiến sĩ, và phương pháp làm phải đúng. Quan trọng hơn nữa là trong lúc làm nghiên cứu, thí sinh nên công bố kết quả mình trên các tập san quốc tế có bình duyệt, và đó chính là thử lửa quan trọng của việc học tiến sĩ. Còn luận án chỉ là một hồ sơ ghi lại những gì đã làm, và mức độ lưu hành của luận án rất hạn chế. Có khi số phận của luận án chỉ quanh quẩn trong các kệ sách của thư viện, chẳng ai đọc và cũng chẳng ai biết nội dung đúng hay sai, chất lượng cao hay thấp.   Do đó, để đảm bảo chất lượng đào tạo, vấn đề không phải là cách thức tổ chức buổi “phản biện” luận án như thế nào, mà là đảm bảo qui trình đào tạo – ngay từ khâu thu nhận nghiên cứu sinh cho đến khâu thẩm định luận án – đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Không cần phải tổ chức một buổi lễ “phản biện” (thật ra hai chữ này cũng không chính xác), mà cần phải có một chính sách bình duyệt luận án vừa công bằng vừa nghiêm chỉnh.   ——————    Châu Âu cũng có buổi lễ – không phải để “phản biện” – mà là ra mắt tiến sĩ, và nhân đó cho người ngoài vào hỏi han đôi ba câu. (Họ quan niện rằng nghiên cứu sinh làm tiến sĩ là tốn tiền của dân, và người dân có quyền chất vấn tân tiến sĩ).  Lễ phản biện tiến sĩ ở Việt Nam quá hình thức, không đi vào nội dung và nhiều câu hỏi rất… buồn cười. Lần đầu tiên dự một buổi phản biện như thế, tôi rất “sốc”. Người ta đưa phong bì, tôi tưởng là thư cảm ơn nên nói: “Có gì đâu mà cảm ơn, tôi chỉ làm nhiệm vụ thôi mà”. Họ chỉ cười. Về nhà, mở phong bì mới biết là tiền. Trời ơi, thật khó tin!  (Thư tác giả gửi Tòa soạn)      Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có những dòng sông sắp qua đời      Những ai kia ở chốn phồn hoa đô hội ồn ào, bụi bậm mong có dịp về nông thôn để được hít thở không khí trong lành, đắm mình vào dòng sông quê hương, hẳn sẽ thật sự bị thất vọng bởi môi trường trong lành đang bị hủy hoại nghiêm trọng bởi chất thải công nghiệp, chất thải vô tội vạ của làng nghề, chất thải từ mạnh ai nấy làm trong nuôi trồng thủy sản… và chất thải từ sự vô ý thức của con người tự hủy hoại môi trường sống của chính mình và con cháu mình. Các dữ liệu mà báo cáo của Bộ Tài nguyên-Môi trường vừa công bố, tập trung vào tình hình ba lưu vực Sông Cầu, sông Nhuệ-sông Đáy ở phía bắc và lưu vực sông Đồng Nai ở phía Nam, cho thấy rõ điều đó.         “Ai về bên kia sông Đuống, cho tôi gửi…”, vùng Kinh Bắc mộng mơ của “tranh Đông hồ gà lợn nét tươi trong, màu dân tộc cháy bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm) thì nay cần xót xa để biết cho rằng, hàng năm, lưu vực Sông Cầu đang tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn phân hóa học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu! Có 800 cơ sở sản xuất công nghiệp, 200 làng nghề và 1200 cơ sở y tế trong khu vực có mật độ dân số cao hơn hai lần mật độ dân số cả nước. Nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ giữa thành phố Thái Nguyên xả thẳng vào các nhánh nhỏ đổ ra sông Cầu mang theo các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng và độ kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép này cho tuôn chảy vào sông Cầu một lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm với những chất độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure.  Lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy với mật độ dân số 874 người/km2, gấp đôi lưu vực sông Cầu, bị nước thải đô thị xối thẳng trực tiếp làm đen ngòm nước sông đang bốc mùi, trong đó Thủ đô “vinh dự” góp 54% lượng nước thải đó! Con sông Đáy thơ mộng với nước trong vắt, “soi tóc những hàng tre” của những vùng đầy ắp những danh lam thắng cảnh, chùa chiền, miếu mạo, đền thờ, di tích lịch sử cùng với  những con sông Châu Giang, sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào từng tắm mát tâm hồn bao thế hệ cư dân Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Hòa Bình, Ninh Bình thì nay đang chuyển màu, khô kiệt và hôi thối. Không khéo đến “ngựa đá” trong “lưỡng hồi lao thạch mã” từ bài thơ của ông vua anh hùng thời Trần lao ra, cũng đến chết chìm trong dòng sông ô nhiễm thời hiện đại đang lượn sát vùng đất thiêng Tức Mạc, nơi phát tích của khí phách Đông A.  “Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”, vang bóng một thời đó đang bị đe dọa. Cả hệ thống những con sông trong lưu vực sông Đồng Nai này đang chịu tác động cùng lúc từ nhiều nguồn, phần hạ lưu đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, có những đoạn đã chết và đang chết. Nước sông Đồng Nai, đoạn từ Nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại có hàm lượng chì rất cao. Còn chất hữu cơ với dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng thì đang xối vào hủy hoại hệ thống sông Sài Gòn. Riêng sông Thị Vải đã có đoạn bị chết kéo dài từ sau khu vực hợp lưu suối Cả-Đồng Nai đến khu công nghiệp Mỹ Xuân.   Theo nhận định của GS Phạm Duy Hiển trong Hội thảo: “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình hội nhập” do Tia Sáng tổ chức vừa qua, thì thực trạng về ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn có khía cạnh nặng nề hơn so với đô thị. Thì ra, nông thôn “truyền thống” đã khởi động cho Đổi Mới với “khoán”, tác động đẩy tới sự chuyển động của đô thị và công nghiệp “hiện đại”, thế rồi chính cái “truyền thống” đã cứu cho cái “hiện đại” một bàn thua trông thấy (theo ngôn từ bóng đá), thì thành quả của Đổi Mới đô thị thụ hưởng phần lớn, nông thôn chẳng được bao nhiêu. Rõ ràng là trong mục tiêu công bằng mà ta hướng tới với một xã hội dân chủ và văn minh, thì đây là một sự bất công lớn.  Nhưng chẳng lẽ chúng ta đành bó tay trước quy luật nghiệt ngã, khốc hại của thời kỳ tích lũy hoang dại, sơ khai để công nghiệp hóa, đô thị hóa xưa kia vốn được xây đắp trên cái nền của sự tàn phá và bần cùng hóa nông thôn; chẳng lẽ phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hóa, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tươi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc.   Vì vậy trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp với đặc điểm Việt Nam, để không hủy hoại và tàn phá cảnh quan nông thôn Việt Nam và để hồi sinh những dòng sông từng chảy mượt mà, êm dịu trong tâm hồn người Việt Nam.     Chú thích ảnh: Khoảnh khắc đẹp- Lê Vượng        Tương Lai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có những tội ác không ai chịu trách nhiệm?      Diễn đạt lại một dòng suy nghĩ của Milan Kundera(1):  Người tạo ra một hành vi [theo dư luận là] ác sẽ bị pháp luật trừng phạt [giả sử pháp luật đã đọc Kafka và biết xấu hổ khi kết luận người đó, trong lúc hành động, nhận thức được nó. Trong khi, người có cùng hành vi nếu được kết luận là ở tình trạng không nhận thức được trong lúc thực hiện sẽ được giảm án hoặc tha bổng.  Nhưng đằng sau tội ác được giảm nhẹ, tha bổng (chỉ vì không nhận thức được thì không còn khái niệm thiện ác? khác nào thiền sư?), phải có người chịu trách nhiệm chứ?    Đó là những người tạo ra tình trạng không nhận thức được cho người khác: Người gây tai nạn, người chuốc rượu, người bạo hành, người cưỡng hiếp, người bán thuốc phiện, người rải đinh để vá săm, người làm những con lươn quá khổ đẩy cao nguy cơ tai nạn (rồi lại ăn tiền phá chúng đi), người rút ruột công trình gây sụp đổ, người cho mình quyền giáo dục con cháu theo hướng phản giáo dục, người áp đặt những giáo trình học lộn xộn và quá tải, người thải hoá chất nguy hiểm vào khu dân cư, người dùng chất bảo quản độc hại, người biết mà vẫn bán thực phẩm mang dịch bệnh…  Những nhân vật này mới chỉ là nạn nhân lớn, là những bản sao của sự yếu kém và suy đồi trong chính quyền. Mỗi sự suy đồi ở cấp cao, nơi mang biểu tượng của uy tín và luôn tự lăng xê uy tín, tạo ra một hành lang suy đồi trong mọi sinh hoạt của đời sống. Điển hình là sự yếu kém trong năng lực cống hiến cho công việc, văn hóa hành chính, ý thức tôn trọng công cộng, thái độ tiếp nhận/phổ biến nghệ thuật, cung cách tiêu thụ sản phẩm…  Chưa cần nói đến sự bất thường của thiên nhiên (bị tổn thương), chúng ta thử nhìn lại đời sống của mình luôn bị đe dọa như thế nào bởi những hiểm họa nhỏ nhặt nhất, thường xuyên nhất do con người tạo ra vây quanh. Ví dụ như hằng ngày đi chợ và phải đối mặt với những sản phẩm không rõ xuất xứ, người bán thì bị lây lan cái vô trách nhiệm từ ổ dịch tham nhũng với sự tự mị dân: “Làm lớn như thế, danh tiếng như thế còn làm bậy; huống gì làm nhỏ, vô danh như mình”. Tham nhũng khiến người dân không có nhiều cơ hội nâng cao dân trí để thay vì ca thán và bắt chước cái mình ca thán, xây dựng cho mình ý thức coi trọng môi trường chung và sinh mạng của tha nhân, phối hợp với chính quyền nghiêm túc thực hiện các mục tiêu cộng sinh hợp lí.  Bởi vậy, người tạo nên nhiều tội ác nhất là người tham nhũng. Tội ác này được tính thế nào?  Dễ thấy nhất là lượng tội ác có thể đo bằng sinh mạng, sự cùng quẫn, sự mất mát cơ hội tiếp xúc với tri thức với thiên nhiên… của vô số người sau mỗi dấu phẩy được chuyển vị trí hay con số được thêm bớt (trong vô số công trình, dự án, kế hoạch như nâng cấp cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh giáo dục, xóa đói giảm nghèo, giảm và miễn phí y tế, phủ xanh môi trường, nâng cao thể chất người dân…). Tinh vi hơn, là những người tham nhũng quyền lực, họ cướp đi quyền của nhân dân là được cấp và rút quota quyền lực cho người lãnh đạo thông qua bầu cử minh bạch. Những người đó bán quota quyền lực, quota cơ hội làm việc cho những nhân vật không đủ năng lực, trách nhiệm và sẵn sàng tham nhũng để bù đắp tiền bỏ ra mua quota. Nhiên liệu cho cỗ máy tham nhũng là sự thoát tội của những người phạm tội thông qua mua chuộc người thừa hành pháp luật. Đó là những cơ sở cấu thành một xã hội cạnh tranh không lành mạnh và hỗn loạn, vì thế, phá hoại những tích luỹ dân chủ của mỗi quốc gia.  Những mục tiêu tươi tốt mà các chính quyền công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn bị cớm nắng và thui chột dưới cái bóng to lớn của tham nhũng. Người không tham nhũng, người thực sự có mong muốn vun đắp những mục tiêu dân chủ, nếu không đủ năng lực gánh trách nhiệm công việc, sẽ từ chức để được thay thế bởi người có năng lực hơn. Lí do ở lại, bất chấp danh dự, là còn giá trị sử dụng cho công cuộc tham nhũng, là ám ảnh bị trừng phạt không đủ lớn hơn hấp lực của tiền bẩn.  Nghiêm trị người tham nhũng có tội lớn làm gương, con người mới dần được đối xử công bằng trong những phán xét của pháp luật. Khi ấy, trong một đời sống vật chất đầy đủ hơn, tiền đầu tư nâng cao dân trí được sử dụng đúng mục đích hơn, sức khoẻ và quyền con người được bảo đảm hơn, sẽ dần không còn những đứa trẻ sinh ra chỉ bởi sự dồn nén và ngu dốt, không hề được chờ đón, khồng hề được hưởng những nguồn thiện tính từ tha nhân khi ra đời; trong sự bị ruồng bỏ đó, dễ dàng tích tụ những tình trạng mất trí, dễ dàng gây ra tội ác. Có thể thấy rõ cái ác đã được tại ngoại và nhởn nhơ sinh sôi thế nào trong cuộc sống khi nó không hề nhận được trừng phạt hoặc con người dồn hết sự trừng phạt lên những nạn nhân dây chuyền của cái ác nhất. (Nhân loại tự cười vào mũi mình nếu vẫn cứ dịu dàng với tham nhũng như dịu dàng với những tội phạm chiến tranh). Đó là nhân quả của phi lí. Dân chủ hoặc là sự hủy diệt.  Mức dân chủ của một xã hội được đo bằng mức hội tụ những điều kiện cho con người được sống lành mạnh và minh mẫn, không bị thúc đẩy làm hại người khác bởi những hận thù, thèm khát dồn nén trong vô thức mà không có những phương tiện giải toả hợp lí (như không gian riêng tư, sân chơi, thiên nhiên; cơ hội học tập, làm việc, phát biểu chính kiến, được chữa bệnh, được bình đẳng về giới tính, thưởng thức và làm nghệ thuật, dùng Internet, sinh hoạt tình dục an toàn…). Khi có những điều kiện giải thoát khỏi sự bóp nghẹt của xã hội (được không bị đẩy vào tình trạng mất trí), con người sẽ phải thực hiện triệt để nghĩa vụ của người dân chủ: trực tiếp trả giá cho hành vi phạm tội do nuông chiều mình, mình làm mình chịu:  “Bây giờ riêng đối diện tôi” (Bùi Giáng).  ________________________________________  1.“Khi tự do tư tưởng, tự do của các từ, các thái độ, các lời nói đùa, các suy tư, các ý nghĩ nguy hiểm, các khiêu khích trí tuệ co lại dần, bị sự cảnh giác của toà án của chủ nghĩa bảo thủ chung canh giữ, thì tự do của các xung năng lớn dần lên. Người ta truyền giảng sự nghiêm khắc đối với tội lỗi về tư duy; người ta truyền giảng sự tha thứ đối với những tội ác phạm phải trong sự ngây ngất cảm tính”. (Những di chúc bị phản bội – Milan Kundera – Nguyên Ngọc dịch)      Nguyễn Thế Hoàng Linh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ sở cho niềm tin      Khi nói về điều kiện để giúp một quốc gia hùng mạnh, người ta thường hình dung về những yếu tố như tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học công nghệ, hay tiềm lực quân sự. Tuy nhiên, những yếu tố đó sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu con người không tin vào những điều họ theo đuổi.     Một quốc gia hùng mạnh phải bắt đầu từ điều giản dị nhất, đó là người dân có niềm tin mạnh mẽ vào tương lai phía trước. Cụ thể hơn, đó là một sự hình dung sáng sủa về bản thân mình, cộng đồng, và hoàn cảnh đời sống trong tương lai. Đó là điều kiện quan trọng nhất giúp con người có thể yên tâm sống và làm việc mỗi ngày, nỗ lực vượt qua những thử thách mà cuộc sống mang đến.    Niềm hi vọng đến từ đâu?  Sự tuyên truyền một cách hiệu quả của chính quyền có thể đóng một vai trò quan trọng nhất định trong việc tạo dựng niềm hy vọng của dân chúng vào tương lai, nhưng niềm hy vọng đó rốt cục chỉ có thể duy trì dựa vào những căn cứ thực tế mà người dân được trải nghiệm trong quá khứ và hiện tại, qua những kết quả cụ thể trong quá trình phát triển nền kinh tế và xã hội, qua chất lượng môi trường, y tế, giáo dục, và các cơ sở hạ tầng.   Trong bối cảnh giao lưu thông tin toàn cầu thuận tiện như hiện nay, rất khó để các chính phủ che đậy những yếu kém của mình trong các lĩnh vực cơ bản này. Và nếu để những tiêu cực trầm trọng làm ảnh hưởng tới niềm tin của người dân thì quyền lực của các chính phủ sẽ lung lay.          Khi nói về vấn đề ổn định xã hội, người ta  thường nói về vấn đề cải thiện thu nhập của người dân, hay tìm giải pháp  làm giảm chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Nhưng vấn  đề còn quan trọng hơn là nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ thành quả lao  động của nhân dân.        Tuy nhiên, nhân dân luôn công bằng. Họ không bao giờ đòi hỏi từ các nhà nước những điều phi thực tế. Không phải cứ hễ gặp thách thức khó khăn là họ sẽ mất niềm tin vào tương lai. Lịch sử nước ta không thiếu những bài học về sự đoàn kết một lòng của nhân dân vượt qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, đánh bại những kẻ thù hùng mạnh trên thế giới. Thực tế này cho thấy rằng, nếu những khó khăn là mang tính khách quan, thì dù gặp gian khổ đến đâu, nhân dân vẫn không mất đi niềm vọng, vẫn kiên cường sát cánh cùng chính phủ của mình để nỗ lực tìm cách vượt qua. Đã có không ít những tấm gương dám hy sinh toàn bộ của cải, thậm chí tính mạng vì nghĩa lớn, vì niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn cho cộng đồng, xã hội, và Tổ quốc.   Niềm hy vọng là bản năng sinh tồn cố hữu trong mỗi con người. Con người không vì nghèo đói hay chênh lệch giàu nghèo, hay những bệnh tật và hiểm nguy mà mất hy vọng.   Để duy trì niềm hy vọng trong nhân dân, các nhà nước chỉ cần đáp ứng những yêu cầu tối thiểu. Đó là làm sao để đa số người dân cảm thấy rằng những nỗ lực của mình trong cuộc sống sẽ đem lại những thành quả nhất định, và những thành quả này sẽ được xã hội và nhà nước tôn trọng, công nhận để có thể tồn tại một cách chắc chắn, và sẽ tiếp tục có cơ hội sinh sôi, phát triển.    Niềm hy vọng quan trọng như thế nào?    Khi nói về vấn đề ổn định xã hội, người ta thường nói về vấn đề cải thiện thu nhập của người dân, hay tìm giải pháp làm giảm chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn là nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ thành quả lao động của nhân dân.  Con người sẽ tuyệt vọng nếu biết rằng những nỗ lực mình đang theo đuổi là vô nghĩa. Xã hội sẽ vô cùng bất an khi người dân cảm thấy rằng những thành quả mình làm ra có nguy cơ tan biến hoặc rơi vào tay người khác. Khi nguy cơ ấy đủ lớn, người dân sẽ mất niềm tin.   Ví dụ như những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trên thế giới mà nguyên nhân vốn đều xuất phát từ sự mất lòng tin của người dân, khi họ thấy rằng những khoản tích lũy và đầu tư của mình có nguy cơ tan biến. Và khi những cuộc tháo chạy đồng loạt diễn ra trên thị trường tài chính, những nền kinh tế hùng mạnh nhất đều có khả năng sụp đổ. Kéo theo đó là những cuộc suy thoái trầm trọng kéo dài, hoàn toàn không hẳn vì những yếu kém trong năng lực sản xuất hay trí tuệ của con người, mà vì người dân không còn đủ lòng tin để đầu tư. Họ lo lắng rằng những khoản đầu tư của mình sẽ biến mất trong vòng xoáy đổ vỡ của thị trường. Dù chính phủ các nước tung ra nhiều gói cứu trợ, có nhiều biện pháp tuyên truyền để giữ lòng tin cho nhà đầu tư, nhưng đã qua vài năm nền kinh tế thế giới vẫn chưa thể thấy được những khởi sắc đáng kể. Kinh nghiệm này cho thấy, một khi niềm tin của người dân bị mất đi thì sẽ rất khó, và rất lâu mới khôi phục lại được.   Khi nhìn vào bối cảnh đất nước ta hiện nay, khi tình hình kinh tế vẫn rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, xã hội còn nhiều biểu hiện tiêu cực, nạn tham nhũng chưa suy giảm, chúng ta thấy rằng vấn đề giữ vững niềm tin của người dân là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của xã hội cũng như tồn vong của Nhà nước. Niềm tin ấy không phụ thuộc vào cách thức tuyên truyền thông tin từ phía Nhà nước, mà phụ thuộc vào những điều Nhà nước làm được trong thực tế.          Những cuộc suy thoái trầm trọng kéo dài,  hoàn toàn không hẳn vì những yếu kém trong năng lực sản xuất hay trí tuệ  của con người, mà vì người dân không còn đủ lòng tin để đầu tư. Họ lo  lắng rằng những khoản đầu tư của mình sẽ biến mất trong vòng xoáy đổ vỡ  của thị trường.        Nhà nước ta luôn khẳng định rằng đất nước sẽ phát triển theo kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là vừa tận dụng được tính hiệu quả của thị trường, vừa đảm bảo được tính công bằng và những giá trị nhân bản trong lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương như vậy là tiến bộ, nhưng để duy trì niềm tin của nhân dân thì nhất thiết phải thông qua những căn cứ cụ thể, mà một trong những căn cứ quan trọng đầu tiên là việc nhà nước xây dựng, thực hiện hiệu quả những cơ sở pháp lý giúp công nhận và bảo vệ thành quả lao động của con người, thể hiện qua quyền sở hữu đối với những tài sản chính đáng của từng người dân.   Có đáp ứng điều kiện cơ bản này chúng ta mới mong nuôi dưỡng niềm hy vọng mạnh mẽ của nhân dân vào tương lai, khuyến khích được những khoản đầu tư mạnh dạn từ xã hội, để không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn cải thiện trình độ khoa học công nghệ, giáo dục, và văn hóa, tạo ra những biến chuyển tiến bộ từ trí tuệ và công sức to lớn của nhân dân.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể phải điều chỉnh lại tiến độ tổng thể của Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận      Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường vừa có báo cáo giám sát gửi Quốc hội, nêu những yêu cầu cụ thể đối với dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.      “EVN cũng (nên) đưa ra các số liệu cụ thể về  độ an toàn của nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; khâu khảo sát, lựa  chọn địa điểm, chuẩn bị xây dựng đóng vai trò quan trọng, các báo cáo  khảo sát phải đánh giá được đầy đủ những tác động và dự báo những hậu  quả xấu nhất có thể xảy ra, đồng thời đưa ra phương án cụ thể để phòng  ngừa và ứng phó với sự cố, ” báo cáo viết.   Bên cạnh đó, báo cáo còn nhận định: đây là dự án điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam có quy mô lớn và công nghệ rất phức tạp, trong khi đó nguồn nhân lực của Việt Nam còn thiếu cả về số lượng và kinh nghiệm; hệ thống văn bản pháp quy đang xây dựng, trong đó quy định rõ các công việc cần tiến hành, các yêu cầu cụ thể về nguồn lực và thời gian cho từng bước thực hiện. “Việc thực hiện các quy định này có thể dẫn đến phải điều chỉnh lại tiến độ tổng thể của dự án cho phù hợp nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất”, báo cáo này nhấn mạnh.  Uỷ ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường kiến nghị Chính phủ chỉ đạo bộ Công thương, các bộ, ngành liên quan sớm triển khai lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy đảm bảo phòng, tránh, giảm nhẹ tác động của sóng thần có thể xảy ra; thực hiện các công việc cần thiết để đảm bảo tiến độ khởi công xây dựng công trình với công nghệ đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất.   Trước đó, trong báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về tình hình thực hiện các dự án quan trọng quốc gia (gồm ba dự án: điện hạt nhân Ninh Thuận, thuỷ điện Sơn La và thuỷ điện Lai Châu), Chính phủ cũng thừa nhận “có thể phải điều chỉnh lại tiến độ tổng thể của dự án điện hạt nhân cho phù hợp nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất; sau khi nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố, Chính phủ sẽ báo cáo Bộ Chính trị, Quốc hội xem xét, quyết định”.  Về tiến độ của hai nhà máy, báo cáo cho biết, dự kiến đến tháng 3/2013 sẽ hoàn thành hồ sơ phê duyệt địa điểm và dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, còn dự án Ninh Thuận 2 là tháng 8/2013. Tuy nhiên, đối với nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, báo cáo cũng nói rằng: công tác quan trắc khí tượng, hải văn chưa được triển khai thực hiện nên có khả năng ảnh hưởng chậm tiến độ. Nguyên nhân do thủ tục tạm ứng phía Nga chậm, tư vấn chậm trễ trong việc lập và trình một số phương án kỹ thuật. Đối với tiến độ một số hạng mục đáng chú ý, báo cáo cho hay: dự án trung tâm Quan hệ công chúng về điện hạt nhân sẽ được hoàn thành vào quý 2 năm sau; khu quản lý vận hành và dự án di dân tái định cư sẽ hoàn thành xây dựng vào năm 2014; các dự án đường giao thông, điện, nước phục vụ thi công dự kiến hoàn thành trước quý 4/2017, trước khi nhà thầu EPC tiến hành san gạt mặt bằng, xây dựng cảng. Hiện nay các bộ Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư đang nghiên cứu để triển khai thực hiện nghiên cứu, đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác urani trong nước, quy hoạch, kế hoạch để xây dựng khu vực xử lý chất thải hạt nhân…  Dẫu vậy, báo cáo giám sát cũng lưu ý, sau sự cố Fukushima Nhật Bản, các nước trên thế giới đang tiến hành điều chỉnh chính sách năng lượng, trong đó có điện hạt nhân. “Sự cố trên cũng nhắc nhở chúng ta trong việc đặt an toàn hạt nhân lên cao nhất, kể cả công nghệ, quy trình quản lý và vận hành nhà máy điện hạt nhân. Khâu khảo sát, lựa chọn địa điểm, chuẩn bị xây dựng đóng vai trò quan trọng. Các báo cáo khảo sát phải đánh giá được đầy đủ những tác động và dự báo những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra, đồng thời đưa ra phương án cụ thể để phòng ngừa và ứng phó với sự cố… EVN cũng nên đưa ra các số liệu cụ thể về độ an toàn của nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận”, báo cáo của uỷ ban Khoa học công nghệ và môi trường yêu cầu.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cổ tích Hà Nội      Một ngày sau khi ông ra đi. Hai ngày sau khi ông ra đi. Rồi sẽ nhiều ngày sau khi ông ra đi, người ta sẽ vẫn còn nói về ông và thơ ông. Người ta nói là ông vẫn còn đây, với tiếng cười giữa bạn bè, trong bóng chữ, và tình yêu thơ. Nhưng chính ông thì không còn nữa, ở cõi đời này. Cuộc hẹn Sài Gòn vĩnh viễn lỡ. Và Hà Nội, với tôi, trở thành cổ tích. Từ nay, tôi biết mình sẽ bắt đầu kể chuyện Hà Nội bằng câu: “Ngày xưa Hà Nội có nhà thơ Lê Đạt…”    Tôi khóc. Ngày hôm qua khi mở thư nhận được lời báo tin của ban biên tập báo Tia Sáng. Tin bất ngờ, cảm xúc bất ngờ, nước mắt trong veo rơi, như khi tôi đang ở xa quê nhà chợt nghe tin một người bà con đột ngột mất. Tôi đã nghe lời ông coi Tia Sáng như một gia đình mà ông là biểu tượng của đoàn kết, của chuẩn giá trị. Hôm nay anh Văn Thành gọi điện vào nói sinh thời “chú Lê Đạt” đã quan tâm và yêu quí tôi thế nào, tôi cố gắng không khóc trong điện thoại. Tôi cũng sẽ cố gắng không khóc trên trang giấy. Mặc dù ai có thể làm gì khác hơn khóc khi biết trong cái cõi mình tiếp tục ngược xuôi không còn nữa một người mình chân thành quí mến và được biết người đó cũng quí mến mình?              Trong chuyến đi Tây Nguyên cùng với gia đình              Tia Sáng, nhà thơ cho biết ông đang viết đoản ngôn              để in một tập đoản ngôn khoảng 300 trang.              Đây là Đoản ngôn cuối cùng của nhà thơ viết ngày              19/4 tại Khách sạn Hoa Mai TP Hồ Chí Minh.          Ngày xưa Hà Nội có một gian nhà nhỏ trên một con phố nhỏ, cả nhà lẫn phố bừa bộn hàng hoá và lô xô kẻ bán mua. Từ trong nhà và phố ấy hiện ra một tiếng cười hồn hậu, một giọng nói nồng nàn, một con người giản dị, một nhà thơ. Hà Nội từ lần đầu gặp gỡ ấy, với tôi, là nơi nhà thơ dẫu bản thân bị vùi dập, bị cố tình lãng quên, bị đảo điên trong bão tố thời cuộc, vẫn giữ được cho đời thế giới thơ trong ngần và tươi sáng.  Ngày xưa Hà Nội có bãi cỏ nhung trong khuôn viên một toà đại sứ lộng lẫy kiến trúc Âu Tây. Một đêm trăng sáng nơi đó mở tiệc đãi văn nhân. Giữa những xun xoe phô diễn, không ít kẻ bẹo hình bẹo dạng tư rao mình, không thíêu kẻ vờ thế này, ra vẻ thế nọ, có một người ung dung tự tại, cười nói hồn nhiên, đối xử với viên chức ngoại giao được trọng vọng nhứt nơi đó không vồn vã hơn đối với một “cây bút trẻ” địa phương hãy còn ngơ ngác quan sát và chiêm nghiệm nhân cách những “tên tuổi lớn” mình mới gặp lần đầu. Hà Nội ngày ấy, với tôi, là nơi giữa gạch đá xà bần ngỗn ngang của đền miếu đổ vẫn còn toát lên thần phách ngàn năm văn hoá trong hành xử của nhà thơ Lê Đạt.  Ngày xưa Hà Nội có toà soạn tạp chí Tia Sáng, vợ chồng tôi đến chơi, ngồi quanh bàn trò chuyện văn chương âm nhạc, tôi thấy từ tổng biên tập đến nhân viên toà soạn đều trân trọng ý kiến “cụ Lê Đạt”, có vẻ như “cụ” mới là người tổng chỉ huy ở đó, kể cả việc tổ chức một chuyến đi thăm chùa cổ quanh Hà Nội cho chúng tôi. Chồng tôi gặp “cụ” lần đầu, có nhận xét “cụ” có một tâm hồn Việt Nam (như hình dung của anh qua nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam). Tôi kể cho anh nghe tóm tắt thăng trầm đời “cụ”, anh xúc động, kính trọng vô cùng một nhân cách Việt Nam. Tôi vừa báo cho anh tin buồn, anh thảng thốt kêu lên: Không!  Không!  Có những điều đã là quá khứ trong cuộc sống hôm nay, có những người sẽ là bất tử trong di sản cho tương lai, và có những qui luật tự nhiên mà kiếp người không tránh khỏi, nhưng nỗi đau mất mát này không sao đè nén được, không sao chấp nhận được ngay.  “Chú Lê Đạt, chú đã bảo cháu chúng ta là một gia đình, cháu xin phép chú cho cháu mang một vành khăn tang, cháu giữ lại nỗi buồn này, giữ lại những điều chú dặn dò, xin chú bình an thanh thản ra đi.”    Ảnh: Huỳnh Sơn Phước      Lý Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cố viết sách để trở thành giáo sư?      Vâng, “cố viết sách để trở thành giáo sư” là một hiện tượng có thật, tồn tại đã vài chục năm nay ở nước ta. Những quy định ngặt nghèo về việc viết sách trong Dự thảo“Quyết định ban hành Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư” (xem phần Phụ lục ở cuối bài) có thể làm cho cái sự “cố” này ngày càng nặng nề hơn, căn bệnh bị “sách hành” trong giới khoa học ngày càng trầm trọng hơn.      GS. TS Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  Chúng tôi xin chia sẻ một vài thông tin và suy nghĩ nhằm ủng hộ đề nghị của một số cơ quan khoa học và của nhiều nhà khoa học về việc không nên đặt yêu cầu “viết sách” thành một tiêu chuẩn bắt buộc đối với các ứng viên chức danh giáo sư.   Khi được phong học hàm giáo sư vào tháng 12/2007, tôi có hai cuốn sách:  1. Gue Myung Lee, Nguyen Nang Tam, Nguyen Dong Yen, Quadratic Programming and Affine Variational Inequalities – A Qualitative Study, Springer, New York, 2005; 345 p. + xiv [Quy hoạch toàn phương và Bất đẳng thức biến phân a-phin – Một nghiên cứu định tính, 345 trang + 14 trang phần giới thiệu ở đầu sách],  2. Nguyễn Đông Yên, Giáo trình Giải tích đa trị, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2007; 218 trang.  Cuốn sách thứ nhất được viết chung với GS Gue Myung Lee (Đại học Quốc gia Pukyong, Hàn Quốc) và PGS.TS Nguyễn Năng Tâm (Đại học Sư phạm Hà Nội 2) trong banăm dài đằng đẵng (2001-2004). Trong suốt ba năm đó, tôi luôn lo lắng về việc chúng tôi đang “nợ” nhà xuất bản một cuốn sách đã ký hợp đồng. Về sau, Hội đồng Giáo sư (HĐGS) ngành Toán ưu ái chấm cho cuốn sách này 4 điểm (điểm tối đa của một cuốn sách chuyên khảo thời đó). Đem chia đều cho ba tác giả, tôi mới có 1,33 điểm viết sách. So với yêu cầu “phải có ít nhất 3 điểm viết sách” ngày đó, tôi vẫn còn thiếu 1,67 điểm! Được một người bạn đã thành giáo sư động viên bằng cách gọi đến “mắng cho một trận tơi bời” (vì chuyện “lười” viết sách nên mãi không đủ chuẩn giáo sư), tôi bắt tay vào việc viết cuốn sách thứ hai. Cuốn này ngốn của tôi thêm hai năm (2005-2007), nhưng may mắn là nó đã đem đến cho tôi thêm 4 điểm viết sách nữa (ấy là do HĐGS ngành Toán bảo rằng nó là sách chuyên khảo có chất lượng tốt; còn nếu Hội đồng bảo nó là giáo trình sau đại học, thì tôi chỉ được tối đa là 3 điểm thôi). Tóm lại, nhờ hai cuốn sách và sự “nhẹ tay” của HĐGS ngành Toán thời đó mà tôi đã có 5,33 điểm viết sách, vượt chuẩn (hú vía!).  Hôm nay, đọc lại bản dự thảo quy chế GS, PGS mới nhất, tôi phát hoảng vì nếu nộp hồ sơ “xin” GS theo chuẩn mới, thì chắc rằng tôi sẽ thiếu điểm viết sách! Thật vậy, cứ cho rằng cả hai cuốn 1 và 2 nói trên lại được xếp là sách chuyên khảo, thì tôi chỉ được tối đa là 1 điểm từ cuốn thứ nhất (3:3=1) và 3 điểm từ cuốn thứ hai, cộng là 4 điểm – vừa đủ yêu cầu “Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ phải có ít nhất 4,0 điểm tính từ sách phục vụ đào tạo”. Nhưng liệu HĐGS ngành Toán 2017 có phẩy tay để bảo rằng cả hai cuốn “tiểu thuyết” của chúng tôi là sách có chất lượng tốt hay không? Tôi không dám chắc mình có thể gặp thần may mắn ở cả hai lần xét!  “Không có sách, bất thành GS” đã là quá khổ. Nhưng có nhiều hơn một cuốn sách cũng chưa chắc thành GS đâu ạ!  Chuyện không bịa số 1 (cũ): Anh A có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc, vừa bảo vệ thành công luận án TSKH ở một cường quốc toán học châu Âu, hồi hộp bay từ Sài Gòn ra Hà Nội để trình bày Báo cáo tổng quan trước một HĐGS ngành. Ngày thứ nhất, Hội đồng họp xét “phần cứng” hồ sơ của các ứng viên. “Tin đâu sét đánh ngang tai”: bốn cuốn giáo trình đại học của anh A viết chung với một vài tác giả khác vẫn không thể đem lại cho anh 3,0 điểm viết sách! Chán nản và thất vọng vì không còn cơ hội trình bày Báo cáo tổng quan trong ngày họp thứ hai của Hội đồng, anh A đổi vé bay về Sài Gòn trong chuyến bay gần nhất. Cho đến nay, anh A vẫn là một nhà khoa học cự phách, một chuyên gia ở tầm quốc tế. Hai học trò của anh đã bảo vệ thành công luận án TS. Vài người khác đang theo học anh để thành TS. Nhưng “không có thêm sách, bất thành GS”. Biết làm sao!  Chuyện không bịa số 2 (mới): PGS.TSKH B là một chuyên gia đầu ngành của Việt Nam, một tấm gương sáng về nỗ lực gây dựng nhóm nghiên cứu lớn với những học trò xuất sắc, một nhà nghiên cứu có khả năng trao truyền cảm hứng sáng tạo và sự thẩm định tinh tế những lý thuyết gai góc. Cùng với một học trò cũ, anh B mới công bố một cuốn chuyên khảo khá dày dặn ở một nhà xuất bản nước ngoài. Theo thang điểm viết sách của bản Dự thảo, nếu anh B nộp hồ sơ “xin” GS (chúng tôi không biết anh có hứng thú làm việc đó không), thì anh mới có 1,5 điểm so với 4,0 điểm theo yêu cầu. Bao giờ cho đến tháng Mười?  Trở lại với hai cuốn sách nói trên, tôi muốn nói rằng cuốn thứ nhất được viết là vì nhóm ba tác giả chúng tôi mong muốn chia sẻ rộng rãi hiểu biết của mình sau hơn 10 năm nghiên cứu khá sâu về “Quy hoạch toàn phương” và “Bất đẳng thức biến phân a-phin”, cùng với mối quan hệ qua lại giữa hai mô hình đó. Cuốn sách này tổng hợp các kết quả từ 18 bài báo của nhóm chúng tôi. Cho dù chẳng bị ai ép buộc thì tự chúng tôi cũng có nhu cầu tổng hợp các kết quả đã đạt được trong một khuôn khổ thống nhất. Còn cuốn thứ hai thì ngược lại, nó được viết chủ yếu là do tác giả của nó bị buộc phải đạt chuẩn viết sách dành cho một ứng viên học hàm GS. Về danh nghĩa, theo tiêu chuẩn đối với ứng viên GS, thì cuốn sách thứ hai cũng để phục vụ công tác đào tạo. Song trên thực tế, thời lượng được dành cho chuyên đề “Giải tích đa trị” mà tôi đã dạy cho một lớp cao học ở Viện Toán và một lớp chọn (lớp “tạo nguồn cao học”) gồm 27 sinh viên từ năm thứ 2 tới năm thứ 4 ở Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh chỉ đủ để trình bày hai chương đầu. Còn ba chương sau thì chỉ phục vụ cho công tác… học hàm. Nếu dừng lại ở hai chương đầu, tương ứng với giáo trình đào tạo cao học, thì bản thảo chưa đủ dày để thành sách. Mà để viết thêm ba chương sau cho thành sách, thì tôi đã phải tốn rất nhiều thời gian “vừa học vừa viết”. Có nhất thiết đòi hỏi các ứng viên GS phải mất thời gian và công sức vô ích như thế hay không?  Trong 10 năm qua, kể từ khi “Giáo trình Giải tích đa trị” đến tay bạn đọc, tôi thường băn khoăn với mấy câu hỏi:  1) Cuốn sách ấy có ích cho ai?  2) Có bao nhiêu người đã đọc nó?  3) Có bao nhiêu người thực sự cần tới nó?  4) Nếu cuốn sách ấy không được viết ra, thì bạn đọc có nguồn tài liệu thay thế hay không?  5) Việc bỏ ra hai năm để viết cuốn sách có phải là một sự lãng phí thời gian hay không?  Các câu trả lời hôm nay của tôi lần lượt là:  1) Cuốn sách ấy có ích cho một số rất ít các học viên cao học và nghiên cứu sinh.  2) Khoảng 30-40 người đã đọc nó.  3) Khoảng 10-15 người thực sự cần nó.  4) Nếu cuốn sách ấy không được viết ra thì mọi người vẫn có thể đọc những cuốn sách chuyên khảo của các chuyên gia nổi tiếng thế giới, ví dụ như cuốn “Set-Valued Analysis” dày 490 trang của Jean-Pierre Aubin và Hélène Frankowska. Hơn nữa, nghiên cứu sinh và học viên cao học có thể lĩnh hội kiến thức trực tiếp từ các bài báo gốc.  5) Bỏ ra hai năm để viết cuốn sách ấy là khá lãng phí, vì chỉ phục vụ quá ít bạn đọc, trong khi tác giả phải hy sinh quá nhiều thời gian đúng vào thời kỳ nghiên cứu sung sức.  Để kết luận, tôi xin được bày tỏ rằng viết sách là một việc hết sức vất vả và đáng trân trọng. Mỗi cuốn sách hay là một tài sản quý giá của một cộng đồng khoa học, hoặc của một cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Các HĐGS ngành có thể chấm điểm cao cho những cuốn sách có giá trị. Nhưng không nên đặt yêu cầu phải có điểm viết sách thành một tiêu chuẩn bắt buộc cho các ứng viên học hàm GS. Có nhiều người giỏi viết báo (ví như những “truyện ngắn” hoặc những “bài thơ” hay), nhưng không giỏi viết sách (ví như những “tiểu thuyết”, những “trường ca”). Viết sách do bị ép buộc, hay khi chưa có đủ hiểu biết sâu rộng về đối tượng nghiên cứu, là điều nên tránh. Xã hội cũng không nên khuyến khích những việc làm vô bổ như thế.  Một vị thiền sư đã nói đại ý như sau: “Nếu bạn yêu ai đó, thì hãy dành cho người ấy một khoảng trời tự do”. Xin hãy dành những khoảng trời tự do thật rộng lớn cho các nhà khoa học trẻ, và cả cho nhiều nhà khoa học không còn trẻ lắm, đang tràn đầy sức mạnh và cảm hứng sáng tạo!  Phụ lục  Vài quy định về việc viết sách từ “Quyết định ban hành Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư” (Dự thảo) 1      “Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính hoặc chủ biên ít nhất 01 (một) sách phục vụ đào tạo. Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn là tác giả chính hoặc chủ biên ít nhất 03 (ba) sách phục vụ đào tạo, trong đó có 01 (một) sách chuyên khảo và 01 (một) giáo trình. Sách đã được hội đồng khoa học do Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập thẩm định và sử dụng để đào tạo từ trình độ đại học trở lên.” (Khoản 5, Điều 8 “Tiêu chuẩn chức danh giáo sư”)      “Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ phải có ít nhất 4,0 điểm tính từ sách phục vụ đào tạo. Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn phải có ít nhất 6,0 điểm tính từ sách phục vụ đào tạo.” (Ý c, Khoản 8, Điều 8 “Tiêu chuẩn chức danh giáo sư”)      “Sách phục vụ đào tạo được tính điểm công trình khoa học quy đổi phải được Hội đồng khoa học do Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập và nghiệm thu. Sách phục vụ đào tạo được xuất bản từ năm 2017 trở đi phải có mã số chuẩn quốc tế ISBN và nộp lưu chiểu trước khi hết hạn nộp hồ sơ. Điểm quy đổi tính như sau:          Tính tối đa 2,0 điểm cho 01 (một) giáo trình.          Tính tối đa 3,0 điểm cho 01 (một) cuốn sách chuyên khảo.          Tính tối đa 1,5 điểm cho 01 (một) cuốn sách tham khảo.          Tính tối đa 1,0 điểm cho 01 (một) cuốn sách hướng dẫn. Từ điển chuyên ngành được tính điểm như sách hướng dẫn.” (Khoản 1, Điều 12 “Điểm quy đổi sách phục vụ đào tạo.          ————————————————  1. http://giaoducthoidai.vn/giao-duc/du-thao-quy-dinh-tieu-chuan-thu-tuc-bo-nhiem-mien-nhiem-chuc-danh-gs-pgs-2845519-v.html    Author                Nguyễn Đông Yên        
__label__tiasang Con đường công lý chông gai      Người ta bảo “con người nô lệ pháp luật là con người tự do”. Trong chế độ pháp quyền, nơi pháp luật minh bạch, dễ tiên liệu, tạo nên những chuẩn mực đáng tin cậy, con người sẽ đỡ run sợ trước cường quyền, thần thế và sức mạnh tiền bạc. Công lý được đảm bảo cho bất kỳ ai có lẽ vẫn chỉ là một giấc mơ, ở cả nước giàu lẫn nước nghèo. Tuy vậy nếu không sớm đặt những nền móng kiến tạo công lý thì mười năm sẽ trôi qua rất nhanh, hệ thống pháp luật giúp Nhà nước cai quản xã hội có thể phình nhanh, song dân tộc chúng ta không tiến xa trên con đường tiến tới chế độ pháp quyền.      Nhà kinh tế học nổi danh Milton Friedman khi nhìn lại hơn một thập kỷ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường ở các nước XHCN trước kia đã bộc bạch rằng: “lời khuyên của tôi cho các quốc gia này chỉ gồm có ba chữ: tư nhân hóa, tư nhân hóa, tư nhân hóa…nhưng tôi đã lầm. Hóa ra xây dựng một chế độ pháp quyền xem ra là một nền tảng còn quan trọng hơn cả tư nhân hóa” 1. Những thế hệ công dân thời chuyển đổi ở Liên Xô cũ và nhiều nước Đông Âu đã khó mà nhận ra quốc gia của họ sau hơn một thập kỷ thực hiện liệu pháp sốc theo lời khuyên của những người theo chủ nghĩa Tân tự do. Ông chủ đã thay khuôn mặt mới, song trong hoang tàn của nền pháp chế XHCN bị quên lãng, một trật tự của cường lực, tiền bạc và những đặc quyền mới được thiết lập. Một nền công lý đáng tin cậy với bất kỳ ai trở nên ngày càng xa vời.  Nhận biết cải cách thể chế cần cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thay vì hối thúc tư nhân hóa, các nhà tài trợ chuyển sang hỗ trợ xây dựng Nhà nước, hỗ trợ xây dựng các nền tảng của quản trị quốc gia và chế độ pháp quyền. Và tại Việt Nam, sự giúp đỡ từ bên ngoài đó cũng bắt gặp những nỗ lực nội tại nhằm xây dựng một trật tự xã hội được quản lý bằng pháp luật.   Sửa Hiến pháp, ghi nhận định hướng xây dựng Việt Nam thành một Nhà nước pháp quyền XHCN, thập kỷ đã qua chứng kiến cuộc xây dựng pháp luật mạnh mẽ, có lẽ là mạnh mẽ nhất trong lịch sử nước ta cho đến nay. Có thể so sánh phần nào với thời Minh Trị canh tân ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, hơn 100 năm sau, Việt Nam cũng bắt tay vào xây dựng những nền móng pháp luật quan trọng cho một xã hội công nghiệp bằng việc ban hành kế tiếp những bộ luật đồ sộ chịu ảnh hưởng từ phương Tây.  Ban hành văn bản pháp luật (VBPL) là một trong vô số những nỗ lực lớn hơn nhằm xây dựng một chế độ pháp quyền, nơi mà quyền tự do sở hữu, tự do cạnh tranh dựa trên những chuẩn mực ứng xử đáng tin cậy, tự do khế ước và quyền tiệm cận công lý của mọi người dân được đảm bảo là sự khác biệt cơ bản giữa một quốc gia công nghiệp và những nước nghèo. Luật pháp dày đặc, song nếu chúng chỉ nhằm thay thế những ông chủ giữ độc quyền, thì danh tước được đổi tên một cách tân thời nhưng nguồn lực trong quốc gia vẫn bị kiểm soát bởi những nhóm lợi ích đặc quyền. Khi ấy hệ thống luật pháp trở thành pháo đài chiến lũy bảo vệ người có quyền và thế lực, ngăn cản quyền tiệm cận nguồn lực và cơ hội thi thố tài năng của người dân. Nếu điều ấy xảy ra, cũng tựa như vô số nước đang phát triển khác, chúng ta có nhà máy lọc dầu và có thể có đường sắt cao tốc, song chưa có nền pháp quyền cần cho một xã hội công nghiệp. Vì lẽ ấy, từ lời tự vấn của M Friedman, nên nhìn nhận quá trình xây dựng hệ thống pháp luật ở Việt Nam với một tầm nhìn lớn hơn, tức là xây dựng một chế độ pháp quyền, bảo đảm công lý cho bất kỳ ai.  Nếu chỉ giúp Nhà nước quản lý xã hội thì chưa đủ, hệ thống pháp luật phải gắn với chế độ pháp quyền, đảm bảo công lý cho bất kỳ ai, không phân biệt họ thuộc nhóm xã hội nào. Nếu pháp luật là những chuẩn mực, thì trong chế độ pháp quyền cần loại bỏ chuẩn mực kép, mọi người dân trong xã hội đều có cơ hội được tiệm cận công lý.   Thập kỷ đã qua đánh dấu nhiều thành tựu lập pháp to lớn, song việc xây dựng chế độ pháp quyền ở Việt Nam vẫn còn là một mục đích xa vời.  ***  Pháp luật không chỉ là công cụ của Nhà nước, luật thành văn được ghi trong VBPL chỉ là một phần nổi của những gì được gọi là luật cai trị trật tự con người. Điều mà con người hiểu, nhận ra, thỏa thuận với nhau và ghi thành luật (luật thế tục, do con người làm ra, positive law) chỉ là một phần trong vô tận quy luật tất nhiên, ung dung tự tồn tại trên đời này (luật tự nhiên, natural law). Trong cuộc ganh đua trí tuệ khám phá ra luật ở đời, quy phạm cũ không hợp lý bị loại bỏ thay thế bằng điều mới hơn, hệ thống pháp luật vì thế không tĩnh, mà động, vô tận, không ngừng nghỉ, đào thải cái cũ, nhận ra cái mới tiến dần đến những quy luật này càng hợp với công lý của tự nhiên. Góp phần vào hệ thống pháp luật, vì lẽ đó ngoài VBPL còn có học lý của giới nghiên cứu luật học, lẽ công bằng mà người thẩm phán cảm nhận được. Những nguồn pháp luật đa dạng này tựa như lá cành thân rễ, tất cả tạo nên một hệ thống pháp luật vững chãi khởi nguyên từ pháp luật tự nhiên.  Nếu hiểu pháp luật là một thể chế xã hội, thay cho con người ghi nhớ lại những chuẩn mực ứng xử, khi ấy hệ thống pháp luật còn bao gồm những thiết chế góp phần thực thi pháp luật, ví dụ cơ quan chấp pháp bảo đảm thực thi pháp luật, cơ quan bảo đảm và giữ gìn công lý trong thực hiện quy phạm pháp luật. Khi ấy xây dựng hệ thống pháp luật không thể tách rời xây dựng hệ thống tòa án, cơ quan điều tra, công tố và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác. Nếu nhìn nhận như vậy, Việt Nam đã qua một thập kỷ xây dựng văn bản pháp quy với tốc độ gia tăng một cách dày đặc dần, song cuộc du nạp các tòa án độc lập và những thiết chế thực thi pháp luật vẫn còn rất dang dở. Cuộc tranh luận về án đụng trần, về quyền giám sát của Quốc hội đối với các bản án của tòa án, thậm chí những cuộc tiến thoái không rõ chủ đích trong tầm nhìn cải cách đối với Viện kiểm sát nhân dân cho thấy một thái độ chưa thật dứt khoát, chưa đủ quyết tâm xây dựng một hệ thống tư pháp độc lập, đủ mạnh. Trong tương quan với sức mạnh của Chính phủ, ngành tòa án của Việt Nam đang có một vị thế khiêm tốn hơn rất nhiều.   .      Những cản trở từ văn hóa pháp luật và ý thức hệ tư tưởng  Không thể xây dựng một chế độ pháp quyền ở một nước nghèo như Việt Nam bằng cách thả dù một toán cố vấn từ các nước giàu hoặc vay tiền nước ngoài để làm luật và du nhập các thể chế thực thi pháp luật. Nhà nước và pháp luật hiệu quả (rational Staat, rationales Recht) theo ngôn ngữ của Max Weber cần cho một xứ công nghiệp là những thể chế khan hiếm, chỉ xuất hiện và thành công ở một số nơi trên Trái đất này dưới những điều kiện nhất định2. Quyền tư hữu và mơ ước làm giàu có ở mọi nơi, mọi lúc, đúng với mọi giống người, song điều gì đã làm cho chủ nghĩa tư bản đã ra đời ở Hà Lan và Anh lan dần sang Bắc Mỹ và Tây Âu, giúp họ sớm trở thành các quốc gia công nghiệp giàu có, trong khi phần còn lại của Trái đất thuở đó vẫn chìm đắm trong đói nghèo? Một chế độ pháp quyền cần tới những tiền đề nhất định để xuất hiện và được duy trì một cách bền vững. Những điều này liệu đã có ở Việt Nam trong thập kỷ tới đây?  Trong truyền thống pháp luật phong kiến phương Đông cũng như theo tư duy của nền pháp chế XHCN người ta đều quan niệm pháp luật là công cụ của Nhà nước nhằm thiết lập kỷ cương và trật tự xã hội theo ý chí của người cầm quyền. Một thập kỷ qua, Việt Nam đã du nhập đáng kể các văn bản pháp luật trên giấy cần cho Chính phủ để điều hành đất nước. Tuy nhiên, nếu quan niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” nặng về tư duy “pháp trị” với chữ “Nhà nước” viết hoa còn chữ “nhân dân” thì viết thường có nghĩa là, người Việt Nam vẫn thượng tôn Nhà nước. Chúng ta đã gắng du nhập những công cụ quản lý mới, tiện và hợp thời cho Nhà nước cai trị xã hội, song cái gọi là chế độ thượng tôn pháp luật có thể vẫn còn xa vời.  Văn hóa pháp luật Việt Nam, một cuộc hôn nhân lịch sử giữa tư tưởng pháp luật thời phong kiến bén duyên nhanh với quan niệm pháp chế XHCN dùng pháp luật như một công cụ để triển khai các đường lối của Đảng và giúp Nhà nước quản lý được xã hội, có thể sẽ là một cản trở đáng kể để du nhập chế độ pháp quyền, nơi mọi công dân, mọi nhóm lợi ích đều bình đẳng về cơ hội tiệm cận các nguồn tài nguyên và quyền lực trong quốc gia.   Từ quan niệm cần có pháp luật như công cụ để quản lý, không ngạc nhiên Chính phủ nước ta đã là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn bộ quy trình làm luật. Chính phủ đã đứng sau tất cả những thành tựu lập pháp đồ sộ trong một thập kỷ qua, bởi Chính phủ có nhu cầu cần pháp luật để thể hiện các chính sách điều hành quốc gia. Chính phủ đã trở nên mạnh mẽ, có trong tay nhiều quyền lực điều hành quốc gia, tất cả các quyền lực ấy đều được hợp pháp hóa bằng pháp luật. Đó là một mặt của tấm huy chương. Song nếu không có sự gia tăng quyền lực một cách hợp lý cho cơ quan dân cử và tòa án, sẽ không có lực lượng nào đủ sức mạnh để giám sát và ép buộc được trách nhiệm giải trình của Chính phủ. Sự thiếu vắng của trách nhiệm giải trình là một trong những điểm yếu rõ rệt cho thấy một hệ thống pháp luật ngày càng dày đặc tuy là cần, song chưa hẳn đã đủ để tiến tới một chế độ thượng tôn pháp luật.  Vì lẽ đó, một thập kỷ tới phải là san sẻ và phân bổ quyền lực nhằm xác lập trách nhiệm giải trình của Chính phủ. Không chỉ là công cụ quản lý quốc gia trong tay Chính phủ, pháp luật phải trở thành công cụ trong tay người dân để giám sát, ép buộc Chính phủ phải làm việc minh bạch hơn, hiệu quả hơn. Vì lẽ ấy, kiểm soát Nhà nước, nâng cao trách nhiệm giải trình của các thiết chế quản trị quốc gia, đặc biệt là của Chính phủ và nền hành pháp, có thể nên là một chủ đề cần nhấn mạnh gắn liền với xây dựng hệ thống pháp luật ở Việt Nam trong thập kỷ tiếp theo.   ———————  1 Milton Friedman (2002), in Economic Freedom of the World: 2002 Annual Report, pp xvii-xxi  2 Max Weber, Die protestantische Ethik und der Geist des Kapitalismus- Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1920, NXB Tri Thức 2008)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường- định hướng      Đến ngã ba, người lạ thường hỏi đường đi tiếp và thường được chỉ đi theo đường này!  Đi theo đường này, một ví dụ mẫu mực về “Định hướng”: Một con đường có thật. Con đường bắt đầu từ ngã ba này, một nơi có thật. Con đường dẫn đến nơi kia, tuy không nhìn thấy bằng mắt trần, nhưng cũng là có thật. Nơi đi có thật trên thực địa, nơi đến có thật trong tư duy. Cái có thật trong tư duy đặc trưng cho trình độ văn minh thế kỷ XXI.    Nhớ lại thời đánh bắt – hái lượm, cái có thật hôm nay cũng là cái có thật ngày mai, cái có thật trên thực địa cũng là cái có thật trong tư duy. Đến thời nông nghiệp lạc hậu, cái có thật hôm nay (mạ) biến thành cái có thật ở cuối vụ (thóc) chỉ cách nhau mấy tháng, nên cũng chưa khác mấy với thời hái lượm, nhưng lại tạo ra một bước tiến đáng kể về tư duy: Từ thụ động (hái lượm) sang chủ động (trồng trọt).  Tư duy chủ động hình dung trong đầu cái sẽ có, dù là cái sẽ có để “phải sống đã” hay để “sống tốt hơn”. Trong mọi trường hợp, Cuộc sống thực bao giờ cũng sống bằng các sản phẩm vật chất. Xưa nay, thời nào cũng vậy, tư duy gắn liền với cung cách làm ăn, mà rút cục, thâu tóm vào quá trình làm ra sản phẩm.  Quá trình làm ra sản phẩm, ví dụ, hạt thóc, về bản chất, chính là quá trình phát triển tự nhiên (nội tại) của hạt giống. Để có được sự phát triển nội tại, hạt giống phải lấy thêm năng lượng vật chất từ bên ngoài: nước, phân, rồi đất đai, thời tiết… Theo rõi hàng ngàn vạn chu kỳ từ hạt giống đến hạt thóc, tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa rút ra một công thức định tính: nước – phân – cần – giống. Một nhân tố như nước, khi dùng vào quá trình sản xuất cần phải định lượng, lúc nào cần nước, cần bao nhiêu nước… thì phải trông chờ vào kinh nghiệm cá nhân, mà đáng tin hơn cả là kinh nghiệm của “lão nông tri điền”.  Xử lý bằng kinh nghiệm, tư duy căn cứ vào quá trình làm ra sản phẩm, cũng là quá trình phát triển tự nhiên  (nội tại) của sản phẩm, mà nhận ra các nhân tố cấu thành (cả định tính lẫn định lượng). Ngặt nỗi, không những bốn nhân tố cấu thành “nước – phân – cần – giống” mà còn có quá nhiều nhân tố khác nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nông (giá lạnh hay khô hanh, lũ lụt hay hạn hán…). Dẫu sao, tư duy phân giải quá trình sản xuất ra các nhân tố cấu thành (nước – phân –  cần – giống) cũng là một thành tựu có tính định hướng. Theo sự định hướng này, từ thế kỷ XVI, lịch sử bắt đầu cựa quậy, rồi vẫy vùng, và mãi đến thế kỷ XVIII, thì mới đủ sức làm nổi việc phân giải quá trình sản xuất ra các nhân tố cấu thành nó, ngay tại nó, không phụ thuộc vào ý chí cá nhân người phân giải. Đó là bản chất của một nguyên lý mới để tổ chức quá trình sản xuất làm ra một sản phẩm, gọi tắt là Công nghệ sản xuất. Còn phải tốn thêm hai thế kỷ nữa thì lịch sử mới vươn lên một tầm cao mới gọi là Công nghệ cao. Từ thế kỷ XVIII, lịch sử hiện thực được “định nghĩa” bằng nguyên lý sản xuất đại công nghiệp với công nghệ làm ra một sản phẩm tất yếu. Nhờ tính tất yếu ấy, ngày nay, để “định nghĩa” thế kỷ XXI, có thể chỉ dùng một công nghệ cao. Đã có công nghệ cao trong sản xuất vật chất, thì cũng một cách tất yếu như thế,  rồi sẽ có “Công nghệ cao” trong tất cả các lĩnh vực còn lại, trong đời sống xã hội, trong giáo dục.  Tất cả những gì đang có và sẽ có trong Cuộc sống thực hiện đại đều là các hình thái khác của tư duy. Sớm nhận ra đặc điểm ấy của tư duy, từ thế kỷ XIX, Mác nói rằng không những lý thuyết phải biến thành thực tiễn, mà thực tiễn cũng phải vươn lên cho ngang tầm lý thuyết.  Thực tiễn phải vươn lên cho ngang tầm lý thuyết diễn nôm như sau: cái “ngang tầm lý thuyết” rồi sẽ có trong thực tiễn thì ngay bây giờ “ đã có” trong tư duy. Nhờ vậy, tư duy hình dung (một cách lý thuyết) con đường từ cái hiện có (chỗ ngã ba đường) đến cái sẽ phải có (Đài độc lập – tự do – hạnh phúc). Ở đây, tư duy lý thuyết suông và tư duy biện chứng phân biệt nhau chỉ bằng một tiêu chí về con đường – định hướng. Con đường do tư duy biện chứng hình dung là con đường sản xuất vật chất, vận động theo lôgic nội tại, theo tiến trình phát triển tự nhiên của nó. Đành rằng quá trình sản xuất vật chất do con người tổ chức, nhưng nó vẫn độc lập với ý chí của con người. Hơn nữa, nó buộc ý chí phải tuân theo lôgic phát triển nội tại của sản phẩm. Chừng nào tư duy phát hiện ra lôgic nội tại của sự hình thành sản phẩm thì mới hòng tổ chức và kiểm soát được quá trình làm ra sản phẩm. Mỗi sản phẩm kết tinh trong bản thân mình toàn bộ quá trình sản xuất, với nghĩa đó, sản phẩm “đã có” ngay từ đầu, khi quá trình thực tiễn vừa khởi động.  Cái “đã có” từ đầu là “đã có” trong tư duy, nó là kẻ định hướng cho sự vận động thực tiễn. Trong nền sản xuất bằng công nghệ cao, sự định hướng hiện hình ra ở bản thiết kế. Như vậy, trong thực tiễn, Cuộc sống thực hiện đại tồn tại và vận động dọc theo mối quan hệ thiết kế-thi công, mà hình thái trực quan là sản phẩm.  Trong nền văn minh hiện đại, một chu kỳ vận động của Cuộc sống thực bắt đầu từ (1) sản phẩm (trong tư duy) – (2) thiết kế (trong tư duy) – (3) thi công (trên thực tiễn) – (4) sản phẩm (trên thực tiễn). Từ sản phẩm trong tư duy đến sản phẩm trên thực tiễn, Cuộc sống thực vận động một cách tự giác, theo định hướng từ đầu. Ngày nay, định hướng chuẩn xác nhất là định hướng bằng công nghệ cao, làm ra sản phẩm tất yếu với những đặc điểm mà tư duy hình dung từ đầu.  Ngọn sóng đã dậy lên trong sản xuất vật chất thì sớm muộn gì, với một tính tất yếu đanh thép, rồi cũng lan đến các lĩnh vực khác của Cuộc sống thực, – của đời sống xã hội, của giáo dục.  Sản phẩm tư duy thường được manh nha từ một ý tưởng mơ hồ. Ý tưởng này ngày càng hiện ra rõ dần, cụ thể hơn, thành một lý thuyết. Một lý thuyết nghiêm túc (không phải là lý thuyết suông, ảo tưởng) phải có nguồn gốc vật chất, dựa trên một cơ sở vật chất vững chắc, đủ sức tạo ra cho chính mình một hình thái thực tiễn (thường quen nói là lý thuyết có thể biến thành thực tiễn).  Nếu lý thuyết có thể biến thành thực tiễn thì tự nó đã có nghĩa là thực tiễn có thể vươn lên ngang tầm lý thuyết. Thế nên đặc điểm cơ bản nhất của nền văn minh hiện đại thế kỷ XXI là sự vận động tự giác, thực hiện bằng Công nghệ cao.  Công nghệ cao trong sản xuất vật chất là hình ảnh đáng tin cậy về con đường lý thuyết, cho đời sống xã hội và giáo dục đi tới một cách tự giác. Vậy nên, điều quan trọng mang tính quyết định là phải có con đường – định hướng, miễn là có, gần xa không quản ngại, cũng chẳng quan trọng gì rộng hẹp, dài ngắn, bằng phẳng hay gồ ghề… Định hướng xã hội chủ nghĩa biểu lộ tính tự giác của tư duy, manh nha từ một ý tưởng lý thuyết, nảy sinh trên cơ sở nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí thế kỷ XVIII.  Công nghệ sản xuất chẳng qua là một hình thái của tư duy. Nhìn lại tiến trình phát triển của tư duy, đáng chú ý nhất là hai bước chuyển nguyên lý:  Một, từ hái lượm sang trồng trọt, là bước phát triển từ thụ động sang chủ động. Tính chủ động ở trình độ này đặc trưng bởi tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa.  Hai, từ nông nghiệp lạc hậu sang đại công nghiệp, đặc trưng bởi tư duy khoa học, bởi tính tự giác khoa học.  Về học thuật, xem ra khó thuyết phục nhất nhưng cần phải thuyết phục và phải thuyết phục bằng được: Tư duy khoa học hiện đại dù phát triển đến cỡ nào, trong bất cứ lĩnh vực nào, cũng chỉ có thể phát triển từ sản phẩm của giáo dục nhà trường hiện đại, như cây đời phát triển từ hạt giống đem gieo.  Về mặt xã hội – chính trị, chẳng dễ gì thuyết phục nổi bằng ngôn từ, nhưng có thể thuyết phục bằng việc làm, bằng sự mẫn cảm tư duy: Con đường – định hướng xã hội chủ nghĩa xây dựng trên nền móng giáo dục nhà trường hiện đại. Cả lý thuyết lẫn thực tiễn xử lý nền giáo dục nhà trường hiện đại (cả thiết kế lẫn thi công) là sự thử thách một có một không hai đối với “Định hướng xã hội chủ nghĩa”, dù xét về mặt học thuật hay xét về mặt xã hội – chính trị.      Hồ Ngọc Đại       Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường nào cho nền hoà bình thế giới      Chiến tranh và hòa bình đi đôi với nhau và luôn là đề tài muôn thuở của con người. Mở đầu chương “Lịch sử và chiến tranh” trong sách Bài học của lịch sử (The Lessons of History), hai nhà sử học Will &amp; Ariel Durant đã nói ngay, chiến tranh là một trong những sự thực lịch sử thời nào cũng xảy ra, “khi loài người bắt đầu văn minh nó đã không bớt, mà khi chế độ dân chủ xuất hiện, nó cũng không giảm…” (bản tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 133). Nói chuyện về một giải pháp hòa bình còn tương đối dễ, thực hiện hoà bình, nhất là hòa bình cho toàn thế giới, thì thật là thiên nan vạn nan.       Có thể nói đó cũng là câu chuyện của muôn đời, bởi trong lịch sử nhân loại, không nơi này thì nơi khác, bao giờ cũng có những cuộc chiến tranh đẫm máu, mà hiện nay, lò lửa chiến tranh và hiện tượng khủng bố vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi và ngày một gia tăng với những loại vũ khí giết người ngày càng hiện đại. Đặc biệt gây chấn động kinh khiếp chưa từng có trong lịch sử là những cuộc khủng bố giết người hàng loạt gần đây, xâm nhập cả vào những quốc gia mà hàng chục năm về trước hầu như vẫn được sống trong bầu không khí tương đối yên bình (như Pháp và vài nước Bắc Âu). Lý tưởng về một thế giới đại đồng trong đó bốn biển coi nhau như anh em vì thế vẫn còn mờ mịt ở đâu đó rất xa, và không phải hoàn toàn vô lý khi có nhiều người dựa trên kinh nghiệm thực tế lịch sử mà cho rằng điều này chỉ là một mơ ước tốt đẹp nhưng hầu như không thể thực hiện được trên phạm vi toàn cầu, chừng nào mà con người vẫn còn có lòng tham với đủ thứ dục vọng này khác.  Muốn có hòa bình đơn giản chỉ cần diệt bỏ lòng tham, không tranh chấp hơn thua nhau về kinh tế vật chất hay ý thức hệ chính trị, tôn giáo nữa, nhưng đó chỉ là lý thuyết suông. Ai cũng biết chiến tranh là do sự kỳ thị lẫn nhau về tôn giáo hoặc chính kiến (ý thức hệ), nhưng những thứ này thật ra chỉ là bề nổi khi cần thì trưng ra để phủ lên cái lớp thực chất bên trong là những cuộc tranh chấp về quyền lợi kinh tế, trong một thế giới mà tài nguyên thiên nhiên và các nguồn của cải khác vốn dĩ giới hạn và phân bố không đồng đều, trong khi ý chí của kẻ mạnh là muốn chia lại để giành được phần hơn. Điều này chính Marx cũng đã từng phát biểu, đại khái rằng khi người ta hành động thì thường tìm cách đưa ra những chiêu bài cao siêu này khác, nhưng thực tế chỉ là tranh chấp nhau về của cải vật chất. Sự làm giàu lên của nước này sau khi đã khai thác hết phần tài nguyên thiên nhiên của mình, do vậy thông qua những con đường quanh co chắc chắn phải là sự nghèo đi của nước khác nếu vấn đề chia của không được giải quyết trên cơ sở của tình liên đới và luật công bằng. Thực tế cho thấy mỗi khi chiến tranh sắp sửa hoặc đang nổ ra ở đâu đó thì liền có những tiếng nói kêu gọi hòa bình vang lên của các nhà đạo đức, các lãnh tụ tôn giáo, hay của các tổ chức quốc tế mà cơ quan cao nhất là Liên Hiệp Quốc, nhưng dường như không bao giờ ngăn cản được chiến tranh xảy ra. Các bên tham chiến thường tảng lờ lời khuyên của Giáo hoàng hoặc của ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc mà vẫn hành động theo ý chí của họ cho đến khi cuộc chiến ngã ngũ, trong đó có một bên đã thắng lợi và thỏa mãn. Công dân các nước tuyên chiến cũng có người phản đối chiến tranh vì lòng nhân đạo hoặc vì sợ con em họ có thể bị thiêu thân vào lò lửa, và tuy phản đối vậy nhưng nếu bảo họ hi sinh bớt một số quyền lợi bằng cách chấp nhận cuộc sống kiệm ước và đạm bạc hơn thì họ lại nhao nhao lên phản đối, bảo rằng nhà cầm quyền không chăm sóc tốt đời sống cho họ. Vì vậy nhà cầm quyền nào muốn đứng vững cũng phải thỏa mãn cái bao tử đầy ham hố cùng những thứ dục vọng xa xỉ khác trên mức sinh tồn của các công dân bằng cách gom góp của cải các nơi mang về, khi không thể bằng con đường thương mại bình thường được thì phải phát động chiến tranh và đưa ra đủ thứ chiêu bài giả dối để khỏa lấp tội ác. Đó là lý do của sự phân hóa thành hố ngăn cách giàu nghèo trầm trọng giữa các nước mà cũng là mầm mống của các mối mâu thuẫn tạo nên tình trạng bất ổn định thường trực trên phạm vi toàn cầu xưa nay.         Ai cũng biết chiến tranh là do sự  kỳ thị lẫn nhau về tôn giáo hoặc chính kiến (ý thức hệ), nhưng những thứ  này thật ra chỉ là bề nổi khi cần thì trưng ra để phủ lên cái lớp thực  chất bên trong là những cuộc tranh chấp về quyền lợi kinh tế, trong một  thế giới mà tài nguyên thiên nhiên và các nguồn của cải khác vốn dĩ giới  hạn và phân bố không đồng đều, mà ý của kẻ mạnh là muốn chia lại để  giành được phần hơn.          Thế giới không ổn định rõ ràng vì con người luôn sống ích kỷ, khi có điều kiện đủ mạnh thì muốn thu tóm quyền lực và quyền lợi nhiều hơn kẻ khác, từ cá nhân, gia đình, cho đến quốc gia xã hội… Nhiều quốc gia còn có tham vọng làm bá chủ thiên hạ, bằng cách tập hợp thành những liên minh xung đột nhau, tạo nên cục diện đa cực hóa chia ba chia bốn thế giới, khiến cho một nước nhỏ nghèo dù có muốn thủ phận đứng riêng một mình cho được yên thân cũng không được. Trong các nước nhỏ nghèo này lại thường có những phần tử hoặc phe phái chính trị mạnh hơn và đầy tham vọng, tìm cách vượt lên vai trò thống trị, hình thành các nhóm đặc quyền sẵn sàng câu kết với nhau và với bất kỳ đế quốc bên ngoài nào để củng cố vây cánh quyền lực mà đè đầu cưỡi cổ nhân dân lao động cùng khổ trong nước, nhưng cũng núp bóng dưới những chiêu bài dân tộc này khác.  ***  Ở đời, nghĩa và lợi thường rất khó kết hợp ổn thỏa với nhau. Muốn có hoà bình, trên lý thuyết mọi người chỉ cần sống theo hướng tiết dục của các nhà tu là được. Nhưng như trên đã nói, cái tâm con người thì lại luôn tham dục vọng động, vừa muốn được tiếng là nhân nghĩa nhưng cũng vừa muốn sống sung sướng hơn kẻ khác, nên các nhóm chính trị miệng thường huênh hoang nói hòa bình theo kiểu các nhà ngoại giao mà tay chân thì lúc nào cũng thủ sẵn vũ khí; nước nào cũng lo chạy đua vũ trang bằng cách bỏ rất nhiều tiền của để phát triển công nghiệp quốc phòng, dấn mình cuồng nhiệt vào hành vi chiến tranh mà thực chất là làm lung lay tận gốc rễ chính cái lý do khiến họ cần chiến đấu. Ngay như có những quốc gia gọi là những nước theo nền kinh tế Phật giáo (buddhist economy) vốn chú trọng đời sống tâm linh hơn là hoạt động kinh tế, vẫn bị lôi cuốn vào cục diện xào xáo chung (như Campuchia, Lào, Myanmar…), không đứng vào phe này thì cũng bị coi như thuộc một phe khác, dù muốn hay không muốn cũng không thể tách mình ra khỏi những cuộc đấu tranh không phải do mình chủ động.  Nếu tạm chấp nhận những phân tích như trên là hợp lý thì chiến tranh cũng là một yếu tố không đi ngoài quy luật vận động đấu tranh sinh tồn của loài người, điều này có nghĩa là trên thực tế hầu như không thể tránh được chiến tranh, như lời nhận định dựa trên thực tế lịch sử thế giới của Will & Ariel Durant vừa được dẫn ở trên. Tuy nhiên, ngay trong nhận định có vẻ bi quan này, người ta cũng còn nhiều tranh cãi: các nhà sử học dễ dàng chấp nhận nó như một thực tại khách quan vượt trên ý chí con người, trong khi các nhà hoạt động tôn giáo thì nhất định không chịu như vậy, luôn tìm cách cổ vũ cho nền hoà bình. Kết quả là ai hô hào kêu gọi cho hòa bình thì cứ việc kêu gọi, hô hào, trong khi các cuộc chiến tranh dưới hình thức nội chiến, xâm lược hay khủng bố vẫn thản nhiên xảy ra bất chấp mọi sự tố cáo của các nhà đạo đức, như lịch sử cả trong quá khứ lẫn hiện tại đã nhiều lần chứng tỏ.        “Chúng ta sẽ đạt đến cái gì dù  chúng ta đã đặt chân lên cung trăng, nếu hố ngăn cách giữa con người với  con người không được vượt qua một cách sáng suốt và minh triết? Đây mới  chính là cuộc du hành quan trọng nhất trong các cuộc du hành mà nếu  không có nó thì tất cả mọi chuyện khác đều không những vô ích mà còn có  hại nữa”.   Thomas Merton (1915-1968)          Mặc dù có vẻ bế tắc và tuyệt vọng như trên, lương tâm con người vẫn không thể nào yên khi hằng ngày nhìn thấy những thảm cảnh chết chóc đau khổ do chiến tranh và khủng bố gây ra ở khắp mọi nơi, có khả năng lan rộng thành cuộc thế chiến đe dọa hết thảy mọi người, không loại trừ công dân của những quốc gia đang sống trong nghèo đói vì thiếu nước uống và thức ăn, hay cả các tộc người hiền lành sống ở những bộ lạc xa xôi nào đó, chưa từng hưởng được cái gọi là thành quả của nền văn minh nhân loại. Thế thì những lời kêu gọi hòa bình lên án chiến tranh dù trong hi vọng mong manh đến mấy vẫn có vẻ hữu ích, theo kiểu thà có còn hơn không, cố gắng đến đâu hay được đến đấy. Xét cho cùng, mọi lời kêu gọi cho hòa bình cũng là tự nhiên và đương nhiên, không phải muốn hay không muốn, tin hay không tin có hòa bình, theo nghĩa những lời kêu gọi ấy cũng là kết quả của phản ứng tự nhiên đi liền theo với chiến tranh mà thôi, trong cuộc chiến đấu chưa phân thắng bại giữa cái thiện với cái ác!  Và cũng theo nghĩa ấy, khoảng trên 40 Sứ điệp Ngày hòa bình thế giới chẳng hạn của các đức Giáo hoàng ban ra từ năm 1968 đến nay, cũng như những lời kêu gọi tha thiết mới đây nhất trong mấy bài nói chuyện trước Quốc hội Hoa Kỳ (24.9.2015) và trụ sở Liên Hiệp Quốc (25.9.2015) liên quan vấn đề gìn giữ hòa bình thế giới và bảo vệ môi trường hành tinh của Giáo hoàng Phanxicô, nếu không đạt được những kết quả cụ thể hiển hiện thì ít nhất cũng hữu ích trong tác dụng giáo dục nhằm xây dựng tâm thức và động viên ước muốn của con người hướng về mục tiêu đấu tranh không mệt mỏi cho nền hòa bình thế giới. Việc đáng làm thì phải làm, còn kết quả là một lẽ khác, dù sao cũng không có gì giống với thái độ buông xuôi đầu hàng tội ác một cách hoàn toàn tiêu cực.   ***  Để kiến tạo được nền hòa bình trong tương lai, kinh nghiệm cho thấy chúng ta ít có thể hi vọng được gì nhiều ở mấy ông tổng thống hay thủ tướng đương nhiệm của một số cường quốc, vì không ít người trong số họ đều là những kẻ “miệng nam mô bụng bồ dao găm”, bề ngoài tuyên bố hoà bình và xưng tội với Chúa nhưng bề trong thì luôn luôn chuẩn bị cho chiến tranh không từ bất cứ một thủ đoạn nào. Trái lại, chúng ta chỉ có thể hi vọng ở kết quả của sự giáo dục đối với công dân các thế hệ măng non trên toàn thế giới, bằng cách gieo vào lòng họ khát vọng hòa bình, mà điều kiện của khát vọng đó là một đời sống biết chế ngự tham vọng để không quá tôn thờ chủ nghĩa trục vật chuyên chạy theo nền văn minh vật chất như tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay.  Trong tinh thần đó, Sứ điệp Ngày hòa bình thế giới 01.01.2004 với chủ đề “giáo dục hoà bình” của Giáo hoàng Gioan Phaolô II mặc dù đã được phát biểu cách nay trên 10 năm song vẫn có vẻ còn giá trị hợp thời và không lạc điệu. Một trong những ý chính của Sứ điệp nêu rõ: “Để có hòa bình, hãy giáo dục hòa bình…Ngày nay lời kêu gọi này còn khẩn thiết hơn bao giờ hết, bởi vì con người, khi đứng trước những thảm trạng tiếp tục gây tổn thương cho nhân loại, đang bị cám dỗ khuất phục trước chủ nghĩa định mệnh, coi hòa bình như một lý tưởng không bao giờ đạt được”. Và với một tinh thần còn khá lạc quan, bản Sứ điệp viết tiếp: “Hòa bình là điều có thể…, hòa bình là một nghĩa vụ. Hòa bình phải được xây dựng trên bốn trụ cột này: là sự thật, công lý, tình yêu và tự do. Một nghĩa vụ được đặt ra cho tất cả những ai yêu mến hòa bình là nghĩa vụ giáo dục thế hệ trẻ về các lý tưởng hòa bình ấy”.     Nhưng muốn có sự thật, công lý, tình yêu và tự do, nghĩa là muốn có hòa bình, thì mỗi cá nhân con người phải thôi sống ích kỷ, giảm bớt dục vọng, sự kỳ thị và tranh chấp, để mở lòng ra đón nhận và chia sẻ với đồng loại, trong số tài sản còn lại của ngôi làng Địa cầu mà chúng ta không sợ ít, chỉ sợ chia không đều. Trong chiều hướng đó, một nền kinh tế nhân bản phát triển bền vững trên cơ sở dung hợp giữa nhu cầu vật chất và cuộc sống tâm linh có vẻ là đề tài tham khảo tốt cho sự lựa chọn để duy trì nền hòa bình thế giới, vì đặc điểm của nó là không quá thiên trọng lợi ích vật chất do đó mà cũng bớt cần phải giành giật chi cho mệt, với cuộc sống hướng về những giá trị tâm linh nhiều hơn, tuy có thể thiếu vẻ rực rỡ bề ngoài của cuộc sống văn minh giàu mạnh nhưng con người lại đối xử với nhau một cách hòa bình và tử tế. Lối sống theo hướng như vậy không đòi hỏi phải tập trung quá nhiều và căng thẳng vào những việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách vội vã theo kiểu tiến nhanh tiến mạnh, cho phép cộng hưởng được những niềm vui trần thế tuy có đạm bạc hơn chút ít cho mỗi người trong xã hội nhưng lại bền bỉ lâu dài, không cần gì phải giành giật chà đạp lên nhau hoặc chờ đến máu đổ thịt rơi mới nhận được.   Theo đức Giáo hoàng Phanxicô trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội Hoa Kỳ vừa qua thì “Nếu chính trị phải thực sự phục vụ con người, thì tiếp theo, nó không thể làm nô lệ cho kinh tế và tiền bạc. Vì thế chính trị là một cách diễn đạt nhu cầu bức thiết của con người là được sống đồng thuận, để đồng lòng xây dựng lợi ích chung lớn lao nhất: lợi ích của cộng đồng biết hi sinh những lợi ích riêng để chia sẻ, trong công lý và hòa bình, những của cải, lợi ích, đời sống xã hội của cộng đồng…” (xem nguyệt san Công Giáo & Dân Tộc, số 249, tháng 10.2015, tr. 23).  Hoặc: “Một nhà lãnh đạo chính trị tốt là người biết nghĩ đến lợi ích của mọi người để nắm bắt thời cơ trong tinh thần cởi mở và thực tiễn. Một nhà lãnh đạo chính trị tốt luôn quan tâm tới việc khởi động các tiến trình [đối thoại hòa bình] hơn là chiếm hữu không gian” (Nt, tr. 27-28).    Có thể nói, những lời khuyến cáo minh triết về chính trị như vừa nêu trên, giả định được tất cả các nhà lãnh đạo cấp cao trên toàn thế giới chia sẻ đầy đủ và khắc cốt ghi tâm, bằng hành động quyết tâm hòa giải trong lòng mỗi dân tộc và giữa các quốc gia với nhau, thì nền hòa bình mới có cơ được thực hiện từng bước khả quan hơn. Tuy nhiên điều hi vọng này xem ra có vẻ mong manh, bởi thực tế cho thấy không ít nhà lãnh đạo chính trị ở nơi này nơi khác trên thế giới hiện nay vẫn còn chìm đắm trong những cơn say mê quyền lực và quyền lợi cá nhân ích kỷ, qua việc họ chỉ bận tâm thu tóm của cải cho mình và cho những tập đoàn lợi ích trong cùng phe nhóm, dưới hình thức dung túng nạn tham nhũng bằng những cơ chế chính trị lạc hậu, đẩy nhân dân lao động vào tình thế lao đao lận đận không lối thoát. Với thái độ hành xử như vậy, dường như họ không còn đủ thời gian và đầu óc tập trung nghiên cứu, nghiền ngẫm sâu xa những vấn đề bức xúc chung ngay cả gần bên của dân tộc họ chứ đừng nói chi xa đến toàn thế giới!    Trong khi chờ đợi khá lâu lắt thiện chí của các nhà lãnh đạo chính trị hiện tại, con đường dẫn tới nền hòa bình thế giới vì thế chỉ có thể hi vọng đạt được dần dần trong tương lai, nhờ vào những thế hệ trẻ hơn, với lương tri tốt hơn, sau khi họ đã có được đầy đủ hơn kinh nghiệm và sự tỉnh thức bằng cách sọi rọi lại việc làm của cha anh trong quá khứ. Nhưng để đạt được điều đó, trước hết cần đến sự phản tư/ phản tỉnh ở chính bản thân mỗi con người thể hiện bằng hành vi biết dung hòa giữa những giá trị tinh thần và vật chất trong đời sống hằng ngày, không nhắm mắt chạy theo tiền bạc của cải, từ đó tham gia phát triển kinh tế – xã hội bền vững và bảo vệ môi sinh, bảo vệ con người, trong một thể chế chính trị nhân bản dân chủ, coi quyền con người và lợi ích của thường dân là luật pháp tối thượng. Không dựa vào sự tu tỉnh, phản tỉnh bản thân này từ mỗi cá nhân con người thì cũng không còn gì khác ở bên ngoài để có thể trông cậy được, và nền hòa bình khi ấy vẫn sẽ tiếp tục chỉ là một ảo vọng mà thôi!        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bằng thương mại cho tất cả      Cách đây hơn ba năm, trong cuốn “Toàn cầu hóa và những người bất mãn nó”*, viết ngay sau khi ông rời ghế Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, Stiglitz đã làm sôi nổi dư luận với những chỉ trích Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khá nặng nề, đôi lúc hơi cá nhân, của ông. Trong cuốn Công bằng thương mại cho tất cả, viết chung với Andrew Charlton, ông có những đề nghị “tích cực” hơn.        Phụ đề của quyển “Công bằng thương mại cho tất cả” là “Làm sao thương mại giúp phát triển”. Khởi điểm của nó là sự bất công của các quy tắc mậu dịch toàn cầu hiện nay. Tuy đa số những chỉ trích này không hẳn là mới, Stiglitz và Charlton không giống những tác giả khác ở chỗ có tính xây dựng hơn.  Hai tác giả đưa ra nhiều đề nghị cụ thể để hội nhập các nước đang phát triển vào hệ thống thương mại toàn cầu, tạo thêm cơ hội buôn bán cho các nước này, và giúp họ tận dụng những cơ hội ấy. Có vài đề nghị khá mới lạ và mạnh mẽ mà, nhờ “tay nghề” lý thuyết vững chãi của Stiglitz, có lẽ sẽ được nhiều tiếng vang.  Hai chương đầu của quyển sách duyệt qua căn bản lý thuyết cũng như kinh nghiệm phát triển của nhiều nước (nhất là ở Đông Á và Mỹ La Tinh). Hai tác giả khẳng định: Hẳn nhiên, trên lý thuyết, tự do hóa thương mại sẽ tăng phúc lợi. Song “định luật” này tùy thuộc một cách quyết định vào một số giả định mà nhiều nước, nhất là các nước cực nghèo, trên thực tế không hội đủ. Cụ thể, những nước này ngụp lặn trong nghèo đói, thất nghiệp, xã hội bất công bình, và thiếu nhiều loại thị trường cốt lõi (như thị trường bảo hiểm, thị trường vốn). Trong tình cảnh ấy, tự do hóa thương mại đã gây cho họ nhiều hậu quả trái ngược với tiên đoán của các mô hình kinh tế tân cổ điển. Hơn nữa, vì mỗi nước một khác, không dễ dàng đem bài học của nước này áp dụng cho nước kia.   Theo hai tác giả, muốn phát triển thì cần sự hoạt động hợp lý và nhuần nhuyễn ở bốn khâu: (1) thị trường hàng hóa, (2) thị trường vốn, (3) can thiệp của nhà nước (chính sách công nghiệp), và (4) thứ tự trước sau của các biện pháp cải cách. Phải phân biệt “tình trạng thương mại mở cửa” (trade openness), tức tình trạng rào cản nhập khẩu là thấp, và “tự do hóa thương mại” (trade liberalization). Thương mại là điều kiện cần để phát triển, nhưng không phải là đủ. Sự chọn lựa của một quốc gia không phải là giữa (a) hoàn toàn tự do thương mại, và (b) hoàn toàn đóng kín kinh tế, mà là kín/mở đến bậc nào. Như Stiglitz luôn nhấn mạnh trong suốt các công trình nghiên cứu của ông: tự do hóa thị trường tài chính quá sớm sẽ có hại cho phát triển.   Phần chính của quyển sách tập trung vào những vòng đàm phán đa phương, tóm tắt kinh nghiệm những vòng đàm phán trước, và đi vào chi tiết từ vòng Doha. Stiglitz và Charlton đưa nhiều lý do tại sao một “Vòng Phát triển” (Development Round) là cần thiết, và tại sao Doha đã không thỏa mãn những kì vọng ban đầu.  Một nhận xét đáng chú ý của hai tác giả là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nên khuyến khích một môi trường phân tích kinh tế có chất lượng cao để soạn lập những đề án thúc đẩy phát triển, rồi đặt những đề án ấy lên đầu chương trình nghị sự. Cụ thể, họ đề nghị WTO phải chấp nhận một trách nhiệm chủ chốt, đó là thiết lập một lực lượng nghiên cứu kinh tế khoa học, khách quan, công khai, để phân tích hậu quả của các chính sách kinh tế cho (từng nhóm) các nước chậm tiến. Dựa vào những phân tích này, đề nghị nào gây thiệt hại cho các nước nghèo, hoặc đem lại những lợi ích quá đáng cho các nước đã giàu, phải được xem là không công bằng và đi ngược tinh thần của Vòng Phát triển.   Stiglitz và Charton nhấn mạnh rằng mọi thỏa hiệp đa phương phải công bằng trên luật pháp cũng như trên thực tế. Hai ông cho rằng nhiều nước nghèo không thể thụ hưởng những lợi ích của tự do thương mại vì thể chế của họ còn quá hụt hẫng. Nhiều nước có những thể chế rất yếu, dân của họ rất dễ bị tổn thương. Do đó, những thỏa hiệp công bằng trên thực tế phải giúp các nước này vượt qua những rào cản có tính thể chế ấy. Chỉ như vậy, hai tác giả khẳng định, các nước nghèo mới có thể tham dự một cách thật sự bình đẳng vào WTO. Theo hai tác giả, “công bình” cũng tùy thuộc vào điều kiện tiên khởi của quốc gia liên hệ. Các hiệp ước đa phương phải để ý đến hoàn cảnh cá biệt của mỗi nước.  Bốn chuơng cuối cuốn sách đề nghị một số vấn đề, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, cho một Vòng Phát triển. Theo Stiglitz và Charlton, trước hết là phải mở rộng thị trường cho hàng hóa (thay vì chỉ chú trọng vào nông sản như hiện nay) của các nước đang phát triển. Họ cho rằng cấp bách nhất là phải hạ thấp rào cản chống lại các loại hàng có hàm lượng lao động cao như dệt may, thực phẩm, và những hàng hóa dùng lao động không tay nghề (như thủy hải sản và xây dựng). Họ cũng kêu gọi phải giúp xuất nhập khẩu lao động dễ dàng hơn.              Sự chọn lựa của một quốc gia không phải là giữa (a) hoàn toàn tự do thương mại, và (b) hoàn toàn đóng kín kinh tế, mà là kín/mở đến bậc nào. Như Stiglitz luôn nhấn mạnh trong suốt các công trình nghiên cứu của ông: tự do hóa thị trường tài chính quá sớm sẽ có hại cho phát triển.             Các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu nhấn mạnh đến sự chia sẻ những lợi ích của cải cách thương mại giữa các nước nhưng ít chú ý đến việc chia sẻ những tổn phí mà cải cách ấy tất phải có. Anh: Corbis           Nổi bật hơn cả, hai tác giả kê ra một số vấn đề mà theo họ là không nên đưa vào đàm phán lúc này.  Đứng đầu sổ là vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Đề nghị này có thể làm nhiều người ngạc nhiên nhưng, theo ý người đọc này, Stiglitz và Charlton đã có can đảm nói lên một sự thật mà ít người (thiếu uy tín nghề nghiệp của Stiglitz) dám nói. Hai tác giả cũng không quên kêu gọi cải cách thể chế, đặc biệt là cải cách để tiến trình đàm phán được trong suốt và dân chủ hơn.  Cuối cùng, Stiglitz và Charlton cũng nói đến tổn phí (có thể rất cao) của tiến trình thích ứng (adjustment process) từ tình trạng hiện tại đến một tương lai như phác họa trong cuốn này. Họ cho rằng vòng Doha hiện nay có nhấn mạnh đến sự chia sẻ những lợi ích của cải cách thương mại giữa các nước (đã, cũng như đang, phát triển), nhưng ít chú ý đến việc chia sẻ những tổn phí mà cải cách ấy tất phải có. Theo Stiglitz và Charlton, chính các nước nghèo, đang phát triển, hiện gánh chịu phần lớn những tổn phí này. Sự chia sẻ này cần được đem ra thương lượng để có sự công bằng hơn giữa các nước giàu và nghèo.  Đây là một cuốn sách đáng đọc. Những độc giả nghiêng về lý thuyết và lịch sử sẽ thấy ở hai chương đầu một tổng quan mạch lạc và dễ hiểu về liên hệ giữa thương mại và phát triển (tuy rằng, cũng phải nói, nhiều đoạn đi hơi sâu vào lý thuyết, có thể “khó nuốt” cho những người “ngoại đạo” kinh tế). Cuốn sách cũng là một cẩm nang quý cho các quốc gia chậm tiến khi phải thương thuyết với các nước đã phát triển trên các diễn đàn quốc tế.   Tuy rằng hai tác giả có những đề nghị mới, đáng chú ý, nhưng theo ý người đọc này, họ vẫn chưa có câu trả lời thích đáng cho vấn đề cốt lõi: sự thiếu thốn một quyết tâm chính trị (phần lớn là về phía các nước đã phát triển). Nói cách khác, tuy Stiglitz và Charlton nhìn nhận rằng trong nội bộ các nước (nhất là các nước đã phát triển) có nhiều thế lực theo đuổi những đặc lợi kinh tế, đưa đến những chính sách phi lý như hiện nay (đi ngược quyền lợi chung của chính nước họ), đề nghị của hai ông không gỡ được nút chốt này. Trừ khi các đòn lực chính trị trong nội bộ các quốc gia được thay đổi, viễn ảnh mà Stiglitz và Charlton phác họa ở đây khó thành hiện thực. Rất tiếc!  ———-  *Xem “Đọc Stiglitz” của Trần Hữu Dũng, Diễn Đàn số 120, tháng 7/2002    Trần Hữu Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố quốc tế là nghĩa vụ của nhà nghiên cứu      Nếu một công trình nghiên cứu đã hoàn tất mà kết quả không được công bố, thì công trình nghiên cứu đó có thể xem là có vấn đề về y đức và đạo đức khoa học, và nhà nghiên cứu có thể xem như chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình với sự đóng góp của người dân. Do đó, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một nghĩa vụ của nhà nghiên cứu, là một cách gián tiếp cám ơn sự đóng góp của bệnh nhân và giúp đỡ của dân chúng qua sự quản lí của nhà nước.    Có hai loại báo cáo: một loại báo cáo mang tính hành chính, và một loại báo cáo mang tính khoa học. Báo cáo hành chính cho các nhà quản lí để trình bày tiến độ của công trình nghiên cứu và chi tiêu tài chính cũng như nhân sự trong quá trình nghiên cứu. Báo cáo khoa học nhắm đến cộng đồng khoa học quốc tế, mà trong đó nhà khoa học cẩn thận mô tả lí do làm nghiên cứu, phương pháp thực hiện, kết quả ra sao, và kết quả đó có ý nghĩa gì.  Bởi vì chỉ có nhà khoa học cùng chuyên môn mới có khả năng thẩm định giá trị của một công trình nghiên cứu, cho nên các báo cáo khoa học phải công bố trên các tập san khoa học có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journal) nghiêm chỉnh. Hệ thống bình duyệt là một cơ chế khoa học nhằm loại bỏ các công trình nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn hay các trường hợp gian lận khoa học. Tuy hệ thống này không hẳn hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay chưa có hệ thống nào tốt hơn, nên cộng đồng khoa học quốc tế vẫn phải dựa vào đó để duy trì chất lượng hoạt động khoa học. Nếu công trình nghiên cứu đạt tiêu chuẩn khoa học thì công trình đó sẽ được chấp nhận cho công bố; nếu công trình không đạt chuẩn mực khoa học thì sẽ bị từ chối. Tập san khoa học có uy tín càng cao, hệ thống bình duyệt càng gắt gao. Do đó, công bố báo cáo khoa học trên các tập san có bình duyệt nghiêm chỉnh là một yêu cầu cực kì cơ bản của hoạt động khoa học.  Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu. Giới làm nghiên cứu khoa học nói chung nhất trí rằng cái chỉ tiêu số 1 để đề bạt một nhà khoa học là dựa vào số lượng và chất bài báo khoa học đã công bố trên các tập san chuyên ngành.  Trên bình diện quốc gia, số lượng bài báo khoa học là một thước đo về trình độ khoa học kĩ thuật và hiệu suất khoa học của một nước, một dân tộc. Chính vì thế mà tại các nước Tây phương, chính phủ có hẳn một cơ quan gồm những chuyên gia chuyên đo đếm và đánh giá những bài báo khoa học mà các nhà khoa học của họ đã công bố trong năm.  Hiện nay, có thể nói thẳng rằng công suất và năng suất khoa học nước ta còn quá thấp so với với tiềm năng. Chúng tôi đã làm một phân tích thống kê và thấy trong thời gian 10 năm (1996 đến 2005) các nhà khoa học Việt Nam công bố được 3.456 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Con số này khi so sánh với các nước trong vùng cho thấy công suất khoa học ở nước ta thuộc vào hàng thấp nhất: chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Mã Lai (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), và thấp hơn Nam Dương (n = 4.389) và Phi Luật Tân (n = 3901). Nếu (xin nhấn mạnh “nếu”) mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt Nam như hiện nay, thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo khoa học của Thái Lan vào năm 2005!  Quan điểm cho rằng nghiên cứu ứng dụng không cần phải công bố quốc tế thì tôi phải nói là rất lạ lùng, nếu không muốn nói là rất sai lầm. (Tôi hi vọng rằng quan điểm này chỉ tồn tại trong nội bộ, vì nếu phát biểu trước đồng nghiệp ngoại quốc thì họ sẽ cười chúng ta không biết gì về hoạt động nghiên cứu khoa học.) Việc báo cáo kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế không phân biệt nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng. Nếu xem các ngành như y học, kĩ thuật, nông nghiệp, mô trường, công nghệ sinh học là “khoa học ứng dụng” thì trong thời gian 10 năm qua số bài báo khoa học ứng dụng chiếm trên 50% tổng số bài báo khoa học. Các nhà nghiên cứu khoa học ứng dụng ở nước ta đã công bố trên các tập san quốc tế từ hơn 5 thập niên qua; không nên nói rằng làm khoa học ứng dụng không cần công bố quốc tế. Nói ra không biết có quá to tát hay không, nhưng tôi nghĩ rằng một trong những nhiệm vụ của nhà khoa học là nâng cao sự hiện diện, và qua đó, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế qua nghiên cứu khoa học; do đó viện dẫn một lí do không thuyết phục để nói rằng không cần công bố quốc tế thì vô hình chung nhà khoa học trở nên vô trách nhiệm với nước nhà.  Trong quá trình hội nhập thế giới, xã hội có quyền đòi hỏi nhà khoa học nước ta phải có tầm vóc và đứng vững trên trường khoa học quốc tế. Đã đến lúc chúng ta phải đặt ra những chuẩn mực nghiêm túc mà quốc tế đã và đang sử dụng để thẩm định thành tích nghiên cứu khoa học của nhà khoa học. Trong các chuẩn mực đó, công bố kết quả nghiên cứu — bất kể là nghiên cứu khoa học ứng dụng hay cơ bản — trên các tập san khoa học quốc tế là một yêu cầu, một tiêu chuẩn số một chẳng những cho nhà khoa học, kể cả nghiên cứu sinh tiến sĩ.  ———–  *Viện nghiên cứu y khoa Garvan, Sydney, Australia      GS Nguyễn Văn Tuấn *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công dân toàn cầu và câu chuyện bản sắc văn hóa      Sau hơn ba thập kỷ mở cửa và hội nhập, chúng ta đã hiểu được gì về toàn cầu hóa, về bản sắc văn hóa trước xu thế hội nhập không thể cưỡng lại trong thế giới hiện đại?       Toàn cầu hóa vấp phải chủ nghĩa dân tộc. Ảnh: www.cagle.com  Hiện tượng công dân toàn cầu  Mỗi khi sang Hà Nội, nhà nhân học người Thái Achariya lại hẹn gặp tôi “để tán gẫu”.  Một lần có hẹn tại một quán cà phê gần Hồ Gươm, tôi chọn được bàn ngồi sát cửa sổ, nhìn ra nơi phố cổ chật chội nhưng ồn ào náo nhiệt. Ngoài kia rất đông khách du lịch nước ngoài ngồi la liệt trên những chiếc ghế đẩu nhỏ xíu dọc theo con phố nhỏ và uống “bia cỏ”. Mãi lâu sau cô mới đến, rối rít xin lỗi vì “bị lái xe taxi cho đi vòng vèo, mãi giờ mới tới”.  Nhìn cách Achariya nói tiếng Việt, hình dáng bề ngoài và ngôn ngữ, điệu bộ, khó có thể hình dung cô là một người đến từ Thái Lan. Cha Achariya người Thái gốc Triều Châu, mẹ người Thái Lan, lớn lên và được đào tạo ở Chiang Mai, tu nghiệp ở Mỹ, và nghiên cứu về người Thái Việt Nam, lúc đầu là nhóm Thái Trắng Mai Châu, sau là nhóm Thái Đen Sơn La, và giờ là Thái Đỏ trên Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Achariya đi về giữa hai nước dễ đã đến hai chục năm nay. Achariya bảo tôi cứ gọi tên Việt Nam của Achariya là Thục Lâm cho dễ, vì Achariya cảm thấy thân mật hơn khi được gọi tên này. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, đến nỗi tôi quên mất mình đang nói chuyện với một người ngoại quốc. Tôi nói thích ăn món canh chua cay tom-yam-cung của người Thái, Achariya nói thích món bún chả Hà Nội. Mỗi lần tham gia các sự kiện hội họp ở Việt Nam hay nước ngoài, Achariya thích được thướt tha trong tà áo dài Việt Nam, cũng đôi khi là bộ xường xám Quảng Đông đầy nữ tính.   Không nói chuyện, chả ai nghĩ Achariya là người Thái. Tôi bảo đôi khi đang ngồi bâng quơ một mình ở Thái Lan hay các nước Đông Nam Á khác, tôi thường có cảm giác mơ hồ không biết mình đang ở quê nhà hay ở ngoại quốc. Achariya bảo cũng có cảm giác như vậy khi ở Việt Nam, mà có khi ở Thái Lan lại nói ra điều gì đó bằng tiếng Việt. Achariya tâm sự: “Ở với người Kinh người Thái bên Việt Nam đã lâu, em không chỉ có tên tiếng Việt mà còn có nhiều anh chị em cô bác kết nghĩa là người Thái và người Kinh, giờ em thấy mình cũng là một phần của mỗi cộng đồng cư dân nơi mình từng sống và làm việc ở đó. Cũng có đôi lúc em tự hỏi không biết mình là người nước nào…”  Câu chuyện của nhà nhân học Thái Lan gợi lên rất nhiều điều về trào lưu toàn cầu hóa trong thế giới sôi động chúng ta đang sống hôm nay, từ khái niệm “công dân toàn cầu” đến những băn khoăn về bản sắc văn hóa. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và phương tiện giao thông vận tải giúp cho các dòng chảy của con người, văn hóa và hàng hóa trở nên dễ dàng và nhanh chóng, giúp kết nối những miền đất vốn xa lạ trở nên gần gũi, làm cho thế giới vốn mênh mông trở thành nhỏ bé, vốn mơ hồ trở thành hiện thực, vốn xa lạ trở nên thân thiết. Khi Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới, đã từng có những lo ngại về tình trạng bị văn hóa ngoại lai xâm thực, làm mất bản sắc và bị hòa tan vào một thế giới phẳng! Vậy giờ đây, sau hơn ba thập kỷ mở cửa và hội nhập, chúng ta đã hiểu được gì về toàn cầu hóa, về bản sắc văn hóa trước xu thế hội nhập không thể cưỡng lại trong thế giới hiện đại? Góc nhìn nhân loại học văn hóa có thể giúp phần nào để hiểu rõ thêm các vấn đề nêu trên.      Ở phạm vi cá nhân, người ta thấy sự kết nối và giao hòa giữa con người với con người đang bùng phát hết sức nhộn nhịp thì ở tầm quốc gia, xu thế dân tộc chủ nghĩa dường như lại đang trở lại.      Trào lưu toàn cầu hóa và hệ quả  Toàn cầu hóa hiện nay là một xu thế được thúc đẩy mạnh mẽ từ sau chiến tranh lạnh, nhưng đó không phải là một cái gì đó chưa từng xảy ra trong lịch sử. Thực ra, các cuộc thiên di lớn của loài người trong các thời đại trước, và làn sóng xâm thực tìm kiếm thị trường và thuộc địa của các nước châu Âu thời tư bản trỗi dậy có thể được xem là những trào lưu toàn cầu hóa, nhờ đó mà các nền văn hóa, con người, và các dòng tư bản có cơ hội tiếp xúc, hòa trộn và xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, trào lưu toàn cầu hóa gần đây có những đặc điểm rất khác biệt so với các trào lưu trước đó.  Trước tiên, có thể nhận thấy trào lưu toàn cầu hóa hiện nay được thúc đẩy bởi các lực lượng thị trường. Những dòng chảy tư bản từ các nước giàu đổ về các nước đang phát triển để tìm kiếm nguồn nhân công giá rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, và những thị trường tiêu thụ hàng hóa vô cùng rộng lớn. Các dòng tư bản xuyên biên giới đã kéo theo dòng người di cư xuyên quốc gia, các trào lưu văn hóa-xã hội, lối sống đa văn hóa và sự kết nối của con người, mạnh đến nỗi nó sẵn sàng cuốn phăng tất cả những rào cản nào nếu được dựng lên cản đường. Có thể nói, toàn cầu hóa hiện nay đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Nó không chỉ kết nối và đan cài các nền kinh tế vào với nhau mà đã trở nên một cấu trúc phức hợp, đa dạng và mạnh mẽ, không thế lực nào có thể thay đổi được.  Chúng ta đã từng lo ngại toàn cầu hóa cũng giống như con đường một chiều, khởi phát từ phương Tây, tất yếu sẽ dẫn tới hiện tượng phương Tây hóa các giá trị văn hóa và lối sống, và điều đó chỉ mang lại lợi ích cho các nước Âu-Mỹ giàu có. Thực tế mấy thập kỷ hội nhập vừa qua cho thấy không chỉ các nước phương Tây mà chúng ta, cùng với những gã hàng xóm khổng lồ như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước nhỏ bé khác, đã thu được nhiều lợi ích quốc gia nhờ tham gia vào làn sóng toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa không chỉ mở đường cho thương mại hai chiều, đưa hàng hóa và nông sản Việt Nam ra thế giới và tiếp nhận lượng tư bản lớn đổ vào các dự án đầu tư và phát triển trong nước. Sự bùng nổ thương mại và đầu tư cũng giúp Việt Nam có được nguồn lực chống lại đói nghèo hiệu quả hơn, tỷ lệ nghèo giảm từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống còn 20.7% năm 2010 (VnExpress, 25/1/2013), 9.88% vào năm 2015 và 6.7% vào cuối năm 2017 trong khi tỷ lệ tái nghèo chỉ còn khoảng 2% (Nhân Dân, 17/10/2018). Khoảng 70% người dân Việt Nam đã được đảm bảo về kinh tế và mỗi năm khoảng 1.5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, nâng tỷ lệ tầng lớp trung lưu ở Việt Nam lên khoảng 13% dân số cả nước (World Bank, 15/4/2018).    Múa cồng chiêng ở người Mường. Các nhà dân tộc học, ngôn ngữ học cho rằng người Mường và người Kinh  có nguồn gốc chung là người Việt-Mường cổ. Quá trình chia tách Mường – Kinh mới chỉ bắt đầu khoảng 1.000 năm trước. Nguồn ảnh: Internet.  Không thể không nói đến sự bùng nổ của internet trong làn sóng toàn cầu hóa hiện nay. Chính internet đã kết nối con người ở mọi vùng miền trên thế giới, từ nơi phồn hoa đô hội đến những vùng sâu vùng xa vốn biệt lập với bên ngoài, làm thay đổi cuộc sống của nhiều cá nhân và các cộng đồng thiểu số. Chỉ bằng một cú bấm vào smart phone hay máy tính, con người đã được kết nối với thế giới. Mọi yếu tố của trào lưu toàn cầu hóa, từ du lịch, thể thao, văn hóa, thương mại, quân sự đến kết hôn xuyên quốc gia, đều trở nên dễ dàng. Sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của thế giới hôm nay có thể tạo ra những hệ quả phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người nhờ được kết nối internet.  Toàn cầu hóa dường như không làm triệt tiêu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và tính đa dạng văn hóa như nhiều người lo ngại. Trong khi ở phạm vi cá nhân, người ta thấy sự kết nối và giao hòa giữa con người với con người đang bùng phát hết sức nhộn nhịp thì ở tầm quốc gia, xu thế dân tộc chủ nghĩa dường như lại đang trở lại. Các cuộc vận động bầu cử ở Mỹ 2016, ở Pháp 2017, ở Nga 2018, hiện tượng Brexit ở Anh 2017, và đại hội lần thứ 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc 2017 đều cho thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc. Ở xu hướng này, người ta thấy vai trò của địa-chính trị và xu hướng tái cấu trúc của chủ nghĩa dân tộc ở các khu vực trên thế giới đang trở nên phức tạp hơn và vẫn đang song hành cùng toàn cầu hóa. Chủ nghĩa dân tộc là một thực tế lịch sử, nhưng việc gần đây nó được dân chúng ở nhiều quốc gia hưởng ứng mạnh mẽ cho thấy tác động của toàn cầu hóa không làm phai nhạt chủ nghĩa dân tộc, thay vào đó, lại củng cố nó. Như một phản ứng tự nhiên trước làn sóng toàn cầu hóa, không chỉ các nước lớn mà các quốc gia nghèo đói và nhỏ bé, trong đó có Việt Nam, cũng muốn bảo toàn đặc thù về thể chế chính trị. Các nước này một mặt mở cửa về kinh tế để đón nhận toàn cầu hóa, mặt khác cảnh giác với những trào lưu văn hóa-xã hội đến từ bên ngoài. Tuy nhiên, các rào chắn thông tin dễ dàng bị phá vỡ trong bối cảnh công nghệ ngày nay. Đồng thời, các nước đang phát triển đi sau cũng càng phải nỗ lực cải cách để khắc phục các yếu kém, khuyết tật và thích nghi với thực tế là đòi hỏi dân chủ hóa, minh bạch hóa đời sống kinh tế xã hội và sự tham gia của người dân vào quá trình này sẽ trở thành xu hướng chủ đạo và là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa.  Quan hệ giữa toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa  Vấn đề đặt ra là trong bối cảnh đổi thay như vũ bão của thế giới hôm nay, liệu bản sắc văn hóa các dân tộc có bị cuốn đi bởi vòng xoáy của toàn cầu hóa hay không? Chúng ta phải ứng xử thế nào trước những thách thức giữa duy trì bản sắc dân tộc và tiếp nhận các yếu tố văn hóa mới do toàn cầu hóa mang tới? Có hai xu hướng còn đang tranh luận xoay quanh câu hỏi này. Ý kiến thứ nhất, thường gọi là xu hướng nhất thể hóa, cho rằng toàn cầu hóa đang tạo ra một thế giới phẳng, theo đó, một hệ giá trị chung đại diện cho nhân loại sẽ dần được xác lập trên phạm vi toàn cầu, không sớm thì muộn. Loại ý kiến thứ hai, còn gọi là xu hướng đa dạng hóa, cho rằng toàn cầu hóa không những không làm mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại, góp phần củng cố bản sắc dân tộc trước nguy cơ bị hòa tan trong thế giới phẳng. Để hiểu được những vấn đề phức tạp này, chúng ta cần hỗ trợ của các lý thuyết nhân loại học văn hóa.  Văn hóa, dù được định nghĩa theo cách nào đi nữa, cũng được quy về ba thành tố chính, bao gồm: (1) các hiện vật văn hóa do con người làm ra để đáp ứng các nhu cầu cho cuộc sống của mình, ví dụ như nhà cửa, trang phục, công cụ sản xuất, v.v.; (2) các hành vi và hành động của con người khi ứng xử với nhau và ứng xử với tự nhiên, ví dụ như cách người ta chào hỏi nhau, tức giận, vui sướng, tôn thờ, v.v.; (3) các tri thức văn hóa là những hiểu biết, quan điểm,  kỹ năng mà con người có được thông qua trải nghiệm hoặc giáo dục. Tri thức có thể bao gồm cả những hiểu biết có tính lý thuyết hoặc kỹ năng thực hành. Nếu như ở hai thành tố đầu tiên, chúng ta có thể quan sát và cầm nắm được vì nó hữu hình thì ở thành tố thứ ba, tri thức là cái gì đó khó nắm bắt vì nó vô hình. Tuy nhiên tri thức lại là yếu tố quyết định hai thành tố trước. Nó quyết định cái cách người ta làm ra các hiện vật như thế nào và sử dụng vào mục đích gì, hoặc trong hoàn cảnh nào thì phải ứng xử ra sao. Các nhà nhân học thường nghiên cứu và mô tả hai thành tố hữu hình để hiểu được tri thức văn hóa.      Bản sắc văn hóa của một dân tộc không phải là một cái gì đó “tự nhiên thành”, cũng không hoàn toàn được tạo ra từ sự tương tác và tiếp xúc giữa các nền văn hóa. Bản sắc của một dân tộc thực ra là một cấu trúc nhân tạo (artificial construction), được tạo dựng, bồi đắp và cố kết trên cơ sở một nền tảng chung về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa, lịch sử và một hệ thống chính trị – xã hội thống nhất.      Khi nói đến bản sắc văn hóa, chúng ta thường nghĩ đến bản sắc của một cá nhân, một cộng đồng, như tộc người (ethnic group), tôn giáo, và dân tộc (nation-state).  Bản sắc là sự khác biệt được tạo nên bởi các yếu tố hữu hình và vô hình của văn hóa, và người ta thường chỉ nhận ra sự khác biệt ấy thông qua tương tác với các văn hóa khác để từ đó cảm nhận được mình thuộc về một cộng đồng tộc người, dân tộc, tôn giáo hay giai tầng xã hội nào đó.  Đã có nhiều nghiên cứu về bản sắc văn hóa, và được thảo luận sôi nổi cả trên bình diện lý thuyết và thực tế trong nhiều thập kỷ qua. Nhận xét về bản sắc tộc người, trường phái Bản thể luận (Primodialism) cho rằng tộc người là một cộng đồng văn hóa có bản sắc riêng, cùng chia sẻ những đặc điểm chung như tên gọi, ngôn ngữ, lãnh thổ, những đặc điểm về tinh thần, lối sống cũng như một số hình thái đặc biệt về tổ chức lãnh thổ-xã hội hay một định hướng để tạo nên những nét đặc trưng. Trái ngược với bản thế luận, các nhà nghiên cứu theo thuyết Tình thế luận (Circumstantialism) lại cho rằng dù các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa được hình thành từ một cộng đồng có chung tổ tiên đi chăng nữa thì nó vẫn có tính chất tình thế và điều này thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Vấn đề không phải là những chỉ dấu riêng của bản sắc văn hóa mà là mối quan hệ và tương tác giữa các cộng đồng văn hóa. Các thành viên của một nhóm, tùy thuộc vào tương tác hằng ngày với nhóm khác mà tự cảm thấy mình không xa lạ với nhóm khác và có thể chấp nhận làm thành viên của nhóm ấy.  Nếu như bản thể luận cho rằng bản sắc được tạo nên từ những yếu tố gốc, và do đó có tính bền vững, thì tình thế luận, ngược lại, tin rằng bản sắc văn hóa chứa đựng nhiều yếu tố đạo đức, xã hội, và cảm xúc. Nó có thể thay đổi tùy thuộc vào từng hoàn cảnh nhất định.  Trong khi vấn đề bản sắc của tộc người được nhận diện chủ yếu thông qua những khác biệt về văn hóa thì ở quy mô dân tộc (quốc gia), bản sắc lại dường như được cảm nhận và xây dựng trên cơ sở của cố kết chính trị. Dân tộc (nation) do đó là một cộng đồng người có tính tưởng tượng, được phát triển trên cơ sở một lãnh thổ chung, một hệ thống kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ và một vận mệnh lịch sử chung, được quản trị bởi một nhà nước và một hệ thống chính trị thống nhất. Một quốc gia-dân tộc thời hiện đại thường bao gồm nhiều tộc người, do đó thường có đặc tính “thống nhất trong đa dạng”, tức thống nhất về kinh tế, chính trị và xã hội nhưng đa dạng với nhiều sắc thái văn hóa tộc người và vùng miền. Bản sắc văn hóa của một dân tộc do đó không phải là một cái gì đó “tự nhiên thành”, cũng không hoàn toàn được tạo ra từ sự tương tác và tiếp xúc giữa các nền văn hóa. Bản sắc của một dân tộc thực ra là một cấu trúc nhân tạo (artificial construction), được tạo dựng, bồi đắp và cố kết trên cơ sở một nền tảng chung về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa, lịch sử và một hệ thống chính trị – xã hội thống nhất. Những đặc điểm của bản sắc dân tộc được nhận diện tùy vào nhận thức chủ quan của mỗi nhà nghiên cứu và tác động của bối cảnh chính trị xã hội cụ thể. Bản sắc dân tộc có thể trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác văn học, nghệ thuật và chính trị, một động lực lớn lao cho phát triển nhưng cũng là nguồn cơn của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân biệt và bạo lực.    Đạo thờ cúng tổ tiên được nhìn nhận như một quốc đạo. Ảnh: Lễ hội đền Hùng. Nguồn: Internet.   Như đã nói ở trên, bản sắc văn hóa được tạo dựng lên bởi các biểu tượng. Các biểu tượng này không phải là cái gì đó vĩnh hằng, bất biến mà sẽ biến đổi cùng thời gian, hoàn cảnh và tiếp xúc với các văn hóa khác. Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy khái niệm bản sắc dân tộc đã được cấu trúc và tái cấu trúc nhiều lần để phù hợp với thời đại và hoàn cảnh chính trị-xã hội cụ thể. Khi cha ông chúng ta đương đầu với làn sóng thực dân, tầng lớp tinh hoa và các chí sỹ có xu hướng nhấn mạnh tính “đồng văn đồng chủng” với các nền văn hóa Á Đông trên cơ sở tư tưởng Khổng giáo và sử dụng khái niệm về bản sắc này như một công cụ chính trị khích lệ tinh thần dân tộc, kêu gọi lòng trung với nước và tìm kiếm đồng minh trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Khi chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, một lần nữa, vấn đề bản sắc văn hóa được đặt ra, trong đó những giá trị mới như “truyền thống chống ngoại xâm” và “tinh thần quốc tế vô sản” được khái quát thành những biểu tượng mới của bản sắc Việt Nam. Trong thời kỳ chống chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, biểu tượng của bản sắc dân tộc đã lại một lần nữa được cấu trúc lại, trong đó xu hướng “bản địa hóa” bản sắc dân tộc được đề cao, xem văn hóa dân gian và lối sống làng xã là “linh hồn của văn hóa dân tộc” nhằm chống lại quan điểm cho rằng bản sắc văn hóa Việt Nam “chỉ là một bản sao của văn hóa Trung Hoa”.  Ngày nay, trước làn sóng hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá, những thách thức mới về bản sắc văn hoá dân tộc lại được đặt ra một cách gay gắt. Trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã và học thuyết về quốc tế vô sản chỉ còn là những giá trị lịch sử, Việt Nam có khuynh hướng quay trở lại với chủ nghĩa dân tộc, xem việc trở lại với cội nguồn, tôn vinh các giá trị văn hoá truyền thống và cố kết dân tộc như một chiến lược văn hoá trong thời đại hội nhập toàn cầu.1 Trong chiến lược này, chúng ta một mặt tôn trọng quá trình tiếp biến văn hóa, tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố văn hóa quốc tế vào kho tàng văn hóa của ta, mặt khác, tìm kiếm những biểu tượng mới của bản sắc văn hoá Việt Nam đặng có thể giúp cố kết dân tộc nhằm cạnh tranh thắng lợi trong một thế giới được tổ chức bởi các quốc gia – dân tộc. Cũng trong bối cảnh này mà đạo thờ cúng tổ tiên và tôn vinh Quốc tổ – Vua Hùng đã được nhìn nhận lại như một “quốc đạo” và một biểu tượng mới đại diện cho bản sắc văn hoá và đạo lý “uống nước- nhớ nguồn” của người Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đang được cấu trúc lại, trong đó bản sắc văn hóa nổi lên như một chiến lược sinh tồn trước làn sóng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bởi “hội nhập mà không còn bản sắc thì cũng không khác gì bán linh hồn cho quỷ sứ.”2   —-  1 Nguyễn Khoa Điềm (Cb.) 2001. Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Hà Nội: Chính trị Quốc gia.  2 Nguyễn Huỳnh Mai, 2013. “Hội nhập toàn cầu và bản sắc dân tộc”. Văn hóa Nghệ An, ngày 2/12/2013.    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Công hay tư?      Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.      Trong thời bao cấp, sẽ bị xem là có vấn đề nếu đặt câu hỏi nên chọn khu vực công hay khu vực tư để làm việc vì chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận chính thức. Hơn thế, mọi quyền lợi tiêu chuẩn đều gắn với một chỗ làm trong khu vực công. Làm việc trong khu vực công được đồng nhất với sự ổn định và có tương lai. Tư tưởng này hiện vẫn còn tồn tại ở một số người, nhất là những nơi mà các quan hệ thị trường chưa thực sự đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Tuy nhiên, theo thời gian, tư tưởng trên đã thay đổi ở rất nhiều. Hơn thế, hiện đang có không ít người (kể cả những người ở vị trí khá cao) rời Nhà nước để làm việc cho khu vực kinh doanh hay nhiều người sau khi học xong ở nước ngoài không muốn trở về nước làm việc.    Tại sao vậy?  Nhiều người lên tiếng chỉ trích những người bỏ công làm cho tư chỉ vì tiền, không vì cái chung và không có tinh thần yêu nước. Do vậy, giải pháp là cần phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước và yêu nghề để con người bớt vị kỷ hơn. Ở đây có hai điều nên bàn về cách tiếp cận này.   Thứ nhất, khoa học hành vi chỉ ra rằng, vị kỷ thuộc về vấn đề bản chất của con người. Ai không vì lợi ích cá nhân, không ích kỷ thì người đó sẽ là thánh. Trên thực tế, số người được coi là thánh rất ít. Hầu hết mọi người khi đi làm chỉ mong muốn hai điều, đó là thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. Nói rộng ra một chút là hầu hết mọi người tồn tại trên cõi đời này đều mong muốn có một cuộc sống sung túc và được xã hội công nhận hay tôn vinh. Việc lựa chọn hay quyết định làm việc ở đâu đó phụ thuộc vào công thức:  Việc làm = Thu nhập + Cơ hội thăng tiến  Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.  Thứ hai, về vấn đề vì cái chung hay khái niệm yêu nước hay đóng góp cho xã hội. Không nhất thiết phải làm việc trong nước hay làm ở khu vực Nhà nước thì yêu nước hơn.   Trên thực tế vai trò của khu vực kinh doanh là tạo ra phần lớn của cải cho xã hội, trong khi vai trò của Nhà nước là sửa chữa những khiếm khuyết của thị trường và tạo ra một sự phân phối của cải trong xã hội một cách công bằng hơn cũng như có những chính sách để nguồn lực của xã hội được sử dụng một cách hiệu quả hơn trong một số trường hợp.  Một người có đóng góp tích cực hơn cho xã hội khi anh ta tạo ra một giá trị gia tăng hơn 30 triệu đồng hay khi anh ta tạo ra giá trị gia tăng hơn 3 triệu đồng?   Một người được đào tạo bài bản khi làm việc ở bên ngoài tạo ra giá trị gia tăng cho nhân loại hơn 200 nghìn USD một năm và chuyển về nước 20 nghìn USD hay anh ta quay về nước không phát huy được sở trường của mình mà chỉ tạo ra một giá trị gia tăng khiêm tốn cho xã hội ở mức 10 nghìn USD một năm và nhận mức lương 3 nghìn USD?  Hầu hết mọi người đều chọn cách có đóng góp lớn hơn cho xã hội vì khi đó họ sẽ có một cuộc sống sung túc hơn hơn và được xã hội tôn vinh.  Khi nào thì người ta chọn công?  Thu nhập chỉ là một cấu phần của công thức chọn việc làm của mỗi người. Khi quyết định chọn một việc nào đó đều xem xét đến tương lai của công việc mà hiểu một cách đơn giản là cơ hội thăng tiến.  Trong điều kiện bình thường, ai cũng biết rằng thu nhập “danh chính ngôn thuận” khi làm ở khu vực công thường thấp hơn ở khu vực tư một cách đáng kể. Một người quyết định làm ở khu vực công thường là do những lý do (1) có cơ hội thăng tiến tốt để bù đắp cho phần thiệt thòi của thu nhập thấp; (2) có cơ hội kiếm thêm thu nhập qua việc dựa vào vị trí đang làm việc để làm thêm hoặc áp lực không lớn, thôi kệ cứ có cái chân trong Nhà nước, còn lại thu nhập chính là “chạy ngoài”; và (3) không thể xin việc ở khu vực tư nhưng lại có “điều kiện” để xin vào khu vực Nhà nước.  Nhìn vào cách thức thiết kế và vận hành chính sách ở mỗi quốc gia chúng ta có thể thấy được những đối tượng nào sẽ làm ở khu vực Nhà nước, những đối tượng nào sẽ làm ở khu vực ngoài Nhà nước. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là để một đất nước phát triển cần có một khu vực kinh doanh năng động, một Nhà nước mạnh và một xã hội công dân cởi mở. Trên nguyên tắc nước chảy vào chỗ trũng, nên trong hầu hết các trường hợp những người có khả năng thường tập trung nhiều ở khu vực kinh doanh (trừ một số trường hợp ngoại lệ như Singapore chẳng hạn). Do vậy, muốn Nhà nước mạnh thì cần phải có nhiều người có khả năng chấp nhận làm việc ở khu vực Nhà nước.  Như vậy, vấn đề đi hay ở của một người không thể sử dụng công cụ tuyên truyền, giáo dục vì hình như chưa có nước nào thành công với công cụ này mà cần phải có những công cụ tác động trực tiếp đến lợi ích và chi phí của việc lựa chọn. Một môi trường làm việc tốt với một cuộc sống được đảm bảo là ưu tiên số một để thu hút nguồn nhân lực chứ không phải những khẩu hiệu tuyên truyền sáo rỗng hay chính sách bề nổi mà nhiều người ví rằng trên thì trải thảm nhưng dưới thì đầy gai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công khai hóa địa danh biển Việt Nam      Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng một chiến lược quốc gia về địa danh-ranh giới biển-đảo Việt Nam có tên đầy đủ các vùng biển đảo thân yêu của tổ quốc như Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông trên các bản đồ thủy đạc toàn cầu của IHO, để vĩnh viễn khẳng định chủ quyền biển đảo của VN, là hết sức cấp bách.      Sự cần thiết  Sự kiện 1/5/2014 TQ đã đưa HD 981 đặt sâu vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam (VN) nhằm thực hiện khoan dầu khí trái phép đã và đang làm thức tỉnh các cấp quản lý biển và hải đảo của Việt Nam vì đã bị động trong cách ứng phó. Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị cấp cao ASEAN ngày 11/5/2014 đã có đề nghị cộng đồng quốc tế ủng hộ Việt Nam ngăn ngừa sự lấn chiếm biển trái phép của Trung Quốc trên biển Đông nhằm đảm bảo an ninh-an toàn hàng hải trên biển Đông và tuân thủ Công ước Luật Biển Lien Hợp Quốc UNCLOS 1982, và DOC 2000 giữa ASEAN-Trung Quốc. Trong bối cảnh có sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế như Liên Hợp Quốc, Mỹ, EU và hàng loạt các quốc gia khác, Việt Nam nên cần chủ động sớm công khai các địa danh biển VN, các hồ sơ ranh giới đường cơ sở, hồ sơ biển, đảo-thềm lục địa và đặc biệt Hồ Sơ ranh giới quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đúng như quy định của Luật Biển Việt Nam 2012. Đồng thời Chính phủ và các cơ quan liên quan sớm nghiên cứu, xây dựng và làm các thủ tục cần thiết trình lên Liên Hợp Quốc và các cơ quan quốc tế liên quan để sớm được công nhận công khai làm cơ sở pháp lý cho các tranh tụng và đòi hỏi quyền hợp pháp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển của VN.  Địa danh hóa (tên gọi, ranh giới) từng vùng biển-đảo cần được công bố công khai và rõ ràng tới các Tổ chức quốc tế  Bộ Nội vụ đã và đang triển khai quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính” trong đó có hồ sơ địa giới hành chính trên các vùng biển, hải đảo VN.  Đây có thể là dịp để chúng ta rà  soát và công bố chính thức toàn bộ tên các đảo, đá, bãi của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lận cận. Rộng hơn nữa, cần quan tâm tới việc đặt tên Việt thống nhất và công bố cho tất cả các đối tượng địa lý trong vùng biển VN chưa có tên, như các dãy núi, khối núi, các cao nguyên, các hẻm vực, các lòng chảo, các vụng biển, bãi ngầm, các đảo san hô vòng (atoll), v.v…  Luật Biển VN được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012 là cơ sở pháp lý quan trọng về mọi lĩnh vực hoạt động trên các vùng biển VN nói chung, trong đó có việc đặt tên, hồ sơ địa giới cho mọi đảo, vùng biển của VN.  Trình hồ sơ để được Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế công nhận  Bước tiến rất lớn của Việt Nam. Năm 2009 Việt Nam đã có 3 hồ sơ trình LHQ về ranh giới ngoài thềm lục địa, trong đó có 2 hồ sơ cùng Maxlaixia đã cùng trình cho vùng biển phía Nam –Trung Bộ Việt Nam. Và tuy có 1 số thư phản đối của Trung Quốc và Philippin, và 2017 sẽ được Ủy ban ranh giới thềm lục địa của LHQ xem xét. Việt Nam cũng đã phân định ranh giới ngoài trên biển tại Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Các vùng biển tại Vịnh Thái Lan và phía Nam biển Đông cũng có 1 số hiệp định nghề cá với Thái Lan, Campuchia, Indonesia, tuy nhiên ranh giới ngoài biển vẫn chưa trình lên Liên hợp quốc. Các vùng cửa vịnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chưa có hồ sơ phân định ranh giới ngoài trình LHQ, cùng với đó là Hồ sơ ranh giới ngòa của biển-đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Đồng thời với ranh giới hợp pháp thì chúng ta cũng rất cần công khai địa danh pháp lý các vùng biển-đảo của chúng ta. Một trong những điều kiện là các địa danh ấy phải được Tổ chức Thủy đạc Quốc tế (IHO) công nhận. Thành lập từ năm 1921 và có trụ sở tại Công quốc Monaco, IHO là một tổ chức liên chính phủ đại diện cho các tổ chức hàng hải trên khắp thế giới, có thẩm quyền tiêu chuẩn hóa tên gọi địa lý các vùng biển, đảo ở tầm quốc tế. IHO đã cho xuất bản quyển “Limits of Ocean and Seas” (Ranh Giới Biển và Đại Dương) lần đầu vào năm 1929. Sách được tái bản vào các năm 1937 và 1953. Đây là một tài liệu kim chỉ nam cho bản đồ biển toàn cầu và được áp dụng rộng rãi đối với các quốc gia thành viên và các tổ chức quốc tế khác như Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO), Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO). Đến nay các địa danh Vịnh Bắc Bộ, với tên quốc tế là Tonkin gulf,  Biển được gọi là South China Sea.  Hiện tại các tên Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông có trong tài liệu đó của IHO chưa có, mà chỉ có các tên quốc tế là Paracell và Spratly. Trung Quốc thì gọi đó là Tây Sa, và Nam Sa.  Đấy cũng chính là nguyên nhân  khiến nhiều bản đồ thế giới vẫn ghi tên Biển Đông (East Sea) là tên khác, cũng như chuyện Hội Địa lý Quốc gia Mỹ ghi nhầm tên Hoàng Sa của VN và Bộ Ngoại giao VN năm 2010 phải lên tiếng phản đối.  Khi có những tên khác nhau đối với một địa danh trên biển, IHO đã có một nghị quyết vào năm 1974 để xử lý. Mục A 4.2.6 của phiên bản nghị quyết này cập nhật tháng 11-2009 đề nghị “khi hai hay nhiều quốc gia cùng chia sẻ một vị trí địa lý (ví dụ vịnh, eo biển, kênh đào hay quần đảo) dưới các mẫu tên khác nhau, các quốc gia này nên cố gắng thỏa thuận để tìm ra một tên thống nhất đối với vị trí đó. Nếu họ có ngôn ngữ chính thức khác nhau và không thể thỏa thuận về một mẫu tên chung (common name form), mẫu tên theo từng ngôn ngữ nên được chấp nhận cho các biểu đồ và ấn bản trừ phi các nguyên nhân kỹ thuật ngăn cản việc làm này. Ví dụ đối với địa danh English Channel/La Manche”.  Cơ hội tên địa danh biển-đảo theo tên của Việt Nam  Vì VN chưa phải là thành viên của IHO dù rằng số thành viên của tổ chức có uy tín này đã là 80 quốc gia. VN vẫn chưa có quyền lợi đầy đủ như các thành viên khác trong việc đặt tên, bổ sung tên cho các vùng biển đảo của mình trên Biển Đông, song song với các tên quốc tế khác. Việt Nam hiện đã nộp đơn tham gia IHO, và đã có 42 quốc gia ủng hộ, nhưng điều kiện gia nhập cần có 52 quốc gia đồng ý. Đồng thời Việt Nam nên giao cho 1 cơ quan nhà nước phụ tránh quản lý địa danh-ranh giới thống nhất như dang VnHO, và cũng nên xuất bản hàng năm tập bản đồ kèm theo các địa danh biên-đảo hàng năm cho các cơ quan tổ chức sản xuất-kinh doanh khi đến vùng biển Việt Nam phải dùng chỉ dẫn hàng hải-biển của Việt Nam.  Kinh nghiệm quốc tế đổi được tên biển nhờ IHO  Chuyện vừa xảy ra hồi tháng 3-2012 tại hai quốc gia châu Á không xa chúng ta lắm. Đấy là đổi tên “Biển Nhật Bản” theo cách gọi của Nhật Bản thành tên “Biển Đông” theo cách gọi của Hàn Quốc. IHO từng ba lần công nhận cách gọi “Biển Nhật Bản” vào các năm 1929, 1937, và 1953, cho vùng biển giáp ranh giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Vậy mà, đến năm 2009, 28% bản đồ thế giới sử dụng cả hai cách gọi. Để có được cách dùng chung trên văn luận quốc tế thì Chính phủ Hàn Quốc đã phải có một chiến lược lâu dài, kiên trì và bền bỉ.  Hơn hai thập kỷ qua, họ không ngừng đấu tranh để khẳng định chủ quyền. Các nhà khoa học Hàn Quốc đã tham gia nhiều hội thảo của IHO và liên tục nêu lên đề xuất của họ. Mới nhất là tháng 3-2012, tại Bỉ, họ đòi bổ sung vào bản đồ của IHO và sách Limits of Ocean and Seas” tên “East Sea” (Biển Đông) song hành cùng “Japan Sea” (Biển Nhật Bản).  Tại cuộc họp IHO tháng 4-2012, nhiều quốc gia đã ủng hộ cho tên East Sea vào bản đồ đại dương toàn cầu dù Nhật Bản phản đối. Theo đó, IHO sẽ xem xét bổ sung chính thức vào năm 2017.  Gần đây tranh chấp tên gọi trên truyền thông và trong giới khoa học làm dấy lên phong trào đặt nhiều tên cho cùng một vùng biển trên Biển Đông. Trung Quốc và các nước trong khu vực như Philippines, Indonesia, Malaysia, và Myamar đều đã là thành viên IHO. Vì thế, họ có những tiếng nói của riêng mình, tuy nhiên đấy cũng chỉ là cách tuyên truyền với các mục tiêu lợi ích nhất định, nếu được ghi trên bản đồ hay sách “ranh giới biển-đại dương” của IHO thì mới có giá trị quốc tế.  Giải pháp đề xuất của VN  Hoàn thiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa đối với các vùng biển còn lại trình lên liên hợp quốc, hoặc đơn phương, song phương hay đa phương.  Cần thúc đẩy việc trở thành thành viên của IHO sớm nhất có thể, để thông qua IHO chúng ta học hỏi thêm kinh nghiệm địa danh hóa và các thủ tục liên quan để hợp pháp và tiêu chuẩn hóa các địa danh biển, ranh giới biển VN. Trước mắt chúng ta cần có nỗ lực ngoại giao để gia tăng thêm 1 số quốc gia ủng hộ đồng ý cho VN gia nhập IHO. Cũng cần sớm lập cơ quan đầu mối thủy đạc quốc gia (VNHO) để sẵn sàng xây dựng nền thủy đạc theo chuẩn quốc tế toàn diện.  Cần có các thảo luận và các bước đi hợp tác về đặt tên đảo, biển trên phương diện đa phương hay song phương theo tiêu chuẩn của IHO. Đây cũng sẽ là một cách tiếp cận thiết thực trong khả năng hiện có để bảo vệ chủ quyền biển-đảo tổ quốc, đồng thời cung cấp sự thật lịch sử cho nhân dân thế giới.  Xây dựng 1 chiến lược quốc gia về địa danh-ranh giới biển-đảo Việt Nam với phương châm “Chúng ta cần quyết tâm để trong tương lai gần sẽ có tên đầy đủ các vùng biển đảo thân yêu của tổ quốc như Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông trên các bản đồ thủy đạc toàn cầu của IHO, để vĩnh viễn khẳng định chủ quyền biển đảo của VN”.      Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Công nghệ hạt nhân có thể giúp nâng cao vị thế của Việt Nam      Việt Nam tích cực tham gia vào chương trình  nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hạt nhân của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).      Tổng giám đốc IAEA Rafael Mariano Grossi ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của Việt Nam đối với Dự án ReNuAL 2. Nguồn: TTXVN  Đóng góp cho Dự án ReNuAL 2 thể hiện trách nhiệm, vị thế và tinh thần chủ động của Việt Nam trong thúc đẩy phát triển công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình. Do đó, IAEA tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển, ứng dụng công nghệ hạt nhân trong ứng phó với đại dịch Covid-19, y tế, điều trị ung thư, phát triển nông nghiệp, biến đổi khí hậu, tăng trưởng bền vững.  Ngày 25/11, tại trụ sở ở thủ đô Vienna, Áo đã diễn ra lễ tiếp nhận đóng góp tài chính cho giai đoạn 2 Dự án cải tạo, mở rộng Tổ hợp nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân (ReNuAL 2) của IAEA ở Seibersdorf, Áo. Sự kiện được tổ chức đồng thời với cuộc họp Hội đồng Thống đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Phát biểu tại sự kiện, ông Rafael Mariano Grossi – Tổng Giám đốc IAEA cho biết tổ chức ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các nước thành viên đối với Dự án ReNuAL 2.  Việt Nam tích cực hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hạt nhân cùng IAEA  Trước tình hình dịch Covid-19 vẫn đang tác động nghiêm trọng đến kinh tế-xã hội các nước, việc các thành viên IAEA vẫn hỗ trợ và đóng góp cho dự án đã chứng tỏ tầm quan trọng của công nghệ hạt nhân trong việc ứng phó với các vấn đề toàn cầu, phục vụ đời sống và phát triển bền vững.  Cũng tại sự kiện này, Tổng Giám đốc IAEA đã trao viên gạch tượng trưng cho Đại sứ, Đại diện thường trực các quốc gia thành viên là Bồ Đào Nha, Kazakhstan, Kenya, Malta, Montenegro, Ireland và Việt Nam để ghi nhận sự đóng góp của từng quốc gia vào Dự án ReNuAL 2 (theo tin từ Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, VINAGAMMA – một trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ của Viện đã tham gia đóng góp vào khoản kinh phí này).    Theo Đại sứ Việt Nam Nguyễn Trung Kiên, Tổ hợp ReNuAL 2 tại Seibersdorf là một trong số các trung tâm hàng đầu của IAEA ở mảng phát triển công nghệ hạt nhân trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, nông nghiệp bền vững, ngăn ngừa dịch bệnh (điển hình như đợt dịch Covid-19 vừa qua). Tổ hợp ReNuAL 2 là nơi diễn ra các hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo và nâng cao năng lực cho các quốc gia thành viên về ứng dụng công nghệ hạt nhân. Trong công tác phòng chống dịch Covid-19, Tổ hợp ReNuAL 2 đã chuyển giao trang thiết bị, sinh phẩm và tổ chức đào tạo cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, các vấn đề liên quan đến việc thực hiện xét nghiệm RT-PCR nhằm chẩn đoán và phát hiện chính xác virus SARS-CoV-2.  Bên cạnh đó, điều này còn cho thấy Việt Nam coi trọng vai trò của IAEA và các cơ sở nghiên cứu thuộc tổ chức này trong việc ứng dụng công nghệ nguyên tử để phục vụ các nhiệm vụ phát triển bền vững.  Vào Hội đồng BoG IAEA giúp nâng cao vị thế Việt Nam.  Về phần mình, Phó Tổng Giám đốc IAEA Liu Hua đã ghi nhận và đánh giá cao đóng góp của Việt Nam trong các chương trình hợp tác kỹ thuật của IAEA. Những đóng góp tích cực của Việt Nam đã giúp nâng cao vị thế của đất nước, thể hiện qua việc Việt Nam được tín nhiệm bầu vào Hội đồng Thống đốc IAEA (BoG IAEA). Đây là một trong hai cơ chế hoạch định chính sách của IAEA.  Với quy mô khu vực, Việt Nam cũng tích cực đóng góp vào Hiệp định về hợp tác nghiên cứu, phát triển và đào tạo công nghệ và kỹ thuật hạt nhân tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương (Hiệp định RCA).  Đây được xem là cơ chế quan trọng, chuyên điều phối các hoạt động hợp tác về nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hạt nhân vào ứng phó với biển đổi khí hậu, thúc đẩy chăm sóc sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực tại châu Á-Thái Bình Dương. Ông Liu Hua hy vọng Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch RAC vào năm 2022, vào đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập RAC. Phó Tổng giám đốc IAEA cũng hứa sẽ hỗ trợ Việt Nam hoàn thành thành công vai trò này.  Được công bố hồi tháng 9/2020, dự án ReNuAL 2 của IAEA đặt ra mục tiêu cải tạo, mở rộng Tổ hợp Seibersdorf để đáp ứng tốt hơn nhu cầu ứng dụng công nghệ hạt nhân trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu. Vào năm 2019, Việt Nam cũng đã đóng góp tài chính cho giai đoạn 1 dự án này.  Việt Nam và IAEA hợp tác ứng dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình. Hôm 24/11, Hội đồng thống đốc IAEA (BoG IAEA) đã khai mạc phiên họp thường kỳ tại Áo. Tại phiên họp này, IAEA hướng đến thảo luận Chương trình Hợp tác kỹ thuật (TC) giai đoạn năm tiếp theo (2022-2023), vấn đề hạt nhân Iran, chương trình hoạt động của BoG IAEA thời gian tới.  Đại diện thường trực Việt Nam – Đại sứ Nguyễn Trung Kiên tham dự với tư cách thành viên BoG IAEA nhiệm kỳ 2021-2023, tiếp tục đóng góp nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam thông qua việc thể hiện vai trò chủ động, tích cực trong thúc đẩy mục tiêu ứng dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình. Đặc biệt, Việt Nam cũng tranh thủ sự ủng hộ và hỗ trợ của các quốc gia thành viên cũng như ban lãnh đạo IAEA trong ứng phó với các thách thức mà quốc gia Đông Nam Á này đang phải đối mặt, nhất là vấn đề đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu.  Phát biểu tại phiên họp thường kỳ của BoG IAEA, Đại sứ Nguyễn Trung Kiên đánh giá cao kết quả hợp tác giữa Việt Nam và IAEA về phát triển và ứng dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình trong thời gian qua. Theo đó, IAEA đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện thành công các dự án hợp tác trong khuôn khổ Chương trình hợp tác kỹ thuật giai đoạn 2020-2021 cũng như các hoạt động chuyển giao công nghệ hạt nhân khác. Ông cũng cảm ơn IAEA đã đồng hành với Việt Nam trong quá trình ứng phó với đại dịch Covid-19 đồng thời nhấn mạnh việc IAEA cung cấp trang thiết bị, sinh phẩm và tổ chức các khóa đào tạo về ứng dụng công nghệ hạt nhân để thực hiện các xét nghiệm RT-PCR đã giúp Việt Nam chẩn đoán và phát hiện sớm virus SARS-CoV-2, góp phần hạn chế, kiểm soát tốt dịch bệnh.  Đại sứ Nguyễn Trung Kiên hoan nghênh và đánh giá cao IAEA trong việc xây dựng và đề xuất 5 dự án hợp tác với Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác kỹ thuật giai đoạn 2022-2023, tập trung vào các lĩnh vực ứng phó dịch bệnh, điều trị ung thư, phát triển nông nghiệp bền vững, đẩy mạnh an toàn, an ninh và ứng phó sự cố hạt nhân.  IAEA sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam phát triển công nghệ hạt nhân  Bên lề Hội nghị COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng có cuộc gặp với Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) Rafael Grossi. Tại đây, lãnh đạo Chính phủ Việt Nam đã đánh giá cao vai trò và đóng góp của IAEA trong bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hòa bình, phục vụ phát triển bền vững.  Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng thể hiện quan điểm, Hà Nội coi trọng quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam với IAEA và cảm ơn Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế đã cung cấp thiết bị, sinh phẩm, vật tư và đào tạo chuyển giao công nghệ xét nghiệm, phát hiện sớm virus SARS-CoV-2 cho Việt Nam.  Tổng Giám đốc IAEA nhấn mạnh lợi thế của ứng dụng năng lượng hạt nhân trong các lĩnh vực như y tế, thuốc chữa bệnh, nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, điện hạt nhân công nghệ mới, an toàn, tiết kiệm chi phí, đóng góp vào giải quyết vấn đề thiếu hụt năng lượng toàn cầu hiện nay.  Nguồn: https://vn.sputniknews.com/20211126/cong-nghe-hat-nhan-co-the-giup-nang-cao-vi-the-cua-viet-nam-12636255.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ rau sạch không cần đất: Bao giờ tới tay người dân?      Sau hơn hai năm thử nghiệm, đề tài “Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không dùng đất”- do PGS.TS Hồ Hữu An (Trường ĐH Nông nghiệp I HN) làm chủ nhiệm, đã được nghiệm thu. Công nghệ mới hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn, đã được mang đi trưng bày, giới thiệu ở nhiều chợ công nghệ từ Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ An đến thành phố Hồ Chí Minh nhưng việc phổ biến công nghệ này đến với người dân vẫn còn cả một chặng đường dài phía trước.        Công nghệ mới trồng rau sạch không cần đất  Câu chuyện về rau sạch của TS Hồ Hữu An bắt đầu vào năm 1997 khi ông được Mỹ mời sang hợp tác nghiên cứu về một số vấn đề về Rau – Củ – Quả trong trong đó có vấn đề rau an toàn  (cả công nghệ và chọn giống). Và “may mắn”, ông được giao nhiệm vụ quản lí công nghệ sản xuất và trực tiếp tham gia trồng Dâu tây theo công nghệ mới này. Gọi là công nghệ mới vì gieo hạt và trồng rau không dùng đất mà trồng hoàn toàn trong các thùng xốp hoặc trên các giá thể có sẵn trong nước nên không bị ô nhiễm các kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật, vi sinh vật có hại… tồn dư trong đất (các kim loại này rất khó xử lý, thường phải mất từ 10 – 20 năm mới phân giải) cho phép tiết kiệm được một khoản chi phí để xử lý các kim loại này. Bên cạnh đó ngăn chặn được các vi sinh vật có hại từ các nguồn phân chuồng, phân bắc, từ đất và nguồn nước ô nhiễm giải quyết tận gốc các nguyên nhân nhiễm bẩn rau, đảm bảo rau sạch. Cây được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, vi lượng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nên các giống phát huy được tiềm năng về năng suất và chất lượng.   Rau được trồng trong nhà có mái che, được tưới bằng hệ thống nhỏ giọt tự động hoặc bán tự động, vừa đảm bảo độ đồng đều vừa tiết kiệm nước, nhờ đó, các công việc nặng nhọc của người trồng rau được giải phóng. Công nghệ này còn cho phép tận dụng được những diện tích rất nhỏ (ban công, sân thượng…) tưởng chừng như không có khả năng canh tác tạo ra những sản phẩm có chất lượng, an toàn và hiệu quả. Ngoài ra, với công nghệ này, người trồng rau còn có khả năng trồng ổn định quanh năm (cả trong điều kiện trái vụ), nâng điều kiện canh tác lên 4-11 vụ/năm.  Về nước cuối năm 2000, quy trình công nghệ sản xuất rau an toàn tiếp tục được TS An hoàn thiện. “Ban đầu cũng bế tắc. Công nghệ quá hiện đại, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn. Nước mình lại ngheò”. Cuối cùng, ông cũng “Việt hóa” các thiết bị,  chỉ có máy tưới nước tự động nhỏ giọt là chưa có mặt tại thị trường Việt Nam.  Năm 2002, đề tài “Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần đất” được Bộ Khoa học và Công nghệ xét, đồng ý công nhận là đề tài cấp Nhà nước. Đầu năm 2003, TS An trúng thầu đề tài và tiến hành nghiên cứu trên bốn loại rau quả: cà chua, dưa leo, xà lách và súp-lơ. Hơn hai năm thử nghiệm, đề tài “Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần đất” được nghiệm thu vào cuối năm 2005.     Cần người tiên phong   Theo TS An, công nghệ tuy mới nhưng hiện nay các thiết bị, nguyên vật liệu phần lớn cũng đã có ở trong nước; các nhà khoa học hoàn toàn chủ động về mặt công nghệ; không phải thuê chuyên gia nước ngoài. “Công nghệ này rất phù hợp với Việt Nam, nó giải quyết tận gốc vần đề rau an toàn ở nước ta, vậy tại sao ta lại không áp dụng?” Đây cũng là câu hỏi mà TS An đang tìm cách giải quyết. Theo ông hiện nay chúng ta đang ra sức kêu gọi phải vận dụng công nghệ mới, phải đi tắt đón đầu nhưng nói thế chung quá. Công nghệ mỗi ngành có cái khác nhau, đi tắt đón đầu trong mỗi ngành cũng có con đường riêng. Nói công nghiệp hoá trong nông nghiệp là làm cho người nông dân “không còn phải dắt trâu ra đồng cày ruộng”, phải đầu tư, phải có kiến thức. Nhưng người nông dân của ta lại thiếu cả hai. “Đưa công nghệ cao vào thì khó  khăn quá lớn”. Công nghệ mới không phải ai cũng biết, ngay cả cán bộ khoa học kỹ thuật cũng chỉ mới nghe nói, người dân càng mơ hồ nên vấn đề đưa khoa học vào càng khó. Ông cũng cho rằng hiện nay người nông dân làm chủ miếng đất của mình, tinh thần trách nhiệm được nâng cao, bất cứ công nghệ nào trước khi áp dụng vào cũng phải hoài nghi. Chính vì vậy  mà cần có người tiên phong, đi đầu trong việc áp dụng công nghệ mới này. Khi thành công thì chắc chắn lúc đó tự người dân sẽ tìm đến công nghệ của mình.   Để giới thiệu công nghệ trồng rau không cần đất này, TS Hồ Hữu An đã đem đến tất cả các chợ công nghệ, tận dụng cơ hội để quảng bá tới bà con nông dân.  Ông cùng cộng sự đã tham gia các Techmart ở Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh. Và trong số các bản ghi nhớ trị giá hàng mấy chục tỷ đồng của các Techmart ấy, có khi của ông cũng đã chiếm tới quá nửa. Nhưng tất cả mới chỉ dừng ở những biên bản ghi nhớ. Điều mà TS Hồ Hữu An và các cộng sự của ông mong muốn là chuyển giao công nghệ tới tận tay người dân, những mô hình trồng rau sạch sẽ ngày càng phổ biến và điều quan trọng là nỗi lo về rau không an toàn sẽ không còn nữa.    Chú thích ảnh trên cùng: PGS.TS Hồ Hữu An kiểm tra chất lượng cây cà chua được tạo ra từ công nghệ rau sạch.      Lưu Thủy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp hóa = Đô thị hóa?      Mười năm tăng tốc phát triển liên tục. GDP trên đầu người tiến tới sát mức 1000 USD cái ngưỡng mà nhiều chuyên gia dự báo sẽ xuất hiện những vần đề nan giải mới, sẽ bộc lộ các khía cạnh không bền vững do tăng trưởng quá nóng. Một trong các biểu hiện rõ nhất là vấn đề của các đô thị.      Gần đây liên tục có các hội nghị, các cảnh báo, phản biện… về sự không bền vững khá toàn diện của các đô thị Việt Nam. Vấn đề quy hoạch đô thị trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết và là một vấn đề được công luận, dân chúng bàn bạc quan tâm nhiều nhất. Những tranh luận về mở rộng Thủ đô Hà Nội gấp 3,6 lần diện tích hiện nay ngay trên diễn đàn Quốc hội là một thí dụ tiêu biểu. Các đô thị lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lại là hai nơi thấy rõ nhất các triệu chứng lâm sàng của bệnh thiếu bền vững. Hệ quả của các nét bút quy hoạch, các con số kế hoạch, màu sắc các dự án trên giấy, chữ ký các quyết định trong các căn phòng của các công sở, công ty, thiết chế tài chính… trước đây khá xa vời và trừu tượng với người dân nay đã hiện hình cụ thể, tiến sát tới cửa từng nhà, vào trong từng gia đình và uy hiếp cuộc sống hằng ngày của người dân đô thị: Khói bụi, ô nhiễm, úng lụt, tắc đường, rớt mạng, sốt giá các kiểu, chất lượng thực phẩm, bệnh dịch, giá thuốc và bảo hiểm y tế, giáo dục quá tải và lệch hướng, công nhân đình công, nông dân khiếu kiện, tệ nạn xã hội…vv và vv…        Đô thị hóa diễn ra khá tự phát, vừa làm vừa học, sai đâu sửa đấy, gồm các chuỗi các biện pháp tình thế hơn là chiến lược, chiến thuật khoa học bài bản dẫn tới thực trạng hỗn độn khó kiểm soát như hiện nay.        Việc trong một thời gian ngắn hàng chục triệu người nông dân, nông thôn, nông nghiệp phải “qua một đêm” trở thành người đô thị, người công nhân, người công nghiệp có vẻ như là việc quá sức với mỗi người trong số họ cũng như với chính quyền cùng giới doanh nghiệp.  Chính họ, những “nhân công giá rẻ” từng tạo ra một lợi thế cơ bản cho những năm tăng trưởng, đô thị hóa, công nghiệp hóa vừa qua là những người thiệt thòi nhất trong chia sẻ các lợi ích do tăng trưởng đem lại, cuộc sống của họ tích tụ đầy đủ nhất các yếu tố không bền vững của toàn nền kinh tế và xã hội. Mặt khác, đến cái ngưỡng này, cũng chính họ (và những người kế tiếp họ đang liên tục đổ về các thành phố) với các vấn đề của mình đặt ra các vấn nạn, các rào cản “mới” cho tăng trưởng mà nếu không giải quyết suôn sẻ, xã hội khó tiếp tục CNH, HĐH.  Đại bộ phận các sự không bền vững sinh ra và tồn tại ở đô thị. Nếu không giải bài toán đô thị hóa thì khó mà HĐH, CNH thành công. Phải chăng một nguyên nhân căn bản của không bền vững là song song, với chiến lược tăng trưởng, ngay trong lòng chiến lược tăng trưởng ta đã không có một chiến lược đô thị hóa tốt. Đô thị hóa diễn ra khá tự phát, vừa làm vừa học, sai đâu sửa đấy, gồm các chuỗi các biện pháp tình thế hơn là chiến lược, chiến thuật khoa học bài bản dẫn tới thực trạng hỗn độn khó kiểm soát như hiện nay. Đô thị hóa bị CNH lôi đi chứ không tự đi bằng đôi chân của mình. Thí dụ cụ thể nhất cũng là hai thành phố lớn nhất, tập trung 1/8 dân số cả nước. Đến nay vẫn không ai biết Hà Nội và TP HCM là thành phố kiểu gì, quy họach ra sao. Được chỗ này thì hỏng chỗ kia, được việc này lại hỏng hai ba việc khác. Các khu phố, khu đô thị… phát triển không như chính quyền và các nhà hoạch định mường tượng. Những chuyện cơ bản nhất như trung tâm ở đâu, có các thành phố vệ tinh các vành đai, khu đệm, ngoại thành hay không, nếu có thì chúng ở đâu, sẽ ra làm sao… cũng vẫn liên tục được tranh cãi với hình ảnh hết sức mù mờ. Nhà đất và giao thông tất nhiên là hai chuyện đầu tiên của một đô thị. Hai chuyện đó không “xong” thì không có đô thị đúng nghĩa. Thị trường nhà đất nóng lạnh thất thường, giá trên trời, lãng phí và tham nhũng vô hạn. Đại bộ phận dân cư vẫn chật vật về nhà ở. Hạ tầng cơ sở “xập xệ”, yếu kém và quá tải nghiêm trọng. Thêm nữa, hai “biểu tượng quốc gia” của nước ta thời đô thị hóa là nhà ống và xe máy. Tôi không rõ trong lịch sử và trên thế giới nơi nào đô thị hóa nhờ đôi song mã này không? Tôi dám tin rằng không giải quyết được hai chuyện nhà ống và xe máy thì hoặc là chúng ta sẽ thất bại ê chề trong việc đô thị hóa, hoặc ta sẽ sinh ra một dạng đô thị “vô tiền khoáng hậu”.  CNH có đồng nghĩa với đô thị hóa (ĐTH) không? CNH có chồng khít lên ĐTH không? Có cách nào tiếp tục CNH mà không ĐTH tự phát, ồ ạt như hiện nay không?  Cần hạn chế tốc độ đô thị hóa. Cần tập trung trí tuệ và quyền lực để xây dựng một chiến lược, một “học thuyết” đô thị hóa khoa học, bài bản lâu dài cho Việt Nam. Có nhiều bài học thất bại về đô thị hóa ở các nước đang phát triển mà ta có thể, và cần phải nghiên cứu để tránh đi vào vết xe đổ của họ. Chẳng hạn như các siêu đô thị ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Nam Mỹ, Châu Phi… Cũng có nhiều bài học thành công về đô thị hóa ở các nước này với các thành phố mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các thành phố vệ tinh, các dạng cư trú, các khuynh hướng kiến trúc mà ta cần học hỏi kỹ càng. Phải nói rằng trước thế kỷ 20 cả Việt Nam được quy hoạch theo các làng. Ta chưa có kinh nghiệm gì về đô thị hóa ngoài những kinh nghiệm phát triển các đô thị thời thực dân. Những đặc điểm và kinh nghiệm đó cần được nghiên cứu để rút ra các bài học. Chừng mực nào đó sự đô thị hóa, quy hoạch, phong cách kiến trúc, giao thông, tổ chức quản lý ở các Thành phố Sài Gòn, Hà Nội, Huế, Hải Phòng… từng có một số thành công do hòa hợp với văn hóa, thiên nhiên, khí hậu, tính cách của người dân Việt: Chẳng hạn như quy hoạch toàn thành phố, khu phố Tây và khu công chức cùng phong cách “kiến trúc Đông Dương” ở Hà Nội, quy hoạch Sài Gòn- Gia Định- Chợ Lớn với trung tâm là Quận Nhất bây giờ, quy hoạch khu phố buôn bán mới và kiến trúc nhà vườn Huế  vv…  Tôi nhớ trước đây thời chiến tranh các Lãnh tụ Cách mạng khi nói tới mơ ước hòa bình xây dựng có dùng cụm từ “sắp xếp lại giang san đất nước”. Hồ Chí Minh di chúc là phải xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn…”. Một sự thật là ta đang đô thị hóa, sắp xếp lại giang san không đàng hoàng.  Tôi không tin vào công thức CNH= ĐTH tự phát.  Nguyễn Bình Quân               Author                Quản trị        
__label__tiasang Công việc của chính trị      Đi một vòng thế giới, bạn sẽ thấy ra rằng người nước Pháp là những nhà vô địch về sử dụng thẻ trả tiền.  Vào siêu thị, qua cửa trả vé đường cao tốc, thanh toán tiền đỗ xe… việc trả tiền tự động bằng thẻ trở thành đại trà. Có khi chỉ để trả mấy chục xu.      Bạn đi qua nước Đức, đa phần người ta rút tiền và tiêu tiền mặt.  Bạn đi qua nước Mỹ, đoàn ôtô rồng rắn chờ để trả tiền qua cầu, rất rẻ nhưng rất lâu.  Còn ở ta có khi lấy xích-lô chở tiền để đi mua nhà!  Người Pháp thông minh hơn chăng?  …  Câu chuyện là thế này.  Khi trả tiền bằng thẻ, có một khoản chi phí cho việc này.  Ở Đức, người dùng thẻ phải trả một phần cho khoản này. Chả ai dại gì mất tiền.  Còn ở Pháp, Nhà nước quy định người dùng thẻ không phải trả chi phí cho việc dùng thẻ, mà người bán phải chịu. Mà người trả tiền luôn luôn là Thượng đế!  Các cửa hàng nhỏ bán lẻ thì ngán chuyện dùng thẻ, bắt người ta phải mua từ mười Euro gì đó thì mới nhận trả bằng thẻ. Còn các cửa hàng lớn thì họ không chấp, 1 xu cũng xong. Và nếu chẳng may bạn đổi ý trả lại hàng thì họ quệt thẻ bạn và tiền của cửa hàng chảy ngược luôn vào tài khoản của bạn, có khi còn trước khi tiền bạn mua hàng chảy ra khỏi tài khoản bạn nữa!  …  Công việc của chính trị là vậy.  Không phải là săm soi, là lên lớp khản giọng, là cầm tay chỉ việc.  Mà là đưa ra những quyết sách hướng dòng chảy của đời sống sao cho thuận lợi cho toàn bộ cộng đồng.  Chính trị không làm việc đó, ai làm?  …  Hãy lấy câu chuyện cái xe máy hôm nay chẳng hạn, và xem vấn đề chính trị của nó ra sao.  Xe máy rất hợp với xứ ta: rẻ, cơ động, dễ sử dụng, chiếm ít không gian.  Ngược lại, xứ ta đô thị hóa nghẹt thở, phi quy hoạch, phi lộ trình, với toàn bộ tính bừa bãi ngông nghênh vô kỉ luật. Thành phố chỉ là cái chợ thật to để người ta chen chúc, đi ẩu, vứt rác, thải tiếng ồn.  Một chiếc xe máy nhỏ bình thường, trong trạng thái tốt, thải ra một lượng khí thải độc hại ô nhiễm gấp bốn lần một chiếc ôtô con trong trạng thái bình thường, theo đo lường của các nhà môi trường.  Vì sao? Rất đơn giản. Vì xe máy không có bộ lọc khí thải. Còn ôtô thì bắt buộc phải có.  Tiếng ồn cũng vậy, chắc phải hơn 4 lần so với một chiếc ôtô con.  Bây giờ đèn đỏ, bạn đứng đó, hãy nhân số lượng xe máy quanh bạn lên làm 4 lần, bạn có một mức ô nhiễm tương đương hàng trăm, hàng nghìn chiếc ôtô quanh bạn.  Xe pháo ở ta lại còn ở mức chất lượng bất chấp, hệ số ô nhiễm chắc phải cao gấp đôi gấp bốn thêm nữa, hoặc hơn cả thế.  Rồi tiếng ồn đinh tai.  Rồi còi pháo toe toét, rú ga để khoe chủ nhân ông, để thách đố xung quanh.  Hãy coi chừng nếu bạn ngạt thở té lăn luôn ra đó.  …  Cái sự tình này, nền chính trị có trách nhiệm phải tham gia mạnh mẽ.  Rộng lớn, đó là công việc phi tập trung hóa các đô thị lớn, tạo ra nhiều vùng trung tâm dân cư liên đới tương đối hoàn chỉnh về ăn ở, sinh hoạt, giao thông, hành chính, trường học, bệnh viện, giải trí. Các trung tâm này phải có chất lượng cao thì mới giãn được dân. Chất lượng thật cao đồng bộ là tốt nhất, kéo những tầng lớp khá giả hơn đi tiên phong vẫn dễ hơn.  Phải khoanh những vùng ven đô rộng lớn thành những khu rừng, công viên vĩ đại, lá phổi của người thành phố. Không có quyết sách chính trị, thành phố sẽ phát triển theo nguyên tắc bệnh ung thư tràn khắp, không một mảng trống nào có thể tồn tại lại được.  Rồi phải có hệ thống giao thông công cộng thật thuận lợi với nhiều ưu tiên, được Nhà nước bù lỗ cho các tuyến mới. Các phương tiện này phải chạy theo nguyên tắc sạch, dùng điện hoặc gas.  Rồi hệ thống đường xá chuẩn quy.  Đó mới là môi trường cho giao thông.  Còn bản thân các xe máy?  Phải có lộ trình với người sử dụng và các nhà sản xuất.  Ví dụ lên lộ trình đến 10 năm tới, xe máy phải có bộ lọc đạt độ chuẩn về khí thải, độ chuẩn về mức tiếng ồn mới được phép lưu hành. Cuộc đàm phán với các nhà sản xuất và phân phối xe máy đã phải bắt đầu ngay từ bây giờ.  Các xe máy, ôtô phải bị kiểm tra định kì và bất thường, và bị phạt hoặc cấm lưu thông khi độ ô nhiễm và độ ồn quá chuẩn.  Còi xe máy hoàn toàn có thể bị cấm trong thành phố.  Nhiều tuyến phố trung tâm chỉ cho đi bộ, hoặc thêm xe đạp.  Một số tuyến chỉ có người có địa chỉ nhà ở đó mới được phép chạy xe máy, chạy ôtô vào. Việc này thực hiện qua tem dán cho phép trên xe.  …  Chuyện xa xôi? Không có gì xa xôi cả.  Và ngay hôm nay đã có thể làm được ngay bao nhiêu việc.  Tỉ như sáng sớm ra người ta cần tập thể dục quanh các hồ, quảng trường công cộng.  Vậy thì hãy cấm sử dụng xe máy, ôtô tại các khu vực đó từ 5:00 giờ đến 6:30 sáng chẳng hạn.  Công việc của chính trị là ở ngay đó.  Chính trị là cái công việc đo đạc, nghe ngóng, suy tính các giải pháp rộng lớn cho đời sống công cộng, cho hằng ngày, và cho dài lâu.  Chính trị không thể bị tê liệt.  Và càng không thể bị nhầm việc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang COP26: Việt Nam hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050      Ngày 1/11/2021, tại Glasgow, Thủ tướng Phạm Minh Chính có tuyên bố làm nên lịch sử: Việt Nam sẽ đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 vào năm 2050. Ta hãy bàn luận về những ý nghĩa ẩn sau tuyên bố này, đi cùng cam kết dừng xây dựng nhà máy nhiệt điện mới và giảm phát thải khí metan. Đầu tiên, ta cần xem xét tác động của Hiệp định Khí hậu Liên Chính phủ đến Việt Nam trước khi thảo luận về hệ quả của những tuyên bố, phát biểu và những cam kết được đưa ra tại hội nghị COP26.      Người dân biểu tình ủng hộ mục tiêu 1,50C tại COP26, Glasgow, Anh, tháng 11/2021. Năm 2014, trước khi có Thỏa thuận Paris, các quốc gia đã đặt mục tiêu nóng lên toàn cầu cho thế giới là +3,70C  trong thế kỷ này. Việc đánh giá cam kết Đóng góp do quốc gia tự quyết định (Nationally Determined Commitments – NDC) trong năm 2021 cho thấy chúng ta sẽ rơi vào tình thế nóng lên +2,40C  trên toàn cầu. Chúng ta đã đi được nửa chặng đường, vẫn còn một nửa chặng nữa còn dang dở. #angry #blablabla  COP26 tại Glasgow đã thừa nhận mục tiêu 1,50C nóng lên toàn cầu là thích đáng. Mục tiêu 1,50C có vẻ gây nản lòng khi Trái Đất vốn đã nóng lên 1,10C, tăng đến 0,20C mỗi thập kỷ. Dù sao, mục tiêu 1,50C này nên được hiểu như một khái niệm nằm ở giao điểm giữa khoa học và chính sách. Giới báo chí gọi 1,5 là một biểu tượng totem – bởi nhân loại tụ lại quanh mốc này để tổ chức các nghi lễ chung. Giới chính trị gia coi 1,5 như một mỏ neo vì nó bảo vệ nhân loại trước những mối nguy chưa biết và không thể bị tuột mất.    Các nhà khoa học xã hội dùng cụm từ chuyên ngành đối tượng ranh giới (boundary object): thông tin được các cộng đồng khác nhau sử dụng theo những cách khác nhau khi cùng tham gia một hợp tác ở nhiều quy mô (Star & Griesemer, 1989). [Theo đó] ý nghĩa của sự “nóng lên toàn cầu” chỉ dựa trên những thay đổi vật lý chỉ mức tăng trung bình của nhiệt độ bề mặt kể từ thời kỳ tiền công nghiệp nhưng cụm từ này cũng đề cập đến một biến số chính trị, phản ánh nỗ lực mà các nhà hoạch định chính sách cùng đồng thuận. Việc giữ lựa chọn duy trì ở mức dưới 1,50C cho thấy các quốc gia tham gia Hiệp định đều đồng ý rằng vấn đề hiện tại không chỉ quan trọng mà còn khẩn cấp.     Nhận thấy tình trạng cấp thiết đó, các quốc gia đã nhất trí trong Điều 28 của Hiệp ước Khí hậu Glasgow, văn bản chính trị chính do Hội nghị đề ra, để đưa ra các tham vọng lớn hơn vào thời điểm diễn ra hội nghị lần tiếp theo năm 2022, thay vì chờ đến năm 2025. Đây là một động thái chính trị nhằm vào 40 quốc gia đã không nộp đúng hạn bản cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (Nationally Determined Commitments – NDC), và những quốc gia dù nộp nhưng không tăng cường mức độ các tham vọng.       Yêu cầu phát thải khí nhà kính phải được triển khai một cách công bằng. Mọi vùng miền đều nên được hưởng lợi từ việc mở rộng công nghiệp xanh, kèm theo sự quan tâm đặc biệt đến việc tái chuyển đổi những ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất do sự sụp đổ của “đế chế” nhiên liệu hóa thạch.      Việt Nam đã đệ trình bản cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định vào tháng 7/2020. Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) sẽ gặp nhiều khó khăn để thực hiện toàn bộ các mục tiêu NDC trong năm tới khi đồng thời phải tập trung cải thiện các hệ thống báo cáo và quan trắc khí nhà kính trên cả nước. Tuy nhiên, thỏa thuận Paris được xây dựng dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau rằng các quốc gia sẽ trình bày những gì họ đang làm – một cơ sở thực tế và dễ tiếp cận hơn so với việc mong chờ các quốc gia thực hiện những điều họ đang trình bày. Việt Nam đã có những bước tiến ngoạn mục trong hạng mục năng lượng tái tạo, rất xứng đáng được vinh danh. Các cam kết của Việt Nam tại COP26 cũng là cơ sở quan trọng để rà soát lại NDC.    Việt Nam đã đặt mục tiêu hướng tới phát thải ròng bằng 0 đến năm 2050. Đây là một bước ngoặt, một sự tái định hướng có ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội phù hợp với tinh thần của thời đại. Nhiều quốc gia – vốn chịu trách nhiệm cho hơn phân nửa lượng CO2 phát thải ra toàn thế giới – đã hoặc đang vạch ra mục tiêu phát thải ròng bằng 0 đến giai đoạn giữa thế kỉ. Một tuần trước khi diễn ra COP26, UAE đặt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và Arabia Saudi vào năm 2060. Tại COP26, Ấn Độ tuyên bố sẽ đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2070.     Nhiều quốc gia và công ty đang thực hiện mục tiêu trung hòa khí thải, điều họ cần làm là liên kết các kế hoạch ngắn hạn với các kế hoạch dài hạn đã nêu. Nếu không, tầm nhìn năm 2050 có thể chỉ là một sự lần lữa né tránh để bỏ lại vấn đề cho quản lý trong tương lai: “Tẩy xanh” (Greenwashing) có thể là một hành vi mới phủ nhận biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, đây không phải là trường hợp xảy ra ở Việt Nam. Trở về từ Glasgow, Phó Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Công thương ban hành các cam kết COP26 trong chính sách Quốc hội. Điều này ngụ ý sẽ có bản sửa đổi đáng kể của Dự thảo Phát triển Điện lực.     Điều 32 Hiệp ước Khí hậu Glasgow kêu gọi các bên liên quan chuẩn bị các chiến lược chuyển đổi từ phát thải dài hạn nồng độ thấp khí sang phát thải ròng bằng 0 tại thời điểm trước hoặc khoảng giữa thế kỉ – và chiến lược này cần phải hoàn thiện vào tháng 11/2022. Hiện tại, Việt Nam đã tuyên bố với các quốc gia khác sẽ đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, nên việc trông đợi Việt Nam sẽ làm thế nào để đạt được mục tiêu này là hoàn toàn chính đáng. Mọi quy hoạch mạng lưới điện, năng lượng, kinh tế xã hội quốc gia cho đến năm 2025 đang được hoàn thiện, tất cả đều bao gồm tầm nhìn đến năm 2045. Những điều này là cơ sở cho chiến lược phát triển xanh dài hạn sẽ được chia sẻ tại COP27, mặc dù thời hạn khá sít sao. Yêu cầu phát thải khí nhà kính phải được triển khai một cách công bằng. Ví dụ, nếu giá điện được tăng lên để đầu tư tài chính vào cơ sở hạ tầng điện lực, thì các hộ gia đình nghèo không phải gánh chịu tác động đó một cách không tương xứng. Mọi vùng miền đều nên được hưởng lợi từ việc mở rộng công nghiệp xanh, kèm theo sự quan tâm đặc biệt đến việc tái chuyển đổi những ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất do sự sụp đổ của “đế chế” nhiên liệu hóa thạch.        Ý nghĩa của mục tiêu phát thải ròng bằng 0 trên phương diện điện năng: nhu cầu tăng tham vọng cho Kế hoạch phát triển điện 8 vào năm 2030.     Điều 36 trong Hiệp ước thừa nhận tính cần thiết của việc “tăng tốc các nỗ lực hướng tới giảm dần năng lượng điện than không có công nghệ lọc CO2 và những khoản trợ cấp nhiên liệu hóa thạch không hiệu quả”. Tuyên bố này là một biểu tượng quan trọng của sự tiến bộ trong ngoại giao khí hậu quốc tế vì đây là lần đầu tiên, tính không bền vững của than và nhiên liệu hóa thạch được thừa nhận rõ ràng ở cấp độ này. Bản hiệp ước gốc sử dụng từ ngữ mạnh mẽ hơn khi đề cập đến “loại bỏ” nhiệt điện than, nhưng Ấn Độ cùng Trung Quốc khăng khăng dùng từ “giảm dần”, mặc cho các chỉ trích từ EU và Thụy Sĩ. Điều này làm dấy lên sự căng thẳng trong ngày bế mạc hội nghị. Việc giảm dần nhiệt điện than cũng thích hợp với Việt Nam hơn. Quá trình chuyển đổi năng lượng nên được tiến hành từng bước một.     Về vấn đề tài chính khí hậu, Điều 44 của Hiệp ước lưu ý rằng mục tiêu huy động 100 tỷ USD mỗi năm của các bên là nước phát triển vào năm 2020 đã không đạt được. Các bên nhất trí hoàn thành vào 2023. Ấn Độ (một lần nữa) làm rõ tại hội nghị rằng 100 tỷ USD mỗi năm là quá ít so với mức cần thiết. Thực tế, nếu chỉ nhìn vào một lĩnh vực  – như điện lực – ở một quốc gia – ví dụ là Việt Nam – chúng ta sẽ thấy rằng nhu cầu đầu tư bổ sung cho quá trình chuyển đổi năng lượng được tính cần tiêu tốn hàng tỷ USD cho mỗi năm. Hiệp ước yêu cầu các quốc gia phát triển tăng mạnh nguồn tài chính cho phù hợp tình hình đồng thời xem xét gấp đôi kinh phí. Hội nghị Glasgow cũng là dịp để hoàn tất các cuộc đàm phán về cơ chế hợp tác quốc tế. Các thảo luận về Điều 6.2 trong Thỏa thuận Paris đặt ra các quy tắc nhằm tránh việc gian dối trong tính lượng phát thải khi liên kết vào Hệ thống Giao dịch Phát thải (Emission Trading Systems) hoặc thanh toán bù trừ trên thị trường carbon tự nguyện quốc tế để không phải trả cho lượng phát thải quá mức cam kết của mình. Khung điều lệ trên vẫn có thể áp dụng dù còn thiếu sót cần cải thiện. Ví dụ, vẫn còn sự nhập nhằng trong kế toán giữa con số giảm phát thải mà các quốc gia hứa hẹn và cam kết của các công ty tư nhân có trụ sở tại các quốc gia này.     Thị trường carbon trong nước do Bộ TNMT chuẩn bị dự kiến mở vào năm 2028, nhưng một số dự án ở Việt Nam đã trao đổi tín chỉ tự nguyện giảm carbon song phương với Nhật Bản.     Cơ chế Phát triển Sạch (Clean Development Mechanism – CDM), cho phép các dự án nhận và bán lại tín chỉ carbon, đã được thay thế bằng “Quy tắc tại Điều 6.4”. Các nhà đàm phán đã đưa ra hai biện pháp bảo vệ chống lại sự lạm dụng mà chúng ta đã chứng kiến với CDM: 2% số tiền bồi hoàn đã trao đổi sẽ bị hủy bỏ trong lần chuyển nhượng đầu tiên và 5% doanh thu sẽ được góp vào Quỹ Thích ứng (đoạn 58 và 59). Ở đây, khung điều lệ vẫn có thể sử dụng được dù không hoàn hảo. Ví dụ, Chứng nhận Giảm thiểu Phát thải từ các hoạt động triển khai sau năm 2013 vẫn có thể được chuyển sang hệ thống mới dù điều này không góp phần làm giảm thêm lượng khí nhà kính phát thải mà chỉ có thể làm suy giảm thị trường.       Xung quanh hội nghị COP26, Glasgow, Vương quốc Anh, tháng 11/021.  Các sự kiện trong khuôn khổ hội nghị COP26 được tổ chức theo hai cấp độ. Các cuộc đàm phán chính thức giữa các chính phủ diễn ra tại hội trường trung tâm. Song song đó, dưới sự điều phối của những người chủ trì hội nghị, những sự kiện bên lề sôi nổi được tổ chức tại các hành lang, quan sát viên và các bên liên quan cố gắng tác động đến buổi đàm phán thông qua cánh gà.     Các thông báo của những sự kiện bên lề gồm:     – Than đá. Việt Nam đã ký Tuyên bố chuyển đổi năng lượng than đá sang năng lượng sạch toàn cầu. Cam kết chuyển đổi để dừng sản xuất điện than không có công nghệ lọc CO2 trong những năm 2040 (hoặc sớm nhất có thể sau đó), và ngừng cấp giấy phép mới cho các dự án nhiệt điện than không có công nghệ lọc CO2 mà chưa hoàn tất quá trình phê duyệt tài chính đồng thời ngừng xây dựng các dự án nhiệt điện than không có công nghệ lọc CO2 mới, cũng như kết thúc các chính sách mới hỗ trợ trực tiếp của chính phủ cho ngành công nghiệp nhiệt điện than quốc tế không qua công nghệ lọc CO2. Đồng ký kết với Việt Nam gồm có Hàn Quốc và các nước ASEAN như Philippines, Singapore, Indonesia và Brunei. Bốn quốc gia tiêu thụ nhiều than đá nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản đã không tham gia ký kết.       – Metan: Hơn 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký Cam kết Metan Toàn cầu do Mỹ và châu Âu đứng đầu: đồng ý cắt giảm 30% lượng khí metan phát thải vào năm 2030 (Liên minh châu Âu và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, 2021). Điều này sẽ có tác dụng ngắn hạn đáng kể chống lại sự nóng lên toàn cầu, nhằm tránh mức tăng khoảng 0,2oC vào năm 2050. Thế giới có thể trì hoãn thêm mười năm trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu bằng cách kiểm soát lượng phát thải khí metan. Con số 30% là mục tiêu cho toàn thế giới, không phải quốc gia. Cam kết này chỉ là các hành động tự nguyện và tăng tính minh bạch. Ngoài việc cải thiện hệ thống kiểm tra và quan trắc khí nhà kính trên toàn quốc của Bộ TN&MT, Việt Nam cam kết đạt được tất cả các mức giảm phát thải khí metan khả thi từ ngành năng lượng (mỏ than, sản xuất, vận chuyển và chế biến dầu khí) và rác thải (chôn lấp rác thải). Việt Nam cũng cam kết cố gắng giảm lượng khí thải nông nghiệp – nguồn phát thải lớn nhất cả nước – thông qua đổi mới công nghệ, khuyến khích và hợp tác cùng nông dân.    – Ô tô: Việt Nam không ký Tuyên bố COP26 cam kết chỉ bán ô tô và xe tải không phát thải khí nhà kính vào năm 2040 và 2035 tại các thị trường dẫn đầu. Tuyên bố chính trị này chỉ thành công một nửa tại Vương quốc Anh. Những nhà sản xuất ô tô lớn như Ford, Mercedes, Volvo và Mercedes-Benz đồng ý ký kết nhưng Renault-Nissan, Toyota và Volkswagen thì không. Do thiếu sự nhất trí từ ngành công nghiệp ô tô, các quốc gia sản xuất ô tô hàng đầu như Trung Quốc, Đức, Pháp, Nhật Bản và Mỹ đã không ký vào tuyên bố.       Các thế hệ tương lai thể hiện quan điểm rằng biến đổi khí hậu là mối đe dọa hiện hữu đối với một số quốc gia, đòi hỏi việc bồi thường thiệt hại và mất mát tại COP26, Glasgow, Vương quốc Anh, tháng 1/2021.   Tài trợ nhiên liệu hóa thạch: Hơn 30 quốc gia và cơ quan tài chính đã cam kết tạm dừng các khoản đầu tư nước ngoài cho phát triển nhiên liệu hóa thạch và hướng ngân sách đầu tư cho năng lượng xanh. Các bên tham gia ký kết gồm Mỹ, Vương quốc Anh và Ngân hàng Đầu tư Liên minh châu Âu. Liên minh này có thể đạt được đà phát triển nhanh chóng nhờ dựa vào tiền lệ đặt ra bởi sự hợp tác quốc tế về chống tài trợ than đá. Các nhà đầu tư nên chú ý đến tác động của việc Mỹ đồng ý hỗ trợ dự án điện khí LNG ở Việt Nam (nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng) và phát triển chương trình khai thác nhiên liệu hóa thạch ngoài thềm lục địa.     Phá rừng: Cùng với 141 quốc gia tại COP26, Việt Nam bảo đảm “Chặn đứng và đảo ngược” nạn phá rừng vào năm 2030, tăng ngân sách phát triển nông nghiệp bền vững, quản lý rừng và bảo tồn + phục hồi tài nguyên rừng. Cam kết này không phải là thay đổi chính sách đáng kể, các thỏa thuận tương tự trước đây không có nhiều thành quả. Hơn nữa, trồng cây không đủ đảm bảo lâm nghiệp bền vững khi mà ban quản lý cộng đồng địa phương có quyền quyết định thực hiện hay phá bỏ các chương trình trồng rừng.     Hội nghị COP27 sẽ diễn ra vào tháng 11/2022. Tại thời điểm đó, Việt Nam có thể đã đệ trình bản NDC cập nhật lần hai và một chiến lược dài hạn giải thích cách chuyển mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 thành các kế hoạch năm năm. Các quốc gia khác sẽ đánh giá cao việc học hỏi khi Việt Nam bắt đầu giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống mức tuyệt đối. COP26 tại Glasgow tập trung vào việc giảm nhẹ, giữ cho mục tiêu 1,5 tồn tại. Các cuộc thảo luận quốc tế tại COP27 ở Ai Cập sẽ chuyển sang vấn đề thích ứng. Những quốc gia châu Phi sẽ thúc đẩy các cuộc thảo luận về mất mát và thiệt hại, tức mong muốn bồi thường vật chất cho những tác động biến đổi khí hậu không thể tránh khỏi gây ra bởi tác động từ biến đổi khí hậu gây ra bởi lượng khí thải từ các quốc gia giàu có trong quá khứ. Đây đã luôn là điểm nhức nhối trong các cuộc đàm phán từ trước đến nay.     Dù vậy, các hội nghị về biến đổi khí hậu vẫn là một trong những nơi hiếm hoi mà tất cả các quốc gia gặp gỡ để hợp tác trong hòa bình. Trung Quốc và Hoa Kỳ hâm nóng quan hệ hợp tác về khí hậu sau 5 năm nguội lạnh, ngay cả khi lãnh đạo cả hai nước không tham dự Glasgow. Cam kết Metan toàn cầu đã không đạt được thỏa thuận từ Trung Quốc – nước phát thải metan nhiều nhất thế giới. Và Mỹ đã đồng ý với Liên minh châu Âu sẽ tăng thuế đối với thép và nhôm được sản xuất từ các quy trình phát thải nhiều CO2. Đây là thỏa thuận đầu tiên về cơ chế thuế điều chỉnh carbon biên giới (borders adjustment mechanism). Thỏa thuận nhằm vào quy trình sản xuất thép tại Trung Quốc nhưng đồng thời có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu thép tại Việt Nam, ngành công nghiệp trị giá hơn một tỷ đô mỗi tháng. Điều này thúc đẩy ngành công nghiệp thép Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc thực hiện cơ chế định giá carbon của Bộ TN&MT. □     Đoàn Lê Uyên Kha dịch    Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Coronavirus tác động như thế nào đến thương mại thế giới?      Dịch do Coronavirus tác động đến sản xuất công nghiệp, ngành giao thông hàng hải và hàng không của Trung Quốc, cường quốc thương mại lớn nhất thế giới. Và không lâu nữa phần còn lại của thế giới có thể sẽ cảm thấy điều đó.    Bình thường chỉ có một số nhà quản lý ngành vận tải biển quan tâm đến Baltic Dry Index (Chỉ số thuê tàu hàng khô Baltic), tuy nhiên trong những ngày này các nhà kinh tế trên thế giới đều chú ý, vì Baltic Dry Index ngày càng xuống dốc. Kể từ đầu năm chỉ số này gần như giảm lien tục mỗi ngày, từ 1076 điểm hồi đầu năm nay xuống tới  415 điểm. Chỉ số này xuống thấp hơn so với hồi khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Có nhiều khả năng virus corona là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nhanh chóng giá cước vận tải.  Từ nhiều tuần nay dịch bệnh này đã làm tê liệt nền kinh tế Trung Quốc. Nó buộc chính phủ phải cô lập tỉnh Hồ bắc, áp đặt hạn chế đi lại và bắt buộc kéo dài kỳ nghỉ tết. Đến nay nhiều nhà máy xí nghiệp vẫn đóng cửa. Chính quyền chưa cho phép Foxcom, nhà cung cấp cho Apple khởi động sản xuất. Hay các dây chuyền  sản xuất của các nhà máy Trung Quốc của hãng Volkswagen vẫn ngừng hoạt động ít nhất tới cuối tuần này. Toyota cũng kéo dài thời gian nghỉ đến chủ nhật; General Motors dự kiến phải tới cuối tuần này mới khởi động sản xuất tại Trung Quốc.  Liệu các  vấn đề về kinh tế chỉ giới hạn trong phạm vi Trung Quốc? Hay các vấn đề đó sẽ lan rộng ra khắp thế giới? Điều rõ ràng ngay trước mắt là coronavirus đang gây tổn thất lớn mang tính toàn cầu  đối với hai lĩnh vực là Vận tải và nguyên liệu.     Bảy trong số mười cảng Container lớn nhất thế giới đều tập trung ở ven biển Trung Quốc. Trong ảnh là dãy container ở Thượng Hải.  “Nhiều tàu biển sẽ trống”  Ngành vận tải biển quốc tế đã bắt đầu chịu tổn thất. Trung Quốc là đầu mối và là điểm trung chuyển đối với ngành vận  tải biển quốc tế; bẩy trong số mười cảng container lớn nhất thế giới phân bổ dọc vùng duyên hải Trung Quốc. Theo điều tra của nhà cung cấp dữ liệu Alphaliner thì trong ba tuần vừa qua giao thông vận tải biển trong các cảng của TQ giảm 20%. “Sự tụt giảm  Baltic Dry Index cho thấy: nhiều tầu biển sẽ bị trống”, đó là ý kiến của một chuyên gia am hiểu trong ngành này.  Điều này không chỉ xẩy ra với vận chuyển hàng rời mà cả với vận tải bằng container. Các hãng tầu biển đang bị báo động. Thứ hai vừa qua hãng vận tải biển hàng đầu thế giới Maersk vừa ra thông báo Blank Sailings, tức là tạm thời đình chỉ các chuyến  đi và đến Trung Quốc đã được định sẵn. Điều này liên quan đến các cảng  Rotterdam, Antwerpen, Felixstowe và Los Angeles. Trong mấy ngày vừa qua một số hãng tầu như Maersk và  MSC của Italia, CMA CGM của Pháp đã huỷ nhiều chuyến đi tới Trung Quốc. Hãng tầu  Hapag Lloyd của Đức cũng huỷ chuyến đi từ Qingdao tới Barcelona.  Tuy nguồn cung giảm nhưng giá cước cũng giảm: theo cổng vận tải Freightos giá vận chuyển một container từ Trung Quốc đi châu Âu trong tuần qua giảm 14 %. Theo chuyên gia của  Alphaliner  thì đến cuối tháng ba số container đến và đi từ Trung Quốc sẽ giảm ít nhất 6 triệu container tiêu chuẩn. Con số này tương đương 4% tổng lưu lượng container trên toàn thế giới trong một năm.  Số chuyến bay chở hàng cũng giảm  Corona không chỉ gây đình đốn trong vận tải biến. Hãng hàng không Lufthansa cũng đã bị ảnh hưởng. Trong khi các hãng hàng không đình chỉ mọi chuyến bay vận chuyển hành khách tới Trung hoa đại lục thì hãng hàng không Lufthansa Cargo của Đức vẫn vận chuyển hàng hoá tới các thành phố ở Trung Quốc như  Shanghai, Peking và Chengdu. Tuy nhiên thay vì mỗi tuần 15 chuyến như trước đây nay chỉ còn 5 chuyến. Vì lý do an toàn các chuyến bay này không bay Nonstop như trước mà hạ cánh tạm thời tại sân bay của Nga ở Nowosibirsk. Tại đây sẽ có đội bay bay tiếp tới Trung Quốc và sau khi bốc dỡ hàng xong lại bay ngay sang Nga. Với cách làm này giảm được thời gian đội lái phải dừng lâu ở Trung Quốc. Hơn nữa các đội lái đều được trang bị mặt nạ hô hấp và được cung cấp thuốc khử trùng. Các hãng đều phải tạm ngừng vận chuyển động vật sống cũng như vận chuyển tốc hành hàng hoá trên tuyến đường này.    Các chuyến bay vận tải hàng hoá tới Trung Quốc đều hết công suất trong đó có cả hàng cứu trợ. Tuy nhiên các chuyến khứ hồi thường còn trống nhiều. Điều này cho thấy sản xuất ở nhiều nhà máy ở Trung Quốc bị đình trệ.   Giá dầu mỏ giảm mạnh  Theo đánh giá của ngân hàng Commerzbank thì năng lực kinh tế Trung Quốc trong quý I này giảm 3% do tác động của coronavirus. “Rõ ràng coronavirus đã sớm tác động đến  thương mại thế giới”,  chiến lược gia về nguyên liệu Eugen Weinberg của Commerzbank trong cuộc trao đổi với tạp chí Spiegel.   Giá các nguyên liệu như đồng, Aluminium và kẽm trong mấy ngày qua đã xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua; Trung Quốc là nhà nhập khẩu lớn nhất đối với các kim loại này. Giá dầu thô cũng xuống dốc. Hôm thứ sáu giá một thùng (159 lít) loại tham chiếu WTI  của Hoa Kỳ có lúc xuống dưới mức 50 USD – mức thấp nhất trong năm qua. Hiện tại thị trường bị giảm mỗi ngày 1 triệu thùng do cầu của Trung Quốc giảm. Trong mấy năm gần đây TQ đã vượt Mỹ và trở thành nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới  và là cường quốc thế giới trong lĩnh vực thương mại.  “Hiện tại chúng tôi vẫn cho rằng tốc độ lây lan mới của Corona sẽ giảm trong vài tuần tới”, theo đánh giá của Weinberg: “Nhưng nếu không giảm lây lan thì con Virus này sẽ trở thành con thiên nga đen đối với kinh tế thế giới” – có nghĩa là đây là một sự kiện không lường trước có thể dẫn tới sự sụp đổ của nền kinh tế thế giới. Trong những năm qua Trung Quốc là đầu tầu của tăng trưởng toàn cầu. “Nếu đầu tầu bị trục trặc thì rất khó để duy trì mức tăng trưởng trên số không. Không ai muốn nghĩ tới viễn cảnh này.”   Mọi sự lúc này đều lệ thuộc vào việc Trung Quốc có thể kiểm soát được virus này lâu hay chóng. Nếu chính phủ thành công trong việc kiềm chế sự lây lan  bệnh hay các nhà nghiên cứu tìm ra được một loại thuốc hữu hiệu thì nền thương mại thế giới có thể nhanh chóng  hồi phục và lấy lại được đà phát triển. Khi đó giá cước vận tải và giá nguyên liệu sẽ lại tăng lên nhanh chóng.   Nguyễn Xuân Hoài lược dịch theo Spiegel. Ngày truy cập: 10.02.2020        Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19: Bất bình đẳng tăng nhiều lần      COVID-19 làm bộc lộ rõ hơn tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm giàu nghèo, chủng tộc, giới tính, tuổi tác, giáo dục và vị trí địa lý. Nhưng thực chất, thứ định hình nên xã hội không phải là những sự kiện, biến cố, mà chính là hành động của con người, mà đặc biệt là của các nhà lãnh đạo.      Người di cư đi bộ trở về nhà ở Ấn Độ. Nguồn ảnh: Theguardian, đăng ngày 30/3/2020.  Trong cuốn sách The Great Leveler, nhà sử học Walter Scheidel cho rằng đại dịch là một trong số bốn yếu tố quan trọng, mà theo dòng chảy thời gian, đã giúp gia tăng sự bình đẳng – những yếu tố khác là chiến tranh, cách mạng và sự sụp đổ của nhà nước. Tương tự, nhà kinh tế học Thomas Piketty trong cuốn Capital in the Twenty-First Century cũng chỉ ra rằng các cuộc chiến tranh thế giới và đại dịch cúm vào năm 1918 – 1919 đã góp phần giảm thiểu bất bình đẳng sau năm 1945. Tuy nhiên, dù việc số người chết tăng cao có thể làm giảm lực lượng lao động dẫn đến tăng lương của những người còn sống sót, nhưng rất khó để khẳng định rằng đại dịch là yếu tố quyết định để giảm thiểu mức độ bất bình đẳng.    Không thể đặt đại dịch năm 2021 lên bàn cân với Cái Chết đen – dịch bệnh đã giết chết một phần ba dân số châu Âu, hay dịch cúm năm 1918 – giết chết khoảng một phần ba dân số thế giới. Hậu quả của đại dịch lần này là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng chứ không phải là tình trạng thiếu hụt nguồn lao động sẵn có như trường hợp của các cuộc khủng hoảng dịch bệnh trước. Thêm vào đấy, không giống như cuộc Đại Suy thoái và các thời kỳ khủng hoảng trước đó, trong giai đoạn COVID-19, thị trường chứng khoán lẫn tài sản của những người giàu đều tăng vọt về giá trị, tiếp tục nới rộng khoảng cách giàu nghèo.    Việc cho rằng đại dịch lần này sẽ giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng và mở ra một thế giới tốt đẹp hơn là một suy nghĩ thiển cận. Chiến tranh Thế giới thứ nhất không hề xóa bỏ được những chênh lệch xã hội. Thực chất, bất bình đẳng ở nhiều quốc gia đã lên đến đỉnh điểm vào đầu những năm 1920. Đến những năm 1930, với sự khởi đầu của cuộc Đại Suy thoái, tình trạng thất nghiệp và đói nghèo trở nên phổ biến ở Mỹ, Anh và châu Âu. Tuy nhiên, bức tranh đối lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai lại cho chúng ta thấy rằng không ai có thể dự đoán trước được những gì mà các cuộc khủng hoảng sẽ mang lại. Thực chất, thứ định hình nên xã hội không phải là những sự kiện, biến cố, mà chính là hành động của con người, mà đặc biệt là của các nhà lãnh đạo.  Cuốn sách Rescue: From Global Crisis to a Better World đã xác định rằng các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ có thể thúc đẩy những thay đổi nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng vốn đang gia tăng ở cả châu Âu và Mỹ từ trước khi COVID-19 xảy đến. Đại dịch chỉ đang đẩy nhanh xu hướng này.      Chính phủ các nước và doanh nghiệp phải cùng nhau xây dựng những sáng kiến giúp giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử – tương ứng với những gì đang diễn ra hiện nay.      Sau quãng thời gian tương đối ổn định trong những thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, kể từ những năm 1980, tỷ trọng thu nhập bình quân của người lao động trong tổng thu nhập quốc dân đã giảm ở Mỹ, châu Âu và Anh. Điều này chủ yếu bắt nguồn từ làn sóng tự do hóa – kể từ khi Margaret Thatcher và Ronald Reagan bắt đầu ‘cuộc chạy đua xuống đáy’ về thuế, giảm bớt quyền lực của các công đoàn, và cả sự suy yếu của chính sách cạnh tranh – tất cả đều giúp tập trung quyền lực về tay người sử dụng lao động.     Khoảng cách chi tiêu công     Hiện nay, trong số các quốc gia có thu nhập cao, Mỹ là quốc gia bất bình đẳng nhất, theo sau là Anh. Chính tại các quốc gia này, cuộc thập tự chinh tân tự do – vốn để tìm cách giảm quy mô của chính phủ thông qua giảm thuế và tái phân phối, tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước và các công ty cung cấp dịch vụ công, làm suy yếu quyền lực của các tổ chức công đoàn và hủy bỏ các quy tắc bó buộc sự tự do của khu vực tư nhân – đã được tiến hành triệt để nhất.  Trái lại, kể từ những năm 1970, các nước ở Bắc Âu và Đông Á có mức độ bất bình đẳng thấp – nhờ khoản trợ cấp xã hội cao hơn cho những người có nhu cầu, và nhờ đầu tư công cao hơn vào giáo dục, y tế và nhà ở. Cả hai khoản tiền này đều dựa vào tiền thuế, trong đó người giàu phải trả mức thuế cao hơn.  Cả trợ cấp xã hội và đầu tư công đều đòi hỏi nguồn ngân sách đáng kể. Và kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và sự suy thoái tài chính công, các nước Nam Âu ít có khả năng chi trả những khoản tiền lớn như ở Đức, nơi hai khoản tiền này cũng đã chiếm hơn 20% chi tiêu của chính phủ. Người lao động ở Ý, Tây Ban Nha và các nước Đông Âu như Ba Lan và Hungary, chưa từng nhận được mức hỗ trợ nào như người láng giềng ở phương Bắc. Kết quả là tình trạng bất bình đẳng ở các quốc gia phía Nam gia tăng nhanh chóng, dẫn đến sự phân hóa trong khu vực châu Âu.     Bất bình đẳng kéo dài dai dẳng     Do một loạt các yếu tố tác động lẫn nhau, đại dịch đã làm gia tăng mức độ bất bình đẳng về kinh tế và y tế. Những người giàu có không chỉ giữ được công việc với mức lương cao mà còn được hưởng lợi từ thị trường chứng khoán tăng vọt và giá nhà tăng. Ngược lại, những người lao động với mức lương rẻ mạt thường phải làm việc trong những lĩnh vực bị ngừng hoạt động – bao gồm khách sạn và du lịch. Họ cũng có xu hướng làm việc trong những ngành dịch vụ thiết yếu như y tá, cảnh sát, giáo viên, dọn dẹp, nhân viên cửa hàng – trong tất cả các ngành nghề, họ có khả năng phơi nhiễm COVID-19 cao nhất. Nguy cơ lây lan càng tăng cao do họ sống trong những ngôi nhà đông đúc, các tòa chung cư có thang máy và lối đi chung, và họ còn phụ thuộc nhiều hơn vào phương tiện giao thông công cộng.    Khi khu vực họ sống xuất hiện một ca mắc và bị phong tỏa, họ có thể sẽ không đi làm được và bị giảm nguồn thu nhập. Các cơ sở y tế trong khu họ sống cũng chẳng mấy hiện đại, điều này có thể khiến tỷ lệ tử vong cao hơn. Thêm vào đó, các bệnh nền sẵn có cũng làm tăng tính dễ bị tổn thương của họ.  Người lao động nghèo thường phải làm công việc theo giờ với mức lương bấp bênh, khiến họ ít có khả năng tiếp cận an sinh xã hội, bảo hiểm y tế và các phúc lợi khẩn cấp. Đại dịch đã xảy đến trong bối cảnh Anh, Mỹ và nhiều quốc gia khác đã kiệt quệ sau hàng thập kỷ thắt lưng buộc bụng, nó khiến tình hình càng thêm khó khăn và số lượng người rơi vào cảnh đói nghèo ngày càng tăng.    Khoản thuế tái phân phối – dưới hình thức y tế và giáo dục, cũng như an sinh xã hội, nhà ở và các lợi ích khác – đều có thể giúp giảm thiểu đáng kể tình trạng bất bình đẳng. Trước khi tính đến thuế và chi tiêu của chính phủ, bất bình đẳng ở Pháp gần như trầm trọng ngang với ở Mỹ và Anh, hay thậm chí còn cao hơn đối với Ireland. Tuy nhiên, nhờ việc đánh thuế và tái phân phối khoản tiền đó, tình trạng bất bình đẳng ở Ireland và Pháp đã giảm xuống mức thấp hơn nhiều so với ở Anh.    Trong khi đó, việc lần lượt nhiều đời Tổng thống Mỹ không sử dụng thuế và chi tiêu để khắc phục khó khăn, đã dẫn đến tình trạng bất bình đẳng ở nước này kéo dài dai dẳng nhất trong số các nước giàu. Để vượt qua tình trạng bất bình đẳng này, đòi hỏi chính phủ phải đánh thuế thừa kế cao hơn đối với các gia đình có thu nhập cao, vốn ngày càng trở nên giàu có hơn trong các thập kỷ gần đây.    Đối với người trẻ, đại dịch đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề. Để bảo vệ sức khỏe của người cao tuổi, họ đã phải hy sinh việc học, triển vọng sự nghiệp và cuộc sống xã hội, và trong những năm tới họ còn phải gánh mức nợ công cao hơn nhiều. Hiện tại, như những gì đã xảy ra sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng ta cần đảm bảo rằng họ sẽ có được một tương lai bền vững và tươi sáng hơn. Điều này đòi hỏi mức đầu tư cao hơn vào giáo dục, cải thiện triển vọng việc làm và tập trung vào những dịch chuyển xã hội – bao gồm việc đánh thuế thừa kế và tài sản cao hơn.    COVID-19 đã khiến tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử trở nên trầm trọng. Tuy vậy, chính phủ các nước và doanh nghiệp không thể cứ thế mà thực hiện những biện pháp thời tiền-đại dịch. Giờ đây, họ phải cùng nhau xây dựng những sáng kiến giúp giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử – tương ứng với những gì đang diễn ra trong hiện tại. □    Anh Thư dịch  Nguồn: https://theconversation.com/covid-19-how-rising-inequalities-unfolded-and-why-we-cannot-afford-to-ignore-it-161132?  Một cuộc khảo sát gần đây tại 37 quốc gia đã chỉ ra rằng cứ bốn hộ gia đình thì sẽ có ba hộ bị giảm thu nhập kể từ khi bắt đầu đại dịch, với 82% hộ gia đình nghèo hơn bị ảnh hưởng. Ở Mỹ, hơn hai triệu hộ gia đình cho biết họ thậm chí còn không có đủ thức ăn kể từ khi đầu đại dịch. Trên thực tế, 1/5 hộ gia đình người Mỹ gốc Phi nói rằng họ sắp lâm vào cảnh kiệt quệ.  Nhưng đại dịch là một cơ hội cho giới siêu giàu. Tại Mỹ, hơn 44 triệu người mất việc làm và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 15% từ tháng tư đến tháng sáu năm 2020. Tuy nhiên, khối tài sản của năm tỷ phú hàng đầu đã tăng thêm 102 tỷ USD, nghĩa là tổng tài sản của họ đã tăng thêm 26%. Thậm chí, tổng tài sản của các tỷ phú Mỹ đã tăng hơn 637 tỷ USD – lên tổng số 3,6 nghìn tỷ USD – nhiều hơn đáng kể so với toàn bộ tài sản của 54 quốc gia trên lục địa châu Phi. Từ năm 1980 đến năm 2020, ​​khối tài sản của các tỷ phú Mỹ đã tăng vọt 1.130%, tăng nhanh hơn 200 lần so với mức lương trung bình. Đồng thời, nghĩa vụ thuế của các tỷ phú ở Mỹ đã giảm 78% từ năm 1980 đến 2018 (tính theo phần trăm tài sản của họ).  Những người hưởng lợi nhiều nhất là những người có nhiều cổ phần trong các doanh nghiệp công nghiệp. Các nhà cung cấp nền tảng bán lẻ trực tuyến, nền tảng họp trực tuyến và các nhóm truyền thông xã hội đã tận dụng cơ hội từ việc phong tỏa và xu hướng chuyển sang làm việc từ xa.  Việc tài sản được tích lũy trong tay của một thiểu số nhỏ đang gia tăng áp lực đánh thuế người giàu và việc thừa kế của họ. Chẳng hạn, trong số các quốc gia có thu nhập cao, Mỹ có mức độ bất bình đẳng giàu nghèo cao nhất, mức độ bất bình đẳng thu nhập sau thuế cao thứ hai, và là một trong những nước có mức độ dịch chuyển giữa các thế hệ thấp nhất. Nói cách khác, tương lai của một cá nhân phần lớn được quyết định bởi thu nhập của cha mẹ họ. Chỉ riêng trong năm 2020, chính phủ chỉ thu trung bình 2,1% khoản thuế trong tổng cộng 764 tỷ USD tiền thừa kế trên khắp cả nước. Ngược lại, mức thuế suất trung bình của người lao động là 15,8% – cao hơn gấp bảy lần.  Không chỉ bất bình đẳng giàu nghèo, mà bất bình đẳng về giới cũng gia tăng trong thời kỳ đại dịch. Phụ nữ, cùng với người nghèo, người già, người tàn tật và người di cư, đã phải gánh chịu hậu quả của thảm họa do đại dịch gây ra. Ở Mỹ, phụ nữ chiếm 55% trong tổng số việc làm bị mất, mặc dù họ chỉ chiếm dưới một nửa tổng lực lượng lao động. Ở Anh, rủi ro bị ngừng làm việc do tình trạng phong tỏa ở phụ nữ cao hơn khoảng, 1/3 so với đàn ông. Ngay cả khi họ có thể tiếp tục làm việc thì người phụ nữ vẫn có nguy cơ bị thôi việc cao hơn gấp rưỡi so với người đàn ông.  Trong các cuộc suy thoái trước đây, nam giới đã phải đối mặt với tình trạng mất việc làm do mối quan hệ mật thiết giữa các lĩnh vực như xây dựng và sản xuất với các chu kỳ kinh tế. Ngược lại, việc làm của phụ nữ ổn định hơn. Lần này lại khác. Đại dịch COVID-19 đã tấn công các cửa hàng nhỏ, nhà hàng và hãng hàng không. Điều này phản ánh thực tế rằng phụ nữ làm việc nhiều hơn trong các ngành dịch vụ như ăn uống và khách sạn. Những xu hướng này có thể cản trở các nỗ lực nhằm thúc đẩy bình đẳng giới.  Nguồn: https://www.weforum.org/agenda/2020/10/covid-19-is-increasing-multiple-kinds-of-inequality-here-s-what-we-can-do-about-it/?    Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19: Một bài học từ Israel      Dường như đại dịch corona không muốn đi đến hồi kết, nỗi lo sợ ở châu Âu trước các đột biến corona và trước làn sóng thứ tư không hề nhỏ. Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng tăng, theo một nghiên cứu của Cơ quan Khảo sát COVID châu Âu, hơn 90% người dân ở đây lo lắng nhìn về tương lai. Chúng ta hãy cùng xem đất nước Israel xử lý các vấn đề trọng tâm của đại dịch trên đất nước họ như thế nào.      Israel từng phát triển cái gọi là Hộ chiếu xanh dành cho những người tiêm chủng hai lần hay đã khỏi bệnh. Nguồn: CNN  Dường như đại dịch corona không muốn đi đến hồi kết, nỗi lo sợ ở châu Âu trước các đột biến corona và trước làn sóng thứ tư không hề nhỏ. Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng tăng, theo một nghiên cứu của Cơ quan Khảo sát COVID châu Âu, hơn 90% người dân ở đây lo lắng nhìn về tương lai. Chúng ta hãy cùng xem đất nước Israel xử lý các vấn đề trọng tâm của đại dịch trên đất nước họ như thế nào.  Có nhất thiết phải tiêm chủng cho trẻ em không?  Hiện nay, ở Israel người ta cho là vấn đề này hết sức cần thiết. Từ nhiều tháng nay, giới trẻ trên 16 tuổi đã bắt đầu được tiêm chủng. Sau khi vaccine của hãng Pfizer-Biontech được phê chuẩn cho lứa tuổi từ 12 đến 15 thì từ đầu tháng 6, việc tiêm chủng cho nhóm tuổi này đã được tiến hành nhưng mọi việc cũng diễn ra khá trầy trật cho đến khi xuất hiện đột biến Delta, vốn có sức lây lan cực cao này hiện là nguyên nhân dẫn tới 90% ca lây nhiễm ở Israel. Nó bắt đầu bùng phát từ các trường học ở trung tâm nước này và phần lớn các ca lây nhiễm mới xảy ra với trẻ vị thành niên. Do đó chính phủ Israel đã kêu gọi các bậc phụ huynh khẩn trương cho con em họ ở lứa tuổi 12 đi tiêm ngay. Ngoài ra, họ còn có khuyến cao là trẻ em hiện đang mắc một số bệnh nhất định có thể tiêm chủng sớm hơn. Để khuyến khích các bậc cha mẹ, thủ tướng Naftali Bennett dẫn cô con gái 14 tuổi của ông đến trạm tiêm chủng với sự tháp tùng của một đội camera ghi hình.  Các chuyên gia y tế hàng đầu của Israel khuyến cáo, tiêm chủng cho trẻ em là an toàn. Đại đa số trẻ em bị lây nhiễm COVID-19 đều không có triệu chứng hoặc chỉ diễn biến nhẹ, hiếm khi xảy ra tình trạng bị bệnh nặng. Tuy nhiên, nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng khi bị mắc còn nguy hiểm hơn nhiều so với các tác động phụ. Họ đề cập đến biểu hiện – Long-Covid, như bị mất tập trung ở trẻ.  Nếu không tiêm chủng thì các trường học khó có thể hoạt động bình thường sau khi kết thúc nghỉ hè và khai giảng năm học mới vào ngày 1 tháng 9 tới do sẽ có nhiều em phải nghỉ học, bị cách ly và phải tiến hành lên lớp trực tuyến. Israel còn có thêm một đặc điểm, dân số Israel tương đối trẻ: 2,5 trong tổng số 9 triệu dân Israel dưới tuổi 18. Nếu muốn đạt miễn dịch cộng đồng thì nhất thiết phải tiêm chủng cả cho trẻ em.  Có nên bắt buộc tiêm chủng?  Trên thực tế, Israel không bắt buộc người dân phải tiêm chủng. Tuy nhiên một ủy ban của chính phủ đã ra chỉ thị đối với mọi công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước là thủ trưởng cơ quan có quyền đòi nhân viên phải có thẻ tiêm chủng  –  hoặc mỗi tuần phải làm một xét nghiệm – PCR mới. Israel khuyến khích mọi người hưởng ứng. Israel phát triển cái gọi là Hộ chiếu xanh dành cho những người tiêm chủng hai lần hay đã khỏi bệnh. Với hộ chiếu này, người ta được quyền vào bên trong nhà hàng, vào rạp hát, chiếu bóng hoặc nhà tập thể hình vv…      Israel đã ký hợp đồng với Biontech-Pfizer về việc cung cấp cho hãng này dữ liệu về sức khỏe với điều kiện ẩn danh. Đổi lại, các nhà sản xuất vaccine phải bảo đảm cung cấp đầy đủ, nhanh chóng vaccine. Nhờ vậy khi kết hợp với khâu tổ chức, tiêm chủng có hiệu quả và tốt, Israel đã trở thành nhà vô địch thế giới về tiêm chủng.      Israel đã ký hợp đồng với Biontech-Pfizer về việc cung cấp cho hãng này dữ liệu về sức khỏe với điều kiện ẩn danh. Đổi lại, các nhà sản xuất vaccine phải bảo đảm cung cấp đầy đủ, nhanh chóng vaccine. Nhờ vậy khi kết hợp với khâu tổ chức, tiêm chủng có hiệu quả và tốt, Israel đã trở thành nhà vô địch thế giới về tiêm chủng.  Đến cuối tháng 5 vừa qua, Israel hủy bỏ hệ thống Hộ chiếu xanh. Tuy nhiên do dịch có dấu hiệu bùng phát trở lại nhà nước lại áp dụng một dạng “phiên bản nhẹ” của hộ chiếu này: bắt đầu từ tuần tới mọi khách tham gia các hoạt động đông người ở trong phòng đều phải có chứng chỉ tiêm chủng hoặc phải có giấy chứng minh xét nghiệm âm tính. Cho đến nay, ước tính có khoảng 800.000 người trưởng thành vẫn chưa tiêm chủng.  Chính phủ Israel hiện quan tâm chủ yếu đến số ca bị bệnh nặng thay cho tỷ lệ người bị lây nhiễm. Bởi vì cho dù biến thể Delta lây nhiễm mạnh hơn Alpha và bản thân người đã tiêm chủng vẫn có thể bị lây nhiểm biến thể mới, tuy nhiên nhờ đã tiêm chủng vaccine nên những ca tái lây nhiễm này không bị bệnh nặng.  Hiện tại số bệnh nhân nặng phải điều trị tại bệnh viện thấp hơn nhiều so với các đợt lây nhiễm trước đây. Hiện tại có khoảng 6000 ca dương tính nhưng chỉ có khoang 50 bệnh nhân nặng. Vào lúc cao điểm của làn sóng hồi tháng giêng, Israel có tới 1.200 ca bị nặng.  Đến lúc nới lỏng mọi chuyện?  Kinh nghiệm của Israel là việc thả lỏng không thể tiến hành một chiều. Trong tháng qua, Israel đã hủy mọi hạn chế còn lại đối với corona, thí dụ không phải đeo khẩu trang trong phòng. Số ca lây nhiễm mới đã xuống dưới 10 ca mỗi ngày, đại dịch coi như đã bị khống chế. Do biến thể delta bùng phát, Israel buộc phải tái thực hiện quy định về đeo khẩu trang.  Hiện tại tình hình dịch tại Israel yếu hơn hẳn so với ba làn sóng trước đây, tuy nhiên chính phủ không thi hành chính sách thả nổi, không kiểm soát.  Israel chọn phương án trung dung giữa mở cửa và phong tỏa. Một mặt người ta muốn tránh không để các bệnh viện bị quá tải mặt khác tránh các quy định làm phương hại đến nền kinh tế. Thủ tướng Naftali Bennett gọi chiến lược này là “kiểm soát nhẹ nhàng”. Ông muốn xử phạt nặng hơn đối với những người không đeo khẩu trang hay không thực hiện cách ly, đẩy mạnh hơn nữa chiến dịch tiêm chủng và tăng cường kiểm tra hơn nữa để tránh sự xâm nhập của các biến thể mới vào cộng đồng.  Israel chỉ có một sân bay và đây là cửa ngõ chính để ra vào đất nước này, do đó việc kiểm soát tương đối dễ dàng hơn so với nhiều  nước khác. Người đi du lịch trở về dứt khoát phải làm xét nghiệm – PCR và thực hiện cách ly cho đến lúc có kết quả. Cấm đi du lịch đến các vùng có nguy cơ cao. Việc cho khách du lịch được nhập cảnh hiện bị hoãn lại. Chính phủ không dám đưa ra các hạn chế nghiêm ngặt hơn. Tuy nhiên chính phủ kêu gọi người dân tăng cường ý thức phòng chống dịch, cụ thể thực hiện tiêm phòng đầy đủ, nghiêm túc đeo khẩu trang, thực hiện giữ khoảng cánh và tốt nhất không đi du lịch nước ngoài. Thủ tướng Bennett cho rằng, nếu thực hiện tốt các điều nói trên thì đợt bùng phát này có thể “kết thúc sau năm tuần nữa”.  Với những tuyên bố như trên thì có thể có hy vọng đến khả năng sớm kiểm soát đại dịch, ngay cả ở Israel thì không ai dám khẳng định rõ ràng. Còn có quá nhiều điều chưa chắc chắn về đại dịch và virus corona.  Israel đã đạt tỷ lệ tiêm chủng là 60 %, nghĩa là đủ để đạt được miễn dịch cộng đồng theo ước tính trước đây. Nay tình hình đã khác với sự xuất hiện của biến thể Delta nên tỷ lệ này có thể phải nâng lên ít nhất đạt 80%. Mặt khác, tại Israel đã xuất hiện biến thể mới Delta Plus, nhưng cho đến nay, người ta còn chưa biết nhiều về ảnh hưởng của nó. Trong tương lai chính phủ có thể hủy quy định đeo khẩu trang, nhưng khi nào hủy thì không ai dám quyết.  Nếu nới lỏng quá sớm thì dễ bị mất niềm tin trong dân.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: Zukunft der Pandemie: Deutschlands fünf große Corona-Fragen – dieses Land kennt die Antworten – WELT          Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19 thay đổi cách nhìn về nhập cư      Khi COVID làm đứt gãy thị trường lao động, các đô thị, các nước lúng túng vì thiếu lao động di cư mới chợt nhận ra giá trị thay vì nghĩ đó là gánh nặng kinh tế xã hội. Thật trùng hợp, giải thưởng Nobel Kinh tế năm nay gọi tên David Card, một nhà kinh tế lao động đã có những đóng góp nền tảng cho phân tích vai trò kinh tế của người di cư.      Một người đàn ông Syria làm việc tại một cơ sở sửa chữa tàu hỏa ở Đức, nơi hơn một triệu người tị nạn và người di cư đã đến trong năm 2015-2016. Ảnh: Thomas Trutschel/Getty.  Trước đại dịch, Chính phủ Úc muốn dựng các hàng rào ngăn cản làm chậm dòng người nhập cư nhưng giờ đây các nhà quản lý đang tìm cách làm tăng dòng di cư đổ về. Việc đóng cửa biên giới quốc gia vào năm ngoái đối với cả người di cư lâu dài và người di cư ngắn hạn như sinh viên quốc tế và công nhân lành nghề đã thay đổi mọi thứ. Từ đầu năm 2019, Úc đã giảm giới hạn hằng năm đối với thị thực thường trú, một trong những công cụ chính để kiểm soát di cư. Tuy nhiên, các dự báo cho thấy Úc phải mất ba năm mới khôi phục được lượng người lao động di cư ròng trở lại như mức hồi năm 2018-2019. Hãng đánh giá tín nhiệm Fitch cho biết nền kinh tế nước này sẽ bị sụt giảm 2% vào năm 2026 do sụt giảm lao động di cư.    Không chỉ Úc, gió đã đổi chiều ở những nước phát triển khác. Một cuộc cạnh tranh ở cả mức độ khu vực và toàn cầu để tìm kiếm đủ nhân công có tay nghề thấp cho giai đoạn hậu COVID đang diễn ra. Nhật Bản vốn là nơi có truyền thống chính sách nhập cư cực kì khó khăn, cũng đang bắt đầu hé cửa cho con đường di cư cho lao động nước ngoài lành nghề không có bằng đại học trong các ngành nông nghiệp, chăm sóc người cao tuổi và xây dựng. Sau năm năm, người lao động có thị thực này sẽ được đánh giá kỹ năng và có thể nộp đơn xin thường trú.       Di cư không phải là những “ký sinh trùng” chỉ làm lợi cho mình và tước đoạt của người khác mà mối quan hệ của người di cư với người bản xứ là “cộng sinh”.      Mặc dù còn quá sớm để đánh giá tác động của kế hoạch này cũng như có sự thay đổi một cách hệ thống hay không nhưng điểm quan trọng là nó bắt đầu đạt được sự ủng hộ trong công chúng. Người dân xứ Mặt trời mọc bây giờ nhận ra đất nước sẽ không thể duy trì các ngành công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội và di sản văn hóa mà không tiếp nhận người di cư với nhiều kỹ năng hơn.    Còn ở Anh, nơi nhà quản lý không cởi mở như vậy thì đang đứng giữa luồng tranh cãi chính trong nội bộ đất nước. Thủ tướng Anh dự kiến thực hiện một quá trình chuyển đổi từ cái mà ông gọi là một nền kinh tế lương thấp sang một nền kinh tế lương cao. Một trong những biện pháp của ông là cắt giảm nhập cư, vì về mặt kinh tế, Thủ tướng Anh cho rằng giảm nhân công nhập cư có thể giúp giảm sự cạnh tranh lao động trên mỗi vị trí việc làm. Do đó, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với nhau nhiều hơn để thuê lao động, dẫn đến mức lương cao hơn và tỷ lệ thất nghiệp ít hơn. Lý thuyết này có vẻ hợp lý, nhưng nó cũng không hoàn toàn đúng với thực tế các doanh nghiệp đang rất cần lao động và chưa thể tự động hóa hay chuyển đổi gì ngay vào lúc này.      Lợi cả đôi đàng      Tất nhiên lao động di cư, hầu hết là kỹ năng thấp, nghèo đói rách rưới nhìn thì có vẻ là gánh nặng cho các thành phố rực rỡ ở các đất nước giàu có. Nhưng những con số lại phản ánh điều ngược lại.    Trước khi nói về thời hiện tại, chúng ta cùng quay về 30 năm trước, khởi nguồn cho những lượng giá về vai trò kinh tế của người nhập cư, với chứng minh kinh điển của David Card, người được Nobel Kinh tế vinh danh năm nay.     Trái với các lo ngại về làn sóng nhập cư gây mất việc làm của người bản xứ, các nghiên cứu của ông chỉ ra làn sóng nhập cư rất ít hoặc gần như không có tác động đến sự ổn định của hệ thống lương của từng khu vực. Ông nghiên cứu tác động kinh tế của làn sóng nhập cư từ Cuba vào Miami bằng thuyền – và so với các thành phố khác như Atlanta, Houston, Los Angeles và Tampa. So sánh sự phát triển của tiền lương và việc làm ở các thành phố khác, Card đã chứng minh rằng tuy số lượng lao động tay chân ở Miami tăng đáng kể (7%) nhưng lương cho nhóm này gần như không bị ảnh hưởng. Hơn nữa, tỉ lệ thất nghiệp và lương mặt bằng lao động nói chung tại Miami cũng không bị ảnh hưởng bởi làn sóng nhập cư.       Người lao động di cư học kỹ thuật chăm sóc người già ở Nhật. Dân số già khiến Nhật Bản đưa ra các chính sách chấp nhận nhập cư lành nghề thông thoáng hơn. Ảnh: Sankei  Tại sao một dòng công nhân khổng lồ đến một thành phố không tạo áp lực giảm đối với tiền lương và việc làm bản địa? Hơn 30 năm sau khi bài báo của Card được xuất bản, các nhà kinh tế học nhập cư và lao động vẫn đang tính toán với những phát hiện quan trọng của ông, và thảo luận một loạt các lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn mới để tìm lời lý giải cho hiện tượng đó.    Một số mô hình nghiên cứu cho thấy dòng người nhập cư lớn có thể khiến dòng lao động bản địa phân bổ lại để có lợi thế so sánh. Chẳng hạn như người bản xứ với lợi thế ngôn ngữ đã chuyển sang các công việc đòi hỏi kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh tốt hơn. Trong khi đó, những người nhập cư có xu hướng chấp nhận mức lương rẻ mạt hơn, còn những người bản xứ cũng có thể tăng cường kỹ năng và chuyển sang công việc được trả lương cao hơn. Đây là lý do tại sao nhập cư thường không chỉ tăng việc làm, nó cũng làm tăng tiền lương. Một báo cáo vào năm 2014 của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ đã đưa ra mô hình mô phỏng cho thấy nếu tăng tỷ lệ trục xuất người nhập cư bất hợp pháp kỹ năng thấp tại biên giới để đạt được mức giảm 50% số lượng người nhập cư bất hợp pháp (điều mà Hoa Kỳ làm rất tích cực dưới thời Donald Trump) sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp của người bản xứ không có tay nghề lên khoảng 1,13% so với giá trị ban đầu.    Cùng với việc tăng nguồn cung lao động, người nhập cư cũng phải chi tiêu, tạo ra nhiều nhu cầu hơn trong nền kinh tế và nền kinh tế sẽ lại có thêm việc làm. Chúng ta có thể thấy điều này thông qua bằng chứng từ Hoa Kỳ – từ năm 1980 đến năm 2000, mỗi người nhập cư tạo ra trung bình 1,2 việc làm, cho thấy lợi nhuận ròng mà họ mang đến cho bản xứ.    Nhìn chung, di cư không phải là những “ký sinh trùng” chỉ làm lợi cho mình và tước đoạt của người khác mà mối quan hệ của người di cư với người bản xứ là “cộng sinh”. Những nghiên cứu đã phá vỡ các định kiến thường thấy về di cư, cho thấy người di cư không áp đặt nhiều gánh nặng tài chính cho các nước chủ nhà hay làm giảm mức lương cho người lao động bản địa có kỹ năng thấp hơn.    Và đương nhiên, người di cư luôn mang lại lợi ích kinh tế lớn cho quê hương bản quán của họ. Mặc dù người di cư tiêu phần lớn tiền lương của họ ở nước sở tại cho các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và làm việc, họ thường gửi tiền để gia đình chi tiêu ở quê nhà.       Biến đổi khí hậu đang ngày càng khiến người dân ở nhiều quốc gia như Indonesia phải di cư nhiều hơn. Ảnh: Dita Alangkara/Associated Press.  Trước đại dịch năm 2018, kiều hối chuyển về các nước thu nhập thấp và trung bình tăng 11%, đạt 528 tỷ USD, nhiều hơn cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước này. Những nước nhận kiều hối lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Mexico và Ai Cập. Việt Nam cũng nằm trong Top 10 nước có dòng kiều hối lớn, chiếm từ 6,2-6,5% GDP trong thập kỷ qua, thậm chí đôi khi gấp nhiều lần so với vốn viện trợ ODA. Theo Báo cáo của World bank, lượng kiều hối về Việt Nam không bị ảnh hưởng đáng kể bởi dịch COVID-19.     Nhìn vào di cư trong tổng thể     Bản thân quá trình di chuyển, “môi giới” di cư cũng góp phần bổ sung vào GDP của cả nơi đi và nơi đến. Vì chính những người lao động không có kỹ năng, đặc biệt là những người từ các nước nghèo, thường phải trả chi phí rất cao cho các nhà môi giới lao động, thậm chí vượt quá thu nhập cả năm của họ ở quốc gia mà họ di cư đến. Và đương nhiên, chi phí khổng lồ này cũng được phân bổ vào GDP tiêu dùng của cả hai nước.     Ngay cả những người xin tị nạn, thường bị coi là gây ra gánh nặng tài chính cho các quốc gia nhất thì cũng không phải như vậy nếu ta nhìn một cách dài hạn. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science Advances vào năm 2018 phân tích dữ liệu 30 năm từ 15 quốc gia ở Tây Âu đã bác bỏ luận điểm đó. “Một số người nói rằng họ ‘muốn chào đón người tị nạn, nhưng [đất nước] chúng tôi không đủ khả năng’. Nhưng nghiên cứu của nhóm chúng tôi đã chỉ ra rằng, về mặt lịch sử, nó không phải là một cái giá, và nếu bạn không chào đón người nhập cư thì nền kinh tế có thể tồi tệ hơn”, Hippolyte d’Albis, nhà kinh tế tại Trường Kinh tế Paris, CNRS, người đứng đầu nghiên cứu này cho biết.      Trên bình diện toàn cầu, người di cư đóng góp vào sự thịnh vượng chung, mặc dù điều éo le là họ dễ bị ảnh hưởng từ các cú sốc như COVID-19 nhất. Báo cáo của McKinsey cho thấy, mặc dù số người di cư trên thế giới ước tính khoảng 3,4% dân số nhưng họ đóng góp tới hơn 9% GDP toàn cầu.      D’Albis và nhóm của ông đã dựa vào một mô hình toán học sử dụng các chỉ số kinh tế hằng năm để đưa ra dự đoán về tương lai sau những cú sốc lớn, chẳng hạn như thiên tai. Trong trường hợp này, các sự kiện là dòng người nhập cư. Các nhà nghiên cứu đã xem xét riêng về tác động của người di cư, bao gồm những người được phép định cư hợp pháp ở một quốc gia và những người xin tị nạn cư trú tạm thời ở một quốc gia trong khi đơn xin tị nạn của họ được xử lý. Các nhà nghiên cứu đã tính thu nhập trung bình (GDP/dân số) và bảng cân đối thu-chi ngân sách nhà nước (chủ yếu gồm tiền thuế và các khoản thu, trừ đi số tiền chi cho các chương trình phúc lợi xã hội).    Mô hình cho thấy trong vòng hai năm sau khi dòng người di cư đổ về, tỷ lệ thất nghiệp giảm đáng kể và sức khỏe nền kinh tế tốt lên. Những tác động đó có thể là do người di cư làm tăng nhu cầu trên thị trường, cung cấp các dịch vụ, tạo thêm việc làm và nộp thuế cho nước sở tại.    Nghiên cứu cho thấy lợi ích của những hoạt động kinh tế này vượt xa chi phí mà chính quyền phải bỏ ra đối với mỗi người mới đến. Điều này có thể giải thích một phần bởi thực tế những người nhập cư thường là người trẻ tuổi và trung niên, ít bị phụ thuộc vào các phúc lợi của nhà nước hơn so với người già.    Những người xin tị nạn cũng mang lại lợi ích cho các nền kinh tế nhưng mất nhiều thời gian hơn (từ 3-7 năm) để thấy và lợi ích cũng ít rõ ràng hơn. Không giống người di cư, những người tị nạn thường phải đối mặt với những hạn chế về việc làm và phải chuyển đến một quốc gia khác nếu đơn xin thường trú của họ bị từ chối.      Kết quả nghiên cứu của Hippolyte d’Albis (2018) về ảnh hưởng của di cư tới kinh tế 15 nước Tây Âu. Trong vòng hai năm sau khi dòng người di cư đổ về, tỷ lệ thất nghiệp giảm đáng kể (0,14 điểm phần trăm) và GDP bình quân đầu người tăng (0,32 điểm phần trăm).    Michael Clemens, một nhà kinh tế tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu ở Washington DC cho biết phân tích này là một bằng chứng tốt vì nó tập trung vào các tác động lớn, tổng thể thay vì các yếu tố cụ thể trong nền kinh tế như tác động đối với tiền lương địa phương. Ông ví điều này như việc mở một chuỗi cửa hàng cà phê mới có thể tác động tiêu cực đến Starbucks, nhưng sự cạnh tranh sẽ tốt hơn cho nền kinh tế nói chung.    Một nghiên cứu khác có kết luận tương tự khi xem xét tác động của di cư đối với tăng trưởng kinh tế của 22 quốc gia OECD từ năm 1986 – 2006 và thấy mỗi khi tỷ lệ nhập cư thuần từ ngoài vào tăng 50% thì năng suất trung bình của các quốc gia tăng khoảng 1/10 điểm phần trăm.    Hơn thế, người di cư không chỉ có tác động đến nền kinh tế bản xứ ở thế hệ đầu tiên, mà còn ở các thế hệ sau này khi được tiếp tục sinh sống trên mảnh đất mới. Một số người nhập cư đã trở nên giàu có và đóng góp lớn cho nền kinh tế bản xứ. Theo báo cáo của New American Economy, trong danh sách Fortune 500, gồm 500 công ty lớn nhất của nước Mỹ, tới 40% là các công ty do người nhập cư hoặc con cái của họ đã thành lập.    Các nghiên cứu như thế này có thể giúp các nhà quản lý đánh giá lao động di cư và có điều chỉnh hợp lý hơn. Nếu cắt giảm lao động di cư, ta sẽ phải trả cái giá kinh tế.□     Ngô Hà tổng hợp      Nguồn tài liệu tham khảo  Migrants contributed 9.4% of global GDP: McKinsey report. Nguồn: https://www.livemint.com/Politics/xH16nSJYyTF3PR7zWuNdwO/Migrants-contributed-94-of-global-GDP-McKinsey-report.html  KNOMAD-ILO Migration and Recruitment Costs Surveys. Nguồn: https://www.knomad.org/data/recruitment-costs   The fiscal impact of immigration in OECD countries. Nguồn: https://www.globalmigrationgroup.org/system/files/Liebig_and_Mo_2013.pdf   The Labour Market Effects of Immigration and Emigration in OECD Countries. Nguồn: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/ecoj.12077   The Labor Market Effects of Reducing the Number of Illegal Immigrants. Nguồn: https://www.nber.org/papers/w19932   Are Immigrants a Shot in the Arm for the Local Economy? Nguồn: https://www.nber.org/papers/w21123   Ai đang di cư?  Di cư xảy ra trước hết và quan trọng nhất là do thiếu cơ hội kinh tế ở trong nước. Các nước phát triển đứng đầu thế giới có mức thu nhập trung bình cao hơn tới 70 lần so với các nước đang phát triển, do vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người ở những nước nghèo có nhu cầu phải thử vận may ở nơi khác. Nhưng trái với niềm tin phổ biến, gần một nửa số người di cư không chuyển từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.  Thay vào đó, họ di cư giữa các nước đang phát triển, thường là trong cùng một khu vực. Hơn nữa, lực lượng di cư trở về nước cũng đang gia tăng. Đây là một thực tế thường bị bỏ qua. Phần lớn họ là những người di cư bị từ chối nhập cảnh vào thị trường lao động hoặc đã kết thúc hợp đồng làm việc và không thể gia hạn.  Từ năm 2011-2017, số người trở về ước tính ở châu Âu – gồm những người xin tị nạn bị từ chối hoặc bị phát hiện không có giấy tờ – đã tăng gấp bốn lần, đạt 5,5 triệu người. Trong cùng thời gian đó, số người trở về ở Hoa Kỳ đã tăng hơn gấp đôi, hơn 3 triệu người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Crypto và miền Viễn Tây của Thế kỉ 21      Sau 30 năm kể từ ngày Web 1.0 ra đời, thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của Web 3.0 (hay còn gọi tắt là Web3). Vậy “hành trang” thế hệ trẻ nên chuẩn bị để bước vào kỷ nguyên Web3 là gì? Không, đó không phải là một câu hỏi đúng. Chính xác ra phải là thế hệ “không còn trẻ nữa”, những người đang nắm trọng trách và quyền lực trong xã hội, cần làm gì để Web3 cất cánh? Câu trả lời là hãy tin tưởng vào thế hệ trẻ, đừng áp đặt những “hành trang” thời Web 1.0 của mình vào một thế giới mà mình sẽ không ở đó.      Web3 sẽ là một thế hệ internet mới công bằng hơn, tự do hơn, dân chủ hơn? Ảnh: Cointelegraph.  Những bạn trẻ ở tuổi 30 giờ đây có lẽ không còn nhiều kí ức về Web 1.0 khi các trang web được thiết kế vô cùng đơn giản và ít tính tương tác. Nhiều người có lẽ sẽ cười khi nghĩ về thời điểm một loạt website người dùng chỉ đọc thụ động chứ không thể tham gia tạo ra thông tin, “xấu xí” như vậy cũng được đầu tư. Thế mà, vài năm sau khi Web 1.0 ra đời, một làn sóng đầu tư vào các doanh nghiệp Internet đời đầu đã dẫn đến vụ bong bóng chứng khoán “dotcom”. Từ năm 1995 đến 1999 chỉ số Nasdaq tăng hơn 400%, không ít các cổ phiếu dotcom tăng hàng chục lần trước khi bong bóng này sụp đổ.   Các bạn lớn lên trong thời kì bùng nổ của Web 2.0 – thế hệ Internet của những thông tin mà người dùng tạo ra. Các mạng xã hội và những phần mềm trên web sẽ tập hợp, tổ chức, điều phối, thâu tóm và kiếm lợi nhuận từ những thông tin đó. Giờ đây, sau 30 năm kể từ ngày Web 1.0 ra đời, thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của Web3. Web3 về cơ bản là tập hợp của các Tổ chức Tự trị phi tập trung (DAO – Decentralized Autonomous Organization) và các dApp (Ứng dụng phi tập trung) mà các nguyên tắc được đảm bảo bằng các chương trình máy tính minh bạch gọi là smart contract – hợp đồng thông minh trên các blockchain. Smart contract này ghi lại tất cả các hoạt động giao dịch, trao đổi, hứa hẹn về tài sản số của tất cả các thành viên và do các thành viên cùng kiểm soát thay vì một ban giám đốc. Để làm được như vậy, các DAO và dApp này sẽ phát hành token cho cộng đồng để huy động vốn và phân bố quyền bỏ phiếu (quyền quản trị), tương tự như công ty phát hành cổ phiếu qua IPO. Token có thể là tiền mã hóa (crypto currency) hoặc cũng có thể là NFT – một hóa đơn chứng nhận quyền sở hữu tài sản số. Trong thế giới Web3, người dùng không chỉ có quyền kiểm soát tổ chức mình tham gia mà dữ liệu họ tạo ra cũng do họ sở hữu thông qua NFT. Họ có thể chuyển dữ liệu đó từ dApp này qua dApp khác, chứ không phải như Web 2 hiện nay khi các dữ liệu người dùng nằm gọn trong tay các ông trùm công nghệ như Google hay Facebook.   Trong nền kinh tế truyền thống, một trường hợp điển hình như Phạm Nhật Vượng phải mất rất lâu mới trở thành tỷ phú, mà chủ yếu nhờ trục lợi tiền thuê (từ đất đai) ở VN. Trong khi đó, dù so sánh giá trị tài sản có phần khập khiễng, nhưng Nguyễn Thành Trung thành công với Axie Infinity – từng được định giá khoảng ba tỉ USD trong chưa đầy hai năm, cạnh tranh một cách sòng phẳng trên thị trường quốc tế. Có thể tưởng tượng thời đại Web3 sẽ có rất nhiều Amazon, Google của thời 2000 và ai cũng có thể đầu tư vào một token/NFT nào đó với giá vài cent mà sau này có giá trị gấp nhiều lần.  Nên nhớ rằng, NFT, smart contract hay tiền mã hóa chỉ là những công nghệ có thể hữu ích với Web3, chứ không phải là Web3. Web3 đúng nghĩa vẫn chưa ra đời. Tuy nhiên, dù nó mới chỉ manh nha, một cơn sốt “đầu tư” vào các thể loại tiền mã hóa, NFT, play-to-earn, bất động sản ảo trong các metaverse (vũ trụ ảo) đã vượt xa những gì xảy ra vào năm 1999. Sức hấp dẫn crypto không chỉ bởi tỉ lệ tăng giá của các sàn chứng khoán như Nasdaq hay pest.com, priceline.com trước đây không là gì so với những đồng tiền mã hóa như Bitcoin, Shiba Inu, hay các nền tảng phát hành NFT như Axie, Bored Apes ngày nay, mà còn vì làn sóng crypto hiện tại đã sản sinh ra hàng chục tỷ phú thực sự, đa phần dưới 30 tuổi, chứ không phải đợi đến cả thập kỷ sau mới có vài cái tên như Jeff Bezos hay Larry Page. Nhưng tiền không phải là tất cả.  Trò đùa và đa cấp?   Đã có không ít ý kiến cho rằng cơn sốt đầu tư crypto hiện tại là phiên bản của bong bóng dotcom sớm muộn rồi sẽ vỡ. Thậm chí nó còn tệ hại hơn bởi khác với những công ty dotcom thời trước, những gì liên quan đến crypto hiện nay không thể định giá được bởi các phương pháp truyền thống mà chỉ tăng giá bằng niềm tin. Vào năm 2013, có hai kĩ sư của IBM và Adobe lập ra một đồng tiền là Dogecoin với hình đại diện là “ảnh chế” (meme) mặt một con chó Shiba Inu đang “cười đểu”. Dogecoin bản chất là một “trò đùa” để giễu nhại Bitcoin, nhưng ngay lập tức, chỉ sau 30 ngày ra mắt, đã có hàng triệu lượt quan tâm và sau đó nhanh chóng hình thành một cộng đồng hùng mạnh ủng hộ và chấp nhận trao đổi, thanh toán đồng tiền này, trong đó có cả Elon Musk, người đứng đầu một vài công ty tầm đổi mới sáng tạo nhất thế giới. Nhưng chưa hết, vào năm 2020 nổi lên một đồng tiền crypto khác tên là Shiba Inu coin với biểu tượng là một con sói giận dữ và tự nhận sứ mệnh “tiêu diệt dogecoin”. Ai đứng sau đứng sau Shiba Inu coin vẫn còn là bí ẩn nhưng đã có rất nhiều người hâm mộ “triết lí” của đồng tiền này. Shiba Inu coin đã nhanh chóng được “niêm yết” trên các sàn giao dịch crypto và trở thành một trong những đồng crypto được chú ý nhất năm 2021 và có thể sắp vượt giá trị của Dogecoin.     Dogecoin và Shiba Inu coin, hai đồng được tạo ra như một “trò đùa”, dựa trên văn hóa “ảnh chế” (meme).    Gần đây, thế giới còn có trào lưu play-to-earn, nghĩa là chơi game để kiếm tiền. Một trong những game play-to-earn mà truyền thông Việt Nam và quốc tế đang rầm rộ phân tích hiện nay chính là Axie Infinity mà Nguyễn Thành Trung, người Việt là đồng sáng lập. Người chơi game sẽ tạo ra các nhân vật và sở hữu nhân vật đó dưới dạng NFT, đem các nhân vật đó đi trao đổi, thi đấu hoặc lai giống (breed) để giành được tiền crypto Axie phát hành trong game. Đồng Axie crypto này có thể đem đổi lấy tiền thật. Tiền thật đó phần lớn lấy từ những người chơi mới, những người không có cách nào khác để gia nhập game ngoài cách nộp tiền để mua nhân vật. Nhiều người biện luận rằng, NFT hay các loại token trong play-to-earn là một hình thức bán hàng đa cấp không hơn không kém, mô hình chơi để kiếm tiền thực chất là chơi để kiếm tiền từ người chơi mới. Nếu Axie Infinity không thu hút thêm người chơi mới thì mô hình này sẽ sụp đổ.       Tuy nhiên, kể cả Lloyd Blankfein, cựu CEO Goldman Sachs và là người thuộc phe “nghi ngờ” crypto, cũng phải nói rằng có nhiều “bộ óc siêu việt” tin vào tương lai crypto sẽ thay đổi không chỉ hệ thống tài chính toàn cầu mà cả cách thức nền kinh tế thế giới vận hành. Blankfein thừa nhận mình đã từng nhận định sai về triển vọng của công nghệ di động trước đây nên rất có thể sẽ lại sai lầm lần nữa khi không tin vào crypto. Không kể Elon Musk, CEO của Tesla và là “tín đồ” của crypto, mới đây tờ Bloomberg phỏng vấn một loạt tỷ phú tên tuổi cho biết đã chuyển từ phe “nghi ngờ” sang “bị thuyết phục” để rồi bỏ tiền đầu tư vào lĩnh vực này.       Còn quá sớm để dự báo liệu Web3 có vượt được Web 2.0 không, DeFi có thay thế được Wall Street không, chứ đừng nói gì crypto sẽ lấn át toàn bộ hệ thống kinh tế chính thống.      Phân chia quyền và lợi nhuận công bằng hơn  Không chỉ dành cho các tỷ phú hay các nhà đầu tư kỳ cựu, cơ hội đầu tư vào những gì liên quan đến crypto rộng mở và rất công bằng cho gần như mọi cá nhân trên Trái đất, bất kể túi tiền, kinh nghiệm, địa vị của họ. Với crypto, chỉ cần có máy tính nối mạng là ai cũng có thể tham gia. Gần đây, tờ Fortune của Mỹ đã kể một câu chuyện về một nhân viên quản lý nhà kho mới hơn 30 tuổi đầu tư vào Shiba Inu coin chỉ vì cảm thấy được truyền cảm hứng bởi tuyên bố đồng này là “một thử nghiệm xây dựng cộng đồng phi tập trung đầy ngẫu hứng” và “Shiba Inus là những con chó tuyệt vời”. Năm 2020, anh bỏ ra 8000 USD để mua đồng này, để rồi thu về 500.000 USD vào năm ngoái. Ngay lập tức, anh nghỉ việc và trở thành một ông bố nội trợ toàn thời gian.    Mặc dù một số lớn các đồng “lâu đời” như Bitcoin, Ethereum nằm trong tay một số tỉ phú (hay còn gọi là cá voi – whales) nhưng cơ hội để một sản phẩm crypto nhỏ nào đó bùng nổ giúp những ai đầu tư sớm trở thành tỷ phú/triệu phú cao hơn nhiều so với trong thị trường tài chính truyền thống. Web3 ở tương lai được xây dựng theo nguyên lý phi tập trung cho phép người sử dụng có thể tham gia đầu tư vào từng ứng dụng ngay từ giai đoạn phát triển rồi tham gia quản trị sau khi ứng dụng chính thức vận hành. Những người cổ súy cho Web3 cho rằng nguyên lý này sẽ giúp phân bổ lợi nhuận tài chính từ sự thành công của một sản phẩm crypto cho cả cộng đồng thay vì tập trung vào một vài nhà sáng lập hay các quỹ đầu tư mạo hiểm như dưới thời Web 2.0.   Hơn nữa cộng đồng phát triển ứng dụng, người dùng, nhà đầu tư của một sản phẩm crypto không giới hạn bởi biên giới địa lý, phân bổ tài sản dưới thời Web3 sẽ dần dần bình đẳng hơn giữa các quốc gia. Đa số các tỷ phú crypto hiện tại không xuất thân từ những nơi vốn gọi là “tinh hoa” của giới tài chính hay công nghệ như Wall Street, Ivy League, Silicon Valley ở Mỹ mà có kha khá người từ những nơi “vô danh” ở Singapore, Trung Quốc, Nga và cả Việt Nam.  Điều này đã hiện diện trong một khảo sát của Chainalysis khi Việt Nam dù xếp hạng GDP (PPP) thứ 53 nhưng trong năm 2020 đã đứng thứ 13 về thu nhập (gain) từ Bitcoin. Cũng theo Chainalaysis năm 2021 Việt Nam dẫn đầu thế giới về “độ xâm nhập” crypto (adoption). Finder, một công ty tư vấn khác, cho biết có đến 41% trong số 1272 người Việt được khảo sát từng mua một loại tiền crypto nào đó, vượt xa tỷ lệ của nhiều quốc gia khác (Anh 8%, Mỹ 9%).  Vườn địa đàng internet  Không chỉ công bằng hơn trong việc phân chia lợi nhuận, cộng đồng sẽ có tiếng nói lớn hơn về mặt quản trị các ứng dụng trên Web3. Sẽ khó có một “ông chủ” như Mark Zuckerberg hay Jack Dorsey giữ quyền sinh sát với tài khoản Facebook hay Twitter mà không được sự ủng hộ của cộng đồng như Web 2.0.      Play-to-earn có phải là một dạng bán hàng đa cấp? Ảnh: Cointelegraph.  Không chỉ giới hạn trong việc quản trị hoạt động của một ứng dụng hay một blockchain, cộng đồng crypto sẽ tích cực hơn trong những hoạt động chính trị xã hội bên ngoài hệ thống kinh tế và nhà nước truyền thống. Crypto đã hiện diện trong các hoạt động từ thiện, nghệ thuật và cả tôn giáo. Chẳng hạn như, dự án ConstitutionDAO mới đây nhằm huy động tiền (thông qua phát hành token) trong cộng đồng crypto để mua lại một trong những bản in Hiến pháp Mỹ rồi đem trưng bày trong bảo tàng thay vì để rơi vào một bộ sưu tập cá nhân. Họ huy động được 42 triệu USD nhưng rất tiếc đấu giá thua tỉ phú Ken Griffin trả giá 43 triệu. Dù thất bại nhưng chắc chắn đây sẽ là tấm gương cho những hoạt động từ thiện, vận động xã hội trên Web3 trong tương lai. Một trường hợp khác đang triển khai là CryptoTree, phát hành NFT để huy động tiền rồi dùng số tiền đó đi trồng cây thật. Người sở hữu NFT có thể coi là sở hữu bản “số” của mỗi cái cây họ trồng và có thể trao đổi, mua bán NFT đó trên các sàn giao dịch crypto.     Tất nhiên Web3 chưa thể thay thế được pháp luật hay các thực thể chính trị, kinh tế, NGO hiện hữu. Còn quá sớm để dự báo liệu Web3 có vượt được Web 2.0 không, DeFi có thay thế được Wall Street không, chứ đừng nói gì crypto sẽ lấn át toàn bộ hệ thống kinh tế chính thống. Nhưng cứ nhìn vào những CBDC (đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương) đang được nhiều quốc gia nghiên cứu, những NFT được cả hai nhà đấu giá kỳ cựu Sotheby và Christie chấp nhận, hay chỉ đơn giản là những ETF tiền crypto đang được các tổ chức tài chính truyền thống triển khai có thể thấy ảnh hưởng ngày càng sâu đậm của crypto lên thế giới thực.       Web3 sẽ là một thế giới năng động hơn, sáng tạo hơn, nhưng cũng nhiều rủi ro hơn, thậm chí có cả lừa đảo. Đây là một miền Viễn Tây của thế kỷ 21.      Web3 vẫn sẽ có những nhân vật tên tuổi, những elites, nhưng họ chủ yếu là những thủ lĩnh trí tuệ hay công nghệ được cộng đồng kính trọng và hướng theo chứ không phải là những người kiểm soát về mặt tài chính các ứng dụng Web3. Cộng đồng trên Web 2.0 chỉ là những “con bò” cho các tỷ phú công nghệ “vắt sữa”. Phải, chúng ta dùng Facebook hay Google miễn phí nhưng kì thực những người khổng lồ công nghệ này đang khiến chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nền tảng của họ, cung cấp cho họ dữ liệu và thông tin để họ kiếm tiền trên đó. Trong khi đó, cộng đồng Web3 sẽ có vai trò quan trọng hơn nhiều. Quan trọng hơn, cộng đồng đó là những người trẻ đa số theo đuổi những giá trị tiến bộ (progressive) như bình đẳng giới, LGBT, chống biến đổi khí hậu, đồng thời vẫn tin tưởng vào các giá trị tự do (libertarian) như kinh tế thị trường, giảm thiểu can thiệp nhà nước và không tin tưởng vào … các chính trị gia. Họ sẽ dễ dàng huy động nguồn lực cho các hoạt động kinh tế xã hội của mình, cả trên Web3 lẫn ngoài đời thực, mà không hoặc ít bị những rào cản thể chế hiện tại ngăn trở.     Elon Musk có thể coi như một elite của giới Crypto, một trường hợp thú vị không có đóng góp nhiều cho crypto nhưng lại có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng này. Ảnh: IndexUniverse Crypto.  —-  Web3 sẽ là một thế giới năng động hơn, sáng tạo hơn, nhưng cũng nhiều rủi ro hơn, thậm chí có cả lừa đảo. Đây là một miền Viễn Tây của thế kỷ 21. Nhưng nên nhớ một phương châm rất phổ biến trong cộng đồng trẻ ngày nay là YOLO (You only live once) – bạn chỉ sống có một lần, điều đáng nuối tiếc là những cơ hội đã bị bỏ lỡ chứ không phải những thất bại. Ngay cả ở Việt Nam vấn đề “cơm áo gạo tiền” đã không còn là mục đích chính của một bộ phận lớn trong giới trẻ, nhiều người chỉ cần “financial freedom” (tự do tài chính) chứ không màng trở thành triệu phú, tỷ phú. Không ít người trẻ bỏ công việc ổn định để sáng lập một startup đầy phiêu lưu, hay chỉ đơn giản là đi du lịch vòng quanh thế giới, để thỏa mãn đam mê cá nhân, để được “trải nghiệm”. Không phải Web3 được làm ra cho giới trẻ mà thế hệ đó đang tạo ra Web3 với nhân sinh quan của mình, rồi sẽ là 4.0, 5.0 hay xa hơn nữa.  Vậy “hành trang” thế hệ trẻ nên chuẩn bị để bước vào kỷ nguyên Web3 là gì? Không, đó không phải là một câu hỏi đúng. Chính xác ra phải là thế hệ “không còn trẻ nữa”, những người đang nắm trọng trách và quyền lực trong xã hội, cần làm gì để Web3 cất cánh? Câu trả lời là hãy tin tưởng vào thế hệ trẻ, đừng áp đặt những “hành trang” thời Web 1.0 của mình vào một thế giới mà mình sẽ không ở đó. □       Author                Lê Hồng Giang        
__label__tiasang Cúm Corona và nền kinh tế      Các doanh nghiệp nhỏ không thể trụ được lâu và sẽ bị phá sản trước khi nền kinh tế trở lại bình thường. Lưu ý rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm tới 98% tổng số các doanh nghiệp, 40% GDP và giải quyết 50% công ăn việc làm trong xã hội.    Dịch cúm Corona     Dịch cúm corona toàn cầu hiện nay là một hiện tượng ít gặp về nhiều phương diện. Đáng lưu ý nhất là tốc độ lây lan chóng mặt của virus. Mới khởi phát từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc từ khoảng đầu tháng 1, mà tính đến cuối tháng 3/2020 virus đã lan tới 200 nước trên thế giới, làm khoảng 900.000 người nhiễm bệnh và hơn 30.000 người tử vong. So với các nước, Việt Nam đã làm khá tốt khâu phòng chống dịch nên tính đến nay chỉ có khoảng 200 ca nhiễm bệnh và chưa có trường hợp tử vong. Nhưng tình hình dịch bệnh vẫn tiếp diễn phức tạp, và các con số có thể còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu.     Thống kê dịch tễ ban đầu cho thấy dịch cúm này khác với các loại dịch cúm khác, vì nó ảnh hưởng nhiều nhất đến đối tượng người già từ 60 tuổi trở lên hay người có thể trạng yếu (hoặc đã có các bệnh như áp huyết cao, tiểu đường hay tim mạch). Một báo cáo mới đây cho thấy tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân Mỹ tăng dần theo độ tuổi. Tỷ lệ này là 0% cho nhóm dưới 19 tuổi, dưới 1% cho nhóm 20-54 tuổi, nhưng tăng lên ít nhất là 2.7% cho nhóm 65-74 tuổi và ít nhất là 10% cho nhóm 85 tuổi trở lên.       Nhưng quan trọng hơn là hiện nay chưa có loại vaccine nào để phòng bệnh. Do vậy, đa số chính phủ các nước đều phải dùng đến giải pháp cách ly dân số, giảm thiểu các mối giao tiếp xã hội (social distancing) để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Một số nước như Anh, Pháp, và Ý  đã ban hành lệnh giới nghiêm ở các thành phố lớn, chỉ cho phép người dân ra khỏi nhà trong trường hợp thiết yếu như đi chợ hay đi mua thuốc ở cửa hàng dược phẩm. Các công ty lớn và Chính phủ Mỹ cũng đã yêu cầu nhân viên làm việc ở nhà, không đến cơ quan trong thời kỳ dịch đang xảy ra. Hiện nay nhiều nước đã đóng cửa biên giới với các nước khác. Việt Nam cũng đã ngừng phần lớn các chuyến bay sang nước ngoài và vào nước.    Dịch bệnh ảnh hưởng nặng nề tới nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa tạm thời hoặc thậm chí lâm vào tình trạng phá sản. Ảnh: Những khu phố đóng cửa ở Vũ Hán. Nguồn: Getty Images.     Tác hại đến nền kinh tế  Các biện pháp cách ly phòng chống dịch này đều có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, nhất là các ngành dịch vụ, giải trí, du lịch, và bất động sản. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này (nhà hàng, khu vui chơi giải trí, hay các hãng máy bay) đều phải cắt giảm hoạt động và sa thải bớt nhân viên. Bị ảnh hưởng nhiều nhất là các doanh nghiệp nhỏ có ít vốn, không thể kéo dài được chi phí sản xuất, tiền thuê mặt bằng cửa hàng, nhân viên trong khi nguồn thu bị cắt giảm. Chưa kể đến tâm lý sợ hãi bất an của người tiêu dùng khiến sức mua bị giảm sút. Các hoạt động này lại tác động dây chuyền đến nền kinh tế nói chung.      Dịch cúm đã có những tác hại đến các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Thị trường chứng khoán Mỹ giảm ở mức kỷ lục hơn 30% chỉ trong vòng một tháng, từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 3. Sự sụt giảm này đã kéo thị trường chứng  khoán về bằng mức trước khi Tổng thống Trump lên nhậm chức, xóa bỏ hết sự tăng trưởng “bò tót” (bull market) trong mấy năm qua. Nạn thất nghiệp ở Mỹ có thể tăng lên tới 20%, gấp 6 lần so với con số trước lúc dịch bệnh. Tăng trưởng GDP của Trung Quốc, quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch cúm, năm nay dự đoán sẽ giảm xuống chỉ còn 3%, chỉ bằng một nửa so mức tăng trưởng năm 2019.      Ở Việt Nam, một số thống kê ban đầu cho thấy tác hại của dịch là không nhỏ và ảnh hưởng cả đầu vào và đầu ra của nền kinh tế. Ngành du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề và có thể giảm doanh số 5 tỷ đô la trong năm nay. Châu Âu và Mỹ mới đây tạm ngừng nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam vì nhu cầu tiêu thụ giảm.  Lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản cũng bị ảnh hưởng vì xuất khẩu phần lớn sang Trung Quốc. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc, da giầy, điện tử, sản xuất và lắp ráp ô tô cũng thiệt hại do phụ thuộc vào nguyên vật liệu hay thiết bị đầu vào sản xuất được nhập chủ yếu từ Trung Quốc.     Một khảo sát 1200 doanh nghiệp nhỏ và vừa gần đây cho thấy nếu nạn dịch kéo dài tới 6 tháng, có thể 74% sẽ bị phá sản, và có đến 60% các doanh nghiệp sẽ bị giảm doanh thu hơn 50%.  Chỉ trong hai tháng đầu năm 2020, số doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội bị giải thể được ước tính tăng lên từ 22 đến 38%.     Các con số trên ẩn dấu tác hại lâu dài về mặt kinh tế. Nếu một công ty lớn có nhiều vốn có thể giảm sản xuất, hay cho nhân viên nghỉ không lương dài hạn, đến khi hết dịch bệnh lại tiếp tục sản xuất. Nhưng các doanh nghiệp nhỏ không thể trụ được lâu và sẽ bị phá sản trước khi nền kinh tế trở lại bình thường. Lưu ý rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm tới 98% tổng số các doanh nghiệp, 40% GDP và giải quyết 50% công ăn việc làm trong xã hội.     Một hệ quả không mong muốn khác là nhóm người nghèo, hay có thu nhập thấp không ổn định, bị ảnh hưởng nhiều hơn so với các nhóm dân số khác. Một số người lao động bị mất thu nhập do dịch bệnh cũng có thể làm gia tăng số hộ nghèo.     Ngoài ra, ở một số nước đã ghi nhận khi chính phủ phải tập trung nguồn lực y tế vào chống dịch cúm, tỷ lệ tử vong các loại bệnh khác tăng lên do thiếu y bác sỹ và các thiết bị y tế.      Những người lao động nghèo chịu ảnh hưởng trầm trọng nhất. Từ ngày 1 tháng tư, những người bán vé số sẽ phải ngừng hoạt động, một số tỉnh đã xem xét lên kế hoạch để trợ cấp. Chính phủ cũng mới thông qua gói cứu trợ những người thất nghiệp hoặc có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Phapluat.vn     Tham khảo chính sách các nước  Để đối phó với các tác hại trên, Mỹ đã đưa ra một gói chính sách kích thích nền kinh tế với 2.200 tỷ USD. Gói giải pháp này bao gồm cung cấp 500 tỷ USD để cho vay và bảo lãnh nợ cho các doanh nghiệp và chính phủ tiểu bang, 350 tỷ USD cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để giảm việc sa thải nhân viên. Các hãng hàng không được hưởng trợ cấp 50 tỷ USD, và các công ty có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia được trợ cấp 17 tỷ USD. Gói giải pháp cũng bao gồm trợ cấp tiền mặt cho mỗi người lớn 1.200 USD và mỗi trẻ em 500 USD, trong các gia đình có thu nhập dưới 75.000 USD một năm. Trợ cấp thất nghiệp cũng được tăng thêm.       Anh cũng đã tuyên bố sẽ có gói trợ cấp trị giá 330 tỷ bảng Anh (hơn 380 tỷ đô la Mỹ) cho nền kinh tế, tương đương khoảng 15% tổng trị giá GDP. Các doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ được trợ cấp không hoàn lại một khoản tiền từ 10.000 đến 25.000 bảng.       Cả Anh và Mỹ đều đã giảm thiểu các hoạt động kinh tế. Mới đây Ấn Độ còn có biện pháp quyết liệt hơn và tuyên bố phong tỏa cả nước trong vòng 21 ngày.  Lý do Ấn Độ có hành động quyết liệt như vậy có lẽ phần lớn do Ấn Độ là một nước có thu nhập trung bình thấp. Hệ thống y tế công cộng của nước này yếu hơn so với các nước giàu, và sẽ bị quá tải nếu phải cứu chữa cho quá nhiều bệnh nhân cùng một lúc.     Một số gợi ý giải pháp cho Việt Nam  Tin vui gần đây cho các doanh nghiệp là Chính phủ đã tuyên bố gói tín dụng 285.000 tỷ đồng để trợ giúp doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Gói tín dụng này cơ bản giống như cho vay thương mại thông thường, giữa các ngân hàng thương mại và bên vay vốn. Tức là doanh nghiệp hay hộ gia đình đi vay cần trình bày phương án vay và trả nợ tốt. Nhưng điểm khác biệt là thủ tục nhanh gọn hơn, linh hoạt hơn, lãi suất ưu đãi hơn cho các nhóm doanh nghiệp hay hộ gia đình bị ảnh hưởng từ dịch bệnh.      Tuy nhiên chúng tôi cho rằng ngoài các gói tín dụng thương mại, Chính phủ cũng có thể nghiên cứu các gói kích cầu trong tương lai. Tuy nhiên, điều quan trọng là kích cầu thế nào cho hiệu quả lại là vấn đề không dễ giải quyết không chỉ với Việt Nam mà cả với những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Việc phân bổ tiền cứu trợ như thế nào cũng là một lĩnh vực Quốc hội Mỹ phải bàn cãi rất lâu thời gian qua.     Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ các giải pháp kích thích kinh tế của các nước, nhưng với những điều chỉnh thích hợp cho hoàn cảnh nước thu nhập trung bình thấp. Chúng ta cần xác định các tiêu chí hỗ trợ doanh nghiệp để vừa đảm bảo công bằng, lại vừa khuyến khích được các doanh nghiệp đã có đóng góp cho nền kinh tế có thể đóng góp nhiều hơn nữa. Sẽ không phải là giải pháp tối ưu, khi ngân sách có hạn mà lại trợ giúp cào bằng cho mọi doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ liên miên ngay cả trước dịch bệnh.      Nếu ngân sách có hạn, chúng tôi cho rằng chúng ta nên xây dựng một hệ thống tính điểm cho doanh nghiệp để xếp hạng ưu tiên khi được trợ giúp. Chẳng hạn doanh nghiệp sẽ được nhiều điểm hơn nếu đạt được các tiêu chí như: tạo nhiều công ăn việc làm, đóng góp cho xuất khẩu, kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế trọng điểm, kinh doanh có lãi trong thời gian vừa qua (ví dụ, 3 năm trở lên), hay sử dụng công nghệ bảo vệ môi trường. Hệ thống tính điểm này nên được tham khảo ý kiến của các hiệp hội sản xuất kinh doanh và sau đó được thông báo công khai rộng rãi để tăng sự minh bạch.     Mặt khác, chúng ta cũng nên coi dịch cúm này là một dịp tốt để Chính phủ thu thập số liệu và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp trụ vững và hoạt động hiệu quả trong đợt dịch bệnh, nhất là trong các ngành nghề bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh như đã nêu, có lẽ cần nhận được sự ưu đãi xứng đáng để phát triển hơn nữa.     Dịch bệnh cúm này cũng có thể mở ra các cơ hội mới. Một ví dụ đơn giản, việc Việt Nam có lợi thế phòng dịch tốt và điều kiện thời tiết nắng ấm thích hợp ở miền Nam có thể giúp chúng ta xây dựng ngành công nghiệp nghỉ dưỡng cho người già của các nước phát triển để thu thêm ngoại tệ. Chúng ta có thể học tập kinh nghiệp của Malaysia đã triển khai tương đối tốt mô hình nghỉ dưỡng cho người già về hưu từ các nước khác.     Việc trợ giúp doanh nghiệp có tác dụng kích thích hoạt động kinh tế nhưng cũng cần thời gian để tạo ra ảnh hưởng dây chuyền tích cực cho các hộ gia đình. Vì thế chính sách kinh tế của các nước cũng nhấn mạnh việc trợ giúp trực tiếp cho người dân để đảm bảo ổn định xã hội. Chúng tôi cho rằng Chính phủ có thể nên xem xét việc trợ cấp các mặt hàng thực phẩm thiết yếu cho các hộ gia đình bị mất thu nhập hay trở thành hộ nghèo do dịch bệnh, để bảo đảm không xảy ra thiếu đói, nhất là khi dịch bệnh kéo dài.      Cũng do hiện nay chưa có vaccine phòng ngừa, giải pháp chống dịch các nước đang sử dụng là hạn chế tối đa các giao tiếp xã hội để hạn chế dịch bệnh lây lan. Trong thời gian ngắn, có lẽ đây là giải pháp tối ưu. Nhưng nếu phải kéo dài, thiệt hại kinh tế sẽ không nhỏ do các hoạt động xã hội bị ngưng trệ hẳn. Vì ngay cả những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới như Mỹ cũng khó có thể dừng lại hẳn trong thời gian dài mà không gây thiệt hại nặng nề (đã một số tính toán cho là nếu Mỹ đóng cửa hoàn toàn nền kinh tế 3 tháng thì GDP nước này sẽ bị sút giảm tới 7.5%).     Do đó, cũng có một số ý kiến chuyên gia phương Tây nêu gần đây trong trường hợp dịch bệnh lan tràn rộng rãi ngoài sự kiểm soát, chính phủ các nước sẽ phải chuyển sang giải pháp phòng chống dịch theo chiều sâu, chứ không nên theo chiều rộng đóng cửa dừng lại phần lớn các hoạt động kinh tế như hiện nay.  Tức là chúng ta nên tập trung bảo vệ và cách ly cho các nhóm dân số dễ bị ảnh hưởng của cúm như người già, người có tiền sử bệnh nền. Các nguồn lực y tế nên được dành nhiều cho các nhóm dân số này. Còn các nhóm dân số khỏe mạnh khác thì sẽ đối phó như các loại bệnh cúm khác và vẫn có thể tham gia các hoạt động kinh tế.      Trong xã hội Việt Nam, thực hiện điều này không dễ vì người già không sống tập trung trong viện dưỡng lão như các nước phương Tây, mà thường hai ba thế hệ già và trẻ sống chung trong đa số các gia đình. Việc cách ly tại gia như vậy sẽ khá tốn kém, và cũng không dễ thực thi. Chúng ta sẽ cần phải thu thập thêm số liệu để tính toán chi phí cụ thể và cần tham khảo ý kiến chuyên gia nhiều ngành. Nhưng chúng tôi cho rằng chúng ta cũng cần xây dựng nhiều kịch bản với các biện pháp đối phó khác nhau để luôn chủ động đối phó với tình hình dịch bệnh. Như vậy, nền kinh tế vẫn có thể vận hành được để chống chọi dịch bệnh trong lâu dài cho đến khi có được vaccine phòng ngừa hữu hiệu.     Tài liệu tham khảo:   1)  Bialek, Stephanie, Ellen Boundy, Virginia Bowen, Nancy Chow, Amanda Cohn, Nicole Dowling, Sascha Ellington, Ryan Gierke, Aron Hall, Jessica MacNeil, Priti Patel, Georgina Peacock, Tamara Pilishvili, Hilda Razzaghi, Nia Reed, Matthew Ritchey, Erin Sauber-Schatz. (2020). “Severe Outcomes Among Patients with Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) — United States, February 12–March 16, 2020”. https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/69/wr/pdfs/mm6912e2-H.pdf   2) Scott, Malcolm . (2020). “Goldman Sees China’s Economy Slumping 9% in First Quarter”. https://www.bloomberg.com/news/articles/2020-03-17/goldman-now-see-china-s-economy-slumping-9-in-first-quarter   3) Nguyên Nga. (2020). “EU, Mỹ tạm ngưng nhập hàng dệt may Việt Nam”. https://m.thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/eu-my-tam-ngung-nhap-hang-det-may-viet-nam-1198630.amp?fbclid=IwAR1YaQedT7eL1rKZ7CH7yFRy6GEXIYd2ZEqVRMl7QMpIos6BrgPAwk5BtRY   4) Hiếu Công. (2020). “Doanh nghiệp Việt lo dịch Covid-19 kéo dài, trông đợi gói kích cầu”.  https://news.zing.vn/doanh-nghiep-viet-lo-dich-covid-19-keo-dai-trong-doi-goi-kich-cau-post1056094.html   5) An Linh. (2020). “Hà Nội: Covid-19 khiến 3.400 hộ phá sản, ngân sách mất 16.000 tỷ đồng”. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ha-noi-covid-19-khien-3400-ho-pha-san-ngan-sach-mat-16000-ty-dong-20200313085014159.htm    6) Werner, Erica,  Mike DeBonis and Paul Kane. (2020). “Senate to vote Wednesday on $2 trillion coronavirus bill after landmark agreement with White House”. https://www.washingtonpost.com/business/2020/03/25/trump-senate-coronavirus-economic-stimulus-2-trillion/    7) Islam, Faisal. (2020). “Coronavirus: Chancellor unveils £350bn lifeline for economy”. https://www.bbc.com/news/business-51935467   8) Ánh Ngọc. (2020). “Ấn Độ phong tỏa 1,3 tỷ dân”. https://vnexpress.net/the-gioi/an-do-phong-toa-1-3-ty-dan-4074314.html   9) Tùng Lâm. (2020). “Gói tín dụng 285 nghìn tỷ: Ai được vay, vay thế nào và vay ở đâu?” http://nhipsongkinhte.toquoc.vn/goi-tin-dung-285-nghin-ty-ai-duoc-vay-vay-the-nao-va-vay-o-dau-4202027318491930.htm   10) Katz, David L. (2020). “Is Our Fight Against Coronavirus Worse Than the Disease?” https://www.nytimes.com/2020/03/20/opinion/coronavirus-pandemic-social-distancing.html?action=click&module=RelatedLinks&pgtype=Article  Friedman, Thomas L.  (2020).  “A Plan to Get America Back to Work”. https://www.nytimes.com/2020/03/22/opinion/coronavirus-economy.html?action=click&module=RelatedLinks&pgtype=Article       Author                Đặng Hoàng Hải Anh        
__label__tiasang CÙNG dân chứ đừng CHO dân      Thảm họa giúp bộc lộ bản chất tốt nhất của con người. Khi sự an toàn của người thân và cộng đồng bị đe dọa, những nạn nhân sẽ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau một cách chân thành.      Lũ lụt ở Quảng Bình năm 2016.  Trong hai bài viết đầu của loạt bài này, chúng ta đã khám phá những khía cạnh ít được chú ý tới về thái độ con người trong thảm họa: trong thâm tâm, mọi người đều TỐT. Khi tai họa ập đến, chúng ta thấy họ tạm thời gạt bỏ những mâu thuẫn cá nhân: Một cơ hội mở ra, để họ có thể tạo dựng những gì tốt đẹp hơn, không phải là của cải vật chất mà là sự gắn kết cộng đồng.  Bản chất của hiện tượng mà chúng ta quan sát được sau thảm họa là sự gắn kết và mối quan hệ giữa người với người. Tất cả chúng ta đều có nhu cầu được giúp đỡ người khác. Bất kể các nhà kinh tế học có nói gì đi nữa, chúng ta không sinh ra để cạnh tranh, mà để chia sẻ. Nhưng diễn giải của những nhà cầm quyền (và công cụ truyền thông của họ), vẫn được chấp nhận rộng rãi, lại nói điều ngược lại, đã đặt chúng ta trong trạng thái đối chọi với nhau (chẳng hạn như những người trẻ thường đòi hỏi quá nhiều quyền lợi), và đối chọi với chính Trái đất (phải hi sinh môi trường để đổi lấy lợi ích kinh tế) – nguồn duy trì sự sống cho chúng ta.  Nhưng những diễn giải đó là rào cản lớn nếu chúng ta muốn các cá nhân và cộng đồng trở nên an toàn và mạnh mẽ hơn trước các nguy cơ, và nếu chúng ta muốn tránh những quyết định có thể dẫn đến rủi ro cho những cộng đồng người (phần này đã được nhắc đến trong bài trước). Nếu chúng ta chấp nhận những “câu chuyện” tiêu cực về những người khác, chúng ta đang chọn việc tin vào một lời nói dối về chính mình, chúng ta chọn việc đánh giá thấp năng lực của mình.  Kết quả là chúng ta sẽ nhầm tưởng rằng chúng ta cần phải dựa vào ai đó để “cứu”mình, vì chúng ta không đủ đáng tin để giúp đỡ người khác, rằng chúng ta cần ai đó để hỗ trợ, vì chúng ta không có khả năng chia sẻ, rằng chúng ta cần ai đó để đưa ra quyết định, vì chúng ta không đủ học thức, rằng chúng ta cần sự giúp đỡ, vì chúng ta bất lực.  Nhưng điều đó hoàn toàn không phải là sự thực. Các động đồng ở Việt Nam và quanh thế giới – những người ở nơi dễ bị tổn thương nhất – có thể năng động hơn và tăng sức chống chọi, có thể sở hữu những kiến thức và kĩ năng mà ngay cả những “chuyên gia” vẫn thường đánh giá thấp, thậm chí là khinh thường.  Tại sao năng lực địa phương lại quan trọng như vậy?  Các cộng đồng và các cá nhân trong đó thường đối diện với rủi ro, trong dài hạn (những tổn thương hằng ngày do nghèo đói, không được tiếp cận đầy đủ về y tế giáo dục, phân biệt đối xử vì chủng tộc, giới, tôn giáo…) và ngắn hạn (bởi những hiểm họa bất chợt). Bên phát triển và hỗ trợ (Chính phủ Việt Nam chẳng hạn) phải giải quyết những vấn đề được đặt ra dựa trên từng điều kiện về kinh tế, chính trị và môi trường của địa phương.  Nếu những người thụ hưởng những chính sách phát triển không được tham vấn ngay từ đầu quá trình soạn thảo chính sách, họ sẽ thiếu lòng tin vào chính quyền. Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương, đặc biệt là ở cấp chính quyền xã. Điều này có thể đem lại những kết quả tốt khi sự tham gia này thực sự gỡ bỏ những bất bình đẳng, bất công và cân bằng cán cân quyền lực.  Còn nếu thiếu sự tham gia thực chất của người dân, thì tiếng nói của cộng đồng địa phương thường sẽ bị bỏ qua. Cơ quan chính quyền nhìn từ bên ngoài vào hoặc từ trên xuống thường sẽ không thể hiểu được những điều kiện của địa phương đó – và biết được việc trân trọng năng lực của người dân khu vực này quan trọng đến thế nào.  Năng lực mà chúng ta đang nói đến ở đây chính là kiến thức, kĩ năng và tài nguyên của cá nhân và tập thể mà đang được chia sẻ giữa những người cùng sống trong cộng đồng. Khai thác nguồn năng lực địa phương có thể giúp cộng đồng ngăn chặn thiên tai, và giúp họ phục hồi sau thảm họa.  Nghiên cứu cho thấy rằng một cộng đồng năng động, được trao quyền và có sự gắn kết chặt chẽ là một cộng đồng có sức chống chọi tốt (khi thảm họa xảy ra). Khi mọi người có quyền tiếp cận với những nguồn lực và cơ hội, và cảm thấy là một phần của tập thể, họ sẽ phát triển mạnh mẽ. Con người khao khát sự kết nối. Sự phát triển lành mạnh về cả thể chất, tâm lý, tình cảm và tinh thần chính là cốt lõi khiến một cộng đồng trở nên mạnh mẽ hơn khi đối mặt với các mối đe dọa trong thế kỷ 21.    Những người hàng xóm giúp một cụ ông sơ tán trong cơn bão Harvey, Mỹ.   Khi nhìn tác động của những thảm họa gia tăng như thế nào ở Việt Nam, và ngày càng nhiều người cần sự cứu trợ như thế nào, có vẻ như năng lực của cộng đồng đang dần suy giảm. Nhưng tôi cho rằng những yếu tố làm cho cộng đồng phát triển mạnh dường như đã bị lãng quên hoặc bỏ qua – sự phát triển kinh tế dường như được đề cao quá mức và trở thành thước đo toàn cầu cho thành công của một xã hội – một điều không đảm bảo sự bền vững trong khi đó sự phát triển lành mạnh nói trên của cộng đồng bị bỏ qua. Chúng ta không thể tiếp tục ảo tưởng như vậy.  Chúng ta phải nhận thức được rằng phần lớn CHÍNH LÀ DO phát triển kinh tế quá nhanh, sự bất bình đẳng mới ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Tất cả các cộng đồng đều đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế, điều đó không có gì phải bàn cãi, nhưng những thành tựu này không hề được phân bổ đồng đều, và điều này góp phần làm giảm sự phát triển lành mạnh, đặc biệt là của những cộng đồng bên rìa xã hội.  Tất nhiên, các chính phủ không hề có ý định tạo thêm rủi ro thảm họa. Nhưng khi quá tin tưởng vào hiện trạng kinh tế và mô hình phát triển hiện tại, họ có xu hướng tiếp sức cho những thành phần kinh tế mạnh nhất sẽ tăng trưởng, dù phải trả giá bằng lợi ích của những người khác. Sự giàu có đạt được ở nơi này sẽ luôn đi kèm với những thiệt thòi cho một ai khác, ở một nơi nào khác. Ở chính những đất nước đang tích lũy tư bản, càng dễ có những cộng đồng dễ bị tổn thương trước thiên tai.  Làm việc VỚI cộng đồng, chứ không phải VÌ cộng đồng  Trong các cộng đồng bị thiệt thòi nhất của Việt Nam, phản ứng của chính phủ thường là quan hệ gia trưởng – các quyết định từ trên xuống được đưa ra với mục đích thúc đẩy lợi ích tốt nhất của cộng đồng liên quan – trong khi quyền tự chủ, sự tham gia cộng đồng và quyền sở hữu trong quá trình phát triển kinh tế không hề được coi là một phần của con đường phát triển.  Đó là lý do tại sao “phát triển” không mang lại lợi ích công bằng cho mọi người. Các dự án không nên được đề xuất CHO những cộng đồng còn khó khăn, mà nên là CÙNG VỚI họ. Đó là cách tốt nhất để giúp họ mạnh mẽ hơn. Đây thật sự là một cơ hội tuyệt vời: các dự án nên được xây dựng dựa trên khả năng đóng góp của cộng đồng – và điều đó sẽ đảm bảo sự phù hợp, sự bền vững trong dài hạn và sự tham gia của các bên liên quan.    Trong một dự án nghiên cứu năm 2017 được thực hiện ở Đồng Hới, Quảng Bình, chúng tôi đã nghiên cứu cách lũ lụt đô thị tác động đến các trường học trong thành phố và cách các bên liên quan có thể đóng góp cho sự an toàn của trường học cũng như đảm bảo việc giáo dục trẻ em không bị gián đoạn.  Đồng Hới đã trải qua nhiều trận bão và lũ lụt trong quá khứ – năm 2016 là thời điểm mà sự tàn phá của chúng đặc biệt nặng nề. Lũ lụt vào tháng 10 năm 2016 đã dẫn đến cái chết của 7 học sinh ở Đồng Hới, làm hư hại một phần không nhỏ vật dụng và thiết bị trường học. Các trường học địa phương bị tụt lại sau vài tuần so với chương trình học trên toàn quốc. Cũng có những tác động sâu rộng về mặt kinh tế và xã hội đối với cả cộng đồng.  Nghiên cứu của chúng tôi chỉ rõ tại sao việc các nhóm và cá nhân khác nhau tham gia vào quá trình ngăn ngừa thiên tai lại quan trọng đến vậy. Khi thực hiện dự án, chúng tôi đã nói chuyện với không chỉ những người quản lý trường học và những người thực hiện chính sách của chính phủ, mà còn cả sinh viên, phụ huynh và giáo viên. Điều chúng tôi nhận thấy là ngay cả những người có nguy cơ cao nhất ở Đồng Hới cũng có thể tận dụng khả năng của mình để giảm thiểu tác động của lũ lụt.  Ở đây, các trường đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống của một cộng đồng. Họ không chỉ tạo điều kiện cho việc giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên mà còn là nơi tập hợp xã hội. Chúng giúp tạo ra sự kết nối và tinh thần cộng đồng giữa các gia đình.  Tại Đồng Hới, chúng tôi thấy rằng cộng đồng địa phương đã có thể huy động cứu trợ sau trận lụt năm 2016 trước khi bất kỳ viện trợ nào khác đến. Điều này chính là bằng chứng mà đã được khẳng định trong nhiều trường hợp ở khắp nơi trên thế giới: cộng đồng chính là những người phản ứng đầu tiên (với thiên tai).  “Năm ngoái, khi gia đình chúng tôi hỗ trợ các nạn nhân sau lũ lụtt, một số người mà chúng tôi đến thăm đã 87 hoặc 90 tuổi. Khi chúng tôi đến, họ ôm chúng tôi và khóc”. Một phụ huynh ở Trường Tiểu học Đông Mỹ, Đồng Hới nói.  Cộng đồng có thể hỗ trợ lẫn nhau. Chúng tôi đã được nghe kể về các gia đình đã chia sẻ nhà và nguồn lực cho những nạn nhân đến tận khi họ có thể phục hồi. Mọi người thực sự quan tâm đến nhau và điều đó xác nhận những gì chúng ta đã biết về lòng tốt của con người.  Cộng đồng thật sự đoàn kết với nhau. Nhưng nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi liệu vai trò của chính phủ trong tất cả những điều này là gì?  Chính phủ có thể thúc đẩy nhiều sự thay đổi, đặc biệt là sự giao tiếp và phối hợp giữa các cấp chính quyền và các bên liên quan khác nhau (người quản lý, giáo viên và phụ huynh) cần được cải thiện. Điều này cần phải đi cùng với các chính sách giảm thiểu những tổn thương mà cộng đồng này phải đối diện hằng ngày.  Nhắc đến những tổn thương mà những cộng đồng này phải gánh chịu khiến, chúng ta phải chất vấn tình hình kinh tế chính trị hiện tại – mà trong đó chỉ khiến tình trạng bất bình đẳng ngày càng trầm trọng hơn, mà những người có trách nhiệm không dám nhìn thẳng vào điều đó.  Khi chúng ta chật vật tìm lời giải cho điều này – hãy nhớ rằng chúng ta có thể kêu gọi việc “thay đổi hệ thống” – và mọi người đều có thể yêu cầu trách nhiệm giải trình của chính phủ về những quyết định chính sách về những chương trình hành động còn nhiều thiếu sót. Nhiều tiếng nói từ các cá nhân cùng chia sẻ tầm nhìn và các giá trị với nhau đã và đang tiếp tục lên tiếng vì điều này.    Và những tiếng nói này cần được lắng nghe và ủng hộ. Một trong những điều tốt nhất mà chính phủ có thể làm là hồi đáp những sáng kiến do cộng đồng phát triển, cung cấp bất kỳ nguồn lực cần thiết, và đơn giản là không can thiệp vào công việc của họ.  Minh Châu  dịch       Author                Jason Von Meding        
__label__tiasang Cuộc cách mạng trong kinh tế học thực nghiệm      Chúng ta thường hay nghĩ rằng nhiệm vụ chính của các nhà kinh tế học là xây dựng mô hình để giải thích các hiện tượng xảy ra trong nền kinh tế và đưa ra dự báo điều chỉnh. Sự thực là phần lớn các nghiên cứu kinh tế hiện nay tập trung tìm ra mối quan hệ nhân quả, hiện tượng sự việc này dẫn đến hiện tượng sự việc kia như thế nào.      Các nhà quản lý có một câu hỏi mấu chốt “Nâng mức lương tối thiểu ở Việt Nam có làm tăng thất nghiệp?”. Các nhà kinh tế phải trả lời mối quan hệ nhân quả này. Ảnh: Pinterest.     Đâu thực sự là nhân quả khi có quá nhiều yếu tố tác động?     Các nhà kinh tế học thường phải trả lời cho hàng loạt các câu hỏi, trong đó có nhiều câu hỏi mang hàm ý chính sách, xung quanh các mối quan hệ nhân quả. Ví dụ, hằng năm, tăng lương tối thiểu vùng luôn là vấn đề nóng trên các diễn đàn, bởi vì các nhà quản lý phải trả lời một câu hỏi mấu chốt “Nâng mức lương tối thiểu ở Việt Nam có làm tăng thất nghiệp?” hay “Nâng mức lương tối thiểu vùng I (nơi có nền kinh tế phát triển như nội thành Hà Nội hoặc TP. HCM) có làm giảm di cư, tăng việc làm ở vùng III hoặc IV (nơi còn khó khăn, chưa phát triển)?”    Hay nhà kinh tế sẽ phải trả lời những câu hỏi khác về nguyên nhân kết quả mang tính vĩ mô hơn như: văn hóa tổ chức đời sống tập thể có thúc đẩy phát triển kinh tế? Hỏi một cách khác, chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể giúp phát triển kinh tế tốt hơn? Chẳng hạn, văn hóa tập thể làng xã rất đậm đặc ở khu vực phía Bắc có giúp tăng trưởng kinh tế tốt hơn so với văn hóa làng xã tương đối lỏng và mang nhiều tính cá nhân ở khu vực phía Nam?    Có ba cách để trả lời các câu hỏi trên. Cách thứ nhất là nhìn ra xung quanh, tìm ra một số trường hợp điển hình nào đó, quan sát và rút ra kết luận. Cách này thường được mọi người sử dụng nhưng các nhà khoa học không làm như vậy. Cách thứ hai là lục tìm trong sách vở, xem các lý thuyết kinh tế nói gì về trường hợp này và đưa ra câu trả lời. Chẳng hạn, Lý thuyết cung cầu lao động trong sách Kinh tế học của Mankiw nói rằng khi tăng mức lương tối thiểu, chi phí lao động sẽ đắt hơn, do đó lượng cầu lao động giảm và dẫn đến thất nghiệp nhiều hơn. Và chúng ta đã có câu trả lời có vẻ thuyết phục: tăng mức lương tối thiểu làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Nhưng các nhà kinh tế học thực sự cũng sẽ không tin vào cách thứ hai này và họ làm theo cách thứ ba, dùng số liệu để tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa các biến số, như giữa mức lương tối thiểu và thất nghiệp, giữa chủ nghĩa tập thể và phát triển kinh tế.  Tìm hiểu mối quan hệ nhân quả có gì phức tạp mà người ta trao giải Nobel cho ba nhà khoa học David Card, Joshua Angrist, Guido Imbens đã giải quyết được nó vào năm nay?  Trước tiên chúng ta quay trở lại ví dụ từ thực tế. Từ ngày 1/1/2020, mức lương tối thiểu vùng I ở nước ta tăng 240.000 đồng so với mức lương năm 2019. Nếu lấy số lượng lao động ở vùng I vào năm 2020 so sánh với số lượng lao động vào năm 2019 thì số chênh lệch chẳng phải là do thay đổi trong mức lương tối thiểu giữa hai thời điểm? Ví dụ số chênh lệch bằng 0 thì chúng ta kết luận tăng lương tối thiểu 240.000 đồng không làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở vùng I.  Cách suy luận rất hay được dùng ở trên lại không đúng ở một điểm mấu chốt: Biến động của lực lượng lao động phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, như mức tăng dân số, lượng di cư đến và đi, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, mức đầu tư, hay chi phí lao động. Từ năm 2019 chuyển sang năm 2020, tất cả tác nhân đến lực lượng lao động đều biến đổi, vậy sao có thể kết luận chỉ do thay đổi trong mức lương tối thiểu (chi phí lao động) dẫn tới làm thay đổi lượng lao động? Phân tách vai trò của từng tác nhân đến kết quả cuối cùng một cách chính xác là không đơn giản, vì nhà nghiên cứu chỉ thấy nhóm nguyên nhân dao động, nhóm kết quả dao động, mà không thấy sự kết nối của hai nhóm này, nguyên nhân nào dẫn đến kết quả nào và bao nhiêu. Mục tiêu của nghiên cứu thực nghiệm là chỉ ra được cầu nối giữa từng nguyên nhân và từng kết quả.  Tác động của một can thiệp chính sách đến một chủ thể (có thể là một cá nhân gia đình, doanh nghiệp hay đất nước) được định nghĩa là sự chênh lệch trong kết quả chủ thể đó nhận được khi có can thiệp so với khi không có can thiệp. Sự rắc rối nằm ở chỗ vào một thời điểm, mỗi chủ thể không thể vừa nhận can thiệp vừa không nhận can thiệp để so sánh khác biệt trong kết quả giữa có và không có can thiệp.    Từ trái sang: David Card, Joshua Angrist and Guido Imbens.  Ủy ban Nobel Kinh tế 2021 trao nửa giải thưởng cho GS. David Card (University of California, Berkeley) vì “những đóng góp thực nghiệm cho kinh tế học lao động” và nửa giải thưởng cho GS. Joshua Angrist (MIT) và GS. Guido Imbens (Stanford University) “vì những đóng góp về phương pháp luận cho phân tích các mối quan hệ nhân quả”. Hai nửa của giải Nobel Kinh tế năm nay, một dành cho kinh tế học lao động và một cho phương pháp luận. Điểm chung của hai phía là nửa kinh tế học lao động dùng phương pháp luận do nửa bên kia phát triển, gọi là thí nghiệm tự nhiên (natural experiment) hay giả thí nghiệm (quasi-experiment), nửa phương pháp luận xây dựng và kiểm định phương pháp của mình bằng các chủ đề trong kinh tế học lao động. Hai nửa còn chung với nhau ở một người đã khuất, GS. Alan Krueger. Các nghiên cứu nền tảng làm nên giải Nobel Kinh tế năm nay là của Davida Card và Alan Krueger, là của Alan Krueger và Joshua Angrist. Nhịp cầu vô hình Krueger chắc sẽ có tên khôi nguyên Nobel nếu ông còn sống.  Câu trả lời từ thực nghiệm  Đây là vấn đề kinh điển trong nghiên cứu thống kê về quan hệ nhân quả, nhưng khá ngạc nhiên là các nhà kinh tế chỉ thực sự quan tâm tìm cách giải quyết trong các nghiên cứu thực nghiệm của mình từ đầu những năm 1990.  Để vượt qua vấn đề này, một số nhà kinh tế áp dụng phương pháp của khoa học tự nhiên hay của y khoa, đó là tổ chức các thí nghiệm ngẫu nhiên (randomised experiment). Nhà nghiên cứu lập nhóm can thiệp, nhóm kiểm soát và phân bổ người tham gia ngẫu nhiên vào hai nhóm. Do phân bổ ngẫu nhiên nên có thể cho rằng đặc tính của người tham gia trong hai nhóm là như nhau. Hai nhóm có mọi thứ như nhau, chỉ khác nhau là có can thiệp hay không, do đó khác biệt trong kết quả giữa hai nhóm đến từ can thiệp. Can thiệp là nguyên nhân gây ra kết quả khác biệt đó. Năm 2019, ba nhà kinh tế học Abhijit Banerjee, Esther Duflo và Michael Kremer được trao giải Nobel Kinh tế cho thiết kế và ứng dụng phương pháp thí nghiệm ngẫu nhiên nghiên cứu các vấn đề phát triển, đặc biệt để đánh giá tác động của các dự án, chính sách đến kết quả giảm nghèo.  Tuy nhiên, rất nhiều vấn đề trong kinh tế lao động không thể làm thí nghiệm ngẫu nhiên được mà phải tìm cách khác để giải bài toán nhân quả. Chúng ta không có được nhóm đối chứng hoàn hảo như trong nghiên cứu thí nghiệm. Chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra nếu có ít người nhập cư hơn hoặc một người không tiếp tục học, vì điều đó không xảy ra trong thực tế và không thể làm thí nghiệm để kiểm chứng các yếu tố tác động. Không làm thí nghiệm thật để tạo ra dữ liệu một cách có kiểm soát được, nhưng nhà nghiên cứu có thể tận dụng dữ liệu sẵn có, dùng con mắt quan sát tinh tường chọn lọc và sắp xếp dữ liệu như thể đang trong thí nghiệm. Sáng kiến này là phương pháp giả thí nghiệm (quasi-experiment), và còn gọi kiểu khác là thí nghiệm tự nhiên (natural experiment), do bản chất dữ liệu dạng có sẵn, tự nhiên không sắp đặt như trong thí nghiệm ngẫu nhiên. Những người thúc đẩy nhóm phương pháp này chính là ba nhà khoa học được trao giải thưởng Nobel Kinh tế năm 2021 Guido Imbens, Joshua Angrist và David Card, gọi đây là cuộc cách mạng độ tin cậy (Credibility revolution). Phương pháp này làm cho kết quả phân tích nhân quả trở nên tin cậy hơn, khoa học hơn.  Được xem là cuộc cách mạng về phương pháp bắt nguồn từ kinh tế học lao động đầu những năm 1990, phương pháp giả thí nghiệm ngày nay trở thành nhóm phương pháp chính giải bài toán quan hệ nhân quả trong nhiều lĩnh vực kinh tế học ứng dụng khác nhau như phát triển, sức khỏe, tài nguyên môi trường, hành vi sản xuất và tiêu dùng, tài chính hay cả lĩnh vực vĩ mô.      Tác động của một can thiệp chính sách đến một chủ thể (có thể là một cá nhân gia đình, doanh nghiệp hay đất nước) được định nghĩa là sự chênh lệch trong kết quả chủ thể đó nhận được khi có can thiệp so với khi không có can thiệp.      Nhưng ở thời điểm đó, họ phải kêu lên rằng, chúng tôi đang làm cách mạng về độ tin cậy trong phân tích thực nghiệm kinh tế học1, chứ không làm cái gì khác. “Cái gì khác” ở đây là hàm ý từ kết quả bài nghiên cứu chủ chốt mang tính cách mạng của David Card và Alan Krueger về lương tối thiểu.  Vào đầu những năm 1990, bang New Jersey nâng mức lương tối thiểu từ 4.25 USD/giờ lên 5.05 USD/giờ. Lý thuyết kinh tế học chính thống thời đó xác quyết việc này gây ra thất nghiệp. Card và Krueger2 đã cực kỳ tinh tế, chọn nghiên cứu số liệu lao động từ chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh vì lương ở đây rất thấp và thay đổi mức lương tối thiểu sẽ có nhiều ý nghĩa. Tinh tế hơn nữa, hai ông chọn so sánh số liệu lao động ngành công nghiệp thức ăn nhanh của bang New Jersey với số liệu này của bang kế bên, Pennsylvania. Chính xác là Đông Pennsylvania, tiếp giáp New Jersey, nên đặc điểm dân cư, nhiệt độ, thời tiết, giá cả, có lẽ cả khẩu vị cũng tương tự. Bằng sự tinh tường trong chọn dữ liệu tự nhiên, hai nhà kinh tế đã tạo ra một nhóm đối chứng và một nhóm có can thiệp thay đổi lương tối thiểu. Thay đổi trong kết quả lao động của nhóm đối chứng (Đông Pennsylvania) chứa đựng thay đổi của nền kinh tế theo thời gian. Thay đổi trong kết quả lao động của nhóm can thiệp (New Jersey) chứa đựng thay đổi của nền kinh tế theo thời gian và của chính sách lương tối thiểu. Lấy hai thay đổi này trừ cho nhau thì còn lại thay đổi lượng lao động do chính sách lương tối thiểu. Và đây chính là tác động của chính sách tăng lương tối thiểu lên tình trạng thất nghiệp. Tác động khá thuần khiết vì đã lọc được nhiều biến gây nhiễu3. Phương pháp này được gọi là khác biệt trong khác biệt (difference in difference). Card và Krueger cho thấy tăng lương tối thiểu không làm tăng thất nghiệp ở New Jersey.    Năm 1996, Tổng thống Bill Clinton đã đồng ý tăng mức lương tối thiểu của Hoa Kỳ sau rất nhiều lần trì hoãn từ các đời tổng thống trước. Trước đó, vấn đề tăng lương tối thiểu đã gây tranh cãi gay gắt vì người ta lo ngại sẽ làm giảm việc làm. Nguòn ảnh: Econhist.  Kết quả này, vào đầu những năm 1990 được xem là “dị giáo”. Thậm chí James Buchanan, người được giải Nobel Kinh tế năm 1986 viết trên tờ Wall Street Journal cho rằng bài nghiên cứu được viết để cổ động lợi ích hệ tư tưởng, hàm ý là Card và Krueger thiên tả, cổ vũ tăng lương cho người lao động mà bỏ qua quy luật kinh tế học.  Quy kết ý thức hệ thiên tả còn xuất phát từ một nghiên cứu vào năm 1990 của GS. David Card về di cư4. Câu hỏi là người di cư có làm giảm mức lương và chiếm việc làm của người sở tại nơi họ đến? GS. Card phân tích số liệu của 120.000 người di cư vào năm 1980 rời cảng Mariel ở Cuba đến Miami, làm tăng 7% lực lượng lao động ở đây. Ông dùng phân tích khác biện trong khác biệt so sánh kết quả lao động ở Miami với kết quả từ một số thành phố khác giống với Miami nhưng không có lượng lớn người nhập cư đến. Kết quả ông tìm thấy là tiền lương và tỷ lệ thất nghiệp tại Miami gần giống như ở các thành phố khác. Như vậy di cư không làm thay đổi thị trường lao động.  Những đầu óc phe phái chính trị nghĩ ngay đến việc nghiên cứu được làm ra để cổ vũ di cư và tăng lương tối thiểu. Tuy nhiên, mục đích của GS. David Card lớn hơn các suy diễn chính trị nhiều, ông chỉ muốn hướng đến cái đẹp của nghiên cứu, muốn làm nghiên cứu kinh tế trở nên chính xác hơn, khoa học hơn. Ông nói “Các nhà kinh tế lao động đang cố gắng trở nên khoa học hơn: họ tìm các giả thuyết cụ thể và kiểm định chúng một cách cẩn thận nhất có thể”.5  Một trong những vẻ đẹp của phương pháp giả thí nghiệm nằm trong bài báo của Angrist và Krueger năm 19916 về tác động của một năm đi học đến thu nhập. Đầu tư học thêm một năm thì thu nhập sẽ tăng thêm bao nhiêu? Đây là câu hỏi khó trả lời vì có rất nhiều yếu tố không quan sát được, như sự thông minh, tính kiên trì cũng tác động đến thu nhập, bên cạnh việc đi học. Làm sao tách được tác động riêng phần của việc học lên thu nhập? Lý tưởng thì có hai người hoàn toàn giống nhau, học trong môi trường như nhau, chỉ khác nhau ở chỗ người này học nhiều hơn người kia một năm, và khi đó nhà nghiên cứu chỉ cần so sánh thu nhập hai người, sự khác biệt trong thu nhập chắc chắn có nguyên nhân từ chênh lệch thời gian học kia. Thực tế không bao giờ có sự lý tưởng đó. Angrist và Krueger rất tinh tế khi nhận thấy học sinh cùng lớp, hưởng cùng chất lượng giáo dục nhưng có thể có thời gian học khác nhau. Từ khi vào lớp 1 đến khi ra trường vào năm 16 tuổi, người sinh vào quý 4 của năm sẽ học nhiều hơn vài tháng so với người sinh vào quý 1, khi trường khai giảng vào tháng chín. Và do ai sinh vào thời gian nào trong năm là hoàn toàn ngẫu nhiên, Angrist và Krueger đã lập được hai nhóm đối chứng và can thiệp như trong một thí nghiệm ngẫu nhiên nhưng với dữ liệu tự nhiên. So sánh dữ liệu thực của hai nhóm, Angrist và Krueger ước tính thời gian học thêm một năm có thể làm tăng 10% thu nhập.  Không như GS. Card và GS. Angrist có con mắt xanh với hiện tượng và dữ liệu thực tế, khôi nguyên thứ ba của giải Nobel Kinh tế năm nay, GS. Guido Imbens, là con người lý thuyết. Ông phát triển các khung lý thuyết, cơ chế tính toán tác động nhân quả cho các đồng nghiệp của mình đưa vào ứng dụng.  Bài nghiên cứu của Card và Krueger về lương tối thiểu năm 1994 đã thay đổi bức tranh chính sách lao động của Hoa Kỳ. Năm 1996, Tổng thống Bill Clinton đã đồng ý tăng mức lương tối thiểu của Hoa Kỳ sau rất nhiều lần trì hoãn từ các đời tổng thống trước. Chính tổng thống Clinton đã nhắc đến bằng chứng từ nghiên cứu của Card và Krueger trước khi ký sắc lệnh. Các nghiên cứu thực nghiệm trong kinh tế lao động của tiền hiền Card, Krueger, Angrist và thế hệ nối tiếp trong nhiều chủ đề như lương tối thiểu, di cư, giáo dục, hành vi cung lao động, năng suất lao động hay phân biệt lương đặt nền móng quan trọng cho các chính sách về lao động việc làm ở các nước và của Tổ chức Lao động quốc tế.  Tìm câu trả lời cho Việt Nam   Quay trở lại câu hỏi ở phần đầu bài viết này, văn hóa tập thể làng xã rất đậm đặc ở khu vực phía Bắc có giúp tăng trưởng kinh tế tốt hơn so với văn hóa làng xã tương đối lỏng và mang nhiều tính cá nhân ở khu vực phía Nam? Khó có thể thực hiện thí nghiệm ngẫu nhiên để tạo ra dữ liệu về tăng trưởng kinh tế. Nhưng dữ liệu tự nhiên thì có nhiều. Có ai có con mắt xanh, quan sát tinh tế từ dữ liệu tự nhiên có sẵn, tập hợp lại phân tích kiểu giả thí nghiệm như Card và Angrist đã làm?  Nhóm phương pháp giả thí nghiệm đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam áp dụng trong rất nhiều nghiên cứu tìm mối quan hệ nhân quả hay đánh giá tác động của chính sách. Nhiều trường đại học đã đưa phương pháp này vào chương trình giảng dạy từ bậc cử nhân đến tiến sĩ.    GS. Melissa Dell của ĐH Harvard đã phân tích bối cảnh văn hóa xã hội, cấu trúc làng xã của các cộng đồng khác nhau ở Gia Định để trả lời câu hỏi văn hóa tập thể có đem lại kết quả kinh tế tốt hơn. Hình ảnh làng An Nam trên sông Sài Gòn thế kỷ 19. Nguồn: historicvietnam.com  Tuy nhiên người có con mắt xanh với dữ liệu giải quyết câu hỏi trên của Việt Nam lại là GS. Melissa Dell của ĐH Harvard và cộng sự7. GS. Dell quan sát thấy rằng năm Mậu Dần 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định, đặt trạm thu thuế trên sông Sài Gòn – Đồng Nai, chiêu mộ dân di cư từ vùng ngoài vào lập xã thôn. Một bên ranh giới đường biên 1698 đậm đặc văn hóa, cách tổ chức làng xã cộng đồng chặt chẽ của miền ngoài, một bên ảnh hưởng văn hóa Khmer. Một thí nghiệm tự nhiên chia mẫu nghiên cứu thành hai nhóm. Do có không gian nằm sát nhau nên các yếu tố tác động về môi trường, thời tiết, địa hình đều như nhau. Nhóm nghiên cứu sử dụng kỹ thuật thiết kế hồi quy gián đoạn (regression discontinuity design), thuộc nhóm phương pháp giả thí nghiệm do Card, Angrist và Imbens phát triển, trả lời câu hỏi văn hóa tập thể có đem lại kết quả kinh tế tốt hơn. Và kết quả là làng xã theo kiểu Đại Việt hợp tác tốt hơn, tạo ra cơ sở hạ tầng tốt hơn, ít làm nông hơn, ít lao động phi chính thức hơn và có điều kiện kinh tế tốt hơn.  Bài nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Econometrica, số 1 trong ngành kinh tế, cho sự áp dụng nhuần nhuyễn một cách sáng tạo sự kiện lịch sử, dữ liệu đương đại và phương pháp đáng tin cậy được nêu tên trong giải Nobel Kinh tế năm nay.  Nhắc đến nghiên cứu này để thắp lên một ước mơ ngày nào đó nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam làm được điều tương tự, nhìn sâu vào lịch sử, xã hội, con người Việt Nam, dùng phương pháp hiện đại của thế giới, làm cho dữ liệu và sự kiện cất tiếng nói một cách khoa học, giúp chúng ta hiểu chúng ta hơn nữa.□  David Card, người được nửa giải Nobel Kinh tế năm nay:  – Khác với phần lớn GS kinh tế xuất thân từ tầng lớp trí thức, GS Card lớn lên trong một gia đình nông dân Canada. Ông nói mình là GS kinh tế vắt nhiều sữa bò nhất trên thế giới.  – Ông làm việc trung bình 65 giờ/tuần trong suốt cuộc đời làm việc của mình.  – Là một trong những ông vua xử lý dữ liệu trong kinh tế, giờ đây ông khá bi quan về tình trạng dữ liệu hiện tại, khi Google, Facebook nắm hầu hết mọi dữ liệu đắt giá về hành vi con người nhưng hầu như không có nghiên cứu được xuất bản nào tiếp cận được các dữ liệu này. Trước đây, việc tiếp cận dữ liệu công bằng hơn8.  ——–  1 Angrist, J and J-S. Pischke (2010) The Credibility Revolution in Empirical Economics: How Better Research Design Is Taking the Con out of Econometrics. Journal of Economic Perspectives Vol. 24 (2): 3-30.  2 Card, D, and A B Krueger (1994), “Minimum Wages and Employment: A Case Study of the Fast-Food Industry in New Jersey and Pennsylvania”, American Economic Review 84(4): 772-93.  3 Một số nhà phê bình cho rằng dữ liệu nghiên cứu này không tốt lắm, năm 2000 Card và Krueger làm lại nghiên cứu này với số liệu tốt hơn, kết quả vẫn như cũ.  4 Card, D (1990), “The Impact of the Mariel Boatlift on the Miami Labor Market”, Industrial and Labor Relations Review 43(2): 245-57.  5 https://www.minneapolisfed.org/article/2006/interview-with-david-card  6 Angrist, J and A Krueger (1991) Does Compulsory School Attendance Affect Schooling and Earnings?, Quarterly Journal of Economics 106(4): 976-1014.  7 Dell, M., Lane,N. and P. Querubin (2018) The historical state, local collective action, and economic development in Vietnam. Econometrica, Vol. 86 (6): 2083–2121  8 Nguồn:  https://www.theglobeandmail.com/business/article-canadian-nobel-winner-david-card-has-led-a-credibility-revolution-in/  9 Nguồn ảnh: University of California, Berkeley, Wikipedia and Stanford University.    Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Cuộc cách mạng về quyền riêng tư?      Tuy chưa hẳn là một bước ngoặt chuyển đổi lớn từ góc nhìn làm luật, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (General Data Protection Regulation, viết tắt GDPR) vẫn là thành quả cải cách rất quan trọng trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên môi trường internet.    Lịch sử 20 năm của GDPR  GDPR không phải là nỗ lực làm luật bảo vệ dữ liệu đầu tiên của Liên minh châu Âu. Tiền thân của GDPR, Chỉ thị 95/46/EC về việc Bảo vệ Dữ liệu của Liên minh châu Âu, ra đời vào năm 1995 và là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc thiết lập mô hình bảo vệ quyền riêng tư đi đầu xu hướng toàn cầu.  Có ba điểm đáng lưu ý về lịch sử hình thành của GDPR. Thứ nhất, việc hình thành Luật áp dụng cho toàn thể các quốc gia trong khối Liên minh châu Âu là một sự lựa chọn công cụ luật pháp mang tính đồng bộ hoá. Khác với Chỉ thị năm 1995, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu năm 2018 hạn chế tối đa tính “mềm dẻo” trong việc thi hành luật, vốn đã trở thành điểm yếu của Chỉ thị năm 1995. Do bản chất pháp lý của văn bản chỉ thị, các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu tiến hành việc xử phạt vi phạm xử lý dữ liệu một cách rời rạc: Tây Ban Nha xử lý phạt nặng và thường xuyên, trong khi Pháp hầu như không đưa ra hình thức xử lý phạt nào đáng kể. GDPR áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm doanh nghiệp đồng bộ cho toàn thể Liên minh châu Âu, cụ thể là tối đa 2% doanh thu hoặc 10 triệu euro cho những vi phạm nhỏ, và 4% doanh thu hoặc 20 triệu euro cho những vi phạm lớn. Thứ hai, việc cập nhật cơ sở pháp lý cho công tác quản lý dữ liệu đã trở nên vô cùng cấp bách vào thời điểm GDPR được soạn thảo. Chỉ thị năm 1995, soạn thảo vào những năm đầu thập niên 90, được hình thành vào thời điểm mà internet chỉ được sử dụng bởi 1% dân số thế giới. Các khái niệm và thiết bị đã trở nên quen thuộc trong môi trường internet hiện nay như mạng xã hội, điện toán đám mây, hay máy tính bảng và điện thoại thông minh, hoàn toàn không tồn tại vào năm 1995. Thứ ba, tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin trong hơn 20 năm vừa qua đã làm thay đổi hoàn toàn cách con người định nghĩa và bảo vệ quyền riêng tư của mình. Quyền riêng tư là yếu tố cốt lõi của các chế độ pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân: bảo vệ dữ liệu là công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền. Cơ sở hạ tầng công nghệ của internet và các thiết bị thông minh khiến việc thu thập dữ liệu cá nhân trở nên ngày càng dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, và đặc biệt là ít tốn kém. Vụ bê bối xung quanh Facebook, Cambridge Analytica, và ban vận động tranh cử của Tổng thống Mỹ Donald Trump là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Hơn bao giờ hết, việc soạn ra một hệ thống pháp lý nghiêm ngặt “tiêu chuẩn vàng” nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân là vô cùng cần thiết.  Có hiệu lực từ ngày 25/5/2018, GDPR là kết quả của quá trình làm luật kéo dài gần 10 năm. Bắt đầu từ năm 2009, thành hình vào năm 2012, trải qua quá trình đàm phán đa phương giữa Ủy ban châu Âu (European Commission), Hội đồng châu Âu (European Council) và Nghị viện châu Âu (European Parliament) đến năm 2015, GDPR được công bố vào ngày 25/5/2016, hai năm trước khi chính thức có hiệu lực.  Bước tiến về xác định dữ liệu cá nhân  Dữ liệu cá nhân và dữ liệu cá nhân nhạy cảm (Điều 4 và Điều 9)  Hai khái niệm nền tảng cho GDPR là dữ liệu cá nhân và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. GDPR được thiết kế nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân; tất cả các dữ liệu nằm ngoài định nghĩa dữ liệu cá nhân đều không được bảo vệ bởi luật này.  Dữ liệu cá nhân được định nghĩa là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá thể dữ liệu (‘data subject’) đã được nhận định danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tính, dù trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể là bằng cách chỉ ra một định danh như tên, số định danh, dữ liệu vị trí, định danh trên mạng, hay một hoặc nhiều yếu tố chỉ định danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh lý, sinh thực, tâm lý, kinh tế, văn hoá, hoặc xã hội.” Khái niệm khá dông dài này thực chất không có gì khác với định nghĩa được đưa ra ở Chỉ định năm 1995; điều đáng lưu ý nhất về định nghĩa dữ liệu cá nhân trong GDPR là khái niệm “giả danh tính” (pseudonymisation). Một ví dụ điển hình cho khái niệm này là việc xử lý dữ liệu bằng cách đặt tên giả cho các nhân vật hoặc cá nhân có thật: một phương pháp bảo vệ danh tính thường được dùng trong giới báo chí và các nhà làm phim tài liệu. Theo GDPR, dữ liệu đã được xử lý theo phương pháp giả danh tính vẫn có thể được hiểu là dữ liệu cá nhân nếu dữ liệu này có thể được dùng để suy ngược lại danh tính thật của cá thể dữ liệu bằng cách thu thập thêm thông tin. Rõ ràng, khái niệm này nới rộng phạm vi định nghĩa dữ liệu cá nhân một cách đáng kể, giúp củng cố quyền lợi công dân các quốc gia thành viên và đặt ra tiêu chuẩn xử lý dữ liệu rất cao cho các đơn vị xử lý dữ liệu.  Dữ liệu cá nhân nhạy cảm được quy định dưới dạng hạng mục dữ liệu cá nhân đặc biệt trong GDPR. Ở khía cạnh này, GDPR một lần nữa giữ nguyên tinh thần được đề ra ở Chỉ định năm 1995, định nghĩa dữ liệu cá nhân nhạy cảm là bất kì dữ liệu nào tiết lộ “chủng tộc hoặc sắc tộc, tư tưởng chính trị, đức tin tôn giáo, quan niệm triết lý, thành viên công đoàn, và việc xử lý dữ liệu sinh thực và sinh trắc nhằm mục đích định danh, hoặc dữ liệu liên quan đến sức khoẻ, tình trạng sinh dục, và xu hướng tính dục.”Việc xử lý và phân tích các dữ liệu nhạy cảm được liệt kê bên trên là hoàn toàn bị cấm bởi GDPR. Một số trường hợp ngoại lệ cho việc xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm bao gồm sự đồng thuận từ chủ thể dữ liệu (cắt nghĩa bên dưới), bảo vệ quyền lợi cá nhân, công tác y tế dự phòng và y tế nghiệp vụ, hoặc lợi ích chung. Xét trên những định nghĩa nêu trên, việc Facebook hoặc Google cùng các đối tác kinh doanh thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân nhạy cảm nói trên có khả năng vi phạm GDPR rất cao. Trong những tình huống vi phạm, GDPR cho phép các cá nhân có quyền nộp đơn khiếu nại đến Cơ quan Quản lý Dữ liệu đặt tại các quốc gia thành viên nơi cá nhân đang công tác hoặc sinh sống, hoặc nơi việc vi phạm đã diễn ra. Các cá nhân sau khi được thẩm định quyền bị xâm hại sẽ được xử lý đền bù theo quyết định của Cơ quan Quản lý Dữ liệu, theo tinh thần của những quyết định đưa ra bởi Hội đồng Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (EDPB).  Đồng thuận cá nhân (Điều 7)  Đồng thuận cá nhân (individual consent) là cơ sở pháp lý quan trọng nhất trong việc hợp pháp hoá xử lý dữ liệu tự động, đặc biệt là trong môi trường internet. GDPR định nghĩa đồng thuận cá nhân là những “biểu lộ mong muốn của chủ thể dữ liệu được cung cấp một cách tự nguyện, cụ thể, và sau khi chủ thể đã được thông tin đầy đủ, được trình bày dưới dạng hành động khẳng định rõ ràng, thể hiện sự đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân liên quan đến chủ thể.”Trên thực tế, đặc biệt là trên môi trường internet, định nghĩa này được thể hiện theo một số cách thực tiễn như sau. Hãy nhớ lại lần gần đây nhất bạn ghé thăm một trang web mua sắm trực tuyến, và trang web này yêu cầu bạn tạo tài khoản trước khi thanh toán và hoàn tất đơn mua hàng của bạn. Trước khi bạn hoàn tất các thủ tục đăng ký, trang web sẽ đòi hỏi bạn nhấn chọn đồng ý các điều khoản và quy định của trang web. Thủ tục này được gọi là ‘opt-in’–tạm dịch là ‘chọn tham gia’ – phù hợp với quy định của GDPR, vì thủ tục này đã cho bạn cơ hội cho phép trang web sử dụng dữ liệu cá nhân của bạn (tất nhiên, tình huống này giả sử bạn đã dành thời gian đọc những điều khoản của trang web). Nhưng trong đa số các trường hợp, trang web mà bạn sử dụng không chỉ đưa ra một ô chọn lựa; ngoài ô chọn lựa đồng ý điều khoản, các trang web còn cài cắm sẵn các phát biểu khác mà bạn thường là không để ý, như “Tôi đồng ý nhận thông tin khuyến mãi”, hay “Tôi đồng ý nhận bản tin”. Nếu bạn không đồng ý với những phát biểu này, bạn phải thực hiện hành động bỏ chọn những lựa chọn đã được chọn sẵn cho bạn; thủ tục này gọi là ‘opt-out’ – tạm dịch là ‘huỷ chọn tham gia’. Dưới quy định của GDPR, việc người dùng buộc phải trải qua thủ tục huỷ chọn tham gia này vi phạm quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân họ, và những trang web được xây dựng theo cách này có thể sẽ phải chịu phạt.  Điều đáng lưu ý là đề xuất ban đầu của Ủy ban châu Âu, đòi hỏi đồng thuận cá nhân được quy định là ‘đồng thuận cá nhân minh bạch’ (explicit consent), đã không được thông qua bởi Hội đồng và Nghị viện. Đồng thuận minh bạch được đề xuất với những yêu cầu như việc đòi hỏi chủ thể dữ liệu phải trả lời một câu hỏi dưới dạng điền thông tin, hoặc điền vào bảng mẫu khảo sát, thay vì đơn thuần đánh chọn hoặc bỏ chọn ô trống. Yêu cầu này có thể đã được xem là khó khả thi, nhất là khi xem xét hiện trạng cơ sở hạ tầng và văn hoá sử dụng internet trên toàn cầu.  Sự hạn chế của GDPR trong thời kì internet vạn vật  Các đơn vị xử lý dữ liệu cá nhân (Điều 4)  Như vậy, các đơn vị xử lý dữ liệu cá nhân cần phải hết sức cẩn trọng trong việc quản lý dữ liệu để tránh vi phạm các điều khoản được đề ra bởi GDPR. Các đơn vị này là ai? Một lần nữa, những định nghĩa được đưa ra trong GDPR không khác mấy so với những định nghĩa ở Chỉ thị 1995. Một điều đáng lưu ý là những định nghĩa dưới đây về đơn vị xử lý dữ liệu không phải lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1995; thực chất, những định nghĩa này có lịch sử từ những dự luật đầu tiên về bảo vệ dữ liệu được soạn thảo từ những năm 1970. Điều này một lần nữa nhấn mạnh bản chất cải cách của GDPR: dù là một cải cách quan trọng, GDPR không phải là một bước ngoặt về đặc tính, nếu xét từ góc độ làm luật.  Các đơn vị xử lý dữ liệu bao gồm:  Đơn vị kiểm soát dữ liệu (data controller)  Đơn vị tiến hành xử lý dữ liệu (data processor)  Đơn vị nhận dữ liệu (recipient)  Đơn vị thứ ba (third parties)  Có nhiều chỉ trích đã được đưa ra, hầu hết xoay quanh những bất cập mà các Cơ quan Quản lý Dữ liệu sẽ mắc phải khi điều tra vi phạm dựa trên những định nghĩa lỗi thời này. Trong thời đại điện toán phổ biến hiện nay, bất cứ thiết bị thông minh nào cũng có khả năng xử lý dữ liệu, và liên tục xử lý dữ liệu. Quy trình này khiến việc xác định và phân biệt các đơn vị kiểm soát, tiến hành xử lý, nhận dữ liệu, hoặc các đơn vị thứ ba trở nên phức tạp và tốn kém. Hãy suy nghĩ về một ví dụ đơn giản. Trong bối cảnh internet của vạn vật (internet of things), một chiếc máy pha cafe thông minh có thể được kết nối với mạng internet và trở thành một thiết bị kiểm soát, xử lý, và nhận dữ liệu. Trong trường hợp này, đơn vị nào sẽ được xem là đơn vị kiểm soát dữ liệu? Công ty chế tạo và sản xuất máy pha cafe thông minh hay căn hộ mua và lắp đặt sử dụng nó? Công ty sản xuất phần mềm tự động hoá một số tính năng của chiếc máy này hay công ty phân phối sử dụng dữ liệu thu từ chiếc máy để tự động cho thêm cafe vào máy ?  GDPR được hình thành với 10 mục đích chính, tóm gọn sau đây:  Sửa đổi một số vấn đề nảy sinh do việc thi hành chỉ thị rời rạc và thiếu nhất quán của các quốc gia thành viên, bằng cách thiết lập các quy tắc đồng bộ  Củng cố các quyền công dân sẵn có của công dân các quốc gia Liên minh châu Âu  Giới thiệu các quyền công dân và ràng buộc mới cho môi trường internet  Giảm thiểu gánh nặng hành chính cho các doanh nghiệp và tổ chức hoạt động tại nhiều quốc gia thành viên Xem xét chi phí mà các doanh nghiệp và tổ chức vi mô, vừa, và nhỏ phải gánh chịu để chấp hành luật  Củng cố các quy tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, và tự điều chỉnh  Củng cố chức năng giám sát của các Cơ quan Quản lý Dữ liệu (DPAs) và tăng cường sự hợp tác đa phương, nhất là trong các trường hợp vi phạm tại nhiều quốc gia thành viên cùng một lúc  Quản lý gắt gao trách nhiệm của các tổ chức kiểm soát và xử lý dữ liệu; đặc biệt ban hành các điều luật xử phạt và cưỡng chế nghiêm khắc  Quản lý việc chuyển đổi và lưu hành dữ liệu cá nhân đến các quốc gia nằm ngoài khối Liên minh châu Âu  Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ và đồng thời đảm bảo tôn trọng quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân  ——–  * Đại học Melbourne, Úc             Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Cuộc chạy đua giữa Ấn Độ và Trung Quốc      Trung Quốc (TQ) đã bỏ xa Ấn Độ về kinh tế và trong hai chục năm tới Ấn Độ hầu như không có cơ hội đuổi kịp TQ. Tuy nhiên sau đó là thời cơ để Ấn Độ vươn lên vì TQ bị già hóa và thiếu lực lượng trẻ.    Liệu trong tương lai gần Ấn Độ có đuổi kịp được TQ hay không? Ai có dịp chứng kiến tận mắt hai quốc gia này đều có thể  mạnh dạn trả lời  câu hỏi trên là “không”.  Tầu hỏa của Ấn Độ chạy ì ạch, nặng nhọc  đã vậy so với TQ thì tầu Ấn Độ rất không đúng giờ. Trong khi đó ở TQ trên một số tuyến đường người ta đã sử dụng những loại tầu hỏa có tốc độ cao hơn cả những con tầu ở Đức. Tình hình giao thông đường bộ cũng tương tự.  Ở Ấn Độ đường cao tốc đang ở diện quy hoạch trong khi đó ở TQ mọi sự đang diễn ra. Chỉ xét riêng về khâu hạ tầng cơ sở cũng thấy sự khác biệt rõ rệt  giữa hai quốc gia này.    Quan sát sự phát triển kinh tế từ những năm tám mươi đến nay giữa hai nước này cũng có hình ảnh tương tự. Trong ba chục năm qua TQ có tốc độ phát triển nhanh hơn Ấn độ. Trong khi thu nhập bình quân đầu người ở TQ tăng gần tám lần thì ở Ấn Độ chỉ đạt khoảng hai lần.  Tại Ấn Độ có khoảng 10 triệu chỗ làm việc phục vụ công nghiệp xuất khẩu trong khi đó ở TQ con số này là trên 100 triệu.   Ấn Độ tiến hành cải cách theo hướng kinh tế thị trường sau TQ. Nhưng điều quan trọng hơn là trong nhiều năm liên tục TQ đạt mức tăng trưởng xấp xỉ 10% một năm, mãi đến những năm gần đây Ấn Độ mới đạt được mức tăng trưởng như của TQ    Nhà nước Ấn Độ cạn tiền  Để có được sự tăng trưởng tuyệt vời như TQ, Ấn Độ phải nhanh chóng khắc phục những yếu kém về  hạ tầng cơ sở.  Nhưng nhà nước Ấn Độ lại không có tiền. Không chỉ nhà nước trung ương mà cả các bang, các địa phương ở Ấn Độ đều lâm vào tình trạng  thâm hụt ngân sách và nợ nần. Về nguyên tắc thì việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở có thể dựa vào nguồn vốn của nước ngoài, nhưng để làm được việc đó thì Ấn Độ còn phải khẩn trương  thay đổi cả về chính sách cũng như giảm tệ quan liêu.    Hệ thống pháp luật, nền dân chủ, tiếng Anh và vấn đề nhân khẩu học  Khi xem xét các yếu tố lợi thế tiềm ẩn của Ấn Độ so với TQ người ta thấy có bốn yếu tố nổi bật: di sản của hệ thống pháp luật Anh quốc, nền dân chủ, tiếng Anh và sự phát triển nhân khẩu  học thuận lợi hơn.  Quyền tư hữu được bảo đảm và sự độc lập của tòa án,  tóm lại nhà nước pháp quyền, được coi là những điều kiện thể chế hóa không thể thiếu để phát triển kinh tế. Về điểm này Ấn Độ về cơ bản có lợi thế hơn so với TQ, nhưng cũng chỉ về cơ bản mà thôi. Ở cả hai quốc gia châu Á này đều có vấn nạn tham nhũng rất nặng nề. Tòa án Ấn Độ thường rất chậm chạp khi đưa ra các phán quyết đến mức bị coi như cố tình trì hoãn pháp lý. Sự can thiệp chính trị không chỉ diễn ra ở TQ mà cả ở Ấn Độ trong việc „bảo vệ pháp luật“ – với ý nghĩa bảo vệ trước luật pháp. Vì thế tự do báo chí ở Ấn Độ cũng chỉ là một lợi thế tiềm tàng. So với TQ thì vấn đề lạm dụng quyền lực ở Ấn Độ có thể bị chỉ trích một cách tự do  và công khai hơn. Nhưng cho đến nay không phải nhờ thế mà nhà nước và chính quyền  ở Ấn Độ trong sạch hơn.  Không nên coi dân chủ là một động lực phát triển hoặc kìm hãm phát triển. Qua các công trình nghiên cứu về kinh tế có thể thấy không có những khác biệt rõ rệt giữa dân chủ và chế độ độc tài đối với tốc độ phát triển. Trong khi các nền dân chủ thường có xu hướng đạt tốc độ trung bình về tăng trưởng như nền kinh tế thế giới  thì ở các nước chuyên chế thường có tốc độ  thấp hơn nhiều hoặc cao hơn nhiều so với bình quân  thế giới.  Lịch sử kinh tế nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thể hiện rõ điều này. Dưới thời Mao Trạch Đông tăng trưởng kinh tế TQ  chậm hơn tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Sau cái gọi là „đại nhẩy vọt“ và chuyển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thành đại công xã  thường kèm theo cả lò cao ở nông thôn để đẩy mạnh công nghiệp hóa , từ đó theo các công trình nghiên cứu cũ đã có trên 30 triệu người bị chết đói và theo những tư liệu mới đây thì con số này lên tới 40 triệu người.  Dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình và những người kế cận ông ta từ năm 1979 Trung Hoa đã tạo nên một sự thần kỳ về kinh tế. Nhưng cái „chuỗi may mắn“ nhờ có một chính phủ thành thục về kinh tế này liệu còn kéo dài được bao lâu nữa hay rồi đây  TQ lại rơi vào một ban lãnh đạo ôm ấp  những kế hoạch không tưởng?  Tiếng Anh và lao động trẻ  Còn về tiếng Anh, một ngôn ngữ về kinh tế và khoa học kỹ thuật mang tính toàn cầu, thì rõ ràng Ấn độ, một thuộc địa cũ của Anh, hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn TQ. Giới tinh hoa Ấn Độ đều thông thạo tiếng Anh. Trong khi đó ở TQ ngay cả đến các giáo sự giảng dạy  về kinh tế và khoa học xã hội sự hiểu biết về tiếng Anh, đánh giá một cách lịch sự,  cũng chỉ ở mức „khiêm tốn“. Tuy vậy hiện có tình trạng suy giảm về trình độ sử dụng tiếng Anh trong công chúng Ấn độ. Trước đây vào những năm sáu mươi ở các thành phố lớn ở Ấn Độ không có chuyện lái xe tắc xi không biết tiếng Anh, ngày nay điều này có thể diễn ra.   Nếu như Ấn Độ có chủ bài thì đó là lực lượng trẻ đông đảo ở nước này. Ở TQ dân chúng đang nhanh chóng già đi. Thực chất chính sách một con của TQ không dẫn đến tình trạng mỗi người phụ nữ không có quá một đứa con, nhưng trong thực tế tỷ suất sinh đẻ của TQ cũng tương đương như Đức , mỗi phụ nữ có khoảng  1,3 đứa con. Cho đến nay điều lạ lùng là chính phủ TQ vẫn kiên trì chính sách một con mặc dù chỉ khoảng hai thập niên nữa dân số TQ sẽ già đi một cách nhanh  chóng .  Dân TQ  trước khi trở nên giầu có thì đầu đã bạc, khác với  điều đã diễn ra ở châu Âu hay Nhật bản già nua. Vấn đề già nua lại càng bị trầm trọng hơn do tình trạng thiếu phụ nữ ở TQ. Khoảng  80 triệu đàn ông TQ sẽ không xây dựng nổi gia đình vì không kiếm được vợ. Đành rằng ở Ấn Độ cũng không có sự cân bằng  về tỷ lệ nam nữ, nhưng ở đây vấn đề này không đến mức quá nghiêm trọng.  Không ai có thể tin chắc  rằng, với những con át chủ bài cuả mình, trong tương lai gần Ấn Độ có thể đuổi kịp TQ. Tuy nhiên người ta có thể lưu ý rằng ngay cả ở hai nước này người ta chưa hiểu hết về những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng trưởng mạnh như vũ bão của hai quốc gia này. Quyền sở hữu tư nhân ở TQ còn rất thiếu vững chắc vì vậy  tốc độ tăng trưởng cao diễn ra trong một thời gian dài không khỏi không gây ngạc nhiên. Phải chăng cuộc chạy đua dành các nhà đầu tư đã làm cho chính phủ trung ương và chính quyền ở địa phương phải làm ra bộ họ muốn tôn trọng sở hữu tư nhân như là  vốn sản xuất. Nhưng điều đó không có nghĩa là đã làm rõ được sư mâu thuẫn ở TQ giữa tăng trưởng và quyền sở hữu tư nhân không có gì bảo đảm. Điều xẩy ra ở Ấn Độ cũng thật ngạc nhiên, nhà nước Ấn thường bị thâm hụt ngân sách kinh niên, hạ tầng cơ sở kém phát triển và thị trường lao động vẫn bị điều tiết một cách thái quá nhưng trong những năm gần đây tỷ lệ tăng trưởng liên tục tăng. Trong hai thập niên tới Ấn Độ không thể có cơ may rút ngắn được khoảng cách với Trung quốc. Chỉ khi nào TQ mang khuôn mặt già nua khi đó vận may mới mỉm cười với Ấn độ.        Trung Quốc hay Ấn Độ              Trong thế kỷ 21 sẽ diễn ra cuộc chạy đua  chiếm ngôi cường quốc kinh tế  hùng mạnh nhất thế giới giữa hai quốc gia  có dân số hàng đầu thế giới là TQ và Ấn Độ.               Những cải cách ở TQ  bắt đầu sau  khi ông Mao qua đời  vào năm  1976 và nền kinh tế bị tê  liệt bắt đầu chuyển động và tăng tốc. Năm 1980 thu nhập bình quân của  người TQ chỉ bằng già một nửa so với Ấn Độ. Cả hai nước đều rất nghèo.               Ngày nay Trung quốc đã vượt xa đối thủ Ấn độ: theo số liệu của IMF thu  nhập bình quân đầu người của TQ đạt trên  7500 đôla, hơn gấp đôi so với  Ấn độ, khoảng  3340 đôla. Trong khoảng nửa thập niên TQ có thể chiếm 18%  tổng sản phẩm xã hội của toàn thế giới và vượt Hoa kỳ. Ấn Độ chỉ đạt  khoảng  6 %  sản lượng thế giới.  Nhưng hiện đang có sự dịch chuyển về  số dân: năm  1980 TQ có khoảng  1 tỷ dân và khi tăng lên đến 1,3 tỷ thì  dừng lại. Trong khi đó dân số Ấn Độ tiếp tục tăng: nắm 1980 Ấn Độ có   700 triệu người nay đã lên đến 1,2 tỷ.                Đến cuối thập niên này dân số  Ấn Độ sẽ cao hơn dân số TQ  và Ấn Độ sẽ là nước đông dân nhất thế giới.  Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng về lâu dài Ấn Độ có cơ hội  vượt  TQ chủ yếu nhờ tăng trưởng dân số.               Jagdish Bhagwati giáo sư kinh tế tại  đại học Princeton  cho rằng„ trong nhiều năm TQ đã có thể sử dụng đội  quân thất nghiệp đông đảo theo kiểu Karl Marx để nhanh chóng đạt tăng  trưởng, nhưng giờ đây lực lượng lao động trở nên khan hiếm và tiền lương  tăng lên,  trong khi đó nguồn lao động của Ấn Độ vô cùng phong phú.“                Tuy nhiên theo Bhagwati  để đạt được thành tựu kinh tế lớn hơn Ấn Độ  phải thực hiện cải cách: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu  quả và thực hiện tự do hóa một cách toàn diện.                                                                                                                                 Xuân Hoài dịch  * Giáo sự xã hội học và khoa học chính trị tại ĐH tổng hợp Bonn và là chuyên gia về chính trị kinh tế học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến chống Covid và chống tin giả      Những gì diễn ra ở Việt Nam và cả thế giới đều cho thấy, trong cuộc chiến chống lại Covid, khoa học đang cứu con người nhưng không phải bao giờ con người cũng nhớ đến điều đó.      Trong cuộc chiến chống Covid, giới chuyên môn không chỉ phải chiến đấu cứu bệnh nhân mà còn phải chống tin giả.  Chúng ta biết gì về Covid, con “quái vật” bắt cả thế giới phải răm rắp đeo khẩu trang, học lại bài học rửa tay tưởng chừng đã bị lãng quên và giữ khoảng cách với nhau tối thiểu ba mét? Có thể sự thật bao giờ cũng khiến người ta thất vọng bởi con quái vật đó không phải con Gorilla khổng lồ to tướng như trong các bộ phim bom tấn Hollywood. Kích thước của nó vô cùng nhỏ bé, đường kính vào khoảng 125nm. Nhỏ bằng 0.02 đường kính của tế bào hồng cầu người. Giả sử tế bào hồng cầu người lớn bằng quả bóng đá, thì con Covid to bằng quả trứng cá hồi.  Điều đáng sợ nhất của con Covid này là lúc nó bí mật chui vào cơ thể chúng ta. Khi đã ung dung ở trong đó, chúng sẽ tự nhân lên nhanh chóng rồi phá vỡ các tế bào thoát ra ngoài. Dĩ nhiên hệ miễn dịch của chúng ta được báo động nhưng trở tay không kịp, luôn đi sau con virus một bước. Hậu quả là cơ thể yếu đi, lúc ấy trở thành con mồi ngon cho các loại vi sinh vật cơ hội khác, vốn sống hiền lành ở xung quanh gồm vi khuẩn và nấm. Hậu quả là người nhiễm đi vào sốc nhiễm trùng, rồi chết.  Để chữa một người bệnh sốc nhiễm trùng, sẽ phải huy động rất nhiều nhân lực lẫn vật lực. Hãy thử hình dung, chỉ cần một ca sốc vào khoa hồi sức cấp cứu nằm, là cả tua trực mất ngủ nguyên đêm để giữ cho tình trạng ổn định. Dù vậy, tỉ lệ chết vẫn 50-50. Nếu sống được, thời gian họ nằm viện tính bằng tháng, chi phí điều trị vài trăm triệu là chuyện thường.  Thời gian đầu khi dịch mới bùng nổ, làn sóng Covid đầu tiên, các tổng kết chỉ biết con virus này gây tổn thương phổi làm bệnh nhân thiếu oxy máu không hồi phục rồi chết. Tất cả các giả thiết đưa ra đều dựa vào dữ kiện nghiên cứu về loài và họ hàng của nó trong quá khứ. Các khuyến cáo điều trị đưa ra được thay đổi liên tục. Không ai biết phải bắt đầu công việc điều trị từ đâu.  Việc truyền thông để mọi người biết, ngõ hầu tránh được điều đáng tiếc là một việc nên làm. Tuy nhiên ở đây, giới khoa học không ngờ các báo lá cải và cư dân mạng đã tiếp tay cho Covid. Họ hết sức sốt sắng săn lùng thông tin rồi hướng dẫn cho các bác sĩ phải điều trị như thế nào, thế nào. Từ việc dùng Vitamin C* liều cao làm tăng miễn dịch, xông khói bồ kết để diệt Covid bay lơ lửng trong không khí… cho đến phát hiện kinh người có thể đi vào giải Nobel khoa học mà dân thực dưỡng tuyên bố, uống nước tiểu chữa được Covid, tất thảy đều lũ lượt xuất hiện. Kỳ lạ là nó ghim ngay vào trí nhớ mọi người hơn là khuyến cáo của chính bác sĩ.      Giới khoa học không ngờ các báo lá cải và cư dân mạng đã tiếp tay cho Covid. Họ hết sức sốt sắng săn lùng thông tin rồi hướng dẫn cho các bác sĩ phải điều trị như thế nào, thế nào. Hậu quả là khi còn chưa bị Covid hỏi thăm thì có người đã suýt… vong mạng vì nhắm mắt làm theo sự chỉ dẫn của tin đồn.      Hậu quả của nó là gì? Hãy nhìn vào một cuộc tranh cãi còn chưa ngã ngũ trong giới khoa học là Chloroquyn, thuốc chống sốt rét có hiệu quả trong điều trị Covid hay không. Nhưng hóa ra, mọi chuyện diễn biến nhanh hơn mọi người tưởng. “Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông”, khi giới y tế vẫn còn chưa đưa ra lời khuyến cáo gì với mọi người bởi thuốc này vẫn nằm trên bàn nghiên cứu, thì giá loại thuốc vốn ế xưng ế xỉa trên thị trường này thoắt một cái đã tăng chóng mặt. Người ta còn nhờ nhau mua để trong nhà không biết để làm gì. Rồi cuối cùng trung tâm chống độc tiếp nhận ca đầu tiên ngộ độc thuốc sốt rét vì nhân dân uống quá liều và ngộ độc cấp suýt chết. Hóa ra khi còn chưa bị Covid hỏi thăm thì có người đã suýt… vong mạng vì nhắm mắt làm theo sự chỉ dẫn của tin đồn.   Thế rồi khoa học cũng đảm trách được nhiệm vụ của nó. Đến giờ, WHO đã chính thức thông báo chống chỉ định dùng thuốc chống sốt rét trong điều trị Covid, vì nó không đem lại tác dụng gì hữu hiệu chống lại con virus này. Bài báo trên tạp chí nội khoa JAMA uy tín trong giới nghiên cứu của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ cũng khẳng định Vitamin C chẳng có tác dụng nào, kể cả cải thiện triệu chứng khi nhiễm Covid.  Cũng may là trong hàng đống cái dở cũng có một tí cái lợi. Dùng bồ kết cũng chả hại gì, hun khói nhà cửa một tí muỗi nó cũng chạy bớt. Không bổ ngang thì bổ ngửa, không tốt chỗ này thì tốt chỗ khác, các cụ bảo thế. Chả cần làm gì, chỉ cần để nhà cửa khô ráo sạch sẽ thì con Covid cũng tự động mà chết đi rồi.  Xoay mòng mòng giữa biển hỗn loạn thông tin ấy, chúng ta phải làm gì? Thực ra, khoa học và kiến thức còn giúp chúng ta nhiều hơn thế.    Tại Đà Nẵng trong làn sóng thứ hai, điểm dịch rơi vào trúng bệnh viện. Biến chứng nặng tăng lên khá nhanh. Các bác sĩ tham gia điều trị nhận thấy tình trạng đông máu của bệnh nhân bị rối loạn sinh huyết khối, đặc biệt trong nhóm bệnh nhân nặng. Bệnh lý nền mạn tính đặc biệt ung thư vốn dĩ đã có tình trạng tăng đông do tăng phản ứng sản xuất sợi huyết do các yếu tố hoại tử u, TNFalpha tiết ra. Rồi bệnh lý nền mạn tính, nằm viện lâu giảm vận động làm hệ tuần hoàn ứ trệ càng tạo điệu kiện huyết khối hình thành trong hệ thống mạch máu.  Thời gian này, các tổng kết cũng bắt đầu rộ lên tình trạng huyết khối tăng đông trên các tạp chí khoa học thế giới. Phác đồ điều trị tiếp tục thay đổi theo hướng dự phòng rối loạn đông máu là chính.  Tại tâm dịch Hải Dương đầu năm 2021, tốc độ lây nhiễm nhanh chóng và lan rộng chưa từng thấy. Biến chủng mới xuất hiện nhưng cách thức cùng biểu hiện tổn thương không có gì thay đổi. Trong vài ngày đã có vài trăm ca dương tính. Một điều đáng an ủi là chúng ta có kinh nghiệm hơn trong hai làn sóng lần trước, các nghiên cứu có nhiều hơn khiến hiểu biết về con Covid dần rõ ràng hơn.      Vào một thời điểm nào đó trong tương lai, toàn bộ bí mật của con Covid sẽ hoàn toàn bị phơi lộ ra ánh sáng. Có thể khi ấy, nó sẽ được xếp vào nhóm virus thông thường gây viêm phổi cũng không biết chừng. Đấy là chúng ta hi vọng thế, còn tại thời điểm này thì chưa, mọi thứ ứng xử với Covid vẫn cần được cẩn trọng vì chúng ta còn chưa hiểu hết nhiều về nó.      Chúng tấn công vào cơ thể, làm các sợi fibrinogen trong lòng mạch máu, là loại protein giúp hình thành cục máu đông. Bình thường, chúng bị hòa tan vất vưởng trong lòng mạch, con Covid vì một lý do nào đó khiến chúng bị bẻ gãy tạo thành các sợi fibrin. Các sợi này dính vào nhau tạo thành cái lưới bắt cá, vợt bọn tiểu cầu lại thành chùm. Thế là cục máu đông hình thành gây tắc mạch. Phổi ban đầu bị tổn thương tắc các mạch máu nhỏ kiểu như thế. Nếu tình trạng này được ngăn chặn sớm, bệnh nhân sẽ khỏi. Nếu tiến triển không ngừng, a lê hấp sẽ chết.  Bình thường, phản ứng đông máu giúp cơ thể ngăn chặn sự rò rỉ tế bào máu ra ngoài mỗi khi đường ống dẫn bị tổn thương. Khi tổn thương được sửa chữa xong, cục máu sẽ tan đi để dòng chảy được tiếp tục. Ngoài ra, nó còn có tác dụng giữ chân các vi khuẩn nếu chúng tình cờ lọt vào lòng mạch máu. Nếu phản ứng ở mức độ vừa phải, thì nó trở thành một phần của quá trình chữa lành. Nếu thái quá, sẽ gây nguy hiểm, tế bào không được cấp máu sẽ bị rơi vào tình trạng hoại tử. Theo một cơ chế nào đó, con Covid đã đẩy cơ thể chúng ta rơi vào mối đe dọa này.   Binh pháp có câu “biết mình biết ta, trăm trận không thua”. Kết quả là ở Việt Nam, toàn bộ bệnh nhân Covid ở làn sóng thứ ba, tính đến thời điểm này, đều được kiểm soát tương đối tốt.  Vào một thời điểm nào đó trong tương lai, toàn bộ bí mật của con Covid sẽ hoàn toàn bị phơi lộ ra ánh sáng. Có thể khi ấy, nó sẽ được xếp vào nhóm virus thông thường gây viêm phổi cũng không biết chừng. Đấy là chúng ta hi vọng thế, còn tại thời điểm này thì chưa, mọi thứ ứng xử với Covid vẫn cần được cẩn trọng vì chúng ta còn chưa hiểu hết nhiều về nó. Cũng không loại trừ trường hợp, có thể lại xuất hiện thêm nhiều giả thiết khác nữa làm lật đổ mọi hiểu biết hiện tại thì sao, biết đâu đấy. Nhưng được thôi, đến lúc đó chúng ta sẽ cùng nhau tính tiếp.   Và tất cả những điều này, những hiểu biết mà chúng ta đã có và sẽ có, đều được gọi là khoa học. □  *Sửa lại so với bản in là Vitamin 3C        Author                Ngô Đức Hùng        
__label__tiasang Cuộc chiến chống đói nghèo: Những thách thức      Khi xem xét văn hóa như một nguồn lực xã hội, một câu hỏi thường được đặt ra là làm thế nào để biến văn hóa thành “động lực của phát triển”, và những hoạt động nào có tính đột phá để làm cho văn hóa tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển bền vững?      Cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây cà phê cho người dân. Ảnh: Báo Nông nghiệp.   Trong chuyến nghiên cứu thực địa ở Điện Biên năm 2009, trên đường vào thăm một làng của người Khmu, tôi vô tình bắt gặp ánh nhìn buồn bã của một người đàn ông đang ngồi bên cửa sổ trong căn nhà nhỏ. Tôi quyết định lên nhà để trò chuyện với ông. Tôi hỏi ông năm nay mùa màng có tốt không. Ông bảo không tốt lắm. – Thế có đủ ăn không? – Không, chỉ đủ vài tháng thôi. – Thế thì lấy gì ăn? – Nếu thiếu ăn thì lại đi sang Lào thôi. Tôi ngạc nhiên: – Bên ấy đời sống có khá hơn không? Ông bảo: Không, bên ấy cũng đói thế thôi. – Vậy ông sang đấy làm gì? Ông làm tôi ngạc nhiên hơn: Sang đấy một hồi thì nhà nước nó lại cho xe sang đón về, cho quần áo, cho gạo ăn…    Năm 2010, tôi được Bộ Kế hoạch và Đầu tư mời tham gia nhóm nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện dự án vay vốn nước ngoài để hỗ trợ phát triển bốn tỉnh miền Trung. Ở huyện Tu Mơ Rông trên đỉnh Ngọc Linh (Kon Tum), tôi đã gặp một bà mẹ người Rơ Ngao địu con trên lưng và tay bế một đứa nhỏ khác, đi bộ 5-6 cây số từ nhà đến trụ sở xã để tham gia mô hình trình diễn nấu cháo dinh dưỡng cho trẻ em. Tại đây, chuyên gia dinh dưỡng hướng dẫn cách hầm xương với cà rốt để lấy nước ngọt, sau đó nấu cháo cho trẻ ăn thử. Tôi hỏi bà mẹ người Rơ Ngao: Các cháu có thích ăn cháo không? Chị nói có, thích lắm, ngon lắm. – Thế về nhà chị có nấu cho các cháu ăn không? – Ô, không đâu, ở nhà không có xương có củ để làm thế đâu…    Đây chỉ là hai trong số rất nhiều câu chuyện tương tự mà chúng ta vẫn thường gặp trên những nẻo đường công tác. Nó gợi lên tình trạng phụ thuộc nặng nề của các nhóm nghèo vào các dự án phát triển của nhà nước.Chúng ta thường hay nghe nói trợ giúp phát triển là đưa cho người nghèo cái cần câu chứ không phải cho họ phải con cá. Trên thực tế, các dự án phát triển ở vùng núi vùng sâu vùng xa thường hay làm ngược lại. Và mỗi năm chúng ta vẫn hoan hỷ nghe báo chí thông tin về chỉ số GDP tăng, coi những con số ấy như một thành công rực rỡ. Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của phát triển là gì, và những chỉ số ấy có mang lại hạnh phúc cho người nghèo hay không? Trên thực tế, tăng trưởng kinh tế ở nước ta thời gian qua chưa đi đôi với văn hóa. Tinh hoa văn hóa chưa được vận dụng vào các chương trình phát triển, thậm chí còn xung đột với phát triển. Lối sống vô cảm và ích kỷ đang trở nên phổ biến, tinh thần đối thoại và sự đa dạng văn hóa chưa được tôn trọng.      Chúng ta thường hay nghe nói trợ giúp phát triển là đưa cho người nghèo cái cần câu chứ không phải cho họ phải con cá. Trên thực tế, các dự án phát triển ở vùng núi vúng sâu vùng xa thường hay làm ngược lại.      Nhìn lại các mô hình phát triển cộng đồng     Dự án Cải thiện Sinh kế Khu vực Miền Trung (2002-2009) do Chính phủ vay vốn nước ngoài để trợ giúp phát triển có tham vọng lớn nhằm tạo ra một mô hình phát triển cộng đồng mẫu mực, được thực hiện theo phương thức “cầm tay chỉ việc”. Các “lớp học đầu bờ” được tổ chức để chuyển giao tri thức và kỹ thuật mới vào cộng đồng. Người dân địa phương được khuyến khích tham gia lập kế hoạch phát triển thôn bản, hình thành các nhóm sản xuất nông, lâm nghiệp và chăn nuôi, vay vốn tín dụng, phát triển sản xuất gắn với thị trường, và xây dựng các dự án hạ tầng quy mô nhỏ ở cấp thôn bản. Những người thiết kế dự án mong muốn tận dụng tối đa sự tham gia của người dân, tạo điều kiện để họ mang tri thức địa phương và vốn xã hội vào xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án. Tôi đã đọc hàng trăm bản kế hoạch phát triển thôn bản và kiểm tra quá trình thực hiện dự án trên thực địa ở hàng chục thôn xã thuộc bốn tỉnh hưởng lợi từ dự án, và nhận thấy hầu hết các bản kế hoạch phát triển thôn bản này đều được làm ra bởi “những người bên ngoài” do dự án thuê, sau đó được trình ra trong một buổi họp với dân để thông qua và phê duyệt. Các cuộc phỏng vấn của tôi với người dân cho thấy họ không thực sự được tham gia bàn bạc và quyết định làm cái gì và làm thế nào cho chính mình. Những người lập kế hoạch phát triển thuê thường nói với tôi: họ (người dân ở thôn bản) thì biết gì mà làm, chỉ cần họ thông qua là được! Khi các dự án hạ tầng quy mô nhỏ như làm cầu, cống, đường liên thôn liên xã, hay mương máng thủy lợi được phê duyệt, các nhóm thợ bên ngoài cộng đồng lại được thuê mướn thi công trong khi người dân không có việc làm. Ở các mô hình trình diễn như trồng rau, chăn nuôi gia súc gia cầm, sản xuất lương thực lúa ngô khoai sắn, và nấu các bữa ăn đủ chất dinh dưỡng cho trẻ em, một số hộ gia đình ở mỗi thôn bản được chọn để làm mẫu dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia khuyến nông khuyến lâm cấp tỉnh, huyện, đôi khi có cả chuyên gia ở Hà Nội được thuê vào giúp sức. Mô hình trình diễn làm theo hình thức trọn gói, từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc một mùa vụ. Các hộ được cung cấp cây con, vật tư để “trình diễn” quy trình, thao tác kỹ thuật thực hiện. Các hộ gia đình khác trong thôn bản cử người tham gia vào những “lớp học đầu bờ” như vậy để nắm được kỹ thuật và sau đó, được cấp phát giống và vật tư và làm theo “mô hình” đã học. Tôi đã chứng kiến rất nhiều hộ gia đình thực hiện có kết quả trong thời gian được hỗ trợ nhưng khi dự án kết thúc thì sản xuất theo mô hình cũng dừng lại. Có thể nói ý tưởng của dự án rất hay, và dự án cũng đã đạt được những mục tiêu trước mắt, nhưng không có gì đảm bảo sau khi kết thúc tài trợ, các mô hình trình diễn sẽ được duy trì và tiếp tục lan tỏa trong cộng đồng. Người dân dường như lại tiếp tục trông đợi vào các dự án tiếp theo hơn là phát huy kết quả có được từ dự án này. Tôi tin rằng các dự án kiểu này không có tính bền vững mà ngược lại, dễ tạo ra sự phụ thuộc của các cộng đồng nghèo vào nguồn viện trợ của Chính phủ hơn là phát huy được nội lực của chính mình để vươn lên.    Từ hồi cuối thập niên 1990 đến nay, Chính phủ đã nỗ lực rất nhiều để tìm kiếm mô hình phát triển ở cộng đồng, như Chương trình (CT) 135; Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình hỗ trợ kinh tế – xã hội các dân tộc rất ít người, v.v. Các chương trình này có điểm chung là tập trung phát triển ở cấp thôn xã, nhắm vào một số hạng mục cấp bách (như CT 135), theo đuổi một mô hình chung với nhiều tiêu chí chung (như CT Nông thôn mới), hoặc tạo ra một hệ thống chính sách đặc thù tập trung vào nhóm dân tộc cụ thể, cho không kinh phí, ưu tiên hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ giáo dục (như CT hỗ trợ các dân tộc rất ít người). Mô hình phát triển cộng đồng theo kế hoạch và rót kinh phí “từ trên xuống” như thế này có hệ quả là góp phần tạo ra sự phụ thuộc, trong khi tính bền vững vẫn còn là một câu hỏi chưa được tổng kết.           Vi Văn Tú, một Youtuber chủ kênh “Gái bản”, người dân tộc Tày ở Yên Bái kêu gọi cộng đồng quyên góp quần áo, sách vở, xây dựng cầu, đường cho người dân người Hmông ở xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu, Yên Bái.   Gần đây, tôi chăm chú theo dõi một mô hình phát triển cộng đồng mà xuất phát điểm của nó là từ những người chơi youtube, tôi tạm gọi mô hình này là “giúp nhau cùng phát triển”. Có nhiều youtuber tham gia vào hoạt động thiện nguyện ở vùng sâu vùng xa nhằm giúp các cá nhân, cộng đồng gặp khó khăn, nhưng trường hợp tôi đang nói tới đây thì hoạt động của họ (youtuber Vi Văn Tú (ở Yên Bái) và youtuber Nguyễn Tất Thắng (ở Hà Giang) có xu hướng tập trung vào các bản Hmông ở vùng sâu vùng xa mà mục tiêu của nó đã vượt ra khỏi giới hạn thiện nguyện để vươn tới mục tiêu phát triển cộng đồng. Điều tôi lưu ý ở mô hình này là: (1) hoạt động hỗ trợ phát triển xuất phát từ cộng đồng; (2) người dân trong làng bản tự bỏ công sức thực hiện; (3) mọi sự trợ giúp về tài chính và hiện vật từ cộng đồng xã hội đều được công khai và minh bạch thông qua mạng xã hội; (4) các hoạt động được giúp đỡ, tạo điều kiện và giám sát của chính quyền địa phương. Cách làm này đã huy động được nguồn lực văn hóa của cộng đồng, tận dụng được nguồn vốn xã hội, tạo ra sự kết nối giữa chính quyền và người dân, và không tạo ra sự phụ thuộc vào nguồn lực của nhà nước. Mặc dù vẫn còn sớm để có thể đưa ra một kết luận về mô hình này, nhưng nó hé mở một cách làm hay vì nó cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng vốn xã hội như một nguồn nội lực cho phát triển bền vững ở cộng đồng.     Vốn văn hóa và phát triển cộng đồng     Khái niệm phát triển thực ra chỉ mới được nói đến nhiều từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, thường được hiểu như là đồng nghĩa với phát triển về kinh tế. Tuy nhiên, khi người ta làm tất cả để đạt được tăng trưởng GDP hằng năm, thì vấn đề đặt ra là mục tiêu đồng thời là động lực của phát triển kinh tế là gì? Đó chính là văn hóa. Mối liên hệ này ngày càng được khám phá và hoàn thiện khi các lý thuyết về phát triển bắt đầu đặt con người ở vị trí trung tâm, là chủ thể, và là động lực của phát triển kinh tế xã hội. Cũng từ đây, khái niệm về phát triển bền vững được hình thành do những lo sợ sự tàn phá khủng khiếp của con người đối với môi trường sẽ đe dọa sự tồn vong của các thế hệ tương lai.      Hầu hết các bản kế hoạch phát triển thôn bản đều được làm ra bởi “những người bên ngoài” được dự án thuê, sau đó được trình ra trong một buổi họp với dân để thông qua và phê duyệt.      Nhìn lại các lý thuyết phát triển từ sau Thế chiến thứ 2, có thể thấy các nhà kinh tế học đã tin rằng muốn tạo ra tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia và khu vực đã bị kiệt quệ vì đói nghèo và tàn phá, cần phải có những “cú hích lớn” thông qua viện trợ ồ ạt từ bên ngoài. Tuy nhiên, người ta nhanh chóng nhận ra rằng cung cấp viện trợ ồ ạt từ bên ngoài không những không giúp các cộng đồng được hỗ trợ tự lực vươn lên được mà còn góp phần tạo ra sự phụ thuộc vào viện trợ. Phải đến những năm 1970, người ta mới khám phá ra tầm quan trọng của nội lực đối với phát triển. Trước đó, người ta tin rằng chỉ có nguồn lực kinh tế (vốn tài chính hay tiền và tài sản) mới có tầm quan trọng quyết định. Từ những thập kỷ 1980 trở đi, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng chính vốn văn hóa mới có vai trò quan trọng vì nó quyết định vị trí của một cá nhân hay tập thể trong một trật tự xã hội nhất định. Vốn văn hóa, cũng giống như vốn vật chất hay vốn con người, đều là những loại “vốn” có khả năng làm tăng năng suất và lợi nhuận do những tác động tương hỗ của các mối tương tác thông qua các mạng lưới xã hội, các quy tắc cũng như niềm tin của con người trong xã hội. Vốn văn hóa là một nguồn lực vô tận, được đặc trưng bởi mạng lưới xã hội, kinh nghiệm, kỹ năng, hệ giá trị, các quy tắc ứng xử, niềm tin, quan hệ có đi có lại và là một bộ phận cấu thành nên bối cảnh văn hóa của một chương trình phát triển, có thể tạo điều kiện cho sáng tạo và thay đổi.    Sử dụng vốn văn hóa vào mô hình phát triển cộng đồng như thế nào?     Trước hết, đưa vốn văn hóa vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng có nghĩa là chúng ta chấp nhận hoặc sử dụng các thành tố văn hóa của một nền văn hóa nào đó hoặc sử dụng các ý tưởng, các biểu tượng, các khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể khác của nền văn hóa ấy. Quá trình này được gọi là tiếp cận phù hợp văn hóa. Phù hợp ở đây không có ngụ ý chỉ tập trung vào những yếu tố văn hóa có tính “cổ truyền” mà là đặt văn hóa vào trong một bối cảnh rộng hơn để hiểu được những năng động và đa dạng của văn hóa, để đảm bảo không áp đặt, để phát huy được khả năng thúc đẩy hợp tác và huy động các nguồn lực để phát triển. Để khai thác nguồn lực văn hóa, điểm nhấn đầu tiên là cần thiết có sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong tất cả các giai đoạn phát triển, từ lập kế hoạch, triển khai thực hiện, phân tích và đánh giá kết quả, đồng thời thừa nhận sự khác biệt và đa dạng văn hóa, xem đó như một tài nguyên và lợi thế của quá trình phát triển. Thứ hai là người lập kế hoạch phát triển cộng đồng cần có trải nghiệm thực tế tại địa bàn để hiểu được văn hóa từ bên trong, dựa vào quan điểm từ bên trong của cộng đồng thay vì áp đặt cái nhìn từ bên ngoài. Thứ ba, người lập kế hoạch phát triển cần có quan điểm hướng đến cộng đồng, tìm kiếm những hiểu biết đầy đủ về người dân, sử dụng tri thức và thông tin của chính họ vào các chương trình phát triển để đạt được hiệu quả cao nhất. Thứ tư, quan điểm nhất quán trong tiếp cận nhân học là phải biết lắng nghe, quan sát, cùng tham gia (trò chuyện, chia sẻ, làm việc), và hợp tác với các nhóm xã hội khác nhau bởi vì mục tiêu phát triển của cộng đồng là cho cộng đồng và vì cộng đồng.    Các mô hình phát triển cộng đồng đã và đang thực thi hiện nay, từ khâu lập kế hoạch, cung cấp tài chính đều được rót từ bên trên, theo hình thức “một mô hình cho tất cả. Tiếp cận phù hợp văn hóa khác với mô hình “từ trên xuống” ở cả ba điểm này, vì nó: (1) Chấp nhận đa dạng quan điểm phát triển; (2) Người hưởng lợi được tiếp cận và tham gia vào mọi khâu của quá trình phát triển; (3) Dự án phát triển nhấn mạnh việc khai thác và sử dụng các nguồn lực văn hóa trong khi nguồn lực từ bên trên chỉ được xem là hỗ trợ phát triển.    Những năm gần đây, khi thảo luận về bất kỳ vấn đề gì, kinh tế, tài nguyên, môi trường, giới, giáo dục, tôn giáo, nông thôn, đô thị, v.v. người ta đều gắn chúng với thuật ngữ phát triển. Xu hướng phổ biến hiện nay thường đánh đồng khái niệm phát triển với tăng trưởng về kinh tế, sử dụng tiêu chí phương Tây về thu nhập bình quân tính theo đầu người hằng năm (GDP) làm mục đích phấn đấu. Thực tiễn thế giới đã chỉ ra rằng phát triển luôn luôn đi kèm với những vấn đề trầm trọng như làm tăng phân hóa giàu nghèo, tàn phá môi trường, và tình trạng suy thoái về đạo đức và lối sống. Thế nhưng trong cuộc sống hôm nay, chúng ta vẫn thường bắt gặp đâu đó quan điểm về sự đánh đổi trong phát triển, cho rằng muốn đạt được tăng trưởng kinh tế phải chấp nhận đánh đổi sự mất mát về môi trường. Cũng có ý kiến cho rằng muốn tạo được động lực của phát triển cần tập trung đầu tư nâng cấp tầng lớp tinh hoa, mà trước hết là giáo dục tinh hoa. Những cách nghĩ như vậy cho thấy còn có những khác biệt lớn trong tư duy về phát triển, có xu hướng chạy theo các con số tăng trưởng mà bỏ rơi văn hóa và thiếu tính bền vững.  Những khoản đầu tư khổng lồ đổ vào cuộc chiến chống lại đói nghèo nhưng dù đã đạt được thành tựu nhất định nhưng vẫn còn nhiều thách thức còn đang hiển hiện mà một trong những thách thức ấy là văn hóa vẫn chỉ được xem như những hoạt động biểu diễn và tuyên truyền mà chưa được đặt đúng vị trí như là một nguồn lực của phát triển bền vững.    Có một sự gặp gỡ giữa tư tưởng phát triển bền vững của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chương trình Nghị sự 2030 của UNESCO khi các nghị quyết của Đảng đều nhấn mạnh việc xem văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực phát triển kinh tế – xã hội bền vững và đặt văn hóa vào vị trí trung tâm và tham gia đầy đủ vào nền kinh tế, xã hội và môi trường. Trong chiến lược phát triển này, bản sắc văn hóa, công bằng xã hội, cân bằng môi trường và tinh thần tự lực cánh sinh là nội lực, là sức mạnh nội sinh, là yếu tố quyết định của các kế hoạch phát triển ở cả cấp độ quốc gia và cộng đồng thôn bản. Sử dụng vốn văn hóa trong phát triển chính là nhấn mạnh tầm quan trọng và đề cao vai trò chủ thể của người dân, tìm kiếm và sử dụng vốn văn hóa của địa phương vào trong các chương trình phát triển để đạt được hiệu quả. Muốn làm được như vậy chúng ta cần có chính sách tạo ra một đội ngũ những người làm công tác phát triển chuyên nghiệp, có tinh thần hiến dâng cho sự nghiệp phát triển cộng đồng. Phát triển đội ngũ này là việc làm cấp bách, bởi hệ thống chính quyền cơ sở (cấp xã) vốn được tạo ra để làm công tác hành chính và quản lý nhà nước ở địa bàn, nặng về quan liêu và thiếu chuyên môn về phát triển. Việc trao các dự án phát triển cộng đồng lên vai chính quyền cấp xã không chỉ làm cho nó bị quá sức và quá tải, mà còn làm tăng tính quan liêu và lợi ích nhóm. □    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Cuộc chiến chống tin giả      Tin giả đang lan truyền ngày càng rộng, với những phương thức khó nắm bắt trên cả truyền thông chính thống và mạng xã hội, gây hậu quả khôn lường về kinh tế và chia rẽ xã hội sâu sắc. Thậm chí, tin giả đã nhanh chóng được biến thành “vũ khí”, tận dụng nền tảng các đặc tính kỹ thuật của mạng xã hội, khai thác những khả năng bóp méo sản phẩm thông tin từ các công cụ truyền thông đa phương tiện mới và lợi dụng những khoảng trống thông tin để gây ra các tác động chính trị vượt ngoài khả năng quản lý của chính phủ các nước. Do đó, các nước đều tập trung nghiên cứu tin giả và đưa ra các chính sách ứng phó khác nhau.      Nguồn ảnh: Pinterest.   Hậu quả kinh tế và chia rẽ xã hội     Mặc dù tin giả xuất hiện từ lâu, với nhiều loại hình phức tạp khác nhau1 ở mọi thời kỳ, song những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì nó cũng xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia.    Tin giả không chỉ là những thông tin lừa đảo thông thường, hay gây ra những sự hoang mang trong những lĩnh vực của đời sống như tin sức khỏe tràn lan liên quan tới các đợt dịch bệnh hoặc khi các vaccine được triển khai2 (có nghiên cứu chỉ ra hơn 60% số lượng tin giả về các vấn đề sức khỏe lan truyền trên nền tảng online được nhiều người nhẹ dạ cho là đáng tin cậy, và niềm tin vào những câu chuyện này sẽ tăng lên nếu chúng được lặp đi lặp lại3).    Tin giả mang tính chính trị ngày càng xuất hiện nhiều, dày đặc. Tin giả dồn dập xung quanh các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, Pháp gần đây đã cho thấy đây thực sự là một “cuộc chiến” thông tin. Tin giả tràn ngập trước kỳ bầu cử Mỹ năm 2016 đã gây chia rẽ xã hội khi nó gây gièm pha, tấn công, và đấu tố các nhóm liên kết chính trị – xã hội với nhau, đặc biệt là ba nhóm: người có xu hướng bảo thủ, người có xu hướng dân chủ, và người da đen tại Mỹ. Còn ở Pháp, vào năm 2017, trước thềm tranh cử tổng thống trang mạng xã hội 4chan đã đăng tải các tài liệu không được kiểm chứng nhằm đả kích và gây tổn hại danh dự cho ứng cử viên lúc bấy giờ là Emmanuel Macron. Các tài liệu này, thường được gọi trên truyền thông phương Tây là MacronLeaks, được phổ biến rộng rãi trên Twitter bằng hàng chục ngàn các tài khoản tự động hoá (còn hay được gọi là bot). Ở những vùng chiến sự căng thẳng, điển hình là ở Pakistan vào năm 2014, nhiều chiến dịch tin giả, tin dắt mũi tại Pakistan đã liên tục đưa ra thông điệp rằng tiêm chủng ngừa bại liệt là bàn đạp dẫn đến âm mưu triệt sản người Hồi giáo của Mỹ. Tin dắt mũi cũng đưa ra thông điệp rằng trong vaccine chống bại liệt có chứa tạp chất đến từ lợn, và dẫn dắt rằng việc tiêm chủng sẽ đi ngược lại với đức tin của người Hồi Giáo. Mối quan hệ chồng chéo giữa hệ tư tưởng, tôn giáo và khoa học tiêm chủng tạo ra một hỗn hợp chính trị – sức khỏe cộng đồng đầy nguy hiểm, mà chính các trẻ em nghèo là người phải gánh chịu hậu quả nặng nề.    Những diễn biến phức tạp trong việc sản xuất, lan truyền, và vũ khí hóa tin giả không chỉ gây nên một môi trường nhiễu loạn thông tin, gây chia rẽ xã hội sâu sắc, đã để lại những hậu quả kinh tế có thể đong đếm được. Nghiên cứu của công ty an ninh mạng CHEQ và Đại học Baltimore ước tính rằng nạn tin giả trực tuyến hiện gây thiệt hại cho nền kinh tế toàn cầu 78 tỷ USD mỗi năm. Báo cáo này cũng phân tích những thiệt hại kinh tế trực tiếp từ tin tức giả và ước tính rằng tin tức giả mạo đã gây thiệt hại cho thị trường chứng khoán khoảng 39 tỷ USD hằng năm. Trong số tổng thiệt hại được ước tính, báo cáo dự đoán theo phân khúc rằng các doanh nghiệp sẽ mất khoảng 9 tỷ USD hằng năm do thông tin sai lệch về sức khỏe, 17 tỷ USD từ thông tin sai lệch về tài chính, 9 tỷ USD từ chi phí bỏ ra cho việc quản lý danh tiếng, 3 tỷ USD từ các chi phí liên quan đến an ninh mạng, và 400 triệu USD từ các quảng cáo chính trị giả mạo. Cụ thể hơn, ước tính cho thấy các thương hiệu và doanh nghiệp thiệt hại khoảng 235 triệu USD do chạy quảng cáo song song hoặc cạnh bên các quảng cáo tin giả mà không hề hay biết.     Thách thức chính sách     Những thiệt hại và chia rẽ đó đã đặt ra nhu cầu bức thiết phải có giải pháp công nghệ ngăn chặn tin giả và đòi hỏi phải có chính sách phản ứng mới.    Tuy nhiên, “truy vết” tin giả không hề dễ dàng. Về mặt kỹ thuật, việc tự động hóa nhận dạng tin giả trên thời gian thực (real-time) hiện vẫn là một bài toán không có lời giải. Các mạng xã hội, từ Facebook sang Instagram, Twitter, hay Youtube đều vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng nào về mặt công nghệ để kiểm soát tin giả. Bởi vì cho đến nay, không dễ để xác minh mức độ thực hư của các thông tin trên mạng một cách nhanh chóng và tự động hóa. Các phương pháp nhận dạng, truy vết, và can thiệp vào dòng lan truyền tin sai hiện nay đang chủ yếu dựa vào các phương pháp khoa học mạng, sử dụng các lý thuyết mạng (network theories) và phương pháp toán thống kê để dò đoán đặc tính vai trò của các cá thể và tài khoản trên mạng xã hội và từ đó đưa ra các nhận định về việc lan truyền thông tin với xác suất chính xác cao. Ngoài phương pháp này thì chỉ còn cách “truyền thống” là dành nguồn nhân lực lớn đọc, đánh giá, và rà soát tính xác thực của thông tin để can thiệp vào vấn đề tin giả trên mạng. Ví dụ hiện nay, Mạng lưới kiểm tra tính xác thực thông tin quốc tế (International Fact-Checking Network (IFCN)) của Poynter Institute, một trường đào tạo báo chí phi lợi nhuận ở Mỹ, là một trong nhiều nỗ lực từ phía các tổ chức báo chí trong việc hệ thống hóa từ cấp cơ sở việc kiểm chứng thông tin.    Ở châu Âu, người ta cho rằng tin giả chính trị là một mối nguy hiểm đặc biệt có thể gây suy thoái các thể chế chính trị dân chủ: khảo sát của Ủy ban châu Âu (European Commission – EC) vào năm 2018 cho thấy 83% công dân châu Âu cảm thấy tin giả thực sự là mối nguy hiểm lớn cho việc sống còn của nền dân chủ. Sau chuỗi sự kiện tin dắt mũi gây ảnh hưởng đến bầu cử liên bang tại Đức, bầu cử tổng thống tại Pháp, và nổi tiếng là việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu, EC liên tục cho thành lập nhiều lực lượng đặc nhiệm và các hội nghị cố vấn toàn khu vực nhằm mục đích đề ra các quy tắc chung chống tin giả tại châu Âu, bao gồm: bảo vệ dữ liệu, tăng cường minh bạch thông tin, đẩy mạnh sự hợp tác đa phương, huy động khối doanh nghiệp tư nhân, thúc đẩy tính đa dạng và độ tin cậy của thông tin, nâng cao nhận thức người dân, và tăng cường quyền lợi cho cộng đồng nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh châu Âu, các quy tắc bảo vệ dữ liệu được dựa trên bộ luật “đình đám” GDPR, có hiệu lực từ giữa năm 2018, vốn đã đề ra khung pháp lý và quy trình căn bản cho các vấn đề về minh bạch và huy động khối doanh nhân trong toàn Liên minh. Tại Mỹ, các thuật ngữ sặc mùi quân đội như tuyên truyền điện toán (computational propaganda) và “chiến tranh thông tin dắt mũi” (disinformation warfare) được phổ biến rộng rãi, định hướng việc chống tin giả như là một sự mở rộng thêm của các cuộc chiến mang tính chính trị.    Gần hơn với Việt Nam, trong bối cảnh Đông Nam Á, tin giả đã tác động mạnh tới tình hình các nước và mỗi nước đã có những chiến lược thông tin để chống lại tin giả theo nhiều cách khác nhau. Ở Malaysia, bộ luật chống tin giả gây tranh cãi và chỉ trích được ra đời vào năm 2018 nhanh chóng được bãi bỏ vào năm 2019, sau khi tổng bầu cử tại nước này kết thúc. Bộ luật chống tin giả được thông qua vào tháng 4/2018 dưới chế độ Thủ tướng Najib Razak, vốn bị chỉ trích là một hành động có chủ đích đàn áp phe đối lập và những người bất đồng chính kiến, đã không thể giúp ông tái đắc cử, khi lãnh đạo đảng đối lập kiêm cố vấn một thời của ông là Mahathir Mohamad giành chiến thắng. Dù chậm hơn Malaysia, Singapore cũng đã đề ra luật chống tin giả mang tên Đạo luật Bảo vệ khỏi sự Giả dối và Thao túng trên Mạng (The Protection from Online Falsehoods and Manipulation Act – POFMA) và chính thức có hiệu lực từ tháng 10/2019. Chính phủ Singapore thường xuyên rà soát các bài viết người dùng đăng tải trên Facebook và yêu cầu chỉnh sửa khi chính phủ này đánh giá rằng thông tin người dùng cung cấp là sai hoặc không chính xác; nếu người dùng không tuân thủ, Chính phủ Singapore có động thái làm việc với Facebook để thực hiện gỡ bỏ các bài viết trên. Tuy vậy, việc các chính phủ kiểm soát thông tin vẫn là một vấn đề rất gây tranh cãi.     “Khả năng đề kháng”     Tuy nhiên, mặc cho các nỗ lực của chính phủ và của các mạng xã hội, việc can thiệp trong quản lý thông tin và chống lại tin giả vẫn còn là một tương lai xa vời. Vậy thì làm sao các cơ quan truyền thông và người đọc có thể kháng cự lại tin giả?      Mạng lưới kiểm tra tính xác thực thông tin quốc tế (International Fact-Checking Network (IFCN)) của Poynter Institute, một trường đào tạo báo chí phi lợi nhuận ở Mỹ, là một trong nhiều nỗ lực từ phía các tổ chức báo chí trong việc hệ thống hóa từ cấp cơ sở việc kiểm chứng thông tin. Trong ảnh: Hội nghị  kiểm chứng thông tin (fact-checking) lần thứ sáu vào năm 2019 tại Nam Phi. Nguồn: Poynter Institute  GS Yochai Benkler, tại ĐH Harvard có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu luật pháp thông tin mạng từ những ngày đầu tiên của internet, nhận định rằng “khả năng đề kháng” tin giả phụ thuộc vào các yếu tố như mức độ phân cực chính trị và phân mảnh độc giả; mức độ tin tưởng vào các tổ chức hoạt động dựa trên lý lẽ và bằng chứng (như khoa học, luật pháp, tính chuyên nghiệp); quy định truyền thông chặt chẽ; có nguồn tài trợ công cho các phương tiện truyền thông chuyên tâm tìm kiếm sự thật một cách đáng tin cậy; và công chúng có học thức cao.    Một hệ thống truyền thông linh hoạt và có “tính đề kháng” cao có thể ngăn chặn sự phát tán tin giả theo hai quy tắc chính. Thứ nhất, môi trường truyền thông có tính đề kháng cao sẽ ngăn chặn được một lượng khán giả lớn mất niềm tin vào truyền thông chính thống và chuyển sang tiêu thụ thông tin từ các kênh truyền thông mang tính cổ vũ cái nhìn riêng của họ, dù các kênh truyền thông đó cố tình bóp méo sự thật. Thứ hai, một hệ thống truyền thông với sức đề kháng cao có cơ sở hạ tầng truyền thông chuyên nghiệp nghiêm túc áp dụng các nguyên tắc xác minh có trách nhiệm đối với tất cả các thông tin, dù các thông tin này được ồ ạt kéo đến từ các kênh truyền thông cũ hay mới. Cơ chế này tương tự như việc nếu cơ thể người có sức đề kháng với virus gây bệnh, lây nhiễm trong cộng đồng cũng giảm thiểu đáng kể.    Tuy nhiên, về phía người tiêu thụ thông tin, việc tìm cách giảm thiểu khả năng tiếp xúc với tin giả là chưa đủ, mà còn cần tới khả năng lập luận, phản bác, và góp phần tăng chất lượng thảo luận thông tin trong cộng đồng. Điều này phụ thuộc vào vấn đề giáo dục kĩ năng hiểu tin và những am hiểu cơ bản về truyền thông đa phương tiện nói chung. Trong một nghiên cứu xuất bản trên tờ American Behavioral Scientist, nhóm nghiên cứu từ Boston College và University of South Carolina tìm hiểu vai trò của các hiểu biết và kĩ năng về truyền thông (media literacy), thông tin (information literacy), tin tức (news literacy), và truyền thông số (digital literacy) trong việc giúp người tiếp cận thông tin phân biệt và đánh giá các thông tin sai lệch. Trong đó, kĩ năng thông tin, gồm khả năng tư duy, hiểu, tìm kiếm, và sử dụng thông tin hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất trong việc giúp người đọc chống lại tin giả. Kĩ năng thông tin cũng bao gồm khả năng phân biệt phát biểu mang tính thực tế và phát biểu mang tính ý kiến, nhận ra thông tin đã qua kiểm chứng và đáng tin, và biết cách tìm kiếm thông tin trên các cơ sở dữ liệu.     Nhìn từ góc độ tư duy sinh thái, ta có thể ví von tin giả, tin sai lệch, tin dắt mũi, là một phần không thể nào biến mất của môi trường thông tin đa phương tiện của thời đại chúng ta. Điều mà mỗi cá nhân cũng như các tổ chức chính trị – xã hội có thể làm trong việc sống chung với các thể loại thông tin có thể gây hại này là tăng cường sức đề kháng thông tin trong mỗi người bằng cách tăng cường giáo dục kĩ năng thông tin, truyền thông, tin tức, và truyền thông số. Khi mà bài toán về công nghệ và chính sách chống tin giả còn đang chưa có hồi kết, Việt Nam cần chú trọng đầu tư vào việc giáo dục các kĩ năng thông tin không chỉ cho thế hệ trẻ, mà còn hướng đến phổ cập cho toàn dân..    Các kĩ năng về thông tin, vốn được xem là nghiệp vụ đặc thù của các cán bộ khối truyền thông và báo chí, cần được giới thiệu gần gũi đến người dân để giúp tăng cường hành trang cho công dân Việt Nam trong bối cảnh mà internet và công nghệ thông tin đang ngày càng chi phối mạnh mẽ các khía cạnh kinh tế, xã hội và chính trị của cuộc sống. □  —-  1 Xem thêm các bài:  Tin giả: Không dễ định nghĩa https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Tin-gia-Khong-de-dinh-nghia-24187;  Tại sao tin giả thao túng xã hội? https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Tai-sao-tin-gia-thao-tung-xa-hoi–23069;  2 Tin sai lệch về sức khỏe trong bối cảnh Covid-19: https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Tin-sai-lech-ve-suc-khoe-trong-boi-canh-COVID19-Cac-dien-bien-phuc-tap-toan-cau-24221  3 Các công bố:  https://phys.org/news/2019-11-fake-news-healthcare-online-major.html  https://phys.org/news/2020-02-fake-news-disease-outbreaks-worse.htm    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang “Cuộc đào thoát vĩ đại”: Đâu là cái gốc của đói nghèo?      Dù ở cấp độ tư duy cá nhân hay cấp độ chính sách xã hội, trong môn kinh tế học nói riêng hay khoa học xã hội nói chung, chúng ta thường mắc kẹt vào những câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn lao: mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng, giữa thu nhập và sức khỏe, giữa sự thành công và lối sống (của cá nhân hay cả một dân tộc) v.v…      Angus Stewart Deaton, nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2015.  Trong tác phẩm “Cuộc đào thoát vĩ đại1” mang tính đúc kết sự nghiệp nghiên cứu uyên thâm bền bỉ của mình, nhà kinh tế đoạt giải Nobel (2015), Ngài Angus Stewart Deaton lần đầu tiên cung cấp một phân tích sáng rõ về các mối liên hệ nhằng nhịt giữa các vấn đề này.  Angus Deaton là nhà kinh tế gốc Scotland, mang cả quốc tịch Anh và Mỹ, dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp học thuật của mình tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông khởi đầu sự nghiệp với mối quan tâm sâu về kinh tế vi mô, nghiên cứu hành vi của đường cầu, và dành nhiều công sức cho việc thiết kế và phân tích các cuộc điều tra hộ gia đình.  Những khám phá về các hành vi của con người trong thực tiễn đã thúc đẩy ông đi tới các vấn đề phát triển căn bản như đói nghèo, ý tế, sức khỏe, bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế, v.v…. Đúng như kinh tế gia bậc thầy Robert Lucas (nhận giải Nobel Kinh tế năm 1995) từng nói, khi anh bắt đầu nghiên cứu về kinh tế phát triển, anh chẳng muốn tìm hiểu về cái gì khác nữa.  Trong cuộc phiêu lưu truy tầm câu trả lời cho những vấn đề phát triển căn bản nhất, như nguồn gốc của sự tăng trưởng, nguồn gốc của bất bình đẳng giữa các cá nhân và xã hội, Deaton đã dấn thân vào cuộc hành trình đi ngược lại toàn bộ quá trình phát triển của loài người, xuyên qua các nền văn minh và thời đại, sử dụng kiến thức liên ngành của nhiều môn khoa học.  Vì thế, tác phẩm này có hàm lượng tri thức được kết tinh và cô đọng cao độ, khiến người đọc, nhất là những người không chuyên, có thể thấy đôi chỗ mệt mỏi và choáng ngợp. Nhưng nỗ lực của bạn đọc sẽ được đền đáp xứng đáng, như bất kỳ một cuộc leo núi nào, khi bạn đứng trên đỉnh núi do mình tự chinh phục và hưởng làn gió mát trong lành tinh khiết chỉ có trên tầng cao khí quyển.  Sự vô nghĩa của thịnh vượng  Ý tưởng chính trong tác phẩm này, như Deaton chỉ ra, là nếp suy nghĩ rằng có thu nhập cao hơn sẽ mang tới sức khỏe tốt hơn, rằng xã hội thịnh vượng, giàu có hơn sẽ tự động mang lại tiến bộ nhân văn tốt hơn, chẳng hạn như một xã hội bình đẳng hơn, biết chia sẻ hơn, là một nếp suy nghĩ còn quá thô sơ.  Lối suy nghĩ này đã đưa tới một loạt chính sách phát triển gây lãng phí, và nhiều khi làm tổn thương con người và xã hội.Theo tác giả, chính tình trạng sức khỏe là yếu tố đầu tiên tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân về tuổi thọ, trí tuệ và khả năng làm việc, và dẫn tới sự thành công khác nhau ở mỗi cá nhân. Có rất nhiều nguyên nhân chi phối sức khỏe cá nhân, như nguồn gốc gia đình, thu nhập, tri thức, yếu tố bẩm sinh, và môi trường xã hội (yếu tố thể chế).  Điều này dẫn tới sự khác nhau (bất bình đẳng) ngày càng xa giữa con người. Sự thiết lập xã hội (thể chế) có thể nhằm duy trì sự bất bình đẳng tiếp diễn và liên tục được tái tạo, hoặc làm mềm khuynh hướng này, và qua đó tác động đến sức khỏe của mỗi cá nhân trong cộng đồng đó. Đến lượt nó, bất lợi sức khỏe của cá nhân sẽ giam hãm những người thiệt thòi hơn, kém dinh dưỡng hơn, ít tri thức hơn, trong một địa vị thấp kém hơn, được hưởng ít quyền lợi kinh tế- xã hội hơn và có một cuộc sống ngắn ngủi hơn.  Còn những người có lợi thế và may mắn hơn, tiếp tục được duy trì các đặc quyền trên tầng lớp cao hơn của xã hội. Một xã hội giàu có hơn, như Deaton chỉ ra, không nhất thiết mang lại phúc lợi đồng đều cho các thành viên của mình, và do đó, hố sâu ngăn cách giữa họ sẽ tăng lên nhanh chóng, và kết cục là xét về tổng thể, không nhất định bảo đảm sức khỏe bình quân của toàn xã hội được cải thiện.  Vì vậy, tăng trưởng kinh tế về lâu dài có thể không được duy trì. Chính những phát minh và khám phá mới trong khoa học và y tế đã giúp lan tỏa hiểu biết của con người về dinh dưỡng và điều trị bệnh tật, giúp thúc đẩy các xã hội tiên tiến cải thiện sức khỏe cho người dân của mình, và từ đó lan tỏa ra toàn nhân loại. Đây chính là cuộc Đào thoát Vĩ đại mà con người đã làm được trong hơn hai thế kỷ quá: thoát khỏi bệnh tật, yếu ớt, chết sớm và nhờ đó thoát khỏi đói nghèo.  Mỗi chương của cuốn sách này tập trung vào một chủ đề tương đối độc lập, và đem lại cho độc giả nhiều tri thức mới, đầy thú vị, qua mỗi trang sách. Chúng dẫn ta trở về thời nguyên thủy khi loài người còn săn bắt hái lượm. Vì khả năng bảo quản thức ăn kém nên con người phải chia sẻ toàn bộ thức ăn cho nhau, do dó họ có một xã hội khá quân bình và sức khỏe đồng đều. Rồi tác giả dẫn chúng ta tới xã hội nông nghiệp, một phát kiến lớn lao của nhân loại, nhưng cùng với nó là khả năng tích trữ lương thảo, vở bi kịch đầu tiên về sự bất bình đẳng giữa con người được trình diễn trên một sân khấu vĩ đại.  Tác giả cũng dẫn chúng ta hành trình qua đất nước Ấn Độ nghèo đói, đất nước Trung Quốc đang nỗ lực vươn lên, và nước Mỹ giàu có nhưng hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng mở rộng.  Một ví dụ sinh động và gây ấn tượng mạnh, về cách mà bất bình đẳng có thể kìm hãm tăng trưởng như thế nào, được tác giả phân tích trong trường hợp Ấn Độ. Đó là sự bất bình đẳng nam nữ ở phía Bắc Ấn Độ đã kìm hãm chiều cao của người phụ nữ, do họ được đầu tư về dinh dưỡng kém hơn nhiều so nam giới. Nhưng chính những người phụ nữ đó lại trở thành những người mẹ trong tương lai, sinh ra cả bé trai lẫn gái. Vì thế, các thế hệ tiếp theo, bất kể nam hay nữ, ở Bắc Ấn Độ có thân hình ngày càng nhỏ hơn so với người Nam Ấn Độ, nơi nam-nữ bình đẳng hơn nhiều, và chiều cao của họ cùng được cải thiện theo thời gian.  Viện trợ cũng có thể “giết chết” các nước nghèo  Bởi vì mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng kết nối với nhau qua mối liên hệ chí tử là tương quan sức khỏe của các cá nhân trong cộng đồng, thể chế trở nên một nhân tố đặc biệt quan trọng. Độc giả sẽ tìm thấy cây cầu thú vị nối cuốn sách này với tác phẩm “Vì sao các quốc gia thất bại” của hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và James Robinson .  Một lần nữa, thể chế giải thích vì sao, một quốc gia lại như chính nó đang là: hoặc là cùng một lúc đạt được thịnh vượng và công bằng dưới nền dân chủ, hoặc là cùng một lúc cùng quẫn trong đói nghèo và chật vật trong hố sâu phân biệt giàu-nghèo, dưới một chính quyền độc tài tham lam.  Từ đây, tác giả đi tới chương cuối cùng liên quan đến chủ đề viện trợ kinh tế. Ông cho rằng các khoản viện trợ từ các nước giàu có thực ra đa phần làm các nước nghèo tiếp tục bị giam cầm trong cùng quẫn.  Lý do là vì các nước nghèo vốn đã có một thể chế kém, một sự phân phối bất minh và lệch lạc về nguồn lực giữa các thành viên xã hội, nên khi có thêm các khoản viện trợ, các chính phủ cai trị có thêm nguồn lực để duy trì tình trạng hiện thời. Nếu không có các khoản viện trợ này, thì chính phủ phải thỏa hiệp nhiều hơn với người dân để có nguồn lực, và do đó, sẽ phải chấp nhận nhiều cải cách thể chế có lợi hơn cho người dân.  Tuy nhiên, Deaton không phủ nhận toàn bộ các nỗ lực viện trợ từ các nước giàu đến các nước nghèo. Ông cho rằng, nếu các nước giàu hỗ trợ trực tiếp để cải thiện sức khỏe người dân, đặc biệt ở những tầng lớp yếu đuối, thiệt thòi nhất, sẽ giúp giảm bất bình đẳng xã hội, giúp đất nước đó có tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội tốt hơn.  Hình ảnh quan trọng mà Deaton sử dụng trong suốt cuốn sách, về sự Đào thoát khỏi ngục tù của đói nghèo và yếu ớt, một lần nữa được lặp lại. Đó là những người đã thoát khỏi nhà ngục, luôn muốn quay lại cứu những người còn đang bị giam cầm. Nhưng cuộc Đào thoát chỉ có thể thực hiện được khi chính kẻ bị giam cầm mong muốn được thoát ra. Người đã tư do có thể tuồn cho tù nhân một miếng bánh, nhưng là để ăn mà lấy sức trèo tường ra, chứ không phải là ngồi ăn cho qua cơn đói mỗi ngày và thỏa mãn với miếng bánh miễn phí từ người bạn tốt bụng.  Tiếc thay, trong nhiều thập niên, rất ít quốc gia có thể dùng miếng bánh cứu trợ để lấy sức thoát ra khỏi đói nghèo.  ——-   1Nguyên tác: Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Nhà xuất bản Crown Business, 2012. Bản dịch “Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc của Quyền lực, Thịnh vượng và Nghèo khó” của Nguyễn Thị Kim Chi, Hoàng Thạch Quân và Hoàng Ngọc Lan, NXB Trẻ, 2013.     Author                Nguyễn Đức Thành        
__label__tiasang Cuộc điều tra về khói mù của Chai Jing      Khi phóng viên Chai Jing công bố bộ phim tài  liệu về ô nhiễm không khí tại Trung Quốc, có lẽ cô không dám mơ rằng  thông điệp của cô sẽ vang xa đến độ làm tăng vọt giá cổ phiếu của rất  nhiều các công ty thân thiện với môi trường như vậy.    Ngày 2 tháng 3 vừa qua, hơn một chục cổ phiếu trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm, giám sát chất lượng không khí và công nghệ xanh đã nhận được lợi nhuận rất lớn, trong đó nhiều loại cổ phiếu tăng khoảng 10% và chạm đến giới hạn giao dịch hằng ngày.  Trong số các công ty hưởng lợi nhiều nhất có Sail Hero, một công ty chuyên sản xuất thiết bị giám sát ô nhiễm; Top Resource Conservation Engineering, nhà cung cấp thiết bị năng lượng tái tạo; LongKing Environmental, nhà sản xuất các thiết bị khử lưu huỳnh dành cho nồi hơi và lò nung; và Create Technology & Science, nhà sản xuất máy lọc không khí dành cho công nghiệp và văn phòng.  Lý do khiến cổ phiếu của các công ty này được mua ồ ạt như vậy là do bộ phim tài liệu dài 104 phút nhằm đưa ra lời giải thích chi tiết về lịch sử, nguyên nhân và tác động của khói mù ở Trung Quốc. Được sản xuất độc lập bởi nữ phóng viên nổi tiếng Chai Jing, bộ phim “Beneath the Dome” (Phía dưới bức vòm) đã được phát hành trực tuyến vào cuối tuần trước đó, và chỉ đến sáng thứ Hai tuần sau đã có tổng cộng hơn 100 triệu lượt xem.Chai, người từng là phóng viên và người dẫn chương trình tại đài truyền hình nhà nước CCTV cho biết, cô đã quyết định điều tra vấn đề ô nhiễm không khí sau khi cô sinh một bé gái với khối u lành tính và cảm thấy lo lắng cho tương lai của con gái khi cô thấy chính mình bị mắc kẹt trong nhà và phải đeo mặt nạ khi ở ngoài trời vì nạn khói mù.  Trong thời gian một năm nghiên cứu và sản xuất bộ phim, Chai phát hiện ra rằng Trung Quốc đã bắt đầu trải qua mức độ ô nhiễm không khí nặng nề ngay từ đầu năm 2004, và cô lần ra được nguyên nhân của điều này là cùng với việc tiêu thụ ở mức độ cao những loại dầu mỏ và than đá có chất lượng thấp và không được làm sạch đúng cách, là các vụ bê bối của các cơ quan hành chính và cuộc chiến tranh giành quyền lợi giữa công nghiệp, việc bảo vệ lợi ích kinh tế và việc bảo vệ môi trường – nguyên nhân dẫn đến sự lỏng lẻo trong việc thực thi pháp luật liên quan đến môi trường ở Trung Quốc.              Bảo vệ môi trường không phải là một gánh nặng mà là một khởi điểm cho sự đổi mới công nghệ. Nó có thể làm tăng tính cạnh tranh, tạo ra công ăn việc làm và đẩy mạnh phát triển kinh tế. Chai Jing.             Chai minh họa kết quả của mình trong một bộ phim khách quan với phong cách diễn giảng tương tự chương trình TED nổi tiếng, trình bày các dữ liệu phong phú, các đoạn phim quay cảnh đi thăm các nhà máy, các cuộc phỏng vấn chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách và các chủ doanh nghiệp, trong đó các quan chức chính phủ đã công khai nói thẳng thắn về những thách thức trong việc bảo vệ môi trường. “Tôi thậm chí không dám mở miệng, bởi tôi e rằng mọi người sẽ thấy rằng chúng tôi không hề có răng”, một Vụ trưởng thuộc Bộ Bảo vệ môi trường đã phát biểu như vậy, có ý nhắc đến việc Bộ Bảo vệ môi trường thường được mô tả như là một “con cọp không răng” vì họ chẳng hề có quyền lực thực sự.  Rút kinh nghiệm từ Mỹ và Anh trong việc xử lý ô nhiễm không khí, Chai kêu gọi mọi người hãy từ bỏ quan điểm cho rằng việc bảo vệ môi trường là một việc làm vô ích (hoặc: là một trò chơi có tổng bằng không.) “Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế không hề mâu thuẫn với nhau,” cô phát biểu trong cuộc phỏng vấn với trang People.com, trang báo mạng trực thuộc tờ Nhân Dân Nhật Báo, nơi bộ phim tài liệu được công bố lần đầu tiên.“ Bảo vệ môi trường không phải là một gánh nặng mà là một khởi điểm cho sự đổi mới công nghệ. Nó có thể làm tăng tính cạnh tranh, tạo ra công ăn việc làm và đẩy mạnh phát triển kinh tế, “Chai cho biết. Cô nhấn mạnh thêm rằng chính phủ phải cho phép thị trường đóng vai trò chính trong việc phân bổ nguồn lực, đồng thời phải thực thi pháp luật một cách nghiêm ngặt để đảm bảo cạnh tranh công bằng trên thị trường – điều này có thể nhằm ám chỉ số tiền tỷ trợ cấp của chính phủ cho ngành công nghiệp dầu khi mà bộ phim tài liệu có đề cập đến.  Bộ phim tài liệu này đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt, mặc dù cũng có một số câu hỏi được đặt ra về tính độc lập và các giá trị khoa học của cuộc nghiên cứu. Chỉ qua một đêm, truyền thông xã hội đã tràn ngập tin tức về “Cuộc điều tra về khói mù của Chai Jing.” Trên mạng Weibo, phiên bản Twitter của Trung Quốc, chủ đề này đã có hơn 740.000 ý kiến và 330 triệu lượt xem. Bộ trưởng Bộ Bảo vệ môi trường, người vừa được bổ nhiệm chỉ một ngày trước khi bộ phim tài liệu được phát hành, cho biết ông đã nhắn tin cho Chai để tỏ lòng biết ơn đối với những nỗ lực của cô (hẳn là điện thoại của Chai lúc nào cũng bận nên ông đã không thể gọi điện trực tiếp cho cô).  Khả năng tác động đến chính sách của bộ phim này chỉ là một phần của những gì đã tạo ra làn sóng phản ứng mạnh mẽ đến vậy của các nhà đầu tư Trung Quốc. Vấn đề chống tham nhũng và bảo vệ môi trường là hai trong số những chủ đề chính trong chương trình nghị sự của Chủ tịch Tập Cận Bình. Bộ phim tài liệu được phát hành ngay trước cuộc họp thường niên của Đại hội nhân dân toàn quốc và Hội nghị Hiệp thương Chính trị, nơi các đại biểu đưa ra đề xuất, thảo luận và biểu quyết về chính sách. Tại các cuộc họp năm nay, các nhà đầu tư đang chờ đợi các cuộc thảo luận về quy chế quản lý ô nhiễm nguồn nước có tên gọi là “The Water Ten Points” tức Quy chế Mười điểm về Quản lý nước, thuế môi trường đánh trên các chất gây ô nhiễm và chất thải công nghiệp, và hạn ngạch về năng lượng tái tạo, theo đó mỗi tỉnh sẽ buộc phải tiêu thụ một mức tỷ lệ tối thiểu về năng lượng tái tạo – ông Thomas Tang, một nhà phân tích của Hong Kong tại Công ty Nomura cho biết như vậy.          Một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính 2,8 triệu cư dân đã chết bởi ô nhiễm không khí trong năm 2012 là những người sống ở Trung Quốc và ở quanh khu vực Tây Thái Bình Dương. Nguyên Bộ trưởng Y tế của đất nước này đã đưa ra con số những người bị giảm tuổi thọ do ô nhiễm không khí tại Trung Quốc lên đến từ 350.000 đến 500.000 người mỗi năm, trong khi một nghiên cứu khác đã đưa ra con số 1,2 triệu người chỉ riêng trong năm 2010.          Việc bộ phim tài liệu với những lời chỉ trích mạnh mẽ đối với các cơ quan nhà nước cũng như ngành công nghiệp dầu mỏ, lại có vẻ đã tiếp cận được các dữ liệu chính thức và các quan chức chính quyền – điều chưa từng có cho đến nay, nhưng vẫn được phép lưu hành rộng rãi trên Internet bất chấp những quy định chặt chẽ của nhà nước Trung Quốc, rõ ràng là dấu chỉ của sự ủng hộ từ những người có vị trí rất cao. Các nhà bình luận trực tuyến thậm chí còn ám chỉ đến vị trí của Tập Viễn Bình, em trai của Chủ tịch Tập Cận Bình, trong tư cách giám đốc của Hiệp hội quốc tế Bảo tồn năng lượng và Bảo vệ môi trường.“  Niềm tin của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố – sự hỗ trợ của chính phủ đối với việc bảo vệ môi trường và các công nghiệp liên quan, các chính sách thúc đẩy, và nhận thức được nâng cao của công chúng về các vấn đề môi trường”, ông Tang, nhà bình luận từ Công ty Nomura giải thích. Nhưng bộ phim tài liệu của Chai không tác động đến các nguyên tắc cơ bản của các cổ phiếu niêm yết, ông cho biết thêm.  Các cổ phiếu niêm yết tại Hong Kong được ghi nhận có mức tăng thấp hơn, trong khoảng từ 3-7%, vì hầu hết các công ty hoạt động trong lĩnh vực môi trường thường nhắm đến mục tiêu xử lý nước và chất thải rắn. Chính sách ưu đãi đầu tư khác nhau ở Trung Quốc và Hong Kong cũng có thể là một yếu tố.“Các nhà đầu tư cổ phiếu loại A có độ nhạy cao hơn đối với các chính sách kích thích trong khi các nhà đầu tư cổ phiếu loại H thường tập trung nhiều hơn vào các tác động thực sự trên các nguyên tắc cơ bản,” báo cáo tháng Hai của Công ty Nomura đã viết như thế.  Vũ Thị Phương Anh dịch   Nguồn: http://www.forbes.com/sites/hengshao/2015/03/02/only-in-china-why-a-smog-documentary-sends-chinese-stocks-soaring-beyond-trading-limit/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc đời con và giấc mơ lớn      Nhân bàn về các giải thưởng, một anh bạn nói với tôi: Nói chung thì giải thưởng làm vinh dự cho người nhận, nhưng cũng không hiếm có trường hợp người nhận làm vinh dự cho giải thưởng. Đó là những người quá cỡ mà kích thước của giải thưởng không trùm lên hết được, hoặc người đó đa diện mà giải chỉ trao cho một mặt nào đó…    Cũng có thể, tôi đáp, nhưng những người như vậy hiếm lắm. Hơn nữa, thường thì họ lại là những người sống lặng lẽ, ít biết đến người khác nên cũng ít được người khác biết đến. Loại quặng chìm đó… Ẩn dụ này bỗng làm tôi nhớ đến Nguyễn Văn Chiển, một trong những chuyên gia địa chất hàng đầu của Việt Nam, người vừa được giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005 cho các công trình…  Tôi đến nhà Nguyễn Văn Chiển ở E1 phường Bách Khoa. Ngôi nhà tập thể được làm bằng những tấm bê tông lắp ghép trước đây là mơ ước của nhiều người nay đã xập xệ. Và càng xập xệ hơn khi nó lọt thỏm vào giữa những ngôi nhà lớn, khang trang và hiện đại. Từ ngày bỏ bao cấp đến nay, tuy chưa có một thị trường chất xám thực sự, nhưng cuộc sống của những chuyên gia lao động đầu óc cũng khấm khá lên, thậm chí nhiều người phất hẳn. Còn người trí thức Nguyễn Văn Chiển thì vẫn vậy. Vẫn sạch sẽ với những tiện nghi tối thiểu. Mới hay, những ước mơ thường nảy sinh từ những mái nhà nghèo.  Nguyễn Văn Chiển là người không thích nói về bản thân mình, đặc biệt là thành tích của mình. Những điều tôi biết về ông là gián tiếp qua sách vở. Sau đây là một đoạn “lý lịch trích ngang” của ông: “Sinh năm 1919 tại thôn Ngọc Nội, xã Trạm Lộ, phủ Thuận Thành (Bắc Ninh). Sau khi đậu kỳ thi tú tài toàn Đông Dương, Nguyễn Văn Chiển đã vào học trường Cao đẳng Khoa học. Nhờ vậy, ông có dịp đi nhiều nơi trên đất nước để nghiên cứu về địa chất. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là một trong những người xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Năm 1951, với cương vị Hiệu trưởng trường Trung cấp Sư phạm Trung ương, ông được cử sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc để xây dựng Khu học xá Trung ương nhằm đào tạo cán bộ giáo dục. Ông còn là người có công lớn trong việc xây dựng Khoa Mỏ – Địa chất của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, tiền thân của Đại học Mỏ – Địa chất sau này và góp công sức rất lớn trong việc phát triển ngành khoa học non trẻ này của nước ta. Ông đã tham gia nghiên cứu hoặc chủ biên nhiều công trình khoa học rất có giá trị như Địa chất miền Bắc Việt Nam, Từ điển địa chất Việt Nam…  Tuy nhiên, khi nói đến khoa học thì lại khác. Đằng sau những ngôn từ điềm đạm, là sự sôi nổi, thẳng thắn của một người ở tuổi anh nhi. Ở Đông Dương các trường đại học đã có trước đó, nhưng Đại học khoa học thì mãi đến năm 1941. Thế chiến hai khiến con em người Pháp ở Việt Nam không thể về nước học các khoa học cơ bản được, nên họ mới lập trường này ở thuộc địa. Nguyễn Văn Chiển là một trong số những sinh viên đầu tiên của nhà trường. Ông theo học ngành địa chất. Cả khóa, ngoài sinh viên người Pháp ra, có 15, 16 người Việt Nam. Đa số theo học ngành này vì khoái đi dã ngoại. Nhưng rồi thú lên rừng xuống biển nhạt dần, việc học ngày càng trở nên khó nhọc hơn bởi phải thuộc nhiều nhớ lắm. Đến năm cuối, sĩ số chỉ vẻn vẹn còn có 3, 4 người, trong đó có Nguyễn Văn Chiển là người Việt Nam duy nhất. Vốn là người có tư duy toán lý, Nguyễn Văn Chiển có lúc cũng thấy nản không muốn chọn địa chất là nghiệp chính của mình. Ông bèn đi gặp vị thầy cũ của mình ở trường Bưởi. Hoàng Xuân Hãn nói: Anh nghĩ lại đi, giỏi toán như tôi mà cũng chưa làm gì được cho đất nước, giỏi lý như Ngụy Như Kom Tum cũng vậy. Chúng tôi không có phòng thí nghiệm, nên đành bó tay. Còn địa chất, sinh học thì cả nước ta là một phòng thí nghiệm bao la… chỉ sợ không có chí! Lời điểm hóa của giáo sư Hoàng Xuân Hãn làm Nguyễn Văn Chiển ngộ.  Năm 1944, sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Văn Chiển được ở lại làm việc ở phòng thí nghiệm của nhà trường. Cách mạng Tháng tám rồi kháng chiến chống Pháp làm ông phải tạm xa cái nghề địa chất của mình. Ông được cử đi dạy trung học, làm Hiệu trưởng trường Sư phạm đầu tiên, Tổng thư ký Ban Tu thư soạn sách giáo khoa cho giáo dục phổ thông. Sau khi Ban giải tán, ông được điều về làm Phó Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông. Ông từ chối chức vụ này để xin về làm việc tại phòng địa chất Đại học Bách khoa. Ông xây dựng và giảng dạy môn địa chất học cho đến khi về hưu, kể cả khi đã chuyển sang làm Viện phó Viện Khoa học Tự nhiên.  Nguyễn Văn Chiển vào nghề giáo dục một cách tình cờ, do “trên” phân công, nhưng tâm huyết và gắn bó với nghề. Ông là một mẫu nhà giáo thành đạt. Và, hình như, ngày nay mọi nhà giáo “đạt vi sư” đều là một nhà khoa học thực sự. Nguyễn Văn Chiển có cái may là nghề giáo của ông gắn liền với nghiệp địa chất mà ông là người duy nhất được đào tạo từ trước năm 1945. Nhưng duy nhất cũng dễ trở thành đơn độc nếu không biết tạo đàn, nhất là không phấn đấu để trở thành đầu đàn về mặt khoa học.  Có thể nói, ngành địa chất Việt Nam đã bước cùng với từng bước đi của Nguyễn Văn Chiển. Sau kháng chiến chống Pháp, ông phải tự học lại những gì mình có thể đã học. Tài liệu tiếng Pháp không có phải học tiếng Nga để đọc sách. Từ năm 1959, chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam lập bản đồ địa chất. Nguyễn Văn Chiển đã lấy nhiều cán bộ tốt nghiệp Bách khoa cùng làm việc với họ để vừa làm vừa học. Bản thân ông cũng đã phấn đấu không mệt mỏi để bảo vệ luận án Phó tiến sĩ Địa chất học vào năm 1963 ở Liên Xô…  Cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, là việc biên soạn các giáo trình địa chất học. Để làm được điều này, việc đầu tiên là phải xây dựng được hệ thống thuật ngữ. Đây có lẽ cũng là vấn đề chung của các nền khoa học đi chậm. Nhưng ở Việt Nam, một phần do đặc điểm đơn âm tiết của tiếng Việt, phần khác do cán bộ được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau nên khó thống nhất được những quy tắc quy chuẩn thuật ngữ. Điều này đòi hỏi óc sáng tạo và tinh thần độc lập. Các thuật ngữ chuyển từ tiếng Hoa sang âm Hán Việt là thuận lợi hơn cả: vừa dễ hiểu lại vừa đảm bảo được tính chuyên môn của thuật ngữ, ví như cổ sinh đại, trung sinh đại, tân sinh đại, đôi khi dùng tiếng Việt lại hợp lý hơn: đá bazan thay thế cho huyền vũ nham, học chữ Hán Việt nhưng không dùng nguyên: thạch học thay thế cho nham thạch học (chữ nham vừa thừa lại không đẹp chút nào), còn khoa học về đắc thì lại quá dài và không có tính thuật ngữ… Tuy vậy, cũng không thể tránh được trong nhiều trường hợp phải phiên âm từ tiếng Tây.  Cuộc đời khoa học của Nguyễn Văn Chiển có lẽ đắc ý hơn cả là ở hai công trình: Điều tra tổng thể Tây Nguyên và tập Bản đồ Quốc gia Việt Nam. Đề tài Điều tra tổng thể Tây Nguyên là một công trình nghiên cứu khoa học có tính tổng hợp. Công sức của nhiều nhà khoa học thuộc đủ các ngành, cả tự nhiên và xã hội, trong nhiều năm trời ròng rã. Từ những tư liệu thực tế và những khái quát khoa học, Điều tra đã đi đến kết luận rằng Tây Nguyên có 3 thế mạnh là rừng, cây công nghiệp và  chăn nuôi gia súc. Sự phát triển kinh tế – xã hội của Tây Nguyên không thể tách rời 3 thế mạnh này. Nhưng những kết luận khoa học ấy không phù hợp với những nhận định chủ quan của ai đó rằng Tây Nguyên có những năm chứ không phải ba thế mạnh: rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc và nông nghiệp, và công nghiệp. Hẳn họ nghĩ, thêm hai chân nữa, hẳn sự đi lên của mảnh đất này sẽ vững chắc hơn, toàn diện hơn. Do sự bất đồng trên, nên Hội nghị Báo cáo tổng kết chỉ được họp hạn chế ở Hà Nội chứ không họp rộng ở Tây Nguyên như đã dự kiến. Và kết quả của Điều tra không được phổ biến rộng rãi. Và điều gì phải đến đã đến. Việc phát triển mạnh (để trở thành thế mạnh) nông nghiệp và công nghiệp ở Tây Nguyên đã làm thu hẹp diện tích rừng, mất bãi chăn nuôi gia súc, làm suy thoái nghiêm trọng môi trường tự nhiên và xã hội khiến Tây Nguyên có nguy cơ đánh mất các thế mạnh kia.  Bản đồ Quốc gia Việt Nam lại có một số phận khác. Nói chung, Atlas quốc gia là một tập bản đồ tổng hợp các tri thức khoa học hiện thời về tự nhiên, con người xã hội, kinh tế, chính trị của một đất nước. Về bản chất, nó là một mô hình (phẳng, 2 chiều) của đất nước. Nó “phản ánh nhận thức sâu sắc về lãnh thổ toàn vẹn và thống nhất của Tổ quốc” (Võ Nguyên Giáp). Bởi vậy, mỗi một quốc gia đều phải có Atlas quốc gia để khẳng định tư cách quốc gia của mình.  Việt Nam, vào thế kỷ XV, đã có “Atlas quốc gia” đầu tiên, tập Hồng Đức bản đồ. Đến thế kỷ XIX (1834), lại có Việt Nam thống nhất toàn đồ. Đến những năm 70 của thế kỷ trước, Nguyễn Văn Chiển và một số nhà khoa học Việt Nam khác nhận thấy đã đủ điều kiện và số liệu điều tra trong nhiều lĩnh vực để thành lập Atlas quốc gia hoàn chỉnh, nên đã đệ trình kiến nghị lên Chính phủ. Năm 1981, Ủy ban Khoa học – Kỹ thuật Nhà nước cho triển khai Chương trình Nghiên cứu Khoa học Quốc gia “Xây dựng tập bản đồ tổng hợp quốc gia” do Nguyễn Văn Chiển làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập Ban Biên tập Khoa học của công trình. Năm 1986, 200 trang bản đồ ở dạng bản thảo tác giả, khổ 45 x 65,5cm được nghiệm thu. Đến năm 1990 thì được xuất bản.  Đây là một tập bản đồ khổ lớn, in đẹp và công phu, gồm 3 phần. Chương mở đầu có: Việt Nam nhìn từ vũ trụ, Việt Nam trên bản đồ thế giới, Việt Nam và các nước lân cận, Việt Nam hành chính, Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phần Tự nhiên gồm các chương sau: Địa chất, Địa hình, Khí hậu, Thủy văn, Thổ nhưỡng, Thực vật, Động vật, Biển Đông. Phần Kinh tế Xã hội gồm: Dân cư, Nông nghiệp, Công nghiệp, Giao thông – vận tải – Bưu điện – Thương nghiệp, Kinh tế chung, Giáo dục – Y tế – Văn hóa. Phần Thuyết minh gồm những bài viết khái quát về từng chương trong hai phần trên do những chuyên gia đầu ngành chấp bút. Bản thân Nguyễn Văn Chiển ngoài việc phụ trách chung cũng tự mình viết thuyết minh 2 chương là Địa chất và Biển Đông. Như vậy, Bản đồ Quốc gia Việt Nam, để có thể đến được với người đọc, đã phải trải qua một hành trình dài dặc bằng công sức của rất nhiều nhà khoa học có uy tín. Bởi thế, nó là một tác phẩm khoa học và văn hóa khắc họa được mô hình đất nước có lịch sử lâu đời đang xây dựng một xã hội phát triển, công bằng, dân chủ và văn minh.  Vậy mà, còn một vấn đề làm ông canh cánh, đứng ngồi không yên là khi bộ Bản đồ Quốc gia Việt Nam  được xuất bản, ông đã phát hiện ra nhiều chỗ “sai” và ông đã “lên tiếng”. Ví dụ tên của tác giả công trình thì xếp theo thứ tự ABC nên không hiểu ai làm gì và làm như thế nào. Buồn cười hơn nữa là 10 tác giả không có công trình, nhưng tự dưng tên của họ lại “lạc” vào đây, trong khi đó lại “quên” 74 người có công trình. Và còn nhiều sai sót khác.  Bây giờ, Nguyễn Văn Chiển đã là một ông lão đã trên tuổi 80, nếu sắm vai “lão giả an tri” thì cũng chẳng có ai chê trách gì, nhưng ông không đành. Qua việc học hành của cháu con trong nhà, ông thấy giáo dục hiện nay có nhiều vấn đề, từ sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy đến trình độ của trò, của thầy… Ông viết báo để cảnh tỉnh. Trò chuyện với người khác, ông cũng thường hay nhắc lại thời cắp sách của mình. Âu cũng là một hình thức đối chứng.  Nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt này, tuy là muộn nhưng còn hơn không. Ông nói, hơn là vì những công trình đó không phải của riêng tôi, mà công sức của bao nhà khoa học có tên nhưng vô danh khác, hơn là vì chúng tôi đã được thừa nhận. Sự thật cuối cùng đã chiến thắng.  Tuổi già như cây cao, muốn lặng gió mà gió chẳng đừng. Nhưng trong tiếng lá khua, tiếng răng rắc của cành cây bị gió vặn, người ta bỗng thấy được sức sống không vơi cạn của cây.  (Giấc mơ con đè nát cuộc đời con  Chế Lan Viên)  Đỗ Lai Thúy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cựu binh Mỹ trả mũ cối cho gia đình liệt sĩ Việt Nam      Chiếc mũ cối có khắc hình chim bồ câu vừa được một cựu binh Mỹ trả lại cho gia đình liệt sĩ Bui Duc Hung ở tỉnh Phú Thọ sau gần nửa thế kỷ.    Hãng tin AP cho biết, bốn cựu binh người Mỹ hôm qua trao trả chiếc mũ cối cho gia đình ông Hung trong một buổi lễ tại xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.  “Đây là khoảnh khắc rất thiêng liêng đối với gia đình chúng tôi”, Bui Duc Duc, người cháu 52 tuổi của liệt sĩ Hung nói.  Ông Duc bật khóc khi chiếc mũ được đặt lên bàn thờ trong nhà ông. Ngoài các cựu binh Mỹ, buổi lễ còn có sự chứng kiến của lãnh đạo địa phương và khoảng 100 người dân.  “Chúng tôi coi chiếc mũ là một phần của liệt sĩ Hung và sẽ coi đó là lời nhắc nhở tới các thế hệ tương lai trong gia đình”, ông Duc nói.  Năm 1968, một lính Mỹ trẻ tuổi tên là John Wast tìm thấy chiếc mũ cối có khắc hình chim bồ câu trong một lần truy lùng vũ khí và tình báo tại một chiến trường ở miền Trung của Việt Nam. Wast buộc chiếc mũ vào ba lô của mình và mang về nhà như một kỷ vật chiến tranh 5 tháng sau đó. Ngôi nhà của cựu binh Mỹ cũng là nơi chiếc mũ ở lại trong suốt 46 năm qua.  Một tổ chức từ thiện có tên gọi Development of Vietnam Endeavor Fund (Quỹ Nỗ lực Phát triển Việt Nam) gần đây tới gặp và hỏi Wast liệu ông có muốn để chiếc mũ trở về với gia đình người lính từng đội nó không. Cựu binh Mỹ đồng ý. Tổ chức này sau đó tìm được gia đình ông Bui Duc Hung, người hy sinh trong chiến tranh và hài cốt vẫn chưa được tìm thấy.  Wast, 67 tuổi, đang sống tại thành phố Toledo, bang Ohio, không quay lại Việt Nam, nhưng ông gửi một bức thư tới buổi lễ. Wast nói rằng liệt sĩ Hung đã chiến đấu “bằng sự khôn khéo và can đảm”.  “Đã tới lúc để tôi trả lại chiếc mũ cho những người biết và quan tâm tới Bui Duc Hung”, Wast nói. “Tôi làm việc này với ý nghĩ rằng tình yêu và hòa bình sẽ tìm đến với tất cả mọi người”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela qua đời      Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma ngày 5/12  tuyên bố ông Nelson Mandela, biểu tượng của cuộc chiến chống chủ nghĩa  phân biệt chủng tộc ở nước này và là một trong những nhân vật chính trị  xuất chúng trong thế kỷ 20, đã qua đời ở tuổi 95.    Tổng thống Zuma nói: “Ông ấy đã yên nghỉ nơi vĩnh hằng. Dân tộc chúng ta đã mất đi một người con vĩ đại”.  Tổng thống Zuma cho biết ông Nelson Mandela đã qua đời vào 20h50 phút tối 5/12 theo giờ địa phương. Nguyên thủ quốc gia Nam Phi nêu rõ đất nước ông và cộng đồng quốc tế đã mất đi một người con vĩ đại.  Theo kế hoạch, lễ tang cựu Tổng thống Nelson Mandela sẽ được cử hành theo nghi thức cấp nhà nước. Toàn nước Nam phi bắt đầu treo cờ rủ từ ngày thứ Sáu, 6/12 để tưởng nhớ “Người Cha của dân tộc” Nelson Madela.  Dư luận quốc tế ngay lập tức đã bày tỏ thương tiếc về sự kiện cựu Tổng thống Nelson Mandela qua đời. Tổng thống Mỹ Barack Obama ca ngợi “phẩm giá và tính kiên cường” của ông Nelson Madela, người mà ông đánh giá đã “hy sinh cả tự do của mình để giành lại tự do cho người khác”.  Tổng thống Obama tuyên bố: “Hôm nay, ông ấy đã đi xa và chúng ta mất đi một trong những người có ảnh hưởng nhất, can đảm và tốt đẹp nhất. Ông không còn ở bên chúng ta nữa mà đã trở thành người thiên cổ”.  Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon khẳng định: “Nhiều người trên thế giới đã chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh vì nhân phẩm, sự công bằng và tự do cho người khác của ông”.  Thủ tướng Anh David Cameron bày tỏ: “Một nguồn sáng vĩ đại đã tắt… Nelson Mandela là Anh hùng của thời đại chúng ta. Tôi đã yêu cầu treo cờ rủ tại số 10 (phố Downing – Dinh Thủ tướng Anh)”.    Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/cuu-tong-thong-nam-phi-nelson-mandela-qua-doi/233706.vnp        Hành trình dài trên đôi chân đi tới tự do’ của Madiba mang lại những ý nghĩa mới về can đảm, nhân cách, tha thứ, và nhân phẩm. Giờ đây hành trình dài của ông đã kết thúc, song tấm gương của ông đối với toàn nhân loại vẫn tiếp tục sống. Mọi người sẽ nhớ đến ông như một người tiên phong vì hòa bình.              Trên thế giới này có những con người thực sự dũng cảm mà nếu bạn gặp gỡ họ, bạn mãi mãi thay đổi sau trải nghiệm đó. Nelson Mandela vẫn là người hùng của Teresa, và là người đã truyền cảm hứng cho bà khi bà còn trẻ xuống đường tuần hành với các bạn cùng lớp của mình chống lại nạn phân biệt chủng tộc. Chúng tôi đã có vinh dự ngồi cùng với Mandela trong dịp lễ Tạ ơn năm 2007. Tôi thật ấn tượng về sự nồng ấm, cởi mở và thanh thản của ông. Tôi đã đứng trong xà lim cực bé của ông trên đảo Robben, một căn phòng hầu như không đủ không gian để nằm xuống hoặc đứng lên, và tôi được biết rằng ánh sáng chói từ các mỏ đá trắng đã vĩnh viễn làm hỏng thị lực của ông. Điều còn gây xúc động hơn nữa đó là thật phi thường sau 27 năm bị giam giữ, sau khi thị lực của ông bị suy yếu vì các điều kiện giam giữ, ông vẫn có thể nhìn thấy những lợi ích cao nhất của đất nước mình và thậm chí còn ôm các quản giáo đã canh giữ ông. Đó là câu chuyện của một người mà khả năng nhìn của ông không nằm trong đôi mắt mà nằm trong lương tâm của mình. Thật khó tưởng tượng được ai trong chúng ta có thể tập hợp được một nhân cách mạnh như vậy.              Nelson Mandela là một người không có sự oán ghét. Ông bác bỏ việc tố cáo để trả thù, thay vào đó ông ưu tiên việc hòa giải, và biết rằng tương lai cần chúng ta phải vượt qua quá khứ. Ông đã cống hiến tất cả những gì ông có để hàn gắn đất nước mình và lãnh đạo đưa đất nước trở lại với cộng đồng các quốc gia, bao gồm cả việc khẳng định ông sẽ rời bỏ quyền lực và đảm bảo sẽ có một sự chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Ngày nay, tất cả những ai trên thế giới khao khát dân chủ đều nhìn vào đất nước của Mandela và Hiến pháp dân chủ của đất nước đó và coi đó như một tấm gương hy vọng về những gì có thể đạt được.              Teresa và tôi cùng mọi người trên khắp thế giới xin tưởng nhớ cuộc đời của người đàn ông tuyệt vời này. Xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất của chúng tôi tới phu nhân của ông, bà Graça, tới gia đình ông, tới tất cả người dân Nam Phi cũng như tất cả những người hiện đang hưởng nền tự do mà Madiba chiến đấu cả đời mình để có được.    Ngoại trưởng Mỹ John Kerry               Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam              Author                Quản trị        
__label__tiasang Cứu trợ trong đại dịch: Một cách tiếp cận khác      Dù đại dịch đã khiến nhà nước đưa ra những gói cứu trợ lớn chưa từng có tiền lệ, nhưng chúng ta vẫn cần một cách thức cứu trợ khác với cách thức thông thường mà nhà nước vẫn làm. Chỉ như vậy mới giúp tránh được những bất ổn xã hội đang tiềm ẩn.  Đó là ý kiến của PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đời sống xã hội – Social Life (TP HCM) xung quanh vấn đề này.      TS Nguyễn Đức Lộc.  Đại dịch khiến cả triệu lao động phi chính thức, đặc biệt những người sống dựa vào nền kinh tế vỉa hè đô thị TP. HCM bị mất kế sinh nhai. Điều đó có tiềm ẩn những bất ổn xã hội trong tình thế căng thẳng chống dịch giữ từng chút một để không “vỡ trận”?    Với chính sách chống dịch hiện nay, các nguồn sống của cư dân lao động phi chính thức ở thành phố, nhất là các nhóm sống dựa vào nền kinh tế vỉa hè phải ngừng lại nhiều (theo ước tính của GS Annette Kim, vỉa hè cung ứng 30% việc làm cho TP. HCM, lao động phi chính thức theo các ước tính trước đây chiếm tới 40% tổng số lao động ở TP, phần lớn là những người di cư từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào và phía Nam đi lên, không đăng ký kinh doanh, không hợp đồng lao động, hầu hết chỉ là thỏa thuận miệng…– PV). Chợ dân sinh truyền thống phải đóng cửa, hàng quán tự phát, vỉa hè cũng đóng cửa vì được coi là những nhóm nguy cơ khó kiểm soát chuỗi di chuyển. Đợt giãn cách hơn một tháng qua càng làm cho họ kiệt sức, cuộc sống của họ khó khăn hơn gấp nhiều lần sau một năm rưỡi cầm chừng.     Trên cơ sở kinh nghiệm khảo sát trước đây và kết quả của các nghiên cứu hành vi những nhóm rơi vào ngưỡng sinh tồn, tôi nghĩ rằng, các nhóm yếu thế khó có thể đáp ứng được yêu cầu tiếp tục giãn cách xã hội. Có thể ngoài mặt họ buộc phải chấp nhận nhưng tìm cách trốn để tìm việc làm. Khi đói thì không thể hành động lý tính được nữa. Lúc đó không phải là tiềm ẩn dịch bệnh, mỗi người trở thành mắt xích lây lan không kiểm soát được, mà còn tiềm ẩn bất ổn xã hội nữa.    Đầu đợt dịch thứ tư, trong khảo sát về căng thẳng tâm lý của người dân do đại dịch ở TP. HCM và Bình Dương, chúng tôi phỏng vấn sâu ghi nhận nhiều ý kiến lo “hệ thống y tế Việt Nam khó có thể đảm bảo sức khỏe. Nếu nhiễm COVID thì chủ yếu bệnh viện tuyến đầu mới có đủ nhân lực và vật lực để điều trị”. Nhưng thực tế một năm qua, các nhóm lao động mất việc, đặc biệt là lao động tay chân, kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng “ráo mồ hôi là hết tiền”, không có dự trữ, tiết kiệm thì càng khó cầm cự nên không thể nghĩ xa hơn về nguy cơ dịch tễ được. Một vài dấu hiệu dễ nhận thấy như khi có lệnh Gò Vấp thực hiện chỉ thị 16 thì vẫn có những trường hợp trốn theo đường hẻm để đi làm, báo chí cũng phản ánh có những trường hợp lén bán ở chợ dân sinh tự phát1.     Không phải họ muốn trốn giãn cách, phản đối lệnh cấm chợ dân sinh, mà khi phải đối diện với ngưỡng sinh tồn thì không ai còn lo lắng gì cho những chính sách chung của thành phố, của quốc gia được.     Giải pháp cho điều đó là gì, thưa ông?    Một tháng qua giãn cách không đạt mục tiêu kiểm soát dịch nên TP. HCM đã quyết định sẽ tiếp tục giãn cách mà chưa biết khi nào kết thúc và sẽ càng khiến các nhóm lao động phi chính thức gặp khó khăn. Vì thế tôi đề xuất không coi đây là các nhóm nguy cơ mà phải coi đây là nhóm cần được bảo vệ bằng lưới an sinh. Không thể dùng giải pháp cấm, điều cần làm là tạo điều kiện cho người ta an tâm và khi ấy không cần cấm thì cũng tự động tuân thủ. Tôi cho rằng để chống dịch thì giải pháp tốt nhất vẫn là phòng vệ bằng an sinh xã hội. Nếu không thì giải pháp còn lại chính là máy thở và oxy tốn kém sinh mạng, nguồn lực không đủ đáp ứng, và gây khủng hoảng, bất ổn xã hội.      Trên cơ sở kinh nghiệm khảo sát trước đây và kết quả của các nghiên cứu hành vi những nhóm rơi vào ngưỡng sinh tồn, tôi nghĩ rằng, các nhóm yếu thế khó có thể đáp ứng được yêu cầu tiếp tục giãn cách xã hội. TS Nguyễn Đức Lộc       Chúng ta đã có một gói cứu trợ từ năm ngoái rồi?    Thực tế thì việc triển khai gói cứu trợ quá chậm, thông tin ngành lao động thương binh xã hội công bố trên truyền thông cho thấy mới chỉ giải ngân hơn 20% của gói 62 nghìn tỉ năm ngoái. Năm nay, TP và Chính phủ cũng đã có đề xuất hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng của dịch nhưng chúng ta cũng mất quá nhiều thời gian để bàn bạc các gói cứu trợ, từ lúc đề xuất đến lúc có quyết định cũng chính là thời gian giãn cách cả tháng đã trôi qua.   Từ trước đợt dịch thứ tư, theo đặt hàng của Ban Dân vận TP, Viện chúng tôi đã khảo sát đơn cử nhóm xe ôm công nghệ và thấy là họ không có bất cứ hệ thống phòng vệ nào, bảo hiểm xã hội không, tiết kiệm không, nhiều người đã vay nợ mua xe tiền lãi tới tháng phải trả, làm tới đâu có tiền tới đó thì làm sao nghỉ?     Với nhà quản lý, chính sách có thể chậm vài tuần, thậm chí một hai tháng nhưng với người lao động thì chỉ chậm một ngày đã đói rồi. Họ không chỉ nuôi mình mà còn nuôi con, nuôi cha mẹ mà không lao ra đường thì lấy gì sống. Trước tình hình này nếu vẫn đòi hỏi phải theo đuổi mục tiêu kép thì tôi e là khó thực hiện. Nếu giãn cách thì thà rằng bơm một gói cứu trợ dứt điểm 2 hoặc 4 tuần cho người dân ở nhà. Họ cần làm việc, cần có lương. Giờ từng ấy người phải cách ly tại nhà không có lương, không có lương thực thì sẽ trở thành một khối bức bối chực chờ.     Nhà nước phải hiểu đúng cách mà họ đang nghĩ thì mới tạo ra sự đồng lòng thực hiện các biện pháp giãn cách tuân thủ chống dịch cho tới lúc có vaccine được.     Tại sao cách thức cứu trợ trước đây lại không hiệu quả?     Mặc dù đã có những suy nghĩ đột phá so với trước đây nhưng nhà nước đang cứu trợ dựa trên những kênh mà nhà nước có, theo cách thức truyền thống, với những điều kiện “an toàn” chứ chưa có gì đột phá. Cách hỗ trợ trao tiền mặt như hiện nay vẫn cứng nhắc, sợ sai sót, đòi hỏi phải nắm được danh sách, đầy đủ các điều kiện như có hợp đồng lao động, có nơi cư trú ổn định. Những nhóm thường lưu động sống nhờ vào “kinh tế vỉa hè” mà mới đây TP và Chính phủ có kế hoạch hỗ trợ gồm bán hàng rong, buôn bán nhỏ lẻ trên đường phố, thu gom rác, phế liệu; bốc vác, xe ôm, bán lẻ vé số lưu động… sẽ rất khó đáp ứng điều kiện như phải có đăng ký tạm trú tại địa phương. Chỉ riêng con số này theo tạm tính của TP. HCM đã lên tới 230.000 người.     Cũng trong lần khảo sát tài xế xe công nghệ trước đợt dịch bệnh thứ tư, nhiều người cho chúng tôi biết họ không nhận được tiền cứu trợ, nhận tiền không đồng bộ – người có người không – tùy thuộc vào việc lập danh sách của các chính quyền cơ sở trong khi phần nhiều trong số họ không rơi vào nhóm nào trong các danh sách, hồ sơ hỗ trợ cả.    Trong cứu trợ đại dịch thì không thể đòi hỏi phải từng bước từng bước một thật cầu toàn, đây không phải là hình thức bảo trợ xã hội bình thường mà khẩn cấp như lũ lụt vậy, thậm chí còn căng thẳng hơn lũ lụt chứ. Vì quy mô người cần cứu trợ quá lớn, vì chỉ một vài nhóm không chịu nổi cái đói, vi phạm giãn cách là thành quả chống dịch đi tong, càng để lâu càng tiềm ẩn bất ổn xã hội. Khi cứu trợ lũ lụt chúng ta đâu có đòi hỏi điều kiện như vậy? Thậm chí không phải hỗ trợ bằng tiền, mà cứu đói bằng lương thực thực phẩm cũng được cơ mà?     Cách làm truyền thống chỉ bằng hệ thống hành chính hiện tại chưa thực sự hiệu quả thì liệu có cách thức nào khác bổ sung?     Trong thực tế, danh sách chính thức về cư dân của các cơ sở sẽ không thể bao quát hết các nhóm dân thường xuyên lưu động, ở những khu vực mà nhiều người ở trọ, di chuyển nhiều. Gần đây nhất, khi khảo sát về phúc lợi xã hội cho cho công nhân, chúng tôi sử dụng danh sách do địa phương cung cấp nhưng khi xuống tới nhà trọ thì có nơi 50% người trong danh sách đó đã chuyển đi nơi khác rồi. Cuối cùng chúng tôi phải kết hợp thêm cách sử dụng mạng lưới xã hội của chính người lao động để tìm thêm, kiểm tra lại danh sách.    Người ta hay nói là khó trong quản lý dữ liệu dân cư, nhưng trong cứu trợ thì thật ra không khó nếu kết hợp thông tin từ công an khu vực quản lý tình trạng cư trú, chủ nhà trọ, tập hợp danh sách với thu thập thông tin từ chính mạng lưới của người dân. Người lao động tự do không có nơi nào quản lý nhưng lại có mạng lưới xã hội của riêng mình, và cũng chính mạng lưới này giúp giám sát công tác cứu trợ rất tốt.     Mặt khác, nhà nước cũng không thể bao phủ hết mọi ngõ ngách, để giải ngân được hàng nghìn tỉ đồng ngay sẽ cần tới lực lượng các đoàn thể tại địa phương và nhân viên công tác xã hội rất lớn. Chính các nhóm thiện nguyện, các tổ chức xã hội vẫn đang tổ chức cứu trợ cho nhau, đùm bọc nhau lại có khả năng làm việc đó. Nên tính tới việc kết hợp công – tư trong công tác cứu trợ này, miễn là tất cả các bên có cơ chế công khai minh bạch, giám sát. Tại sao đã hợp tác công tư trong xây dựng, trong các nhiệm vụ chống dịch khác, mà lại không thể hợp tác công – tư trong cứu trợ theo nguyên tắc “hiệp lực”?  Có lẽ không thể có một siêu tổ chức nào để lo hết mọi thứ cho người dân trong xã hội. Trong khi đó, các nhóm đoàn thể khác nhau có thể tham gia vào những phần việc khác nhau trong công tác cứu trợ, để đỡ đẩy gánh nặng cho nhà nước.    Đây chính là dịp tốt để xây dựng lại lòng tin của xã hội trong công tác cứu trợ. Nếu như trong đợt lũ lụt, vốn xã hội và lòng tin xã hội bị suy giảm – thông qua các chỉ báo người dân không sẵn sàng góp tiền cho các kênh tổ chức đoàn thể mà lại đưa tiền cho các cá nhân đi cứu trợ thì dịp này nếu tổ chức cứu trợ tốt, lòng tin xã hội sẽ phục hồi.     Khác với năm ngoái hầu như sạch dịch trong cộng đồng, năm nay đại dịch đã cùng lúc lan vào nhiều thành phố, nặng nề dai dẳng nhất hiện nay là TP. HCM gây căng thẳng trong xã hội. Vậy tác động của dịch bệnh lên tâm lý xã hội ở đây, theo ông, là như thế nào?     Trong đợt bùng phát dịch lần thứ tư này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhanh về áp lực tâm lý của người dân trong đại dịch COVID-19 ở TP. HCM và Bình Dương với thang đo căng thẳng và thang đo lo sợ COVID (COVID-19 Stress Scale) đã được chuẩn hóa cho Việt Nam2 với số mẫu hơn 353 người. Một nửa số người trong các nhóm được hỏi, bao gồm lao động tự do, công nhân, nhân viên văn phòng, sinh viên, đều trả lời là có bị ảnh hưởng đến công việc (mất việc, giảm việc) do dịch bệnh. Họ lo lắng “không thể giữ cho gia đình mình an toàn trước virus” và “lo lắng hệ thống chăm sóc sức khỏe của Việt Nam sẽ không thể bảo vệ khi nhiễm virus” nhưng chỉ ở mức độ trung bình (trong thang đo từ 1 đến 5). Các triệu chứng căng thẳng do virus mà chúng tôi đã dự liệu trong thang đo căng thẳng như “dẫn tới khó ngủ, mơ xấu về virus, nghĩ về virus ngay cả khi không muốn nghĩ, bị xáo trộn tinh thần…”, phần lớn người tham gia khảo sát cho biết là hiếm khi xảy ra. Có thể cuộc khảo sát này được diễn ra ở giai đoạn đầu khi dịch mới bùng phát mạnh ở Bắc Giang, Bắc Ninh và mới có lác đác một hai ca ở TP. HCM chưa bùng phát những ở góc độ nào đó cũng phản ánh nỗi ưu tư của người dân là cơm áo gạo tiền hơn là lo nhiễm bệnh. Do đó cần phải cập nhật lại khảo sát bởi có một số kết quả sẽ khác với tình hình hiện nay.     Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!□    Thu Quỳnh thực hiện  —-  1 https://tuoitre.vn/nhieu-cho-tu-phat-o-tp-hcm-van-dong-duc-du-co-lenh-cam-20210620123216609.htm  2 Thang đo áp lực tâm lý trong đại dịch Covid-19 được tham khảo có hiệu chỉnh từ: Nguyen, T. M., & Le, G. N. H. (2021). The influence of COVID-19 stress on psychological well-being among Vietnamese adults: The role of self-compassion and gratitude. Traumatology, 27(1), 86–97. https://doi.org/10.1037/trm0000295    Author                .        
__label__tiasang Đa dạng hóa nguồn lực  bảo vệ môi trường biển Việt Nam      Hiện tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái  biển, ven biển và hải đảo Việt Nam đã và đang trong tình trạng suy thoái  nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường, khai thác hải sản hủy diệt, đô thị  hóa, sử dụng thiếu quy hoạch bãi triều, nuôi trồng hải sản, biến đổi khí  hậu, nước biển dâng, a xít hóa đại dương, giao thông hàng hải.    Biển Việt Nam có diện tích hơn 1 triệu km2, gần 3.000 hòn đảo và tài nguyên sinh vật biển có trên 20 kiểu hệ sinh thái, với năng suất sinh học cao, tài nguyên lớn, là nơi cư trú của khoảng 11.000 loài, trong đó trên 2.000 loài cá, đặc biệt có mặt các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn.   Năm 2002, Viện Tài nguyên quốc tế đã thống kê có tới 80% rạn san hô của Việt Nam đang trong tình trạng bị đe dọa (nguy hiểm), trong đó 50% nguy cấp. Hiện tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo Việt Nam đã và đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường, khai thác hải sản hủy diệt, đô thị hóa, sử dụng thiếu quy hoạch bãi triều, nuôi trồng hải sản, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, a xít hóa đại dương, giao thông hàng hải. Bởi vậy, cần áp dụng nhiều cách tiếp cận để bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phục vụ phát triển kinh tế bền vững.   Phương thức bảo vệ   Trên thế giới, các quốc gia có biển đang áp dụng nhiều phương pháp tiếp cận bảo vệ tài nguyên môi trường biển theo tiêu chuẩn quốc tế UNESCO, về công nhận di sản thiên nhiên và khu dự trữ sinh quyển như công nhận các khu đất ngập nước (RAMSAR-1971), các vịnh đẹp thế giới (WMBB-1997), kỳ quan thiên nhiên thế giới mới (N7W-2007), các khu biển đặc biệt nhạy cảm, Khu bảo tồn biển xuyên biên giới, Công viên đại dương hòa bình. Để tổ chức thực hiện việc bảo vệ tài nguyên biển người ta phân môi trường biển ra các vùng lõi, vùng đệm và cùng chuyển tiếp, để thực hiện các chính sách khác nhau. Tại các vùng lõi cần có chính sách bảo vệ, quản lí nghiêm ngặt, sau đó đến vùng đệm phải được hạn chế khai thác, vùng chuyển tiếp được khai thác.            Yêu cầu trước mắt là Nhà nước cần xây dựng Bảo tàng biển quốc gia tại Hà Nội và hệ thống bảo tàng biển, đảo tại các địa phương nhằm bảo vệ tất cả lịch sử phát triển, tài nguyên thiên nhiên và sinh thái môi trường khu vực biển và hải đảo Việt Nam, phục vụ công tác phổ biến kiến thức và nghiên cứu khoa học, trao đổi hiện vật và hợp tác quốc tế về các công tác bảo tàng, bảo tồn tài nguyên, môi trường biển.          Trong phạm vi quốc gia, Việt Nam đã được quốc tế công nhận 1 di sản thế giới – Vịnh Hạ Long; 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới (rừng ngập mặn Cần Giờ – năm 2000, quần đảo Cát Bà – năm 2004, đồng bằng sông Hồng -năm 2004, ven biển và biển đảo Kiên Giang – năm 2006, Cù Lao Chàm – năm 2009, mũi Cà Mau – năm 2009); 3 vịnh đẹp (Hạ Long, Lăng Cô, Nha Trang); đã thành lập được hệ thống 7 vườn quốc gia (Cát Bà, Côn Đảo, Bái Tử Long, Phú Quốc, Xuân Thủy, Núi Chúa, Mũi Cà Mau); 4 khu bảo tồn thiên nhiên (Tiền Hải, Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Rạn Trào); 16 khu bảo tồn biển quốc gia (Đảo Trần, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Sơn Trà Hải Vân, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Mun, Hòn Cau, Phú Quý, Núi Chúa, Côn Đảo, Nam Yết, Phú Quốc). Đặc biệt, hình thức mới bảo vệ môi trường biển dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn biển cấp tỉnh (Rạn Trào, Khánh Hòa), do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) – một Tổ chức phi Chính phủ cùng với cộng đồng dân cư địa phương thiết lập nên từ năm 2001 rất hiệu quả. Đến nay, rạn san hô đã phục hồi tới 60% so với trước đây.   Hiện công tác quản lý và pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ. Việt Nam đã ký kết các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường biển như Luật Biển UNCLOS 82; Công ước đa dạng sinh học; Công ước di sản; Công ước Ramsar; các Công ước MARPOL, SOLAS, COLREG… nhưng chưa có Luật Bảo vệ tài nguyên môi trường biển mà chỉ có Nghị định của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển. Các hoạt động liên quan đến biển và bảo vệ tài nguyên biển chủ yếu được điều tiết theo các luật chuyên ngành, như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng Sinh học, Luật Thủy sản, Luật Du lịch, Luật Hàng hải, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản, Quyết định về việc phê duyệt Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 và các chương trình bảo vệ môi trường khác.   Thêm vào đó, các Bộ, ngành quản lý còn chồng chéo, Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý các khu RAMSAR, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý các khu bảo tồn biển và vườn quốc gia, các khu khác chủ yếu do địa phương quản lý. Nguồn lực và kinh phí của các khu bảo vệ biển thường có hạn, cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ và thông suốt.   Một số đề xuất  Căn cứ vào thực trạng khai thác, bảo tồn và những yêu cầu cấp bách về việc bảo vệ, phát triển tài nguyên môi trường biển Việt Nam, một số phương pháp tiếp cận bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường biển trong thời gian tới được đề xuất. Ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần sớm xây dựng cơ chế chính sách, pháp luật đồng bộ về bảo vệ tài nguyên môi trường biển. Một Tổ chức cấp quốc gia thống nhất để quản lý và quy hoạch các khu bảo tồn – bảo vệ tài nguyên môi trường biển cần được thành lập.   Bên cạnh đó, cần phải đẩy mạnh việc mở rộng diện tích các khu biển của Việt Nam được bảo vệ, bảo tồn ít nhất lên 2% chứ không chỉ 0,2% như hiện nay, trong đó cập nhật bổ sung và đa dạng hóa các phương pháp tiếp cận mới như xây dựng “Công viên biển”, “Di sản biển”, “Kì quan biển”, “Vùng biển nhạy cảm”, “Vùng biển đặc biệt”, “Khu bảo tồn cá heo”, “Khu bảo vệ bờ biển”, “Khu bảo tồn san hô”, “Khu rừng ngập mặn”, “Khu cỏ biển”, “Khu bảo vệ biển dựa vào cộng đồng”….   Ở lĩnh vực hợp tác quốc tế, cần tích cực hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, các tổ chức, quỹ phi Chính phủ trong việc xây dựng các khu bảo tồn biển xuyên biên giới với các nước láng giềng có biên giới biển chung như Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia… Đối với các vùng biển chủ quyền rõ ràng, có thể đề xuất thành lập các khu biển đặc biệt nhạy cảm (PSSA) với các quốc gia láng giềng, còn các vùng tranh chấp có thể áp dụng công cụ Công viên biển hòa bình (MPP).   Để thực hiện mục đích trên, yêu cầu trước mắt là Nhà nước cần xây dựng Bảo tàng biển quốc gia tại Hà Nội và hệ thống bảo tàng biển, đảo tại các địa phương nhằm bảo vệ tất cả lịch sử phát triển, tài nguyên thiên nhiên và sinh thái môi trường khu vực biển và hải đảo Việt Nam, phục vụ công tác phổ biến kiến thức và nghiên cứu khoa học, trao đổi hiện vật và hợp tác quốc tế về các công tác bảo tàng, bảo tồn tài nguyên, môi trường biển.   Ngoài ra, Nhà nước cũng cần xây dựng ngân hàng bảo tồn gene các sinh vật biển nguy cấp, quý, hiếm. Không phải quốc gia nào cũng có biển và tài nguyên môi trường biển. Chúng ta cần ý thức, đánh giá đúng vai trò và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này. Đa dạng hóa và áp dụng nhiều phương thức bảo vệ tài nguyên và môi trường biển là công việc thiết thực và hiệu quả để góp phần vào việc khai thác, sử dụng, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quý giá phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước.   —-    Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Đã quá muộn để phát triển bền vững      Trong cuộc trả lời phỏng vấn mới đây, Dennis Meadows, một trong những tác giả của báo cáo gây chấn động cách đây 40 năm mang tựa đề Các giới hạn tăng trưởng, cho rằng đã quá muộn khi nói về phát triển bền vững.       Tháng 3/1972, một nhóm chuyên gia của Đại học MIT, trong đó có Dennis Meadows, đã công bố một báo cáo gây chấn động mang tựa đề Các giới hạn tăng trưởng, trong đó cảnh báo rằng nếu xu hướng gia tăng dân số, công nghiệp hóa, ô nhiễm, sản xuất lương thực, và khai thác tài nguyên, vẫn cứ tiếp tục thì không tránh khỏi dẫn tới một thời kỳ suy thoái trong vòng 100 năm, khi dân số bị sụt giảm, kinh tế đi xuống, và môi trường sống sụp đổ.   Trải qua bốn thập kỷ, cuốn sách Các giới hạn tăng trưởng đã bán được hơn 10 triệu bản trên 30 ngôn ngữ khác nhau, là một trong những tài liệu nghiên cứu về môi trường kinh điển trong thế kỷ 20. Tháng 3/2012 Câu lạc bộ Rome và Viện Smithsonian đã tổ chức kỷ niệm nhân dịp báo cáo tròn 40 năm. Tại lễ kỷ niệm, trả lời phỏng vấn của nhà báo Megan Gambino, Dennis Meadows cho rằng đã quá muộn khi nói về phát triển bền vững. Dưới đây là toàn văn cuộc phỏng vấn.  Từ  năm 1970 đến năm 1972, ông và 15 người khác đã nỗ lực thực hiện nghiên cứu với công trình Các giới hạn tăng trưởng. Vậy đâu là những mục tiêu mà các ông đặt ra khi bắt đầu dự án này?  Jay Forrester, vị giáo sư lâu năm của MIT (Học viện công nghệ Massachusset) đã xây dựng mô hình lí thuyết chỉ ra mối quan hệ giữa năm yếu tố tăng trưởng then chốt toàn cầu: dân số, tài nguyên, ô nhiễm, sản xuất lương thực và hoạt động công nghiệp. Mục tiêu của chúng tôi là tập hợp các dữ liệu để kiểm tra mô hình lý thuyết này và tìm hiểu kỹ hơn. Chúng tôi muốn hiểu nguyên nhân và hậu quả của quá trình tăng trưởng mang tính vật chất đối với hành tinh của chúng ta trong khoảng thời gian 200 năm, từ 1900 đến 2100.    Căn cứ trên kết quả chạy mô hình dưới kịch bản “tiêu chuẩn”, hay còn gọi là kịch bản “duy trì kinh doanh sản xuất như bình thường” (“business-as-usual”), các ông đã dự đoán rằng chúng ta có thể vượt quá khả năng chịu đựng của hành tinh và sự sụp đổ sẽ xảy ra vào giữa thế kỷ 21. Vậy khái niệm sụp đổ ở đây nghĩa là như thế nào?  Dữ liệu từ mô hình phân tích trên quy mô thế giới cho thấy, nếu chúng ta không có những thay đổi lớn sớm – từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước – thì trong giai đoạn 2020 – 2050, các đại lượng như dân số, công nghiệp, lương  thực, và các đại lượng khác sẽ đạt đến ngưỡng cực đại và sau đó bắt đầu tụt dốc. Đấy là cái mà chúng tôi gọi là sụp đổ.          Việc chúng ta đi quá ngưỡng chịu đựng của  hành tinh, nói ngắn gọn, cũng giống như việc chúng ta có thể tiêu pha  nhiều hơn mức thu nhập của mình trong một giai đoạn ngắn nhất định nếu  trước đó chúng ta đã tiết kiệm trong một khoảng thời gian dài. Nhưng  cuối cùng thì chúng ta sẽ tiêu hết sạch số tiền trong tài khoản ngân  hàng của mình, và trở nên bế tắc.        Trong cuộc sống thực, chúng ta không biết chắc sự sụp đổ diễn ra thế nào. Cũng như khi chúng ta đang ở San Francisco và biết rằng sẽ có một trận động đất khiến các tòa nhà sụp đổ. Nhưng cụ thể thì tòa nhà nào sẽ sụp đổ và đổ vào đâu? Chúng ta không có cách gì để biết chắc câu trả lời.  Tương tự như vậy, chúng ta biết rằng trong tương lai năng lượng, lương thực, và tiêu thụ vật chất chắc chắn sẽ tụt dốc, với nguyên nhân nhiều khả năng là rất nhiều các vấn đề xã hội mà chúng tôi không mô hình hóa trong phân tích của mình. Nếu các tham số vật chất này của trái đất suy giảm thì rõ ràng không có cơ hội để có thể gia tăng được tự do, dân chủ, và nhiều những giá trị phi vật chất khác mà chúng ta coi trọng.  Làm thế nào các ông tính được khả năng chịu đựng của hành tinh?  Khả năng chịu đựng của hành tinh liên quan đến tất cả các vấn đề khoa học, kĩ thuật và triết học. Mathis Wackernagel (nhà kinh tế Thụy Sỹ, người vận động cho phát triển bền vững) và các đồng nghiệp của ông đã có được nghiên cứu tốt nhất cho việc giải quyết các vấn đề khác nhau này để đưa ra được những con số cụ thể. Mathis đã đưa ra khái niệm đươc gọi là dấu ấn tác động sinh thái toàn cầu (global ecological footprint). Về cơ bản, nó quy đồng tất cả năng lượng và vật chất mà loài người sử dụng hàng năm từ các nguồn tài nguyên không tái tạo [như dầu hỏa] và đưa ra giả thuyết rằng bằng cách này hay cách khác chúng sẽ được bù đắp từ các nguồn năng lượng tái tạo được [như gỗ và mặt trời]. Từ đó, nó so sánh mức tiêu thụ hiện tại của chúng ta với mức tái tạo được của trái đất.   Điều lý giải việc chúng ta đi quá ngưỡng chịu đựng của hành tinh, nói ngắn gọn, cũng giống như việc chúng ta có thể tiêu pha nhiều hơn mức thu nhập của mình trong một giai đoạn ngắn nhất định nếu trước đó chúng ta đã tiết kiệm trong một khoảng thời gian dài. Nhưng cuối cùng thì chúng ta sẽ tiêu hết sạch số tiền trong tài khoản ngân hàng của mình, và trở nên bế tắc. Đấy chính là những gì đang xẩy ra với chúng ta trên toàn cầu. Chúng ta đang sống nhờ vào khoản tiết kiệm tích lũy của tự nhiên, về đa dạng sinh học, nhiên liệu hóa thạch, đất hoa màu và nước ngầm, để rồi khi tiêu dùng hết [khoản tiết kiệm này của thiên nhiên], chúng ta sẽ buộc phải cắt giảm mức tiêu thụ, về đúng trong phạm vi thu nhập hàng năm của mình.  Như mô tả trong bài báo của tờ Washington Post vào năm 1972,  ông và các  đồng nghiệp đã “bị mọi người xua đuổi như những kẻ lập dị.” Vậy đâu là những luận điểm chính phản biện lại nghiên cứu của các ông?          Chỉ thay đổi về công nghệ là chưa đủ để ngăn  chặn sụp đổ. Cần thiết phải có những thay đổi về xã hội và văn hóa.  Chúng ta cần ổn định dân số, cần chuyển xu hướng chú trọng tiêu dùng  hàng hóa vật chất sang khu vực phi vật chất.        Chúng tôi đã bỏ qua cơ chế giá và thị trường trong mô hình của mình. Và chúng tôi đã đánh giá thấp tốc độ của tiến bộ công nghệ. Có thể nói đó là hai luận điểm phản biện cơ bản. Chúng tôi đã nhìn nhận thế giới một cách tổng thể, nhưng mọi người đã chỉ ra một điểm rất xác đáng rằng thế giới không đồng nhất. Trên thế giới có một số lượng lớn các khu vực và văn hóa khác nhau. Những yếu tố này đã bị bỏ qua trong mô hình của chúng tôi. Chúng tôi bỏ qua vì cho rằng vai trò của chúng không tạo ra khác biệt đối với kết luận chính của chúng tôi. Nhưng những người phê phán chúng tôi không nghĩ như vậy.     Giới truyền thông chỉ chú tâm vào sụp đổ và sự bi quan. Nhưng báo cáo “các giới  hạn tăng trưởng” cũng bao gồm cả những kịch bản lạc quan với một tương lai ổn định và bền vững. Các giả định nào đã đem lại khác biệt ở những kịch bản này?  Chúng tôi đã sử dụng mô hình như một cơ sở để thử nghiệm, giống như khi chúng ta thiết kế máy bay và cho các mô hình bay thử trong các đường hầm đầy gió để thử nghiệm các thiết kế khác nhau. Chúng tôi đã thử nghiệm với hàng loạt các thay đổi khác nhau để xem cái gì có thể ngăn chặn sự sụp đổ. Chúng tôi đã bắt đầu với những giả định về thay đổi công nghệ làm tăng năng suất nông nghiệp, giảm ô nhiễm, tăng nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên, v.v. Và điều mà chúng tôi nhận ra là chỉ thay đổi về công nghệ là chưa đủ để ngăn chặn sụp đổ. Cần thiết phải có những thay đổi về xã hội và văn hóa. Chúng ta cần ổn định dân số, cần chuyển xu hướng chú trọng tiêu dùng hàng hóa vật chất sang khu vực phi vật chất – tình yêu, tự do, tình bạn, sự thấu hiểu bản thân, và những gì tương tự.  Khi đó ông lạc quan ở mức độ nào về một xã hội sẽ thay đổi theo hướng bền vững?  Năm 1972 và một thời gian sau đó tôi đã rất lạc quan.Tôi đã lạc quan một cách ngây thơ. Tôi đã chân thành tin vào cái mà tôi gọi là “mô hình thực thi tại bậc cửa”. Nghĩa là, sau khi  tiến hành nghiên cứu, ta nhận ra được “sự thật”. Ta đặt nó ở bậc cửa của nhà lãnh đạo, và khi anh ta bước ra vào buổi sáng, anh ta nhìn thấy nó, và thay đổi hành vi của mình. Toàn bộ nhóm của tôi đã làm việc rất nhiều. Chúng tôi cũng đã viết cả những cuốn sách khác. Chúng tôi đã xây dựng các tài liệu giảng dạy. Nhiều người trong chúng tôi đã tham gia giảng dạy trong nỗ lực giúp  tạo ra những thay đổi mà chúng tôi cho là sẽ đến.  Tới nay, ông không còn cho rằng phát triển bền vững là có thể. Vậy ông định nghĩa thuật ngữ này ra sao?  Khi sử dụng thuật ngữ “Phát triển bền vững” – thuật ngữ mà thực ra tôi cho là tự mâu thuẫn — thì tôi cố gắng biểu đạt một ý nghĩa phù hợp với cách hiểu của đại đa số mọi người. Ở chừng mực mà tôi có thể nói, những ai sử dụng thuật ngữ phát triển bền vững, ý của họ cơ bản là một pha của sự phát triển mà ở đó người giàu vẫn cứ giàu, nhưng mọi người nghèo đều vẫn có thể bắt kịp. Hoặc là, người ta vẫn có thể tiếp tục duy trì hoạt động [khai thác và tiêu thụ] như bình thường, nhưng nhờ vào phép màu công nghệ mà thiệt hại cho môi trường giảm bớt, và tiêu tốn ít tài nguyên hơn. Nhưng dù hiểu theo cách nào thì cũng chỉ là ảo tưởng. Cả hai đều không còn khả thi nữa. Có thể vẫn còn khả thi vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, nhưng đến giờ thì không. Chúng ta hiện đang khai thác ở mức 150% khả năng chịu đựng của trái đất.    Vậy khi nào thì niềm tin của ông về phát triển bền vững thay đổi?          Ví dụ về sự đổ vỡ của các doanh nghiệp ảo  trên internet (dot-com bust) và sau này là vụ đổ vỡ bất động sản năm  2008 đã cho thấy sự hiểu biết và cách thức mà chúng ta xử lý các bong  bóng là thô sơ tới mức khó tin như thế nào. Các giới hạn tăng trưởng  tuyệt đối nhấn mạnh đến hiện tượng bong bóng, bong bóng trong dân số,  trong tiêu thụ vật chất và năng lượng.        Từ những năm 90 quan điểm của tôi đã bắt đầu thay đổi. Nhưng nó trở nên chắc chắn chỉ mới bốn, năm năm trở lại đây khi tôi nhận thức rõ rằng chúng ta không còn cơ hội để giải quyết các vấn đề này một cách có trật tự. Tôi nghĩ rằng ví dụ về sự đổ vỡ của các doanh nghiệp ảo trên internet (dot-com bust) và sau này là vụ đổ vỡ bất động sản năm 2008 đã cho thấy sự hiểu biết và cách thức mà chúng ta xử lý các bong bóng là thô sơ tới mức khó tin như thế nào. Các giới hạn tăng trưởng tuyệt đối nhấn mạnh đến hiện tượng bong bóng, bong bóng trong dân số, trong tiêu thụ vật chất và năng lượng.  Thay vì tăng trưởng ông nghĩ ta phải làm gì sắp tới để có được sự tiến bộ?  Khắp thế giới, người ta đang xây dựng các chỉ tiêu mới về sự phồn vinh quốc gia, và các chỉ tiêu này tinh tế hơn chỉ tiêu GNP (tổng sản lượng quốc nội). Điều khôi hài là, những người phát minh ra khái niệm GNP đã khuyến nghị rất rõ rằng cần thận trọng khi sử dụng nó như một chỉ số cho thành công. Thế nhưng biết làm sao được khi chúng ta đã quen dùng nó [một cách sai lệch]. Chúng ta cần bắt đầu nhìn vào các nhân tố khác. Ví dụ như ở Mỹ, chúng ta có lượng tù nhân cao nhất thế giới tính trên đầu người. Chúng ta là nước nợ lớn nhất. Tính bình đẳng cơ hội trong xã hội (social mobility) ở nước ta thấp hơn nhiều so với các nước công nghiệp khác. Khoảng cách giàu và nghèo đang lớn hơn. Chúng ta đang có rất nhiều vấn đề, và một chỉ số đo lường hiệu quả hơn thành công của quốc gia sẽ giúp phản ánh những vấn đề này, định lượng chúng, và kết hợp lại theo một cách nào đó.  Ông nhấn mạnh đến sự cần thiết của khả năng phục hồi. Ý ông muốn nói gì?  Trên lí thuyết, phục hồi là khả năng của hệ thống hấp thụ những cú sốc và tiếp tục hoạt động. Trên thực tế thì điều này có nghĩa như thế nào? Đã có nhiều nghiên cứu tương đối đầy đủ xung quanh vấn đề phục hồi tâm lí. Cộng đồng y học đã thử tìm hiểu cái gì có khả năng cho phép con người tiếp tục duy trì tồn tại sau khi trải qua mất mát, ví dụ như  khi mất người thân, bệnh tật trầm trọng, hoặc mất việc làm. Đặc biệt từ sau cơn bão Katrina, đã bắt đầu có một lĩnh vực nghiên cứu khả năng phục hồi của cộng đồng, hoặc khả năng của một thành phố hay một cộng đồng xã hội hấp thụ các cơn sốc và tiếp tục duy trì vận hành, đáp ứng được như cầu từ các thành viên của nó.   Ở đây, tôi muốn nói đến sự phục hồi mang tính lâu dài. Tôi muốn nói về sự thích nghi với việc mất đi vĩnh viễn nguồn năng lượng giá rẻ, hoặc sự thay đổi khí hậu một cách vĩnh viễn, và làm thế nào để chúng ta, ở cấp cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng, và ở cấp quốc gia, có thể đảm bảo rằng – mặc dù chúng ta không biết chính xác điều gì sẽ xảy ra – chúng ta sẽ có khả năng phải vượt qua thời kì khó khăn đó mà vẫn đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của mình.    Trong các chuyên gia bàn về tình hình tăng trưởng hiện nay và dự đoán cho tương lai, ai là người mà ông cho là thật sự đáng quan tâm?  Đối với tôi, Lester Brown [nhà phân tích môi trường và tác giả cuốn World on the Edge] luôn cung cấp những hiểu biết rất hữu ích về những vấn đề chính của các hệ thống lương thực. Ông đã chỉ ra rằng bây giờ tại đa số các khu vực trên thế giới, chúng ta đang khai thác nước ngầm quá mức. Một số trong các tầng nước ngầm không được tái tạo; chúng ta gọi đó là nước hóa thạch, còn những tầng khác thì tốc độ tái tạo khá chậm. Vì vậy chẳng bao lâu nữa sẽ đến thời điểm khi việc sử dụng các tầng nước ngầm đó sẽ không thể nhiều hơn lượng nước được tái tạo hằng năm. Điều này có nghĩa là trong tương lai chúng ta buộc phải chịu mất đi lượng lương thực đang được sản xuất theo cách dùng quá nhiều nước như hiện nay, hoặc phải chuyển sang sản xuất bằng phương pháp phác. Đây là một luận điểm rất thuyết phục của Brown.  Trần Đức Lịch dịch theo  http://www.smithsonianmag.com/science-nature/Is-it-Too-Late-for-Sustainable-Development.html#            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặc khu kinh tế cần gì?      Đặc khu kinh tế thực chất chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, mà phần “chìm” chính là những thách thức đòi hỏi cần phải có sự cởi trói và chuyển mình về mặt cơ chế – chính sách.    Các mô hình đặc khu kinh tế (SEZ) được thành lập và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới từ vài chục năm nay, mục tiêu là để tạo ra những khu vực mở, ít chịu sự ràng buộc bởi hệ thống các quy định hành chính chồng chéo và tạo nhiều ưu đãi (về thuế, giá thuê đất, chi phí giao dịch, hạn ngạch, hải quan, quy định lao động) nhằm thúc đẩy hợp tác kinh doanh, đầu tư, kiến tạo việc làm, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý. Ngoài ra, SEZ còn được xem là phòng thí nghiệm thể chế đối với các nền kinh tế chuyển đổi, từ đóng kín sang mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế – điển hình là bài học thành công đặc biệt của Trung Quốc.  Các nhà đầu tư rót vốn vào SEZ thường được hứa hẹn bởi những lợi ích mà họ có thể đạt được, chẳng hạn như khả năng sản xuất và buôn bán hàng hóa với mức giá thấp hơn để nâng cao tính cạnh tranh toàn cầu nhờ lợi thế kinh tế tập trung (economics of agglomeration) – các doanh nghiệp thường có xu hướng đặt cạnh nhau, hình thành nên các cụm ngành (industrial cluster) nhằm tận dụng lợi thế dựa trên quy mô (economics of large scale) lẫn hiệu ứng mạng lưới (network effect), giúp chi phí sản xuất kinh doanh giảm đi đáng kể nhờ có thêm nhiều nhà cung cấp cạnh tranh, cũng như đạt được sự chuyên môn hóa và phân công lao động tốt hơn.  Năm 2015, tờ The Economist [1] có một loạt bài phân tích về triển vọng của mô hình đặc khu kinh tế, và cho rằng các SEZ này thực chất không quá đặc biệt (not so special) bởi có tới ba phần tư các nước trên thế giới đang áp dụng (với số lượng hơn 4300 SEZ). Ngay đến Nhật Bản, chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe (Abenomics) đưa ra năm 2014 cũng đề cập đến SEZ như một lựa chọn giải pháp trong một loạt những nỗ lực để vực dậy nền kinh tế vốn bị suy trầm đã quá lâu (suốt hơn 2 thập kỷ kể từ khi bong bóng tài chính vỡ năm 1989).  Nhìn chung, sự ra đời của các SEZ thường được dựa trên cùng một mô típ: chính quyền chọn lấy một khu đất, gọi tên đó là đặc khu kinh tế, rồi ban hành những quy định ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục hải quan để mời gọi nhà đầu tư, rồi kỳ vọng nó sẽ biến thành một Thẩm Quyến mới, hay thậm chí là cả Silicon Valley (Hoa Kỳ). Tuy nhiên, nếu vấn đề đơn giản như vậy thì thế giới có lẽ đã tràn ngập những nền kinh tế thịnh vượng, cũng như khoảng cách phát triển giữa các quốc gia cũng đã không ngày càng bị kéo giãn.  Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng toàn màu hồng, khi mà nhiều SEZ ở châu Phi vắng bóng các nhà đầu tư; hay ngay cả Ấn Độ – nước có tiềm năng cạnh tranh với Trung Quốc – cũng chứng kiến sự thất bại của hàng trăm SEZ. Bên cạnh đó, những SEZ lấp đầy các dự án đầu tư cũng phải trả giá bằng chi phí cơ hội không hề rẻ, liên quan đến tình trạng thất thu thuế trong nhiều năm (do quá rộng rãi trong quy định về mức thuế suất và thời hạn được miễn giảm thuế); rồi chính sách ưu đãi quá mức cho các SEZ cũng gây méo mó nền kinh tế, chưa kể còn tạo điều kiện thuận lợi cho tham nhũng, rửa tiền, thao túng chính sách (nhất là đất đai) nếu quản lý không hiệu quả.  The Economist đã chỉ ra ba nguyên nhân chủ chốt dẫn tới sự thất bại của các SEZ. Thứ nhất, những ưu đãi, dù trên bất cứ khía cạnh nào, thì cũng không tránh khỏi việc phải sử dụng ngân sách hoặc ảnh hưởng tới thu chi ngân sách. Thứ hai, đó là áp lực xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là khi các đặc khu thường được chọn đặt ở nơi chưa hoàn thiện và đồng bộ về hạ tầng. Thứ ba, và có lẽ cũng quan trọng nhất, chính là các cam kết nới lỏng về mặt quản lý ở những nơi được gọi là đặc khu thường chỉ mang tính “khẩu hiệu”, còn lại thì cơ chế – chính sách vẫn không có nhiều thay đổi trên thực tế.  Như vậy, đặc khu kinh tế thực chất chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, mà phần “chìm” chính là những thách thức đòi hỏi cần phải có sự cởi trói và chuyển mình về mặt cơ chế – chính sách.    Thẩm Quyến (Trung Quốc) là một đặc khu hiếm hoi thành công trên thế giới. Ảnh: Baidu.com  Sự không nhất quán về thiết kế hệ thống: Nếu xây dựng ba đặc khu là để thí điểm các thể chế mới từ đó mà tổng kết nhân rộng ra cho cả nước, thì các quy định của Dự thảo Luật lại gần như không để lại bất cứ không gian nào cho hoạt động này. Quan trọng nhất ở đây là các thể chế liên quan để quản trị công. Tuy nhiên, mô hình Xô viết với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (với các tổ chức Đảng tương ứng) đã được thiết kế trở lại. Nếu mô hình này trong hơn nửa thế kỷ qua đã không biến nước ta thành “hổ châu Á”, thì ít có cơ sở để tin rằng nó có thể làm được điều đó cho các đặc khu. Một loạt các thiết kế về thể chế khác trong Dự thảo luật theo kiểu “đầu Ngô mình Sở” cũng rất đáng quan ngại. Ví dụ, các đặc khu được thành lập để thực thi các mục tiêu quốc gia và các ưu tiên quốc gia, nhưng lại trực thuộc tỉnh về mặt hành chính; Các chính sách, các ưu tiên đã được quy định bởi Trung ương (ngay trong dự Luật về các đặc khu), nhưng các thể chế để xác lập ưu tiên của địa phương vẫn được thiết kế trong Dự thảo Luật (Cụ thể là bầu cử địa phương và Hội đồng nhân dân. Ngoài ra, nếu các chính sách đã được xác lập (trong Luật), thì nhiệm vụ của các đặc khu là triển khai các chính sách đó. Đây là công việc thuộc hành chính. Giám sát đối với công quyền ở đây phải là giám sát hành chính. Thế nhưng Dự thảo Luật lại đề ra cả những thiết kế để giám sát chính trị… Sự không nhất quán về thiết kế hệ thống như vậy không khéo sẽ làm cho quản trị công ở các đặc khu dễ trở nên rối loạn, phức tạp và khó khả thi.  TS. Nguyễn Sĩ Dũng  Trường hợp Việt Nam  Theo phân tích của nhiều chuyên gia kinh tế như TS Vũ Thành Tự Anh, TS. Võ Trí Thành, bà Phạm Chi Lan, … thì cả ba nơi được chọn quy hoạch làm đặc khu của Việt Nam là Phú Quốc, Bắc Vân Phong và Vân Đồn đều rất khó có thể tạo ra đột biến, tới mức trở thành các “cực tăng trưởng mới” của đất nước, chí ít là trong tương lai 10 – 20 năm tới, ngay cả khi được hưởng rất nhiều ưu đãi về mặt chính sách lẫn vốn đầu tư.  Thứ nhất, đề xuất làm đặc khu là để “kiến tạo thể chế vượt trội” rồi từ đó nhân rộng mô hình, nhưng bài học của 18 khu kinh tế mở và công nghiệp trong quá khứ (tiêu biểu là Chu Lai và Móng Cái) cho thấy: các ưu đãi, dù lớn đến mấy, nhưng chất lượng nền quản trị, điều hành và cơ sở hạ tầng hạn chế thì cũng trở nên vô nghĩa.  Trong Dự luật Đơn vị Hành chính Kinh tế đặc biệt (ĐVHCKTĐB) của Việt Nam đã có một số điều khoản ưu đãi rất “cởi mở” về thời hạn sử dụng đất (có thể lên đến 99 năm), nới lỏng quy định về sở hữu bất động sản có thời hạn đối với người nước ngoài, hay đề xuất cho phép tự do lưu hành đồng USD, … nhưng chúng ta dường như vẫn thiếu đi tính đột phá trong khâu thiết kế mô hình quản trị, từ đó có thể kìm hãm tốc độ ra quyết định và khả năng nắm bắt cơ hội. Nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc, có thể thấy các tỉnh thành thông thường có hơn 60 cơ quan đầu mối quản lý, trong khi ở những đặc khu kinh tế (như Thâm Quyến) số cơ quan hành chính cấp đặc khu sẽ được thu gọn lại chỉ còn 4 đơn vị, bao gồm: cục phát triển kinh tế, phát triển thương mại, vận tải và nông nghiệp.  Thứ hai, nếu như đề án thành lập các đặc khu đều nhấn mạnh mục tiêu thu hút các lĩnh vực công nghệ cao để đón đầu Cách mạng 4.0 thì tư duy hoạch định của chúng ta có vẻ như vẫn đang ở thời 2.0 khi chỉ cố gắng tìm cách thu hút thêm thật nhiều FDI nhờ lợi thế so sánh truyền thống (như vị trí, tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên) bằng những ưu đãi kịch trần, thậm chí vượt khung, trong đó có khuyến khích mở casino. Chiến lược này chưa thể hiện cơ sở để đảm bảo các đặc khu sẽ mang lại hiệu ứng tích cực đối với quá trình nâng cấp, chuyển dịch cơ cấu và cải cách kinh tế trên diện rộng.  Điều đáng lo là với thiết kế mô hình và hướng đi như vậy, ba đặc khu có khả năng còn cạnh tranh lẫn nhau, đồng thời trở nên biệt lập so với phần còn lại của nền kinh tế. Đặc biệt, khi đi vào hoạt động, sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài sẽ ngày càng kéo rộng khoảng cách giữa khu vực FDI với khối doanh nghiệp quốc nội2. Điều này tất yếu sẽ dẫn tới hệ quả là: nguồn ngoại lực, không những sẽ không giúp gì mà trái lại còn lấn át cả nội lực – trái ngược với kinh nghiệm thành công của Trung Quốc hay Đài Loan. Yếu tố then chốt thiếu vắng ở đây là những thể chế, chính sách hỗ trợ và giúp phát huy vai trò năng động của các doanh nghiệp trong nước, như một cầu nối và chất xúc tác đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.  Thứ ba, như TS Vũ Thành Tự Anh nhận định3, khuôn khổ pháp lý mà chúng ta đang cố gắng xây dựng cho các đặc khu hiện mới chỉ ở bước ban đầu, còn thực tế triển khai chắc chắn sẽ gặp phải rất nhiều gian nan, đặc biệt là những giới hạn về mặt nguồn lực (vốn, nhân lực) lẫn thẩm quyền (cả theo luật định lẫn thực tế) để có thể hiện thực hóa mục tiêu phát triển như kỳ vọng.  ***  Các chính sách khi được ban hành, cần thiết phải gắn với bối cảnh kinh tế – chính trị của đất nước. Trong quá khứ, mô hình đặc khu ra đời khi các quốc gia cần một mô hình đột phá giúp mở cửa và tăng tốc hội nhập với thế giới. Đối với Việt Nam hiện nay, khi kim ngạch ngoại thương đã vượt mức 400 tỷ USD năm 2017 (bằng hơn 200% GDP và độ mở của nền kinh tế hiện chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á) thì phương án xây dựng “đặc khu” xem ra cũng không quá cần thiết, nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề cốt lõi, đó là cải cách thể chế một cách nền tảng, sâu rộng và toàn diện.  Tại nhiều nước phát triển, các khu công nghiệp lớn hay được đưa ra thật xa vì là nguồn phát sinh ô nhiễm. Ngoài ra, thường chỉ ở những nơi đất xấu, địa hình không thuận lợi cho việc khai thác các lĩnh vực khác thì người ta mới tính đến phương án xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam lại đang tồn tại một nghịch lý, rằng phần lớn chúng ta có vẻ đã làm “hơi ngược” so với thế giới, khi rất nhiều đất vàng (đất nông nghiệp phì nhiêu, màu mỡ) lại bị thu hồi để làm khu công nghiệp, với những lý do như vị trí tốt, giao thương thuận tiện, hay phù hợp để thu hút đầu tư, … Thực tế thì hiệu quả từ chính sách như vậy vẫn chưa thấy rõ, song tỷ lệ người thất nghiệp trong khu vực nông nghiệp đang gia tăng đến mức báo động, mang đến nhiều nguy cơ như đe dọa an ninh lượng thực, hay kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội khác.  —-  Chú thích  1. The Economist (2015), Special Economic Zones: not so special, Nguồn: https://www.economist.com/leaders/2015/04/04/not-so-special  2. Vietnam Finance (2018), TS Vũ Thành Tự Anh: Khả năng thành công của các đặc khu là rất thấp. Nguồn: http://vietnamfinance.vn/ts-vu-thanh-tu-anh-kha-nang-thanh-cong-cua-dac-khu-la-rat-thap-20180504224207729.htm  3. Zing (2017), Đặc khu kinh tế phải là phòng thí nghiệm cho cải cách thể chế. Nguồn: https://news.zing.vn/dac-khu-kinh-te-phai-la-phong-thi-nghiem-cho-cai-cach-the-che-post770881.html  Nguồn: Báo Khoa học & Phát triển    Author                Thế Hải        
__label__tiasang Đặc quyền dành cho Nghị sỹ      Ở một số quốc gia, Nghị sỹ và một số chủ thể  tham gia vào các quá trình làm việc của Nghị viện được pháp luật trao  những đặc quyền nhất định để thực thi trách nhiệm của mình có hiệu quả.     Các đặc quyền có thể là: (1) Quyền miễn trừ các trách nhiệm pháp lý vì những lời nói hay việc làm trong các phiên làm việc của Nghị viện; (2) Không bị bắt đối với các quá trình tố tụng dân sự; (3) Miễn trừ nghĩa vụ bồi thẩm đoàn; (4) Miễn trừ trách nhiệm tham gia với tư cách là người làm chứng; (5) Được bảo vệ để tránh những sự cản trở, can thiệp, trả thù từ người khác.  Quyền tự do ngôn luận  Trong các phiên họp của Nghị viện và các Ủy ban chuyên trách, Nghị sỹ có quyền nói bất cứ điều gì, không phải chịu các trách nhiệm pháp lý ngay cả khi các lời nói, tranh luận mang tính chất phỉ báng người khác.   Vì Nghị viện là một cơ quan đặc biệt, nơi đó công việc chính của các thành viên là nói, thảo luận và tranh luận (speaking, debating and arguing). Chính vì đặc thù công việc là “nói”, nên việc nói của họ cần phải được đảm bảo.  Hơn nữa, đối với một hành vi, có khi người này cho rằng là phỉ báng, nhưng người khác lại cho là không, mà Nghị sỹ không phải là người có quyền phán xét. Do đó, nếu đặt ra trách nhiệm đối với lời nói thì Nghị sỹ sẽ tạo ra tâm lý lưỡng lự khi trình bày quan điểm, cũng như Tòa án sẽ can thiệp vào công việc của Nghị sỹ (một điều không nên trong học thuyết phân quyền).   Không bị bắt đối với các quá trình tố tụng dân sự  Trong các quá trình tố tụng dân sự, Tòa án không thể sử dụng các lệnh trát để bắt giữ các Nghị sỹ.1 Việc tham gia hay không vào các quá trình tố tụng dân sự là quyền của Nghị sỹ. Tuy nhiên, về cơ bản họ sẽ thiện chí tham gia để tránh sự chỉ trích của truyền thông và người dân.  Mặc dù được miễn trừ trong các vụ việc dân sự, Nghị sỹ không được hưởng đặc quyền này trong vụ án hình sự. Bởi tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo vệ lợi ích công cộng, trật tự xã hội. Việc vi phạm pháp luật hình sự là nhân danh cá nhân, chứ không thể dựa vào một vị trí nào để nhân danh.  Ngoài ra, Nghị sỹ có thể có những quyền hạn khác như quyền yêu cầu người khác có mặt để cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền hạn của mình; hay quyền xuất bản các tài liệu mặc dù có chứa đựng những hành vi làm mất danh dự người khác (defamation). Mỗi viện cũng có quyền áp dụng các hình phạt đối với những người xâm phạm các đặc quyền Nghị viện.   Quyền miễn trừ và các đặc quyền khác dành riêng cho Nghị sỹ là cần thiết. Tuy nhiên, “người có quyền có xu hướng lạm quyền” là điều khá phổ biến. Do vậy, việc quy định càng rõ ràng, cụ thể, chi tiết với những quy trình khắt khe sẽ góp phần hạn chế việc lạm quyền của những người đại diện cho người dân. Hơn nữa, việc ban hành những Bộ quy tắc đạo đức (mặc dù có thể không mang tính chất bắt buộc phải tuân theo) nhưng sẽ có giá trị làm thước đo cho Nghị sỹ hành động. Khi có những tranh chấp về việc có hay không sự tồn tại của đặc quyền nào đó nên trao quyền phán quyết cho Tòa án. Đặc biệt, phiên họp công khai của Nghị viện, tự do báo chí là những kênh quan trọng giúp người dân quyết định cuối cùng thông qua lá phiếu trong các lần bầu cử.  —      1 Ở nhiều quốc gia, nếu một chủ thể không tuân thủ bất kỳ yêu cầu chính đáng của Tòa án thì họ có thể bị Tòa ra lệnh trát bắt giữ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặc quyền và đặc trách của Đại biểu Quốc hội      Ở New Zealand, pháp luật và thực tiễn xét xử  thường đưa ra ba khung khác nhau dành cho ba đối tượng, đó là khung  hình phạt thấp nhất dành cho thường dân; tiếp theo là các Nghị sỹ, Bộ  trưởng, một số nhân viên cấp cao của chính phủ; và khung cao nhất dành  cho những người làm trong các cơ quan tư pháp (thẩm phán, công tố viên,  thư ký tòa…).     Quốc hội được Hiến pháp quy định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập hiến, lập pháp và quyền định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, các Đại biểu Quốc hội đóng vai trò cốt lõi. Thông qua lá phiếu ủng hộ, người dân đã gửi gắm nguyện vọng, ý chí của mình cho các vị Đại biểu đáng kính ấy, với mong muốn các Đại biểu hoàn thành tốt các bổn phận mà Hiến pháp giao phó trên cương vị là những người thực hiện quyền năng của cơ quan quyền lực tối cao nhất của quốc gia.  Mặc dù Điều 2 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2004 quy định “mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn ghi nhận đặc quyền về Tố tụng đối với Đại biểu Quốc hội, mà đôi khi, đặc quyền về Tố tụng có giá trị quyết định. Căn cứ Điều 81 Hiến pháp 2013, “Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đại biểu Quốc hội phạm tội quả tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định”. Hơn nữa, việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 58 Luật Tổ chức Quốc hội).  Có thể nói, đặc quyền tố tụng này được áp dụng đối với Đại biểu Quốc hội giúp các cơ quan tố tụng xem xét kỹ lưỡng hơn trong việc tiến hành các thủ tục tố tụng, tránh việc tùy tiện, lạm dụng việc bắt bớ… của các chủ thể tiến hành tố tụng, gây ảnh hưởng không tốt tới việc thực hiện vai trò dân biểu cũng như đôi khi tạo ra sức ép chính trị nào đó với những người do dân bầu nên.  Ngoài ra, ở nhiều quốc gia, Đại biểu Quốc hội (hay Nghị sỹ) còn được quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự, dân sự đối với các phát biểu trước Nghị trường. Ở nước ta, Hiến pháp năm 1946 cũng dành quyền miễn trừ này cho các dân biểu.  Có thể nói rằng, các đặc quyền này xuất phát từ cương vị là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân, và khi các Đại biểu thực hiện các chức phận vì lợi ích của cử tri, của dân tộc, mà không phải là các hành động vì mục đích tư lợi.  Đặc quyền được hưởng thì đương nhiên trách nhiệm phải tương xứng. Cùng một tội, nếu xử thường dân một thì phải xử quan hai mới hợp lý, bởi vì đối với những người có chức tước, việc phát hiện, xử lý sẽ khó hơn và thông thường họ có hiểu biết và cách thức để “lách” luật hơn. Hơn nữa, trong quá trình điều tra, cần phải xem xét việc phạm tội có liên quan gì đến cương vị đang đảm trách hay không. Nếu có liên quan, thì đương nhiên sẽ nhận lấy một hình phạt nặng hơn và có thể truy tố vì tội tham nhũng bởi tham nhũng được hiểu là nếu không trên cương vị đó thì người ấy không nhận được lợi ích (vật chất, tinh thần) hay niềm tin để giao cho họ tiền, tài sản…  Ở New Zealand, pháp luật và thực tiễn xét xử thường đưa ra ba khung khác nhau dành cho ba đối tượng, đó là khung hình phạt thấp nhất dành cho thường dân; tiếp theo là các Nghị sỹ, Bộ trưởng, một số nhân viên cấp cao của chính phủ; và khung cao nhất dành cho những người làm trong các cơ quan tư pháp (thẩm phán, công tố viên, thư ký tòa…).   Lần đầu tiên, Quốc hội nước ta có số lượng khá đông đại biểu là doanh nhân (khoảng 40 người), nhân tố quan trọng hứa hẹn đem lại một bầu không khí mới, đưa ra các kế sách góp phần cho cơ quan quyền lực nhất thiết kế lại thể chế kinh tế nước nhà. Mặc dù cơ chế hiện tại còn khá bất cập, nước ta vẫn chưa thấy các doanh nhân trở thành các chính khách như thủ tướng, bộ trưởng, nhưng dành số lượng đáng kể các doanh nhân trong diễn đàn Quốc hội cũng là một bước đi đáng ghi nhận.   Do vậy, các doanh nhân được bầu làm Đại biểu Quốc hội, thay vì đi tìm vị thế để dễ dàng kiếm những cơ hội làm ăn, cần nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề mà người dân tin tưởng, hy vọng. Họ là những người bấm nút để quyết định các vấn đề quan trọng nhất của quốc gia nên sự công tâm, tận tụy với chức phận dân biểu là đặc biệt quan trọng, có khi quyết định của họ ảnh hưởng tới bữa cơm của từng con người trong quốc gia hay sự phồn vinh của đất nước.   Tối 7/1 mới đây, cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với bà Châu Thị Thu Nga – một doanh nhân, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, để làm rõ về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Như báo chí đưa tin, bà Nga đã cùng đối tác huy động nhiều trăm tỷ đồng của hàng trăm tổ chức cá nhân để triển khai dự án xây dựng khu nhà ở thương mại nhưng dự án này nay đã mất khả năng thanh toán. Nhiều nạn nhân do bà Nga lừa đảo là những người rất nghèo, tích góp gần cả đời người, được bao nhiêu thì giao cho bà Nga cả. Họ đã nộp thuế trả lương cho Đại biểu, rồi nay, Đại biểu lại lấy luôn “cơm áo gạo tiền” của họ. Như vậy, bà Nga không những không hoàn thành  trách nhiệm của một dân biểu, mà còn vi phạm nghĩa vụ của một công dân,  đó là chấp hành pháp luật của chính nơi bà Nga làm đại biểu ban hành  ra. Do vậy, đối với bà Nga, hình phạt áp dụng phải là cao nhất trong khung hình phạt. Có vậy, pháp luật mới thượng tôn và bản án mới có tính giáo dục, răn đe đối với toàn xã hội nói chung.   —  *Th.S luật học     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại án tham nhũng, đổi mới giáo dục và thông điệp năm mới của Thủ tướng      Có ba sự kiện quan trọng đang xảy ra nóng  hổi vào những ngày cuối cùng của năm Quý Tị, thu hút sự quan tâm của  toàn xã hội, đó là việc Hội nghị TW 8 thông qua dự án “Đổi mới căn bản  và toàn diện giáo dục”, sự kiện “Thông điệp đầu năm” dương lịch 2014 của  Thủ tướng chính phủ và các đại án tham nhũng đang được xét xử. Ý nghĩa  của những câu chuyện này là gì?       Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  Cách đưa ra thông điệp đầu năm của Thủ tướng với nội dung xoay quanh vấn đề “dân chủ”, “dân quyền”, “xoá bỏ độc quyền” rất quen thuộc ở xứ người nhưng lại rất lạ ở xứ ta mà một số trí thức đã đề cập. Theo tôi thì chuyện “lạ” và “quen” này cũng đã phần nào phản ánh một khoảng cách về phát triển. Nghĩa là bao giờ các lãnh đạo và toàn dân ta xem những điều này là quen thuộc, tự nhiên như việc hít thở hằng ngày thì lúc đó tôi nghĩ đất nước ta sẽ tiến bộ mọi mặt.  Tôi rất đồng ý với nhận định của Thủ tướng rằng: “Nhìn lại gần 30 năm qua, những bước phát triển vượt bậc của đất nước ta đều gắn liền với những đổi mới có tính quyết định về thể chế, bản chất là mở rộng dân chủ, thực hiện cơ chế thị trường trong hoạt động kinh tế mà bước đột phá lớn và toàn diện là từ Đại hội VI của Đảng”.  Thực vậy, tăng trưởng của mấy chục năm qua về mặt kinh tế đưa nước ta thoát cảnh bần hàn, suy cho cùng cũng nhờ “mở rộng dân chủ” và xoá bỏ độc quyền về mặt kinh tế. Nghĩa là nhờ việc chấp nhận cho dân được làm chủ và tham gia vào các hoạt động kinh tế và điều này đã đem lại sự tăng trưởng.   Tuy nhiên sự tăng trưởng này “đã chậm lại” so với chính Việt Nam trước đây và so với các nước khác trong khu vực1. Theo tôi, nguyên nhân là vì công cuộc đổi mới chỉ mới được một phần, chưa mấy trọn vẹn nếu không muốn nói là nửa vời. Chúng ta chuyển đổi từ hệ thống kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường nhưng lại chưa thực sự thị trường. Có lẽ bởi thế, nên phần lớn thế giới vẫn chưa công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường thực thụ2.   Sự nửa vời này làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, có lẽ là một phần nguyên nhân của nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế mà vụ án Dương Chí Dũng và các đồng phạm đang được xét xử là một minh chứng. Đó là việc áp dụng các chính sách ưu tiên ưu đãi cho các doanh nghiệp Nhà nước trái với quy luật của kinh tế thị trường mặc dầu thực tế đã chứng minh các doanh nghiệp này liên tục thua lỗ, làm thiệt hại nặng nề cho kinh tế quốc gia. Các chính sách ưu tiên nhằm định hướng này cũng đã không tạo ra một cơ chế cạnh tranh để lựa lọc những người thực sự có đức có tài tham gia vào việc quản lý điều hành kinh tế và xã hội, ngược lại, đã tạo ra ra môi trường cho tham nhũng hoành hành, nuôi dưỡng những đường dây quyền – tiền – tình phi pháp hoạt động.   Trên mặt vĩ mô, kinh tế cũng như các thiết chế khác trong xã hội luôn có quan hệ hỗ tương chặt chẽ với thiết chế chính trị. Chính trị diễn tả tầm nhìn, quan niệm và ý thức hệ của các nhà lãnh đạo, những điều này ảnh hưởng bao trùm lên toàn xã hội, nó làm nền, góp phần định hình tất cả các lĩnh vực khác. Vì sự gắn bó hữu cơ này, nên về lâu dài, không thể có chuyện chính trị đi một đường trong khi kinh tế và và các thiết chế khác lại đi một nẻo.   Nghĩa là nếu chúng ta muốn thực hiện đổi mới một cách hiệu quả, thì tầm nhìn, ý thức hệ lãnh đạo phải đổi mới trước để làm cơ sở đổi mới các lĩnh vực khác. Việc tiến hành đổi mới kinh tế hay giáo dục trước, mà chậm đổi mới về mặt thể chế chính trị, thì cũng có thể tạo ra một số thay đổi và phát triển trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài, việc đổi mới đó sẽ chạm đến và va đập phải những “lỗi hệ thống” đến từ chính trị.   Việc đổi mới giáo dục   Việc Hội Nghị TW8 đã thông qua cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục” là một sự kiện đáng mừng. Theo tôi, có thể so sánh sự kiện này trong giáo dục với việc đổi mới kinh tế khởi đi từ Đại hội VI của Đảng Cộng Sản cách đây gần 30 năm, hướng cải cách cũng đi từ cơ chế quản lý tập quyền sang cơ chế phân quyền, chấp nhận nhiều thành phần xã hội tham gia vào giáo dục. Đây là một dự án đổi mới theo hướng tiến bộ xét về nội dung và phương pháp theo cách làm của các quốc gia có nền giáo dục phát triển.   Tuy nhiên theo tôi, dự án này cũng chỉ mới nửa vời như việc đổi mới mô hình kinh tế đã nói ở trên, chưa “căn bản và toàn diện” vì chúng ta chưa thực sự đổi mới về quan niệm, tầm nhìn từ đó thiết kế nên mục tiêu giáo dục phù hợp, và bởi lý do này, tôi lo rằng sẽ đến một lúc, việc đổi mới giáo dục cũng sẽ gặp lúng túng, va đập với những lỗi hệ thống như những gì xảy ra với lĩnh vực kinh tế.  Từ tư tưởng của Condorcet, Rousseau, Deway, Einstein đến các tài liệu có tính định hướng trong giáo dục trên thế giới của UNESCO hiện nay đều nhấn mạnh rằng mục tiêu của giáo dục là phải tạo ra những nhân cách toàn diện, trong đó khả năng tư duy, phán đoán độc lập và phản biện phải được đặt lên hằng đầu trong mục tiêu đào tạo, vì đó là những đức tính và kỹ năng cần thiết nhất giúp người học tự tồn tại, tự phát triển bản thân, góp phần giải quyết những khó khăn của cộng đồng và thúc đẩy xã hội phát triển.   Các nước phát triển đặt người học làm trung tâm, với phương cách giáo dục khác biệt hoá, vận dụng phương pháp giáo dục chủ động… là để đào tạo ra mẫu người tự chủ, tự do, mang trong mình những giá trị, thói quen và khả năng phù hợp lâu dài với một xã hội dân chủ và những giá trị của nó.   Trong một xã hội, các cá nhân hơn nhau ở chỗ là biết cách khai thác khả năng vô hạn của bộ não mà giáo dục phải trang bị cho họ phương pháp; trên bình diện thế giới, các xã hội hơn nhau ở chỗ, là các nhà cầm quyền biết tạo ra môi trường tốt trong đó có hệ thống giáo dục, nhằm phát huy trí tuệ và sức lực trong toàn dân. Một nhóm nhỏ lãnh đạo có tài ba cách mấy, cũng không thể so sánh với trí tuệ của hằng triệu bộ não cọng lại.   Tiềm lực trong dân như những kho tàng tiềm ẩn, những điều này được phát huy, được thể hiện đến mức độ nào lại phụ thuộc vào tầm nhìn, vào chính sách và thái độ của người cầm lái. Cũng một dân tộc, nhưng Bắc Hàn và Nam Hàn phát triển khác nhau một trời một vực là do hai miền có hai quan niệm, hai tầm nhìn dẫn đến hai thể chế khác xa nhau. Một bên là tập trung quyền lực trong tay người cầm quyền, Nhà nước bao quát và bao cấp mọi sự về vật chất cũng như tinh thần, biến công dân thành những công cụ chỉ biết tuân thủ răm rắp dưới cái gậy chỉ huy tập quyền của mình, còn bên kia là chế độ dân chủ, phân quyền và tạo ra cơ chế để mỗi nhóm, mỗi người dân có thể phát huy tối đa khả năng của mình trong mọi mặt, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.   Như vậy, muốn phát triển, chúng ta không có cách nào khác là phải dân chủ hoá, chống độc tài trong tất cả lĩnh vực, phải giải quyết “lỗi hệ thống”, bằng cách đổi mới thể chế nhằm xoá bớt những mâu thuẫn đang tồn tại, tạo điều kiện cho người dân tham gia, giám sát và cùng kiến tạo nên sự phát triển.  Hi vọng sang Năm Giáp Ngọ này, trong mạch ý của bài Thông điệp đầu năm của Thủ tướng, Việt Nam sẽ có cải cách cơ bản về thể chế nhằm làm nền móng chắc chắn cho sự phát triển về mọi mặt, dân tộc này sẽ lên ngựa và tiến mạnh về phía trước cùng với nhân loại tiến bộ.  —                           1 Chẳng hạn, theo Ngân hàng thế giới, trong năm 2012, với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là 5.2%, mức tăng trưởng của Việt Nam thấp hơn mức tăng trưởng ở một số nước ASEAN, như Philippines (6.8%), Thái Lan (6.5%), Indonesia (6.2%) hay Malaysia 5.6% (http://www.voatiengviet.com/content/noi-that-dan-nghe-lam-that-dan-tin/1826746.html)  2 Tính đến tháng 4/2012, chỉ mới có hơn 30 quốc gia công nhận VN có nền kinh tế thị trường (Hội đồng tư vấn các biện pháp phòng vệ thương mại – VCCI).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại bác, súng lục và lễ hội hoa Hà Nội      Thật dễ d&#224;ng kết tội v&#244; văn h&#243;a hay thiếu gi&#225;o dục cho c&#225;c h&#224;nh vi &#8220;cướp-ph&#225;&#8221;, hay dẫm l&#234;n hoa tại lễ hội hoa diễn ra tại H&#224; Nội đầu năm 2009. Căn nguy&#234;n của c&#225;c h&#224;nh vi n&#224;y c&#243; thể l&#224; hậu quả của tiến tr&#236;nh đ&#244; thị h&#243;a đang diễn ra, hoặc hậu quả của một nền gi&#225;o dục đầy rẫy bất cập.     Tuy nhiên, những quy kết này chỉ đúng với một số đối tượng, như nam thanh nữ tú vui vẻ dẫm lên hoa, hoặc một trung tiên đứng tuổi cướp chậu hoa mang về nhà. Nhưng lý giải thế nào khi các cụ già cũng có hành vi dẫm đạp trên cỏ, hay phản ứng mắng ngược của một bậc phụ huynh khi người khác chê trách con họ phá hoa mà báo chí phản ánh. Có nhiều cách tiếp cận để giải mã các hành vi trên, từ giáo dục, lối sống và tính cách, mà trong đó môi trường chung nối kết các cách tiếp cận là văn hóa.  Giáo sư Geert Hofstede (đại học Maastrich, Hà Lan), người có nhiều nghiên cứu về sự khác biệt trong ứng xử, hành vi của các nền văn hóa, đã xem văn hóa là “phần mềm của tâm hồn” để lý giải ứng xử, cách suy nghĩ của con người trong cuộc sống (Cultures and Organizations: Software of the Mind. New York, NYM McGraw-Hill, 1991). Năm chiều kích văn hóa mà công trình nghiên cứu ở 72 quốc gia được Hogstede phân ra là: khoảng cách quyền lực, cá nhân và tập thể, trọng nam tính hay nữ tính, tâm lý ưa sự ổn định, và cuối cùng là cái nhìn dài hạn hay ngắn hạn.  Việt Nam, nếu dùng sự phân loại của Hofstede, thuộc về đất nước có khoảng cách quyền lực cao, tính tập thể cao, trọng nam tính, tính ưa sự ổn định cao, và định hướng dài hạn. Mỗi chiều kích có mối quan hệ tương tác và thay đổi theo thời gian. Điều này, như nhận định của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong cuộc phỏng vấn trên Tia sáng Tết 2008,  xã hội nào, tính cách ấy.     Bắt chước và núp bóng bầy đàn  Ở một đất nước, mang chiều kích tập thể, ý thức về cộng đồng rất cao, mà văn hóa làng xã ở Việt Nam trước kia có rất nhiều ví dụ. Hofstede cũng nhấn mạnh chiều kích tập thể đề cập ở đây không phải là phạm trù của chính trị. Trong cộng đồng đó, con người từ khi mới sinh ra đã có sự lệ thuộc và mang những đặc thù của văn hóa nhóm. Lẽ ra mô hình tập thể hóa ở nông thôn cũng như nông trường hay nhà máy là chất xúc tác tốt cho chiều kích tập thể phát huy mặt tích cực. Nhưng hậu quả của nó là hình ảnh nông dân cày dối trên mảnh đất hợp tác. Điều gì có thể biến người nông dân vốn “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó” trở thành người làm công ẩu tả? Còn ở thành thị là một lớp công chức mà chuyện châm biếm kể rằng, họ sáng cắp cặp đi, tối mang cặp về, bên trong có một viên gạch. Câu vè của dân Hà Nội ban ngày cả nước lo việc nhà, ban đêm, cả nhà lo việc nước ra đời trong bối cảnh đó. Cũng từ đó, thói quen xài chùa của công, lạm dụng công quyền để tư lợi hình thành.  Tính di truyền của thói làm dối, làm ẩu, “của chung không ai khóc” gặp môi trường chuyển đổi giữa thời kỳ bao cấp và kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho cho thói cơ hội xuất hiện và phát triển. Chúng gieo vào đầu chủ thể một lối suy nghĩ ngắn hạn. Và dài hạn, nếu có, lại là chuyện “hy sinh đời bố củng cố đời con”.      Muốn an thân nên giữ lệ, phá luật  Nếu chiểu theo kết quả nghiên cứu của Hofstede và Bond, Việt Nam thuộc nhóm có chiều kích định hướng dài hạn, theo nghĩa tôn trọng các giá trị truyền thống và giữ thể diện. Bên cạnh chiều kích văn hóa này, chiều kích ưa sự ổn định cao, không cho phép người ta biểu lộ tình cảm, trạng thái ra bên ngoài. Thói quen ưa sự ổn định cao như ở Trung Quốc và Việt Nam phần nào gây ra đặc tính: một số quy định thì chấp nhận, nhưng một số lại dễ dàng xí xóa. Lẽ ra, hai chiều kích trên khiến người ta chú trọng thể diện, qua đó có thể ngăn cản được hành vi mang tính cơ hội thì trong môi trường dung dưỡng tính làm dối, và cá nhân quen sự với thỏa hiệp, thì việc giữ “diện” nào của bản thể cũng có thể thỏa hiệp được.   Sau hai thời kỳ bao cấp và mới mở cửa, xã hội rộ lên chuyện “đánh quả” của doanh nghiệp, của giáo chức, của giới học thuật trên mảnh đất thị trường còn sơ khai về cơ chế và luật định chồng chéo, không chặt chẽ, cộng thêm với sản phẩm của thời kỳ quá độ là chất xúc tác đầy uy lực. Một doanh nhân khá nổi ở thời kỳ đầu đổi mới đã từng đưa ra luận thuyết đèn vàng. Theo ông, đèn xanh thì ai cũng đi, nên muốn đi nhanh hơn thì phải biết tranh thủ cả đèn vàng. Luận thuyết đó phản ảnh rõ tâm thế cơ hội. Ở lĩnh vực giáo dục và đào tạo, học và thi là hai chuyện mà học sinh, sinh viên có thể hiểu là hai chuyện hoàn toàn khác. Và tưởng như các tháp ngà khoa học sẽ đứng vững, thì câu chuyện mua bằng, đạo văn, gian dối trong các công trình khoa học và nghiên cứu liên tục xuất hiện.     Đông người, vô bản sắc   Trong bối cảnh trên, bản sắc và hội nhập trở thành các khái niệm học thuật, đôi khi còn bị đánh tráo. Khi con người ở một cộng đồng mang tính tập thể cao, mọi cái tôi được đặt thấp, thì cái tôi thỏa hiệp và gian dối càng được dung dưỡng. Nhưng nếu không nhìn thấy mặt cái tôi, thì bản sắc chỉ là khái niệm. Mà khuôn mặt của bản thể không để lộ, thì lấy đâu bản sắc để hội nhập. Sự tương tác của hai chiều kích bản sắc và hội nhập trong điều kiện đó, càng thúc đẩy hiệu ứng bầy đàn.   Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã nêu đích danh hai đứa con hư của cơ chế thị trường là nóng vội kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ. Một lớp người đau đáu tìm kiếm cơ hội, dù phải chụp giựt, chấp nhận hy sinh, thì bản thể của họ không còn là điều quan trọng. Chính bản thân đó và lớp con cháu họ qua hưởng thụ tiêu dùng mà đánh mất bản thân. Bởi tiêu dùng, là hành vi tha hóa con người. Thông qua mua sắm, mà con người, từ mua (buying), sở hữu hàng hóa (having) và cuối cùng nhập thân vào đó (being). Kết quả là người ta có thể đồng hóa mình là một sản phẩm, hay một thương hiệu nào đó. Nếu không nhận rõ tiến trình này, không biết được mình là ai, thì rốt cục, lối sống thượng đội, hạ đạp, sản phẩm đặc thù của chiều kích văn hóa quyền lực cao, trở nên phổ biên trong xã hội. Hệ quả, là lớp con em cứ việc cướp hoa, ngắt lá, bẻ cành, lớp cha-chú sẵn sàng phản ứng lại trước các lời chỉ trích, và thậm chí, còn có thể quát lại là “vô văn hóa”.  Gamzatov đã viết: Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác. Hành vi vừa diễn ra ở lễ hội hoa tại thủ đô, có thể được nhìn nhận mang tầm cỡ súng lục hoặc đại bác. Nhưng từ quá khứ tới tương lai là một tiến trình, nên viên đạn hôm qua có thể tạo hệ quả là quả đại bác mai sau. Điều đó không thể không được nhìn nhận thấu đáo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại biểu chuyên trách      Nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách từ 35% lên 40% là một trong những chính sách lập pháp quan trọng của Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) vừa được thông qua. Như vậy, sắp tới chúng ta sẽ có tới 200 đại biểu làm việc toàn thời gian cho Quốc hội. Đây có thể được coi là một bước tiến quan trọng của quá trình đổi mới Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp hóa.      Chuyên nghiệp hóa phải là một nội dung cốt lõi của quá trình đổi mới. Bởi vì rằng chỉ có chuyên nghiệp hóa mới có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của tất cả các thiết chế cấu thành nên hệ thống chính trị (nên thể chế) của chúng ta.   Làm đại biểu Quốc hội là vừa làm người đại diện, vừa làm nhà lập pháp và vừa làm nhà giám sát. Chưa hết, nhiều người còn cho rằng làm đại biểu Quốc hội còn là làm nhà thương thuyết. Bởi vì muốn thúc đẩy một chính sách mà cử tri quan tâm, thì không có kỹ năng thương thuyết là hoàn toàn không thể làm được. Chính vì vậy, làm đại biểu Quốc hội là một nghề rất khó. Mà đã là một nghề rất khó thì càng phải rất chuyên nghiệp.   Cho dù chuyên trách thì chưa phải là chuyên nghiệp. Thế nhưng, không chuyên trách thì rất khó có thể chuyên nghiệp. Đơn giản là vì các đại biểu sẽ không có thời gian để rèn dũa và phát triển các kỹ năng chuyên nghiệp của mình. Tất nhiên, muốn có được các đại biểu chuyên trách nhanh chóng trở thành các nghị sĩ chuyên nghiệp thì phải lựa chọn đúng người.   Ba yếu tố cấu thành tính chuyên nghiệp của một đại biểu chuyên trách nói riêng và đại biểu Quốc hội nói chung là: 1. Chuyên tâm làm một việc; 2. Yêu thích việc đang chuyên tâm làm; 3. Làm tốt việc đang chuyên tâm làm.       Trong quá trình hiệp thương lựa chọn các ứng cử viên, ham muốn làm đại biểu phải được coi là một tiêu chí quan trọng để lựa chọn và giới thiệu.      Xét về yếu tố thứ nhất, Quốc hội chúng ta đang được chuyên nghiệp hóa từng bước khá vững chắc. Cụ thể, số lượng đại biểu chuyên trách đang được tăng lên từng khóa. Số lượng đại biểu chuyên trách đã tăng đều qua từng nhiệm kỳ gần đây: từ 30% lên 35% và sắp tới là 40%. Tiến đến một Quốc hội với 100% đại biểu hoạt động chuyên trách, con đường chắc vẫn còn rất xa xôi. Tuy nhiên, so với thời kỳ trước đổi mới, đây vẫn là một bước tiến vượt bậc khi đó không có đại biểu nào hoạt động chuyên trách cả.   Việc tăng cường đại biểu chuyên trách khó khăn không hẳn vì chúng ta không có đủ tiền để chi trả cho các vị đại biểu, mà còn do quan điểm cho rằng các vị đại biểu phải gắn bó máu thịt với đời sống của tầng lớp dân cư mà họ đại diện. Mà họ phải cùng sống, cùng làm việc với tầng lớp cử tri của mình, thì không thể làm đại biểu chuyên trách được. Tuy nhiên, gắn bó là một chuyện, có động lực đại diện lại là một chuyện khác. Ngoài ra, có động lực đại diện mà không có các kỹ năng chuyên nghiệp để đại diện, thì lại cũng khó có thể giúp ích được gì nhiều cho cử tri.  Xét về yếu tố thứ hai, quả thực, chúng ta có thể biết chính xác có bao nhiêu phần trăm đại biểu làm việc chuyên trách, nhưng rất khó có thể biết có bao nhiêu phần trăm đại biểu yêu thích, đam mê nghề làm đại biểu. Như đã nói ở trên, làm đại biểu là một nghề rất khó, không có đam mê chắc chắn sẽ khó có thể theo đuổi đến cùng. Vấn đề đặt ra là làm sao để trong 40% các đại biểu chuyên trách, chúng ta đều lựa chọn được những người đam mê và có năng khiếu làm đại biểu Quốc hội? Bảo đảm quyền lựa chọn tự do để làm đại biểu là câu trả lời cơ bản nhất ở đây. Tuy nhiên, tạm thời thì điều này mới chỉ chắc chắn đúng cho các đại biểu tự ứng cử. Vấn đề là những đại biểu tự ứng cử sẽ có rất ít cơ hội được lựa chọn làm đại biểu chuyên trách. Mà như vậy, thì quan trọng là trong quá trình hiệp thương lựa chọn các ứng cử viên, ham muốn làm đại biểu phải được coi là một tiêu chí quan trọng để lựa chọn và giới thiệu.   Xét về yếu tố thứ ba, sự hiểu biết về quy trình, thủ tục của Quốc hội và kỹ năng sử dụng các quyền năng của đại biểu để thúc đẩy chính sách, giám sát Chính phủ, giải quyết các yêu cầu của cử tri ở đơn vị bầu cử chính là nội dung cơ bản cấu thành năng lực làm đại biểu. Có hai cách để bảo đảm tính chuyên nghiệp ở đây. Một là bảo đảm cơ hội tái cử cho các đại biểu chuyên trách. Các đại biểu này đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và phát triển được nhiều kỹ năng quan trọng. Trong quá trình hiệp thương, các ứng cử viên đã từng làm đại biểu chuyên trách cần được ưu tiên giới thiệu. Cách thứ hai là tổ chức đào tạo cho các đại biểu chuyên trách mới trúng cử lần đầu. Quốc hội ta có Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử để làm công việc này.      Nếu cả nước có 184 đơn vị bầu cử, thì ít nhất mỗi đơn vị bầu cử cần phải có được một đại biểu hoạt động chuyên trách.      Cuối cùng, Hiến pháp quy định: đại biểu Quốc hội vừa phải đại diện cho cử tri đã bầu ra mình, vừa phải đại diện cho nhân dân cả nước. Nếu chỉ có 40% đại biểu hoạt đông chuyên trách thì có phải là chỉ có 40% cử tri được đại diện bởi những đại biểu có thời gian hơn và có điều kiện hơn không? Phân chia đại biểu hoạt động chuyên trách công bằng giữa các đơn vị bầu cử vì vậy là rất quan trọng ở đây. Nếu cả nước có 184 đơn vị bầu cử, thì ít nhất mỗi đơn vị bầu cử cần phải có được một đại biểu hoạt động chuyên trách. □    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Đại biểu dân cử cần có nhóm cử tri riêng      Cử tri, dù ở trong thể chế nào, đều có những lo toan, trăn trở, bức xúc gắn với cuộc sống, công việc đời thường của mình: người nông dân mong muốn giá cả nông phẩm ổn định ở mức cao, còn giá vật tư, nguyên liệu, thuốc trừ sâu, cũng như các loại thuế ổn định ở mức thấp; doanh nhân chờ đợi sự cải thiện chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh và sự bảo đảm đối với quyền sở hữu; người dân vùng quy hoạch trông đợi chính sách đền bù và tái định cư hợp lý; người nhập cư hy vọng có được một quy chế hành chính khả quan… Trong khi đó thì hầu hết đại biểu dân cử lại không biết đa số những người bỏ phiếu cho mình mang thân phận xã hội nào, đang theo đuổi lợi ích cơ bản nào trong cuộc sống dân sự.       Dưới một cơ chế bầu cử dân chủ, minh bạch, sòng phẳng, ứng cử viên nhạy bén luôn tìm cách nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chung và thiết tha nhất của những người đi bỏ phiếu tại khu vực bầu cử của mình. Ứng viên sáng giá nhất là người xây dựng được chương trình tranh cử với các cam kết hành động thiết thực, có tính thuyết phục và khả thi cao nhất, nhằm thúc đẩy việc cải cách, hoàn thiện pháp luật, thể chế, để giải quyết đòi hỏi chính đáng của đa số cử tri bỏ phiếu cho mình.    Thực ra, ứng viên có thể khai thác nhiều mối quan hệ có tác dụng tạo nguồn thu gom phiếu của cử tri: quan hệ nghề nghiệp, bè bạn, tình cảm, trang lứa… Nhưng cam kết bảo vệ lợi ích thiết thân của người bỏ phiếu nhất định là biện pháp hữu hiệu nhất để tranh thủ sự tín nhiệm của cử tri phổ thông không quen biết.   Quan hệ giữa ứng viên và người bỏ phiếu tín nhiệm (do tin tưởng vào lời cam kết của ứng viên) mang đầy đủ tính chất của quan hệ uỷ quyền: bằng lá phiếu, cử tri xác nhận việc giao cho ứng viên quyền đại diện cho mình để bảo vệ các lợi ích của mình tại thiết chế quyền lực. Cử tri theo dõi, giám sát, đánh giá hành vi, thái độ của người được mình bầu ra; rồi, tuỳ theo kết quả thực thi cam kết của người đại biểu, cử tri quyết định liệu có tiếp tục dành cho người này sự tin cậy trong các nhiệm kỳ sau.  Chính vì phải chịu sức ép thường xuyên của nguy cơ đánh mất sự tín nhiệm của nhóm cử tri có lợi ích được đại diện, mà người đại biểu phải tỏ ra tích cực trong việc bảo vệ lợi ích đó, nhất là trong quá trình tham gia hoạch định chính sách hoặc xây dựng pháp luật. Sự mẫn cán, tận tuỵ của đại biểu được tưởng thưởng bằng sự trung thành của cử tri. Giống như khách hàng trung thành của thương nhân tạo nên giá trị của thương hiệu trong thế giới kinh doanh, cử tri trung thành của đại biểu dân cử tạo ra tên tuổi, uy tín, niềm tự hào và thế lực của người đại biểu trong đời sống chính trị.       Ở Việt Nam, người ta dần dần đã quen với việc coi bầu cử không chỉ như là cách hợp thức hóa lộ trình đi vào cơ quan quyền lực nhà nước của những người được lựa chọn trước. Đặc biệt, những ứng viên được các thiết chế công chính thức đề cử, nghĩa là được giao sứ mạng, mang tính công vụ, giành lấy vị trí người đại biểu qua cuộc sàng lọc của nhân dân, đã nhận biết được sự cần thiết của việc tự mình chủ động tìm kiếm sự tín nhiệm của cử tri; ít nhất, bản thân ứng viên phải có những nỗ lực nhằm hạn chế các rủi ro bị loại bởi những lá phiếu ngoài tầm kiểm soát.  Tuy nhiên, cho đến nay, người đại biểu Quốc hội, đại biểu dân cử nói chung, không xây dựng đội ngũ cử tri trung thành của mình, đúng hơn là không biết và không bận tâm đến việc đó. Đứng trước người bỏ phiếu tiềm năng, ứng viên thường chỉ tìm cách cho thấy tâm huyết của mình đối với việc bảo vệ một lẽ phải, lẽ công bằng  chung chung. Ứng viên xuất xứ từ một khu vực nghề nghiệp nào đó xây dựng chương trình hành động cho phép phát huy năng lực nghề nghiệp của mình. Chẳng hạn kiểm sát viên cam kết đấu tranh cho việc bảo đảm tuân thủ pháp luật; lãnh đạo ngành công nghiệp cam kết thúc đẩy phát triển công nghiệp; nhà giáo có kế hoạch cải thiện chất lượng hệ thống giáo dục; lãnh đạo hội phụ nữ dự kiến đẩy mạnh phong trào bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự tiến bộ của phụ nữ. Ứng viên đang giữ vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước được trông đợi sẽ dùng ảnh hưởng của mình, quyền hạn trong tay mình để can thiệp nhằm thúc đẩy việc thông qua các chính sách, quy định có lợi cho địa phương nơi ứng cử.             Trong điều kiện người ứng cử không đề ra mục tiêu nào cụ thể, gắn cuộc sống, công việc đời thường của cử tri, cho nhiệm vụ đại biểu của mình, người bỏ phiếu tất nhiên không thể nhắm đến mục tiêu cụ thể nào khi quyết định đặt sự tín nhiệm của mình vào người được bỏ phiếu. Trong trường hợp điển hình, cử tri của đại biểu là toàn thể nhân dân địa phương, tức là một cộng đồng người gắn với một phần lãnh thổ. Nhiều đại biểu không biết đa số những người bỏ phiếu cho mình mang thân phận xã hội nào, đang theo đuổi lợi ích cơ bản nào trong cuộc sống dân sự.  Với hệ thống đang vận hành, cơ quan đại diện dân cử vẫn phản ánh được cánh cấu trúc thành phần xã hội, nhưng không phản ánh được cấu trúc lợi ích xã hội. Người đại biểu, mỗi khi lên tiếng tại diễn đàn của các thiết chế công, không đại diện cho một nhóm cử tri nào có chung các đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, thậm chí không đại diện cho thành phần xuất thân, nghề nghiệp của mình. Đại biểu chỉ đại diện cho tỉnh, thành nơi mình ứng cử và, nói chung, cho lợi ích của dân tộc, của quốc gia.  Tất cả những điều đó dẫn đến một hệ quả logic: cho đến bây giờ, người đại biểu dân cử ở Việt Nam thực hiện chức năng đại diện, phần lớn trường hợp, theo cung cách một công chức, chứ không phải một nhà chính trị; cơ quan đại diện dân cử, về phần mình, cũng được hành chính hóa thành thiết chế quản lý quyền lực nhà nước. Có thể hiểu tại sao cơ quan lập pháp cứ miệt mài “sáng tác” ra luật để đưa vào cuộc sống; trong khi chức năng đích thực của cơ quan lập pháp là, trên cơ sở cân phân các lợi ích khác biệt được các đại biểu khác nhau bảo vệ, chuẩn hóa các lề thói, xu thế ứng xử tích cực trong cuộc sống, thành luật.  Mặt khác, trong điều kiện cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm chuẩn bị các dự án luật, việc người đại biểu dân cử không bảo vệ một lợi ích nào đặc thù cho phép cơ quan hành pháp thông qua cơ quan lập pháp để luật hóa việc ưu tiên bảo vệ các lợi ích được cơ quan hành pháp (có lẽ đúng hơn, các cá nhân nắm quyền trong cơ quan hành pháp) theo đuổi.  Thế còn việc cơ quan hành pháp, trong quá trình xây dựng pháp luật, lựa chọn lợi ích được bảo vệ như thế nào giữa các lợi ích không giống nhau, tất nhiên, nằm ngoài tầm hiểu biết, kiểm soát của người dân.        ẢNH:Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tiếp xúc cử tri Hà Nội    Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại dịch Covid-19: KHXH giúp trả lời những câu hỏi gì?      Cuộc khủng hoảng đa diện bắt đầu từ lĩnh vực sức khỏe – y tế này đã tác động nhanh đến kinh tế, tài chính, sản xuất và mọi mặt đời sống xã hội trên toàn cầu ở mức kỷ lục. Nhưng nó cũng khiến các chính phủ phải lựa chọn, đặt ra các giải pháp mới, mà có thể sẽ gây nên những hiệu ứng dây chuyền khác. Lúc này, các ngành KHXH&NV có thể giúp trả lời những câu hỏi gì?      Paris sau lệnh phong tỏa.  Có lẽ đây cũng là cuộc khủng hoảng mà bên cạnh những tư vấn về y khoa thì tiếng nói của ngành KHXH&NV thực sự được lắng nghe và tham chiếu để đưa ra các quyết định chính sách phù hợp. Kể từ khi lệnh cách ly và phong tỏa ban ra ở các quốc gia, những bài xã luận, bình luận và phỏng vấn các nhà nghiên cứu KHXH&NV (sử học, xã hội học, nhân chủng học, tâm lý học, kinh tế học, truyền thông…) lại xuất hiện đều đặn mỗi ngày trên các phương tiện truyền thông toàn cầu (Lidewij Edelkoort, chuyên gia dự đoán xu hướng (trend forecaster) người Hà Lan, Yuval Noah Harari, nhà sử học người Israel, nhà xã hội học và triết học người Pháp Dominique Méda, kinh tế gia người Pháp Thomas Piketty…). Đài báo giúp độc giả đọc và phân tích lại những công trình của ngành nhân chủng học để nhìn nhận lại tiến trình lịch sử nhân loại gắn mốc với những đại dịch, như Claude Lévi-Strauss về mối liên hệ giữa loài người và động vật gây nên dịch bệnh, Frédéric Keck và James Scott về mặt trái của các nền văn minh và toàn cầu hóa gây ra đại dịch…  Trong bối cảnh không đề phòng và chuẩn bị trước đại dịch này, một trong các biện pháp nước Pháp thi hành ngay là thiết lập một ủy ban khoa học (gồm 11 chuyên gia, bác sỹ và nhà nghiên cứu) cố vấn cho Tổng thống, Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Y tế. Lần đầu tiên, tại Pháp, KHXH&NV với đặc điểm đa và liên ngành được huy động để tham gia trận chiến này trong việc nhận định, đánh giá, phân tích, hướng dẫn và khuyến cáo các cơ quan công quyền trong việc xử lý khủng hoảng.  Ứng phó và quyết định trong tình huống chưa từng có tiền lệ  Chưa bao giờ số lượng người mắc dịch tăng mạnh, số lượng người tử vong tăng nhanh, chưa bao giờ có tình trạng cả một quốc gia hay nhiều thành phố của một quốc gia bị phong tỏa, nhiều biên giới quốc gia bị chặn cả đường bộ lẫn hàng không, chưa khi nào toàn bộ hệ thống trường học toàn quốc khép cổng, cũng chưa từng toàn bộ cơ quan công sở đóng cửa, cũng chưa từng xảy ra tình huống làm việc từ xa lên đến hàng chục triệu người…  Trong bối cảnh của những “chưa từng có tiền lệ” này, chính phủ và các thiết chế công quyền tại Pháp đồng lòng chung sức với các nhà khoa học. Nhưng mỗi bên phải giữ đúng vai trò của mình, tạo nên một phân giới giữa quyết định chính trị và chuyên môn khoa học, như vậy mới giữ được sự độc lập của khoa học và tính trách nhiệm của chính trị.  KHXH&NV đóng góp như thế nào?    Sau khi có bản phân tích của ủy ban khoa học, ngay tối ngày 24/3, Thủ tướng phát biểu tuyên bố xiết chặt lệnh phong tỏa: mọi công dân chỉ được ra khỏi nhà để mua nhu yếu phẩm hay chơi thể thao tối đa 1 tiếng và trong bán kính 1km², ra khỏi nhà phải mang theo giấy chứng nhận di chuyển nếu không cảnh sát sẽ phạt 135 euros, phải đứng cách xa nhau 1m tại các cửa hàng siêu thị, cấm họp chợ trời … Ảnh: Thụy Phương.  Tuy nhiên, cùng với sức khỏe cộng đồng thì hàng loạt các vấn đề xã hội như liên kết xã hội, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, môi trường sinh thái, chính trị, quản trị, tín ngưỡng, lãnh thổ, lưu thông kinh tế… tức là gần như toàn bộ mọi mặt hoạt động của xã hội đang bị con virus này tác động và chất vấn. Và chỉ có các ngành KHXH&NV mới có thể đưa ra các kịch bản, tình huống, phân tích lẽ thiệt hơn, đánh giá tác động tới các nhóm để tư vấn cho chính phủ.  Cách ly và phong tỏa diện rộng đang và sẽ tác động đến vấn đề tâm lý và tinh thần của toàn dân từ trẻ nhỏ đến người gi: gây ra stress, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn…, tùy mức độ nặng nhẹ ở từng cá nhân. Tử vong nhanh và nhiều, ban đầu là những người vốn mắc bệnh, giờ đến cả người trẻ khỏe, khiến cho vấn đề tín ngưỡng, tâm linh và tôn giáo cũng cần được lưu tâm khi đại dịch đi qua. Còn ở trong cơn dịch thì việc cấp bách hơn là xử lý thi thể ra sao với dân sự (nhà lễ tang), quân đội (vận chuyển) và cả các nghi lễ tang (hỏa táng hay chôn cất)…  Nếu như các bác sỹ nói rằng phong tỏa là chiến thuật để ngăn chặn dịch thì các nhà xã hội học và tâm lý học lên tiếng ở phương diện khác về các hệ quả của chiến thuật này để chính phủ có cái nhìn toàn cảnh, điều chỉnh chính sách sao cho giảm bớt các hệ quả không đáng có. Phong tỏa là cần thiết nhằm chặn đứng Covid-19 nhưng cũng làm tăng lên bất bình đẳng xã hội giữa các tầng lớp dân chúng, tăng nguy cơ cho những người yếu thế (phụ nữ bị bạo hành, người khuyết tật, vô gia cư, người gia cô đơn, người nhập cư hay tù nhân…). Ngoài ra, bất bình đẳng không như nhau ở mỗi độ tuổi, mỗi giai tầng hay mỗi địa bàn sống. Vì vậy, các nhà xã hội học phải phân tích được sự tiếp nhận và phản ứng với Covid-19 ở trong dân chúng, về việc tán thành – tuân thủ hay không của họ trước các biện pháp của chính phủ. Các nhà khoa học xã hội cũng phải tính đến hệ quả tâm lý của các biện pháp đó. Ví dụ, hệ quả của phong tỏa sẽ như thế nào với mỗi cá nhân (đến tâm lý và công việc…), gia đình (trông trẻ, dạy trẻ, chơi với trẻ, trẻ nhỏ cũng khác với trẻ đang lớn…), các nhóm nghề nghiệp (y tế, tài chính, giao thông, dịch vụ…), quần chúng (tương trợ – đoàn kết láng giềng, giữa các thế hệ hay liên kết xã hội…). Từ đó để “đánh động” nhà cầm quyền trước khi những quyết định chính trị được ban ra: rằng biện pháp này hay biện pháp kia sẽ tác động đến từng bộ phận trong xã hội như thế nào?        Trong trận đại dịch này nhiều phân tích của các nhà khoa học xã hội đã chỉ ra đây có thể là “thời cơ” ra đời rất nhiều giải pháp kiểm soát người dân nhân danh kiểm soát dịch bệnh, là cái cớ để các chính quyền tăng cường giám sát người dân.      Đối với nhà xã hội học Antonio Casilli, việc phong tỏa này tác động hoàn toàn trái ngược nhau ở hai đối tượng lao động: những người làm việc tại gia và những người làm việc tại chỗ (thu ngân hay giao hàng…). Bất bình đẳng rất rõ khi một bên bạn thuộc tầng lớp trung lưu, có nguồn tài chính vững, căn hộ rộng 120m² ở thủ đô, hoặc có thêm ngôi nhà thứ hai ở nông thôn, vườn rộng 500m², thì làm việc tại gia với điện thoại smartphone và máy tính xách tay lại trở thành khoảng thời gian rút lui và giãn cách khỏi đời sống xã hội (social disconnection), giải trí và thư giãn bên người thân. Nhưng bên kia, nếu bạn thuộc tầng lớp bình dân, làm những nghề nằm ở cuối dây chuyền sản xuất và cung ứng (last miles jobs) như bán hàng, giao hàng, vận chuyển hàng thì trong tình cảnh này họ vẫn phải đi làm, khả năng lây và truyền bệnh vừa dễ vừa nhanh. Từ vài năm trở lại đây, đặc thù công việc đã biến họ trở thành người lao động tự do bấp bênh, bị “Uber hóa”. Giới công đoàn đã cảnh báo những tình huống thảm kịch có thể rơi vào đầu những người lao động này nếu mất việc, hết lương, không được hưởng quyền lợi của người lao động bình thường.  Đây là lần đầu tiên 43% dân số toàn cầu (7,8 tỉ dân) bị “giam lỏng” tại nhà. Đặc điểm căn bản nhất là sự cách ly nhóm, tức là theo từng hộ gia đình. Theo nhà triết học Olivier Remaud, sự cách ly này bắt buộc các thành viên phải thiết lập một trật tự mới, phải biết tương tác và có khả năng thương lượng. Tôn trọng, độ lượng và tương trợ là những tiêu chí cần có để duy trì sự chung sống khép kín sao cho êm ấm trong nhiều tuần. Nếu không, chỉ nêu ra ví dụ sau là chúng ta có thể thấy bất bình đẳng giới và bất bình đẳng xã hội đè nặng lên vai người phụ nữ. Phụ nữ vừa phải làm việc tại gia, vừa phải chăm con, cho con học bài, chợ búa, cơm nước… thì quãng thời gian cách ly này quả là cực hình. Sau tuần đầu tiên phong toả, các tổ chức nữ quyền ở Pháp cho biết tình trạng phụ nữ bị chồng đánh tăng 34%. Chính phủ đã chỉ thị hiệu thuốc (thay vì cảnh sát như mọi khi) tiếp nhận phụ nữ bị hành hung.  Theo nhà tâm lý học Catherine Tourette-Turgis, “cách ly lên quá 10 ngày có thể gây ra những hội chứng stress hậu chấn thương”, nghĩa là nó có thể biểu hiện thành những căng thẳng, lo lắng, chán nản, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa, nghiện… Lúc đó, chúng ta cần được chăm sóc sức khỏe tinh thần nhờ bác sỹ tâm lý hoặc những trợ giúp xã hội trong và sau thời kỳ cách ly. Bản thân xã hội cũng điều chế ra “kháng thể” cho chính mình – cơ chế tự điều chỉnh để vượt qua khủng hoảng bằng tinh thần đoàn kết và tương trợ láng giềng và liên thế hệ. Các nhà sử học, nhân loại học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế học với những chuyên ngành hẹp như xử lý và quản trị trong khủng hoảng, nhân đạo, tâm lý học đám đông, quản trị thiết chế, được huy động để lý giải và tìm ra giải pháp thoát khủng hoảng.  Hậu đại dịch: Điều gì sẽ tới?    Khi đại dịch đi qua, cơn stress kinh tế sẽ phủ ngay lên đầu tất cả chúng ta, từ người đi làm đến các ông chủ: phải lấy lại tiền, lợi nhuận, công suất đã bị giảm sụt hay mất đi trong nhiều tuần. Lúc đó, KHXH&NV, đặc biệt những chuyên ngành kinh tế học, chính trị học, truyền thông…, phải tiếp tục truy vấn và tư duy lại toàn bộ hệ thống để đối mặt với những cuộc khủng hoảng mới.  Phục hồi kinh tế là việc ưu tiên số một của các chính phủ khi đại dịch kết thúc. Chỉ riêng với nước Pháp, và chỉ tính riêng hai lĩnh vực, công nghiệp sản xuất ô tô và công nghiệp dược phẩm phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc. Theo nhà kinh tế học Thomas Piketty, đại dịch đi qua sẽ là lúc phải tìm ra những tiêu chí mới cho nền quản trị kinh tế toàn cầu. Sự phụ thuộc vào nguồn – nơi sản xuất, chuỗi vận chuyển hàng hóa, phương thức tiêu thụ buộc chúng ta phải nghĩ đến việc tái công nghiệp hóa, giải toàn cầu hóa (deglobalization) và tái lãnh thổ hóa dây chuyền sản xuất. Tiêu dùng và thói quen tiêu dùng cũng phải thay đổi, chí ít như mua và tiêu thụ sản phẩm địa phương, tại chỗ, hạn chế tiêu thụ đại trà. Sản xuất và tiêu dùng phải được đặt trong mối tương quan với môi trường và sinh thái. Công nghệ và truyền thông cũng sẽ thay đổi diện mạo và bước vào kỷ nguyên mới của riêng mình sau đại dịch Covid-19. Làm việc từ xa chắc chắn không còn là thể nghiệm mà trở nên đại trà và tạo nên thói quen làm việc mới. Giáo dục trực tuyến cũng sẽ được dân chủ hóa.  Nhiều năm trở lại đây, các nước dân chủ phương Tây phải đối mặt liên tục với khủng bố, xử lý khủng hoảng và tình thế cấp bách nên các chính phủ thiết chặt các quyền công dân và tăng quyền kiểm soát của công quyền. Giới trí thức và luật pháp nhìn thấy rõ những mối nguy về nhân quyền và dân chủ trong các biện pháp này vì nhà nước có thể viện cớ “chống khủng bố” hay “giải quyết khủng hoảng” để nhắm vào mục đích khác. Trong trận đại dịch này, nhiều phân tích của các nhà khoa học xã hội càng cho thấy nguy cơ đó rõ ràng hơn bao giờ hết. Như Harari đã chỉ ra, đây có thể là “thời cơ” ra đời rất nhiều giải pháp kiểm soát người dân nhân danh kiểm soát dịch bệnh, là cái cớ để các chính quyền tăng cường giám sát người dân. Do đó, để cứu lấy cái sinh thể xã hội thì quyền tranh luận, phản biện và tố giác của mọi công dân phải luôn được duy trì.  Các chính phủ, trong đại họa virus này, đều đang thấm thía một điều: phải đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho nền y tế công và nghiên cứu khoa học cơ bản. Nhưng nghiên cứu, không có nghĩa là chỉ hiểu được độc lực mạnh yếu của con virus mà còn phải hiểu được chính cái sinh thể xã hội này và hành vi con người, phải có cái nhìn toàn diện về xã hội. Đây không thể bị coi là hai ngành dịch vụ hay ngành sản xuất buộc phải đem lại kết quả tức thì và vì lợi ích trước mắt. Nếu không, nhân loại sẽ phải đối mặt với đại họa mới mang tính toàn cầu mà nhiều nhà khoa học đã dự báo trước: thảm họa khí hậu, hạn hán, cháy rừng, ngập lụt, hung bạo cũng không kém gì một con virus.  Nếu thiếu nghiên cứu để rút ra các bài học quản lý, loài người sẽ “lỡ hẹn” tiếp với Lịch sử! □  Paris, tháng 3/2020  ——–  *Phó giám đốc Mạng lưới Giáo dục – AVSE – Global    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Đại dịch Covid-19: Một góc nhìn về người Việt Nam mắc kẹt ở nước ngoài      Tình cảnh túng quẫn của những người mắc kẹt ở Nhật Bản đang chờ đợi chuyến bay trở về chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh chung người lao động Việt Nam ở nước ngoài bị ảnh hưởng bởi Covid-19.      Bữa cơm của những người mắc kẹt do Covid-19 ở Đại Ân tự (Daionji), TP.Honjo (tỉnh Saitama, Nhật Bản). Nguồn: Chụp màn hình của The Asahi Shimbun.  Một thực trạng đau lòng     Có lẽ phần lớn những người Việt tại Nhật Bản không còn nghĩ đến “vận may” khi chưa bị mắc Covid vì dưới góc độ khác, họ đã bị con virus này dồn vào chân tường: thứ nhất là nhiều người mất việc và thứ hai là không thể về quê hương do không có các chuyến bay thương mại thường xuyên nên phải lang thang vạ vật xếp hàng chờ đến lượt được bước lên những chuyến bay giải cứu do chính phủ tổ chức. Ngày 16/2 vừa qua, một video clip có tiêu đề “Tôi không thể về nhà, nhưng tôi cũng không tìm được việc làm”1 trên blog đài phát thanh truyền hình NHK Nhật Bản nói về tình thế mắc kẹt của họ. Đây là tình trạng mà không chỉ đài NHK mà các tờ báo lớn khác của Nhật như The Asahi Shimbun, phản ánh từ năm ngoái, kể từ khi Covid xảy ra.    Trước đó, những người Việt bị mắc kẹt ở lại đã được truyền thông Nhật chú ý khi vào tháng 10, cảnh sát Nhật Bản đã bắt giữ khoảng 20 người Việt Nam ở các tỉnh Gunma và Saitama vì giết mổ lợn trái phép và ở quá hạn thị thực. Những kênh truyền thông này quan tâm đặc biệt đến người Việt vì theo thống kê hiện nay, tính đến cuối năm 2019, có khoảng 410.000 người Việt sống tại Nhật (tăng khoảng 10 lần sau 10 năm). Và hơn một nửa trong số 410.000 lao động theo chế độ thực tập sinh nước ngoài tại Nhật (tức khoảng 220.000 người) là người Việt Nam. Từ 2016, Việt Nam đã vượt Trung Quốc có số lao động xuất khẩu theo diện thực tập sinh đông nhất tại Nhật. Ngoài ra còn có khoảng 80.000 du học sinh Việt Nam đang học tập ở đây2.    Do khó có thống kê và mô tả nào cho thấy hết được những khó khăn của đồng bào xa xứ, chúng ta chỉ có thể hình dung một phần nào thông qua câu chuyện của những người Việt tìm đến chùa Đại Ân (Daionji) ở TP.Honjo (tỉnh Saitama, Nhật Bản) – ngôi chùa thường giúp đỡ những người Việt cơ nhỡ, đặc biệt trong thời điểm Nhật Bản chịu cơn sóng thần năm 2011, mong được cưu mang. Sư cô Hiền Nhiên, một vị tu hành ở chùa Đại Ân trả lời phóng viên Tia Sáng, “thông thường trước đây mỗi tháng chỉ có vài người, khi cao điểm là vài chục người tới chùa xin cơm, gạo, mỳ gói hoặc tá túc để giải tỏa những khó khăn tinh thần sau khi lao động quá cực nhọc nhưng kể từ Covid, nhà chùa đã tiếp nhận trung bình mỗi tháng 150 em, năm vừa qua đã lên tới hơn 2000 em”. Theo lời kể của sư cô, có thể chia những người xin tá túc vào ba nhóm chính: những lao động xuất khẩu theo diện thực tập sinh hết hạn không có chỗ ở và việc làm; những người không xin được visa để tiếp tục; những người lao động bất hợp pháp chỉ được thuê làm việc tay chân và đã hoàn toàn mất việc. Đáng thương nhất là trong số những người đó có rất nhiều phụ nữ trẻ đang mang bầu, trung bình từ lúc Covid mỗi tháng có 8-9 phụ nữ mang thai tới đây xin tá túc.      Hàng dài những bản thông tin về người mắc kẹt do Covid-19 ở Đại Ân tự.  Nguồn: Chụp màn hình video của The Asahi Shimbun.  Lúc đầu, các sư cô còn có nguồn dự trữ là mấy trăm thùng mì, gạo do Giáo hội Phật giáo Việt Nam gửi sang tiếp tế cho nhà chùa để nuôi các em nhưng rồi cũng không đủ, mà phải kêu gọi cộng đồng người Việt Nam ở Nhật cùng hỗ trợ. Sau khi đài NHK của Nhật Bản làm phóng sự về chùa thì người dân Nhật Bản đã thương cảm gửi lương thực, tiền bạc tiếp tế. Để lo cho sự sinh tồn trước mắt của người Việt lâm vào cảnh khốn khổ, nhà chùa còn vận động tài trợ để mua được hơn 100 tấn gạo, mì gói chất lên xe tải chở đi các điểm, các tỉnh có người Việt đang ở để cứu đói. “Có nhiều bạn đã viết thư về cho nhà chùa là ‘nếu không có 5 kg gạo này thì con chết đói ở nơi này mất sư cô ơi’”, sư cô Hiền Nhiên kể.    Nhưng cái đói cái rét không phải là nỗi ám ảnh duy nhất với những người mắc kẹt, mà còn vấn đề khủng hoảng tâm lý. Hồi tháng 12 năm ngoái3, độc giả của The Asahi Shimbun, một trong năm tờ báo lớn nhất ở Nhật đã biết tới câu chuyện của một lao động 29 tuổi được bạn bè phát hiện trong tình trạng bất tỉnh và con dao đâm vào ngực. Sau khi tỉnh lại, được Đại Ân tự cưu mang, anh đã viết: “Tôi mất việc vì Covid-19. Tôi bị trầm cảm và từng tìm cách tự sát. Xin giúp đỡ tôi!”. Rất nhiều trường hợp như vậy. Mạng lưới của chùa Đại Ân đã kịp thời cứu 10 trường hợp tự tử, có nhiều em về đến chùa, mặc cho mùa đông lạnh vẫn cứ nửa đêm đứng dưới trời tuyết rơi dày, nhưng cũng có mấy trường hợp tự tử mà không ai biết cả, các sư cô chỉ có thể đi cầu siêu cho các em, sư cô Hiền Nhiên cho biết.     Ai giải cứu họ?     Mặc dù chưa phản ánh hết những khó khăn hằng ngày mà những người mắc kẹt tại Nhật Bản phải đối mặt nhưng dữ liệu của Bộ Tư pháp quốc gia này đã vẽ nên một bức tranh tồi tệ: tính đến cuối năm ngoái, khoảng 36.000 thực tập sinh không thể về nước do hạn chế đi lại ngay cả khi thời gian đào tạo của họ ở Nhật Bản đã kết thúc. Sư cô Hiền Nhiên kể, theo thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, đến nay có tới 50 nghìn người đăng ký các chuyến bay giải cứu để về nước, và sau hơn một năm Covid mới giải cứu được 30 nghìn. Nhà chùa Đại Ân cũng hỗ trợ những người xuất khẩu lao động đang ở chùa liên lạc với đại sứ quán để đăng ký trở về.    Có lẽ con số mà nhà chùa và đại sứ quán nắm bắt được cũng chưa phản ánh hết những gì mà người Việt đang trải qua ở Nhật. Tôi đã vào trang chủ của sư cô Tâm Trí, trụ trì chùa Đại Ân, vẫn có những comment xin tá túc, bị trôi, chìm lẫn trong số hàng trăm comment bên dưới các post mà nhà chùa, với chỉ vỏn vẹn bốn sư cô, chưa thể đọc được, ví dụ có tin nhắn “thưa sư phụ, con thất nghiệp đã mấy tháng nay, xin nhà chùa cho đến ở để đợi vé về được không ạ?” vẫn chưa được trả lời. Lần theo facebook của một số bạn, tôi mới biết là nhiều bạn ngay tối hôm qua vẫn phải ngủ ngoài vỉa hè Tokyo. Họ cũng đã liên lạc với đại sứ quán nhiều lần nhưng vẫn chưa nhận được hồi âm, không biết khi nào mới có thể trở về. Sư cô Hiền Nhiên cho biết, các sư cô, có người vẫn còn đang phải đi học đại học, thường phải mở điện thoại, facebook 24/ 24 để tránh sót tin nhắn, fanpage quá nhiều người follow (theo dõi) cũng phải được check tin nhắn chờ, nhưng vẫn không xuể. Có thời điểm cả ba sư cô đều mắc Covid-19 và phải cách ly, chỉ còn lại duy nhất một người lo công việc.      Một thực tập sinh thất nghiệp, hết hạn thị thực đang comment xin tá túc ở chùa Đại Ân. Ảnh chụp màn hình  Theo các thống kê chính thống, Việt Nam có khoảng hơn 500.000 người xuất khẩu lao động đang ở các nước. Ngoài ra, còn có lưu học sinh, chưa kể di cư tự do. Trong tổng số ấy, “con số mắc kẹt, mất việc làm do Covid có lẽ là rất lớn, chưa kể trong bối cảnh hậu Covid vẫn tiếp tục khiến kinh tế các nước gặp khó khăn thì cơ hội tìm kiếm việc làm của người Việt ở nước ngoài cũng rất khó khăn”, TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong, nhận định.    TS. Phùng Đức Tùng cho rằng, người lao động Việt Nam ở nước ngoài có vai trò rất quan trọng với kinh tế xã hội Việt Nam, khi một mặt giúp giảm bớt thâm hụt thương mại cho Việt Nam trong nhiều năm nay, là nguồn vốn quan trọng giúp cho Việt Nam có nguồn lực để phát triển kinh tế; đồng thời giúp giảm sức ép các vấn đề xã hội khi tạo ra việc làm (vì hiện nay Việt Nam chưa thể tạo được đủ việc làm thâm dụng lao động năng suất cao). Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐTB&XH, lượng kiều hối do người lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển về ước đạt 3-4 tỉ USD hằng năm. Để làm được những điều ấy, “họ gần như phải hi sinh toàn bộ cuộc sống của mình, có những người nhiều năm không trở về, cuộc sống như khổ sai, không thể hòa nhập cộng đồng bên đó, tiếng không biết, gia đình không gặp, cuộc sống khổ sở ngay cả lúc bình thường chứ chưa nói lúc Covid”, TS. Phùng Đức Tùng nhận xét. “Do vậy, chính phủ cần nhanh chóng thúc đẩy các giải pháp để đón họ về, chứ các chuyến bay giải cứu hiện nay còn quá ít ỏi, chưa thấm vào đâu so với nhu cầu trở về của người Việt Nam đang mắc kẹt ở nước ngoài”.    Anh cũng nói tới vấn đề sức tải, khả năng nhận cách ly hiện nay ở Việt Nam mà báo chí đã nêu từ cuối năm ngoái và cho rằng vẫn có cách để tận dụng các cơ sở hạ tầng hiện nay làm nơi cách ly cho người Việt Nam từ nước ngoài trở về. Theo anh, đón người Việt trở về, ngoài việc sử dụng các doanh trại quân đội như hiện nay thì có thể sử dụng các trường học nghỉ hè trong ba tháng hè tới để đón người về. Tận dụng các khu vực hải đảo biệt lập cũng giúp cách ly mà không gây nguy cơ lây nhiễm Covid cho cộng đồng. “Huy động cộng đồng, đào tạo cho cộng đồng cách xử lý, làm dịch vụ đón người về. Tôi cho rằng việc huy động cộng đồng để đón người lao động hồi hương về cũng không khó khăn, nhìn từ trận lũ vừa qua có thể thấy được sức mạnh của cộng đồng”, TS. Phùng Đức Tùng nói.□     Cũng có một số trường hợp người xuất khẩu lao động mất việc may mắn tìm được công ăn việc làm mới, nhưng không thấm vào đâu so với số mắc kẹt quá lớn. Trước đây Nhật Bản không cho phép những người lao động xuất khẩu theo diện thực tập sinh hết thời hạn thị thực được phép ở lại, nhưng trong bối cảnh Covid – 19, chính phủ cũng cho phép những người hết hạn thị thực ra khai báo và sẽ được phép làm việc 28 giờ mỗi tuần. Một số tổ chức phi chính phủ như nhóm Hỗ trợ Chung sống Việt Nam – Nhật Bản (Japan-Vietnam Coexistence Support Group) cũng đang nỗ lực hỗ trợ người Việt mắc kẹt ở Nhật tìm việc làm. Jiho Yoshimizu, điều hành nhóm Hỗ trợ, ở Tokyo, cho biết cho đến nay nhóm của cô đã nhận được hàng nghìn trường hợp tìm kiếm sự giúp đỡ, nhưng mới chỉ hỗ trợ tìm việc được cho gần 100 trường hợp.  Nhưng ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Nhật Bản vẫn là phải hỗ trợ chính người lao động Nhật Bản trước, khi mà bất kỳ nước nào bây giờ cũng đều phải ứng phó với nạn thất nghiệp, kinh tế khủng hoảng do Covid-19 gây ra. “Chính sách chống virus coronavirus của chính phủ hiện tại là tập trung vào việc giúp đỡ người Nhật”, Yoshimizu trả lời Reuteurs4  —–  Chú thích   1 https://www.nhk.or.jp/osaka-blog/ohayou/443695.html?  2 http://www.asahi.com/ajw/articles/14125024?  3 http://www.asahi.com/ajw/articles/13968578?  4 https://www.reuters.com/article/us-health-coronavirus-japan-temple-idUSKBN2480P2    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Đại diện cho lợi ích Quốc gia      Quốc hội không phải là tỉnh hội. Vì vậy, Quốc hội phải đại diện cho lợi ích của quốc gia hơn là lợi ích của các tỉnh. Lý là vậy, nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy.      Các vị đại biểu Quốc hội khóa XIII tham dự kỳ họp thứ nhất tại Hà Nội hẳn cũng sẽ cảm nhận được thực tế này ngay từ những ngày hoạt động đầu tiên. Cụ thể, trong việc sắp xếp chỗ ngồi, việc bảo đảm quyền phát biểu, việc thành lập các Ủy ban của QH v.v. và v.v. sức ép phải cân đối lợi ích giữa các tỉnh sẽ luôn luôn hiện hữu.  Sức ép phải cân nhắc và đại diện cho lợi ích của địa phương trước hết do nền tảng bầu cử tạo ra. Phần lớn các vị đại biểu QH của chúng ta đều do các tỉnh giới thiệu (333/500). Số 167 đại biểu do Trung ương giới thiệu thì đều phải về ứng cử tại các tỉnh. Khi trúng cử, họ đều đương nhiên trở thành đại biểu của các tỉnh tương ứng. Hệ thống bầu cử được thiết kế trùng khớp với hệ thống hành chính là nguyên nhân cơ bản gây ra hiện tượng này.  Việc tăng cường tính chất đại diện cho địa phương của Quốc hội còn được củng cố bởi việc các địa phương đều có đại biểu chuyên trách của mình, và việc văn phòng của các Đoàn đại biểu Quốc hội và văn phòng Hội đồng nhân dân của các tỉnh được nhập với nhau làm một. Từ một thiết chế tương đối lỏng lẻo, các đoàn đại biểu Quốc hội đã càng ngày càng xác lập được vị thế của mình, và càng ngày càng được cử tri địa phương nhìn nhận như một tổ chức có thể đại diện được cho quyền lợi của họ. Hệ quả là tâm lý lựa chọn “người nhà” để đại diện cho tỉnh nhà cũng được tăng cường. Trong những nghiên cứu gần đây, tỷ lệ cử tri dành sự lựa chọn cho các ứng cử viên địa phương luôn chiếm tỷ lệ lên đến trên 76%. Với tâm lý này, rủi ro thất cử của các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu về ứng cử tại các tỉnh là có thật và sẽ ngày càng tăng cao.  Đại diện cho các địa phương ở cấp Trung ương là điều cần thiết. Trong các nền quản trị quốc gia điều này đều được tính đến ở những mức độ khác nhau. Một số nước, ví dụ như Đức, còn thành lập cả Thượng viện để đại diện cho các tỉnh. Tuy nhiên,  ở cấp Trung ương thì việc xây dựng cơ chế đại diện cho lợi ích của quốc gia (nghĩa là lợi ích của toàn dân) quan trọng hơn nhiều. Nếu chúng ta không làm được điều này, thì việc nhiều ứng cử viên của Trung ương thất cử chỉ là một hệ lụy rất nhỏ của xu hướng đại diện cho địa phương. Các hệ lụy to lớn hơn là các ưu tiên của quốc gia dễ bị các ưu tiên của tỉnh thành chi phối; là nguồn lực quốc gia bị phân bổ phân tán; là xung đột lợi ích giữa việc giám sát các Bộ trưởng và việc tránh đụng chạm để lợi ích của địa phương không bị ảnh hưởng…    Có lẽ, đã đến lúc cần nghiên cứu để xây dựng một nền tảng bầu cử của quốc gia (của Trung ương) để thay thế cho nền tảng bầu cử của địa phương đang vận hành hiện nay. Trong lúc chưa làm được điều này, các vị đại biểu Quốc hội cần tuân thủ yêu cầu của Hiến pháp là: “không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị đã bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước” (Hiến pháp 1992, Điều 97).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại diện cho nhân dân cả nước      Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho lợi  ích, cho tiếng nói của nhân dân cả nước. Để làm được nhiệm vụ này, các  đại biểu quốc hội cần được đảm bảo về mặt vật chất, đảm bảo thời gian và  đảm bảo tự do đề xuất ý kiến của mình.     Khi trình dự luật nhà văn, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Hồng đã từng trả lời báo chí rằng: “nếu phải lựa chọn giữa Luật biểu tình và Luật nhà văn thì ông vẫn chọn Luật nhà văn”.1 Gần đây nhất khi phóng viên Báo Đất Việt đặt câu hỏi vì sao cần phải có Luật nhà văn, thì ông lại trả lời rằng: “…tôi cũng không biết vì sao cần có Luật Nhà văn. Tôi chỉ thực hiện lời hứa, còn cụ thể vì sao cần có Luật Nhà văn thì tôi chưa nghĩ ra… Tôi chỉ muốn bảo vệ quyền lợi các nhà văn, vì tôi cũng là nhà văn”.2  Vậy là đã rõ Đại biểu Nguyễn Minh Hồng “chưa nghĩ ra vì sao cần dự luật đó” nhưng vẫn cứ trình và mục đích của ông là để bảo vệ quyền lợi của Hội Nhà văn.   Nếu Đại biểu Nguyễn Minh Hồng chưa rõ nhiệm vụ của một Đại biểu Quốc hội thì xin được nhắc lại rằng Điều 97 Câu 1 Hiến pháp 1992 đã qui định rất rõ: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước”. Người Đại biểu Quốc hội khi thực hiện nhiệm vụ phải đại diện cho nhân dân cả nước, đặt lợi ích của toàn dân lên hàng đầu.3 Nếu một Đại biểu Quốc hội tham gia nhiều vị trí khác nhau, chẳng hạn vừa là thành viên của một Hội, vừa là cán Bộ của một Bộ, vừa là Đảng viên, vừa là Đại biểu Quốc hội, thì khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ là Đại biểu Quốc hội, người Đại biểu đó vẫn phải hành động đại diện cho ý chí, nguyện vọng của “nhân dân cả nước”4. Đây là điều mà có lẽ Đại biểu Nguyễn Minh Hồng cần phải hiểu hơn ai hết.  Câu chuyện dự luật nhà văn là như vậy. Ở một khía cạnh khác, qua việc này, tôi nghĩ cũng cần giải đáp vấn đề: Làm thế nào để Đại biểu Quốc hội thực sự thực hiện tốt được vai trò “đại diện cho nhân dân cả nước”?   Người xưa vẫn nói “có thực mới vực được đạo”. Nhiệm vụ của Đại biểu Quốc hội thực tế rất nặng nề. Điều 97 Câu 2 Hiến pháp 1992 qui định: “Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó”. Làm thế nào để “liên hệ được chặt chẽ với các cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri” khi mà các điều kiện vật chất từ chỗ làm việc, kinh phí đi lại, kinh phí khảo sát đánh giá, công tác phí v.v…đến điều kiện thời gian đối với các Đại biểu hiện còn rất hạn chế? Nhiệt tình liệu đã đủ chưa?  Ở nhiều nước hiện nay, nếu như lương hay thu nhập của các Nghị sĩ thường rất cao, cao hơn hẳn so với các nghề nghiệp, công việc khác5 thì Đại biểu Quốc hội nước ta phần lớn là kiêm nhiệm có ít thời gian cho công tác Đại biểu và chỉ được nhận một khoản “hoạt động phí” hàng tháng bằng 1,0 mức lương tối thiểu và những khoản hỗ trợ rất khiêm tốn khác.6   Làm luật thực chất là một qui trình rất phức tạp, tốn kém, nhiều công đoạn. Không có kinh phí, không chuyên nghiệp, không có thời gian, xin thứ lỗi, Đại biểu Quốc hội khó có thể trình được những dự luật có chất lượng, thực sự phản ánh đúng mong muốn của người dân, không thể có đầy đủ những dữ liệu, và cơ sở để thuyết phục được người khác, mà dự luật nhà văn kể trên là một bằng chứng.   Khi đã nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cử tri, Đại biểu Quốc hội còn phải thuyết phục được các Đại biểu khác và nhân dân cả nước. Muốn thuyết phục được người khác, Đại biểu trước hết phải được quyền tự do phát biểu, tự do đưa ra các sáng kiến, các phản biện. Trong khoa học Luật Hiến pháp gọi qui định này là quyền tự do hành động của Đại biểu7. Ở nhiều nước, Hiến pháp đều có những qui định rất cụ thể quyền tự do hành động của Đại biểu, chẳng hạn: Điều 38 Khoản 1 Câu 2 Luật cơ bản của Đức qui định: “Nghị sĩ Hạ viện là những người đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân, chỉ hành động theo nội tâm của mình mà không chịu bất cứ sự ràng buộc chỉ đạo nào khác khi phát biểu hoặc thực thi nhiệm vụ”8; Điều 27 Hiến pháp Cộng hòa Pháp qui định: “Mọi sự áp đặt đối với Nghị sỹ đều vô hiệu. Quyền bỏ phiếu biểu quyết của thành viên Nghị viện là quyền mang tính cá nhân”9; Điều 1 Khoản 6 Câu 3 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ qui định: “Về bất cứ bài phát biểu hay tranh luận nào trong cả Thượng viện và Hạ viện thì các Nghị sĩ cũng sẽ không bị chất vấn ở bất cứ nơi nào khác”.10 Có qui định này, Đại biểu sẽ hoàn toàn yên tâm khi phát biểu, đưa ra các lập luận để thuyết phục các Đại biểu khác mà “không sợ động chạm”. Đại biểu sẽ chỉ nói lên tiếng nói đại diện cho lợi ích duy nhất – lợi ích của nhân dân.  * NCS Đại học Saarland, CHLB Đức  1. Nguyễn Việt Chiến, Nguyệt Minh, Tuệ Nguyễn, Chuyện lạ Luật nhà văn, Báo Thanh Niên Online, ngày 4/11/2011, tại: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111104/chuyen-la-luat-nha-van.aspx   2. Bá Mạnh, Đại biểu Nguyễn Minh Hồng – Tôi cũng không biết vì sao cần Luật nhà văn, Báo Đất Việt, đăng ngày 14/11/2011, tại: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Dai-bieu-Nguyen-Minh-Hong-Toi-cung-khong-biet-vi-sao-can-Luat-Nha-van/201111/177863.datviet   3. Xem thêm: Nguyễn Sĩ Dũng, Đại diện cho lợi ích quốc gia, Tia sáng, đăng ngày 21/07/2011, tại: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4215   4. Một ý kiến của Đại biểu Quốc hội không “đồng nhất” (Identity) với tất cả ý kiến của mọi người dân, nhưng ý kiến đó phải mang tính “đại diện” (Representation), đại diện không phải cho nơi làm việc, cho nơi bầu ra hoặc tổ chức mà đại biểu đó là thành viên, mà phải “đại diện cho nhân dân cả nước” (Tác giả).  5. Tham khảo mức lương (salary) của Nghị sĩ tại Mỹ (số liệu năm 2011), mức lương trung bình của Nghị sĩ Thượng viện hoặc Hạ viện là khoảng 174.000 đô la/1 năm, tham khảo tại địa chỉ website chính thức Thông tin Chính phủ Mỹ: http://usgovinfo.about.com/od/uscongress/a/congresspay.htm; Mức thu nhập chưa tính thuế một tháng (monatliche Einkommen) của một Nghị sĩ ở Đức (số liệu năm 2011) là khoảng 15.636 Euro/1 tháng. Nhà nước Đức phải chi tất cả các khoản cho một Nghị sĩ ở Đức năm 2009 là khoảng 22.500 Euro/1 tháng, tham khảo tại website chính thức của Hạ viện liên bang Đức http://www.bundestag.de/bundestag/abgeordnete17/mdb_diaeten/1333.html và nhà phân tích tài chính Herbert Huber tại địa chỉ http://www.gavagai.de/korrupt/HHD1301.htm.   6. Xem cụ thể các khoản chi tại Nghị quyết của UBTVQH số 1157/NQ-UBTVQH11 quy định một số chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của QH, các cơ quan của QH, các Ban của UBTVQH, VPQH, các Đoàn ĐBQH, ban hành ngày 10/7/2007 (còn hiệu lực).  7. Đảm bảo “Tự do hành động” của Đại biểu khi phát biểu ý kiến, đưa ra các nhận định tại nghị trường (tạm dịch từ nghĩa gốc Tiếng Pháp: Le mandat représentatif; Tiếng Đức: freies Mandat, Tiếng Anh: Free Mandate) là một đảm bảo phổ biến và là đặc trưng cơ bản về thẩm quyền của Đại biểu Quốc hội (Nghị sĩ) ở các nước hiện nay. Xem thêm: Gröpl, Staatsrecht I, 3.Aufl., 2011, Rn. 292 ff., 301, 1018, 1134.  8. Nguyên bản Tiếng Đức: “Sie sind Vertreter des ganzen Volkes, an Aufträge und Weisungen nicht gebunden und nur ihrem Gewissen unterworfen“.  9. Nguyên bản Tiếng Pháp: “Tout mandat impératif est nul. Le droit de vote des membres du Parlement est personnel”.   10. Nguyên bản Tiếng Anh: “For any Speech or Debate in either House, they shall not be questioned in any other Place”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại Hiến chương Magna Carta: Một món quà của nước Anh dành cho nhân loại      Đại Hiến chương Magna Carta là văn bản đầu tiên ghi rõ giới hạn quyền lực của giới cầm quyền, và được đánh giá là điểm mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử nước Anh hay châu Âu mà trên toàn cầu. Những nguyên tắc về pháp quyền được xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong hiến pháp của hầu hết quốc gia.      Bức tranh vua John ký Magna Carta.   Vào ngày 15 tháng 6 năm 1215, tại Runnymede, sau một thời gian xung đột gay gắt, vua John của nước Anh đã rơi vào thế yếu và phải chấp nhận ký kết một văn bản thoả hiệp với các lãnh chúa nước này, mà sau đó được gọi là Magna Carta, hay “Đại Hiến chương”.    Magna Carta đầu tiên bao gồm lời mở đầu và 63 điều khoản. Với tính chất là một hiệp ước hoà bình, mục đích khởi nguyên của Magna Carta là thể hiện sự cam kết của vua Anh tôn trọng quyền lợi của giáo hội và của giới quý tộc phong kiến nước này thời kỳ ấy. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn kiện nổi tiếng này đã vượt xa mục tiêu hạn hẹp đó, chủ yếu qua các nội dung chính đó là:  Mọi người trong xã hội, kể cả nhà Vua, đều phải tuân thủ pháp luật. Vua cũng không được đứng trên pháp luật, cụ thể là không được tùy tiện tăng thuế, bắt giữ người.  Không một công dân tự do nào bị bắt, giam giữ, trừ khi việc đó là do việc xét xử và kết tội của một tòa án được lập ra bởi các công dân khác.  Một người bị bắt giữ cần phải được nhanh chóng đưa ra toà án để xét xử và phán quyết. Không ai bị từ chối quyền và công lý bởi toà án.  Giáo hội Anh được tự do, không chịu sự kiểm soát bởi bất kỳ thế lực nào, kể cả nhà vua và Tòa Thánh Vatican.  Cả bốn nội dung nêu trên đều có ý nghĩa là nền tảng cho sự phát triển của chế độ dân chủ ở nước Anh về sau, tuy nhiên ba nội dung đầu tiên có giá trị nổi bật hơn cả.  Nội dung thứ nhất phản ánh tinh thần thượng tôn pháp luật, theo đó pháp luật là thiêng liêng và tối thượng, là cơ sở xác lập và bảo hộ cho mối quan hệ hài hoà giữa người với người trong xã hội. Thượng tôn pháp luật chính là khởi nguồn và nền tảng của tư tưởng pháp quyền  (rule of law), – một tư tưởng cột trụ của các nền dân chủ. Trong Magna Carta, luật pháp là quy tắc cư xử chung mà chính nhà vua cũng bị ràng buộc và phải tôn trọng. Điều này trên thực tế đã xoá bỏ nhận thức về vị trí và quyền lực tuyệt đối, đứng trên pháp luật của vua chúa phong kiến.  Theo nhận định của một tác giả: “Không có điều gì trong Đại Hiến chương Magna Carta ngăn cản việc ban hành và thực thi các điều luật không công bằng, nhưng nó đưa luật pháp lên một tầng cao mới, vượt qua giới hạn ý chí của những người cai trị”.1  Không chỉ vậy, nội dung đầu tiên của Magna Carta còn bao hàm ý nghĩa kiểm soát quyền lực. Đây là “văn bản đầu tiên” ghi rõ bằng giấy trắng mực đen về giới hạn quyền lực của “giới cầm quyền”, và điều này được đánh giá là “..điểm mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử nước Anh hay châu Âu mà trên toàn cầu” .2  Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến của nước Anh (và có lẽ là trên toàn thế giới), quyền lực chuyên chế của nhà vua bị giới hạn và bị kiểm soát một cách công khai. Cụ thể, trong Magna Carta có một quy định rằng nhà vua không được tùy tiện tăng thuế, và các đạo luật về thuế mà nhà vua dự định ban hành phải có sự nhất trí của một Hội đồng quý tộc (sau này mở rộng thành cơ quan đại diện gồm không chỉ lãnh chúa, quý tộc mà cả thị dân). Bên cạnh đó, Magna Carta cũng thiết lập cơ chế để bảo đảm văn kiện này được thực thi, theo đó trong trường hợp nhà vua không tự nguyện tuân thủ, Hội đồng quý tộc có quyền ra lệnh chiếm giữ đất đai và các lâu đài của nhà vua cho tới khi nhà vua phải chấp nhận và khắc phục.  Nội dung thứ hai phản ánh tinh thần bảo vệ quyền con người khỏi những hành xử tuỳ tiện của vua chúa phong kiến. Trong thời kỳ phong kiến, việc thách thức quyền năng tuyệt đối của vua chúa với thần dân là rất khó khăn, vì vậy, việc bắt buộc vua chúa phải tôn trọng các quyền của người dân thật sự là một bước tiến nhảy vọt.    Điều 39 Magna Carta qui định: “Không có bất cứ một người tự do nào có thể bị giam cầm hay bỏ tù, bị tước quyền hoặc tịch thu tài sản, bị đặt ngoài vòng pháp luật hoặc bị tước địa vị dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta cũng không thể dùng vũ lực để ép buộc người đó hoặc khiến người khác làm như vậy, trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng với người đó hoặc bởi pháp luật nơi người đó cư ngụ qui định như vậy”.      Những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến chương đã khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng trong tất cả những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của thế giới, trong đó có Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948.      Mặc dù ở thời kỳ đầu, quy định trên chỉ áp dụng với tầng lớp lãnh chúa, quý tộc, song đây chính là tiền đề để sau này Nghị viện Anh đã ban hành các đạo luật bảo vệ các quyền và tự do của tất cả mọi người, trong đó bao gồm Luật cấm bắt giam người trái pháp luật (Habeas Corpus, hay còn gọi là Luật bảo thân), năm 1679 – quy định một người bị bắt có quyền được nhanh chóng đưa ra một toà án để xác định tính chất hợp pháp của việc bắt giữ họ;  Luật khiếu nại về quyền (Petition of Right), năm 1628 – quy định một người chỉ có thể bị tống giam khi có phán quyết của Tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bộ luật về quyền của nước Anh (English Bill of Rights) năm 1689 – quy định về quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận và một số quyền con người khác…  Nội dung thứ ba đề cao công lý và vai trò của toà án trong việc bảo vệ công lý. Thực chất nội dung này đã tước bỏ quyền xét xử của nhà vua và trao cho một thiết chế chuyên môn độc lập là toà án. Lịch sử hiện đại của nhân loại đã chứng minh rằng hướng tiếp cận này là hoàn toàn hợp lý và có ý nghĩa đặc biệt to lớn trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ nhân quyền.  Không chỉ vậy, nội dung thứ ba còn hàm ý thúc đẩy cơ chế xét xử công bằng trong hoạt động tư pháp. Cụ thể, cụm từ “[…] trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng với người đó” ở Điều 39 của Magna Carta phản ánh triết lý xét xử phải dựa trên nền tảng công lý (question of justice), chứ không chỉ bám vào luật (question of law)3. Quy định này cũng được xem là nền tảng cho chế độ bồi thẩm đoàn (trial by jury) ở nước Anh và các nước khác theo hệ thống thông luật (common law) về sau.  Tư tưởng về công lý ở Điều 39 còn được củng cố bằng quy định ở Điều 40 của Magna Carta, trong đó nêu rõ rằng:  “Sẽ không ai bị bán cho người khác; quyền hay công lý của bất kỳ ai cũng đều không bị từ chối.” Đoạn thứ hai của quy định này đã đặt ra một nguyên tắc rất quan trọng trong tố tụng, đó là ngay cả khi vụ việc chưa  có luật quy định, thẩm phán cũng vẫn phải thụ lý và xét xử, bởi “công lý bị trì hoãn cũng có nghĩa là công lý bị từ chối” (Justice delayed is justice denied).  Với những ý nghĩa tích cực nêu trên, Magna Carta không chỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền dân chủ ở nước Anh, mà còn ở rất nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là những nước theo hệ thống thông luật. Những nguyên tắc về pháp quyền được xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong hiến pháp của hầu hết quốc gia. Mười tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ thực tế là sự kế thừa các qui định của Magna Carta, đặc biệt là nguyên tắc qui trình tố tụng chuẩn tắc (due process of law) và nguyên tắc mọi người được bảo vệ một cách bình đẳng về luật pháp (equal protection of the law).4 Trong khi đó, những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến chương đã khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng trong tất cả những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của thế giới, trong đó có Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948. Không chỉ vậy, Magna Carta còn được sử dụng như là một vũ khí hiệu quả để chống lại sự lạm dụng và vi phạm nhân quyền trong thực tế. Lịch sử đã ghi nhận ở nước Anh, ngay từ thế kỷ 16, những người nông dân đã biết trích dẫn Đại Hiến chương trong các cuộc đấu tranh chống lại sự bất công5. Còn trong những năm 1640, các nghị sĩ Anh đã coi Magna Carta là một cơ sở pháp lý để lật đổ vua Charles I6. Nhiều nhà cách mạng lớn của thế giới sau này, bao gồm Nelson Mandela, đã biện minh cho những hành động của mình bằng việc dựa vào Đại Hiến chương Magna Carta7.  Tóm lại, có tính chất ban đầu là một hiệp định hoà bình thể hiện mối quan hệ giữa một vị quân chủ và các nhà quý tộc nước Anh từ hơn 800 năm trước đây, song với nội dung hàm chứa những tư tưởng tiến bộ và khai phóng vượt qua tầm thời đại (trung cổ), Magna Carta đã trở thành một biểu tượng đầy sức mạnh trong  tiến trình xây dựng dân chủ và nhân quyền ở nước Anh, châu Âu, châu Mỹ trước đây và trên toàn thế giới hiện nay. Văn kiện này đã và sẽ còn được nhắc đến như một tài liệu có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất về tư tưởng trong lịch sử nhân loại. Chính vì vậy, có thể xem Magna Carta là một trong những báu vật góp phần tạo lên “quyền lực mềm” của nước Anh, là một “món quà của nước Anh dành cho nhân loại”.8   —-  *PGS.TS, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội  1 Peter Singer, “Magna Carta at 800”, Project Syndicate, 04/6/2015, bản dịch của Nghiên cứu quốc tế, tại http://nghiencuuquocte.org/2015/06/26/nguon-goc-va-y-nghia-cua-dai-hien-chuong-magna-carta/  2 BBC Vietnamese, Anh kỷ niệm 800 năm quyền tự do, 31 tháng 12 năm 2014  3 Nguyễn Minh Tuấn, Nguồn cổ vũ đấu tranh chống độc tài chuyên chế, Tuanvietnam.net, 30/5/2015  4 Nguyễn Minh Tuấn, Nguồn cổ vũ đấu tranh chống độc tài chuyên chế, Tuanvietnam.net, 30/5/2015      5 “What is the Magna Carta?”, History.com. Bản dịch của Nghiên cứu quốc tế, tại http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/dai-hien-chuong-magna-carta-la-gi/  6 “What is the Magna Carta?”, History.com. Bản dịch của Lê Hoàng Giang, tại http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/dai-hien-chuong-magna-carta-la-gi/  7 “What is the Magna Carta?”, History.com. Bản dịch của Lê Hoàng Giang, tại http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/dai-hien-chuong-magna-carta-la-gi/  8 BBC Vietnamese, Anh kỷ niệm 800 năm quyền tự do, 31 tháng 12 năm 2014.    Author                Vũ Công Giao*        
__label__tiasang Đại học hàng đầu ở Thái Lan và Việt Nam      Bản thân tôi và nhiều đồng nghiệp lâu nay vẫn nghĩ rằng đại học và khoa học của ta và Thái Lan đều cùng đẳng cấp, cùng nằm trong vùng trũng Đông Nam Á, họ mạnh hơn ta chút ít về các khoa học ứng dụng, ta lại mạnh hơn họ về khoa học cơ bản. Nhưng liệu nhận định này có những cuộc thi đấu quốc tế nào để kiểm chứng như King Cup 2006 vừa qua?     Có nhiều cách xếp hạng đại học khác nhau  Năm 2004, Đại học Giao Thông Thượng Hải có xếp hạng 500 trường đại học top trên thế giới, trong đó họ chỉ lấy các thành tích nghiên cứu khoa học tầm quốc tế làm tiêu chí, như giải Nobel và Fields, số nhà khoa học được trích dẫn thường xuyên nhất (highly cited researcher), số bài báo quốc tế và số lần được trích dẫn theo cơ sở dữ liệu Web of Science… Không có trường đại học nào của Thái Lan và Việt Nam được lọt được vào top 500 này, nên không có cơ sở để so sánh ta với người bạn láng giềng được.  Năm 2005, Times Higher Education ở Anh xếp hạng các trường đại học trên thế giới dựa vào kết quả thăm dò trên 1300 học giả thuộc 88 nước cùng với ba tiêu chí khác là tỷ số giảng viên/sinh viên, mức độ toàn cầu hóa căn cứ trên phần trăm số giảng viên và sinh viên nước ngoài và số lần trích dẫn các bài báo quốc tế. Mỗi tiêu chí lại được cho một trọng số để tính điểm, lớn nhất là tiêu chí đầu tiên, 50%, các tiêu chí tiếp theo lần lượt là 10%, 20% và 20%. Đại học Chulalongkorn ở Bangkok “bất ngờ” lọt vào vị trí thứ 121 trong top 200 trên toàn thế giới, thậm chí còn trên cả các đại học rất nổi tiếng như Maryland hay Texas A&M của Mỹ, hoặc bằng vai phải lứa với các bậc lão làng như Gottingen ở Đức và Liverpool ở Anh.   Vị trí thứ 121 của Chulalongkorn có được là nhờ nhận xét tốt của 1300 học giả và tỷ lệ giảng viên/sinh viên cao. Nhưng về nghiên cứu khoa học thì trường đại học nổi tiếng nhất này của Thái Lan chỉ là con số 0 tròn trĩnh. Trong khi đó, Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa của Trung Quốc được 1-2 điểm, mấy trường đại học Mỹ, Anh, Đức vừa kể trên từ 7 đến 13 điểm, còn California Institute of Technology đứng đầu bảng, với 100 điểm.   Năm 2006, Times Higher Education lại xếp hạng một lần nữa, cũng dùng những tiêu chí nói trên. Lần này, Đại học Chulalongkorn tụt xuống vị trí 161, mặc dù điểm số về tỷ lệ giảng viên/sinh viên có tăng hơn trước. Malaixia lại có thêm Đại học Kabangsaan lọt vào top 200 ngoài Đại học Malaya, cả hai đều có điểm số về nghiên cứu khoa học thấp nhất (0 và 1).   Đại học Giao Thông Thượng Hải rất có lý khi xếp hạng các trường đại học chỉ dựa vào thành tích nghiên cứu khoa học tầm quốc tế. Kết quả xếp hạng của họ nhìn chung khá phù hợp với công bố của U. S.News and World Report khi xếp hạng các trường đại học Mỹ dựa trên nhiều tiêu chí khách quan đo đếm được, hơn là căn cứ theo kết quả thăm dò các học giả như Times Higher Education. Vả lại, ai cũng biết nghiên cứu khoa học để có công trình đăng trên các tạp chí quốc tế nổi tiếng là nghĩa vụ và áp lực đè nặng lên cuộc sống của mọi giảng viên đại học, bởi nó bảo đảm tính khai phá của công trình khoa học và quyết định chất lượng đào tạo sinh viên.    Không mà có, thậm chí có rất nhiều  Mặc dù điểm nghiên cứu khoa học rất thấp, sự nhìn nhận của số đông học giả đã khẳng định thương hiệu và chất lượng của ĐH Chulalongkorn, mà không dễ gì các đại học Việt Nam có thể đạt được trong 10-15 năm tới. Bởi trong con số 0 về thành tích nghiên cứu khoa học của họ lại là cả một không gian rộng lớn với nhiều cung bậc khác nhau của khối các nước kém phát triển. Số bài báo quốc tế của ĐH Chulalongkorn, cho dù còn rất nhỏ nhoi so với các đại học tiên tiến, cũng đủ làm nên thương hiệu, khiến cho các học giả phải nhìn nhận chất lượng đào tạo của họ.   Trong không gian của các nước kém phát triển đó, khoảng cách giữa họ và ta lại rất lớn. Lục lọi vào cơ sở dữ liệu Web of Science, ta không khỏi bàng hoàng nhận ra điều này. Mà ngoài ĐH Chulalongkorn, Thái Lan còn nhiều đại học khác chẳng kém, như Mahidol và Chiang mai. Giản đồ dưới đây ghi lại bức tranh từ 1996 đến 2006 của ba trường đại học hàng đầu ở hai nước.   ĐH Chulalongkorn là đại học công, năm 2004 có 18 khoa và một số trung tâm với 19.313 sinh viên đại học. ĐHQG Hà nội gồm bốn đại học và ba khoa độc lập với 25.000 sinh viên hệ chính quy. ĐQG TP Hồ Chí Minh gồm bốn đại học với 32.300 sinh viên hệ chính quy (theo sách Giáo dục ĐH Việt Nam, NXB Giáo dục, 2004). Không có số liệu đáng tin cậy về đội ngũ giảng viên, Giáo sư, Tiến sỹ để so sánh. Song về chất lượng, thì số bài báo quốc tế trên giản đồ cho thấy khoảng cách một trời một vực giữa hai nước.  Đây là số bài báo quốc tế dùng nguồn nội lực, không kể những bài báo do hợp tác với nước ngoài, thường nhiều hơn chừng 10% ở ĐH Chulalongkorn, và gấp ba bốn lần ở hai đại học Việt Nam. Làm một công trình khoa học bằng nguồn nội lực của nước mình, nhất là các công trình thực nghiệm, ứng dụng và công nghệ, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ, kinh phí… mới hòng chen được một chỗ đứng nào đó trên mặt tiền thế giới, mà xung quanh toàn là các nước tiên tiến và giàu có. Mặt khác, chính nhờ các công trình dùng nguồn nội lực này mà ta mới trực tiếp đào tạo đội ngũ và tác động đến kinh tế, đời sống của đất nước, những mục tiêu không thể đạt được khi nhà khoa học một mình lên đường đến một cơ sở nghiên cứu có thương hiệu trên thế giới.   Lấy hai năm 2001-2002 để so sánh. Chọn hai năm này vì khoảng thời gian từ đó đến nay vừa đủ để các đồng nghiệp nghiên cứu và trích dẫn các công trình, mà lại chưa quá dài để mất đi tính thời sự. Trong hai năm 2001-2002, số bài báo quốc tế sử dụng nguồn nội lực của ĐH Chulalongkorn gấp 13 lần ĐHQG Hà nội và 34 lần ĐHQG TP Hồ Chí Minh. Số nhà khoa học sử dụng và trích dẫn các công trình của họ nhiều gấp từ 15 đến 73 lần. Nghĩa là, kết quả nghiên cứu của họ vừa nhiều hơn vừa hay hơn. Được trích dẫn nhiều nhất là những công trình về y học, vi rút, hóa sinh, vật liệu và nông nghiệp. Số bài báo về Toán và Vật lý của họ chỉ chiếm 5%, trong khi ở hai ĐHQG VN hai ngành này chiếm trên 75%. Thế mạnh này cũng vừa là điểm yếu của chúng ta, bởi toàn bộ đầu tư tập trung vào những ngành được xem là thiết thực, nhưng lại thiếu chất lượng.   Số bài báo của ĐH Chulalongkorn tăng đều theo cấp số nhân, cứ sau mỗi năm tăng 25%, sau khoảng hơn 3 năm lại tăng gấp đôi. Tăng nhanh và ổn định nói lên một cộng đồng đầy nội lực, “tự phát triển” nhờ có sự gắn bó hữu cơ trong những mục tiêu chung. Nó hoàn toàn tương phản với hai đại học Việt Nam, nơi mà nghiên cứu khoa học tầm quốc tế là hoạt động “a ma tơ”, được chăng hay chớ của một số ít người, không phải là mối quan tâm của cả cộng đồng. Hậu quả là sau hơn mười năm, số lượng công trình vẫn giẫm chân tại chỗ, thậm chí đang tụt dài, vài năm gần đây đã đến mức thê thảm. Năm 2006, ĐH Chulalongkorn công bố 332 bài, trong khi mỗi đại học hàng đầu của chúng ta chỉ có 5-7 bài, mà phần lớn là về toán và vật lý lý thuyết.     Mong sao mọi người đều bị sốc!   Tôi bị sốc hoàn toàn! Gần đây không ít người đã cảnh báo rằng sự tụt hậu về khoa học và đại học của ta thể hiện rõ nhất qua số bài báo quốc tế. Song những con số biết nói đó đã không thuyết phục được những người quản lý và một bộ phận giới khoa học. Ngược lại, ghép nối một số thông tin đây đó, có thể nhận ra lý do tại sao việc này đã bị phớt lờ: “Ta có cách đi của ta”! Và thế là hàng năm Bộ Tài chính vẫn rót đều hai phần trăm ngân sách nhà nước cho KHCN, nay đã lên quá 300 triệu USD.   Mong sao lần này mọi người đều bị sốc. Có sốc mới nhận ra tại sao ta bị lạc đường và tụt hậu đằng xa. Để còn tính chuyện quay trở lại đi cùng với mọi người. Sau đó hẵng nói chuyện xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, cả chuyện đào tạo hai vạn tiến sỹ trong mấy năm tới.     Số bài báo hàng năm sử dụng nguồn nội lực của Đại học Chulalongkorn, ĐHQG Hà nội và ĐHQG Tp Hồ Chí Minh.                           Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học và nghiên cứu ở Việt Nam cần gì ?      Với kinh nghiệm lâu năm làm việc trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý chất rắn tại châu Âu và Hoa Kỳ đồng thời dựa vào kinh nghiệm sáu năm là giảng viên của một số trường đại học Việt Nam và là một nhà nghiên cứu tại một phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ tại Hà Nội, GS.Pierre Darriulat, một trong số những nhà vật lý hàng đầu của thế giới, người bạn thân thiết của Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của Tia Sáng đã lý giải nguyên nhân vì sao cho đến nay Việt Nam chưa có các trường đại học và các viện nghiên cứu chất lượng cao mà đáng ra Việt Nam xứng đáng đã có; đồng thời kiến nghị các giải pháp và công việc nên tập trung thực hiện để cải thiện chất lượng đào tạo đại học và nghiên cứu ở Việt Nam.        Theo GS, trong giai đoạn phát triển hiện nay, Việt Nam cần loại đại học và cơ cở nghiên cứu nào?    Theo tôi, để trả lời cho câu hỏi rất cơ bản có tính chất khung cho sự phát triển của đại học và nghiên cứu này trước hết cần lý giải thấu đáo câu hỏi: Tại sao Việt Nam cần đại học? và Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu? Câu trả lời của chúng khác nhau từ nước này đến nước khác, và trong cùng một đất nước câu trả lời cũng khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử. Chỉ khi những câu hỏi này được trả lời thì người ta mới hy vọng trả lời được các câu hỏi Việt Nam cần loại đại học nào? và Việt Nam cần nghiên cứu gì? Những câu trả lời đó phản ánh một hình thái kinh tế – xã hội mà đất nước muốn có ; là chiến lược phát triển của đất nước mà chính phủ thay mặt nhân dân lựa chọn. Tôi hoàn toàn không thể đưa ra, thậm chí gợi ý, câu trả lời có thể cho các câu hỏi trên. Tôi chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên copy một cách mù quáng những hình mẫu và cách các nước khác đã, đang làm và quá coi trọng lời khuyên của các chuyên gia nước ngoài. Tốt hơn cả là tìm những câu trả lời rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, phổ biến, sử dụng chúng như là một khung chung để từ đó xác định đường lối chỉ đạo và đi lên.    GS có thể đưa ra một vài ví dụ minh họa cho quan điểm của GS.                                   GS.Pierre Darriulat và Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Thắng trong buổi lễ trao huy chương vì sự nghiệp KH&CN  Cách đây năm mươi năm, các nước phương Tây quyết định đại chúng hóa các trường đại học, có nghĩa là mở các trường đại học tới một số lượng lớn hơn nhiều sinh viên so với trước đó. Nhìn chung, đó là một ý tưởng tuyệt vời, là một thành công. Tuy nhiên, cũng có một số thất bại buộc ta cần nhìn lại ý tưởng đó. Rất nhiều sinh viên vào đại học trong đó có những người hoặc là không thể theo hết khóa học do đó người ta phải tạo ra các khóa học ngắn hơn, một hoặc hai năm, để hướng họ tới các trường học nghề khi còn chưa muộn, hoặc bất đắc dĩ phải cố gắng học những khi ra trường phải đối mặt với những vấn đề lớn là tìm kiếm công việc sau khi “mất” một vài năm tại đại học. Có thể nói cùng với việc bảo đảm dân chủ và công bằng trong giáo dục đại học cần phải làm sao để mọi người đều có quyền học nhưng những sinh viên giỏi cũng phải có quyền tiến bộ với tốc độ nhanh hơn và không bị chậm trễ bởi các sinh viên kém.   Thực tế là ở Việt Nam, rất nhiều sinh viên không đủ trình độ hoàn thành bậc học đại học nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi đến tận năm cuối cùng của bậc học này; họ không những làm giảm giá trị của bằng tốt nghiệp mà còn cản trở những sinh viên khá tiếp tục được đào tạo ở mức độ cao hơn mà họ xứng đáng được hưởng. Các lớp cử nhân khoa học tài năng không giải quyết được vấn đề này, sự lựa chọn sinh viên thực hiện ở các lớp này là quá sớm. Theo tôi nên xem xét một cách nghiêm túc việc thay đổi hệ thống lớp học hiện nay, đó là một hệ thống quá cứng nhắc khó thay đổi nếu không muốn nói là không thể. Nên xem xét thay thế hệ thống hiện nay bằng hệ thống đang được sử dụng ở hầu hết các trường đại học trên thế giới, một hệ thống mà sinh viên có thể chọn, theo một vài quy tắc chung phụ thuộc vào kỹ năng và tham vọng của họ, môn học nào và khóa học nào mà họ muốn theo và theo bao lâu. Hệ thống này linh động hơn tạo ra các khoá học ngắn cho những sinh viên không đủ khả năng hoàn thành tất cả các môn học của đại học. Đồng thời, nó cũng tạo cơ hội để đưa vào giảng dạy các môn học mới, ví dụ như vật lý thiên văn, môn học gần đây chưa được dạy tại các trường đại học ở Việt Nam. Nên có khả năng dừng việc học của các sinh viên tại các mức độ khác nhau tương ứng với các bằng khác nhau phù hợp với đòi hỏi của đất nước.                     Đối với những đồng sự trẻ, “bác Pierre”  như một người họ hàng thân thuộc.    Ví dụ khác là: Vai trò của nghiên cứu trong các trường đại học. Ở các nước phát triển nhất, các đại học không tiến hành nghiên cứu là các đại học kém chất lượng. Do vậy ở Việt Nam, Bộ giáo dục và Đào tạo và Bộ khoa học và Công nghệ, tôi không đề cập tới các đơn vị khác, cần hợp tác một cách chặt chẽ để xác định rõ vai trò và mối quan hệ giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu (theo tôi, cần phải giúp đỡ và khuyến khích một cách mạnh mẽ mối quan hệ này). Ở Pháp, sự bình thường hóa quan hệ giữa các trường đại học và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS, Centre national de la recherche scientifique) là một vấn đề lớn luôn được quan tâm trong nhiều năm.   Một trong những giải pháp phát triển đại học và nghiên cứu ở Việt Nam mà GS Hoàng Tụy nhiều lần kiến nghị là phải tăng lương cho cán bộ giảng dạy và khoa học. GS có đồng tình với quan điểm của GS Hoàng Tụy?   Tôi có thể trả lời không do dự một giây: Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với GS Hoàng Tụy. Lương hiện tại của họ thường chỉ bằng một phần tư số họ cần để trang trải cho cuộc sống. Hệ quả là họ phải tìm một công việc thứ hai, chiếm nhiều thời gian và công sức của họ và làm giảm một cách nặng nề chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Hơn nữa, với mức lương thấp như vậy (so với phần còn lại của xã hội) nhiều người cảm thấy bị ngược đãi, đắng cay đồng thời không đem lại cho họ sự kính trọng cao mà họ xứng đáng có được trong một đất nước giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Hệ quả của mức lương thấp như vậy là cực kỳ nguy hiểm ở nhiều khía cạnh. Nó triệt tiêu động lực cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, tạo ra những thói quen xấu, thậm chí có thể dẫn đến tham ô. Đại học không nên chỉ mang lại sự đào tạo tốt mà còn phải là những tấm gương sáng về đạo đức cho sinh viên; các sinh viên phải được đào tạo không chỉ tính nghiêm túc mà còn liêm khiết và công bằng; các nội dung đạo đức này là rất quan trọng.                     GS.Pierre Darriulat hướng dẫn những nhà khoa học trẻ trên thiết bị của Phòng thí nghiệm tia vũ trụ VATLY.    Tôi không ngây thơ mà nghĩ rằng thực hiện những công việc này là dễ. Tôi nhận thức rõ rằng, nó đòi hỏi thời gian và công sức để xây dựng lại nguồn nhân lực với một lựa chọn giảng viên, nghiên cứu viên và các dự án nghiên cứu khắt khe hơn nhiều so với hiện nay. Và ở đây một lần nữa, có những câu hỏi cần có câu trả lời, ít nhất theo nghĩa rộng, ở cấp lãnh đạo. Có trả lương như nhau cho hai giảng viên, một người không làm công tác nghiên cứu mà chỉ đơn thuần đọc giáo trình và một người làm công tác nghiên cứu và viết giáo trình cho các bài giảng của họ? Đánh giá số lượng và chất lượng các công trình công bố của họ như thế nào?   Hệ quả của giải pháp tăng lương sẽ tạo động lực và quyết tâm đem lại chất lượng cao cho giáo dục và nghiên cứu mà đất nước xứng đáng có được.      Lãnh đạo nhiều viện nghiên cứu than phiền họ không giữ được người tài. Còn GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán lo lắng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa của toán học Việt Nam vì ngay ông cũng ít có học trò giỏi để dạy. Theo GS khắc phục thực trạng này bằng cách nào?   Tôi cũng có thể trả lời ngay là: Việt Nam cần tự tin hơn vào thế hệ trẻ và mở hơn ra thế giới.  Một khó khăn lớn mà Việt Nam nói chung và các trường đại học và nghiên cứu nói riêng cần phải vượt qua là sự chảy máu chất xám ngày càng gia tăng mà đất nước đã phải chịu nhiều năm nay. Việt Nam nhận được nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ từ nước ngoài dưới dạng các học bổng, tạo điều kiện cho sinh viên có thể ra nước ngoài học tập và nghiên cứu. Nhưng chỉ Việt Nam mới có thể đảm bảo rằng những sinh viên giỏi trong số các sinh viên này sẽ trở về Việt Nam; điều này là cần thiết cho nguồn nhân lực mà đất nước đã đầu tư không bị phí. Chỉ Việt Nam mới có thể tạo cho các sinh viên này một tương lai, thúc đẩy họ trở về đất nước của mình. Đôi lúc đại học Việt Nam dường như thiếu sự tin tưởng vào thế hệ trẻ và không sẵn sàng trao cho họ trách nhiệm mà họ có thể đảm nhiệm được. Trong lịch sử, cách mạng và chiến tranh đã đem lại cơ hội cho những người Việt Nam trẻ tuổi, thông minh đảm trách những trọng trách quan trọng của đất nước, và chúng ta đã thấy họ thành công như thế nào. Tại sao bây giờ chúng ta lại không tin tưởng vào những sinh viên thông minh và có khả năng để xây dựng một đất nước hiện đại và hòa bình? Đây là một câu hỏi làm tôi rất trăn trở bởi vì tôi thường sợ rằng những cố gắng mà tôi bỏ ra đào tạo sinh viên của mình thành các nhà khoa học sẽ bị bỏ phí nếu đất nước không thể giữ họ; Tôi biết mong muốn thúc đẩy sự phát triển đất nước của họ nhiều như thế nào. Tôi cho đó là một sự thất bại nếu đất nước để cho họ ra đi. Chảy máu chất xám sẽ chỉ dừng lại khi chính phủ có quyết tâm ngăn chặn cùng với việc tạo tương lai cho sinh viên giỏi, các nhà nghiên cứu trẻ tài năng.  Thật đáng tiếc, bên cạnh sự thiếu tự tin vào khả năng và kỹ năng của thế hệ trẻ Việt Nam lại là việc thiếu lắng nghe một cách nghiêm túc những lời khuyên từ các chuyên gia nước ngoài về lựa chọn chính sách khoa học, lựa chọn dự án nghiên cứu và thậm chí đội ngũ nghiên cứu. Ở nước ngoài trong hội đồng xét tuyển gồm các chuyên gia nước ngoài là một điều bình thường, đó là một thực tế tạo ra sự công bằng trong đánh giá đồng thời mở ra thế giới, tạo ra sự liên kết với các trường đại học và các viện nghiên cứu trên thế giới. Theo tôi thực tế này cần được khuyến khích ở Việt Nam cũng như khuyến khích mọi sáng kiến tạo ra sự liên hệ với thế giới bên ngoài. Chẳng hạn việc phát triển đào tạo nghiên cứu sinh có thể được thực hiện dưới sự đồng hướng dẫn của hai giáo sư, một từ đại học ngoài nước và một từ Việt Nam; luận văn được viết và trình bày bằng một trong hai thứ tiếng, hoặc là tiếng Anh, bản tóm tắt viết bằng hai thứ tiếng. Sinh viên nhận bằng tiến sỹ từ hai trường. Khả năng này là một cơ hội cho Việt Nam mở ra với các đại học uy tín trên thế giới và chúng ta nên nghĩ rằng phương thức hợp tác này cần được khuyến khích và hết sức ủng hộ (với kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy sự hợp tác với các trường đại học nước ngoài lại dễ hơn so với các đại học ở Việt Nam). Hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài không nên chỉ nhìn dưới góc độ là một phương thức nhận tiền mà nên nhìn với góc độ xa hơn là một cách đưa nghiên cứu của Việt Nam ra với thế giới và cải thiện chất lượng của nó.  GS có điều gì muốn gửi gắm với các đồng nghiệp Việt Nam  Tôi đã trình bày rất thẳng thắn những quan điểm của tôi (có thể còn thiển cận) về những vấn đề mà theo tôi là đặc biệt quan trọng, với hy vọng có thể có ích nếu được xem xét một cách nghiêm túc. Tôi nhận thức rõ rằng còn nhiều khó khăn, không đơn giản như tôi nghĩ trong việc giải quyết các vấn đề này. Tuy nhiên, tôi hy vọng không bị trách vì những điều mình vừa nói, tôi không có ý gì khác ngoài mong muốn giúp cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo nói chung và khoa học Việt Nam nói riêng. Tôi đã gặp nhiều người, đọc nhiều bài báo phân tích sâu sắc, phê phán nặng nề hệ thống đại học và nghiên cứu hiện nay của Việt Nam. Thậm chí nhiều người nói rằng, không còn hy vọng cải thiện hệ thống này. Chúng ta chỉ có thể hy vọng là họ sai khi các trường đại học, cơ sở nghiên cứu có quyết tâm, có các phong trào mạnh mẽ tạo nên sự thay đổi để cải thiện một cách đáng kể chất lượng đào tạo và nghiên cứu của mình.  Xin cảm ơn GS về cuộc trao đổi này.  P.V thực hiện    Gần đây, có nhiều tranh luận quanh câu hỏi: Đại học tư có phải là một nhân tố để phát triển giáo dục đại học?   Câu hỏi này một lần nữa là sự lựa chọn của xã hội; và câu trả lời của chúng phải xuất phát từ những người lãnh đạo nhà nước. Không nên nghĩ rằng Harvard là một đại học tốt vì nó là một đại học tư và tất cả các đại học tư đều tốt và tất cả các đại học công đều tồi (thậm chí, đôi khi tôi được nghe các lập luận này dưới những dạng kém hài hước hơn một chút).    Rõ ràng trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần dành ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng, tuy nhiên hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, ít nhất tôi hy vọng như thế, phải dành không gian cho nghiên cứu cơ bản. Kinh nghiệm cho thấy không có nghiên cứu ứng dụng tốt nếu thiếu nghiên cứu cơ bản chất lượng cao. Tiêu chí lựa chọn chủ đề cho nghiên cứu cơ bản là không khó. Tuy nhiên, cần có cần có đường lối chính sách khoa học để xác định phương hướng ủng hộ nghiên cứu cơ bản. Một lần nữa những quyết định này chỉ có thể thực hiện ở cấp chính phủ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đài phường có nên tồn tại?      Theo Tổng cục thống kê cả nước có 1.181 phường, 9.012 xã và 583 thị trấn, tổng cộng 10.776 đơn vị hành chính cấp xã-phường. Hầu như tất cả các phường đều có đài truyền thanh của mình. Nhiều làng (một xã có 5- 7 làng) cũng có hệ thống loa truyền thanh của mình. Không biết có bao nhiêu đài truyền thanh phường-xã (làng), nhưng con số ước tính cũng cỡ chục ngàn. Hãy chỉ xét các đài phường cở các thành phố và thị trấn cũng gần 2.000 đài. Ngân sách phường xã có khoản mục chi cho đài phường hẳn hoi. Đài phường (hay tiền thân của nó) đã có từ gần 50 năm nay ở miền Bắc và hơn 30 năm nay ở miền Nam.        Thời xưa, 40-50 năm trước người dân còn nghèo, chỉ nhà giàu mới sắm được cái radio, nên hệ thống truyền thanh công cộng của khu dân cư còn tiếp âm đài tiếng nói Việt Nam. Các chương trình tường thuật bóng đá, văn nghệ đã thu hút đông người nghe xúm quanh những chiếc loa công cộng. Khi đó nó đã đáp ứng một nhu cầu thông tin thật của dân chúng, và đáp ứng yêu cầu “tuyên truyền” của chính quyền.  Dân giàu dần lên, và quan trọng nhất do công nghệ phát triển mà giá bán của chiếc đài bán dẫn giảm nhanh chóng, nên việc có chiếc đài không còn là biểu hiện của sự giàu sang nữa. Khi có chiếc máy thu thanh của mình (hay gắn sẵn ngày càng nhiều trong các ô tô) với sự phát triển của hơn 60 đài phát thanh và truyền hình tỉnh, thành phố (một sự lãng phí kinh khủng ở một nước còn nghèo như Việt Nam và lạ kỳ không giống ở nước nào cả, nhưng lại là công cụ ưa thích của các vị lãnh đạo chính quyền địa phương), đài tiếng nói Việt Nam phát nhiều chương trình hơn, rồi trên internet cũng có thể nghe hàng ngàn đài khác nhau từ khắp nơi trên thế giới, người dân có sự lựa chọn phong phú hơn. Quyền lựa chọn quan trọng nhất của thính giả là quyền nghe hay không nghe. Nếu không thích họ có thể tắt máy đi. Với đài phường thì quyền tự do sơ đẳng “nghe hay không nghe” cũng bị tước đoạt. Chúng cứ nhồi vào tai người dân, bất luận họ có muốn nghe hay không. Đài phường mất hẳn sự ưa thích của người dân thời khan hiếm, mất hẳn “thị phần” thực, một mặt do không còn đáp ứng được nhu cầu thật của người dân, một phần do chất lượng âm thanh gây “ô nhiễm môi trường” trở nên không còn có thể chấp nhận được nữa, nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu “tuyên truyền”, vẫn có thể nhồi thông tin cho người dân, nên vẫn tồn tại, thậm chí còn phát triển lên. Xét từ khía cạnh nhân quyền nó tước mất quyền tự do của người dân.  Nó làm rất nhiều người khó chịu. Nghe nói một họa sĩ rất có tiếng ở Hà Nội do không thể chịu được sự “tra tấn” âm thanh của cái đài phường chĩa thẳng vào phòng làm việc của ông từ cự li 7m, đã dùng súng (cao su, súng hơi hay súng bắn chim?) tỉa tan cái màng loa để bắt nó im không quấy rầy ông nữa. Loa hỏng, đài phường lắp loa khác, ông lại bắn, họ lại lắp loa mới và cuối cùng ông chịu thua gã đài phường có ngân sách lớn hơn của ông rất nhiều. Tôi có một ông bạn làm đại sứ của một nước tại Hà Nội. Ông than phiền kinh khủng về cái đài phường, ông bảo những người nước ngoài kêu về đài phường không kể xiết, thậm chí phải gửi cả công hàm nhờ Bộ ngoại giao can thiệp. Khổ cho những hộ dân ở ngã ba, ngã tư của các phường kề nhau và thường xuyên bị hai ba đài đồng thời tra tấn bằng sự giao thoa của âm thanh gây ung đầu. Có nhà đã cho người nước ngoài thuê, rồi họ hủy hợp đồng do không thể chịu đựng được cái đài phường. Ngay Báo Nhân dân cũng phải đăng một bài về “nạn ô nhiễm tiếng ồn” than về cái đài phường góp phần thêm vào ô nhiễm, nhưng lại kiến nghị “nâng cấp hệ thống âm thanh đài truyền thanh phường bởi phần lớn các loa đài phát thanh này âm lượng và tiếng rè quá lớn át giọng người đọc, người dân ở gần bị chối tai mà không nghe rõ thông tin.” (Nhân dân, ngày 2/4/2006, tr.4). Tôi thì kiến nghị nên dẹp hẳn hệ thống đài phường đi (nghe nói thành phố Hồ Chí Minh đã dẹp đài phường ở nội thành), vì nó không còn đáp ứng bất cứ nhu cầu thông tin thật sự nào của người dân như cách đây 35-40 năm nữa (ở nông thôn cũng đã có TV, máy thu thanh, và có hàng triệu người dùng Internet có thể nghe rất rất nhiều đài), ngược lại nó gây ô nhiễm môi trường, làm mất cảnh quan (khách du lịch nước ngoài thấy khó chịu và kì lạ về hệ thống này) ảnh hưởng đến phát triển du lịch, nó gây cho rất nhiều người bực tức, phí ngân sách nhà nước (để duy trì hệ thống, để trả lương) mà thực chất là tiền của những người dân bị nó hành hạ, và quan trọng nhất hệ thống thông tin này làm mất quyền tự do “nghe hay không nghe” của người dân.          Nguyễn Quang A      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại sứ quán Israel tạm ngừng các dịch vụ lãnh sự      Đại sứ quán Israel tại Hà Nội vừa thông báo tạm ngừng  cung cấp các dịch vụ lãnh sự do việc đình công trong nội bộ Bộ Ngoại  giao Israel.      Website của Đại sứ quán Israel tại Hà Nội dẫn thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao nước này cho biết, từ ngày 4/ 3/2014, các nhà ngoại giao Israel tạm ngừng các công việc đối ngoại, sắp xếp các chuyến thăm chính thức dưới bất kỳ hình thức nào dù ở Israel hay ở nước ngoài, cấp thị thực và các dịch vụ lãnh sự. Nguyên nhân do Bộ Tài chính từ chối giải quyết các tranh chấp về lao động từ Bộ Ngoại giao, và nhân viên Bộ Ngoại giao tiếp tục đình công.  “Đây chỉ là một phần của danh sách dài các biện pháp đình công được thực hiện ngay lập tức sau khi quá trình hòa giải kéo dài bảy tháng với Bộ Tài chính thất bại.  Tranh chấp về lao động đối với ngành ngoại giao dường như là ít găp. Song đại diện cho quyền lợi của Israel tại nước ngoài, vị thế quốc tế và an ninh quốc gia, chúng tôi, những nhà ngoại giao Israel, cương quyết đề nghị những yêu cầu chính đáng của mình được đáp ứng,” thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Israel viết.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân chủ công nghệ và ngôn luận chậm cảm      Cuộc sống của chúng ta đang bị (hay được) vây bủa bởi những làn sóng thông tin. Nhưng vì sao sự va đập của thông tin, sự kiện ngày càng khiến chúng ta bất an nhiều hơn về thực tại xã hội mà mình đang sống?        Dân chủ hóa công nghệ – nhìn góc rộng  Sự phát triển của công nghệ mạng toàn cầu, phương tiện số đang tạo điều kiện kích ứng và đáp ứng nhu cầu mọi người muốn biết rộng hiểu sâu về thế giới chung quanh. Hiểu biết để nhận thức, phát triển sự tưởng tượng, điều chỉnh hành xử, cải biến những khiếm khuyết trong thực tại. Đó là một nhu cầu hoàn toàn chính đáng.  Ngôn luận sinh ra không chỉ để trình bày bản chất thực tế, mà từ chỗ soi tỏ bản chất thực tế, nó đồng tình hay phản biện cái cơ chế, phương thức vận hành của khung cảnh xã hội mà nó dự phần để kiếm tìm phương án tối ưu cho sự phát triển. Ngày nay, sự dân chủ hóa công nghệ, cái “vòi rồng thông tin” (theo cách nói của Thomas L. Friedman) đang tạo nên một “thể trạng mới cho thế giới”. Nơi mà, mỗi người vừa hưởng thụ thông tin cũng chính là nhà sản xuất thông tin.  Cũng Thomas L. Friedman đã trích dẫn lời Lawrence Grossman, cựu Chủ tịch Hãng truyền hình NBC nói về sự dân chủ hóa công nghệ thế này: “In ấn biến chúng ta thành độc giả. Photocopy biến chúng ta thành những nhà xuất bản. Truyền hình biến chúng ta thành khán giả. Và công nghệ số hóa cho phép chúng ta trở thành các hãng truyền thông”.  Câu nhấn mạnh thứ tư của nhận định trên ứng nghiệm, khi mà chỉ cần đăng ký một account (tài khoản) trên mạng xã hội, tôi có thể trở thành một “kênh ngôn luận” trong thế giới mạng toàn cầu. Một người ngồi ở Sài Gòn có thể nhận được thông tin, hình ảnh về các trận lũ lụt miền trung khá đầy đủ, chi tiết sau khi các đập thủy điện xả lũ vài giờ đồng hồ. Thậm chí, thông tin trận lũ bùn gây thiệt hại cho người dân Hungary hay Nà Lũng, Cao Bằng… những trang mạng xã hội sẽ truyền đến chúng ta thật chi tiết chỉ sau vài phút.  Như vậy không có nghĩa là những cơ quan ngôn luận chính thống nhượng bộ hay trao phó cứu cánh của mình cho những trang mạng xã hội. Quả thật, vai trò truyền thông của hệ thống này không vì thế triệt tiêu, mà còn được sự dân chủ hóa, cá nhân hóa sở hữu công nghệ tương tác khăng khít, thúc đẩy nó phát triển lên một đẳng cấp khác – truyền thông phát triển theo hướng cộng hưởng trí tuệ cộng đồng. Tuy nhiên, ở mỗi nơi, với những sức ép đến từ bên ngoài khác nhau, người ta lại đặt ra một hình thức quản lý và hành xử với thông tin, hiệu ứng thông tin tạo ra khác nhau tùy vào từng điều kiện và cơ chế riêng.  Trí lực mắc bệnh chậm cảm  Cho dù trong điều kiện nào, xã hội muốn phát triển thì kênh truyền thông, ngôn luận cũng phải trở thành một công cụ thể hiện trí lực của người dân.  Một xã hội tiến bộ phải phát huy trí lực cộng đồng. Và trí lực ấy thể hiện trong một khung cảnh văn hóa ngôn luận lành mạnh. Trí lực, theo cách nói của hai chuyên gia Nga và Canada N.M.Voskresenskaia và N.B. Davletshina trong một cuốn sách giáo khoa về Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội, thì, nó chi phối cả sự vận hành văn hóa, chính trị. Nó được xem là “công cụ tinh thần của người dân” (Cho nên nó được xem là quyền lực thứ tư sau lập pháp, hành pháp và tư pháp). Hai chuyên gia này cũng dẫn ý của văn hào L.N.Tolstoy khi nói về tập tính lãnh cảm với các sự kiện chính trị nơi người dân Nga: “Dân Nga luôn coi chính quyền như một tai họa cần tránh cho xa” vì thiếu cái trí lực, công cụ tinh thần cần thiết để thay đổi, không tin tưởng vào chính tiếng nói, trí lực của mình có thể cải biến thực tại. Dĩ nhiên, đó là chuyện nước Nga của quá khứ.  Cái trí lực thể hiện qua cơ chế ngôn luận hiện tại của Việt Nam trong bối cảnh mới của xã hội thông tin, dân chủ hóa công nghệ để nhận thấy có nhiều vấn đề đáng ngẫm ngợi.  Nhìn lại các sự kiện bê bối dân sinh, kinh tế, văn hóa, môi trường đang có nguy cơ lặp đi lặp lại (và mỗi lần lặp lại thì có nguy cơ trầm trọng hơn) trong những năm qua công luận kêu gào mà không cách chi giải quyết được mấu chốt vấn đề, chúng ta nghĩ gì về vai trò của truyền thông và cơ chế truyền thông trong tình hình hiện nay?  Rõ ràng nhờ công nghệ thông tin phát triển, chúng ta được cung cấp sớm và rõ ràng nhất rung cảm nhất về sự tang thương của chuyến xe bị lũ cuốn ở Hà Tĩnh, chúng ta được thấy tận mắt hình ảnh hai cánh tay vươn ra từ mái ngói vỡ kêu cứu giữa một đồng nước mênh mông của người dân miền trung, và số thương vọng, thiệt hại, chúng ta cũng được truyền thông phân tích về nguyên do của những cơn lũ là do thủy điện xả lũ gây ra… Ở một nơi khác, báo chí cho chúng ta được cập nhật hình ảnh người dân Cao Bằng đang chống chọi với những trận bùn nâu, bùn đỏ từ lò luyện alumina trên núi cao không trang bị hồ chứa an toàn; được cập nhật nhanh về số nợ hàng trăm tỉ đồng của tập đoàn nhà nước Vinashin và cả kế hoạch “tái cấu trúc” tập đoàn khổng lồ này. Và có thể, chúng ta được tiên báo cả viễn kiến nguy hại cho môi trường tương lai của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên nếu không có phương án bảo đảm an toàn các hồ chứa bùn đỏ. Nhưng…          Thứ truyền thông chậm cảm luôn đặt đối tượng phục vụ của nó vào nước cờ cuối cùng, không chọn lựa nào khác để cải biến bàn cờ hiện thực. Chuyện đã rồi.        Chúng ta được biết theo cách của người chậm cảm. Thứ truyền thông chậm cảm luôn đặt đối tượng phục vụ của nó vào nước cờ cuối cùng, không chọn lựa nào khác để cải biến bàn cờ hiện thực. Chuyện đã rồi. Hàng trăm đập thủy điện đã được duyệt xây xong thiếu tính toán, cứ nước lên là xả lũ bất chấp tính mạng người dân hạ nguồn, hứa hẹn sẽ tái diễn năm này qua năm khác. Ô nhiễm môi trường vì chất thải công nghiệp xảy ra hàng loạt không thể cứu vãn. Bài toán giao thông đô thị càng giải càng sai, thông tin để biết mà chấp nhận…  Ngay từ đầu, đã có một bàn tay vô hình can thiệp nào đó đến từ bên ngoài và chi phối công luận. Sự can thiệp đó luôn đẩy truyền thông ngôn luận vào con đường phản ứng chậm, khi mọi sự đã phơi bày sự bê bối, đổ vỡ, không còn có thể cứu vãn.   Kết quả, hiệu ứng mà những thông tin chậm cảm ấy mang lại chỉ có thể mang đến cho chúng ta tâm lý bất an, bất tín vào đời sống ngày một lớn. Bất an vì cái biết không cải biến được thực tại. Bất tín vì thực tại mà chúng ta thấy, hiểu luôn rình rập nguy cơ thiếu minh bạch, đáng nghi ngờ. Và về lâu dài, chúng ta chấp nhận thực tế trong sự thụ động, sống quen với bất trắc lặp đi lặp lại đến lúc tâm lý lãnh cảm, vô cảm, xem như đó là chuyện bình thường. Chúng ta bất lực đứng nhìn sự thật cùng những giá trị luân lý bị mài mòn ngay trong bản thân mình một cách chua xót. Sự chua xót của kẻ không được dự phần trong tư cách, vai trò chủ nhân đời sống.  Đánh thức luân lý, lẽ phải  Thông tin phản ánh bản chất nhằm hướng đến sự lay động nhân tâm và cũng chính nó bày tỏ sự bất lực của mình bởi không thể cất tiếng nói phản biện cải biến thực tại. Cường độ lặp đi lặp lại của một thực tế không thay đổi được đã góp phần tạo nên cái tâm thế nguội lạnh nơi người tiếp nhận. Sự nguội lạnh bàng quan trước nghịch cảnh đồng nghĩa với cam chịu và chấp nhận, (nhìn thấy nhưng) lặng im cho cái bất phi lý, cái xấu, cái ác ngang nhiên tồn tại, hoành hành. Đau đớn thay, tâm lý này không chỉ có ở người dân bình thường mà ngay cả trong giới trí thức, những người làm nên diện mạo tinh thần của xã hội. Năm 1988, nhà văn Nguyễn Minh Châu nằm trên giường bệnh đã viết một bức thư gởi cho bạn văn nói về cái “tệ nạn” này ở người cầm bút, vào thời đó, nhưng thời sự cho đến hôm nay: ‎”Cái lỗi lớn nhất của mỗi chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu và cái ác. Và, lâu dần dường như không làm được gì thì chúng ta coi như không có nó, coi như cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không có oan khiên, oan khuất.”          Nếu vận dụng sự phát triển của công nghệ để phục vụ cho mục tiêu phát triển lối thông tin kiểu cũ, yên tâm về đề cao mục tiêu tuyên truyền một chiều thì hiệu ứng thông tin mang lại cho xã hội sẽ là một hiểm họa cho đời sống tư tưởng.        Trong điều kiện Việt Nam, sự dân chủ hóa công nghệ có đủ sức kéo theo nó một cơ chế thông tin mở, đa chiều, làm tốt chức năng phản biện của trí lực người dân hay không?  Rõ ràng, sự chuyển động mà nó mang lại rất đáng kể nếu chúng ta so sánh với những ấu trĩ diễn ra trong thì quá khứ. Nhưng sẽ không ai muốn mình trở thành kẻ bước lùi vào tương lai với ánh mắt luôn hướng về quá khứ.  Nếu vận dụng sự phát triển của công nghệ để phục vụ cho mục tiêu phát triển lối thông tin kiểu cũ, yên tâm về đề cao mục tiêu tuyên truyền một chiều thì hiệu ứng thông tin mang lại cho xã hội sẽ là một hiểm họa cho đời sống tư tưởng. Bởi nó sẽ là sức mạnh vạn năng không chỉ trong việc quy định cái biết của mọi người theo một hướng mà còn tham gia làm cho cái trí lực đang mắc căn bệnh chậm cảm trở thành trầm kha, từ đó, mài ruỗng trí năng, lý tưởng, sức tưởng tượng để sáng tạo tương lai tốt đẹp hơn. Như thế, người hưởng thụ giá trị thông tin trong trường hợp này sẽ trở thành “đám đông bị chăn dắt” với các đặc tính, mà, theo Gustave Le Bon: bất khoan dung, phá hoại; trình độ tỉ lệ nghịch với sự đông; phục tùng quyền lực không khác gì nô lệ; bị điều khiển bằng tình cảm, không bằng lý trí, không có nhu cầu đi tìm nguyên nhân sự kiện và phương pháp giải quyết mà tìm “nguồn gốc cái ác” (Tâm lý học đám đông). Đạo đức, luân lý chỉ còn trong sách vở, thậm chí, nó trở thành xảo ngôn để bao biện cho những hành vi thủ ác một sự thật bị che đậy, bội phản công khai.  Xã hội dân sự trong bối cảnh dân chủ công nghệ cần được tư duy lại, để, thay vì xem cơ chế thông tin thành rào cản định hướng, thì cần biến thành mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng đời sống tranh luận tư tưởng và ngôn luận đa chiều, phức hợp, thích ứng với điều kiện, xu thế mới trên toàn cầu. Ở đó, cái trí lực xã hội được cộng hưởng. Sự thật, lẽ phải và điều thiện được tôn trọng. Nhân tâm con người thực sự bị lay động nhờ chính kiến chủ động chứ không phải từ những tình cảm hời hợt bị dẫn dắt theo “mùa vụ” từng sự kiện. Từ đó, đánh thức, kích hoạt cái ý thức bảo vệ lẽ phải với niềm tin cải biến đời sống, xây dựng một xã hội của nhân văn, cái thiện, điều tốt đẹp.                                       “Cái có giá trị luân lý ở các thiết chế, luật pháp và phong tục của chúng ta bắt nguồn từ những biểu lộ của ý thức về lẽ phải ở vô số cá thể. Những thiết chế xã hội sẽ bất lực theo nghĩa luân lý nếu chúng không được chống đỡ và gánh vác bởi ý thức trách nhiệm của những các nhân sống thực. Bởi vậy, nỗ lực đánh thức và ủng hộ ý thức trách nhiệm về luân lý của cá nhân là một cống hiến quan trọng đối với toàn thể xã hội.” (Albert Einstein)             Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân chủ đại diện      Bạn có bao giờ nhớ được những vị đại biểu mà mình đã bầu ra ở các cấp chính quyền là ai không? Câu trả lời không nói thẳng ra thì, có lẽ, cũng đã rõ với rất nhiều người.       Như những cử tri, chúng ta ai cũng có đại biểu ở tất cả bốn cấp chính quyền: xã, huyện, tỉnh, Trung ương. Thế nhưng khi gặp phải một vấn đề nào đó trong cuộc sống, bạn lại thường lúng túng không biết phải kêu ai. Ví dụ, nếu con của bạn bị bắt buộc phải học thêm, học nếm đến mức mụ mẫm cả người, thì bạn phải kêu ai? Nếu lương bạn chưa kịp tăng, mà giá cả đã tăng nhanh hơn gấp bội, thì bạn phải kêu ai? Người đầu tiên bạn phải kêu, tất nhiên, là vị đại biểu của mình. Bạn có bao giờ làm như vậy không? Nếu không, bạn bầu ra người đại diện cho mình để làm gì?  Dân chủ không nằm ở các quyền năng to lớn của các vị đại biểu, mà nằm ở chế độ trách nhiệm của các vị đại biểu trước cử tri. Chế độ trách nhiệm này về cơ bản là rất khó xác lập nếu như chúng ta thậm chí không nhớ nổi đại biểu của mình là những ai. Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều. Dưới đây là một vài nguyên nhân rất dễ nhận thấy.  Một là, nhận thức về trách nhiệm chính trị của chúng ta chưa cao. Chúng ta nhiều khi đi bầu như một nghĩa vụ phải làm cho xong, chứ không phải đi bầu để chọn người đại diện cho quyền và lợi ích của mình. Mà như vậy thì bầu xong là xong. Thực ra, bầu xong thì mọi việc chỉ mới bắt đầu. Vấn đề là người đại biểu được bầu sẽ đại diện cho ý chí và nguyện vọng của bạn thế nào. Mà như thế nào thì bạn phải theo dõi mới biết được. Bạn làm sao có thể theo dõi, nếu như thậm chí bạn không nhớ nổi đại biểu mà mình đã bầu là ai?!  Muốn biết đại biểu của mình hoạt động như thế nào thì bạn phải tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu, phải tìm hiểu xem đại biểu đó đã biểu quyết như thế nào ở trong Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân. Bạn có bao giờ làm như thế không?  Hai là, hệ thống thông tin về các đại biểu cũng chưa thật phát triển. Nhiều khi bạn cũng muốn tìm gặp đại biểu của mình để đề đạt nguyện vọng và trao đổi về những vấn đề mà bạn quan tâm. Thế nhưng, vị đại biểu đó có thể gặp được ở đâu? Vào thời gian nào? Địa chỉ ra làm sao? Số điện thoại, địa chỉ Email như thế nào? Đó là những câu hỏi mà nhiều khi bạn không biết tìm câu trả lời ở đâu cả.  Ba là, các đại biểu không phải bao giờ cũng đạt hiệu năng trong việc giải quyết các vấn đề của người dân. Bạn có thể đến gặp đại biểu của mình một vài lần để đề đạt nguyện vọng hoặc nhờ giúp đỡ, nhưng ngoài những lời động viên chung chung thì khó có vấn đề nào của bạn được giải quyết. Trong trường hợp như vậy, bạn có muốn việc gì cũng đến gặp đại biểu của mình không? Đó là chưa nói tới việc thiết kế hệ thống động lực như thế nào để khuyến khích các vị đại biểu làm tròn trách nhiệm đối với dân vẫn còn là một vấn đề nan giải.  Cuối cùng, trong một nền dân chủ đại diện thì chức năng đại diện là quan trọng nhất. Muốn vận hành được chức năng này thì mối quan hệ hữu cơ giữa người đại diện và người được đại diện phải được xác lập và duy trì thường xuyên.    Author                Quản trị        
0.0945945945945946
__label__tiasang Dân chủ đến từ đâu?      Mặc d&#249; c&#225;c nền d&#226;n chủ tr&#234;n thế giới đ&#227; c&#243; bề d&#224;y lịch sử tr&#234;n hai trăm năm, vấn đề D&#226;n chủ vẫn tiếp tục l&#224; b&#224;i to&#225;n kh&#243; giải đối với nhiều quốc gia . Thậm ch&#237;, c&#242;n c&#243; sự đặt lại những c&#226;u hỏi căn bản như D&#226;n chủ l&#224; g&#236; v&#224; n&#243; c&#243; t&#237;nh tất yếu – phổ qu&#225;t hay kh&#244;ng, trong đ&#243; bao h&#224;m cả t&#226;m l&#253; ngờ vực v&#224;&nbsp; sự ngộ nhận… Ngo&#224;i ra, từ g&#243;c độ thực tiến, c&#225;c bế tắc về con đường ph&#225;t triển b&#234;n ngo&#224;i d&#226;n chủ cũng đ&#227; bắt đầu được nhận diện. V&#224; đ&#243; l&#224; l&#253; do để ch&#250;ng ta n&#234;n b&#224;n tiếp về đề t&#224;i quan trọng n&#224;y.          Hàng thập kỷ nay, thế giới đã đưa ra một khái niệm mới và luôn luôn bàn luận xung quanh nó, đó là “Tăng trưởng bền vững”. Về thực chất, bảo đảm sự bền vững của tăng trưởng tức phải gắn tăng trưởng với phát triển, đồng nghĩa với cách thức tiếp cận toàn diện đối với vấn đề đặt ra, xét về phương pháp luận. Quan sát thực tế, người ta đã và đang rút ra các bài học và tiếp tục tranh luận để đi đến tổng kết. Lấy Trung Quốc làm điển hình, quốc gia đạt được sự tăng trưởng kinh tế tới mức “thần kỳ” chẳng khác nào “Huyền thoại Nhật Bản” những năm 60 và 70 của Thế kỷ 20. Tuy nhiên, tất cả sự quan sát đối với Trung Quốc đều kèm theo sự quan ngại bởi hai yếu tố. Thứ nhất, mức độ công bằng và dân chủ công khai hoá về chính trị và xã hội không tăng tương xứng, thể hiện qua sự gia tăng hằng năm các vụ khiếu kiện và bạo loạn của người nghèo ở khu vực nông thôn cũng như mức độ trầm trọng của các vụ án quan chức lợi dụng quyền lực để tham nhũng. Thứ hai là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tệ hại tới mức có đánh giá tiêu cực cho rằng hầu như không còn cứu vãn nổi, theo đó vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008 đang được coi là sự cảnh tỉnh về cái giá phải trả cho sự “tăng trưởng không bền vững”.   Để giải quyết bài toán khó trên, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc quan sát một hiện tượng có tính phổ quát, đó là ở tất cả các nước Dân chủ hay có quá trình Dân chủ hoá thành công thì vấn đề phát triển bền vững nói chung và môi trường nói riêng luôn luôn được giải quyết tốt hơn. Như vậy, phải chăng vấn đề trọng tâm và căn bản chính là Dân chủ hoá. Bài toán này, tuy nhiên, lại không dễ dàng, thậm chí còn phức tạp hơn rất nhiều. Có thể quan sát một số “diễn tiến ngược” đã và đang chống lại mọi nố lực của con người để xây dựng và gìn giữ nền dân chủ như trường hợp Iraq hay phong trào cánh tả ở Nam Mỹ gần đây.   Trong bối cảnh đó, với khuôn khổ của bài viết này, tác giả muốn đặt lại một câu hỏi, vốn có vẻ rất sơ đẳng, nhưng để góp phần lý giải một cách thận trọng hơn các khó khăn hiện nay:  Dân chủ đến từ đâu  (hay như thế nào) ?  Tổng kết lại lịch sử, có ba cách tiếp cận đối với câu hỏi này. Đó là Dân chủ là một Thiết chế (set-up), một Lộ trình (roadmap) và một quá trình (process).     Dân chủ là “Thiết chế”  Nói Dân chủ là một Thiết chế, tức các cấu trúc mang tính tổ chức do con người tạo dựng nên. Các thiết chế và cấu trúc này có thể nhìn thấy đang hiện hữu ở các quốc gia phát triển hiện nay, với mô hình chính trị tam quyền phân lập, tự do ngôn luận và kinh tế thị trường. Vấn đề là các hiện tượng mang tính sản phẩm đó có phải là kết quả của hành vi tạo dựng của con người sau các cuộc cách mạng xã hội hay không, mặc dù nó đã từng được nêu cao thành mục tiêu, khẩu hiệu và động lực của các cuộc cách mạng. Trong cuốn sách “Cải cách và Sự phát triển”[1], tác giả Nguyễn Trần Bạt đã từng đưa ra một kết luận, đại ý nếu coi linh hồn của nền Dân chủ là Tự do thì không có cuộc cách mạng nào mang lại Tự do cho con người, mà Tự do chỉ đến từ các hoạt động cải cách. Ở đây, tác giả muốn nhắc lại sự thật lịch sử của cuộc Cách mạng Pháp 1789, (mà thành quả  vĩ đại của nó vốn được coi là điểm khởi đầu của nền dân chủ thế giới), rằng bản thân các thiết chế của một Nhà nước Dân chủ đã không thể được thiết lập ngay sau đó. Những người yêu âm nhạc cổ điển đều biết một sự kiện là vào năm 1804, tức 15 năm sau cuộc Cách mạng Pháp, Beethoven ngay trong đêm khi nghe tin Napoleon Bonaparte lên ngôi hoàng đế, vì thất vọng đối với sự thoái trào của nền Dân chủ và Cộng hoà Pháp, đã xoá tên đề tặng Napoleon và đổi tên bản giao hưởng số 3 “Anh hùng ca” nổi tiếng của mình. Có thể kể tên nhiều cuộc cách mạng xã hội khác nữa đã xảy ra trong các thể ký 17, 18 và 19 ở các quốc gia khác nhau, và thậm chí ngay cả các cuộc cách mạng Dân chủ ở Trung Quốc đầu thế kỷ 20, là các cuộc đấu tranh với sự đổ máu của hàng triệu con người vì mục tiêu Dân chủ, nhưng cũng không dẫn đến việc xây dựng được ngay hay nhanh chóng nền Dân chủ.          … từ thời kỳ Khai sáng và Cách mạng Pháp, Montesquieu trong tác phẩm Tinh thần Pháp luật ra đời năm 1748 đã vạch ra các nguyên tắc và cơ sở tồn tại của ba loại hình chính thể chủ yếu là Quân chủ, Chuyên chế và Dân chủ. Đối với chính thể Quân chủ, ông cho rằng nguyên tắc và cơ sở đó là Danh diện, đối với chính quyền Chuyên chế là nỗi Sợ hãi và cuối cùng, đối với chế độ Dân chủ, đó chính là Đạo đức.        Các hiện tượng lịch sử trên nói lên rằng Dân chủ không thể đến bằng các cuộc cách mạng. Nói một cách cụ thể hơn, dù kết quả của một cuộc cách mạng có thể là việc xây dựng thành công những thiết chế nhà nước mang tính khuôn mẫu của một xã hội dân chủ đi chăng nữa thì điều đó cũng không hề đồng nghĩa với Dân chủ trên thực tế. Đây là sự thật đau đớn mà nhân loại đã hoặc cần rút ra được trong cuộc đấu tranh và hy sinh không mệt mỏi cho cái đích cuối cùng vô cùng cao cả và thiêng liêng, đó là đi tìm ra một giải pháp và cơ chế hữu hiệu nhất để thực thi và bảo đảm các giá trị công bằng và tự do cho con người. Vậy, phải chăng sự khẳng định chân lý nói trên tại thời điểm ngày hôm nay cũng đồng nghĩa với một sự thất vọng lớn rằng sẽ còn rất lâu và rất khó khăn để con người ở những vùng đất chưa có dân chủ trên Trái đất tạo nên được nền dân chủ cho mình ?  Hãy giải đáp câu hỏi này bằng sự phân tích dưới giác độ khoa học trước khi bàn về các cách tiếp cận khác đối với nền Dân chủ. Quay trở lại nền tảng lịch sử có từ thời kỳ Khai sáng và Cách mạng Pháp, Montesquieu trong tác phẩm Tinh thần Pháp luật ra đời năm 1748 đã vạch ra các nguyên tắc và cơ sở tồn tại của ba loại hình chính thể chủ yếu là Quân chủ, Chuyên chế và Dân chủ. Đối với chính thể Quân chủ, ông cho rằng nguyên tắc và cơ sở đó là Danh diện, đối với chính quyền Chuyên chế là nỗi Sợ hãi và cuối cùng, đối với chế độ Dân chủ, đó chính là Đạo đức.      Sự phân biệt như trên là các kết luận về khoa học hết sức rành mạch và cốt lõi. Thiết tưởng, không cần giải thích lại các nguyên lý của Montesquieu, tuy nhiên vượt ra ngoài những điều ông viết trong Tinh thần Pháp luật, có những điều cần được suy luận tiếp. Đó là, thứ nhất, mỗi một chính thể đều hình thành và tồn tại trên cơ sở các nguyên tắc và cơ sở mang tính xã hội (hay gọi là nền tảng xã hội) nhất định, vậy thì một khi nền tảng đã hội đã định hình ấy mai một và mất đi thì chính thể đó cũng phải tiêu vong; thứ hai,  một nền tảng xã hội không dễ dàng được thiết lập hay mất đi một cách nhanh chóng như việc tạo dựng chính thể (xét về mặt cấu trúc hình thức), và đã là nền tảng xã hội thì luôn luôn có tính pha trộn, đan xen, kế thừa và luân chuyển giữa yếu tố này và yếu tố kia; và thứ ba, trong thời đại ngày nay, khi cách mạng không còn là ước vọng chung của con người[2] nữa thì khi tính việc phá bỏ, thiết lập mới hay chuyển đổi một chính thể, người ta trước hết cần phải tạo lập các nền móng xã hội cho chính thể mới đó. Cuối cùng, điều thú vị và không kém phần sâu sắc rút ra được khi ngẫm lại các nguyên lý của Montesquieu là trên cơ sở phân tích và so sánh giữa ba yếu tố Danh diện, Sợ hãi và Đạo đức là nền tảng xã hội của ba loại chính thể thì có thể thấy rằng, sự bền vững của chính thể Chuyên chế chắc chắn bao giờ cũng ngắn nhất, lâu dài hơn là chính thể Quân chủ và cuối cùng, ổn định nhất là chính thể Dân chủ. Lịch sử của xã hội loài người đã và đang chứng minh như vậy.     Dân chủ là “Lộ trình”    “Lộ trình” là các quá trình mang tính chủ động, được hoạch định, thiết kế và triển khai cho những mục tiêu rõ ràng. Đối với các diễn tiến xã hội, lộ trình mang tính áp đặt, được tạo ra bởi những thế lực lãnh đạo, nắm quyền lực, có thể tồn tại bên trong một xã hội và quốc gia hoặc cũng có thể đến từ bên ngoài. Câu hỏi là có thể đi đến Dân chủ bằng một lộ trình như vậy được không ? Hãy xem xét và đánh giá hai ví dụ điển hình, đó là trường hợp Iraq sau cuộc chiến tranh năm 2003 do Mỹ tiến hành với mục tiêu tiêu diệt chính thể chuyên chế độc tài của Sadam Hussein và xây dựng một nhà nước Dân chủ tại đây, và Myanma, sau khi gần đây, đầu năm 2008, chính quyền độc tài quân sự của Tướng Than Shwe tuyên bố thực thi một “lộ trình Dân chủ hoá” cho đất nước Myanma với bước khởi đầu là trưng cầu dân ý về bản hiến pháp mới.  Về trường hợp Iraq, toàn bộ cái giá phải trả cho tới nay tính bằng con số chi phí chiến tranh và thực thi “lộ trình dân chủ hoá”, theo thống kê chưa chính thức, đã lên tới trên 500 tỷ USD và gần 200.000 người chết. Tuy nhiên, mặc dù một Nhà nước Iraq mới được thành lập nhưng không chỉ một tương lai dân chủ cho quốc gia này vẫn còn khá mờ mịt, mà ngay cả một triển vọng sáng sủa hơn về ổn định xã hội cũng chưa thấy khả năng có thể đạt được. Đối với Myanma, có nhiều điều thú vị hơn để phân tích. Trước hết, tại sao chính quyền Myanma lại đưa ra “lộ trình dân chủ”  trong khi chính người dân không hề hào hứng và các lực lượng chính đối lập lại tuyên bố phản đối, và liệu rằng lộ trình đó có dẫn Myanma đến nền dân chủ thực sự được không ? Trở lại với nguyên lý về nền tảng xã hội của các chính thể bao gồm Danh diện, nỗi Sợ hãi và Đạo đức để phân tích. Chế độ chuyên chế ở Myanma đã và đang tồn tại dựa trên nỗi Sợ hãi đó, trước hết bằng việc tạo ra nỗi sợ hãi trong dân chúng đối với nhà cầm quyền thông qua kiểm soát, khống chế và đàn áp bởi bộ máy an ninh và quân đội. Nỗi Sợ hãi trên bình diện xã hội đã triệt tiêu mọi yếu tố phản kháng trong một thời gian dài đối với  chính quyền. Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi và những cuộc bạo động trong năm 2007 đã chứng tỏ một bộ phận xã hội đã bớt sợ đi và dám đứng lên. Chính quyền bắt buộc phải đàn áp và bị cả thế giới lên án và tẩy chay. Điều này dẫn đến một hội chứng khác là chính bản thân chính quyền lại rơi vào nỗi Sợ hãi bị sụp đổ, và phải chăng cũng vẫn là một nỗi Sợ hãi khác đó là động cơ bên trong của cái “lộ trình dân chủ hoá” được tuyên bố, trong đó, theo sự xác nhận của giới phân tích quốc tế và chính các lực lượng chính trị đối lập ở Myanma thì có sự nới rộng ít nhiều không gian tự do cho người dân, tuy nhiên vẫn giữ vững nguyên tắc là quân đội nắm quyền tuyệt đối.   Thực trạng ở Myanma có là biểu hiện của sự nổi lên của các giá trị mang tính “Đạo đức” không ? E rằng câu trả lời là “Không”, vì những gì thế giới vừa qua chứng kiến trong cơn bão kinh hoàng ở chính đất nước này, gây nên cái chết tới hơn 80 ngàn người và hàng triệu người dân khác bị mất sạch nhà cửa và sản nghiệp, lại chính là thái độ thờ ơ tới mức khó hiểu của chính quyền Myanma trong việc cho phép các lực lượng quốc tế tới cứu hộ. Hơn thế nữa, trong bối cảnh như vậy, chính quyền vẫn thúc ép người dân ở các vùng bị bão đi bỏ phiếu cho bản hiến pháp mới để thực thi “lộ trình dân chủ”, một việc làm trái với ý nguyện của họ. Cứ cho là “lộ trình Dân chủ” thể hiện thiện chí dân chủ thực sự đi chăng nữa, thì câu hỏi sẽ là “Dân chủ cho ai ?”, nếu một khi chính người dân không mong muốn (!).       Dân chủ là một “Quá trình”  Dân chủ, nếu là một “Lộ trình” thì sẽ đồng nghĩa với sự ban phát, một sự ban phát không phải của Chúa trời, mà của chính Con người cho Con người. Với tâm lý “ban ơn” và “chịu ơn” trong các quan hệ giữa con người và các nhóm xã hội, đồng nghĩa với sự thừa nhận rằng có một tầng lớp người luôn luôn có quyền đứng trên những nhóm người còn lại, không chỉ có quyền lực hơn, có ưu thế hơn mà còn có “đạo đức” hơn nữa, thì đó có phải là thực tế điển hình và được mong muốn của cái gọi là xã hội loài người không ? Khẩu hiệu của Cách mạng Pháp “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” cần được nhắc lại để trả lời cho câu hỏi này.    Vậy nên, hãy lý giải nguyên lý của Montesquieu rằng tại sao Dân chủ lại phải gắn với hay dựa trên nền tảng Đạo đức. Một cách đơn giản, chúng ta có thể hiểu và thừa nhận, đó là vì Đạo đức là một bộ phận căn bản của nhân phẩm và nhân cách của con người. Chế độ Dân chủ, như vậy, có nghĩa là dựa trên nền tảng hay các nhân tố Con người với đầy đủ nhân phẩm và nhân cách; tức trong đó, Con người được tôn trọng, và là cái mà sau này đã được Liên Hợp Quốc pháp chế hoá bằng các tiêu chuẩn Nhân quyền. Con đường để đi tới một xã hội như vậy, trong đó, các giá trị về con người bao gồm các quyền tự do, một đời sống hạnh phúc, sự tôn trọng nhân phẩm, tình yêu thương đồng loại, sự trung thực, lẽ công bằng v.v.. được đề cao và bảo vệ liệu có thể dễ dàng và nhanh chóng được không ?    Hay thử mô phỏng quá trình đi đến nền Dân chủ.  Nhìn lại lịch sử của các nền dân chủ phương Tây, thực chất nảy mầm từ thời kỳ Phục hưng (thế kỷ 15, 16) sau đó khởi phát ở kỷ Khai sáng (thế kỷ 17, 18). Toàn bộ “sự khái sáng” đó, cuối cùng, chỉ tập trung ở một điểm, đó là thức tỉnh, xác lập và tôn trọng giá trị Cá nhân, hay nói một cách trần trụi, mỗi cá thể cảm thấy một cách tự tin rằng mình là một Con người. Chính với sự bắt đầu như vậy, phương Tây đã phát triển và trải qua một chặng  đường dài để đến với nền dân chủ. Trên chặng đường ấy, con người đã lần lượt nhận thức và xác lập các giá trị căn bản liên quan đến đời sống loài người, trước khi thiết kế, xây dựng và hoàn thiện các cấu trúc mang tính thiết chế của Dân chủ. Thức tỉnh về Cá nhân, tức xác lập tư cách chủ thể bình đẳng trong các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội là tiền đề  quan trọng để tiệm cận một giá trị căn bản khác là lẽ Công bằng. Và chính là các giá trị về Công bằng đã đẻ ra pháp chế, các luật lệ và Nhà nước. Khác với trật tự trong tự nhiên, nơi quy luật của kẻ mạnh hay “Cá lớn nuốt cá bé” có hiệu lực áp đặt, trong đời sống của xã hội loài người, tức một trật tự văn minh, đối lập với trật tự hoang dã, kẻ có công sẽ được thưởng còn kẻ yếu luôn luôn được bảo vệ. Kẻ mạnh tuy nhiên luôn là số ít và kẻ yếu lại đông hơn. Do đó, trong tương quan giữa “yếu” và “mạnh”, giữa “đông” và “ít”, Nhà nước và pháp luật đã ra đời để bảo vệ sự ổn định và hài hoà của đời sống, và đó chính là bản chất mang tính phổ quát của giá trị Công bằng. Tuy nhiên, với thời gian và quá trình vận động, con người đã thức tỉnh một nhu cầu cao hơn, là sự phát triển của chính bản thân mình, ít nhất với tất cả các năng lực mà Tự nhiên đã ban cho mỗi cá thể. Sự Công bằng trong phạm vi các quan hệ giữa “người với người” không còn là giới hạn thoả mãn, và khi đó, con người bắt đầu vươn tới sự Công bằng trong quan hệ với Tự nhiên hay Thượng đế, đó chính là Tự do. Tại điểm phân tích này, tác giả cho rằng trong chặng đường dài của sự phát triển chính mình, con người là đi từ các giá trị Cá nhân, tức phát hiện ra mình, của thời kỳ Khai sáng xa xưa, đến một bản chất mới của trạng thái hiện đại của con người là Tự do. Và nói như Nguyễn Trần Bạt, “Tự do sinh ra con người“[3].   Khi không ở trạng thái đối mặt với các mối quan hệ đồng loại, con người sẽ đi vào nội tâm của chính mình và bất ngờ khám phá ra các phẩm chất và năng lực mà Thượng đế ban cho. Sự khám phá ấy tạo ra cảm hứng, khát vọng và nhu cầu hiện thực hoá mọi tiềm năng để tạo ra sự phát triển. Con người được “thăng hoa” và đạt tới bản chất đích thực và giá trị cao nhất của chính mình. Đó chính là quá trình mà con người đi đến Tự do. Tuy nhiên, ngay trong trạng thái phát triển đỉnh cao ấy, con người Cá thể vẫn luôn luôn gắn bó với đồng loại và không bỏ qua đồng loại. Sự ổn định (hay trường tồn) và hài hoà chỉ tồn tại cùng với khái niệm Loài người. Và Hạnh phúc, khái niệm hoàn toàn mang tính xã hội được tạo ra bởi con người cũng chỉ được tạo ra trong các mối tương quan như vậy. Môi trường xã hội cần thiết để nuôi dưỡng và vận hành các mối tương quan ấy chính là thể chế Dân chủ.  Dân chủ, theo nguyên lý của Montesquieu, chính là đi từ Con người và đến với Con người. Con người từ trong sự áp chế hoặc mông muội, trước hết hết cần được thức tỉnh và để bắt đầu quá trình giải phóng và tự giải phóng. Trong thể chế quân chủ, con người cần giải phóng khỏi “Danh diện” tức sự phân biệt đẳng cấp và các giá trị, niềm tự hào mang tính đẳng cấp. Thể chế quân chủ có thể và đã từng tồn tại một thời kỳ dài trong lịch sử vì phù hợp với trạng thái thức tỉnh “thấp” nhưng khá ổn định của con người. Nó không thể tồn tại lâu hơn vì cuối cùng, chỉ có một bộ phận thiểu số trong xã hội được giải phóng. Các chế độ chuyên chế, tồn tại trên nền tảng nỗi “Sợ hãi”, tức trạng thái tinh thần tiêu cực của con người, nên có tuổi thọ ngắn hơn. Lý do là nỗi “Sợ hãi” đó, không chỉ làm biến mất lẽ Công bằng, tiêu diệt Tự do mà còn, quan trọng hơn, không thể tạo ra Hạnh phúc, vốn là các giá trị mang tính bản chất của con người và loài người. Các giá trị đó đồng thời cũng là “bản năng gốc” tạo nên sự Thức tỉnh để bắt đầu một quá trình dài cho con người đi tới nền Dân chủ.     Thay lời kết  Nói về Dân chủ dưới góc độ của bài viết này, trong đó có sự phân biệt giữa “Thiết chế”, “Lộ trình” và “Quá trình”, là đề cập đến cách thức và con đường đi đến nền dân chủ. Câu hỏi quan trọng hơn được làm rõ, tuy nhiên, là: giá trị căn bản của nền dân chủ thực chất là gì? Đó chính là Đạo đức. Đạo đức (hiểu theo nghĩa hẹp và trực tiếp, không chỉ là đạo đức cá nhân mà đạo đức xã hội, đạo đức trong gia đình, đạo đức của nhà cầm quyền, của người trí thức v.v.., còn hiểu theo nghĩa rộng và mang tính bản chất là tôn trọng giá trị và các quyền Con người) chính là nền móng của Dân chủ. Khẳng định điều này để giúp chúng ta tránh được các ngộ nhận, thậm chí “lệch hướng” trong suy nghĩ và hành động khi cho rằng chỉ bằng việc xác lập được một số thiết chế chính trị, Nhà nước hay pháp luật hay có được “thiện chí Dân chủ” của một hay một nhóm người là có thể có được Dân chủ.            Đạo đức (hiểu theo nghĩa hẹp và trực tiếp, không chỉ là đạo đức cá nhân mà đạo đức xã hội, đạo đức trong gia đình, đạo đức của nhà cầm quyền, của người trí thức v.v.., còn hiểu theo nghĩa rộng và mang tính bản chất là tôn trọng giá trị và các quyền Con người) chính là nền móng của Dân chủ. Khẳng định điều này để giúp chúng ta tránh được các ngộ nhận, thậm chí “lệch hướng” trong suy nghĩ và hành động khi cho rằng chỉ bằng việc xác lập được một số thiết chế chính trị, Nhà nước hay pháp luật hay có được “thiện chí Dân chủ” của một hay một nhóm người là có thể có được Dân chủ.        Ngoài ra, việc coi Dân chủ là “Quá trình” chứ không phải “Lộ trình” sẽ làm nảy sinh một cách tự nhiên câu hỏi: Vậy “Quá trình Dân chủ” đó có mang tính chủ động không ? Câu trả lời là “Có”. Tuy nhiên, nếu “Lộ trình” là một chuỗi các hành động chính trị có tính hoạch định cao, được chỉ đạo trực tiếp bới lực lượng xã hội cầm quyền và gắn với các mục tiêu cụ thể, thì quá trình đi tới nền Dân chủ sẽ cơ bản bao gồm các hành vi có ý thức của con người nhằm rèn luyện, tu dưỡng và phát triển bản thân mình, khởi đầu bằng sự thức tỉnh các giá trị Cá nhân, được xúc tiến bởi việc nới rộng không gian tự do hành động cho nhân dân của nhà cầm quyền, và một cách mấu chốt, được bảo đảm bằng một hệ thống giáo dục lành mạnh và tiên tiến. Nói một cách khác, đó sẽ làm một quá trình vĩ đại và rộng lớn nhằm xúc tiến các giá trị đạo đức và giá trị văn hoá trên bình diện xã hội, thay vì một lộ trình mang tính chính trị áp đặt./.               [1]  “Cải cách và Sự Phát triển”, NXB Hội Nhà Văn, năm 2006, tr.78       [2] Xem thêm “Lãnh đạo phi cách mạng” – Suy tưởng, NXB Hội Nhà Văn, năm 2006, tr.139        [3] Xem “Pháp luật – Tài sản tinh thần của nhân dân”  Suy tưởng, NXB Hội Nhà văn, 2006, trang 93.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân chủ trực tiếp với Dự luật Trưng cầu dân ý      Dự luật Trưng cầu dân ý vừa qua đã được thảo  luận tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề cập nhiều vấn đề về phạm vi, nội  dung, điều kiện, tiêu chí, quy mô, quy trình trưng cầu ý dân và được  đưa vào chương trình Quốc hội họp kỳ này. Tinh thần Dự luật đã được Chủ  tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định dứt khoát: “Sau khi trưng cầu,  ý dân phải là quyết định cuối cùng” vốn thuộc nội hàm khái niệm (DCTT)  và Dân chủ gián tiếp (DCGT).    DCTT và DCGT là hai thành tố cấu thành khái niệm “Dân chủ” mà bất kỳ nhà nước nào trong thời đại này đều phải giải quyết, để thể hiện được nhà nước đó do dân làm chủ, tức “của dân do dân vì dân”.   Khái niệm DCTT dùng để chỉ: 1- Phương sách “trưng cầu dân ý”, 2- Được thực hiện trong một hệ thống chính trị, qua đó những người có quyền bầu cử được tự do bỏ phiếu đối với những quyết định chính sách: – cần đến họ, hoặc: – họ cần. Với nội hàm trên, có thể coi trưng cầu dân ý như bầu cử tự do. Chỉ khác nhau ở chỗ: Bầu cử tự do nhằm chọn người thay mặt mình quyết định chính sách nhà nước, nên được gọi là DCGT (hiểu theo nghĩa qua người thay mặt); còn với trưng cầu dân ý, tự người dân quyết định chính sách đó, vì vậy mới có tên gọi DCTT.   Theo nội hàm trên, cả trưng cầu dân ý trong DCTT lẫn bầu cử trong DCGT chỉ mới là điều kiện “cần có” của một nhà nước dân chủ, điều kiện “đủ” là hệ thống chính trị phải bảo đảm được hai quyền đó được thực hiện tự do. Nói cách khác, không phải cứ áp dụng bầu cử và trưng cầu dân ý là lập tức nhà nước trở thành dân chủ, mà chỉ khi bảo đảm được cho dân chúng tự do thực hiện quyền đó. Có thể viện dẫn lịch sử Đức để chứng minh. Luật Trưng cầu Dân ý Đức được ban hành lần đầu tiên vào năm 1933, do Hitler ký, chỉ vỏn vẹn bốn điều, toàn văn chưa được một nửa trang giấy A4 (giản lược): “Chính phủ có quyền trưng cầu dân ý dự luật, kể cả thay đổi Hiến pháp chỉ cần quá bán; giao Bộ Nội vụ ra nghị định triển khai thực hiện”. Nhưng kết cục luật này lại phá bỏ dân chủ; ngày 24/3.1933, Hitler bất chấp Hiến pháp, áp dụng Luật trưng cầu dân ý, thông qua “Luật áp dụng tình huống khẩn cấp bảo vệ nhân dân và nhà nước”, biến Đức thành thể chế độc tài, tiêu diệt Đảng Cộng sản, loại bỏ mọi đảng khác ra khỏi Quốc hội, chỉ còn Đảng Quốc xã cầm quyền.   Khi nào áp dụng DCTT, DCGT?  Dân chủ là một khái niệm vô cùng, không phải một đại lượng đo bằng con số, giải thích tại sao thế giới chỉ có thể xếp hạng thứ bậc dân chủ từ cao xuống thấp, chứ không thể định lượng. Thành tố của nó, DCTT và DCGT cũng vậy.   Vậy ở các nước dân chủ (hiểu theo nghĩa nằm ở thứ bậc dân chủ hàng đầu theo bảng phân loại trên thế giới), khi nào thì họ phải trưng cầu dân ý? Câu trả lời xuất phát từ khái niệm Dân chủ dựa trên định đề: Nhân dân là chủ nhân nhà nước. Họ có quyền quyết định toàn bộ công việc nhà nước, tức đồng nhất Dân chủ với DCTT. Nhưng điều đó là không tưởng, nên buộc phải bầu người đại diện quyết định thay, đồng nghĩa với DCTT khi đó được thay thế bằng DCGT. Nói cách khác DCGT là hệ quả, khi DCTT không thể thực hiện (chứ không phải bị cấm).  Tuy nhiên, một cuộc thăm dò dư luận mới đây ở Đức vốn thuộc quốc gia có thứ bậc dân chủ hàng đầu thế giới, cho thấy thực tế 34% người dân được hỏi nói rằng, thông qua bầu cử (DCGT), họ không tác động được gì nhiều tới chính sách, tức mặc nhiên đồng nhất DCGT với ít dân chủ. 72% ủng hộ trưng cầu dân ý, nghĩa là đồng nhất Dân chủ với DCTT.   Từ định đề đã trình bày và thực tế diễn ra như kết quả điều tra dư luận trên, ở các thể chế dân chủ, hiến pháp và luật của họ quy định: DCTT được ưu tiên áp dụng một khi hoặc: – người dân, hoặc: – nhà nước cần. Nói cách khác, một khi người dân đòi hỏi, hoặc nhà nước thấy cần (một trong hai), đều buộc phải áp dụng phương sách trưng cầu dân ý! (khái niệm nhà nước ở họ được hiểu theo nghĩa các cấp chính quyền).    DCTT được áp dụng trong một quốc gia dân chủ như thế nào?  Theo hai cách: 1- Nhà nước đưa quyết sách của mình như luật hay văn bản dưới luật hay quyết định hành chính dự kiến, trình trưng cầu dân ý, thường xảy ra khi dự thảo có nhiều ý kiến tranh cãi nội bộ, buộc phải lấy dân làm thước đo. Một thí dụ điển gần nhất, ngày 18/9/2014, Scotland trưng cầu dân ý: đồng ý độc lập hay vẫn nằm trong Vương Quốc Anh, kết quả quá bán người dân chẳng cần độc lập. 2- Người dân hay tổ chức hội đoàn có sáng kiến (sáng kiến viên) đưa ra đề xuất chính sách gửi cho chính quyền, cơ quan dân cử hoặc cơ quan hành pháp, hành chính các cấp, đòi trưng cầu dân ý.   DCTT hay DCGT đều chi phối hoạt động nhà nước, nên do hiến pháp và luật điều chỉnh, như ở Đức trước hết được hiến định tại Điều 20 đoạn 2: “Mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nó được thực hiện thông qua người dân bầu cử (DCGT), và tham gia quyết định chính sách (DCTT)”. Các chính sách dù thông qua trưng cầu dân ý hay do cơ quan dân cử, hành pháp, hành chính quyết định, đều có giá trị pháp lý ngang nhau. Trước hết cả hai không thể thay đổi những gì hiến pháp không cho phép, nếu trước đó không được quốc hội lập hiến thông qua sửa đổi điều khoản hiến pháp liên quan. Cả hai đều mang tính chế tài, quy định thời điểm hiệu lực, và đều phải thông qua cơ quan thẩm quyền ban hành theo trình tự pháp lý; chỉ khác nhau: nếu nội dung trưng cầu dân ý do sáng kiến của người dân, thì chính quyền cũng có quyền đưa dự thảo khác của mình, để người dân so sánh lựa chọn. Người bỏ phiếu chỉ có thể đồng ý một trong hai hoặc phủ định cả hai. Quy trình tiến hành trưng cầu dân ý tương tự như bầu cử.     Thời điểm cho Luật Trưng cầu dân ý ở Việt Nam?   Về nguyên lý, trưng cầu dân ý xuất phát từ ý thức, quyền, trách nhiệm người dân tham gia xây dựng đất nước, và do Hiến pháp điều chỉnh. Về thực tế, nước ta xưa nay chưa xảy ra sự kiện gì bức bách sống còn tới mức buộc nhà nước phải đặt ra và giải quyết vấn đề trưng cầu dân ý. Nhưng hiện tại nền tảng pháp lý nước ta đã thay đổi, khi Điều 70, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: “15- Quyết định trưng cầu ý dân”; Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Tình hình thực tế cũng đã thay đổi, khi sự kiện chặt thay thế 6.700 cây xanh Hà Nội sôi động cả nước, được đông đảo dân chúng tham gia lên tiếng, thể hiện ý thức, quyền, trách nhiệm chủ nhân đất nước của họ; được toàn bộ hệ thống chính trị quan tâm từ Đảng tới chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, từ cấp thành phố tới cấp trung ương chính phủ; lần đầu tiên truyền thông báo chí đã đặt ra câu hỏi chính thức: Có cần hỏi ý kiến dân hay không? Câu trả lời của Bí thư Phạm Quang Nghị, người đứng đầu Đảng bộ Hà Nội, nơi xảy ra sự kiện, đã trực tiếp đề cập tới nội hàm trưng cầu dân ý, coi đó là cốt lõi giải quyết vấn đề: “Giá như vừa rồi chúng ta cứ đưa ra thảo luận, trao đổi với nhân dân, khu phố, quận phường, thêm các nhà khoa học nữa, nếu đồng thuận thì chúng ta làm ngay, chưa đồng thuận thì giải thích, giải thích xong thông thì làm, giải thích nữa cũng chưa thông thì chưa làm” thì “chắc sự việc không như vừa rồi”.   Thế giới có tới 167 quốc gia vùng lãnh thổ có Luật Trưng cầu dân ý. Cả nguyên lý và thực tế ở trong lẫn ngoài nước hiện đã đáp ứng đầy đủ cả hai điều kiện “cần” và “đủ” cho nó ra đời, Hy vọng Luật Trưng cầu dân ý sẽ được Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho ý chí toàn dân, thông qua!        Tham khảo thực tế Đức   Đầu  năm 2015, báo cáo trưng cầu dân ý Đức cho biết: Năm 2014, nước họ có  300 lần đề xuất sáng kiến đưa ra trưng cầu dân ý, bình quân mỗi ngày làm  việc nước Đức có một sáng kiến – thể hiện người dân rất có ý thức trách  nhiệm thường nhật tham gia vào công việc nhà nước. Kết quả có 85 lần  thỉnh nguyện thư được pháp luật thừa nhận (gần 1/3), trong đó có 22 lần  được đưa trưng cầu dân ý (bình quân một tháng gần hai lần). Có những  sáng kiến như ở tiểu bang Bayern đòi hợp pháp hóa cần sa, coi nó như một  dược liệu, cần tới 25.000 chữ ký. Ở tiểu bang Brandenburg, để chống lại  xây dựng đường bay thứ ba ở sân bay Berlin-Schönefeld, từ 8/5/2014 đến  14/1.2015, nhóm sáng kiến thu thập được 29.000 chữ ký, vượt quá ngưỡng  20.000 luật định, bởi vậy Quốc hội hoặc sẽ phải chấp nhận hoặc phải  trưng cầu dân ý.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân chủ và thông tin      Cho đến nay ở ta các công trình nghiên cứu và các bài viết về dân chủ vẫn chưa nói được cho rõ dân chủ là một quá trình phát triển. Nghĩa là chưa thấy dân chủ là một thành tựu do con người làm ra, làm được đến đâu thì hưởng đến đó, không cào bằng giữa mọi nơi, mà ngay ở một địa điểm thì nó cũng lên xuống tùy lúc dù rằng đường biểu diễn xuyên suốt lịch sử của nó vẫn là mũi tên phóng chéo lên trên. Theo cách hiểu này, dân chủ sẽ là công việc tổ chức cuộc sống, trong đó công việc của người trí thức sẽ không dừng lại ở hô hào xuông, mà là bắt tay thực sự cùng mọi người làm ra những thành tựu dân chủ.        Cách hiểu và cách định nghĩa này đi xa hơn cách quan niệm khái niệm dân chủ theo chỉ một hướng tổ chức quyền lực. Chúng ta thừa biết rằng tổ chức quyền lực của ba ông Vua, vua Mèo, vua Bảo Đại và vua Đan Mạch là hoàn toàn không như nhau. Vua Mèo ở cao nguyên Đồng Văn xưa thì sống và hoạt động trong cái hũ nút um khói thuốc phiện và khói cám lợn do gia nhân nuôi để tự túc cho những cuộc rượu thâu đêm trong tiếng cối đá gầm gừ xay bột mèn mén. Còn vua Bảo Đại và các vua khác ở Đông Dương xưa thì chỉ có quyền lực của nhà nước Đại Pháp ban cho, ấy là xin anh cứ rong chơi, xin anh cứ tiêu xài cho hết quỹ thời gian thiên định, xin anh đừng động đến tổ chức thực thi quyền lực của chúng tôi, và thế là đủ. Còn vua Đan Mạch thì hoàn toàn khác, đó là vua của một xứ sở nhõn năm triệu dân vẫn dư nguồn lực viện trợ những dân tộc đông tới trăm triệu dân, nơi bất kỳ kẻ nào đứng trên dân và đứng trên luật pháp đều bị đặt ngoài vòng pháp luật và bị nghiêm trị.   Cách hiểu mới sẽ đặt khái niệm dân chủ vào toàn bộ cuộc sống con người và làm cho thấy rõ cái gốc của vấn đề nằm trong năng lực dân chủ được tạo ra cho con người trong xã hội.  Trước hết, trên con đường tạo ra dân chủ cần một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đó là thông tin. Không biết bao các dự án gửi xuống cho dân, rồi cũng hô hào dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đấy chứ, nhưng dự án lại bị tắc ngay từ khâu dân biết. Chỉ cần mở báo ra và xem những vụ người ta cướp trắng đất dự án xóa đói giảm nghèo của dân rồi người ta làm đồn điền hệt như thời thực dân. Chuyện diễn ra hàng nhiều năm, diễn ra ở hầu hết các tỉnh, nhưng nào dân có biết để mà kiểm tra? Việc ỉm thông tin để giành miếng mồi dự án cho phe phái mình, thậm chí cho cái chi bộ với đa số người thuộc dòng họ nhà mình, là điều có thực đã và đang xảy ra không chỉ lẻ tẻ một đôi nơi.   Trong những trường hợp thông tin bị nghẽn như thế, những người làm báo chí đã dũng cảm đi vào điểm nóng, không nhận phong bì để lờ tội cho bọn quan tham mà dấn thân trong hiểm nguy để phanh phui sự việc rồi theo dõi giải quyết vụ việc. Ta sẽ gọi những nhà báo đáng kính trọng đó là những nhà trí thức của nhân dân tham gia tổ chức quá trình dân chủ của xã hội, và ta nhận ra rằng quả thực báo chí là một mắt xích vô cùng quan trọng của thông tin. Thế nhưng báo chí kia cũng có ba bảy đường, và rất có thể người làm báo cũng ba bảy đường. Tại sao? Vì chính trong cái tiểu xã hội báo giới ấy, gạt một bên những yếu kém, những khát khao quyền lực được đứng trên dân, có một yếu tố căn bản để một số người trong giới thông tin này không phải là người trí thức của dân thực thụ, do họ chưa nghĩ đến quyền lợi của dân. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, cụ Hồ Chí Minh trích của triết học xã hội Hoa Kỳ một câu đầy ý nghĩa: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Cái gọi là quyền lợi ấy nay được hiểu gọn lại thành các quyền. Một dự án xóa đói giảm nghèo không phải là kết quả từ một sự ban phát ân huệ, mà đó là một trong nhiều cái quyền của người dân, họ phải được hưởng những dự án như thế. Cách hiểu tổng quát đó về quyền con người đã khiến cho nhân dân trở thành nhân tố chủ động tổ chức nền dân chủ về mọi mặt cho mình: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá… Ở đâu cái nhân tố chủ động đó mất đi tính chủ động, thì mọi “thành tựu” dân chủ chỉ là những thứ dân chủ hình thức.  Do chỗ việc tổ chức quá trình dân chủ không diễn ra ngày một ngày hai, tién trình đó lâu dài và quanh co, nên sứ mệnh của nhà trí thức là phải tham gia tổ chức tiến trình đó bằng việc tham gia vào sự nghiệp Giáo dục. Sự nghiệp Giáo dục quan trọng vì đó là công trình tổ chức cho toàn dân ngay từ tấm bé đã biết xử lý thông tin. Nó đòi hỏi nhà trí thức đứng ra chịu trách nhiệm công cuộc này cũng phải biết xử lý thông tin. Hệ xử lý này phải chắt lọc, tiết kiệm tối đa, do đó nó không thể quá tải. Làm ăn luộm thuộm khiến cho hệ thống đó quá tải rồi lại giảm tải rồi lại vẫn quá tải chứng tổ một năng lực tổ chức yếu hèn không thể tha thứ.   Để cho công cuộc Giáo dục thành một hệ xử lý thông tin, thì phải thấy rằng đó là một hệ thống hoạt động giúp người học không phải là thu vén những mảnh bằng mà giúp học sinh chiếm lĩnh được những điều tạo thành cái năng lực người không thể thiếu của con người hiện đại. Biết cách dạy và học, thì hành trang đó sẽ rất giản dị, nó chính là những cách biểu đạt ngôn ngữ đích thực của con người.   Trước nhất đó là học cách biểu đạt ngôn ngữ khoa học. Cách biểu đạt này phải được chiếm lĩnh thông qua những khái niệm thực thụ. Hành trang năng lực xử lý thông tin khoa học này không tạo nên nhờ những bộ sách “cải tiến” càng to càng được coi là có giá, càng nhiều tài liệu tham khảo càng được coi là chu đáo. Sự thiếu tự tin do không nắm được khái niệm khoa học dẫn đến nạn học thêm và chúi mũi chúi lái quên ăn quên ngủ làm bài tập cho nhiều. Thế ấy mà đến khi đi thi vẫn còn thiếu tự tin vì không bao giờ có được khái niệm đích thực, đành phải mua phao mang theo. Và đến khi vào đời thì luôn luôn lẫn lộn khái niệm và xử lý sai mọi thông tin.  Tiếp đó là học cách biểu đạt ngôn ngữ nghệ thuật. Năng lực này được học qua việc huấn luyện cách xử lý thông tin nghệ thuật đặc thù. Gọi là đặc thù nhưng chẳng có gì ghê gớm nếu người thầy cũng được huấn luyện để biết thật rõ tâm lý sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Công việc sáng tạo đó nằm trong các thao tác tưởng tượng, liên tưởng và sắp đặt, những thao tác từng tiến hành bởi người nghệ sĩ đi trước, và các thao tác đó sẽ được huấn luyện lại cho học sinh, để tự mình “sáng tạo lại” tác phẩm nghệ thuật và từ đó cảm nhận cái đẹp nghệ thuật. Hành trang này tuyệt nhiên không thể được tạo ra nhờ dỏng tai nghe những lời bình giảng lỗ mỗ rồi nhại lại y nguyên theo vô vàn đáp án ở các lò luyện thi.              Việc tổ chức quá trình dân chủ không diễn ra ngày một ngày hai, tiến trình đó lâu dài và quanh co, nên sứ mệnh của nhà trí thức là phải tham gia tổ chức tiến trình đó bằng việc tham gia vào sự nghiệp Giáo dục vì đó là công trình tổ chức cho toàn dân ngay từ tấm bé đã biết xử lý thông tin.          Và tiếp theo, còn cách biểu đạt ngôn ngữ thứ ba, gọi bằng ngôn ngữ ẩn (metalanguage). Đó là cái thứ ngôn ngữ khó nói nổi thành lời… đó là sự đồng cảm, đó là sự thương yêu, sự xót xa, nỗi ghét bỏ, sự đắng cay, nỗi giận hờn… những giá trị hoàn toàn khó hiểu với các nhà cải cách và đổi mới Giáo dục nửa vời. Rất khó huấn luyện các giá trị ẩn ngầm này, nhưng nếu biết rõ chúng là hệ quả gián tiếp từ cách chiếm lĩnh hai loại ngôn ngữ khoa học và nghệ thuật đã nói bên trên, thì nhà Giáo dục cũng có thể tìm ra cách làm.   * * *  Dân chủ, chuyện thật dễ và thật khó, thật khó và thật dễ. Dễ, nếu nhà trí thức ngồi viết tào lao bàn tán về nó với đầy đủ những “sáng kiến” đủ để được khen là nhà thông thái. Khó, nếu nhà trí thức tham gia vào tạo ra tiến trình dân chủ phát triển từ thấp lên cao của xã hội, bắt đầu bằng thông tin. Lúc này, ta sẽ lại đụng chạm tới một khái niệm khác, mới mà cũ cũ mà mới, khái niệm public intellectual xin tạm dịch là người trí thức nhân dân. Nhưng đó lại là nội dung của một bài viết khác.  Phạm Toàn     Nguồn tin: Tia sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân chủ và vai trò của cử tri      Như một thể chế chính trị, dân chủ đại diện là tổ hợp của hai nhóm hành vi: nhóm hành vi của những người đại diện (các đại biểu) và nhóm hành vi của những người được đại diện (cử tri). Để vận hành nền dân chủ đại diện, cả hai nhóm hành vi này đều quan trọng như nhau.      Tuy nhiên, từ trước đến nay, có vẻ như chúng ta chỉ chú ý đến nhóm hành vi của các đại biểu, mà ít quan tâm đến nhóm hành vi của cử tri. Cụ thể, nhóm hành vi của các đại biểu được thể chế hóa rất chi tiết: Các đại biểu phải hoạt động theo Luật Tổ chức Quốc hội và theo quy chế, phải báo cáo kết quả hoạt động với cử tri, phải chịu sự giám sát của cử tri, của Mặt trận và của truyền thông… Còn cử tri, thì có vẻ như chỉ có trách nhiệm đi bỏ phiếu.  Trong thời gian tới, muốn thúc đẩy cải cách để có được một nền dân chủ hiệu năng, quả thực chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến nhóm hành vi của cử tri.  Trước hết là nhận thức việc bầu cử. Bầu cho ai không chỉ là dành ân huệ cho người đó, không chỉ là giúp người đó có được chức quyền, danh vọng, mà còn là ủy quyền, là gửi gắm sinh mệnh của chính mình. Trong hệ thống bầu cử của chúng ta, một ứng cử viên chỉ có thể trúng cử khi được ủy quyền, nghĩa là chỉ có thể trúng cử khi nhận được đa số phiếu của cử tri. (Trong một số hệ thống bầu cử khác, có thể chỉ cần xếp trên là trúng cử, chứ không cần phải có đa số phiếu của cử tri. Thậm chí, Tổng thống Mỹ vẫn có khi được bầu lên mà không có được sự ủy quyền của cử tri). Quan niệm bỏ phiếu như một món quà, hơn là một sự lựa chọn để ủy quyền có vẻ đang giữ vị thế áp đảo hiện nay. Chính vì thế, về cơ bản, đa số cử tri đều cảm thấy bỏ phiếu xong là hết trách nhiệm.  Hệ lụy tiếp theo là cử tri ít quan tâm theo dõi xem các vị đại biểu có hành xử đúng với sự ủy quyền hay không. Không ai ủy quyền cho người khác gây khó dễ cho mình cả. Mọi chính sách, pháp luật được thông qua đều phải vì lợi ích của người đã ủy quyền. Áp đặt chế độ trách nhiệm giải trình cho các đại biểu là rất quan trọng ở đây.      Để cử tri áp đặt chế độ trách nhiệm bằng sự tín nhiệm và bất tín nhiệm với các vị đại biểu Quốc hội, thì quan trọng là các vị đại biểu Quốc hội đã ứng cử ở đâu thì phải tái cử ở đó.      Cử tri có thể áp đặt chế độ trách nhiệm bằng việc nhận xét và phê phán. Một phát biểu dở có thể bị cử tri chê bai. Một kiến nghị chịu ảnh hưởng nặng nề của lợi ích nhóm có thể bị cử tri bài xích. Sự phê phán của cử tri có thể làm mất uy tín và hủy hoại hình ảnh công chúng của bất kỳ vị đại biểu nào. Nếu vị đại biểu đó không nhanh chóng tìm cách lấy lại uy tín thì khả năng tái cử trong nhiệm kỳ tới là rất không chắc chắn. Áp đặt chế độ bằng cách này vì vậy không phải là không có hiệu quả. Với sự phát triển của truyền thông hiện đại, đặc biệt là mạng xã hội, hiệu quả của cách áp đặt chế độ trách nhiệm này chắc chắn sẽ được tăng cường.  Tất nhiên, cử tri không phải bao giờ cũng chỉ cần phê phán. Những vị đại biểu dám nói và nói đúng, thì lại được cử tri ca ngợi, tôn vinh. “Nhất Ngoạn, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc” là sự ghi nhận mà cử tri đã ban tặng cho bốn vị đại biểu Quốc hội: Đỗ Trọng Ngoạn, Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Lân Dũng và Dương Trung Quốc.   Cử tri có thể áp đặt chế độ trách nhiệm bằng sự bất tín nhiệm. Một đại biểu ngồi xuyên nhiệm kỳ không nói năng chi, khó có thể được cử trị bầu lại. Cử tri không bầu lại cho một vị đại biểu nào đó là một sự bất tín nhiệm rõ ràng nhất. Rất tiếc, một sự bất tín nhiệm như vậy chỉ có thể được thực hiện tại một cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội tiếp theo. Kể ra thời gian chờ đợi để bày tỏ sự bất tín nhiệm như vậy là hơi lâu. Nhưng ngày 23 tháng 5 sắp tới này, cử tri đang có cơ hội để bày tỏ sự tín nhiệm, cũng như bất tín nhiệm của mình. Rủi ro không được cử tri bầu lại luôn luôn hiện hữu và tác động không nhỏ đến cách hành xử của mỗi vị đại biểu. Để cách thức áp đặt chế độ trách nhiệm này phát huy tác dụng, thì quan trọng là các vị đại biểu Quốc hội đã ứng cử ở đâu thì phải tái cử ở đó. Cách luân chuyển các ứng cử viên theo kiểu mỗi nhiệm kỳ ứng cử ở một nơi khác nhau sẽ vô hiệu hóa khả năng của cử tri áp đặt chế độ trách nhiệm này. Bắt đầu lần bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2016-2021, nguyên tắc ứng cử ở đâu thì tái cử ở đấy đã được khởi xướng. Mặc dù, nguyên tắc này chưa được áp dụng triệt để cho mọi ứng cử viên đại biểu Quốc hội, thì đây vẫn là một sự khởi đầu đáng được ghi nhận.  Theo Luật Tổ chức Quốc hội, cử tri thậm chí còn có thể trực tiếp bãi nhiệm đại biểu Quốc hội theo “trình tự do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định” (Khoản 3, Điều 40, Luật Tổ chức Quốc hội). Khi trình tự này được ban hành, cử tri sẽ có quyền năng lớn hơn trong việc áp đặt chế độ trách nhiệm. Chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước trong việc quy định trình tự nói trên. Ví dụ như ở Nhật Bản chẳng hạn, cử tri có thể thu thập chữ ký để bãi nhiệm bất kỳ một vị đại biểu Quốc hội nào không còn được tín nhiệm. Với một số lượng chữ ký nhất định được thu thập, thì hội đồng bầu cử sẽ tổ chức cho cử tri ở đơn vị bầu cử bỏ phiếu để bãi nhiệm đại biểu của mình. Ví dụ, một nhóm cử tri nào đó đứng ra thu thập được 10 ngàn chữ ký ủng hộ việc bãi nhiệm một vị đại biểu nào đó, thì hội đồng bầu cử phải đứng ra tổ chức cho cử tri bỏ phiếu miễn nhiệm đại biểu đó.  Cuối cùng, cử tri là những người ủy quyền. Tính tích cực và năng lực áp đặt chế độ trách nhiệm của những người ủy quyền sẽ tác động mạnh mẽ đến những người được nhận ủy quyền. Đó cũng chính là cơ chế vận hành của một nền dân chủ đại diện.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
0.4444444444444444
__label__tiasang   Lê Đạt      Author                Quản trị        
0.4444444444444444
__label__tiasang   Lê Đạt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân số già hóa nhanh: Việt Nam đã sẵn sàng ?      Việt Nam vẫn chưa thực sự sẵn sàng (cả về nhận thức và hành động) để đón dân số đang già nhanh chóng, thậm chí sẽ là dân số siêu già trong một vài thập kỷ nữa.      Nguồn ảnh: Kinh tế đô thị.   Theo dữ liệu của Tổng cục Thống kê, vào năm 2014, tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam là 7,2% và tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên là 10,2%. Như vậy, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc thì Việt Nam là một nước “đang già” (aging). Cùng lúc đó, Việt Nam cũng có một xu hướng dân số khác là “cơ cấu dân số vàng”. Tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, từ 68,6 tuổi (1999) lên tới 73,2 tuổi (2014)1 và dự báo sẽ tăng lên tới 78 tuổi (2030) và 80,4 tuổi vào năm 2050.2 Đến năm 2038, dự báo nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số và điều này đặt ra nhiều thách thức cho việc đảm bảo hạ tầng và an sinh xã hội để đáp ứng đủ nhu cầu của một xã hội già, thậm chí siêu già.  Đáng nói hơn, Việt Nam sẽ chỉ mất không tới 20 năm để khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14% tổng dân số (tức là chuyển từ gia đoạn “đang già”sang “già”) – đây là một tốc độ thuộc hàng cao nhất thế giới (vì Pháp mất 115 năm; Mỹ là 69 năm). Nhật Bản có 60 năm để chuẩn bị cho một xã hội “già” và cũng mất từng đấy năm mới có thể bao phủ được bảo hiểm cho người cao tuổi. Anh cũng có thời gian chuẩn bị tương đối dài nhưng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu của quá nhiều người già trong xã hội. Việt Nam sẽ phải bắt tay vào chuẩn bị càng sớm càng tốt để kịp đón hàng chục triệu người cao tuổi và tận dụng được “cơ cấu dân số vàng” hiện tại nếu không muốn rơi vào tình trạng “chưa kịp giàu đã già”.  Chúng ta đang “dành chỗ” cho người già như thế nào?  Theo PGS.TS. Giang Thanh Long (Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân), để có thể chuẩn bị được cho một xã hội “già” thì trước hết chúng ta cần có ý thức “dành chỗ” cho người cao tuổi. PGS. Long nhận xét: “Việt Nam có rất nhiều chính sách cho người cao tuổi – từ các chương trình hành động cấp quốc gia tới các Luật, chính sách trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phấn đấu tăng độ bao phủ của các chương trình này, đặc biệt là bảo hiểm y tế hướng tới bao phủ 100% người cao tuổi vào những năm tới.”  Giữa một “rừng ma trận” như vậy, liệu hiệu quả thực thi của các chính sách đang đến đâu? Lấy ví dụ như để đảm bảo cho người già yếu, khuyết tật có thể di chuyển dễ dàng, năm 2014, Bộ Xây Dựng đã ban hành bộ quy chuẩn 10 về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng, trong đó hướng dẫn chi tiết về thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn xây dựng bãi đỗ xe, đường dốc, cửa, thang máy, biển báo, lối thoát hiểm… Tuy nhiên, cho đến nay các công trình xây dựng vẫn chưa thực hiện nghiêm túc. Ví dụ, một cuộc khảo sát của Bộ Xây dựng vào năm 2015 cho thấy dù các công trình đều đảm bảo tiếp cận tối thiểu ở mức đường dẫn, nhưng tới 90% sai tiêu chuẩn thiết kế.3 Một ví dụ khác là dù Luật Người cao tuổi quy định là tất cả các bệnh viện (trừ chuyên khoa nhi) phải tổ chức khoa Lão hoặc dành từ 10% giường bệnh trở lên để phục vụ người bệnh cao tuổi, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Tính đến năm 2014, cả nước chỉ có 36% bệnh viện tuyến tỉnh có khoa Lão, nhưng chủ yếu là hoạt động ghép với các chuyên khoa khác như: thận, tim mạch, nội…4 Thậm chí, ở đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh thì đến năm 2016 mới chỉ có 2/28 bệnh viện cấp thành phố có đủ trang thiết bị, nhân sự để thành lập lão khoa còn ở Hà Nội là 5/39 bệnh viện. Chưa nói đến tương lai, công suất giường bệnh hiện nay đã không đủ đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc của hàng triệu người cao tuổi.      Tại thời điểm Việt Nam bước vào giai đoạn già – nghĩa là khoảng 30 năm nữa – thì nhóm dân số già lúc đó chính là nhóm 30–40 tuổi hiện tại. Có tích lũy, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe thì nhóm dân số này khi già sẽ trở thành những người cao tuổi năng động (active older people) và đóng góp nhiều cho xã hội chứ không phải sống phụ thuộc. PGS.TS Giang Thanh Long        Bên cạnh ý thức thực thi, việc các chính sách “xa rời đời sống” cũng góp phần làm giảm hiệu quả của chính sách, khiến người cao tuổi cảm thấy bị “thiếu quan tâm”. PGS. Giang Thanh Long nhận xét: “Việc xây dựng chính sách nhiều khi vẫn dựa trên cảm tính, nhận định cá nhân của người làm chính sách chứ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của người thụ hưởng”5. Do đó, nhiều chính sách được ban hành mà “không phù hợp với người cao tuổi và là những thứ họ không cần.” Ví dụ như ở TP Hồ Chí Minh, người trên 75 tuổi được hưởng ưu đãi đi xe bus miễn phí. Tuy nhiên, người cao tuổi ít được hưởng ưu đãi này mà một phần là vì nhân viên phụ xe không được phổ biến chính sách, nhưng phần lớn là do người cao tuổi ở độ tuổi này đã không đủ sức khỏe để đi xe bus. Trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Giải Phóng, ông Mai Hiển Thắng, Chủ tịch Hội Người cao tuổi phường Phước Bình (Quận 9) nhận xét: “Đưa ra rồi không nhiều người được thụ hưởng thì sao gọi là quan tâm. Thành phố cần hạ độ tuổi được đi xe buýt miễn phí xuống để người già còn có khoảng thời gian “hưởng” chút”6.  Gánh nặng hay nguồn lực tích cực?  Dù chính sách còn xa vời hay đã có tính thực tiễn, đã được thực thi tốt hay mới chỉ dừng ở mức văn bản, có một thực tế là các chính sách dành cho người cao tuổi ở Việt Nam vẫn chỉ giới hạn ở việc quan tâm đến an sinh xã hội cho nhóm đối tượng này, chứ chưa thực sự tính đến đời sống tinh thần của họ. “Người cao tuổi thường hay được gắn liền với bệnh tật, khuyết tật, sống phụ thuộc và là gánh nặng của xã hội” – PGS. Long nhận xét.  Thế nhưng thực tế không phải vậy vì người cao tuổi vẫn đang làm nhiều công việc khác nhau, từ sản xuất cho tới nội trợ, chăm sóc con cháu… Thông thường, họ làm những công việc ít được xã hội ghi nhận và không được trả lương nên dẫn đến suy nghĩ rằng người cao tuổi sống phụ thuộc vì không tạo ra thu nhập. Ngoài ra, người cao tuổi còn có một tài sản quý báu mà người trẻ không so bì được là vốn tri thức và trải nghiệm xã hội đã được tích lũy qua năm tháng. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), ngày càng nhiều người vẫn tiếp tục lao động sau khi về hưu, tỷ lệ người trên 60 tuổi vẫn tiếp tục làm việc đã tăng từ 19% lên 36% đối với nữ và từ 35% lên 47% đối với nam trong giai đoạn 1999 – 2014. Có thể thấy rằng, người cao tuổi vẫn đang có nhiều đóng góp to lớn cho xã hội, thậm chí là hỗ trợ cho con, cháu. Thế nên, nếu nhà hoạch định chính sách vẫn còn mang định kiến về tuổi già thì “việc thiết kế chính sách sẽ theo hướng “sẵn thì cho” chứ không phải theo hướng phát huy người cao tuổi để họ tiếp tục cống hiến.” – PGS. Long nhận xét.  Để thay đổi được thực trạng này, theo PGS. Long, việc đầu tiên cần làm là thay đổi nhận thức của xã hội về người cao tuổi. Chúng ta cần nhìn nhận những người cao tuổi như một nguồn lực tích cực của xã hội và có những chính sách khuyến khích họ tiếp tục lao động. Việt Nam đang dự định bắt đầu tăng tuổi hưu từ năm 2021 để tận dụng được nguồn lao động giàu kinh nghiệm này, tuy nhiên trước đó chúng ta phải xóa bỏ được hành vi phân biệt tuổi tác vẫn đang diễn ra phổ biến tại Việt Nam, thể hiện ở những quy định tuyển dụng như yêu cầu ứng viên dưới 30 tuổi, còn độc thân… là những rào cản hạn chế người cao tuổi tiếp tục cống hiến. Hiện nay, phân biệt tuổi tác không được coi là vấn đề lớn ở Việt Nam, nhưng lại là hành vi phạm pháp và bị xử phạt nặng ở các nước phát triển: ví dụ, năm 2017, các công ty Shell, Indeed (Anh) đã bị cáo buộc vi phạm luật chống phân biệt đối xử khi sử dụng công cụ facebook để giới hạn độ tuổi của những người xem tin tuyển dụng xuống dưới 25 tuổi; còn đầu năm 2018, công ty Diverse Lynx (Mỹ) đã phải chấp nhận bồi thường cho ứng viên 50.000 USD sau khi phản hồi rằng “tuổi tác rất quan trọng”.  Lộ trình chuẩn bị cho xã hội “già”  Việt Nam sẽ cần chuẩn bị ngay hôm nay bởi nếu đợi đến khi “bùng nổ” số lượng người cao tuổi mới đầu tư thì có lẽ chính phủ sẽ không gánh nổi khoản chi phí quá lớn ngay lập tức – PGS. Long nhận định. Một điều PGS. Long cũng khuyến nghị là công việc chuẩn bị chỉ có thể tốt nếu như chúng ta hiểu đầy đủ về người cao tuổi mà điều này đòi hỏi phải có được một số lượng lớn các nghiên cứu toàn diện về người cao tuổi ở các khía cạnh nhân khẩu học, y tế, kinh tế…- và thực tế là Việt Nam đang thiếu các nghiên cứu như vậy. Không có nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu thì không đủ nguồn tham khảo cho việc hoạch định, vì thế khó có thể có chính sách tốt, đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi và xu hướng già hóa dân số ngày càng nhanh. Ví dụ như phải có nghiên cứu thì chúng ta mới xác định được người cao tuổi muốn sống trong các nhà dưỡng lão hay muốn sống ở nhà để được con, cháu chăm sóc. Nếu chỉ tập trung xây các nhà dưỡng lão mà không có các chính sách khuyến khích con, cháu sống cùng với bố mẹ, ông bà cao tuổi (như ở Singapore, chính phủ khuyến khích con cái sống với cha mẹ già bằng cách ưu tiên và giảm giá mua nhà, xét giảm thuế cá nhân và kinh doanh; còn Trung Quốc sẽ xử phạt cả những người không về thăm cha mẹ già) thì dễ dàng dẫn đến tình huống người già thà sống neo đơn chứ không chịu vào nhà dưỡng lão, hoặc vào nhưng tâm lý không thoải mái.  Việc chuẩn bị cũng cần đầy đủ và quan tâm tới mọi khía cạnh của đời sống người cao tuổi, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của Nhật Bản trong cách chuẩn bị hạ tầng và hệ thống dịch vụ hỗ trợ một cách toàn diện – từ đi lại (người già được đi xe biển vàng chạy với tốc độ chậm, thiết kế thang máy chạy chậm, độ cao bậc thang thấp), mua sắm (có cửa hàng riêng dành cho người già với xe đẩy gắn chỗ ngồi, kệ hàng thấp trong tầm với, giá niêm yết viết chữ to), ăn uống (các nhà máy chế biến thức ăn riêng cho người già)… bởi nhu cầu dinh dưỡng của người cao tuổi tương đối khác biệt so với các nhóm dân số khác. Các bệnh ở tuổi già cũng khác, chủ yếu là các bệnh mạn tính (như tim mạch, huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, thoái hóa khớp…) phải điều trị suốt đời và điều trị nhiều bệnh cùng lúc, đòi hỏi bác sĩ phải được đào tạo riêng trong chuyên ngành lão khoa. Vì vậy, Việt Nam cần sớm có mã ngành lão khoa trong đào tạo đại học – hiện chỉ có một số cơ sở đào tạo điều dưỡng, tập huấn ngắn hạn hoặc khóa sau đại học chuyên ngành lão khoa, nhưng số lượng là chưa đủ – và có kế hoạch chi tiết để phát triển đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe đủ để đáp ứng được nhu cầu của một xã hội già.  ***  Để có thể tiến đến một xã hội “già hóa thành công”, đầu tiên chúng ta phải coi người cao tuổi là tài sản thay vì là gánh nặng xã hội như trước, sau đó mới định hướng việc chuẩn bị, và chuẩn bị ngay từ hôm nay. Cùng lúc đó, mỗi người dân cũng phải vận động và có ý thức chuẩn bị cho tuổi già của mình ngay từ khi còn trẻ, về cả thu nhập, sức khỏe và đời sống xã hội. Chúng ta không thể trông chờ vào chính phủ để đảm bảo cuộc sống tuổi già mà trước tiên phải tự đảm bảo cho chính mình.  ————–  Chú thích:  1 Tổng cục Thống kê. Niên giám Thống kê ASEAN 2014  2UNFPA(2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách  3http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Kien-truc-tiep-can-cho-nguoi-khuyet-tat-Canh-cua-khep-ho-10295  4http://vovgiaothong.vn/tin-tuc/Ban-tin-y-te/1332/Ban-tin-y-te-so-40-Thieu-mau-dinh-duong-va-cach-phong-chong  5https://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/gia-hoa-thanh-cong-3663855.html  6www.sggp.org.vn/bat-cap-chinh-sach-cho-nguoi-cao-tuoi-19414.html    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Dân tâm và dân chủ      Dân chủ với dân tâm gắn với nhau như bóng với hình. Để thu phục được dân tâm để giành dân tâm thì phải thật lòng thực thi dân chủ, thật lòng mở rộng dân chủ. Để giành dân tâm, không có gì đơn giản hơn điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho cán bộ của Đảng và Nhà nước ngay từ những ngày mới giành được chính quyền từ Cách mạng Tháng tám năm 1945: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh    Vừa rồi, việc dân đổ xô đi tìm gặp 13 đoàn kiểm tra Luật đất đai (của Bộ TN-MT) để đưa đơn khiếu kiện thì xem ra dân tâm đang bức xúc và dân chủ đang có vấn đề. Chỉ riêng ở thành phố Biên Hòa, có 32.000 trên 56.000 sổ đỏ đã ký nhưng chưa đến tay người dân. “Các anh làm thế thì chết dân mất”, đấy là lời của trưởng một đoàn kiểm tra.  Hình như từ rất lâu rồi, người ta đã quên mất chuyện “trưng cầu ý dân” khi cần phải giải quyết một việc, một công vụ, một kế hoạch ở cộng đồng liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Người ta cũng đã quên mất công đoạn điều tra “tiện và bất tiện” khi cần triển khai một dự án, một dịch vụ, một công việc nào đấy, có khi do một cơ quan nhà nước, một công ty, hoặc có khi do một hộ gia đình có ảnh hưởng liên quan đến cộng đồng. Thế mà giải tỏa, di dân, thay đổi căn bản cả cuộc sống của cả một cộng đồng bằng mệnh lệnh, có nơi, đến 80% hộ phải di dời phải sống vật vờ vì khu tái định cư chưa xây xong! Gọi chuyện này là gì nếu không phải là “thất dân tâm”? Xảy ra những chuyện đại để như thế có khi không hẳn là do những cán bộ “thất nhân tâm” gây ra, mà còn do cơ chế, hoặc còn phải đợi “lộ trình”! Nhưng dù gì thì gì, để người dân trên danh nghĩa là chủ mà “quyền của dân”, “những quyền không ai có thể xâm phạm được”, bị xử sự như vậy thì nói chi đến quyền làm chủ!  Từ xưa tới nay, bất cứ thể chế chính trị nào cũng phải cố “thu phục nhân tâm” và cố “giành dân tâm”. Không hiểu huyền thoại về Nghiêu Thuấn có được bao lăm chất liệu hiện thực, song khát vọng về một đấng minh quân thương dân hết mực: “Một người dân đói, hãy nói rằng ta làm cho người dân ấy đói, một người dân rét hãy nói rằng ta làm cho người dân ấy rét” (nhất dân cơ, viết ngã cơ chi, nhất dân hàn viết ngã hàn chi) thì tạo ra hình tượng vua Nghiêu, người nói câu nổi tiếng ấy, là sự gửi gấm một lý tưởng, một khát vọng của đạo lý Khổng Mạnh. Chẳng thế mà, sợ rằng nếu “vua coi dân như cỏ rác” thì dân sẽ “coi vua như cừu thù” nên Mạnh Tử phải bàn đến cái lẽ “dân vi quý” (dân có vị trí cao nhất so với vua và nước), “dân vi bang bản” (dân là gốc nước), và tâu vua rằng “được lòng dân là được mệnh trời”. Chẳng những thế, vị á thánh của đạo nho còn dám lớn tiếng mắng vua: “Bếp vua có thịt béo, tàu vua có ngựa mập mà dân thì có sắc đói, đồng ruộng la liệt những người chết đói, như vậy khác nào nhà vua sai thú ăn thịt người”! Bản lĩnh ấy cần cho mọi thời đại, và xem ra nó cũng rất “hiện đại”! Nhưng “mắng” vua như vậy hoàn toàn không để nhằm thực thi “dân chủ”,  không nhằm đề xướng “dân chủ”. Thực chất của việc các nhà nho muốn “được lòng dân” chính vì mục tiêu “được mệnh trời”, khi họ xác định “dân là gốc nước” cũng chính là nhằm để “giữ mệnh trời, bảo vệ ngôi vua” chứ không phải để đem lại quyền làm chủ cho người dân. Cho nên, tuy khẳng định “dân vi quý”, thậm chí  “vua lấy dân làm trời” nhưng nho gia rất triệt để trong tư tưởng ngu dân: “dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi” (dân có thể khiến họ noi theo, không thể khiến họ hiểu biết). Hệ tư tưởng nho giáo rất nhất quán trong quan điểm: dân phải biết giữ phận “dân đen con đỏ”, cái số phận đã được an bài đó cũng là “mệnh trời”, không được cưỡng mệnh trời. “Hiện đại hóa” cái mệnh trời này, đặt cho nó một cái tên thật cập nhật, ta sẽ hiểu ra được khối điều.  Chính vì thế, nhà nho xưa cứ muốn giành “dân tâm” nhưng lại rất kỵ “dân chủ”, rất sợ dân chủ!  Xem ra thì một số cán bộ thoái hóa biến chất ngày nay, những “ông quan cách mạng”  bây giờ, như Bác Hồ đã từng cảnh báo, cũng có nỗi sợ đó. Những người đó nói đến dân chỉ ở đầu lưỡi, nói về dân như trưng ra một vật trang sức theo “mốt” thời thượng của những người “sành điệu” chứ không xuất phát tự gan ruột. Họ cũng muốn “giành dân tâm” để yên vị trên cái ghế quyền lực của họ. Không thiếu những câu cách mạng đầu lưỡi, mị dân vì mục tiêu “giành dân tâm” kiểu đó nhưng lại quá thiếu những việc làm thiết thực vì lợi ích của dân, tôn trọng quyền làm chủ của dân. Vì dự liệu được điều đó mà ngay từ những ngày nhà nước dân chủ cộng hòa còn trong trứng nước, Bác Hồ đã nghiêm khắc và thiết tha căn dặn cán bộ phải là “công bộc của dân”, là “đầy tớ thật trung thành của dân”, “không được đè đầu cưỡi cổ dân”, “không được bịt miệng dân”! Cũng có nghĩa phải thực thi dân chủ, phải chứng tỏ trong thực tế “dân là chủ”, phải tạo ra cơ chế để dân thực sự làm chủ. Phải có luật pháp đảm bảo quyền làm chủ của dân, phải xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.         Bác Hồ đã nghiêm khắc và thiết tha căn dặn cán bộ phải là “công bộc của dân”, là “đầy tớ thật trung thành của dân”, “không được đè đầu cưỡi cổ dân”, “không được bịt miệng dân”! Cũng có nghĩa phải thực thi dân chủ, phải chứng tỏ trong thực tế “dân là chủ”, phải tạo ra cơ chế để dân thực sự làm chủ.         Hiến pháp của ta, từ Hiến pháp 1946 cho đến Hiến pháp 1992 đã thể hiện rất rõ dân là chủ. Thế nhưng do luật pháp chưa được hoàn chỉnh và đồng bộ nên trong thực tế, quyền làm chủ của dân thường xuyên bị vi phạm. Cứ lật một trang báo ngày, đã có thể thống kê ra bao nhiêu điều vi phạm ấy. Vụ các quan chức ở Tây Ninh dựa vào chương trình 327 để lừa dân, chiếm đất lập đồn điền, làm trang trại là một ví dụ. Mà đâu chỉ ở Tây Ninh! Vụ chia chác đất công ở quận Ngô Quyền (Hải Phòng) cũng lại dựa vào dự án Đồng Rào do chính quan chức ở đây lập ra. Hãy chỉ đọc danh sách các quan chức Hải Phòng được chia đất làm nhà ở đây mà báo Pháp Luật TP. HCM ra ngày 18.9.2005 đã nêu đủ thấy các “công bộc của dân” đã ăn tàn phá hại của dân, làm xói mòn niềm tin của dân như thế nào!  Thế mà, phát hiện và đưa ra ánh sáng những vụ việc đại loại như hai ví dụ trên phần lớn đều là do báo chí và dư luận quần chúng chứ không phải là do các tổ chức Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ở những nơi xảy ra chủ động kiểm tra làm rõ. Điều này càng nói rõ tính bức xúc của việc hoàn thiện hệ thống luật pháp để có điều kiện công khai hóa sự vận hành guồng máy quản lý kinh tế xã hội, tạo điều kiện để người dân giám sát, kiểm tra nội dung hoạt động và phẩm chất, năng lực của những người đang gánh vác trách nhiệm trước dân.  Đó là một đòi hỏi rất cơ bản của nhà nước pháp quyền. Cùng với cái đó, xây dựng và củng cố xã hội dân sự nhằm tạo ra điều kiện phát huy tính phản biện xã hội của nhân dân, quần chúng từ cơ sở. Đây chính là cách phát huy tinh thần làm chủ của người dân một cách cụ thể nhất, thiết thực nhất, cũng là cách “giành dân tâm” một cách thông minh và có hiệu quả nhất.  Tương Lai    Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dấn thân: Phương thức sống của kẻ sĩ      Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần thì Nguyễn Trãi ra thi Thái học sinh với nhà Hồ, Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đi thi và làm quan với nhà Mạc, khi Quang Trung ra Bắc lần thứ hai thì Ngô Thì Nhậm theo Quang Trung rồi làm tới chức Thượng thư của triều đại Tây Sơn, khi quân Pháp chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ thì Hồ Huân Nghiệp ra làm Tri phủ Tân Bình trong chính quyền kháng chiến của Trương Định: trong hành động rất khác nhau của những người trí thức này đều có một dáng vẻ đồng nhất được quy định bởi phương thức tư duy đã đưa tới cung cách ứng xử “bất chấp lời khen chê, bất kể chuyện lợi hại” của họ. Có thể nói một phương thức sống phổ biến của kẻ sĩ xưa nay là dấn thân.    Cần minh định về khái niệm kẻ sĩ. Không ai phủ nhận kẻ sĩ là trí thức, nhưng nếu nói trí thức là kẻ sĩ thì chắc nhiều người sẽ không đồng tình. Điều này có nguyên nhân lịch sử, vì khái niệm sĩ (học trò) trong thang bậc tứ dân sĩ nông công thương của các quốc gia Nho giáo trước đây mang một nội dung không giống như trí thức hiểu theo nghĩa đơn thuần là người có học thức. Nếu chia các hoạt động xã hội của con người thành năm kiểu (lĩnh vực) cơ bản là sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, quản lý, giao tiếp và tái sản xuất sinh học – xã hội theo tiêu chí sự phân công lao động xã hội thì kẻ sĩ ở các quốc gia Nho giáo trước đây thuộc hai lĩnh vực sản xuất tinh thần và quản lý xã hội, trong đó quản lý xã hội được coi như thiên chức hàng đầu chi phối tất cả tư tưởng và tình cảm, quy định toàn bộ động cơ học tập và mục tiêu học nghiệp của họ. Và đi theo cái học tế thế kinh bang ấy, kẻ sĩ cũng dần dần nhất hóa hoạt động sống của mình vào với lý tưởng Vì đời.  Mọi hoạt động dấn thân bắt đầu từ đó. Ngay cả ở những người được gọi là ẩn sĩ, cũng dễ dàng tìm thấy các bằng chứng về sự dấn thân. Trang Chu câu cá trên sông, vua Sở sai sứ giả tới mời về làm quan, ông nói “Ta nghe trong Thái miếu nước Sở có cái mai của con thần quy sống ba ngàn năm, khi có việc lấy ra bói thì rất linh nghiệm. Con thần quy ấy thà sống để kéo lê đuôi trong bùn hay chết đi để cái mai được người ta thờ phụng?”. Sứ giả nói “Thà sống mà kéo lê đuôi trong bùn còn hơn”. Trang Chu nói “Ngươi về đi. Ta cũng muốn kéo lê đuôi trong bùn”. Phía sau thái độ minh triết bảo thân ấy là cả một sự khinh bỉ bất hợp tác đối với kẻ cầm quyền, và người ẩn sĩ Trang Chu ở đây đã không hề vô vi khi công nhiên dấn thân cho một lý tưởng. Gia Cát Khổng Minh ẩn cư ở Nam Dương nhưng khi Lưu Bị tam cố thảo lư thì ông trình bày rành rẽ đường lối cát cứ Lưỡng Xuyên, mà còn đem bản đồ Trung Quốc ra để minh họa. Một kẻ ở ẩn không màng tới thế sự thì cần gì phải lưu trữ bản đồ, cần gì phải tính toán việc tam phân thiên hạ? Không lạ gì mà sau khi ra giúp Lưu Bị ông lại “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”. Có thể nói trong đại bộ phận trường hợp ẩn sĩ xưa nay, ở ẩn chỉ là một cách thức chờ đợi thời cơ hay một phương sách bày tỏ thái độ. “Kẻ đại ẩn ẩn ở chợ búa, kẻ tiểu ẩn ẩn ở sơn lâm, kẻ trung ẩn ẩn ở triều đình”, nhưng ngay một kẻ trung ẩn như Đông Phương Sóc làm quan lang đời Hán Vũ Đế thường uống rượu say, bò ra đất mà hát “Luân lạc cùng bọ thế tục, ở ẩn trong cửa Kim Mã. Trung cung điện có thể trốn đời, bảo toàn thân mình, cần gì phải vào nơi núi sâu mà ngồi dưới lều cỏ”, sinh hoạt bê tha như một gã lãng tử mà lúc sắp chết cũng can nhà vua “Xin bệ hạ đuổi bọn xu ninh, bỏ lời gièm pha” giống hệt các bậc hiền thần trong lịch sử. Rõ ràng kẻ sĩ chân chính đều là người có học vấn hiểu được lẽ hưng suy trị loạn, có tấm lòng giúp nước lo đời. Chính kiến thức và phẩm chất ấy đã làm hình thành trong họ hai nhu cầu có thể coi như tiêu chí phân biệt kẻ sĩ và trí thức: được phát triển tài năng và được thi thố tài năng. Cũng phải nói rằng trong không ít tường hợp sự thỏa mãn một cách không đúng đắn các nhu cầu này đã khiến kẻ sĩ trở thành tội nhân thiên cổ trong những cuộc dấn thân bi thảm, ví dụ Đào Duy Từ không được chính quyền Lê Trịnh cho đi thi vì là “con nhà hát xướng” đã bỏ vào Nam chờ thời đợi giá, rồi khi được Nguyễn Phước Nguyên tin dùng đã đề xướng kế hoạch xây dựng Lũy Thầy gây ra tình trạng chia cắt đất nước hơn một trăm năm.  Xưa này đời nào cũng có những kẻ sĩ không thành đạt. Nhưng thành đạt hay không đối với kẻ sĩ chỉ là một chuyện rất nhỏ, thậm chí sở dĩ họ không được lên xe xuống ngựa, không có quan cao lộc hậu chỉ vì đã dấn thân. Đây chính là trường hợp của những kẻ sĩ Việt Nam thời hiện đại như Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ…, những người có thể có nhưng vẫn tình nguyện từ bỏ địa vị cao sang trong chính quyền thuộc địa để dấn thân vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc trước 1975. Kẻ sĩ mỗi thời đều có mục tiêu và cách thức dấn thân riêng, thậm chí cả khi biết rõ mục tiêu ấy là vô vọng và cách thức ấy là vô nghĩa. Đôi liễn tuyệt mệnh của Nguyễn Hữu Huân trước khi bị xử chém năm 1875 “Việc lớn không thành, báo chúa cũng đành liều một chết. Lòng ngay khó tỏ, miệng đời luống để luận trăm năm” đã gói ghém tính chất bi kịch ấy trong sự dấn thân của nhiều kẻ sĩ. Nhưng khi đại cuộc đã hỏng, thì kẻ sĩ còn biết làm gì hơn là dâng hiến cả cuộc sống lẫn cái chết của mình cho nhân dân và đất nước, như một minh chứng sau cùng về việc dấn thân cho lý tưởng Vì đời?  ***  “Nước loạn mà kẻ sĩ giàu là kẻ sĩ nhục, nước trị mà kẻ sĩ nghèo là kẻ sĩ nhục”- đất nước loạn lạc mà kẻ sĩ giàu thì đó là kẻ ích kỷ chỉ biết lo thân, đất nước thái bình mà kẻ sĩ nghèo thì đó là kẻ bất tài không nuôi nổi mình. Trong thời buổi kinh tế thị trường mà cái lẽ hưng suy trị loạn như gió mây biến đổi vô thường thì quả cũng khó mà lấy sự thành đạt hay tài năng để phân định chuyện thị phi vinh nhục của kẻ sĩ, nên không lạ gì mà hiện tại dường như ngày lại càng có nhiều hơn những kẻ “trung ẩn” không cần có công, chỉ cần không có tội để “bảo toàn thân mình”, từ bỏ thiên chức kẻ sĩ để làm công chức. Nhưng thế nước chưa yên, lòng người chưa định, liệu trong những kẻ sĩ Việt Nam hiện tại có bao nhiêu kẻ dám nối bước cha ông dấn thân theo con đường khổ nhục, cam chịu thua thiệt, thậm chí ăn đói mặc rách, đọc sách hai mươi năm để nói một câu mà dấy được cơ đồ?  Cao Tự Thanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đảng của Dân tộc      Khi bà má miền Nam thời chống Mỹ đào hầm nuôi cán bộ cộng sản, bà mẹ miền Bắc gửi con trai mình ra mặt trận theo lời kêu gọi “không có gì quý hơn độc lập tự do”, chắc các mẹ không phải săm soi tìm hiểu xem Đảng là của giai cấp công nhân hay của ai. Mà quả thật có định tìm hiểu, chắc bà cũng không sao hiểu nổi “tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân là do vị trí khách quan của giai cấp ấy trong phương thức sản xuất xã hội quy định!” Sâu thẳm trong đạo lý và tình cảm của dân tộc ta, cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng. Chạm đến vấn đề này là chạm đến khu vực nhạy cảm nhất trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam không phân biệt tầng lớp, giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo. Đảng đứng ra nhận lãnh sứ mệnh cứu nước, đảng viên của Đảng đi đầu trong gian khổ, hy sinh vì nhiệm vụ cao cả đó. Bằng chính hành động đó, dân tin Đảng, xem Đảng là Đảng của mình.        Đương nhiên, nói như vậy không phải để khước từ một kiến giải về lý luận. Để phù hợp với khuôn khổ một bài báo ngắn, xin vắn tắt kiến giải ấy như sau: Là một tổ chức chính trị, vấn đề chính đảng không là vấn đề của riêng nước ta mà là mối bận tâm của cả loài người. Trong “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Gần đây nhất, “Đại Bách khoa toàn thư Pháp” định nghĩa về các đảng chính trị như sau: “Nhìn chung, một đảng chính trị có thể được định nghĩa như thể là một tập thể xã hội tìm kiếm sự ủng hộ của nhân dân nhằm trực tiếp thực thi quyền lực, và tập thể này được tổ chức theo thời gian và không gian sao cho nó có thể vượt qua được ảnh hưởng cá nhân của người lãnh đạo. Định nghĩa này vận dụng ba yếu tố – nền tảng của đảng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của nó – mà người ta sẽ xem xét trước khi xem xét những đảng được định nghĩa như vậy được hình thành trong lịch sử như thế nào”.  Với C.Mác, tư duy về đảng có quá trình vận động từ “đảng-ý thức” đến”đảng-tổ chức”. Khi giai cấp  có ý thức tự giác về bản thân mình, về vị trí, thân phận và sứ mệnh lịch sử của mình, thì giai cấp trở thành Đảng. Vì thế “đảng-ý thức” là nơi các nhà cách mạng sáng suốt truyền bá lý luận cách mạng và giáo dục công nhân, gắn lý luận với hành động. Từ kinh nghiệm thất bại của Công xã Paris năm 1871, quan niệm về đảng chuyển rõ sang “đảng-tổ chức” lúc đầu còn có phần lỏng lẻo, về sau ngày càng chặt, thể hiện rõ quan điểm Đảng Cộng sản là kết quả của sự kết hợp giữa lý luận cộng sản với phong trào công nhân  (về sau Ph.Ăngghen gọi lý luận ấy là “học thuyết Mác”).  Để đi sâu vào vấn đề này, lại phải làm sáng rõ khái niệm giai cấp. Với C.Mác, khái niệm “giai cấp” cũng có nhiều biến đổi. Từ sự nhìn nhận giai cấp vô sản như tác nhân chính trên sân khấu của lịch sử, C.Mác thay thuật ngữ giai cấp vô sản bằng thuật ngữ “giai cấp công nhân” để rồi dần dần thay thế thuật ngữ “giai cấp vô sản” hay “giai cấp công nhân” bằng thuật ngữ “những người làm công ăn lương”. Rồi về cuối đời, C.Mác sử dụng khái niệm “giai cấp những người sản xuất”  trong “Lời nói đầu viết cho Bản Cương lĩnh của Đảng công nhân Pháp”: “Xét thấy rằng giải phóng giai cấp những người sản xuất là giải phóng toàn thể loài người”(1). Về sau này, những nhà nghiên cứu Mácxít xem đó như là “Di chúc chính trị của C.Mác”. “Quốc tế 3” đã không theo “Di chúc” đó, nhưng tư tưởng chính trị đó của C.Mác sau này trở thành nền tảng của tất cả các cương lĩnh của các đảng Xã hội dân chủ của “Quốc tế 2”!  Như vậy là, khái niệm về “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” thoạt đầu đóng khung trong thuật ngữ “giai cấp vô sản” đã không “nhất thành bất biến” mà đã biến đổi theo hướng mở rộng ra. Số đông, có thể nói là hầu hết các Đảng cộng sản Âu, Mỹ, đã tiếp thu sự mở rộng nhận thức ấy. Điều ấy là do sự vận động của thực tiễn. Trong những nước tư bản phát triển, “những người làm công ăn lương” cho nhà nước và cho tư nhân chiếm tỷ lệ áp đảo, đến 80% và hơn 80% trong tổng lực lượng lao động xã hội.  Thế kỷ XX, có 3 thay đổi lớn của thực tiễn và nhận thức về lực lượng cách mạng:    – Các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa bị áp bức, mà có nhà nghiên cứu cộng sản coi là giai cấp vô sản của thế kỷ XX, nổi lên đấu tranh đòi giải phóng.   – Kết cấu của xã hội hiện đại cho thấy sự phát triển mạnh của nhiều tầng lớp xã hội rất gần với khái niệm “giai cấp những người sản xuất” và “những người làm công ăn lương” mà không phải là giai cấp vô sản nghĩa hẹp. Ở nước ta cũng vậy.  – Do các dân tộc thức tỉnh và tự khẳng định mạnh mẽ, ngay trong trào lưu toàn cầu hóa kinh tế, dân tộc trở thành động lực và sức mạnh hùng hậu của thời đại. Dân tộc nói đây không chỉ là độc lập dân tộc, mà rộng hơn, còn là ý thức dân tộc, quyền lợi dân tộc, truyền thống dân tộc, đặc điểm dân tộc… Ở nước ta, đây là điểm nổi bật.  Liệu có phải vì thế mà tại Đại hội II của Đảng năm 1951, Hồ Chí Minh đề nghị đổi tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam để “nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”. Câu hỏi C.Mác đặt ra cách đây 162 năm đã có lời giải: “Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”(2): Giai cấp vô sản “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(3). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng 8 thành công, giai cấp công nhân Việt Nam đã cùng với các tầng lớp xã hội khác trở thành công dân của một nước độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Độc lập, Tự do và Hạnh phúc là nội dung của tên gọi ấy. Đó cũng là khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam, mà để hướng tới mục tiêu đó, bao thế hệ Việt Nam đã “đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để thực hiện, đúng như lời thề trong Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945. Với những cuộc kháng chiến chống xâm lược ròng rã mấy mươi năm trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã giữ trọn lời thề ấy. Để lãnh đạo được, Đảng phải thu hút vào mình những lực lượng tinh hoa nhất của dân tộc. Nói theo ngôn ngữ của người xưa là quy tụ được “hiền tài-nguyên khí quốc gia”, hoặc như cách gọi của Hồ Chí Minh là “những bực tài đức”. Không làm được điều đó, Đảng không thể “có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” như điều mà V.I Lênin đã từng yêu cầu!  Thật ra thì từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã xác định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không hề câu nệ trong quá trình tìm kiếm phương tiện để nhằm thực hiện mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chính Người đã nói: “Học thuyết của Khổng Tử  có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta… Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội, nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.(4)   Suốt đời, Hồ Chí Minh nhất quán với nhận thức ấy trong mọi chủ trương, đường lối. Đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là nội dung, thể hiện rất rõ sự nhất quán đó.Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thấm sâu vào tâm hồn Việt Nam, đã thành biểu tượng của dân tộc.  Thực tế đã chứng minh rằng, lúc nào giữ vững quan điểm dân tộc, lấy lợi ích dân tộc là tối thượng với tinh thần Tổ quốc trên hết, thì cách mạng thu được thắng lợi. Lúc nào đi chệch khỏi tư tưởng của Hồ Chí Minh, thổi phồng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp xem đó là động lực của cách mạng, của phát triển xã hội, thì cách mạng thất bại. Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, “công tư hợp doanh”… là những ví dụ mà ai cũng nhớ. Chúng ta đã để mất một lực lượng sản xuất với một cơ sở hạ tầng còn gần như nguyên vẹn ở Miền Nam sau 1975, để rồi phải làm lại từ đầu với công cuộc Đổi mới! Bài học của 10 năm ấy vẫn còn nóng bỏng. Đất nước đang bứt lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập quốc tế để tiến cùng thời đại, một thời đại đang đi vào văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức. Nếu “giai cấp vô sản phải tự mình trở thành dân tộc” như C.Mác yêu cầu, thì Đảng của giai cấp ấy phải trở thành Đảng của dân tộc là một thực tế hiển nhiên, nằm trong lôgích nội tại của sự vận động lịch sử .   Đó là biện chứng của lịch sử. Nếu đổi mới Đảng là “đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với Đảng”, thì sự đổi mới căn bản nhất là tuân theo lôgich nội tại ấy, tuân theo biện chứng của lịch sử chứ không câu nệ vào những giáo điều đã bị cuộc sống vứt bỏ. Đảng phải là Đảng của dân tộc.(5)  Trong bối cảnh mới của  đất nước và của thế giới, để cho Đảng “gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”, mong Đảng trở lại với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam cùng với tên nước là Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trở lại với tư duy của Hồ Chí Minh trong “Điều mong muốn cuối cùng” của Người: “Toàn Đảng toàn dân đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.  Làm như vậy, Đảng sẽ quy tụ được ý chí của dân tộc, khởi động được tinh thần Việt Nam, kết thành một sức mạnh to lớn đủ sức vượt qua mọi thách thức, chớp lấy thời cơ, đưa đất nước đi tới.  Chú thích :  (1). C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 19. NXBCTQG Hà Nội 1995; tr.353  (2).  C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 2. NXBCTQG Hà Nội 1995; tr. 56  (3). C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 4. NXBCTQG Hà Nội 1995; tr.624  (4). Chương trình Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” NXBKHXH 1993, tr.84      5. Xem “PHẢI LÀ ĐẢNG CỦA DÂN TỘC”, báo “NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN” ngày 27.2.2006, có chú thích đầy đủ xuất xứ các trích dẫn.        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đảng ta là đạo đức, là văn minh      Cách đây 50 năm, trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ nói : “Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình. Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đây không là một định nghĩa Đảng về mặt lý luận, đây là niềm tự hào, cũng là một lời nhắc nhở. Khi nói về văn minh thì điều cần hiểu là, với Hồ Chí Minh, văn minh là sự thống nhất phẩm chất và trí tuệ. Đây chính là một nét đặc sắc của truyền thống văn hiến Việt Nam. Cũng là nét đặc sắc của cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh và của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng.        Luôn nhấn mạnh về phẩm chất, đạo đức của người Đảng viên, đó là một điểm nổi bật trong nhận thức về Đảng cũng như trong việc tổ chức, rèn luyện và giáo dục Đảng viên của Hồ Chí Minh. Ngay từ buổi ban đầu, trong “Đường Kách mệnh”, tài liệu được soạn thảo năm 1927 để huấn luyện Đảng viên và quần chúng, Bác đã đặt bài “Tư cách của người cách mệnh” làm bài mở đầu, trước cả bài “Vì sao phải viết sách này”. Và rồi trong những lời cuối cùng trước khi “từ biệt thế giới này” cũng là “trước hết nói về Đảng” để thiết tha căn dặn “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng…”. Nỗi canh cánh của Người trước khi đi xa vẫn là “việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” .  Để hiểu được sự canh cánh ấy, cần phải hiểu khái niệm về Đảng của Bác.   Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã xác định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước”. Suốt đời, Hồ Chí Minh nhất quán với nhận thức ấy trong mọi chủ trương, đường lối. Đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là nội dung, thể hiện rất rõ sự nhất quán đó. Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thấm sâu vào tâm hồn Việt Nam, đã thành biểu tượng của dân tộc. Cần phải nhắc lại rằng, dân tộc nói đây không chỉ là độc lập dân tộc, mà rộng hơn, còn là ý thức dân tộc, quyền lợi dân tộc, truyền thống dân tộc, đặc điểm dân tộc. Với Hồ Chí Minh, chính dân tộc sinh ra Đảng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng, rồi tin yêu Đảng khi Đảng đã trưởng thành lên.            … Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý.              …              Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thẩy, phải có một tinh thần chí công vô tư.                                 Chiến Thắng                                 Báo Cứu quốc 12/10/1945          Đảng phải là Đảng của trí tuệ. Đây không là một áp đặt của suy đoán chủ quan hay là sự biểu đạt một ước vọng. Đây chỉ là sự diễn dịch cái tất yếu logic của vận động thực tiễn và cũng là của chính nhu cầu tồn tại và phát triển của Đảng, nếu Đảng muốn làm trọn sứ mệnh cao quý của mình, sứ mệnh “soi đường chỉ lối cho nhân dân ta vững bước trên con đường thắng lợi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.  Ánh sáng của ngọn đuốc “soi đường, chỉ lối” đó không thể là gì khác ánh sáng của trí tuệ.   Về điều này, xin nhắc lại lời của V.I Lênin: “ Lịch sử tất cả các nước chứng tỏ rằng chỉ do lực lượng độc của bản thân mà thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa… Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh từ các lý luận triết học, lịch sử kinh tế, do những người có học thức trong các giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng nên. Marx và Ăngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại, do địa vị của các ông, nên chính bản thân các ông cũng thuộc lớp trí thức tư sản”.   Hồ Chí Minh đã có lần nói về việc bồi đắp trí tuệ của mình bằng cách học ở Khổng Tử “sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”, ở Giêsu “lòng nhân ái cao cả”, ở Chủ nghĩa Marx “phương pháp biện chứng”, ở chủ nghĩa Tôn Dật Tiên “chính sách phù hợp với điều kiện nước ta”. Theo Hồ Chí Minh, họ gặp nhau ở điểm chung là “muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, phúc lợi cho xã hội”. Chính vì thế mà Người “cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Làm thế vì Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên…chính là những người có học thức nhất của thời đại họ đã sống. Họ vừa là sản phẩm của nền văn minh mà thời đại của họ đạt được, vừa là những đồng tác giả góp phần tạo ra nền văn minh đó.         Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, để thực thi được sứ mệnh soi đường chỉ lối  lại càng đòi hỏi Đảng, người Đảng viên của Đảng, đặc biệt là những người đảm đương những trọng trách của Đảng và của Nhà nước, nhất thiết phải là người có trí tuệ tương thích với vai trò và nhiệm vụ của họ.        Trong thời đại của thế kỷ XXI, thời đại của nền kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, thì để thực thi được sứ mệnh soi đường chỉ lối  lại càng đòi hỏi Đảng, người Đảng viên của Đảng, đặc biệt là những người đảm đương những trọng trách của Đảng và của Nhà nước, nhất thiết phải là người có trí tuệ tương thích với vai trò và nhiệm vụ của họ. Vả chăng, thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có thể sáng tạo và linh hoạt thì cùng với nhiệt tình và ý chí kiên cường của người cách mạng, trí tuệ là nhân tố quyết định.   Chúng ta cần hiểu sâu sắc ý nghĩa của lời nhắn nhủ, cũng như sự kỳ vọng của Hồ Chí Minh về “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, là một nhu cầu cấp thiết của việc xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đảng & Trí thức (một thoáng nhìn lịch sử)      Sau một nghị quyết về vai trò giai cấp công nhân, Đảng chuẩn bị một văn kiện về đội ngũ trí thức. Bên cạnh các cơ quan chức năng của Đảng tổ chức nghiên cứu để tham mưu, Đảng cũn tổ chức tiếp xúc trực tiếp với trí thức để tham vấn mà câu hỏi đầu tiên vẫn được đặt ra : “Trí thức là ai ?” hay “Ai được là trí thức ?”     Giờ đây đã có khái niệm “đội ngũ” thay cho “tầng lớp”,  không đến nỗi như xa xưa, trong các văn kiện của thập kỷ đầu tiên khi Đảng mới ra đời là “bọn trí thức”. Và bây giờ thì không còn quá nệ vào nguyên lý “đấu tranh giai cấp” để phân định trí thức thuộc giai tầng “tiểu tư sản” với thuộc tính: trung gian, lừng chừng, dễ ngả nghiêng v.v… Nên với trí thức, mức tin cậy cao nhất chỉ là “tranh thủ” hay đoàn kết đi liền với cải tạo.  Khái  niệm “đội ngũ” đã mang nội hàm định lượng và đương nhiên, cùng với sự phát triển, đổi mới, hội nhập theo đinh hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thì số lượng “đội ngũ” là không nhỏ và sẽ ngày càng đông. Nhưng với nội hàm “định tính” thì “đội ngũ” vẫn còn là một câu hỏi chưa định hình. Đã có nhiều tiêu chí được đưa ra là “lao động trí óc”, “đã tốt nghiệp phổ thông hay đại học, có học hàm hay học vị”, phải là một hạng người đóng vai trò phản biện xã hội hay sáng tạo về trí tuệ v.v…Cách đây không lâu, khi nhà lãnh đạo cao cấp là Thường trực Ban Bí thư TW Đảng CSVN đến làm việc với Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cũng với mối quan tâm đến “đội ngũ trí thức”tập hợp quanh Liên hiệp Hội, tôi có mạo muội đặt câu hỏi với nhà lãnh đạo ấy rằng : “Vậy thì ông và các vị lãnh đạo khác trong Đảng” có tự coi mình là trí thức và tự xếp mình vào đội ngũ trí thức ấy không.  Dù chưa nhận đuợc câu trả lời, nhưng tôi bày tỏ quan điểm của tôi là: Trí thức không phải thuần túy là một nghề nghiệp (lao động trí óc để phân biệt với lao động chân tay), không chỉ là hàm lượng (trình độ) học vấn (bằng cấp, uy tín nghề nghiêp), cũng không quá cao xa đồng nhất với tầng lớp thượng lưu xã hội, có năng lực và vị thế xã hội để phản biện đối với những quan điểm chính thống và trở thành những nhân vật tác động vào những tiến bộ xã hội…  Tôi cho rằng trong lịch sử đúng là đã từng có thời kỳ mà trí thức là một đẳng cấp đặc biệt gắn với tầng lớp trên, có điều kiện thụ hưởng nền giáo dục cao và được tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia. Cũng có thể xuất hiện một số trường hợp xuất thân từ tầng lớp bình dân… Đó là tầng lớp thượng lưu mà ở mỗi nước, mỗi thời có những đặc trưng riêng đều tồn tại như những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong tiến trình lịch sử và ngày càng có xu thế hội nhập và toàn cầu hoá.  Nhưng, theo tôi, trước khi xác lập nền dân chủ thì chưa thể có ý niệm đầy đủ về “trí thức”. Đặc trưng quan trọng nhất bên cạnh học vấn (tri thức) là ý thức về quyền của mình (nhân quyền) và trách nhiệm đối với xã hội. Nói cách khác, trí thức đúng nghĩa là sản phẩm của xã hội công dân (dân quyền). Môi trường hoạt động của họ phải là tự do. Vì thế người trí thức chỉ có thể phát triển trong môi trường tự do và họ cũng luôn khao khát đòi hỏi tự do. Đó là một tiêu chí của trí thức hiện đại khác với trí thức truyền thống (nho sĩ).  Trong xã hội truyền thống Việt Nam, thượng tầng kiến trúc chịu ảnh hưởng sấu sắc nền văn minh Trung Hoa. Nho giáo giữ một vị trí đặc biệt cho dù tầng lớp nho sĩ, sản phẩm của nền học vấn và tư tưởng ấy, ở Việt Nam vẫn cố tạo cho mình những đặc trưng và giá trị riêng. Động lực tạo nên cái riêng ấy chính là tinh thần dân tộc, lòng khao khát tự do về chính trị trước sức mạnh đồng hoá của nền văn minh Phương Bắc và sức mạnh bành trướng của một quốc gia luôn coi mình là trung tâm của thiên hạ.   Chính phẩm chất khao khát tự do khiến cho những con người được đào tạo về học vấn từ những pho sách kinh điển của Trung Hoa và một hệ thống đào tạo cũng như thi cử được xác định như một nguyên lý “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Tuy nhiên nội hàm 2 chữ “quốc gia” còn bao hàm ý chí tự do, tự chủ với phương Bắc. Điều đó tạo nên phẩm chất trí thức của tầng lớp nho sĩ cổ điển ở Việt Nam.   Những nho sĩ luôn có mặt bên cạnh những  người anh hùng trong các sự nghiệp giải phóng, thường xuất thân từ những tầng lớp xã hội trên (vua, qúy tộc, địa chủ) mà hầu như không có vai trò của những người nông dân thực thụ mặc dù có trường hợp là “thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân” hay “anh hùng áo vải”. Những Ức Trai (Nguyễn Trãi) hay La Sơn Phu tử (Nguyễn Thiếp)…là những hình tượng tiêu biểu của người trí thức thời phong kiến.     Chính thời cận đại, với đặc trưng là sự có mặt của nền văn minh Pháp (cùng giống như Trung Hoa) với cả hai mặt của nó: ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và nền văn minh của Phương Tây, trực tiếp là nước Pháp, đã tạo nên người trí thức thời cận – hiện đại. Tính hai  mặt của nước Pháp có thể được minh hoạ bởi sự lựa chọn “con đường cứu nước” của Nguyễn Ái Quốc (năm  13 tuổi, nhìn là cờ tam sắc của nước Pháp, người thanh niên yêu nước ấy đã nẩy sinh ý định đi sang Pháp để tìm hiểu xem đằng sau 3 chữ “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” thực chất là cái gì?).  Cái xấu xa nhất của nước Pháp thực dân là ách đô hộ tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, thì cái giá trị cao nhất của văn minh Pháp lại chính là Tự do và Dân chủ. Cùng với sự khao khát độc lập để khôi phục lại nền tự chủ vốn có, thì Tự do và Dân chủ là hai khái niệm hoàn toàn mới mẻ và có sức hút mạnh mẽ đối với tầng lớp nho sĩ cấp tiến (thế hệ chuyển tiếp đầu thế kỷ XX) như Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng và một tầng lớp tân học được đào tạo từ nền giáo dục thuộc địa hay tại chính nước Pháp như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh v.v…và cả Nguyễn Ái Quốc.   Với lớp người tân học này thì sự phân hoá về khuynh hướng chính trị bị tác động bởi những trào lưu khác nhau trên thế giới (tư tưởng dân chủ tư sản, tư tưởng quân chủ lập hiến hay chủ nghĩa cộng sản xoay quanh quan niệm về “tự do”, “dân chủ” đẻ hướng vào mục tiêu trực tiếp là khôi phục nền “tự chủ”, “độc lập”.  Nguyễn Ái Quốc đã chọn chủ nghĩa cộng sản (1920) khi thấy đó là xu hướng chính trị duy nhất ủng hộ nền độc lập cho các dân tộc thuộc địa; thì khi phát hiện ra rằng “cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam không giống như ở các nước châu Âu” và vẫn tìm thấy “chủ nghĩa dân tộc là một động lực” (1924) thì trí thức được nhìn nhận như một lực lượng trí tuệ của dân tộc mà nó không bị đặt vào cái khuôn “phân chia giai cấp” để trở thành một tầng lớp “chung chiêng” luôn dao động giữa lợi ích của hai giai cấp đối lập là tư sản và vô sản. Bởi thế mà từ Chánh cương sách lược vắn tắt (2-1930) đến Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh (8-1941) tương đối nhất quán trong việc xác định vị thế của người trí thức trong cách mạng dân tộc dân chủ (giải phóng dân tộc).  Đội ngũ đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc giác ngộ thành cộng sản vẫn là những chiến sĩ của phong trào yêu nước của Phan Bội Châu và những bậc tiền bối (1925) và trong Mặt trận Việt Minh cũng như trong cơ cấu của Chính phủ độc lập đầu tiên (1945) thì trí thức vẫn là lực lượng hạt nhân ưu tú nhất của cách mạng, kể cả trong Đảng. Phân tích chi tiết ta sẽ thấy thành phần chủ chốt của Đảng từ thời trứng nước cho đến khi cách mạng thành công là trí thức, thậm chí  nhiều người còn xuất thân từ lầng lớp trên. Thành phần công nông được đề rất cao về mặt lý thuyết nhưng trong thực tế chiếm tỉ trọng không đáng kể. Cách khắc phục chủ yếu của thế hệ trước khi cầm quyền (giành được chính quyền) là các phong trào “vô sản hoá”. Nhưng sau khi trở thành Đảng cầm quyền thì chúng ta thấy một sự tách biệt Đảng ra khỏi trí thức. Tuy nhiên phân tích kỹ thì cho đến trước khi có một đội ngũ trí thức là sản phẩm của chế độ mới (sau 1945) được đào tạo từ nền “giáo dục cách mạng” hay từ nước ngoài thì một đội ngũ trí thức xuất thân từ công nông mới hình thành ngày một đông đảo. Tuy nhiên, xuất phát từ những nguyên lý được coi là kinh điển bất di bất dịch “Đảng của giai cấp công nhân “ (có thêm vào ý niệm “và của nhân dân lao động”), dường như Đảng đồng nhất trí thức với “nhân dân lao động”?.  Phải chăng đó chính là điều đã dẫn đến khoảng cách giữa Đảng và Trí thức? Kể từ khi trở thành đảng cầm quyền, chúng ta nhận thấy cái khoảng cách ấy đã tạo thành mối quan hệ Đảng và Trí thức là mối quan hệ trên dưới, lãnh đạo và bị lãnh đạo… mà hệ qủa của nó sẽ là quan hệ  “xin-cho”,”ban-phát”…  Hôm nhà lãnh đạo cao cấp đến làm việc với Liên hiệp Hội, tôi chứng kiến nhiều vị lãnh đạo của Liên hiệp cũng như một số hội thành viên chủ yếu là “phàn nàn” kể cả “trách móc” Đảng và Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến trí thức, đến các nhà khoa học và tổ chức của nó xoay quanh những vấn đề cề chính sách đãi ngộ hay quan niệm (ví như không coi các hội khoa học là tổư chức “chính trị” như các hội văn học nghệ thuật, mà biểu hiện đặc trưng nhất là không có ngân sách, trụ sở hay biên chế nhà nước cấp…”.  Quan niệm của tôi được trình bày hôm đó là: Ngày nay, với sự phát triển của giáo dục, khoa học và công nghệ cũng như thời đại của “kinh tế tri thức” đã khiến cho nội hàm “trí thức” được mở rộng. Học vấn đã có cơ hội đến với số đông mọi tầng lớp xã hội, mọi lực lượng lao động xã hội đều phải coi tri thức là một nhu cầu sống còn. Do vậy trí thức phải được coi là một “phẩm chất” nhiều hơn là một tầng lớp, để rồi lại tạo thành một “đội ngũ” để phân biệt với các “đội ngũ” hay giai cấp khác.  Ở nước ta, đến nay còn chưa phổ biến (thừa nhận) khái niệm “chính khách” như một “đội ngũ” vừa mang tính nghề nghiệp lại vừa mang tính “lý tưởng chính trị”, laị thêm  thiết chế “một đảng lãnh đạo” đã dẫn đến sự tự tách biệt những người đại diện (thừa hành quyền lực ấy) thành một đẳng cấp riêng không gắn với các giai tầng khác (công, nông, trí thức, nay có thêm doanh nhân…).  Nếu nhận thức rằng “trí thức” chỉ là một phẩm chất thì phẩm chất ấy phải trở thành hạt nhân cả về định lượng và định tính cho một đảng chính trị, một đảng lãnh đạo. Vì là một đảng trí thức nên nó mới thành công trong quá khứ và chỉ là một đảng như thế thì nói mới thành công trong hiện tại và tương lai, thời đại ngày càng đòi hỏi hàm lượng tri thức trong lãnh đạo. Vì thế, Đảng phải không ngừng phấn đấu thành một đảng trí thức và ngược lại những trí thức thì phải coi những mục tiêu của Đảng gắn với lợi ích của Dân tộc là mục tiêu phấn đấu, trong đội ngũ hay ngoài đội ngũ cũng vậy. Hơn thế nữa, Đảng phải coi “Tự do-Dân chủ” là một mục tiêu và là người lãnh đạo  sự nghiệp giải phóng con người sau khi đã thành công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khao khát và đấu tranh cho Tự do và Dân chủ chính là phẩm chất hàng đầu của người trí thức.  Muốn thế thì đường lối của Đảng phải đặt lợi ích của Dân tộc nghĩa là của quảng đại quần chúng (ngày càng có phẩm chất trí thức) với mục tiêu Dân chủ và Tự do lên hàng đầu và những người đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong cuộc đấu tranh ấy. Tất cả những đòi hỏi này đều đã được ghi trong điều lệ, cương lĩnh của Đảng (“xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”).Vấn đề còn lại là thể hiện trong đời sống,  thể hiện chính Đảng là đảng trí thức và đảng viên phải  trở thành trí thức dù họ đang lao động chân tay hay trí óc, trên đồng ruộng hay trong nhà máy v.v…  Cũng trong buổi tiếp xúc đó, tôi đã tặng nhà lãnh đạo cao cấp một số Tạp chí “Xưa&Nay” mới nhất, trong đó có đăng đoạn hồi ức của Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường thuật lại buổi gặp và trao đổi với Bác Hồ bên lề một hội nghị ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp. Với một tinh thần cởi mở và cầu thị vị lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước kháng chiến đã lắng nghe và vị giáo sư  nổi danh được đào tạo trong nền giáo dục Pháp đã chân thành đóng góp những ý kiến mang tính phản biện những chính sách của Đảng và Nhà nước với những dự báo và cảnh báo hết sức thẳng thắng và mạnh mẽ về nguy cơ suy thoái của một đảng và một nhà nước cầm quyền. Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường đã bày tỏ sự khâm phục tư cách và tầm vóc của lãnh tụ chỉ qua một lần gặp gỡ trực tiếp.  Chỉ đáng nói và đáng tiếc rằng những lời cảnh báo của vị Giáo sư từ những ngày trên chiến khu kháng chiến, nửa thế kỷ sau có nhiều điểm được chứng thực là đúng đắn…! Đấy là một mẫu hình mối quan hệ giữ Đảng và Trí thức.               ——–  Giờ đây đã có khái niệm “đội ngũ” trí thức thay cho “tầng lớp”,  không đến nỗi như xa xưa, trong các văn kiện của thập kỷ đầu tiên khi Đảng mới ra đời là “bọn trí thức”( được dùng với cả các nhân vật như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh…). Và bây giờ thì không còn quá nệ vào nguyên lý “đấu tranh giai cấp” để phân định trí thức thuộc giai tầng “tiểu tư sản” với thuộc tính: trung gian, lừng chừng, dễ ngả nghiêng v.v… Nên với trí thức, mức tin cậy cao nhất chỉ là “tranh thủ” hay đoàn kết đi liền với cải tạo.        Dương Trung Quốc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh bom tại giải Marathon Boston: Phát hiện thêm hai thiết bị chưa phát nổ      Sau khi vụ đánh bom kép xảy ra chiều thứ  Hai 15/4 (giờ địa phương) gần vạch đích  của Cuộc thi Marathon Boston khiến ít nhất ba người thiệt mạng, cơ quan chức năng đã phát hiện thêm hai thiết bị chưa phát nổ,  trong đó một thiết bị được phát hiện ở gần hiện trường vụ đánh bom.      FBI đang chỉ huy cuộc điều tra với sự tham gia của nhiều cơ quan khác của Liên bang, chính quyền bang và địa phương, nhưng đến thời điểm này mới có rất ít manh mối. Richard DesLauriers, đặc vụ phụ trách khu vực Boston của FBI miêu tả đây như một “cuộc điều tra hình sự” đồng thời là “một cuộc điều tra khủng bố tiềm năng”.  Theo lời một nhân viên hành pháp liên bang tham gia cuộc điều tra, hiện chưa rõ nguồn gốc của vụ đánh bom là từ trong nước hay nước ngoài. Một quan chức chính phủ cho hay, không có bất kỳ mối đe dọa nào cho tới trước cuộc thi.  Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Tổng thống Barack Obama phát biểu: “Người dân không nên đưa ra kết luận trước khi chúng ta có đủ cơ sở thực tế. Để tránh mắc phải sai lầm, chúng ta sẽ đi đến cùng vụ việc và sẽ tìm ra kẻ gây ra chuyện này.”  Ông nói “dù là cá nhân chịu trách nhiệm hay các nhóm chịu trách nhiệm thì họ đều sẽ thấy sức nặng của công lý.”  Cũng theo lời của Tổng thống Obama, FBI và Bộ An ninh Nội địa “đang huy động các nguồn lực thích hợp để giải quyết vụ việc”.  Một nhân viên hành pháp liên bang cho biết cả hai quả bom đều nhỏ và các thử nghiệm ban đầu cho thấy không có C-4 hay vật liệu nổ cao cấp nào, chứng tỏ những thiết bị được sử dụng trong vụ tấn công đều thô sơ.  Nghị sĩ Đảng Dân chủ bang Massachusetts, đồng thời là thành viên Ủy ban An ninh nội địa của Hạ viện Bill Keating cho biết, cơ quan chức năng còn phát hiện hai thiết bị khác chưa phát nổ. Một thiết bị được tìm thấy ở một khách sạn trên đường Boylston gần nơi xảy ra vụ nổ và một thiết bị khác được tìm thấy ở một địa điểm chưa được tiết lộ. Ông gọi vụ đánh bom này là một “vụ tấn công tinh vi, đã được lên kế hoạch, có sự phối hợp”.  Các thiết bị chưa phát nổ đã được tìm thấy có thể cung cấp rất nhiều thông tin như dấu vân tay và cách chế tạo bom. Còn từ những quả bom đã phát nổ, các điều tra viên sẽ tìm kiếm các mảnh vỡ cũng như bất cứ thứ gì chỉ ra dấu vết của kẻ tạo bom.  Các điều tra viên đã lưu ý cảnh sát về “một người đàn ông da sẫm màu hoặc da đen” có thể nói giọng nước ngoài liên quan đến vụ đánh bom. Người ta đã nhìn thấy người đàn ông này đeo một chiếc ba lô màu đen, mặc áo len và tìm cách lọt vào khu vực hạn chế khoảng năm phút trước khi xảy ra vụ nổ đầu tiên.   Tối thứ Hai, một nhân viên hành pháp cũng cho biết một công dân Ả Rập bị thương ở chân trong vụ đánh bom đang được giám sát tại một bệnh viện ở Boston, nhưng các điều tra viên không thể khẳng định anh ta có tham gia vào vụ việc hay không và hiện anh ta không bị giam giữ.  Sau những phỏng đoán cho rằng vụ nổ thứ ba trong hôm thứ Hai tại Thư viện Tổng thống Jonh F.Kennedy có thể liên quan tới vụ đánh bom tại cuộc thi Marathon, cảnh sát khẳng định sự cố đó là do vấn đề về máy móc, còn tthư viện cho biết toàn bộ nhân viên và khách thăm đều an toàn.  Đỗ Thị Huế lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Danh – Giá      Người “danh giá” trước hết phải là người có “danh”, nhưng hình như cái “danh” nào cũng có “giá” của nó cả! Cụ Nguyễn Công Trứ ngay từ khi còn rất trẻ đã viết câu thơ nổi tiếng: Đã mang tiếng đứng trong trời đất Phải có danh gì với núi sông. Ngẫm ra, ý muốn được lưu danh cũng là thói thường của người đời vậy!        Thời Xuân Thu, lý tưởng sống của tráng sĩ là “lưu danh thiên cổ”. “Chính, tà” lúc ấy dường như khó có ranh giới rõ ràng. Sang nước Vệ mà vua Vệ không dùng thì người ta có thể bỏ sang nước Trần, nước Sái, dù các nước ấy đang đánh nhau. Kẻ sĩ chỉ cần lưu danh, và để danh  của mình có thể lưu thiên cổ, người ta sẵn sàng trả cái  giá  cao nhất là mạng sống của mình, có khi còn là mạng sống của cả gia đình mình nữa. Đọc “Sử ký” hoặc “Đông Chu liệt quốc”, ta thấy những người lưu danh như thế thật là nhiều.    Cũng có người sống không vì danh, mà vì những mục đích cao cả khác của  mình. Rất nhiều thiên tài đã lưu danh sử sách nhờ những đóng góp to lớn của họ cho loài người. Nhưng dù muốn hay không, họ cũng đã phải trả giá cho cái danh mà xã hội giành cho họ. Có thiên tài nào được sống như một người thường đâu! Cả cuộc đời họ cống hiến cho sự nghiệp, không còn thời gian cho bản thân mình. Mà có lẽ, hạnh phúc trọn vẹn ở đời chỉ có khi ta được sống cuộc sống bình thường nhất!   Xem ra lẽ đời thật công bằng, nếu bạn là người danh giá, nghĩa là được mọi người vinh danh, thì cũng tức là bạn đã trả một cái giá nào đó mà nhiều khi không tự biết!  Đó là nói đến những cái danh thực mà người ta giành để tôn vinh cho những người đã hy sinh một phần hay cả cuộc sống của mình vì những người khác. Trong xã hội, còn nhiều cái “danh” khác, thường vẫn được gọi là “hư danh”, hoặc là những cái “danh” mà chủ nhân của nó biết rất rõ cái “giá” đã trả. Cái “giá” đó nhiều khi rất cụ thể, bằng tiền, hoặc bằng những thứ khác. Tôi không muốn nêu lên ví dụ, vì hai lý do. Một phần, cũng không mong chuốc lấy sự bực bội của ai đó. Phần nữa, vì chắc chắn ai trong các bạn cũng tìm ngay được quanh mình những ví dụ điển hình của việc mua danh! Đáng buồn là thế, vì đó là sự thật khá phổ biến của xã hội ta, khi mà trong khoa học, giáo dục, thể thao, trong nghệ thuật, trong chính trường… đâu đâu cũng có kẻ bán người mua. Mà hàng hóa ở đây lại là cái “danh”, và người nào mua được đều trở thành kẻ “danh giá” trong xã hội. “Danh” nào, “giá” ấy. Giá càng cao thì danh càng “oai”. Danh càng oai thì lợi càng nhiều. Bởi vậy nên nhiều người mới sẵn sàng bỏ giá cao cho cái “danh” của họ.  Dù sao, cũng vẫn còn may là “lẽ đời thật công bằng”. Nếu cái danh  được trả giá bằng sự sự hy sinh những quyền lợi của cá nhân mình cho xã hội, thì cái danh ấy thật sự bền lâu. Còn cái “danh” mua được bằng “giá” nào đó, dù giá đắt hay giá hời, thì người mua được nó có còn là người “danh giá” nữa không? Không phải chờ đến khi họ hết quyền, hết lợi nhờ cái danh, mà ngay cả khi vừa mua xong danh, thì trong mắt xã hội, chẳng có cái “danh” nào kiểu đó mà người ta không định “giá” được!  Thế mới biết, không nghĩ đến danh mà thành danh thì cái danh ấy mới bền. Còn như làm đến “bậc thánh nhân” để “không lưu danh”1 thì thật khó quá!       Hà Huy Khoái       Nguồn tin: “BậcThánh nhân thì không lưu danh” – Nam Hoa Kinh (Trang Tử, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá kỹ năng và sản phẩm khoa học      Đánh giá nhân lực và sản phẩm khoa học một cách đúng đắn là yêu cầu thiết yếu cho phát triển và tiến bộ. Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi tính liêm chính.      Ảnh: Ikon Images / Alamy/Alamy  Có lần hỏi đồng nghiệp về một số người mà tôi thấy có năng lực đặc biệt kém nhưng lại nắm giữ vị trí quản lý quan trọng; tôi nhận được câu trả lời rằng: “à, anh ấy là con ông cháu cha.” Rõ ràng, đây là điều mà chúng ta không hề mong muốn. Một đòi hỏi cơ bản khác trong đánh giá là sự khiêm tốn. Một điều xảy ra khá phổ biến trong thực tế là năng lực của người đánh giá càng yếu thì họ lại càng kiêu ngạo và kẻ cả. Yêu cầu thứ ba rõ ràng là năng lực. Năng lực hạn chế không đáng trách, nhưng hành xử tồi tệ với sự kém cỏi của mình thì thật đáng xấu hổ. Cho phép tôi bình luận đôi điều về những điểm này; nhiều điều nêu lên ở đây đã được nói nhiều, thậm chí còn được lặp đi lặp lại bởi những người thông thái hơn tôi. Một cách khiêm tốn, bản thân tôi cũng đã bình luận về chủ đề này trong một vài bài báo trên Tia Sáng.    Liêm chính khoa học hiện đang được tranh luận sôi nổi ở Việt Nam, tôi đã bình luận về vấn đề này trong một bài báo gần đây trên Tia Sáng1 và sẽ không nhắc lại nội dung bài viết đó. Liêm chính trong đánh giá khoa học và các nhà khoa học đòi hỏi phải có một hội đồng: một người, dù liêm khiết và tài giỏi hết mức mà ta có thể mơ đến, thì quan điểm của người đó vẫn cần phải được phản biện khách quan trước quan điểm của người khác. Rõ ràng, chúng ta có thể tìm được người tham gia đánh giá với khả năng cao là một trong những đồng nghiệp của người được đánh giá (hoặc công việc được đánh giá). Tuy nhiên, nếu người đánh giá và người được đánh giá đều là thành viên của một cộng đồng khoa học nhỏ, như đôi khi xảy ra ở Việt Nam thì khả năng có sự cạnh tranh về kinh phí và sự công nhận của người đánh giá, thành viên hội đồng, với người được đánh giá. Do đó, người đánh giá có thể thiên vị và không được coi là khách quan và trung lập. Để có được sự liêm khiết và khách quan, trong trường hợp này, chúng ta cần mở rộng thành phần thành viên hội đồng sang lĩnh vực khác với lĩnh vực của người được đánh giá. Tiêu chí để lựa chọn thành viên là sự liêm khiết và, để tiếng nói của họ có trọng lượng, thành viên này cần có nhiều năm kinh nghiệm, có hiểu biết rộng và phải tôn trọng nghiêm ngặt các quy tắc cơ bản của đạo đức khoa học. Tôi cho rằng, trong trường hợp này chúng ta nên mời các thành viên nước ngoài tham gia với sự lựa chọn kỹ càng. Dường như Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng để làm việc này, có lẽ do những tư duy còn sót lại của thời chiến tranh và cô lập sau đó. Khi chuyển công tác sang VAST, nhóm nghiên cứu của chúng tôi được yêu cầu trình bày mong muốn của mình; chúng tôi đã yêu cầu thành lập một hội đồng tư vấn nhỏ bao gồm một hoặc hai thành viên nước ngoài nhằm giúp đánh giá chất lượng và giám sát công việc hằng năm của nhóm để từ đó đưa ra những khuyến nghị giúp phòng phát triển. Đề xuất đó đã không được chấp nhận. Một điều tưởng chừng như rất khó tin, ngay cả với Hội Vật lý Việt Nam cũng không được phép chấp nhận thành viên là người nước ngoài! Để thể hiện sự liêm chính, danh tính của các thành viên hội đồng cần phải được công khai. Liên quan đến điều này, tôi thấy việc sử dụng phản biện kín để đánh giá các bài báo khoa học của các tạp chí hết sức đáng lo ngại. Tôi có thể nêu ra nhiều ví dụ mà phản biện ẩn danh đưa ra những nhận xét hết sức tiêu cực đơn giản chỉ vì bài báo được bình duyệt có những luận điểm mâu thuẫn với công trình trước đó của anh ta. Mỗi cá nhân cần phải có trách nhiệm với những nhận xét, đánh giá của mình, tôi luôn ký tên vào những báo cáo phản biện của mình.      Trong những hội đồng từng tham dự, tôi thường thấy, một số thành viên hội đồng chỉ quan tâm đến việc thể hiện mình giỏi thế nào, hơn là tập trung đánh giá công tâm phẩm chất của người cần được đánh giá. Pierre Darriulat      Tôi đã nói, khiêm tốn là điều kiện tiếp theo. Yếu tố chủ quan luôn tồn tại trong đánh giá: một đánh giá hoàn toàn có thể sai; dĩ nhiên, mọi cố gắng có thể đều nhằm mục đích giảm thiểu khả năng đó. Chúng ta phải nhận thức được những hậu quả nghiêm trọng về con người mà những cuộc đánh giá để lại, dù đó là đánh giá để tuyển dụng, đề bạt hay khẳng định giá trị của một công trình khoa học. Các thành viên hội đồng không nên coi mình là những thẩm phán, mà là những người phục vụ cộng đồng; họ nên tận tâm làm cho khoa học tiến bộ chứ không phải để quyết định người này tốt hay người kia xấu. Ở Việt Nam, với nền khoa học hiện đại còn non trẻ, chúng ta phải đặc biệt cảnh giác, đảm bảo những thành tựu của nó phải được giám sát và đánh giá bởi những người có động cơ tốt mong muốn khoa học Việt Nam phát triển. Mục đích của những cuộc đánh giá không phải để tìm kiếm thiên tài – chúng ta là ai mà có tham vọng như vậy? – mà nhằm để phát triển nền khoa học Việt Nam. Dù gì đi nữa, các thiên tài cũng không giúp ích nhiều; chúng ta cần tìm ra những người có kỹ năng và tài năng nhất để thúc đẩy sự phát triển của khoa học nước nhà. Trong những hội đồng từng tham dự, tôi thường thấy, một số thành viên hội đồng chỉ quan tâm đến việc thể hiện mình giỏi thế nào, hơn là tập trung đánh giá công tâm phẩm chất của người cần được đánh giá. Hẳn chúng ta còn nhớ Hồ Đắc Di đã từng nói: “Người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc”.      Tổ chức EdLab Asia là một trong hai nơi ký DORA (tổ chức còn lại là Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Giáo dục Đại học – Đại học Nguyễn Tất Thành). Trong ảnh là một workshop về Nhà quản trị giáo dục hiện đại vào tháng 12/2019 của EdLab Asia tổ chức để đào tạo các nhà quản lý giáo dục ở các trường phổ thông. Ảnh: FB của EdLab Asia  Năng lực là điều kiện thứ ba để có đánh giá tốt. Nếu cảm thấy không đủ năng lực thì không có lựa chọn nào khác là phải tìm kiếm lời khuyên từ những người có năng lực. Thật không may, thực tế lại không phải như vậy. Người ta lại thường dựa vào người máy (robot), chúng tính toán dùng các chỉ số tác động, số lượng trích dẫn và các chỉ số khác được cho là để xếp hạng các nhà khoa học và công việc của họ, nhưng trên thực tế, việc làm này không hiệu quả. Người ta quan tâm đến việc nhà khoa học có công bố trên tạp chí có chỉ số tác động cao hay không, có là tác giả đầu hay không, công trình có thường xuyên được trích dẫn hay không, v.v… Tôi không nói rằng những thông tin này là vô giá trị, thậm chí đó cũng là những yếu tố thú vị cần được tính đến trong quá trình đánh giá. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, chúng không nên được coi là yếu tố then chốt quyết định đến kết quả xét duyệt. Nhưng, ở Việt Nam, nhiều người bị ám ảnh với việc sử dụng những chỉ số như vậy để ra quyết định. Tôi nhớ, trong một lần tham gia hội đồng, một giáo sư thành viên hội đồng trình bày về một công thức mà ông ta tự sáng tác ra, kết hợp một số chỉ số với nhau và tuyên bố sẽ đưa ra đánh giá “khách quan”!    Gần đây, Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vừa ký Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Nghiên cứu2 (gọi tắt là DORA) làm cho tôi chú ý đến tài liệu này, tuyên bố này đề cập hết sức thích đáng đến những vấn đề nêu trên. DORA được ban hành vào năm 2013 tại San Francisco trong cuộc họp thường niên của Hiệp hội Sinh học Tế bào Hoa Kỳ, với khuyến nghị không sử dụng các chỉ số trong đánh giá nghiên cứu. Ở Việt Nam, Ngô Đức Thế3, và sau đó là Vũ Cao Đàm4 đã bình luận kĩ lưỡng và đầy đủ về tuyên bố này; tuy nhiên, thật không may, thông điệp của tuyên bố không được tiếp nhận một cách rộng rãi: các chỉ số tác động vẫn đang chi phối việc đánh giá nghiên cứu khoa học trong nước. Các khuyến nghị chính của DORA được phát biểu như sau:    1) Sự cần thiết phải loại bỏ việc sử dụng hệ thống đánh giá tạp chí (ví dụ như Journal Impact Factors – chỉ số tác động tạp chí) trong việc cấp kinh phí, bổ nhiệm cũng như các xem xét thăng chức, đề bạt.    2) Sự cần thiết phải đánh giá nghiên cứu dựa trên chất lượng của chính nó chứ không phải chủ yếu dựa trên tên của tạp chí xuất bản nghiên cứu đó.    3) Sự cần thiết trong việc tận dụng các cơ hội từ các ấn phẩm khoa học trực tuyến (ví dụ như nới lỏng những giới hạn không cần thiết về số từ, số hình minh họa, số tài liệu tham khảo trong bài báo và phát triển những chỉ số mới đánh giá tầm quan trọng và tác động của bài báo).    DORA đã được hơn 20.000 cá nhân và tổ chức đến từ 156 quốc gia ủng hộ, tham gia ký. Tại Việt Nam, chỉ có một cá nhân – thành viên của PATH5, hiệp hội phi lợi nhuận toàn cầu về cải thiện sức khỏe cộng đồng – và hai tổ chức – EdLab.Asia6 và CHEER7– tham gia ký.    EdLab.Asia là một nhóm nghiên cứu nhỏ hoạt động trong hai lĩnh vực giáo dục đại học và K-12 (bậc học từ mẫu giáo đến lớp 12) tại Việt Nam. Họ tập hợp các nhà nghiên cứu từ Đông Nam Á, Đông Á và Úc với mục đích hỗ trợ cộng đồng giáo dục Việt Nam và Đông Nam Á. Nhóm đã thực hiện một số dự án xã hội hỗ trợ giáo viên K-12, chẳng hạn như day-hoc.org (một ấn phẩm mở hàng tháng) và cunghoc.edu.vn, một nền tảng MOOC (các khóa học trực tuyến mở) dành cho các nhà giáo dục.    CHEER là viết tắt của Centre for Higher Education and Research (Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Giáo dục Đại học), thành lập năm 2014 dựa trên đề xuất của tiến sỹ Phạm Thị Ly với Đại học Nguyễn Tất Thành (NTTU), cơ quan chủ quản của trung tâm. Mục tiêu của trung tâm nhằm tăng cường hiểu biết, phổ biến những thông lệ quốc tế về giáo dục đại học. CHEER hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu, tư vấn và truyền bá kiến ​​thức. CHEER xuất bản Bản tin hằng tháng và gửi tới các nhà hoạch định chính sách quốc gia, quản lý đại học và các nhà nghiên cứu/giảng viên từ khoảng 400 đơn vị trên khắp cả nước. Tiến sỹ Phạm Thị Ly đã dịch tuyên bố DORA và đăng trên một trong những tờ Bản tin này8, với mong muốn độc giả sẽ nhận ra tầm quan trọng của các biện pháp thích hợp để đánh giá nghiên cứu. Thật không may, tiến sỹ Phạm Thị Ly, một người rất tích cực trong việc thúc đẩy phát triển giáo dục đại học và nghiên cứu, một cây bút quen thuộc với độc giả Tia Sáng, đã rời NTTU vào năm 2018, và CHEER hiện không còn tồn tại.    Những tiếng nói như của Ngô Đức Thế và Phạm Thị Ly thể hiện rõ những khuyến nghị quý của DORA vì sự tiến bộ của khoa học và giáo dục đại học ở Việt Nam, tuy nhiên, thật sự nản lòng khi thấy chúng khó được lắng nghe như thế nào trong giới quản lý. Mặc dù, nhìn chung DORA được đón nhận nồng nhiệt trong cộng đồng nhà khoa học và giáo viên, nhưng nó gần như bị bỏ qua ở cấp cao hơn. Nếu các tổ chức công của Việt Nam, hội đồng trường các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu lớn và các bộ (MOST và MOET) cùng ký tuyên bố DORA thì đó sẽ là một bước tiến rất đáng hoan nghênh. NAFOSTED sau khi gần đây đã nêu một tấm gương can đảm với việc đưa ra tuyên bố về liêm chính khoa học1, nên coi đây là một cơ hội để thực hiện một thành tựu khác đáng được ca ngợi.□     Phạm Ngọc Điệp dịch  ——-  Chú thích  1 Tia Sáng, 5-05.3.2022, p.8  2 https://sfdora.org/  3 Ngo Duc The, 2013, Vietnam Journal of Science and Technology No. 12 (655)  4 Vu Cao Dam, 2014, Vietnam Journal of Science and Technology, 683  Vu Cao Dam, 2014, 2014, Tia Sang, 8-04.20.2014  Vu Cao Dam, Evaluation of scientific research, Science and Technology Publishing House, Hanoi, 2012  http://hdgsnn.gov.vn/tin-tuc/tuyen-bo-dora-co-lam-thay-doi-cach-danh-gia-khoa-hoc_271%3E  https://en.moet.gov.vn/about/organization-structure/Pages/Cac-don-vi-huu-quan.aspx?CateID=1670&Details=1  5 https://www.path.org/  https://www.path.org/where-we-work/vietnam/  6 https://www.facebook.com › Edlabasia  7 https://cheer.edu.vn/  8 http://www.lypham.net/?p=1610    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Đánh giá lại quy trình ứng phó rủi ro      Đã hai tuần trôi qua kể từ vụ cháy nhà máy Rạng Đông làm phát tán thủy ngân và các hóa chất khác ra môi trường, tuy nhiên việc cung cấp thông tin cho người dân sau vụ việc vẫn còn nhiều bất nhất, đôi khi chính các cảnh báo từ phía các cơ quan chức năng còn trái chiều khiến dư luận xã hội thêm hoang mang, thậm chí mất niềm tin trước khả năng ứng phó sự cố ở mức độ cơ quan chức năng đang kết luận chỉ là “cấp cơ sở”. Chúng tôi cùng trao đổi với ông Lê Quang Bình, Chủ tịch nhóm làm việc vì sự tham gia của người dân (PPWG) nhằm phân tích trách nhiệm giải trình, khả năng quản lý rủi ro trong trường hợp này cũng như bài học rút ra để cải thiện năng lực ứng phó.           Rạng Đông sau đám cháy, nhìn từ trên cao. Ảnh: VTV.    Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường về vụ cháy của Rạng Đông, không khí quanh khu vực xảy ra đám cháy không ghi nhận bất thường do xuất hiện mưa lớn ngay sau cháy, tuy vẫn có lo ngại ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Nhưng ngay sau vụ cháy, người dân rất lo lắng do không nhận được một khuyến cáo kịp thời, rõ ràng từ chính quyền – trước hết là cấp quận Thanh Xuân- đã phủ nhận cảnh báo của phường Hạ Đình và nói là sẽ đợi kết quả quan trắc, còn cấp thành phố thì… một tuần sau sự cố mới lên tiếng. Ông đánh giá như thế nào về quy trình thông tin này?  Ông Lê Quang Bình: Tôi nghĩ việc chính quyền cung cấp thông tin thiếu nhất quán gây ra hoang mang cho người dân là điều đáng tiếc. Trước một tai nạn liên quan đến hóa chất như cháy nhà máy Rạng Đông bao giờ người dân cũng đặt ngay câu hỏi điều gì đã xảy ra, các hóa chất nào có trong nhà máy và chúng phát tán ra xung quanh không, các chất độc phát tán sẽ ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe của họ, họ có an toàn ở lại nhà mình hay cần phải di dời đi nơi khác? Đây là tâm lý thông thường sẽ xuất hiện trong bất cứ tai nạn nghiêm trọng nào.  Chính vì sự nghiêm trọng của các tai nạn liên quan đến hóa chất nên trong quy trình quản lý bao giờ cũng gồm có ba hợp phần. Hợp phần đầu tiên là phòng ngừa để làm sao đảm bảo sự an toàn cao nhất cho các nguồn hóa chất mà các cơ sở, nhà máy sử dụng. Hợp phần thứ hai là luôn chuẩn bị tốt cho bất cứ sự cố gì xảy ra, ví dụ như giám sát thường xuyên, lên kế hoạch ứng phó với tai nạn và đào tạo cho các bên liên quan về ứng phó. Hợp phần thứ ba – mà chúng ta đang nói ở đây chính là phản ứng với tai nạn, nó bao gồm việc hạn chế tối đa ảnh hưởng, cung cấp các hỗ trợ ngay lập tức và cần thiết cho những người bị ảnh hưởng, và đánh giá tác động để từng bước khôi phục lại trạng thái bình thường.  Như vậy, việc thiết lập cơ chế cung cấp thông tin chính xác, với một cơ quan phát ngôn chính thức và kịp thời cho người dân là nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền nhằm giúp người dân biết phải làm gì để tránh hoặc giảm tối đa tác động của hóa chất lên sức khỏe của họ. Nếu chính quyền không cung cấp được thông tin kịp thời thì người dân sẽ tự tìm kiếm các nguồn thông tin khác, thậm chí các đồn thổi trên mạng xã hội gây hoang mang và bất ổn xã hội. Nói cách khác, nếu chính quyền không làm được nhiệm vụ này, chính quyền sẽ vô hình trung tạo ra một “tai nạn” khác, tai nạn rối loạn xã hội.    Đối với vụ việc này, ai ngồi ở vị trí của những người có trách nhiệm trong chính quyền cũng sẽ rối trí vì chưa từng chuẩn bị. Đây cũng chính là một trường hợp quan trọng để tất cả các bên cùng học, rút ra bài học mà cải thiện quy trình ứng phó rủi ro.    Có người cho rằng khi chính quyền chưa có được thông tin chính xác về tai nạn thì cũng không thể đưa ra khuyến cáo cho người dân. Nếu đưa khuyến cáo mạnh quá, ví dụ dẫn đến việc phải di dời hàng trăm hoặc hàng nghìn hộ dân; hoặc đưa khuyến cáo nhẹ quá, ví dụ như không có ảnh hưởng gì đâu và sau này lại phát hiện có hóa chất và hàng nghìn người dân bị nhiễm thủy ngân thì đều để lại hậu quả. Theo ông trong trường hợp này chính quyền nên làm gì?  Việc chính quyền có được thông tin chính xác, nhanh chóng là rất quan trọng khi tai nạn liên quan đến hóa chất xảy ra. Chính vì vậy mà trong quản lý chúng ta cần tới ba giai đoạn như tôi đã chia sẻ ở trên. Ở giai đoạn phòng ngừa và và giai đoạn chuẩn bị thì doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vì họ là người trực tiếp triển khai các hoạt động này, chính quyền đóng vai trò kiểm tra và đảm bảo chuẩn mực an toàn được áp dụng. Nhưng trong giai đoạn phản ứng với tai nạn thì chính quyền lại là bên có vai trò và trách nhiệm quan trọng nhất.  Khi tai nạn xảy ra, doanh nghiệp phải ngay lập tức hợp tác và cung cấp thông tin chính xác cho chính quyền. Dựa vào thông tin của doanh nghiệp và những đánh giá nhanh ban đầu của cơ quan chuyên môn, chính quyền sẽ xác định mức độ nguy hiểm của tai nạn để cung cấp thông tin và khuyến cáo cho người dân. Rất khó để biết chính xác ngay hậu quả của tai nạn, nhưng theo kinh nghiệm và nguyên tắc phản ứng với các tai nạn hóa chất trên thế giới thì sức khỏe của người dân, an toàn của cộng đồng và của những người tham gia vào giải quyết tai nạn như lính cứu hỏa, lực lượng y tế, cán bộ địa phương…phải được ưu tiên hàng đầu. Nói cách khác, trong tình thế 50/50 thì hạn chế rủi ro sức khỏe của người dân phải được ưu tiên hơn các rủi ro về kinh tế khác.      Sáng 13/9, 1.313 học sinh trường Tiểu học Hạ Đình và 423 học sinh trường THCS Hạ Đình được các bác sĩ khám sức khỏe. Ảnh: VTCnews.    Tôi biết nhiều người lo lắng nếu làm quá, ví dụ như đưa ra khuyến cáo ngay lập tức về sức khỏe hoặc thậm chí khuyến cáo di dời tạm thời sẽ gây ra hoang mang và bất ổn xã hội. Điều này không hẳn đúng vì nếu sau tai nạn chính quyền ngay lập tức khởi động bộ máy phản ứng với tai nạn, thiết lập cơ chế cung cấp thông tin cho người dân, và từng bước cung cấp thông tin cho người dân một cách kịp thời thì sẽ tạo được sự tin tưởng ở người dân, thậm chí nếu có phải sơ tán thì họ cũng sẽ biết cách bình tĩnh ứng phó chứ không hẳn sẽ gây ra hoang mang trong xã hội. Trong các vụ tai nạn thì cái quan trọng nhất người dân cần là thông tin chính xác, là họ biết chính quyền và nhà máy đang hành động có trách nhiệm và lợi ích của họ thì họ sẽ an tâm hợp tác và làm theo các hướng dẫn của chính quyền.     Trong tai nạn Rạng Đông dường như chính quyền thành phố đã xử lý khủng hoảng “ngược”, thay vì đối diện với sự cố, cung cấp thông tin đúng đắn và kịp thời ngay từ đầu, thì họ lại chần chừ, để cơn giận dữ ngày càng đầy ứ lên, niềm tin vào chính quyền thành phố suy giảm?  Vì không có được các thông tin về cách chính quyền phản ứng với vụ cháy nhà  máy Rạng Đông nên tôi cũng không rõ chính quyền có né tránh không, hay thực sự họ cũng không có được thông tin chính xác để khuyến cáo người dân nên làm gì. Tôi chỉ có thể nói rằng việc không cung cấp thông tin, ngay cả thông tin chính quyền đang làm gì, hoặc cung cấp thông tin bất nhất, cấp này thu hồi văn bản của cấp kia, cơ quan này phản pháo lại kết luận của cơ quan kia đã tạo ra hoang mang thậm chí mất lòng tin trong người dân về năng lực và trách nhiệm giải quyết hậu quả tai nạn của chính quyền.  Chính vì vậy, tôi hy vọng sau vụ cháy nhà máy Rạng Đông thì chính quyền có thể thiết lập lại bộ máy phản ứng với tai nạn để có thể phản ứng ngay lập tức.     Thước đo nào để đánh giá là các chính quyền đã ứng phó với các khủng hoảng như thế này hiệu quả hay không hiệu quả? Kịp thời hay không kịp thời, trách nhiệm hay không?  Việc đánh giá hiệu quả của chính quyền trong việc đối phó với tai nạn vừa khó, vừa dễ. Nếu mọi thứ đều công khai, minh bạch thì ai cũng có thể có được đánh giá của mình. Ngược lại, nếu không có thông tin chính quyền đã làm gì, quá trình quyết định đã xảy ra như thế nào…thì rất khó để đánh giá. Tuy nhiên, điều này cũng không phải là không thể vì người dân sẽ có câu trả lời của họ. Họ sẽ biết trong khi bối rối thì tôi được hỗ trợ những gì? được cung cấp thông tin rõ ràng đến đâu? Tôi có bị ảnh hưởng gì không? Ngoài ra, các chuyên gia cũng sẽ đánh giá được vì họ biết các chuẩn mực và họ có thể có được thông tin từ phía người dân.  Nhưng quan trọng hơn là bản thân người dân, chuyên gia và các tổ chức xã hội cần đánh giá cả hai công đoạn phòng ngừa tai nạn và chuẩn bị đối phó với tai nạn có được làm tốt không. Vì quan tâm đến sự tham gia của người dân, và bản thân người dân là một trong ba thực thể quan trọng bên cạnh nhà máy và chính quyền, nên tôi xin nói về các chỉ số liên quan đến họ nhiều hơn.  Thứ nhất, người dân và cộng đồng sống xung quanh nhà máy cần phải được biết về các hóa chất được sử dụng và các hậu quả của nó trong trường hợp có tai nạn xảy ra. Họ cần phải biết ai có thể cung cấp thông tin cho họ. Nhưng quan trọng hơn, đại diện cộng đồng, ví dụ như tổ trưởng dân phố, cần có đường dây liên lạc với đại diện nhà  máy và đại diện chính quyền phụ trách việc quản lý hóa chất. Ngoài ra, các tổ chức xã hội như công đoàn, các tổ chức phi chính phủ cũng có thể tham gia để hỗ trợ người dân và công nhân giám sát việc lắp đặt và sử dụng hóa chất an toàn.      Ngay sau đám cháy, báo chí ghi nhận nhiều hộ gia đình cho con nghỉ học hoặc tạm lánh đi nơi khác. Trong tuần này, nhiều báo đã cập nhật tình hình mới – cư dân khu vực lân cận Rạng Đông đã quay trở lại nhịp độ bình thường. Trong ảnh là hàng quán buổi sáng ở khu vực đối diện cổng chính nhà máy Rạng Đông vào 8h ngày 17/9. Ảnh: Hoàng Nam.     Thứ hai, đại diện của người dân cần được tham gia vào xây dựng các kế hoạch phản ứng với tai nạn, tham gia diễn tập vào các tình huống tai nạn giả định, và đưa ra các góp ý từ thực tế địa bàn và dân cư của họ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi người dân được tham gia vào tiến trình này thì hậu quả sẽ được giảm tối đa khi tai nạn xảy ra.  Thứ ba, người dân cần phải biết các tín hiệu báo động liên quan đến tai nạn, trong trường hợp tai nạn xảy ra thì người dân biết ai là người cung cấp thông tin cho họ, và đặc biệt họ sẽ phải làm theo hướng dẫn của ai.  Nói chung, năng lực của chính quyền được thể hiện cả ở việc họ đảm bảo các nhà  máy tuân thủ chuẩn mực an toàn thế nào, họ có xây dựng và thể chế hóa được cơ chế phòng ngừa, chuẩn bị và phản ứng với tai nạn không, họ có huy động được người dân và các tổ chức xã hội tham gia và đóng góp cho toàn bộ chu trình quản lỷ rủi ro hay không.     Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin đến người dân ra sao?  Như đã chia sẻ ở trên, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ các chuẩn mực an toàn về cháy nổ, quản lý hóa chất. Họ là một bên tham gia vào việc xây dựng, diễn tập và thực hành các kế hoạch phòng ngừa và phản ứng với tai nạn.  Trong trường hợp có tai nạn như vụ Rạng Đông vừa qua, cụ thể là hậu quả vượt ra ngoài hàng rào nhà máy thì doanh nghiệp phải ngay lập tức báo cho đại diện chính quyền phụ trách phản ứng với các tai nạn, rủi ro. Chỉ có chính quyền mới có thể khởi động hệ thống phản ứng rủi ro, trong đó có việc cung cấp thông tin và hướng dẫn hành động cho công chúng. Khi đó, nhà máy sẽ hợp tác với chính quyền bằng việc cung cấp thông tin, cung cấp trang thiết bị và các chuyên môn nếu có. Cần lưu ý, chính quyền sẽ chịu trách nhiệm phản ứng với rủi ro nhưng nhà máy vẫn là đơn vị chịu trách  nhiệm về việc đảm bảo an toàn và các hậu quả do tai nạn gây ra. Chính vì vậy, việc nhà máy thông báo kịp thời về tai nạn cho chính quyền, cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực rất cần thiết để cho chính quyền hành động đúng, hạn chế hậu quả và từ đó cũng giảm thiểu thiệt hại đền bù cho nhà máy.     Tôi được biết rằng chúng ta đã có rất nhiều quy định pháp luật, từ Luật hóa chất, các thông tư hướng dẫn quy định trách nhiệm của từ chính quyền địa phương cho tới các công ty sở hữu hóa chất trong việc ứng phó với các sự cố. Nhưng rõ ràng khi đối diện với một trường hợp cụ thể, chính quyền đô thị vào hạng lớn nhất cả nước lại lúng túng. Phải làm sao để chính quyền ứng phó một cách chủ động và kịp thời hơn trong những kịch bản tương tự?  Tôi được biết khủng hoảng môi trường này được xếp vào hạng “cơ sở”, nhưng cho dù có xếp nó mức độ nào thì điều quan trọng là cần có một  quy trình rõ ràng, các bên liên quan biết về quy trình đó và có thể hợp tác trong việc hạn chế và giải quyết hậu quả. Còn về phía quy định, luật và nghị định nhiều cỡ nào thì cuối cùng cơ chế hoạt động trên thực tế là gì?  Chính vì vậy, đề phòng với những khủng hoảng môi trường như thế này, bao giờ cũng cần có đánh giá rủi ro. Ở mức độ tổng quát nhất là phải đánh giá rủi ro của tất cả các nhà máy trong đô thị để từ đó có kế hoạch ứng phó nếu thảm họa xảy ra: cháy thì trách nhiệm của Ban chỉ đạo là gì, từng Sở chuyên môn như thế nào, các tuyến đường thoát hiểm, lệnh sơ tán cư dân ai phát ra, các bệnh viện nào phải trực chiến… Bao giờ cũng phải đánh giá và xây dựng kế hoạch để ứng phó.      Hiện nay chúng ta cũng biết là Hà Nội có kế hoạch di dời các nhà máy ra khỏi nội đô, nhưng di dời rồi đất đai mà họ để lại thì sẽ được sử dụng vào mục đích gì? Đó là mảng rất quan trọng mà trước đây chưa được các cơ quan truyền thông và công chúng quan tâm đúng mức. Di dời nhà máy thì ít nhất cần dành một phần đất ấy thành các không gian công, không gian xanh cho người dân chứ không phải là lại bị “đè” bởi các khối chung cư và lại gây quá tải hạ tầng.      Tiếp theo là các diễn tập thường xuyên, với sự tham gia của tất cả những người liên quan, chịu ảnh hưởng khi sự cố xảy ra. Ở Việt Nam, chúng ta chuẩn bị cho phòng chống thiên tai như bão lụt tốt bởi các địa phương vẫn diễn tập thường xuyên…như vậy khi xảy ra thì người dân biết đi đâu, phải làm gì và không bị rối loạn. Khi có bão là các loại thông báo rất nhất quán, yêu cầu thuyền bè phải vào bến, người dân di tản đi đâu… Sau vụ cháy nhà máy Rạng Đông tôi hy vọng các thành phố lớn, mật độ đông, và chưa có nhiều kinh nghiệm như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh cùng học, rút ra kinh nghiệm cải thiện quy trình để hạn chế thiệt hại và tăng sự tin tưởng  của người dân.  Có một thực tế mà chúng ta đều biết đó là dù có làm nghiêm ngặt đến đâu tai nạn vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy, việc di dời các nhà máy gây ô nhiễm, có nhiều rủi ro hóa chất độc hại ra khỏi các khu dân cư là cần thiết thực hiện ngay. Việc di dời này cũng là cơ hội để thành phố tăng thêm các diện tích công viên, tăng diện tích không gian công cộng để người dân có thêm điều kiện thực hành lối sống khỏe mạnh, giao lưu, và kết nối với nhau. Di dời nhà máy vừa giảm rủi ro tai nạn vừa tăng diện tích cây xanh là một chính sách đúng, góp phần làm cho Hà Nội đáng sống hơn.     Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!□     Bảo Như thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá Nghiên cứu cơ bản: Công bố quốc tế- tiêu chí quan trọng nhất      Tiêu chí rõ ràng hơn  Trong dự thảo Quy định về việc đánh giá kết quả thực hiện các đề tài NCCB trong khoa học tự nhiên (KHTN) kết thúc năm 2006 của Bộ KH&amp;CN, lần đầu tiên, tiêu chí “công bố quốc tế” sẽ được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng một công trình nghiên cứu cơ bản (NCCB). Theo dự thảo này, những đề tài NCCB có công bố quốc tế trong danh sách của ISI sẽ được tính điểm cao nhất: 5 điểm; nếu công bố ở các tạp chí quốc tế khác sẽ được 3 – bằng điểm với công bố ở các tạp chí khoa học quốc gia loại 1 (sẽ có danh mục kèm theo).         Theo TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học), việc định lượng tiêu chí đánh giá là sự thay đổi lớn, bởi trước kia trừ ngành Toán có đánh giá theo tiêu chí “công bố quốc tế”, còn ở các ngành KHCB khác, các tiêu chí đánh giá như “tầm quan trọng của đề tài” hay “ý nghĩa ứng dụng của đề tài”… đều rất “tùy tiện” và “phụ thuộc cảm tính của Hội đồng”. Tuy nhiên, theo ý kiến của GS Phạm Lợi Vũ thì mức điểm công bố quốc tế trong danh sách SCI chỉ gần gấp đôi mức điểm công bố trong nước là thấp. TS Chính cũng cho biết, nhiều viện NCCB của Trung Quốc chỉ chấp nhận mức đánh giá của ISI và “điểm công bố quốc tế của họ có khi gấp 20 lần điểm công bố trong nước”. Song TS Chính cũng nhận định “thực tế khoa học Việt Nam” hiện không thể “theo” được cách đánh giá như vậy, và “bài báo quốc tế loại 1 (SCI) nên là 6 điểm, quốc tế loại 2 là 4 điểm; bài báo quốc gia loại 1 là 3 điểm…”.  Ở một số tiêu chí khác, TS Chính cho rằng Báo cáo hội nghị quốc tế (tổ chức ở nước ngoài hay Việt Nam) được đăng toàn văn bởi nhà xuất bản quốc tế có uy tín được 3 điểm, nhưng nếu được đăng bởi nhà xuất bản trong nước (một vài hội nghị quốc tế tại Việt Nam) thì cũng chỉ được 2 điểm.   Ngoài ra, nên giới hạn tổng số điểm báo cáo hội nghị và bài báo quốc gia loại 2 được tính không vượt quá 1/2 số điểm mỗi đề tài…  Ngoài ra, để tránh tình trạng “đánh trống ghi tên”, với công trình nhiều tác giả thì số điểm phải được chia đều cho các tác giả. Và nên bỏ điểm kết quả ứng dụng vì “ngay cả nghiên cứu ứng dụng cũng còn khó đánh giá”.  “Cực đoan” hơn, GS Ngô Việt Trung- Viện trưởng Viện Toán- cho rằng không nên tính điểm báo cáo hội nghị. Đồng ý với ý kiến này, song GS Hoàng Tụy bổ sung: Nên tính báo cáo được mời, vì “nghiên cứu phải rất có giá trị mới được Hội nghị Toán học quốc tế mời báo cáo”.    Cần “giám khảo” thực sự uy tín  Việc đánh giá các đề tài NCCB được thực hiện thông qua các Hội đồng khoa học chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ KH&CN thành lập trong các lĩnh vực Toán học, Tin học, Vật lý, Hóa học, Khoa học Sự sống và Khoa học Trái đất. Theo Dự thảo, Hội đồng sẽ có từ 9 đến 14 thành viên là những nhà khoa học có uy tín, có trình độ (tiến sĩ trở lên) và nhất là phải có công trình được công bố khoa học quốc tế và quốc gia trong 5 năm gần đây. TS Chính nhấn mạnh thành viên Hội đồng ngành “cần ưu tiên chọn người có thành tích công bố quốc tế những năm gần đây”, đồng thời “Hội đồng cần được thay đổi theo nhiệm kỳ. Các thành viên lâu năm đã tới tuổi hưu (hơn 60 tuổi) mà những năm gần đây không có công bố quốc tế nên rút lui để nhường bước cho thế hệ trẻ hơn vì lợi ích chung. Sẽ rất tốt nếu có một số cán bộ trẻ tuổi từ 30-40 có thành tích công bố quốc tế, nhất là các TS trẻ mới từ nước ngoài trở về, tham gia Hội đồng”. Đồng ý thành viên Hội đồng “nhất thiết phải có công bố quốc tế”, song GS Ngô Việt Trung cho rằng nên giới hạn thời gian có công trình công bố quốc tế là trong 10 năm. GS Trung cũng đề nghị hình thức đánh giá phải bằng bỏ phiếu kín để tránh tình trạng nể nang.  Theo TS Chính, tất cả các hình thức đánh giá NCCB được đề xuất ở trên chỉ là bước đầu để  khuyến khích các nhà khoa học tâm huyết: “Nhiều người không có công trình công bố quốc tế lại được nhận nhiều đề tài trong nước, còn số nhỏ “nhà khoa học SCI” lại bị “cơ chế xin-cho” bỏ qua. Một số người phải ra nước ngoài làm thuê kiếm tiền. Một ví dụ: TS 34 tuổi Lê Minh Quý khoa Cơ khí ĐH Bách Khoa Hà Nội từng bảo vệ luận án TS xuất sắc ở Hàn Quốc về chi tiết máy vật liệu gốm, có một số bài đăng SCI, rất say mê khoa học, nhưng về nước thì phải dạy thêm. Sẽ có lợi hơn nhiều nếu TS Quý có đề tài NCCB để tập trung làm khoa học. Thậm chí, nếu cấp kinh phí NCCB ứng theo điểm công trình 5 năm gần đây, TS Quý sẽ vượt được nhiều vị chủ trì chức bậc cao, khỏi phải “chạy sô” dạy thêm. TS Quý mới sang Đức theo diện học bổng “tinh hoa” Humboldt – một “cứu cánh” đúng lúc với sự nghiệp khoa học của một cá nhân”.  GS Hoàng Tụy cho rằng về lâu dài, phải bỏ quy trình “nghiệm thu” trong đánh giá từng đề tài NCCB. Ông đặc biệt lưu ý: Nếu quá coi trọng “tính điểm”, dù được coi là chặt chẽ tới đâu, cũng sẽ dẫn tới cực đoan máy móc. Trước kia, đánh giá của ta chỉ thiên về “định tính” thì nay cũng không thể chỉ thiên về “định lượng”. Cần phải có những nhà khoa học hàng đầu thực sự để đánh giá kết quả NCCB. “Giống như trong y học, không thể chỉ chẩn bệnh bằng kết quả xét quả xét nghiệm máu, chiếu chụp… Kết quả xét nghiệm rất cần, nhưng còn cần cả kinh nghiệm của bác sĩ”. Việc chuyển từ thái cực “xem thường công bố quốc tế” sang coi tiêu chuẩn công bố quốc tế là tiêu chuẩn đúng đắn duy nhất sẽ lại là sai lầm.    Một số tiêu chí đánh giá đề tài NCCB (Theo Dự thảo Quy chế)  Tên sản phẩm khoa học             Thang điểm đánh giá  Công trình công bố trên các tạp chí   khoa học quốc tế  – Loại 1(có tên trong danh sách                     5  SCI do ISI công bố)  -Loại 2 (các tạp chí quốc tế khác)                 2  Công trình đã công bố trên các tạp chí   khoa học quốc gia (theo phân loại trong   danh mục kèm theo)  -Loại 1:                                                         3  -Loại 2:                                                         1  Báo cáo chính tại các hội nghị khoa học  -Quốc tế                                                       3  -Quốc gia:                                                     1  Báo cáo đăng ký (poster) tại các hội nghị:  -Quốc tế:                                                      5  -Quốc gia:                                                     1  Sách chuyên khảo đã xuất bản                       2  Kết quả ứng dụng (nếu có)                             3           Văn An    Author                Quản trị        
__label__tiasang Danh hiệu      Trong Đạo đức kinh Lão Tử có viết “Danh khả danh phi thường danh” (Cái danh có thể đặt ra để gọi không phải là cái danh thường hằng). Câu ấy nửa đúng nửa sai, nhưng rõ ràng danh hiệu là nơi đan xen các yếu tố triết học và ngôn ngữ, văn hóa và chính trị, không thể khinh suất hay tùy tiện đến nỗi dẫn tới những trường hợp phi luân phi loại như gọi Hùng Vương là Quốc tổ mà gọi Âu Cơ là Quốc mẫu (mẹ lại sinh ra ông nội!).      Sau tháng 4. 1975 Quân giải phóng miền Nam được cải tổ và hợp nhất với quân đội cả nước, một bộ phận tiếp tục phục vụ trong quân đội, một bộ phận được giải ngũ, nhưng tất cả đều phải phong cấp bậc quân hàm để bố trí công tác hay đãi ngộ phù hợp, lúc ấy có chủ trương cho từng cá nhân viết lý lịch, thành tích và tự phong cấp bậc. Có một người thoát ly chiến đấu từ 1964, đang là Trung đội trưởng, bạn bè cùng lứa đều ở cấp bậc cao hơn, trong lòng xốn xang mà không tiện nói ra, không dám tự phong là Đại đội trưởng nhưng tự phong là Đại đội phó lại thấy ép lòng, vò đầu bứt tai suốt mấy hôm, sau cùng nộp bản khai trong đó chỗ tự phong ghi thêm hai chữ ngoài quy định mà cán bộ tổ chức hay cán bộ quân lực thời ấy bất kể là ai đọc thấy cũng cười sặc lên “Đại đội phó BẬC CỨNG”.  Chuyện này kể ra để cười chứ hoàn toàn không có ý nhạo báng, vì thực tế Quân giải phóng miền Nam sau chiến tranh không thể hoàn toàn phù hợp với khung phân loại của quân đội chính quy ở miền Bắc, hai chữ Bậc cứng kia vì thế nói cho cùng cũng là một cách điều chỉnh mang tính tự phát nhưng có lý do chính đáng của một người muốn khẳng định mình trong một hệ thống danh hiệu chưa thật phù hợp. Cho nên khía cạnh đáng suy ngẫm của câu chuyện này là, trong quan hệ giữa con người hay nói rộng ra là thực tế đời sống với hệ thống danh hiệu, nếu một trong hai yếu tố ấy có vấn đề là lập tức phát sinh các tấn bi hài kịch.  Là nói theo logic thế thôi, chứ ở xứ ta khoảng hai mươi năm nay thì cả hai yếu tố ấy đều có vấn đề, thế mới chết… Cho nên chung quanh quan hệ này đã xuất hiện ngày càng nhiều các tấn bi hài kịch đã đành, mà còn có cả xú kịch nữa.  Còn nhớ cuối 1977 vừa bảo vệ Luận văn tốt nghiệp Đại học, ông già ra Bắc dự Đại hội Đảng IV vào trường thăm, bạn học đưa lên chỗ các thầy chơi rồi ra quán nước tìm gọi về, vào tới thì người đang nói về Đại hội “Anh Ba và anh Sáu chủ trương…”. Thấy liệt vị sư phụ đều ngẩn ra, vội nói leo để giải thích “Thưa các thầy, ba em là nói ông Lê Duẩn và ông Lê Đức Thọ đấy”. Đương sự gật đầu nói “Phải, anh Ba Duẩn với anh Sáu Thọ”, liếc thấy liệt vị sư phụ đều mắt tròn mắt dẹt, nghĩ thầm ba lỡ bộ rồi, hiện thực lãnh đạo miền Bắc nó khác tập quán kháng chiến miền Nam, đừng nói là các thầy tôi, cỡ Bí thư Tỉnh ủy ở miền Bắc cũng không dám sau lưng khơi khơi gọi hai vị ấy là anh như ba đâu, nhưng thật lòng thì rất không thích nếu ông già nói “Đồng chí X và đồng chí Y rất kính mến của chúng ta chủ trương…”. Hay năm 1983 cùng người khác làm một quyển sách nhờ Giáo sư Trần Văn Giàu viết cho Lời giới thiệu, đánh máy xong đem qua xin ông ký tên để giao cho cơ quan xuất bản, hỏi thêm một câu “Thưa, ký là Trần Văn Giàu hay Giáo sư Trần Văn Giàu?”, ông thản nhiên nhìn lên trần nhà nói “Trần Văn Giàu là đủ, Việt Nam có nhiều Giáo sư lắm nhưng chỉ có một Trần Văn Giàu thôi”, vội vàng vâng dạ, lại càng hâm mộ ngạo khí ở một đại nhân vật không thèm dựa vào danh hiệu.                 Nhưng vật đổi sao dời, vào những năm 80 của thế kỷ trước có một cuộc vận động đổi mới trong lãnh vực danh hiệu quan phương, chẳng hạn chức vụ Thủ tướng đổi gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phó Tiến sĩ đổi gọi là Tiến sĩ. Chuyện ấy vốn vô hại, tiếc là nhiều nhà lãnh đạo đương thời không nghĩ sâu về quy luật: Người trên mà ưa thích, kẻ dưới sẽ làm quá, thành ra kết quả là nhiều người hăm hở đi tìm danh hiệu. Có điều danh hiệu đâu dễ mà tùy tiện đặt ra được, ngay danh hiệu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mang tính pháp quy hẳn hoi kia cũng đã phải tuyệt tích hơn chục năm nay. Nhưng lối tư duy coi trọng hình thức này đã tràn từ chính giới ra văn giới và nhất là học giới, nên xuất hiện tình trạng chui vào các danh hiệu vốn có nhưng ít chặt chẽ về nội dung. Ai cũng có thể trở thành nhà thơ, nhà nghiên cứu, dịch giả, nhà từ điển học (!), nhà Kiều học, nhà Hà Nội học vân vân, thậm chí có người đóng tiền gia nhập một cái hội quần chúng nhưng tự xưng là “Viện Hàn lâm” ở nước ngoài, khi nhận được giấy chứng nhận hội viên – “Viện sĩ” thì in thiệp mời tổ chức ăn khao ầm ĩ. Không biết bao nhiêu rác rưởi được gọi là tác phẩm, công trình, giáo trình, từ điển này nọ đã bị quăng ra xã hội bởi đám người này, không biết bao nhiêu vụ lừa đảo trộm cắp làm ô uế không khí văn nghệ và học thuật Việt Nam đã được thực hiện bởi đám người này, cũng không biết bao nhiêu hành vi lố bịch của họ đã diễn ra một cách trịnh trọng cả trước mắt văn giới học giới báo giới người nước ngoài nữa!  Tuy nhiên trên đây chỉ là chuyện dở chuyện xấu của một số cá nhân, cũng chưa đáng gì. Đáng nói hơn là phong khí hiếu danh nói trên không những đã lan tràn trong thiết chế chính thống mà còn được chính thống hóa trong khu vực quan phương.   Chủ trương cải cách hành chính trong đó có việc tiêu chuẩn hóa cán bộ bằng bằng cấp học vị đã quét sạch những day dứt liêm sỉ sau cùng của nhiều cán bộ công chức thiếu tài năng và nghèo bản lĩnh. Học giả mua bằng, học giả bằng thật, chạy thầy xin điểm hay thậm chí hối lộ hội đồng chấm thi, sao chép cắt dán, thuê viết luận văn… để có danh hiệu Thạc sĩ, Tiến sĩ và nhiều thứ khác diễn ra ở khắp nơi và như cơm bữa. Và theo quy luật Kiệu hoa lộng lẫy người khiêng người, họ phải che chở cho nhau, tâng bốc lẫn nhau trước mặt người ngoài, đóng một vở kịch Lừa bịp và Kiếm chác không có màn kết thúc. Một số danh hiệu pháp quy bị đánh tráo nội dung nhưng một cách hợp pháp nên ngày càng biến dạng và méo mó. Rồi sàng lia nia hứng, thói sính danh hiệu tán phát ra sinh hoạt ngoài quan trường được thị trường tán thưởng và hàng hóa hóa còn tạo ra một lối ứng xử “danh bản vị” khá phản cảm. Ví dụ gần đây có người in cả chức vụ lên thiệp cưới của con trai.   Những di phong ít lành mạnh này chắc sẽ còn kéo dài rất lâu, vì nó đã bám rễ vào sinh hoạt xã hội khá sâu như các danh hiệu Cử nhân tài năng, Nông dân chất lượng cao hay Hoa hậu các kiểu…   Đất nước càng phát triển càng hội nhập thì càng cần có thêm nhiều danh hiệu, nên những người có quyền hạn về chuyện danh hiệu thận trọng hơn thì hay…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức của khoa học      Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, bao gồm khoa học, đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị. Trong lịch sử phát triển của mình, mối quan hệ giữa khoa học (là một hình thái ý thức xã hội) với các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, ý thức pháp quyền và ý thức hệ chính trị) luôn là một vấn đề nhức nhối, mà một nỗi đau xuyên suốt của khoa học, là các hình thái ý thức xã hội kia luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học.    Quan hệ đạo đức và khoa học là chủ đề được bàn đến từ lâu trên các diễn đàn khoa học. Trong số những học giả Việt Nam quốc nội và hải ngoại bàn về chủ đề này, chúng ta có thể gặp nhiều bài viết từ đủ các lĩnh vực chuyên môn và bàn về đạo đức khoa học từ nhiều góc độ khác nhau: triết học, Phật giáo, Thiên chúa giáo… Trên mạng hiện nay vẫn còn lại nhiều bài có thể đọc từ nhiều góc độ đó. Chỉ cần tìm sơ sơ cũng có thể gặp những tên tuổi có bài viết hoặc được trích dẫn trên mạng, như Nguyễn Đình Hòa (Hà Nội), Đặng Mộng Lân (Hà Nội, đã mất), Trần Chung Ngọc và Trịnh Xuân Thuận (Hoa Kỳ), Nguyễn Văn Tuấn (Australia). Bài này xin đóng góp một vài thiển kiến liên quan một số nội dung mà các tác giả đã bàn về đạo đức trong khoa học.          Hàng loạt các thành tựu khoa học đều đã và đang là những thứ tội phạm nguy hại nhất trong xã hội đương đại. Và như thế, chúng ta có thể lên án hầu hết các nhà khoa học, rằng họ là đã và đang là hiểm họa cho sự an toàn sức khỏe, phá hoại môi sinh và hơn nữa họ cũng đều đã và đang là nguy cơ của sự hủy diệt của con người.          Một trong những chủ đề được bàn khá sôi nổi, với những ý kiến rất trái ngược nhau, đó là cơ sở đạo đức trong việc lựa chọn phương hướng nghiên cứu. Đây là một trong những vấn đề được nhiều người bàn đến nhất. Từ góc nhìn này, người ta đã phê phán hàng loạt nhà nghiên cứu liên quan đến những thành tựu “độc hại” của họ, chẳng hạn, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng, chất điôxin, đột biến gene và nhân bản vô tính,… rồi đến các thành tựu về vũ khí giết người hàng loạt, như bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, bom neutron, bom áp nhiệt, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học v.v.  Rõ ràng, theo mạch tư duy này, chúng ta có thể phán xét, trong xu thế phát triển của xã hội mà chúng ta đang sống, hàng loạt thành tựu khoa học đều đang là mối đe dọa nghiêm trọng phá hoại sự toàn vẹn của hệ sinh thái, rồi an ninh môi trường, và đi xa hơn nữa, an ninh môi trường đang trở thành một hiểm họa đe dọa an ninh quốc gia. Trong số những người được nêu lên để phê phán, người ta có thể đọc được cả tên tuổi của Einstein, khi ông ký tên vào bức thư gửi Tổng thống Roosevelt yêu cầu Hoa Kỳ gấp rút sản xuất bom nguyên tử. Kết quả là hai thành phố Hiroshima và Nagasaki đã được nếm trải cuộc thử nghiệm đau đớn đó. Và rồi để chứng minh cho đạo đức khoa học của Einstein, người ta đã không quên trích dẫn một câu nói thể hiện sự ân hận của Einstein về việc đã viết thư hối thúc Tổng thống Hoa Kỳ sản xuất bom nguyên tử. Có một số bài viết còn đánh giá rằng, đây là một “vệt tối” trong cuộc đời hoạt động của Einstein.  Cứ như thế suy diễn, chúng ta có thể nhận định một cách rất đúng đắn, rằng hàng loạt các thành tựu khoa học đều đã và đang là những thứ tội phạm nguy hại nhất trong xã hội đương đại. Và như thế, chúng ta có thể lên án hầu hết các nhà khoa học, rằng họ là đã và đang là hiểm họa cho sự an toàn sức khỏe, phá hoại môi sinh và hơn nữa họ cũng đều đã và đang là nguy cơ của sự hủy diệt của con người. Ở đây có lẽ chỉ còn trừ mấy nhà toán học và thiên văn học thì… may ra chẳng đụng đến ai. Chỉ họ mới đủ “tư cách” để phán xét đạo đức của người nghiên cứu. Nhưng nói cho cùng thì họ đâu có vô can? Hàng loạt cơ sở toán học đã được nghiên cứu để tính toán đường bay cho hỏa tiễn xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân để giết người hàng loạt (!) Rồi các thành tựu nghiên cứu vũ trụ cũng được sử dụng cho việc phóng những con tàu phục vụ các mục tiêu vũ trang và tham vọng chiến tranh giữa các vì sao của các cường quốc vũ trụ (!) Quả thực họ đâu có vô can chút nào (!) Và cuối cùng, nếu cứ suy diễn như vậy, thì tốt nhất nhân loại hãy rủ nhau quay trở về thời đồ đá (!)  Rõ ràng, không có nhà khoa học, thì không thể có bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học, vũ khí áp nhiệt… Có những thứ vũ khí không chỉ giết người hàng loạt, mà còn gây di hại đến nòi giống của nạn nhân. Tôi đọc được một bài trích dẫn ý kiến của một khoa học gia có tên tuổi trên thế giới, là người gốc Việt, đang là giáo sư của một đại học có tên tuổi ở nước ngoài: “Thật không thể tha thứ được cho bất cứ khoa học gia nào biết rõ là mình đang phát triển những dụng cụ giết người và giết người tập thể”.   Vậy xét về mặt đạo đức, chúng ta có thể vạch đường biên giữa những nghiên cứu “có đạo đức” và những nghiên cứu “vô đạo đức” không?   Chúng tôi thử phân tích một câu chuyện giả tưởng trong tiểu thuyết “Trái tim chó” được xuất bản vào năm 1935 ở Liên Xô của Bulgakov1: Một vị giáo sư làm thí nghiệm cấy tuyến yên của người vào chó. Kết quả chó dần dần biến thành người. Ông giáo sư đã sử dụng người này làm nhân viên tạp dịch trong phòng thí nghiệm. Đương nhiên, con người mà giáo sư tạo ra mang đúng bản chất xã hội của con người có tuyến yên đã cấy cho con chó, thể hiện ở những ngôn từ đầu tiên anh ta phát ra: “giai cấp vô sản”, “chen hàng mua bia”. Con người này tham gia vào các hoạt động đường phố, ban đầu là dọn dẹp vệ sinh quanh nhà, rồi mở rộng quan hệ không còn bó hẹp trong bốn bức tường labô nữa, mà trở thành nhân vật chủ chốt trong mọi hoạt động … từ vệ sinh công cộng đến trấn áp bọn gian thương, tư sản, … rồi anh ta có cả sáng kiến tịch thu một phần diện tích labô của vị giáo sư, mà đến nay anh ta mới được biết, đó là một chuyên gia tư sản, là kẻ thù của nhân dân. Cứ như thế, anh ta tiếp tục thăng tiến làm đến chức vụ giám đốc một sở của thành phố. Anh ta càng có nhiều thế lực để đấu tranh với giai cấp tư sản và bè lũ tay sai ngay trong labô của nhà khoa học, quyền hành đến mức anh ta đủ sức mạnh sai khiến, hạch sách từ tên giáo sư đến mọi nhân viên trong labô, bắt nữ thí nghiệm viên để hãm hiếp… Cho đến một ngày, tập thể nhân viên không còn sức cam chịu, đã rình bắt trói anh ta lại, tháo tuyến yên… Anh ta trở lại nguyên hình con chó, lại ngoan ngoãn trong vòng tay các thí nghiệm viên khoa học.  Đến lượt chúng ta nghĩ gì đây? Lên án ông giáo sư là có tội, đã sinh ra một quái vật hình người, hay là tuyên dương công trạng của ông ta đã đạt được một thành tựu khoa học? Rất khó phán xét một cách quá giản đơn. Ở đây, thành tựu là của nhà khoa học. Xã hội hóa thành tựu ấy là công việc của xã hội. Thành tựu ấy có thể là rất đạo đức, vì nó mang lại lợi ích cho xã hội, và cũng có thể rất vô đạo đức, trở thành cái ung nhọt của xã hội.  Bây giờ trở lại câu chuyện của Einstein. Có người đã cố chứng minh Einstein có tội, vì đã viết thư hối thúc Tổng thống Mỹ sản xuất bom nguyên tử; Có người cố sức chứng minh ông vô tội, với lập luận rằng, Einstein chỉ là người ký bức thư đó, còn tác giả đích thực của bức thư đó chính là Léo Szilard và Edward Teller, người sau này là cha đẻ bom nhiệt hạch của Mỹ, và rằng Einstein chỉ là người được thuyết phục để đứng tên ký bức thư đó mà thôi.          Có những mô hình là thành công, mang lại sự phát triển phồn vinh cho xã hội, song có những mô hình thất bại, đã đẩy một bộ phận dân chúng vào một cuộc thí nghiệm xã hội, dẫn một bộ phận dân chúng đến đói nghèo, cuối cùng là sự sụp đổ của mô hình kinh tế và xã hội đã đề xướng. Thí nghiệm đơn thuần về mặt sinh học trên cơ thể một con người còn bị lên án về mặt đạo đức. Nó đáng là gì để lên án so với việc tiến hành một thí nghiệm xã hội trên cuộc sống của ngàn vạn con người???          Đúng là với bức thư đó, Einstein đã thuyết phục được tổng thống Roosevelt chấp nhận đề án bom nguyên tử do và đã thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên trên đảo Bikini. Nhưng khi nhận ra sự sụp đổ nhãn tiền của chủ nghĩa phát xít, Einstein đã cùng một loạt các nhà khoa học, lập tức khẩn khoản đề nghị Chính phủ Mỹ dừng kế hoạch ném bom. Nhưng đã quá muộn, Tổng thống H. Truman, người kế nhiệm Roosevelt vẫn ra lệnh ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki vào các ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945.2  Để lý giải hành động của Einstein, chúng ta cần nhớ lại rằng, ngày 2/8/1939, khi Einstein gửi thư đến Tổng thống Roosevelt, ông đưa lời khuyến cáo rằng Đức có thể có một chương trình sản xuất bom nguyên tử và đề nghị chính quyền Mỹ nên xem xét một kế hoạch nghiên cứu như thế. Chúng ta có thể hiểu động cơ của Einstein khi ông hối thúc Tổng thống Roosevelt thực hiện chương trình sản xuất bom nguyên tử khi đọc những dòng sau trong thư của Einstein: “Tôi ý thức nguy cơ khủng khiếp cho nhân loại về sự thành công của công việc chế tạo bom nguyên tử. Khả năng người Đức cũng cùng làm việc này với triển vọng thành công đã buộc tôi đi đến việc làm này (tức việc hối thúc Tổng thống Mỹ triển khai chương trình sản xuất bom nguyên tử)”. Đến đây, chúng ta có thể lý giải, việc Einstein kiến nghị Tổng thống thực hiện chương trình sản xuất bom nguyên tử là một hành động có cơ sở đạo đức. Ông nhìn thấy nguy cơ Đức sẽ thành công trong việc sản xuất bom hạt nhân3, và ông muốn Chính phủ Mỹ có hành động ứng phó, vì có lẽ ở thời điểm này, trong phe Đồng Minh, chỉ Mỹ là cường quốc duy nhất có đủ sức mạnh tạo ra một đối trọng hạt nhân để kiềm chế thảm họa hạt nhân mà người Đức có thể mang đến cho nhân loại.  Một vài bài báo có ý nhấn mạnh, là Einstein đã rất ân hận trong việc hối thúc Tổng thống Roosevelt sản xuất bom nguyên tử. Chúng ta có đủ căn cứ để phán đoán rằng Einstein ân hận không phải vì việc đó, mà ân hận rằng đã đánh giá sai người Đức, nên mới tìm kiếm sức đối trọng từ Mỹ. Sau khi Mỹ ném hai trái bom nguyên tử xuống Nhật tháng 8-1945, đúng là Einstein đã rất ân hận, nhưng chúng ta hãy nghe ông nói: “Nếu tôi biết được rằng người Đức không sản xuất được bom nguyên tử thì tôi đã không động đến một ngón tay”.  Tôi đọc được trong một bài viết ở đâu đó, Chu Hảo kể lại rằng, khi bị lên án là người đưa sáng kiến sản xuất bom nguyên tử, Einstein đã trả lời một cách rất hóm hỉnh … “Lên án nhà khoa học đưa sáng kiến sản xuất bom nguyên tử, thì không khác gì lên án những người đặt ra con chữ vì những điều nhảm nhí được viết trong kinh thánh”. Tôi thật sự tâm đắc với trích dẫn này.  Trong những năm gần đây, sau những thành công bước đầu về kỹ thuật tạo sinh (cloning), vấn đề đạo đức khoa học lại trở nên sôi động trên các diễn đàn. Trong cuộc bàn thảo này, người ta nhận ra không chỉ có các nhà khoa học, các nhà đạo đức học, triết học, mà xuất hiện cả tiếng nói của các tôn giáo, giống như những phản ứng đã từng nổ ra trong lịch sử khoa học sau khi xuất hiện học thuyết Darwin. Cuộc thảo luận lần này sôi động xuất phát từ rất nhiều lý do: con người không chỉ mang bản chất một sinh vật, mà còn là một sản phẩm xã hội. Người ta nghi ngờ rằng, các thí nghiệm tạo sinh sẽ chỉ tạo ra một sản phẩm sinh học, tựa như các vật nuôi trong nhà, chưa nói đến một điều khác, với những thành tựu của công nghệ gien người ta có thể tạo ra một “đạo quân” đặc chủng, gồm những kẻ hiếu sát hung bạo, để phục vụ một mục đích đen tối nào đó của con người.  Cuộc thảo luận không kết thúc ở đây. Người ta vẫn bàn đến kỹ thuật tạo sinh khi đề cập những triển vọng đầy đạo đức. Đó là sử dụng kỹ thuật tạo sinh để hỗ trợ những người vô sinh, để họ cũng có được cái hạnh phúc làm cha, làm mẹ. Nhưng rồi lại vấp phải một vấn đề đạo đức khác: vật thể sinh ra từ tế bào của người cha, hoặc người mẹ, xét về bản chất, không phải là con của họ, mà chỉ là một phần của họ được tách ra. Họ không có tư cách gì để nhận làm cha và làm mẹ cái con người được hình thành từ kỹ thuật nhân bản họ. Người ta cũng bàn đến những triển vọng “mang tính đạo đức” hơn, đó là sử dụng phương pháp tạo sinh để nuôi cấy tạng cho con người khi họ mắc những căn bệnh cận kề cái chết do phủ tạng gây ra.  Tuy nhiên, đến đây các nhà nghiên cứu lại vướng vào những nguyên tắc khác về đạo đức khoa học: không cấy ghép tạng trên con người. Nguyên tắc đạo đức này không chỉ còn là một nguyên tắc ngầm định chung chung nữa, mà đã được ghi bằng “giấy trắng mực đen” trong Tuyên ngôn Helsinki4 (Declaration of Helsinki) ngày 24/4/2006 (!)  Từ đầu đến giờ chúng ta bàn đến những khó khăn trong việc vạch đường biên đạo đức trong các lĩnh vực nghiên cứu về khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Còn khoa học xã hội thì sao? Đâu đó cũng có ý kiến cho rằng, khoa học xã hội thì mang tính xã hội rất cao, hoàn toàn có thể vạch định một đường biên giữa đạo đức với khoa học. Xin thưa rằng, điều này lại càng không đơn giản. Tìm đường biên về đạo đức trong khoa học tự nhiên còn khó, huống chi tìm đường biên về đạo đức trong khoa học xã hội. Chẳng hạn, một số nhà nghiên cứu lên án về mặt đạo đức của những người đề xướng và thí nghiệm một mô hình kinh tế hoặc xã hội nào đó. Có những mô hình là thành công, mang lại sự phát triển phồn vinh cho xã hội, song có những mô hình thất bại, đã đẩy một bộ phận dân chúng vào một cuộc thí nghiệm xã hội, dẫn một bộ phận dân chúng đến đói nghèo, cuối cùng là sự sụp đổ của mô hình kinh tế và xã hội đã đề xướng. Còn những người khác thì bảo vệ công cuộc thực nghiệm đó, cho rằng, việc đề xướng mô hình này mô hình khác là đi tìm kiếm những giá trị đạo đức mới nhằm xóa bỏ những bất công của xã hội hiện thời. Đến đây, chúng ta lại có thể mở ngoặc một chút: Thí nghiệm đơn thuần về mặt sinh học trên cơ thể một con người còn bị lên án về mặt đạo đức. Nó đáng là gì để lên án so với việc tiến hành một thí nghiệm xã hội trên cuộc sống của ngàn vạn con người???          “Lên án nhà khoa học đưa sáng kiến sản xuất bom nguyên tử, thì không khác gì lên án những người đặt ra con chữ vì những điều nhảm nhí được viết trong kinh thánh”.                    EINSTEIN            Lập luận này không hề khác biệt với các nghiên cứu thí nghiệm khoa học về vũ khí giết người: Xét về lý do giúp một chính quyền bảo vệ Tổ quốc, thì việc nghiên cứu thí nghiệm vũ khí giết người là một việc làm đầy đạo đức. Đến khi chính quyền đó sử dụng vũ khí để đàn áp dân chúng, thì công việc nghiên cứu kia lại trở thành vô đạo đức.  Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng đã phát động “Tuần lễ vàng” để phục vụ kháng chiến. Một số người được Chính phủ giao nhiệm vụ mang vàng ra nước ngoài mua vũ khí phục vụ kháng chiến, trong đó, có vị vẫn đang còn sống cùng thời với chúng ta, chẳng hạn, anh Nguyễn Như Kim, nguyên viện trưởng Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước, tức Bộ Khoa học và Công nghệ ngày nay. Vũ khí ấy được sản xuất ở những nước đế quốc, khi đó đang cùng người Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Vậy các tác giả của những sáng chế giết người đó đáng được chúng ta tuyên dương về mặt đạo đức, hay lên án họ về mặt đạo đức?  Chính vì thế, mà mọi thái độ ứng xử đối với đạo đức của nhà nghiên cứu đều phải được cân nhắc một cách rất thận trọng. Khó có thể lên án hồ đồ về đạo đức của các nhà nghiên cứu khi chúng ta biết họ dang nghiên cứu về một công trình nào đó, mà với tư duy nông cạn, chúng ta tưởng rằng nó có nguy hại cho đời sống xã hội. Đừng đẩy họ vào những bi kịch không đáng có như đã từng diễn ra trong lịch sử khoa học của thế giới.  Hơn nữa, cũng rất cần cân nhắc một cách thận trọng hơn nhiều khi viết ra các điều khoản pháp luật nhằm … ngăn chặn những phương hướng nghiên cứu … “vi phạm đạo đức” và những điều khoản đại loại như “đe dọa an ninh quốc gia”. Những điều khoản như thế, nếu được viết ra, vừa không thể vận dụng được, vừa dẫn đến nguy cơ ngăn chặn mọi sáng kiến nghiên cứu, vì, nói cho cùng, thành tựu nào cũng có thể dẫn đến phương hại đạo đức và an ninh quốc gia.  Vấn đề là phải quy trách nhiệm đạo đức cho những kẻ sử dụng các thành tựu đó vào mục đích xã hội nào.  ——–  [1] Xem “Trái tim chó”, Tiểu thuyết Bulgakov, Bản dịch của Đoàn Tử Huyến, Nxb Đông Tây, Hà Nội, 2006.  2 Phạm văn Tình, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 173, tháng 7/2005.  3 Hitler sản xuất bom nguyên tử trước cả Mỹ? Xem http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?  4 Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/emh/articles/2006/8/11/76651.html     Vũ Cao Đàm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức khoa học      Chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những qui ước hay điều lệ về hành xử được các thành viên trong ngành nghề chuyên môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc ngành nghề. Các điều lệ này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về các hành xử cho các tình huống khác nhau. Trong hoạt động khoa học, hai chữ “hành xử” ở đây bao gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm, giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lí dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, trình bày công trình nghiên cứu trước công chúng, và quản lí tài chính.  Vậy thì các chuẩn mực đạo đức khoa học cụ thể là gì?      Khó có câu trả lời cho câu hỏi này, bởi vì hoạt động khoa học cực kì đa dạng, do đó các chuẩn mực đạo đức thường tùy thuộc vào từng ngành nghề cụ thể.  Chẳng hạn như các tiêu chuẩn đạo đức cho ngành nông nghiệp khác với các bộ môn khoa học liên quan đến động vật như y sinh học.  Tuy nhiên, theo tôi, có thể tóm lược các tiêu chuẩn đạo đức khoa học qua 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:      Thành thật tri thức (intellectual honesty). Sứ mệnh của khoa học là khai hóa, khuếch trương và phát triển tri thức. Tri thức khoa học dựa vào sự thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Do đó, khoa học đặt sự thật khách quan trên hết và trước hết.      Không có khách quan và không có sự thành thật thì khoa học không có ý nghĩa gì cả. Nhà khoa học phải khách quan và thành thật. Nguyên tắc thành thật tri thức được xem là một cột trụ cơ bản nhất trong các nguyên tắc về đạo đức khoa học. Theo nguyên tắc này, nhà khoa học phải tuyệt đối thành thật với những gì mình quan sát hay nhận xét. Nói cách khác, nhà khoa học không nên gian lận trong nghiên cứu, không giả tạo dữ liệu, không thay đổi dữ liệu, và không lừa gạt đồng nghiệp.      Cẩn thận. Nhà khoa học phải phấn đấu hết mình để tránh các nhầm lẫn và sai sót trong tất cả các hoạt động khoa học. Do đó, nhà khoa học có nghĩa vụ phải báo cáo đầy đủ những kết quả mà họ đạt được trong quá trình nghiên cứu.  Những báo cáo này phải đầy đủ chi tiết để các nhà khoa học khác có thể thẩm định hay xác nhận (nếu cần thiết). Bất cứ một thay đổi về số liệu, dữ liệu thu thập được đều phải được chú thích rõ ràng (như ghi rõ ngày tháng sửa, ai là người chịu trách nhiệm, và tại sao thay đổi). Khi làm việc như thế, việc sử dụng các phương pháp phi chính thống hay phương pháp phân tích và cách diễn dịch có thể dẫn đến những tiến bộ khoa học. Tuy nhiên, nếu cách làm việc này nhắm vào mục đích đạt được kết luận mà nhà khoa học muốn có thì đó là một vi phạm đạo đức khoa học.     Tự do tri thức. Nói một cách ví von, khoa học không bao giờ dừng lại trong hành trình đi tìm sự thật, vì đây là một hành trình liên tục. Nhà khoa học cần được điều kiện để theo đuổi những ý tưởng mới và phê phán những ý tưởng cũ. Họ cũng có quyền thực hiện những nghiên cứu mà họ cảm thấy thú vị và đem lại phúc lợi cho xã hội.      Cởi mở và công khai. Nghiên cứu khoa học mang tính tương tác rất cao, và do đó thường tùy thuộc lẫn nhau. Nhà khoa học có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, kết quả và phương pháp nghiên cứu, lí thuyết, thiết bị, v.v… với đồng nghiệp. Nhà khoa học phải cho các đồng nghiệp tiếp cận dữ liệu của mình, nếu cần thiết. Ngoài ra, vì nghiên cứu khoa học là một cuộc tranh tài về ý tưởng và các khái niệm mới nhất không nằm trong mô thức (paradigm) hiện hành. Cuộc “tranh tài” này có thể dẫn đến những xung đột nghiêm trọng. Do đó, cởi mở và thành thật trong tranh luận là những yếu tố đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy các tiến bộ khoa học. Qui trình bình duyệt (peer review process) công trình nghiên cứu là một bước quan trọng trong việc thực hiện các nghiên cứu khoa học. Những thói ganh tị, thành kiến hay mâu thuẫn cá nhân có thể làm cho hệ thống này bị thất bại. Do đó, khi phê bình một nghiên cứu của đồng nghiệp, nhà khoa học nên tập trung vào tính hợp lí khoa học và logic của nghiên cứu, chứ không nên dựa vào những cảm nhận cá nhân.     Ghi nhận công trạng thích hợp. Nhà khoa học phải ghi nhận những đóng góp của các nhà khoa học đi trước, và tuyệt đối không lấy nghiên cứu của người khác làm thành tích của mình. Tri thức khoa học mang tính tích lũy và được xây dựng dựa vào những đóng góp của nhiều nhà khoa học trong quá khứ và hiện tại.  Ghi nhận công trạng của họ là một qui ước về đạo đức khoa học, và hình thức ghi nhận có thể thể hiện qua tài liệu tham khảo, lời cảm tạ, hay cho họ cơ hội đứng tên đồng tác giả.  Sử dụng công trình hay ý tưởng của đồng nghiệp mà không ghi nhận là một vi phạm đạo đức khoa học.     Ngày nay, một công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, là thành quả của nhiều cá nhân.  Do đó, ai có tư cách đứng tên tác giả đôi khi trở thành một vấn đề tế nhị.  Theo qui ước chung, nhà khoa học có tư cách đứng tên tác giả nếu hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn: (a) Một là đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và diễn dịch dữ kiện;  (b) Hai là đã soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; Và (c) Ba là phê chuẩn bản thảo sau cùng để gửi cho tập san.     Trách nhiệm trước công chúng. Phần lớn hoạt động khoa học là do tài trợ của người dân; do đó, nhà khoa học phải có nghĩa vụ công bố những gì mình đạt được cho công chúng biết. Hình thức công bố có thể là những ấn phẩm khoa học hay những trao đổi trên các diễn đàn quần chúng. Tất cả các cơ sở vật chất sử dụng cho nghiên cứu, kể cả thiết bị, hóa chất, tài chính… là tài sản chung của xã hội; do đó, chúng cần được sử dụng sao cho đem lại lợi ích nhiều nhất cho xã hội.       Mục tiêu quan trọng của khoa học là nhằm mở rộng tri thức con người về các địa hạt như vật lí, sinh học, và xã hội.  Mở rộng ở đây có nghĩa là đi ra ngoài, đi xa hơn những gì đã được biết. Nhưng một tri thức mới hay một khám phá mới chỉ có thể đi vào phạm trù khoa học khi nào nó đã được thẩm định và lặp lại một cách độc lập. Quá trình này có thể thực thi bằng nhiều cách: nhà khoa học thảo luận với cấp trên, với đồng nghiệp, trong các hội nghị quốc tế, hội nghị quốc gia, seminar, hay thậm chí trên bàn cà phê. Do đó, có thể xem hoạt động khoa học là một việc làm mang tính xã hội, chứ không phải là một nỗ lực đi tìm sự thật trong cô đơn, lặng lẽ. Bởi vì mang tính xã hội, cho nên các chuẩn mực về đạo đức khoa học phải là một “thể chế” của bất cứ trung tâm khoa học nào, kể cả trường đại học, và phải được xem như là một mục tiêu của khoa học.      Sinh viên và các nghiên cứu sinh từ các trường đại học là những người sẽ chiếm giữ các vị trí quan trọng trong xã hội như nhà lãnh đạo, nhà khoa học và giáo sư tương lai, và việc đảm bảo họ biết được các tiêu chuẩn đạo đức khoa học là một biện pháp để đảm bảo sự ổn định của xã hội cho các thế hệ tiếp nối. Hiện nay, trong bối cảnh nước ta đang có chiến dịch chống tham nhũng, kể cả tham nhũng trong khoa học, vì thế vấn đề truyền đạt các chuẩn mực đạo đức khoa học trong các trường đại học lại càng trở nên cấp thiết hơn.            Một vài trường hợp vi phạm đạo đức khoa học  Eric Poehlman: giả tạo số liệu                 Poehlman là cựu giáo sư y khoa, một chuyên gia về bệnh béo phì của Trường Đại học Vermont (Mỹ). Trước khi bị phát hiện giả tạo số liệu và đi tù, Poehlman là một trong những “ngôi sao” sáng chói trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh béo phì, với hơn 200 bài báo khoa học trên các tập san y khoa quốc tế, và được các đồng nghiệp cũng như các công ty dược mời thuyết giảng. Nhưng 10 bài báo khoa học và bài giảng trong các hội nghị suốt từ 1992 đến 2002 lại là những tác phẩm khoa học dựa vào số liệu do ông giả tạo để phù hợp với lí thuyết của mình.   Năm 1995, Poehlman trình bày dữ liệu mà ông báo cáo là thu thập từ một nghiên cứu đánh giá các đặc điểm về chuyển hóa năng lượng ở phụ nữ trong thời gian trước và sau mãn kinh. Các dữ liệu này được công bố trong một bài báo khoa học có tên là “Changes in Energy Balance and Body Composition at Menopause: A Controlled Longitudinal Study,” trên tập san Annals of Internal Medicine (một tập san y khoa hàng đầu trên thế giới). Trong bài báo Poehlman báo cáo rằng ông đã theo dõi sự chuyển hóa năng lượng trên 35 phụ nữ trong suốt 6 năm liền. Nhưng trong thực tế, Poehlman chỉ theo dõi một bệnh nhân duy nhất, phần còn lại là ông giả tạo số liệu.   Ngoài ra, Poehlman còn giả tạo nhiều số liệu trong hơn 10 bài báo khoa học khác. Chẳng những thế, Poehlman còn ngụy tạo số liệu mà ông cho là “nghiên cứu sơ bộ” để thu hút tài trợ đến gần 3 triệu USD từ NIH (cơ quan tài trợ cho phần lớn nghiên cứu y khoa ở Mỹ).   Sau nhiều năm điều tra, Trường đại học quyết định sa thải Poehlman và Nha liêm chính trong nghiên cứu (ORI) truy tố ông ra tòa. Ngày 28/6/2006, Poehlman bị tòa xử phạt một năm tù và phải hoàn trả cho Nhà nước 542.000 USD. Đây là trường hợp nghiêm trọng nhất và lần đầu tiên trong lịch sử khoa học Mỹ một giáo sư gian lận trong khoa học phải ngồi tù.   Jon Sudbo: mô phỏng số liệu                  Năm 2005, Tập san Lancet (một tập san y học đứng vào hàng nhất nhì trên thế giới) công bố một công trình nghiên cứu của bác sĩ Jon Sudbo, chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại học Oslo (Na Uy).  Trong bài báo, bác sĩ Sudbo và 13 cộng sự viên báo cáo rằng họ đã tiến hành một nghiên cứu đối chứng (case-control study) với 908 đối tượng, và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAIDs (non-steroidal anti-inflammatory drugs) có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư miệng.  Phát hiện của bác sĩ Sudbo gây sự chú ý lớn của các chuyên gia trong lĩnh vực ung thư bởi vì các loại thuốc NSAID được sử dụng rất rộng rãi để giảm đau, nhất là đau thấp khớp, và tương đối rẻ, và nếu quả thật thuốc có hiệu quả chống ung thư thì đó là một tin vui cho bệnh nhân: một thuốc mà đạt hai mục tiêu.  Sau khi công bố bài báo, Sudbo trở thành nổi tiếng trong giới chuyên môn về “phát hiện” mà ít ai nghĩ đến đó.    Nhưng nghiên cứu của Sudbo hoàn toàn giả tạo.  Bác sĩ Sudbo giả tạo tất cả các số liệu và bệnh nhân.  Khi điều tra lại các số liệu gốc (tức cũng giả tạo), người ta mới phát hiện trong số 908 đối tượng ma này, có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh!  Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong phân tích, Sudbo đã giả tạo rất tài tình, không để lộ một kẽ hở nào trong số liệu để người bình duyệt có thể đánh dấu hỏi.  Tổng biên tập tập san Lancet, Richard Horton, phải thú nhận là Sudbo quá thông minh và tinh xảo đến độ ông có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự viên là tác giả của bài báo, lường gạt tất cả các chuyên gia trong ngành đã bình duyệt bài báo, lường gạt luôn cả một chuyên gia thống kê học cũng là người bình duyệt bài báo!  Hành động ngụy khoa học của bác sĩ Sudbo chỉ được phát hiện khi một nhà dịch tễ học người Na Uy chú ý đến đoạn văn mà Sudbo cho biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu là trích từ một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc bệnh viện Radium, bởi vì trong thực tế ngân hàng dữ liệu này không hiện hữu!    Đến nay, bác sĩ Sudbo đã thú nhận rằng ông ngụy tạo hoàn toàn các số liệu trong bài báo đó bằng máy tính. Sudbo không chú ý đến ngày tháng năm sinh vì nghĩ rằng không ai đòi hỏi xem số liệu gốc! Sudbo còn thú nhận rằng hai bài báo ông công bố trước đó trên tập san New England Journal of Medicine và Journal of Clinical Oncology cũng dựa vào số liệu do ông dựng lên.    Gerald Schatten: vấn đề đứng tên tác giả                  Giữa tháng 11 năm 2005, Giáo sư Gerald Schatten thuộc Đại học Pittsburgh và cũng là một cộng tác viên với nhóm của Giáo sư Hwang tuyên bố rằng ông đã chấm dứt tất cả cộng tác với Giáo sư Hwang vì ông quan tâm đến vấn đề y đức trong nghiên cứu của Giáo sư Hwang. Qua tiết lộ của Giáo sư Schatten, người ta còn biết thêm một tình tiết bất bình thường khác: đó là vấn đề tác giả. Bài báo có 25 tác giả đứng tên, trong đó có Giáo sư Schatten thuộc Đại học Pittsburgh (Mỹ). Giáo sư Schatten cho biết chẳng hiểu vì lí do gì, trước khi công bố công trình nghiên cứu, ông được Giáo sư Hwang mời cùng đứng tên đồng tác giả chính (senior co-author) của bài báo, và Giáo sư Schatten đồng ý!  Nhưng đến giữa tháng 12/2005, Giáo sư Schatten yêu cầu Science bỏ tên ông ra khỏi bài báo vì hai lí do: một, ông cảm thấy không “thoải mái” với những dữ kiện trong bài báo; và hai, ông chỉ đóng vai trò phân tích số liệu và giúp đỡ trong việc soạn thảo bài báo.    Về phía Giáo sư Hwang, trước hàng loạt cáo buộc bất lợi như trên, thoạt đầu ông khẳng định rằng ông chẳng làm gì sai, và quyết tâm sẽ điều tra vấn đề cho đến nơi đến chốn.  Nhưng đến cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 2005 (tức gần 2 năm sau khi công bố bài báo trên Science) ông thú nhận là một số ảnh trong bài báo là bản sao chứ không phải chụp từ thí nghiệm; là nhóm của ông quả có sử dụng trứng do cộng sự viên hiến, và một số trứng khác là do mua từ bệnh viện; và một số số liệu trong bảng thống kê trong bài báo là sai. Phát biểu trước báo chí Hàn Quốc, ông nói “Tôi cảm thấy rất hối tiếc phải nói ra những điều xấu hổ và tồi tệ trước công chúng. Một lần nữa, tôi thành thật xin lỗi vì đã làm cho quốc gia và thế giới quan tâm.” Ông từ chức giáo sư từ Đại học Quốc gia Seoul, từ chức giám đốc trung tâm nghiên cứu tế bào mầm, và có lẽ căng thẳng tâm thần nên bị bệnh phải vào bệnh viện chữa trị. Ngày 18/12/2005, Tổng biên tập Science là Donald Kennedy nhận được thư của Giáo sư Hwang và Giáo sư Schatten đề nghị rút lại bài báo trên Science.  Thế là công trình nghiên cứu đã đi đến một đoạn kết quá buồn, một xì-căng-đan mới nhất và lớn trong khoa học, và một vết nhơ cho khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức và nhân cách: đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh      Khái niệm “đạo đức” xuất hiện trong văn chương Trung Quốc rất sớm mà cho đến thời Đường, đại văn hào Hàn Dũ còn viết rằng: “Đạo đức là những từ chưa được khẳng định”. Khác với khái niệm “nhân nghĩa” đã được khẳng định rồi. Ngay bây giờ, người ta vẫn còn lờ mờ hiểu ở chỗ đó. Nếu theo Hàn Dũ thì “mỗi việc đều làm theo nhân nghĩa” thì còn gọi là đạo, còn “tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác” gọi là đức. Nói như Hàn Dũ cũng chưa được rõ lắm, nhưng định nghĩa của ông trong luận văn “Nguyên đạo” gợi được nhiều ý. Đạo của Nho là nhân nghĩa, Đạo của Phật là từ bi cứu khổ.                          Đạo đức của Cụ Hồ như lời của Phạm Văn Đồng nói là: Trung với nước, hiếu với dân, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong đó trung với  nước, hiếu với dân thuộc về đạo, nói một cách khác đó là độc lập, chủ nghĩa xã hội; còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là thuộc về đức, là bộ phận quan trọng của Đức, đức trong tư tưởng của Cụ Hồ còn rộng lớn hơn nhiều, đức có thể được định nghĩa như là những tính con người cần phải rèn luyện để thực hiện cái đạo cơ bản hơn. Cái ý của Hàn Dũ rằng: “Tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác gọi là đức”, có lẽ như vậy. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành hoa quả, như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.  Khi Cụ Hồ từ trần, thì ở Pháp rộ lên một loạt bài báo của những nhân vật tiếng tăm tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ Cộng sản trên thế giới, đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức trong lý luận và trong thực tiễn, không vị lãnh tụ nào sánh bằng. Họ nhấn mạnh Hồ Chủ Tịch của chúng ta đã đặt vị trí “ưu tiên cho đạo đức”. Và họ tìm cách cắt nghĩa cái điều hơi lạ ấy. Đối với họ sở dĩ như vậy là do ông Hồ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Tôi đồng ý hoàn toàn với họ rằng Cụ Hồ là vị lãnh tụ Cách mạng đã đặt đạo đức ở “vị trí ưu tiên”. Tôi cũng đồng tình rằng tinh túy của tư tưởng Khổng Mạnh còn ảnh hưởng tích cực ở Việt, nhưng tôi cho rằng sở dĩ ở Việt Nam cả trong thời kỳ cách  mạng và kháng chiến, đạo đức được đặt ở vị trí ưu tiên và trước hết, điều ấy thuộc truyền thống dân tộc của một đất nước trong 2000 năm đã phải hằng mấy chục lần chống trả những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội. Muốn tồn tại, dân tộc Việt Nam không thể cậy vào số người mà phải dưa vào những con người chiến đấu. Lâu đời thành nếp tư tưởng quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên cường bất khuất, đức quên mình vì nước vì dân… Đạo đức Cụ Hồ là đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngày Lê-nin từ trần (1924) Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc Đông phương kính mến Lê-nin vì vị thầy của Cách mạng giải phóng dân tộc là một người: “Khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”. Cho nên khi mở lớp đào tạo cán bộ đầu tiên (1925), Hồ Chí Minh đã đặt ra 23 điều tư cách của người chiến sĩ được ghi trên trang đầu của sách giáo khoa “Đường Kách mệnh”. Chính vì vậy nên trong số các tiêu chuẩn bầu anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức nhân cách được đặt lên hàng đầu trước cả những thành tích kỳ diệu.  Cán bộ hiện nay gồm có cả tài lẫn đức thì ước mong gì hơn? Nhưng nếu phải khiếm tài thì còn có thể hữu ích, chớ thiếu đức thì dùng vào đâu được?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức văn hóa- Khởi thủy của ngoại giao văn hóa      Đặt vấn đề đạo đức văn ho&#225; &#8211; m&#224; đ&#243; ch&#237;nh l&#224; ho&#224; b&#236;nh &#8211; như l&#224; nền tảng của ngoại giao văn ho&#225; c&#243; nghĩa trở lại kết luận cho rằng: &#8220;Mỗi người l&#224; sứ giả của văn ho&#225; m&#236;nh!&#8221;1 với điều kiện người ấy được hưởng trọn vẹn một nền gi&#225;o dục đạo đức văn ho&#225; s&#225;ng tạo v&#224; nh&#226;n bản trước ngưỡng cửa to&#224;n cầu. Từ đ&#243; con người văn ho&#225; l&#224; điều kiện kh&#244;ng thể thiếu, hay n&#243;i c&#225;ch kh&#225;c l&#224; khởi thủy của ngoại giao văn ho&#225;.    Khuông Việt Thiền sư làm thơ “Vương Lang qui từ” tiễn sứ giả nhà Tống nói lên ý chí tự cường của Đại Việt trong buổi đầu dựng nước đem đến sự kính trọng của cường bang. Đó là văn bản ngoại giao sớm nhất trong lịch sử bang giao Việt – Trung, trong đó yếu tố văn hoá được sử dụng nổi bật như một “viên ngọc” văn chương sáng rỡ của gia tài văn học Việt Nam.  Willy Brandt phủ phục trước đài kỷ niệm nạn nhân Đức quốc xã tại Warschau trong cuộc viếng thăm ngoại giao nước Balan năm 1970, đã làm cho chính dân chúng Đức và cả thế giới xúc động. Giây phút tâm linh ấy đã là giây phút mặc niệm sâu xa nhất – không chỉ riêng cho W. Brandt mà cả toàn thế giới – về hậu quả của chiến tranh, một hành động sám hối tội ác của thế hệ đi trước và cầu nguyện cương quyết tái lập hoà bình như là hướng đi tương lai cho thế hệ mai sau. Thông điệp ngoại giao văn hoá ấy không hoành tráng, nó chỉ là phút chốc cái khuỵu gối, nhưng là phút chốc có giá trị của cả gia tài văn hoá trước sau của một dân tộc: Cái quì gối đã trở nên biểu tượng phẩm chất về “văn hoá ngoại giao”.                  Pháp Thuận Thiền sư cải trang làm lái đò tiễn sứ giả Trung Quốc Lý Giác về nước, ứng khẩu đối đáp thơ với sứ giả đã làm cho Lý Giác khâm phục văn tài nước Nam.  Bill Clinton dẫn thơ Nguyễn Du đã làm cho bầu không khí ngoại giao giữa hai nước cựu thù trở nên thân thiện. Sự truy nhận văn hoá nước người bày tỏ ý hướng chung sống hoà bình, và chung sống hoà bình chính là mục tiêu văn hoá.  Và không phải là ví dụ cuối cùng, vị vua anh hùng Trần Nhân Tông tiến sứ giả Trung Quốc Trương Lập Đạo sau hai lần đại thắng quân Nguyên bằng “Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc, Phong tục từ xưa của nước Nam”. Mời người trước kia là địch thủ nay là sứ giả hoà bình nếm món bánh cuốn của trời Nam, để biết ăn chơi không chỉ cao lương mỹ vị, mà còn là sự tinh tế tài hoa của người biết nấu và người biết ăn theo phong tục nước Nam. Ý nhị là lời nhắn nhủ, tôn trọng khác biệt văn hoá là điều kiện chung sống hoà bình.  Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi kế thừa truyền thống tự chủ nhà Trần, trả lời câu đối, làm thơ để tỏ rõ quan điểm minh triết Đông phương về nhân cách quân tử – tiểu nhân, cùng với tài ứng biến cực kỳ tài hoa và trí tuệ đã gây sự kính nể nhân tài nước Việt trong mắt kẻ đối tác quyền uy nhất thiên hạ thời bấy giờ. Ngoại giao văn hoá có trách nhiệm đòi truy nhận sự bình đẳng trong phẩm chất văn hoá.    Thành công ngoại giao của W. Brandt, Clinton, Pháp Thuận, Khuông Việt, Trần Nhân Tông, Mạc Đĩnh Chi không chỉ nằm ở “nước sơn” “ngoại giao” mà chính là ở chất “tốt gỗ” của văn hoá. Ở đây chính chất gỗ văn hoá đã làm cho hành động ngoại giao đạt đến sức thuyết phục mạnh mẽ nhất, khi ngoại giao không còn là “diplomatie” theo nghĩa “làm mặt” khéo léo lịch sự bên ngoài, hay nghệ thuật xã giao hời hợt đón tiếp nhằm đạt lợi riêng, cổ súy ưu thế cho một nhóm hay hoa mỹ xiểm nịnh lấy lòng một tập đoàn.   Sức thuyết phục ấy có được chính là khi ngoại giao trở nên thực chất văn hoá toả ra từ bên trong của một dân tộc qua hành trạng của người mang thông điệp quốc gia.  Thực chất văn hoá ấy mang chiều dày của cả lịch sử quốc gia. Hơn thế nữa, thực chất văn hoá chính là hồn nước, hay cũng chính là lương tri của cả dân tộc mà người đại diện mang ra cống hiến ở nước ngoài, như một biểu hiện nhân cách gấp đôi: vừa là nhân diện cá nhân đồng thời là của tập thể trong sự thể hiện hợp nhất giữa chủ thể làm ngoại giao và văn hoá đất nước mà Chính chủ có thể chuyển đạt ra nước ngoài.  Định nghĩa ngoại giao văn hoá của một nước như thế là định nghĩa hay xác định lại văn hoá của nước ấy trong vai trò “làm mềm” mọi mâu thuẫn gay gắt mà một quốc gia phải gánh chịu  trong điều kiện thời gian và không gian đa chiều kích: ý thức hiện tại trong phản tỉnh quá khứ và viễn tượng tương lai.  Chính tính vừa đa dạng vừa đặc thù của khái niệm văn hoá làm cho ngoại giao văn hoá không chỉ là “kỹ thuật” ngoại giao của một ngoại giao đoàn với số lượng những qui ước quốc tế cần phải thi hành trong việc bang giao quốc tế. Cũng không chỉ là bổn phận của một tuỳ viên văn hoá trong bộ ngoại giao cần chuyển tải càng nhiều càng tốt những biến cố “events” văn hoá từ quốc nội ra nước ngoài. Văn hoá vượt lên trên mọi “số lượng”, đòi hỏi phẩm chất.    Trong ý nghĩa ấy, ngoại giao văn hoá không thể chỉ là một công cụ cho chính trị ngoại giao. Công cụ hoá văn hoá cho chính trị có nguy cơ làm cho văn hoá chỉ trở nên những hình nộm không hồn, đem đến nguy cơ mài nhẵn bản sắc dân tộc thành một thứ nước sơn giả tạo. Hậu quả có thể đem đến những tác dụng ngược như lai căng, mất gốc, lệ thuộc văn hoá.   Nhìn trên phương diện hành động, ngoại giao văn hoá bao gồm hai chiều kích:  Thứ nhất, công tác ngoại giao có bổn phận chuyển tải hình ảnh của một quốc gia trên mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá ra nước ngoài,  mục đích là làm tốt hơn những quan hệ với các quốc gia khác cũng như dân chúng của các nước ấy.  Thứ hai, hậu quả phụ của công tác này – “phụ” vì không nằm trong mục đích ngoại giao –  tuy bên lề nhưng lại rất quan trọng: quá trình thực hiện ngoại giao văn hoá giúp cho chính quốc gia chủ thể (cá nhân và tập thể) có cơ hội sống động tự phản tỉnh để biết mình là ai, đang mặc áo gì, đang ở trong ngôi nhà nào, đang suy tư, ăn uống ra sao. Chính quá trình tự tri có tính phản tỉnh trả lui về “nước của sứ giả” lại tạo nên sức tác dụng lâu dài về sự nhận diện bản lai nhất thể của con người quốc nội. Như thế ngoại giao văn hoá đồng thời là sự phản tỉnh nội giao về chính căn cước văn hoá của một người hay cả một dân tộc.  Có thể lấy ví dụ nước Đức và Nhật Bản sau thế chiến thứ II. Sau cuộc đại bại toàn diện, nước Đức đứng trước một thách đố phải từ bỏ những gánh nặng phá sản của chủ nghĩa đế quốc văn hoá mà vương triều và chủ nghĩa quốc xã để lại, đồng thời nỗ lực suy tư về quá khứ, truyền thống cũng như điều kiện chia đôi đất nước tạo bước tiến trong tương lai. Trong bối cảnh ấy, ngoại giao văn hoá đã đóng một vai trò quan trọng thay thế những thương lượng bó buộc gắt gao về quân sự trong việc đại diện ra nước ngoài: ngoại giao văn hoá có bổn phận tìm lại mối quan hệ của người Đức trong trật tự quốc tế và liên quốc gia. Đồng thời mỗi hình thức đại diện cho trong và ngoài nước đều được quan sát tại quốc nội. Định hướng quan hệ ngoại giao trên trường quốc tế bấy giờ thoát thai ngay trong tiến trình tự chỉnh đốn lại diện mạo, đánh giá mới về giá trị suy tưởng hay sử dụng lại truyền thống hoà bình của nước Đức. Vai trò thực sự của văn hoá trong ngoại giao tạo điều kiện khả thể chung sống hoà bình với thế giới, nhưng đồng thời nền hoà bình ấy đã tạo nên một truyền thống văn hoá mới cho chính nước Đức. Chính người Đức đã hưởng thụ một nền văn hoá hoà bình luôn luôn được phản tỉnh công khai từ công tác ngoại giao và ngược lại công tác ngoại giao nhận được nội dung văn hoá quốc nội để phổ biến ra nước ngoài. Một mạng lưới ngoại giao văn hoá xã hội được hình thành, ngoài tính cách đại diện pháp lý quốc gia: Những trung tâm ngôn ngữ văn hoá, hội đoàn giao lưu, quỹ bảo trợ văn hoá, các tổ chức văn hoá quốc tế, sáng kiến tư nhân thâm nhập trên mọi lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá.  Có thể nói, song song với những nỗ lực phát triển đất nước khác, ngoại giao văn hoá Đức đã góp phần làm cho thương hiệu “made in Germany” chiếm lĩnh “thế lực mềm” đầy uy tín và đã đem lại thắng lợi chính trị không nhỏ như ngày hôm nay.   Cũng thế trường hợp Nhật Bản, sự giải giáp quân sự đã tạo cho Nhật Bản không hành động gì khác hơn là triển khai sáng tạo văn hoá trong hoà bình trên tất cả các lãnh vực từ kỹ nghệ điện tử, xe hơi, mỹ thuật, tư tưởng, văn chương, tôn giáo… Thông điệp ngoại giao của Nhật là hình ảnh một nước Nhật hoà bình đầy tính nhân bản sâu xa đến từ sáng tạo và khéo léo mỹ thuật của nền văn hoá đại chúng. Thương hiệu “made in Japan” có ai trên thế giới mà không để mắt ghé qua và khó lòng từ chối? Mặc dù chính sự thành công này đã gây lại khuynh hướng “chủ nghĩa quốc gia” đầy phản cảm, nhưng Nhật Bản ý thức rõ uy tín của nó đi từ văn hoá đại chúng, mặc dù chủ trương trở lại thế lực quân sự đang là thời sự.  Việt Nam đã được thế giới biết đến trong cuộc chiến giành độc lập, giải phóng thuộc địa đầy cam go. Một Việt Nam chiến tranh đã gây dấu ấn lên lương tri của nhân loại. Một Việt Nam bị chiến tranh tàn phá vẫn còn mang thương tích khắp nơi. Cuộc chiến chống lại nghèo đói đang dần bước tiến lên nhờ sự đổi mới chính sách kinh tế. Ngày nay Việt Nam đã tạo một vị thế chính trị được quốc tế truy nhận.  Một khoảng thời gian dài lãnh vực văn hoá chưa được đặt ra đúng mức song song với xu thế và phong trào hội nhập toàn cầu. Những hiện tượng văn hoá gần đây cho thấy phần nổi của một thứ văn hoá bung ra từ ngõ sau mà không đi từ ý thức sâu xa về văn hoá như là bản sắc và bản lĩnh dân tộc. Những hiện tượng hoành tráng được mệnh danh là văn hoá như thi hoa hậu, thi sắc đẹp đủ mọi cách không thể che dấu tỷ lệ mất cân bằng của hình ảnh Việt Nam trên thế giới khi so với thực trạng mua bán phụ nữ ra nước ngoài, hiện tượng gái điếm, bệnh tật, ô nhiễm môi sinh… Trong thực chất, ‘thi” hay “bán” nếu lạm dụng đều cùng biểu hiện tình trạng suy đồi của văn hoá.    Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay không có một quốc gia riêng lẻ nào được xem hay tự cho là siêu cường, ngược lại sự tin tưởng vào công tác và truy nhận trang trọng các nền văn hoá khác biệt hầu tránh khỏi những tranh chấp quốc gia đang đứng trước những thử thách toàn cầu: nghèo đói, bất ổn kinh tế, thương mại, sức khoẻ, kỹ thuật, bảo vệ môi sinh và tranh chấp chính trị.   Văn hoá có thể là chìa khoá cho giải đáp những vấn nạn trên, bởi vì văn hoá tạo nên cơ sở nhận diện sức mạnh tồn sinh của dân tộc trong thế giới, song hành cùng những dân tộc khác. Văn hoá chính là cái cầu nối sự cộng tác với các dân tộc khác, với truyền thống giá trị và phát triển lịch sử. Chỉ khi nào ta truy nhận sự khác biệt, chúng ta học được làm thế nào cho mọi cộng tác tốt đẹp hơn hầu giải quyết những vấn nạn chung.  Triết lý của ngoại giao văn hoá dựa trên nguyên tắc chung sống hoà bình. Triển khai ngoại giao văn hoá có nghĩa triển khai sự thông cảm hiểu biết lẫn nhau, tạo nên niềm tin và đối thoại để xây dựng cộng sự giữa người và người, giữa các quốc gia. Thâu tập, trao đổi kinh nghiệm, tri thức chuyên môn để tránh những hiểu lầm giữa những người chung sống trên địa phương, vùng, quốc gia, quốc tế, hầu tiến đến thông cảm và cộng tác.   Genscher, một trong những nhà ngoại giao thành công của nước Đức cho rằng chính trị cần văn hoá, bởi vì chính trị chỉ tìm thấy chính nó khi nó tự nhận ra chính mình là tiếng nói của văn hoá” (1989). Quan điểm của ông lại càng rõ hơn: “văn hoá là điều kiện không thể thiếu (condition sine qua non) tạo nên bản lai căn cước của chính trị”.     Thực chất văn hoá ấy rốt cuộc là cái hồn dân tộc, hay là lương tri, đạo lý của cả một dân tộc. Bởi vì văn hoá cao nhất của con người giữa loài người chính là vẻ đẹp đạo đức của mỗi cá nhân bộc phát từ sự chiêm nghiệm thành tâm về diện mục quốc gia trong quá trình hình thành trình tự dân tộc, hòa nhịp cùng và theo kịp với  lân bang, với toàn hoàn vũ trong mục đích cao nhất là chung sống hoà bình, người người trong ngoài hoà hợp hạnh phúc.  Đặt vấn đề đạo đức văn hoá – mà đó chính là hoà bình – như là nền tảng của ngoại giao văn hoá có nghĩa trở lại kết luận cho rằng: “Mỗi người là sứ giả của văn hoá mình!”1 với điều kiện người ấy được hưởng trọn vẹn một nền giáo dục đạo đức văn hoá sáng tạo và nhân bản trước ngưỡng cửa toàn cầu. Từ đó con người văn hoá là điều kiện không thể thiếu, hay nói cách khác là khởi thủy của ngoại giao văn hoá.   —————-  1 Tia Sáng, Quảng bá văn hoá, Thái Kim Lan    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo luật và Đạo lý      Hiến pháp là đạo luật gốc của xã hội vì vậy khi xây dựng Hiến pháp phải lấy Đạo lý làm tiêu chí khởi thủy. Đạo lý không phải và không thể là ý chí của một người, một nhóm người, một tổ chức. Nó phải được toàn nhân loại thừa nhận. Đó là đạo lý phổ quát.     Luật pháp là chuyện trọng đại hàng đầu của một nhà nước. Chỉ riêng thuật ngữ thôi cũng đã phải cân nhắc kỹ lưỡng. Các sinh viên luật trẻ tuổi đang tranh luận kịch liệt về phân biệt thuật ngữ “luật”, “bộ luật” và “đạo luật”. Điều này xin dành cho các vị hàn lâm áo mão cũng như các cây đa cây đề về luật pháp trả lời cho các bạn trẻ, và cũng là để các vị tự vấn mình.   Tìm trong tiếng Việt, có hai thứ văn bản được gọi là “Đạo”. Thứ nhất là Đạo sắc phong của vua. Ví như bản hiệu “Tiết hạnh khả phong” vua ban cho bà góa trẻ thờ chồng trọn đời. Cái thứ hai là Đạo luật. Chữ “Đạo” ở cả hai trường hợp cùng một ý, có lẽ xuất phát từ chữ Đạo(*), gốc Hán-Việt là cờ tiết, biển hiệu nhà vua. Chắc các cụ nhà ta ngày xưa ghép từ gốc Hán tạo ra hai thứ văn bản có chữ Đạo này với ý cái văn bản nào được vua ban, thì gọi là đạo. Như vậy, đạo luật phải chăng là hàm ý của vua ban luật cho dân. Điều suy đoán đó có thể đúng, có thể sai. Nhưng trên thực tế thì cung cách làm luật, tư duy làm luật, cách thảo luận và thông qua luật của nước ta ngày nay vẫn mang đậm dấu ấn của việc ban cho dân cái luật. Nói khác đi, luật là để cho đối tượng bị luật điều chỉnh chấp hành, còn người thảo ra và thi hành luật đó thì không thể bị ràng buộc. Chỉ lấy một thí dụ nhỏ, luật đã soạn ra, được thông qua rồi, mà còn phải chờ thông tư, nghị định mới thi hành được là một kiểu ban luật như vậy.. Đọc văn bản luật giấy trắng mực đen rồi nhưng hiểu luật thế nào, giải thích thế nào… thì không được phép, nếu không có văn bản dưới luật của bên thực thi luật ban hành.. Chưa nói đến việc thực thi hay không, thực thi thế nào, có đúng luật hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào bên thực thi luật, cho thế nào dân được thế ấy.   Chẳng hạn đã có phán quyết về việc người dân phạm “tội lợi dụng sơ hở của pháp luật để…”. Rõ ràng phải xử người tạo ra sơ hở của pháp luật, sao lại xử người sử dụng nó!  Thật chẳng khác gì câu cửa miệng của dân gian ngày xưa: Vua ban, Quan dạy, Dân chạy ngược chạy xuôi. Chuyện này kéo dài quá lâu đã thành điều mặc nhiên đối với các chính khách lập pháp, hành pháp và tư pháp Việt nam.   Chả thế mà vừa qua Quốc hội có quyết định chưa thông qua luật đất đai sửa đổi, tuy là việc bình thường của lập pháp các nước, nhưng ở ta lại có một hiệu ứng đặc biệt. Một tờ báo đã viết, quyết định không thông qua theo đúng lộ trình này khiến nhiều vị đại biểu quốc hội thở phào. Còn với những người dân bình thường, ít chữ nghĩa, thì nói, thế là hợp đạo lý.   Khái niệm đạo lý ở đây chẳng liên quan gì đến cái đạo sắc của vua ban cả. Đạo lý (**) tự cổ chí kim, ở các nước có văn hóa, đều có nghĩa như nhau, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đạo là con đường sáng phải đi. Lý là cái lẽ đúng phải theo. Như vậy đạo lý chính là cái cơ sở đúng đắn cả phần xác lẫn phần hồn, là chuẩn mực đầu tiên của xã hội con người.   Hiến pháp là đạo luật gốc của xã hội vì vậy khi xây dựng Hiến pháp, vì vậy phải lấy Đạo lý làm tiêu chí khởi thủy. Đạo lý không phải và không thể là ý chí của một người, một nhóm người, một tổ chức. Nó phải được toàn nhân loại thừa nhận. Đó là đạo lý phổ quát.   Dù rất tôn thờ Nho giáo, và thừa nhận Nho giáo là học thuyết có ngàn năm lịch sử, đã dẫn dắt ông cha ta xây dựng đất nước, truyền thống văn hóa xã hội, nhưng chắc rằng không thể lấy học thuyết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” coi là đạo lý mở đầu cho Hiến pháp. Không phải vì học thuyết đó không xuất phát từ Việt nam, đơn giản, đó không phải là đạo lý phổ quát, nó chỉ dành cho nhóm gọi là “người quân tử”, còn bình dân, không phải ai cũng muốn, cần và có thể trị quốc, bình thiên hạ. Lại càng không thể dựa vào đó để đưa vào Hiến pháp, giả dụ theo quan điểm của nho gia, Điều X: Vua là người thay trời trị dân. Toàn bộ quyền lực quốc gia tập trung vào tay vua, từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp… Hoặc viết Điều Y: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung…(***)  Những dòng đầu tiên bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam 1945 là lấy từ Tuyên ngôn độc lập Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyên Pháp: ”Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Với khẳng định tại Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt nam: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”, dân tộc Việt nam đã công nhận đó chính là đạo lý của loài người, của xã hội, và nướcViệt nam độc lập cũng nằm trong tập hợp văn minh đó, dù xuất xứ đầu tiên những tuyên ngôn đó từ đâu.   Hiến pháp cũng như luật pháp được lập ra để xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh. Nó phải tuân thủ và giải quyết nhiều yêu cầu của xã hội con người, mà các yêu cầu đó về nguyên tắc có thể ảnh hưởng lẫn nhau và có khi loại trừ nhau. Vì vậy các yêu cầu đó phải có một thứ tự ưu tiên, cái trước được ảnh hưởng cái sau, nhưng không có chuyện ngược lại. Khoa học đã xác định, thứ tự đó là : Đạo lý, Lợi ích, Hậu quả và tính Khả thi.   Theo dõi các phiên thảo luận Hiến pháp vừa qua ở quốc hội, có thể thấy các đại biểu đa phần là xem xét theo thứ tự đảo ngược. Thậm chí, nguyên tắc tối thượng là tôn trọng đạo lý thì không mấy người đề cập tới. May mắn là hãy còn có cơ hội để các đại biểu tự nhắc mình, làm sao cho hợp đạo lý. Còn người dân ít chữ thì hiểu và đòi hỏi điều đó từ lâu rồi.   Hiến pháp 1992 sửa đổi có tôn trọng đạo lý hay không, trách nhiệm đang chờ ở các đại biểu quốc hội trong kỳ họp tới.   —  (*) Đạo 纛, theo tìm hiểu của người viết, thuật ngữ “Đạo luật” không thông dụng trong ngôn ngữ Trung hoa  (**) Đạo lý 道理, justification basis  (***) Vua xử bầy tôi chết, bầy tôi không chết là không trung thành    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo luật về cung cấp dịch vụ công: Cần sớm được ban hành      Vụ việc nước sạch sông Đà cung cấp cho thành phố Hà Nội bất ngờ bị ô nhiễm chất styren từ dầu thải đã làm lộ ra hàng loạt vấn đề rất thiết thân với đời sống thường ngày mà lâu nay chưa được chú ý, như lỏng lẻo trong quy trình bảo vệ môi trường, sức khỏe cho người dân; chưa có quy hoạch, quản lý nước sạch; lúng túng trong ứng phó quản lý khủng hoảng rủi ro ở đô thị, và bao trùm là khoảng trống pháp lý trong quy định về cung cấp dịch vụ công thiết yếu.         Người dân xếp hàng lấy nước từ các xe cấp nước tạm thời của thành phố. Ảnh: Zing.   Người dân chịu thiệt nhưng khó đòi trách nhiệm  Ngày 8/10, hồ chứa sơ lắng của nhà máy nước sông Đà tại hồ Đầm Bài, Hòa Bình bị đổ trộm dầu thải, gây nhiễm styren cho toàn bộ hệ thống nước sạch cung cấp cho cư dân ở 8 quận, huyện của Hà Nội đã khiến thành phố phải điều chỉnh việc cung cấp nước đi kèm với hàng loạt ứng phó: cung cấp các xe téc nước miễn phí, thay nguồn nước sông Đà bằng sông Đuống, công ty nước sông Đà xử lý hồ chứa và đường ống.   Tại tọa đàm ‘Thị trường hóa dịch vụ công nhìn từ ‘Nước sạch sông Đà’ do Hội Truyền thông số Việt Nam tổ chức chiều ngày 21/10, nhận xét về sự việc trên, luật sư Nguyễn Tiến Lập vẫn thốt lên “may quá không xảy ra việc đổ chất độc như xyanua vào nguồn nước sạch sông Đà”. Ông gọi đây là “khủng hoảng thực sự” và cách xử lý trách nhiệm các bên liên quan của thành phố Hà Nội là “lúng túng” và “vấn đề mà tôi quan tâm hơn là nếu không có thay đổi thì những sự cố sông Đà và Rạng Đông lặp đi lặp lại và dân lãnh đủ”. Bởi vì người dân sử dụng dịch vụ nhưng chưa được bảo vệ quyền lợi chính đáng và việc khởi kiện để yêu cầu công ty cung cấp nước sạch hoặc thành phố Hà Nội phải có trách nhiệm lại không hề đơn giản.   Nhìn vào hệ thống luật pháp liên quan đến vấn đề này có hàng loạt luật, quy định như Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân – quy trách nhiệm cho nhà nước, cụ thể ở đây là chính quyền Thành phố Hà Nội, Luật Bảo vệ người tiêu dùng – miễn là người dân tiêu dùng một sản phẩm nào đó gây hại thì có thể kiện người cung cấp, thậm chí cả Luật Hình sự – trừng phạt thủ phạm đầu độc nguồn nước. Nhưng trong thực tế, người dân không thể đòi hỏi bồi thường thiệt hại cho những xáo trộn khi dùng nước nhiễm styren và trong suốt thời gian tạm dừng cung cấp nước sạch, bởi chiểu theo những quy định hiện hành thì Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định “tất cả các ngành đều có trách nhiệm chăm lo bảo vệ sức khỏe nhân dân, đã cung cấp nước cho nhân dân là phải hợp vệ sinh, và nếu mà không cung cấp hợp vệ sinh thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật” không có tác dụng khởi kiện. Những điều khoản trong luật này “chung chung” và “quá mỏng manh”, các công ty cung cấp nước thoát tội nếu cố tình cho rằng nước của họ vẫn đảm bảo an toàn.     Trong trường hợp này, về hợp đồng sử dụng dịch vụ, khi ký cam kết sử dụng, người dân phải tuân theo hợp đồng mẫu. Do đó, đến khi xảy ra sự cố, rất khó để kiện hoặc đòi bồi thường, bởi sẽ phải chứng minh một loạt bằng chứng, một là công ty có vi phạm [hợp đồng, quy định hiện hành], hai là người dân có thiệt hại. Về cơ bản, “phải chứng minh là nước đó không thể dùng được và gây ảnh hưởng tới sức khỏe thì người dân mới đi mua nước khác, và có phải vi phạm đó đã dẫn tới thiệt hại của anh hay không?”, luật sư Nguyễn Tiến Lập nói. Và để chứng minh “e là khó” bởi phải có căn cứ, cơ sở khoa học thông qua lấy mẫu, phân tích mẫu nước, đối chiếu với các quy chuẩn trong nước và quốc tế… ngay khi sự cố xảy ra. Trong khi đó, căn cứ vào Luật hình sự thì sẽ chỉ xử phạt được những người đổ dầu thải vào nguồn nước.       “Nhiều năm qua, trên bàn nghị sự của Quốc hội và các cơ quan chính phủ, việc cần phải có luật điều chỉnh về cung cấp dịch vụ công chưa bao giờ được đặt ra một cách thấu đáo”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng      Như vậy, “hệ thống pháp luật của chúng ta không tạo cơ chế cụ thể đủ để bảo vệ quyền. Luật chưa đủ chất lượng để bảo vệ quyền rất cụ thể là quyền của người tiêu dùng trong câu chuyện cơ bản trong đời thường về nước sạch như thế này”, ông nói. Trong khi đó, các cơ chế khác mà người tiêu dùng vẫn hay sử dụng để bảo vệ mình trước các nhà cung cấp dịch vụ yếu kém như “tẩy chay” sản phẩm (có thể nhìn thấy rõ qua vụ hãng Vedan đầu độc sông Thị Vải đã bị điêu đứng) không có tác dụng trong trường hợp này bởi hàng triệu người dân không thể từ bỏ, không có lựa chọn thay thế với loại hình sản phẩm thiết yếu và hiện tại chỉ có một nguồn cung này.   Cơ chế nào đảm bảo cho các dịch vụ công?  Tất cả những điều đó cho thấy, từ một sự cố ban đầu bị lờ đi đã tạo ra cuộc khủng hoảng nước sạch đáng tiếc và làm lộ ra những sự lúng túng trong một loạt các quy trình. Do đó, đây chính là dịp cần thiết để người dân, các cơ quan quản lý, các nhà phân tích chính sách nhìn rõ và thảo luận về các vấn đề: lỏng lẻo trong quy trình bảo vệ môi trường, sức khỏe cho người dân; thiếu quy hoạch, quản lý nước sạch; lúng túng trong ứng phó quản lý khủng hoảng rủi ro ở đô thị, và khoảng trống pháp lý trong quy định về cung cấp dịch vụ công cơ bản.  Trên thực tế, việc nhà nước san sẻ dịch vụ công sang cho các công ty tư nhân tham gia cung cấp không còn hiếm và đã được thảo luận nhiều, bởi vì thực chất là nhà nước đã nhượng thương quyền cho các công ty trong một lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận – dịch vụ công cung cấp lựa chọn không thể thay thế và cầu của người dân là không đổi. Tuy nhiên “nếu đã cho tư nhân cung cấp dịch vụ mà lại không thiết kế [quy định] để họ đảm bảo chất lượng thì chất lượng sẽ bị bỏ xuống hàng dưới. Do đó, phải có sự quản lý của nhà nước, phải xác lập các nguyên tắc của dịch vụ công, áp đặt các chuẩn mực về quy chế pháp lý của dịch vụ công, phải kiểm tra chất lượng”. Như vậy “cần có một luật riêng về dịch vụ công, và có một cơ quan có thẩm quyền áp đặt các chuẩn mực về mặt kỹ thuật”, theo TS Nguyễn Sĩ Dũng.  “Tôi hoan nghênh đề xuất phải có đạo luật về cung cấp dịch vụ công, nhằm mục đích bảo vệ nhân dân”, luật sư Nguyễn Tiến Lập nói. Bởi vì về “bản chất của dịch vụ công như cung cấp điiện nước là nhiệm vụ mà nhà nước phải làm, khi chính quyền đô thị muốn tư nhân hóa việc này thì phải có luật cho phép làm việc này”. Do đó, “chúng ta cần phải đưa ra một công cụ, một hành lang khác, ở đó yêu cầu nếu anh [công ty tư nhân làm dịch vụ công] không làm tròn trách nhiệm thì chính quyền sẽ vào thu hồi và xử lý. Sòng phẳng là nhà nước trao cho anh thương quyền thì phải có trách nhiệm xử lý”.  Hàng chục năm qua, bản thân khái niệm dịch vụ công “còn chưa được định hình đủ sáng tỏ ở ở Việt Nam”, nhìn chung “mới chỉ nói tới quản lý của nhà nước trong việc bảo đảm trật tự trị an, an ninh quốc phòng thôi, chứ chưa làm sáng tỏ hết các khía cạnh khác”, TS Sĩ Dũng nói. Nhiều năm qua, trên bàn nghị sự của Quốc hội và các cơ quan chính phủ, việc cần phải có luật điều chỉnh về cung cấp dịch vụ công chưa bao giờ được đặt ra một cách thấu đáo.  Do đó, hai chuyên gia kiến nghị, để giải quyết gốc rễ của vấn đề, qua dịp này phải có thảo luận về luật về dịch vụ công, hoặc nếu chưa có luật được thì phải có nghị định, văn bản dưới luật. Để làm được điều đó phải có sức ép từ dư luận, từ các cơ quan truyền thông yêu cầu các cơ quan hành pháp đưa ra đề xuất, bởi vấn đề này “còn khẩn cấp hơn cả luật an ninh mạng trước đây”.  Bảo Như  Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Đào mai chúc Tết      Thôi Hộ viết “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Ở đâu thời nào Tây hay Đông, thì hoa vẫn nở, đào vẫn chớm nụ trong gió xuân.    Chuyện lạ là ở xứ Tây, tháng Một là tháng lạnh nhất, cây cỏ còn trơ xương, trụi lá, nhưng ở khu rừng Durchblick gần nhà lại có một cây cao gầy, lẫn trong những lùm cây gầy guộc run rẩy, dáng cũng tựa đào nhưng cao hơn, cành cũng nâu gầy mảnh mai, không mang một ngọn lá nào trên cành mà lại nở hoa, những chùm hoa nhìn xa tựa như hoa đào với màu hồng nhạt rất cổ điển, chưa từng thấy trong mùa đông. Kỳ lạ và hiếm hoi trên đời, ở nơi đông giá đang nhận chìm vạn vật vào cơn bất tỉnh, hoa lại nở trên cành… và e chỉ có một mình tôi trong buổi đi dạo khám phá được.  Tôi xin nói trước, tôi không phải Mã Giám Sinh, nhưng trong lòng bỗng nổi lên cơn bão thấy “của người cũng tiếc, của trời cũng ham”, nhất là vào những ngày bên mình đang rộn ràng cuối năm, chị Liên gửi hình một dãy hoa đào rực rỡ, báo ông Liêm gửi đăng có gốc đào treo giá 450 triệu đồng, ôi chao. Tôi đứng dưới gốc cây ấy nhìn lên, thôi nó cũng là đào, hồng màu hoa, không rực rỡ (nếu rực rỡ thì e là hoa giả) nhưng tươi hẳn giữa màu xám đất trời, nó thật dị kỳ và hiếm hoi, có một không hai trên đời. Kể ra thì nó đáng bạc triệu đúng không, theo kiểu tính của người mình đương thời. Chớ chi nữa! Bụng tôi nao lên, thế là về nhà, đinh ninh bảo dạ, tối nay phải đi… tậu… à không… trộm đào… để đón Tết.    Trời đã nhá nhem, bên ni 6 giờ đã tối hù, nhưng tôi đợi đến 8 giờ, mặc áo đội mũ, vào nhà gỗ để dụng cụ làm vườn, lấy cái kéo cắt cây cỡ lớn dài và nặng – vì lúc thấy hoa như đã nói tôi đã thử vít cành bẻ nhánh mà nó dẻo dai quá không bẻ được. Tôi ra đến bìa rừng nơi có cây hoa nở dị kỳ giữa mùa đông, hì hục vít, kéo, cắt mấy nhánh hoa “Đào” hiếm có, trên đường về sẵn kéo lớn, lại cắt thêm hai nhánh Liên Kiều mọc dại trong lùm cây mà tôi đã nhắm trước đó, lễ mễ vác đem về, tỉa, cắm vào bình. Rứa là đêm 23 thay vì thả cá chép tôi đi tìm… à đi trộm đào trộm mai, xin ông táo xá tội và.. thông cảm cho kẻ phương xa – vì là hoa mọc trong rừng nên nói “trộm” là để bi kịch hoá chuyện tìm hoa ăn Tết phương xa đó thôi, thật ra là của trời vạn hộc, gặp mấy người đi về khuya, họ cưòi nhoẻn miệng vui cùng.  Thế là năm nay ăn Tết xa Huế, nhưng nhà lại có đủ tứ qúy là Phật, Tâm, Mai, Đào, tất cả đều là tượng trưng cho chân, thiện, mỹ. Lời chúc Tết Giáp Ngọ của Thái Kim Lan.  Thương gửi các bạn tác phẩm của Tôn Ngộ Không đi trộm hoa đào cúng Phật, hoa mai cúng tổ tiên.  Và câu đối đầu xuân:    Đào Mai chúc tết Tâm như Phật  Hồng Hạnh vui xuân Phật tại Tâm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo bản lĩnh tự khẳng định mình cho tuổi trẻ      Thông thường, hình như người lớn thích loại con cháu “gọi dạ bảo vâng” và dường như đối với các cháu bé thì không “đức tính” nào người lớn thú vị bằng sự vâng lời. Xưa kia, trong lối mòn của đạo đức học Nho giáo thì đó là“nối tiếp, làm theo, không thay đổi (kế, thuật, vô cải). Không hiểu sao, hành vi của “em Trí Vĩnh Long”, mà người ta có cớ để gọi em là “thủ phạm phá hoại”, là “nhà dễ cháy nếu cảnh báo không ai nghe thì mình tự tay phóng hỏa cho biết tay” để do đó mà truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm ngăn chặn việc “chúng ta sẽ đào tạo ra một lớp thanh niên sống vô chính phủ, không tôn trọng nguyên tắc”, khiến cứ liên tưởng đến câu chuyện em bé 16 tuổi ở Philippines dạo nào mà báo chí đã đưa tin.         Em được Tạp Chí “Time” trao giải nhất cuộc thi trả lời câu hỏi dành cho lứa tuổi từ 16 đến 18: “Ai là nhân vật quan trọng nhất thế kỷ XXI” với câu trả lời: “Tôi”! Tôi sẽ hét to lên điều này với tất cả thành phố nếu cần phải như vậy. Tôi cho rằng chính tôi, một học sinh trung học, là người quan trọng nhất thế kỷ. Tôi còn chưa ghi dấu ấn của mình vào lịch sử thế giới, và tôi không khao khát trở thành một Albert Einstein hay một Bill Gates khác. Bởi vì tôi chỉ muốn là tôi… Chúng ta không biết cái gì hay hơn sao? Chúng ta không thể ghi dấu ấn bằng chính con người thực sự là của mình hay sao?   Và rồi lẩn thẩn đặt câu hỏi: liệu với chúng ta, ta có trao giải nhất cho một cô học trò 16 tuổi, tuổi của trò Trí của chúng ta nay, với câu trả lời “có vẻ ngỗ ngược” như vậy không? Thì cũng đã có dịp để kiểm nghiệm chuyện này đấy thôi. Đó là thái độ đối với “bài văn lạ” của em học sinh lớp 11 tham gia vào kỳ thi học sinh giỏi giữa tháng 3-2005 ở Hà Nội dám viết một bài văn lạc đề. Mặc dầu biết “sẽ không được điểm nào” nhưng em vẫn viết để “chỉ muốn nêu lên chính kiến của mình”. Em tâm sự: “Dường như học sinh bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền khen hay, mà không có quyền nói lên chính kiến của mình”.   Thế rồi cũng có nhiều ý kiến khác nhau của “người lớn”, quá đà hay không thì không biết song qua đó, cũng thấy rõ quan điểm nhìn nhận về bản lĩnh tự khẳng định của tuổi học trò. Có ý kiến đanh thép lên án em bé “ngỗ ngược” dám không xúc động, dám không thích bài “Văn tế Nghiã sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu. Nhưng cũng có những ý kiến bảo vệ quan điểm của cô học sinh dám biểu tỏ chính kiến của mình, không tuân phục cung cách giảng dạy theo kiểu áp đặt tư duy, tùy tiện suy diễn Cung cách ấy được duy trì khá lâu, khiến nó trở thành một tập quán đáng sợ kìm hãm sự sáng tạo và phát triển của tuổi trẻ. Và đáng sợ hơn nữa, cung cách ấy tập dượt một thói quen bị động trông chờ, không dám tự mình suy nghĩ để có ý kiến riêng. Bằng cách ấy, nhà trường sẽ tập dượt và khuyến khích phát triển loại nhân cách chỉ biết phục tùng, không dám có bản lĩnh ủng hộ cái đúng, phê phán cái sai và “không dám là mình”.   Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy những nhân cách lớn, những tài năng lớn thường không cam chịu cúc cung tận tụy theo lối mòn mà luôn bung phá. Thì nhà bác học Lê Quý Đôn hồi bé đã nổi tiếng là cậu bé “rắn đầu” rất nghịch ngợm đó thôi. Để tránh trận đòn vì tội ấy, cậu đã làm bài thơ tự vịnh, trong đó toàn nói chuyện rắn: “thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, nay thét mai gầm rát cổ cha và tự hứa phải làm sao “kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”. Và nếu hồi ấy người ta vì ngăn chặn lối sống vô chính phủ, không tôn trọng nguyên tắc của cậu thần đồng “ngỗ ngược” mà truy cứu tội danh “rắn đầu” của cậu rồi trị cho tiệt nọc, thì lịch sử nước nhà đã mất một nhà bác học lớn.   Đấy là nói chuyện xưa. Bước vào năm 2007, thử thách và vận hội mới đang đòi hỏi bản lĩnh của con người Việt Nam trong thời đại của Iternet nối mạng toàn cầu, thế giới đang thách thức từng người và từng cá nhân đang đối diện với cả thế giới. Những ai chần chừ tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn thuần của quá khứ, sẽ cảm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi. Cũng sẽ là quá muộn nếu không dám có những suy nghĩ táo bạo, những tìm tòi mạnh dạn, những bung phá sáng tạo để tìm ra những bước đi và cách đi phù hợp với thực tế của đất nước. Những phẩm chất đó đang được ươm mầm và sinh sôi nảy nở trong thế hệ trẻ, nguồn sinh lực bất tận của dân tộc. “Nguyên khí quốc gia” không thể tìm ở đâu khác ngoài nguồn sinh khí vô tận đó. Thế nhưng công việc to tát đó lại khởi nguồn từ những việc hàng ngày, những chuyện của “đời thường” mộc mạc không tô son vẽ phấn. Từ những chuyện nhỏ, những “nghịch lý” của đời thường ấy lại ẩn chứa những chân lý đang cần tìm tòi, phát hiện, những tiềm năng cần được tạo điều kiện để bừng nở thành khả năng hành động. Cũng có nghĩa phải thấy được những điều kỳ diệu sẽ nảy nở từ những “nghịch lý”, kể cả những chuyện “ngỗ ngược” trong quá trình được vượt qua để thực hiện sự phát triển.        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo nhà lãnh đạo là hướng đầu tư ‘sinh lãi’ nhất !      Người ta thường biết đến Nguyễn Cảnh Bình như một nhà biên soạn sách có uy tín, đồng thời cũng là một doanh nhân thành đạt trong ngành xuất bản sách. Nhưng ít ai ngờ, giám đốc công ty sách Alpha còn “dấn thân” vào một lĩnh vực vô cùng mới mẻ: đào tạo.  “Tôi đã tìm mọi cách hiện thực hóa ý tưởng của mình bằng hai chương trình được tiến hành song song tại Nhật Bản và Việt Nam: IATSS Forum và ABG”, Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ với Tia Sáng.      Nguyễn Cảnh Bình. Ảnh: Sài Gòn giải phóng  Từ khi nào anh nhận thấy, lĩnh vực đào tạo con người, cụ thể là nhà lãnh đạo, cũng quan trọng và thôi thúc mình “dấn bước” không kém sứ mệnh phổ biến tri thức?   Thực ra đối với tôi, cả hai lĩnh vực truyền bá tri thức và đào tạo con người luôn đặc biệt quan trọng, đều thôi thúc tôi “dấn bước”. Không phải gần đây, tôi  mới nghĩ đến việc đào tạo nhà lãnh đạo mà ý tưởng ấy đã “nảy mầm” ngay từ khi tôi là sinh viên của Đại học Bách khoa Hà Nội.  Có nhiều ví dụ cho thấy, người lãnh đạo là nhân tố quyết định sự thịnh, suy của một doanh nghiệp, một nền kinh tế, một thể chế, một đất nước. Rõ ràng là ở Việt Nam, Viettel không thể lớn mạnh nếu thiếu Nguyễn Mạnh Hùng, VinGroup không thể “thăng hạng” nếu thiếu Phạm Nhật Vượng. Nhìn ra thế giới, không có Bill Gates, Microsoft có thể “bành trướng” như ngày hôm nay? Không có Steve Jobs, Apple có thể “phủ sóng” toàn cầu? Đó là ở góc độ một công ty, còn đối với một quốc gia thì sao?Singapore có phát triển thần kỳ đến vậy nếu người đứng đầu không phải là Lý Quang Diệu? Hàn Quốc nếu thiếu Tổng thống Park Chung Hee liệu có thể “hóa rồng”? Sự hùng mạnh và sức ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên toàn thế giới phải chăng bắt nguồn từ sự kế thừa liền mạch của rất nhiều “đời” Tổng thống tài ba như: Washington, Bill Clinton, Obama…?     Anh đã “hành động” bằng cách đưa các thanh niên ưu tú của Việt Nam sangNhật tham gia IATSS Forum –  học bổng Lãnh đạo trẻ. Vì sao lại là Nhật chứ không phải một cường quốc khác, như Mỹ chẳng hạn – quốc gia theo tôi biết có nhiều khía cạnh khiến anh ngưỡng mộ và luôn muốn học hỏi?    Trong quá trình tìm kiếm một chương trình đào tạo phù hợp với Việt Nam, tôi may mắn được tiếp cận với IATSS Forum và nhận thấy, học bổng này đã tác động tích cực đến việc đào tạo nhà lãnh đạo cho các quốc gia Đông Nam Á. IATSS ra đời 35 năm trước, từ cuộc trao đổi tại một hội nghị cấp cao giữa Thủ tướng Malaysia -Mahathir Mohamed và người sáng lập tập đoàn Honda của Nhật – Soichiro Honda. Thủ tướng Malaysia đã chia sẻ với ngài Soichiro Honda: “Các quốc gia Đông Nam Á mong muốn đi theo con đường hiện đại hóa như Nhật Bản. Liệu Nhật, với vai trò là quốc gia hùng mạnh nhất châu Á, có thể phát huy trách nhiệm ‘đầu tàu’, dẫn dắt, hỗ trợ các nước Đông Nam Á cùng phát triển không?”. Soichiro Honda chấp nhận lời đề nghị đó và hai năm sau, năm 1985, IATSS Forum chính thức hoạt động với toàn bộ chi phí vận hành do phía Honda tài trợ. Theo đó, hằng năm, các quốc gia Đông Nam Á lựa chọn những học viên có tiềm năng lãnh đạo trong độ tuổi dưới 35, đưa sang Nhật học trong 55 ngày. Họ được đi thực tế tại các doanh nghiệp, cơ quan, tập đoàn; được học về văn hóa Nhật và đặc biệt, học kỹ năng lãnh đạo. Theo tôi biết, sau khi tốt nghiệp, học viên các khóa vẫn giữ liên lạc và hỗ trợ nhau khá hiệu quả. Rất nhiều người trong số họ đã đảm nhận những vị trí quan trọng tại nước mình.  Trước khi anh trở thành Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký IASST Forum tại Việt Nam, đã có 50 người Việt Nam tham gia chương trình tại Nhật, nhưng hiệu quả chưa được như mong đợi. Xin hỏi, anh đã đem đến sự khác biệt tích cực nào cho chương trình?  Tôi tự hào là mình đã góp phần “cải thiện” cả chất lượng lẫn số lượng ứng viên.Việc đầu tiên tôi làm là tìm mọi cách quảng bá, lan truyền, phổ biến về học bổng bằng tất cả các kênh có thể tận dụng, đặc biệt là mạng xã hội như facebook, fanpage chính thức của chương trình và các báo mạng…Ngoài ra, tôi liên hệ với Trung ương Đoàn; gửi công văn đến 63 tỉnh, thành trong cả nước, từ UBND, Tỉnh đoàn đến Hiệp hội Doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn, Bí thư Đoàn, Chủ tịch Hội sinh viên các trường đại học. Và trong từng câu, từng chữ, tôi cố gắng truyền tải một thông điệp mạnh mẽ nhất có thể về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của chương trình. Kết quả: Số lượng hồ sơ tăng vọt. Cụ thể: Trước đây, mỗi năm, ban tuyển chọn chỉ nhận được khoảng 15 đến 30 hồ sơ, chủ yếu đến từ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Sau khi tôi tiếp quản, năm 2015, có 55 hồ sơ. Năm 2016 có 145 hồ sơ, hơn gấp đôi so với năm ngoái và gấp 10 lần trong năm năm trở lại đây.  Số lượng hồ sơ tăng thì tất nhiên, chất lượng ứng viên cũng tăng. Những năm trước, học viên Việt Nam sang Nhật chủ yếu là các chuyên viên, nhà nghiên cứu làm việc tại các viện nghiên cứu của nhà nước. Còn hiện tại, đã có các ứng viên đến từ Sở Nội vụ, Sở Ngoại vụ các tỉnh; có các cán bộ tỉnh, bí thư đơn vị; một số bạn làm ở các tổ chức phi chính phủ; nhiều cá nhân đến từ các doanh nghiệp lớn như Toyota, Becamex Bình Dương, Castrol… Về kết quả học tập, lượt học viên đầu tiên chúng tôi gửi sang Nhật đạt thành tích xuất sắc, được đánh giá nằm trong top đầu. Tới đây, tôi sẽ đề nghị phía Nhật tăng số học viên cho Việt Nam cũng như triển khai một số hoạt động tại nước ta. Chẳng hạn, tôi đang rất mong một ngày không xa, Việt Nam đăng cai một diễn đàn đối thoại giữa các nhà lãnh đạo trẻ của Đông Nam Á.  Mỗi khóa đào tạo chỉ có bốn ứng viên Việt Nam được chọn sang Nhật trong khi số lượng hồ sơ gửi về ngày một tăng. Nếu gặp phải trường hợp các ứng viên đều “một chín, một mười”, anh sẽ dựa vào điểm nào để tìm ra người thực sự có tiềm năng lãnh đạo?   Tôi phải nói rõ, tôi không có toàn quyền lựa chọn bốn ứng viên cuối cùng. Ở vòng loại, sau khi nhận được hồ sơ, tôi sẽ mời một số nhà lãnh đạo, các doanh nhân… cùng tôi lựa chọn từ 20 đến 30 hồ sơ gửi sang Nhật. Phía bạn tiếp tục đánh giá hồ sơ. Sau đấy, một đoàn chuyên gia Nhật Bản sẽ đến Việt Nam, tiến hành phỏng vấn từng ứng viên một cách rất cẩn trọng để chọn ra bốn học viên xuất sắc nhất.  Còn nếu nói đến tiêu chí của riêng tôi, tôi luôn ưu tiên những người đã có đóng góp cho xã hội và bộc lộ khả năng lãnh đạo, có thể là thủ lĩnh của một nhóm bạn trẻ (nhỏ thôi) trong trường đại học, là người đứng đầu một nhóm sinh viên trong các hoạt động văn hóa, thể thao, thiện nguyện…  Ngoài IATSS Forum, anh còn sáng lập và điều hành ABG–một chương trình có ý nghĩa tương tự. Mục đích của ABG là gì?  Với tôi, một nhà lãnh đạo tài năng, bên cạnh vốn kiến thức về tài chính, nhân sự, marketing còn phải am hiểu về cội nguồn, truyền thống, kho tàng văn hóa phi vật thể của đất nước. IATSS không làm được điều này; và bởi thế, ABG ra đời.  Để xây dựng ABG, tôi đã tham khảo cách thức đào tạo nhà lãnh đạo của rất nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Mỹ… Trong một chuyến công tác tại Nhật Bản, tình cờ tôi biết về một ngôi trường đào tạo lãnh đạo do người đứng đầu tập đoàn Panasonic – Matsushita Konosuke sáng lập vào năm 1979. Matsushita là người cực kỳ sáng suốt và có tầm nhìn xa. Ngay trong lúc Nhật Bản đang trên đỉnh cao, ông đã nói: “Tôi thấy một ngày không xa, nước Nhật lâm nguy, rơi vào một cuộc khủng hoảng tồi tệ”. Ông tự thấy mình phải có trách nhiệm đào tạo những nhân tài có đủ năng lực đưa nước Nhật vượt qua giai đoạn “đen tối”.  Học viện Matsushita có quy trình đào tạo vô cùng khắt khe. Mỗi khóa học kéo dài bốn năm với 10 đến 12 học viên đã tốt nghiệp các đại học hàng đầu Nhật Bản và phải trải qua nhiều vòng xét tuyển gắt gao về thể lực, bản lĩnh, tầm nhìn. Sau khi trúng tuyển, mỗi học viên có một buổi gặp riêng hiệu trưởng để chia sẻ về lĩnh vực muốn theo đuổi cũng như chiến lược hành động của mình. Thầy hiệu trưởng, bằng kinh nghiệm sâu sắc và vốn kiến thức uyên thâm, sẽ cùng học viên xây dựng một kế hoạch học tập phù hợp nhất. Tức là, mỗi người có một chương trình học tập riêng. Ai chuyên về nông nghiệp sẽ đi thực tế tại các trang trại lớn, được cử vào thực tập tại Bộ Nông nghiệp, được tham dự các hội thảo chuyên ngành. Ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính sẽ có  cơ hội gặp gỡ, thảo luận với các chuyên gia hàng đầu, thậm chí cả thứ trưởng Bộ Tài chính. Tại Matsushita, tất cả học viên đều phải tự học, tự thực hành, tự tích lũy kinh nghiệm dưới sự tham vấn của thầy hiệu trưởng. Tất cả học viên đều có cơ hội trực tiếp trao đổi với các nhà hoạch định chính sách của đất nước. Trên bàn thảo luận, họ được đối xử như những nhà lãnh đạo thực sự và được khuyến khích chất vấn các khách mời đặc biệt, bao gồm: thứ trưởng, thị trưởng, chủ tịch các tập đoàn…  Ngoài kiến thức chuyên ngành, học viên còn phải hiểu rõ lịch sử, văn hóa Nhật Bản và phải chăm chỉ rèn luyện thể lực. Hai năm học đầu, họ tham gia những khóa huấn luyện trong quân đội. Còn tại Học viện, mỗi sáng, họ luôn tự giác dậy sớm chạy bộ, cào tuyết, dọn vệ sinh. Họ cũng được học kiếm đạo và trà đạo giúp tôi luyện ý chí, sức mạnh, bản lĩnh, rèn giũa lòng kiên nhẫn và sự trân trọng truyền thống dân tộc. Đến nay, trong số các học viên đã tốt nghiệp học viện Matsushita, có một người trở thành Thủ tướng Nhật Bản, 70 người là nghị sĩ Quốc hội, 10 người là Bộ trưởng các Bộ. Ngoài ra, có 100 người là CEO các tập đoàn lớn, nhiều người khác là lãnh đạo các địa phương. Không ít học viên lại chọn con đường nghệ thuật, trở thành các nghệ sĩ nổi tiếng.  Sau chuyến thăm quan học viện Matsushita, tôi quyết tâm xây dựng ABG tại Việt Nam.  Có thể thấy, tuy hình thành từ ý tưởng của một cá nhân nhưng học viện Matsushita có tiềm lực rất lớn và nhận được sự hậu thuẫn của Chính phủ Nhật Bản, còn  với ABG ra đời từ sự “tự thân vận động” của Nguyễn Cảnh Bình. Anh đã phải có những điều chỉnh gì khi áp dụng mô hình đào tạo này vào Việt Nam?  Tất nhiên, chúng tôi không đủ sức tạo dựng một học viện như Matsushita ở Việt Nam. Chúng tôi chỉ có thể học tập cách thức tổ chức và phương pháp đào tạo của Matsushita để xây dựng một chương trình phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Năm 2014, ABG tuyển sinh khóa một với 20 học viên ở độ tuổi từ 20 đến 25. Khi xét tuyển, chúng tôi không coi trọng bảng điểm mà quan tâm hơn đến kiến thức xã hội của ứng viên, đặc biệt là ý chí và kế hoạch hành động trong tương lai, sau khóa học 12 tháng, đã có 14 học viên tốt nghiệp.  Về chương trình đào tạo, tôi cố gắng áp dụng nguyên vẹn phương pháp của Matsushita. Chúng tôi có một thư viện với hàng ngàn đầu sách để học viên tự tra cứu, đọc, phân tích, tổng hợp và tích lũy kiến thức. Chúng tôi cũng thường xuyên cử học viên tham gia các hội thảo lớn và mời các chuyên gia hàng đầu đến nói chuyện, khuyến khích các bạn tranh luận cùng diễn giả. Tôi nhận thấy, học viên của ABG hết sức thích thú khi có cơ hội đàm đạo cùng những nhân vật nổi tiếng thuộc nhiều lĩnh vực, thậm chí, được nghe họ chia sẻ về những “góc khuất”, những khó khăn, trục trặc trong sự nghiệp. Những câu chuyện thực tế đó giúp các bạn trẻ trưởng thành lên rất nhiều. Học viên cũng rất phấn khích khi được đi thực tế. Các bạn đạp xe đến làng cổ Đường Lâm, tự liên hệ ăn ở nhà người dân dưới sự cho phép của chính quyền địa phương trong khoản kinh phí 50.000đ/ngày. Học viên tự chia ra các nhóm như: văn hóa-lịch sử, giáo dục và kinh và tự tiến hành công tác điều tra, khảo sát. Tôi muốn các bạn hiểu được cuộc sống vất vả của người nông dân, thậm chí nhận thấy mặt trái của nhiều vấn đề đang diễn ra tại nông thôn Việt Nam.  Tôi cũng cho học viên vào thăm quan nhà Quốc hội, đến các khách sạn năm sao, học cách thắt nơ, cách uống rượu, học cách cầm thìa, dĩa, … và thậm chí phải học cả cách viết sổ lưu niệm.  Bởi tôi cho rằng, luyện rèn phong thái của một nhà lãnh đạo là điều vô cùng quan trọng. Nếu không nắm rõ những nghi lễ ngoại giao, rất dễ lúng túng rồi mất tự tin. Như tôi, dùcó thể thoải mái thảo luận công việc với các đối tác nước ngoài; nhưng lần đầu tiên bước vào phòng khánh tiết, tôi đã bị bỡ ngỡ trước những nghi lễ ngoại giao trang trọng, vì có ai dạy mình đâu. Tôi muốn học viên của mình không chỉ am hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam mà còn phải có sự hiểu biết nhất định về lịch sử và các nền văn minh lớn của thế giới. Trong những cuộc gặp ngoại giao, nếu không thể hiện được tầm vóc văn hóa và phông kiến thức sâu rộng của mình thì sẽ khó người khác vị nể.  Do phương pháp đào tạo, đa số sinh viên Việt Nam có thói quen học thụ động và “dựa dẫm” vào thầy. Các học viên của ABG có mắc phải nhược điểm này?Và điều khiến tôi tò mò hơn cả, anh có hài lòng với kết quả học tập của khóa một?  Nhìn nhận một cách khách quan, mỗi một học viên của ABG đã thay đổi rất nhiều theo hướng tích cực so với chính mình ở “đầu vào”. Nhưng, vẫn có quá nhiều điểm khiến tôi không hài lòng. Thứ nhất, học viên chưa đủ nỗ lực và tính kỷ luật.Ví dụ, tôi yêu cầu các bạn phải đọc sách, không phải là đọc “chơi” mà phải viết cảm nhận, tự rút ra ý nghĩa của cuốn sách. Chỉ vài người hoàn thành nhiệm vụ. Không phải ai cũng nhận ra tầm quan trọng của diễn thuyết, hùng biện hay dẫn dắt tranh luận mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng cần phải có.  Thứ hai, về sức khỏe, các em chưa đáp ứng được tiêu chuẩn tôi đề ra. Chạy bộ một vòng hồ Tây (khoảng 15km): nam chạy trong 90 phút, nữ 120 phút. Chỉ tạm ổn! Tôi quan niệm, sức khỏe và tri thức như đôi chân của một con người. Chân nào yếu cũng khiến ta mất thăng bằng. Một nhà lãnh đạo còn phải làm việc 24/24 giờ trong áp lực. Không có sức khỏe không thể tập trung và giữ được trí óc minh mẫn.  Thứ ba, tôi chưa hài lòng về kết cấu nội dung học tập và trải nghiệm thực tiễn của chương trình nên muốn có sự thay đổi.  Thứ tư, tôi chưa hài lòng về chính mình.Tôi chưa dành đủ thời gian và sự quan tâm sát sao đến các học viên.  Tóm lại, rất nhiều điều tôi muốn làm trong khóa một mà chưa làm được và sẽ tìm cách cải thiện ở khóa hai, vừa khai giảng ngày 14-8 với 39 học viên. Thực ra, những khóa đầu tiên, chúng tôi vẫn đang ở bước thử nghiệm. Qua quá trình trải nghiệm này, chúng tôi mới có thể tìm ra một mô hình đúng đắn cho ABG.  Với các học viên đã tốt nghiệp khóa một ABG và cả các khóa sau này, anh có kế hoạch hỗ trợ, thúc đẩy họ tiến bước hay để các bạn trẻ “tự bơi”, tự tìm đường “vượt vũ môn”?  Đào tạo một nhà lãnh đạo cần một quá trình dài chứ không phải một khóa học là xong. Tại ABG, chúng tôi chỉ có thể trang bị cho các bạn những kỹ năng mà mỗi nhà lãnh đạo bắt buộc phải có, cũng như chỉ có thể đánh thức tiềm năng lãnh đạo trong các bạn. Tuy nhiên, tôi có kế hoạch hỗ trợ cựu học viên và tạo nên một cộng đồng các nhà lãnh đạo tiềm năng. Cứ mỗi quý, tôi sẽ tổ chức một buổi gặp mặt, để xem các bạn đang làm gì, thiếu những nguồn lực gì, cần giúp đỡ những gì? Mỗi năm, tôi muốn tổ chức một đại hội. Học viên của tất cả các khóa sẽ gặp gỡ, trao đổi, tìm cách hỗ trợ nhau phát triển. Đây là cách người Nhật vẫn thực hiện. Những chương trình đại hội kiểu này kéo dài cả ngày, ngoài cựu học viên còn có các doanh nhân và các nhà lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo cũng hào hứng không kém các cựu học viên, bởi là người dẫn đầu, họ luôn cần một đội ngũ đi theo mình, luôn muốn tìm kiếm những nhân tài cho các dự án mới, các ý tưởng mới. Tôi rất hi vọng, một mạng lưới cộng sự sẽ được hình thành từ các cuộc gặp mặt cựu học viên của ABG. Thay cho card visit, các bạn sẽ trao đổi cho nhau những bản tóm lược sở trường cá nhân, những kế hoạch đang triển khai, những trục trặc trong công việc, những ý tưởng cho tương lai… và tất cả sẽ được tập hợp thành kỷ yếu. Với tôi, đó mới là kỷ yếu đúng nghĩa. Dựa vào đây, các doanh nhân và các học viên sẽ kết nối với nhau, tạo nên các nhóm cộng sự.  Ngoài ra, tôi đã đề nghị học viện Matsushita tiếp nhận học viên Việt Nam. Phía bạn đã đồng ý nhưng với hai điệu kiện: i) Học viên Việt Nam chỉ được học tại Matsushita trong sáu tháng. ii) Họ phải được ngài Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản tiến cử. Cả hai điều kiện này, tôi nghĩ, mình đều có thể đáp ứng. Một ngày không xa, nhất định, tôi sẽ đưa các học viên ABG đến Matsushita!  Xin cảm ơn anh!   Hương Lan(thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đập trên các nhánh gây thiệt hại về nguồn cá nhiều hơn      Các đập trên các nhánh của sông Mekong gây thiệt hại nguồn cá cao hơn so với đập trên sông chính.     Những đập ở các nhánh sông Mekong gây ảnh  hưởng tiêu cực lớn hơn tới đa dạng nguồn cá và an ninh lương thực hơn là  những đập trên sông chính, theo báo cáo mới đây của các nhà nghiên cứu.    Việc phát triển thủy điện trên các nhánh sông Mekong lâu nay ít bị để ý hơn là trên sông chính. “Đa số sự chú ý tập trung vào các dự án đập trên dòng chính của sông Mekong, ví dụ như đập Xayaburi của Lào”, nhận xét từ Guy Ziv, một nhà khoa học môi trường từ Đại học Stanford, California. “Nhưng tác động từ những đập trên nhánh sông thì chưa được nghiên cứu nhiều”.  Kết quả nghiên cứu được công bố hôm 05/03 trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences1, “cho thấy tính cấp thiết của việc xem lại sự phát triển thủy điện trên toàn bộ Lưu vực sông Mekong”, nhận định từ Ame Trandem, giám đốc chương trình Đông Nam Á  của tổ chức môi trường International Rivers tại Bangkok.  Với một lưu vực sông rộng 800 nghìn km vuông, Lưu vực sông Mekong là nguồn cá đất liền lớn nhất trên thế giới, và là nơi sinh sống của 65 triệu người từ 6 quốc gia: Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam, và Cambodia. “Đa số cư dân là người nghèo, 81% nguồn protein trong dinh dưỡng của họ là từ cá sông”, Ziv cho biết.  Địa hình dốc khiến sông Mekong trở thành nơi thuận lợi cho phát triển thủy điện. Do nhu cầu điện và phát triển kinh tế gia tăng, 11 đập đang được xây dựng trên sông chính, và 41 đập trên các sông nhánh, dự kiến hoàn thành trong vòng 4 năm tới. Khoảng 10-37 đập khác nhiều khả năng sẽ được xây dựng từ 2015 tới 2030.  Sử dụng một mô hình mô phỏng dòng di cư của cá, Ziv và các cộng sự đã nghiên cứu thấy rằng nếu tất cả các đập được xây dựng, chúng sẽ làm năng suất đánh bắt cá giảm 51%, và gây nguy hiểm cho 100 loài cá di cư.  Tiếp theo, nhóm nghiên cứu tập trung vào 27 đập trên các sông nhánh hiện vẫn chưa chắc chắn có được xây hay không. Nhóm nghiên cứu đã bị bất ngờ, theo Ziv cho biết, khi nhận ra rằng thiệt hại về đa dạng nguồn cá và năng suất đánh bắt trên các đập ở sông nhánh là cao hơn so với các đập trên sông chính của sông Mekong.          Nhóm nghiên cứu đã bị bất ngờ, theo Ziv cho  biết, khi nhận ra rằng thiệt hại về đa dạng nguồn cá và năng suất đánh  bắt trên các đập ở sông nhánh là cao hơn so với các đập trên sông chính  của sông Mekong.        “Từng đập riêng lẻ có thể không gây ảnh hưởng lớn”, Ziv nói. “Nhưng nếu tính tác động của tổng cộng 27 đập thì thiệt hại là rất lớn”. Điều này không chỉ do diện tích lưu vực dành cho cá di cư bị hẹp lại, mà vì một số nơi dành cho thủy điện trùng với những tuyến di trọng yếu của các loài cá”, ông nói.   Một khu vực rất quan trọng, như nghiên cứu cho thấy, là hệ thống sông 3S ở Đông Bắc Cambodia, Nam Lào, và miền trung Việt Nam, chiếm đa phần bởi ba nhánh sông Mekong chủ đạo là Sê San, Sê Kông, và Sre Pok. Đập ở các khu vực này gây ảnh hưởng xấu nhất tới hoạt động di cư của cá. Ví dụ đập Hạ Sê San 2 ở Cambodia sẽ làm giảm 9,3% khối lượng cá trên toàn lưu vực. “Thiệt hại sẽ ghê gớm”, Ziv nhận định.   “Mỗi vị trí đập có một con số riêng cho mức đánh đổi giữa lượng năng lượng sản xuất ra so với thiệt hại về đa dạng nguồn cá và năng suất đánh bắt cá”, Ziv cho biết. “Thủy điện Hạ Sê San 2 là nơi gây ra thiệt hại cao nhất về môi trường trên mối đơn vị năng lượng sản xuất được”.  Nhóm nghiên cứu đã xây dựng một ma trận đơn giản giúp các nhà hoạch định quyết định đập thủy điện nào có thể xây được, căn cứ trên xếp hạng mức độ thiệt hại về nguồn cá trên mỗi đơn vị năng lượng thủy điện được tạo ra.   “Chúng ta nên hết sức tránh xây những đập gây ra hậu quả lớn nhất”, Ziv nói.   Ziv cho rằng nghiên cứu mới chỉ là “điểm khởi đầu”, và cần phải tính thêm các ảnh hưởng tiềm tàng khác như tác động tới trầm tích, nông nghiệp, tái định cư người dân và các cộng đồng, để có thể phân tích đánh giá một cách toàn diện.  Theo thỏa thuận năm 1995 của Ủy ban Sông Mekong (MRC), một cơ quan quốc tế có trách nhiệm phát triển bền vững dòng sông, trong đó mỗi nước thành viên được yêu cầu tham vấn các nước khác đối với mỗi dự án phát triển quan trọng trên sông Mekong. Tuy nhiên, yêu cầu này chưa được quy định đối với các dự án trên các sông nhánh.   Đã có nhiều lời kêu gọi thay đổi chính sách này. “Đây thực sự là lúc MRC cần xem xét toàn diện trên toàn bộ lưu vực để đánh giá hậu quả từ các đập trong khu vực”, Trandrem khẳng định.        Mekong là một dòng sông quốc tế và những  thay đổi trên dòng chảy sẽ có ảnh hưởng lớn đến các nước dọc hai bờ  sông. Cho đến nay, người ta đã nghiên cứu nhiều về tác động của việc xây  dựng các đập thuỷ điện trên dòng chính như thay đổi lưu lượng, thay đổi  nơi sinh sống và luồng di cư của các loài cá, sự tuyệt chủng của nhiều  loại sinh vật, giảm phù sa và chất dinh dưỡng đến hạ lưu, thay đổi nhiệt  độ và chất lượng nước v.v. Các thảo luận đang được tiến hành trong Uỷ ban sông Mekong (MRC) trên tinh thần của Công ước Liên Hiệp Quốc năm  1997, sau khi dự án xây đập Xayaburi gặp nhiều phản đối. Trong bối cảnh  đó, nghiên cứu mới của Guy Ziv càng khiến chúng ta phải suy nghĩ về  những tác động của con người đối với dòng sông, cùng những vấn đề nan  giải trong quản lý và chính sách tại các quốc gia liên quan.   Nghiên cứu mới của Guy Ziv cho thấy nếu xây  thêm 27 đập trên các phụ lưu của sông Mekong thì sẽ gây ra những thiệt  hại rất lớn về đa dạng sinh học trên toàn bộ lưu vực sông Mekong và làm  giảm nghiêm trọng sản lượng cá đánh bắt ở Campuchia và Việt Nam. Nếu các  nghiên cứu tiếp theo khẳng định kết quả bước đầu này, và đánh giá tương  đối chính xác được cái lợi (tăng năng lượng điện) và cái hại (giảm sản  lượng cá) quy ra bằng tiền, thì chúng ta thấy rằng cần phải có những  chính sách và biện pháp sau:   –    Việc xây dựng đập trên các phụ lưu tuy  nằm trong các lãnh thổ quốc gia nhưng phải là đối tượng của các cuộc  tham khảo như đối với các đập trên dòng chính, thông báo đơn giản đến  các nước chưa đáp ứng được yêu cầu.   –    Có sự đền bù từ nguồn lợi bán điện năng cho tất cả các nước chịu thiệt hại.   –    Có một quy tắc ứng xử chung và một  triết lý phát triển kinh tế và năng lượng lấy tính bền vững và tôn trọng  môi trường làm kim chỉ nam.    Những nước liên quan tới các phụ  lưu của sông Mekong đều là thành viên của ASEAN nên việc đạt được một sự  đồng thuận trên một cơ sở hợp tình hợp lý là có thể khả thi.        TS dịch theo  http://www.nature.com/news/a-damming-assessment-of-mekong-development-1.10166  —  1. Ziv, G., Baran, E., Nam, S., Rodriguez-Iturbe, I. & Levin, S. A. Proc. Natl Acad. Sci. USA. http://www.pnas.org/cgi/doi/10.1073/pnas.1201423109 (2012).  Chú thích ảnh:       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đập vỡ trần định kiến      ​​Bất bình đẳng giới luôn được hiểu là khoảng cách về trình độ và vị thế giữa phụ nữ và đàn ông. Thế nhưng các nghiên cứu quốc tế lại cho rằng sự tự tin mới là thứ phụ nữ thiếu và chính nó khiến họ thua thiệt so với đàn ông.      Sheryl Sandberg trong quyển sách của mình, khuyên phụ nữ hãy “Lean In” – Dấn thân, hãy tỏ ra tự tin hơn, dám đảm nhiệm những nhiệm vụ mình mơ ước. Nhưng quan điểm này cũng bị chỉ trích, vì rất nhiều khi, điều đó không thể thực hiện được. Nguồn: USAToday  Hàng chục nghiên cứu toàn cầu về phụ nữ và nữ quyền đã chỉ ra rằng các tập đoàn hàng đầu thế giới luôn vượt mặt đối thủ cạnh tranh nhờ tuyển dụng thành công các vị trí lãnh đạo và nhân viên nữ. Chúng ta có kiến thức, kỹ năng vượt bậc ở mọi khía cạnh để hoàn thành công việc ở mức xuất sắc. Thế nhưng chúng ta vẫn lẹt đẹt ở hàng dưới trong danh sách các lãnh đạo cấp cao, năm thì mười họa mới có mặt ở top dẫn đầu. Con số tổng hợp cụ thể thì hiếm khi ở tình trạng tăng đều. Nhân viên nữ mới vào nghề thì vẫn khó có thể thoát khỏi cảnh pha trà mở cửa đón khách. Nửa thế kỉ trôi qua, con đường sự nghiệp của phụ nữ vẫn rất khác so với đàn ông? Tại sao vậy?   Phụ nữ tự ti như thế nào?  ​Phương là một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tại một trường đại học có tiếng ở châu Âu. Cô luôn đạt điểm giỏi trong suốt thời gian học và luận văn tốt nghiệp của cô luôn nằm trên giá sách của vị giáo sư hàng đầu về quản trị kinh doanh. Bất kể khi nào có khách ghé thăm từ Việt Nam ông cũng tự hào giới thiệu về cô và đề tài tốt nghiệp của cô. Thế nhưng khi có cơ hội thực tập và làm việc tại một tập đoàn toàn cầu rất lớn ở Bỉ, cô đã rất khổ sở đắn đo và rồi quyết định trở về Việt Nam, thay vì tiếp nhận công việc trong mơ. Lý do căn bản là sau một biến cố về gia đình, cô không tự tin mình có thể vừa thành công trong công việc vừa làm một người mẹ tốt. Cô trở về nhà để tiện nhờ ông bà chăm sóc con. Công việc đầu tiên cô có được ở Việt Nam cũng lại qua vị giáo sư nọ giới thiệu và bảo lãnh uy tín. Cho đến bây giờ sau hơn 5 năm trở về, cô vẫn vật vã với khả năng cân bằng cuộc sống riêng và công việc.​      Đàn ông luôn đánh giá quá cao kiến thức và khả năng của họ, trong khi đó phụ nữ lại đánh giá thấp chính mình ở cả hai khía cạnh. Trong thực tế năng lực và hiệu quả làm việc của cả nam và nữ không quá khác nhau, cả về lượng lẫn về chất.      Thanh vốn là một cán bộ nhà nước trẻ và năng động. Cô ham học học và thích tìm tòi nghiên cứu. Tuy nhiên cô không bao giờ nghĩ mình có khả năng hoặc có cơ hội theo học tại một trường đại học danh tiếng ở nước ngoài. Sau vài tháng sang Hoa Kỳ chủ yếu nấu cơm rửa bát để chồng chuyên tâm học tập, cô mới nghe theo lời bạn bè nộp đơn vào vài trường để tránh “nhàn cư vi bất thiện”. Suốt quá trình hoàn thiện hồ sơ, cứ có bất kỳ khó khăn nào như hệ thống máy tính lỗi khiến kết quả thi tiếng Anh biến mất, vợ chồng hết tiền cho cô đi lại ăn ở tại bang khác để hoàn thiện kết quả thi bị mất, v.v. cô lại chùn bước và nghĩ rằng mình không có “số” vào được một trường Ivyleague (hệ thống 8 trường đại học danh giá hàng đầu nước Mỹ). Cũng may nhờ người chồng kiên trì thuyết phục, cô đã hoàn thành hồ sơ xin dự tuyển. Nhưng sự kiện quan trọng nhất khiến cô vượt qua sự tự ti của chính mình lại là cuộc phỏng vấn nhớ đời với một vị giáo sư hàng đầu về kinh tế phát triển. Khi nghe cô trình bày về những thành tựu cá nhân ít ỏi, nhạt nhòa trong thời gian làm việc trong cơ quan nhà nước của mình, ông đã kết luận một cách lạnh lùng: “Tôi thấy chị chẳng làm được cái việc gì ra hồn ở đó cả”. Đúng ra với tính cách của mình, cô đã xin phép ra về và chấp nhận thất bại, nhưng câu nói của ông lại khiến sự tự tôn dân tộc, hoặc cá nhân, trỗi dậy, cô quay lại và phản biện quyết liệt về những điều mình trăn trở nhưng chưa tìm ra lời giải, và rằng đây chính là lý do cô muốn được đi học để tự trả lời những câu hỏi đó. Kết quả cô đã được nhận vào học và được hỗ trợ một phần học phí. Trong lần chia sẻ với chúng tôi, cô vẫn khẳng định sự tự tin quyết định rất nhiều vào sự thành bại trong sự nghiệp của phụ nữ. ​  Nhân vật thứ ba là Lan, một nguời phụ nữ trung niên cực kỳ thành đạt. Chị là gương mặt tiêu biểu trên truyền hình quốc gia và là “bông hồng vàng lõi thép” với những câu chuyện kinh doanh thành công và quyết liệt trên thương trường. Thế nhưng, rất thật lòng, chị tâm sự phụ nữ lãnh đạo vẫn là một cách gọi màu mè, nghèo về chất. Để có được sự thành công như ngày hôm nay, chị phải đánh đổi quá nhiều thứ, bao gồm cả cách nhìn nhận của gia đình và xã hội. Cùng làm chung một công ty, nhưng là vợ chị phải về trước chồng để lo cơm nước con cái. Cùng một vị trí quản lý, nhưng chị không thể trực diện đấu tranh mà phải ép mình để dùng “quyền lực mềm” mới mong giành phần thắng trước đồng nghiệp nam. Trải qua nhiều thất bại mới lên được hàng ngũ lãnh đạo, chị cũng không thấy bận lòng khi thấy một phụ nữ lãnh đạo khác khoe trên Facebook cảnh đang rửa chân cho chồng. Chị bảo đàn ông ở xã hội này sinh ra là để ăn mâm trên rồi. Nếu muốn bình đẳng hoàn toàn thì đàn bà phải chấp nhận không chồng, con không có bố hoặc tự biến mình thành đàn ông để đối trọi với đàn ông trong công việc. Về sự tự tin, chị không cho rằng mình hoàn toàn làm chủ nó. Khi tuổi lớn dần lên với những nỗi lo toan về gia đình, những cuộc chiến trong sự nghiệp, chị còn thấy mình có kỹ năng mới: kỹ năng “giả vờ” tự tin. Khi nào có thời gian là chị lại up những bức ảnh quyền lực, hoành tráng của mình trên mạng xã hội, càng nhiều người thích chị càng thấy sảng khoái. Nhưng trong đời thực, chị thấy mình có thể nổi nóng bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, với bạn bè hay với gia đình. Nếu ai có ý kiến nào khác biệt, ngu ngốc hoặc có ý châm chọc, chị có thể biến thành một người hoàn toàn khác, hung dữ, cay nghiệt, tìm mọi cách để bảo vệ cái tôi và luận điểm của mình. Sở dĩ chị nói được ra điều này vì gần đây một người bạn thân thiết đã dám nói với chị sự thật mà không ai muốn nói, và chính chị không muốn nghe. Đó là nếu ta không thực sự tự tin từ thẳm sâu bên trong, sự tự tin bên ngoài chỉ là cái vỏ bọc mà có khéo léo che đậy đến đâu, có lúc nó sẽ lộ ra.     Clara Shih, sáng lập Hearsay Social, một trong những người phụ nữ quyền lực nhất trong giới công nghệ Mỹ nhưng vẫn tự ti về khả năng của mình. Ảnh: Fortune.​  Câu chuyện với ba người phụ nữ của chúng tôi không mới. Ai cũng có thể cho rằng những khác biệt căn bản giữa đàn ông và đàn bà như thiên chức làm mẹ, sự yếu đuối cảm tính vốn có của nữ giới, định kiến của xã hội, khoảng cách văn hóa, v.v. là những lý do giải thích sự thất bại thường xuyên trên con đường phá tan tấm kính bất bình đẳng muôn thủơ của phụ nữ. Nhưng nghiên cứu của Đại học Cornell Hoa Kỳ lại chỉ ra rằng những lý do này không sai, nhưng chúng thiếu một “điểm đen”, một “thế lực” kỳ lạ đang kìm hãm sự phát triển không chỉ một, mà rất nhiều phụ nữ, không chỉ ở các nền kinh tế kém phát triển như Việt Nam, Trung Quốc, mà còn ở những quốc gia hùng mạnh như Anh, Mỹ. Đó chính là sự tự tin.  ​Tại sao phụ nữ lại không tự tin bằng đàn ông?  ​Trong nghiên cứu này, các chuyên gia cho rằng đàn ông luôn đánh giá quá cao kiến thức và khả năng của họ, trong khi đó phụ nữ lại đánh giá thấp chính mình ở cả hai khía cạnh. Trong thực tế năng lực và hiệu quả làm việc của cả nam và nữ không quá khác nhau, cả về lượng lẫn về chất.   ​​Nhiều phụ nữ Mỹ tài năng và thành đạt cho rằng những gì họ gặt hái được là do “may mắn”, họ nghi ngờ khả năng của bản thân và sau đó là không dám tham vọng, cạnh tranh hoặc đối đầu để đạt được những gì mình tin tưởng. Đàn ông thì ngược lại. Họ cũng có lúc không tự tin nhưng điều đó sẽ không làm mất nhiều thời gian của họ và quan trọng là họ không để cho sự tự tin cản đường họ một cách thường xuyên như phụ nữ. Theo một cây bút của Forbes, báo cáo nội bộ năm 2018 của Hewlett Packard (HP) phát hiện rằng nhân sự là nam giới rất quyết liệt trong việc ứng cử công tác hoặc vị trí mới dù họ chỉ đạt 60% yêu cầu công việc nhưng nữ giới chỉ dám ứng cử nếu họ chắc chắn rằng mình đạt 100%. Rõ ràng sự khác biệt lớn giữa nam và nữ trong công việc không phải là trình độ của họ, mà là năng lực ra quyết định thử thách bản thân hay không.  Một giáo sư kinh tế của Đại học Mellon và là tác giả của cuốn “Phụ nữ không yêu sách – Women Don’t Ask” Linda Babcock, phát hiện rằng đàn ông thường đưa ra yêu sách cao hơn gấp bốn lần so với phụ nữ trong những cuộc đàm phán, và phụ nữ thường chỉ yêu cầu 30 phần trăm so với đàn ông. Các giáo sư khác cũng đồng ý với phát hiện này và cùng kết luận sự thiếu tự tin là nguyên nhân chính. Thế nên đa phần sinh viên nữ tốt nghiệp nghĩ mình chỉ có thể kiếm được 64,000 USD mỗi năm, trong khi đó nam sinh viên lại cho rằng mình đáng được trả ít nhất 80,000 USD, cao hơn 20% so với nữ.  ​​Nghiên cứu của Đại học Cornell được thực hiện ở Hoa Kỳ trên đối tượng chủ yếu là phụ nữ Mỹ thành đạt và có ảnh hưởng xã hội. Các chuyên gia đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi lắng nghe chia sẻ của họ. Một sinh viên có bằng giỏi tại một trường hàng đầu và có thể nói được bốn thứ tiếng luôn lo lắng rằng mình không đủ thông minh để cạnh tranh ứng cử vào một công việc mơ ước trong ngành báo chí. Một phóng viên tài năng của CNN dù vào được đài này tại Nga từ năm 20 tuổi, cho đến bây giờ vẫn tin rằng phóng viên nam nói năng mạnh bạo hơn, quyết liệt hơn trên truyền hình vì họ hiểu biết nhiều hơn mình.  ​Những phụ nữ tự ti có xu hướng tìm đến phụ nữ thành công hơn để tìm nguồn cảm hứng hoặc lời khuyên vì chắc chắn họ tự tin hơn, tham vọng hơn. Tuy nhiên, ngay cả những người phụ nữ thành công cũng không tin vào những thành tựu mình đạt được. Trước khi trở thành một trong số các CEO nữ hiếm hoi trong Thung lũng Silicon, vốn được biết tới là nơi đàn-ông-không-thể-bị-mất-mặt, khởi nghiệp thành công một công ty social-media triệu đô và gia nhập ban lãnh đạo của Starbucks khi mới sang tuổi 29, nữ doanh nhân Clara Shih vẫn nhận thấy các môn học ở Standford là quá sức, thậm chí cho rằng mình không khác gì một kẻ “mạo danh” dù tốt nghiệp với kết quả GPA cao nhất. “Hội chứng kẻ mạo danh” (Impostor Syndrome) là một hiện tượng tâm lý mà người mắc không có khả năng nhận thức được những thành quả mình gặt hái được, mà luôn cho rằng đó là do may mắn. Hội chứng này được hình thành khi chúng ta có ý nghĩ rằng bản thân mình chỉ là một người tầm thường, không đủ năng lực để làm bất cứ thứ gì. Nỗi ám ảnh đó giam hãm phần lớn chúng ta, khiến bạn trở nên sợ hãi mọi thứ. Trớ trêu thay, ngay cả COO nổi tiếng của Facebook Sheryl Sandberg cũng đã phải xuất bản cuốn sách “Lean In” với mục đích hỗ trợ những người phụ nữ thiếu tự tin và mắc hội chứng này giống như chính bản thân mình trước đây.  ​  Phụ nữ cần làm gì để tự tin hơn?  ​​​  Những lời khuyên từ Sheryl hoặc các chuyên gia tâm lý, chuyên gia về phụ nữ, bình đẳng giới, v.v. đều nhằm mục tiêu truyền thông điệp đơn giản: Có quá nhiều phụ nữ thiếu tự tin, hãy tiến lên phía trước bằng cách đối đầu với nỗi sợ của mình, hãy bắt chước đàn ông “nghĩ ít, làm nhiều”, đừng chỉ cho đi mà hãy mong được nhận lại, được tôn trọng. Hãy mạnh dạnh nói lên điều mình nghĩ, hãy dám đưa ra ý tưởng mới. Đừng quá lo lắng nếu bị thất bại, hãy quay lại và tiếp tục phát triển ý tưởng thứ hai. Và nếu mắc chứng “kẻ mạo danh” hãy tin hội chứng là có thật, hãy nhận lời khen một cách khách quan và đừng đánh đồng thành công của bạn là may mắn v.v.  Chúng tôi đọc nhiều lời khuyên như vậy sau các phân tích rất khoa học về nỗi sợ hay sự tự ti của phụ nữ hiện đại, nhưng chỉ đồng ý với một vài trong số đó. Với ba nhân vật Phương, Thanh, Lan được giới thiệu ở phần đầu bài viết này, sẽ thật là quá dễ dàng nếu chỉ khuyên họ hãy tự tin đi trong khi trong sự tự ti trong tiềm thức vẫn đang gặm nhấm họ. Họ cần nhiều hơn những lời khuyên:  ​1. Phụ nữ cần hỗ trợ cụ thể để có động lực xua đi sự mặc cảm  ​Nếu là gia đình bạn bè của Phương, hãy xem chúng ta có đủ hiểu biết và tâm lý để hỗ trợ hay kìm hãm hoặc gây áp lực tâm lý lên cô ấy? Liệu chúng ta có đang mặc định cô ấy phải làm tròn cả “việc nước” và “việc nhà” hoặc “ưu tiên gia đình” mà không tìm cách san sẻ đỡ gánh nặng để cô ấy có thể chuyên tâm làm việc?  Đây là các yếu tố khuyến khích khả năng tự ra quyết định của Phương có theo đuổi công việc mơ ước không. Một khi quyết định được nhờ sự hỗ trợ đó, Phương sẽ có tự do và cả động lực để xua đi nỗi mặc cảm bản thân không thể cân bằng được cuộc sống. Sau 5 năm trở về Việt Nam mà vẫn còn vật lộn với vấn đề này, có thể Phương chưa bao giờ nhận đủ hỗ trợ cần thiết.   ​2. Phụ nữ hãy hỏi bản thân muốn gì và đi tìm động lực để tự tin từ câu trả lời đó  ​Thanh chưa bao giờ tự quyết được điều gì cho đến khi lời nói “khích bác” của ông giáo sư khiến sự tự tôn trong cô trỗi dậy. Có lẽ ngay chính thời điểm Thanh quay lại bảo vệ quan điểm của mình cũng là lúc cô ấy đã nhận ra điểm mạnh của mình là ở đâu và động lực nào thúc đẩy cô đi tới hành động đó. Phụ nữ tự tin nhất là khi là hiểu chính mình muốn gì. Hãy luôn tự vấn bản thân vào mỗi giai đoạn xem điều mình mong muốn nhất là gì, hoặc gặp thời điểm cụ thể hãy nhìn nhận hành động (dù có khi là bột phát) của mình, chúng ta sẽ đối mặt với con người thật nhất của mình, và vượt qua vùng an toàn từ đó. Với Thanh sau thành công này, chắc chắn cô ấy đã hiểu thẳm sau bên trong cô luôn có sự tự tôn vào bản thân và đó là điều khiến cô mạnh mẽ hơn rất nhiều.   ​3. Cởi mở với những lời phê bình chân thành   ​Trường hợp của chị Lan là ngoại lệ. Chị chính là biểu tượng của sự tự tin và là nguồn cảm hứng của những cô gái tự ti. Thế nhưng những hành động thái quá mà chị tự gọi là tự tin giả tạo có thể khiến chị mất đi nhiều mối quan hệ và cả hình tượng mà chị xây đắp. Nhiều người có thể nói chị có sẵn testosterone nên tự bản thân chị đã quyết liệt tham vọng không kém nam giới. Nhưng những người thực sự tự tin (true overconfidence) lại khác những người tự tin giả tạo (fake confidence). Cameron Anderson, một chuyên gia tâm lý nổi tiếng của Đại học California tại Berkeley cho rằng những người thực sự tự tin có khả năng tỏa ra một năng lượng tích cực vì chính sự tin bên trong của họ. Những người tự tin giả tạo thường có xu hướng cô lập bản thân hoặc đẩy những nguời khác ra bằng hành động, lời nói tiêu cực của mình. Điều quan trọng nhất với chị Lan là chị tự nhận ra rằng mình đã giả vờ tự tin. Đây là điều không phải ai cũng làm được. Chị Lan đã lắng nghe và đối mặt với ý kiến trái chiều từ người bạn của mình. Thực tế, những gì chị đạt được cũng quá đủ để chị có “sự tự tin thực sự”.  ​Như vậy với ít nhất ba điều đơn giản nhất mà phụ nữ có thể làm cho chính mình, cho động lực và cho sự tự tin của mình, họ mới có thể thực sự tự mình đập vỡ tấm kính trần định kiến rằng nam giới luôn giỏi hơn họ. Những con số về bất bình đẳng giới giữa nam nữ theo đó mới có thể đổi chiều, hoặc ít nhất là thực sự bình đẳng. □    Author                Đặng Thị Hải Hà​        
__label__tiasang ĐẶT CON NGƯỜI Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM:  Nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh      Có th&#234;̉ nói, m&#244;̣t trong những nét đ&#244;̣c đáo nhất của tư tưởng Hồ Ch&#237; Minh là t&#237;nh h&#234;̣ thống đồng b&#244;̣ trong những quan hệ tương t&#225;c với nhau, th&#226;m nhập v&#224;o nhau, chuyển h&#243;a th&#224;nh nhau của ch&#237;nh trị, kinh tế, văn h&#243;a, x&#227; hội, tức l&#224; mọi chiều cạnh của cuộc sống x&#227; hội. V&#224; trong tổng thể x&#227; hội ấy, Hồ Ch&#237; Minh đặt con người ở vị tr&#237; trung t&#226;m. Đ&#243; l&#224; n&#233;t đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Ch&#237; Minh.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;     Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cơ sở đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, có thể đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.   Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, kinh tế, lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thể và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.               Nông dân xã Ái Quốc (Hải Hưng) báo cáo              kết quả SX với Chủ tịch Hồ Chí Minh (1958)        Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tránh cho kinh tế rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giật. Mà làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần và chính trị mang hàm nghĩa là những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.  Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi Đại đoàn kết dân tộc. Nghĩa là với Hồ Chí Minh, trong quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về số tầng lớp, số người tham gia. Không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng.   Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối Đại đoàn kết dân tộc.               Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh mùa Thu 1945                Nguồn: Triumph Forsaken        Hồ Chí Minh rất coi trọng từng cá nhân trong cộng đồng dân tộc. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người, và là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.  Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song đồng thời cũng sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hằng ngày.  Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người. Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng. Không chỉ là cá biệt một người, mà rất nhiều trường hợp khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành. Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người, cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở việc chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.  Hồ Chí Minh luôn tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện làm nảy nở và tạo dựng nên nhân cách của từng người. Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là nhân cách, rất dễ dàng cảm thông, trân trọng nhân cách và cá tính của con người. Nếu nhớ lại rằng, do điều kiện đặc biệt của người chiến sĩ cách mạng, Hồ Chí Minh không có gia đình, không có được môi trường sống bình thường của một con người trong tình cảm, nghĩa vụ và ứng xử hằng ngày với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em… Hiểu như vậy mới thấy hết được cái lớn của tấm lòng cảm thông và cung cách ứng xử hằng ngày của Hồ Chí Minh với mọi người, với từng người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đất đai – không gian sống      Hầu như đa số các quốc gia không có cái gọi  là Luật Đất đai như chúng ta đang có. Thay vào đó, nhà nước ban hành  Luật Địa chính để quản lý hành chính các mảnh đất là đối tượng của các  giao dịch dân sự. Ngoài ra, để quản lý nhà nước về đất đai trong quá  trình phát triển kinh tế, một loạt các công cụ khác được các quốc gia sử  dụng như Luật quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Môi trường và Luật Bảo vệ  tài nguyên.    Thấy gì qua vụ “Đoàn Văn Vươn” ở Tiên Lãng, Hải Phòng  Vụ cưỡng chế của chính quyền huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào những ngày đầu năm 2012 với sự tham gia của lực lượng vũ trang nhằm thu hồi đất do ông Đoàn Văn Vươn sử dụng, cùng với sự chống trả quyết liệt của gia đình ông Vươn đã và đang trở thành một trong những sự kiện thời sự nổi bật. Hành vi vi phạm pháp luật của ông Vươn cũng như các sai phạm về cả pháp luật và đạo lý của cơ quan chính quyền trong vụ việc này đến nay đã trở nên rõ ràng với dư luận.   Câu chuyện bi thảm này, tuy nhiên, sẽ không thể được lý giải “tận gốc” và toàn diện nếu không trả lời được một câu hỏi có tính logic và hiển nhiên là: Tại sao ông Vươn, một người có học vấn, từng trải, đã tham gia bộ đội, lại dám liều mình và liều cả sinh mạng của gia đình mình vào cuộc đối đầu “một mất một còn” với chính quyền chỉ vì lý do liên quan đến chấm dứt một hợp đồng thuê đất sản xuất kinh doanh? Có phải ông Vươn và cả gia đình đã mất hết lý trí nên không ý thức được hậu quả các hành vi của mình? Tình huống này được chứng tỏ không phải. Vậy, phải chăng chỉ có một nguyên nhân chủ đạo và hợp lẽ tự nhiên, đó là ông Vươn và gia đình đã dường như cảm thấy bị dồn đến “đường cùng” cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, do vậy buộc phải phản kháng trong nỗi tuyệt vọng đến mức sẵn sàng chấp nhận mức độ cao nhất của sự hy sinh.  Cách lý giải nói trên có thể không dễ dàng được chia sẻ bởi những người ngoài cuộc. Bởi đối với họ, khu đất và diện tích đầm, hồ mà gia đình ông Vươn khai phá và sử dụng, cho dù tới hàng chục hecta đi nữa, cũng chỉ là một loại phương tiện sản xuất đi thuê của nhà nước nhằm kinh doanh sinh lời, hết thời hạn thuê thì phải trả lại để tính một bài toán làm ăn khác vẫn cho mục đích kiếm sống và làm giàu. Và theo cách giải thích của đại diện cơ quan chính quyền sở tại, việc gia đình ông Vươn phải trả lại đất sau khi hết hạn hợp đồng thuê là đương nhiên, cho nên nếu hành xử khác đi thì vấn đề còn lại chỉ đơn giản là “vi phạm pháp luật đất đai” và tất yếu phải bị “xử lý”…       Hãy tạm gác các vấn đề chi tiết liên quan đến sự việc này sang một bên để tập trung vào khía cạnh sâu, gốc của câu chuyện “đất đai”, và hãy đóng vai là người trong cuộc để tự trả lời câu hỏi rằng khi nào thì mỗi chúng ta sẽ cảm thấy bị dồn đến “bước đường cùng”? Chắc chắn đó là khi ta cảm thấy rằng toàn bộ công sức, tâm huyết cả đời bỏ ra và các thành quả mang lại từ đó cùng với cả khát vọng, tình yêu và niềm đam mê đến mức như lẽ sống của ta bỗng chốc biến mất do bị ai đó tước đoạt. Và một khi tất cả những điều căn bản và thiêng liêng nhất của đời sống đó gắn liền với đất, vốn ban đầu từng là “sỏi đá” nay qua “sức người” đã biến “thành cơm”1, hay còn hơn thế như nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định:  “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở ,  Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” .2     Đặt vấn đề như thế để muốn nói rằng: Phải chăng chúng ta đã vô tình tầm thường hóa đất đai? Và tầm thường hóa đất đai chính là tầm thường hóa đời sống con người?    Sai lầm căn bản trong nhận thức và cách tiếp cận về đất đai  Gần đây, khi phát biểu về vụ việc “Đoàn Văn Vươn”, cựu Đại biểu Quốc hội, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Chế độ sở hữu này bắt đầu được thực hiện từ năm 1980 khi Nhà nước bằng Hiến pháp mới tuyên bố quốc hữu hóa đất đai và coi sở hữu toàn dân (được thực hiện thông qua người chủ thực tế là Nhà nước với tư cách là “đại diện của chủ sở hữu toàn dân”) như là một hình thức duy nhất về sở hữu đất đai tại Việt Nam. Nhìn lại chiều dài lịch sử xuyên suốt của dân tộc, hành động đó có lẽ là đầu tiên và duy nhất. Những hệ quả và hậu quả của việc làm này diễn ra trên thực tế mấy chục năm qua đã và đang được xem xét, đánh giá theo nhiều chiều và dưới nhiều góc độ khác nhau. Tại thời điểm hiện tại, bên thềm của các thảo luận về sửa đổi Hiến pháp và qua sự kiện “Đoàn Văn Vươn”, chúng ta có cơ hội và dữ kiện để bàn sâu, rộng thêm về vấn đề này.    Sai lầm thứ nhất: tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.  Khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì Nhà làm luật đã bỏ qua một việc cần làm rõ: đất đai là gì và “nhân dân” là ai? Trên thực tế, không có “đất đai” chung chung mà chỉ có các thửa đất, khu đất cụ thể mới là đối tượng của quyền sở hữu. Còn “nhân dân”, đó chỉ là khái niệm mà không phải chủ thể của quyền sở hữu, nói một cách khác, chủ sở hữu phải là những con người cụ thể. Xin lưu ý rằng, sau đó Luật Đất đai đưa Nhà nước vào làm chủ thể của quyền sở hữu này thì cũng chỉ là một sự biến tướng theo kiểu chơi chữ mà thôi, vì câu hỏi tiếp theo sẽ là “Nhà nước là ai?” v.v.. và v.v..3   Vấn đề ở chỗ dù có thể tuyên bố thế nào chăng nữa thì thực tế và sự thật vẫn là các thửa đất và khu đất phải do ai đó cụ thể chiếm hữu và sử dụng. Khác với các đối tượng vật chất khác, việc chiếm hữu và sử dụng đất thể hiện một nhu cầu và đòi hỏi có tính đặc thù đó là tính ổn định về cả không gian và thời gian, chẳng hạn: không ai có thể di chuyển đất đi đâu được, cũng như không thể “sử dụng nhanh” một mảnh đất. Ngoài ra, giá trị của đất không phải là chính nó mà phụ thuộc vào bất động sản gắn liền với đất. Bất động sản (bao gồm mọi công trình xây dựng hoặc canh tác) đương nhiên do người sử dụng đất tạo ra. Mọi lao động sáng tạo như vậy đều gắn liền với các động cơ, mục tiêu và lợi ích nhất định. Thế nhưng, người sử dụng đất với tư cách là chủ thể duy nhất biến mọi mảnh đất thành vật có giá trị cho đời sống của họ lại không có quyền sở hữu đất. Nói một cách khác, các quyền của họ liên quan đến đất hay tài sản gắn liền với đất, có hay không, có đến bao nhiêu và như thế nào đều do một người khác định đoạt. Việc này có nghĩa rằng vể bản chất, người sử dụng đất đã không còn quyền được làm chủ thật sự đối với các giá trị do mình tạo ra gắn liền với đời sống và cuộc đời của họ. Và đó chính là mâu thuẫn và sự phản cảm lớn nhất khi nói tới câu chuyện này.     Sai lầm thứ hai: chỉ coi đất đai là phương tiện sản xuất và tài sản vật chất.   Trong suốt một thời gian dài (cho tới khi chuyển sang kinh tế thị trường và thị trường bất động sản bắt đầu bùng nổ), đất đai chủ yếu được nhìn nhận như một loại “phương tiện”, (bên cạnh các loại phương tiện khác của đời sống do con người có thể tạo ra) dù đó là phương tiện để sinh hoạt hay sản xuất, kinh doanh. Do đó, để bảo đảm và duy trì quản lý phương tiện quan trọng này, chúng ta đã phân chia ra các loại đất khác nhau theo mục đích sử dụng, mỗi loại đất lại là đối tượng của một cơ chế quản lý riêng khác nhau (đất ở, đất nông nghiệp, đất công nghiệp, đất thương mại v.v..). Thậm chí, cùng một mục đích nhưng đất đai có thể được phân loại tiếp nữa tùy theo chủ thể sử dụng (trong nước, ngoài nước, quốc doanh, tư nhân v.v..). Sự bất hợp lý nằm ở chỗ, khác với các loại phương tiện của đời sống khác mà con người có thể làm ra được, không ai có thể sáng tạo ra đất. Và vì đất đai thuộc về tự nhiên và luôn luôn có giới hạn, con người không thể làm gì khác hơn là tạo ra sự luân chuyển về mục đích, tính chất và chủ thể sử dụng. Điều này, tuy nhiên, lại rất khó thực hiện bởi phụ thuộc vào các rào cản giấy phép của cơ chế hành chính. Do đó, các tình huống “lạm dụng” và “lách luật” đã diễn ra và trở thành phổ biến.          Hầu như đa số các quốc gia không có cái gọi  là Luật Đất đai như chúng ta đang có. Thay vào đó, nhà nước ban hành  Luật Địa chính để quản lý hành chính các mảnh đất là đối tượng của các  giao dịch dân sự.        Đến thời kỳ bùng phát của thị trường bất động sản, cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rộng khắp, đất đai không còn đóng vai trò là phương tiện chủ yếu như trước mà nhanh chóng được coi là loại tài sản có giá trị đặc biệt (bởi đơn giản nó không “nở ra” trong khi người thì đông lên). Do đó, xu hướng buôn bán đất, đầu cơ đất đã tự nhiên hình thành và thậm chí được hợp thức và khuyến khích bởi một loạt các cơ chế chính sách và pháp luật về cái gọi là “thị trường bất động sản”. Như một quy luật tự nhiên, việc phát triển các bất động sản cùng với quyền tự do kinh doanh đã tạo nên thị trường cho loại hàng hóa này. Tuy nhiên, việc quá nhấn mạnh đất đai là tài sản đã làm biến tướng thị trường thông thường này, làm cho nó trở thành “thị trường đất đai” trên thực tế. Đồng thời, bởi đất đai tự nó không phải là hàng hóa, do đó, các nghịch lý, mâu thuẫn đã diễn ra và một cuộc khủng hoảng về thị trường này xảy ra đương nhiên là điều không tránh khỏi.       Sai lầm thứ ba: bỏ quên nguyên lý đất đai là không gian sống.     Quay trở lại vụ việc “Đoàn Văn Vươn” chúng ta thấy một chân lý được tái khẳng định, đó là con người không thể sống thiếu đất hay tách rời khỏi đất. Đất không chỉ là “phương tiện” hay “tài sản”, mà hơn thế, nó là không gian sống theo cả ý nghĩa vật chất lẫn tinh thần. Không gian sống đó không chỉ là hiện hữu mà còn bao gồm đầy đủ cả ba chiều kích về thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Đối với văn hóa người Việt, đất đai còn đồng nghĩa với “hương hỏa” tổ tiên và dòng họ. Chúng tôi đã chứng kiến một vụ việc tranh chấp ở một địa phương đang công nghiệp hóa, trong đó, một gia đình nông dân đã lập luận với chính quyền rằng họ chấp nhận cho “chủ đầu tư” sử dụng mảnh đất của gia đình để xây nhà máy cho thời hạn 30 năm theo chủ trương của Nhà nước, với điều kiện sau khi kết thúc thời hạn đó phải hoàn trả cho họ để bảo tồn được đất của ông, cha để lại.           Duy trì hình thức sở hữu nhà nước duy nhất  về đất đai sẽ dẫn đến sự mất quyền kiểm soát của chính nhà nước về đất  đai trên thực tế cho các mục tiêu quốc kế dân sinh, đồng thời tạo môi  trường thuận lợi cho sự phát sinh các tiêu cực như lạm dụng, thao túng  của các nhóm lợi ích cũng như quá trình tư nhân hóa đất đai một cách  không minh bạch.         Theo ý nghĩa này, mặc dù coi hành động phản kháng của gia đình Đoàn Văn Vươn là một trường hợp cực đoan và nhất thời, chúng ta vẫn phải thừa nhận một tình trạng khác khá phổ biến đang diễn ra, đó là sự rỗi việc, trống rỗng, mất thăng bằng của nhiều gia đình và đi theo sau là các tệ nạn đang lan rộng tại các làng quê ven đô thị hoặc bên lề các khu công nghiệp sau khi đất đai bị lấy đi. Tại sao lại có hiện trạng này? Để trả lời sẽ có người lý giải cho rằng: người nông dân sau khi bị lấy mất đất để làm công nghiệp hay xây dựng khu đô thị sẽ được đền bù một khoản tiền lớn, và nguyên nhân của các tệ nạn phát sinh như đề cập ở trên đơn giản là do thiếu công ăn việc làm và không biết sử dụng tiền đúng cách. Điều đó đúng nhưng sẽ là không đủ cho một sự lý giải thấu đáo, bởi khi lấy đất để làm công nghiệp và đô thị chúng ta chỉ coi đất của người nông dân là “phương tiện” và “tài sản” mà quên rằng toàn bộ đời sống với các thói quen, tập quán và văn hóa lâu đời của họ đã bị đảo lộn vì không còn đất, cho dù đó có thể là ngôi nhà, khoảnh sân, mảnh vườn hay thửa ruộng cày cấy. Và nếu cho rằng sự đảo lộn đó nhằm hướng tới một sự phát triển đi lên theo ý nghĩa biến người nông dân thành công nhân công nghiệp và biến các làng quê thành đô thị thì liệu rằng người nông dân cùng với gia đình, dòng mạc và cộng đồng làng xã của họ có chấp nhận và thích nghi được chăng? Nhất là một khi quá trình thay đổi đó diễn ra nhanh chóng dưới sức ép của các quyết định hành chính như thời gian vừa qua?  Đất đai, nhìn từ góc độ khác, không chỉ là biểu trưng cho thói quen, tập quán và văn hóa mà còn là nguồn gốc và con đường sống của con người. Đó chính là khi người dân tự mình khai phá đất hoang, đất mới để tạo dựng cơ nghiệp và đời sống mà trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn là một điển hình. Các mảnh đất sau khi được khai khẩn, cải tạo và phát triển với mồ hôi và cả xương máu của những con người như vậy sẽ không chỉ là không gian tồn tại mà còn là chính là cuộc sống của họ.   Cần trả lại đất đai về với con người  Chấp nhận cách nhìn nhận và đặt vấn đề như trên, chúng ta hãy bắt đầu một quá trình nhận thức lại sau 30 năm quốc hữu hóa đất đai và thi hành Luật Đất đai. Trong một cuộc hội thảo khoa học (mở rộng) bàn về sửa đổi Luật Đất đai và Luật kinh doanh bất động sản do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tháng 11 năm 2011 tại Hà Nội, nhiều luật sư tham dự đã phát biểu rằng các Luật Đất đai được sửa đổi trong suốt giai đoạn vừa qua đã đi theo hướng ngày càng phức tạp và rắc rối, trong đó đỉnh cao là Luật Đất đai năm 2003 với các khái niệm và phạm trù mới khó hiểu và khó thuộc với ngay cả chính các luật sư.    Bình tĩnh suy xét, chúng ta có cần phải có một Luật Đất đai rắc rối và phức tạp đến như vậy không? Và thậm chí có thực sự cần phải có cái Luật Đất đai đó hay không?  Quốc gia nào cũng có đất đai và họ phải đối mặt và giải quyết tất cả các vấn đề giống nhau liên quan đến đất đai trong đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, ổn định về chính trị và hài hòa, phong phú về xã hội. Tuy nhiên, hầu như đa số các quốc gia không có cái gọi là Luật Đất đai như chúng ta đang có. Thay vào đó, nhà nước ban hành Luật Địa chính để quản lý hành chính các mảnh đất là đối tượng của các giao dịch dân sự. Ngoài ra, để quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình phát triển kinh tế, một loạt các công cụ khác được các quốc gia sử dụng như Luật quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Môi trường và Luật Bảo vệ tài nguyên. Câu hỏi đặt ra là phải chăng sự khác biệt của Việt Nam là ở chỗ chúng ta có sở hữu toàn dân hay sở hữu nhà nước về đất đai? Sự thực không phải vậy bởi sở hữu nhà nước (hay sở hữu công, sở hữu của chính quyền) về đất đai vốn tồn tại ở khắp mọi nơi. Do đó, chúng là chỉ có một sự khác biệt đồng nghĩa với sự bất hợp lý, đó là tồn tại một loại hình sở hữu duy nhất về đất đai. Trong tự nhiên cũng như xã hội loài người không có cái gì được coi là duy nhất tồn tại. Nếu điều đó có sẽ đồng nghĩa với sự ngụy tạo. Duy trì hình thức sở hữu nhà nước duy nhất về đất đai sẽ dẫn đến sự mất quyền kiểm soát của chính nhà nước về đất đai trên thực tế cho các mục tiêu quốc kế dân sinh, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh các tiêu cực như lạm dụng, thao túng của các nhóm lợi ích cũng như quá trình tư nhân hóa đất đai một cách không minh bạch.   Cải cách hệ thống quản lý về đất đai cần bắt đầu bằng tư duy từ con người và vì cuộc sống của con người. Thế giới đang đổi thay trong quan niệm phát triển. Thay vì nhấn mạnh công nghiệp hóa hay tăng trưởng kinh tế, người ta đang nói về bảo vệ và cải thiện môi trường sống. Đó là lối tư duy nhân bản, lấy đời sống con người làm trung tâm. Chính sách và pháp luật đất đai của nước ta cần sửa đổi sao cho đất đai thật sự gắn bó với con người, để cho mỗi con người ngày càng yêu quý và trân trọng đất đai hơn như yêu không gian sống và cuộc đời của chính họ. Có lẽ chính điều này là bài học sâu xa nhất rút ra từ vụ việc “Đoàn Văn Vươn”.  Tháng 2/2012     —  1. Ý thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông trong “Bài ca vỡ đất”.   2. Hai câu trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”  3. Xin xem them quan điểm và phân tích của tác giả về vấn đề sở hữu đất đai trên Tạp chí Tia sáng, Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 19/10/2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đất và nông dân      Người ta rất thường có bệnh hay quên. Hồi kết thúc kháng chiến chống Pháp, trở về thành phố, về thủ đô, Tố Hữu đã ngậm ngùi nhắc: “…Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng?…”. Vậy mà rồi nhà cao khiến người ta chẳng còn nhớ thật.    Vừa qua lần quên thứ nhất, lại đến quên lần thứ hai.  Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và thoát được khỏi khủng hoảng lương thực đến khốn khổ, ta lại liền quên nông thôn, nông dân, những người không những đã nuôi ta suốt những năm dài gian nan nhất, mà còn từng là “chủ lực quân” của công cuộc biến cải xã hội to lớn, và kỳ diệu thay cũng lại là ngòi nổ dũng cảm và sáng tạo của công cuộc đổi mới đã cứu đất nước ra khỏi cơn khủng hoảng không hề ngắn… Để đến hôm nay nhiều người đã phải nói lên một sự thật đã tới hồi không còn có thể quay mặt làm ngơ nữa: nông dân chán ruộng, nông dân chán nông thôn. Nghĩa là về cả hai mặt quan trọng, sống còn nhất trong đời sống con người đã khủng hoảng thật quá sâu: về kinh tế, người lao động trên ruộng đồng đã chán cả mảnh đất ngàn đời máu thịt của mình; về văn hóa thì cái nơi vốn là gốc rễ của văn hóa dân tộc ấy đã chán chường đến mức người ta không còn muốn sống ở đấy nữa, mặc dầu bỏ ra đi thì sẽ là lao vào một cuộc phiêu lưu cũng thật mịt mùng!    Ai cũng biết quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập là một cuộc thách thức to lớn, như chưa từng có, về mặt nào đó còn nghiêm trọng, sâu sắc hơn cả chiến tranh. Thách thức ấy chắc chắn nông dân, nông thôn chịu đựng gay gắt hơn cả. Chủ nghĩa tư bản đã phải bỏ cả ba trăm năm để đi qua, và đi qua với “từng lỗ chân lông thấm máu”, tất nhiên là máu nông dân, ta học mãi rồi, cái thời “cừu ăn thịt người” ấy. Ta định đi qua trong vài ba chục năm. Mà trong cuộc đi qua ấy, vũ khí chủ yếu của người nông dân chính là đất. Nông dân, tức là đất. Từ đất sinh ra, mọc lên, lăn lộn trên đất mà sống và nuôi sống xã hội, đất là sức mạnh duy nhất, là vũ khí duy nhất của nông dân. Không có đất của riêng mình thì người nông dân như con bệnh bị mất hết sức đề kháng, không còn gì để chống đỡ với các lực lượng dữ dằn của thị trường, mà lại là thị trường hoang dã như chúng ta đang có. Họ từng làm chủ lực quân vô cùng kiên cường ấy bỗng trở nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ: sợ mất đất, cái mảnh đất vốn đã không phải là của họ, họ cứ như được cho sống nhờ, bất cứ lúc nào cũng có thể bị “thu hồi”, bị “chuyển đổi”, bị đoạt mất. Cái thứ đất quen thân, thống thiết, máu thịt với họ  thế, mà bỗng trở nên rất đỗi kỳ lạ, ở trong tay họ, khi họ bị tước đi thì giá chỉ có mấy đồng, nhưng chỉ cần chuyển sang tay doanh nghiệp nào đó, một ông nước ngoài xa lạ, sang trọng nào đó thì bỗng có giá hàng nhiều tỷ!…    Nông dân, thời nào cũng vậy, xưa nay đều vậy, là cái nền của xã hội. Và cái nền thì không ồn ào, không hào nhoáng, không huênh hoang, nhưng chính vì là cái nền nên xã hội sẽ không thể yên nếu cái nền không yên. Mọi sự phát triển, mọi bước đi tới sẽ chông chênh, nếu không đổ vỡ.  Và cách củng cố, trả sức lại cho cái nền ấy là vô cùng quan trọng nhưng không khó, chỉ cần dám dứt khoát làm mỗi một việc: trả toàn quyền có đất thật sự lại cho từng người nông dân. Khi nông dân đứng chặt chân trên mảnh đất thật sự của họ, của riêng họ thì chẳng ai chiến thắng nổi họ. Xã hội sẽ bền, đất nước sẽ vững chãi trong cuộc đi tới đầy sóng gió.  Và cũng nên biết rằng mọi nhũng nhiễu trên con đường đi tới của chúng ta, trong đó có đại họa tham nhũng nếu không khắc phục được sẽ phá từ bên trong, bằng cách này cách khác, đều có liên quan đến đất, đất của nông dân. Chỉ khi đất là của nông dân, thật sự, lâu dài, đời kiếp, thì mọi sự mới ổn, dể mà đi tới, để mà hội nhập, với toàn cầu hóa.  Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đất và nông dân      Nông dân, tức là đất. Từ đất sinh ra,  mọc lên, lăn lộn trên đất mà sống và nuôi sống xã hội, đất là sức mạnh  duy nhất, là vũ khí duy nhất của nông dân. Không có đất của riêng mình  thì người nông dân như con bệnh bị mất hết sức đề kháng, không còn gì để  chống đỡ với các lực lượng dữ dằn của thị trường, mà lại là thị trường  hoang dã như chúng ta đang có.       Người ta rất thường có bệnh hay quên. Hồi kết thúc kháng chiến chống Pháp, trở về thành phố, về thủ đô, Tố Hữu đã ngậm ngùi nhắc: “…Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng?…”. Vậy mà rồi nhà cao khiến người ta chẳng còn nhớ thật.    Vừa qua lần quên thứ nhất, lại đến quên lần thứ hai.    Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và thoát được khỏi khủng hoảng lương thực đến khốn khổ, ta lại chẳng mấy nhớ đến nông thôn, nông dân, những người không những đã nuôi ta suốt những năm dài gian nan nhất, mà còn từng là “chủ lực quân” của công cuộc biến cải xã hội to lớn, và kỳ diệu thay cũng lại là ngòi nổ dũng cảm và sáng tạo của công cuộc đổi mới đã cứu đất nước ra khỏi cơn khủng hoảng không hề ngắn… Để đến hôm nay nhiều người đã phải nói lên một sự thật đã tới hồi không còn có thể quay mặt làm ngơ nữa: nông dân chán ruộng, nông dân chán nông thôn. Nghĩa là về cả hai mặt quan trọng, sống còn nhất trong đời sống con người đã khủng hoảng thật quá sâu: về kinh tế, người lao động trên ruộng đồng đã chán cả mảnh đất ngàn đời máu thịt của mình; về văn hóa thì cái nơi vốn là gốc rễ của văn hóa dân tộc ấy đã chán chường đến mức người ta không còn muốn sống ở đấy nữa, mặc dầu bỏ ra đi thì sẽ là lao vào một cuộc phiêu lưu cũng thật mịt mùng!    Ai cũng biết quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập là một cuộc thách thức to lớn, như chưa từng có, về mặt nào đó còn nghiêm trọng, sâu sắc hơn cả chiến tranh. Thách thức ấy chắc chắn nông dân, nông thôn chịu đựng gay gắt hơn cả. Chủ nghĩa tư bản đã phải bỏ cả ba trăm năm để đi qua, và đi qua với “từng lỗ chân lông thấm máu”, tất nhiên là máu nông dân, ta học mãi rồi, cái thời “cừu ăn thịt người” ấy. Ta định đi qua trong vài ba chục năm. Mà trong cuộc đi qua ấy, vũ khí chủ yếu của người nông dân chính là đất. Nông dân, tức là đất. Từ đất sinh ra, mọc lên, lăn lộn trên đất mà sống và nuôi sống xã hội, đất là sức mạnh duy nhất, là vũ khí duy nhất của nông dân. Không có đất của riêng mình thì người nông dân như con bệnh bị mất hết sức đề kháng, không còn gì để chống đỡ với các lực lượng dữ dằn của thị trường, mà lại là thị trường hoang dã như chúng ta đang có. Họ từng làm chủ lực quân vô cùng kiên cường ấy bỗng trở nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ: sợ mất đất, cái mảnh đất vốn đã không phải là của họ, họ cứ như được cho sống nhờ, bất cứ lúc nào cũng có thể bị “thu hồi”, bị “chuyển đổi”, bị đoạt mất. Cái thứ đất quen thân, thống thiết, máu thịt với họ thế, mà bỗng trở nên rất đỗi kỳ lạ, ở trong tay họ, khi họ bị tước đi thì giá chỉ có mấy đồng, nhưng chỉ cần chuyển sang tay doanh nghiệp nào đó, một ông nước ngoài xa lạ, sang trọng nào đó thì bỗng có giá hàng nhiều tỷ!…    Nông dân, thời nào cũng vậy, xưa nay đều vậy, là cái nền của xã hội. Và cái nền thì không ồn ào, không hào nhoáng, không huênh hoang, nhưng chính vì là cái nền nên xã hội sẽ không thể yên nếu cái nền không yên. Mọi sự phát triển, mọi bước đi tới sẽ chông chênh, nếu không đổ vỡ.   Và cách củng cố, trả sức lại cho cái nền ấy là vô cùng quan trọng nhưng không khó, chỉ cần dám dứt khoát làm mỗi một việc: trả toàn quyền có đất thật sự lại cho từng người nông dân. Khi nông dân đứng chặt chân trên mảnh đất thật sự của họ, của riêng họ thì chẳng ai chiến thắng nổi họ. Xã hội sẽ bền, đất nước sẽ vững chãi trong cuộc đi tới đầy sóng gió.   Và cũng nên biết rằng mọi nhũng nhiễu trên con đường đi tới của chúng ta, trong đó có đại họa tham nhũng nếu không được khắc phục sẽ phá từ bên trong, bằng cách này cách khác, đều có liên quan đến đất, đất của nông dân. Chỉ khi đất là của nông dân, thật sự, lâu dài, đời kiếp, thì mọi sự mới ổn, để mà đi tới, để mà hội nhập, với toàn cầu hóa.    (Bài đã đăng trên Tia Sáng năm 2008)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đắt và rẻ      Hòa vào nhiều niềm vui lớn, gần đây một số ý kiến băn khoăn.  – Nước ta còn nghèo, sao chi cho APEC 14 lắm tiền thế?  – Việt Nam vào WTO có khác nào cậu bé lên 5 tham gia sân banh với các cầu thủ quốc tế?  – Nghèo như ta tốn tiền tham gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Davos lợi lộc gì?  – Nước ta sao lại lạnh nhạt với Diễn đàn Xã hội Thế giới (WSF)?… Hay là Việt Nam không biết WSF là nơi duy nhất trên quả cầu này còn cất lên tiếng nói ở tầm vóc quốc tế về chủ nghĩa xã hội?  – Hay là Việt Nam đã…?  – …  Xin được giãi bày đôi điều.         Thế nào là đắt? là rẻ?  Ngày nay cả nước cứ làm ra 10 đồng thì xuất khẩu 6 đồng. Không có quốc gia đông dân nào trên thế giới đạt được điều này. Có nhiều cái để bán đến thế mà nước ta vẫn phải chôn chân trong nhóm nước nghèo nhất thế giới.   Ai cũng thấy, còn nghèo vì tổng kim ngạch xuất khẩu quá nhỏ, tỷ lệ giá trị gia tăng trong xuất khẩu quá thấp. Ai cũng thấy phải mở mang kinh tế đối ngoại, phải chiếm thêm thị phần trên thế giới. Hiển nhiên không gia nhập WTO không có lời giải.   Thông qua APEC 14, cộng đồng thế giới, nhất là những tập đoàn kinh tế lớn, nhìn nhận Việt Nam là đối tác giàu tiềm năng. Họ hưởng ứng sự mong đợi của chúng ta. Hơn nữa, ngay trong khi APEC đang họp đã có những ký kết quan trọng. Nhờ vậy FDI vào nước ta năm 2006 tăng 30% và là năm cao nhất đến nay. Xu thế này tiếp tục phát triển tại Davos tháng 1- 2007.   APEC 14, việc ta gia nhập WTO, việc CHXHCN Việt Nam xuất hiện tại Davos đã trở thành những sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta kể từ khi hoàn thành độc lập thống nhất, góp phần đưa nước ta vào một thời kỳ phát triển mới. Ngoài ra, chưa bao giờ Việt Nam có nhiều đối tác, nhiều bạn bè và vị thế quốc tế cao như ngày nay.   Chúng ta mong gì hơn nữa?  Vậy chi cho APEC 14 là nên hay không nên? Mà nên, thì đắt hay rẻ? Có một nước đang phát triển nào có thể bỏ tiền ra “mua” được một cơ hội như thế không? Chuyện gia nhập WTO và đi Davos như thế chắc đã rõ, xin không bàn nữa.    Đi chậm, để đi nhanh, đi xa  Nếu một ông tiên cho tôi một điều ước và hỏi tôi muốn ước gì?  Tôi sẽ thưa:  – Ước gì mọi người trong cả nước tôi lúc này giữ cái đầu của mình cho lạnh.   Lạnh để không ngợp trước thời cơ lớn đang đến. Lạnh để có gan lựa chọn bước đi chậm chắc lúc này. Lạnh để kiên quyết không trở thành bãi thải công nghiệp chất đống lên tương lai.  Thực vậy, tôi ước gì trong vòng 5 năm kể từ nay, thậm chí có thể 10 năm, cả nước tranh thủ tích tụ từng xu từ mọi ngành kinh tế, dồn sức cho phát triển 3 ưu tiên hàng đầu: (1)đào tạo phát huy con người, (2)phát triển kết cấu hạ tầng, (3)đổi mới, xây dựng mới thể chế và hệ thống hành chính quốc gia – vì phải lỳ lợm chịu thương chịu khó đào tạo con người và chuẩn bị cỗ xe đưa nền kinh tế nước ta đi nhanh, đi xa.   Phải chấp nhận như thế, bởi vì:  Đổi mới hệ thống giáo dục, hệ thống y tế để phát huy nguồn lực con người đắt lắm. Ai nói được đổi mới xã hội mọi mặt để nuôi nấng, phát huy vốn con người sẽ tốn kém bao nhiêu?  Rồi đây sẽ phải ném bao nhiêu tiền của cho vừa vào phát triển kết cấu hạ tầng? Còn phải làm gì nữa để thoát khỏi cảnh chợt mưa là lụt, chợt nắng là hạn?  Sẽ phải chi bao nhiêu tiền của, chất xám, ý chí chính trị để có được thể chế và hệ thống hành chính quốc gia đúng nghĩa là một bộ máy vận hành của một nhà nước pháp quyền? Mà không có nó thì không có gì phát triển được.  Rõ ràng lúc này không thể nôn nóng nhảy bổ vào phát triển bất kỳ công nghiệp nào, không phải FDI nào cũng chấp nhận hết – cốt sao tăng nhanh GDP! Lúc này càng không phải là đẩy mạnh khai thác tài nguyên đem bán và bán luôn cả môi trường, qua đó rào chắn con đường dẫn tới nền kinh tế dịch vụ, kinh tế tri thức!.. Làm gì lúc này cũng chỉ nên nhằm đẩy nhanh tích tụ vốn một cách ít trả giá nhất – để có lực thực hiện 3 ưu tiên nói trên.    Chạy đua tăng trưởng kinh tế có sức cám dỗ lớn lắm, sẽ dẫn tới đổ vỡ. Vì thế phải có gan nuôi chí lớn: lựa chọn con đường phát triển trở thành đối tác kinh tế của cả thế giới.    Không sợ yếu, không sợ thiếu, chỉ sợ thối chí  Từ ông Lý Quang Diệu, bao nhiêu nhân vật nước ngoài khác, và ngay cả chúng ta đang băn khoăn về những yếu kém và những cái thiếu của nước ta: Nguồn nhân lực đông nhưng yếu, kết cấu hạ tầng lạc hậu, thể chế hành chính quan liêu tham nhũng sâu…  Đấy là những băn khoăn xác đáng.   Nhớ lại, lúc mới bắt tay vào đổi mới – nhất là khi bước vào xóa bao cấp để chuyển sang cơ chế thị trường, nỗi băn khoăn của chúng ta hồi đó lớn lắm, ngày đêm nơm nớp lo mất chế độ! Từ nỗi băn khoăn hôm ấy nước ta đã đi tới hôm nay, với tất cả trí tuệ và nỗ lực. Sở dĩ có được quyết tâm này là nhờ có lòng tin một cách thuyết phục: Đổi mới là đúng quy luật và hợp lẽ. Như thế rõ ràng cái yếu không tự nó mất đi, nhưng nếu quyết tâm làm đúng quy luật, đi với cả thế giới, thì chúng ta khắc phục được cái yếu và thành công. 20 năm qua là như thế. Ngày nay tại sao lại không thể như thế? Nhất là ngày nay bối cảnh quốc tế thuận lợi hơn nhiều cho nước ta, hiểu biết của cả nước mở mang hơn, thực lực nền kinh tế nước ta cũng lớn hơn.   Cho nên, cái thực sự đáng lo là thối chí.  Trước vận hội lớn của đất nước, cái thối chí trong tâm tư chúng ta cũng đa dạng lắm.  Cái làm chúng ta thối chí nhất là nỗi lo về sự thâm căn cố đế của những tha hóa nằm trong bộ máy vận hành đất nước và trong đội ngũ cán bộ đảng viên. Bàn về yếu kém này khi nói đến nhiệm vụ tổ chức bầu cử Quốc hội sắp tới, không phải ngẫu nhiên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhắc nhở các cơ quan, cán bộ đảng viên phải làm tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, chứ không được cai trị dân! Thế nhưng nỗi lo vẫn canh cánh.  Không ít người một mặt hân hoan trước quyết tâm và những bước đi táo bạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – nhất là trong việc chống quan liêu tham nhũng, trong tìm cách xóa bỏ cơ chế chủ quản, trong lành mạnh hóa kinh tế quốc doanh… Thế nhưng lo vẫn lo: Một con chim én có mang về được mùa xuân không?  Lo như thế rồi thối chí hơn? Hay là, lo như thế, mỗi người trong cả nước hãy cùng với Thủ tướng tìm cách mang về cho đất nước mùa xuân? Cùng với Thủ tướng cổ vũ cho cái đúng, cái tốt. Cùng với Thủ tướng chống cái sai. Trước hết cùng với Thủ tướng ai nấy làm đúng, làm hết trách nhiệm phần việc của mình. Bây giờ có diễn đàn đối thoại trực tiếp với Thủ tướng, không nên chỉ đặt câu hỏi. Mà còn nên đem tất cả trí tuệ và khát vọng ra bàn bạc thẳng thắn với Thủ tướng: Làm sao mang về cho đất nước mùa xuân? Cách nào hơn?  Đi như thế này, nước ta có chệch hướng không?.. Lại một dạng thối chí khác. Đấy là câu hỏi do Diễn đàn Xã hội Thế giới (WSF) ở Nairobi cách đây hơn một tháng nhen nhóm lên trong nước ta chỗ này chỗ khác.   Diễn đàn này nêu lên 12 chủ đề lớn: chống toàn cầu hóa, xóa bỏ ngăn cách giàu nghèo, không được làm trái đất nóng thêm… Những đòi hỏi về giáo dục, y tế, nhà ở cho người nghèo… Chỗ này chỗ kia giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội… Không rõ những chủ đề này được thảo luận như thế nào, vì tham dự có hàng vạn người dân tại chỗ, nên nghe là chính. Nhìn chung đấy là những chủ đề cao cả – đành rằng nội dung còn nhiều chuyện phải bàn, nhất là cách thực hiện?  So sánh với WSF Nairobi, nước ta một thời có lẽ đã có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn những gì được diễn thuyết tại đây. Thật vậy, một thời nước ta đã có giáo dục không mất tiền, y tế không mất tiền, nhà ở không mất tiền, cả nước sống trong bao cấp và cùng nghèo nên không có phân biệt giàu nghèo, một mình một chợ trong nền kinh tế gần như tự cung tự cấp nên không cần đến toàn cầu hóa – ngoại trừ những nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em hồi đó… Rồi viện trợ hết.., và khi khủng hoảng kinh tế – xã hội trở nên trầm trọng, nước ta đã phải lựa chọn con đường đổi mới. Vậy nước ta hôm nay đang đúng hướng hay chệch hướng? Nếu WSF dạy chúng ta điều gì, thì có lẽ đấy là: Phải lựa chọn con đường phát triển. Thực ra đấy là bài học gián tiếp của WSF, do chúng ta tự rút ra cho mình, từ con đường gian truân 10 năm trước đổi mới và những năm trước đó nữa.  Những gì vận hội mới đang mang lại cho nước ta lớn lắm, có lẽ lớn hơn nhận thức của chúng ta. Nếu không giữ cái đầu cho lạnh, cơ hội hình như sẽ lớn hơn khả năng tiếp nhận của chúng ta. Để phí cơ hội, chúng ta sẽ không thể tự tha thứ cho mình, con cháu chúng ta sau này cũng sẽ không tha thứ chúng ta. Mà như thế sẽ là đắt lắm, chi một xu cho APEC 14 cũng không đáng. Xin đừng cho điều này xảy ra!   Cho nên đối với đất nước ta chưa bao giờ cái lẽ đắt – rẻ lại có ý nghĩa quyết liệt như bây giờ!      Nguyễn Trung    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư cho khoa học cơ bản      Thập kỷ gần đây, con người bị cuốn trong nhịp sống sôi động của xã hội hiện đại với những nhu cầu giao lưu, giải trí ngày càng được nâng cao và phong phú cùng những áp lực công việc, thời gian của nền kinh tế thị trường. Hoàn cảnh khách quan đó khiến khuynh hướng quan tâm của các tầng lớp xã hội vào sự phát triển của khoa học cơ bản (KHCB) đất nước. Đây là một hiện tượng xã hội đang trở thành đặc trưng cho nhiều quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba. Người ta không lưu tâm tới hiện thực rằng những tiện nghi hiện đại như telephone, TV, máy tính, điện thoại di động chỉ có được nhờ những phát minh quan trọng trong nghiên cứu KHCB. Trong nước ta đã có không ít người (kể cả trong giới quản lý khoa học) coi KHCB chỉ như là một thứ “trang sức” cho nền KH nước ta được đẹp đẽ và toàn diện hơn, do đó, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu KHCB trong những năm gần đây cũng chỉ là rất tượng trưng so với nguồn ngân sách không nhỏ (đối với Việt Nam) đầu tư cho phát triển khoa học.      Những tiện nghi hiện đại như telephone, TV, máy tính, điện thoại di động chỉ có được nhờ những phát minh quan trọng trong nghiên cứu KHCB.   Cũng vì lý do đó mà một số nhà khoa học đầu ngành của đất nước đã có ý kiến đóng góp và trình bày các quan điểm cụ thể về vấn đề này, thí dụ như những suy nghĩ gần đây của GS Hà Huy Khoái về Toán học Việt Nam và vai trò của Toán Học đối với sự phát triển của xã hội 1. Nếu như việc đánh giá đúng lao động sáng tạo của các nhà toán học không phải là đơn giản (nhất là những nghiên cứu toán học lý thuyết thuần tuý) thì việc minh biện cho những kinh phí đầu tư cho nghiên cứu VL cơ bản ở Việt Nam (nhất là những nghiên cứu đòi hỏi những thiết bị thí nghiệm đắt tiền) cũng là vấn đề rất nan giải đối với các nhà VL đầu ngành của đất nước. GS VS Nguyễn Văn Hiệu đã trao đổi rằng bản thân ông cũng đã từng khá vất vả trong việc thuyết minh ủng hộ kinh phí cho một số đề tài nghiên cứu cơ bản về VL hạt nhân và VL tia vũ trụ. Trong những ngày này, xin kinh phí để nghiên cứu vật lý nano với những hứa hẹn ứng dụng trong công nghệ cao là dễ dàng hơn nhiều so với xin kinh phí để nghiên cứu VL hạt nhân hay VL năng lượng cao. Bản thân người viết bài này cũng đã có dịp được tham dự một cuộc họp xét kinh phí cho một đề án nghiên cứu VL tia vũ trụ hàng đầu của Việt Nam và đã được nghe những ý kiến khẳng định chắc nịch từ phía các nhà quản lý KH là đề án chỉ có thể được duyệt nếu như nó thực sự mang lại những ứng dụng cụ thể trong phát triển kinh tế xã hội nước ta. Kết quả là các chuyên gia của đề án này đã phải khá vất vả tìm tòi để cố nêu ra được những tác động gián tiếp có thể của đề án đối với kinh tế nước nhà để thuyết phục các nhà quản lý. Có thể nói là quan điểm hiện thời của nhiều nhà quản lý KH đối với đầu tư và phát triển KHCB Việt Nam là không hoàn toàn thích đáng.      Cơ chế tự nhiên và hỗ trợ của KHCB và KH ứng dụng ở Hoa Kỳ là một cơ chế có cấu trúc hình chóp, với đỉnh chóp là đầu tư cho KHCB, tuy có khiêm tốn hơn đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, nhưng vẫn phải có đủ trọng lượng để làm đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của KH và công nghệ.      Kinh nghiệm phát triển KH trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay cho chúng ta thấy rất rõ là một quốc gia với một nền khoa học ứng dụng, công nghệ phát triển cao cũng luôn là một đất nước có một nền KHCB hưng thịnh, được đầu tư và phát triển thích đáng. Một chiến lược phát triển điều hoà và hợp lý cho KHCB và KH ứng dụng là rất quan trọng đối với một nước đang phát triển, nó sẽ giúp tạo ra được một cơ chế tương tác tự nhiên và hỗ trợ lâu dài trong việc duy trì một nền KH trình độ cao, làm cơ sở nuôi dưỡng cho tất cả các ngành công nghệ hiện đại nhất như công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu, hạt nhân… Một thí dụ rất điển hình minh chứng cho quan điểm này là cơ chế đầu tư và phát triển KHCB của Hoa Kỳ: với một thâm thụt ngân sách quốc gia khổng lồ cùng gánh nặng của chiến tranh ở Iraq và Afganistan, chính phủ liên bang Hoa Kỳ vẫn đầu tư hàng năm trên 27 tỷ USD cho nghiên cứu cơ bản (NCCB) ở các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, trường đại học quốc gia (không kể hỗ trợ tài chính khá lớn từ phía các doanh nghiệp, các trường đại học, viện nghiên cứu tư nhân…). Đó là những hướng NCCB trong tất cả các ngành KHCB, với yêu cầu phải có những công bố KH chất lượng rất cao, phát triển các ý tưởng, mô hình, hình thức luận mới… đồng thời gắn liền với đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho tương lai của KH và công nghệ của đất nước. Những nghiên cứu ứng dụng được ngân sách liên bang cấp một khoản kinh phí gấp khoảng 5 lần số kinh phí NCCB trên, với yêu cầu nghiên cứu và triển khai mạnh mẽ các ngành công nghệ hiện đại nhất phục vụ kinh tế, xã hội và quốc phòng. Như vậy cơ chế tự nhiên và hỗ trợ của KHCB và KH ứng dụng ở Hoa Kỳ là một cơ chế có cấu trúc hình chóp, với đỉnh chóp là đầu tư cho KHCB, tuy có khiêm tốn hơn đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, nhưng vẫn phải có đủ trọng lượng để làm đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của KH và công nghệ.  Tuy chưa phải là thật sự hoàn hảo, cơ chế này đã giúp các nhà KHCB của Mỹ đoạt nhiều giải thưởng Nobel nhất so với các nước khác, cùng các nhà KH ứng dụng đăng ký hàng năm một số lượng khổng lồ các bằng phát minh và sáng chế kỹ thuật.  Với một cấu trúc rất tự nhiên và có logic, ta dễ suy ra tiếp được là một cấu trúc hình chóp như vậy cũng phải là cấu trúc đặc trưng cho mỗi một ngành KH riêng biệt 2. Thí dụ như Nhật Bản, một cường quốc phát triển trong việc ứng dụng công nghệ hạt nhân trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân đặc biệt là điện hạt nhân, luôn rất coi trọng và đầu tư nhiều cho các hoạt động NCCB trong VL hạt nhân, sinh học hạt nhân, hoá học phóng xạ… Ai đến thăm cơ sở trung tâm của Viện Nghiên Cứu Năng Lượng Nguyên Tử Nhật Bản (JAERI) ở Tokai đều thấy một toàn nhà cao và rất hiện đại nằm ngay giữa Viện, với tên tạm dịch là Trung tâm những nghiên cứu tiền tiến (Center for Advanced Studies). Đó là nơi tụ tập các nhóm những nhà khoa học xuất sắc đang thực hiện các đề án NCCB lớn trong các lĩnh vực VL hạt nhân, sinh học, hoá học phóng xạ…, các nhóm đề tài này được ưu tiên đặc biệt trong các kinh phí nghiên cứu KH cũng như trong chọn lựa và đào tạo tài năng trẻ cho nền KH hạt nhân của Nhật Bản, với một yêu cầu duy nhất là đề án nghiên cứu phải luôn ở mức hiện đại của thế giới, có công trình KH công bố đăng tải trên các tạp chí KH quốc tế uy tín nhất và có chỉ số trích dẫn quốc tế cao. Cơ chế chọn lựa các nhóm đề tài vào trung tâm trên làm việc là đấu thầu công khai qua một cơ chế thẩm định, đánh giá cẩn thận của một hội đồng KH gồm nhiều nhà KH hạt nhân đầu ngành từ tất cả các Viện, Trường Đại Học của Nhật Bản tham gia. Thời hạn của một đề án là 5 năm và sau đó nếu nhóm đề tài có nhu cầu tiếp tục tiến hành nghiên cứu tại trung tâm thì phải tham gia đấu thầu từ đầu. Như vậy, cấu trúc hình chóp của JAERI là rất rõ ràng, với một phần quan trọng của đỉnh chóp là Center for Advanced Studies. Đó cũng là một trong những lý do chính giải thích cho ta hiểu tại sao Nhật Bản luôn là một trong các cường quốc mạnh nhất thế giới trong nghiên cứu VL hạt nhân cơ bản, Hoá Học, Sinh học phóng xạ…  Người viết bài này đã nhiều lần nêu thí dụ này cho các nhà lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Viện NLNTVN) lưu ý quan tâm, nhưng rõ ràng việc xây dựng một trung tâm NCCB chất lượng cao như vậy tại Viện NLNTVN chỉ có thể khả thi khi có chủ trương ủng hộ và quyết định đầu tư kinh phí từ các mức lãnh đạo, quản lý cấp Bộ hoặc cao hơn. Đối với các nhà quản lý các hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ hạt nhân ở Việt Nam thì chắc cũng không phải dễ dàng hình dung được tại sao một trong những phòng thí nghiệm hiện đại nhất của Trung tâm Năng lượng hạt nhân CHLB Đức tại Karlsruhe lại là Phòng nghiên cứu VL tia vũ trụ (một chuyên ngành không có một liên hệ trực tiếp nào với ứng dụng kỹ thuật hạt nhân), mà đã và đang được đầu tư mạnh mẽ để luôn duy trì một hệ thống detectors hạt vào loại hiện đại nhất thế giới. Đây là một số trong nhiều thí dụ cho ta thấy cơ chế coi trọng đầu tư và phát triển KHCB của các nước phát triển.  Gần đây chúng ta đã được nghe nhiều đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước cho việc đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu KH sao cho được thoáng hơn, minh bạch hơn để động viên cao nhất nỗ lực của các nhà KH nước ta vào công cuộc xây dưng một nền KH và công nghệ Việt Nam phát triển. Đây là một việc rất cần thiết và cần được tiếp tục triển khai. Tuy nhiên theo ý kiến chúng tôi thì đã đến lúc chúng ta phải xây dựng được một cấu trúc rõ ràng cho ngôi nhà KH Việt Nam, với chân đế phải rộng, đỉnh chóp phải cao và là đầu tàu, tinh hoa của toàn bộ nền KH. Nếu ta không thực thi được mô hình này, như GS Phạm Duy Hiển đã phân tích kỹ trong bài báo của ông 2, thì có nghĩa là trong chính sách, chiến lược phát triển KH của ta có vấn đề. Trong chiến lược phát triển KH và công nghệ đến năm 2010, nhà nước đã có chủ trương ưu tiên xây dựng và phát triển một số ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu, điện tử, năng lượng hạt nhân…. Đây là một chính sách rất đúng đắn và sẽ có tác dụng tích cực nhất tới việc phát triển nền KH và công nghệ nước nhà. Việc thiết kế một ngôi nhà KH Việt Nam thích hợp chắc chắn là tiền đề quan trọng nhất cho sự thành công của chiến lược lâu dài trên.  Trong thời đại hiện nay, một ngành công nghệ hiện đại thường mang trong mình thành quả của nhiều ngành KH khác nhau, thí dụ như Công nghệ sinh học (đặc biệt là công nghệ gene) đòi hỏi ngày càng nhiều các kiến thức vật lý sâu rộng cùng các phương pháp thí nghiệm và xử lý số liệu của VL chất rắn, VL nguyên tử và VL hạt nhân; Công nghệ Vật liệu, cơ khí chính xác thì có yêu cầu ngày càng nhiều đối với các phương pháp tính toán mô phỏng của các nhà Toán học mà thường được tiến hành trên cơ sở công nghệ máy tính hiện đại nhất… Do đó nếu chỉ nghĩ đơn giản đến đầu tư cho một số ngành công nghệ trọng điểm, thiếu quan tâm đầu tư phát triển đồng bộ và bền vững những ngành KHCB khác nhau, chúng ta sẽ khó mà thoát khỏi tình trạng ì trệ và thiếu nhân lực KH trình độ cao hiện nay mặc dù nhà nước đã và đang cố gắng đầu tư ngày càng tăng cho KH và công nghệ.  Gần đây nhà nước có chủ trương đẩy mạnh quá trình xã hội hoá KH, hướng các hoạt động nghiên cứu KH vào các ứng dụng thiết thực trong kinh tế quốc dân và đồng thời thu hút đầu tư cho KH từ phía các doanh nghiệp tư nhân. Đây là một chủ trương rất đúng đắn nhưng cũng chỉ có thể thực thi thật tốt một khi thiết kế của ngôi nhà KH Việt Nam hoàn tất. Chắc không nhiều người biết rằng những hãng công nghiệp ô tô lớn của Đức như Mercedes, Volkswagens vẫn chi hàng năm hàng trăm nghìn EUR để hỗ trợ những đề án NCCB trong các lĩnh vực Toán học, Thiên văn học, Vật lý hạt nhân… với mục đích duy nhất là mang lại được những hiểu biết KH ngày càng sâu hơn cho nhân loại và đồng thời mang vinh quang về cho nền KH và trí tuệ của dân tộc Đức. Tôi hi vọng rằng cũng sẽ đến lúc các nhà KHCB của Việt Nam có được vị trí xứng đáng của mình trong ngôi nhà KH Việt Nam để tham gia đóng góp tốt nhất cho công cuộc phát triển KH và công nghệ chung của dân tộc. KHCB của đất nước phải có được sự hỗ trợ và ưu tiên đầu tư kinh phí thích đáng không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn từ phía các tầng lớp xã hội khác nhau, đặc biệt từ phía các doanh nghiệp tư nhân lớn. Nếu như các doanh nghiệp hảo tâm có thể hỗ trợ, thưởng nhiều trăm triệu đồng cho các đội bóng, các vận động viên đoạt huy chương mang lại vinh quang cho Việt Nam tại SEA Games, Asiad… thì họ hoàn toàn có thể làm những việc tương tự để hỗ trợ và động viên các nhà KH của đất nước đã và đang thu được những kết quả nghiên cứu KH xuất sắc, mang lại vinh quang và tự hào cho nền tri thức và KH Việt Nam trên trường quốc tế.  Ta vẫn thường nghe nói là trong phát triển KH và công nghệ nước ta tụt hậu so với một số nước ASEAN láng giềng ít nhất 20 năm, nhưng ít người biết rằng trong hai lĩnh vực Toán Học và VL lý thuyết thì Việt Nam lại là quốc gia đi đầu của khối ASEAN, với một số lượng lớn các công trình KH xuất sắc công bố trên các tạp chí Toán học, VL quốc tế uy tín nhất. Đó là thành quả lao động sáng tạo không mệt mỏi của nhiều nhà Toán học, VL học Việt Nam từ 20 – 30 năm nay. Nhiều người trong số họ đã được tôn vinh bằng những giải thưởng, kỷ niệm chương quốc tế, từ thế hệ học sinh do họ đào tạo ra cũng đã có những em hiện đã trở thành những nhà KH tầm cỡ quốc tế. Đây là một trong những vốn “trí tuệ” rất quí của dân tộc Việt Nam mà phải được chăm sóc, hỗ trợ và tôn vinh thích đáng. Để làm được việc đó, ngoài việc đổi mới cơ chế quản lý và đầu tư cho KH, chúng ta còn phải tiến hành những hoạt động quảng bá cho trí tuệ Việt Nam, phổ biến kiến thức KH phổ thông cho đông đảo tầng lớp nhân dân. Làm sao cho dân chúng hiểu được rằng tri thức và KH không chỉ là thiết yếu đối với sự phát triển của đất nước mà còn là vốn trí tuệ quí báu của dân tộc và việc nâng niu, hỗ trợ và phát triển vốn trí tuệ đó phải là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam 3. Hãy nhớ rằng, nếu như ta luôn đòi hỏi một cách thô thiển là đằng sau mỗi một khoản đầu tư vào KH (bất kể từ ngân sách nhà nước hay từ nguồn hỗ trợ của doanh nghiệp) phải có ngay một ứng dụng thực tế thì chắc chắn KH Việt Nam sẽ còn ở trong tình trạng kém phát triển và tụt hậu trong nhiều thập kỷ nữa, cùng với vốn “trí tuệ” trên của dân tộc vẫn mãi là nghèo so với quốc tế.  Tài liệu tham khảo  [1] Hà Huy Khoái, Toán Học Việt Nam: đôi điều suy nghĩ. Tạp chí Hoạt Động Khoa Học, Bộ KHCN, số tháng 4/2005, trang 12.  [2] Phạm Duy Hiển, Khoa Học Việt Nam đang ở đâu? Tạp Chí Tia Sáng, Bộ KHCN, số tháng 6/2005, trang 9.  [3] Đào Tiến Khoa, Tri Thức và Khoa Học Việt Nam cùng với sự phồn vinh của đất nước. Tạp Chí Tia Sáng, Bộ KHCN, số tháng 7/2004, trang 12; số tháng 8/2004, trang 15.          Author                Đào Tiến Khoa        
__label__tiasang Đẩy tới công cuộc cải cách để phát triển      Đón Xuân Bính Tuất, tiến tới Đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam là dịp để nhận định tình hình đất nước, đánh giá cơ hội và thách thức, đúc kết những bài học của cải cách và đẩy tới một cách toàn diện và sâu sắc công cuộc đổi mới trên đất nước ta.    Chưa bao giờ đất nước ta đứng trước những vận hội to lớn và có điều kiện thuận lợi để vươn lên mạnh mẽ, “Sánh vai cùng cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mơ ước từ những ngày khó khăn, gian khổ năm 1945. Chưa bao giờ nước Việt Nam có nền kinh tế phát triển như bây giờ, xuất khẩu một tháng hơn cả năm trước đây, chưa bao giờ đời sống người dân được cải thiện nhiều và đạt mức sống cao nhất từ trước tới nay. Chưa bao giờ nước ta có cơ hội duy trì được hòa bình để xây dựng đất nước, không có kẻ thù trực tiếp nào phải đối phó. Đó là thời cơ quý báu phải tận dụng để nước ta nhanh chóng mạnh lên toàn diện. Tất cả dự báo đều nhất trí rằng sự ổn định và cân bằng chiến lược trong khu vực Đông Nam Á có thể được duy trì trong thập kỷ tới, tuy vẫn còn không ít biến động cục bộ.                    Thành phố Hồ Chí Minh trong đêm                  Chưa bao giờ lòng dân khao khát đổi mới, đòi hỏi phải tiếp tục phát triển và vươn lên mạnh mẽ như ngày nay. Giấc mơ Phù Đổng từ ngàn xưa có thời cơ để trở thành hiện thực. Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam đều đồng lòng, nhất trí xây dựng đất nước, thực hiện tự do, dân chủ, bình đẳng, công bằng trong xã hội. Người Việt Nam ở trong nước hay ngoài nước đều mong ước và khát khao xây dựng một quê hương giàu đẹp, đất nước phát triển, con người được tự do phát huy đầy đủ trí sáng tạo để xây dựng đất nước. Vốn quý này không phải ở nước nào cũng có và khu vực nào trên trái đất này cũng đạt được.                     Người Việt Nam ở trong nước hay ngoài nước đều mong ước và khát khao xây dựng một quê hương giàu đẹp, đất nước phát triển, con người được tự do phát huy đầy đủ trí sáng tạo để xây dựng đất nước. Vốn quý này không phải ở nước nào cũng có và khu vực nào trên trái đất này cũng đạt được.            Đất nước ta đang phát triển trong một kỷ nguyên mới của nhân loại, kỷ nguyên của sự giải phóng toàn diện và ngày càng đầy đủ sức sáng tạo, các quyền tự do, dân chủ của con người, kỷ nguyên của sự phát triển khoa học, công nghệ với tốc độ chưa từng thấy. Sự giàu có và phồn vinh của đất nước, sức mạnh của một dân tộc không còn phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên mà được quyết định bởi khoa học-công nghệ, bởi trí tuệ chứ không bởi cơ bắp. Trong thế kỷ XX, Nhật Bản và Hàn Quốc đã thành công trong công cuộc bứt phá trở nên những đất nước phát triển. Ngày nay, Trung Quốc, kể cả Đài Loan, đang vươn lên mạnh mẽ để trở lại vị trí hàng đầu của nền văn minh nhân loại mà dân tộc Trung Hoa đã từng chiếm giữ trong nhiều thế kỷ trước đây. Câu hỏi rất nghiêm túc là: Việt Nam có tận dụng được cơ hội ngàn năm có một này để thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một đất nước phát triển hay không? Sứ mạng lịch sử ấy đang đặt trước chúng ta như một đòi hỏi và thôi thúc sâu sắc nhất.  Trong thời gian qua, nước ta đã tiến hành đổi mới và phát triển, đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Đổi mới, thực chất là thực thi những quyền tự do, dân chủ của người dân, phát huy trí sáng tạo, tinh thần kinh doanh và các nguồn lực của dân và của thế giới toàn cầu hóa. Tuy vậy, chúng ta còn chậm cải cách hệ thống chính trị, đổi mới Đảng và cải cách bộ máy Nhà nước, dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng nặng nề hiện nay. Việc chậm đổi mới tư duy, tự trói buộc vào những tín điều và giáo lý xưa cũ, không được thực tế xác nhận đã làm chậm đáng kể việc đổi mới trên hàng loạt các lĩnh vực khoa học xã hội.  Chúng ta cũng chậm phát huy đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của người dân, nhất là quyền được thông           Thời gian trở thành nhân tố rất quan trọng trong cuộc chạy đua trên thế giới. “Quá chậm” là điều gây ra tai họa, thầy thuốc đến quá chậm thì bệnh nhân không cứu được. Chúng ta không thể rơi vào tình trạng “quá chậm”. Và điều ấy phụ thuộc vào đóng góp lớn nhỏ của mỗi một chúng ta.            tin, các quyền giám sát bộ máy Nhà nước. Trên những lĩnh vực nào, ở đâu, thực hiện tốt các quyền tự do, dân chủ của dân thì ở nơi đó khởi sắc và phát triển mạnh. Bên cạnh những điển hình tốt, có nơi, có lúc không ít những quyền hiến định của người dân bị hạn chế, vi phạm kéo dài, gây ra bất bình và căng thẳng trong xã hội. Việc chưa thể chế hóa quyền được tiếp cận thông tin của dân đã cho phép sự lạm dụng quyền lực, tư lợi trong bộ máy Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước trở nên khá phổ biến.  Trong lịch sử phát triển của các nước, xu thế tự nhiên của Nhà nước là luôn luôn phình to thêm, bộ máy, biên chế, chi tiêu ngày càng nặng nề hơn. Tự Nhà nước không thể tự cải tạo được mình. Chỉ có nhân dân mới cải tạo được nhà nước, chỉ có phát huy vai trò của người dân giám sát Nhà nước, đánh giá nhà nước, bầu cử và miễn nhiệm công chức Nhà nước mới giảm bớt được các căn bệnh cố hữu của Nhà nước.                           Hãy nhìn tới tương lai để hướng lên phía trước. Anh: Quốc Tuấn          Cải cách trên các lĩnh vực liên quan đến trí tuệ như giáo dục đào tạo, khoa học-công nghệ, đến đời sống con người như y tế, bảo hiểm tiến hành chậm, thiếu phương pháp luận rõ ràng. Đây là những lĩnh vực đang còn mang nặng nhiều dấu ấn rất nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà trong kinh tế chúng ta đã trút bỏ được một phần đáng kể. Đương nhiên, đây là những lĩnh vực phức tạp, liên quan đến lợi ích của toàn dân, việc cải cách ở bất kỳ nước nào cũng khó khăn. Chính vì thế mà việc chuẩn bị cải cách cần được tiến hành một cách khoa học, thực sự dân chủ, cầu thị, có căn cứ thực tế và phương pháp luận rõ ràng. Thí dụ như khái niệm “xã hội hóa” được sử dụng quá rộng mà không làm rõ nội hàm, phạm vi, phương pháp, công cụ. Khi thì “xã hội hóa” được hiểu là huy động thêm đóng góp của dân vào xây trường, xây đường, khi thì lại được hiểu là tăng thêm sự giám sát của quần chúng. Chính sự chậm chễ cải cách và cải cách thiếu phương pháp luận sáng tỏ, ít hiệu quả những lĩnh vực này mà nhân tố trí tuệ trong con người Việt Nam chưa được phát huy đầy đủ. Cái thiếu nhất trong nền kinh tế nước ta hiện nay không phải là vốn mà là trí tuệ, thông tin, năng lực quản lý.            Thời gian trở thành nhân tố rất quan trọng trong cuộc chạy đua trên thế giới. “Quá chậm” là điều gây ra tai họa, thầy thuốc đến quá chậm thì bệnh nhân không cứu được. Chúng ta không thể rơi vào tình trạng “quá chậm”. Và điều ấy phụ thuộc vào đóng góp lớn nhỏ của mỗi một chúng ta.        Trong ba lực lượng quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển là kinh tế thị trường, Nhà nước và nhân dân và các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp của dân, mỗi lực lượng có vai trò, có trách nhiệm tạo điều kiện cho nhau, đồng thời giám sát và chế định các lực lượng kia. Việc chậm phát huy các quyền tự do, dân chủ của dân, chậm thực hiện việc giám sát của dân với tư cách là công dân, là người tiêu dùng, là các hội nghề nghiệp… làm cho Nhà nước trở thành “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.  Thời gian trở thành nhân tố rất quan trọng trong cuộc chạy đua trên thế giới. “Quá chậm” là điều gây ra tai họa, thầy thuốc đến quá chậm thì bệnh nhân không cứu được. Chúng ta không thể rơi vào tình trạng “quá chậm”. Và điều ấy phụ thuộc vào đóng góp lớn nhỏ của mỗi một chúng ta.   Hãy đẩy tới công cuộc cải cách để phát triển đất nước và chấn hưng dân tộc chúng ta.      Lê Đăng Doanh  Nguồn tin: Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy yêu, ghét?      Thành bại của mọi chính sách cải cách giáo dục được đánh giá qua sản phẩm mà nền giáo dục đó mang lại. Một công dân hữu dụng của quốc gia ngoài kiến thức và kỹ năng mà người ấy được trang bị để phục vụ xã hội, còn phải là một Con-Người biết yêu ghét cái thiện và cái ác trong nền tảng đạo đức của mình và có khả năng tự khắc chế xu hướng làm điều ác, để từ đó định hướng hành vi của mình trong mối tương tác với xã hội.         Một giai đoạn rất dài trong quá khứ các thế hệ công dân của chúng ta không được dạy dỗ yêu ghét cái thiện và cái ác một cách thích đáng theo ý nghĩa nêu trên, mà thay vào đó thái độ yêu ghét lại được mang vào khoa học, nhưng thông qua một lăng kính chật hẹp, có tính cách áp đặt. Chẳng hạn, trước khi hiểu bóc lột là gì, họ được dạy phải căm thù kẻ bóc lột. Tất nhiên khái niệm bóc lột và kẻ bóc lột được giải thích theo một thành kiến định sẵn về nền kinh tế thị trường.  Một ví dụ tiếp theo, các thế hệ học sinh từng đặt chân đến giảng đường xã hội chủ nghĩa đều bày tỏ lòng căm thù đối với Triều Nguyễn mà quên mất rằng chính tên Việt Nam và hình dáng chữ S đầy tự hào và thân yêu của đất nước chúng ta ngày nay đều do công lao của Vua Gia Long, vị hoàng đế khai sáng Triều Nguyễn, và các đời Chúa Nguyễn trước đó. Mấy chữ “cõng rắn cắn gà nhà” thường được sử dụng như một định nghĩa đặc trưng về vương triều lịch sử ấy cho thấy đầu óc của các sử-gia-chính-trị, vốn có nhiều ấn phẩm được công bố, hẹp hòi và hồ đồ như thế nào.  Mặt khác, bao nhiêu người Việt ngày nay biết đến những thành quả về kinh tế, xã hội và văn hóa mà chính quyền Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trước đây đã đạt được? Như trong thời kỳ đó nền pháp lý dân sự và thương mại Việt Nam, từng đạt đến một đỉnh cao trong lịch sử phát triển của mình, thậm chí của thế giới, mà đôi khi nhìn lại những người công tâm không khỏi tiếc nuối, hoàn toàn khác với những kết luận nông cạn rằng nền luật pháp đó đơn thuần là sự sao chép vụng về hệ thống pháp luật của nước Pháp(!). Sinh viên luật, thậm chí giảng viên luật, ở các giảng đường đại học luật bây giờ biết rõ điều này chăng?     Vì phải yêu và ghét một cách bắt buộc mà thiếu cơ hội được giải thích đầy đủ và thỏa đáng, các công dân tương lai thường bước vào xã hội bằng thái độ cực đoan. Mọi lý lẽ thông thường hầu như vô nghĩa với họ. Trong số những nguyên nhân dẫn đến sự tụt hậu của đất nước cũng có thái độ yêu ghét nhầm lẫn mà nhiều thế hệ đã mang theo trong mình bấy lâu. Yêu ghét nhầm lẫn khiến nhận thức sai lệch, từ đó hành động ấu trĩ hoặc quá khích với hậu quả là các chính sách tai hại nghiễm nhiên được ca tụng và thi hành.  Lẽ ra khi dạy học sinh về lịch sử hoặc khoa học nói chung, chúng ta không nên áp đặt thái độ yêu ghét. Hãy khách quan cung cấp thông tin và dữ liệu, các chủ nhân tương lai của đất nước sẽ tự mình nhận định và đi đến kết luận riêng. Khoa học khác với tôn giáo và chính trị ở chỗ nó không bao giờ dung túng cái gọi là “chính thống”, “ngụy” hoặc “tính giai cấp”. Các quan điểm khác nhau, thậm chí dị biệt, luôn được va chạm quyết liệt để từ đó tạo ra các trường phái học thuật đa dạng. Nhân loại nhờ đó mà phát triển và trường tồn.  Nếu cứ yêu ghét nhầm lẫn thì khó có thể nói đến việc xây dựng một nền khoa học và giáo dục hiện đại cho tương lai.        Lê Công Định    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để có lớp trí thức xứng đáng      Thời thế tạo anh h&#249;ng th&#236; cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người tr&#237; thức. N&#243;i r&#245; hơn l&#224; ho&#224;n cảnh ch&#237;nh trị x&#227; hội, l&#224; bản lĩnh, t&#224;i năng c&#225;c nh&#224; l&#227;nh đạo quốc gia, v&#224; một phần ch&#237;nh yếu, l&#224; m&#244;i trường gi&#225;o dục đương thời. Cho n&#234;n t&#244;i rất t&#225;n th&#224;nh h&#227;y bắt đầu bằng vấn đề gi&#225;o dục để b&#224;n chuyện x&#226;y dựng lớp tr&#237; thức mới.      Về triết lý giáo dục  Sau nhiều năm Phần Lan nổi lên với những thành tựu kinh tế, khoa học, công nghệ làm cả thế giới khâm phục, người ta phát hiện ra cái gốc của sự thịnh vượng ấy là giáo dục. Ba phần tư thế kỷ qua, nước Mỹ đã chiếm vị trí số một trên hầu hết mọi lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt. Nếu nói trí thức là nói tài năng thì không đâu tài năng nở rộ nhiều như ở Mỹ. Nhiều người chúng ta bất bình, phẫn nộ chính đáng với một số chính sách nước lớn có khi quá tàn bạo của giới cầm quyền Mỹ, song vẫn chưa bao giờ hết ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của trí thức Mỹ mà những mầm mống thịnh vượng đã nảy nở từ những đại học đầu tiên khi Mỹ mới lập quốc. Đọc thư của Tổng thống Pháp gửi các nhà giáo Pháp, đọc bài diễn văn nhậm chức của bà Chủ Tịch ĐH Harvard, càng thấy rõ vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục. Nước Pháp muốn khôi phục truyền thống văn hóa rạng rỡ của mình từ Thế kỷ Ánh sáng, nước Mỹ muốn tiếp tục dẫn đầu trong thế kỷ văn minh trí tuệ, đều thấy cần dựa vào trụ cột giáo dục. Mà trong giáo dục thì quan trọng trước hết là tư duy cơ bản về giáo dục, tức là triết lý giáo dục, đương lối giáo dục.               Khi góp ý kiến về chính sách trí thức cách đây không lâu tôi có đề nghị không nên đi sâu phân tích các yếu kém khuyết điểm của trí thức đang làm hạn chế sự đóng góp của họ vào công cuộc chấn hưng đất nước, mà nên suy nghĩ xem vì đâu dân tộc VN vốn thông minh không kém nhiều dân tộc khác, mà chí khí kiên cường càng không nhường ai, lại chưa có được một tầng lớp trí thức xứng đáng với dân tộc?           Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức VN qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước– thời kỳ Tự lực Văn đoàn, trào lưu Thơ mới, có các nhạc sĩ Văn Cao, Đặng Thế Phong, có các nhà khoa học, giáo dục hiện đại Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo, có những nhà hoạt động chính trị Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh…  Hầu hết những trí thức này đều học trường Pháp ra, mà sao tinh thần dân tộc rất cao và năm 1945 tuyệt đại bộ phận họ đều đi theo cách mạng để chống lại thực dân Pháp. Điều đó tựa hồ mâu thuẫn với quan niệm phổ biến xưa nay là nhà trường thực dân chỉ cốt đào tạo ra những người làm tay sai cho thực dân.  Trong khi đó, các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước… mà sao có vẻ như phẩm chất không được như ta kỳ vọng. Dường như có cái gì không thật, có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm. Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những “bộ óc vĩ đại thế kỷ 21”, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quý hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh?  Đó là cái nghịch lý cần phân tích và lý giải khi bàn về giáo dục và đào tạo.   Riêng tôi nghĩ rằng nền giáo dục, văn hóa Pháp mà thế hệ trí thức tiền bối 30-45 đã được hưởng thật sự là một nền giáo dục tiên tiến thời đó. Cái phần thực dân trong nền giáo dục ấy chỉ là cái vỏ ngoài do bọn thực dân áp đặt ở thuộc địa mà cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế, còn cái phần nhân văn,  cái phần văn hóa cơ bản, cái phần thật sự là tinh túy trong triết lý giáo dục của nó thời đó thì ai tiếp thu được đều tốt cho họ, cho đất nước họ, cho nhân dân họ, không cứ là cho người Pháp, cho nước Pháp. Có lẽ chính vì nhìn thấy điều ấy mà Phan Chu Trinh đã sáng suốt đề ra: hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Giờ đây khi mà văn hóa, giáo dục đã lệch pha quá xa với kinh tế, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về đường lối, triết lý giáo dục, chứ không phải chỉ bàn chuyện nay hai không, mai năm không, v.v. Những việc này cũng cần làm để khởi động dạo đầu cho công cuộc cải cách, nhưng sa đà vào đó mà quên đi cái cốt lõi sẽ có tác dụng ngược lại.     Không thể máy móc vơ đũa cả nắm, nhưng có một sự thật là dường như phần lớn những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thiếu căn bản về văn hóa phổ quát. Tư duy của họ chỉ phát triển theo một đường ray mà hễ ai trật ra là nguy hiểm. Cho nên trừ những trường hợp hãn hữu, họ thường chỉ là những chuyên viên kỹ thuật được trang bị một số vốn kiến thức kỹ thuật, chuyên môn hẹp nào đó, ở thời đó, và cũng rất mau lạc hậu, nhưng thiếu một nhãn quan rộng, thiếu một tầm nhìn ra ngoài ngành nghề hẹp của mình, cho nên bị hạn chế ngay trong việc phát triển chuyên môn, và càng bị hạn chế đứng trước những vấn đề xã hội, văn hóa không thuộc phạm vi chuyên môn hẹp của mình. Mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, ít khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN.  Chưa bao giờ trong xã hội ta có nhiều Xuân Tóc Đỏ như bây giờ. Tôi nói có vẻ bi quan, nhưng thà nhìn khắt khe một chút để biết người biêt ta, còn hơn nhắm mắt chủ quan một cách lố bịch.     Những sai lầm làm tha hóa giáo dục.  Trở lại vấn đề giáo dục hiện nay của ta, điều tôi lo lằng nhất là sự tha hóa trầm trọng của nó. Nói khủng hoảng nhưng nét chính của khủng hoảng ấy là sự tha hóa, biến chất. Giáo dục có nguy cơ trở thành phản giáo dục. Có nhiều nguyên nhân nhưng trực tiếp làm tha hóa giáo dục có ba sai lầm lớn mà tôi gọi là sai lầm hệ thống trong quản lý giáo dục.             Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng: gian dối, tiêu cực, dối trá, lãng phí, quan liêu… hiện đã đi vào xương tủy của giáo dục mà không một phong trào “nói không” nào có thể chữa trị được đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới sai lầm trong chính sách đối với người thầy.           1. Chính sách đối với người thầy. Đó là sai lầm đầu tiên và tai hại nhất do quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho thầy quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, là đúng. Nhưng từ đó đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của thầy đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực chuyên môn và đạo đức hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương. Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là do tham nhũng và sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy sô trên 30 giờ/tuần). Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng: gian dối, tiêu cực, dối trá, lãng phí, quan liêu… hiện đã đi vào xương tủy của giáo dục mà không một phong trào “nói không” nào có thể chữa trị được đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới cái lỗi hệ thống cơ bản này.  2. Tập trung tất cả việc dạy và học vào thi cử, nói rõ hơn là thay vì thi, kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả học tập vững chắc và thực chất thì dồn hết cố gắng vào các kỳ thi tốt nghiệp, thi “quốc gia” nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục VN: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Trước đây thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay bộ đề thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”. Nghĩa là tư duy có thay đổi gì đâu, hai mươi năm trời, tốn bao công nghiên cứu, cuối cùng trở lại gần như điểm xuất phát, dưới một hình thức có vẻ mới để che dấu một phương pháp cổ lỗ. Lại còn chuyện thi trắc nghiệm, thi tự luận. Người ta thi trắc nghiệm với một mục đích khác, ta không nghiên cứu kỹ, đưa ra áp dụng đại trà vào thi tốt nghiệp THPT trong khi trình độ chuyên nghiệp về kiểu thi này còn chưa bảo đảm, cho nên gây tốn kém và làm khổ cả học sinh lẫn thầy giáo. Rồi đùng một cái cấm các trường không được áp dụng hình thức trắc nghiệm khi thi học kỳ, làm cả thầy và trò hoang mang, không hiểu giáo dục là cái gì mà có thể quản lý tùy tiện như thế. Đem việc học phụ thuộc vào việc thi, khiến thi chứ không phải học trở thành hoạt động giáo dục chủ yếu, đến mức muốn hiểu thực chất giáo dục VN như thế nào chỉ cần quan sát hoạt động của nhà trường và xã hội trong mùa thi. Từ kiểu thi nhiêu khê đẻ ra những dịch vụ kỳ lạ hiếm thấy: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn duy trì kiểu học và thi này thì xã hội còn phải trả giá nặng nề cho sự tụt hậu của giáo dục. Chưa kể nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì lãng phí lên tới con số khủng khiếp, bình thường đã khó chấp nhận, với tình hình kinh tế khó khăn như lúc này càng khó chấp nhận hơn. Nhiều nước như Trung Quốc hay Hàn Quốc, thi còn nhẹ nhàng hơn ta mà họ đã phê phán cái “địa ngục thi cử” của họ, còn thi cử như ta không biết phải gọi là cái địa ngục gì.   3. Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với các nước trong khu vực. Đây chính là bệnh thành tích, chứ không là gì khác. Phát triển số lượng thì dễ, nhất là khi người dân còn khát học tập như trong xã hội ta. Chỉ đảm bảo chất lượng mới khó, vậy nên cứ chọn cái dễ mà làm, dễ gây ấn tượng, dễ báo cáo thành tích. Trên đã vậy thì làm sao chống được bệnh thành tích ở dưới. Trong hoàn cảnh ấy mà có người còn bênh vực bệnh thành tích, viện lẽ chỉ nhấn mạnh chất lượng lúc này là xa xỉ (!), thì thật không hiểu nổi ta muốn phát triển giáo dục và khoa học theo kiểu nào. Nguy hại là căn bệnh này nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, công nhận GS, PGS. Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường nhất về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trình nghiên cứu khoa hoc, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, đánh giá GS, PGS, đánh giá các đại học… phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung. Sự thiếu hiểu biết và coi thường các chuẩn mực quốc tế thể hiện trong mọi chủ trương xây dựng đại học, cho đến gần đây nhất vẫn rất chủ quan. “Điếc không sợ súng” đó là căn bệnh cố hữu của ngành giáo dục.   Tất cả các sai lầm hệ thống nêu trên khiến giáo dục dần dần biến chất, xuống cấp, xa rời tất cả những giá trị cao quý còn sót lại từ quá khứ. Xu hướng tha hóa ấy phát triển có nguy cơ đẻ ra một nền giáo dục phản giáo dục.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để giữ ký ức tập thể?      Năm 2020, lịch sử – sự ghi chép có hệ thống ký ức tập thể của nhân loại trong thời gian hữu hạn mà chúng ta có mặt trên trái đất này bỗng trở nên vô cùng quan trọng. Tư duy lịch sử mách bảo chúng ta rằng: dù đại dịch đã gây nên tổn hại nặng nề đến cuộc sống con người, nhân loại đã trải qua và vượt lên trên rất nhiều cơn khủng hoảng sinh tồn tương tự. Nói cách khác, tư duy lịch sử giúp chúng ta vượt qua đau khổ của hiện tại để xây dựng tương lai. Nhưng trong thời đại mà môn lịch sử đang bị quên lãng để nhường chỗ cho sự lên ngôi của ngành công nghệ thông tin, liệu có cách nào để chúng ta giữ gìn những ký ức tập thể?      Ảnh: Wired.  Sự suy thoái của tư duy lịch sử và phai màu ký ức tập thể  Sự suy thoái về tầm ảnh hưởng của các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn, mà đặc biệt là khoa lịch sử, là xu hướng đã và đang gây nên sự lo lắng trong giới học thuật trong thập niên vừa qua. Khủng hoảng kinh tế năm 2008 tại Mỹ đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự lựa chọn ngành học của sinh viên cấp bậc đại học; ngành lịch sử tại Mỹ, tuy nhiên, là ngành gánh chịu sự giảm sút về số lượng sinh viên theo học nhiều nhất trong thập niên vừa qua, dù số lượng sinh viên Mỹ theo học đại học ngày càng tăng cao. Từ năm 2011, số lượng sinh viên theo học khoa lịch sử tại Mỹ giảm gần 1/3, và chiếm khoảng 1 – 2% tổng số lượng sinh viên tại Mỹ. Ngược lại, tại các trường danh giá nhất tại Mỹ như Yale, Brown, hay Princeton, ngành lịch sử lại là ngành luôn nằm trong tốp các ngành được lựa chọn nhiều nhất; tại Yale, ngành lịch sử là ngành được lựa chọn nhiều đứng thứ ba. Sự tồn tại của nghịch lý này phần nhiều có thể giải thích được bởi sức mạnh thương hiệu của các trường đại học thuộc nhóm Ivy League ở Mỹ và những đặc quyền, đặc lợi mà sức mạnh này mang lại: một tấm bằng đại học từ Yale hay Brown không chỉ là chứng chỉ xác nhận trình độ và kiến thức của sinh viên về chuyên ngành đã học, mà còn được xem là một “thẻ bài” chứng minh khả năng trí tuệ và sự kiên trì của người sở hữu tấm bằng. Niềm tin rằng một tấm bằng đại học từ những trường Ivy League có thể cho bạn công việc ở bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào vẫn rất mạnh mẽ trong đại bộ phận sinh viên tại Mỹ; đây là một đặc trưng mang tính phân cấp của giáo dục Mỹ.  Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết, nghịch lý này thể hiện một hiện thực đáng lo ngại: rằng tư duy lịch sử, vốn được nuôi dưỡng bởi sự phát triển của công tác dạy – học và nghiên cứu của ngành lịch sử, đang dần trở thành đặc quyền của giới trí thức tinh hoa. Đặc quyền được dùng giáo dục như là cánh cửa mở ra những chân trời mới về không gian lẫn thời gian và rèn giũa tư duy – điểm mạnh của các ngành khoa học xã hội và nhân văn – vô hình trung trở thành một đặc điểm phân hóa giữa một chương trình giáo dục đắt đỏ và chương trình giáo dục đại chúng. Việc phân cấp giáo dục lịch sử, đi kèm với việc tư duy lịch sử trở nên “thất sủng” trong cách giáo dục được tổ chức và định hướng dẫn đến hai hệ quả lớn. Thứ nhất, ký ức tập thể được vun vén bởi không chỉ công tác ghi chép và phân tích lịch sử, mà còn được xây dựng bởi một văn hoá đại chúng yêu lịch sử, ham tìm hiểu về những câu chuyện, những tường thuật về các không gian ký ức không nằm ở thực tại. Việc tư duy và tìm hiểu lịch sử một cách có hệ thống dần trở thành hoạt động của giới tinh hoa giảm đi tính tập thể của những ký ức vô cùng quan trọng trong việc xã hội tìm được ý nghĩa và sự gắn kết của chính mình. Thứ hai, sự kém phổ biến của tư duy lịch sử trong văn hóa đại chúng giảm đi khả năng phục hồi của xã hội sau những khủng hoảng lớn. Một cộng đồng gánh chịu những hậu quả nặng nề của khủng hoảng tự nhiên, xã hội, hay bệnh dịch không thể tạo nên và lan tỏa những câu chuyện giúp họ nhìn nhận trải nghiệm tập thể nếu những câu chuyện tường thuật này không được xây dựng nên từ góc nhìn tầm chiêm nghiệm vượt ra ngoài không gian trực tiếp của cộng đồng họ.   Sự mờ phai của tư duy lịch sử và tính “thời trang” của việc khai thác triệt để hiện tại cho tương lai không chỉ là một triệu chứng của xã hội tư bản thời kỳ cuối (hay Shoshana Zuboff gọi cụ thể hơn là xã hội tư bản giám sát), mà còn là biểu hiện của một xã hội đang dần nắm bắt nhịp điệu và nhận thức luận của công nghệ điện toán cũng như ảnh hưởng sâu rộng của công nghệ trong vận hành xã hội.  Suy giảm về sự phổ biến của ngành lịch sử và tư duy lịch sử trong xã hội trong thập niên vừa qua xảy ra trùng hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khối ngành dữ liệu lớn và khoa học dữ liệu. Ngành khoa học dữ liệu lớn phát triển trên nền tảng phát triển tăng vọt của công nghệ điện toán và lượng dữ liệu người dùng khổng lồ được tạo ra bởi các hoạt động mua sắm, mạng xã hội, định vị, và dữ liệu về dữ liệu (metadata) do người dùng internet tạo ra khi sử dụng các dịch vụ công nghệ điện toán hằng ngày. Trước sự khả dụng của khối dữ liệu lớn này, các công ty công nghệ là những tổ chức đi tiên phong trong việc ứng dụng và phát triển các phương thức toán học điện toán tối ưu để có thể xử lý và đưa ra những tiên đoán chuẩn xác về hành vi người dùng thông qua những dấu vết điện toán mà họ dù muốn dù không vẫn phải để lại sau mỗi hoạt động trên mạng. Nhu cầu cho việc làm liên quan đến xử lý dữ liệu lớn ngày càng tăng cao với xu hướng thu thập, tích trữ, và phân tích dữ liệu của các doanh nghiệp; khối giáo dục đại học đáp trả xu hướng được chỉ định bởi thị trường việc làm bằng cách thiết kế ra các chương trình đào tạo mới liên quan đến dữ liệu lớn, cũng như kết hợp các khóa học nhỏ liên quan đến dữ liệu lớn và khoa học dữ liệu vào các chương trình có sẵn. Khối giáo dục đại học, thông qua hành động này, tiếp tục gửi các tín hiệu góp phần vào việc cường điệu hóa những lời hứa cho một “tương lai điện toán” mà các quá trình tự động hóa là quy trình cốt lõi trong cách xã hội hiện đại được vận hành. Thu thập và lưu trữ thật nhiều dữ liệu của hiện tại và dùng khối dữ liệu khổng lồ này để dự đoán thật chính xác tương lai chính là nền tảng của khoa học dữ liệu; sự lên ngôi của ngành khoa học dữ liệu mang theo không chỉ những cách vận hành tối ưu lợi nhuận mới tại các doanh nghiệp, mà còn mang theo những định hướng xã hội mang tính không gian và thời gian mới. Những gì xảy ra ngay tại thời điểm hiện tại luôn cần được dữ liệu hóa một cách có hệ thống và phù hợp với những cấu trúc điện toán sẵn có nhằm mục đích lưu giữ và phân tích về sau; dữ liệu chỉ có giá trị khi chúng có thể đưa ra dự đoán chính xác về tương lai và mang lại lợi nhuận hữu hình cho đối tượng khai thác dữ liệu.   Ký ức tập thể và dữ liệu điện toán – hướng đến sự bổ trợ trong tương lai?  Hugo von Hofmannsthal, nhà văn người Áo đầu thế kỷ XX, mô tả khái niệm ký ức tập thể một cách rất văn chương rằng ký ức tập thể là cách mà từng lớp màng quá khứ đang vang vọng ở thực tại tập thể của chúng ta. Ở một cái nhìn mang tính phân tích hơn, nhà xã hội học và triết gia người Pháp Maurice Halbwachs cho rằng ký ức được chia sẻ ở cấp độ xã hội có thể được coi là công cụ phục vụ cho việc thiết lập sự gắn kết của xã hội, cũng như vun đắp sự tin tưởng và tính đoàn kết giữa các cá thể đồng tồn tại. Theo góc nhìn xã hội học, bất kỳ cộng đồng xã hội nào cũng cần thực hiện việc củng cố bản sắc của nó bằng cách xây dựng những câu chuyện, phiên bản quá khứ của xã hội đó; những câu chuyện, phiên bản về quá khứ này cần nhận được sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội, để từ đó trở thành lời giải thích chung cho chính sự tồn tại của trật tự xã hội của hiện thực tập thể. Trong quá trình này, các phương tiện truyền thông đóng vai trò là chiếc tàu lưu trữ và chở ký ức tập thể đi khắp nơi; truyền thông cũng chính là “không gian”- hữu hình hay vô hình – nơi ký ức cá nhân có thể tìm thấy vị trí và sự đồng điệu hay bất hòa với ký ức tập thể. Tại những không gian này, con người còn có thể thừa hưởng những ký ức tập thể mà cá nhân họ chưa từng trải qua: ký ức và tường thuật về chiến tranh cho thế hệ hậu chiến, hình và phim ảnh về văn hóa những thập niên tiền chiến ở một châu lục xa xôi, hay chính hình ảnh và tường thuật về những sự kiện cận đại xảy ra ở các nước láng giềng. Ký ức tập thể không phải là một vật thể nguyên khối đồng nhất; ký ức tập thể là kiến trúc xã hội được xây dựng bởi những nỗ lực chính trị – xã hội luôn dịch chuyển, đi cùng với những hệ thống hạ tầng công nghệ truyền thông đang được lợi nhuận hóa ngày càng tinh vi và với những quy trình và cách thức nằm ngoài tầm giám sát của người dùng.     Người Ý hát ở ban công động viên tinh thần nhau giữa lúc cao trào của dịch Covid-19. Ảnh: Wall Street Journal.  Ký ức tập thể là điểm tựa cho bản ngã cá nhân và là cơ sở cho sự tồn tại của ý thức cộng đồng. Đại dịch Covid-19 và những nỗ lực chống dịch toàn cầu là một ví dụ điển hình cho sự hình thành ký ức tập thể nhân loại: dù tầm ảnh hưởng của Covid-19 đến từng quốc gia và các nhóm chính trị – xã hội là không đồng đều, ký ức chung về cơn khủng hoảng sức khỏe cộng đồng toàn cầu không chỉ cho ta một điểm chung với những nhóm người và cá thể cách xa về không gian và thời gian, mà còn giúp ta nhận ra sự chênh vênh và tính hữu hạn của sự tồn tại của loài người trên Trái đất. Ở khắp nơi trên thế giới, chúng ta nhìn thấy hình ảnh xác người tử vong vì Covid-19 được lặng lẽ mang đi chứa ở các xe tải đông lạnh đậu dọc bang New York và chờ xử lý qua nhiều tháng trời do tỉ lệ tử vong quá cao tại Mỹ. Chúng ta cổ vũ hình ảnh người dân Ý ca hát từ ban-công nhà để an ủi nhau vượt qua giãn cách xã hội; xúc động trước hình ảnh biểu tình đòi công bằng của người da đen tại Mỹ ngay giữa đại dịch hay sững sờ trước hình ảnh đám đông xông vào Điện Capitol để chống đối kết quả bầu cử vào thời điểm mà lây lan gần như đang đỉnh điểm tại Mỹ. Gần gũi hơn với hiện thực tại Việt Nam, hình ảnh cuộc sống thường nhật dần lấy lại nhịp điệu hối hả ở các thành phố lớn tại Trung Quốc cho chúng ta một bức tranh khác về tính mong manh trong trật tự xã hội loài người: rằng cho dù trật tự của thực tại đến từ những vun đắp và đấu tranh của quá khứ, sự lật đổ và tái thiết lập trật tự mới là quy trình thiết yếu trong cách mà loài người tổ chức xã hội của chính mình.       Ký ức chung về cơn khủng hoảng sức khỏe cộng đồng toàn cầu không chỉ cho ta một điểm chung với những nhóm người và cá thể cách xa về không gian và thời gian, mà còn giúp ta nhận ra sự chênh vênh và tính hữu hạn của sự tồn tại của loài người trên Trái đất.      Công nghệ điện toán – đặc biệt là mạng xã hội và các ứng dụng nhắn tin qua mạng – góp phần tạo nên những không gian ký ức ngày càng đa dạng. Đằng sau những không gian ký ức vượt qua giới hạn và rào cản hữu hình này là bộ máy khai thác những dấu vết điện toán mà con người để lại một cách tự động hóa. Việc tự động hóa lưu trữ những ghi chép về ký ức sống của con người trong môi trường điện toán thay đổi cách ký ức tập thể được xây dựng và chia sẻ: ký ức chủ quan của cá nhân về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ có thể sai khác với những tường thuật mà dữ liệu và sự tổng hợp tự động hóa của dữ liệu mang lại. Các nhà khoa học xã hội điện toán (computational social scientist) đã nhanh chóng thu thập, theo dấu, và ứng dụng các phương pháp tự động hóa như học máy và mô hình chủ đề trong việc phân tích những ký ức sống trong đại dịch. Từ những vấn đề như việc tuyên truyền kỳ thị và phân biệt đối xử với những nhóm thiểu số trên mạng xã hội trong bối cảnh Covid-19, đến việc quan sát và phân tích hoạt động thể chất và giữ gìn sức khỏe thông qua dữ liệu tự động từ các thiết bị di động, những tường thuật được kể lại từ dấu vết điện toán mà người dùng internet để lại góp phần phơi bày những phiên bản ký ức tập thể dưới hình thức những bức ảnh dữ liệu chụp vội; những bức ảnh này bổ sung vào tập hợp kho ký ức chung của chúng ta những chi tiết và câu chuyện ẩn sâu chỉ có thể được khai quật bởi chính những quy trình điện toán tự động nằm ngoài những cảm quan nội tại của con người.     ATM gạo – một hình thức phát gạo miễn phí cho những người gặp khó khăn trong dịch bệnh ở Việt Nam. Ảnh: VnReview.  Các sử gia cũng đang dần đón nhận những biến chuyển về cách mà ký ức tập thể được tường thuật, lan truyền, và xây dựng trong thời đại mà các quá trình tự động hóa đang ngày càng trở thành một phần được tích hợp sâu rộng vào sinh hoạt xã hội. Đơn cử cho xu hướng này là dự án “Nhật ký năm tai họa đại dịch” (A journal of the plague year) bởi các sử gia đến từ nhiều quốc gia, được khởi xướng bởi một nhóm sử gia tại trường đại học Arizona State. Ngay khi đại dịch Covid-19 bùng nổ bên ngoài Trung Quốc vào đầu tháng ba, nhóm sử gia này đã nhanh chóng tạo ra kho lưu trữ ký ức trực tuyến và kêu gọi mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới gửi đến kho lưu trữ này bất kỳ dữ liệu nào mà họ cảm thấy diễn tả được những nghịch lý của việc sống giữa đại dịch – các câu chuyện bằng chữ, các vật thể điện toán như hình ảnh, video, thu âm, tweet, bài đăng trên Facebook, Instagram, Snapchat, ảnh chụp màn hình, email… với mục đích ghi chép, cập nhật, và giám tuyển theo thời gian thật những diễn biến của đại dịch với quy mô toàn cầu. Tuy lượng dữ liệu mà dự án thu thập được là không đáng kể so với lượng dữ liệu hữu cơ khổng lồ mà các nhà nghiên cứu sử học có thể thu thập một cách thủ công hoặc tự động hóa trên các trang mạng xã hội, việc dự án được đề ra thể hiện sự nhìn nhận có hệ thống cách không gian ký ức hỗn huyết bao gồm con người và những thực thể máy móc điện toán đã và đang biến đổi và cho phép cách chúng ta ghi nhớ.       Các sử gia cũng đang dần đón nhận những biến chuyển về cách mà ký ức tập thể được tường thuật, lan truyền, và xây dựng trong thời đại mà các quá trình tự động hóa đang ngày càng trở thành một phần được tích hợp sâu rộng vào sinh hoạt xã hội.      Nhìn vào tương lai công nghệ – nhân văn hỗn huyết của chúng ta  Chúng ta sống giữa sự đồng tồn tại của ký ức nội tại của cá nhân giữa những ký ức tập thể không ngừng chuyển động, cùng với hệ thống công nghệ điện toán không ngừng ghi nhận các hoạt động của con người với định hướng tối hậu là mang lại những tường thuật về chính chúng ta và xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Chung sống với những không gian ký ức đa chiều này đòi hỏi sự nhìn nhận ký ức như là một dự án phản duy con người – rằng con người và những cảm quan của chúng ta không nên là trung tâm của cách mà chúng ta xây dựng ký ức về chính mình. Nhìn nhận vị trí của con người như là một phần, dù là một phần vô cùng quan trọng, của nền sinh thái với bề dày lịch sử vượt xa sự tồn tại của loài người, là điểm khởi đầu cho cách chúng ta kể những câu chuyện sâu sắc hơn về mình. Hệ sinh thái đa dạng loài của chúng ta – hệ sinh thái bao gồm virus, dơi, hay tê tê – còn bao gồm cả những vật thể công nghệ nhân tạo do chính chúng ta tạo ra. Cách chúng ta tạo dựng ký ức tập thể trong tương lai sẽ ngày càng dựa trên những dữ liệu điện toán do chính chúng ta để lại phía sau; nhìn nhận sự can thiệp và lực ảnh hưởng của công nghệ như một đối tác bình đẳng có lẽ là cách tốt nhất để điều hướng cho tương lai hỗn huyết của chúng ta. □  Tài liệu tham khảo  A journal of the plague year https://covid-19archive.org/s/archive/page/Share   Halbwachs, M. (1992 [1952]). In L. A. Coser (Ed.), On collective memory. Chicago, IL: University of Chicago Press.  Olick, J. K., & Robbins, J. (1998). Social memory studies: From “collective memory” to the historical sociology of mnemonic practices. Annual Review of Sociology, 24, 105–136.  The history BA since the great recession: The 2018 AHA Majors Report https://www.historians.org/publications-and-directories/perspectives-on-history/december-2018/the-history-ba-since-the-great-recession-the-2018-aha-majors-report   Tison, G. H., Avram, R., Kuhar, P., Abreau, S., Marcus, G. M., Pletcher, M. J., & Olgin, J. E. (2020). Worldwide effect of COVID-19 on physical activity: a descriptive study. Annals of internal medicine, 173(9), 767-770.  Uyheng, J., & Carley, K. M. (2020). Bots and online hate during the COVID-19 pandemic: case studies in the United States and the Philippines. Journal of Computational Social Science, 3(2), 445-468.    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Để hạt gạo thoát thân phận “chiếu dưới” ?      Sự kiện gạo ST25 của Việt Nam (VN) được vinh dự trao giải nhất thế giới vào tháng 11/ 2019 tại cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới” (World’s Best Rice) tổ chức tại Philippines đã khiến người Việt, nhất là người nông dân, các nhà khoa học (KH) nông nghiệp và giới doanh nhân xuất nhập khẩu nông sản tự hào. Đây là sự thừa nhận của cộng đồng thế giới về phẩm cấp của hạt gạo VN, và điều đó cũng khẳng định: từ đây vị thế thương hiệu của hạt gạo Việt đã bước sang một trang sử mới, lấy chất lượng và giá trị gia tăng trong chuỗi hàng hóa làm thước đo.  Đó lại là công trình của nhóm tác giả thuộc công ty tư nhân nhỏ mang tên Hồ Quang Trí, có trụ sở tại một nơi thôn dã: Ấp Thạnh Lợi, thị trấn Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; nhiều năm qua, họ tự tiến hành các nghiên cứu (NC) đầy khó khăn và thách thức để vươn tới đỉnh cao về đẳng cấp hạt gạo mà không hề có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước. Nhìn vào thành quả của công ty Hồ Quang Trí, chúng ta thấy nhiều điều đáng suy ngẫm về cách thức tổ chức NC giống lúa ở khu vực công mấy chục năm nay.      Kỹ sư Hồ Quang Cua và sản phẩm gạo ST25.   Không thể tiếp tục trọng số lượng  Trên 30 năm đổi mới, 30 năm xuất khẩu gạo, với sự vào cuộc của đội ngũ các cán bộ KHCN làm về di truyền và chọn tạo giống lúa của hàng trăm viện, trường, với hàng ngàn tỷ đồng đầu tư cho việc chọn tạo giống lúa, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích: Tính riêng giai đoạn 2009 – 2017, Bộ NN&PTNT công nhận 309 giống cây trồng và 203 tiến bộ kỹ thuật mới, các giống lúa do VN chọn tạo được chuyển giao và ứng dụng đạt 4,6 triệu ha, chiếm 59% diện tích lúa cả nước. Đến năm 2018, đã có đến 800 tiêu chuẩn, 210 quy chuẩn kỹ thuật được công nhận, ban hành và áp dụng hiệu quả; KH&CN ứng dụng vào sản xuất có những bước phát triển vượt bậc, làm tăng sản lượng và đóng góp trên 30% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp (NN), các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đã giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 10 – 30%, v.v…   Nhưng cũng có một thực tế là, chúng ta vẫn chưa thể nâng tầm hạt gạo Việt thoát khỏi thân phận ‘chiếu dưới’: giá rẻ, chất lượng thấp, không thương hiệu, chuỗi ngành hàng ngắn, bấp bênh, mở được thị trường nhưng chưa làm chủ được thị trường. Các nhà xuất nhập khẩu gạo thế giới nhìn hạt gạo VN với con mắt thiếu tôn trọng, nên chỉ có các thị trường dễ tính như châu Phi, Trung Quốc và vài nước Đông Nam Á ngó ngàng tới, mặc cho VN vẫn tự hào là một trong các cường quốc về xuất khẩu nông sản. Tệ hơn, chúng ta còn để mất thị trường ‘ngay trên sân nhà’, khi tầng lớp trung lưu và thị dân xa rời dần hạt gạo Việt, họ tìm đến với gạo Thái, gạo Campuchia. Không phải người ta không biết đến thực trạng này, nên cả Nhà nước, người dân, nhà KH và đội ngũ doanh nhân đã loay hoay tìm lối bứt phá, nhằm thoát khỏi phân khúc thị trường lúa gạo giá rẻ.      Có một thực tế là, chúng ta vẫn chưa thể nâng tầm hạt gạo Việt thoát khỏi thân phận ‘chiếu dưới’: giá rẻ, chất lượng thấp, không thương hiệu, chuỗi ngành hàng ngắn, bấp bênh, mở được thị trường nhưng chưa làm chủ được thị trường.      Ấy thế mà (nhưng hoàn toàn không bất ngờ), chiếm lĩnh vị trí danh giá nhất của công tác giống lúa VN lại là một nhóm các nhà NC ‘tư nhân’. Giống lúa ST25 của họ đã trở thành một trong những điểm sáng nhất về KH&CN nông nghiệp của năm 2019, giống lúa đã mở ra cơ hội vàng cho ngành lúa gạo nước ta. Sự kỳ diệu ấy được kĩ sư Hồ Quang Cua, cha đẻ của các giống lúa mang tên Sóc Trăng (ST) quê hương ông, trần tình giản dị: muốn có thành công thì phải có khát vọng, phải biết dấn thân, kiên trì đi theo hướng mà mình tin là đúng, không chạy theo tiền bạc, không bon chen hư danh… Ông nửa đùa nửa thật bảo, nếu tôi mà cũng ‘làm đề tài’ nhà nước thì có lẽ bây giờ khó có được ST25 mà chỉ có các đống báo cáo ‘KH ’ được viết theo đúng qui định và các giống lúa ‘có cô thì chợ cũng đông’ mà thôi!   Nhóm NC của ông gồm các nhà KH  cùng chí hướng, cùng đam mê, nhiệt huyết, với tâm niệm ‘hãy bắt đầu từ những gì ta có’. Họ biết chắt chiu, dành dụm và sử dụng với trách nhiệm cao nhất, tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất từng đồng tiền, từng chút kiến thức, từng mảnh kĩ năng mồ hôi nước mắt mà họ đã dành dụm và tích lũy được để kiên trì, và miệt mài lai tạo, chọn lọc giống theo hướng lúa thơm, chất lượng cao, chống chịu tốt, thích ứng rộng.   Nhớ lại, khi giống lúa ST20 ra đời vào năm 2011 cũng là lúc một công sự thân tín của ông, Tiến sỹ Trần Tấn Phương, bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ tại trường Đại học NN I – Hà Nội, khẳng định lý thuyết KH của nhóm xuất phát từ thực tiễn NC và sản xuất lúa thơm chất lượng cao ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là đúng hướng, có tính khả thi cao. Và họ tiếp tục vững bước cho ra đời các giống lúa thơm chất lượng cao khác, đều là kết quả của các tổ hợp lai phức hợp gồm nhiều giống bố mẹ, trong đó hội tụ nhiều đặc tính ưu việt: dẻo, thơm, ngon, bổ dưỡng, sạch (vì canh tác hữu cơ). Đồng thời, ST25 còn có các đặc tính vượt trội về phòng chống bệnh (nên ít dùng thuốc bảo vệ thực vật), kháng mặn và đặc biệt là có tính thích ứng rộng (gieo trồng được nhiều vụ trong năm, ở nhiều vùng sinh thái khác nhau) và có năng suất khá cao.  Kỹ sư Hồ Quang Cua được phong tặng Anh hùng lao động, nhóm của ông được 7 Huân chương lao động của Chủ tịch nước, 2 giải thưởng Bông lúa vàng của Bộ NN&PTNT. Nhưng điều vinh dự hơn cả có lẽ là sự ghi nhận của lòng dân. Người ta đã nhiều lần chứng kiến những người nông dân chân chất của khắp các huyện nghèo ở Sóc Trăng từ Mỹ Tú, Kế sách, Cù lao Dung, Thạnh Trị đến Vĩnh Châu, Ngã Năm, Mỹ Xuyên và trên các miền quê khác, từ Tây Nguyên cho đến Nam Định, vui mừng và thân thiết như thế nào khi gặp ông Cua, họ gọi ông là ‘ông kỹ sư’ trọng thị và thành kính.   Nhưng kết quả của ST25 cũng khiến ta phải đặt lại câu hỏi là tại sao đến tận những ngày cuối năm 2019 vừa qua, sau 30 năm xuất khẩu, hạt gạo VN lần đầu tiên mới được thế giới vinh danh nhờ sự góp mặt của ST25?      Nhiều người lo ngại gạo Việt lép vế ngay trên sân nhà, khi gạo Thái, gạo Campuchia ngày càng được ưa chuộng hơn. Nguồn: internet.  Những vấn đề thuộc về quản lý KH&CN  Nguyên nhân có nhiều, trong đó có ‘những vấn đề do lịch sử để lại’, và có những vấn đề thuộc về quản lý KH&CN.  Lịch sử NN trong những năm cận đại và hiện đại cho thấy, đất nước ta, nhất là miền Bắc và miền Trung, luôn bị nạn đói đe dọa, đã nhiều lần bị chìm trong nạn thiếu hụt lương thực kinh niên, phải chăng điều ấy đã sinh ra nền NN số lượng? Cho nên ‘đua nhau’ tăng năng suất, tăng sản lượng, từ 1 vụ thành 2 vụ rồi 3-4 vụ. Rồi luân canh, xen canh, gối vụ, du nhập và chọn tạo các giống chịu thâm canh, thâm dụng tài nguyên đất, nước, thâm dụng lao động, phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật để đạt năng suất và sản lượng cao nhất. Nhưng, như một lẽ tự nhiên không vui, vì thế ta lại trở thành một quốc gia nhập khẩu máy móc, thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, thức ăn chăn nuôi… một sự đánh đổi từ phụ thuộc về lương thực sang phụ thuộc ‘đầu vào’ trong sản xuất nông nghiệp.   Và cũng vì tư duy nặng ‘tích cốc phòng cơ’ nên ta vẫn chưa thể chuyển hướng sang xây dựng một nền NN hàng hóa lấy chất lượng và giá trị gia tăng theo chuỗi ngành hàng nông sản và thu nhập của nhà nông làm thước đo của sự phát triển. Chúng ta cũng chậm trễ trong việc thiết kế lại tổ chức sản xuất và tổ chức thị trường phù hợp với lợi thế, tiềm năng.  Còn về mặt quản lý KH thì sao, lề thói của chúng ta dường như vẫn còn mang dấu ấn của thời kỳ quan liêu bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, nặng về đảm bảo thủ tục hành chính và chứng từ tài chính. Cung cách quản lý KH&CN ấy đã làm mỏi mệt các nhà KH chân chính. NCKH là để tìm hiểu và phát minh ra những cái mới, những cái chưa biết, hoặc là để hoàn thiện thêm, làm tốt hơn những gì đã có; nhưng theo hồ sơ đăng ký đề tài các cấp hiện hành thì dù chưa biết cũng phải dự kiến sau 2-3 năm có sản phẩm gì, qua những sản phẩm trung gian nào, đã có kế hoạch sử dụng hết bao nhiêu hóa chất, đã có kế hoạch phân tích kế hoạch chi tiêu bao nhiêu chỉ tiêu, địa chỉ ứng dụng ở đâu, kết quả thế nào. Các kết quả NC ấy lại phải ra đời đúng tiến độ, theo đúng kế hoạch về thời gian và tiền bạc đã được duyệt, nếu sai khác đi thì phải làm các thủ tục điều chỉnh khá phức tạp. Trong khi đó, ở một trường đại học bên Bỉ, theo một bài báo gần đây, với 1000 GS và 2000 đề tài, dự án KH&CN hằng năm, nhưng chỉ cần có một kế toán viên!      Đừng để ST 25 trở thành tấm huy chương treo cao để nhớ về một thời huy hoàng đã qua như ĐS1, RVT, Jasmine 85, Hương Lài, Nàng Hoa 9, Đài thơm 8 và các giống lúa có gạo ngon nức tiếng một thời khác nhưng không vươn xa được.      Chúng ta nhìn lại cách thức công ty tư nhân Hồ Quang Trí làm NC và phát triển công nghệ trong điều kiện gần như không có phòng thí nghiệm, cái gì thật cần thiết thì đi thuê các phòng thí nghiệm uy tín phân tích, nhiều khi phải mang mẫu vật ra tận Hà Nội. Họ đã dũng cảm và đam mê thực hiện hàng loạt đề tài ‘tư nhân’ cấp công ty, cấp gia đình và đã rất thành công mà nếu đưa ra các hội đồng còn mang nặng tính hành chính trong khu vực quốc doanh như ta vẫn thường thấy, thì chắc chắn sẽ khó được duyệt, khó được nghiệm thu, vì không theo các thể thức, quy định hiện hành. Có lẽ mấu chốt của sự khác biệt là ở chỗ: hình như ở xứ ta, NCKH và ‘làm đề tài NC nhà nước’ chưa hẳn đã là một; có lúc chúng còn khác nhau về bản chất.  Tổ chức lại nghiên cứu và sản xuất  Rõ ràng là, có nhiều yếu tố cần phải được tổ chức lại, như cần phải tổ chức NC, tổ chức sản xuất giống, tổ chức sản xuất lúa hàng hóa, tổ chức chế biến và tổ chức thị trường sao cho tối ưu để mang lại ‘cơ hội vàng’ cho hạt gạo VN, cho nông sản VN. Nhưng trước hết có lẽ nên tập trung vào ba nhóm yếu tố quan trọng nhất để nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa:  (1) Để ngày càng có nhiều nông sản được công nhận ở quy mô quốc tế, thì KH&CN phải giải các bài toán đang và sẽ đặt ra cho thực tiễn ngành NN VN, trong đó công tác giống phải được đưa lên hàng đầu.  Giống tốt là những giống phải tích hợp được nhiều tính trạng vượt trội: chất lượng cao, năng suất ‘chấp nhận được’, an toàn thực phẩm và an toàn sinh học, vừa là thức ăn vừa là dược liệu, chống chịu tốt với thời tiết, sâu bệnh (giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật) thích ứng rộng. Đây là công việc của các nhà KH. Đồng thời, các nhà KH, tác giả của các giống chất lượng cao mang thương hiệu quốc gia cần liên tục cải tiến giống.   Về phía quản lý nhà nước, cần sớm ban hành danh mục giống lúa (cũng như các giống cây trồngg khác) để xây dựng thương hiệu quốc gia và các quy chuẩn tương thích của từng giống, ban hành chỉ dẫn địa lý và xuất xứ cho từng giống, tiêu chuẩn độ thuần của gạo để cấp quyền sử dụng thương hiệu quốc gia, xây dựng chuẩn mực cho gạo thơm, gạo chất lượng cao quốc gia, và các chuẩn này liên tục được nâng lên hằng năm qua các cuộc thi. Các doanh nghiệp tự xây dựng thương hiệu gạo cho riêng mình theo những quy chuẩn do Nhà nước ban hành, khi đó nhà nước mới cho doanh nghiệp được phép mang thương hiệu quốc gia của một mặt hàng nông sản nào đó. Doanh nghiệp khắc phục bằng được điểm yếu trong khâu tổ chức sản xuất và chế biến hạt giống, phát triển ngành công nghiệp hạt giống xứng tầm với vị thế của một cường quốc về nông nghiệp, của một dân tộc có nền văn minh lúa nước.  Để thực hiện nghiêm túc việc bảo hộ quyền tác giả, bộ KH&CN phải đồng hành với các nhà KH trong việc công nhận sở hữu trí tuệ, bản quyền, tăng cường áp dụng chỉ dẫn địa lý và nguồn gốc xuất xứ nông sản… Từ đó hình thành nền công nghiệp hạt giống – khâu yếu nhất trong sản xuất NN của chúng ta hiện nay.  Quản lý chặt chẽ thị trường giống, ai kinh doanh giống giả, giống kém chất lượng thì phải xử lý thích đáng, thậm chí có nguy cơ bị sạt nghiệp; từ đó hạn chế, tiến tới xóa bỏ thị trường giống giả, giống nhái. Nếu nhà nước cứ để thật giả lẫn lộn như hiện nay, để cho các nhà KH và nông dân phải tự loay hoay chống đỡ với nạn giống giả, gạo giả, thì sẽ rất khó phát triển và củng cố thị trường giống cây trồng lành mạnh, củng cố và nâng tầm các nông sản có uy tín như ST25.  (2) Tổ chức sản xuất: Việc đầu tiên là phải quy hoạch định hướng thị trường cho các vùng nguyên liệu chủ lực đủ lớn, trên cơ sở nông dân liên kết cùng nông dân với sự hỗ trợ và vào cuộc thực sự của các doanh nghiệp trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra, trong đó có việc xây dựng các loại kho chứa, nhà máy xay xát, các thiết bị chế biến sâu và hệ thống logistis đi cùng; nhà nước hỗ trợ về cơ sở hạ tầng (giao thông, hệ thống thủy lợi, cảng biển, cảng sông, kho chứa), hỗ trợ vốn, lãi suất, thúc đẩy kết nối thị trường… từ đó hình thành các ‘đại nông’ trên cơ sở các ‘đơn vị cấu thành’ là các ‘tiểu nông’ và ‘trung nông’; nhờ thế mới có thể đẩy mạnh cơ giới hóa để tăng năng suất lao động, từ đó hình thành các chuỗi giá trị từ đầu vào đến đầu ra do doanh nghiệp dẫn dắt và một tầng lớp nông dân biết kinh doanh nông nghiệp, biết mở mang kinh tế nông thôn; hình thành nền công nghiệp lúa gạo, công nghiệp trái cây, các Agroholding (tạm dịch là các công ty cổ phần nông nghiệp)…  Việc tổ chức lại sản xuất không phải chỉ có vai trò của Bộ NN&PTNT, mà cần tới sự đồng hành của doanh nghiệp, của các bộ ngành liên quan, khơi dậy niềm tự hào, tính kỷ luật của người nông dân, thực hành NN tốt, sản xuất theo các quy trình và tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế, tổ chức tốt các liên kết ngang và liên kết dọc.   Chúng ta không lo thiếu thị trường nếu có nông sản chất lượng cao, hợp thị hiếu người tiêu dùng. Như hiện nay ST25 đã tạo một cơn sốt thực sự trong thị trường nội địa, nếu như trước đây chỉ bán được chừng 30 tấn/ngày, thì nay nhu cầu lên tới 300 tấn/ngày và còn tiếp tục tăng.   (3) Tổ chức thị trường: Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các tổ chức có liên quan như Hiệp hội lương thực, Tổng công ty lương thực các vùng miền, Bộ Công thương lo mở thị trường, xúc tiến thương mại, đưa hạt gạo và các nông sản VN khác ra với thế giới. Tuy vậy phải lường trước rủi ro của thị trường để có cái nhìn dài hạn, tránh ‘ăn sổi’, và hơn nữa phải đẩy mạnh chế biến và chế biến sâu, kéo dài chuỗi giá trị nông sản, nâng cao giá trị gia tăng, để nhờ đó, chúng ta có thể làm chủ thị trường ở mức độ cao hơn, vì chúng ta làm chủ nguồn hàng, chủ động hơn về giá cả.   Làm được vậy sẽ không còn cảnh cam, bưởi… bán rẻ như cho giữa mùa trái cây rộ nhất, hay trái thanh long phải cho bò ăn và các chiến dịch ‘giải cứu’ nông sản do cung vượt cầu quá lớn cũng sẽ được giảm thiểu.  Quay trở lại ST 25, rõ ràng nhà nước, trong đó có trách nhiệm của những người làm quản lý KH, phải làm sao để người dân trồng lúa thơm chất lượng cao này thực sự có lãi, có thị trường. Đừng để ST 25 trở thành tấm huy chương treo cao để nhớ về một thời huy hoàng đã qua như ĐS1, RVT, Jasmine 85, Hương Lài, Nàng Hoa 9, Đài thơm 8 và các giống lúa có gạo ngon nức tiếng một thời khác nhưng không vươn xa được.   Nhìn từ sự thành công của ST25 và sự ra đời của các quỹ NC tư nhân gần đây như của Vingroup, Phenikaa, với cung cách quản lý cởi mở, tin tưởng và tôn trọng thực tài, thì có nhiều bài học rút ra để, sẽ mở ra một cách làm mới, tiếp cận mới cho công tác NCKH và quản lý KH&CN của nhà nước. Với các NC ứng dụng, phục vụ trực tiếp quốc kế dân sinh, nhà nước cần có các Chương trình KHCN định hướng mục tiêu theo các sản phẩm quốc gia lâu dài (lên tới vài ba mươi năm), với số lượng và chất lượng rõ ràng, có thể đo đếm được, từ đó xác lập các đề tài nghiên cứu, các dự án triển khai theo mục tiêu của kết quả đầu ra (mong đợi) cuối cùng, qua hàng loạt các sản phẩm trung gian. Các nhà KH, không cứ bằng cấp hay chức danh, nhà nước, tập thể hay tư nhân đều có quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau trong việc đấu thầu theo các sản phẩm đầu ra (KPIs) cuối cùng hay các sản phẩm trung gian nào đó; hoặc là nhà nước đi tìm người tài để giao việc (kiểu như các nhà tổ chức giải Nobel đi tìm người tài để trao giải chứ không bắt các nhà KH phải làm đơn xin rồi xét duyệt, nghiệm thu). Kinh phí giao theo KPIs do Nhà nước đặt hàng hoặc do các nhà KH hay tổ chức KHCN đăng ký. (Tất nhiên cách làm này chỉ với các NC ứng dụng, còn các NC cơ bản thì có đặc thù khác).    Author                Trần Đức Viên        
0.032577903682719546
__label__tiasang Để hiền tài thực sự là nguyên khí quốc gia      Sau một ngày làm việc (24.9.2005) và lắng nghe khoảng hơn 20 ý kiến phát biểu đóng góp từ phía đại diện của giới khoa học Việt Nam, Thủ tướng Phan Văn Khải cuối cùng đã dẫn lời của tiền nhân:    Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” để nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhà khoa học trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Nhưng Thủ tướng cũng cho rằng để thực sự là người “hiền tài”, các nhà khoa học cũng phải tự sửa mình trước những “căn bệnh” như mất đoàn kết, thiếu tinh thần hợp tác, thiếu trung thực, hám danh, hám lợi… Thủ tướng đề nghị tổ chức hàng năm cuộc gặp gỡ giữa đại diện Chính phủ và các nhà khoa học và tiến tới có một ngày “Khoa học và công nghệ” ở Việt Nam.   Bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ 21, thế kỷ của kinh tế tri thức và đứng trước cơ hội (và thách thức) của hội nhập, khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam đã làm gì và sẽ thay đổi như thế nào để đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước? Một câu hỏi đơn giản nhưng lại chưa tìm được câu trả lời đầy đủ, thích đáng. Cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng và các nhà khoa học vừa qua cũng chỉ là dịp để “sới lại” những gì mà giới khoa học đã từng biết, quá biết và muốn có những thay đổi.  Động lực phát triển  Những chữ, và thành ngữ quá quen thuộc “Khoa học và công nghệ được coi là động lực phát triển đất nước” trích dẫn từ các Nghị quyết Trung ương đã được nhiều người nhắc đi, nhắc lại trong buổi làm việc, nhưng với những ý nghĩa và góc nhìn khác nhau.  Nhiều nhà khoa học cho rằng nếu đã xác định khoa học là động lực cho sự phát triển của đất nước thì nền khoa học cũng như người làm khoa học nước nhà phải thực sự được xã hội tôn trọng và coi trọng. Nhà nước cần có nhiều quan tâm hơn tới các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ để họ thực sự có “động lực” trong các nghiên cứu, nghề nghiệp.  Chuyển từ bao cấp sang thị trường: Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập để phát huy tính năng động của các tổ chức này trong nền kinh tế thị trường. Chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ của Nhà nước có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Có cơ chế chính sách hỗ trợ các tổ chức này trong quá trình chuyển đổi. Khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học thành lập hoặc liên doanh, liên kết đối với các tổ chức trong nước, nước ngoài để thành lập các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, có chính sách khuyến khích đầu tư đặc biệt về cơ sở hạ tầng, thuế, sử dụng đất đai đối với doanh nghiệp KH&CN hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao (Trích Đề án Phát triển thị trường công nghệ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30.8.2005)   “Một nghiên cứu chính như tôi, có chuyên môn, có ngoại ngữ, có công trình nghiên cứu… mà chỉ có thu nhập không quá 1 triệu đồng, tức là bằng lương của một công nhân xây dựng bậc 3 hay một công nhân ở nhà máy chế biến thì làm sao đủ sống”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Thu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Thuỷ sản 3 (Nha Trang) nói. Chia xẻ ý kiến này, Giáo sư Bùi Chí Bửu thuộc Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long cho rằng chế độ tiền lương của Việt Nam hiện rất bất hợp lý, nặng về thâm niên hơn là về trình độ thực tế: “Một tiến sĩ trẻ, giỏi ở nước ngoài về lương không bằng một cán bộ có thâm niên trong nước thì làm sao mà bình đẳng được”.  Giáo sư Hoàng Tuỵ cũng nhấn mạnh rằng khi nhà khoa học suốt ngày phải nghĩ tới chuyện mưu sinh thì khó mà làm khoa học được. Như vậy theo ông, trước mắt nhà khoa học phải có một mức sống tốt chứ chưa cần một mức sống cao. Tuy nhiên, cái cách sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học để làm tăng thu nhập cho các nhà nghiên cứu lại bị ông chỉ trích khá mạnh: “Không có nước nào như nước ta lại sử dụng tiền ngân sách cho việc nghiên cứu để tăng thu nhập. Kinh phí khoa học của các nước chỉ để cho phương tiện, thiết bị nghiên cứu khoa học chứ không để tăng thu nhập”. Chính từ chính sách tiền lương chưa thỏa đáng, nhà khoa học không có đồng lương tử tế đã dẫn tới đủ thứ tiêu cực…  Nhưng lương chưa chắc đã là tất cả, nhiều người cho rằng điều quan trọng hơn là Nhà nước phải tạo ra một cơ chế, một môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học. Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trước hết phải có một chuyển biến cách mạng trong nhận thức về vai trò của khoa học đối với đất nước. Sở dĩ các chính sách về KH&CN hiện nay của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập bởi chúng bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của KH&CN. “Những chính sách đã ra đời theo tôi chưa thực sự thông thoáng để huy động tri thức của người Việt Nam đóng góp cho sự phát triển của KH&CN”, ông nhấn mạnh.  Tiến sĩ Phan Thanh Bình (Đại học Quốc gia TP HCM) cũng cho rằng cần phải làm việc nhiều hơn nữa để có những cơ chế và chính sách tốt cho KH&CN. Ông nói: “Rất khó có những cái mới được hình thành nếu không có cơ chế mới. Khi môi trường được thay đổi thì sẽ có những cái mới xuất hiện”.              “Các ý kiến đề nghị tạo môi trường làm việc tốt, điều kiện nghiên cứu đầy đủ; đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần (lương, thu nhập và khen thưởng) đều là nguyện vọng chính đáng. Tuỳ theo khả năng kinh tế và ngân sách, Chính phủ đang nghiên cứu và từng bước giải quyết, nhất định sẽ tốt dần lên và thực sự khuyến khích được người tài, không làm theo kiểu bình quân chủ nghĩa mà phải theo công sức đóng góp của mỗi nhà khoa học”. Thủ tướng Phan Văn Khải          Trước những ý kiến “nóng bỏng” của các nhà khoa học, Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận: “Trong các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đều nói: “Khoa học và công nghệ là động lực, là nền tảng, là quốc sách…”. Nhưng để biến những điều này thành hiện thực thì đó là một yêu cầu đối với chúng ta”. Thủ tướng cũng nhấn mạnh điều quan trọng hiện nay là phải tìm cách biến các tiềm năng của KH&CN trở thành những hành động thực tế giúp đất nước thoát khỏi những nguy cơ tụt hậu đối với khu vực và thế giới. “Không có KH&CN thì làm sao chúng ta có thể đi nhanh được, làm sao có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và làm sao làm giàu cho đất nước được”, ông nói. Như vậy, theo Thủ tướng, điều mà Chính phủ hiện đang cần là các nhà khoa học, các nhà chuyên môn phải hiến kế để KH&CN nước nhà vượt qua những rào cản, trở ngại trước mắt.  Thách thức hội nhập  Tuy chưa thực sự là một “Hội nghị Diên Hồng” nhưng những ý kiến của các nhà khoa học thực sự là các trăn trở, suy tư trước sức ép của hội nhập, trước mong muốn KH&CN đóng góp nhiều hơn vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.  Nhà khoa học trẻ 30 tuổi Phạm Minh Tuấn đã đưa ra những ý kiến khá mạnh mẽ. Theo anh, Việt Nam tuy mới bắt đầu hội nhập với thế giới nhưng “giặc” đã đến sát sườn. “Giặc” ở đây chính là tình trạng nhập công nghệ lạc hậu để sản xuất hàng hóa. “Một điều tra đánh giá về hiện trạng công nghệ của tỉnh Đồng Nai mà chúng tôi vừa thực hiện cho thấy hàm lượng công nghệ hiện rất thấp trong số 500 doanh nghiệp được điều tra. Điều này đồng nghĩa với việc về lâu dài các sản phẩm sản xuất ở Việt Nam khó có thể có sức cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập”, anh nói và kiến nghị cần phải đưa ra một chỉ số về công nghệ trong khi xét duyệt đầu tư.  Giáo sư Nguyễn Chí Sáng (Viện Nghiên cứu cơ khí) đề nghị cần phát huy mạnh mẽ tiềm năng của các tổ chức KH&CN trong việc nghiên cứu, sản xuất những công nghệ, thiết bị thay thế hàng ngoại nhập. Ông cho biết: “Các nhà khoa học Việt Nam không phải không có năng lực, nhất là trong lĩnh vực sản xuất thiết bị cơ khí phục vụ các ngành thủy điện, xi măng, sản xuất nhôm, giấy, hóa chất. Vậy thì phải gắn các yêu cầu nghiên cứu này vào các chương trình kinh tế lớn của đất nước”. Giám đốc công ty dược phẩm Traphaco Vũ Thị Thuận cũng đồng ý với ý kiến này và cho rằng các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng KH&CN cần phải gắn với các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. “Chỉ riêng hai sản phẩm sâm và linh chi đã mang lại cho Hàn Quốc mỗi năm 4 tỉ đô la. Như vậy nếu Việt Nam giải quyết tốt được công nghệ tạo nguyên liệu cho ngành dược phẩm thì đây sẽ là cơ hội tốt giúp chúng ta đương đầu với hội nhập”, bà nói.  “Khoán 10” trong khoa học  Thuật ngữ “Khoán 10” vay mượn từ thành công trong nông nghiệp Việt Nam đã được không ít các nhà khoa học sử dụng trong cuộc gặp gỡ với Thủ tướng. Thực chất sự vay mượn này cũng chỉ để diễn tả một điều: cần một tư duy mới, luồng gió mới để thay đổi không khí, để “cởi trói” cho lực lượng KH&CN nước nhà.  Những bùng nhùng trước mắt cần giải quyết trong KH&CN là thay đổi cơ chế hành chính phức tạp, thiết lập cơ chế đánh giá đúng giá trị chất xám của các nhà khoa học, giải quyết sự lấn cấn trong quyền sở hữu đối với các nghiên cứu mà Nhà nước đầu tư, có chế độ sử dụng người tài thích hợp, gắn các nghiên cứu KH&CN vào quyết định đầu tư trọng điểm của nhà nước, có cơ chế gắn kết các viện nghiên cứu với trường đại học, thúc đẩy việc xã hội hóa KH&CN để cho phép tư nhân tham gia vào các chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ…  Ông Trương Gia Bình, Tổng giám đốc công ty FPT đưa ra một ví dụ cụ thể hơn: hiện tại Nhật Bản đang muốn chuyển giao công nghệ phần mềm nhúng cho Việt Nam nhưng chưa có viện nào ở Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này. Các doanh nghiệp buộc phải “tự bơi”, nghĩa là tự hội họp với nhau bàn chuyện nghiên cứu. Như vậy, thời gian nghiên cứu sẽ chậm và cơ hội sẽ qua đi. Ông cũng cho rằng hiện tại đối với các doanh nghiệp, công nghệ quản lý là điều quan trọng nhất. Thế nhưng các tổng công ty 90, 91 đều không làm. Lý do đơn giản là không phải doanh nghiệp nào cũng thích đưa công nghệ mới vào. Như vậy cần phải có những tác động từ phía Nhà nước.                 Tiến sĩ Phan Thanh Bình        Giáo sư Hoàng Tụy        Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu           Nhà KH trẻ Phạm Minh Tuấn        Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Thu             Thủ tướng Phan Văn Khải trong buổi kết luận đã nhấn mạnh: “Yêu cầu hội nhập và đổi mới công nghệ là nhu cầu bức bách trong 5 năm tới. Muốn vậy phải thúc đẩy một số việc quan trọng để tìm ra cơ chế, chính sách tạo ra động lực trong khoa học như điều mà khoán 10 đã làm trong nông nghiệp. Cái gốc của phát triển kinh tế nhanh vẫn là giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ”.  “Doanh nghiệp phải tăng đầu tư cho KH&CN, hình thành các tổ chức nghiên cứu trong doanh nghiệp. Nhà nước sẽ có cơ chế để doanh nghiệp có thể giành 3-5% doanh thu cho nghiên cứu đổi mới công nghệ. Các nhà khoa học phải đổi mới tư duy, chủ động tìm đến các doanh nghiệp để phát hiện các nhu cầu của doanh nghiệp, tìm kiếm công nghệ, giải mã, làm chủ, cải tiến và sáng tạo công nghệ”. Thủ tướng Phan Văn Khải  Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành liên quan cùng với Bộ KH&CN nghiên cứu tiếp tục đổi mới các cơ chế, chính sách để làm sao tới năm 2010, đầu tư cho KH&CN phải đạt 1,5% GDP.  Bên cạnh đó, ông cho biết Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN, đặt hàng tới các viện, trường nghiên cứu. “Những bài học phát triển về KH&CN của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đáng để chúng ta tìm hiểu, học tập và phát huy”, ông nói./.  Mục đích thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm:  1.      Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và Thủ trưởng tổ chức KH&CN.  2.      Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN.  3.      Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN.  4.      Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước.  (Trích Nghị định Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập do Chính phủ ban hành ngày 5.9.2005)    Thanh Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để ngôi sao mới nổi tỏa được ánh sáng      Đúng sáu mươi năm kể từ lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946: “Nước Việt Nam mong muốn hợp tác với mọi quốc gia dân chủ và không muốn gây thù oán với ai”, với “những ngày APEC tại Việt Nam” 11.2006 vừa qua, chúng ta có dịp thấm hiểu và thực sự cảm nhận được sức sống của ý tưởng lớn ấy từ những ánh mắt thân thiện nồng ấm và những lời nói chân tình sâu nặng bởi những người bạn đến từ nhiều phương trời.        Cũng sáu mươi năm từ ngày Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp khẳng định với thế giới về một nước Việt Nam độc lập, thống nhất có chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rõ: “Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”, sau bao nhiêu thử thách máu lửa, sấm chớp bão giông, giờ đây con thuyền đất nước đã giương buồm thời đại và đón gió đại dương để lướt sóng ra khơi.   Sáu mươi năm biết bao cam go trong đời sống của một dân tộc, bom đạn và chất độc màu da cam, máu và nước mắt trên một cơ thể đất nước bị chia cắt, bị bầm giập, mấy thế hệ Việt Nam cùng chung chiến hào. Phải qua trải nghiệm ấy mới hiểu được rõ tầm vóc những sự kiện “Hội nhập và Phát triển” của một đất nước là thành viên thứ 150, “ngôi sao mới nổi của bầu trời thương mại thế giới”, nước chủ nhà của một APEC thành công vượt bậc với số người tham gia và những cam kết có ý nghĩa đột phá.   Chỉ tính một nửa của 60 năm đó, quả thật là: “ở đây, tại Việt Nam sau 30 năm ai có thể nghĩ được là chúng ta có thể đứng tại Hà Nội này để nói về hội nhập, về tự do thương mại. Ba mươi năm sau cuộc chiến đáng buồn, chúng ta đã ngồi lại để nói chuyện, không phải nói về mâu thuẫn mà bàn về một cộng đồng… Việt Nam đã đi được một chặng đường dài trong một thời gian rất ngắn. APEC 14 đã mở ra những cơ hội mới, những mục tiêu mới cho Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế mới, tầm cao mới trong đại gia đình WTO”. Là một nhà ngoại giao đã từng đặt chân đến hầu khắp các vùng lãnh thổ trên thế giới, ý kiến trên và cảm nhận của ngoại trưởng Mỹ “đây là một trong những vùng đất có sức sống mãnh liệt nhất mà tôi đã từng đến, đó là điều tôi sẽ nói với người Mỹ ” chắc không đơn thuần chỉ là một phát biểu “ngoại giao”!.   Nhận xét ấy gợi lại với chúng ta một vấn đề được nêu lên từ khá lâu “Là người Việt Nam song không phải là chúng ta đã thực sự hiểu chúng ta kỹ lắm đâu”. Đó là một gợi ý có trách nhiệm từng đặt ra với giới nghiên cứu vào những thập kỷ 60. Những ngày APEC 14 tại Hà Nội như là hiện tượng bùng phát của sự  hun đúc, kết tụ sức sống của một đất nước với bề dày văn hiến nay có dịp biểu tỏ với thế giới: thân thiện và hợp tác, cởi mở và khoan dung. Mà quả thật, với những con mắt tinh đời của những người có bề dày kinh nghiệm và sự uyên bác từ bên ngoài đến, họ có khả năng đưa ra những ý nghĩ khiến chúng ta phải suy tư. Chẳng hạn như, một học giả Pháp trong một Hội thảo khoa học về “Truyền thống và Hiện đại” tại Hà Nội cách đây cũng đã khá lâu đã nêu lên một cảm nhận: “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả nằng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”.  “Những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải” không là sản phẩm của sự ngẫu hứng, cầu may mà phải là kết quả của cả bề dày tích lũy và tạo dựng trong cả chiều dài lịch sử đã hun đúc nên “vùng đất có sức sống mãnh liệt nhất ” như nhà ngoại giao Mỹ, nhà văn hóa Pháp vừa gợi lại. Thì đúng như cách giải thích của Arnold Toynbee, nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX: “Thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức. Thiên nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua nếu con người chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh của họ”. Phải chăng đất nước này là một minh chứng cho luận điểm đó?   Sự thân thiện và tin cậy mà các vị khách APEC cảm nhận được từ người dân bình thường cho đến các nhà lãnh đạo của nước ta là một nét văn hóa được vun đắp từ thời dựng nước “Chính sự cốt chuộng ở sự khoan dung giản dị” khiến cho “nhân dân đều được yên vui” đó là cương lĩnh xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ của Khúc Hạo, nhà cải cách đầu tiên trong lịch sử đất nước đầu thế kỷ thứ X. Có thể nói, ý tưởng đó đã trở thành một truyền thống của văn hóa dân tộc, là một hằng số xuyên lịch sử. Bởi lẽ đó là một đòi hỏi để tồn tại và phát triển trong cái thế luôn phải chống chọi với những thế lực xâm lược lớn hơn mình gấp bội.   Như cây tre dám chống chọi lại với gió bão bởi tính mềm dẻo và thích nghi. Dám quật khởi song biết khoan dung là cội nguồn của ứng xử thân thiện và hiếu khách. Người Việt Nam không cần nhớ về một sự thật đắng cay là không ít xứ sở của những vị khách mà hôm nay mình chân tình, thân thiện đón chào, cách đây ba thập kỷ đều có gửi lính cầm súng đến nước mình. Đừng nghĩ rằng đó là sự vô tâm lãng quên quá khứ. Hoàn toàn không phải vậy.   Mà là bản lĩnh Việt Nam, một “đất nước phi thường” như cảm nhận của Tổng thống Mỹ! Đó là chất văn hóa, bản lĩnh văn hóa. Mà văn hóa là sự thẩm thấu và tích tụ theo thời gian chứ không thể là sản phẩm nhất thời, khi cần thì mở vài lớp tập huấn cập kỳ và ngắn hạn. Làm sao mà tập huấn được mọi ánh mắt và nụ cười thân thiện của những con người bình thường đang đi trên đường phố kia. Phải chăng, chính “sức sống mãnh liệt” của một dân tộc trụ vững nơi đầu sóng, ngọn gió với nền văn minh lúa nước miền nhiệt đới gió mùa này đã là cội nguồn của ánh mắt và nụ cười đã để lại ấn tượng tốt đẹp đối với nhiều vị khách quý đến nước ta từ nhiều quốc gia. Họ hiểu mình, phát hiện ra mình và chính mình cũng hiểu rõ thêm về bản thân mình, cảm nhận được “sức sống mãnh liệt”của dân tộc mình. Khơi trầu têm cánh phượng, bình rượu được chưng cất từ hạt gạo Việt Nam, bộ lễ phục dân tộc, làn điệu dân ca quan họ“người ơi người ở đừng về” và nghệ thuật ẩm thực tinh tế, độc đáo đã giới thiệu với thế giới một Việt Nam yêu chuộng sự hòa hiếu, có bề dày văn hóa thật sự là người bạn đáng tin cậy của bè bạn.  Thế rồi tổng đầu tư nước ngoài đã vượt quá 8 tỉ USD, vượt quá mục tiêu 6,5 tỉ và đến cuối năm cầm chắc vượt con số cao nhất 8,6 tỉ USD của năm 2005. Chưa có lúc nào mà số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam đông như vậy. Họ không đến để dạo chơi, tham quan, du lịch. Họ đến với cả sự chuẩn bị đáng suy nghĩ. Chỉ xin gợi lên một ví dụ: Phá thông lệ, lần này chuyến công du của Thủ tướng Nhật kéo theo một đoàn đông đảo các doanh nhân cỡ lớn. Trước khi lên đường, Thủ tướng Shinzo Abe gặp mặt các lưu học sinh Việt Nam với lời phát biểu: “Hướng tới Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế sẽ tổ chức tại Hà Nội cuối tuần này, với một mục đích hoàn toàn cá nhân, tôi tin rằng buổi nói chuyện sẽ giúp tôi cảm nhận một không khí thực sự Việt Nam trước khi đặt chân đến đất nước các bạn”. Và rồi, không phải ngẫu nhiên mà cùng một lúc, cả ba đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản đều cam kết đến năm 2010 sẽ đưa kim ngạch buôn bán song phương lên 15 tỉ USD/năm. Tổng thống Putin của Nga cũng khẳng định về triển vọng nâng kim ngạch buôn bán Nga-Việt những năm cuối thập kỷ này. Khi Việt Nam đã là đối tác chiến lược của bốn nền kinh tế lớn Mỹ, Nhật, Nga và Trung Quốc thì đúng như bình luận của “Thời báo Hoàn Cầu”, Trung Quốc: “Việt Nam ngày càng đĩnh đạc, tự tin”. Chưa lúc nào vị thế quốc tế của Việt Nam được đẩy lên ở tầm mức như hiện nay. Điều này không tự chúng ta nói, mà là lời lẽ cất lên từ những tấm lòng bè bạn.   Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Ai dám bảo rằng bầu trời thương mại mà ngôi sao Việt Nam mới nổi không là bầu trời chính trị? Chính vì vậy, cùng với niềm tự hào và lòng tự tin, đây là lúc ý chí chính trị của cả dân tộc cần phải được phát huy để làm bừng nở mọi tiềm năng từng con người góp phần vào sự phát triển của đất nước. Để phát huy mọi tiềm năng thì cái cần phát huy trước tiên là phát huy dân chủ, điều kiện tiên quyết để làm bừng nở tiềm năng của từng con người Việt Nam, huy động được mọi đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm của mọi tấm lòng Việt Nam yêu nước, “không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới…” như Cương lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đã nêu.  Có làm được như vậy, “ngôi sao mới nổi” mới tỏa được ánh sáng của chính mình trong bầu trời đầy sao.        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để tăng trưởng đi cùng phát triển      Với những nỗ lực to lớn, trong những năm vừa qua Việt Nam đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển, đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế – xã hội quan trọng, vượt qua tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm bình quân khoảng 7,0%, về cơ bản bảo đảm an sinh xã hội. Mốc vượt qua ngưỡng nước nghèo, bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình đang tạo đà rất quan trọng cho thời kỳ của những chiến lược phát triển mới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có vấn đề chúng ta mới chỉ đạt được thành tích trong tăng trưởng, mà chưa thực sự phát triển (tức là yếu tố chất lượng và tính cân đối, hài hòa còn đang ở mức độ sơ khai, chưa thực sự hiện hữu), tình trạng suy thoái môi trường và hậu quả của biến đổi khí hậu khôn lường. Yếu tố chất lượng và cân đối của tăng trưởng (tức là phát triển) là một trong số những biến số quan trọng nhất trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong những thập niên tới.    Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển  Để có cách hiểu chung, cần nêu lại một cách khái quát 2 khái niệm tăng trưởng và phát triển. Tăng trưởng chỉ là sự gia tăng về lượng; còn Phát triển chỉ sự gia tăng về chất và đảm bảo yếu tố cân đối, hài hòa. Như vậy, khi nói tăng trưởng kinh tế là chỉ sự gia tăng về lượng của những chỉ tiêu đặc trưng cho một trạng thái kinh tế. Còn phát triển kinh tế chỉ sự gia tăng đạt được đi kèm những đòi hỏi về chất lượng, về sự cân đối hài hoà.  Trong Báo cáo về phát triển thế giới 1992: “Phát triển và môi trường”, nội dung của sự phát triển được nhắc lại như sau: “Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân. Nâng cao mức sống và tiến bộ trong giáo dục, y tế và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu phát triển rộng hơn. Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có thể có được phát triển, nhưng trong nội tại, nó là một đại lượng rất không trọn vẹn của sự tiến bộ” (xem thêm [1]).  Đi sâu hơn vào mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển nhà kinh tế học nổi tiếng người Pháp François Perroux đã viết (xem thêm [2]): “Cần chú ý đến sự nguy hiểm của tăng trưởng mà không phát triển. Sự nguy hiểm này tồn tại một cách rõ rệt ở các nước đang phát triển khi hoạt động kinh tế được tập trung xung quanh những ngành của các hãng nước ngoài hoặc các công trình công cộng lớn và không có ảnh hưởng trong toàn quốc. Ngay ở các nước phát triển, chúng ta thấy rằng, khi tăng trưởng tiến triển, các lợi ích của phát triển được phân bố không đồng đều về phương diện địa lý…, và về phương diện xã hội…”.  Như vậy, cần phân biệt sự khác nhau giữa tăng trưởng và phát triển. Sự phân biệt này không phải là vấn đề thuật ngữ mà chính là vấn đề sự nhận thức về sự tiến bộ của một quốc gia, nhận thức về việc đánh giá về sự thành bại của các chính sách quốc gia và rộng hơn là sự tiến bộ của nền văn minh thế giới. Điều quan trọng nhất là thấy rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển: tăng trưởng chưa chắc đã là phát triển nhưng không thể nói phát triển mà không có tăng trưởng.  Tuy nhiên, phát triển một cách đúng nhất là phát triển bền vững. Các nước đang phát triển rất cần và rất muốn phát triển nhanh, song phát triển nhanh phải được đặt trong khuôn khổ phát triển bền vững thì mới không dẫn đến những hậu quả tiêu cực về xã hội và môi trường.  Vậy Phát triển bền vững là gì? Khái niệm này đã xuất hiện một cách rõ rệt lần đầu tiên vào năm 1980 khi Liên hiệp hội Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN – International Union for the Conversation of Nature and Natural Resources) đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới” (WCS – World Conservation Strategy), với mục tiêu tổng thể là đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sống. Tuy nhiên, định nghĩa này thực chất chỉ đề cập đến vấn đề bền vững sinh thái chứ chưa bào hàm nội dung phát triển bền vững.  Một định nghĩa rất khái quát về phát triển bền vững là định nghĩa của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển WCED (World Commission on Environment and Development): “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. (xem thêm [3]).  Nội dung cơ bản của định nghĩa này bao gồm những ý diễn giải sau đây: Kích thích tăng trưởng; Khuyến khích tăng chất lượng của tăng trưởng; Đáp ứng các nhu cầu cốt yếu về việc làm, lương thực, năng lượng, nước và vệ sinh; Bảo đảm một mức phát triển dân số bền vững; Bảo vệ và tăng cường cơ sở tài nguyên; Định hướng lại công nghệ và quản lý rủi ro; Tính đến các nhân tố môi trường và kinh tế trong việc ra quyết định; Định hướng lại các quan hệ kinh tế quốc tế; Thúc đấy phát triển trên cơ sở có sự tham gia của đa số các tầng lớp nhân dân.  Vấn đề hiện nay được nêu nhiều trong các bài phát biểu góp ý cho văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng, đó là phát triển nhanh trên cơ sở phát triển bền vững. Thật ra, đã phát triển nhanh, thì khó ổn định và khó bền vững. Song nếu nói phát triển nhanh trên cơ sở phát triển bền vững thì không sai. Đây là nhiệm vụ khó, nhưng không phải không giải quyết được. Chỉ có điều, đó phải là cách thức cực kỳ thông minh, trí tuệ và do vậy mà không thể thiếu yếu tố tri thức của người tài, của khoa học và công nghệ.  6 giải pháp để phát triển bền vững  Có 3 yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới tốc độ phát triển đó là: yếu tố văn hóa vì sự phát triển làm nền cho phát triển; Môi trường cạnh tranh lành mạnh trong mọi lĩnh vực xã hội làm động lực cho phát triển và Trình độ khoa học và công nghệ làm công cụ đắc lực cho phát triển. Nhưng yếu tố quyết định cho phát triển (kể cả phát triển bền vững) của toàn bộ xã hội lại chính là Tầm tri thức, năng lực quản lý và chủ thuyết khoa học phát triển xã hội của các nhà lãnh đạo quốc gia.  Mỗi quốc gia phát triển đều có sẵn một tiền đề của một nền văn hoá (hoặc cao hơn nữa có thể là một nền văn minh). Văn hoá của một dân tộc là nền cơ bản cho sự phát triển lâu dài. Tuỳ thuộc vào trình độ của nền văn hoá, người ta có thể dự báo trước hay khẳng định khả năng thành bại của công cuộc đổi mới, của sự phát triển. Một điều rõ ràng: yếu tố văn hoá vì sự phát triển được hình thành qua suốt quá trình lịch sử của cả một dân tộc, của cả quốc gia, chứ tuyệt nhiên không phụ thuộc vào tầng lớp nào, một số cá nhân nào. Đó là vấn đề của cả một dân tộc.  Nếu như yếu tố văn hoá là vấn đề của dân tộc thì hai yếu tố còn lại: môi trường cạnh tranh lành mạnh cho phát triển và trình độ tri thức là vấn đề của các nhà lãnh đạo. Một môi trường có thực sự tạo điều kiện hay kìm hãm sự phát triển điều đó phụ thuộc cơ bản vào nhận thức và tài năng của chính các nhà lãnh đạo quốc gia. Có nhận thức đúng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là sẽ có một môi trường phát triển. Đạo đức, tri thức, tài năng và đôi khi cả lòng quả cảm của các nhà lãnh đạo quốc gia là nhân tố quyết định để có thể có môi trường thực sự phát triển. Có thể nói ngắn gọn: nhìn vào môi trường phát triển, trình độ khoa học và công nghệ của bất kỳ quốc gia nào, người ta có thể có những kết luận khá chính xác về khả năng và tầm nhìn chiến lược của các nhà lãnh đạo.  Một xã hội, trong đó hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được môi trường phát triển đặt đúng chỗ, được đánh giá chuẩn xác, đó là một xã hội có môi trường phát triển tích cực, lành mạnh. Ngược lại, thì đó là một môi trường không chuẩn, có vấn đề phải xét lại ngay, nếu muốn tránh một tai hoạ là kìm hãm sự phát triển, dẫn tới khủng hoảng, hỗn loạn và an ninh quốc gia sẽ tất yếu bị đe doạ. Như vậy, môi trường phát triển là yếu tố quyết định trong sự nghiệp phát triển.  Sau đây là một số giải pháp có thể góp phần thực hiện phát triển nhanh trên cơ sở phát triển bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước:  Thứ nhất: Cần chủ động hội nhập toàn diện, tạo mọi trường pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo cơ chế thị trường được vận hành, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh đối với mọi doanh nghiệp, mọi vị trí công việc.  Thứ hai: Cần làm sâu sắc hơn và cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình “Phát triển kinh tế xanh”.  Thứ ba: Khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn trên cơ sở sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch.  Thứ tư: Đảm bảo xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội và cuộc sống an sinh của nhân dân.  Thứ năm: Đảm bảo tỷ lệ đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo với tư cách là những quốc sách ưu tiên hàng đầu.   Thứ sáu: Nâng cao vai trò và huy động tối đa các nguồn lực phát triển của cộng đồng trong nước và quốc tế.  ———————-  Viện trưởng Viện chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ    Tài liệu tham khảo:  1. World Bank. Development and Environment. World Development Report 1992, Oxford University Press, 1992.  2. F. P. Perroux. A New Concept of Development. Basic Tenets, UNESCO, Paris, 1983.  3. Đặng Mông Lân, Nguyễn Như Thịnh. Công nghiệp hoá, một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm các nước. Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Hoá chất. Hà Nội, 1994.  4. M. Justman, M. Teubal. A structuralist perspective on the role of technology in economic growth and development”. World Development, 1991, Vol. 19, No. 9.1167-1183.  5. Hoàng Đình Phu, Đặng Mộng Lân. Báo cáo chính đề tài 60 UB-01: Cách mạng công nghệ trên thế giới với nhiêm vụ phát triển công nghệ và kinh tế ở Việt Nam, Hà Nội, tháng 2-1991.  6. M. Reddy, D.Zhao. “International technology transfer: A review” Research Policy, 1990 Vol.19.285-307.  7. Đặng Mộng Lân. Phân tích năng lực công nghệ quốc gia. Đề tài KC 01.03, Hà Nội, 1993.  8. Tổng quan cách đặt vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam trrong giai đoạn từ này đến năm 2020. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Kinh tế học, Hà Nội, 1996.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để Việt Nam có một nền báo chí khoa học phát triển      Giống như mọi loại h&#236;nh b&#225;o ch&#237; kh&#225;c, muốn ph&#225;t triển v&#224; đến được với đại ch&#250;ng, b&#225;o ch&#237; khoa học phải thỏa m&#227;n người đọc &#237;t nhất một trong hai y&#234;u cầu: Đem lại những th&#244;ng tin c&#243; gi&#225; trị thực tiễn; phục vụ được nhu cầu giải tr&#237;.  Hai đ&#242;i hỏi ấy đối với một tờ b&#225;o khoa học quả l&#224; c&#243; phần khắt khe, nhất l&#224; trong bối cảnh khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ của ch&#250;ng ta c&#242;n lạc hậu, thiếu t&#237;nh cạnh tranh trong khu vực cũng như với thế giới.     Nền kinh tế phát triển chủ yếu phải dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên, khoáng sản thô và sức lao động kỹ thuật thấp, gần như chưa có sự ứng dụng công nghệ tiên tiến một cách sâu rộng vào lao động sản xuất. Cho nên cũng dễ hiểu vì sao đa số người dân có thái độ thờ ơ với khoa học, với những thông tin trên báo chí khoa học. Có chăng thì họ chỉ quan tâm tới những thông tin hỗ trợ việc sử dụng, mua bán, bảo dưỡng ô tô, máy tính, điện thoại cá nhân, máy lạnh…, và những mẩu tin ngắn, mang tính chất chuyện lạ có thật, với những cỗ máy, thiết bị tinh xảo kỳ bí, những phát kiến giật gân kích thích trí tò mò đăng tải trên những tờ báo phát hành hằng ngày hoặc các tạp chí chuyên ngành khác. Mặt khác một số tạp chí khoa học, những bài viết nội dung thường cứng nhắc, không phù hợp với thị hiếu số đông, và bản thân vẫn còn khá nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục trước khi có thể trở thành những tờ báo khoa học đích thực, nên chẳng mấy được quan tâm (ngay trong giới nghiên cứu).                 Báo chí khoa học chưa làm tốt việc tuyên truyền, quảng bá sâu rộng, toàn diện và trung thực mọi lĩnh vực của hoạt động KH&CN. Ví dụ, báo chí chỉ đề cập đến những hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong tuyển chọn, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu trong mua trang thiết bị, trong sử dụng người tài… nhưng chưa đề cập lý giải một cách thực sự sâu sắc nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực, lãng phí đó. Hoặc trước những sáng kiến cải tiến của người nông dân, những thành công trong các cuộc thi sáng tạo của tuổi trẻ như Robocom, Trí tuệ Việt Nam, các kỳ Olympic Toán, Vật lý… báo chí tuyên truyền rầm rộ, đề cao quá mức. Thậm chí có báo còn đăng tải những thông tin sai lạc, “phong” cho một nhà toán học của Việt Nam là “thiên tài thế kỷ 21”, hay ngợi ca trí tuệ Việt Nam qua một số “nhà khoa học hoang tưởng”. Trong khi đó, hầu như rất ít các bài viết về các nhà khoa học tài năng, có tâm huyết thực sự có những đóng góp cho đất nước; ngay cả những nhà khoa học dù không có những công trình nhưng tận tụy, đam mê làm khoa học cũng rất đáng được báo chí nêu gương.               Vậy vì sao báo chí ta chưa làm được điều đó?               Có nhiều nguyên nhân, trong đó theo tôi phần quan trọng phụ thuộc vào trình độ và tính chuyên nghiệp của người làm báo khoa học. Tôi được biết không chỉ ở phương Tây, mà ngay ở Trung Quốc, người làm báo khoa học có uy tín hầu hết đều xuất thân từ các nhà khoa học có khả năng văn chương, có khiếu làm báo, thì ở ta phần đông người làm báo khoa học tốt nghiệp các trường đào tạo báo chí chung chung…                  GS. Nguyễn Minh Thuyết               Trước hết người làm báo khoa học phải đặt ra câu hỏi: Mình muốn cái gì? Nghĩa là câu hỏi về mục tiêu mà báo cần hướng tới.              Vì sao độc giả báo khoa học hiện nay còn ít? Một phần do người Việt mình vẫn còn chưa có thói quen quan tâm đến các kiến thức khoa học sát sườn với cuộc sống thường ngày, còn chủ yếu là do nội dung báo khoa học hiện nay còn quá nghèo nàn, đơn điệu do chưa huy động được sự cộng tác của nhiều nhà khoa học có tâm huyết và khả năng viết một cách dễ hiểu, thú vị và thiết thực các lĩnh vực của mọi mặt đời sống khoa học.                  GS. Phạm Duy Hiển  Nước ta chưa có báo khoa học đúng nghĩa, cũng chưa đủ trình độ và các điều kiện cần thiết để làm được những tờ báo có chất lượng tầm cỡ quốc tế. Trước đây đã có những tờ báo phổ biến các kiến thức khoa học bằng những câu chuyện thú vị, cách đặt vấn đề cuốn hút, mang đến cho người đọc nhiều kiến thức hữu ích có độ chính xác cao và khơi dậy ở người đọc đam mê tìm tòi, khám phá những vấn đề xung quanh cuộc sống. Trong khi đó, ngày nay, trước những yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống, báo khoa  học lại có xu hướng ngày càng kém đi về chất lượng và giảm đi về số lượng độc giả.                                                                      Nhà văn Nguyên Ngọc  Ba chân kiềng của một tờ báo khoa học tốt là: Nhà báo chuyên nghiệp, người kinh doanh báo chí chuyên nghiệp và một hậu phương vững chắc là các nhà khoa học có nhiệt huyết trong việc phổ biến tri thức khoa học mà đời sống cần với tiêu chí cao nhất là tính độc lập, sự chuẩn xác về mặt khoa học và tính phổ cập.                 GS.  Trần Xuân Hoài  Nếu báo chí khoa học hướng tới phục vụ theo lứa tuổi với trình độ và hứng thú riêng thì sẽ thu hút nhiều độc giả hơn là làm một tờ chung chung. Ở Việt Nam đã có một số báo làm theo hình thức như thế (chẳng hạn tờ Toán học Tuổi trẻ). Việc hình thành những tờ báo khoa học như vậy không dễ dàng bởi viết các bài  báo khoa học ứng dụng là rất khó, nhất là khoa học cho cho thanh thiếu niên và trẻ em.               Để giải quyết khó khăn này, bước đầu có thể hợp tác với báo khoa học nước ngoài để chuyển dịch các bài có chất lượng.                 GS. Hà Huy Khoái          Đó là những nguyên nhân chủ yếu khiến báo chí khoa học ngày nay không được bạn đọc đón nhận như tờ Khoa học và Đời sống cách đây vài chục năm và  hầu như ở một vị thế thấp kém trong làng báo hiện nay.  Vì sao cần truyền bá khoa học?   Đây là câu hỏi chúng ta cần đặt ra trước khi nghiêm túc hướng tới một nền báo chí khoa học đúng nghĩa.  Khoa học là một hệ thống kiến thức được tích lũy và không ngừng được chắt lọc và làm giàu thêm nhờ tư duy phân tích, so sánh, và tìm hiểu các mối liên hệ nhân quả. Khoa học là tri thức, vì nó phục vụ nỗ lực của con người đạt được những thông hiểu thấu đáo, chặt chẽ và khách quan đối với các sự vật.  Như vậy, khoa học không chỉ dành cho thiểu số. Khoa học gần gũi với tất cả mọi người. Không chỉ có tàu vũ trụ, bom nguyên tử, thuyết tương đối mới là khoa học. Mọi hiểu biết về cuộc sống xung quanh ta, cách ta đánh giá, cảm nhận các sự vật, đó chính là thứ khoa học tương đối của mỗi con người. Mọi mảnh vụn tri thức đều đáng trân trọng nếu con người giành được nó trong một nỗ lực hướng tới sự hiểu biết chân thật và khách quan.   Ý thức hướng tới nắm bắt tri thức một cách tổng thể cùng với thái độ thận trọng, khách quan khiến tri thức khoa học đóng góp đáng kể vào văn hóa của con người. Việc truyền bá khoa học có ý nghĩa tích cực cho việc xây dựng một nền văn hóa tiến bộ. Nó cũng giúp xã hội hình thành nên những nhân cách lớn.    Dân trí Việt Nam liệu có thấp để hấp thụ tri thức khoa học?  Khi khẳng định rằng khoa học gần gũi với tất cả mọi người thì nghiễm nhiên chúng ta đã trả lời câu hỏi này.   Trẻ em tới trường cần tiếp thu những thông tin giản dị, được kết nối mạch lạc, gọn gàng. Những người làm cha làm mẹ cần tiếp thu những thông tin có tính chắt lọc cao giúp nuôi dạy các em sao cho hiệu quả.   Các bà nội trợ cần một hệ thống thông tin được thu thập, kiểm chứng khách quan, xác thực về chất lượng, độ an toàn của thực phẩm.   Phản hồi của những người tiêu dùng cần được thu thập, thống kê, giúp định hình khách quan chất lượng của các nhãn hiệu hàng hóa.  Thông tin về ô nhiễm môi trường cần được kết nối chính xác tới những nguy cơ y tế đi kèm với phí tổn cho người bệnh.  Các đô thị ngày một đông đúc, ùn tắc, cần các nhà chuyên môn trực tiếp đóng góp ý tưởng quy hoạch.  Các công trình, dự án trọng điểm quốc gia cần được đóng góp ý kiến thẩm định, đánh giá về hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội.  Các doanh nghiệp ở các mảng ngành nghề khác nhau cần được cung cấp thông tin về những công nghệ sản xuất và quản lý, không nhất thiết cứ phải là công nghệ cao thì mới đáp ứng hiệu quả các nhu cầu thiết thực trước mắt.  Nếu cứ tiếp tục liệt kê thì sẽ còn rất nhiều những mảng thông tin mà bạn đọc có thể coi là thiết thực và có nhu cầu hấp thụ. Nhưng đáng tiếc, cho tới nay hầu như tất cả những thông tin như thế này chưa thấy hoặc rất hiếm khi xuất hiện trên các trang báo khoa học Việt Nam.   Trách nhiệm chính thuộc về các nhà khoa học!  Vì sao những thông tin thiết thực và giản dị kể trên không trở thành những bài báo khoa học hữu ích dành cho đại chúng? Có thể có những nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân trực tiếp là ở các nhà khoa học. Phải chăng là do họ sống trong tháp ngà nên thiếu nhận thức về thời cuộc? Có lẽ không phải vậy. Lâu nay đã xuất hiện rất nhiều những bài viết tâm huyết chỉ ra những tồn tại cần được cải thiện trong thực tế. Nhưng mặt khác, còn rất thiếu các bài viết chỉ ra được cách giải quyết cụ thể và chu đáo. Không thiếu những bài viết có tính phê phán đanh thép, khiến cho nhiều người cùng đọc gật gù đồng tình. Nhưng còn rất thiếu những bài viết khiến người đọc phản tỉnh, giúp họ vượt ra khỏi thế giới đã biết để đối diện với những trường thông tin thực sự mới mẻ. Qua đó để họ nhìn nhận lại các sự vật một cách mạch lạc, thông suốt hơn, và tìm thấy hướng đi thiết thực cho bản thân và cho cộng đồng. Chẳng phải công việc bắc cầu này là bản chất của nghiên cứu khoa học? Các nhà khoa học là những thành phần ưu tú nhất, được đào tạo và rèn luyện chuyên nghiệp nhất trên con đường khám phá, tìm kiếm tri thức. Đương nhiên họ có trách nhiệm lớn nhất trong việc bắc cầu phục vụ đồng loại. Sẽ là kỳ quặc nếu nhà khoa học chối bỏ trách nhiệm của mình, đổ lỗi hoàn toàn cho dân trí, thời cuộc, cơ chế…   Viết báo là một công việc khoa học  Tôi xin dùng nhận xét này thay lời kết cho bài viết. Bản thân công việc viết báo đã đòi hỏi những phẩm chất cần có ở một nhà khoa học. Yêu cầu đặc thù về tiết kiệm số trang, số chữ, và đòi hỏi nhanh chóng giành sự quan tâm của người đọc buộc nhà báo sắp xếp và cung cấp thông tin một cách chắt lọc, gọn gàng, và sáng sủa. Bên cạnh đó vẫn luôn phải thể hiện được thái độ khách quan, không áp đặt. Các nhà khoa học có thuận lợi là bằng văn hóa khoa học của mình, cụ thể nhất là qua quá trình rèn luyện tư duy trên các trang viết cho tạp chí chuyên ngành, họ đã quen thuộc với việc này.   Nhưng một yêu cầu khác được đặt ra là làm sao đặt mình vào tâm thế của người đọc, hình dung ra trường thông tin, cách thức tư duy của họ. Từ đó dẫn dắt, giúp người đọc từng bước trải qua các bước tư duy mạch lạc, khám phá điều chưa biết thông qua sự đối chiếu với những gì mà người đó đã biết, đã quen thuộc từ trước.   Qua đó, những gì một nhà báo đích thực gửi gắm không chỉ là một số thông tin, một số quan điểm, mà là một trình tự các bước tư duy. Sản phẩm người đọc cầm trên tay là một nội dung sáng sủa, cho phép họ được đi một hành trình độc lập: Tự tư duy, tự khám phá, tự phản biện.  Mặc dù việc chiều theo thị hiếu của người đọc không phải là ưu tiên của một bài báo khoa học, nhưng cần có sự tìm hiểu và tôn trọng những mối lưu tâm của họ. Từ đó bắc cầu nối chúng với những mối lưu tâm của người viết. Như vậy, giữa người viết và người đọc một mặt có sự đồng cảm, mặt khác trường thông tin với các mối lưu tâm của người đọc được mở rộng. Đây là một quá trình cải thiện “dân trí” cho cả người đọc và người viết.     Hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục của đất nước hiện nay đều rất cần tri thức khoa học và công nghệ. Các nhà khoa học chân chính có bổn phận đáp ứng và báo chí chính là công cụ có tính hiệu quả hàng đầu giúp họ thực hiện bổn phận này. Hơn ai hết, nhà khoa học có trách nhiệm tham gia vào sân chơi một cách nghiêm túc và chuyên cần, ngay cả khi trong xã hội còn chưa có một nền báo chí khoa học chuyên nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đèn xanh, đèn đỏ & đèn vàng      1. Dân tộc ta có đến 4000 năm văn hiến. Ấy vậy mà cứ nhìn qua các giao lộ thì thấy rằng phần lớn những người tham gia giao thông… tuồng như không biết nhân loại đã tạo ra cái đèn vàng để làm gì, thậm chí, cái đèn vàng là vô ích. Thật ra mà nói, cứ xanh chạy đỏ dừng thì rôbô làm tốt hơn chúng ta, bởi trong chúng ta – con người, cũng lắm kẻ “mù màu”, bất chấp đèn xanh lẫn đèn đỏ vì đắm trong tham dục cố giành cái hơn cái được với tha nhân.        Rõ ràng là cái đèn vàng là khoảng khắc đặc biệt – không cấm mà cũng không cho phép – để mỗi người tự thể hiện cái phẩm chất đạo đức và rộng hơn là cấp bậc/ trình độ văn hóa của nó. Cách ứng xử đứng đắn với khoảng khắc này không chỉ đơn thuần chứng tỏ rằng anh biết tuân thủ luật lệ giao thông mà còn biểu thị rằng anh là người biết nhường nhịn, biết tôn trọng tha nhân, biết ta biết người. Nói tắt một lời, cái đèn vàng phải là “đặc sản” của con người, tức chỉ có nó mới cần cái tín hiệu nằm giữa tín hiệu xanh và đỏ ấy để… làm người, để thể hiện nhân cách thù thắng của chủng loài; và xét trên diện rộng càng nhiều cá thể hành xử đúng đắn tức thị ấy là trình độ văn hóa của cộng đồng đó.    2. Bản chất của văn hóa pháp luật là lấy hệ chuẩn mực đúng – sai làm thước đo giá trị, tức có tính khoa học-khách quan và trong thực tế nó có tính cưỡng chế để buộc mọi người phải tuân thủ. Văn hóa luật pháp có quan hệ nhưng không trùng khít với hệ chuẩn đạo đức vì bản chất của văn hóa đạo đức lại lấy hệ chuẩn thiện-ác làm thước đo giá trị và nó được thể hiện chủ yếu bằng tự giác. Trong thực tế, mỗi người, tức mỗi nhân cách cá thể, không phát triển theo hai hướng biệt lập của hệ chuẩn đạo đức hay hệ chuẩn pháp luật. Trái lại hai hệ chuẩn này tác động qua lại tạo thành một hợp lực để định hướng cho sự phát triển nhân cách, làm cơ sở chỉ đạo cho mọi ứng xử. Nói cách khác đạo đức phải đựa trên cái đúng của luật pháp và luật pháp phải dựa trên nền tảng cái thiện của đạo đức. Ở đây, việc phớt lờ tín hiệu đèn vàng (kẻ gặp đèn đỏ: “tranh thủ đèn vàng” để vượt qua, người ở phía sắp có tín hiệu đèn xanh: vội vã phóng đi khi đèn vàng vừa sáng) biểu hiện sự bất cập về đạo đức và cách sống phi chuẩn mực văn hóa, tranh hơn tranh được bằng mọi giá, tức bất chấp sự tổn hại cho người khác, cho cộng đồng.  3. Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nghiêm trọng về tai nạn giao thông như đường sá còn hẹp, xấu chưa tương xứng với sự phát triển của phương tiện và nhu cầu giao thông; luật lệ giao thông chưa hoàn hảo; mức phạt việc vi phạm giao thông chưa nặng đủ để răn đe; việc thi hành luật chưa nghiêm, còn phổ biến tệ xin-tha; còn duy trì lượng xe quá hạn sử dụng; thiếu trạm đỗ xe dọc đường; thiếu lực lượng cảnh sát giao thông và phương tiện tuần tra… Ngoài những nguyên nhân khách quan đó, còn nguyên nhân chủ quan của người tham gia giao thông là điều đáng chú ý, đặc biệt là thái độ hư vô về pháp luật và đạo đức. Những biểu hiện sai trái trong việc tuân thủ luật lệ giao thông, hay bao quát hơn là những hành vi lệch chuẩn nói chung, là có nguồn gốc văn hóa, nói rộng là nguồn gốc văn-xã của chúng. Nói cách khác, có thể coi đây là khuynh hướng bắt nguồn từ điều kiện văn xã sẵn có, bởi ứng xử là một hành vi cá nhân đồng thời là một hành vi xã hội và mặt khác, hành vi ứng xử của mỗi người đều bao gồm những hằng số của những bối cảnh văn hóa – xã hội khác nhau, mà ở đây, bối cảnh văn xã đương đại, một cách tổng quát, là tổng hợp thể của truyền thống và hiện đại.  Trong xã hội truyền thống, quan hệ cá nhân và cộng đồng là quan hệ lệ thuộc: lợi ích cộng đồng quan trọng hơn lợi ích cá nhân, ý thức cộng đồng chủ đạo định hướng cho ý thức cá nhân. Do đó, tính chất chung là thụ động và chuẩn mực chính là sự phục tùng. Từ đó, cái tự do cá nhân luôn bị dồn nén và luôn tiềm ẩn khả năng tâm lý tìm cách vượt thoát khỏi sự ràng buộc đó: hoặc bằng sự khôn khéo, giả vờ hay ngược lại là sự ăn vạ liều lĩnh kiểu “chủ nghĩa Chí Phèo”. Trong lịch sử, thực tế các truyền thống văn hóa đều đóng khung vào một không gian nhất định, cụ thể là thôn làng, và thường dị ứng với những gì có nguồn gốc bên ngoài. Chính vì vậy, tuồng như chưa xác lập và cũng chưa hình thành thói quen thừa nhận các giá trị, chuẩn mực phổ quát. Trong kho tàng tục ngữ chúng ta dễ dàng tìm ra những cặp đối lập về giá trị/ chuẩn mực ứng xử:  – Có thực mới vực được đạo và Đói cho sạch rách cho thơm.  – Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng và Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ.  – Bầu ơi thương lấy bí cùng… và Đèn nhà ai nấy tỏ, ngõ nhà ai nấy rào.  – Lá lành đùm lá rách và Thấy lúa mới cho vay gạo.  Như vậy, chúng ta thấy tuồng như có phổ biến quan điểm tương đối về đạo đức và cách ứng xử kiểu “đạo đức hoàn cảnh”. Các giá trị/ chuẩn mực “xuất thế gian” và thực dụng chưa phân định rõ cái nào là thù thắng. Các giá trị đích thực chỉ thấy biểu hiện trong những biến cố lớn: chống thiên tai, địch họa và mờ nhạt trong cuộc sống đời thường. Ở tầm mức rộng lớn hơn thì “Phép vua thua lệ làng” – chuẩn tắc tiền bối của hệ thống “giấy phép con” và các kiểu “làm luật” của các “sứ quân” thời hiện đại.  Địa vị cá nhân không giống nhau mà tùy thuộc vào tuổi tác, dòng họ và quyền lực. Cá nhân chiếm địa vị cao nắm lấy quyền lực chi phối cộng đồng và ý kiến của họ là ý chí của cộng đồng. Nói chung, quyền lực được qui vào cá nhân chứ không phải là thể chế. Cái thế lực đó được gia cố bởi quan niệm về kỷ cương của Nho giáo và sau này, là các quan niệm chủ toàn luận (holism) lại càng đẩy cá nhân ra ngoài biên độ của giới hạn cuối cùng cả về lý thuyết lẫn thực tế khiến sức ì trong họ càng lớn hơn, tính năng động gần như bị thủ tiêu và đồng thời sự dồn nén trở nên bức bách hơn. Đó là tiền đề của đêm trước Đổi mới.  4. Xác định đường lối Đổi mới là chuyển từ nền kinh tế hai thị trường ra nền kinh tế một thị trường là sự chuyển biến khác về chất so với cố kết quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa tập trung trước đây. Điều này đã làm thay đổi nhiều định hướng giá trị vốn có mà trước tiên, chủ nghĩa bình quân đã được qui luật thị trường xem xét lại một cách nghiêm túc hơn và mặt khác do nhu cầu phát triển mạnh mẽ sản xuất đã làm cho chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra như là nguyên nhân chính của nhiều cách sống, ứng xử phản văn hóa, bất bình thường trong xã hội. Ngược lại, cơ chế thị trường vốn bị chủ nghĩa bình quân phê phán và xuyên tạc giờ đây lại trở thành ngọn cờ bộc phát trong đời sống. Qui luật cạnh tranh và qui luật cung cầu đồng thời tác động hai chiều lên con người: một mặt, nó giải phóng khả năng sáng tạo; và mặt khác, nó làm gia tăng chủ nghĩa cá nhân cực đoan khiến tạo nên những nguy hại cho nhiều chuẩn mực cộng đồng. Đặc trưng của hiện đại là càng lúc càng có nhiều điều kiện thuận lợi hậu thuẫn cho quyền tự quyết của cá nhân trong việc chọn lựa và thị hiếu. Trong khi đó, như mọi người đều biết, xã hội/ cộng đồng cũng giống như gia đình, chỉ có thể tồn tại yên bình khi mọi thành viên của nó biết hạn chế sự tự do cá nhân của mình. Điều đó, một mặt đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật hoàn bị và bộ máy thi hành pháp luật nghiêm minh, công chính và mặt khác là cần thiết phải xác lập một hệ chuẩn giá trị mới phù hợp với quyền lợi lâu dài của dân tộc và nổ lực xúc tiến các biện pháp hữu hiệu để làm cho hệ chuẩn mới đó trở thành giá trị định hướng cho phát triển.  Tình trạng chung hiện nay là chúng ta đã và đang sống trong thời quá độ, nhập nhằng giữa hai cực mới-cũ. Điều đó có nghĩa là phải đổi mới cái A, cái B bằng cách đi từ giải pháp tình thế này đến giải pháp tình thế nọ; song các giá trị cũ, chuẩn tắc “truyền thống”vẫn còn sống động trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống thực tế, trong cơ cấu thể chất của nên kinh tế, trong các định chế, các qui định pháp luật, trong các quan hệ qua lại giữa các con người, trong suy nghĩ của quan lẫn dân và cả trong tập quán hằng ngày.Tình cảnh nước đôi (ambivalence) như vậy kéo dài sẽ là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa tương đối về đạo đức và thái độ hư vô “Chí Phèo chủ nghĩa” sinh sôi nảy nở. Cái trước coi tín hiệu đèn vàng là kẻ hỡ của pháp luật để “tranh thủ”, để “chụp giựt”; và cái sau, bất chấp đèn đỏ, tức cái đèn xanh cũng không tồn tại trong nhận thức của loại hạng này.    Huỳnh Ngọc Trảng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dệt may Việt Nam: Sản xuất thông minh theo cách nào?      Bài toán sản xuất và kinh doanh trong bối cảnh mới dưới tác động của CMCN 4.0 đặt ra cho dệt may Việt Nam rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Để có thể gia nhập chuỗi sản xuất thông minh toàn cầu, dệt may Việt Nam cần những chuyển biến nội tại đi kèm cái nhìn mới về một môi trường kinh doanh khác biệt với môi trường truyền thống.         Một số lĩnh vực của dệt may Việt Nam đã áp dụng công nghệ 4.0. Nguồn: Vinatex  Là đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia 2019-2025 “Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0” (KC4.0/19-25), “Nghiên cứu, đánh giá tác động của cuộc CMCN lần thứ 4 đối với ngành Dệt may Việt Nam nhằm đề xuất địn hướng chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển trong giai đoạn 2019-2030”, do Tổng công ty Dệt may VN, ĐH Công nghiệp Dệt may HN, Viện NC Dệt may và Viện Kinh tế và Quản lý (ĐH Bách khoa HN) thực hiện, đã góp phần soi chiếu toàn cảnh hiện trạng dệt may VN cũng như giới thiệu những cách thức quản lý và sản xuất mới cho các doanh nghiệp dệt may. Do đó, tại hội thảo “Ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0” tổ chức ngày 6/9/2019, Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy, chủ nhiệm Chương trình KC4.0, đã đánh giá, những vấn đề mà đề tài đặt ra hết sức sát sườn, kịp thời và đưa đến “một cách tiếp cận CMCN4.0 khác biệt dưới góc độ chuyên sâu trong lĩnh vực của mình, không chỉ về công nghệ mà còn ở cách thức quản lý”.  Nhấn mạnh đến ý nghĩa của đề tài với sự phát triển trong tương lai của cả ngành dệt may cũng như của từng doanh nghiệp Việt Nam, ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Vinatex, nói: “Câu chuyện của hội thảo này là câu chuyện từ người trong cuộc, của Phú Bài, Hanosimex, May 10, Hòa Thọ, Phong Phú…, những người đã trả lời hàng trăm câu hỏi của nhóm nghiên cứu. Thực sự, họ là những người ‘nóng ruột’ nhất trong câu chuyện áp dụng công nghệ 4.0”.  Độ sẵn sàng của doanh nghiệp dệt may VN  Mối quan tâm chung của mọi thành viên tham dự hội thảo, ngay cả những người ngoài ngành dệt may, là các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang sở hữu những công nghệ nào, liệu có thể áp dụng các công nghệ 4.0 và chuyển sang sản xuất thông minh không và nếu có  thì ở thời điểm nào? Sự quan tâm này cũng dễ hiểu bởi theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2018, dệt may là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước khi đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc và chiếm tới 14,5% kim ngạch xuất khẩu.  Nhưng trước khi trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta cần biết mình đang ở đâu, trình độ của chúng ta như thế nào và thậm chí cần tính đến cả việc nếu có thay đổi thì các vấn đề xã hội, việc làm của ngành dệt may ra sao, cả TS Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, và Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy đều nêu quan điểm. Để làm rõ những vấn đề đặt ra, nhóm nghiên cứu đã gửi phiếu điều tra tới 300 doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam và trực tiếp khảo sát tại 100 doanh nghiệp từ Bắc chí Nam, bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp: công ty cổ phần mà nhà nước nắm cổ phần chi phối, công ty Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài, công ty tư nhân… Việc lựa chọn các đối tượng khảo sát như thế này là vì “chúng tôi muốn đánh giá từng mức độ và khả năng tiếp cận CMCN4.0 của họ”, TS. Hoàng Xuân Hiệp, Hiệu trưởng trường ĐH Dệt may VN và là thành viên của nhóm nghiên cứu, giải thích.    Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy đánh giá đề tài được thực hiện một cách nghiêm túc và đem lại những vấn đề hết sức sát sườn với ngành dệt may.  Tốn không ít thời gian và công sức để khảo sát cả trăm doanh nghiệp trong khoảng thời gian không dài nhưng bù lại, sau khi tổng hợp và hệ thống các số liệu, nhóm nghiên cứu đã vẽ được một bức tranh toàn cảnh về ngành dệt may Việt Nam, bao trùm toàn bộ bốn lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm, may, với tất cả điểm mạnh điểm yếu về công nghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý, tổng vốn đầu tư…, nghĩa là tất cả những yếu tố cần tính đến khi bước vào hoạt động trong một môi trường kinh doanh mới.  “Khi thực hiện đề tài, chúng tôi rất muốn tìm hiểu về nhận thức của ngành dệt may với CMCN4.0”, TS. Hoàng Xuân Hiệp chia sẻ. Vậy câu trả lời là gì, thật bất ngờ là điểm mạnh lớn nhất của các doanh nghiệp đều là việc người lãnh đạo đều đánh giá cao lợi ích của CMCN 4.0: gia tăng lợi thế cạnh tranh, tiết giảm lao động, hỗ trợ ra quyết định điều hành, an toàn trong vận hành, nâng cao năng suất chất lượng, giảm thời gian và chi phí sản xuất… “Đây là nhận thức rất quan trọng bởi khi chúng ta muốn làm một cái gì đó mới ở quy mô lớn và đòi hỏi chi phí đầu tư cao thì nhận thức của người đứng đầu doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định”, ông giải thích.  Tuy nhiên, điểm yếu của các doanh nghiệp này là nguồn nhân lực: trình độ nhân lực phổ thông chiếm tỷ lệ tương đối cao là 84, 4% trong khi trình độ ĐH và trên ĐH là chỉ chiếm 5%, trình độ cao đẳng là 10,5%. Đây là những điểm mà ngành dệt may cần khắc phục bằng đào tạo khi áp dụng công nghệ 4.0.  Vậy họ có đủ cơ sở để tự tin đưa công nghệ 4.0 vào phục vụ công việc sản xuất và kinh doanh của mình? Nếu dựa trên thang đo của Đức với các mức 1 bắt đầu tiếp cận CMCN 4.0 (new comer), mức 2-3 bắt đầu học hỏi với mức độ đầu tư trang thiết bị từng công đoạn riêng lẻ trong dây chuyền sản xuất (learner) và mức 4-5 xác nhận mục tiêu chiến lược với nhà máy thông minh đầy đủ (leader) thì độ sẵn sàng hội nhập của các doanh nghiệp ở từng lĩnh vực khá khác biệt: sợi cao nhất với tổng điểm 3,02, tiếp theo là dệt 2,05, nhuộm 2,3 và may 2,85. Điều đó cho thấy, trong ngành dệt may thì “mức sẵn sàng cho CMCN4.0 của sợi ở mức cao nhất, tức là bắt đầu có phần đầu tư cho công nghệ 4.0 nhưng vẫn chưa có chiến lược mục tiêu hẳn quy trình tổ chức thực hiện một chiến lược lâu dài”, TS. Hoàng Xuân Hiệp nhận xét.  Theo thông tin trao đổi bên lề hội nghị với TS. Hoàng Xuân Hiệp, hiện nhà máy sợi Phú Cường quy mô 30.000 cọc sợi của Vinatex ở Đồng Nai mới đi vào hoạt động từ năm 2016 đã có dây chuyền sản xuất thông minh do phần mềm vận hành từ khâu đầu đến khâu cuối chu trình.    Ông Felipe, Giám đốc quản lý chất lượng toàn diện của thương hiệu thời trang Express (Mỹ) tới thăm May 10. Nguồn: May 10  Sự năng động trong áp dụng công nghệ cao không chỉ của riêng ngành sợi. Ông Thân Đức Việt, Tổng giám đốc Công ty May 10 đã tự tin cho biết, dù là khâu cuối cùng của ngành dệt may và khâu tự động hóa thấp nhất trong chuỗi sợi dệt nhuộm may thì “May 10 đều có cả các máy móc thiết bị hiện đại nhất thế giới”. Do tính chất khác biệt của các sản phẩm may mặc, từ áo phông (T-shirt) đến jacket, veston mà có những dây chuyền và chu trình sản xuất khác nhau, ví dụ “hãng Hugo Boss nổi tiếng với sản phẩm sơ mi thì họ cũng mới có một nhà máy thông minh gần như tự động các khâu còn với veston, nếu máy móc từng công đoạn thay thế được con người thì khoảng 30% thôi, do đó định nghĩa sản xuất thông minh veston theo kiểu đầu này là bò, đầu kia là xúc xích thì chưa được đâu”, ông giải thích.  Có cần sớm “đồng bộ hóa” sản xuất thông minh?  Câu chuyện sản xuất thông minh với nhiều lợi thế nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro đã đặt toàn bộ ngành dệt may Việt Nam trước sự lựa chọn: cần thiết hay không việc chuyển đổi sang mô hình phát triển tiếp cận CMCN 4.0. Trên cơ sở khảo sát nhiều nhà máy ở các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Israel, ThS Cao Hữu Hiếu, Giám đốc điều hành Vinatex và thành viên của nhóm nghiên cứu, cho rằng cần thận trọng trong đầu tư bởi “mặc dù nhìn thấy bài toán hiệu quả kinh tế nhưng chúng ta cần tính đến các yếu tố khác khi đầu tư công  nghệ 4.0, trong đó có vấn đề đơn hàng và thị trường. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy với doanh nghiệp dệt may Việt Nam, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc chơi này. Tuy nhiên chúng ta sẽ tham gia như thế nào chứ không phải tham gia bằng mọi giá. Nếu đầu tư thiết bị để rồi sau đó không có đơn hàng hoặc đơn hàng quá ít thì hiệu quả đầu tư không có”.  Ông phân tích trường hợp của lĩnh vực may. Trên thế giới, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào nhà máy thông minh với nhiều công đoạn, đặc biệt là doanh nghiệp có đơn hàng lớn nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa được như vậy. Trong khi đó, suất đầu tư vào máy móc, công nghệ gấp khoảng 10 gần so với công nghệ thông thương, khoảng 1 tỷ 1 suất đầu tư robot. Với một nhà máy khoảng 350 lao động, mỗi lao động điều khiển 2 robot, cần 700 robot để đem lại năng suất gấp 26 lần và một năm cho 30 triệu sản phẩm. “Chỉ khi quy mô đơn hàng của chúng ta rất lớn mới có thể đầu tư thế được”, ông nói. Đây cũng là con số mơ ước của các doanh nghiệp ngành may Việt Nam.  Đây cũng là quan điểm của nhiều chuyên gia của ngành dệt may. TS. Hoàng Xuân Hiệp cho rằng, kinh phí đầu tư cho công nghệ 4.0 lớn nên doanh nghiệp sợi, dệt, nhuộm thì vốn đầu tư phải trên 100 tỷ còn với các doanh nghiệp ngành may, ngưỡng này là mức trên 50 tỷ, nếu vốn dưới ngưỡng thì không đủ tiềm lực đầu tư trong thời gian ít nhất 10 năm nữa. Như vậy, “nhu cầu đầu tư chỉ xảy ra với những doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế, không phải xảy ra với tất cả các doanh nghiệp sợi dệt nhuộm, may như chúng ta vẫn tưởng tượng”, ông nói.  TS. Hoàng Xuân Hiệp nhắc lại lời chia sẻ của TS Nguyễn Đức Kiên, “nếu xuất phát điểm của chúng ta thấp, và chúng ta cứ làm theo kiểu mơ mộng quá, cái gì cũng muốn làm thì không thể làm được và với ngành dệt may thì đúng là như vậy”.  Chính sách cho ngành dệt may  Những bàn thảo về tương lai ngành dệt may Việt Nam trước CMCN4.0 đã cho thấy, các doanh nghiệp cũng như những nhà quản lý của ngành quan tâm đến sản xuất thông minh như thế nào. Mặc dù cùng chung nhận định “chúng ta ngồi ở đây bàn về đổi mới ngành dệt may theo cách có tiền, có đơn hàng, có thị trường thì mới đổi mới công nghệ, còn chưa có thì từ từ” và nhắc đến cái ổn định là “khách hàng vẫn chấp nhận về chất lượng, chúng ta vẫn chấp nhận được về giá thành trên thiết bị hiện nay” nhưng ông Lê Tiến Trường cũng nhắc nhở mọi người, “vấn đề là cần rõ thêm từ từ trong bao lâu vì cái từ từ của mô hình kinh doanh kiểu cũ là đứng ngoài môi trường kinh doanh mới”. Môi trường mới mà ông đề cập đến ở đây quả là có nhiều sức hút, ví dụ trước đây người làm sợi tại Việt Nam có lẽ không thể thấy phản hồi của người mặc áo dệt từ sợi của mình và cũng không thể truy vết được sợi VN được dệt nên cái áo của ai, ở đâu, hãng nào nhưng ngày nay, hoàn toàn với môi trường mới, công nghệ mới liên kết các dữ liệu thì có thể có được thông tin…  Với mong muốn thúc đẩy những đổi mới sáng tạo của ngành dệt may, ông Lê Tiến Trường cho rằng, điểm thuận lợi lớn nhất của ngành là “doanh nghiệp bao giờ cũng có thể tìm ra cách tốt nhất để làm” nhưng họ vẫn cần những chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà nước để đầu tư công nghệ 4.0. “Không xin thêm tiền đầu tư nhưng vẫn cần chính phủ giải quyết một số vấn đề cốt lõi”, ông nói.  Theo ông Lê Tiến Trường, những vấn đề cốt lõi đó là nếu doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ 4.0, đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng thì có được sử dụng lợi nhuận trước thuế không, có được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp khi đầu tư vào đó không? Ông phân tích, “thay vì thu 21% như quy định, nếu chính phủ cho phép doanh nghiệp tái đầu tư vào công nghệ thì đã là một nguồn động viên lớn cho rồi”.  Mặt khác, nếu để đổi mới công nghệ 4.0, bên cạnh việc đặt mua của các hãng nước ngoài, doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể hợp tác với nhiều doanh nghiệp khác trong nước nội địa hóa sản phẩm hoặc kết hợp thành chuỗi để có thể đi với nhau ngay từ đầu, đặt hàng họ nghiên cứu tạo ra sản phẩm dành riêng cho mình… Ông Lê Tiến Trường dự đoán có một số trường hợp có thể xảy ra: doanh nghiệp sẽ đặt hàng không qua đấu thầu, doanh nghiệp có thể mua sản phẩm giá cao vì sản phẩm đầu tiên có thể đắt. “Nếu không giải quyết được vấn đề này thì vấn đề liên kết chuỗi, nội địa hóa chắc chắn chỉ tồn tại trên giấy, không bao giờ thành hiện thực”, ông nói.  Với góc độ một doanh nghiệp có nhiều chủ động đầu tư cho công nghệ mới, ông Thân Đức Việt cho rằng, nếu không có hỗ trợ rất lớn về chính sách từ chính phủ thì doanh nghiệp sẽ vẫn loay hoay, ngay cả có sự giúp sức của Vinatex thì cũng khó có thể làm được. “Có lẽ chính phủ không chỉ cần ban hành chính sách về tài chính đâu mà chỉ cần quan tâm, tạo ra môi trường thuận lợi để thúc đẩy ứng dụng công nghệ 4.0 cho ngành dệt may”.          Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2018, ngành Dệt May Việt Nam đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, tạo công ăn việc làm cho 2,7 triệu lao động, chiếm tỷ lệ 25% tổng số lao động trong ngành công nghiệp, chiếm 5% tổng số lao động, doanh thu toàn ngành đạt 30,4 tỷ USD, tăng 16.6% so với năm 2017, trong đó chủ yếu xuất khẩu hàng may mặc (80%), vải (6%) và xơ, sợi (11%).  Còn theo số liệu của Hải quan VN, ngành Dệt may chiếm tỷ lệ 14,5% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, đứng thứ 2 về kim ngạch xuất khẩu, sau điện thoại các loại và linh kiện.          Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/det-may-viet-nam-san-xuat-thong-minh-theo-cach-nao/20190912023412572p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi bộ về Hà Giang…      Giáo sư Hà Huy Khoái đặt một câu hỏi trải ra trong một bài báo vỏn vẹn 300 chữ. Hà Giang và tương lai? Nhân cảm hứng từ câu hỏi Hà Huy Khoái và lời bộc bạch chân tình “tôi cũng cố nghĩ và nghĩ chưa ra” nên sẽ mạnh dạn nói đôi điều về phương cách thay đổi công cuộc Giáo dục qua đó có chi tiết thay đổi những kỳ thi – không chỉ thay đổi để quay về một nền Giáo dục vẫn y hệt như trong quá khứ.    Giáo sư Hà Huy Khoái đặt một câu hỏi trải ra trong một bài báo vỏn vẹn 300 chữ. Hà Giang và tương lai? (Báo Tia Sáng số 14, năm 2018).  Tôi rất muốn tin rằng Hà Huy Khoái đã viết bài báo câu hỏi này chỉ để phản biện lại bài viết cũng trên Tia sáng số 13, một bài viết công phu, nhẹ nhàng nói đến những “khía cạnh kỹ thuật” của những kỳ thi.  Và rất có thể, giáo sư cũng luôn tiện phản biện lại vô số cuộc bàn cãi khác vẫn chi quẩn quanh chuyện Có học có thi, Thi hai trong một, Thi trắc nghiệm, Thi tự luận, Thi riêng Thi chung … ra sao …  Tôi cảm nhận thấy điều giáo sư Hà Huy Khoái gợi ra đau lòng hơn nhiều! Một nguy cơ loay hoay đưa nền Giáo dục Việt Nam trôi nổi hướng về quá khứ. Một công cuộc “tiến lên miền quá khứ” điểm trang bằng những “bông hoa” 10 điểm như ở Hà Giang và những bông hoa chưa lộ diện.  Giáo sư Hà Huy Khoái kết thúc bài báo giản dị và nghiêm trang. Ông viết: “Vậy thì làm thế nào đây? Cũng như các bạn, tôi cũng cố nghĩ. Và nghĩ chưa ra! Có điều tôi cũng không cố gắng quay về hay “cải tiến quá khứ”. Nó thay đổi rồi.”    Nhân cảm hứng từ câu hỏi Hà Huy Khoái và lời bộc bạch chân tình tôi cũng cố nghĩ và nghĩ chưa ra nên sẽ mạnh dạn nói đôi điều về phương cách thay đổi công cuộc Giáo dục qua đó có chi tiết thay đổi những kỳ thi – không chỉ thay đổi để quay về một nền Giáo dục vẫn y hệt như trong quá khứ.    Học sinh ở trường tiểu học Công nghệ giáo dục Hà Nội. Ảnh: Website của trường.   Thời hậu chiến của tôi  Khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước vào năm 1975, tôi đã gần 50 tuổi. Ba năm và dăm bảy tháng nữa nếu còn sống tôi sẽ được là ông cụ chín mươi. Năm 1975, tôi vẫn còn trên vùng cao Hà Giang nghiên cứu thay đổi cách dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Năm nay, tôi đang hoàn thiện bộ sách xã hội nhân văn Cánh Buồm cho bậc Phổ thông Trung học. Đầu năm 2019, nhóm Cánh Buồm sẽ summing up trình xã hội một tư tưởng Giáo dục nằm trong một con đường tổ chức sự tự học của con em.  Công việc của tôi khi tạm kết thúc vào năm 1978 được đánh dấu bằng tấm giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên. Thế rồi, sang đầu những năm 1980, còn được huy hiệu Lao động sáng tạo và bộ sách học Tiếng Việt thì được giải thưởng hạng nhì của UNESCO khu vực kèm theo hai nghìn đô la Mỹ (mãi tới năm 1984 mới được nhận trọn một nửa bằng phiếu mua đồ ở cửa hàng Intershop Giảng Võ).  Cuối năm 1978, tiến sĩ Hồ Ngọc Đại tiếp tôi ở nhà riêng là một gian phòng tại phố Nguyễn Biểu. Khi đó tóc anh còn đen, trên bàn tiếp khách còn có thuốc lá. Trời mưa lâm thâm, tôi qua nhà anh, và được anh đón với câu nói đầy ấn tượng sao trông mặt anh buồn thế?  Hồ Ngọc Đại thuyết phục tôi làm ra sản phẩm và đem dùng được ngay, dứt khoát không làm với tư tưởng để bản thảo vào ngăn kéo cho đời sau. Một buổi tối ngắn ngủi, nhưng Hồ Ngọc Đại vẫn kịp huấn luyện tôi về bản chất chủ nghĩa Marx. Trên bàn có bộ Tư bản. Hồ Ngọc Đại lật đúng trang sách có câu các hình thái xã hội giống nhau ở chỗ làm ra CÁI GÌ và khác nhau ở chỗ làm ra theo CÁCH GÌ.  Thật tình, tôi “tham gia cách mạng” từ đêm 19 tháng 12 năm 1946 tại Thủ đô, rồi đi bộ đội rồi đi học sư phạm, đã vài ba lần chỉnh huấn chính trị, nghe giảng đủ điều, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe giảng ngắn gọn về chủ nghĩa Marx.  Hồ Ngọc Đại bảo tôi lên Hà Tuyên mười năm, lăn lộn thế đủ rồi… Và anh bảo tôi, bây giờ về trường Thực nghiệm làm việc với anh.  Tôi sẽ làm gì ở trường Thực nghiệm? Anh muốn nghiên cứu gì thì tùy anh, tôi không ra lệnh. Làm như thế nào thì đúng, làm sai thì sao? Anh làm đúng thì học sinh thích học và học giỏi. Còn làm sai thì anh tự chữa, chẳng ai ở cái nước này chữa giúp anh được hết.  Hồ Ngọc Đại bảo tôi viết cho anh cái công văn xin tôi chuyển về làm với anh ở trường Thực nghiệm. Tôi viết, anh nhắm mắt ký.  Tôi bị Hồ Ngọc Đại hấp dẫn thực sự vì cách giải thích những điều cao xa bằng những cách diễn giải dân dã. Để phổ biến dần dần một tư tưởng Giáo dục, Hồ Ngọc Đại có những cuộc Hội thảo mang tên Hướng đi Cách làm. Để đoàn kết nội bộ, Hồ Ngọc Đại có khẩu hiệu rất vui tai Tất cả bí mật đều công khai; Tất cả đàn bà là đàn ông. Để giáo viên tập trung vào công việc, anh có khẩu hiệu Mọi thắc mắc cá nhân để ngoài cổng trường.    Bây giờ nghĩ lại, thấy thời hậu chiến của tôi hình như có mấy đặc điểm này: một, tôi được học lại nghề sư phạm theo cách một thày một trò, với Hồ Ngọc Đại là thày giáo; hai, tôi tự học thêm vô số điều nhờ dịch thuê cho nhiều nguồn, nhưng mảng tài liệu lý thuyết thì chủ yếu từ nguồn Viện Thông tin Khoa học xã hội với “ông chủ” Phạm Khiêm Ích, Nguyễn Thành Duy…, và ba, tôi thực sự đi theo một con đường cải cách giáo dục của Hồ Ngọc Đại, mà anh gọi tên là Công nghệ Giáo dục.  Năm 2017, vào Ngày Nhà giáo, Hồ Ngọc Đại cử người đến chở tôi tới dự tiệc của cơ quan mới của anh. Ngồi bên cạnh anh với hai cốc bia trước mặt, tôi nói với Hồ ngọc Đại: đời tôi đã học của anh được ba điều. Một là học được cách làm việc với một tinh thần phương pháp chứ không à uôm chạy theo những hấp dẫn bất chợt. Hai là, tôi học được cách tổ chức cho học sinh làm việc theo một quy trình chặt chẽ, không lãng phí năng lượng, có thể kiểm soát được kết quả học tập của các em. Và ba là làm thực nghiệm như một cái van an toàn cho cuộc sống, nhất là cuộc sống của học sinh.      Lẽ ra, một xã hội lành mạnh nên tạo vị thế để Công nghệ Giáo dục và cả VNEN hoạt động song song với hệ thống quốc doanh. Để cho những nhánh không quốc doanh này trưởng thành dần và đem lại những đóng góp cho sự thay đổi. Một tư duy tự do đóng góp và một thái độ dân chủ bình đẳng chẳng nhẽ lại khó xác lập đến thế sao?      Mấy điều nghĩ ngợi  Suy ngẫm đến những việc mình đã học, đã làm, và những điều đã diễn ra, đem so với cái tiêu chí quá khứ của giáo sư Hà Huy Khoái, tôi có mấy điều nghĩ ngợi thế này.  Rành rành cuộc sống xã hội với cách làm việc và cách sống những năm khởi nghiệp của trường Thực nghiệm Công nghệ Giáo dục, thấy vài ba chục năm rồi mà xã hội vẫn trì trệ, thấy đó quả là một giai đoạn không ngắn mọi người chúng ta hình như cách sống và cách làm việc rất là … quá khứ! Nghĩa là rất cũ.  Điều cũ kỹ rất là “quá khứ” được thấy rõ nhất trong cả một thời kỳ kéo dài, ấy là xã hội không được hưởng lợi từ sự tự do đóng góp của những sáng kiến khác nhau. Thực ra từ thời đó cho tới bây giờ, cũng vẫn mới chỉ có hai phương án. Một phương án “quốc doanh” và một phương án bị xem như là tư doanh có tên Công nghệ Giáo dục.  Phương án quốc doanh sốt ruột nhập nhanh hai hệ thống Giáo dục trong hệ 12 năm. Tôi đồ chừng rằng việc nhập hai hệ thống đã song song tồn tại nhiều chục năm, thực chất lúc đó là xóa hệ thống 10 năm của miền Bắc, việc này có nguyên nhân từ thói trọng học kiến thức hơn là một tinh thần trọng phương pháp học.  Hồ Ngọc Đại trung thành với cụ Marx thì chú ý đến cách làm hơn là làm cái gì. Nhưng bước đi của Hồ Ngọc Đại cũng vẫn hấp tấp. Trường Thực nghiệm ra đời từ năm học 1979, nhưng sách Tiếng Việt lớp 1 mãi đến năm 1984 mới tạm coi là ổn định. Bản in năm 1984 do họa sĩ Chu Hoạch vẽ và trình bày, in đen trắng, hoàn thành sau ba ngày anh bị nhốt ở nhà tôi, cơm bưng nước rót, xong việc mới cho về.  Còn hấp tấp hơn nữa là nhiều phát ngôn, khiến Hồ Ngọc Đại như là bị tách xa thiên hạ. Hồ Ngọc Đại đòi dỡ ra làm lại từ đầu. Ai chịu chơi đến thế?! Hồ Ngọc Đại chỉ rõ là vẫn chưa có trường sư phạm. Ai chịu lắng nghe nhận xét ấy?! Và làm cách gì để thực sự biến những trường sư phạm đang là nơi “chuột chạy cùng sào”, thành ngôi trường sư phạm theo cách khác như trường của Piaget hoặe Davydov?  Dẫu sao, phải công nhận nhờ có Quyết định của nữ Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình năm 1984 cho phép hệ thống trường Thực nghiệm triển khai về những địa phương nào tiếp nhận nó, mà từ 12 trường năm học 1984-85 nở ra thành nhiều trường ở 43 tỉnh và thành phố – riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có tới già nửa số lớp 1 học theo Công nghệ Giáo dục.  Phương án Công nghệ Giáo dục sẽ còn bị hệ quốc doanh làm cho dúi dụi vào năm 1995 để mở đường cho bộ sách CT-2000 dự định dùng vào năm 2000 nhưng đến năm 2004 mới triển khai được và đến năm 2008 thì đã được chê “quá tải”. Ấy là báo chí phản ánh dư luận xã hội như vậy. Thực ra, nên đánh giá là hệ thống “mới” ấy rất là “quá khứ”. Nó chưa tìm ra cách học thay thế cho cách dạy kiến thức.  Nhưng nó đã làm cho phương án Công nghệ Giáo dục bị thành quá khứ vào năm 2004, chuyện này mọi người đều biết.    Học sinh tiểu học theo VNEN ở TP HCM. Sau nhiều tranh luận về chương trình VNEN và nhiều địa phương không tiếp tục dạy VNEN nữa, TP HCM vẫn chọn tiếp tục chương trình học tập này. Ảnh: vnexpress.net  Phương cách tiến lên  Việt Nam ta muốn thực sự Cải cách Giáo dục cần có một đời sống xã hội lành mạnh, để mọi con đường “tiến lên quá khứ” đều tự động bị xã hội chặn đứng.  Cuộc sống thì xô bồ muôn mặt, nhưng cho phép tôi sơ kết giản dị như sau đây, bằng cách so sánh hai phương cách tiến lên.  Một phương cách tiến lên theo lối quốc doanh hóa và một phương án … khác với nó.      Hoàn toàn thiếu vắng một tư tưởng xây dựng lại và xây dựng mới nền Giáo dục Việt Nam, làm một lần cho mãi mãi.      Biểu hiện 1 – tư duy quốc doanh hóa  Tư duy quốc doanh hóa là tư duy thích đánh nhanh thắng nhanh, và thích ảo tưởng nhờ vào sử dụng những “quả đấm thép”! Quả đấm thép có khi là chính sách như Luật giáo dục hiện hành. Cuộc “cải cách” bằng bộ sách và chương trình mang ký hiệu CT-2000 dựa vào điều khoản của bộ Luật này, coi sách giáo khoa và chương trình học là pháp lệnh. Cuộc sống đã cho thấy, cách tư duy đó rất là … quá khứ. Vì quả đấm thép đã không che chắn nổi CT-2000 bị chê trách là quá tải ngay vài bốn năm sau khi đem dùng ngoài thực địa.  Một đời bộ trưởng cho đem cặp sách học sinh ra cân đong công khai, để thấy sách không nặng, chỉ nặng vì mấy củ khoai các cháu học sinh mang theo ăn trưa thôi! Mấy đời bộ trưởng sau đã nhang nhác thấy đây là chuyện nội dung và cách học, nên đã đòi hỏi giảm tải, rồi giảm tải sâu. Nhưng kết quả ra sao, ai ai cũng rõ cả.  Giáo sư Hồ Ngọc Đại cũng thích chen chân vào con đường quốc doanh hóa đó. Và con đường Công nghệ Giáo dục của ông đầy chông gai. Giải pháp VNEN cũng muốn chữa chạy sự nghiệp Giáo dục theo con đường quốc doanh, tràn ngập lãnh thổ. Và nó cũng không chứng tỏ nổi sức mạnh, cho dù vẫn sử dụng những quả đấm thep mà CT-2000 đã dùng.  Những mũ cao áo dài vẫn quen nghĩ người trí thức là người có học vị và học hàm cáo với những tác phẩm để con cháu nhiều đời tham khảo thì không đủ sức chữa chạy gì. Những nhà trí thức đó cũng không đủ sức nên cũng giữ thái độ không hợp tác với Công nghệ Giáo dục và với VNEN.  Lẽ ra, một xã hội lành mạnh nên tạo vị thế để Công nghệ Giáo dục và cả VNEN hoạt động song song với hệ thống quốc doanh. Để cho những nhánh không quốc doanh này trưởng thành dần và đem lại những đóng góp cho sự thay đổi.  Một tư duy tự do đóng góp và một thái độ dân chủ bình đẳng chẳng nhẽ lại khó xác lập  đến thế sao?  Biểu hiện 2 – trình độ bất cập  Bất cập thứ nhất là việc hoàn toàn thiếu vắng một tư tưởng xây dựng lại và xây dựng mới nền Giáo dục Việt Nam, làm một lần cho mãi mãi.  Có đủ các cuộc “tổng” – tổng chấn chỉnh, tổng sắp xếp, tổng triển khai… – nhưng thiếu hẳn một tư tưởng chỉ đạo cái tổng đó trong vài trăm năm. Có cái “tổng” nhưng lại dựa cơ sở trên những Nghị quyết và Nghị định và Chỉ thị. Và quên mất, các Nghị quyết và Nghị định và Chỉ thị đó chỉ có tính nhiệm kỳ. Có tư tưởng gì buộc những nhiệm kỳ kế tiếp với những đổi thay chắc chắn phải có nhưng vẫn sẽ hướng Giáo dục đi theo một hướng?  Bất cập rõ rệt tiếp theo là không thấy khả năng “kỹ thuật hóa” một tư tưởng Giáo dục bất kỳ thành chuỗi việc làm để tư tưởng ấy mỗi ngày một thêm sức sống.  Bất cập rõ nhất là ở chuyện thi không chỉ trong mấy năm vừa qua. Bất cập ở chỗ tư tưởng giáo dục vẫn chỉ loay hoay trong một cách thức thi và hoàn toàn không đếm xỉa đến khái niệm kiểm tra đánh giá mà một trong những người khởi xướng là nhà tâm lý học Henri Piéron đã “bịa” trong một từ docimologie và từ những năm 1950 thế kỷ trước.  Cần tổ chức cho học sinh phổ thông học mà không cần thi. Làm cách gì? Chỉ cần có biện pháp tự đánh giá ngay trong quá trình học. Điều này đòi hỏi định nghĩa lại khái niệm “kiến thức phổ thông” là gì và “cách tự tìm đến” kiến thức phổ thông sẽ phải được tổ chức như thế nào. Hình như chuyện này thấy vắng bóng trong những cuộc thảo luận. Ngay giáo sư Hồ Ngọc Đại, dù đã có tư tưởng học không cần thi, nhưng sau hơn bốn chục năm tổ chức “dỡ ra làm lại”, cũng chưa cho thấy sẽ dỡ chuyện này và làm lại từ đầu như thế nào.  Biểu hiện 3 – sự quay về quá khứ  Câu hỏi và những lời bộc bạch buồn bã của giáo sư Hà Huy Khoái chắc chắn có nguyên nhân từ thực trạng đáng buồn của nền giáo dục hôm nay.  Giữa những năm 1980, một bộ trưởng Giáo dục còn khăng khăng không thể có trường tư thục! Bây giờ đâu đâu cũng có trường tư thục. Và mỗi trường là một tuyên ngôn đẹp về triết lý giáo dục của mình. Nhưng tuyên ngôn cao xa biết mấy thì cũng “xin thề” theo chương trình khung của Bộ.  Mà chương trình khung đâu có phải là một sản phẩm cơ giới kiểu quả đấm theo quốc doanh? Một chương trình học không ra đời bằng những đề án và những cuộc study tour để đem về những “bài học” bất kỳ. Những bài học đó liên quan đến trình độ người đi học. Và giả sử nó thành ra được những bài học để truyền lại ở nơi đây hôm nay và mãi mãi thì vẫn còn đó điều ông giáo sư Hà Huy Khoái đã cảnh báo: sự quay về quá khứ.  Xin chỉ lấy một chi tiết nhỏ đó để gợi ra những suy tư khác nữa.  Ai ai cũng thấy sự nghiệp Giáo dục là to tát, cao đẹp, nhưng tại sao mọi cách làm vẫn cứ như thể đang có cuộc chạy thi “về Hà Giang” và chạy thi theo lối đi bộ?  _____________  Vài tài liệu mong bạn đọc tham khảo:  1. Hồ Ngọc Đại ,Tâm lý học dạy học, Bài học là gì?, Công nghệ Giáo dục, Cải và Cách … đều công bố ở nhà xuất bản Gáo dục, Hà Nội.  2. Henri Piéron, Examen et docimologie (Thi cử và “khoa học đánh giá”) và những tư liệu cùng chủ đề của Viện Nghiên cứu khoa học Giáo dục.  3. Phạm Toàn, Sản phẩm kép của Giáo dục phổ thông (bài báo được giải thưởng năm 2004 của báo “Người đại biểu nhân dân”; Bỏ thi, lấy gì bảo đảm chất lượng? cũng trên báo “Người đại biểu nhân dân” năm 2004. Cùng một số bài trên báo mạng Giaoduc.net trong năm 2017.    Author                Phạm Toàn        
__label__tiasang Di cư và quá trình phát triển      Đại dịch COVID khiến những dòng người di cư ở phía Nam lũ lượt trở về quê hương bản quán và hệ lụy thiếu lao động, đứt gãy chuỗi cung ứng hậu đại dịch là điều cực chẳng đã nhưng cũng là cơ hội hiếm hoi để nhìn nhận lại vấn đề di cư một cách có hệ thống: từ chân dung những người di cư, các động lực di cư, mối quan hệ của di cư với quá trình phát triển cũng như những chính sách di cư hiện nay.     Lễ xuất quân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Đắklắk. Ảnh: Bảo tàng Đắklắk.  Yếu tố di cư đóng vai trò quan trọng định hình diện mạo cư dân trên mọi miền đất nước trong vài thập kỷ gần đây. Phần lớn dân cư đang sinh sống ở các thành phố lớn hiện nay đều là/ từng là những người di cư. Đơn cử với TP HCM và khu vực lân cận, trong vài chục năm trở lại đây, số liệu di dân ở đây đổi thay từng ngày, chỉ riêng TP.HCM, cứ 5 năm lại tăng dân số thêm một triệu người, trong đó hơn 2/3 là người di cư. Hàng chục triệu dân cư đang sinh sống ở các tỉnh miền núi cũng có thể là con cháu của hơn 4 triệu người thuộc thế hệ đã đi xây dựng vùng kinh tế mới trong những năm 1960-1990.  Chúng ta có thể tìm thấy những phân tích hệ thống quá trình di cư, trong nửa thế kỷ trở lại đây trong cuốn sách “Di cư, đói nghèo và phát triển”, của PGS.TS Nguyễn Văn Chính vừa mới xuất bản, để thấy được mối quan hệ, đóng góp của những bước chân di cư, của từng con người nhỏ bé vào quá trình vận động lớn lao của nền kinh tế – xã hội như thế nào. Để làm rõ được những điều đó, PGS.TS Nguyễn Văn Chính tập trung nghiên cứu ba trào lưu di cư lớn ở Việt Nam từ thập niên 1960 đến nay. Đó là: (i) trào lưu di cư xây dựng vùng kinh tế mới dưới thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa (1960-1990); (ii) trào lưu di cư từ nông thôn vào đô thị từ sau đổi mới 1990 cho đến những thập niên đầu thế kỷ 21; và (iii) trào lưu di cư của các nhóm dân tộc thiểu số từ miền núi đến các khu đô thị và di cư lao động xuyên biên giới ở khu vực phía Bắc.   Sẽ khó có thể gói ghém được bức tranh muôn mặt của người di cư, cũng như những dòng dịch chuyển “bốn phương tám hướng” của người di cư, từ nông thôn đi tới khắp các vùng kinh tế mới theo các chương trình di cư của nhà nước, di cư tự do về khắp các đô thị hay tiếp tục di cư tới các vùng nông thôn khác nhau. Bức tranh di cư ấy lại càng trở nên tiếp tục đa dạng, nhiều tầng nấc khi di cư giờ đây cũng chằng chịt như mạng nhện, giữa các tộc người khác nhau, không chỉ đổ về đô thị lớn mà còn có những nhóm di cư vắt qua biên giới, tới cả những nơi thâm sơn cùng cốc. Về loại hình di cư, có di cư lâu dài, di cư thời vụ và thậm chí có cả di cư con lắc sáng đi tối về… Giữa rất nhiều thông tin, loại hình, tiêu chí, mốc thời gian… như vậy, việc định hình chân dung người di cư đòi hỏi một cái nhìn bao quát. Và PGS.TS Nguyễn Văn Chính đưa ra những khung tham chiếu để người đọc cùng phân tích các vấn đề này.     Các thành phố lớn của Việt Nam đang trong quá trình tăng dân số cơ học – một phần tất yếu trong quá trình phát triển của đô thị nhưng lại lúng túng trong ứng xử với người di cư.    Đối với trào lưu di cư xây dựng kinh tế mới, lý thuyết phát triển kinh tế vùng và vai trò điều tiết dân số của nhà nước trong Kinh tế học Xô viết đã được vận dụng để lý giải chính sách, hướng di chuyển, các hoạt động và tổ chức cuộc sống của người di cư. Đặc biệt, những phân tích dựa trên số liệu thống kê khô khan đã được làm mềm hóa bằng những câu chuyện cuộc đời của chính những người di cư, một cách tiếp cận lịch sử di cư từ ký ức, góp phần làm sống lại một thời kỳ lãng mạn cách mạng trong đó người lao động từ vùng đông dân được huy động đến những khu vực còn hoang vắng để lập nghiệp và khai phá các vùng kinh tế mới cho đất nước.   Đối với trào lưu di cư tự do từ nông thôn và miền núi vào đô thị, tác giả sử dụng lý thuyết lực hút/lực đẩy di cư nhằm phân tích các yếu tố hút và đẩy như những động lực chính của trào lưu di cư này. Thông thường người di cư thường sẽ di chuyển khi có lực hút từ phía nơi đến và lực đẩy từ nơi đi, mà thường là sự chênh lệch giữa các điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi giữa hai nơi: nơi có lực hút có điều kiện tốt hơn nơi xuất cư. Di cư là một chiến lược sinh kế của người dân, phải cân nhắc giữa nhiều yếu tố về nguồn lực, mạng lưới xã hội, thông tin về nơi đến, cũng như các trở lực tác động tới hành trình di cư.   Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh rằng bên cạnh việc xem xét các yếu tố hút và đẩy, quá trình di cư cũng chịu ảnh hưởng của các trở lực (obstacles), bao gồm khoảng cách di cư, tình trạng giao thông, và những quy định của pháp luật mà một nghiên cứu về di cư không nên bỏ qua. Đáng lưu ý là khi phân tích đời sống và việc làm của người di cư trong không gian đô thị, tác giả đã chỉ ra chiến lược sinh tồn của người di cư là “tối đa hóa thu nhập và tối thiểu hóa chi phí”. Chiến lược này là tác nhân chính chi phối các khuôn mẫu của lối sống, công việc và chi tiêu của người lao động di cư.  Khi nghiên cứu trào lưu di cư của các nhóm dân tộc thiểu số từ miền núi đến các khu công nghiệp, vào các đô thị hay xuyên biên giới tìm việc làm, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của lý thuyết vốn xã hội và mạng lưới xã hội của người di cư, được cho là có ảnh hưởng quan trọng đến thành công hay thất bại của các chuyến di cư. Ông cho rằng mạng lưới xã hội là một phức thể của các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng hay tổ chức xã hội mà trong đó mỗi cá nhân có vai trò như là một mắt xích, được gắn kết bằng các mối quan hệ khác nhau như tình bạn, trao đổi kinh tế, có ảnh hưởng và lợi ích chung. Mạng lưới xã hội có thể tạo điều kiện để người di cư giảm chi phí môi giới việc làm, tránh rủi ro và tạo điều kiện, cơ hội cần thiết trong cuộc sống của người mới di cư.   Lực hút và lực đẩy di cư   Nếu không có các tư liệu công phu của cuốn sách, chỉ nhìn thấy những luồng di cư tự do khắp cả nước hiện nay, ít ai hình dung được rằng cách đây 30 năm trở về khoảng những năm 1960, các phong trào di cư lớn chỉ có một động lực – từ chính sách của nhà nước – nhằm phục vụ cho quá trình cân đối, sắp xếp lại dân cư giữa vùng đông dân và các vùng thưa dân giữ vai trò phên dậu của đất nước. Là một sản phẩm trực tiếp của chính sách kinh tế kế hoạch hóa, Chương trình Kinh tế mới lấy vai trò của nhà nước là chủ đạo, là “lực đẩy” cho di cư thay vì để người di cư đi theo lực hút .   Trong vòng 30 năm điều động, sự hi sinh thầm lặng của 4 triệu người từ vùng đồng bằng đông dân được điều chuyển lên miền núi đã mang lại kết quả to lớn cho công cuộc xây dựng kinh tế xã hội ở các vùng phên dậu của tổ quốc. Nhìn chung, công cuộc di dân đã làm giảm áp lực dân số cho các vùng đồng bằng, mở rộng phát triển hàng triệu hecta đất nông nghiệp và lâm nghiệp.   Không phủ nhận những đóng góp tích cực đó của quan điểm lấy chiến lược của nhà nước làm động lực di cư (khác với động lực di cư tự thân như với những nhóm di cư đô thị sau này), PGS.TS Nguyễn Văn Chính phân tích thêm những vấn đề ở chiều ngược lại còn ít được chú ý – những tác động của chính sách với người di cư – chủ thể của các chương trình di cư này. Phần lớn các phân tích từ phía nhà quản lý thường nhìn thấy kết quả của chương trình trên quy mô rộng lớn, nên ít khi thấy được các phong trào này được thực hiện ồ ạt, nặng về hình thức, không đi vào thực chất, không đồng bộ và thiếu trọng điểm, tổ chức di dân ồ ạt trong khi nguồn lực phục vụ di dân ít ỏi, không thực sự quan tâm đến lợi ích của chính những người được mang khỏi không gian sinh tồn quen thuộc đến một vùng đất xa lạ. Những chiến dịch tuyên truyền nhưng lại ít thông tin trước khi xuất cư khiến cho người di cư không có ý niệm đầy đủ về nơi đến, không kịp thích nghi với nơi đến, thậm chí quá sức chịu đựng và bỏ về bấp chấp việc vi phạm tính kỷ luật chặt chẽ, nặng nề dưới thời quản lý bao cấp kế hoạch hóa. Các quan sát “từ dưới lên” trường hợp về một số làng xuất cư và các nông trường tiếp nhận nhập cư cho thấy tỉ lệ người bỏ về rất cao, các nông lâm trường mà người di cư ở Hải Hưng di chuyển tới phải chịu tỉ lệ bỏ về dao động từ hơn 30% tới 60%. Những câu chuyện đời sống được ghi lại ở một ngôi làng thuộc tỉnh Hải Hưng cũ (Hải Dương ngày nay) cho thấy những hình ảnh sống động về động lực và cuộc sống của người di cư, và đặc biệt là những sức ép của phong trào duy lý, của cuộc sống nơi “rừng xanh núi đỏ”  khiến cho một nửa người di cư phải trở về (sau này trong tổng kết 30 năm di cư của Cục Định canh định cư và vùng Kinh tế mới cũng có nhận định tương tự).     Yếu tố di cư đóng vai trò quan trọng định hình diện mạo cư dân trên mọi miền đất nước trong vài thập kỷ gần đây.    Ở điểm này, phân tích của PGS.TS Nguyễn Văn Chính mang tới góc nhìn lý thuyết và những đúc rút mang tính quy luật và thảo luận lại cách lý giải trước đây – về thất bại của chính sách di dân ra khỏi vùng đồng bằng sông Hồng – trước đây được lý giải quy về bản chất, do văn hóa và căn tính của người nông dân quen sống trong cộng đồng quen thuộc, ngại thay đổi khỏi lũy tre làng. Ông lý giải, thực chất, sự thất bại ấy là do người nông dân bị mất tính chủ động, không thể xây dựng được mạng lưới xã hội của mình, không có thông tin về nơi đến, không được lựa chọn công việc mới. Bởi vì, trong lịch sử của đất nước này, lịch sử của từng làng mạc vẫn in dấu chân người di dân, hình hài đất nước cũng được xây dựng nên từ chính những luồng di dân. Và sau Đổi mới, cũng chính những người nông dân trên đồng đất ấy, họ vẫn di cư đến các vùng đất mới bởi vì họ được tự chủ, tự quyết, tự xây dựng mạng lưới xã hội ở nơi đến và tìm việc làm. Sau khi đất nước ra khỏi thời kỳ bao cấp, kể từ những năm 1990, di cư đã trở thành xu hướng rất lớn, khi các không gian sản xuất cũ là hợp tác xã đã tan vỡ, các gia đình cá thể được trả lại vai trò tự quyết được tự do tìm chiến lược sinh tồn mới. Và di cư trở thành chiến lược sinh tồn quan trọng vì đa phần các vùng nông thôn không còn tạo đủ công ăn việc làm.   Những vấn đề chính sách hôm nay   Nhưng cũng chính từ đây, người di cư từ nông thôn ào vào đô thị mà không còn một bệ đỡ chính sách nào đằng sau lưng. Trong cuốn sách, PGS.TS Nguyễn Văn Chính cũng đề cập tới một vấn đề sâu xa: trong suốt lịch sử trước những năm 1990, các nhà quản lý ở Việt Nam không có tư duy cụ thể, hoạch định đường xa cho quá trình phát triển đô thị – mà một điểm cốt yếu trong đó là chưa tính hết đến quá trình tăng dân số cơ học – một phần tất yếu trong quá trình phát triển của đô thị. Và giờ đây không có gì đáng ngạc nhiên khi các thành phố lớn của Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa rất mạnh mẽ nhưng cách ứng xử với những người di cư vẫn còn nhiều lúng túng. Đơn cử là tình trạng người di cư tự xoay xở, vật lộn trong điều kiện gần như không thể tiếp cận các dịch vụ công cơ bản như y tế, giáo dục.   Cơ sở hạ tầng chưa tính tới yếu tố tăng dân số cơ học trong nhiều năm nên hạ tầng y tế, giáo dục ở các thành phố lớn ngày càng quá tải. Nhiều gia đình tham gia bốc thăm giành suất vào trường mẫu giáo. Ảnh: VOV.  Thực chất của đô thị hóa là quá trình biến đổi dân số cơ học, chất lượng sống và lối sống của người dân, cùng với quá trình đô thị hóa là sự gia tăng dòng di cư nông thôn đô thị, trong đó có cả dòng di cư có kỹ năng cao vào thành phố để định cư lâu dài và dòng lao động kỹ năng thấp, lao động mùa vụ. Dòng thứ nhất thường được các thành phố rộng cửa chào đón, không chịu nhiều sức ép về kinh tế còn dòng thứ hai dường như không xuất hiện trong các quy hoạch chính sách nào, mặc dù chính là nhóm giúp giải quyết tình trạng thiếu “thợ” ở đô thị. Trong cuốn sách này, ông mang lại bức tranh về những công việc thầm lặng mà người lao động di cư đang làm cho thành phố thông qua mô tả dân tộc học về đời sống, mạng lưới của những xóm nghèo đô thị, câu chuyện cuộc đời của những người di cư làm công việc tay chân trong lòng thành phố Hà Nội. Tưởng như những bức tranh ấy không liên quan đến con đường mà thành phố này định hình – vươn mình trở thành một trong những siêu đô thị lớn nhất khu vực – nhưng thực ra thể hiện rõ nhất mối quan hệ của đô thị với nhóm người di cư. Sức ép về môi trường, nhà ở, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội của di cư lên khu vực đô thị là có thật nhưng nếu chỉ nhìn như vậy sẽ rất phiến diện, chỉ nhìn thấy tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn-đô thị mà quên mất vai trò quan trọng và những đóng góp tích cực của người di cư lao động tại các thành phố, và không bao giờ cắt nghĩa được sự phát triển và thịnh vượng của thành phố đến từ đâu. Người ta thường nghĩ, sự thịnh vượng của thành phố đến từ những thành phần tinh hoa, đến từ những chiến lược, từ việc kêu gọi đầu tư, mà đa phần quên mất rằng, những khu công nghiệp mênh mông, những đô thị sầm uất được xây nên ngày hôm nay có mồ hôi thầm lặng của chục triệu người di cư từ nông thôn vào đô thị.  Mọi động thái của các nhà quản lý: lờ đi các nhóm di cư tới đô thị, hay đẩy đuổi dọn dẹp vỉa hè đều có tác động mạnh tới các nhóm di cư nghèo lẩn khuất bên dưới bề mặt đô thị hào nhoáng – thực ra vô cùng đông đảo. PGS.TS Nguyễn Văn Chính cảnh báo, nếu giới quản lý đô thị chỉ muốn đón nhận dòng di cư tinh hoa, mà lại lờ đi, không có chính sách cho những dòng di cư bình dân là đi ngược lại quy luật phát triển của quá trình đô thị hóa. Những cảnh báo ấy, không ngờ lại hiển hiện rõ nhất trong trận đại dịch lịch sử cách đây tròn một năm, ở nơi nhận luồng di cư lớn nhất Việt Nam – TP Hồ Chí Minh và khu vực lân cận. Các chính sách đầu tiên để đảm bảo giãn cách ở TP Hồ Chí Minh là giảm các hoạt động ở khu vực kinh tế phi chính thức, đóng cửa chợ dân sinh, đóng cửa chợ đầu mối… dù không cố ý nhưng đã vô hình trung “giáng đòn” mạnh không gian sinh tồn của người di cư ở thành phố, không tính tới sức ngưỡng chịu đựng của nhóm di cư ít tích lũy, khiến cho toàn bộ nhóm này điêu đứng và ồ ạt tháo chạy trở về bản quán khi TP mở cửa trở lại. Chúng ta không có thống kê đầy đủ, nhưng áng khoảng TP HCM có lực lượng lao động phi chính thức chiếm khoảng 40-50%1 lao động, hoặc riêng vỉa hè đã giải quyết khoảng 30% nhu cầu công việc và mua bán thức ăn ở thành phố2 đã phải ngừng từ lúc bắt đầu giãn cách xã hội cuối tháng 5/2021.   Sau đại dịch, khi đứt gãy chuỗi sản xuất và cung ứng do thiếu lao động di cư, thì cái nhìn hệ thống đó mới cho chúng ta đặt câu hỏi lại về vấn đề phát triển đô thị. Để thấy rằng, nhiều đô thị khi xác định đường hướng phát triển trong 5, 10 năm, tầm nhìn dài hạn vài chục năm đã không mang vấn đề người di cư lên bàn nghị sự. Trong các bản kế hoạch đưa đô thị phát triển gắn với nhiều từ khóa như “hiện đại”, “thông minh”, “nhân lực chất lượng cao”… hầu như không nhắc gì tới người di cư nông thôn – đô thị như một nhóm đặc thù cần có chính sách phù hợp. Trong khi đó, những người di cư – hơn 7/10 người di cư không chuyên môn kỹ thuật, toàn làm từ công nhân đến những việc long đong đồng nát – vẫn là những “mao mạch” quan trọng, góp phần vào nhịp đập hằng ngày của sinh thể đô thị.  Như thế, chiến lược di cư giảm gánh nặng cho nông thôn, là win – win – win với cả nông thôn, người di cư và đô thị. Chính sách di cư tốt là chính sách hỗ trợ cho mối quan hệ này chứ không phải chỉ nhìn một phía – áp lực người di cư tạo ra cho nơi đến. □  ——  1 Ngô Thị Kim Dung, nghiên cứu “Những vấn đề an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ở TP.HCM”, Đề tài Sở KHCN TP HCM.   2 Annette Kim, Sidewalk city, University Of Chicago Press, 2015.     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Di sản Quốc gia – Làng, xã quản lý !      Chỉ c&#243; thể cứu v&#227;n được thực trạng ứng xử với c&#225;c di sản vật thể quốc gia m&#224; dư luận c&#244;ng ch&#250;ng c&#249;ng c&#225;c chuy&#234;n gia, văn nghệ sĩ hết sức phẫn nộ v&#224; &#8220;khẩn thiết phản biện&#8221; khi c&#243; sự&nbsp; nhận thức lại, sự thay đổi th&#225;i độ tiếp cận vấn đề của c&#225;c cấp l&#227;nh đạo Đảng, Quốc hội v&#224; Ch&#237;nh phủ. V&#236; đ&#226;y l&#224; những vấn đề văn h&#243;a hệ trọng ở cấp quốc gia m&#224; một bộ, một tỉnh, một th&#224;nh phố, một huyện, một x&#227; kh&#244;ng giải quyết được v&#224; kh&#244;ng được giải quyết!    Sau cuộc chất vấn Bộ trưởng Bộ VHTT&DL tại kì họp Thường vụ Quốc hội vừa qua, báo chí rộ lên một loạt “phản biện” gay gắt của công chúng về việc các di tích lịch sử (đã được xếp hạng) bị xâm hại. Các chuyên gia và “nhân chứng” phẫn nộ và chua xót trước thực trạng trùng tu các di tích văn hóa: “Thật thảm hại!” (Phan Cẩm Thượng), “Hết chịu nổi!” (Nguyên Ngọc), “Dừng trùng tu là bảo vệ di tích!”(Lê Thiết Cương)… Hàng loạt các dẫn chứng được nêu ra khiến người ta bàng hoàng về tình trạng các di sản văn hóa Quốc gia bị xâm hại, trùng tu sai lạc. Nhưng điều làm người ta ngạc nhiên nhất là trình độ văn hóa, chuyên môn của các cấp quản lý, cung cách hành xử của tất cả các bên liên quan đối với di sản văn hóa: từ bên có quyền, người có tiền tới cơ quan chuyên môn, chuyên trách và người dân sở tại.              Hai trụ biểu mới phục hồi ở đình làng Lộc Điền – Ảnh: Đ.Dụ        Theo trang thông tin điện tử của Bộ VHTT&DL cả nước Việt Nam hiện có khoảng 7.300 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc. Trong các năm 2006-2008 Nhà nước đã chi 865,42 tỷ đồng để “chống xuống cấp và tôn tạo 506 lượt di tích”. Kinh phí này chỉ chiếm 50-80% chi phí thực tế, phần còn lại là do dân đóng góp. Ước tính khoản kinh phí “xã hội hóa” từ 2001-2005 là khoảng 500 tỷ đồng, giai đoạn 2006-2008 khoảng 145 tỷ đồng/năm. Riêng tại Hà Nội từ năm 2002 đến nay nhân dân đóng góp 449 tỷ trùng tu 900 di tích.  Qua các con số và khái niệm khá lộn xộn trên ta vẫn có thể thấy rất rõ không ở lĩnh vực nào chủ trương “xã hội hóa, Nhà nước và nhân dân cùng làm” diễn ra sôi nổi, hỗn loạn và tự phát như ở lĩnh vực bảo vệ di sản Quốc gia. Hậu quả tất nhiên của nó là thực trạng “thật thảm hại” và “hết chịu nổi”. Đọc bài trả lời phỏng vấn của TS Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa (Tuổi Trẻ 28.3.2009) thì càng thấy tình cảnh rối như gà mắc tóc và “tầm làng xã” của việc trùng tu tôn tạo di sản Quốc gia. Ông nói: Cộng đồng dân cư địa phương thường thích làm mới, không thích ‘chắp vá’ giữ lại cái cũ! Các nhà thi công cũng muốn có nhiều việc làm nên thích “trùng tu nhiều hơn so với nhu cầu từ thực trạng di tích”!!!. Còn việc giám định chất lượng công trình thì “Ví dụ công ty thiêt bị văn hóa làm thì phải thuê công ty mỹ thuật, công ty mỹ thuật lại thuê công ty tu bổ, tức là người của đơn vị này được thuê sang giám sát đơn vị kia” (cùng thuộc Bộ VHTT&DL)!!! Quả là “Hết chịu nổi”.  Năm ngoái Bộ trưởng Văn hóa Italia hân hoan thông báo sau bốn năm làm việc phục chế một bức tranh của Botticelli đã hoàn thành và đây là một sự kiện văn hóa Quốc gia. Trước đây cả nửa thế kỷ khi người ta công bố danh sách các chuyên gia phục chế và giám địch việc phục chế bức tranh Đức mẹ Sixtin ở Bảo tàng Dresden, CHDC Đức (cũ) thì đã có một cuộc biểu tình đòi xem xét lại thành phần các hội đồng phục chế và giám định vì “ Không thể trao Đức mẹ của Raffael vào tay các anh đồ tể!” Ta chưa có được trình độ của chính quyền và ý thức của người dân như ở Ý hay Đức nhưng thực trạng cư xử đối với các di sản Quốc gia ở Việt Nam hiện nay là không thể chấp nhận được và cần gấp những “quyết định quan trọng” từ cấp cao nhất.Việc 506 lượt di tích được trùng tu tôn tạo bởi các công ty và “nhà thi công” bất kỳ với các hiệp thợ nghiệp dư bất kỳ, việc dân góp tiền và địa phương làng xã tự phát trùng tu tôn tạo hàng ngàn di tích (riêng ở Hà Nội trong mấy năm qua là 900 di tích) thì việc các di sản bị “sát hại” là chuyện không tránh khỏi.        Di sản quốc gia không thể trao cho làng xã xử lý “kiểu làng xã, ở tầm làng xã” như hiện nay.        Thực trạng ứng xử với các di sản vật thể Quốc gia tương đồng với hai thực trạng văn hóa đương đại mà dư luận công chúng cùng các chuyên gia, văn nghệ sĩ cũng hết sức phẫn nộ và “khẩn thiết phản biện” mà hoàn toàn chưa có phản ứng, hồi âm của các cấp lãnh đạo và quản lý cao nhất. Đó là sự phi lý, lãng phí, xấu xí cùng cực của các tượng đài tưởng niệm và “bệnh dịch” kiến trúc lai căng, nhại cổ, nhại kiến trúc thực dân của các công sở và công trình công cộng.               Ông Phan Cẩm Thượng bên pho tượng Hộ pháp cổ kính được “tha mạng” (không sơn lại theo lối làm mới) hiện đang ngự ở chùa Bút Tháp – Ảnh: Lãng Quân        Với cả ba thực trạng trên sự thay đổi, “cứu vãn” tình hình chỉ có thể tới với sự nhận thức lại, sự thay đổi thái độ tiếp cận vấn đề của các cấp lãnh đạo Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Đây là những vấn đề văn hóa hệ trọng ở cấp Quốc gia mà một bộ, một tỉnh, một thành phố, một huyện, một xã không giải quyết được và không được giải quyết! Văn hóa Quốc gia, di sản Quốc gia không thể trao cho làng xã xử lý “kiểu làng xã, ở tầm làng xã” như hiện nay. Chừng nào các vấn đề trên chưa nằm trên bàn nghị sự của các cấp cao nhất nêu trên thì tình hình chưa thể thay đổi.   Vài kiến nghị về vấn đề các di sản  Chính phủ cần có quy định rõ ràng các di sản cấp Quốc gia phải do Quốc gia quản lý, không để địa phương làng xã quản lý và tùy tiện trùng tu như hiện nay, nghiêm cấm làng xã, địa phương, người “hảo tâm” trùng tu tự phát.  Bộ VHTT&DL cần “nâng cấp” trình độ của các đơn vị bảo tồn bảo tàng từ cục tới các công ty với một đội ngũ cán bộ, chuyên gia và thợ trùng tu tôn tạo có trình độ đảm bảo chất lượng công việc. Việc đào tạo đội ngũ trùng tu, tôn tạo di sản không khó mà còn góp phần phục hồi một loạt nghề truyền thống đã mai một hoặc thất truyền. Đó cũng là bài học của các nước mạnh về trùng tu tôn tạo. Cần có trung tâm dạy nghề và thang lương riêng cho nghề trùng tu tôn tạo. Xây dựng việc giám định độc lập các dự án trùng tu tôn tạo di tích Quốc gia, xóa bỏ việc “kiểm tra chéo” có tính hình thức của các “công ty nhà” thuộc Bộ VHTT&DL như ông Đặng Văn Bài trần tình!              Để trùng tu chùa Bổ (Bắc Giang), người ta đã phá một khoảng lớn của bức tường đất tuyệt đẹp để xe cộ xông vào –               Ảnh: Đỗ Lãng Quân        Việt Nam không có truyền thống sưu tập và làm bảo tàng do đó các kiệt tác và các công trình, di tích phân tán ở các địa phương, trực thuộc địa bàn của một cấp hành chính thấp nhất, thuộc “quyền sử dụng” của một cộng đồng địa phương nhỏ nhất. Các di tích này thường luôn gắn với đời sống tâm linh của cộng đồng, một vấn đề khá nhạy cảm. Như vậy cần có các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cấp xã, huyện, tỉnh đối với các di tích trên địa bàn của mình. Cần có sự vận động giáo dục cộng đồng địa phương về việc bảo vệ di sản văn hóa Quốc gia, tự hào gìn giữ chúng chứ không tùy tiện ứng xử, trùng tu mà là giết di sản, kiểu “được chăng hay chớ”, cục bộ như hiện nay. Việc này cũng không khó vì dân làng nào cũng tự hào về các di tích của mình. Chỉ là do họ chưa có trình dộ và ý thức để đối xử thích đáng với các di tích mà thôi.  Cần có một chiến lược xây dựng các bảo tàng nghệ thuật để có thể lưu giữ các kiệt tác trong các di tích. Cần tăng cường an ninh tại các di tích Quốc gia tản mạn khắp nước.Với các bảo vật Quốc gia mà việc để tại các di tích ở làng xã không đảm bảo yêu cầu an ninh thì cần làm các bản chép đẹp thay thế và “quy tập” các bản gốc về các bảo tàng. Như vậy vừa bảo quản được, tránh hư hại, mất cắp mà tác phẩm nghệ thuật cũng tới được với nhiều người hơn. Việc này không phải là không thể hiệp thương giữa chính quyền và các cộng đồng dân cư, tôn giáo. Để bảo vệ tài sản Quốc gia nhiều nước cũng đã phải làm như vậy.        Các cấp quản lý cầ đưa các vấn đề di sản, tượng đài và kiến trúc vào chương trình nghị sự. Hãy coi các cảnh báo về tình trạng nguy kịch trong các lĩnh vực này cũng khẩn thiết các cảnh báo về lũ lụt, sập cầu đường hay tội phạm gia tăng.        Việc “xã hội hóa” kinh phí trùng tu tôn tạo là cần thiết. Đóng góp cho sự tôn tạo di tích địa phương “quê cha đất tổ” là một quyền lợi và một niềm tự hào của người dân. Họ góp tiền cho một công trình cụ thể  nhưng không thể để họ cùng ban quản lý di tích tùy ý trùng tu, sửa chữa, tôn tạo vì làm như vậy là vi phạm pháp luật và sai lạc về chuyên môn. Có thể có một “Quỹ công đức bảo tồn di sản văn hóa” cấp Quốc gia ở các tỉnh để xử dụng tiền “công đức” hợp lý, đúng luật, đúng chuyên môn và đúng nguyện vọng của người thiện tâm. Điều này cũng không phải không khả thi…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dị tật ở trẻ em: WHO cảnh báo về nguy cơ lây lan virus Zika ở hầu hết các vùng thuộc châu Mỹ      WHO cảnh báo về nguy cơ lây lan Virus- Zika này ở khắp châu Mỹ. Rất có thể vi khuẩn này lây lan qua đường tình dục và là nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh nặng nề ở những đứa bé chưa ra đời.       Virus-Zika lây lan do muỗi truyền xuất hiện ngày càng nhiều ở Mỹ La tinh và vùng Caribe, trong đó Brazin là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất.   Trong mấy tháng qua đã có khoảng 4000 phụ nữ khi mang thai đều bị lây nhiễm Virus-Zika sinh con với cái đầu quá nhỏ. Một số quốc ở Châu Mỹ đã có phản ứng mạnh mẽ trước nguy cơ này. Tại  El Salvador cơ quan nhà nước khuyên phụ nữ không mang thai từ nay đến năm 2018, theo tờ “New York Times” . Các nước như Kolumbia, Ecuador và Jamaika cũng khuyên phụ nữ tạm hoãn ước muốn sinh con trong thời gian này.   WHO khuyến cáo phụ nữ mang thai phải thận trong khi buộc phải đến vùng có virus  Zika. Trước và sau khi đến vùng có vật gây bệnh nên đến bác sỹ.  Bộ Ngoại giao Đức khuyến cáo “nói chung phụ nữ mang thai nên tránh đến những vùng có dịch bệnh Zika”.  Virus-Zika xuất sứ từ Uganda, cách đây 40 năm. Theo một số chuyên gia thì virus này đã lây lan qua du khách nhân giải Vô địch bóng đá thế giới tổ chức tại Brazin năm 2014 và từ đây lan sang các quốc gia khác. Cho đến nay đã có 21 quốc gia ở Nam và Trung Mỹ có căn bệnh này.  Loài muỗi –Aedes là vật truyền bệnh nên để tránh nguy cơ lây lan người dân tại những vùng liên quan cần tránh để bị muỗi đốt.  Theo nguồn tin của WHO, người ta cũng đã phát hiện Virus- Zika trong tinh dịch. Tuy nhiên, WHO cho hay, cho đến nay chưa thể khẳng định virus gây bệnh có thể truyền qua đường tình dục. Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm. Nếu như Virus- Zika có thể lây lan qua đường tình dục thì căn bệnh này có nguy cơ lan rộng khắp thế giới.   Xuân Hoài dịch theo Spiegel online, tháng 1.2016    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm cá tra, gặp Việt Nam      Để tìm hiểu Việt Nam, không có cách nào thú  vị hơn là tìm hiểu thực phẩm mà người Việt Nam ăn trong nước, hay đưa ra  thế giới cho người khác thưởng thức.     Năm giờ sáng tôi bước ra ban mai mát lạnh của Sài Gòn để nhảy lên yên xe gắn máy của Long, người bạn kiêm người thông dịch của tôi. Bình minh vừa rạng chân trời phơn phớt màu chàm – Vẫn còn quá sớm đối với người Mỹ, nhưng Sài Gòn nhộn nhịp lạ lùng ngay cả khi mặt trời chưa mọc. Người xe ngược xuôi, tuôn chảy, lạn lách, chạy lo công việc trước khi ngày thực sự bắt đầu. Một số người đã bày bán hàng điểm tâm trên lề đường, và người ta uống café trong quầng sáng đèn nê ông hắt ra cửa tiệm. Đây là bắt đầu một ngày khảo sát độc lập của tôi ở Việt Nam với tư cách sinh viên nghiên cứu về cá tra và hệ thống thực phẩm ở Việt Nam cùng những cơ hội trao đổi văn hóa với người dân của đất nước vốn xa lạ này.   Trong khi tìm hiểu chuyện về mậu dịch cá tra tôi cũng đâm ra chú ý đến luồng lưu thông thực phẩm ở trong nước Việt Nam. Đồ ăn Việt Nam nổi tiếng ở Mỹ – phần lớn người Mỹ biết tới Việt Nam trước tiên qua đồ ăn Việt Nam. Tôi muốn biết những thức ăn này được sản xuất, mua bán và tiêu thụ như thế nào ở Việt Nam. Tôi nhận thấy thức ăn thể hiện tính cách một dân tộc qua nhiều cách khác nhau. Chúng ta cần ăn để sống, nhưng mỗi dân tộc hình thành những cách phân phối và tiêu thụ thức ăn khác nhau. Vì vậy tôi tìm hiểu Việt Nam bằng cách tìm hiểu ẩm thực Việt Nam, ngay trên đất nước Việt Nam. Công bằng mà nói, tôi cũng được ngon miệng.  Để tìm hiểu về kỹ nghệ cá tra, trước tiên tôi thám hiểm những ngôi chợ truyền thống, chợ buôn sỉ, siêu thị, và một nhà máy sản xuất phi lê cá đông lạnh. Ngoài ra tôi còn chụp hình mọi bữa ăn của tôi, hỏi những người bạn Việt Nam về thói quen đi chợ, và thăm viếng cảnh trí nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long.   Hầu như ngày nào ở Việt Nam tôi cũng đi hết chợ này đến chợ khác, và ở đó tôi chứng kiến dòng chuyển lưu thực phẩm ở Việt Nam đạt tới cao điểm. Có lẽ chỉ có mấy cái “chợ nông dân” (famer’s market) ở Mỹ là có điểm tương đương với những cái chợ Việt Nam. Nông dân Mỹ đem sản phẩm của họ bán trực tiếp cho người tiêu dùng ở “chợ nông dân”, nhưng chợ phiên này chỉ mở vào một số ngày nào đó, và nói chung kiểu mua bán này không được coi là chính thống, không phải mạch chủ lưu của nền kinh tế Mỹ. Cho nên tôi thấy cảnh chợ họp mỗi ngày hầu như ở mỗi khu phố ở các thành phố lớn của Việt Nam thật là mới lạ. Đồ ăn bán ở chợ rõ ràng là tươi, rất khác với sản phẩm đã đóng gói bán ở Mỹ. Từ chợ này đến chợ khác, xe cộ nườm nượp, đối với tôi chẳng khác nào mê hồn trận như những quan hệ mua bán trong các chợ. Nhìn vào chợ cứ thấy tít mù loạn xạ, nhưng ai cũng có vẻ giao tiếp tốt đẹp, thông thạo đường đi nước bước, và hàng hóa được mua bán nhanh chóng hiệu quả.   Để biết những người bán lẻ ở các chợ nhỏ lấy hàng hóa từ đâu, tôi đến chợ bán sỉ Bình Điền ở thành phố Hồ Chí Minh vào lúc trời chưa sáng hẳn. Ở đó tôi nhìn thấy hành trình của cá được chuyển từ nơi sản xuất đến các vựa cá, rồi đến những người buôn bán lẻ. Tôi được những người bán cá đặt một con cá còn sống đang quẫy vào lòng bàn tay trần của tôi. Tôi đứng xem những người chở cá thả những thùng cá từ trên xe tải xuống, những chủ vựa phân phối những thùng cá cho các đầu mối, và những người quản lý đếm những xấp tiền thu được, tất cả diễn ra trong những vựa cá nồng mùi biển và loang loáng nước tràn lan khắp sàn. Tôi ngập theo nghĩa đen trong hệ thống lưu thông phân phối thực phẩm ở thành phố Hồ Chí Minh khi tôi đi trong những cái chợ – và học hỏi cách nào mà những nơi đó diễn ra đủ tất cả các loại hình trao đổi bán mua.  Nếu thực phẩm ở chợ đến thẳng từ sông biển ruộng vườn Việt Nam thì dường như cũng có một xu hướng ngược lại ở các siêu thị mới phát triển ở Việt Nam. Tôi để ý thấy thực phẩm ở các siêu thị có thứ được sản xuất, chế biến và vận chuyển từ châu Âu, Nam Mỹ, Mỹ và các nước Á châu khác. Có thể nói siêu thị là một cái mốc thay đổi trong hệ thống phấn phối thực phẩm ở Việt Nam, nó tiêu biểu cho sự kết nối của Việt Nam với thế giới và hệ thống thực phẩm hiện đại.   Cuộc “chiến tranh” cá tra giữa Việt Nam và Mỹ có vai trò gì, như một kinh nghiệm quan trọng chẳng hạn, trong thành công của Việt Nam trên thị trường cá tra toàn cầu, và hiện nay còn những vấn đề mậu dịch gì giữa Việt Nam và Mỹ, là những câu hỏi mà tôi mang theo đến Việt Nam. Tuy tôi chưa tìm được ngay câu trả lời, nhưng tôi lại khám phá ra một điều là cái thế giới mà tôi từng nghĩ rất cách biệt với thế giới tôi sống hóa ra lại có những kết nối trong nhiều phương diện hơn tôi tưởng. Ban đầu, kiến thức của tôi về Việt Nam chỉ là những giai thoại, ẩn dụ về chiến tranh Việt – Mỹ mà tôi nghe trong những lớp học lịch sử và từ những người thuộc thế hệ đã sống qua cuộc chiến ấy. Tôi thử gắn cuộc đôi co mậu dịch giữa hai nước và cuộc chiến tranh trước đó, nghĩ rằng có thể có một mối tỵ hiềm chưa giải quyết xong giữa hai nước. Giờ thì tôi nhận ra rằng cuộc đôi co mậu dịch ấy là một bước trên con đường phát triển hữu nghị hơn là khác biệt – là những dàn xếp với nhau để chúng ta cùng ngồi xuống chia sẻ thực phẩm trên một bàn ăn, dù cho tốt hơn hay dở hơn. Chúng ta là cái chúng ta ăn, hay nói cách khác thực phẩm chúng ta ăn biểu lộ văn hóa của chúng ta. Và để tìm hiểu Việt Nam thì không có cách nào thú vị hơn là tìm hiểu thực phẩm mà người Việt Nam ăn trong nước, hay đưa ra thế giới cho người khác thưởng thức.   Lý Lan dịch  * Sinh viên Khoa báo chí, ĐH Western Washington, Mỹ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Địa Đồ lịch sử Trung Quốc và vùng biển phía Nam      Năm 2003, ph&#242;ng lưu trữ hồ sơ lịch sử Số 1 thuộc Tổng cục lưu trữ Trung ương Trung Quốc phối hợp với Cục lưu trữ th&#224;nh phố Quảng Ch&#226;u c&#244;ng bố &#8220;Quảng Ch&#226;u lịch sử địa đồ tinh t&#250;y&#8221;. To&#224;n tập tuyển chọn 97 bức, gồm địa đồ thế giới, địa đồ to&#224;n Trung Quốc, địa đồ tỉnh Quảng Đ&#244;ng, th&#224;nh phố Quảng Ch&#226;u v&#224; c&#225;c phủ, huyện&#8230; do giới quan chức h&#224;nh ch&#225;nh, qu&#226;n sự soạn/vẽ/in trong triều Thanh v&#224; D&#226;n Quốc.     Qua khảo sát, chúng tôi thấy đa số các bức địa đồ này chưa được học giới Trung Quốc dẫn dụng trong các công trình nghiên cứu về Nam Hải chư đảo đã in thành sách. Mặt khác,  cũng chưa thấy học giới Việt Nam dẫn dụng trong các luận văn về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc các nghiên cứu chung về biển Đông, để góp thêm tư liệu cho học giới, xin giới thiệu sơ lược vài bức tiêu biểu trong tập địa đồ nêu trên.  Loại địa đồ hành chánh tỉnh Quảng Đông gồm 10 bức có niên đại sớm nhất là “Quảng Đông tổng đồ”, kích thước 295×196 cm, vẽ màu trên lụa, khoảng 1685 (Khang Hi 24). Phần trên của địa đồ là nội dung thuyết minh (Quảng Đông toàn tỉnh đồ thuyết), giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Đông, nói rõ về tứ chí (bốn hướng giáp giới) cùng các đơn vị hành chánh. Địa đồ này và 9 bức cùng loại cho thấy cương giới tỉnh Quảng Đông chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu (Hải Nam).  Loại địa đồ hành chánh toàn quốc được tuyển 2 bức “Thiên hạ toàn đồ”, kích thước 142×231,6 cm và “Hoàng triều dư địa toàn đồ”, kích thước 57×57,3 cm, khoảng 1728, 1729. Hai địa đồ này cho thấy cương giới phía Nam Trung Quốc chỉ đến phủ Quỳnh Châu.  Loại địa đồ thể hiện cương giới biển có 2 bức “Duyên hải thất tỉnh khẩu ngạn hiểm yêu đồ”, kích thước 30×36,7 cm, khoảng 1887 và “Thất tỉnh duyên hải toàn dương đồ” [Hình 1], kích thước 28×914,2 cm, khoảng năm 1862-1908 (Quang Tự). Hai địa đồ này cho thấy vùng biển Nam Trung Quốc không vượt quá 180 độ vĩ Bắc.           Hình 2: Quảng Đông thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ          Loại địa đồ bố trí doanh trại thủy/hải quân tỉnh Quảng Đông có bức “Quảng Đông thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ”, [Hình 2] kích thước 32×560 cm, vẽ màu trên giấy, ước sau 1866. Địa đồ quân sự này thể hiện chi tiết về núi sông, đảo dư, cửa khẩu, doanh trại, pháo đài… (trên các đảo và ven bờ biển), ghi rõ các nơi giáp giới vùng biển Giao Chỉ [trích đoạn]. Các chi tiết cho thấy không nhóm đảo hoặc hòn đảo nào ứng với Tây Sa và Nam Sa.  Trong các luận văn hoặc các công trình nghiên cứu về Nam Hải, học giới Trung Quốc thường dẫn dụng khoảng 50 bức địa đồ thời Minh, Thanh khác với các bức in trong tập “Quảng Châu lịch sử địa đồ tinh túy” để lý luận về chủ quyền lịch sử. Họ phát biểu [đại ý] rằng: “địa đồ lịch sử Trung Quốc đã ghi nhận về hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (bằng tên gọi của thời đó, như Vạn lý Trường Sa, Thiên lý Thạch Đường…) chứng tỏ các vương triều Trung Quốc đã xác định chủ quyền đối với những đảo, quần đảo này”.   Sự thực là có nhiều địa đồ hành chánh thời Minh, Thanh vẽ vùng biển phía Nam rất rộng, Nam đến Indonesia, Tây đến India, tuy nhiên phải xem đây là mục đích phụ của việc soạn vẽ địa đồ, chúng chỉ nhằm biểu diễn sự ảnh hưởng của đế chế đương thời qua sự bang giao hoặc quan hệ thương mại đối  với các nước trong vùng Nam Á (thời Minh, Thanh gọi chung là các nước Tây Dương). Tiêu biểu cho loại địa đồ này có thể tham khảo “Đại Thanh vạn niên nhất thống địa lý toàn đồ”, khoảng năm 1810, [hiện lưu trữ ở thư viện Đại học Waseda, Tokyo, Japan – mã số 1159, loại 11].    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch cúm tiền tệ Châu Á mười năm trước      Mùa Hè năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á bắt đầu từ Thái Lan. Mười năm qua cũng đủ để mọi người rút ra những bài học kinh nghiệm. Tiền ngoại quốc đổ vào một nền kinh tế mà không được dùng cho có hiệu quả, đến khi tiền phải rút đi vì hết tin tưởng, thì sinh khủng hoảng.    Từ năm 1990 đến 1996 tiền nước ngoài đua nhau đổ vào Thái Lan cùng các nước Đông Á khác, vì không khí kinh tế rất lạc quan, ai cũng tin rằng những “con cọp châu Á” này đang theo gót những “con rồng” phát triển trong thập niên 1970 và 1980. Mặt khác, các quỹ đầu tư quốc tế, nhất là ở Nhật Bản và châu Âu, mới bỏ chạy khỏi châu Mỹ La tinh, họ đi tìm chỗ đậu cho những món tiền vốn chưa dùng tới, và họ tìm tới Đông Á. Các ngân hàng và công ty tài chánh Mỹ dè dặt đứng ngoài vì họ tự cho là không hiểu rõ thị trường châu Á, đến khi khủng hoảng xẩy ra họ tự cho là nhờ may mắn nên không bị dính.                         Thủ tướng Malaysia Mahathir đổ lỗi cho nhà tài phiệt G. Soros  Từ năm 1996 và đầu năm 1997 đồng tiền bắt đầu quay đi khi thấy tiền đem vào nhiều, nhưng người sử dụng không sinh ra lời. Ngân hàng Thái vay tiền ở Nhật trả 3% lãi, đem về Thái cho vay lấy 7% tự dưng có lời. Người vay thì không có cơ hội đầu tư sản xuất hữu hiệu, bèn đua nhau mua nhà, đất, thổi phồng giá địa ốc lên, xây dựng thêm nhiều cao ốc nhưng không có người thuê. Người ta chỉ cần nhìn vào những cao ốc đang bỏ trống hoặc đang xây nửa chừng phải bỏ ngang thì thấy ngay, những người cho vay cũng đâm ra dè dặt. Tiền ngoại quốc bắt đầu rút lui.  Hàng xuất cảng không thể cạnh tranh với Trung Quốc vì chính phủ Bắc Kinh mới phá giá đồng nhân dân tệ năm 1994, thúc đẩy việc xuất khẩu hàng giá rẻ. Nguồn ngoại tệ nhờ xuất khẩu giảm, quỹ dự trữ ngoại tệ cạn bớt. Ngân hàng Trung ương gặp khó khăn vì khó kiếm ra ngoại tệ, đi vay thêm từ bên ngoài bắt đầu khó khăn.   Chính phủ các nước trong vùng đều muốn vừa giữ hối suất ổn định không đổi, lại vừa điều tiết khối lượng tiền lưu hành trong nước bằng cách ấn định lãi suất. Chính sách bắt cá hai tay đó khiến những dòng tiền tệ ra vào không tự điều tiết từ từ chậm chạp theo cung cầu của thị trường, vì bị chính sách tiền tệ và hối đoái của các quốc gia trói buộc. Đến khi gặp tắc nghẽn, các chính phủ mới buông một tay, thả hối suất giảm xuống cho phù hợp với cung cầu. Khi đó đã quá muộn vì người ta mất tin tưởng sinh ra hoảng hốt.  Thái Lan không thể in USD!  Sau những năm vay tiền nước ngoài thoải mái, khi người ngoại quốc giảm bớt dòng tiền chảy vào, là khó khăn bắt đầu. Muốn trả lãi và vốn những món nợ cũ thì Thái Lan phải có ngoại tệ. Hàng xuất cảng khó bán, ngoại tệ thâu vào chưa đủ để mua hàng nhập cảng, muốn có tiền trả nợ thì phải đi vay thêm USD nhưng đi vay ngày càng khó. Giới đầu tư quốc tế càng mất tin tưởng thì càng không muốn cho vay thêm khi biết người vay nợ mới chỉ để trả nợ cũ. Cứ thế quay trong cái vòng luẩn quẩn, dẫn tới cơn khủng hoảng.                       Tác động tới cả thị trường chứng khoán châu Âu    Nhiều công ty cần đổi Bạt lấy Yen hay USD để trả nợ nước ngoài trong lúc dòng ngoại tệ đang giảm. Theo luật cung cầu, nhiều người đem Bạt muốn đổi lấy USD hoặc Yen, giá trị đồng Bạt hạ thấp trên thị trường hối đoái. Trước đó, khi tiền nước ngoài chảy vô thong thả, Ngân hàng Trung ương Thái vì muốn kiểm soát hối suất, đem Bạt đổi lấy ngoại tệ để bảo vệ cho giá đồng Bạt khỏi tăng. Nếu thiếu Bạt trong kho, họ có thể in thêm, để cân bằng cung và cầu. Tình trạng đó khiến lạm phát cao hơn vì trong nước nhiều tiền quá. Đến khi dòng ngoại tệ giảm không vào nhiều như trước nữa khiến đồng Bạt xuống giá, Ngân hàng Trung ương làm ngược lại, tức là phải đem USD và Yen trong kho dự trữ ra, đổi lấy Bạt. Nhưng khi cần ngoại tệ để mua đồng Bạt thì kẹt, vì Quỹ dự trữ ngoại tệ của Thái Lan cạn dần mà Thái Lan không có quyền in USD Mỹ hay đồng Yen Nhật!   Ngân hàng Trung ương Thái và các nước trong vùng cũng có thể giúp cân bằng thị trường hối đoái bằng cách khác, tức là tăng lãi suất khiến giá trị đồng Bạt tự nó tăng giá lên, rồi cứ để yên cho người ta đem Bạt đổi lấy USD, thị trường sẽ tìm thế cân bằng mới. Nhưng vào năm 1997 tăng lãi suất là điều không ai dám làm. Các Ngân hàng Trung ương chỉ tăng lãi suất nếu thấy kinh tế lên mạnh quá, cần kìm cho chậm lại để tránh lạm phát. Năm 1997 kinh tế Thái đã bắt đầu trì trệ, tăng lãi suất nữa thì chỉ làm cho nó suy thoái nặng hơn.  Còn một giải pháp khác, là không bảo vệ giá trị đồng Bạt nữa, để mặc cho nó tụt giá một cách tự nhiên – trước khi quá nguy hiểm. Nhưng không ai dám quyết định điều này. Chính phủ sợ mang tiếng, mà chính phủ nào cũng lo kiếm phiếu cho cuộc bầu cử sắp tới (Cuối năm 1997 Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia đều sắp bầu cử. Sau cơn khủng hoảng chính phủ cả ba nước đều bị thay đổi). Ngân hàng Trung ươngThái đã chọn chính sách bảo vệ hối suất rồi, cũng không dám thả cho tiền xuống giá. Vả lại, để cho tiền xuống giá thì “chúng nó chửi.”   “Chúng nó” ở đây gồm các công ty, các ngân hàng đã vay nợ nước ngoài từ bao năm qua. Họ vay một triệu đô là một triệu đô, hồi đó mỗi đô đổi được 25 Bạt. Nếu bây giờ đồng Bạt mất giá, họ cần 1 đô để trả nợ thì phải đem 30 hay 40 Bạt mới đổi được một đô, tự nhiên họ mất thêm 5, 10 Bạt để mua mỗi đồng đô, ai ngồi yên không chửi được? Trong thực tế nếu đồng Bạt công giá thì nhiều ngân hàng, công ty sẽ phá sản sau khi đổi Bạt lấy Yen hay USD trả nợ! Cho nên chính phủ và Ngân hàng Trung ương Thái chỉ ngồi chờ, coi “sự thể sẽ ra sao hồi sau sẽ rõ!”    Sự thể là: Khủng hoảng tín nhiệm  Nhà nước có thể ngồi chờ, các công chức cuối tháng vẫn lãnh lương, nhưng các công ty, các ngân hàng bản xứ và ngoại quốc họ không thể ngồi yên trên đống than đang nóng. Nhìn vào tình hình kinh tế chung quanh họ biết rằng hối suất đồng Bạt mà Ngân hàng Trung ương cố bảo vệ là cao quá, không thực tế. Họ tin rằng sớm hay muộn đồng Bạt sẽ xuống giá. Nếu quý vị ở vào địa vị họ thì quý vị sẽ làm gì?   Đúng, nên đi vay càng nhiều Bạt càng tốt, đem Bạt đổi ngay lấy USD bây giờ đã. Có USD, một phần đem trả bớt nợ nước ngoài, còn dư thì đi mua công khố phiếu của Mỹ, tức là đem cho chính phủ Mỹ vay. Mai mốt đồng khi Bạt xuống giá thật, sẽ bán công trái Mỹ lấy USD, dùng USD đó đổi lại sang đồng Bạt, nó xuống giá bao nhiêu mình lời bấy nhiêu! Các doanh nhân Thái Lan – chắc họ cũng không khôn hơn mà cũng không dại hơn gì chúng ta – đã làm đúng như vậy!  Khi nhiều người đem Bạt đổi lấy USD, Quỹ dự trữ ngoại tệ của Thái Lan cạn thêm nữa, mọi người càng tin rằng thế nào nhà nước cũng phải phá giá tiền tệ, họ càng đem Bạt đi đổi lấy USD, biến thành một tình trạng hoảng hốt. Hoảng hốt tạo ra hoảng hốt, giống như một người chạy khiến bao người khác cũng ù té chạy theo vậy. Khi một đồng tiền bị mất tín nhiệm thì xuất hiện một cái vòng luẩn quẩn như thế. Ngân hàng Trung ương càng cố giữ giá đồng Bạt thì càng khuyến khích người ta đổi Bạt lấy USD, cho đến lúc nhà nước chịu thua, phải phá giá tiền thật sự, và lúc đó thì quá trễ.  Cái vòng luẩn quẩn này đã xuất hiện nhiều lần, với nhiều đồng tiền trên thế giới từ Anh quốc đến Argentina, cho nên những tay đầu cơ ở xa cũng nhìn thấy, và họ nghĩ: tội gì không bắt lấy cơ hội? Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Thái cố cứu đồng Bạt cho đến cùng. Họ còn làm một việc dại dột là đi “vay” USD về để bảo vệ Quỹ Dự trữ ngoại tệ, hẹn sẽ trả lại USD vốn lẫn trong mấy tháng (dùng thủ tục gọi là currency swap). Tất nhiên sau khi bắt buộc phải phá giá họ lại đổi Bạt lấy USD trả nợ, chỉ tốn tiền công quỹ. Nhưng hậu quả tai hại nhất là họ đã giàn xếp hợp đồng “swap” này trong vòng bí mật, che mắt thế gian. Đến khi tin tức bị tiết lộ, người ngoài càng nghi ngờ, nghi từ khả năng phán đoán đến cả tính lương thiện của những người cầm quyền tài chánh một nước! Đồng Bạt bị mất giá chỉ còn một nửa so với USD Mỹ.  Dịch Cúm Châu Á  Nhưng tại sao vụ phá giá tiền ở Thái Lan lại lan dần sang các nước trong vùng, kéo lên đến tận Đại Hàn; cả Đài Loan, Hồng Kông và Singapore cũng bị ảnh hưởng, dù chỉ cảm cúm qua loa nhưng chút nữa cũng mắc vạ lớn!  Trong vài tháng đầu tiên, người ta tưởng rằng vụ khủng hoảng ở Thái Lan sẽ được giới hạn trong nước đó, rồi tình thế sẽ ổn định dần dần. Đến Tháng Mười thì đồng tiền Malaisia và Indonesia bắt đầu mất giá tới 30%. Trường hợp Malaisia dễ hiểu, vì nước này cũng như Thái Lan, vay nợ ngoại quốc nhiều quá, cũng vì được giới đầu tư lạc quan tín nhiệm. Đến khi xuất cảng khó vì bị hàng Trung Quốc cạnh tranh, tiền thu ít, chi vẫn nhiều, cán cân chi phối thâm thủng liên tiếp nhiều năm. Chính phủ Malaisia quá chú trọng đến những công trình xây cất lớn có tính cách phô trương mà không sinh lợi. Thủ tướng thì không tự nhận lỗi của mình để lo cứu chữa cơn khủng hoảng, khi thấy tiền xuống giá lại tuyên bố đổ tội cho các nhà đầu cơ, nêu đích danh ông Soros, một người năm 1992 đã đầu cơ tiền Anh quốc trước khi nó xuống giá và kiếm một tỷ mỹ kim. Người ta thấy chính phủ không chịu nhận lỗi mà chỉ đổ tội cho người ngoài, lòng tín nhiệm họ càng xuống.  Nhưng Indonesia thì ở tình trạng vững vàng hơn cả Thái Lan lẫn Malaisia. Indonesia không bị thâm thủng ngân sách và cán cân mậu dịch không khiếm hụt như hai nước kia. Hàng xuất cảng chủ yếu của Indonesia là nguyên liệu thiên nhiên và dầu lửa, không bị Trung Quốc cạnh tranh; nói chung kinh tế vẫn ổn định. Nhưng sau cùng Indonesia cũng bị dính vì tâm lý nghi ngờ đã lan rộng, người ngoài không dám bỏ tiền vô nữa.  Trường hợp Hàn Quốc còn đáng ngạc nhiên hơn. Nước này đang vươn lên hàng cường quốc kinh tế, Tổng sản lượng Quốc nội lớn gấp đôi Indonesia dù dân số chưa bằng một nửa. Hàn Quốc cũng mắc một bệnh như Thái và Malaisia, là nợ nước ngoài nhiều quá. Đặc biệt, các ngân hàng và công ty sản xuất ở Hàn Quốc quá tự tin, quá khinh địch, không thận trọng. Số nợ của nhiều công ty Hàn Quốc lớn gấp bốn lần giá trị tiền vốn (D/E = 4), trong khi ở Bắc Mỹ người ta dạy trong trường là phải thận trọng cố giữ cho tỷ số nợ trên vốn nhỏ hơn 1, càng thấp càng tốt. Nhiều ngân hàng Hàn Quốc chuyên cho giới kinh doanh vay (merchant bank) đã làm sai một quy tắc thận trọng căn bản về tài chánh. Họ đi vay ngắn hạn (vay từ Đức hay Pháp) mà khi cho vay thì dài hạn (còn cho các xí nghiệp ở Nga vay nữa mới liều!) Đó là lối làm ăn quá liều lĩnh có ngày mang họa, quả nhiên họa đã tới.  Các nước Đông Á bị “dính chùm” cũng vì tâm lý các nhà đầu tư ngoại quốc. Họ lo quản trị tiền do người khác gửi, họ có trách nhiệm lớn, mà không phải người nào cũng có thời giờ nghiên cứu, phân biệt hết các ưu khuyết điểm của từng nước một. Những quỹ đầu tư phải quản lý hàng chục tỷ USD, họ đã lập ra riêng những “quỹ đầu tư vào các nước đang lên” hoặc “quỹ đầu tư Châu Á.” Khi một nước sập, rồi hai nước sập, các công ty và cá nhân góp vốn vô những quỹ này, chính những người góp tiền cho các quỹ đầu tư lo trước. Họ thuộc giới trung lưu đã tiết kiệm tiền bạc chờ lúc về hưu, họ lo lắng đòi rút tiền ra để đem đi chỗ khác. Nhiều quỹ đầu tư vì thế phải bán các cổ phần, chứng phiếu Đông Á đã mua để trả lại tiền cho những người góp vốn. Các ngân hàng thấy tình trạng xuống cũng ngưng không cho vay, chỉ mong đòi lại các món nợ cũ. Đó là nguyên nhân khiến dịch cúm tiền tệ lan ra khắp Đông Á.     Quý Đỗ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch hai chữ Văn Miếu ra tiếng Tây      Nếu muốn trang bị một tri thức tối thiếu về Văn Miếu- Quốc Tử Giám cái tên đã gắn liền với những chứng tích lịch sử văn hóa và giáo dục truyền thống của Việt Nam thời trung đại, thì có lẽ điều đầu tiên ta cần biết là ý nghĩa của tên gọi này. Có gì đâu: Văn là văn chương, văn học; Miếu là nơi thờ cúng, đền thờ    Vậy Văn miếu nghĩa là miếu thờ văn chương (hay văn học)! Cứ luận thế đương nhiên sẽ dẫn ta đến việc dịch hai chữ Văn miếu sang tiếng Tây là The Temple of Literature (Anh) và le Temple de la Littérature (Pháp), y chang cách dịch trong tấm biển đồng lược giới về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội hiện chôn ngay trước cổng khu di tích, cũng như trong nhiều sách vở tài liệu giới thiệu cho du khách nước ngoài về khu di tích lịch sử văn hóa nàyCách dịch trên thật đơn giản, dễ hiểu, dễ giải thích. Chỉ có điều là sai!  Sai thế nào? Trước hết xin điểm dịch một số tư liệu sách vở đáng tin cậy của Trung Quốc, dẫn dụng các mục từ liên quan đến hai chữ Văn miếu. Để giản tiện, xin lược đi phần phiên âm Hán Việt.  Hán ngữ đại từ điển (La Trúc Phong chủ biên, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1997) thu thập 11 nghĩa của chữ Miếu, trong đó nghĩa đầu tiên cũng là nghĩa mà chúng ta đang bàn tới: “Cái nhà thời xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tiên” (tập thượng, tr. 1982). “Văn miếu: Miếu thờ Khổng tử. Triều Đường phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi miếu thờ ông là Văn Tuyên Vương miếu. Từ đời Nguyên – Minh về sau gọi tắt là Văn miếu” (tập trung, tr. 4034).  Hán – Anh đại từ điển (Chinese – English Dictionary) (Ngô Quang Hoa chủ biên, Thượng Hải Giao thông Đại học xuất bản xã, 1999, tập I, tr. 1771) cắt nghĩa chữ miếu bằng tiếng Trung Quốc là “Nơi khi xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, danh nhân lịch sử”; và dịch ra tiếng Anh là “temple; shrine; joss house”. Ngay tại mục từ này cũng giải nghĩa: “Khổng miếu: a temple to Confucius” (Khổng miếu: miếu thờ Khổng tử).  Từ nguyên (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1998, tr. 737) ghi: “Văn miếu: miếu thờ Khổng tử. Đời Đường, niên hiệu Khai Nguyên, năm thứ hai mươi bảy [739] phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương miếu. […] Từ đời Nguyên – Minh về sau thường gọi là Văn miếu”.  Từ hải (Hạ Chính Nông chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1989, tr. 1732) ghi: “Văn miếu: Tên gọi khác của Khổng miếu. Thời Đường Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy (Công Nguyên 739) phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, nhân đó gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương miếu, từ đời Minh về sau gọi Khổng miếu là Văn miếu để đối ứng với Vũ miếu (miếu thờ Quan Vũ, Nhạc Phi)” (hết trích). Ta biết rằng thời Minh – Thanh gọi miếu thờ Quan Vũ là Vũ miếu (hai chữ Vũ viết mặt chữ Hán khác nhau, Vũ trong Quan Vũ nghĩa là cái lông, Vũ trong Vũ miếu nghĩa là võ nghệ), đến thời Dân Quốc phối thờ Quan Vũ và Nhạc Phi chung một miếu, vẫn gọi là Vũ miếu.  Nhân đây thiết tưởng cũng nên giãi bày thêm đôi điều sở đắc, một về “chữ” Confucius, một về “nghĩa” của chữ văn.  Thứ nhất là chữ Tây Confucius, chữ này vốn xuất phát từ âm đọc ba chữ Hán “Khổng phu tử” (Thầy Khổng), âm tiếng phổ thông hiện đại ngày nay đọc là /Kongfuzi/ ghi theo lối pinyin (cách chú âm chữ Hán bằng mẫu tự Latin, được chính thức sử dụng từ năm 1958 tại Trung Quốc, ở đây không ghi thanh điệu), ta đọc na ná như “k’ủng-phu-chử” trong tiếng Việt (với âm /k’/ bật hơi). Người phương Tây do không thể có hệ thống ngữ âm tương ứng tuyệt đối để biểu đạt ba âm tiết ấy, nên họ đã “Tây hóa” nó qua cách ghi “Con – fu – cius” (như trong Anh ngữ), nghĩa là Khổng tử. Rồi từ đó, căn cứ theo các phương thức tạo từ mới, một loạt từ phái sinh đã xuất hiện: Confucianism (Nho giáo, Khổng học, Khổng giáo, đạo Khổng, đạo Nho); Confucian hoặc Confucianist (Nho gia, nhà Nho, người theo đạo Khổng; thuộc về đạo Khổng/Nho); Neo-confucianism: tân Khổng giáo, tân Nho giáo. Tiếng Pháp cũng có những từ tương ứng: Confucius, Confucianisme, Confucianiste, Néoconfucianisme.  Thứ hai là hàm nghĩa của chữ Văn trong Văn Tuyên Vương. Khổng tử được triều Đường phong là Văn Tuyên Vương = Người có tước Vương, có công tuyên truyền cái văn. Vậy Văn có phải là Literature và Littérature như cách dịch tên gọi Văn miếu đang dùng ở ta? Xin thưa: không! Chữ Văn này có nội hàm rất rộng, bắt nguồn từ một ý trong sách Luận ngữ, thiên Tử hãn: “Khổng tử bị người đất Khuông làm cho sợ hãi. Ngài nói: Văn vương đã mất, cái “văn” này chẳng phải ở trong ta hay sao? Nếu trời định làm mất cái “văn” ấy thì kẻ chết sau này không được dự vào cái “văn” ấy. Nếu trời chưa định làm mất nó thì người Khuông phỏng có làm gì nổi ta?”. Chữ “văn” trong đoạn trên trỏ toàn bộ “lễ nhạc giáo hóa, điển chương chế độ” (Hán ngữ đại từ điển, đã dẫn, tập trung, tr. 3832), tức tất thảy những hiến chương pháp độ được sử dụng để cai trị xã hội, vậy thì nội hàm của chữ Văn này rộng hơn hẳn so với các từ Literature và Littérature trong tiếng Anh và tiếng Pháp vốn chỉ mang những nghĩa hẹp hơn: văn chương, văn học, văn giới, tư liệu (tham khảo), ấn phẩm, nhạc tập, học vấn… (Literature và Littérature đều bắt nguồn từ litera tiếng Latin, nghĩa gốc là văn tự – xem Webster’s New Dictionary, Promotional Sales Books, USA, 1994, tr. 228). Sau khi Chu công Đán mất, Khổng tử được coi là người truyền bá cái Văn ấy, nên ông được Đường Huyền Tông phong làm “Văn Tuyên Vương”. Điều này cũng minh chứng rằng giả như theo lối “trực dịch” (word by word, mot à mot) mà dịch Văn miếu thành The Temple of Literature và le Temple de la Littérature thì vô hình trung đã thu hẹp nội hàm vốn rất rộng của khái niệm Văn như vừa nói. Ngay tại Đại Bái đường trong Văn miếu Hà Nội hiện vẫn còn treo bức hoành phi đề ba chữ “Phúc tư văn” (cái “văn” này phúc thay!).  Đến đây có thể thấy:  1. Miếu là nơi/nhà thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, hay danh nhân lịch sử. Khổng tử là một “thánh nhân” (theo lối gọi của nhà Nho truyền thống), một danh nhân lịch sử, một nhân vật tối quan trọng đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa, thậm chí cả với các nước khu vực “đồng văn”, vì vậy ông hoàn toàn xứng đáng được đưa vào thờ phụng trong miếu nhằm biểu chương cái đạo của “thánh nhân”.  2. Năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy đời Đường Minh Hoàng (739), Khổng tử được phong là Văn Tuyên Vương, nên miếu thờ ông cũng gọi là Văn Tuyên Vương miếu. Đến khoảng thời Nguyên – Minh, vừa để gọi tắt, vừa để đối trọng với Vũ miếu (Văn – Vũ), nên Văn Tuyên Vương miếu được gọi tắt là Văn miếu.  Như vậy, hai chữ Văn miếu ở dạng đầy đủ phải là Văn Tuyên Vương miếu (Miếu thờ ông tước Vương, có công tuyên truyền cái “văn” – tức Khổng tử), đây là những tên gọi khác của Khổng miếu (miếu thờ Khổng tử). Nếu buộc phải dịch tên gọi Văn miếu thì thiết tưởng nên dùng chữ Anh The Temple of Confucius, hoặc “Confucius temple” (Hán – Anh đại từ điển, đã dẫn, tr. 2671, in nhầm là Confucious temple), hay tiếng Pháp là Temple de Confucius, giống như cách hiểu và dịch hai chữ Khổng miếu. Hiện ở Đài Loan cũng dùng tên gọi Khổng miếu, hẳn là để tránh việc hiểu nhầm khái niệm (Văn) như ở ta.  Văn miếu Hà Nội là một sản phẩm văn hóa của Việt Nam. Đã là một sản phẩm văn hóa của dân tộc thì trộm nghĩ, ta nên giữ tên gọi Văn miếu (Van mieu), không nhất thiết cứ hễ thấy bằng tiếng Việt là nhăm nhe dịch sang tiếng này tiếng nọ, hoặc giả chỉ nên đóng mở ngoặc đơn mà cắt nghĩa bằng ngoại văn ở lần đầu xuất hiện khái niệm mà thôi, còn ông Tây bà đầm nào có nhã hứng tìm tòi thêm thì khắc tự mày mò. Kinh nghiệm cho thấy, nếu không giữ tên gọi Ao dai, mà cứ hăm hở dịch thành Vietnamese (long) dress hay gì gì đi nữa, thì cái áo dài truyền thống của các bà các chị nhà ta hẳn đến bây giờ vẫn còn nằm ngoài vùng hiểu biết của tứ hải huynh đệ.  TƯƠNG QUÂN    ————————–   * Giảng viên Bộ môn Hán Nôm, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội  Tương Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Điểm binh tài liệu” chủ quyền biển đảo      Hội thảo “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm và phát huy giá trị nguồn sử liệu về biên giới, hải đảo của Việt Nam” đã được Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước – Bộ Nội vụ tổ chức tại TP.HCM ngày 30-10.    Hội thảo có một phần nội dung “kiểm đếm” các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Đây là những khởi đầu của đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm của Việt Nam và về Việt Nam” do Chính phủ phê duyệt tháng 5-2012. Theo đó, một nội dung quan trọng cũng chính là nhiệm vụ đặt ra với Cục Văn thư và lưu trữ là khẩn trương, tích cực sưu tầm và phát huy giá trị tài liệu về chủ quyền biên giới, hải đảo Việt Nam.  Nếu hình dung đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên lĩnh vực học thuật và lưu trữ tài liệu cũng là một mặt trận, thì đây là những bước điểm binh cần thiết.  Độ tin cậy cao  Phần trình bày của các thạc sĩ, tiến sĩ, nhà nghiên cứu và là cán bộ của các trung tâm lưu trữ quốc gia I, II, IV cho thấy hệ thống tài liệu quý hiếm hiện có của Việt Nam về đề tài chủ quyền biên giới, hải đảo thật sự phong phú và có độ tin cậy cao.  Trước hết là nguồn tài liệu Hán Nôm về biển đảo, bao gồm: châu bản triều Nguyễn, địa bạ triều Nguyễn, phông Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Trong đó châu bản triều Nguyễn gồm 773 tập tài liệu gốc, là những tài liệu hành chính được các vua nhà Nguyễn tự tay “ngự phê” hoặc “ngự lãm”, có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành cao nhất, có giá trị thông tin mang tính chân thực lịch sử. Đây là loại văn bản được sử dụng làm phương tiện quản lý, điều hành của các cấp chính quyền trong quá trình hoạt động của triều Nguyễn.  Về nội dung này, TS Nguyễn Nhã có nhắc đến một văn bản châu bản triều Minh Mạng (1836), nội dung có lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân đi đo đạc, cắm cột mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Theo đánh giá của nhiều giới, đây là những bằng chứng lịch sử có giá trị thông tin gốc mà không một quốc gia nào đang tranh chấp về chủ quyền biển đảo với Việt Nam có được.  Bên cạnh đó, Việt Nam còn lưu trữ được hệ thống bản đồ hành chính liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây phát hành trước thế kỷ 20. Cả ba hệ thống bản đồ này đều là những chứng cứ pháp lý có tính thuyết phục cao, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.  Đồng thời tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II còn các tài liệu phản ánh quá trình thiết lập chế độ hành chính của các chính quyền thời phong kiến Pháp thuộc và thực dân mới Mỹ tại Hoàng Sa, Trường Sa. Ở đây cũng còn lưu trữ tài liệu về chính quyền quốc gia Việt Nam (do thực dân Pháp dựng lên trong cuộc tái chiếm Việt Nam) tham dự Hội nghị San Francisco từ ngày 5 đến ngày 8-9-1951 do các nước đồng minh trong chiến tranh Thế giới II tổ chức để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương. Tại đây, ông Trần Văn Hữu, thủ tướng, dẫn đầu phái đoàn quốc gia Việt Nam vào ngày 7-9-1951 đã tuyên bố xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Các tài liệu về hoạt động kinh tế tại Hoàng Sa và Trường Sa của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, tài liệu tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa từ sau năm 1945 cũng còn lưu trữ đầy đủ.  Cần một sự thống kê có hệ thống  TS Nguyễn Nhã cho biết trong quá trình nghiên cứu, ông nhiều lần tìm cách tiếp cận văn bản châu bản Minh Mạng năm 1836 – một văn bản tối quan trọng thể hiện chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – nhưng đến nay vẫn chưa được. Lý do là chưa được tiếp cận tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia.  Tuy nhiên, bà Vũ Thị Minh Hương – cục trưởng Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước – khẳng định tại hội thảo rằng cánh cửa vào trung tâm lưu trữ không quá khó như nhiều người vẫn nghĩ. “Chúng tôi vẫn nói với các nhà nghiên cứu, sử học như Vũ Minh Giang, Dương Trung Quốc rằng các anh nên đến trung tâm lưu trữ, và khi giảng dạy cho sinh viên cũng nên nói cho các em hiểu rằng nếu các luận văn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ có sử dụng tài liệu tham khảo từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia thì giá trị tăng lên rất nhiều”. Thạc sĩ Hà Văn Huề trong phần phát biểu của mình cũng khẳng định hiện nay văn bản châu bản Minh Mạng năm 1836 đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Bà Minh Hương cũng đã khẳng định rằng “chúng tôi có nhiệm vụ phục vụ các nhà nghiên cứu”.  Dù vậy, nhìn rộng ra công tác tư liệu đối với các tài liệu quý hiếm về biển đảo Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm. Nhà báo Nguyễn Văn Kết cho rằng hiện nay các nguồn tài liệu chưa được thống kê có hệ thống để thu thập có hiệu quả, chưa có đầu mối thống nhất trong việc thu thập và quản lý tài liệu. Ông Kết cũng đề xuất khẩn trương thu thập các tài liệu liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia, Hoàng Sa, Trường Sa cả ở trong và ngoài nước, và hệ thống hóa tài liệu thu thập được để công bố bằng hình thức thích hợp: xuất bản, đăng tải trên cổng thông tin, hội thảo…  Về nội dung này, ThS Nguyễn Thị Thùy Trang – Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước – cho biết trong kế hoạch lựa chọn tài liệu về Việt Nam cần sưu tầm ở nước ngoài, có ưu tiên nội dung tài liệu chứng minh chủ quyền lãnh thổ và biên giới biển, hải đảo, đất liền, không trung của Việt Nam. TS Nguyễn Nhã cho rằng hiện nay cần tích cực xây dựng thư mục về các châu bản và văn bản về Hoàng Sa, Trường Sa. Đây cũng là một việc cần làm, bởi có thư mục chuyên đề như vậy, chúng ta dễ dàng nắm bắt tình hình tư liệu sưu tập, khai thác và sử dụng đến đâu, như cách điểm binh để ước lượng tình hình vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân hồi sinh và sự trỗi dậy của phương Đông      Điện hạt nh&#226;n hồi sinhSau một giai đoạn &#8220;ngủ đ&#244;ng&#8221; sau thảm họa hạt nh&#226;n Chernobyl (Ucraina) ng&#224;y 26/4/1986, điện hạt nh&#226;n &#8220;bừng tỉnh&#8221; c&#249;ng thi&#234;n ni&#234;n kỷ mới. G&#243;p phần v&#224;o sự trở lại của điện hạt nh&#226;n c&#243; c&#225;c yếu tố sau: 1) Y&#234;u cầu đa dạng h&#243;a nguồn năng lượng để bảo đảm an ninh năng lượng; 2) Nhu cầu năng lượng bức b&#225;ch của c&#225;c nước đang ph&#225;t triển; 3) Nguy cơ cạn kiệt nguồn nhi&#234;n liệu h&#243;a thạch; v&#224; 4) Sự n&#243;ng l&#234;n to&#224;n cầu do hiệu ứng nh&#224; k&#237;nh v&#224; những vấn đề m&#244;i trường, sinh th&#225;i nhiệt điện, thủy điện. Nhiều nh&#224; khoa học dự đo&#225;n trong nửa đầu thế kỷ XXI, điện hạt nh&#226;n l&#224; nguồn năng lượng chưa thể thay thế.                         TT       NƯỚC      SẢN LƯỢNG    ĐIỆN HẠT NHÂN   2008      LPU ĐANG HOẠT ĐỘNG 1.9.2009      LPU ĐANG     XÂY DỰNG  1.9.2009      LPU ĐÃ CÓ     KẾ HOẠCH 1.9.2009            Tỷ  kWh      Tỷ lệ % điện       Số LPU      Công suất MW      Số LPU      Công suất MW      Số LPU      Công suất  MW                     Hoa Kỳ      809      20      104      101.119      1      1.200      2      2.716                     Pháp      418      76      59      63.473      1      0      1      1.630                     Nhật Bản      240      25      53      46.236      2      2.285      13      17.915                     Nga      152      17      31      21.743      9      7.130      7      8.000                     Hàn Quốc      144      36      20      17.716      5      5.300      7      9.450                 TOÀN THẾ GIỚI      2601      15      436      372.553      50      45.438      137      151.185                  Tính đến ngày 1.9.2009 trên thế giới có 436 lò phản ứng hạt nhân với tổng công suất điện là 372.533 MW đang hoạt động tại 32 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2008, các nhà máy điện hạt nhân đã sản xuất được hơn 2.600 tỷ kWh điện, chiếm 15% sản lượng điện năng toàn cầu. Năm nước đứng đầu thế giới về điện hạt nhân hiện nay theo thứ tự về sản lượng điện là Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Nga và Hàn Quốc (Nguồn: WNA, 1.9.209).  Cũng theo Hiệp hội hạt nhân thế giới (World Nuelear Association – WNA), trên thế giới có hơn 30 nước đang xem xét nghiêm túc việc phát triển điện hạt nhân, trong đó có cả những nước dồi dào dầu mỏ như Cô-oét, Qatar, Tiểu vương quốc Ả-Rập thống nhất (UAE),… Cùng với khoảng 50 lò phản ứng đang được xây dựng, tính đến ngày 1/9/2009 đang có 137 lò phản ứng công suất đã được đặt hàng hoặc có kế hoạch xây dựng và 295 lò khác được dự kiến xây dựng. Hiện tại, các nhà xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân – đứng đầu là Pháp và Nga – đang rất bận rộn với những hợp đồng xây dựng, chuyển giao với các đối tác từ Hoa Kỳ, qua châu Âu, Nam Á đến Trung Quốc.       Sự trỗi dậy của phương ĐôngĐầu tiên phải kể đến Trung Quốc. Mặc dù đi sau các nước kể trên khá lâu, nhưng hiện nay Trung Quốc đã trở thành một quốc gia có công nghiệp điện hạt nhân phát triển nhanh và mạnh trong khuôn khổ một chiến lược quốc gia dài hạn, có tầm nhìn xa và đầy tham vọng. Trung Quốc hiện có 11 lò phản ứng với tổng công suất hơn 8,5 GW đang hoạt động, 12 lò đang xây dựng và trong năm 2009 sẽ khởi công xây dựng ít nhất 12 lò khác. Trung Quốc đặt kế hoạch sẽ nâng tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân lên 50-60 GW và năm 2020 và 120-160 GW vào năm 2030. Không chỉ nhập khẩu công nghệ lò phản ứng của Pháp, Nga, Hoa Kỳ (gần đây nhất là hợp đồng nhập 4 lò phản ứng AP-1000), Trung Quốc còn đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển công nghệ, hướng tới mục tiêu độc lập tự chủ trong toàn bộ các khâu của chu trình điện hạt nhân, từ chế tạo thanh nhiên liệu đến công nghệ lò phản ứng. Các lò CPR-1000 công suất 1.000 MW do Trung Quốc tự thiết kế, chế tạo đang được xây dựng tại các nhà máy điện hạt nhân ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến và Liêu Ninh. Trung Quốc cũng đang xây dựng nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn (Quảng Đông), sử dụng hai lò phản ứng EPR thế hệ III, nhập công nghệ châu Âu, mỗi lò có công suất 1.700 MW. Để thỏa mãn nhu cầu nhiên liệu tăng nhanh, Trung Quốc cũng đang ráo riết thu mua và tích trữ quặng urani từ khắp nơi trên thế giới (Trung Á, châu Phi, Australia,…)Tiếp đến là Hàn Quốc. Điện hạt nhân có thể xem như cứu cánh cho một nước phải nhập khẩu đến 97% nhu cầu năng lượng. Từ lò phản ứng đầu tiên đi vào vận hành tháng 4/1978, đến nay 20 lò phản ứng với tổng công suất gần 18 GW đang cung cấp 40% sản lượng điện của Hàn Quốc. Giá điện hạt nhân của Hàn Quốc khá rẻ: 39 won/kWh (khoảng 3 xu Mỹ). Năng lượng hạt nhân được ưu tiên trong chiến lược phát triển năng lượng của Hàn Quốc với mục tiêu đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân sẽ đạt 27,3 GW và tỷ trọng điện hạt nhân sẽ tăng lên 56%. Hàn Quốc đang nỗ lực trở thành nước xuất khẩu công nghệ hạt nhân. Công ty Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) vừa ký thỏa thuận giúp Công ty Điện lực Indonesia (PNL) làm đề án nghiên cứu khả thi cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước này ở đảo Java; dự kiến sử dụng 4 lò OPR-1000 công suất mỗi lò 1.000 MW do Hàn Quốc tự thiết kế và chế tạo. Tại cuộc họp mới đây của các Bộ trưởng Năng lượng ASEAN+3 tại Myanmar, Hàn Quốc đã đề nghị hỗ trợ ASEAN đào tạo nhân lực trong lĩnh vực hạt nhân, sẵn sàng cung cấp những kiến thức kỹ thuật về nhà máy điện hạt nhân nhằm giúp các nước ASEAN giảm việc sử dụng năng lượng hóa thạch, giúp bảo vệ môi trường. Theo chương trình đào tạo kéo dài 3 năm từ 2009-2011, Hàn Quốc sẽ đào tạo tổng cộng 150 kỹ thuật viên và quan chức cấp cao cho các nước thành viên ASEAN.Ấn Độ và Pakistan là hai nước Nam Á có nhà máy điện hạt nhân. Ấn Độ hiện có 17 lò phản ứng với tổng công suất điện 3.797 MW, chủ yếu tự thiết kế, chế tạo và xây lắp. Pakistan hiện có 2 lò phản ứng trong đó 1 lò có công suất 100 MW nhập công nghệ Canada và 1 lò công suất 300 MW do Trung Quốc chế tạo. Ấn Độ đang xây dựng mới 6 lò phản ứng, đã có kế hoạch 23 lò và dự kiến 15 lò khác (số lò tương đương ở Pakistan là 1,2 và 2). Ấn Độ đã ký các thỏa thuận chuyển giao công nghệ lò phản ứng với Nga và Hoa Kỳ. Iran đang chuẩn bị tham gia vào hàng ngũ các nước có điện hạt nhân. Với sự giúp đỡ tích cực của Nga, lò phản ứng đầu tiên của nhà máy điện hạt nhân Busher với công suất 915 MW sắp được vận hành. Iran đã có kế hoạch xây dựng hai lò phản ứng khác với công suất mỗi lò 950 MW (công nghệ Nga) và một lò công suất 300 MW (công nghệ Trung Quốc). Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam là các nước Đông Nam Á đang tích cực chuẩn bị dự án điện hạt nhân. Cuối tháng 6 vừa qua, người viết bài này được tham dự Diễn đàn ASEAN+3 về an toàn hạt nhân tổ chức tại Thẩm Quyến, Trung Quốc. Đoàn Thái Lan có tới hơn 10 người, do Bộ trưởng Năng lượng dẫn đầu, có sự tham gia của quan chức Bộ Ngoại giao. Tại Diễn đàn, cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều tỏ ra sẵn sàng giúp các nước Đông Nam Á phát triển điện hạt nhân, trước hết là hoàn thiện khung pháp luật và đào tạo nhân lực để quản lý an toàn và hiệu quả nhà máy điện hạt nhân.Nếu các dự án được thực hiện thành công, từ sau năm 2020, các nhà máy điện hạt nhân sẽ lần lượt mọc lên ở Đông Nam Á, giúp khu vực này bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường, trong đó có dòng sông Mêkông đang đứng trước nguy cơ bị các dự án thủy điện hủy hoại.  Việt Nam – sự kiện và suy nghĩTừ sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Nhiều sinh viên xuất sắc đã được tuyển chọn đi đào tạo về điện hạt nhân tại Liên Xô (cũ) và Tiệp Khắc. Tuy nhiên do khó khăn của đất nước trong những năm 1980, dự định đó đã bị gác lại. Chất xám nhân lực điện hạt nhân hoặc ở lại Đông Âu, hoặc chảy sang các khu vực trong và ngoài nhà nước có công việc và thu nhập thích hợp hơn.Từ giữa những năm 1990, chương trình điện hạt nhân đã được khởi động lại tích cực và thực sự khởi sắc khi Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006). Thực hiện Chiến lược và Tổng sơ đồ điện VI, được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã chuẩn bị Báo cáo đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Báo cáo đã được Hội đồng thẩm định Nhà nước thẩm định, trình Chính phủ để có thể trình Quốc hội xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư vào kỳ họp cuối năm 2009 này.Tại phiên họp thường kỳ tháng 8/2009, Chính phủ đã thông qua Báo cáo định hướng quy hoạch phát triển các nhà máy điện hạt nhân giai đoạn đến năm 2030, Báo cáo đầu tư Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận, Báo cáo kết quả thẩm định Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 05/9/2009).Để dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam thành công, thứ nhất cần có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng, Nhà nước. Dự án điện hạt nhân đầu tiên của Hàn Quốc do chính Tổng thống lãnh đạo trực tiếp. Hiện nay ở nhiều nước cũng vậy – Tổng thống hoặc Thủ tướng là người chỉ đạo chương trình điện hạt nhân. Nếu chậm trễ, chúng ta sẽ là người thua thiệt vì trong bối cảnh hiện nay các nước xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân có thể quá tải đơn đặt hàng và sẽ dành ưu ái cho những ai xếp gạch trước. Điện hạt nhân rất cần một nhạc trưởng có quyền lực và uy tín để điều hành, phối hợp nhịp nhàng, huy động tiềm lực của các Bộ, ngành, địa phương liên quan và tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế mà không ảnh hưởng đến đường lối đối ngoại.Thứ hai, cần nhanh chóng tập trung nguồn lực để xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn và quy chuẩn liên quan đến điện hạt nhân. Hiện nay chúng ta mới chỉ có Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008. Nghị định về nhà máy điện hạt nhân đang được soạn thảo tích cực. Để thực hiện được dự án điện hạt nhân, cần hoàn thiện khung pháp luật gồm các thông tư, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn có liên quan, đặc biệt là về vấn đề bảo đảm an toàn hạt nhân. Đồng thời phải nghiên cứu tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến điện hạt nhân, như Công ước về An toàn hạt nhân, Công ước về Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân, Công ước chung về An toàn trong quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn trong quản lý chất thải phóng xạ. Đây là vấn đề mà quốc tế, đặc biệt là các nước cung cấp công nghệ điện hạt nhân rất quan tâm.Thứ ba, cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân – yếu tố tiên quyết cho thành công của dự án. Trong đó, nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý không thể một sớm một chiều mà có được vì ngoài trình độ rất cần có kinh nghiệm để soạn thảo văn bản, thẩm định, cấp phép, thanh tra… Trong đào tạo và sử dụng nhân lực, cần phải đề cao văn hóa an toàn, một yếu tố mà người châu Á nói chung còn hạn chế. Tai nạn hạt nhân ở nhà máy chuyển đổi nhiên liệu Tokai (Nhật Bản) cách đây đúng 10 năm (30/9/1999) làm hai công nhân tử vong là một ví dụ thường được các chuyên gia an toàn hạt nhân nước ngoài sử dụng khi nói về sự yếu kém của văn hóa an toàn. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách đặc thù để giữ chân nguồn nhân lực, tránh làn sóng chảy máu chất xám lần thứ hai khi sẽ có không ít cơ hội làm việc cho các công ty liên quan đến điện hạt nhân của nước ngoài tại Việt Nam với thu nhập và chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Thứ tư, đa số các nhà máy điện hạt nhân hiện đang được xây dựng sử dụng loại lò thế hệ II+, một số nước (Pháp, Nhật, Hoa Kỳ, Phần Lan, Trung Quốc,…) đang phát triển loại lò thế hệ III để nâng cao tính an toàn. Dự kiến sau năm 2020, các loại lò thế hệ III sẽ dần dần thay thế cho các loại lò thế hệ II đang hoạt động từ nhiều năm nay. Vì vậy rất mong các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cân nhắc trong việc lựa chọn công nghệ và nhà cung cấp để đáp ứng yêu cầu giải quyết bền vững vấn đề nhiên liệu, phụ tùng thay thế, bảo dưỡng sửa chữa nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, tiến tới làm chủ công nghệ, từng bước nội địa hóa điện hạt nhân trong tương lai.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân và sự chấp thuận của công chúng      Giám đốc truyền thông Rosatom khu vực châu Á, ông Arkady Karneev cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của ngành công nghiệp điện hạt nhân thế giới chính là công chúng. Chỉ khi có được sự chấp thuận của công chúng, ngành điện hạt nhân mới có đầy đủ điều kiện hoạt động, qua đó phát huy được vai trò của mình trong đời sống kinh tế, xã hội.    Ông Arkady Karneev, Giám đốc truyền thông Rosatom khu vực châu ÁTrong bài thuyết trình mang tên “Sự chấp thuận của công chúng đối với các dự án năng lượng hạt nhân”, được trình bày tại Ngày hội Khoa học và hạt nhân (tổ chức tại trường ĐH Bách khoa HN) vào ngày 19/5 vừa qua, ông Arkady Karneev đã đề cập đến vai trò của công chúng, yếu tố ít được nhắc đến trong những dự án phát triển điện hạt nhân của nhiều quốc gia giai đoạn trước đây. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình đã thay đổi khi một làn sóng phản đối việc xây mới các nhà máy điện hạt nhân cũng như đòi đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động đã xảy ra tại nhiều nơi như Pháp năm 2007, Nga năm 2010, Ấn Độ năm 2012, Đài Loan 2014. Đánh giá về những thiệt hại gây ra do việc các nhà máy điện hạt nhân ở Đức bị chính phủ ngưng hoạt động sau thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, ước tính, nền kinh tế nước này mất khoảng 37 tỷ euro (tính tới năm 2020).  Theo ông Arkady Karneev, nguyên nhân của những nhận thức tiêu cực về công nghệ hạt nhân và vai trò của nó trong đời sống kinh tế xã hội mà công chúng nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay vướng phải phần lớn do bốn yếu tố: 1. Thiếu kiến thức và hiểu lầm về công nghệ hạt nhân và bức xạ; 2. Ảnh hưởng từ những hoạt động thử nghiệm vũ khí hạt nhân; 3. Ảnh hưởng từ các tai nạn nghiêm trọng tại nhà máy điện hạt nhân Three-Mile Island (1979), Chernobyl (1986), và Fukushima (2011); 4. Hoạt động của các phong trào phản đối hạt nhân. Tại Nga, một trong những cường quốc về công nghệ điện hạt nhân, công chúng cũng có những nhìn nhận tiêu cực không tránh khỏi về loại năng lượng này. Vào tháng 4/2011, thời điểm gần một tháng sau thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, một nghiên cứu đã được tiến hành tại Nga về sự chấp thuận của công chúng với điện hạt nhân, số người cho rằng cần loại bỏ hoàn toàn điện hạt nhân khỏi đời sống lên tới 12%, 27% cho rằng cần hạn chế các nhà máy điện hạt nhân hoạt động, 30% đồng ý với tình trạng các nhà máy điện hạt nhân hiện có tại Nga và 22% nên tích cực phát triển. Tuy nhiên ba năm sau, quan điểm của công chúng Nga về điện hạt nhân đã bắt đầu thay đổi: tỷ lệ người phản đối giảm xuống còn 7%, tỷ lệ yêu cầu hạn chế 10%, vì vậy tỷ lệ nhóm người có thái độ tích cực đã tăng lên 35% – đồng ý với tình trạng hiện có và 37% cho rằng cần tích cực phát triển.  Chia sẻ về bí quyết giúp các cơ quan quản lý và chuyên môn về điện hạt nhân ở Nga đã thực hiện nhằm tăng cường nhận thức của dân chúng, ông Arkady Karneev nêu năm nguyên tắc cơ bản: 1. Tuân thủ hoàn toàn khuyến nghị của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA cùng với những kinh nghiệm quốc tế của Nga về điện hạt nhân; 2. Xác định rõ phân khúc các bên liên quan và giữa mối liên hệ trực tiếp với các bên liên quan trong việc giải quyết các vấn đề về điện hạt nhân; 3. Đối với công chúng, tích cực truyền đạt các kiến thức cơ bản về bức xạ và khoa học hạt nhân; cung cấp thông tin minh bạch và tin cậy về sự an toàn của nhà máy điện hạt nhân, xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và chất thải hạt nhân; 4. Cung cấp những thông tin về lợi ích kinh tế – xã hội của hạt nhân ở mức độ khu vực và quốc gia; 5. Nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ hạt nhân trong những ngành liên quan như y tế, nông nghiệp, v.v. Để những hoạt động này hiệu quả, theo ông Arkady Karneev, cần tuân thủ năm yếu tố: minh bạch, dễ hiểu, phản ứng nhanh, liên hệ trực tiếp và sáng tạo. Ông Arkady Karneev lấy ví dụ về trường hợp lập dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Bangka Belitung, một tỉnh thuộc Indonesia  Các bên liên quan trong những dự án về điện hạt nhân, theo kinh nghiệm của ông Arkady Karneev, bao gồm chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng, trong đó đại diện cho cộng đồng là các nhà hoạt động môi trường, các nhà hoạt động xã hội, trường học, đại diện cho các tổ chức là doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ NGO. Lấy ví dụ về trường hợp lập dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Bangka Belitung, một tỉnh thuộc Indonesia, ông Arkady Karneev nêu dấu mốc đầu tiên là việc phó tỉnh trưởng tỉnh Bangka Belitung cho rằng nhà máy điện hạt nhân là một dự án vô nghĩa (ngày 20/5/2015 trên trang web bangka.tribunnews.com). Sau đó, tổng thống Indonesia bày tỏ ý định hủy bỏ kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt này (ngày 21/6/2015 trên tạp chí Tempo). Tuy nhiên dự án này lại nhận được sự ủng hộ của 65% người dân Bangka Belitung (ngày 23/9/2015 trên trang web belitongekspres.co.id) và sau đó là sự ủng hộ dự án của chủ tịch tỉnh Bangka Belitung (vào ngày 25/12/2015 trên hãng thông tấn Antara Indonesia). Và cuối cùng, Cơ quan Hạt nhân Quốc gia Indonesia (BATAN) cho biết Bangka Belitung là địa điểm hợp lí nhất để xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ngày 12/1/2016 trên trang web bangka.tribunnews.com). Quá trình này thể hiện sự nâng cao nhận thức về điện hạt nhân trong công chúng thông qua công tác truyền thông, sự tác động của các tổ chức NGO, hoạt động giáo dục ở các trường đại học (thông qua bài giảng của các giáo sư Nga tại Indonesia)…  Ông Arkady Karneev cũng nêu ra những kinh nghiệm mà Rosatom đã áp dụng thành công như tạo dựng nhiều kênh thông tin hữu hiệu đến với công chúng qua truyền hình, sách báo, ứng dụng trên điện thoại di động, máy tính bảng (xây dựng phần mềm tương tác với nhà máy điện hạt nhân)… cũng như chứng minh trong thực tiễn qua hiệu quả năng lượng của các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành an toàn. Bên cạnh đó, Rosatom còn đảm bảo khả năng tiếp cận thông tin của công chúng với những thông tin có độ tin cậy cao và cập nhật qua trang web russianatom.ru, nơi cung cấp bản đồ tương tác, cập nhật thông tin về điều kiện bức xạ tại các cơ sở Rosatom cũng như thông tin chung hữu ích về công nghệ bức xạ và điện hạt nhân.  Vì vậy, ông Arkady Karneev nhấn mạnh, công chúng cần được cung cấp thông tin minh bạch và tin cậy về công nghệ điện hạt nhân dưới nhiều hình thức để giúp họ không chỉ hiểu đúng mà còn có khả năng đưa ra những lựa chọn và quan điểm chuẩn xác, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao về điện hạt nhân trong những thời điểm quan trọng.   Thanh Nhàn lược ghi    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Điện mặt trời của Việt Nam: Một  bước tiến ngoạn mục      Sự phát triển điện mặt trời của Việt Nam từ con số 0 lên 10 GW chỉ trong chưa đầy ba năm vừa qua là một bước tiến ngoạn mục vượt ra ngoài sự tưởng tượng của tất cả những người làm chính sách và những nhà nghiên cứu. Mặc dù sự phát triển nóng này cũng có những hệ lụy nhất định nhưng nó cũng cho thấy một tương lai hứa hẹn của điện mặt trời trong việc đảm bảo an ninh năng lượng của Việt Nam. Tia Sáng đã có buổi trao đổi với chị Vũ Chi Mai, trưởng hợp phần năng lượng tái tạo, dự án Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng thuộc Chương trình Hỗ trợ Phát triển Năng lượng của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) về điều này.      Vũ Chi Mai. Nguồn: GIZ Việt Nam.  Chỉ trong chưa đầy hai năm từ 2019 đến 2020, tổng công suất lắp đặt của điện mặt trời ở Việt Nam từ con số 0 đến đứng thứ hai Đông Nam Á. Theo chị, đó là một dấu hiệu đáng mừng hay là đáng lo?     So với các nước trong khu vực thì đây đúng là một bước phát triển ngoạn mục và không chuyên gia quốc tế nào có thể tin được là sau hai năm, điện mặt trời của Việt Nam từ con số 0 có thể tăng lên được trên 10GW với hơn một trăm ngàn dự án* (trong đó điện mặt trời mặt đất là khoảng 8,6 GW***, điện mặt trời mái nhà là 9.4GW** và hơn một trăm MW điện mặt trời nổi trên hồ). Điều đó cho thấy các chính sách là một công cụ tiên quyết để tạo cơ hội cho một ngành phát triển.    Do cơ chế FIT (feed-in tariff, tạm dịch là giá bán điện cố định) rất hấp dẫn (của Quyết định 11 và 13 của Thủ tướng về việc khuyến khích phát triển dự án điện mặt trời) cộng với việc cơ chế này có hạn chót (với Quyết định 11 là 31/12/2019 và Quyết định 13 là 31/12/2020) nên các dự án phải triển khai khẩn trương để được hưởng ưu đãi đó. Một mặt nữa lý giải tại sao điện mặt trời ở Việt Nam lại tăng nhanh như vậy là giá công nghệ của điện mặt trời cực kỳ giảm trong 10 năm vừa rồi, giảm tới 80% nên giá thành sản xuất điện mặt trời rất hấp dẫn, rất rẻ đến nỗi ở nhiều nơi trên thế giới, nó có thể cạnh tranh với các loại điện truyền thống. Ngoài ra, việc huy động vốn cho các dự án điện mặt trời càng trở nên thuận lợi hơn so với thời gian đầu (những năm 2010). Các ngân hàng thương mại trong nước đã hiểu hơn về điện mặt trời để thẩm định dự án và cho vay vốn. Còn riêng điện mặt trời mái nhà đạt được 6,3GW như hiện nay còn là do rất nhiều gia đình tự đầu tư. Đây cũng là điều tôi thấy tuyệt vời vì đó là ví dụ thành công về việc huy động vốn trong dân mà không cần đến vốn ngân hàng để phát triển điện tái tạo.      Với một dự án điện mặt trời có tuổi thọ khoảng 20 năm, trong đó những chuệch choạc về mặt kĩ thuật có sẽ dần ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn không chỉ của dự án mà còn của cả hệ thống lưới điện trong dài hạn.      Nhưng người ta đã nhìn thấy đâu đó có sự tắc nghẽn vì phát triển nóng ở những nơi có tiềm năng điện mặt trời cao nhưng lưới điện phát triển chưa đủ nhanh để tiếp nhận điện mặt trời. Một số dự án buộc phải giảm công suất phát lên lưới. Tiếp theo, bởi vì phát triển nóng nên nó cũng gây gánh nặng về mặt thủ tục hành chính rất lớn lên các cơ quan địa phương cũng như cơ quan Trung ương khi phải thẩm định một số lượng lớn các dự án. Thêm nữa là các dự án “chạy deadline” vào lưới nên ai cũng cố gắng làm nhanh nhất có thể. Vấn đề về kĩ thuật, vấn đề về an toàn như vậy chắc chắn sẽ không được đảm bảo như  so với việc nếu dự án có nhiều thời gian hơn để triển khai. Một hệ lụy tiếp theo nữa của phát triển nóng, rất nhiều nhà đầu tư ồ ạt vào là “bất cứ ai” cũng có thể trở thành nhà lắp đặt điện mặt trời, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà của các hộ dân. Khi mà ai cũng có thể làm được thì chứng tỏ các tiêu chuẩn được ban hành chưa ra đủ nhanh để đòi hỏi và để buộc các dự án phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện kĩ thuật. Bản thân các nhà đầu tư tư nhân cũng không có đủ thông tin về các nhà cung cấp thiết bị, lắp đặt nào là tốt nhất. Mà với một dự án điện mặt trời có tuổi thọ khoảng 20 năm, trong đó những chuệch choạc về mặt kĩ thuật có sẽ dần ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn không chỉ của dự án mà còn của cả hệ thống lưới điện trong dài hạn.  Điều đó có nghĩa là các chính sách nếu được thông báo đến nhà đầu tư đủ sớm để họ có đủ thời gian chuẩn bị thì tính hiệu quả và bền vững sẽ tốt hơn rất nhiều.     Như chị vừa trao đổi, giá sản xuất của điện mặt trời hiện nay có thể cạnh tranh với điện than nhưng trên thực tế, nhiều người than phiền rằng dù giá sản xuất điện mặt trời rẻ nhưng giá truyền tải điện mặt trời rẻ thì lại đắt?    Đó là bởi vì lưới điện chưa phát triển kịp với nguồn điện, giống như có một con đường được thiết kế để đi 100 xe, giờ có 1.000 xe muốn tham gia vào đó nên dẫn đến hiện tượng tắc nghẽn. Nhiều dự án điện mặt trời không muốn bị tắc ở đó, họ xin cơ chế tự xây lưới để giải phóng lượng điện sản xuất ra nên chi phí đầu tư vào dự án của họ cuối cùng lớn hơn dự kiến. Ngoài ra, điện mặt trời nói riêng và điện tái tạo nói chung có tính bất ổn, chỉ có thể phát vào những thời điểm nhất định (phụ thuộc vào mùa, vào thời tiết) nên công suất phát chỉ bằng 30-35% so với điện than vốn luôn luôn duy trì phát điện ở một công suất nhất định. Vì vậy, khi một hệ thống có tỷ lệ điện tái tạo cao, thì cần có thêm nguồn điện khác ổn định hơn chạy nền khi năng lượng tái tạo (NLTT) có công suất phát thấp, đảm bảo ổn định hệ thống.      Dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện Đa Mi tại Bình Thuận. Nguồn: Tapchicongthuong.vn     Liệu có phải lưới điện của Việt Nam đã lạc hậu và đáng lẽ phải nâng cấp từ lâu nhưng đến giờ “mất bò mới lo làm chuồng không?”    Nói thế thì hoàn toàn không công bằng với những nỗ lực của EVN và chính phủ trong việc cải thiện hệ thống điện của Việt Nam. Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam hiện đứng thứ tư khu vực ASEAN với 99,5% hộ dân trên cả nước có điện sử dụng. Hãy nhìn sang Lào, con số này chỉ là 20% và ở Myanmar là dưới 30%. Tôi vẫn hay nói Việt Nam coi điện là thứ hiển nhiên mà mình có trong khi đó là sự nỗ lực rất nhiều của ngành điện Việt Nam. Các chuyên gia quốc tế cũng đánh giá rằng hệ thống điện Việt Nam được đầu tư rất bài bản với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Tái thiết Đức. Tính ổn định lưới của hệ thống điện Việt Nam được đánh giá tốt so với các nước trong khu vực.    Lí do khiến nhiều nhà máy chưa thể đưa 100% điện lên lưới hay giảm công suất phát trong một vài năm đầu chỉ là vì phát triển các nhà máy điện mặt trời nhanh hơn rất nhiều so với phát triển dự án lưới điện (8 -12 tháng so với 3-4 năm). Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, chúng ta lên kế hoạch công suất lắp đặt của điện mặt trời chỉ là 850MW và đường dây cũng được thiết kế để hấp thụ 850MW cho đến năm 2020. Không ai tin được, chính chúng tôi trong ngành cũng không hình dung được, Việt Nam có thể đạt được 5,5GW điện mặt trời mặt đất, gấp 7 lần so với  mục tiêu đặt ra.    Ngay khi nhận thấy điều này, EVN và các bên truyền tải điện cũng được Bộ Công thương và Thủ tướng chỉ đạo và cấp kinh phí để nâng cấp và đầu tư mới lưới điện. Tiến độ thực hiện được báo cáo công khai, một số dự án hoàn thành sớm hơn dự kiến. Tuy nhiên cơ chế chi tiêu của EVN không thể linh hoạt như của các nhà đầu tư tư nhân. Một nhà đầu tư thương mại có thể hoàn thành một dự án điện mặt trời và hạ tầng lưới trong vòng một năm nhưng EVN phải trải qua những quy trình, thủ tục nhà nước mà ít nhất ba năm mới có thể hoàn thanh dự án lưới. Đó còn chưa kể đến việc đền bù giải phóng mặt bằng. Nhà đầu tư có thể linh hoạt hơn trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng sao cho dự án kịp tiến độ để hưởng ưu đãi nhưng EVN thì phải tuân thủ theo quy định chi tiêu của nhà nước. Điều này khiến tiến độ thực hiện của EVN kéo dài hơn so với một dự án đầu tư tư nhân..  Khi thị trường được dẫn dắt bởi nhiều nhà đầu tư khác nhau cả trong lẫn ngoài nước và quy mô các dự án cũng đa dạng thì thị trường càng sôi động, càng bền vững, đảm bảo an ninh năng lượng, đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh khiến giá điện tái tạo có thể ngày càng rẻ hơn. Phát triển điện mặt trời – một nguồn năng lượng sạch cũng đóng góp rất nhiều vào việc giảm khí thải CO2, nhờ đó giúp Việt Nam hoàn thành tốt hơn những cam kết về môi trường với quốc tế. Hơn nữa, nó cũng tạo ra hệ sinh thái công ăn việc làm bao gồm cả ngắn hạn (đối với việc lắp đặt) và dài hạn (đối với việc vận hành, duy trì, bảo dưỡng dự án) cho người dân.    Ngoài ra, đúng là các dự án điện mặt trời ở Việt Nam hiện chưa có lãi và có phần “chịu thiệt thòi” trong một vài năm đầu nhưng họ vẫn có lợi về lâu dài do được hưởng giá mua điện cố định trong suốt 20 năm.  Hơn nữa, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia cũng cố gắng huy động tối đa điện từ các dự án điện mặt trời nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung.     Vậy hiện nay Việt Nam đã cần phải đầu tư vào lưới điện thông minh chưa hay chỉ cần mở rộng mạng lưới hiện tại là đủ?     Ở các nước châu Âu, lưới điện liên thông với nhau nên một nước sản xuất điện dư thừa có thể chuyển sang nước khác. Điều đó hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo tốt. Theo các chuyên gia, nếu tỉ lệ điện tái tạo trong tổng công suất điện của cả nước  ở mức dưới 10% thì chỉ cần công tác điều độ tốt. Tuy nhiên Việt Nam không có lưới điện liên khu vực như châu Âu và tổng công suất lắp đặt riêng điện mặt trời ở Việt Nam đã chiếm 20% tổng công suất điện của cả nước và đến cuối năm 2021 dự kiến còn nhiều dự án điện gió được nối lưới nữa nên việc tính toán các giải pháp công nghệ để nâng cấp lưới điện từ bây giờ là cần thiết.     Nhu cầu sử dụng điện của Việt Nam vẫn đang tăng 10% mỗi năm, nếu nguồn cung cấp điện năng của Việt Nam phần lớn dựa vào điện tái tạo thì có khả thi? Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh thì điện than vẫn chiếm phần lớn tỉ trọng tổng công suất điện của cả nước, liệu có phải nhà nước vẫn đang dành “ưu ái” nhất định cho điện than?       Nói thế thì nó cũng chưa chính xác vì như tôi chia sẻ ở trên, hệ thống điện hiện tại của Việt Nam không thể dựa phần lớn, thậm chí là không thể chấp nhận ngay 50% điện tái tạo trong tổng công suất phát điện vì lưới điện của nước ta là độc lập, tách biệt, không liên thông như châu Âu. Thử hình dung nếu toàn bộ điện mặt trời ở Việt Nam hiện nay dừng hoạt động cùng lúc vì sự cố trong cùng một thời điểm cũng đủ để tạo ra một cuộc khủng hoảng không nhỏ. Vì vậy, điện than vẫn đóng một vai trò nhất định trong việc duy trì độ cân bằng của hệ thống điện. Bản thân điện than không xấu, nó chỉ xấu và không nên khuyến khích khi các nhà máy không tuân thủ đúng các điều kiện về mặt môi trường và xã hội do các định chế tài chính hay quy định quản lý nhà nước đưa ra mà thôi.         Như vậy thì liệu có phải trong tương lai Việt Nam vẫn cần phát triển điện than?     Không. Có nhiều cách để đáp ứng được nhu cầu điện tăng mà không cần tập trung vào việc tăng nhà máy sản xuất điện.    Hiện nay Việt Nam đang sử dụng điện chưa hiệu quả. Hệ số đàn hồi điện năng của Việt Nam cao hơn Thái Lan là 1,4 lần và Malaysia là 1,6 lần. Nghĩa là để có được một phần trăm tăng trưởng GDP, chúng ta sử dụng quá nhiều điện. Việt Nam vẫn ưu tiên các công ty trong lĩnh vực công nghiệp vốn tiêu tốn rất nhiều điện năng như sản xuất thép, sản xuất xi măng, sản xuất giấy, dệt may… được mua điện với giá rẻ, tính ra giá rẻ chỉ bằng một nửa so với giá bán cho các hộ gia đình. Trước đây, ưu đãi này còn có thể chấp nhận được khi chúng ta tập trung vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khi giá sản xuất điện của Việt Nam còn rẻ vì dựa chủ yếu vào thủy điện (thủy điện không cần nhập khẩu nguyên liệu đầu vào như than).      Hiện nay điện mặt trời đã chiếm khoảng 20% tổng công suất điện của cả nước và Việt Nam phải đầu tư vào lưới điện thông minh từ bây giờ. Nguồn: EVN.  Nhưng sắp tới, và đã xảy ra, thủy điện không còn khả năng mở rộng, điện than khó phát triển do khó tiếp cận vốn, khi các dạng năng lượng tái tạo sẽ chiếm tỉ trọng càng lớn trong công suất phát điện của cả nước, có nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham gia vào ngành điện đòi hỏi giá năng lượng phải theo giá thị trường, cần phải đánh giá lại giá trị, đóng góp vào GDP của những ngành công nghiệp này để xem họ có thực sự cần những ưu đãi đó nữa không. Trên thực tế, các ngành này hiện đang chiếm hơn 50% lượng điện thương phẩm (2016) nhưng chỉ đóng góp dưới 35% GDP (2018). Nếu giá điện cho những ngành công nghiệp này cứ rẻ mãi thì họ không có nhu cầu sử dụng công nghệ hiện đại hơn để giảm thiểu việc tiêu thụ điện. Mặc dù Chính phủ đã yêu cầu cụ thể đối với ngành thép phải tăng hiệu quả sử dụng điện lên 16,5% và ngành xi măng là 11% nhưng trên thực tế cũng vẫn chưa có chế tài và chính sách khuyến khích để đảm bảo những mục tiêu này được thực hiện như thế nào.    Các định chế tài chính ngày càng nói “không” với điện than, kể cả với công nghệ hiện đại nhất. Hơn nữa, với một số sản phẩm xuất khẩu sang châu Âu, đối tác sẽ yêu cầu phía Việt Nam phải sử dụng một tỉ lệ năng lượng tái tạo nhất định để tạo ra các sản phẩm đó. Vì vậy, trong Quy hoạch điện VIII sắp tới, Chính phủ Việt Nam cũng kì vọng chủ yếu vào năng lượng tái tạo và các dạng năng lượng mới, hạn chế việc gia tăng điện than. Việc kiểm soát một dự án điện than đáp ứng đúng các điều kiện về môi trường và xã hội trong suốt 40 – 50 năm hoạt động không phải là chuyện đơn giản. Vì vậy nên điện mặt trời hay điện gió vẫn là một giải pháp tốt, ít nhất là giảm được khí thải và không phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu đầu vào.      Các định chế tài chính ngày càng nói “không” với điện than, kể cả với công nghệ hiện đại nhất. Hơn nữa, với một số sản phẩm xuất khẩu sang châu Âu, đối tác sẽ yêu cầu phía Việt Nam phải sử dụng một tỉ lệ năng lượng tái tạo nhất định để tạo ra sản phẩm đó.      Về vấn đề tác động môi trường của điện mặt trời, gần đây có ý kiến đại biểu Quốc hội e ngại về việc phát triển điện mặt trời ồ ạt sẽ để lại một loạt các tấm pin năng lượng mặt trời mà không biết sẽ xử lý ra sao. Vậy đây có phải là vấn đề đáng lo ngại trong thời điểm hiện nay không?     Thứ nhất là phải nói rất rõ chúng ta sẽ không gọi đó là tấm pin điện mặt trời mà là tấm quang hợp điện mặt trời. Bởi lẽ, gọi các panel này là pin sẽ khiến mọi người sẽ đánh đồng chúng với các loại pin của động cơ điện vốn có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao hơn rất nhiều.    Dĩ nhiên, nói như vậy không có nghĩa là điện mặt trời không tạo ra các rác thải sau khi dự án kết thúc. Có hai vấn đề đáng lo ngại về các tấm quang hợp điện mặt trời: thứ nhất là sản xuất chúng sử dụng rất nhiều kim loại và hợp chất quý hiếm, nếu phát triển điện mặt trời quá nhiều liệu có dẫn đến việc khai thác cạn kiệt những quặng này không? Thứ hai thì các panel này vẫn là rác thải được xử lý. Hiện nay người ta cho rằng có thể tái chế được 80% nguyên liệu trong đó (bao gồm cả việc thu lại các chất dẫn và kim loại quý) còn lại là chôn lấp. Quan trọng là các cơ quan chức năng cần phải tính toán lượng rác thải từ điện mặt trời trong từng thời điểm để có biện pháp xử lý kịp thời. Hiện nay chi phí xử lý rác thải điện mặt trời mặc dù lớn, nhưng cũng như công nghệ điện mặt trời, 20 năm sau có thể nó sẽ giảm tới mức ta không thể ngờ tới. Nhiều nước đang nhìn thấy một ngành công nghiệp và hướng làm ăn mới với xử lý rác thải từ hệ thống điện mặt trời.     Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này! □         * Bổ sung mới của chị Vũ Chi Mai  ** Thay đổi với bản in là 6.3GW  *** Thay đổi với bản in là 5.5GW     Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì có lợi cho cả hai giới ?      Dù theo thời gian, các hàng rào định kiến giới dành cho nữ đã dần được xóa bỏ ở Việt Nam, thúc đẩy phụ nữ tham gia nhiều hoạt động kinh tế xã hội hơn nhưng vẫn còn một câu hỏi đặt ra: những kết quả đó đã đủ để hình thành những giá trị và quy tắc văn hóa mới một cách bền vững và có lợi cho nữ?      Trong khi nam giới được tối ưu thời gian của mình cho công việc có lương thì phụ nữ làm công việc không lương gấp 3 lần so với nam giới.   Định kiến giới, thiên vị giới bắt đầu đè nặng lên một người từ khi nào? Tôi nghĩ là từ khi bắt đầu hoài thai một đứa trẻ!”, nhận định của TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) có thể khiến người ta cảm thấy hơi làm quá về quan điểm “trọng nam, khinh nữ” ở Việt Nam. Nhưng trên thực tế, vấn đề còn tồi tệ hơn thế.    Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới năm 2020 của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) ước tính: khoảng 41.000 trẻ em gái Việt Nam không có cơ hội chào đời vì niềm mong mỏi sinh con trai ở các gia đình. Với sự hỗ trợ của nhiều phương pháp hiện đại, các ông bố bà mẹ có thể biết được giới tính của đứa trẻ trong bụng mẹ và qua đó, có thể ra quyết định bỏ thai… “Đó là bằng chứng quá mạnh để thấy được sự phân biệt đối xử theo giới tính kinh khủng như thế nào, bất bình đẳng giới bắt đầu sớm như thế nào”, TS. Khuất Thu Hồng nói.    Điều này dẫn đến hệ quả là sự chênh lệch tỉ lệ giới tính khi sinh của Việt Nam ở mức 111,5 bé trai/100 bé gái, thậm chí ở một số địa phương, con số này còn vượt ngưỡng 115/100, trong khi tỷ lệ giới tính khi sinh tự nhiên là 105 bé trai/100 bé gái (theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019). Không phải bây giờ mới có tình trạng này mà gần 20 năm trước, nó đã được phát hiện tại Việt Nam, sau đó, chênh lệch giới tính khi sinh đã gia tăng nhanh chóng.  Nếu nhìn lại chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể thấy tâm lý mong mỏi sinh con trai “thập nam viết hữu, thập nữ viết vô” đã được định hình hàng trăm năm với một xã hội mang cấu trúc trọng nam, và giờ được các công cụ y học hiện đại thêm phần củng cố. Xét dưới góc độ hình tượng, nam giới được định vị gắn liền với trách nhiệm nối dõi, gánh vác, trụ cột còn nhìn về động lực kinh tế, “người ta luôn mong con trai vì tin người đàn ông làm ra được nhiều của cải hơn, có sức vóc hơn, đóng góp cho gia đình để bố mẹ có thể dựa vào. Những gia đình toàn đàn bà con gái thì bị coi là ít có cơ hội làm ra của cải hơn, bị coi là thấp cổ bé họng”, TS. Khuất Thu Hồng lý giải.      Trái với những chỉ số khác về bình đẳng giới mà nhà nước có thể ban hành quy định như tỉ lệ nữ đi học, có bằng cấp, tham gia các hoạt động chính trị xã hội…, không có một quy chế nào cho những hình thức lao động không được trả lương có thể ngốn gần 3 giờ lao động mỗi ngày của phụ nữ cả. Để thay đổi điều đó phụ thuộc vào việc thay đổi nhận thức, định kiến giới về vai trò của nam và nữ.      Thiên kiến giới có tạo thêm gánh nặng?     Thực ra, đúng là từ trong gia đình đến ngoài xã hội, người phụ nữ vẫn luôn ở thế yếu dù họ làm việc như, hoặc thậm chí hơn nam giới. Chưa có số liệu ở Việt Nam nhưng một khảo sát ở 63 nước cho thấy phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới về tổng số giờ làm việc – chiếm 52% tổng số giờ làm việc so với nam giới là 48% (UNDP, 2015). Có điều, làm việc nhiều hơn chưa chắc đã mang lại cơ hội và địa vị. Trong khi nam giới được tối ưu thời gian của mình cho công việc có lương thì phụ nữ làm công việc chăm sóc không được lương gấp ba lần so với nam giới.    Trong khảo sát Tiếp cận nguồn lực Việt Nam năm 2018, chỉ riêng một câu hỏi rất nhỏ về việc rửa bát của nam giới có thể giúp chúng ta phần nào định lượng được thời gian làm việc không lương của phụ nữ: 20% ông chồng không bao giờ rửa bát, chỉ có ít ỏi 3% ông chồng thường xuyên rửa bát và chỉ có khoảng 0,5% là rửa bát hoàn toàn. Theo phân tích của TS. Nguyễn Việt Cường (Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội), điều này cũng phản ánh sự bất bình đẳng giới rõ rệt trong công việc: chẳng hạn có 20% người chồng không bao giờ rửa bát tức là khoảng 20% người vợ rửa bát hoàn toàn. Như vậy, tỷ lệ rửa bát hoàn toàn này của vợ nhiều gấp 40 lần chồng.    Câu chuyện rửa bát tưởng nhỏ nhưng nó còn cho ta thấy thêm một điều khác: thiên kiến trong quan niệm “người làm ra tiền”. Đây chỉ là một phần nhỏ trong rất nhiều việc chăm sóc không được đong đếm, trả lương mà người phụ nữ phải đảm đương, ngoài số giờ làm công việc chính của họ. Điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê cho chúng ta hiểu rõ cách thức phụ nữ và nam giới ở Việt Nam sử dụng quỹ thời gian hằng ngày như thế nào – 20% nam giới cho biết họ không hề dành bất kỳ chút thời gian nào phụ giúp việc nhà. Kể cả khi nam giới phụ việc nhà thì cũng chỉ làm bằng một nửa thời gian so với nữ, phụ nữ vẫn phải dành tới 20,2 giờ một tuần để làm các công việc chăm sóc không được trả lương (ngoài 48 tiếng làm việc mỗi tuần như nam giới).    Vậy những biểu hiện của thiên kiến giới này dẫn đến hậu quả kinh tế cho phụ nữ như thế nào? “Bạn thử nhân số giờ lao động này với lương trung bình của hàng chục triệu người lao động sẽ thấy giá trị kinh tế của thiên kiến giới trong phân công lao động ở đây là gì”, TS. Khuất Thu Hồng nói. Dù hiện tại chưa có phép tính cụ thể như thế ở Việt Nam về sự mất cân đối trong công việc chăm sóc không lương giữa nam và nữ tương ứng với bao nhiêu tiền nhưng nếu dựa vào các ước tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, chúng ta có thể tạm hình dung. Ví dụ theo một ước tính cho thấy phụ nữ làm 75% khối lượng công việc chăm sóc không lương trên toàn cầu, ước tính khoảng 13% GDP toàn cầu*.    Sự mất cân bằng trong phân công lao động trong công việc này là yếu tố chính làm ảnh hưởng và duy trì sự tồn tại của bất bình đẳng giới. Đáng tiếc là phụ nữ Việt Nam có riêng một hội để thúc đẩy bình đẳng giới nhưng thay vì gỡ bớt các rào cản thì tổ chức này lại nhắc nhở họ phải luôn tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, anh hùng bất khuất trung hậu đảm với nhiều diễn ngôn và phong trào thi đua củng cố các gánh nặng kép “ba đảm đang” “giỏi việc công, đảm việc nhà” thay vì có cách tiếp cận cân bằng hơn giữa nam và nữ. Bất chấp hàng loạt các phong trào cho nữ như “Rèn luyện phẩm chất Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang”, Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, cho đến những đề án hết sức cụ thể như “Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt (giai đoạn 2010 – 2015)”, hoàn toàn không có phong trào nào tương ứng dành cho nam giới.    Gánh nặng kép “đảm việc nước, giỏi việc nhà” khiến phụ nữ tốn rất nhiều thời gian cho công việc không được tính lương. Nó cho thấy thu nhập thấp hơn nam giới không phải do phụ nữ có trình độ học vấn, mức độ tham gia vào thị trường lao động thấp hơn mà họ bị tước cơ hội có công việc ổn định hoặc nâng cao kỹ năng tay nghề với một mức độ liên tục như nam giới. Gánh nặng hai vai công việc sản xuất và công việc tái sản xuất đã tác động tiêu cực đến cuộc sống của phụ nữ, hạn chế cơ hội kinh tế và quyền lực trong gia đình. Câu hỏi đặt ra là liệu người đàn ông có thể san sẻ việc nhà với phụ nữ để phụ nữ cũng có cơ hội tăng lao động có trả lương như nam giới hay không? Cùng với đó là có thời gian gánh vác thêm để giảm áp lực trụ cột cho nam giới?     Thay đổi nhận thức từ đâu?     “Phải tránh việc gia cố định kiến trong môi trường giáo dục, cả giáo dục nhà trường (cách dạy, cách nói, thông qua các bài học, hoạt động trong nhà trường), giáo dục trong gia đình (dạy dỗ của bố mẹ, phân công công việc, việc làm, áp đặt của bố mẹ) và giáo dục trong xã hội thông qua truyền thông (báo chí, phim ảnh, mạng xã hội)”, TS. Khuất Thu Hồng nói.    Tuy nhiên, cả ba kênh chính đó vẫn củng cố tất cả định kiến ở mức độ khác nhau, không phải lúc nào cũng song song đi cùng một hướng củng cố định kiến nhưng nó đưa ra rất nhiều thông điệp mâu thuẫn. Ví dụ trong nhà trường đang dạy về bình đẳng, truyền thông xã hội nói về bình đẳng nhưng song song với nó là những thông điệp khác trong sách giáo khoa theo cách củng cố những truyền thống bất lợi cho nữ hay trong truyền thông xã hội hằng ngày vẫn nhấn mạnh vai trò “ba đảm đang” của nữ.    Hầu như tất cả những người trưởng thành hiện nay đều đang được học các bộ sách giáo khoa mang theo nhiều thiên kiến giới. Theo nghiên cứu “Khảo sát chiều kích giới trong sách giáo khoa của nền giáo dục phổ thông Việt Nam” của PGS.TS Trần Hữu Quang, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ, phân tích 76 cuốn sách giáo khoa của sáu môn học từ lớp 1 đến lớp 12 thì có xu hướng “thiên lệch giới” rõ ràng. Trong gần 8.300 nhân vật được đề cập trong các nội dung văn bản trong sách giáo khoa thì nam giới chiếm 69%, nữ 24% và trung tính về giới (ví dụ đứa trẻ, học sinh, phụ huynh) là 7%. Mức độ chênh lệch số lượng về giới tính có xu hướng gia tăng theo cấp học, và nặng nhất ở bậc trung học phổ thông. Trong văn bản, số nhân vật nam xuất hiện từ tỷ lệ 51% ở cấp tiểu học, 67% ở cấp Trung học cơ sở, và lên tới 81% ở cấp Trung học phổ thông. Còn trong hình ảnh, số nhân vật nam tăng tương ứng từ tỷ lệ 56% ở tiểu học lên 57% ở Trung học cơ sở và 71% trong sách giáo khoa Trung học phổ thông.    Mặt khác, nghề nghiệp của nhân vật nam trong sách giáo khoa cũng đa dạng hơn. Nếu nữ chỉ làm nội trợ, giáo viên, nhân viên văn phòng và là phái yếu, phải phụ thuộc thì nhân vật nam trong sách giáo khoa là bác sĩ, nhà khoa học, kỹ sư, công an, bộ đội, là trụ cột trong gia đình và có tiếng nói quyết định. Đáng chú ý là nam giới chiếm tới 95% các nhân vật lịch sử và 88% các nhân vật đương đại, còn nữ giới chỉ chiếm 5% các nhân vật lịch sử và 11% các nhân vật đương đại. Điều này có nghĩa là giới “nam nhi” coi như thống lĩnh tuyệt đại đa số trong số các nhân vật nổi tiếng đáng chú ý trong sách giáo khoa hiện nay. Thậm chí, các hiện tượng rất trung tính như đám đông xuất hiện trong các hình ảnh trong sách giáo khoa cũng thấy rõ xu hướng thiên lệch về phía nam giới.    Sự xuất hiện và vai trò của phụ nữ trong không gian công cộng, do đó, ít hơn hẳn so với nam giới. Chỗ của người phụ nữ chủ yếu vẫn được gói gọn trong là trong các không gian gia đình. Nói cách khác, thế giới của người phụ nữ được trình bày trong sách giáo khoa chủ yếu là thế giới gia đình.  Hình ảnh, nội dung mang định kiến giới trong sách giáo khoa, chương trình giáo dục có thể làm khắc sâu định kiến giới trong nhận thức trẻ em, làm chậm tiến trình đạt được bình đẳng giới thực chất và tiếp tục nối dài vòng tròn định kiến giới ở cả hai giới.  ***  Những sự bất bình đẳng ở trên cũng không hề có lợi cho nam giới. Vì nam giới đang ngày càng gặp nhiều vấn đề về tinh thần và thể chất hơn trước những áp lực và khuôn mẫu đòi hỏi họ giữ vững vai trò trụ cột trong cả môi trường gia đình và xã hội. Theo khảo sát vào 2020 của ISDS về nam giới và nam tính cho thấy đàn ông Việt luôn bị ám ảnh bởi vai trò trụ cột gia đình, luôn tạo áp lực cho bản thân, đang ở trong một nan đề vừa phải đáp ứng những đòi hỏi hiện đại (là trụ cột trong gia đình, rường cột quốc gia, bắt kịp và đáp ứng tất cả những yêu cầu của một xã hội ngày càng đề cao nhu cầu vật chất) nhưng đồng thời vẫn bảo lưu những mong mỏi của một cấu trúc xã hội truyền thống trọng nam vốn yêu cầu người đàn ông phải hoàn thành nhiều bổn phận với gia đình, dòng họ. Thậm chí tỉ lệ nam giới có ý định tự tử cao gấp ba lần phụ nữ, đặc biệt nhóm tuổi từ 18 đến 29 tỉ lệ trả lời cảm thấy tiêu cực tới mức muốn tự tử là 5,43%.  Báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF cũng cho thấy gánh nặng công việc chăm sóc gia đình, làm việc không lương đặt lên vai bé gái từ khi còn rất nhỏ. Trên toàn cầu, bé gái trong độ tuổi từ 5-14 bỏ ra 550 triệu giờ mỗi ngày để làm việc nhà, gần gấp 3,5 lần so với 160 triệu giờ của bé trai cùng lứa tuổi (UNICEF, 2016). Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, trẻ em gái 5 đến 9 tuổi làm 4 giờ mỗi tuần và trẻ em gái từ 10-14 tuổi làm 9 giờ mỗi tuần cho công việc nhà*.    Điều gì có lợi cho cả hai giới? “Nuôi dưỡng và thúc đẩy sự thay đổi nhận thức, tốt nhất là không còn phân ranh giới nữa. Không có khuôn mẫu đấy thì thế giới này đa dạng hơn nữa, mỗi người sẽ thể hiện mình chứ không trông đợi vào hai khuôn nam và nữ thì nên làm việc này, phải làm việc kia”, TS. Khuất Thu Hồng nói. “Nếu vẫn nặng khuôn mẫu đó thì trong một tương lai gần, khi nam giới không còn lợi thế cơ bắp, sức mạnh vì được thay thế bởi robot, AI thì nam giới sẽ đối diện như thế nào với cuộc khủng hoảng vai trò của mình?”. □  —-  * Nguồn số liệu: UN Women, Tài liệu thảo luận chính sách về Công việc chăm sóc không lương: Những vấn đề đặt ra và gợi ý chính sách cho Việt Nam, 2016.     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Điều gì có thể xảy ra với an ninh mạng của Việt Nam, nếu…      Ngày 12/06/2018, Quốc hội đã thông qua Luật an ninh mạng (LANM), đánh dấu sự hoàn tất pha đầu tiên của việc làm luật và cũng từ thời điểm này, mở ra pha tiếp sau, pha chuẩn bị các văn bản dưới luật để có thể đưa luật vào cuộc sống.      Gần đây, ZTE và Huawei đang đối mặt với việc không thể nhập linh kiện từ Mỹ. Việc suy sụp của công ty này cũng sẽ kéo theo cả an ninh mạng của Việt Nam. Nguồn: By Jiao Haiyang/China.org.cn   Ngay sau thời điểm này, trên một số diễn đàn trên Internet đã diễn ra các thảo luận với mong muốn rà soát lại các nội dung của Luật vừa được thông qua nhằm góp ý cho các văn bản dưới luật sẽ được soạn thảo trong thời gian tới. Một trong các diễn đàn như vậy, là diễn đàn ICT-VN, với danh sách thư ICT_VN@googlegroups.com gồm các nhà nghiên cứu, giảng dạy, triển khai và quản lý công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) từ các trường, viện, doanh nghiệp và cơ quan/tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, được tạo ra từ 2003.  Trên diễn đàn này, sau khi LANM được thông qua tại Quốc hội, ngày 15/06/2018 , đã có ý kiến đóng góp cho Điều 12, khoản 2, các mục b) và c) và khoản 4 của LANM.  Thực tế các hệ thống mạng viễn thông và thông tin hiện nay của Việt Nam  Để nói về một hệ thống mạng, trước hết chúng ta nói về cấu trúc của hệ thống mạng đó. Một hệ thống mạng thông tin được xây dựng lên từ phần cứng, phần mềm, các thiết bị kết nối mạng (phần xác) và thông tin – dữ liệu (phần hồn) trong hệ thống đó. Phần hồn các hệ thống mạng của Việt Nam hiện đang được Luật an toàn thông tin mạng 2015 điều chỉnh.  Một mặt, một thực tế đặc biệt có liên quan tới Điều 12 LANM cần được nêu ở đây, là các mạng viễn thông của Việt Nam sử dụng nhiều, rất nhiều các thiết bị viễn thông của các công ty viễn thông của Trung Quốc như Huawei và ZTE. Bạn có thể kiểm chứng điều này bằng việc tìm kiếm theo cụm từ khóa “Huawei và ZTE, mạng viễn thông Việt Nam”. Mặt khác, hầu hết tất cả các hệ thống thông tin của Việt Nam, bao gồm các hệ thống thông tin của nhà nước, các bộ – ngành, bao gồm cả của toàn bộ ngành giáo dục, đều phụ thuộc vào hệ điều hành của một nhà cung cấp độc quyền nguồn đóng, Windows của Microsoft. Nói một cách khác, Việt Nam hiện chưa làm chủ được các thành phần quan trọng nhất của hệ thống mạng thông tin, đặc biệt là toàn bộ “phần xác”.      Chúng ta phải có đủ dũng khí để LOẠI BỎ HOÀN TOÀN và VÔ ĐIỀU KIỆN việc giáo dục CNTT-TT chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp độc quyền duy nhất, thay vào đó bằng việc giáo dục CNTT-TT của thế giới NGUỒN MỞ từ bậc TIỂU HỌC.      Trong khi thực tế nhiều năm đã chỉ ra, hầu như bất kỳ thành phần nào của mạng cũng đều có thể là điểm khởi phát cho sự mất an ninh mạng, và cùng với nó, là mất an toàn thông tin – dữ liệu mạng.  Trong bối cảnh các hệ thống mạng bị phụ thuộc như vậy, điều khó tin nhưng lại có khả năng xảy ra là, cuộc chiến thương mại của 2 quốc gia hàng đầu thế giới hiện nay, Mỹ và Trung Quốc, có thể làm cho nhiều hệ thống mạng viễn thông của Việt Nam bị tê liệt, bất kể nội dung của LANM được diễn đạt như thế nào, cụ thể như đối với Điều 12 này.  Câu chuyện thực tế của ZTE từ thời điểm 15/04/2018  ZTE là nhà sản xuất các thiết bị viễn thông lớn thứ 2 của Trung Quốc, sau Huawei, đã phải đóng cửa nhiều chi nhánh của hãng trong thời gian qua và có nguy cơ ngừng hoạt động hoàn toàn vì lệnh trừng phạt của Mỹ với lý do ZTE vi phạm lệnh cấm vận của Mỹ với Iran và Bắc Triều Tiên – lệnh cấm ZTE mua vi chip, hệ điều hành và các phần mềm ứng dụng trong kho phần mềm đi với hệ điều hành đó từ các công ty của Mỹ trong vòng 7 năm – có hiệu lực từ ngày 15/04/2018. Những diễn biến sau đó, như việc giữa tháng 5/2018 Tổng thống Mỹ đã muốn cứu ZTE với điều kiện ZTE phải nộp phạt hàng tỷ USD và thay đổi nhân sự lãnh đạo của hãng; trong khi một số nghị sỹ Mỹ lại muốn trừng phạt ZTE tới cùng; và cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 06/07/2018 cho tới thời điểm viết bài này vẫn tiếp tục leo thang thì không ai có thể đoán biết trước được kết cục của cuộc chiến đó rồi sẽ ra sao trong khi ZTE vẫn nằm trong tâm bão của cuộc chiến, và có thể cả các hãng viễn thông khác của cả 2 bên bị lôi kéo vào cuộc chiến đó, như Huawei của Trung Quốc, hay Qualcomm của Mỹ… Bạn có thể tìm trên mạng các thông tin về điều này qua cụm từ tìm kiếm “trade war ZTE”.  Việc ZTE có thể phải đóng cửa vì không làm chủ được các công nghệ sản xuất các con vi chip, hệ điều hành và các ứng dụng phần mềm đi với hệ điều hành đó, cho thấy, an ninh mạng của ZTE là bằng 0, hay an ninh mạng của ZTE = 0. Bạn có thể tìm trên Internet các thông tin về điều này qua cụm từ tìm kiếm “ZTE đóng cửa”.  Về điều này, Tổng biên tập nhật báo Khoa học và Công nghệ, cơ quan ngôn luận của Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, nói tại một hội thảo ở Bắc Kinh hôm 21/6/2018:  “Căn nhà của chúng ta được xây trên nền móng của người khác nhưng một số người cứ cho rằng chúng ta có các quyền sở hữu tài sản vĩnh cửu và tuyệt đối. Điều đáng lo ngại là những người có quan điểm này đang lừa dối các lãnh đạo, công chúng và ngay chính họ”.1  Người Trung Quốc còn nói như vậy về an ninh các hệ thống mạng của họ, trong khi công ty của họ, ZTE, đang là nguồn cung cấp vô số các thiết bị mạng cho các hệ thống mạng viễn thông của Việt Nam. Không rõ, người Việt Nam chúng ta thì sẽ phải nói như thế nào về an ninh mạng của mình?  Giáo dục CNTT-TT  Thế hệ các lập trình viên phần mềm và những người chuyên nghiệp về CNTT-TT hiện nay của chúng ta, được giáo dục trong môi trường ĐÓNG, chưa có khả năng làm chủ được hệ thống mạng của mình, không đồng nghĩa với việc các thế hệ sau của chúng ta cũng không có khả năng làm được điều đó. Vì thế, trách nhiệm của thế hệ hiện nay, đặc biệt là các giảng viên CNTT-TT và những người làm công tác giáo dục ở tất cả các cơ sở giáo dục đào tạo trên toàn quốc, phải huấn luyện – đào tạo để các thế hệ trẻ tiếp sau có thể làm được điều đó. Muốn được như vậy, trước hết, chúng ta phải có đủ dũng khí để loại bỏ hoàn toàn và vô điều kiện việc giáo dục CNTT-TT chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp độc quyền duy nhất, thay vào đó bằng việc giáo dục CNTT-TT của thế giới nguồn mở từ bệc tiểu học.  Còn nếu chúng ta tiếp tục để căn nhà của chúng ta được xây trên nền móng của người khác thì có nghĩa là chúng ta đang bịt nốt đi khả năng để các thế hệ tiếp sau của chúng ta có thể đảm bảo được an ninh mạng cho Việt Nam.  ——-  1 https://www.thesaigontimes.vn/275233/ chien-tranh-thuong-mai-nhat-cua-vao-niem-tu-hao-cong-nghe-cua-trung-quoc.htm     Điều 12. Đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia   2. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia phải đáp ứng các điều kiện về:  …  b) Bảo đảm an ninh mạng đối với các trang thiết bị, phần cứng, phần mềm là thành phần hệ thống;  c) Biện pháp kỹ thuật để giám sát, bảo vệ an ninh mạng; biện pháp bảo vệ hệ thống điều khiển và giám sát tự động, Internet vạn vật, hệ thống phức hợp thực – ảo, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh, hệ thống trí tuệ nhân tạo;  …  4. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được đưa vào vận hành, sử dụng sau khi được chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạng.       Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Điều gì đã thay đổi Obama?      Bạn sẽ hỏi Obama điều gì?” Một cô bạn hỏi tôi như vậy khi xếp hàng chờ vào buổi gặp gỡ giữa vị Tổng thống Mỹ và 800 đại diện giới trẻ Việt Nam. Đến lúc đó tôi mới biết rằng sẽ có một cuộc hỏi đáp với ông Obama – trước đó tôi tưởng ông sẽ chỉ đến phát biểu một lần, hoặc sẽ chỉ tham gia cuộc tọa đàm bàn tròn với một số ít bạn trẻ ưu tú giống như tại buổi nói chuyện với các doanh nhân trẻ tại Dreamflex chiều hôm trước. Nhưng cũng vì câu hỏi của người bạn mà tôi bắt tự hỏi, nếu có dịp thì mình sẽ hỏi ông Obama điều gì?      Mọi chuyện tiếp theo trôi qua đúng như tôi vẫn hình dung, Tổng thống Obama xuất hiện, có một bài phát biểu truyền cảm hứng, rồi tới phần hỏi đáp mà đa số là những câu hỏi khá khuôn sáo. Nhưng rồi một bạn trẻ đặt câu hỏi khá hay, đó là “làm sao để trở thành một nhà lãnh đạo như ông”.  Tổng thống trả lời, đại ý, mỗi người có một con đường khác nhau để trở thành ai đó, có người mê làm thầy giáo, có người mê làm bác sỹ, nhưng những người thành công đều có một điểm chung: họ yêu công việc của mình. Vì vậy, bạn đừng nghĩ đến chuyện bạn sẽ trở thành ai đó, mà thay vào đó, hãy nghĩ bạn sẽ làm gì – chính công việc bạn làm sẽ dẫn dắt, định hình bạn trở thành con người như thế nào – và yêu công việc mà bạn đã lựa chọn, đặt hết tình yêu và năng lượng của mình vào đó, rồi một ngày kia, bạn sẽ trở thành một người thành công. Tổng thống còn kể rằng thời học trò ông cũng ham chơi và học hành không nghiêm túc, và bí quyết ông chia sẻ với các bạn trẻ để sau này thành công chính là hãy tìm điều gì đó bạn cực kỳ quan tâm, cực kỳ đam mê, khiến bạn phấn khích, và đặt hết năng lượng của bạn vào đó. Thay vì lo lắng quá nhiều về việc bạn sẽ trở thành ai, hãy quan tâm về điều mà bạn muốn làm.  Câu trả lời của ông Obama khiến tôi không khỏi nghĩ về thế hệ thanh thiếu niên ngày nay, đa số họ không phải là những người thành đạt đang có mặt ở đây hôm nay, mà là những bạn trẻ bình thường chúng ta vẫn gặp mỗi ngày. Một thế hệ mà không ít người lớn, những người thế hệ đi trước luôn nghi ngờ, rằng tại sao bọn chúng luôn hời hợt, không có đam mê, không có ước mơ, như thể lạc lối giữa cuộc đời. Bản thân tôi có một đứa cháu trai mà tôi rất thương, nay đã 20 tuổi mà vẫn cứ lông bông, chẳng chịu học hành gì, không muốn đọc gì, cũng chẳng biết mình muốn gì. Tôi đã từng nhiều lần ngồi hỏi cháu, con thích gì nhất, con ước mơ gì nhất, con muốn mình trở thành ai, nhưng những cuộc trò chuyện như thế thường kết thúc trong nước mắt, vì cháu tôi cũng không thể trả lời được, những câu hỏi như vậy chỉ khiến nó trở nên căng thẳng và đau khổ.  Tôi rất muốn tìm một câu trả lời từ vị tổng thống Mỹ cho những bạn trẻ giống như cháu của mình. Ông Obama đã nói rất hay về tầm quan trọng của việc mỗi người tự tìm thấy niềm đam mê trong công việc của mình, nhưng điều ông còn chưa nói, đó là làm sao để tìm thấy niềm đam mê ấy. Tôi rất muốn biết làm cách nào ông tìm thấy niềm đam mê để có thể thay đổi từ cậu thanh niên ham chơi ngày nào và trở thành một người thành đạt, có quyền lực bậc nhất nước Mỹ ngày nay.  Sau một vài câu hỏi khuôn phép đầy tính vĩ mô từ các bạn trẻ khác, khi Tổng thống Obama nói rằng vẫn còn thời gian cho hai câu hỏi nữa có một linh tính rất lớn mách bảo tôi rằng ông sẽ chọn tôi là người kế tiếp đặt câu hỏi. Linh tính ấy đã đúng. Ông Obama nhìn về phía tôi, và tôi quyết định đưa tay xin đặt câu hỏi: “như ông đã nói ở trước đó, ông từng rất ham chơi, không nghiêm túc trong việc gì cả, và tôi đọc trên mạng còn thấy bảo ông từng có lúc hút cần sa, vậy điều gì đã khiến ông thay đổi để trở thành một người của ngày hôm nay?”  Ông Obama mỉm cười và nói “bạn biết không, bạn chẳng bao giờ biết được khi nào thì con tim mình quyết định thay đổi.” Ông kể về tuổi thơ lớn lên không có bố, sống trong sự đùm bọc yêu thương của mẹ và ông bà, nhưng bản thân ông vẫn trở thành một thiếu niên nổi loạn bởi luôn cảm thấy thiếu vắng điều gì đó. Ông cũng không biết vì sao bản thân mình chỉ trưởng thành khi đã 19-20 tuổi, sau khi nhận ra rằng mình không nên băn khoăn về người bố không có mặt, mà cần quan tâm đến việc mình muốn làm và có trách nhiệm hơn với cuộc đời của mình, và từ đó biết chịu khó học hỏi, quan tâm đến các vấn đề xã hội.  Rồi ông nói về vai trò truyền cảm hứng của những câu chuyện. Động lực thôi thúc con người hành động không chỉ đến từ tiền tài, quyền lực, hay những lợi ích rõ rệt nào đó, mà vẫn thường đến từ nguồn cảm hứng do các câu chuyện mang lại, và dù ta theo đuổi bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào, sẽ luôn có thể tìm thấy nguồn cảm hứng và động lực từ những người khác khi ta biết lắng nghe câu chuyện kể của họ.  Để minh họa cho sức mạnh truyền cảm hứng của những câu chuyện, ông Obama lấy ví dụ từ bản tuyên ngôn 1776. Đó là giai đoạn khi quốc gia Mỹ vẫn chưa hình thành nhưng những con người xuất thân khác nhau vẫn cùng tập hợp dưới chung một ngọn cờ, họ gắn kết với nhau bởi niềm tin chung vào những giá trị nhân văn phổ quát, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và hiển nhiên có những quyền cơ bản không thể bị tước đoạt. Câu chuyện ấy đã tạo niềm cảm hứng, giúp nước Mỹ giành được độc lập, và thu hút người nhập cư trên khắp thế giới. Vị Tổng thống Mỹ cũng đưa ra ví dụ tương tự về cuộc đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh giành độc lập cho Việt Nam, một câu chuyện đầy cảm hứng đối với thế giới.  Những điều Tổng thống Obama nói về tầm quan trọng của những câu chuyện khiến tôi cảm thấy đồng cảm. Thật khó biết chính xác điều gì tạo ra động lực thay đổi một cá nhân hay cả một cộng đồng. Nhiều khi động lực không chỉ đến từ những động cơ thực dụng rạch ròi, mà còn từ nguồn cảm hứng những câu chuyện mang đến. Đơn giản là chúng ta cần lắng nghe nhau, và đến lúc nào đó tự nhiên ta sẽ thấy điều mình luôn tìm kiếm.  Bài viết của đạo diễn Phan Gia Nhật Linh sau khi dự cuộc đối thoại của Tổng thống Obama và các bạn trẻ của chương trình YSEALI (viết tắt của Young Southeast Asian Leaders Initiative, tức Sáng kiến thủ lĩnh Đông Nam Á, một chương trình học bổng do Tổng thống Obama thành lập năm 2013 dành cho các bạn trẻ trong độ tuổi 18-35) diễn ra ngày 25/5 tại TP HCM.  Việc ông Obama từng có thời gian sử dụng cần sa là điều tôi đọc được qua Internet trong cuốn tự truyện của ông, có tựa đề The Dream from My Father (Những giấc mơ của cha tôi). Đây cũng là điều khiến ông gặp vài rắc rối khi tranh cử và dẫn tới những tranh luận sôi nổi trong dư luận Mỹ. Dĩ nhiên, việc tôi đưa ra câu hỏi trên cũng xuất phát từ không khí trò chuyện rất cởi mở giữa ông với các bạn trẻ, từ cách ông hoà đồng và tự nhiên, đùa vui thoải mái với mọi người, và văn hóa đối thoại tự do, bình đẳng của người Mỹ vẫn cho phép người ta hỏi nhau một cách thẳng thắn như thế. Dưới đây là trích đoạn từ cuốn sách tự truyện của ông Obama (trang 93, chương 5).  “Junkie. Pothead. That’s where I’d been headed: the final, fatal role of the young would-be black man. Except the highs hadn’t been about me trying to prove what a down brother I was. Not by then, anyway. I got high for just the opposite effect, something that could push questions of who I was out of my mind, something that could flatten out the landscape of my heart, blur the edges of my memory. I had discovered that it didn’t make any difference whether you smoked reefer in the white classmate’s sparkling new van, or in the dorm room of some brother you’d met down at the gym, or on the beach with a couple of Hawaiian kids who had dropped out of school and now spent most of their time looking for an excuse to brawl. You might just be bored, or alone.[ ]. Everybody was welcome into the club of disaffection. And if the high didn’t solve whatever it was that was getting you down, it could at least help you laugh at the world’s ongoing folly and see through all the hypocrisy and bullshit and cheap moralism”.  Dịch nghĩa:  Con nghiện. Tôi đã sa vào nó như thế: vai diễn cuối cùng, chết chóc dành cho một thanh niên da đen sắp trở thành đàn ông. Nhưng chuyện phê thuốc này của tôi không nhằm chứng tỏ bản thân mình đang buồn nản như thế nào. Ít ra thì khi đó không phải như vậy. Tôi phê là vì lý do ngược lại, một điều gì đó giúp tống khỏi tâm trí những câu hỏi về việc mình là ai, làm san phẳng trái tim gồ ghề, xoá mờ những góc cạnh ký ức. Tôi phát hiện ra rằng chẳng có gì khác biệt khi tôi hút cỏ ở trong chiếc xe mới láng cóng của đám bạn học da trắng, hay trong phòng ký túc xá với mấy người anh em da đen thường gặp ở phòng gym, hay trên bãi biển với mấy đứa nhóc Hawaii mới bỏ học và giờ dành hầu hết thời gian kiếm cớ để đánh lộn. Chẳng qua chỉ là buồn chán, hoặc cô đơn [ ]. Trong câu lạc bộ của những kẻ bất mãn, bất kỳ ai cũng được chào đón. Và nếu cơn phê không giúp giải quyết được vấn đề khiến bạn rầu rĩ, thì nó cũng giúp bạn cười vào cái thế giới điên rồ đang diễn ra và nhìn xuyên thấu tất thảy những thứ đạo đức giả dối, nhảm nhí và mớ luân lý rẻ tiền.      Author                Phan Gia Nhật Linh        
__label__tiasang Điều gì quí vị tin là có thật nhưng không thể chứng minh được?      “Điều gì quí vị tin là có thật nhưng không thể chứng minh được?”  (What do you believe is true even though you cannot prouve it?). Những ý kiến dưới đây là của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau về những vấn đề nổi cộm của thời đại được đăng trên tạp chí Edge. Đây cũng là những hiện tượng khoa học và xã hội đang hoặc sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển mà chúng ta cần quan tâm và thảo luận.      Tôi tin-nhưng không thể chứng minh được rằng trẻ em ngày nay đang vô tình là nạn nhân của các tiến bộ công nghệ và phát triển kinh tế. Một điều hiển nhiên là các tiến bộ công nghệ và sự thịnh vượng đang giúp tất cả chúng ta có một cuộc sống tốt hơn, trên nhiều góc cạnh. Thế nhưng dường như chính cái lực đẩy, cái sức ép không thể cưỡng lại được này cũng đã dẫn tới một số hậu quả tồi tệ trong việc biến đổi cuộc sống trẻ thơ. Ngay cả khi chỉ số thông minh IQ của trẻ hiện nay khá hơn so với thế kỷ trước, người ta vẫn nhận thấy dường như một số các khả năng cảm xúc và giao tiếp xã hội cơ bản ở trẻ đã tụt giảm đáng kể trong vòng 3 thập kỷ vừa qua.   Mà đó lại là những khả năng quan trọng để giúp những đứa trẻ trở thành những người làm việc, các nhà lãnh đạo hiệu quả, trở thành những ông bố, bà mẹ và các thành viên xứng đáng trong cộng đồng. Một cách ngẫu nhiên, các cuộc thu thập dữ liệu diễn ra lần đầu tiên vào đầu thập kỷ 1970, lần thứ hai diễn ra khoảng 15 năm sau đó, tức là giữa thập kỷ 80 và lần mới nhất vào cuối thập kỷ 90 ở hơn 3.000 đứa trẻ Mỹ ở độ tuổi 7-16 (các bậc phụ huynh và thày cô giáo, những người gần với trẻ nhất là người đánh giá) đã chứng tỏ chỉ số về khả năng giao tiếp xã hội và chỉ số tình cảm ở trẻ dường như đang trượt theo một hướng sai lệch.  Những đứa trẻ ở Mỹ đã cảm thấy chúng sống ngày càng thu mình, hay hờn dỗi và bất hạnh hơn. Chưa kể tới việc chúng luôn ở trạng thái lo lắng và căng thẳng, hấp tấp và khó tập trung hơn. Đặc biệt chúng hiếu chiến và phạm tội nhiều hơn.Trong khoảng thời gian từ đầu thập kỷ 1970 tới giữa thập kỷ 80, những đứa trẻ đã kém hơn ở 42 chỉ số và chẳng có chỉ số nào khá hơn so với trước. Đến cuối những năm 1990, tốc độ tụt giảm các chỉ số tình cảm và xã hội ở trẻ ít đi nhưng các chỉ số này vẫn kém rất xa so với đầu thập kỷ 70. Đó là những số liệu. Điều khiến tôi tin nhưng không chứng minh được là sự tụt giảm này liệu có phải là hậu quả chủ yếu gây ra bởi các động lực tăng trưởng kinh tế và công nghệ.  Lý do đầu tiên là cuộc  cạnh tranh toàn cầu ngày càng mãnh liệt diễn ra trong hai thập kỷ vừa qua đã khiến các thế hệ phụ huynh ngày càng phải làm việc nhiều hơn để duy trì cái tiêu chuẩn sinh hoạt mà thế hệ trước đó đã có. Dường như hiện nay hầu hết các gia đình đều có cả bố và mẹ làm việc trong khi 50 năm trước kia chỉ có một người làm việc.  Như vậy không phải các bậc phụ huynh giờ ít yêu quí con cái của mình hơn trước mà họ có ít thời gian để chia sẻ với con cái hơn so với ông bà thời trước. Việc di chuyển chổ ở của các gia đình dễ dàng và nhiều hơn đồng nghĩa với việc ngày càng ít những đứa trẻ được sống gần họ hàng thân thiết. Việc chăm sóc trẻ ngày càng tốt hơn, đặc biệt đối với những đứa trẻ ở các gia đình có điều kiện kinh tế khiến những đứa trẻ ngày càng ít có cơ hội tự chăm sóc mình (bởi cha mẹ hoặc người khác đã làm hộ những kỹ năng mà đáng ra chúng phải tự có-ND).  Đối với những đứa trẻ thuộc các gia đình ở tầng lớp trung lưu, chúng cũng được “chăm sóc” khá kỹ càng. Một chương trình giáo dục dày đặc luôn bao vây chúng: nào là lớp học khiêu vũ, nào là buổi học đàn, rồi câu lạc bộ thể thao… Những đứa trẻ chóng mặt vì những hoạt động đáng ra của người lớn. Thời gian biểu kín chỗ này đã khiến những đứa trẻ không còn giờ phút nào để chơi những trò chơi của tuổi thơ. Thế là những kỹ năng phát triển tình cảm và quan hệ xã hội của trẻ theo  cách truyền thống lẽ ra phải có đã mất đi. Một lý do khác liên quan tới mặt công nghệ. Những đứa trẻ chưa bao giờ dành nhiều thời gian cho các trò chơi điện tử như ngày nay.  Tất nhiên, tiếp cận với máy tính sớm sẽ giúp các kỹ năng làm việc của chúng thành thạo hơn khi đến tuổi trưởng thành nhưng tôi không nghĩ là những kỹ năng này giúp cho bọn trẻ giao tiếp tốt hơn nếu xét theo tiêu chí giữa người với người. Phương pháp giáo dục thông minh ở đây sẽ là việc giúp bọn trẻ học được các kỹ năng tình cảm và xã hội thông qua các bài học ở lớp hơn là để chúng tự do phát triển theo hướng cá nhân. Linh cảm củatôi (mà chưa thể chứng minh được) là ở chỗ chúng ta phải hướng lũ trẻ tới con đường phát triển tốt nhất để chúng khỏi phải trả giá cho cuộc sống hiện đại mà chúng ta đang có.  DANIEL GOLEMAN, nhà tâm lý học,  tác giả cuốn “Emotional Intelligence” (tạm dịch: Trí óc mẫn cảm)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì quí vị tin là có thật nhưng không thể chứng minh được?      Có rất nhiều lý do để chúng ta tin rằng vũ trụ là vô hạn. Nhưng nếu như vậy thì nó phải chứa một số vô hạn các vùng có cùng kích thước với những vùng vũ trụ mà chúng ta đã quan sát được (với thời gian khoảng 80 tỉ năm ánh sáng).      Bằng phương pháp lượng tử, chúng ta có thể thấy trong vũ trụ, số lượng lịch sử của bất cứ vùng nào trong số các vùng đã xác định, ở một thời gian xác định (kể từ Vụ nổ lớn Big Bang) là hữu hạn. Ở đây tôi không muốn chỉ nói tới lịch sử của văn minh con người mà là toàn bộ những gì đang xảy ra, tính từ mức độ nguyên tử. Những con số lịch sử loại này có thể cực lớn nhưng điểm quan trọng là nó hữu hạn.  Như vậy, chúng ta có một số lượng vô hạn các vùng vũ trụ như vùng vũ trụ của chúng ta đang sống và chỉ có một số lượng hữu hạn các quá trình lịch sử gắn kết với chúng. Nó cho phép bất cứ một lịch sử nào đều có thể diễn ra ở một số lượng vô hạn các vùng vũ trụ. Đặc biệt, có thể sẽ có một số lượng vô hạn các vùng vũ trụ có lịch sử tương đồng như lịch sử của chúng ta. Vấn đề là tính được  xem có bao nhiều nền văn minh tương tự như nhau đang nằm rải rác trong cái vũ trụ giãn nở vô hạn này của chúng ta.  Còn một điều mà tôi tin là sự thật nhưng không thể chứng minh được: trái đất của chúng ta có thể đang ở trong cái phần của vũ trụ không còn giãn nở nữa và sẽ bị tan vỡ một lần nữa trong một lần “há miệng” của vũ trụ. Thời điểm đó sẽ diễn ra sớm nhất vào khoảng 20 tỉ năm nữa và rất có thể còn lâu hơn nữa.  ALEXANDER VILENKIN   Nhà vật lý, Viện Vũ trụ học, Đại học Tufts      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện để tăng trưởng bền vững      Thế giới ngày nay có mấy đặc điểm lớn ngày càng nổi bật:  1) tài năng, trí tuệ của con người, chứ không phải tài nguyên vật chất sẵn có, là sức mạnh quyết định sự phồn vinh của xã hội;  2) toàn cầu hóa là xu thế không cưỡng nổi chỉ có thể chấp nhận và thích nghi tốt nhất mới có thể phát triển đất nước thuận lợi;  3) bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu khẩn thiết của cả loài người, riêng đối với một số nước như Việt Nam càng thêm khẩn thiết;  4) thế giới biến chuyển cực nhanh, với tính phức tạp và phi tuyến ngày càng tăng, muốn thành công trong thế giới đó phải thường xuyên cập nhật tình hình để kịp thời điều chỉnh tư duy và hành động cho thích hợp.  Đó là nhận thức cơ bản cần xuất phát từ đó để bàn định phương hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Xem thường hoặc nhận thức bất cập về bất cứ đặc điểm nào trên đây cũng đều có thể dẫn đến sai lầm phải trả giá nặng nề, ngay trước mắt hoặc trong tương lai không xa.      Mặc dù từ nhiều năm rồi chúng ta đã cảm nhận ngày càng thấm thía áp lực thời đại đối với công việc của đất nước, song có lẽ do sức ỳ bảo thủ từ thời mấy chục năm bị cô lập với thế giới vẫn còn quá mạnh, nên hai thập kỷ đổi mới vẫn chưa đủ cho chúng ta thay đổi nếp tư duy, cách nhìn trong hàng loạt vấn đề hệ trọng. Đặc biệt tuy đã nhận thức được phần nào tri thức, thông tin là của cải quý giá nhất thời nay, nhưng giáo dục, khoa học – những lĩnh vực đã được long trọng tuyên bố thuộc quốc sách hàng đầu – dù đã có những tiến bộ nhất định. Nhưng dù muốn nói gì, vẫn không thể phủ nhận sự tụt hậu quá xa của chúng ta so với thế giới và so với yêu cầu phát triển của đất nước.  Nhiều người thường nghĩ rằng đối với một dân tộc thông minh, lanh lợi, lại dũng cảm cần cù như dân tộc ta thì yếu tố tài năng, trí tuệ nếu chưa phải là ưu thế ít ra cũng không thể là trở ngại gì lớn khi bước vào kinh tế tri thức. Tuy nhiên thực tế phũ phàng cho thấy không hẳn như vậy.         Sự thông minh, lanh lợi của từng cá nhân chưa là gì cả nếu những cá nhân ấy không được liên kết trong một cơ chế quản lý nhằm sản sinh ra synergy (cộng năng) vượt hơn nhiều lần sức mạnh, tài trí, năng lực của từng cá nhân, từng bộ phận cộng lại. Cái cơ chế đó chính là trí tuệ hệ thống, là cái phần mềm để vận hành hệ thống một cách thông minh.        Cái nghịch lý sờ sờ là tài trí và dũng khí của người Việt trong công cuộc chống ngoại xâm tuyệt vời là thế mà trong xây dựng hòa bình lại không mấy nổi bật, có phần thua kém nhiều dân tộc khác. Nguyên nhân tại đâu ?  Tất cả vấn đề là ở chỗ sự thông minh, lanh lợi của từng cá nhân chưa là gì cả nếu những cá nhân ấy không được liên kết trong một cơ chế quản lý nhằm sản sinh ra synergy (cộng năng) vượt hơn nhiều lần sức mạnh, tài trí, năng lực của từng cá nhân, từng bộ phận cộng lại. Cái cơ chế đó chính là trí tuệ hệ thống, là cái phần mềm để vận hành hệ thống một cách thông minh. Quản lý đất nước trước hết là chăm lo thiết kế và từng bước hoàn thiện cái phần mềm đó để có thể khai thác hết mọi tiềm năng.    Không đi sâu vào chi tiết, chỉ xin nêu lên một trong những niềm trăn trở lớn nhất của bất cứ ai có tấm lòng với đất nước, đó là tại sao tham nhũng đã được xem là mối nguy hại đe dọa sự mất còn của chế độ mà ba bốn chục năm nay vẫn không đẩy lùi được, mặc cho sự bất bình của nhân dân và sự phê phán của dư luận bạn bè khắp nơi trên thế giới ?  Rất rõ ràng chừng nào tham nhũng còn nặng thì không thể nói đến phát triển bền vững. Nhìn quanh ta, Indonesia đã có một thời phát triển khá ấn tượng, nhưng rồi vì tham nhũng nên sụp đổ và cả chục năm nay vẫn chưa gượng dậy được. Philippines từng là nước khá giả nhất ở Đông Nam Á vào những năm 50-60 mà về sau tụt dần và lẹt đẹt mãi cũng chỉ vì tham nhũng. Trái lại, Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc đi nhanh được vì không bị nạn tham nhũng trì kéo. Rộng ra trên thế giới cũng không thấy có nước tiên tiến nào sống chung với tham nhũng mà tồn tại được.                   Khi một căn bệnh xã hội nảy sinh và kéo dài triền miên mấy chục năm trời, thì đó là biểu hiện một khuyết tật hệ thống, không thể nào loại trừ chỉ bằng cải tiến khâu điều hành. Lúc đó phải xem xét lại cơ chế hoạt động của hệ thống, chăc chắn trong cơ chế ấy có lỗ hỗng lớn, không xử lý cái lỗ hỗng đó thì không có cách gì khôi phục sự hoạt động bình thường của hệ thống.   Một vị lãnh đạo gần đây có nói đại ý rằng tham nhũng không phải là thói xấu cố hữu của người dân Việt Nam mà do quản lý kém, khiến nhiều người vốn không muốn tham nhũng cũng bị lôi kéo vào vòng tham nhũng. Đúng như vậy, đây là ung nhọt sinh ra do quản lý. Có điều phải đi sâu hơn: vậy muốn cắt bỏ cái ung nhọt đó cần tìm ra cái lỗ hỗng quản lý gì cần khắc phục và ai phải chịu trách nhiệm về cái lỗ hỗng đó ?        Khoa học hiện đại đã phát hiện có nhiều tổ chức, nhiều đối tượng trong thiên nhiên, trong xã hội rất phức tạp mà cơ chế sinh ra và phát triển chúng lại đi theo một lược đồ lặp khá đơn giản. Con quái vật tham nhũng thiên biến vạn hóa ở nước ta cũng đã sinh ra theo một lược đồ lặp đơn giản như vậy, mà cốt lõi là cái nghịch lý lương/thu nhập trong bộ máy hành chính sự nghiệp        Khoa học hiện đại đã phát hiện có nhiều tổ chức, nhiều đối tượng trong thiên nhiên, trong xã hội rất phức tạp mà cơ chế sinh ra và phát triển chúng lại đi theo một lược đồ lặp khá đơn giản. Con quái vật tham nhũng thiên biến vạn hóa ở nước ta cũng đã sinh ra theo một lược đồ lặp đơn giản như vậy, mà cốt lõi là cái nghịch lý lương/thu nhập trong bộ máy hành chính sự nghiệp: chỉ trừ trong một số ít ngành, đơn vị ưu tiên (không bao gồm khoa học, giáo dục), còn phổ biến là lương quá thấp, không đủ sống mức sống hợp lý, trái lại thu nhập thực tế cao hơn lương rất nhiều lần. Phần lương thì kiểm soát chặt chẽ, dù còn nhiều bất công, nhưng phần thu nhập ngoài lương thì phân phối tùy tiện, phụ thuộc vào khả năng tự xoay xở của từng ngành, từng đơn vị, từng người. Mà biên độ xoay xở thì rộng bao la, càng lên cao càng ít có kiểm soát vì trong nhiều trường hợp nó được hợp pháp hóa đến mức trở thành đương nhiên. Cái lược đồ sản sinh ra tham nhũng đó lặp lại y như nhau từ cấp thấp đên cấp cao. Và một khi lược đồ đó hoạt động thì cấp trên dễ dãi, dung thứ cấp dưới, cấp dưới thông cảm, bảo vệ cấp trên, lập thành một vỏ bọc kiên cố nuôi dưỡng tham nhũng bất chấp mọi luật lệ.   Sau nhiều năm tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng nhưng chủ yếu theo chiều rộng, bây giờ đến lúc ta phải chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu để phát triển bền vững.  Hơn lúc nào hết, cần xem xét lại cơ chế quản lý kinh tế xã hội để phát hiện, loại trừ những khuyết tật hệ thống, mở đường cho giáo dục, khoa học phát triển lành mạnh, trước hết là giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập. Có thể khẳng định dứt khoát chừng nào còn tồn tại cái nghịch lý quái gở này thì tham nhũng còn nhiều đất để được nuôi dưỡng và phát triển, và triển vọng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn mờ mịt.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện tiên quyết để phát triển vượt bậc      Trên thế giới có bảy quốc gia và vùng lãnh thổ (sau đây gọi chung là nước) có nền tảng văn hóa Đông Bắc Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore và Việt Nam. Singapore và Việt Nam tuy về vị trí địa lý nằm ở Đông Nam Á, nhưng về nền tảng văn hóa là thuộc về Đông Bắc Á. Trong 7 nước nói trên, có 5 nước lựa chọn mô hình thể chế để phát triển kinh tế là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state). Đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Singapore. Tất cả các nước này đều đã hóa rồng.      Các trí thức trẻ ở các Viện, trường đại học gặp mặt lãnh đạo Đảng, nhà nước tháng 9 năm 2015. Ảnh: KHPT.  Nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình thể chế coi trọng vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế. Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp và tác động mạnh mẽ vào thị trường để hiện thực hóa chiến lược này. Đây là mô hình nhà nước dẫn dắt sự phát triển. (Để so sánh, nhà nước điều chỉnh là mô hình thể chế coi trọng vai trò của thị trường trong phát triển kinh tế. Nhà nước tạo khuôn khổ thể chế để thị trường phân bổ nguồn lực, để tự do cạnh tranh bảo đảm hiệu quả của nền kinh tế. Đây là mô hình thị trường dẫn dắt sự phát triển).   Triều Tiên và Việt Nam là hai trường hợp ngoại lệ. Triều Tiên vẫn chưa chuyển đổi khỏi mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung. Việt Nam thì đã chuyển đổi khỏi mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung nhưng lại chưa có sự lựa chọn chắc chắn giữa mô hình nhà nước kiến tạo phát triển hay nhà nước điều chỉnh. Giai đoạn đầu của quá trình đổi mới Việt Nam hành xử gần với mô hình nhà nước kiến tạo phát triển hơn. Tuy nhiên, càng hội nhập sâu với thế giới, Việt Nam càng tiến gần hơn với mô hình nhà nước điều chỉnh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mô hình nhà nước điều chỉnh chỉ đưa lại sự phát triển kinh tế vượt bậc cho các nước có nền tảng văn hóa Anh-Mỹ như Anh, Mỹ, Úc, Canada… Nó chưa đem lại sự phát triển như vậy cho bất kỳ một nước nào không có nền tảng văn hóa tương đồng.  Với nền tảng văn hóa Đông Bắc Á, mô hình nhà nước kiến tạo phát triển có lẽ là lựa chọn phù hợp hơn cho Việt Nam.  Lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển thì điều kiện tiên quyết là phải xây dựng cho được một đội ngũ công chức tài giỏi và chuyên nghiệp. Đây là đặc trưng đầu tiên và quan trọng nhất của nhà nước kiến tạo phát triển. Kinh nghiệm của các nước Đông Bắc Á là đáng được tham khảo.  Đặc biệt thú vị là kinh nghiệm lựa chọn công chức của Đài loan. Ở Đài Loan, quyền khảo thí là một trong năm quyền lực nhà nước. Có lẽ, đây là quốc gia duy nhất trên thế giới mà quyền lực nhà nước được chia thành năm nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát và khảo thí (chứ không phải chỉ ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp như ở nhiều nước khác). Đây là mô hình nhà nước được xây dựng theo tư tưởng của Tôn Trung Sơn, người có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào dân chủ ở phương Đông. (Thực ra, trong quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” của nước ta, tư tưởng của Tôn Trung Sơn cũng được thể hiện. Đó là tư tưởng tam dân: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc).  Quyền khảo thí là một trong những quyền lực nhà nước được Tôn Trung Sơn hết sức coi trọng. Ông cho rằng chính sách, pháp luật chỉ thật sự đi vào cuộc sống nếu chúng được triển khai bởi một đội ngũ công chức tài giỏi, liêm chính. Chính vì vậy, sứ mệnh của quyền lực khảo thí là sát hạch và tuyển dụng những người tài giỏi nhất, liêm chính nhất cho nền công vụ của quốc gia.  Cơ quan cao nhất của nhánh quyền lực khảo thí là Viện khảo thí. Các cơ quan trực thuộc Viện khảo thí là Bộ Khảo thí; Bộ nhân sự (Bộ lại); Ban giám sát quỹ hưu của công chức; Ủy ban bảo trợ và đào tạo công vụ. Trách nhiệm của Viện khảo thí ngoài việc sát hạnh, còn là tuyển dụng và điều hành đội ngũ công chức trong cả nước.  Chính nhờ có quyền khảo thí vận hành trên thực tế mà đội ngũ công chức của Đài Loan rất có năng lực, đồng thời cũng rất liêm chính. Đây cũng là lý do giải thích tại sao Đài Loan đã trở thành một trong những quốc gia phát triển và thịnh vượng nhất của châu Á.  Cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển để xây dựng kinh tế. Như đã nói ở trên, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nhà nước kiến tạo phát triển là một đội ngũ công chức tinh hoa và độc lập. Chính nhờ khảo thí được coi trọng như một quyền lực nhà nước, nên Đài Loan đã có điều kiện để sát hạch và lựa chọn được những người tài giỏi nhất cho công vụ. Cũng chính nhờ tính độc lập của quyền khảo thí, nên đội ngũ công chức đã không bị phụ thuộc vào các ảnh hưởng của đảng phái, phe nhóm, của các quyền lực chính trị như lập pháp và hành pháp. Điều này làm cho chính sách pháp luật luôn luôn được thực thi khách quan, hiệu quả. Mà như vậy thì độ tin cậy của chính sách pháp luật cũng cao hơn. Một điểm rất đặc biệt của Đài Loan là các doanh nghiệp nhà nước vận hành rất hiệu quả. Có thể, cách thức tuyển chọn nhân sự và tính độc lập của đội ngũ này là sự giải thích cho hiện tượng nói trên.  Ở Nhật Bản việc thi tuyển công chức cũng rất được coi trọng và mang tính cạnh tranh rất cao. Ví dụ, năm 2009 có 22.186 người tham gia thi tuyển công chức, thì chỉ có 1.494 (6,7%) người trúng tuyển. Trong số những người trúng tuyển này, chỉ có chưa đầy một nửa (660 người) được tuyển dụng.  Trở lại với Việt Nam chúng ta, thách thức lớn nhất trong việc thúc đẩy mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở ta là tình trạng đội ngũ công chức khó có thể được coi là tinh hoa và chuyên nghiệp. Thêm vào đó sự thiếu hụt về liêm chính và phẩm hạnh cũng là một vấn đề rất lớn. Để có được một đội ngũ công chức như các nước Đông Bắc Á có lẽ chúng ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước này trong việc thi tuyển để lựa chọn các công chức tài giỏi. Và xây dựng một thiết chế đảm nhận công việc này có vị thế độc lập và quyền năng như Viện khảo thí của Đài Loan có lẽ cũng cần được nghiên cứu, xem xét.  Thực ra, truyền thống khoa bảng ở nước ta đã có tự ngàn xưa. Rất không may là sau nhiều biến động của lịch sử, truyền thống này đã bị đứt gãy. Vấn đề là chúng ta phải có ý thức khôi phục lại truyền thống này để chuyện thi tuyển công chức được tổ chức thực sự nghiêm minh và chất lượng. Suy cho cùng, thiếu một đội ngũ công chức tài giỏi, đất nước sẽ khó có thể phát triển một cách vượt bậc.□    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Điều mong muốn cuối cùng của Bác      Di ch&#250;c được B&#225;c Hồ viết v&#224; chỉnh sửa trong bốn năm để rồi v&#224;o ng&#224;y 19.5.1969, &#8220;đ&#250;ng 9 giờ&#8230;B&#225;c xem kỹ to&#224;n bộ c&#225;c bản viết của Người trong bốn năm qua, nhưng chỉ chữa th&#234;m ba chữ ở phần mở đầu&#8221;1. Vỏn vẹn 1129 từ, Di ch&#250;c Chủ tịch Hồ Ch&#237; Minh l&#224; sự dồn n&#233;n của &#253; tưởng v&#224; t&#236;nh cảm của một người đ&#227; d&#224;nh to&#224;n bộ cuộc đời cho sự nghiệp giải ph&#243;ng d&#226;n tộc m&#236;nh v&#224; g&#243;p phần v&#224;o sự nghiệp c&#225;ch mạng thế giới. Ở đ&#226;y, tư tưởng, t&#236;nh cảm như đ&#227; được &#8220;chưng cất&#8221; nhằm lấy c&#225;i tinh tu&#253; nhất để thể hiện trong lời dặn lại trước l&#250;c ra đi. Phần c&#244; đọng nhất kết lại trong &#8220;Điều mong muốn cuối c&#249;ng của t&#244;i l&#224;: To&#224;n Đảng, to&#224;n d&#226;n ta đo&#224;n kết phấn đấu, x&#226;y dựng một nước Việt Nam ho&#224; b&#236;nh, thống nhất, độc lập, d&#226;n chủ v&#224; gi&#224;u mạnh, v&#224; g&#243;p phần xứng đ&#225;ng v&#224;o sự nghiệp c&#225;ch mạng thế giới&#8221;.     Những tư tưởng lớn được Bác Hồ diễn đạt một cách dung dị, dễ hiểu vì Người hiểu rõ mình cần nói với ai. Chính vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp; cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng ; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình; ung dung, thanh thản sau khi tự mình đã trải nghiệm qua biết bao sự chịu đựng cay đắng đủ điều vì sự nghiệp của nước, của dân. Hơn ai hết, Bác “thấu hiểu cuộc sống của con người”, con người nói chung và đặc biệt là con người Việt Nam. Người hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình đang cần cái gì nhất. Chính vì thế, kết thúc bản Di chúc, cùng với “muôn vàn tình thân yêu” gửi lại cho cuộc đời này, Người thiết tha nói đến “điều mong muốn cuối cùng”.   Suy ngẫm thật kỹ nội dung “điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh, mới ngộ ra được rằng: chân lý bỗng vụt sáng lên từ trong những câu chữ vốn rất dung dị, thô mộc quen thuộc trong đời sống hằng ngày, khiến người ta đôi khi cứ ngỡ như không còn gì để mà suy ngẫm nữa. Cũng giống như có những vì sao đã tắt từ rất lâu, song ánh sáng của chúng giờ đây mới đến được với Trái đất. Ở đây thời gian đã đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng . Tư tưởng ấy trải qua những biến động dồn dập và dữ dội cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng ấy. Vì đó là chân lý. Mà chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian truân.   Về Di chúc, Phạm Văn Đồng có gợi một ý rất thú vị: “trong những lời căn dặn lại, Bác Hồ có nói sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các bậc đàn anh khác. Trí tưởng tượng của tôi hình dung cuộc gặp giữa Bác Hồ với những người thầy sáng lập học thuyết Mác-Lênin biết bao ý nghĩa và hào hứng. Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt những con bọ…” Thật có đúng như vậy, song cũng có nhiều con rồng…”2. Đúng là đã có không ít những con rồng. Chỉ có điều lại có quá nhiều những con bọ. Nhưng, cái đáng ngại hơn, là sự nhầm lẫn “bọ” thành “rồng”. Sự lẫn lộn vàng thau ấy – kiểu nhìn “bọ”mà thấy “na ná” như rồng – khiến cho cái giá phải trả để đến được với chân lý là quá lớn. Mặc dầu, xét đến cùng, chân lý nằm chính ngay trong quá trình nhận thức.  Nhìn trở lại hành trình tìm đường cứu nước trong hơn nửa thế kỷ cho đến khi viết Di chúc, mục tiêu trước sau như một của Hồ Chí Minh chính là độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Người nói, “lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”3. Sự gặp gỡ giữa tư tưởng “ái quốc” và lý tưởng “cộng sản” trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ của lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong đó, giải phóng con người là trung tâm.   Chính ở đây, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh bắt gặp lý tưởng cộng sản. Lý tưởng đó thể hiện tập trung ở luận điểm “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”4. Đây là sự đúc kết những khát vọng ngàn đời của con người, của loài người mà xét cho cùng, các bộ óc vĩ đại nhất của loài người đã từng suy tư, từng nghiền ngẫm để tìm cách thực hiện. Một sự đúc kết tuyệt vời nhằm gợi lên những tìm tòi để biến khát vọng ấy thành hiện thực. Mà đã tìm tòi thì có đúng có sai, bởi lẽ, khoa học là một chuỗi sai lầm được sửa chữa.   Với một trái tim lớn chứa đựng “ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”5, Hồ Chí Minh trở thành nhà cách mạng từng trải, được thử thách và tôi luyện trên trường quốc tế bằng cái tầm trí tuệ và sự minh triết của một người am hiểu về văn hóa phương Đông để biết tiếp thu văn hóa phương Tây trên cái nền của mạch sống dân tộc. Vì thế, Hồ Chí Minh hiểu rõ những thành tựu cũng như những sai lầm mà phong trào cách mạng đã trải qua. Người hiểu cần thanh lọc và tiếp nhận những gì có lợi nhất cho mục tiêu đã xác định. Người đòi hỏi phải biết sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng những nguyên lý khoa học và cách mạng vào thực tế nước mình, phù hợp với đặc điểm của dân tộc mình để có thể biến thành “rồng” chứ không hoá thành “bọ” như điều C.Mác đã từng cảnh báo.   Bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khuyết tật mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ rằng dân tộc mình, nhân dân mình đang cần cái gì nhất. Nói đến điều đó, thì tất cả mọi người Việt Nam, dù bất cứ đang ở đâu, đang làm gì cũng đều có thể hiểu được, đều có thể chấp nhận, đều có thể nhất trí, đều có thể nhận ra đó là mong muốn của mình.  Bốn mươi năm nhìn lại, trong “điều mong muốn cuối cùng” của Bác Hồ,  độc lập và hòa bình thì đã được trọn vẹn còn dân chủ và giàu mạnh thì quả là đang còn phải gian khổ phấn đấu. Chắc đã tiên liệu được điều ấy nên chỉ 45 ngày sau Quốc khánh 2.9.1945, Bác nói dứt khoát: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”6. Sẽ càng thấm thía hơn lời khuyến cáo của Bác khi nghĩ đến một phát biểu gần đây của Nelson Mandela, anh hùng dân tộc Nam Phi: “Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”.   Bao xương máu đổ ra để “giành được quyền tự do để có tự do”, nhưng muốn có tự do thực sự phải là một quá trình chiến đấu không kém phần cam go, mà có khi còn cam go bội phần. Bởi lẽ, phá bỏ tuy khó, song xây dựng thì khó hơn rất nhiều. Bác nói “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”7.   Để thật sự nghiêm túc thực hiện Di chúc của Người, phải dũng cảm và nhẫn nại để quyết thắng trong cuộc “chiến đấu khổng lồ” này!   _________________  1.  Vũ Kỳ. “Thư ký Bác Hồ kể chuyện”NXBCTQG Hà Nội 2005, tr.488          2.   Phạm Văn Đồng “Hồ Chí minh, Quá khứ Hiện tại và Tương lai” Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991, tr.98  3,5,6,7. Hồ Chí Minh Toàn tập. NXBCTQG Hà Nội -1995, 1996.Tập 10., tr.128, Tập 4, tr. 161, tr.56. Tập 12, tr.505   4.  C.Mác & Ph.Angghen Toàn tập.Tập 4. NXBCTQG.1995, tr. 628;      Author                Quản trị        
__label__tiasang Định chuẩn bằng những giá trị phổ quát      Sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả khôn lường do chọn phải những thang giá trị lạc hậu làm chuẩn cho xã hội.               Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển, đồng thời trực tiếp định hướng và điều chỉnh hành vi của xã hội, là những thang giá trị chủ đạo đang lưu hành trong xã hội.        Đối với Việt Nam, một đất nước đang ở trong quá trình chuyển đổi về nhiều mặt, từ cách thức tổ chức nền kinh tế, quan điểm chính trị, đến cấu trúc văn hóa và cách thức giao lưu với bên ngoài, v.v…thì hiện tượng chồng lấn giữa các thang giá trị cũ và mới là điều tất yếu. Cái mới tuy đã xuất hiện, nhưng chưa đủ mạnh để đẩy lùi cái cũ đã lạc hậu. Cái cũ, dù đã không còn thích hợp với sự phát triển, cũng vẫn cộng hưởng, cấu kết với nhau và với một số lực lượng trong xã hội để tiếp tục tồn tại.        Trong bối cảnh đó, việc định chuẩn – lựa chọn những thang giá trị cho xã hội – trở nên phức tạp và ẩn chứa những sai lầm có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Cái mới, chưa chắc đã là cái tiến bộ. Và cái cũ, cũng chưa hẳn là cái lạc hậu hoàn toàn. Chưa kể, xã hội có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu thang giá trị khác nhau. Vì thế, việc định chuẩn cho xã hội, đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn gấp bội.       Tuy nhiên, có một cách có thể giảm thiểu những sai lầm trong việc định chuẩn. Đó là sử dụng những giá trị phổ quát để làm thang giá trị chủ đạo. Những giá trị này đã được kiểm chứng trong suốt chiều dài lịch sử, ở nhiều nước và nền văn hóa khác nhau. Việc sử dụng chúng làm thang giá trị chủ đạo không chỉ có ý nghĩa trong việc định hướng sự phát triển của xã hội, mà còn giúp xã hội kế thừa được các giá trị truyền thống và hội nhập với thế giới bên ngoài.          Bình đẳng – Dân chủ      Bình đẳng – dân chủ là giá trị mà bất cứ quốc gia tiến bộ nào cũng đều theo đuổi, bất cứ người dân nào cũng đều mong muốn. Vì thế, câu đầu tiên trong bản tuyên ngôn độc lâp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, trích từ bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ ngày 4 tháng 7 năm 1776, là: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.         Bình đẳng giữa người và người, giữa cộng đồng với cộng đồng, giữa quốc gia với quốc gia, không chỉ là mong muốn, mà đã trở thành một giá trị phổ quát.  Bình đẳng cần được đảm bảo bằng pháp luật. Những thói quen, tập tục, thang giá trị nào đi ngược lại tinh thần bình đẳng cần phải loại bỏ. Xã hội cần hướng đến sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người.       Bình đẳng là cơ sở sinh ra dân chủ. Vì dân chủ chỉ có thể hình thành khi ý kiến, quan điểm của tất cả mọi người được lắng nghe và tôn trọng. Điều đó chỉ có thể hình thành khi sự bình đẳng, cả về quyền lợi, nghĩa vụ và cơ hội phát triển của tất cả mọi người được đảm bảo.       Nếu không có bình đẳng làm giá đỡ, khi có những người hoặc nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi riêng, đứng cao hơn người khác và đứng trên người khác, thì dân chủ, dù có đạt được, cũng chỉ là dân chủ giả tạo. Bình đẳng – Dân chủ vì thế cần phải là một thang giá trị chủ đạo để định hướng và sản sinh ra các thang giá trị khác cho xã hội.           Tự do – Công lý     “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Câu nói bất hủ đó không chỉ đúng cho quốc gia, mà còn đúng cho từng cá nhân.        Sự sáng tạo ra tri thức và của cải vật chất của xã hội, suy cho cùng cũng nhằm mục đích làm cho cuộc sống của mỗi người được tự do hơn.        Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, xã hội luôn phát triển theo hướng tăng số lượng và chất lượng của các cá nhân tự do. Nếu trong xã hội nô lệ và phong kiến, chỉ có một số nhỏ các cá nhân – thậm chí chỉ có một người là Vua trong xã hội phong kiến phương Đông – có tự do, thì sang xã hội tư bản, số cá nhân tự do đã tăng lên gấp bội. Và một xã hội mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” trở thành một xã hội mơ ước của tất cả mọi người.       Nhưng Tự do phải đi liền với Công lý. Nếu không có Công lý thì Tự do sẽ trở thành hỗn loạn. Tự do của người này lại phá hoại tự do của người khác.       Một xã hội pháp quyền vì thế cần phải được xây dựng để đảm bảo mức độ tự do cao nhất cho tất cả mọi người.       Ngoài ra, Tự do – Công lý còn trực tiếp hỗ trợ Bình đẳng – Dân chủ, vì trong xã hội pháp quyền, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không có ai đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật.       Chân – Thiện – Mỹ   Chân – Thiện – Mỹ  là những giá trị ngàn đời mà bất cứ người nào, xã hội nào cũng hướng tới.     Sự cố gắng hoàn thiện mình của mọi cá nhân và xã hội thực chất là quá trình vươn tới Chân – Thiện – Mỹ.  Vì thế, đây phải được coi là thang giá trị chính để hình thành và điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng trong xã hội.       Tất cả các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, kể cả các tôn giáo và đạo đức, đều có mục đích hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.        Một xã hội mà Sự thật, cái Thiện và cái Đẹp được tôn vinh thì đó là một xã hội lành mạnh, đạo đức và văn minh. Ngược lại, một xã hội mà Sự giả dối, cái Xấu và cái Ác tràn lan thì đó là một xã hội bệnh hoạn và đang trên đường suy thoái.       Muốn xã hội lành mạnh trở lại, đạo đức và văn minh, thì Chân-Thiện-Mỹ phải được tôn vinh, phải là mục tiêu vươn tới của xã hội và phải trở thành thang giá trị chủ đạo trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi và định hướng hành động và mục đích sống của cá nhân, cộng đồng.    Thay lời kết   Việc định chuẩn cho xã hội luôn khó. Nhưng nếu biết sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo thì sẽ tránh được sai lầm và ấu trĩ trong việc chọn chuẩn. Trong đó, những giá trị phổ quát, ngàn đời như Bình đẳng-Dân chủ, Tự do-Công lý và Chân-Thiện-Mỹ phải được coi là những thang giá trị cơ bản nhất, nền tảng nhất để định hướng cho xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Định danh trong xã hội Việt Nam hôm nay.      Trung Quốc từ thời Xuân Thu sang thời Chiến Quốc (453-221 TCN), chiến tranh giữa các nước nhỏ diễn ra liên tục, để sống còn và chiến thắng, các nhà cầm quyền tìm mọi cách thu phục nhân tài. Hàng loạt nhân tài được giao quản lý nhà nước, cầm quân đánh trận, thương thuyết ngoại giao như Tô Tần, Trương Nghi, Lạn Tương Như, Tôn Vũ, Tôn Tẫn, Ngô Khởi…     Với nhu cầu xây dựng quốc gia thống nhất, kinh tế phát triển, binh lực hùng mạnh, nhiều chính sách cải cách đã ra đời và thể nghiệm thành công như chủ trương phát triển sản xuất nông nghiệp, khai hoang, áp dụng kỹ thuật thâm canh, thu thuế theo mức thu hoạch của Lý Khôi; chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp và thủ công, khuyến khích lập công trong chiến đấu, quản lý dân theo hộ, thưởng phạt nặng, thống nhất đo lường của Thương Ưởng… Thế nhưng chỉ có một lý thuyết ra đời lúc đó còn sống mãi, tiếp tục phát huy tác dụng đến ngày nay là thuyết chính danh của Khổng Tử.  Chiến tranh và phát triển kinh tế dẫn đến giai đoạn cải cách thể chế quyết liệt của nhà nước phong kiến bước sang giai đoạn tập quyền chuyên chế. Một quá trình đổi mới sâu sắc diễn ra nhằm xác lập trật tự xã hội mới, thống nhất quản lý nhà nước mới.  Trong xã hội diễn ra hàng loạt sự đổi thay giá trị: con cái trong gia đình đòi suy nghĩ độc lập với cha mẹ, quan lại và chư hầu trong triều đình đòi phân quyền với nhà vua, nho sỹ đòi tham gia quản lý, nông dân đòi tách ruộng tư khỏi ruộng công, nhà giàu muốn chia quyền lực với quý tộc.  Không như các nhà cải cách liên tục đưa ra các giải pháp chính sách cho nhà cầm quyền, Khổng Tử truyền bá cho toàn dân một qui tắc ứng xử mới. Cho rằng gốc của vấn đề là xác lập cho được thước đo giá trị phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, Ông đề ra thuyết “chính danh”, coi danh chính là giải pháp hàng đầu để trị nước. Theo ông, muốn khắc phục sự rối loạn xã hội thì phải xác lập sự thống nhất giữa danh và phận, giữa tên gọi với thứ bậc xã hội, chức vụ hành chính, với nhiệm vụ được giao, gắn lời nói với việc làm.  Trong giao dịch hàng ngày (buôn bán, dịch vụ, tình cảm, hành chính…), giữa người với người thường xuyên phải xác định danh tính bản thân và đối tác. Nếu quen thuộc, đáng tin cậy thì chi phí giao dịch được cắt giảm, nếu đối tác giỏi giang, giàu có thì giao dịch có thể đem lại lợi ích trực tiếp, ngược lại nếu đối tác khó khăn, lâm vào thế yếu thì có thể phải giúp đỡ, đối tác đáng nghi, khó chịu thì chấm dứt quan hệ hoặc phải tăng chi phí đề phòng rủi ro…  Trong quan hệ giữa các quốc gia, giữa công dân với chính quyền, giữa nhà đầu tư với một địa bàn xa lạ, giữa các tổ chức với nhau… việc định danh càng quan trọng. Luật lệ, danh tính chính thức là một chuyện, thực chất năng lực, quyền hành, tính cách hoạt động của mỗi tổ chức bộ máy lại là chuyện khác. Có chỗ, có thể dùng quan hệ hành chính, giấy tờ, có chỗ áp dụng quan hệ buôn bán, thị trường, có chỗ là tình cảm, quan hệ. Có nơi phải đi từ trên xuống, có nơi là từ dưới lên… sự thành bại của giao dịch quyết định bởi sự hiểu biết về thực chất hệ thống ra quyết định, về động lực hoạt động của đối tác, biết ai là ai?  Trong kinh doanh, muốn có một thị trường lành mạnh, dứt khoát người cung cấp hàng hóa và dịch vụ phải đăng ký hành nghề để được giám sát chất lượng, bảo vệ môi trường, bảo đảm vệ sinh an toàn, bảo hộ lao động, đóng thuế… Hàng hóa phải có nhãn hiệu đăng ký, biết rõ xuất xứ, thời hạn sử dụng, các tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật, tiến đến có mã vạch, mã số thống nhất.   Trong một nhà nước hiện đại, người giao dịch với công chúng như công chức, cán bộ thuế, cán bộ kiểm lâm, kiểm tra viên, người bán vé giao thông, nhân viên ngân hàng… phải đeo bảng ghi rõ tên đơn vị, chức vụ, tên tuổi cá nhân để người đến giao dịch nắm rõ danh phận của đối tác. Thành viên các tổ chức vũ trang như quân đội, cảnh sát, quân cảnh… của nhiều nước phải mặc đồng phục thêu rõ tên khổ to trên áo, gắn rõ số hiệu, đeo đủ quân hàm, quân hiệu để chịu trách nhiệm rõ ràng về hành vi thừa hành pháp luật của mình.  Trong cơ chế cộng đồng, việc định danh mang tính tự giác nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện tiếp cận hoạt động và dịch vụ xã hội, vì thế thông qua danh bạ điện thoại, giới thiệu cá nhân, danh thiếp, trang web… của cá nhân, đoàn thể, hội đoàn, câu lạc bộ… con người biết về nhau và liên kết với nhau.  Việc định danh trong thời kỳ cải cách thể chế lại càng trở nên quan trọng, nó quyết định sự vận hành ổn định, hiệu quả và an toàn của cả nền kinh tế xã hội trong quá trình đổi mới cơ chế. Giống như chiếc xe đi vào một hệ thống đường mới cần có hệ thống biển báo, bản đồ chỉ dẫn rõ ràng; đài phát thanh thay đổi tần số phát sóng, người nghe cần được chỉ dẫn rõ ràng về những địa chỉ tần số chương trình phát sóng mới.  Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay đang đi vào giai đoạn cải cách thể chế quan trọng. Từ cơ chế kinh tế kế hoạch chuyển sang cơ chế thị trường, từ xã hội tiểu nông bước vào công nghiệp hóa, từ đất nước đóng của sang hội nhập quốc tế… các chính sách đổi mới kinh tế đang được bổ sung thêm về các giải pháp tổ chức, cơ cấu lại hệ thống. Cải cách hành chính, sắp xếp lại doanh nghiệp, trao quyền tự chủ, phân cấp quản lý, tham gia vào quá trình ra quyết định, xã hội hoá hoạt động… đang trở thành các giải pháp mới cho phát triển. Trong bối cảnh thay đổi cơ chế như vậy, việc định danh cho các vị trí xã hội thực chất là xác lập các cột mốc cụ thể để định hướng hoạt động.  Điều đáng lo ngại là đúng vào lúc chúng ta cần có một hệ thống định danh rõ ràng nhất thì tình hình “danh phận” ở Việt Nam lại rơi vào tình trạng mơ hồ. Cái đáng phải rành mạch nhất là hệ thống chức danh hành chính hiện cũng khó hiểu ngay với người trong cuộc. Chức danh không đi với quyền hạn. Thủ trưởng không có quyền sa thải, tiếp nhận, nâng cấp, hạ chức nhân viên. Chức danh cũng không đi với quyền lợi. Mức lương của viên chức chỉ đáp ứng 1/3-1/4 chi phí đời sống thực tế, trong khi những đặc quyền về nhà cửa, xe cộ… vẫn tồn tại dưới nhiều dạng. Chức danh cũng không gắn với trách nhiệm cá nhân. Nhiều quyết định dựa theo đồng thuận tập thể, văn bản với nhiều chữ “ký ruồi, ký nháy”, hoạt động phải thông qua sự phê duyệt của nhiều cơ quan… Tình trạng không chính danh tạo ra hàng loạt vụ án “cơ chế” gần đây.      Trong đời thường, tình trạng còn xấu hơn khi xuất hiện sự “ẩn danh, nặc danh”. Ví dụ nạn “cơm tù, xe dù, bến cóc” diễn ra kéo dài trên suốt các tuyến giao thông dọc các đường quốc lộ lớn vì những xe, thuyền, tàu, đò này đều giấu tên, không có bến đăng ký… và chủ dịch vụ này thả sức hành hạ khách nhờ tình trạng ẩn danh của mình.  Tình trạng ẩn danh cũng diễn ra với sản xuất hàng hóa ở Việt Nam. Chẳng cứ khách có thể mua phải “bánh chưng đất” trong thoáng chốc tàu hỏa đỗ qua ga, mà hàng giả nhãn hiệu, hàng không xuất xứ lan tràn khắp nơi từ những chiếc điện thoại di động đắt giá trong các cửa hàng sang trọng đến mớ rau, con cá bán tại chợ quê. Hàng hóa đeo nhãn giả, không có số đăng ký hay địa chỉ sản xuất kinh doanh, rau nhiễm thuốc sâu, cá tẩm phân đạm, bánh phở tưới phoóc môn, tất nhiên lại càng ẩn danh. “Khuất mắt trông coi”, không ai có thể làm gì được những kẻ giấu tên.  Thẳng thắn mà nói, chính cung cách định danh hiện tại đang góp phần làm thông tin về danh phận trong xã hội không rõ ràng. Ví dụ cán bộ ở Liên hiệp xã, cán bộ công đoàn phải do xã viên và công nhân bầu lên và đóng góp kinh phí trả lương thì mới có thể thực sự đại diện cho quyền lợi của người lao động. Nhưng hiện nay các đối tượng này hoặc là viên chức nhà nước hoặc ăn lương của giới chủ. Đây là tình trạng chung của nhiều tổ chức đoàn thể quần chúng.  Trong doanh nghiệp nhà nước, khi cả giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị đều là viên chức, khó mà lý giải ai là đại diện cho quyền sở hữu của nhà nước. Trong cơ quan khi nhân viên có chức vụ đảng cao hơn giám đốc thì quyền lực cũng có thể bị chia sẻ. Trong quốc hội, hội đồng nhân dân khi nhiều đại biểu cũng đồng thời là thành viên Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án thì khó tách bạch vai trò tư pháp, lập pháp, hành pháp của họ… Trách nhiệm của nhiều chức danh quản lý có nguy cơ bị lẫn lộn.  Nhiều danh hiệu tôn vinh theo kiểu các nước XHCN cũ như nhà giáo, thày thuốc, nghệ sỹ… công huân, nhân dân, ưu tú… ít đem lại ý nghĩa thiết thực so với các hình thức công nhận và ca ngợi một cách tự nhiên của công luận và quần chúng áp dụng phổ biến trên thế giới. Tương tự như vậy là các phương thức suy tôn, bình bầu thi đua theo kiểu cũ được làm định kỳ ở mọi cơ quan tổ chức, ít gắn với hiệu quả công việc, tư chất con người, không có ý nghĩa khi tuyển dụng, giao việc, đấu thầu… nghĩa là trong các định danh giao dịch chuyên môn tiêu chuẩn.  Tình trạng chạy theo bằng cấp đôi khi vì danh hơn vì kiến thức dẫn đến sự lạm phát về các chức danh Giáo sư, Phó giáo sư, làm giảm sút chất lượng của học vị Tiến sỹ, Thạc sỹ nhất là trong các lĩnh vực khoa học xã hội, văn hóa, nghệ thuật… so với chuẩn quốc tế chung và so với nhu cầu thực sự của đời sống.  Ở nhiều quốc gia Châu Á, khi xã hội bước vào giai đoạn cải cách thể chế thì người ta thường nhắc lại câu nói nổi tiếng của Khổng Tử trong sách Luận ngữ: “Nếu danh không chính thì lời nói không thuận lý, lời nói không thuận thì sự việc không thành, sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được, lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng, hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu” (không biết xử sự như thế nào)1. Rõ ràng, tiêu chuẩn hóa vị trí là biện pháp để hình thành một nhà nước pháp quyền, thể chế hóa nhiệm vụ xã hội là điều kiện tạo lập nền kinh tế thị trường, hài hòa hóa hệ thống chức danh là môi trường để hội nhập quốc tế.  ——-    Nguyễn Hiến Lê. Khổng Tử. NXB Văn hóa. Hà Nội, 1996.          Chương trình định danh “công dân điện tử” của Thái Lan        Hiện nay, Thái Lan có 572 phòng đăng ký dân số rải đều cả nước. Thái Lan đang tiến hành một chương trình mang tên “công dân điện tử”, theo đó, các trung tâm dân số sẽ kết nối với nhau và với Phòng quản lý đăng ký (BORA). Tất cả có 15 loại đăng ký quản lý được thực hiện cho mỗi công dân bao gồm đăng ký chứng minh thư, đăng ký thẻ cử tri, đăng ký vũ khí, đăng ký quỹ, đăng ký hiệp hội, đăng ký hôn nhân… Các trung tâm trong cả nước kết nối với nhau qua Internet tạo thành cơ sở dữ liệu công dân toàn quốc làm cơ sở thực hiện các dịch vụ hành chính công.      Tiếp theo đó, hệ cơ sở dữ liệu này bắt đầu phục vụ 10 dịch vụ thông dụng là cấp bằng lái xe, cấp hộ chiếu, đăng ký kinh doanh, cấp giấy sở hữu đất đai… tất cả đều làm qua mạng miễn phí. Tại các văn phòng, mọi dịch vụ được thực hiện chỉ trong 15 phút. Người dân chỉ cần đăng ký một địa chỉ thư điện tử kèm một mã số đăng ký như là chữ ký điện tử của mỗi cá nhân hoặc cơ quan, doanh nghiệp để thực hiện các dịch vụ hành chính trực tuyến và tiến hành hoạt động thương mại điện tử.      Thông qua hệ thống thông tin này, mọi công dân còn có thể gửi kiến nghị, câu hỏi đến cho các cơ quan chính phủ. Ủy ban quản lý triển khai chương trình này do Thủ tướng Thái trực tiếp điều hành với Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính là thành viên. Nếu dự án này thành công, tuy là một nước đang phát triển, Thái Lan có thể trở thành một trong những nước có công nghệ chính phủ điện tử cao nhất thế giới.               Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Định hướng chiến lược      Bản thảo &#8220;Chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục Việt Nam 2009-2020&#8221; mới c&#243; 13 lần điều chỉnh hay sẽ c&#242;n c&#243; th&#234;m 130 lần, 1300 lần&#8230; th&#236; cũng rứa th&#244;i. Cũng rứa th&#244;i, d&#249; bỏ ra 13 lần, 130 lần, 1300 lần tu sửa, cải tiến, ho&#224;n thiện, b&#224;o nhẵn, sơn m&#224;u c&#224;y ch&#236;a v&#244;i qu&#234; m&#249;a, chất ph&#225;c, hồn nhi&#234;n, biến th&#224;nh c&#224;y ch&#236;a v&#244;i t&#226;n thời, đỏng đảnh l&#224;m d&#225;ng&#8230; M&#224; chưa biết chừng m&#232;o n&#224;o cắn mỉu n&#224;o, nh&#233;!  C&#226;u chuyện &#8220;chiến lược&#8221; phải bắt đầu v&#224; tiếp tục v&#224; trở đi trở lại với c&#226;u hỏi: Vẫn chấp nhận c&#224;y ch&#236;a v&#244;i hay phải l&#224;m ra c&#225;i mới chưa hề c&#243;, v&#237; dụ m&#225;y c&#224;y? Đ&#243; l&#224; c&#226;u hỏi về định hướng chiến lược.  &nbsp;    Chiến lược mới sẵn có một cơ sở vật chất là cuộc sống thực của hàng triệu người, của cả dân tộc, với triết lý gốc là: Gì thì gì, trước hết người ta phải sống đã. Sống được rồi thì mới tính chuyện sống tốt hơn. “Phải sống đã” hay “Sống tốt hơn” là do cung cách làm ăn, mà sức mạnh vật chất là sức lao động.  Cày chìa vôi là hiện thân của sức mạnh cơ bắp, kẻ làm nên Lẽ sống và Sức sống của Nền sản xuất tự cung tự cấp tiểu nông – tiểu thủ công.  Máy cày là hiện thân của sức mạnh trí óc, kẻ làm nên Lẽ sống và Sức sống của Nền sản xuất hiện đại (tính từ sự thắng lợi dứt khoát của đại công nghiệp, thế kỷ XVIII).  2. Tư tưởng định hướng cho việc Thiết kế một chiến lược giáo dục phải dựa trên cơ sở vật chất – nền tảng lịch sử hiện thực, là nền sản xuất vật chất, xét toàn xã hội, còn xét theo từng người, là sức lao động cá nhân.  Để “phải sống đã”, sống bình thường, trong xã hội đương thời, người ta cần có sức lao động gì? Đấy là câu hỏi vừa có tính tư tưởng sâu xa nhất vừa có tính thực tiễn sống còn trực tiếp nhất.  Ngày trước, 95% không đi học vẫn sống bình thường, vì sức lao động chân tay cấp cho nền sản xuất ấy chỉ cần kinh nghiệm tại chỗ, không cần đến học vấn nhà trường.  Ngày nay, cả 100% dân cư phải đi học, để có sức lao động trí óc, thì mới có thể sống được, sống bình thường, dù là chỉ để “phải sống đã”, chưa tính chuyện “sống tốt hơn”.  Như vậy, dựa vào triết lý gốc của cuộc sống thực là “phải sống đã”, để hy vọng sẽ “sống tốt hơn” thì triết lý gốc ấy buộc chiến lược giáo dục hiện nay phải thực hiện sự chuyển đổi chiến lược từ sự hình thành tự nhiên tự phát sức lao động chân tay (trong Cuộc sống ngàn đời) sang sự hình thành tự giác sức lao động trí óc (trong Cuộc sống hiện đại).               Trước tình trạng đáng buồn triền miên của giáo dục ở vùng sâu, vùng xa thuộc 3 Tây (Tây Bắc / Tây Nguyên / Tây Nam Bộ), Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đưa Phương án Công nghệ giáo dục về với 10 ngàn học sinh lớp Một ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, KonTum, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang.        3. Nhận thức được sự chuyển đổi chiến lược trong lòng Cuộc sống thực nước ta, Đảng định hướng đường lối chiến lược mới: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Định hướng ấy, về mặt tư tưởng, là rất táo bạo đối với một đất nước 80% dân cư là nông dân ở nông thôn, bị chiến tranh tàn phá đến cùng kiệt.  Trong Cuộc sống, về mặt thực tiễn, Công nghiệp hoá tạo ra sức mạnh vật chất để hiện đại hoá. Chỉ có thể thắng một sức mạnh vật chất hiện có bằng một sức mạnh vật chất lớn hơn. Muốn vậy phải thay đổi nguyên lý tạo ra sức mạnh vật chất: Từ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường. Chỉ có cộc lốc như vậy thì khó tránh những rủi ro có thể, nên phải kèm thêm “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng, cả về tư tưởng lẫn thực tiễn. Định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đúng với chiến lược giáo dục, cả về tư tưởng lẫn thực tiễn.  Định hướng nghĩa là đã xác định dứt khoát hướng đi, có mục tiêu rõ ràng ở phía trước. Định hướng để đi tới, để phát triển, mà để phát triển, để đi tới… thì phải có sức mạnh vật chất: sức mạnh nhãn tiền – công nghiệp hoá, sức mạnh tiềm năng – giáo dục. Giáo dục là lực lượng chiến lược của cách mạng.   4. Sức mạnh vật chất của giáo dục cấp cho sự phát triển chiến lược của đất nước là sức lao động trí óc.  Thuở trước, cần có sức lao động trí óc để làm quan. Ngày nay, làm người dân thường hiện đại cũng cần đến sức lao động trí óc.  Học sinh bước vào lớp Một là bắt đầu học các thao tác trí óc, học cách làm việc trí óc, mà trong xã hội hiện đại, chỉ có Thầy giáo mới có cách làm. Riêng một ví dụ ấy thôi cũng cho thấy Nền giáo dục hiện đại phải cao hơn một tầm nguyên lý so với nền giáo dục hiện hành, cả tư tưởng lẫn thực tiễn.  Chiến lược giáo dục phải lấy sức lao động trí óc làm cốt lõi vật chất cho cả nền giáo dục lẫn cho từng học sinh hiện đại.  Sức lao động trí óc là CÁI gì?  Bằng CÁCH nào để có?  Đó là hai câu hỏi mà tác giả Chiến lược giáo dục phải trả lời rành rẽ, dứt khoát. Nếu không thì nói gì cũng đều là tào lao, là trò chơi chữ nghĩa.  5. Phạm trù cá nhân là thành quả tự nhiên từ nền sản xuất đại công nghiệp (thế kỷ XVIII), cũng là thành quả tự nhiên từ lịch sử Phạm trù người. Là con đẻ của nền văn minh đương thời, nền giáo dục hiện đại phải tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát triển thành chính mình. “Bản vị vàng” của tư tưởng ấy là sức lao động trí óc của cá nhân hiện đại. Quá trình tạo ra sức lao động trí óc cá nhân, cũng là quá trình cá nhân ấy phát triển tự nhiên thành chính mình. Vì vậy, Nghiệp vụ sư phạm hiện đại, với tư cách kẻ thừa hành, sớm muộn cũng phải có, nhất thiết phải có nghiệp vụ triển khai thực tiễn giáo dục với cốt lõi là tổ chức và kiểm soát quá trình mỗi cá nhân làm ra sức lao động trí óc như một sản phẩm tất yếu.  Sức lao động trí óc sẽ là sản phẩm tất yếu, nếu nó là sản phẩm làm ra từ khoa học hiện đại, từ các khái niệm (hệ thống khái niệm) khoa học hiện đại. Chừng nào làm được việc này, giáo dục mới thực hiện được “bước nhảy sinh mệnh” từ kinh nghiệm sang khoa học, mà nền sản xuất vật chất đã làm được từ lâu, từ thế kỷ XVIII.   6. Nếu các bác thợ cả với sức lao động chân tay, công cụ thủ công và bí quyết tay nghề từng đóng vai trò chủ đạo, chủ yếu trong nền sản xuất tiểu nông – tiểu thủ công cho đến thời công trường thủ công (thế kỷ XVI – XVII), thì sang thời đại đại công nghiệp vai trò đó lịch sử trao cho Khoa học – Công nghệ và sản xuất bằng máy móc. Đương nhiên, các nhà Khoa học – Công nghệ mới có tư cách đứng ra thiết kế chiến lược mới.   Ở nước ta hiện nay, rất đông, đông lắm, quá đông những “bác thợ cả” lành nghề. Họ có thể làm tinh xảo hơn, sang trọng hơn chiếc cày chìa vôi, mà theo kinh nghiệm của họ thì máy cày là điều “ngông cuồng”, “ảo tưởng”, ngay cả khi họ trông thấy bằng mắt trần chiếc máy cày có thật. Vấn đề ở đây không phải là lòng tốt, là đạo đức… mà là trí khôn – sức lao động trí óc. Kinh nghiệm của các bác thợ cả chỉ có vậy. Cả đời gắn với cày chìa vôi, sống nhờ cày chìa vôi, ăn nên làm ra nhờ cày chìa vôi, các bác thợ cả lại luôn luôn có quyền uy với đám học việc và người làm… thì dễ gì thuyết phục nổi họ có thật máy cày! Rồi cũng đến lúc lịch sử phải sản xuất hàng loạt máy cày, lúc ấy tiền tu sửa cày chìa vôi đã giải ngân, chắc là các bác thợ cả không còn thắc mắc gì nữa.  7. Thiết kế và thực thi Chiến lược giáo dục theo thể thức nào?  Năm 1978, chúng tôi đưa ra khẩu hiệu chiến lược “Dỡ ra làm lại từ đầu”, khi sắp triển khai Cuộc cải cách giáo dục năm 1981.  Năm học đầu tiên Cải cách giáo dục có 80 vạn học sinh lớp Một lưu ban, các năm sau khá hơn, còn khoảng 50-60 vạn. Trước tình hình ấy, Bộ Giáo dục cho phép chúng tôi nhập cuộc. Năm học 1986-1987, Phương án Công nghệ giáo dục đưa về 12 tỉnh/thành trong cả nước, rồi mở rộng dần đến 43 tỉnh/thành, đồng thời triển khai tự nhiên từ lớp 1 đến lớp 5, nhưng vào năm học 2001-2002 thì toàn bộ Hệ thống Công nghệ giáo dục trong cả nước bị “bóp mũi” cho chết, thế chỗ là Quyển sách e/b đầy tai tiếng ở lớp Một, rồi các quyển “đồng loại” tuần tự thế chỗ ở các lớp Hai, Ba, Bốn, Năm.  Năm 2008, trước tình trạng đáng buồn triền miên của giáo dục ở vùng sâu, vùng xa thuộc 3 Tây (Tây Bắc / Tây Nguyên / Tây Nam Bộ), Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đưa Phương án Công nghệ giáo dục về với 10 ngàn học sinh lớp Một ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, KonTum, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang.  Thực tiễn hai lần về địa phương cho thấy, về bản chất nội dung – phương pháp, Phương án Công nghệ giáo dục đã thực sự, thực chất “Dỡ ra làm lại từ đầu”, mà trên thực tế triển khai là “Làm mới từ đầu, từ lớp Một.  8. Làm mới từ đầu, từ lớp Một là xu hướng cơ bản của Chiến lược giáo dục mới.  Về bản chất, nền giáo dục mới phải cao hơn một tầm nguyên lý so với nền giáo dục hiện hành, như khoa học cao hơn một tầm nguyên lý so với kinh nghiệm của các bác thợ cả, do đó, dù muốn dù không, cũng phải “Dỡ ra làm lại từ đầu”, chỉ có điều, trong thực tiễn triển khai thì “Bắt đầu làm mới từ lớp Một”, nghĩa là hiểu ngầm rằng đành cứ để cái đang có tự nhiên trôi đi theo ngày tháng. Đã từng mất 30 năm thì dẫu có mất thêm mươi năm nữa cũng là may lắm rồi!  Máy cày đành rằng cũng có những chức năng cơ bản như cày chìa vôi, nhưng các Thành phần cấu trúc thì hoàn toàn khác. Cái Thành phần gần như “bản sao” là lưỡi cày, thì chỉ còn là một chi tiết trong Thành phần công tác của máy cày. Còn hai Thành phần kia (động lực và truyền lực) thì hoàn toàn khác.  Nền giáo dục mới cũng có Thành phần “nội dung”, nhưng được chọn lựa và cấu tạo theo nguyên tắc mới. Thành phần “phương pháp” lại càng khác xa hơn, giống như đi, mà đi bộ bằng hai chân thịt thì khác xa đi bằng xe máy, ô tô, máy bay… Vậy nên các “bác thợ cả” làm cày chìa vôi hình dùng sao nổi (thì làm sao có thể chấp nhận) cái mới là máy cày. Nên Chiến lược mới đích thực phải là chiến lược làm “máy cày”, chứ không phải tu sửa “cày chìa vôi”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc “Cộng hòa” của Plato      Tại sao mọi người tuân thủ pháp luật? Trong  cuốn Cộng hòa của Plato đã đưa ra một câu trả lời rất khó chịu. Mọi  người tuân thủ pháp luật khi họ nghĩ có ai đó đang quan sát mình. Nếu họ  có một chiếc nhẫn thần cho phép họ làm điều họ muốn mà không bị bất cứ  ai nhòm ngó, thì họ sẽ cư xử khác hoàn toàn, tệ hơn rất rất nhiều.       Plato không phải là người duy nhất có những mối nghi ngờ kiểu này. Bất cứ ai đã quan sát một người thay đổi hành xử của mình khi xuất hiện với vai trò của một ông chủ… đều biết sự thật mà Plato đang nói tới (tuy vậy chúng ta lại không có khuynh hướng chú ý đến sự thay đổi của chính mình trong hành xử). Tuy nhiên, Plato không chỉ dừng ở đó. Điều đó không đủ cho ông chỉ ra rằng mọi người đều không chân thành và mâu thuẫn một cách điển hình theo cách thức mà chúng ta định nghĩa về công lý. Đúng hơn, ông nói rằng chúng ta không thể nói về bất cứ điều gì theo cách đó: pháp luật, hình phạt, hiến pháp không kèm với việc nói về bản thân công lý. Rằng khẳng định căn cốt của Cộng hòa: trừ khi chúng ta quan tâm đầy đủ tới việc suy nghĩ về công lý thực sự nghĩa là gì, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tạo ra một kiểu nhà nước mà mọi người thật sự cần thiết.  Tác phẩm cổ điển này có liên quan gì tới thế kỷ XXI? Khởi đầu, thật là hữu dụng khi lắng nghe những cách thức mà những người khác tổ chức xã hội và chính phủ của mình, đặc biệt là nếu họ là những thiên tài như Plato. Bằng việc so sánh các ý tưởng được thực thi bởi những người khác nhau, chúng ta có thể hiểu được vấn đề nào mà mọi người cho là khẩn thiết nhất, nguy hiểm nhất, và cần kíp nhất. Trên thực tế, đó chính là phương pháp của Plato. Ông miêu tả một nhà nước lý tưởng vì vậy mà mọi người có thể nhận ra được hoàn cảnh hiện tại không thỏa đáng đến mức nào.  Một vài nhận xét về hoàn cảnh của chính Plato khiến cho ý nghĩa của ông đối với tình trạng hiện nay của chúng ta còn sáng tỏ hơn. Plato là một nhà quý tộc ở Athens, mà vào năm ông ra đời (năm 429 TCN) hùng mạnh nhất trong tất cả các thành bang của Hy Lạp. Không giống như ngày nay là chỉ có một đất nước Hy Lạp duy nhất. Thay vào đó, mỗi thành phố lớn (mà Hy Lạp có rất nhiều) thành lập một chính phủ, và đấu tranh với các thành bang khác. Vì vậy, Plato dễ dàng cho rằng thế giới là không an toàn và không bền vững là điều hiển nhiên. Luôn luôn có các phe nhóm trong chính thành bang muốn giành được quyền lực cho mục đích riêng của mình, và cũng luôn luôn có những nhà nước khác âm mưu hỗ trợ cho phe nhóm này hoặc phe nhóm khác, chỉ để thống trị các nước láng giềng của mình.  Điểm chung mà Plato có với chúng ta chính là ý tưởng về tranh chấp đang diễn ra và sự uổng phí mục đích là không thể chấp nhận được, chẳng chóng thì chầy cuộc chiến cũng đi đến hồi kết, và mọi người sẽ tranh đấu chỉ để giành chiến thắng mà không có bất cứ ý thức gì về việc tại sao họ lại đánh nhau, hay họ sẽ làm gì với quyền lực khi mà họ nắm được nó.  Thực vậy, Plato đã trải qua cuộc chiến kiểu này trong suốt cuộc đời mình. Thành bang Athens mà Plato vô cùng tự hào đã sa vào một cuộc nội chiến đồng minh Hy Lạp với đối thủ chính của nó là Sparta. Cuộc chiến này được gọi là Cuộc chiến Peloponnesian (434-404 TCN), là một trong những cuộc chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử phương Tây, chính xác là vì tính chất vô cùng hủy diệt của nó. Giống hệt những cuộc chiến sau này giữa các siêu cường quốc xâm chiếm các quốc gia nhỏ hơn bao quanh họ, cũng hủy diệt như vậy, cuộc chiến mà Plato trải qua đã lôi kéo tất cả các thành bang lân cận cho tới khi sự hủy diệt lan rộng ra một cách toàn bộ. Cuối cùng, Sparta đánh bại hoàn toàn Athens, nhưng kiệt sức đến mức tự sụp đổ chẳng lâu sau chiến thắng của mình.  Đến đây chúng ta đã tới điểm mấu chốt. Plato đã trải qua cả cuộc đời mình để nhận thức trọn vẹn được về những thiệt hại mà cuộc chiến đó có thể gây ra. Điều ý nghĩa nhất đối với ông chính là thực tế rằng những người đồng bào của ông quá giận dữ sau thất bại của họ đến mức họ đã thử thách và xử tử nhà triết học Socrates (469-399 TCN). Đối với Plato, đó chính là điều sai lầm, vì ông nghĩ cách duy nhất mà một nhà triết học như Socrates có thể giúp đỡ đồng bào của ông suy nghĩ thẳng thắn về kiểu xã hội mà họ nên có. Vì lòng kính trọng với Socrates mà Plato đã biến Socrate thành một anh hùng trong Cộng hòa, cho dù những quan điểm cụ thể mà Plato biến Socrates như vậy thể hiện chắc chắn là của chính Plato.  Vậy thì vị anh hùng của Plato, Socrates muốn chúng ta làm điều gì với vấn đề của chính phủ? Câu trả lời quá phong phú và thú vị để tóm tắt lại một cách ngắn gọn. Nếu các bạn quan tâm, các bạn hãy đọc Cộng hòa và tự tìm câu trả lời cho bản thân mình. Nhưng chúng tôi có thể nói rằng: Plato nghĩ con đường duy nhất chúng ta có thể kiên định trong hành xử về mặt chính trị của chúng ta là chúng ta hăng hái nỗ lực để nhận thức được các lý tưởng cao đẹp nhất của mình. Và những lý tưởng này, ông cho rằng, không phải đưa vào thực tiễn từng phần từng phần một. Đúng hơn, chúng ta cần phải được chỉ dẫn bởi một nhà triết học (có thể đoán chính là ông) cho tới chừng nào chúng ta thấy một viễn cảnh về xã hội không tưởng mà con người có thể tạo ra. Khi chúng ta nắm được bản chất của xã hội không tưởng đó, chúng ta mới khao khát đưa nó vào thực tiễn.   —    * Trường ưu tú Barrett, thuộc Đại học Bang Arizona  Đọc thêm:     Nhân sự kiện xuất bản sách của Plato và Aristotle ở Việt Nam  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6279&CategoryID=42      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc “Giấc mơ Trung Quốc”      Trong những cuốn sách nói lên tham vọng Trung Quốc muốn soán ngôi “Nhất thế giới” của Mỹ thì Giấc mơ Trung Quốc – Tư duy nước lớn và định vị chiến lược trong thời đại hậu Mỹ (2010) đưa ra lời tuyên bố kích động chưa từng thấy: trong thế kỷ XXI Trung Quốc sẽ giàu mạnh nhất thế giới và thay Mỹ làm “quốc gia lãnh tụ thế giới”, “vua Trái Đất”!     Đọc xong sách này nhà báo Jeffrey Schmidt thốt lên: “Trung Quốc đã tháo găng tay và đang thách thức sự thống trị thế giới của Mỹ”.   Đại tá-giáo sư Đại học Quốc phòng Lưu Minh Phúc dành 4 năm viết Giấc mơ Trung Quốc nhằm trình bày chủ trương của một bộ phận giới quân sự nước này về chiến lược cạnh tranh với Mỹ trong thế kỷ XXI, gồm 3 điểm:  1- Trung Quốc phải thay Mỹ lãnh đạo thế giới, làm “quốc gia quán quân và quốc gia lãnh tụ”, nghĩa là phải “dẫn dắt” thế giới, trước hết dẫn dắt về văn hoá (?). Lịch sử có quy luật: cứ 100 năm lại thay đổi “quốc gia quán quân”. Mỹ đã “quán quân” một thế kỷ rồi, nay lại đang suy thoái kinh tế và sa lầy ở Iraq, Afghanistan, nên nhường ngôi số một cho Trung Quốc – nước “có lý lịch và kinh nghiệm tốt nhất làm lãnh tụ thế giới”: là dân tộc ưu tú nhất (lớn nhất, lâu đời nhất, văn minh nhất, sức đồng hóa mạnh nhất); từng nhiều thế kỷ là nước giàu nhất; không có “tội tổ tông” (xâm lược, chiếm thuộc địa) như các cường quốc khác; mạnh và thiếu tài nguyên nhưng không bành trướng; vương đạo lập quốc mà không bá đạo, có mô hình phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao nhất.    2- Muốn vậy, Trung Quốc phải tiến hành cạnh tranh chiến lược với Mỹ. Đây không phải là cuộc chiến tranh nóng (quyết đấu sống mái) hoặc lạnh (đấu quyền Anh) mà là cuộc chiến tranh “ấm” giữa hai nước, là cuộc thi đấu (game) điền kinh lâu dài, cả hai bên sẽ cùng thắng. Trung Quốc cần tranh ngôi thứ nhất nhưng không “tranh bá”, tức không giành “bá quyền” của Mỹ mà ngược lại còn chấm dứt bá quyền của Mỹ. Trung Quốc muốn xây dựng thế giới dân chủ đa cực không bá quyền, Mỹ muốn bá chủ toàn cầu, duy trì thế giới một cực.  3- Để thắng cạnh tranh, Trung Quốc cần có quân đội mạnh nhất thế giới – đây là điều chủ yếu giới quân sự Trung Quốc muốn nói (lâu nay họ không có người ở trong ban lãnh đạo cao nhất nước này). Trong thế kỷ XXI, Trung Quốc cần có quân đội mạnh nhất, không phải để đánh Mỹ mà là để khỏi bị Mỹ đánh; phải có lực răn đe sao cho không ai dám dùng quân sự ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy.   Giấc mơ Trung Quốc viết rất nhiều về lịch sử trỗi dậy của nước Mỹ và mối quan hệ Trung Quốc-Mỹ. Tác giả nói Mỹ là “đế quốc văn minh”, “người thầy tốt nhất của Trung Quốc”… “Trung Quốc cần tham khảo trí tuệ và nghệ thuật trỗi dậy kiểu Mỹ”. Mỹ có 2 thành công chiến lược: thực hiện tự trỗi dậy và ngăn chặn thành công Liên Xô trỗi dậy. Mỹ luôn ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy, nhưng ngăn chặn một cách có lý trí, văn minh. “Bá quyền” là mặt xấu nhất của Mỹ. Chính phủ Mỹ dân chủ với dân Mỹ nhưng lại bá chủ thế giới, thực hành chuyên chế quốc tế, vì thế Mỹ chỉ là nước dân chủ một nửa, không phải là quỷ sứ cũng chẳng phải thiên thần. Trung Quốc cần giúp Mỹ “tiến hóa về phía thiên thần”, tức trở thành quốc gia phi bá quyền. Tác giả viết khá dài về thuyết “Liên minh Trung Quốc-Mỹ” của đại gia chiến lược Mỹ Thomas Barnett và coi đó là “ý tưởng rất có sáng tạo” – điều này không thể không khiến bạn đọc cảnh giác về một liên minh bá quyền mới.            Trước “Giấc mơ Trung Quốc”, đã có hai cuốn sách khác nói lên tham vọng của Trung Quốc muốn soán ngôi “Nhất thế giới” của Mỹ: “Trung Quốc có thể nói Không” (xuất bản 1996), “Trung Quốc không vui” (2009).            Có thể thấy, trong khi ca ngợi nước mình quá nhiều, quá nhàm, tác giả viết được quá ít về các ưu thế sức mạnh mềm của Trung Quốc hiện nay, như có giá trị quan nào cảm hóa thu hút được thế giới, chiếm được đỉnh cao văn hoá toàn cầu. Ông thừa nhận: văn hoá Trung Quốc vẫn ở thế yếu hơn phương Tây; Mỹ đang xuất khẩu các giá trị quan tự do, dân chủ, nhân quyền, thu hút và cảm hóa được thế giới; Trung Quốc hiện chỉ mới có quan điểm “thế giới dân chủ” và “phi bá quyền hóa thế giới”, tác giả không giải thích cụ thể nhưng vẫn nói liều là trong thế kỷ XXI văn hoá Trung Quốc sẽ lãnh đạo thế giới. Bạn đọc càng thất vọng khi thấy tác giả viết quá sơ sài về chiến lược “lãnh tụ thế giới” và ý tưởng của Trung Quốc muốn xây dựng châu Á và thế giới như thế nào. Có lẽ vì Trung Quốc chưa đủ trình độ nghĩ tới chuyện đó.  Một nhà báo viết: người Trung Quốc thích khoe tổ tông. Lưu Minh Phúc có quá lời chăng khi viết dân tộc Trung Hoa ưu tú nhất thế giới; từ xưa chính quyền đã thực hành đối ngoại hòa bình không bành trướng xâm lược; đối nội vương đạo mà không bá đạo. Xin hỏi, nếu thực hành vương đạo – dùng nhân nghĩa trị thiên hạ – thì tại sao Trung Quốc lại nhất thế giới về số vụ khởi nghĩa của nông dân?   Nhà chính luận dân tộc chủ nghĩa cực đoan Tư Mã Bình Bang nhận xét: Trong Giấc mơ Trung Quốc, “vương đạo” là phần đáng chê nhất; nếu người Trung Quốc muốn dựa vào trí tuệ gây dựng cơ đồ của tổ tiên mình thì kết cục nhất định sẽ rất bi thảm; từ năm 1840 trở đi dân tộc Trung Hoa luôn cho thấy còn cách “dân tộc ưu tú nhất” một khoảng cách xa lắm.  Nói Trung Quốc “mạnh nhưng không muốn bành trướng, xâm lược nước khác” càng khó thuyết phục. Thủa xưa họ chỉ có vùng đất Trung Nguyên, tức vùng trung-hạ du Hoàng Hà, về sau mở ra tứ phía, rộng mênh mông như hiện nay; rõ ràng là do bành trướng xâm lược mà có. Còn về chuyện Trung Quốc chưa có thuộc địa ở hải ngoại, chủ yếu là do chính quyền luôn gặp quá nhiều “nội tranh”, quân đội chủ yếu dùng để đàn áp nhân dân và các phe phái đối lập trong nước, nếu đưa quân đi đánh nước ngoài thì triều đình bị lật đổ ngay, nhà vua chẳng dại đi cướp thuộc địa mà để mất ngai vàng. Nửa cuối thế kỷ XX họ vẫn còn đấu đá nội bộ: Chủ tịch đảng hạ bệ Chủ tịch nước cùng Bộ trưởng Quốc phòng, Phó Chủ tịch đảng âm mưu giết Chủ tịch đảng; Lũ 4 tên định lật Thủ tướng rồi chính họ lại bị bỏ tù hoặc xử tử v.v…   ***  Điều đáng quan tâm không phải là Giấc mơ Trung Quốc có thực hiện được hay không, mà là khi thực hiện rồi thì các nước xung quanh Trung Quốc sẽ chịu ảnh hưởng ra sao.  Nhật Bản, một quốc gia châu Á chịu tác động cực mạnh của văn hoá Trung Quốc, sau khi trỗi dậy và giàu mạnh đã phạm sai lầm chết người đem quân đi xâm lược các nước khác, chuốc lấy thất bại nhục nhã trong Thế chiến II. Trung Quốc có tránh được vết xe đổ ấy không?  Lưu Minh Phúc viết: ngay từ năm 1942 Mỹ đã nghĩ tới việc phải “cân bằng” sức mạnh Trung Quốc nhằm giữ ổn định ở châu Á. Vì sao họ nghĩ như vậy khi thời ấy Trung Quốc mới có 400 triệu dân, lại đang do Quốc Dân Đảng thân Mỹ thống trị?   Ngày nay Trung Quốc nhiều lần nói không xưng bá, không đe dọa ai, nhưng cách hành xử ngày một hung hăng lấn tới của họ đang làm nhân dân châu Á và thế giới e ngại.   Tháng 9/2009, Thủ tướng Nhật Hatoyama nói: Nhật Bản nằm giữa nước Mỹ đang tiếp tục duy trì địa vị bá quyền và Trung Quốc đang mưu cầu trở thành quốc gia bá quyền, vì vậy giữ gìn độc lập chính trị và lợi ích quốc gia mình như thế nào là vấn đề đang làm đau đầu Nhật cũng như các nước châu Á nhỏ và vừa.   Tháng 10/2009 tại Washington, lãnh tụ Singapore Lý Quang Diệu công khai kêu gọi Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương nhằm cân bằng sức mạnh của Trung Quốc.   Thật đáng buồn khi vận mệnh thế giới luôn luôn bị một vài cường quốc chi phối và hễ có một cường quốc mới nổi lên thì trật tự thế giới lại chao đảo. Năm xưa là Nhật và Đức, nay là Trung Quốc ở ngay cạnh Việt Nam.  Trong tình hình đó, có lẽ nên nhắc lại lời Washington căn dặn dân Mỹ trong diễn văn từ nhiệm năm 1796 (Tocqueville gọi là danh ngôn; hồi ấy nước Mỹ còn nhỏ yếu, diện tích chưa bằng 1/5 hiện nay):   Nên xóa bỏ phản cảm thâm căn cố đế có nguồn gốc lâu đời đối với một số quốc gia cá biệt cũng như tình cảm quá tốt đẹp đối với một số quốc gia khác…Một quốc gia luôn căm ghét hoặc ưa thích quốc gia khác thì sẽ trở thành kẻ nô lệ của lòng yêu và ghét ấy.  Nên nhìn các cường quốc với thái độ Đừng nghe họ nói, hãy xem họ làm. Và chớ bao giờ quên lời trăng trối của nhà yêu nước Tiệp Khắc Julius Fučík trước khi ông bước lên giá treo cổ của phát xít Hitler: Nhân loại hỡi, hãy cảnh giác!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Độc lập- một khái niệm hẹp!      Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) độc lập có các nghĩa sau: I) như một tính từ, “độc lập” có nghĩa là: “1. Tự mình tồn tại, hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác”; và “2. (nước hoặc dân tộc) có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác”; II) như một danh từ, “độc lập” chỉ “Trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác”. Hai khái niệm liên quan đến chủ đề được Từ điển định nghĩa như sau: “sống” là “tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết”; còn “chết” là “mất khả năng sống, không còn biểu hiện của sự sống”.        Xét ngôn ngữ như một tổng thể, ta thấy các khái niệm – như một phần của cái tổng thể- luôn dẫn chiếu đến các khái niệm khác, các thành phần khác; không có cái độc lập. Một hệ thống có nhiều dẫn chiếu lên chính mình là một hệ thống động, luôn biến đổi và tiến triển.  Ta sẽ khảo sát vấn đề này ở hai khía cạnh. Thứ nhất xem trong toàn bộ vũ trụ vật chất này, có cái gì có thể coi là độc lập không. Độc lập hiểu theo nghĩa là tự nó tồn tại, không nương tựa hay phụ thuộc vào cái gì khác. Thứ hai cũng với nghĩa tương tự xét xem có nước nào hay dân tộc nào có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác hay dân tộc khách không. Câu trả lời cho cả hai trường hợp đều là không. Nói cách khác cái gọi là độc lập chỉ có ý nghĩa trong thế giới của các ý tưởng, nó chỉ là một khái niệm để mô tả cái không bao giờ có trong thực tế (nhưng không phải vì thế mà nó không có ý nghĩa), đừng thần thánh hóa nó.  ***  Trong thế giới vật chất không có cái gì là độc lập, tức là không nương tựa, không phụ thuộc vào cái gì khác đó. Từ thế giới vi mô của các hạt cơ bản, các nguyên tử, phân tử đến thế giới vĩ mô của các hệ thống vũ trụ, các dải ngân hà, các vì sao, hệ mặt trời, các hành tinh, đất, đá, các sinh vật, con người và cả xã hội, không có cái gì, không có bộ phận nào có thể coi là độc lập. Tất cả đều tương tác với nhau trong một mạng lưới phức tạp và đa dạng. Bất kể cái gì, nó chỉ có thể là nó, trong quan hệ, trong tương tác với những cái khác. Minh triết phật giáo gọi là duyên khởi. Nói cách khác trong thế giới, từ thế giới vật lý đến xã hội, từ lĩnh vực vi mô đến vĩ mô, từ những kích cỡ vô cùng bé nhỏ đến khổng lồ, từ thế giới sinh vật đến xã hội loài người khái niệm độc lập không có chỗ đứng. Như thế khái niệm phụ thuộc, kết nối, liên kết, tương tác mới là phổ biến; còn độc lập là xa lạ, là không thoả đáng và chỉ là sản phẩm của đầu óc con người, chỉ là tương đối, chỉ dùng để mô tả các sự vật hay các hiện tượng khi một số tương tác đang xét đến mức độ nào đó là không đáng kể; nếu tuyệt đối hóa nó có thể gây ra nhiều tai họa khôn lường. Loài người chúng ta là một bộ phận của thế giới, nó phụ thuộc vào, nó tương tác với các bộ phận khác. Chính vì thế mà phải sống hài hòa với môi trường, với thiên nhiên, mà vấn đề bảo vệ môi trường mới càng ngày càng có ý nghĩa với chúng ta. Nếu không chú ý, chúng ta có thể hủy hoại môi trường, và bằng cách đó hủy hoại chính mình. Thế nên những sáo ngữ một thời như “chinh phục thiên nhiên”, “cải tạo thiên nhiên” nếu hiểu thái quá sẽ có thể gây ra tác hại vô cùng, nếu không nói là những ý tưởng vĩ cuồng. Cái tưởng là quý, hóa ra lại không tồn tại, mà chỉ là ảo tưởng của con người. Hãy cảnh giác với những ảo tưởng ấy.  ***  Nếu xét một quốc gia hay một dân tộc, như một tập hợp về lãnh thổ về con người, thì từ những lập luận trên có thể dễ thấy, không có nước nào độc lập cả! Độc lập chỉ có nghĩa hẹp trong một số khía cạnh nào đó, về một số lĩnh vực nào đó (nếu tương đối không bị ảnh hưởng của những nước khác). Ngàn xưa vẫn thế, chứ đâu phải chỉ trong thế giới hội nhập toàn cầu hóa ngày nay. Khi chưa có đường sá, các phương tiện giao thông còn thô sơ, thì các mối quan hệ, các tương tác chưa nhiều, chưa sâu. Ngày nay với sự phát triển của thương mại, của giao lưu, với hạ tầng cơ sở sẵn có và ngày càng được cải thiện, với các phương tiện giao thông hiện đại, nhất là với các phương tiện viễn thông hiện đại, các mối quan hệ, các tương tác chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội ngày càng sâu rộng. Hãy chỉ nhìn quanh chúng ta ăn gì, uống gì, mặc gì, đi lại bằng gì, vui chơi giải trí thế nào, thì có thể thấy ngay hàng Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Pháp…. gắn với chúng ta quá quen thuộc. Họ cũng vậy. Phá rừng trồng đậu tương ở Brazil làm cho chúng ta có thức ăn nuôi gia súc tốt hơn, nhưng nếu do sự nóng lên toàn cầu thì hàng chục triệu dân Việt Nam có thể mất nơi cư ngụ nếu nước biển dâng lên 1m do tan băng ở Bắc cực và Nam cực. Có thể suy ngẫm về hàng ngàn hàng triệu chuyện tương tự, từ EU đánh thuế giày dép từ Việt Nam, đến động đất, sóng thần… Hành động của những người ở một nơi xa chúng ta hàng vạn dặm có thể ảnh hưởng đến chính đời sống hàng ngày của chúng ta. Và trong bối cảnh đó sự phụ thuộc lẫn nhau, sự nương tựa vào nhau là những khái niệm càng có ý nghĩa sống còn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Mở cửa, hội nhập, đóng góp những giá trị của mình cho thế giới, hấp thu những cái hay cái đẹp của những người khác là con đường thúc đẩy sự phụ thuộc, đẩy mạnh các tương tác. Thế mới thấy độc lập chỉ là khái niệm hẹp, có giá trị tương đối, không phổ quát, cái ngược lại –sự phụ thuộc, sự nương tựa vào nhau- mới là phổ quát, mới thực sự quan trọng.         Nguyễn Quang A    Author                Quản trị        
__label__tiasang Độc lập tư pháp và một số quy định của nền tư pháp New Zealand      Sự độc lập tư pháp là một nguyên tắc không  thể thiếu trong bất kỳ nền dân chủ tự do nào, cũng như đối với việc xây  dựng nhà nước pháp quyền. Ngoài ra, sự độc lập tư pháp là một yếu tố  then chốt trong việc phân quyền giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư  pháp. Sự phân chia quyền tư pháp thể hiện rõ nét nhất so với sự phân  chia quyền lập pháp và hành pháp.       Nguyên tắc sự độc lập tư pháp thường được đảm bảo trong Hiến pháp của các quốc gia. Tất cả mọi người (bao gồm cả các chính trị gia, nhân viên công quyền) đều phải tuân theo pháp luật, và chịu sự phán xử bởi một hệ thống Tòa án độc lập, không thiên vị.   Hơn nữa, tòa án độc lập và không thiên vị trong tất cả các giai đoạn tố tụng (bao gồm cả dân sự và hình sự) cũng được quy định trong Công ước về các quyền dân sự và chính trị.  Để đảm bảo tư pháp độc lập, không thiên vị trong việc thực thi công lý, các quốc gia thường bảo đảm chế độ lương bổng và nhiệm kỳ đủ dài cho các thẩm phán (bao gồm cả Chánh án). Ngoài ra, các yếu tố như an ninh trụ sở tòa án và phiên tòa; và bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin của tòa án cũng rất quan trọng.1 Trong một án lệ, Tòa án Tối cao New Zealand cho rằng, độc lập tư pháp không chỉ đòi hỏi cá nhân thẩm phán độc lập, mà còn phải độc lập về thiết chế, tổ chức của Tòa án.  Bảo đảm nhiệm kỳ đủ dài cho các Thẩm phán  Bảo đảm nhiệm kỳ đủ dài được xem là nhân tố quan trọng nhất trong việc xây dựng tư pháp độc lập. Nhiệm kỳ của Thẩm phán thường được quy định trong Hiến pháp của các quốc gia.   Đa số các quốc gia quy định Thẩm phán có nhiệm kỳ suốt đời (đến tuổi nghỉ hưu), chẳng hạn như New Zealand, Thẩm phán có nhiệm kỳ đến tuổi 70,2 Malaysia (65 tuổi). Hay một số quốc gia như Nhật Bản, Thẩm phán có nhiệm kỳ 10 năm.  Việc cách chức, miễn nhiệm Thẩm phán chỉ được thực hiện trong hai trường hợp: (1) Thẩm phán có hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức; (2) Thẩm phán không đủ năng lực. Hai trường hợp này được quy định cụ thể trong luật của Quốc hội.   Để tránh việc tùy tiện, lợi dụng vì lý do chính trị, áp dụng không đúng về việc cách chức, miễn nhiệm Thẩm phán, một sự chế ước là cần thiết, chẳng hạn như: người đứng đầu Nhà nước (hoặc đứng đầu Chính phủ) đề xuất, nhưng phải có sự chấp thuận của Nhánh lập pháp (Quốc hội).   Ở New Zealand, ngài Toàn quyền (Governor-General, đại diện cho Nữ hoàng Anh ở New Zealand) sẽ quyết định việc cách chức, miễn nhiệm đối với Thẩm phán Tòa án Tối cao, Tòa Cấp cao và Tòa Phúc thẩm, nhưng phải được sự phê chuẩn của Quốc hội. Đối với thẩm phán Tòa án khu vực (cấp thấp nhất), ngài Toàn quyết quyết định theo sự đề nghị của Tổng chưởng lý (Attorney-General), mà không cần thông qua bởi Quốc hội. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến đề xuất, nên áp dụng thủ tục đối với Thẩm phán Tòa khu vực như đối với các Tòa án cấp cao hơn.  Bảo đảm về mặt tài chính (tiền lương bổng)  Tiền lương của Thẩm phán phải không thể dưới một mức tối thiểu mà có thể đặt họ dưới sức ép về chính trị (political pressure) bởi sự lôi kéo bằng tiền bạc. Chính vì thế, tiền lương của Thẩm phán được bảo đảm bởi Hiến pháp. Luật Hiến pháp New Zealand nghiêm cấm việc cắt giảm tiền lương Thẩm phán trong suốt nhiệm kỳ.3 Pháp luật nhiều nước cũng có quy định tương tự, chẳng hạn như Điều 79 Hiến pháp Nhật cũng quy định Thẩm phán sẽ nhận tiền lương thích đáng, không bị cắt giảm trong suốt nhiệm kỳ. Ở Mỹ, việc cắt giảm “trực tiếp” hay “phân biệt đối xử” là vi Hiến, và ngay cả việc áp dụng một khoản thuế, phí nào đó riêng đối với Thẩm phán hoặc những người làm trong ngành Tòa án cũng không được phép. Tuy nhiên, việc tăng thuế thu nhập cá nhân (áp dụng đối với tất cả mọi người dân), hay lạm phát không bị xem là vi Hiến, mặc dù thu nhập của Thẩm phán có thể bị giảm trên thực tế.  Hơn nữa, điều đặc biệt là tiền lương cụ thể của Thẩm phán được thông qua bởi đạo luật của Quốc hội, mà không phải là do Chính phủ. Điều này rất quan trọng, tránh sự chi phối của nhánh Hành pháp đối với nhánh Tư pháp bởi vì nhánh Hành pháp là nhánh thi hành luật nên vi phạm pháp luật nhiều nhất (tham nhũng…).  Độc lập về thiết chế, tổ chức  Tòa án phải là một nhánh cơ quan nhà nước có đầy đủ thẩm quyền, không bị phụ thuộc vào bất kỳ nhánh nào hoặc cơ quan nào. Chính vì vậy, một yêu cầu bắt buộc đối với Thẩm phán đa số các quốc gia là không được tham gia đảng phái sau khi nhậm chức.  Hơn nữa, để đảm bảo Tòa án hoạt động độc lập, bảo vệ lợi ích công cộng, ngân sách hoạt động của các Tòa án được đảm bảo. Nhờ đó, những khoản chi phí tốn kém hay thời gian xử án kéo dài không phải là trở ngại đối với các Thẩm phán để đưa ra công lý.   Nghiêm cấm sự xúc phạm đến Thẩm phán    Ở New Zealand, dư luận có thể chỉ trích về các phán quyết của Thẩm phán, tuy nhiên nghiêm cấm việc chỉ trích liên quan đến cá nhân Thẩm phán. Nếu có sự chỉ trích các phán quyết của mình, Thẩm phán sẽ không đáp lại sự chỉ trích đó. Chánh án và viện pháp lý sẽ hỗ trợ Thẩm phán trả lời trong trường hợp như vậy.  Ngoài ra, các đại biểu Quốc hội hay lãnh đạo của Chính phủ, các Bộ trưởng… cũng chỉ có thể bình luận về các chính sách liên quan đến hình phạt hay tính hiệu quả của pháp luật, chứ không được công kích về hoạt động của các Tòa án. Và việc chỉ trích nhằm vào Thẩm phán hay các chỉ trích liên quan đến bản án là không được phép. Các Bộ trưởng có thể cho rằng bản án là khác so với những lời tư vấn pháp lý mà họ nhận được và có thể tuyên bố rằng họ đồng ý hoặc không đồng ý điều đó hoặc đệ trình sửa đổi luật lên Quốc hội; mà không thể cho rằng Thẩm phán đã xử sai hoặc có lỗi trong việc ra bản án… Điều này tránh sự can thiệp vào công việc của nhánh tư pháp.  Sự hạn chế việc tiếp xúc giữa các nhánh chính trị và nhánh tư pháp, ví dụ như giữa dân biểu Quốc hội, lãnh đạo Chính phủ, nhân viên hai cơ quan này với Chánh án và Thẩm phán, nhân viên Tòa án cũng được xem là quan trọng để đảm bảo độc lập thiết chế của Tòa án.   Thẩm phán và nhân viên Tòa án sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn nếu tham nhũng  Ở New Zealand, tham nhũng công được hiểu là hành vi nhận bất kỳ vật lợi ích nào (cho dù chỉ 1 đô la, trực tiếp hoặc gián tiếp,) của cán bộ công quyền cho việc đã làm, hoặc sẽ làm một việc liên quan trên cương vị của mình.  Và Thẩm phán, những người làm trong cơ quan Tư pháp sẽ phải chịu hình phạt nặng nhất nếu có tham nhũng, với hình phạt tối đa được áp dụng là không quá 14 năm tù. Trong khi đó, đối với những người trong các cơ quan khác như Bộ trưởng, Đại biểu Quốc hội, viên chức chính phủ… chỉ bị xử phạt tối đa là 7 năm tù.  Điều đó là cần thiết, bởi Thẩm phán và những người làm trong cơ quan Tư pháp là những người am hiểu chuyên sâu về pháp luật, và có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nặng hơn nhằm ngăn ngừa những hành vi phạm tội “tinh vi” của Thẩm phán và những người làm trong cơ quan Tư pháp.  ***  Độc lập tư pháp được thừa nhận là yếu tố quan trọng trong việc thực thi công lý ở mọi quốc gia. New Zealand được Tổ chức minh bạch quốc tế xếp hạng là nước có nền tư pháp độc lập nhất. Để đạt được điều đó, 5 yếu tố luôn được đảm bảo là: (1) Nhiệm kỳ thẩm phán là suốt đời (đến tuổi nghỉ hưu); (2) Thẩm phán được nhận tiền lương hậu đãi và được bảo đảm bằng luật của Quốc hội, mà không bị chi phối bởi Chính phủ; (3) Tòa án độc lập về mặt thiết chế, tổ chức; (4) Thẩm phán được xã hội trân trọng là một người có vị trí đặc biệt, và việc xúc phạm, can thiệp vào sự độc lập của Thẩm phán là không được phép; và (5) Thẩm phán và nhân viên Tòa án sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn nếu tham nhũng.   Có lẽ, nhờ hệ thống tư pháp độc lập mà New Zealand cũng là nước được xếp là ít tham nhũng nhất thế giới4.  —  1 Philip A Joseph, “Constitution and Administrative Law in New Zealand” (3ed, Thomson Brookers, 2007), at 773.  2 New Zealand Judicature Act 1908, section 13. Với sự đặc thù của nghề Thẩm phán, “càng già, càng có kinh nghiệm”, nên Thẩm phán có thể nghỉ hưu muộn. Nhưng muộn nhất, Thẩm phán phải nghỉ hưu ở độ tuổi 70. Tuy nhiên, họ cũng có thể nghỉ hưu ở độ tuổi sớm hơn.  3 The Constitution Act 1986, section 24.   4 Transparency International, http://www.transparency.org/country#NZL.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc sách “Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm”      Cuốn sách Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm* là kết quả của cả một quá trình tích lũy và suy ngẫm của TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, một chuyên gia đầy uy tín trong lĩnh vực khoa học chính trị hiện nay của Việt Nam.      TS Nguyễn Sĩ Dũng nói chuyện trước công chúng nhân dịp ra mắt sách “Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm”, Hà Nội, 20/8/2017. Ảnh: Hảo Linh.  Với vốn tiếng Anh được đào tạo bài bản của thời kỳ xã hội chủ nghĩa và nhờ những chuyến học hỏi kinh nghiệm tới hơn 40 quốc gia dưới nhiều hình thức khác nhau, từ tham quan đến phục vụ công tác hay tu nghiệp, với đầy đủ các loại hình chế độ chính trị, từ quốc gia hiện đại nhất cho đến các quốc gia đang trên đà phát triển – những điều đó đã giúp anh hình thành tư duy và kiến thức cho cuốn sách mới.  Có lẽ, ngay khi nhìn tên cuốn sách, người đọc sẽ nghĩ, những khái niệm đó là những vấn đề ABC, có gì đâu mà phải bàn, có gì đâu mà phải thách thức. Trong nhiều hội nghị khoa học, tôi đã luôn muốn tranh luận về những vấn đề này, nhưng không thể được với quan điểm là cái chúng ta cần phải bàn là làm thế nào để Quốc hội bảo đảm thực hiện quyền lực của mình, chứ không phải là những khái niệm, đó chỉ là những chất xám không có hương vị sôi động của cuộc sống.  Trong ấn tượng của tôi, anh Dũng là một người có năng lực và hiểu biết rất sâu sắc về lập pháp, về Quốc hội cũng như các thiết chế quyền lực quốc gia. Anh trước sau như một, dồn mọi tâm sức và kiến thức của mình cho các nghiên cứu khoa học phục vụ mục tiêu xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp, hiệu quả. Chính vì thế, tôi không ngạc nhiên khi anh gửi tôi bản thảo cuốn sách Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm nhưng tôi quả thực ngạc nhiên với nội dung khúc chiết của bản thảo này… Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại    Tuy nhiên, như anh Nguyễn Sĩ Dũng nói, vấn đề của khái niệm là rất cơ bản, nếu không hiểu được đúng bản chất của những khái niệm, sẽ không có cách nào làm đúng. Cách tư duy này đúng với quan điểm của nhiều nhà khoa học cho nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội chứ không riêng gì lĩnh vực lập pháp. “Một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao ngày nay tình trạng tham nhũng trong các chính phủ lại lan tràn ở châu Phi là vì người ta đã dành quá nhiều nỗ lực để tìm cách cứu chữa vấn đề hơn là để hiểu chúng”1.  Nhiều khái niệm về Quốc hội của chúng ta hiện nay mới chỉ phản ánh nội dung nội hàm nhận thức trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không còn như vậy. Ví dụ, liệu Quốc hội có phải là cơ quan có chức năng vừa lập hiến vừa lập pháp hay không? Không hoàn toàn như vậy, thể chế và vận hành của Quốc hội trong một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phải bị giới hạn quyền lực, phải làm luật theo nhu cầu của Chính phủ hành pháp. Hay theo cách nói của anh Nguyễn Sĩ Dũng: Quốc hội có chức năng lập pháp nhưng không có động cơ lập pháp, động cơ đó nằm trong tay Chính phủ… Những quan điểm, những giải thích của tác giả là rất độc đáo, sáng tạo. Có những khái niệm mà chúng ta lâu nay vốn tưởng đã hiểu quá rõ, nhưng khi đọc xong, khi chiêm nghiệm ra, chúng ta mới thấy mình còn hiểu sơ sài, đôi khi còn nhầm lẫn.  Bên cạnh việc thay đổi nội hàm các khái niệm, một loạt các thuật ngữ, các khái niệm chưa từng có ở nền kinh tế tập trung cũng được trình bày trong cuốn sách này: đó là quy trình lập pháp, với ba lần đọc có ý nghĩa, cách thức tiến hành hết sức dễ hiểu; đó là các quy tắc đề xuất ý kiến của các đại biểu, khi nào đề xuất của người đại biểu được Quốc hội đưa vào chương trình làm việc, khi nào thì không v.v… Tất cả những quy tắc đó ở phương Tây được gọi là Luật nghị viện, cho đến nay, chưa được thể hiện trong Luật tổ chức Quốc hội hiện hành.  Tròn 30 năm đổi mới về kinh tế, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi, nhưng lĩnh vực chính trị chưa thật sự được như kinh  tế; chúng ta vẫn cứ lấy Quốc hội với cách thức tổ chức và hoạt động trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quốc hội cho đến nay vẫn là một thể chế được lập ra từ một thể chế tập trung, quan liêu bao gồm cơ cấu đại diện cho mọi tầng lớp và các địa phương. Mặc dù được cơ cấu từ Trung ương, nhưng các đại biểu vẫn được bầu ra từ địa phương, hơn nữa trong quá trình hoạt động, họ được cùng các đại biểu địa phương họp thành các Đoàn đại biểu địa phương, không khác nào Thượng viện của Hoa Kỳ, như anh Nguyễn Sĩ Dũng nhận xét, nên trong trường hợp này, chúng ta có vẻ như đã không có một Quốc hội toàn quốc. Tác giả đã đưa ra sáng kiến khắc phục bằng cách thành lập đơn vị bầu cử thoát ly khỏi đơn vị hành chính địa phương.  Với những luận điểm như vậy, tôi tin rằng cuốn sách sẽ có những đóng góp nhất định đối với sự đổi mới, phát triển của đất nước, nhất là đối với các đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ 2016- 2021.     Không chỉ là một người trong cuộc, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, như tôi biết, còn là một người rất trăn trở trước vấn đề: Quốc hội hay Tỉnh hội, chuyên trách hay chuyên nghiệp, Quốc hội làm việc ở các Ủy ban hay trong những phiên toàn thể, Văn phòng nghị sĩ hay Văn phòng Đoàn đại biểu… Từ vài chục năm nay, tôi đã may mắn được nghe chính tác giả chất vấn và trả lời về những nội dung đó. Thời gian tới, khi cuộc bầu cử đã xong, liệu cử tri có còn nhớ đến tên ứng viên mà mình đã bỏ phiếu? Trúng cử trở thành đại biểu, “Hạ phai Thu tới,” tháng Mười lại bắt đầu những phiên họp thật dài “Xuân Thu nhị kỳ.” Kiêm nhiệm nhiều việc, các đại biểu liệu có còn thời giờ và tâm trí để làm tốt những điều cử tri mong ở một người dân biểu? Ta nghĩ, nghĩa là ta đang sống. Vì thế, Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm hẳn là một cuốn sách giúp chúng ta thêm suy nghĩ, nghĩa là giúp chúng ta thêm nguồn lực sống. PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm Khoa Luật, ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh.  ——  *NXB Sự thật và Omega+ xuất bản tháng 7/2017, 352 trang, giá bìa: 119.000 đồng.  1 Xem Dele Olowu: Governmental Corruption and Africa’s Democratiza- tion Eﬀorts, Corrupton and Reform 7(3) (1993) tr, 227.       Author                Nguyễn Đăng Dung        
__label__tiasang Đợi chờ Godot      Tôi nhớ năm đầu của đại học, trong môn Nghệ  Thuật 101, tôi phải xem một vở kịch của Samuel Beckett tựa đề là Waiting  for Godot. Tóm lược của kịch bản là hai anh lãng tử dưới gốc cây xồi  trọc lá, nói chuyện và tranh luận về đủ mọi đề tài trong khi đợi một  người tên là Godot mà họ có hẹn.    Vài nhân vật khác cũng đi ngang chỗ đợi, tương tác cùng hai nhân vật chính, rất phức tạp và mâu thuẫn như trong một giấc mơ. Cuối cùng, Godot không bao giờ xuất hiện, vì có lẽ ông chỉ là một nhân vật tưởng tượng của hai anh lãng tử trên.  Vở kịch bắt đầu khoảng 10 phút là tôi quay ra ngủ ngon lành. Chuyện vớ vẩn của 2 anh “khùng” không liên quan gì đời sống hay cảm xúc của tôi. Ngược lại, con bé đi “date” cùng, có một mùi nước hoa nhè nhẹ như hoa lài cộng hưởng với mùi con gái vừa lớn. Cho nên khi đó, Godot thực đang ngồi cạnh tôi, đẹp tuyệt vời và những lời lảm nhảm trên sân khấu chỉ làm tôi khó chịu.  Ba năm sau, tôi tình cờ coi lại vở kịch. Hôm đó, tôi vừa thất tình, vừa bị cảm cúm, mệt ngất ngư nhưng không muốn nằm trên giường than thân trách phận. Lần này tôi có chút đồng cảm hơn với 2 chàng lãng tử. Họ loay hoay trong những hành động vô nghĩa và vớ vẩn vì chung quanh họ, từ môi trường đến những con người giao thoa đều thể hiện cái “hư không” trong nội tại của mình. Chúng ta ăn uống, suy nghĩ, đàm thoại, yêu ghét, làm việc, lo lắng…vì đây là những kỹ năng xã hội đã huấn luyện và trao trách cho chúng ta. Trong khi đó, chúng ta vẫn cứ hy vọng là Godot sẽ đến và sẽ đem một vài ý nghĩa gì đó cho cuộc sống. Dĩ nhiên, Godot (theo suy diễn là God hoặc idiot?) không bao giờ xuất hiện.  Beckett là một tác giả thuộc trường phái hiện sinh (existentialism). Cùng với Camus, Sartre, Kafka, Dostoyevsky,…các ông này luôn luôn ngồi trên tháp ngà của trí thức để suy ngẫm về những “phù du, ảo tưởng” của kiếp người. Những ngày còn là sinh viên, sách của các ông là gối đầu giường của tôi. Vả lại, những suy tưởng và túi khôn của các ông giúp anh sinh viên trẻ “làm dáng trí thức” và chiêu thức “cuộc sống vô nghĩa” cũng “chài” được khá nhiều bạn nữ.  Ra trường đời, tôi phải tạm quên các ông. Phải lao đầu vào việc mưu sinh để kiếm tiền nuôi vợ con, phải loay hoay bò mỗi ngày quanh miệng chén vì nợ nần ngập đầu không buông tay được. Khi khôn ra, lòng tham lại nặng hơn ý chí tự do; nhất là cảm nhận luôn bất an nhìn về tương lai khi sức khỏe và may mắn không còn. Thấm thía những bài học thời trẻ từ các ông, nhưng cuộc đời vẫn là một bẫy sập không ra được. Và cũng trong những loay hoay đó, tôi bắt đầu chờ Godot.  Tuy nhiên, tôi cũng cố gắng tìm niêm vui nhỏ nhặt mỗi ngày qua những trải nghiệm thần kỳ. Năm giác quan của tôi luôn được bung căng rồì thả lỏng, tâm hồn tôi được thử thách hàng ngày với những xấu xa tồi tệ của môi trường, nhưng sau đó lại được ôm ấp tận hưởng những giây phút thăng hoa của thiên nhiên và con người. Tôi cố quên đống rác bên đường, dù rất khó khăn, để chăm chú vào hàng phượng vĩ đang che bóng mát. Tôi bằng lòng và an phận với mâu thuẫn này.  Gần đây tôi hay về lại quê hương. Dù muốn né tránh, tôi bắt buộc phải suy ngẫm về những thứ tưởng chừng lăng nhăng nhưng thực ra là cốt lõi của sự sống. Chúng ta có tạo được tương lai hay định mệnh đã an bài? Tại sao nghèo khó vẫn cứ bao trùm một khu vực mà Ơn Trên đã ban cho những con người rất mực thông minh một môi trường thiên nhiên vô cùng phong phú?   Có lẽ rất nhiều người Việt đang mòn mỏi đợi chờ Godot? Trong cái hy vọng pha chút tuyệt vọng đó, bao nhiêu người đã tự hủy hoại bằng những cơn say xỉn mỗi đêm và những việc làm vô cảm mỗi ngày? Thế nhưng nhìn ở một góc cạnh khác, cái “hiện sinh” đau đớn trong môi trường sống này có thể tạo cho chúng ta những phản ứng, dù khác nhau nhưng luôn là một tầm gương soi lại bản ngã cùa chính mình.  Muốn thoát ra khỏi bẫy sập, nhiều bạn đã chọn lựa bỏ đi thật xa, mong tìm một thanh bình riêng biệt ở một góc trời lạ nào. Như con thú bỏ rừng để an phận sống trong một chuồng thú nhàn hạ? Nhiều bạn chọn sự phấn đấu, bằng cách chống lại tai ương dưới mọi hình thức nhưng có lẽ cũng không đem đến một kết quả gì như ý muốn. biến mình thành một loại thú rừng đủ răng nanh và móng nhọn để sinh tồn. Nhiều bạn thưc tế hơn, người Mỹ nói là “if you cannot fight them, join them” (không đấu nổi phe địch thì gia nhập họ vậy). Họ sẵn sàng “thượng đội hạ đạp” để tìm một chút cơm thừa cho mình và gia đình. Nhiều bạn khác thì chọn sự tự tử chậm…kết thúc đời mình bằng những ngày đêm trác táng và phá phách vô nghĩa.   Bất cứ lựa chọn nào cũng là một thảm kịch cho nội tâm những người còn cảm xúc trăn trở sống nơi đây. Nhất là các bạn trẻ. Tôi cũng vậy. Nhưng tôi may mắn hơn là vở kịch tôi diễn sắp hạ màn; Godot đã không đến như hẹn và tôi còn phải lên đường đi tìm vai diễn ở một vở kịch khác.  Tôi thầm nghĩ nếu Beckett sống ở Việt Nam vào thời này, chắc ông đã viết được một tác phẩm khác hay hơn. Và một kết cuộc “có hậu” như một phép lạ nào đó sẽ đem Godot đến với 90 triệu dân Việt?            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối diện những nguy cơ cấp bách toàn cầu      Ngày nay, chúng ta mong muốn lớp trẻ được  trang bị đầy đủ [tri thức] nhằm giải quyết những vấn đề mà Việt Nam cần  làm chủ để có thể vươn lên trên trường quốc tế. Muốn vậy thì chúng ta  phải giúp họ trở thành những người trưởng thành có tinh thần trách nhiệm  một cách sớm hơn, và có nghị lực lớn hơn so với thế hệ hiện nay.     Một thông điệp hiển hiện xuyên suốt những cuộc tranh luận tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 48 về Những nguy cơ cấp bách của hành tinh, được tổ chức và chủ trì bởi GS. Antonino Zichichi, dưới sự bảo trợ của Tổng thống Cộng hòa Italy, mà tôi được tham dự gần đây, đó là: chúng ta cần làm tốt hơn trong việc chuẩn bị cho thế hệ mai sau những hành trang cần thiết để vượt qua ngày càng nhiều những thách thức trong một thế giới không ngừng biến động.    Không một lý thuyết đứng im nào có thể là chìa khóa giải quyết được tất cả những thách thức toàn cầu mà thế hệ trẻ phải đối diện. Cách chúng ta hiểu về [những hệ thống tư tưởng có tính mở như] chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tư bản cần thường xuyên được cập nhật theo thời gian, phù hợp với thực tiễn từ những cuộc cách mạng xã hội, kinh tế, và môi trường chính trị của một thế giới ngày càng toàn cầu hóa.     Ngày nay, chúng ta mong muốn lớp trẻ được trang bị đầy đủ [tri thức] nhằm giải quyết những vấn đề mà Việt Nam cần làm chủ để có thể vươn lên trên trường quốc tế. Muốn vậy thì chúng ta phải giúp họ trở thành những người trưởng thành có tinh thần trách nhiệm một cách sớm hơn, và có nghị lực lớn hơn so với thế hệ hiện nay.     Họ phải được mở rộng tầm nhìn để đối diện với một thế giới không ngừng biến động, để có thể điều chỉnh mục đích, lý tưởng của mình cho phù hợp với thực tiễn. Họ phải được tạo điều kiện để phát huy tư duy phê phán, phát triển khả năng tự đưa ra chính kiến riêng. Như Stéphane Hessel1 từng nói, chúng ta phải khuyến khích họ biết phẫn nộ, thẳng thắn chỉ ra những rào cản gây trở ngại cho sự phát triển của đất nước. Chúng ta, các nhà khoa học, phải cảm thấy đặc biệt quan tâm tới điều này. Đúng theo tinh thần của Jacques Monod, đó là: “Bất kể khi nào mà sự khách quan, chân lý, và công lý bị xâm hại, nhà khoa học có nghĩa vụ đưa ra chính kiến và bảo vệ nó”.    Với tinh thần như vậy, tôi xin quay lại nói về những nguy cơ của hành tinh được thảo luận ở Hội thảo năm nay.    Cũng giống như trong các năm trước, các vấn đề về năng lượng, đặc biệt là những thách thức mà ngành năng lượng nguyên tử khắp nơi trên thế giới đang phải đối diện, là một trong những chủ đề chính được quan tâm nhất. Người ta lo ngại rằng các nước mới phát triển năng lượng hạt nhân chưa có sự chuẩn bị cần thiết để có thể đáp ứng yêu cầu quản lý hữu hiệu một ngành công nghiệp đòi hỏi trình độ công nghệ tân tiến như vậy, đặc biệt là trong vấn đề đảm bảo an toàn hạt nhân. Một chủ đề khác được quan tâm nhiều là tính không tưởng của giấc mơ về năng lượng tái tạo, chí ít thì phép màu này sẽ vẫn chưa thể trở thành hiện thực trong khoảng thời gian ngắn hạn trước mắt. Ví dụ sinh động nhất là nước Đức, nơi được coi là có tiềm năng đáp ứng tất cả nhu cầu năng lượng bằng năng lượng tái tạo, một nửa từ năng lượng Mặt trời, một nửa từ năng lượng gió, nhưng trong thực tế mỗi nguồn năng lượng này chỉ mới đáp ứng dưới 10% nhu cầu năng lượng quốc gia, chưa kể tác động môi trường mà chúng gây ra còn cao hơn từ xăng, và gần gấp bốn lần so với năng lượng hạt nhân. Điều khiến tôi ngạc nhiên là lẽ ra từ lâu chúng ta phải nhận ra những trở ngại của năng lượng tái tạo, đó là: Mặt trời không phải khi nào cũng chiếu sáng, gió không phải lúc nào cũng thổi, và chúng ta vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng nào để tích trữ điện năng từ hai nguồn năng lượng trên.     Sự thiếu tỉnh táo và những suy nghĩ cảm tính tiếp tục làm hỏng những cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu và cách tiếp cận đối với sự nóng ấm toàn cầu. Một phe giương cao những phát biểu hùng hồn, còn phe bên kia thì đưa ra những cảnh báo thiếu căn cứ, khiến cả hai bên không thể gặp được nhau bằng những phân tích khách quan duy lý về tình hình thực tế, qua đó làm xấu đi trông thấy hình ảnh của ngành khoa học khí tượng nói riêng, và của khoa học nói chung, trong mắt công chúng xã hội cũng như các nhà làm chính sách. Trong khi đó, những vấn đề thực tế như mức giá dầu thế giới thấp và sự bùng nổ của ngành khai thác khí đá phiến ở Mỹ, hay tỷ trọng phát thải của Trung Quốc ngày càng cao so với thế giới, càng khiến những cuộc tranh luận về biến đổi khí hậu trở nên vô nghĩa.    Chủ nghĩa khủng bố cũng là đề tài được thảo luận khá nhiều trong bối cảnh tác động từ ISIS ngày càng nghiêm trọng, song song với đó là bức tranh u ám về các nguy cơ từ tội phạm máy tính. Ấn tượng chung mà tôi cảm nhận được từ các bài trình bày của giới chuyên gia về chủ đề này là sự mệt mỏi, bất lực.     Một nguy cơ toàn cầu khác mà ảnh hưởng ngày càng rõ trong những năm qua là tốc độ đô thị hóa ngày càng cao và sự thiếu chuẩn bị của chúng ta trong việc ứng phó với các vấn đề liên quan, từ năng lượng, nguồn cung nước sạch và thực phẩm, tới an ninh.    Trong các vấn đề về ô nhiễm, năm nay chủ đề chính tập trung vào sự suy thoái của các đại dương, đặc biệt liên quan tới nghề đánh bắt cá. Một phân tích thú vị về tác động môi trường của năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo cho thấy ở Đức, năng lượng hạt nhân tạo ra tác động môi trường chỉ bằng 1/8 so với than cứng, 1/7 so với than non, 1/3 so với khí đốt tự nhiên, 1/2,5 so với năng lượng Mặt trời, tương đương với năng lượng gió (bao gồm cả trên bờ và ngoài biển), và cao gấp ba lần so với thủy điện.    Một nguy cơ mới xuất hiện được chỉ ra có nguyên nhân từ sự lạm dụng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp. Các bằng chứng được trình bày ở Hội thảo cho thấy đây là nguyên nhân gây ung thư ở người. Nếu thực tế đúng như vậy thì đây quả là vấn đề rất lớn đối với ngành nông nghiệp trên toàn thế giới.  Thanh Xuân lược dịch  —————  1Stéphane Frédéric Hessel (1917 – 2013) là một nhà ngoại giao, nhà văn, người từng sống sót trong trại tập trung của Phát xít Đức. Ông là một quan sát viên của quá trình biên tập Tuyên bố Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights) năm 1948. Cuốn sách Đã đến lúc nổi giận! (Time for Outrage!) của ông phát hành năm 2010 đến nay bán được 4,5 triệu bản trên toàn thế giới. Năm 2011 ông được tạp chí Foreign Policy xếp vào một trong số những nhà tư tưởng hàng đầu trên thế giới. (Chú thích của Tia Sáng).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi điều từ bài viết về GS. Phạm Lợi Vũ      Bài viết về nhà khoa học 73 tuổi – GS Phạm Lợi Vũ trên Tia Sáng số 6-20.3.2007 là một loại bài về sự tận tụy và trung thực trong giới khoa học nên có thường xuyên trên Tia Sáng – một diễn đàn của trí thức. Và qua tấm gương lao động và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp của GS. Phạm Lợi Vũ đã gợi cho tôi đôi điều suy nghĩ về nhà khoa học.        GS Phạm Lợi Vũ không được đào tạo chính quy và liên tục như nhiều người khác. Ông phải tự học cho hết chương trình phổ thông, rồi đi dạy bổ túc văn hóa và tham gia công tác xóa nạn mù chữ. Chọn nghề làm khoa học, ông xác định phải phấn đấu vươn lên tới trình độ cao ngay khi còn giảng dạy ở ĐHSP Việt Bắc. Trong nhiều năm, vượt qua bao khó khăn về tuổi tác, điều kiện nghiên cứu và cả sự thờ ơ bất cần của một số quan chức khoa học cùng cơ chế quản lý quan liêu lạc hậu, ông đã lao động kiên trì, nhất quán trong nhiều năm để đạt được mục tiêu của mình. Và ở độ tuổi 60-70 ông mới đạt tới đỉnh cao lao động sáng tạo, để cứ một hoặc hai năm công bố được một bài báo ở tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, và phần lớn các công trình công bố quốc tế của mình ông thực hiện ở Việt Nam.  Trong khi nhiều nhà khoa học chuyên nghiệp (kể cả những người có chức danh, học vị cao và giữ các vị trí được coi là đầu tàu) của chúng ta thường lảng tránh trách nhiệm công bố bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế, với lý do điều kiện sống và làm việc khó khăn ở Việt Nam, rằng đó là công việc của thời còn trẻ còn sung sức, rằng còn phải bận tâm chủ trì những loại đề tài nghiên cứu khoa học lớn – mà theo họ – không cần phải có công bố quốc tế thì thái độ đòi hỏi cao về chuẩn mực trong công việc và lối sống đối với bản thân và đồng nghiệp xung quanh của GS. Phạm Lợi Vũ khiến một số người theo chủ nghĩa hình thức, dễ dãi và cơ hội không ưa, nhưng ông lại nhận được sự tôn trọng của những người biết quý trọng sự trung thực trong khoa học.  Công bố quốc tế là thước đo của các nhà khoa học, khi các công trình của họ được kiểm định nghiêm ngặt bởi các chuyên gia ẩn danh hàng đầu am hiểu lĩnh vực chuyên môn sâu. Đó không chỉ là trách nhiệm chuyên môn suốt đời của một nhà khoa học chuyên nghiệp đóng góp phần mình cho nghề nghiệp, mà điều quan trọng không kém là buộc họ phải liên tục học hỏi cập nhật thông tin quốc tế để giữ được trình độ của mình (từ đó mới có thể làm mới được!) trong một nền khoa học và công nghệ liên tục vận động phát triển như hiện nay. Tất cả các nhà khoa học chuyên nghiệp ở các Đại học và Viện nghiên cứu đều phải đi theo con đường đó, dù họ làm nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng, trong khoa học tự nhiên hay kỹ thuật, công nghệ, dù họ xuất xứ  từ các nền khoa học tiên tiến Âu Mỹ ngày nay hay từ các nước anh em Đông Âu gần gũi với ta xưa kia, từ  Hàn-Nhật xa xôi tới các láng giềng Trung Quốc, Thái Lan, Philippine bên cạnh. Câu nói bất hủ ở các ĐH Mỹ “Công bố (bài báo khoa học) hay là chết” [Publish or Perish] đã tóm lược được một cách súc tích sự thật đó.  GS Vũ nằm trong số ít nhà khoa học tâm huyết hiện nay ở Việt Nam làm việc vươn tới trình độ quốc tế nhưng không nhận được sự tôn trọng và hỗ trợ thích đáng, từ hệ thống quản lý yếu và một số – như ông nói – quyền chức khoa học tham lam, ích kỷ và giả dối. Chúng ta không thể có một nền khoa học phát triển đích thực chỉ dựa trên tâm huyết của một số nhà khoa học. Chúng ta cần có chính sách cụ thể động viên tạo điều kiện cho các nhà khoa học làm việc tốt hơn, để họ thực hiện bổn phận nghề nghiệp của mình, vì lợi ích chính đáng của bản thân họ và sự tiến bộ của xã hội.      Author                Phạm Đức Chính        
__label__tiasang Đôi điều về chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam      To&#224;n văn bản chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục Việt Nam d&#224;i 23 trang, trong đ&#243; hai trang rưỡi đầu l&#224; một bản th&#224;nh t&#237;ch t&#244; hồng v&#224; khẳng định những th&#224;nh t&#237;ch n&#224;y đ&#227; đ&#243;ng vai tr&#242; quan trọng trong n&#226;ng cao d&#226;n tr&#237;, đ&#224;o tạo nh&#226;n lực v&#224; bồi dưỡng nh&#226;n t&#224;i. Nhưng tr&#225;i ngược hẳn với bản th&#224;nh t&#237;ch t&#244; hồng n&#243;i tr&#234;n, chiến lược đ&#227; vạch ra 5 yếu k&#233;m bao gồm:    1- Nội dung và phương pháp giảng dạy ở các cấp nặng nề, thiếu thực tiễn, không phù hợp với khả năng và nhu cầu của học sinh.  2- Có sự mâu thuẫn chạy theo số lượng và chất lượng, dẫn đến hành vi dối trá: muốn mở trường họ khai bịa có nhiều tiến sĩ, thực ra chỉ có một!  3- Hệ thống giáo dục thiếu cân đối, chưa chú trọng đến nhu cầu nhân lực của xã hội (thừa thầy kém, thiếu thợ giỏi).   4- Đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được nhiệm vụ trong thời kì mới.  5- Cơ sở vật chất của các trường còn nghèo nàn và lạc hậu.  Để khắc phục những bất cập của giáo dục hiện nay, bản chiến lược liệt kê 11 giải pháp có tính đột phá gọi là những giải pháp chiến lược.  Theo văn bản này thì cứ vấn đề nào lớn, có tầm quốc gia, tác giả đều gọi là chiến lược. Vậy ta nên hiểu từ chiến lược thế nào cho đúng?   Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người’’ thì Người đã coi giáo dục có tầm chiến lược cho tương lai của đất nước. Vì thế Người đã chọn những trí thức lớn có tâm và có tầm như Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, rồi Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Sau này, nhà trí thức lớn Tạ Quang Bửu được cử làm Bộ trưởng Đại học, và với tầm nhìn chiến lược, Ông đã chọn những người giỏi có nhiều triển vọng để đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhưng những kẻ cơ hội tả khuynh lại ghép ông cùng với nhà bác học Lê Văn Thiêm vào tội thiếu lập trường giai cấp và theo “thiên tài chủ nghĩa’’.  Sau này mặc dù Đảng và Nhà nước vẫn luôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, nhưng vì một lý do nào đó, lại bố trí không ít người phụ trách ngành giáo dục ở các cấp có tâm nhưng thiếu tầm, thậm chí thiếu cả tâm lẫn tầm. Đó chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nền giáo dục nước ta suy thoái ngày càng nặng nề.   Tôi nghĩ rằng ông Bộ trưởng giáo dục hiện nay không thiếu tâm, thiếu tầm nhưng do phải kiêm nhiệm một chức vị quan trọng hơn, và hẳn thường xuyên bận vào những sự vụ khác nên không thể toàn tâm toàn ý cho ngành giáo dục, thậm chí chưa chắc có nhiều thời gian để suy nghĩ thấu đáo về bản chiến lược này. Do vậy trong chiến lược mới đề ra những giải pháp thiếu tính khả thi, chẳng hạn như làm sao có được những giáo sư đại học Việt Nam có trình độ cao để thực hiện được việc xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế vào năm 2015 (tức 6 năm nữa). Nhất là với kế hoạch đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, thì tôi thấy chính những người xây dựng bản chiến lược này cũng lại mắc bệnh thành tích, bệnh chạy theo số lượng.   Hoa Kỳ hiện nay là nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, năm nào cũng có các nhà khoa học nhận giải thưởng Nobel .Giả thử ông gửi sang Mỹ 1 vạn cử nhân nhờ họ đào tạo thành những người tài cho đất nước, thì những em nào chịu khó chăm chỉ học tập có thể thành người tài thật. Còn nếu ông đặt hàng hãy đào tạo cho tôi 1 vạn tiến sĩ trong 5 năm thì đến hạn họ sẵn sàng trả cho ta đủ 1 vạn người có bằng tiến sĩ, nhưng tiếc thay bằng thì thật, còn người có bằng chưa chắc đã thật. Tình trạng cũng tương tự như trước đây ta nhờ Liên Xô đào tạo cho kĩ sư và cử nhân: đến hạn các thầy Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ, thậm chí làm hộ luận án để cháu nào về nước cũng có bằng đại học mà không viết nổi một câu tiếng Nga, thậm chí một bài tiếng Việt.    Đối với một bệnh mạn tính kéo dài hàng mấy chục năm của ngành giáo dục Việt Nam, thì không thể có một phương thuốc tiên dứt bệnh ngay được, lại không thể liệt kê trải mành mành 11 giải pháp, trên thực tế chỉ là 11 việc trong kế hoạch dài hạn của ngành giáo dục. Suy nghĩ kĩ, tôi thấy khâu quan trọng nhất, khâu đột phá có thể tác động đến toàn ngành giáo dục, không ai khác chính là người thầy. Bởi vì suy cho cùng thì người trực tiếp lên lớp, soạn bài giảng, cải tiến phương pháp sư phạp, cải tiến chương trình, biên soạn sách giáo khoa cũng là người thầy, một mình ông Bộ trưởng Giáo dục dù giỏi đến đâu cũng không làm được. Muốn vậy phải khôi phục truyền thống tôn sư trọng đạo của toàn xã hội đối với người thầy. Cần coi người thầy là một trí thức có nhiệm vụ cao quý, là người tác động đến tâm hồn và trí tuệ của lớp trẻ, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để họ không bắt học sinh học thêm, hoặc nhận quà biếu của phụ huynh, mà có thì giờ để đọc sách học thêm trau dồi đạo đức, nghề nghiệp, và không nên xếp họ vào thang cuối cùng của xã hội ( công, nông, binh, trí ).   Ngày nay, sự yếu kém của nền giáo dục quốc dân không chỉ giới hạn ở nhà trường. Nó đã ảnh hưởng đến đạo đức của toàn xã hội với những tiêu cực lớn nhỏ nhan nhản trên báo chí hằng ngày. Một cơ trưởng lái máy bay hẳn đã học xong bậc đại học, lại cùng với mấy lưu học sinh tham gia vào các vụ ăn cắp vặt ở Nhật Bản, thật là một quốc sỉ cho một dân tộc anh hùng! Bởi vì mỗi trẻ em được cha mẹ dạy tốt rồi, đến trường cũng được dạy tốt, vẫn có thể bị ảnh hưởng tai hại của xã hội mà trở nên hư đốn. Vấn đề to lớn và quá khó khăn này, chắc chỉ khi những vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước có quan tâm thì may ra mới giải quyết được.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi điều về Lý thuyết lập pháp      Lý thuyết lập pháp là hệ thống các quan điểm  lý luận về hoạt động lập pháp. Nó cung cấp phương pháp luận cho việc xử  lý các vấn đề xã hội bằng pháp luật và lý giải việc điều chỉnh hành vi  của con người. Đây là một lĩnh vực khoa học còn tương đối mới mẻ và chưa  được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam ta.    “Mọi lý thuyết đều là màu xám…”. Từ trước đến nay, không có lý thuyết nói trên, thì hoạt động lập pháp vẫn cứ diễn ra. Nhiều vấn đề của đất nước vẫn được giải quyết, đời sống kinh tế, xã hội vẫn được cải thiện. Tuy nhiên, thiếu sự dẫn dắt của lý thuyết lập pháp thì việc ban hành một văn bản pháp luật thực chất chỉ là làm theo kinh nghiệm hoặc theo phương pháp “thử nghiệm và phạm sai lầm”, mà hiệu quả đạt được thường khá thấp và khó lòng tránh khỏi những tốn kém rất lớn về thời gian, tiền của và công sức. Đó là chưa nói tới tình trạng nhiều vấn đề của đất nước như vấn đề tham nhũng, vấn đề tai nạn giao thông, vấn đề đầu tư dàn trải… chậm được xử lý và ngày càng trở nên trầm trọng hơn.   Dưới đây là một số luận điểm cơ bản của lý thuyết lập pháp.   Một là, làm luật là để xử lý các vấn đề xã hội đang phát sinh, chứ không phải để cho có đầy đủ pháp luật. Vấn đề nào quan trọng thì cần được xử lý trước, vấn đề nào ít quan trọng hơn thì xử lý sau. Không nên làm luật theo ý muốn chủ quan, vì các nguồn lực của đất nước rất có hạn. Chúng có thể bị tiêu tốn vào những việc chưa chắc đã cần thiết nhất. Ngoài ra, các vấn đề đã phát sinh thì sẽ không tự biến mất. Nếu không được xử lý đúng lúc, các chi phí để giải quyết chúng chỉ ngày càng tăng lên gấp bội.  Hai là, muốn xử lý các vấn đề xã hội thì phải có phương pháp luận. Phương pháp luận này chỉ ra các bước tiến hành như sau: 1. Nhận biết vấn đề; 2. Nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của vấn đề; 3. Đề ra giải pháp (còn gọi là chính sách) để giải quyết vấn đề (nhắm vào việc loại bỏ các nguyên nhân gây ra vấn đề); 4. Phân tích các mặt về giải pháp đã đề ra (Chi phí và hiệu quả như thế nào? Hiến pháp cho làm điều đó không? Hệ thống pháp luật hiện hành bị ảnh hưởng như thế nào?…); 5 Lựa chọn giải pháp và triển khai thực hiện; 6. Giám sát và đánh giá.  Ba là, các vấn đề thì có nhiều, nhưng chỉ những vấn đề mà nguyên nhân gây ra chúng là hành vi của con người mới giải quyết được bằng pháp luật. Ví dụ, chúng ta không thể ban hành pháp luật để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do động đất gây ra. Những hành vi làm phát sinh vấn đề được gọi là những hành vi có vấn đề. Pháp luật được ban hành là để điều chỉnh những hành vi có vấn đề như vậy.  Bốn là, để điều chỉnh những hành vi có vấn đề thì phải lý giải được tại sao con người lại hành xử như vậy, mà không hành xử khác. Các yếu tố sau đây giúp chúng ta lý giải cách hành xử của con người: 1. Điều kiện (Có điều kiện cho hành vi xảy ra thì hành vi mới xảy ra); 2. Năng lực (Có năng lực thực hiện hành vi thì mới thực hiện được hành vi); 3. Truyền thông (Truyền thông thúc đẩy và định hướng hành vi); 4. Lợi ích (Lợi ích là động lực thúc đẩy hành vi); 5. Quy trình (Quy trình dẫn dắt hành vi); 6. Niềm tin (Niềm tin cũng tạo ra động lực như lợi ích).   Cuối cùng, lý thuyết lập pháp không phải là lời giải cho tất cả mọi vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt trong hoạt động lập pháp. Nó chỉ là một công cụ. Tuy nhiên, làm chủ công cụ này là cần thiết để nâng cao chất lượng soạn thảo và ban hành pháp luật.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi điều về vấn đề      I. Hai chữ “trí thức”  II. Đặc tính của “Trí “là “Thức” và của “Thức” là “Trí ”  III. Kẻ thường xuyên vượt ranh giới…    I.  1.  Có lần tôi hỏi một người bạn đang là giáo sư ở một trường đại học, khá năng động và hoạt bát trên nhiều lĩnh vực: “anh có phải là người trí thức”? Anh cười hóm hỉnh: “Tôi ấy à? Tôi là…trí ngủ chứ không phải…trí thức, chị ạ”.  Karl Dall (nhà khôi hài, tài tử truyền hình Đức) cũng “đùa dai” kiểu ấy khi trả lời trong một cuộc phỏng vấn: “Đối với tôi, một người trí thức là người ngủ dậy trưa buổi sáng, không làm việc chân tay và không cúi đầu trước ông chủ, trong nghĩa này tôi cũng là một người trí thức”.  Hai người, một Việt, – nhắc chữ “ngủ”, đối ngữ với “thức” như một “tật ngược” với thái độ của người “trí thức”; và một Đức, “ngủ trưa” như một “chứng tật “trong hành vi của một “Intellektueller”.  Bên tiếngViệt, đã hẳn đây là một cuộc nói liều, khi Hán Việt được nôm na hóa theo trò chơi chữ vốn thiên hình vạn trạng của tiếng ta: rõ ràng chữ “thức” tiếng Hán = hiểu, biết, khác với nghĩa chữ Nôm thường tục “thức = không ngủ, còn tỉnh táo” nhưng ta sẽ thấy trong phần sau “không ngủ”, “thức” không phải là tầm phào cho nội hàm “trí thức”.  Bên tiếng Đức cũng là một trò chơi chữ với chữ “Intellekt” như là khả năng tinh thần đối lại với lao động thân xác, đồng thời với nụ cười tự diễu của K. Dall, mà ta sẽ thấy sau, chính sự tự diễu này cũng là yếu tố của “Intellekt”, của trí thức.  Nhất thời, cả hai trường hợp không cho ta một nội dung tích cực về khái niệm (hay hình ảnh) “người trí thức”, chúng đưa ta đến ngoại hàm giới hạn của khái niệm này bằng những nét sai chệch ra ngoài (caricature) khái niệm thường được hiểu với hai chữ “trí thức”.  2.  Đi tìm nguyên nghĩa và xuất xứ của nó, ta thấy, cụm từ “trí thức” không có trong từ điển Hoa Anh  Tự điển Hán Việt Đào Duy Anh cho tri thức và trí thức đồng nghĩa với nhau, theo ĐDAnh: tri thức = những điều người ta vì kinh nghiệm hoặc học tập mà biết hay vì cảm xúc hoặc lý trí mà biết.  Theo Hán Việt Từ Nguyên của Bửu Kế: tri thức = tri: hay, thức: biết, những điều mình hay biết. Trí: hiểu biết sự vật. Thức: biết, hiểu biết rộng rãi. Ngoài ra theo nghĩa Hán Việt:  Thức có 2 nghĩa:  a. Biết, phân biệt, thấy mà nhận biết được.  b. Hiểu biết như tri thức, kiến thức.  Tra cứu tự điển người Hoa ta không tìm ra được cụm từ “trí thức”, khi nói về con người có tri thức (tức là người trí thức) người Hoa thường dùng đủ 4 chữ: “tri thức phân/ phần tử”.  Do đó có thể nói, trong lúc tiếng Hoa không có từ này, cụm từ ‘người trí thức’ (chữ Hán Việt) không được sử dụng trong tiếng Trung Hoa. Đây là một khái niệm tương đối mới trong ngôn ngữ Việt Nam khi tiếp xúc với ngôn ngữ và tư tưởng Tây phương, (cũng như chữ “khoa học” xuất hiện đầu tiên năm 1920 trên tờ tạp chí Nam Phong). Theo sự tìm hiểu còn giới hạn và chưa được kiểm chứng chính xác (vì tài liệu truy cứu tiếng Việt hạn hẹp, mong sự góp ý của độc giả tại quốc nội), cụm từ này hình như được sử dụng lần đầu trong khoảng thập niên 30/40 và được nói nhiều khoảng thập niên 50 thế kỷ trước, xuất phát từ Đại học Huế, nơi qui tụ những giáo sư được đào tạo tại nước Pháp chiếm đa số.  3. Nghĩa chữ tiếng Việt:  Người Việt đã dịch cụm từ “trí thức” từ chữ “intellektuel” khá chính xác. Theo tự điển Việt Pháp Đào Duy Anh, xb năm 1932, intellectuel được dịch là “trí thức”, có lẽ đó là lần đầu tiên chữ “trí thức” xuất hiện trong ngôn ngữ Việt chăng? Ngày nay chúng ta không xa lạ gì với cụm từ “nhóm trí thức”, “trí thức thiên tả”, “trí thức khuynh hữu”, “trí thức tiến bộ”, “thành phần trí thức” và gần đây nhất “đội ngũ trí thức” được hiểu trước tiên như một thuật ngữ dành cho thành phần xã hội sở hữu tri thức trong trào lưu hiện tại của xã hội Việt Nam. Nó thay thế những thuật ngữ tiêu biểu một thời: quân tử,  nho sĩ, sĩ tử, sĩ phu, thức giả, túc giả, học giả, mà mãi đến đầu thập niên 20, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng, Huỳnh Tịnh Của vẫn còn sử dụng khi nói đến phần tử trí tuệ đương thời.        Trên phương diện khảo cứu, thuật ngữ “trí thức” trước hết là một thứ khung (template),  khoanh lại những mẫu người hay thành phần xã hội sở hữu trí tuệ tiêu biểu trong thời đại của họ. Ta hãy thử tìm hiểu chữ gốc của “trí thức”, Intellectuel đến từ Tây phương.       II.  1. “Intelectuel” lấy từ chữ Intelligence= giác tính, chữ này nguyên từ chữ  “Intelligere” = hiểu, nắm bắt được ý nghĩa của một chữ, một câu hay tương quan của nhiều mệnh đề, và một nghĩa khác nữa: chọn lựa giữa hai điều trong tiến trình nhận thức (trong trường hợp này tương đương với chữ “thức”, tiếng Việt). Như thế những người “Intelligente” là những người có khả năng dùng trí tuệ để lựa chọn đúng và phát biểu đúng về  đối tượng muốn tìm hiểu. Đặc tính của “Trí thức” gồm tính sáng (trí tuệ), tính nhận xét phê phán (giữa hai hay nhiều điều), tính khoa học và tính  thiện hảo.  Theo thường những người trí thức bao gồm những học giả, văn hào, thi hào, mục sư, những lý thuyết gia, những người có học, những vị lao động tinh thần, những thiên tài…Nhưng đối với người ít lao động tinh thần, “trí thức” được hiểu tiêu cực là kẻ vụng về, không biết hoạt động thực tế, mắc chứng trừu tượng, thuộc loại dư thừa, ngoài lề, xa lạ với xã hội (trường hợp mà K. Dall nói đến).  Từ nguồn gốc “intellect” (tinh thần, giác tính) khái niệm “người trí thức” nằm trong truyền thống tư tưởng Tây phương, xuất hiện dưới chữ “Intelligence”, và cũng không xa lạ với truyền thống tư tưởng Đông Phương.   2. “Trí” và “thức” như khả năng khám phá chân lý để trưởng thành, giải phóng.  “Intellect” trong triết học của St. Thomas Aquin mang dấu ấn gia bảo của Thượng Đế vẫn còn đọng lại đôi chút ở Kant khi ông gọi “sự thông minh tối thượng gần bằng Thượng đế”. Khổng Tử gọi “Đức sáng” (Minh Đức), Phật gọi là “Tuệ giác”, khả năng tri thức toàn hảo của con người.  Trong cái nhìn phê phán về lý tính, I. Kant (1724-1804) đã trao cho con người khả năng hiểu biết và khả năng lý tính (vernünftiges Vermögen) khi nói về ý nghĩa của “Khai sáng”: “sapere aude” – can đảm sử dụng trí tuệ- không theo một sự chỉ đạo nào, tự mình thoát khỏi tình trạng vị thành niên (Kant 1784) – làm nên tinh hoa của “trí thức”. Ở đây ta có thêm một đức tính cho người trí thức: sự can đảm sử dụng trí tuệ, chính sự can đảm này làm cho người “trí” thành “thức”, làm nên yếu tố cơ bản của khái niệm giải phóng (Emanzipation), mà lý thuyết chủ nghĩa xã hội về sau cũng sử dụng.  Hai nhận thức cơ bản có tính cách mạng liên hệ với khái niệm người trí thức hiện đại (modern) từ quan điểm của I. Kant:  – lý trí trưởng thành là thẩm phán cho mọi lý lẽ biện minh hay giải thích một sự kiện và  – sự tự chủ (Autonomie) như là nguyên tắc phổ quát. Sự đòi hỏi truy nhận giá trị của lý trí và tự do tuyệt đối mà Kant nêu ra là hệ luận đến từ cuộc chiến văn hóa hơn hai trăm năm giữa  giai cấp trung lưu muốn vươn lên và chủ nghĩa đặc lợi (địa phương) đặc quyền của sự thống trị phong kiến và độc quyền tư tưởng thuộc nhà thờ: trong cuộc chiến đấu đó, những triết gia xuất hiện như những nhà “trí thức hữu cơ” trong nghĩa: họ là những người ứng dụng tri thức của mình vào thời cuộc, dùng phương pháp nghiên cứu khoa học thực hành (praktisch) song hành với bước tiến của tập thể mới: tinh thần đối kháng, thái độ từ khước quyền uy, chống lại sự cản trở thương mại tự do, tính phổ quát của những qui luật khoa học, tính phổ quát của con người trong đối nghịch với chủ nghĩa đặc quyền phong kiến, đó là những phân tố trí tuệ mà con người hiện đại (thời Kant) cần trang bị cho tập thể trong công cuộc đổi mới.  Trong tiểu luận “Khai sáng là gì”? Kant đòi hỏi thêm một bước nữa:  – triết gia có quyền phát biểu trước quần chúng những vấn nạn và lời giải về những nghiên cứu liên quan đến nền tảng tư tưởng của thời đại, cũng như giải thích những thành quả tiến bộ của khoa học theo quan điểm của mình. Với đòi hỏi tự do phát biểu công khai trước quần chúng, Kant đã đưa hình ảnh một trí thức dấn thân trong tự do ngôn luận: triết gia hay học giả mang tính phổ quát của kẻ đại diện đứng trên mọi xung đột giữa bộ máy hay tập thể cai trị và người dân, như người hoà giải trung gian giữa hai thế lực, nhân danh chân lý và bình đẳng xã hội.  Kant cũng như những triết gia của thời khai sáng đã sử dụng khái niệm “Intelekt” như một khả năng tinh thần của một chủ thể tự chủ trong tiến trình hoàn thiện sự khôn ngoan và minh triết, hình thành một nền nhân bản phổ quát: mỗi người là một công dân, “mỗi công dân là một con người” bao hàm ý nghĩa mỗi người đều “có lý tính”. Thay chữ “lý tính” như một chức năng thiên bẩm, nhà lý thuyết chính trị và nhà văn  A. Gramsci (1891- 1937) cho rằng cần phải lý giải “trí thức” như một chức năng hữu cơ của xã hội, trong đó: “tất cả mọi người đều là trí thức, nhưng không phải ai cũng có thể làm chức vụ trí thức”.  Từ Voltaire cho đến Kant, mẫu người trí thức là một mẫu người phổ quát, đại đồng, phát ngôn viên của chân lý và công bằng, kẻ làm nên pháp luật (Legislator) cho một cuộc sống thiện hảo. Trong ý nghĩa này, “trí thức” hầu như đồng nghĩa với nhà hiền triết, khác với trí thức mang tính tục hóa xã hội của những thế kỷ sau mà Sartre gọi là “những kỹ thuật gia của tri thức thực tiễn” hoặc là “đội ngũ trí thức”.  3. Người trí thức nhập cuộc và tính lưỡng phân của khái niệm  Với cuộc vận động của văn hào E. Zola, thuật ngữ “trí thức” mang một nội dung nhập thế mới. E. Zola cùng với một số phóng viên và nhà văn nỗi tiếng lên tiếng bênh vực bị cáo A. Dreyfus trong bài báo “J´accuse” (tôi tố cáo). Bức thư ngỏ (đăng trong báo L´aurore ngày 13. 01. 1898) trở nên một nguyên mẫu (prototype) hành động của giới văn sĩ, khi biến trường hợp này thành một vấn đề cho hành động đạo đức cá nhân trong việc bảo vệ niềm tin vào lý tưởng chính thể cộng hòa. E. Zola đã thành công trong việc động viên quần chúng.  Nhưng E. Zola không tự cho mình là trí thức mà Clemenceau mới là người nêu rõ danh hiệu ấy: Ngày 23. 1. 1898 nhà báo này lấy lại khái niệm “trí thức” đã được sử dụng từ những năm 1870 cho bài báo của ông với nhan đề: “Sự phản đối của nhóm trí thức” (la protestation des intellectuels) đăng trong  tờ Le Journal ngày 1. 2. 1898 với mục đích thóa mạ nhóm này khuấy rối trật tự xã hội. Dưới ngòi bút của Clemenceau, trí thức trở thành một từ chửi mắng.  Có thể nói danh từ “Trí thức” được công khai hóa từ thời điểm ấy, với ý nghĩa lưỡng phân đối lập:  một bên với nghiã tiêu cực: Clemenceau cáo buộc một nhóm người có ý đồ đen tối đối với xã hội, muốn thành lập một nhóm ưu tú gọi là trí thức chống đối chính phủ; một bên, những người ký tên trong bản phản kháng l”a protestation” lại cho danh từ ấy là tên gọi tích cực cho chính người có trí tuệ (Intelligenz) biết sử dụng vai trò trí thức của mình bảo vệ những giá trị khai sáng phổ quát của chân lý và của nền cộng hòa lý tưởng đương thời: Tự Do – Huynh Đệ – Bình Đẳng.  Nằm trong truyền thống khai sáng với Voltaire, J. J. Rousseau, Kant, và nhất là lý tưởng cộng hòa, sự can thiệp của E. Zola mang đến một nội dung mới cho vai trò trí thức: văn nghệ sĩ và các nhà khoa học ý thức rõ vai trò trong xã hội của mình, một mặt chịu lãnh hậu quả cho cá nhân của mình (cái riêng lẻ) trong lúc bảo vệ chân lý thực tiễn xã hội (cái phổ quát). Họ đại diện cho một mẫu trí thức mới: trí thức phê phán và hành động trên quan điểm của con người, của nhân loại, của quốc gia, dân tộc, của vô sản và của sinh vật. Trí thức tự xem là một chủ thể hóa thân trong xã hội cho một giá trị phổ quát. Từ vị trí ấy, họ viết và trình bày, phân tích hoàn cảnh  và kết luận phải làm gì để chủ thể tự hiện thực hay đẩy mạnh sự thực hiện ấy.  4. Thức tỉnh rốt ráo trong học tập để là người trí thức:  E. Zola nằm trong tiến trình khai sáng của thế kỷ 19, trong đó khai sáng tự đặt vấn đề với chính “khai sáng”, hay trí tuệ (thức) đặt vấn đề với trí tuệ. Như thế trên phương diện tư tưởng, cũng nằm trong truyền thống của khai sáng. Khái niệm “trí thức” mang dấu ấn “trí thức” phê phán cực đoan khi Nietzsche đặt vấn đề thế lực của nhà thờ và Thuợng Đế với tất cả hệ luận quyết liệt. Nietzsche tuyên bố “Thượng Đế đã chết” như một khai tử lý tưởng thần học Tây phương, một trong những nguyên do của sự lệ thuộc vị thành niên (theo Kant khi xét tình trạng của thời ông) và đặt lại câu hỏi “ecce home”, tôi là ai, đi tìm một con người mới, từ chối Intellektekt như một ảo tưởng chân lý, che đậy dối trá (alles Idealismus ist Verlogenheit).  Nietzsche mong tìm một con người hòa điệu thực sự giữa “trí” (Kognition) và “sống” (Extentiallität), giữa tinh thần và tâm hồn, giữa nhân cách và tính chất “trí thức” – một con người mới toàn diện, đích thực “ecce homo” trong nghĩa một siêu nhân thay thế Thượng Đế. Chống lại “trí tuệ” dối trá, ngụy trang bằng những lý tưởng, Nietzsche dùng chính sở hữu trí tuệ phân tích ngay những chứng bệnh của thời đại của ông. Tiêu biểu là sách và học giả, nếu học giả không tự chủ mà chỉ dựa vào “sách”, đánh mất tính độc lập “khai sáng”, họ biến thành hạng người sa đọa, chỉ là những kẻ “vô thức”, không biết suy nghĩ. Nietzsche đòi hỏi “trí tuệ” phải có nội dung thực sự của thời đại, muốn thế phải khởi sự học lại tất cả những điều nhỏ nhặt nhất bằng lòng chân thành.     ….những việc bé nhỏ này – thức ăn, nơi chốn, khí hậu, sự giải trí, trọn vẹn ngón quỉ biện về tính ích kỷ – thực ra quan trọng gấp trăm ngàn lần tất cả mọi sự mà người đời thường cho là quan trọng. Chính nơi điểm này mình bắt đầu phải học lại. Những gì nhân loại từ trước tới giờ thường cho là nghiêm trọng thực ra không phải là những thực tại mà chỉ là những vọng tưởng (Hier gerade muss man anfangen, umzulernen. Das, was die Menschheit bisher ernsthaft erwogen hat, sind nicht einmal Realitaeten, blosse Einbildungen) nói cho nghiêm mật hơn, đó là những sự láo khoét mà những bản năng xấu bệnh hoạn đã gợi tạo ra, chúng quả là tai hại hết sức …“ (Nietzsche, ecce homo)  Nietzsche chống “trí thức” để xây dựng lại trí thức bằng trí thức, “phải học lại”, chỉnh đốn lại tất cả những vấn đề chính trị, của tổ chức xã hội và của giáo dục… bị xuyên tạc trọn vẹn chỉ vì người ta đã nhìn sai, coi trọng những người tai hại nhất như những vĩ nhân.  Đi tìm lại giá trị chân thực của đời sống (Existentialität), chống lại những giá trị ảo, trừu tượng, sản phẩm của cái đầu không có con tim, không có linh hồn, đặt lại vấn đề giáo dục, cổ vũ cho tính chân thực (Wahrhaftigkeit) và đạo đức của đời sống, dù đối kháng với những chủ trương của phong trào khai sáng đi trước, lại trở nên một truyền thống khai sáng cho người đi sau, trong đó trí tuệ là chủ thể phê phán tuyệt đối, đặt vấn đề với chính “trí tuệ” (Intelligenz) mà nó huân tập được. Phê phán của Nietzsche đối với trào lưu và nếp sống đương thời không nằm ngoài mục đích mà ông đề ra trong “Also sprach Zarathoutra”: xây dựng một con người chân thật, giải phóng, tự do, thay vì làm nô lệ  hay công cụ cho tầng lớp cai trị tinh thần, đạo đức và khống chế thân xác.   III. Trí thức, kẻ vượt ranh giới.  “Sách và giáo dục” là hai yếu tố nội tại xây dựng nên “trí thức”. Trong lúc Nietzsche đặt vấn đề với sách, – một gia sản tri thức khổng lồ của Âu châu từ khi nghề in được thực hiện từ thế kỷ 15 tại Đức (phát minh Gutenberg), sách đã trở thành sức mạnh của trí thức Âu châu nhưng Nietzsche cho rằng quá tin vào sách có thể tiêu diệt tính sáng tạo và tính chất sống thực của cuộc đời tận tín thư bất như vô thư (Mạnh Tử), con người trở thành nô lệ sách – Sartre chú trọng đến vấn đề giáo dục, bởi vì chính giáo dục đào tạo trí thức.  Ở đâu nói về hệ thống giáo dục, ở đó phải nói đến chức vụ đặc thù và tính cách của trí thức trong xã hội. Định nghĩa người trí thức trong những định chế cũng như trong xã hội do đấy cần sự phân tích đặc tính xã hội của định chế, trong đó người trí thức hành động.  Trong Plädoyer für die Intellektuellen (Vortrag 1965, Tokio), J. P. Sartre cho rằng, đồng thời với tiến trình dân chủ hoá và khoa học hoá, nền kỹ nghệ tư bản (thời của Sartre) muốn kiểm soát đại học để bắt buộc đại học bỏ chủ nghĩa nhân bản lỗi thời và thay thế vào đó những phân khoa đặc biệt nhằm cung cấp cho các cơ xưởng những chuyên viên điều tra, nhân viên cao cấp hay những chuyên viên quảng cáo…, nói tóm, “những kỹ thuật gia của tri thức thực tiễn”.  Satre cho rằng, sự bãi bỏ những ưu tiên đào tạo và mở rộng đại học trong cơ chế tư bản thật sự trước tiên chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu cần sử dụng một số chuyên gia, kỹ thuật gia có trình độ khoa học cao nhằm mục đích đem lợi nhuận nhiều hơn cho giai cấp cai trị. Kế hoạch trồng người một mặt cơ cấu hoá môi trường hoạt động khả thể cho lớp trẻ, ngay khi chưa sinh ra, đồng thời số phận của họ cũng được định trước: địa vị và đời sống xã hội, những bổn phận phải thi hành như một cá thể trong guồng máy tư bản, trong  đó, giai cấp cai trị hay chỉ đạo ấn định con số kỹ thuật gia của tri thức thực hành theo lợi nhuận của dịch vụ giáo dục mà họ mong muốn đạt được.  Theo Satre, như thế giữa lý tưởng chủ nghĩa nhân bản được đề ra cùng với tính đại đồng của tư duy tư sản bao gồm kỹ thuật khoa học phổ quát trong nghiên cứu mà “những kỹ thuật gia của tri thức thực hành” (trí thức) tương lai sẽ thấm nhuần và chức vụ được hoạch định cho người ấy như là tác nhân bảo vệ chủ nghĩa đặc quyền ý thức hệ khi thì công khai tuyên bố (như chủ nghĩa quốc gia bạo động của nhóm quốc xã) khi thì được che đậy bởi một thứ nhân bản phóng khoáng (chủ nghĩa tư bản), có một mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn này làm cho những nhà chuyên môn của tri thức thực tiễn trong thuật ngữ của chính nó trở thành những nhà trí thức tiềm ẩn. Trong tương quan này, một khái niệm mới về dân chủ cần được triển khai có thể đem đến cho người trí thức một giải pháp cho mâu thuẫn nói trên:  Bổn phận của người trí thức là sống, trải nghiệm sự mâu thuẫn ấy cho mọi người và phải vượt qua nó cho mọi người bằng tính rốt ráo (có nghĩa là bằng sự ứng dụng kỹ thuật một cách đúng đắn chống lại mọi dối trá và ảo tưởng)… Mâu thuẫn của người trí thức chính là điều làm cho người trí thức trở thành kẻ bảo vệ nền dân chủ: người trí thức đặt nghi vấn về tính cách trừu tượng của quyền dân chủ tư sản, không phải để phá bỏ nó mà bởi vì anh ta muốn bổ túc nó bằng những quyền cụ thể của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và cùng một lúc thực hiện Chân lý có tính chức năng (funk-tionale) của Tự Do“ (Satre, Plaedoyer fuer Intellektuelle).  Phân tích của Satre vẫn mang tính thời sự, bao lâu những định chế xã hội tìm cách che đậy hay biến thể một nền dân chủ thật sự đặt nền tảng trên tự do. Mâu thuẫn của một nền dân chủ ảo được biểu hiện ngay chính trong cơ chế đào tạo giáo duc. Trải nghiệm mâu thuẫn này có nghĩa, ý thức rõ về sự đối nghịch giữa trí thức và xã hội, giữa sự tìm kiếm một chân lý thực tiễn (và những qui tắc bao hàm trong đó) và ý thức hệ cai trị dựa trên những giá trị truyền thống bị lạm dụng, người trí thức luôn luôn là kẻ vượt ranh giới mà xã hội và người đi trước đã vạch ra cho nó để trả lại giá trị trung thực của chân lý phục vụ tự do và tự chủ của con người.  Ý thức hay thức tỉnh về giới hạn của chính mình trong giới hạn của xã hội tạo điều kiện cho mọi phát triển tương lai, bởi lẽ nói như B. Brecht: “Mọi mâu thuẫn là hi vọng của chúng ta”.      Thái Kim Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dỗi lên, dỗi xuống, dỗi ngang      Sự lạm “dỗi” hôm nay trở thành sự ương ngạnh không tôn trọng đời sống xã hội, cản trở sự tiến triển của đời sống xã hội, và sớm muộn xã hội phải có các công cụ luật pháp để quyết giải nó phi trì hoãn.    Các bạn trẻ, hay các bạn đã từng trẻ, hoặc các bạn cập kè sắp bước vào tuổi trẻ đi nữa, hẳn sẽ nao lòng khi nghe câu hát xưa đầy xao xuyến.  “Đừng giận dỗi hỡi em yêu,   Đừng trách móc anh nhiều,    Chỉ vì lúc anh quay sang người bạn gái…”  Cái dỗi này đôi khi là nghệ thuật yêu của các bạn gái, và các chàng trai cũng nên biết tham gia vào môn nghệ thuật này, để cho cuộc sống càng thêm phần ý nhị vào một buổi chiều chủ nhật êm đềm gió thoảng ngây ngất hương sen.  —-  Nhưng môn dỗi này thường được sử dụng quá đà trong rất nhiều trường hợp của đời sống xứ ta.  Ai cũng như có quyền dỗi, vào bất cứ lúc nào!   Bạn có một câu chuyện nghiêm túc phải giải quyết với một đối tác, một đối tác xã hội, hay có khi là một đối tác ngay trong gia đinh mình. Vậy mà đối tác này cứ dỗi dài, giờ qua  ngày, ngày qua tuần, tuần qua tháng, tháng qua năm… và bạn chịu cứng, không thể nào đẩy được công chuyện này cho ra ngô khoai ! Tục lệ thì ngầm bênh vực cho người dỗi : họ không bị bất cứ một sự ràng buộc cụ thể nào để giải quyết câu chuyện. Quá lên thì chỉ có quyền lực mới có cơ làm thay đổi tình hình.  Dỗi là trạng thái bất hợp tác phi lý, động thái “cắt cầu”. Điều này dễ hiểu nếu như người ta còn sống trong một đời sống bèo dạt mây trôi, ở đó thời gian chưa bị cân đo hạch toán.  Dỗi ở nhiều trường hợp khác là cách để tự vệ trong một đời sống xã hội mà các luật lệ và qui tắc ứng xử được áp dụng tùy hứng theo “thế và lực” của các nhân vật trong các tình huống cụ thể của đời sống. Trong sự rối loạn này nhiều khi người ta không thể làm gì khác nữa ngoài không làm gì, tức là “dỗi”.  Trong gần như mọi trường hợp, tính phi lý của dỗi được bản sắc hóa : không một lý do cắt nghĩa nào được trình bày, không một điều khoản thương nghị nào được làm sáng tỏ. “Để đấy”, “kệ tôi”, “không việc gì đến ông”, “nào đã chết ai”… là tinh thần của nó.  —  Cái dỗi của bề dưới thì dẫu sao cũng giản đơn hơn : trước áp lực tăng dần lên của bề trên thông qua các sức ép về vật chất, tinh thần, quyền lực, bề dưới rồi sẽ  phải “nín dỗi” và trở về với thân phận. Trong trường hợp may mắn thì bề dưới sẽ được hưởng một vài chiếu cố, hoặc do sự thông cảm của bề trên, hoặc tốt hơn nữa là do sự hiểu biết qua lại của bề trên. Nhưng khi hai bên đi quá liều thì đại bi kịch có thể xảy ra : ông Khuất Nguyên nước Sở khi xưa dỗi đời, ôm phiến đá rồi trầm mình xuống  dòng sông Mịch La.  Cái dỗi của bề trên thì gay go hơn nhiều, có thể dẫn đến tình trạng bế tắc của một cộng đồng nhỏ hay lớn. Một gia đình muốn chuyển cái sập từ góc nhà bên trái sang góc nhà bên phải, nhưng cụ chủ nhà dỗi,  không cho ý kiến, và điều đó xưa có thể đòi hỏi một thế hệ con cháu sẽ phải qua đi trong một đời sống đợi chờ hoài điều vô vọng đó. Một ông vua xưa mà dỗi thì có thể sẽ để cho một đất nước chìm trong phiền muội suốt một đời.  Cái dỗi của bề ngang cũng cồng kềnh không kém. Cái dỗi này có thể không đến nỗi làm tê liệt toàn bộ một chương trình, nhưng đủ làm cho chương trình ấy không thể thành ra trọn vẹn, bị nhuốm vị đắng cay,  dở ương ương dở. Những gia đình mà hai vợ chồng luôn ở cái thế tát chum nước không cạn vì họ chỉ ngo ngoe mong sao làm trái cẳng nhau được cho thỏa cái chí bất tuân, là cái dỗi ngang như thế.  —   Hôm nay đời sống tăng tốc, mỗi người có biết bao việc phải làm từ lúc thức dậy cho tới khi gà lên chuồng, mà có khi gà đã gáy canh một cũng nên.  Xin mời chúng bạn, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội, tiễn dần môn dỗi ra đi. Xã hội năng động không thể là cái kho đựng các đồ dỗi trì hoãn các tiến trình phải đi đến của đời sống.  Xin mời chúng bạn, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội, hãy học thương nghị trong đời sống, để nó phải trở thành một kỹ năng, một phẩm hạnh bắt buộc của đời sống hôm nay.  Xin mời chúng bạn, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội, hãy đưa việc học thương nghị trong đời sống vào ngay trong các chương trình giáo dục bắt buộc trẻ nhỏ ở nhà cũng như ở trường lớp.  Các đối tác trong đời sống, dù là một cá nhân hay một tổ chức, hãy kiểm kê và đưa ra các đòi hỏi của sự tồn tại và của sự vận động của mình trong khuôn khổ đồng thuận luật pháp. Và một khi những tranh chấp xảy đến, hãy ngồi vào bàn và thương nghị. Nếu hệ thống luật pháp tỏ ra bất lực, phải thiết kế,  thay đổi, kiện toàn chúng.  Công việc học thương nghị hôm nay trở thành một sứ mệnh bắt buộc của các bên đối tác trong đời sống văn minh.  Sự lạm “dỗi” hôm nay trở thành sự ương ngạnh không tôn trọng đời sống xã hội, cản trở sự tiến triển của đời sống xã hội, và sớm muộn xã hội phải có các công cụ luật pháp để quyết giải nó phi trì hoãn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi lời về đức trị và pháp trị      Trong lịch sử Trung Quốc có hai trường phái trị nước: pháp trị và đức trị. Nhờ một nền pháp trị khốc liệt Tần Thủy Hoàng đã thẳng tay trừng trị các nhà Nho theo thuyết đức trị của Khổng giáo và thống nhất được một đất nước rộng lớn. Sau khi cách mạng thắng lợi Mao Trạch Đông đã lựa chọn pháp trị, ca tụng Tần Thủy Hoàng, tán thành phê Lâm phê Khổng trong Đại Cách mạng văn hóa.        Nhưng ở nước ta, Hồ Chí Minh bằng tấm gương đạo đức của bản thân đã chinh phục được trái tim và khối óc của nhân dân cả nước, thuyết phục được các sĩ phu yêu nước cũ điển hình là Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại và tầng lớp trí thức tân học theo Người. Thực hiện đức trị, trong suốt thời kháng chiến chống Pháp, Người chỉ xử tử có một người: Trần Dụ Châu. Vì sao đức trị có thể thực hiện trong thời gian đó? Một là trên chiến khu, đời sống mọi người kham khổ như nhau, nên đức trị còn có tác dụng. Hơn nữa, Hồ Chí Minh lại là tấm gương sáng chói của nền đức trị đó. Song trong lịch sử có lẽ Hồ Chí Minh thuộc lớp người cuối cùng được đào tạo cơ bản để có được những đức tính trong sáng và cao đẹp của người trị nước theo đúng Nho giáo. Thực vậy ngay từ tuổi nhỏ cậu bé Nguyễn Tất Thành đã sống trong nền nếp gia đình của một nhà nho thanh bạch, cụ phó bảng là người đã thấm nhuần tư tưởng của Khổng Mạnh đối với người trị nước là tu tề trị bình và dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Cũng vì Khổng Tử về cơ bản là người duy vật không tin ở quỷ thần nên Hồ Chí Minh đã đi tới chủ nghĩa Mác một cách tự nhiên, như biết bao nhà nho yêu nước và trí thức đã đi theo Người.  Một thời gian dài chúng ta đã trị nước bằng chỉ thị và nghị quyết. Nhưng từ rất sớm (1956) một luật sư nổi tiếng đã lên tiếng cảnh báo về sự cần thiết phải cai trị theo pháp luật. Sau khi đường lối đổi mới đi vào cuộc sống, xã hội Việt Nam đã thực sự phân hóa về giai tầng, về quyền lợi, nhất là sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, những mối quan hệ chằng chịt trong nước lại đan xen phức tạp với các mối quan hệ quốc tế, thì dứt khoát nền đức trị cổ truyền đã chấm hết vai trò lịch sử của nó, và nay chỉ một nền pháp trị cứng rắn bất vị thân mới có khả năng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ xã hội phức tạp hiện nay. Chính vì vậy mà Quốc hội khóa XI đã tập trung xây dựng những luật cơ bản.  Tất nhiên một nền pháp trị mới đòi hỏi mọi công dân từ người thứ dân bình thường cho tới người lãnh đạo cao nhất của đất nước phải theo một nền đạo đức mới. Nhưng nền đạo đức mới đó là gì? Có phải chỉ tóm gọn nó trong một câu: Sống và làm việc theo pháp luật là đủ không? Cùng với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi tha thiết đề nghị các vị học giả và trí thức mới hãy tiếp sức cùng nhau suy nghĩ, sớm đề ra một nền đạo đức mới để giáo dục giới trẻ nước nhà, vì chỉ có giáo dục từ nhỏ ngay từ tuổi mẫu giáo và tiểu học thì mới vững bền. Đối với người lớn, tính cách con người đã hình thành khó mà thay đổi, ngoài mặt thì dạ dạ vâng vâng nhưng trong đầu nghĩ gì ai mà biết được! Tất nhiên nền đạo đức mới phải kế thừa và chắt lọc những tinh hoa của truyền thống dân tộc, của nền triết học phương Đông cũng như những thành tựu vĩ đại của nền triết học phương Tây kể từ Thế kỷ ánh sáng.    Chú thích ảnh: Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa do Quốc hội Khóa I, kỳ họp thứ hai bầu ra tháng 11-1946      Nguyễn Văn Chiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi lời với các bạn trẻ      Di sản chúng tôi để lại cho các bạn chẳng hề sáng chói.      Các nhà nghiên cứu trẻ ở trường ĐH Việt – Pháp.  Nguồn: USTH.  Chúng tôi để lại cho các bạn một thế giới đang khủng hoảng. Nó thay đổi quá nhanh; chúng tôi chẳng thể theo kịp. Chúng tôi đã không học được cách chung sống, không kiểm soát nổi sự bất công lan tràn trong các xã hội ở mọi quy mô lớn nhỏ. Làm sao chúng tôi có thể vờ như có thể chỉ dạy các bạn về cách sống? Sao chúng tôi có thể kiêu ngạo đưa ra những bài học về thành công, khi mà bản thân rõ ràng đã thất bại? Thay vì đưa ra các bài học, hãy để chúng tôi khiêm nhường làm những gì có thể để giúp các bạn vượt qua những thách thức chúng ta phải đối diện.   Chúng tôi cần giúp bạn nhìn nhận thế giới xung quanh bằng đôi mắt và tâm trí mở rộng; tư duy một cách độc lập, tránh những giáo điều; tự học những bài học lịch sử, cả vinh quang và những mảng tối; khách quan lắng nghe quan điểm của người khác, tự mình lắng lọc thay vì bị người khác áp đặt những điều hay dở; hãy giữ cho đôi chân vững vàng trên mặt đất giữa giông tố; không bị lừa mị bởi những ảo ảnh.   Chúng tôi cần giúp bạn đấu tranh chống lại sự dốt nát.  Chúng tôi từng tin vào những giá trị được coi là nền tảng cho một thế giới tốt đẹp hơn: nhân phẩm con người, liêm chính học thuật và đạo đức, lòng nhân ái, dũng cảm, đoàn kết. Chúng tôi vẫn giữ lòng tin vào những giá trị ấy và mong các bạn sẽ không chối bỏ. Nhưng chúng ta cũng học được rằng chúng có thể bị biến thành mặt nạ che đậy cái ác. Những điều tốt đẹp dễ bị chà đạp, những nền dân chủ thật mong manh, sự dốt nát dễ làm sinh sôi những hoang tưởng, các cảm xúc tôn giáo dễ biến thành cuồng tín, lòng yêu nước dễ biến thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan.   Là nhà khoa học, chúng ta tin vào lợi ích của khoa học và không ngừng nâng cao tri thức tiến bộ. Chúng ta vẫn giữ lòng tin vào điều ấy. Nhưng trong thế kỷ vừa qua, khoa học đã làm biến đổi hoàn toàn những tư duy và hình ảnh về thế giới mà chúng ta đang sống, tới mức hoàn toàn xa rời đại chúng; sinh học phân tử, thuyết tiến hóa, thuyết tương đối và vật lý lượng tử, những thứ trái ngược với trực giác, quá phức tạp để mọi người có thể tiêu hóa. Hệ quả là nhiều người chối bỏ khoa học, coi nó như một thứ mê tín và lừa mị.  Thế giới đang thay đổi. Các lục địa trước đây tưởng chừng cách xa nhau nay trở thành gần lại. Châu Phi tỉnh dậy đối diện với hiện thực của thế giới, nơi họ phải nhận phần thiệt thòi nghèo đói. Châu Âu và Bắc Mỹ không thể mãi che đậy đặc quyền mà họ được hưởng bấy lâu và chẳng sẵn lòng từ bỏ. Châu Á đang trỗi dậy, Trung Quốc ở vị trí đi đầu. Với một di sản hai mươi lăm thế kỷ lịch sử duyên nợ, có tốt có xấu, ngày nay là một trong những nước láng giềng sống cạnh Trung Quốc đang ở thế thượng phong, Việt Nam cần nhìn nhận những thay đổi một cách thực tế và khách quan hơn nữa.  Đối diện với một tương lai đầy bất định như vậy, ai đó có thể phó mặc. Nhưng chúng ta không thể! Hãy tiếp tục đấu tranh vươn lên! Đừng bỏ cuộc! Dẫu không để lại được nhiều nhặn hơn, nhưng chúng tôi vẫn luôn yêu thương và làm tất cả những gì có thể để giúp bạn vượt qua thử thách trên con đường số phận đầy bất ngờ phía trước. □     Thanh Xuân dịch      Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Đổi mới cách xây dựng chiến lược      Trong bối cảnh nước ta ng&#224;y c&#224;ng hội nhập s&#226;u v&#224;o nền kinh tế thế giới, tiềm lực KH&amp;CN l&#224; một trong những nh&#226;n tố c&#243; &#253; nghĩa quyết định đối với sự ph&#225;t triển đất nước. V&#236; vậy việc Bộ KH&amp;CN đang x&#250;c tiến x&#226;y dựng Chiến lược KH&amp;CN giai đoạn 2010-2020 l&#224; một việc hết sức cần thiết. Nhưng để c&#243; được chiến lược đ&#250;ng v&#224; khả thi th&#236; kh&#244;ng thể tiến h&#224;nh x&#226;y dựng Chiến lược như đ&#227; từng l&#224;m với chiến lược KH&amp;CN giai đoạn 2001-2010.    Dù chưa tổng kết, đánh giá việc thực hiện chiến lược KH&CN giai đoan 2001-2010, nhưng qua thực trạng KH&CN hiện nay ta có thể thấy mục tiêu tổng thể của chiến lược KH&CN 2001-2010 là đưa KH&CN Việt Nam đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực vào năm 2010 chắc chắn sẽ không đạt (cũng có thể coi là phá sản). Nếu lấy trình độ KHCN của Malaysia và Thailand là 2 nước có trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực để so sánh thì ta còn kém xa 2 nước này ở bất cứ chỉ tiêu phát triển KHCN nào.  Có thể lý giải chiến lược KH&CN giai đoạn 2001-2010 không có tính khả thi do một số nguyên nhân chủ yếu:  – Chiến lược 2001-2010 không khả thi: Mục tiêu chiến lược chỉ là tham vọng chưa xuất phát từ thực lực, điều này cũng có nghĩa là những người vạch ra mục tiêu chiến lược trên một cái nền không chuẩn   – Các biện pháp thực hiện chiến lược chỉ mang tính khẩu hiệu, không cụ thể, chi tiết và thiếu tính đồng bộ  – Xây dựng chiến lược để đút ngăn kéo – làm xong chiến lược coi như đã thành công:    Một trong những căn bệnh trầm kha của chúng ta là làm ra nhiều đường lối, chiến lược thường khá nghe có vẻ hoành tráng thật nhưng xây chiến lược xong coi như hoàn thành nhiệm vụ. Chúng ta vẫn thích đao to búa lớn, vẽ hết chiến lược này đến chiến lược kia nhưng vẽ xong để đấy không cần vận hành, hoặc coi nhẹ khâu vận hành: Việc triển khai, giám sát thực hiện, các điều kiện cần và đủ để chiến lược đi vào cuộc sống hầu như không được quan tâm đúng mức. Không giao trách nhiệm cụ thể, không có chế tài xử phạt nếu chiến lược không được thực hiện hoặc thực hiện không đạt mục tiêu đề ra. Thiếu vắng các biện pháp thực thi cụ thể này thì dù chiến lược có đúng đắn cũng không có tác dụng  Một số nguyên nhân thực tế mà chiến lược chưa thấy hết hoặc cố tình bị bỏ qua: Trình độ năng lực đội ngũ cán bộ KHCN của Việt Nam (đây cũng là yếu tố hạt nhân của chiến lược) còn yếu kém. Sự yếu kém này chủ yếu do kết quả đào tạo nguồn bằng trình độ và công nghệ lạc hậu và cũng do chưa có cơ chế khơi dậy ý chí, niềm tin, tinh thần tiến thủ và khả năng sáng tạo, thậm chí cơ chế hiện hành còn triệt tiêu những người dám “vượt trội”. Cách thức sử dụng nguồn nhân lực yếu kém (tổ chức biên chế lạc hậu, dàn đều, không coi trọng các tiêu chí khách quan về năng lực chuyên môn, thiếu dân chủ, kéo dài cơ chế bao cấp xin cho, chưa có môi trường hoạt động KHCN), làm triệt tiêu khả năng sáng tạo. Mô hình hoạt động KHCN lạc hậu, vừa cồng kềnh, phân tán lại vừa chồng chéo, chưa có hệ thống KHCN chuẩn mực từ viện nghiên cứu, trường đại học đến các doanh nghiệp sản xuất. Việc kéo dài hệ thống biên chế KHCN theo kiểu quản lý cán bộ công chức hành chính đã làm triệt tiêu sự sáng tạo của nhà KHCN.    Đổi mới cách làm chiến lược  Để có được một chiến lược để làm chiến lược KHCN đúng đắn và khả thi, thiết nghĩ chúng ta cần trả lời được 5 câu hỏi tối thiểu gồm 4W + 1H, sau: 1/ Ta là ai (Who we are)?  2/ Ta đang ở đâu (Where we are) ? 3/ Ta cần gì  (What we need) ? 4/ Tại sao (Why we do) ? và 5/ Bằng cách nào (How we do)? Trả lời các câu hỏi trên tưởng như đơn giản nhưng để có sự chuẩn xác cho mỗi câu trả lời cần có các thông tin đầy đủ, đúng đắn và thật sự khách quan. Nghĩa là muốn làm gì trước hết cũng biết mình, biết người, phải nhận dạng đúng chân tướng của mình, cái mạnh, cái yếu, phải biết mình đang ở đâu (bằng các minh chứng khoa học cụ thể như qua số lượng công bố quốc tế, bằng đăng ký phát minh sáng chế, v.v.). Đừng tự ru ngủ mình bởi một số lĩnh vực mà Việt Nam có thể mạnh như Toán hay Vật lý lý thuyết (mạnh so với ai, qua số liệu, chỉ tiêu so sánh nào?) đề tự vạch ra các mục tiêu hão huyền. Xác định mục tiêu đúng (cần gì và tại sao lại là như thế mà không phải là khác) là điều quan trọng, và quan trọng là phải làm gì để đạt mục tiêu đó. Điều này có nghĩa là chiến lược được viết ra có thể chỉ một vài chục trang thôi, nhưng kèm theo nó là hàng ngàn trang phụ lục các số liệu tính toán kèm theo để minh chứng, luận giải hoặc thuyết phục cho mỗi câu, mỗi chữ trong văn bản chiến lược.   Cần quan niệm chiến lược cũng như một dề án: có đề cương được thiết kế đúng, mục tiêu đưa ra chuẩn xác và có tính khả thi cao, phương pháp hay biện pháp thực thi phù hợp với lộ trình rõ ràng, các điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện;  người chịu trách nhiệm triển khai thực hiện, người triển khai giám sát, có báo cáo và kiểm tra tiến độ, có tiêu chí đánh giá cuối cùng. Mọi cái phải được vạch ra từ đầu khi bắt tay xây dựng chiến lược.   Chiến lược KH&CN là sản phẩm của trí tuệ, mà trí tuệ thì không thể là độc quyền của một tổ chức cá nhân nào. Vì vậy nên xã hội hóa việc làm chiến lược. Thay bằng cơ quan chức năng (Viện chiến lược và chính sách KHCN- Bộ KH&CN) tự thiết kế làm ra chiến lược, rồi công khai lấy ý kiến “rộng rãi”, thì nay Bộ KH&CN chỉ cần xây dựng barem đưa ra yêu cầu chiến lược, thời gian và phương thức tuyển chọn. Trên cơ sở đó công khai thông báo cho tất cả các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài, các tổ chức, hội, nhóm liên quan đến KHCN trong và ngoài nước có thể tham gia đăng ký xây dựng và tuyển chọn chiến lược KHCN. Kinh phí dùng cho cơ quan chức năng xây dựng chiến lược được sử dụng làm tiền thưởng cho đề án chiến lược nào được bình chọn. Thay vì, vừa vất vả phải tự soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến, chỉnh sửa nhiều lần mà vẫn bị nhiều tai tiếng từ dư luận như Dự thảo Chiến lược giáo dục Việt Nam đến năm 2020, Bộ KH&CN chỉ cần thành lập Hội đồng tư vấn tuyển chọn. Thực ra đây cũng là cách làm khôn ngoan và hiệu quả của nhiều nước trên thế giới.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục: ngổn ngang trăm mối tơ vò      Vừa qua, công bố các báo cáo đánh giá về Giáo dục Đại học Việt Nam (GDĐHVN) sau hơn một năm tiến hành khảo sát tại chỗ một số trường đại học Việt Nam trong khuôn khổ một dự án được Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) bảo trợ của Đoàn chuyên gia Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ đã được một số báo “giật tít” khá “kêu” (chẳng hạn: “3 yếu kém của GDĐH ở Việt Nam” – Dân trí điện tử, 5/8/2007 hay “GDĐHVN: dưới “con dao mổ” của Harvard”- Tuổi trẻ Online, 20/8/2007…). Nhưng theo nhìn nhận của tôi, các nội dung đánh giá và khuyến nghị của các nhà khoa học Hoa Kỳ không gây được sự chú ý đặc biệt, không chỉ đối với dư luận xã hội nói chung mà ngay cả đối với những người trong cuộc – cộng đồng GDĐHVN. Vì sao vậy? Với tư cách cũng là người trong cuộc, người viết bài này thử lý giải đôi điều.        Đánh giá của các nhà khoa học Hoa Kỳ: không sai nhưng cũng không mới!  Dù không được tham dự Hội thảo “Các cơ hội nâng cao chất lượng GDĐHVN” diễn ra trong 2 ngày 2-3/8/2007 để trực tiếp nghe các báo cáo của các nhà khoa học Mỹ nhưng chỉ cần vào trang Web của VEF (http://home.vef.gov/) là có thể xem đầy đủ các báo cáo này. Vì lý do chuyên môn, tôi chỉ đề cập đến Báo cáo nhan đề: “Những quan sát về GDĐHVN trong các ngành Công nghệ Thông tin, Kỹ thuật Điện – Điện tử và Vật lý tại một số trường đại học Việt Nam”. Thông qua việc khảo sát 4 trường đại học hàng đầu (không nêu rõ tên), các nhà khoa học Mỹ tập trung đánh giá (trong báo cáo dùng từ rất khiêm tốn là “quan sát”) 5 vấn đề: (1) Công tác giảng dạy và học tập ở bậc đại học; (2) Chương trình đào tạo và các môn học ở bậc đại học; (3) Giảng viên; (4) Đào tạo và nghiên cứu ở bậc sau đại học; (5) Đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả của nhà trường. Kết quả đánh giá (tóm tắt) đối với từng vấn đề trên được tổng hợp trong bảng dưới đây:  STT Vấn đề                                                 1 Giảng dạy và học tập ở bậc đại học  Kết quả đánh giá (quan sát):  Phương pháp giảng dạy kém hiệu quả : diễn thuyết, thuyết trình, ghi nhớ một cách máy móc, giao ít bài tập về nhà, ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên  – Sinh viên học quá nhiều trên lớp mỗi ngày và quá nhiều môn trong một học kỳ -> không có thời gian để lĩnh hội tài liệu  – Thiếu chú trọng đến phát triển các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp (kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, quản lý dự án, giải quyết vấn đề, óc sáng tạo, thói quen học tập suốt đời, v.v.)  – Thiếu trang thiết bị và nguồn lực   2 Chương trình đào tạo và các môn học ở bậc đại học  Kết quả đánh giá (quan sát)  – Có quá nhiều môn học (hơn 200 đơn vị học trình)   – Có quá nhiều các môn học bắt buộc và ít môn tự chọn  – Nội dung của các môn học và chương trình đào tạo chưa được cập nhật  – Thiếu đào tạo các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp (kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, quản lý dự án, và tư duy phê phán)  – Thiếu linh hoạt trong việc chuyển đổi giữa các ngành đào tạo  – Các môn học và chương trình đào tạo không được xây dựng dựa trên những kết quả học tập mong đợi của sinh viên.   3 Giảng viên  Kết quả đánh giá (quan sát)  – Thiếu giảng viên về cả số lượng và chất lượng  – Giảng viên chưa cập nhật kiến thức chuyên ngành liên quan đến chương trình đào tạo, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu  – Giảng viên dạy quá nhiều nhưng lương thấp, phải làm thêm, thiếu thời gian để nâng cao phương pháp giảng dạy, cập nhật nội dung môn học, tiếp xúc sinh viên, và nghiên cứu   – Cơ chế tưởng thưởng chủ yếu dựa trên thời lượng giảng dạy và thâm niên, chưa thực sự khuyến khích giảng viên thực hiện nghiên cứu.    4 Giáo dục và nghiên cứu sau đại học  Kết quả đánh giá (quan sát)  – Giảng viên sau đại học chưa cập nhật về chương trình đào tạo, nội dung môn học, thực hành giảng dạy và nghiên cứu mới nhất trong ngành của họ   – Thiếu các trang thiết bị nghiên cứu hiện đại trong phòng thí nghiệm dành cho giảng viên, sinh viên sau đại học  – Việc tuyển dụng giảng viên nội bộ đã cản trở cho việc tạo ra một môi trường nghiên cứu năng động  – Sự tách biệt giữa phòng thí nghiệm và các viện/trường nghiên cứu với các khoa đào tạo làm hạn chế các cơ hội cho giảng viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu  5 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả nhà trường   Kết quả đánh giá (quan sát)  – Kết quả học tập mong đợi của sinh viên chưa được xác định và nêu rõ ở các cấp độ trường, khoa, ngành đào tạo, và môn học  – Hiệu quả trường, chất lượng ngành đào tạo và môn học không được đánh giá dựa trên kết quả học tập sinh viên  – Thiếu cơ sở hạ tầng nghiên cứu về trường (institutional research office)    Từ bảng trên, có thể thấy đánh giá của các nhà khoa học Mỹ là không sai đối với mặt bằng chung của GDĐHVN và cũng hoàn toàn không bất ngờ đối với những người trong cuộc. Những yếu kém của GDĐHVN lâu nay cũng đã được chúng ta tự đánh giá nhiều lần, thậm chí còn cụ thể và “nặng nề” hơn.   Công cuộc đổi mới GDĐHVN còn rất gian nan   Tôi không dám và cũng không muốn bình luận về phương diện vĩ mô vì ở nước ta đã có quá nhiều người thích nói những chuyện to tát, có tầm chiến lược dài hạn theo kiểu “tầm nhìn đến năm 2xxx” hơn là bàn đến những điều cụ thể, nhưng có tính phổ biến và có thể lại là gốc rễ của các giải pháp chiến lược. Trong phần còn lại của bài viết này, tôi chỉ trao đổi về một số bất cập hết sức cụ thể mà những giáo viên đại học chúng tôi nhìn thấy rất rõ trong quá trình thực thi nghề nghiệp của mình. Do khuôn khổ của bài viết, ở đây chỉ xin đề cập đến 2 vần đề: đó là đổi mới chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp dạy và học.  Không phải chỉ có các nhà khoa học Mỹ mới phát hiện thấy mà có lẽ hầu hết các nhà giáo đại học Việt Nam từ lâu đã thấy rằng chương trình đào tạo đại học của chúng ta quá cồng kềnh mà lại không hiệu quả. Rất nhiều môn học không cần thiết hoặc cần thiết nhưng thời lượng vượt quá mức độ cần thiết của nó đối với sinh viên. Một ví dụ điển hình là các môn chính trị mà vì lý do “chính trị” nên lâu nay ít người dám “động” vào! Mới đây, trong Hội nghị Tổng kết năm học của các trường đại học, cao đẳng phía Nam (18/8/2007, Thành phố Hồ Chí Minh), GS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang đã nói hộ suy nghĩ của chúng tôi: “Các môn học chính trị quá nặng, tốn nhiều thời gian. Lẽ ra, sinh viên chỉ cần học những cái chính. Thời gian còn lại dành đầu tư học những thứ khác thiết thực”. (Nguồn: VietNamNet, 19/8/2007). Không ai phủ nhận sự cần thiết của các môn chính trị, ở nước ngoài cũng vậy. Nhưng thời lượng dàn trải của các môn này trong chương trình đào tạo đại học của ta quả là bất cập. Nếu tinh giản nội dung đi đôi với đổi mới phương pháp dạy học (tăng cường thảo luận, viết tiểu luận, hoạt động ngoại khoá) thì chắc chắn sinh viên sẽ không còn vừa ngán, vừa sợ những môn học này nữa mà các chuyên ngành có thêm thời lượng để bổ sung các môn học cần thiết. Nếu xét trong phạm vi từng trường thì còn không ít những môn học “có vấn đề” như trên. Việc xây dựng các chương trình đào tạo cho đến nay vẫn rất cứng nhắc, mang tính áp đặt từ Bộ GD&ĐT. Các trường, và đặc biệt các khoa, bộ môn quản ngành hầu như rất ít quyền tự chủ trong xây dựng chương trình đào tạo. Lẽ ra, Bộ GD&ĐT với chức năng quản lý Nhà nước chỉ nên ấn định một khung kiến thức tối thiểu cho các ngành đào tạo bậc đại học, còn lại dành quyền chủ động cho các trường, các khoa, các bộ môn có điều kiện xây dựng “thương hiệu” cho mình. Đúng như nhận xét của GS Võ Tòng Xuân (nguồn đã dẫn): “Nếu được phép xác định nội dung đào tạo, cán bộ giảng dạy của các trường sẽ phấn khởi hơn, nhất là những người ở nước ngoài về, có nhiều đất dụng võ”.Tuy nhiên, ngay cả trong trương hợp Bộ “thông thoáng” nhưng xuống đến cấp trường lại không “thông thoáng” và không mạnh dạn thực hiện một cuộc “đại phẫu” về chương trình đào tạo vì sợ mất đoàn kết, sợ ảnh hưởng đến nền nếp ổn định (dù đã lỗi thời) của nhà trường, lãnh đạo sợ mất “ghế”… thì đâu vẫn sẽ hoàn đấy, bài ca “đổi mới chương trình đào tạo” sẽ còn tiếp tục được ca lên dài dài… Trường có quy mô càng lớn, có bề dày truyền thống càng “hào hùng” thì thách thức này càng lớn. Và trong cuộc đua đổi mới chương trình đào tạo, chính các trường nhỏ mới xây dựng và các trường ngoài công lập sẽ có lợi thế hơn chứ không phải là các “đại gia” top đã tồn tại mấy chục năm. Một số trường đại học công nghệ cho đến nay vẫn giữ thời gian 5 năm cho 1 khóa đào tạo bậc đại học. Ai cũng thấy như vậy là dài, chỉ nên đào tạo trong 4 năm như các nước tiên tiến trên thế giới. Nhưng với chương trình đào tạo cứng nhắc và ôm đồm như hiện nay, việc rút ngắn thời gian chắc chắn sẽ kéo theo việc giảm chất lượng đào tạo. Đã có trường thử rút xuống 4 năm sau đó lại phải quay lại 5 năm.  Những năm gần đây chúng ta nói rất nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy và học. Nhiều trường có chủ trương cụ thể và có hỗ trợ tích cực cho giáo viên. Bản thân các giáo viên nhiều người cũng đã chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy của mình. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này, theo nhận xét của tôi, với tư cách là một giáo viên đang trực tiếp đứng lớp, thành quả đáng ghi nhận nhất của xu thế này mới chỉ dừng ở mức “điện tử hóa các bài giảng”. Nhìn các thầy, cô giáo tay xách nách mang laptop, thậm chí cả máy chiếu, lên lớp (vì đa số các phòng học chưa được trang bị máy tính, máy chiếu tại chỗ – mà lý do nhiều khi không phải thiếu tiền mà vì khó quản lý) mà thấy cảm phục và thương cho các nhà giáoViệt. Vấn đề cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy và học ở bậc đại học chính là mối quan hệ thầy-trò.  Phải thay đổi mối quan hệ này từ chỗ “thầy chủ động – trò thụ động” (thầy đọc, trò chép) tiến đến mức cả thầy trò đều chủ động cùng hướng đến mục tiêu đem lại cho trò mức thu nhận kiến thức và kỹ năng cao nhất. để làm được điều đó, cần phân bố thời lượng một môn học, đặc biệt là các môn chuyên ngành, theo hướng giảm thời gian giảng lý thuyết trên lớp, tăng cường các hình thức thảo luận theo chủ đề, tăng cường các hình thức tự học có hướng dẫn và kiểm soát của giáo viên thông qua các bài tập lớn, đồ án môn học và các đề tài nghiên cứu khoa học. Nghĩa là, giáo viên phụ trách môn học phải được quyền quyết định dạy như thế nào và phải chịu trách nhiệm trước cơ sở đào tạo, trước sinh viên về kết quả học tập của sinh viên. Ngược lại, sinh viên dù muốn hay không cũng sẽ bị “lôi vào cuộc”, lúc đầu có thể chưa “thấm” nhưng dần dần và đặc biệt sau này khi đi làm mới thấy hết hiệu quả của phương thức dạy và học này. Thực ra, phương thức dạy và học này chỉ là mới đối với Việt Nam, nhiều giáo viên của chúng ta đã được đào tạo theo phương thức này khi học tập, tu nghiệp ở các nước tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, nói thì “ngon” vậy, nhưng khi thực thi thì không đơn giản chút nào. Hầu hết các trường hiện nay vẫn quản lý đào tạo theo biên chế (hoặc tín chỉ nửa vời) nên các giáo viên ăn lương và thanh toán tiền dạy theo số tiết ấn định từ đầu (khi xây dựng chương trình đào tạo) cho môn học. Bởi vậy, việc quản lý giờ lên lớp của giáo viên khá chặt chẽ (nhiều trường có ban Thanh tra Giáo dục được giao nhiệm vụ này). Giáo viên dạy ít giờ sẽ được hưởng ít tiền bù giờ, vượt giờ. Trừ một số ít giáo viên có việc làm thêm bên ngoài, còn đa số giáo viên chỉ sống bằng nghiệp “bán cháo phổi”. Lương giáo viên (kể cả lương Giáo sư) đã quá thấp nên chẳng ai muốn tự mình làm hại mình vì những cố gắng đổi mới phương pháp dạy học. Cứ cố gắng “bôi” cho đủ số giờ ấn định. Thậm chí khi xây dựng chương trình đào tao, việc giảm thời lượng các môn học cho hợp lý hơn và để có thể đưa thêm môn học mới vào cũng không đơn giản, không ít giáo viên đấu tranh đến cùng để thời lượng của môn học mình phụ trách chỉ có tăng chứ không giảm! Thực tế đó cho thấy muốn đổi mới phương pháp dạy và học hiệu quả thì trước hết phải đổi mới cơ chế quản lý đào tạo để khuyến khích các giáo viên thực hiện. Phải làm sao để việc đổi mới phương pháp giảng dạy mang lại lợi ích thiết thực (cả tinh thần lẫn vật chất) cho giáo viên, chứ không thể chỉ đòi hỏi giáo viên phải tâm huyết, trách nhiệm khi Nhà nước chưa trả được đồng lương xứng đáng với nghề nghiệp của họ.  Gần đây báo chí  nói “hơi” nhiều về chuyện Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân lên bục giảng bài ở lớp tập huấn các hiệu trưởng đại học và đã có 2 ý tưởng “mới” (theo lời báo chí) là: (1) cho phép sinh viên đánh giá giáo viên, và (2) cho phép sinh viên đại học mở tài liệu khi thi. Chắc chắn bản thân GS Nhân, đã từng là một giảng viên đại học, biết rất rõ rằng ý (1) chỉ mới đối với Việt Nam, còn ý (2) thì hoàn toàn không mới ngay cả ở Việt Nam. Cả 2 ý này đều nằm trong phạm trù phương pháp dạy/học và quan hệ thầy/trò mà chúng ta cần đổi mới. Việc sinh viên nhận xét, đánh giá giáo viên mặc dù chưa phải là một giải pháp hoàn toàn tích cực (vì đôi khi đó là con dao 2 lưỡi) nhưng tôi nghĩ rằng các giáo viên có năng lực chuyên môn, trung thực và tâm huyết với nghề sẽ coi đó là chuyện bình thường. Nhưng đừng vì chuyện này mà làm cho quan hệ thầy – trò biến thành quan hệ thương mại khi một số báo coi sinh viên là khách hàng, giáo viên là người phục vụ nên khách hàng (là Thượng đế) có quyền đòi hỏi mọi thứ ở người phục vụ. Chưa nói đến không ít “Thượng đế” chỉ quan tâm đến mảnh bằng chứ có cần kiến thức đâu mà yêu cầu các thầy phải dạy giỏi? Tình trạng sinh viên vô cảm với bài giảng của giáo viên nhiều khi làm cho các thầy cô chán ngán. Bản thân tôi đã có lần phải nói thẳng với một số lớp sinh viên: tôi giảng hay dở như thế nào thì các em phải biểu lộ cho tôi biết chứ. Cũng phải có thời gian để sinh viên dần dần ý thức và phát huy một cách trung thực quyền dân chủ mà họ được trao. Tuy nhiên, cái khó của việc này theo tôi lại không nằm ở “đương sự” (giáo viên, sinh viên) mà ở phía quản lý: ai sẽ xử lý và xử lý như thế nào để đảm bảo việc này không nhằm đến một mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo? Ngoài ra, một câu hỏi sẽ được các giáo viên đặt ra: sinh viên (và cả giáo viên nữa) có được nhận xét, đánh giá các cán bộ quản lý (kể cả Giám đốc, Hiệu trưởng) của cơ sở đào tạo không? Bởi chất lượng của đội ngũ này có ảnh hưởng không nhỏ đối với quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo đại học. Nếu có, thì ai sẽ xử lý và xử lý như thế nào các nhận xét, đánh giá đó để việc làm này đừng mang nặng tính hình thức như các cuộc thăm dò bổ nhiệm cán bộ vẫn làm hiện nay. Còn việc kiểm tra, thi ở bậc đại học thì có quy định nào nói sinh viên tuyệt đối không được mở tài liệu đâu? Hoàn toàn tùy thuộc ở giáo viên ra kiểu đề gì! Tuy nhiên, bản thân tôi đã có lần hỏi thử sinh viên muốn thi kiểu gì thì đa số sinh viên trong lớp đề nghị cho thi theo kiểu “không được sử dụng tài liệu”, bởi họ biết rằng thi kiểu “được sử dụng tài liệu” thường khó làm, khó học tủ và khó cả… việc copy bài của bạn nữa! Để thi được theo kiểu “mở tài liệu” thì sinh viên phải từ bỏ cách học đối phó, chủ động và nỗ lực cao trong việc thu nhận kiến thức và rèn luyện kỹ năng liên quan.  Ngổn ngang trăm mối tơ vò  Thực ra còn rất nhiều suy nghĩ, trăn trở về các vấn đề quan trọng khác của GDĐHVN nhưng không thể nói hết trong khuôn khổ bài viết này. Ví như Đề án đào tạo 20.000 Tiến sỹ, hay các đề án mà Bộ GD&ĐT đang được xúc tiến nhằm xây dựng các trường đại học “đẳng cấp quốc tế”, trong đó có Đề án Xây dựng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ trên cơ sở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam với hy vọng đó sẽ là một MIT của Việt Nam, một ứng cử viên quan trọng trong cuộc chạy đua để đến năm 2020 sẽ có mặt ít nhất 1 trường đại học VN trong top 200 của các trường đại học thế giới! Ý tưởng rất đẹp, và nhìn thoáng qua có vẻ logic, nhưng tôi (và tôi biết còn có rất nhiều người khác nữa) hoàn toàn chia sẻ với những thách thức to lớn mà đội ngũ cán bộ nghiên cứu, quản lý của Viện KH&CN VN sẽ phải đối mặt. Bộ GD&ĐT lại mới bổ sung thêm “2 không” nữa vào khẩu hiệu phấn đấu cho các trường đại học năm học này: “nói không với đào tạo không đạt chuẩn” và “nói không với đào tạo không đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Thế nào là chuẩn cho GDĐHVN? Ai sẽ kiểm định việc đạt hay không đạt chuẩn và nếu không đạt thì xử lý thế nào? Nhu cầu của xã hội được xác định cụ thể như thế nào? Hiện tại có trường nào, ngành nào đang đào tạo không theo nhu cầu xã hội?… Chắc là sẽ còn nhiều diễn đàn xung quanh  “2 không mới” này trong khi “2 không cũ” (“nói không với tiêu cực” và “nói không với bệnh thành tích”) phát động từ năm học trước có vẻ như chỉ mới tập trung vào 2 cuộc thi chung (tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh đại học) chứ chưa tác động gì đến các trường đại học, ngoài việc xuất hiện các khẩu hiệu hoành tráng ở các cổng trường!  Nhiều việc ngổn ngang quá, bề bộn quá, mà chưa thấy những giải pháp cơ bản và khả thi làm cho những người giáo viên đứng lớp như tôi cảm thấy ngổn ngang trăm mối tơ vò. Viết đến đây tự nhiên tôi lại nhớ đến bài báo của tác giả Nguyễn Bỉnh Quân đã đăng trên Tia Sáng đầu năm nay nhan đề: “Chấn hưng Giáo dục và Đào tạo – Rối cờ !?” (Tia Sáng, Số 2, 20/1/2007).            Nhiều nhà khoa học, nhà giáo người Việt, bao gồm cả người Việt ở nước ngoài, đã nhiều lần “tự mổ xẻ” và “mổ xẻ” GDĐHVN và cũng kiến nghị, đề xuất đủ điều. So với các đánh giá của người Việt, các đánh giá của người Mỹ vẫn có vẻ “nhẹ nhàng” hơn. Có thể dù rất thẳng thắn và khách quan nhưng các vị khách của chúng ta vẫn không thể không giữ lại chút “lịch sự ngoại giao” cần thiết. Có thể vì các khảo sát của người Mỹ chỉ giới hạn trong 4 trường tốp đầu, nếu mở rộng ra cả mấy trăm trường đại học còn lại, đặc biệt là các trường công lập địa phương mới được ồ ạt “đôn lên” từ các trường cao đẳng, và cả các trường ngoài công lập đủ loại, chắc chính các nhà khoa học Mỹ mới là người bị bất ngờ chứ không phải chúng ta. Dân ta có câu: “Có ở trong chăn mới biết chăn có rận’! Các nhà khoa học Mỹ thực ra cũng chỉ mới cầm một góc chăn (mà lại là góc sạch sẽ nhất) GDĐHVN và ngó vào, cũng có thể thấy đôi ba con rận, nhưng chắc chắn là họ chưa có điều kiện nằm trong chăn nên chưa thể bị rận đốt như người Việt chúng ta được! Mà người Việt chúng ta ngày nay đâu có còn là “ếch ngồi đáy giếng”, ngay trong số những giáo chức đại học trong nước đã có bao nhiêu người được đào tạo từ các nền GDĐH tiên tiến nhất trên thế giới.  Nhưng có lẽ do “Bụt Chùa nhà không thiêng” hoặc do tâm lý “sính đồ ngoại”, “chuộng hàng hiệu” của các nhà quản lý nước ta nên chắc chắn chúng ta sẽ còn được tiếp tục đọc nhiều báo cáo ngoại “đúng nhưng không mới” nữa!      Nguyễn Thúc Hải    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới Hiến pháp, nghĩ về một thiên cổ hùng văn cho đời sau      Có thể chúng ta chưa có những công trình vật chất để lại ngàn năm, tuy nhiên, với năng lực tinh thần, chúng ta có thể nghĩ đến việc tạo lập ra những giá trị để lưu dấu lâu dài, mà một ví dụ cụ thể là đổi mới Hiến pháp nhằm thể hiện tầm nhìn mới, tầm nhìn lâu dài của lãnh đạo, làm cho Hiến pháp trở thành tài sản của mọi người dân Việt Nam – hôm nay và cả mai sau.    Huyền sử Nghiêu Thuấn và khát vọng dân chủ của dân tộc Trung Hoa  Đọc văn học cổ Trung Quốc, biết đến hai vị vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn (khoảng ba trăm năm đầu thuộc thiên niên kỷ thứ ba TCN) như hai vị vua anh minh, thường được nhắc đến như hai tấm gương cho các vua đời sau noi theo để trị nước. Dưới thời Nghiêu Thuấn, thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa. Trong văn học sử và cả văn hóa dân gian, Nghiêu Thuấn như hai triều đại mang tính biểu tượng của thái bình thịnh trị ‘ngoài đường của rơi không nhặt, nhà cửa thường bỏ ngỏ không sợ trộm cắp”.  Các vua chúa đời sau thường lấy đức thời Nghiêu Thuấn để răn dạy mình. Tuy vậy, có một điều mà tất cả các triều đại Trung Hoa về sau không bao giờ học được từ hai vị vua này, đó là việc cả hai vua Nghiêu và Thuấn đều không nhường ngôi cho con trai mình mà nhường ngôi cho người có tài đức trong thiên hạ. Vua Nghiêu không nhường ngôi cho con mình mà nhường ngôi cho Thuấn vì Thuấn là người giỏi trong nước. Đến lượt mình, vua Thuấn cũng không nhường ngôi cho con mà nhường ngôi cho vua Vũ lập nên triều nhà Hạ. Việc chọn người tài đức, tốt nhất trong dân để truyền ngôi từ đó về sau vẫn còn là tấm gương nhưng chưa triều đại nào theo kịp. Câu chuyện này đi vào văn học sử như còn đó, một giấc mơ.  Các triều đại sau chẳng những không theo được gương chọn người tài trong nước mà còn ra sức củng cố chắc chắn hơn sự lãnh đạo tuyệt đối của mình. Trớ trêu thay, sự mong muốn lãnh đạo tuyệt đối của các vương triều lại nói lên tính tương đối của nó và lịch sử đã cho thấy không một vương triều nào tồn tại mãi mãi. Cho dù mạnh mẽ, tham vọng như Tần Thủy Hoàng, vì muốn cai trị muôn đời nên đã đặt đế hiệu cho mình là Tần Vương Nhất Thế, với mong muốn là dòng họ của mình sẽ ngự trị đến vạn thế, cũng không bao giờ là hiện thực…Thực tế là sau đó nhà Tần chỉ tồn tại được hai đời nữa (Tần Tam thế bị Hạng Võ sát hại và nhà Hán của Lưu Bang kế tục sau đó). Cứ như thế, vẫn không như mong muốn của những người sáng lập, các vương triều cũng chỉ tồn tại một cách tương đối không khác được, đó là thịnh và suy tàn. Lịch sử lại như các vòng lặp của các vương triều thay nhau. Ngàn năm cũng chỉ đơn thuần là phép cộng các vòng lặp không hơn không kém. Vì vậy, có lẽ nếu không có một cơ chế tạo điều kiện để người giỏi nhất trong nước lãnh đạo đất nước, thì có lẽ câu chuyện Nghiêu Thuấn sẽ mãi là chuyện thần tiên, và dường như mãi chỉ là giấc mơ.  Chú bé Obama và Hiến pháp Hoa Kỳ, tầm nhìn của các Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên  Viết về tuổi thơ của mình, lúc sống ở nước ngoài (Indonesia) với mẹ (1), Thượng nghị sĩ Obama có kể rằng mẹ ông là người đã rèn cho ông niềm tin là mọi người Mỹ, với các màu da khác nhau đều bình đẳng theo Hiến pháp. Bà là người đầu tiên đọc cho chú bé Obama Hiến pháp và Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và giải thích rằng chính những dòng chữ trong các văn bản này đã bảo vệ nước Mỹ và người dân Mỹ. Và chú bé Obama đã cảm thấy như được bảo vệ khi nghe mẹ đọc những văn bản này.   Có thể không phải ai cũng được như Obama, nhưng không ai có thể phủ nhận được rằng những gì ông đạt được có cơ sở từ luật pháp Mỹ mà tinh thần và định hướng của hệ thống này là Hiến pháp Mỹ, gồm 7 điều và 27 điều bổ sung sửa đổi. Không phải người Mỹ da đen nào cũng thành đạt như Obama, nhưng khó có thể phủ nhận sự thật rằng một người Mỹ da đen chẳng những có thể được bình đẳng theo luật pháp Mỹ mà còn có thể trở thành lãnh đạo cao nhất của nước Mỹ. Thật vậy, những thành công của Obama đã phần nào là bằng chứng cho tinh thần công dân bình đẳng của Hiến pháp Mỹ.      Tính ưu việt của một bản Hiến pháp thể hiện trước hết ở tính vì dân của nó, tuy không phải Hiến pháp nào được làm ra từ đầu đều đã là ưu việt. Hơn nữa, những bản Hiến pháp ưu việt ngoài tính vì dân còn phải thể hiện ở sự linh hoạt cần thiết, cũng để vì dân. Chính những điều khoản sửa đổi dựa trên tinh thần này của Hiến pháp Mỹ đã tạo điều kiện giúp chú bé Obama trở thành Tổng thống Hoa Kỳ.  Thật thú vị, vì ngay cả sau khi Obama đã đắc cử Tổng thống, nhiều người còn hoài nghi tính hợp hiến của việc này do họ chưa tin rằng Hiến pháp Mỹ được công nhận từ 1781, lúc còn chế độ nô lệ, chấp nhận một người da đen làm Tổng thống. Xem lại tinh thần bản Hiến pháp và các điều khoản sửa đổi bổ sung 13: Bãi bỏ chế độ nô lệ (năm 1865), 14: Quyền công dân (năm 1868), và 15: Quyền bỏ phiếu của người Mỹ gốc Phi (năm 1870) như các điều khoản không tách rời của Hiến pháp Mỹ, những người hoài nghi mới nhận thấy rằng, nếu họ hồ nghi một người da đen có thể được làm Tổng thống thì họ cũng sẽ phải nghi ngờ như vậy đối với người da trắng và các màu da khác. Nói đơn giản là các điều khoản không chỉ thể hiện sự giải phóng người da đen mà còn thể hiện một cách khách quan sự bình đẳng và quyền làm chủ của mọi người dân. Thật vậy, khi xem lại những tác phẩm của một trong các chính trị gia vĩ đại người Mỹ, Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, Thomas Jefferson, người chấp bút Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (vốn là nguồn cảm hứng cho các chính trị gia, văn hào về sau) những người hoài nghi mới nhận thấy rằng, sự linh hoạt vì một xã hội văn minh hơn đã được minh định từ lâu. Ông đã từng viết (1816): “Tôi không phải là người cổ súy cho việc hay thay đổi luật lệ và pháp chế. Nhưng rõ ràng hai thứ này phải cùng phát triển không tách rời với tiến bộ của tư tưởng con người. Khi nhân loại ngày càng phát triển và khai sáng, khi ngày càng có nhiều phát minh và chân lý được soi rọi, khi cách thức và ý kiến thay đổi, thì trong bối cảnh mới đó, các định chế cũng phải đi lên để hòa nhịp với thời thế. Ta có thể so sánh việc một xã hội văn minh bị kiềm hảm trong các định chế bán khai của cha ông giống như bắt một người trưởng thành phải chui vào tấm áo của trẻ con vậy.”(2)    Phải chăng chính những người hoài nghi lại lạc hậu hơn chính tiền nhân của họ.     Với những tư tưởng tiên phong như thế, cũng không có gì ngạc nhiên khi các văn bản luật quan trọng như Hiến pháp Mỹ lại có được một sự linh hoạt đến như vậy. Và nhờ đó, tính vì dân và công bằng của nó đã làm cho những người dân “thấp bé” nhất, như chú bé Obama thưở nào, vừa cảm thấy ở nó một sự tự hào vừa cảm thấy được bảo vệ. Thật vậy, trong một xã hội mà phê bình đã thành văn hóa, dù người dân Mỹ có chỉ trích chính quyền này hay đảng phái nọ… họ hầu như không bao giờ phê bình Hiến pháp của mình. Văn bản pháp luật này được xem như một báu vật quốc gia quý giá nhất của họ.   Như vậy, một Hiến pháp đặt người dân ở vị trí trung tâm, vượt trên lợi ích của các chính quyền, đã tồn tại với thời gian vì đơn giản nó là của dân, chủ nhân của đất nước. Một Hiến pháp như thế thể hiện tầm nhìn rộng lớn, vượt thời gian của những nhà lập quốc Hoa Kỳ. Có thể nói đây chính là món quà quý nhất dành cho đời sau của những nhà lập quốc. Và nó đã trở thành tài sản của người dân Hoa Kỳ. Môt khía cạnh nào đó, tinh thần dân chủ kiểu Nghiêu Thuấn đã được minh định bằng văn bản có tên Hiến pháp và được thể hiện liên tục từ ngay sau vị “vua Nghiêu đầu tiên của Mỹ” (George Washington).   Trách nhiệm với đời sau  Một câu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta mà có lẽ vì quá bộn bề công việc mà ta đã không nghĩ tới, đó là ta sẽ làm gì cho con cháu chúng ta ngàn năm sau? Đất nước ta sẽ như thế nào trăm năm, ngàn năm sau?   Chúng ta là con cháu của ngàn năm trước mà chúng ta cũng còn là cha ông của ngàn năm sau. Trách nhiệm đối với ngàn năm sau có thể nói còn nặng nề hơn, nhưng liệu có đang được quan tâm? Từng trí thức, từng nhà lãnh đạo nên đặt câu hỏi cho mình… Không dừng lại để tự vấn, thời gian sẽ cuốn ta đi, rồi một ngàn năm nữa liệu có hơn gì ngàn năm cũ? Chắc chắn chúng ta không muốn một ngàn năm sau nữa cũng chỉ đơn thuần là phép cộng các vòng lặp không hơn không kém và lịch sử lại như các vòng lặp của các vương triều thay nhau. Mà có chắc chắn rằng ta có thể tồn tại mạnh mẽ như cha ông mình? Biết đâu ta bắt đầu, hay đã ỷ lại ở khả năng tồn tại của mình, mà khi ỷ lại chính là lúc ta đi xuống! Nếu thế, còn gì cho cháu con ta?   Dân tộc ta đã nổi tiếng. Tuy vậy, cho đến thời khắc này của lịch sử nhân loại, chúng ta phải tự nhận thấy rằng, chúng ta nổi tiếng vì sự tồn tại mãnh liệt và nhọc nhằn của dân tộc mình, bên cạnh các dân tộc khác nổi tiếng vì sự dẫn đầu của sự phát triển, của tinh thần vượt trên châu lục, rồi đi trước thế giới. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ đến việc làm sao con cháu chúng ta tự hào về cha ông không chỉ bằng sự tồn tại mà còn bằng sự vượt lên vĩ đại! Suy cho cùng và cũng là một cách khôn ngoan, thì việc giải quyết bài toán vượt lên của dân tộc cũng chính là để giải quyết bài toán tồn tại, vốn cũng chưa bao giờ đơn giản, với dân tộc ta.   Lịch sử nhân loại đã quá đủ để chúng ta nhìn lại mình, định hướng và bắt đầu một đại công cuộc cho dân tộc với tầm nhìn thật xa để con cháu ngàn năm sau của chúng ta tự hào vì cha ông mình! Làm sao để tinh thần vì trăm năm, ngàn năm sau lan tỏa vào huyết quản của từng người dân ở mọi nấc thang xã hội? Có lẽ nên bắt đầu một cuộc đại tự vấn, “tuyển dụng” trong toàn dân, làm sao để người giỏi nhất, tốt nhất có điều kiện dẫn dắt đi đầu, đưa đất nước vào một ngàn năm mới, ngàn năm của phát triển chứ không phải ngàn năm của nhọc nhằn tồn tại. Nếu cho rằng dân tộc ta chưa đủ sức làm, điều kiện đất nước chưa đủ chín mùi thì có lẽ chúng ta sẽ không tiến hành thực hiện và thời điểm chín mùi kia cũng không bao giờ đến!   Để thực hiện đại cuộc này thiết nghĩ, trước mắt cần nêu cao trách nhiệm đối với con cháu đời sau, cải tạo bản thân thành một dân tộc hòa giải mọi bất đồng, cần một tinh thần dân chủ để khai thác toàn diện những nguồn nguyên khí quốc gia từ khắp mọi nơi. Những việc trước mắt này có thực hiện triệt để cũng sẽ mất rất nhiều thời gian. Và vì mất nhiều thời gian nên cần càng sớm tiến hành. Thật vậy, với “ngàn năm” thì đây chỉ là tiền đề, chỉ là “trước mắt” mà thôi. Nếu không có quyết tâm và hành động cụ thể, thì ngàn năm có thể không đủ dài để ta tiếp tục thong dong, cạn nghĩ. Thiển nghĩ, có ý thức trách nhiệm đối với cháu con đời sau sẽ giúp chúng ta dễ đoàn kết, hòa giải bất đồng hơn. Ghi tâm trách nhiệm với đời sau sẽ là cơ sở để chúng ta cẩn thận gìn giữ những gì tiền nhân tạo lập. Nêu cao trách nhiệm với đời sau sẽ giúp chúng ta học được những bài học của tiền nhân và quan tâm hơn đến hậu quả của những việc ta làm – từ giáo dục, môi trường, điều hành kinh tế, đến an ninh quốc phòng. Khi có trách nhiệm với con cháu đời sau thì chúng ta sẽ dễ dàng vươt qua mọi cám dỗ, vì ta biết rằng, những cám dỗ dù rất nhỏ, nếu ta không vượt qua cũng sẽ là vết nhơ làm tổn thương niềm kiêu hãnh của con cháu chúng ta.     Có thể nguồn lực vật chất chúng ta chưa đủ để khẳng định rằng chúng ta sẽ có những công trình vật chất để lại ngàn năm, tuy nhiên, với năng lực tinh thần, chúng ta có thể nghĩ đến việc tạo lập ra những giá trị để lưu dấu lâu dài. Một ví dụ cụ thể mà chúng ta có thể tiến hành là đổi mới Hiến pháp nhằm thể hiện tầm nhìn mới, tầm nhìn lâu dài của lãnh đạo, làm cho Hiến pháp trở thành tài sản của mọi người dân Việt Nam – hôm nay và cả mai sau. Một Hiến pháp mà con cháu đời sau đều trân trọng giữ gìn. Đây thật sự là một tham vọng. Tại sao chúng ta không có tham vọng góp chung vào danh sách các thiên cổ hùng văn của dân tộc như Nam Quốc Sơn Hà (930 năm), Bình Ngô Đại Cáo (580 năm) (3) một áng văn để lại cho đời sau? Đặc biệt là khi vận hội thưc hiện tham vọng vừa hiện hữu vừa bức thiết.   Hơn nữa, trong điều kiện ngày nay, khi chúng ta tiếp thu tinh anh của thế giới, Hiến pháp của chúng ta sẽ làm thăng hoa tinh thần Việt, tinh thần học hỏi – vươn lên trong một ngàn năm mới. Lịch sử Hiến pháp của chúng ta tuy chưa dài nhưng không thiếu những kinh nghiệm và tinh thần đó, và bản Hiến pháp 1946 là một ví dụ sinh động. Tin rằng có một ngày, Hiến pháp Việt Nam sẽ như một lời hiệu triệu người Việt khắp nơi trên thế giới, không phân biệt tôn giáo, quốc tịch, không phân biệt chính kiến, không phân biệt Nam -Bắc, Đông Tây,…cùng chung lưng đấu cật, dù ở phương trời nào cũng canh cánh trong lòng một giấc mơ đưa đất nước tiến lên. Một Hiến pháp mà khi đọc nó, từng người dân, từng cô cậu bé cảm thấy vừa như được bảo vệ, vừa như được thôi thúc vươn lên. Đây có lẽ là một bước đầu cụ thể nhất của một thiên niên kỷ mới của dân tộc Việt, một thiên niên kỷ không chỉ để tồn tại mà còn để kiêu hãnh vượt lên.     —   (1) http://www.time.com/time/nation/article/0,8599,1818037-2,00.html    (2) “I am not an advocate for frequent changes in laws and Constitutions. But laws and institutions must go hand in hand with the progress of the human mind. As that becomes more developed, more enlightened, as new discoveries are made, new truths discovered and manners and opinions change, with the change of circumstances, institutions must advance also to keep pace with the times. We might as well require a man to wear still the coat which fitted him when a boy as civilized society to remain ever under the regimen of their barbarous ancestors.” Jefferson, Thomas Quick link http://quotationsbook.com/quote/44896/    (3) Lý Thường Kiệt sáng tác Nam Quốc Sơn Hà năm 1077, Nguyễn Trãi sang tác Bình Ngô Đại Cáo năm 1428.    Author                Lê Vĩnh Triển        
__label__tiasang Đổi mới KHCN của Việt Nam để hội nhập quốc tế cần một cách nhìn hệ thống và một quyết tâm cao      Đã đến lức cần nhận rõ yếu tố cản trở KHCN, đó không những là hệ thống KHCVN đã trở nên lỗi thời mà còn là các nhóm lợi ích, trong đó gồm những nhà quản lý, những công chức khoa học có thế lực, có khả năng lũng đoạn, muốn kéo dài tình trạng quản lý KHCN như hiện nay để họ hưởng lợi. Cần thiết phải đổi mới hệ thống KHCN theo mô hình tối ưu nhất và trên cơ sở tôn trọng các tiêu chí đánh giá và các chuẩn mực quốc tế về KHCN.  Hệ thống KHCN mới sẽ tạo điều kiện tối ưu thu nhập và điều kiện nghiên cứu cho những ai hội đủ tiêu chí về nắng lực và phẩm chất, có khả năng nghiên cứu KHCN. Hệ thống mới cũng loại thải những ai người không hội đủ năng lực cho nghiên cứu KHCN theo chuẩn quốc tế.    I. Bức tranh KHCN của Việt Nam – những nghịch lý buồn  Có lẽ chưa bao giờ KHCN và GDĐT của ta đứng trước những thách thức to lớn như lúc này. Thực ra, không phải mấy cái lĩnh vực này bây giờ mới bắt đầu xuống cấp hay sa sút một cách đột ngột mà nó vẫn đang vận hành bình thường như những gì mà nó vẫn có. Chỉ có điều là trước nay mọi cái vẫn được chúng ta coi là bình thường, còn bây giờ khi bước chân vào cánh cổng hội nhập với cộng đồng quốc tế và khi soi vào những tiêu chuẩn quốc tế để so sánh, đánh giá chúng ta mới nhận ra nhiều cái bất cập, quá nhiều cái không bình thường và cũng chẳng giống ai. Phàm nỗi, dù chẳng giống ai nhưng nó tỏ ra ưu việt hơn ai thì cũng chẳng cần nói làm gì cho tốn giấy mực, nhưng chính những cái không bình thường và không giống ai đó đã góp phần không nhỏ làm cho KHCN, GD ĐT của Việt Nam tụt hậu và xa rời các chuẩn mực quốc tế mới phải mang ra mà mổ xẻ cớ sao mà nên nông nỗi này. Như một hệ lụy song hành, cái không giống ai trong KHCN cũng có nguồn gốc từ căn bệnh thành tích cũng như trong giáo dục, đào tạo, nó đã ăn sâu bén rễ trong KHCN, chỉ có điều là cộng đồng KHCN ở Việt Nam còn nhỏ bé và không liên quan trực tiếp đến xã hội, không tác động trực tiếp đến hàng triệu gia đình như trong giáo đục đào tạo nên nó chưa bị sức ép của xã hội mà thôi.  Đã có khá nhiều ý kiến của nhiều nhà khoa học lên tiếng về hoạt động KHCN của Việt Nam là trì trệ, là 50 năm không có một công trình đáng giá, là đáng báo động SOS, là một nền KHCN đang khủng hoảng, vv… Cũng đã có khá nhiều phân tích, tổng kết và nhiều số liệu được đưa ra để minh chứng cho các đánh giá trên đây là hoàn toàn không phải là không có cơ sở. Này nhé, một nền KHCN mà trong nhiều thập kỷ số bằng sáng chế, phát minh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đến những công bố khoa học đạt chuẩn quốc tế được coi là một trong những sản phẩm chính thống của KHCN cũng nghèo nàn đáng để mà suy ngẫm: một đất nước có đội ngũ KHCN khá đông đảo những người có đẳng cấp khoa học cao và có “bề dày thành tích” nhưng lại có số lượng công bố đạt chuẩn quốc tế quá khiêm tốn khi so sánh với các nước quanh ta, chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, 1/3 của Malaysia, và 1/14 của Singapore và thấp hơn Philippines (3.901 bài) và Indonesia (4.389 bài). Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là với tốc độ như hiện nay thì cái khoảng cách tụt hậu về KHCN còn có nguy cơ ngày càng xa hơn so với các nước trong khu vực (1).  Dẫu có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, nhiều cách đánh giá khác nhau, nhưng một điều dễ nhận thấy nhất là hiệu quả hoạt động KHCN của ta còn thấp kém, mờ nhạt. KHCN của ta không những chưa mảy may phát huiy được vai trò động lực cho nền kinh tế đang phải đối mặt với cạnh tranh ở quy mô toàn cầu mà tự thân nó với tư duy và cung cách đang vận hành thì khả năng tự biến cải để hòa nhập quốc tế nghe ra vẫn còn xa vời. Đây là vấn đề đáng để bất cứ ai còn chút lòng tự trọng của kẻ sĩ cũng phải nghĩ suy, cật vấn lương tâm để mà tìm ra lời giải. Đã không ít các học giả trong nước và quốc tế (các GS Hoàng Tụy, Phạm Hiển, Nguyễn Văn Tuấn và nhóm các nhà khoa học tham gia diễn dàn KHCB và gần đây nhất là sáng kiến của các nhà khoa học Hàn Quốc về chương trình Pioneer) đã phân tích, hiến kế cho KHCN Việt Nam phương cách, đường hướng thoát khỏi tình trạng trì trệ để cất cánh. Đã có không ít “hội nghị, hội thảo Diên Hồng” với mong muốn có được những ý kiến nói thẳng, nói thật về về thực trạng KHCN ở Việt Nam để tìm ra giải pháp, cách đi phù hợp cho KHCN Việt Nam theo kịp nền kinh tế đang tăng tốc. Chủ trương của nhà nước đã có, các ý kiến tâm huyết của các nhà khoa học và giải pháp được đưa ra cũng không ít, nhưng đâu đó lực cản vô hình và hữu hình còn hiển hiện. Trong một diễn dàn nhỏ mới đây ở báo Tia Sáng, nhiều ý kiến thẳng thắng chỉ ra lực cản lớn nhất hiện nay là các nhóm lợi ích, trong đó gồm những nhà quản lý, những công chức khoa học có thế lực, có khả năng lũng đoạn, muốn kéo dài tình trạng quản lý KHCN như hiện nay để họ hưởng lợi. Cái lợi mà họ đang thu được không hơn không kém là hành vi tham nhũng trong hoạt động KHCN. Rõ ràng, chỉ khi nào gọi đúng căn bệnh thâm căn, cố đế đang nhân danh KHCN nhưng làm biến dạng nền KHCN chân chính thì mới hy vọng đưa ra liệu pháp đúng để đưa KHCN vào hoạt động đúng như những gì nó phải có và phải làm. Đã không ít ý kiến thẳng thắn cho rằng đã đến lúc và trước hết chúng ta phải tuyên chiến với các nhóm lợi ích đang lũng đoạn KHCN, đang muốn kéo dài tình trạng “đục nước béo cò” để hưởng lợi, bất chấp lợi ích đất nước cũng như các chuẩn mực quốc tế. May thay, vận nước đang thay đổi, KHCN không thể mãi đứng ngoài tiến trình đó. Với việc ra nhập công đồng quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện, cũng như các lĩnh vực khác, KHCN không còn con đường nào khác – đó là con đường hòa nhập quốc tế. Như vậy, dù ai đó muốn cản trở cũng chỉ có thể làm chậm bước đi chứ không thể không thể níu kéo mãi tình trạng trì trệ như hiện nay và càng không thể xoay chiều xu thế hội nhập và các chuẩn mực quốc tế được. Vấn đề còn lại là những người quyết định đường lối, chính sách KHCN có muốn làm và dám làm để đẩy nhanh tốc độ hội nhập không mà thôi.  Để xây dựng một nền KHCN lành mạnh và phát huy hiệu quả, trong một bài trước đây tôi đã phân tích 6 yếu tố cần và đủ để phát triển KHCN ở Việt Nam, đó là Hệ thống chính sách, (nói đúng hơn là hệ thống quản lý), nguồn nhân lực tốt, điều kiện nghiên cứu, Môi trường hợp tác, Thị trường KHCN và việc tổ chức hệ thống KHCN thích hợp (2). Tuy nhiên, chúng ta không thể chờ đến lúc hội đủ cả các yêu tố trên mới đưa KHCN vào vận hành được mà vấn đề quan trọng hiện nay là một mặt cần phải xây dựng một lộ trình thích hợp để phát triển KHCN Việt Nam đạt trình độ quốc tế trong vòng vài ba thập kỷ. Ngay lúc này chúng ta có thể và cần tổ chức lại hệ thống KHCN để phát huy được những gì ta đang có và để từ đó KHCN của ta đi đúng hướng và phát huy hiệu quả cao nhất. Để KHCN trở nên lành mạnh và vận hành tốt, không có con đường nào khác ta phải nói lời chia tay với tư duy và cách làm không giống ai xưa nay, để hội nhập quốc tế không có cách nào khác phải tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực và luật chơi quốc tế.  Việc cần thiết trước tiên là phải tham khảo các mô hình tổ chức KHCN của thế giới để tổ chức lại hệ thống KHCN ở nước ta.  II. Tham khảo các mô hình tổ chức KHCN  Trên thế giới có khá nhiều mô hình tổ chức KHCN, nhưng chung quy có 2 mô hình chính: mô hình tách biệt hệ thống các nghiên cứu và đào tạo theo mô hình của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN trước đây.  Ở những nước này thành lập hệ thống các Viện nghiên cứu khoa học, nông nghiệp, y học, quân sự vv.. chủ yếu chỉ nghiên cứu và đào tạo nghiên cứu sinh. Hệ thống các Viện nghiên cứu này có quyền năng và được nhà nước giao nhiệm vụ và ưu tiên cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu. Còn hệ thống các trường đại học chủ yếu chỉ đào tạo, chức năng nghiên cứu bị coi nhẹ, thậm chí chỉ để phục vụ ho việc thực tập của sinh viên. Hệ thống KHCN này mặc dù có một số ưu điểm nhất định như có thể tập trung nhân tài, vật lực để tập trung giải quyết một vấn đề nào đó, nhất là các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, nhưng nhìn chung nó được vận hành theo kiểu hành chính, mệnh lệnh. Một hệ thống nghiên cứu được bao cấp, biên chế nhân sự cứng nhắc, ít phải cạnh tranh dẫn đến hiệu quả nghiên cứu KHCN thấp (số bài báo công bô đạt chuẩn quốc tế, số giải thưởng nobel, số sáng chế phát minh được đăng ký đều ít). Rõ ràng, mô hình này có nhiều hạn chế và khiếm khuyết do cơ chế quản lý vẫn nặng tính hành chính bao cấp và không tạo ra được môi trường cạnh tranh trong KHCN. Hơn nữa, đặc thù của hệ thống này là đề cao hoặc khuyến khích tạo ra những quan trường trong khoa học mà hầu như không mấy coi trọng đến hiệu quả hoạt động KHCN. Việc tạo ta quá nhiều chức tước khoa học như PGS, GS, Viện sĩ thông tấn, Viện sĩ chính thức và nhiều bằng cấp khoa học như PTS, TS (tương đương tiến sĩ, tiến sĩ khoa học), không những mất nhiều thời gian công sức cho các chức tước, bằng cấp này mà còn tạo ra một tầng lớp thần quyền trong khoa học với nhiều đặc quyền đặc lợi. Tầng lớp này một khi có quyền lực chỉ thích ý kiến xuôi chiều mà dị ứng với quan điểm hay ý kiến khác biệt, đó là cách hành xử tối kỵ trong KHCN vì dẫn đến sự triệt tiêu sự sáng tạo trong KHCN. Ngoài ra, một khi những người có quyền lực mà có những quan điểm sai lầm (như Lưxenko) trở thành vật cản cho phát triển KHCN, phải mất hàng thế hệ mới hy vọng sửa chữa sai lầm như vậy. Theo mô hình tách biệt nghiên cứu và đào tạo nên nguồn nhân lực được đào tạo ra thường không được cập nhật, ít có khả năng tương thích với thực tế cuộc sống và khả năng sáng tạo không cao. Mặc dù hệ thống tổ chức này đến nay đã có nhiều thay đổi theo hướng giảm dần vai trò của các Viện và tăng cường vai trò nghiên cứu cho các trường đại học. Tuy nhiên, một thiết chế KHCN đồ sộ về mặt tổ chức và quyền năng, đã tồn tại nhiều chục năm nên việc chuyển đổi không dễ dàng như mong muốn.  Gần như đối lập với mô hình KHCN trên đây là hệ thống tổ chức KHCN ở Mỹ và nhiều nước Tây Âu. Ở đây, nghiên cứu được triển khai chủ yếu ở các trường đại học. Thực ra ở các nước phát triển đều tổ chức theo mô hình này nhưng có lẽ ở Mỹ hệ thống nghiên cứu này khá điển hình và áp dụng rộng rãi cho các Viện nghiên cứu, trường đại học. Nhìn chung hệ thống tổ chức KHCN ở Mỹ có thể bao gồm các tổ chức sau đây:  Hệ thống các trường đại học (University): trường đại học ở Mỹ không những là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là các trung tâm nghiên cứu quan trọng nhất. Ở đây chủ yếu nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển công nghệ mũi nhọn.  Hệ thống các Viên nghiên cứu quốc gia (như Cơ quan nghiên cứu hàng không và vũ trụ (NASA), Viện Y tế quốc gia, Viện Công nghệ Massachussset, Viện Công nghệ California, vv.. (Thực ra Viện Công nghệ Massachussset, Viện Công nghệ California có tên gọi là Viện Công nghệ nhưng cũng là các trường đại học nghiên cớu), nghiên cứu sâu về các lĩnh vực ưu tiên, đặc thù.  Hệ thống nghiên cứu ở một số bộ ngành đặc thù như Bộ Nông nghiệp, Bộ Nội địa (Thiên nhiên và Môi trường), Bộ Năng lượng, Bộ Giao thông hay các Bảo tàng tự nhiên. Các nơi này nghiên cứu chủ yếu phục vụ dự tính, dự báo, bảo về và bảo tồn tài nguyên và môi trường.  Hệ thống nghiên cứu ở các doanh nghiệp, công ty lớn (Silicon Valley) nghiên cứu triển khai và ứng dụng  Đặc biệt, khác với nhiều nước, ở Mỹ không có Bộ Khoa học Công nghệ, chỉ có Bộ Giáo dục và ngay cả Bộ Giáo dục liên bang cũng không quản lý trực tiếp hoạt động KHCN hay giáo dục đào tạo như ở Việt Nam. Thay vào đó hoạt động KHCN ở Mỹ hoàn toàn do các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu có toàn quyền định đoạt. Tất nhiên, toàn quyền định đoạt ở đây được hiểu là các trường, viện có quyền tổ chức hệ thống nghiên cứu của mình sao cho hiệu quả nhất, các nhà khoa học có quyền tự do tìm các nguồn tài trợ, tự do nghiên cứu và sáng tạo. Đương nhiên, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm mà vẫn phải tuân thủ luật pháp và các quy chế của các quỹ hoặc tổ chức tài trợ kinh phí cho nghiên cứu. Ở quy mô Liên bang có 2 tổ chức có ảnh hưởng và chi phối đối với hoạt động KHCN là Viện Hàn Lâm Khoa học Quốc gia Mỹ (USNAS) và Quỹ Khoa học quốc gia (USNSF). Cả hai tổ chức này không phải là những chế tài quản lý hành chính mà là những tổ chức hoạt động tư vấn và tài trợ. USNAS là Hiệp hội với hơn hai ngàn nhà khoa học hàng đầu của Mỹ và một số nhà khoa học quốc tế. hoạt động tư vấn và phản biện với 2 chức năng cơ bản i) tư vấn độc lập về đường lối chính sách KHCN cho chính phủ liên bang, và ii) tham gia bình duyệt, thẩm định các đề tài, đề án xin tài trợ từ Quỹ khoa học Quốc gia. Còn Quỹ khoa học Quốc gia (NSF) hàng năm được Quốc hội phê chuẩn cấp kinh phí khoảng 6 tỷ US dollars, trong đó phần lớn để tài trợ nghiên cứu, một phần nhỏ tài trợ cho giáo dục.  Đơn vị nghiên cứu cơ bản ở Mỹ là các phòng thí nghiệm (Lab). Các Lab trực thuộc các phòng nghiên cứu chuyên ngành (Department) và trên các phòng nghiên cứu trực thuộc các Viện nghiên cứu, trường đại học. Mỗi phòng nghiên cứu như vậy bao gồm từ ít nhất là 5, 10 đến 20 thậm chí 30 Lab). Mỗi Lab là một nhóm nghiên cứu khá độc lập do một Faculty (là PGS, GS hay NCVC, NCVCC) đứng đầu và có 2-3 nghiên cứu viên (research staff) là những người có trình độ TS hoặc sau TS (postdoc), 3-5 Trợ lý nghiên cứu (research asisstants) thường là nghiên cứu sinh (graduate students). Mỗi Lab như vậy chỉ có người đứng đầu (Faculty) là thuộc diện biên chế thường xuyên của trường/viện, còn những người khác thuộc hợp đồng có thời hạn, theo nhiệm kỳ của đề tài nghiên cứu (thường được thông báo tuyển chọn trên qui mô quốc gia hoặc quốc tế).  Mỗi Lab như vậy có đủ điều kiện thiết bị và nhân lực để triển khai một nghiên cứu độc lập. Về cơ sở vật chất: Tùy thuộc vào đặc thù nghiên cứu, mỗi Lab gồm 1-2 phòng thí nghiệm lớn (diện tích 80-100 m2) để lắp đặt thiết bị nghiên cứu và 1 phòng làm việc (office room) diện tích 24 m2 cho trưởng Lab. Đầu tư trang thiết bị cho 1 Lab như vậy khoảng 500,000 đến 1 triêu US$ (đối với các Lab về Sinh học).  Mô hình các Lab, trong đó người đứng đầu có vai trò như kiến trúc sư trưởng, đưa ra ý tưởng, xin kinh phí tài trợ từ các nguồn khác nhau và trực tiếp tuyển chọn đội ngũ nhân lực tham gia thực hiện đề tài. Đây thực sự là mô hình rất năng động. Các Lab thực sự là nơi sản sinh ra các sản phẩm nghiên cứu KHCN (công bố quốc tế, pattents, đào tạo NCS). Vì vậy việc xây dựng được hệ thống các Lab tiêu chuẩn có tầm quan trọng đặc biệt. Việc xác định hệ thống các Phòng nghiên cứu và các Lab phải trên nhu cầu phát triển KHCN, thế mạnh và nguồn nhân lực dẫn đầu của từng trường đại học, Viện nghiên cứu, do Hội đồng Giáo sư xem xét và đề nghị. Các vị trí Faculty (các PGS và NCVC trở lên) là linh hồn của các Lab được thiết kế, quy hoạch và thông qua một quy trình tuyển chọn chặt chẽ các ứng viên quốc gia và quốc tế. Quy trình này cho phép tuyển chọn được những người thực sự dẫn đầu trong lĩnh vực chuyên môn hẹp, là những người không những đã có kinh nghiệm trong nghiên cứu mà còn  có kinh nghiệm trong chỉ đạo nghiên cứu và đặc biệt là những người đã có thành tích chuyên môn xuất săc (trên cơ sở các công bố quốc tế trong 5 năm gần nhất). Như vậy, các vị trí các Faculty này rất quan trọng, phải thực chất, được tuyển chọn công khai và bổ nhiệm theo tiêu chuẩn quốc tế. Chỉ trên cơ sở như vậy thì việc đầu từ cho nghiên cứu KHCN mới hiệu quả.  Như vậy có thể thấy một số đặc thù quan trọng trong hệ thống KHCN ở Mỹ (và hầu hết ở các nước có nền KHCN phát triển khác) rất khác với hệ thống tổ chức KHCN của ta, đó là: i) Hệ thống quản lý và hoạt động KHCN không tổ chức theo cấp hành chính từ trung ương đến địa phương mà được tổ chức ở các trường đại học và Viện nghiên cứu và các công ty; ii) Mặc dù hệ thống KHCN được tổ chức khá đa dạng nhưng lại có sự “phân công tự nhiên” về chức năng và nhiệm vụ của mỗi hệ thống, mỗi tổ chức thích ứng với mục đích hoạt động của hệ thống, tổ chức đó; iii) Tính độc lập cao cho các trường và viện nghiên cứu nơi triển khai các hoạt động KHCN, nhà nước chỉ đóng vai trò tư vấn hỗ trợ chứ không trực tiếp quản lý hoạt động KHCN; iv) Nghiên cứu KHCN và đào tạo nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền với nhau; và v) Tổ chức nghiên cứu KHCN cơ bản là hệ thống các phòng thí nghiệm, không những cho phép các nhà khoa học phát huy tính chủ động, sáng tạo trong một môi trường hợp tác và cạnh tranh lành mạnh mà còn gắn quyền lợi và trách nhiệm với nhà khoa học và tập thể nghiên cứu do nhà khoa học đứng đầu.    III. Mô hình tổ chức KHCN tối ưu cho Việt Nam  Hệ thống KHCN của ta hiện nay chủ yếu theo mô hình của Liên Xô trước đây, qua nhiều chục năm không những đã tỏ ra lạc hậu và kém hiệu quả mà còn để lại những di chứng nặng nề đối với hệ thống và cả với tư duy của cả một tầng lớp các nhà KHCN. Cũng còn may là một nước đi sau và từ một xuất phát điểm còn thấp nên Việt Nam có thể dễ dàng chuyển đổi theo mô hình KHCN của Mỹ và Tây Âu.  A. Đổi mới hệ thống quản lý KHCN  Đổi mới hệ thống KHCN có một ý nghĩa tiên quyết, không những triệt tiêu lực mọi lực cản hiện nay mà còn tạo động lực mới cho KHCN vận hành tốt và tăng tốc. Trước hết để KHCN và GD ĐT song hành và bổ trợ đắc lực cho nhau cần thiết phải sát nhập chức năng KHCN của Bộ KHCN sang Bộ GD ĐT thành Bộ KHCN- GDĐT.  Thành lập Viện hàn lâm Khoa học Việt Nam theo mô hình Mỹ, tập hợp các nhà khoa công nghệ hàng đầu để tư vấn chính sách KHCN (thông qua Hội đồng Chính sách KHCN) cho nhà nước. Trước mắt, khi chưa thành lập Viện hàn lâm Khoa học Việt Nam, có thể thành lập mới Hội đồng KHCN Quốc gia, trong đó có các Hội đồng KHCN chuyên ngành đảm nhiệm chức năng tư vấn và thẩm định các đề án KHCN.  Thành lập Quỹ KHCN quốc gia (đã có). Quỹ KHCN quốc gia là tổ chức độc lập hoạt động phi lợi nhuận. Quỹ có chức năng tập hợp các nguồn kinh phí, xem xét và tài trợ kinh phí cho các hoạt động KHCN – GD ĐT đồng thời quản lý và giám sát việc sử dụng nguồn kinh phí hiệu quả nhất. Quỹ quốc gia tài trợ kinh phí chủ yếu cho các nghiên cứu cơ bản và có thể tài trợ một phần cho các nghiên cứu triển khai, cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi đối với các nghiên cứu ứng dụng hoặc đề án sản xuất thử.  Tăng kinh phí cho KHCN: tương đương mức trung bình của thế giới là 2-3 % GDP thay cho mức 2% chi ngân sách như hiện nay. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, nhà nước có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà tài trợ quốc tế, các nhà hảo tâm, vv…đóng góp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu KHCN.  Thành lập hệ thống nghiên cứu và đào tạo trên cơ sở các phòng thí nghiệm (Lab) và nguồn nhân lực (đáp ứng tiêu chí quốc tế) hiện có. Mạnh dạn bỏ hệ thống biên chế theo kiểu hành chính, cứng nhắc, kém hiệu quả hiện nay sang mô hình tổ chức phòng thí nghiệm (Lab). Giao quyền tự chủ cho nhà khoa học đứng đầu Phòng thí nghiệm trong việc xin tài trợ và tổ chức nghiên cứu, tự do sáng tạo.  Xác định sản phẩm KHCN theo chuẩn quốc tế: đó là các sáng chế phát minh (patents), các công bố quốc tế và các tiến sĩ đạt chuẩn quốc tế được đào tạo. Cần nâng cấp nhanh chóng và quốc tế hóa các tập chí KHCN của Việt Nam    B. Đổi mới hệ thống các tổ chức nghiên cứu KHCN  Tổ chức hệ thống nghiên cứu kết hợp đào tạo tại các trường đại học. Hiện tại các trường đại học ở Việt Nam chủ yếu chỉ đào tạo, còn chức năng nghiên cứu hoặc chưa có hoặc còn yếu. Cần tăng cường chức năng nghiên cứu. Các GS, PGS cần giành khoảng 70% quỹ thời gian cho nghiên cứu. Công bố quốc tế và chất lượng giảng dạy phải được coi là tiêu chí thăng tiến của các GS, PGS tại các trường đại học.  Chuyển đổi Viện KHCN VN sang theo mô hình Viện Công nghệ California hay Viện Công nghệ Masachssetts, ngoài chức năng nghiên cứu voons có tăng cường chức năng đào tạo nguồn nhân lực KHCN cao.  Sát nhập Viện KHXH Việt Nam vào Học Viện Chính trị Quốc gia với chức năng nghiên cứu và đào tạo theo mô hình đại học Harvard hay và Học viện Hành chính Quốc gia Paris  Đổi mới tổ chức và chức năng của các Viện nghiên cứu thuộc Bộ Nông nghiệp, Y tế theo hướng gọn nhẹ, tinh nhuệ. Giảm quy mô và chức năng các Viện này trong khuôn khổ nghiên cứu triển khai và nghiên cứu ứng dụng. Chuyển các nghiên cứu cơ bản về các trường đại học.  Tương tự, đổi mới tổ chức và chức năng của các Viện nghiên cứu thuộc Bộ Quốc Phòng, Công An ế theo hướng gọn nhẹ, tinh nhuệ. Chuyển các nghiên cứu cơ bản về các trường đại học thuộc hệ thống An ninh, Quốc Phòng  Khuyến khích thành lập các Viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm thuộc các công ty, doanh nghiệp lớn.  C. Đổi mới hệ thống nghiên cứu tại các trường đại học, Viện nghiên cứu  Tổ chức hệ thống các phòng thí nghiệm chuẩn (đối với khoa học tự nhiên) hay các ban (section), phòng (department) nghiên cứu chuẩn (đối với khoa học xã hội) tại các trường đại học, Viện nghiên cứu, gọi tắt chung là phòng thí nghiêm (Lab).  Tiêu chí xác định các phòng thí nghiệm: Đây cũng là tiêu chí tuyển chọn và thành lập các nhóm nghiên cứu tiên phong trong giai đoạn hiện nay:  Có chức năng nghiên cứu và đào tạo thuộc một trường đại học, Viện nghiên cứu  Về nhân sự: có người đứng đầu đủ trình độ tổ chức hoạt động nghiên cứu và đào tạo. Có sẵn nguồn nhân lực đạt yêu cầu dự kiến (2-3 tiến sĩ, 2-3 NCS) để triển khai nghiên cứu và đào tạo.  Về cơ sở vật chất: đã có sẵn cơ sở vật chất khá tốt (chiếm 50-75% yêu cầu đầu tư trở lên). Có thể ngoại lệ trong một số trường hợp tổ chức nhóm nghiên cứu mới hoàn toàn.  Về kinh nghiệm: đã tổ chức những đề án nghiên cứu được đánh giá tốt và có các công bố quốc tế. đã và đang đào NCS đạt trình độ tốt (quốc tế).  Trong các tiêu chí trên đây: người đứng đầu đủ trình độ tổ chức hoạt động nghiên cứu và đào tạo theo chuẩn quốc tế là tiêu chí quan trọng nhất.  D. Các tiêu chí đánh giá tuyển chọn nhóm KHCN và người chủ trì các nhóm KHCN tiên phong (4)  1. Tiêu chuẩn người đứng đầu nhóm nghiên cứu (Lab). Người đứng đầu nhóm nghiên cứu cũng là người lãnh đạo Lab có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống KHCN. Đây cũng là tiêu chí tuyển chọn và thành lập các nhóm nghiên cứu tiên phong trong giai đoạn hiện nay:  Thuộc cán bộ cơ hữu trường đại học, Viện nghiên cứu có trình độ Tiến sĩ trở lên (điều kiện tiên quyết).  Đã và đang chủ trì các đề tài nghiên cứu đạt trình độ quốc tế (điều kiện ưu tiên)  Trong 5 năm trở lại đây có ít nhất 2-3 công bố quốc tế thuộc danh sách International Citation Index (ICI) (điều kiện tiên quyết).  Đã và đang đào tạo TS đạt trình độ tốt (quốc tế). (điều kiện ưu tiên)  Trong các tiêu chí trên đây: thành tích hoạt động KHCN thông qua các công bố quốc tế là tiêu chí quan trọng nhất.  2. Tiêu chí của các đề án KHCN khả thi (để tài trợ kinh phí nghiên cứu). Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu thuyết minh của Quỹ khoa học công nghệ quốc gia. Nhưng đáp ứng các tiêu chí quan trọng sau đây.  Có mục tiêu nghiên cứu (rõ ràng)  Tại sao lại nghiên cứu (sự cần thiết của nghiên cứu)  Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục đào tạo, hoặc bổ sung vào tri thức nhân loại.  Có sản phẩm cụ thể (công bố quốc tế, pattents, NCS bảo vệ thành công luận án)  Phương pháp nghiên cứu hiện đại, cập nhất quốc tế và có tính khả thi cao  Lực lượng nghiên cứu: Người chủ trì nhóm nghiên cứu có phẩm chất khoa học và kinh nghiệm triển khai một đề án theo tiêu chuẩn quốc tế (như trên). Có đủ 3-5 cộng tác viên có kinh nghiệm nghiên cứu và phẩm chất khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế, đã có tối thiểu 1 công bố quốc tế (Trong đó có những công bố chứng tỏ đã hợp tác và làm việc nhóm có hiệu quả).  Cơ sở vật chất: Phòng thí nghiệm, trang thiết bị, tài liệu, hệ thống nối mạng. Cơ sở vật chất tối thiểu đảm bảo 75% nhu cầu của đề án đăng ký  Hợp tác quốc tế: kèm theo bản thuyết minh có văn bản cam kết hợp tác của các nhà khoa học quốc tế có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu.  Thuyết minh kinh phí rõ ràng và hợp lý  Do trình độ KHCN của ta còn thấp, vì vậy cần khuyến khích việc tạo dựng các nhóm KHCN tiên phong, trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng như trên, không nhất thiết hạn chế 200 nhóm (Lab) mà có thể ít hơn hoặc nhiều hơn, phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất của đội ngũ KHCN hiện có. Tuy nhiên theo dự đóan cá nhân, con số này có thể là 300-500 nhà khoa học có khả năng thành lập nhóm khoa học tiên phong.  3. Kinh phí cho đề án KHCN tiên phong.  Khoảng 1,6 – 2, 0 tỷ VND năm (tương đương 100-120 US$/năm). Nguồn kinh phí này được xác định trên cơ sở thuyết minh hợp lý của đề án và được chi cho các khoản sau đây:  Nhu cầu nghiên cứu: vật tư, nguyên liệu tiêu hao, chi phí đi lại tổ chức khảo sát thực địa  Chi bảo dưỡng khấu hao thiết bị đã có,  Có thể mua sắm thêm thiết bị cho đề án (không quá 25% tổng kinh phí)  Chi phí thu nhập của thành viên đề tài (trong đó chủ trì có mức thu nhập 1000-1200 US$, thành viên đề tài 500-600 US$) (Mỗi năm nguyên khoản chi này chiếm khoảng 50% kinh phí đề án, tức khoảng 60,000 US$)  Chi phí tham dự Hội nghị Hội thảo quốc tế  Chi phí tiền ăn ở và làm việc cho chuyên gia quốc tế đến hợp tác và làm việc trong khuôn khổ đề tài  4. Quy trình tuyển chọn đề tài KHCN tiên phong  Bước 1: Nộp ý tưởng (Letter of Intention) theo mẫu thiết kế với khoảng 10-15 trang – bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh  Bước 2: Hoàn thành và nộp đề án đầy đủ (project detail decription): 75-100 trang (kể cả phụ lục) – bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh (hoặc ít nhất là tóm tắt bằng tiếng Anh)  Bước 3: Thỏa thuận và Ký hợp đồng với Quỹ khoa học quốc gia  5. Yêu cầu thẩm định  Thành lập các Hội đồng tuyển chọn đề tài là những nhà KH không những có kinh nghiệm và trình độ quốc tế mà còn là những người có đạo đức nghề nghiệp và khả năng thẩm định công bằng và khách quan (đối với các đề tài có yêu cầu kinh phí lớn. VD đề tài có kinh phí từ 75,000 US$ có thể mời thêm chuyên gia quốc tế tham gia thẩm định và phản biện)  Mỗi đề án có 3 chuyên gia cùng lĩnh vực nhận xét độc lập (refferees), trong đó ít nhất có 1 chuyên gia quốc tế. Ngoài ra, nên mời chuuyên gia quốc tế tham gia các Hội đồng thẩm định (Evaluation Commitee)  Mô hình KHCN trên đây có thể đáp ứng và tương thích đồng thời với 3 đề án, chương trình đang được bàn thảo nhiều như đề án “200 nhà KHCN tài năng được trả lương 1-2000 USD/tháng”, hay “Chương trình Pioneer” do nhóm chuyên gia Hàn quốc đề xuất, hoặc “mô hình 200 nhóm KHCN tiên phong” do GS Phạm Duy Hiển đề xuất (3).  Việc tổ chức lại hệ thống KHCN với các tiêu chí như trên chắc chắn sẽ làm thay đổi cơ bản hệ thống KHCN hiện nay. Một trong những khó khăn khi thay đổi lớn là quá trình chọn lọc sắp xếp lại nguồn nhân lực KHCN hiện có. Sẽ có khá nhiều người bị dôi dư do không đáp ứng được tiêu chí mới hoặc không được tuyển chọn tham gia các đề tài. Trong đó có thể có một số người có học hàm học vị cao nhưng có thể sẽ không đáp ứng tiêu chí người đứng đầu nhóm nghiên cứu mới , thì cần có chế độ chính sách đối với những người này như đảm nhiệm một số nhiệm vụ mang tính chất ứng dụng, triển khai, dịch vụ KHCN nếu họ đảm nhận được hoặc được tạo điều kiện chuyển công tác về các trường đại học, cao đẳng mới thành lập hoặc chờ nghỉ chế độ hoặc thu xếp một việc làm phù hợp nào khác hợp với nguyện vọng và khả năng.   Như đã phân tích ở trên một trong những trở ngại và rào cản lớn hiện nay là thu nhập của nhà khoa học không đủ sống để làm việc bình thường. Mặc dù lương bổng và thu nhập cho nhà khoa học có được cải thiện dần dần, nhưng chắc chắn nhà nước không thể tăng lương đồng loạt cho tất cả đội ngũ cán bộ KHCN. Mô hình tổ chức mới sẽ cho cho phép sàng lọc được một đội ngũ KHCN tinh hoa, đáp ứng khả năng hội nhập quốc tế và từ đó thông qua đề tài nghiên cứu nhà khoa học có thể được cải thiện thu nhập của mình.  Mô hình sẽ khuyến khích tất cả những ai muốn làm khoa học thật sự thì chỉ có con đường học thực bằng thật, kiến thức thật, hạn chế được sự ham hố quyền lực, lãng phí chất xám, quyền lực khoa học (đúng hơn là quyền tự chủ và sáng tạo đích thực) được trao cho nhà khoa học. Chỉ có thay đổi này chúng ta mới có thể hy vọng có được một nền KHCN lành mạnh vcà đủ khả năng hội nhập quốc tế.  Như vậy để KHCN Việt Nam phát huy hiệu quả và thật sự đáp ứng yêu cầu hội nhập và cạnh tranh của nên kinh tế quốc tế, chúng ta không thể chậm trễ hơn mà cần phải dũng cảm lựa chọn giải pháp thay đổi thật sự và thay đổi cơ bản. Bất cứ thành công nào cũng phải có sự trả giá, có thể cả bằng sự hy sinh và đau đớn. Vấn đề là những người lãnh đạo, quản lý KHCN có đủ bản lĩnh và quyết tâm không mà thôi. Thời gian và nhu cầu cuộc sống sẽ không chờ đợi ại, chúng ta càng quyết tâm hành động sớm chừng nào thì sự trả giá càng thấp hơn để trước khi đã quá muộn.  E. Lộ trình chuyển đổi  Để tránh sự xáo trộn lớn, dự án chuyển đổi hệ thống KHCN trên đây nên thực hiện theo một lộ trình 3 giai đoạn sau đây:  Giai đoạn 1: từ nay đến năm 2010:  Áp dụng các tiêu chí và chuẩn mực quốc tế để đánh giá, tuyển chọn các đề tài đề án.  Ưu tiên các nhà khoa học, các nhóm nghiên cứu và các đề án có chất lượng cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm KHCN đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế  Nói không với các đề tài đề án không có mục tiêu rõ ràng hoặc không khả thi  Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự đổi mới toàn hệ thống  Giai đoạn 2: từ năm 2010 đến năm 2015  Chuyển đổi hệ thống quản lý KHCN theo đề án.  Tổ chức hệ thống các phòng thí nghiệm chuẩn và các nhóm nghiên cứu tiên phong  Loại bỏ hoàn toàn các tổ chức, cá nhân không đáp ứng chuẩn KHCN quốc tế  Giai đoạn 3: từ năm 2015 trở đi. Hoàn thiện hệ thống KHCN mới và vận hành theo chuẩn quốc tế.  Thực ra, nói thì dễ nhưng để làm được những ý tưởng trên không đơn giản, dòi hỏi phải quyết tâm cao. Ngay cả yêu cầu “quyết tâm cao” cũng chỉ là một câu khẩu hiệu không hơn không kém nếu không hành động. Để có quyết tâm và động cơ thật sự cho hành động thiết nghĩ cũng phải có chế tài công vụ đối với những người quản lý lãnh đạo: từ Bộ trưởng KHCN, GD ĐT, đến các Viện trưởng, Hiệu trưởng các trường Đại học phải có sản phẩm KHCN tương ứng với nguồn vốn đầu tư. Ví dụ, ở quy mô quản lý quốc gia ông Bộ trưởng phải cam kết sản phẩm KHCN đạt chuẩn quốc tế (số pattént, bài báo công bố, TS được đào tạo) tăng trưởng 20-30% mỗi năm. Tương tự, những người đứng đầu các tổ chức KHCN (trường đại học, Viện nghiên cứu cũng phải đưa ra các cam kết như vậy). Nhơ vậy, trước khi nhận trách nhiệm đứng đầu các chủ thể KHCN , ứng viên phải cam kết và đưa ra cương lĩnh hành động khả thi (cách tổ chức và vận hành) để đạt để đạt được mục tiêu.Nếu giữa nhiệm kỳ xét thấy không đạt được mục tiêu đã cam kết thì phải tự động từ chức để người khác xứng đáng hơn đảm nhân. Chỉ một khi gắn quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng như vậy mới hy vọng thay đổi, khi đó quyết tâm cao không chỉ là câu khẩu hiệu mà là hành động. Chắc chắn những người không có năng lực sẽ không dám nhận các vị trí quan trọng này, hoặc có liều nhận nhưng không đưa ra được cương lĩnh và giải pháp khả thi cũng sẽ bị loại. Chỉ khi nào làm được như vậy mới hy vọng tránh được hiện tượng lãnh đạo “ngồi nhầm ghế” như hiện nay.  (1)  Công bố quốc tế là nghĩa vụ của nhà nghiên cứu. Tia Sáng 12/11/2007  (2)  Lời giải cho sự phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam. Tia Sáng 17/10/2007  (3)  Thử đi tìm một mô hình quản lý khoa học khác. Tia Sáng 27/9/2007  (4)   Ngoài một số điểm được cụ thể hóa, về cơ bản theo các tiêu chí của Chương trình nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh (Pioneer Program) do nhóm chuyên gia KISTEP Hàn Quốc đề nghị tại Hội thảo, Bộ KHCN ngày 30/8/2007.  *Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật  Nguyễn Ngọc Châu*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sự lãnh đạo và phẩm chất của người lãnh đạo      “Tôi sẽ là người sung sướng nhất đời nếu có cách gì làm cho người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý, và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh”.  Montesquieu  Mấy thế kỷ đã trôi qua, ý tưởng ấy của nhà “Khai sáng” dường như sống động hẳn lên trong đời sống của đất nước đang đứng trước một đòi hỏi thật bức xúc: đổi mới sự lãnh đạo và phẩm chất của người lãnh đạo.         Vụ án “quan ăn đất” với bản án của toà sơ thẩm Hải Phòng, một trò hề lố bịch và là sự khiêu khích trắng trợn của bọn tham nhũng đối với dư luận, và rồi quyết định phúc thẩm của TANDTC ngày 10.10.2006 hủy bỏ bản án sơ thẩm đó, là một ví dụ khá tiêu biểu. Khi phiên tòa phúc thẩm ngày 10.10.2006 tuyên hủy bỏ bản án sơ thẩm đáng xấu hổ kia, nhân dân đã biểu tỏ sự tán đồng bằng những tràng vỗ tay vang dội và công kênh “người anh hùng” của họ, người kiên trì cuộc đấu tranh chống lại bọn tham nhũng được sự bảo kê của các nhà cầm quyền Đồ Sơn và thành phố Hải Phòng.   Thái độ đó đã nói lên khát vọng của dân. Đó là khát vọng công lý, khát vọng dân chủ. Từ vụ án Đồ Sơn, bài học cần rút ra chính là bài học về “xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” mà Đại hội X đã nêu lên*. Đó chính là bài học về quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền, đảm bảo pháp quyền đứng trên Nhà nước, nhằm thực hiện khát vọng ngàn đời của nhân dân và cũng là sự đúc kết lý luận về Nhà nước của những bộ óc lớn của loài người: quyền lực là của dân và chỉ có thể là của dân, không thể của ai khác”.   Vở diễn quá vụng về của tòa sơ thẩm Hải Phòng, theo kịch bản đã soạn trước và đạo diễn là lực lượng đứng trên             Các bị cáo trong vụ án “quan ăn đất” ở   Hải Phòng          Tòa án, thách thức dư luận về tính bất hợp hiến và bất hợp pháp của sự “can thiệp quá sâu vào vụ án” của Đảng và Chính quyền thành phố Hải Phòng. Chính “các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” nói trên, những hoạt động bất hợp hiến và bất hợp pháp ấy đã biến việc xét xử của Toà án, một thể chế hoạt động độc lập chỉ tuân theo pháp luật trở thành con rối bị giật dây. Người điều hành con rối ấy, không ai khác, chính là “hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”, đối tượng mà Nghị quyết Đại hội X đòi hỏi phải “giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp”. Hành động vi hiến, đứng trên luật pháp của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hải phòng là một ví dụ điển hình. Điển hình cho cái gì, cho ai? Đấy mới là vấn đề của vấn đề.   Từ một vụ chống tham nhũng mà bật ra một trong cái gốc của tham nhũng. Bởi lẽ, quyền lực có xu hướng tham nhũng, quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối. Lord Acton đúc kết thực tế qua một sự khái quát mang tính quy luật ấy của mọi quyền lực từ cổ chí kim, từ tây sang đông. Bởi thế, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải có cơ chế ngăn chặn và kiểm soát cái “xu hướng” đó, mà cơ bản nhất, lâu dài nhất là thấm nhuần điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. “Quyền lực tuyệt đối” chỉ có thể là của dân, không thể để rơi vào tay cá nhân hay tổ chức nào. Quyền lực của Nhà nước cũng là quyền của dân trao cho. Làm sao để dân trao quyền mà không bị mất quyền, không bị lạm quyền, không bị tiếm quyền, đó là vấn đề hóc búa nhất của hành trình xây dưng nhà nước của dân, do dân và vì dân.  Trong điều kiện đặc thù của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền với sự lãnh đạo của một Đảng, thì cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là sự đúc kết thực tiễn để đưa ra một khái quát lý luận rất sáng tạo, có ý nghĩa chỉ đạo rất sinh động và cập nhật nhưng gần đây thấy ít nói đến. Đảng lãnh đạo Nhà nước để Nhà nước thực hiện thật tốt chức năng quản lý. Nhà nước quản lý tốt chính là thể hiện sinh động và thuyết phục về sự lãnh đạo của Đảng. Và, cái đích hướng tới của cả lãnh đạo và quản lý là nhằm thực hiện trong thực tế và bằng hành động vai trò làm chủ của nhân dân trên đất nước dân chủ của mình. Đây là một nét đặc trưng nhà nước dân chủ của ta so với các nhà nước dân chủ khác, trong đó, có thể có dân chủ song nhân dân chưa phải là người làm chủ. Chính vì thế, không thể gọi một nước do dân làm chủ mà lại không thực hiện dân chủ, không thành tâm mở rộng dân chủ, thể hiện trong cơ chế vận hành, trong chủ trương chính sách, và nhất là trong ứng xử đối với dân của bộ máy cầm quyền.  Từ bài học vụ án “quan ăn đất” ở Hải Phòng với phiên tòa sơ thẩm tai tiếng buộc phải có phiên phúc thẩm của TANDTC hủy bỏ bản án sơ thẩm tệ hại kia, cho thấy cuộc chiến gay go giữa cái “quán tính quyền lực” với hành trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền đang còn nhiều gian truân. Cái quán tính của một thứ quyền lực quen tự tung, tự tác vốn xem “chỉ thị, nghị quyết” của cấp ủy địa phương, một thứ “lệ” cao hơn “Luật”, thậm chí đặt “nghị quyết” trên cả Hiến pháp và Luật pháp. Bài học sâu sắc từ sự kiện nói trên càng thấy rõ, việc “xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” là một đòi hỏi bức xúc. Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế đó là một nhân tố cực kỳ quan trọng của phòng chống tham nhũng.    _______________________________  *Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXBCTQG. 2006, tr.45      Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô*      Nội dung tư duy cần đổi mới ở cấp độ vĩ mô bao trùm toàn bộ sự sống của đất nước, cho hôm nay và mai sau, phải dựa theo quy luật phát triển tư duy để phát triển cuộc sống của lịch sử nhân loại nói chung. Trong thực tế, những nội dung tư duy cần được đổi mới này cũng chính là những điều mà đất nước chưa có, hoặc có nhưng chưa tới độ cần thiết cho sự phát triển đất nước hôm nay và mai sau.     Và từ chỗ chưa có, hoặc có nhưng còn thấp đến chỗ có cho ra có hoàn toàn không đơn giản. Vấn đề là phải nhận chân được điều cần có để tìm mọi cách phát động dân tộc, trước hết là ở tầng lớp lãnh đạo quốc gia, đặc biệt tầng lớp trí thức phải đi đầu trong công cuộc khai mở, xây dựng cho đất nước có được những phẩm chất tư duy cần có đó.  Với quan niệm như trên, tôi xin đề xuất mấy vấn đề sau đây:    1. Phát triển tư duy trừu tượng khoa học   Trong tư duy của loài người, có hai kiểu, hai phương thức tư duy tiêu biểu: tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể. Năng lực tư duy trừu tượng khoa học là năng lực nhận thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn với nó là nhận thức về mối quan hệ vốn dĩ là trừu tượng và cũng rất phức tạp, chằng chịt của các hiện tượng. Trong khi năng lực tư duy cụ thể thì kết quả nhận thức sự vật chủ yếu ngừng ở hiện tượng cụ thể nếu có nhận thức được quan hệ giữa các hiện tượng thì cũng chỉ ở mức đơn giản, thô sơ.   Trong năng lực tư duy trừu tượng lại có hai trạng thái: Một thứ trừu tượng từng được mệnh danh là trừu tượng khoa học bởi lẽ nó xuất phát từ hiện thực khách quan của sự sống. Một thứ trừu tượng được mệnh danh là tư biện (spéculatif) là thứ trừu tượng đơn thuần không dựa trên thực tế khách quan. Dĩ nhiên, điều cần phát triển là tư duy trừu tượng khoa học. Ngược lại, với trừu tượng tư biện thì cần loại bỏ.  Có thể nói được rằng: Người Việt Nam ta giàu về tư duy cụ thể mà nghèo về tư duy trừu tượng. Cứ nhìn vào kho từ vựng tiếng Việt thì thấy rõ điều đó. Từ cụ thể thì phong phú vô cùng. Còn từ trừu tượng thì nghèo và chủ yếu là ngoại nhập. Với ta, cùng một động tác di chuyển một vật thể đến một chỗ khác thì có không biết bao nhiêu là từ: mang, xách, ẵm, gồng, gánh, bê, bưng… trong khi với ngôn ngữ Pháp chẳng hạn một từ “porter”là đủ.  Ở ta, không có truyền thống tư duy trừu tượng là do kinh tế Việt Nam xưa là kinh tế nông nghiệp. Tuy dã có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển như ở các nước đã phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế hàng hoá là cơ sở phát triển tư duy trừu tượng. “Hàng hoá” là biểu tượng có khả năng trừu tượng hoá mọi vật thể, kể cả lương tâm. Điều đáng nói là ở ta do không có truyền thống tư duy trừu tượng nên về cơ bản cũng không có truyền thống khoa học, và cũng có thể nói là không có triết học. Vì không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên hễ có ai nói giọng trừu tượng thì thường bị coi là tư biện cả.   Ngày nay, trên đã phát triển, đặc biệt là trong tình hình giao lưu quốc tế được tăng lên gấp bội, thì khả năng tư duy trừu tượng của người Việt ta có được nâng cao, tăng trưởng nhưng so với yêu cầu vẫn bất cập, so với thế giới đó đây vẫn thua kém. Với người Việt Nam giỏi toán thì trong lao động toán học đã tỏ ra có năng lực tư duy trừu tượng rất cao. Nhưng rời toán học, về lại đời thường, vẫn là thuộc tình trạng chung của đất nước.  Sự yếu kém về tư duy trừu tượng khoa học đã kéo theo một loạt sự yếu kém đối với các hình thái thao tác tư duy khác như: tư duy hệ thống, tư duy tích hợp, tư duy so sánh, tư duy lựa chọn, tư duy quy luật, tư duy sáng tạo nói chung. Cứ nhìn vào tình trạng chung quanh vấn đề an toàn thực phẩm mà việc qui trách nhiệm không biết thuộc về bộ nào: Nông nghiệp? Y tế? Thương mại…? Cứ nhìn vào chuyện phát triển xây dựng nhà cửa, đường sá lộn xộn ở Hà Nội để gây ra tình trạng ngập lụt, ách tắc giao thông. Cứ nhìn vào tình trạng ngành giáo dục trong công cuộc cải cách giáo dục, chăm lo cải tiến sách giáo khoa mà thiếu sự quan tâm xây dựng phòng thực hành để rồi sách mới ra nhưng không có điều kiện thí nghiệm. Cứ nhìn vào việc tha hồ cho xây dựng xưởng máy này nọ mà quên mất khâu bảo vệ môi trường để rồi xảy ra các sự cố như công ty Vedan xả nước bẩn làm hại môi trường sống của nhân dân trên sông Đồng Nai. Đúng là cứ nhìn… cứ nhìn… đâu cũng thấy có chuyện khập khễnh, gây bất lợi cho cuộc sống đất nước nhãn tiền đủ biết là sự thiếu tư duy hệ thống, tư duy tích hợp… đã gây tác hại biết chừng nào. Ngay trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. Cứ chăm chăm vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ mà quên chăm lo năng lực tư duy trừu tượng thì có chuyện gặp đâu nói đấy, có chuyện thầy bói sờ voi cũng không phải là hiếm.  2. Phát triển tư duy triết học  Tạm hiểu tư duy triết học là tư duy có khả năng nhận thức, phát hiện những quy luật của cuộc sống và cũng là năng lực nhận thức sự sống con người ở độ sâu sắc nhất, tinh diệu nhất, kể cả sự bí ẩn. Quả là Việt Nam ta, chưa có truyền thống tư duy trừu tượng khoa học do đó cũng chưa có truyền thống tư duy triết học.   Thông thường, trước những vấn đề của cuộc sống vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, là vô cùng phức tạp, khả năng nhận thức của chúng ta vẫn chủ yếu ngừng ở trình độ nhận thức xã hội học thường là chỉ ở phạm vi bề ngoài của sự sống. Cũng do thiếu năng lực tư duy triết học nên đã có sự ngự trị của tư duy chính trị một cách không bình thường và không lợi cho sự phát triển đất nước.   Hẳn là ở ta, hiện đã có viện triết học, có một số giáo sư, phó giáo sư triết học. Nhưng liệu như thế đã có thể nói là có triết học được chưa? Xin mượn lời Giáo sư Trần Văn Giàu, vốn được dư luận coi là vị giáo sư triết học sáng giá nhất dưới chính thể CHXNCN Việt Nam, đã nói trong bài viết về Giáo sư Trần Đức Thảo rằng: trên đất nước ta, nếu có một người xứng đáng là triết gia thì không ai khác là Trần Đức Thảo. Giàu này chỉ là một giáo sự dạy triết học. Quả là một sự tỉnh táo, trung thực. Bởi lẽ triết gia thì phải tạo ra triết thuyết riêng. Chứ đâu như giáo sư triết học chỉ là người đọc sách triết của người khác rồi truyền đạt lại cho học trò.  Đất nước chẳng phải ngày nay không có triết gia mà trong quá khứ cũng đâu đã có. Hạn chế của văn hoá Việt Nam là thế. Vì thiếu một năng lực tư duy triết học, nên ngay ở việc tiếp nhận triết học của thế giới vào nước mình cũng thiếu bản lĩnh. Đáng nói nhất là vì không có tư duy triết học, nên có bao nhiêu quy luật của cuộc sống đang diễn ra một cách rõ mồn một, mà không thấy giới khoa học xã hội Việt Nam, các vị tự nhận là nhà nghiên cứu triết học, nói đến. Ví như các quy luật: về sự đối trọng, về cạnh tranh sinh tồn, về sự trỗi dậy của cái tôi cá thể, vệ sự trỗi dậy của đời sống tâm linh, về quy luật “Sự văn minh tiến hoá bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hoá bấy nhiêu”, quy luật về sự khập khiễng, không tương đồng giữa giàu có và đạo lý…  Nói riêng trong lãnh vực nghiên cứu văn học của chúng tôi, mà chủ yếu là thuộc khả năng nhận thức về thế giới con người, sự sống con người vốn dĩ rất phức tạp, rất kỳ diệu, kể cả sự bí ẩn, bí hiểm thì cũng dễ thấy sự hạn chế không nhỏ do thiếu tư duy triết học.   Một ví dụ “Chuyện người con gái Nam Xương” trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ mà từ trước tới nay, sách giáo khoa vẫn theo lối nhìn xã hội học giản đơn để cho rằng cuộc đời Vũ Nương tan nát đến phải tự vẫn là do chế độ nam nữ bất bình đẳng và chiến tranh. Trong khi, nếu nhìn theo triết học thì chẳng phải thế. Bởi lẽ, nam nữ có bình đẳng đến đâu, Trương Sinh không đi trận mà đi xa với bất cứ trạng thái nào, về nhà, con không nhận cha, lại bảo cha là người khác thì chuyện Trương Sinh đánh ghen vẫn xảy ra và chuyện Vũ Nương uất quá đến tự vẫn, là chuyện dễ có, dể hiểu.   Với cách nhìn triết học, sẽ thấy ở chuyện “Người con gái Nam Xương” chính là chuyện về cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc đàn bà, trước sự trớ trêu, sự bất trắc không ai có thể lường trước được mà cuộc đời phải tan nát. Con hỏi mẹ bố đâu? Mẹ chỉ vào bóng mình trên vách bảo là cha đó. Đó không phải là sự đồng nhất tuyệt đối trong tình vợ chồng sao? Nhưng trời ôi, sự tan vỡ đời Vũ Nương, oái ăm thay, bắt đầu lại chính từ gắn bó đồng nhất đó với chồng. Giả sử, khi con hỏi bố đâu, Vũ Nương nói cha đi trận, thì đâu đến phải tan nát cuộc đời. Rồi nữa, tham gia vào phá nát cuộc đời Vũ Nương, không ai khác lại chính bé Đản do nàng đứt ruột đẻ ra, mà nó thì trong trắng, ngây thơ nhưng trong trường hợp này lại trở thành tác nhân trực tiếp phá nát đời mẹ nó. Trớ trêu, oái ăm trong sự sống con người mà liên quan đến hạnh phúc Vũ Nương là ma quái thế đó. Rồi nữa, còn là cái máu ghen mà tạo hoá cũng đã trớ trêu một lúc ban cho các cặp vợ chồng, các cặp trai gái tình yêu nồng thắm ngây ngất mãnh liệt thế kia nhưng cũng ban nốt cho họ cái máu ghen để rồi như một quả mìn đặt sẵn dưới giường hạnh phúc gái trai và nổ lúc nào không biết.  Đúng là đất nước trên đường đi lên phải làm sao có được năng lực nhận thức sự sống bằng triết học để từ đó có cách xử sự trong cuộc sống vững chắc hơn. Lấy thêm một ví dụ cho điều đang muốn nói ở đây. Đó là nếu có được nhận thức triết học về quy luật đối trọng mà học thuyết âm dương trong Kinh Dịch đã gợi mở để áp dụng vào việc xây dựng cuộc sống, điều hành đất nước, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều so với những gì đang là hiện thực trước mắt. Vào những ngày đầu đổi mới, trên báo chí đã thấy xuất hiện ý tưởng đó mà tiếc rằng người đưa ra cũng chưa hiểu chắc vấn đề, rồi người phản đối lại cũng không hiểu vấn đề. Dĩ nhiên đây là chuyện không giản đơn chút nào. Mong có dịp khác sẽ nói rõ hơn.    3. Vấn đề tư duy cá thể   Chính đây là vấn đề cơ bản nhất, trọng tâm nhất mà công cuộc đổi mới tư duy của đất nước phải đặt ra để giải quyết và quyết tâm thực hiện theo yêu cầu phát triển vững chắc, bề thế, đích thực của đất nước, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài. Để có được điều này, trước hết phải có sự nhận thức trường minh và vấn đề con người – cá thể trong sự sống của loài người là gì? Một vấn đề của triết học mà tiếc rằng giới nghiên cứu triết nói riêng, giới khoa học xã hội nhân văn nói chung ở nước ta còn bỏ quên hoặc lảng tránh.   Chúng ta đều biết sở dĩ có loài người là do có những con người – cá thể (l’individu). Con người – cá thể là tế bào tạo nên cơ thể là các hình thái cộng đồng xã hội. Nó vừa là thực thể xã hội có quy luật sinh học tự thân, vừa là thực thể xã hội với hai thuộc tính: cá thể và cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, nó là một nhưng thành hai. Một thuộc bản chất nhân văn chân chính có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nên cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy càng mãnh liệt bao nhiêu càng tốt, càng có lợi cho đất nước, cho nhân quần bấy nhiêu. Một nữa thì ngược lại, phản nhân văn, nhân bản, huỷ hoại lợi ích của cộng đồng, nên tiêu diệt được nó sớm phút nào là xã hội, nhân dân được nhờ phút ấy. Ở đây quả là có hai thuật ngữ: con người – cá thể (l’individu) và chủ nghĩa cá nhân (l’ individualisme).   Tiếc rằng, ở ta, do thiếu tư duy triết học và cũng là thiếu óc duy lý, thiếu khả năng tư duy phân tách nên đã không tách bạch được hai phạm trù cá thể đó tuy xuất phát từ một nhưng đã thành hai ngả đối lập nhau như nước với lửa. Mà thực tế, tình hình nhận thức lại giường như chỉ ngừng ở ngả sau. Cho nên hễ nói đến con người – cá thể thì chỉ thấy đó là chủ nghĩa cá nhân mà thôi. Điều này, dĩ nhiên cũng liên quan đến một thực tế ở nước ta là nặng về tâm lý cộng đồng vốn là một nét đẹp, trong chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhưng ngay ở đó lại là có mặt trái của vấn đề là coi nhẹ, là không nhận thức đầy đủ và cần thiết về con người cá thể.   Chính đây là điều có sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, bởi phương Tây, nhờ có sự phát triển sớm nền kinh tế tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa nên cũng đã sớm phát hiện được con người cá thể và biết tận dụng nó để phát triển cuộc sống, đưa xứ sở lên cõi văn minh phi thường. Còn phương Đông chậm phát hiện cái tôi, cá thể xét đến cùng cũng là do trong quá khứ sống chủ yếu với nền kinh tế nông nghiệp dù ít nhiều cũng có kinh tế hàng hoá. Và điều đó, dĩ nhiên đã gây bất lợi cho phương Đông không ít. Những gì nói về con người – cá thể như trên quả là còn sơ sài nhưng thiết tưởng cũng đã đủ để nói về vấn đề tư duy – cá thể.   Không ai khác, chính Descartes, triết gia của Pháp ở thế kỷ XVII, là người đầu tiên phát hiện ra vấn đề này với mệnh đề “Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại” (Je pense donc je suis). Đúng thế, con người hơn muôn loài là nhờ ở tư duy như đã nói. Có tư duy mà không tư duy thì khác gì muôn loài. Tư duy cá thể là để tự tìm lấy chân lý, chứ không phải là để nghĩ lung tung bừa bãi. Hiện tình ở nước ta, không ít người vì không tường minh vấn đề nên hễ nói đến tư duy – cá thể là sợ có tình trạng bừa bãi, nghĩ và nói lung tung vô chính phủ. Chính đó là cản trở lớn trước yêu cầu đổi mới tư duy để có tư duy cá thể.   Tư duy – cá thể là vấn đề cơ bản nhất, trọng đại nhất của công cuộc đổi mới tư duy phải được đặt ra với toàn bộ đất nước, với mọi người dân. Nhưng thiết thực hơn thì trước hết là phải đặt ra với đội ngũ trí thức, nhất là trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Bởi đặc trưng bản chất của trí thức là hơn người về trí tuệ, có năng lực tư duy hơn ai hết. Do đó, trí thức phải được giải phóng khỏi tình trạng thụ động về tư duy để có được độc lập về tư duy, đặng có thể làm đầu tầu cho công cuộc đổi mới tư duy. Ở đây, rất cần được thiết chế hoá, chế tài hoá một cách chân chính cần cho sự đổi mới tư duy để có tư duy – cá thể.   Tiếp sau vấn đề với tri thức, là vấn đề đối với tuổi trẻ học đường mà hiện thời đã có mầm mống nhất định. Khẩu hiệu chống lại tình trạng nặng về thuyết giảng, thầy giảng, trò ghi, trò nhớ, trò nói lại như vẹt là điều đáng khuyến khích và phải có cách làm sao cơ bản hơn những gì đang có, cũng là chuyện vô cùng khó khăn. Các nhà lãnh đạo đất nước, lãnh đạo ngành giáo dục phải nhận thức được rằng: Nếu muốn có một cuộc cải cách giáo dục thực sự đích thực thì không thể không đặt lên hàng đầu vấn đề tư duy – cá thể. Có thể nói không sợ sai rằng: chừng nào vấn đề tư duy – cá thể chưa được giải quyết thì chừng đó nền giáo dục nước nhà vẫn là nền giáo dục lạc hậu. Rộng ra, cũng có thể nói, chừng nào vấn đề tư duy – cá thể với đất nước, chưa được giải quyết thấu đáo và thành hiện thực thì chừng ấy khả năng phát triển đất nước vẫn ỳ ạch, chậm chạp so với khu vực, với thế giới văn minh.    (Trích bài TRÍ THỨC VỚI VẤN ĐỀ TƯ DUY)  —-  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối phó với COVID-19 ngắn hạn và lâu dài: Để giảm thiệt hại?      COVID là một phép thử khiến cho những điểm yếu trong hệ thống quản lý trong xã hội và trong mỗi con người bị bộc lộ rõ ràng nhất. Trong bối cảnh đó, những nhà nghiên cứu dịch tễ cần phải đưa ra các phân tích, khuyến nghị giúp cho các nhà quản lý ra chính sách hợp lý, doanh nghiệp và người dân có cách ứng xử phù hợp.    Tình thế lưỡng nan  Trước khi nói về giải pháp, chúng ta cần nhìn lại xem đang có gì trong tay? Về vaccine: chúng ta không đủ vaccine để tiêm đủ 70% dân trong năm nay; và có đủ vaccine cũng sẽ không thể đạt miễn dịch cộng đồng mà chỉ có thể giảm tối đa nguy cơ tăng nặng hoặc tử vong. Về năng lực của hệ thống y tế: không đủ nguồn lực và nhân lực để xét nghiệm, cách ly, cơ chế đấu thầu quá chặt chẽ không cho phép chuẩn bị trang thiết bị cho đại dịch kịp thời, không đủ nguồn lực chữa trị cho bệnh nhân COVID nên tỉ lệ tử vong quá cao, tập trung nhiều nhất ở độ tuổi 50 trở lên (chưa kể nhiều bệnh nhân mắc các bệnh khác không được chữa trị kịp thời). Về kinh tế: người dân và doanh nghiệp không thể chịu nổi phong tỏa quá lâu. Chưa kể các quy trình chính sách sửa đổi liên tục khiến cả cấp cơ sở thực thi chính sách, doanh nghiệp và người dân bối rối. Dịch bệnh cũng là đất sống cho các tin giả về y tế, xã hội tràn ngập trên không gian mạng xã hội, gây nhiều tranh cãi, ảnh hưởng tới tâm lý của người dân.    Nguồn ảnh: brookings.edu  Nhìn chung, chúng ta đều thấy COVID là một phép thử khiến cho những điểm yếu trong hệ thống quản lý, trong xã hội và trong mỗi con người bị bộc lộ rõ ràng nhất.  Trong bối cảnh đó, những nhà nghiên cứu dịch tễ cần phải đưa ra các phân tích, khuyến nghị giúp cho các nhà quản lý ra chính sách hợp lý, doanh nghiệp và người dân có cách ứng xử phù hợp. Nhưng rất tiếc là trong tình thế nguy nan ở trên thì dữ liệu mà các nhà khoa học độc lập có thể tiếp cận lại quá ít ỏi, không được chia sẻ, không liên thông, không được tập hợp một cách hệ thống. Ví dụ, từ nguồn báo cáo của Bộ Y tế, các sở y tế các tỉnh và các báo chính thống về dữ liệu các ca nhiễm COVID hiện nay, chúng tôi chỉ nắm được nhóm tuổi, tử vong cho một giai đoạn ngắn mà không dữ liệu về đặc điểm xã hội của các ca nhiễm nên không thể phân tích sâu hơn. Nhiều lúc tôi cảm thấy bản thân mình và các chuyên gia dịch tễ học khác thiếu dữ liệu giống như một người đang đi dò đường.  Nhưng cho dù thế nào thì tất cả chúng ta đều cùng muốn một điều – đó làm giảm tối đa thiệt hại về mọi mặt khi trong tay có quá ít vũ khí. Thay đổi toàn bộ cơ chế, động lực, chính sách, năng lực trong vài ngày là điều gần như không tưởng.      Biểu đồ 1&2: Mặc dù số liệu chưa đầy đủ nhưng cũng đã cho thấy tỉ lệ tử vong rơi chủ yếu vào nhóm từ 50 tuổi trở lên. Nói một cách khác, cứ 2 người từ 75 trở lên nhiễm thì 1 người tử vong; 3 người 65-74 tuổi nhiễm thì 1 tử vong; 10 người 50-64 nhiễm thì 1 tử vong. Với các nhóm thanh niên nhiễm virus thì tỉ lệ tử vong là rất nhỏ, nhóm18-29 chỉ khoảng 0.1% ở nữ và nam 0.2%, nhóm 30-39 chỉ tương ứng là 0.6% và 0.9%. Nguồn biểu đồ: Nhóm 5F. Số liệu từ Bộ Y tế.  Ta có thể làm gì khi hầu như chẳng có gì nhiều?  Trước tình thế trên, tôi cho rằng về ngắn hạn, cần:  Vaccine:  Nhanh chóng dồn nguồn vaccine ít ỏi (kể cả vaccine sinopharm) tiêm cho toàn bộ người từ 50 trở lên, người mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, bệnh thận mạn tính, bệnh hô hấp mạn tính, béo phì, suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai. Ưu tiên vaccine có thời gian giữa hai mũi ngắn để tạo nhanh miễn dịch cho người dân. Làm như vậy sẽ giảm tử vong và áp lực lên hệ thống y tế, vì nếu dịch tràn qua thì hệ thống y tế cứ bình tĩnh mà thu dung ca nhẹ và số lượng nhỏ ca nặng (nếu chưa xuất hiện các biến thể mới có độc lực cao hơn). Lưu ý là mặc dù nhanh chóng bao phủ vaccine ở một số vùng dịch đang bùng phát nặng hiện nay như TP HCM và các vùng lân cận thì cũng sẽ mất một thời gian để người được tiêm vaccine sinh miễn dịch và thấy số ca tử vong giảm đi, do đó chúng ta phải kiên trì và chấp nhận mất mát thêm một thời gian nữa (dù chấp nhận hay không thì mất mát vẫn xảy ra).  Đối với người trẻ, xin hãy lùi lại nghĩ về mục đích duy trì sự sống và phát triển của toàn cộng đồng và tiêm vaccine sau người cao tuổi. Nếu người cao tuổi bị nặng và tử vong, hệ thống y tế suy sụp thì kinh tế cũng suy sụp như ta đang thấy, và sẽ ảnh hưởng tới cả những người trẻ.  Phong tỏa, giãn cách:  Với các vùng đang bùng dịch, phong tỏa, giãn cách cho tới sau hai tuần tiêm mũi thứ hai cho toàn bộ nhóm trên rồi mở dần, tiếp tục 5K và tiếp tục tiêm cuốn chiếu vaccine dựa trên số vaccine có sẵn. Phong tỏa mà không phủ vaccine cho nhóm người trên 50 tuổi thì sẽ phí thời gian, phí công, phí mất sự hy sinh về kinh tế.  Để nới lỏng giãn cách, cần đạt được ít nhất hai tiêu chí về (i) độ bao phủ tiêm chủng, và (ii) năng lực xét nghiệm, điều trị và y tế công cộng.  Cần xây dựng kế hoạch nới lỏng và được thực hiện theo từng giai đoạn, thảo luận với chuyên gia đa ngành, thử nghiệm và điều chỉnh kịp thời với diễn biến mới của dịch và các thông tin mới về SARS-CoV 2. Việc nới lỏng cần thực hiện thận trọng, bắt đầu bằng một số khu vực hẹp, và giám sát bằng tỷ lệ xét nghiệm (+), số ca mới và số ca tử vong mỗi ngày.  Giảm áp lực y tế ở vùng dịch bùng phát:  Ở vùng dịch bùng phát, nhanh chóng chuyển đổi mô hình chăm sóc, điều trị để không làm sụp đổ hệ thống y tế chung (chứ không chỉ hệ thống điều trị COVID), cần:  – Quản lý, chăm sóc, điều trị F0, nghi F0 tại cộng đồng, dựa vào cộng đồng (cấp thuốc cùng các hướng dẫn cụ thể trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, gửi tới mọi số điện thoại của người dân). Thiết lập các trạm cấp cứu tạm thời tại cộng đồng để chuyển F0 tới khi bệnh viện quá tải.  – Chuyển F0, nghi F0 trong cộng đồng tới các bệnh viện khi họ có dấu hiệu thiếu oxy hoặc các dấu hiệu cấp cứu khác.  – Huy động đội ngũ tình nguyện trẻ, đã tiêm đủ hai mũi vaccine tới hỗ trợ cán bộ y tế ở tất cả các tuyến nếu trên. Điều phối hỗ trợ một cách có tổ chức, bài bản và an toàn.  – Nhập, hướng dẫn và cho phép người dân sử dụng kit xét nghiệm nhanh để tự xác định họ có phải F0 không.  – Thử nghiệm và áp dụng các phương thức điều trị mới nhằm giảm ca bệnh nặng và giảm tử vong.  Những khuyến nghị trên đây không phải là cách hoàn hảo, nhưng là cách tối ưu trong bối cảnh trong tay chẳng có mấy vũ khí, mà hệ thống và năng lực thì cần thời gian để thay đổi.  Đối với các vùng bùng phát dịch, có thể xác định tiêu chí vùng xanh:  1. Phủ hai mũi vaccine mỗi 6-8 tháng cho tối thiểu là ≥ 90% người 50+, người mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, bệnh thận mạn tính, bệnh hô hấp mạn tính, béo phì, suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai.  2. Khi chưa phủ đủ vaccine: Tuân thủ phong tỏa khi F0 chưa được kiểm soát trong cộng đồng. Tuân thủ 5K khi chưa có F0.  3. Có tổ COVID cộng đồng để đảm bảo thực hiện được hỗ trợ y tế và an sinh cho mọi thành viên trong cộng đồng xanh.  Về dài hạn:  Virus đã, đang và sẽ sinh ra biến thể mới. Chúng ta sẽ phải đối phó với nó rất lâu nữa. Sớm hay muộn cũng phải củng cố lại hệ thống y tế, an sinh xã hội cũng như thiết kế lại hệ thống đô thị.  Cách duy nhất để ứng phó là giải quyết các vấn đề tồn đọng nêu ở đầu bài một cách trung thực, quyết liệt, thực chất; nếu không muốn thụt lùi không chỉ về sức khỏe mà còn kinh tế, xã hội, giáo dục và văn hóa.  Đối với ngành y: Chuẩn bị để không bị động trước một vụ dịch trong tương lai  – Đầu tư cho việc sản xuất vaccine nội địa (có thể là vaccine trong nước và chuyển giao công nghệ). Tôi biết rằng việc này đang được đầu tư rốt ráo. Xin hãy lấy tiêu chuẩn cao nhất để triển khai và đánh giá quy trình này. Đầu tư này sẽ mang lại lợi ích cả về kinh tế và sức khỏe. Cần lưu ý là nhiều khả năng chúng ta sẽ phải tiêm nhắc lại vaccine mỗi 6 tháng, hoặc mỗi 8, 12 tháng.  – Đầu tư cho ngành y để nâng cấp cả về hệ thống, cơ sở vật chất, năng lực và nhân lực.  – Xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo và ứng phó khẩn cấp không chỉ với COVID mà với bất cứ thảm họa nào có thể xảy ra dựa vào cách tiếp cận One Health. Xây dựng hệ thống thông tin hiện đại, thu thập và phân tích dữ liệu theo thời gian thực để giúp ra quyết định khẩn cấp cũng như huy động mạng lưới chuyên gia đa ngành có thể huy động và phối hợp nhanh chóng.  Quản trị công: Thay đổi các quy trình, thủ tục hành chính, quy trình dự toán/đấu thầu/mua sắm/quản lý. Ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối các ngành để quản trị xuyên suốt toàn bộ các khâu, các mảng hoạt động, các ngành một cách tổng thể. Cần có cái nhìn tổng thể, xây dựng hệ thống chuẩn, liên thông để cơ quan quản lý ở các cấp từ trung ương tới các địa phương, các ngành có thể sử dụng được còn hơn xây dựng nhỏ lẻ, riêng rẽ, phân tán, không sử dụng được. Điều này cũng mang lại lợi ích lâu dài.  Quản trị đô thị và an sinh xã hội:  – Hiện nay chúng ta thấy các nhóm yếu thế như người nghèo, người di cư, có điều kiện sống chật chội, không đảm bảo dinh dưỡng, không chịu nổi giãn cách, phong tỏa dễ có nguy cơ nhiễm COVID cũng như các loại bệnh dịch khác. Do đó, về lâu dài, thiết lập chương trình hỗ trợ cho nhóm yếu thế (người nghèo, người di cư) không chỉ ở tại thành thị mà còn cần hỗ trợ chuyển đổi các mô hình kinh tế để giữ người dân ở lại quê hương, giảm di cư.  – Thiết kế lại đô thị để giảm mật độ dân, giảm các khu ổ chuột/phòng trọ chật hẹp thiếu thông thoáng và vệ sinh.  – Các cơ quan quản lý cần xây dựng các chương trình thay đổi lối sống và văn hóa sống để nâng cao sức khỏe, bảo vệ bản thân và cộng đồng. Từng cá nhân đều không thể an toàn khi những người xung quanh không an toàn. Đây là một câu chuyện rất dài.  Còn nhiều việc phải làm nhưng theo thiển ý của một người nghiêng về dịch tễ như tôi thì đó là những điều tối thiểu phải làm được. Điều này không mới, chỉ là có đủ dũng cảm, nhiệt huyết để thay đổi không. Và đầu ra cần đo lường không chỉ là GDP, mà phải là một chỉ số phức hợp về phát triển bền vững.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Nguyễn Thu Anh        
__label__tiasang Đơn kêu cứu của Ba Huân từ góc nhìn đa chiều      Gần đây, các phương tiện truyền thông liên tiếp đưa tin về sự kiện chấm dứt hợp tác giữa Công ty Ba Huân và Quỹ đầu tư VinaCapital. Tuy nhiên, bài viết này không bàn về khía cạnh pháp lý của tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital mà thay vào đó sẽ phân tích lý do và những hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu trong vụ việc Công ty Ba Huân nói riêng và những trường hợp doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu nói chung. Cần lưu ý rằng các dữ kiện được tiết lộ qua thông tin báo chí về tranh chấp giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital hiện nay chưa đủ để khẳng định ai đúng ai sai trong vụ việc này.      Căn nguyên của việc gửi đơn kêu cứu  Việc Công ty Ba Huân gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ khiến các tác giả nhớ tới một thuật ngữ vui là “đơn hươu cao cổ”. Thuật ngữ này được sử dụng bởi một số cán bộ trong cơ quan Nhà nước để chỉ những đơn kêu cứu với danh sách kính gửi đôi khi dài đến cả một trang giấy, kính gửi từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng, từ Quốc hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Xét về khía cạnh pháp lý, “đơn kêu cứu” của doanh nghiệp không thuộc bất kỳ một biện pháp giải quyết tranh chấp hay vướng mắc chính thống nào. Nếu là tranh chấp thương mại như vụ việc của Công ty Ba Huân thì thông thường con đường giải quyết tranh chấp sẽ là thương lượng. Nếu thương lượng không thành công thì các bên sẽ lựa chọn trọng tài hoặc khởi kiện ra toà (tuỳ thoả thuận) và khi đó sẽ có “đơn khởi kiện”. Nếu là vướng mắc giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước thì khi đó doanh nghiệp có thể lựa chọn khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính, tương ứng sẽ có “đơn khiếu nại”, “đơn tố cáo” hay “đơn khởi kiện”. Lưu ý rằng những dạng thức đơn này đều được quy định trong hệ thống pháp luật với các quy định cụ thể từ nội dung đơn, chủ thể tiếp nhận đơn đến quy trình thụ lý và giải quyết… Trái ngược với các hình thức đơn chính thống, “đơn kêu cứu” không được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng lại đang xuất hiện từng ngày, từng giờ và trong mọi lĩnh vực. Điều này là do đâu?  Trong một số trường hợp, việc gửi đơn kêu cứu có thể xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của doanh nghiệp về pháp luật. Tuy nhiên, tại sao có những doanh nghiệp có hiểu biết hoặc được mặc định là phải có hiểu biết pháp luật nhưng vẫn gửi đơn kêu cứu? Phải chăng doanh nghiệp muốn tỏ ra yếu thế để kêu gọi sự ủng hộ từ dư luận và cơ quan chính quyền, hay đây chính là một trong những cách thức marketing của doanh nghiệp? Có lẽ chỉ có doanh nghiệp kêu cứu mới rõ được lý do hay động cơ của việc gửi đơn này.  Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng việc gửi đơn kêu cứu là một biện pháp để doanh nghiệp tự bảo vệ mình. Lý do “tự bảo vệ” này cũng có thể đúng, tuy nhiên, nó đúng nhiều hơn với trường hợp doanh nghiệp có vướng mắc với cơ quan Nhà nước mà không phải xuất phát từ những tranh chấp trong khu vực tư nhân. Hoặc có thể đúng với những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chứ không phải với những công ty lớn được định giá cả trăm triệu đô với đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đứng đằng sau. Thừa nhận rằng đôi khi việc gửi đơn kêu cứu giúp đẩy nhanh quá trình xử lý vướng mắc và giúp giải quyết các vấn đề nóng để xoa dịu dư luận nhưng thường rơi vào trường hợp của các cá nhân nhiều hơn là doanh nghiệp (ví dụ như vụ việc quán cafe Xin chào hay vụ án oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn).      Hành vi gửi đơn kêu cứu phần nào đã phản ánh văn hóa ứng xử của doanh nghiệp Việt Nam khi gặp phải vướng mắc hoặc bất đồng với đối tác. Đó là sự thiếu chuyên nghiệp, thiếu trách nhiệm và thiếu cả thiện chí.      Hành vi gửi đơn kêu cứu phần nào đã phản ánh văn hóa ứng xử của doanh nghiệp Việt Nam khi gặp phải vướng mắc hoặc bất đồng với đối tác. Đó là sự thiếu chuyên nghiệp, thiếu trách nhiệm và thiếu cả thiện chí. Nếu các bên trong giao dịch đều chuyên nghiệp trong quá trình soạn thảo và giao kết hợp đồng thì sẽ không có tình trạng “Công ty A té ngửa vì nội dung của hợp đồng không đúng với thoả thuận trước đó” hay “Doanh nghiệp B tá hỏa vì bản hợp đồng tiếng Anh và tiếng Việt không tương thích”. Còn một khi đã đặt bút ký, và hợp đồng phản ánh đúng ý chí của các bên, thì khi đó đòi hỏi các bên phải có tinh thần trách nhiệm trong việc thực thi các thoả thuận đã cam kết, bao gồm cả thoả thuận về phương thức giải quyết tranh chấp. Và cuối cùng, khi đã hợp tác một cách thiện chí, đôi bên sẽ cùng ngồi lại để thương lượng về những điểm chưa thỏa đáng để cùng nhau “gỡ rối tơ lòng” thay vì gửi đơn kêu cứu rồi “vạch áo cho người xem lưng”.  Tuy nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại, một phần tiêu cực đóng góp vào “văn hóa kêu cứu” của các doanh nghiệp xuất phát từ sự vận hành thiếu hiệu quả của hệ thống tư pháp Việt Nam. Chất lượng giải quyết tranh chấp của tòa án Việt Nam chưa đáp ứng được mong muốn của người dân. Trên thực tế, một vụ việc giải quyết ở toà mất trung bình khoảng hai năm, trong khi tỷ lệ thu hồi tài sản chỉ vào khoảng 20%1. Bên cạnh toà án, trọng tài thương mại cũng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà doanh nghiệp đang có xu hướng lựa chọn nhiều hơn. Tuy nhiên, số vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài tại Việt Nam mới chỉ chiếm chưa đến 1% trên tổng số vụ tranh chấp thương mại được tòa án thụ lý, xét xử hằng năm2. Bên cạnh đó, nhiều phán quyết của trọng tài còn bị tòa án hủy với tỷ lệ lớn từ 20%-50%3. Trước thực trạng này, cũng khó lòng mà trách doanh nghiệp có tâm lý tin tưởng vào hiệu quả của những lá đơn kêu cứu hơn là những biện pháp giải quyết tranh chấp chính thống.  Hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu  Lý do cho việc doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu đã được phân tích ở phần trên, tuy nhiên có lẽ doanh nghiệp còn chưa ý thức được hết hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu đối với cơ quan Nhà nước, đối với thị trường và cả với chính các bên liên quan trong vụ việc kêu cứu.  Trong phần lớn các trường hợp, những đơn kêu cứu gửi tới nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân (đa phần không có thẩm quyền giải quyết vụ việc) giống như “bom thư” hay “spam mail”, làm tăng gánh nặng khối lượng công việc cho các đơn vị tiếp nhận. Như đã phân tích, hiện không có quy định pháp lý nào điều chỉnh về việc giải quyết đơn kêu cứu, đồng nghĩa với việc cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận đơn kêu cứu không có nghĩa vụ phải trả lời hay giải quyết vấn đề được kêu cứu. Nhưng trên thực tế, các cơ quan quản lý Nhà nước khi tiếp nhận đơn kêu cứu thường sẽ phải xác định cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc theo quy định pháp luật và chuyển tiếp đơn kêu cứu đến cơ quan có thẩm quyền đó. Điều này vô hình trung đã làm tăng gánh nặng cho các cơ quan vốn không liên quan đến việc xử lý vướng mắc hay tranh chấp của doanh nghiệp. Đặt đơn kêu cứu của xã hội văn minh trong bối cảnh so sánh với cổ luật, ngay từ đời vua Lê Thuần Tông (năm Long Đức thứ 3, 1734) đã có quy định rõ trong điều lệ xét xử kiện tụng, theo đó: “Đầu đơn kiện tụng chỉ được khai họ tên người can việc vào trong đơn, không được khai dây dưa đến người xung quanh […]. Quan được thứ xét thấy nếu thực là người can lụy thì mới được nhận đơn; nếu kiện vu vơ theo hùa thì nên nhất thiết bác bỏ” 4. Có thể thấy, ngay từ thời xưa, bộ máy nhà nước phong kiến cũng đã gặp phải những vấn đề tương tự như “đơn kêu cứu” ngày nay và đã phải đặt ra những quy định nhằm hạn chế tình trạng này.  Thông qua phân tích vụ việc của Công ty Ba Huân, có thể nhìn thấy những nguy cơ và rủi ro nhất định từ việc doanh nghiệp yêu cầu cơ quan Nhà nước can thiệp vào một quan hệ thương mại nói riêng và quan hệ dân sự nói chung. Bản chất của quan hệ dân sự là tôn trọng sự thoả thuận của các bên (“việc dân sự cốt ở đôi bên”), với điều kiện các thoả thuận phải phù hợp với quy định pháp luật. Những thoả thuận này đồng thời cũng được tôn trọng bởi các chủ thể khác, bao gồm cả cơ quan nhà nước. Sự can thiệp của cơ quan Nhà nước vào mối quan hệ dân sự (giả sử nếu có) sẽ dẫn tới rủi ro cho việc duy trì tính công bằng của quan hệ dân sự và sự ổn định của thị trường. Thậm chí, cả nền tư pháp cũng có nguy cơ bị đe dọa nếu các thiết chế giải quyết tranh chấp chính thống như toà án bị can thiệp và không thể đảm bảo tính độc lập trong hoạt động xét xử. Ở tầm quan hệ quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài còn có thể kiện Chính phủ Việt Nam nếu các cơ quan Nhà nước có hành vi can thiệp vào hoạt động của nhà đầu tư mà hành vi can thiệp này vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  Không chỉ tác động tới các cơ quan Nhà nước, thị trường hay nền tư pháp, việc gửi đơn kêu cứu như vụ việc của Công ty Ba Huân còn trực tiếp ảnh hưởng tới các bên liên quan trong vụ việc kêu cứu. Giả sử việc gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ là nhân tố giúp Công ty Ba Huân “thoát khỏi” mối ràng buộc với VinaCapital thì cũng cần lưu ý rằng đây thực chất là một con dao hai lưỡi với Ba Huân. Sau sự việc này, có thể sẽ có những nhà cung cấp, khách hàng hay nhà đầu tư khác nhìn Ba Huân như một đối tác thiếu chuyên nghiệp, thiếu thiện chí, thiếu trách nhiệm. Có lẽ không cần nói nhiều về tầm quan trọng của chữ “tín” trong kinh doanh, và ai cũng hiểu được chân lý “một lần bất tín, vạn lần bất tin”. Còn về phía VinaCapital, có thể sẽ có những định kiến về quỹ đầu tư và hình dung mối hợp tác giữa quỹ đầu tư với các doanh nghiệp giống như cuộc đi săn, cá lớn nuốt cá bé.  Gửi đơn kêu cứu – doanh nghiệp nên hay không nên?  Khó có thể đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn con đường giải quyết tranh chấp chính thống khi những con đường này quá dài và quá gian nan để đi. Tuy nhiên hiện nay đã có những cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại mới được bổ sung trong hệ thống pháp luật (ví dụ như hoà giải thương mại), và trong tương lai, có thể sẽ có cả những cơ chế giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp từ giai đoạn tiền tranh chấp để ngăn chặn sự phát sinh của các tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ (ví dụ như Cơ chế phản hồi đầu tư có hệ thống5). Cần thiết phải ghi nhận những cố gắng của ngành Toà án trong việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử nói riêng cũng như những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh nói chung. Tuy nhiên, khắc phục thực trạng gửi đơn kêu cứu đòi hỏi có một sự thay đổi mang tính hệ thống, không chỉ là hệ thống pháp luật hay hệ thống xét xử mà còn ở cả nếp nghĩ của doanh nghiệp.  Và lẽ ra, thay vì gửi đơn kêu cứu để giải quyết một sự việc “đã rồi”, các doanh nghiệp cần cẩn trọng hơn ngay từ quá trình đàm phán, soạn thảo hợp đồng và trước khi đặt bút ký bởi “bút sa, gà chết”. Về cơ bản, một khi đã đồng ý tham gia giao dịch thì doanh nghiệp đều phải chịu trách nhiệm đến cùng với các cam kết của mình.  ———-  * Các luật sư, Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự  1 Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Doing Business 2018, Chỉ số Recovery Rate trong Bộ chỉ số Resolving Insolvency của Việt Nam  2 Thời báo Tài chính Việt Nam Online, Số vụ giải quyết qua trọng tài vẫn chưa tạo được nhiều kỳ vọng, truy cập tại địa chỉ http://thoibaotaichinhvietnam.vn/ pages/xa-hoi/2018-06-07/so-vu-giai-quyet-qua-trong-tai-van-chua-tao-duoc-nhieu-ky-vong-58411.aspx  3 Xem thêm tại Báo cáo Chẩn đoán tăng trưởng kinh tế Việt Nam do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), 04/2017  4 Phan Huy Chú, Khoa mục chí – Quốc dụng chí  – Hình luật chí, Lịch triều Hiến chương loại chí tập 4, 2014, NXB Trẻ, trang 289  5 Tên tiếng Anh là Systemic Investment Response Mechanism (SIRM) – là một cơ chế phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư và Chính phủ đang được phát triển bởi Ngân hàng Thế giới. SIRM ngăn ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư và Chính phủ bằng cách theo dõi và cảnh báo sớm để nhận dạng và giải quyết các vướng mắc phát sinh từ hoạt động quản lý của Chính phủ.    Author                Nguyễn Thuỳ Dương - Vũ Thị Diệu Thảo*        
__label__tiasang Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt: Mô hình chính quyền nào      Muốn một đơn vị hành chính-kinh tế trở nên đặc biệt, thì trước hết nó phải đặc biệt về thể chế. Mà thể chế thì quan trọng nhất là tổ chức chính quyền như thế nào. Và ở đây, có vẻ như Chính phủ đã có được sự đột phá về tư duy khi đề xuất mô hình chính quyền cho đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt.      Mới đây, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến lần đầu dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, gồm các cơ chế, chính sách ưu đãi áp dụng chung cho ba đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), và Phú Quốc (Kiên Giang). Trong ảnh: Cảng Cái Rồng hiện là nơi xuất bến của 80 tàu khách đi các đảo lớn của của tỉnh Quảng Ninh và là nơi neo đậu của hàng trăm tàu cá lớn nhỏ của huyện Vân Đồn. (Nguồn: news.zing.vn).  Cụ thể, theo đề xuất của Chính phủ, ở đơn vị này sẽ không có các thiết chế HĐND và UBND, mà chỉ có một thiết chế duy nhất là trưởng đơn vị. Quan chức này sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quyết định và tổ chức thực hiện toàn bộ hoạt động hành chính, kinh tế-xã hội trên địa bàn.  Ưu điểm của mô hình này là rất rõ.  Trước hết, hành chính là việc ban hành các quyết định (các chính sách công) và thực thi các quyết định đó. Mô hình hiện tại với ba chủ thể tham gia quyết định (cấp ủy Đảng, UBND và HĐND) quả thực không phải là một mô hình mới. Các ưu, khuyết điểm của mô hình này chúng ta đều đã biết rất rõ. Điều dễ nhận thấy nhất là theo mô hình như vậy, việc ban hành quyết định thường rất chậm trễ; chi phí thời gian, chi phí thủ tục và chi phí cơ hội thường hết sức to lớn. Đó là chưa nói tới tình trạng đã quyết định theo chế độ tập thể lại còn bị văn hóa đồng thuận chi phối, do vậy các quyết sách có thể trở nên méo mó và nhồi nhét (quá nhiều mục tiêu và giải pháp được bổ sung để vừa lòng tất cả các thành viên có quyền tham gia quyết định). Các quyết sách nhồi nhét về cơ bản không thể thực thi được trong cuộc sống, vì không một chính quyền nào có đủ nguồn lực để thực thi hàng chục mục tiêu cùng một lúc. Mô hình hành chính với một người đứng đầu chắc chắn khắc phục được những nhược điểm nói trên.  Hai là, mô hình quá nhiều chủ thể có quyền tham gia quyết định còn làm cho việc xác lập chế độ trách nhiệm cũng hết sức khó khăn. Một người quyết định thì một người sẽ phải chịu trách nhiệm. Chuyện như vậy không phải bàn cãi gì nhiều. Chế độ trách nhiệm chắc chắn sẽ được xác lập rất rõ ràng.  Ba là, chất lượng của các quyết định phụ thuộc vào tài năng của người ban hành quyết định nhiều hơn là vào số lượng người tham gia quyết định. Trong lúc đó, lựa chọn một người tài giỏi thì chắc chắn là dễ dàng hơn lựa chọn gần cả chục, cả trăm người tài giỏi.  Tuy nhiên, mô hình đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt với một trưởng đơn vị có thẩm quyền rộng lớn cũng có những thách thức không hề nhỏ.  Thách thức đầu tiên và to lớn nhất là việc lựa chọn cho đúng người trưởng đơn vị. Thẩm quyền càng rộng lớn thì người được lựa chọn phải càng tài giỏi. Chọn sai người mọi chuyện chắc chắn sẽ đổ vỡ. Tuy nhiên, với những gì chúng ta được biết, lựa chọn cho đúng người quả thực sẽ vô cùng khó khăn. Với một cơ chế lựa chọn cán bộ như hiện nay không khéo một người hết sức trung bình sẽ được đưa lên làm lãnh đạo đơn vị.  Thách thức thứ hai là khả năng nhất thể hóa giữa Đảng và chính quyền ở các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt. Để có được một nền quản trị nhất thể hóa là một đòi hỏi mang tính chất bắt buộc. Đòi hỏi này lại rất khó giải quyết được bằng hoạt động lập pháp trong mô hình của chúng ta. Muốn nhất thể hóa phải có quyết định của Đảng. Và thực tế cho thấy đây là một quyết định hết sức khó khăn. Nhu cầu về nhất thể hóa đã được nhận thức từ mấy nhiệm kỳ Đại hội Đảng, nhưng một quyết sách cụ thể thì vẫn chưa đạt tới được.  Một vấn đề khác cũng cần được làm rõ trong việc xác định mô hình chính quyền cho đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, đó là đơn vị này trực thuộc tỉnh hay trực thuộc Trung ương. Điều dễ nhận thấy là việc thành lập các đơn vị này là để thu hút đầu tư và thúc đẩy kinh tế của cả nước phát triển; việc thành lập này cũng là những thực nghiệm quan trọng về thể chế để từng bước mở rộng ra cho cả nước. Đây rõ ràng là những ưu tiên của quốc gia. Chính vì vậy, các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt phải trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, cũng cần nhận thấy rằng, các đơn vị này (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc) đều khá cách biệt với những trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Không có sự kết nối với các trung tâm này, các đơn vị hành chính-kinh tế khó có thể phát triển nhanh chóng và vượt bậc. Bởi vậy, nếu các đơn vị hành chính-kinh tế nói trên chỉ trực thuộc tỉnh thì việc kết nối với các trung tâm kinh tế của đất nước sẽ khó khăn hơn nhiều. Hơn thế nữa, nếu dự luật đã quy định là chức danh trưởng đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt do Thủ tướng bổ nhiệm, thì tính chất trực thuộc trung ương cũng đã quá rõ ràng.  Cuối cùng, cũng giống như không tồn tại một đôi giày vừa cho mọi loại chân, không tồn tại một mô hình chính quyền tốt cho mọi mục tiêu phát triển. Nếu chúng ta coi trọng phát triển kinh tế và thúc đẩy đầu tư, thì mô hình chính quyền do một quan chức đứng đầu như Chính phủ đề xuất là hoàn toàn đúng đắn. Còn nếu chúng ta coi trọng việc mở rộng dân chủ hơn, thì mô hình chính quyền khác sẽ lại phải được lựa chọn. Mô hình này nên bao gồm hai thiết chế: một quan chức hành chính đứng đầu đơn vị do toàn dân bầu và một hội đồng gồm các vị đại biểu do cử tri ở các đơn vị bầu cử bầu. Hai thiết chế này sẽ kiểm soát và cân bằng lẫn nhau để thúc đẩy nền quản trị địa phương ở các đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai      Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.      Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.  Là một châu thổ trẻ, mẫn cảm với các tác động từ bên ngoài và từ bên trong, đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và từ việc sử dụng nguồn nước từ thượng nguồn. Gọi là kép vì hai tác động này không tách biệt nhau mà quyện vào nhau1.  Hệ lụy từ việc khai thác Đồng bằng Sông Cửu Long  Sau năm 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch khai thác ĐBSCL. Các vấn đề cần hiểu rõ và giải quyết cho được và đúng quy luật, là phèn, chua và mặn để khai thác ba tiểu vùng đất rộng người thưa lúc bấy giờ là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau.  Thách thức khi đó đối với đồng bằng, đặc biệt trong ba tiểu vùng, là vào mùa mưa thì thừa nước, lũ ngập mênh mông, nhưng vào mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa. Lại thêm vào mùa khô, nước mặn theo triều xâm nhập sâu vào đồng bằng. Đầu mùa mưa, phèn được rửa, chảy vào kênh rạch kéo độ pH xuống thấp. Phải chờ cho đất bớt phèn mới canh tác lúa được.   Ở Việt Nam, không có “Vạn lý trường thành” nhưng ĐBSCL có “Vạn lý đường kênh”. Chỉ tính riêng trong tiểu vùng Đồng Tháp Mười và tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên, từ năm 1975 đến cuối thập niên 1990, hơn hai vạn km kênh các loại đã được đào, để “ém phèn” cắt đứt oxy hóa các tầng jarosite và pyrite, để thau chua, rửa mặn và đưa phù sa sông Mekong vào sâu trong Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. (Hình 1).             Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).          Một mặt khác, chính quyền các cấp và nhân dân cũng đã xây dựng rất nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn như các vùng Gò Công, Nam Măng Thít, sông Ba Lai, vùng trung tâm của Bán đảo Cà Mau, … Mục đích là để tăng diện tích canh tác lúa hai vụ nơi nào có thể.   Cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng trong Đồng Tháp Mười, trong Tứ giác Long Xuyên và tại rừng U Minh (Thượng và Hạ). Hơn thế nữa các vùng trũng bị “chắt nước” cạn để tăng vụ. (Hình 2). Mất rừng là mất nước. Chắt cạn nước chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ xuống thấp khi nước sông Mekong về đồng bằng không còn dồi dào như trước nữa.             Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).          Không ngừng lại ở hai vụ, nhiều tỉnh, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp, bao đê vượt lũ để làm lúa vụ ba từ những năm 1990. Tổng diện tích lúa vụ ba có đến trên 300.000 ha. Tăng thêm thu nhập được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong thì độ phì của đất giảm sút, môi trường suy thoái.  Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển còn khiêm tốn trong thập niên 1980. Nay, diện tích nuôi tôm lớn lên từng ngày. Quy hoạch diện tích nuôi tôm cho năm năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre đến Kiên Giang hoàn thành trong một đến hai năm, thậm chí có nơi còn nhanh hơn. Có cả những cống ngăn mặn trước đây được xây để canh tác lúa, bị bửa ra để lấy nước mặn nuôi tôm. Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được mở ra để cho nước mặn vào các vuông tôm trong vùng ngọt hóa.  Cái giá phải trả còn là mất rừng ngập mặn để đào vuông nuôi tôm. Thiếu nước ngọt để giữ độ mặn trong ao phù hợp cho nuôi tôm, nước ngầm đã được bơm lên. Ở một số nơi trong vùng đã ngọt hóa, người dân còn khai thác nước ngầm mặn để đảm bảo độ mặn trong vuông cho tôm phát triển.              Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.          Có phải chúng ta đã hiểu hết về đồng bằng, hiểu rõ những phản ứng của vùng đất này để khai thác nó đúng quy luật? Tôi cho là chưa. Tiếp tục theo dõi, điều tra nghiên cứu (không chỉ về khoa học tự nhiên mà còn cả về kinh tế xã hội) vẫn là cần thiết. Nếu không, lợi sẽ bất cập hại, cái lợi trước mắt sẽ không bù được cái hại trong trung và dài hạn về tài nguyên nước và môi trường nói chung. Nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, một cột trụ của phát triển bền vững là một thách thức khác.  Những thách thức hiện nay và ngày mai  Châu thổ sông Mekong được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Trái đất càng ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu. Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Thách thức khu vực đó là việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, và nhất là việc khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng.  Theo Ủy hội sông Mekong (MRC) (2009), sáu đập thủy điện của Trung Quốc + 11 đập ở hạ lưu vực + 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi đó nhu cầu về nước trong hạ lưu vực vào năm này sẽ tăng 50% so với năm 2000.  Nhóm chuyên gia về trầm tích, trong Phụ lục của Báo cáo SEA của MRC đã đánh giá: “Tác động của các đập của Trung Quốc đối với trầm tích sông Mekong là rất to lớn, trong hàng trăm năm, một khi tất cả các đập đi vào hoạt động. Lượng trầm tích của sông Mekong ước tính sẽ bị các đập Trung Quốc giữ lại vào khoảng từ ⅓ đến ½ của tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong”2.  Các đập thủy điện giữ lại trầm tích trong hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở hạ du, làm thay đổi địa mạo lòng sông, đáy sông, cửa biển. Sự sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa chứng kiến trong tháng 2.2016 là một minh họa cụ thể của tác động kép lên đồng bằng từ biến đổi khí hậu và từ khai thác nguồn nước ở thượng nguồn.  Trong thách thức khu vực, còn có việc xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong ở hạ lưu vực (chín trên đất Lào và hai trên lãnh thổ Campuchia), và dự án của Thái Lan chuyển một lượng nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya.  Tác động kép sẽ càng mãnh liệt hơn. Đồng bằng bị đe dọa trong chính sự tồn tại của mình.  Thách thức tại địa bàn, ngoài việc mất rừng ngập mặn và rừng tràm, còn là việc khai thác cát trên sông Tiền, sông Hậu, làm trầm trọng thêm sự thâm hụt cán cân trầm tích3; là việc khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún kéo theo mực nước biển dâng thực tế ngày càng nhanh hơn4,5. (Hình 4) còn là phát triển nông nghiệp vẫn thiên về chiều rộng hơn chiều sâu, vẫn thiên về số lượng hơn chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên, đặc biệt tài nguyên đất và tài nguyên nước.              Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.             Thách thức tại địa bàn còn do năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, là cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng của đồng bằng và nhất là do thiếu một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả vùng; do thiếu sự liên kết chuỗi nên giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thấp, sức cạnh tranh yếu.             Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).          Hành động  1. Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Hội nghị cấp cao hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ nhất tại Tam Á (Trung Quốc) liên quan đến sử dụng nguồn nước sông Mekong ngày 23.3.2016 là bước đi đầu tiên, cần được thể hiện bằng những hành động, dự án cụ thể, chân thực đúng với tinh thần này.  2. Các bộ, Ủy ban Quốc gia sông Mekong, cùng các nhà khoa học cần phát hiện, theo dõi, đánh giá tác động của các dự án khai thác nguồn nước ở thượng nguồn từ khi chúng mới manh nha, chỉ ra kịp thời các tác hại để chính phủ có cơ sở đàm phán vì lợi ích của đồng bằng và vì lợi ích của cả lưu vực.   3. Hơn bao giờ, trong bối cảnh mới, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, và các quy hoạch phát triển ngành, địa phương theo hướng phải tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn và mặn, khai thác nước mặn như là một tài nguyên như nhiều nước đã làm thành công, đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân. Mô hình phát triển ở đồng bằng phải chuyển dần, nhưng tích cực nhất có thể được, sang chiều sâu. Mảng công việc này đang chờ đợi sự cống hiến của các nhà khoa học.  4. Các bộ, các địa phương phải phối hợp chặt chẽ với nhau để đối diện với các thách thức. Vấn đề đổi mới thể chế và xác định cơ chế phối hợp là bức thiết.  5. Hơn bao giờ, về cơ chế, sự liên kết chuỗi, liên kết vùng, phát triển kinh tế vùng là bức thiết. Để phát triển bền vững, phải giải quyết tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục. Cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng cơ sở ở đồng bằng.  Sau hội nghị COP 21, nhiều nước sẵn sàng góp sức cùng Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Khai thác có hiệu quả hay không sự sẵn sàng này tùy thuộc ở chúng ta.  ——–  * GS.TSKH. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp Hội đồng Chính sách KH&CN QG.  1 Nguyễn Ngọc Trân, 2010, Tác động kép của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học “Khoa học Địa lý và vấn đề biến đổi khí hậu: nghiên cứu và giảng dạy”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, trang 132-151, Nhà XB Trẻ, 2011.  2 C.Thorne, G.Annandale, J.Jensen, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.  3 J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.  4 J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2006.  5 Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta,Vietnam  Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).    Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Đồng bằng sông Cửu Long: Sẽ tìm cơm và cá ở đâu?      “Còn mẹ ăn cơm với cá”. Từ ngàn đời, mẹ thiên nhiên nuôi dưỡng người Việt bằng nguồn cơm và cá ngon lành của mình. Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) mang lại gần 60% lúa và 40% thủy sản cho cả nước. Một mảnh đất chỉ chiếm khoảng 1/8 diện tích cả nước đang là lao động chính cung cấp bữa cơm cho gia đình đất nước Việt Nam.  Và theo các dự báo khoa học thì trong vòng từ 50 đến 100 năm nữa, mảnh đất đó có nguy cơ nằm dưới mực nước biển 1 mét, do tác động của biến đổi khí hậu. Diễn đạt điều này theo góc nhìn bi quan nhất thì hơn 17 triệu dân ĐBSCL sẽ không còn đất sống, người Việt sẽ phải lăn lộn tìm nguồn cơm và cá khác.      Vựa rau trái và tôm cá này sẽ đi về đâu nếu ĐBSCL sẽ nằm dưới mực nước biển 1m sau 50 năm tới?   Tuy nhiên, nhìn ở góc độ chừng mực hơn thì biến đổi khí hậu sẽ đem lại các hệ quả kinh tế gì cho ĐBSCL và cả nước? Các hiện thực trước mắt, mặc dù nhẹ nhàng hơn viễn cảnh không còn đất sống trong 100 năm nữa, nhưng vẫn tạo ra những cơn đau đầu không hề nhẹ với người dân và nhà quản lý. Báo chí liên tục đưa tin các đợt triều cường cuối năm 2019 đang xâm chiếm Cần Thơ, Rạch Giá, Long Xuyên và nhiều đô thị khác của đồng bằng. Đầu năm 2020, người dân ĐBSCL lại chứng kiến các đợt xâm nhập mặn vào đến hơn 100 km sâu trong đất liền. “Hơn 5000 ha lúa đông xuân của tỉnh Bến Tre có nguy cơ mất trắng vì nước mặn” là một tin tức điển hình về biến đổi khí hậu hiện nay ở Việt Nam. Sẽ không chính xác nếu tờ báo xếp tin này vào mục môi trường. Cần đưa vào mục kinh tế – xã hội.    Biến đổi khí hậu tạo ra các tác động kinh tế xã hội sâu rộng, không những ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp mà còn làm thay đổi các cấu trúc cung-cầu hàng hóa và dịch vụ của hầu hết mọi ngóc ngách của nền kinh tế. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, làm giảm năng suất lao động. Triều cường và ngập mặn làm thiệt hại cơ sở hạ tầng nông nghiệp và khu vực đô thị. Biến đổi khí hậu cũng làm biến đổi hệ sinh thái rừng và đất ngập nước, mà hệ sinh thái này chính là mạch sống của ĐBSCL, cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất, giảm thiệt hại do thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học.    Trong đánh giá tác động kinh tế của biến đổi khí hậu, viễn cảnh cả đồng bằng chìm trong nước biển sau 100 năm gây ấn tượng mạnh, dễ làm người ta quên các tác động từ từ nhưng dai dẳng lâu dài. Sự thay đổi khí hậu trong từng năm, tác động làm biến đổi các khu vực kinh tế khác nhau mới là viễn cảnh thực tế chúng ta cần xem xét.    Nước biển dâng và triều cường sẽ là nguy cơ biến đổi khí hậu lớn nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long1. Nước biển dâng gây hiện tượng nhiễm mặn trên diện rộng, triều cường làm ngập lụt đô thị ngày càng nặng nề, các cơn bão xuất hiện thường xuyên hơn, với cường độ mạnh hơn sẽ là mối đe dọa mới với ĐBSCL, nơi mà người dân trong nhiều trăm năm đã quen, đã thiết kế cuộc sống và sản xuất của mình dựa trên niềm tin “mưa thuận gió hòa”. Ở mức độ thấp hơn các hiện tượng thời tiết bất thường và bão cũng là những mối đe dọa khí hậu đang tăng lên theo thời gian. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi ở ĐBSCL cũng đóng góp làm thay đổi các hoạt động kinh tế của con người.       Như vậy, đến năm 2050, nếu vẫn án binh bất động không có biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiệt hại này với nuôi cá tra sẽ tăng lên gần 9 triệu đồng/ha/năm, và với nuôi tôm sẽ đạt tới con số thiệt hại rất lớn: 950 triệu đồng cho một ha trong một năm.        Ảnh hưởng với nông nghiệp    Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất nông nghiệp qua ba kênh: tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và nước biển dâng. Nhiệt độ tăng, đặc biệt các đợt nắng nóng kéo dài, lượng mưa giảm vào mùa khô, mưa trái mùa sẽ ảnh hưởng đến vòng đời sinh thái của cây trồng, vật nuôi từ đó làm thay đổi sản lượng. Thay đổi nhiệt độ và lượng mưa cũng làm tăng khả năng nhiễm bệnh của vật nuôi và con người, làm tăng nguy cơ xuất hiện và phân tán dịch bệnh. Nước biển dâng làm mất đất canh tác và tạo ra hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong hệ thống thủy lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng nông nghiệp.     Các mô hình dự báo tác động của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL do Ngân hàng thế giới và Bộ Tài nguyên và Môi trường đều cho thấy sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chịu tác động lớn nhất từ ngập lũ và nước biển dâng. Đặc biệt trong thời gian gần đây, xâm nhập mặn đến sớm và gia tăng mức độ, tác động trực tiếp đến hoạt động nông nghiệp ngay cả ở các địa phương ở sâu trong nội đồng.    Tuy tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của ĐBSCL đang giảm dần từ 48% năm 2005 đến nay còn khoảng 28%, nông nghiệp vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong kinh tế ĐBSCL, tạo ra việc làm và thu nhập cho bộ phận lớn dân cư của đồng bằng. Do đó tác động của biến đổi khí hậu đến khu vực nông nghiệp dưới khía cạnh kinh tế sẽ kéo theo hệ quả rất lớn ở khía cạnh xã hội, văn hóa, giáo dục, hay y tế.    Cho đến nay lúa gạo vẫn là sản phẩm chủ lực của nông nghiệp ĐBSCL. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới1, thì với kịch bản nước biển dâng 50cm vào năm 2050, ngập nước làm thiệt hại 193,000 ha và xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 294,000 ha lúa ở ĐBSCL. Thiệt hại hơn 500,000 ha diện tích trồng lúa này tương đương với khoản tổn thất 2.6 triệu tấn lúa/năm, hay 13% sản lượng lúa của đồng bằng, nếu chính quyền và người dân không có chiến lược và thực hiện hành động thích ứng nào.    Đã có nhiều ý kiến cho rằng cần phải cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ở đây, với hi vọng kéo theo thay đổi trong tốc độ tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập của người dân. Tuy nhiên ngay cả khi quyết định chuyển từ tập trung vào lúa gạo sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp ĐBSCL vẫn chịu thiệt hại do biến đổi khí hậu. Xâm nhập mặn làm giảm năng suất nuôi thủy sản. Nhiệt độ tăng làm tăng khả năng phát sinh dịch bệnh cho tôm cá nuôi. Triều cường, giông lốc, ngập úng làm hư hỏng hạ tầng sản xuất như ao nuôi và các thiết bị nuôi.   Ngân hàng thế giới cũng đã ước tính, hiện tại mỗi hecta nuôi cá tra chịu tổn thất giá trị khoảng 3 triệu đồng/năm, nuôi tôm là 130 triệu đồng/năm. Như vậy, đến năm 2050, nếu vẫn án binh bất động không có biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiệt hại này với nuôi cá tra sẽ tăng lên gần 9 triệu đồng/ha/năm, và với nuôi tôm sẽ đạt tới con số thiệt hại rất lớn: 950 triệu đồng cho một ha trong một năm.     Tác động đến tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng    Ở mức độ toàn cầu, báo cáo của IPCC3 dự đoán đến năm 2060, nếu tiếp tục tốc độ thải khí nhà kính như hiện nay, thì GDP toàn cầu có thể bị sụt giảm từ 1.0% đến 3.3% do biến đổi khí hậu. Với ĐBSCL và Việt Nam, Ngân hàng Thế giới1 dự báo con số này vào khoảng 2.3%, trong khi Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính lạc quan hơn, khoảng 0.7% giảm trong GDP.    Nhưng điều đáng lo ngại là nhóm bị tác động kinh tế lớn nhất do biến đổi khí hậu lại là người nghèo, nhất là ở khu vực nông thôn. Nhóm 25% người nghèo nhất được dự báo là sẽ bị biến đổi khí hậu làm giảm 4.5% chi tiêu, trong khi nhóm giàu nhất chỉ chịu tác động giảm 0.6%. Ở nông thôn, nhóm nghèo nhất bị giảm chỉ tiêu 6.5%. Nghĩa là xâm nhập mặn, tăng nhiệt độ và mưa trái mùa có thể làm nhóm nông dân nghèo nhất của ĐBSCL bị mất 6.5 đồng trong 100 đồng chi tiêu hằng ngày.     Khoản chi tiêu sụt giảm này có thể dẫn đến hệ quả về giảm đầu tư của hộ gia đình cho giáo dục hay chăm sóc sức khỏe, đem lại tác động lâu dài làm giảm năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.     Năng suất lao động    Nhiệt độ cao, đặc biệt là các đợt nắng nóng gây sốc nhiệt, kết hợp với độ ẩm cao, có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người lao động, nhất là với các công việc thực hiện ngoài trời như của nông dân, công nhân xây dựng hoặc công nhân trong các nhà xưởng không có điều hòa nhiệt độ. Các nhà khoa học đã dự báo rằng, đến năm 2050 nắng nóng và độ ẩm cao có thể làm giảm 20% năng suất lao động trên toàn cầu (theo công bố của Dunne năm 2013 trên tạp chí Nature2). Mức thiệt hại này là cực kỳ to lớn nếu tính cho các nước đang phát triển, nơi mà năng suất lao động đóng góp quan trọng vào cơ cấu tăng trưởng GDP.     Còn tính riêng ở ĐBSCL, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm năng suất của người lao động trong khu vực nông nghiệp một khoản tương đương gần 4 triệu đồng một năm đối với một nông dân (Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới5). Trong lĩnh vực xây dựng, năng suất lao động của một công nhân xây dựng có thể giảm khoảng 8.7 triệu đồng một năm, do các yếu tố tăng nhiệt độ và độ ẩm cao trong môi trường làm việc. Khoản thiệt hại này tương đương 1.5 tháng làm việc của công nhân. Dưới góc độ quản lý công trình xây dựng, nhà quản lý cần phải tăng số lượng công nhân hoặc kéo dài thời gian thi công để bù đắp khoản sụt giảm năng suất lao động này.     Thiệt hại cơ sở hạ tầng    Nước biển dâng và triều cường tác động trực tiếp đến cơ sở hạ tầng. Hạ tầng không chỉ là mạng lưới đường xá mà là hệ thống công trình liên kết chặt chẽ đóng vai trò xương sống cho mọi hoạt động của nền kinh tế và cuộc sống con người: cầu, đường, hệ thống truyền tải điện, hệ thống cáp internet, cảng biến và hàng không, công trình thủy lợi và các khu vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.      Biến đổi khí hậu đang tác động tới vùng đất mà người dân đã thiết kế cuộc sống và sản xuất của mình dựa trên niềm tin “mưa thuận gió hòa”. Thời gian gần đây, do xâm nhập mặn tăng nhanh, người dân Bạc Liêu phát triển mô hình lúa – tôm. Ảnh: Laodong.   Nghiên cứu của Viện Tài nguyên thế giới3 tính toán rằng với kịch bản nước biển dâng 0.3m và ngập 0.5m, thiệt hại cơ sở hạ tầng ở thành phố Cần Thơ có thể lên đến 2 tỷ USD trong 1 năm, và với thành phố Vĩnh Long là khoảng 500 triệu USD. Thiệt hại cơ sở hạ tầng nông thôn ĐBSCL do biến đổi khí hậu được ước tính vào khoảng 11 tỷ USD một năm, tập trung phần lớn ở Cà mau, Kiên Giang và Bến Tre.    Thiệt hại cơ sở hạ tầng do biến đổi khí hậu không chỉ là việc một khu vực đô thị bị ngập nước triều cường hay kè bờ biển bị sóng đánh sạt lở. Thiệt hại quan trọng nhưng khó thấy hơn là khi con người nhìn thấy, nghe thấy sự sạt lở, sự ngập lụt, nhận thức về rủi ro của họ bị tác động mạnh và bắt đầu thay đổi. Nhận thức thay đổi dẫn đến hành vi thay đổi. Các khoản đầu tư hay chi tiêu dự định cho khu vực hạ tầng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu có thể sụt giảm nhanh hơn dự kiến. Biến đổi khí hậu tạo ra sự thiệt hại kép: vừa từ chính nó và vừa từ sự sợ hãi do nó mang lại.    Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL    Nước biển dâng tấn công trực tiếp và dần dần xóa sổ rừng ngập mặn. Nghiên cứu của IPCC4 cho thấy với kịch bản nước biển dâng 1 mét đến cuối thể kỷ này, ĐBSCL sẽ mất 70% diện tích rừng ngập mặn hiện có. Mà theo báo cáo mới đây của Viện Chiến lược chính sách tài nguyên môi trường5, hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL có giá trị kinh tế vào khoảng 2.950 tỷ đồng/năm. Nghĩa là đến cuối thế kỷ này, nước biển dâng có khả năng xóa sổ khoảng 2.000 tỷ đồng hằng năm cho riêng những đóng góp của hệ sinh thái rừng ngập mặn ĐBSCL cho nền kinh tế như cung cấp gỗ, sản phẩm ngoài gỗ, chức năng bảo vệ bờ biển, điều hòa khí hậu, hỗ trợ nuôi trồng thủy sản, hấp thu carbon, cung cấp dịch vụ du lịch và đa dạng sinh học.    Kết luận    Tác động kinh tế của biến đổi khí hậu là quá trình diễn ra trong thời gian dài và chứa đựng rất nhiều yếu tố không chắc chắn. Các con số tính toán ở trên dựa trên các giả định không có sự can thiệp chính sách, không có các biến động toàn cầu và dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai. Tuy nhiên, không vì sự bất định này mà chúng ta không biết làm gì với các con số. Những con số đó là cảnh báo, đầu vào cần thiết cho việc xây dựng chính sách sống chung với biến đổi khí hậu, thiệt hại do biến đổi khí hậu trong khu vực sản xuất nông nghiệp có thể được giảm thiểu rất nhiều nếu nhà nước đầu tư vào các biện pháp thích ứng một cách hiệu quả. □  —-  *(TS, Trung tâm Môi trường cho Phát triển (EfD-Vietnam) – Đại học Kinh tế TP. HCM)    Tài liệu tham khảo  1 World Bank. 2010. Economics of Adaptation to Climate Change: Vietnam. Working paper #70272. World Bank Group. Washington.  2 Dunne, P., R. Stouffer and J. John. 2013. Reductions in labour capacity from heat stress under climate warming. Nature Climate Change. doi:10.1038/nclimate1827.  3 World Resource Institute. 2014. Climate Change in the Lower Mekong Basin: An Analysis of Economic Values at Risk. USAID Mekong Adaptation and Resilience to Climate Change Working paper.  4 Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC). 2007. Emissions Scenarios 2000, Fourth Assessment Report, Climate Change: Synthesis Report. Geneva: IPCC.  5 ISPONRE. 2018. Lồng Ghép Vốn Tự Nhiên vào các Chính sách và Hoạt Động Phát Triển Bền Vững: Đánh giá nhanh dịch vụ hệ sinh thái Rừng ngập mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hà Nội.    Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Đồng bằng sông Cửu Long: Trước nguy cơ dần biến mất      Phải mất hàng nghìn năm, đồng bằng sông Cửu Long mới ra đời. Con người có thể chỉ cần vài thập kỷ để làm nó co rút. Sạt lở chỉ mới là triệu chứng khởi đầu.    Ông Trương Phi Hải bên khu vực sạt lở từng là căn nhà của gia đình bên sông Tiền, thị xã Hồng Ngự, tháng 6/2020. Ảnh: Thành Nguyễn  Euro Cup 2016, sân vận động Parc des Princes (Pháp) nhuộm nỗi buồn của các cổ động viên Bồ Đào Nha khi cầu thủ của họ liên tục dứt bóng hỏng trước khung thành Áo. Cùng thời khắc ấy, ở một múi giờ khác cách Trung Âu sáu tiếng, nơi cuối dòng Mekong, trận bóng thất vọng của Bồ Đào Nha đã cứu một người đàn ông thoát chết trong gang tấc.  Đêm ấy, ông Trương Phi Hải không ngủ sớm như thường lệ. Người đàn ông 67 tuổi thức bên chiếc tivi, cổ vũ cho Cristiano Ronaldo, cầu thủ ông ái mộ. Phía sau nhà, dòng sông Tiền chảy qua thị xã Hồng Ngự (Đồng Tháp) đang trong con nước ròng, đâu đó vài chiếc sà lan chở cát nổ máy rì rì chạy ngang.  3h sáng, tiếng nước sôi xuất hiện, kéo ông Hải ra khỏi trận đấu. “Nó kêu ục ục. Tui đoán bọn cá lóc trong hồ trước nhà làm bọt bóng”, ông chủ trại cá nhớ lại. Nhưng âm thanh sủi bọt lớn dần, át cả giọng bình luận viên trên tivi. Lo cho đàn cá chỉ còn vài tiếng nữa là đến giờ hẹn bán, ông uể oải đứng lên kiểm tra. Được vài bước, bên tai ông vang tiếng “roạt-rầm”. Và nền đất dưới chân như ai đó bẻ ra, căn nhà tường gạch mái tôn ông vừa bước khỏi bỗng rớt gọn xuống con sông. Tủ, giường, bàn ghế, và cả chiếc tivi đang chiếu hình ảnh Ronaldo cũng trượt vào làn nước.  Trong tích tắc, mảnh sân sau ông Hải đang đứng biến thành một hòn đảo nhỏ giữa dòng nước xoáy đục ngầu. Rồi “hòn đảo” cũng tụt dần. Cú sốc đông cứng chân người đàn ông, ông ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu, phó mặc cho số phận. “Người tôi giống như đi thang máy vậy đó. Ngước mắt lên nhìn, không còn thấy trời, không còn thấy sao. Tôi nghĩ mình chết rồi”, ông Hải rít mẩu thuốc, nhớ lại giây phút sinh tử lúc đó.  Đêm tháng sáu tĩnh gió, nhưng con sông Tiền sôi sùng sục. Khi ông Hải đang trồi dập giữa những mảnh mái tôn, đồ đạc, một sà lan cát neo gần đó nhìn thấy cánh tay ông chấp chới trên mặt nước, lao đến và kéo ông lên.  Hôm ấy, chỉ một mình ông ở nhà và may mắn thoát chết. Nhưng đó chưa phải là lần sạt lở kinh hoàng nhất mà người đàn ông cả đời sống bên dòng sông Tiền này trải qua.  Vùng đồng bằng lại đánh mất 300 đến 500ha đất mỗi năm, tức là cứ mỗi hai ngày, lượng đất đá tương đương diện tích của ba sân bóng đá, bị đổ xuống sông và biển. Các chuyên gia chỉ ra rằng, hầu hết nguyên nhân là do con người tạo ra. Dự báo quãng thời gian người ta có thể tiếp tục sinh sống ở vùng châu thổ lớn thứ ba thế giới là không quá 80 năm.  Tròn ba năm sau, mùa hè 2019, sạt lở lại cắn sâu hơn vào vườn nhà, nuốt tiếp ngôi nhà thứ hai ông Hải mới cất. “Bốn mươi mét đất” rớt thẳng xuống sông trong đêm. Mái tôn, thanh sắt đổ sụm, cuộn vào dòng nước xoáy tóe tia lửa điện kêu xẹt xẹt do cuốn phải chiếc mô tơ đang bơm nước vào hồ cá. “Như đang chiến tranh đánh nhau vậy”, người đàn ông có nước da cháy nắng nhớ lại, mắt vẫn đang thả về hướng dòng sông.  Dừa rụng lộp độp xuống mái nhà, mọi người tỉnh giấc thoát ra ngoài. “Nhưng mẹ tôi già, đau bệnh nằm một chỗ. Tôi không kịp cõng bà chạy…”. Không ai cứu được người mẹ 85 tuổi của ông hôm ấy.  “Không biết bơi cũng chết. Biết bơi mà không biết lặn cũng chết. Rớt xuống nước điện giật chết. Ngủ quên cũng chết. Tường sập đè cũng chết”. Ông Hải nhớ lại trong buổi chiều hơn một năm trước; đôi mắt nhìn ra dòng sông Tiền lười biếng. Người ta tìm thấy thi thể mẹ ông vào sáng hôm sau.  ﻿  Sạt lở vét trắng toàn bộ gia sản tiết kiệm, vốn liếng làm ăn tích cóp cả đời của gia đình. Khu nhà ông thành điểm nóng sạt lở của Hồng Ngự. Trong vòng năm năm qua, sông đã “ăn” gần 200m đất. Mé sông lấn ngày càng sâu vào thôn ấp. Nhiều hàng xóm của ông đã rời đi. Còn vợ chồng ông tiếp tục dời lùi vào trong, đánh liều đào lại hồ cá, cất lại mái nhà cách bờ sông mới lộ vài chục bước chân. Không còn đất để ở, ông xây mộ của mẹ ngay trong nhà  Những câu chuyện như của ông Hải dần không còn kỳ lạ bên bờ những nhánh sông Cửu Long của Việt Nam. Hàng chục nghìn hộ dân, cùng chung cảnh ngộ với gia đình ông Hải, có nguy cơ hoặc bắt buộc phải di dời. Mối nguy này ngày càng lớn theo năm tháng: hiện có 564 điểm nóng xói lở bờ sông và ven biển, trải theo chiều dài 834km, tăng gấp năm lần so với 99 điểm nóng cách đây một thập kỷ.[1] Vùng đồng bằng đánh mất từ 300 đến 500 ha đất mỗi năm, tức là cứ mỗi hai ngày, diện tích đất đá tương đương ba sân bóng đá bị đổ xuống sông và biển.[2]  Dấu tích của một ngôi nhà tại khu vực sạt lở ở tỉnh An Giang. Hình ảnh được chụp vào tháng 6/2020. Ảnh: Cương Trần  Bồi và lở hai bên sông là quy luật tự nhiên – nhờ đó chúng ta có những con sông uốn lượn, khác với các kênh đào thẳng tắp. Tuy nhiên với tốc độ và quy mô sạt lở bất thường ở ĐBSCL hiện nay, hiện tượng này là triệu chứng báo động cho mối đe dọa lớn hơn. Nó là cách mà đồng bằng kêu cứu.  Vùng đồng bằng châu thổ trải hơn 40.000 km2, ngôi nhà chung của 18 triệu cư dân, vựa lúa tôm, cây trái nuôi sống một đất nước gần 100 triệu người, và là nguồn lương thực chính cho toàn Đông Nam Á – đang có nguy cơ dần dần biến mất dưới chân con người, không chỉ riêng vì sạt lở.  Các chuyên gia chỉ ra rằng, hầu hết nguyên nhân là do con người tạo ra và chẩn đoán quãng thời gian người ta có thể tiếp tục sinh sống ở vùng châu thổ lớn thứ ba thế giới là không quá 80 năm.[3]  Sạt lở các đoạn QL91 ở tỉnh An Giang năm 2019 và 2020. Ảnh chụp tháng 6/2020. Ảnh: Cương Trần  Đồng bằng bắt đầu từ đâu?  Để hiểu nguyên nhân đằng sau những thảm kịch sạt lở và tìm ra phương pháp phòng tránh nó, trước hết đòi hỏi phải hiểu vùng đất này sinh ra và mở rộng như thế nào.  Đồng bằng lớn nhất của Việt Nam mới chỉ bắt đầu thành hình khoảng 6000 năm, tuổi đời rất trẻ so với con số hàng trăm triệu năm của các đồng bằng lớn như Bengal và Mississippi. Các dòng suối chảy róc rách từ đầu nguồn băng giá ở cao nguyên Tây Tạng-Thanh Hải, tỉ mỉ mài mòn những chân núi, bờ đá, vạt đất chúng đi qua ở lãnh thổ ngày nay của Trung Quốc, Thái Lan hay những cánh rừng Lào. Các thác nước trên đường đi giúp tăng tốc độ dòng chảy, tiếp thêm sức mạnh cho con sông đẩy những vật chất rắn này xuống hạ lưu.  Khi con sông di chuyển xuống vùng đồng bằng thấp và bằng phẳng hơn gần cửa Biển Đông, nó chậm lại: các vật chất nặng như cát và sỏi sẽ lắng xuống đầu tiên, trong khi phù sa và bùn mịn hơn sẽ di chuyển xa hơn ra ngoài cửa sông. Một phần phù sa và bùn mịn sẽ lắng xuống ở cửa sông, giúp đất mở rộng 16m mỗi năm về phía Đông. Phần còn lại bị dòng hải lưu cuốn đi, di chuyển theo hướng Tây Nam, và vun đắp dần 26 mét một năm, thành vùng Cà Mau ngày nay.  Các chuyên gia đã ước tính sông Mekong vận chuyển khoảng 150 đến 160 triệu tấn vật liệu rắn như vậy[4] đến hạ lưu mỗi năm trong khoảng 5.300 đến 3.500 năm trước.[5] Theo thời gian, cùng với những lần nước biển dâng và rút, trầm tích chồng chất, lắng đọng tạo thành một vùng đất mới. Sông Mẹ, như cách gọi những người Khmer định cư sớm nhất, 3.000 năm trước đã sinh ra vùng châu thổ như thế.  Không phải con sông nào cũng có năng lực “sản sinh” đất đai này. Nếu dòng chảy quá yếu, nó sẽ không thể đẩy vật liệu trong suốt hành trình dài. Dòng chảy quá nhanh ở hạ lưu sẽ khiến phù sa không đủ thời gian để lắng đọng và tích tụ. Và nếu sóng quá mạnh ở cửa biển, chúng sẽ có thể cuốn phăng những hạt phù sa nhẹ. Nói cách khác, đồng bằng sông Cửu Long hình thành là cả một quá trình nhào nặn, đòi hỏi cân bằng hoàn hảo giữa nước sông, phù sa, sóng và đại dương. Sự tồn tại của nó phụ thuộc cùng lúc vào nhiều yếu tố có liên kết với nhau. Nhưng, những biến đổi gần đây do con người gây ra đã và đang xô lệch cán cân hài hòa này.  “Nước đói”  Ủy hội sông Mekong đã xác định rằng kể từ năm 1994, lượng phù sa hằng năm đổ về hạ lưu đã giảm mạnh từ 147 triệu tấn xuống chỉ còn 66 triệu tấn vào năm 2013. Dự kiến con số này sẽ tiếp tục giảm xuống chỉ khoảng 42 triệu tấn một năm.[6]  Đồng bằng sông Cửu Long hình thành là cả một quá trình nhào nặn, đòi hỏi cân bằng hoàn hảo giữa nước sông, phù sa, sóng và đại dương. Những biến đổi gần đây do con người gây ra đã và đang xô lệch cán cân hài hòa này.  Kích hoạt cho thay đổi này là thủy điện đầu tiên của dòng sông, Mạn Loan, được xây dựng trên dòng thác Lan Thương ở Trung Quốc vào năm 1993. Kể từ đó, hơn 300 thủy điện mới đã hoặc sắp được lắp đặt trên 4.350 km của sông Mekong. Trong số 64 hồ thủy điện lớn được xây dựng trên sông, sáu được mô tả là các “siêu đập” và tập trung ở khu vực địa hình dốc của Lan Thương, Trung Quốc. Hai đập lớn nhất, Nọa Trát Độ và Tiểu Loan, có tổng dung tích chứa là 38,4 km khối, lớn hơn mười lần so với tất cả các đập khác. Tầng tầng lớp lớp các hồ chứa nước xây dọc con sông đã ngáng đường phù sa đổ về vùng hạ lưu.  ﻿     Bản đồ các đập thuỷ điện đã, đang và có kế hoạch được xây trên sông Mekong (tính đến 2022). Nguồn dữ liệu: https://opendevelopmentmekong.net/. Đồ họa: Tia Sáng.   Để chứng minh chính xác thủ phạm chặn phù sa là các đập thủy điện – chứ không phải là hiện tượng tự nhiên, một nghiên cứu công bố năm 2020 đã so sánh dữ liệu trước và sau khi con đập đầu tiên được dựng lên.[7] Nhóm nghiên cứu phát hiện, trong khi lượng bùn cát đo được ở trạm Cựu Châu (tỉnh Vân Nam), phía trên rặng thủy điện của Trung Quốc, tăng lên, thì lượng phù sa về đến đồng bằng lại giảm hơn 74% trong giai đoạn năm 1991 đến năm 2015. Đồng thời, dựa vào dữ liệu lượng bùn cát đón được tại trạm thủy văn Chiengsen (Thái Lan), nhóm xác định hơn một nửa phù sa của sông MeKong bắt nguồn từ lãnh thổ Trung Quốc trong điều kiện tự nhiên.  “Chúng (các đập thủy điện Trung Quốc) chính là nguyên nhân rất lớn làm giảm bùn cát về đến đồng bằng sông Cửu Long”, TS. Đoàn Văn Bình, nghiên cứu viên sau tiến sĩ tại Đại học Kyoto, hiện đang công tác tại Đại học Việt – Đức, tác giả chính của nghiên cứu nhận định. “Trong con số sụt giảm 74% phù sa về đồng bằng sông Cửu Long nêu trên, chúng chiếm tới 40%”, anh nói trong một cuộc phỏng vấn trực tuyến với chúng tôi.  Chuyên gia sinh thái độc lập tại Cần Thơ Nguyễn Hữu Thiện giải thích điều này cụ thể hơn: Các hồ chứa xây phía trên nhà máy điện thượng nguồn làm chậm vận tốc dòng chảy. Và dù các hạt trầm tích nhẹ hơn và nhỏ hơn vẫn có thể trôi lọt qua công trình, nhưng dòng chảy ở đây bị mất năng lượng, không đủ sức đẩy các vật liệu nặng hơn như cát hoặc trứng cá đi tiếp. “Khi nhiều đập hơn được xây dựng ở Lào, Campuchia, trong tương lai chẳng còn một hạt cát hay viên sỏi nào có thể chui lọt đến Đồng bằng sông Cửu Long”, ông nói.  Nhiều báo cáo đã chứng minh dự báo này không hề phóng đại. Nếu tất cả các đập theo kế hoạch được xây dựng trong tương lai, 94%[8] đến 96%[9] lượng phù sa được chuyển đến các mặt biển có thể bị giữ lại ở phần thượng nguồn. Dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) chỉ ra, vào năm 2040 chỉ còn 3-5% lượng phù sa so với trước khi có đập sẽ về đồng bằng.[10]  Nếu như các con đập và hồ chứa kìm chân và giữ lại phù sa và cát của dòng chảy, thì khi ra khỏi đập, dòng nước sông bị lọc bớt phù sa đó biến thành thứ mà các nhà thủy lợi gọi là “nước đói”. Nước trở nên lỏng nhẹ hơn sẽ chảy tốc độ nhanh hơn, tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu của Đại học Cần Thơ, giải thích, con sông bây giờ rà quét hai bên bờ và lòng sông của nó để tìm vật liệu. Nói cách khác, dòng sông đói phù sa quay trở lại gặm nhấm chính phần da thịt của vùng châu thổ mà nó đã tạo ra.  Một sà lan chở đầy cát chạy xuôi dòng sông Tiền, đi qua một điểm sạt lở ở tỉnh An Giang. Ảnh chụp tháng 6 năm 2020. Ảnh: Cương Trần  “Sông rỗng bụng”  Nhưng ngày nay, khi sông Cửu Long tự khua khoắng dưới bụng mình để tìm vật chất thỏa mãn cơn đói, thì nó chẳng tìm được gì nhiều. Con người với đội tàu và xà lan hút cát đã tới trước, nạo vét các mỏ cát sỏi khổng lồ từ đáy sông.  Dòng sông Mekong đã không chỉ cung cấp năng lượng cho những bước phát triển nông nghiệp nhảy vọt của các quốc gia hai bên bờ, nó còn cung cấp nguyên vật liệu cho hạ tầng của các thành phố, khu đô thị đang ngày một mở rộng. Các thành phố ở Singapore, Việt Nam, Thái Lan và Campuchia cần cát sỏi để xây công trình dân sinh, nhà máy, đường sá…Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, sông Mekong, một trong những con sông giàu cát nhất thế giới, đã tấp nập tàu thuyền nạo vét trong hai thập kỷ qua.     Dấu tích của một ngôi nhà tại khu vực sạt lở ở tỉnh An Giang. Hình ảnh được chụp vào tháng 6/2020, Ảnh: Cương Trần.  Một khảo sát của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) vào năm 2011 – thời kỳ đỉnh điểm của cơn sốt khai thác cát ở sông Mekong – cho thấy gần 50 triệu tấn vật liệu đã bị rút ra khỏi dòng chính hằng năm.[11]  “Ở trạng thái tự nhiên, trước những năm 1990, con sông đã mang khoảng 20 đến 25 triệu tấn cát sỏi vào các nhánh và cửa sông.” Marc Goichot, nhà nghiên cứu thuộc Chương trình Mekong của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới, đồng tác giả của cuộc khảo sát cho biết. “Đó là “ngân sách” tự nhiên của nó”. Nhưng khi các con đập xuất hiện, nguồn quỹ thường niên này đã giảm 77%, còn từ 3 đến 5 triệu tấn.  Nếu xem cát sông Mekong là một tài khoản ngân hàng, lượng khai thác ở Campuchia, Việt Nam, Lào và Thái Lan là tài sản ta vay tín dụng, số cát dòng sông mang đến từ thượng nguồn là thu nhập của ta, thì chúng ta đang “chi vượt thu” tới hàng triệu tấn mỗi năm. “Chúng ta đang ăn vào vốn của mình; và ngân hàng của chúng ta hiển nhiên sẽ không hài lòng. Đó là tình thế hiện nay,” Goichot nói.    Khai thác cát trên sông Hậu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến xói mòn, sạt lở tại ĐBSCL. Video: Cương Trần  Hình thái lòng sông bị đảo lộn, Mekong đã trở thành con sông “rỗng bụng”, theo cách gọi của các chuyên gia. Nó càng phải nạo vét xung quanh để lấy phù sa lấp đầy các hố vằn vện dưới lòng do hút cát. Ở Việt Nam, khai thác cát ở sông Tiền và sông Hậu đã được chứng minh làm hạ độ sâu ít nhất 1,3 mét trong vòng 10 năm.[12]  “Đáy sông sâu hơn đồng nghĩa bờ sông cao hơn xưa,” chuyên gia Thiện nói, “thêm sức nặng của nhà cửa phía trên, sạt lở là tất yếu”. Nguy cơ này đặc biệt lớn ở khu vực quanh các mỏ cát. Nhưng dòng nước đói và lòng sông rỗng bụng không chỉ ảnh hưởng khu biệt một vài cộng đồng, mà đe dọa đến toàn bộ hệ thống sông. Một mặt, để tái phân phối đáy sông, dòng chính sẽ rút cát từ những sông nhánh, “như là khi xương sống bị rút thì rút đến xương sườn,” ông Thiện so sánh. Mặt khác, thiếu đi nền sỏi đá đóng vai trò hãm phanh, dòng chảy với lực mạnh sẽ đâm vào bờ, rà quét các điểm yếu và gây ra xói mòn. Sạt lở từ đó lan tỏa rộng khắp ven bờ.  Không chỉ sạt lở bờ sông  Ở cửa sông và ven biển cuối dòng, tổn hại còn bộc lộ rõ hơn. Phần vật liệu sỏi, đá, phù sa quý giá bị kẹt lại  đồng nghĩa với lượng bùn ra đến biển còn ít hơn. Thiếu đi vật liệu xây dựng này, quá trình lấn biển tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long đã chậm lại và dần bị đảo ngược. Phân tích hình ảnh vệ tinh từ năm 2015 cho thấy nhiều đoạn bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long đã bị xói mòn, co rút vào trong hơn 50 mét mỗi năm.2  Nếu như các con đập và hồ chứa kìm chân và giữ lại phù sa và cát của dòng chảy, thì khi ra khỏi đập, dòng nước sông bị lọc bớt phù sa đó biến thành thứ mà các nhà thủy lợi gọi là “nước đói”. Dòng sông đói phù sa quay trở lại gặm nhấm chính phần da thịt của vùng châu thổ mà nó đã tạo ra.  Khi bờ biển bị xói mòn, những rừng cây mắm, cây đước giúp giữ phù sa ven bờ cũng không còn đất bồi để bám rễ, cũng dần biến mất. Lớp màng chắn bằng bùn bảo vệ cửa sông trong nhiều thế kỷ mỏng dần, và nước biển dễ dàng len lỏi sâu hơn vào đất liền. Lượng thủy hải sản ven biển sống dựa vào hệ sinh thái này cũng chịu tổn hại, đẩy vùng đánh bắt dồi dào nhất cả nước vào nguy cơ biến thành “nước sa mạc”. “Đồng bằng không có phù sa về là đồng bằng chết”, tiến sĩ Tuấn tóm gọn.  Sóng biển, cỗ máy vận chuyển vật liệu cho vùng đất này cũng theo đó “thay đổi tính nết”. Trong hàng nghìn năm dồi dào phù sa bơm ra biển, những con sóng “nhào vào, phân phối, chia phù sa,” cõng phần bùn mịn “dư ra” về phía Tây Nam, hình thành các vùng Sóc Trăng, Cà Mau như chúng ta biết ngày nay. Con sóng nặng phù sa cũng vỗ vào bờ nhẹ nhàng hơn. “Nhưng bây giờ, sóng trong hơn, thành sóng đói, đánh mạnh, lôi kéo bùn đất ra”, ông Thiện nói, “miệt mài năm nọ tháng kia, thì bờ biển sạt lở là tất yếu”.  Trong thập niên 2010, các nhà khoa học Việt Nam bắt đầu cảnh báo về một xu hướng đáng lo ngại hơn nhiều: nguy cơ tan rã của Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là khi vùng đồng bằng cửa biển này chuyển từ lấn biển, nảy nở diện tích suốt hàng nghìn năm qua, thành chìm lún, co rút.  Không chỉ cắn vào bờ sông, 50% đường bờ biển dài 600 km ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng bị những con sóng “nước đói” đe dọa. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là những đoạn bờ biển bùn phía Biển Đông, với 90% bị xói lở. 60% bờ biển phía Vịnh Thái Lan cũng đang chới với. Mũi Cà Mau – cực Nam của đất liền Việt Nam – không còn hình dạng như tên gọi. Sạt lở trong thập kỷ qua đã gặm mòn mất phần chỏm của nó      Phần còn lại của xóm chài vẫn bám trụ vào một Mũi Cà Mau đang xói mòn. Ảnh chụp tại ấp Rạch Thọ, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau vào tháng 3 năm 2020 bởi Thành Nguyễn.  Ông Trần Văn Lợi là một trong những người dân đầu tiên nếm trải hiện tượng co rút này. Trong gần 30 năm sống ở xóm chài bên mũi Cà Mau, ông đã năm lần chuyển nhà. “Cái nhà trước của tui nằm mút ở ngoải,” người đàn ông 56 tuổi chỉ tay về phía biển nước mênh mông, cách bờ vài trăm mét. “Mà lúc ấy chưa có lở, bên ngoài còn có rừng phủ xa lắm, đâu thấy biển đằng Tây đâu. Sóng đánh ở ngoải trong đây cũng im re à”, ông nhớ lại.  Ông Trần Văn Lợi, 55 tuổi, đã 5 lần chuyển nhà để tránh nạn sạt lở bờ biển hung hãn ở Mũi Cà Mau trong 15 năm qua. Ảnh chụp tại ấp Rạch Thọ, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau vào tháng 3 năm 2020 bởi Thành Nguyễn.  Nhưng “chừng 15, 16 năm trước”, con sóng lên ngày một dữ, ngoạm đất dưới chân xóm chài. Vào “mùa sấm”, “mùa nam” tháng tư là sóng xanh hung hăng hơn cả, “đánh tá lả” vào cây cối và nhà cửa trong xóm, gào thét bên tai khiến cả xóm nhiều đêm thức trắng. “Mỗi lần sóng to là trẻ em, đàn bà cho đi vô xóm trong”, ông kể. Rồi khi đất không thể bám được vào bờ, hàng xóm xung quanh bắt đầu bỏ đi. Ông Lợi làm nghề bắt cá tôm, quyết định trụ lại bên mặt nước “cho dễ mần ăn”. Nhưng canh chừng trận lở sau, ông và bà con chỉ dám cất nhà mới bằng thân cây đước, chứ không đổ bê tông cố định.  Con số chính thức ghi nhận tỉnh Cà Mau từ năm 2007 đến nay mất khoảng hơn 4.000 ha rừng ven biển vì nhiều nguyên nhân.[13] Bờ và đê biển ở cả biển Tây và Đông đều luôn đứng đước nguy cơ bị vỡ hoặc sạt lở. Cố lý giải nguyên nhân khiến nhà cửa của mình liên tục bị sụt xuống nước, ông Lợi dẫn lại thông tin trên đài: “Họ nói đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao đó đó. Tui cũng nghĩ vậy”.  Con sông Mekong đã kiệt quệ. Từ thượng nguồn, dòng sông đã ngừng cung cấp phù sa cho đồng bằng. Ở hạ nguồn, trong khi các tầng đất còn chưa cố kết chắc chắn thì cát và nước ngọt đã bị hút cho lợi ích kinh tế, không chỉ tạo ra sạt lở mà còn thúc đẩy sức tàn phá của nó. Nếu có biến đổi khí hậu, khiến mực nước biển dâng lên, thì đó chỉ là giọt nước tràn ly, giáng thêm một đòn chí mạng vào cơ thể vốn đã ốm yếu, ngấp nghé trên mặt nước biển trung bình chưa đầy một mét của Đồng bằng sông Cửu Long.  Anh Hoa, một người dân ở Mũi Cà Mau, đang xây lại ngôi nhà của mình sau khi sạt lở bờ biển lần cuối cùng vào năm ngoái. Ảnh chụp tại ấp Rạch Thọ, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau vào tháng 3/2020. Ảnh: Cương Trần  Chấp nhận thực tại  Người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đang đặt cược hy vọng vào công trình tường chắn sóng ngay trước mắt. Đoạn kè ôm xóm chài nhà ông Lợi là một phần của dự án tường biển dài 90 km để bảo vệ bờ phía Đông của mũi đất, nơi chịu sạt lở nghiêm trọng đến 40 mét mỗi năm.  Các bức tường biển và kè sông được coi là giải pháp tương đối nhanh chóng cho nguy cơ xói mòn khẩn cấp, nhưng chúng cũng là biện pháp đắt đỏ. Ví dụ, tường biển đang xây dựng ở Cà Mau được báo cáo cần chi phí từ 20 đến 45 tỷ đồng cho một km.[14] Trước đó, các công trình phòng chống sạt lở đã được đầu tư với tổng kinh phí 16.067 tỷ đồng để xây dựng trong 10 năm.  Vật liệu xây dựng làm kè biển tập kết trên một con kênh ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau, tháng 3/2020. Ảnh: Thành Nguyễn  Nhưng giải pháp này cũng không triệt để. “Các con đê này không thực sự giải quyết được sạt lở, mà chỉ chuyển nó sang một đoạn bờ khác mà thôi”, Marc Goichot nói trong một cuộc phỏng vấn qua Skype. Các chuyên gia trong nước cũng chia sẻ hoài nghi của anh. Đồng bằng này, xét cho cùng, là do cả sông và biển tạo nên. Chắn biển là hoạt động đi ngược tự nhiên, ngăn chặn quá trình kiến tạo đồng bằng từ biển. Những bức tường bê tông còn có nguy cơ phá vỡ môi trường, và gây ô nhiễm hệ sinh thái nước lợ dọc bờ biển vốn đã dễ bị tổn thương.  Và nếu chỉ tin rằng thủ phạm của tất cả điều này là do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, chúng ta có nguy cơ bỏ qua những lý do thực chất gây ra sạt lở và xói mòn, Goichot nói thêm. “Khi bạn đứng trên bờ biển Cà Mau, nhìn ra biển, bạn nghĩ rằng thủ phạm ở ngay trước mắt, nhưng thực tế vấn đề lại nằm ở phía sau lưng bạn”.  Goichot cùng các chuyên gia cho rằng, thay vì đổ tiền vào những cách chữa trị tạm thời cho triệu chứng bề mặt, sạt lở cần được suy xét với một tầm nhìn xa hơn và rộng hơn.  Việt Nam còn cần chủ động thừa nhận, đo lường và giải quyết các tác động do con người gây ra (nhân tai) đối với đồng bằng, chứ không chỉ tập trung giải quyết những tác động đến chậm hơn của biến đổi khí hậu.  Bài toán thủy điện thượng nguồn và siết chặt quản lý, thậm chí chấm dứt khai thác cát là những bước bắt buộc. Đối với cát, ngoài kêu gọi siết chặt hoạt động khai thác bất hợp pháp sau lệnh cấm xuất khẩu cát, Goichot và các cộng sự tại WWF còn đang tìm lời giải ở phía những người tiêu thụ. Họ đề xuất ý tưởng “dùng cát bền vững” khởi đầu bằng việc nâng cao hiểu biết của người dân về chi phí thực tế mà Đồng bằng sông Cửu Long phải gánh chịu do khai thác cát. “Một ngôi nhà xây ở TP.HCM có thể khiến ai đó ở Cà Mau mất nhà cửa.” Goichot nói. Đồng thời, học hỏi từ các chương trình khai thác gỗ và nông sản bền vững, nhóm cũng đề xuất phát triển hệ thống truy gốc cho cát, giúp mọi người dễ dàng kiểm tra cát mình dùng có được khai thác có trách nhiệm hay không.  Với câu chuyện thủy điện, giải pháp khả dĩ và thiết yếu là tạo ra một nền tảng thu thập và chia sẻ dữ liệu giữa các nước ven sông. “Thiệt hại do giảm bùn cát ở Đồng bằng sông Cửu Long là không thể nào vãn hồi”, chuyên gia thủy lợi Đoàn Văn Bình nói. Là quốc gia ở cuối dòng, “Việt Nam thay vì cố phục hồi, có thể phấn đấu giảm nhẹ [hậu quả]. Để làm như vậy, chúng ta cần dữ liệu, thông tin vận hành đập thủy điện từ các nước phía trên cho chuẩn bị và ứng phó”.  Ngoài làm việc với các tác nhân bên ngoài, trước tình cảnh sống còn vùng đất này, Việt Nam đang từng bước đo lường và giải quyết các tác động do con người gây ra (nhân tai) đối với đồng bằng. “Trong khi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu chỉ có thể thấy trong vài chục, thậm chí hàng trăm năm, thì con người chỉ cần khoảng 20 năm xây đập, hút cát, xây đê ngăn lũ, xây cống, vân vân… đã gây ra ảnh hưởng rất lớn”, chuyên gia Đoàn Văn Bình nói.  Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đều đang kêu gọi hành động nhanh chóng từ chính phủ và các tác nhân, tổ chức, và nhà đầu tư liên quốc gia như Ủy hội sông MeKong, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á. Mọi đề án phát triển trên sông MeKong đều cần xem xét tác động tổng thể toàn vùng, thay vì chỉ tập trung vào các đánh giá bền vững ở từng dự án và lĩnh vực. Nghị quyết 120 của chính phủ để cứu vùng đồng bằng là một điểm sáng, nhưng đến nay vẫn chủ yếu đóng vai trò tấm bản đồ chỉ đường. “Đồng bằng đang mất đất ngày càng nhiều hơn”, một chuyên gia nhắc lại, dự báo viễn cảnh đen tối phía trước nếu không khẩn trương, “như lửa đã cháy tới nhà mình rồi”.  Ông Hải sau hai lần “chết hụt”, quyết định sẽ tiếp tục sống trong ngôi nhà ven sông của mình. “Tuổi này làm ăn gì được nữa mà dám vay tiền mua đất mới,” ông Hải nói. “Mình ở cách sông có vài mét, không biết khi nào rớt xuống nước, mà chịu thôi”.  Ở phía cuối mũi đất, ông Lợi cũng phập phồng lo có ngày bị “trôi” đi. Phương án của ông và vợ cũng tương tự gia đình ông Hải. “Nước lên thì mình lên cao hơn”, ông nói, “tới đâu hay tới đó chứ tính tương lai gì”. Ông nói, nhấp một ngụm cà phê đá bên mép nước biển cuộn sóng. □  —–  Bài viết được thực hiện với hỗ trợ từ Mạng lưới báo chí Trái đất của Internews.     [1] Xử lý sạt lở đồng bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long  [2] Linking rapid erosion of the Mekong River delta to human activities  [3] ĐBSCL chỉ còn tồn tại 80 năm?  [4] Evaluation and analysis of sediment data from the Lower Mekong River. Phnom Penh, Unpublished report for the Mekong River Commission.  [5] 2500 years of changing shoreline accretion rates at the mouths of the Mekong River delta  [6] SEA of Hydropower on the Mekong Mainstream  [7] Changes to long-term discharge and sediment loads in the Vietnamese Mekong Delta caused by upstream dams  [8] Sediment-related impacts due to upstream reservoir trapping, the Lower Mekong River  [9] Dams on the Mekong: Cumulative sediment starvation  [10] Thuỷ điện Trung Quốc làm gia tăng sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long  [11] Trích sách “The World in a Grain”, Vince Beiser, Apple Books.  [12] Recent morphological changes in the Mekong and Bassac river channels, Mekong delta: The marked impact of river-bed mining and implications for delta destabilisation  [13] Sạt lở bờ biển, bờ sông – một nguy cơ đang lớn dần  [14] Thủ tướng nhất trí nguồn vốn hơn 3.000 tỷ đồng hỗ trợ chống sạt lở ĐBSCL    Author                Nhung Nguyễn, Võ Kiều Bảo Uyên        
__label__tiasang Động đất, sóng thần, nghĩ về… Prômêtê      Sau khi Prômêtê lấy lửa của Thần Dớt để truyền sức sống cho con người, Dớt đã cột ông ta trên đỉnh núi để diều hâu đến moi gan.  Có thể Dớt đã làm đúng.    Để sau khi tìm ra lửa, Prômêtê không thể đưa đến cho con người thêm cái gì nữa.   Không thuốc súng, để con người không tàn sát động vật quá cái mức đủ sống qua ngày.  Không máy hơi nước, mở đầu cho cái thời “cừu ăn thịt người”.  Không uranium, để có thể trở thành thảm họa của ngày hôm nay.  Nhưng Dớt đã sai.  Không có Prômêtê, con người vẫn tìm ra máy hơi nước, vì họ cần năng suất lao động cao hơn, cần phải được ăn nhiều hơn.  Không có Prômêtê, con người vẫn tìm ra phóng xạ, vì họ cần điện nguyên tử. Vì cuộc sống ngày càng cần thêm  “tiện nghi”. Vì ngồi ở Việt Nam vẫn có những người thích hưởng cho được “thịt bò Kobe, bào ngư Nam Phi, ốc vòi Canada”,… rồi thì bao nhiêu thứ khác.  Những con cháu của Prômêtê đâu chỉ cần đến lửa. Họ cần nhiều thứ lắm, và càng ngày lại càng cần nhiều hơn. Duy chỉ có một thứ mà họ có vẻ như không cần đến: đó là thiên nhiên. Họ tha hồ khai thác nó, bóc lột nó.  Người ta kiếm ra tiền. Người ta chi tiêu. Người ta làm ra những rôbôt đào mỏ, đào vàng. Con người được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc. Rồi những rôbốt biết soạn nhạc, làm thơ, biết khóc, biết cười, thậm chí biết nũng nịu, hờn giận nữa. Con người sẽ được “giải phóng” luôn khỏi âm nhạc, thơ cả, “giải phóng” khỏi tình yêu. Họ chỉ còn phải làm mỗi một việc là chế tạo ra các rôbôt.  “Nhân loại hỡi, tỉnh lại vẫn còn kịp”.  Ai đã nói câu đó nhỉ? Không nhớ nữa, lâu quá rồi. Liệu có còn kịp tỉnh nữa không.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đóng góp ý kiến cho việc mở rộng địa giới Hà Nội      Thời gian vừa qua Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ phương án mở rộng Hà Nội. Diện tích Hà Nội mở rộng sẽ bao gồm toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã tỉnh Hoà Bình. Cụ thể diện tích 3.324,92 km2 và số dân 6 triệu người (so với hiện nay là 921km2 và 3,4 triệu người), gồm 29 đơn vị hành chính cấp quận, huyện và 575 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.    Gần đây Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Hoà Bình đã họp và ra các nghị quyết thông qua việc mở rộng Hà Nội kể trên.    Sau khi chủ trương nói trên đưa ra công luận, ngoài những ý kiến tán đồng việc mở rộng địa giới để phát triển thủ đô, cũng xuất hiện không ít những ý kiến chưa hoàn toàn đồng tình với việc bỏ hẳn một đơn vị hành chính cấp tỉnh cũng như phân vân về khả năng quy hoạch và quản lý đô thị khi Hà Nội tiếp nhận một địa bàn quá rộng như trên.  Cho dù việc mở rộng địa giới Hà Nội để phát triển kinh tế-xã hội là một chủ trương đúng đắn, nhưng vấn đề ở đây là mở rộng tới mức độ nào và nội dung của sự mở rộng cụ thể ra sao là điều cần được bàn bạc cho thấu đáo trước khi có quyết định cuối cùng của Quốc hội.   Quy hoạch mở rộng Hà Nội như vậy là một công việc lớn lao và nghiêm túc, nó đòi hỏi sự đóng góp không những của riêng đội ngũ quy hoạch kiến trúc, xây dựng mà còn của đông đảo giới trí thức, của các nhà khoa học chuyên ngành , của các bộ, ngành, giới liên quan trong cả nước và Việt kiều ở nước ngoài.  Trên tinh thần đó, Tạp chí Tia Sáng (số 7 ra ngày 5/4/2008) đã đăng một số bài trong chuyên đề mở rộng địa giới Hà Nội. Tuy nhiên với khuôn khổ của một chuyên đề nên không thể phản ánh đầy đủ các ý kiến của giới khoa học-công nghệ, của đội ngũ trí thức và cộng tác viên thường xuyên của tạp chí.  Ban Biên tập tạp chí Tia Sáng mong tiếp tục nhận được các ý kiến, bài viết về chủ đề trên của Quý bạn.   Bài vở và ý kiến đóng góp sẽ được Tia Sáng đăng tải trên các số tạp chí kế tiếp hoặc đưa trên Website của Tạp chí tại địa chỉ www.tiasang.com.vn.  Thư từ, ý kiến, bài vở… xin gửi về địa chí tiasang@fpt.com  hoặc Tia Sáng, 70 Trần Hưng Đạo, Hà Nội.  Xin trân trọng cám ơn.    Ban Biên tập Tạp chí Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Động lực đại diện      Quốc hội là một thiết chế đại diện. Tính  chất đại diện ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của Quốc hội. Tuy  nhiên, vấn đề đặt ra là Quốc hội đại diện cho ai?     Theo Hiến pháp của nước ta thì: “Đại biểu Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước” (Khoản 1, Điều 79, Hiến pháp năm 2013). Như vậy có nghĩa là: đại biểu Quốc hội vừa phải đại diện cho đơn vị bầu cử, vừa đại diện cho quốc gia. Sự kết hợp này sẽ suôn sẻ khi lợi ích của đơn vị bầu cử và lợi ích của quốc gia trùng khớp với nhau. Vấn đề đặt ra là không phải các lợi ích này bao giờ cũng trùng khớp với nhau. Ví dụ, lợi ích của việc giữ giá đất thật cao ở một đơn vị bầu cử nông thôn chưa chắc đã trùng khớp với lợi ích của việc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa và đô thị hóa mà quốc gia theo đuổi. Trong trường hợp này, người đại biểu Quốc hội sẽ phải bảo vệ lợi ích của ai? Quả thực đây là câu hỏi rất khó tìm được câu trả lời trong hệ thống pháp luật của chúng ta. Tuy nhiên, theo lý lẽ thông thường, Quốc hội là cơ quan của quốc gia, vì vậy lợi ích của quốc gia bao giờ cũng cần được các vị đại biểu ưu tiên. Cái gì có lợi hơn cho quốc gia thì cái đó các vị đại biểu Quốc hội phải theo đuổi.    Theo lý lẽ là như vậy, nhưng theo hệ thống khuyến khích thì mọi chuyện có vẻ lại không như vậy. Để hiểu hệ thống khuyến khích này, chúng ta cần trả lời câu hỏi: Để được trúng cử, các vị đại biểu phụ thuộc vào ai? Tìm cách trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ thấy, việc trúng cử phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quan trọng nhất là sự ủng hộ của lãnh đạo các tỉnh. Nếu bạn là ứng cử viên do địa phương giới thiệu thì điều đó quá rõ ràng. Tuy nhiên, nếu bạn là ứng cử viên do Trung ương giới thiệu thì cơ may trúng cử của bạn vẫn phụ thuộc rất lớn vào lãnh đạo tỉnh. Một nền tảng bầu cử như vậy được gọi là nền tảng bầu cử của tỉnh, chứ không phải của quốc gia. Ngoài ra, ở nước ta, các đơn vị bầu cử mặc nhiên chấm dứt sự tồn tại sau khi cuộc bầu cử kết thúc. Chính vì vậy, sau khi được bầu, các vị đại biểu đều trở thành đại biểu của các tỉnh. Kéo về Thủ đô Hà Nội họp Quốc hội là 63 đoàn đại biểu Quốc hội của 63 tỉnh.    Do nền tảng bầu cử là của tỉnh, các đại biểu lại tập hợp thành đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh, nên tính đại diện cho cấp tỉnh của Quốc hội ta là rất cao. Xét về động lực và khuyến khích đại diện, Quốc hội ta giống với một thượng viện (đại diện cho các tỉnh) hơn là một hạ viện. Thực ra, muốn đại diện cho quốc gia, thì phải có nền tảng bầu cử quốc gia. Nếu chúng ta chỉ có nền tảng bầu cử của tỉnh thì Quốc hội thiên về đại diện cho tỉnh là rất lớn.     Trên thế giới có một số cách để xác lập nền tảng bầu cử quốc gia. Nhưng trong điều kiện cụ thể của nước ta, hai cách dưới đây là khả thi hơn cả: 1. Thiết kế các đơn vị bầu cử cắt ngang qua các tỉnh (Ví dụ, một số huyện của tỉnh Nghệ An và một số huyện của tỉnh Thanh Hóa sẽ hình thành một đơn vị bầu cử); 2. Bảo đảm số ghế trong Quốc hội cho các đại biểu do Trung ương giới thiệu phải nhiều hơn số ghế cho các đại biểu do địa phương giới thiệu. Để được điều này, cử tri sẽ bầu chọn đại biểu Quốc hội theo hai danh sách ứng cử viên: một danh sách là các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu; một danh sách là các ứng cử viên do địa phương giới thiệu. Các ứng cử viên của Trung ương sẽ phải cạnh tranh với nhau, chứ không phải là cạnh tranh với các ứng cử viên của địa phương. Chỉ có như vậy, đa số ghế cho các đại biểu của Trung ương mới luôn được bảo đảm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng tiền hạt giống      Vẫn biết hai phần trăm ngân sách dành cho KHCN là một cố gắng lớn của Chính Phủ, song ngần ấy chưa đủ minh chứng cho mối quan tâm đặc biệt của Nhà nước đến một động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Không phải tiền ít, mà tiền đi về đâu và để lại dấu ấn gì? Xã hội thiếu quan tâm đến câu hỏi này có thể là ngọn nguồn của những yếu kém hiện nay.    Trước hết, tiền đầu tư cho KHCN là tiền hạt giống (seed money), nó tạo ra những sản phẩm đặc biệt – hạt giống. Sau một thời gian, những hạt giống đó phải sinh sôi nảy nở thành một nền KHCN bắt kịp mặt tiền trên thế giới. Và ngay giờ đây, cũng phải tạo ra một môi trường lành mạnh sao cho những hạt giống ấy đâm hoa kết trái trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Sứ mạng của tiền đầu tư cho KHCN là ở đó. Quản lý khoa học theo kiểu ăn đong, nhiệm kỳ, lần này anh “trúng thầu”, lần sau đến lượt tôi, không tính kế lâu dài, chẳng khác nào nhà nông mang thóc giống ra ăn.  Vậy dấu ấn nói lên thành tích sử dụng đồng tiền trong hoạt động KHCN trước hết phải là đội ngũ nghiên cứu ngày càng đông đảo và chuyên nghiệp. Theo kinh nghiệm của những nước đi trước, đội ngũ này phải được tập hợp thành những trung tâm hoặc nhóm nghiên cứu biết cách bám đuổi để có vị trí trên mặt tiền thế giới. Những nước đi sau thường cắm những tinh hoa này vào các trường đại học để tạo ra các thế hệ mới. Bằng cách đó mới có nền đại học và khoa học đích thực.  Thế nhưng, một nhà khoa học nổi tiếng thế giới, sau nhiều năm sinh sống và làm việc ở Hà Nội, vẫn không hiểu nổi tại sao một dân tộc oanh liệt một thời lại để khoa học và đại học Việt Nam chịu cảnh “làng nhàng” (mediocrity) như hiện nay mà không theo đuổi tính chuyên nghiệp. (Thật ra, một số người có trách nhiệm chấp nhận làng nhàng trong hoạt động, nhưng rất thích hoành tráng trong tư duy – PDH).  Phải tìm cách thoát ra khỏi tình trạng làng nhàng hiện nay mới mong hội nhập được với thế giới. Cho nên, việc Quỹ Nghiên Cứu Cơ Bản vừa ra đời, khẳng định công bố quốc tế như tiêu chí cơ bản, là một thắng lợi lớn của khoa học Việt Nam đã cố gắng vượt qua không ít trở ngại nhằm giã từ tình trạng làng nhàng hiện nay.  Nhưng trước mắt là con đường dài đầy thách thức nếu Quỹ quyết tâm theo đuổi những mục tiêu sử dụng đồng tiền như hạt giống. Khoản đầu tư hai vạn USD cho một đề tài không cần biết ứng dụng vào đâu (theo định nghĩa của khái niệm nghiên cứu cơ bản) là không nhỏ trong điều kiện hiện nay. Đây không phải là thành tích chiêu hiền đãi sĩ của người nắm tiền, một cách tính điểm cho người nhận, mà là khoản vay để mua thóc giống.  Thật ra, nghiên cứu cơ bản chỉ là một bộ phận nhỏ trong cộng đồng khoa học ở nước ta cũng như trên thế giới. Cho nên thành tích còn đang ở phía trước của Quỹ cũng chưa chắc đã mấy ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tiến lên một nền khoa học đích thực, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đây.  Trong số 3.584 đầu tạp chí bao gồm 23 ngành khoa học công nghệ do nhà xuất bản Elsevier ấn hành hiện nay, chỉ có 778 thuộc về các ngành toán (103), vật lý (178), hoá học (170), và khoa học sự sống (327). Quá ít so với số đầu tạp chí còn lại, trong đó y học chiếm 832, công nghệ 247, công nghệ hoá chất 135, nông nghiệp 189, máy tính 131 v.v…, vốn được chúng ta xem là nghiên cứu ứng dụng.  SCOPUS lại vừa mới thống kê những công trình và tác giả được nhiều người trích dẫn nhất trong giai đoạn 2004-2007, qua đó có thể thấy hình ảnh về những ngành nghiên cứu “hot” nhất hiện nay trên thế giới. Bài báo được trích dẫn nhiều nhất trong bốn năm qua thuộc về ngành máy tính (3742 lần trích dẫn), khoa học sự sống (3742), vật lý (2900), y học (2723), miễn dịch học (1308), hoá học (1305), công nghệ (1162), khoa học trái đất (1039), nông nghiệp (682), nha khoa (441), y tế (433) v.v… Nhìn chung, nghiên cứu ứng dụng vẫn chiếm đa số về số người tham gia, kinh phí lẫn tính thời sự.  Thật ra, rất khó phân định ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Trên thế giới cũng vậy, khi mà các ngành khoa học luôn có xu hướng đan chen nhau tạo thành những khoa học liên ngành và đa ngành. Đây có thể sẽ trở thành thách thức lớn trong điều hành Quỹ chỉ dành riêng cho “nghiên cứu cơ bản”.   Ở các nước, nhà khoa học nào cũng muốn, và phải, công bố công trình trên các tạp chí khoa học quốc tế, bất luận cơ bản hay ứng dụng. Việt Nam không thể là ngoại lệ. Vậy nên sớm tính đến chuyện mở rộng cách quản lý này ra mọi loại hình nghiên cứu khoa học khác.        Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá phát triển thị trường công nghệ đi liền với thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm      LTS: Tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XI, Thủ tướng Phan Văn Khải đã trình bày Báo cáo của Chính phủ: “Thời kỳ mới đòi hỏi phải phát triển kinh tế – xã hội nhanh hơn, bền vững hơn”.    Ở phần thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 2006 và năm năm 2006 – 2010, Báo cáo đề cập đến các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao sức cạnh tranh, tạo chuyển biến mạnh về giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, cải thiện cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền. Tia Sáng xin trích đăng các giải pháp để tạo chuyển biến trong lĩnh vực khoa học – công nghệ:     Phát triển thị trường công nghệ chính là tạo môi trường và điều kiện kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan khoa học và đơn vị sản xuất, kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ quản lý, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của từng đơn vị sản xuất, kinh doanh và từng ngành, từng lĩnh vực trong nền kinh tế. Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho thị trường công nghệ, kích cầu công nghệ, xây dựng quỹ quốc gia hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, phát triển các loại hình dịch vụ và xúc tiến mua bán công nghệ; phấn đấu đạt mức tăng trưởng hằng năm hai con số về giá trị giao dịch mua bán công nghệ trong giai đoạn 2006 – 2010.  Nhà nước tăng thêm và tập trung hơn nguồn lực vào việc thực hiện những chương trình trọng điểm quốc gia để làm nòng cốt và tạo sức bật cho toàn bộ hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó một số lĩnh vực sớm đạt trình độ của khu vực và thế giới, phát triển kinh tế tri thức. Năm 2006 ngân sách Nhà nước tiếp tục tăng chi và dành đủ 2% tổng chi cho khoa học và công nghệ. Xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp dưới các hình thức thích hợp; phát triển mạnh các doanh nghiệp khoa học và công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế; thông qua đổi mới cơ chế quản lý mà sắp xếp lại hệ thống các viện nghiên cứu để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ.   Để mau chóng khắc phục sự tụt hậu về khoa học và công nghệ, phải gắn chặt việc phát triển năng lực nội sinh với đẩy mạnh hợp tác quốc tế; biện pháp quan trọng trước mắt là tiếp nhận công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của nước ngoài thông qua mua sáng chế, thu hút đầu tư, nhất là đầu tư của các công ty đa quốc gia; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho các chuyên gia quốc tế, các trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao đến làm việc ở Việt Nam, kể cả trong các tổ chức của quốc tế ở nước ta.  Gắn kết giáo dục và đào tạo với khoa học và công nghệ và giữa hai lĩnh vực này với đời sống kinh tế, xã hội là biện pháp rất quan trọng và thiết thực để nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ và đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào cuộc sống. Cần xây dựng quy chế bảo đảm sự thống nhất về định hướng giữa phát triển khoa học và công nghệ với chấn hưng giáo dục và đào tạo, sự gắn kết thường xuyên, có hiệu quả giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học, tạo ra mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực này và cả hai lĩnh vực này cùng gắn chặt với các hoạt động kinh tế – xã hội.  Có quy chế bắt buộc đi liền với chính sách khuyến khích cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học và cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ tham gia giảng dạy, trước hết là ở các trường đại học và các viện nghiên cứu lớn. Khuyến khích các trường đại học lớn tiếp nhận viện nghiên cứu hoặc tự thành lập viện nghiên cứu; bổ sung nhiệm vụ đào tạo cho những viện nghiên cứu có điều kiện. Xây dựng một vài trường đại học đẳng cấp quốc tế, có các cơ sở nghiên cứu khoa học, đi đầu trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, mở đường và tạo điều kiện cho việc nâng cấp các trường đại học khác…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột Phá trong Mô Hình Động thái Phát triển      Đột phá trong Mô hình Động thái Phát triển là một nỗ lực thấu tình nhân bản, sáng suốt về trí, viễn kiến về tầm, và ý thức trách nhiệm cao với cả quá khứ, hiện tại, và tương lai. Nỗ lực đột phá, do vậy, phải khởi đầu bằng VIỆC TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH TÂM LẮNG NGHE NHỮNG NGƯỜI NGAY THẲNG TRONG SÁNG cho dù họ có những lỗi lầm hoặc sơ suất nhỏ; là tìm cách cấy vào và nuôi dưỡng được trong tổ chức những đặc trưng then chốt của một tổ chức “Trường tồn”; Đồng thời quyết đoán và quả cảm trong giải phẫu loại bỏ những tế bào nguy hiểm mang đặc trưng của một tổ chức “Lụi tàn”.    Mô hình về động thái phát triển của một tổ chức  Một tổ chức (gia đình, trường học, công ty, tổ chức xã hội) được thành lập nhằm tạo nên giá trị nhất định thông qua sự tồn tại và vận hành của mình.  Như chỉ ra ở hình 1 dưới đây, khi khởi đầu, một tổ chức (có thể là gia đình mới cưới hay một trường học/công ty/tổ chức mới thành lập hoặc mới bước vào giai đoạn phát triển mới) nằm ở điểm M trong tuyến trình động thái phát triển của mình. Điểm M được gọi là điểm cân bằng không bền vững vì tổ chức chỉ ổn định nhất thời ở đó để rồi bước vào trạng thái vận động hoặc theo “Vòng xoáy lên” (điểm M tới điểm V rồi vươn tới điểm H) hoặc theo vòng “Vòng xoáy xuống” (điểm M xuống điểm U rồi trượt xuống điểm L).                     Ở khoảng lân cận của điểm M (từ U đến V), xu thế phát triển của tổ chức chưa định hình vững chắc, bối cảnh khách quan hay sai lầm chủ quan có thể làm cho tổ chức tụt từ động thái “Vòng xoáy lên” xuống động thái “Vòng xoáy xuống”.  Ngược lại, nếu tổ chức có nỗ lực đặc biệt, có sức đột phát, nó sẽ có thể vượt ra được “Vòng xoáy xuống” để bật lên động thái “Vòng xoáy lên”  Khi tổ chức bước vào được động thái “Vòng xoáy lên”, tình trạng hoạt động và cơ chế vận hành của nó, về cơ bản, sẽ mỗi ngày một tốt lên. Đặc biệt khi tổ chức đã vượt qua được giai đoạn phát triển chập chững, bước qua điểm V để vào giai đoạn “Cường Phát” (từ điểm V đến điểm H). Trong động thái “Cường Phát”này, xu thế phát triển trở nên mạnh mẽ, có sức kiến tạo nội sinh, và trở nên không thể đảo ngược. Trong động thái này, khó khăn, thách thức, hay thất bại, dù khắc nghiệt và nặng nề đến mấy, chỉ làm tăng thêm ý chí và động lực phát triển của tổ chức. Trong quá trình phát triển ở động thái “Vòng xoáy lên”, tổ chức hình thành ngày càng đậm nét các đặc trưng của một tổ chức trường tồn có được ở “Điểm đỉnh cao” H, như mô tả ở cột trái của Bảng 1 dưới đây.   Ngược lại, khi tổ chức bị rơi vào động thái  “Vòng xoáy xuống”, tình trạng và cơ chế vận hành, về cơ bản, mỗi ngày một suy giảm. Đặc biệt khi tổ chức bị trượt sâu qua điểm giới hạn U để đi vào giai đoạn sa sút với sức hủy hoại nội sinh thì xu thế suy tàn không thể còn cưỡng lại được nữa. Trong động thái “Sa sút” (từ điểm U đến điểm L), thuận lợi khách quan hay thành công vụ việc chỉ có tác dụng kéo dài thêm giai đoạn suy tàn này. Vận hành trong động thái “Sa sút”, tổ chức sẽ ngày càng khắc sâu các đặc trưng của một tổ chức “Lụi tàn” ở điểm “Cặn đáy” như mô tả ở cột phải của Bảng 1.  Bảng  1: Đặc trưng chính của tổ chức trong hai  động thái phát triển: Cường Phát  và Sa Sút          Đặc    trưng  Tổ    Chức Trường Tồn   (Hình thành    trong “Vòng Xoáy Lên” tới    điểm Đỉnh Cao)    Tổ    Chức Lụi tàn   (Sa    Sút trong “Vòng Xoáy Xuống” tới    điểm Cặn Đáy)        Cảm nhận của đại bộ phận     trong tổ chức  Phấn chấn, tin tưởng,    tự hào  Cam chịu, cay đắng, tủi    hổ      2. Hiện    trạng tổ chức  Minh bạch và nhất quán  Nhìn về    tương lai với kỳ vọng và trách nhiệm  Nội bộ    gắn bó trong mục tiêu nhưng thành tâm trong tranh luận tìm    ra chân lý        Lời nói    đi đôi với hành động trong một chiến lược mạch lạc    và sáng suốt hướng tới tầm nhìn tương lai  Bao dung, giúp    đỡ động viên người có lỗi.  Thấu cảm    Tiền hậu bất nhất  Khai thác    cạn kiệt di sản và tài sản của quá khứ  Nội bộ    lục đục, nghi kỵ, nhưng cố tạo ra sự đoàn kết hình    thức bằng cách tránh né những vấn đề then chốt, sống    còn cho đổi thay.                Hành động    khác xa với lời nói trong một cái nhìn mơ hồ và lầm    lẫn về tương lai.  Dùng lỗi    mơ hồ để truy bức người ngay thẳng, trong sáng.   Vô cảm        2.    Động lực và Cơ chế vận hành   Tầm nhìn cao cả có tính    khích lệ rất cao, được mọi thành viên chia sẻ và khao    khát vươn tới.  Thước đo    đánh giá khoa học và minh bạch, huân dự vẻ vang nhằm    tưởng thưởng cống hiến chân chính.              Cá nhân nắm    vai trò chủ thể trong động thái phát triển của tổ chức.    Mỗi thành viên thấy có khả năng và cơ hội rõ rệt trong    nỗ lực đóng góp, nhưng khó có thể lạm dụng quyền lực    để gây hại cho tổ chức.              Mọi người    đều thấy thôi thúc tiến lên tuyến đầu, đóng góp và    lập chiến công.                Mọi thành    viên đều được tổ chức trân trọng và kỳ vọng vào    đóng góp của mình.     Mọi người    thấy rõ lợi ích từ hợp tác chân chính; mỗi thành viên    đều thành tâm trong niềm tin rằng người cộng sự của    mình cũng sẽ hết lòng trong nỗ lực chung vươn tới tầm    nhìn mà cả tổ chức đều chia sẻ.              Công cụ    quản lý theo kết quả được sử dụng hữu hiệu nên mọi    khuyết tật, lỗi lầm đều được phát hiện, xử lý kịp    thời, thấu tình đạt lý.              Lợi ích    vật chất và tinh thần được coi trọng và ngày càng được    nâng cao cùng với thành quả đạt được của tổ chức.    Tầm nhìn mơ hồ; mâu    thuẫn; mục tiêu hoặc duy ý chí hoặc thấp kém, tầm thường.   Đánh giá    dựa trên cảm tính và vụ lợi cá nhân. Huân dự và thăng    tiến có thể mua bằng tiền hoặc quan hệ.              Cá nhân cảm    thấy bất lực trong đóng góp cho tổ chức đi lên, nhưng    có thể lạm dụng quyền lực để vụ lợi cá nhân và    làm cho tổ chức sa sút.               Mỗi thành    viên cố tìm sự an toàn cho mình trong vỏ ốc của sự cầu    an của từng nhóm nhỏ; đồng thời căng mặt tìm cơ hội    để kiếm lợi riêng.              Thành viên    trong tổ chức không cảm thấy được quí trọng; luôn ở    cảm giác bất an, sợ bị trù dập hoặc mất ghế.              Mọi người    không thấy lợi ích từ hợp tác gắn bó. Sự thành tâm    trở thành dại dột, sự hết lòng với tổ chức bị nhạo    báng trong vòng xoáy của danh lợi và nỗ lực chụp giật.  Kiểm soát,    trấn áp, bắt lỗi hoặc xuê xoa tùy theo đối tượng khi    có vụ việc bị lộ ra.                  Lợi ích    vật chất và tinh thần không được quan tâm thỏa đáng.    Bổng lộc, đặc quyền, và hối lộ là nguồn thu mặc định    của các thành viên có chức quyền.         4. Tiêu    chí phấn đấu của cán bộ    nhân viên để thành đạt trong tổ    chức  Thực chất kết quả    công việc                                Phẩm chất    chân chính, lòng nhiệt tâm với tổ chức, và khả năng    làm việc   Khả năng    gắn kết và hỗ trợ đồng đội cùng tiến lên.              Năng lực    tìm tòi, đề xuất ý tưởng hay, kiến thức giá trị, và    thông tin chiến lược              Góp ý chân    thành về hiện trạng và đưa ra giải pháp kiến nghị hữu    ích                    Tiến cử    được thêm người hiền tài    Sự sủng ái của thủ    trưởng (quà cáp, biếu xén, nịnh bợ, gièm pha, tạo tình    thủ túc)  Khả năng    đánh bóng bản thân và sự linh lợi trong nắm bắt các    cơ hội thăng tiến.              Khả năng    loại bỏ đối thủ.   Tìm được    phương cách, thủ đoạn tạo thêm lợi thế cho phe cánh    của thủ trưởng  Tìm được    lý lẽ, chứng cớ, dù là mơ hồ, rằng hiện trạng là    tốt; khó khăn chủ yếu là do khách quan.  Loại bỏ    người có tài đức hơn mình để mình nổi trội        5. Phương    cách điều hành của người lãnh    đạo  Tôn trọng qui luật khách    quan  Coi con người    là mục tiêu và trụ cột cho mọi nỗ lực phát triển   Lãnh đạo    và nhân viên đều thành tâm lắng nghe, dốc lòng học hỏi    túi khôn nhân loài  Luôn tự    thấy lỗi của bản thân và hệ thống trong mọi lỗi lầm    của cấp dưới.   Coi trọng    xây dựng nền móng và cải cách hệ thống, đặc biệt    khi phải đối đầu với những thất bại và thách thức    mới.     Chủ quan, duy ý chí  Chữa cháy    theo sự vụ: rất tất bật, vất vả để dẹp hết sự    cố này đến sự cố khác              Không lắng    nghe; hàm lượng trí tuệ trong quyết định rất thấp   Luôn thấy    cấp dưới kém, thiếu trách nhiệm; cảm thấy thiếu uy    quyền.  Dốc mọi    sức lực vào giải quyết vụ việc cụ thể; ngộ nhận    kết quả có được từ xoay xở vụ việc là thành công    trong phát triển.               Phương cách đột phá  Mahatma Gandhi từng có câu nói nổi tiếng với hàm ý là “Không ai có thể đẩy ta vào con đường sa sút, lụi tàn nếu không được ta cho phép” (nguyên văn: “Nobody can hurt me without my permission”). Thế nhưng, do nhiều lý do khách quan và chủ quan nhiều gia đình, trường học, công ty, và tổ chức có thể rơi vào trạng thái suy giảm trong “Vòng xoáy xuống” mà không hề ý thức được hết tính nghiêm trọng của động thái hủy hoại năng lực nội sinh này.   Nếu người chịu trách nhiệm chính trong gia đình, trường học, công ty, và tổ chức bội bạc với quá khứ, vô cảm với hiện tại, và thoái thác trách nhiệm với tương lai thì sẽ để gia đình, trường học, tổ chức của mình tiếp tục trượt dốc và sẽ đến một ngày tổ chức vượt qua điểm giới hạn U để rơi động thái “Sa sút” theo một xu thế không thể cưỡng lại. Khi đó việc đi đến suy tàn của tổ chức chỉ còn là vấn đề thời gian.  Thế nhưng, nếu người chịu trách nhiệm chính trong gia đình, trường học, công ty, và tổ chức thành tâm với quá khứ, xót xa với hiện tại, và đầy lòng trách nhiệm với tương lai thì nỗ lực đột phá để vượt lên động thái phát triển ở “Vòng xoáy lên” là Mệnh Lệnh Thiêng Liêng không thể biện bạch hay chối từ.  Phương cách đột phá, tuy nhiên, không phải như nhiều người vẫn hiểu là một số quyết sách hay hành động quyết liệt chưa từng làm trước đây, như thưởng nhiều tiền cho người có thành tích nào đó, sát nhập mạnh mẽ một số tổ chức, truy bắt hay qui trách nhiệm cứng rắn với một vài đối tượng, hay đốc thúc ngày đêm một số dự án đang dang dở,…  Thực chất, đột phá trong Mô hình Động thái Phát triển là một nỗ lực thấu tình nhân bản, sáng suốt về trí, viễn kiến về tầm, và ý thức trách nhiệm cao với cả quá khứ, hiện tại, và tương lai. Nỗ lực đột phá, do vậy, phải khởi đầu bằng VIỆC TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH TÂM LẮNG NGHE NHỮNG NGƯỜI NGAY THẲNG TRONG SÁNG cho dù họ có những lỗi lầm hoặc sơ suất nhỏ.   Bước đi tiếp theo của đột phá là tìm cách cấy vào và nuôi dưỡng được trong tổ chức những đặc trưng then chốt của một tổ chức “Trường tồn”, trong các nội dung về “Động lực và Cơ chế vận hành” và “Phương cách điều hành của lãnh đạo” (cột trái của Bảng 1); Đồng thời quyết đoán và quả cảm trong giải phẫu loại bỏ những tế bào nguy hiểm mang đặc trưng của một tổ chức “Lụi tàn” như “tiền hậu bất nhất”, “dùng những lý do mơ hồ để truy bức người ngay thẳng, trong sáng” (Bảng 1, cột phải).    Một dân tộc sẽ hy vọng có được một ngày mai ngẩng đầu cùng thế giới nếu các nỗ lực đột phá và khát vọng xây dựng tổ chức trường tồn của thế hệ hôm nay không bị tê liệt trong sự vô cảm của danh lợi cá nhân hay trong tham vọng hủ bại của một số nhóm lợi ích.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá vào quản lý tài chính trong nghiên cứu ứng dụng và triển khai      Trong hoạt động KH&amp;CN của ta hiện nay, nghi&#234;n cứu ứng dụng v&#224; triển khai( phần lớn c&#225;c chương tr&#236;nh trọng điểm c&#225;c dự &#225;n từ cấp Nh&#224; nước, Bộ ng&#224;nh, đến c&#225;c địa phương đều thuộc dạng n&#224;y) chiếm tới &#237;t nhất 80-90% ng&#226;n s&#225;ch Nh&#224; nước đầu tư cho nghi&#234;n cứu khoa học v&#224; cũng l&#224; lĩnh vực hoạt động m&#224; việc quản l&#253; t&#224;i ch&#237;nh c&#243; nhiều bất cập, kẽ hở, tạo thuận lợi cho một số nh&#224; khoa học chủ động n&#243;i dối với những đề t&#224;i chỉ để nghiệm thu, rồi xếp v&#224;o ngăn k&#233;o. V&#236; vậy c&#243; thể n&#243;i việc đột ph&#225; v&#224;o cơ chế v&#224; ch&#237;nh s&#225;ch t&#224;i ch&#237;nh cho hoạt động nghi&#234;n cứu ứng dụng v&#224; triển khai, sẽ g&#243;p phần c&#243; t&#237;nh quyết định giải quyết những vướng mắc trong cơ chế quản l&#253; t&#224;i ch&#237;nh khoa học, đồng thời n&#226;ng cao hiệu quả hoạt động khoa học c&#244;ng nghệ.    Đột phá như thế nào?Về nhận thức, đã đến lúc chúng ta phải thật sự coi khoa học công nghệ là hàng hóa có giá trị gia tăng cao, hàm lượng chất xám lớn. Trách nhiệm của Nhà nước là trên cơ sở định hướng phát triển của đất nước, tập hợp và phát huy trí tuệ các nhà khoa học để làm gia các sản phẩm hàng hóa đó. Nhà nước, doanh nghiệp công khai đặt hàng, định giá sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh (Know-how, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị và các sản phẩm trí tuệ như phương pháp quản lý điều hành, giám sát, kinh tế – xã hội…), cam kết thanh toán, ghi nhận sản phẩm đạt yêu cầu về chất lượng và thời gian. Tìm hoặc chỉ định các đối tượng mua (sử dụng các sản phẩm KH&CN hoàn chỉnh đó). Cam kết này được coi là bảo lãnh của Nhà nước, doanh nghiệp đối với mọi tổ chức tài chính cung cấp vốn cho nhà khoa học thực hiên chương trình, đề tài do Nhà nước đặt hàng.Với nhà khoa học (cá nhân, tập thể, tổ chức) đăng ký thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước, hoặc tự chào hàng với Nhà nước, với doanh nghiệp theo điều kiện thời gian, giá cả, do chính mình tự xác định, và nếu được tuyển chọn, thì tự mình huy động vốn với sự bảo lãnh của Nhà nước, doanh nghiệp. Vốn Nhà nước hoặc các tổ chức tài chính, doanh nghiệp… bỏ ra sẽ được hoàn lại khi sản phẩm khoa học trở thành hàng hóa tiêu thụ được và thu lợi nhuận. Nếu sản phẩm không đạt yêu cầu theo đơn đặt hàng thì nhà khoa học phải tự chịu trách nhiệm tài chính và pháp lý trong việc hoàn vốn đã huy động.Việc sử dụng tài chính như thế nào là do người thực hiện quyết định tuân theo pháp luật hiện hành miễn mọi sự kiểm tra giám sát và mọi loại thuế trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng cho mọi hoạt động nghiên cứu triển khai.Trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ của Nhà nước (viện, trường, phòng thí nghiệm…) là nơi cung cấp mọi cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực… và mọi điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tập thể được tuyển chọn. Việc đột phá theo những nguyên tắc như vậy sẽ giúp Nhà nước tránh sa lầy vào việc giám sát tài chính, xét duyệt, nghiệm thu đề tài… một cách hình thức như trước kia; đồng thời dẫn đến một loạt hiệu quả tích cực khác như: về cơ bản sẽ giải quyết được việc đãi ngộ vật chất cho nhà khoa học, không cần một chính sách lương bổng ngoại lệ nào; phần lớn những chủ trì đề tài đều là những người có tài năng về khoa học – kỹ thuật cũng như tổ chức quản lý (hầu như cai đầu dài sẽ bị loại bỏ). Đặc biệt việc ứng dụng khoa học và cuộc sống sẽ có những phát triển vượt bậc.Vấn đề đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, nếu những nguyên tắc đột phá này có tính khả thi, thì ngay cả những nhà khoa học thật sự cũng không dễ dàng gì chấp nhận. Vì vậy cần được thảo luận rộng rãi, đi đến sự đồng thuận trong cộng đồng khoa học (như gần 2 năm qua chúng ta đã thảo luận và đã đạt được sự nhất trí về những quy định tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên); đặc biệt là thu hút các cán bộ khoa học trẻ, và cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào việc đột phá này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án bauxit ở Đắk Nông và kinh nghiệm Tây Nguyên      Trong dự &#225;n to lớn: khai th&#225;c bauxit ở Đắk N&#244;ng, nếu c&#243; những chỗ cần c&#226;n nhắc th&#236; điều cần c&#226;n nhắc nhất c&#243; thể chưa hẳn l&#224; chuyện m&#244;i trường m&#224; trước hết v&#224; quan trọng hơn cả l&#224; chuyện x&#227; hội &#8211; văn h&#243;a, hoặc n&#243;i đ&#250;ng hơn, chuyện m&#244;i trường, x&#227; hội &#8211; văn h&#243;a li&#234;n quan khắng kh&#237;t với nhau. V&#224; đấy ch&#237;nh l&#224; một đặc điểm của x&#227; hội T&#226;y Nguy&#234;n, phải hết sức ch&#250; &#253; khi t&#237;nh to&#225;n, giải quyết bất kỳ vấn đề lớn nhỏ n&#224;o ở v&#249;ng n&#224;y.     Là người từng hoạt động ở Tây Nguyên và gắn bó với vùng đất và người này hơn nửa thế kỷ qua, tôi hết sức băn khoăn với dự án này, rất sợ rằng những toan tính vội vã và hời hợt của chúng ta sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nặng nề. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua, những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại còn dạy ta lần nữa, nhiều lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước.      Bài học lớn ở Tây Nguyên hơn 30 năm qua là gì?   Có thể nói vắn tắt và đơn giản thế này: sau năm 1975, chúng ta đã chủ trương và tiến hành những việc rất lớn ở Tây Nguyên: Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng vững chắc về an ninh và quốc phòng; Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước – và để thực hiện hai chủ trương chiến lược đó, đã tổ chức một cuộc đại di dân chưa từng có từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Chủ trương chiến lược đối với Tây Nguyên như vậy là đúng, nhưng biện pháp để thực hiện chủ trương đó, tăng cường lực lượng lao động cho Tây Nguyên bằng một cuộc đại di dân từ đồng bằng lên, với cường độ và tốc độ rất lớn, như đến nay đã chứng tỏ, chắc chắn là sai lầm lớn, thậm chí là sai lầm chiến lược như có người đã cảnh báo ngay từ lúc bấy giờ,  nhưng hoàn toàn không được nghe.   Chúng ta đã hành động ở Tây Nguyên rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người rất đặc biệt về nhiều mặt, thậm chí đặc biệt nhất trong cả nước, không giống bất cứ vùng nào khác, kể cả các vùng dân tộc phía Bắc và phía Nam. Thậm chí có thể nói không quá lời, chúng ta đã làm mọi việc ở Tây Nguyên mà không hề quan tâm đến những điều cơ bản và sơ đẳng nhất của vùng đất và người rất đặc trưng này. Không hề quan tâm đến lịch sử rất đặc biệt của Tây Nguyên (chẳng hạn có ai biết Tây Nguyên chính thức thuộc về Việt Nam từ khi nào? Các dân tộc Tây Nguyên đã đến và gắn bó với cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ bao giờ, bằng những con đường nào, có những điểm nào trên con đường đó để lại ảnh hưởng sâu xa trong sự gắn bó ấy? Từng dân tộc ở Tây Nguyên, như dân tộc Mơ Nông ở Đắk Nông đây, có những đặc điểm gì về lịch sử, về truyền thống, về tính cách, v.v…). Rồi tổ chức xã hội cổ truyền của Tây Nguyên ra sao đã khiến cho Tây Nguyên tồn tại bền vững qua mọi thử thách hàng nghìn năm nay, kể cả thử thách vô cùng khắc nghiệt của hai cuộc chiến tranh trong thời hiện đại, và còn ảnh hưởng rất sâu đậm cho đến tận ngày nay; những việc làm của chúng ta hiện nay tác động tốt xấu như thế nào đến cơ cấu tổ chức xã hội đã từng tỏ ra rất hiệu lực đó. Đặc điểm của các dân tộc và từng dân tộc ở Tây Nguyên, mối quan hệ giữa họ với nhau và với các dân tộc bên cạnh. Có đại biểu đã nêu rõ rằng những vấn đề tự nhiên và môi trường ở Tây Nguyên, ở Đắk Nông, là có tính chất “liên quốc gia”, rất đúng như vậy. Tôi xin nói thêm: vấn đề dân tộc ở đây cũng có tính chất liên quốc gia, hẳn chúng ta đều biết quá rõ và chắc chắn không thể coi thường khía cạnh rất nhạy cảm này. Và vấn đề cốt tử hàng đầu của mọi xã hội nông nghiệp là vấn đề đất đai, quyền sở hữu đất đai; có ai đã để tâm nghiên cứu vấn đề đất đai và quyền sở hữu đất đai ở Tây Nguyên xưa và nay ra sao? Trong những năm qua đã biến đổi như thế nào? Đang để lại những bài toán nào khiến chúng ta còn phải rất đau đầu tìm cách giải quyết (mà hầu như chưa thật sự có đường ra). Có một số tác giả đã có những công trình công phu và rất có trách nhiệm về đề tài vừa cơ bản vừa nóng hổi này, nhưng theo chỗ tôi được biết các công trình đó đều bị xếp kín vào tủ, chẳng được mấy người có trách nhiệm từ cấp cao đến người thực hiện cụ thể ở cơ sở tại Tây Nguyên quan tâm, thậm chí liếc mắt nhìn qua. Tôi xin được nói rõ lại một số điều chính các tác giả ấy đã nói rồi mà bị bỏ ngoài tai.   Ở Tây Nguyên đất tức là rừng, và từ xưa, ở Tây Nguyên không có đất và rừng vô chủ. Rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rất rõ rệt và cụ thể. Người chủ tuyệt đối đó là các làng, từng làng, đất và rừng của từng làng có ranh giới hết sức rành mạch, là thiêng liêng, của tổ tiên ngàn đời trao lại, của “Thần linh” ban cho làng, được ghi rất chặt chẽ trong luật tục, không ai được xâm phạm hay làm ô uế. Các nhà khoa học gọi đây là “quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng”. Quyền sở hữu đó là cơ sở, là nền tảng vật chất và kinh tế của tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên là làng. Làng và rừng của làng, từng làng, là “không gian xã hội” hay “không gian sinh tồn” của con người ở đây, nghĩa là khi không gian ấy bị xâm phạm, bị biến dạng, bị mất đi, thì con người không còn sinh tồn, nói nôm na là không còn sống được nữa. Mất nền tảng ấy thì làng tan, văn hóa tan, con người trở nên bơ vơ, lạc lõng, tha hóa, bởi văn hóa Tây Nguyên là văn hóa làng, văn hóa rừng, con người Tây Nguyên là con người của làng, của rừng. Và như thế xã hội tất rối loạn…      30 năm qua chúng ta đã xử trí như thế nào đối với đất và rừng ở Tây Nguyên?   Chúng ta coi đấy là đất và rừng giữa trời, vô chủ, lấy đi hàng triệu hecta đất và rừng của các làng, từng làng giao cho các đơn vị bộ đội, các Liên hiệp xí nghiệp nông lâm công nghiệp, rồi các nông trường, lâm trường và cho hàng triệu người di cư từ nơi khác đến, là những tác nhân phá rừng kinh khủng (rồi ta lại đổ cho đồng bào dân tộc tại chỗ làm rẫy phá rừng, điều nếu quả họ đã làm thì họ đã bị tiêu diệt mất hàng vạn năm nay rồi!).             Những điều chúng ta, những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào Mơ Nông, với các làng Mơ Nông, những làng từng sống chết ngàn đời ở đây, những lời hứa đó có bao nhiêu căn cứ? Bao nhiêu khả năng hiện thực? Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu đó chỉ là lời hứa cho xong chuyện, cho được việc hôm nay, vì những quyền lợi cấp thời bây giờ?            Những điều tôi nói trên đây là không có gì mới, chắc mỗi người trong chúng ta có nói thẳng ra hay không đều biết, hoặc ít ra đều cảm thấy rồi. Nhưng tôi muốn nói lại những điều đó ở đây để thử đặt lại câu hỏi: trên hơn 2/3 diện tích của tỉnh Đắk Nông mà ta sẽ chặt trụi, cạo sạch đi hết rừng, rồi đào bới lên để lấy bauxit, trên cái diện tích không hề nhỏ ấy vốn có bao nhiêu rừng và đất của bao nhiêu làng Mơ nông, sự tan vỡ của các làng Mơ nông ngàn đời ấy sẽ đưa lại hậu quả gì? Những điều chúng ta, những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào Mơ Nông, với các làng Mơ Nông, những làng từng sống chết ngàn đời ở đây, những lời hứa đó có bao nhiêu căn cứ? Bao nhiêu khả năng hiện thực? Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu đó chỉ là lời hứa cho xong chuyện, cho được việc hôm nay, vì những quyền lợi cấp thời bây giờ?    Tôi có nghe ý kiến nói rằng Tây Nguyên còn đến 2 triệu hecta rừng, rừng mất vì khai khoáng ở Đắk Nông là không đáng kể, và đấy cũng là vùng không có rừng, nên chẳng ảnh hưởng gì! Theo tôi con số 2 triệu hecta rừng là một con số ma. Trong chiến tranh chống Pháp tôi từng có hoạt động ở vùng Đăk Mil, chúng tôi tồn tại được thời bấy giờ là do được rừng đại ngàn che chỡ. Nay rừng đã bị phá rất nhiều, đến gần hết, chúng ta muốn tiếp tục sa mạc hóa hoàn toàn vùng này chăng? Cũng không thể không nói thật rằng cái gọi là kế hoạch hoàn thổ sau khi đã cạo sạch rừng, bóc đi từ 1 mét đến 1,5 mét đất cho đến quặng, rồi tiếp tục moi đến hàng chục mét nữa để vét hết quặng, rồi lấp lại, trồng rừng lên, lập lại làng, khôi phục lại cuộc sống cho dân … là một sự nói chơi, nói đùa cho vui, nếu không phải là nói bừa cho xong, cho được việc trước mắt, hoặc không phải là một sự lừa phỉnh trắng trợn. Mùa mưa rừng Tây Nguyên, ai từng ở đây hẳn đều biết, dữ dội như thế nào, lại trên đất Đắk Nông cao trên 800 mét và dốc đến 25°, hoàn thổ thế nào kịp trước mùa mưa? Sẽ là một cuộc cạo sạch vĩnh viễn và khai thác tàn phá có tịnh tiêu diệt không hơn không kém, chắc chắn sẽ để lại một hoang mạc, như nhiều nhà khoa học đã cảnh báo, không chỉ ở đây, mà còn ở cả một vùng rộng lớn Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.             Tôi tán thành 3 kiến nghị sáng suốt và dũng cảm tại Hội thảo về dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn: Sớm chấm dứt vô điều kiện các dự án khai thác và chế biến bauxit ở Tây Nguyên; Tăng cường đầu tư cho cây công nghiệp ở Tây Nguyên (thực ra sức chịu đựng cây công nghiệp ở Tây Nguyên cũng là có hạn, không phải vô tận, tăng cường đầu tư ở đây hẳn nên chú trọng chất hơn lượng – cà phê của ta nhiều nhưng chế biến kém, giá thấp …). Thành lập Ủy ban Quốc gia về phát triển kinh tế ở Tây Nguyên.   Tôi đề nghị nên nói rõ thêm: Thành lập Ủy ban Quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, thậm chí có thể đảo ngược thứ tự ưu tiên lại: Không phải Ủy ban Quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội, mà là Ủy ban Quốc gia về phát triển xã hội – kinh tế. Hơn ở đâu hết, ở Tây Nguyên vấn đề xã hội – văn hóa là vấn đề hàng đầu, các toan tính lớn nhỏ về kinh tế đều phải phụ thuộc vào những cân nhắc chặt chẽ, thận trọng nhất về văn hóa xã hội.   Chỉ như vậy mới giữ yên sự bền vững cho Đắk Nông, cho Tây Nguyên, và cho cả nước.             Gần đây chúng ta nói đến tai họa Vedan. Tai họa do chất thải độc từ khai thác bauxit ở trên độ cao và dốc như Đắk Nông chắc chắn còn gấp trăm lần tai họa Vedan… Và rồi những người Mơ Nông bản địa bị thu hồi đất sẽ đi đâu, tái định cư như thế nào, làm gì ở vùng đất mới của họ, và họ đứng đâu, làm gì trong các nhà máy hiện đại của chúng ta? Kinh nghiệm suốt hơn 30 năm qua cho thấy, trong những dự án quy mô nhỏ hơn, ít hiện đại hơn nhiều, chưa đâu thành công trong việc đưa người bản địa trở thành những công nhân hiện đại trong các cơ sở kinh tế công nghiệp hiện đại. Hầu như chắc chắn họ chỉ còn hai con đường: lui vào rừng ngày càng sâu, ngày càng khốn khổ và bế tắc; hoặc ở lại và trở thành người làm thuê đơn giản cho những người nơi khác đến, tức người Kinh (và 26.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật như kế hoạch dự kiến sẽ đưa lên đây) và cả những người nước ngoài mà chúng ta không hề mong muốn. Bị đẩy vào tình cảnh tất yếu đó, hoặc họ sẽ là một dân tộc bị suy tàn, mai một, hoặc họ sẽ có phản ứng không thể lường. Trong tình hình đó những cơ sở khai khoáng hoành tráng và những nhà máy huy hoàng của chúng ta có thể bảo đảm an toàn chăng?…  Các nhà khoa học đã phác ra bức tranh phải nói là khá đen tối về môi trường. Tôi xin thử hình dung bức tranh xã hội như vậy. Và muốn nói thêm rằng ở đây vấn đề môi trường cũng là vấn đề xã hội, là vấn đề dân tộc, và đã là vấn đề dân tộc thì chớ coi thường. Như chúng ta đều biết tôn giáo và dân tộc là hai vấn đề lâu dài nhất, khó nhất, thậm chí vĩnh viễn của thế giới, và cũng là của từng quốc gia.  Chúng ta đang đứng trước một vấn đề như vậy ở đây, hôm nay.  Quả thật nếu cứ một mực dấn tới, tôi không thấy có đường ra. Tôi là một người lính, từng trải qua chiến tranh. Tôi biết trong chiến tranh có một kinh nghiệm thoạt nghe hơi lạ: Quyết định nổ súng, mở đầu một trận đánh, một chiến dịch là rất khó. Đã chuẩn bị đầy đủ chưa? Đã rà soát chu đáo hết mọi chi tiết nhỏ nhất chưa? Còn sơ sót nào không, mà mỗi sơ sót nhỏ nhất đều là xương máu, thậm chí thất bại đau đớn? … Rất khó. Nhưng quyết định chấm dứt một trận đánh, một chiến dịch lại càng khó hơn. Trong khi tất cả đang hăng hái, hừng hực lao lên, mà dám sáng suốt nhận ra những bất lợi đang hé lộ chưa thật rõ, song có thể sẽ là chí tử, hiểu rằng nên dừng lại đi, lao lên thêm chút nữa là đang thắng có thể chuyển ngay thành bại, thảm hại, dám dũng cảm quyết đoán dừng lại, rút lui. Một sự anh minh và dũng cảm còn hơn cả khi quyết định nổ súng.  Tôi có cảm giác hiện nay chúng ta đang đứng trước một tình huống như vậy ở Đắk Nông này.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án đầu tư: Cần đánh giá độc lập và minh bạch      Trong hai thập niên tăng trưởng theo chiến lược dựa vào tài nguyên và đồng vốn, không ít các đại dự án được chấp nhận đưa vào thực hiện vội vàng, thiếu những nghiên cứu đánh giá kỹ càng về tác động kinh tế, xã hội và môi trường, thiếu cả những phản biện độc lập và công tâm từ giới khoa học và công chúng. Những thiếu hụt này là một trong những nguyên nhân dẫn tới những hệ lụy kéo dài hàng chục năm về sau ở cộng đồng và xã hội. Đó là ý kiến của ông Đặng Ngọc Quang, một người làm nghiên cứu độc lập, khi trao đổi với Tia Sáng.      Nhà nghiên cứu độc lập Đặng Ngọc Quang.  PV: Thưa ông, phải chăng trường hợp Formosa chỉ là một ví dụ điển hình cho thấy chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến xây dựng phương án bảo đảm sinh kế cho người dân khi triển khai các dự án?  Ông Đặng Ngọc Quang: Đúng là như vậy, Formosa là trường hợp tiêu biểu nhất của một đại dự án được vội vàng thông qua, phê duyệt mà bỏ qua những yêu cầu cơ bản về đánh giá tác động xã hội môi trường, tham vấn cộng đồng và lấy ý kiến phản biện xã hội.  Trong gần chục năm qua, tôi đã có dịp tới các dự án thủy điện, kể cả ở những nơi có đánh giá tác động môi trường và xã hội, thường gọi tắt là DTM, có cam kết của cả doanh nghiệp thực hiện dự án và nhà nước là sẽ bảo đảm đời sống cho người dân bị ảnh hưởng “bằng, hoặc hơn” mức sống cũ. Ở đó, hàng chục năm sau, người dân vẫn chưa được đền bù đầy đủ, chưa phục hồi được cuộc sống. Có nhiều tổn thất không được tính đếm hết, có những tổn thất sau này mới xuất hiện và không được đền bù. Cứ đi gặp dân bản ở các lưu vực sông Krông Ana ở Đắk Lắk, hay chuỗi dự án thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn ở Quảng Nam hoặc sông Hương ở Thừa Thiên Huế thì thấy thôi. Mới mấy tháng gần đây, khi tôi tới các vùng đó, nhiều người dân nói họ “như bị lừa” khi mà không được đền bù đầy đủ, nhất là đền bù đất sản xuất.  Vậy theo ông nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên?  Chắc là có nhiều lý do, nhưng theo tôi có thể những lý do này là chính.  Đầu tiên là “lạc quan tếu”. Nhiều dự án ở khâu lên kế hoạch, phía doanh nghiệp và chính quyền sở tại đều biết thừa là không có điều kiện hỗ trợ sinh kế cho người dân, nhưng cứ hứa bừa. Chẳng hạn, khi ở đó mọi nguồn đất đều có chủ, không có quỹ đất để đền bù nhưng họ cứ cam kết cốt để cho người dân di dời, giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư. Rồi họ hy vọng sẽ giải quyết sau. Thực tế là hàng chục năm rồi, qua cả vài thế hệ lãnh đạo, họ không giải quyết được.  Thứ hai là vấn đề “đóng nhầm vai”. Trong giai đoạn đầu thực hiện dự án, chính quyền địa phương thường hợp đồng với doanh nghiệp thực hiện giải phóng mặt bằng. Họ đảm nhận việc đền bù tái định cư, nhiều khi nhận luôn thực hiện hợp phần phục hồi sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng. Những công việc này có nhiều nguy cơ tham nhũng do lạm dụng quyền lực để tham lợi, ví dụ khi tính toán kiểm đếm tài sản để đền bù. Với chính quyền thì người nông dân lại cả tin và tuân thủ. Khi đảm nhận việc đền bù, tái định cư, phục hồi sinh kế, chính quyền tạo ra ấn tượng dự án đó là “của nhà nước”, mặc dù bản chất dự án đó là của doanh nghiệp. Khi nhà nước không thực hiện được cam kết của mình thì niềm tin của người dân, của cộng đồng dân bản vào chính quyền bị đổ vỡ. Lẽ ra, việc của doanh nghiệp thì cứ để doanh nghiệp làm, nhà nước chỉ có trách nhiệm giám sát đảm bảo quy trình thực hiện đúng pháp luật, “ôm rơm làm gì cho rặm bụng”.  Cuối cùng là “quyền được biết” của người dân. Có quá nhiều điều người dân không được biết về tác động của các dự án tới sinh kế của mình. Đơn giản nhất, chính các quy định của nhà nước về đền bù và tái định cư, về luật khiếu nại tố cáo không đến được với những người bận bịu kiếm sống mỗi ngày, không biết chữ biết tiếng phổ thông. Họ càng không biết khi con sông bị chặn nước ngầm bị ảnh hưởng thế nào, thủy sinh cua cá bị hủy diệt ra làm sao, mực nước, vận chuyển phù sa, chế độ thủy văn hay tiểu khí hậu thay đổi thì cuộc sống sẽ biến động thế nào. Thậm chí, đơn giản như việc mất các bãi chăn thả ảnh hưởng tới cả ngành chăn nuôi như thế nào thì các đối tượng chịu thiệt hại cũng không được báo để lường trước. Rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực của dự án đầu tư tới điều kiện sống của người dân không được báo cho họ, thậm chí các nhà đầu tư cũng không lường trước được, và hàng chục năm sau, nguời dân phải gánh chịu.      Khi đảm nhận việc đền bù, tái định cư, phục hồi sinh kế, chính quyền tạo ra ấn tượng dự án đó là “của nhà nước”, mặc dù bản chất dự án đó là của doanh nghiệp. Lẽ ra, việc của doanh nghiệp thì cứ để doanh nghiệp làm, nhà nước chỉ có trách nhiệm giám sát đảm bảo quy trình thực hiện đúng pháp luật, “ôm rơm làm gì cho rặm bụng”.      Vậy ai là người chịu trách nhiệm chính trong việc tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ“quyền được biết” của người dân như ông đã đề cập?  Đó phải là nhà đầu tư. Nhà đầu tư phải nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế-xã hội- môi trường kỹ càng, rồi thông báo đầy đủ cho người dân những tác động đó bằng những phương thức mà người dân hiểu được để ra quyết định mà có đủ thông tin. Nếu họ giúp người dân giải quyết đầy đủ và công bằng các tác động cả ngắn hạn và dài hạn của dự án đầu tư thì làm gì có xung đột. Tôi thấy có các dự án đầu tư dùng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hay Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã cố gắng làm điều này, nhưng tấm gương của họ thì không ai nêu ra để cho các nhà đầu tư soi.  Ở trường hợp Formosa, rõ ràng nhà đầu tư không minh bạch và không tỏ ra có trách nhiệm với người dân địa phương, với xã hội. Báo chí sau này mới chỉ ra rằng, nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế-xã hội- môi trường ở các dự án này rất sơ sài, được lập vội vàng để dự án được phê duyệt nhanh chóng. Ở một dự án khổng lồ với thời hạn 70 năm như vậy mà nội dung những tài liệu đó không được công bố, không được đưa ra cho giới khoa học, báo chí phản biện.  Ở dự án bauxite, có lẽ do có sự công khai thông tin, có những phản biện mạnh mẽ nên đầu tư chỉ làm ở quy mô nhỏ. Những thất bại, thua lỗ ở các dự án này không gây nên tâm lý bức xúc và những căng thẳng xã hội. Bài học này Hà Tĩnh không học được tuy họ đi sau làm dự án Formosa.  Trong ví dụ ông vừa nêu, có một vấn đề hết sức quan trọng cần được quan tâm, đó là độ tin cậy của các báo cáo đánh giá tác động môi trường, kinh tế – xã hội của các dự án.  Vâng, chất lượng báo cáo đánh giá tác động kinh tế-xã hội-môi trường mà kém thì cũng chẳng khác gì không làm. Không ít trường hợp các chuyên gia độc lập đã chỉ ra những báo cáo copy chỗ này dán vào chỗ kia của các báo cáo ở các dự án đầu tư khác nhau, tôi thì biết rõ về các dự án thủy điện có những báo cáo như vậy. Thậm chí còn tệ hơn là lấy báo cáo ở dự án này bê nguyên xi vào chỗ kia. Có những đồng nghiệp kể chuyện cho tôi về những cuộc tham vấn cẩu thả, lấy ý kiến của dân chúng một cách hình thức. Thậm chí, họ coi lấy ý kiến của vài cán bộ lãnh đạo địa phương hay lãnh đạo cộng đồng là lấy ý kiến của người dân.  Cái cơ chế hiện nay, nhà đầu tư tự thuê cơ quan tư vấn đi làm báo cáo đánh giá tác động môi trường, có những điểm yếu nội thân. Nhà tư vấn có khả năng phải “bẻ cong ngòi bút” để chiều lòng ông chủ đầu tư là người đã thuê mình. Họ có khả năng phải chịu sức ép để không nói về những phát hiện bất lợi cho chủ đầu tư. Có trường hợp họ bịa ra những điều có lợi cho quyết định đầu tư, ví dụ thường gặp là họ bảo rừng thưa không có giá trị. Có trường hợp họ bảo không thấy các động thực vật quý hiếm cần bảo vệ có nguy cơ bị dự án đầu tư làm diệt vong, nhất là các loại cá hay lưỡng cư. Có trường hợp, báo cáo vận dụng những quan điểm lý luận lạc hậu hoặc thậm chí phi lý để thuyết phục là đầu tư không gây tổn hại cho môi trường. Một ví dụ về điều này là có báo cáo bác bỏ khả năng các con đường xuyên qua các khu bảo tồn sẽ làm chia cắt, phân mảnh không gian sống của động vật quý hiếm cần bảo vệ, làm giảm khả năng di chuyển để phối giống của các loài thú, hoặc các con đường đó làm tăng tiếp cận của các tay thợ săn trộm tới nơi sinh sống của động vật quý hiếm.  Thêm vào đó là việc những báo cáo này lại được cất giấu kỹ lưỡng không cho giới khoa học, báo chí và công chúng tiếp cận. Các báo cáo tác động xã hội môi trường vẫn được coi là tài sản tư nhân và không được công bố công khai. Nhiều trường hợp các tổ chức khoa học quan tâm tới môi trường và đời sống của người dân nghèo, người dân tộc thiểu số, yêu cầu các nhà đầu tư cung cấp tài liệu mà không được. Nếu có trách nhiệm, thì các nhà đầu tư đã thu hút các nhà khoa học tham gia phản biện ngay từ đầu. Nếu như dự án Formosa lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học ngay từ khâu xây dựng dự án thì làm gì có việc bung bét như bây giờ?  Ông có những gợi ý giải pháp gì để khắc phục những tồn tại hiện nay trong đánh giá tác động môi trường xã hội và giám sát các dự án công nghiệp?  Ở đây, tôi nghĩ có hai vấn đề là tổ chức và sử dụng kết quả đánh giá. Về tổ chức đánh giá tác động kinh tế-xã hội-môi trường, nên có một cơ chế khác cách làm hiện nay. Khi có ý đồ đầu tư, một doanh nghiệp cần bỏ một khoản tiền vào một quỹ tập trung có thể do cộng đồng các nhà khoa học quản lý. Quỹ sẽ tuyển tư vấn độc lập từ thị trường để thuê đánh giá theo mô tả nhiệm vụ mà chủ đầu tư yêu cầu. Như vậy bên tư vấn không bị “phụ thuộc về tài chính” và không phải chịu “chỉ đạo” nhờ đó mà nghiên cứu đánh giá trở nên độc lập, có tính khách quan. Cơ chế đấu thầu lựa chọn các nhà tư vấn cũng giúp chọn được nhóm chuyên gia có kinh nghiệm nhất, có thiết kế nghiên cứu tốt nhất với chi phí hợp lý nhất.  Tôi cũng nghĩ các báo cáo đánh giá tác động môi trường xã hội phải được coi là tài sản công vì các dự án đầu tư lớn thường ảnh hưởng tới hàng nghìn người, như trường hợp Formosa là tới hàng triệu người. Vì vậy, các báo cáo này phải được công bố toàn văn để nhà nước, giới khoa học, báo chí và người dân cũng được sử dụng. Với người dân ở các vùng bị ảnh hưởng, kết quả nghiên cứu cần được biên soạn lại thành những tài liệu với ngôn ngữ (và hình ảnh) mà người địa phương hiểu được và truyền thông, chuyển giao cho họ. Với giới khoa học, nếu họ muốn, chính quyền và nhà đầu tư phải tạo điều kiện cho họ thực hiện các hoạt động thẩm định các kết luận của báo cáo DTM. Chính quyền địa phương không nên cản trở các nhà khoa học, các nhóm nghiên cứu thuộc khối phi chính phủ tiếp cận với các cộng đồng hay địa bàn dự án để nghiên cứu theo những tiếp cận khác. Tính chất khoa học đòi hỏi kết quả nghiên cứu phải được xác nhận độc lập.  Một cách sử dụng kết quả nghiên cứu đánh giá DTM là trong và sau quá trình thực hiện dự án đầu tư. Cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội và báo chí cũng cần theo dõi và giám sát nhà đầu tư thực hiện các khuyến nghị của các báo cáo đánh giá. Công chúng, đặc biệt là cộng đồng chịu ảnh hưởng cần phải được biết những khuyến nghị nào được thực hiện, không được thực hiện thì vì sao. Họ phải có tiếng nói và yêu cầu bảo đảm thực hiện những khuyến nghị liên quan tới việc bảo đảm cuộc sống của họ được an toàn, và được phồn thịnh ít nhất là bằng với mức trước khi có dự án.  Ý kiến cuối cùng tôi muốn nêu là chính quyền địa phương không thay doanh nghiệp đi giải phóng mặt bằng, đền bù tái định cư, phục hồi sinh kế cho người dân. Chính quyền nên giám sát doanh nghiệp tổ chức thực hiện đánh giá tác động xã hội-môi trường, giám sát cuộc đàm phán giữa cộng đồng người dân với doanh nghiệp, giám sát việc doanh nghiệp thực hiện các cam kết về đền bù, phục hồi sinh kế, bảo vệ và phục hồi môi trường. Nếu có xung đột thì chính quyền đứng ra giải quyết khiếu nại tố cáo. Trong quan hệ với doanh nghiệp và cộng đồng, chính quyền nên giữ một vị trí ít ra là độc lập, nếu không thiên vị cho người dân là bên yếu thế hơn. Trong trường hợp của Formosa, nếu chính quyền giữ vị trí này thì tôi nghĩ đã không có cuộc khủng hoảng thảm họa môi trường.  Xin cảm ơn ông đã chia sẻ!  Thu Quỳnh thực hiện!     Ông Đặng Ngọc Quang là giám đốc Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) – một tổ chức khoa học độc lập, thành lập từ năm 1994. RDSC hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hiện các mô hình phát triển nông thôn, thúc đẩy các cộng đồng yếu thế tiếp cận với dịch vụ công một cách có hiệu quả. Các chương trình nghiên cứu và phát triển cộng đồng được thực hiện với các chính quyền địa phương, các tổ chức NGO Việt Nam và quốc tế. Ông Quang có hơn 10 năm nghiên cứu tác động của các dự án đầu tư hạ tầng lớn tới đời sống người dân, đặc biệt là các dự án thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Dự báo dịch tễ học COVID-19: Cần một cơ sở dữ liệu lớn, chi tiết      Từ khi dịch bệnh COVID bắt đầu bùng phát đến nay, các nhà khoa học trên thế giới liên tục đưa ra những mô hình dự báo dịch tễ học khác nhau để tư vấn cho chính phủ các biện pháp phòng chống dịch cho từng giai đoạn. Trong cuộc trao đổi với Tia Sáng, TS.BS Nguyễn Thu Anh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock, người đứng đầu một trong các nhóm nghiên cứu độc lập hiếm hoi phân tích mô hình và đưa ra dự báo cho bốn đợt dịch COVID ở Việt Nam, cho biết các nhà khoa học Việt Nam cũng sẽ làm được điều này khi họ được tiếp cận với cơ sở dữ liệu đầy đủ và kịp thời.      TS.BS Nguyễn Thu Anh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock    Chị nhận định như thế nào về diễn biến và mức độ phức tạp của đợt dịch thứ tư này?     Dựa trên báo cáo phát hiện ca bệnh và thông tin dịch tễ từ Bộ Y tế và Sở Y tế một số tỉnh/thành phố, chúng tôi cho rằng, đợt dịch này có thể bắt đầu từ giữa tháng 4/2021 hoặc sớm hơn, nên đến khi phát hiện ca đầu tiên thì đợt dịch này đã qua nhiều chu kỳ lây nhiễm. Người dân trong cộng đồng mang virus, khi bị ốm (vì một nguyên nhân nào đó), đã nhập viện và làm lây lan virus trong các bệnh viện. Từ đó, bệnh viện trở thành ổ dịch và tiếp tục phát tán ra ngoài cộng đồng. Quá trình lây lan này đã diễn biến qua nhiều chu kỳ. Dưới đây là ví dụ về một chuỗi lây nhiễm qua ít nhất năm chu kỳ (sơ đồ 1, 2) của ổ dịch tại BV Nhiệt đới TƯ cơ sở 2. Sơ đồ 2 cho thấy khi đang triển khai các biện pháp truy vết tại hai bệnh viện thì chuỗi lây nhiễm đã tới Bắc Ninh và Lạng Sơn, sau đó lan sang Hòa Bình và Bắc Giang, chứng tỏ chúng ta đang đuổi theo dịch. Sơ đồ 3 cho thấy sự phức tạp của các chuỗi lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng, như vậy việc cắt đứt chuỗi lây nhiễm để hạn chế các ổ dịch mới phức tạp hơn và cần thực hiện nhanh, triệt để hơn.     Nghĩa là đợt dịch này phức tạp hơn những đợt trước ?    Khi phân tích toàn cảnh diễn biến đợt dịch này, tôi rất lo lắng vì đợt dịch này khác các đợt trước ở Đà Nẵng, Hải Dương. Hai lần trước, dịch chỉ khu trú vào một vài nơi, bắt nguồn từ một vài ca bệnh và chủ yếu lây lan trong nội bộ tỉnh, do đó có thể dồn toàn lực để kiểm soát. Nhưng đợt dịch này chúng ta “túm” và chạy theo đuôi chứ không phải “túm” được đầu: ban đầu, cùng lúc, chúng ta “túm” được nguồn lây từ ca nhập cảnh và nguồn lây từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương; đây là hai đầu của sợi dây, nhưng chúng ta không biết ở giữa có bao nhiêu chu kỳ lây và bao nhiêu người đã bị nhiễm, chưa kể nguồn lây từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tỏa đi nhiều tỉnh/thành phố. Dịch bùng phát đúng vào thời điểm người dân đi lại nhiều, nên thực tế hiện nay số tỉnh phát hiện ra bệnh có thể nhiều hơn con số 29, cho nên tình hình phức tạp hơn rất nhiều.       Trong lúc chưa có vaccine thì nên chủ động phát hiện ca bệnh/ổ dịch tiềm tàng bằng cách xét nghiệm tầm soát để càng tìm được ca bệnh sớm, càng ít phải truy vết và phong tỏa.      Chúng ta đều nhắc lại nhiều lần là những ca mắc bệnh mới phát hiện là những ca đã cách ly hoặc ở trong khu vực phong tỏa nên không lây ra ngoài nữa. Tuy nhiên, không dễ để truy vết được tất cả những người tiếp xúc với nguồn lây. Bạn có nhớ đầy đủ, và có biết được trong một tuần qua, bạn đã đi đến đâu và gặp những ai không? Mặt khác, nếu không xét nghiệm kịp thời bên ngoài thì đương nhiên là chậm tìm thấy ca bệnh, và nếu không tìm thấy ca bệnh thì virus tiếp tục lây lan. Còn nếu chủ quan cho rằng, chúng ta tìm thấy hết ca bệnh rồi thì phải lật lại câu hỏi là tại sao chúng ta không phát hiện ra ca bệnh đầu tiên ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương, mặc dù chúng ta đã truy vết các ca chuyên gia người Ấn Độ, Trung Quốc và không thấy có mối liên hệ dịch tễ.     Theo chị có thể dự báo được đỉnh dịch và đợt này sẽ kết thúc vào thời điểm nào?     Chúng tôi đã xây dựng mô hình dự báo dịch SEIQHCDRO1 với số liệu dịch tễ, lâm sàng, xã hội học của Việt Nam, có tham khảo cách phân tích tổng hợp dữ liệu từ các nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Singapore…2,3,4,5 và tính đến các chiến lược đáp ứng riêng của Việt Nam như truy vết, cách ly và đưa ra các kịch bản sau:      Sơ đồ 1. Chuỗi lây nhiễm COVID-19 từ chuyên gia Trung Quốc (không bao gồm 17 ca chưa công bố nguồn lây).  Kịch bản 1 – đang diễn ra hiện nay: Giữ nguyên các biện pháp phòng chống dịch hiện tại như truy vết, cách ly tập trung, cách ly y tế vùng dịch và giãn cách xã hội các khu vực có nguy cơ cao (giảm tiếp xúc xã hội ở mức 20% từ ngày 4/5 và 50% từ ngày 9/5 theo báo cáo gần nhất của Google mobility).   Số ca lây nhiễm cộng đồng cộng dồn từ đầu đợt dịch đến 18/5 dao động từ 1.600 đến 2.600. Đỉnh dịch nằm ở tuần thứ 3-4 tháng 5/2021 với số ca nhiễm mỗi ngày có thể lên tới 150 – 210 ca (đây là số ca thực nhiễm trong cộng đồng, không phải số ca phát hiện và báo cáo). Dịch có thể kết thúc vào giữa hoặc cuối tháng 6/2021 với tổng cộng từ 4.100 – 6.600. Tuy nhiên, do chúng tôi không có đủ thông tin chi tiết về ổ dịch tại Bắc Giang nên có thể tình hình dịch sẽ nghiêm trọng hơn.    Kịch bản 2: Thực hiện giãn cách xã hội, giảm tiếp xúc trên quy mô cấp tỉnh/thành với các tỉnh có nguy cơ cao, có số ca nhiễm mới tăng nhanh (giảm tiếp xúc xã hội ở mức 20% từ ngày 4/5, 50% từ ngày 9/5 và 60% từ ngày 24/5).   Đỉnh dịch vẫn ở tuần thứ 3-4 tháng 5/2021 tuy nhiên dịch có thể kết thúc sớm hơn 10 ngày với số ca tích lũy ít hơn, dao động từ tổng cộng 2.900 – 4.500 ca.           Sơ đồ 2. 5 vòng của chuỗi lây nhiễm COVID-19 từ Bệnh viện Nhiệt đới trung ương (27/4 – 11/5/ 2021).     Làm thế nào để chúng ta tính được mức độ giãn cách của cư dân và tác động của nó lên hai kịch bản trên?    Rất may mắn là chúng ta có dữ liệu của Google mobility report, họ ghi lại hết mức độ thay đổi sự dịch chuyển của người dân trên toàn quốc cũng như theo từng tỉnh thành phố. Dữ liệu đó cho thấy nếu người dân giảm đi lại 20%, 40% thì kịch bản lây bệnh tương ứng là như thế nào. Chúng ta kiểm chứng rất rõ với trường hợp đợt dịch ở Hải Dương: khi giãn cách giảm đi lại tiếp xúc xã hội tới 80% thì số ca bệnh giảm như thế nào.     Trước đây có ý kiến cho rằng dữ liệu y tế nói riêng và dữ liệu nói chung khá thiếu và tản mát, vậy làm sao các chị có đủ dữ liệu để xử lý?    Quả thực là chúng tôi phải tổng hợp từ nhiều nguồn: thứ nhất là từng ca bệnh được thông báo trên trang web của Bộ Y tế, thứ hai là các dữ liệu đăng công khai trên website của các sở y tế hoặc là CDC của các tỉnh về tình hình khai báo dịch tễ của các ca bệnh. Chúng tôi cũng thu thập thông tin từ các báo, nhưng nguồn thông tin này phải kiểm chứng trước khi sử dụng.     Nhưng nói thực là dữ liệu vẫn không đủ dùng, nên chúng tôi phải xin tài trợ và điều tra khảo sát riêng. Với nguồn tài trợ của Bộ Ngoại giao thương mại Úc, Viện chúng tôi đã hợp tác với một số CDC và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để triển khai khảo sát lưu hành huyết thanh học sau khi dịch bệnh được kiểm soát ở Đà Nẵng, Hải Dương, Hạ Lôi (Vĩnh Phúc), Quảng Ninh để đánh giá xem thực sự có bao nhiêu người bị nhiễm virus, trong số đó có bao nhiêu người đã được phát hiện, bao nhiêu người không được phát hiện. Đồng thời, Viện chúng tôi cũng có hợp tác với Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương để phân tích các dữ liệu về lâm sàng như tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng, tỉ lệ ủ bệnh, thời gian nằm viện, thời gian từ lúc chẩn đoán cho tới lúc nằm điều trị hồi sức cấp cứu. Những số liệu đó được chúng tôi sử dụng để làm ước tính dự báo.     Ngoài ra, để bổ sung các dữ liệu còn thiếu và đối chiếu với các nghiên cứu trên thế giới, chúng tôi thu thập và sử dụng kết quả của các nghiên cứu systematic review (phân tích hệ thống) hoặc là meta annalysis (phân tích gộp). Ví dụ như thời gian ủ bệnh của Việt Nam cũng khác so với thế giới, số liệu của chúng tôi thu thập là 6.4 ngày, ở Trung Quốc là 5.2 ngày, còn trên thế giới dao động nhiều lắm, từ 2-14 ngày. Khi khoảng thời gian dao động lớn như vậy, chúng tôi phải phân tích tất cả các nghiên cứu đó để đưa ra một khoảng tin cậy rồi dùng phương pháp phân tích độ nhậy (sensitivity analysis) để chọn con số phù hợp.     Thời gian phân tích dữ liệu như vậy mất tới mấy tháng và luôn phải cập nhật, để đủ cho việc phát triển hai sản phẩm, một là mô hình dự báo dịch như tôi vừa kể trên; hai là dashboard (bảng tổng hợp dữ liệu) về dịch bệnh, có nhiều thông tin rất cụ thể như tỉ lệ tử vong theo tuổi, theo giới, lây do tiếp xúc gần thì lây qua đâu? qua hộ gia đình hay quán ăn, cơ quan để đưa ra các khuyến cáo.           Sơ đồ 3. Mối liên hệ phức tạp của các chuỗi lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng (27/4 – 11/5/2021).        Sai số của mô hình này tới đâu? Những yếu tố nào tác động tới sai số?    Mô hình này đã được kiểm chứng với hai đợt bùng phát dịch tại Đà Nẵng và Hải Dương, cho kết quả có độ chính xác cao, sai số dưới 5%. Tuy nhiên, ước tính quy mô dịch của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh của đợt dịch Hải Dương tháng 1-2/2021 thì không thành công, vì số ca bệnh quá nhỏ nên độ dao động rất lớn. Với hai vụ  dịch tại Hải Dương (1-2/2021) và Đà Nẵng (7-8/2020), số bệnh nhân đủ lớn nên độ dao động trong mô hình toán học sẽ nhỏ lại.     Về dữ liệu, chúng ta cũng có một vấn đề là dữ liệu không đầy đủ, chi tiết và không được tập hợp một cách hệ thống. Ở thời điểm xảy ra vụ dịch Đà Nẵng (7-8/2020), chúng tôi vẫn tổng hợp được thông tin để làm dashboard vì Sở Y tế Đà Nẵng đã thu thập và chia sẻ các thông tin rất chi tiết, hữu ích và hệ thống. Tuy nhiên ở các vụ dịch sau, thông tin ở trên website https://ncov.moh.gov.vn/ không còn đủ chi tiết nữa nên hiện nay chúng tôi đã phải lược bỏ một số biểu đồ trên dashboard. Tuy vậy về cơ bản thì dashboard dành cho những người không có chuyên môn sâu vẫn nhìn thấy được quy mô của dịch.    Nói thêm là với mỗi ca bệnh, nhất là các ca bệnh có nguồn lây không rõ ràng, có khi chúng tôi phải thảo luận trong nhiều giờ là trường hợp này lây ở đâu, có thực sự là nguồn lây đó không hay không rõ nguồn lây, rồi những chỉ số như thế này có phù hợp không. Ngoài ra, nhờ đi khảo sát trên thực tế nên chúng tôi cũng nhận thấy ngoài các ca bệnh được phát hiện, vẫn còn một số ca trong cộng đồng không phát hiện được. Nhưng nhờ các biện pháp phong tỏa chặt chẽ, số ca bị sót rất nhỏ và chỉ nằm trong vùng phong tỏa và tự khỏi mà không lây cho ai nữa. Rõ ràng, đây là những ca không truy vết được và nếu không bị phong tỏa chặt chẽ, họ có thể là nguồn lây tiềm tàng trong cộng đồng.    Cán bộ y tế lấy mẫu xét nghiệm xuyên đêm ở Bắc Giang. Ảnh: Website Bộ Y tế.     Từ những mô hình của mình, chị có khuyến nghị gì cho công tác chống dịch đợt này?     Tôi đánh giá là đợt dịch này sẽ kiểm soát được, nhưng sẽ kiểm soát trong bao lâu, tổn thất như thế nào? Nếu chúng ta giãn cách xã hội ngay từ khi có số ca bệnh ít, thời gian kiểm soát ngắn, khối lượng công việc của cán bộ phòng chống dịch sẽ vừa phải, còn nếu không làm thế mà làm muộn hơn thì vẫn kiểm soát được, nhưng tiền, công sức bỏ ra nhiều, số người bị bệnh nhiều, có thể sẽ có thêm các ca tử vong và ca chuyển biến nặng. Khi đó hệ thống y tế thực sự gặp áp lực về sức người lẫn thiếu trang thiết bị. Ví dụ, trong những ngày gần đây, chúng ta có thể thấy báo chí đưa tin về hình ảnh các cán bộ y tế kiệt sức, không thể đứng nổi, không được ngủ, làm việc với cường độ cao ở các ổ dịch.     Cần ước tính được khả năng đáp ứng của hệ thống y tế. Nếu không đáp ứng được, việc giãn cách tạm thời trong vòng hai tuần sẽ làm cho đường lây dừng lại, sau đó khối lượng công việc sẽ không tăng quá nhanh và giảm dần xuống. Lúc đó, cán bộ phòng dịch mới thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của họ.      Tôi tin rằng sự quyết tâm chống dịch là rất lớn nhưng tôi cũng tin rằng không thể ngăn chặn hoàn hảo được, có nghĩa sau một thời gian nhất định, dịch sẽ quay trở lại và lại phải tiếp tục chống dịch. Có điều là chúng ta phải chấp nhận hi sinh kinh tế đến đâu. Nếu chấp nhận có nhiều ca bệnh thì chúng ta đã có sự chuẩn bị như thế nào cho việc có 10 nghìn, 20 nghìn, 30 nghìn ca bệnh? Đồng ý là có các bệnh viện, nhiều máy thở hơn trước đây nhưng việc có 30 nghìn bệnh nhân sẽ gây quá tải lớn cho hệ thống y tế, ảnh hưởng tới công tác chăm sóc sức khỏe cho các bệnh nhân mắc các bệnh khác nữa. Mặt khác khi có nhiều ca bệnh chúng ta có chấp nhận và chuẩn bị cho kịch bản chữa bệnh tại nhà không?    Phân loại mức đáp ứng dịch cho tuyến tỉnh.     Trong lúc chưa có vaccine thì phải chủ động phát hiện ca bệnh/ổ dịch tiềm tàng bằng cách xét nghiệm tầm soát để càng tìm được ca bệnh sớm, càng ít phải truy vết và phong tỏa. Những người thuộc nhóm nguy cơ cao như nhân viên y tế, nhân viên khu cách ly, nhân viên dịch vụ (sân bay, bến xe, giao hàng hóa) cần được xét nghiệm định kỳ. Còn khi có nhiều ca bệnh thì lại phải tính đến giãn cách tạm thời. Để đảm bảo vừa chống dịch vừa duy trì kinh tế thì chúng ta linh hoạt bật tắt, giãn cách rồi sau đó lại khôi phục kinh tế chứ không thể để cho bệnh dịch lây nhanh chóng trong cộng đồng được vì hệ lụy về kinh tế sẽ vô cùng lớn.      Có ý kiến cho rằng không thể nào giãn cách được nữa, phải phát triển kinh tế chứ     Lịch sử đã cho thấy, dịch bệnh không chỉ tác động lên sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế của xã hội, nó còn có thể gây ra tác động tiêu cực trong xã hội. Khi mất kiểm soát thì bệnh dịch sẽ dẫn tới sự thay đổi cả những quan niệm sống của con người. Ví dụ như người dân sẽ phân hóa và kỳ thị, xua đuổi người bị bệnh hoặc nghi mắc bệnh, xu hướng tích trữ hàng hóa tăng cao… Dịch bệnh có thể gây ra bất ổn, đói nghèo, thất nghiệp và làm gia tăng tệ nạn xã hội. Thế hệ trẻ, con em của chúng ta, khi phải sống trong một xã hội bất ổn nhìn nhận về cuộc đời, giá trị sống thế nào khi người lớn xung quanh các em phải tranh giành nhau oxy, giành giật cơ hội sống của nhau. Chúng ta có chấp nhận cái giá đó hay không?     Hơn một năm qua, Việt Nam đã chứng minh là kinh tế vẫn tăng trưởng. Việc tìm ra một thế cân bằng giữa phát triển kinh tế và phòng chống dịch bệnh cần dựa trên bằng chứng khoa học và các đánh giá về chi phí – hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Chúng ta sẽ không thể hy vọng quay lại cuộc sống bình thường cũ cho đến khi 60-70% người dân được tiêm vaccine có hiệu lực cao với các chủng virus đang lưu hành.     Chúng tôi đưa ra một kịch bản bật/tắt với các chỉ tiêu rõ ràng để các cơ quan quản lý và mọi người cùng tham khảo. Chúng tôi tham khảo cách làm mà New Zealand đã triển khai và cho thấy hiệu quả, đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với tình hình Việt Nam (xem bảng phân loại). □     Trân trọng cảm ơn chị về cuộc trao đổi!  Thu Quỳnh thực hiện     Cần cơ sở dữ liệu (database) chi tiết cho phép nhà khoa học tiếp cận  Để đưa ra các mô hình dự báo, các nhà khoa học cần nhất là các dữ liệu chi tiết, đầy đủ và cập nhật kịp thời. Bộ dữ liệu của vụ dịch tại Đà Nẵng, Vĩnh Phúc là một ví dụ tốt và cần được nhân rộng trên toàn quốc. Một cơ sở dữ liệu lớn cho toàn quốc sẽ giúp các nhà khoa học có thể đóng góp nhiều hơn, đồng thời giúp cho chúng ta chuẩn bị cho các vụ dịch trong tương lai. Đó là nếu các nhà khoa học độc lập được có một vị trí trong công cuộc phòng chống dịch.  —-  Chú thích:   1 SEIQHCDRO là một mô hình đa thành phần mở rộng của mô hình SEIR, gồm 9 thành phần: S (Susceptible), E (Exposed), I (Infected), Q (Quarantined), H (Hospitalised), C (Critical), D (Death), R (Recovered), O (Other-recovered).  2 Nicholas G. Davies et. al. Estimated transmissibility and impact of SARS-CoV-2 lineage B.1.1.7 in England. Science  09 Apr 2021: 372(6538), eabg3055. http://doi.org/10.1126/science.abg3055   3 Balram Rai et. al. Estimates of serial interval for COVID-19: A systematic review and meta-analysis. Clin Epidemiol Glob Health. 2021 January-March; 9: 157–161. http://doi.org/10.1016/j.cegh.2020.08.007   4 https://aci.health.nsw.gov.au/covid-19/critical-intelligence-unit   5 Malahat Khalili et. al. Epidemiological characteristics of COVID-19: a systematic review and meta-analysis. Epidemiol Infect. 2020; 148: e130. http://doi.org/10.1017/S0950268820001430     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo sai, ai có lỗi?      Cả nước trở tay kh&#244;ng kịp khi phải ứng ph&#243; với 5 thi&#234;n tai kh&#237; tượng li&#234;n tiếp trong một th&#225;ng do dự b&#225;o sai, sai li&#234;n tục v&#224; nghi&#234;m trọng.     Trận mưa kỷ lục ở Hà Nội vừa qua là hiện tượng khí tượng hết sức bất thường. Nó ập đến vào mùa khô khi dải hội tụ nhiệt đới (một trong những nguyên nhân gây mưa lớn về mùa hè) đã lùi xa về phía xích đạo, không có áp thấp rập rình trên biển Đông, và chưa xuất hiện dấu hiệu đặc biệt nào về hiện tượng El Nino/La Nina ở hai đầu Đông – Tây Thái Bình Dương.   Trong khi đó, không khí lục địa khô lạnh từ áp cao Đông Bắc Á đã lấn xuống gần sát biên giới phía bắc nước ta. Thông thường, khi không khí lạnh tràn xuống qua lục địa Trung Hoa, những xáo động gần mặt tiếp giáp giữa hai khối khí khô lạnh và nóng ẩm chỉ gây ra mưa thường và kéo dài không lâu. Nhưng lần này, hơn 500 mm nước, tức một phần ba lượng mưa cả năm, đã trút xuống trạm khí tượng Láng trong vài ngày liền.   Trận mưa không chỉ bất ngờ, mà rất khó dự báo. Chuyện đã qua, chắc giờ đây các chuyên gia khí tượng đang xem xét lại những gì đã xảy ra trên các lớp khí quyển trong và ngoài địa phận nước ta để phân tích, suy ngẫm, tìm ra sai sót nhằm nâng cao nghiệp vụ dự báo của mình. Song, thật ngạc nhiên khi người trong cuộc vẫn cho rằng dự báo không sai bởi “… dự báo luôn có xác suất, không thể chính xác tuyệt đối được … và cần tuyên truyền cho người dân hiểu để họ không cho rằng chúng tôi dự báo sai, nói bão vào rồi lại không có bão vào…” (VNN, 21/11/08).   Dự báo khí tượng luôn là bài toán hóc búa trong khoa học. Hệ thống quan trắc chưa bao phủ rộng khắp và chi tiết, những quá trình vật lý trong khí quyển lại rất phức tạp, phi tuyến, thậm chí khoa học chưa thể mô tả hết, năng lực máy tính dù rất mạnh vẫn còn hạn chế. Với những khó khăn đó, kết quả dự báo luôn kèm theo một độ bất định (uncertainty) là chuyện không thể tránh khỏi.   Nào có ai đòi hỏi dự báo khí tượng phải chính xác tuyệt đối, một khái niệm vốn không tồn tại trong khoa học? Song, độ bất định trong mọi kết quả dự báo không hề là chuyện tù mù khiến người ta có thể biện minh chuyện sai thành đúng. Nó có thang độ rành mạch, được đo đạc một cách khoa học, chẳng hạn dựa trên tần suất dự báo sai (chẳng hạn, bao nhiêu lần sai trong 100 lần dự báo), sai đến mức khiến mọi người phải rơi vào tình trạng trở tay không kịp khi thiên tai ập đến. Đây cũng chính là tiêu chí thể hiện năng lực của cơ quan dự báo. Lại dựa vào đây, công chúng có thể đánh giá và cảm thông cho trọng trách đầy khó khăn này.    Công bằng mà nói, không thể đổ hết lỗi lên đầu cơ quan dự báo, bởi dự báo khí tượng là đỉnh cao nhất của khoa học khí quyển mà khoa học này hầu như đang bị lãng quên, hoặc chưa đến nơi đến chốn, ở nước ta. Thật tai hại khi giờ này mà những cấp có thẩm quyền lại yên trí rằng chúng ta đã có tất cả, cái gì chưa có sẽ sắm ngay vì tiền không thiếu, cho nên sắp đến chỉ cần uốn nắn là dự báo sẽ tốt lên. Liệu một ngành khoa học vốn lâu đời nhất, phải xây dựng công phu theo nguyên tắc kế thừa liên tục, lại ngày càng đan xen với nhiều khoa học khác, mà đang bị lãng quên thì uốn nắn ai và bằng cách nào đây?   Thực ra trước đây vài thập kỷ, Việt Nam đã từng xây được những nền móng sơ khai về khoa học khí quyển. Sách “Khí hậu Việt Nam” của Phạm Ngọc Toàn và Phạm Tất Đắc in lần thứ hai năm 1993 trên giấy đen lờ mờ thời bao cấp đã nói lên phần nào thành quả đạt được trong thời kỳ sơ khai ấy của khoa học khí quyển Việt Nam. Không dễ gì nắm được những tri thức khí tượng phức tạp và khá chính xác như thế khi thời ấy chúng ta chưa có công cụ tính toán mạnh như ngày nay. Người viết bài này đã học được rất nhiều điều bổ ích từ quyển sách nói trên.  Nhưng cũng phải thừa nhận khoa học khí quyển ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi cả phương tiện hiện đại và nhà nghiên cứu đa năng hơn trước. Cạnh ta, Hồng Kông là một trung tâm quốc tế lớn với sân bay và cảng biển nhộn nhịp nhất thế giới. Mưa bão lớn lại xảy ra thường xuyên nên dự báo khí tượng là chuyện sống còn, chẳng những đối với họ, mà còn cả thế giới. Trước đây vài thập kỷ những cơn bão nhiệt đới ập vào Hồng Kông có khi đã giết chết hàng trăm người hàng năm. Từ hai thập kỷ nay con số này chỉ còn vài người. Tần suất dự báo sai đã giảm đi rõ rệt nhờ có nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, có đầu tư đích đáng và nhất là có đội ngũ chuyên gia tầm cỡ thế giới.   Khí quyển bao trùm toàn cầu nên khí tượng học từ lâu đã là một khoa học được quốc tế hóa. Một nhiễu động trên cao ở vùng hồ Baikal, thậm chí ở vùng núi Ural, vào đầu mùa đông, sự thay đổi nhiệt độ nước biển chưa đầy vài độ bách phân tại hai đầu Thái Bình Dương ở Tahiti và Darwin đều ảnh hưởng đến thời tiết nhiều vùng rộng lớn trên thế giới, trong đó có nước ta. Bởi vậy, khí tượng là bài toán toàn cầu, nhà nghiên cứu khí tượng phải vươn ra tầm quốc tế mới khẳng định được tính chuyên nghiệp của mình.   Mặt khác, mọi quốc gia đều có thể dễ dàng cập nhật những thông tin khí tượng toàn cầu. Chúng ta làm sao có thể dự báo bão nếu không sử dụng kết quả quan trắc bằng vệ tinh, radar của các nước tiên tiến. Ngay như Hong Kong cũng vậy, họ vẫn phải thu nhận hình ảnh khí quyển từ vệ tinh địa tĩnh của Nhật Bản để làm cơ sở cho những dự báo xa. Nhưng ngoài ra, họ còn có những radar quan trắc tầm gần và tầm trung rất hiện đại để cung cấp số liệu đầu vào cho trung tâm mô phỏng với máy tính cực mạnh, từ đó liên tục phát đi những dự báo thời tiết.   Với tầm nhìn đúng đắn và phương tiện nghiên cứu hiện đại, trong ba thập kỷ gần đây, Đài Khí tượng Hong Kong đã công bố hơn 700 công trình nghiên cứu tầm quốc tế bao trùm nhiều lãnh vực về khí quyển quy mô vùng và toàn cầu. Rất nhiều tri thức mới được phát hiện về chế độ gió mùa Đông Á, khí tượng cao không, bão nhiệt đới trên Thái Bình Dương,  hiện tượng El Nino/La Nina v.v… Phân tích chuỗi số liệu quan trắc từ hơn 120 năm qua, họ đã chứng minh nhiệt độ Hong Kong tăng lên 0,6oC trong mấy thập kỷ gần đây, trong đó chỉ có 0,4oC do biến đổi khí hậu toàn cầu, phần còn lại 0,2oC do quá trình đô thị hóa (đảo nhiệt). Chính những kết quả nghiên cứu khoa học này đã đóng dấu kiểm định chất lượng cho các dự báo khí tượng của Hong Kong.   Hầu như chưa thấy công bố quốc tế tương tự nào từ nước ta. Chúng ta chưa xây xong nền tảng ban đầu cho khoa học khí quyển để có những dự báo khí tượng đáng tin cậy. Cần đầu tư nâng cấp các cơ sở thực nghiệm và đội ngũ để nhiều chuyên gia và sản phẩm nghiên cứu của họ có thể sánh vai với các đồng nghiệp quốc tế. Mà việc này không thể làm trong ngày một, ngày hai, theo lối tư duy mỳ ăn liền.   Không chỉ riêng khoa học khí quyển, nhiều khoa học khác thiết yếu cho đời sống hiện nay của chúng ta cũng rơi vào tình trạng tương tự. Cho nên, rất cần một nhạc trưởng vừa có tầm nhìn chiến lược lại vừa đủ thẩm quyền vượt qua mọi cản trở do lối quản lý hành chính hóa xơ cứng và hội chứng “nhiệm kỳ” hiện nay để đem khoa học công nghệ đặt lại đúng quỹ đạo phát triển bình thường của nó.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu cá nhân khu vực công: Chế tài nào bảo vệ ?      Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư – xương sống của cơ sở hạ tầng dữ liệu – đã được hoàn thiện. Tuy nhiên, công tác xây dựng, kết nối, chia sẻ, khai thác các CSDLQG vẫn còn hạn chế, mà một trong những nút thắt là lỗ hổng quy định, chế tài đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân.     Cơ sở dữ liệu dân cư đã sẵn sàng, nhưng khai thác thế nào?  Năm 2022, Việt Nam đã tiến được một bước dài trong chuyển đổi số: cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và căn cước công dân (CCCD) – xương sống của hệ sinh thái dữ liệu toàn quốc – đã hoàn thiện. Theo báo cáo, Bộ Công an đã thu thập vào CSDLQG về dân cư khoảng 99 triệu nhân khẩu, đạt trên 99%. Đối với việc thu thập CCCD, Bộ Công an đã thu thập được hơn 50,2 triệu hồ sơ cấp CCCD.  Sau thành công này, Bộ Công An đã nhanh chóng cho ra mắt ứng dụng VNEID là nơi tập trung hóa dữ liệu và tích hợp nhiều dịch vụ công – tư trên đó. Nói cách khác, chỉ cần có tài khoản VNEID là một người có thể thực hiện đa số các thủ tục thiết yếu trong đời sống hằng ngày, tương tự như mô hình SingPass của Singapore. UBND các tỉnh đã nhanh chóng hưởng ứng, ban hành các văn bản tích hợp tích hợp hệ thống định danh và xác thực điện tử với các ứng dụng cốt lõi như ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, chứng khoán, điện, nước,… lên ứng dụng VNEID, bảo đảm từng bước dùng thẻ Căn cước công dân để thay thế các giấy tờ cá nhân như bảo hiểm y tế, bằng lái xe, giấy phép lái xe, mã số chứng chỉ, hoặc giấy phép hành nghề, tiêm chủng, y tế, giáo dục, thẻ cán bộ, …  Định hướng này hứa hẹn cắt giảm nhiều thủ tục hành chính, mang lại tiện ích cho người dân. Hơn nữa, nó còn có tiềm năng đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi các đơn vị tư nhân muốn tích hợp dịch vụ vào VNEID và khai thác dữ liệu trên đó. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 48/2022/TT-BTC ngày 03/08/2022 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, và sử dụng phí được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Mục tiêu ban hành Thông tư là để mở cơ chế cho phép cơ quan quản lý cung cấp dịch vụ dữ liệu dân cư cho cá nhân, tổ chức có tính phí, tạo nguồn thu để xây dựng, duy trì, quản trị, và khai thác dữ liệu, bảo đảm minh bạch, an toàn, và đúng pháp luật.  Tuy nhiên, dữ liệu nào của người dân được chia sẻ cho bên thứ ba và dữ liệu nào thì không, có thể chia sẻ trong những trường hợp nào, với các điều kiện cụ thể gì? Trường hợp có hành vi lạm dụng khả năng tiếp cận dữ liệu để truy cập trái quy định pháp luật, nằm ngoài chức năng nhiệm vụ, sẽ được xử lý như thế nào? Câu trả lời vẫn còn đang bỏ ngỏ. Thực tế rằng Bộ Công an chưa hoàn thiện Thông tư quy định về danh mục, sản phẩm được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, và đặc biệt là chưa ban hành Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân (tương lai sẽ là Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân) là điểm nghẽn đối với khai thác giá trị dữ liệu, đặc biệt trong bối cảnh 2023 được định hướng là “Năm dữ liệu số Việt Nam”.  Các tiện ích của ứng dụng VNEID.  Chế tài chưa đủ mạnh   Vấn đề không chỉ dừng lại ở việc khai thác dữ liệu dân cư đó như thế nào mà còn ở việc xử lí những trường hợp vi phạm dữ liệu cá nhân ra sao.  Pháp luật Việt Nam đến thời điểm hiện tại đang thiên về hướng để chủ thể dữ liệu tự thực hiện các biện pháp bảo vệ dữ liệu của mình. Nếu chẳng may có sự cố xảy ra, các biện pháp xử phạt chủ yếu sẽ là quy định chế tài hành chính. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam chưa có quy định về xử phạt vi phạm hành chính do “đích danh” lí do xâm phạm dữ liệu cá nhân. Nếu muốn khiếu nại, các chủ thể dữ liệu phải gián tiếp dựa vào các quy định xử phạt đối với một số hành vi vi phạm liên quan lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 và các Nghị định hướng dẫn liên quan như Nghị định số 49/2017/NĐ – CP.  Gần đây, quy định chế tài xử lý vi phạm hành chính được áp dụng cho hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân mới được đưa vào Dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân và Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng. Trong đó, mức xử lí vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về xử lý dữ liệu cá nhân tối đa là 100 triệu đồng và với hành vi tái phạm thì mức phạt cao nhất là 5% tổng doanh thu của bên xử lý vi phạm dữ liệu cá nhân tại Việt Nam.  Tuy nhiên, so với mức phạt của Liên minh châu Âu – có thể tối đa là 20 triệu euro hoặc 4% doanh thu toàn cầu (tùy theo mức nào cao hơn), cộng với việc các chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại1, thì các mức phạt này được nhận định là “chưa đủ sức răn đe”, chưa tương xứng với hậu quả mà những hành vi xâm phạm này gây ra2.  Bên cạnh đó, các quy định về xử lý vi phạm dữ liệu cá nhân không nên chỉ nằm trong hai dự thảo nói trên. Do đặc thù của dữ liệu được thu thập từ khu vực công, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực quản lý hành chính, hoạt động tố tụng cần chú trọng bổ sung các quy định liên quan đến xử lý dữ liệu cá nhân, ví dụ như Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại, … Cụ thể, cần bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại do dữ liệu cá nhân bị xâm phạm trong Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 đối với hành vi thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân trái quy định pháp luật, gây thiệt hại cho chủ thể dữ liệu và các chủ thể có liên quan. Các quy định về vi phạm trong xử lý dữ liệu cá nhân và mức phạt đi kèm cần rõ ràng, cụ thể, ví dụ với từng vi phạm như thiếu cơ sở pháp lý khi xử lý dữ liệu, sử dụng dữ liệu không đúng mục đích hợp pháp, làm dụng dữ liệu cá nhân thì cần có mức phạt khác nhau như thế nào.  Thiếu cơ chế khiếu nại tập thể đối với các vi phạm về dữ liệu cá nhân  Ngoài ra, cần quy định cơ chế khiếu nại và khiếu kiện khi có sự vi phạm quyền của chủ thể dữ liệu và quyền riêng tư trên quy mô lớn, bao gồm vấn đề khởi kiện tập thể. Đồng thời, cần ghi nhận quyền của các tổ chức xã hội được đại diện cho nạn nhân khởi kiện hoặc tự khởi kiện vì lợi ích công cộng. Mỗi cá nhân là quá nhỏ bé để đấu tranh cho quyền riêng tư dữ liệu cá nhân và cần cơ chế tập thể để đòi quyền lợi trước các doanh nghiệp công nghệ số đa quốc gia như Facebook, Google, TikTok, … Ví dụ, khi Tòa án Mỹ phạt Equifax 505 triệu đô la (2020) vì truy cập trái phép dữ liệu cá nhân và tài chính của 147 triệu công dân Mỹ, thì tổn thất của mỗi người dùng chỉ là 3,43 đô la.  Nếu cơ chế khiếu nại tập thể được ghi nhận trong Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân (dự kiến ban hành vào 2024), và được thúc đẩy và khuyến khích thực hiện, thì đối với những vụ việc như hơn 400.000 tài khoản người dùng Facebook tại Việt Nam bị rò rỉ trong vụ bê bối liên quan đến Cambridge Analytica vào 2016-2017, hay thông tin của 41 triệu người dùng3 tại Việt Nam (bao gồm tên tài khoản, sở thích, việc làm, số điện thoại, …) bị lộ lọt vào 2020 sẽ có thể được giải quyết hiệu quả theo cơ chế này. Khi đó, những công dân Việt Nam có dữ liệu cá nhân bị rò rỉ có thể cùng khiếu nại tập thể, hoặc có một tổ chức xã hội (ví dụ như Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hay các tổ chức tương tự hoạt động vì cộng đồng) đứng ra đại diện cho các nạn nhân thu thập bằng chứng và khởi kiện lên Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân quốc gia. Từ đó, Ủy ban này sẽ có cơ sở và bằng chứng thiết thực để làm việc với các doanh nghiệp công nghệ lớn, đòi hỏi quyền được bồi thường cho các công dân Việt Nam. Đồng thời thúc đẩy tinh thần dân chủ, như chủ trương của Đảng và Nhà nước thông qua việc ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 10 tháng 11 năm 2022, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.4  Đối với dữ liệu cá nhân trong khu vực công, người dân buộc phải trao gửi dữ liệu, thông tin cá nhân cho cơ quan nhà nước để thực hiện những thủ tục quan trọng trong cuộc sống của mình như kết hôn, khai sinh, thừa kế, hay phản ánh những bức xúc ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thân của họ, thì việc có chế tài để khiếu nại tập thể đối với các cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm tính “riêng tư” của dữ liệu là vô cùng cần thiết.  Hiện tại, theo phiên bản dự thảo Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, được công khai vào tháng 02.2021, quyền được khiếu nại mới chỉ được ghi nhận chung chung tại khoản 5 điều 5 của Dự thảo Nghị định. Theo đó, chủ thể dữ liệu có quyền “khiếu nại theo quy định của pháp luật.” Trong khi khoản này đã làm rõ 3 trường hợp được khiếu nại, thì cơ chế khiếu nại chưa được cụ thể hóa, và quyền được khiếu nại tập thể chưa được ghi nhận. Ban soạn thảo có thể nghiên cứu để bổ sung làm rõ hình thức và cơ chế thực hiện quyền khiếu nại tập thể, theo mô hình của Quy định Chung về Bảo vệ Dữ liệu (GDPR) của Liên minh Châu Âu, hoặc ở khu vực Châu Á, Hàn Quốc là quốc gia có bộ luật bảo vệ dữ liệu cá nhân ghi nhận rõ ràng cơ chế khiếu kiện tập thể này tại chương số VIII (Điều 51-57).5  Gương mẫu thực thi thì chế tài mới hiệu quả  Bên cạnh sự cần thiết hoàn thiện các chế tài, để bảo đảm chế tài được thực thi hiệu quả chính phủ Việt Nam cần gương mẫu trong công tác thu thập, quản lý, vận hành, và lưu trữ dữ liệu đối với cơ sở dữ liệu cá nhân lớn nhất quốc gia – Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.  VNeID là ứng dụng quan trọng, được phát triển dựa trên nền tảng ứng dụng dữ liệu về dân cư. Dù chỉ mới ban hành trong 2022, VNeID đã thu được trên 5.000.000 lượt tải xuống từ Google Play. Chính sách về quyền riêng tư của VNeID là một thỏa thuận điện tử mẫu vô cùng quan trọng, ghi nhận quyền của người dân đối với dữ liệu cá nhân, và thể hiện cam kết của cơ quan nhà nước đối với việc bảo vệ dữ liệu của người dân.  VNEID là nơi tập trung hóa dữ liệu và tích hợp nhiều dịch vụ công tư trên đó, tương tự như mô hình Singpass của Singapore.  VNeID đã thực hiện rất tốt nguyên tắc bảo đảm có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, khi có hộp kiểm để người dùng lựa chọn, đính kèm với thông báo về điều khoản sử dụng và chính sách quyền riêng tư. Tuy nhiên, chính sách về quyền riêng tư vẫn cần cải thiện một số điểm để bám sát với tinh thần Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân mà Bộ Công an đang soạn thảo. Thứ nhất là cần làm rõ cơ quan kiểm soát dữ liệu và chịu trách nhiệm với việc thu thập, xử lý, lưu trữ, và truyền tải dữ liệu là Bộ Công an, hoặc một đơn vị cụ thể của Bộ Công an. Kèm với đó, chính sách này cũng cần cung cấp thông tin đầu mối phụ trách bảo vệ dữ liệu cá nhân, để người dân dễ dàng liên hệ khi muốn thực hiện các quyền của mình. Thứ hai, đối với mục “Quyền, trách nhiệm của người dùng,” Bộ Công an cần xem xét điều chỉnh để cụ thể hóa các quyền của chủ thể dữ liệu như định hướng được ghi nhận trong Điều 5 Dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hiện tại, mục này mới chỉ tập trung vào việc yêu cầu người dùng “tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin, nhập liệu các thông tin chính xác, có độ xác thực cao.” Thứ ba, mục đích xử lý dữ liệu, cũng như thời hạn lưu trữ đối với từng loại dữ liệu khác nhau cần được làm rõ. Thứ tư, các nguyên tắc đối với thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em cũng cần được cụ thể hóa, đặc biệt xét trong bối cảnh Bộ Công an đã tổ chức kết nối, chia sẻ thành công để đồng bộ dữ liệu từ CSDLQG về dân cư với Bộ Giáo dục và Đào tạo (dữ liệu học sinh); Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (dữ liệu trẻ em).  Về mặt thể chế, ngoài việc tham khảo các tiêu chí đánh giá đối với chính sách về quyền riêng tư (Tham khảo báo cáo chuyên đề “Đánh giá việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trên các nền tảng tương tác với người dân của chính quyền địa phương năm 2022”),6 Ban soạn thảo Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân (tiến tới là Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân vào 2024) cần nghiên cứu kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước trong lĩnh vực này như Anh Quốc,7 Hoa Kỳ,8 xem xét xây dựng Thông tư hướng dẫn cụ thể, đưa ra các tiêu chí đánh giá, và phiên bản chính sách về quyền riêng tư mẫu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể dễ dàng hiểu và tuân thủ.  Riêng với quản trị dữ liệu cá nhân khu vực công, Bộ Thông tin và Truyền thông cần xem xét sửa đổi, bổ sung Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT,9 mở rộng phạm vi điều chỉnh, để không chỉ dừng lại ở việc “quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước”, mà mở rộng đối với phạm vi hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng. Việc điều chỉnh như vậy cũng phù hợp với xu hướng mở rộng hoạt động chính phủ số Việt Nam, thống nhất với tinh thần từ việc cập nhật sửa đổi Nghị định 43/2011/NĐ-CP thành Nghị định 42/2022/NĐ-CP.10 Bên cạnh đó, Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC), trực thuộc Cục An toàn thông tin, Bộ TTTT, vốn đã có sẵn chức năng “đầu mối kỹ thuật về giám sát, hỗ trợ bảo đảm an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp và các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước theo quy định của pháp luật,” cần xem xét triển khai sáng kiến đánh giá bảo mật dữ liệu khu vực công định kỳ, và công khai báo cáo đánh giá lên website để bảo đảm công chúng được thông tin và giám sát, tham khảo mô hình của Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ (FTC), hoặc Ủy ban đánh giá bảo mật dữ liệu khu vực công (Public Sector Data Security Review Committee) của Singapore.  Bảo đảm nguồn lực triển khai  Bên cạnh đó, cần xác định lại quy mô hoạt động và nhân sự của Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân quốc gia, để tương xứng với tầm quan trọng của dữ liệu cá nhân gần 100 triệu công dân Việt Nam.  Dữ liệu về dân cư là kho dữ liệu quan trọng xuyên suốt tất cả các bộ ban ngành. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh, và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030” đã ghi rõ hai quan điểm: 1) Dữ liệu dân cư là tài nguyên quan trọng, được quản lý tập trung, thống nhất và chia sẻ trong toàn bộ hệ thống chính trị; và 2) Dữ liệu dân cư là dữ liệu gốc, các cơ sở dữ liệu khác liên quan đến công dân đã, đang, và sẽ xây dựng phải căn cứ vào dữ liệu gốc và có sự kết nối, chia sẻ.  Tuy nhiên, hiện tại thì mô hình hoạt động của Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân mang tính chất ứng phó tạm thời, chứ chưa bền vững. Theo quy định của điều 23 dự thảo nghị định, Uỷ ban bảo vệ dữ liệu cá nhân có chức năng (i) triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân; (ii) cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật quản lý hoặc các dịch vụ chuyên biệt khác liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân; (iii) tư vấn cho Chính phủ về vấn đề liên quan đến bảo vệ DLCN…Mặc dù đảm nhiệm rất nhiều chức năng nhưng theo quy định tại dự thảo thì thành viên của cơ quan này chỉ bao gồm “không quá 6 đồng chí” và hoạt động theo phương thức “kiêm nhiệm”. Quy định này chưa thực sự phù hợp vì không đảm bảo tính khả thi khi nhân lực của chủ thể này quá mỏng mà đảm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ. Thêm vào đó, còn là nguy cơ tiềm ẩn của hiệu ứng domino, khi tư duy kiêm nhiệm đối với quản trị dữ liệu cá nhân là tư duy được áp dụng từ trung ương đến địa phương, thể hiện sự quan tâm chưa đủ đối với việc quản trị dữ liệu cá nhân.  Bảo vệ dữ liệu cá nhân thành công hay không, không thể chỉ dựa vào quy định, chế tài trên văn bản, mà phải có nguồn lực tương xứng để triển khai. Tại Hàn Quốc, Bộ luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân được sửa đổi vào ngày 5 tháng 8 năm 2020. Trước khi được sửa đổi, Bộ Nội an (Ministry of the Interior and Safety) quản lý dữ liệu cá nhân được thu thập offline, và Ủy ban truyền thông Hàn Quốc (Korea Communications Commission) quản lý dữ liệu cá nhân được thu thập online. Ban đầu, Bộ Nội an chịu trách nhiệm giám sát triển khai Bộ luật bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, sau đó Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được thành lập, hợp nhất việc bảo vệ dữ liệu cá nhân thu thập trực tiếp và trực tuyến. Ủy ban này được nâng cấp thành một cơ quan độc lập, trực thuộc Văn phòng Thủ tướng. Lý do là bởi, chính quyền Hàn Quốc muốn đầu tư nguồn lực để có hẳn một cơ quan độc lập đủ thẩm quyền giám sát việc bảo vệ dữ liệu cá nhân xuyên suốt các bộ ngành.  Quan chức của Singapore trong buổi họp báo về vụ rò rỉ dữ liệu 1.5 triệu bệnh nhân của ứng dụng SingHealth. Ảnh: Mark Cheong/businesstimes.com.sg  ***  Tại phiên chất vấn của Quốc hội đối với lĩnh vực thông tin và truyền thông vào sáng 4/11/2022, các đại biểu quốc hội chất vấn nhiều lần 02 nhóm vấn đề nổi bật: 1) Công tác xây dựng, kết nối, chia sẻ, khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia; và 2) việc mua bán dữ liệu cá nhân. Trong phần trả lời của mình, dù Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông một lần nữa khẳng định dữ liệu cá nhân “là tài sản cá nhân được nhắc đến trong Luật An toàn thông tin”, trách nhiệm một lần nữa lại được đặt lên vai người dân “mỗi người dân đều cần ý thức rõ và bảo vệ quyền lợi của cá nhân mình.”  Thứ nhất, trong khi Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân, và Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, chưa được ban hành, chưa có cơ sở rõ ràng để người dân – các chủ thể dữ liệu nhận biết đâu là quyền của mình, thì vai trò của cơ quan nhà nước là hoàn thiện khung pháp lý, và các chế tài đủ sức răn đe. Từ đó ngay cả trong bản thân cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm đối với khai thác dữ liệu của người dân, thì mới làm gương được cho doanh nghiệp.  Thứ hai, kể cả khi khung pháp lý đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được hoàn thiện, thì nhà nước vẫn phải có nghĩa vụ song hành cùng người dân, và làm tốt hết mức có thể để bảo đảm dữ liệu cá nhân được bảo vệ an toàn, bảo đảm khung pháp lý được thực thi hiệu quả. Với xu thế chuyển đổi số và tập trung hóa dữ liệu, các sự cố dữ liệu sẽ trở thành nguy cơ thường trực, và các cơ quan quản lý nhà nước phải chuẩn bị tâm lý “sống chung với lũ,” luôn sẵn sàng để phản ứng nhanh chóng. Là một quốc gia bắt đầu chuyển đổi số muộn hơn, Việt Nam có lợi thế được học hỏi kinh nghiệm từ những quốc gia đi trước, như Singapore. Vụ lộ lọt dữ liệu lớn nhất trong lịch sử của 1,5 triệu bệnh nhân Trung tâm y tế SingHealth là hồi chuông cảnh tỉnh để chính quyền Singapore nhận thức được thực tế rằng khối lượng thông tin mà các cơ quan nhà nước nắm giữ rất lớn nên khi có những sự cố về lộ, lọt dữ liệu xảy ra, cần thiết phải có những quy định chung để các cơ quan nhà nước hành động một cách kịp thời,  đồng thời phải có chế tài đủ sức răn đe để giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra. Từ đó, Thủ tướng Singapore thành lập Ủy ban đánh giá bảo mật dữ liệu khu vực công (Public Sector Data Security Review Committee) vào 31.03.2019. PSDSRC có trách nhiệm rà soát, thanh tra toàn diện 336 hệ thống CNTT thuộc 94 cơ quan nhà nước Singapore, và công khai kết quả đánh giá hằng năm trên website để công chúng cùng được biết.11 Đây là một mô hình từ nước bạn láng giềng ASEAN, mà Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp thu phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.        Ủy ban bảo vệ dữ liệu cá nhân của Singapore đã phạt Hệ thống liên thông dữ liệu y tế (IHiS) $750,000 và Trung tâm y tế (SingHealth) $250,000 vì đã không triển khai được đầy đủ các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân, dẫn đến tin tặc đánh cắp thông tin cá nhân của 1,5 triệu bệnh nhân Trung tâm y tế SingHealth. Đây là vụ lộ lọt dữ liệu khu vực công lớn nhất trong lịch sử Singapore, và cũng là mức án phạt cao nhất từng được ấn định đối với 1 sự cố lộ lọt thông tin tại nước này.  Ví dụ về xử phạt hành chính đối với vi phạm về dữ liệu cá nhân ở Cộng hòa Liên Bang Đức (tính tới tháng 05/2022)  – Kênh theo dõi thực thi GDPR (GDPR Enforcement Tracker) ghi nhận 20 trường hợp xử phạt cảnh sát vì vi phạm Điều 5 và 6 của GDPR về Thiếu cơ sở pháp lý để xử lý dữ liệu.  – Mức phạt cao nhất: 1,800 euros – Lý do: Một cảnh sát liên tục tiếp cận dữ liệu cá nhân từ kho dữ liệu cảnh sát cho mục đích nghiên cứu cá nhân.  – Mức phạt 1,400 euros – Cảnh sát sử dụng hệ thống giao thông trung tâm để tra cứu thông tin đăng ký của nạn nhân tai nạn giao thông, và liên hệ với nạn nhân qua số điện thoại riêng và điện thoại nhà.  – Mức phạt: 800 euros – Cảnh sát sử dụng dữ liệu của nhân chứng để liên hệ vì mục đích cá nhân.   – Mức phạt: 400 euros – Cảnh sát lạm dùng dữ liệu cá nhân từ cơ sở dữ liệu cảnh sát để ép buộc người bán sách thanh toán online theo phương thức mong muốn.  Nguồn: https://www.enforcementtracker.com/ETid-1205        1 Điều 83, GDPR năm 2016.  2 Nguyễn Hưởng, “Tiết lộ dữ liệu cá nhân trái phép: Phạt nhẹ sao đủ sức răn đe!”. Link: https://nld.com.vn/thoi-su/tiet-lo-du-lieu-ca-nhan-trai-phep-phat-nhe-sao-du-suc-ran-de-20210222220640251.htm. Ngày truy cập: 06/05/2021.  3 https://vtv.vn/cong-nghe/thong-tin-ca-nhan-cua-41-trieu-nguoi-dung-facebook-tai-viet-nam-bi-lo-20200325134702843.htm  4 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Thuc-hien-dan-chu-o-co-so-nam-2022-546085.aspx  5 https://www.privacy.go.kr/eng/laws_view.do?nttId=8186&imgNo=33  6 https://papi.org.vn/danh-gia-viec-bao-ve-du-lieu-ca-nhan-tren-cac-nen-tang-tuong-tac-voi-nguoi-dan-cua-chinh-quyen-dia-phuong-nam-2022/  7 https://www.gov.uk/help/privacy-notice  8 https://www.ftc.gov/policy-notices/privacy-policy  9 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Thong-tu-25-2010-TT-BTTTT-thu-thap-su-dung-chia-se-dam-bao-an-toan-114735.aspx#  10 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Nghi-dinh-42-2022-ND-CP-cung-cap-thong-tin-dich-vu-cong-truc-tuyen-tren-moi-truong-mang-518831.aspx  11 https://www.smartnation.gov.sg/about-smart-nation/secure-smart-nation/personal-data-protection-initiatives      Author                Tống Khánh Linh        
__label__tiasang Dự luật An ninh mạng: Để thúc đẩy thay vì kìm hãm      Tại Hội thảo Luật An ninh mạng và tác động đến các ngành công nghệ, truyền thông và nội dung số: Đánh giá và kiến nghị chính sách do Tia Sáng phối hợp cùng Viện Chính sách và Phát triển truyền thông – Hội truyền thông số Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền thông) tổ chức hôm 21/11/2017, những ý kiến phản biện cho rằng ban soạn thảo nên đánh giá lại tính khả thi và tác động bất lợi của một số điều khoản trong Dự thảo luật đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông và nội dung số tại Việt Nam.      Thách thức  Bên cạnh lợi ích, sự bùng nổ của Internet cũng mang lại rất nhiều thách thức, trong đó có nguy cơ về an toàn và an ninh, khi ngày càng nhiều các vụ tấn công mạng được thực hiện nhắm vào hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin của các quốc gia, như vụ hacker chiếm đoạt quyền điều khiển website sân bay Nội Bài năm 2016. Trước tình hình đó, các chính phủ cần thiết phải ban hành những quy định và khung pháp lý để điều chỉnh. Tại Việt Nam, Luật An toàn Thông tin (ATTT) do Bộ Thông tin và Truyền thông soạn đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua trong năm 2015. Tuy nhiên, Bộ Công an lại vừa đề xuất và soạn thảo thêm Luật An ninh mạng (ANM) Việt Nam, và đã trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 4 – Quốc hội khóa XIV, dự kiến sẽ thông qua vào Kỳ họp thứ 5, tháng 5/2018. Trong nội dung của dự luật có một số điều khoản hướng tới việc kiểm soát chặt chẽ hơn nữa môi trường không gian mạng như quy định các công ty cung cấp dịch vụ Google, Facebook hay YouTube phải đặt máy chủ ở Việt Nam, và hợp tác cung cấp thông tin dữ liệu cá nhân người dùng khi được yêu cầu vì lý do an ninh quốc phòng. Chính các điều khoản này là nguyên nhân gây ra nhiều tranh luận xoay quanh mục đích và phạm vi điều chỉnh của Luật ANM.  Quyền lợi của doanh nghiệp và người dùng có được bảo vệ?     Ông Nguyễn Quang Đồng – Viện trưởng Viện Chính sách và Phát triển truyền thông cho biết, khi thực hiện một cuộc điều tra và khảo sát ý kiến từ cộng đồng các doanh nghiệp, phần lớn các đại diện bày tỏ mối lo ngại khi cho rằng Dự luật có nhiều điều khoản được diễn dịch thiếu rõ ràng, hay trùng lặp và chồng chéo về chức năng đối với những quy định đã có trong Luật Dân sự, Hình sự và An toàn thông tin. Điều này khiến các doanh nghiệp sẽ trở nên lúng túng khi triển khai vì không biết phải tuân thủ theo quy định nào. Đại diện của một số doanh nghiệp còn cho biết, để tránh những điều khoản ràng buộc phức tạp trong Luật ANM, họ đang tính tới phương án chuyển hoạt động sang Singapore – nơi có những quy định ít rắc rối hơn nhiều, hay thuê máy chủ và các dịch vụ lưu trữ trên nền tảng điện toán đám mây (như Amazon) hoàn toàn đặt tại nước ngoài.      Tháng 5/2017, có hơn 70 quốc gia trên thế giới thông báo bị mã độc WannaCry tấn công đánh cắp và đòi tiền chuộc dữ liệu, trong đó có Việt Nam – nằm trong nhóm nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Người dùng cá nhân chỉ có thể khôi phục dữ liệu bằng cách trả 300 USD tới 600 USD, thanh toán qua tiền ảo Bitcoin. Đối với những sự cố như WannaCry, có lẽ luật không thể xử lý được mà phải dựa vào nền tảng công nghệ.        Một khoảng trống nữa trong Dự luật ANM, theo ông Nguyễn Quang Đồng, đó là chúng ta chưa thiết lập được một nhóm các quy định về an toàn thông tin cá nhân để bảo vệ người dùng. Quan điểm này dựa trên nguyên tắc: người dùng là chủ sở hữu của thông tin, và quyền đó luôn thuộc về người dùng. Khi người dùng cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, và doanh nghiệp lại trải qua những hoạt động như mua bán sáp nhập thì phần thông tin người dùng cần phải được loại trừ khỏi danh mục chuyển mục. Ông Đồng nêu ví dụ về trường hợp của JomlArt – một startup Việt Nam khi mua lại đối thủ Gavick (đặt tại châu Âu), Liên minh châu Âu khi đó đã có hẳn một quy định rất rõ ràng để bảo vệ thông tin cá nhân của những người tham gia trong những vụ mua bán như vậy.  Khi khẳng định hùng hồn về sự hiện hữu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là đồng nghĩa với việc thừa nhận toàn bộ xã hội và con người, bao gồm cả các thiết chế chính trị, nhà nước, pháp luật và đời sống công dân, đang đồng thời tồn tại trong hai không gian và thế giới riêng biệt: thật và ảo. Cái “thật” như ta vốn biết và đã luôn luôn tồn tại. Cái “ảo” thì mới được tạo ra từ mạng internet, khởi đầu là một công cụ kỹ thuật, còn giờ đây đã trở thành một lối sống mới và không gian sống mới, được gọi chung là không gian ảo. Thực tế này đương nhiên không chỉ mang đến những tiện ích và thú vị, mà còn cả các tranh cãi và xung đột giữa các cá nhân và bộ phận khác nhau trong xã hội. Tại sao? Đơn giản không phải ai cũng có cơ hội tiếp cận với không gian sống ảo đó, lại cũng không đủ hiểu biết về nó để có thể ứng phó và tự bảo vệ, chưa nói đến sự thừa nhận và hưởng lợi từ môi trường sống mới này. Tại Việt Nam, các vấn đề phát sinh, mâu thuẫn và xung đột về cả nhận thức, năng lực và lợi ích đã được đẩy lên tầng chính sách và thể chế. Theo lẽ thường như vậy, mọi vấn đề được coi là vướng mắc và khó khăn từ cuộc sống tiếp tục có xu hướng được đưa cả vào luật, coi việc ban hành luật như một giải pháp độc tôn và tối ưu. Cá nhân tôi, rất tiếc chưa bao giờ được thuyết phục bởi điều này. Luật sư Nguyễn Tiến Lập    Luật sư Nguyễn Tiến Lập, thành viên NHQuang & Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, nhận định, Luật An ninh mạng và Luật An toàn thông tin 2015 bản thân đã không thể tự định hình được mình khi phạm vi bao trùm quá rộng, cả về chính trị, kinh tế, xã hội lẫn quyền của người dân và doanh nghiệp. Đối với ba vấn đề rất nóng bỏng hiện nay, đó là: tội phạm công nghệ cao, tội phạm mạng, và chiến tranh mạng, luật sư Lập nhận thấy theo kinh nghiệm quốc tế, có những khía cạnh mà luật không thể xử lý được, mà chỉ có thể thông qua các biện pháp kỹ thuật công nghệ, chẳng hạn các chính phủ như Trung Quốc đang hậu thuẫn cho cả một đội quân tin tặc khổng lồ để thực hiện những mục tiêu kinh tế chính trị mong muốn – hoạt động của họ nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của luật Việt Nam. Trong lĩnh vực này, chúng ta muốn đi cùng hay “một mình một đường” so với thế giới?  Cũng theo luật sư Lập, khi chúng ta ý thức được về sự hiện hữu của cuộc Cách mạng lần thứ 4 thì cũng đồng thời là chúng ta đã thừa nhận về sự tồn tại của hai không gian và thế giới riêng biệt đối với xã hội loài người: thật và ảo. Không phải ai khi tiếp xúc với không gian ảo cũng có đủ hiểu biết hay kỹ năng để tự ứng phó và bảo vệ mình, dẫn tới những mâu thuẫn và xung đột phát sinh cần phải giải quyết, từ đó đưa tới nhu cầu làm luật. Nhưng tại Việt Nam, các vấn đề phát sinh, mâu thuẫn và xung đột về cả nhận thức, năng lực lẫn lợi ích lại được đẩy lên tận thượng tầng chính sách lẫn thể chế. Những vấn đề được coi là vướng mắc và khó khăn từ cuộc sống đang có xu hướng được đưa tất cả vào luật, chúng ta đang coi việc ban hành luật như một giải pháp độc tôn và tối ưu. Trong trường hợp Luật An ninh mạng Việt Nam, nếu không được cân nhắc hợp lý, khi đi vào hoạt động có thể sẽ gây ra những tổn thương không thể lượng hóa đối với niềm tin và tâm lý xã hội.  Nguy cơ bị trả đũa thương mại  Từ Khoa Luật – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tham gia Hội thảo trên phần mềm Skype, PGS. TS Võ Trí Hảo đã nêu tóm tắt tham luận cá nhân, chủ yếu tập trung vào câu hỏi: làm sao để các điều khoản của Dự luật An ninh mạng không xung đột với những cam kết hội nhập mà Việt Nam đã ký khi tham gia WTO, hay các hiệp định đang đàm phán là EVFTA và CPTPP. Cụ thể, như Điều 34 Khoản 4 quy định các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, internet tại Việt Nam phải đặt máy chủ quản lý dữ liệu người dùng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, mang tới mối lo ngại về nguy cơ kìm hãm sự phát triển của khoa học công nghệ, trao đổi tri thức lẫn hoạt động thương mại điện tử, trong trường hợp Google hay Facebook từ chối thực thi và rút khỏi Việt Nam.  Theo PGS Hảo, Việt Nam rất khác với Trung Quốc, vì vậy những người ủng hộ Dự luật không nên lấy những gì đang diễn ra ở Trung Quốc để dự báo cho tương lai của một cuộc chiến tranh thương mại (nếu có) giữa Việt Nam và các nước phương Tây (như Mỹ, EU), một phần do tác động của Luật An ninh mạng. Do Việt Nam không có được sức nặng kinh tế trong đàm phán như Trung Quốc cho nên chúng ta sẽ rất dễ bị tổn thương nếu các nước phương Tây lựa chọn những lĩnh vực được xem là thế mạnh của chúng ta như xuất khẩu da giày, dệt may, thủy hải sản, lúa gạo,… để trả đũa.  Bên cạnh đó còn là nguy cơ về việc tái diễn giấy phép con (mà Chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang thực hiện xóa bỏ), như Điều 48 của Dự luật ANM quy định về sự độc quyền chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy đối với các dịch vụ mạng, đối tượng điều chỉnh không chỉ là các cơ quan nhà nước mà cả doanh nghiệp. Ngoài ra, trước những tiến bộ quá nhanh của công nghệ, pháp luật và chính sách nhiều khi không theo kịp, dẫn tới một số quy định trong Dự luật, như Điều 34 Khoản 3 yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông, internet thiết lập cơ chế xác thực thông tin người dùng và cung cấp cho cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thẩm quyền có thể sẽ không khả thi.  Do đó, GS Hảo đề xuất nên đổi tên Dự thảo thành Luật An ninh Quốc gia trên mạng, và luật này sẽ chỉ tập trung vào bảo vệ lợi ích công cộng (public interest), chống lại hành vi tiết lộ bí mật Nhà nước và loại trừ những mối nguy hại đối với an ninh quốc gia (như ngăn chặn các vụ tấn công có chủ đích vào cơ sở hạ tầng thông tin nhà nước); đối với các lợi ích khác (như của doanh nghiệp và cá nhân) thì nên có những quy định riêng bằng các văn bản khác, điều này góp phần làm duy trì hiệu quả của bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường, bảo đảm sự tự do, năng động cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.  Để luật đi vào cuộc sống  Theo luật sư Trương Trọng Nghĩa – Đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh, để những đạo luật thực sự đem lại hiệu quả và đi vào cuộc sống thì quy trình làm luật cần phải tuân thủ nguyên tắc: luật điều chỉnh lĩnh vực nào thì nhất thiết cần có sự tham vấn của chuyên gia trong lĩnh vực đó, và phải đo lường được hết những tác động của các dự luật đối với xã hội. Đối với Dự thảo Luật An ninh mạng, ông Nghĩa cho rằng các quy định trong luật này còn quá dài và bao trùm phạm vi quá rộng, lại trùng lặp và mâu thuẫn về chức năng với nhiều luật sẵn có. Vì thế ông đề nghị Ủy ban soạn thảo nên lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, cả trong và ngoài nước, hoặc có thể cân nhắc những hướng tiếp cận mới như sửa đổi luật cũ, thậm chí làm mới, nhưng nên tích hợp vào trong một bộ luật chung duy nhất (chẳng hạn Bộ luật Thông tin truyền thông).  Việc cơ quan nhà nước ban hành tiêu chuẩn an ninh mạng và áp dụng các tiêu chuẩn này đối với các cơ quan nhà nước, hoạt động công chức, với hệ thống thông tin lõi của quốc gia là hoàn toàn cần thiết và hợp lý; nhưng việc bắt buộc các doanh nghiệp và người tiêu dùng cũng phải áp dụng các tiêu chuẩn này và có các giấy phép, chứng nhận hợp chuẩn hợp quy sẽ làm tăng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, phát sinh thủ tục và mở ra mảnh mới cho tiêu cực sinh sôi. Các chuẩn mực do các hiệp hội do các hiệp hội công nghệ thông tin quốc tế thường luôn tiên phong, đa dạng và linh hoạt hơn so với các tiêu chuẩn của chính phủ, dù chính phủ Việt Nam hay Hoa Kỳ, Campuchia. Bởi vậy, nếu trói các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin Việt Nam với các chuẩn khô cứng, trí tuệ của nhà nước thì sẽ kéo theo cả nền công nghệ thông tin trì trệ, mất sức cạnh tranh khi cánh cửa thị trường viễn thông cũng sắp phải mở toang cho nước ngoài. PGS.TS. Võ Trí Hảo       Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Dự thảo Luật An ninh mạng – ‘thiếu’ và ‘thừa’      Luật An ninh mạng là một trong những chủ đề nóng được thảo luận rộng rãi thời gian qua. Trong kỳ họp quốc hội lần này, dự thảo Luật sẽ được đưa lên bàn nghị sự để các đại biểu mổ xẻ lần thứ nhất. Tính cần thiết của việc hoàn thiện các khung khổ pháp lý về an ninh mạng là điều không cần bàn cãi; nhưng xây dựng khung khổ pháp lý theo hướng nào, thì dự thảo luật đến thời điểm này vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục. Đánh giá dự thảo luật, bao gồm cả việc theo dõi các thảo luận gần đây góp ý cho Luật, lẫn rà soát lại hệ thống chính sách – quy định pháp lý hiện hành, tôi cho rằng một loạt các vấn đề căn bản cần tiếp tục cân nhắc cho việc hoàn thiện dự thảo luật trong thời gian sắp tới.      Hai câu chuyện – hai lát cắt về dự thảo luật   Câu chuyện thứ nhất liên quan đến việc những hành khách đi máy bay bị lộ thông tin về chuyến bay. Ngay khi máy bay vừa hạ cánh, tin nhắn mời đi taxi đã được gửi vào điện thoại của khách đi. Thông tin hành khách – trong đó gồm hai thông tin riêng tư cơ bản nhất: điện thoại cá nhân và lịch trình đi lại, đã bị bán ra bên ngoài. Nhìn rộng ra, có lẽ hầu hết mọi người dùng điện thoại, email, hay các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội đều trải nghiệm việc bị “quấy rối” – hoặc ít nhất nhận những thông tin không mong muốn từ một bên thứ ba nào đó. Chưa bàn đến việc các thông tin cá nhân bị ‘rò rỉ’ bằng cách nào, nhưng tính phổ biến của việc xâm phạm quyền riêng tư và bảo mật cá nhân rõ ràng là rất phổ biến. Bản thân cá nhân tôi, trong thời gian một tháng gần đây – chuẩn bị cho các đánh giá liên quan đến dự thảo luật này, tôi ghi nhận được trung bình năm cuộc điện thoại từ các công ty bảo hiểm; công ty bất động sản chào mời dịch vụ; và mỗi ngày khoảng 2, 3 tin nhắn quảng cáo từ đủ mọi loại dịch vụ, nhắn vào số điện thoại cá nhân. Bằng cách nào những công ty mà tôi chưa một lần giao dịch lại có được số điện thoại cá nhân của tôi? Khi quyền lợi cá nhân bị xâm phạm – bị quấy nhiễu một cách không mong muốn, tôi cần làm thế nào để bảo vệ mình, cơ quan, tổ chức nào – cả cơ quyền công quyền; hoặc không phải là thiết chế phi nhà nước nào là địa chỉ tôi có thể tìm đến?      Luật an toàn thông tin mạng đã quy định về đánh giá hợp chuẩn, hợp quy về an toàn thông tin mạng      Trong khi đây mới là những thông tin chưa đáng lưu tâm, và những thiệt hại gây ra chưa phải là lớn, những dữ liệu cá nhân ở tầm mức rất quan trọng: dữ liệu tài chính cá nhân; hồ sơ sức khỏe (hồ sơ khám chữa bệnh tại viện công, viện tư…) nếu vẫn bị rò rỉ thì hậu quả sẽ lớn hơn rất nhiều. Xuyên suốt luật an ninh mạng, những vấn đề này chưa có câu trả lời thỏa đáng.  Câu chuyện thứ 2 liên quan đến những quan ngại ở tầm mức vĩ mô hơn – tác động kinh tế của một số quy định trong dự thảo Luật. Quy định yêu cầu các bên cung cấp dịch vụ trên nền tảng internet như Google, Facebook… phải đặt máy chủ tại Việt Nam. Một tập đoàn khổng lồ như Google mới chỉ có bốn trung tâm dữ liệu ở Châu Âu – với quy mô dân số, người dùng và giao dịch tất cả đều vượt xa Việt Nam, tính khả thi của những quy định kỹ thuật đó có là cần thiết?  Tạm dẫn hai lát cắt nhỏ, nhưng điều đó đã phần nào thể hiện, có những vấn đề dự thảo Luật đặt ra là không hợp lý và không phù hợp, nhưng đồng thời, có những khoảng trống cần lấp đầy lại chưa được lấp đầy.  Vấn đề lớn nhất của Luật: trùng lắp với các quy định pháp luật sẵn có   Dù nhu cầu thực tiễn yêu cầu có Luật an ninh mạng là đúng; công tác rà soát pháp luật trong tiến trình chuẩn bị hồ sơ dự án Luật chưa được ban soạn thảo làm tốt. Dự thảo Luật hiện tại dẫm chân rất nhiều lên 3 luật căn bản khác đã được ban hành: Luật dân sự, luật Hình sự và Luật an toàn thông tin. Ví dụ, tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác được quy định trong Điều 125 Bộ Luật Hình Sự hiện hành. Ngoài ra, Điều 38, bộ Luật dân sự cũng có điều khoản để đảm bảo an toàn thông tin cá nhân, thông qua việc đặt ra nghĩa vụ xin phép cá nhân liên quan khi “thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân”. Cá nhân bị vi phạm quy định này có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc bồi thường thiệt hại. Vậy thì các điều khoản quy định về trách nhiệm của tổ chức cá nhân – không phải là cơ quan công quyền – về đảm bảo an ninh mạng – mà thực chất là đảm bảo an toàn thông tin cá nhân, có cần quy định riêng trong dự thảo luật? Tôi cho rằng, việc cụ thể hóa các quy định trong Luật hình sự, và Luật dân sự – là tiếp cận đúng đắn hơn để giải quyết những vấn đề này.      Nay dự thảo Luật an ninh mạng quy định lại một lần nữa, sẽ khiến doanh nghiệp lúng túng và tốn kém chi phí khi một sản phẩm, thiết bị phải thực hiện hợp chuẩn, hợp quy nhiều lần. Trong khi Chính phủ đang nêu cao tinh thần kiến tạo, giảm chi phí cho doanh nghiệp; khuyến khích phát triển công nghệ cao và khởi nghiệp công nghệ – những quy định như vậy thực sự là ‘đinh’ nằm dưới thảm, khiến DN nản lòng.      Hoặc một ví dụ thuyết phục nữa liên quan đến chồng chéo giữa dự thảo hiện tại và Luật an toàn thông tin. Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã định nghĩa: “An toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin”. Với nội hàm khái niệm này, Luật An toàn thông tin mạng đã điều chỉnh các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ – trong khi đó Luật An ninh mạng lại tiếp tục đặt ra khái niệm mới, quy định phạm vi điều chỉnh mới đối với chính vấn đề này. Nếu Luật được thông qua vẫn giữ nguyên nội dung này, khi đi vào thực thi sẽ xảy ra tình trạng một vấn đề nhưng hai cách hiểu; hai đầu mối thực thi.Vậy các bên bị tác động, các bên thực thi luật sẽ biết ‘theo’ luật nào? Một cách cụ thể hơn, vấn đề chứng nhận hợp chuẩn hợp quy – chuyện rất được các doanh nghiệp công nghệ quan tâm.Luật an toàn thông tin mạng đã quy định về đánh giá hợp chuẩn, hợp quy về an toàn thông tin mạng. Bản thân trong Luật cũng nói, các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tham gia chứng nhận hợp chuẩn hợp quy, tuân thủ theo các quy định cụ thể trong Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Nay dự thảo Luật an ninh mạng quy định lại một lần nữa, sẽ khiến doanh nghiệp lúng túng và tốn kém chi phí khi một sản phẩm, thiết bị phải thực hiện hợp chuẩn, hợp quy nhiều lần. Trong khi Chính phủ đang nêu cao tinh thần kiến tạo, giảm chi phí cho doanh nghiệp; khuyến khích phát triển công nghệ cao và khởi nghiệp công nghệ – những quy định như vậy thực sự là ‘đinh’ nằm dưới thảm, khiến doanh nghiệp nản lòng.  Cần làm gì tiếp theo?   Tôi cho rằng các đại biểu quốc hội cần nghiên cứu kỹ và đặt yêu cầu cao với Ban soạn thảo, nhằm cải thiện tiếp chất lượng của dự thảo luật. Các công việc chính bao gồm:  Thứ nhất – tiến hành rà soát cẩn trọng lại hệ thống pháp luật – đặc biệt là bốn luật: Luật Dân sự, Luật hình sự, Luật An toàn thông tin, Luật Trẻ em – là nơi giao thoa phạm vi điều chỉnh với Luật an ninh mạng để phát hiện khoảng trống mà Luật mới cần giải quyết.  Thứ hai, nhiều vấn đề nên được xử lý bằng cách cụ thể hóa các quy định ở các luật nêu trên, đơn cử ví dụ điển hình là bảo mật thông tin cá nhân; hay xử lý (cả về nội dung, lẫn trình tự thủ tục) các phát ngôn thù hận (hate speech). Luật mới nên thu hẹp phạm vi, không nên điều chỉnh những vấn đề này nữa.  Thứ ba, ba vấn đề đặc biệt quan trọng liên quan đến thông tin cá nhân cần chú ý – thông tin về tài chính cá nhân; thông tin về sức khỏe; và thông tin liên quan đến trẻ em – cần được cụ thể hóa và quy định khắt khe. Thông lệ các quốc gia khác cũng đặc biệt yêu cầu các bên liên quan, đặc biệt là khối doanh nghiệp thực thi các chuẩn mực khắt khe với các vấn đề này. Việt Nam nên đi theo hướng này và học tập kinh nghiệm các quốc gia khác. Tuy nhiên, về kỹ thuật làm luật; các vấn đề này nên nằm trong bốn luật đã nêu, chứ không nên đặt trong Luật An ninh mạng.      Tiến hành rà soát cẩn trọng lại hệ thống pháp luật – đặc biệt là bốn luật: Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật An toàn thông tin, Luật Trẻ em – là nơi giao thoa phạm vi điều chỉnh với Luật An ninh mạng để phát hiện khoảng trống mà Luật mới cần giải quyết.      Thứ tư, đối với các nhóm quy định liên quan đến doanh nghiệp, gồm cả việc yêu cầu liên quan đến phần cứng/thiết bị/máy chủ; chứng nhận hợp chuẩn hợp quy – cách tiếp cận quản lý nên tập trung vào kiểm soát tiến trình – hơn là tập trung vào ‘phần cứng’: cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị cụ thể. Một sản phẩm là phần mềm ứng dụng – cung cấp qua các kho ứng dụng vốn được cập nhật liên tục (các tính năng mới; bản vá lỗi…), nói cách khác là ‘sản phẩm động’ chứ không phải là sản phẩm ‘tĩnh’ (như thực phẩm; hàng tiêu dùng khác…, với đặc tính sản phẩm đến tay người tiêu dùng là sản phẩm hoàn thiện, dùng 1 lần là xong). Do đó, cách tiếp cận quản lý phải khác. Áp dụng chuẩn OECD về quy định thông minh là một gợi ý tốt cho việc đặt ra các quy định (regulation) dạng này.  Dự thảo luật vẫn còn cần được thảo luận tại kỳ họp toàn thể của quốc hội, các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các ‘vòng’ tiếp theo là cơ hội tốt để tiếp tục thảo luận và hoàn thiện dự thảo. Vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp; người dân, các chuyên gia, tổ chức nghiên cứu ..cần tiếp tục tham gia tích cực cùng ban soạn thảo và Quốc hội, để hoàn thiện, không chỉ riêng Luật an ninh mạng, mà tổng thể khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực quan trọng này.       Author                Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Dự thảo Luật Dân số: Giảm nhẹ gánh nặng gia đình?      Không ai tưởng tượng từ chỗ phải kiềm chế mức sinh, đến một thời điểm thì mức sinh ở một số khu vực của Việt Nam đã tiến tới gần như Nhật Bản và 21 tỉnh không đạt được mức sinh thay thế. Do đó, dự thảo luật Dân số đang đề xuất thưởng tiền, khen thưởng để phụ nữ sinh thêm con. Liệu điều đó sẽ giúp đảo ngược tình thế?      Gánh nặng chi tiêu cho giáo dục chủ yếu vẫn thuộc về các hộ gia đình. Ảnh: Laodong.   Nếu vào cuối thập niên 1980, chương trình kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam được ban hành nhằm kiềm chế mức sinh với các biện pháp hành chính, phạt các trường hợp “nhỡ kế hoạch” thì trong thời gian gần đây, các nhà làm chính sách dân số bắt đầu lo lắng. Khung cửa sổ vàng về dân số mang lại nguồn lao động dồi dào là động lực tăng trưởng cho Việt Nam sắp đóng lại. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách khuyến sinh dần dần từ bây giờ để tránh bị rơi vào cảnh mức sinh giảm trong một thời gian dài nếu tới ngưỡng duy trì mức sinh thấp hoặc cực thấp sẽ không thể vực dậy được. Hai nước gần Việt Nam là Hàn Quốc và Nhật Bản thường được mang ra là tấm gương báo động khi Nhật chỉ đạt mức sinh khoảng 1,3-1,4. Đặc biệt, Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có mức sinh 0,98 – mức thấp chưa từng có trên thế giới, nghĩa là trung bình mỗi phụ nữ tại Hàn Quốc chưa sinh đến 1 con, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn nhiều hơn cả trẻ em sinh ra. Nếu tiếp tục duy trì như hiện nay thì đến khoảng giữa thế kỷ này thì Hàn Quốc chỉ còn 2/3 dân so với hiện nay.    Trong các địa phương, nỗi lo TP. HCM về việc phụ nữ nơi này không chịu sinh con đã kéo dài trong suốt mấy nhiệm kỳ gần đây. Nhiều lần, các nhà quản lý của thành phố phát biểu trước công chúng về việc phụ nữ không chịu sinh con, khiến TP.HCM cũng không đạt mức sinh thay thế suốt 20 năm nay, giờ chỉ có mức sinh là 1,39 con, bằng với Nhật Bản hiện nay. Còn Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay cũng có mức sinh thấp dưới mức thay thế, lần lượt là 1,56 và 1,8.    Những nỗi lo ấy đã được chuyển tải vào trong nhiều chính sách khuyến sinh khác nhau. Trước Dự thảo Luật Dân số đang đề xuất thưởng tiền cho phụ nữ sinh con, cao nhất lên tới 9 triệu đồng ở 21 tỉnh có mức sinh thấp, chúng ta cũng mới có “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030” đề cập tới chính sách tuyên truyền vận động, khen thưởng, hỗ trợ tiền hoặc hiện vật, Thông tư 01/2021/TT-BYT hướng dẫn các địa phương khen thưởng trong việc kiểm soát hoặc khuyến khích mức sinh.     Không chỉ là chuyện cá nhân     Nhưng thưởng trực tiếp như vậy sẽ không có tác dụng vì điều kiện kinh tế, giáo dục, phúc lợi để nuôi dạy được một đứa trẻ thật tốt đẹp mới là điều mà các gia đình cân nhắc sẽ sinh tiếp hay không. Như vậy, mặc dù chúng ta lo lắng chyện sinh con của từng cá nhân là vấn đề xã hội, mang tính vĩ mô ảnh hưởng tới sự thịnh vượng của tương lai dân tộc nhưng chính sách khuyến sinh mới chỉ nhắm vào từng cá nhân bằng việc thưởng tiền thay vì xem xét việc phát triển dân số một cách bền vững trong một tổng thể lớn hơn, với rất nhiều khía cạnh khác gồm an sinh xã hội, chính sách giáo dục y tế, giáo dục, chính sách lao động, môi trường. “Giải pháp về các mức thưởng nhắm tới từng cá nhân này mới chỉ là phần ngọn của vấn đề, vì có thưởng cỡ nào đi nữa thì gánh nặng lên gia đình và đặc biệt là người phụ nữ vẫn rất lớn”, TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, cho biết.    Theo TS. Khuất Thu Hồng, dự thảo luật dân số giống như tài liệu hướng dẫn cho ngành y tế, với nhiều quy định về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, điều trị vô sinh hơn là tầm chiến lược của quốc gia tính đến những câu chuyện lớn lao hơn về hành vi sinh đẻ của người dân và mối quan hệ của nó với các yếu tố kinh tế – văn hoá – xã hội về những điều kiện cho một nền dân số phát triển bền vững.      Quyết định sinh con sẽ phụ thuộc vào các chính sách xã hội và vấn đề bình đẳng giới nên các quyết định thưởng tiền trực tiếp, dù có lên tới cả nghìn đô vẫn không hiệu quả.      Do đó, điều mà TS Khuất Thu Hồng nhấn mạnh là phải thay đổi “cách  làm chính sách” chuyển từ quan niệm  rằng chuyện sinh đẻ là hành vi của cá nhân, hay gia đình sang nhận thức rằng đó là vấn đề của xã hội. Việc phải làm là tạo ra một môi trường toàn diện nơi mỗi đứa trẻ được đón nhận không phải chỉ bởi cha mẹ và gia đình nó mà toàn xã hội. Có nghĩa là các điều kiện dinh dưỡng, học tập, chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao …phải sẵn sàng cho đứa trẻ khi mới chào đời và trong quá trình phát triển. Những điều kiện đó không một gia đình nào có thể tự tạo nên mà phải là xã hội với các chính sách vĩ mô đồng bộ trong nhiều lĩnh vực. Một việc cần làm ngay, đã được nêu ra từ mấy năm nay là đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ trong quá trình mang thai, nuôi con 1.000 ngày đầu đời nhưng cho đến nay không phải nơi nào cũng làm được thì câu chuyện phát triển dân số bền vững vẫn còn xa vời.    Tuy thế, chúng ta muốn tăng cường chất lượng dân số chung cho toàn xã hội thì lại không dễ gì vượt qua được một thực tế hiện nay chi tiêu công cho các dịch vụ xã hội này đều ở mức thấp. Các báo cáo gần đây cho thấy cán cân chi tiêu cho các dịch vụ công về y tế, giáo dục đang quá lệch về phía hộ gia đình. Trong Hội thảo “Giáo dục đại học: Chuẩn hóa và Hội nhập quốc tế”, vào năm 2018, PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, đã đưa ra một thông tin gây bất ngờ cho nhiều người: Người học và hộ gia đình ở Việt Nam đang phải gánh chịu quá nhiều chi phí cho giáo dục – hơn 50% chi phí cho giáo dục đại học ở Việt Nam là do học viên, hộ gia đình đóng góp (so với trung bình ở các nước phát triển là 30%). Báo cáo “Vốn nhân lực Việt Nam: Thành tựu giáo dục và thách thức trong tương lai” do World Bank xuất bản tháng 8/2020 cho thấy, chi tiêu công cho giáo dục bậc cao ở Việt Nam thuộc mức thấp nhất so với các nước trong khu vực.    Không chỉ có chi tiêu cho giáo dục mang tính “đầu tư” cho tương lai, mà các chi tiêu công để hỗ trợ trực tiếp cho phụ nữ sinh đẻ hay chi tiêu công nói chung cho an sinh xã hội của chúng ta cũng là vấn đề còn nhiều hạn chế. Chính sách hỗ trợ sau sinh hiện nay dựa vào bảo hiểm chỉ hữu dụng với phụ nữ có công ăn việc làm trong khu vực chính thức, có hợp đồng lao động, 50% số còn lại trong thị trường lao động phi chính thức không có bất kỳ một hình thức hỗ trợ nào. Còn chính sách an sinh xã hội nói chung của chúng ta đều chưa bằng nhiều nước trong khu vực chứ chưa dám so sánh với các nước phát triển. Báo cáo “Tác động phân phối của chính sách tài khóa ứng phó COVID-19 đến các hộ gia đình, đặc biệt là ở thành phố Đà Nẵng” của World Bank mới công bố cho thấy, trong hơn một thập kỷ qua nhìn chung hệ thống trợ giúp xã hội của Việt Nam đã mở rộng được một số nhóm dễ bị tổn thương và các nhóm nghèo cùng cực nhưng mức chi của hệ thống còn tương đối ít, mức hỗ trợ còn thấp và phạm vi bao phủ còn hạn chế. Cho đến trước dịch COVID, Việt Nam có tỷ lệ dân số nhận trợ giúp xã hội ở mức 21.5% (trên tổng số dân), thấp hơn nhiều so với 63.5% ở Malaysia và 71% ở Thái Lan.    Thực ra Việt Nam đã từng có quan điểm nhà nước và xã hội gánh trách nhiệm nuôi nấng trẻ từ thời … bao cấp, khi nhà nước gánh các trách nhiệm xã hội mặc dù thời đó đất nước không có tiềm lực kinh tế như ngày nay. Việt Nam chuyển mình sang cơ chế thị trường thì những dịch vụ xã hội liên quan tới chăm sóc y tế, giáo dục đã được trả lại cho thị trường phần nhiều (trong khi chính các quốc gia tư bản lại cố gắng giải quyết vấn đề này). Khi xã hội chưa thể tăng đầu tư vào các dịch vụ công nhằm nâng cao mặt bằng chung chất lượng dân số hơn nữa thì chất lượng dân số sẽ phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế hộ gia đình, với sự chênh lệnh rõ rệt giữa nhóm giàu và nghèo.     Tính kinh tế của bất bình đẳng giới     Một khía cạnh quan trọng ảnh hưởng tới việc tăng mức sinh mà đến nay thường bị bỏ qua là các mâu thuẫn liên quan đến bất bình đẳng giới và gánh nặng mà phụ nữ phải chịu đựng. “Xã hội vừa muốn phụ nữ sinh thêm con trong khi đó xã hội lại vẫn trông đợi người phụ nữ tham gia vào thị trường lao động, đóng góp, trở thành người tạo ra của cải cho xã hội. Cùng một lúc xã hội có đòi hỏi người phụ nữ quá nhiều hay không? Chừng nào chính sách, quan niệm xã hội về sinh con còn chưa thay đổi thì tôi sợ là câu chuyện sinh đẻ vẫn là bài toán nan giải”, TS. Khuất Thu Hồng phân tích. Người dân và đất nước Hàn Quốc, Nhật Bản, hay Trung Quốc đều khá giả hơn Việt Nam nhiều lần nhưng phụ nữ vẫn không muốn sinh đẻ nữa cũng do các mâu thuẫn liên quan đến bình đẳng giới, trách nhiệm của người phụ nữ trong việc chăm sóc con cái quá nặng nề. Trong khi phụ nữ ngày càng được trao quyền hơn và muốn được giải phóng hơn thì việc chăm sóc con cái khiến họ mất đi quá nhiều chi phí cơ hội.    Vì việc nuôi dạy con cái vẫn là trách nhiệm chính của cá nhân người phụ nữ nên việc sinh ít con là một tác nhân giúp phụ nữ tham gia thị trường lao động nhiều hơn. Một công bố mới đây của TS. Vũ Hoàng Linh (Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội), TS. Trần Quang Tuyến (Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) và TS. Phùng Đức Tùng (Viện Nghiên cứu phát triển Mekong) cho thấy, việc Việt Nam đạt được mức 79% phụ nữ từ 15 đến 64 tuổi tham gia thị trường lao động – tuy thấp hơn so với mức 85% nam giới tham gia thị trường lao động nhưng cao hơn cả các nước OECD (74%), là có liên quan đến việc hạn chế sinh con. Cụ thể, với nhóm 21-35 tuổi, sinh thêm con làm giảm mức độ tham gia của người mẹ vào thị trường lao động giảm 10,2 điểm phần trăm. Đối với những người phụ nữ lớn tuổi hơn (36-50 tuổi), thường đã có việc làm thì việc sinh con không ảnh hưởng đến việc tham gia thị trường lao động nhưng làm giảm 1,8 giờ thời gian làm việc hằng tuần của người mẹ.    Quyết định sinh con sẽ phụ thuộc vào các chính sách xã hội và vấn đề bình đẳng giới nên các quyết định thưởng tiền trực tiếp, dù có lên tới cả nghìn đô như Nhật Bản, Hàn Quốc thì cũng không hiệu quả. Còn các mô hình nhà nước phúc lợi và chú ý tới bình đẳng giới trong môi trường công việc (điển hình là cho cả nam và nữ đều được nghỉ sinh để phụ nữ không mất quá nhiều cơ hội việc làm) như Đan Mạch đã phục hồi được mức sinh, từ chỗ rất thấp trở về mức hơn 1.8, gần đạt mức sinh thay thế trong những năm gần đây.     Khả năng hấp thụ lực lượng lao động?     Không quá lo lắng về mức sinh, một số nhà kinh tế đặt câu hỏi về việc Việt Nam sẽ chuẩn bị gì để hấp thụ hết lực lượng lao động sẽ tiếp tục tăng lên. Chúng ta vẫn còn thời gian để đầu tư cho các chính sách an sinh và giáo dục, y tế đầu tư cho thế hệ tương lai của đất nước, vì trên thực tế chỉ có 21 tỉnh không đạt, các tỉnh còn lại vẫn đạt mức sinh thay thế và Việt Nam sẽ còn duy trì được mức sinh khoảng hai con trong cả nước trong một thời gian nữa chứ không đột ngột giảm trầm trọng ngay, theo PGS.TS Giang Thanh Long, Đại học Kinh tế Quốc dân. “Do đó, ngay bây giờ, vấn đề thứ nhất là các tỉnh đạt mức sinh thay thế sẽ di cư tới các vùng thiếu lao động, vậy thì chúng ta có chính sách gì để đảm bảo đời sống cho họ? Vấn đề thứ hai là chúng ta đang không hấp thụ được hết lực lượng lao động đang có của ngày hôm nay, vì hiện nay có đến 50% lao động ở Việt Nam là những lao động làm các công việc không bền vững, làm việc theo mùa vụ và không có hợp đồng lao động trong khu vực phi chính thức. Chỉ một cú sốc COVID là tất cả đều thấy lao động phi chính thức bấp bênh như thế nào và không thể mãi duy trì tình trạng này”, PGS.TS Giang Thanh Long nói.    Cùng chung nhận định này, TS Phùng Đức Tùng không lo ngại việc Việt Nam sẽ mất đi vị thế “cường quốc dân số” mà lo Việt Nam không thể tăng năng suất lao động để xã hội trở nên thịnh vượng hơn. Việt Nam hiện có số dân đứng thứ 15 trong 187 quốc gia, và cũng là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao nhất thế giới (310 người/km2). Với tốc độ tăng hiện tại, dân số Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 120 triệu dân và đạt mức 380 người/km2 vào năm 2050, vẫn đứng trong nhóm có dân số và mật độ dân số cao nhất thế giới.    Nhưng trái với bức tranh dân số này, năng suất lao động của Việt Nam thuộc hàng thấp nhất thế giới. Theo số liệu Ngân hàng Thế giới năm 2019, năng suất lao động của lao động Việt Nam đứng thứ 140 trên 187 quốc gia, thấp hơn tất cả các nước trong khối ASEAN và chỉ bằng 31,6% mức trung bình của thế giới. Một trong những lý do là lao động Việt Nam hiện nay đang làm việc trong công đoạn thấp nhất của chuỗi giá trị.    Việt Nam mong muốn trở thành một quốc gia giàu có, có sức mạnh và tầm ảnh hưởng nhưng điều đó không chỉ phụ thuộc vào số lượng lao động, số lượng dân số, điều quan trọng hơn là một chất lượng dân số, chất lượng lao động với năng suất cao. Đối với mỗi cá nhân và gia đình, việc sinh con  phụ thuộc vào việc họ được hưởng an sinh xã hội tốt, các dịch vụ công, đặc biệt là y tế và giáo dục được tốt, một thị trường lao động dễ tìm việc làm chứ không phải là những chính sách thưởng/ phạt trực tiếp.□  —-  1Linh Hoang Vu, Tuyen Quang Tran, Tung Duc Phung, Children and female labor market outcomes in Vietnam, https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e07508    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Đưa chính trị vào giữa dân gian      Điều có ý nghĩa quyết định đến giải pháp phê bình và tự phê bình trong cuộc chỉnh Đảng lần này như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”**, nghĩa là phải dám khởi động ý chí và sự tiếp sức của dân vào công cuộc chỉnh Đảng.     Căn bệnh trầm kha của mọi nhà nước là xu hướng mở rộng quyền lực vô hạn độ. Mà quyền lực lại có xu hướng tham nhũng, quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối. Không thiếu những minh chứng sống động từ Đông sang Tây, từ cổ đến kim về cái quy luật phũ phàng và nghiệt ngã đó của sự gắn kết giữa lợi ích với quyền lực, lợi ích cá nhân nắm quyền, lợi ích phe nhóm quyền lực… Cho nên, thức tỉnh lương tâm, kêu gọi đạo đức là điều cần thiết, nhưng chỉ thế thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức nào cũng gắn với lợi ích, tách khỏi lợi ích chỉ kêu gọi đạo đức suông thì không gì khác là “sự bất lực đưa ra hành động” như K.Marx đã chỉ ra khi phê phán L. Feuerbach, nhà triết học Đức cùng thời, người đã từng suy tư “người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh” mà ông Tổng Bí thư dẫn ra trong bài phát biểu tại Hội Nghị quán triệt Nghị quyết IV vừa rồi.   Lương tâm gắn liền với ý thức về nhân phẩm là phạm trù cốt lõi của đạo đức, là sự cưỡng chế bên trong đối với hành vi của con người. Và sự cưỡng chế bên trong ấy cần tiếp sức của sự cưỡng chế bên ngoài, đó là luật pháp và công luận. Vì thế, việc thức dậy lương tâm bị ngủ quên, khiến cho sự cưỡng chế bên trong bị tê liệt đòi hỏi phải có sự cưỡng chế bên ngoài. Luật pháp, đúng như chức năng đích thực của nó, là thể hiện ý chí và sức mạnh của nhân dân trong một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, sẽ thực hiện sự cưỡng chế bên ngoài đó.   Cho nên dù việc phê bình và tự phê bình, mà “vai trò tiên phong “uống thuốc giải bệnh” phải là Bộ Chính trị, … sinh hoạt dân chủ, thẳng thắn tự phê bình và phê bình những yếu kém, tồn tại để làm gương cho cấp dưới” * thì sự tiếp sức của dân cũng không thể thiếu nếu muốn công việc quan trọng đó thu được kết quả.  Vả chăng, Chúng ta đang sống trong một thế giới của những thành tựu kỳ diệu của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, một thế giới của Internet nối mạng toàn cầu. Ở mọi nơi, các hệ thống thứ bậc đang bị thách thức từ bên dưới, vì vậy, hệ thống cấu trúc theo chiều dọc và phải tự biến đổi thành cấu trúc theo chiều ngang và có tính cộng tác hơn để tạo ra nhiều giá trị hơn. Đặc điểm cấu trúc này bắt gặp với tư tưởng Hồ Chí Minh về một cấu trúc xã hội và thể chế chính trị trong đó “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”**.   Hơn nữa, xã hội là một tổng thể được tạo thành bởi những hiện tượng liên kết, khiến cho mỗi hiện tượng tùy thuộc vào các hiện tượng khác và chỉ có thể như nó đang là thế ấy trong những mối liên hệ giữa chúng với nhau (André Lalande). Xã hội ta đang sống là một cấu trúc mà trong đó mỗi thành viên đều có mối quan hệ ràng buộc với nhau dưới những hình thức thô sơ nhất hoặc phức tạp nhất. Chúng có những vai trò khác nhau, song có mối tương tác lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau trong việc thực hiện sự phân công trách nhiệm trước cộng đồng cùng chung quyền lợi và cùng chung những giá trị. Quyền lợi và giá trị đó tuy có cùng một mẫu số, nhưng lại luôn có những đụng độ dẫn tới những khác biệt do khúc xạ qua những bóng ma của quyền lực từ quy luật nghiệt ngã vừa nêu ở trên, thì các thứ bậc đang bị thách thức và được khởi động từ bên dưới, sẽ có tác động mang tính quyết định của sự phát triển xã hội.   Điều có ý nghĩa quyết định đến giải pháp phê bình và tự phê bình trong cuộc chỉnh Đảng lần này như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”**, nghĩa là phải dám khởi động ý chí và sự tiếp sức của dân vào công cuộc chỉnh Đảng. Muốn thế, phải “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”**. Từ “Sự kiện Tiên Lãng ở Hải Phòng” có thể thấy rằng, khi mạng lưới thông tin dày đặc đã lập tức đưa ra trước công luận hành động của Đoàn Văn Vươn và những diễn biến với sức lan tỏa mạnh mẽ của chúng đã tạo ra sức mạnh thúc đẩy những giải pháp mang tầm cỡ quốc gia chứ không chỉ đóng khung trong phạm vi một xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng. Khi quần chúng đã được đánh thức, một sức mạnh mới được khởi động, thì đó là một hậu thuẫn vững chắc trong việc thực hiện sự giám sát khách quan, sự phản biện trung thực và quyết liệt, tạo ra một áp lực thúc đẩy việc phê bình và tự phê bình của những người nắm quyền lực.  Điều này thì chẳng có gì mới, trước đây mấy thế kỷ V.Hugo đại văn hào Pháp đã khuyến cáo: “Hãy nhìn qua dân chúng, bạn sẽ nhìn thấy chân lý. Cái thứ cát ô uế mà bạn xéo dưới chân, hãy ném nó vào lò nấu, hãy để nó chảy ra, hãy để nó sôi lên, nó sẽ trở thành pha lê rực rỡ. Chính nhờ cái pha lê ấy mà Galilé và Newton phát hiện những vì sao” ***. Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đang thực hiện sứ mệnh của “lò nấu” biến cát thành pha lê của thời đại internet nối mạng toàn cầu!    Bởi vậy, muốn cuộc chỉnh Đảng có kết quả thiết thực và thực chất thì cùng với sự can đảm phê bình và tự phê bình bằng cách chân thành tiếp nhận sự phản biện quyết liệt và mạnh mẽ của những người trung thực, phải dám dựa vào dân, đưa chính trị vào giữa dân gian, để tạo ra động lực cho việc tự kiểm điểm và tự phê bình. Có như vậy mới làm cho việc “uống thuốc giải bệnh” không bị vô hiệu hóa vì người bệnh đã nhờn thuốc.  —  *      Lê Khả Phiêu. Vietnamnet ngày   **    Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 5. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr. 698, 298, 297  ***   V.Hugo “Những người khốn khổ” Tập 2.NXBVăn Nghệ tpHCM. 2000, tr.359    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa tinh túy của tinh thần doanh nghiệp vào bộ máy Nhà nước      Cách nhìn đơn giản hóa về quyền lực nhà nước như một siêu công ty cung cấp hàng hóa công cộng giúp chúng ta sẽ có những cách tiếp cận mới phục vụ công cuộc sửa đổi hiến pháp, cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước hiện nay.      Coi mỗi cấp chính quyền là một pháp nhân công quyền  Công ty Apple của ngài Steve Job có giá trị vốn hóa thị trường vào tháng 6 năm 2011 là 317,6 tỷ USD(1) gấp hơn ba lần GDP của Việt Nam (104,6 tỷ USD) năm 2010 (2) Một công ty lớn như vậy với hàng trăm công ty con, hàng ngàn văn phòng đại diện trên toàn cầu, nhưng mối quan hệ trách nhiệm giữa công ty mẹ ở Hoa Kỳ và các công ty con rất rõ ràng, khiến cho việc quản trị của ngài Steve Job trở nên nhẹ nhàng. Bí quyết làm cho mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con luôn tách bạch nằm ở khái niệm mà các nhà luật tư đã sáng tạo ra: pháp nhân.           Nếu không có khái niệm pháp nhân (theo luật tư) thì giả dụ khi anh A vào bể bơi dẫm phải vỏ chuối trên hành lang của một bể bơi và bị gãy tay, anh A nên kiện ai? Ai là người có lỗi: người quét dọn đã có lỗi không dọn rác kịp thời? Người bảo vệ đã có lỗi khi cho khách hàng mang chuối vào ăn trong khu vực bể bơi? Người ban hành nội quy đã có lỗi không cấm hành vi ăn chuối trong khu vực bể bởi? Mọi việc trở nên đơn giản trong luật tư: hãy kiện công ty cung cấp dịch vụ bể bơi. Việc quy kết trách nhiệm từng cá nhân cụ thể là việc nội bộ của công ty.    Nhờ khái niệm pháp nhân công quyền, nên công dân các nước tiên tiến như Đức, Hoa Kỳ dễ dàng xác định bị đơn khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị các cơ quan công quyền xâm hại. Không cần biết cơ quan công quyền đó là cơ quan gì và vụ việc liên quan tới bao nhiêu cơ quan thì bị đơn chỉ có thể quy về một trong ba pháp nhân công quyền (Rechtstraeger): chính quyền liên bang, chính quyền tiểu bang và chính quyền cơ sở (commune). Ở Việt Nam thì trò chơi „bóng chuyền“ trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước đôi lúc xảy ra, vì sự việc xảy ra thì có một chùm các cơ quan liên quan, mà trách nhiệm thì không dễ gì quy về một pháp nhân cụ thể nào cả.        Cùng hướng tới mục đích tăng cường hiệu quả quản trị, minh bạch hóa quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con như ngài Steve Job thì các nhà luật học phương tây (Đức, Pháp) đã sáng tạo ra một khái niệm tương ứng với pháp nhân (theo luật tư) là “pháp nhân công quyền” (Rechtstraeger)(3).   Họ quan niệm mỗi cấp chính quyền là một pháp nhân tồn tại có trách nhiệm độc lập với cấp chính quyền khác: có tài sản riêng (ngân sách riêng), có tên gọi riêng, có cơ cấu tổ chức độc lập, và đặc biệt có thể độc lập tham gia các quan hệ tố tụng nhân danh chính mình.   Hiện nay không chỉ mỗi cấp chính quyền mà mỗi cơ quan nhà nước ở Việt Nam đều ít nhiều có những dấu hiệu bề ngoài nói trên và được xem là một pháp nhân (ngôn ngữ dân gian gọi là có con dấu riêng), nhưng khi xem xét kỹ thì các cấp chính quyền này chưa phải là một pháp nhân công quyền (Rechtstraeger) thực thụ, đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương chưa có sự tách bạch như quan hệ công ty mẹ – công ty con.   Hiến pháp hiện hành (Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001) của Việt Nam chưa ghi nhận quyền tự quản của chính quyền địa phương và quy định rất sơ sài về thẩm quyền, nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương. Sự mờ nhạt của hiến pháp dẫn đến các quyền và nguồn thu mà chính quyền địa phương có được là do chính quyền trung ương ban phát trong thông qua các đạo luật, nghị định, thông tư… Việc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương luôn nằm trong trạng thái nhập nhằng bất định, có thể ví như xây dựng một hàng rào phân cách giữa hai chủ thể này, nhưng các cơ quan trung ương lại có thể ban hành văn bản để điều chỉnh, cắm lại hàng rào này vào bất kỳ thời điểm nào mà cơ quan trung ương thấy cần. Khi một quyền nào đó được phân cấp cho chính quyền địa phương thường có nghĩa là trung ương muốn ″nhả ra″ vì nó kém hấp dẫn hoặc vì ″không thể ôm xuể″. Đồng thời vào bất cứ khi nào, chỉ bằng một văn bản, quyền đã ″phân″ cho địa phương lại có thể trở về tay của trung ương.            Việt Nam chưa ghi nhận quyền tự quản của chính quyền địa phương và quy định rất sơ sài về thẩm quyền, nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương.        Quan niệm ″pháp nhân công quyền″ thiếu vắng trong Hiến pháp 1992, nên thiếu sự tách bạch giữa quyền và nghĩa vụ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương dẫn đến một hiện tượng thứ hai: trung ương đôi khi giao nhiệm vụ bất thường (một nhiệm vụ mà trong hiến pháp không ghi rõ là của địa phương hay của trung ương) cho địa phương nhưng nguồn lực tài chính và con người kèm theo không cân xứng. Chính vì giao việc theo kiểu ″anh em một nhà″ này, nên khi cấp dưới không hoàn thành nhiệm vụ thì trách nhiệm cũng theo kiểu ″anh em xuề xòa″. Nhưng nếu hai cấp chính quyền là hai pháp nhân công quyền thì câu chuyện ″của anh, của tôi″ sẽ rất rõ ràng, và nhiệm vụ sẽ đi liền với tiền bạc và trách nhiệm. Khi cấp trên muốn đề nghị cấp dưới thực hiện một nhiệm vụ của mình thì phải kèm theo đề nghị về tài chính, nhân sự; cấp dưới chỉ tiếp nhận khi đề nghị này đủ hấp dẫn, và khi tiếp nhận rồi thì cấp dưới chỉ thực hiện với tư cách làm thuê (bên B´), cấp trên vẫn phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về nhiệm vụ mà hiến pháp đã giao cho họ.  Khi các cấp chính quyền là những pháp nhân công quyền thực thụ và quan hệ giữa các cấp không phải là quan hệ thuần túy ″mệnh lệnh – phục tùng″ mà là quan hệ đối tác trên cơ sở hiến pháp, thì kinh nghiệm của các nền hành chính tiên tiến cho thấy, ngoài việc khắc phục được hai nhược điểm nói trên thì nền hành chính Việt Nam được thêm hai ưu điểm: đơn giản hóa cho công dân trong khiếu kiện hành chính và tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh cần thiết giữa các địa phương.     Cạnh tranh minh bạch sẽ tạo sinh khí cho cải cách hành chính          Hai cấp chính quyền là hai pháp nhân công quyền thì câu chuyện ″của anh, của tôi“ sẽ rất rõ ràng, và nhiệm vụ sẽ đi liền với tiền bạc và trách nhiệm.        Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh một cách minh bạch sẽ làm thành sức sống doanh nghiệp, và hơn thế đóng góp vào sức mạnh của cả nền kinh tế.   Còn cạnh tranh giữa các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương thì đem lại lợi ích gì?           Các khuynh hướng cải cách táo bạo sớm bị đóng khung trong chiếc áo chật hẹp, bởi hiến pháp chưa thiết kế một hành lang cho sự cạnh tranh giữa các địa phương.        Ở Mỹ, để cạnh tranh thành công, các bang đều phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình và triệt để xây dựng chính sách phát triển theo hướng khai thác lợi thế này. Muốn vậy, hệ thống pháp luật của Mỹ cho phép từng tiểu bang có mức độ tự chủ và độc lập nhất định trong việc xây dựng chính sách và các quy định pháp lý riêng. Lợi thế cạnh tranh được nghị viện từng tiểu bang khái quát thành các khẩu hiệu và kêu gọi nhân dân tiểu bang ủng hộ thực hiện, mà một trong những biện pháp dễ thấy là quy định việc gắn các khẩu hiệu vào biển số xe ô tô. Bang Massachusetts là điểm tập kết đầu tiên của người da trắng khi đến châu Mỹ và có truyền thống lâu đời về giáo dục với các trường đại học nổi tiếng như Harvard hay MIT. Vì vậy họ quyết định tập trung tăng cường chính sách phát triển giáo dục như là ngành công nghiệp không khói để tạo ra thu nhập và thế mạnh của tiểu bang. Với chiến lược như vậy nên các ô tô bang Massachusetts được gắn khẩu hiệu “Tinh thần Mỹ” (Spirit of America), còn bang New York giàu có, nơi tụ hội những trụ sở tập đoàn và tài phiệt lớn thì “hãnh diện” với dòng chữ “Bang đế chế” (Empire State)(4). Bang New Hampshire bé nhỏ, không có dầu mỏ như Texas, không có thương cảng như New York, không có các trường đại học nổi tiếng như Massachusetts nên đã chọn một chiến lược thích nghi rất khôn ngoan khi đưa ra chính sách miễn thuế VAT(5). Chính sách này đã thu hút hàng loạt các nhà máy có cơ sở sản xuất ở các bang lân cận nhưng lại đặt Outlet (6) trên đất New Hampshire giáp ranh với các bang khác. Dân cư ở vùng giáp ranh với New Hampshire thường sang các Outlet này mua sắm kết hợp du lịch, đặc biệt là các món hàng có giá trị trên 1.000 USD thì số tiền thuế VAT tiết kiệm có thể lên tới hàng trăm USD. Tuy không thu được một đồng thuế nào từ các vị khách mua sắm này, nhưng các vị khách này lại thúc đẩy ngành du lịch, dịch vụ của bang New Hampshire phát triển.   Ở Việt Nam, những năm gần đây, sự cạnh tranh lành mạnh giữa các địa phương đã hình thành, và thể hiện rõ rệt nhất ở việc lãnh đạo các tỉnh miên trung xa xôi đã thân chinh ra Hà Nội tổ chức những hội nghị xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư về tỉnh mình. Nhưng những lời có cánh về tiềm năng địa phương vẫn chưa đủ thu hút các nhà đầu tư vì họ vẫn quan ngại các thủ tục hành chính rắc rối, chậm trễ. Nắm bắt được điều này, nên nhiều lãnh đạo đã cam kết bảo đảm các bước thủ tục hành chính tại địa phương sẽ diễn ra đúng luật (không bị ngâm quá thời hạn). Và một vài địa phương hăng hái đi đầu trong cải cách thủ tục hành chính. Sự năng động, xông pha của các vị lãnh đạo này đã làm các địa phương như Đà Nẵng, Bình Dương nức tiếng toàn quốc về thu hút đầu tư nước ngoài, về cải cách hành chính. Những giải pháp tiên phong được báo chí nhắc đến như thi tuyển trưởng phòng ở TP. Hồ Chí Minh, thi tuyển hiệu trưởng ở Đà Nẵng, Nghệ An, xử phạt vi phạm giao thông qua camera…   Tuy nhiên, các khuynh hướng cải cách táo bạo sớm bị đóng khung trong chiếc áo chật hẹp, bởi hiến pháp chưa thiết kế một hành lang cho sự cạnh tranh giữa các địa phương (một số cải cách bị cho là trái luật). Thay vào đó tư duy “cào bằng, rập khuôn” của thời kỳ bao cấp vẫn còn đậm dấu ấn trong hiến pháp hiến hành, với việc các địa phương táo bạo có khi phải nhận trát nhắc nhở của Cục kiểm tra văn bản – Bộ Tư pháp. Điều an ủi bù lại là một số giải pháp cải cách này sau đó được chính quyền trung ương ghi nhận mà việc xử phạt vi phạm trật tự giao thông bằng camera là một ví dụ.      Hợp đồng: Một hình thức hợp tác nên mở rộng sang khu vực nhà nước            Nếu các cấp chính quyền có sự độc lập tự chủ của một pháp nhân công quyền thực thụ thì họ có thể chủ động ký kết với nhau các thỏa thuận có giá trị pháp lý để giải quyết các nhu cầu chung.        Hiện nay ở Việt Nam, sự hợp tác giữa hai cơ quan nhà nước đồng cấp diễn ra khá hạn chế mang tính vụ việc (adhoc) vì thiếu cơ sở pháp lý. Việc hợp tác giữa hai cơ quan nhà nước đồng cấp hiện nay thường trên cơ sở chỉ đạo của cấp trên, hoặc do mối quan hệ tình thân giữa hai thủ trưởng cơ quan. Nhưng nếu các cấp chính quyền có sự độc lập tự chủ của một pháp nhân công quyền thực thụ thì họ có thể chủ động ký kết với nhau các thỏa thuận có giá trị pháp lý để giải quyết các nhu cầu chung. Hai lĩnh vực tiềm năng cho dạng hợp tác này là việc thỏa thuận thuê chung nhân sự và cùng xây dựng sử dụng các công trình phúc lợi công cộng.   Thuê chung nhân sự(7): Các cấp chính quyền địa phương hiện nay đều có biên chế công chức gần như đồng nhất (đều có biên chế tối thiểu trong các mảng: Văn phòng – Thống kê, Địa chính – xây dựng, Tài chính – kế toán, Tư pháp – hộ tịch, Văn hóa – xã hội, Chỉ huy trưởng quân sự). Tình trạng này dẫn đến nơi thì công chức làm không hết việc, nơi thì công chức không nghĩ ra được việc gì mà làm cho hết ngày. Vì sao không khoán chi các công việc này và cho phép các xã ít công việc ở liền kề nhau có thể thỏa thuận cùng thuê một nhân viên đảm đương công việc của các công chức xã để các địa phương này tiết kiệm ngân sách chi dùng cho việc khác của địa phương.     Cùng xây dựng công trình phúc lợi công cộng. Các công trình phúc lợi công cộng ở vùng nông thôn Việt Nam hiện nay rất thiếu thốn và được xây dựng rập khuôn: xã A có nhà văn hóa thì xã B cũng có, xã A có sân bóng đá thì xã B cũng có một cái nho nhỏ. Việc rập khuôn này đôi dẫn đến hai thái cực. Ở thái cực thứ nhất thì do nguồn vốn ngân sách của từng xã eo hẹp nên, mỗi xã đều có một công trình công cộng, nhưng có khi lại quá bé so với nhu cầu sử dụng của nhân dân. Ở thái cực ngược lại, có nơi dân cư thưa thớt, nhu cầu thấp, khiến các công cộng không được khai thác hết công suất. Như vậy, tại sao xã A không ký kết với xã B thỏa thuận cùng góp tiền và xây sân bóng đá trên đất xã A, xây bể bơi trên đất xã B và công dân hai xã đều có quyền sử dụng chung, qua đó nhân dân đều có sân bóng và bể bơi đàng hoàng hơn, khai thác triệt để hơn?   Trong khuôn khổ quyền tự quản địa phương hạn hẹp của hiến pháp hiện hành, thì mong ước này khó có thể thành hiện thực. Vì nếu các hội đồng nhân dân và hai ông chủ tịch xã có mong muốn thực hiện thì chưa tìm đâu ra cơ sở pháp lý cho những thỏa thuận như vậy. Điều gì sẽ xảy ra sau năm năm hai ông chủ tịch xã hết nhiệm kỳ, và nhân dân hai xã có bất đồng về việc khai thác hai công trình nói trên? Tranh chấp liên quan thỏa thuận nói trên có thể mang ra phân xử tại tòa dân sự được không?   Những vướng mắc này chỉ được gỡ bỏ, khi hiến pháp thừa nhận quyền tự quản của cấp địa phương và quan niệm các cấp chính quyền như là các pháp nhân công quyền, để từ đó tạo cơ sở pháp lý cho hợp đồng hành chính, cũng như các thỏa thuận theo luật công.  —-  (1) Nguồn:   http://www.electronista.com/articles/11/0/03/not.reflective.of.actual.worth.more.potential/   (2) http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_Vietnam  (3) Khái niệm pháp nhân công quyền (öffentlicher Rechtstraeger) tương ứng nhưng không đồng nhất với khái niệm pháp nhân trong luật tư (juritische Person)  (4) Tòa nhà Đế chế (Empire State Building cũng là một biểu tượng quan trọng của Thành phố New York)  (5) Ở Hoa Kỳ thì thuế VAT do Nghị viện từng tiểu bang quy định. Điều này dẫn đến một hiện tượng giá niêm yết tại các shop chưa bao gồm VAT, nên cùng giá niêm yết như nhau nhưng mua hàng ở New Hampshire sẽ rẻ hơn mua ở Boston (giá sau thuế).   (6) Outlet là nơi nhà máy trực tiếp bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà không qua các nhà phân phối trung gian, nên giá thường rẻ hơn các shop thông thường.  (7) Ở điểm này thì tôi hoàn toàn tán thành quan điểm cho phép thí điểm đấu thầu công vụ của GS.TS. Phạm Hồng Thái         Author                Quản trị        
__label__tiasang Dubai – Bước đi trên hai sợi dây      Dubai vừa mở toang vừa đóng kín, gần như trong vấn đề gì cũng nhìn thấy hai thái cực rõ ràng, hai hướng đi đối chọi hẳn nhau. Nếu bảo Dubai hiện đại cũng sai mà cổ hủ cũng sai nốt. Kết quả là những người dân Dubai và cả những kẻ thập phương đến đây cũng bị căng ra, cuốn theo những dòng chảy chéo ngược về hai phía.     Dubai vàng son  Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi khi đặt chân đến Dubai là một mớ những làn đường cao tốc xoắn xuýt đan quấn vào nhau như một đám DNA khổng lồ sáng rực dưới kính hiển vi. Ở cuối làn sóng ánh sáng đó, Dubai hiện ra lộng lẫy và kiêu ngạo như bà chúa kim sa, khinh khỉnh nhìn xuống từ trên những tháp ánh sáng chói lòa như được dát bằng hàng triệu viên kim cương ngũ sắc. Xe tôi lướt đi giữa tầng tầng lớp lớp váy áo lấp lánh, mỗi khúc quanh tối đặc bởi ánh đêm lại bất thần mở ra một miền dải lụa dát sáng.   Dubai nhiều cái nhất. Nổi tiếng nhất có tháp Khalifa cao nhất thế giới. Guinness thậm chí đã quyết định mở hẳn một văn phòng đại diện tại Dubai vào năm 2014 để đáp ứng nhu cầu đánh bại các kỷ lục thế giới của người Tiểu Vương Quốc. Nhưng có lẽ cái nhất ngang ngược số 1 mà chỉ có cái kiểu ngạo mạn của Dubai mới có thể nghĩ ra là dự án The World, Palm Jumeirah và hai quần thể đảo khác. Trong suốt bốn năm, gần một tỷ mét khối đá và cát được đào lên từ đáy biển và phun vòi rồng trùm lên trên vùng san hô ngoài khơi Dubai, tạo thành bốn quần thể đảo nhân tạo, lấn biển hàng trăm nghìn mét vuông. Lượn vòng trên bầu trời Dubai, tôi tận mắt nhìn thấy một thành phố siêu hiện đại mọc lên từ sa mạc cằn cỗi chỉ trong vòng vài thập kỷ. Mà thực ra từ “mọc lên” hoàn toàn không chính xác. Bởi cái sự “mọc” có vẻ chậm rãi và thông thường quá. Với tốc độ phát triển kinh hoàng, nhiều người ví sự xuất hiện của Dubai trên đời giống như thể một mô hình siêu đô thị được người ngoài trái đất bất thần thả xuống trên bát ngát cát trắng, qua một đêm bất thần lững lững chiếm ngự vùng Vịnh heo hút với những công trình ngạo ngược lấn biển, chọc thủng mây, ngang nhiên thách thức cả Tạo hóa.   Tình cảm của tôi dành cho Dubai khá phức tạp, vừa yêu vừa ghét vừa nể phục. Không thể phủ nhận tầm nhìn xa trông rộng của những ông hoàng Dubai, khởi đầu từ việc sau khi thực dân Anh rút lui đã mải miết kiên trì thuyết phục các tiểu vương lân cận hợp sức thành lập một mô hình Hợp chủng quốc để cùng tồn tại. Vào những năm 1940 ngay giữa thời huy hoàng của ngọc trai, Dubai đã sớm đi trước một bước, nhìn thấy con đường cụt của nền công nghiệp này và mạnh dạn đầu tư vào thương mại. Vào những năm 1960 khi Trung Đông bất ngờ trở nên giàu có tột đỉnh bởi dầu lửa, Dubai đã sớm nhìn thấy con đường cụt của những giếng dầu và đầu tư mạnh vào du lịch. Không có kỳ quan thiên nhiên cũng như kỳ quan văn hóa, Dubai tự tạo nên kỳ quan từ bàn tay con người và biến du lịch thành nguồn thu chính của vương quốc trong khi dầu lửa chỉ chiếm 5% thu nhập quốc gia. Dubai tua băng chạy vùn vụt từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 21 chỉ trong vòng hai thế hệ, biến một vùng chài lưới nghèo khó ven biển nơi chỉ có cát, xương rồng và cướp biển trở thành một trung tâm tiền tệ và thương mại của cả thế giới. Ai cũng biết ở Trung Đông, việc yêu kính những ông bà hoàng gần như là một nghĩa vụ, nhưng chỉ cần ở Dubai một thời gian, thật dễ dàng nhận thấy tình cảm của người Dubai dành cho tiểu vương Zayed xuất phát từ sự tôn kính và yêu quý thực lòng.   Vậy vì sao tôi ghét Dubai?  Thứ nhất vì chính cái tên của tiểu vương quốc vàng son này: Do – Buy, hay đơn giản là: Mua đi! Sắm đi! Tiêu tiền cho thật nhiều vào! Tôi ở Dubai đúng vào thời điểm diễn ra Tuần lễ mua sắm, cũng không phải ngẫu nhiên mà được tổ chức trùng với tuần nghỉ lễ của người láng giềng giàu có Ả Rập Saudi. Những cô gái Saudi nhìn thoáng qua ai cũng màu đen giống hệt nhau nhưng để ý kỹ sẽ thấy họ quàng khăn trùm đầu hiệu Louis Vuiton, áo choàng và khăn trùm đầu hijab đen gắn đá quý lấp lánh quét đất để lộ thấp thoáng những đôi xăng đan Jimmy Choo cao ngất ngưởng hàng chục phân. Dubai dường như quá sức tự hào về cái danh tính một xứ sở ăn chơi hào nhoáng của mình đến mức từng lấy hình ảnh khách sạn 7 sao Burj Al Arab làm biểu trưng cho đất nước và dập nguyên xi hình ảnh này lên tất cả các biển số xe hơi.   Lý do thứ hai để tôi ghét Dubai là sự hào nhoáng đó được tạo dựng bởi bàn tay của công nhân từ các quốc gia thế giới thứ ba nghèo đói, và khối óc của các doanh nghiệp trí thức châu Âu. Dân bản xứ Dubai không hẳn đã ưa những người ngoại quốc đến đây sống và làm việc. Nhưng họ lại cần những kẻ lấm lem và ngoại lai này để tồn tại, hệt như một vị chủ nhà không thể sống nổi nếu thiếu đám khách khứa đông đúc, xa lạ và hạ đẳng đến trú ngụ trong nhà.  Bạn không đọc nhầm đâu! Đúng là tôi vừa dùng từ “hạ đẳng” đấy. Thậm chí lương bổng ở Dubai như một luật bất thành văn được trả theo quốc tịch: Mỹ và Tây Âu ở bậc trên, mấy nước châu Á phát triển nối đuôi cùng với Đông Âu, gần chót là người Philippines làm việc trong ngành dịch vụ, và đáy cùng là những lao động chân tay người Ấn Độ và Pakistan. Họ oằn lưng hơn 10 tiếng một ngày trên sa mạc nóng trên 50 độ đến mức cả tuần có thể không hề đi tiểu. Hệ thống quản lý kafala cho phép chủ thuê giữ hộ chiếu của công nhân, đặt vào tay họ quyền sinh sát với toàn bộ đời sống của người làm thuê. Không tiền, không hộ chiếu, cộng thêm một gánh nợ trên vai, có bị ném vào địa ngục cũng đố ai dám bỏ trốn. Mà nếu có bỏ trốn thì cũng là sự trốn chạy thương tâm nhất: cái chết. Rất nhiều người ốm đau và tự vẫn. Thậm chí có người quẫn bách đến mức đã đâm đầu vào xe ô tô để chết, hy vọng đổi mạng sống của mình để kiếm tiền máu diya đền bù nhằm trả nợ cho gia đình. Chỉ trong năm 2005 đã có 971 công nhân Ấn Độ lìa đời. Khi con số này được công bố thì Đại sứ quán Ấn Độ nhận trát yêu cầu im lặng và thôi đừng có đếm nữa. Mặt trái của Dubai vàng son khiến tôi quặn lòng khi nghĩ đến một bộ phận nhỏ những người lao động Việt Nam cùng chịu chung số phận. Ba mẹ dạy tôi đói cho sạch rách cho thơm. Nhưng rách ở cái ao nhà thì còn hy vọng chứ rách rưới ở xứ người thì thật lắm đắng cay.   Vừa mở toang vừa đóng kín  Sẽ không ngoa khi nói rằng mỗi người dân của tiểu vương này đang bị xé ra làm hai: một nửa đầy tự hào và kiêu ngạo về một Dubai sáng choang giữa lòng sa mạc, nửa kia ngậm ngùi quặn thắt vì chính họ cũng hiểu rằng mình đã mua một Dubai hào nhoáng chứ không phải đã xây một tiểu vương quốc rực rỡ bằng công sức và tài trí của chính mình. Chỉ chiếm có 5% dân số trong một tiểu vương được xây dựng và quản lý chủ yếu bởi người nước ngoài, dân Dubai đang cố tình nhấn mạnh rằng họ khác với đám khách khứa hạng sang sặc mùi Âu Mỹ và đám lao động cùng đinh từ châu Á bằng cách bám chặt lấy từng mẩu văn hóa dù nhỏ nhất của mình. Dubai là ví dụ đặc trưng nhất của hiện tượng “càng mở cửa thì càng truyền thống”, đến mức thành cố chấp khi hàng loạt dân tình bất chấp lý do an toàn kêu gào lên án các trung tâm thể thao là “phân biệt chủng tộc” khi họ không được phép mặc nguyên xi bộ kandura và  abaya truyền thống lướt tha lướt thướt quét đất hoặc lùng thà lùng thùng như cái dù để tham gia các môn thể thao cảm giác mạnh và mạo hiểm như trượt tuyết, ném bowling, nhảy dù và lặn biển.  Hằm hè ra về, thà hy sinh niềm vui cá nhân còn hơn là phải trút bỏ bộ đồ truyền thống, mỗi ông bà khách khó tính của các trung tâm thể thao thực ra là đại diện cho cuộc khủng hoảng danh tính đang ngấm ngầm cắn rứt và xâu xé sự tự tin của nền văn hóa non trẻ Dubai.   Chưa ở đâu tôi được chứng kiến một sự đối chọi khủng khiếp như thế giữa các giá trị đối lập của cái mới và cái cũ, cái được và không được, cái hợp pháp và phi pháp. Là một nền kinh tế dựa vào du lịch, Dubai buộc phải chấp nhận những thái cực Đông Tây khác biệt. Trên đường phố Dubai, những người đàn ông trong bộ kandura trắng muốt bước đi bên cạnh những cô gái cổ áo hở hang khiêu khích, mỗi bước đi ngoáy mông lại để lộ ra cái “đuôi cá voi” của quần lọt khe phía bên trên thắt lưng cạp trễ. Đám trẻ tuổi teen đội mũ lưỡi trai bẻ ngược, khuyên mũi khuyên lưỡi chi chít trượt ván veo veo trước mặt những cô gái trùm burka đen kín mặt chỉ hở hai con mắt. Du lịch gắn liền với sex. Đêm nào Dubai cũng rùng rùng chuyển động với vô số quán nhạc và câu lạc bộ đồng tính, với những cô gái điếm hạng sang bước chân vào vũ trường như những bà quý tộc và cả những ả bán hoa bình dân lấp ló đâu đó khuất nẻo dưới đường phố tối bưng.   Nhưng sự cởi mở trong ngành công nghiệp phấn hương và xã hội đồng tính không có nghĩa là bạn có thể hồn nhiên mở một trang sex trên internet. Nói một cách ngắn gọn, bạn có thể mua sex, nhưng xem sex hoặc làm sex thì rất dễ bị ăn đòn. Cách đây không lâu, một đôi nam nữ chưa kết hôn bị bắt quả tang trao đổi tin nhắn sex với nhau trên điện thoại kết thúc câu chuyện tình tang của họ trong nhà tù, hay một cặp anh ả hôn nhau mùi mẫn trong nhà hàng thoắt cái thấy mình bị án giam một tháng.   Tương tự, Dubai cởi mở với nền công nghiệp hương phấn bao nhiêu thì lại hà khắc đến cứng nhắc với các loại thuốc kích thích và cần sa bấy nhiêu. Một danh sách dài các loại thuốc giảm đau và thuốc chống trầm cảm bị coi là chất kích thích và kết quả là những án tù vài năm, nạn nhân bao gồm cả đạo diễn người Đức gốc Việt Cat Le-Huy. Cảnh sát chặn anh ở sân bay vì một lọ thuốc an thần, rồi lại bắt anh thử nước tiểu, thấy không có vấn đề gì vẫn cố kiết nạo vét tí bụi bặm trong vali để được 0,03 gram, một mẩu bé đến mức mắt thường không dễ nhìn thấy, mà họ cương quyết khẳng định là cần sa. Cat Le-Huy chỉ thoát án bốn năm tù sau khi cộng đồng mạng làm ầm ĩ với hơn 5.000 chữ ký gửi đến Dubai.   Dubai vừa mở toang vừa đóng kín, gần như trong vấn đề gì cũng nhìn thấy hai thái cực rõ ràng, hai hướng đi đối chọi hẳn nhau. Nếu bảo Dubai hiện đại cũng sai mà cổ hủ cũng sai nốt. Kết quả là những người dân Dubai và cả những kẻ thập phương đến đây cũng bị căng ra, cuốn theo những dòng chảy chéo ngược về hai phía.   Bối rối danh tính quốc gia  Trong bộ phim “Lawrence of Arabia”, vào thời kỳ đế chế Hồi giáo khổng lồ Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đang mất dần quyền bá chủ trên lãnh thổ rộng lớn kéo dài khắp ba lục địa của mình vào tay người Anh và Pháp, viên sĩ quan người Anh Lawrence được cử đến bán đảo Ả Rập để hối thúc các bộ lạc nơi đây nổi lên chống lại nhà cầm quyền người Thổ, đưa cuộc chiến vào thế có lợi cho quân Anh. Khi chàng sĩ quan trẻ khơi gợi ý chí phải thoát ra sự đô hộ của người Thổ, một thủ lĩnh bộ lạc đã trả lời mỉa mai: “Người Thổ à? Người Thổ là bộ lạc nào vậy?”  Cho đến bây giờ, trong những tranh chấp xung đột ở Trung Đông, câu hỏi này vẫn là một trong những thông tin quan trọng nhất: “Lãnh tụ mới à? Ông ấy là người bộ lạc nào vậy? Tôi chỉ bỏ phiếu cho ứng cử viên từ bộ lạc của tôi thôi!” Văn hóa của Trung Đông và toàn bộ bán đảo Ả Rập là văn hóa bộ lạc. Người Ả Rập biết đến một khái niệm mới có tên là “quốc gia” chỉ sau khi đế chế Ottoman sụp đổ và các nước lớn Anh, Pháp bắt tay vào chia sẻ chiến lợi phẩm là đất đai và các vùng đô hộ, vạch ra các đường biên giới để dễ bề cai quản. Tuy nhiên, hàng nghìn năm gắn rễ với cấu trúc văn hóa bộ lạc khiến đất nước được thành lập nhưng lòng người vẫn bị chia năm xẻ bảy, trung thành với bộ lạc và gia tộc của chính mình. Thật khó để người vùng Tiểu Vương Quốc nhìn nhận về bản thân mình như một công dân cùng một quốc gia, nhất là khi trong một quá khứ chưa đầy 100 năm trước, kẻ này sẵn sàng bắn chết kẻ kia chỉ vì trong cơn khát giữa sa mạc, gã lữ hành xấu số dám cả gan uống một ngụm nước từ chiếc giếng không nằm trong vùng lãnh thổ của bộ lạc mình.   Thiếu vắng một độ dày văn hóa gốc rễ và gần như bị đô hộ về mặt trí tuệ (intellectually colonized), tôi nhận thấy Dubai thực ra đang bám vào Hồi giáo như một cứu cánh để xác nhận và tạo lập danh tính văn hóa bản địa của chính mình. Tôi tự khẳng định điều này khi có dịp gặp Ines và Tefridj – hai trong số vài người bản địa hiếm hoi ở Dubai. Họ đều trẻ trung, giỏi giang, và diện những bộ cánh chỉ nhìn qua đã biết là thứ hàng sang trọng đắt tiền: khăn trùm đầu hiệu Chanel điệp màu với giày cao gót Christian Louboutin. Khi tôi buột miệng khen phong cách ăn mặc của họ, cả hai lập tức phá lên cười. Ines mở điện thoại cho tôi xem hàng chục bức ảnh của một Ines cách đây chưa đầy hai tháng: tóc nhuộm vàng rực xõa tung gợi cảm và quần áo không khác gì một ca sĩ chuẩn bị lên sàn diễn.   “Điều gì đã xảy ra thế này hả trời?” – tôi không tin vào mắt mình.   Lý do để Ines và Tefridj quyết định thay đổi diện mạo của mình là vì họ được nhận vào làm ở một công ty truyền thông danh tiếng trong một dự án nhằm thúc đẩy nữ quyền và bình đẳng giới. Cái khó không phải là làm thế nào để bản thân họ nổi bật với tư cách là những phụ nữ tham vọng, mà là làm thế nào để họ được biết đến như những phụ nữ Emirati tham vọng. Quá trình đi tìm kiếm một danh tính quốc gia đưa những cô gái trẻ đậu lại trên một cột trụ vững chãi có tên là Hồi giáo. Thế là cả tủ quần áo thời trang bị tống vào xó nhà, tất cả mọi tấm ảnh trước kia quẳng lên facebook đều phải gỡ bỏ. Những cô gái trẻ quyết tâm chứng minh cho thế giới thấy rằng một phụ nữ Hồi giáo hoàn toàn có thể xông pha trên tuyến đầu, năng động, tự tin, quyết đoán mà vẫn đầy chuẩn mực. Nhưng tôi vẫn muốn hỏi Ines và Tefridj lại một câu cho chắc: “Vậy thì đây là danh tính quốc gia hay danh tính tôn giáo vậy?”   “Cả hai!” – các cô gái trả lời không cần suy nghĩ.   Vậy là đã rõ.   Từ bao đời nay, vùng đất sa mạc cằn khô này chưa bao giờ có một sắc màu văn hóa ổn định. Khi những bộ lạc rời rạc tụ lại thành một quốc gia vào năm 1971, tôn giáo trở thành điểm chung duy nhất và cũng là chất kết dính duy nhất cho một đất nước non trẻ thiếu chiều dày văn hóa. Đạo Hồi không những thay thế lịch sử của Tiểu Vương Quốc mà còn có sức mạnh định nghĩa văn hóa nền cho cả một dân tộc vừa mới bỡ ngỡ chào đời. Và với sự phát triển kinh tế nhanh đến chóng mặt cộng với sự áp đảo của hơn 90% dân số là người ngoại quốc, cả một thế hệ trẻ bỗng dưng ngơ ngác với câu hỏi mình là ai. Hẳn nhiên khi chẳng còn chỗ bám víu nào khác hơn là một tôn giáo chung để xác lập một bản sắc riêng, những Layla, Ines và Tefridj bỗng thấy chiếc khăn hijab trở thành câu tuyên thệ cho sự khác biệt của chính mình. Danh tính tôn giáo đã chính thức thay thế văn hóa quốc gia. Xét cho cùng, họ cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác.   Một Hồi giáo “xấu xí”  Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu bạn cho rằng Hồi giáo – một khi đã đóng vai trò thay thế văn hóa quốc gia và tạo hình cho lịch sử dân tộc – thì sẽ luôn luôn được trọng vọng.   Tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, cái phiên bản Hồi giáo của nhà cầm quyền và phiên bản Hồi giáo của kẻ quấy rối kỵ nhau còn hơn nước với lửa. Tổ chức Al-Islah, một nhánh của Huynh Đệ Hồi giáo bắt rễ từ Ai Cập, đại diện cho một làn sóng phục hưng Hồi giáo, phản đối mạnh mẽ cuộc sống Âu hóa tột cùng của Các Tiểu vương quốc. Tôi nhớ khi mình chót dại mở miệng nói về một buổi sinh nhật rất vui ở quán bar Barasti, chưa kịp kết thúc câu khen ngợi thì đã bị nói như tát nước vào mặt: “Đủ rồi! Cái xứ này mục ruỗng đạo đức vì có cả những người như cô đến đây xả tiền mua vui một cách đáng xấu hổ như vậy!”  Tôi im re.   Tuy nhiên, điều khiến chính quyền Các Tiểu vương quốc cảm thấy khó chịu với Al-Islah lại là việc tổ chức này có biểu hiện đòi cải tổ hệ thống độc tài, đòi người dân phải có quyền bỏ phiếu, đòi xây dựng một thể chế chính trị dựa trên giáo lý Hồi. Cái phiên bản Hồi giáo này nguy hiểm quá bởi nó có mùi dân chủ, rất dễ dụ khị tầng lớp thanh niên trí thức đang hoang mang, bế tắc và quẫy đạp. Tức là phải diệt!   Khi tôi đang viết những dòng này, hơn 100 thành viên của Al-Islah đã bị bắt và đang chờ ngày ra tòa. Họ bị kết tội phản quốc do bí mật thề trung thành với tổ chức mẹ Huynh Đệ Hồi giáo ở Ai Cập. Năm 2012, cùng với hoàng gia Saudi và các thầy tu Wahhabi, các Tiểu vương Ả Rập thấy tim mình đập thùm thụp khi thủ lĩnh Huynh Đệ Hồi giáo là ông Mursi lên nhận chức Tổng thống. Họ lo sợ tầng lớp có học thức trong nước bỗng nhiên phát hiện ra rằng Hồi giáo hoàn toàn có thể kết hợp với các thể chế bầu cử dân chủ và sẽ nổi lên chống lại nhà nước độc tài. Khi Mursi bị nhà binh đảo chính, cả Saudi và các Tiểu vương Ả Rập như trút được gánh nặng ngàn cân, hào hứng móc túi trích ra tận tám tỷ đô la để giúp đỡ chính quyền mới. Cái ghế quyền lực được đóng thêm một cái đinh, đã vững chãi giờ lại càng khó đổ.   Đêm cuối cùng ở Dubai, tôi được rủ tới một quán bar sang trọng cùng với một nhóm bạn mới quen. Trên màn hình TV khổng lồ, với bộ đồ hai mảnh bó sát, Beyoncé đang làm cho khán giả phát cuồng với vũ điệu nóng bỏng của “Put a ring on it”. Ngay dưới chân màn hình, những dòng tin thời sự nhỏ chạy liên tục, thông báo về diễn biến vụ xử án những thành viên của Al-Islah. Anh bạn người bản xứ ngồi bên vừa dụi tàn thuốc vừa kể cho tôi nghe rằng con trai của một trong số những người bị xử án sẽ bị tống giam 10 tháng vì dám cả gan lên mạng twit về phiên tòa.   “Chế độ hà khắc này hệt như cái nồi áp suất. Đến một ngày chúng tôi sẽ nổ tung ra mất!” – anh thở dài.   “Này cô em!” – tôi giật mình quay sang anh bạn bên tay trái – “Sao mặt mũi lại phụng phịu thế kia?” Anh ta cười sảng khoái, liến thoắng một hồi rồi dí vào tay tôi một ly cocktail mới pha, nói đầy vẻ trịnh trọng: “Khi người ta trẻ, người ta phải sống ở Dubai!”   Chà chà! Hai câu nói này có lẽ tổng kết một cách hoàn hảo danh tính của Dubai – một tiểu vương quốc được sinh ra với số phận của kẻ đi trên hai sợi dây, trên tay nắm cây gậy thăng bằng giữa hai thế giới của giàu và nghèo, của bình đẳng và bất công, của nỗi lo sợ và niềm tự hào, của truyền thống và hiện đại, của những phiên bản tôn giáo cùng nguồn gốc nhưng có lẽ sẽ không bao giờ nắm tay chung bước.  —–  Năm 2012, tác giả Nguyễn Phương Mai đã thực hiện một hành trình dọc Trung Đông để nghiên cứu về Hồi giáo. Loạt bài bắt đầu khởi đăng từ số tháng 11. Độc giả có thể trao đổi với tác giả tại www.facebook.com/dr.nguyenphuongmai   Kỳ sau: Oman – Câu chuyện cổ tích không hồi kết    Author                Nguyễn Phương Mai        
__label__tiasang Đức truy tố Tổng thống vụ lợi 759,30 Euro ra sao      Đầu năm nay, lần đầu tiên trong lịch sử nước Đức, một cựu Tổng thống bị Viện Kiểm sát đề nghị toà truy tố tội nhận hối lộ 759,30 Euro lúc đương nhiệm vì. Phiên xét xử sẽ diễn ra vào tháng 11 tới.      Sinh ngày 19.6.1959, Tổng thống Đức Christian Wulff nhậm chức Tổng thống thứ 10 CHLB Đức ngày 30.6.2010, và từ chức ngày 17.2.2012. Bảy năm liền trước đó, Wulff là Thủ hiến tiểu bang Niedersachsen. Cuộc đời chính trị của ông để lại nhiều dấu ấn với bao danh hiệu giải thưởng từ Diễn đàn kinh tế thế giới, tới nhiều tổ chức hiệp hội kinh tế, học viện trong nước, được trao tặng bằng tiến sỹ danh dự của trường đại học Tongji-Universität Shanghai, Trung Quốc, của trường đại học Tsukuba, Nhật Bản. Tên tuổi và quyền lực tới vậy, nhưng Wulff đã không tránh khỏi quan sự khi vụ lợi chỉ 759,30 Euro. Bởi Đức là một nhà nước dân chủ pháp quyền, Tổng thống không phải vua chuá, hay tài thánh, mà do Quốc hội cùng đại biểu các tiểu bang đại diện cho dân bầu lên, không bầu người này thì bầu người khác; còn pháp luật là tối thượng, không ai được phép đứng trên nó, không thể không thực thi, nếu không người dân chủ nhân đất nước không để nhà nước đó yên!  *Khởi đầu   Ngày 13.12.2011, báo “Bild” đưa tin, hồi làm thủ hiến tiểu bang Niedersachsen, Tổng thống Wulff  đã lừa dối Quốc hội Tiểu bang, khi năm 2008 vay 500.000 Euro của Edith Geerkens vợ doanh nhân Egon Geerkens để mua nhà riêng, nhưng tới năm 2010 bị Quốc hội chất vấn liệu có quan hệ gì với Egon Geerkens thì trả lời không. Mỗi vụ chất vấn về một khoản vay bình thường nhưng trả lời không bình thường ở Đức đã đủ xúc tác cho qúa trình đổ vỡ cả sự nghiệp Tổng thống họ 4 năm sau đó.  *Sức mạnh đòi minh bạch của truyền thông  Điều kiện cần cho một chính khách ở Đức là minh bạch, thiếu nó không thể làm chính khách, bởi người dân không thể nhìn „xuyên suốt“ để yên tâm tín nhiệm họ. Truyền thông đa chiều chính là nơi trắc nghiệm tính minh bạch đó. Lập tức, 2 ngày sau, Wullf phải lên tiếng, một lần nữa phủ nhận mối quan hệ làm ăn với Egon Geerkens, và lấy làm tiếc vụ việc đã gây hiểu lầm. Còn nếu Wulff im lặng sẽ nghiễm nhiên được coi là thừa nhận, lúc đó lại phải đối mặt với áp lực chính trường còn nặng hơn. Đáp lại, 1 ngày sau, 16.12.2011, báo Spiegel công bố số tiền vay đó có nguồn gốc từ Egon Geerkens chứ không phải của người vợ. Nhưng luật sư cuả Wulff vẫn một mực khẳng định ngược lại. Công luận lập tức sôi lên trước vị tổng thống uẩn khúc của mình, dẫn thêm bao ngờ vực về các kỳ nghỉ được doanh nhân bao, đánh tiếng đòi Wulff từ chức. Ngày 18.12.2011, Wulff cho luật sư minh bạch các kỳ nghỉ phép hồi làm thủ hiến để bác bỏ ngờ vực các kỳ đó được chi bởi các doanh nhân bạn bè, đồng thời khẳng định không từ chức nếu có bị yêu cầu. Ngày 19.12.2011, Wulff cho phép giới truyền thông tới văn phòng luật sư của ông xem hồ sơ các chuyến nghỉ phép và vay tín dụng đang bị ngờ vực. Tối hôm đó, báo Bild đưa tin tiếp, người bạn doanh nhân  Carsten Maschmeyer đã trả tiền quảng cáo cho cuốn sách phỏng vấn Wulff mang tên „Sự thật tốt hơn“ vốn đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch tranh cử quốc hội tiểu bang cho ông năm 2007.  Để giải toả ngờ vực, Wulff cho luật sư riêng thông báo không hề biết gì về khoản tiền đó, rồi 3 ngày sau, đích thân  ra tuyên bố xin lỗi cách xử lý sai sót của mình trong vụ vay tín dụng và xin dân chúng hãy tin tưởng.   Tưởng chừng Wulff được yên vị. Nhưng một tuần sau, ngày 30.12.2011, một phần vụ vay tín dụng được làm rõ, khác với những gì Wulff bác bỏ trước đây không liên quan tới Egon Geerkens, khi ngân hàng BW cho biết, hợp đồng Wulff vay tín dụng được ký kết trước lễ Noel năm đó và do Egon Geerkens môi giới. Thế là đã rõ, Wulff không trung thực, nhưng liệu chỉ mỗi vụ vay tiền  mua nhà riêng hay còn nữa ? Truyền thông lập tức thi nhau vào cuộc tìm câu trả lời. Ngày 31.12.2011, báo Spiegel đưa tin nhanh, một khoản tín dụng khác, ưu đãi từ ngân  hàng BW-Bank cấp cho Wulff được coi là qùa trả ơn công lao của Wulff giúp đỡ hãng ô tô VW-Porsche khỏi phá sản – khách hàng lớn của ngân hàng BW. Ngày 01.01.2012, trước khi báo Bild công bố tài chính Wulff mua nhà riêng ở Bergwedel, Tổng biên tập nhận được tin nhắn Wulff gửi vào máy điện thoại cầm tay đe doạ sẽ tiến hành một „cuộc chiến“ với báo Bild. Cái sảy nảy cái ung, tin đó bị đưa ra công luận gây phẫn nộ, cho rằng Wulff vi phạm luật báo chí. Lo ngại công luận, ngày 04.1.2012, Wulff phải lên đài truyền hình nhà nước ARD và ZDF bác bỏ cáo buộc đe doạ báo Bild, và giải thích hành vi đó chỉ nhằm yêu cầu báo Bild lùi lại thời gian công bố tin gây tranh cãi.   * Đến lượt các chính khách buộc phải lên tiếng, truyền thông theo sát  Đã là chính khách thì phải phản ứng trước truyền thông về bất kể vấn đề gì của đất nước, dù không liên quan tới cá nhân mình, nếu không người dân không thể tin tưởng tín nhiệm giao vận mệnh đất nước, số phận chính trị của mình cho họ. Ngày 06.01.2012, Stefan Wenzel, trưởng đoàn nghị sỹ đảng Xanh đệ trình lên nghị viện tiểu bang Niedersachsen một bản danh mục 100 câu hỏi yêu cầu điều trần Wulff, trong thời gian làm thủ hiến tiểu bang đã vi phạm luật bộ trưởng liên quan tới vay tiền vợ doanh nhân Geerkens và các mối quan hệ kinh tế với giới doanh nhân. Ở cấp Liên bang,  ngày 11.01.2012, đoàn nghị sỹ đảng SPD gửi tới Ủy ban pháp luật Quốc hội 60 câu hỏi điều trần Wulff chi tiêu tài chính thời làm thủ hiến bị ngờ vực lạm dụng, liên quan tới cuộc gặp gỡ thượng đỉnh doanh nhân Bắc Nam mang tên „Promi-Party Nord-Süd-Dialog“ do tư nhân tổ chức. Ngày 12.01.2012, luật sư riêng của Wulff cho công bố trên Internet 6 trang tổng hợp ý kiến của Wulff trước 400 câu hỏi của truyền thông gửi tới đòi giải trình. Lập tức, Björn Thümler, Trưởng đoàn nghị sỹ đảng CDU lên tiếng đòi phải công bố toàn bộ hồ sơ kèm theo, buộc Wulff phải lên diễn đàn truyền hình ARD và ZDF hứa sẽ thực hiện.  Ngày 14.01.2012, báo Spiegel Online đưa tin mới, trong thời gian làm thủ hiến tiểu bang, Wulff được nhà sản xuất phim David Groenewold khoản đãi khi mời tới dự lễ hội tháng 10 truyền thống năm 2008 của tiểu bang Müchen. Lập tức, ngày 15.01.2012, trên báo “Frankfurter Allgemeinen Sonntagszeitung”, David McAllister Thủ hiến Niedesachsen đương nhiệm đòi Wulff thủ hiến tiền nhiệm hồi đó, phải giải trình và hứa chính phủ ông sẽ làm rõ. Ngày 18.01.2012, tuần báo “Zeit” đưa tin, chính phủ Niedersachsen lúc đó có tham gia vận động quyên góp cho cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Nord-Süd-Dialog, và trở thành đề tài thảo luận trong nghị viện tiểu bang. Trước sức ép dư luận và dân biểu, Wulff cho công bố toàn bộ hồ sơ trả lời về 400 câu hỏi của truyền thông mà Björn Thümler đã đòi hỏi.  * Cơ quan pháp lý buộc phải vào cuộc, truyền thông nỗ lực hậu thuẫn  Vấn đề pháp lý một khi được truyền thông phát hiện, dân biểu lên tiếng, trách nhiệm tự động đặt lên các cơ quan pháp luật, nếu không chính họ bị chế tài. Ngày 19.01.2012, Viện kiểm sát cùng cảnh sát Hannover tổ chức lục soát văn phòng và nhà riêng của Olaf Glaeseker phát ngôn viên của Wulff và Manfred Schmidt nhà tổ chức cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog . Ngày 20.01.2012, báo “Neuen Presse” cho biết, Olaf Glaeseker tích cực tham gia tổ chức cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog, tập hợp được 44 sinh viên giúp đỡ, và được chính phủ tiểu bang hỗ trợ tài chính, ngược với những gì chính phủ tiền nhiệm Wulff phủ nhận. Ngày 22.01.2012, đoàn nghị sỹ đảng SPD tiểu bang Niedersachsen đòi đưa Wulff ra toà tối cao tiểu bang, với cáo buộc thông báo cho nghị viện tiểu bang sai chi phí về cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog. Ngày 24.01.2012, tạp chí NDR cho biết, chính Wulff đã thông qua văn phòng chính phủ lúc đó kêu gọi quyên góp cho cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog. Nghĩa là Wulff hoàn toàn biết trước vấn đề hỗ trợ tài chính cho cuộc gặp gỡ tư nhân này, không đúng như đã phủ nhận trước đây.   Ngày 26.01.2012, người phát ngôn của Tổng thống, ông Olaf Glaeseker, bị Viện Kiểm sát lấy lệnh toà án lục soát toàn bộ văn phòng Tổng thống, nơi Olaf Glaeseker làm việc, thu giữ mọi dữ liệu máy tính và hồ sơ cần thiết. Ngày 02.02.2012, báo “Berliner Zeitung” và “Frankfurter Rundschau”, đưa tin chiếc ô tô Audi thuộc thế hệ mới đưa ra thị trường sau đó 1 tháng do vợ chồng Wulff sử dụng không phải trả tiền từ hè 2011. Luật sư riêng của Wulff giải thích đó là tiêu chuẩn hãng Audi ưu đãi cho những nhân vật nổi tiếng. Viện Kiểm sát phải vào cuộc để xác minh. Ngày 08.02.2012, báo NDR và sau đó báo Bild đưa tin về 2 chuyến du lịch của Wullf năm 2007 và 2008 được nhà sản xuất phim Groenewold hỗ trợ khách sạn. Ngày 10.02.2012, báo NDR cho biết tiếp, năm 2005, Wulff sử dụng máy điện thoại cầm tay của Groenewold. Luật sư của Groenewold giải thích hoá đơn cuộc gọi vẫn chuyển cho Wulff thanh toán. Ngày 11.02.2012, Chính phủ tiểu bang Niedersachen giải trình, tiểu bang nhận phí khách sạn cho Wulff thủ hiến lúc đó tham gia lễ hội phim 2010 tại München, và yêu cầu gửi hoá đơn tới để thanh toán. Nhưng hãng tham gia tổ chức đã trả chi phí đó cho cả 2 vợ chồng. Đồng thời chính phủ Wulff lúc đó đã hứa sẽ bảo lãnh cho hãng đầu tư phim Groenewold 4 triệu Euro. Lập tức, ngày 16.02.2012, Viện kiểm sát Hannover đệ đơn lên quốc hội Liên bang đề nghị hủy quyền miễn trừ truy tố đối với tổng thống để điều tra vì có đủ chứng cứ nghi vấn phạm pháp. Sức ép dư luận, chính trường và công tố ngày một nặng có nguy cơ bị phế truất.   *Buộc phải từ chức, Wulff đối mặt với quan sự  Giữa phế truất và từ chức, danh dự, quyền lợi hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, những người có nhân cách bao giờ cũng chọn con đường từ chức. 11 giờ, ngày 17.02.2012, Wulff tuyên bố từ chức với lý do chính trị, không còn được dân chúng tin tưởng để hoàn thành sứ mệnh tổng thống. Mặc dù, điều đó đồng nghĩa quyền miễn trừ cho tổng thống tự động bị mất. Quyết định điều tra Wulff của Viện Kiểm sát ngay trong đêm đó được ban hành. Cựu Tổng thống Wulff chính thức phải đối mặt với cơ quan tư pháp. Hệ lụy tiếp theo, ngày 29.02.2012, Quốc hội Đức phải thảo luận, liệu Wulff có được hưởng tiêu chuẩn đài thọ tổng thống 199.000 Euro/năm sau khi thôi chức vụ hay không (khác với phế truất, bị mất tất cả). Cả văn phòng tổng thống lẫn chuyên gia ngân sách Quốc hội đều ủng hộ, bởi Wulff từ chức vì lý do chính trị, mặc dù kết qủa thăm dò dư luận bị đa số người dân chống lại.  Ngày 02.03.2012, Viện kiểm sát Hannover cho lục soát văn phòng và nhà riêng của Wulff thu giữ máy tính. Một ngày trước đó họ tiến hành đối với Groenewold. Ngày 22.06.2012, Viện Kiểm sát Hannover ra quyết định đòi Wulff làm chứng trong vụ điều tra Olaf Glaeseker nguyên phát ngôn của Wulff bị cáo buộc tội nhận hối lộ. Ngày 27.06.2012, Thanh tra chính phủ Niedersachsen công bố kết luận, chính phủ tiểu bang không chi tiền thuế của dân cho cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog mà do nhân viên văn phòng chính phủ tự nguyện hỗ trợ. Ngày 27.07.2012, Viện Kiểm sát mở rộng điều tra Wulff sang thời kỳ làm thủ hiến đã cố gắng vận động giảm thuế cho ngành bảo hiểm.  *Bê bối chính trị „dây“ sang cả gia đình  Tin đồn Bettina có quá khứ làm việc trong nhà thổ hồi năm 2006 đăng tải trên báo SZ đã buộc Bettina vợ Wulff, ngày 08.09.2012 phải viện tới toà án chống lại. Ngày 08.09.2012, Günther Jauch tài tử MC của Đài truyền hình ARD phải viện đến luật sư bác bỏ cáo buộc của Bettina cho rằng ông đã tung tin sai về quá khứ mình, và khẳng định ông chỉ đơn thuần trích đọc một đoạn trên báo Berliner Zeitung. Ngày 10.06.2013, tới lượt tạp chí “Bunte” bị toà án Landgericht Köln phán thua kiện, cấm đưa tin Wulff có quan hệ tình ái với nữ nhạc sỹ Sabine S.   *Hạnh phúc đổ vỡ  Ngày 07.01.2013, vợ chồng Wulff thuận tình ly hôn. Cả hai đều có quyền chăm sóc đưá con trai chung Linus 4 tuổi. Ngôi nhà riêng ở Großburgwedel do Bettina cùng 2 con chung và riêng sinh sống, còn Wulff chuyển về Hannover thuê nhà ở. Tròn 2 tháng sau khi ly thân, ngày 07.03.2013, vợ chồng Wulff quyết định bán ngôi nhà riêng ở Großburgwedel. Tới ngày 08.08.2013, ngôi nhà được bán với giá 650.000 Euro, tiền thu được thuộc về Wulff, lãi 235.000 Euro chỉ sau 5 năm. Người mua là chủ doanh nghiệp của một chuỗi cửa hàng ăn nhanh.   *Lần lượt bị truy tố  Ngày 06.03.2013, Viện Kiểm sát quyết định sẽ truy tố phát ngôn viên tổng thống Olaf Glaeseker với cáo buộc nhận hối lộ liên quan tới 3 cuộc gặp gỡ Nord-Süd-Dialog 2007,2008, 2009. Còn nhà tổ chức sự kiện Manfred Schmidt bị truy tố tội hối lộ. Ba cuộc gặp gỡ đã đem lại cho  Manfred Schmidt lãi 1 triệu Euro. Đổi lại, Olaf Glaeseker được Manfred Schmidt mời nghỉ hè tại Pháp và Tây Ban Nha 9 lần với tổng số 19 chuyến bay tổng cộng lên 12.000 Euro.  Ngày 09.03.2013, Viện Kiểm sát chính thức quyết định nâng tội danh cáo buộc đối với Wulff và David Groenewold ban đầu chỉ là vụ lợi và mua chuộc thành nhận hối lộ và hối lộ. Ngày 22.03.2013, Viện Kiểm sát đề nghị 2 bị cáo lựa chọn phương án pháp lý được gọi là thoả thuận tay ba giữa toà án, viện kiểm sát và luật sư của bị cáo. Theo đó, cả hai sẽ không bị truy tố trước toà tội danh trên, nếu đồng ý nhận trách nhiệm pháp lý hành vi của mình, Wulff chịu nộp phạt 20.000 Euro, và David Groenewold chịu 30.000 Euro.   Ngày 09.04.2013, luật sư của Wulff trả lời từ chối và đòi đình chỉ vụ án vô điều kiện, cho rằng cáo buộc không có cơ sở, và Wulff tin tưởng sẽ có người làm chứng, giải toả được cáo buộc đó.    Ngày 12.04.2013, lần đầu tiên trong lịch sử Đức, một cựu Tổng thống bị Viện Kiểm sát đề nghị toà truy tố tội nhận hối lộ lúc đương nhiệm. Ngày 30.06.2013. báo”Bild am Sonntag” đưa tin, luật sư của Wulff đã đệ đơn dày 66 trang đáp lại cáo trạng của Viện Kiểm sát, nhằm bác bỏ tội danh nhận hối lộ. Ngày 27.08.2013, Toà án Landgericht Hannover quyết định truy tố Wulff và dự kiến phiên xét xử đầu tiên vào ngày 1.11.2013. Lần đầu tiên lịch sử Đức chứng kiến một cựu tổng thống phải ra toà. Ngày 06.09.2013, toà cũng chấp thuận đơn của Viện Kiểm sát đề nghị truy tố Olaf Glaeseker và Martin Schmidt tội nhận hối lộ và đưa hối lộ. Tới ngày 20.09.2013, Toà án Landgericht Hannover cho lùi phiên xét xử Wulff tới ngày 14.11.2013 theo đề nghị của các luật sư do họ bị vướng vào các lịch xét xử khác. Toà dự kiến lịch xét xử tổng cộng 16 phiên kéo dài 8 tuần. Tội danh cáo buộc Wulff được toà chuyển từ nhận hối lộ sang vụ lợi, còn nhà sản xuất phim David Groenewold được chuyển từ hối lộ sang tạo điều kiện vụ lợi. Bằng chứng cho tội danh trên là vụ vợ chồng Wulff tham dự lễ hội tháng 10.2008 tại München được David Groenewold nhận thanh toán một phần chi phí, gồm tiền khách sạn tại Bayerischen Hof và quà tặng, tổng cộng 759,30 Euro, đối lại Wulff đã vận động được tập đoàn Siemen tài trợ cho dự án phim „John Rabe“ của David Groenewold.  Sau bao cuộc điều tra chấn động dư luận, tới nay chỉ mỗi vụ việc trên được thẩm định có dấu hiệu hình sự, còn lại không đủ bằng chứng kết luận. Nhưng các thẩm phán không chỉ muốn xác định mỗi vụ việc trên, mà toàn bộ mọi nghi vấn về Wulff liên quan tới  nhà sản xuất phim David Groenewold. Theo cáo trạng, ngoài chi phí tham dự lễ hội, Wulff còn nhận được nhiều thứ khác từ Groenewold. Nhiều quà tặng trước giờ chưa nhắc tới được liệt kê, như những buổi tiệc do Groenewold chiêu đãi Wulff mời tới hàng trăm khách, hay những bữa ăn Groenewold tổ chức tại Berlin, Sylt và Capri khi đi quay phim bầu cử cho Wulff năm 2005.   Trước toà, Wulff sẽ phải giải thích, những quà tặng nào ảnh hưởng đến quyết định và phạm vi quyền lực của mình. Mặc dù chỉ mỗi vụ vận động tài trợ cho dự án phim „John Rabe“ được coi là bằng chứng thu lợi, toà án muốn biết nhiều hơn nữa về mối quan hệ tình bạn giữa Wulff và Groenewold. Để chứng minh cho điều này, cần đến rất nhiều nhân chứng, văn bản, hoá đơn và tin nhắn. Groenewold là khách thường xuyên của Wulff tại văn phòng cũng như nhà riêng. Tổng số hồ sơ đính kèm cáo trạng lên tới 20.000 trang, chỉ đánh máy thôi đã cần tới ít nhất 236 ngày suốt cả 24 tiếng. Riêng xác định trị giá tiền khách sạn David Groenewold trả thay cho Wulff cũng là một công trình, bởi không xác định được hoá đơn nào do Groenewold trả thay cho Wulff mà chỉ căn cứ vào thống kê giá. Groenewold trình báo thanh toán bình quân cho khách sạn là 250 Euro/đêm. Để thẩm định, Viện Kiểm sát tập hợp 12 hoá đơn thanh toán phòng nghỉ dạng đó từ năm 2006-2008 cho kết qủa giá phòng lên tới 377 Euro. Tới lượt luật sư của Groenewold phản bác lại kết qủa trên, cho là mức bình quân đó tính theo cả phòng VIP và phòng 2 người, đồng thời đưa ra 39 hoá đơn thanh toán từ năm 2005-2011 cho kết qủa giá bình quân chỉ 276,63 Euro. Để  đi đến một phiên toà có thể kết tội được ở Đức quả là công phu. Bởi toà có quyền định đoạt tội trạng nhưng cũng như tổng thống, đó không phải quyền của vua chuá mà nhân danh nhân dân (riêng ở ta là nhân danh nhà nước khi tuyên án), mà như vậy quyền đó có được người dân  tâm phục khẩu phục hay không hoàn toàn nằm ở chứng cứ và tranh tụng. Xử án vì vậy trước hết là một công trình khoa học, hoàn toàn không phải nơi áp đặt quyền lực – điều bắt buộc trong một nhà nước dân chủ pháp quyền !  *Chủ toạ phiên toà  Chánh án Frank Rosenow, sinh năm 1959, đồng môn với Christian Wulff, có vợ và 1 con trai trưởng thành, sống không quá xa thủ phủ Niedersachsen. Vào thập kỷ 80, Fank Rosennow vào học ngành Luật tại Göttingen, còn Wulff thì tại Osnabrück. Năm 1990 Rosenow làm việc trong ngành luật và trở thành thẩm phán toà án thành phố Landgericht Stade. Năm 2002 ông làm hội thẩm toà án tiểu bang tại Celle. Từ 2010 ông làm chánh án toà án thành phố Hannover. Một công việc không phải lúc nào cũng như mơ. Các vụ như giết người tại nhà ở xã hội nam giới, cướp tại trạm xăng, xúc phạm, đe doạ và nhổ nước bọt vào nhân viên công lực là những vụ án do Frank Rosenow làm chủ tịch hội đồng xét xử gần nhất. Ông nổi tiếng, khi cho phép mang vào toà 1 chai rượu pha cồn Metanol, tiếng Đức Billig-Fusel (vốn bị cấm) để con nghiện làm nhân chứng có thể tiếp tục trả lời thẩm vấn. Liệu đó có phải là 1 dấu hiệu tốt cho Wulff, trước khi tham gia chính trường từng được coi là 1 luật gia vô cùng chuẩn xác và không phạm lỗi hay là điềm xấu cho 1 chính trị gia hàng đầu đã không chối bỏ nổi cám dỗ đời thường?   Chưa ai có thể trả lời, nhưng đều hy vọng sẽ có 1 vụ xét xử công minh và nhân văn với Wulff. Bởi một nhà nước dân chủ pháp quyền có khả năng bảo đảm được điều đó, nếu không nó đã không thể đưa nổi tổng thống ra toà chỉ vì vụ lợi 759,30 Euro, như bất kỳ công dân nào vi phạm – phản ảnh rõ nhất quyền  bình đẳng trước pháp luật mà nhân loại đã và đang đeo đuổi không ngưng nghỉ từ khi nhà nước xuất hiện bằng cả xương máu họ dâng hiến !        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng để tăng trưởng kinh tế tiếp tục song hành với tiêu cực xã hội      Tin vui GDP năm nay tiếp tục tăng trưởng trên 8% không hề làm hạ nhiệt nổi bức xúc của các đại biểu Quốc hội khi phải đối mặt với câu hỏi: kinh tế tăng trưởng mạnh mà sao lòng dân không yên? Thật ra đây không hoàn toàn là một nghịch lý. Nên phải thận trọng: đẩy tốc độ tăng trưởng lên cao nữa có thể lợi sẽ bất cập hại.         Trong giai đoạn đầu phát triển, tăng trưởng kinh tế song hành với tiêu cực xã hội thường khó tránh khỏi  Simon Kuznets, người Mỹ gốc Ukraine, Nobel kinh tế năm 1971, là người đã chứng minh điều này qua hiện tượng phân hoá giàu nghèo. Theo ông, phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường diễn biến theo GDP theo ba nhánh của hình chữ U lộn ngược. Thoạt đầu, khi GDP còn thấp, chênh lệch về thu nhập giữa người giàu và nghèo gia tăng theo đà tăng trưởng kinh tế, sau đó chững lại và cuối cùng, khi mức sống của người dân đủ cao, chênh lệch giàu nghèo sẽ thu hẹp dần trong khi nền kinh tế cứ tiếp tục tăng trưởng.     Người ta gọi điểm khởi đầu nhánh thứ ba của chữ U lộn ngược là “điểm đảo Kuznets”. Các nước tư bản Âu Mỹ đạt đến điểm đảo Kuznets về phân hoá giàu nghèo từ đầu thế kỷ XX. Hiện nay, ở đó 20% người giàu nhất cũng chỉ thu nhập cao hơn 20% người nghèo nhất có 4-6 lần, trong khi ở các nước nghèo khổ nhất thế giới như Trung Phi, Siera-Leone bội số này lại lên đến 30, thậm chí 50 lần. Đương nhiên, những nhân tố chi phối sự phân hoá giàu nghèo ở các nước hiện nay không hoàn toàn giống với những gì xảy ra ở các nước tư bản trước đây.  Cách đây chừng 20 năm, tiếp thu ý tưởng Kuznets, một số nhà khoa học đã chứng minh rằng tàn phá môi trường cũng diễn biến theo GDP theo hình chữ U lộn ngược. Khảo sát ô nhiễm không khí do công nghiệp hoá từ nhiều nước trên thế giới, người ta thấy hàm lượng các khí độc như SO2, NO2 cứ tăng lên cho đến khi GDP trên đầu người đạt đến khoảng 2000 – 3000 USD mới bắt đầu giảm. Các nước tư bản phát triển đã vượt qua điểm đảo này vào thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước. Ngày nay môi trường của họ tốt hơn rất nhiều, lại tiếp tục được cải thiện, trong khi ở các nước nghèo khó tình hình ngày một tồi tệ.   Có thể nêu ra những nhân tố chi phối mối tương quan giữa tàn phá môi trường và tăng trưởng kinh tế theo hình chữ U lộn ngược như sau. Ban đầu, phương cách “cạnh tranh sinh tồn” dễ nhất trong cơ chế thị trường tự do là xâm hại đến môi trường để sống sót và tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng tăng trưởng theo cách đó không bền vững, của cải làm ra không bù đắp nổi những tổn thất về môi trường mà người dân và thế hệ mai sau phải gánh chịu. Càng ngày người dân và Chính phủ càng ý thức được hiểm hoạ này, nên luật pháp nghiêm minh sẽ phải vào cuộc, tiền của được chi ra đầu tư thích đáng để bảo vệ môi trường. Và điểm đảo sẽ xuất hiện. Ngân Hàng Thế Giới chính thức nhìn nhận mô hình chữ U lộn ngược trong chính sách của mình về quan hệ giữa ô nhiễm môi trường với tăng trưởng kinh tế.  Dựa trên bức tranh kinh tế – xã hội xuyên quốc gia mà các Tổ chức Quốc tế thống kê hằng năm, người ta cũng thấy rằng nhiều mặt tiêu cực xã hội khác như HIV/AIDS, tội phạm, tham nhũng v.v…, đều tuân theo mô hình chữ U lộn ngược. Đương nhiên, đây chỉ là quy luật thống kê, không chính xác như các quy luật tất định trong khoa học tự nhiên. Nhưng như thế cũng đủ kết luận rằng trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế song hành với tiêu cực xã hội là xu hướng khó tránh khỏi.     Nhưng phải nhanh chóng đạt đến điểm đảo  Vấn đề của các nước chậm phát triển là làm sao sớm từ giã nhánh thứ nhất của hình chữ U lộn ngược để nhanh chóng đạt đến điểm đảo Kuznets, kể từ đó tăng trưởng kinh tế mới thật sự có chất lượng. Đuổi theo tăng trưởng GDP bằng mọi giá, ta có thể đạt đến những mức thu nhập khá cao mà người dân vẫn sống không yên, điểm đảo vẫn chưa xuất hiện, đất nước vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chậm phát triển.   Đây chính là bài toán của chúng ta hiện nay. Tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong nhiều năm qua tiếp tục làm gia tăng phân hoá giàu nghèo, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, tàn phá môi trường, HIV/AIDS, nạn tham nhũng, hối lộ, lãng phí, mua quan bán chức v.v… Bao nhiêu án tử hình không hề làm đám con buôn ma tuý chùn bước. Nỗ lực từ các ngành giao thông, cảnh sát và cả xã hội không chặn đứng tai nạn giao thông tiếp tục gia tăng, hiện nay trung bình có đến 40 ca tử vong hằng ngày (theo công bố của Bộ Y tế), cao nhất thế giới.  Vòng xoáy tiền, quyền và hư danh vượt ra ngoài tầm kiểm soát khiến hàng giả đủ chủng loại có mặt khắp nơi và xã hội đen đang rình rập những cơ quan quyền lực. Cuộc sống tiềm ẩn những bất an và đầy rủi ro. Thêm vào đó, được- thua là trò may rủi, không tùy thuộc vào khả năng con người, khiến cúng bái và bói toán tràn lan, đền chùa thành nơi để một số người buôn thần bán thánh, không còn chỗ cho cuộc sống tâm linh đích thực.  Nhận dạng đúng đắn những nhân tố chi phối mối tương quan giũă tăng trưởng kinh tế và tiêu cực xã hội nói trên cần phải được các chuyên gia kinh tế và xã hội học nghiên cứu nghiêm túc vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Luật pháp, dân chủ và dân trí chắc chắn sẽ phải nằm trong đáp số của bài toán. Nhưng trước hết, cần phải xem xét lại chính sách đuổi theo tốc độ tăng trưởng GDP bằng mọi giá.  GDP có sẵn chỗ cho tiêu cực xã hội  Tốc độ tăng trưởng GDP thường được xem là tiêu chí tối thượng, độc tôn, một thứ pháp lệnh bất di bất dịch  đến nỗi nếu con số lẻ đứng sau dấu phảy mà không đạt được thì Chính phủ sẽ khó ăn nói với Quốc hội và nhân dân. Trong khi đó, tiêu chí để dánh giá các tiêu cực xã hội và chất lượng tăng trưởng lại chưa được lượng hoá. Đây chính là một trong những xuất phát điểm của bệnh thành tích, cho nên mới có chuyện lạ là tỉnh nào cũng đều tăng GDP trên 10%/năm, hơn con số 8%/năm của cả nước.   Vì chỉ số GDP không nhận dạng được các tiêu cực xã hội nên trong điều kiện hiện nay chúng tha hồ lọt qua cổng thống kê của nhà nước và quốc tế. Cầu Văn Thánh xây ẩu cũng có mặt trong GDP như một cây cầu xây nghiêm chỉnh. Đã thế, lượng xi măng, sắt thép, xăng dầu, nhân công tăng thêm để phá nó đi làm lại cây cầu mới cũng sẽ góp mặt vào GDP. Tham nhũng, hối lộ dường như đang đóng góp vào tốc độ tăng trưởng, bởi chúng là một thứ dầu bôi trơn cho cỗ xe kinh tế. Ở một tỉnh nọ, đơn vị nộp ngân sách nhiều nhất là công ty sản xuất thuốc lá. Cơ quan thống kê không cần biết thuốc lá lợi hay hại. Đám thanh thiếu niên hút thuốc lá gây tệ nạn xã hội, sinh bệnh hoạn, cần thuốc men và bệnh viện chữa trị, lại góp thêm một con số cộng nữa vào GDP.  Tàn phá môi trường do tăng trưởng GDP quá nóng không hề để lại dấu trừ trong bảng thống kê. Ngược lại, từ nay nhà nước phải bỏ ra 1% ngân sách (3500 tỷ đồng năm nay) để khắc phục suy thoái môi trường. Con số này chẳng thấm tháp gì. Các chuyên gia ước tính Trung quốc giờ đây phải bỏ ra 30 tỷ USD để khắc phục khói bụi bay ra từ các nhà máy nhiệt điện chạy than của họ.     Cần thể chế hoá một hệ thống tiêu chí phát triển KTXH mới  Cho nên, phải xếp ngang hàng GDP với một số tiêu chí khác, và căn cứ vào chúng để đánh giá thành tích phát triển của đất nước. Rồi lại phải đem các tiêu chí ấy đặt lên mặt bằng chung của thế giới để biết ta đang đứng ở đâu và đi về đâu. Đã có không ít chuyên gia cảnh báo việc này (đáng chú ý nhất là các bài viết của TS Vũ Quang Việt, chuyên gia cao cấp về thống kê của Ngân hàng Thế giới).    Trước hết, cần chú ý đến những tiêu chí phức hợp mà các tổ chức quốc tế hiện nay đang thống kê. Hơn 15 năm qua, UNDP đã theo đuổi việc xếp hạng chất lượng phát triển con người ở các nước bằng chỉ số HDI (human development index). HDI là một chỉ số phức hợp bao gồm GDP, tuổi thọ trung bình và trình độ phổ cập giáo dục dựa trên số người biết chữ và số thanh thiếu niên đến trường. Trong từng lãnh vực cũng có các tiêu chí phức hợp, như chỉ số cạnh tranh về hàng hoá, năng lực công nghệ, các tiêu chí xếp hạng giáo dục v.v…   Nhưng khi tệ nạn tham nhũng và lãng phí đang tràn lan như hiện nay, để bảo đảm tăng trưởng có chất lượng, cần nên đề cao các tỷ số so sánh GDP với đầu vào của nó như vốn đầu tư, tiêu hao năng lượng, môi trường, tài nguyên, nợ nước ngoài, đóng góp của khoa học công nghệ, vai trò kinh tế tư nhân v.v… Nhiều tiêu chí này đã trở thành những khái niệm cơ bản trong kinh tế học vĩ mô.   Cần đưa thêm những tiêu chí gì là việc của các chuyên gia kinh tế. Chỉ xin nêu ra vài thí dụ. Chẳng hạn, hiệu quả đầu tư được đo bằng tỷ số ICOR (Incremental Capital – Output Ratio). Tỷ số này của Việt nam (= 5) hiện đang quá lớn so với nhiều nước khác. Cho nên, giảm tỷ số ICOR phải được xem là thành tích của Chính phủ trong cố gắng khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả hiện nay.   Thất thoát điện là vấn nạn kinh tế của chúng ta. Hệ số đàn hồi điện năng của chúng ta rất lớn, chẳng giống ai. Hệ số đàn hồi là tỷ số giữa tốc độ gia tăng điện năng với tốc độ tăng trưỏng GDP. Nó bằng 2 ở nước ta, trong khi đa số các nước khác chỉ bé hơn 1. Điện năng của ta lại sử dụng rất ít hiệu quả, tiêu thụ 1 kWh chỉ làm ra 1 USD, vào loại thấp nhất trên thế giới.  Nâng hiệu quả sử dụng điện năng lên chẳng những giúp cắt giảm những khoản đầu tư khổng lồ để xây nhà máy mới, môi trường tài nguyên bớt bị xâm hại, mà cơ cấu kinh tế sẽ được cải thiện theo hướng tăng thành phần công nghệ cao và chất xám, xoá bỏ tình trạng bơm năng lượng một cách phung phí vào cỗ xe kinh tế hiện nay.  Lại không nên đẩy tốc độ tăng trưởng GDP lên quá cao  Tôi biết rất nhiều người luôn cỗ suý, thậm chí bức xúc, tại sao ta không đẩy tốc độ tăng trưởng GDP lên cao hơn nữa, thậm chí trên hai chữ số (trên 10%/năm). Vấn đề này rất cần được thảo luận nghiêm túc. Bởi không phải chỉ trả lời câu hỏi có thể tăng nhanh hơn không và tăng bằng cách nào, mà quan trọng hơn là đất nước sẽ được gì và mất gì?  Khi mà hiệu quả tăng trưởng so với đầu vào đang ở mức đáng lo ngại, khi mà tiêu cực xã hội đang tiếp tục gia tăng, thì chủ trương đẩy tốc độ tăng trưởng GDP lên quá cao có thể sẽ nguy hiểm. Nhất là chừng nào mà GDP vẫn được xem là tiêu chí tối thượng và độc tôn. Nó sẽ không giúp chúng ta sớm chia tay với tiêu cực xã hội và thoát khỏi tình trạng kém phát triển, mà ngược lại.   Nhưng tốc độ tăng trưởng bao nhiêu thì hợp lý? Lại chỉ các chuyên gia nắm đầy đủ số liệu thống kê mới có thể trả lời và tham mưu cho Chính phủ về câu hỏi này. Nhưng có thể cảm nhận rằng trong tình hình hiện nay không nên quá 8-8,5%/năm, trừ trường hợp có những đột xuất như đầu tư nước ngoài ồ ạt trong lãnh vực công nghệ cao hoặc phát hiện ra những mỏ dầu khí rất lớn ngoài thềm lục địa. Giữ ở tốc độ 8-8,5%/năm mà tiêu cực xã hội từng bước bị đẩy lùi còn hơn là đạt hai chữ số tăng trưởng mà hậu quả nhỡn tiền là tiêu cực xã hội ngày một lan tràn.   Có hai cơ sở để tin rằng con số 8-8,5% là hợp lý. Trước hết, đó là những gì mà ta đã nỗ lực trong nhiều năm qua. Thứ hai là bài học của Trung quốc. Năm ngoái Quốc hội Trung quốc phải thông qua nghị quyết hãm tốc độ tăng trưởng từ hai chữ số xuống còn 8%/năm. Tiếc thay, thời gian chưa đủ để chủ trương này biến thành hiện thực ở một đất nước rộng bao la như Trung quốc. Cho nên tăng trưởng GDP năm nay lại vẫn cao và họ lại quyết tâm hạ xuống trong năm tới.      Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng quá ảo tưởng      Sự kiện Bill Gates đến Việt Nam (VN) đã tạo được một sự quan tâm lớn trong cuộc sống của ngành công nghệ thông tin (CNTT) nước nhà. Chắc chắn nó sẽ trở thành một trong 10 sự kiện CNTT quan trọng nhất của năm 2006 nhưng thực sự thì chuyến viếng thăm của Chủ tịch Microsoft sẽ mang lại cái gì cho ngành CNTT VN? Liệu CNTT VN sẽ có được sự phát triển đột biến sau chuyến thị sát ngắn ngủi này? Chúng ta sẽ tận dụng được gì và có thể mất gì sau chuyến thăm viếng này?        Vài tuần nay, các báo đài đưa khá nhiều tin và bình luận về chuyến viếng thăm của Bill Gates. Đại đa số đều cho rằng, sự kiện này cùng với sự kiện Intel đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất chip tại VN, chúng ta đã trở thành một hướng đầu tư đầy triển vọng của các hãng lớn trên thế giới trong ngành CNTT. Theo tôi, chúng ta cần phải đánh giá, phân tích thật kỹ lưỡng và khách quan các sự kiện này để hiểu chính xác chúng ta đang ở đâu, chúng ta cần phải làm gì để có thể tận dụng mọi cơ hội và phát triển được ngành CNTT nước nhà. Điều quan trọng là chúng ta phải gạt bỏ mọi ảo tưởng, như đã và đang có về trí thông minh “đặc biệt” của người VN (với việc đoạt nhiều giải cao tại các kỳ thi toán, lý, tin học quốc tế) hay chúng ta có thị trường lao động rẻ và môi trường đầu tư thuộc loại tốt nhất (rẻ thật nhưng chưa chắc đã hiệu quả). Một chuyên gia về đầu tư thương mại của Mỹ phát biểu về việc Intel đầu tư tại VN: “Các bạn không nên quá ảo tưởng. Việc Intel chọn đầu tư ở VN là một cơ hội cho các bạn, nhưng cơ hội này đã và đang có ở mọi nơi trên thế giới”. Nói một cách khách quan, tất cả những gì chúng ta đang có đều nằm ở dạng tiềm năng và đã là tiềm năng từ nhiểu năm nay. Nếu không biết khai thác và đánh giá đúng các cơ hội, chúng ta sẽ lại chỉ biết an ủi mình rằng chúng ta là một đất nước có nhiều tiềm năng.                       Chúng ta cũng không nên quá ảo tưởng khi đánh giá ý nghĩa của sự kiện Bill Gates đến VN. Không phủ nhận những ảnh hưởng tích cực do chuyến viếng thăm của Bill Gates mang lại như phát triển và củng cố quan hệ ngoại giao; tạo ra sự chú ý nhất định của cộng đồng CNTT quốc tế với VN; tôn vinh nghề lập trình viên trong xã hội; tạo ra một sự phấn khích nhất định trong giới trẻ. Nhưng có thể nói rằng việc Bill Gates đến VN hầu như không mang lại một ích lợi cụ thể nào cho các doanh nghiệp CNTT. Bill Gates rất hiểu điều này, và trong chuỗi các cuộc gặp gỡ, nói chuyện, giao lưu trong ngày 22/04/2006, cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp CNTT VN là mắt xích yếu nhất. Bài phát biểu của Bill Gates khá chung chung, dừng ở mức có thể đã gặp ở đâu đó rồi, không có nhiều khác lạ so với bài phát biểu của ông ở những nơi khác và chẳng có gì có ích cho các doanh nghiệp CNTT VN.   Cuộc giao lưu sau đó lại càng chán hơn, nó như sự bẽ bàng và thất vọng của một cuộc hôn nhân qua môi giới. Cái tiêu đề của buổi gặp mặt  “Tương lai của phần mềm Việt Nam với tầm nhìn mới” chứng tỏ một sự kỳ vọng khá ảo tưởng của các nhà tổ chức. Thực tế không có một điều gì có ích cho phần mềm VN được nêu ra ở đây, ngoài những điều rất chung chung mà ai cũng biết hoặc đã đọc ở đâu đó. Điều thú vị nhất trong buổi gặp gỡ chính là phần demo (trình diễn thử) các tính năng mới thực sự ấn tượng của Windows Vista và Office 2007 nhưng điều này vô tình lại đặt thần tượng của thế hệ trẻ vào vai… một anh bán dạo, với mục đích chính của buổi nói chuyện là rao bán sản phẩm.  Tất nhiên là Bill Gates và Microsoft chẳng có lỗi gì ở đây cả, họ đã làm rất xuất sắc sứ mệnh của mình. Các doanh nghiệp CNTT đối với Microsoft không phải là đối tượng chính của chuyến viếng thăm VN mà là các nhà chính sách (để đẩy mạnh vấn đề thực thi bản quyền), khách hàng lớn (Bộ Tài chính hay nhà cung cấp phần cứng CMS), khách hàng tiềm năng (sinh viên và nông dân ở Bắc Ninh). Tóm lại Bill Gates vẫn coi VN chỉ là một thị trường với đông đảo khách hàng tiềm năng (chưa sử dụng hoặc đang sử dụng lậu phần mềm của họ) chứ không phải là nơi tìm kiếm cơ hội hợp tác hoặc đầu tư.                   Giao lưu với các doanh nghiệp CNTT              Hiểu rõ đối tác có gì và mong muốn gì chính là yếu tố then chốt quyết định thành công trong mọi cuộc đàm phán. Hiểu rõ mục đích chuyến đi của Bill Gates sẽ giúp chúng ta xây dựng một mối quan hệ đúng mực, hai bên cùng có lợi với Microsoft cũng như các tập đoàn CNTT khác. Chúng ta đang có hơn 83 triệu dân với trên 4 triệu chiếc máy tính. Nếu mỗi máy bỏ rẻ mua bản quyền phần mềm của Microsoft với giá trị 500 USD thì đã có thể tạo ra một doanh thu không nhỏ ngay cả với người khổng lồ này. Việc thực thi nghiêm túc vấn đề bản quyền là vấn đề trước hay sau gì chúng ta cũng phải làm nếu muốn phát triển CNTT và gia nhập ngôi nhà chung thế giới. Vì vậy các nhà làm chính sách và ngoại giao của VN, thay vì lợi ích ngắn hạn và không hiện thực như xin hỗ trợ của Microsoft hay kêu gọi đầu tư, cần đàm phán để mang lại lợi ích lâu dài hơn cho VN như: đạt được một chế độ giá đặc biệt (đặc biệt cho ngành giáo dục) hay lộ trình hợp lý cho việc thực thi bản quyền. Thị trường chính là điểm quan tâm hàng đầu của Mr. Gates chứ không phải là cộng đồng các doanh nghiệp phần mềm với số lập trình viên vừa yếu vừa thiếu như hiện nay. Chúng ta cũng không thể trách Bill Gates về việc này vì lỗi là ở chúng ta. Các doanh nghiệp và nguồn nhân lực của chúng ta chưa đạt đủ tầm để Microsoft hay các hãng lớn khác coi là một đối tác thực sự và chiến lược. Nếu không ngay lập tức thay đổi và cải cách triệt để hệ thống giáo dục đào tạo để giải phóng nguồn nhân lực, tạo ra một thế hệ lao động tri thức kiểu mới theo chuẩn quốc tế – như chính lời khuyên của Bill Gates, chúng ta sẽ mãi chỉ là khách hàng (customer), thay vì trở thành đối tác (partner) của Microsoft như các doanh nghiệp CNTT VN mong đợi.    Nguyễn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đúng quy trình và quy trình đúng      Trong cuộc họp báo đầu tiên ngay sau khi nhậm chức, ngày 23 – 07 – 2016, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói: “Ta cứ nói đúng quy trình nhưng có thể không đúng tiêu chuẩn, cán bộ có xứng đáng ngồi ở vị trí đó không”. Đây là lời của một chính khách chính thức cất lên để phản ánh tình trạng thực hiện đúng quy trình nhưng lại đưa đến những kết quả tai hại đã rồi mà xã hội phải liên tiếp gánh chịu trong thời gian qua. Hi vọng rằng sau phát biểu tường minh này của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, những diễn ngôn thực hiện đúng quy trình sẽ được thực đổi thành thực hiện đúng quy trình một quy trình trình đúng.    “Ta cứ nói đúng quy trình nhưng có thể không đúng tiêu chuẩn…”. Ảnh: Vietnamnet.vn  Từ quan hệ nhân quảTiếng Việt có một hiện tượng thú vị mà không mấy ngôn ngữ trên thế giới có đó là hiện tượng đảo trật tự từ. Cùng là một số lượng từ ngữ nhất định song khi người ta đảo cái thứ tự tồn tại của các từ ngữ mà các nhà ngôn ngữ học hay gọi là trật tự từ thì chúng ta có thể có những cách thức và nội dung biểu đạt, quan hệ lô gích rất khác nhau. Ví dụ: đóng cửa -> cửa đóng, mở cửa -> cửa mở, xây nhà -> nhà xây, câu cá – > cá câu, rán gà -> gàn rán, quay vịt -> vịt quay,…Chúng ta có thể có vô vàn ví dụ kiểu này ở trong tiếng Việt, có thể gặp cách nói này ở bất cứ đâu và ở bất kì người nào. Hình thức thể hiện đơn giản và dễ dàng, dễ hiểu là vậy nhưng bên trong nó là cả một quá trình tư duy và lập luận lô gích rất nghiêm ngặt trong tiếng Việt của người Việt. Tất cả những từ ngữ nằm phía bên trái mũi tên là những từ ngữ nói về quá trình hay hoạt động; tất cả những từ ngữ đứng ở bên phải mũi tên nói về thực thể hay trạng thái: Phải có hành vi đóng cửa thì mới có trạng thái cửa đóng, phải có hành động mở cửa thì mới có trạng thái cửa mở, phải có hành vi xây nhà thì mới có sản phẩm nhà xây, phải đi câu cá thì mới có sản phẩm cá câu, phải rán gà thì mới có sản phẩm gà rán,…  Nói theo ngôn ngữ của lô gích học và của ngôn ngữ học thì quan hệ giữa những biểu thức nằm bên trái mũi tên và những biểu thức nằm bên phải mũi tên là quan hệ nguyên nhân – kết quả, gọi tắt là quan hệ nhân quả. Nguyên nhân là cái thường diễn ra trước kết quả (xây nhà – nhà xây), trong một số ít trường hợp nguyên nhân và kết quả là diễn ra đồng thời (đóng cửa – cửa đóng). Theo cách hiểu thông thường nhất, quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả này trong tư duy – ngôn ngữ của người Việt là quan hệ tất suy, có cái này ắt có cái kia, cái này giả định sự xuất hiện của cái kia, sự xuất hiện của cái này là kết quả của cái kia, cái này tồn tại dựa trên sự tồn tại của cái kia,… Cho nên, người Việt đã rất có lí khi nói rằng đóng cửa thì cửa sẽ đóng, rán gà  thì sẽ có gà rán, sơn tường sẽ thì sẽ có tường được sơn; và ngược lại,  cửa đóng vì có hành vi đóng cửa, có gà rán là do có hành vi rán gà, tường được sơn vì người ta sơn tường,…  Qua quan hệ phi nhân quả  Quan hệ lô gích nhân quả trong tư duy và lập luận như trên của người Việt được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hằng ngày. Nhưng việc đảo trật tự như thế có phải lúc nào cũng đưa đến quan hệ nhân quả hay không? Xét ví dụ: trong nhà – > nhà trong, dưới sông -> sông dưới, yêu vợ -> vợ yêu, đá bóng -> bóng đá,… Hình thức thể hiện của những biểu thức ngôn ngữ này cũng giống như trên, nhưng quá trình tư duy, lập luận bên trong của nó hoàn toàn khác những biểu thức trên. Chúng không phải là quan hệ lô gích nhân quả. Không phải vì có hành vi trong nhà mà có nhà trong, không phải vị có hành vi yêu vợ mà có vợ yêu,… Ai cũng có thể kể ra được vô số những ví dụ kiểu này một cách ngay tắp lự. Và dĩ nhiên, người Việt không ai hiểu quan hệ giữa hai vế của những trường hợp này là quan hệ nhân quả. Không có chuyện vì trong nhà nên có nhà trong, không có chuyện có sông dưới là do có dưới sông,… Và đặc biệt, cụ thể: Người Việt không ai ngây thơ hiểu và thực tế là không có cơ sở để hiểu quá trình đúng quy trình tồn tại dựa trên quy trình đúng, đúng quy trình có nghĩa là quy trình đúng,…  Nếu người ta nói rán cá đúng quy trình mà kết quả lại không có cá rán thì ngay lập tức người ta có thể nhận ra ngay được rằng quy trình rán cá ấy là quy trình sai, và cố nhiên, để có cá rán, người ta sẽ sửa ngay cái quy trình sai ấy để có thể có một quy trình đúng bằng cách xem xét số lượng, thành phần hay phẩm chất của những thành tố chất liệu làm nên quy trình ấy, xem xét lại người thực hiện quy trình ấy là người như thế nào,…  Đến một phương thức tư duy bao biện, nguỵ biện, và ngộ biệnẤy thế mà có những người có học hàm học vị rất cao, có tri thức rất nhiều, lập luận bình thường thì rất chặt chẽ, nói năng bình thường thì rất lưu loát,… Và đặc biệt, họ là những người luôn biết và luôn nghĩ, và cũng luôn cho rằng và đã luôn áp đặt rằng mọi người phải nói ra những thông tin đúng vào đúng thời điểm hay thời điểm đúng. Không được nói thông tin đúng vào thời điểm sai. Nói thông tin đúng sai thời điểm là có thể vi phạm một cái gì đó ví dụ như quy chế, quy tắc, chủ trương, chính sách,… Những người này là ai? Họ là những người luôn luôn nói ra quy trình đúng, họ làm đúng quy trình hay quy trình được triển khai đúng, họ xét tuyển đúng quy trình hay được xét tuyển đúng quy trình, họ phẫu thuật đúng quy trình hay quy trình được thực hiện đúng, họ xây đúng quy trình hay một cái gì đó được xây đúng quy trình, họ phá đúng quy trình hay quy trình phá được thực hiện đúng, họ bổ nhiệm hay được bổ nhiệm đúng quy trình, phê duyệt đúng quy trình hay quy trình phê duyệt được tiến hành đúng, vân vân và vân vân. Những la liệt diễn ngôn giải thích vuốt đuôi của những cán bộ đương chức đương quyền hay đã nghỉ hưu bị phát hiện hay bị cho là sai phạm, buông lỏng quản lí,…  trong thời gian vừa rồi là những minh chứng hùng hồn nhất cho điều này.  Chỉ có điều liệu lập luận, giải thích của họ có đúng? Tôi không cho là họ không phải là những người không hiểu hay không phân biệt được sự khác nhau về bản chất trong tư duy và lập luận lô gích của trường hợp đóng cửa – cửa đóng và trường hợp trong nhà – nhà trong. Vấn đề là ở chỗ nào? Vấn đề nằm ở chỗ họ nhận thức rất rõ ràng được rằng: đúng quy trình rất khác với quy trình đúng, thực hiện đúng quy trình hay quy trình được thực hiện đúng rất khác với quy trình thực hiện đúng, bổ nhiệm đúng quy trình rất khác quy trình bổ nhiệm đúng, phê duyệt đúng quy trình rất khác quy trình phê duyệt đúng,v.v. Họ đã cố tình đánh đồng cái quan hệ quy trình đúng và đúng quy trình là quan hệ nhân quả tất suy: đúng quy trình tất suy ra quy trình đúng giống như trường hợp rán gà  thì tất có gà rán. Họ đánh đồng đúng quy trình với quy trình đúng để bao biện, nguỵ biện, ngộ biện cho cái quy trình sai vốn rất không đúng của họ hay của một ai đó có ảnh hưởng đến họ, và quan trọng hơn, để họ lảng tránh cái việc xem xét lại cái quy trình mà họ thực hiện đúng ấy là một quy trình đúng hay quy trình sai, để họ tạm thời sửa sai cái việc làm đúng quy trình một quy trình sai của họ, để họ tiếp tục và ngang nhiên thậm chí là điềm nhiên, đương nhiên thực hiện đúng một quy trình sai để trục lợi cho cá nhân hay nhóm lợi ích của riêng họ.  Họ đánh đồng đúng quy trình với quy trình đúng để bao biện, ngụy biện, ngộ biện cho cái quy trình sai vốn rất không đúng của họ hay của một ai đó có ảnh hưởng đến họ để họ tiếp tục và ngang nhiên thậm chí là điềm nhiên, đương nhiên thực hiện đúng một quy trình sai để trục lợi cho cá nhân hay nhóm lợi ích của riêng họ.      Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Đừng sống với tâm trạng chống lũ      Lũ lụt ở ĐBSCL năm nay lớn chưa bằng năm 2000 nhưng đang làm cho nhiều người lo vì gây thiệt hại nhiều. Chúng tôi đã phỏng vấn TS LÊ ANH TUẤN – Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, Đại học Cần Thơ – xoay quanh vấn đề này.      Thưa ông, có phải vì năm nay mưa bão và triều cường nhiều nên lũ lụt ở ĐBSCL lớn như vậy?  TS Lê Anh Tuấn: Năm nay, số lượng các cơn bão không nhiều hơn so với trung bình nhiều năm trước, nhưng đặc điểm của các trận bão năm nay đều là bão lớn và đến với vùng biển và đất liền nước ta rất dồn dập trong một khoảng thời gian ngắn. Cụ thể từ cuối tháng 7 đầu tháng 8, trận bão số 3 (bão Nock-ten) với cường độ gió và gây mưa rất lớn ở vùng phía Tây dãy Trường Sơn và nước lũ lớn đổ vào sông Mekong, đoạn hạ Lào. Sau đó, 3 trận bão lớn gần như lần lượt xếp hàng vào nước ta là cơn bão số 4 (bão Haitang), bão số 5 (bão Nesat), bão số 6 (bão Nalgea) trong  thời gian chưa đến một tuần. Mưa lớn, nước tập trung nhanh và đổ xuống đồng bằng trùng với thời kỳ triều cường nên gây lũ lớn.      Nhưng mực nước thực tế không cao hơn lũ năm 2000, vậy sao lại bị thiệt hại nặng về lúa và đê bao như vậy?  Đúng vậy, nếu so sánh với năm 2000 thì lượng nước lũ năm 2011 chỉ tương đương khoảng 75 – 85% tổng lượng nước. Đến nay, chúng tôi chưa có đủ dữ liệu để so sánh mức độ thiệt hại giữa 2 năm lũ này vì tính chất và diễn biến của 2 trận lũ là khác nhau xa, nhưng cũng dễ thấy là diện tích lúa bị ngập và số đoạn đê bao bị vỡ năm nay là đáng kể.   Lý do dễ hiểu nhất là năm nay diện tích lúa vụ 3 và chiều dài các đê bao tăng lên rất nhiều so với năm 2000 khiến dòng chảy bị thu hẹp do diện tích thoát lũ ít hơn năm 2000. Nhiều nơi, qua quan sát thực địa và trao đổi trực tiếp với nông dân địa phương, nhiều người đều có nhận định là dòng nước lũ năm nay chảy mạnh hơn và dâng cao nhanh hơn. Ngoài ra, chúng tôi thấy hệ thống đê bao chống lũ nhiều nơi là không vững chắc, một phần vật liệu làm đê rất đơn giản, chủ yếu là đất đắp tại chỗ, thiếu đầm chặt và một phần các địa phương chủ quan qua nhiều năm không có lũ lớn nên việc gia cố bờ bao không được chú trọng lắm.  Trong đợt khảo sát lũ lụt tại Đồng Tháp và An Giang vừa rồi, ông có nói chỉ nên làm lúa vụ 3 ở vùng đất không trũng, có phải do tác hại của đê bao hay không?  Bản thân đê bao là một trong những cách ngăn lũ để tăng vụ, nhưng theo tôi, khi quyết định gia tăng diện tích canh tác vụ 3, chúng ta nên xem xét những vùng nào nên làm lúa vụ 3 như các vùng có địa hình tương đối cao, vùng gò. Còn những vùng trũng sâu trong vùng Đồng Tháp Mười và vùng tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên nên được lưu ý, cần giới hạn việc mở rộng diện tích lúa vụ 3 lại vì thực chất đây là những vũng trũng tự nhiên của ĐBSCL có chức năng chứa và điều tiết lũ cho cả vùng châu thổ.       Nhưng nếu như ta chủ động lịch thời vụ, làm lúa sớm và thu hoạch xong rồi xả lũ như Cần Thơ đã làm với gần 53.000 ha lúa vụ 3 năm nay thì nông dân vẫn được lợi cả lúa và phù sa chứ?  Cần Thơ và các tỉnh lân cận không phải là vùng đầu nguồn  ĐBSCL. Ở đây đất cao hơn và lũ đến trễ hơn nên việc làm lúa sớm khá phù hợp. Tuy nhiên cũng không thể đẩy thời vụ canh tác lúa (vụ hè thu) sớm hơn nhiều nữa vì sẽ đụng vào đầu mùa mưa, thường có rủi ro do hạn đầu vụ. Nông dân Cần Thơ không làm nhiều vụ 3 vì ở thời điểm tháng 9 lũ đã tràn về nhiều vùng này, tháng 9 cũng là tháng có triều cường lớn nhất trong năm. Kinh nghiệm những năm trước đây, các vùng giữa có mức ngập lụt gia tăng, mặc dầu các năm đó không phải là năm lũ lớn.   Cách giải thích được nhiều người chấp nhận nhất là do các tỉnh đầu nguồn làm đê bao khép kín quá nhiều khiến nước dồn cho các vùng giữa và vùng dưới nhiều hơn. Nông dân Cần Thơ rất có lý khi để đất nghỉ cho vụ 3 để tích lũy phù sa cho vụ đông xuân tới.   Như vậy, theo ông là nếu tính đủ chi phí cả về kinh tế và môi trường thì trong phát triển bền vững vẫn không nên bao đê triệt để làm lúa vụ 3 trong mùa lũ ở ĐBSCL?  Bấy lâu nay nhiều người tính lời – lãi trong canh tác lúa thường rất đơn giản là lấy số tiền mà nông dân bỏ ra cho canh tác lúa và sau đó so sánh với số tiền họ bán được lúa để tính lời lỗ. Cách tính này đã không xem xét đầy đủ các chi phí khác mà xã hội phải bỏ ra để làm đê bao, số người phải huy động để chống lũ, các xói lở, phá hoại công trình do dòng chảy lũ tự nhiên bị cưỡng bức thu hẹp và các gián đoạn hoạt động khác.   Người dân vùng ĐBSCL từ xưa đã nổi tiếng với khẩu hiệu “sống chung với lũ”, họ rất bình thản với “mùa nước nổi” như một nhịp sống đặc thù hằng năm. Nay, một khi bị chuyển sang trạng thái “sống với tâm trạng chống lũ”  thì khi đó, quan hệ giữa con người và thiên nhiên là từ sự hòa hợp chuyển sang đối đầu. Không nên lấy chiến lược “chống lũ” như là một biện pháp công trình chính yếu vì tổn thương về kinh tế – xã hội và môi trường ở quy mô tổng thể có thể sẽ phải nặng hơn, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu với những bất thường khó lường được đang diễn ra.     Thưa ông, Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu Đại học Cần Thơ đang làm gì với vấn đề này?  Chúng tôi cùng những nhà khoa học khác tiếp tục nghiên cứu các diễn biến khí tượng và thủy văn khu vực để có những cơ sở khoa học trong định hướng các giải pháp thích ứng tốt nhất cả về mặt sản xuất, đời sống, sinh kế và bảo vệ môi trường thiên nhiên cho người dân vùng ĐBSCL, không chỉ cho điều kiện hiện tại mà còn hướng đến tương lai xa hơn.1    Xin cảm ơn ông.              HUỲNH KIM thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đúng việc      Những thực trạng mà chúng ta nhìn thấy ngày nay của con người, của gia đình, của tổ chức và của xã hội đều bắt nguồn sâu xa từ việc có nhiều người không hiểu đúng và làm tốt những “công việc” của mình. Nhưng một câu hỏi vô cùng thách thức đặt ra là: “Việc” là việc gì? Và thế nào là “Đúng”.      Tôi cho rằng,“công việc” của bất kỳ ai trong đời cũng bao gồm làm người, làm dân và làm nghề và lựa chọn “đúng việc” hay “sai việc” của mỗi người trong từng “công việc” ấy sẽ làm nên cuộc đời của họ. Bởi lẽ, con người thì khác với muông thú và cỏ cây; con người tự do thì khác với con người nô lệ hay con người công cụ hay con người hoang dã; công dân thì khác với thần dân hay nô dân; người thầy thì khác với thợ dạy; trí thức thì khác với trí nô; nhà văn thì khác với bồi bút; sử gia thì khác với sử nô; lãnh đạo thì khác với cầm quyền; nhà quản trị thì khác với kẻ cai trị; doanh nhân thì khác với trọc phú hay con buôn… Nhưng làm sao lựa chọn nếu không hề biết đến sự tồn tại của những lựa chọn, không rõ đâu là sự khác biệt giữa chúng và đâu là “mình” giữa các lựa chọn đó? Làm sao có thể làm “đúng việc” khi chưa biết đâu là cái “đúng”? Làm sao “làm ra chính mình”, làm sao “hãy là chính mình” khi chưa biết “đâu là mình”?  Có thể thấy rằng, không phải ai sinh ra cũng có sẵn “năng lực làm người”. Vậy, “năng lực làm người” cụ thể là những năng lực gì? Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn bàn về hai loại năng lực tạm gọi tên là “năng lực khai minh” và “năng lực khai tâm”.  Năng lực khai minh có nghĩa là mở toang con người tăm tối, con người vô minh, giáo điều, ấu trĩ của mình ra để đưa ánh sáng của chân lý, sự thật và tự do vào. Triết gia Immanuel Kant từng nói: “Khai minh là việc con người đi ra khỏi sự không trưởng thành do chính mình tự chuốc lấy” (Bản dịch của học giả Bùi Văn Nam Sơn). Như vậy, con người cần phải thoát khỏi tình trạng “không trưởng thành” do chính mình tự gây ra cho bản thân, bắt đầu bằng việc tư duy lại, nhận thức lại những quan niệm của bản thân về những vấn đề quan trọng nhất trong cuộc đời như thế nào là con người, sống để làm gì, đâu là ý nghĩa của cuộc đời mình…  Còn khai tâm, nói đơn giản, đó chính là ta có một trái tim “có hồn”, một trái tim biết rung lên trước cái hay cái đẹp (nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy), biết thổn thức trước những nỗi đau, biết phẫn nộ trước cái sai, cái xấu và cái ác, một trái tim giàu lòng trắc ẩn. Một người mà không còn xúc cảm, không còn tin vào điều gì, nhất là những điều tốt đẹp trong cuộc đời này, cũng như không còn biết đau chung nỗi đau của con người thì về cơ bản, người đó đã “chết lâm sàng” hay có vấn đề về “nhân tính”.  Như vậy, có thể nói một cách hình tượng rằng để có thể “làm người” đúng nghĩa, mỗi cá nhân cần có một cái đầu sáng để minh định và một trái tim nóng để rung cảm. Và chỉ có sự tự vấn và hoài nghi không ngừng nghỉ về sự hiểu biết của chính mình mới có thể giúp con người khai phóng bản thân để có được “năng lực làm người” ấy.  Còn làm dân trước hết là làm một con người tự do và là một công dân có trách nhiệm. Trách nhiệm với cộng đồng và xã hội mà mình đang sống và trách nhiệm tạo ra một nhà nước để bảo vệ các quyền tự do của mình và của người khác. Trong một xã hội văn minh, thay vì phải trông chờ vào đạo đức hay đức tin của người lãnh đạo đất nước, người ta sẽ thiết kế một guồng máy nhà nước và cơ chế kiểm soát mà ở đó mọi cá nhân được giao quyền quản trị đất nước đều phải làm đúng việc, làm hết mình và không dám làm bậy; giống như Tổng thống Thomas Jefferson từng nói: “Một chính quyền hiệu quả nhất là một chính quyền ít phải quản trị nhất, vì mọi thành viên của nó đều đã tự đưa mình vào kỷ luật”.  Trái lại, một nô dân hay thần dân sẽ không để ý, hay thậm chí là không thèm quan tâm đến những vấn đề này. Anh ta xem “xã hội tốt đẹp” là việc của ai đó chứ không liên quan tới mình, và chờ đợi để được người khác dắt đi (mà nhiều khi cũng không rõ mình sẽ được dắt đi đâu). Câu nói cửa miệng của những người này là: “Ôi, nghĩ ngợi mà làm gì, đã có nhà nước lo!”.Với công dân, nếu nhà nước cấm cản không cho họ có được những quyền và nghĩa vụ hiển nhiên (mặc định) thuộc về anh ta, người công dân cũng sẽ “đòi” cho bằng được nó và buộc nhà nước phải bảo vệ những quyền và nghĩa vụ đó của mình, nếu không, họ (công dân) sẽ thay đổi nhà nước hiện tại bằng một nhà nước khác. Còn “thần dân” thường sẽ bằng lòng vô điều kiện với những gì anh ta được nhà nước ban phát.  Và tương tự, “làm nghề”cũng gắn bó chặt chẽ với “làm người”. Nếu như “đạo sống” (làm người) là những đức tin và giá trị mà ta lựa chọn cho cuộc đời của mình thì “đạo nghề” (làm nghề) chính là lý tưởng nghề nghiệp của công việc mà ta làm. Chẳng hạn, ta thích trở thành cảnh sát giao thông vì ta yêu sự bình yên của phố phường, hay là vì ta thích “núp lùm” để thổi phạt? Ta muốn trở thành người dạy học là vì ta yêu con người, yêu sự phát triển mỗi ngày của đứa trẻ hay yêu thứ quyền lực mà ta có thể thị uy với nó? Ta chọn nghề nấu ăn vì đó cũng là một nghệ thuật và ta muốn nhìn thấy niềm vui trên khuôn mặt thực khách khi họ được thưởng thức một món ăn ngon, hay chỉ vì muốn kiếm lợi từ việc chế biến lại những thực phẩm kém an toàn?…  Nói cách khác, “đạo nghề” chính là “đạo sống” trong công việc. Làm việc mà không có lý tưởng nghề nghiệp cũng giống như sống mà không có mục đích. Làm một nghề “vô đạo” thì không chỉ bản thân người làm nghề mà cả xã hội cũng có thể bị ảnh hưởng. Còn làm một nghề mà sai “đạo nghề” (tức là làm “sai việc”) thì không chỉ bản thân người làm nghề mà xã hội cũng có thể bị xói mòn, hủy hoại.  Chẳng hạn, người làm nghề lãnh đạo/chính khách có thể đặt câu hỏi: “Tôi đang lãnh đạo hay cầm quyền, người làm quan chức/ công chức có thể suy ngẫm: “Tôi đang là đầy tớ hay phụ mẫu của dân?”. Hay tương tự, tôi là “doanh nhân, trọc phú hay con buôn?” (nghề kinh doanh), “nhà văn hay bồi bút?” (nghề văn), “nghệ sĩ hay thợ hát?” (nghề ca sỹ), “bác sĩ hay lang băm? (nghề y), là“sử gia hay sử nô? (nghề viết sử).  Như vậy, nếu mọi thứ đều bắt đầu từ “đúng việc” của mỗi cá nhân, thì “đúng việc” chính là đích đến và cũng là con đường dẫn đến thành công bền vững và hạnh phúc cho bản thân, gia đình, tổ chức hay xã hội. Tuy vậy, không có nghĩa rằng “đúng việc” sẽ là một “hệ điều hành” chuẩn mực chỉ việc “cài đặt” là dùng ngay được, mà nó là một phương pháp luận để từ đó mỗi người, mỗi nhà, mỗi xứ sở biết cách tự tìm ra đích đến và con đường cho những đổi thay có tính cách mạng của riêng mình.  “Đúng việc” cũng không hẳn là một phát kiến mới, vì có thể cũng đã có nhiều người dần hiểu ra con đường và đích đến này, rằng cần hướng đến những giá trị tự do và con người tự do. Đó là những nền tảng của những nền văn minh tiến bộ. Nhưng mấy ngàn năm trật tự văn hóa Á Đông lại dựa trên phận vị và con người phận vị. Giá trị của con người được xác định trong một hệ thống danh phận, địa vị, giai cấp…. Chúng ta đã quen thuộc với hệ thống ấy hàng ngàn năm nay, vậy nên “đúng việc” dùng lớp vỏ bên ngoài có hình hài tựa như hệ thống này cho dễ tiếp cận, nhưng “ruột” của nó hướng đến những giá trị của tự do và văn minh.  Và việc gọi tên được “con đường cách mạng” cũng quan trọng không kém việc nhận ra nó. Vì một khi chưa gọi được tên, chưa thể nói được cho người khác hiểu về nó một cách thật đơn giản, thì cũng có nghĩa là ta cũng chưa thật hiểu rõ về đích đến và con đường của mình. Nó cũng giống như việc nhìn một bệnh nhân với hàng triệu triệu chứng nhưng căn nguyên do đâu vẫn còn mơ hồ. Ở đây, “căn bệnh” của xã hội đã được gọi tên: đó là bệnh “sai việc”, người người “sai việc”, nhà nhà “sai việc”, đâu đâu cũng thấy vô vàn “sai việc”. Và “đúng việc” chính là giải pháp cho căn bệnh đó!  Hiểu được hay lựa chọn cho mình một con đường đã là việc rất khó, nhưng theo tôi vẫn chưa phải là việc khó nhất! Tôi cho rằng điều khó hơn hết thảy không phải là chọn một thứ để tin, để đi theo; mà là thực sự sống với những gì mình lựa chọn và bảo vệ được những gì mình tin tưởng. Hiểu được thế nào là tự do đã khó, sống được như là một con người tự do còn khó hơn ngàn lần. Đó không chỉ là hành trình không ngừng nghỉ khai phóng bản thân, đi tìm chân lý, mà quan trọng hơn là hành trình sống với những chân lý tìm ra. Đó là một hành trình trọn đời và của muôn đời!    Author                Giản Tư Trung        
__label__tiasang Đừng vơ đũa cả nắm      “Tia Sáng” đã từng phân tích sâu sắc về lương giáo viên, vấn đề bất hợp lý kéo dài, gây nên những tiêu cực, đẩy tới sự xuống cấp của giáo dục và đào tạo “chìa khóa của phát triển”! Vừa rồi, trong tranh luận nguyên nhân của những tiêu cực trong ngành giáo dục mà báo cáo của Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội nêu lên, đã có những lý lẽ đanh thép không đồng ý với lập luận của báo cáo cho rằng vấn đề lương của giáo viên chưa hợp lý là một nguyên nhân đẩy tới những tiêu cực trong ngành mà hiện nay đang có cuộc vận động mạnh mẽ “nói không” với chúng.        Phán bảo rằng đồng lương và thu nhập của người thầy giáo đã là cao, không thể cho đó là nguyên nhân của tiêu cực trong ngành giáo dục, nghe ra thì có vẻ sang trọng và cao đạo. Và có người cho là có lý. Cũng có thể. Đó là cái lý của người nắm tiền nhà nước, tóm lấy những bằng chứng về những người thầy đang có điều kiện dạy thêm và nhất là kiếm thêm nhờ cái tệ buôn bằng, bán điểm do chính những khuyết tật của chính cái cơ chế tuyển chọn cán bộ và trọng dụng nhân tài , để quy cho những “tiêu cực” trong giáo dục chỉ là do đạo đức và phẩm hạnh của người thầy giáo.   Nhưng, xin gợi ra một câu hỏi: những ai cần và có điều kiện vung tiền ra mua bằng? Có cầu thì có cung. Tóm ngay cái nhu cầu bức xúc muốn chiếm ngay những cái ghế lớn nhỏ của quyền lực để cung ứng kịp thời, đúng là có những người thầy biết khai thác triệt để thói hám quyền và tệ “chạy ghế” này. Một số người hành nghề “buôn bằng, bán điểm” quả là đã phất lên thật. Thực trạng đau lòng và đáng xấu hổ này là sản phẩm của cái gì? Đâu phải là sản phẩm của riêng ngành giáo dục đào tạo!  “Dạy thêm và học thêm” mới là sản phẩm riêng của ngành giáo dục. Ấy thế nhưng, chuyện dạy thêm của thầy và học thêm của trò, xét đến cùng, cũng là chuyện “chẳng đặng đừng”. Tất nhiên, không thiếu những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng vơ đũa cả nắm, vì con sâu mà hất bỏ nồi canh, làm mất đi vẻ đẹp cao quý của người thầy giáo, thì chính là xã hội tự cứa vào vết thương đau, làm chảy máu thêm cơ thể của chính mình, tự xỉ vả chính mình.   Có gia đình nào mà lại không trực tiếp hàng ngày gắn bó, nuôi dưỡng hạnh phúc và ký thác niềm hy vọng vào người thầy có mặt trên khắp đất nước, ở chốn phồn hoa đô hội cũng như nơi thôn cùng xóm vắng, tít tắp ở các bản làng hẻo lánh, vùng sâu vùng xa heo hút nghèo khổ. Liệu đã có ai làm một khảo sát nghiêm cẩn để đưa ra con số chính xác về lương, về thu nhập và mức sống của những cô giáo thầy giáo đang âm thầm, nhẫn nại dạy học trên cả nước? Có bao nhiêu trong họ sống ung dung, sung túc và bao nhiêu đang gieo neo, cùng cực? Có bao nhiêu “con sâu”, và bao nhiêu những “con người” đang âm thầm lặng lẽ sống cuộc sống thanh bạch trong cái nghề mà họ biết không thể giàu, chỉ may lắm là đủ sống và được xã hội kính trọng. Tỷ lệ là bao nhiêu giữa “sâu” và “người”, giữa người sống đủ, sống được với người sống gieo neo, vất vả?   Hãy đặt những tiêu cực của ngành giáo dục bên cạnh những ngành nắm tiền, nắm quyền, những thứ quyền đẻ ra tiền, và tiền vung ra mua được quyền, mà là quyền sinh, quyền sát, thì sẽ thấy cần phải ứng xử như thế nào với những người “thấp cổ bé họng” nhưng lại đang gánh cái gánh rất nặng ươm mầm và nuôi dạy con trẻ nên người, đào luyện họ trở thành hiền tài, hun đúc, bồi bổ “nguyên khí quốc gia”. “Nhân bất học bất tri lý”, càng hiểu rõ những bất cập mà chúng ta đang phải đương đầu, càng thấm thía sự đúc kết đó.   Chỉ trên quan điểm “trọng học vấn, trọng nhân tài, vì đó là của quý không gì có thể thay thế được của một nước, một dân tộc. Có nó thì có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá” mới có điểm tựa để mà bàn thảo, phân tích, nhận định về sự xuống cấp của hệ thống giáo dục nhằm đưa ra quyết sách chấn hưng. Giáo dục là sản phẩm tiêu biểu của một chế độ, không là sản phẩm cho riêng nó.   Trút toàn bộ sai lầm cho riêng ngành giáo dục, còn lại thì vô can, là sự thiển cận và vô trách nhiệm. Dù nói gì thì nói, người thầy vẫn là, cần là và phải là nhân vật xã hội được kính trọng, không được tùy tiện xúc phạm cái nghề đáng kính này. Chính vì càng tôn kính người thầy nên càng dễ nặng lòng với nghề thầy cao quý đôi lúc bị làm hoen ố nên có khi nặng lời với họ. Vì những sai lầm của một số trong họ đã xúc phạm đến nơi sâu thẳm của đạo lý dân tộc, trực tiếp làm xói mòn nhân cách và niềm tin của lớp trẻ.  Trong sâu thẳm đạo lý dân tộc, có hai nhân vật được xã hội tôn vinh làm “thầy”: thầy giáo và thầy thuốc. Đạo lý ấy được hun đúc và trường tồn trong đời sống của một dân tộc “vốn xưng văn hiến đã lâu”. “Văn hiến”, văn hóa và hiền tài là nhân tố đầu tiên làm nên nét đặc trưng nổi bật của sự phân định vị thế của một quốc gia độc lập, tiếp đó mới đến lãnh thổ, phong tục và triều đại như Nguyễn Trãi đã từng khẳng định. Trong thang bậc giá trị, ông cha ta còn đặt “thầy” trước cả cha. Đặt trước, là biểu thị sự coi trọng tính người của con người. Công sinh thành, đức dưỡng dục của cha mẹ đương nhiên bao hàm cả việc hun đúc nên tính người ấy, nhưng sứ mệnh thiêng liêng của người thầy giáo được tập trung riêng cho chức năng cao cả đó. Tôn sư là vì trọng đạo. Đạo lý làm người.   Một chế độ biết tôn trọng con người, biết lấy con người làm trung tâm của mọi cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, đường lối là một chế độ ưu việt và bền vững. Cứ nhìn vào số lượng và chất lượng của người thầy ấy, xem cung cách ứng xử và đãi ngộ của nhà nước và xã hội đối với họ, mà người ta hiểu ra tính ưu việt hay không của một chế độ. “Càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu”, nghề thầy. Khi mà đồng lương của người thầy không đủ cho họ và vợ con họ sống, buộc họ phải đi dạy thêm, làm thêm để có thể tiếp tục theo đuổi cái nghề cao quý của họ, thì nên được xem là nỗi đau của cả xã hội , nỗi nhục của nhà nước, nỗi day dứt của người có trọng trách đối với dân, chứ không chỉ và không thể là nỗi đau riêng của người thầy. Xin kết thúc bài viết bằng một mẩu chuyện nhỏ.  Cách  đây quãng 7 năm, trong một chuyến công tác ở Hà Giang, trên đoạn đường đèo đổ dốc từ Cổng Trời về Mèo Vạc, trong nắng chiều đã tắt, tôi thấy một tốp các cháu nhỏ ngồi sưởi quanh một đống lửa bên vệ đường. Dừng xe, tôi tiến về phía các cháu, bốn bé trai và một bé gái. Cho bò tranh thủ gặm nốt vạt cỏ bên đường, các cháu ngồi lại bên đống lửa mới nhen.  “Các cháu học lớp mấy, chăn bò từ chiều hay từ sáng”, tôi ngồi xuống hỏi. “Lớp ba cả, chỉ nó lớp bốn”, một bé trai chỉ vào cháu gái đang tủm tỉm cười, trả lời tôi. “Học buổi sáng, buổi chiều chăn bò”. “Thế ai học giỏi nhất nào”, tôi hỏi. Vẫn bé trai ấy: “Nó đấy, nó giỏi lắm, vừa được cô giáo thưởng cho quyển vở đấy”. Bé gái có đôi mắt rất sáng, e thẹn cúi đầu: “Không phải đâu, không phải đâu”. “Đúng nó đấy, quyển vở còn trong cặp sách nó đấy”. Cũng vẫn bé trai nói to: “Cô giáo yêu nó lắm, cô ở dưới xuôi lên mà, cô ở nhà nó mà, dưới kia kìa”.   Nhìn xuống thung lũng mờ sương, dòng sông Nho Quế chỉ còn là một nét mờ uốn lượn, khi ánh chiều đã tắt. “Cô giáo dưới xuôi” quý yêu của các cháu ở đấy, bên bếp lửa nhà sàn cũng bập bùng như ánh lửa các cháu đốt lên ở đây, ánh lửa của tình người, ánh lửa của trí tuệ.   Không được che mờ ánh lửa ấy bằng sự vơ đũa cả nắm bất cận nhân tình.    Chú thích ảnh: Ánh mắt và nụ cười- Nguyễn Đạt      Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Được mất của độc quyền      Chúng ta đã có Luật cạnh tranh. Luật này là công cụ pháp lý quan trọng để chống độc quyền. Tuy nhiên, luật trên giấy thì vẫn chưa phải là luật trong cuộc sống. Rất nhiều lĩnh vực kinh doanh quan trọng như điện, nước, xăng dầu, hàng không v.v… vẫn còn là “miền đất hứa” của độc quyền.         Tình thế độc quyền tự nhiên, nhu cầu tập trung nguồn lực để chuẩn bị hội nhập là một số trong những lập luận đang được đưa ra để trình hoãn việc áp đặt cạnh tranh. Những lập luận như vậy, có lẽ, không phải là không có lý. Tuy nhiên, hệ lụy tất yếu của tình trạng độc quyền thì cũng pải cần tính tới.  Độc quyền kinh doanh là hành vi độc chiếm thị trường. Nó rất giống với việc đá bóng một mình một sân. Vinh quang không lớn, nhưng muốn thắng bao nhiêu bàn cũng được. Điều đáng nói là với cách “đá bóng” như vậy trong kinh doanh, đối tượng bị “làm bàn” vô tận là tất cả khách hàng. Nghĩa là ít trừ một ai trong xã hội.  Trước hết, Nhà nước là đối tượng bị “làm bàn” nhiều nhất. Với tư cách là khách hàng lớn nhất của rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, Nhà nước đang chịu thiệt thòi rất lớn do tình trạng độc quyền gây ra. Cứ nghĩ mà xem, nếu giá xăng dầu cao thì với hàng vạn xe công, phương tiện phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng cháy, chữa cháy…, Nhà nước sẽ phải trả thêm biết bao nhiều tiền! Thế nhưng, xăng dầu không phải là thứ duy nhất Nhà nước phải mua. Nhà nước còn là khách hàng siêu lớn của điện, nước, dịch vụ hàng không v.v… và v.v… Ngoài ra, khách hàng này còn mua vô số các loại hành hóa, dịch vụ khác mà giá của chúng đã bị đội lên một cách không đáng có bởi các đầu vào độc quyền.  Đối tượng thứ hai bị “làm bàn” là các doanh nghiệp. Với giá các đầu vào thường xuyên bị đội lên bởi hành vi độc quyền, giá thành hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp cũng vì thế mà bị đội lên tương ứng. Tuy nhiên, toàn bộ rủi ro nằm ở chỗ: thị trường chưa chắc đã chấp nhận điều này. Như vậy, các doanh nghiệp chỉ còn một lối thoát duy nhất là nhanh chóng tìm cách tiết kiệm và nâng cao năng suất tương ứng để bù đắp cho sự đắt đỏ của độc quyền. Những doanh nghiệp không làm được điều này sẽ nhanh chóng bị đẩy vào tình trạng phá sản. Và đây có thể là những cái chết rất oan khiên, những nạn nhân không đáng có của độc quyền. Nạn nhân tiếp theo rất dễ đoán ra là khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.  Đối tượng bị “làm bàn” thứ ba là những người tiêu dùng bình thường. Trong lúc, tuyệt đại đa số những người này được trả lương theo thị trường lao động của Việt Nam, thì những loại hàng ha, dịch vụ nằm ngoài sự điều tiết của thị trường là những rủi ro không thể tiên liệu trước. Mức sống, cũng như thu nhập của người dân sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự tăng giá độc quyền mà không có nguồn bù đắp.  Thế thì ai được lợi bởi độc quyền kinh doanh? Tất nhiên, những doanh nghiệp đang giữ vị thế độc quyền. Điều dễ hiểu là: một anh thợ cắt tóc không thể ra giá trên trời vì khách hàng sẽ lập tức từ bỏ anh ta để đến với một anh thợ cắt tóc khác chào giá rẻ hơn. Chị bán trứng gà, cô bán lạc rang v.v… đều phải tuân theo quy luật nghiệt ngã này. Tất cả các chủ thể kinh doanh đều chỉ có một sự lựa chọn duy nhất trong một thị trường cạnh tranh là phấn đấu nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Chính điều này làm cho kinh tế liên tục phát triển, và cuộc sống của chúng ta ngày càng dễ chịu hơn. Các doanh nghiệp chiếm giữ độc quyền thì lại không phải chịu sức ép phải cải tiến và nâng cao hiệu quả không ngừng. Tệ hơn nữa, họ có thể đưa toàn bộ sự yếu kém, thua lỗ, cũng như nhu cầu tái đầu tư của mình vào giá cả. Bằng cách này, vô hình dung tất cả chúng ta đều trở thành những người bù lỗ hoặc những người mua cỗ phần không được hưởng cổ tức.   Tuy nhiên, suy cho cùng độc quyền chỉ có lợi cho một số người đang nắm quyền kinh doanh hiện nay, chứ về lâu về dài chưa hẳn đã có lợi cho các doanh nghiệp độc quyền. Với quá trình hội nhập đang diễn ra nhanh chóng, không biết Nhà nước còn bảo hộ cho các doanh nghiệp này được bao lâu nữa? Và trong cuộc cạnh tranh toàn cầu không tránh khỏi, những doanh nghiệp “cớm nắng” này sẽ tồn tại ra sao?         Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dưới luật      Tất cả các “đỉnh cao trí tuệ” của đất nước họp lại để làm thế nào ra cho được cái “văn bản dưới luật” phù hợp lệnh Vua.     Có những cái Hiến pháp quy định rồi nhưng chưa thực hiện được vì phải chờ Luật.  Có những cái Luật quy định rồi, nhưng chưa thực hiện được, vì phải chờ văn bản “dưới luật”.  Có những cái văn bản dưới luật quy định rồi, nhưng chưa thực hiện được, vì nó trái luật. Hoặc không thể thực hiện vì trái thực tiễn.  Nhưng khốn khổ nhất vẫn là cái anh “thực tiễn”: cứ phải ngồi chờ cái anh “dưới luật”, chẳng biết khi nào nó ló ra.  Có người bảo đó là “đặc sản” Việt Nam, nơi có cả rừng luật. Chắc không phải. So với thế giới thì ta vẫn còn ít luật lắm, quá ít là đằng  khác. Đã thành “rừng” thế nào được.   Cũng không phải chỉ ở “ta” mới phải có “dưới luật”. Cũng không phải chỉ ở ta mới khó làm văn bản “dưới luật” sao cho nó đừng trái luật. Cũng không phải chỉ đến bây giờ mới  phải chờ anh “dưới luật”.   Ở đâu cũng có. Ngày xửa ngày xưa đã có. Xin kể chuyện này.  Một ông vua nọ lên ngôi, tuyên bố đại xá thiên hạ: bất kể anh tù nhân nào cũng được giảm  một nửa thời hạn tù. Lệnh Vua ban rồi, các nhà tù lúng túng nhất với những cái án chung thân. Biết họ sống đến khi nào để cho ra tù trước “nửa thời hạn”? Mà lời Vua “nhất ngôn cửu đỉnh”, Vua không nói chơi, cũng không nói lại. Phải nghĩ cách thực hiện cho đúng.  Có vị đưa ra sáng kiến nên Xây dựng một Đề án cấp Nhà nước với mục tiêu kiểm tra sức khỏe, xác định và cấp giấy chứng nhận tuổi thọ cho từng anh, rồi theo đó mà bắt ở tù một nửa thời gian. Ý kiến này bị các bậc danh y phản đối dữ dội, vì khoa học hiện thời chưa có khả năng làm chuyện đó.  Một vị Hàn lâm đại học sĩ đưa ra ý tưởng rất hay: cứ cho anh ta ở ngoài một ngày, lại vào tù một ngày, cho đến khi chết! Nhưng có người phản bác lại: nếu ngày cuối cùng anh ta chết mà hai phần “ngoài tù, trong tù” không ngang nhau, thì hóa ra trái lệnh Vua ư? Ai dám mang tội khi quân?  Một cách mà thoạt tiên ai cũng thấy hợp lý: thiết kế cho anh ta cái xà lim sao cho nửa người trong tù, nửa người tự do! Lại nảy sinh vấn đề: nửa nào tự do đây? Nửa trái hay nửa phải, nửa trên hay nửa dưới? Cả Hội đồng Trí tuệ cãi nhau mãi, không sao quyết định được.  Trong khi Hội đồng đang bàn cãi thì mấy anh tù, trong trường hợp này chính là đại diện cho “thực tiễn”, đều hết sức thất vọng. Hóa ra họ chẳng được gì. Nếu nửa trên mà bị cầm tù thì nửa dưới có “tự do” được không? Mà nửa dưới đã ở trong tù thì “nửa trên” cũng nghĩ được gì khác?   Mấy nhà lý luận cao siêu hơn thì phân tích: mỗi người đều có hai phần, phần hồn và phần xác. Hay ta cứ cầm tù một phần của nó: hoặc cho phần xác tự do, nhưng cầm tù phần hồn; hoặc bắt nó ngồi tù, nhưng phần hồn thì… mặc kệ. Mỗi anh tù phải tự ý chọn thôi!   Cách này quả thật cao siêu, nhưng áp dụng vào thực tiễn cũng khó. Cầm tù phần xác thì dễ, chứ kiểm tra được cái phần hồn của nó đang ở đâu, khó lắm!  Nghe nói Hội đồng cân nhắc, cãi nhau mãi mà không có cái văn bản dưới luật nào ra được cả. Thành ra nhiều anh tù chung thân chết trong tù mà không kịp chờ để nhận ơn Vua.   Tất nhiên là khi lệnh Vua ban, họ đã tung hô rồi: “Thảo dân xin lĩnh chỉ, tạ ơn!”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường 9 đoạn rốt cuộc là gì?      Dù Trung Quốc luôn luôn kiên trì đường 9 đoạn, song từ&#160; chính phủ Dân Quốc đến&#160; chính phủ nước Cộng hòa trước đến nay đều chưa từng giải thích rõ ràng minh bạch rằng đường 9 đoạn rốt cuộc là gì, cũng chưa từng biểu đạt rõ ràng rằng trong phạm vi đường 9 đoạn Trung Quốc có quyền lợi và nghĩa vụ gì, thậm chí chưa từng công bố tọa độ của nó. Cách gọi chính thức của Trung Quốc đối với đường 9 đoạn một cách chung chung là đường biên giới biển (hải cương), chính thức hơn một chút thì gọi là đường biên giới lịch sử, càng mơ hồ hơn nữa chính là cách gọi là vùng biển lân cận của các đảo ở Biển Đông.    Theo cách nhận thức bình thường của quốc tế, trong đàm phán tranh chấp ở Biển Đông, đường 9 đoạn chính là ranh giới yêu sách lớn nhất của Trung Quốc. Thế nhưng đến cả chuyên gia Trung Quốc cũng mơ hồ không hiểu rõ ranh giới yêu sách này có cơ sở pháp lý gì. Tháng 6 năm 2011, trong chương trình Nhất hổ nhất tịch đàm của Đài vệ tinh Phượng Hoàng khi thảo luận đến vấn đề Trường Sa, một viên tướng về hưu kiêm chuyên gia quân sự có tiếng khi đề cập đến đường 9 đoạn còn nói: hy vọng chuyên gia trong nước nhanh chóng hoàn thiện cơ sở pháp lý của đường 9 đoạn để tiện cho việc sử dụng trong đàm phán của Trung Quốc.      Vì sao cơ sở pháp lý của đường 9 đoạn lại khó khăn như vậy chứ? Nguyên nhân gốc chính là về khái niệm cơ bản của đường 9 đoạn và điều Trung Quốc tích cực thúc đẩy để có được là mâu thuẫn với “Công ước luật biển quốc tế” được tuyệt đại bộ phận các nước trên thế giới công nhận.  Thứ nhất, phạm vi đường 9 đoạn quá lớn, ngoài Hoàng Sa và Trường Sa ra, ở phần phía Tây Nam của đường 9 đoạn có một vùng biển mà không có bất kỳ một hòn đảo nào, những đoạn này lại chẳng khác gì là vẽ đến trước cửa nhà các nước Philippin, Malaixia, Brunei và Việt Nam… Dù có theo chủ trương của Trung Quốc, tất cả các đảo của Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc Trung Quốc, sau đó dựa vào tất cả các đảo có quyền đề nghị vùng đặc quyền kinh tế làm đường cơ sở, phạm vi có được cũng nhỏ hơn so với đường 9 đoạn.     Ở đây dẫn ra một tấm bản đồ của dân gian để chứng minh cho điều này. Nguồn của bản đồ từ Bách khoa thư mở (Wikipedia), là một bản đồ tổng quát về tranh chấp lãnh hải giữa các nước ở Đông Á và Đông Nam Á. Trong đó có phần về Biển Đông, giả định tất cả các đảo có tranh chấp đều thuộc về Trung Quốc, lại căn cứ theo đường cơ sở trên biển của quần đảo Hoàng Sa, và các đảo nổi trên mặt nước khi thủy triều lên của quần đảo Trường Sa để tính làm đường cơ sở biển để xem là  vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.     Ở đây cần chú thích và chứng minh 3 điểm:     Thứ nhất, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng công bố vùng đặc quyền kinh tế của Biển Đông, cho nên chỉ có thể sử dụng phiên bản của dân gian.     Thứ hai, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng ban bố về đường cơ sở biển của Trường Sa, cho nên chỉ có thể do dân gian tự tính toán ra.     Thứ ba, căn cứ theo quy định của “Luật biển”, chỉ có những đảo nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên mới có thể đề nghị được lãnh hải 12 hải lý, thế nhưng trong đó chỉ có các đảo có thể duy trì sự cư trú của con người và bản thân hoạt động kinh tế của họ mới có thể chủ trương về lợi ích của vùng đặc quyền kinh tế, cho nên tấm bản đồ này trên thực tế đã mở rộng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.     Giả dụ tính toán như trong tấm bản đồ này là chính xác thì theo kết quả của sự tính toán này, đường 9 đoạn còn nằm ở ngoài rất xa vùng đặc quyền kinh tế. Đặc biệt là mấy bộ phận nổi bật là:     (1) Vùng biển ở phía Tây đường 9 đoạn gần với vùng biển ngoài khơi miền Nam Việt Nam.  (2) Vùng biển ở phía Nam đường 9 đoạn gần với Malaixia.  (3) Vùng biển phía Đông Nam và phía Đông đường 9 đoạn gần với Philippin, đặc biệt là đoạn ở phía Đông Nam gần đảo Palawan.     Điều đáng chú ý là trong đó điểm (2) và (3) đều là khu vực hiện nay sản xuất nhiều dầu mỏ, đặc biệt là điểm (2).     Vậy thì giới học thuật có cách nhìn nhận ra sao? Xem xét từ các phân tích của học giả nước ngoài và Trung Quốc, có mấy cách lý giải không giống nhau.     Cách giải thích thứ nhất: đường 9 đoạn là biên giới trên biển của Trung Quốc. Có ý nghĩa là trong đường 9 đoạn là nội hải của Trung Quốc, phía ngoài đường 9 đoạn mới là lãnh hải của nước khác hoặc vùng biển quốc tế. Cách giải thích này không có bất kỳ căn cứ pháp lý nào, thế nhưng trong dân gian Trung Quốc lại phổ biến coi như là định nghĩa của đường 9 đoạn. Trong các bản đồ mà Trung Quốc xuất bản luôn luôn dùng ký hiệu đường biên giới quốc gia để biểu thị  đường 9 đoạn, cũng đã cố ý hoặc vô ý dẫn dắt công chúng ủng hộ cách giải thích này.       Cách giải thích thứ hai: đường 9 đoạn là vùng nước (mang tính) lịch sử của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc hiện nay càng ngày càng sử dụng nhiều cách giải thích này, bởi vì theo một số học giả  thì vùng nước lịch sử có nghĩa là vùng nước ấy bao hàm chủ quyền đối với lãnh địa và nước trong vùng. Như vậy thì về cơ bản đã đánh đồng với khái niệm đường biên giới trên biển của Trung Quốc.      Định nghĩa vùng nước lịch sử này được đưa ra trước những năm 1970, 1980, xuất hiện rất lâu trước khi ra đời “Luật biển quốc tế”, có dụng ý quy định một số vùng nước có quan hệ mật thiết với lãnh thổ của một nước. Khái niệm vùng nước  lịch sử này ngay từ ban đầu ở trong luật quốc tế bản thân ý nghĩa của nó đã không rõ ràng, cũng không được thừa nhận rộng rãi. Sau khi “Luật biển quốc tế” ra đời, kể từ đó đã quy định chính thức lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế, vùng nước lịch sử cũng như tên gọi của nó, đã dần dần đi đến đường cùng hoặc hồi kết cho một câu chuyện cũng không được đề cập đến ở trong “Luật biển quốc tế”.     Định nghĩa của vùng nước lịch sử này là gì, có quyền lợi gì, có nhiều ý kiến khác nhau. Trong số các chuyên gia luật quốc tế, chỉ có ít người ủng hộ “vùng nướclịch sử”. Hơn nữa những chuyên gia ủng hộ vùng nước lịch sử tương đối có nhận thức chung ở 2 điểm, đó là một quốc gia tuyên bố một vùng nước là vùng nước lịch sử, cần phải 1) không có bất cứ tranh chấp nào; 2) thực hiện hành xử chủ quyền trong thời gian dài ở vùng nước này, đặc biệt là quyền quản hạt về pháp luật. Chỉ có thực hiện 2 điểm này, mới có thể chứng minh vùng nước này trong lịch sử có quan hệ mật thiết với quốc gia đó.   Trong một số ví dụ cũng đã có sự khác biệt rất lớn so với tình hình ở Biển Đông. Ví dụ Vịnh Peter Đại đế (Peter the Great Gulf) ở phía Bắc Biển Nhật Bản đã được nước Nga tuyên bố là vùng nước lịch sử. Vùng nước này ăn sâu vào lục địa, hai bờ đều là lãnh thổ nước Nga, nơi cửa vịnh rộng 108 hải lý (hẹp hơn độ rộng của vùng đặc quyền kinh tế), xung quanh không có quốc gia nào tranh chấp, trong lịch sử, vùng biển này hoàn toàn do người Nga quản lý, đặc là quyền quản hạt về pháp luật. Dù xem xét từ phương diện nào cũng đều phù hợp với nhận thức chung ở trên. Cho dù như vậy, quốc tế cũng hoàn toàn không thừa nhận vùng nước lịch sử này.        So sánh với Biển Đông, hoàn toàn cách rất xa lục địa, xung quanh đều là những nước có tranh chấp. Điều quan trọng là trong lịch sử, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng hành xử trên thực tế về quyền quản lý pháp luật đối với vùng nước này. Một ví dụ tiêu biểu nhất là từ thời cổ đến nay tàu thuyền đi lại ở Biển Đông luôn luôn là tự do, từ trước tới nay không cần phải thông báo chính phủ Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc gần đây cũng đã thừa nhận hiện thực này. Trong một bài viết, một học giả Trung Quốc ủng hộ cách giải thích này cũng thừa nhận, so sánh với vùng nước mang tính lịch sử mà các nước khác tuyên bố, tình hình của Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt.  Cách giải thích thứ ba: đường 9 đoạn không phải là để chỉ đường biên giới trên biển của Trung Quốc, mà là chỉ tất cả các đảo bãi đá trong đường 9 đoạn đều là lãnh thổ của Trung Quốc. Tác phẩm uy tín của giới học giả là cuốn sách “Nghiên cứu cương vực biển của Trung Quốc” (《中国海洋疆域研究》) ủng hộ quan điểm này. Theo ý kiến của tôi, trong 3 cách giải thích, đây là cách giải thích đứng vững nhất trong luật quốc tế. Thế nhưng cách giải thích này đường như không có chỗ đứng nào trong công chúng. Thậm chí, nhiều “chuyên gia” cũng dường như không tán đồng. Sau sự kiện Biển Đông, tôi đã xem một số video có liên quan của kênh truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, ấn tượng chung là các khách mời đều không từ lập trường này để giải thích cho công chúng về đường 9 đoạn.   Trong việc tuyên truyền của Trung Quốc, đường 9 đoạn sau khi được ban bố, trong thời gian dài (trước thập niên 1970 khi phát hiện ra dầu mỏ) không có nước nào đưa ra ý kiến khác biệt. Cách nói này tưởng như đúng mà lại sai. Chính xác trong vòng hơn 30 năm trở lại đây không có chính phủ nào phản đối về đường 9 đoạn, thế nhưng cũng không có chính phủ có liên quan nào đã từng thừa nhận. Thái độ của các nước đối với đường 9 đoạn là “không thèm để ý đến”.  Trên thực tế, từ trước tới nay không có nước nào thừa nhận quyền lợi của Trung Quốc ở khu vực này. Nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai liên tục có những hoạt động quân sự trong đường 9 đoạn, tuyệt đại bộ phận không gặp phải sự can dự của Trung Quốc (ngoại trừ cực kỳ gần với đại lục Trung Quốc và lãnh hải đảo Hải Nam. Trong thập niên 1940, 1950 sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Philippin, Pháp và Việt Nam (Nam Việt Nam) đã nhiều lần đưa ra yêu cầu về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, toàn bộ những đảo này đều nằm trong đường 9 đoạn). Nếu như nói sau khi đường 9 đoạn được đưa ra thì không có nước nào đưa ra tranh luận đối với chủ quyền các đảo trong đường 9 đoạn, điều này có phần tự dối mình dối người. Bởi vì nếu như đối với chủ quyền các đảo trong đường 9 đoạn đều xảy ra tranh chấp, vậy thì có thể nói đầy đủ rằng những quốc gia này đều thừa nhận đường 9 đoạn được không? Thực ra, cái gọi là không có nước nào đưa ra phản đối đối với đường 9 đoạn, nói chung chỉ là vì kết quả của việc Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng đưa ra các giải thích chính thức về đường 9 đoạn (thậm chí ngay cả tọa độ cũng không hề công bố). (Khi vẽ lên bản đồ, lại không chấp nhận đưa ra định nghĩa, rồi các nước khác cũng không biết căn cứ vào đâu mà đưa ra phản đối).  Ảnh hưởng của đường 9 đoạn với ý nghĩa không rõ ràng của nó trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông là rất lớn. Bởi vì đường 9 đoạn chiếm một vùng lớn, ý nghĩa pháp luật không rõ ràng, khiến cho các nước láng giềng không biết đâu mà lần. Ví dụ sự kiện tàu thăm dò của Việt Nam bị tàu của Trung Quốc cắt đứt dây cáp trước đây chính là xảy ra ở sát ranh giới đường 9 đoạn. Vùng đó trong lý luận của Việt Nam là trong vùng đặc quyền kinh tế, khác xa rất nhiều so với lý luận về vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Việc Trung Quốc xử lý hàm hồ đối với đường biên giới biển của mình rõ ràng là một trong nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh xung đột. Giới học giả và chính trị quốc tế đưa ra nhiều chỉ trích đối với trạng thái mơ hồ của đường 9 đoạn, ngay cả trong nước Trung Quốc cũng có chuyên gia đã đưa ra suy nghĩ mới, chủ trương sửa đổi đường 9 đoạn có mâu thuẫn với “Công ước luật biển quốc tế” này.   Bởi vì đường 9 đoạn đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của người dân Trung Quốc, muốn thay đổi ngay lập tức e rằng không phải là chuyện dễ. Thế nhưng càng sớm giải thích rõ ràng định nghĩa của đường 9 đoạn, công bố quyền lợi và nghĩa vụ trong đường 9 đoạn phải nên là đạo lý của nước lớn.     Người dịch: Chử Đình Phúc  Nguồn: http://dddnibelungen.wordpress.com              Thập kỷ 30 của thế kỷ XX, có một số nhân sĩ vẽ cái hình chữ U này lên   một số bản đồ, để biểu thị phạm vi vùng biển của Trung Quốc. Ví dụ năm   1936 Bạch Mi Sơ biên soạn sách “Trung Quốc kiến thiết tân đồ” 《中國建設新圖》   đã có vẽ đường liền tương tự. Trên bản đồ này vẻn vẹn nói những nơi này   là “nơi làm ăn của ngư dân nước ta, chủ quyền của nó đương nhiên thuộc   chúng ta”. Không có bất cứ chứng cứ nào chứng minh, những văn nhân này   khi vẽ nên đường như vậy có chứng cứ gì, đã tiến hành những điều tra  gì.  Dường như có thể nói một cách chắc chắn rằng, đây chỉ là một đường  vẽ  vô cùng chủ quan.              Sau khi Lâm Tuân biểu thị công khai về chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa,   chính phủ Trung Quốc quyết định xác định thêm một bước phạm vi lãnh thổ   của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó vào năm 1947 Ty Phương   vực Bộ Nội Chính đã xuất bản “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” (Bản đồ vị  trí  các đảo ở Nam Hải (Biển Đông), 《南海諸島位置圖》), trên bản đồ đã vẽ 11  đoạn  rời. Chính phủ Dân quốc khi đó tuyên bố những đoạn này là đường  biên  giới trên biển của Trung Quốc. Năm 1953 Cộng hòa Nhân dân Trung  Hoa bỏ  đi 2 đoạn ở Vịnh Bắc Bộ, thế là đã hình thành đường 9 đoạn mà  chúng ta  biết rõ hiện nay (sau này thường gọi là đường 9 đoạn).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường chín vạch*      Vào năm 2009, Liên Hiệp Quốc đề ra hạn chót  cho các nước trong khu vực nộp yêu sách ở biển Đông và vô số các đảo đá,  đảo nhỏ, và rạn san hô có tranh chấp ở đó. Sau khi Việt Nam và Malaysia nộp hồ sơ chung  cho Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc (TQ) công bố công hàm trong đó nêu rõ:  “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo của biển Nam Trung  Hoa (biển Đông) và các vùng biển lân cận”.     Kèm với công hàm này, Bắc Kinh đính theo một bản đồ khu vực trong đó yêu sách của TQ được phân định bởi một đường tạo thành với chín vạch.    Bản đồ “đường chín vạch” không mới mẻ: lần đầu tiên được các nhà vẽ bản đồ TQ vẽ ra trong những năm 19201 và đã được thông qua như là một bản đồ bán chính thức vào năm 1947 dưới thời Tưởng Giới Thạch – lãnh đạo của Quốc Dân Đảng. Nhưng đây là lần đầu tiên nó đã được sử dụng như một phần của một yêu sách chính thức của TQ tại một diễn đàn quốc tế. TQ nói rằng hình chữ U của bản đồ giống như một “lưỡi bò” phản ánh “quyền lịch sử” của họ có được từ việc họ đã kiểm soát nhiều hòn đảo khác nhau trong nhiều thế kỉ.   Sách trắng quốc phòng mới nhất của TQ tuyên bố “Chúng tôi sẽ không bao giờ tìm kiếm quyền bá chủ” – một cụm từ theo công thức vốn là một trong những phương châm của chính sách chính thức của TQ. Nhưng ở nhiều nước châu Á, yêu sách về “quyền lịch sử” như vậy không khỏi khiến họ cảm nhận đó là một nỗ lực giành quyền bá chủ của TQ. “Chúng tôi có lẽ không phải bị quá bất ngờ,” một nhà ngoại giao Thái tâm sự về việc TQ đưa ra của bản đồ “đường chín vạch.” “Nhưng thấy tận mắt rằng họ thực sự yêu sách hầu như tất cả – thì thật là khá choáng váng.”  Di sản của 500 năm khống chế của hải quân phương Tây ở châu Á là những cái tên dùng phổ biến cho nhiều thể địa lí ở biển Đông – nào là đá Mischief (đá Vành Khăn), bãi ngầm Macclesfield, đảo Woody (đảo Phú Lâm), và bãi cạn Scarborough. Khoảng trên dưới 60 đảo/đá ở biển Đông được chia thành hai nhóm: quần đảo Hoàng Sa ở phần phía bắc và các quần đảo Trường Sa xa hơn về phía nam. Trong nhiều thập niên, các tranh chấp xem nước nào sở hữu các thể địa lí là chỉ như vở diễn bên lề ít được biết đến. Nhưng trong 5 năm vừa qua, các tranh chấp đó đã nhanh chóng trở thành một cơn bão thật sự của địa chính trị hiện đại, và Biển Đông đã trở thành nơi mà mối quan ngại của Mĩ và của Đông Nam Á về việc gia tăng quân sự của TQ đã bắt đầu có điểm chung. Đối với Mĩ, các yêu sách của TQ đã dấy lên hồi chuông báo động về mối đe dọa lâu dài cho trật tự trên biển của Mĩ. Còn đối với các bên tranh chấp châu Á, tranh chấp đó cũng gom cả dầu, cá, và chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ lại cùng với nhau.  Ở TQ, biển Đông đôi khi được gọi là “Đại Khánh trên biển” (Đại Khánh là mỏ dầu ở phía đông bắc TQ được phát hiện vào những năm 1950), theo ước tính của TQ, có thể có không ít hơn 213 tỉ thùng dầu trong biển Đông, không quá ít so với dự trữ của Saudi Arabia, và có đủ khí đốt tự nhiên để đáp ứng nhu cầu cho 400 năm theo mức tiêu thụ hiện tại của nước này. Ngoài ra, vùng biển này cũng rất giàu tôm cá, làm cho chúng ngày càng hấp dẫn đối với các đội tàu cá TQ và Việt Nam vốn đã thấy nguồn cá trong các khu vực đánh bắt truyền thống của họ gần các bờ biển sụt giảm do đánh bắt quá mức, đẩy họ càng lúc càng đi xa hơn, vào vùng biển tranh chấp.   Khi căng thẳng leo thang trong những năm gần đây, TQ đã khăng khăng cho rằng lỗi chủ yếu là do các nước khác, còn họ thì có rất nhiều bằng chứng hậu thuẫn cho yêu sách này. Các quan chức TQ lớn tiếng rằng TQ là nước duy nhất chưa khai thác nguồn tài nguyên dầu ở biển Đông. Một quan chức TQ nói: “Đã có 700 giếng dầu [đang khai thác] trong khu vực mà chúng tôi tin là của chúng tôi. Thế mà họ lại cáo buộc chúng tôi là quyết đoán.” Họ trỏ vào sự tăng cường cơ sở hạ tầng trên các thể địa lí do các nước khác kiểm soát, đặc biệt là Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, VN đã kiểm soát 29 thể địa lí ở đó. Bắc Kinh cũng quả quyết rằng nỗ lực của chính Washington can dự vào tranh chấp đã khiến Việt Nam và Philippines dựa thế có một lập trường đối đầu hơn đối với TQ. Nhiều người ở TQ tin rằng Mĩ đang âm mưu chống lại họ ở biển Đông. Thôi Thiên Khải (Cui Tiankai), thứ trưởng ngoại giao trở thành đại sứ Mĩ năm 2013 nói “TQ không phải nước gây ra những lộn xộn này và còn lâu mới là kẻ gây hại. Đúng hơn TQ là nạn nhân chịu nhiều tổn hại.”  Các bên tranh chấp khác lại đưa ra một câu chuyện khác. Họ mô tả sự gia tăng dần dần nhưng kiên quyết về sự hiện diện của hải quân TQ trong khu vực trong thập niên qua, cũng như sự tăng lên cố ý các căn cứ quân sự trên một số hòn đảo mà TQ kiểm soát như là một phần của một quá trình gặm nhấm trong khẳng định chủ quyền. Các ảnh vệ tinh về đảo Phú Lâm (tiếng Trung làYongxing – Vĩnh Hưng) trong quần đảo Hoàng Sa cho thấy điều này. Đảo nhỏ này cách căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam khoảng 200 hải lí về phía nam. Đảo này không có dân bản địa hoặc nguồn cung cấp nước tự nhiên, nhưng trong vài năm gần đây nó đã trở thành một thành trì quân sự kiên cố. Năm 2012, Bắc Kinh tuyên bố thị trấn chính của hòn đảo, họ gọi là Tam Sa, là một đô thị chính thức. Vào ngày nó được tuyên bố là đô thị, một quan chức nông nghiệp địa phương tên Tiểu Kiệt (Xiao Jie) được phái đến trên một chuyến tàu chạy 20 giờ để giữ nhiệm vụ thị trưởng. Ông ta nói về công việc mới của mình: “Ở đây không có đất trồng trọt. Mục tiêu chính là để bảo vệ chủ quyền trên biển của đất nước chúng tôi.”  Các chính phủ Đông Nam Á tố cáo Bắc Kinh áp dụng một chiến lược “vừa đàm vừa lấy”. Việt Nam chỉ ra rằng hai trong số chín vạch trên bản đồ tai tiếng này củaTQ là nằm trong khu vực mà theo luật pháp quốc tế được coi là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, khu vực hai trăm hải lí ngoài bờ biển của một quốc gia được công nhận bởi luật pháp quốc tế. Năm 2007, Bắc Kinh áp lực Exxon Mobil và một số công ti dầu khí nước ngoài khác phải từ bỏ các hoạt động khoan thăm dò ngoài khơi bờ biển Việt Nam- một sự kiện mà một số người tính như là điểm bắt đầu của giai đoạn hiện nay căng thẳng. Năm 2011, tàu chính phủ TQ cắt cáp của hai tàu đang tiến hành khảo sát về dầu khí cho PetroVietnam. Hai tháng trước đó, một tàu Philippines đang làm nghiên cứu địa chấn trong khu vực tranh chấp đã bị hai tàu chính phủ TQ buộc phải rời đi. Hàng năm, chính quyền TQ thực thi lệnh cấm đánh bắt cá ở nhiều vùng của biển Đông, mà họ nói là để bảo vệ nguồn cá, nhưng quyết định này không có các chính phủ khác tham dự vào. Thế là mỗi năm, họ bắt giữ hàng chục ngư dân vi phạm lệnh cấm.  Khó có thể không nghĩ rằng hoạt động này như là một kế hoạch dài hạn có tính toán để từng bước khẳng định quyền kiểm soát khu vực. Tuy nhiên, giống như nhiều sự cố trong đó sức mạnh to lớn bên trong của TQ đã bắt đầu được tung ra, cũng có một khía cạnh khác đối với sự quyết đoán mới của TQ ở biển Đông, một áp lực ngấm ngầm từ bên dưới đòi phải làm mạnh tay hơn nữa. Cách TQ tiếp cận biển Đông là một trong những ví dụ rõ ràng nhất cho thấy các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau đang ảnh hưởng nhiều phần trong chính sách ngoại giao thế nào– sự rạn nứt quyền lực mà các cơ quan TQ đã và đang chứng kiến. Một loạt các bộ máy quan liêu khác nhau của chính phủ có trách nhiệm chồng chéo đối với các thành phần hiện diện của chính phủ ở biển Đông, và đôi khi họ tranh nhau để làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận. Người TQ nhận thức rõ điều này qua việcgán tên các nhóm khác nhau này là “chín con rồng” , dựa trên truyền thuyết cổ xưa của một vị vua rồng mà chín người con có thể được nhìn thấy trong vô số bức tranh tường “đang khuấy động biển cả.”  Một trong số các áp lực đó đến từ chính quyền địa phương. Chính quyền đảo Hải Nam, chỗ có căn cứ hải quân mới, có trách nhiệm quản lí hành chính đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và trong hai thập niên qua đã cố gắng tổ chức du lịch loại cao cấp trên các hòn đảo này như một phần của kế hoạch phát triển riêng. Trong những năm gần đây, họ đã bào mòn sự phản đối của chính quyền trung ương về sáng kiến này. Cơ quan du lịch trên đảo Hải Nam chào mời khách hàng với các chuyến đi bơi lặn xa hoa ở quần đảo Hoàng Sa, và bây giờ có một cuộc đua thuyền giữa Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Các công ti dầu lớn, vốn nằm trong số những bộ phận có thế lực và liên kết chặt chẽ nhất của ngành công nghiệp nhà nước, cũng đã vận động cật lực chính phủ đẩy mạnh các yêu sách chủ quyền trong khu vực quyết đoán hơn. Trong năm 2012, CNOOC, một trong ba công ti dầu khí lớn, mời các nhóm dầu khí nước ngoài cùng khai thác 9 lô trong khu vực tranh chấp – nhiều lô trong số đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.  Ngay trong số các cơ quan chính phủ TQ thực thi pháp luật trong khu vực cũng có những lợi ích cạnh tranh nhau. Cục Ngư chính có trách nhiệm lập chính sách đánh bắt cá trong vùng biển của TQ, nhưng Hải giám TQ cũng tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật trong khu vực. Giống như bất kì bộ máy quan liêu giỏi giang nào, cả hai đều muốn chứng tỏ mình xứng đáng để được cấp thêm ngân sách vốn đã tăng nhanh trong những năm gần đây. Họ thậm chí có một cụm từ để biện minh cho vai trò đôi khi mơ hồ và chồng chéo của họ: “Cứ chợp lấy thứ gì có thể chợp trên biển, còn chuyện phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan tính sau.” Bộ Nông nghiệp, phụ trách Cục Ngư chính, áp dụng một hệ thống khen thưởng cho các cá nhân đã “cứng rắn và dũng cảm trong việc bảo vệ chủ quyền của TQ” Các quan chức được thưởng vì đã đuổi được nhiều tàu thuyền nước ngoài khỏi vùng biển mà TQ tuyên bố là của mình. Với hàng chục tàu vũ trang và máy bay trong tay, các cơ quan này cũng đã giữ vai trò đẩy ranh giới của tuyên bố chủ quyền của TQ ra xa thêm. Trong khi việc phái hải quân có thể được xem như một động thái khiêu khích cao độ, các tàu thực thi pháp luật có thể góp phần vào việc khẳng định yêu sách của TQ theo một cách ít đối đầu hơn.  Có hai yếu tố khác đằng sau cảm giác lo ngại sâu sắc ở Đông Nam Á. Không phải chỉ mức độ yêu sách [quá đáng] của TQ đã làm lo lắng khu vực mà còn là sự không rõ ràng của nó. Không ai biết mình đang đối phó với điều gì. Mặc dù bản đồ “đường chín vạch” đã được lưu hành trong vài thập niên nhưng TQ chưa bao giờ thực sự xác định [rõ] lãnh thổ của họ trên bản đồ này. Có khi, các quan chức Bộ Ngoại giao đã cố gắng trấn an bằng cách chỉ ra rằng TQ chỉ yêu sách các đảo và các thể địa lí bên trong đường đó thôi. Một yêu sách như vậy vẫn sẽ dính dáng hàng loạt tranh chấp khó giải quyết nhưng ít quá quắt hơn nhiều so với yêu sách toàn bộ khu vực trên bản đồ. Tuy nhiên, vào những lúc khác, các quan chức và các nhà phân tích TQ lại chỉ ra rằng “danh nghĩa/quyền sở hữu” lịch sử của họ đối với biển Đông đem lại cho họ độc quyền tất cả mọi thứ bên trong đường này. Những người khác lại còn cho rằng khu vực này là một phần của “vùng biển chủ quyền” của TQ. Bành Quang Khiêm (Peng Guangqian), một thiếu tướng diều hâu của PLA, đã mô tả vùng biển bên trong “đường chín vạch” như là “ ‘đất xanh’…của TQ” và là một khu vực do TQ “sở hữu.” Nỗ lực của CNOOC rao bán các hợp đồng chuyển nhượng dầu trong vùng biển tranh chấp và việc áp đặt lệnh cấm đánh cá của TQ cho thấy một lập trường chính thức rất khác với lập trường do Bộ Ngoại giao vạch ra. Sự mập mờ như vậy có thể nói lên nhiều điều. Nó có thể cho thấy có sự linh hoạt trong lập trường của TQ, có thể đã được khai thác trong các cuộc đàm phán. Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là TQ đang cố thử theo cả hai cách, các nhà ngoại giao của họ bám chặt vào một yêu sách hẹp hơn trong khi hành vi thực tế của họ lại theo một phiên bản phình to hơn nhiều.  Ngoài ra còn có vấn đề về kích cỡ. Trong đối phó với TQ, các nước khác có ít cảm giác được bình đẳng chủ quyền nhưng lại có nhiều cảm giác như đang bị nằm kẹt bên cạnh một con voi lớn có thể bị nó đè bẹp. Sự khác biệt quá mức về kích cỡ đó làm cho các động thái của TQ có vẻ đe dọa hơn nhiều đối với các nước láng giềng hơn là Bắc Kinh nhận thấy. Các bên tranh chấp Đông Nam Á muốn có một cuộc thảo luận đa phương về các yêu sách khác nhau, tin rằng chỉ điều này mới cho phép họ nói chuyện bình đẳng được. Sợ các nước khác sẽ kết bè chống họ, TQ đòi hỏi rằng mỗi nước phải thương thảo với họ trên cơ sở một-đối-một.   Hồi tháng 3 năm 2009, Jeff Bader, giám đốc khu vực châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia, và James Steinberg, thứ trưởng ngoại giao, đến Bắc Kinh dự một loạt các cuộc họp với các đối tác TQ. Biển Đông là một trong những chủ đề đậm nét trong các cuộc họp này. Một vài tuần sau đó, tờ New York Times đăng một bài viết nói rằng TQ bây giờ gọi biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Trong ngôn ngữ ngoại giao TQ, hai từ này là vô cùng quan trọng. Hai “lợi ích cốt lõi” khác là Đài Loan và Tây Tạng, những vấn đề mà đảng Cộng sản TQ sẽ dời cả núi để giành lấy. Mô tả biển Đông bằng từ ngữ này quả thực sẽ thể hiện cho một sự leo thang đáng kể, một dấu hiệu cho thấy TQ đã hoàn toàn không dành chỗ cho thỏa hiệp hoặc đàm phán. Các quan chức TQ trên thực tế đã thể hiện một tâm thế không khoan nhượng trong các cuộc họp, đưa ra nhiều thuyết lí về quyền của họ ở biển Đông.   Về cốt lõi, TQ đã bắt đầu gánh chịu hậu quả từ mâu thuẫn cơ bản của chiến lược của họ. Trong giai đoạn tốt nhất của hai thập niên qua, Bắc Kinh đã theo đuổi hai mục tiêu riêng biệt. Họ có một chiến lược quân sự cố từng bước đẩy lùi Mĩ về phía Thái Bình Dương và thực hiện việc kiểm soát tốt hơn các vùng biển gần. Đồng thời, họ có một nhiệm vụ ngoại giao bức bách là ngăn chặn các nước láng giềng hình thành một liên minh cản trở họ. Tuy nhiên, vở lẽ ra là hai mục tiêu này lại chỏi nhau. Càng cố đẩy lùi Mĩ và củng cố yêu sách lãnh thổ mạnh mẽ bao nhiêu thì họ càng khiến khu vực dang tay đón lấy Washington nhiều thêm bấy nhiêu. TQ đã phải chịu hết thất bại chiến lược này tới thất bại chiến lược khác. Rốt cuộc họ đã làm vững thêm các liên minh nền tảng của Mĩ ở Đông Bắc Á. Đồng thời, hành vi của TQ trong biển Đông đã cho phép Mĩ trở nên dính líu nhiều hơn nữa với các nước Đông Nam Á. Như Thì Ân Hoằng (Shi Yinhong), một học giả TQ và là người hâm mộ Bismarck, buồn bã nói: “Chúng tôi thu đạt được những điều trái ngược với những gì chúng tôi đã trông đợi.”  Phan Văn Song lược dịch  (Trích từ cuốn “The Contest of the Century:  The New Era of Competition with China–and How America Can Win”, Knopf  Doubleday Publishing Group, 2014)  —    1 Theo Peter Kien-Hong Yu trong The Chinese U-shaped line in the South China Sea: points, lines, and zones, Institute of Southeast Asian Studies (ISEAS), 2003, Đường lưỡi bò được một nhà bản đồ vẽ lần đầu vào năm 1914 sau khi Nhật chiếm và trà lại đảo Pratas (TQ gọi là Đông Sa), và đó là một đường liền nét với điểm tận cùng phía Nam khoảng 15°, 16° (tức là chỉ tới khoảng Hoàng Sa) và cũng không bọc đảo Đài Loan (lúc đó Đài Loan còn thuộc Nhật), sau năm 1933 khi Pháp tuyên bố chiếm đóng một số đảo ở Trường Sa thì mới có một vài bản đồ tư nhân nới ĐLB xuống  khoảng vĩ tuyền 9° hoặc 7°  để bao luôn các đảo này (xem Zou Keyuan trong South China Sea Studies in China: Achievements, Constraints and Prospects, Singapore Year Book of International Law and Contributors, 2006)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường lối cách mạng của Cụ Phan xứ Nghệ      Cụ Phan xứ Nghệ (Phan Bội Châu) và cụ Phan xứ Quảng (Phan Châu Trinh) là hai nhân vật sáng danh nhất trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX. Sử sách từng nhận định: đường lối của cụ Phan xứ Nghệ là bạo động và như thế là cách mạng, tiến bộ hơn đường lối của cụ Phan xứ Quảng là cải lương, không bạo động.      Chủ tịch Hồ Chí Minh thì quý trọng hai cụ như nhau. Nên có chuyện trước kia Bảo tàng Cách mạng Việt Nam treo ảnh cụ Phan xứ Nghệ trên hàng ảnh cụ Phan xứ Quảng và một số chí sĩ khác. Nhưng khi đến xem Bảo tàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo chuyển ảnh cụ Phan xứ Quảng lên ngang ảnh cụ Phan xứ Nghệ. Dù vậy thì trong sách vở cũng như trong suy nghĩ nhiều người, cách đặt cụ Phan xứ Quảng sau cụ Phan xứ Nghệ vẫn hầu như không thay đổi. Nhưng gần đây, hoặc trên sách báo hoặc ở các cuộc nói chuyện, xuất hiện khuynh hướng đặt cụ Phan xứ Quảng lên trên hết – không chỉ của giai đoạn đầu thế kỷ XX – mà còn như là người mở đường đi vào tương lai cho lịch sử.   Đúng là mỗi giai đoạn lịch sử có một yêu cầu. Từ yêu cầu vũ trang chống Mỹ trước đây mà người ta đề cao cụ Phan xứ Nghệ hơn. Từ yêu cầu phát triển dân chủ hôm nay mà đề cao cụ Phan xứ Quảng hơn. Quy luật nhận thức thông thường vẫn có điều đó.   Tuy nhiên đáng tiếc là trong khi đề cao cụ Phan xứ Quảng lại có sự hiểu chưa đúng về cụ Phan xứ Nghệ, do đó vô tình hay hữu ý hạ thấp cụ Phan xứ Nghệ một cách phi lý. Sự hiểu chưa đúng là ở chỗ đã đơn thuần hóa, tuyệt đối hóa cái gọi là đường lối cách mạng bạo động của cụ Phan xứ Nghệ, coi Cụ như là người chỉ có bạo động và bạo động, chẳng dính dáng gì đến duy tân, đến dân chủ.  Quả là cụ Phan xứ Nghệ đã chủ trương bạo động để cứu nước. Hịch Bình Tây thu Bắc Cụ viết năm 17 tuổi đã thể hiện tư tưởng đó.   Năm 1901, âm mưu đánh chiếm thành Vinh mà thất bại là hành động đầu tiên thể hiện tư tưởng bạo động của Cụ. Nhưng vào khoảng 1897, trong dịp vào kinh đô Huế, thì Cụ đã được cụ Nguyễn Thượng Hiền cho mượn nhiều tân thư để đọc và chính Cụ đã nói là nhờ đó mà mình được sáng mắt. Rồi đến năm 1903, trong khi cụ Phan xứ Quảng đang tại chức thì Cụ viết Lưu cầu huyết lệ tân thư mà nội dung chính được nêu là: 1) Mở trí khôn cho dân (khai dân trí); 2) Chấn hưng khí dân (chấn dân khí); 3) Vun trồng nhân tài (thực nhân tài). Trước khi Đông du, Cụ cũng đã đọc các “tân thư” như Mậu Tuất chính biến, Trung Quốc hồn của Lương Khải Siêu và Tân Dân tùng báo.   Năm 1904, Cụ vào Quảng Nam gặp cụ Nguyễn Thành để liên kết lực lượng, bàn chuyện Đông du cầu viện Nhật Bản mà sau đó được đặt tên là Duy Tân hội thì chính Nguyễn Thành nói với Cụ: “Duy nước Nhật Bản là một nước tân tiến ở trong nòi giống vàng mới đánh được nước Nga mà dã tâm đang hăng lắm… Qua tới đó, đem hết lợi hại tỏ với nó tất nó ứng viện cho ta… Vậy nên chúng ta muốn đứng khóc sân Tần(1) không chi bằng Nhật Bản”. Năm 1905, Cụ sang Nhật, tiếp xúc với Lương Khải Siêu và được góp ý: chỉ nhờ Nhật viện trợ thanh thế, ngoại giao, chứ để quân Nhật đã một lần vào thì quyết không có lý do gì đuổi nó ra được. Không khéo thì muốn tồn được nước mà làm cho mất nước mà thôi… Thực lực phải là dân trí, dân khí, dân tài… không lo có cơ hội độc lập. Chỉ lo không có nhân tài. Kế đó, tiếp xúc với chính khách Nhật Bản thì Bá Ôi bá tước cũng nói với Cụ, “nếu lấy binh lực giúp thì chưa được vì thế thì Nhật phải tuyên chiến với Pháp”. “Bây giờ là cần cổ động xuất dương, khiến cho lỗ tai con mắt mới mẻ một lần… thay được không khí hô hấp, tinh thần không mắc lấy cái khổ chết nghẹt. Đó là việc khẩn cấp ở trong đường cứu vong vậy”. Như thế là Cụ quả có tư tưởng bạo động trong chủ trương Đông du, nhưng thực tế lại chỉ làm công cuộc đào tạo nhân tài để phục quốc.   Năm 1906, Cụ về nước, gặp cụ Đặng Nguyên Cẩn bấy giờ đang cùng các cụ Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá… thuộc phái “minh xã” thành lập Triêu Dương thương quán tại thành phố Vinh, thì giữa các cụ là một sự hợp đồng tác chiến, không mảy may có chút bất đồng, khác trường hợp giữa Cụ với cụ Phan xứ Quảng trong cuộc hội kiến với nhau trên đất Nhật trước đó. Tác phẩm Hải ngoại huyết thư của Cụ viết ở Nhật cũng được gửi về trường Đông Kinh nghĩa thục và được cụ Lê Đại dịch nôm phổ biến. Quan hệ giữa Cụ – thuộc phái “ám xã” (bạo động cách mạng) – và phái “minh xã” (duy tân, cái cách) rõ ràng là hai mũi giáp công, hợp đồng tác chiến. Việc bất đồng với cụ Phan xứ Quảng chỉ là cá biệt. Nếu dựa vào ý kiến của cụ Phan xứ Quảng trong tác phẩm Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam viết trên đất Pháp vào khoảng 1913-14 dẫn đến thái độ ít nhiều coi rẻ cụ Phan xứ Nghệ là một việc làm phiến diện hoàn toàn so với thực tế. Cần thấy rằng việc cụ Phan xứ Quảng viết Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam để gửi cho hai tên trùm thực dân Pháp là Metsximi và Albert Sarraut trong đó tạo ra một sự đối lập cực đoan giữa mình với Phan Bội Châu bằng những lời có phần xúc phạm cụ Phan xứ Nghệ: “là người có chí khí, có nghị lực, nhẫn nhục, dám làm, có điều tin vào thì không chịu bỏ, dẫu có sấm sét cũng không chịu đổi. Nay sĩ phu khắp cả nước chưa ai có thể ví với ông ấy. Tiếc thay học thuật không rành, thời thế không rõ, thích dùng quyền thuật, tự dối mình dối người, ngoan cố không đổi”, “ngu”, “lầm lạc”, “ngoan cố”, “không chút động lòng”, “vì hỏng thi mà chạy sang Nhật ” [lời dịch của Nguyễn Văn Dương được in lại trong Phan Châu Trinh toàn tập – tập III, do Chương Thâu biên soạn, NXB Đà Nẵng – 2005, từ tr.66 đến tr.68]. Tự nhận mình thuộc đảng “cậy Pháp tự trị” còn đảng của Phan Bội Châu là “bài Pháp độc lập”, nên trước là “bạn” nay là “thù”(!) là một hiện tượng rất không bình thường và đầy mâu thuẫn. Phải thấy rằng tác phẩm này của cụ Phan xứ Quảng, với những gì còn lại hôm nay, thì đang là bản thảo và cũng chưa viết xong. Cho nên nếu hợp thức hóa, chính thức hóa nó để căn cứ vào đó mà nói thì vô tình đã gây bất lợi cho cụ Phan xứ Quảng.   Ai cũng biết Cụ Phan xứ Nghệ dù hơn năm tuổi vẫn gọi cụ Phan xứ Quảng là “tiên sinh.” (Hy Mã tiên sinh) trong tranh luận năm 1905. Và ngày cụ Phan xứ Quảng qua đời, Cụ Phan xứ Nghệ vẫn viết văn tế tiếc thương thống thiết: “Anh em ta đất rẽ đôi đường, tình chung một khối, gánh tồn vong ai cũng nặng nề, nghĩa chung thủy lòng càng bối rối…”. Đặc biệt là đến khoảng 1913- 1914, cụ Phan xứ Quảng mới viết Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam mà tân Việt Nam là gì thì văn bản còn lại chẳng có một chữ, còn trước đó gần chục năm, năm 1905, cụ Phan xứ Nghệ trên đất Nhật đã viết Tân Việt Nam. Nội dung gồm 10 điều sướng lớn và 6 điều mong lớn về một nước Việt Nam mới. Khuôn khổ bài viết này không cho phép nói nhiều về tác phẩm này. Nhưng chỉ đọc qua một đoạn sau đây cũng hình dung được thế nào là nước Việt Nam mới với chính thể quân chủ lập hiến trong đó có nội dung dân chủ dân quyền tưởng như chuyện của hôm nay đang phải phấn đấu mà cụ Phan xứ Nghệ đã phác họa lên là thế nào: “Cái nọc độc chuyên chế hại dân ấp ủ đã hàng ngàn năm nay từ bên Trung Quốc lây sang nước ta, đến nỗi một tên độc phu (vua) và vài vạn kẻ dung nhân (quan) làm cá làm thịt trăm họ dân ta… Sau khi duy tân rồi, dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh, dân quyền sẽ phát đạt, vận mệnh nước ta do dân ta nắm giữ. Giữa đô thành nước ta đặt một tòa Nghị viện lớn. Bao nhiêu việc chính trị đều do công chúng quyết định. Thượng nghị viện phải đợi Trung nghị viện đồng ý. Trung nghị viện phải đợi Hạ nghị viện đồng ý mới được thi hành. Hạ nghị viện là nơi đa số công chúng có quyền tài phán việc của Trung nghị viện và Thượng nghị viện. Phàm nhân dân nước ta, không cứ là sang hèn, giàu nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếu bầu cử… Sau khi duy tân rồi thì uy quyền nước ta ta cầm, nhân đạo của ta ta giữ, nền văn minh thông suốt, cửa tự do mở rộng, báo chí tràn đường, tân thư đầy ngõ, đơn từ kiện cáo, bút lưỡi hùng đàm, luận bàn đủ các việc nội trị ngoại giao. Người viết văn rộng đường trước thuật…”.   Vậy cho nên ở đây, vấn đề ai là người tiên phong dân chủ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX: cụ Phan xứ Quảng hay cụ Phan xứ Nghệ cũng là chuyện không đơn giản. Riêng với cụ Phan xứ Nghệ, sau nhiều năm tháng đeo đuổi con đường bạo động không thành, đến năm 1918, cũng đã ngả sang con đường “đề huề” để một thời bị chê trách, thậm chí có người coi đó như là một vết đen trong cuộc đời cách mạng của Cụ. Nhưng qua thời gian, đã xuất hiện những cách nghĩ khác. Bởi cuộc sống vốn có qui luật độc lập nhưng còn có qui luật phụ thuộc lẫn nhau. Mà giành độc lập không chỉ bằng một phương thức là bạo động mà còn phương thức bất bạo động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lãnh đạo công cuộc vũ trang cách mạng thành công nhưng cũng ký hiệp ước Fontainebleau tạm thời đặt đất nước trong khối Liên hiệp Pháp chẳng phải là theo qui luật phụ thuộc lẫn nhau đó ư.  Tóm lại, phải thấy công cuộc cứu nước của cụ Phan xứ Nghệ là ở thế đa dạng, đa chiều, vừa bạo động vừa duy tân, vừa lo chống Pháp vừa lo đấu tranh dân chủ. Trước cảnh ngộ đất nước lầm than thảm khốc nặng nề như thế thì không cứng nhắc một bề mà tương kế tựu kế, mà quyền biến, mà dĩ bất biến ứng vạn biến, thử phép này không được thử phép khác. Làm cách mạng với ý thức có “cách mạng văn minh” và “cách mạng dã man”. Cuộc đời của Cụ là từ văn hóa mà vào cách mạng. Vào cách mạng bằng cả sức mạnh văn hóa tới mức không ai hơn. Đến khi bị mất mùa cách mạng thì tranh thủ để được mùa văn hóa [trong 15 năm cuối đời phải an trí ở Huế, Cụ đã làm rất nhiều văn thơ yêu nước, trong đó có Việt Nam Quốc sử bình diễn ca]. Thử hỏi trong các chí sĩ cứu nước lừng danh ở đầu thế kỷ XX có ai như cụ Phan xứ Nghệ đó để được lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nguyễn Ái Quốc đã viết cho những lời này không: “Một bậc anh hùng, một vị thiên sứ được hai mươi triệu đồng bào sống trong vòng nô lệ tôn kính”. Sử sách từng coi cụ Phan xứ Nghệ là tấm gương phản chiếu trung thành nhất sự chuyển biến của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, từ đường lối cần vương sang quân chủ lập hiến, sang dân chủ tư sản và cuối cùng mon men đến trước ngưỡng cửa của dân chủ mới. Điều đó là hoàn toàn có căn cứ.   —-   (1) Trung Quốc thời Xuân Thu, Thân Bao Tư khi nước Sở bị nước Ngô chiếm đã sang nước Tần đứng khóc bảy ngày để cầu cứu viện binh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường ‘lưỡi bò’ là cơ sở cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc?      Không đòi hỏi phải có kiến thức luật pháp,  cũng không cần phải đo đạc chi tiết, bất cứ người bình thường nào không  quá hời hợt trong suy nghĩ đều thấy rõ đường ‘lưỡi bò’ (còn được gọi là  đường chữ U, đường 9 vạch / đoạn / điểm – cửu đoạn tuyến) khó có thể là  đường biên giới trên biển của Trung Quốc (TQ) vì sự vô lí hiển nhiên của  nó.       Đó là một phần chia lấy được của kẻ mạnh1 của TQ đối với Biển Đông (xem hình 1). Ngay cả một số học giả TQ cũng không đồng ý điều này và thậm chí vào năm 2002 giáo sư Cát Quốc Hưng (Ji Guoxing) đã dự đoán rằng TQ sẽ sớm từ bỏ nó2.  Trong “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển”3 giữa TQ và Việt Nam mới kí ngày 11/10/2011, điều 2 có nêu rằng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên sẽ là căn cứ để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Nếu tuân thủ theo điều này thì ĐLB của TQ hoàn toàn không có cơ sở pháp lí vì vượt quá trung tuyến, xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước láng giềng theo quy định của UNCLOS. Tuy nhiên, điều 2 lại mở đầu với ý “xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử …”. Ngoài ra, tuy kí kết UNCLOS nhưng TQ lại đưa ra những bảo lưu trong đó có các quyền lịch sử4. Thêm vào đó, một số học giả TQ như Vương Hàn Lĩnh (Wang Hanling) lại cho rằng đường lưỡi bò có từ năm 1947, trong khi UNCLOS chỉ mới có từ năm 1982, nên không thể áp dụng cho tranh chấp Biển Đông5. Điều này tạo ra mối quan ngại TQ sẽ dùng đường lưỡi bò làm cơ sở để biện giải yêu sách chủ quyền của họ trong các tranh chấp. Bài viết này là một nỗ lực nhằm góp phần làm sáng tỏ điều này dựa trên các thông tin trên truyền thông quốc tế.  Trước hết, xin được điểm qua đôi nét về gốc gác của bản đồ có ĐLB này.  Theo hai tác giả Lí Kim Minh và Lí Đức Hà, Đại học Hạ Môn, Phúc Kiến6 thì tiền thân bản đồ ‘lưỡi bò’ hiện nay là Bản đồ vị trí của các đảo Biển Đông (南海诸岛位置图 – Nanhai zhudao weizhi tu – Nam hải chư đảo vị trí đồ) kèm theo Bản đồ hành chính khu vực Trung Hoa Dân Quốc (中 華 民 國 行 政 區 域 圖 – Zhonghua minguo xingzheng quyu tu – Trung hoa dân quốc hành chánh khu vực đồ) do Cục Địa lí Bộ Nội Chính Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) chính thức công bố vào tháng 2 năm1948. Các bản đồ này do Phó Giác Kim (Fu Jiaojin) hiệu đính và do Vương Tích Quang (Wang Xiguang) cùng những người khác biên soạn. Riêng bản đồ vị trí đính kèm này đã được Cục Địa lí Bộ Nội Chính in vào năm 1947, trong đó có sử dụng đường 11 vạch giới hạn các đảo ở Biển Đông. Sau đó chính phủ Tưởng Giới Thạch bị lật đổ và nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) được thành lập vào năm 1949, chính phủ mới vẫn dùng bản đồ cũ với đường 11 vạch. Đến năm 1953, Thủ tướng Chu Ân Lai phê duyệt bỏ đi phần hai vạch của đường này trong Vịnh Bắc Bộ. Từ đó trở đi, bản đồ với đường 9 vạch trong Biển Đông được TQ sử dụng cho tới bây giờ.  Còn theo giáo sư Vũ Kiên Hồng Peter (Peter Kien-Hong Yu), Đại học Minh Truyền (Ming Chuan), Đài Loan7 thì ĐLB được một người làm bản đồ tên là Hồ Tấn Tiếp (Hu Jinjie) phác hoạ đầu tiên vào năm 1914 sau khi Trung Hoa chiếm lại Pratas từ tay Nhật vào năm 1909. Cũng lưu ý rằng ĐLB của Hồ Tấn Tiếp là một đường liên tục chạy từ biên giới đất liền của TQ và VN vòng xuống bao lấy Hoàng Sa (với điểm tận cùng phía Nam khoảng 15°, 16° vĩ bắc) sau đó vòng lên bọc lấy Pratas, chạy xuyên qua eo biển Đài Loan và cuối cùng kết thúc ở đường ranh giữa biển Hoa Đông và Hoàng Hải.8 Như vậy, ĐLB của Hồ Tấn Tiếp không chứa Đài Loan (lúc đó còn trong tay Nhật) và Trường Sa. Các bản đồ có liên quan sau đó đều dựa theo bản đồ của Hồ Tấn Tiếp9. Đến tháng 12 năm 1947 ĐLB mới được một viên chức của chính phủ THDQ tên Bạch Mi Sơ (Bai Meichu) chính thức vẽ vào vùng Biển Đông nhưng tác giả không nêu rõ trong bản đồ nào. Lí do để viên chức họ Bạch vẽ đường này cũng chưa thật rõ ràng10, tuy nhiên ông này đã từng hiệu đính bản đồ có ĐLB tương tự trong tập Bản đồ Kiến thiết Trung Hoa mới (中 國 建 設 新 地 圖 – Zhongguo Jianshe xin ditu – Trung quốc kiến thiết tân địa đồ) in vào giữa những năm 193011. Chính trong bản đồ này ĐLB lại mở rộng thêm lần nữa tới tận 4° vĩ bắc, bao luôn cả bãi cạn James (xem tài liệu ở chú thích 10).  Tài liệu của tác giả họ Vũ không có kèm bản đồ, còn tài liệu của hai tác giả họ Lí có đưa vào bản đồ 9 vạch nhưng không phải từ bản đồ gốc năm1947 hay 1953 mà lấy nguồn từ nước ngoài (Hasjim Djalal, “Conflicting Territorial and Jurisdictional Claims in South China Sea,” The Indonesian Quarterly, vol. 7, no. 1 (1979), 36 at 52). Nguồn từ trang mạng www.nansha.org.cn cũng có đưa ra bản đồ 11 vạch năm 1947 (hình 2) với tên bản đồ này là “Nam hải chư đảo vị trí lược đồ” (南海诸岛位置略图), tuy nhiên tên trên bản đồ (có vẻ mới dán chồng lên) chỉ là “Nam hải chư đảo vị trí đồ”, không có từ “lược” (南海诸岛位置图 – Nanhai zhudao weizhi tu)12 giống như hai tác giả họ Lí trình bày. Bài ‘Bản đồ chữ U : nguồn gốc và địa vị pháp lí’ (Nam hải “cửu đoạn tuyến” đích lịch sử do lai hòa pháp luật địa vị – 南海“九段線”的歷史由來和法律地位)13 trên trang mạng Hoàn cầu của nhà nước TQ cũng ghi là “Nam hải chư đảo vị trí lược đồ”.            Hình 1: Bản đồ ĐLB 9 vạch đính kèm theo công hàm TQ gửi               Liên Hiệp Quốc năm 2009    Hình 2:Bản đồ ĐLB 11 vạch “              Nam hải chư đảo vị trí đồ”               1947 trên www.nansha.org.cn          Gần đây, các tác giả TQ khi viết bài gửi đăng trên các tạp chí quốc tế như Journal of Geographical Sciences (Tháng tám 2010),Nature (Tháng chín 2010), Science (Tháng bảy 2011), Waste Management (Tháng tám 2011), and Journal of Petroleum Science and Engineering(Tháng tám 2011)… cũng kèm theo bản đồ ĐLB. Chẳng hạn, ĐLB kèm theo bài báo của nhóm Jun Tai, Weiqian Zhang, Yue Che, Di Feng đăng trên tập san Waste Management gồm 11 vạch bao luôn quần đảo Đài Loan (hình 3). Trên bản đồ Google, phiên bản tiếng Anh, có lẽ lấy nguồn từ TQ, cũng có bản đồ ‘lưỡi bò’ 10 vạch (hình 4). Bản đồ này có vẻ suy từ bản đồ 9 vạch 2009 bằng cách thêm 1 vạch phía quần đảo Đài Loan.  Nhân đây cũng lưu ý thêm rằng, khó có thể nói là vô tình khi chính quyền TQ đã để các tổ chức và công dân TQ nguỵ tạo ra các bản đồ, như trên trang mạng www.spratlys.org có phổ biến các bản đồ đời Minh, Nguyên, Tống… và thậm chí trước nữa. Ở góc mỗi bản đồ này đều có đính bản đồ ‘lưỡi bò’ nhỏ ra vẻ như ĐLB đã có từ các thời xa xưa đó14 trong khi theo các nghiên cứu chính thức đã nêu thì bản đồ này chỉ có từ 1947.             Hình 3: Bản đồ ĐLB 11 vạch của               học giả TQ đăng trên tạp chí               Waste Management      Hình 4: Bản đồ ĐLB 10 vạch trên google maps – phiên bản tiếng Trung          Mặc dù nguồn gốc của ĐLB theo các tư liệu trên có một số chi tiết chưa thật rõ ràng và chưa nhất quán nhưng phần trình bày trên có thể cho thấy khá rõ mấy điều sau đây:  (i)    TQ chỉ chính thức công bố với thế giới bản đồ ĐLB 9 vạch vào tháng 5/2009 khi họ kèm bản đồ này vào công hàm gửi LHQ. Bản đồ này có thể là một bản sao của bản đồ Chu Ân Lai duyệt vào năm 1953. Tất cả các bản đồ có ĐLB trước đó đều chỉ công bố trong nước và các bản đồ có ĐLB khác (10 vạch, 11 vạch, gần liền nét …) do đó, đều không chính thức về mặt ngoại giao nên chỉ có tính tham khảo.  (ii)    Bản đồ ĐLB 11 vạch có sớm nhất là vào năm 1947 và sau khi qua phê duyệt của Chu Ân Lai năm 1953, ĐLB trong các bản đồ sau đó chỉ còn 9 vạch.  (iii)    Đường ‘lưỡi bò’ không phải là chủ trươngchính thức của các chính phủ Trung Quốc, ít nhất là ngay từ lúc xuất hiện mà có nhiều khả năng chỉ xuất phát từ quan điểm cá nhân (Hồ Tấn Tiếp, Bạch Mi Sơ, Vương Tích Quang… ) hoặc một tập thể nhỏ (Cục Địa lí Bộ Nội Chính THDQ). Việc mời Bạch Mi Sơ về Bắc Kinh năm 1990 để tìm hiểu lí do cho việc vẽ đường này15 là một minh chứng hùng hồn cho thấy TQ không có hồ sơ lịch sử nào của nhà nước về đường này.  (iv)    Bản đồ ĐLB ban đầu không phải là bản đồ để phân ranh chủ quyền các đảo và càng không phải phân ranh các vùng nước trong biển Đông: Tên của bản đồ là “Nam hải chư đảo vị trí đồ” cho thấy nó chỉ là bản đồ cho biết vị trí các đảo (chư đảo) trong Biển Đông (Nam hải) không phải là bản đồ chính trị mặc dù được kèm theo Bản đồ hành chánh khu vực THDQ tháng 2/1948.   Với nguồn gốc ấy, bản đồ 9 vạch 2009 không thể nào là một cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của TQ đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Xin đơn cử các phân tích sau đây:  1.    Giả định rằng bản đồ 9 vạch 2009 là bản sao của bản đồ 9 vạch 1953, vốn có tiền thân là bản đồ 11 vạch 1947. Chúng ta có thể bắt đầu phân tích từ bản đồ cũ này. Như nêu ở (iv), bản đồ 11 vạch năm 1947 chỉ là bản đồ cho biết vị trí các đảo ở Biển Đông (như tên của nó), chưa kể đây chỉ là lược đồ (theo hai tác giả họ Lí và bài trên trang mạng Hoàn cầu đã dẫn) chứ không phải là bản đồ chi tiết (tinh đồ). Lưu ý rằng việc định vị các đảo trên biển không nhất thiết là một hành động thể hiện chủ quyền vì bất cứ tổ chức hay cá nhân cũng có thể làm điều đó theo các mục đích riêng của mình (đi lại, giao dịch, phổ biến kiến thức…). Ví dụ, các nhà hàng hải Hà Lan, Tây Ban Nha đã từng vẽ bản đồ Biển Đông và chú thích các đảo của Trường Sa, [Hoàng Sa] là của VN16. (chứ không ghi là của Hà Lan hoặc là của Tây Ban Nha).  Bản đồ 11 vạch này kèm theo bản đồ hành chính khu vực của THDQ tháng 2 năm 1948 với ý đồ gia tăng tính chính thức hơn nhưng tên gọi vẫn không đổi và không có thêm chi tiết nào chứng tỏ các đảo hay vùng nước trong ĐLB đó thuộc một đơn vị hành chánh nào đó của THDQ. Do vậy, giá trị nó vẫn như cũ. Một số học giả và tác giả bài ‘Bản đồ chữ U: nguồn gốc và địa vị pháp lí’ lập luận rằng TQ đã từng đặt tên và đổi tên các đảo từ những năm 1930 coi như hành động thực hiện chủ quyền. Đây cũng chỉ là một lập luận không vững chắc vì việc đặt/thay tên không nhất thiết là một hành động thể hiện chủ quyền, chẳng hạn năm 1843 tàu săn cá voi Anh the Cyrus “khám phá” đảo Trường Sa, Bộ Hải quân Anh lấy tên thuyền trường tàu này để đặt tên cho nó là “Spratly Island”17, nhưng Trường Sa đang dưới sự quản lí của triều đình VN lúc đó và cũng đã có tên. Còn bản đồ 1953 thực chất là bản đồ 1947 bỏ bớt 2 vạch và bản đồ 2009 chỉ kèm theo công hàm mà không có giải thích gì thêm về 9 vạch chèn vào nên cũng không làm sáng tỏ gì hơn về mặt chủ quyền.  2.    Như nêu ở (i), các bản đồ này chỉ dùng trong nội bộ TQ chưa bao giờ công bố cho thế giới hoặc ít ra là các nước liên quan (láng giềng, các nước đi biển…) một cách chính thức cho tới tháng 5 năm2009. Với tư cách là một thành viên sáng lập chủ chốt Liên Hiệp Quốc (LHQ) từ năm 1945, nếu muốn giành lấy gần trọn Biển Đông theo bản đồ này thì THDQ phải công bố nó ít ra là cho các thành viên LHQ khác biết sau khi nó được vẽ ra một thời gian ngắn sau đó. Hơn nữa, TQ nói chung (THDQ trước 1971 và CHNDTH sau đó) còn là thành viên thường Hội đồng bảo an LHQ thì họ càng phải làm điều này sớm hơn, không phải đến tháng 5 năm 2009. Đây là một điều khó chấp nhận cho một quốc gia, huống hồ quốc gia đó lại còn là thành viên thường trực HĐBA LHQ. Cách hành xử của một quốc gia lớn trên thế giới lại kém xa một cá nhân, chẳng hạn như Tomás Cloma của Philippines. Khi muốn sở hữu một số đảo và vùng biển của Trường Sa mà theo ông là vô chủ, Tomás Cloma đã thông báo rõ ràng cho thế giới biết với “Tuyên Ngôn cho toàn thế giới” (Proclamation to the Whole World) vào ngày 15/5/1956 nêu rõ đòi hỏi của mình18. Một cá nhân hành xử dù ngay trên đất thuộc quyền sở hữu của mình mà có thể ảnh hưởng tới sinh hoạt của láng giềng vẫn cần thông báo cho xung quanh biết. Huống hồ đây là một vùng biển chung của hơn 10 nước và xa hơn là của toàn thế giới19, nhưng TQ mập mờ tuyên bố như là vùng biển của riêng mình ngoài sự nhận biết của cả thế giới. Nếu TQ đòi hỏi các nước phải công nhận những bản đồ, tài liệu do TQ đưa ra mà không công bố cho thế giới, TQ cũng phải công nhận các bản đồ, tải liệu của tất cả các nước, trong đó có các bản đồ cổ của VN nêu rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của VN!  3.    Bàn về biên giới quốc gia (tự nhiên / nhân tạo), bao giờ đó cũng là một đường kín, liên tục và không hề có quan niệm ranh giới quốc gia là một đường mở. (Có thể dùng đường không liên tục để thể hiện đường ranh giới trên bản đồ, nhưng đường không liên tục đó có thể nối thành đường liên tục theo một cách không tranh cãi nhờ một hệ thống toạ độ tối thiểu nào đó.) Còn ‘ba biển’ như người TQ quan niệm [Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải (Biển Đông)] chỉ là cách gọi để hình dung vị trí địa lí của các vùng biển này, nhưng khi nhìn tổng thể thì ba biển này chỉ là một vùng nước liền lạc thuộc Thái Bình Dương ở về phía Đông và Đông Nam lãnh thổ đất liền của TQ. Trên thực tế, Thái Bình Dương cũng là một vùng nước nằm trong một vùng nước liên thông lớn hơn của của trái đất – không kể các vùng nước nhỏ hơn như ao hồ và các biển kín trong các đại lục.   Do đó, ngay cả khi bỏ qua điều gây tranh cãi là làm sao nối các vạch này thành một đường liên tục20 (xem hình 5) cũng như giả định rằng vạch cuối cùng phía VN có thể nối một cách hợp lí vào biên giới trên đất liền của TQ và Việt Nam thì TQ cũng không thể nào thuyết phục rằng ĐLB đó là một đường biên giới biển của họ. Lí do đơn giản là TQ không có một tài liệu hay bản đồ nào khác cho thấy ĐLB này sẽ kéo dài tiếp tới biên giới đất liền của TQ với Bắc Triều Tiên (chỗ tiếp giáp với Hoàng Hải ở tỉnh Liêu Ninh, Mãn Châu) để tạo thành một đường biên giới biển kín và liên tục theo đúng nghĩa. Nếu có, chắc chắn họ đã đem ra để tranh cãi với Nhật trong việc tranh chấp quần đảo Senkaku (Tiêm Các/Điếu ngư).  Cũng lưu ý thêm rằng ngay cả khi TQ kéo dài ĐLB thành đường kín, liên tục và điều chỉnh nó đúng theo UNCLOS thì đường đó cũng không phải là đường biên giới theo nghĩa tuyệt đối như trên đất liền. Bởi vì đối vùng nước nằm giữa đường này và lãnh hải 12 hải lí, họ không được toàn quyền (và trách nhiệm) như với lãnh thổ trên đất hay lãnh hải, ví dụ tàu bè nước khác có thể qua lại vô hại, nghiên cứu khoa học…trong đó. Hơn nữa, nếu quy về năm 1947 thì quan niệm phổ biến về biên giới biển chỉ là ranh giới tự nhiên (bờ biển) hay đường biên của lãnh hải mà bề rộng theo luật quốc tế lúc đó không rộng quá 3 hải lí. Do đó, một ĐLB mù mờ với bề rộng cả ngàn hải lí lại in trên bản đồ vị trí các đảo (mà chủ quyền của họ đối với chúng cũng còn tranh cãi) thì không thể nào quan niệm đó là đường biên giới biển. Nếu TQ quan niệm khác thì phải công bố và giải thích rõ ràng cho cả thế giới chứ không phải chỉ in bản đồ phổ biến nội bộ rồi đòi hỏi các nước khác phải quan niệm và hiểu như mình.      Nguồn: US Energy Information Administration  Nguồn: http://www.ellentordesillas.com                        Hình 5: Dù ĐLB 1947 và 2009 có sai biệt lớn (xem hình 6) nhưng 2 ĐLB liên tục này sai biệt quá mức          4.    Đối với TQ chủ quyền đất nước bao giờ cũng là thiêng liêng, dù một tấc đất/biển cũng không từ bỏ. Do đó,ngay cả giả sử rằng TQ quả thật có một đường biên giới biển cho vùng “ba biển”( mở rộng của ĐLB 9 vạch) thì không thể không thắc mắc về câu trả lời của Bộ trưởng ngoại giao Tiền Kì Tham cho Indonesia hồi năm 1993 và thái độ của chính phủ TQ sau đó. Khi đó, Indonesia thắc mắc về việc “luật Lãnh hải và các vùng tiếp giáp” năm 1992 của TQ có đưa vào ĐLB và đường này có vẻ lấn vào quần đảo Natuna. Tiền Kì Tham nói rằng đảo Natuna đông dân cư và quan trọng về kinh tế sẽ không bị TQ đòi giành chủ quyền đâu (lí do không xác đáng theo quan điểm chủ quyền lãnh thổ nêu trên). Sau đó TQ chưa bao giờ xác nhận chính thức điều này21 (biên giới phải rõ ràng không thể mù mờ đến nỗi không thể trả lời ổn thoả cho láng giềng được). Cứ cho đây là một câu trả lời bị động thì cũng khó có thể giải thích việc thủ tướng TQ Chu Ân Lai loại bỏ hai vạch trong vịnh Bắc bộ vào năm 1953. ĐLB 11 vạch vốn không rõ ràng, bỏ đi hai vạch làm nó càng mù mờ hơn. Hãy thử so sánh, nếu như trên các bản đồ đất liền, Chu Ân Lai xoá đi một khoảng trên đường biên giới Trung – Xô rồi cho công bố thì liệu người TQ (và cả Liên Xô) có chấp nhận hay không. Ngoài ra, cũng không thể giải thích được sự im lặng quá lâu của TQ trong việc công bố đường này với thế giới. Lí do bận nội chiến (từ 1948 đến1949) hay củng cố nội bộ (từ 1949 đến 2009) khó có thể biện minh cho việc chậm công bố này. Chỉ có thể có một cách giải thích cho đường chữ U, đó chính là sự tùy tiện áp đặt của các nhà vẽ bản đồ Trung quốc khiến cho giới cầm quyền tranh thủ cơ hội mở rộng yêu sách mà thôi.  5.    Khi so sánh các bản đồ ở hình 1, hình 2 (cho rằng bản này sao từ bản gốc), hình 3 và hình 4 ta dễ thấy có sự tuỳ tiện và ngày càng lấn tới hơn trong quá trình biên soạn. Các vạch của bản đồ 2009 không những không trùng với các vạch trong bản đồ 1947 mà còn có khuynh hướng làm cho mơ hồ hơn (các vạch ngắn hơn, thưa ra) và tham lam hơn (các vạch gần với bờ biển của các nước láng giểng hơn). Điển hình nhất cho sự tham lam và mơ hồ là việc bố trí lại các vạch ở đầu ‘lưỡi bò’ trong bản đồ 2009 so với bản đồ 1947. Vạch ngăn cách ‘lưỡi bò’ với quần đảo Natuna của Indonesia bị dời về phía Việt Nam và làm ngắn lại, còn vạch cạnh bờ biển Malaysia bị làm ngắn đi thành gần như đoạn thẳng (xem hình 5). Vì thề chúng trở nên mơ hồ hơn và từ đó TQ có thể tuỳ nghi giải thích ‘lưỡi bò này có ‘liếm’ trọn quần đảo Natuna hay không tuỳ theo cuồng vọng và sức mạnh của họ.  Bản đồ 3, mặc dù xuất hiện sau bản đồ 2 (bản đồ TQ công bố chính thức với thế giới) có vẻ quyết đoán hơn, có thêm haivạch nữa lên tới ngang Hạ Môn (Xiamen) ‘bao’ luôn cả Đài Loan. Hơn nữa, vị trí các vạch của bản đồ này có vẻ có nhiều khác biệt với 9 vạch trong bản đồ 2009 và cũng không giống 11 vạch của bản đồ 1947. Còn bản đồ 4 nhát gừng hơn, giảm bớt một vạch so với bản đồ 3 nên chỉ bao một phần đảo Đài Loan22. Cũng lưu ý thêm, có lẽ để tạo vẻ hợp lí nhằm mà mắt thế giới, 1 hay 2 vạch thêm này đã được vẽ khá gần Đài Loan. Điều này rõ ràng không nhất quán với sự tham lam về độ xa của 9 vạch gốc23 và logic của cách giải thích về biên giới biển của TQ24: 1 hay 2 vạch thêm này đáng lẽ phải cách xa Đài Loan hơn chứ không phải chỉ mấy chục hải lí như họ đã vẽ. (Đài Loan là đảo có nền kinh tế riêng nên theo UNCLOS được hưởng gần như mọi quy chế của đất liền.)  Ngoài ra, việc đưa ĐLB vào các bản đồ google, tài nguyên biển (như bản đồ của CNOOC ở hình 7)… hoặc chèn các bản đồ có ĐLB vào các công trình khoa học (chưa kể có phù hợp hay không) cho thấy TQ càng tuỳ tiện. Lòng tham chiếm trọn biển Đông làm TQ mờ mắt không nhớ rằng họ còn các vùng biển/đảo ở biển Hoa Đông và Hoàng Hải cũng cần phải thể hiện/giành phần (với Nhật và 2 nước Hàn) trên bản đồ. Hãy tưởng tượng nếu như Mĩ vẽ bản đồ tài nguyên biển hay bản đồ liên quan tới các công trình nghiên cứu cho toàn nước Mĩ mà chỉ đề cập đến phần biển ở vùng vịnh Mexico và ‘quên’ không đá động gì đến phần ở Đại Tây Dương (cũng như các phần ở Thái Bình Dương ngoài bờ biền phía California,Hawaii và Alaska và phần ở Bắc Băng Dương) thì sẽ phi lí dường nào.. Chỉ có một cách giải thích duy nhất cho việc này là lòng tham đối vời Biển Đông đã làm TQ quên mất những lẽ phải và logic thông thường. Như vậy rõ ràng rằng nếu ĐLB là một bộ phận của đường biên giới biển của TQ thì các vạch sẽ có toạ độ rõ ràng và do đó sẽ không có những tuỳ tiện/sai biệt quá đáng và các điều phi lí nêu trên.            Hình 6: ĐLB 9 vạch mơ hồ và tham lam hơn ĐLB 11 vạch (tô thêm màu vàng)              [Hình 6 được tạo bằng cách chồng               bản đồ 2009 lên trên bản đồ 1947]     Hình 7: “Tham quá mất khôn”, ĐLB trong bản đồ của CNOOC không dám giành dầu với Nhật và Hàn Quốc ở Đông Hải và Hoàng Hải           6.    Tuyên bố về lãnh hải của TQ năm 1958, TQ cho biết rằng giữa đất liền và các quần đảo ở Biển Đông có một số khu vực là các vùng biển quốc tế (high seas)25. Điều này có nghĩa là ‘bên trong’ có những phần không thuộc TQ do đó càng cho thấy ĐLB không thể là biên giới biển của TQ. Ngoài ra, luật về lãnh hải và thềm lục địa 1998 của TQ có quy định vẽ đường cơ sở cho quần đảo Hoàng Sa dựa theo UNCLOS (nhưng không vẽ cho Trường Sa). Vì thế, nếu nhà nước TQ đã coi đường lưỡi bò là biên giới biển thì việc vẽ đường cơ sở cho Hoàng Sa là thừa thãi và không cần thiết. Lập luận này được nhiều học giả quốc tế cũng như của chính TQ phân tích.26 Có tác giả, như Vũ Kiến Hồng Peter tìm cách chống chế rằng việc vẽ đường cơ sở cho Hoàng Sa là một hình thức bảo hiểm kép. Một khi có bảo hiểm kép tức là người tuyên bố đã không có một sự chính xác xác quyết về chân lý của mình! Nếu TQ không giành được sự ủng hộ về vùng nước lịch sử (‘bên trong’ ĐLB) thì họ vẫn còn đường cơ sở và có thể EEZ và thềm lục địa cho Hoàng Sa. Đây là một hình thức tự bộc lộ chân tướng, vì như đã nói ở trên chủ quyền là thiêng liêng không thể có việc nhân nhượng. Trong khi TQ rào đón trong ngoài đối với những đường tự nghĩ ra và cách biệt của bản vẽ mỗi lần mỗi gia tăng! Ngoài ra, nếu chấp nhận ĐLB là ranh giới ‘vùng biển lịch sử’ của TQ ở Biển Đông thì tại sao ở biển Hoa Đông, Hoàng Hải ngay ‘mặt tiền’ của TQ, hẳn là họ phải đi lại thường xuyên và lâu đời hơn lại không có ranh giới cho các ‘vùng biển lịch sử’27 dù chỉ một phần nhỏ diện tích của hai biển này Với sự vô lí như thế, ĐLB không thể nào tạo ra được một tiền lệ về ‘vùng biển lịch sử’ hay ‘quyền lịch sử’ ngoài lãnh hải, những khái niệm chỉ dành cho vùng biển gần bờ.  7.    Như nêu ở (iii) TQ không có một chủ trương chính thức rõ ràng về ĐLB. Có thể vì thế mà TQ chưa bao giờ xác định rõ TQ đòi hỏi điều gì với ĐLB. Ngay cả khi TQ chính thức công bố ĐLB thì chỉ kèm vào công hàm một bản đồ thô không có bất cứ giải thích nào thêm. Lưu ý rằng, ngay sau khi TQ nộp bản đồ, Indonesia cũng đã chính thức gửi công hàm cho LHQ phản bác bản đồ này nhưng TQ vẫn không lên tiếng. Họ cũng không dám chấp nhận thách thức các nước cùng nhờ Toà án quốc tế phân giải. Cũng có chứng cớ cho thấy TQ có vẻ đã ép các học giả của họ đưa ĐLB vào các bài báo khoa học gửi đăng trên các tạp chí quốc tế28 với ý đồ lợi dụng uy tín của các tạp chí này nhằm chính thức hoá bản đồ không hợp lẽ này. Nếu thật sự họ có một biên giới biển thì các công trình khoa học tương ứng của nước họ phải bao gồm toàn bộ vùng lãnh thổ đất liền và lãnh thổ trên cả ‘ba biển’ của họ chứ không phải chỉ một cái ‘lưỡi bò’ hở, lơ lửng ở một mình Biển Đông như trong bản đồ hình 4. Tất cả điều này có thể vừa là hậu quả vừa là chứng cớ của sự thiếu thốn về chủ trương nói trên.   8.    Những tuyên bố theo từng thời gian của TQ cũng cho thấy sự bất nhất của họ trong tuyên bố chủ quyền:  Vào năm 1947 luật quốc tế chỉ cho phép lãnh hải 3 HL, cho nên nếu ĐLB là nhằm để đòi biển thì đó là một đòi hỏi phi pháp và không có hiệu lực pháp lý.  Tuyên bố lãnh hải 1958 của TQ đòi lãnh hải 12 HL,và công nhận bên ngoài đó là biển quốc tế. Vậy thì hà cớ gì lại đòi thêm nữa? Có phải là vừa tùy tiện vừa bất nhất?  TQ phê chuẩn UNCLOS, tức là chấp nhận bỏ những gì vi phạm UNCLOS. Đường lưỡi bò là một sản phẩm không có một lập luận nào liên quan UNCLOS cả.   Tóm lại, bản đồ ‘lưỡi bò’ vốn là sản phẩm của cá nhân được nhà nước TQ thổi phồng thành của quốc gia nên họ không thê có đủ chứng lí để thuyết phục thế giới. Chính vì vậy, TQ luôn luôn luôn mập mờ về bản đồ này, lời nói và hành đông của họ mâu thuẫn và thiếu nhất quán với nhau và thậm chí họ dùng cả các thủ đoạn ma mãnh, cách thức vô nhân đạo như cấm đánh bắt cá, giết hại và xâm phạm ngư cụ ngư dân, thao dượt quân sự, cắm cờ đáy biển… để cố làm bản đồ này thành chính thức như đã phân tích bên trên. Vì vậy, bản đố ĐLB, dù phiên bản nào cũng đều không chính danh, không thuận nghĩa, không hợp lẽ và nhất là không đúng lí để làm cơ sở cho các tuyên bố chủ quyền của TQ. Chính TQ cũng đã thấy rõ sự vô lí của mình nên đã thú nhận và lơ lửng, lấp liếm trong bài trên mạng Hoàn cầu đã dẫn rằng “Mặc dù chính phủ Trung Quốc xưa nay chưa từng giải thích và thuyết minh gì về “đường 9 đoạn”, song đường này đã được các ban ngành của chính phủ Trung Quốc đề xuất và thẩm định, đã được đánh dấu trên bản đồ xuất bản chính thức, nên cần được coi là một lập trường và chủ trương nào đó của chính phủ Trung Quốc”  (người viết nhấn mạnh). Và đặc biệt trong công hàm 14/4/2011phản đối lại công hàm của Philippines phản đối đường 9 vạch, họ không đề cập gì nữa đến đường này mà chủ yếu chỉ dùng những khái niệm có trong UNCLOS. Tổng hợp lại, có thể khẳng định với độ chắc chắn cao rằng ĐLB không thể là cơ sở lịch sử hay pháp lí cho tuyên bố chủ quyền của TQ tại Biển Đông!  Bài viết này được các ý kiến đóng góp quý báu của Dương Danh Huy   —  Chú thích:  1. “Lion’s share” theo ngụ ngôn Aesop  2. Xem Cát Quốc Hưng (Ji Guoxing), What China Exactly Claims in the South China Sea, Australian Royal Navy Sea Power Centre, April 2002 (TQ thực sự muốn gì trên Biển Đông): Vì các tuyên bố về đường chín vạch và vùng nước lịch sử không phù hợp với quy định của UNCLOS, dự kiến rằng TQ sẽ từ bỏ chúng trong những năm tới. Việc TQ bỏ các điều này sẽ có tác dụng như là một bước đột phá cho tiến trình dàn xếp tranh chấp.  3. Xem http://thongtinbiendong.blogspot.com/2011/10/thoa-thuan-viet-trung-ve-nhung-nguyen.html  4. Xem Marvin C. Ott Deep Danger: Competing Claims in the South China Sea, bản dịch tiếng Việt ở http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1434-yeu-sach-mau-thun–bin-ong-nhng-him-ha-khon-lng và tài liệu ờ chú thích 8.  5. Dĩ nhiên, đây chỉ là việc ‘cãi chày cãi cối’ như giáo sư Ngô Vĩnh Long nhận xét trong bài phỏng vấn ở http://www.viet-studies.info/kinhte/NgoVinhLong_VuongHanLinh_RFI.htm, vì một khi đã kí và phê chuẩn UNCLOS thì theo luật hiệp ước TQ phải điều chỉnh lại luật lệ và cách hành xử của mình cho phù hợp với hiệp ước.  6. Li Jinming & Li Dexia, The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note, The School of Southeast Asian Studies Xiamen University Xiamen, Fujian, China, 2002.  7. Peter Kien-Hong Yu, The Chinese U-shaped line in the South China Sea: points, lines, and zones, Institute of Southeast Asian Studies (ISEAS), 2003  8. Xem Zou Keyuan, South China Sea Studies in China: Achievements, Constraints and Prospects, Singapore Year Book of International Law and Contributors, 2006.  9. Thật ra, sau khi Pháp thay mặt VN thực thi tiếp tục chủ quyền ở trên 9 đảo ở Trường Sa năm1933, TQ mở rộng lưỡi bò xuống tới giữa vĩ tuyến 7° và 9° bắc, xem tài liệu nói ở chú thích 10.  10. Theo Huang Yi and Wet Jingfen, “The Legal Status of the South China Sea,” in Taiwan on the Move, edited by Jeh-hang Lai and George T. Yu (Taiwan: National Central University, October 1998), p. 213. Hè năm 1990 Bạch Mi Sơ được mời tới Bắc Kinh để giải thích lí do vẽ đường lưỡi bò. Khi đó ông ta đã trên 80 nên vì tuổi già ông ta không nói được chính xác lí do cho hành động của mình lúc đó. Tuy nhiên, ông ta có nói “daoyu guishu Man [xian]” (岛 屿 归 属 线 – đảo dữ quy thuộc tuyến – các đảo quy vào trong đường đó [thuộcTQ]).  11. Bài viết của 2 tác giả họ Lí nêu chính xác năm xuất bản là 1936 và cho biết đường này có dạng như đường biên giới nằm trong Bản đồ biên giới biển mở rộng phía Nam của Trung Quốc (海 疆 南 展 后 之 中国 全 图 – Haijiang nan zhan hou zhi Zhongguo quantu – Hải cương nam triển hậu chi Trung Quốc toàn đồ) và là bản đồ thứ hai trong tập bản đồ kiến thiết nói trên.  12. Xem http://www.nansha.org.cn/islandsdatabase/4/South_China_Sea_Islands_Names.html  13. Xem http://v.huanqiu.com/history/201107/20110701221442.shtml, bản dịch tiếng Việt “Nguyên do lịch sử và địa vị pháp lí của ‘đường 9 đoạn’”    14. Xem http://www.spratlys.org/maps/5.htm  15. Xem chú thích 12.  16. Xem Todd L. Kelly: Vietnam Claims to the Truong Sa Archipelago, University of Hawaii,1999. Bản dịch tiếng Việt ở http://seasfoundation.org/articles/from-members/1344-tuyen-b-ch-quyn-ca-vit-nam-i-vi-qun-o-trng-sa.  17. Xem Hydrographic Office, The Admiralti, The China Sea Directory, Vol. ii, [London: J. D. Potter, 1889], 83  18. Như chú thích 18.  19. Của các nước tiếp giáp với nó (Brunei, Indonesia, Malaya, Philippines, Việt Nam…) và của các nước thế giới từng có tàu bè qua lại trên đó (Anh, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mĩ, Nhật, Pháp…) từ lâu đời. Cũng xem Carlyle A. Thayer, South China Sea: A Commons for China Only?, YaleGlobal Online, 7 July 201, Bản dịch tiếng Việt: Biển Đông: Vùng biển chung dành riêng cho Trung Quốc!  20. Thật ra, Peter Kien-Hong Yu (chú thích 9) lại còn nêu ra quan điểm rằng các khoảng trống giữa các vạch của ‘lưỡi bò’ là các ‘khoảng trống để thở’ (breathing spaces) hay các ‘cổng vào’ (entrances) mà tàu bè có thể ra vào không cản trở, thậm chí còn đưa thêm ý tưởng đặt các trạm thu phí (toll booth) ở những chỗ đó nữa!  21. Xem Dana Dillon, Countering Beijing in The South China Sea, Policy Review, June-July 2011. Bản dịch tiếng Việt Đối phó với Bắc Kinh trong ở Biển Đông  22. Bản đồ các lô dầu của CNOOC (Công ti quốc gia dâu khí ngoài khơi TQ) năm 2010, 2011 cũng có vạch bao ngoài Đài Loan nửa vời gần giống bản đố của google, xem http://en.cnooc.com.cn/data/upload/month_201105/Coordinatesen_czxmgr.jpg và http://en.cnooc.com.cn/data/html/news/2010-05-07/english/301292.html  23. 9 vạch cũ có vạch cách đảo Hải Nam cả ngàn hải lí hoặc các đảo TQ tuyên bố có chủ quyền hàng trăm hải lí trong khi 2 vạch mới chỉ các Đài Loan vài chục hải lí.  24. TQ cho rằng họ không những có quyền về kinh tế mà cả quyền tài phán trên EEZ, thực tế là coi EEZ như lãnh hải của họ.  25. Điều 1 trong Tuyên bố lãnh hải của TQ 1958 có nêu “…và các đảo khác của TQ ngăn cách với đất liền bởi các vùng biển công.” Xem http://www.state.gov/documents/organization/58832.pdf.  26. Xem Cát Quốc Hưng (Ji Guoxing): “TQ thực sự muốn gì trên Biển Đông” hoặc M.. Taylor Fravel, “China‘s Behavior in Its Territorial Disputes: Past, Present, and Future” hoặc Zou Keyuan, “Chinese Traditional Martime Boundary Line in the South China Sea: Legal Implications for the Spratly Islands Dispute,” EAI Background Brief no. 14 (Singapore), 7 May 1998, p.2.  27. Thật ra, trong tuyên bố lãnh hải năm 1958, TQ cũng có nêu vịnh Bột Hải (gần như một vịnh kín vây bọc bởi bán đảo Liêu Đông ăn thông với Hoàng Hải bằng eo biển Bột Hải) và eo biển Quỳnh Châu (phần nằm giữa bờ nam bán đảo Lôi Châu của tỉnh Quảng Đông và bờ bắc đảo Hải Nam) là các vùng biển lịch sử của họ. Điều này hầu như không gây ra sự phản đối của cộng đồng quốc tế do vị trí tương đối hợp lí của chúng và trong UNCLOS cũng có khái niệm ‘vịnh lịch sử’ (historic bay).  28. Xem David Cyranoski http://www.nature.com/news/2011/111019/full/478293a.html (The Nature). Bản dịch tiếng Việt “Khi khoa học trở thành công cụ tuyên truyền”, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=452  29. Xem chú thích 15.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường sắt cao tốc: Một số sự thực nhãn tiền      Đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc đã được tái thảo luận trong tháng tám vừa qua. Tuy nhiên, rất cần thiết phải cân nhắc các điều kiện về kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật. Loạt bài viết dưới đây của TS Nguyễn Hải Hoành được viết ngay khi Quốc hội thảo luận về đường sắt cao tốc vào năm 2010 vẫn còn nguyên giá trị.    Khái niệm Đường sắt cao tốc (ĐSCT – High-speed Railways) nói ở đây là loại ĐSCT trình bày trong dự án ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn do Bộ GTVT trình Quốc hội xem xét từ năm 2010 – nghĩa là tuyến ĐS rất dài, vận tốc chạy tàu cỡ 300 km/h, hoàn toàn điện khí hoá, tự động hoá [1].  ĐSCT là một công trình giao thông vận tải (GTVT) cực kỳ tốn kém, trang bị rất phức tạp, sử dụng thành tựu đỉnh cao các công nghệ thông tin, điều khiển tự động, điện lực, điện tử và vi điện tử, cơ khí, xây dựng…, đòi hỏi một đội ngũ nhân lực trình độ cao để xây dựng, khai thác, quản lý, bảo dưỡng, một công nghiệp hiện đại chế tạo, sửa chữa đầu máy toa xe và phụ tùng [2].   Vì tàu chạy nhanh mỗi giây cả trăm mét và nối đuôi cách nhau vài phút một chuyến nên yêu cầu an toàn chạy tàu vô cùng khắt khe. Ví dụ chỉ cần mặt ray có một chỗ nhô lên chừng 0,5 mm, hoặc có khe nứt 0,5 mm là có thể xảy tai nạn trật bánh. Cự ly hãm tàu dài tới 4000 m, nghĩa là từ thời điểm bắt đầu hãm (thắng) cho tới lúc dừng hẳn, tàu chạy được 4 km (so với 800 m trên ĐS kiểu thông thường ở ta). Vì thế việc quản lý, khai thác ĐSCT vô cùng phức tạp. ĐSCT chỉ thích nghi với xã hội văn minh đã hoàn thành công nghiệp hóa, người dân có ý thức cộng đồng cao.  Bởi vậy chỉ một số rất ít quốc gia hội đủ các điều kiện kinh tế tài chính và khoa học kỹ thuật (KHKT) cũng như có nhu cầu vận chuyển hành khách cực lớn mới lo xây dựng ĐSCT. Bài báo ngắn này chỉ xem xét một số khía cạnh kinh tế của ĐSCT; vấn đề KHKT và quản lý xin bàn sau, mặc dù đó mới là vấn đề hóc búa nhất trong khai thác ĐSCT.    Đường sắt cao tốc ở Trung Quốc. Nguồn ảnh: Xinhua.  ĐSCT chỉ có ở những nước có nền tài chính mạnh  ĐSCT loại như vậy, vào năm 2010, chỉ có Nhật, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc (TQ) đang khai thác.   Các nước và lãnh thổ nói trên đều giàu hoặc rất giàu. GDP ít nhất cũng gấp Việt Nam nhiều lần. GDP đầu người năm 2010 của TQ, Đài Loan và Hàn Quốc lần lượt bằng 3.700, 16.391 và 17.074 USD; mấy nước còn lại đều từ 31 tới 40 nghìn USD (Việt Nam 1.060 USD).   Họ có nền tài chính vững mạnh với lượng dự trữ ngoại tệ lớn, bảo đảm thực hiện được các vụ đầu tư lớn mà không sợ vỡ nợ: Nhật có 990 tỷ USD, Pháp – 134, Đức – 185, Tây Ban Nha – 28, Hàn Quốc – 279, Đài Loan – 357, TQ –  2447 tỷ USD (Việt Nam – 17,5). Tất cả đều đã hoàn thành công nghiệp hoá, làm chủ công nghệ cao, đã nhiều năm xây dựng và khai thác ĐS hiện đại áp dụng các thành tựu KHKT như sức kéo điện, đường ray không mối nối, nền đường không ba-lat (ballastless slab track), hệ thống tự động điều khiển chạy tàu, tín hiệu đầu máy tự động, tập trung điều độ chạy tàu (centralized traffic control), chạy tàu vận tốc trên 100 km/h, v.v…  là những thứ ĐS Việt Nam chưa từng có. TQ có ĐS chạy điện từ năm 1961, Nhật – 1895, Đức – 1879.  Hiện TQ có gần 18 nghìn km ĐS chạy điện, Nhật – 20 nghìn km. Ngay từ thập niên 50 thế kỷ XX tàu khách ĐS khổ hẹp (1067 mm) ở Nhật đã chạy vận tốc 110 km/h. Họ đều có công nghiệp chế tạo đầu máy điện và diesel. So với họ, ĐS Việt Nam (khổ 1000 mm) lạc hậu một trời một vực, chưa hề có kinh nghiệm xây dựng, khai thác ĐS hiện đại, nói gì đến ĐSCT quá hiện đại. Khi chưa hoàn thành công nghiệp hóa thì chưa thể làm ĐSCT.  Nhật là nước đầu tiên làm và khai thác thành công ĐSCT từ năm 1964. Nhật, Pháp, Đức, TQ đang xuất khẩu công nghệ ĐSCT; Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Đài Loan tuy cũng giàu và KHKT rất phát triển nhưng đều phải mua công nghệ ĐSCT; song nhờ có trình độ KHKT cao nên họ đủ sức khai thác ĐSCT, chế tạo được tàu cao tốc do nước ngoài chuyển nhượng công nghệ. TQ từ 4/2008 đã chạy thử tàu cao tốc CRH3 tự sản xuất, vận tốc 350 km/h. Đài Loan có lực lượng cán bộ KHKT hùng hậu, thế mà khi làm 345 km ĐSCT Bắc-Nam phải thuê hơn 2000 kỹ sư nước ngoài và nhiều thợ nước ngoài (trong 20 nghìn thợ xây dựng cần dùng); khi bắt đầu chạy tàu phải thuê 35 lái tàu cao tốc người Đức và Pháp (cả thảy có 30 đoàn tàu).   Một sự thực nữa: không phải nước giàu nào cũng làm ĐSCT  Mỹ giàu nhất thế giới, đất rộng, dân hơn 300 triệu, rất mạnh về vốn và KHKT, cũng có nhu cầu lớn về vận tải hành khách, nhưng chưa làm ĐSCT, chủ yếu vì biết dùng cách ít tốn kém hơn để giải quyết nhu cầu đó. Trong số 226 nghìn km ĐS ở Mỹ, hiện chỉ có tuyến Boston-New York-Washington (734 km) chạy tàu khách nhanh. Các đoàn tàu Acela Express chạy đoạn đường này hết 6 h 36’ với vận tốc trung bình 109 km/h, tương đương ĐS khổ hẹp ở Nhật giữa thế kỷ XX. Hôm 28/1/2010, Tổng thống Obama tuyên bố sẽ đầu tư 8 tỷ USD cho 13 dự án ĐSCT ở các bang California, Florida và Illinois. Nhân dịp này Nhật ra sức thuyết phục Mỹ dùng công nghệ Shinkansen của Nhật. Tuy Bộ trưởng Giao thông Mỹ Ray LaHood có quan tâm chuyện ấy nhưng các nghị sĩ còn e ngại, bởi lẽ nếu ủng hộ các dự án kém hiệu quả kinh tế thì họ sẽ bị cử tri “hê” ra khỏi quốc hội trong lần bầu cử sau. Rốt cuộc dự án của Obama cũng xếp xó.  Giữa thập kỷ 60 Liên Xô đã nghiên cứu chạy tàu 180-220 km/h trên tuyến ĐS Moskva-Leningrad 650 km có lưu lượng khách khá cao, nhưng dự án này cho tới năm 2009 vẫn chưa thực hiện.  ĐS Ấn Độ có nhu cầu vận chuyển hành khách cực lớn nhưng vẫn chưa định làm ĐSCT, mặc dù họ thừa khả năng tài chính và kỹ thuật.   Điều đáng sợ nhất: nguy cơ vỡ nợ   Mỗi km ĐSCT cần vốn đầu tư ít nhất 30 triệu USD, một dự án ĐSCT 300 km cần đầu tư ít nhất cỡ 1 tỷ USD. Số tiền như vậy là rất lớn đối với Việt Nam cũng như với tất cả các nước. Vốn đầu tư cho những dự án có ý nghĩa quốc kế dân sinh quan trọng hơn, phục vụ nhu cầu bức thiết của hàng chục triệu dân và sớm có hiệu quả kinh tế như khai thác dầu khí, sản xuất điện kể cả điện hạt nhân… đều nhỏ hơn nhiều so với vốn làm ĐSCT.   Vốn đầu tư cực lớn là điều đáng quan tâm nhất cần xem xét trước tiên khi bàn về dự án ĐSCT. Ai cũng biết, bỏ vốn quá nhiều vào dự án này thì tất nhiên các dự án đầu tư khác sẽ bị gác lại. Cho nên người ta chỉ ưu tiên đầu tư cho những dự án quan trọng nhất, bức thiết nhất, không làm thì nguy hại tới quốc kế dân sinh. ĐSCT không thuộc loại này.   Đầu tư lớn thì phải vay vốn, đã vay thì phải trả cả gốc lẫn lãi. Nếu dự án không sớm có hiệu quả kinh tế thì sẽ không thể trả nợ đúng hạn, gây nguy cơ nợ nần làm đổ vỡ nền tài chính quốc gia, hậu quả cực kỳ bi thảm. Không ai dám cho nước nghèo vay những khoản tiền lớn nếu chưa chắc chắn sẽ được trả đúng hạn. Vốn ODA lại càng khó. Vốn cho các dự án GTVT hoàn toàn không thể dùng hình thức vay thương mại (lãi suất khoảng 7%) vì lý do chậm có lãi.  Trong lĩnh vực tài chính, các nước phát triển có rất nhiều kinh nghiệm cũng như có các chuyên gia kỳ cựu, thế mà không ít nước lao đao vì nợ nần. Ta còn non nớt lắm về mặt này, lại càng nên cảnh giác. Bài học vỡ nợ của Hy Lạp rất đáng để chúng ta suy ngẫm. Tất cả chỉ vì chi tiêu không tính toán cẩn thận; khi xảy ra khủng hoảng nợ thì đã muộn. Hy Lạp thuộc loại nước nhỏ nhất trong EU (11 triệu dân) nhưng các chính khách mắc bệnh vĩ cuồng (megalomania, thích làm lớn) đã xin đăng cai Olympics Athens 2004, lại chơi sang sắm tên lửa Patriot để bảo vệ Olympics (?) v.v.., tất cả đòi hỏi phải vay nhiều tỷ đô-la. Nhưng Hy Lạp vỡ nợ thì còn có EU giúp, chứ Việt Nam thì ai giúp? Hãy thử tưởng tượng cảnh khi không ai buôn bán với ta, khi mọi tài khoản của ta bị đóng băng, tàu biển của ta ra nước ngoài bị giữ làm con tin, mọi nguồn viện trợ, cho vay đều bị cắt …   Vậy đầu tư như thế nào là cực lớn? Điều đó tuỳ thuộc tình hình tài chính của mỗi nước, có thể đánh giá theo tỷ lệ của vốn đầu tư so với GDP.  Tuyến ĐSCT Tokyo-Osaka dài 515 km, khởi công năm 1959, khai thác từ 1/10/1964, cần vốn đầu tư chừng 1,2 tỷ USD, bằng khoảng 2,3% GDP Nhật năm 1960. (giá trị đồng USD thời ấy gấp hàng chục lần hiện nay).  Tuyến ĐSCT xuyên Đài Loan 345 km, khởi công năm 1999, hoàn thành 2006, vận hành từ 1/2/2007, vốn đầu tư khoảng 15 tỷ USD, tương đương 3,9% GDP xứ này năm 2007.  Tuyến ĐSCT Seoul-Pusan 412 km, khởi công năm 1992, hoàn thành 2004, vốn đầu tư khoảng 17 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP Hàn Quốc năm 2004.  Tuyến ĐSCT Vũ Hán-Quảng Châu dài 1069 km, khởi công 6/2005, khánh thành 12/2009, giá thành công trình 17,04 tỷ USD, tương đương 3,46% GDP TQ năm 2009. Dự án ĐSCT Bắc Kinh-Thượng Hải 1318 km, khởi công 4/2008, hoàn thành 2011-2012, có dự toán khoảng 221 tỷ NDT (32 tỷ USD), tương đương 6,5% GDP TQ năm 2009, là công trình đầu tư lớn trong lịch sử nước này (so sánh: công trình thuỷ điện Tam Hiệp đầu tư 25 tỷ USD), dự kiến dùng 5 triệu tấn thép, 40 triệu tấn xi măng, 320 nghìn tấn đường ray; riêng hồ sơ thiết kế nặng mấy chục tấn…        Chỉ cần mặt ray có một chỗ nhô lên chừng 0,5 mm, hoặc có khe nứt 0,5 mm là có thể xảy tai nạn trật bánh. Cự ly hãm tàu dài tới 4000 m, nghĩa là từ thời điểm bắt đầu hãm (thắng) cho tới lúc dừng hẳn, tàu chạy được 4 km (so với 800 m trên ĐS kiểu thông thường ở ta).      Tóm lại, mức đầu tư vài phần trăm GDP đã được coi là cực lớn, đòi hỏi cân nhắc rất thận trọng có nên đầu tư hay không. (so sánh: ĐSCT xuyên Việt dự toán 56 tỷ USD, tương đương 50% GDP Việt Nam 2009; nhưng có lẽ quyết toán phải lên tới 100 tỷ USD hoặc hơn – là mức không thể tưởng tượng được, không ai dám nghĩ tới loại dự án như vậy).  Ngoài ra cần chú ý là nói chung các công trình GTVT đều chậm thu hồi vốn và có độ rủi ro khai thác rất cao vì phụ thuộc vào mức độ sử dụng của dân chúng, tức lượng vận chuyển trên tuyến, là một chỉ tiêu rất khó dự kiến vì phụ thuộc vào ý thích của con người.  Các dự án GTVT giam vốn rất lâu, vì thế nếu vốn vay quá lớn thì tiền lãi khoản vay phải trả lãi mẹ đẻ lãi con có thể trở thành thành gánh nặng tài chính không thể kham nổi. Sản phẩm của công trình GTVT không phải là thứ bán ra thu tiền ngay như nông phẩm, dầu mỏ, sắt thép, xi măng, ô tô, ti-vi … Bởi vậy các dự án GTVT thường dùng vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới. Nếu vay thương mại thì có thể dễ vay nhưng lãi suất cao.   Hơn nữa, thời gian xây dựng các công trình GTVT thường là rất lâu. Đường sắt trải dài qua nhiều địa hình phức tạp, lắm yếu tố bất ổn không thể lường hết về địa chất, thời tiết, về giải phóng mặt bằng v.v… dễ làm cho thời gian thi công bị kéo dài. Tuyến ĐSCT Tokyo-Osaka 515 km làm mất 5 năm rưỡi; tuyến xuyên Đài Loan (345 km) – 7 năm (kế hoạch là 5 năm); tuyến Seoul-Pusan (412 km) – 12 năm; tuyến Vũ Hán-Quảng Châu – 4,5 năm, tuyến Bắc Kinh-Thượng Hải dự kiến 5 năm… Từ đó suy ra ĐSCT xuyên Việt cần ít nhất 10 năm. Một khi vốn vay nhiều tỷ USD bị giam cả chục năm, nếu nền tài chính quốc gia không hùng mạnh thì vỡ nợ dễ như bỡn.   Nhìn chung các công trình GTVT lớn thường chỉ thu hồi vốn sau khoảng 10 năm khai thác. ĐSCT thu hồi vốn nhanh nhất là tuyến Tokaido cũng phải mất 8 năm, nhờ có lưu lượng khách đi tàu cực lớn (mỗi ngày vài trăm nghìn lượt người). Phần lớn các ĐSCT khác chậm thu hồi vốn hoặc lỗ vốn kéo dài, kể cả ở Nhật, nhưng xét tới hiệu quả lớn trên nhiều mặt khác nên vẫn có thể chấp nhận.   Vì ĐSCT không mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp, sản phẩm của nó không bức thiết như thóc gạo, dầu khí, điện … , đầu tư đã lớn lại chậm thu hồi vốn, thậm chí lỗ, nên các dự án này thường bị công luận chất vấn rất nhiều. ĐSCT Bắc Kinh-Thượng Hải đầu tư lớn hơn nhưng không thể đem lại lợi ích như Thuỷ điện Tam Hiệp (hàng năm sản xuất 85 tỷ kWh điện), vì thế Bộ ĐS TQ phải làm luận chứng kinh tế-kỹ thuật cực kỳ thận trọng.   Đầu tư quá lớn còn có thể gây ra sự chia rẽ trong nội bộ nhân dân hoặc giữa các phe phái chính trị, các nhóm lợi ích, nhiều khi tranh cãi rất găng. Các công ty dự thầu và các nước ngoài muốn xuất khẩu công nghệ ĐSCT không ngại sử dụng mọi cách như hối lộ quan chức, thổi phồng tác dụng của ĐSCT và công nghệ của họ. Dự án ĐSCT Seoul-Pusan là một điển hình lắm rắc rối, tới mức khai thác chưa được đầy năm, ngày 14/1/2005 Thủ tướng Lee Hae Chan tuyên bố dự án này là một thất bại về chính trị của Hàn Quốc.       Cần chú ý là nói chung các công trình GTVT đều chậm thu hồi vốn và có độ rủi ro khai thác rất cao vì phụ thuộc vào mức độ sử dụng của dân chúng, tức lượng vận chuyển trên tuyến, là một chỉ tiêu rất khó dự kiến.      Bởi vậy các nước đều hết sức thận trọng khi đầu tư vào dự án ĐSCT.  Trong dự án tuyến ĐSCT Tokyo-Osaka, Chính phủ Nhật chỉ đầu tư 90% bằng vốn ngân sách, phần còn lại vay nguồn vốn lãi suất ưu đãi của Ngân hàng Thế giới.   ĐSCT Seoul-Pusan năm 1984 bắt đầu làm Báo cáo nghiên cứu khả thi, năm 1992 mới khởi công. Làm kỹ như thế mà khi bắt đầu khai thác đã xảy ra không ít trục trặc.  Dù là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và chiếm gần 1/ 3 tổng dự trữ ngoại tệ toàn cầu (2447 / 9007 tỷ USD) nhưng TQ vẫn chịu khó bỏ ra 17 năm (1990-2007) làm đi làm lại luận chứng kinh tế-kỹ thuật dự án tuyến ĐSCT Bắc Kinh-Thượng Hải; trong thời gian đó tranh thủ thí nghiệm áp dụng công nghệ mới (chế tạo tàu cao tốc, thử dùng công nghệ xây dựng mới) và làm các tuyến ĐSCT ngắn để rút kinh nghiệm (tuyến Bắc Kinh-Thiên Tân 120 km). Sau khi luận chứng được tư vấn trong nước và nước ngoài giám định xong, Chính phủ mới duyệt dự án. Sự thận trọng này đã giảm được rất nhiều tranh cãi và rút ngắn thời gian thi công.  Khi thảo luận về dự án ĐSCT xuyên Đài Loan, dân xứ này ngại rủi ro nên kiên quyết không đồng ý để nhà nước dùng tiền ngân sách hoặc vay tiền làm ĐSCT, dù các chính khách thân Nhật (trong đó có cựu Tổng thống Lý Đăng Huy) ra sức vận động dùng công nghệ Shinkansen của Nhật thì sẽ được Nhật cho vay vốn. Thể theo ý dân, tháng 7/1992 Viện Lập pháp Đài Loan (tức quốc hội) ra nghị quyết huỷ bỏ dự toán ngân sách mà Viện Hành chính (tức chính phủ) dự định chi cho ĐSCT, quyết định để tư nhân làm dự án này theo hình thức BOT (xây dựng –  vận hành – chuyển giao). Như vậy công ty tư nhân trúng thầu phải tự lo toàn bộ vốn; đổi lại họ được quyền khai thác trong 35 năm (1998-2033), rồi chuyển giao cho nhà nước. Nếu ĐSCT khai thác lỗ thì công ty chịu tất. Thời gian qua công ty này đã vận dụng rất nhiều sáng kiến để thu hút khách đi tàu. Đây là dự án đầu tiên trên thế giới có vốn lớn như vậy dùng hình thức BOT.   Xin nói thêm, các dự án nói trên đều được đưa ra công luận xem xét bàn thảo rất chi tiết rồi nhà nước mới duyệt. Người dân đóng thuế có tiếng nói quyết định về việc sử dụng đồng tiền của họ.   Bệnh nóng vội, cẩu thả, nhất là thói xấu cố ý bịa đặt số liệu trong tính toán kinh tế khi lập các dự án lớn sẽ có thể đem lại hậu quả khôn lường. Khi truy tìm lý do ĐSCT xuyên Đài Loan chưa có lãi, đã phát hiện đó là do lượng khách đi tàu thực tế chưa bằng 1/3 con số dự kiến trong báo cáo khả thi (87.000 so với 280.000 lượt người/ngày) [3]. Thì ra cơ quan lập dự án đã chịu sức ép của một số “ông lớn” thân Nhật muốn nhập công nghệ Shinkansen Nhật đang rao bán. Dân chúng xì xào: phải chăng ở đây có chuyện hối lộ, một vấn nạn phổ biến ở châu Á?  (Đón đọc kỳ 2: Khi nào thì cần làm đường sắt cao tốc?)  Ghi chú:  [1] Phương án ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn của Bộ GTVT có chiều dài 1550 km, dự kiến tổng đầu tư 57 tỷ USD, dùng công nghệ Shinkansen của Nhật loại mới nhất; nghĩa là dài hơn và hiện đại hơn ĐSCT Vũ Hán-Quảng Châu (1069 km dài nhất thế giới năm 2010, dùng công nghệ CHR của TQ).   [2] Hiện chưa nhất trí về định nghĩa ĐSCT. Quy phạm thiết kế ĐSCT 2009 của TQ quy định: ĐSCT là ĐS mới xây dựng dùng chạy tàu khách có Vmax = 250km/h hoặc hơn. Quy phạm 2014 định nghĩa ĐSCT có Vmax = 250-350 km/h.   [3] China Post 28/9/2009: Taiwan High-speed Rail: From pride to embarrassment.    Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Đường ta, ta cứ đi, không được nữa rồi!      Cứ đốt nhiên liệu để tăng trưởng kinh tế như lâu nay – business-as-usual – các chất khí gây hiệu ứng nhà kính (KHUNK) sẽ làm nhiệt độ khí quyển tăng lên 5oC vào cuối thế kỷ 21. Việt Nam sẽ là nước thứ hai sau Bangladesh chịu hậu quả nặng nề nhất do nước biển dâng lên. Và từ giờ trở đi, triều cường, xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt, bão tố sẽ ngày càng khốc liệt trên dải đất hình chữ S trần trụi trước một Biển Đông ngày càng dữ dằn này.      Chuyện trọng đại như thế lại lọt thỏm trong chương trình nghị sự đầy ắp những mối lo toan trước mắt của đất nước. Có thể ai đó cho rằng cắt giảm phát thải KHUNK là chuyện toàn cầu, các nước lớn phải lo, sớm muộn gì nhân loại sẽ tìm ra giải pháp. Quả là Việt Nam chỉ đóng góp 0,4% lượng khí CO2 toàn cầu, có cắt giảm cũng chỉ như muối bỏ bể so với 18% của Trung Quốc và 22% của Mỹ.                Song, có mấy lý do rất xác đáng khiến chúng ta phải vào cuộc ngay bây giờ bằng một chương trình hành động quốc gia toàn diện, thậm chí chưa từng có. Có như vậy mới chủ động đối phó với những tác động do biến đổi khí hậu ngày một dồn dập. Thứ hai, có chân trong Hội Đồng Bảo An LHQ, Việt Nam phải nhận lấy sứ mệnh góp phần tạo nên sự đồng thuận quốc tế trong cuộc chiến này của nhân loại. Quan trọng hơn cả, chúng ta cần sớm rút ra bài học để tránh đi theo vết xe của các nước đi trước và nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế mới của thế giới – nền kinh tế phi cac-bon. Chắc chắn phải thay đổi hẳn quan niệm và tập quán, từ giới hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội đến người dân thường.  Hai sự kiện, một thông điệp  Năm 2007 đánh dấu cọc mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại với hai sự kiện lớn mang cùng một thông điệp.  1. Hàng trăm nhà khoa học nổi tiếng tập hợp trong Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến Đổi Khí Hậu (IPCC) đã khẳng định dứt khoát: 1) nhiệt độ Trái Đất tăng lên 0,7oC trong hai thế kỷ qua là chuyện có thật và do con người đốt quá nhiều nhiên liệu gây ra. Nếu đà này cứ tiếp tục, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng lên 5oC vào cuối thế kỷ 21 gây nên thảm họa khí hậu toàn cầu. 2) chặn đứng xu thế gia tăng các KHUNK là việc cấp bách, khả thi và ít tốn kém nhất. Chần chừ, sẽ vô phương cứu chữa. Cuộc tranh cãi về biến đổi khí hậu trong giới khoa học từ nhiều năm nay đã đến hồi kết, một bước ngoặt tạo nên sự đồng thuận rộng rãi trong chính giới và công luận trên toàn cầu.  2. Giá dầu thô leo thang và chạm ngưỡng 100 USD/thùng trong tiếng kèn thu quân đưa lính Mỹ từ Iraq về nước. Vũ lực không bình ổn được nguồn cung cấp dầu mỏ cho các cỗ xe kinh tế trong cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu hiện nay. Tháng 12/2007 vừa qua, Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật mới về năng lượng, quy định các tiêu chuẩn mới rất cao về tiêu hao năng lượng cho xe cộ, thiết bị gia dụng, thắp sáng, phát triển năng lượng và nhiên liệu tái tạo … nhằm sớm chấm dứt sự phụ thuộc vào dầu mỏ Trung Đông.  Vậy cứ móc nhiên liệu lên bơm vào cỗ xe kinh tế theo cái đà như lâu nay không được nữa rồi! Tạo hóa đã dày công chắt lọc ra từ lòng đất suốt hàng trăm triệu năm mới có được kho báu nhiên liệu hóa thạch như một thứ của hồi môn để bao nhiêu thế hệ trường tồn trên hành tinh này. Chính than đá và dầu mỏ thay cho lao                động cơ bắp và hơi nước đã tạo nên cuộc đại cách mạng công nghiệp trước đây hai thế kỷ. Nhưng sự phồn vinh do công nghiệp hóa mang lại đã kích thích con người tiêu xài phung phí. Xài hết “quota” của mình lại soán vào phần con cháu mai sau. Nhiên liệu sắp cạn, các hiện tượng thời tíêt khí hậu cực đoan lại ùn ùn kéo đến như cơn giận dữ Thượng đế đang trút lên đầu con người.  Không chần chừ được nữa  Nếu cứ đốt nhiên liệu như bấy lâu nay – theo kịch bản business-as-usual – hàm lượng các KGHUNK trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi vào cuối thế kỷ (xem các khái niệm trong box 1) và nhiệt độ trung bình trên Trái đất sẽ tăng lên khoảng 5oC. Để tránh thảm họa, Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước phải giữ cho nhiệt độ khí quyển trong thế kỷ 21 không tăng thêm quá 2oC. Vượt quá ngưỡng này sẽ là đại thảm họa và không thể đảo ngược được tình thế (xem Báo cáo IPCC 2007 và Báo cáo Phát Triển Con Người, UNDP 2007-08).  Muốn vậy, phải sớm bình ổn các KHUNK trong khí quyển không vượt quá 450 phần triệu (ppm). Để hình dung được cọc mốc này, nên nhớ rằng trong suốt hàng nghìn năm trước thế kỷ XVIII, hàm lượng CO2 trong khí quyển hầu như vẫn giữ nguyên ở mức 280 ppm (căn cứ trên vết tích lưu lại trong những cọc băng lấy lên từ Bắc cực và Nam cực), giờ đây đã tăng lên 383 ppm do đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng trong hai thế kỷ công nghiệp hóa vừa qua.  Để không vượt ngưỡng 450 ppm và 2oC nói trên, Liên Hiệp Quốc kêu gọi cắt giảm ngay lượng phát thải trên toàn thế giới sao cho đến năm 2050 chỉ còn 50% mức năm 1990. Các nước giàu có, “thủ phạm” gây nên tình trạng hiện nay, phải cắt giảm ngay để đến 2020 chỉ còn 70 – 80% và năm 2050 còn 20% mức năm 1990. Các nước đang phát triển có thể tiếp tục tăng phát thải cho đến 2020, sau đó phải cắt giảm để đến 2050 chỉ còn 20% mức năm 1990. Gộp chung lại theo kịch bản này, tổng lượng phát thải toàn cầu sẽ bắt đầu chậm lại và đảo chiều sau năm 2012-15.  Có hai chi tiết cần lưu ý. Khí CO2 sống rất lâu trong khí quyển, phân tử CO2 phát ra khi ta đốt nhiên liệu bây giờ vẫn có thể sống mãi đến thế kỷ sau mà chưa kịp hòa tan vào các đại dương hoặc trở về cội nguồn để biến thành cac-bon trong hệ sinh quyển. Cho nên sau khi phát ra, nó cứ tích luỹ lại trong khí quyển, hàm lượng CO2 cứ thế tăng lên, không sao giảm được. Muốn bình ổn nó, cách duy nhất là cắt giảm thật mạnh lượng phát thải.                Thứ hai, cho dù có bình ổn được KHUNK ở hàm lượng 450 ppm như LHQ khuyến cáo, chúng ta cũng không “chắc ăn”. Kết quả tính toán cho thấy ở mức hàm lượng 450 ppm này, vẫn có đến 50% khả năng nhiệt độ Trái đất vượt ngưỡng 2oC. Năng lực các công cụ tính toán hiện nay chưa cho phép các nhà khoa học quả quyết tốt hơn. Nhưng thà chịu đánh cược 50:50 và hành động ngay còn hơn là để hàm lượng CO2 tiếp tục tăng lên. Chẳng hạn, nếu tăng lên 550 ppm, khả năng vượt ngưỡng 2oC sẽ lên đến 80%, nghĩa là thảm họa biến đổi khí hậu toàn cầu gần như an bài. Thật phiền khi trong chuyện trọng đại này ta lại phải chấp nhận trò chơi may rủi. Nhưng chớ vì điểm yếu này mà chần chừ không chịu hành động.  Cắt giảm mạnh tiêu thụ xăng, dầu và than đá là giải pháp cấp bách đỡ tốn kém nhất để bình ổn các KHUNK. Nhưng lấy gì thay vào đó để cỗ xe kinh tế vẫn tiếp tục chuyển động?  Vai trò của năng lượng hạt nhân  Năng lượng hạt nhân với nguồn nhiên liệu thiên nhiên (uranium) và tái chế (plutonium) khá dồi dào, lại không phát thải cac-bon, nên lý ra phải được xem là ứng cử viên sáng giá nhất thay cho nhiên liệu hóa thạch. Song nhiều người lo ngại mối hiểm họa an toàn và an ninh toàn cầu lại xem đây là chuyện “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”, nhất là trong bối cảnh nạn khủng bố đang hoành hành hiện nay. Thành ra điện hạt nhân chưa có vị trí trong số các giải pháp do LHQ khuyến cáo.  Dưới đây tóm lược nội dung tiểu mục “Năng lượng hạt nhân – những vấn đề gai gốc” trong Báo Cáo Phát Triển Con Người, UNDP 2007-08 thể hiện một lập trường trung dung của tổ chức quốc tế này.  Điện hạt nhân (ĐHN) hiện đang đóng góp 17% điện năng toàn cầu, 20% ở Anh, Mỹ và 80% ở Pháp. Từ bỏ ĐHN có thể làm tăng phát thải CO2. Biết thế, nhưng ĐHN vẫn không trở thành phương thuốc đặc trị cho căn bệnh thay đổi khí hậu toàn cầu. Năm 2006, cả thế giới chỉ có một lò phản ứng được đưa vào vận hành ở Nhật, trong khi sáu lò khác bị đóng cửa ở các nước OECD. Trong mười năm tới, hằng năm có 8 lò nghỉ hưu. Pháp và Canada tuyên bố tiếp tục ĐHN, Đức và Thụy Điển cương quyết dừng. Mỹ không có đơn đặt hàng trong suốt ba thập kỷ qua (tuy nhiên đang có chính sách phục hồi ĐHN – chú thích của người viết).  Dự báo trung hạn cho thấy nguồn cung ĐHN sẽ chững lại hoặc đi xuống trên phạm vi toàn cầu. Yếu tố kinh tế bất lợi là vốn đầu tư quá lớn, từ 2 đến 3,5 tỷ USD cho một lò phản ứng (khoảng 1000 MW) chưa kể phí tổn chôn thải phóng xạ và tháo gỡ sau thời gian vận hành. Do đó, nếu thiếu chính sách khuyến khích từ phía nhà nước, rất ít công ty tư nhân quan tâm đến ĐHN. Yếu tố bất lợi về xã hội chính trị là tâm lý bất an trong dân chúng, đặc biệt là nguy cơ lan truyền vũ khí hạt nhân.  Năng lượng đang sử dụng rất phí phạm  Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, lại chưa mặn mà với ĐHN, vậy lộ trình cắt giảm phát thải do LHQ khuyến cáo có khả thi không?  Trước hết phải nhận ra tình trạng sử dụng năng lượng hết sức phí phạm bấy lâu nay.  Trước khi Ấn Độ giành được độc lập cách đây hơn sáu thập kỷ, được hỏi Ấn Độ có nên theo gương công nghiệp hóa của Anh quốc không, Mahatma Gangdhi đã vặn lại: “người Anh đã dùng đến một nửa Trái đất để giàu có, nếu theo gương họ, dân ta cần bao nhiêu hành tinh cho đủ?”  Báo cáo Phát triển Con người UNDP, 2007-08 đã trả lời câu hỏi này. Cần phải có thêm từ 7 đến 9 hành tinh nữa để các nước đang phát triển hiện nay sống phồn vinh bằng cách phát thải như người Úc và người Mỹ (hai nước không ký tên vào Nghị Định Thư Kyoto). Với 4,5% dân số thế giới, người Mỹ tiêu thụ 33% năng lượng toàn cầu và đóng góp 30% (nhiều nhất, bỏ xa Nga và Trung Quốc chỉ có 8%) vào lượng KHUNK trên thế giới. Nếu giữ tốc độ tăng trưởng cao như mấy năm vừa qua, sau ba thập kỷ nữa Trung Quốc sẽ có 300 triệu người khá giả (20% dân số) tương đương với mức thu nhập bình quân của người Mỹ hiện nay. Cộng thêm vào đó là 300 triệu người khá giả nữa từ khắp các nước còn đang nghèo khó như Ấn Độ, Brazil, Inđônêxia, SNG v.v… Việt Nam lúc này sẽ góp mặt 10 triệu người. Điều gì sẽ xảy ra nếu ai cũng theo đuổi giấc mơ Mỹ (american dream)?  Dầu mỏ lại sắp hết! Năm 1956, King Hubbert làm việc cho hãng Shell dựa trên mô hình những bước ngẫu nhiên trong toán học thống kê đã cảnh báo cho dân Mỹ biết rằng sản lượng dầu của họ sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 1965-70, sau đó sẽ tụt dài, và cỗ máy công nghiệp khổng lồ nhất thế giới sẽ phải phụ thuộc vào dầu nhập khẩu. Đúng y như vậy! Cũng theo Hubbert, sản xuất dầu trên toàn thế giới sẽ đạt đỉnh điểm vào năm 1995-2000. Những tính toán gần đây đã đẩy lùi cọc mốc này thêm mười năm nữa, nghĩa là loài người hiện đang bước lên đỉnh cao nhất của thời đại dầu mỏ. Hiện nay cứ đốt sáu thùng dầu, con người chỉ tìm thêm được một thùng.  Đứng trước thảm họa biến đổi khí hậu toàn cầu chính là cơ hội để mọi người, từ nhà lãnh đạo quốc gia đến chủ doanh nghiệp và người dân thường, nhận ra sai lầm trong lối tư duy, cách hành xử và tập quán sử dụng năng lượng phí phạm của mình. Có thế mới thực thi được ba giải pháp lớn: tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và phát triển năng lượng/nhiên liệu tái tạo thay cho nhiên liệu hóa thạch. Không đi vào chi tiết, chỉ xin nêu ra vài dẫn chứng dưới đây.  CO2 trở thành hàng hóa trong nền kinh tế phi cac-bon  Nền kinh tế thế giới, vốn phụ thuộc quá nhiều vào nhiên liệu hóa thạch bấy lâu nay, sẽ thay đổi diện mạo để đến năm 2050 phát thải KHUNK chỉ còn 50% mức năm 1990 và sau đó tiếp tục giảm mạnh. Thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế ít cac-bon (low-carbon economy) và đến cuối thế kỷ 21 sẽ là nền kinh tế phi cac-bon (zero-carbon economy). Trong nền kinh tế mới này, phát thải CO2 trở thành hàng hóa, bị đánh thuế, được đưa ra thị trường, có thể mua bán căn cứ trên hạn ngạch (cap-and-trade), và được xem như một thứ tín dụng có thể vay mượn. Ai “tiết kiệm” được phát thải, chẳng hạn bằng cải tiến công nghệ, có quyền bán bớt hạn ngạch cho người khác. Mô hình này mới được thực thi ở các nước tiên tiến, những nước ký tên vào Nghị Định Thư Kyoto và cam kết cắt giảm phát thải ngay từ bây giờ.  Đưa phát thải CO2 ra thị trường chẳng những sẽ giúp bớt phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch mà còn có điều kiện đầu tư cho phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Đánh thuế cac-bon từ năm 1990 đã giúp Đan Mạch giảm tiêu thụ than từ 34% xuống 19% và tăng gấp đôi nguồn năng lượng tái tạo. Các nước OECD dự tính sẽ thu được 265 tỷ USD hằng năm với mức áp thuế 20 USD/tấn CO2. Trong khi đó, với giá mua bán phát thải 60 – 100 USD/tấn CO2, các nước EU sẽ thực hiện thành công lịch trình cắt giảm phát thải của khối này trong vài thập kỷ tới.         Trong nền kinh tế phi cac-bon, công nghệ sản xuất năng lượng và nhiên liệu sẽ lên ngôi, thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền sản xuất đại công nghiệp vốn “ỳ ạch” từ mấy thế kỷ qua, phá thế chông chênh giữa một bên là các ngành sản xuất cổ điển tốn năng lượng (khai khoáng, luyện kim, xi măng, phân bón…) với bên kia là công nghệ thông tin tiêu hao rất ít năng lượng và phát triển rất nhanh chóng.  Muốn chuyển sang nền kinh tế phi cac-bon, yếu tố quan trọng nhất vẫn là nhận thức con người. Kích cầu là công cụ tăng trưởng, nhưng giờ đây khi Trái đất đang ấm lên, lằn ranh giữa nhu cầu đích thực và lãng phí phải trở thành một thứ chuẩn mực đạo lý.  Lạc lõng trong nền kinh tế phi cac-bon của thế giới  Đóng góp 0,4% vào lượng phát thải CO2 toàn cầu, Việt Nam chưa lọt vào danh sách các nước phải cam kết cắt giảm phát thải. Nhưng trong bối cảnh thế giới đang tiến vào nền kinh tế phi cac-bon, chúng ta sẽ rất lạc lõng nếu cứ bơm nhiên liệu vào các tổ máy phát điện để có tốc độ tăng trưởng điện năng gấp đôi GDP như hiện nay, 17%/năm, thậm chí còn cao hơn, 20%/năm. Ngay đến những nước khát năng lượng và tăng trưởng kinh tế rất nhanh cũng không “nóng” như ta, cụ thể Trung Quốc (9,7%/năm), Ấn Độ (6%/năm), các nước khác phần lớn thấp hơn 5-6%/năm.  Chúng ta lại rất phí phạm điện năng. Năm 2004, tiêu thụ 01 kWh người Việt chỉ làm ra 1 USD, trong khi Thái Lan: 1,25; Malaysia: 1,46; Philippine: 1,6; In đô nê xia: 2,4; Singapore: 2,8 U SD.  Rõ ràng, nền kinh tế của chúng ta rất không bình thường. Chắc chắn có những lỗ thủng khổng lồ hút hết năng lượng. Phải thận trọng, kẻo chính sách thu hút đầu tư cởi mở, tiêu chuẩn phát thải thấp và giá năng lượng rẻ, có thể biến nước ta thành bãi thải công nghệ lạc hậu trên thế giới. Tiêu hao năng lượng trên một USD sản phẩm giờ đây phải đưa lên tiêu chí hàng đầu khi xem xét các dự án đầu tư.  Người dân lại đang phải hít thở khí độc do đốt nhiên liệu thải vào khí quyển. Không chỉ ở đô thị, mà cả ở nông thôn. Hiện nay, nhiều nơi trên đồng bằng Bắc Bộ, hàm lượng bụi khí có kích thước bé hơn 2,5 micron đã ngang với Hà Nội. Thế mà Tổng Công Ty Điện lực EVN đang có kế hoạch tăng tiêu thụ than từ 5,2 triệu tấn hiện nay lên 49 triệu tấn năm 2015.  Rồi đây dân ta sẽ thở như thế nào? Mãi theo đuổi những con số tăng trưởng mà quên mất chất lượng cuộc sống, chúng ta đang lạc lõng trong thế giới này.    Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dứt điểm      Một anh bạn tôi rất hoan nghênh việc tân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đích thân tỏ ra quyết liệt trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nhưng anh ta vẫn tỏ ra đầy lo lắng:  – Trong cái mớ bòng bong tham nhũng hiện nay liệu Thủ tướng có sa lầy không?  Cái võ nguy hiểm và hữu hiệu nhất của đám tham nhũng không phải là đấu trực diện mà là nấn ná, là kéo dài là trường kỳ cầm cự hay nói một cách dân dã và dung tục hơn là “chiến thuật cứt trâu hóa bùn” rất hợp với một đất nước vẫn còn lún chân trong cấu trúc tiểu nông như nước ta.         Một số vụ việc mặc dầu có sự nhắc nhở của Thủ tướng vẫn có thiên hướng chậm trễ, kéo dài. Thái độ công khai thách thức công luận của một số người có chức có quyền ở Hải Phòng. Cách ứng xử khoan dung khó hiểu của một số tòa án. Tỷ lệ khá cao của những bộ, những địa phương “sạch” không có tham nhũng trong một thông tin rất gần đây được công bố trên báo chí ngay sau khi những người cao nhất trong bộ máy cầm quyền hô hào toàn dân tham gia chống giặc nội xâm tham nhũng… Đó không phải là những cánh én báo hiệu một mùa xuân tốt lành.  Hình như mặc dầu hết sức cố gắng chúng ta vẫn chưa khơi dậy được một cao trào sôi nổi toàn dân chống tham nhũng tạo được một áp lực đủ mạnh chống lại sự lỳ lợm cao thủ của bọn tham quan.  Chúng đã mặc nhiên trở thành một bọn tội phạm có tổ chức tìm hết cách khai thác những sơ hở của luật pháp, thói quen “đánh trống bỏ dùi” của một số cơ quan công quyền, lực ỳ của bộ máy, sức mạnh đấu tranh còn tản mạn chưa được tập trung có bài bản của quần chúng…  Cuộc đấu tranh chống tham nhũng càng gian khổ hơn nữa vì chúng ta không phải chỉ đối phó với những kẻ thù lộ diện mà còn cả với kẻ thù ẩn tàng và tấn công ta trong bóng tối, cố thủ trong những hầm ngầm mê lộ rất an toàn. Nó đòi hỏi một cuộc chiến đấu tổng lực và bản lĩnh kết hợp những chiến dịch quả đấm tập trung cao độ với những cuộc đấu tranh bền bỉ vận động quần chúng lâu dài bao vây ngăn chặn tiêu diệt tham nhũng trong một trận địa dân chủ vững chắc của toàn dân. Vấn đề không phải là đánh ít hay nhiều vụ, vấn đề chính là đánh đến nơi, đánh dứt điểm. Mà dứt điểm hình như không phải chiêu sở trường của ta.  Nhiều cuộc đấu tranh của ta bắt đầu bằng một cơn bão cấp cao nhưng mau chóng hạ lực thành một cơn bão áp thấp nhiệt đới “mưa phùn gió nhẹ”. Bọn tham quan không ít người là những cán bộ công quyền từng trải bị thoái hóa, chúng có rất nhiều kinh nghiệm hoạt động bí mật cũng như có rất nhiều mối quan hệ để chạy án.  Mặt khác có lẽ chúng ta cũng còn quá phí sức tuyên chiến chống tham nhũng hăng hái ngoài mức cần thiết trên các diễn đàn hơn là dành năng lực đánh nó trong một cuộc chiến dài hơi trên thực địa. Những lời tuyên bố quá nhiều có nguy cơ dẫn đến những ảo tưởng có hại rằng mình đã hành động.   Tin tưởng ở một cuộc đánh nhanh thắng nhanh là một tin tưởng quá chủ quan và ngây thơ. Nhưng nghĩ rằng chúng ta không thể thắng được tham nhũng vì sức nó quá mạnh quá “ba đầu sáu tay” là một tư tưởng thất bại chủ nghĩa không những sai lầm mà còn nguy hiểm: Tham nhũng bản thân nó không có sức mạnh tự tạo, sức mạnh của nó chính là ở chỗ ta chưa quyết tâm đánh. Đánh mạnh, đánh liên tục, đánh dứt điểm.   Chính thái độ khoan nhượng cũng như thiếu quyết tâm dứt điểm đã vô tình và gián tiếp nuôi giặc tham nhũng.         Lê Đạt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Duyên nợ với Tia Sáng từ một sự bất ngờ      Đầu những năm 2000, tôi có đọc Tia Sáng chủ yếu là thích vì tiêu đề “Một góc nhìn của Trí thức” được ghi ngay đầu bìa (tiếc rằng đến giữa 2010 thì Tia Sáng đã xóa cái tiêu đề đó), và cũng chủ yếu đọc những phần ngoài chuyên môn của tôi như những phần về văn hóa về âm nhạc, hội họa… còn các phần khác thì do dị ứng với báo chí tuyên truyền nói chung nên thú thật là không quan tâm. Về sau nghĩ lại thấy mình đã nghĩ oan cho Tia Sáng.       Tôi quen biết Tia Sáng một cách thụ động khi vào tháng 5/2006, Tia Sáng đã có bài viết dài về đề xuất và mô hình của Viện tôi nhằm xây dựng Doanh Nghiệp Khoa học Công Nghệ (Spin-off-Khởi Nguồn, Start-up-Khởi nghiệp), lúc đó việc này còn hết sức lạ lẫm với Việt Nam. Và Tia Sáng là tờ báo đầu tiên hơn 10 năm trước đã khởi xướng, và kiên trì cổ vũ cho Khởi nghiệp (Start-up), một vấn đề đang rất nóng, rất “thời thượng” hiện nay ở nước ta.  Trong một cuộc hội thảo nội bộ ở Viện Khoa học Việt Nam hồi đó, tôi có phát biểu khá liều mạng về con đường nào thích hợp cho KHCN Việt Nam lúc này, không ngờ trong hội nghị lại có mặt của đại diện báo Tia Sáng. Sau hội nghị, Tia Sáng có đặt vấn đề đăng bài tham luận của tôi. Tất nhiên là tôi không đồng ý (vì chim đã phải tên thì sợ cả cành cây cong mà!), nhưng tôi đồng ý sẽ gửi một bài khác cho Tia Sáng. Để cho an toàn, tôi chỉ gửi một bài dịch tóm tắt một cuộc tranh luận quốc tế: Cơ bản và Ứng dụng-Có phân định được rạch ròi? đăng số 15 (ngày 05/08/2006). Lúc bấy giờ, hầu hết các cơ sở nghiên cứu Việt Nam đều tìm cách thuyết minh là đơn vị nghiên cứu cơ bản để được bao cấp và để tránh sự đòi hỏi của xã hội về đóng góp của KHCN Việt Nam cho đời sống. Vì thế mở đầu bài, người dịch (là tôi) có viết một vài lời bàn góp vui, không nghĩ sẽ được đăng, trong đó có đoạn:  “Một buổi sáng đẹp trời, Thủ tướng thức dậy, bỗng thấy nước ta trở thành cường quốc về nghiên cứu cơ bản, vì trên bàn Thủ tướng một chồng thuyết minh để chứng minh về chức năng nghiên cứu cơ bản của vô vàn các tổ chức KHCN nước ta đang được trình để phê duyệt!”.  Thật bất ngờ, Tia Sáng đã đăng nguyên văn lời bình luận. Duyên nợ với Tia Sáng và sự cộng tác 10 năm qua của tôi với Tia Sáng bắt đầu từ sự bất ngờ đó. Từ ngày ấy đến nay đã chục năm rồi, tôi tự nguyện làm một công tác viên Tia Sáng, chia sẻ buồn vui với Tia Sáng. Nhờ cộng tác với Ban biên tập Tia Sáng, nhờ sự hỗ trợ, góp ý tận tình trong viết lách của những nhà báo như anh Văn Thành, chị Thu Hà, Phạm Trần Lê, qua sự thảo luận cởi mở với đội ngũ những nhà báo trẻ tài năng như Thái Thanh, Thanh Nhàn, Hảo Linh… mà tôi, một cây bút nghiệp dư bắt đầu mạnh dạn diễn đạt những quan sát, cảm nhận, suy nghĩ, ý tưởng… của mình một cách tự tin và đa dạng hơn. Và hơn hết, tôi rất khâm phục và cảm ơn Tia Sáng đã không ngần ngại đăng tải những bài viết của tôi một cách chính xác nhất có thể.  Có lần tôi ngẫu nhiên gặp mặt trao đổi với một nhóm cán bộ cao cấp, đương chức và về hưu, về nhiều vấn đề thời cuộc. Có một ai đó nhắc đến một bài báo trên Tia Sáng. Một ông cấp Vụ trưởng liền cao giọng một cách thành thật, rằng đấy là ý kiến linh tinh của bọn trí thức, không thể tin cậy, cần phải cẩn thận với ý kiến của bọn họ. Tôi hơi nóng mặt vì nghĩ mình ít nhiều cũng thuộc loài trí thức, nên vội phản ứng rằng ý kiến thì chỉ có đúng sai, sao ông lại phải phân biệt của trí thức hay của ai khác. Ông bạn Vụ trưởng trố mắt nhìn tôi như nhìn người ngoài hành tinh.  Tôi rất mừng vì Tia Sáng đã có một tác động rọi sáng nhất định nào đó cho các tầng lớp xã hội, dù yêu hay ghét. Và đó cũng là lý do để tôi được quyền tự hào là một cộng tác viên của Tia Sáng trong mười năm qua.   GS. TS Trần Xuân Hoài       Author                Quản trị        
__label__tiasang E-ideas: Sáng tạo để đối phó với biến đổi khí hậu      Hội đồng Anh cho biết, các tác giả E-idea  mới đây đã có buổi giao lưu và báo cáo tiến độ thực hiện các dự án của  mình cho tới thời điểm này.     Giành chiến thắng với ý tưởng Vườn treo giải quyết vấn đề thiếu không gian để trồng cây ở những đô thị lớn, Nguyễn Văn Quy hiện đã mua sắm xong máy móc, nguyên vật liệu sản xuất, tuyển được tám công nhân để đào tạo và sản xuất thử nghiệm. Trung bình mỗi ngày, anh nhận được 10 email từ các địa phương khác nhau trên cả nước liên hệ mua sản phẩm hoặc nhờ tư vấn của dự án.   Dự án Excavatus với ý tưởng kinh doanh từ giun quế và phân bò đã giúp xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường vì phân thải của trâu bò: 20m2 nuôi giun giải quyết 450kg phân bò mỗi tháng. Excavatus đã kí cam kết với các hộ nông dân tham gia dự án nuôi giun quế, hướng tới phát triển mô hình khép kín giun-gà thịt, giun-baba, phân giun-cây cảnh. Hiện tại, dự án đã cung cấp thịt giun tươi ổn định 10kg/tuần với giá 80.000đ/kg cho một đơn vị nghiên cứu khoa học nhằm sử dụng trong công trình nghiên cứu tách chiết tinh chất từ giun quế để chế biến dược liệu. Với đặc tính sinh trưởng nhanh của giun và nhu cấu có thật của thị trường, ý tưởng của Excavatus có nhiều triển vọng thương mại hóa, tạo công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi tại nông thôn.           E-idea là cuộc thi tìm kiếm những ý  tưởng bảo vệ môi trường do Hội đồng Anh và Tổ chức Bảo đảm chất lượng  Lloyd’s Register Quality Assuarance (LRQA) phối hợp tổ chức năm 2011 đã  chọn ra sáu ý tưởng xuất sắc nhất để trao giải, mỗi giải trị trá 100  triệu. Cuộc thi đồng thời được tổ chức ở sáu nước khác là Úc, Trung  Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan.        Dự án Phân ủ tại gia đình tại Bản Nhộp, Chiểng Bôm, Sơn La đã đào tạo được bốn giáo viên nguồn, những người trực tiếp học công nghệ làm phân ủ và hướng dẫn lại cho 74 hộ dân của bản. Điểm nhấn của dự án là bộ video hướng dẫn làm phân ủ bằng tiếng Thái giúp phổ biến một cách hiệu quả nhất công nghệ làm phân ủ đến các đối tượng người dân tộc ở đây.   Trong khi đó, nhóm Tái chế rác thải học đường để phủ xanh công trình, sau một thời gian vất vả thu thập, phân loại rác thải và thi công, đã tạo được mảng xanh tuyệt đẹp đầu tiên của mình tại trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh.   Còn ý tưởng táo bạo Green Health – Sức khỏe xanh – cũng đã thành hình với sản phẩm là một chiếc máy chuyển hóa nguồn năng lượng sử dụng khi người dân tập thể dục bên hồ để làm sạch nước hồ. Chiếc máy đã được đưa ra chạy thử ba lần để lấy ý kiến người sử dụng tại công viên Bách Thảo Hà Nội.   Nhóm thực hiện ý tưởng xây dựng Diễn đàn nông nghiệp hữu cơ thực hiện được nhiều hoạt động vượt ra khỏi không gian online để mang những kiến thức nông nghiệp hữu cơ vào cuộc sống với những hoạt động như Dạy bé trồng rau hay chuyển giao công nghệ làm bể biopod và nuôi BSF (Black Soldier Fly) cho bà con ở Suối Giàng, Yên Bái để xử lý rác thải và phân thải thành phân hữu cơ và tạo nguồn thức ăn chăn nuôi gà, lợn.   Mặc dù đây mới chỉ là những kết quả bước đầu của các nhóm tác giả sau nửa năm thực hiện dự án, nhưng điều quan trọng mà cuộc thi E-idea cũng như các dự án đã làm được là kích hoạt những ý tưởng sáng tạo để tạo ra những sản phẩm cụ thể đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống và, ở tầm vĩ mô hơn, ứng phó với biến đổi khí hậu.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Facebook, Meta, Metaverse: Cuộc chạy trốn khủng hoảng đạo đức?      Khi Mark Zuckerberg tuyên bố Facebook sẽ chính thức đổi tên thành Meta giữa những tố cáo của Frances Haugen, một cựu kỹ sư dữ liệu của Facebook, về bằng chứng cho sự tắc trách của công ty này xung quanh một chuỗi những bê bối về chính trị – xã hội, giới quan sát công nghệ không khỏi cảm thấy bi quan cho sự khủng hoảng đạo đức của Zuckerberg nói riêng, và của tập đoàn mạng xã hội do Zuckerberg đứng đầu nói chung.      Thuật toán của Facebook ưu tiên cho các post có nhiều phản ứng giận dữ, bởi càng giận dữ, người ta càng bình luận và chia sẻ nhiều. Ảnh: The Washington Post.  Thực tại mục ruỗng của Facebook  Mark Zuckerberg tuyên bố tại sự kiện Connect 2021 rằng công ty Facebook chính thức đổi tên thành Meta, với mục đích tập hợp toàn bộ các ứng dụng và dự án công nghệ của công ty này dưới một thương hiệu chung, và chính thức đẩy mạnh việc xây dựng một ‘metaverse’. Việc đổi tên này có lẽ sẽ không thu hút sự chỉ trích mạnh mẽ từ giới quan sát công nghệ nếu trước đó Facebook không vướng phải vụ bê bối mang tên “Facebook Papers” (Tạm dịch là Tài liệu Facebook).  Facebook Papers được khởi xướng đầu tiên từ loạt bài điều tra của tờ Wall Street Journal dựa trên những tài liệu rò rỉ bởi Frances Haugen, cựu nhân viên của Facebook. Điều đáng nói, Haugen được tuyển vào nhóm “Liêm chính Công dân” gồm 200 người trong công ty, vốn có nhiệm vụ nghiên cứu giải pháp cho các tin bịa đặt, phát ngôn thù ghét và sự đàn áp của chính phủ lên người dân trên Facebook. Tuy nhiên, Haugen và những người đồng nghiệp nhanh chóng bị “vỡ mộng”: Quyết tâm muốn “dọn dẹp” chính mình của Facebook gần như chỉ mang tính hình thức.  Những tài liệu rò rỉ của Haugen cho thấy rằng, mạng xã hội lớn nhất hành tinh này nhận thức rất rõ, chính xác hơn là công ty này có nghiên cứu nội bộ, rằng chính Facebook đã tạo điều kiện cho việc phát tán những tin bịa đặt, đặc biệt là những tin bịa đặt về vaccine trong đại dịch COVID-19; thậm chí Facebook còn chủ ý trao cho một số tài khoản nhiều quyền lực hơn các tài khoản khác, gián tiếp cho phép họ thoải mái tung ra những phát ngôn bôi nhọ, vu khống, thù ghét người khác, hình ảnh khiêu dâm trên nền tảng của mình, thao túng dư luận; Còn Instagram – một sản phẩm khác của Facebook là nguyên nhân gây ra những tổn thương tâm lý cho đại đa số người dùng nữ ở tuổi vị thành niên… Tuy nhiên, công ty này không làm gì hoặc làm rất ít để sửa chữa những lỗi lầm nghiêm trọng đó, nhất là, nếu điều đó phải đánh đổi bằng sự tăng trưởng ngắn hạn của công ty1.  Gần đây, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã lên tiếng chỉ trích những mạng xã hội như Facebook “đang giết người” bởi nó thúc đẩy những tin bịa đặt tràn lan trên mạng về vaccine, là một trong những nguyên do khiến tỉ lệ tiêm chủng vaccine ở Mỹ thấp. “Hãy nhìn đi, đại dịch duy nhất mà chúng ta đang có là ở những người chưa tiêm vaccine – và đó là lí do tại sao chúng (mạng xã hội) đang giết người”.  Theo một báo cáo đưa ra của nhóm vận động xã hội Avaaz, năm 2020, số lượng các thông tin sai lệch trên Facebook gấp bốn lần số lượng tin, bài từ 10 nguồn tin uy tín hàng đầu thế giới. Các nhà nghiên cứu ở Facebook tìm ra cách quét sơ bộ các bình luận trên facebook và nhận ra rằng, các tin chống vaccine “nở rộ” trong các bình luận của Facebook, đúng hơn là với mức độ “được hưởng ứng gấp đôi” các post. Tuy nhiên, các kĩ sư của Facebook phải thừa nhận rằng những bộ lọc tin vịt của Facebook gần như vô dụng với các bình luận. Những nỗ lực khác của Facebook như điều chỉnh xếp hạng của các thông tin liên quan đến sức khỏe theo hướng các thông tin sai lệch sẽ xuất hiện ít thường xuyên cũng không mấy hiệu quả. Còn Mark Zuckerberg- người đứng đầu Facebook, vốn từng tuyên bố “ưu tiên hàng đầu của tôi là đảm bảo mọi người đều đọc những thông tin chính xác và đáng tin cậy”, lại luôn kháng cự lại việc can thiệp vào các tài khoản cá nhân. Kể cả khi những tài khoản đó phát tán thông tin gây hại. Theo điều tra trong nội bộ Facebook, hầu hết các tin bịa đặt về đại dịch và vaccine là do chỉ một số ít tài khoản mạnh mẽ thêu dệt và mở rộng người theo dõi.      Nhưng mạng xã hội lớn nhất hành tinh này không chỉ là “trùm” chứa thông tin sai lệch mà còn là mảnh đất màu mỡ cho những phát ngôn thù ghét. Mặc cho các kĩ sư nhấn mạnh rằng, không thể có một mô hình khả thi nào để tự động tìm kiếm những phát ngôn có hại, Facebook vẫn muốn dựa vào AI và học máy để lọc thông tin thay vì thuê thêm người làm thủ công. Trên thực tế, Facebook thậm chí còn cắt giảm nhân công rà soát các thông tin gây hại dù AI của công ty này phát hiện và không phát hiện nổi 10% tin tức độc hại, thậm chí AI còn thường xuyên nhầm lẫn thông tin giải trí với thông tin bạo lực.  Việc Facebook “dựa dẫm” vào công cụ tự động để “dọn dẹp” nền tảng này còn có những tác động tiêu cực. Vào năm 2018, mạng xã hội này đã có một thay đổi lớn trong thuật toán – tăng cường các “tương tác ý nghĩa” trên Facebook. Facebook từng tuyên bố rằng thay đổi này là để người dùng chứng kiến tin tức đầy tình cảm của bạn bè, người thân nhiều hơn là những tin quảng cáo chuyên nghiệp. Tuy nhiên, điều này đã tạo ra lỗ hổng cho nhiều tài khoản tung tin bịa đặt về chính trị theo hướng thao túng cảm xúc của người đọc. Các nhân viên công ty đã nhanh chóng cảnh báo mặt thiếu lành mạnh của sự thay đổi này. Tuy nhiên, người đứng đầu công ty không muốn hành động. Lí do là, sự điều chỉnh thuật toán này dù khiến Facebook trở thành một nền tảng độc hại hơn, chia rẽ phân cực hơn, ngập tràn sự giận dữ hơn, nhưng nó lại kích thích nhiều tương tác – tức người dùng bấm “thích” nhiều hơn, “chia sẻ” nhiều hơn, và đặc biệt là “bình luận” nhiều hơn. Mà với Facebook, tương tác là chỉ số đo sự phát triển của công ty.  Không phải mọi tài khoản đều bình đẳng trên Facebook như tuyên bố, có những tài khoản nhiều đặc quyền hơn các tài khoản khác. Những tài khoản có đặc quyền này thường thuộc sở hữu của những người có ảnh hưởng và nổi tiếng hoặc các chính trị gia. Đặc quyền ở đây, là đứng trên những chính sách và tiêu chuẩn của Facebook. Thậm chí, Facebook còn yêu cầu các đối tác kiểm chứng thông tin hãy tránh những tài khoản này ra. Nhưng khi tung tin bịa đặt, phát ngôn thù ghét, phát tán những nội dung khiêu dâm hay thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, chính những tài khoản này mới có tác động sâu rộng đến cộng đồng. Các nhà nghiên cứu trong Facebook đã lên tiếng nhiều trường hợp như vậy, nhưng các tài khoản đó còn không bị xóa hay khóa ngay lập tức.       Tranh biếm họa về việc Facebook châm ngòi cho phát ngôn thù ghét, thuyết âm mưu, bạo lực, tin bịa đặt, tin chia rẽ. Ảnh: syracus.com   Có lẽ, điều gây chấn động nhất trong hồ sơ Facebook vừa qua là ảnh hưởng của Istagram – mạng xã hội do Facebook sở hữu, tới tâm lí của trẻ vị thành niên. Nghiên cứu nội bộ của Facebook chỉ ra rằng cứ ba trẻ vị thành niên nữ ở Mỹ, thì có một trẻ cảm thấy tồi tệ hơn về cơ thể của mình khi xem Instagram. Họ còn đi sâu hơn khi chỉ ra rằng những vấn đề về tâm lý của trẻ vị thành niên, đặc biệt là các em gái, thường có nguồn gốc cụ thể từ Instagram chứ không phải mạng xã hội nói chung. Instagram được xây dựng dựa trên việc thúc đẩy các so sánh xã hội, đề cao những giá trị về tiền bạc, sắc đẹp và thành công của con người. Những trẻ em mới lớn thì lại càng nhạy cảm với điều đó. Nghiên cứu này được chuyển đến những lãnh đạo cấp cao nhất của công ty, nhưng Facebook gần như không làm gì để thay đổi. Mark Zuckeberg không đề cập đến kết quả nghiên cứu này khi bị Quốc hội chất vấn. Thậm chí, công ty này còn tối ưu thuật toán và các công cụ chỉnh ảnh xoáy sâu vào những so sánh hình thể, gương mặt giữa người dùng, nhằm giữ chân những em nữ tham gia vào mạng xã hội này chặt hơn nữa.  Những vấn đề nói trên đang và sẽ tồi tệ hơn ở những quốc gia ngoài Mỹ và Canada, đặc biệt là những nước đang phát triển – nơi đóng góp cho Facebook hơn 90% người dùng mới mỗi tháng. Các nhà hoạt động xã hội và nhiều nhân viên trong Facebook đều nhận định rằng, công ty này làm quá ít để bảo vệ người dùng của mình ở các quốc gia nghèo. Nhiều nhân viên nghiên cứu trong Facebook đã bày tỏ nỗi xấu hổ, bức xúc khi nhiều quyết định của công ty đã tạo điều kiện để người dùng đăng tải những video giết người, kích động bạo lực, đe dọa những người bất đồng chính kiến và thậm chí là đăng quảng cáo buôn người ở các quốc gia đang phát triển. Khi phát hiện ra những hành vi đó, Facebook không xóa hoàn toàn những tài khoản vi phạm. Nếu có xóa, Facebook cũng không có những hành động mang tính hệ thống để ngăn chặn những sai phạm tương tự tiếp diễn.  Frances Haugen được mời đến tường trình trước Quốc hội về vấn đề của Facebook vào ngày 5/10/2021. Hồ sơ Facebook cũng được mở cho các cơ quan báo chí truyền thông khai thác. Cần nhớ rằng đây không phải là lần đầu tiên Facebook bị tố cáo. Vào năm 2018, Christopher Wylie đã tiết lộ việc Facebook đã để cho công ty Cambridge Analytica thu thập thông tin và mối quan hệ của hàng triệu người dùng. Từ năm 2018 đến năm 2020, một cựu nhân viên khác của Facebook cũng lên tiếng rằng công ty này đã phớt lờ các tổ chức chính quyền tạo ra các tương tác giả để thao túng dư luận. Trước đó, Facebook cũng đã chịu tai tiếng trong việc xâm phạm quyền riêng tư của người dùng.  Những cáo buộc của Haugen giống như giọt nước tràn ly. Nó đặc biệt được chú ý bởi báo chí và công chúng tại thời điểm mà danh tiếng của Facebook đã chịu nhiều tổn hại trong nhiều năm liền, đồng thời giúp xác nhận những chỉ trích mà giới chuyên gia đã liên tục đưa ra về Facebook trong gần một thập kỷ qua.    Tổng thống Mỹ Joe Biden buộc tội mạng xã hội như Facebook đang “giết người” vì góp phần phát tán những tin bịa đặt về vaccine và đại dịch. Ảnh: Oprahdaily.com  Metaverse là gì, và liệu đây có phải là cứu rỗi cho Facebook?  Tuy nhiên, không đả động gì về những tác hại xã hội đó, đi kèm với việc đổi tên thành tập đoàn Meta, Facebook đang mải vẽ ra một viễn cảnh tương lai tươi sáng mà họ sắp tạo ra – metaverse.  Metaverse – tạm dịch là siêu vũ trụ được Mark Zuckerberg hứa hẹn trong Facebook Connect là tương lai của Internet di động, một internet được nhúng trong mắt kính, một internet cho phép chúng ta là một phần của trải nghiệm chứ không bị ngăn cách bởi màn hình máy tính.  Người dùng các sản phẩm của Meta từ nay sẽ có thể chia sẻ các trải nghiệm nhập sâu vai với bạn bè và đồng nghiệp ngay cả khi không ở cùng nhau ở không gian vật lý. Trong đoạn phim giới thiệu về metaverse, chỉ cần đeo một thiết bị lên mắt hoặc đầu, mỗi người sẽ trở thành một nhân vật hoạt hình để có thể họp mặt bạn bè, cùng nhau tới các buổi biểu diễn ca nhạc, cùng tổ chức tiệc với người thân trong một không gian ảo. Mark Zuckerberg dùng từ “đẹp đẽ”, “tràn ngập niềm vui”, “tuyệt vời” để nói về những tương tác trong metaverse.  Tuy nhiên, giới quan sát công nghệ không tin vào điều đó. Người ta cho rằng, Facebook không thể chạy trốn khỏi thực tại. Trái lại, tất cả những vấn đề xã hội mà Facebook tạo ra, sẽ được kéo vào metaverse, thậm chí là ở mức độ nguy hiểm hơn mà tất cả chúng ta đều chưa sẵn sàng đối mặt.  Khi Mark Zuckerberg nói rằng người dùng trong metaverse toàn quyền quyết định ai sẽ bước vào bong bóng của họ, ai sẽ bị chặn ở ngoài, người ta lo sợ về một tương lai mà những tranh cãi trên internet càng ngày càng chia rẽ và phân cực, con người càng khó chấp nhận những quan điểm khác biệt của người khác trên mạng2.  Khi Mark Zuckerberg vẽ ra viễn cảnh rằng metaverse sẽ mở để người dùng có thể sử dụng liên thông sản phẩm của ứng dụng này sang ứng dụng khác, người ta nghi ngờ điều đó khi nhìn thói quen thâu tóm các đối thủ của Facebook trong hai thập kỉ qua3. Gần đây, Facebook/Meta còn khóa một tài khoản Instagram có tên là metaverse của một nghệ sĩ được lập ra hơn 10 năm mà không đưa ra một lí do nào4. Khó có thể tưởng tượng được rằng Facebook chấp nhận trở thành một phần nhỏ của siêu vũ trụ – metaverse. Dù bản chất metaverse có mở đến đâu, Meta vẫn sẽ muốn một quyền lực tập trung, sẽ tham gia sâu hơn, kiếm lợi nhiều hơn từ các mối quan hệ, nghề nghiệp, quan điểm chính trị và các giao dịch của chúng ta trên mạng.  Tên gọi ‘metaverse’ thực ra xuất phát từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Snow Crash xuất bản vào năm 1992 của Neal Stephenson. Trong tưởng tượng của Stephenson, internet của tương lai (nhìn từ những năm 90 của thế kỷ trước) sẽ được cấu thành bởi các không gian 3D liên tục, kết nối cùng nhau để tạo nên một siêu vũ trụ hoàn chỉnh. Metaverse hiện lên trong mắt của người dùng là một không gian đô thị bên một con đường duy nhất rộng một trăm mét và chạy dài 216 km cuốn lại thành một hành tinh hình cầu. Các công ty tập đoàn trong thế giới thực muốn hiện diện trong thế giới ảo phải trả tiền cho Tập đoàn Giao thức Đa phương tiện Toàn cầu để mua bất động sản số. Các cá nhân muốn bước vào thế giới này cũng phải trả tiền truy cập để có được hình đại diện chất lượng cao, còn nếu không, họ chỉ là những nhân vật mang màu trắng-đen nhiễu mờ trong thế giới ấy. Trong tiểu thuyết của Stephenson, một bộ phận dân số trong xã hội tự nguyện lựa chọn sống trong metaverse bằng cách luôn luôn đeo thiết bị di động cồng kềnh trên mặt – họ được đặt biệt danh là “gargoyles” – những nhân vật quái dị thường hay xuất hiện trong truyện cổ phương Tây – do vẻ ngoài kỳ dị của họ. Viễn cảnh về metaverse do Stephenson vẽ ra là một viễn cảnh phản địa đàng mang tính châm biếm và phê phán; điều đáng mỉa mai là Zuckerberg và giới lập trình công nghệ dường như bỏ qua hoàn toàn tính phê phán này, và dùng các hình ảnh viễn tưởng này như là kim chỉ nam cho xu hướng phát triển công nghệ của họ.  Việc Zuckerberg lẳng lặng sử dụng khái niệm metaverse và xa hơn là tái định dạng thương hiệu của Facebook thành Meta thể hiện sự nghèo nàn trí tưởng tượng, thậm chí là tầm thường đến phản cảm của Zuckerberg trong nỗ lực đánh lạc hướng dư luận ra khỏi những khủng hoảng nghiêm trọng không chỉ về danh tiếng, mà còn về tương lai phát triển của tập đoàn mạng xã hội lớn nhất thế giới này.  Liệu metaverse của Facebook có thành sự thật?  Ngay sau khi metaverse được công bố là dự án lớn nhất sắp tới của Facebook/Meta, giới quan sát công nghệ lập tức nổ ra những chỉ trích mang tính giễu cợt bởi sự thiếu tính thực tế và sáo rỗng của dự án này. Metaverse mà Zuckerberg vẽ ra lệ thuộc vào sự trưởng thành của các công nghệ VR/AR/MR (hiện thực ảo, hiện thực tăng cường, hiện thực hỗn hợp); trên thực tế, các công nghệ này chưa đạt được mức trưởng thành mà Zuckerberg tưởng tượng, và còn rất xa để các công nghệ này có thể được chế tạo với giá thành đủ thấp để đại đa số người dùng có thể đủ khả năng chi trả cho các thiết bị phần cứng này.  Facebook lần đầu tiên nhúng chân vào phần cứng khi mua lại Oculus, nhà sản xuất phần cứng thực tế ảo, vào năm 2014. Sau khi mua lại Oculus, Facebook lúc bấy giờ thành lập một phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển phần cứng có tên là Building 8 vào năm 2016, đặt ra vô vàn những lời hứa hẹn đậm tính khoa học viễn tưởng về các công nghệ giúp người dùng có thể nghe bằng da và đánh máy bằng sức mạnh suy nghĩ. Tuy nhiên, Building 8 đã biến mất sau hai năm tồn tại sau vài lần tái cơ cấu tổ chức; đóng góp còn lại duy nhất của Building 8 là thiết bị trò chuyện bằng video mang tên Portal. Xuất hiện vào năm 2018, Portal chỉ bán được 54.000 thiết bị trong lần ra mắt đầu tiên; song song với việc thành lập Meta, Zuckerberg cũng cho ra mắt Portal Go và New Portal+ như là hai thiết bị gọi điện video đầu tiên được cho ra đời dưới thương hiệu Meta.  Liệu Meta có phải là cứu cánh cho Facebook hay không, có lẽ chỉ có thời gian mới có thể trả lời. Liệu metaverse như Zuckerberg tưởng tượng có thể trở thành hiện thực hay không, câu trả lời sẽ nằm ở việc liệu các thiết bị phần cứng mà Meta cho ra đời trong tương lai có mang tính thuyết phục hay không. Điều duy nhất chúng ta có thể biết chắc chắn, đó là sự khủng hoảng về đạo đức, trí tưởng tượng, và giá trị nhân văn của các tỷ phú công nghệ sẽ tiếp tục góp phần không nhỏ trong việc định hình tương lai xã hội của chúng ta. Chính chúng ta, với tư cách là người tiêu dùng và các thành viên trong xã hội gánh chịu trực tiếp hệ quả từ chính những khủng hoảng này, cần tiếp tục theo dõi, quan sát, phê bình, và tự giáo dục bản thân về những vấn đề xung quanh hệ quả xã hội từ công nghệ. □  ——  1 Tư liệu về những tác hại xã hội của Facebook trong Facebook Papers được tóm tắt và tổng hợp từ 16 bài điều tra của the Wall Street Journal. Độc giả có thể đọc kĩ hơn tại: https://www.wsj.com/articles/the-facebook-files-11631713039  2 https://www.nytimes.com/2021/12/02/opinion/metaverse-politics-disinformation-society.html  3 https://www.newyorker.com/culture/infinite-scroll/facebook-wants-us-to-live-in-the-metaverse  4 https://www.nytimes.com/2021/12/13/technology/instagram-handle-metaverse.html    Author                Hải Đăng - Hảo Linh        
__label__tiasang Facebook, nước Úc, và bài toán tiền nong: Tái phân phối thu nhập từ các tập đoàn công nghệ      Năm 2020, một cuộc Điều tra về Nền tảng Kỹ thuật số (Digital Platforms Inquiry) do Ủy ban Cạnh tranh và Người tiêu dùng Úc (ACCC) thực hiện đã báo hiệu sự khởi đầu cho việc Chính phủ Úc chính thức tìm hiểu một cách có hệ thống các phương án quản lý doanh nghiệp công nghệ. Sức mạnh thị trường, chính trị, kinh tế, và xã hội ngày càng to lớn của các “gã khổng lồ công nghệ” vốn đã làm dậy lên các cuộc thảo luận về việc quản lý từ cấp chính quyền đến cấp tổ chức đa bên liên quan quốc tế trong nhiều năm qua. Sau khi chính quyền Úc thông qua Quy tắc Thương lượng Bắt buộc cho Truyền thông tin tức và Nền tảng kỹ thuật số (‘the Code’), qua đó yêu cầu Facebook và Google cần phải trả tiền cho các cơ quan báo chí, Google đã chủ động thương lượng trực tiếp với Chính phủ Úc, trong khi Facebook đưa ra quyết định gỡ bỏ toàn bộ các trang tin tức hoạt động tại Úc trên trang của mình. Sau hành động cực đoan của Facebook, Chính phủ Úc và Facebook đã cùng ngồi lại thương thảo các điều khoản của Quy tắc và đạt đến sự đồng thuận.      “The Code” của Úc có ý định điều chỉnh cả Facebook và Google nhưng trong khi Google đã nhanh chóng thương lượng thì Facebook lại mạnh mẽ đáp trả. Ảnh: Niemanlab.org  Cuộc đối đầu giữa Facebook và Úc gần đây có ý nghĩa gì cho vấn đề quản lý mạng xã hội trong thập niên tới?  Động cơ và diễn biến của “cuộc đối đầu” lịch sử giữa Facebook và Úc  Tuy những tranh cãi giữa Facebook và Chính phủ Úc trong đợt sóng gió pháp luật lần này thường được mô tả xung quanh vấn đề nội dung báo chí mà Facebook được cho là đang hưởng lợi miễn phí thông qua việc cho các cơ quan báo chí đăng tải trên nền tảng công nghệ của mình, nguồn gốc và phạm vi liên quan việc dẫn đến Chính phủ Úc đưa ra những quy định “mạnh tay” như vừa qua là phức tạp hơn như vậy. Đằng sau những diễn biến tranh chấp bề nổi này là cuộc chiến về doanh thu quảng cáo, việc thu thập và sử dụng dữ liệu người tiêu dùng, và rộng hơn là “nền kinh tế của sự chú ý” (economy of attention) dựa trên mô hình kinh doanh của các nền tảng công nghệ này. Chính quyền Liên bang Úc vào năm ngoái đã thực hiện một cuộc rà soát lớn cho Luật Quyền riêng tư được thảo năm 1988 với mục đích bổ sung và cập nhật những quy định mới nhằm tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Úc trước bối cảnh thông tin cá nhân của người dân Úc đang ngày càng được sử dụng cho việc quảng cáo cá nhân hóa – vốn là cốt lõi của mô hình kinh doanh của các công ty như Google hay Facebook. Có thể nói, đây là động thái của Chính phủ Úc đang dần vạch ra hướng đi riêng trong việc thực hiện quy định về dữ liệu và quyền riêng tư, nối gót sau bộ luật Bảo vệ dữ liệu chúng GDPR của châu Âu cách đây không lâu.  Báo cáo của ACCC nhấn mạnh rằng, các công ty như Facebook hay Google nắm giữ độc quyền các hệ thống phân phối quảng cáo trực tiếp đến người dùng thông qua nền tảng của họ, và cơ sở hạ tầng thu thập dữ liệu khổng lồ của họ chính là phương thức khiến hiện trạng độc quyền này trở nên khó bị lật đổ nếu không có sự can thiệp nghiêm túc từ chính phủ. ACCC khuyến cáo rằng, sự độc quyền của các công ty công nghệ đa quốc gia này tạo nên một môi trường kinh tế thiếu lành mạnh, thiếu vắng sự cạnh tranh, tính lựa chọn cho người dùng, và ngăn cản tính minh bạch kinh tế. Ví dụ điển hình cho sự thiếu minh bạch trong cách mô hình quảng cáo của Facebook và Google là việc gần đây, các nghiên cứu cho thấy rằng người dùng iPhone đã bị tính phí nhiều hơn trên các trang web du lịch và đặt phòng, vì họ được định kiến là giàu có hơn so với những người dùng điện thoại Android. Tương tự như vậy, loại thiết bị điện tử mà bạn dùng có thể cung cấp thông tin cho các thuật toán, và chúng có thể “điều khiển” chuyển hướng bạn tới các sản phẩm cụ thể khi mua sắm trực tuyến. Gần đây, Facebook cũng đã bị lên án nặng nề khi bị phát hiện đưa tin quảng cáo rao bán các căn nhà có chất lượng tốt hơn cho các nhóm người thuộc một số chủng tộc và nhóm thu nhập nhất định, ngay cả khi khách hàng yêu cầu Facebook không được thực hiện hành vi mang tính phân biệt này. Trước sự mập mờ thiếu kiểm soát của cách mà các nền tảng công nghệ lớn này hoạt động, mà cái giá mang tính xã hội của sự mập mờ này có thể rất cao, chính phủ liên bang Úc chính thức đưa ra những thử nghiệm trong việc tiến hành thực hiện các điều lệ chỉnh đốn mang tính ràng buộc, mà ‘the Code’ là nỗ lực đầu tiên.    Kể cả Facebook, Google chịu trả tiền cho các cơ quan báo chí, liệu số tiền đó có được đầu tư ngược lại cho việc sản xuất tin? Ảnh: Wired.com  Vậy việc thực hiện bộ luật mới này, vốn được thông qua bởi cả Thượng và Hạ viện Úc, có gì khiến gây tranh cãi? Về cơ bản, bộ luật cho phép các cơ quan thông tin truyền thông với thu nhập trên 150,000 đô la Úc được quyền đăng ký yêu cầu được hưởng lợi nhuận quảng cáo thu về từ các nền tảng công nghệ như mạng xã hội và bộ máy tìm kiếm. Song song với quá trình này, Bộ trưởng Ngân khố Úc Josh Frydenberg có trách nhiệm phải xem xét câu hỏi về việc “chỉ định” các nền tảng kỹ thuật số như Google và Facebook và các dịch vụ mà họ cung cấp – xem các dịch vụ này thuộc vào hạng mục được quản lý nào – ví dụ như dịch vụ tìm kiếm thông tin, hoặc dịch vụ cung cấp tin tức. Bộ trưởng Ngân khố cũng đưa ra quyết định xem liệu các nền tảng liên quan có đang nắm giữ thế thượng phong trong tình huống mất cân bằng quyền lực với các cơ quan thông tin báo chí hay không. Quyết định này cần được thực hiện trong 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo. Sau khi được chỉ định, các nền tảng thông tin có nhiệm vụ bắt đầu đàm phán với các doanh nghiệp tin tức về số tiền phải trả cho nội dung mà họ cung cấp thông qua quá trình thương lượng hòa giải. Nếu thất bại, chính phủ có trách nhiệm can thiệp và đưa ra quyết định cuối cùng.       Chính phủ các quốc gia trên thế giới với nguyện vọng thực hiện tái phân phối thu nhập công nghệ trong thập niên tới cần học những bài học kinh nghiệm quan trọng từ sự thiếu sót của Chính phủ Úc. Không chỉ là bài toán về tiền bạc, việc quản lý mạng xã hội và các nền tảng công nghệ độc quyền cần hướng đến, và được thực hiện trên quy tắc, hướng đến sự minh bạch, độc lập, và nâng cao bình đẳng xã hội. Việt Nam không nên, và cũng không thể, đi theo bước chân của Úc trong xu hướng quản lý công nghệ mới này – mà nên có định hướng của riêng mình.      Ngay từ khi bộ luật trên được nhen nhóm, Google và Facebook đã tích cực phản đối và đưa ra những lời hăm dọa ngưng hoạt động tại Úc. Tuy nhiên, Google sớm có động thái thương lượng với chính phủ liên bang sau những lời đe doạ; trong khi đó, Facebook đã làm đảo lộn cuộc sống thông tin tại Úc và trở thành tiêu điểm của chú ý khi quyết định ngưng đăng tải toàn bộ tin tức đến từ Úc trên nền tảng của mình như một lời thách thức đến Chính phủ Úc. Điểm khá buồn cười là thuật toán của Facebook, sau khi được huấn luyện để tự động nhận dạng trang thông tin báo chí và ngưng đăng tải thông tin, đã tự vô hiệu hóa chính trang đại diện của Facebook trên Facebook tại Úc. Thế nhưng, sau một tuần thách thức, cuối cùng Facebook cũng chấp thuận ngồi xuống đàm phán với Chính phủ Úc và gỡ bỏ việc ngưng đăng tải tin tức tại thị trường Úc.   Những lộ trình thay thế cho tái phân phối thu nhập công nghệ  Lí do nào khiến Facebook lại có động thái cực đoan đến như vậy trong đợt “va chạm” này? Facebook vốn đã là một thương hiệu không có mấy tiếng tăm tốt đẹp sau nhiều vụ bê bối trong hơn nửa thập kỷ qua trên mọi lĩnh vực ảnh hưởng xã hội; cách Facebook bất chấp “tiếng xấu” và phản ứng mang tính khiêu khích Chính phủ Úc tuy có thể gây sốc, nhưng lại không hề mang tính bất ngờ. Cách bộ luật thương thảo mới đề ra quy định yêu cầu tái phân phối thu nhập công nghệ như trên đặt các công ty như Google và Facebook vào thế bất khả dĩ: nếu đồng ý với việc dành trọn quyền điều đình cho chính phủ, khả năng chính phủ đứng về phía các công ty nội địa và không đạt được thỏa thuận với các công ty công nghệ lớn là vô cùng cao. Hơn thế nữa, việc đồng ý với quyết định của Chính phủ Úc sẽ là tiền lệ cho việc tất cả các quốc gia mà Facebook và Google hoạt động tiến hành đưa ra các quy định quản lý tương tự. Viễn cảnh bị buộc phải chi trả các khoản tiền khổng lồ cho tất cả các trang thông tin báo chí trên toàn thế giới trong một sắp đặt mà chính Facebook hoặc Google đều không có khả năng thương lượng hiệu quả hiển nhiên khiến hai “ông lớn” phản ứng gay gắt.    News Corp, tập đoàn tin tức của ông trùm Rupert Murdoch vận động hành lang rất mạnh mẽ cho “The Code” khiến nhiều người nghi ngờ về động cơ của quy tắc này. Ảnh: axios.com  Chúng ta cần nhấn mạnh rằng, tuy việc phản ứng gay gắt của Facebook là có thể hiểu được, xu hướng yêu cầu tái phân phối thu nhập công nghệ có lẽ đã chín muồi. Tuy nhiên, cách Chính phủ Úc tiếp cận và thiết kế bộ luật quản lý lần này đã không khôn ngoan và hiệu quả. Cả Facebook và Chính phủ Úc đều tuyên bố thắng cuộc sau khi hai bên ngồi xuống và đàm phán cách vượt qua thế tiến thoái lưỡng nan sau hành động có phần cực đoan của cả hai bên. Ở thời điểm hiện tại, Facebook đã chủ động thương thảo với các cơ quan báo chí truyền thông lớn nhất tại úc như News Corp, Nine, và Seven West Media. Chính vì động thái này, phía Úc hi vọng rằng trong vòng một tháng tới, Facebook sẽ liên tục đưa ra nhiều thương thảo với hầu hết các cơ quan báo chí truyền thông đủ điều kiện được bảo vệ dưới bộ luật mới. Mặc khác, nếu Facebook không thực sự chủ động thực hiện các phi vụ thương thảo này trong thời gian tới, Bộ trưởng Ngân khố có quyền tiến hành chỉ định Facebook theo bộ luật. Trong kịch bản đó, chúng ta có thể chờ đợi việc Facebook tiếp tục ngưng cung cấp tin tức từ Úc một lần nữa, kéo dài cuộc chiến giữa chính phủ và tập đoàn công nghệ này.  Tuy dư luận rất dễ đứng về phía Chính phủ Úc trong cuộc chiến lần này, đặc biệt là sau thái độ bất hợp tác của Facebook, chúng ta cần nhìn rõ lại nhiều vấn đề bất cập trong bộ luật. Thứ nhất, và có lẽ là quan trọng nhất, bộ luật không hề có ràng buộc nào về việc các khoản trợ cấp từ những công ty công nghệ liên quan phải được chi cho việc thu thập tin tức. Điều này đồng nghĩa với việc các tập đoàn truyền thông báo chí tại Úc hoàn toàn có thể nhận lấy nguồn thu mới từ các tập đoàn công nghệ và không đầu tư vào việc thuê, huấn luyện, và đào tạo các nhà báo mới, hay trang bị cho lực lượng phóng viên các thiết bị kĩ thuật cần thiết cho việc tác nghiệp của họ. Thứ nhì, việc nhà tài phiệt Rupert Murdoch, người sở hữu 57% thị trường truyền thông tại Úc, hăng hái vận động hành lang cho bộ luật lần này khiến dư luận Úc thêm phần nghi ngờ động cơ thực sự của bộ luật, và những hệ quả của việc thi hành luật. Rất khó có thể tin rằng một thị trường truyền thông mang tính tập trung như Úc, nơi mà phần đa lợi nhuận chỉ đi vào túi của số ít, có thể được hưởng lợi từ một bộ luật soạn thảo như trên. Thứ ba, cách bắt buộc các tập đoàn công nghệ phải thương thảo việc chia sẻ lợi nhuận của họ một cách trực tiếp với các công ty truyền thông không phải là cách duy nhất để có thể kiến tạo một lộ trình tái phân phối thu nhập công nghệ. Chính phủ đã có sẵn công cụ quản lý hết sức quyền lực từ rất lâu đời, đó chính là đánh thuế. Việc soạn thảo chính sách thuế mạnh mẽ và tái phân phối lượng thuế này cho báo chí một cách công khai, minh bạch, dưới dạng tiền trợ cấp hoặc quỹ tiền thưởng, là một phương pháp có nhiều khả năng thành công, mang tính chắc chắn, kêu gọi được sự thi đua cạnh tranh, và giúp người dân có thể quan sát và giám sát dễ dàng hơn.   Khi cả hai bên đều tuyên bố thắng cuộc: liệu “kẻ thua” có phải là người dùng?  Sau một loạt các cuộc gọi giữa Mark Zuckerberg và Josh Frydenberg, Facebook đã thương lượng những thay đổi nhỏ nhưng quan trọng với Chính phủ Úc, khiến có nhiều khả năng bộ luật sẽ không bao giờ được mang ra sử dụng. Facebook đạt được thỏa thuận quy định rằng trước khi một nền tảng công nghệ bị buộc phải tuân theo những quy định của bộ luật, Bộ trưởng Ngân khố cần phải xem xét xem liệu công ty công nghệ đã đạt được thỏa thuận thương mại với các doanh nghiệp truyền thông tin tức hay chưa. Một nhượng bộ nữa mà phía Úc đã phải đồng ý đó là Bộ Ngân khố cần phải thông báo ít nhất một tháng trước khi tiến hành áp dụng luật. Điều đồng nghĩa rằng Facebook sẽ có một tháng để thực hiện nhiều giao dịch thỏa thuận với các công ty truyền thông, hoặc tiếp tục gỡ bỏ tin tức ra khỏi nền tảng Facebook một lần nữa để không phải tuân thủ luật.     Ai cũng thắng, liệu người dùng có phải là người thua? Ảnh: Dado Ruvic/Reuters  Việc Facebook sẽ có quyền thương lượng giao dịch với các công ty truyền thông trước khi chịu ràng buộc của bộ luật đồng nghĩa với việc Facebook vẫn giữ rất nhiều quyền lực trong các vụ giao dịch này. Điều quan trọng hơn nữa đó là, các báo cáo cho thấy Facebook vốn đã có dự định thành lập dịch vụ Facebook News tại Úc. Facebook News là một ứng dụng mới trên nền tảng Facebook mà công ty này đã đang thử nghiệm tại Vương Quốc Anh; ứng dụng này cho phép người dùng tại Anh xem tin tức chính thống đến từ những công ty truyền thông mà Facebook đã ký kết hợp tác. Nhiều chuyên gia tại Úc cho rằng, sau khi những ồn ào xung quanh việc Chính phủ Úc thực hiện chính sách quản lý thương lượng bắt buộc này, số tiền mà Facebook sẽ chi trả cho các công ty truyền thông báo chí có thể sẽ tương đương với số tiền mà Facebook vốn đã hoạch định sẽ chi trả cho ứng dụng Facebook News, và con số này nhiều khả năng sẽ nhỏ hơn con số mà Chính phủ Úc hi vọng Facebook sẽ chi trả cho khối kinh doanh truyền thông báo chí tại Úc.  Chính phủ Úc vẫn cương quyết cho rằng nếu bộ luật này không được thông qua và đi vào hiện hành, các thương lượng giữa giới truyền thông báo chí và Facebook sẽ không thể nào xảy ra. Đây cũng có thể là một nhận định đúng. Tuy nhiên, nếu nói rằng bộ luật lần này do Úc tiên phong đưa vào thực hiện là một thành công rực rỡ thì hoàn toàn sai. Chính phủ Úc đã có thể chọn một phương tiện cưỡng chế khác, và tạo nên một tiền lệ khác, thay vì tái thiết lập sự lệ thuộc của nền báo chí vào các nền tảng công nghệ thương mại mà lợi nhuận đến trực tiếp từ việc khuếch trương các câu chuyện giật gân, tin sai, và sự chia rẽ xã hội. Thay vì góp phần dần làm mờ nhạt vai trò cơ sở hạ tầng thiết yếu của Facebook trong việc lan truyền tin tức, Chính phủ Úc đã vô hình trung đẩy mạnh tầm quan trọng của công ty này.  Hơn thế nữa, Chính phủ Úc đã bỏ qua một cơ hội lớn để có thể mở rộng quá trình giám sát trách nhiệm của các công ty công nghệ đến đông đảo người dân Úc. Sự tức giận của dư luận Úc trong một tuần Facebook gỡ bỏ các trang tin tức, cũng như vô tình gỡ bỏ sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp các lĩnh vực không liên quan đến báo chí như mỹ phẩm, giải trí, thời trang do lỗi thuật toán có thể đẩy mạnh tiến trình tẩy chay mạng xã hội này tại Úc, vốn đã nhen nhóm trong năm năm qua. Khi chính phủ thương lượng với khối doanh nghiệp với chính logic của doanh nghiệp mà bỏ qua chính đặc tính quản lý công của mình, nhóm chịu thiệt thòi nhất chính là người dân.□    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Friend-Shoring – Cơ hội đến bờ Việt Nam?      Chính sách đầy tranh cãi của Mỹ gần đây có thể là cơ hội để Việt Nam bứt phá.    GS. Janet Yellen, Bộ trưởng Tài chính Mỹ tuyên bố về chính sách friendshoring vào cuối năm 2022.  Chúng tôi tin rằng việc từ bỏ phương thức thương mại chỉ chạy theo chuỗi cung ứng rẻ nhất rất quan trọng… Hướng tiếp cận friend-shoring của chính quyền Biden nhằm mục đích kết nối sâu sắc hơn nền kinh tế của Mỹ với nhiều đối tác thương mại đáng tin cậy…[và] xây dựng chuỗi cung ứng đủ chắc chắn để giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế của chúng ta.   Trích từ bài “Resilient Trade”, GS. Janet Yellen, Bộ truởng Tài chính Mỹ, Project Syndicate 12/12/2022.  Những phát biểu của Bộ trưởng Tài chính Mỹ gần đây báo hiệu chính sách thương mại Mỹ đang chuyển hướng—từ kỳ vọng “mậu dịch tự do” (free trade) trong suốt 70 năm qua sang mục tiêu “mậu dịch đàn hồi” (resilient trade) trong những năm tới.  Điểm then chốt của chính sách này là phương hướng “friend-shoring” nhằm kết nối kinh tế Mỹ sâu sắc hơn với một số nền kinh tế bạn để giảm rủi ro chuỗi cung ứng bị gián đoạn.  Chính sách friend-shoring đã bị chỉ trích từ một số kinh tế gia căn cứ trên nguyên tắc “mậu dịch tự do” là phương thức đưa đến sản xuất hiệu quả nhất và từ đó có mức tiêu thụ cao nhất.  Nhưng cũng chính những chỉ trích đó khiến friend-shoring là một cơ hội hiếm có đối với Việt Nam để tìm được chỗ đứng trong chuỗi cung ứng quốc tế, tiếp cận với công nghệ mới, và tăng trưởng thu nhập cho người dân.  Mậu Dịch Tự Do và Thời Đại GATT/WTO  Vào cuối Đệ nhị Thế chiến, một số quốc gia đã thành lập ba tổ chức quốc tế với mục đích duy trì và mở rộng thương mại giữa các quốc gia. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund, IMF) có trách nhiệm tạo ổn định môi trường cho thương mại quốc tế qua sự ổn định giá trị tiền tệ của mỗi quốc gia.  Ngân hàng Thế giới (World bank, WB) có vai trò nâng cao khả năng thương mại của mỗi quốc gia bằng cách cho vay tiền cho các nước nghèo để phát triển hạ tầng. Và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade, GATT) phát triển thương mại quốc tế bằng cách giảm các rào cản như thuế nhập khẩu và ngăn chặn các chính sách chống cạnh tranh như trợ cấp doanh nghiệp nội địa. Vào đầu năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thay thế hiệp định GATT và bổ sung những luật thương mại với chức năng thi hành luật và giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước.  Các tổ chức này được thành lập vì niềm tin “mậu dịch tự do” là cách thức mang đến thịnh vượng. Lập luận này bắt nguồn từ kinh tế gia Adam Smith và sau đó David Ricardo. Vì tài nguyên khan hiếm, mỗi cá nhân chỉ nên tập trung vào những ngành sản xuất mình làm tốt nhất, bán sản phẩm từ những ngành đó rồi mua lại sản phẩm của các cá nhân khác trong xã hội. Tổng sản lượng sẽ đạt mức cao nhất vì mỗi cá nhân chuyên tâm vào những gì mình làm tốt nhất, và mỗi cá nhân mới là người hiểu rõ nhất khả năng của mình. Sự mua bán sẽ diễn ra trên các “thị trường”, là cơ sở cho một nền “kinh tế thị trường”. Lập luận này cũng có thể áp dụng tương tự cho đơn vị quốc gia. Vì tài nguyên khan hiếm, mỗi quốc gia nên chuyên vào những ngành mình làm tốt nhất. Adam Smith (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations, 1776) đo lường sự “tốt nhất” ấy bằng chỉ số năng suất lao động (một lao động làm ra bao nhiêu đơn vị sản phẩm) và như thế một quốc gia chỉ nên chuyên về những ngành năng suất lao động cao nhất – được gọi ngành quốc gia có “lợi thế tuyệt đối” – xuất khẩu ngành đó và nhập các ngành còn lại.     WTO ra đời năm 1995. Ảnh: wto.org  Nhưng “lợi thế tuyệt đối” là một khái niệm kỹ thuật không đưa giá trị thị trường vào bài toán. Nếu một đơn vị lao động của nước A có năng suất gấp đôi năng suất lao động nước B (A có “lợi thế tuyệt đối”) nhưng mức lương một đơn vị lao động tại nước A lại gấp ba lần mức lương nước B thì chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tại nước B lại thấp hơn chi phí sản xuất tại nước A. Như vậy, nước B có “lợi thế so sánh” mặc dù nước A có “lợi thế tuyệt đối”. Đây là nguyên tắc “lợi thế so sánh” của David Ricardo (On the Principles of Political Economy and Taxation, 1817). Nếu mỗi quốc gia chuyên sản xuất ngành mình có “lợi thế so sánh” thì chi phí sản xuất mỗi sản phẩm sẽ thấp nhất, giá thị trường của mỗi sản phẩm sẽ thấp nhất và như thế tổng sản lượng sẽ cao nhất và hai nước giao dịch với nhau sẽ đạt “lợi ích từ thương mại”.  Tuy nhiên, “mậu dịch tự do” có khả năng đạt tổng sản lượng cao nhất nhưng sự phân phối của lợi ích từ thương mại sẽ không đồng đều, tạo ra sự căng thẳng nội địa. Trong mỗi quốc gia, khi mở rộng thương mại quốc tế, một số ngành xuất khẩu có thể sẽ được hưởng lợi, nhưng đồng thời sẽ có những ngành chịu thiệt thòi khi phải cạnh tranh với những hàng nhập khẩu bán với giá thấp hơn chi phí sản xuất của mình. Điển hình là hai ngành nông nghiệp và dịch vụ.  Hai ngành này là khúc mắc trong cuộc đàm thoại WTO vòng Doha bắt đầu năm 2001 và đã chấm dứt sau 15 năm mà không đạt được thỏa thuận nào đáng kể. “Chiến tranh mậu dịch” Mỹ-Trung trong mấy năm gần đây cũng phát xuất áp lực từ những doanh nghiệp nội địa Mỹ trong việc cạnh tranh không nổi với các sản phẩm giá rẻ từ Trung Quốc.  Tuy nhiên, sự phân bố lợi ích không đồng đều này còn dẫn đến cả sự căng thẳng giữa các quốc gia. Nên nhớ “lợi thế so sánh” có thể đến từ năng suất lao động tương đối cao hoặc mức lương tương đối thấp, và chúng ta nên hiểu “năng suất lao động” đây là giá trị của năng suất lao động. Nếu một quốc gia tập trung phát triển ngành có giá trị cao thì vừa đảm bảo mức lương cho người lao động cao nhưng đồng thời cũng vẫn giữ được lợi thế so sánh trong ngành đó. Ngược lại, nếu một quốc gia chuyên về một ngành có giá trị thấp, thì mức lương buộc phải thấp để có thể có lợi thế so sánh trong ngành. Các nước chuyên về những ngành giá trị cao sẽ được chia phần nhiều hơn lợi ích từ thương mại. Do đó, việc tăng giá trị của năng suất lao động bằng cách nâng cấp công nghệ là điều kiện quan trọng để tăng trưởng mức lương mà vẫn giữ lợi thế so sánh. Chính sách cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ (cho những công nghệ đem lại giá trị cao) là hai vấn đề khúc mắc lớn cho những thỏa thuận và thi hành luật thương mại. Tranh chấp liên quan đến hai vấn đề này gây ra căng thẳng giữa các nước và góp phần vô hiệu hóa tổ chức WTO, làm đình trệ hiện tượng toàn cầu hóa theo mô hình “mậu dịch tự do”. Vì lý do đó, song song với việc tham gia tổ chức WTO, hầu hết các nước trên thế giới đều tham gia hiệp ước thương mại khu vực với một số “luật chơi” khác. Hiện tại có 355 hiệp ước thương mại khu vực đang được thi hành so với con số 40 khi tổ chức WTO mới ra đời.  Dư luận người Mỹ về thương mại quốc tế. (https://news.gallup.com/poll/390614/views-foreign-trade-nearly-back-pre-trump-levels.aspx).  Phương Hướng Friend-shoring  Friend-shoring tưởng như phần nào đó giống với xu hướng của các hiệp ước thương mại khu vực—là những thỏa thuận giữa một số nhỏ quốc gia với nhau. Nhưng thực chất, friend-shoring đi xa hơn. Thứ nhất, các hiệp ước thương mại khu vực thường chỉ dừng lại ở giảm thuế nhập khẩu giữa các quốc gia ký kết. Theo những phát biểu của Bộ trưởng Yellen, friend-shoring sẽ “kết nối kinh tế Mỹ sâu đậm hơn với một số kinh tế bạn”.  Có thể hiểu là sẽ không chỉ bao gồm việc giảm thuế nhập khẩu mà còn cả chuyển giao công nghệ hoặc những hành động khác nhằm giúp một quốc gia tham gia chuỗi cung ứng cần thiết. Thứ hai, các hiệp ước thương mại khu vực vẫn tuân thủ điều lệ của WTO – đối xử với các thành viên như nhau – vì không tăng thuế hoặc trừng phạt những thành viên WTO mà không tham gia hiệp ước khu vực. Không ngoại trừ trường hợp friend-shoring sẽ tăng thuế hoặc trừng phạt những thành viên WTO và chỉ “ưu đãi” các nước đối tác, và như thế chính sách friend-shoring có khả năng vô hiệu hóa cơ quan WTO. Thứ ba, friend-shoring, ngoài việc đa dạng hóa nguồn sản xuất trong chuỗi cung ứng, còn quyết định lựa chọn đối tác thương mại dựa trên các tiêu chí liên quan tới an ninh quốc gia.  Điều thứ ba này về an ninh quốc gia đã bị giáo sư Raghuram Rajan, Đại học Chicago, cựu Chief Economist IMF, và cựu thống đốc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ, chỉ trích là một biểu hiện của chính sách bảo hộ mậu dịch. Lí do “an ninh quốc gia” sẽ được một số nhóm lợi ích trong nội bộ nước Mỹ ủng hộ để tạo rào cản thương mại nói chung. Còn dư luận Mỹ, mặc dù không hẳn chống ngoại thương nhưng cũng có dấu hiệu nghiêng về hướng “chọn bạn mà chơi” trong quan hệ thương mại.  Trong cuộc thăm dò mới nhất vào năm 2022 của cơ quan Gallup, 61% người dân Mỹ coi ngoại thương là cơ hội để phát triển kinh tế (cao hơn tỷ lệ suốt thời kỳ 1992-2016), và 35% coi ngoại thương là một đe dọa (thấp hơn thời kỳ 1992-2016) (xem Hình 1). Trong khi đó Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của nước Mỹ nhưng 79% dân Mỹ cho rằng Trung Quốc “không tốt” (xem Hình 2). Kết quả hai cuộc thăm dò này cho thấy dân Mỹ ủng hộ thương mại quốc tế nhưng đồng thời muốn phát triển thương mại “có chọn lọc” với một số quốc gia đối tác.  Dư luận người Mỹ đối với nước Trung Quốc. (https://news.gallup.com/poll/1627/china.aspx).  Friend-shoring là một cơ hội cho Việt Nam  Vào những năm thập niên 1960 và 1970, các công ty Nhật Bản trong nhiều lãnh vực đã chiếm đoạt thị trường Mỹ một cách đáng kinh ngạc. Điển hình là ngành xe ô tô. Đến năm 1973, xe ô tô Nhật gồm hơn 42% xe nhập chiếm 8% toàn thị trường Mỹ. Năm 1980, thị trường Mỹ nhập 2 triệu chiếc xe từ Nhật gồm 80% xe nhập khẩu và khi ấy xe Nhật đã chiếm hơn 21% toàn thị trường ô tô Mỹ.1  Xe ô tô Nhật đã thay thế sản phẩm của các công ty Pháp, Đức và Ý.  Tuy nhiên, đầu năm 1981, do áp lực từ Chính phủ Ronald Reagan, nước Nhật buộc phải tuân theo chính sách tự nguyện hạn chế xuất khẩu (“voluntary export restraint”, VER) giới hạn số xe xuất đến Mỹ xuống 1,68 triệu chiếc. Trước đó, biện pháp VER đối với xe ô tô Nhật đã bắt đầu vào năm 1977 tại Vương quốc Anh.  Vận rủi của Nhật Bản lúc đó lại là cơ may của Hàn Quốc. Các công ty ô tô Hàn Quốc không bị giới hạn nhập khẩu vào nước Mỹ, thậm chí còn được khuyến khích. Công ty ô tô GM (General Motors), lớn nhất tại Mỹ đã kí hợp đồng chuyển giao công nghệ đến công ty Daewoo để sản xuất chiếc Pontiac LeMans bán 100 ngàn chiếc vào năm 1987. Công ty Hyundai bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Mỹ vào năm 1986, bán 168 ngàn chiếc xe.  Các công ty sản xuất xe ô tô Hàn Quốc đẩy mạnh chiến lược xuất khẩu sang thị trường Mỹ khi xe Nhật bắt đầu gặp rào cản.  Câu chuyện trên nói đến cơ may của sự phát triển kinh tế. Ngành ô tô của Hàn Quốc sẽ không có bước nhảy vọt như vậy nếu tuân thủ theo đúng những nguyên tắc mậu dịch tự do”.  “Lợi thế so sánh” có thể là “gông cùm” kìm hãm những nước đang phát triển. Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động thì năng suất lao động của một quốc gia sẽ chỉ tăng ở mức độ vừa phải khiến nước đó cứ gắn mãi với “lợi thế so sánh” mà không đủ để bước vào một ngành mới có giá trị cao hơn. Để thoát khỏi điều này, để tăng năng suất lao động cao hơn nữa, đủ để bước vào một ngành mới thì các quốc gia đó phải hỗ trợ ngành này theo cách mà đôi khi đi ngược lại các nguyên tắc cạnh tranh. Trong câu chuyện của Hàn Quốc, rất may là ở thập niên 1970 và 1980, WTO chưa hoạt động. Khi đó, không mấy ai quan tâm đến chính sách công nghiệp ưu đãi công ty nội địa của Hàn Quốc là trái ngược với luật của WTO bây giờ. Nếu dựa vào “lợi thế so sánh” thì Hàn Quốc không thể nào cạnh tranh với ô tô Nhật. Nhưng nhờ chính sách rào cản của Mỹ (cũng một lần nữa đi ngược với luật của WTO bây giờ) đã tạo cơ hội cho các công ty Hàn Quốc vào thị trường này.  Cơ may mà Mỹ tạo ra năm nào với ô tô của Hàn Quốc có thể là những gì mà friend-shoring mang đến cho Việt Nam. Một số chỉ trích cho rằng friend-shoring là một chính sách chuyển hướng thương mại (trade diversion) từ sản xuất ở đơn vị chi phí thấp đến đơn vị chi phí cao. Chỉ trích đó đúng vì chính sách này được tuyên bố sẽ có những mục tiêu khác ngoài mục tiêu kiếm chi phí thấp nhất. Nhưng chính vì thế, đây là cơ hội cho Việt Nam tham gia trong chuỗi cung ứng trong những ngành mà lợi thế so sánh có thể gần có nhưng mà chưa có. Một chỉ trích khác là chính sách friend-shoring chưa có chi tiết cụ thể. Tuy nhiên đây cũng là một cơ hội các đơn vị Viêt Nam có thể chủ động đề xuất những chương trình phù hợp với “phương hướng friend-shoring”. Việt Nam đang tiếp nhận một số lợi thế trong bối cảnh ngoại thương và như câu chuyện ô tô Hàn Quốc cho thấy, nếu các doanh nghiệp mạnh trong nước và lãnh đạo chính phủ cùng chủ động và biết tìm kiếm hợp tác với các công ty nước ngoài, chúng có thể thay đổi con đường phát triển của một quốc gia.□  ——  1 U.S. International Trade Commission (1981), “Automotive Trade Statistics 1964- 80,” Publication #1203, Washington, D.C..    Author                Phạm Hoàng Văn        
__label__tiasang “Fukushima, tội ác hợp pháp”      Bất lực bởi sức mạnh của giới lobby về hạt nhân, nhà triết học Nhật Kenichi Mishima* phê phán nghiêm khắc sự phi lý trong những lựa chọn về công nghệ và năng lượng của nước mình.    Đối mặt với thảm họa như Fukushima, phương Tây sử dụng điển tích kinh thánh “ngày tận thế”. Với Nhật Bản thì sao?  Khi chúng ta không còn làm chủ được một tình huống nữa, dĩ nhiên là chúng ta sẽ nương vào truyền thống ngữ nghĩa vốn có của mình để còn có được một sự tự chủ về quan niệm. Một số đưa ra hình ảnh Phật giáo về địa ngục, nơi các dòng sông máu cuốn chảy. Nhưng đó là số ít: đứng trước kích cỡ quan trọng của các phê phán, ông tỉnh trưởng siêu phản của Tokyo, lúc trước đã nói về Fukushima như một “sự trừng phạt danh giá”, lại đã rút lời mình lại. Để dùng lại cách nói của Max Weber, cái thế giới người Nhật bị “giải giáp ảo tưởng”. Dù một số người đổ cái thảm họa này cho cái giả thức về sức mạnh bất ngờ của thiên nhiên, rất đông thấy ở đó là cái kết cục của sự hỏng trật về con người và trước hết về chính trị. Với tôi, thảm họa Fukushima là sự thất bại của sự quản chế của nền dân chủ đối với công nghệ. Việc xây dựng những lò phản ứng trong một vùng giàu về động đất như thế là một tội ác hợp pháp, một cuộc khủng bố được dựng sẵn dành cho các công dân.  Nhật Bản thường được gắn với lòng say mê kép, thiên nhiên và công nghệ. Sinh thái được nhìn nhận như thế nào?  Thật sai lầm khi tin rằng người Nhật rất khăng khít với thiên nhiên. Cũng vậy thôi, không phải người Pháp đều sống trong các lâu đài kiểu baroque (loại phong cách nghệ thuật thời hậu phục hưng – ND), nghệ thuật các khu vườn cổ truyền thật xa xăm với phần đông công chúng! Công nghệ gây nên sự hăng hái ngây thơ và trẻ con, người Âu châu cũng hăng hái như thế với sự khổng lồ của máy bay Airbus. Về sinh thái chúng tôi đã gặp phải những hậu quả khủng khiếp về ô nhiễm, như nạn nhiễm thủy ngân ở vùng vịnh Minamata năm 1932. Các bệnh gắn với khí thải ở Tokyo những năm 1970 cuối cùng đã đưa đến sự tăng cường các quy chuẩn, và một cách nghịch lý đã đưa đến thành công cho các nhà chế tạo xe hơi hơi của Nhật khi họ buộc phải canh tân lĩnh vực này. Trong lĩnh vực điện hạt nhân, số lượng người bị hại, một cách dễ thấy được, quá là ít để mà đánh thức công chúng.   Làm sao mà ngành hạt nhân dân sự lại thắng cược được trong một đất nước đã bị trầm cảm bởi Hiroshima và Nagasaki?  Kí ức khủng khiếp về các cuộc tấn công này không đủ để gạt đi lòng nhiệt huyết chung về sử dụng hòa bình ngành hạt nhân. Bằng sự gắng sức, bao nhiêu tội ác của Thế Chiến thứ hai cùng sự ghê rợn của việc thả bom nguyên tử đã được quên đi, và sự khải hoàn của xã hội tiêu thụ đã mang hiệu ứng “phi-lịch sử hóa”, điều này đã được hiệu chỉnh lại đôi chút nhờ chính sách tưởng niệm được phái tả đẩy lên trong những năm 1980. Nhiều người Nhật phủ nhận ngành hạt nhân trong riêng tư, nhưng rồi chép miệng làm quen với lựa chọn này tuồng như là một thực tế đã rồi.  Vậy theo ông thì lobby đóng vai trò gì trong sự đầu hàng này?  Sự lệt bệt này là kết quả của cái công việc vận động công chúng rất tỉ mẩn do giới công nghiệp hạt nhân dẫn dắt. Trên tivi liên tục các mẩu quảng cáo mà trong đó các ngôi sao thể thao hay phim ảnh lặp đi lặp lại các cổ động dạng “Nhật Bản, hãy vững mạnh” hoặc “Cùng nhau, ta sẽ tới đích”. Chương trình này thật đáng lo ngại khi mà người trả tiền cho nó là AC Japan, một cơ quan điều hành quảng cáo mà trong ban lãnh đạo của nó có sự hiện diện của những đại diện của Tepco. Căn rễ là ở đây: các công dân bất lực để đoán biết được cái cấu trúc của lobby hạt nhân, và họ chối bỏ tham gia vào việc tháo dỡ cái cỗ máy đã chết bệt của đời sống chính trị. Nhà chính trị học Maruyama Masao (tác giả của “Luận bàn về tư duy chính trị ở Nhật Bản, PUF, 1996), người đã phân tích ngay từ năm 1945 rằng chính cái tâm thức của xã hội Nhật Bản đã nâng đỡ chủ nghĩa phát xít, đã chỉ ra cái đặc trưng của bộ máy nhà nước Nhật Bản như “một hệ thống vô trách nhiệm”: cái thực trạng hiện nay phù hợp hoàn toàn với sự tê liệt chính trị đã được phổ quát hóa. Từ lâu nay sự phản kháng được dẫn dắt bởi phái cực tả cấp tiến đã làm ái ngại phái tả tự do bởi những phương pháp “cách mạng”. Thế nhưng sự đầu hàng hiện giờ có những nguyên do nguy hiểm hơn: trong điều kiện làm việc hôm nay người làm công không còn thời gian cho sự suy ngẫm, cho đọc sách báo và thảo luận, và hệ thống bầu cử làm người ta cụt hứng để tham gia vào nền chính trị. Như thế chúng ta khó thấy ra làm sao để chấm dứt được cái trò đồng thuận ngấm ngầm giữa nhà nước và đám có tiền.                                                                                                                               Hoàng Hồng Minh chuyển ngữ  * Kenichi Mishima là chuyên gia về triết học Đức, giảng dạy ở trường ĐHTH Tokyo Keizal, tác giả cuốn “Kí ức, truy lùng và hủy hoại”, Tokyo 2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gánh nặng đè lên vai Đại biểu Quốc hội (Phần I): Những nghị sỹ lập kỷ lục      Ngày nay, nghị sỹ hay đại biểu quốc hội có ở mọi quốc gia, mọi chế độ; dù bầu cử thực chất hay không, tranh cử dưới hình thức đảng phái hay cá nhân, đều được tổng hợp từ lá phiếu của cử tri. Thành thử vai trò, ảnh hưởng của nghị sỹ trên chính trường quyết định số phận tham chính của đảng phái thuộc những nghĩ sỹ đó; buộc nghị sỹ phải là những “chiến sỹ” thực sự trên chính trường. Từ đó, ở Đức đã sản sinh ra bao nghị sỹ với bao kỷ lục thường xuyên được lập mới; không chỉ tạo dấu ấn bản thân họ mà cả hình ảnh quốc hội trong tiềm thức người dân.    Số lượng nghị sỹ hiện ở ta 500, nhưng chỉ có 154 chuyên trách, bằng 1/4 so với số nghị sỹ chuyên trách của Đức là 631 trên tổng dân số hai nước tương đương nhau. Quốc hội hai nước cũng hoạt động khác nhau; trong khi ở ta chỉ có hai kỳ họp 1-2 tháng trong năm, thì ở Đức họ phải làm việc toàn phần cả năm như bất kỳ công chức nào. Mỗi tháng, cứ hai tuần họp thì hai tuần chuẩn bị. Trong hai tuần nội họp, các ngày đầu tới giữa tuần dành cho các cuộc họp của các nhóm nghị sỹ thuộc các đảng phái khác nhau, các cuộc họp ủy ban, hội đồng, các nhóm làm việc, các cuộc chất vấn, hai ngày tiếp theo họp toàn thể. Mỗi ngày kéo dài tới 15 tiếng, căng thẳng như bất cứ lao động nặng nhọc nào. Chính vì vậy vai trò nghị sỹ họ thường trực trong đời sống chính trị đất nước; “thời thế tạo anh hùng” ở họ đã sản sinh ra bao nghị sỹ với bao kỷ lục thường xuyên được lập mới; không chỉ tạo dấu ấn bản thân họ mà cả hình ảnh quốc hội trong tiềm thức người dân.     Nhiệm kỳ vừa qua, danh hiệu vua thuyết trình được truyền thông trao cho Nghị sỹ Pascal Kober, 42 tuổi, đảng FDP, vốn là cha xứ ở Sindelfingen, Baden-Württemberg. Không nghị sỹ nào phát biểu nhiều như ông. Trong 251 buổi họp nhiệm kỳ qua từ tháng 10.2009 tới 9.2013, ông phát biểu chẵn đúng 140 lần. Ông bình luận trung thực về kỷ lục của mình: “Tôi không phải nhà hùng biện của FDP. Tôi phát biểu nhiều vì trách nhiệm của tôi phải theo dõi trợ cấp cho người thất nghiệp lâu năm và hưu trí vốn rất nóng”. Các đảng khác SPD, Linken và đảng Xanh đặt nhiều câu hỏi về các vấn đề đó, nên ông có nhiệm vụ giải trình dưới danh nghiã đại diện cho FDP trong Liên minh cầm quyền. Vị trí số hai thuộc về Nghị sỹ Heinrich Kolb của FDP với 119 lần thuyết trình. Tiếp đó có 6 nghị sỹ thuyết trình trên 100 lần.            Trong suốt bốn năm, Cựu Chủ tịch đảng  FDP Wolfgang Gerhardt chỉ có hai bài phát biểu trên diễn đàn, hai lần  phát biểu không đăng ký trước và hai lần đưa ra sáng kiến nhóm. Ít hơn  nữa là Phó Chủ tịch đoàn nghị sỹ thuộc đảng CDU/ CSU (cầm quyền), chỉ có  hai bài phát biểu trên diễn đàn, một lần đề xuất luật và một lần chất  vấn Chính phủ. Cả hai đều ý thức được thực tế đó của mình vốn không đáp  ứng được đòi hỏi cao cả của một nghị sỹ, nên không ứng cử tiếp kỳ bầu cử  Quốc hội 2013. Đó chính là lòng tự trọng tối thiểu của một chính khách  không thể “cố đấm ăn xôi”, một khi lá phiếu người dân quyết định chính  sinh mệnh chính trị họ!          Danh hiệu Nữ hoàng chất vấn thuộc về nghĩ sỹ Ulla Jelpke, 62 tuổi, Đảng Linke. Trong vòng bốn năm, bà đã đặt tới 958 câu hỏi buộc Chính phủ Liên bang phải trả lời, suýt soát bằng toàn thể nghị sỹ quốc hội ta giả định thay nhau chất vấn liên tục suốt cả hai kỳ họp quốc hội trong một năm. 99 lần bà lên diễn đàn phát biểu, chất vấn, lập luận rất kỹ càng, và tự mệnh danh là “búa bổ” làm đau đầu Bộ trưởng Nội vụ Hans-Peter Friedrich trước các câu hỏi hóc búa của bà. Thần tượng mà Ulla Jelpke theo đuổi không ai khác chính là nhà sáng lập Đảng Cộng sản Đức, Karl Liebknecht – người đã chất vấn với vô vàn câu hỏi làm “đảo điên” Chính phủ Đế chế Đức cũng như những người trong Đảng Cộng sản ủng hộ chiến tranh hồi thế chiến thứ nhất – từng được thế giới những người cộng sản tôn vinh ngưỡng mộ, và nay trở thành linh hồn của chính”Nữ hoàng” trong quốc hội một quốc gia tư bản, CHLB Đức. Vị trí số hai thuộc về Nghị sỹ Bärbel Höhn, Đảng Xanh, đã đặt 701 câu hỏi chất vấn về môi trường và năng lượng trong bốn năm qua. Chất vấn không đăng ký trước, kỷ lục thuộc về hai nghị sỹ của đảng Xanh, ông Volker Beck với 139 lần và Hans-Christian Ströbele với 111 lần. Tổng kết lại, nghị sỹ phe đối lập chất vấn tích cực hơn phe cầm quyền, bởi ai không cầm quyền thì chỉ còn cách chiếm lĩnh diễn đàn Quốc hội, nếu muốn những chủ trương chính sách nhà nước mà Đảng mình ủng hộ hay phản đối, được thừa nhận.      Kỷ lục trả lời chất vấn nhiều nhất được lập bởi nghị sỹ Hartmut Koschyk, thuộc đảng CSU – Quốc vụ khanh của Bộ Tài chính (Thứ trưởng, chịu trách nhiệm quan hệ với Quốc hội). Ông trả lời tổng cộng 1.314 lần trước các câu hỏi của nghị sỹ đảng đối lập. Giả định mỗi lần trả lời nội dung chừng một trang giấy A4, để đọc nó bình quân hết cỡ năm phút, thì Hartmut Koschyk đã dành tổng số 110 tiếng, tức 13 ngày họp, tám tiếng mỗi ngày, trả lời liên tục trước Quốc hội không giải lao – tính ra chiếm chừng 1/8 tổng thời lượng cả hai kỳ họp Quốc hội nước ta trong một năm.          Người ký dự thảo luật nhiều nhất là Chủ tịch đoàn Nghị sỹ của Đảng SPD, ông Frank-Walter Steinmeier tổng cộng 516 lần. Phần lớn các dự thảo này bị bác bỏ, bởi phe đối lập SPD chiếm thiểu số trong Quốc hội.      Ý nghĩa to lớn của các kỷ lục trên nằm ở chỗ, các phiên họp Quốc hội họ đều được truyền hình trực tiếp (trừ ngoại lệ), giúp dân chúng vốn là đồng chủ nhân đất nước hình dung được toàn bộ những gì “công bộc” do họ trả lương đã làm, cả về tinh thần lẫn khả năng, cả cống hiến đóng góp, lẫn sai phạm thất bại, để quyết định lá phiếu của mình cho kỳ bầu cử tới!     Khác với kỷ lục của họ, ở ta cũng có những phát ngôn ấn tượng làm nóng truyền thông mỗi kỳ họp Quốc hội; thậm chí qua đó được gắn những biệt danh, như “nghị sỹ rau muống” khi Đại biểu Quốc hội này lấy giá rau muống Việt Nam so với thế giới để đòi xem lại độ chính xác chỉ số lạm phát lớn ở ta; hay “nghị sỹ IQ” khi Đại biểu Quốc hội này ủng hộ xây dựng đường sắt cao tốc ở ta bằng cách lấy chỉ số IQ vốn chẳng liên quan trực tiếp gì, ra so sánh…      Những phát ngôn như vậy sẽ không thể xảy ra, nếu Quốc hội và nghị sỹ của ta được đầu tư nhân, tài, vật lực đáp ứng mọi đòi hỏi cho công việc nghị sỹ như ở họ. Ở Đức, riêng bộ máy phục vụ cho 631 nghị sỹ hiện nay lên tới 2600 nhân viên chuyên nghiệp, chưa kể mỗi nghị sỹ có một văn phòng riêng ở điạ phương với ít nhất 3 nhân viên văn phòng trình độ đại học. Mọi vấn đề liên quan tới khoa học kỹ thuật, thông tin, mà nghị sỹ đòi hỏi đều được đáp ứng bởi một trung tâm khoa học sẵn sàng thực hiện và cung cấp, chỉ cần nghị sỹ đặt yêu cầu. Bên cạnh đó còn trung tâm cung cấp thông tin bao gồm thư viện, trung tâm lưu trữ tư liệu của quốc hội, hồ sơ công báo… nghị sỹ tha hồ tra cứu! Chỉ khi đó mới tránh được sức ép lên nghị sỹ do thiếu thông tin, thiếu kiến thức cập nhật; người dân có thể kỳ vọng và có quyền đòi hỏi những kỷ lục mà những đại biểu của dân có thể và phải mang lại cho họ!  (Còn tiếp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gánh nặng đè lên vai Đại biểu Quốc hội (Phần II): Trách nhiệm trước tiền đồ số phận người dân đất nước      Quốc hội mọi quốc gia ngày nay dù theo thể  chế gì, thành phần ra sao, trừ ngoại lệ đều được mặc định hoặc hiến định  ít nhất trên văn bản, có chức năng lập pháp chịu trách nhiệm trước cử  tri về tiền đồ số phận người dân, đất nước họ. Đó là một sứ mạng cao cả  đè lên vai từng nghị sỹ.     Bởi một mặt với tư cách do cử tri bầu, nghị sỹ hoàn toàn độc lập, tự quyết, nghĩa là không phải một cấp bậc hành chính, cấp bậc lãnh đạo và bị lãnh đạo, tự cá nhân mình phải gánh vác trách nhiệm đại biểu không thể chuyển giao đó.   Ở Đức, được hiến định tại Điều 38: Nghị sỹ đại diện cho toàn dân, làm việc theo nhận thức của mình, không bị ràng buộc bởi ủy quyền hay chỉ thị nào. Ở ta, về tính đại diện được hiến định tại Điều 79, Điểm1. Mặt khác, trong khi phải độc lập tự quyết, tập hợp các nghị sỹ đó (tức quốc hội) lại phải thống nhất được với nhau những chính sách mà mình đã hứa khi tranh cử. Trách nhiệm giữ lời hứa ở các nước đa đảng như Đức là cả một gánh nặng to lớn đè lên mỗi nghị sỹ đảng phái trúng cử, quyết định tương lai số phận đảng đó. Bởi nói quốc hội của dân, do dân, vì dân thì phải đáp ứng những gì đã hứa với dân không thể phụ niềm tin của họ đã gửi gắm nơi lá phiếu, nếu không sẽ mất uy tín như đảng FDP Đức của cựu Chủ tịch Đảng Röster gốc Việt là một điển hình; sau 64 năm tham chính liên tục từ ngày lập quốc, nay tới lượt Rösler sau nhiệm kỳ chấp chính trong liên minh cầm quyền, thì bị thất cử đớn đau, mất tới 2/3 cửa tri đã tín nhiệm kỳ bầu cử trước đó. Bởi chính sách thực ra chỉ là những phương án chọn lựa, chứ không phải chân lý, hoàn toàn tùy thuộc nhận thức chủ quan của từng nghị sỹ đảng phái, có chính sách thoả mãn được tầng lớp cử tri này chưa hẳn đã thoả mãn hết tầng lớp cử tri khác, buộc không chỉ các đảng phái tham chính mà từng nghị sỹ phải ra sức đấu tranh, thương lượng, thoả hiệp nhau, tốn phí nhiều công sức thời gian. Chính trị học gọi đó là “cái giá của dân chủ” hiểu theo nghĩa phải trải qua những gian nan vất vả tốn kém mới có được dân chủ, đáp ứng được những đòi hỏi khả dĩ của bất kỳ người dân nào, dù họ ủng hộ hay không ủng hộ nghị sỹ, đảng phái đó (khái niệm đại diện cho toàn dân trong Hiến pháp Đức được hiểu theo nghĩa này) – khác với các chế độ độc tài toàn trị, điển hình như Hitler chẳng cần tốn phí thương lượng thoả hiệp cùng ai phe nhóm nào cả; chỉ cần ra sắc lệnh khẩn cấp “bảo vệ nhà nước và nhân dân”, ban hành mấy tháng sau khi cầm quyền ngày 28.2.1933, lập tức tất cả các đảng đối lập bị đuổi ra khỏi quốc hội, tiếp đến bị cấm hoạt động, đặc biệt Đảng Cộng sản Đức bị truy nã thủ tiêu.  ***  Ở Đức, tham gia tranh cử kỳ bầu cử Quốc hội vừa qua có tổng cộng 4.451 ứng viên của 34 đảng phái, cùng 81 ứng viên tự do, được 71,5% cử tri bỏ phiếu, do tổ chức quốc tế Bảo đảm Hoà bình và Tái thiết sau Chiến tranh OSZE giám sát. Kết quả, không ứng viên tự do nào trúng cử, Liên đảng CDU/CSU chiếm 311 ghế, đảng SPD 193, Liên minh Bündnis/die Grünen 63, die Linke 64, tổng cộng 631 nghị sỹ. Cũng như Hiến pháp Việt Nam, theo Điều 63 Hiến pháp Đức, Thủ tướng do Quốc hội bầu; còn các bộ trưởng theo Điều 64 do Thủ tướng đề nghị và Tổng thống công nhận. Nghĩa là Chính phủ rốt cuộc do Quốc hội bầu như ở ta. Kỳ bầu cử vừa qua, Liên đảng CDU/CSU của chính phủ tiền nhiệm thắng cử cao phiếu nhất cũng không quá bán, vì vậy để cầm quyền, chấp chính, buộc phải liên minh, và đã chọn đảng đối lập SPD vốn thắng cử số hai, được gọi là Liên minh lớn. Hai đảng đã đàm phán thương lượng chính sách cam go kéo dài hàng tháng trời, tới đầu tháng này mới hoàn tất được những chính sách cơ bản mà cả hai bên khả dĩ có thể chấp nhận được để cả hai cùng bảo đảm được uy tín mình với những gì đã hứa trước cử tri. Cụ thể  *Về lương tối thiểu. Thống nhất áp dụng lương tối thiểu luật định 8,50 Euro/giờ cho mọi ngành nghề. Trước đó, SPD đòi hỏi bằng được do đã hứa với cử tri, còn CDU/CSU thì nhất quyết không, do cho rằng chính sách đó sẽ tăng nạn thất nghiệp, những doanh nghiệp không có khả năng trả lương sẽ phải sa thải nhân công. Sau khi mặc cả, hai bên đồng ý mức 8,50 Euro/giờ, nhưng lùi thời gian áp dụng tới tận đầu năm 2015; và đến cuối 2016, với các hợp đồng lao động ký tập thể, giới chủ và công đoàn có thể thoả thuận hạ mức đó, thông qua thành lập một hội đồng thường xuyên kiểm tra khả năng áp dụng. Kết qủa, hai bên cùng giữ được thể diện với tuyên bố hùng hồn của mình trước bầu cử, mỗi bên đều giành được thắng lợi một phần và chịu thất bại một phần.   *Chính sách gia đình. Liên minh hai đảng vẫn tiếp tục chính sách của chính phủ tiền nhiệm và hoàn thiện thêm: tăng thời gian người lao động (ở Đức không phân biệt làm cho nhà nước hay tư nhân) dành chăm sóc gia đình mà vẫn được hưởng lương. Những người lao động chăm sóc người thân tại nhà được giảm thời gian lao động xuống 15 tiếng/tuần cho khoảng thời gian tối đa hai năm. Áp dụng chính sách được gọi là “tiền cha mẹ ưu đãi”, bằng cách tăng thời gian nhà nước trợ cấp tiền cho mọi bậc cha mẹ nghỉ sinh con từ 14 tháng hiện nay lên 28 tháng. Nếu cha mẹ chia nhau chăm sóc con cái, tiền cha mẹ ưu đãi được cộng thêm 10%. Tiền trợ cấp hiện nay dành cho gia đình chăm sóc con nhỏ mà đảng SPD khi tranh cử hứa xóa bỏ, đã không được chấp thuận. Kết qủa SPD chịu bị thất hứa, còn Liên đảng CDU/CSU vẫn giữ được chính sách của mình từ chính phủ tiền nhiệm.  *Phí cầu đường đối với xe con. Đảng CSU khi tranh cử đưa ra chính sách thu phí những xe tải không đăng kí tại Đức để bảo trì xây dựng hệ thống đường cao tốc. Kết quả thương lượng, Liên minh đồng ý áp dụng vào năm 2014, với điều kiện tùy thuộc quy phạm luật EU có cho phép hay không. Hứa hẹn khi tranh cử của đảng CSU đã được thoả mãn, nhưng chưa có bằng chứng sẽ được thực thi.           Các văn bản lập pháp ở Đức đều có hiệu lực  trực tiếp, nghĩa là các cơ quan công quyền và người dân thực tiếp thực  thi không qua bất kỳ văn bản dưới luật nào ngoại trừ những điều khoản  trong văn bản đó ủy quyền cho văn bản dưới luật đưa ra quy phạm; bất kỳ  cơ quan công quyền nào cũng không thể hành xử theo chủ quan của mình,  nếu không muốn bị người dân kiện ra tòa.         *Tiền hưu trí. Liên minh thống nhất, từ tháng 7.2014, những lao động từ ngưỡng 63 tuổi tới tuổi về hưu theo luật định 67, có thể nghỉ hưu non mà không bị khấu trừ lương hưu nếu có ít nhất 45 năm làm việc đóng bảo hiểm (tính cả thời gian thất nghiệp tối đa 5 năm), như SPD đã hứa hẹn khi tranh cử. Trong những năm tiếp theo, ngưỡng đó sẽ tăng dần lên 65 tuổi. Hưá hẹn khi tranh cử của CDU/ CSU ưu đãi tiền hưu trí cho các bà mẹ cũng được liên minh chấp thuận. Theo đó, từ tháng 7.2014, những bà mẹ có con sinh trước 1992 được bổ sung hưu trí hàng tháng 28 Euro/một con. Khoảng 9 triệu người mẹ hưởng lợi từ chính sách này. Từ chính sách tranh cử của SPD về “hưu trí đoàn kết” và chính sách “hưu trí nhân thọ” của CDU/CSU hưá hẹn, hai bên nhất trí gộp lại gọi là “hưu trí nhân thọ đoàn kết”, nghĩa là làm một phép cộng để lời hứa trước cử tri của hai bên đều được bảo đảm. Theo đó, những lao động thu nhập thấp từ 2017 sau 35 năm đóng bảo hiểm được cam kết hưởng mức lương hưu tối thiểu 850 Euro/tháng. Tuy nhiên tiền thu thuế phải bảo đảm cho cam kết đó, tức nếu thiếu hụt qũy hưu trí, nhà nước sẽ tăng thuế bù đắp. Lương hưu Đông Đức chỉ được cân bằng hoàn toàn với Tây Đức không trước năm 2019, nghĩa là khi đã hết nhiệm kỳ chính phủ Liên minh, cả hai bên đều đẩy vấn đề nhạy cảm này cho nhiệm kỳ tiếp theo phải gánh trách nhiệm thực hiện.  *Tiền thuê nhà. Thống nhất luật hoá hạn chế tăng giá thuê nhà. Theo đó, các tiểu bang có thể tự đưa ra mức giới hạn pháp lý bắt buộc dựa trên khung chung của Liên bang, theo quy phạm: Khi thay đổi người thuê nhà, chỉ được tăng giá thuê tối đa 10 % trên mức giá sàn điạ phương đó cho khoảng thời gian tối thiểu 5 năm.   *Quốc tịch kép. Nhất trí chính sách quốc tịch kép nhưng không áp dụng cho mọi trường hợp. Trẻ em có bố mẹ nước ngoài, sinh ra và lớn lên tại Đức sẽ được giữ quốc tịch Đức đã cấp khi sinh. Tức xóa bỏ quy định của chính phủ tiền nhiệm, yêu cầu người con có bố mẹ nước ngoài đến năm 23 tuổi phải chọn một trong hai quốc tịch, Đức hoặc nước ngoài. Cải cách này đặc biệt liên quan đến sắc dân Thổ đứng đầu số lượng người nước ngoài ở Đức cỡ tới 2 triệu.  *Chính sách tài chính. Các khoản chi: Thống nhất giảm gánh nặng tài chính cho các cấp thành phố và tiểu bang, đầu tư nhiều tiền hơn cho giao thông, giáo dục, nghiên cứu và quỹ hưu trí. Theo đó, bổ sung chi chừng 23 tỷ Euro cho khoảng thời gian từ nay đến mùa thu năm 2017.   *Chính sách y tế. Nhất trí đến cuối 2014, Liên bang và Tiểu bang phải thống nhất một chương trình cải cách tài chính cơ bản cho bệnh viện công. Lập một quỹ đầu tư khoảng 500 triệu Euro/năm, để xây dựng các trung tâm chăm sóc y tế. Dữ liệu về chất lượng điều trị của bệnh viện sẽ được tổng hợp và đánh giá bởi một cơ quan độc lập. Những bệnh viện chất lượng kém hơn sẽ được cấp kinh phí ít hơn. Đối với các phòng khám bác sỹ chuyên khoa, bệnh nhân không phải đợi lịch hẹn của bác sĩ lâu hơn 4 tuần. Nếu quá thời hạn này, bệnh viện có thể can thiệp và bác sĩ chuyên khoa phải trả tiền. Về phòng bệnh, từ năm 2015 Quỹ y tế sẽ tăng kinh phí lên ít nhất ở mức chi 7 Euro/người bảo hiểm. Về đóng phí bảo hiểm chăm sóc y tế, muộn nhất đến 1.1.2015, sẽ tăng thêm 0,3% lên 2,35 % tiền lương, riêng đối với người không có con 2,6 %. Ước tính, sẽ thu thêm khoảng 3 tỷ Euro/năm, 2/3 trong đó sẽ được sử dụng để cải thiện các dịch vụ chăm sóc. Đảng SPD muốn dùng hàng tỷ Euro thu thêm đó để tăng lương cho các nhân viên điều dưỡng. Trong khi đó, CDU/ CSU muốn dùng một phần tiền làm vốn dự trữ nhưng bị SPD phản đối. Phí bảo hiểm sức khỏe bắt buộc, được ấn định ở mức 14,6% tiền lương, trong đó chủ lao động đóng 7,3%.   Nhìn vào các chính sách kể trên cho thấy: nó chỉ rõ người dân sẽ được thụ hưởng những giá trị cụ thể gì mà nhà nước trong nhiệm kỳ tới phải mang lại, ai cũng có thể giám sát kiểm tra, chứ không phải buộc người dân phải làm những gì để đạt được những mục đích nào nhà nước muốn, như từng xảy ra dưới chế độ Hitler buộc người dân phải hy sinh tất cả để theo đuổi lý tưởng tạo dựng một nước Đức “thượng đẳng” cho tương lai.  Từ những chỉ số cụ thể của những chính sách đó, để có thể ban hành được những văn bản luật khả thi buộc cơ quan công quyền phải thực hiện là cả một quá trình hoạt động cật lực của Quốc hội suốt cả nhiệm kỳ. Như trong nhiệm kỳ bốn năm qua, Quốc hội Đức phải họp xem xét tổng cộng 844 dự luật, tính ra chừng một ngày rưỡi một dự luật. Trong đó có hơn quá nửa 484 dự luật do Chính phủ đệ trình, phản ảnh chức năng hành pháp cực kỳ vất vả của Chính phủ, không phải là nơi “thân vinh, phì gia” như trong chế độ độc tài toàn trị. Trong số 844 dự luật đó, sau khi qua mọi công đoạn trong quy trình làm luật, cũng chỉ có thể thông qua được 543 dự luật, chưa đầy 2/3, cho thấy để một chính sách đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi nghị sỹ phải nỗ lực tới mức nào, với năng suất lao động bình quân cứ sáu nghị sỹ phải xử lý hơn tám dự luật và kết quả hoàn thành được hơn năm văn bản trong nhiệm kỳ của mình.   Các văn bản lập pháp ở Đức đều có hiệu lực trực tiếp, nghĩa là các cơ quan công quyền và người dân thực tiếp thực thi không qua bất kỳ văn bản dưới luật nào ngoại trừ những điều khoản trong văn bản đó ủy quyền cho văn bản dưới luật đưa ra quy phạm; bất kỳ cơ quan công quyền nào cũng không thể hành xử theo chủ quan của mình, nếu không muốn bị người dân kiện ra toà.   So sánh với nước ta, cả năm 2012 Quốc hội chỉ thông qua được 17 Luật. Tại kỳ họp thứ 6 vừa qua (mỗi năm hai lần) cũng chỉ được 8 dự luật, và 1 pháp lệnh. Nếu hiểu khái niệm nhà nước pháp quyền là “vận hành, hoạt động” trên nền tảng pháp luật hay nói cách khác lấy nó làm hệ quy chiếu, và giả sử hai nhà nước Đức, Việt “vận hành” và “hoạt động” phạm vi tương đương nhau, thì rõ ràng nền tảng đó ở ta cách xa họ rất lớn, hoặc luật thiếu vắng, hoặc bị lạc hậu, không theo kịp đòi hỏi của cuộc sống vốn thay đổi từng ngày, tất yếu không tránh khỏi vấn nạn cơ quan quyền lực bằng mệnh lệnh hành chính hoặc văn bản dưới luật hành xử tùy thuộc động cơ, nhận thức của họ, không dễ gì giám sát. Khi đó, hoặc họ bị động lúng túng hoặc cát cứ vụ lợi, hoặc lãng phí tham nhũng, không thể chế tài xuể; “trăm dâu đổ đầu tằm”, nạn nhân trực tiếp không ai khác chính là người dân và cộng lại là cả đất nước; đặt ra đòi hỏi bức bách hơn bao giờ hết: Các đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm chính trị, và phải được đảm bảo đủ khả năng lập pháp – điều kiện tiên quyết của mọi nhà nước pháp quyền. Nếu không, xã hội càng phát triển bao nhiêu, thì bức xúc, bất ổn dồn nén càng lớn bấy nhiêu, tới một “độ nào đó” (Lê-nin) có thể bùng nổ bất khả kháng, như lịch sử thế giới đương đại đã xảy ra bất ngờ tới mức trước đó được cho là không tưởng.  (Còn tiếp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gay cấn xung quanh luật chống tham nhũng ở Ấn Độ      Việc Chính phủ Ấn Độ nhượng bộ yêu cầu của ông Anna Hazare, người tuyệt thực từ cách đây hơn hai tuần để ủng hộ dự luật chống tham nhũng, đã thổi bùng niềm vui sướng khắp đất nước. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu của một chiến dịch lâu dài và không hề đơn giản.      Nhà hoạt động chống tham nhũng kỳ cựu Anna Hazare đã chấm dứt chuỗi ngày tuyệt thực vào sáng Chủ nhật, 28/8, sau khi Chính phủ Ấn Độ nhượng bộ yêu cầu của ông.   Chiều tối ngày 27/8, 12 ngày kể từ khi Hazare bắt đầu tuyệt thực, để ủng hộ dự luật chống tham nhũng (Lokpal), Quốc hội Ấn Độ đã nhất trí thông qua nghị quyết chấp thuận các yêu cầu của ông, thổi bùng niềm vui sướng khắp đất nước. Hàng ngàn người tụ tập để chứng kiến nhà hoạt động 74 tuổi nhấp từng ngụm nước dừa, kết thúc những ngày nhịn ăn. Giữa những người ủng hộ, Hazare phấn khởi khẳng định phong trào đấu tranh đã “tạo được niềm tin rằng đất nước này có thể thoát khỏi tham nhũng”.   Cuộc tuyệt thực của Hazare thu hút sự quan tâm đông đảo của hàng ngàn dân thường Ấn Độ, liên kết mọi người trong cuộc chiến ủng hộ một đạo luật. Lúc đầu, khi chính quyền bắt giữ Hazare thì cảm tình của công chúng dành cho ông lại càng gia tăng. Tuy nhiên, vào giờ đây khi những người ủng hộ Hazare vẫn đang ăn mừng thì người ta vẫn phải thừa nhận rằng đây mới chỉ là bước khởi đầu của một chiến dịch hứa hẹn dài hơi và không hề đơn giản. “Có rất nhiều nhân tố cấu thành tham nhũng, do vậy đòi hỏi sự phối hợp kỹ lưỡng giữa các cấp trong việc giải quyết vấn đề,” Yogendra Yadav, học giả cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội, cho biết.  Thực tế, trong khi Chính phủ hứa hẹn một bộ luật trong vòng một tháng thì Bộ trưởng Tài chính liên bang Pranab Mukherjee thẳng thắn cho biết, mặc dù yêu cầu của Hazare là quan trọng, nhưng sẽ phải được cân nhắc giữa “tính thực tiễn, khả năng thực thi và hợp hiến” bởi một hội đồng của Quốc hội. Thành viên trong nhóm hoạt động ủng hộ Anna tỏ ra thận trọng với những quyết tâm kiểu này. “Chúng tôi không tin chắc lắm vào dự định của chính phủ. Chúng tôi hi vọng họ hiểu rằng đằng sau dự luật Lokpal là hậu thuẫn tình cảm to lớn của dư luận,” Prashant Bhushan – một trong những người khởi xướng phong trào và là cộng sự thân cận của Hazare, chia sẻ.   Nếu dự luật được thông qua, vấn đề sẽ được chuyển đến cấp bang, nơi áp lực công luận có khả năng căng thẳng không kém. “Bất kể bang nào thách thức bộ luật hoặc đi ngược lại lợi ích chung của xã hội sẽ nhiều khả năng phải đối mặt với sự chống đối, có khả năng đối mặt với xã hội dân sự, có khả năng đối mặt với phong trào của nhân dân”, Kiran Bedi, một cộng sự khác của Hazare, nêu quan điểm. “Bất kỳ một sự trì hoãn nào trong việc thực thi đương nhiên sẽ lại khuấy động người dân”. Những nhà quan sát như Yadav nói rằng cuộc tranh luận có thể làm lợi cho nền dân chủ Ấn Độ. “Chúng ta có thể sẽ chứng kiến sự cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị nhằm thể hiện họ muốn một dự luật mạnh mẽ hơn nữa và điều này thực sự là một cuộc cạnh tranh lành mạnh”.  Nhà hoạt động Aruna Roy, người có một phiên bản của dự luật chống tham nhũng khác cũng đang được Quốc hội xem xét, cho rằng bản dự luật của Hazare là “thiếu thực dụng và rắc rối”. Đồng thời, nhà hoạt động xã hội kiêm tác giả Arundhati Roy trong bài xã luận trên tờ Hindu gọi nó là “hà khắc”. Một số ý kiến khác chỉ ra rằng Ấn Độ hiện đã có bộ luật chống tham nhũng, cũng như một vài cơ quan chính phủ được trao trọng trách thực thi chúng. Cho dù vậy, để rũ sạch tham nhũng ra khỏi đất nước đâu chỉ cần một điều luật mới. “Chẳng có giải pháp đơn giản nào. Để tận diệt tham nhũng đòi hỏi nỗ lực dấn thân sâu sắc và cam kết lâu dài từ mỗi người chúng ta”, nhận định của Rahul Gandhi, người đứng đầu Quốc hội.   ———–  (*) Giới quan chức nói rằng dự luật của Hazare (với nội dung đặt thủ tướng, các quan chức tư pháp và chính phủ dưới sự giám sát) là trái với Hiến pháp và qui cách thức này là hành động hăm dọa Quốc hội. Những người phản đối cho rằng dự luật hiện hành của chính phủ thực chất vô hiệu trong cuộc chiến chống tham nhũng.         Author                Quản trị        
__label__tiasang George Soros “Châu Âu? Làm gì còn nữa”      Nhà đầu tư và nhà hoạt động từ thiện George Soros giải thích vì sao EU phải tổ chức lại.&#160;     Không có nhà đầu tư nào lại phân cực như George Soros,  85 tuổi, sinh ra ở Hungari và trở nên giầu có ở Hoa kỳ – ông là người thông qua đầu cơ đồng bảng Anh mà chỉ sau một ngày kiếm được tiền tỷ. Bản thân Soros cũng coi mình là người đầu cơ, nhưng với ý nghĩa tích cực  –  tức là người nhìn thấy trước và phanh phui những yếu kém của hệ thống.  Tuy nhiên ông  cũng là người bỏ ra tiền tỷ  ủng hộ quá trình dân chủ hóa vào thời điểm mà một người như  Mark Zuckerberg còn đi nhà trẻ…  Ông coi bà thủ tướng Angela Merkel là người quá cứng rắn trong việc xử lý vụ khủng hoảng đồng Euro dẫn đến nguy cơ làm EU tan rã.  Nhưng ông lại rất ấn tượng về sự chào đón người nhập cư của bà đến nỗi Soros đã phải thốt lên tại cuộc gặp ở Budapest  “Có thực đây vẫn là bà thủ tướng này hay không?“.  George Soros, 85 tuổi, sinh ra ở Budapest từng trải qua giai đoạn hoành hành của chủ nghĩa quốc xã, trong chiến tranh thế giới hai ông hoạt động bí mật, sau đó  di tản sang Hoa kỳ với lưng vốn 500 đôla và mơ ước sẽ kiếm được nửa triệu đôla để trở thành triết gia. Từ số vốn ban đầu ông đã kiếm được 20 tỷ đôla và ông tiếp tục tài trợ cho triết học. Quỹ Soros hoạt động theo ý tưởng về một xã hội cởi mở theo tinh thần của Karl Popper.  WirtschaftsWoche: Thưa ngài Soros, “TIME” vừa bình chọn bà thủ tướng  Angela Merkel là nhân vật của năm. Tạp chí này ca ngợi bà là  “Nữ thủ tướng của thế giới tự do”. Có quá lời không, thưa ngài?   George Soros: Tất nhiên không. Trước sau tôi vẫn cho rằng chính sách tiết kiệm của Châu Âu là hoàn toàn sai lầm. Nhưng với tôi thì từ lâu bà ấy đã là nhà lãnh đạo châu Âu mà không ai có thể tranh cãi và gián tiếp là nhà lãnh đạo thế giới tự do [theo quan điểm phương Tây]  –  kể từ khi bà ấy cương quyết đương đầu với tổng thống Nga Wladimir Putin trong vụ tranh chấp Ukraina. Trước đó tôi đánh giá bà ta là một nữ chính trị gia tài năng, biết chú ý đến kết quả thăm dò dư luận. Nhưng trong mối quan hệ với Nga thì bà ấy đã bất chấp dư luận công cộng. Ngay cả trong cuộc khủng hoảng người tị nạn bà Merkel đã sớm nhận ra vấn đề này có thể làm tiêu biến EU  – nó trước hết đe dọa sự tự do đi lại qua biên giới theo hiệp định Schengen và cũng đe dọa thị trường tự do nội địa.   Bà Merkel vốn là một người thận trọng, thế mà giờ đây bỗng nhiên bà trở nên kiên định một cách cuồng nhiệt. Điều đó làm cho nhiều người Đức không khỏi trăn trở, lo lắng.   Tôi lại đánh giá cao sự kiên định cuồng nhiệt này, có thể vì điều này làm cho tôi hoài tưởng đến thời kỳ tôi là nhà đầu tư. Tất nhiên, có nhiều lý do làm người ta hoang mang lo lắng. Đành rằng EU đã được thử thách trong các cuộc khủng hoảng, chính các cuộc khủng hoảng đó đã làm cho EU đi lên. Nhưng lần này không phải chỉ có một cuộc khủng hoảng  mà là năm hay sáu cuộc khủng hoảng xẩy ra cùng một lúc.   Vậy ta hãy điểm lại nhé: Hy lạp và đồng Euro, nước Nga, Ukraine, nguy cơ Brexit (người dịch: trưng cầu dân ý do Anh đề xuất ), cuộc khủng hoảng người tị nạn… Còn quên cái gì  nữa không nhỉ?   Có đấy. cuộc xung đột  Syria, điều này là một trong những nguyên nhân làm nổ ra cuộc khủng hoảng tị nạn. Hành động khủng bố ở Pari đã làm cho các cuộc thảo luận về chính sách đối với người tị nạn trở nên khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Và liệu có xảy ra một cuộc khủng hoảng cơ bản nữa hay không, điều này phụ thuộc vào người Đức.  Thưa, ý ngài là thế nào?   Nếu ai đó có thể chặn đứng được sự tan vỡ của châu Âu thì đó chính là người Đức.  Trong thời kỳ bà Merkel làm thủ tướng, nước Đức đã leo lên địa vị bá chủ ở châu Âu, nhưng cho đến lúc này nước Đức chưa hề phải trả giá, cho dù có một vài người Đức to mồm la ó, không hài lòng  về các khoản tín dụng dành cho Hy lạp. Rõ ràng người Đức là những kẻ thắng cuộc về kinh tế trong liên minh tiền tệ. Đáng ra những kẻ làm bá chủ không nên chỉ lo cho quyền lợi của mình, mà còn phải lo cho quyền lợi của những người dành lòng tin cho họ. Liệu nước Đức có muốn đảm nhận trách nhiệm này – như Hoa kỳ sau năm  1945 – giờ đây nước Đức phải quyết định.  Bà Merkel có thể mất ghế thủ tướng.  Trong cuộc khủng hoảng về người tị nạn, theo tôi, đây là một vấn đề có tính nguyên tắc, tôi nghĩ bà thủ tướng nhận thức được độ rủi ro đối với mình.   Việc làm của bà thủ tướng làm bản thân tôi rất cảm kích. Tôi đã sống sót sau chiến tranh, đã trải qua Holocaust và qua sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội [theo kiểu] Liên Xô, bản thân tôi từng là người tị nạn. Tôi đã ủng hộ hàng tỷ đôla để chuyển đổi châu Âu thành một xã hội cởi mở và cởi mở với thế giới. Theo tôi bà Merkel cũng tranh đấu vì mục tiêu như vậy, có lẽ điều này có dấu ấn từ kinh nghiệm bản thân khi là con của một mục sư và những kinh nghiệm về sự bó buộc ở Cộng hòa Dân chủ Đức.  Ngài là nhân vật chủ chốt đã  hỗ trợ nền dân chủ ở Đông Âu. Tại sao ở đó sự căm ghét người tị nạn lại lớn như vậy ?  Thủ tướng Hungari Victor Orbán muốn gây hoài nghi về vai trò thủ lĩnh châu Âu của bà Merkel – và ngoài ra còn muốn làm xói mòn những nguyên tắc của châu Âu. Người ta phải tưởng tượng về một gọng kìm: tổng thống Nga Wladimir Putin tấn công EU từ bên ngoài còn Orbán từ bên trong. Các vị có thấy tại đại hội của đảng CSU Orbán cùng với  Horst Seehofer đã tấn công bà Merkel như thế nào không?  Nhưng chỉ một mình Orbán thì không thể kích nổi sự thù nghét người nước ngoài ngày càng tăng ở Đông Âu.   Orbán đâu có đơn độc. Jarosław Kaczyński, đảng của ông này vừa dành được thắng lợi trong cuộc bầu cử ở Ba lan cũng theo đuổi cách tiếp cận tương tự. Ba Lan là một trong những quốc gia có sự đồng nhất cao nhất về dân tộc cũng như tôn giáo ở châu Âu. Đối với nước Ba lan Thiên chúa giáo thì một người Hồi giáo nhập cư là “kẻ xa lạ”. Và trong cuộc tranh cử vừa qua  Kaczyński đã thành công trong việc rủa xả  những “kẻ xa lạ” này.  EU đang cân nhắc việc trừng phạt đối với chính phủ Ba lan và Hungari. Tình hình nghiêm trọng như vậy sao?  Cả hai đều tán dương sự tách biệt dân tộc và tôn giáo để tăng cường quyền lực của mình. Điều này làm tôi nhớ đến những năm giữa cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất và thứ hai, khi đô đốc Horthy ở Hungari và nguyên soái Piłsudski ở Ba lan tìm cách thâu tóm các tổ chức dân chủ vào trong tay mình. Giờ đây các chính phủ mới này cũng đang nhắm tới ý đồ trên.  Trong khi đó Ba Lan được đánh giá là một trong những  thành công to lớn  nhất cả về kinh tế và chính trị ở Châu Âu.  Nhiều người từng nghĩ rằng, Ba Lan có thể trở thành đối tác quan trọng của Berlin tương tự như nước Pháp – và cũng là một thành lũy trước Putin.  EU bị đe dọa từ bên ngoài?  Điều lý thú là cách đây khoảng một phần tư thế kỷ Liên xô trong tình trạng khốn đốn và EU thì ở thế đi lên và cả hai đều nỗ lực xây dựng một hình mẫu mới và hiện đại về một dạng chính phủ quốc tế. Liên Xô thì tìm cách liên kết vô sản toàn thế giới. EU thì hướng tới nhất thể hóa và mở rộng một cách hòa bình trên nguyên tắc một xã hội tự do và cởi mở.   Và cả hai giờ đây đã trở thành quá khứ?  Thế vào vị trí của Liên xô là Putin của nước Nga, nước Nga đang mong muốn trở thành một cường quốc của thế giới.   Xu hướng dân tộc chủ nghĩa trong EU có khả năng chiếm ưu thế. Bà Merkel có thể tin vào một xã hội cởi mở. Cả những người đang đấu tranh cho dân chủ và tự do ở Ukraina cũng đang hướng theo mục tiêu đó. Chỉ có điều những giá trị này ngày nay không còn tồn tại ở EU. Châu Âu là một đối tác bình đẳng và tự do? Điều đó đâu còn nữa.  Nhưng những gì mà bà Merkel đã làm hoàn toàn không có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Bà mở cửa biên giới cho những người tị nạn Syri và từ đó buộc EU phải làm theo.  Nước Đức có thể là một ngoại lệ. Nhưng mọi quốc gia thành viên khác đang chỉ chú ý đến lợi ich của riêng họ. Đã đến lúc EU phải có một chính sách chung đối với người tị nạn. Chính sách này phải toàn diện và phải bao trùm ranh giới của châu Âu. Sự tổn hại sẽ ít hơn và chắc chắn ít tốn kém hơn nếu những người xin tị nạn ở nguyên tại vị trí của họ. Mỗi năm EU dành  15.000 Euro cho một người xin tị nạn để họ có chỗ ở, được chăm sóc y tế và được đào tạo – và cũng để giảm nhẹ gánh nặng với những nước thành viên tiếp nhận người tị nạn.  Nhưng EU làm gì có tiền?  Ngân sách hiện nay tất nhiên không đủ để thực hiện việc đó. Nhưng EU có thể phát hành trái phiếu dài hạn, tận dụng lợi thế tình trạng tín dung AAA của EU. Điều này có thể là một sự kích thích tinh thần  đối với ngân sách tác động đến nền kinh tế châu Âu – và có thể chia sẻ công bằng gánh nặng giữa những nước tiếp nhận người tị nạn và những nước không muốn thực hiện điều đó.  Thưa ngài, tại sao ngài lại rời bỏ kinh doanh chứng khoán?  Rất đơn giản: vì tôi thấy lo lắng cho nhân loại. Có thể các vị nghĩ, tôi cường điệu – nhưng toàn bộ nền văn minh phương Tây của chúng ta có nguy cơ bị tiêu tan. Nhờ khoa học tự nhiên, con người có thể chế ngự được thiên nhiên. Nhưng khả năng chúng ta tự chế ngự được bản thân mình lại không tiến kịp. Vì vậy tôi đầu tư ngày càng nhiều hơn vào khoa học xã hội, thí dụ như cho nhà máy trí tuệ của tôi  Institute for New Economic Thinking.  Nghe thật ảm đạm. Ngài thực sự bi quan như vậy sao?  Điều này tôi học từ cụ thân sinh của  tôi. Năm 1944 khi bọn Quốc xã chiếm đóng Hungari ông đã sớm tìm cách đưa chúng tôi đi. Nếu không chúng tôi hẳn không thể sống sót. Có thể nói ông cụ tôi đã nhìn thẳng vào sự thật, thay vì phủ nhận thực tế đó.  Tôi bao giờ cũng tính đến những điều tồi tệ nhất đầu tiên. Điều này giúp tôi nhiều trong hoạt động đầu tư, và nó cũng giúp tôi mỗi khi tôi suy nghĩ về những vấn đề chính trị. Vì khi đứng trước hiểm nguy, chúng ta có thể tìm ra các khả năng để xử lý. Bao giờ cũng vậy, trước khi hửng sáng bầu trời luôn tối tăm nhất.    Thưa ngài điều này có đúng với Hy lạp hay không?  Rất tiếc là không. Cuối năm 2009 khi cuộc khủng hoảng thực sự bùng phát thì EU – đứng đầu là Đức –  đã giúp đỡ, nhưng với một cái giá quá đắt. Họ đã đòi lãi suất quá cao cho các khoản vay tín dụng, do đó nợ nhà nước của Hy Lạp là không thể trả nổi. Rất tiếc trong những vòng đàm phán mới đây nhất người Đức lại lặp lại sai lầm này. Họ lại đưa ra những điều kiện đẩy Hy lạp   lao sâu hơn nữa vào tình trạng phá sản. Hy Lạp sẽ không bao giờ trả nổi những khoản nợ này.  Liệu Hy lạp có thể trở thành địa bàn đầu tư thú vị đối với các nhà đầu tư tư nhân?  Không thể, chừng nào Hy lạp còn là một phần của khu vực đồng Euro (Euro-Zone). Hy lạp sẽ không thể hồi phục với đồng Euro, vì tỷ giá chuyển đổi quá cao làm cho đất nước này không thể cạnh tranh nổi.  Trong bối cảnh những cuộc khủng hoảng này ngài có thấy lo lắng khi nước Anh muốn biểu quyết về việc thoái lui?  Không có Anh quốc thì EU sẽ yếu đi nhiều. Xét cho cùng thì Anh bao giờ cũng đóng vai trò cân bằng, vì ở Anh kinh tế thị trường mạnh mẽ hơn nhiều khi so với Pháp chẳng hạn.   Vì thế bà Angela Merkel muốn giữ người Anh trong EU. Nhưng dường như đa số dân Anh lại muốn thoái lui.  Chỉ vì chiến dịch Brexit đang đánh lừa dư luận. Hiện tại nước Anh đang trải qua thời kỳ làm ăn tuyệt vời nhất. Anh quốc được tiếp cận với thị trường nội địa (của EU), khoảng một nửa xuất khẩu của Anh chẩy vào thị trường này. Trong khi đó cuộc khủng hoảng đồng Euro không kéo nền kinh tế Anh đi xuống. Chỉ có những cái đầu điên rồ  mới muốn đe dọa thực trạng này.  Vậy tại sao giới kinh tế Anh không phản đối?  Trong giới tư nhân những người điều hành nền kinh tế đương nhiên phản đối một cuộc trưng cầu dân ý  (Brexit). Nhưng họ cũng như chính phủ đã trì hoãn trong một thời gian dài, vì mọi người còn trông chờ vào cuộc thương lượng với  EU. Điều này làm cho những kẻ phản đối có được lợi thế ban đầu.  Nguyễn Xuân Hoài   dịch từ Tuần Kinh tế Đức    Author                Quản trị        
__label__tiasang George Soros nói về Brexit và tương lai châu Âu      George Soros trong bài viết của mình trên trang Project Syndicate đã dự đoán Brexit, hay việc Anh rời khỏi liên minh EU, sẽ khiến kinh tế Anh suy thoái tương tự như thời kỳ khủng hoảng 2007-2008, đồng thời là tiền đề cho một sự tan rã vô trật tự khiến châu Âu rơi vào tình trạng còn tồi tệ hơn so với khi EU không được thành lập.      Anh là nước có được những thỏa thuận tốt nhất với Liên minh châu Âu (EU). Họ là một thành viên của thị trường chung châu Âu nhưng lại không thuộc khu vực Eurozone, và cũng không phải thực hiện nhiều quy định khác của EU. Thế nhưng điều đó vẫn chưa đủ để ngăn cản cử tri Anh bỏ phiếu “Rời đi”. Tại sao lại như vậy?  Câu trả lời có lẽ đã xuất hiện trong các cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện trước khi diễn ra trưng cầu dân ý “Brexit”. Khủng hoảng nhập cư tại châu Âu và cuộc tranh luận về Brexit đã thúc đẩy lẫn nhau. Phe “Rời đi” khai thác tình hình người tị nạn đang ngày càng xấu đi – với hình ảnh đáng sợ của hàng ngàn người tị nạn tập trung ở Calais (Pháp), tuyệt vọng tìm đường vào Anh bằng bất cứ giá nào – để khơi dậy nỗi sợ hãi tình trạng người nhập cư “không kiểm soát được” trong các nước thành viên EU khác. Thế nhưng các nhà chức trách châu Âu lại trì hoãn các quyết định quan trọng về chính sách tị nạn nhằm tránh gây ảnh hưởng tiêu cực lên cuộc trưng cầu dân ý tại Anh, kết cục là cảnh hỗn loạn như ở Calais vẫn cứ tiếp diễn.  Quyết định “mở cửa” cho người tị nạn của Thủ tướng Đức Angela Merkel là một cử chỉ mang tính nhân đạo, nhưng lại không được suy xét thấu đáo, bởi vì nó không tính đến các phản ứng tiêu cực. Một dòng người tị nạn đột ngột xuất hiện đã phá vỡ cuộc sống hằng ngày của người dân trên toàn EU.  Hơn nữa, sự thiếu kiểm soát đầy đủ đã tạo ra hoảng loạn, gây ảnh hưởng đến tất cả mọi người: từ người dân địa phương, các giới chức phụ trách an ninh công cộng, cho đến chính những người tị nạn. Nó còn mở đường cho sự vươn lên nhanh chóng của các đảng bài ngoại chống châu Âu – như Đảng Độc lập Anh Quốc, vốn là đảng dẫn đầu chiến dịch “Rời đi” – khi mà chính phủ các nước và các thể chế tại châu Âu dường như không còn khả năng xử lý cuộc khủng hoảng.  Giờ thì kịch bản thảm họa mà nhiều người lo ngại đã được hiện thực hóa, khiến cho sự tan rã của Liên minh châu Âu trở thành một thực tế không thể đảo ngược. Về lâu dài, khi rời khỏi EU, liệu Anh có thể trở nên tốt hơn so với các nước khác hay không còn chưa chắc chắn. Nhưng trong ngắn và trung hạn thì nền kinh tế và người dân Anh sẽ phải chịu nhiều tổn thất đáng kể. Ngay sau cuộc bỏ phiếu, đồng bảng Anh đã giảm xuống mức thấp nhất trong hơn ba thập niên và các thị trường tài chính trên toàn thế giới có thể vẫn tiếp tục hỗn loạn trong suốt quá trình đàm phán phức tạp để Anh “ly hôn chính trị và kinh tế” khỏi EU. Những hậu quả đối với nền kinh tế sẽ lớn tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008.  Quá trình đó chắc chắn sẽ đầy bất ổn và rủi ro chính trị hơn nữa, bởi không chỉ một số lợi thế thực sự hay tưởng tượng của Anh (khi làm thành viên EU), mà là sự tồn tại của toàn Liên minh châu Âu, đang bị đe dọa. Brexit sẽ mở “cống xả lũ” cho các lực lượng chống châu Âu khác trong Liên minh. Thật vậy, không lâu trước khi kết quả của cuộc trưng cầu dân ý được công bố, Mặt trận Quốc gia Pháp đã đưa ra một lời kêu gọi “Frexit”, còn nhà dân túy người Hà Lan – Geert Wilders – thì kêu gọi “Nexit.”  Hơn nữa, bản thân nước Anh cũng có thể không sống sót được. Scotland, vốn đã bỏ phiếu áp đảo để ở lại trong EU, có thể sẽ nỗ lực để giành độc lập, và một số quan chức ở Bắc Ireland, nơi cử tri cũng ủng hộ “Ở lại”, đã kêu gọi thống nhất với Cộng hòa Ireland.  Phản ứng của EU trước Brexit cũng có thể là một cái bẫy nguy hiểm khác. Các nhà lãnh đạo châu Âu, với mong muốn ngăn chặn các nước thành viên khác đi theo con đường Brexit, có thể sẽ không có tâm trạng để chấp nhận các điều khoản đàm phán của Anh – đặc biệt là các điều khoản liên quan đến tiếp cận thị trường chung châu Âu –  vốn dĩ sẽ giúp xoa dịu nỗi đau “Rời đi”. Xét tới việc EU chiếm một nửa kim ngạch thương mại của Anh, tác động vào xuất khẩu có thể sẽ rất lớn mặc dù tỷ giá sẽ cạnh tranh hơn (do đồng bảng Anh rớt giá). Và với việc các tổ chức tài chính dịch chuyển trụ sở và nhân viên của họ sang các trung tâm khác thuộc khu vực Eurozone trong những năm tới, thành phố London (và thị trường nhà ở London) sẽ khó lòng trụ vững.  Nhưng những tác động lên châu Âu có thể còn tồi tệ hơn nữa. Căng thẳng giữa các quốc gia thành viên đã đạt đến đỉnh điểm, không chỉ vì vấn đề người tỵ nạn, mà còn là vì căng thẳng giữa các nước chủ nợ và con nợ trong khu vực Eurozone. Đồng thời, các nhà lãnh đạo đang suy yếu tại Pháp và Đức còn đang phải tập trung trực tiếp vào các vấn đề trong nước. Ở Ý, thị trường chứng khoán giảm 10% sau cuộc bỏ phiếu Brexit rõ ràng là dấu hiệu cho thấy sự dễ bị tổn thương của nước này trước một cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn diện – điều có thể giúp cho các nhà dân túy trong Phong trào Năm Sao (Five Star Movement), đại diện là bà Virginia Raggi – người vừa giành chức thị trưởng Rome –  lên nắm quyền vào năm sau.  Không điều nào trong số này là tín hiệu tốt cho một chương trình cải cách khu vực Eurozone nghiêm túc vốn dĩ sẽ phải bao gồm một liên minh ngân hàng thực sự, một liên minh tài khóa hạn chế, và các cơ chế mạnh mẽ hơn về trách nhiệm giải trình dân chủ. Và thời gian không đứng về phía châu Âu, vì áp lực bên ngoài từ Thổ Nhĩ Kỳ và Nga – cả hai đều đang khai thác những mối bất hòa có lợi cho họ – nhằm gây ra xung đột chính trị trong nội bộ châu Âu.  Đó là thực trạng ngày nay của chúng ta. Tất cả các nước châu Âu, trong đó có Anh, sẽ mất đi thị trường chung và mất đi cả những giá trị chung mà EU vốn được thiết kế để bảo vệ. Tuy nhiên, EU thực ra đã bị phá vỡ và không còn đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của người dân. Đó là tiền đề cho một sự tan rã vô trật tự, một sự tan rã sẽ khiến châu Âu rơi vào tình trạng còn tồi tệ hơn so với khi EU không được thành lập.  Nhưng chúng ta không được bỏ cuộc. Phải thừa nhận rằng, EU là một công trình còn thiếu sót. Sau Brexit, tất cả những ai tin vào các giá trị và nguyên tắc mà EU đã được thiết kế để phát huy cần phải liên kết với nhau để cứu lấy EU bằng cách triệt để xây dựng lại nó. Tôi tin rằng với những hậu quả của Brexit trong những tuần và tháng tới, ngày càng nhiều người sẽ tham gia cùng chúng ta [trong nỗ lực cứu lấy EU].———George Soros là chủ tịch của công ty Quản lý quỹ Soros (Soros Fund Management) và là chủ tịch của Quỹ Xã hội Mở (Open Society Foundations). Là một người đi đầu trong lĩnh vực quỹ phòng hộ (hedge-fund), ông là tác giả của nhiều cuốn sách, bao gồm The Alchemy of Finance, The New Paradigm for Financial Market: The Credit Crisis of 2008 and What it Means, và The Tragedy of the European Union.  Ban biên tập Tia Sáng hiệu đính từ bản dịch của Nguyễn Thị Kim Phụng; bản dịch này thuộc dự án Nghiên cứu quốc tế:http://nghiencuuquocte.org/2016/06/28/george-soros-noi-ve-brexit-va-tuong-lai-chau-au/#sthash.3CRyxQts.dpuf  Nguồn bài gốc trên trang Project Syndicate:https://www.project-syndicate.org/commentary/brexit-eu-disintegration-inevitable-by-george-soros-2016-06    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị của Khoa học      Trong mọi giá trị của khoa học, giá trị to lớn nhất là quyền tự do nghi ngờ.      Hình vẽ quả đất đặt trên lưng bốn con voi, và những con voi thì đứng trên lưng một con rùa, (1876, Wikipedia).  Thỉnh thoảng, người ta nói với tôi rằng những nhà khoa học nên quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội, thậm chí là phải có trách nhiệm quan tâm đến tác động của khoa học đến đời sống xã hội. Có lẽ, nhiều nhà khoa học đã nghe những điều tương tự như vậy. Có vẻ như người ta tin rằng, nếu nhà khoa học chỉ tập trung vào những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đừng dành quá nhiều thời gian cho những vấn đề khoa học thuần túy thì sẽ đạt được những thành công vang dội.  Thật ra tôi cũng có nghĩ đến các vấn đề của xã hội, nhưng không bỏ nhiều thời gian và cố gắng để giải quyết chúng. Bởi vì, chúng ta không có một công thức thần kỳ nào để giải quyết các vấn đề đó, các vấn đề của xã hội thì khó hơn rất nhiều so với các vấn đề trong khoa học. Tôi nghĩ những nhà khoa học cũng sẽ chẳng giúp ích được gì nhiều trong chuyện này. Nhà khoa học khi nói đến các vấn đề của xã hội thì cũng chỉ ngờ nghệch như người không chuyên mà thôi. Câu hỏi giá trị của khoa học là gì nằm ngoài phạm trù của khoa học tự nhiên nên bài nói này chỉ là ý kiến của cá nhân tôi mà thôi.  Giá trị thứ nhất của khoa học là nó giúp chúng ta làm nhiều việc và tạo ra nhiều thứ. Tất nhiên nếu điều chúng ta làm là tốt đẹp thì không chỉ nhờ vào khoa học mà còn nhờ vào đạo đức của chúng ta. Kiến thức khoa học, như một con dao hai lưỡi, nó cho phép làm điều tốt và cả điều xấu nữa – bản thân kiến thức khoa học không mang theo nó một hướng dẫn nào về cách dùng kiến thức đó. Điều này làm tôi liên tưởng đến một câu nói trong Phật giáo: Mọi người sống trên đời đều được nhận một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa vào thiên đàng, nhưng cũng chính chìa khóa đó mở cánh cửa vào địa ngục. Chìa khóa đương nhiên phải có giá trị vì nếu không có chìa khóa, ta sẽ không thể vào thiên đàng. Nhưng nếu không cẩn thận, ta có thể lạc vào địa ngục. Giá trị của khoa học là vậy, nó cho phép chúng ta làm nhiều thứ, tốt và xấu.  Giá trị thứ hai của khoa học là niềm vui có được khi ta đọc, học, suy nghĩ hay trực tiếp làm khoa học. Đây là một giá trị rất quan trọng và rất thật, nhưng tiếc rằng người ta thường không đề cập đến nó khi nhắc nhở các nhà khoa học nên quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề của xã hội. Thật ra tận hưởng niềm vui trong khoa học thì cũng như tận hưởng những niềm vui khác trong cuộc sống, nó cũng có giá trị của riêng nó – cần được tôn trọng.  Khoa học cho chúng ta một cái nhìn thú vị về thế giới, cái nhìn mà ngay trí tưởng tượng của nhà thơ và của những kẻ hay mơ mộng trong quá khứ cũng không đạt đến. Thế giới này thật to lớn, thú vị, và vượt xa trí tưởng tượng của con người. Chẳng phải tuyệt vời sao khi tất cả chúng ta đều dính chặt – trong đó một nửa dân số dính lộn ngược vào Trái đất nhờ vào một lực hút trọng trường bí hiểm. Quả đất được ví như một quả bóng tự quay qua hàng tỉ năm. Nhờ khoa học, chúng ta đã có một sự thay đổi cách nhìn về thế giới, cái mà truyền thuyết từng cho rằng quả đất được đặt trên những con voi, và những con voi thì đứng trên lưng một con rùa khổng lồ.  Nhờ vào khoa học mà ngày nay chúng ta có được nhiều thông tin về thế giới hơn so với những thế hệ trước. Nhìn sóng biển, ta biết rằng những phân tử nước khiêu vũ liên tục tạo thành những ngọn sóng, hết sóng này đến sóng khác, năm này qua năm khác, mà không biết mệt. Rồi thế giới của sự sống được tạo nên bởi những hạt vật chất phức tạp hơn như protein, DNA…, chúng cũng đang nhảy múa không mệt mỏi. Chính sự nhảy múa này tạo ra một cơ thể sống (như con người) – biết tự hỏi, biết tự suy nghĩ, biết tò mò về thế giới và về bản thân. Thân thể ta như một vũ trụ của các phân tử và ta cũng chính là một phân tử trong vũ trụ…  Mọi thứ trên thế giới này, nếu ta tìm hiểu về chúng đến nơi đến chốn thì sẽ gặp những điều vô cùng lí thú và bí hiểm, từ đó dẫn đến những câu hỏi mới, rồi lang thang trong thế giới tưởng tượng và mơ mộng. Đây thật sự là chuyến phiêu lưu kỳ thú của con người.  Tất nhiên những người không làm khoa học thì ít khi có những trải nghiệm như vậy. Những nhà văn hay nhà thơ, những nghệ sĩ thì không nói hay viết, miêu tả về những điều thú vị này. Tôi tự hỏi tại sao? Chẳng lẽ không ai có được cảm hứng về những điều kì thú của thế giới, của vũ trụ hay sao? Cũng không có những bài hát hay những ca sĩ hát về khoa học, đó là lí do tại sao khoa học chỉ được nghe ở những giảng đường. Và có lẽ là kỷ nguyên của khoa học vẫn chưa đến.  Khi các nhà khoa học nói rằng “khám phá này có thể đóng góp lớn vào điều trị bệnh ung thư”–thì họ chỉ đề cập giá trị sử dụng của ý tưởng, của khám phá đó chứ chưa quan tâm đến bản thân cái ý tưởng. Và cũng không nhiều người hiểu được điều tuyệt vời của ý tưởng. Nhưng thật may mắn, những đứa trẻ lại có thể. Khi chúng hiểu được ý tưởng đó, có thể chúng sẽ trở thành những nhà khoa học trong tương lai. Nhưng nếu đợi chúng lớn đến khi vào đại học thì đã trễ, vì vậy, người lớn hãy cố gắng giải thích cho chúng những ý tưởng, những khám phá càng sớm càng tốt và biết đâu chúng sẽ trở thành nhà khoa học.  Giá trị thứ ba của khoa học là những trải nghiệm về sự vô minh, về sự nghi ngờ và về những điều không chắc chắn. Điều này là vô cùng quan trọng. Khi nhà khoa học không có lời đáp cho một vấn đề nào đó, anh ta nghĩ mình tối dạ. Nhưng khi anh ta có vài tín hiệu cho lời đáp thì anh ta vẫn chưa thật chắc chắn. Và khi nào anh ta gần như có đủ tín hiệu/dữ liệu cho lời đáp thì anh ta vẫn còn nghi ngờ. Và sự thật là khi chúng ta thừa nhận sự vô minh và chừa chỗ cho sự nghi ngờ, là đã giúp chúng ta phát triển. Thật ra, khối kiến thức về khoa học chứa đựng những thông tin mà trong số đó có điều không chắc chắn, có điều gần như chắc chắn nhưng không có điều nào là tuyệt đối chắc chắn.  Đến bây giờ, các nhà khoa học đã quen với những điều không chắc chắn và sẵn sàng sống chung với sự vô minh. Người ta có biết rằng, tự do để nghi ngờ sinh ra từ thuở sơ khai của khoa học, khi con người phải chống lại quyền lực và sự cai trị áp đặt để tìm đến sự thật. Đó là một cuộc chiến mạnh mẽ và bền bỉ của con người để giành lấy quyền tự do nghi ngờ về tất cả, và hiểu rằng không điều gì là chắc chắn. Và trách nhiệm của xã hội là tiếp tục cuộc chiến để duy trì quyền tự do nghi ngờ này.  Khi bàn về giá trị của khoa học, ta thường nói đến giáo dục. Thử hỏi nếu tất cả chúng ta được giáo dục tốt thì tất cả sẽ trở thành người hiền tài chăng? Không phải vậy, giáo dục rất hiệu quả, nhưng rất tiếc là cho cả điều tốt và điều xấu. Cũng giống như giao tiếp vậy, người ta có thể truyền thông tin thật hoặc giả dối.  Khoa học, tối thiểu giúp ta đáp ứng được nhu cầu vật chất. Y học giúp chúng ta chữa bệnh –điều khiến ta tưởng chừng như khoa học chỉ mang lại những tốt đẹp? Thật ra cũng có nhiều người đang ngày đêm nghiên cứu để tạo ra các bệnh truyền nhiễm và thuốc độc – họ đang chuẩn bị cho những cuộc chiến trong tương lai.  Hầu như không ai thích chiến tranh, và ước mơ của ta là sống trong hòa bình để phát triển tối đa bản thân. Nhưng hòa bình cũng có thể tốt hoặc xấu. Biết đâu ngày nào đó người ta cảm thấy chán chường khi phải sống đằng đẵng trong hòa bình – điều khiến họ không đạt được thứ mà họ muốn trong đời?  Rõ ràng hòa bình là điều kiện lý tưởng để chúng ta làm được nhiều việc nhờ vào sức mạnh của khoa học. Thế nhưng dường như điều chúng ta đã làm được hãy còn rất nhỏ bé so với điều chúng ta có thể làm. Tại sao vậy? Bởi vì, rất tiếc, khoa học bản thân nó không mang theo một chỉ dẫn nào về cách sử dụng nó cho điều tốt và cho điều xấu.  Từ quá khứ cho đến hiện tại, người ta cố gắng tìm lời đáp cho câu hỏi: Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Ý nghĩa của sự tồn tại là gì? Thực tế, tôi nghĩ, chúng ta cần thẳng thắn trả lời rằng chúng ta không biết. Điều chúng ta có thể làm là tìm một lối ra – để giải phóng tiềm năng của con người. Triết lý này đã dẫn chúng ta đến xây dựng một xã hội dân chủ, ở đó ý tưởng mới về vận hành chính phủ có thể được phát triển, ứng dụng, thử nghiệm hoặc ngược lại có thể bị loại bỏ vì không hiệu quả. Vì sự thật là chúng ta, không ai biết chắc chắn chính phủ nên được vận hành ra sao? Nhưng điều quan trọng là chúng ta sẵn sàng tiếp nhận liên tục những khả năng mới cùng với cơ hội mới. Khi chúng ta gặp phải những vấn đề mới, thì mọi cách làm hay hướng giải quyết đều có thể mang đến kết quả tốt. Vì vậy, thảo luận và nghi ngờ là những yếu tố quan trọng để tìm lời giải tốt nhất cho vấn đề gặp phải. Hãy luôn để cánh cửa hé mở cho những ý tưởng mới cùng những cơ hội mới len lỏi vào.  Trách nhiệm của nhà khoa học là làm những gì có thể, học những gì có thể, cải tiến các giải pháp và truyền lại cho thế hệ sau. Chúng ta hiện đang ở trong giai đoạn khởi thủy của loài người thì việc mắc phải những lỗi lầm là hiểu được. Thậm chí những sai lầm này có thể khiến chúng ta chìm đắm trong ngu muội và khổ sở suốt một thời gian dài. Lịch sử đã ghi lại sự sai lầm đó và không những vậy chúng còn xảy ra nhiều lần. Để hạn chế những tác hại này, chúng ta hãy cởi mở, sẵn sàng thảo luận và nghi ngờ, đừng tự nhốt mình trong cái trí tưởng tượng của hiện tại. Tự do suy nghĩ và tự do nghi ngờ dường như là giải pháp cho nhiều vấn đề của xã hội. Nhà khoa học cần có trách nhiệm duy trì cái quyền tự do này, cho hôm nay và cho mai sau.  Lê Quốc Chơn (Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ cao – Đại học Duy Tân) lược thuật từ “The Value of Science”–bài phát biểu của Richard P. Feynman tại lần họp tháng 11 năm 1955 của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, diễn ra ở khuôn viên Đại học Caltech, Pasadena, California.  Phạm Xuân Yêm hiệu đính       Author                Richard Feynman        
__label__tiasang Giã từ cuộc chơi hiện nay      Ngân hàng thương tín Thụy Sĩ quảng cáo thương hiệu lâu đời của mình bằng đoạn video rất ấn tượng. Một cụ già và đứa trẻ thả câu trên chiếc thuyền lênh đênh giữa dòng với phụ đề:  “Some think two generations  We think succession planning”  Tạm dịch:&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;  Ai đó cho rằng họ là hai thế hệ  Không, họ đang chuyển giao thế hệ&#160;  Nhà khoa học không có học trò, thế hệ sau không đông vui hơn thế hệ trước, thì hàng đống tiền của đổ ra sẽ không dựng nên nền khoa học cho đất nước này. Nghĩ thế nên cứ thấy đoạn video trên BBC, ông Già lại chạnh lòng.     Theo đuổi khoa học đã tròn nửa thế kỷ chẳng cốt vinh thân phì gia, về già chỉ mong sao truyền hết tri thức cho lớp trẻ mà không được. Tuy còn ngọ nguậy, giờ đây ông Già đã chính thức ra ngoài cuộc chơi. Nhìn vào sân chơi thấy lố nhố mấy anh học trò cũ. Nói thầy trò cho oai, nhưng đâu được như đám Tử Lộ, Nhan Hồi theo Khổng Tử thời xưa. Thời nay chẳng chạy đủ dự án đề tài để học trò còn có chút đỉnh, thì dù khoa học có hay mấy, xin đừng trách trò phải bye thầy.        Nhớ có lần, một lãnh đạo bề trên muốn đưa ra chính sách đãi ngộ nhân tài khoa học, đã ân cần đến thăm ông Già: “Làm khoa học như anh, mỗi tháng cần chi tiêu bao nhiêu, liệu cả thảy 1500 USD có đủ không?”. Chưa kịp hình dung con số 1500 to ngần nào, ông Già bật đáp: “Xin hãy lo giùm cho học trò tớ trước đã!”.   Dần dà, một số học trò cũng kiếm được áo mũ chen chân vào cuộc chơi. Thông cảm, quan trường là con đường độc đạo, mấy ai tránh khỏi. Khoa học ngày một xa dần, song có đề tài dự án, tiền hô hậu ủng, đi nước ngoài nước trong, quả thật trông chúng bớt tệ hơn hồi làm quân của mình. Có điều, ngấp nghé ngũ tuần mà vẫn chưa “tri thiên mệnh”, áo mão không che nổi tâm tư ẩn giấu trong lòng. Thì ra, chốn quan trường đâu chỉ có vị ngọt. “Bọn em muốn mời xếp đi lai rai để giải bày tâm sự và nghe lời khuyên. Trước đây lúc còn là quân của xếp, mấy khi được ngồi bia bọt thế này, thấy xếp cứ cao vời vợi”.   “Cao với thấp mà làm gì, hãy gác chuyện cũ lại, nói chuyện mới đi”. Ông Già khẽ gật đầu rồi lơ đãng ngắm những giọt cà phê rịn ra từ chiếc phin, chốc chốc lại ngẩng lên, nhìn xa xăm.    “Chuyện mối quan hệ trong cơ quan các cậu, mình chẳng giúp được gì. Có lẽ tiên trách kỷ, hậu trách nhân, làm theo lời dạy này của người xưa, biết đâu các cậu sẽ rũ bớt bụi phong trần”. Nói cho học trò mà ông lại chạm vào chính nỗi đau của mình. Ông vẫn thầm trách đám U50, U60 không chịu theo đuổi khoa học đến nơi đến chốn, nhưng trong chuyện này ông đâu phải vô can. Chẳng nài thêm được câu nào, đám học trò xin nâng ly ghi nhận.   Giờ đến lượt ông Già. Vẫn chứng nào tật ấy, ông thích cật vấn học trò như một thú vui nghề nghiệp. “Này, ngành ta xây dựng đã hơn 30 năm, giờ đây có cả thảy bao nhiêu người nhỉ?”. “Có lẽ đâu đó trên 500 cả trong Nam ngoài Bắc”. “Thế trong đám U50, U60 như các cậu, có bao nhiêu người đang làm khoa học thực thụ, có công bố quốc tế đều đặn mà không bị phân tâm vào việc khác?”.   Liếc nhìn nhau, một anh do dự: “Dạ, may ra chỉ có ĐTK, anh ta làm lý thuyết, có quan hệ với nước ngoài, một mình một ngựa. Xếp biết đấy, làm thực nghiệm trong điều kiện Việt Nam mệt lắm! Vả lại như chúng em, đâu còn thì giờ đọc sách nghiên cứu thêm, suốt ngày họp với hành, mà hành là chính”. “Họp lắm để làm gì?”, ông Già nheo mắt, “thảo nào gọi phone cứ thấy các cậu rón rén, trong phone nghe rõ tiếng ai đó đang thuyết trình oang oang”. Một anh thanh minh: “Rõ ràng, nhiều cuộc họp vô bổ, hội thảo mời chuyên gia nước ngoài cũng thế, tiêu tiền dự án là chính. Song chúng em không thể vắng mặt được, mất phần như chơi, Xếp ơi! Ngay chuyện chạy cho ra đề tài để có kinh phí hoạt động cũng mất hết thời gian rồi”.   Ông Già thở dài, ra vẻ như nghe một minh triết mới lạ. “Sao lại thế nhỉ? Bây giờ có máy tính nối Internet, làm khoa học sướng lắm! Này nhé, để tính đường đi các khối khí gió mùa từ Siberia đến Hà Nội, chỉ cần lên internet bấm chuột vào Cơ quan Đại dương và Khí quyển Mỹ (NOAA), máy tính sẽ dựa trên bản đồ khí tượng toàn cầu tính ra ngay quỹ đạo và toàn bộ cơ sở dữ liệu kèm theo. Mười năm trước đây, nằm mơ cũng không thấy. Nhưng sướng nhất hiện nay là có nhiều tiền để làm khoa học. Như ngành mình, kinh phí giờ đây ngót mười lần so với 15 năm trước, ngành ta lại đang được ưu tiên, có chương trình hành động quốc gia, xin bao nhiêu tiền chả được. Có tiền, lại có tiên, làm khoa học giờ đây sướng lắm! Nên ngày càng có nhiều người làm khoa học đạt trình độ cao mới phải. Có lẽ các nơi khác tình hình không như ngành ta đâu”. Ông Già ra vẻ thắc mắc.  Mấy anh học trò cười mỉm nhìn nhau. “Không đâu Xếp ạ! Chúng em tham gia nhiều nơi khác, thấy kinh phí đề tài của họ có khi gấp hai ba lần mà nội dung cũng chỉ tầm tầm như vậy. Gần đây trong hội nghị về KHCN của Bộ NN&PTNT” có Phó Thủ Tướng thứ nhất tham dự, các Viện trưởng ở đó cũng kêu lên họ sắp hết người làm khoa học rồi”.  “Vậy phải chăng tiền càng nhiều, chất lượng và đội ngũ khoa học chuyên nghiệp càng ít”, ông Già gật gù. “Nhưng để kiểm chứng nghịch lý này, có lẽ thầy trò ta hãy cùng nhau làm một đề tài rất có ý nghĩa mà không phải cần xin ai một đồng kinh phí nào. Thế này nhé! Hãy tập hợp số liệu về kinh phí đề tài Nhà nước và cấp Bộ hoàn thành trong vòng từ 5 đến 10 năm về trước (1998-2002), rồi cho vào một cột, đặt trên trục X. Sau đó, lấy số bài báo quốc tế sản sinh ra từ từng đề tài trong 10 năm gần đây (1998-2007) cho vào cột thứ hai, đặt trên trục Y. Đưa hai cột vào EXCEL, rồi nhấp chuột vào phép hồi quy. Các cậu sẽ thấy ngay”.   Một anh nheo mắt: “Sao thời gian thực hiện đề tài và công bố quốc tế lại khác nhau nhỉ? Ờ mà em hiểu ra rồi. Xong đề tài mới chỉ là tiêu hết tiền, hợp thức các hóa đơn chứng từ … khống, báo cáo ra hội đồng nghiệm thu, được hội đồng gật, song phải sau một thời gian mới viết xong bài báo tiếng Anh, gửi đi đăng, đám phản biện hạch cho lên bờ xuống ruộng, đăng xong lại còn phải chờ đồng nghiệp khắp Năm châu đọc và trích dẫn mới biết bài báo có giá trị hay không …, mất năm năm là cái chắc. Xếp vẫn chính xác như ngày nào. Nhưng chắc Xếp đã thử giải bài toán này rồi, vậy kết quả thế nào?”. Ông Già lắc đầu: “Không, mình hỏi các cậu, bởi chính các cậu đang chơi cuộc chơi này.”.   “Theo em, tiền nhiều chưa chắc đã sản sinh ra nhiều bài báo quốc tế”, một anh lưỡng lự, “song ngược lại hay không, thì tầm chúng em rất khó biết. Chính Xếp từng làm chủ tịch nhiều hội đồng nghiệm thu, xét duyệt…”.   Ông Già giật thót. “Ấy chết, đó là chuyên ngày trước, gần đây người ta nài lắm mình mới nhận lời, mà mỗi lần ngồi vào chiếc ghế chủ tịch hội đồng, mình phải thủ sẵn một viên thuốc cao huyết áp. Trở lại bài toán hồi quy. Theo cơ sở dữ liệu Thompson Scientific mà Trung tâm Thông tin Bộ KH&CN vừa mới mua quyền truy cập, thì đa số các công bố quốc tế gửi đi từ địa chỉ Việt Nam thuộc về Toán, Vật lý lý thuyết và Cơ lý thuyết. Các bác này xài không quá vài chục triệu một đề tài, nhưng công bố đều đều, thành tích các bác tạo thành một đám ở phía trên góc trái (xem hình). Trong khi đó, phần lớn đề tài dự án tiền tỷ, chục tỷ lại công bố rất ít, thậm chí zero, các bác này tụ lại thành đám phía dưới, góc phải. Kéo một đường hồi quy giữa hai đám trên hình ta thấy nó chốc ngược. Đúng là công bố quốc tế tỷ lệ nghịch với tiền đề tài rồi còn gì”.   Một anh lắc đầu: “Thế này thì ngân sách Nhà nước cứ tăng đều 2% cho KHCN sẽ đi đến đâu nhỉ? Theo em, Xếp nên công bố chuyện này ra làm bằng chứng để cơ quan quản lý biết”.   Ông Già thở dài. “Người ta mới chỉ chấp nhận công bố quốc tế là tiêu chí nghiên cứu cơ bản thôi, còn đại đa số các đề tài lại là dự án quản lý, nghiên cứu ứng dụng và công nghệ, loại này chỉ cần công bố trong nước là đủ. Mà hiện nay có tạp chí khoa học nào của nước mình được quốc tế nhìn nhận đâu. Thật ra ở ta cũng có một số nhà khoa học nghiêm túc, nghiên cứu ra hiệu quả kinh tế, nhưng không có công bố quốc tế. Song bên cạnh đó phần lớn đề tài ứng dụng không có sản phẩm gì đưa thị trường, nhiều sản phẩm khoa học chỉ tồn tại được vài năm rồi mất hút, có sản phẩm không phải do đề tài làm ra mà là mua hàng Tàu ngoài chợ, một số sản phẩm khác có thật, nhưng không do kinh phí nhà nước cấp. Cho nên chỉ có công bố quốc tế là tiêu chí định lượng trung thực nhất để đánh giá chất lượng hoạt động khoa học của một quốc gia. Mà có chất lượng khoa học mới có hiệu quả kinh tế. Cho nên các nước khác họ đều dùng tiêu chí này.  “Vậy theo Xếp cần có giải pháp gì?”. Ông Già nhấc cốc lên, dưới đáy chỉ còn một ít bia. “Có giải pháp đấy, nhưng lai rai đã lâu rồi, hẹn lần sau”. Một anh vớ lấy chai bia, ông Già vội đưa bàn tay ra che cốc lại. “Xếp vẫn giữ gìn quá! Chút xíu nữa thôi Xếp ơi!”, cả bọn nài nỉ. Ông Già phân trần: “Già rồi, còn giữ gìn làm gì, có điều sống gần hết đời mà vẫn chưa thấy bia ngon, thành không uống đó thôi!”.   ***  Về đến nhà, thấy trên trang chủ Vietnamnet có cuộc giao lưu trực tuyến của Bộ trưởng Bộ KHCN với chủ đề:. “Chiến lược KHCN: Học từ cách đứng trên vai người khổng lồ”. Ông Già reo lên: “Thế này chắc sắp vui đây!” Nhưng rồi lại lo. Đứng trên vai người khổng lồ chính là cách duy nhất làm cho khoa học chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác để còn phát triển, còn tiến kịp trình độ thế giới. Chả thế mà trên trang chủ http://www.scholar.google.com, nơi ta có thể truy cập công trình và số lần trích dẫn của các nhà khoa học trên toàn thế giới, có câu “thần chú” Stand on the shoulders of giants.  Nhưng leo đứng trên vai người khác không dễ. Phải Học, như Bộ trưởng nói, và trước hết là cần biết cách sử dụng các nhà khoa học. Phải tập trung đầu tư xây dựng các tập thể nghiên cứu tiên tiến ở Viện và trường đại học ngang tầm thế giới. Họ là chủ thể, là hiện thân nền khoa học và đại học của đất nước. Mà muốn vậy, phải giã từ cuộc chơi hiện nay cùng với cơ chế hành chánh hóa đang làm cho nền khoa học và đại học nước nhà ngày càng tụt hậu. Liệu có chấp nhận một mô hình quản lý mới không?      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giấc mơ Mỹ” tan vỡ      Đối với rất nhiều người Mỹ, chủ đề 99% không chỉ dừng lại ở cuộc biểu tình “Chiếm lấy Phố Wall”. Đó là cách họ nhìn nhận chính mình và điều đó càng làm cho cuộc biểu tình có ý nghĩa.      Khi còn nhỏ, người Mỹ chúng tôi luôn được dạy về khái niệm “giấc mơ Mỹ”: chúng tôi sống trong một đất nước nơi bất cứ ai dù xuất thân giàu có hay nghèo hèn cũng đều có thể mua nhà, đến trường, nuôi sống gia đình nếu làm việc chăm chỉ.   Ngay từ nhỏ, chúng tôi đã luôn ghi nhớ câu nói nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn độc lập 1776: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Thay vì thống nhất bằng điều kiện địa lý hay sắc tộc chung, người Mỹ chúng tôi thống nhất, hòa hợp bằng tinh thần “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.  Một “thập kỷ lạc lối”!  Phần lớn người Mỹ đều xác định họ thuộc tầng lớp trung lưu 99% và khinh bỉ những thứ thuộc về tầng lớp 1%. Vì lý do này, nếu bạn hỏi bất cứ người Mỹ nào về xuất thân, nền tảng kinh tế, họ sẽ trả lời là “tầng lớp trung lưu”. Nhưng thời thế đã thay đổi. Nhiều người trẻ ở Mỹ than thở nền kinh tế ì ạch đang giết chết “giấc mơ Mỹ”, bởi công việc hiếm hoi mà chi phí sinh hoạt quá đắt đỏ.   Họ than phiền dù học hành và làm việc chăm chỉ đến mấy cũng không tiết kiệm đủ tiền để mua nhà, học đại học, hưởng các dịch vụ y tế. Để có được những thứ đó, họ sẽ phải ôm nợ đầm đìa. Điều đó hoàn toàn trái ngược với những gì chúng tôi được dạy từ nhỏ: “Là một người Mỹ có nghĩa là có quyền tiếp cận với sự thịnh vượng”.  Ở Mỹ ngày nay, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng khiến việc từ nghèo trở thành giàu càng lúc càng khó khăn. Nhiều người Mỹ thất nghiệp bức xúc và lo lắng. Tạp chí kinh tế Anh The Economist cho rằng nước Mỹ đang ở giữa một “thập kỷ lạc lối”, có khả năng tạo ra một thế hệ trẻ thất nghiệp, vỡ mộng, chán chường.  Tôi tốt nghiệp năm 2008, khi cuộc suy thoái bắt đầu. Điều đó có nghĩa tôi cũng thuộc “thế hệ lạc lối”. Để trả tiền học tại các trường đại học tốt, các bạn của tôi đã phải vay tới 100.000 USD. Ban đầu họ được đảm bảo rằng khi ra trường, họ sẽ dễ dàng trả khoản vay này, bởi một tấm bằng đẹp từ một trường lớn sẽ đem lại công việc tốt, có mức lương cao. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược và vô cùng cay đắng.  Rất nhiều bạn của tôi vẫn đang thất nghiệp dù đã có bằng thạc sĩ ở các trường đại học hàng đầu nước Mỹ. Thậm chí một số đang có nguy cơ vỡ nợ. Nếu điều đó xảy ra, họ sẽ đánh mất “định mức tín nhiệm” cả đời và sẽ rất khó có thể vay tiền mua nhà ở Mỹ. Họ trở nên bế tắc, cay đắng và thất vọng. Họ làm việc chăm chỉ đúng như cách cha mẹ và thầy cô dạy bảo, nhưng tầng lớp 1% đã đánh cắp “giấc mơ Mỹ” của họ.  “Giúp Phố Main, đừng giúp Phố Wall”  Khi nói về tầng lớp 1%, những người biểu tình “Chiếm lấy Phố Wall” đặc biệt căm giận các ngân hàng lớn. Vào giữa thập niên 2000, các ngân hàng đã đánh bạc bằng tiền của khách hàng với những khoản đầu tư mạo hiểm. Khi họ thua lỗ trầm trọng, Chính phủ Mỹ lại cứu trợ họ bằng tiền thuế của người dân. Các nhà lãnh đạo nói rằng những ngân hàng và tập đoàn tài chính này “quá lớn nên không được phép đổ vỡ”. Có nghĩa là không có các ngân hàng này, nền kinh tế Mỹ sẽ sụp đổ. Thị trưởng New York Michael Bloomberg có chung quan điểm đó.  Đó là một trong những nỗi thất vọng và bức xúc lớn nhất đối với người biểu tình “Chiếm lấy Phố Wall”. Họ đã chờ ba năm để chính quyền của Tổng thống Obama tìm ra giải pháp, nhưng ngược lại các tập đoàn lớn vẫn nguyên vẹn bởi họ quá hùng mạnh cả về tài chính lẫn chính trị. Người biểu tình chọn Phố Wall bởi nó mang ý nghĩa biểu tượng đối với người Mỹ. Đó là nơi rất nhiều người trong tầng lớp 1% đang làm việc, ví dụ như các chủ ngân hàng, nhà đầu tư.  Người Mỹ có câu: “Hãy giúp Phố Main, đừng giúp Phố Wall”. Phố Main là tên phố thông thường ở các thị trấn trung lưu tại Mỹ, đối ngược với Phố Wall giàu có. Câu tục ngữ này có ý nghĩa các nhà lãnh đạo đất nước cần giúp người dân bình thường thay vì giới nhà giàu. Đó là lý do vì sao cuộc biểu tình “Chiếm lấy Phố Wall” thu hút nhiều người đến thế, đặc biệt là những người tin rằng tầng lớp 1% giàu nhất đã làm giàu từ cuộc suy thoái, trong khi tầng lớp trung lưu phải chịu đựng. Đó cũng là lý do vì sao Tổng thống Obama bày tỏ sự thông cảm đối với cuộc biểu tình. Nếu ông ấy chống lại một phong trào của tầng lớp trung lưu 99%, chắc chắn ông ấy sẽ thất cử.  “Chiếm lấy Phố Wall” khó có thể thay đổi nền chính trị Mỹ. Nhưng điều quan trọng là 99% người Mỹ đã đứng lên chống lại Phố Wall, nơi tạo ra cuộc suy thoái kinh tế và là nơi hủy diệt “giấc mơ Mỹ”, hủy diệt tầng lớp trung lưu Phố Main.                                                                                               SƠN HÀ chuyển ngữ          Quảng trường Thời đại ngập trong dòng người   “Ngã tư của thế giới” ngày 15-10 kẹt cứng khi ít nhất 6.000 người “Chiếm lấy Phố Wall” tập trung tại quảng trường Thời đại.   Báo Wall Street Jounal mô tả từ quảng trường Washington, người biểu tình tuần hành dọc theo đại lộ số 6 và hướng về phía quảng trường Thời đại. Tiếng trống hòa cùng với những tiếng hô vang: “Dân chủ là như thế này đây!”, “Chúng tôi biểu tình vì hi vọng, không phải vì thù hận”, “Chúng tôi không phải là những người vô danh”.“Đất nước này đang bị điều khiển bởi các công ty và tập đoàn” – một người đàn ông 68 tuổi cho biết ông cùng vợ tham gia cuộc biểu tình nhằm đòi lại công bằng cho cô con gái thất nghiệp.   Tại quảng trường Thời đại, dòng người tuần hành ngày càng đông, tràn ra khắp các đường phố. “Cảnh sát cũng thuộc nhóm 99%”, “Đây là cuộc biểu tình hòa bình”. Những tiếng hô nhắc nhở khi cảnh sát cố tạo thành hàng rào ngăn cản người biểu tình.   Hai cảnh sát phải nhập viện vì những chấn thương ở đầu và chân. 74 người biểu tình đã bị bắt giữ tại khu vực trung tâm thành phố New York.                                                                                                 HOÀNG NGỌC          * Nhà báo Mỹ, hiện cộng tác với tạp chí Time và The Economist      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã những bất ổn từ đất đai      Sự kiện Đồng Tâm một lần nữa cảnh báo cho chúng ta rằng pháp luật về đất đai đang có vấn đề.      Đất nông nghiệp với giá thấp có thể được biến thành đất đô thị với giá rất cao chỉ nhờ một quyết định hành chính. Ảnh minh họa: hoahau.tienphong.vn    Mà vấn đề nằm ngay ở chế định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Mới nghe, ai cũng thấy một chế định như vậy là hết sức tốt đẹp. Tuy nhiên, làm thế nào hiện thực hóa được sự tốt đẹp này trong cuộc sống? Đây là câu hỏi rất khó trả lời. Về mặt lý thuyết, chỉ có thể nhân và pháp nhân (một cá nhân hoặc một pháp nhân) mới thực thi được các quyền của chủ sở hữu. Toàn dân không phải là thể nhân, cũng không phải là pháp nhân nên chẳng có cách gì để thực thi các quyền của chủ sở hữu cả. Các quyền chủ sở hữu vì vậy phải giao lại cho Nhà nước. Nhà nước lại phân chia việc thực thi các quyền chủ sở hữu đất đai cho một số quan chức của mình. Vì vậy, nói đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, nhưng trên thực tế, những người có quyền thực thi các quyền chủ sở hữu chỉ là một nhóm rất nhỏ bé. Cách hiện thực hóa chế định đất đai thuộc sở hữu của toàn dân độc đáo này trước đây không gây ra tranh chấp và bất bình xã hội, vì chúng ta không có kinh tế thị trường. Đất đai không có thị trường chỉ là phương tiện sản xuất hoặc không gian vật lý để ở mà thôi. Ngoài ra, kinh tế hợp tác xã với phương thức “bán như cho, mua như cướp” lại còn triệt tiêu hơn nữa ham muốn có nhiều đất đai làm phương tiện sản xuất. Khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì đất đai “bỗng nhiên” trở thành tài sản. Mà tài sản thì không chỉ để ở, để trồng trọt, người ta còn có thể được hưởng rất nhiều lợi ích khác có được từ đất đai (kể cả từ vị trí của đất đai). Các giá trị tài sản của đất đai đã làm cho đất đai trở nên vô cùng quý giá.  Thực ra, trong quá trình đổi mới và cải cách, các quyền tài sản đối với đất đai về cơ bản đã được trả lại cho các thể nhân và các pháp nhân nhờ một sáng tạo pháp lý hết sức độc đáo. Đó là chế định quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất đã bao hàm gần như toàn bộ các quyền tài sản đối với đất đai. Trong thời gian qua, ở những mức độ nhất định, quyền tự do tài sản đối với đất đai đã được bảo đảm. Điều này đã giúp cho nền kinh tế có những bước phát triển khá ngoạn mục.  Tuy nhiên, các quyền tài sản đối với đất đai, đặc biệt của nông dân đang bị hạn chế nghiêm trọng bởi ba quyền năng mà Nhà nước ủy quyền cho một số quan chức thực hiện. Đó là quyền thu hồi đất, quyền cho phép chuyển đổi và quyền xác định giá đất. Đây là những quyền năng rất dễ bị thao túng.  Trong khi quyền thu hồi đất được thực thi vì lợi ích công ít gây ra bất bình, thì quyền thu hồi đất được thực thi vì “các dự án phát triển kinh tế” thật sự là một vấn đề rất lớn. Các dự án như vậy chỉ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và các chủ đầu tư. Tại sao người dân lại phải giao đất của mình cho những dự án chỉ vì lợi ích tư, lợi ích nhóm như vậy? Tại sao cũng là chuyện làm ăn cả, người dân lại không được thương lượng, không được mặc cả?!  Quyền cho phép chuyển đổi thực chất là một thứ quyền hô “biến”. Đất nông nghiệp với giá thấp có thể được biến thành đất đô thị với giá rất cao chỉ nhờ một quyết định hành chính. Điều này khuyến khích mãnh liệt các doanh nghiệp, các chủ đầu tư tìm đủ mọi cách để được hưởng chênh lệch địa tô ở đây. Thực ra, đất đai chỉ có thể được chuyển đổi theo sự phát triển tự nhiên của kinh tế và xã hội. Mọi quy hoạch không đi theo sự phát triển tự nhiên này chỉ có thể gây ra vô tận những lãng phí. Đó là chưa nói tới việc làm như vậy sẽ tạo ra miếng đất hết sức màu mỡ cho tham nhũng chính sách.  Quyền xác định giá đất có lẽ là thứ quyền đang gây ra nhiều khiếu nại, tố cáo nhất. Việc xác định giá đất chủ yếu chỉ căn cứ vào loại đất (đất thổ cư hoặc đất nông nghiệp) như hiện nay đang gây ra những bất công vô tận đối với những người nông dân và đang làm cho toàn bộ chênh lệch địa tô rơi vào túi một vài doanh nghiệp bất động sản. Từ ngàn xưa, cha ông ta đã hiểu “Thứ nhất cận thị, thứ nhị cận giang”. Giá đất do vị trí đất xác lập. Đất ở Hàng Đào, Hà Nội đắt vì nó nằm ở trong phố cổ. Thế nhưng, chúng ta đến thế kỷ 21 rồi vẫn không chịu hiểu điều này.  Một số doanh nghiệp có thể sẽ phản biện lại rằng do họ đầu tư vào cơ sở hạ tầng nên giá đất mới lên. Xin lỗi, không có vị trí thuận lợi, đắc địa của đất, giá đất không thể lên đến hàng chục, hàng trăm lần. Cứ lên Mù Cang Chải mà đầu tư vào cơ sở hạ tầng đi, xem giá đất có lên hàng chục lần như vậy không! Chúng ta không phản đối các doanh nghiệp làm giàu từ đất đai, nhưng hãy bảo đảm quyền thương lượng, quyền mặc cả cho những người nông dân bị thu hồi đất. Giá thị trường bao giờ cũng chỉ là giá thuận mua, vừa bán mà thôi!  Cuối cùng, một số người sẽ cho rằng nếu Nhà nước không có quyền thu hồi đất cho các dự án động lực, thì kinh tế sẽ không thể phát triển nhanh chóng được. Nông dân mà cứ khư khư giữ đất thì mọi dự án đều sẽ thất bại. Mới nghe, ý kiến này có vẻ không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, con người ta ai cũng hành xử hợp lý (Đây là tiền đề quan trọng nhất của kinh tế học, luật học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội khác). Không ai đầu óc bình thường có lợi hơn mà lại không làm. Các doanh nghiệp chỉ mua lại quyền sử dụng đất của nông dân khi và chỉ khi điều đó mang lại lợi ích lớn hơn cho họ. Người nông dân chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình khi và chỉ khi điều đó cũng mang lại lợi ích lớn hơn cho họ. Sau mỗi lần giao dịch thì cả hai bên cùng có lợi chính là bí quyết thần kỳ của quyền tự do tài sản. Quyền tự do tài sản, chứ không phải là sự sáng suốt nhất thời của bất kỳ một quan chức nào đó là tiền đề quan trọng nhất để chúng ta có được sự công bằng, thịnh vượng và giàu có bền lâu.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Giải Nobel Kinh tế 2022: Đặt nền móng hiểu biết về vai trò huyết mạch của ngân hàng      Xuất phát từ việc tìm hiểu căn nguyên của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới vào năm 1930 và kéo dài nhiều năm sau đó, các nghiên cứu đoạt giải Nobel Kinh tế năm nay đã đặt nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng hiện đại, và đặc biệt, cung cấp cho những nhà hoạch định chính sách các hàm ý quan trọng cho đến ngày nay trong việc quản lý thị trường tài chính, ngăn chặn các nguy cơ khủng hoảng tiềm tàng, và cách thức giải quyết khi khủng hoảng xảy ra.    Một người đàn ông biểu tình bên ngoài trụ sở Lehman Brothers Holdings Inc ở New York sau khi ngân hàng này đệ đơn xin bảo hộ phá sản vào ngày 15-9-2018. Ảnh: AP   Giải Nobel Kinh tế năm 2022 đã được trao cho ba nhà kinh tế học: Douglas W. Diamond (Đại học Chicago, Mỹ), Philip H. Dybvig (Đại học Washington, Mỹ) và Ben S. Bernanke (Viện Brookings, Mỹ) cho các nghiên cứu được thực hiện vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX về vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế và trong giai đoạn khủng hoảng. Xuất phát từ việc tìm hiểu căn nguyên của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới vào năm 1930 và kéo dài nhiều năm sau đó, các nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng hiện đại, và đặc biệt, cung cấp cho những nhà hoạch định chính sách các hàm ý quan trọng cho đến ngày nay trong việc quản lý thị trường tài chính, ngăn chặn các nguy cơ khủng hoảng tiềm tàng, và cách thức giải quyết khi khủng hoảng xảy ra. Chính sách của những quốc gia trên thế giới được sử dụng để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, hay gần đây nhất là suy thoái kinh tế toàn cầu bởi đại dịch COVID-19, đều chịu ảnh hưởng bởi các nghiên cứu được trao giải Nobel Kinh tế năm 2022 của ba nhà kinh tế học này.  Vai trò của các định chế tài chính trung gian trong nền kinh tế  Một chức năng quan trọng của các trung gian tài chính là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. Xét ở bình diện toàn bộ nền kinh tế, tổng tiết kiệm phải bằng với tổng giá trị đầu tư thực. Tuy nhiên, ở góc độ mỗi cá nhân/thực thể riêng lẻ, cơ hội đầu tư và khả năng tiết kiệm lại không luôn trùng khớp với nhau. Một doanh nghiệp (hoặc cá nhân) có thể cần vốn để đầu tư vào một dự án sản xuất kinh doanh (hoặc giải quyết nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, phương tiện đi lại…) với chi phí vượt quá thu nhập hiện tại của họ. Cùng lúc đó, những cá nhân khác trong nền kinh tế với thu nhập tạm thời dư thừa và muốn tiết kiệm phần dư thừa đó bằng cách đầu tư vào một cơ hội sinh lời. Vấn đề nảy sinh là những người tiết kiệm khác nhau trong nền kinh tế có thể có nhu cầu thanh khoản khác nhau (nhu cầu rút tiền ngay lập tức khi có các khoản chi tiêu ngoài dự tính) cũng như mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau, trong khi các dự án đầu tư của doanh nghiệp (hoặc thu nhập của cá nhân được sử dụng để thanh toán cho các khoản vay tiêu dùng) cũng rất khác nhau về thời hạn, mức độ rủi ro (một số dự án đầu tư có thời hạn ngắn, một số lại có thời gian rất dài; một số dự án tương đối ít rủi ro, trong khi số khác lại có rủi ro cao…). Mặc dù trong thực tế, người tiết kiệm và người vay vốn cuối cùng có thể giao dịch trực tiếp với nhau (chẳng hạn như một doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng), sẽ không khả thi và rất tốn kém nếu toàn bộ những người tiết kiệm trong nền kinh tế phải trực tiếp đi tìm các dự án đầu tư hoặc người có nhu cầu tiêu dùng với những đặc điểm mong muốn (thời hạn, rủi ro, lợi tức, quy mô vốn) để cho vay. Nếu thực hiện điều này, những người tiết kiệm phải có khả năng thu thập, xử lý thông tin liên quan đến người đi vay và dự án đầu tư, cũng như khả năng giám sát để đảm bảo rằng dự án đầu tư của doanh nghiệp được thực hiện theo đúng như cam kết ban đầu. Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp (hoặc cá nhân có nhu cầu vay tiêu dùng) phải trực tiếp tìm đến những người tiết kiệm để thuyết phục tài trợ cho các dự án hoặc nhu cầu tiêu dùng với những đặc điểm như mong muốn của họ. Những rào cản quá lớn này có thể dẫn đến việc tiết kiệm của cá nhân và dự án đầu tư của các doanh nghiệp (hoặc nhu cầu vay tiêu dùng của các cá nhân) rất khó để thực hiện.  Vấn đề trên được giải quyết dễ dàng với sự tham gia của các định chế tài chính trung gian như ngân hàng, quỹ đầu tư, các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng… trong đó ngân hàng là một định chế tài chính trung gian quan trọng. Các định chế tài chính trung gian là kênh dẫn vốn từ những người tiết kiệm đến những người đầu tư: nhận tiền gửi từ khách hàng và sử dụng quỹ tiền gửi đó để tài trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh hoặc các nhu cầu khác trong nền kinh tế. Sự tham gia của các định chế tài chính trung gian cho phép các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh với thời hạn dài, trong khi cũng cho phép những người gửi tiền (người tiết kiệm) có thể rút tiền ngay lập tức khi có nhu cầu. Khi giữ vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm và người đi vay cuối cùng trong nền kinh tế, các định chế tài chính trung gian đang thực hiện một chức năng kinh tế quan trọng: chức năng biến đổi kỳ hạn (maturity transformation), biến đổi các khoản tiết kiệm với kỳ hạn ngắn thành những khoản đầu tư với kỳ hạn dài.  Ngân hàng thực hiện chức năng biến đổi kỳ hạn: biến đổi các khoản tiết kiệm với kỳ hạn ngắn thành những khoản đầu tư với kỳ hạn dài. Hình minh hoạ từ Nguồn: © Johan Jarnestad/The Royal Swedish Academy of Sciences.  Chính sách bảo đảm tiền gửi  Trong nghiên cứu “Bank runs, deposit insurance, and liquidity” [2] được công bố năm 1983 trên tạp chí khoa học Journal of Political Economy, Diamond và Dybvig mô hình hóa quá trình biến đổi kỳ hạn của các ngân hàng. Bởi vì các cơ hội đầu tư sinh lời thường là dài hạn, trong khi những người gửi tiền lại muốn thanh khoản ngắn hạn, đó là, khả năng có sẵn tiền ngay cho các nhu cầu chi tiêu ngoài dự tính, chức năng biến đổi kỳ hạn của ngân hàng thật sự quan trọng và cần thiết đối với nền kinh tế. Ngân hàng huy động vốn từ những người tiết kiệm và sử dụng vốn huy động để tài trợ các dự án đầu tư dài hạn. Thông thường, chỉ một phần nhỏ những người gửi tiền có nhu cầu rút tiền trước hạn (nhu cầu thanh khoản ngắn hạn) và nhu cầu này không xảy ra cùng lúc với những người gửi tiền. Do vậy, ngân hàng có thể tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lời dài hạn, trong khi đồng thời vẫn luôn đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của người gửi tiền ngắn hạn. Đây cũng chính là quá trình ngân hàng tạo thanh khoản. Thông qua các trung gian tài chính, cả người tiết kiệm và người đi vay vốn để đầu tư/tiêu dùng đều nhận được giá trị hữu dụng cao hơn. Tuy nhiên, cũng chính vai trò biến đổi kỳ hạn này lại làm cho ngân hàng dễ nhạy cảm với tin đồn và có thể đối mặt với nguy cơ tháo chạy của người gửi tiền khi có sự hoảng loạn (bank runs). Bất kể một tin đồn đúng hay sai về tình hình hoạt động của ngân hàng, đều có thể khiến cho người gửi tiền vội vàng đến ngân hàng rút tiền ngay lập tức. Số lượng người yêu cầu rút tiền gia tăng khi tâm lý hoảng loạn lan nhanh và bao trùm, vượt quá khả năng chi trả ngay lập tức của ngân hàng (do phần lớn các khoản cho vay, đầu tư của ngân hàng đều có thời hạn dài, và không thể ngay lập tức thu hồi lại) có thể kích hoạt một cuộc tháo chạy khỏi ngân hàng. Trầm trọng hơn, nguy cơ tháo chạy có thể lan ra diện rộng sang các ngân hàng khác.  Số lượng người yêu cầu rút tiền gia tăng khi tâm lý hoảng loạn lan nhanh và bao trùm, vượt quá khả năng chi trả ngay lập tức của ngân hàng có thể kích hoạt một cuộc tháo chạy khỏi ngân hang (bank runs). Hình minh hoạ từ Nguồn: © Johan Jarnestad/The Royal Swedish Academy of Sciences.  Trong tình huống này, để đáp ứng cho làn sóng rút tiền từ những người gửi tiền, ngân hàng có thể buộc phải chấp nhận thua lỗ và thu hồi trước hạn các khoản cho vay, bán tháo các tài sản đầu tư, cũng như không sẵn sàng cấp các khoản cho vay mới. Hệ quả không chỉ là sự thua lỗ (hoặc cực đoan hơn là phá sản) đối với chính bản thân ngân hàng mà còn gây ra tình trạng suy thoái và khủng hoảng kéo dài đối với nền kinh tế. Để tránh vấn đề này, Diamond và Dybvig (1983) chỉ ra rằng cần có sự can thiệp của chính phủ thông qua các chính sách, biện pháp chủ động và tích cực (ví dụ, chính sách bảo hiểm tiền gửi). Khi những người gửi tiền biết rằng tiền gửi của họ được đảm bảo bởi chính phủ, họ sẽ không rút tiền trước hạn, và điều này giúp ngăn chặn việc tháo chạy khỏi ngân hàng trước khi nó xảy ra.  Ai sẽ giám sát ngân hàng?  Công trình nghiên cứu quan trọng thứ 2 của Douglas W. Diamond, “Financial intermediation and delegated monitoring” , được công bố năm 1984 trên tạp chí Review of Economic Studies. Diamond (1984) phân tích những điều kiện cần thiết để ngân hàng có thể (và buộc phải) giám sát người đi vay để đảm bảo rằng họ thực hiện đúng các cam kết hoàn trả. Nếu không có các định chế tài chính trung gian như ngân hàng, các cá nhân đầu tư vào doanh nghiệp (ví dụ, thông qua việc mua cổ phiếu hoặc trái phiếu) sẽ rất khó giám sát nhằm đảm bảo rằng tiền của họ được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Việc giám sát này “ủy quyền” cho ngân hàng thực hiện sẽ hiệu quả hơn. Khi nhận tiền gửi từ nhiều người tiết kiệm và đa dạng hóa cho vay đối với nhiều người vay, ngân hàng có khả năng đưa nguồn vốn huy động đến những nơi sử dụng hiệu quả trong nền kinh tế với chi phí thấp nhất.  Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là “ai sẽ giám sát ngân hàng” để đảm bảo ngân hàng phải cho vay có trách nhiệm và không thua lỗ? Trên thực tế, người gửi tiền không thể thực hiện điều này. Diamond (1984) chứng minh rằng chính cách thức hoạt động của ngân hàng cũng hàm ý những người gửi tiền không cần thiết phải thực hiện việc giám sát ngân hàng. Nếu ngân hàng không thực hiện giám sát người đi vay, ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ thua lỗ và về lý thuyết, những người gửi tiền có thể làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản khi ngân hàng không đáp ứng kịp thời yêu cầu rút tiền ngay lập tức của họ. Do vậy, việc giám sát người đi vay vừa là trách nhiệm nhưng cũng vừa là lợi ích của chính bản thân ngân hàng.  Hai công trình nghiên cứu lý thuyết ở trên, Diamond và Dybvig (1983) và Diamond (1984), giải thích cách thức các định chế tài chính trung gian tạo thanh khoản cho nền kinh tế. Đây là điểm mới trong cách tiếp cận nghiên cứu lý thuyết về vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế so với những công trình nghiên cứu trước đó.  Dưới góc độ thực nghiệm  Bernanke giải quyết cùng các câu hỏi như trong nghiên cứu của Diamond và Dybvig nhưng tiếp cận dưới góc độ thực nghiệm. Trong nghiên cứu “Nonmonetary effects of the financial crisis in the propagation of the Great Depression”[4], được công bố năm 1983 trên tạp chí khoa học American Economic Review, Bernanke phân tích vai trò của ngân hàng trong cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới vào năm 1930. Trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1933, sản xuất công nghiệp của Mỹ giảm đến 46% và tỷ lệ thất nghiệp tăng đến 25%. Khủng hoảng lan rộng gây ra đỗ vỡ kinh tế nghiêm trọng ở nhiều quốc gia. Các ngân hàng sụp đổ ở khắp mọi nơi.  Trước khi nghiên cứu Bernanke (1983) ra đời, các nhà kinh tế học lúc đó vẫn tin rằng lẽ ra khủng hoảng có thể đã được ngăn chặn nếu ngân hàng trung ương Mỹ in thêm tiền. Còn Bernanke thì cho rằng việc thiếu hụt tiền có thể là một nhân tố góp phần đưa đến khủng hoảng, nhưng đây không phải là nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng nghiêm trọng và kéo dài của khủng hoảng.  Ông nhận định, chính việc hệ thống ngân hàng mất đi khả năng thực hiện vai trò trung gian đưa vốn tiết kiệm đến với đầu tư vào giai đoạn đó mới là nguyên nhân quan trọng, khiến suy thoái kinh tế bình thường vào năm 1929 nhưng biến thành khủng hoảng nghiêm trọng ngay năm sau. Bernanke (1983) minh chứng thực nghiệm rằng khủng hoảng kinh tế kéo dài và nghiêm trọng trong giai đoạn đó có mối liên hệ trực tiếp đến sự đổ vỡ của các ngân hàng. Nỗi lo sợ và tháo chạy khỏi ngân hàng đã lan truyền ra hệ thống, với lượng tiền gửi suy giảm đáng kể ở các ngân hàng khác. Đồng thời, nhiều ngân hàng đã từ chối cấp những khoản vay mới cho khách hàng, và chỉ đầu tư vào những tài sản ngắn hạn, an toàn, có tính thanh khoản cao. Điều này đã đẩy các doanh nghiệp, những người đi vay để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh vào tình huống khó khăn, và làm khủng hoảng kinh tế thêm trầm trọng.  Quá trình quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng là quá trình ngân hàng tích lũy thông tin chi tiết về khách hàng, giúp ngân hàng quản lý, giám sát việc cho vay tốt hơn, đưa ra các yêu cầu phù hợp để đảm bảo khách hàng vay vốn hoàn trả đúng cam kết. Do đó, khi ngân hàng phá sản, mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng đổ vỡ và không thể nhanh chóng xây dựng lại; những hiểu biết về khách hàng cũng không thể dễ dàng chuyển qua các ngân hàng khác. Việc phục hồi các ngân hàng bị đổ vỡ sẽ mất nhiều năm, và trong thời gian đó nền kinh tế sẽ trải qua tình trạng khủng hoảng kéo dài, như được chứng kiến trong cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1930.  Trước nghiên cứu Bernanke (1983), các nhà kinh tế học xem khủng hoảng ngân hàng là hệ quả của suy thoái kinh tế, và tác động trở lại đến các hoạt động kinh tế thông qua việc làm cho cung tiền bị thu hẹp. Bernanke (1983) tiếp cận vấn đề dưới góc độ vi mô và chỉ ra rằng khi định chế tài chính trung gian trong nền kinh tế bị đổ vỡ, vốn không được dẫn đến nơi cần để thực hiện sản xuất kinh doanh, hệ quả, suy thoái kinh tế sẽ thêm trầm trọng, trở thành khủng hoảng và kéo dài. Hoạt động kinh tế sẽ không thể phục hồi cho đến khi chính phủ thực hiện các biện pháp quyết liệt để vực dậy hệ thống ngân hàng và ngăn chặn tình trạng hoảng loạn ngân hàng xảy ra thêm. Đây chính là những điểm mới trong công trình Bernanke, và củng cố cho lý thuyết trong nghiên cứu Diamond và Dybvig và Diamond.  Hàm ý từ kết quả của các nghiên cứu này đã được chính Bernanke sử dụng trong chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 khi ông ta là Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), cũng như ngân hàng trung ương các nước sử dụng khi đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn khủng hoảng tài chính có thể xảy ra do suy thoái kinh tế toàn cầu bởi đại dịch COVID-19.  Công trình của Diamond, Dybvig và Bernanke đã đặt nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau đó về hoạt động ngân hàng, cách thức quản lý nhằm ngăn ngừa và đối phó với khủng hoảng, mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho những nhà hoạch định chính sách về cách thức quản lý hoạt động ngân hàng, hướng đến mục tiêu tạo ra một hệ thống tài chính ổn định. Ngày nay, hệ thống tài chính hiện đại thay đổi không ngừng với sự xuất hiện của các loại hình trung gian tài chính mới và công cụ tài chính mới. Do vậy, các chính sách quản lý ngân hàng cũng như quản lý hệ thống tài chính phải được điều chỉnh linh hoạt, dựa trên việc phân tích thường xuyên tình hình thực tiễn. Mặc dù vậy, nghiên cứu của Diamond, Dybvig và Bernanke vẫn đóng vai trò như một khung phân tích cho các chính sách quản lý ngân hàng và hệ thống tài chính thậm chí dù trong thực tế, việc quản lý có thể không luôn theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống tài chính.  Chú thích  [1] Bài viết có sử dụng số liệu và phần nội dung từ báo cáo tóm tắt thông báo giải thưởng của Uỷ ban Giải thưởng Nobel. Chi tiết tại: https://www.nobelprize.org/uploads/2022/10/advanced-economicsciencesprize2022-2.pdf  [2] Tạm dịch, “Tháo chạy khỏi ngân hàng, bảo hiểm tiền gởi, và thanh khoản”. [3] Tạm dịch, “Trung gian tài chính và giám sát được uỷ quyền”. [4] Tạm dịch, “Ảnh hưởng phi tiền tệ của khủng hoảng tài chính trong việc lan truyền Đại suy thoái”. Tài liệu tham khảo  1. Bernanke, Ben S., 1983, Nonmonetary effects of the financial crisis in the propagation of the Great Depression, American Economic Review 73, 257–276. 2. Diamond, Douglas W., Phillip H. Dybvig, 1983, Bank runs, deposit insurance, and liquidity, Journal of Political Economy 91, 401–419. 3. Diamond, Douglas W., 1984, Financial intermediation and delegated monitoring, Review of Economic Studies 51, 393–414.    Author                Đặng Tùng Lâm        
__label__tiasang Giải nút thắt cho vấn đề Biển Đông      Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia cho biết có bảy vấn đề lớn sẽ vẫn tồn tại ở khu vực này trong thời gian tới. Quan điểm của học giả này bao trùm toàn bộ khu vực (phần in nghiêng)[1]ư. Chúng ta thử tìm xem các cách cởi bỏ nút thắt này trên góc nhìn Việt Nam.    “Thứ nhất, chưa có triển vọng giải quyết các tranh chấp chủ quyền cơ bản và các quyền chủ quyền pháp lý về các đảo và các vùng ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.  Tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa và Biển Đông khó thể giải quyết nhanh nhưng vẫn không hẳn đã bế tắc hoàn toàn mọi giải pháp cho vấn đề. Cụ thể là các nước liên quan trong tranh chấp có thể thống nhất coi các vùng biển liên quan đến hai vùng đảo này là vùng biển tranh chấp. Ngoài ra các vùng biển và các quyền liên quan khác phải được phân chia theo pháp luật và thông lệ được quốc tế chấp nhận. Mặt khác, nhân dân thế giới và cả nhân dân Trung Quốc (TQ) không thể phủ nhận TQ đã cưỡng chiếm Hoàng Sa (1956, 1974) và một phần Trường Sa (1988) bằng võ lực và Việt Nam (VN), như một quốc gia, sẽ không bao giờ từ bỏ chủ quyền chính đáng này mọi lúc, mọi nơi. VN có sự đồng thuận cao đối với vấn đề này, tính chính đáng lịch sử và pháp luật cũng như sức mạnh đàm phán hòa bình. Triển vọng giải quyết tranh chấp nằm ở khuynh hướng giải quyết vấn đề bằng đàm phán sẽ luôn là khuynh hướng chủ đạo, dễ chấp nhận và được cộng đồng quốc tế ủng hộ hơn hết, bất chấp hiện trạng có thể có thay đổi.    “Thứ hai, chủ nghĩa dân tộc vẫn là một sức mạnh bên trong của cả Trung Quốc, Việt Nam và Philippines. Điều này khiến vấn đề thêm khó giải quyết.”  Chủ nghĩa dân tộc vẫn là một sức mạnh, song chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ chỉ dẫn đến những kết cục không tốt đẹp cho cả những nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan và cả cộng đồng bị dẫn dắt đi vào con đường này. Sức mạnh của truyền thông hiện đại sẽ mở tầm mắt cho nhân dân các nước trên thế giới và ban cho họ sức mạnh nhận chân sự thật về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề mạnh hiếp yếu. VN có thể tận dụng loại hình sức mạnh này để bảo toàn chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.  “Thứ ba, các nước đang tranh chấp Biển Đông đều theo đuổi kế hoạch hợp tác với các công ty nước ngoài khai thác dầu tại vùng biển có tranh chấp.”  Để cởi nút thắt này, các chính phủ ASEAN và TQ có thể thỏa thuận lại khu vực nào là khu vực tranh chấp, tránh việc để cho một bên nào tranh chấp hóa vùng không tranh chấp. Từ đó, việc hợp tác khai thác dầu khí một cách hòa bình hoàn toàn có thể diễn ra.  “Thứ tư, khi nguồn thủy sản gần Trung Quốc và đảo Hải Nam đã bị vắt kiệt, ngư dân địa phương được khuyến khích mở rộng địa bàn về phía nam. Cả tàu hải giám Trung Quốc và các cơ quan hữu quan đã triển khai tàu tới khu vực này để bảo vệ.”  Nút thắt này có thể giải quyết được bằng cách thi hành, tôn trọng và kêu gọi tôn trọng luật quốc tế và hiệp ước các bên đã ký với nhau ví dụ Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ, Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, Hồ sơ chung Việt Nam – Malaysia liên quan diện tích nam Biển Đông.…Việc cạnh tranh khai thác thủy hải sản của ngư dân hoàn toàn có thể xảy ra và được quản lý một cách hòa bình trừ phi có những hành động quá khích từ phía nhà đương cục.  “Thứ năm, Trung Quốc tiếp tục thể hiện sự tùy tiện trong bất kỳ động thái phản đối hay lên án nào về tư cách của các cơ quan bán quân sự, dân sự ở Biển Đông. Trung Quốc duy trì sự cứng đầu – mọi lời lên án Trung Quốc đều bị coi là sai, hoặc hành động bị lên án đó chỉ được xem như việc thực thi pháp lý bình thường của các cơ quan Trung Quốc.          “Việc định vị rõ ASEAN và sức đoàn kết ở mức  nào trong cuộc cờ Biển Đông và các vấn đề khác sẽ tốt hơn cho VN hơn là  vỡ mộng gây hậu quả cho dân tộc về sau”.        Sự coi nhẹ pháp luật quốc tế của TQ, về một phương diện nào đó, lại gia tăng thêm thế và sức mạnh mềm cho các nước ASEAN trong quá trình đấu tranh pháp lý đối với TQ và tạo điều kiện để gia tăng thêm lực của các nước này. Thí dụ như Philippines và Việt Nam hiện nay rõ ràng thuận lợi hơn trong tranh thủ luật pháp và sự ủng hộ quốc tế so với năm 2009 trở về trước, đặc biệt sau khi ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Đông Nam Á tháng 7.2009 và tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông tháng 6/2011[2].  “Thứ sáu, các nước tranh chấp đều tiếp tục mở rộng các cơ quan thực thi hàng hải và quan trọng hơn là hiện đại hóa không và thủy lực ở Biển Đông. Khi “bồn tắm” của Biển Đông trở nên chật chội, nguy cơ va chạm hàng hải sẽ tăng lên.”  Đảo Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam  Nút thắt này có thể trở thành thế mạnh của VN vì với bờ biển dài vào loại bậc nhất trong khu vực, VN sẽ có thể chủ động chọn nhiều phương án giải quyết va chạm và hành xử bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông, bảo vệ ngư dân Việt Nam và cả ngư dân các nước khác trước thiên tai- gia tăng uy tín và nâng cao hình ảnh. Xây dựng và thúc đẩy tôn trọng “luật giao thông”, UNCLOS, DOC và rồi COC… sẽ quan trọng hơn và sẽ giúp giải quyết được ưu tư về sự “chật chội, nguy cơ va chạm hàng hải”. Năng lực thi hành và tận dụng các điều luật sẽ góp phần hóa giải võ lực và làm rõ diện mạo của kẻ mạnh bất chấp luật pháp.  “Thứ bảy, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục bị chia rẽ về cách ứng xử với Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông. Đó không phải là viễn cảnh tốt cho việc thông qua một Bộ quy tắc ứng xử có tính thực thi và ràng buộc pháp lý để quy định cách ứng xử của mỗi nước, vì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.”  Các tổ chức quốc tế từ EU, NATO, OPEC và cả UN đều tuân theo những quy luật hợp rồi tan, riêng và chung, tính dân tộc và tính khu vực (như vấn đề đồng Euro hiện nay). ASEAN cũng không nằm ngoài những quy luật này. Không thể có một khối ASEAN đồng thuận tuyệt đối trong địa chính trị Biển Đông vì không phải tất cả các nước ASEAN đều bị ảnh hưởng hay được hưởng lợi như nhau trong cùng một vấn đề. Các nước sẽ dành ưu tiên và hành xử trên cơ sở lợi ích của đất nước họ. Vậy thì VN cũng ở trong thế trận bình đẳng với các nước ASEAN khác.  Cách ứng xử của VN chứ không phải toàn khối ASEAN sẽ quyết định cách nhìn của thế giới đối với VN, liệu đó là một VN đáng được ủng hộ hay không trong hồ sơ Biển Đông. Dĩ nhiên không thể phủ nhận vai trò của các hiệp ước quốc tế, song vẫn không thể tuyệt đối hóa việc thực thi pháp lý từ luật quốc tế đến các thỏa ước có ASEAN tham gia. Thực thi pháp lý, khi pháp luật bị bỏ qua, có lúc sẽ nhường chỗ cho thực hành công lý.  Ngoài ra, việc định vị rõ ASEAN và sức đoàn kết ở mức nào trong cuộc cờ Biển Đông và các vấn đề khác sẽ tốt hơn cho VN hơn là vỡ mộng gây hậu quả cho dân tộc về sau.  Tựu chung, bảy nút thắt ông Carlye Thayer đưa ra có tính khái quát cho ASEAN và VN có những cách gỡ nút riêng biệt không hạn chế ở số 7. Những đặc điểm khác có khi như cự ly địa lý VN – TQ, lịch sử đấu tranh v.v… trong góc nhìn của riêng Việt Nam cũng đáng lưu ý. Có lẽ, VN không thể bỏ qua xử lý quan hệ tình bạn ý thức hệ, tránh tình trạng tự cô lập trong cùng quần thể ASEAN và hạn chế việc phát triển sức mạnh tổng hợp của chính mình.  Sự vướng víu của tình bạn ý thức hệ VN – TQ khiến các loại thỏa thuận bị các nước khác e dè là kém hiệu lực hơn quan hệ này. Một nút thắt nữa là sự chênh lệch: TQ giàu mạnh và dễ có khuynh hướng áp đảo về kinh tế, dễ gây bất tương xứng cho những thỏa thuận hai bên, gây nghi ngờ cho các thỏa thuận đa phương trong ASEAN.  Giải quyết những nút thắt để bảo đảm công lý và hòa bình cho Biển Đông là công việc quan trọng của những nhà làm chính sách, những nhà ngoại giao VN hiện nay.  —  [1] http://xembaomoi.com/tin-tuc/quocphong/Thoi-cuoc/7-nut-that-giai-quyet-tranh-chap-tai-Bien-Dong-142824.html  [2] http://www.nytimes.com/2011/06/23/world/asia/23china.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp cho hiện đại hóa      Nhà văn Pháp Robert Guillain1 trong cuốn sách xuất bản năm 1968 kỷ niệm 100 năm nước Nhật hiện đại hóa đã kể là, vào năm 1864, vua Meiji nước Nhật bắt đầu công cuộc “học phương Tây” dẫn nước Phù Tang này đi vào hiện đại hóa và công nghiệp hóa, khi đó nước Nhật mới chỉ có vài chục kilômet đường sắt. Bữa khánh thành đường sắt, khi bước vào toa xe, các bậc chức sắc còn ngỡ là phải trụt dép để cả bên ngoài sân ga, đến nỗi khi vào cố cung thì ai ai cũng đi chân trần. Còn các mệnh phụ phu nhân thì mặc áo trong, áo ngoài xù xù, sau đó mãi tận ngoài cùng còn đeo toòng teng thêm một thứ “áo” quý báu chắc là mới được các sứ thần châu Âu tặng, gọi bằng cái “xú-chiêng”.        Vậy xuất phát từ khởi điểm số không của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nhờ những điều kiện gì mà nước Nhật đã hiện đại hóa được.  Điều kiện thứ nhất là phải có bậc đại nhân đại trí lãnh đạo để mở cửa đất nước đúng hướng. Mở cửa ra phía nào? Mở ra phía nào có được cái tinh thần và cách lao động hiện đại hóa. Năm 1868, vua Meiji nước Nhật là một bậc đại anh minh đó. Rõ ràng là một tư tưởng mở cửa Nhật Bản khi đó hơn hẳn cái con người cũng đứng đầu một đất nước nhưng lại không tin là trên đời này có nổi một thứ  “ngọn đèn treo ngược”! Và “mở cửa” thì cũng phải biết hướng cửa mở: nước Nhật của vua Meiji không mở sang phía Trung Hoa, cũng chẳng mở sang nước Nga Xa-hoàng, mà nó mở vào chỗ đáng mở: phương Tây, mặc dù trong nước vẫn có tư tưởng bài phương Tây (hệt như ở ta: chống lại lũ “Tây dương ngoại quay”). Nhưng mở cửa sang phía Tây là mở vào một nền sản xuất mới, khác hẳn về bản chất với nền sản xuất của phương Đông cổ lỗ, tiểu nông.  Nhưng lại giả sử tiếp theo cái ông vua anh minh nào đó, liệu có thể có được nhiều ông vua khác giỏi như thế hoặc hơn thế, hay là lại gặp những phần tử kém cỏi hơn, hèn yếu hơn, dốt nát hơn? Vậy, cái gì sẽ bảo đảm cho sự hiện đại hóa được bền vững đến nơi đến chốn? Câu giải đáp chỉ có thể là: chính sự công nghiệp hoá sẽ nuôi công cuộc hiện đại hóa khiến cho tiến trình ấy không thể đảo ngược.    Ta sẽ thấy một điều kiện thứ hai vô cùng quan trọng ấy là cuộc cách mạng trong công nghiệp đem lại cho loài người cái gì quý hơn cả những sản vật công nghiệp. Nhà Nghĩa Thục cần thấy chính nền công nghiệp mới tạo ra nổi một tư duy mới, tư duy công nghiệp, cái tư duy không sinh ra nhờ những lời khuyên chi hồ giả giã, mà sinh ra bằng hành vi công nghiệp hóa. Không chỉ tư duy trong sản xuất công nghiệp, thời đại công nghiệp hóa đề ra yêu cầu xít xao phổ biến về tư duy mới trên mọi mặt hoạt động. Ngay trò chơi cho trẻ em cũng phải mang dấu ấn huấn luyện tư duy mới! Những đồ dùng dạy học cũng không thể chỉ là đem tiền đi mua nhựa đùn ra những chữ số và những con chữ rất xa với việc xây dựng tư duy mới cho con em Việt Nam Nghĩa thục.   Cần một tư duy công nghiệp. Cái tư duy công nghiệp khiến con người thành con người hiện đại, với những yếu tố tư duy thay đổi hoàn toàn. Về sản xuất, tư duy công nghiệp thay thế lối sản xuất cầu may bằng lối sản xuất có thiết kế sẵn, và tạo ra một thứ kỷ luật sản xuất không dựa trên roi vọt, mà là kỷ luật tự giác dựa trên sự hợp tác với nhau về kỹ thuật mà nếu thiếu đi một khâu trong chuỗi công nghệ thì sẽ không biến được các bán thành phẩm thành ra sản phẩm cuối cùng.  Như vậy là một ông Meiji anh minh có thể chết đi, cuộc sống cũng chẳng cần lắm đến ông sau cũng anh minh ngang thế hoặc hơn thế. Chính nền sản xuất công nghiệp sẽ thành kẻ lãnh tụ vô hình dắt dẫn con người.  Và thế là bây giờ ta có thể có một định nghĩa cô đúc thế nào là hiện đại hóa. Hiện đại hóa là thành tựu xã hội cả về vật chất và tinh thần thấm đến cuộc sống của từng công dân, cái thành tựu được bảo đảm bằng công cuộc công nghiệp hóa và bằng một tư duy công nghiệp hóa.  Hiện đại hóa như vậy sẽ không phải là bắt chước ai, chẳng “theo Tây” mà cũng chẳng “Âu-Mỹ hóa” về bề ngoài, mà đó là một nền văn hóa2 có cái mặt bằng là nền sản xuất công nghiệp hóa. Nếu không tự tay mình làm nên nền văn hóa hiện đại hóa, thì có mô tô cũng chỉ biết đem ra đua xe, có giàn âm thanh cũng chỉ để đem ra “lắc”, có tiền tham nhũng ê hề cũng chỉ để đem đi đánh bạc… Chỉ đến trình độ ấy, thì đất nước có thể nhiều của cải vật chất, nhưng giàu mà vẫn không mạnh. Vật chất ấy chỉ như nấm mọc sau một trận mưa, không giống như nền văn hóa của cánh rừng già cả trăm năm nghìn năm sâu rễ bền gốc.   Hiện đại hóa phải là những thành tựu chứa đựng cả hai mặt vật chất và tinh thần – mặt vật chất là những phương tiện giúp con người sống sung sướng hơn, và mặt tinh thần là một phương cách tư duy tương ứng – như thế đã đành. Thành tựu đó lại phải thấm đẫm vào từng người dân, chứ không thể chỉ là “phúc lợi” hạn hẹp cho những người vì lý do nào đó mà chui lọt vào “tầng lớp tinh hoa”. Cuộc sống muốn được hiện đại hóa triệt để thì cần có các yếu tố tự do, dân chủ, pháp chế hết sức rành mạch, công khai, minh bạch. Đó là điều không thể thiếu để cuộc sống công nghiệp hóa được hoạt động trơn tru và nó có hoạt động trơn tru thì mới có cuộc sống hiện đại hóa triệt để.  Nay, nghĩ lại lời dặn dò của cụ cử Nguyễn Hữu Cầu của Đông Kinh Nghĩa thục, ta nhớ đến một lời dặn phải hiện đại hoá dân tộc này, một dân tộc… mạnh về vật chất là chưa đủ, cái nước Việt Nam theo quan niệm của Nguyễn Hữu Cầu còn phải mạnh về trí tuệ: hơn cả những gì đã đạt trong sự nghiệp tinh thần, còn phải thành tựu cả trong phẩm cách như một dấu ấn riêng của mình. Nhưng ta cần nghĩ thêm về giải pháp hiện đại hóa mà vào lúc đó các cụ tiền bối mới mang máng trong đầu chứ chưa thực sự trải nghiệm.   —————-    (1) Robert Guillain, Japon, troisième Grand, (Nhật Bản, cường quốc thứ ba), Seuil xuất bản, Paris, 1969  (2) Xin tham khảo khái niệm “Văn hóa” của cùng người viết trên Tia Sáng số tháng 7-2005, trong đó định nghĩa vắn tắt như sau: Văn hóa là cái khác với tự nhiên. Diễn giải mệnh đề đó như sau: một quả núi để nguyên con người không đụng tới, thì đó là quả núi tự nhiên hoang dã. Nhưng có bàn tay người, thì sẽ có “văn hóa nương rẫy” hoặc có khi có cả “văn hóa sinh thái-du lịch”… Một con sông Hồng để tự nhiên thì đó chỉ là con sông hoang dã. Nhưng có bàn tay con người chạm vào, thì sẽ có “văn hóa lúa nước”, “văn hóa làng xã”… vùng đồng bằng sông Hồng.   —————-  CHÚ THÍCH ẢNH: Một ông Meiji anh minh có thể chết đi, cuộc sống cũng chẳng cần lắm đến ông sau cũng anh minh ngang thế hoặc hơn thế…      Phạm Toàn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp cho tình trạng thiếu thông tin khoa học      Tại sao các nhà nghiên cứu nước ta thiếu thông tin?  Câu trả lời là do thiếu cơ sở vật chất và trường đại học cũng chưa quan tâm (hay chưa nhận thức) đúng mức đến tầm quan trọng của thông tin trong nghiên cứu khoa học. Tình trạng trên tương phản với tình hình ở các trường đại học hay viện nghiên cứu khoa học phương Tây, nơi mà thông tin được xem là một loại cơ sở hạ tầng (infrastructure). Trong các tiêu chuẩn dùng để xếp hạng và đánh giá danh tiếng của các trường đại học, ngoài các tiêu chuẩn khoa bảng, hệ thống thư viện và tập san khoa học là một tiêu chuẩn rất quan trọng. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các trường đại học “khoe” hệ thống thư viện của mình để cạnh tranh nhau thu hút sinh viên hay nghiên cứu sinh.    Giải pháp nào cho Việt Nam   Để khắc phục tình trạng thiếu thông tin ở nước ta, một tình trạng mà một nhà nghiên cứu mới đây cho rằng “không thể chấp nhận được”, tôi đề nghị vài biện pháp cụ thể như sau:  Thiết lập một cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia. Hiện nay, nước ta có nhiều tập san khoa học, tuy chất lượng chưa cao, nhưng cũng cung cấp nhiều thông tin có ích và liên quan đến khoa học trong nước. Nhưng các thông tin này chưa được hệ thống hóa, và tình trạng này gây không ít khó khăn cho nhiều nhà nghiên cứu trẻ, kể cả nghiên cứu sinh, vì họ không truy tìm được tài liệu cần thiết.  Một vài nghiên cứu sinh phàn nàn với người viết bài này rằng khi họ trình bày đề cương nghiên cứu trước thầy cô, họ bị phê bình rằng chỉ trích dẫn các báo cáo ở nước ngoài mà “coi thường” nghiên cứu từ trong nước, nhưng trong thực tế, rất khó mà biết các nhà nghiên cứu trong nước đã làm gì vì không có cơ sở dữ liệu.   Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu rất quan trọng. Trước đây, trước những lo ngại về chất anthrax trong chiến dịch chống khủng bố, các nhà khoa học truy tìm tài liệu khoa học và may mắn thay, vào lúc đó, chỉ có Thư viện Anh (British Library) là cơ quan duy nhất có hệ thống hóa dữ liệu khoa học trước năm 1950. Qua truy cập tài liệu, các nhà nghiên cứu mới phát hiện rằng chưa có nghiên cứu gì về anthrax trong suốt 47 năm! Nếu không có cơ sở dữ liệu của Thư viện Anh, có lẽ người ta phải tốn rất nhiều thời gian và công sức để biết về anthrax. Qua kinh nghiệm này, ở Mĩ và một số nước như Anh và Úc, các thư viện quốc gia có chương trình hệ thống hóa toàn bộ các bài báo khoa học trong một cơ sở dữ liệu và đưa lên internet. Chẳng hạn như hệ thống dữ liệu Pubmed Central (PMC, www.pubmedcentral.nih.gov) của Mĩ có mục đích tập hợp và hệ thống hóa các bài báo khoa học từ các tập san khoa học trong và ngoài nước Mĩ. Với PMC, chúng ta có thể truy nhập những bài báo công bố từ đầu thế kỉ 20. Nước ta có thể học từ PMC để phát triển một cơ sỡ dữ liệu nội địa và qua đó giúp cho thế hệ sau trong nghiên cứu khoa học.   Chủ động liên lạc với chương trình OARE và WHO để đảm bảo Việt Nam nằm trong danh sách của họ.  Việc làm này đòi hỏi sự chủ động của một số tổ chức đại diện trong nước (chẳng hạn như Bộ Y tế hay Bộ KH&CN và Bộ Tài nguyên & Môi trường). Những thành viên chính trong chương trình OARE là Kimberley Parker (Giám đốc thư viện Đại học Yale), Barbara Aronson (Giám đốc chương trình HINARI của WHO).   Tích cực tham gia vào chương trình Open Access để đảm bảo các nhà khoa học trong nước có thể truy nhập vào các tập san do chương trình này quản lí. Chương trình Open Access có mục tiêu chính là tạo điều kiện cho các nhà khoa học trên khắp thế giới, kể cả ở các nước đang phát triển, có thể truy nhập thông tin khoa học miễn phí. Chương trình này đang được rất nhiều đại học trên thế giới ủng hộ và rất thành công, không chỉ trong xuất bản ấn phẩm khoa học mà cả lĩnh vực phần mềm máy tính như ngôn ngữ R chẳng hạn. Chúng ta có thể tranh thủ mời các nhân vật chính trong chương trình này (chẳng hạn như Leslie Chan, Barbara Kirsop, Stevan Harnard) đến Việt Nam để thảo luận về cách Việt Nam có thể tham gia hay đóng góp vào chương trình Open Access.   Quan trọng hơn hết là mở rộng và đầu tư vào công nghệ thông tin và internet. Phải nói ngay rằng hệ thống internet tại các trung tâm nghiên cứu và đại học nước ta chưa hoàn chỉnh, và trong tình trạng đó, tất cả các giải pháp trên sẽ không thể nào và không bao giờ thành hiện thực, bởi vì tất cả các giải pháp Open Access, OARE hay HINARI đều dựa vào internet. Do đó, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải trước hết kiện toàn hệ thống internet và thư viện. Nếu chưa có hai cơ sở vật chất này, chúng ta chưa thể thảo luận gì được với các nhóm mà tôi vừa nêu.  Vì thiếu thông tin, cho nên rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học chỉ đơn thuần lặp lại những gì người khác đã làm. Phần lớn các nghiên cứu y học ở trong nước mà người viết có dịp điểm qua đều lặp lại những gì những nhà nghiên cứu nước ngoài, thậm chí trong nước, đã làm từ hơn 20 năm về trước. Nói cách khác, vì thiếu thông tin cho nên chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta còn thấp, và đó cũng chính là một trong những lí do tại sao các công trình nghiên cứu ở nước ta rất ít xuất hiện trên các tập san khoa học quốc tế.  Thiếu thông tin cũng có thể dẫn đến hao tổn ngân sách một cách không cần thiết.  Chẳng hạn như năm ngoái, có người đề nghị tiến hành một nghiên cứu với ngân sách 444 tỉ đồng nhằm nâng cao chiều cao người Việt, vì theo họ, “so với người trưởng thành ở Nhật Bản cùng nhóm tuổi thì người Việt Nam vẫn còn thấp hơn 10cm” (Thanh Niên Online 13/3/2006) và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố di truyền đến chiều cao chỉ 23%. Nhưng các thông tin làm cơ sở cho dự án nghiên cứu này không đúng. Chỉ cần truy nhập vào thư viện y khoa quốc tế, có thể thấy ngay rằng sự khác biệt về chiều cao trong một quần thể do các yếu tố di truyền ảnh hưởng từ 65% đến 87%. Ngoài ra, chiều cao hiện nay ở người Việt cũng tương đương với chiều cao ở người Nhật, Trung Quốc và Thái Lan.  Nếu có đầy đủ thông tin thì ý tưởng của dự án đó đáng lẽ không nên có, chứ chưa nói đến việc viết thành một đề án!   Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp chống tham nhũng trong khoa học      Giải ph&#225;p để ngăn ngừa nh&#224; khoa học chủ động n&#243;i dối, để chống tham nhũng trong khoa học l&#224; ti&#234;u chuẩn đ&#225;nh gi&#225; c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu phải minh bạch v&#224; cải c&#225;ch qui tr&#236;nh quản l&#237;.     Bài “Cần có giải pháp ngăn ngừa những nhà khoa học thiếu trung thực” (Tia Sáng số 17 ngày 5.9) phản ảnh những điều mà những ai làm khoa học chân chính ở Việt Nam đều biết hay kinh qua. Thoạt đầu khi nghe bạn bè nói rằng ở trong nước làm nghiên cứu (hay “dự án”) chỉ là một hình thức cải thiện thu nhập cá nhân mà thôi, chứ không phải làm nghiên cứu khoa học, tôi bán tín bán nghi. Nhưng bây giờ thì tôi biết đó là một thực tế đã tồn tại qua nhiều năm. Ở nước ngoài không thiếu những trường hợp nhà khoa học gian dối và thiếu trung thực. Nhưng sự gian dối và thiếu trung thực của họ thường liên quan đến những vấn đề rất khoa học tính, như vặn vẹo dữ liệu theo ý mình, giả tạo dữ liệu, làm nghiên cứu ma, tác giả ma, v.v… chứ không liên quan đến tiền bạc như ở Việt Nam. Thật vậy, có lẽ đây là trường hợp đặc thù rất Việt Nam, bởi vì tôi chưa biết có nước nào trên thế giới mà nhà nghiên cứu có sử dụng tiền tài trợ để tăng thu nhập cá nhân.Đúng như nhận định của GS. Hoàng Tụy, không còn nghi ngờ gì nữa, đây là tham nhũng, với nghĩa lạm dụng chức quyền để cố ý làm trái pháp luật nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân.Vấn đề đặt ra là tại sao. Tại sao nhà khoa học tham nhũng? Tôi nghĩ giải thích rằng do thu nhập cá nhân thấp cũng có lí, nhưng đó là động cơ để tham nhũng hơn là nguyên nhân. Tôi nghĩ nguyên nhân chính là do thiếu những chuẩn mực khoa học cụ thể. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam được “nghiệm thu” bằng một buổi lễ khá màu mè, còn ở nước ngoài họ không có nghiệm thu, nhưng đòi hỏi nhà nghiên cứu phải báo cáo tiến độ của công trình nghiên cứu. Báo cáo tiến độ bao gồm những việc đã làm hay hoàn thành, bài báo khoa học công bố ở đâu, hay đào tạo bao nhiêu nghiên cứu sinh. Ở đây, bài báo khoa học rất quan trọng, vì không có cái này là xem như công trình nghiên cứu thất bại. Nếu ở Việt Nam cũng làm theo qui trình này, thì nguy cơ tham nhũng có thể sẽ giảm đi nhiều. Nguyên nhân thứ hai là việc đánh giá đề tài nghiên cứu chưa được tốt. Ở ngoài này, một đề cương nghiên cứu thường được đánh giá (bình duyệt) bởi ít nhất là 2 chuyên gia trong ngành và một hội đồng chuyên ngành. Ở Việt Nam thì hình như chỉ có hội đồng chuyên ngành, mà không có bình duyệt (phản biện) độc lập của 2 chuyên gia ngoài hội đồng. Thật ra, trong bối cảnh khoa học Việt Nam hiện nay cũng rất khó mà chọn các chuyên gia vừa đủ uy tín khoa học (hiểu theo nghĩa có công bố quốc tế và có kinh nghiệm) và khách quan để đánh giá đề tài khoa học. Có lẽ vì lí do này mà việc tuyển chọn đề tài nghiên cứu phải phụ thuộc vào những mối liên hệ cá nhân (đồng nghiệp trong ngành đều quen biết nhau) và điều này là một cơ hội cho sự thiếu khách quan. Từ sự nể trọng và nhường nhau như thế được tích lũy dần theo thời gian nó tạo nên một mạng liên hệ thân hữu và dẫn đến “nhóm lợi ích” và chỉ có người trong nhóm này mới có cơ may xin tài trợ, còn người ngoài thì phải… chờ. Cũng trong nhóm này, người ta thay phiên nhau cung cấp tài trợ và nghiệm thu theo những tiêu chuẩn của họ đặt ra. Thật ra, ở nước ngoài này cũng có nhóm lợi ích, nhưng vì họ có hệ thống bình duyệt độc lập, nên tham nhũng ít xảy ra so với ở Việt Nam.Nguyên nhân thứ ba là do thủ tục tài trợ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam rất nhiêu khê và phức tạp. Nhìn vào thì thấy rất chặt chẽ, nhưng chẳng hiểu sao tình trạng bòn rút tiền Nhà nước cho nghiên cứu lại dường như dễ dàng với một số người. Bộ KH&CN cũng nhận ra điều này nên gần đây đã có nhiều cải cách tích cực, nhất là trong việc tài trợ cho NCCB.Ở ngoài này tôi thấy họ quản lí tiền bạc rất đơn giản, nhưng lại chặt chẽ. Cơ quan tài trợ trả tiền (thường từ 10% đến 15% tổng kinh phí công trình) cho phòng tài chính của trung tâm nghiên cứu quản lí tiền tài trợ. Chẳng hạn như nếu nhà nghiên cứu được tài trợ 100,000 USD thì cơ quan tài trợ phải rót 110,000 USD hay 115,000 USD cho trung tâm nghiên cứu. Số tiền này sẽ do phòng tài chính của trung tâm nghiên cứu quản lí, và phòng tài chính có nhiệm vụ chi tiền theo yêu cầu của nhà nghiên cứu. Nhưng phòng tài chính cũng có nhiệm vụ kiểm tra xem chi phí có đúng theo những gì nhà nghiên cứu hứa trong đơn xin tài trợ hay không. Do đó, nếu trong đơn xin tài trợ không có khoản lương bổng, thì không cách gì nhà nghiên cứu bòn rút số tiền đó cho lương bổng được.Tôi nghĩ giải pháp để ngăn ngừa nhà khoa học chủ động nói dối, để chống tham nhũng trong khoa học là tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu phải minh bạch và cải cách qui trình quản lí.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp đầu tiên: tìm ra những nhà quản lý KH giỏi      Với cách nhìn nhận của riêng mình, tôi xin nêu lên một vài ý kiến đánh giá như sau về tình hình khoa học nước nhà và nêu ra một số giải pháp để chúng ta cùng suy nghĩ:    Nhược điểm cơ bản  Nhược điểm cơ bản nhất trước tiên thuộc về năng lực và trách nhiệm của các nhà quản lý. Vì nhiều lý do trong đó có cả danh vọng và quyền lực khiến họ dễ hành động sao cho có lợi cho bản thân, không chú ý đúng mức đến phát triển nghiên cứu khoa học chân chính, thiên về chủ nghĩa hình thức, cào bằng giữa kết quả công bố trên các tạp chí quốc tế được xếp hạng bởi ISI và các “tác phẩm” đăng trên các tuyển tập hội nghị khoa học trong nước. Điều này dễ nhận biết qua các “luật sân chơi” như các tiêu chuẩn xét phong chức danh khoa học đối với giáo sư và nghiên cứu viên các loại, các tiêu chí tuyển chọn đề tài, cất nhắc cán bộ, v.v…  Với phương tiện truyền thông ngày nay chúng ta có thể dễ dàng kiểm chứng được đẳng cấp của các nhà khoa học, chẳng hạn như trang web được nhiều người biết đến http//scholar.google.com. Nó cho phép ta có thể định lượng được số phần trăm “học thật” của các “học giả”. Từ đây ta có thể lọc ra số bài báo đăng trên các tạp chí được liệt vào danh sách xếp hạng bởi ISI của mỗi nhà khoa học. Có thể nói đến 90% số người với đủ loại chức danh cao không viết nổi một bài báo khoa học theo đúng chuẩn mực, một tỷ lệ “phế phẩm” khá lớn. Ấy thế nhưng người ta lại tổ chức những buổi lễ trao bằng cấp, công nhận chức danh rất hoành tráng tại những nơi được xem là có uy nghiêm như Văn Miếu. Họ muốn nói lên điều gì? Phải chăng là muốn nhắn nhủ các thế hệ con cháu phải noi gương các bậc tiền bối đang nằm trên các lưng rùa kia: “Học và thi đỗ để ra làm quan”. Tuy vậy thời điểm lịch sử thì đã quá khác biệt rồi. Thời của các bậc tiền bối chỉ yêu cầu đến thế, còn thời đại ngày nay hẳn phải khác xưa: học lấy bằng Tiến sĩ để nghiên cứu khoa học chứ không phải để chơi chữ và làm quan. Từ đây tôi thấy rất ái ngại cho đề án 20,000 Tiến sĩ cho 10 năm tới. Nó vừa thật lại vừa giả, thật đó là con số, còn giả ở phía  người sở hữu tấm bằng kia. Chúng ta còn thấy gì nữa ở mặt tồn tại này? Đó là các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, còn thiếu nhiều chuẩn mực xác đáng cho việc tuyển chọn và nghiệm thu và tệ hại hơn nữa đó là sự phân bố kinh phí tùy tiện, không hợp lý. Điều này cũng dễ hiểu, bởi do sự phân bố của 90% kia trong các hội đồng. Như thế đề tài khoa học cũng chỉ là “trò chơi” để kiếm của “trời cho”.Về mặt bố trí cơ cấu lãnh đạo trong các cơ quan khoa học, chắc hẳn còn nhiều chuyện để bàn. Sự đề bạt cán bộ chủ yếu do sự dàn xếp của một số người nào đó, thông thường sự ưu ái đặc biệt sẽ dành cho các nhân vật có công theo cung phụng bấy lâu. Còn đối với những người có thành tích thật sự trong nghiên cứu khoa học, không ngừng nâng cao năng lực để tiếp cận và đạt đến trình độ quốc tế thì thường bị ganh ghét, đố kỵ, khiến họ phải sống thu mình trong không gian chật hẹp và luôn canh chừng sự “quan tâm” của các đồng nghiệp. Quả là trong thế giới của người say thì người tỉnh mới chính là người say.  Những hệ lụy          Theo bảng xếp loại về chỉ số phát triển con người (HDI) của chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tiến hành năm 2006 thì Việt Nam đạt 0.709 điểm, đứng vào vị trí thứ 109 trên 177 nước tham gia từ 192 nước thành viên dựa trên số liệu của năm 2004.    Bảng xếp loại phân chia làm 3 nhóm quốc gia: nhóm có chỉ số cao (63 nước), chỉ số trung bình (83 nước) và chỉ số thấp (31 nước). Việt nam được xếp vào nhóm có chỉ số trung bình, đứng ngay sau Indonesia (0.711) và trước Kyrgyzstan (0.705). Chỉ số này dựa vào các tiêu chí tuổi thọ, học vấn và thu nhập tính theo GDP bình quân đầu người, nó cung cấp một sự đánh giá khái quát về sự phát triển con người của một quốc gia. Theo báo cáo mới đây nhất, Việt nam vẫn tiếp tục duy trì được thứ hạng của mình và chứng tỏ có sự nổ lực đáng kể trong những năm vừa qua. Ngoài ra còn nhiều chỉ tiêu đánh giá khác đặc biệt chú trọng đến phát triển giáo dục và nghiên cứu khoa học, chẳng hạn chỉ tiêu đánh giá về sự cởi mở, đa dạng và những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu của các trường đại học trên toàn thế giới được công bố bởi Tạp Chí Newsweek (năm 2006) đã xếp loại 100 Đại học hàng đầu, trong đó đại học Harvard vẫn liên tiếp dẫn đầu bảng xếp hạng. Các vị trí từ 1-10 có đến 8 trường đại học của Mỹ và 2 trường đại học của Anh: Đại học Cambridge đứng thứ 6/100 và Oxford đứng thú 8/100. Châu Á chiếm 11 trường trong bảng xếp loại: Nhật (5 trường: Tokyo, Kyoto, Osaka, Tohoku và Nagoya), Hồng Kông (3), Trung Quốc lục địa (1), Ấn độ (1) và Israel (1). Tỷ lệ các tiêu chí để xếp loại gồm 50% kết quả được dựa trên ba yếu tố về số lượng các nhà nghiên cứu cao cấp trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, số lượng bài viết xuất bản trên tạp chí quốc tế có uy tín; 40% dựa theo các tiêu chí phần trăm các khoa quốc tế và sinh viên quốc tế, sự đánh giá của các thành viên trong khoa và tỉ lệ khoa trên sinh viên và 10% còn lại là số lượng đầu sách trong thư viện.    Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân tố khoa học và giáo dục luôn luôn là cơ sở cho các chỉ tiêu đánh giá về chỉ số HDI.          Hậu quả trực tiếp từ những nhược điểm nêu trên sẽ là sự thất vọng và mất niềm tin trong mỗi người đối với sự nghiệp nghiên cứu khoa học chân chính, hoài nghi bản thân và mục đích đang theo đuổi. Từ đó dẫn đến tâm lý ngại đấu tranh, ngại chia sẻ, phó mặc cho sự đời đang nổi trôi. Đây chính là lúc thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội có đất để phát triển. Con người trở nên tầm thường và nhỏ nhen trong cuộc sống và có xu hướng hùa theo đám đông vì mục đích mưu sinh. Đối với những người có đủ bản lĩnh, họ vẫn cứ miệt mài lao động khoa học, vẫn công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế. Nhưng tiếc thay hành động đó không được đáp lại bằng sự hân hoan mà có khi là sự châm chọc, mỉa mai. Do đó nếu họ muốn được bình yên tồn tại thì hãy làm việc đơn lẻ và thầm lặng, vì đây cũng chính là cái gai trong mắt bao người khác. Rất nhiều giáo sư, tiến sĩ vẫn cố tình đánh đồng giữa công bố quốc tế và trong nước và họ lý giải rằng những người có công bố quốc tế là những người làm lý thuyết, còn họ không có công bố quốc tế vì họ làm thực tế! Thực tế nào vậy? Ai sẽ là người đánh giá cái được gọi là thực tế này? Trước hết việc giải quyết các bài toán được đặt ra bởi thực tế cũng phải dựa vào cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận định khoa học. Rõ ràng đây chính là kết quả nghiên cứu khoa học rồi, thế thì hãy công bố đi để có những nhà khoa học đủ trình độ đánh giá một cách khách quan. Nếu như chưa làm được điều đó thì xin hãy cố gắng, đừng ngụy biện. Nhưng tiếc thay họ còn không ít lần răn đe những người dám trái ý, rất đơn giản vì họ thuộc tầng lớp được gọi là “ủy viên hội đồng” trong cơ quan khoa học và nếu cần họ sẵn sàng sát phạt đối phương chỉ bằng lá phiếu cỏn con. Thế là xong! Còn nguy hại hơn nữa chính những cán bộ này sẽ là đại diện cho cơ quan khoa học để luận bàn các đại sự như thông qua việc xây dựng qui hoạch cán bộ khoa học của cơ quan, đơn vị mình.  Có lẽ đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho khoa học nước nhà chậm phát triển.  Giải pháp cấp bách  Có vẻ khôi hài nhưng cũng giống như chuyện khi chúng ta đi mua hàng, khi phát hiện ra bị cân sai việc đầu tiên là xem lại người cầm cân và tiếp đến là chuẩn mực đo lường của chiếc cân. Như vậy để có một nền khoa học phát triển yếu tố đầu tiên chúng ta cần phải tìm ra những nhà quản lý khoa học giỏi, có tâm huyết, đủ nhìn xa trông rộng, không quanh quẩn với chiếc ghế của mình và biết lắng nghe để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời. Nhất thiết phải tổ chức lại các đơn vị nghiên cứu khoa học hiện nay sao cho hoạt động có hiệu quả, có thưởng phạt công bằng. Đây là việc hết sức khó khăn trong bối cảnh hiện nay, vì con số cán bộ nghiên cứu lên đến hàng trăm ở mỗi cơ quan. Do đó phải có chuẩn mực rõ ràng đối với các chức danh khoa học để dần phân loại ra những người không phù hợp với công việc chuyên môn.  Xin mạo muội đưa ra một số tiêu chuẩn để chúng ta cùng suy nghĩ:  Cụ thể yêu cầu đối với chức danh GS, NCVCC cần có 2 bài báo (ISI) trong 5 năm cuối, đối với PGS, NCVC cần 1 bài báo (ISI) trong 5 năm cuối và đối với NCV phải có công bố (ISI) trong vòng 10 năm trở lại. Số cán bộ không đạt yêu cầu nên cho về hưu hoặc chuyển đổi công tác phù hợp, nhưng phải chú ý đến đời sống của họ. Có như vậy họ mới không cảm thấy bị bỏ rơi và yên tâm với vị trí công tác mới. Khi đã tạo dựng được đội ngũ khoa học hãy nuôi sống họ bằng đồng lương và tạo điều kiện cho họ học tập nâng cao trình độ thông qua các mối quan hệ hợp tác quốc tế. Phải có chính sách khen thưởng thỏa đáng về thành tích chuyên môn thông qua các công bố quốc tế mà họ đã đạt được, cần có chính sách trọng dụng số người đã từng học tập và làm việc ở các nước tiên tiến. Sự đề bạt chức vụ khoa học cũng cần phải xem xét nghiêm ngặt hơn để tránh những phần tử cơ hội. Yêu cầu tối thiểu đối với các chức vụ từ phó phòng ở các cơ quan nghiên cứu là phải có công bố quốc tế độc lập trong vòng 5 năm tính đến thời điểm hiện tại. Có như thế họ mới đủ khả năng lãnh đạo chuyên môn và dìu dắt các thế hệ đi sau trong nghiên cứu khoa học. Khi thu nhập của người ăn lương đã được bảo đảm, nhà nước sẽ không cần tốn tiền của cho các loại đề tài khoa học phân tán như hiện nay, mà chỉ tập trung vào các dự án trọng điểm và kinh phí chỉ dành cho nghiên cứu chứ không phải dành cho việc cứu đói như hiện nay. Đối với chính sách hưu trí phải giải quyết nghỉ hưu dứt điểm, không nên xử dụng các chức danh GSPGS hiện tại để mời ở lại thêm 5 năm. Đó chính là yếu tố đã tạo động cơ cho dòng người chạy theo thành tích ảo trong bao năm qua. Nếu cần thiết nên mời những nhà khoa học có cống hiến thật, chẳng hạn có từ 10 công bố quốc tế (ISI).  Có như thế nạn loạn bằng cấp và chức danh khoa học dởm mới được chữa trị tận gốc và chắc rằng trong 10 năm tới sẽ có thêm nhiều công bố khoa học đúng nghĩa và khoa học công nghệ Việt Nam sẽ được biết đến nhiều hơn trong thời đại hội nhập.  TS. Đặng Hữu Chung – Hà Nội      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp lựa chọn phát triển đô thị      Sự phát triển của thành phố trong quá trình công nghiệp hóa là quá trình tự thân. Nhà nước tổ chức bước đầu, sau đó, chính thành phố tự lớn lên. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, công nghiệp và dịch vụ thu hút về tập trung ở thành phố do cơ sở hạ tầng thuận lợi, dịch vụ phát triển và nguồn nhân công chất lượng cao. Kinh tế tăng trưởng nhanh hơn tạo nên khác biệt rõ rệt về thu nhập và mức sống giữa đô thị với nông thôn. Đến giai đoạn sau, khi giá lao động, giá đất đai, vốn liếng ở đô thị cao hơn hẳn, cơ chế thị trường tiếp tục hút mọi nguồn tài nguyên toàn quốc chảy về đô thị.    Ở nông thôn xảy ra quá trình ngược lại, giá nông sản rẻ, giá vật tư và tài nguyên đắt lên khiến khả năng cạnh tranh của nông sản giảm dần, đầu tư cho công nghiệp đô thị có lợi nhuận ngày càng cao thu hút dần vốn cho nông nghiệp, tăng trưởng sản xuất nông nghiệp giảm, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp, đẩy lao động nông thôn ra thành phố làm việc làm cho dân số ở các thành phố Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh tăng vọt. Ở các thành phố này, kết cấu hạ tầng (điện, nước, nhà ở, giao thông, môi trường,…) trở nên quá tải khiến nhà nước và các nhà đầu tư thi nhau bỏ vốn phát triển và thành phố càng lan rộng quy mô, bất chấp cân bằng chung, lợi ích chung.  Với tình trạng 70% nhà máy chính nằm ở thành phố từ cuối thập kỷ trước và đến hôm nay, gần 70% đầu tư công nghiệp vẫn chỉ tập trung ven TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội thì sức kéo nhân lực, đất đai về của các thành phố này thật là to lớn. Đến 2006, sản xuất nông lâm ngư nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của gần 70% hộ nông thôn, trong hòan cảnh tăng trưởng sản xuất nông nghiệp liên tục chậm lại: 1995-2000, GDP nông nghiệp tăng 4%, 2000-2005 giảm xuống 3,7% và năm 2006 còn 2,8% thì sức đẩy lao động ra từ nông thôn cũng thật ghê gớm. Rõ ràng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang phình ra không thể cưỡng lại. Những khó khăn hôm nay là khúc dạo đầu, tai vạ chính là ở tương lai, khi 2 thành phố này trở thành đô thị khổng lồ, thậm chí siêu đô thị.   Để thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn trên, các nhà quy hoạch phát triển không chỉ Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, mà của đô thị Việt Nam nói chung rất cần có những giải pháp như xây dựng các đô thị vệ tinh, phân cấp cho các đô thị cấp dưới, phân tán cư dân và công trình đô thị về nông thôn. Thực tế cho thấy các giải pháp trên rất hiệu quả. Một ví dụ điển hình là trường hợp Đài Loan. Nhờ kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh trong cả nước, giao thông và dịch vụ tốt, khuyến khích các ngành công nghiệp xây dựng nhà máy ở nông thôn để tận dụng lao động và đất đai rẻ. Mười năm 1956-1966, Đài Loan cất cánh phát triển kinh tế, xuất hiện một hiện tượng đảo ngược là tỷ lệ lao động công nghiệp ở thành phố giảm từ 43% xuống 37%. Năm 1971, 61% hàng tiêu dùng công nghiệp được sản xuất bên ngoài 5 thành phố lớn. Ngòai 17% công nhân thực sự rời làng lên thành phố, hầu hết lao động ở lại nông thôn hàng ngày đi làm việc ở nhà máy. “Li nông bất li hương” (không làm nông nhưng vẫn ở quê), thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nông hộ từ 13% năm 1952 tăng lên 69% năm 1979, không có khỏang cách thu nhập giữa nông thôn và đô thị. Đô thị cũng dãn về nông thôn để được hưởng môi trường trong lành và đất đai rộng rãi. Từ 1951-1972, dân số ở 5 thành phố lớn nhất chỉ tăng trong khỏang 18% – 27%.  Giải pháp lựa chọn dường như rõ ràng, nhưng quyết tâm chính trị phải rất lớn.    Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp thúc đẩy công bố quốc tế trong KHXH&NV?      Nhiều thảo luận gần đây xung quanh vấn đề công bố quốc tế trong khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) đều nhấn mạnh tính cấp thiết phải xuất bản quốc tế, đề cao và khuyến khích đăng các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế có chỉ số trích dẫn và ảnh hưởng khoa học cao. Tuy nhiên, để tìm giải pháp thúc đẩy, không thể chỉ bắt đầu từ “ngọn”, mà trước hết phải phân tích thực trạng và nguyên nhân sâu xa dẫn tới tình trạng yếu kém hiện nay.      Thời gian gần đây, nhiều viện, trường đã tổ chức các hội thảo, tập huấn để nâng cao năng lực công  bố quốc tế. Trong ảnh: GS Mark Turner, đến từ Đại học New South Wales đang tập huấn cho cán bộ, giảng viên của trường ĐH KHXH&NV Hà Nội vào tháng 4/2018.   Ảnh: Mỹ Nhân.  Những chuyển biến còn chậm chạp  Công bố quốc tế trước những năm 2000 của các nhà nghiên cứu KHXH&NV Việt Nam không chỉ đơn điệu, còi cọc về số lượng mà cũng yếu ớt về chất lượng. Những nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí quốc tế có uy tín phần lớn do các nghiên cứu sinh Việt Nam và người Việt ở nước ngoài thực hiện. Trong nhiều thập kỷ, chúng ta không đòi hỏi các nhà khoa học phải công bố quốc tế, lại có xu hướng coi thường các xuất bản quốc tế về khoa học xã hội do một nhận thức phi lý rằng chỉ những người có chung ý thức hệ và nhãn quan chính trị với phương Tây mới có công bố quốc tế.  Trên thực tế, chúng ta đã rời bỏ sân chơi học thuật quốc tế quá lâu và chỉ mới thức tỉnh vào đầu những năm 2000. Dù muộn màng, nhưng điều này cho thấy đã có một thay đổi quan trọng trong nhận thức, từ chỗ phủ định, coi thường, đến chỗ thừa nhận rằng chỉ có công bố quốc tế mới có thể định vị được chân giá trị của KHXH&NV Việt Nam.  Nhìn vào những con số thống kê ở các nguồn khác nhau, ở cả tầm vĩ mô và vi mô, đã thấy có những chuyển biến theo hướng tích cực khi số lượng và chất lượng bài báo khoa học công bố quốc tế đã tăng lên khá bền vững trong khoảng một thập niên qua. Đặt số lượng công bố thuộc danh mục web of science (ISI) của Việt Nam trong tương quan so sánh với các nước khối ASEAN, chúng ta thấy Việt Nam có số lượng công bố quốc tế ISI tăng dần, từ 190 bài báo (2013) đã tăng lên 487 bài (2018), xếp sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Công bố quốc tế ISI của Việt Nam trong 5 năm qua (2013-18) đã dịch chuyển từ hạng 66 (2013) lên hạng 49 của thế giới (2018) nhưng vẫn đứng sau ba nước Singapore, Malaysia và Thái Lan.  Một nhóm phân tích dữ liệu Scopus thuộc Đại học Thành Tây đã thu thập thông tin của 412 nhà khoa học Việt Nam có công bố khoa học trên hệ thống Scopus trong vòng mười năm qua (2008-2018).1 Nhóm này đã đối chiếu thông tin thu thập được từ các nguồn khác nhau để tìm hiểu về tác giả các bài viết và tình hình công bố của họ trên hệ thống dữ liệu Scopus. Nghiên cứu của nhóm này đã cung cấp một số thông tin đáng lưu ý về các nhà nghiên cứu Việt Nam có công bố khoa học trên hệ thống Scopus, chẳng hạn các tác giả có công bố quốc tế trên hệ thống Scopus chủ yếu nằm trong nhóm có tuổi nghề từ 15 đến 25 năm trong khi nhóm tuổi từ trên 40 có ít công bố quốc tế nhất; Sản lượng bình quân trong 10 năm qua chỉ là 3.6 bài/tác giả; Có tới 75% các tác giả chưa từng có bài nghiên cứu độc lập nào trong năm qua. Vai trò chủ đạo của các tác giả trong bài báo thấp, chỉ ở mức 1,77 bài…2      Số bài viết đã tăng lên nhưng vẫn chủ yếu tập trung ở một số tác giả nhất định là những người đã từng được đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, phần đông thuộc nhóm tuổi từ 30 đến 50, và thường xuyên có bài công bố quốc tế.      Tìm hiểu trường hợp cụ thể như trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG Hà Nội có thể cung cấp cho chúng ta một cái nhìn rõ hơn về xu hướng công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXHNV. Số liệu thống kê trong quãng thời gian 9 năm (2010-2018) cho thấy công bố quốc tế của trường ĐH KHXH&NV đã tiến một bước dài ngoạn mục, từ chỗ chỉ có 7 công bố quốc tế vào năm 2010 đã tăng lên 79 bài vào năm 2018. Đặc biệt, số lượng bài báo thuộc danh mục ISI/Scopus đã tăng lên rõ rệt, từ chỗ không có bài nào vào năm 2010 tăng lên 22 bài vào năm 2018, cho thấy công bố quốc tế không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng bài viết cũng được nâng lên rất đáng kể.  Tuy nhiên, có một thực tế là số bài viết đã tăng lên nhưng vẫn chủ yếu tập trung ở một số tác giả nhất định là những người đã từng được đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, phần đông thuộc nhóm tuổi từ 30 đến 50, và thường xuyên có bài công bố quốc tế. Chẳng hạn, trong năm học 2017-2018 là năm trường có số bài công bố quốc tế nhiều nhất cũng mới chỉ có 54 cán bộ tham gia viết bài (là tác giả hoặc đồng tác giả) của 79 bài công bố quốc tế, trung bình 1.5 bài/tác giả, tuy có người công bố từ 3 đến 4 bài viết quốc tế/năm. So với tiềm lực của trường gồm 344 giảng viên, trong đó có 70 phó giáo sư, 5 giáo sư, 133 người có học vị tiến sỹ và 147 người có học vị thạc sỹ thì số người có công bố quốc tế vẫn còn rất khiêm tốn.  Tuy nhiên, những chuyển biến này dường như chưa có sức lan tỏa rộng trong học giới. Trong các ngành có số lượng công bố thấp nhất trên hệ thống Scopus, khoa học xã hội đứng ở thứ hạng áp chót, 13/14 nhóm ngành có ít bài viết nhất (Nhóm NC Đại học Duy Tân, 2018).3 Có một thực trạng đáng buồn là còn khá nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội vẫn xa lạ với công bố quốc tế, không những không có ý niệm gì về các tạp chí khoa học quốc tế mà “mỗi năm viết hai bài đăng tạp chí trong nước còn chật vật” (Nguyễn Thị Hiền, 2016)4.  Nguyên nhân từ đâu?  Trên cơ sở tham khảo các ý kiến đã phát biểu của các nhà khoa học và từ trải nghiệm của chính trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, chúng tôi tạm thời quy các nguyên nhân về một vài nhóm cơ bản dưới đây.  Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa của thực trạng yếu kém trong công bố quốc tế của lĩnh vực KHXH&NV nằm ở quá trình đào tạo ra các nhà nghiên cứu, từ bậc đại học đến cao học và tiến sỹ. Mặc dù việc xây dựng đại học nghiên cứu đã được xới xáo lên từ lâu, nhưng ở hầu hết các trường đại học, chương trình đào tạo và phương pháp đào tạo vẫn duy trì như mấy thập kỷ trước. Chúng ta chưa thực sự chuyển đổi phương thức đào tạo theo hướng nghiên cứu mà vẫn nặng về cung cấp thông tin và kiến thức một chiều trong khi người học thường tiếp thu tri thức thụ động, ít sáng tạo, ít tương tác giữa các sinh viên và giữa sinh viên với giảng viên, và đặc biệt là thiếu tinh thần phê phán khoa học. Cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin khoa học bên ngoài bài giảng rất hạn chế trong khi những kỹ năng và phương pháp nghiên cứu, viết bài khoa học thường không được chú trọng ở nhiều môn học và ngành học. Do không được làm quen với cách tiến hành một nghiên cứu khoa học, trình bày kết quả nghiên cứu và kỹ năng viết một bài báo khoa học nên họ thường rất lúng túng khi bắt tay vào làm nghiên cứu khoa học sau khi ra trường.      Tình trạng yếu kém của các tạp chí khoa học có tác động không nhỏ đến yêu cầu phải công bố quốc tế.      Thứ hai, tầm quan trọng và tính cấp thiết của công bố quốc tế chưa thực sự được nhận thức một cách nghiêm túc, ở cả cấp độ người quản lý khoa học và nhà nghiên cứu. Cho đến nay, ngoài Quỹ NAFOSTED và một vài đại học lớn đã rất quyết liệt trong việc yêu cầu người nhận tài trợ nghiên cứu phải công bố quốc tế,5 các đơn vị tài trợ khoa học khác dường như vẫn chỉ xem yêu cầu này như một tiêu chí tham khảo có tính hình thức ngay cả khi tiêu chí này đã được hạ xuống mức thấp nhất. Nhiều đề tài khoa học thường đặt bài giải quyết các vấn đề cụ thể của ngành hoặc của đơn vị trong khi các đề tài khoa học bị xé nhỏ, không thành một chỉnh thể khoa học, làm mất đi tính sáng tạo khoa học và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo đề tài. Những biện pháp khen thưởng (bằng cả vật chất và tinh thần) ở một vài cơ quan khoa học và trường đại học chủ yếu vẫn là để khích lệ hơn là đã trở thành một chính sách quốc gia được phê duyệt và vận hành trong toàn bộ hệ thống nghiên cứu và đào tạo.  Thứ ba, vấn đề ngoại ngữ thường được nêu lên như một rào cản chính của công bố quốc tế. Đó là một thực tế không thể xem nhẹ. Phần đông cán bộ làm công tác nghiên cứu ở các cơ quan khoa học và trường đại học hiện nay được đào tạo trong nước. Họ ít có cơ hội tiếp cận các nguồn tài liệu nước ngoài, ít tham gia hội thảo khoa học và hợp tác quốc tế nên mơ hồ về cộng đồng khoa học thế giới và không cập nhật được những thảo luận hay phát hiện mới trong lĩnh vực mình nghiên cứu. Do không thường xuyên tiếp xúc với không khí học thuật quốc tế, cảm giác xa lạ và ngại ngần với công bố quốc tế là điều dễ hiểu. Trong chính sách tuyển dụng cán bộ khoa học và NCS làm luận án tiến sỹ, ngoại ngữ thường được đặt ra như một yêu cầu bắt buộc nhưng vẫn ở mức thấp và có tính hình thức.    Khai quật di tích Luy Lâu. Ảnh: Thu Nhuần/ Trung tâm lưu trữ quốc gia 1.  Thứ tư, tình trạng yếu kém của các tạp chí khoa học có tác động không nhỏ đến yêu cầu phải công bố quốc tế. Các tạp chí khoa học trong nước nhận đăng bài báo khoa học còn dễ dãi từ khâu tuyển chọn bài, bình duyệt, sửa chữa và nâng cao chất lượng. Các hội đồng biên tập và biên tập viên thường soi xét và cắt bỏ những yếu tố được cho là có “nhạy cảm chính trị” hơn là tập trung vào nội dung chuyên môn khi ra quyết định cho đăng bài. Các bài viết thường ngại ngần nêu ra các tranh luận khoa học và không đưa nghiên cứu của mình hội nhập vào những quan tâm chung đang được các học giả khác thảo luận. Tình trạng thiếu chuẩn mực quốc tế và ít được đổi mới của các tạp chí khoa học trong nước tạo ra một lối mòn, một kiểu tư duy dễ dãi trong viết bài và cách làm như vậy dẫn đến quan niệm về sự khác biệt, về tính đặc thù Việt Nam thay vì tuân theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, làm cho chất lượng công bố khoa học chỉ còn là hình thức mà thiếu chất lượng thực sự.      Cuối cùng là sự hợp tác quốc tế và tạo dựng bầu không khí học thuật trong giới chuyên môn. Thực tế là hằng năm chúng ta tổ chức rất nhiều hội nghị hội thảo và seminar khoa học có sự tham gia của các học giả quốc tế. Tuy nhiên, những hoạt động này dường như còn nặng về hình thức mà không quan tâm đến hiệu quả thiết thực là đầu ra của sản phẩm khoa học. Tình trạng “chợ chiều” (sáng đông chiều vắng) thấy có ở nhiều hội thảo khoa học. Các nhà nghiên cứu đến để phát biểu và ra về, rất ít tranh luận và phản biện khoa học được nêu ra, làm cho hội thảo trở nên nhàm chán và vô bổ. Kinh nghiệm cho thấy các đề tài hợp tác nghiên cứu có sự tham gia của học giả quốc tế (người lãnh đạo, tham gia hoặc làm cố vấn trực tiếp) thường mang lại hiệu quả cao với kết quả là các công bố quốc tế. Tuy nhiên, có lẽ do kinh phí hạn hẹp nên những đề tài dạng này thường được hỗ trợ từ nước ngoài trong khi các nhà tài trợ trong nước còn rất dè dặt.  Đề xuất giải pháp  Làm thế nào để khắc phục nguyên nhân gây ra tình trạng yếu kém đã nói ở trên? Theo chúng tôi, có năm nhóm giải pháp cần được tiếp tục và mở rộng.      Cần thay đổi căn bản đào tạo ở đại học theo hướng nghiên cứu thay vì vẫn duy trì hình thức giảng dạy kiểu truyền đạt tri thức một chiều đã trở nên xưa cũ.      Trước tiên, công bằng mà nói, trong khoảng một thập niên qua, chính sách khen thưởng bằng tiền mặt nhằm hỗ trợ thúc đẩy công bố quốc tế đã đưa lại hiệu quả tích cực. Trường Đại học KHXH&NV ngay từ 2010 đã có chính sách khen thưởng công bố, hỗ trợ từ 5 đến 10 triệu/bài viết được công bố quốc tế, và 15 triệu/bài đăng trên tạp chí có chỉ dẫn index cao thuộc nhóm ISI và Scopus. Năm 2018, trường đã ra quyết định hỗ trợ từ 100 đến 200 triệu đồng cho các sách chuyên khảo và kỷ yếu khoa học được công bố quốc tế. Nhờ có những chính sách kịp thời, mạnh mẽ như vậy mà số lượng và chất lượng công bố của nhà trường đã tăng nhanh thời gian qua. Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng giải pháp này cần được hỗ trợ bằng một loạt các quy định khác như tăng lương, bổ nhiệm chức danh khoa học GS và PGS, tài trợ các dự án nghiên cứu khoa học và tham gia hội thảo quốc tế, tiếp xúc học thuật để duy trì tác động bền vững. Nhiều trường đại học trong khu vực ASEAN và Đông Á cũng sử dụng đòn bẩy kinh tế này để thúc đẩy công bố quốc tế. Đối với các dự án nhận nguồn hỗ trợ tài chính từ công quỹ, cần có chính sách cụ thể yêu cầu nhà nghiên cứu khi nhận tài trợ phải cam kết công bố kết quả ở các tạp chí khoa học quốc tế thay vì tổ chức nghiệm thu rồi cất vào tủ như đã và đang làm. Tất nhiên những đề tài khoa học liên quan an ninh quốc gia cần có những quy định riêng.      Thứ hai, về lâu dài, cần thay đổi căn bản đào tạo ở đại học theo hướng nghiên cứu thay vì vẫn duy trì hình thức giảng dạy kiểu truyền đạt tri thức một chiều đã trở nên xưa cũ. Sinh viên từ năm thứ ba trở đi cần được khuyến khích làm các đề tài khoa học trong khuôn khổ đào tạo theo phương pháp “project-based learning”, vừa học vừa thực hành nghiên cứu và làm báo cáo khoa học dưới sự hướng sẫn của các giáo sư. Thông qua các đề tài nghiên cứu như vậy mà sinh viên học được phương pháp, tiếp cận thông tin mới, học cách tranh luận khoa học, và đủ tự tin sau khi ra trường tham gia vào các đề tài khoa học. Bên cạnh đào tạo chính quy, các trường, viện nghiên cứu và tạp chí khoa học nên mở các lớp tập huấn định kỳ hoặc thường xuyên về phương pháp nghiên cứu và kỹ năng viết bài theo chuẩn mực quốc tế cho cán bộ nghiên cứu. Các chuyên gia quốc tế có uy tín có thể được mời để chia sẻ thông tin và hướng dẫn các kỹ năng cần thiết.  Thứ ba, các tạp chí khoa học trong nước cần chuyển mạnh sang hướng quốc tế hóa cả về nội dung bài vở, bình duyệt chuyên môn, kỹ năng biên tập, và tăng cường trao đổi với quốc tế qua những kênh trao đổi học thuật khác nhau. Cách làm này sẽ giúp khắc phục tình trạng dễ dãi như vẫn thấy trong việc đăng bài khoa học, và tập cho các nhà nghiên cứu viết bài có chuẩn mực, để họ không quá xa lạ với các thông lệ quốc tế. Thêm nữa, nên giao việc quản lý các tạp chí khoa học cho Bộ Khoa học và Công nghệ chủ quản thay vì được quản lý bởi Cục Báo chí tuyên truyền như hiện nay. Tạp chí khoa học có những yêu cầu khắt khe về chuyên môn và khác với hoạt động tuyên truyền của truyền thông, cần được quản trị bởi các hội đồng khoa học chuyên ngành.  Thứ tư, bên cạnh những yêu cầu về nội dung học thuật, cần có chính sách hỗ trợ về ngôn ngữ đối với các công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV. Viết bài bằng ngôn ngữ mẹ đẻ đã là một khó khăn, viết bằng ngoại ngữ để truyền đạt được tri thức của mình ra cộng đồng khoa học quốc tế và người nước ngoài hiểu được là một thách thức không hề nhỏ, ngay cả với những người được đào tạo bài bản ở nước ngoài. Khoa học xã hội không chỉ là câu chuyện, mà là ý tưởng, tư tưởng, lập luận, tranh luận bằng ngôn từ khoa học. Các tạp chí có chỉ số trích dẫn cao không bao giờ bỏ tiền để in những bài viết nghèo nàn và kém cỏi về ngôn ngữ. Thông thường, các tạp chí xuất bản bằng tiếng Anh có yêu cầu bắt buộc bài viết phải được đọc duyệt bởi chuyên gia về ngôn ngữ nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Kinh nghiệm một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản là các bài viết trước khi gửi cho một tạp chí, sẽ được một người nói tiếng bản ngữ đọc và biên tập về ngôn ngữ trước khi gửi cho người bình duyệt đọc. Sau khi bài viết được nhận đăng với yêu cầu chỉnh sửa, cần có người thông thạo thứ tiếng của bài viết, giúp biên tập lại theo ngôn ngữ chuẩn mực.  Thứ năm, tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế ở nhiều cấp độ khác nhau, từ tham gia hội thảo khoa học quốc tế, trao đổi chuyên môn, mở lớp tập huấn viết bài đến hợp tác nghiên cứu chung, là cách ngắn nhất để các nhà khoa học Việt Nam học được các kỹ năng cần thiết và làm việc trong bầu không khí học thuật theo chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh việc tìm kiếm các tài trợ khoa học từ bên ngoài, các quỹ tài trợ trong nước cũng nên có chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế, mở rộng mạng lưới quốc tế trong khoa học, đặc biệt là xuất bản quốc tế. Chính sách của NAFOSTED về hỗ trợ nhà khoa học tham gia vào các hoạt động khoa học quốc tế cho thấy đây là một kinh nghiệm tốt cần được nhân rộng.  Kết luận  Công bố khoa học thực ra chỉ là công đoạn cuối cùng trong một chuỗi các hoạt động nghiên cứu, nhưng công bố quốc tế là một hoạt động quan trọng và cần thiết để qua đó khẳng định chất lượng chuyên môn và sự minh bạch khoa học. Đối với khoa học xã hội thì công bố quốc tế không chỉ để phân phát tri thức Việt Nam ra cộng đồng khoa hoc, mà còn để giới thiệu đất nước con người Việt Nam ra thế giới, đồng thời tri ân những người đã đóng thuế để góp tiền cho hoạt động khoa học của mình. Và đấy chính là nhiệm vụ chính trị của một người làm công tác nghiên cứu khoa học.  Để nâng cao số lượng và chất lượng công bố khoa học, cần một loạt các giải pháp tương hỗ và những nỗ lực lâu dài, không chỉ từ phía các cơ quan quản lý khoa học mà còn cần sự hợp tác và nỗ lực vươn lên khẳng định mình của chính các nhà nghiên cứu. □  ——–  1 Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR, ĐH Thành Tây, 2018. Bức tranh sơ khởi về công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV; http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Buc-tranh-so-khoi-ve-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-KHXHNV-10965  2 Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR, ĐH Thành Tây, 2018 (đã dẫn)  3 Nhóm NC Đại học Duy Tân, 2018. Các trường đại học VN qua công bố quốc tế: Nhìn từ dữ liệu Scopus. Tiền Phong 16/8/2018.  4 Nguyễn Thị Hiền, 2016. Nghiên cứu KHXH & NV: Nguyên nhân khó công bố quốc tế. Tia Sáng, 29/9/2016.  5 Sau 10 năm vận hành, (2008-2018) NAFOSTED đã tài trợ gần 2.800 nhiệm vụ KH&CN, hỗ trợ 850 hoạt động nâng cao năng lực KH&CN quốc gia. Khoảng 4.000 bài báo ISI (chiếm khoảng một nửa tổng số bài báo ISI công bố quốc tế của cả nước 10 năm qua) là kết quả từ các đề tài do Quỹ hỗ trợ. Thông tin, theo Báo cáo của NAFOSTED tổng kết 10 năm hoạt động.  Các loại hình công bố trong KHXH&NV  Công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV Việt Nam không chỉ có nhiệm vụ giới thiệu với cộng đồng khoa học thế giới những tri thức do các nhà khoa học Việt Nam sản xuất ra mà còn có bổn phận giới thiệu lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam ra với thế giới trên cơ sở những nghiên cứu khoa học có chất lượng cao. Bởi vậy, có thể nhận diện các hình thức công bố khoa học của nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV ở các loại hình công bố sau đây: 1) Các bài đăng trong kỷ yếu hội nghị khoa học (proceedings), các nghiên cứu còn đang trong quá trình hoàn thiện nhưng được in ấn dưới dạng các bài nghiên cứu để đưa ra cộng đồng khoa học xin ý kiến (working papers). Thuộc nhóm này còn có các bài điểm sách (book reviews) hoặc những phân tích tổng quan (literature overviews) có tính phê phán khoa học. Hầu hết các bài viết được công bố dưới các hình thức này đều đã trải qua khâu bình duyệt nhưng ở mức độ vừa phải, chủ yếu là bình duyệt trong nội bộ nhóm nghiên cứu hoặc cơ quan xuất bản (internal reviews). Cần lưu ý rằng các bài viết dạng này, dù chưa chính thức nhưng nó thường cập nhật nhanh nhất kết quả nghiên cứu của cá nhân hay nhóm đến người đọc. 2) Các bài báo khoa học (articles). 3) Các chương sách (book chapters) xuất bản trong một tập sách (edited volume) về một chủ đề nhất định. 4) Sách chuyên khảo (monograph) tập trung vào một chủ đề nhất định, thường là kết quả nghiên cứu chuyên sâu và dài hơi sau nhiều năm của nhà khoa học. 5) Sách tham khảo (reference book), giáo trình (textbook), các bài giảng (lectures) và từ điển bách khoa hoặc chuyên ngành (encyclopedia). 6) Cuối cùng, phải kể đến các bài phân tích có tính phản biện hoặc đề xuất chính sách (policy relevance papers), được phát triển trên cơ sở các nghiên cứu ứng dụng nhằm phục vụ các chương trình phát triển và đường lối chính sách của chính phủ hoặc cộng đồng. Các bài viết này có thể được đăng ở những tạp chí khoa học có uy tín hoặc tạp chí phổ thông (magazine) có nhiều độc giả. Nó thường chịu sự bình duyệt và biên tập trong nội bộ tạp chí, nhưng cập nhật những vấn đề có tính thời sự, thường thu hút lượng độc giả đông đảo và tác động xã hội lớn.  Một vấn đề cần được lưu tâm khi xem xét công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội là tác động xã hội của bài báo và các xuất bản trên loại hình tạp chí mở (open access). Như đã nói, công bố quốc tế là cần thiết vì nó cũng giống như một thứ chứng chỉ khẳng định giá trị và ý nghĩa khoa học của một công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu một bài báo khoa học xã hội và nhân văn đăng trên tạp chí thuộc Web of Science (ISI) hay Scopus mà không có trích dẫn hoặc chỉ có vài người thuộc chuyên ngành hẹp đọc thì tác động xã hội của nghiên cứu ấy chỉ hạn hẹp trong giới chuyên môn và ít có giá trị lan tỏa xã hội. Đối với khoa học xã hội và nhân văn thì tác động xã hội của bài viết, nhất là các bài báo phản biện xã hội và đề xuất chính sách, sẽ có tác động xã hội lớn hơn nếu được nhiều người đọc hơn.      Author                Phạm Quang Minh - Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Giải thiêng về tuổi già      Tăng trưởng dân số thế giới hiện nay đang cao ở mức khác thường so với lịch sử và sẽ không thể tiếp tục duy trì trong lâu dài. Nó gây ra những hậu quả to lớn với nhân loại: nạn nghèo đói gia tăng; những tài nguyên thiên nhiên thiết yếu cho sự sinh tồn của con người bị suy kiệt và ô nhiễm; xu hướng di cư từ các nước phía Nam lên các nước phương Bắc giàu có hơn.      Người già sửa chữa quần áo tại một trung tâm lao động dành cho người cao tuổi ở Tokyo, 18/12/2015. Ảnh: AFP.  Một số thực trạng  Tăng trưởng dân số thế giới1 hiện nay đang cao ở mức khác thường so với lịch sử và sẽ không thể tiếp tục duy trì trong lâu dài. Nó gây ra những hậu quả to lớn với nhân loại: nạn nghèo đói gia tăng; những tài nguyên thiên nhiên thiết yếu cho sự sinh tồn của con người bị suy kiệt và ô nhiễm; xu hướng di cư từ các nước phía Nam lên các nước phương Bắc giàu có hơn.  Theo những con số tuyệt đối, dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng theo quán tính trong một giai đoạn tương đối dài. Năm 2011 con số này đạt 7 tỷ người; theo Liên Hiệp Quốc, năm 2025 sẽ vượt 8 tỷ người, và vào khoảng năm 2045 sẽ tới ngưỡng 9 tỷ. Để đảm bảo tính bền vững, mức tăng trưởng dân số trong dài hạn, tức tỷ lệ sinh trừ đi tỷ lệ tử, chỉ nên xấp xỉ mức 0%.  Mức tăng trưởng nhân khẩu không đồng đều ở mọi nơi trên địa cầu. Châu Á có 4,2 tỷ người, tức 60% dân số thế giới. Hơn 1,3 tỷ người sống ở Trung Quốc và 1,2 tỷ người ở Ấn Độ, gộp lại chiếm hơn một phần ba dân số thế giới. Trong tương lai, tỷ trọng dân số châu Á sẽ giảm trong khi dân số châu Phi tăng mạnh, đạt 2,2 tỷ người vào năm 2050, bằng 24% dân số thế giới. Từ nay tới năm 2050, số người sống ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ hơn 5,7 tỷ lên 8 tỷ.  Sự tăng trưởng dân số thế giới song hành với đô thị hóa toàn cầu: những năm 1950 chỉ dưới 30% dân số sống ở thành thị, ngày nay tỷ trọng này là trên 50% và tới năm 2050 sẽ đạt khoảng 66,7%. Trước năm 2007, trên thế giới, dân số nông thôn vẫn đông hơn ở thành thị, nay tương quan đã đảo ngược. Các đô thị khổng lồ xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới, mức độ di cư từ nông thôn ra thành thị cao chưa từng thấy. Hậu quả là các khu ổ chuột sinh sôi tràn lan.  Mặc dù dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng xét theo con số tuyệt đối, nhưng tỷ lệ tăng theo phần trăm đang giảm, hệ quả của ngày càng nhiều quốc gia trải qua giai đoạn chuyển tiếp, trong đó tỷ lệ sinh sản suy giảm. Ở châu Âu, từ vài thập kỷ trở lại đây, tỷ lệ sinh sản – tức số trẻ em trung bình trên mỗi phụ nữ – thấp dưới mức cân bằng. Ở các nước đang phát triển, giai đoạn chuyển tiếp đó diễn ra một cách gay gắt và trên diện rộng hơn, do tỷ lệ sinh sản giảm khi vốn đang ở mức rất cao.  Tỷ lệ tử vong và tỷ lệ sinh sản cùng giảm dẫn tới già hóa dân số. Tỷ trọng người già (trên 60 tuổi) trên thế giới tăng từ mức 9,2% năm 1990 lên 11,7% năm 2013 và sẽ đạt 21% năm 2050. Dự kiến lần đầu tiên trong lịch sử, số người già sẽ vượt số trẻ em vào năm 2047. Hiện tại, khoảng hai phần ba trẻ em trên thế giới sống ở các nước đang phát triển. Trẻ em sẽ ngày càng tập trung ở các nước kém phát triển, do dân số các nước đó tăng cao hơn các nơi khác.  Già hóa dân số gây ra hai hậu quả kinh tế – xã hội nghiêm trọng. Tỷ lệ trung bình số người trưởng thành trong độ tuổi lao động trên mỗi người già vốn đã thấp ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển, dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong những thập kỷ tới, tạo áp lực ngân sách dành cho hệ thống hỗ trợ, chăm sóc người già. Ở một số nước đang phát triển, tỷ lệ nghèo đói ở người già rơi vào mức cao, thậm chí cao hơn tỷ lệ nghèo của cả cộng đồng, đặc biệt với những nước nơi hệ thống an sinh xã hội còn hạn chế. Do đội ngũ lao động trong nước sụt giảm, chính phủ các nước vận động người dân làm việc lâu năm hơn, và khuyến khích nhập cư. Năm 2010, tỷ trọng lao động từ 65 tuổi trở lên chiếm 31% ở các nước kém phát triển, 8% ở các nước phát triển. Tuy tuổi thọ cao hơn, con người ngày càng phải chung sống với nhiều bệnh mãn tính như khớp, ung thư, tim mạch, các bệnh hô hấp và mất trí nhớ.      Cá nhân tôi tin rằng kéo dài sự sống trong cộng đồng là một điều tiến bộ nếu đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều người sống tới tuổi già trong tình trạng sức khỏe tốt, thay vì chúng ta chỉ đơn giản là cộng thêm tuổi thọ cho tất cả mọi cá nhân. Tiến bộ nghĩa là sống tốt hơn chứ không chỉ là lâu hơn; tiến bộ nghĩa là tăng thêm giá trị cuộc sống cho mỗi năm tháng chứ không phải là cộng thêm năm tháng vào cuộc sống.        Liên Hiệp Quốc đã công bố một số khuyến nghị nhằm ứng phó với già hóa dân số: các hệ thống y tế phải thích nghi để đáp ứng nhu cầu người già ngày càng đông; xóa đói giảm nghèo; tăng năng suất lao động và đảm bảo công ăn việc làm phù hợp; giảm bất bình đẳng ở/giữa các quốc gia; phát triển các đô thị và khu định cư an toàn, bền vững, cởi mở hơn.  Gia tăng tuổi thọ có phải là tiến bộ?  Như tôi trình bày vắn tắt trên đây, những tiến bộ y tế và vệ sinh đã giúp tuổi thọ trung bình của con người tăng đáng kể, kèm theo đó là bùng nổ dân số, dẫn tới những vấn đề cấp bách ở quy mô hành tinh: tài nguyên năng lượng, nước, lương thực – thực phẩm và sự phân phối, nạn ô nhiễm và biến đổi khí hậu, đô thị hóa, v.v, theo đó làm gia tăng đói nghèo, bất bình đẳng xã hội tới mức độ không thể chấp nhận.  Trên đây là hệ quả chung của việc gia tăng tuổi thọ trung bình, song bên cạnh hệ quả này còn có những ảnh hưởng khác tùy thuộc vào phương thức, cơ cấu gia tăng tuổi thọ trung bình. Để lý giải rõ hơn, tôi giả định một tình huống lý tưởng, khi tỷ lệ sinh tương đương tỷ lệ tử, nghĩa là dân số luôn không đổi, theo đó gánh nặng tiêu hao tài nguyên do con người gây ra cũng không đổi. Như vậy, chúng ta có thể gạt sang một bên vấn đề gia tăng quy mô dân số, chỉ tập trung vào so sánh ảnh hưởng từ những cách thức khác nhau dẫn tới gia tăng tuổi thọ trung bình. Về cơ bản có hai cách. Một là dịch chuyển các ca tử vong về phía nhóm người già, nghĩa là giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, cải thiện sức khỏe cho mọi nhóm lứa tuổi, và tiến tới kịch bản lý tưởng nơi mọi người cùng qua đời ở một độ tuổi. Cách thứ hai là tăng thêm tuổi thọ cho tất cả mọi người. Điều tôi muốn tranh luận ở đây là chỉ có cách thứ nhất mới có ý nghĩa tiến bộ đối với nhân loại, trái ngược với suy nghĩ lâu nay của chúng ta rằng mọi sự gia tăng tuổi thọ của con người đều có ý nghĩa tích cực.  Yếu tố nào cần xét đến ở đây? Như tôi đã đề cập, ở đây chúng ta không cần phải xét đến sự tiêu hao tài nguyên, bởi nó chỉ tỷ lệ theo quy mô dân số, vốn đã được giả định là không đổi. Điều chúng ta cần xét đến là những nhân tố như tuổi nghỉ hưu, độ tuổi mà một người không còn năng suất, độ tuổi khi phụ nữ không thể sinh sản, lượng thời gian cần thiết để giáo dưỡng một đứa trẻ, độ tuổi khi não người bắt đầu suy thoái, v.v. Đó là những nhân tố có thể giúp chúng ta xác định một tuổi thọ tối ưu cho đời người. Một số nhân tố trong đó có thể do chúng ta chi phối, ví dụ tuổi nghỉ hưu, còn lại các nhân tố khác nằm ngoài khả năng can thiệp của con người, ít ra là trong tương lai nhiều năm tới đây.  Để xác định điều gì là có lợi và điều gì có hại cho nhân loại, chúng ta cần một thang giá trị, một khung đạo đức mà mọi người có thể nhất trí. Trên thực tế, mỗi người có quan điểm riêng về những vấn đề như phòng tránh thai, phá thai, sự chết không đau đớn… Vì vậy, ở đây chúng ta cần nỗ lực tối đa để tiếp cận một kịch bản lý tưởng nơi mọi người có thể chia sẻ những giá trị đạo lý chung.  Cá nhân tôi tin rằng kéo dài sự sống trong cộng đồng là một điều tiến bộ nếu đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều người sống tới tuổi già trong tình trạng sức khỏe tốt, thay vì chúng ta chỉ đơn giản là cộng thêm tuổi thọ cho tất cả mọi cá nhân. Tiến bộ nghĩa là sống tốt hơn chứ không chỉ là lâu hơn; tiến bộ nghĩa là tăng thêm giá trị cuộc sống cho mỗi năm tháng chứ không phải là cộng thêm năm tháng vào cuộc sống.  Chúng ta nên tôn trọng những giá trị nhân văn và quyền bình đẳng, nhưng hãy cẩn trọng với sự giáo điều. Ví dụ, lập luận rằng sự sống phải được coi trọng một cách vô hạn, thậm chí thiêng liêng một cách vô hạn, tới mức không thể đong đếm bằng con số, theo tôi là điều không thể chấp nhận. Khi ta phải cân nhắc lựa chọn giữa cứu mạng hai đứa trẻ và cứu một đứa trẻ (ngoài ra không có thêm thông tin nào khác) thì rõ ràng ta phải quyết định lựa chọn thứ nhất. Tất nhiên, như vậy nghĩa là phải chấp nhận cái chết của một đứa trẻ.  Tương tự như vậy, tôi cho rằng mạng sống của một đứa trẻ có giá trị hơn của một người già. Nếu tôi chết đi ngày mai thì đó chỉ là mất đi vài năm tháng cuối đời; cha mẹ và nhiều bạn bè của tôi đã không còn, nên cái chết của tôi chẳng ảnh hưởng gì tới họ; tôi đã được hưởng phần của mình trong cuộc sống, những vui buồn và cơ hội hoàn thành giấc mơ cá nhân. Nhưng nếu một đứa trẻ ngày mai chết đi thì đó là mất mát nhiều thập kỷ đời người; cha mẹ và mọi người xung quanh em sẽ đau buồn sâu sắc; em sẽ không còn cơ hội hưởng thụ cuộc sống, thậm chí không có cơ hội mơ ước và phấn đấu; cái chết của em có thể coi là một bất công không thể chấp nhận, còn cái chết của tôi chỉ là một kết cục tự nhiên do số phận sớm muộn sẽ đến.  Xét rằng việc gia tăng tuổi thọ con người có thể mang đến không ít hệ lụy, chúng ta cần cân nhắc cái được/cái mất một cách nghiêm túc trước khi đưa ra những quyết định liên quan. Việc con người chấp nhận cái chết để bảo tồn tính nhân văn một cách tối đa trong điều kiện cho phép, theo tôi là điều chính đáng: Không nên có vùng cấm và sự giáo điều khi thảo luận điều này. Chúng ta nên thảo luận về cái chết không đau đớn và việc tự sát bằng lý trí khách quan; hãy lắng nghe một cách tôn trọng quan điểm của những kiến nghị cho phép những người đủ năng lực lý trí được thoát khỏi những đau đớn khôn cùng của những căn bệnh không thể điều trị, bằng cái chết tự nguyện dưới sự hỗ trợ của bác sỹ.  Thông điệp mà tôi muốn bày tỏ ở đây liên quan đến thế hệ chúng ta, những người già, chứ không nhằm vào xã hội hay các chính phủ. Chúng ta có quyền khi nói rằng mình chấp nhận cái chết, rằng thời khắc của mình đã đến, rằng sẽ tốt hơn cho những người thân xung quanh cũng như cho hình ảnh bản thân ta, cái còn lại trong ký ức họ.  Tôi không có hàm ý rằng chúng ta hãy bỏ ngoài tai khuyến nghị từ Liên Hiệp Quốc tới các chính phủ nhằm giảm nhẹ những khó khăn mà người già đang gặp phải, cho dù điều ấy làm tăng gánh nặng với xã hội. Điều tôi muốn nói đơn giản là chúng ta hãy thoát khỏi những tư duy giáo điều và những vùng cấm, suy nghĩ một cách lý trí thay cho cảm tính, hay tệ hơn là phi lý, và giải thiêng một cách tối đa những vấn đề liên quan tới tuổi già và cái chết.     Thanh Xuân dịch  ———  1 Đa số các số liệu từ nghiên cứu của J. Van Bavel, The world population explosion: causes, backgrounds and projections for the future, Facts Views Vis Obgyn. 2013; 5(4): 281–291.  2T. Neuman et al., 2015, The Rising Cost of Living Longer: Analysis of Medicare Spending by Age for Beneficiaries in Traditional Medicare, http://kff.org/medicare/report/the-rising-cost-of-living-longer-analysis-of-medicare-spending-by-age-for-beneficiaries-in-traditional-medicare/  Hiện nay, nạn đói vẫn đang đe dọa mạng sống hàng trăm nghìn trẻ em ở Somalia, Ethiopia, Kenya hay South Sudan. Tổ chức nhân đạo Save the Children đưa ra ví dụ về chi phí để cứu các em: với 80 USD chúng ta có thể chu cấp cho một đứa trẻ suy dinh dưỡng nặng tất cả những thuốc men, thực phẩm trị liệu, và các chi phí điều trị cần thiết khác tại một bệnh viện trong vòng một tháng. Năm 2011, trong một tháng, chi phí hỗ trợ y tế trung bình trên mỗi người già 80 tuổi ở Mỹ lên tới 1.000 USD, với người 96 tuổi là 1.350 USD2. Cũng trong một tháng, một giám đốc có thể hưởng lương 100.000 USD, một cầu thủ bóng đá ngoại hạng Anh hưởng lương 170.000 USD. 59 quả tên lửa hành trình Tomahawk do Donald Trump ném xuống Syria hôm 6/4 vừa qua có chi phí 50 triệu USD.       Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Giám sát của Quốc hội: Vấn đề khái niệm      Thực tế cho thấy, việc giám sát của Quốc hội quá nhiều như vậy không phải bao giờ  cũng hợp lý và cũng bổ sung giá trị gia tăng. Chính vì vậy, để đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, quan trọng là phải xây dựng cho được một khung khái niệm khoa học và chuẩn mực về mặt lý thuyết.    Quốc hội được coi là cơ quan lập pháp. Thế nhưng, các nhà nghiên cứu lại cho rằng đây lại là cơ quan giám sát nhiều hơn. Lý do là vì, xét về bản chất, tất cả những gì Quốc hội làm đều thấm đẫm tinh thần giám sát. Thậm chí ngay cả khi thực hiện chức năng lập pháp, thì việc Quốc hội làm cũng rất gần với giám sát. Đó là thẩm định các dự luật trước khi thông qua.   Hiện nay ở ta đang có hai cách hiểu về chức năng giám sát của Quốc hội: cách hiểu của thế giới và cách hiểu của chúng ta. Theo cách hiểu của thế giới, chức năng giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội kiểm soát Chính phủ. Giám sát là công cụ của Quốc hội để bảo đảm trách nhiệm giải trình của Chính phủ và để bảo đảm rằng Chính phủ triển khai các chính sách phù hợp với luật và ngân sách được Quốc hội thông qua. Theo cách hiểu của chúng ta, “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. (Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân). Chủ thể giám sát ở Trung ương bao gồm Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Ở cấp địa phương sẽ là các chủ thể tương tự của Hội đồng nhân dân các cấp. Đối tượng giám sát bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước kể cả các cơ quan của Quốc hội.  Như vậy, có sự khác nhau rất lớn về khái niệm giám sát giữa thế giới so với chúng ta. Vấn đề đặt ra là cách hiểu nào hợp lý hơn. Muốn hay không muốn thì cách hiểu của thế giới có vẻ hợp lý hơn. Trước hết, xét về cơ chế vận hành chế độ trách nhiệm, thì khâu duy nhất thiếu Quốc hội không thể xác lập được chế độ trách nhiệm chỉ là Chính phủ. Tất cả các cơ quan nhà nước dưới Chính phủ đều phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ. Và Chính phủ có các công cụ là thanh tra, kiểm tra để áp đặt chế độ trách nhiệm cho tất cả các cơ quan này. Mà như vậy, thì Quốc hội chỉ nên giám sát Chính phủ để bảo đảm chế độ trách nhiệm ở khâu duy nhất chưa thể xác lập chế độ trách nhiệm thôi. Hơn thế nữa, nếu Quốc hội giám sát xuống cả các cơ quan dưới Chính phủ, thì rủi ro của việc chồng chéo chức năng với các thiết chế kiểm tra, thanh tra của Chính phủ là rất lớn. Quốc hội có thể vô hiệu hóa các thiết chế này, nhưng lại chưa chắc đã làm công việc thanh tra, kiểm tra tốt hơn. Lý do là vì đây là những công việc đòi hỏi phải có chuyên môn rất sâu, Quốc hội có năng lực về chính trị, nhưng chưa chắc đã có năng lực chuyên môn sâu như thế.  Hai là, xét về thứ tự ưu tiên, thì giám sát Chính phủ là quan trọng nhất. Để giám sát được Chính phủ, Quốc hội của hầu hết các nước trên thế giới đều phải làm việc thường xuyên. Và cho dù làm việc quanh năm, thì vẫn rất ít Quốc hội nước nào có thể tự hào là đã giám sát được Chính phủ một cách hiệu quả. Một Quốc hội không hoạt động thường xuyên như Quốc hội nước ta, thì lại càng có ít thời gian và điều kiện để giám sát thêm các cơ quan khác ngoài Chính phủ.  Ba là, là một thiết chế chính trị và hoạt động theo chế độ hội nghị, quy trình thủ tục của Quốc hội chỉ phù hợp cho việc giám sát ở tầm chính trị, nghĩa là chỉ phù hợp cho việc giám sát Chính phủ.  Có ý kiến sẽ cho rằng giám sát Chính phủ đạt hiệu quả rồi thì giám sát thêm cũng tốt chứ sao. logic hình thức là như vậy. Tuy nhiên, việc giám sát Chính phủ đạt hiệu quả rồi chỉ là một giả thuyết. Thời gian đã không có lại còn phân tán ra thì làm sao mà giám sát tốt được?! Hơn thế nữa, việc giám sát tràn lan không phải bao giờ cũng bổ sung giá trị gia tăng.  Để tham khảo, xin nêu ra đây các lập luận mà các chuyên gia nước ngoài thường nêu ra về việc tại sao Quốc hội các nước không giám sát một số thiết chế mà Quốc hội nước ta vẫn đang giám sát.  1. Không giám sát nguyên thủ quốc gia. Trong mô hình cộng hòa tổng thống, tổng thống do toàn dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Nên Quốc hội không giám sát tổng thống. Trong mô hình đại nghị, một số nước chọn vua, nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia ; một số nước khác bầu tổng thống làm nguyên thủ quốc gia. Những nguyên thủ quốc gia này thường không có quyền lực chính trị, mà chỉ làm chức năng nghi lễ và biểu tượng quốc gia. Không có quyền lực chính trị thì không nhất thiết phải giám sát. Hơn thế nữa, nếu bị giám sát, bị chất vấn thì khó có thể trở thành biểu tượng quốc gia được.  2. Không giám sát tư pháp. Tòa án là chế định hoạt động theo quy trình pháp lý (tố tụng). Quốc hội hoạt động theo quy trình chính trị (tranh luận và biểu quyết theo đa số). Vì vậy giám sát tòa án là khó khăn và ít khả thi đối với Quốc hội.  Trên thực tế, sự đúng đắn của hoạt động xét xử chủ yếu được xác định bởi quy trình tố tụng. Giám sát việc tuân thủ quy trình này là cần thiết. Tuy nhiên, Quốc hội không phải là công cụ có ích để  làm công việc này. Để giúp Quốc hội phải có cơ quan chuyên môn (được gọi là Ombudsman hay thanh tra Quốc hội). Thông qua báo cáo của cơ quan này, Quốc hội có thể tác động lên toà án bằng cách sửa đổi và hoàn thiện các quy phạm pháp luật về tố tụng, chứ không can thiệp trực tiếp vào các phán quyết của toà án.  3. Không giám sát chính quyền địa phương. Về nguyên tắc, đã có chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, thì đây là hai chủ thể khác nhau. Nếu không, các cử tri đã không nhất thiết phải bầu hai lần để một lần uỷ quyền cho Trung ương và một lần uỷ quyền cho địa phương. Chính quyền địa phương vì vậy không phải là cánh tay nối dài của chính quyền Trung ương, cũng không phải là cơ quan đại diện của chính quyền Trung ương. Như vậy, Quốc hội không đương nhiên có quyền giám sát vào những việc mà cử tri chỉ uỷ quyền cho hội đồng địa phương. Vấn đề đặt ra là nếu hội đồng địa phương thông qua những văn bản quy phạm pháp luật trái với luật pháp của quốc gia và ảnh hưởng đến lợi ích của người dân thì làm thế nào? Trước hết, không có một hội đồng địa phương nào đủ ngây thơ để chấp nhận một rủi ro như vậy. Việc ban hành một văn bản sai trái sẽ đồng nghĩa với việc bị cử tri loại bỏ trong cuộc bầu cử sắp tới. Ngoài ra, người dân có thể kiện ra toà án, và nếu việc vi phạm pháp luật là có thật thì toà án sẽ huỷ bỏ văn bản nói trên. Một cơ chế giám sát như vậy vừa không ôm đồm đối với Quốc hội, vừa thiết thực và phù hợp với những điều có thật trong cuộc sống.  4. Không giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khiếu nại, tố cáo thường là về những vụ việc cụ thể. Không nghiên cứu và điều tra không thể nắm được thực chất của vụ việc và không thể giám sát. Tổ chức nghiên cứu, điều tra thì Quốc hội sẽ không còn thời gian để làm những việc khác quan trọng hơn cho đất nước. Ngoài ra, các nghị sĩ không nhất thiết phải là các nhà chuyên môn và cũng không nhất thiết phải là các luật sư. Nghiên cứu, xem xét các khiếu nại, tố cáo vì vậy không phải là việc họ có thể làm tốt được. Để giúp Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo, cơ quan chuyên môn được thành lập chính là Thanh tra Quốc hội (Ombudsman). Thông qua báo cáo của cơ quan này, Quốc hội sẽ xử lý vấn đề ở tầm chính sách và pháp luật chứ không phải vào từng vụ việc cụ thể. Quan trọng nhất là Quốc hội sẽ đưa ra các giải pháp để loại bỏ những nguyên nhân dẫn đến oai sai và khiếu kiện.  5. Không giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương. Xem xét, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật là một công việc to lớn và khó khăn. Và nó là một công việc của các chuyên gia, chứ không phải là của các chính khách. ở nhiều nước chỉ có cơ quan tư pháp mới có chức năng này. Và việc xem xét một văn bản thường cũng chỉ xảy ra khi có khiếu kiện. Chỉ toà án với thủ tục và quy trình xét xử mới có thể phán quyết về tính chất hợp hiến, hợp pháp của một văn bản và bằng phán quyết đó huỷ bỏ văn bản bị khiếu kiện.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Giảm thải khí C02: Phân chia trách nhiệm ra sao?      Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc – COP 20 diễn ra tại Lima vừa qua đã phải kéo dài thêm hai ngày một đêm để có thể đi đến bản dự thảo cuối cùng quy định trách nhiệm của các bên trong việc giảm thiểu lượng khí thải nhà kính. Một lí do quan trọng khiến COP 20 kéo dài là câu hỏi về sự phân chia trách nhiệm giữa các quốc gia trong vấn đề biến đổi khí hậu.    Khác với Hiệp ước Kyoto được ký kết vào năm 1997, chỉ yêu cầu các nước phát triển có trách nhiệm trong việc ngăn chặn biến đổi khí hậu bằng cách cam kết giảm lượng khí thải CO2, bản dự thảo tại COP 20 yêu cầu tất cả các nước đều phải có trách nhiệm trong việc này.   Tuy nhiên, cũng theo bản dự thảo, trách nhiệm đến mức nào phụ thuộc vào đặc điểm và năng lực của mỗi quốc gia. Với các nước có nền kinh tế phụ thuộc vào dầu mỏ như Ả-rập Saudi và Venezuela, đây là “cớ” để họ trì hoãn việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính. Trong thời gian diễn ra hội nghị, họ bày tỏ sự ngần ngại trước việc thỏa thuận sẽ được ký kết vào năm sau, buộc họ chịu sự giám sát từ bên ngoài về kế hoạch phát thải, đồng thời khẳng định sẽ chỉ giảm lượng khí thải nhà kính một khi các quốc gia phát triển cam kết hỗ trợ thỏa đáng về tài chính.  Không chỉ những nước có nền kinh tế phụ thuộc vào dầu mỏ, phần lớn các nước đang phát triển khác cũng đều muốn được hỗ trợ chi phí triển khai công nghệ mới phát thải khí nhà kính thấp như năng lượng gió hay Mặt trời nhằm thay thế năng lượng sản xuất từ than đá. Ngay trong bản dự thảo, nhóm các nước phát triển cũng được yêu cầu phải có hành động hỗ trợ về mặt tài chính đối với các nước đang phát triển trong việc thực hiện mục tiêu giảm thiểu lượng khí thải nhà kính. Tuy nhiên, điều đó không đơn giản. Vào năm 2010, tại COP 16 tổ chức ở Cancun, Mexico, các nước phát triển (bao gồm Mỹ và EU) “hứa” mỗi năm sẽ đóng góp 100 tỉ USD vào quỹ Khí Hậu Xanh (Green Climate Fund) của Liên Hợp Quốc để giúp các nước kém phát triển hơn. Nhưng đến giữa tuần qua, quỹ này thông báo mới kêu gọi được hơn 10 tỷ USD, ít hơn 5 tỷ USD so với mục tiêu tối thiểu đề ra. Đại biểu đến từ Ấn Độ đã phải thốt lên: “Thật là nực cười. Thấp đến nực cười”.  Bản dự thảo tại COP 20 là cơ sở để đàm phán trong COP 21 sẽ diễn ra vào năm tới tại Paris. Mark Maslin, giáo sư ngành khí hậu tại University College London, trả lời tờ The Guardian: “Vẫn còn 12 tháng nữa để các quốc gia đàm phán chuẩn bị trước thềm hội nghị ở Paris. Điều quan trọng là họ hiểu rằng công chúng quốc tế mong muốn một hiệp ước ràng buộc mang tính pháp lý. […] Nó thể hiện sự cam kết vì một thế giới an toàn hơn, tốt hơn và công bằng hơn.”                                                                                                                                                                                                               Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm thuế sẽ đưa tăng trưởng Mỹ lên thế nào?      Kinh tế Mỹ năm qua khá ra sao và nhất là chương trình giảm thuế quan trọng hiện tại sẽ đưa nó đi về đâu? Bài này nhìn nhận lại nền kinh tế Mỹ năm qua nhân dịp xét xem nghị trình giảm thuế của đảng Cộng hòa sẽ có thể giúp thêm nền kinh tế Mỹ ra sao, nhất là trong khung cảnh bàn luận sôi nổi đang diễn ra ở điện Capitol, trước khi Thượng viện Mỹ bỏ phiếu chấp thuận một Dự luật Cải cách thuế riêng, khác biệt chi tiết với Dự luật khác đã được Hạ viện thông qua; tuy cả hai đều căn bản dựa trên chương trình giảm thuế do tổng thống Trump đưa ra.         Thị trường chứng khoán gạt đi lo ngại là việc cắt giảm thuế sẽ dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách Mỹ.  Gần 11 tháng từ ngày tổng thống Trump đắc cử, mặc dù Tòa Bạch ốc vẫn xáo trộn về chính trị do các cuộc điều tra FBI về can thiệp của Nga trong bầu cử Mỹ năm ngoái và những thay đổi nhân sự cấp cao liên tiếp, nền kinh tế Mỹ đã có những bước tiến gây ấn tượng ngay trong năm đầu. Tăng trưởng GDP lên cao gấp đôi so với dạo tranh cử, lạm phát thấp, thất nghiệp giảm, và nhất là chỉ số Dow Jones liên tục lập các kỷ lục mới, phản ánh niềm tin của doanh nghiệp và giới đầu tư.  Phải nói ngay là, tuy cuộc tranh cử tổng thống Hoa kỳ đã xong hơn một năm, nhưng dư âm sôi nổi và sự phân hóa lại vẫn “đào sâu” hơn trong xã hội Mỹ. Các bêu riếu hay “chọc quê” tổng thống Trump vẫn diễn ra hàng tuần trong giới truyền thông ít thiện cảm, khi có các chỉ trích cá nhân về “tính cách ông Trump”, là chuyện cơm bữa do thói quen ngủ ít dậy sớm và ngồi viết Twitter chỉ trích người này người kia, ngoài ra còn những phát ngôn chính trị hay phi chính trị thiếu chọn lọc của ông, hay do chuyện vài người con ông được một phần dư luận coi là “dựa thế cha để làm ăn buôn bán riêng”.  Tuy nhiên, ngoài các chỉ trích tất có trong một xã hội dân chủ, khá đông dân chúng vẫn vui vẻ bên bàn tiệc Thanksgiving vừa qua, khoe chứng khoán lên cao, quỹ hưu bổng tăng đều bảo đảm cho tương lai, công ăn việc làm ngày một tốt hơn, bớt lo thất nghiệp nên chuyên chú hơn vào chuyện mua nhà đổi nhà, ào ạt mua xe mới và đi shopping Black Friday giá rẻ nhờ lạm phát vẫn trong vòng kiềm tỏa dưới 2%…Trong các cuộc mạn đàm này, chắc không ít người phải tự hỏi mình câu quen thuộc “Que veut le people?” (Dân tình muốn gì nữa đây?). Nhiều người đã hứng khởi,cùng chia vui nền kinh tế đang đi lên, nhưng vẫn thích chỉ trích Trump do “à la mode” chính trị hay giản dị để mua vui! Thế cũng được, cho vui cửa vui nhà, nhưng công bình ra cũng nên xem lại.  Trước hết, vào mùa tranh cử, kinh tế Mỹ đang tăng trưởng chậm hẳn lại, GDP chỉ tăng 1,5% vào quý II/2016, do cả yếu tố tâm lý ngại chi tiêu của dân chúng còn sót lại từ cuộc khủng hoảng 2007-2008- theo lời giải thích của ông vua đầu tư chứng khoán Warren Buffet! Một kinh tế gia lừng danh thuộc đảng Dân chủ từng được giải Nobel, Paul Krugman, đã phát biểu thêm là chính sách của Trump khó giúp tăng trưởng Mỹ vượt mức 2%.  Nhưng Trump lại coi đây như tiền đề cho chính sách phục hồi kinh tế Mỹ. Do đó ông đưa ra chương trình lớn là vực dậy nền sản xuất công nghệ của Hoa Kỳ và đem công ăn việc làm về lại Mỹ, thay vì chính sách “outsourcing” đẩy sản xuất ra khỏi Mỹ đã được giới doanh nhân theo đuổi trong hơn hai thập niên qua, với nền kinh tế toàn cầu hội nhập!      Chính sách kinh tế tương lai của Hoa kỳ phụ thuộc chính vào tác động của chương trình giảm thuế do Trump đề nghị đang được Thượng viện và nghị viện bàn thảo. Hai dự thảo thuế này tuy có khác biệt chi tiết nhưng tựu chung đều nhắm đến kích thích tăng trưởng GDP và tạo công ăn việc làm, và được một số đông kinh tế gia có uy tín của Hoa Kỳ lên tiếng chính thức ủng hộ.      Tuy tổng thống Trump chưa đưa ra được dự luật kinh tế nào quan trọng qua Quốc hội sau 10 tháng, chính phủ ông đã chỉ dùng các sắc lệnh hành pháp (executive orders) để gỡ bỏ rất nhiều các sắc lệnh cùng loại ngăn cấm hay cản trở kinh doanh của 8 năm dưới thờitổng thống Obama. Cộng thêm với đầu tư của giới kinh doanh, trong niềm tin là chính sách giảm thuế tương lai sẽ đẩy mạnh lợi nhuận và phục hồi kinh tế, mức tăng trưởng GDP đã lên hơn gấp đôi, 3,1% trong quý II và 3,3% trong quý III của năm 2017. Triển vọng này được dự báo tiếp tục trong quý IV.Phản ánh niềm lạc quancủa doanh nghiệp Hoa Kỳ và giới đầu tư, chỉ số Dow Jones đã tăng hơn 35% từ mức 17.888 ngay trước bầu cử (07/11/2016) đến nay đạt mức 24.272(30/11/2017).  Đảng Dân chủ và bà Clinton đã từng coi chính sách kêu gọi giảm thuế của Trump như dựa vào lý thuyết lỗi thời của “trickle-down economics” (hay kinh tế “lọt sàng xuống nia” dịch theo tiếng Việt, làm lan tỏa tác động từ tăng thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao đến tầng lớp có thu nhập thấp 1. Và phản bác rằng giảm thuế chưa chắc có thể làm Hoa Kỳ tăng trưởng nhanh hơn và tạo công ăn việc làm nhiều hơn. Thật vậy, bà Clinton còn kể là một trong các cố vấn kinh tế của bà thời tranh cử đã dự báo chương trình tương lai của Trump có thể “gây suy thoái cho Mỹ” (?!) và sẽ làm mất đi 3 triệu việc làm! Trong thực tế, kết quả hiện nay là số việc làm gia tăng mỗi tháng nhanh hơn trước nhiều và tỷ lệ thất nghiệp Mỹ xuống thấp nhất từ 17 năm nay, chỉ còn 4,1% vào cuối tháng 10/17; triển vọng còn xuống 3,5% vào cuối năm 2018.  Cuộc thắng cử của tổng thốngTrump đã được giải thích là do cuộc “cách mạng” của giới trung lưu Mỹ, phản ánh tình trạng bất mãn của giới này và lao động Mỹ từ hơn 2 thập niên qua, với thu nhập dựa trên giá cố định (real income) tăng rất chậm do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, trái ngược hẳn với thu nhập thực tế tăng vọt của cùng giới trung lưu và thương nhân trong các nước mới nổi (emerging markets), thí dụ cho Trung Quốc và ngay cả Việt Nam, hưởng lợi rõ rệt và nhiều nhất từ gia tăng thương mại quốc tế và toàn cầu hóa 2. Sau hết, chính sách kinh tế tương lai của Hoa kỳ phụ thuộc chính vào tác động của chương trình giảm thuế do Trump đề nghị đang được Thượng viện và nghị viện bàn thảo như đã nêu trên. Hai dự thảo thuế này tuy có khác biệt chi tiết nhưng tựu chung đều nhắm đến kích thích tăng trưởng GDP và tạo công ăn việc làm, và được một số đông kinh tế gia có uy tín của Hoa Kỳ lên tiếng chính thức ủng hộ 3.  Theo đó, kinh tế Mỹ có thể sẽ bùng nổ mạnh vì chi tiêu đầu tư kinh doanh và cá nhân, dù thuế suất giảm nhưng tăng trưởng GDP cao sẽ đẩy thu nhập kinh doanh và cá nhân tăng cao, cuối cùng sẽ cho tổng thu nhiều hơn và không làm tăng thất thu ngân sách (budget deficit) do giảm thuế, nhất là sau 3-4 năm!  Linh hồn của cuộc “cách mạng giảm thuế” là sẽ cho giảm hẳn thuế thu nhập doanh nghiệp (“corporate income tax”) từ 35% xuống 20%, và sau nữa là giảm và đơn giản hệ thống cho gộp lại các thuế suất thu nhập cá nhân còn một số nhỏ, tùy theo dự luật thuế nào được chấp thuận. Theo các nghiên cứu định lượng được dẫn bởi các nhà kinh tế trên, các kết quả và tiến trình từ giảm thuế đến nâng cao tăng trưởng kinh tế sẽ như sau:  1) Giảm thuế doanh nghiệp và cho khấu trừ ngay chi phí đầu tư sẽ tăng đầu tư và theo đó hoạt động kinh tế, vì giới doanh nghiệp sẽ có triển vọng tăng lợi nhuận: các nghiên cứu định lượng chỉ ra là giảm thuế xuống mức 20% sẽ tăng nhu cầu đầu tư khoảng 15% và GDP trong 10 năm khoảng 4%, tức là tăng thêm 0,4% GDP trong mỗi năm 4. Hai móc xích quan trọng cho tác dụng của việc giảm thuế lên GDP là : (i) bớt thuế sẽ làm tăng đầu tư của tư nhân; và (ii) tăng đầu tư này sẽ dẫn đến các hoạt động kinh tế khác như tiêu thụ và xuất cảng; các tranh luận giữa các nhà kinh tế và hai giới bênh và chống chương trình giảm thuế là chung quanh hai móc xích đó!Cho đến cuối tuần 2/12/17, Thượng viện sẽ tranh luận gay go về việc này trước khi bỏ phiếu chấp thuận; đặc biệt một Thượng nghị sỹ, ông Corker, đòi là nếu tăng trưởng GDP và thu thuế không được như dự kiến, sẽ dự trù các biện pháp tự động (triggers”) tăng thuế trở lại khoảng 350 tỷ để tránh thất thu ngân sách.  2) Ngoài ra, với việc giảm thuế doanh nghiệp từ 35% xuống 20%, các hãng Hoa Kỳ và ngoại quốc được dự báo sẽ gia tăng đầu tư ở Mỹ vì hấp dẫn hơn, và các hãng Hoa kỳ đa quốc gia sẽ bớt nhu cầu “outsourcing” đẩy sản xuất và việc làm ra khỏi Mỹ!  3) Giảm thuế thu nhập cá nhân cũng sẽ tác động tích cực đến sản xuất và tích cực gia nhập lao động hơn trước: giới đầu tư ngoài doanh nghiệp cũng sẽ gia tăng đầu tư vì được khấu trừ ngay và giảm thuế, còn các cá nhân sẽ hăng hái làm việc hơn vì được giữ lại thu nhập nhiều hơn. Đặc biệt là với mức thuế suất cá nhân cho thu nhập trung lưu giảm còn 12%-20%, và khoản miễn trừ căn bản (“standard deduction”) được tăng gấp đôi lên 24.000 đô la, giới trung lưu sẽ được giảm thuế đáng kể cho tới năm 2023, sau đó từ 2024 một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng giới này phải đóng thuế cao hơn. Và giới có thu nhập cao nhất dù vẫn phải trả thuế suất cao nhất 38%-39,6% (tùy theo dự luật nào được chấp thuận sau cùng) vẫn được ước tính là thu lợi nhiều nhất với thuế di sản (“estate tax”) được bãi bỏ phần lớn hay hoàn toàn sau một số năm, và đó là một lý do của cuộc tranh cãi sẽ còn gay go giữa hai viện quốc hội!  4) Bài này không đi vào chi tiết khác biệt lúc này giữa hai dự thảo của Thượng viện và Hạ viện Hoa kỳ, vì các chi tiết đó còn thay đổi nhiều và muốn chờ ba tuần nữa lúc cả hai viện có lẽ sẽ chấp thuận Dự thảo chung cuối cùng để đưa lên bàn tổng thống Trump ký trước mùa Giáng sinh. Khi đó sẽ có chi tiết của từng luật thuế mới để xem xét và thảo luận tác động lên đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Nhưng có điểm nổi bật cần chú ý là trong cả hai dự thảo, những người làm luật Mỹ đều muốn thay đổi cơ cấu hiện có của các động lực đầu tư và sản xuất (incentive structure), bằng cách giảm bớt khoản khấu trừ vào thuế tiền lãi vay mua nhà (mortgage interest deduction) như trong hệ thống thuế hiện tại, nhằm khuyến khích giới tư nhân cá nhân bớt mua nhà đắt tiền (để bớt thuế) mà cho tiền đầu tư vào các khu vực khác như chứng khoán, công nghệ hay thương mại. Đây cũng là khía cạnh quan trọng của luật thuế mới cho các nhà đầu tư bất động sản tại Mỹ.  Sau hết, tổng thống Trump luôn hy vọng giảm thuế sẽ là biện pháp “vĩ đại” nhất để khuyến khích đầu tư vào Mỹ và chi tiêu cá nhân Mỹ, giữ lại các hãng Mỹ lớn sản xuất sinh lời ở Mỹ thay vì đem sang Trung Quốc–thí dụ điển hình là hãng Apple chuyên sản xuất ở bên ngoài, nhất là Trung quốc, và giữ hẳn tài sản khổng lồ trên 260 tỷ đô la ở ngoại quốc để tránh thuế, thay vì đem về Mỹ đầu tư lại và tạo công ăn việc làm cho lao động Mỹ. Ngoài ra ông cũng tuyên bố sẽ thêm các biện pháp phụ và tiếp tục xét lại hay bỏ bớt các luật lệ (regulations) nhằm tăng cường hiệu ứng sản xuất công nghệ vàsớm phục hồi các thành phố công nghiệp lớn ở Mỹ.  Trong lý luận của vài người lo ngại, có thể có hai lý do tại sao giảm thuế thu nhập chưa chắc sẽ dẫn đến tăng trưởng GDP cao hơn. Thứ nhất các doanh nghiệp dùng số thu nhập được tăng lên vào chuyện khác thay vì đầu tư, chẳng hạn như trả thêm cổ tức hay mua lại cổ phần quỹ, hay tăng lương cho giới quản trị. Thứ hai là các doanh nghiệp đầu tư thêm, nhưng những vụ đầu tư này không dẫn đến tăng trưởng GDP vì nền kinh tế đã đạt đến mức toàn dụng (“full capacity”), như Mỹ đang đến gần, và đầu tư thêm sẽ chỉ dẫn đến lạm phát. Đây là trường hợp mà các yếu tố sản xuất (“factors of production”) đã ở mức đầy, chẳng hạn như nạn thất nghiệp đã đến mức thấp tối thiểu, không có cách nào để tăng thêm lao động, trừ khi đem dân ngoại quốc vào, một điều mà tổng thống Trump và giới bảo thủ không muốn. Do đó theo một vài quan sát viên, giảm thuế lúc này khi nền kinh tế Mỹ đang gần mức toàn dụng có thể ví như “đổ dầu vào lửa” vì dễ dàng gây ra lạm phát cao trở lại trong tương lai.  Chú thích:  1. Hay kinh tế với hiệu ứng “đẩy xuống”, bắt đầu bằng giới thu nhập cao, sau đó các lợi ích sẽ xuống dần cho người thu nhập thấp.Trong khi quan điểm ngược lại của đảng Dân chủ, cho rằng nếu làm vậy thì gây thêm bất bình đẳng, cần phải có sự phát triển công bằng, không để thị trường tự điều tiết.  2. Đây là kết luận của một nghiên cứu rất quan trọng do kinh tế gia Branko Milanovic của World Bank làm năm 2012, dựa theo một hình thống kê nổi tiếng mang tên Đồ thị Con Voi về Toàn Cầu Hóa (“Globalization ‘Elephant Chart'”), đưa đến kết luận là những người bị thất lợi (non-winners) trong thời toàn cầu hóa 1988-2008 lại chính là giới trung lưu trong các nước phương Tây, trong khi đem lại phép lạ phát triển tột độ cho các nước mới nổi và nhiều lớp”đại gia” trong các xã hội đó!   3. Thư ngày 25/11/2017 gửi Bộ trưởng Tài chính Hoa kỳ từ 9 kinh tế gia nổi tiếng, đăng trên báo Wall Street Journal ngày 27/11/2017, dẫn đầu theo mẫu tự bởi GS Robert J. Barro của Harvard University.  4. Tuy nhiên một kinh tế gia nổi tiếng khác là Lawrence Summers, cựu Bộ trưởng Tài chính, đã đặt vấn đề với dẫn chứng về các con số tăng trưởng này của nhóm nhà kinh tế trên đã dẫn.    Author                Phạm Đỗ Chí        
__label__tiasang Gian, dỏm – chẳng phải chuyện nhỏ!      Trong một nước mà bằng cấp, chức tước đều có thể mua bán và nạn đạo văn, đạo nhạc, v.v. lan tràn hầu như ở đâu cũng có thì bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng chẳng có gì lạ.                          Gần đây rộ lên chuyện một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh mua bằng tiến sĩ, thạc sĩ  từ các đại học dỏm ở nước ngoài. Thật ra đây không phải là chuyện mới, mà đã xảy ra ít nhất từ mươi lăm năm nay, và không phải chỉ có mua bằng thạc sĩ, tiến sĩ mà cả những chức danh cao hơn như: viện sĩ, giáo sư danh dự, chuyên gia lỗi lạc, danh nhân thế giới, v.v… Chỉ có khi lộ liễu quá và vì sự ngẫu nhiên nào đó (rủi cho đương sự) thì sự việc mới bị xới tung lên, còn thường thì chuyện mua bán này vẫn xuôi chèo mát mái.  Ở xứ ta, bằng cấp chưa cần biết thật hay dỏm từ lâu vốn đã được ưa chuộng quá mức, bằng cấp càng cao càng danh giá và có thể là bàn đạp để thăng tiến nhanh trên quan trường. Từ thời cụ Nguyễn Khuyến đã có tiến sĩ giấy, từ thời Vũ Trọng Phụng đã có những Xuân Tóc Đỏ, huống bây giờ toàn cầu hóa, hội nhập, kinh tế tri thức.    Đáng lo hơn là sự sản xuất hàng loạt thạc sĩ, tiến sĩ kém, dỏm, do các đại học lớn của ta liên kết đào tạo với những đại học nước ngoài chất lượng không bảo đảm, kiểu như Đại học Irvine, Đại học Southern Pacific và các đại học trong danh sách đã được công khai gần đây, có khi còn tệ hơn nữa. Có thể lãnh đạo các đại học của ta bị choáng ngợp bởi những quảng cáo lừa mị, nhưng cũng có thể vì những động cơ khác, không loại trừ chạy theo lợi nhuận bất chấp chất lượng.  Mấy ngày qua công luận đã có những ý kiến phê phán rất  xác đáng. Tuy nhiên đây chỉ mới là phần nổi của tảng băng. Cần phải đi sâu hơn, phân tích kỹ hơn để nhận dạng đầy đủ căn nguyên cái tệ nạn đáng hổ thẹn này nó là con vi rút ẩn mình đang gây ra những căn bệnh hiểm nghèo tàn phá dữ dội cơ thể xã hội ta nếu không lo chữa chạy.     Nói cho đúng, cái bằng tiến sĩ của ông Phó Bí thư Yên Bái hay ông Giám đốc Sở Thông tin Du lịch Phú Thọ cũng là bằng thật, đâu phải bằng giả, được cấp bởi một đại học hoạt động công khai, đúng pháp luật của nước sở tại.  Điều kiện trả tiền để được cấp bằng thì họ cũng chẳng giấu giếm, không thể bảo họ lừa đảo. Mà ngẫm cho kỹ, các bằng ấy có gì khác các bằng tiến sĩ thật, do một số đại học kém chất lượng của ta cấp những năm qua.  Ai dám chắc trình độ các tiến sĩ giấy khá hơn các tiến sĩ “dỏm”? Đi xa hơn, hàng loạt giáo sư, phó giáo sư trong số đã được Nhà nước long trọng công nhận trước sự chứng giám của các bậc hiền tài Quốc Tử Giám đã chắc gì không phải là  giáo sư “giấy”, giáo sư “dỏm”, ngay cả theo tiêu chí quốc tế thấp nhất. Ngoài ra còn mấy tá viện sĩ mua được hay chạy được từ các nước ngoài nữa. Dĩ nhiên ở đây tôi không gộp những viện sĩ thứ thiệt do các viện hàn lâm nghiêm chỉnh bầu chọn, nhưng số này rất ít, và họ thường ít xưng danh vì thừa hiểu “hữu xạ tự nhiên hương”.  Kể ra thì ngay cả các chức danh viện sĩ mua được hay chạy được cũng đều là “thật” cả vì đều có giấy chứng nhận hẳn hoi là thành viên (member) của những tổ chức mang tên viện hàn lâm, viện tiểu sử danh nhân, hoạt động đàng hoàng ở  Mỹ, Anh, Nga,… Các viện này rao bán các chức danh chẳng khác gì các đại học bán bằng cấp với giá rẻ, có khi chỉ cần vài ba trăm USD cũng đã có chức danh “thành viên” (member) của viện hàn lâm này nọ (mà thành viên viện hàn lâm thì lập tức được dịch ra là viện sĩ), hay “danh nhân thế giới” (có tên trong tập sách Who’s Who của họ), “chuyên gia quốc tế hàng đầu”, “bộ óc vĩ đại”, v.v. Cũng có khi chẳng phải trả đồng nào gặp lúc họ khuyến mãi. Một số các viện đó (kiểu như Viện Hàn lâm New York của Mỹ, hay Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên của Nga) thật ra là những hiệp hội khoa học, kết nạp hội viên rất rộng rãi (có khi đến hàng mấy vạn hội viên), chỉ cần đóng một khoản tiền hay nộp niên liễm một lần là được cấp giấy chứng nhận hội viên (dịch ra tiếng Việt thành viện sĩ – thành viên của một viện hàn lâm).  Ở các nước phát triển, chẳng mấy ai coi trọng các chức danh dỏm đó. Của đáng tội, thỉnh thoảng cũng có vài bạn Việt kiều về nước mang những thứ đó ra khoe, gây thêm nhiễu vào một môi trường đã rối ren.        Trước đây mấy năm, trong một hội nghị bàn về giáo dục, tôi đã có lần thưa thật với Thủ Tướng lúc đó: nhà nước ta chưa bao giờ nghiêm với các vụ chạy chức, chạy quyền, bằng giả, học giả bằng thật. Từ đó đến nay tình hình vẫn vậy, có phần sa sút hơn vì chưa bao giờ bệnh thành tích phát triển mạnh như vài năm qua.         Vậy xét cho cùng việc mua bằng tiến sĩ của hai ông Ngọc và Ân (Phó Bí thư tỉnh và Giám đốc Sở) cũng không sai trái gì ghê gớm hơn việc tương tự của nhiều vị viện sĩ, danh nhân thế giới, bộ óc vĩ đại, v.v. Cái sai đáng chê trách nhất là từ phía cơ quan đã khuyến khích họ mua bằng tiến sĩ hay thạc sĩ để thăng chức. Còn nếu ai đó xưng danh rõ ràng tiến sĩ Đại học Irvine, tiến sĩ Đại học Southern Pacific,  hay viện sĩ Viện Hàn lâm New York, thì đó cũng là quyền tự do của mỗi người. Cái sai lớn nhất  ở chỗ chỉ lập lờ “tiến sĩ, viện sĩ,” không cho ai biết là tiến sĩ viện sĩ để diện chơi hay tiến sĩ, viện sĩ danh giá thứ thiệt.  Càng sai hơn nữa nếu người phụ trách công tác xét chức danh giáo sư, phó giáo sư mà lại đi tự phong một chức danh Nhà nước chưa đặt ra. Muốn chính danh, muốn hợp pháp, xin hãy ghi rõ viện sĩ viện hàn lâm nào. Dù cho là viện hàn lâm thứ thiệt thì vẫn có khoảng cách lớn giữa Viện hàn lâm Khoa học Pháp, hay Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ với viện hàn lâm một nước chậm phát triển. Ở các xứ văn minh người ta đều làm như vậy.  Phải chăng vì chỉ số IQ ta quá cao nên mới có bấy nhiêu chuyện rắc rối cần bàn.  Cách đây mấy năm đã từng có chuyện một người trước học ở Liên Xô cũ, chẳng có thành tích gì đặc biệt, nhưng nhờ tiền làm ra được vào thời buổi nhá nhem khi Liên Xô sụp đổ nên kiếm được chân thành viên của một số tổ chức mệnh danh học thuật nào đó, thế là được giới thiệu về nước với chức danh viện sĩ  5 viện hàn lâm ở châu Âu, rồi được đề cử vào Ủy Ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc, và giữ những chức vụ quan trọng ở một đại học lớn (về sau cái ông 5 lần viện sĩ ấy được công nhận PGS, thành ra cái chức danh lố bịch PGS viện sĩ !).  Có phải các cơ quan Nhà nước vì thiếu  hiểu biết mà để xảy ra những chuyện bi hài như vậy không?  Tôi xin được phép nghi ngờ đây không phải chỉ vấn đề năng lực, trình độ, mà còn là vấn đề đạo đức.   Vấn đề năng lực, vì những người chưa từng có một công trình khoa học nghiêm túc nào hay chỉ có một vài công trình mà đã lâu xa rời công tác giảng dạy và nghiên cứu lại được giao trách nhiệm chủ trì các hội đồng phong các chức danh khoa học thì làm sao không phạm sai lầm ?  Vấn đề đạo đức, vì nếu những người bản thân thiếu trung thực, thiếu công tâm được giao trách nhiệm quản lý một đơn vị hay lãnh đạo một công tác đòi hỏi cao tính trung thực, sáng tạo thì làm sao tránh được đạo đức giả ? Khi mà cấp trên (trong bộ máy công quyền) không đàng hoàng thì làm sao giáo dục được cấp dưới đàng hoàng ?  Kinh nghiệm các nước đều cho thấy, khi thiếu trung thực bắt đầu từ những chuyện tưởng là nhỏ trong đời sống xã hội bị bỏ qua thì cuối cùng tất yếu sẽ dung túng tham nhũng, làm ăn dối trá chụp giật, không khuyến khích sáng tạo, chỉ cần bắt chước, ăn cắp, khôn ranh, như vậy sẽ chẳng có hy vọng gì cạnh tranh nổi để tồn tại, chưa nói để phát triển bình thường, càng khó trở thành con rồng, con hổ gì trong thế giới này. Thử nghĩ xem: với kiểu tăng trưởng như ta, dù có tăng trưởng đến 15% năm thì bao nhiêu năm nữa mới  đuổi kịp Thái Lan, Malaysia ? Huống chi tăng trưởng 10% thì phải trừ đi ít nhất 5 – 6% do môi trường hủy hoại, do ăn vào tương lai con cháu, do làm kém chất lượng, làm hư hỏng phải làm đi làm lại (nhớ rằng mỗi lần làm lại vẫn được tính vào tăng trưởng !). Cho nên là người Việt xin đừng ai nghĩ gian, dỏm chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vặt, không đáng lo.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học: Luận bàn vài điều cấp thiết      LTS. Sau bài phỏng vấn của GS Pierre Darriulat Đại học và nghiên cứu ở Việt Nam cần gì?, GS đã nhận lời đề nghị của Ban biên tập Tia Sáng làm rõ thêm một số quan điểm của mình về các vấn đề: trẻ hóa đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu; vai trò của Việt Kiều và các nhà khoa học nước ngoài đối với việc nâng cao chất lượng đại học.  Trong thư gửi Ban biên tập Tia Sáng, GS viết: Tôi phải nhấn mạnh rằng những bình luận của tôi ở đây không phải là những ý tưởng đặc biệt, đó chỉ là những suy xét thông thường hoặc nói đúng hơn những bình luận này có được nhờ vào tuổi tác hay kinh nghiệm mà tôi có được. Có rất nhiều người có nhận thức về các vấn đề này tốt hơn tôi. Một vài người trong số họ, đặc biệt từ lớp những người đứng tuổi, đã nêu lên vấn đề này nhiều lần, rõ ràng và mạnh mẽ. Một trong số đó là Giáo sư Hoàng Tụy. Họ có thể giải quyết vấn đề tốt hơn tôi nhiều. Tuy nhiên, tôi rất vui lòng nhận lời mời của Ban biên tập vì tôi nghĩ rằng tranh luận là hữu ích; đặc biệt, thế hệ trẻ nên nhiệt tình đóng góp vào nỗ lực chung này – không phải là tương lai của họ gắn liền với nó sao? Hơn nữa, gần đây tôi vô cùng vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bàn về vấn đề này. Ông cảm ơn tôi về những việc tôi đã làm, đồng thời động viên tôi tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn các hoạt động của mình cho sự tiến bộ của các đại học Việt Nam.  Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của ông.         Việt Nam đang trong tình trạng cấp bách phải có các trường đại học tốt hơn để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám và bắt kịp sự chậm trễ tích lũy nhiều năm qua do chiến tranh và do chính các trường đại học tạo ra. Tôi đã tuyên bố rằng cần phải có một cuộc cách mạng, không đơn giản chỉ là các bước cải tổ nhỏ, dần dần, từng bước như chúng ta vẫn làm. Tôi cũng đã nhận xét rằng một kế hoạch làm trẻ hóa đội ngũ, bao gồm chính sách hưu sớm, cần phải được thực hiện; vấn đề về nghiên cứu (cơ bản và ứng dụng) và đào tạo đại học (đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) cũng cần phải được quan tâm một cách đồng thời bởi vì chúng có ảnh hưởng tương tác lẫn nhau; việc đánh giá sinh viên, giảng viên, nghiên cứu viên và các đề tài nghiên cứu cần nghiêm khắc hơn, chặt chẽ hơn là yếu tố quyết định dẫn đến thành công. Tôi cũng đã nêu lên vấn đề các trường đại học phải tạo động lực cho các sinh viên xuất sắc nhất của họ tham gia đội ngũ giảng dạy của trường bằng cách đem lại cho họ những vị trí xứng đáng và làm cho họ có thể đóng góp một cách hiệu quả trong việc cải thiện trình độ đại học.   Tôi sẽ làm rõ một vài câu hỏi thực tế liên quan đến những điểm này:    Thu hút được một đội ngũ cán bộ tốt   Trước hết Chính phủ phải công khai rõ ràng và rộng rãi mục tiêu và kế hoạch cho nghiên cứu và đào tạo, thể hiện rõ quyết tâm thực hiện mục tiêu. Đây là một điều kiện tiên quyết để có thể thu hút được đội ngũ cán bộ có năng lực. Hơn nữa, khi có nhu cầu tuyển người phải thông báo một cách rộng rãi trên toàn quốc thậm chí cả ở nước ngoài tới những đồng nghiệp người Việt bằng các phương tiện thích hợp. Công việc tuyển dụng phải được thực hiện bởi hội đồng tuyển dụng với thành phần không chỉ bao gồm cán bộ của trường mà phải có cả những thành viên ngoài trường: cán bộ của các trường đại học khác, các viện nghiên cứu, trong các lĩnh vực công nghiệp… Thái độ trung lập của các hội đồng tuyển dụng này phải được làm rõ và hiển nhiên là tham ô, gian lận, thiên vị và ưu đãi cho người thân phải bị cấm trong quá trình xét tuyển. Các quy định tuyển dụng phải được thông báo một cách rõ ràng: yêu cầu về phẩm chất và kinh nghiệm, triển vọng về lương bổng và sự nghiệp, quyền và nghĩa vụ…  Công dân Việt Nam, dù sinh sống ở Việt Nam hay ở một đất nước khác trên thế giới, rõ ràng nên được ưu tiên tuyển dụng, theo tôi các Việt kiều hiện nay không có quốc tịch Việt Nam cũng nên được xem xét: thật là đáng tiếc nếu không thể tận dụng được nguồn tài năng, năng lực và chuyên môn này. Tôi không muốn bình luận thêm về những điều kiện theo đó họ có thể được tuyển dụng vào đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra bình luận về sự tuyển mộ các nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài, liên quan đến một vài truờng hợp mà tôi đã được chứng kiến.  Thứ nhất, một số nhà khoa học thành đạt do may mắn được đào tạo trong một trường đại học hoặc một viện nghiên cứu tốt ở một nước phát triển rõ ràng đã được hưởng các điều kiện làm việc tốt hơn so với những đồng nghiệp làm việc trong nước và cũng quen với môi trường có khả năng và chuyên môn tốt hơn. Tuy nhiên, chính tôi cũng đã gặp không ít sinh viên hoặc nghiên cứu sinh học ở các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu kém chất lượng (có rất nhiều nơi như thế ở nước ngoài) hoặc họ không đủ khả năng để hoàn thành khóa học. Do đó, trước khi tuyển dụng cần đánh giá một cách chính xác giá trị và thực chất học vị và bằng cấp của các sinh viên được đào tạo ở nước ngoài, hoặc phẩm chất khoa học của các nhà khoa học  những người đã và đang tham gia giảng dạy hoặc thực hiện nghiên cứu ở nước ngoài là thiết yếu.  Thứ hai, cần tạo môi trường thuận lợi cho các thực tập sinh sau tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài và các nhà khoa học Việt kiều trở về quê hương làm việc. Tuy nhiên, các thực tập sinh cũng nên biết rằng họ đã được hưởng đặc ân hơn so với bạn bè đồng lứa những người không đạt được thành quả như họ và gặp rất nhiều khó khăn hơn ở Việt Nam trong khi họ được hưởng đào tạo tốt hơn. Do đó, họ nên tỏ ra nhún nhường và khiêm tốn. Họ nên xác định tư tưởng phục vụ cho lợi ích của đất nước chứ không chỉ lợi ích của riêng của mình, và đặc biệt phải tạo được sự kết nối giữa kiến thức và chuyên môn của họ với những đồng nghiệp kém may mắn hơn.  Vai trò của các nhà khoa học và sinh viên nước ngoài   Có thể khẳng định sẽ có nhiều sinh viên nước ngoài hơn đến học ở các đại học Việt Nam trong tương lai. Họ nên được tiếp tục chào đón như hiện nay và sự tiếp xúc của họ với các sinh viên Việt Nam sẽ làm giàu văn hóa lẫn nhau  Các giảng viên, nhà khoa học nước ngoài đã và đang đóng góp vào giáo dục đại học Việt Nam theo nhiều cách khác nhau qua: các khóa học ngắn, đến thăm trong một thời gian ngắn tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu và tham dự vào các hội đồng.  Hiện nay, đã có các nhà khoa học nước ngoài có uy tín giảng dạy ở Việt Nam. Đích thân tôi đã tham dự rất nhiều lớp học mùa hè hoặc mùa đông tại Hà Nội hoặc ở các tỉnh khác nơi các nhà khoa học này đã tham gia giảng dạy. Chưa kể nhiều hội nghị quốc tế diễn ra tại Việt Nam mang lại nhiều cơ hội tiếp xúc với các nhà khoa học nước ngoài nổi tiếng.   Những sự kiện này vô cùng quan trọng. Chúng cung cấp trực tiếp những kiến thức cập nhật, cùng với khả năng tương tác trực tiếp với các giảng viên và đem lại nhiều tài liệu quý các bài giảng được viết bởi các giảng viên, các bài trình bày Power Point hoặc các tài liệu khác mà có thể dễ dàng sử dụng sau đó để dạy lại cho các sinh viên và các đồng nghiệp khác. Qua các hội nghị này đã tạo ra một mạng lưới quan hệ chuyên nghiệp và thân thiện giữa các nhà khoa học trên toàn thế giới. Hơn nữa, các sự kiện này đem lại cơ hội cho các sinh viên Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với các nhà khoa học tầm cỡ thế giới và chứng kiến tận mắt niềm đam mê của họ đối với khoa học, sự nghiêm túc và trung thực của họ, sự kính trọng của họ đối với các khoa học ngành khác nhau, đặc biệt giữa lý thuyết và thực nghiệm.  Tuy nhiên, qua kinh nghiệm của tôi cho thấy, số đông người tham dự thường không phù hợp, sự kiện không được phổ biến rộng rãi, và hiếm khi được thông báo ra bên ngoài bức tường của trường đại học nơi sự kiện diễn ra. Trình độ của sinh viên nghe giảng thường quá thấp để có thể thực sự tiếp thu được các bài giảng. Điều này ngược với các trường đại học ở những nước phát triển nơi mà các chuyên đề nghiên cứu, các hội thảo chuyên ngành và các bài giảng trình bày bởi những người không phải của trường luôn được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giảng viên của khoa. Một bình luận cuối cùng đó là phần lớn sinh viên Việt Nam không sử dụng thành thạo tiếng Anh, ngôn ngữ khoa học hiện nay, điều này là một cản trở lớn đến khả năng của họ trong việc tiếp thu kiến thức từ các bài giảng này.  Những cuộc viếng thăm của các nhà khoa học nước ngoài tới các phòng thí nghiệm Việt Nam, dù rằng đôi khi là những chuyến thăm ngắn một hoặc hai tháng ít nhất cũng manglại nhiều lợi ích như những chuyến thăm của các nhà khoa học Việt Nam tới các phòng thí nghiệm nước ngoài. Như, các nghiên cứu sinh Việt Nam sẽ được làm việc dưới sự hướng dẫn của một giáo sư Việt Nam và một giáo sư nước ngoài. Nhiều quốc gia cũng có các chương trình hợp tác khoa học quốc tế như vậy.   Trong khi làm việc tại Việt Nam, các nhà khoa học nước ngoài có thể giúp các nhà khoa học Việt Nam lắp đặt và đưa vào vận hành các thiết bị, sau đó có thể được sử dụng một cách hiệu quả. Hoặc họ có thể giúp xây dựng các đường hướng chính trong nghiên cứu sau đó các nhà khoa học Việt Nam có thể dễ dàng tiếp tục theo đuổi thực hiện. Hơn nữa, họ có thể giảng bài, trình bày các chuyên đề nghiên cứu, hội thảo chuyên ngành nhân dịp chuyến thăm.                  Hiện nay sự tham dự của các nhà khoa học nước ngoài dưới hình thức là các cố vấn trong các hội đồng, ban hay các nhóm giải quyết các vấn đề chung về quản lý về nghiên cứu và đào tạo của một trường, bộ môn, viện nghiên cứu hoặc một dự án nghiên cứu cụ thể thường chưa được coi trọng. Điều đó thật đáng tiếc, bởi vì các thành viên nước ngoài của các hội đồng đo, bên cạnh những ý kiến chuyên môn, họ còn mang theo nhiều kinh nghiệm, quan điểm khác nhau và cả sự trung lập; nhờ sự xuất hiện của họ có thể giúp chúng ta mất thời gian vào những cuộc tranh luận quá thiển cận1.  Thu hút thực tập sinh sau tiến sỹ trẻ về với các khoa, tạo động lực và nhiệt tình cho họ bằng cách bổ nhiệm họ vào các vị trí mà họ có thể là những nhân vật chính của cuộc đổi mới giáo dục đại học là một việc cần thiết. Tuy nhiên làm thế nào để thực hiện được các việc đó lại là một việc khác.  Tôi hoàn toàn nhận thức được sự đồ sộ và phức tạp của của khối lượng công việc phải thực hiện. Và chỉ có thể giải quyết được với một cái nhìn tổng thể về giáo dục đại học. Trường đại học Việt Nam hiện nay giống như một bậc tiếp theo của giáo dục phổ thông hơn là đại học khi so sánh với những đại học ở các nước phát triển. Hệ thống các lớp học ở đại học của Việt Nam hiện nay ngăn cản sự phát triển của giáo dục đại học phải được bãi bỏ và thay thế bởi hệ thống đảo tạo tín chỉ đang được sử dụng ở các nước phát triển nhất. Gần đây, tôi có gợi ý một chủ nhiệm khoa vật lý của một trong các trường đại học Hà Nội để trống một buổi chiều trong tuần cho phép sinh viên theo học các khóa học họ thích. Tôi nghĩ rằng đó có thể là bước đầu tiên trên đường tiến tới một hệ thống mới đào tạo theo tín chỉ. Tôi đã nghĩ về vật lý thiên văn và nhiều lĩnh vực khác cũng có thể làm như thế. Nhưng yêu cầu đó dường như không thể thực hiện được (chỉ có Bộ trưởng mới có thể thực hiện được điều đó!). Với việc kiểm tra việc học tập của sinh viên một cách nghiêm ngặt và nghiêm túc hơn hiện nay chắc sẽ có không ít sinh viên phải chuyển hướng tới các trường học nghề nơi đào tạo các kỹ thuật viên trình độ cao. Nhiều ví dụ khác có thể được dẫn để minh họa cho sự cần thiết phải có một kế hoạch tổng thể.   Người đọc có thể lo sợ rằng một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học có thể làm hại hơn là đem lại lợi ích, vì xây dựng thì luôn khó khăn và tốn thời gian hơn nhiều so với việc phá hỏng. Đó là những lo lắng chính đáng và có lẽ bất kỳ ai sẽ cảm thấy rất có lỗi nếu bị cho là vô trách nhiệm và gây nguy hại đến những thứ đang tồn tại ngày nay. Mọi hành động cần phải được lập kế hoạch và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi áp dụng và sự tiến triển của quá trình chuyển đổi phải được giám sát cẩn thận. Cần chọn ra một vài khoa để áp dụng thay đổi. Bắt buộc phải có kế hoạch cẩn thận và liên lạc tốt để làm cho mọi người biết đến và hiểu rõ.  Những bình luận còn nông cạn trên của tôi có thể sai hoặc rất ngờ nghệch, nhưng hy vọng bạn đọc sẽ thư lỗi cho tôi vì, ít nhất đó là những bình luận thẳng thắn, với mong muốn có thể phần nào được sử dụng giúp cho thế hệ trẻ của đất nước, và đặc biệt là các sinh viên của tôi, có được một tương lai tốt đẹp hơn.   ————–  1 Gần đây tôi có cơ hội đọc một báo cáo tuyệt vời viết bởi các giáo sư Mỹ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học của Việt Nam. Những sự đánh giá như thế là tài liệu vô giá nên được phổ biến rộng rãi tới những người quan tâm đến vấn đề đào tạo đại học và nghiên cứu.    Pierre Darriulat    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học Việt Nam cần một cuộc cách mạng      Qua b&#224;i b&#236;nh luận tr&#234;n Tia S&#225;ng về t&#237;nh khả thi của đề &#225;n x&#226;y dựng đại học đẳng cấp quốc tế do Bộ Gi&#225;o dục v&#224; Đ&#224;o tạo (GD&amp;ĐT)đề nghị, t&#244;i c&#243; v&#224;i lời b&#236;nh luận th&#234;m.    Một quan chức của Bộ GD&ĐT lấy mô hình của Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong (HKUST) để cho rằng đề án của Bộ là khả thi. Quan chức này nói: “Tuy vậy, chỉ trong vòng 15 năm kể từ ngày khai giảng khoá đầu, trường đã được NewsWeek xếp hạng 60 trên toàn thế giới, cao nhất trong số các trường ĐH ở Hong Kong.” Thật khó tin! Tia Sáng hỏi “không biết trường này có trong tốp 200 theo xếp hạng của ĐH Thượng Hải?”Nhưng như tôi nói trước đây, có nhiều cách xếp hạng, và chẳng có cách nào khách quan cả. Ngay cả cách xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải cũng bị các chuyên gia Hà Lan xem là ngớ ngẩn, và thiếu chuyên nghiệp. Nhưng để trả lời câu hỏi của Tia Sáng, tôi thử tra bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải thì thấy HKUST được xếp vào hạng 212 trên thế giới, sau trường Chinese University of Hong Kong (hạng 204). Ngay cả xếp hạng ở Á châu năm 2008, trường Chinese University of Hong Kong vẫn cao hơn HKUST.Do đó, nói như quan chức của Bộ GD&ĐT không hẳn đúng, vì HKUST không phải là trường được xếp hạng cao nhất ở Hong Kong. Lấy HKUST ra làm mô hình để phát triển thì tôi e rằng không nên. Cách xếp hạng thường dựa vào các chỉ tiêu như sự thành đạt của cựu sinh viên, giải thưởng quốc tế của các giáo sư, nghiên cứu khoa học, v.v… Nhìn vào bảng xếp hạng thì thấy điểm về cựu sinh viên và giải thưởng quốc tế của HKUST là 0 (có lẽ còn quá “trẻ”, mới 18 năm); điểm về các công trình nghiên cứu có chất lượng cao, có ảnh hưởng, thì trường này thuộc vào loại làng nhàng (16.3 trên 100), nhưng điểm về nghiên cứu khoa học nói chung thì họ kha khá (33.5 trên 100). Nói cách khác, HKUST đi lên nhờ vào nghiên cứu khoa học là chính.Tuy nhiên, phải ghi nhận một điều là chỉ trong vòng 18 năm mà HKUST đã vươn từ một trường vô danh thành một trường có tiếng như vậy cũng rất đáng được khen. Thành tựu đó một phần là do kinh phí dồi dào (hàng tỉ USD đã được đầu tư), nhưng phần lớn là do lãnh đạo tốt, có uy tín thu hút một lực lượng giáo sư và nhà khoa học có tiếng làm việc cho trường. Tôi chưa đến HKUST lần nào, nhưng từng làm visiting professor (hình như Việt Nam dịch là “giáo sư thỉnh giảng”) cho Chinese University of Hong Kong thì tôi thấy cách làm việc ở đây (từ quản lí đến hành chính) chẳng khác gì các đại học phương Tây. Thật vậy, tôi thấy mình “at home” và rất thoải mái ngay từ ngày đầu tiên làm việc ở đây, “at home” đến nỗi có lần tôi suýt bỏ Úc sang đây đầu quân theo lời mời của một đồng nghiệp. Nhìn lại tình hình ở Việt Nam ta, tôi thấy khó có trường nào có thể đuổi kịp HKUST. Ở Việt Nam, có thể chúng ta không có nhiều nhà khoa học tài giỏi như Hong Kong, nhưng chúng ta không thiếu những tài năng vượt trội tầm cỡ quốc tế; cái mà chúng ta thiếu là môi trường cho tài năng được chấp cánh và phát huy. Tôi có nói chuyện với vài hiệu trưởng đại học ở trong nước, và cảm nhận mà tôi có được là họ quá bận rộn với việc quản lí (management) nên không có thì giờ suy nghĩ về chiến lược (strategy). Nói cách khác, lãnh đạo đại học ở Việt Nam đang chỉ là nhà quản lí chứ chưa là nhà chiến lược. Họ chưa có thì giờ nhìn xa để thấy 5 hay 10 năm nữa đại học của mình ở đâu trên thế giới này, mà chỉ loay hoay với những chuyện hằng ngày. Họ cũng không có cố vấn có kính nghiệm quốc tế. Có lãnh đạo đại học y thậm chí vẫn còn khám bệnh và làm phẫu thuật! Thế thì khó mà đòi hỏi họ một tầm nhìn chiến lược được.Môi trường quản lí còn quá nhiều rào cản. Nào là phải Đảng viên mới có quyền làm hiệu trưởng hay trưởng khoa được, rồi chuyện “cơ cấu” (xếp người vào vị trí theo một qui trình nào đó), chuyện “hành là chính”, v.v… Chẳng nói gì xa xôi, chỉ việc một giáo sư nước ngoài về giảng bài hay nói chuyện trong hội nghị mà ban tổ chức cũng phải chạy đôn chạy đáo xin phép …. Với những khó khăn như thế thì nói gì đến chuyện xây dựng một (chứ chưa nói 4) đại học đẳng cấp quốc tế. Trước đây tôi có phát biểu trên Tia Sáng, và nay lặp lại một ý liên quan đến vấn đề này: Tôi nghĩ mô hình đại học mới phải như CalTech hay ANU của Úc, tức là tập trung vào nghiên cứu sinh và nghiên cứu khoa học. Không cần đại học lớn, chỉ vài trăm (<1000 sinh viên tài giỏi) và một nhóm giáo sư tài giỏi tầm cỡ quốc tế thật sự thì có thể trong vòng 10-15 năm đưa trường lên đẳng cấp quốc tế (lấy kinh nghiệm ANU). Chúng ta nên bắt đầu nhỏ nhưng chắc và tốt, và sau đó phát triển lớn lên; chứ không nên bắt chước một trường như HKUST. Không nên đặt mục tiêu duy ý chí kiểu 10 năm nữa phải có trường đẳng cấp quốc tế, hay “phấn đấu” thế này thế nọ; chỉ âm thầm thực hiện và thực hiện tốt thì thế giới sẽ biết chứ không cần đánh trống tự xưng mình là “đẳng cấp quốc tế”.Tôi vẫn nghĩ giáo dục đại học VN cần một cuộc cách mạng, để đưa giáo dục đại học lên một tầm cỡ mới, sánh vai cùng bè bạn trên thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục, sản phẩm bị động hay tác giả chủ động?      Vừa rồi tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, vừa nhậm chức, đã có thư gửi đồng bào, và không chờ đợi, đề cập ngay đến một số vấn nạn đang nóng bỏng của ngành, không chỉ đề cập mà còn bày tỏ quan điểm riêng của mình, khá thẳng thắn, tuy có thể hơi vội. Ông nói ngay đến bệnh thành tích, cho rằng giáo dục có chịu trách nhiệm về căn bệnh nặng đó, tất nhiên rồi, nhưng phụ huynh cũng là đồng tác giả của căn bệnh này, chẳng kém. Không chữa ở phụ huynh, thì bệnh cũng cứ nan y như thường. Và nói phụ huynh tức là nói xã hội, xã hội không chữa thì chỉ giáo dục thôi cũng chẳng làm gì được.         Đúng ra thì bệnh thành tích chẳng qua chỉ là một mặt, một biểu hiện của một bệnh, một tên gọi khác cho sang của một thói tật xấu chung hơn, bao quát và nguy hiểm hơn nhiều: bệnh giả dối, nói dối… Và bệnh nói dối, giả dối quả khá phổ biến trong xã hội, không phải chỉ mới đây, có người còn cho rằng nó thuộc về một cái gốc nào đó của xã hội. Gốc đã vậy thì cành nhánh như vậy ắt là tất yếu. Chuyện phao thi trắng xóa sân trường hàng năm, chuyện ông bí thư Trung ương Đoàn vi phạm qui chế thi, chuyện bệnh thành tích… của giáo dục thì cũng như chuyện rút ruột công trình, thay cọc sắt cho bê tông bằng cọc tre, cả chuyện PMU18…, và vô số những chuyện khác nữa, ngành đương sự phải chịu trách nhiệm, tất nhiên, nhưng nói cho cùng ngành đương sự cũng chẳng làm gì được, nếu xã hội vẫn còn như thế. Giáo dục cũng chỉ là một ngành đương sự như các ngành đương sự khác, không thể hơn.    Theo tôi, có thể vấn đề nằm chính ở chỗ này: đối với xã hội, giáo dục có phải cũng chỉ là một ngành “đương sự” trong cái chung là xã hội như bao nhiêu ngành khác không? Cũng chỉ là sản phẩm tất yếu của xã hội, xã hội nào thì giáo dục ấy, xã hội hư thì giáo dục hư, không thể nào khác? Hay có thể ngược lại: giáo dục không chỉ là sản phẩm tất yếu của xã hội, mà còn là, có thể là, phải là, và đó là thiên chức lớn lao nhất của nó: tác giả của xã hội. Chính nó phải chủ động đẻ ra xã hội chứ không phải chỉ có thể là con đẻ bị động một bề của xã hội. Sai lầm lớn nhất của giáo dục lâu nay chính là ở chỗ này: nó đã cam tâm chịu làm sản phẩm xuống cấp của một xã hội xuống cấp, không những không chạy chữa, không vực xã hội ấy lên, dựng xã hội ấy dậy, không bằng thiên chức và khả năng riêng có của nó, làm cuộc cách mạng đạo đức ghìm giữ sự trong sạch, và trong sạch hóa, cải tạo xã hội. Không những thế, nó lại còn, cũng lại bằng chính khả năng riêng có, là tác dụng vô cùng rộng lớn, sâu sắc của nó (nó tác động vào con người ở chính tuổi quyết định hình thành nhân cách của con người, và mạng lưới tác động của nó thì mênh mông, hơn bất cứ ngành nào khác) góp phần rất lớn, không nên che giấu điều này, làm hư hỏng thêm xã hội. Bằng bệnh thành tích nặng nề và phổ biến của nó, nó dạy thêm cho xã hội, từ đứa bé nhất, tật xấu nhất, tồi tệ nhất ở đời, bệnh nguy hiểm nhất của một xã hội: bệnh nói dối, sống giả dối.  Nó cần và hoàn toàn có thể làm khác, và chính vì sự khác đó mà người ta mới gọi nó là quốc sách hàng đầu. Có rất nhiều ví dụ về điều này, lớn và nhỏ, lịch sử và thường ngày, ngoài nước và trong nước.              Nhân ý kiến về bệnh thành tích trong giáo dục do ông Bộ trưởng mới của Bộ nêu ra, nguyên nhân của nó, cách chữa trị, tôi muốn đề nghị ta thử thảo luận cho đến nơi đến chốn chuyện này xem sao. Có thể sẽ vỡ ra được một lẽ phải lớn nào ở đây chăng?            Ví dụ lớn: như chúng ta đều biết, rất nhiều cuộc cách mạng vĩ đại và nhiều cuộc duy tân, bứt phá của các dân tộc đã bắt đầu bằng giáo dục. Cách mạng Pháp: Jean Jacques Rousseau, một trong những cha tinh thần chủ yếu của cuộc cách mạng vĩ đại này là nhà giáo dục lớn. Nhật Bản, nước Châu Á đầu tiên trở thành cường quốc, đã bắt đầu công cuộc Duy tân lừng danh của mình chính bằng giáo dục. Rồi Hàn Quốc, Đài Loan, cả Xinhgapo, Thái Lan… đều vượt lên từ tình trạng lạc hậu, thậm chí còn tệ hơn ta rất nhiều ở bước khởi điểm, trước hết bằng giáo dục, cải cách giáo dục, mạnh mẽ, quyết liệt, tập trung toàn lực vào đó… Ở ta cũng không phải không từng có kinh nghiệm: đầu thế kỷ 20, Phan Châu Trinh đã tìm ra nguyên nhân mất nước chính trong nền giáo dục hư học tệ hại, và quyết chủ trương cứu nước trước hết bằng công cuộc Khai dân trí, cụ thể là một cuộc cải cách giáo dục sáng suốt và sớm một cách đáng kinh ngạc…  Ví dụ nhỏ: vừa rồi, trong một bài báo, một tác giả đã kể câu chuyện, hình như ở Châu Âu, một em bé đi học về, thấy bố hút thuốc trong nhà, đã nghiêm khắc phê phán, yêu cầu bố tắt thuốc ngay, hoặc ra ngoài đường mà hút. Riêng tôi thì có lần được tận mắt chứng kiến câu chuyện nhỏ này, ở Mỹ: một bé gái, học lớp 5, ở trường về được các bạn tết cho đầu tóc thành những bím con lăn tăn theo lối Châu Phi. Mẹ em tỏ vẻ không bằng lòng. Em nghiêm khắc phê bình mẹ ngay: Vậy là mẹ có tư tưởng xấu phân biệt chủng tộc! Thật buồn và xấu hổ biết bao, khi trở về trong cái xóm nhỏ của mình là một khu tập thể dân cư ngay giữa thủ đô, tôi được nghe một em bé mới học lớp 3 thỏ thẻ kể chuyện cô giáo em cẩn thận bố trí, bày cách cho các em dựng một màn lừa như thế nào để che mắt đoàn kiểm tra cấp trên sắp đến lớp. Ai cũng biết những chuyện như vậy bây giờ có thể nghe thấy hằng ngày bất cứ đâu ở ta… Chuyện rất nhỏ, nhưng ý nghĩa thì không nhỏ chút nào: bệnh thành tích, cần được gọi đích danh là bệnh nói dối, đang được “dạy” khá phổ biến trong các trường của ta. Chính nó góp phần chẳng nhỏ chút nào làm hư hỏng thêm xã hội, đặc biệt nguy hiểm là ở những thế hệ sẽ làm chủ xã hội, trong khi nhà trường có thể tạo ra thế hệ những người sẽ làm thay đổi xã hội, chữa bệnh cho xã hội, cho cha anh nếu cha anh “có vấn đề”. Nhà trường có thể và cần cải tạo phụ huynh, chứ không phải ngồi chờ phụ huynh, tức xã hội cứu cho nhà trường.   Rất có thể sự xuống cấp của giáo dục có nguyên nhân trước hết ở chỗ nó đã tự tầm thường hóa thiên chức xã hội của mình đi như vậy đấy.Và nếu xã hội (bao gồm cả lãnh đạo) có lỗi thì  trước hết cũng là ở chỗ đã tầm thường hóa thiên chức của giáo dục.  Nhân ý kiến về bệnh thành tích trong giáo dục do ông Bộ trưởng mới của Bộ nêu ra, nguyên nhân của nó, cách chữa trị, tôi muốn đề nghị ta thử thảo luận cho đến nơi đến chốn chuyện này xem sao. Có thể sẽ vỡ ra được một lẽ phải lớn nào ở đây chăng?  Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao lưu với Chương trình Sách hóa nông thôn VN      Vào ngày cuối cùng của Hội chợ Ngày Sách  Việt Nam, Chương trình Chương trình Sách hóa  nông thôn sẽ có buổi giao lưu với những bạn đọc quan tâm đến văn hóa  đọc kinh nghiệm xây dựng các loại hình tủ sách.    Từ huyện Quế Sơn, Quảng Nam, trên hành trình xuyên Việt, anh Nguyễn Quang Thạch, người khởi xướng chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam, cho biết, tham gia làm diễn giả tại buổi giao lưu sẽ có một số cá nhân đã có đóng góp rất lớn trong việc phát triển văn hóa tại Thái Bình. “Đó là những người đã có công đưa số đầu sách đọc mỗi năm ở các em học sinh phổ thông tăng từ 10 đến 20 lần ở những trường bình thường, tức là từ 0,4 quyển lên 5 quyển, 10 quyển/năm; và tăng đến gần trăm lần ở những trường điển hình – từ 0,4 quyển lên 30 quyển/năm.   Sau tám năm áp dụng các mô hình tủ sách tại nông thôn, Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam cho biết đã triển khai các loại tủ sách như: Tủ sách phụ huynh (3.700 tủ), Tủ sách dòng họ (120 tủ), Tủ sách giáo xứ (30 tủ) và Tủ sách hậu phương-quê hương chiến sĩ (6 tủ), giúp hơn 200.000 người dân nông thôn, đặc biệt là 100.000 học sinh nông thôn có cơ hội đọc sách (ngoài SGK).  Từ ngày mùng Một Tết năm nay, Nguyễn Quang Thạch đã bắt đầu chương trình đi bộ xuyên Việt, kêu gọi cộng đồng cùng chung tay với Sách hóa nông thôn Việt Nam nhằm đạt mục tiêu tạo ra 300.000 tủ sách trên cả nước vào năm 2017.  Thông tin chi tiết:  Thời gian: Thứ Ba, 21/4, từ 15h-17h30,  Địa điểm: Công viên Thống Nhất, sân  khấu chính (phía cuối đường sách, giáp hồ Bảy Mẫu).  Các hoạt động chính:   – Giới thiệu về Chương trình SHNTVN và các loại hình tủ sách khác;   – Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và khai thác các loại hình tủ sách;  – Nhận quyên góp sách từ các độc giả, khách thăm quan;  – Quyên góp tiền lẻ cho SHNTVN;    – Tặng sách bộ sách gồm “Những cuốn sách đổi đời” do Tập đoàn Trung Nguyên tài trợ;      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao thông đô thị: Muốn chữa bệnh đúng phải bắt trúng bệnh      Theo dõi quá trình xây dựng đề án “Thí điểm cấm xe máy”, chúng ta chỉ thấy đơn vị xây dựng đề án công bố số lượng xe máy, tác động tiêu cực của xe máy lên hệ thống đường xá còn thiếu hụt, ý thức người điều khiển phương tiện còn hạn chế, xe máy còn là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn đô thị … mà chưa có khảo sát mô hình di chuyển thực tại. Đây mới chỉ là thông tin và lập luận sơ sài, chưa thuyết phục.    Hà Nội đã từng tắc nghẽn giao thông từ cách đây 40 năm (1975-1985). Khi ấy Hà Nội không tắc vì ô tô xe máy mà tắc vì nhiều xe đạp. Người dân trong các làng ngoại ô quanh Hà Nội phải vượt  5-7 km vào thành phố kiếm việc làm. Có khoảng vài cuộc di chuyển/ ngày, nhưng đường phố nhỏ bé, hầu như giữ nguyên mạng lưới đường xá từ nửa đầu thế kỷ XX (trước 1954). Người Hà Nội đến giờ vẫn còn nhớ những đường phố ùn tắc xe đạp liên miên, người người chen chân hàng tiếng đồng hồ trên các phố Khâm Thiên, Hàng Bột, Ngã tư Sở, Cửa Nam hay cầu Long Biên, đặc biệt bên Gia Lâm (hồi chưa có cầu Chương Dương). Hàng chục năm vật vã đối phó, hàng loạt giải pháp tung ra, hàng ngàn hecta đất ruộng đổi lấy hạ tầng, hàng chục tỷ USD từ các nguồn đầu tư cho giao thông đô thị. Tuy nhiên đến nay, Hà Nội vẫn tắc nghẽn do hằng ngày, ô tô xe máy do hàng triệu cư dân di chuyển từ các khu đô thị và các tỉnh lân cận trung tâm thành phố để kiếm việc làm, giao dịch, buôn bán, học hành. Năm 2018, Hà Nội có 20 triệu cuộc di chuyển trong thành phố/ ngày, và sẽ có 30 triệu vào năm 2030 (theo Nguyễn Ngọc Quang, ĐH GTVT). Hiện nay, nhiều tuyến đường huyết mạch ùn tắc với cường độ, tần suất tăng lên liên tục.       Ảnh trên: Ga ĐSĐT tại Hà Nội: lối lên nhỏ, dốc và chật chội – gây khó khăn cho người tiếp cận; Ảnh dưới: Ga ĐSĐT tại Bang Kok: lối thoát từ ga tỏa vào các tòa nhà chung quanh. Lối xuống kết nối với đường đi bộ có mái che, lối qua đường rút ngắn có gờ giảm tốc an toàn cho người đi bộ,có đường dốc vào thang máy dành cho người khuyết  tật.  Đối mặt với vấn nạn ùn tắc giao thông, trong tháng 3/2019, Hà Nội đề xuất thí điểm cấm xe máy tại 2 tuyến đường có mật độ phương tiện cao nhất thành phố, với lý do tại đây đã có tuyến BUS nhanh (BRT), và tuyến đường sắt đô thị (ĐSĐT) số 2A sẽ được đưa vào vận hành. Ngoài ra còn viện dẫn các thành phố châu Âu, châu Úc hay Trung Quốc đã cấm xe máy thành công, nên Hà Nội ta cũng nên làm… Dư luận lo ngại những đề xuất này là chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và không khả thi.  Mô hình di chuyển hiện tại: Xe máy gánh 90% các cuộc di chuyển   Để thay thế phương thức đi lại cá nhân bằng công cộng, cần phải thực hiện khảo sát mô hình di chuyển trong bối cảnh thực tại. Cho đến nay, Hà Nội vẫn là thủ đô của quốc gia thuộc nhóm nước có “thu nhập trung bình thấp, xếp thứ 136/168 nước. GDP bình quân đầu người chỉ ngang mức của Malaysia cách đây 20 năm, Thái Lan 15 năm hay Indonesia 10 năm trước” (theo ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT). Thực trạng kinh tế thủ đô  vẫn được định hình rõ nét với các hoạt động thương mại dịch vụ là cơ bản và kinh tế hộ nhỏ lẻ chiếm đa số. Bên cạnh những kết quả tăng trưởng ngoạn mục trong lĩnh vực đầu tư bất động sản lớn tập trung vào một số tập đoàn tên tuổi thì đại đa số cư dân Hà Nội vẫn hằng ngày len lỏi trong các ngóc ngách từ làng ra phố, từ phố nọ ra phố kia để làm việc, học tập, giao dịch mưu sinh hằng ngày và xe máy đang đáp ứng hơn 90% các cuộc di chuyển. Xe bus công cộng phục vụ dưới 1 triệu  lượt  khách –  đạt 5%  tổng số 20 triệu cuộc di chuyển. Tuyến ĐSĐT số 2A ( Hà Đông – Cát Linh) chạy liên tục 20 giờ/ ngày, hoạt động hết công suất (lý tưởng) thì  cũng thêm 1 triệu lượt khách/ ngày. Di chuyển bằng xe máy vẫn còn khoảng 17-18 triệu lượt/ ngày. Viễn cảnh công dân thủ đô đọc báo trên xe bus hay ĐSĐT đến chỗ làm, trường học vẫn là giấc mơ xa vời không chỉ nay mai mà còn hàng chục năm tiếp theo.  Muốn chữa bệnh đúng thì bắt bệnh phải trúng. Để lập một kế hoạch chuyển đổi phương tiện, ảnh hưởng đến hoạt động toàn thành phố không thể sơ sài, giản đơn, cần phải tiến hành phương pháp phân tích theo cấu trúc (AHP -Analytic Hierarchy Process); AHP có tính năng xử lý yếu tố định tính và định lượng cùng một lúc, nhằm áp dụng cho các vấn đề đánh giá phức tạp, AHP đánh giá toàn diện các khía cạnh: chi phí xây dựng và bảo trì, các quan điểm và tham khảo cả người dân địa phương. Tất cả các thành phố trên thế giới đã thực hiện như vậy, chỉ tiếc là Hà Nội ta chưa sử dụng.    Nguyễn Ngọc Quang, ĐH GTVT dùng GIS phân tích sự bất hợp lý trong bố trí nhà ga và hướng tuyến ĐSĐT số 2: Ga một nơi , khu dân cư một nẻo  Để phân tích quan hệ tương tác trong mạng lưới, cần dựa vào 3 dữ liệu chính: Phạm vi vùng phục vụ bao gồm diện tích, dân số, tần suất di chuyển, khả năng chuyển đổi, kết nối trong mạng lưới. Nhiều thành phố còn sử dụng “Lý thuyết đồ thị cập nhật” (UGT-Updated Graph Theory). Phân tích đa hồi quy cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa ba chỉ số để đạt được mức độ phù hợp. Ngay thời điểm công bố (1/2009), phương pháp này đã được tiến hành tại hệ thống giao thông đô thị với hệ thống đường sắt đô thị của 19 thành phố toàn thế giới gồm: Toronto, Ontario, Montreal, Quebec, Chicago, Illinois, New York, Washington DC; Sanfrancisco, California, Mexico city, London, Paris; Lyon, Madrid, Berlin, Athens, Stockholm, Matxcơva, Tokyo, Osaka, Seoul và Singapore. Qua đó đưa ra biện pháp tác động hay lộ trình tối ưu  thực  hiện việc hoán đổi phương thức di chuyển. Tại Hà Nội, các chuyên gia độc lập cũng đã dùng công cụ phân tích hệ thống thông tin địa lý (GIS- Geografic Information System) để chỉ ra những bất hợp lý trong việc bố trí các nhà ga, hướng tuyến ĐSĐT.  Những kế sách thiếu căn cứ như vậy được đưa ra là do chưa thực hiện “Đánh giá tác động của chính sách” (RIA-Regulatory Impact Assessment). Đây là quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá các giải pháp, lựa chọn chính sách, để có thể lựa chọn giải pháp tốt nhất, giảm được nguy cơ thất bại của chính sách, tăng cường tính minh bạch, giúp củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật và hoạt động quản lý nhà  nước. Nhiều nước đã sử dụng quy trình này. Thậm chí năm 2001, Nhật Bản đã ban hành “Đạo luật Đánh giá chính sách chính phủ” (Đạo luật 86) có 5 chương 22 điều.  Không cần cấm đi, chỉ cần chính sách đỗ xe hợp lý   Đánh giá hiện trạng bố trí, sử dụng các bãi đỗ xe trong trung tâm thành phố cũng là rất cần thiết. Lấy ví dụ đơn cử, quận Hoàn Kiếm có gần 200.000 xe máy và 17.000 ô tô, diện tích đỗ xe cần hơn 1 triệu m2. Hiện đã có hơn 300 điểm đỗ xe được cấp, phần lớn là lòng đường, vỉa hè… nhưng mới đáp ứng 14%, còn thiếu 86%. Các nơi đỗ xe được bố trí bừa bãi vào lòng đường, vỉa hè và cơ bản là đất công cộng hoặc sở hữu công, trong khi thu ngân sách từ khoản này hầu như không đáng kể. Ai cũng biết phí gửi xe máy quanh hồ Hoàn Kiếm vào ngày lễ không dưới 30 ngàn đồng (3m2/xe), tương đương 10 ngàn đồng/m2. Nếu thu phí theo giá này thì với nhu cầu diện tích 1 triệu m3, quận Hoàn Kiếm có thể thu 10 tỷ/ngày và 3.600 tỷ/năm, bằng ½ tổng thu ngân sách của quận. Thu vậy mới đủ chi đầu tư xây bãi đỗ xe ngầm-nổi, còn khoán thu ngân sách lòng đường hè phố quá thấp như  hiện nay thì không doanh nghiệp nào đầu tư bãi đỗ xe và ai cũng chiếm đất công đỗ xe khiến chuyện lấn chiếm lòng đường, vỉa hè phát triển tràn lan, không gì ngăn cản nổi.  Muốn thay đổi thì hãy bắt đầu từ việc tưởng chừng như nhỏ: không cấm xe đi lại mà hãy có chính sách đỗ xe hợp lý. Cần phải thu phí sử dụng không gian đô thị không chỉ để đỗ xe mà còn các việc khác, đặc biệt là khu vực công: vỉa hè, bãi đỗ xe của các cơ quan/ công sở cũng cần khoán thu phí, như vậy toàn xã hội sẽ tự tiết kiệm không gian trong nhà, trên gác hay đào hầm làm nơi đỗ xe. Vỉa hè lòng đường tự nhiên quang đãng. Khi sử dụng xe riêng phải chịu mức phí đắt đỏ thì cư dân sẽ tự dùng xe chung hoặc GTCC. Tất cả các thành phố trên thế giới đều dùng tiền thu đỗ xe thường cao trong thành phố để điều tiết mật độ giao thông và tăng thu ngân sách công cộng. Ví dụ như tại London (Anh), ô tô vào trung tâm phải đóng 11,5 bảng/ngày và từ đầu tháng 4/2019 phải đóng thêm 12,50 bảng/ngày. Tại Moscow (Nga), rất khó tìm chỗ đỗ xe trong khu trung tâm và trung bình mỗi xe phải trả 30USD/ ngày (khoảng 700 ngàn đồng). Hiện nay nhiều người sử dụng dịch vụ dùng xe chia sẻ với giá 3 USD/ lần + chi phí nhiên liệu thay cho việc đi xe riêng.  Bí thư Thành ủy Hoàng Trung Hải đã lưu ý, “kiểm soát giao thông vẫn là giải pháp căn cơ và hữu hiệu ở nhiều nước trên thế giới, họ không cấm nhưng thu phí bãi đỗ, bảo hiểm rất cao. Do vậy, việc kiểm soát phương tiện cá nhân vì lợi ích chung của xã hội cần nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất các giải pháp trong thời gian tới.” Như vậy thay vì sử dụng công cụ hành chính cấm đoán một cách vô lý, hãy bắt tay vào công cụ tài chính vừa ích nước lại lợi nhà.    Đề xuất khoanh vùng hạn chế ô tô xe máy vào trung tâm TP nhưng lại bố trí bãi đỗ xe ngầm phân tán, tùy tiện trong trung tâm TP.     Không nên đầu tư phân tán hạ tầng GT dẫn đến chi phí đắt đỏ (phải). Đề xuất tích hợp mạng lưới  ĐSĐT với hạ tầng ĐS quốc gia hiện có (trái).  Vấn đề cốt lõi  Nguyên nhân cốt lõi của tắc đường là quản lý đô thị nặng bao cấp, mang tính xin cho không đáp ứng được những thách thức của kinh tế thị trường. Quản lý, khai thác tài nguyên đất đai đô thị lỏng lẻo, lãng phí dẫn đến tình trạng mất cân đối: không gian sở hữu tư tăng nhanh trong khi sở hữu công cộng ngày càng thiếu hụt, suy yếu. Việc quy hoạch giao thông hiện nay rất thiếu chuyên nghiệp, ví dụ bố trí bãi đỗ ngầm vào những nơi có thể đào được chứ không phải tại vị trí hợp lý (quảng trường, công viên, sân vận động, đất trống ven đê). Bố trí tùy tiện như vậy làm tăng rối loạn giao thông và từng bước hợp thức hóa việc tư nhân hóa tài sản công cộng. Dự án làm đường trên cao, đường sắt đô thị (ĐSĐT) hay mở rộng đường thiếu phân tích tính toán, tối ưu hóa. Phương án quy hoạch hướng tuyến hay các nhà ga ĐSĐT vốn đề xuất từ 2005, sau 2008 Hà Nội mở rộng các khu vực dân cư và đô thị đã phát triển rất nhanh, nhưng các tuyến và ga ĐSĐT cho đến 2018 hầu như vẫn giữ nguyên, chỉ chú ý đế việc dễ làm mà không quan tâm đến hiệu quả khai tác vận chuyển, nhiều vị trí “ga một nơi, khu dân cư một nẻo” như Nguyễn Ngọc Quang (ĐH GTVT)  đã phân tích.   Về dài hạn thì quy hoạch tổ chức giao thông cần tích hợp đa phương tiện: đi bộ, xe đạp thuận tiện, tiếp cận nhà ga, trạm đỗ dễ dàng thì GTCC mới phát huy. Tích hợp ĐSĐT và ĐS quốc gia sẽ tiết kiệm đầu tư và tăng năng lực vận chuyển. Xe bus cũng cần đa loại hình từ lớn đến nhỏ, từ ngắn đến dài … tất cả các sáng kiến này hay dở thì cũng cần được thẩm định bằng các công cụ GIS, AHP, UGT, và thực hiện quy trình RIA để lựa chọn chính sách tốt nhất cho cuộc sống.  Nguồn ảnh trong bài: Các đề xuất của City Solution, Hanoidata cung cấp.  —-  Liên quan đến ô nhiễm không khí do xe máy, lãnh đạo Sở TN&MT Hà Nội cho rằng, ôtô có tiêu chuẩn khí thải nhưng xe máy thì chưa, nên cấm xe máy, nhằm cải thiện môi trường… Đây rõ ràng là một lập luận thiếu thuyết phục. Chẳng lẽ lĩnh vực nào quản lý yếu kém thì cấm? Và trong 20 năm qua (1998-2018) số lượng xe máy ở Việt Nam tăng từ vài triệu lên đến 30 triệu xe, vậy mà ngành TNMT không xây dựng nổi tiêu chuẩn khí thải?    Author                Trần Huy Ánh        
__label__tiasang Giới hạn của các quyền cơ bản      Vấn đề giới hạn bằng cách thức nào và đến  đâu đối với các quyền cơ bản là vấn đề phức tạp bậc nhất của khoa học  Luật hiến pháp. Ở Việt Nam, chủ đề này dường như vẫn còn bỏ ngỏ, ít được  bàn thảo, quan tâm. Bài viết dưới đây chia sẻ một số thông tin căn bản về phương thức giới hạn các quyền cơ bản ở CHLB Đức.       Điều 15 Khoản 2 dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 qui định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.” Đây là một qui định rất mới, một bước tiến mới của dự thảo Hiến pháp, vì lần đầu tiên trong Hiến pháp có một qui định về giới hạn các quyền cơ bản. Tuy nhiên có thể dễ dàng thấy ngay hạn chế của qui định này là không định lượng rõ mức độ giới hạn ra sao đối với các quyền cơ bản và bỏ mặc cho công quyền tự đo lường và quyết định.     Từ nội dung của Luật cơ bản (Hiến pháp) và thực tiễn xét xử ở CHLB Đức, các phương thức giới hạn quyền cơ bản có thể được tóm lược như sau:    1.    Giới hạn hiến định   Giới hạn hiến định là việc giới hạn trực tiếp bởi những câu chữ trong Hiến pháp.   Ví dụ Điều 8 Khoản 2 Hiến pháp Đức cho phép công dân Đức có “quyền biểu tình một cách ôn hòa và không vũ khí.” Như vậy qui định này loại trừ việc biểu tình có vũ trang hoặc không ôn hòa.  Hoặc Điều 2 khoản 1 Hiến pháp Đức đã giới hạn quyền phát triển tính cách của mỗi người bằng qui định: “Mỗi người ai cũng có quyền phát triển tính cách riêng của mình trong phạm vi mà người đó không xâm phạm đến quyền tự do của những người khác, không vi phạm trật tự hợp hiến hay luân lý đạo đức.”  2.    Giới hạn bởi luật   Không phải với tất cả các quyền con người, quyền công dân đều áp dụng một nguyên tắc chung trong Hiến pháp là những quyền này “chỉ có thể bị giới hạn bằng luật”. Trong Hiến pháp Đức, giới hạn bởi luật chỉ được áp dụng đối với một số quyền cơ bản.   Chẳng hạn, Điều 8 Hiến pháp Đức qui định: “Đối với những trường hợp biểu tình ở ngoài trời quyền này có thể bị hạn chế bởi một đạo luật.” Trên cơ sở này, Nghị viện Đức có quyền ban hành một đạo luật về biểu tình để xác lập một số giới hạn hợp hiến về biểu tình ở ngoài trời. Hay về các quyền tự do của con người tại Điều 2 Khoản 2 Câu 3, Hiến pháp Đức qui định: “Chỉ dựa trên cơ sở của một đạo luật (Gesetz), nhà nước mới có thể hạn chế những quyền này.”  Ngoài ra, cũng có trường hợp Hiến pháp xác định rõ điều kiện cụ thể giới hạn bởi luật. Ví dụ về các quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do báo chí, tự do nghệ thuật và tự do khoa học, Điều 5 Khoản 2 Hiến pháp Đức qui định những quyền này chỉ có thể bị hạn chế bởi một đạo luật vì mục đích bảo vệ thanh thiếu niên hoặc bảo vệ danh dự cá nhân.Hoặc Điều 6 Khoản 3 cũng có qui định những điều kiện tương tự: “Chỉ dựa trên cơ sở căn cứ của một đạo luật cụ thể, trẻ em được tách khỏi gia đình mà không theo nguyện vọng của cha mẹ hoặc người giám hộ, nếu cha mẹ hay người giám hộ không thực hiện trách nhiệm của họ hoặc khi trẻ em bị ngược đãi.”  3. Giới hạn gắn với trật tự hiến pháp   Hiến pháp trong nhiều trường hợp có thể không qui định cụ thể giới hạn đối với một số quyền cơ bản. Hay nói cách khác, tại những điều khoản này, Hiến pháp không trực tiếp đưa ra một giới hạn cụ thể nào. Ví dụ, Điều 4 Khoản 1 Hiến pháp qui định ngắn gọn rằng: “Tự do về tín ngưỡng, nhận thức và tự do theo một tôn giáo hoặc tự do theo một thế giới quan nào đó là bất khả xâm phạm.” hay Điều 5 khoản 3 qui định: “Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giảng dạy đều được tự do.” Không đưa ra giới hạn trực tiếp tại điều luật đó, nhưng hoàn toàn sai lầm nếu hiểu rằng những quyền này là vô hạn và bất cứ ai cũng có thể lợi dụng những quyền này để xâm hại lợi ích chung hay lợi ích của các cá nhân, tổ chức khác.   Từ đây cũng phát sinh một câu hỏi: Vậy khi các quyền này xung đột nhau thì ở Đức họ giải quyết như thế nào?   Trong một vụ việc thực tế khi có xung đột giữa các quyền cơ bản, Tòa án hiến pháp liên bang Đức thường dựa trên sự cân nhắc giữa các lợi ích, thứ bậc ưu tiên giữa các quyền cơ bản để đưa ra phán quyết.   Vụ án hiến pháp Mephisto nổi tiếng ở Đức là một ví dụ. Diễn biến vụ án như sau: Trong cuốn tiểu thuyết Mephisto, tác giả Klaus Mann đã mô tả nhân vật Hoefgen (một nhân vật làm nghề diễn viên trong thời kỳ đế chế thứ ba do Gustaf Gründgens1 thủ vai), với ý ám chỉ những người làm nghề này (như Gustaf Gründgens) là kẻ cơ hội, thấp kém, hèn hạ. Giải quyết trường hợp này Tòa án hiến pháp liên bang đã khẳng định: Ở đây có sự xung đột giữa quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện các ý tưởng nghệ thuật được qui định ở Điều 5 khoản 1, khoản 3 xung đột với phẩm giá và tự do phát triển cá tính được bảo vệ ở Điều 1 và Điều 2 Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp đã đồng ý rằng quyền lợi của Gustaf Gründgens phải được ưu tiên bảo vệ vì nó liên quan đến nhân phẩm của con người – giá trị cao nhất của Hiến pháp. Hệ quả là cuốn tiểu thuyết Mephisto đã bị cấm xuất bản.2   Hay một ví dụ khác: Vào năm 1969, một nhóm người đã dùng vũ lực tấn công bất ngờ vào căn cứ quân sự ở làng Lebach. Nhóm này đã giết chết bốn người lính và lấy đi nhiều vũ khí ở đây. Sau đó, những kẻ phạm tội này đã bị bắt và bị xét xử. Một đồng phạm trong số họ tên là B bị kết án 6 năm tù giam. Ngay trước thời điểm B chuẩn bị ra tù năm 1975, kênh truyền hình quốc gia ZDF đã cho phát một bộ phim tài liệu về vụ việc này và nêu tên tất cả những người có liên quan trong đó có B. B đã phát đơn kiện kênh truyền hình ZDF vì cho rằng việc nêu đích danh tên của B trên truyền hình là đã xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm của B, được bảo vệ tại Điều 1 khoản 1 Hiến pháp.3 Kênh truyền hình ZDF phản bác lại và cũng viện dẫn Điều 5 Khoản 1 Hiến pháp về quyền tự do thông tin4 để bảo vệ mình. Thẩm phán Tòa án hiến pháp đã dựa trên nguyên tắc cân nhắc lợi ích các bên và phán xét rằng: Vấn đề đặt ra là B chuẩn bị ra tù và khi phát sóng chương trình này kênh ZDF đã nêu đích danh tên của B. Việc làm này sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của B. Vì vậy, việc làm của kênh ZDF đã xâm phạm đến nhân phẩm của B, một giá trị cao nhất của Hiến pháp được qui định tại Điều 1 Khoản 1 Câu 1 của Hiến pháp. Theo Tòa án hiến pháp liên bang, trường hợp này nhân phẩm con người phải được coi trọng hơn quyền tự do thông tin. Hệ quả là kênh truyền hình ZDF phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho B.5   4.Các nguyên tắc giới hạn cụ thể khác  Để đảm bảo nguyên tắc công bằng và bảo vệ tối đa những quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp Đức đã qui định các nguyên tắc cơ bản sau:  –    Nguyên tắc nghiêm cấm lập pháp cá biệt  Xuất phát từ nguyên tắc nghiêm cấm hành xử không công bằng, Hiến pháp Đức tại Điều 19 Khoản 1 Câu 1 qui định: “Nếu một quyền cơ bản nào trong Hiến pháp này bị giới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệ dành riêng cho một trường hợp cá biệt nào.”Như vậy, với qui định này thì một đạo luật do Quốc hội ban hành không được giới hạn quyền của một nhóm người cụ thể. Đạo luật phải được áp dụng chung, có hiệu lực đối với tất cả mọi người, không phải đối với một cá nhân hay một nhóm người để cưỡng bức họ hoặc tạo đặc quyền cho nhóm này, loại bỏ nhóm khác.   –    Nguyên tắc nghiêm cấm việc giới hạn làm mất đi bản chất của quyền  Điều 19 khoản 2 Hiến pháp Đức qui định: “Trong mọi trường hợp, việc giới hạn một quyền cơ bản nào đó không được làm mất đi bản chất của quyền đó.” Khi ban hành một đạo luật nhằm hạn chế quyền của công dân, Quốc hội buộc phải tuân thủ đúng những qui định về thẩm quyền, trình tự thủ tục, hình thức. Chính những ràng buộc phức tạp, khắt khe về mặt thủ tục, cùng với việc Hiến pháp trao cho Tòa án hiến pháp liên bang quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến nếu đạo luật đó trái với Luật cơ bản tại Điều 100 khoản 1 sẽ góp phần hạn chế những đạo luật vi hiến hoặc làm mất đi bản chất của các quyền cơ bản.  –    Nguyên tắc nghiêm cấm công quyền can thiệp vượt quá giới hạn  Bất cứ sự can thiệp nào từ phía nhà nước cũng phải đảm bảo tính phù hợp giữa mục đích và phương tiện lựa chọn để đạt được mục đích có phù hợp, có cần thiếtvà có tương xứng không.  Chẳng hạn một cậu bé X ăn trộm một quả táo trong siêu thị và đang chuẩn bị bỏ chạy. Một cảnh sát quan sát được hành vi ăn trộm đó của X và đã dùng súng để bắn vào chân của cậu bé. Việc bắn thẳng vào cậu bé là một hành vi không tương xứng với mức độ phạm tội của cậu bé. Ở đây phải cân nhắc giữa hai lợi ích: quyền được sống của cậu bé (Điều 2 khoản 2 Hiến pháp) và ngăn chặn việc ăn trộm một quả táo.   Một ví dụ khác: Điều 15 Khoản 7 Câu 1 Luật săn bắn ở Đức (BjagdG) yêu cầu tất cả những người săn bắn chim ưng (falconer) phải chứng minh kiến thức về vũ khí để được cấp bằng săn bắn. Những người đi săn cho rằng qui định này là vô lý, tạo ra một giới hạn đi ngược lại quyền được tự do hành động theo Điều 2 Khoản 1 Hiến pháp. Tòa án hiến pháp liên bang phán quyết rằng: Mục đích yêu cầu cấp bằng cho những người săn chim ưng thì phải yêu cầu họ có hiểu biết về loài chim ưng và nghề săn bắn chim ưng, chứ không phải là kiến thức về vũ khí. Qui định phải chứng minh kiến thức về vũ khí không phù hợp với mục đích của đạo luật. Do vậy, Tòa án đã kết luận qui định này là vi hiến và cần phải bãi bỏ. (Xem: Phán quyết BverfGE 55, 159 Falknerjagdschein).  Từ những qui định về hạn chế của quyền cơ bản ở Hiến pháp Đức đã cho thấy: các quyền cơ bản không phải là vô hạn, chúng cần phải được giới hạn, một mặt để những quyền này không phải là “bánh vẽ” hay những lời hứa suông, mặt khác chúng có tác dụng,hiệu lực trực tiếp, xác lập ranh giới ràng buộc trách nhiệm của cơ quan công quyền.   Tóm lại, cấu trúc các quyền cơ bản và các giới hạn các quyền cơ bản ở Đức cho ta thấy lô-gích rất rõ rằng: Thứ nhất, Hiến pháp sinh ra có chức năng để hạn chế quyền lực nhà nước và ràng buộc trách nhiệm của nhà nước. Do vậy không thể tồn tại cách qui định theo kiểu nhà nước ban ơn, hoặc cách qui định trao quyền quá lớn, phạm vi quyết định quá rộng cho nhà nước. Thứ hai, đối với người dân, các quyền cơ bản cần được mở rộng tới mức được áp dụng trực tiếp, ràng buộc công quyền và tất cả những gì mà luật không cấm, không xâm phạm đến quyền lợi của các chủ thể khác, thì bất cứ cứ ai cũng đều được phép làm.   —  1 Gustaf Gründgens (1899-1963) là một trong những diễn viên tài ba và có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ thứ 20 của Đức.  2 Xem phán quyết: BverfGE 30, 173 (Mephisto-Urteil).  3 Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp Đức qui định rằng nhân phẩm của con người là bất khả xâm phạm (unantastbar).   4 Điều 5 Khoản 1 Hiến pháp Đức qui định rằng mọi công dân đều có quyền tự do thể hiện suy nghĩ của mình bằng lời nói, chữ viết, hình ảnh, có quyền mở rộng và phổ biến nó từ các nguồn có thể truy cập phổ thông không bị hạn chế hay ngăn cấm (ungehindert).  5 Xem phán quyết: BverfGE 35, 202 (Lebach)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới hạn đạo đức của thị trường      LTS: Michael J. Sandel là giáo sư triết học chính trị tại Đại học Harvard (Mỹ). Ông là tác giả của nhiều quyển sách về công lý xã hội và triết lý chính trị. Công việc của ông tập trung vào những câu hỏi gai góc về đạo đức và công lý. Một trong những quyển sách gần đây rất nổi tiếng của ông là “Những thứ mà tiền không thể mua được: giới hạn đạo đức của thị trường” (What money can’t buy: the moral limits of markets), từng được xuất bản ở Việt Nam.  Quyển sách này cùng nhiều tác phẩm của GS Sandel được dịch ra hàng chục thứ tiếng và xuất bản khắp nơi trên thế giới. Những bài giảng tại Đại học Harvard của ông được chiếu trực tuyến trên mạng Internet, thu hút rất nhiều người xem. Ông cũng thường xuyên đi diễn thuyết ở nhiều nước trước cử tọa có khi đến hàng chục ngàn người. Vào tháng 3/2020, GS Sandel sẽ lần đầu đến Việt Nam và có buổi diễn thuyết ở TP Hồ Chí Minh.    Ngày nay, tiền gần như mua được tất cả mọi thứ. Những việc mua bán này có gì sai trái không? Để trả lời cho những câu hỏi như thế, chúng ta phải đặt ra câu hỏi lớn hơn: Tiền bạc và thị trường đóng vai trò gì trong một xã hội tốt đẹp?  Nếu ta bị phạt tù ở Santa Barbara, bang California, nhưng lại không thích điều kiện chuẩn của nhà tù thì ta có thể mua gói nâng cấp buồng giam của mình với giá 90 USD/đêm.  Nếu ta muốn ngăn chặn cái thực trạng bi kịch rằng mỗi năm có hàng ngàn đứa trẻ do các bà mẹ nghiện hút sinh ra thì ta có thể đóng góp vào một quỹ từ thiện dùng cơ chế thị trường để cải thiện vấn đề: đó là tặng 300 USD cho bất kỳ phụ nữ nghiện hút nào tình nguyện đi triệt sản.  Hay nếu ta muốn dự một phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ nhưng lại ngại xếp hàng mấy giờ đồng hồ, ta có thể sử dụng dịch vụ của công ty xếp hàng thuê. Công ty này sẽ thuê những người vô gia cư hay những người cần việc làm để đứng chờ, ngay cả qua đêm nếu cần. Ngay trước khi phiên điều trần diễn ra, khách hàng chỉ việc xuất hiện và lấy chỗ của người đã đứng xếp hàng thay trước đó rồi ngồi vào ghế hàng đầu.  Một số người cho là không; mọi người nên được quyền tự do mua bất cứ thứ gì thiên hạ bán. Một số người khác lại cho rằng có những thứ không nên đem ra đổi chác bằng tiền. Nhưng tại sao lại như vậy? Cụ thể là bán gói nâng cấp phòng giam cho những người có tiền, hay thưởng tiền để triệt sản, hay thuê người xếp hàng thay thì sai ở chỗ nào?  Việc đặt ra và tranh luận câu hỏi như thế này trên các diễn đàn chính trị có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta đã chứng kiến một cuộc cách mạng thầm lặng diễn ra trong suốt ba thập kỷ qua. Thị trường và tư duy thị trường đã vươn tới mọi khía cạnh đời sống mà trước kia do các giá trị phi thị trường quyết định như: đời sống gia đình, quan hệ cá nhân, y tế và giáo dục, bảo vệ môi trường và công lý, an ninh quốc gia và đời sống dân sự.  Chúng ta đã trôi dạt từ chỗ có kinh tế thị trường (market economy) đến chỗ trở thành xã hội thị trường (market society) mà gần như không hề hay biết. Sự khác biệt nằm ở chỗ: kinh tế thị trường là công cụ – một công cụ rất giá trị và hiệu quả – trong tổ chức hoạt động sản xuất; còn xã hội thị trường thì ngược lại là một xã hội mà cái gì cũng đem ra bán được. Xã hội thị trường là một lối sống mà giá trị thị trường len lỏi vào mọi mối quan hệ xã hội và thống trị mọi mặt của đời sống.      Chúng ta đã trôi dạt từ chỗ có kinh tế thị trường (market economy) đến chỗ trở thành xã hội thị trường (market society) mà gần như không hề hay biết. Sự khác biệt nằm ở chỗ: kinh tế thị trường là công cụ – một công cụ rất giá trị và hiệu quả – trong tổ chức hoạt động sản xuất; còn xã hội thị trường thì ngược lại là một xã hội mà cái gì cũng đem ra bán được. Xã hội thị trường là một lối sống mà giá trị thị trường len lỏi vào mọi mối quan hệ xã hội và thống trị mọi mặt của đời sống.      Chúng ta nên lấy làm lo ngại trước xu hướng này vì hai lý do. Thứ nhất, khi cái bóng đồng tiền ngày càng lớn trong xã hội, thì sự khác biệt giữa có tiền và không có tiền sẽ ngày càng rõ rệt. Nếu người giàu chỉ hơn người khác chủ yếu ở những chuyện có du thuyền sang trọng hay những kỳ nghỉ hào nhoáng thì sự bất bình đẳng trong xã hội cũng chẳng quan trọng như ngày nay. Nhưng khi đồng tiền quyết định quyền tiếp cận giáo dục, y tế, ảnh hưởng chính trị, và sự an toàn của cộng đồng, thì cuộc sống sẽ trở nên rất khó khăn cho những người có thu nhập khiêm tốn. Thị trường hóa tất cả mọi thứ sẽ làm hố ngăn cách giàu–nghèo trở nên gay gắt.  Lý do thứ hai mà chúng ta không nên ra giá cho mọi hoạt động của con người là vì làm như vậy tức là hành vi lũng đoạn. Mại dâm là một ví dụ kinh điển. Một số người phản đối mại dâm vì họ cho rằng nghề này chủ yếu bóc lột người nghèo, những người mà chuyện bán thân không thực sự là tự nguyện. Nhưng có những người khác phản đối mại dâm với lý do rằng biến tình dục thành món hàng là một hành động làm thoái hóa, biến chất con người.  Ý tưởng cho rằng quan hệ thị trường làm lũng đoạn những thứ có ý nghĩa lớn không chỉ giới hạn trong vấn đề tình dục hay cơ thể người, mà nó còn có thể bao gồm cả lợi ích và hành vi công dân. Ví dụ như bầu cử. Chúng ta không cho phép bầu cử vận hành theo cơ chế thị trường tự do, mặc dù một thị trường như thế sẽ vận hành “hiệu quả” theo cách hiểu kinh tế học. Nhiều người không hề đi bầu, vậy tại sao ta lại bỏ phí các lá phiếu đó? Tại sao không để cho những người không quan tâm lắm đến kết quả bầu cử đem lá phiếu của họ bán cho người quan tâm? Đôi bên sẽ đều có lợi.   Lý lẽ hay nhất để phản đối chuyện mua bán phiếu là vì phiếu bầu không phải là tài sản tư mà nó là một trách nhiệm công. Coi lá phiếu như hàng hóa để tạo ra lợi nhuận tức là làm suy đồi, biến chất ý nghĩa thể hiện trách nhiệm công dân của nó.  Nhưng nếu thị trường phiếu bầu đáng bị phản đối vì nó làm lũng đoạn nền dân chủ, vậy hệ thống tài chính vận đồng bầu cử thì sao? Các hệ thống này, bao gồm cả hệ thống tài chính phục vụ tranh cử ở Mỹ, cho phép người giàu có tiếng nói lớn hớn trong các kỳ bầu cử. Bác bỏ thị trường phiếu bầu để giữ gìn tính liêm chính của nền dân chủ có thể là một lý do để chúng ta đặt ra mức trần trong đóng góp tài chính cho các ứng viên chính trị.  Đương nhiên là chúng ta thường bất đồng về định nghĩa thế nào là “lũng đoạn” hay “suy đồi”. Để nhận định xem mại dâm có phải là suy đồi hay không thì phải xem chuyện tình dục của con người cần được đánh giá đúng mực ra sao. Để đánh giá xem chuyện nâng cấp buồng giam có làm lũng đoạn ý nghĩa công lý hay không thì phải xem mục đích của việc trừng phạt tội phạm phải là gì. Để đưa ra quyết định có cho phép mua bán nội tạng con người cho mục đích cấy ghép, hay có được dùng lính đánh thuê trong chiến tranh hay không, chúng ta phải xem xét nghiêm túc phẩm giá của con người và trách nhiệm công dân.  Những vấn đề nêu trên đều là những vấn đề gây tranh cãi và người ta thường ngại phải đối mặt với chúng trên các diễn đàn công cộng. Nhưng đó là một sai lầm. Sự ngần ngại của chúng ta khi đối mặt với những câu hỏi liên quan đến đạo đức này trong chính trị khiến chúng ta bị động khi xem xét một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại: Ở đâu thì thị trường phục vụ cho lợi ích chung, còn chỗ nào thì không nên có thị trường? □  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: https://www.project-syndicate.org/onpoint/what-money-can-t-buy-by-michael-j–sandel?barrier=accesspaylog    Author                Michael J. Sandel        
__label__tiasang Giới thiệu chuyên mục Vốn Xã hội trong phát triển      Tạp chí Tia Sáng và Thời báo Kinh tế Sài Gòn phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học: Vốn xã hội trong phát triển vào cuối tháng 5/2006 tại TP. Hồ Chí Minh với nội dung chính:    Ø     Khái niệm “vốn xã hội”, “vốn xã hội và phát triển kinh tế- xã hội”  Ø     Vốn xã hội ở Việt Nam  Ø     Những vấn đề liên quan đến việc nâng cao vốn xã hội ở Việt Nam  Trong chuyên mục này, Tạp chí Tia Sáng sẽ đăng tải những bài viết mang tính đề dẫn và các tham luận đã gửi cho Hội thảo. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn đọc về nội dung cuộc hội thảo này.         Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam      Để xây dựng kinh tế tri thức trở thành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, chúng ta cần có một lực lượng lao động tương ứng là lao động có kiến thức cao, nói khác đi đòi hỏi mọi thành viên tham gia nền kinh tế này phải là người lao động trí tuệ hoặc sử dụng trí tuệ như công cụ lao động chủ yếu, đặc biệt là phải hình thành một giới trí thức tinh hoa.  Chỉ từ những điều sở tri sở kiến của mình, chúng tôi muốn góp bàn về việc nhận diện thực trạng của giới tinh hoa trong lịch sử Việt Nam và những đặc điểm của giới đó có thể trở thành chướng ngại mà chúng ta cần khắc phục trong việc hướng tới hình thành giới tinh hoa mới trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.    Trong lịch sử Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà Nho. Tinh thần văn hóa Nho giáo thấm sâu vào thành truyền thống, thậm chí thành bản sắc của nền văn hóa dân tộc. Về mặt diện mạo tổng thể, nền văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX là nền văn hóa Nho giáo. Nếu lưu ý đến “đặc điểm lớn nhất của xã hội Việt Nam thời đại ngày nay” là sự phát triển bỏ qua (hay ít nhất là cho đến nay cũng chưa thành một phương thức sản xuất/một hình thái kinh tế – xã hội hoàn chỉnh) đối với hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, thì phải đồng ý với nhiều nhà khoa học (1) rằng Việt Nam đi từ Nho giáo lên chủ nghĩa cộng sản.  Trước khi có nền học vấn Âu hóa của thời hiện đại, và cả khi nền học vấn đó đã, đang trở thành xu thế chủ đạo thì quán tính của nền học vấn truyền thống vẫn chi phối từng bước đi của lịch sử một cách mạnh mẽ, khá vô hình nhưng vẫn khá quyết liệt. La mort saisit le vif, – cái chết đang túm lấy cái sống. Sự “túm lấy” này, tuy không hoàn toàn chỉ mang nghĩa tiêu cực, nhưng những tác động tiêu cực của nó là điều không thể xem thường.  Trong vòng bảy, tám thế kỷ, đội ngũ trí thức – nhà Nho ở Việt Nam đã dần thay thế và cuối cùng là thay thế hẳn đội ngũ trí thức Phật giáo, tạo ra một nền học vấn kiểu nhà Nho, và vì thế, ngả theo mô hình của nền học vấn Trung Hoa. Nhưng khác với các trí thức Trung Hoa nói chung, tầng lớp nhà Nho Trung Hoa nói riêng, chưa bao giờ tầng lớp nhà Nho Việt Nam thực sự có được sự độc lập tương đối về chính trị, nhất là trong quan hệ với chế độ chuyên chế, để có thể có được những thành tựu độc lập trong sáng tạo tri thức và những giá trị tinh thần đủ để vinh danh chỉ riêng tầng lớp của mình.           Vào đầu thế kỷ XX, khi tự tỉnh và lay tỉnh quốc dân, nhằm “khai dân trí, chấn dân khí”, các nhà Nho duy tân đã đọc to lên tình trạng nghiệp dư quá quắt của tầng lớp mình:  Khỏi làng mắt chửa thấy xa              Lại toan mai mỉa hai nhà Khang, Lương              Ở nhà chân chửa ra đường              Lại toan ngang dọc bốn phương giang hồ              Hỏi: “Ông tu những đường mô?              Ông rằng: “Tu những làng nho đã thừa”              Hỏi: “Ông mộ những gì ư?              Ông rằng: “Mộ những người xưa là thầy”….              – Hỏi rằng: “Dây thép sao mau?”              Ông rằng: “Khí học cũng màu mà thôi”              Kìa như dây sắt, roi lôi              Nào ai bày đặt mọi ngôi cho đành?              Hỏi rằng: “Xe khí sao nhanh?”              Ông rằng: “nghề máy cũng lành mà thôi”              Kìa như lửa ống, nước nồi              Nào ai bày xét đến nơi nhiệm màu?              Năm châu tên gọi hay đâu              Lại chê người rợ mà gào ta hoa              Mắt nhìn chính học không ra              Lại chê người bá mà nhà ta vương” (4)              -“Hỏi cụ việc thực              Thì cụ làm thinh              Hỏi trận pháp binh thư thì cụ ù ù cạc cạc              Hỏi địa dư quan chế thì cụ u u minh minh;              Cụ chẳng biết kèn sao kêu, súng sao nổ?              Cụ không hay xe sao chóng, tàu sao lanh?              -“Khí học làm sao? Hóa học làm sao? Cụ dẫn Dịch tượng Thư trù chi Cổ đế              Cơ khí là thế, điện khí là thế, cụ rằng mộc ngưu lưu mã chi Khổng Minh              Cụ phải đeo thẻ đóng sưu, cụ muốn nước Nhật, nước Tàu sang bảo hộ              Cự mà ngâm thơ đọc phú, cụ mong ông Chèm, ông Gióng chi phục sinh              Ai nói chuyện tân học tân văn, cụ ghét hơn người đầu thuốc độc              Ai dâng câu cổ thi cổ họa, cụ mừng hơn trẻ được cái đinh” (5)          Lý luận Nho giáo không được khái quát lên từ thực tế Việt Nam, mà lý luận đó chỉ phù hợp nên có thể vận dụng được trên thực tế Việt Nam ở những thời gian lịch sử nhất định, dù quãng thời gian lịch sử ấy có thể và trên thực tế đã kéo dài, thậm chí đã quá dài. Theo cách nhìn nhận cá nhân, tôi cho rằng tuy Phật giáo ở Việt Nam chỉ thật thịnh trong một khoảng thời gian không dài, nhưng lại có những thành tựu về sáng tạo tinh thần đột xuất và có những gương mặt trí tuệ đỉnh cao, khả dĩ vinh danh và đại diện cho trí tuệ Việt hơn cả những đóng góp mà nhà Nho tạo nên trong một thời kỳ lịch sử dài hơn nhiều.   Nhìn vào những sản phẩm đỉnh cao cuối cùng theo cách nhìn cấu trúc đồng đại hóa, sẽ thấy trong đội ngũ trí thức nhà Nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn. Các tác giả Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Hà Văn Tấn đã nhiều lần lưu ý đến sự thiếu hụt ấy. Nói thiếu vắng hoàn toàn thì không phải, nhưng chắc chắn đội ngũ những người như vậy trong lịch sử Việt Nam khá thưa thớt, có những thế kỷ hầu như không tìm thấy được(2). Điều đáng cảm thán không chỉ là “ôi thương sao những thế kỷ vắng anh hùng” như Chế Lan Viên từng thốt lên, mà cũng cả “Ôi thương sao những thế kỷ vắng thiên tài”! Nhận xét tỷ mỷ hơn cả về điều này là ý kiến của cố học giả Trần Đình Hượu:   a) Không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học. Chưa có tác phẩm, tác giả chuyên về tư tưởng triết học. Những người mà ta phải tính là các nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đều là như vậy.  Loại hình chính là những nhà hoạt động yêu nước, những người làm văn học, học thuật (chủ yếu là sử học), và thông qua hoạt động chính trị, học thuật hay nghệ thuật của mình mà đề cập đến những vấn đề tư tưởng. Những ông thầy khi giảng kinh, sử cũng bàn những vấn đề tư tưởng, mà nhiều khi chính những ông thầy đó lại nói tư tưởng nhiều hơn, nói nhiều nhưng là nói lại, có hay không sửa chữa chút ít.  b) Ở đây chưa hình thành mối quan hệ tương hỗ giữa khoa học kỹ thuật và triết học, tức là triết học làm cơ sở lý luận cho khoa học và phát triển theo sự phát triển của khoa học… Có thay đổi thì cũng chỉ là lấy, bỏ, thêm, bớt từ những cái có sẵn trong và ngoài từng hệ thống…  Nhìn chung, tư duy lý luận không phát triển. Những vấn đề nhận thức, logic, phương pháp không được bàn bạc. Ở đây phát triển một cách tư duy thực tiễn nhằm không phải vào sự chính xác mà sự hợp lý (phải khoảng). Cái ngự trị ở trong nhiều phạm vi là một cái lí – lẽ phải thông thường. Triết học không tách khỏi tôn giáo, học thuật. “Về căn bản, trong lịch sử chưa xảy ra một sự thay đổi nền móng sản xuất, tổ chức xã hội, văn hóa, học thuật. Tôi nói cả văn hóa, học thuật vì khi còn học theo, bắt chước, nói lại thì chưa gây ra tác động sâu từ khoa học sang triết học, không tạo ra cách mạng trong tư tưởng” (3).  Nền học vấn truyền thống theo Nho giáo ấy rốt cuộc ở lớp trên cùng chỉ đẻ ra được nhà Nho – ông quan (đường quan hay học quan, võ quan có học hay văn quan, kể cả loại “văn võ kiêm bị” đi nữa thì nói gọn lại, cũng chỉ là quan). Các loại hình trí thức then chốt của một xã hội trí thức, một kết cấu của tầng lớp trí thức thực thụ như nhà kỹ thuật, nhà khoa học (hay học giả), nhà nghệ sĩ, tiếp đến là nhà tư tưởng – nhà triết học loại thì xuất hiện thưa thớt, mở nhạt, loại thì hoàn toàn vắng bóng.   Học giả lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam trước thế kỷ XX là Lê Quý Đôn, người mà với tất cả sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng cũng không thể gán cho là tác giả của bất cứ định lý, định luật hay nguyên lý, quy tắc nào, ý tưởng nào thực thụ mang tính đột phá tri thức, nên có lẽ danh xưng xứng đáng nhất trong việc phân loại chuyên gia khoa học thời hiện đại thì đúng nhất là xếp vào dạng nhà sưu tầm, nhà biên khảo hay nhà thư tịch học. Thật đau lòng khi phải nói lên điều này.  Nhà Nho thuộc loại hình trí thức nguyên hợp. Đó là loại trí thức điển hình cho một hình thái kinh tế-xã hội khi mà lao động trí óc chỉ mới là đặc quyền của một thiểu số rất nhỏ. Tuy so với loại quý tộc, loại người có được những đặc quyền chỉ nhờ quan hệ huyết thống với người hay dòng họ cầm quyền thì sự xuất hiện và phát huy tác động trong xã hội của trí thức nhà Nho là một bước tiến bộ, nhưng đến lượt họ, khi đã tự khẳng định và được khẳng định địa vị trong xã hội, trong cơ chế thì nhà Nho cũng từng bước một kiến tạo đặc quyền theo lối huyết thống hóa, tạo ra không phải những cá nhân người trí thức sáng tạo, mà những “thế gia, vọng tộc, cự môn”, vừa theo mô hình quý tộc hóa, vừa theo lối đẳng cấp giữ những chức năng đặc thù. Họ không ngần ngại gì mà không khẳng định “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”, tự coi là người bề trên tự nhiên (và cũng thường được thừa nhận) là người đỡ đầu trực tiếp của các tầng lớp cư dân khác.   Với tôn chỉ “Nhất nghệ bất tri nho giả sở sỉ” (một nghề nào đó mà không biết thì kẻ làm nhà Nho tự thấy xấu hổ), họ thường kiêm luôn công việc của nhiều loại “chuyên gia” trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí khá xa lạ đối với nhau. Người dân gọi họ là “thầy”, và ở nông thôn xưa thì nhà Nho làm tất tật công việc của các thứ thầy như vậy: thầy đồ dạy học (nho), thầy thuốc chữa bệnh (y), thầy địa lý lo chuyện phong thủy (lý), thầy bói xem tướng số (số), cả chuyện làm…thầy dùi, “tư vấn” cho các bên tham gia vào các vụ kiện tụng.   Bộ phận hiển nho – các nhà Nho hữu danh và thành đạt – cũng hầu như không có ai đủ căn đảm để chỉ “đi đến cùng một con đường đã chọn” có lẽ trừ Hải Thượng Lãn Ông. Ngay Hải Thượng Lãn Ông cũng chọn con đường trở thành một danh y vào lúc tuổi đời không còn trẻ và tình huống cơ hồ không thể khác. Nói tổng quát, mẫu trí thức nhà Nho ở ta chuyên môn hóa khá muộn màng và không trở nên là đội ngũ chuyên gia thực thụ, ở hầu như bất cứ bình diện nào của lao động sáng tạo tinh thần. Trong các hoạt động nghệ thuật, chỉ thơ là có thành tựu nổi bật, nhưng không có ai, kể cả nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử văn học dân tộc là Nguyễn Du, cũng không trở thành nhà thơ “chuyên nghiêp”.  Một khi họat động sáng tạo tinh thần, lao động trí óc chưa được chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, thì mọi hoạt động lao động khác gắn liền với các hệ thống tri thức chuyên nghiệp sẽ chỉ trở thành các loại lao động thủ công, nghiệp dư. Tình trạng đó là phổ biến từ các loại làng nghề gắn bó xa gần với hoạt động nghệ thuật cho chí các loại làng nghề sản xuất ra các sản phẩm thuần túy mang tính thương mại. “  Công tượng”, gọi nôm na là thợ, xếp loại ba, sau nông dân, còn được an ủi là xếp trên loại người tiêu thụ sản phẩm cho họ, tức thương nhân, tầng lớp “dưới đáy”, bị gọi miệt thị là loại “con buôn”. Giữ gìn phương tiện mưu sinh: theo ý tôi trong cách hành xử ấy còn tiềm ẩn cả tâm trạng ẩn ức, cả sự chống đối theo kiểu tiêu cực, cả niềm kiêu hãnh về những phẩm tính và kỹ năng ưu việt không được thừa nhận.  ***  Gia nhập xã hội hiện đại theo con đường bị cưỡng bức, không hề được chuẩn bị đầy đủ về mọi phương diện để thích nghi, thiếu nghiêm trọng những kinh nghiệm và thực tế tương ứng được với xã hội hiện đại từ truyền thống, tóm lại, với tính nhược tiểu thể hiện khá “hoàn hảo”, giới trí thức Việt Nam khi trở thành “tầng lớp trí thức bản xứ” thêm một lần nữa bị chủ nghĩa thực dân vày vò, ép ướp hoàn toàn có chủ đích chỉ nhằm biến đổi họ thành đám vong quốc nô có chữ nghĩa. Lịch sử còn lưu lại vô số bằng chứng cả trực tiếp cả gián tiếp chứng minh cho đường lối chính trị, chính sách trí thức thuộc địa này của thực dân Pháp(6).  Hệ quả cuối cùng của chính sách thực dân, dù những chính sách cụ thể trong từng thời kỳ nhất định có đổi thay theo hướng xoa dịu sự phản ứng của một cư dân bản địa dù sao cũng có hàng nghìn năm lịch sử đồng thời trên từng bình diện nhất định phải đáp ứng những đòi hỏi của tình hình khó khăn mà “mẫu quốc” lâm vào, vẫn cứ là một tầng lớp trí thức bản xứ với rất ít cá nhân thực sự đạt tới trình độ tinh hoa, đội ngũ chuyên gia tuy có số lượng khá hơn nhưng không toàn diện, gắn bó quá trực tiếp với sự điều tiết từ chính quốc chứ không phải gắn bó với xã hội và nền kinh tế tại chỗ, và một lượng đông đảo nhất những trí thức cấp thấp. Chất lượng của một tầng lớp trí thức như vậy, xét trên tương quan của một sự so sánh lịch đại, nghĩa là so sánh về khả năng đáp ứng những nhu cầu phát triển từng thời điểm lịch sử khác nhau, chắn chắn là còn kém hơn thời kỳ tiền thực dân.  Từ sau Cách mạng tháng Tám, thân phận con người, thân phận công dân của người trí thức được đổi thay về chất. Đại đa số những trí thức trong xã hội cũ vì thế hăng hái tham gia bằng sở học của mình vào các công việc của xã hội mới. Thời gian kháng chiến chống Pháp, tuy có quá nhiều khó khăn khách quan, một thế hệ trí thức mới đã xuất hiện, trưởng thành. Đội ngũ này, tuy về số lượng không thật đông đảo, nhưng lại đặc biệt có chất lượng. Đa số những tên tuổi lớn trong các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật và nghệ thuật thời gian qua ở ta là thuộc về hoặc cơ bản là thuộc về thế hệ này. Phần lớn họ là những người ra đời trong khoảng từ 1920-1932.   Không phải ngẫu nhiên tôi chọn những mốc này: cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, hầu hết họ đều đã có một thời kỳ học phổ thông và có được một “lưng vốn” tri thức nói chung, tiếng Pháp hay một ngoại ngữ nói riêng đủ để tự đọc sách và tự học tiếp tục. Những người sinh trước năm 1920 nếu thành danh thì đã thành danh trước Cách mạng, mà những người sinh sau năm 1932 thì “không kịp” có điều kiện như vừa tính tới.  Nhưng cũng từ sau Cách mạng tháng Tám xã hội Việt Nam trải qua hơn 30 năm là xã hội thời chiến hoặc bị chi phối mạnh mẽ bởi một hoàn cảnh thời chiến. Trừ một vài lĩnh vực đặc biệt, chiến tranh không phải là điều kiện dương tính cho sự phát triển của lĩnh vực lao động tri thức. Không quá khó khăn để chỉ ra các lĩnh vực đặc biệt ấy. Dù muốn dù không, tính phục vụ trực tiếp, tính ứng dụng là những yêu cầu được đặt lên hành đầu đối với lao động của người trí thức trong hoàn cảnh ấy. Cũng khó mà tạo ra những diện mạo trí thức, những tên tuổi lớn theo lối hàng loạt trong điều kiện như vậy. Xét cho cùng, sức sản xuất các giá trị tinh thần – cả trong khoa học xã hội lẫn khoa học nhân văn, cả trong nghệ thuật, trong văn hóa đều tùy thuộc vào nền sản xuất vật chất của xã hội. Ngay cả việc phản ứng lại một thực tiễn lớn cũng đòi hỏi tiền đề là sự tồn tại của cái thực tiễn ấy đã.  Mặt khác, kể từ sau Cách mạng tháng Tám, nền khoa học non trẻ của Việt Nam nhận được sự bổ sung về nguồn tri thức từ các nước xã hội chủ nghĩa có nền khoa học tiên tiến, chủ yếu là từ Liên Xô, và mức độ khác, từ Trung Quốc. Nhưng chỉ chưa hết một khóa học (đại học) từ sau năm 1954 thì giữa Liên Xô và Trung Quốc đã nổ ra những bất đồng. Vừa bối rối vì vấn đề phân liệt giữa các đảng cộng sản lớn cầm quyền, hết chống tệ sùng bái cá nhân lại rơi vào tình trạng phải đối phó với chủ nghĩa xét lại, người trí thức mới trẻ tuổi vừa còn phải “tuân thủ mọi yêu cầu của tổ chức, mọi nhiệm vụ được phân công” mà không phải lúc nào những yêu cầu ấy, những sự phân công ấy cũng được kế hoạch hóa, duy lý hóa. Tiếp theo đó là Đại Cách mạng văn hóa, mà một trong những đặc điểm nổi bật của cái gọi là cuộc Đại Cách mạng văn hóa này lại chính là ở tính chất phản văn hóa, phản tri thức của nó, tuy diễn ra và tác động tai hại trước hết và chủ yếu là ở Trung Quốc, nhưng không thể nói Việt Nam nằm ngoài vòng ảnh hưởng của biến cố kinh hoàng này.   Giới trí thức tinh hoa ở mọi dân tộc đều là báu vật, nói như ngôn từ được làm sống lại gần đây đối với những ý tưởng truyền thống, thì họ là “hiền tài”, là “nguyên khí quốc gia”. Vậy những nạn “chảy máu chất xám” đã là điều nguy hại, mà nạn “lãng phí chất xám”, thậm chí còn khó nhận dạng hơn và khó khắc phục hơn, theo thiển ý, cũng cần nêu lên thành vấn đề lớn hiện nay.   Có thể nói, ở ta mới có những người trí thức lớn,- không đông lắm mà nói thực thì cũng chưa được “lớn” lắm – nhưng chưa thể nói rằng đã có giới trí thức tinh hoa. Mà chừng nào trí thức tinh hoa chưa thành một giới, nôm na là núi không có đỉnh, thì khó lòng bàn đến “tầm” trí tuệ Việt Nam, tuy đó là điều không hiếm người thành tâm khao khát khẳng định.   —  (1) Tham khảo, chẳng hạn:  –    Trần Đình Hượu Đến hiện đại từ truyền thống. Nxb Văn hóa và Thông tin 1996.  –    Le contact colonial franco – vietnamien le premier demi – siècle (1858 – 1911) Nxb Universitè de Provence (PUP), 1999.  –    Trịnh Văn Thảo Vietnam du confucianisme au communisme. Nxb Presse Universitaire Francaise (PUF) 1992.  (2) Tham khảo những tài liệu liên quan đến cuộc thảo luận về việc viết lịch sử tư tưởng Việt Nam. Viện Triết học, 1984.  (3) Trần Đình Hượu, Sđd  (4) Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 -1930) Nxb Văn học Hà Nội 1976.  (5) Các bộ lịch sử, lịch sử tư tưởng Việt Nam của cả các tác giả người Việt lẫn người Pháp đều cung cấp nhiều tài liệu liên quan đến điều này.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giữ chân” tài năng KHCN      Có một nghịch lý là chúng ta đã và đang bỏ nhiều công sức để phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo người tài, nhưng lại không có chiến lược tốt để sử dụng, trong dụng người tài dẫn đến lãng phí chất xám và chảy máu chất xám. Như vậy, phải chăng ta đang phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho quốc tế ? Thực tế phần lớn người tài hiện nay đang làm việc ở nước ngoài hoặc có ở trong nước cũng đang tìm cách làm cho các công ty nước ngoài đầu tư, làm ăn tại Việt Nam. Tại sao lại xảy ra tình trạng này ? Câu trả lời cũng khá đơn giản là chúng ta chưa có cơ chế chính sách để sử dụng người tài, đặc biệt là các tài năng KHCN trẻ.                    Do không có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, thu nhập của nhà khoa học không đủ sống nếu đi theo con đường khoa học chân chính; do truyền thống học để làm quan để hưởng thụ chứ không phải để dấn thân trong khoa học, và cũng do quan niệm của xã hội coi trọng quan chức hơn nhà khoa học, nên khá nhiều người tài có bằng cấp đã bỏ chuyên môn chạy theo con đường quan lộ để có cuộc sống thực dụng (theo số liệu của HĐ GSNN có 70% có bằng TS ở VN là thuộc số này).  Mặc dù hiện nay đã có một số chính sách khuyến khích người tài như ưu tiên những người tốt nghiệp loại giỏi vào biên chế, tuyển chọn và cấp học bổng đi đào tạo ĐH và sau ĐH ở nước ngoài; thông qua chương trình KHCB hỗ trợ vé máy bay đi dự Hội nghị quốc tế, vv.. Nhưng những chính sách này là quá ít ỏi và không cơ bản. Vì vậy, dù được ưu tiên vào biên chế nhiều người tài vẫn không mặn mà, thậm chí nhiều người vào rồi lại xin ra, nhiều người được cấp học bổng đi đào tạo nhưng không muốn về nước; mặc dù được hỗ trợ vé nhưng có được mấy người có khả năng và công trình để được mời báo cáo ở Hội nghị quốc tế. Hơn nữa, dù có được tài trợ vé nhưng còn các khoản phí hội nghị, tiền ăn, ở trong thời gian dự hội nghị còn nhiều hơn tiền vé máy bay thì lấy đâu ra vv..  “Nhân tài” trong KHCN  Để có chính sách sử dụng tốt người tài, trong đó có tài năng trẻ trong KHCN, cũng cần hiểu thế nào là nhà khoa học trẻ tài năng? Trước hết, đó là những người có tư chất nổi trội trong qua cả trình học tập và đào tạo và được ghi nhận qua kết quả học tập và qua các cuộc thi trong và ngoài nước. Nhà khoa học trẻ tài năng là những người có ý tưởng mới và có khả năng sáng tạo ra cái mới; là những người có khả năng gắn kết những tri thức thu nhận được vào thực tiễn, làm tăng năng suất lao động và tăng chất lượng sản phẩm; nhà khoa học trẻ tài năng thường là những người không hài lòng với những gì đã có, đã đạt được. Họ là những người tạo ra các sản phẩm trí tuệ trên cơ sở các sáng chế phát minh hoặc các công bố khoa học có đẳng cấp.  Người tài thường có một số tư chất cá tính như: khẳng khái, có lòng tự trọng, không cam chịu luồn cúi, không nịnh bợ, sẵn sàng tìm chỗ khác nếu môi trường làm việc không lành mạnh. Còn nhà khoa học tài năng thường coi khinh vật chất, không màng chức vị, ngoài những nhu cầu tối thiểu để sống và làm việc, họ không có nhiều nhu cầu hưởng thụ, mong muốn làm việc và cống hiến, mong muốn được tôn trọng. Người tài thường dễ nhạy cảm và cũng dễ nản lòng với cơ chế và bộ máy trì trệ, lạc hậu.   Người tài thường không nhiều, nhà khoa học tài năng càng hiếm hơn. Việc trọng dụng, khuyến khích và khai thác tiềm năng của nhà khoa học trẻ có thể cho phép nhanh chóng tạo nên một mặt bằng mới cho KHCN của đất nước.  Chính sách nào giữ chân và thu hút người tài  Trước hết cần tạo môi trường cạnh tranh giữa  các chủ thể là người sử dụng lao động: trong việc thu hút và giữ chân người tài. Ở phạm vi rộng thì các chủ thể này là khu vực nhà nước, tư nhân, thậm chí ở quy mô quốc gia hay quốc tế. Ở phạm vị hẹp hơn là giữa các cơ quan như viện nghiên cứu, trường học, bệnh viện hoặc một công ty, doanh nghiệp mà ở đó luôn có nhu cầu sử dụng người tài thật sự thì đều phải chấp nhận sự cạnh tranh để thu hút và giữ chân người tài. Môi trường cạnh tranh lành mạnh thường nhằm đáp ứng ba vấn đề cốt lõi sau đây: i) trước hết, đó tạo điều kiện cho người tài có đủ tư cách và nhân cách để làm việc (không phải xếp hàng “hậu hạ, nịnh bợ”) mới được làm việc; ii) thứ đến, là tạo môi trường tốt để người tài nghiên cứu và sáng tạo (môi trường ở đây được hiểu là môi trường cứng (như máy móc, thiết bị, phương tiện làm việc) và môi trường mềm (tôn trọng, hợp tác, minh bạch và dân chủ); iii) và cuối cùng là tạo cho người tài có đủ thu nhập để yên tâm sống và làm việc. Đương nhiên, các nhu cầu trên đây không giống nhau ở mỗi người, và tùy mỗi người mỗi hoàn cảnh cụ thể mà có thể coi trọng hơn vấn đề này hoặc vấn đề kia trong ba yếu tố trên đây. Đương nhiên, để có được người tài, ngoài việc đáp ứng các yếu tố trên đây, người lao động và người sử dụng lao động cần gặp nhau để đưa ra những yêu cầu của mỗi bên trước khi có được thỏa thuận cuối cùng.  Từ phía nhà nước, để các nhà khoa học phát huy tài năng trí tuệ của mình, nhà nước cần có một chính sách đồng bộ để phá bỏ rào cản cho các nhà khoa học trẻ có điều kiện cống hiến, trong đó có những chính sách ưu tiên và nâng đỡ các nhà khoa học trẻ có tài như có thể tạo một nguồn kinh phí để khuyến khích người tài trên cơ sở thành lập một chương trình KHCN cho các nhà khoa học trẻ đăng ký nhiệm vụ KHCN. Đối tượng sẽ là các nhà khoa học dưới 40 tuổi, có bằng TS làm chủ trì đề tài (thủ lĩnh nhóm nghiên cứu).  Bên cạnh đó, cần thay đổi các chế định hiện thời tạo điều kiện cho nhà khoa học trẻ có tài, có thành tích được thăng tiến trong nghề nghiệp như nâng ngạch công chức, phong GS, PGS mà không bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn thâm niên   Nói tóm lại, việc nhìn nhận thực trạng bất cập hiện nay, sự cần thiết phải thay đổi để hội nhập thành công và phát triển bền vững, việc xây dựng chính sách cụ thể để thu hút và sử dụng người tài, trong đó có các nhà khoa học trẻ như trên thực ra không khó. Thực tế trên thế giới và khối doanh nghiệp trong nước vẫn đã và đang làm. Vấn đề còn lại là người quyết định và cả hệ thống quyết tâm làm để biến chủ trương chính sách thành hành động.   Nguyễn Ngọc Châu    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giữa đất và trời      Rất khó định nghĩa thế nào là một người trí thức, nhưng bất cứ người trí thức nào cũng có lúc phải đặt câu hỏi cho chính mình: giữa những nguyên tắc trong veo mà mình nuôi dưỡng trong đầu với thực tế trái ngược mà mình phải đương đầu trước mắt, có thể nào dung hòa được không trong hành động?    Gác qua một bên định nghĩa về người trí thức, hầu như ai cũng nhận rằng trăn trở về câu hỏi nói trên là một trăn trở trí thức, dù cho người đang gặp vấn đề có phải là người trí thức hay không. Giải quyết khúc mắc ấy như thế nào là tùy mỗi người, có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu câu trả lời. Lịch sử, văn chương, để lại thiếu gì câu trả lời nổi tiếng, lắm khi bằng chính thân mạng. Nhưng dù trả lời thế nào đi nữa, câu hỏi cũng gây nhức nhối tận trong xương tủy tuy bề ngoài có khi vẫn phải phơn phớt nói cười. Trí thức là người đau với câu hỏi ấy, bởi vì đó là câu hỏi bi đát trong bản chất, nhất là đối với những người trí thức «dấn thân».Tôi mượn dưới đây hai trường hợp, hai nhân vật, hai tác phẩm văn chương, hai tác giả lừng danh không phải chỉ trong văn học Pháp mà cả thế giới, quá quen thuộc với thế hệ chúng tôi và chắc cả bây giờ, hai trường hợp điển hình, hai thế đứng cực đoan giữa trời và đất, để nói lên một tâm sự chắc chắn không phải là riêng.  Nhân vật thứ nhất là anh hùng của cả một thế hệ trẻ Pháp, chói sáng như một ngôi sao lịch sử của thời nội chiến Tây Ban Nha và tác giả của quyển L’espoir (Hy Vọng), nửa tiểu thuyết nửa tự truyện. Malraux là người trí thức lựa chọn đứng hai chân dính đất.  Nội chiến Tây Ban Nha xảy ra giữa tháng 7 năm 1936. Quân đội của phe hữu mà thủ lĩnh là Franco nổi loạn chống lại chính quyền Cộng hòa vừa thành lập. Máy bay của phát xít Ý và của Hitler yểm trợ đắc lực quân nổi loạn. Nước Pháp tiến bộ của Mặt trận Bình dân chia rẽ trầm trọng giữa hai khuynh hướng: can thiệp hay không để bảo vệ nền Cộng hòa Tây Ban Nha non trẻ? Rốt cuộc, trong gần ba năm chiến tranh tàn khốc, chính phủ tiến bộ của Pháp cầm lòng làm khách bàng quang. Ai sẽ cứu nước Tây Ban Nha tiến bộ? Liên Xô! Từ tháng 10-1936, lấy cớ Đức và Ý đã can thiệp vào nội tình Tây Ban Nha, Liên Xô từ bỏ hiệp ước bất can thiệp vừa ký, tham gia trận chiến.Cùng với tham chiến của Liên Xô, từng đoàn Chí nguyện quân quốc tế xông vào chiến trường, dồn sức nặng của cánh tả cộng sản vào tận chính trường của nội bộ phe Cộng hòa.  Với danh tiếng của mình, Malraux xông trận từ khi nghe nổ phát súng đầu tiên. Anh hùng cá nhân? Tác giả đi tìm nguồn hứng cho tiểu thuyết? Dù nói gì đi nữa, không ai phủ nhận sự dấn thân thật lòng, toàn vẹn của Malraux cho lý tưởng cao cả. Chiến trường thiếu máy bay chống trả? Ông vận động kiếm được một số máy bay cũ, thành lập những phi đoàn tác chiến, chiến đấu dũng cảm, tạo được nhiều chiến công đáng kể, góp phần thay đổi bộ mặt của chiến trường. Chiến công, nghị lực, can đảm, hiểm nguy, ông làm sống lại hào hùng của ông và của chiến hữu qua những nhân vật trong L’Espoir, hâm nóng lên trong huyết quản bao nhiêu dòng máu thanh niên thời ấy. Quá nhỏ bé so với máy bay đối phương, toàn bộ phi đoàn của ông bị tiêu diệt, phi vụ cuối cùng của ông chấm dứt vào tháng 2 năm sau, 1937. Malraux tiếp tục chiến đấu trên lĩnh vực chính trị cho đến khi chiến tranh kết thúc trong tắm máu, Cộng hòa Tây Ban Nha chưa sống tròn ba tuổi.  Nhưng chiến tranh Tây Ban Nha không phải chỉ là một nội chiến mà là hai: nội chiến thứ hai diễn ra giữa các chiến hữu Cộng hòa với nhau – giữa những người cộng sản với những người vô chính phủ và trốt kít để giành nhau quyền lãnh đạo chính trị. Nhiều tên tuổi lớn trong trí thức cánh tả tố cáo sức nặng của cánh Stalin. Hàng ngàn dân quân của phe vô chính phủ bị tàn sát vào tháng 7 và tháng 8 năm 1937. POUM, đảng của họ, bị đứt đầu. Malraux không phải cộng sản; lòng của ông gần với phe vô chính phủ hơn. Nhưng Malraux lặng yên, không thốt một lời. Từ đầu, ông đã ủng hộ cánh cộng sản, bởi vì, trong nhận định của ông, chỉ những người cộng sản mới có thể thành lập một quân đội hữu hiệu, và chỉ một quân đội mới húc được một quân đội. Với Liên Xô cũng vậy, ông cho rằng chỉ Liên Xô mới đánh nhau được với địch, bởi vì nước Pháp nước Anh dân chủ đã ngoảnh mặt làm ngơ. Còn ai nữa ngoài Liên Xô để tiếp tế súng đạn? Hơn thế nữa, từ khi Hitler lên cầm quyền năm 1933, ông đã thấy phát xít là nguy cơ lớn nhất, trước sau gì cũng không đội chung được một trời. Ông cũng đã thấy chính sách hòa hoãn với Hitler của Anh, của Pháp, đã mất tin tưởng nhìn một Mặt trận Bình dân yếu xìu trước sức vóc mỗi ngày mỗi mạnh của cường bạo ở bên kia biên giới. Còn ai nữa để lựa chọn ngoài Liên Xô? Chiến tranh Tây Ban Nha xác nhận tin tưởng của ông: chỉ phe cộng sản mới đủ kỷ luật và lực lượng cần thiết để đánh nhau với phát xít. Lại nữa, có chiến tranh nào mà không phân hai rành rọt giữa địch và ta? Biết đâu là ta, đâu là địch, chuyện ấy ưu tiên số một. Phát xít không phải do Stalin tạo ra; nó đã có mặt trước khi Stalin chỉ đích danh vào mặt nó: Mi là kẻ thù! Cùng điểm mặt địch thủ như vậy, làm sao không đứng chung với Liên Xô? Với phe cộng sản? Lòng ông, Malraux gần cánh vô chính phủ, nhưng ông từ chối không đứng cùng phe với những người chiến đấu cho một chiến trận hão huyền. Số phận của Hy Vọng chỉ có thể đặt vào một bàn tay hữu hiệu.  Hữu hiệu! Đó là châm ngôn trong hành động của Malraux. Tất cả đều phải được nhìn dưới con mắt hữu hiệu. L’espoir, cuốn truyện tôn vinh sự can đảm và ý thức danh dự của nhân dân Tây Ban Nha, lững lờ không kể chiến lược giành quyền lực của phe cộng sản hoặc có nói đến thì cũng chỉ diễn tả như giai đoạn cần thiết để tổ chức chiến trận mà mục tiêu là «chuyển biến hăng say cách mạng thành kỷ luật cách mạng». Khuynh hướng vô chính phủ không có vai trò trong chiến tranh, vì muốn hữu hiệu thì phải kỷ luật.  Vì hữu hiệu, vì kỷ luật sắt, Malraux đã lựa chọn im lặng. Ông đã im lặng khi Andres Nin, thủ lãnh POUM, bị bắt, bị tra tấn, bị thanh toán do lệnh của Stalin. Ông đã im lặng khi Stalin bịa đặt tội ác để thanh trừng đối thủ trong các vụ án chấn động. Bằng im lặng, ông đã đem danh tiếng của ông để bảo kê cho những sự việc mà chắc trong thâm tâm ông không thể chấp nhận được. Đã «dấn thân», người trí thức phải im lặng như thế? Đã hành động thì phải chọn phe, và đã chọn phe thì phải từ bỏ đầu óc phán đoán? Phải nói ngôn từ chính thống? Phải làm giá thú vĩnh viễn với thực tế, dù thực tế đó có làm xốn xang ruột gan? Malraux hẳn có lý lẽ để tự biện minh: phát xít là kẻ tử thù, là cái Ác thậm nguy, không được làm gì, nói gì có hại cho phe ta để làm lợi cho địch. Nhưng ít nhất, đi với ma, chẳng lẽ trong đầu không biết rằng mình đang mặc áo giấy? Đã đành, khi hành động, đạo đức của trách nhiệm có khi phải thắng đạo đức của niềm tin, nhưng nếu đánh mất niềm tin, còn gì là trí thức? Chẳng lẽ sự thật của người trí thức «dấn thân» chỉ là sự thật nửa vời, vầng trăng của người «dấn thân» luôn luôn là vầng trăng khuyết?  Thế đấy, dù thế nào mặc lòng, người trí thức Malraux dứt khoát đứng chặt hai chân trên đất. Ở thái cực đằng kia, một người trí thức khác, một nhà văn khác, một mẫu mực danh tiếng khác của cùng thời đại, lựa chọn một cách đứng khác: đâu đó giữa đất với trời. Hàng trăm sách vở và luận án trên thế giới đã viết về cách đứng của Camus; ở đây tôi xin hạn chế trong một vở kịch, Les Justes (Những người chính trực).  Camus là người viết tiểu thuyết về số phận bi đát của con người cô đơn chống lại mọi thần thánh, ở trên trời cũng như trong Lịch sử đã diễn ra hay đang diễn ra trước mắt. Camus là triết gia xốn xang về kiếp sống vô lý của con người, chẳng biết đâu là cứu cánh, đâu là ý nghĩa. Camus là nhà đạo đức chống lại mọi áp bức làm con người thấp xuống. Camus là chứng nhân của thời đại, vừa gần vừa xa, nơi mà sự thật và giả dối gần nhau trong nhá nhem. Camus là tất cả những tính cách đó, và chính vì vậy mà ông cứ sống hoài, nhất là trong giới trẻ. Nhưng Camus còn nhiều hơn thế nữa, và, hơn thế nữa, ông là người của lương tâm. Chỉ lương tâm mới nâng con người lên trên số kiếp của mình. Chỉ lương tâm mới làm con người mạnh hơn cái ác, cao hơn cái chết. Người có lương tâm không bao giờ chịu thua. «Trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, lời nói cuối cùng thuộc về những người không bao giờ đầu hàng», đó là tiêu chí của tờ báo kháng chiến Combat mà ông là cây bút chính. Camus từ chối danh hiệu « dấn thân » theo nghĩa của thời đại, bởi vì người làm văn chương, nghệ thuật, người trí thức nói chung, có một dấn thân cao hơn: «Trong thế giới của bản án tử hình như thế giới chúng ta đang sống, người nghệ sĩ là người làm chứng cho cái gì trong con người từ chối không chịu chết».  Từ chối… Đó là thái độ của người nổi loạn, L’Homme révolté, nhan đề quyển sách gây tranh luận sôi nổi của Camus. Thế nào là một người nổi loạn? Đó là người nói «không». Nhưng nếu người ấy từ chối, người ấy không từ bỏ: đó cũng là người nói «có» ngay từ cử chỉ đầu tiên. Sự nổi loạn tiêu cực nhất, chẳng hạn sự nổi loạn của một tên nô lệ bất chợt chống lại mệnh lệnh của chủ, vẫn chứa đựng một yếu tố tích cực: nếu tôi từ chối làm một hành động gì mà người khác bắt tôi làm, chính là vì trong thâm tâm tôi mơ hồ đã có một ý muốn làm trái lại, chính là vì trong con người đã có một cái gì mà nơi đó con người tìm thấy chính mình, dù chỉ trong khoảnh khắc. Bởi vậy: tôi nổi loạn vậy là tôi hiện hữu.  Đó là điểm khác biệt căn bản giữa nổi loạn và cách mạng, theo Camus. Trong nổi loạn, điểm khởi hành là «có» trước khi nói «không». Cách mạng, trái lại, bắt đầu bằng «không», một phủ định tuyệt đối, một chữ «không» tuyệt đối, và buộc mọi người phải chấp nhận hậu quả của thứ «không» ấy để chế tạo ra một thứ «có» hứa hẹn nơi một chân trời xa tít huyền hoặc. Nói như vậy không có nghĩa là từ chối lịch sử, không chịu nhìn bánh xe lịch sử đang quay; nói vậy là từ chối thái độ biến lịch sử thành một tuyệt đối trong đó con người không còn chút tự do để bảo vệ chút phần tinh túy của mình khỏi bị lịch sử nghiền nát. «Nỗi khổ trên đời không cho phép tôi tin rằng cái gì cũng tốt dưới mặt trời và trong lịch sử ; mặt trời dạy cho tôi biết rằng lịch sử không phải là tất cả». Trong thời điểm bắt đầu chiến tranh lạnh, khi hai bên đều tự cho mình là hiện thân của Lịch sử, nói như vậy là phạm húy đối với chính phe của mình, phe tả: Camus đã chẳng bắt đầu hành trình của ông như một đảng viên cộng sản đó sao? Phạm húy đó khiến Sartre giật nẩy mình, trách bạn đồng hành đã đặt mọi giá trị của con người vào cuộc «chiến đấu chống lại trời» và quên đứt những hoàn cảnh thực tế và lịch sử của hành động.  Nhưng lịch sử sẽ đi đến đâu? Đâu là tương lai? Đâu là tương lai của con người? Từ ngày tư tưởng Âu châu tuyên bố «thượng đế chết rồi», những tội ác nhân danh thượng đế đã nhường chỗ cho những tội ác nhân danh Lý trí, nhân danh Lịch sử. Thượng đế chết, còn lại con người. Và chính con người nổi loạn sẽ cùng nhau chống lại Lịch sử đang biến thành tuyệt đối như Thượng đế. Cùng nhau? Con người không phải cô đơn? Không! «Tôi nổi loạn vậy tôi hiện hữu»; nhưng bao nhiêu bất công xảy ra trước mắt khiến ta hiểu rằng không phải ta nổi loạn chỉ vì ta phải chịu một áp bức mà lắm lúc còn vì thấy người khác bị áp bức: cá nhân người nỗi loạn có khả năng trùng hợp mình với kẻ khác. Địa ngục, không phải là kẻ khác, như Sartre nói. Trong kinh nghiệm của kiếp sống phi lý, đau khổ là cá nhân, nhưng hễ bắt đầu nổi loạn là ngay từ cử chỉ đầu tiên, sự nổi loạn lập tức ý thức được rằng mình là tập thể, mình phiêu lưu với tập thể. Do đó: tôi nổi loạn vậy chúng ta hiện hữu. Vứt cô đơn ra khỏi con người, mang đến cho con người một lý lẽ trong hành động, không đứng bên cạnh những vĩ nhân đang làm lịch sử mà bên cạnh những người đang chịu đựng lịch sử: trong một thế giới không còn thượng đế nhưng vẫn còn tính thiêng liêng, cá nhân chan hòa trong một khái niệm phúc lợi chung, nổi loạn trở thành huynh đệ. Trong cuốn truyện La Peste (Dịch Tả), ý ấy là căn bản: cả tập thể cùng nhau chống lại dịch tả. Dịch tả hoành hành trong một thành phố bị bao vây, chuột rúc và người chết, người còn lại phải «chấp nhận sống không biết ngày mai và sống một mình đối mặt với trời», trong hoàn cảnh đó, con người bỗng thấy mình trước hết là cô đơn nhưng lập tức để thấy mình liên đới, thấy bi kịch là tập thể, thấy số phận cá nhân của mình không tách rời khỏi lịch sử tập thể, nghĩa là dịch tả và những cảm xúc mà tất cả cùng chia sẻ. Chống lại dịch tả, tức là «dứt khoát lựa chọn phe của nạn nhân» và «liên kết mọi người trong những niềm tin duy nhất mà họ cùng nhau san sẻ : tình yêu, đau khổ, lưu đày». «Không cần phải là thánh và từ chối chấp nhận thiên tai, con người hãy cùng nhau cố gắng trở thành y sĩ» và thế là dịch tả thối lui.  Vậy: tôi nổi loạn vậy tôi hiện hữu, vậy chúng ta hiện hữu. Chúng ta hiện hữu, chúng ta đang hiện hữu chứ không phải chúng ta sẽ hiện hữu. Không có tương lai nào hứa hẹn ở xa thẳm. Tương lai nằm ngay ở đây, nằm trong hiện tại. Sự nổi loạn, khi đối mặt với Lịch sử, nói thêm rằng: thay vì giết và chết để sản xuất ra cái con người mà chúng ta thấy không phải là chúng ta, ta phải sống và làm cho chung quanh sống để sáng tạo ra con người mà chúng ta đang là. Chúng ta đang là, chứ không phải chúng ta sẽ là. Dịch tả dạy cho ông bác sĩ Rieux trong cuốn truyện rằng con người không phải là một khái niệm, mà là những thớ thịt đang rung, là máu, là gân, là «những tình cảm lớn nhưng đơn giản và vĩnh cửu», là thù ghét, là thương yêu, là nước mắt, là cười vui, là đau khổ, là hạnh phúc, tất cả đan kết và nẩy nở với nhau trong tận thâm sâu để tạo ra khuôn mặt của mỗi số phận. Con người không phải là khái niệm trừu tượng. Trừu tượng hóa là giết nó. Công lý cũng vậy, không phải chỉ là khái niệm : «công lý vừa là khái niệm vừa là hơi thở ấm áp của tâm hồn».Thay vì gửi con người đi để chết trong những thiên đường xa xôi, hãy tránh cho con người những cực đoan đầy rẫy trong lịch sử và hãy để nó sống trong quê nhà thân yêu của nó, trong xứ sở của chừng mực, vừa phải, độ lượng mà nó nhận là văn minh. Nó cần may lại cái gì đã rách, trả lại cho công lý khuôn mặt người, chống lại nô lệ, dối trá, khủng bố – ba điều khủng khiếp của thời đại đã làm con người câm nín trước con người, nhắm mắt trước nhau, cụt tay với nhau. Đừng tưởng sự chừng mực đó đưa đến tầm thường: nó luôn luôn buộc tâm trí phải căng thẳng, phải sáng tạo, để sức mạnh không biến thành bạo lực, để cứu cánh biết tìm những phương tiện đúng, để trách nhiệm biết đo lường, tội phạm biết đo lường, hiểm nguy biết đo lường, chống lại những tuyệt đối giả dối của tín điều, của cải đạo. Hãy bắt đầu bước đi với chút tính người mà ta khám phá trong ta để chinh phục lại con người mà ta có, thay vì từ khước con người để chế tạo ra con người tưởng tượng. Chừng mực: ấy là học sống và chết; và để thành người, phải từ chối làm thần thánh. Đó là bài học rốt ráo của tác phẩm L’Homme révolté, Con người nổi loạn. Từ chối thần thánh để cùng nhau tranh đấu và chia sẻ số phận. Để vượt qua bất công, chuyên chế, khủng bố. Sự độ lượng chân thật nhất với tương lai là trao hết tất cả cho hiện tại.  Tôi phải nói đôi lời như thế về Con người nổi loạn trước khi bắt qua vở kịch Les Justes. Bởi vì, trong vở kịch, Camus bước thêm bước nữa: không phải ông chỉ nói về nổi loạn mà còn về hành động của nổi loạn. Chống dịch tả, chống bạo chúa, đã đành, nhưng chống thế nào? Thế nào để chính ta không trở thành dịch tả, thế nào để ta không mất ta?  Vở kịch lấy hứng từ một chuyện lịch sử có thật : chuyện ném bom của một nhóm khủng bố Nga, năm 1905, dưới danh nghĩa tổ chiến đấu của đảng xã hội cách mạng. Phần đông là sinh viên, tất cả đều trẻ, họ hăng say, lý tưởng, nhưng ít nhất một người trong bọn họ muốn rằng mình ném bom mà không phải là sát nhân. Đó là Kaliayev, nhân vật chính. Anh này và bạn bè sống thường xuyên trong nghịch cảnh: họ lựa chọn cái nghề giết người, tuy họ là trí thức, bởi vì họ nghĩ rằng cách mạng chỉ có thể tiến bước nhờ những quả bom công lý ; nhưng đồng thời họ từ khước, không biện minh tính cách chính đáng của phương tiện họ dùng, họ nhận họ có tội đã làm đổ máu, dù đó là máu của những người có tội, và họ đòi hỏi phải được chết để trả giá cho những đời sống mà họ đã giết. Hành động giết của họ là cần thiết nhưng không tha thứ được: ám sát, đối với họ, có ý nghĩa như thế.  Màn thứ nhất mở lên: năm người khủng bố, Dora, Boris, Ivan Kaliayev, Stepan và Alexis, quyết định giết Quận công Serge khi xe ngựa đưa ông đến nhà hát lớn. Kaliayev được chọn để ném bom, nhưng sự lựa chọn này không làm Stepan vừa ý. Trước mắt anh, Kaliayev, người yêu của Dora và thi sĩ, quá đặc biệt để làm một người cách mạng, thường tự đặt ra quá nhiều vấn đề, phân tích quá rõ từng điểm khác biệt nơi người này người nọ, khiến một phần nào đó nơi kẻ thù không phải là kẻ thù. Muốn ném bom, phải chai sạn như Stepan. Tù ngục, roi vọt, đã dạy anh ta vứt bỏ tất cả mọi tình cảm, suy luận tinh tế, không cần biện minh gì nữa cả, chỉ còn là cái máy giết. Thực tế chứng minh nhận xét của Stepan : khi xe ngựa diễu đến trong tầm tay của Kaliayev, anh bỗng thấy hai đứa bé ngồi cạnh Quận công, bất ngờ, và anh không ném. Giết trẻ con không phải là nghề của anh.  Tổ họp lại để kiểm điểm. Câu hỏi  hàng vạn trẻ em Nga đang đói, sá gì hai đứa bé sang trọng kia, nếu quả bom mở ra chân trời no ấm cho các em ấy? Lựa chọn gì: bác ái? băng bó vết thương qua ngày? hay cách mạng để chữa lành mọi vết thương, trong hiện tại và tương lai? Trả lời của Dora: Kaliayev nhận giết vì cái chết của ông Quận công mở ra sớm hơn tương lai trong đó trẻ em Nga không còn chết đói nữa. Nhưng cái chết của hai đứa cháu nhỏ có ngăn được một trẻ em nào chết đói đâu? Ngay cả trong phá hoại, vẫn có trật tự, vẫn có giới hạn. Giận dữ của Stepan: cách mạng không có giới hạn, cách mạng có mọi quyền! Phản đối của Kaliayev: tôi hổ thẹn, nhưng tôi không để cho cậu nói thế. Tôi nhận giết để lật đổ chuyên chế. Nhưng đằng sau câu nói của cậu, tôi thấy lừng lững đi tới một chuyên chế mà nếu thực hiện, sẽ biến tôi thành kẻ sát nhân, trong khi tôi muốn làm kẻ trừ bạo. Phân xử của Boris: giết trẻ con là trái với danh dự; và nếu ngày nào đó  cách mạng không còn biết đến danh dự nữa, tôi sẽ ngoảnh lưng lại cách mạng.  Vở kịch tiếp tục, hai ngày sau Quận công lại đến nhà hát lớn, Kaliayev ném bom, và lần này thành công. Thành công, không phải vì giết được ông Quận; thành công còn vì đạo đức cách mạng được biện minh:  tôi ném bom trên chuyên chế, không phải trên một người. Bị bắt, hình phạt treo cổ không làm anh động lòng. Nhưng thử thách chột dạ mà anh không ngờ là lúc cai ngục báo cho anh biết có người đến thăm và người ấy là bà Quận, quả phụ của nạn nhân anh giết. Anh bằng lòng đã nổi loạn, nhưng bỗng nhiên sự nổi loạn của anh không phải hoàn toàn vô tội và có cái gì đó nơi người có tội không phải hoàn toàn có tội.  -Anh có biết chồng tôi đã làm gì hai giờ trước khi chết? Ngủ. Ngủ trong ghế dựa, hai chân gác lên ghế… như mọi ngày. Chồng tôi ngủ, còn anh, anh chờ đợi chồng tôi trong đêm đen tàn bạo. Một thoáng trắc ẩn trong lòng Kaliayev…  – Anh không muốn cầu nguyện với tôi? Không muốn hối hận?  – Bà hãy để cho tôi sửa soạn cái chết của tôi. Nếu tôi không chết, tôi là kẻ sát nhân.  – Chết? Anh muốn chết? Không. Anh phải sống và bằng lòng làm kẻ sát nhân. Chẳng phải anh đã giết người sao? Thượng đế sẽ biện minh cho anh.  Bà Quận công báo: bà đến để xin ân xá cho Kaliayev.  -Anh muốn tự phán xét anh và tự cứu mình. Anh không thể làm thế được. Thượng đế có thể làm, nếu anh sống. Tôi sẽ xin ân xá.  Đâu được ! Anh phải chết. Vì lòng yêu mến công lý cháy bỏng trong anh, Kaliayev không thể chấp nhận làm tay đao phủ ghê tởm. Anh đã lựa chọn hành động và khủng bố để phụng sự công lý, nhưng anh cũng đồng thời chọn lựa cái chết, chọn lựa lấy mạng đổi mạng, để công lý mang đầy chất sống. Kaliayev từ chối ân xá. Bằng từ chối, hành động được biện minh. Công bằng, chính trực. Người đổi người, máu đổi máu. Đã nhận trách nhiệm giết người vì lý tưởng thì cũng phải nhận điều kiện duy nhất là chết, chết sau nạn nhân.  Anh chết. Người yêu Dora làm gì để sống như anh? Cũng nhận chết như thế. Cô sẽ là người ném bom sau đó. Và cô sẽ chết như thế, để được chết như người yêu, với người yêu, trong một đêm lạnh và cùng một sợi giây treo cổ. Cô sẽ bước đến dây thòng lọng, và, cũng như người yêu, sau đó là một tiếng thây rơi lạc lõng trong đêm. Đừng khóc, các bạn đừng khóc! Các bạn phải thấy đây là ngày biện minh. Giờ này đây, một cái gì vừa bay lên cao, đó là chứng từ của chúng ta, những kẻ nổi loạn: anh ấy không còn là kẻ sát nhân. Một tiếng rơi khủng khiếp! Chỉ cần một tiếng rơi khủng khiếp và anh ấy đã trở về với niềm vui của ấu thơ. Các bạn có nhớ tiếng cười của anh ấy không? Đôi khi anh ấy cười không duyên cớ. Xem kìa, chao ôi, anh ấy trẻ quá chừng! Chắc hẳn anh ấy đang cười. Anh đang cười đấy, mặt úp vào lòng đất !  Trở về với ấu thơ. Với ngây thơ trong trắng. Người nổi loạn trở về với ấu thơ vô tội. Bằng cách chấp nhận trách nhiệm. Bằng cách đặt cái chết ngang hàng với cái chết. Trả mạng bằng mạng. Không sống để đem cứu cánh biện minh cho phương tiện. Cứu cánh biện minh cho phương tiện ? Cũng có thể. Nhưng cái gì biện minh cho cứu cánh? Người nổi loạn trên  đây trả lời: phương tiện.  Camus đã hứng chịu đủ loại chỉ trích từ bạn bè phía tả của ông, đặc biệt là của Sartre, linh hồn của trí thức «dấn thân» thời đó. Nhưng khi Camus chết – 47 tuổi! – Sartre đã viết một điếu văn cảm động, tán dương vai trò nổi bật của ông trong văn học, trong tư tưởng, trong lịch sử của một giai đoạn đầy biến động, đề cao tính nhân bản, tính đạo đức, cuộc chiến của Camus chống lại những trâng tráo phũ phàng của các tín đồ thực tế chủ nghĩa.  ***  Trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ đã sống qua hai cuộc chiến tranh, khó mà không thiên về Sartre, khó mà không đồng tình với sự chọn lựa hiệu quả của Malraux. Chiến tranh vạch ranh giới phân hai giữa ta và địch, khó mà nồng nàn với câu nói của Camus: «Tôi không phải sinh ra cho chính trị bởi vì tôi không có khả năng muốn hoặc nhận cái chết của địch thủ». Nhưng chiến tranh có phải là bối cảnh duy nhất và thường xuyên của lịch sử ? Có phải nằm trong tâm thức thường xuyên và duy nhất của con người? Hoặc là đất hoặc là trời, có phải đó là thái độ tự nhiên của trí thức? «Dấn thân» có phải là không biết đến khoảng cách cần thiết phải có đối với cả cứu cánh? Và cứu cánh nào cho phép ta quay lưng lại với những gì ta yêu, với mặt trời, với nụ cười?  Đã qua rồi giai đoạn đặc biệt trong đó người trí thức có khi đã vui lòng chấp nhận tuyệt đối. Trong đời sống bình thường và nhiệm mầu trong chính bình thường, hãy mở lòng để cho họ sống với những sự thật tương đối, điều kiện tất yếu của sáng tạo, của tiến bộ. Vẫn hai chân trên đất, đầu ngước nhìn trời, họ sẽ cống hiến phần tốt đẹp nhất của họ như thế.  Và cũng như thế, hãy mở lòng chấp nhận cho người trí thức được “quá đặc biệt để làm cách mạng”. Trí thức là người mà chức năng là suy nghĩ chứ không phải hành động như người làm chính trị. Đừng cấm họ ray rứt. Không ray rứt thì không biết đặt lại vấn đề. Không đặt lại vấn đề thì không có tư tưởng. Có thể người trí thức sinh ra để làm phiền, để nói trái lại. Nhưng không có người nói trái thì làm gì có tranh luận, và không có tranh luận, làm sao trưởng thành? Mâu thuẫn là bệnh dằn vặt của người trí thức. “Quá dễ để chết vì mâu thuẫn hơn là sống với mâu thuẫn”, nhân vật Dora trong vở kịch nói như thế về người yêu của mình. Mâu thuẫn lắm khi dẫn đến ngõ cụt trong hành động, và không thiếu gì người trí thức đã bị chỉ trích là lừng khừng trong chiến tranh. Nhưng mâu thuẫn là quy luật của tiến hóa, là đòn bẩy của suy nghĩ. Hãy rộng lượng với họ: không thấy mâu thuẫn thì không rõ mọi tình huống, và ngay cả người đánh trận cũng phải được chỉ cho thấy chỗ sáng chỗ tối, chỗ yếu chỗ mạnh, chỗ được chỗ mất. Người trí thức không thích hợp để làm tay sai hoặc đề sai : họ chỉ có ý kiến để cho, có thể sai có thể đúng, nhưng họ thấy hai mặt. Mâu thuẫn là chỗ họ sống, chỗ họ chết, chỗ họ tự hào, chỗ họ hổ thẹn. Trong hai trường hợp điển hình mà tôi nêu trên đây, một người sống và im lặng trong mâu thuẫn, một người chết vì mâu thuẫn nổi loạn. Đừng tưởng người này sướng người kia khổ, người này thành công người kia thất bại: cả hai đều khổ, ngấm ngầm hoặc bùng nổ. Một người chọn chết trong lòng để sống. Một người chọn sống trong cái chết. Đừng hỏi ai đúng ai sai, nếu cách họ sống và cách họ chết đánh thức suy nghĩ của mọi người. Ai đánh thức, không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức, bất kể họ là ai. Bởi vì trí thức không có vai trò nào khác: họ là, và chỉ là, lương tâm của thời đại.  Chú thích :  (1) Về Malraux : Michel Winock, Le siècle des intellectuels, Seuil 1997.  (2) Về Camus :  – Morvan Lebesque, Camus, Seuil 1965 (các trang 95-100, 101, 117, 118).  – Pierre -Louis Rey, Camus, L’Homme révolté, Gallimard, 2006 (các trang 62, 67, 70, 91)  – Jacqueline Lévi-Valensi (chủ biên), Les critiques de notre temps et Camus, Garnier Frères, 1970 ( trang 155).  – Europe (Revue littéraire mensuelle), Albert Camus, 1999 (các trang 6, 9-11).      Cao Huy Thuần      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giúp châu Phi trồng lúa, được nhiều hơn mất      Đọc bài Sang châu Phi đầu tư trồng lúa đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 4/8/2011, có ý kiến cho rằng Việt Nam không được lợi gì khi đầu tư trồng lúa ở châu Phi, mặt khác việc phát triển cây lúa ở châu Phi có thể ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam.    Trong khung cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam đưa người đi giúp các nước trồng lúa là đúng đạo lý. Nhìn lại lịch sử phát triển nông nghiệp của Việt Nam, có biết bao giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật canh tác… được chuyển giao từ nhiều nước. Nhiều chuyên gia nông nghiệp của Việt Nam được đào tạo, trưởng thành từ nước ngoài. Tinh thần cạnh tranh mà các nước phát triển đang áp dụng là làm sao tiến bộ hơn đối thủ để chiếm thị trường và lợi nhuận, chứ không phải chèn ép, mong đối thủ kém đi để mình có ưu thế! Trong thời đại hiện nay, khi mất an ninh lương thực ở bất cứ nơi đâu thì sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới.  Là người trong cuộc, từng đi khảo sát thực tế ở Sierra Leone cùng với GS.TS Võ Tòng Xuân – người chủ trì chương trình “An toàn lương thực Tây Phi châu – Sierra Leone” người viết bài này xin được trình bày rõ hơn.  Năm 2005, TS Sama Monde – bộ trưởng bộ Nông nghiệp và an ninh lương thực Sierra Leone – đã đến thăm và nhờ đại học An Giang sang giúp xây dựng chương trình an ninh lương thực cho Sierra Leone. Năm 2006, GS.TS Võ Tòng Xuân – hiệu trưởng trường đại học An Giang – đã đến Sierra Leone làm việc với phó Tổng thống Solomon Berawa và bộ trưởng Sama Monde. Sau khi khảo sát, hai bên thống nhất lựa chọn vùng Mange Bureh thuộc huyện Port Loko làm khu thí điểm trồng lúa.  Từ chương trình thí điểm ở Sierra Leone, GS.TS Võ Tòng Xuân và các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục sang giúp Nigeria, Mozambique, Cộng hoà Hồi giáo Mauritania… với mục đích giúp họ “cái cần câu hơn cho xâu cá” cùng với tinh thần truyền bá “văn minh lúa Việt”, để xây dựng hình ảnh Việt Nam có trách nhiệm với xã hội loài người và nâng cao uy tín của Việt Nam trước thế giới.  Mạn phép trích dẫn thư của GS Võ Tòng Xuân: “Tôi chỉ ủng hộ các chương trình mà tôi thấy rõ là chúng ta giúp nông dân Phi trực tiếp để giúp họ xoá đói giảm nghèo. Nếu chương trình liên doanh để làm giàu trên đầu trên cổ nông dân thì tôi không bao giờ tham gia”.  Thông tin về hàng triệu người dân châu Phi đang chết đói, cảnh trẻ em gầy giơ xương đang cố bíu lấy bầu vú mẹ… lại làm chúng ta nhớ đến cảnh đói năm Ất Dậu 1945 ở Việt Nam mà lòng quặn đau. Thiển nghĩ ý kiến của GS Võ Tòng Xuân cũng chính là văn hoá của người Việt, phải biết thi ân bất cầu báo.    Author                Quản trị        
0.4375
__label__tiasang     Author                Phạm Chi Lan        
__label__tiasang Gỡ sao đây?      Năm ngoái, trong một bài báo nhỏ tôi có bày tỏ thắc mắc không hiểu sao chấm văn trong các kỳ thi lại có thể có đáp án. Ý tôi rất đơn giản: ai cũng biết đặc điểm quan trọng nhất của một văn bản văn chương là nó rất đa nghĩa, phải đa nghĩa, tác phẩm càng lớn thì càng đa nghĩa, hiểu mãi không hết, đời này qua đời khác.         Một tác phẩm văn chương mà chỉ hiểu được một nghĩa duy nhất, thì chỉ đáng vứt đi. Vậy thì đáp án theo nghĩa nào? Đáp án là buộc người đọc hiểu theo một nghĩa, theo cách hiểu duy nhất của người ra đề và làm đáp án. Như vậy những học sinh giỏi, có đầu óc độc lập và sáng tạo, không hiểu theo một nghĩa duy nhất đó, ắt sẽ bị điểm thấp nhất. (Nghe nói sắp đến lại còn định thi văn theo trắc nghiệm nữa. Tôi thấy các kiểu trò chơi đố ăn điểm trên tivi mà sợ quá!)… Bài báo mới ra được mấy hôm, liền có phản ứng của một người hình như ở một cơ quan rất quan trọng, phụ trách về chiến lược gì đó của ngành giáo dục. Anh ấy mắng: Lâu nay tôi nghĩ ông ấy là nhà văn nổi tiếng, sao bây giờ nói bậy thế?  Tôi buồn chứ không giận. Và suy đi nghĩ lại, thấy rất có thể anh ấy cũng có cái lý của anh ấy. Anh ấy ở trong ngành, làm ở một cơ quan có thể bao quát được tình hình, anh ấy biết rõ nếu thi văn không có đáp án thì phần lớn thầy đi chấm thi văn của chúng ta hiện nay quả thật không biết đường nào mà chấm. Họ không đủ sức thẩm định một cách độc lập một bài văn của học trò nếu không được hướng dẫn tỉ mỉ đến từng nửa điểm cho từng ý cần phải viết ra cho đúng y như người ra đáp án hiểu và ban bố làm chân lý…  Thôi thì chuyện đó cũng đã qua rồi, nhưng rồi nó không thể không gợi lên thật nhiều suy nghĩ, không chỉ về học văn, dạy văn, chấm văn, mà cả về nền giáo dục hiện nay của chúng ta. Thầy của ta như thế, là kết quả của nền giáo dục bao nhiêu chục năm nay, chẳng lẽ bỏ đi hết, đào tạo lại hết?… Và đây cũng chỉ là một chuyện trong bao nhiêu chuyện khác chẳng hề ít căng thẳng hơn của giáo dục. Tôi xin nói thật, theo tôi tình hình chung là gần như chưa thấy lối ra. Những sửa chữa vừa qua, hai không, rồi bốn không, rồi chắc chắn còn phải bao nhiêu không nữa… đều là rất cố gắng, rất thiện chí, rất tích cực. Nhưng cảm giác như ta đang đi vá một cái áo, vá chỗ này thì bục ra chỗ kia. Mà giáo dục là cái không thể xóa đi làm lại, nó liên quan đến hàng nhiều chục triệu con người, có thể gây chấn động toàn xã hội.   Vậy nên làm thế nào đây? Tôi xin thử nêu lên một ý kiến, ít ra cũng là để những người quan tâm tham khảo. Có lẽ nên làm thế này chăng: Cứ để một bộ phận tiếp tục điều hành bộ máy giáo dục đang chạy hiện nay, với những cố gắng sửa chữa dẫu biết là chắp vá, cố gắng được càng khá càng tốt. Trong khi đó, có một bộ phận, huy động trí tuệ tập trung nhất, chuẩn bị cho một cải cách cơ bản nền giáo dục của chúng ta. Tôi hình dung có thể cần một thời gian không ngắn, xây dựng lại từ gốc, rồi đến một lúc nào đó, thay thế hẳn cái đang có. Không thể góp nhiều sửa chữa nhỏ thành lớn để dần dần đi đến giải quyết được cơ bản tình hình, bởi như nhiều người đã nhiều lần nói, sai lầm của giáo dục ta là sai lầm thiết kế, ở những nền tảng cơ bản, chứ không phải bộ phận, chi tiết. Không thiết kế lại toàn bộ, trên những nền móng hoàn toàn mới, khác, thì vá mãi chỉ càng vá càng rách.  Những ngày gần đây trên báo chí bàn luận nhiều đến quan điểm của ngành GD-ĐT: tăng học phí thì mới tăng được chất lượng đào tạo… Trong khi đó ở Malaysia trong bài phát biểu ngày 7/9, Thủ tướng Malaysia A. Badawi tuyên bố, học phí hằng năm của của 5,7 triệu học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở sẽ được bãi bỏ. Sách giáo khoa cũng được cung cấp miễn phí cho tất cả học sinh, thay vì chỉ cho học sinh trong gia đình thu nhập thấp, dưới 1.000 RM (khoảng 7 triệu đồng VN). Để khuyến khích tham gia hoạt động tập thể, học sinh trong gia đình thu nhập thấp cũng sẽ được phát một bộ đồng phục miễn phí.   Vậy đó, phải thay đổi hoàn toàn, vậy cần tìm cách thay đổi hoàn toàn mà không phải xóa hết một lúc.      Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Góp phần thảo luận về chính sách ngoại giao  của Việt Nam với giới học thuật quốc tế      Sau gần mười năm nghiên cứu, cụm công trình về “Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam” được công bố ở các tạp chí quốc tế uy tín của GS.TS Phạm Quang Minh (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã thực sự góp phần quan trọng trong việc để giới học thuật quốc tế thảo luận về chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa mạnh mẽ các quan hệ đối ngoại của việt Nam.      GS. TS Phạm Quang Minh  Dù tiếp xúc với GS.TS Phạm Quang Minh nhiều lần, nhưng bao giờ cuộc nói chuyện của chúng tôi với ông cũng đều dẫn tới chủ đề làm sao để nền khoa học xã hội Việt Nam thể hiện được tiếng nói trước giới học thuật quốc tế. Cũng qua những lần gặp ấy, chúng tôi hiểu rằng, nỗi niềm canh cánh ấy bắt đầu ngay từ khi ông bỡ ngỡ bước chân ra khỏi đất nước Việt Nam thời chưa mở cửa để học cử nhân ở Đại học Tổng hợp Kuban, Liên Xô cho đến Tiến sỹ tại Đại học Tổng hợp Humboldt, Berlin, CHLB Đức, hay ở bất cứ giảng đường nào khi ông đi thỉnh giảng tại nhiều đại học lớn trên thế giới.  Những phân tích mới về chính sách ngoại giao Việt Nam  Có lẽ chính vì nỗi trăn trở trước câu hỏi đó, nên “khi nghiên cứu, tôi đều đặt mục tiêu là phải công bố để thảo luận với giới học thuật trong nước và quốc tế”, GS. Minh chia sẻ. Với tinh thần đó, sau một chặng đường dài gần mười năm tìm tòi, khảo cứu tài liệu về ngoại giao Việt Nam, ông đã lần lượt công bố các bài viết của cụm công trình “Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam” ở nhiều tạp chí quốc tế.  Cụm công trình mười một công bố quốc tế về chủ đề “Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam” (2010-2014) của GS.TS Phạm Quang Minh đã đạt Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2010-2014. Phần lớn các bài viết trong cụm này đều được công bố ở nhiều tạp chí, nhà xuất bản hàng đầu thế giới như McMillan, Routledge, Spinger…  Cụm công trình này tập trung vào khẳng định, chính sách ngoại giao của Việt Nam đã chuyển đổi từ mô hình ảnh hưởng bởi yếu tố hệ tư tưởng sang mô hình lấy lợi ích quốc gia làm trọng tâm. Khi chuyển đổi mô hình, ngoại giao Việt Nam cũng thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa mạnh mẽ các quan hệ đối ngoại để thích ứng với bối cảnh thế giới đang thay đổi. GS. Minh cũng chỉ ra nguyên nhân Việt Nam chuyển đổi chính sách ngoại giao một cách khá nhanh chóng và cởi mở, đó là nhờ vào những bài học lịch sử trong hai cuộc chiến tranh và giai đoạn trước đổi mới. “Nhiều bài học về ngoại giao dẫn tới những mâu thuẫn, xung đột đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chẳng hạn như bài học từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Chính vì thế, chính sách ngoại giao của mình vẫn đặt ra tiêu chí ‘ba không’ cho tới tận ngày nay”, ông nói. “Tuy nhiên, trong các công bố quốc tế mới đây của mình, tôi chỉ ra rằng, do tình hình quốc tế đã có nhiều thay đổi, Việt Nam cần làm cho thế giới hiểu rõ hơn về nội hàm “ba không” của chính sách này và nó cũng nên được điều chỉnh linh hoạt trong những trường hợp đặc biệt”, ông nói thêm.  Điểm nhấn thứ hai trong cụm công trình này là những đánh giá về vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và tầm quan trọng của việc Việt Nam gia nhập ASEAN. GS. Minh cho biết: “Nhiều ý kiến từ các học giả trong nước và quốc tế cho rằng ASEAN chỉ là một talkshow, và Việt Nam tham gia vào talkshow này thực ra không có nhiều ý nghĩa. Nhưng tôi lập luận ngược lại rằng đây là một tổ chức khu vực có vai trò rất quan trọng và đang ngày càng có tiếng nói mạnh mẽ trong khu vực. Động thái gia nhập ASEAN của Việt Nam cũng cho thấy sự thay đổi, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bản sắc, để chuyển đổi tư tưởng mạnh mẽ – từ quan điểm là một tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa sang một quan điểm ngoại giao đa chiều. Mặt khác, tất cả những hoạt động ngoại giao cởi mở đó có mối quan hệ chặt chẽ với sự đổi mới từ chính trị, kinh tế, xã hội trong nước”.  Về mặt lý luận, cụm công bố này đã góp phần vào cuộc thảo luận về mô hình thể chế nhà nước ở khu vực Đông Á. Về mặt văn hóa lịch sử, người dân ở Đông Á vốn khác nhiều khu vực khác trên thế giới ở chỗ, đã trải qua nhiều chế độ chuyên chế lâu dài và có nền văn hóa ảnh hưởng đậm nét bởi đạo Khổng. Những điều đó khiến người dân đặt niềm tin mạnh mẽ vào giới lãnh đạo. Với Việt Nam, mô hình thể chế hiện hành đã duy trì được sự ổn định tương đối từ trước đến nay, và trong thời gian tới, nếu nhà nước vẫn tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đặn, thì mô hình “dân chủ mềm” vẫn có thể chứng minh được sức sống.  Đánh giá về cụm công trình nghiên cứu của GS. Minh, một số nhà nghiên cứu lịch sử và quan hệ quốc tế như PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh, Đại học Sư phạm Hà Nội và PGS.TS Phạm Minh Sơn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cho rằng, cụm công trình của GS. Minh mang lại một xu hướng tiếp cận mới ở Việt Nam – xu hướng nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nền tảng khu vực học và quốc tế học. Đối với các thảo luận khoa học ở khu vực và quốc tế, đóng góp quan trọng nhất của các công bố này là cung cấp cho giới quốc tế tư liệu, quan điểm, góc tiếp cận của một nhà nghiên cứu Việt Nam về những vấn đề cấp thiết như: sự chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, an ninh và hợp tác khu vực, hợp tác ở biển Đông. Điều này thực sự rất cần thiết trong bối cảnh, từ nhiều năm nay, xuất bản quốc tế về khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam còn quá “hiếm hoi”. Đồng thời, hiểu biết của các học giả thế giới thông qua các nghiên cứu của Việt Nam cũng không nhiều và có nhiều vấn đề được hiểu chưa đúng bởi sự thiếu hụt thông tin từ chính giới nghiên cứu Việt Nam. Do vậy, những công trình nghiên cứu như của GS Minh là vô cùng cần thiết để có thể cung cấp cho giới nghiên cứu quốc tế về quan điểm, cách nhìn của giới nghiên cứu Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế.  Để viết cụm công trình này, GS. Minh cho biết, ông đã gặp khá nhiều khó khăn trong tiếp cận với các nguồn sử liệu. Không phải lúc nào cũng có thể tìm tư liệu, đặc biệt là các văn bản chính sách về ngoại giao của Đảng, Nhà nước trong các trung tâm lưu trữ quốc gia. Nhiều tài liệu không còn được bảo quản, lưu trữ, và cũng có nhiều tài liệu vẫn còn được đóng dấu mật nên không thể đọc được. “Ví dụ, mười năm trước tôi không thể tìm được Nghị quyết số 13 về “nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” của Bộ Chính trị khóa VI. Ngoài ra, điều kiện nghiên cứu trong nước cũng rất thiếu tài liệu và vì vậy nhiều lần tôi phải nhờ các đồng nghiệp quốc tế gửi tài liệu hoặc các bài tạp chí, sách được xuất bản ở quốc tế để đọc tham khảo”, ông nói.  Ông luôn ao ước, những công trình nghiên cứu hay, kỹ lưỡng và được trích dẫn nhiều trên thế giới về lịch sử, văn hóa xã hội Việt Nam không phải là của các tác giả người nước ngoài, mà chính là của một tác giả “thuần Việt”. Điều này chỉ có thể thành hiện thực khi có sự nỗ lực của cá nhân các nhà khoa học, chủ trương của nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo, sự tham gia của nhiều người hơn nữa.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Góp tự do của mình vào đâu hiệu quả nhất ?      Dưới góc nhìn kinh tế và toán học, tác giả mạn đàm chuyện tối ưu hoá góp quyền tự do cho các chủ thể trung gian, bao gồm nhà nước.      PGS.TS Võ Trí Hảo.  Thuở hồng hoang, con người sống trong một xã hội chưa có luật pháp. Ở trạng thái tự nhiên đó, con người có mọi quyền, bao gồm cả quyền tự do giết người khác1. Tuy nhiên, trí thông minh của con người sớm nhận ra rằng: nếu mình có quyền tự do giết người khác, thì người khác cũng có quyền tự do giết mình. Việc từng cá nhân riêng lẻ tiếp tục giữ lại và hành xử một cách cá nhân các quyền tự do nguy hiểm này không có lợi cho từng cá nhân, không có lợi cho sự tồn tại của cộng đồng; họ cùng nhau thoả thuận từ bỏ quyền tự do này có điều kiện, có kiểm soát.  Ai sẽ là người kiểm soát quyền tự do này? “Bên thứ ba” được cộng đồng gửi gắm làm chủ thể tiếp nhận và hành xử phần quyền tự do này. Theo nguyên tắc gần trước, xa sau; cộng đồng ban đầu trao cho tù trưởng, tộc trưởng, rồi đến già làng, trưởng bản… “Bên thứ ba” này cứ thế tiến hoá dần để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của con người với tốc độ tương ứng với sự dịch chuyển của các nền văn minh của con người. Khi loài người từ bỏ lối sống lang thang săn bắn hái lượm, định cư tiến sang văn minh nông nghiệp thì “già làng, trưởng bản, trưởng tộc” không còn đủ sức giải quyết những tranh chấp đất đai, nguồn nước; càng không đủ sức đắp đê trị thuỷ; các làng ven sông thoả thuận liên kết lại để hình thành nên quyền lực liên làng, mà sự hình thành nhà nước Văn Lang cổ đại ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam là một ví dụ. Để vận hành quyền lực liên làng cần đến một tổ chức chuyên nghiệp; già làng, trưởng bản được thay thế bởi vua cùng hệ thống quan lại – nhóm người tách ra khỏi đời sống sản xuất trực tiếp; đổi lại cho sự đóng góp này, cộng đồng hy sinh một phần quyền tự do kinh tế, quyền tư hữu, đóng thuế nuôi họ, hình thành nên nhà nước của dân, do dân, vì dân; chứ không nhất thiết toàn nhân loại cứ phải đi theo con đường duy nhất đàn áp, cướp bóc lẫn nhau theo mô hình Athen cổ đại.    Nếu gán giá trị và lượng hoá một cách tương đối, thì việc góp các quyền tự do này cho các chủ thể trung gian, bên thứ ba này, để mưu cầu hạnh phúc cho chính mình, cho cộng đồng sẽ có nhiều nét tương đồng với việc góp vốn đầu tư vào thành lập công ty cổ phần với đầy đủ cổ tức, rủi ro, bội tín, tái cơ cấu, M&A, phá sản… Dưới góc nhìn kinh tế và toán học, tác giả mạn đàm chuyện tối ưu hoá góp quyền tự do cho các chủ thể trung gian, bao gồm nhà nước.  Cạnh tranh thu hút “đầu tư” góp quyền tự do giữa nhà nước và các tổ chức phi nhà nước  Mỗi cá nhân chúng ta khi góp quyền tự do cho ai đó cũng sẽ có những mưu cầu, toan tính như thể một nhà đầu tư tài chính; họ cũng áp dụng nguyên tắc “trứng không để cùng một giỏ”; họ đa dạng hoá “kênh đầu tư góp vốn”, để phân tán rủi ro và thu được “lợi ích đặc thù”, mà ở các kênh khác không có được. Ví dụ, đa số nhân loại khi đến tuổi trưởng thành, chấp nhận hy sinh tự do của trạng thái độc thân, mang hầu hết của cải và tự do của mình để đầu tư vào hợp đồng quan trọng nhất của cuộc đời – contract of marriage – tức hôn nhân trong chế độ một vợ một chồng; một quan hệ hợp đồng mà một bên (thường là phụ nữ) xem là “đầu tư”, một bên (thường là đàn ông) quan niệm là “tiêu dùng” với quy trình thẩm định đối tác (tìm hiểu yêu đương), đặt cọc giao kết hợp đồng (ăn hỏi), ký kết hợp đồng với nghi thức chứng thực đăng ký giao dịch bảo đảm tại UBND xã phường và với lễ công bố hoành tráng.  Cũng giống như các nhà đầu tư tài chính, càng có nhiều đam mê sở thích, càng có nhiều “vốn” họ càng đầu tư đa dạng; các cá nhân không chỉ góp tự do của mình cho nhà nước, cho gia đình mà họ còn tham gia xây dựng, tạo lập hoặc gia nhập các hợp đồng mẫu có sẵn của các cơ quan, tổ chức, các hợp đồng này có thể thành văn, bất thành văn với tên gọi đa dạng từ điều lệ, hiến chương, nội quy, quy chế… Người mê sinh vật cảnh thì gia nhập hội cây cảnh, người muốn chia sẻ cảm xúc thì gia nhập câu lạc bộ thơ, người muốn bảo vệ lợi ích nhóm hội viên thì gia nhập hội bất động sản, hội taxi; người muốn đầu cơ chính trị thì tham gia các câu lạc bộ chính trị để được hưởng một số quyền miễn trừ, được cơ cấu, giới thiệu; người muốn giúp dân giúp nước thì liên kết những người đồng chí hướng (đồng chí) thành các tổ chức với kỷ luật chặt chẽ, sứ mệnh to lớn và kèm theo đó là sự hy sinh to lớn để đạt được lợi ích to lớn không phải cho riêng mình mà cho cộng đồng; suy cho cùng, đó cũng là một loại lợi ích tinh thần2.  Mỗi cá nhân khi tham gia vào bất kỳ quan hệ hợp đồng, gia nhập một “cộng đồng” nào đó họ đều phải góp một quyền tự do nào đó, để đổi lại một lợi ích nào đó. Vì vậy, có nhiều quyền tự do tự nhiên của chúng ta sinh ra bị hạn chế không phải bởi luật pháp; mà bởi chúng ta đã tự nguyện trao quyền hành xử nó cho một bên thứ ba khác nào đó; sau khi kết hôn thì ông chồng mất quyền cười tươi quá mức quy định với cô đồng nghiệp; sau khi gia nhập hội thì hội viên mất một phần quyền tự do tư hữu của mình tương ứng với phần hội phí; đôi khi thành viên của một tổ chức phải từ bỏ quyền tự do đi ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về – vốn là một quyền tự do hiến định, nhân dân quyết giữ lại ở Điều 23 Hiến pháp 2013 – để tự đặt mình về chế độ xin-cho; kiềm chế không tự mình thực hiện quyền tự do ứng cử của công dân tại Điều 27 Hiến pháp, mà tuân theo sự sắp đặt, phân công của tổ chức3.  Cũng như trên thị trường chứng khoán, công ty nào nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư nhiều nhất sẽ là công ty mạnh nhất; tổ chức nào giành được sự hy sinh (góp tự do) nhiều nhất của những nhóm người xuất sắc nhất trong xã hội thì tổ chức đó sẽ trở nên mạnh nhất trong xã hội. Nhà nước là ứng cử viên số một bởi hai lý do chính: (a) Là tổ chức có số lượng thành viên đông nhất ở mỗi quốc gia; (b) Có tính độc quyền; trừ khi thay đổi quốc tịch, các thành viên trong một quốc gia không có một tổ chức tương đương thay thế để lựa chọn. Tuy nhiên, đông chưa hẳn đã mạnh; nhà nước đôi khi chỉ đứng vị trí số hai về sức mạnh quyền lực, do các “cổ đông quyền lực” dồn vốn cho một tổ chức khác và khéo léo kiểm soát nhà nước. Điều đó có nghĩa, quyền lực nhà nước luôn luôn phải được phân tích trong mối tương quan, chuyển hoá qua lại giữa các loại quyền lực khác; bản thân nhà nước cũng phải “cạnh tranh” với các loại tổ chức khác trong xã hội.  Ở Việt Nam, song song với quá trình Đổi mới là quá trình chuyển giao trở lại chức năng cung cấp một số loại dịch vụ công cho các tổ chức phi nhà nước, từ những việc khó thấy như chấn hưng Phật giáo đến những việc dễ thấy như cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, BOT, trường học tư, bệnh viện tư… Và đặc biệt gần đây, sự cạnh tranh diễn ra ở các lĩnh vực vốn từng được xem là độc quyền nhà nước bất khả tranh như dịch vụ công chứng, dịch vụ cung cấp công lý, dịch vụ thi hành án. Sự linh hoạt này cho thấy, văn phòng công chứng tư nhân, trung tâm trọng tài thương mại, thừa phát lại đang góp phần giảm nặng ngân sách, thuế khoá cho người dân, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ đặc biệt là dịch vụ công chứng tư nhân.    Ở chiều ngược lại, khi một quy tắc xã hội (social norm) không đủ sức mạnh, kém hiệu quả để ngăn chặn bội tín, giảm bớt tranh chấp, thì nhà nước cần can dự, loại bỏ những quy tắc trái ngược lợi ích công cộng như tảo hôn, nối nòi, hoặc gán giá trị pháp lý cho các quy tắc xã hội, như quy tắc hụi, họ để đạo đức xã hội được hỗ trợ từ phía nhà nước để có thể vận hành tốt hơn. Năm 2018, ở Việt Nam đang thảo luận khuynh hướng chuyển giao ngược công việc phát triển hạ tầng giao thông từ mô hình BOT trở về mô hình đầu tư bằng ngân sách nhà nước, là một ví dụ về sự linh hoạt, chuyển đổi qua lại giữa khu vực công và khu vực tư.  Dưới góc nhìn này, việc góp quyền tự do cá nhân cho bên thứ ba hành xử sẽ giống như một danh mục “đầu tư”; cá nhân cần được bảo đảm quyền lựa chọn mà theo họ là sẽ tối ưu hoá giữa số lượng quyền phải từ bỏ và lợi ích thu lại tương ứng; tối ưu hoá diễn ra khi hệ thống tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn song song cho người dân, từ đó tạo ra cạnh tranh, áp lực đổi mới trên toàn bộ hệ thống4; để giảm bớt gánh nặng ngân sách, giảm bớt rủi ro bội tín, thì nguyên tắc “gần trước, xa sau” cần được tôn trọng, để bảo đảm người dân có quyền lựa chọn tổ chức nào gần họ nhất, họ tin tưởng nhất để trao quyền, chỉ khi tổ chức đó không đáp ứng được kỳ vọng, việc góp quyền mới đẩy lên cấp trên kế tiếp, lên tổ chức có quy mô lớn hơn; hay nói cách khác, nhà nước chỉ nên là lựa chọn sau cùng khi thị trường và xã hội thất bại; bởi bất cứ cái gì chuyển giao từ khu vực tư nhân, từ xã hội sang nhà nước thì tính cạnh tranh sẽ suy giảm.  Hiệu quả cuối cùng đòi hỏi sự linh hoạt  Tạo hóa sinh ra con người vốn bình đẳng, tự do. Nhưng chúng ta mang tự do cá nhân của mình góp vào nhiều nơi, trong đó có nhà nước. Khi chúng ta thỏa thuận cùng nhau “đầu tư” quyền tự do cho nhà nước, chúng ta nhận lại gì? Đó là hàng hóa công cộng đặc biệt theo nghĩa rộng, trong đó bao gồm từ giao thông, an ninh, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, trật tự, giá trị đạo đức tốt đẹp (theo quan niệm của từng quốc gia tương ứng).  Để có một hàng hóa dịch vụ bất kỳ, người dân phải mua nó từ khu vực tư nhân hoặc khu vực nhà nước; dù cách nào thì người dân cũng đều mất tiền. Sự khác biệt căn bản nằm ở chỗ, khi mua từ khu vực tư nhân, có tồn tại sự cạnh tranh, người dân có quyền đàm phán rộng hơn, đàm phán trực tiếp và trả tiền trực tiếp, ví dụ thuê một công ty bảo vệ tư nhân để bảo vệ tính mạng tự do tài sản của mình; khi mua từ nhà nước, người dân ít có lựa chọn và phải thỏa thuận thông qua người đại diện là các cơ quan dân cử và phải trả tiền gián tiếp thông qua thuế, phí, để nhà nước tuyển dụng lực lượng cảnh sát để hướng tới mục đích tương tự.  Dưới góc nhìn kinh tế, người dân đều mất tiền và người dân quan tâm nhiều đến tổng số tiền phải chi và tổng số lợi ích nhận lại, mà việc tách bạch thành trả trực tiếp hay trả gián tiếp qua thuế phí. Vì vậy, người dân quan tâm nhiều hơn tới hệ số tổng chi/tổng lợi ích, sao cho họ nhận được dịch vụ tốt nhất, với chi phí thấp nhất có thể. Vì vậy, cần phải bảo đảm sự linh hoạt chuyển đổi qua lại giữa hai khu vực công và tư trong việc cung cấp dịch vụ công, mà không nên cứng nhắc một việc nào đó nhất định phải do tư nhân cung cấp; một việc nào đó nhất định phải do nhà nước cung cấp, mà không xuất phát từ hiệu quả hệ số tổng chi/ tổng lợi ích mà người dân đạt được; mọi phân tích hiệu quả phải xuất phát từ lợi ích của người dân; nhà nước chỉ là một trong số các công cụ giúp người dân đạt được lợi ích; chứ nhà nước không có lợi ích tự thân hay nói cách khác không có lợi ích nào của nhà nước không xuất phát và gắn liền với nhân dân; một lợi ích nhà nước tự thân, ví dụ nhu cầu quản lý nhà nước, mà không lý giải được nhu cầu, lợi ích tương ứng của nhân dân, đó là lợi ích ngụy biện, lợi ích nhóm thân hữu.  ———–  *Khoa Luật, Đại học Kinh Tế TP.HCM  1. Các tộc người ở quần đảo Nam Dương (bao gồm Papua) vẫn tiếp tục duy trì quyền tự do này, cùng với tập tục ăn thịt người cho đến tận nửa đầu của thế kỷ 20. Xem thêm: https://vtc.vn/tuc-xam-minh-ky-quai-cua-bo-toc-san-dau-nguoi-d90259.html  2. Cổ đông/ người tham gia góp vốn vào doanh nghiệp cũng có hai loại loại: doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp xã hội vậy; doanh nghiệp xã hội cũng chia làm hai loại: doanh nghiệp xã hội trá hình và doanh nghiệp xã hội chân chính vì sự phát triển bền vững của môi trường, cộng đồng, xã hội.    3. ttps://tuoitre.vn/ong-dang-hung-vo-nop-don-rut-khoi-danh-sach-tu-ung-cu-192590.htm  4. Hiện nay Điều 5 Khoản 1 Nghị định 45/2010/NĐ-CP, đang loại bỏ quyền lựa chọn, sự đa dạng và cạnh tranh, hạn chế các hội mới ra đời khi hội cũ hoạt động không tốt, bằng cách đặt ra điều kiện thành lập hội mới: “không trùng lặp về tên gọi và lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ”.    Author                Võ Trí Hảo        
__label__tiasang GS Hoàng Tụy: Một trí thức lớn, một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước      Thật khó mà có thể điểm qua, dù là sơ sài nhất những bài viết vô cùng mẫn tiệp của một bộ óc sáng láng, một tấm lòng đầy thiện chí, luôn canh cánh trong lòng vì dân vì nước của Giáo Sư Hoàng Tụy.      GS Hoàng Tụy.  Với tư cách Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN) Nguyễn Phú Trọng đã chính thức đặt ra ở Hội nghị Trung ương X, tháng 5/2019 vừa qua ba câu hỏi:  “Có nên xóa bỏ thành phần kinh tế nhà nước không?”  “Đổi mới chính trị có phải là đổi mới chế độ chính trị không?”  “Có cần phải sửa đổi điều lệ của Đảng CSVN không?”  Những câu hỏi đó là những vấn đề cốt lõi về tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống nhà nước, trước đây thường được coi là cấm kỵ. Thế nhưng Giáo sư Hoàng Tụy, một nhà toán học nổi tiếng, một trí thức tiêu biểu, luôn dấn thân cho sự tiến bộ xã hội, ngay từ 7 năm trước, 2012, trong một số báo xuân của Tia Sáng đã trình bày những tư tưởng mạnh dạn đó trong bài viết “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống”.  Tác giả đã viết: “…Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, không chút tự trọng. Cho nên sửa đổi hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân…”. Giá như những lời tâm huyết, nói thẳng đó được các cấp lãnh đạo nhà nước lưu tâm, như TBT và CTN Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra câu hỏi trong những ngày vừa qua, thì ít nhất nước Việt chúng ta không mất thêm ít nhất là 7 năm (và có thể hơn nữa) chỉ để chính thức nhận ra vấn đề cốt lõi ngăn cản dân tộc phát triển.  Đối với quyền lực, lời nói thẳng thường khó nghe, chưa nói rằng sự kiêu ngạo quyền lực luôn không chịu chấp nhận sự thật do những bộ óc sáng suốt của trí thức chỉ ra. Thật là thú vị khi được cầm trên tay cuốn sách mang tựa đề “XIN ĐƯỢC NÓI THẲNG” tập hợp hơn 50 bài viết của GS Hoàng Tụy đã đăng trên tạp chí Tia Sáng. Những ý kiến và kiến giải của GS Hoàng Tụy trải rộng trên nhiều mặt của xã hội Việt Nam, từ “Đổi mới cơ chế và trọng dụng nhân tài” (15 bài), sang các vấn đề về “Chấn hưng Giáo dục – Mệnh lệnh cuộc sống” (21 bài) đến “Quản lý khoa học – Hướng tới các chuẩn mực quốc tế” (16 bài). Tất cả đều là những phân tích, thuyết phục, sáng kiến rất thẳng thắn, lời nói thật, tâm huyết và rất khúc chiết, khoa học dễ hiểu. Có những vấn đề nhiều người rất băn khoăn không thể giải thích nổi, ví như “Nếu xét từng con người có lẽ dân Việt không kém gì ai về trí thông minh, chúng ta có thể tin như vậy. Nhưng nước ta mấy chục năm hòa bình xây dựng mà vẫn lạc hậu về kinh tế, thấp kém về đổi mới sáng tạo?”.  Giáo sư đã đưa ra câu trả lời hết sức thuyết phục: “Trong bất cứ cộng đồng nào, tài trí thông minh riêng lẻ của từng thành viên chưa làm nên sức mạnh trí tuệ của cộng đồng, mà phải có tổ chức, cơ chế phù hợp, tạo ra một môi trường khuyến khích, liên kết tất cả họ lại qua sự tương tác, hợp tác, tạo ra synergy (cộng năng) cần thiết, nhân lên nhiều lần và liên tục khả năng, tài trí từng cá nhân, từng bộ phận. Cái cơ chế đó có thể gọi nó là trí tuệ của hệ thống, là phầm mềm vận hành hệ thống. Tất cả thông minh tài trí của cộng đồng tập trung ở đấy, nhờ đấy mà ra, mà nhân lên […]. Mà nói đến cơ chế quản lý tức là nói đến thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. […]. Nếu thể chế không phù hợp mà cứ cố duy trì thì sự ức chế trí tuệ đối với xã hội vô cùng tai hại. Giáo dục, khoa học không thể phát triển lành mạnh bình thường, ắt phải tụt hậu ngày càng xa. Tài trí thông minh tàn lụi, con người tha hóa, xã hội ngày một suy đồi. Người giỏi bỏ nước ra đi, ai muốn phát triển tài năng đều tìm cách ra nước ngoài. […]. Vì vậy trước hết phải cải cách thể chế, cơ chế quản lý. Cải cách chính trị đi đôi với cải cách kinh tế, cải cách giáo dục. Cần dân chủ hóa chế độ, bài trừ tham nhũng, làm trong sạch bộ máy hành chính. Chỉ trên cơ sở đó thì trí tuệ quốc gia mới có điều kiện phát triển thuận lợi.”  Thật khó mà có thể điểm qua, dù là sơ sài nhất những bài viết vô cùng mẫn tiệp của một bộ óc sáng láng, một tấm lòng đầy thiện chí, luôn canh cánh trong lòng vì dân vì nước của GS. Hoàng Tụy.    Cuốn sách mang tựa đề “XIN ĐƯỢC NÓI THẲNG” tập hợp hơn 50 bài viết của GS Hoàng Tụy đã đăng trên Tạp chí Tia Sáng.  Chúng tôi thuộc thế hệ học trò của GS. Hoàng Tụy, tuy không được may mắn thụ giáo trực tiếp giáo sư, nhưng ngay từ cuối thập kỷ 1950, khi từ Trung Quốc trở về, chúng tôi đã được học phổ thông theo sách giáo khoa toán của giáo sư. Giữa những năm của thập kỷ 1960, tôi may mắn trở thành đồng nghiệp trẻ của giáo sư ở khoa Toán Lý, ĐH Tổng hợp Hà Nội. Một hôm đang ở nơi sơ tán Đại Từ, Thái Nguyên, tôi được gọi về Hà Nội và được gửi sang Đức đào tạo. Thật là bất ngờ vì mới ngoài 20, mới giảng dạy được hai năm, không đảng viên, không là cán bộ cốt cán, không là thành phần cơ bản…mà lại được chọn đi đào tạo sớm nhất trong số cán bộ giảng dạy đồng thời.  Trong thời gian ở Đức sau đó, tôi được biết các GS. Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Hoàng Phương… bị đấu tố dữ dội vì tội hữu khuynh trong đào tạo, chỉ trọng chuyên coi nhẹ hồng (mà nghe đâu trường hợp tôi được lấy làm một trong các thí dụ để phê phán). Các GS. Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy bị buộc rời khỏi công việc giảng dạy và điều đi khỏi trường Đại học Tổng hợp. Khi GS.Trần Đại Nghĩa mời các giáo sư. về Viện Khoa học VN thì được tổ chức chấp nhận với điều kiện không được đề bạt làm lãnh đạo chủ chốt. Vì thế mà hồi đó GS. Thiêm chỉ là quyền viện trưởng và GS Tụy làm Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam. Mà thực ra các giáo sư cũng chẳng màng đến công danh, địa vị kiểu này! Sau khi GS Lê VănThiêm mất, GS Tụy làm Viện trưởng. Là một nhà toán học nổi tiếng thế giới, GS Hoàng Tụy đã kế tục GS. Lê Văn Thiêm xây dựng chẳng những chỉ Viện Toán học mà cả ngành toán học VN thành một ngành khoa học dẫn đầu Đông Nam Á và sánh vai cùng các nước lớn trên thế giới. Tôi lại được may mắn làm đồng nghiệp trẻ của Giáo sư tại Viện KHVN, vì GS. Trần Đại Nghĩa lại đề bạt tôi vào ban lãnh đạo Viện Vật lý khi tôi còn rất trẻ, vừa từ Đức về, và không phải đảng viên. Tuy khác ngành nghề, nhưng tôi rất ngưỡng mộ GS Tụy không chỉ về khoa học, mà còn về cách tổ chức lãnh đạo khoa học một cách rất dân chủ, tôn trọng và phát huy tài năng mọi cán bộ có năng lực trong Viện Toán, điều mà Viện Vật lý chúng tôi chưa làm được, khiến tôi rất bứt rứt. Đặc biệt, tôi hâm mộ và học hỏi khi giáo sư phát biểu rất thẳng thắn trong các cuộc họp của lãnh đạo các viện chuyên ngành trong Viện Khoa học Việt Nam. Tiếc rằng mình trẻ tuổi, không có kinh nghiệm nên những cách phát biểu thẳng thắn mà tôi học được ở GS lại gây hại cho tôi.  Nhớ lần năm 1988, Bộ Chính trị gặp gỡ các lãnh đạo khoa học và yêu cầu phát biểu ý kiến, tôi đã dại dột phát biểu đề nghị phải thay đổi thể chế khoa học hiện nay, mở rộng dân chủ, loại bỏ cách quản lý và đối xử với cán bộ khoa học theo kiểu Lưxenko ở Liên xô. Lúc đó, GS Trần Đại Nghĩa đã nghỉ hưu rồi. Sau buổi họp đó tôi lập tức bị lôi ra đấu tố và tiếp sau đó là một chuỗi dài những ngày cay đắng, đến mức tôi xin từ chức lãnh đạo và xin đi khỏi Viện Khoa học Việt Nam hoặc đi khỏi nước VN. May nhờ các đồng nghiệp trẻ trong Phòng thí nghiệm quyết tâm, các giáo sư lãnh đạo lớp trên như các GS Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu, Đào Vọng Đức, Nguyễn Trọng Yêm, Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Chiển… khuyên nhủ và gây áp lực với lãnh đạo, đảng ủy Viện Khoa học Việt Nam mà tôi ở lại, lập nên Trung tâm Vật lý Ứng dụng, nay là Viện Vật lý Ứng dụng và Thiết bị khoa học… Do đó, cá nhân tôi mắc nợ GS. Hoàng Tụy rất nhiều, kể từ khi mới bước chân vào khoa học cho đến giờ.  Thật là may mắn, nay ấn phẩm Tia Sáng xuất bản tuyển tập “XIN ĐƯỢC NÓI THẲNG” của Giáo sư Hoàng Tụy để chúng tôi và hậu thế được hiểu rõ nhiều điều tâm huyết của một nhà toán học lỗi lạc, một trí thức chân chính, một kẻ sĩ hiếm có thời nay. Dù đã viết cách đây khá nhiều năm, nhưng các bài viết vẫn còn mang tính thời sự. Vì vậy, mong ước của tôi là các cấp lãnh đạo hãy đọc những bài này, để nhận rõ rằng “dù mạnh yếu khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có” và dù họ không nắm hoặc không màng đến quyền lực, danh lợi nhưng vẫn có thể giúp ích rất hữu hiệu cho dân cho nước.  Năm nay GS. Hoàng Tụy đã 92 tuổi, xin nhân dịp này kính chúc giáo sư mạnh khỏe, trường thọ.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/gs-hoang-tuymot-tri-thuc-lon-mot-ke-si-nang-long-voi-dat-nuoc/20190613034530549p1c879.htm    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang GS. Hoàng Xuân Hãn với Khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa      Gi&#225;o sư Ho&#224;ng Xu&#226;n H&#227;n, từ năm 1951 đ&#227; sang định cư tại Ph&#225;p. Tuy sống xa tổ quốc nhưng &#244;ng lu&#244;n hướng về qu&#234; hương, theo d&#245;i s&#225;t những biến động của t&#236;nh h&#236;nh đất nước. V&#236; vậy, khi tập san Sử Địa S&#224;i G&#242;n do một nh&#243;m gi&#225;o sư v&#224; sinh vi&#234;n Đại học Sư phạm S&#224;i G&#242;n s&#225;ng lập, quyết định ấn h&#224;nh một chuy&#234;n khảo về Ho&#224;ng Sa, Trường Sa, &#244;ng đ&#227; gửi cho tập san n&#224;y b&#224;i Khảo cứu Quần đảo Ho&#224;ng Sa. Với một tư duy uy&#234;n b&#225;c, uyển chuyển về lập luận trong khoa học, một sự nghi&#234;m t&#250;c v&#224; cẩn trọng, Khảo cứu Quần đảo Ho&#224;ng Sa đ&#227;&nbsp; g&#243;p th&#234;m tiếng n&#243;i khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo n&#224;y.     Đầu năm 1975, đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa của tập san Sử Địa Sài Gòn được ấn hành tập hợp được 15 bài viết của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và một thư mục chú giải tổng hợp về Hoàng Sa. Bài viết của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với tiêu đề “Quần đảo Hoàng Sa” cùng một đoạn trích trong bài viết “Đúng ba trăm năm trước” của ông đã được đưa lên những trang đầu tiên của đặc khảo này.  Trong số 15 bài viết của đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, ngoại trừ những bài viết tập trung khảo cứu về nguồn lợi tự nhiên cũng như công cuộc khai thác các nguồn lợi tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì còn 10 bài nghiên cứu trực tiếp đề cập đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những bài viết này thuộc hai xu hướng chính: Một là đưa ra những bằng chứng nhằm chứng minh cho chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; hai là dùng lý lẽ và bằng chứng phản biện lại những luận cứ mà Trung Quốc đã đưa ra về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thuộc xu hướng nghiên cứu thứ nhất, cùng với đó là Những sử liệu Tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc của Thái Văn Kiểm, Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua nhiều thế kỷ của Hãn Nguyên, Hoàng Sa qua tài liệu văn khố của Hội Truyền giáo Ba Lê của Nguyễn Nhã…  Trong những nghiên cứu đầu tiên về Hoàng Sa, Trường Sa này, Hoàng Xuân Hãn đã chứng tỏ một thái độ nghiêm túc, cẩn trọng khi tiếp cận với các nguồn sử liệu cũng như phương pháp tư duy tổng hợp, biện chứng sâu sác. Nếu như những nhà nghiên cứu khác chỉ tập trung vào một loại hình tư liệu, như: Thái Văn Kiểm với tư liệu phương Tây (chủ yếu là chữ Pháp, chữ Anh), Hãn Nguyên với tư liệu chữ Hán, Nguyễn Nhã với ghi chép của Hội truyền giáo Hà Lan, ông bà Trần Đăng Đại khảo cứu các văn kiện của Nhà nước từ thời Pháp thuộc đến năm 1974… thì Hoàng Xuân Hãn lại sử dụng tổng hợp nhiều loại hình tư liệu khác nhau.                  Sau khi khai thác các tư liệu từ chính sử để bước đầu khẳng định về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Hoàng Xuân Hãn tập trung khai thác loại hình tài liệu thứ hai, đó là các loại bản đồ, bản vẽ. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam lộ đồ vẽ năm 1741, Hồng Đức bản đồ vẽ địa hình nước ta cuối thời Lê, Thuận Hóa Quảng Nam địa đồ nhật trình, đồng thời đối chiếu với các sách về địa chí của đất nước, bằng những lập luận xác đáng, ông khẳng định: Về các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.          Trước hết là những tư liệu chính thống của lịch sử nước nhà. Đó là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; sách Đông hành thi thuyết thảo của Lý Văn Phức1. Các tài liệu này được sắp xếp theo trình tự thời gian, được chú giải cẩn trọng và tỉ mỉ2. Trong Phủ biên tạp lục, ông trích dẫn 2 đoạn, nói về vị trí địa lý (phía ngoài cù lao Ré có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa vật của tài bị đắm, đã lập đội Hoàng Sa đến lấy), nguồn lợi (yến sào, ốc vân, hải ba, hải sâm, đồi mồi…) và những sự kiện lịch sử của Việt Nam gắn liền với Hoàng Sa (thuyền buôn bị bão, nhà Nguyễn đặt đội Bắc hải, thuyền của dân đi khai thác ở Hoàng Sa bị gió dạt vào cảng của Trung Quốc được giúp đỡ trở về…). Thông tin trong Đại Nam thực lục cũng có sự kiện cuối cùng, đồng thời xuất hiện địa danh Vạn lý Trường Sa. Tất cả các thông tin ông đưa ra được lồng ghép vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên những luận cứ xác đáng về hoạt động của người Việt trên quần đào Hoàng Sa muộn nhất là từ thế kỷ XVI.  Sau khi khai thác các tư liệu từ chính sử để bước đầu khẳng định về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Hoàng Xuân Hãn tập trung khai thác loại hình tài liệu thứ hai, đó là các loại bản đồ, bản vẽ. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam lộ đồ vẽ năm 1741, Hồng Đức bản đồ vẽ địa hình nước ta cuối thời Lê, Thuận Hóa Quảng Nam địa đồ nhật trình đồng thời đối chiếu với các sách về địa chí của đất nước, bằng những lập luận xác đáng, ông khẳng định: Về các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.  Nguồn tư liệu cuối cùng mà ông cũng đặc biệt quan tâm và biên dịch kỹ lưỡng là tư liệu tiếng nước ngoài, cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Đó là những ghi chép của các thương nhân, các nhà truyền giáo khi đến Việt Nam, có những nhận xét, đánh giá về quần đảo Hoàng Sa nói riêng và chủ quyền của người Việt đối với quần đảo này nói chung, như: Linh mục Tabert – một giám mục công giáo người Pháp và là tác giả nhiều sách về ngôn ngữ, phong tục địa lý Việt Nam – trong bài viết Note on the geography of Chochinchina đăng trên tờ báo Á châu hội của người Anh tại xứ Bengale (The Journal of The Asiatic Society of Bengal); Gutzlaff trong bài Geography of the Conchinchinese empire đăng trong tập san Journal of the Geographical Society of London năm 1849; J.B.Chaigneau trong bài Le mesmoire sur la Cochinchine đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hué số 2 năm 1923. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã cẩn trọng trích dẫn nguyên văn kèm theo phần biên dịch phía dưới, là những chứng cứ đầy sức thuyết phục về sự công nhận của người nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa.  Cuối cùng, quay trở lại với mục đích ban đầu của bài khảo cứu này là khẳng định chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Trường Sa, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã đưa ra những minh chứng quyết liệt nhất. Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ đưa ra những sự kiện chứng minh hoạt động của người Việt với Hoàng Sa (mà chủ yếu là khai thác). Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ có những hình vẽ về Hoàng Sa trên bản đồ đất nước. Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ có sự công nhận của người nước ngoài. Cần có những bằng chứng khẳng định về hoạt động chính thức của Nhà nước về việc xác lập chủ quyền trên quần đảo này. Những bằng chứng ấy đã được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi lại trong Đại Nam thực lục. Đó là việc nhà Nguyễn đã có những chính sách thiết lập đơn vị hành chính, dựng miếu, lập bia thờ thần biển ở Hoàng Sa… Đây là những minh chứng đầy sức thuyết phục khẳng định những hoạt động mang tính Nhà nước về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, cũng là những viên gạch cuối cùng hoàn thành một công trình khảo cứu công phu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn.   ————–  * ThS.Khoa Lý luận Chính trị, ĐHBKHN  1 Lý Văn Phức) 1785-1849); Danh sĩ đời Gia Long, tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, quê làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Đông. Đỗ cử nhân năm 1819, làm Hàn Lâm Viện biên tu ở Quốc sử quán, Hiệp trấn Quảng Nam, Hữu thị lang Bộ Hộ. Được ít lâu bị cách chức rồi đi công cán ở Tân Gia Ba (Singapore), Trung Quốc, Indonesia… Ông mất năm 1849, còn để lại một số tác phẩm văn học có giá trị.  2 Muốn cho văn dịch rõ nghĩa, tôi có sửa chấm câu và thêm vào một vài chữ để trong hai dấu ngoặc “”, trích trong Quần đảo Hoàng Sa, tr.7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gulabi Gang: Một kiểu đấu tranh của phụ nữ Ấn Độ      <span style=”font-size:14.0pt;  font-family:&quot;Times New Roman&quot;;mso-fareast-font-family:&quot;Times New Roman&quot;”>Khoác  sari hồng và mang theo gậy cũng mầu hồng, họ bao vây trạm cảnh sát và  các cơ quan chính phủ, gây tắc nghẽn trên đường phố và lật  nhào các chính khách… Phương pháp của họ không bình thường và rất hiệu  quả.      “Ở Ấn Độ không gì khốn khổ hơn nếu sinh ra ở tầng đáy của xã hội, làm phụ nữ cũng khốn khổ khốn nạn không kém gì những người ở tầng đáy đó,” bà Sampat Pal Devi,  người đấu tranh tích cực vì quyền lợi của người phụ nữ đã phát biểu như trên khi đề cập tình trạng của người phụ nữ ở một đất nước mà vận mệnh của họ hầu như nằm trong tay người đàn ông. Xuất phát từ kinh nghiệm đau thương của bản thân, Sampat Pal đã gia nhập phong trào Gulabi Gang, nghĩa là Băng nhóm mầu hồng, để đấu tranh chống lại tình trạng này.   Gulabi Gang xuất phát từ Uttar Pradesh, một trong những bang đông đúc và nghèo khổ nhất, đồng thời có tỷ lệ tội phạm hình sự vào loại cao nhất Ấn Độ. Gulabi Gang đấu tranh chống tệ nạn bạo lực tình dục và bạo lực thân thể, chống bất công xã hội, tham nhũng và nạn tảo hôn.   Phương pháp của Gulabi Gang khác thường và hiệu quả. Khi hàng trăm chị em khoác sari hồng và mang gậy gộc cũng mầu hồng bao vây trụ sở cảnh sát la hét đòi thả “người chị em” của họ bị bắt giữ phi pháp, điều này gây ấn tượng mạnh mẽ. Chị em thuộc Gulabi Gang không chỉ đáng sợ vì họ mang gây gộc hay vì sự hiện diện của họ. Họ được trang bị một loại vũ khí mà những viên cảnh sát lười biếng, những nghị sỹ tham nhũng và những tên tội phạm hung bạo đều phải chùn bước, đó là sự công khai.  Bên cạnh đó, chị em sẵn sàng chống trả một cách mạnh mẽ, quyết liệt những gã vũ phu, truy đuổi bọn tội phạm hình sự đến cùng – nhận xét của bà Amana Fontanella-Khan, người đã sinh hoạt với Gulabi Gang được vài ba năm và viết cuốn sách mang tựa đề “Cách mạng sari hồng”.   Theo bà Fontanella-Khan, người dân và giới truyền thông ủng hộ mạnh mẽ ý tưởng chị em với gậy gộc trong tay cương quyết vùng lên phá vỡ sự phân biệt, bất bình đẳng nam – nữ. Những ông chồng vũ phu, hung bạo và cả những quan chức cấp cao trong bộ máy công quyền cũng phải ấn tượng trước thái độ chống trả quyết liệt của chị em – Gulabi Gang từng hạ bệ một số nghị sỹ đầy thế lực.   Điều gây ngạc nhiên hơn nữa là phần lớn chị em tham gia đấu tranh trong Gulabi Gang là những người thuộc tầng lớp đáy của xã hội, không có điều kiện học hành, không biết đọc, biết viết. Họ bù đắp sự thiếu hiểu biết của mình bằng sự đoàn kết và tính tổ chức.   Truyền thông Ấn Độ thời gian qua đưa rất nhiều tin tức, hình ảnh về bạo lực đối với phụ nữ ở đất nước này; trong bối cảnh đó, hoạt động, hình ảnh của Gulabi Gang là một dấu ấn hết sức rõ ràng về cuộc đấu tranh chống lại chế độ gia trưởng.   Cách tiếp cận của Gulabi Gang không mang tính đặc thù của phái yếu; ở Ấn Độ mầu hồng cũng không phải là mầu tượng trưng của phái yếu. Mầu này được chọn chỉ vì các mầu khác đã được các phe nhóm chính trị khác chọn lựa cả rồi. Chiến thuật đấu tranh của Gulabi Gang được khích lệ bởi một hình thức đấu tranh không phân biệt giới tính phổ biến ở Ấn Độ, có tên là Gherao. Những người dân bị đối xử không công bằng và cũng không thể trông chờ vào sự công minh của hệ thống tư pháp, tập hợp nhau lại để chiếm đồn công an, toà án, trường đại học hoặc một nhà máy và không cho bất kỳ ai rời khỏi những nơi này cho tới khi nguyện vọng của họ được chú ý lắng nghe.    Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hà Lan quảng bá cho xe đạp      Xe đạp có thể giúp cho các nước mới nổi khắc  phục những vấn đề về môi trường và ngăn ngừa ùn tắc giao thông. Vì lẽ  đó, Hà Lan cử đại sứ của mình đi khắp thế giới để quảng bá cho việc sử  dụng xe đạp.    Ông Achmetdschan Jesimov là thị trưởng thành phố Almaty, thành phố lớn nhất của Kazakhstan với 1,4 triệu dân, nhưng chỉ có khoảng 10.000 người – tương đương 0,7% cư dân – sử dụng xe đạp. Bản thân ông Jesimov đi làm bằng đạp, mặc dù tuyến đường đến nhiệm sở khá xa và có nhiều dốc, từng tham gia bốn cuộc đua xe đạp, và giờ đây ông muốn động viên người dân thành phố tăng cường đi xe đạp.   Cùng với thủ đô Astana, Almaty muốn trở thành “thành phố xe đạp” của vùng Trung Á. Chính vì thế, hai vị thị trưởng của hai thành phố này đều có chung một số điện thoại của những “đại sứ xe đạp” Hà Lan là ông Tom Godefrooij và một số bạn hữu. Cùng với tổ chức “Dutch Cycling Embassy”, Hà Lan đang đẩy mạnh quảng bá, tư vấn cho việc đi lại bằng xe đạp và hỗ trợ xây dựng tuyến đường dành cho xe đạp nhằm tránh ùn tắc giao thông và giảm tải cho môi trường.  Cũng như Kazakhstan, các nước đang phát triển và các nước mới nổi đều có sự bùng nổ về xe ô tô. Theo một báo cáo của tổ chức TÜV Süd thì ở Ấn Độ “ngày càng có nhiều người thuộc giới trung lưu chỉ đi lại bằng ô tô con”. Hiện nay, Ấn Độ có 60 triệu xe ô tô, đến năm 2015, con số này sẽ tăng gấp đôi. Tại các nước mới nổi như Kazakhstan, Ấn Độ hoặc Brazil, một số vấn đề như an toàn giao thông, hạ tầng cơ sở về đường sá, cầu cống và bảo vệ môi trường đang trở nên nổi cộm và hết sức bức bách.   Đề cao xe đạp trong quy hoạch đô thị   Theo “đại sứ xe đạp” Tom Godefrooij thì “một khi những người Ấn Độ hay Trung Quốc chỉ đi lại bằng ô tô hay xe máy thì vấn đề giao thông ở các đô thị các nước này nhất định sẽ trở nên bất cập”. Vì thế, Godefrooij và hai người bạn của ông đang cố thuyết phục người dân Brazil, Ấn Độ và Kazakhstan tăng cường dùng xe đạp.   Tom Godefrooij cho rằng: “Trong việc quy hoạch đô thị và quy hoạch về giao thông, thế giới phải chú ý nhiều hơn đến vai trò của chiếc xe đạp”. Vì mục đích đó, Tom Godefrooij và cộng sự từng có mặt ở nhiều quốc gia để thuyết trình trước các chuyên gia quy hoạch đô thị về vấn đề này. Họ tổ chức các cuộc hội thảo và xây dựng các phương án thiết kế đường dành cho xe đạp và phát triển đô thị một cách bền vững. Godefrooij đi khắp nơi trên thế giới và kể về “nền văn hóa xe đạp” ở đất nước ông. Theo ông, ở Hà Lan người ta có thể đi lại bằng xe đạp trên một phần ba các tuyến đường (ở Đức con số này chỉ khoảng 10%). Vì thế, nhân viên nhà băng diện comple nghiêm chỉnh hay nhân viên văn phòng mặc váy ngắn đạp xe đi làm là chuyện hết sức bình thường. Nếu như số nhân viên này đi ô tô thay vì đi xe đạp thì nguy cơ ùn tắc sẽ tăng thêm 2%.    Tác dụng của xe đạp đối với bảo vệ môi trường hết sức rõ ràng và đầy tính thuyết phục. Năm ngoái, “Dutch Cycling Embassy” đã hợp tác với chính quyền thành phố Rio de Janeiro ở Brazil trong việc quảng bá đi xe đạp. Theo tính toán của các chuyên gia ở đây, nhờ dùng xe đạp, lượng khí thải CO2 của thành phố giảm được 8%. Trong khi đó, thành phố này mới chỉ có 270 km đường dành cho xe đạp và 600 xe đạp cho thuê. Nếu chính quyền thành phố xây thêm 100 km đường xe đạp hoặc tăng số xe đạp cho thuê lên 3.000 chiếc thì giảm được thêm 7,5% khí thải CO2. Tom Godefrooij cho rằng: “Điều quan trọng là phải lôi kéo, vận động các quan chức chính quyền ở địa phương vào cuộc để họ ủng hộ đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở, giúp việc đi lại bằng xe đạp an toàn và hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều người cùng tham gia.”   London sẽ trở thành thiên đường của người đi xe đạp   Theo Frank Schröter, chuyên gia về bảo vệ môi trường trong quy hoạch giao thông và quy hoạch đô thị thuộc Đại học Tổng hợp Braunschweig thì đến nay ô tô vẫn luôn được coi là có vai trò trung tâm trong chính sách quy hoạch đô thị và quy hoạch giao thông. Các dự án như “Dutch Cycling Embassy” có thể góp phần làm thay đổi tư duy này. Schröter cho rằng: “Xe đạp sẽ ngày càng quan trọng hơn. Có thể coi đây là điều kiện duy nhất để giải quyết các vấn đề như ùn tắc giao thông và nhất là ô nhiễm môi trường.”   Hà Lan và Đan Mạch là những nước kiểu mẫu trên thế giới về sử dụng xe đạp. Thí dụ thành phố Copenhagen (Đan Mạch) chi mỗi năm 30 triệu Euro vào hạ tầng cơ sở phục vụ xe đạp. Tuy nhiên, nay mai London sẽ đầu tư vượt con số này: Hồi tháng ba vừa qua, thị trưởng London Boris Johnson cho hay, thành phố sẽ cải tạo để trở thành thiên đường đối với những người đi xe đạp. Để làm được việc đó, London dự định sẽ đầu tư hơn 1 tỷ Euro trong mười năm tới.   Tom Godefrooij nhận xét, sở dĩ nhiều người Hà Lan sử dụng xe đạp một phần vì đất nước này rất bằng phẳng. Tuy nhiên, theo ông, đồi núi không phải là yếu tố gây cản trở mà chủ yếu là sự thiếu quyết tâm về chính trị và những ái ngại, dè dặt về văn hóa. “Ở Mỹ Latin, người ta coi đi xe đạp chỉ là hoạt động thể dục, thể thao.” Ở Ấn Độ và Trung Quốc, hầu như ai cũng ước ao có một chiếc ô tô riêng, đi xe đạp bị coi thuộc diện “nghèo khổ”. Godefrooij nói, điều này có thể thay đổi nếu như tạo được các tuyến đường phù hợp dành riêng cho người đi xe đạp. Và người ta sẽ buộc phải đi xe đạp khi mà ô tô không thể nhúc nhích vì mọi ngả đường đều kẹt cứng.     XH dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hà Nội: Những thách thức trong quá trình phát triển đô thị      Mới đây, hai tác giả Divya Leducq – Đại học Bách khoa Tours và Helga Jane Scarwell – Đại học Lille I đã công bố bài báo “The new Hanoi: Opportunities and challenges for future urban development” trên tạp chí Cities của hệ thống Elsvier1. Nghiên cứu trên đã không đi theo hướng tiếp cận chủ đề di sản-lịch sử mà tập trung khai thác yếu tố kết cấu không gian xã hội (social-spatial fabric) của Hà Nội, từ đó làm rõ những thách thức mà thành phố phải đối mặt trong quá trình phát triển bền vững. Bài viết sau đây tổng kết những ý chính của hai tác giả.      Hà Nội nhìn từ trên cao. Ảnh: Pinterest.com.  Sau nhiều thập niên chậm chân hiện đại hóa, do chiến tranh và thời kỳ kinh tế bao cấp, Hà Nội hiện nay đang không ngừng mở rộng, hướng tới vị thế của một đại đô thị quốc tế (international metropolitan). Xu hướng toàn cầu hóa và bối cảnh cạnh tranh quyết liệt giữa các thành phố lớn, nhất là tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đã và đang mang tới những đổi thay đáng kể cho Hà Nội trên nhiều lĩnh vực, đồng thời đặt ra các thách thức mới đối với công tác quản trị; giải quyết mâu thuẫn; tăng cường thu hút đầu tư; mở cửa hội nhập và chú trọng phát triển bền vững – những mục tiêu thoạt nhìn tưởng như không thể dung hòa.  Thay đổi diện mạo và chính sách  Sau khi sáp nhập một diện tích lớn đất nông nghiệp và các làng nghề thuộc tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và huyện Lương Sơn (Hòa Bình), quy mô của vùng Hà Nội mới – gồm Thủ đô và 6 tỉnh phụ cận – đã trở nên quá lớn (diện tích dự kiến đạt tới 13.436 km2 và dân số hơn 15 triệu người tới năm 2020). Hoạt động mở rộng đầy tham vọng này của thành phố mang đến nhiều câu hỏi về năng lực hoạch định. Mô hình quản trị theo kiểu tập trung, tiếp cận từ trên xuống (top-down) – nhấn mạnh vai trò của chính quyền, mặc dù vẫn chiếm ưu thế nhưng đang dần thay đổi theo hướng phi tập trung hóa với khu vực tư nhân tham gia ngày càng nhiều vào tiến trình đô thị hóa.  Sau khi tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và để tránh rơi vào bẫy đô thị hóa tự phát như Lagos (Nigeria) hay Mexico City (Mexico), … trong năm 2010, chính quyền Hà Nội đã công bố Đồ án Quy hoạch lớn (Master Plan) cho năm 2030 – tầm nhìn 2050. Đồ án này nhấn mạnh sự phát triển về mặt không gian của Hà Nội sẽ xoay quanh các cụm đô thị (urban cluster) – vốn định hình nên nhiều thành phố lớn tại châu Á. Mô hình này bao gồm phần lõi đô thị bên cạnh các vệ tinh vừa và nhỏ, được gắn kết nhờ hệ thống đường vành đai, liên tỉnh, quốc lộ và đường sắt dày đặc. Chiến lược này được kỳ vọng đem đến cơ hội giúp tái cấu trúc đô thị, chuyển trạng thái từ một cực sang đa cực thông qua việc di dời bớt những chức năng của khu vực trung tâm như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, giáo dục… sang các đô thị vệ tinh, đồng thời xây dựng thêm nhiều trung tâm mới và mở rộng giới hạn phát triển.  Tuy nhiên, trên thực tế không mục tiêu đáng kể nào được hoàn thành. Nền kinh tế bùng nổ cùng lượng vốn khổng lồ đổ vào phát triển đô thị những năm vừa qua đã không đi liền với những chiến lược và quyết tâm chính trị cụ thể, gây nên mối hoài nghi về tính thực tế của những dự án tiếp cận theo kiểu top-down truyền thống, trong lúc đất nước hiện vẫn thiếu những phương tiện thể chế nền tảng giúp thực thi và áp đặt.   Xu hướng đại đô thị và những vấn đề cốt lõi  Nông nghiệp hiện vẫn đang chiếm tỷ trọng đáng kể đối với kinh tế Hà Nội, tuy nhiên đang dần thích nghi và chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa, chẳng hạn như ứng dụng các công nghệ mới trong nông nghiệp. Khu vực tư nhân đang tăng trưởng nhanh chóng và tỏ ra rất năng động, bên cạnh một khu vực kinh tế phi chính thức không dễ để thống kê. Hơn thế nữa, Hà Nội còn dự kiến xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp và công nghệ cao mới, nhằm khuyến khích phát triển hệ sinh thái hỗ trợ nghiên cứu khoa học, sáng tạo, khởi nghiệp, điển hình là mô hình Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Dẫu vậy, định hướng này cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do chậm tiến độ xây dựng các dự án trọng điểm, và sự phát triển thiếu tương xứng của hạ tầng giao thông.  Giao thông và logistics yếu kém chính là những vấn đề lớn nhất của Hà Nội. Trong bối cảnh phần lớn các tuyến quốc lộ đã quá tải, nhiều dự án cao tốc mới được xây dựng những năm qua giúp việc lưu thông giữa Thủ đô với các tỉnh thành trở nên thuận tiện hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, sự bất hợp lý trong vấn đề thuế phí, như tại các trạm BOT, cũng gây ra nhiều trở ngại.  Lượng xe cộ tham gia lưu thông quá lớn (hiện nay là 5,3 triệu xe máy và 560.000 ô tô) và đang không ngừng gia tăng (dự kiến đạt 7 triệu xe máy và 1 triệu ô tô vào năm 2020) khiến hạ tầng của Hà Nội phải chịu nhiều áp lực. Ngoài ra, thành phố cũng chứng kiến sự bùng nổ của các loại phương tiện mới như xe đạp, xe máy điện và hình thức vận tải công nghệ như Uber và Grap,… Tất cả cùng vẽ lên một bức tranh sống động nhưng đầy phức tạp về giao thông Hà Nội.  Hà Nội vốn đã chủ trương ưu tiên phát triển hệ thống vận tải công cộng nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của tình trạng giao thông quá tải như hiện nay đối với môi trường và sức khỏe người dân. Dự án Metro Hà Nội, gồm 8 đường tàu điện ngầm và đường sắt trên cao, vì thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tầm nhìn của một đô thị tương lai hiện đại. Tuy nhiên, những khó khăn về mặt tài chính – kỹ thuật lại khiến các dự án liên tục bị chậm tiến độ, chưa thể định hình diện mạo mới, cũng như thiếu đi tính liên kết và đồng bộ với các đầu mối giao thông sẵn có. Bên cạnh đó là mối quan ngại về tình trạng quản lý lỏng lẻo, yếu kém, tạo cơ hội cho tham nhũng nhiều hơn là làm lợi cho người dân và giúp cải thiện vấn đề về môi trường.  Cũng giống như nhiều đô thị khác ở châu Á trong quá trình phát triển bùng nổ, Hà Nội đang chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường bất động sản, nhất là trên phân khúc nhà ở cho người thu nhập thấp – nơi có sự tham gia và vai trò ngày càng quan trọng của các doanh nghiệp khối tư nhân, làm thay đổi hẳn nhận thức về phương pháp tiếp cận, vốn chỉ xoay quanh mô hình top-down truyền thống mang nặng vai trò của chính quyền.  Nhiều dự án xây dựng các tòa nhà chọc trời (cao trên 100 m như Keangnam và Lotte Hà Nội), những khu bất động sản nhà ở và trung tâm thương mại cao cấp, … mọc lên trong thời gian qua đã đưa Hà Nội lọt vào danh sách những thành phố toàn cầu (world city), đồng thời thể hiện khát vọng của người dân về cuộc sống đô thị hiện đại, trong lành, thân thiện qua những cái tên rất “thiên nhiên” và “quý phái” như Times City, Riverside, Royal City, Park Hill, … Tuy nhiên, phần đông các dự án đều được xây dựng trên nền đất vốn trước đây thuộc về khu vực nông nghiệp, điều này gây ra nhiều biến đổi về diện mạo và cảnh quan kiến trúc đối với những ngôi làng xung quanh. Thực tế cho thấy, nhiều khu nhà ở cao cấp đang hiện hữu một cách biệt lập, có đời sống tương phản và thiếu gắn kết với cộng đồng xung quanh, cũng như có rất ít các hoạt động kinh tế. Mặc dù được kỳ vọng mang đến nhiều cơ hội hơn về nhà ở, nhất là cho tầng lớp trung lưu mới nổi, đồng thời giúp cân bằng mật độ dân cư giữa khu vực trung tâm và vùng ngoại vi, những đô thị mới này cũng gây ra rất nhiều áp lực lên đất đai và hạ tầng, bên cạnh nguy cơ ngập úng và tình trạng thiếu nước tưới cho nông nghiệp. Nghiêm trọng hơn, những nguy cơ xung đột từ việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng và chính sách đền bù đất đai thiếu thỏa đáng luôn âm ỉ, chỉ chực bùng phát.    Vùng lõi đô thị Hà Nội và các vệ tinh. Ảnh: Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.    Nhằm ngăn ngừa nguy cơ ngập lụt – nét đặc trưng của vùng đất châu thổ, Đồ án Quy hoạch lớn Hà Nội (2010) đã thiết kế một vành đai xanh (green belt) và hành lang xanh (green corridor) bên ngoài khu vực trung tâm đông đúc và hướng về phía Tây, đóng vai trò như “vùng đệm” (buffer zone) giúp bảo vệ phần diện tích canh tác nông nghiệp, các làng nghề thủ công, thương mại và di tích lịch sử truyền thống. Một hành lang khác màu lam (blue corridor) cũng được quy hoạch, ứng với hai bờ sông Đáy và sông Tích, để giảm tải cho sông Hồng trong những mùa cao điểm. Tuy nhiên, sự bùng nổ kinh tế, tình trạng đô thị hóa tự phát và nạn đầu cơ đất đai dọc những trục giao thông huyết mạch như Bắc Thăng Long – Nội Bài hay Láng – Hòa Lạc đã và đang đe dọa nghiêm trọng tầm nhìn này.  Việt Nam đã cam kết áp dụng những chuẩn mực cao như quy định trong Nghị định thư Kyoto, Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), chứng nhận ISO 9000 hay ISO 14000,… nhằm cải thiện chất lượng của các công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng. Chính quyền Hà Nội cũng đặc biệt quan tâm tới việc phổ biến ý niệm “phát triển bền vững” trên các lĩnh vực kinh tế, môi trường, văn hóa, xã hội, … qua việc tổ chức nhiều hội thảo quốc tế và xây dựng các đề án quy hoạch có sự tham vấn của nhiều chuyên gia, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, người dân Hà Nội hôm nay vẫn chưa có sự quan tâm đúng mực đối với những ưu tiên trong phát triển bền vững, như tiết kiệm năng lượng hay cắt giảm khí thải carbon. Bên cạnh đó, thành phố cũng đang rất thiếu không gian xanh công cộng để phục vụ thể thao, giải trí và các sinh hoạt cộng đồng, cùng với những nguy cơ về dịch bệnh, tình trạng mất an ninh-an toàn, … bởi sự du nhập của các trào lưu và thói quen sinh hoạt từ nước ngoài trong đời sống đô thị.      Kết luận  Hà Nội hôm nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về dân số, cơ sở hạ tầng, giao thông, chất lượng môi trường và cả thực phẩm, … đòi hỏi thành phố phải có những giải pháp cẩn trọng, toàn diện và thực tế. Mô hình quản trị và quy hoạch theo kiểu xã hội chủ nghĩa, mặc dù vẫn còn hiện diện trong tâm trí nhiều người, tuy nhiên trên thực tế đã không còn hiệu quả khi không thể hoàn thành nhiều mục tiêu lớn sau Đổi mới. Mặc dù đang trên đà trở thành một thành phố toàn cầu, nhưng phần lớn các quyết định liên quan đến tương lai của Hà Nội vẫn thường chỉ mang tính tự phát. Trong hoàn cảnh đó, các nhà nghiên cứu và quy hoạch thực tiễn nên có sự quan tâm nhiều hơn đến phương án tiếp cận từ những yếu tố kết cấu không gian xã hội, để thấu hiểu rõ hơn về sự chuyển dịch của thành phố theo hướng phát triển bền vững.  ————  Chú thích:  1) Divya Leducq & Helga-Jane Scarwell (2017), The new Hanoi: Opportunities and challenges for future urban development, Cities: Vol 72, pp. 70-81.  Link: https://www.sciencedirect.com/ science/article/pii/S0264275117300926    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Hà Nội trên những bánh xe      Hà Nội, trên đường tiến tới quy mô của một siêu đô thị (mega city), đang là một trong hai thành phố sở hữu xe máy nhiều bậc nhất Việt Nam. Các nhà nghiên cứu cho chúng ta biết một sự thật: lượng xe máy ở Hà Nội chiếm khoảng 80 đến 85% trong tổng các loại hình phương tiện giao thông của thành phố. Do đó, câu chuyện về giao thông Hà Nội bao giờ cũng là câu chuyện của xe máy và phần còn lại.     Chuyến đi hằng ngày của người Hà Nội lại là những hành vi đi lại theo một chuỗi phức hợp. Ảnh: suckhoedoisong.vn  Hằng ngày, diễn ra trên các trục đường huyết mạch cũng như khắp các con phố, ngõ ngách nho nhỏ ở Hà Nội là muôn vàn cuộc di chuyển ngược xuôi trên những bánh xe, mỗi hành trình tích hợp rất nhiều điểm đến như đến công sở, đưa đón con, đi chợ, siêu thị, về nhà… “Đó là cách tiếp cận phương tiện giao thông mà người ta vẫn gọi là ‘từ cửa đến cửa’ (door to door). Xe máy thuận tiện đến thế, nó đã hình thành nên cái gọi là văn hóa giao thông trên xe máy”, TS. Trương Thị Mỹ Thanh (Đại học Công nghệ giao thông vận tải) nhận xét.  Tự bao giờ, xe máy đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống đô thị và đời sống mỗi người?  Một phần cuộc sống hằng ngày  Từ nhiều năm nay, trên các trang báo quốc tế như The Diplomat, CNN, BBC, NewYorkTimes…, người ta vẫn không thôi nhắc đến Hà Nội như một thủ đô của xe máy, nơi có những hành vi di chuyển lạ kỳ theo một trật tự mà người phương Tây không cách nào hiểu được. Những dòng chảy xe như mắc cửi, tưởng chừng hỗn loạn nhưng bằng cách nào đó lại hòa nhịp thành những khối chuyển động bình yên, đường ai nấy đi. Nhưng đó chỉ là phần bề nổi của câu chuyện giao thông nội đô bằng xe máy. “Liên quan đến chuyến đi và chuỗi chuyến đi của hộ gia đình người Việt cũng có nhiều điều thú vị. Nó hoàn toàn khác biệt với chuyến đi của người dân đô thị phương Tây”, TS. Trương Thị Mỹ Thanh lưu ý, không chỉ bằng hiểu biết của một nhà nghiên cứu mà còn bằng trải nghiệm của một người từng có thời gian học tập và nghiên cứu tại Đức.  Điểm khởi nguồn của những khác biệt giữa hành vi di chuyển của người dân một đô thị nào đó của phương Tây và Hà Nội là sự sắp xếp mục đích di chuyển. Thông thường, người dân phương Tây thực hiện các chuyến đi độc lập (single trip) theo những đường tuyến tính, ví dụ từ nhà đến văn phòng hoặc từ văn phòng về nhà, vì vậy họ có thể dễ dàng lựa chọn phương thức giao thông công cộng như tàu điện ngầm, xe buýt. Tuy nhiên, chuyến đi hằng ngày của người Hà Nội lại là những hành vi đi lại theo một chuỗi phức hợp, không đơn giản là vào buổi sáng đi thẳng tới nơi làm việc. “Nếu đi thẳng một mạch từ nhà đến cơ quan thì khả năng đi lại bằng xe buýt rất cao, nhưng thực ra trên chuyến đi này, người ta thường bố trí chuỗi các chuyến đi liên tiếp khác nhau, như đưa con thứ nhất, con thứ hai đi học, kết hợp đi chợ nên lựa chọn phương thức giao thông nó lại khác hẳn. Người ta cần phương tiện gì có độ tin cậy cao, cơ động, nhỏ gọn, tiếp cận ngõ nhỏ, dừng đỗ cơ động…, tổ hợp lại tất cả những yếu tố đó để tối ưu thời gian và lựa chọn phương thức giao thông cho loạt chuỗi chuyến đi”, TS. Trương Thị Mỹ Thanh phân tích.    “Về cơ bản, những liên kết về xã hội, văn hóa, vật chất của giao thông xe máy đã định hình Hà Nội, từ cơ sở hạ tầng thông qua việc sử dụng về mặt địa lý cho những thực hành của cuộc sống hằng ngày”.(TS. Arve Hansen)    Có lẽ, không cần làm một bài toán tối ưu, người ta cũng có thể nhận ra sự nổi trội khác: xe máy có chi phí sở hữu và vận hành khá rẻ. Nếu vào những năm 1980-1990, một chiếc xe máy đáng giá bằng cả gia tài thì trong những năm trở lại đây, ngay cả một hãng xe máy cũng có nhiều dòng xe để lựa chọn, và do đó vừa vặn với mức thu nhập của nhiều hộ gia đình khác nhau. Đây là lý do dẫn đến việc “Hà Nội tăng tỉ lệ sử dụng xe máy quá nhanh” như TS. Trương Thị Mỹ Thanh nhiều lần nhắc đến trong cuộc trao đổi với Tia Sáng. Khi có độ lùi về thời gian, người ta mới đủ số liệu để hình dung rõ ràng hơn tốc độ “quá nhanh” ở đây như thế nào. Theo thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội), tốc độ tăng trưởng trung bình của xe máy là 7,6%/năm và đến năm 2020, tổng số xe máy đăng ký lưu hành ở Hà Nội là trên 5,7 triệu chiếc. Và không chỉ là câu chuyện của riêng Hà Nội. “Vào năm 1996, Việt Nam có 4 triệu chiếc xe máy nhưng đến cuối năm 2014, con số này đã tăng lên gấp 10 lần với tổng số 43 triệu chiếc trên toàn quốc”, TS. Arve Hansen, một nhà địa lý nhân văn tại trường Đại học Oslo, so sánh sự biến thiên theo thời gian của xe máy trong công bố trên tạp chí Mobilities vào năm 2016.   Dưới góc nhìn tổng quan về xe máy, TS. Arve Hansen cho rằng, “về cơ bản, những liên kết về xã hội, văn hóa, vật chất của giao thông xe máy đã định hình Hà Nội, từ cơ sở hạ tầng thông qua việc sử dụng về mặt địa lý cho những thực hành của cuộc sống hằng ngày”.  Định vị một thói quen  Sự bén rễ của văn hóa xe máy ở Hà Nội là một câu chuyện dài diễn ra trong vòng mấy thập niên và liên quan đến rất nhiều yếu tố khác nhau nhưng có thể xác quyết một điều: sự gia tăng về số lượng chỉ dấu xe máy đã ngày một gắn bó với đời sống vật chất và xã hội Hà Nội tương tự như ô tô trong các quốc gia phát triển. Điều tra do Worldbank công bố vào năm 2014 nhắc nhở chúng ta một thực tại: các hộ gia đình Hà Nội đang tiến gần tới tỉ lệ trung bình 2,5 xe máy/hộ. “Ở các quốc gia phát triển, khi thu nhập cao hơn một chút thì người dân sẽ dần dần từ bỏ xe máy để chuyển sang ô tô. Nhưng theo kết quả nghiên cứu trong thời gian qua thì không hẳn như vậy với số đông người Việt Nam. Khi thu nhập cao thì thay vì một xe máy, hộ gia đình có thể mua ba xe máy”, TS. Trương Thị Mỹ Thanh nói.  Xe máy chiếm khoảng 80 đến 85% trong tổng các loại hình phương tiện giao thông Hà Nội. Nguồn: tienphong.vn  Hà Nội là một thành phố phát triển năng động về nhiều mặt. Chính sự gia tăng dân số và chuyến đi trong ngày của người dân khiến nhu cầu đi lại bằng xe máy cũng tăng theo. Một báo cáo được Worldbank công bố vào năm 2011 đưa ra nhận định, trong bối cảnh giao thông đô thị chưa tăng kịp đà phát triển, xe máy đã trở thành vật cứu tinh cho người Hà Nội di chuyển quanh thành phố trong một nền kinh tế mới đòi hỏi sự di chuyển không ngừng mở rộng về không gian. TS. An Minh Ngọc (trường Đại học Giao thông Vận tải) đã tính toán trong một công bố mới đây về phương thức giao thông ở năm thành phố Việt Nam trên tạp chí International Journal of Intelligent Transportation Systems Research: ở giai đoạn 2014-2020, nhu cầu đi lại của người dân tăng trung bình 2,5 % hằng năm, trong khi dân số tăng trung bình khoảng 1,9 % và các chuyến đi tăng trung bình khoảng 2,94 %. Người ta có thể hình dung ra những dòng “người và xe nối nhau đi trên đường” mà bài hát phổ biến những năm 1970-1980 Từ một ngã tư đường phố của nhạc sỹ Phạm Tuyên nhắc đến chủ yếu là xe đạp. Nhưng nhiều thập niên sau, tất cả đã thay đổi: các chuyến đi bằng xe máy chiếm 85-87% tổng nhu cầu đi lại, các chuyến đi bằng ô tô chiếm 5-9%, các chuyến đi bằng xe đạp giảm 97% và chỉ chiếm 2,9% năm 2020.  Phân tích của các nhà nghiên cứu khiến chúng ta có thể hình dung rõ hơn về những khía cạnh nho nhỏ trong thói quen giao thông với những loại hình phương tiện khác nhau, đặc biệt ở thời gian và khoảng cách. Ở Hà Nội, xe đạp chủ yếu được sử dụng với khoảng cách đường đi là 2 km, xe máy chủ yếu trong vòng bán kính 10 km và thời gian trung bình 19 phút, xe buýt với quãng đường dài hơn, trung bình 12 km và thời gian trung bình 41 phút, như tính toán của TS. An Minh Ngọc. Sự tiện lợi của xe máy trong không gian đô thị khiến nó không có đối thủ. Thói quen sử dụng xe đạp lụi tắt và chưa thể (hay không thể?) trở lại bởi hệ thống cơ sở hạ tầng dành cho xe đạp của Hà Nội không còn phù hợp. Việc xe đạp, một phương tiện di chuyển với tốc độ thấp, gia nhập dòng giao thông hỗn hợp trên đường phố cùng các loại xe có tốc độ khác nhau trong khi không có một làn đường và một tín hiệu chỉ báo giao thông riêng, rất nguy hiểm cho người cầm lái. Do đó, xe máy đúng là phương tiện giao thông nhanh hơn và hiệu quả hơn nhiều.    Ở những thành phố nhiệt đới và hạ nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, xe đạp không phải là sự lựa chọn, theo công bố về mối quan hệ giữa thời tiết và hành vi đi lại bằng xe đạp của các nhà nghiên cứu quốc tế.    Mặt khác, trong thời gian gần đây, tác động của biến đổi khí hậu và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị ở những đô thị đông dân cư, dày các công trình xây dựng nhưng thiếu không gian xanh công cộng khiến Hà Nội không còn là nơi thân thiện với người đi xe đạp. Ở những thành phố nhiệt đới và hạ nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, xe đạp không phải là sự lựa chọn, theo công bố về mối quan hệ giữa thời tiết và hành vi đi lại bằng xe đạp của các nhà nghiên cứu quốc tế.  Tất cả những tích tụ lại theo thời gian đó đã góp phần định vị xe máy là sự lựa chọn hàng đầu và hình thành “thói quen đi đâu cũng dùng đến xe máy. Người ta đã thống kê, với những quãng đi ngắn có cự ly khoảng 50 mét, 200 mét thì người dân các khu đô thị nhiều quốc gia sẵn sàng đi bộ hoặc đi xe đạp nhưng người nhà mình lại chọn xe máy vì nó rất tiện lợi”, TS. Trương Thị Mỹ Thanh cho biết.  Vậy có cách nào thuyết phục được người dân loại đi một thói quen cũ để xây dựng một thói quen mới – đi bằng phương tiện công cộng trong bối cảnh Hà Nội hiện nay?  Làm gì để tạo chuyển đổi?  Câu chuyện chuyển đổi phương tiện giao thông ở Hà Nội, nhìn từ nhiều khía cạnh, không phải là vấn đề đơn giản bởi với việc dự phần quá sâu vào cuộc sống hằng ngày, xe máy là một chủ đề nhạy cảm với người dân Hà Nội. Chính vì lý do này mà đề án “Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030” đến nay đã triển khai được năm năm nhưng vẫn còn gây tranh cãi, dù trong đề án đã tránh không nhắc đến cụm từ “cấm xe máy” mà thay vì “hạn chế phương tiện cá nhân theo ngày chẵn lẻ” hoặc “chuẩn bị các điều kiện cần thiết tiến tới dừng hoạt động xe máy”… Sau cuộc họp báo cáo kết quả thực hiện giai đoạn đầu đề án vào tháng 12/2021, báo chí đã dẫn lời TS. Nguyễn Hữu Đức, một chuyên gia giao thông ở Hà Nội, “chúng tôi từng nêu 50 – 60 vấn đề khó khăn khi hạn chế xe máy của Hà Nội, đặt vấn đề với đơn vị tư vấn cho Hà Nội là Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải thì Viện nói là phải nghiên cứu dần. Nêu lên chủ trương thì dễ, nhưng tổ chức thực hiện thì cực kỳ phức tạp”.  Ở Hà Nội, người dân đạp xe chủ yếu để thư giãn, rèn luyện sức khỏe vào cuối tuần. Nguồn: TTXVN  Thực ra, không chỉ các chuyên gia giao thông mà cả người dân cũng cảm thấy độ phức tạp của nó. Rõ ràng, chính sách mới về xe máy sẽ tác động đến đời sống hằng ngày của họ, vậy có cách nào để chuyển đổi phương thức đi lại một cách ổn thỏa? Liệu không cho xe máy hoạt động thì mọi người có đổ xô sang dùng ô tô, một phương tiện có nguy cơ còn gây tắc đường hơn? Liệu các phương tiện công cộng thay thế có thuận tiện, dễ dàng, tin cậy, an toàn? Khi chưa được giải đáp thỏa đáng thì người ta vẫn còn cảm thấy do dự cho cú chuyển đổi mang tính bước ngoặt, dù biết việc thôi sử dụng xe máy cũng sẽ góp phần giúp bầu không khí đang hít thở bớt ô nhiễm hơn. Theo những công bố gần đây của các nhà nghiên cứu trường Đại học Xây dựng HN, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG TPHCM)… thì người đi xe máy thường có nguy cơ hứng chịu nhiều bụi PM2.5,, carbon đen và các chất ô nhiễm khác hơn so với người đi xe buýt và ô tô.  Với bài toán giao thông, không riêng gì Hà Nội mà nhiều thành phố cùng cảnh ngộ khác cũng loay hoay. Ví dụ Jakarta, thành phố có 14,7 triệu xe máy tham gia giao thông, đã áp dụng nhiều biện pháp như lập khu vực cấm xe máy (năm 2017), chính sách chẵn lẻ (năm 2019) nhưng đến nay vẫn còn bế tắc. Trên The Jakarta Post, Iskandar Abubakar, người phụ trách Hội đồng giao thông Jakarta (DTKJ) cũng thừa nhận là việc cấm xe máy trên diện rộng trong thành phố có thể khiến người dân chuyển sang sử dụng xe ô tô riêng, dẫn đến điều kiện giao thông trở nên tồi tệ hơn. Người dân đã làm như vậy khi thành phố ban hành lệnh cấm xe máy vào khu vực trung tâm. Hiện tại, ngay cả Chính phủ Indonesia cũng chưa có quan điểm rõ ràng về cấm xe máy, thậm chí theo tuyên bố mới đây trên Reurters của Bộ trưởng Bộ Năng lượng nước này, đến năm 2050 vẫn sẽ sử dụng ô tô, xe máy cá nhân, chỉ là thay đổi từ chạy xăng sang chạy điện.  Không thể có sự chuyển đổi dễ dàng nào trong việc tạo lập một thói quen mới. “Thói quen bắt đầu là tơ nhện, sau là sợi dây thừng”, ai đó đã từng nói như vậy. Có lẽ, trên đường đến gói giải pháp phù hợp dựa trên chính sách hợp lý của kéo và đẩy (push and pull) như khuyến nghị của các chuyên gia, những nhà hoạch định chính sách có thể học hỏi cách chính quyền thành phố Đài Bắc khuyến khích người dân lựa chọn metro và đường sắt tốc độ cao vào những năm 2000. Nếu metro là phương tiện phục vụ cư dân di chuyển nội đô còn đường sắt đốc độ cao là để phục vụ những người từ khắp nọi nơi trên hòn đảo này tới Đài Bắc.    “Chúng tôi từng nêu 50 – 60 vấn đề khó khăn khi hạn chế xe máy của Hà Nội, đặt vấn đề với đơn vị tư vấn cho Hà Nội là Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải thì Viện nói là phải nghiên cứu dần. Nêu lên chủ trương thì dễ, nhưng tổ chức thực hiện thì cực kỳ phức tạp”. (TS Nguyễn Hữu Đức)    Để người dân có thể chấp thuận phương thức di chuyển mới, chính quyền Đài Bắc đã lên kế hoạch hướng dẫn hành khách hành xử đúng, từ việc đặt vé, thả vé vào đúng chỗ, theo tín hiệu hướng dẫn trên bảng, chờ ở nơi an toàn và cách lên tàu. Để giữ cho môi trường sạch sẽ, hành khách không được phép ăn uống trong sân ga hoặc trên tàu, không được vi phạm các quy định khác. Trong cuộc khảo sát đầu tiên vào năm 2003, 86% người có đánh giá tích cực và đến năm 2008 thì tỉ lệ này tăng lên 95%. “Tiện lợi”, “thoải mái”, “nhanh”, “tin cậy” là những từ người dân dùng để nói về metro. Họ cũng cảm thấy hài lòng ngay cả khi tàu bị trễ một vài phút vì những lần như vậy, thường nhận được lời giải thích. Trên thực tế thì metro Đài Bắc còn thuyết phục cả giới chuyên môn: Nhóm chuyên gia quốc tế và cộng đồng Metro quốc tế Nova/CoMET đã xếp metro Đài Bắc vào vị trí số 1 thế giới về sự tin cậy, an toàn, chất lượng trong bốn năm liên tiếp (2004-2007).  Sau những nỗ lực như vậy, người dân bắt đầu cảm thấy yêu thích cả metro lẫn đường sắt tốc độ cao và coi đó là biểu tượng về công nghệ hiện đại. Theo cách đó, phương tiện giao thông công cộng đã trở thành một phần trong đời sống xã hội Đài Bắc bởi nó không chỉ làm chuyển đổi cảm giác về môi trường không gian của người dân mà còn làm thay đổi cách nhìn về chính bản thân mình, nơi chốn mình sống và thậm chí vị trí của hòn đảo này trong không gian xung quanh.  Có thể đây là một gợi ý để Hà Nội, từ những bánh xe cá nhân chuyển sang bánh xe công cộng chăng? □  Tài liệu tham khảo:  “Hanoi on wheels: emerging automobility in the land of the motorbike” (Arve Hansen, Centre for Development and the Environment, University of Oslo, Oslo, Norway)  “Flow and flood: mobilities, life in roads and abiotic actors of the (m)ôtôcene” (Catherine Earl, RMIT University)  “How Subways and High Speed Railways Have Changed Taiwan: Transportation Technology, Urban Culture, and Social Life” (Anru Lee, CUNY John Jay College of Criminal Justice)    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Hạ viện Mỹ không thông qua PNTR với VN      Dự luật trao Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam đã không giành được 2/3 số phiếu cần thiết tại cuộc bỏ phiếu của Hạ viện Mỹ vào chiều 13/11, tức sáng sớm nay theo giờ Việt Nam.     Dự luật này giành được 228 phiếu thuận, còn thiếu 32 phiếu để thông qua PNTR. Các đảng viên Đảng Cộng hòa đều tỏ ra bất ngờ trước việc khá nhiều phiếu chống – 161 phiếu. Hiện vẫn chưa biết các nghị sĩ Đảng Cộng hòa có xem xét lại việc bỏ phiếu trong tuần này hay không.   Trước đó, Chính phủ Mỹ hy vọng Hạ viện sẽ thông qua PNTR trước khi Tổng thống Bush sang thăm Việt Nam trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao APEC cuối tuần này. Trong nỗ lực kêu gọi Quốc hội thông quan PNTR cho VN, Nhà Trắng cam kết theo dõi lượng hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ tiến hành điều tra nếu phát hiện dấu hiệu của việc bán phá giá.   Trao đổi với VnExpress, Chủ tịch Phòng thương mại Mỹ tại VN (AmCharm) David Knapp cho hay ông rất lấy làm tiếc về kết quả bỏ phiếu tại Hạ viện Mỹ, bởi trước đó cộng đồng doanh nghiệp Mỹ đều hy vọng tổng thống Bush đến Hà Nội tham dự APEC với PNTR trong tay.   AmCham cho hay sẽ kêu gọi doanh nghiệp Mỹ lên tiếng ủng hộ VN và thuyết phục các nghị sĩ trong buổi bỏ phiếu về Dự luật PNTR với VN dự kiến tiếp tục diễn ra vào ngày mai. “Chúng tôi sẽ làm hết sức để kêu gọi Hạ viện Mỹ thông qua PNTR cho VN trong phiên bỏ phiếu tới”, ông Knapp nói.  Hiện xuất khẩu của Mỹ vào VN đạt khoảng 724 triệu USD trong khi kim ngạch hàng VN xuất khẩu vào Mỹ đạt 6,4 tỷ USD. Một số nghị sĩ Mỹ tỏ ra e ngại rằng thông qua PNTR cho VN, thâm hụt thương mại càng lớn hơn bởi Mỹ sẽ hạ bớt hàng rào thuế quan với hàng hóa nhập khẩu từ đối tác.   Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp Mỹ cho rằng bình thường hóa quan hệ thương mại với VN sẽ mở đường cho họ đầu tư, kinh doanh vào VN dễ dàng hơn. Hiện vốn đầu tư của Mỹ vào VN mới đạt vỏn vẹn 2 tỷ USD, nếu kể cả vốn gián tiếp qua nước thứ 3 con số này mới đạt 3 tỷ USD, đứng hàng thứ 7 trong số các nhà đầu tư vào VN, kém xa Nhật Bản, EU.  (Theo VnExpress)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai bài giống y chang nhau      .    Hai bài giống y chang nhau                 Bài trên Dân Trí   http://dddn.com.vn/20081017060931916cat81/X226y-nh224-m225y-dien-hat-nh226n-Than-trong-kh244ng-thua.htm      Bài trên TT   http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=15824&ChannelID=122                                        Xây nhà máy điện hạt nhân: Thận trọng không thừa  Cập nhật lúc 08:39 – Thứ hai, 20/10/2008                               Một ngày không xa, những người VN giàu trí tưởng tượng ấn tay vào công tắc điện sẽ nghe âm vang giai điệu của phản ứng dây chuyền từ nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) trên bờ biển Ninh Thuận, nơi mà giờ đây đang còn là một vùng hoang mạc khô cằn, quanh năm cháy nắng.   Trước đây ít lâu, cái thời khắc lịch sử đó được dự kiến vào năm 2017. Công chúng còn chưa hết phân vân tại sao ta xây nhà máy ĐHN vào lúc mà mấy nước văn minh như Đức, Thụy Điển… lại phải lo đưa chúng xuống nghĩa địa, thì mới đây, từ cuộc trình diễn do Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản tổ chức tại Việt Nam, cái thời khắc đó lại còn được bắn vọt lên năm 2012. Thế nghĩa là còn chưa đầy chín năm nữa!                Vị trưởng đoàn Nhật tại cuộc trình diễn nói trên cảnh báo: “Việt Nam cần phát triển ĐHN để nâng cao mức sống của dân chúng. Đang từ một nước xuất khẩu năng lượng, sắp đến các bạn sẽ phải nhập khẩu nếu không sớm xây dựng ĐHN”.                Đây đúng là kinh nghiệm của nước Nhật, vốn từ lâu đã cạn kiệt các nguồn nhiên liệu nên phải nhập khẩu than dầu từ khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó còn gì tuyệt diệu bằng ĐHN, một giải pháp sống còn duy nhất chẳng những bảo đảm an ninh năng lượng cho nền kinh tế khổng lồ của Nhật mà còn tránh cho Trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính.                Từ kinh nghiệm của một nước công nghiệp hàng đầu  Nhưng vị trưởng đoàn lại không nói hết các kinh nghiệm khác của Nhật. Những cuộc thăm dò dư luận về ĐHN ở Nhật cho thấy số người lắc đầu vẫn luôn nhiều hơn. Nhật Bản là một xã hội đầy nhạy cảm sau thảm họa Hiroshima và Nagasaki. Nhưng đừng nghĩ rằng những trải nghiệm đầy mặc cảm đó đã chi phối thái độ của họ đối với ĐHN. Người Nhật văn minh, sáng suốt vẫn lắc đầu bởi họ được chứng kiến trong những năm gần đây bao nhiêu sự cố, và không tin rằng ĐHN là an toàn đến mức như người ta thường quảng cáo.                 Trước hết là tai nạn hỏa hoạn do chất tải nhiệt natri ở lò phản ứng Monju xảy ra năm 1995 làm toàn bộ phương hướng lò nơtrôn nhanh hết sức tốn kém của Nhật bị lao đao. Lò nơtrôn nhanh có khả năng vừa cung cấp điện năng vừa sản sinh ra nhiều plutonium hơn là lượng uranium đã cháy, bởi thế nó là giải pháp tuyệt diệu trong chiến lược an ninh năng lượng lâu dài của Nhật. Biết thế, nhưng vừa qua Tòa án tối cao Nhật vẫn phán quyết không cho lò Monju hoạt động trở lại (The Japan Times, 28-1-2003).                Sau vụ Monju là tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000 người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà và sáu kỹ thuật viên bị phạt tù với tội danh vi phạm luật an toàn hạt nhân.                Trước những sự kiện đó một số người Nhật vẫn có thể chặc lưỡi: đi máy bay, tàu hỏa còn chết khối người, huống hồ là ĐHN. Nhưng đến khi vụ bê bối bị phát giác hồi tháng tám năm ngoái ở Tokyo Electric Power Co. (TEPCO), tập đoàn sản xuất điện lớn nhất của Nhật, thì niềm tin của dân vào ĐHN mới suy sụp thảm hại.                Từ cuối thập kỷ 1980 TEPCO đã phát hiện vết nứt ở những mối hàn xung yếu nhất trong hệ thống cung cấp nước áp lực cho vùng hoạt của một số lò phản ứng. Nhưng họ đã cố tình giấu nhẹm, chẳng những không chịu xử lý mà cũng không báo cáo trung thực lên các cấp thẩm quyền. Trong các báo cáo thường kỳ lên cấp trên họ đã làm hồ sơ giả, bịa đặt số liệu kiểm tra phù hợp với qui chế an toàn. Khi có đoàn thanh tra định kỳ đến, họ lén điều chỉnh các van áp lực để đạt được những thông số hợp lý.                Khi vụ việc bị phát giác, công luận la ó, chủ tịch TEPCO và một số cộng sự phải từ chức. Đến tháng 4-2003 tất cả 17 lò phản ứng của TEPCO với tổng công suất điện hơn 16.000 MW (gấp 8 lần Nhà máy thủy điện Hòa Bình) buộc phải đóng cửa, mặc cho Tokyo bị đe dọa thiếu điện trầm trọng trong mùa hè vừa qua.                 Chạy theo lợi nhuận, bất chấp nguyên tắc (bất cứ một trục trặc nhỏ nào trong hệ thống tải nhiệt của nhà máy ĐHN đều phải được xử lý và khắc phục kịp thời), TEPCO đã làm mất lòng tin của công chúng. Hậu quả là tất cả các lò phản ứng của TEPCO đều phải ngừng hoạt động để kiểm tra, chờ cấp giấy phép mới, kể cả những lò đang hoạt động bình thường cũng bị vạ lây. TEPCO phải cho chạy lại các nhà máy nhiệt điện cũ và mua điện từ các hãng khác để bù vào chỗ thiếu hụt. Thiệt hại lên đến nhiều tỉ đôla (The Japan Times, May 21, 2003).                Thế mà người ta cứ quảng cáo rằng ĐHN an toàn và rẻ lắm.                Những chuyện trên đây xảy ra tại một cường quốc công nghiệp với hệ thống pháp luật nghiêm ngặt càng làm cho công chúng khó tin vào các quảng cáo đó. Nhất là trong bối cảnh phải đối phó với nạn khủng bố toàn cầu mà ĐHN là những mục tiêu lý tưởng. Quảng cáo ĐHN là cách đi vay niềm tin của công chúng.                Nhưng vay thì phải trả. TEPCO chẳng những không trả được mà còn làm cho công chúng nghi ngờ rằng họ liên tục bị lừa dối trong nhiều năm trời. Theo kết quả thăm dò dư luận của Asahi Shimbun ngày 9-10-2002, sau vụ bê bối ở TEPCO, số dân Nhật sợ ĐHN đã tăng vọt lên đến 86%. Tệ hại hơn là họ không tin ngay cả lời giải thích của chính phủ trung ương cho rằng các vết nứt trong lò phản ứng của TEPCO không có gì đáng ngại.                Trông người mà nghĩ đến ta. Cứ theo thông tin từ buổi trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản nói trên thì câu chuyện ĐHN ở VN xem như đã an bài, mặc dù bao nhiêu phân tích xác đáng cho rằng ta không nên quá vội vàng. Thậm chí nhiều chuyên gia nước ngoài còn hết sức ngạc nhiên khi nghe tin VN sắp xây dựng nhà máy ĐHN. Tuy chưa thấy có công bố chính thức nào của Nhà nước, song bàn thêm liệu có ích gì? Lời khuyên của người xưa “đo đủ ba lần rồi hãy cắt” xem ra chỉ là một hi vọng mong manh.                Đến thực trạng của VN  Những dòng viết tiếp dưới đây chẳng qua chỉ là phản ứng tự nhiên trước lập luận kỳ quặc của vị khách nước ngoài được tung lên báo chí sau vụ trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản. Lời cảnh báo của vị khách gồm hai vế: 1) theo đà tăng trưởng hiện nay, sắp đến VN phải nhập khẩu năng lượng; 2) để thoát khỏi nguy cơ này VN cần xây dựng ngay nhà máy ĐHN.                Trước hết cứ tạm chấp nhận vế thứ nhất là đúng và nhập khẩu năng lượng đang là nguy cơ đe dọa chúng ta. Ta sẽ thấy ngay hai chuyện kỳ quặc. Thứ nhất, khi hối thúc VN làm ĐHN để tránh nhập khẩu năng lượng thì chính vị khách đó đã bày cho chúng ta cách nhập khẩu năng lượng tệ hại nhất. VN khác với Nhật. Có bao nhiêu bộ phận trong nhà máy ĐHN với hơn bốn tỉ đôla đó là made in Vietnam? Đến bao giờ VN mới tự túc được nhiên liệu, mà có tự túc được thì nhiên liệu cũng chỉ là một thành phần rất nhỏ trong toàn bộ chi phí cho nhà máy ĐHN. Thậm chí đến chuyên gia kỹ thuật, chắc chắn ta cũng phải nhập nốt.                Thứ hai, nguy cơ phải nhập khẩu năng lượng vào năm nọ tháng kia không thể xem là yếu tố quyết định thời điểm phải xuất hiện ĐHN. Đối với một nước như VN, các số liệu cung cầu năng lượng chỉ nên xem như thông tin có tính chất tham khảo trong việc quyết định thời điểm xây dựng nhà máy ĐHN. Yếu tố quyết định là cơ sở hạ tầng về an toàn bao gồm hệ thống luật pháp hạt nhân, đội ngũ chuyên gia và văn hóa quản lý công nghiệp.                Đội ngũ chuyên gia ĐHN đủ khả năng xét duyệt các phương án thiết kế, xây lắp và làm chủ trong vận hành, xử lý các tình huống sự cố (chứ chưa nói đến khâu chế tạo công nghệ) hầu như chúng ta chưa có. Và triển vọng trong thời gian tới cũng không mấy sáng sủa. Làm sao có được chuyên gia về ĐHN đang là bài toán đầy thách thức lại đòi hỏi nhiều thời gian. Hệ thống pháp lý hạt nhân của chúng ta rất yêu kém, thậm chí bị coi thường. Minh chứng là lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt sắp kỷ niệm 20 năm mà vẫn chưa có giấy phép vận hành. Chất phóng xạ do lò sản xuất được sử dụng trong các bệnh viện cũng chưa có giấy phép. Chẳng ai cấm, nhưng cũng chưa có ai ký.                Nguy cơ thật sự ở đâu?  Không ai có lỗi về khoảng cách khá lớn giữa trình độ phát triển hiện nay của chúng ta với các nước đang có ĐHN. Đó là chuyện lịch sử mà những tiến bộ vượt bậc trong mấy năm qua vẫn chưa thu ngắn lại được. Nhưng chúng ta sẽ rất có lỗi nếu chỉ lo quảng cáo cho ĐHN mà không tự nhận biết mình là ai, không nỗ lực bắt tay ngay vào việc đào tạo đội ngũ chuyên gia và xây dựng hệ thống pháp lý.                Chúng ta lại cần có thời gian để thử thách cái hệ thống mà chúng ta sắp dựng nên. Chính trình độ yếu kém về tri thức công nghệ, quản lý công nghiệp và hệ thống pháp lý sẽ là mảnh đất lý tưởng để tham nhũng, hối lộ và nạn làm dối, làm ẩu hoành hành. Mà một khi nhốt chung ba quái vật ấy lại với ĐHN thì đó mới thật sự là mối đe dọa cho đất nước. Chính vì thế mà người dân Philippines thà vứt đi mấy tỉ đôla đóng thuế của họ xuống biển chứ không chịu cho nhà máy ĐHN đã xây xong đến 90% của họ hoạt động. Chia tay với ĐHN, Philippines quyết tâm theo đuổi chính sách lấy năng lượng tái tạo làm nền tảng, đặc biệt sẽ phấn đấu trở thành nước sản xuất địa nhiệt lớn nhất thế giới.                Trở lại bàn tiếp lập luận của vị khách trong vế thứ nhất. Lại cứ tạm chấp nhận là VN sắp phải nhập khẩu năng lượng như vị khách tiên đoán. Thì đã làm sao? Bao nhiêu nước, trong đó có Nhật, đều phải nhập khẩu năng lượng mà vẫn giàu có văn minh. Tài nguyên dồi dào như Trung Quốc mà chỉ riêng ba quí đầu năm 2003 phải nhập khẩu đến hơn 50 tỉ đôla về năng lượng (South China Morning Post, 10-12-2003). Nhưng ai dám đoan chắc với dân chúng rằng sau mười năm nữa VN sẽ phải nhập khẩu năng lượng? Mà lại để cho người nước ngoài nói thay ta rồi tung lên báo chí?                Nhiều người tin rằng tiềm năng về than, dầu mỏ, khí đốt của ta cộng với các giải pháp tiết kiệm năng lượng vẫn còn đủ để chưa cần đến ĐHN ít nhất là trước năm 2030. Lúc đó công nghệ ĐHN trên thế giới đã bước lên một quĩ đạo hoàn toàn mới với các lò phản ứng có đặc điểm an toàn nội tại, rất ít phụ thuộc vào sai sót của nhân viên vận hành. Nhập cuộc vào lúc ấy đâu có muộn. Mà người dân lại khỏi phải mua nỗi lo âu bằng cái giá quá đắt. “Dục tốc bất đạt”, lời khuyên của người xưa thật là chí lý.  Khoảng 10 năm nữa VN sẽ có nhà máy điện hạt nhân. Thông tin trên dấy lên trong dư luận những ý kiến khác nhau. Vấn đề quan trọng đặt ra là: Điện hạt nhân an toàn đến đâu? Dư luận đang đặt ra câu hỏi vì sao tiến trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở VN được đẩy nhanh đến vậy? Trả lời câu hỏi này cũng đơn giản nhưng cũng nhạy cảm.   Năm 1954, nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) đầu tiên trên thế giới ra đời và phát triển rất nhanh sau đó. Hiện nay, tốc độ phát triển của ĐHN đang chậm lại. Trên toàn thế giới hiện có hơn 400 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động, cung cấp gần 20% năng lượng điện trên toàn thế giới.  Vì sao sự phát triển của ĐHN đang chựng lại? Trong khi đó ở VN lại đang triển khai dự án phát triển điện nguyên tử giai đoạn 2010-2015.  An toàn của ĐHN còn bất cập.- Sự cố ĐHN xảy ra ở Chernobyl năm 1986 làm chấn động thế giới, lòng tin của con người vào ĐHN lung lay. Cho đến sự cố của tập đoàn sản xuất điện lớn nhất ở Nhật Bản Electric Power Co. (TEPCO), buộc TEPCO phải đóng cửa 17 lò phản ứng với tổng công suất điện hơn 16.000 MW (gấp 8 lần Nhà máy Thủy điện Hòa Bình) thì lòng tin của công chúng vào ĐHN gần như sụp đổ.  Những sự cố trên làm cho công chúng chống đối ĐHN ngày càng tăng. Một số nước như Indonesia, Áo, Philippines xây xong hoặc gần xong nhà máy ĐHN vẫn phải đóng cửa, không đưa vào hoạt động vì sợ không an toàn. Điều đó cho thấy công nghệ ĐHN ở đầu thế kỷ 21 vẫn chưa an toàn.  ĐHN vẫn còn nhiều vấn đề chưa giải quyết, như chất thải có hoạt độ phóng xạ rất cao, tồn tại hàng vạn năm từ các thanh nhiên liệu đã cháy (còn chứa plutonium). Vấn đề chôn cất chất thải hạt nhân vẫn chưa có giải pháp an toàn. Vấn đề khác, vốn đầu tư cho ĐHN khá cao, khoảng 2.000 USD/KW; vấn đề thanh lý nhà máy sau khi ngừng hoạt động cũng rất phức tạp… Tất cả những vấn đề trên làm cho ĐHN thiếu sức hấp dẫn. Dự báo sản lượng ĐHN thế giới sẽ giảm xuống còn 10% vào năm 2020.   Bao giờ VN có ĐHN?.- Một câu hỏi đặt ra nhiều vấn đề nhạy cảm. Trước đây, theo kế hoạch, VN sẽ có ĐHN vào năm 2017; và sau những cuộc trình diễn do Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật tổ chức tại VN, thời điểm đó được kéo lại gần hơn, có thể là năm 2012 – một thời điểm gây tranh luận.  Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, GS-TS Phạm Duy Hiển, một chuyên gia hàng đầu về nguyên tử của nước ta, khẳng định: “Là một trong những người từng được giao trọng trách xây dựng ngành hạt nhân từ hơn 25 năm trước đây, tôi không có ước mơ nào khao khát hơn là được chứng kiến ĐHN ở VN trong cuộc đời mình. Nhưng chừng nào những yếu tố khoa học công nghệ và xã hội chưa sáng sủa thì xây dựng ĐHN chỉ là bất đắc dĩ”. Ý kiến đó rất đáng được nghiên cứu, suy nghĩ.  Theo các chuyên gia, VN chưa đủ điều kiện để có ĐHN vào thời điểm nêu trên. Thứ nhất, nguồn nhân lực thiếu, cần phải đào tạo ngay từ bây giờ. Đặt trường hợp nếu chúng ta có nhà máy ĐHN vào thời điểm trên, chắc chắn từ nhiên liệu, chuyên gia cũng phải nhập khẩu. Thứ hai, hệ thống pháp luật hạt nhân chưa có và văn hóa quản lý công nghiệp chưa hình thành. Cơ sở hạ tầng này rất quan trọng trong quản lý ĐHN. Thứ ba, thế hệ công nghệ ĐHN hiện nay (thế hệ thứ 3) chưa an toàn, để một thời gian nữa thế hệ thứ 4 ra đời, có đặc điểm an toàn nội tại, rất ít phụ thuộc vào sai sót của nhân viên vận hành, lúc đó là thời điểm thích hợp để ta có nhà máy ĐHN.  Ai cũng biết, trong thế kỷ qua con người đã sử dụng quá nhiều nguồn nhiên liệu hóa thạch, tạo nên hiệu ứng nhà kính. Ý thức được điều đó, con người đi tìm những nguồn năng lượng khác từ mặt trời, gió, địa nhiệt… nhưng dự báo cũng không quá 30% vào năm 2020. Do vậy nguồn năng lượng nguyên tử trước sau gì cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho con người. Vấn đề là an toàn, và công chúng có quyền yêu cầu một công nghệ ĐHN gần như an toàn tuyệt đối.                 Nh. Khanh      Điện hạt nhân: Tại sao phải vội?   Chủ Nhật, 11/01/2004, 10:55 (GMT+7)                  TTCN – Một ngày không xa, những người VN giàu trí tưởng tượng ấn tay vào công tắc điện sẽ nghe âm vang giai điệu của phản ứng dây chuyền từ nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) trên bờ biển Ninh Thuận, nơi mà giờ đây đang còn là một vùng hoang mạc khô cằn, quanh năm cháy nắng.   Trước đây ít lâu, cái thời khắc lịch sử đó được dự kiến vào năm 2017. Công chúng còn chưa hết phân vân tại sao ta xây nhà máy ĐHN vào lúc mà mấy nước văn minh như Đức, Thụy Điển… lại phải lo đưa chúng xuống nghĩa địa, thì mới đây, từ cuộc trình diễn do Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản tổ chức tại Việt Nam, cái thời khắc đó lại còn được bắn vọt lên năm 2012. Thế nghĩa là còn chưa đầy chín năm nữa!    Vị trưởng đoàn Nhật tại cuộc trình diễn nói trên cảnh báo: “Việt Nam cần phát triển ĐHN để nâng cao mức sống của dân chúng. Đang từ một nước xuất khẩu năng lượng, sắp đến các bạn sẽ phải nhập khẩu nếu không sớm xây dựng ĐHN”.     Đây đúng là kinh nghiệm của nước Nhật, vốn từ lâu đã cạn kiệt các nguồn nhiên liệu nên phải nhập khẩu than dầu từ khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó còn gì tuyệt diệu bằng ĐHN, một giải pháp sống còn duy nhất chẳng những bảo đảm an ninh năng lượng cho nền kinh tế khổng lồ của Nhật mà còn tránh cho Trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính.     Từ kinh nghiệm của một nước công nghiệp hàng đầu  Nhưng vị trưởng đoàn lại không nói hết các kinh nghiệm khác của Nhật. Những cuộc thăm dò dư luận về ĐHN ở Nhật cho thấy số người lắc đầu vẫn luôn nhiều hơn. Nhật Bản là một xã hội đầy nhạy cảm sau thảm họa Hiroshima và Nagasaki. Nhưng đừng nghĩ rằng những trải nghiệm đầy mặc cảm đó đã chi phối thái độ của họ đối với ĐHN. Người Nhật văn minh, sáng suốt vẫn lắc đầu bởi họ được chứng kiến trong những năm gần đây bao nhiêu sự cố, và không tin rằng ĐHN là an toàn đến mức như người ta thường quảng cáo.     Trước hết là tai nạn hỏa hoạn do chất tải nhiệt natri ở lò phản ứng Monju xảy ra năm 1995 làm toàn bộ phương hướng lò nơtrôn nhanh hết sức tốn kém của Nhật bị lao đao. Lò nơtrôn nhanh có khả năng vừa cung cấp điện năng vừa sản sinh ra nhiều plutonium hơn là lượng uranium đã cháy, bởi thế nó là giải pháp tuyệt diệu trong chiến lược an ninh năng lượng lâu dài của Nhật. Biết thế, nhưng vừa qua Tòa án tối cao Nhật vẫn phán quyết không cho lò Monju hoạt động trở lại (The Japan Times, 28-1-2003).     Sau vụ Monju là tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000 người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà và sáu kỹ thuật viên bị phạt tù với tội danh vi phạm luật an toàn hạt nhân.     Trước những sự kiện đó một số người Nhật vẫn có thể chặc lưỡi: đi máy bay, tàu hỏa còn chết khối người, huống hồ là ĐHN. Nhưng đến khi vụ bê bối bị phát giác hồi tháng tám năm ngoái ở Tokyo Electric Power Co. (TEPCO), tập đoàn sản xuất điện lớn nhất của Nhật, thì niềm tin của dân vào ĐHN mới suy sụp thảm hại.     Từ cuối thập kỷ 1980 TEPCO đã phát hiện vết nứt ở những mối hàn xung yếu nhất trong hệ thống cung cấp nước áp lực cho vùng hoạt của một số lò phản ứng. Nhưng họ đã cố tình giấu nhẹm, chẳng những không chịu xử lý mà cũng không báo cáo trung thực lên các cấp thẩm quyền. Trong các báo cáo thường kỳ lên cấp trên họ đã làm hồ sơ giả, bịa đặt số liệu kiểm tra phù hợp với qui chế an toàn. Khi có đoàn thanh tra định kỳ đến, họ lén điều chỉnh các van áp lực để đạt được những thông số hợp lý.    Khi vụ việc bị phát giác, công luận la ó, chủ tịch TEPCO và một số cộng sự phải từ chức. Đến tháng 4-2003 tất cả 17 lò phản ứng của TEPCO với tổng công suất điện hơn 16.000 MW (gấp 8 lần Nhà máy thủy điện Hòa Bình) buộc phải đóng cửa, mặc cho Tokyo bị đe dọa thiếu điện trầm trọng trong mùa hè vừa qua.     Chạy theo lợi nhuận, bất chấp nguyên tắc (bất cứ một trục trặc nhỏ nào trong hệ thống tải nhiệt của nhà máy ĐHN đều phải được xử lý và khắc phục kịp thời), TEPCO đã làm mất lòng tin của công chúng. Hậu quả là tất cả các lò phản ứng của TEPCO đều phải ngừng hoạt động để kiểm tra, chờ cấp giấy phép mới, kể cả những lò đang hoạt động bình thường cũng bị vạ lây. TEPCO phải cho chạy lại các nhà máy nhiệt điện cũ và mua điện từ các hãng khác để bù vào chỗ thiếu hụt. Thiệt hại lên đến nhiều tỉ đôla (The Japan Times, May 21, 2003).    Thế mà người ta cứ quảng cáo rằng ĐHN an toàn và rẻ lắm.     Những chuyện trên đây xảy ra tại một cường quốc công nghiệp với hệ thống pháp luật nghiêm ngặt càng làm cho công chúng khó tin vào các quảng cáo đó. Nhất là trong bối cảnh phải đối phó với nạn khủng bố toàn cầu mà ĐHN là những mục tiêu lý tưởng. Quảng cáo ĐHN là cách đi vay niềm tin của công chúng.     Nhưng vay thì phải trả. TEPCO chẳng những không trả được mà còn làm cho công chúng nghi ngờ rằng họ liên tục bị lừa dối trong nhiều năm trời. Theo kết quả thăm dò dư luận của Asahi Shimbun ngày 9-10-2002, sau vụ bê bối ở TEPCO, số dân Nhật sợ ĐHN đã tăng vọt lên đến 86%. Tệ hại hơn là họ không tin ngay cả lời giải thích của chính phủ trung ương cho rằng các vết nứt trong lò phản ứng của TEPCO không có gì đáng ngại.    Trông người mà nghĩ đến ta. Cứ theo thông tin từ buổi trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản nói trên thì câu chuyện ĐHN ở VN xem như đã an bài, mặc dù bao nhiêu phân tích xác đáng cho rằng ta không nên quá vội vàng. Thậm chí nhiều chuyên gia nước ngoài còn hết sức ngạc nhiên khi nghe tin VN sắp xây dựng nhà máy ĐHN. Tuy chưa thấy có công bố chính thức nào của Nhà nước, song bàn thêm liệu có ích gì? Lời khuyên của người xưa “đo đủ ba lần rồi hãy cắt” xem ra chỉ là một hi vọng mong manh.    Đến thực trạng của VN  Những dòng viết tiếp dưới đây chẳng qua chỉ là phản ứng tự nhiên trước lập luận kỳ quặc của vị khách nước ngoài được tung lên báo chí sau vụ trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản. Lời cảnh báo của vị khách gồm hai vế: 1) theo đà tăng trưởng hiện nay, sắp đến VN phải nhập khẩu năng lượng; 2) để thoát khỏi nguy cơ này VN cần xây dựng ngay nhà máy ĐHN.                 Trước hết cứ tạm chấp nhận vế thứ nhất là đúng và nhập khẩu năng lượng đang là nguy cơ đe dọa chúng ta. Ta sẽ thấy ngay hai chuyện kỳ quặc. Thứ nhất, khi hối thúc VN làm ĐHN để tránh nhập khẩu năng lượng thì chính vị khách đó đã bày cho chúng ta cách nhập khẩu năng lượng tệ hại nhất. VN khác với Nhật. Có bao nhiêu bộ phận trong nhà máy ĐHN với hơn bốn tỉ đôla đó là made in Vietnam? Đến bao giờ VN mới tự túc được nhiên liệu, mà có tự túc được thì nhiên liệu cũng chỉ là một thành phần rất nhỏ trong toàn bộ chi phí cho nhà máy ĐHN. Thậm chí đến chuyên gia kỹ thuật, chắc chắn ta cũng phải nhập nốt.     Thứ hai, nguy cơ phải nhập khẩu năng lượng vào năm nọ tháng kia không thể xem là yếu tố quyết định thời điểm phải xuất hiện ĐHN. Đối với một nước như VN, các số liệu cung cầu năng lượng chỉ nên xem như thông tin có tính chất tham khảo trong việc quyết định thời điểm xây dựng nhà máy ĐHN. Yếu tố quyết định là cơ sở hạ tầng về an toàn bao gồm hệ thống luật pháp hạt nhân, đội ngũ chuyên gia và văn hóa quản lý công nghiệp.    Đội ngũ chuyên gia ĐHN đủ khả năng xét duyệt các phương án thiết kế, xây lắp và làm chủ trong vận hành, xử lý các tình huống sự cố (chứ chưa nói đến khâu chế tạo công nghệ) hầu như chúng ta chưa có. Và triển vọng trong thời gian tới cũng không mấy sáng sủa. Làm sao có được chuyên gia về ĐHN đang là bài toán đầy thách thức lại đòi hỏi nhiều thời gian. Hệ thống pháp lý hạt nhân của chúng ta rất yêu kém, thậm chí bị coi thường. Minh chứng là lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt sắp kỷ niệm 20 năm mà vẫn chưa có giấy phép vận hành. Chất phóng xạ do lò sản xuất được sử dụng trong các bệnh viện cũng chưa có giấy phép. Chẳng ai cấm, nhưng cũng chưa có ai ký.     Nguy cơ thật sự ở đâu?  Không ai có lỗi về khoảng cách khá lớn giữa trình độ phát triển hiện nay của chúng ta với các nước đang có ĐHN. Đó là chuyện lịch sử mà những tiến bộ vượt bậc trong mấy năm qua vẫn chưa thu ngắn lại được. Nhưng chúng ta sẽ rất có lỗi nếu chỉ lo quảng cáo cho ĐHN mà không tự nhận biết mình là ai, không nỗ lực bắt tay ngay vào việc đào tạo đội ngũ chuyên gia và xây dựng hệ thống pháp lý.    Chúng ta lại cần có thời gian để thử thách cái hệ thống mà chúng ta sắp dựng nên. Chính trình độ yếu kém về tri thức công nghệ, quản lý công nghiệp và hệ thống pháp lý sẽ là mảnh đất lý tưởng để tham nhũng, hối lộ và nạn làm dối, làm ẩu hoành hành. Mà một khi nhốt chung ba quái vật ấy lại với ĐHN thì đó mới thật sự là mối đe dọa cho đất nước. Chính vì thế mà người dân Philippines thà vứt đi mấy tỉ đôla đóng thuế của họ xuống biển chứ không chịu cho nhà máy ĐHN đã xây xong đến 90% của họ hoạt động. Chia tay với ĐHN, Philippines quyết tâm theo đuổi chính sách lấy năng lượng tái tạo làm nền tảng, đặc biệt sẽ phấn đấu trở thành nước sản xuất địa nhiệt lớn nhất thế giới.     Trở lại bàn tiếp lập luận của vị khách trong vế thứ nhất. Lại cứ tạm chấp nhận là VN sắp phải nhập khẩu năng lượng như vị khách tiên đoán. Thì đã làm sao? Bao nhiêu nước, trong đó có Nhật, đều phải nhập khẩu năng lượng mà vẫn giàu có văn minh. Tài nguyên dồi dào như Trung Quốc mà chỉ riêng ba quí đầu năm 2003 phải nhập khẩu đến hơn 50 tỉ đôla về năng lượng (South China Morning Post, 10-12-2003). Nhưng ai dám đoan chắc với dân chúng rằng sau mười năm nữa VN sẽ phải nhập khẩu năng lượng? Mà lại để cho người nước ngoài nói thay ta rồi tung lên báo chí?     Nhiều người tin rằng tiềm năng về than, dầu mỏ, khí đốt của ta cộng với các giải pháp tiết kiệm năng lượng vẫn còn đủ để chưa cần đến ĐHN ít nhất là trước năm 2030. Lúc đó công nghệ ĐHN trên thế giới đã bước lên một quĩ đạo hoàn toàn mới với các lò phản ứng có đặc điểm an toàn nội tại, rất ít phụ thuộc vào sai sót của nhân viên vận hành. Nhập cuộc vào lúc ấy đâu có muộn. Mà người dân lại khỏi phải mua nỗi lo âu bằng cái giá quá đắt. “Dục tốc bất đạt”, lời khuyên của người xưa thật là chí lý.   PHẠM DUY HIỂN              Ý kiến của bạn?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai con dê, một chiếc cầu      Tự do, Pháp luật và Đạo đức là những thứ rất trừu tượng. Những thứ này đều có vai trò quan trọng trong cuộc sống. Nhưng vai trò của chúng là rất khác nhau.  Xin phân tích điều trên từ một bài tập đọc mà chúng ta ai cũng đều biết. Đó là bài tập đọc vỡ lòng về việc hai con dê cùng qua một chiếc cầu.         Đại loại, hai con dê cùng qua một chiếc cầu- con dê trắng đi từ bên này cầu qua bên kia cầu; con dê đen đi từ bên kia cầu qua bên này cầu. Cả hai con đều tranh nhau đi trước, không con nào chịu nhường con nào. Chúng xô đẩy nhau, nên cả hai cùng lăn tòm xuống suối.  Bài học nói trên là một bài học về đạo lý. Đạo đức dạy rằng nếu hai con dê biết nhường nhịn nhau, thì chúng sẽ không bị rơi vào tình cảnh cả hai cùng lăn tòm xuống suối. Sự thể là như vậy. Tuy nhiên, không phải bao giờ đạo đức cũng là một công cụ hiệu năng. Xin được lấy ngay ví dụ nói trên để phân tích. Nếu cả hai con dê trắng và đen đều có đạo đức như nhau, thì việc qua cầu sẽ không phải dễ: chúng sẽ nhường nhau, mà không con nào chịu qua trước cả. “Em xin mời bác qua trước. Em đâu dám qua trước bác”. “Không, em xin mời bác qua trước. Em nhất định không chịu qua trước bác đâu”.  Cái mà chúng ta có thể nhận thấy ngay là đạo đức có thể gây ra sự tốn kém về thời gian. Thời gian mất đi, nhưng vấn đề vẫn còn đó. Việc hai con dê cùng qua một chiếc cầu thì nên như thế nào vẫn không được làm rõ. Đó là chưa nói tới trường hợp, nếu trong hai con dê có một con đạo đức yếu kém hơn, thì con này bao giờ cũng sẽ qua cầu trước. Đạo đức vì vậy không nên bị lạm dụng.  Pháp luật mới có thể giải quyết được vấn đề một cách cơ bản hơn. Tuy nhiên, pháp luật cũng không nên bị lạm dụng. Bởi vì việc lạm dụng sẽ ảnh hưởng đến tự do. Trong lúc đó, tự do mới là một giá trị tự thân và mới là một giá trị tuyệt đối. Những con người tự do cần có pháp luật là để tránh được sự xung đột với nhau. Mọi việc lạm dụng vượt qua sự cần thiết nói trên đều chứa đựng rủi ro biến pháp luật trở thành xiềng xích.  Xin trở lại với ví dụ về hai con dê và một chiếc cầu để phân tích. Nếu hai con dê chỉ đi mỗi con bên một bờ sông khác nhau, thì rõ ràng pháp luật là không cần thiết. Trong trường hợp này thì tự do muôn năm!  Trong trường hợp hai con dê cùng phải qua cầu, nhưng chiếc cầu đủ rộng, thì sự can thiệp của pháp luật chỉ nên là mỗi con dê phải đi bên tay phải (hoặc bên tay trái) của mình. Mọi sự can thiệp quá mức như vậy đều không hợp lý và không cần thiết. Vì nó có thể gây ra tốn kém không đáng có cho cả việc tuân thủ và cho cả việc áp đặt thi hành.  Trong trường hợp, chiếc cầu chỉ đủ cho mỗi một con qua, thì quy định của pháp luật chỉ nên là: con dê nào bước chân lên cầu trước thì có quyền qua trước. Điều này là rất sáng tỏ. Tuy nhiên, nếu hai con dê cùng bước chân lên cầu một lúc thì sao? (Chuyện này là rất ít khi xảy ra. Nhưng về mặt lý thuyết, nó hoàn toàn có thể xảy ra). Ở đây, chúng ta sẽ có hai cách tiếp cận pháp lý khác nhau.  Cách tiếp cận thứ nhất, lần đầu tiên con đê đen qua trước; lần thứ hai con trắng qua (hoặc ngược lại). Và cứ như thế thay phiên nhau mà qua cầu.  Cách tiếp cận thứ hai, bắt thăm (hoặc oẳn tù tỳ) con nào thắng thì con ấy qua trước.   Trong hai cách tiếp cận này, cách tiếp cận thứ nhất có vẻ đạt được công bằng ở mức cao hơn, nhưng gây ra tốn kém nhiều hơn. Bởi vì rằng không có hệ thống thống kê và ghi nhận các lần hai chú dê qua cầu sẽ rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi chú và rất khó giải quyết được tranh chấp.  Cách tiếp cận thứ hai đạt công bằng ở mức thấp hơn, nhưng đạt hiệu quả kinh tế ở mức cao hơn. Việc rút thăm (hoặc oẳn tù tỳ) là rất dễ dàng và chẳng gây tốn kém gì đáng kể.   Làm luật thì nên chọn được giải pháp dễ dàng thực hiện nhất và ít tốn kém nhất. Chính điều này sẽ dẫn chúng ta đến một cuộc sống thanh bình và thịnh vượng hơn.        Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai lần gặp GS Nguyễn Văn Chiển      Lần đầu ti&#234;n t&#244;i vinh dự được c&#249;ng ngồi uống c&#224; ph&#234; buổi s&#225;ng với GS. Nguyễn Văn Chiển- người thầy của ng&#224;nh địa chất VN tại kh&#225;ch sạn H&#224; Nội. H&#244;m đ&#243;, cũng l&#224; lần đầu ti&#234;n t&#244;i được tiếp kiến hai người nữa t&#244;i từng biết t&#234;n nhưng chưa c&#243; vinh dự gặp. Người thứ hai l&#224; b&#225;c Nguyễn Trung- nguy&#234;n cố vấn cao cấp của Thủ tướng, người thứ ba l&#224; GS TS Phạm Duy Hiển. Những người c&#242;n lại (nh&#224; văn Nguy&#234;n Ngọc, GS. Khoa, TS. Hưng, TS. Thuận, anh T&#250;, chị L&#224;nh, anh Cương v.v.) t&#244;i đ&#227; gặp từ trước tại cuộc hội thảo ở Đắk N&#244;ng. Buổi s&#225;ng đ&#243;, ch&#250;ng t&#244;i vừa uống c&#224; ph&#234;, vừa b&#224;n về bản dự thảo của một kiến nghị tập thể ch&#250;ng t&#244;i dự kiến sẽ gửi cho l&#227;nh đạo Đảng, Quốc hội v&#224; Ch&#237;nh Phủ về dự &#225;n bauxite tr&#234;n T&#226;y Nguy&#234;n.    Tôi biết bác Chiển đã từng phụ trách một chương trình quốc gia rất quan trọng về Tây Nguyên, đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh v.v. Tôi thầm nghĩ, bác Chiển và bác Nguyên Ngọc đều là những bậc thầy của tôi về Tây Nguyên. Khi nói về các học trò cũ, tôi thấy gương mặt gần 90 tuổi của bác Chiển cứ như trẻ lại. Giọng bác mạch lạc, truyền cảm. Nhưng khi nhắc đến bauxite trên Tây Nguyên, tôi thấy bác Chiển hơi lắc đầu, và giọng trùng xuống. Bác nói: “Nếu không cẩn thận thì hỏng hết, con cháu sẽ phán xét chúng ta. Động đến Tây Nguyên không phải trò đùa”, rồi Bác xót xa đặt câu hỏi:  “Tại sao người ta cứ thích đào bauxite lên để bán? Việt Nam làm gì có đủ điện để làm ra nhôm”. Tôi chợt nghĩ, nếu Luật sư quá cố Nguyễn Mạnh Tường nghe thấy những lời tâm sự của người học trò cưng này của mình chắc cũng yên lòng.  Lần thứ hai, đầu tháng 11/2008 tôi gặp bác Chiển tại nhà hàng trên bán đảo của hồ Thuyền Quang. Cuộc gặp mặt nhân dịp mừng thọ bác Chiển 90 tuổi do Viện COD đề xuất. Ngoài các thành phần cuộc gặp lần trước, lần này còn có nhiều người khác. Tôi nhớ, hôm đó bác Chiển ngồi trên nghế vì bác không thể giống như tất cả chúng tôi, những người còn lại, cùng ngồi bệt xuống sàn. Chúng tôi thận trọng thông qua lại lần cuối cùng từng câu chữ của Bản kiến nghị gửi các đ/c lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, Quốc hội và Chính Phủ về bauxite Tây Nguyên. Bác Chiển góp rất nhiều ý và là người ký đầu tiên. Tất cả có 17 chữ ký. Sau đó, chúng tôi cùng dùng bữa cơm mừng thọ bác Chiển. Bữa đó, bác Chiển vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ, nhắc lại những kỷ niệm, hỏi thăm những người học trò cũ. Tôi thấy Bác mãn nguyện lắm. Chia tay chúng tôi, bác Chiển không quên nhắc anh Tú “Gửi càng sớm càng tốt”.  Lần thứ ba, tôi đã mừng hy vọng lại được gặp bác Chiển. Đó là dịp Văn phòng TW Đảng mời bác Chiển đến dự Toạ đàm về bauxite. Tôi đã báo cho anh Minh địa chỉ của bác Chiển trong khu Bách khoa để chuyển thư mời. Nhưng, hình như bác mệt, không dự được.  Gần đây, nhận được tin bác qua đời, chúng tôi rất thương tiếc, nhưng cũng thấy an ủi phần nào vì đã có dịp cùng mừng thọ bác lần cuối cùng và Bản kiến nghị có chữ ký của bác Chiển sau khi gửi đã có hồi âm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai nhiệm vụ quan trọng sống còn của đất nước      Trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng mà Dự thảo Cương lĩnh, và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 của Đại hội Đảng XI đã đề ra, theo tôi có hai nhiệm vụ có tính sống còn của đất nước hiện nay là chống tham nhũng và thực hiện nhiệm vụ khoa học và giáo dục theo Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII.      Tham nhũng đã trở thành quốc nạn và là một trong những nỗi niềm trăn trở của bất cứ ai có tấm lòng với đất nước. Nhiều nhà lãnh đạo qua các thời kỳ đã khẳng định sẽ quyết liệt chống tham nhũng, nhiều tổ chức được hình thành, nhiều giải pháp đã được đưa ra nhưng cho đến nay chúng ta vẫn thuộc top những nước tham nhũng nhất thế giới. Trong bối cảnh đất nước còn nghèo, tham nhũng nặng, lại muốn tăng trưởng nhanh, bảo đảm an sinh tối thiểu cho người dân đã trải qua nhiều gian khổ hy sinh trong mấy chục năm qua thì chỉ còn cách duy nhất là khai thác tối đa tài nguyên xuất khẩu, vay nợ và thu hút đầu tư nước ngoài. Đầu tư nhiều chương trình, dự án tràn lan, không kể gì đến những tác hại về môi trường, về công nghệ lạc hậu. Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nền kinh tế phát triển theo bề rộng, hiệu quả thấp, thiếu tính bền vững, đạo đức của không ít cán bộ đảng viên bị tha hóa, hiệu lực của bộ máy công quyền trong quản lý kinh tế, xã hội kém, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng… dẫn đến những bất an, lòng tin đối với Đảng bị giảm sút.  Nhìn quanh ta thấy Indonesia, Philippines cũng đã có một thời kỳ phát triển khá ấn tượng nhưng vì tham nhũng nên kinh tế xã hội tụt dần, cả chục năm nay vẫn chưa vực dậy được. Trái lại, Singapore, HongKong, Hàn Quốc đã có những phát triển vượt bậc do bộ máy công quyền ít bị níu kéo bởi tham nhũng.  Vì vậy hơn lúc nào hết chúng ta cần xem xét cơ chế quản lý, kinh tế xã hội để phát hiện loại trừ những khuyết tật của hệ thống, mà trước hết là giải tỏa các nghịch lý lương/thu nhập- mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng phát triển. Phải coi chống tham nhũng là trọng tâm số 1 của Đảng trong nhiệm kỳ tới.   Khoa học và giáo dục (KH&GD) ở thời đại ngày nay mà lạc hậu thì đừng nói đến chuyện cạnh tranh với các nước, thậm chí chưa chắc đã tồn tại ở mức tối thiểu. Với nhận thức như vậy, NQTW2 khóa VIII đã nói rất kỹ về các chủ trương và giải pháp để phát triển KH&GD, sau đó nhiều kỳ họp TW cũng nhấn mạnh những việc này. Cuối nhiệm kỳ của Chính phủ vừa qua, Thủ tướng Phan Văn Khải đã công khai thừa nhận chúng ta đã chưa thành công về KH&GD. Chính vì thế trong Nghị quyết của Đại hội X đã ghi rõ phải cải cách giáo dục và ở các Hội nghị TƯ 3, 7, 9 cũng đòi hỏi phải tiến hành cải cách giáo dục. Nhưng những người có trách nhiệm trực tiếp quản lý giáo dục chỉ triển khai xây dựng chiến lược phát triển giáo dục với những mục tiêu mà công luận cho rằng thiếu tính khả thi như đào tạo 20.000 tiến sĩ, xây dựng 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế…; đề án đổi mới quản lý chương trình đào tạo với những quan niệm, tư duy giáo dục xa lạ với nền giáo dục hiện đại. Do vậy cho đến nay chúng ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủng khoảng triền miên của giáo dục hơn hai mươi năm qua như ý kiến của nhiều nhà KH, GD có tâm huyết, uy tín.  Gần đây, tại buổi lễ chúc mừng GS Ngô Bảo Châu được giải Fields, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh đến việc cần cải cách giáo dục- coi đó là khâu đột phá để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trong bài viết trên Tia Sáng và Tuổi trẻ cũng cho rằng trước thực trạng yếu kém, lạc hậu của cả nền giáo dục quốc gia mà rộng hơn nữa là bất cập về dân trí, nhân lực, nhân tài trước yêu cầu phát triển của đất nước, Nghị quyết của Đại hội Đảng XI cần đề ra nhiệm vụ cải cách giáo dục.   Có thể khẳng định, nếu chống được tham nhũng thì có được bộ máy lãnh đạo trong sạch, một hệ thống chính trị vững mạnh, từ đó sẽ có một xã hội tốt đẹp. Nếu thực hiện nghiêm chỉnh và có khoa học, các Nghị quyết của TƯ về KH&GD, đặc biệt là về giáo dục đất nước sẽ có năng lực cạnh tranh với thế giới. Và khi đó chúng ta mới có thể đạt tới mục tiêu Cương lĩnh của Đại hội Đảng XI và cũng là mục tiêu tối thượng của Đảng: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh”.   Lược ghi phát biểu của GS Hoàng Tụy tại cuộc Hội thảo góp ý với Dự thảo Cương lĩnh và Chiến lược phát triển KT-XH của Đại hội Đảng XI do Liên hiệp các Hội KH&KT VN tổ chức    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hải quân và các tác vụ phi chiến đấu      Các quốc gia duy trì sự hiện diện và  sức mạnh trên biển bằng hoạt động quốc phòng, kinh tế, thương  mại, khoa học, du lịch… Ngoài khả năng và quan tâm về tác  chiến trên biển, quốc gia có hải quân còn có thể phát triển  những khả năng phi tác chiến1 như cứu hộ cứu nạn thiên tai hay  tai họa từ con người gây ra, ngăn trừ cướp biển, vô hiệu hóa  khủng bố, chống buôn ma túy, buôn người, chống hủy hoại môi  trường và nâng cao nhận thức không gian hải dương2.     Lợi ích khai thác tuyến giao thông biển còn có trợ giúp nhân đạo, giảm sức tàn phá của thiên tai, xác định địa bàn hoạt động của hải quân, xây dựng niềm tin giữa các quốc gia, bảo vệ hòa bình và thủ thắng khi có chiến tranh.     Bão Haiyan tàn phá khủng khiếp đất nước Philippines với gió giật ở tốc độ 275km/h, sóng cao 15m khiến nhiều làng mạc thị trấn hoang tàn, khiến hơn 10 ngàn người chết, gần 700 ngàn người phải rời chỗ ở. Cơn bão tai ác không thua kém chiến tranh này đã làm dậy lên mối quan tâm của cả thế giới. Hải quân các nước Anh, Mỹ với độ cơ động cao đang có những nỗ lực phi chiến đấu để cứu trợ thiên tai tại Philippines. Nhiều nước gởi tiền và phương tiện cứu hộ đến giúp đỡ Philippines. Từ các nỗ lực cứu trợ này của thế giới và hải quân các nước, chúng tôi xin giới thiệu các công tác phi quân sự của những đội ngũ sống và làm việc trên biển và các đại dương.   Các vấn đề an ninh trên biển   Phó Đô đốc hải quân Hoàng gia Hà Lan J.W.Keller nhận xét: “Các hiểm họa an ninh trên biển như hải tặc, buôn ma túy, võ khí, võ khí hủy diệt, di cư bất hợp pháp cũng như các vùng tiềm tàng xung đột là rộng khắp và khó đoán định”.   Chuẩn Đô đốc Hải quân Hoàng gia Na Uy Jan Eirik Finseth cũng bàn về những mối nguy này: “Các hoạt động bất hợp pháp như hải tặc, buôn lậu và khủng bố sẽ không giới hạn ở một vùng biển, lục địa hay quốc gia nào cả. Chúng cũng không khác gì thiên tai hay thảm họa môi trường.”   Đô đốc Sebastian Zaragoza Soto của Tây Ban Nha khẳng định, “An ninh trên biển là một vấn đề chính trị tổng thể chứ không chỉ là việc của hải quân. Chống tội phạm trên biển đã ra ngoài phạm vi giải quyết đơn thuần của giới quân sự.”   Lãnh đạo các nước trên thế giới cũng thống nhất cần phải có một sự hợp tác sâu rộng đối với các vấn đề trên biển. Phó Đô đốc Russels E. Shalders thuộc Hải quân Hoàng gia Úc kêu gọi một cuộc tiếp cận toàn diện cấp chính phủ đối với các vấn đề an ninh biển và rằng đây có lẽ là cơ hội và thách thức quan trọng nhất. Hải quân các nước có thể đã chia sẻ thông tin và năng lực, song các cơ quan thương mại và hành chính khác cũng có tầm quan trọng không kém.  Chuẩn đô đốc Hải quân Anh John Richard Hill còn cụ thể hơn3 khi cho rằng các nước lớn không phải chịu thách thức về lãnh thổ, các nước nhỏ thì nhờ cậy các nước lớn để bảo đảm an ninh biển. Còn lại các nước tầm trung cần đủ mạnh để bảo đảm an toàn, an ninh biển, cũng chính là an ninh cho các lợi ích quan trọng trên đất liền.   Cướp biển là tội ác phổ biến trên các vùng biển và được ghi trong các điều 100-107 của UNCLOS. Các hoạt động bạo lực trên biển diễn ra tại các vùng thuộc sự cai quản của quốc gia duyên hải chỉ được gọi là cướp tàu có võ trang4, và trách nhiệm xử lý thuộc về nước cai quản vùng biển đó. ReCAAP tức Hiệp định hợp tác chống cướp biển và cướp tàu có võ trang5 là một công cụ hiệu quả cho các nước ASEAN, Nhật, Trung, Hàn, Ấn, Bangladesh, Sri Lanka và có hiệu lực từ tháng 9/2006 dù Indonesia và Malaysia vẫn chưa là thành viên. Theo Cơ quan hàng hải quốc tế – IBM6 thì các vụ cướp và tấn công tàu có võ trang toàn cầu trong 2005 là 276 trường hợp, giảm 53 lần (16.1%) so với 2004 (329 lần). Trong đó Đông Nam Á tập trung nhiều và chiếm 122 lượt (44.2%) và Somalia tăng mạnh từ 2 vụ (2004) lên 35 vụ (2005). Khu vực quanh lục địa Ấn Độ cũng có số vụ cướp có võ trang cao (36 vào 2005 và 32 vào năm 2004). Có những vụ chỉ là trấn lột dọc mạn tàu hay khi tàu thả neo và có những vụ là cướp tàu hay bắt thủy thủ đoàn đòi tiền chuộc. Các tàu dầu hay container ít khi bị tấn công trừ những khi giảm tốc hay dừng hẳn.   Khủng bố trên biển là một vấn đề càng gần đây càng nghiêm trọng. Tiếp theo những vụ cướp tàu khách Achille Lauro và một nhóm khủng bố Palestine giết một người Mỹ năm 1985, vào năm 1988, Công ước về trấn áp các hành vi vi phạm an toàn hàng hải ra đời. Công ước này rút ngắn khoảng cách giữa hệ thống pháp luật và trật tự trên biển bởi những hạn chế về các định nghĩa “thế nào là cướp biển”. Cuộc đánh đắm tàu Superferry 4 vào tháng 2/2004 gần Manila khiến 116 người thiệt mạng, cuộc tấn công tàu Our Lady Mediatrix giết chết 40 người, và hàng loạt các cuộc tấn công tàu khác như USS Cole (2000), Limburg (2004) cũng như các hoạt động khác của các nhóm Abu Sayyaf, Al Qaeda đã làm gia tăng lo ngại các nhóm khủng bố tìm kiếm các con tin ngoài biển thay vì trên đất liền. Sự liên kết hay chỉ thuần là kết hợp của các nhóm khủng bố như Abu Sayyaf, Al Qaeda… có cùng mục tiêu gây tiếng vang, trao đổi võ khí hay kinh nghiệm tác chiến với các đối tượng tàu hàng, tàu khách, tàu dầu cũng là những vấn đề phải giải quyết. Bạo hành trên biển cũng là một hoạt động ngăn trở thương mại tác hại đến toàn thể cộng đồng thế giới.   Hầu hết các cuộc vận chuyển ma túy là thông qua đường biển. Tại các vùng Caribe, Tam giác vàng (Myanmar, Thái Lan, Lào), Lưỡi liềm vàng (Afghanistan, Pakistan, Iran), các loại amphetamine như sabu và “đá” và cả các loại hóa chất phục vụ cho sản xuất ma túy đều có thể đi về ngang dọc trên các vùng biển này. Công ước Liên hiệp quốc (LHQ) về ngăn chận Vận chuyển ma túy và các loại thuốc liên quan tâm thần (1988 Vienna Convention)7 là công ước đặc biệt chú trọng xử lý việc chở ma túy trên biển. Ngoài ra, điều 108 UNCLOS cung cấp cơ sở hợp tác cho các nước trong công việc chống vận chuyển ma túy trên các vùng biển.  Mua bán người có khuynh hướng gia tăng trong thời gian gần đây và thường liên quan đến mua bán vũ khí, ma túy và mại dâm. Đã có hơn 5.000 người di cư lậu đã chết trên biển trong năm 2011 chỉ riêng ở vùng biển Caribe chưa kể các khu vực nóng khác như Bắc Úc, eo Malacca, Đông Bắc Á và hai bờ Đông Tây của Hoa Kỳ.   Những làn sóng dân tị nạn gần đây sang các nước phát triển8 cũng là một vấn nạn trên biển về các hình thức buôn bán người trá hình. Công ước LHQ nhằm ngăn trừ tội phạm xuyên quốc gia9 được Đại hội đồng LHQ thông qua vào tháng 11/2000 nhấn mạnh nỗ lực giải trừ việc buôn bán con người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em.  Nhiều quốc gia đã có các nỗ lực pháp lý chống lại việc đánh cá bất hợp pháp tại chính vùng biển họ cai quản và cả vùng biển quốc tế. Năm 1995, LHQ đã thông qua Thỏa thuận về thực hiện các điều khoản của UNCLOS 1982 liên quan bảo tồn và quản lý ngư nghiệp và nguồn cá có khuynh hướng thiên di cao10. Những thỏa thuận này có đề cập đến các quy tắc cho ngư dân đánh bắt cả ở Tây và trung tâm Thái Bình Dương. Theo đó, các nước cần tuân theo các quy định về đánh cá không tận diệt và bảo đảm bảo tồn các nguồn cá. Nguồn cá chung của thế giới ngày càng cạn kiệt, các nước đã có những đội kiểm tra ngư nghiệp bài bản như Đoàn bảo vệ ngư nghiệp11 thuộc Hải quân Hoàng gia Anh – tham gia vào hoạt động giám sát ngư nghiệp của không chỉ Anh quốc mà còn của các nước khác hoạt động đánh bắt cá trên vùng biển Anh.   Các lực lượng tuần duyên triển khai mỏng cùng với ý thức môi sinh kém dẫn đến nhiều vụ phá hoại môi trường như đổ nước thải, dầu thải ra biển. Ngoài Công ước về can thiệp và Công ước London,12 Công ước Marpol 73/7813, có các quy định cho tàu mang cờ các quốc gia ký kết được quyền hành xử tương thích ở những lúc những nơi nhất định. Quốc gia cận bờ có quyền lục soát các tàu thuyền mang cờ các quốc gia trong công ước để ngăn ngừa các hành động phá hoại môi trường như kiểm tra giấy chứng nhận và cả đình chỉ hành trình nếu thiếu các chứng từ phù hợp. Ngược lại các tàu mang cờ quốc gia tham gia công ước có thể cùng phối hợp trong các chiến dịch điều tra vi phạm môi trường như xả chất thải, phá san hô. Các tàu này có quyền và nghĩa vụ vượt ra ngoài biên giới quốc gia trong việc bảo vệ môi sinh môi trường biển cả.  Sau sự kiện 11/9, không chỉ Mỹ mà nhiều quốc gia khác đã tìm hiểu hơn nữa về những hướng tiếp cận an ninh của mình từ phía biển. Nhận thức không gian hải dương14 cũng có khi được biết dưới tên ý thức cảnh huống15 là điều khiến các nước quan tâm nhiều hơn đến những tác động từ biển đến. An ninh trên các vùng biển, do vậy, được quan tâm nhiều hơn. Các kế hoạch tăng hiệu năng các tiện ích tìm kiếm và xác định tầm xa16 đã được đề ra và thực hiện. Nhiều nước như Mỹ và Úc đã có các biện pháp nhằm xác định rõ các loại phương tiện kể cả khi chưa tiến vào vùng biển của họ. Một số kế hoạch gắn liền với nhận thức không gian hải dương là Hệ thống thông tin hàng hải Úc (AMIS)17 do Tư lệnh biên phòng (BPC)18 phát triển và có khả năng theo dõi mọi loại tàu bè trong vòng EEZ của Úc. BPC là một cơ quan liên hợp gồm Bộ quốc phòng (ADF)19, Hải quan Úc (ACS)20 và các cơ quan khác.     Các tác vụ phi chiến đấu của hải quân  Lực lượng hải quân các nước trên thế giới, ngoài trách nhiệm bảo vệ vùng mặt biển, đáy biển, vùng trời, vùng lục địa và không gian điện tử21 cho đất nước của mình cũng có thể đối mặt các vấn đề vừa nêu. Các tác vụ phi chiến đấu mang nhiều ý nghĩa khác biệt và hệ quả đa dạng.  Hải quân có thể được điều động trong các công tác cứu trợ nhân đạo, trong các sứ mệnh cung cấp tiện ích xã hội, y tế hay chuyên môn cho các cộng đồng bị nạn hay gặp tình cảnh khó khăn. Trong năm 2006, tàu bệnh viện USNS Mercy đã cung cấp dịch vụ y tế và huấn luyện miễn phí đến các nước Indonesia, Bangladesh, Đông Timor và Philippines.  Các lực lượng hải quân Anh, Mỹ hiện đang tăng tốc để cứu trợ cho Philippines sau cơn bão Haiyan (11/2013) cũng chính là phát huy khả năng, sức người sức của của nhân loại trong tai nạn quá lớn này22.   Trong năm 2006, tàu USS Emory S. Land đã mở một chiến dịch ngoại giao sức mạnh mềm đối với các nước Vịnh Guinea nhằm huấn luyện hải quân, thực hiện các dự án quan hệ cộng đồng, sửa chữa tàu và khảo sát thủy văn. Tàu USS Peleliu cũng lên kế hoạch cứu trợ nhân đạo và thực hiện các sứ mạng dân sự tại Đông Á và Thái Bình Dương trong 2007. Nhằm hạ thấp chi phí vận hành, các tàu dân sự cũng đã được huy động để song hành với các tàu quân sự của các nước trong dịch vụ cứu trợ nhân đạo.  Hình ảnh của Ấn Độ đã được nâng cao đáng kể vào 2007 khi Hải quân Ấn gần như ngay lập tức vận chuyển 5.000 tấn gạo đến cứu trợ Bangladesh bị tàn phá bởi cơn bão Sidr. Tương tự, Hải quân Ấn độ đã huy động tức khắc những loạt hàng viện trợ, cứu trợ khẩn cấp đến Myanmar khi nước này bị cơn bão Nagris tàn phá tháng 5 năm 2008.   Những biến cố như bão lớn, sóng thần, sự cố hỏa hoạn, bạo động, nổ nhà máy hạt nhân thường dẫn theo các hệ quả hư hỏng, ách tắc của phi trường, bến cảng, trục lộ, giao thông, viễn thông và làm đình trệ các dịch vụ y tế, sinh hoạt của dân thường. Khi đó Hải quân với độ cơ động cao sẽ là nhân tố cứu trợ tích cực nhất và ít bị phụ thuộc vào các bế tắc như nêu trên. Họ sẽ là những người đến cứu giúp đồng loại đầu tiên.  Sứ mạng tìm kiếm và cứu nạn23 của hải quân-không quân bao trùm không chỉ ở biển mà còn có thể trải rộng ra lục địa, vùng núi, vùng băng, vùng sa mạc, đầm lầy hay nơi có thiên tai, động đất, núi lửa, sụp hầm mỏ … Lực lượng tìm kiếm và cứu nạn tinh nhuệ của các nước có thể phục vụ các đoàn khoa học nghiên cứu ở các vùng khí hậu khắc nghiệt, cứu nạn du lịch, thể thao… dành cho các nạn nhân, bệnh nhân… goài việc làm chủ các công cụ như trực thăng, tàu phá băng, chó nghiệp vụ, lực lượng hải quân còn phải nắm vũng các kiến thức về địa lý, địa hình và quan trắc thời tiết.   Điều này đã diễn ra tại Aceh sau cơn sóng thần tai ác 26/12/2004, hoặc sau cơn bão Katrina ở New Orleans 2005. Đi kèm sự cứu hộ, cứu nạn, lực lượng hải quân còn có khả năng cung cấp cả dịch vụ y tế, thực phẩm nhanh và cả lều bạt tạm thời cho cả nạn nhân và đội ngũ thiện nguyện viên bất chợt tập trung về địa điểm có tai nạn. Hải quân còn có thể giám sát, ngăn chặn và can thiệp vào các hoạt động phá hoại của con người. Các cuộc diễn tập hải quân giữa Mỹ và các nước Thái Bình Dương24 còn đề cao việc bảo vệ môi trường khi sử dụng nhiên liệu sinh học, giải phóng phong tỏa biển cho các bên tham gia diễn tập.   Ngoài công tác cứu nạn, sự hiện diện của hải quân trên biển cũng chính là thể hiện sức mạnh mềm một cách uyển chuyển, độc lập, mạnh mẽ của một đất nước có quyền lợi và nghĩa vụ với tài nguyên chung của nhân loại. Sự có mặt ấy góp phần giúp đỡ các nạn nhân yếu thế của thiên tai, nhân họa và ngăn ngừa các tác nhân trục lợi mặt biển như cướp biển, buôn ma túy, buôn người và tác động tích cực đến tình hình địa chính trị của khu vực – khiến cho các tác nhân gây biến cố phải cân nhắc. Ít nhất là chúng phải cân nhắc về khả năng tác động hình ảnh và phản ứng của dư luận thế giới.  Chính với các hiện diện tích cực này mà các nước có thể tối đa hóa lợi ích kinh tế của mình thông qua khai thác địa thế biển, khai thông giao thông sông biển, duy trì chất lượng cảng, bảo đảm nguồn nguyên nhiên liệu nhập khẩu cho thị trường và thương mại nói chung.   Với tính cơ động cao, hải quân một nước có các phương cách xây dựng an ninh và củng cố lòng tin – MCSBM25– hữu hiệu với hải quân và nhân dân các nước khác. Các hoạt động này sẽ giảm thiểu căng thẳng xung đột do hiểu nhầm và đánh giá nhầm sức mạnh quân sự. MCSBM có nhiều hình thức từ song phương, đa phương đến toàn cầu. MCSBM mang tính biểu tượng chính trị cao và là tác nhân đối ngoại không chỉ về mặt quân sự mà còn về văn hóa, xã hội, thể thao cho diện mạo quốc gia trong thời bình.  Hợp tác hải quân các nước sẽ trải dài từ mức độ thấp như tàu thăm viếng cảng, người thăm viếng tàu, trao đổi nhân lực, đối thoại hải quân – hải quân, hội nghị nhiều bên đến mức độ cao hơn như chia sẻ thông tin, phát triển lý thuyết quốc phòng, chia sẻ các chuẩn tắc vận hành26 cho các cuộc thao dượt song phương và đa phương; tránh va chạm27; chống cướp biển; duy trì hòa bình; hợp tác dự báo thời tiết; bảo vệ các tuyến thông thương biển28; và chống phong tỏa.  Cuộc thao dượt Carat của Mỹ và các nước ASEAN đều có các tác vụ huấn luyện biển bờ, lặn cứu hộ, lên tàu trong điều kiện thời tiết xấu, thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu hộ, chữa lửa và kiểm soát sự biến, cấp cứu y tế và phối hợp trực thăng vận biển bờ.   Còn ở các cuộc thao dượt Malabar (Mỹ, Ấn, Nhật, Úc và Singapore) ngoài những bài tập tác chiến còn có các nội dung khác như chống khủng bố, lặn cứu nạn, hậu cần tiếp liệu, giải cứu tàu mắc cạn, tiêu trừ chất độc trên biển, trên không, cứu trợ thiên tai, thiết lập hệ thống bệnh viện dã chiến…  Diễn đàn Các lực lượng biển – ISS29– do hải quân Mỹ tổ chức thường niên quy tụ nhiều lãnh đạo hải quân các nước đến tham gia và thúc đẩy các cuộc hợp tác giữa hải quân các nước, trong đó diễn đàn Hải quân Tây Thái Bình Dương -WPNS30– mà Việt Nam tham gia là nơi hội tụ lãnh đạo lực lượng hải quân các nước Thái Bình Dương. Những năm gần đây các hoạt động phi tác chiến như diễn tập cứu nạn biển, rà phá mìn và bảo vệ môi trường đã trở nên thường xuyên hơn. Sáng kiến hợp tác hải quân 1.000 tàu –TSN31– của Mỹ dựa một phần trên các nguyên tắc hợp tác này.  Về phương diện giữ gìn hòa bình, trong 20 năm qua, lực lượng hải quân các nước đã tiến hành nhiều tác vụ tại vùng Vịnh Somalia a và khu vực Balkan, Campuchia và Đông Timor. Các hoạt động hỗ trợ hòa bình32 bao gồm:  •  Các hoạt động giữ gìn hòa bình tuân thủ Chương 6 của Hiến chương LHQ và các lực lượng quốc tế hoạt động với sự ủy nhiệm của các bên đang trong tranh chấp. Hải quân các nước đươc sử dụng đề tuần tra bờ biển cửa sông, bến cảng nhằm mục đích giám sát ngừng bắn.  •  Các hoạt động thực thị hòa bình tuân thủ Chương 7 của Hiến chương LHQ, nơi đó các bên tranh chấp có thể chưa đồng ý về sự can dự của quốc tế và khi đó các hoạt động cưỡng chế có thể sẽ cần thiết để vãn hồi hòa bình33.   •  Hoạt động xây dựng hòa bình nhằm giúp đỡ tái thiết một quốc gia hay một khu vực chịu dư chấn của một cuộc chiến tranh. Các công tác quan trọng sẽ phá hủy bom mình, thủy lôi, mở các hải cảng, phi trường và trục vớt, cứu hộ…  Kết luận  Với các tai họa từ thiên nhiên và với các tác nhân ảnh hưởng đến an ninh chung của con người, hải quân các nước sẽ nâng cao năng lực đánh giá thiên tai, địa chính trị không kém tác động dân sự của các tuyến thông thương biển, cả khả năng liên quan sông, bờ biển, và biển, phối hợp không lực, nâng cao khả năng tìm kiếm cứu hộ, hiểu biết địa hình, logistics và vận dụng, tận dụng tốt các cuộc huấn luyện phi tác chiến.  Trong phát triển kinh tế và thương mại, các năng lực và tài nguyên trên cũng phải được chia sẻ cho lợi ích dân sự của quốc gia. Sự phối hợp chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, công nghệ thông tin, tình báo, tuần thám và trinh sát34 luôn cần thiết để sử dụng và phát huy không chỉ trong các tác vụ phi chiến đấu mà còn rộng ra các mặt dân sự khác và tác chiến quốc phòng.   Một trong những nhiệm vụ của hải quân là bảo vệ người dân sử dụng biển một cách an toàn, an ninh, toàn vẹn và hữu hiệu. Từ trọng tâm bảo vệ đất biển trời và không gian điện tử cụ thể cho lợi ích công dân nước mình, hải quân của một nước có thể phát huy sức mạnh ngoài sức mạnh quân sự. Khi đó, hải quân còn có thể mang sứ mạng của những nhà ngoại giao khi tham gia tích cực vào các hoạt động phi tác chiến như nêu trên.   Các đội hải quân Bắc Hải và Hoàng Sa của Việt Nam từ mấy thế kỷ trước cũng đã thực hiện các tác vụ phi chiến đấu qua nhiều công việc cứu nạn tàu thuyền cho con người, khai thác tài nguyên trên các vùng quần đảo từ Hoàng Sa, Trường Sa cho đến các vùng biển đảo khác. Họ đã để lại nhiều công tích về mở mang bờ cõi, khẳng định chủ quyền đất-biển cho con cháu Việt Nam mãi về sau.   Trong tình hình ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc quấy phá, ức hiếp và ngăn cản đánh cá trên những vùng biển truyền thống và hợp pháp, hoạt động của các lực lượng trên biển của Việt Nam nhằm bảo vệ họ là cần thiết.   Tham khảo:  – Tài liệu hội thảo biển Đông, Sheraton, tháng 11/2012   – Michael K.Connors, Remy Davison, Jorn Dosch, The new global politics of Asia Pacific, Second edition, Routledge 2012  – Andrew TH Tan, The politics of Maritime Power, Rouledge, 2011   – Geoffrey Till and Patrick C. Bratton, Sea Powers and the Asia Pacific, Routledge, 2012  – Vijay Sakhuja- Asian Maritime Power in the 21 st Century- Institute of South Esat Asian Studies- 2011  —  * Quỹ Nghiên cứu biển Đông  1 MOOTW: Military operations other than war  2 MDA : Maritime domain awareness  3 Maritime Strategy for Medium Power, 1986  4 Armed robbery against ship  5 ReCAAP: The Regional Cooperation Agreement against Piracy and Armed Robbery Against Ships  6  International Maritime Bureau  7 The 1988 UN Convention against Illicit Traffic in narcotic Drugs and Psychotropic Substances  8 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/new-boat-pp-aus-06252013114210.html  9 UN Convention against Transnational Organized Crime  10 Conservation and management of straddling fish stocks and highly migratory fish stocks  11 Fisheries protection squadron of the Royal Navy  12 Intervention Convention, London Convention  13 International Convention for the Prevention of Pollution From Ships, 1973 as modified by the Protocol of 1978. (“Marpol” là viết tắt của marine pollution và 73/78 là cho hai năm 1973 và 1978)  14 Maritime domain awareness  15 Situational awareness  16 Long range identification and tracking  17 Australian Maritime Information System  18 Border Protection Command  19 Australian Defence Force  20 Australian Customs Service  21 Tạm dịch từ cyberspace  22 http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-24895620  23 Search and rescue: tìm kiếm và cứu nạn  24 RIMPAC  25 Maritime Confidence- and Security-Building Measures  26 Standard Operating Procedures  27 incident at sea  28 sea lines of communications  29 International Seapower Symposium  30 Western Pacific Naval Symposium  31 Thousand-Ship Navy  32 Peace Support Operations  33 Seapower Centre Australia 2000, trang 66  34 Command, control, communication, computer, intelligence, surveillance & reconnaissance: C4ISR              Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàm lượng đạm trong sữa ở thị trường Việt Nam thấp hay cao?      Th&#244;ng tin tr&#234;n b&#225;o ch&#237; trong thời gian qua cho biết h&#224;m lượng đạm trong một số sữa ở thị trường Việt Nam thấp hơn (thậm ch&#237; &#8220;si&#234;u thấp&#8221;) m&#224; c&#225;c nh&#224; sản xuất quảng c&#225;o tr&#234;n bao b&#236;.&nbsp; Nhưng đọc kĩ c&#225;c th&#244;ng tin tr&#234;n b&#225;o, t&#244;i lại nghĩ h&#224;m lượng đạm trong c&#225;c sản phẩm sữa đ&#243; qu&#225; cao, hay &#237;t ra l&#224; cao hơn những chuẩn quốc tế đề ra.&nbsp; Từ đ&#243; đặt ra c&#226;u hỏi về c&#225;c th&#224;nh phần dinh dưỡng kh&#225;c trong c&#225;c sản phẩm sữa n&#224;y c&#243; thể bất b&#236;nh thường v&#224; c&#243; khả năng t&#225;c động ti&#234;u cực đến sức khỏe.     Không cần nói ra, ai cũng biết rằng sữa là một nguồn dinh dưỡng quan trọng cho trẻ trong thời kì tăng trưởng.  Dinh dưỡng trong những năm đầu cuộc sống có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể và bệnh tật về sau.  Sữa mẹ là một nguồn dinh dưỡng lí tưởng nhất cho trẻ sơ sinh, bởi vì sữa mẹ cung cấp đầy đủ các chất đạm, khoáng và carbohydrate cần thiết và an toàn để cơ thể phát triển.  Sữa mẹ còn có khả năng bảo vệ trẻ chống các bệnh nhiễm trong quá trình phát triển.  Chính vì thế mà các nhà y học khuyến khích các bà mẹ cho con bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau khi sinh.    Nhưng một số bà mẹ thiếu sữa, hay do một lí do bất khả kháng nào đó, không thể cho con mình bú sữa, thì sữa công nghiệp là một nguồn dinh dưỡng cũng quan trọng không kém sữa mẹ.  Sữa công nghiệp được sản xuất bằng qui trình kĩ nghệ, và mô phỏng theo các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ.  Các thành phần dinh dưỡng trong sữa có thể chia thành 4 nhóm chính: đạm (protein), chất béo, carbohydrate, và chất khoáng (bao gồm calcium và các sinh tố A, C và phosphorus).  Vì vai trò đặc biệt của sữa đối với sự phát triển của trẻ (và ý nghĩa nòi giống dân tộc), cho nên hàm lượng và phẩm chất của các chất dinh dưỡng này phải được kiểm soát chặt chẽ.  Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), và các hiệp hội nhi khoa đã đề ra những qui định về hàm lượng các chất dinh dưỡng tối thiểu cần có trong sữa (1), và đề nghị các nhà sản xuất phải ghi rõ hàm lượng ngoài bao bì (1,2).    Tuần qua, qua báo chí, công chúng mới biết rằng có nhiều sữa hiện lưu hành trên thị trường có hàm lượng đạm không giống như những gì nhà sản xuất công bố.  Trong số 99 mẫu sữa được Viện Vệ sinh y tế công cộng kiểm nghiệm, có đến 37 mẫu có hàm lượng đạm thấp hơn hàm lượng ghi trên bao bì!  Rất dễ hiểu khi công chúng phản ứng rất gay gắt trước thông tin này.       Thông tin mù mờ   Một thông tin khác cho biết gần 100% mẫu sữa ở TP.HCM có hàm lượng đạm thấp.  Tuy nhiên, đọc kĩ các thông tin trong bài báo, người viết bài này không tìm thấy một chuẩn nào để xác định hàm lượng đạm là thấp hay cao.  Những gì nhà sản xuất ghi trên bao bì chỉ có thể nói là quảng cáo, chào hàng, chứ không thể xem là “chuẩn” được.  Do đó, không thể dựa vào những gì nhà sản xuất công bố hay quảng cáo để phát biểu sản phẩm của họ có đạt chuẩn hay không.    Một khó khăn khác là hầu hết các bài báo nói đến phần trăm hàm lượng đạm (như câu văn “hàm lượng protid của sữa bột […] theo công bố là 34%, nhưng thực tế kiểm nghiệm là 14,97%”) nhưng chúng ta không biết những con số phần trăm này là gì.  Cố nhiên, con số phần trăm phải có tử số và mẫu số.  Ở đây chúng ta biết (hay hi vọng là biết) rằng tử số là hàm lượng đạm, nhưng còn mẫu số là gì thì không ai rõ cả, và cũng chẳng có phóng viên nào giải thích!   Trong thực tế, có hai cách đánh giá hàm lượng đạm trong sữa.  Cách thứ nhất là lấy hàm lượng đạm (thường đo bằng gram) chia cho trọng lượng sữa (tính bằng gram hoặc millilitre).  Cách thứ hai là lấy hàm lượng đạm chia cho số năng lượng (tính bằng kilojoule hoặc kilocalorie; 1 joule bằng 0,2390 calorie).  Trong y học, các nhà nghiên cứu thường mô tả hàm lượng đạm tương đối với năng lượng, và đơn vị đo lường là g/kcal.  Nhưng các nhà sản xuất thường mô tả hàm lượng đạm so với trọng lượng, tức đơn vị đo lường phần trăm.       Giá trị tham chiếu   Nếu các chỉ số hàm lượng đạm được báo chí tường thuật hiện nay là số gram đạm trên 100 g (hay 100 mL) sữa, thì câu hỏi đặt ra là hàm lượng đạm trong sữa trên thị trường nước ta cao hay thấp?  Hàm lượng đạm trong sữa là một đề tài vẫn còn trong vòng tranh cãi giữa các chuyên gia nhi khoa, và chưa ai biết được hàm lượng tối ưu.  Hàm lượng các chất dinh dưỡng nói chung thay đổi theo thời gian, sau khi có bằng chứng khoa học mới nhất.  Trong thời gian gần đây, có ý kiến được nhiều người chấp nhận là nên giảm hàm lượng đạm trong sữa công nghiệp, vì có bằng chứng cho thấy khi trẻ uống nhiều chất đạm trong những năm đầu dễ trở thành béo phì khi trưởng thành (3,4).    Ở các nước phương Tây ngày nay, hàm lượng đạm (trong sữa cho trẻ) tính trên kcal năng lượng là khoảng 2 g / 100 kcal (tức khoảng 1,3% trọng lượng sữa).  Một nghiên cứu mới đây cho thấy tỉ số đạm trên năng lượng khoảng 1,7 g / 100 kcal là đầy đủ cho hệ thống nội tiết – chuyển hóa nhưng có thể không “an toàn” bởi vì có thể làm tăng trọng lượng cho trẻ (5).  Tuy nhiên, quan tâm “an toàn” này có lẽ không thích hợp cho phần lớn trẻ Việt Nam vì trọng lượng sinh của trẻ nước ta tương đối thấp hơn trẻ người da trắng.    Hai năm trước, các chuyên gia nhi khoa quốc tế qua hội thảo đã đề suất giá trị tham chiếu cho hàm lượng tối thiểu và tối đa cho một số chất dinh dưỡng trong sữa dành cho trẻ.  Theo đề xuất này, hàm lượng đạm trong sữa bò tối thiểu là 1,8 g /100 kcal và tối đa 3 g /100 kcal (xem bảng dưới đây).              Thành phần chất dinh dưỡng trong sữa cho trẻ do các chuyên gia nhi khoa đề nghị             Thành phần      Đơn vị      Hàm lượng tối thiểu      Hàm lượng tối đa          Năng lượng      kcal / 100 g      60      70          Đạm sữa bò      g / 100 kcal      1,8      3,0          Chất béo      g / 100 kcal      4,4      6,0          Carbohydrate      g / 100 kcal      9,0      14,0          Calcium      mg / 100 kcal      50,0      140,0             Nguồn: Koletzko B, et al. Global standard for the composition of infant formula: recommendations of an ESPGHAN coordinated international expert group.  Journal of Pediatric Gastroenterology and Nutrition 2005; 41:584-599.             Nhưng có lẽ câu hỏi quan trọng hơn là hàm lượng đạm trên 100 g sữa bao nhiêu là đầy đủ?  Trả lời câu hỏi này còn tùy thuộc vào số năng lượng trên mỗi 100 g sữa.  Ở các nước phương Tây, các sản phẩm sữa của các nhà sản xuất lớn và có uy tín có khoảng 60 đến 70 kilocalorie (kcal) trên 100 g sữa.  Do đó, các chuẩn trong bảng trên có thể tương đương với 1,2 g (tối thiểu) và 1,95 g (tối đa) hàm lượng đạm cho mỗi 100 g sữa (hay nói theo ngôn ngữ báo chí hiện nay là từ 1,2% đến 2%).       “Siêu thấp” hay “siêu cao”?  Ở Úc, loại sữa thông dụng nhất hàm chứa 3,4 g / 100 kcal, tức tương đương 2,2% trọng lượng (6).  Ở Việt Nam, sữa của một số hãng cũng hàm chứa khoảng 3 đến 4 g đạm trong 100 mL (xem hai bảng dưới đây).                  Thành phần chất dinh dưỡng trong một số sữa lưu hành trên thị trường tại Sydney, Úc              Sản phẩm sữa      Hàm lượng một số chất dinh dưỡng trong 100 mL sữa          Đạm (g)      Chất béo (g)      Carbohydrate (g)          Dairy Farmers (lỏng)      3,4      3,6      4,7          Dairy Farmers Lite      3,9      1,4      5,5          Coles’ Milk      3,3      3,6      4,8          Dairy Farmers (bột)      3,3      3,4      5,1          Skim Milk (bột)      4,3      0,1      6,5          Diploma Milk (bột)      3,1      3,8      5,2                        Thành phần chất dinh dưỡng trong một số sữa lưu hành trên thị trường tại Thành phố Hồ Chí Minh             Sản phẩm sữa      Hàm lượng một số chất dinh dưỡng trong 100 mL sữa          Đạm (g)      Chất béo (g)      Carbohydrate (g)          Vinamilk      3,0      3,4      4,5          Ensure Gold      3,72      3,27      13,4          Enplus (Nuti)      3,74      3,35      14,7          Cô gái Hà Lan (trẻ)      2,7      3,1      9,1          Similac (trẻ)      1,9      4,1      7,7          Dumex      1,4      3,3      7,8             Nhưng kết quả phân tích hàm lượng đạm do Sở Y tế TPHCM báo cáo cho ra một “bức tranh” khác.  Trong số 27 sản phẩm sữa phân tích, có 6 sản phẩm có hàm lượng đạm thấp hơn 1,2%, 19 sản phẩm với hàm lượng đạm cao hơn 2% (có sản phẩm với hàm lượng đạm lên đến 27,8%!)  Chỉ có 2 sản phẩm mà hàm lượng đạm nằm trong khoảng 1,2% đến 2%.  Như vậy, dù lượng đạm trong sữa của các nhà sản xuất thấp hơn những gì họ quảng cáo, nhưng không phải tất cả đều “siêu thấp”.  Thật ra, “siêu cao” thì đúng hơn!    Thật ra, như đề cập trên, chúng ta không biết 27,8% có nghĩa là 27,8 g đạm trên 100 mL sữa, hay 27,8 g trên 100 kcal năng lượng.  Nhưng giả dụ rằng 27,8 g trên 100 kcal năng lượng, và cứ 100 mL sữa hàm chứa 70 kcal năng lượng, thì con số 27,8% cũng có nghĩa là trong mỗi 100 mL có 19,4 g trên 100 mL sữa, tức vẫn còn cao.  Cũng có thể đó là hàm lượng đạm tính trên 100 g sữa bột không chứa chất béo (milk powder without fat) vốn thường hàm chứa khoảng 35-36% đạm, để khi hòa tan trong nước có hàm lượng đạm ở mức chấp nhận được.   Nếu thật sự (vì vẫn chưa chắc chắn) hàm lượng đạm quá cao của các sản phẩm sữa này đặt ra nhiều câu hỏi khác: tại sao hàm lượng đạm quá cao?  Các thành phần dinh dưỡng khác như chất béo, carbohydrate, calcium, v.v.. là bao nhiêu?  Nếu hàm lượng đạm thực tế không như các nhà sản xuất quảng cáo (ghi trên bao bì) thì các thành phần dinh dưỡng khác cũng có thể cũng không chính xác.    Vấn đề có lẽ quan trọng hơn là nếu hàm lượng đạm quá cao, có thể thành phần các chất dinh dưỡng khác cũng sẽ bất bình thường.  Như đề cập trong phần đầu của bài viết, sữa công nghiệp được sản xuất với công thức hóa học “bắt chước” theo thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ.  Nói cách khác sữa mẹ là chuẩn.  Do đó, nếu thành phần dinh dưỡng của các loại sữa “có vấn đề” hiện nay không phù hợp với chuẩn của sữa mẹ, và xã hội có lí do để quan tâm.      Về với sữa mẹ!   Sữa công nghiệp không thể thay thế sữa mẹ (7).  Đó là một chân lí mà giới y khoa phương Tây đã nhận thức được trong thời gian qua (nhưng chân lí chẳng có gì mới đối với Việt Nam vì ông bà chúng ta đã biết điều đó cả ngàn năm qua).  Tuy nhiên, một xu hướng không mấy tích cực hiện nay ở nước ta là càng ngày càng có ít bà mẹ cho con bú sữa mẹ.  Theo một nghiên cứu thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2002, chỉ có 53% bà mẹ cho con bú sữa mẹ, một tỉ lệ thấp hơn cả những bà mẹ ở các nước phương Tây (8).  Trước đó, một điều tra do Tổ chức Y tế thế giới thực hiện ở nước ta cũng ghi nhận một tỉ lệ tương tự.  Những nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có một số không nhỏ bà mẹ trẻ ở Việt Nam nghĩ rằng sữa công nghiệp bổ dưỡng hơn sữa mẹ, nhưng rất tiếc đó là một suy nghĩ không đúng.   Sữa công nghiệp chứa nhiều sinh tố, chất khoáng, đạm và chất béo với thành phần cấu trúc được bào chế giống như sữa mẹ.  Nhưng phần lớn sữa công nghiệp hoặc thiếu hoặc không hàm chứa kháng thể, không có các tế bào sống, không có yếu tố tăng trưởng (growth factors), không có enzymes hay hormone, những yếu tố sinh học này vốn có trong sữa mẹ và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của trẻ.  Ngược lại, sữa công nghiệp hàm chứa nhiều chất đạm (hay trong trường hợp hiện nay có một số sữa chứa quá nhiều chất đạm) hơn sữa mẹ, và đó là một điều không tốt.    Tóm lại, những phân tích trên đây cho thấy hàm lượng đạm trong một số sữa đang lưu hành trên thị trường có thể cao hơn trung bình, chứ chưa hẳn “siêu thấp”.  Và, vấn đề này đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến hàm lượng các chất dinh dưỡng khác có thể mất cân đối so với sữa mẹ.  Đó cũng là một lời nhắc nhở về sự quí báu của sữa mẹ mà một số bà mẹ Việt chưa nhận thức đầy đủ.  Những lùm xùm chung quanh vấn đề hàm lượng đạm trong sữa công nghiệp là một lời cảnh tỉnh rằng: đối với trẻ mới sinh không có chất dinh dưỡng gì có thể thay thế sữa mẹ.                  Chú thích và tài liệu tham khảo:  (1) Koletzko B. Standards for infant formular milk.  British Medical Journal 18/3/2006.   (2) Koletzko B, et al. Global standard for the composition of infant formula: recommendations of an ESPGHAN coordinated international expert group.  Journal of Pediatric Gastroenterology and Nutrition 2005; 41:584-599.  (3) Rolland-Cachera MF, et al. Influence of macronutrients on adiposity development: a follow-up study of nutrition and growth from 10 months to 8 years.  International Journal of Obesity and Related Metabolic Disorders 1995; 19:573-578.   (4) Agostoni C, et al. How much protein is safe?  International Journal of Obesity 2005; 29:S8-S13.   (5) Fomon SJ, et al. Infant formula with protein-energy ratio of 1.76 g / 100 kcal is adequate but may not be safe.  Journal of Pediatric Gastroenterology and Nutrition 1999; 28:495-501.   (6) Sữa mà tôi chọn là sản phẩm của nhà sản xuất Dairy Farmers, Diploma, và Coles.  Cả loại sữa lỏng và bột được lấy mẫu trong hai siêu thị Coles và Big W.    (7) Motil K, et al. Infant feeding: a critical look at infant formulas. Current Opinions in Pediatrics 2000; 12:469-476.   (8) Liubai L, et al. Prevalence of breast-feeding and its correlates in Ho Chi Minh City, Vietnam. Pediatrics International, 2002; 44:47-54.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng hóa thiết yếu trong đại dịch COVID-19: Giữa quy định và thực thi      Đại dịch COVID-19 đặt ra thử thách trên nhiều phương diện, yêu cầu nhà nước hành động theo mô hình phụ mẫu mang tính can thiệp và chỉ dẫn cao để hành động quyết liệt trong giai đoạn cấp thiết. Tuy nhiên, sự thành công của chính sách cũng tùy thuộc vào mức độ tuân thủ của người dân khi được thuyết phục hy sinh các lợi ích cá nhân trong ngắn hạn để phục vụ cho mục tiêu sức khỏe cộng đồng. Việc giới hạn hoạt động trao đổi có tiếp xúc trong thời gian phong tỏa, tiêu biểu như chỉ cho phép giao dịch một số mặt hàng hay dịch vụ “thiết yếu”, gây nhiều tranh cãi trong vấn đề ban hành và thực thi quy định.      Sữa từng bị coi là hàng hóa không thiết yếu ở TP. HCM. Ảnh: nhandan.com.vn  Nhằm đối phó với diễn biến phức tạp của làn sóng dịch lần thứ tư, nhiều tỉnh thành tại Việt Nam đang áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19, đồng thời căn cứ theo Văn bản 2601/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến của Chính phủ về việc thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg để “yêu cầu người dân ở nhà, hạn chế tối đa ra ngoài”, trừ các trường hợp cần thiết như “mua lương thực, thực phẩm, dược phẩm và hàng hoá, dịch vụ thiết yếu khác”. Dù không định nghĩa cụ thể, quy định này tưởng chừng tạo điều kiện cho cách hiểu và áp dụng linh hoạt trên thực tế vì ngoài từ “thiết yếu” vốn không quá phổ thông, các thuật ngữ “lương thực”, “thực phẩm” đều được sử dụng hằng ngày trong đời sống.    Tuy nhiên, trên thực tế xảy ra nhiều tranh cãi khi đội ngũ thực thi công vụ tiếp cận các quy định này theo nghĩa rất hẹp, từ đó cấm người dân đi ra ngoài vì cho rằng mục đích “không thiết yếu” như rút tiền ATM, mang vật nuôi đi thú y, hoặc tự định nghĩa bánh mì không phải là “lương thực” hay “thực phẩm” thiết yếu. Các sở, ban, ngành phải mau chóng vào cuộc ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể, cập nhật liên tục danh sách các mặt hàng và dịch vụ được xem là thiết yếu nhằm tạo sự thống nhất trong hành động và đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân.    Hiện nay, tuy đã cân nhắc đến biện pháp cấm giao dịch các hàng hoá và dịch vụ không thiết yếu trước bối cảnh “lạm phát” văn bản hướng dẫn, vấn đề thiết kế quy định và quản lý thi hành cần được nhìn nhận ở cả góc độ kỹ thuật pháp lý và thực thi chính sách, để đưa ra nhiều giải pháp phù hợp trong bối cảnh hiện tại.     Vấn đề không của riêng ai     Trước diễn tiến khó lường của đại dịch theo từng thời kỳ, nhiều quốc gia đã triển khai mô hình quản trị nhà nước phụ mẫu (paternalism) mang tính can thiệp cao, thông qua các quy định hành chính và điều luật cấm hay bắt buộc tuân thủ tuyệt đối. Những quy định này mang tính mệnh lệnh và kiểm soát trên diện rộng (one-rule-fit-all), kèm theo quy trình giám sát và hệ thống chế tài giúp nhà nước quản lý hành vi của người dân vì lợi ích của chính bản thân họ. Loại biện pháp này phù hợp trong bối cảnh người dân có độ phụ thuộc cao vào nhà nước trước tình hình bất cân xứng về thông tin, cũng như tồn tại hiện tượng phân hóa lợi ích giữa nhiều nhóm người trong xã hội dễ gây ra tình trạng không tuân thủ. Tiêu biểu, ngay từ đợt sóng đại dịch đầu tiên vào năm 2020, nhiều quốc gia đã sử dụng các quy định chỉ cho phép giao dịch hàng hoá, dịch vụ “thiết yếu” trong thời gian phong tỏa hay giãn cách xã hội, nhằm tối thiểu hóa các hoạt động tiếp xúc tiềm ẩn rủi ro lây nhiễm cao.    Quan điểm của mỗi cơ quan quản lý đều rất khác nhau, ví dụ thiệp chúc mừng và ấn phẩm báo chí được xem là mặt hàng thiết yếu trong danh mục quy định tại Wales, trong khi thức ăn cho vật nuôi và linh kiện điện tử, xe cộ được công nhận là thiết yếu tại Canada. Pháp cũng liệt kê các hàng hóa “thiết yếu” có thể được mua bán trực tiếp tại siêu thị và các cửa hàng nhỏ, thay vì tuyên bố ban đầu là quy định cấm bán tất cả các mặt hàng “không thiết yếu” bao gồm ấn phẩm văn hóa (như sách và DVD), đồ chơi, áo quần, trang sức, đồ trang trí và vật dụng trong nhà, hàng tiêu dùng lâu bền (máy lạnh, tủ lạnh) và hoa. Chính quyền tại Queensland (Úc) đưa ra định nghĩa mặt hàng thiết yếu là “những vật cần để sống qua ngày như thức ăn, vật dụng cá nhân, chăm sóc sức khỏe và đồ dùng vệ sinh” kèm theo một danh sách mở, trong đó sách, trò chơi điện tử hay các vật dụng nhằm giải trí, giao tiếp đều được công nhận thuộc hàng hoá thiết yếu. Cách tiếp cận này cũng được Philippines áp dụng trong Hướng dẫn đa tầng (Omnibus Guidlines) vào tháng 4/2021 của Lực lượng đặc nhiệm Liên Bộ về Quản lý các dịch bệnh mới nổi (IATF), theo đó giải thích hàng hóa và dịch vụ thiết yếu “bao gồm các hàng hóa và dịch vụ chăm sóc sức khỏe và xã hội đảm bảo an toàn và phúc lợi của cá nhân, tiêu biểu nhưng không giới hạn thực phẩm, nước, dược phẩm, dụng cụ y tế, dịch vụ công, năng lượng, và các loại khác được quy định bởi IATF”.    Hầu hết các nhà soạn thảo đều sử dụng biện pháp liệt kê các nhóm hoặc mặt hàng thuộc loại “thiết yếu” được phép giao dịch, từ đó diễn giải thành việc cấm mua bán các đối tượng khác không trong danh sách. Dù cách tiếp cận này có khả năng đảm bảo hiệu quả tuân thủ cao, quá trình ban hành và thực thi quy định gặp nhiều sự tranh cãi về việc xâm phạm quyền tự do cá nhân và một số quyền con người khác, cũng như tính khả thi và đảm bảo công bằng khi áp dụng trên thực tế. Đặc biệt, sự bất mãn dâng cao ở những nhóm có nhu cầu đặc biệt bởi tính áp đặt chung cho mọi đối tượng của quy định về hàng hóa thiết yếu.    Cụ thể, tại Canada, một số gia đình có trẻ em tự kỷ khiếu nại danh mục được phép bán không bao gồm dụng cụ học tập và đồ chơi, bởi con của họ không hành xử như những trẻ em bình thường và cần các vật dụng đó để giữ bình tĩnh. Trong khi đó, quy định tại Pháp bị chất vấn tính công bằng và hợp lý trong quá trình phân loại, bởi quần áo cho trẻ em dưới bốn tuổi được bày bán trong khi quần áo cho những trẻ em lớn hơn thì không, báo chí thuộc danh mục ấn phẩm được phép giao dịch trong khi mặt hàng sách phải chịu hạn chế.    Bên cạnh đó, việc thi hành quy định cũng gặp nhiều bất cập. Chuỗi siêu thị Walmart tại Canada không cung cấp đồ dùng cho trẻ em bao gồm tã lót vì cho rằng đây là hàng hóa không thiết yếu, trong khi các cửa hàng thuộc hệ thống Tesco tại Wales không bán băng vệ sinh phụ nữ do hiểu sai quy định. Sự lúng túng này khiến Bộ trưởng Bộ Y tế Canada phải phát ngôn chính thức giải thích, hướng dẫn cho bên bán và nhà cung cấp. Chính quyền xứ Wales còn đề xuất bổ sung thêm điều khoản “cấm mua bán các sản phẩm không thiết yếu, trừ các ngoại lệ theo quy định” song song với việc ra văn bản hướng dẫn về hàng hóa thiết yếu, nhưng bị chỉ trích là khiến cho tình hình quy định càng thêm rối rắm. Do đó, để giải quyết tình trạng bất nhất trong thực tiễn về cả cách hiểu và thi hành từ nhiều bên liên quan, cơ quan ban hành văn bản cần lưu ý đến kỹ thuật soạn thảo để định hướng thực thi.     “Phác đồ” cho quá trình thiết kế, ban hành quy định     Thành công đạt được mục tiêu đề ra của một quy định phần lớn dựa vào cách dùng từ thể hiện đúng ý chí của cơ quan quản lý, cũng như hướng tiếp cận đúng của nhà soạn thảo với sự lưu tâm đặc biệt đến đối tượng áp dụng.  Nhìn chung, một quy định hành chính tốt cần đáp ứng ba tiêu chí sau:    Đầu tiên, tính minh bạch của quy định được thể hiện qua cách dùng từ rõ ràng với ý nghĩa mang tính phổ quát trong phạm vi cộng đồng thuộc đối tượng áp dụng, hoặc kèm theo phần giải thích tương ứng. Để điều khoản hàng hóa, dịch vụ thiết yếu được đưa ra là hợp lý, không bỏ sót đối tượng có nhu cầu chính đáng nào trong khi hạn chế “lỗ hổng” quy định, phần định nghĩa thuật ngữ tại đầu văn bản cần cung cấp cách giải thích khái quát để định hướng cho đội ngũ quản lý, thực thi. Quy định hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tại các nước đa số dựa trên điều khoản sẵn có trong các đạo luật và luật về quản lý dịch tễ trong trường hợp khẩn cấp được ban hành – thông thường từ sau đại dịch SARS năm 2002 hay đợt sóng thứ nhất của đại dịch COVID-19, vì vậy đảm bảo phạm vi điều chỉnh thống nhất và tránh bị khiếu kiện do trái luật hay vi hiến.      Sách giáo khoa liệu có phải là hàng hóa thiết yếu? Ảnh: sggp.org.vn  Trong khi đó, Việt Nam chỉ ghi nhận thuật ngữ này trong khoản 3 Điều 4 Luật về Giá năm 2012 vốn quy định “quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giá; hoạt động quản lý, điều tiết giá của Nhà nước”, không cùng mục đích và phạm vi điều chỉnh với Chỉ thị 16 ở bối cảnh hiện tại. Do vậy, các chỉ đạo hành chính hay văn bản hướng dẫn được ban hành trong bối cảnh phản ứng với dịch bệnh, nếu có bất hợp lý trên thực tế, cũng khó nói là sai với tinh thần của pháp luật sẵn có vốn không điều chỉnh cùng lĩnh vực. Sự dẫn chiếu chỉ có giá trị tham khảo chứ không bắt buộc về nguyên tắc. Như vậy, quy định hiện nay chưa đủ rõ ràng để đáp ứng tiêu chí minh bạch đầu tiên của việc thiết kế điều khoản.    Thứ hai, quy định này phải có khả năng áp dụng được và xử lý hiệu quả trong nhiều tình huống khác nhau, không gặp trở ngại đáng kể hay tốn nhiều thời gian và chi phí đảm bảo thi hành đúng. Quy định danh mục “thiết yếu” hiện nay yêu cầu người dân phải đưa ra đầy đủ bằng chứng thuyết phục lực lượng chức năng rằng hàng hóa, dịch vụ của mình là “thiết yếu”. Việc xem xét cho phép lưu thông hay không hoàn toàn phụ thuộc vào lực lượng quản lý, thực thi. Người dân trong phần lớn trường hợp đều phải chấp nhận tuân thủ. Hơn nữa, định nghĩa hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tại Luật Giá năm 2012 của Việt Nam, tuy đầy đủ hơn về mặt liệt kê lĩnh vực so với điều khoản của Philippines, cũng còn nhiều bất cập vì có hướng tiếp cận theo nghĩa hẹp (“không thể thiếu” cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh). Việc sử dụng một danh sách đóng chỉ “bao gồm” các nhóm được liệt kê trong điều khoản theo Luật về Giá 2012 mà Công văn 4349/BCT-TTTN của Bộ Công Thương dẫn chiếu tới là quá chặt chẽ so với cách dùng từ “bao gồm nhưng không giới hạn” của Úc, hay “tiêu biểu nhưng không giới hạn” của Philippines. (dĩ nhiên, “không giới hạn” nhưng phải phù hợp với định nghĩa “thiết yếu” đưa ra ban đầu).    Từ kinh nghiệm các nước, bên cạnh quy định khái niệm thế nào là hàng hóa hay dịch vụ thiết yếu, danh mục đính kèm nên được thiết kế dưới dạng danh sách mở để cơ quan ban hành hay quản lý, thực thi cập nhật các tình huống phát sinh trên thực tế dựa trên định nghĩa tại phần mở đầu. Hoặc cách khác, là thay vì đưa ra danh sách hàng thiết yếu thì ban hành danh mục cấm lưu thông. Danh sách cấm thường ngắn gọn hơn (vì chỉ bao gồm các mặt hàng phục vụ cho những dịch vụ vui chơi giải trí, tụ tập đông người). Cũng nên nói thêm rằng, danh sách cấm này chỉ phục vụ để kiểm soát việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa chứ không phải là cho phép bán ở các cửa hàng.       Thứ ba, quy định cần phản ánh đúng mục tiêu chính sách. Lưu ý rằng dù nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, việc hạn chế lưu thông và tiếp cận hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến việc hạn chế quyền tự do lưu thông và một số quyền cơ bản khác của con người. Vì vậy, việc thiết kế điều khoản và thi hành cần tuân theo nguyên tắc Siracusa trong pháp luật nhân quyền quốc tế, bao gồm phải tương xứng với mục tiêu đặt ra (“propotionate”), hợp pháp, cẩn trọng và dựa trên bằng chứng. Trong khi bài kiểm tra về tính cần thiết (neccesity test) của quy định hạn chế quyền con người phải được giải thích theo nghĩa hẹp để tránh sự lạm quyền hay thi hành sai mục tiêu chính sách ban đầu (tức là phải chứng minh nếu không ban hành quy định này thì không thể đạt được mục tiêu chính sách), tính cần thiết trong thuật ngữ “hàng hoá thiết yếu” cần được tiếp cận theo nghĩa rộng (cần thiết cho nhu cầu cơ bản của con người) để đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được áp dụng là người dân, đặc biệt là những nhóm yếu thế hoặc có nhu cầu đặc biệt mà người ban hành quy định chưa lường được hết trong lúc soạn thảo.     Thực thi trong khủng hoảng     Tuy nhiên, thiết kế quy định tốt là vẫn chưa đủ. Vấn đề cấp thiết hơn trong bối cảnh hiện nay là tư duy lắng nghe và hợp tác giữa lực lượng ra quy định và lực lượng thực thi quy định. Một lần nữa, đây cũng không phải là câu chuyện của riêng Việt Nam. Chính phủ Pháp phải lên tiếng giải thích chỉ áp dụng quy định hàng hóa thiết yếu cho người bán, yêu cầu lực lượng cảnh sát không được tịch thu các hàng hóa không phải thiết yếu từ người mua. Tại Philippines, hiệu quả quản trị của chính quyền Duterte bị chất vấn khi lực lượng cảnh sát giải thích rằng món lugaw – một loại cháo truyền thống của nước này, không phải là “hàng hoá thiết yếu” để được vận chuyển trong thời gian phong tỏa với lý do là “một người vẫn có thể sống cả ngày mà không cần ăn cháo”, tạo nên câu chuyện bi hài giữa mùa phong tỏa tại nước này.  Nhiều người chỉ trích rằng các quy định về hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hoàn toàn đặt trọng tâm vào quá trình thực thi vốn tốn nhiều chi phí xã hội, cũng như quá trình hướng dẫn, sửa sai cũng rất tốn kém.    Ngoài ra, cần lưu ý rằng việc cưỡng chế thực thi quy định không phải là một giải pháp bền vững, ngay cả khi bản chất của quy định mang tính mệnh lệnh hành chính này yêu cầu sự tuân thủ cao. Nếu người dân không hiểu rõ hay nghi ngờ sự phù hợp của quy định, cũng như không được hỗ trợ xã hội để đáp ứng nhu cầu sống cơ bản, họ sẽ tìm cách lách luật, hoặc tuân thủ nửa vời, hay thậm chí vi phạm. Kết quả những quy định này sẽ không hiệu quả về mặt thực tế hay thậm chí phải kéo dài hơn các biện pháp hạn chế quyền con người để chống dịch, để lại nhiều hệ lụy xã hội sâu sắc. Vì vậy, việc quản lý hay can thiệp từ nhà nước cần tránh tạo thêm những gánh nặng cho người dân, cơ sở kinh doanh và các bên liên quan khác.    Đầu tiên, cơ quan quản lý cần lên kế hoạch thực thi trong phạm vi thẩm quyền của mình, nếu có sự tham gia lấy ý kiến từ lực lượng triển khai thì càng tốt. Một trong những mục tiêu cần lưu ý là đảm bảo hoạt động liên tục cho người dân duy trì nhu cầu sinh hoạt cơ bản và giám sát quá trình làm việc của lực lượng thực thi. Đội ngũ cán bộ cần chủ động trang bị đủ kiến thức và kỹ năng xử lý tình huống, hoặc thông qua các buổi tập huấn thực thi chính sách và quy định để đảm bảo các ứng xử trong thực tiễn được thống nhất, đáp ứng mục tiêu ban đầu. Những tài liệu hướng dẫn thực thi trong tình huống khẩn cấp cũng nên được soạn thảo chi tiết và cập nhật thường xuyên, như cách thức triển khai hiện nay của Văn phòng Thông tin Hỗ trợ Tư pháp (Bureau of Justice Assistance) trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.    Thứ hai, các biện pháp mang tính cấm đoán hay hạn chế là khá nhạy cảm, từ đó việc xây dựng sự kết nối về mặt cảm xúc giữa lực lượng quản lý và người dân nhằm thúc đẩy các hành động tập thể, tăng cường ý thức tuân thủ và đồng thuận cũng rất quan trọng. Nhà nước cần chứng minh khả năng quản trị bằng cách lường trước được các quan điểm trái chiều để giải thích và hướng dẫn, cũng như làm rõ mọi rủi ro có thể xảy ra nếu các chủ thể trong xã hội không vận hành đúng theo đường lối được vạch sẵn.    Thứ ba, việc duy trì hạn chế đi lại trong phạm vi “thiết yếu” cần đi kèm với các chính sách hỗ trợ xã hội để đáp ứng nhu cầu sống còn trước mắt của người dân. Bài học từ Đức cho thấy chính sách của nước này được triển khai không chỉ ở cấp độ vĩ mô mà còn theo mức vi mô và cá nhân, nhấn mạnh tính dễ dàng tiếp cận khi loại bỏ các rào cản thủ tục hành chính cho các gói hỗ trợ trẻ em, người thất nghiệp, lao động ngắn hạn (“Kurzarbeit”) và những nhóm yếu thế khác (cha/mẹ đơn thân và người có thu nhập thấp). Trong khi quy định hạn chế quyền tự do đi lại cần được giới hạn trong thời gian ngắn nhất có thể, các gói hỗ trợ xã hội (bằng hiện kim và hiện vật) cần được tiến hành nhanh nhất có thể với độ phủ cao.    Rõ ràng rằng những công việc này đều tốn chi phí và nguồn lực lớn để thực hiện. Đây là vấn đề không thể tránh khỏi, nhưng lưu ý rằng các chi phí này không phải là các biến riêng biệt để cộng dồn. Mức độ minh bạch và khả năng áp dụng hiệu quả của quy định tỷ lệ thuận với chi phí soạn thảo văn bản, nhưng tỷ lệ nghịch với chi phí đảm bảo thực thi, đồng thời cũng đồng biến hay thậm chí khuếch đại các lợi ích xã hội khi quy định phù hợp được ban hành. Do đó, nếu đầu tư vào giai đoạn soạn thảo ban đầu cũng như biết kết hợp với chính sách xã hội để “mềm hóa” sự cứng nhắc của quy định và thúc đẩy sự tự nguyện tuân thủ từ người dân, quá trình thực thi sẽ đỡ tốn thời gian và lực lượng để theo dõi, sửa sai. □  —  Tác giả: Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  2 France24 (2020), French PM announces ban on sale of ‘non-essential’ items in supermarkets, https://www.france24.com/en/france/20201101-french-pm-announces-ban-on-sale-of-non-essential-items-in-supermarkets-from-tuesday.  3  GlobalNews (2021), COVID-19: Ontarians push back against companies denying them access to ‘non-essential’ goods, https://globalnews.ca/news/7749932/covid-ontario-non-essential-items/.  4  Wall Street Journal (2020), In Lockdown, France Says Pots and Pans Are Essential—but Not Silverware, https://www.wsj.com/articles/in-lockdown-france-says-pots-and-pans-are-essentialbut-not-silverware-11604745001.  5  Skynews (2020), Coronavirus: New rules on ‘essential’ items in Welsh shops – but are they more confusing?, https://news.sky.com/story/coronavirus-new-guidance-over-essential-items-in-welsh-shops-but-does-it-cause-more-confusion-12116232.  6  Colin S. Diver (1983), The Optimal Precision of Administrative Rules, Yale Law Journal No. 93.  7 The Local (2020), These are the ‘essential’ items French supermarkets can sell during lockdown, https://www.thelocal.fr/20201102/french-supermarkets-ordered-to-close-non-essential-aisles/.  8 Aljazeera (2021), Argument over porridge reveals Philippines’ COVID fiasco, https://www.aljazeera.com/news/2021/4/7/argument-over-porridge-unravels-philippines-covid-fiasco.  9 Richard Parker, Dulce Ferraz. (2021), Politics and pandemics, Global Public Health 16:8-9.    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Hành chính – Công vụ tài giỏi: Điều kiện thành công      Chính sách, pháp luật chỉ tốt ngang bằng với việc chúng được thực thi như thế nào trong cuộc sống. Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trong hai năm 2022-2023 với quy mô lên đến 350.000 tỷ đồng cũng vậy.    Các gói chính sách tài khóa, tiền tệ, thể chế nới lỏng trong chương trình này được tin là sẽ giúp kinh tế sớm phục hồi, đất nước tiếp tục phát triển, và những mục tiêu đầy tham vọng của chúng ta cho những năm 2030 và 2045 sẽ trở thành hiện thực. Vấn đề chỉ còn là các chính sách nói trên sẽ được thực thi như thế nào mà thôi.  Quả thực, nền công vụ của chúng ta đang như thế nào thì các chính sách nói trên sẽ được thực thi như thế đó. Và đây là điều khiến chúng ta không khỏi băn khoăn.  Ở nước ta, việc thu hút người tài làm các quan chức hành chính-công vụ có thuận lợi rất cơ bản là truyền thống khoa bảng của người Việt. Học để làm quan là một truyền thống rất được coi trọng. Vinh quy bái tổ được coi là vinh dự lớn nhất của đời người. Chính vì thế, khác với ở các nước phương Tây, ở nước ta, lĩnh vực hành chính-công vụ có sức thu hút rất lớn. Vấn đề chỉ là trong hàng triệu người muốn trở thành “cán bộ”, thì làm sao để chúng ta có thể lựa chọn được đúng người tài.    TS. Nguyễn Sĩ Dũng  Làm sao thì chưa biết, nhưng làm như cách bây giờ chúng ta đang làm thì lựa chọn người tài là khó khăn. Thứ nhất, bổ sung nhân lực cho nền hành chính-công vụ hiện nay chủ yếu vẫn qua quan hệ thân quen hoặc gia đình, dòng tộc là chính. Các cuộc thi tuyển công chức cho dù được tổ chức định kỳ, thì vẫn mang tính hình thức. Trong không ít các trường hợp, chúng chỉ hợp thức hóa những nhân sự đã được gửi gắm hoặc chạy chọt từ trước. Việc thi tuyển do chính các cơ quan, các bộ, ngành có liên quan tự tổ chức bộc lộ khá nhiều nhược điểm: Công nghệ để kiểm tra, nhận biết và đánh giá người tài hầu như chưa được phát triển; Các đề thi chủ yếu chỉ kiểm tra được kỹ năng học thuộc và một ít kiến thức, nhưng không đánh giá được năng lực; Hoàn toàn không có được các công cụ và cách thức đáng tin cậy để đo đếm các phẩm chất và thái độ; Thông đề, lộ đề rất dễ xảy ra.  Muốn khắc phục những hạn chế của cách làm hiện nay, phải chăng chúng ta cần trở lại với truyền thống khoa bảng của cha ông. Nghĩa là truyền thống tổ chức thi tuyển quốc gia để lựa chọn các quan chức hành chính-công vụ. Việc thi tuyển phải được thực hiện hết sức nghiêm túc. Gian dối trong thi cử phải bị trừng trị nghiêm khắc. Do truyền thống khoa bảng của nước ta đã bị đứt gãy, kiến thức và công nghệ lựa chọn người tài không còn được bảo tồn, nên việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài là rất quan trọng. Trong số các nước có truyền thống khoa bảng như nước ta, thì kinh nghiệm của Nhật Bản có vẻ là đáng tham khảo hơn cả. Ở Nhật Bản, định kỳ, Nhà nước đều tổ chức kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ cho những người muốn trở thành công chức. Số lượng người dự thi thường lên đến hàng chục ngàn người, nhưng mỗi kỳ thi chỉ khoảng trên dưới 6% trúng tuyển. Những người trúng thuyển sẽ được cấp chứng chỉ (về việc trúng tuyển kỳ thi quốc gia). Khi có nhu cầu, các cơ quan nhà nước kể cả ở trung ương và địa phương, đều chỉ có quyền tuyển dụng trong số những người đã có chứng chỉ mà thôi. Tổ chức Jica của Nhật Bản luôn luôn sẵn sàng hỗ trợ chúng ta trong những vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc tiến hành thi tuyển quốc gia để lựa chọn công chức.  Nếu chúng ta cũng tổ chức thi tuyển quốc gia như vậy, và áp đặt việc khi có người về hưu, các cơ quan hành chính-công vụ ở Trung ương và địa phương chỉ được quyền tuyển dụng từ những người đã có chứng chỉ, thì chỉ trong vòng dăm bảy năm, chúng ta hoàn toàn có thể “thay máu” cho nền hành chính-công vụ của mình bằng những người tài.  Ngoài ra, quy trình, thủ tục cất nhắc đề bạt chúng ta đang áp dụng rất phù hợp cho việc lựa chọn các chính khách/các quan chức chính trị, thì lại chưa chắc đã hoàn toàn phù hợp cho việc lựa chọn đề bạt các quan chức hành chính-công vụ.  Cụ thể, việc xác định sự tín nhiệm là rất quan trọng, nhưng chỉ quan trọng để lựa chọn các quan chức chính trị, chứ không hẳn cho các quan chức hành chính-công vụ. Việc lấy phiếu tín nhiệm để làm căn cứ đề bạt các quan chức hành chính-công vụ có mấy nhược điểm sau đây:  1. Phá vỡ chế độ trách nhiệm hành chính. Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước thủ trưởng. Nhưng nếu thủ trưởng cũng chỉ có 1 phiếu, thì hoàn thành nhiệm vụ được thủ trưởng giao không quan trọng bằng vừa lòng tất cả những người có quyền bỏ phiếu. Trong rất nhiều trường hợp, những người có quyền bỏ phiếu lại là những đồng nghiệp, thậm chí là cấp dưới của người đang được xem xét để được bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm.  2. Không khuyến khích việc nâng cao trình độ chuyên môn bằng việc lấy lòng quần chúng và xử lý quan hệ.  3. Không khuyến khích việc áp đặt kỷ luật trong công việc bằng việc xuề xòa lấy lòng cấp dưới.  Để khắc phục nhược điểm nói trên, nên chăng chúng ta cần học tập những nước có nền hành chính-công vụ xuất sắc như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore. Quan trọng nhất là đề bạt các quan chức hành chính-công vụ phải nhất quán theo thành tích thực tế. Cứ hoàn thành công việc xuất sắc là sẽ được cân nhắc đề bạt. Tất nhiên, cần phải đề ra được các tiêu chí khách quan, khoa học để đo đếm thành tích của các quan chức. Chúng ta nên học tập kinh nghiệm của Singapore trong việc đề ra các tiêu chí cho việc đo đếm này.  Để có được một nền hành chính-công vụ theo những cách làm nói trên chắc chắn phải có thời gian. Tuy nhiên, đây là những cải cách không thể bỏ qua, nếu chúng ta muốn các mục tiêu tốt đẹp của chính sách và pháp luật sẽ trở thành hiện thực trong cuộc sống.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Hành trang vào đời của người trẻ      Nếu tôi chỉ được chọn ba điều để trả lời câu hỏi: người trẻ cần chuẩn bị gì để bước vào tương lai trong bối cảnh xã hội hôm nay? thì đó là Khả năng tư duy độc lập và óc phản biện; Hiểu biết về sự học; Kỹ năng truyền thông và tôn trọng sự khác biệt.      Học sinh tham gia ngày hội STEM năm 2016. Ảnh: PoMath  Khả năng tư duy độc lập và óc phản biện  Theo tôi, chưa bao giờ con người nói chung và người trẻ nói riêng lại cần đến khả năng tư duy độc lập và phản biện như hiện nay, bởi các lý do mang tính thời cuộc cũng như mang tính văn hóa, giáo dục riêng của Việt Nam.  Màn hình, internet là các công cụ làm việc và truyền thông nhanh chóng và hiệu quả, thế nhưng những thứ này cũng đang làm thay đổi sâu sắc mốt sống của chúng ta, nhất là của giới trẻ, gây ra nhiều hậu quả xấu. Hình ảnh phổ biến mà chúng ta bắt gặp mọi nơi và mọi lúc trong xã hội ngày nay là những người trẻ chúi mũi vào các loại màn hình lớn nhỏ. Bao nhiêu năng lượng, sự đam mê, sự tập trung, trí tò mò, sự ham hiểu biết vốn có nơi trẻ em dường như bị màn hình hút hết. Màn hình phân mảnh thời gian và tư tưởng, và do đó cũng làm hời hợt tư duy của con người. Người trẻ đắm đuối và lắm khi không làm chủ được mình, lệ thuộc vào màn hình với đủ thứ ma lực trên đó như những con nghiện. Người ta nói đến chứng nghiện facebook, nghiện youtube, nghiện game, v.v, như là những chứng bệnh của thời đại.      Những cơn gió độc của một thế giới nối mạng này dường như đang gặp mảnh đất màu mỡ mang màu sắc giáo dục và văn hóa truyền thống tại Việt Nam.      Điều mà Albert Einstein đã cảnh báo hiện nay dường như đã trở thành hiện thực “Tôi sợ một ngày nào đó, công nghệ sẽ lấn át sự tương tác của con người chúng ta. Thế giới sẽ có một thế hệ những kẻ ngốc”.   Những cơn gió độc của thế giới nối mạng này dường như đang gặp mảnh đất màu mỡ mang màu sắc giáo dục và văn hóa truyền thống tại Việt Nam. Thật vậy, nền giáo dục và văn hóa của chúng ta chịu sự ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo, một nền giáo dục và văn hóa nhấn mạnh trên các giá trị chung mang tính cộng đồng, trên sự tuân phục, sự đồng loạt và trật tự trên dưới, hơn là trên các giá trị và trách nhiệm cá nhân, sự tự do tư tưởng và lý tính, khả năng tư duy độc lập và tự chủ của các cá nhân. Một nền giáo dục với mục tiêu tạo ra những nhân viên thừa hành, những con người công cụ, hơn là những con người tự do, có nhân cách mạnh, có chính kiến riêng, có khả năng sáng tạo và thay đổi.   Khi nền giáo dục không đào tạo được những con người tự do với phẩm cách mạnh mẽ, thì các công dân của mình sẽ dễ dàng bị những cơn gió của thời cuộc cuốn đi, sẵn sàng chạy theo những đám đông, những âm mưu chủ nghĩa, hay chỉ tồn tại như những mắt xích thụ động trong một guồng máy quay theo quán tính có sẵn. Một đất nước với những công dân như vậy sẽ là một đất nước yếu, khó có thể bứt phá để vươn lên dẫn đầu.  Vì tính chất quan trọng này, các nước phát triển chẳng hạn như Pháp đã xem tư duy độc lập và phản biện như là lõi của chương trình giáo dục quốc gia của họ. Nội dung này được giảng dạy xuyên suốt qua từng môn học, từng hoạt động giáo dục trong các cấp học, đặc biệt nơi môn triết học trong chương trình trung học phổ thông, trong khi Việt Nam không chú trọng đủ đến việc giảng dạy này.    Nguồn ảnh : medium  Hiểu biết về sự học  Học là khả năng gắn liền với con người, là hành động thúc đẩy sự tiến hóa của loài người và sự phát triển của mỗi cá nhân. Dĩ nhiên học ở đây không chỉ nằm trong khuôn khổ trường lớp gắn với các bằng cấp chứng chỉ, mà là cả việc học suốt đời.  Học là hành động căn bản và vô cùng quan trọng mà chúng ta thực hiện hằng ngày, thế nhưng lạ lùng thay, con người, nhất là người Việt Nam chúng ta cứ mải miết học nhưng lại không lưu tâm đến cách bản thân học thế nào, bằng cách nào và vào thời điểm nào mình đã thụ đắc các kiến thức một cách hiệu quả hay không hiệu quả, đâu là vai trò của não bộ, của cảm xúc, của môi trường học phù hợp với bản thân. Cả hệ thống chạy theo kiểu chuyển tải – tiếp nhận một chiều, áp đặt đủ thứ bên ngoài lên người học. Người ta làm như thể giáo viên cứ trình bày, cứ giới thiệu kiến thức mà người lớn muốn, là học sinh sẽ tự động thụ đắc chúng.   Các kết quả nghiên cứu về não bộ, về các khoa học giáo dục những năm gần đây cho thấy, sự thụ đắc kiến thức, nghĩa là để một kiến thức có thể trở thành một phần trong vốn hiểu biết lâu dài, làm nên quan niệm và khả năng của người học, không phải là một quá trình đơn giản, tuyến tính, mà đó là một quá trình mang tính phức hợp liên quan đến nhiều khía cạnh bên ngoài và bên trong người học.   Trong quá trình đó, người học là chủ thể quyết định, là tác giả của những gì anh ta thụ đắc. Bởi lẽ, kiến thức không đến với người học theo một đường thẳng “khách quan” từ bên ngoài vào trong não bộ của người học kiểu như một máy ghi hình, mà thông qua nhiều cơ chế điều tiết giữa các mạng lưới nơ ron thần kinh, giữa các trung tâm khác nhau trong não bộ của người học. Người học giải mã kiến thức thông qua những gì anh ta đang sở hữu về mặt cảm xúc, thể lý, trí tuệ. Hơn nữa, mỗi người học là một chủ thể duy biệt xét về nhiều mặt, có một cách tiếp thu khác nhau, có những loại hình thông minh nổi trội khác nhau, phù hợp với một môi trường khác nhau. Do đó, nói theo cách của nhà nghiên cứu sinh học người Pháp Albert Jacquard là : học hiểu cũng như yêu, không ai yêu thay chúng ta, do vậy cũng không ai có thể học thay hay hiểu thay chúng ta được.  Do vậy, một nền giáo dục hiệu quả là nền giáo dục tôn trọng sự khác biệt, khởi đi từ tính duy biệt nơi người học để thiết kế nên chương trình, và các hoạt động, để lựa chọn các phương pháp sư phạm, xây dựng nên môi trường giáo dục nói chung. Trong nền giáo dục này, nội dung ưu tiên sẽ là dạy và học về chính sự học.   Học về sự học trước hết là học hiểu về bản thân, về não bộ, về trí nhớ, cách thâu nhận thông tin, về các sở trường và sở đoản, về loại hình thông minh của mình cũng như hiểu biết về môi trường vật lý, cảm xúc, xã hội, trí tuệ phù hợp với bản thân. Là biết nhận diện, truy vấn về quan niệm, nhận thức riêng của mình, biết cách kiểm chứng, phân định những gì mình đang sở hữu và những gì mình tiếp xúc được.      Một nền giáo dục hiệu quả là nền giáo dục tôn trọng sự khác biệt. Trong nền giáo dục này, nội dung ưu tiên sẽ là dạy và học về chính sự học.      Học về sự học cũng là học về phương pháp học, phương pháp nghiên cứu, phương pháp truy vấn, thẩm định các nguồn tài liệu, tổ chức việc học, việc nhà, sắp xếp thời gian nghỉ ngơi, giải trí, thể thao, là biết cách thiết lập cuộc sống hài hòa, biết cách chống lại các căng thẳng, biết cách bảo vệ bản thân, biết nói chuyện, biết yêu cầu sự giúp đỡ khi cần…  Những điều nói trên làm nên “chân dung học tập” riêng của người học. Khi nhận diện chính xác chân dung này và biết ứng dụng nó trong học tập và nghiên cứu, thì cũng là cách tạo ra sự ham muốn, tạo ra động lực, điều quyết định thành công trong học tập, mà nói theo cách của triết gia Jean Jacque Rousseau là “Tạo cho trẻ sự ham thích này [ham thích học] […], thì bất kỳ phương pháp nào cũng sẽ tốt.”  Trong một thế giới tràn ngập thông tin và tri thức, một thế giới nối mạng với văn hóa số, các thư viện của các trường học, của các vùng, các quốc gia đang được kết nối với nhau. Khi người học sở hữu được các tiếp cận đúng và có được phương pháp đúng với một động lực mạnh thì việc tìm các kiến thức là chuyện khá dễ dàng. Và hơn như thế, các công cụ này còn phục vụ cho sự học suốt đời, phục vụ cho sự phát triển nghề nghiệp, nuôi dưỡng đời sống trí tuệ của người học trong dài hạn.  Kỹ năng truyền thông và tôn trọng sự khác biệt  Truyền thông là khả năng giao tiếp với người khác trong đời sống công việc và xã hội. Đây là khả năng cơ bản không chỉ dành cho các doanh nghiệp mà cho mọi cá nhân. Muốn sống tốt và thành công trong xã hội hôm nay, người trẻ phải có khả năng làm cho người khác hiểu mình cũng như có khả năng thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt nơi người khác. Người khác ở đây có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tập thể, người khác cũng có thể là người Việt hay người nước ngoài. Do đó, để truyền thông tốt, người trẻ cần có khả năng về ngôn ngữ (nói, viết, tiếng mẹ đẻ, tiếng nước ngoài, ngôn ngữ bằng lời và không lời) cũng như các kiến thức về nghệ thuật, lịch sử, địa lý và văn hóa và khoa học làm nền hỗ trợ.  Người trẻ càng làm chủ khả năng truyền thông, thì càng mở rộng vòng tròn ảnh hưởng, mở rộng cách nhìn và sự hiểu biết, mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, không chỉ là trong nước với văn hóa riêng Việt Nam, mà còn ra với thế giới với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đại ngày nay.   Và để sống chung một cách hòa bình với người khác trong một thế giới đa nguyên, đa văn hóa, thì người trẻ cần được giáo dục sự tôn trọng : tôn trọng sự khác biệt nơi người khác, tôn trọng môi trường văn hóa, vật chất, thiên nhiên nơi mình sống. Sự tôn trọng cần trở thành một giá trị mạnh, trở thành quy chuẩn hành xử trong đời sống.  Trước một xã hội nối mạng tràn ngập các thông tin thật giả lẫn lộn, trước một thế giới mà biên giới các quốc gia về vật lý ngày càng mờ, một thế giới đa dạng đang thay đổi nhanh chóng, một thế giới đòi buộc phải định nghĩa lại, tư duy lại nhiều thứ đã có sẵn và đòi phải có khả năng thích ứng, thì những điều trên là những hành trang cần thiết để người trẻ bước vào đời, vào thế giới một cách vững chãi, tự do và thành công trên đường học cũng như trên đường đời của họ. □  Những “ông kẹ” công nghệ đầy quyền lực, những ông trùm tin giả phía sau màn hình nắm trong tay các dữ liệu lớn, hiểu nhu cầu, hiểu khuynh hướng của từng cộng đồng, thậm chí của từng cá nhân, có thể thao túng, dẫn dắt những người trẻ đi theo khuynh hướng mà họ muốn, có thể biến người trẻ thành những “bầy đàn” cuồng tín, gây ảnh hưởng mạnh mẽ trên quá trình hình thành nhân cách của thế hệ trẻ ngày nay.    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Hành trình hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn khoa học      Khảo sát các bản hiến pháp của Việt Nam có thể thấy rõ biểu hiện của yêu cầu ”Độc lâp”, “Tự do”, “Bình đẳng” tương đối ổn định. Riêng  “Dân chủ” trong hành trình hiến pháp Việt Nam có sự biến đổi bất thường  nhất. Trong các phiên bản ban đầu – 1946, 1960 – phạm trù này được nhấn  mạnh nhiều, sau đó thì giảm mạnh.     1- Tiên đề của khoa học   Khoa học là công cụ tư duy để con người lý giải và làm chủ tự nhiên cũng như xã hội. Mọi ngành khoa học đều được xây dựng từ những tiên đề (axioms), là những chân lý vạn năng tự thân không cần chứng minh[1]. Từ lớp 7 phổ thông ai cũng biết tiên đề Euclide về đường thẳng song song là nền tảng cho hình học cổ điển. Đó là loại tiên đề của tư duy toán học. Bảo toàn năng lượng và bảo toàn vật chất là những tiên đề nền tảng cho Vật lý. Tốc độ ánh sáng trong chân không là cực đại và hằng số trong mọi điều kiện là tiên đề cho thuyết tương đối Einstein. Những tiên đề đó là của thế giới tự nhiên. Xã hội con người cũng là một đối tượng của khoa học. Muốn xây dựng một tập hợp con người thành một hệ thống xã hội văn minh cũng cần có những tiên đề, tạm gọi là Tiên đề xã hội. Nói một cách dễ hiểu, đó là những lẽ phải không ai chối cãi được (Hồ Chí Minh)[2]. Từ các tiên đề xã hội sẽ xây dựng nên Hiến pháp, luật pháp, quy tắc của xã hội đó. Tiên đề xã hội được thể hiện trong các niềm tin tôn giáo hoặc các tuyên ngôn xã hội. Khác với tôn giáo cần cách diễn đạt càng mờ ảo thì càng lôi kéo được niềm tin, các tuyên ngôn xã hội là khoa học, nên rất rõ ràng, không thể đánh tráo. Không kể thời trung cổ thì cho đến nay có 3 tuyên ngôn xã hội phổ biến nhất mà các xã hội văn minh chọn các tiên đề ở đó làm cơ sở cho Hiến pháp:Tuyên ngôn độc lập Mỹ (1776), Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền Pháp (1791 ) và Tuyên ngôn Công sản (1848).   2- Tiên đề xã hội cho các hiến pháp của Việt Nam  Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945[2] là bản tuyên ngôn xã hội chính thức duy nhất của nước Việt Nam cho đến nay. Điều rất đặc biệt là ngay những dòng đầu tiên bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đó đã chọn những tiên đề xã hội của Tuyên ngôn độc lập Mỹ[3]: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyên Pháp[4]:”Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Tuyên ngôn độc lập Việt Nam đã khẳng định: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.   Hiến pháp Việt Nam đã có hành trình gần 70 năm, với ít nhất 4 phiên bản chính thức vào các năm 1946, 1960, 1980, 1992[5], và 1 dự thảo 2013[6], không kể các sửa đổi nhỏ 2001. Với các tiên đề xã hội như Tuyên ngôn Độc lập 1945 đã khẳng định, thì các quyền hiển nhiên như Độc lập, Tự do, Bình đẳng, Dân chủ là những điều khắc sâu trong lòng Việt Nam, tất phải thể hiện thành lời trong Hiến pháp Việt Nam vì Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao, với kỳ vọng là được bắt nguồn từ những lẽ phải không ai chối cãi được đó.   Người Đức có câu tục ngữ rất hay: Điều gì khắc ở trong tâm thì cũng bộc lộ nên lời. Theo triết lý đó của người Đức, chúng ta làm một thống kê nhỏ mà kết quả trình bày trong bảng dưới đây, cho ta thấy số lần xuất hiện và xác suất hiện diện của các phạm trù đó trong các văn bản Hiến pháp Việt Nam. Vì các văn bản có độ dài ngắn khác nhau, nên để định lượng cần phải tính xác suất hiện diện của chúng bằng cách tính tỷ lệ (phần nghìn) của số lần xuất hiện chia cho tổng số từ. Để dễ nhận biết, xác suất của sự hiện diện được trình bày rõ thêm bằng đồ thị kèm theo.             Hiến pháp      Tổng số từ      “Độc   lập”      “Tự   do”      “Bình   đẳng”      “Dân   chủ”          Số từ      Xác suất ( o/oo)      Số từ      Xác suất  ( o/oo)      Số từ      Xác suất   ( o/oo)      Số từ      Xác suất  ( o/oo)          1946      3348      2      0. 59      10      1. 49      2      0. 59      13-8      1. 49          1960      8277      10      1. 2      8      0. 96      6      0. 72      79-48      3. 74          1980      14510      19      1. 3      15      1. 03      7      0. 48      12      0. 83          1992      13514      11      0. 81      10      0. 73      7      0. 52      7      0. 52          2013(Dt)      13866      14      1      14      1. 01      10      0. 72      11      0. 79              Nhìn biểu đồ thấy rõ sự biểu hiện của yêu cầu”Độc lâp” có biến đổi ít nhiều nhưng không một chiều, “Tự do” năm 1946 là rất cao sau đó ổn định suốt nhiều thập kỷ. “Bình đẳng” tương đối ổn định. Riêng “Dân chủ” trong hành trình hiến pháp Việt Nam có sự biến đổi bất thường nhất. Trong các phiên bản ban đầu, 1946, 1960 phạm trù này được nhấn mạnh nhiều, sau đó thì giảm mạnh. Lưu ý rằng trong các thống kê này, cụm từ dân chủ nằm trong tên gọi quốc gia “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, đã được đưa ra khỏi số liệu thống kê. Tuy chỉ là một phương pháp tư duy hình thức, gần giống như một trò chơi ngôn ngữ, nhưng số liệu thống kê giản đơn như vậy cũng gợi ý để tìm hiểu kỹ hơn, đặc biệt về nội hàm “Dân chủ” trong Hiến pháp.     3- Sự định danh của một quốc gia và Hành trình dân chủ trong các Hiến pháp Việt Nam  •    Việt Nam, với tư cách là một quốc gia (nhà nước), được định danh trong các Hiến pháp như sau:  Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa (điều 1, Hiến pháp 1946)  Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. . , là một nước dân chủ nhân dân (điều 2 Hiến pháp 1960)  Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản. . . (Điều 2, HP 1980)  Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước (gì?) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. . . (điều 2, HP 1992)   Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. . . (điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2000).   •    Sự định danh lại vào Hiến pháp 1980 từ nhà nước dân chủ sang nhà nước chuyên chính, là một bước ngoặt lớn, có thể hiểu là Hiến pháp được xây dựng lại trên cơ sở những tiên đề xã hội khác trước. Có lẽ hiếm có quốc gia nào có được sự tự định danh chính thức là nhà nước chuyên chính như Hiến pháp 1980 của nước ta. Nên nhớ rằng, “chuyên chính” là xuất xứ từ nguyên gốc Latin “Dictatura”, trong mọi ngôn ngữ thông dụng đều có duy nhất một nghĩa là đối nghịch với “Dân chủ – Democracy”, rất phản cảm trong xã hội văn minh[7]. Vì là từ mượn, trong tiếng Việt, nhờ sử dụng thủ thuật “từ đồng nghĩa- Synonyms” cùng gốc Hán- Việt nên chữ “Chuyên chính” đã được dùng thay cho chữ “Độc tài”, và do vậy không gây phản cảm trong xã hội Việtnam. Trong giao tiếp, quảng cáo, tuyên truyền chính trị, những thủ thuật ngôn ngữ được dùng để dễ thuyết phục một cách nhất thời như vậy không phải là điều cấm kỵ, nhưng trong một văn bản luật cao nhất như Hiến pháp của một quốc gia mà định danh một quốc gia như vậy thì rất lạ.   •    Hiến pháp 1992 một lần nữa định danh lại: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. . . ”. Cần nhớ rằng mệnh đề này là trích trong diễn văn Gettysburg (1863) của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, dùng để định danh một chính quyền, nguyên văn:”… – government of the people, by the people, for the people – Chính quyền của dân, do dân và vì dân”[8]. Không phải là vô tình mà A. Lincoln định danh đó cho chính quyền chứ không phải cho nhà nước. Vì nếu là nhà nước (quốc gia) thì định danh như vậy thật vô nghĩa. Coi Chính quyền đồng nghĩa là Nhà nước (quốc gia), là một sự cố tình nhầm lẫn tai hại trong chính giới và chuyển thành thói quen cả ở trong ngôn ngữ dân gian. Như vậy, thực chất Hiến pháp 1992 của Việt Nam không định danh nhà nước Việt Nam là nhà nước gì, không biết là dân chủ hay là chuyên chính hay là cái gì đó khác…!  •    Có lẽ nhận thấy sơ suất này nên năm 2001 đã sửa lại Việt Nam là “. . là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. . . ”. Hiến pháp là văn bản pháp luật tối cao khởi thủy cho mọi văn bản pháp luật khác. Về khoa học, bất kỳ một định danh nào đều phải dẫn chiếu đến một khái niệm đã được định danh trước đó hoặc diễn dịch từ những “sự thật không thế chối cãi –tức tiên đề xã hội”. Vì vậy cần giải thích rõ “Nhà nước pháp quyền XHCN” là gì trước khi định danh cho một nhà nước.   •    Qua sự định danh quốc gia trong Hiến pháp, ta có thể tóm tắt hành trình dân chủ theo con đường tiến hóa gần 70 năm như sau:  Dân chủ cộng hòa (46) --> Dân chủ nhân dân (60) —> Chuyên chính vô sản (80) --> không định danh (92) —> Pháp quyền XHCN (2001)…    Điều này lý giải cho biểu đồ về sự biểu hiện “Dân chủ” trong hiến pháp Việt Nam và hiển nhiên đã dẫn dắt sự thực thi trong xã hội chúng ta.   4- Thay lời kết  Trước một đối tượng quan trọng như chọn cơ sở nào để xây dưng Hiến pháp, trong xã hội tất phải có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới quan điểm chính trị, Hiến pháp phải xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền lực thống trị. Theo mục tiêu kinh tế, Hiến pháp phải được tạo ra theo lợi ích của việc điều khiển và thao túng đồng tiền. Lấy mục đích tuyên truyền làm chính, Hiến pháp sẽ được xây dựng bằng các thủ thuật ngôn ngữ. Điều thống nhất là tất cả các quan điểm khác nhau đều tự tuyên bố là vì quyền lợi của toàn dân. Tất nhiên thôi, vì về danh nghĩa, Hiến pháp là của toàn dân. Về nguyên tắc, Hiến pháp phải được toàn dân chấp nhận.   Khi Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở những lẽ phải không thể chối cãi được, thì việc chấp thuận của toàn dân là một lẽ tự nhiên. Còn khi cơ sở là những lý lẽ dễ bị chối cãi, dù cho Hiến pháp đó bằng cách này hay cách khác tuyên bố được nhân dân chấp thuận, thì đó chỉ là sự áp đặt khiên cưỡng. Một Hiến pháp như vậy chỉ là hình thức, chỉ để tuyên truyền và tất nhiên không thể thực thi làm nền tảng cho sự phát triển hài hòa, bền vững và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc.   Chắc là không có ai, ngoài vài ba nhà khoa học, lại ngây thơ tin rằng Hiến pháp của một quốc gia chỉ được xây dựng trên một cơ sở duy nhất, là cơ sở của những lẽ phải không thể chối cãi được.   Nhà Vật lý vĩ đại Albert Einstein đã từng thổ lộ:. “Tôi không bao giờ ngại ngần và cũng chẳng bỏ lỡ một cơ hội nào để thẳng thắn nói lên niềm tin của mình, vì tôi coi đó là nghĩa vụ phải làm. Tuy nhiên, theo lẽ thường thì một tiếng nói đơn lẻ luôn luôn chìm trong tiếng ồn ào của số đông “  Chú thích  [1] axioms: a self-evident or universally recognized truth  [2] http://dangcongsan. vn/cpv/Modules/News/NewsDetail. aspx?co_id=30196&cn_id=119997  [3] “We hold these truths to be sacred and undeniable self evident, that all men are created equal and independent; that from that equal creation they derive in rights inherent and inalienable, among which are the preservation of life, and liberty and the pursuit of happiness”; http://www. princeton. edu/~tjpapers/declaration/declaration. html  [4] „Les hommes naissent et demeurent libres et égaux en droits. “ http://www. assemblee-nationale. fr/histoire/dudh/1789. asp  [5] http://vanban. chinhphu. vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=view&org_group_id=0&type_group_id=1&category_id=0  [6] http://vietnamnet. vn/vn/chinh-tri/103390/du-thao-sua-doi-hien-phap-lay-y-kien-nhan-dan. html  [7] Tiếng Anh: Dictatorship, Pháp:Dictature, Nga:диктатура, Đức: Diktatur, Trung quốc: 独裁 (âm Hán Việt:độc tài)  [8] “. . . and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth. ” http://showcase. netins. net/web/creative/lincoln/speeches/gettysburg. htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành xử khi thi hành công quyền      Câu chuyện người cảnh sát tát tai người đi đường ở Hà Tĩnh chỉ là một trong số nhiều ví dụ về nạn bạo hành của người thi hành công quyền mà chúng ta thường gặp. Có thể cái tát tai lộ liễu làm người ta sốc, nhưng hằng ngày nạn bạo hành tương tự vẫn diễn ra trước mắt bao người như chuyện đương nhiên mà người dân vì lý do này hay lý do kia đã không lên tiếng, chẳng hạn cán bộ điều tra đánh nghi can khi hỏi cung tại trại giam, thẩm phán đập bàn nặng lời với bị cáo và đương sự khi xét xử, viên chức hành chính quát tháo người dân đến cửa công quyền, cảnh sát giật chìa khóa xe máy của người vi phạm luật giao thông, vân vân và vân vân…         Nguồn gốc nạn bạo hành của người thi hành công quyền nói trên xuất phát từ thái độ xem thường người dân vốn vẫn tồn tại bấy lâu. Não trạng ban phát ân huệ khi người dân cần đến sự hỗ trợ của bộ máy công quyền hoặc não trạng tự ban cấp cho mình quyền trừng phạt người vi phạm pháp luật bất chấp thủ tục tố tụng luật định đã ngấm sâu và lâu trong cách suy nghĩ và ứng xử của không ít quan chức từ trung ương đến địa phương. Sâu và lâu… đến mức vị Trưởng Công an huyện Kỳ Anh thản nhiên như không khi chứng kiến cảnh người cảnh sát giật chìa khóa xe máy và tát tai người không đội mũ bảo hiểm!  Khoan nói đến sự vi phạm luật pháp rõ ràng của hành vi bạo hành khi thi hành công quyền, những hành động xem thường người dân kiểu như vậy cho thấy sự thiếu tôn trọng nhân phẩm công dân là tình trạng phổ biến và đáng báo động ở nhiều nơi.  Phản ứng cam chịu và im lặng bấy lâu của người dân vì ngại phiền toái và để được việc (tránh voi chả xấu mặt nào!) phần lớn do sự thiếu hiểu biết của người dân về các quyền mà hiến pháp và luật pháp dành cho mình.   Quyền được tôn trọng nhân phẩm như một con người là quyền tự nhiên và thiêng liêng mà không một cơ quan hay thế lực nào có thể ban cấp hoặc xâm phạm vì bất kỳ lý do gì. Việc bảo đảm các quyền này của công dân đã được ghi trong Hiến pháp, trong nhiều Nghị quyết của Đảng, của pháp luật và các qui định về nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi thành viên trong các cơ quan công quyền. Vì vậy, cần phải có những biện pháp xử lý thích đáng những hành vi bạo hành của người thi hành công quyền. Có như vậy người dân mới có thể trở thành người chủ thực sự trong một thể chế dân chủ đích thực.      Lê Công Định    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ quả của việc đếm bài đo thành tích      Thời gian vừa qua có những ồn ào liên quan đến chất lượng một số công bố quốc tế ở khối khoa học xã hội và nhân văn. Tôi cho rằng việc người nghiên cứu coi trọng và tìm mọi cách để đảm bảo chất lượng khoa học của các bài tạp chí hay chỉ thuần túy chạy theo số lượng công bố có liên quan chặt chẽ tới cách đánh giá kết quả, thành tích khoa học.      Nguồn hình minh họa: https://life.spectator.co.uk/articles/why-is-so-much-bad-science-published/  Để đưa ra một lời khuyên cho các nhà nghiên cứu trẻ trong khối khoa học xã hội và nhân văn về việc nên chọn đăng ở tạp chí nào thì trước tiên bản thân họ cần xác định đăng bài để làm gì? Thứ nhất, nếu để công bố những nghiên cứu công phu, trầy da tróc vẩy mới làm được thì họ cần tạp chí có tiếng, có uy tín, có người đọc. Còn nếu như người đó cần đăng bài để tính điểm, chỉ cần đếm bài ăn tiền, thì có lẽ họ không tội gì mất công đưa bài vào tạp chí có uy tín với quy trình bình duyệt nghiêm khắc, chặt chẽ và tỉ lệ từ chối cao.   Vì vậy, cách đánh giá thành tích khoa học sẽ ảnh hưởng đến loại tạp chí nào người ta muốn đăng bài. Hầu hết cách đánh giá khoa học hiện nay ở Việt Nam đang ở tình trạng đếm đầu công trình, từ các bài báo đến sách để quy ra thành tích. Vì vậy, nếu ta nhìn vào lý lịch khoa học của một số nhà nghiên cứu thì rất ngạc nhiên vì họ đã có thể sản xuất ra hàng trăm công trình khoa học, nhưng nếu đọc kỹ các công trình này, thấy hàm lượng khoa học của chúng rất thấp, hay nói cách khác, các công trình này chả đóng góp gì nhiều cho khoa học. Gần đây, công bố quốc tế được khuyến khích và trong nhiều trường hợp trở thành yêu cầu bắt buộc là dấu hiệu đáng mừng, nhưng khi người ta thuần túy chạy theo chỉ tiêu về số lượng công bố quốc tế thì cũng đã sinh ra nhiều kiểu lách luật. Nhiều tạp chí rởm, tạp chí tự phong (chủ yếu do các đại học, viện nghiên cứu hay nhà xuất bản ma không được cơ quan nhà nước hay chuyên môn thừa nhận, và không có tên trong danh sách các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng hoặc lưu trữ phổ biến) sẵn sàng nhận đăng bài kém chất lượng để kiếm tiền.   Trong khi đó, ở trong nước, một số tạp chí tuy chất lượng chưa tốt nhưng lại được tính điểm (nghiệm thu đề tài, đánh giá luận án, chức danh giáo sư, phó giáo sư) cao không kém các tạp chí chất lượng cao. Rõ ràng, công bố một bài ở các tạp chí top đầu của ngành sẽ khó khăn, vất vả hơn rất nhiều so với một hoặc thậm chí là nhiều bài ở các tạp chí có chất lượng thấp. Nhưng cả hai loại thành quả này vẫn đều được “đánh đồng” tính là một bài như nhau mà không có ai đánh giá công trình ấy thực sự có tầm quan trọng hay khám phá mới, đã vô hình trung làm nản lòng những người muốn đăng công trình nghiên cứu công phu. Trước cách đánh giá như vậy, có lẽ chỉ còn có một số nhà khoa học có lòng tự trọng, nghiến răng chờ đợi đưa bài vào tạp chí có tính chuyên môn phù hợp để kết quả nghiên cứu của họ đến được với độc giả tiềm tàng của bài báo/công trình.    Nâng cao chất lượng công bố quốc tế là một trong những chủ đề nóng được bàn nhiều ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội trong những năm gần đây. Trong ảnh: Hội nghị thảo luận về giải pháp để thúc đẩy công bố quốc tế trong đội ngũ cán bộ của Trường vào năm 2019.  Suy cho cùng, những hiện tượng trên thường xuất phát từ một thực tế đáng buồn là hiện nay không có nhiều hội đồng khoa học (từ nghiệm thu đề tài, đánh giá luận án, đến hội đồng đánh giá các danh hiệu khoa học) đủ năng lực và kiên nhẫn ngồi đánh giá chất lượng từng bài báo hay công trình nghiên cứu. Ở các hội đồng, tôi vẫn thường được nghe các vị giáo sư đức cao vọng trọng ghé vào tai nói nhỏ rằng họ biết chất lượng của công trình được nghiệm thu là thấp hoặc không đạt nhưng ngại lần khác đến lượt mình, cũng bị đánh giá như vậy. Bỏ qua hay dĩ hòa vi quý là cách ứng xử phổ biến hiện nay của các vị được tín nhiệm mời làm thành viên hội đồng nghiệm thu và đánh giá khoa học. Vì thế người ta thường mặc nhiên ỷ lại vào một danh sách tạp chí, mà danh sách ấy hầu như chỉ dựa theo cơ sở dữ liệu của ISI/Scopus, trong khi nhiều tạp chí có chất lượng học thuật khá lại không lọt vào danh sách này.   Câu hỏi đặt ra ở đây là, song song với các yêu cầu về số lượng công bố thì làm cách nào để các hội đồng, và suy rộng ra hơn là cộng đồng khoa học, có thể đánh giá được chất lượng công trình khoa học của các tác giả?  ​Nhìn ra giới học thuật khoa học xã hội và nhân văn quốc tế, có thể thấy họ cũng không quan tâm quá nhiều đến chỉ số định lượng trong các cơ sở dữ liệu tạp chí như ISI/Scopus. Điều họ quan tâm hơn ở một công bố khoa học là quan điểm học thuật, nguồn tư liệu đưa ra công bố (lưu ý trong các sách, chương sách, chứ không chỉ riêng tạp chí) được cộng đồng học thuật, đón nhận, thảo luận và phản biện như thế nào, và có những nhà khoa học uy tín nào quan tâm đến chủ đề nội dung được công bố.     Hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu trong KHXH&NV đều ít nhiều có liên quan trực tiếp đến chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội và các khía cạnh của cuộc sống hằng ngày nên khi công bố nghiên cứu của mình, các nhà khoa học quan tâm nhiều đến tác động xã hội của công trình. Ảnh: Cuốn sách “Luxury and Rubble” [Xa hoa và đổ nát], bàn về quá trình đô thị hóa ở các khu đô thị mới ở TP HCM, của PGS.TS. Erik Harms, Khoa Nhân học và Đông Nam Á học, Đại học Yale sau khi xuất bản đã được giới nghiên cứu nhân học đô thị, giới nghiên cứu KHXH nói chung và truyền thông quan tâm và thảo luận.  Khác với khoa học tự nhiên và công nghệ, hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn đều ít nhiều có liên quan trực tiếp đến chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội và các khía cạnh của cuộc sống hằng ngày nên khi công bố nghiên cứu của mình, các nhà khoa học quan tâm nhiều đến tác động xã hội của công trình. Họ mong đợi nghiên cứu của mình có nhiều người đọc, có ảnh hưởng đến giới làm chính sách hơn là đăng bài trên một tạp chí ISI/Scopus mà chỉ có những nhà nghiên cứu chuyên môn sâu quan tâm. Tôi đã nói chuyện với các nhà nghiên cứu ở các đại học danh tiếng, họ tỏ ra khá ngạc nhiên khi khoa học xã hội ở Việt Nam chỉ quan tâm xuất bản ở các tạp chí ISI/Scopus mà không đa dạng hóa việc công bố kết quả nghiên cứu của mình để nó đến được với công chúng, với độc giả đông đảo hơn là chỉ có dăm ba vị nghiên cứu chuyên sâu đọc. Nếu phải lựa chọn, họ sẵn sàng công bố kết quả ở những tạp chí hay hình thức xuất bản có tác động xã hội cao, nhiều người đọc hơn là một tạp chí ISI/Scopus.       ——  Tránh đăng ở các tạp chí bị tranh luận  Khi công bố quốc tế, quan điểm của tôi là chúng ta nên theo nguyên tắc cơ bản về kinh tế “cố gắng tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt hiệu quả”. Để đỡ lãng phí công sức và các nguồn lực, các nhà nghiên cứu trẻ nên hạn chế đăng ở những tạp chí đang bị tranh luận về uy tín, động cơ, số bài xuất bản, quy trình bình duyệt quá nhanh… Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng tìm hiểu về uy tín và những đánh giá của giới khoa học trong và ngoài nước đối với các tạp chí nhờ vào Google search, hoặc trực tiếp hỏi các nhà nghiên cứu uy tín trong nước. Trong trường hợp các tạp chí ấy bị tranh luận, cho dù họ có miễn giảm phí cũng không gửi bài. Tôi đặc biệt lưu ý ý kiến này với các nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước.  TS Vũ Văn Hưởng, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.    Chuyển dần từ lượng sang chất  Vì quá trình nghiên cứu cũng như kết quả công bố có nhiều mức độ, chất lượng khác nhau, nên theo tôi, mỗi tổ chức, đơn vị nên có tiêu chí của mình để khuyến khích công bố quốc tế chú trọng vào chất lượng hơn số lượng. Tuy nhiên, để chú trọng chất lượng thì đòi hỏi những người đánh giá cũng phải có chất lượng, hiểu biết và khách quan.  Ở các ngành chưa có đội ngũ chuyên gia đánh giá (luận án, đề tài, chức danh…) thực sự “chất lượng” thì bước đầu có thể chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu về số lượng bài báo quốc tế, sau một thời gian khi đã có đội ngũ chuyên gia giỏi thì có thể đưa thêm những yêu cầu chặt chẽ hơn. Chẳng hạn như đối với Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED), tôi đã từng đề nghị rằng sau một thời gian thực hiện chính sách tài trợ cho các đề tài với yêu cầu đầu ra là bài báo quốc tế, và đã tạo một số lượng công bố quốc tế nhất định, Quỹ nên nghiên cứu đến phương án cần phân tầng, phân lớp đề tài. Ví dụ đề tài nhóm 1 được tài trợ ngân sách lớn hơn, thời gian dài hơi hơn, dành cho các nhà khoa học uy tín đã có bài ở các tạp chí tốt thuộc tốp đầu của các ngành, nhằm khuyến khích và yêu cầu họ chú trọng đến chất lượng sản phẩm nghiên cứu, luôn đặt mục tiêu phải nghiên cứu có tiếng vang và chỉ hướng tới những tạp chí rất uy tín (và cũng chỉ cần một bài cho một đề tài); còn đề tài nhóm 2, ngân sách thấp hơn, thời gian có thể ngắn hạn hơn, dành cho các nhà nghiên cứu trẻ, công bố ở các loại tạp chí mức thấp hơn.  PGS.TS Đặng Hoàng Minh, ngành Tâm lý học, trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.    Thời gian bình duyệt ở các tạp chí nghiêm túc?   Từ kinh nghiệm nghiên cứu và tìm hiểu các tạp chí của mình, tôi nghĩ chỉ nên đăng ở các tạp chí được phản biện nghiêm túc. Thường những tạp chí này thuộc danh mục tạp chí ISI, SCOPUS, hoặc của các NXB uy tín, hay của các trường đại học uy tín. Trong thời gian gần đây tôi thấy một số đồng nghiệp có phản ánh về một số mô hình tạp chí có chất lượng bình duyệt qua loa chiếu lệ, chất lượng phản biện thường ở mức thấp.  Thông thường các tạp chí chất lượng sẽ có quy trình bình duyệt rất nghiêm túc. Ở các tạp chí uy tín, bao giờ tổng biên tập và các biên tập viên đều rất có trách nhiệm. Tổng biên tập thường đọc kỹ bài trước khi quyết định bài đó đủ chất lượng và phù hợp để tiến hành gửi phản biện bên ngoài hay không (thông thường 2 hoặc 3 phản biện là những người có chuyên môn phù hợp). Nếu bài chưa đạt chất lượng hay phù hợp với tạp chí thì sẽ bị từ chối đăng ngay để tiết kiệm thời gian cho các tác giả cũng như người phản biện. Riêng khâu này sẽ mất khoảng 1-2 tuần. Một dấu hiệu tiếp theo để nhận biết chất lượng bình duyệt tạp chí tốt là nhà khoa học phản biện bao giờ cũng nhận xét kỹ lưỡng, thông qua đó các tác giả sẽ học hỏi được rất nhiều. Còn ngược lại người bình duyệt không có chất lượng sẽ nhận xét hết sức sơ sài. Nếu phản biện sơ sài có thể bài báo sẽ được đăng nhanh, nhưng nhà khoa học sẽ không học hỏi được nhiều từ quá trình phản biện như vậy. Nhìn chung, thời gian bình duyệt trung bình, kể từ lúc nộp bài cho tới lúc có kết quả phản biện đầu tiên (kinh tế và các tạp chí liên ngành hoặc chuyên ngành có liên quan) sẽ mất khoảng ba tháng. Nhưng với những bài phức tạp thì có thể thời gian bình duyệt còn lâu hơn nữa. Nếu được chỉnh sửa thì thông thường mỗi bài báo sẽ trải qua hai vòng phản biện để được đăng bài.  TS Nguyễn Việt Cường, trường Đại học Kinh tế quốc dân.    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Hệ quả xã hội của đại dịch COVID-19      Với số người chết lên tới 3,8 triệu, COVID-19 đã nhanh chóng vượt qua hàng loạt ‘ứng viên’ nặng ký để đứng vào hàng ngũ 10 dịch bệnh gây ra nhiều tử vong nhất trong lịch sử nhân loại.  Nhưng con số đó chưa thể phản ánh hết những hệ quả xã hội mà đại dịch lịch sử này mang lại.       Đến tháng 2 vừa qua, Brazil ghi nhận 18,5 triệu ca nhiễm với hơn 510 ngàn người tử vong. Ảnh: Andre Coelho/ Getty Imges.   COVID-19 là một khủng hoảng xã hội sâu rộng và toàn diện, một tình huống bất thường dẫn tới các thiệt hại vật chất, tính mạng/sức khỏe con người và sự đình trệ các nề nếp và chức năng xã hội.  COVID-19 khiến cho người ta phải lấy nó để chia trước và sau bởi vì từ nay mọi thứ sẽ vận hành theo một trật tự mới, ở đó, những thứ tưởng như bất bình thường, ngoại lệ sẽ biến thành ‘bình thường mới’. COVID-19 đã đang gây ra khủng hoảng kinh tế thế giới tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái những năm 1930.  Hệ quả xã hội còn đáng lưu tâm hơn. Đại dịch đẩy người ta về ‘ốc đảo’ của mình, buộc họ gác lại nhu cầu làm việc, gặp gỡ người thân, giao tiếp xã hội, và ép phải thực hiện chức năng ‘xã hội’ qua các thiết bị điện tử và không gian số. Ngoài gây ra những ức chế, trầm cảm1, gia tăng bạo lực gia đình2, tác động sâu xa của đại dịch COVID-19 chính là làm lung lay những trật tự tưởng chừng như bất biến, làm chúng ta không thể nào mặc nhiên chấp nhận cuộc sống. Điều oái ăm chính là cái quyết định phần ‘người’ – sống và phụ thuộc các quan hệ xã hội, lại bị COVID-19 làm cho tha hóa. Nếu HIV chỉ giới hạn ở những quan hệ rất đặc thù (bạn tình, mẹ con, bạn nghiện), COVID-19 mở rộng ra toàn bộ các mối quan hệ xã hội mà chúng ta có, từ những vòng tròn xã hội thân thuộc trong gia đình, họ hàng cho tới những vòng tròn bạn bè, đồng nghiệp, nhóm xã hội, cho tới người lạ. Có lẽ nhà tâm lý học Maslow cũng không ngờ được rằng nhu cầu xã hội mà ông xếp đặt ở tầng 3 của Tháp nhu cầu, đã từ một thứ hiển nhiên trở thành thứ khan hiếm nhất trong bối cảnh chúng ta bị cách ly và ‘cấm trại’. Nhu cầu quan hệ xã hội trở nên xung đột với nhu cầu an toàn là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy COVID-19 là một ‘thảm họa xã hội’ toàn diện, sâu sắc nhất như cách nói của nhà xã hội học Raewyn Connell3. Tệ hơn, người ta trở nên ghét bỏ, kỳ thị, bài xích, xúc phạm, tấn công bạo lực các nhóm khác với mình. Hai thái cực “chúng ta/chúng nó” rõ ràng hơn bao giờ hết. COVID-19 đã vượt ra ngoài phạm trù sinh học và y tế với tư cách là một đại dịch truyền nhiễm, đã trở thành một thứ ‘bệnh dịch gán nghĩa’ (“an epidemic of signification”như Treichler4 đã nói về AIDS), ngụ ý người ta hiểu và nhìn nhận về nó không còn gói gọn trong giới hạn sinh học, mà bằng phông văn hóa, kiến thức và kinh nghiệm bản thân, đã tự kiến tạo ra rất nhiều phiên bản tri thức về nó. Người ta không chờ đợi và cũng không thể hiểu hết những gì giới hàn lâm khoa học nói; người ta truyền miệng, trao đổi, cập nhật rồi tự tiêu hóa, diễn dịch mớ thông tin họ có theo cách riêng, tạo ra nhiều khuôn mẫu, định kiến, nhận thức sai (stereotypes, misconceptions) và hành động dựa trên đó. Do đó, thật dễ hiểu tại sao lại có những phong trào bài ngoại (xenophobia), kỳ thị chủng tộc, tấn công người Châu Á hay gốc Á vì cho rằng họ là người tạo ra và truyền bệnh COVID-19. Và cũng chính những nhận thức sai lầm đẩy người ta vào thế ganh đua, tranh cướp nhau cả một thứ như cuộn giấy vệ sinh.      Nhu cầu quan hệ xã hội trở nên xung đột với nhu cầu an toàn là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy COVID-19 là một ‘thảm họa xã hội’ toàn diện, sâu sắc nhất như cách nói của nhà xã hội học Raewyn Connell.      COVID-19 là một hồi chuông thức tỉnh khiến nhân loại ‘phải đặt câu hỏi then chốt này: Hệ thống của chúng ta có gì sai khiến cho chúng ta bị tấn công không có sự phòng bị trước một thảm họa đã được các nhà khoa học cảnh báo hàng năm trước đó’, như nhà triết học Slovakia Slavoj Žižek5 đã viết. Đúng vậy, COVID-19 là một cuộc đại phẫu, phơi bày những vấn đề của thể chế hiện tại mà giờ đây mới bộc lộ hết. Bất bình đẳng của xã hội là một trong số mụn nhọt đó.     Ai là người gặp nhiều rủi ro hơn?     Từ những người vô danh nằm la liệt trên đường phố Ấn Độ cho tới diễn viên nổi tiếng như Tom Hank hay siêu sao bóng đá như Cristiano Ronaldo, đại dịch này không loại trừ một ai. Tưởng như “COVID-19 không phân biệt đối xử” với mọi nhóm xã hội, nhưng điều này là một thuyết giáo nguy hiểm bởi nó làm lãng quên đi thực tế về những nhóm yếu thế đang gặp nhiều nguy cơ nhất.    Những người thuộc tầng lớp thu nhập thấp sẽ chịu tác động nặng hơn. Bài học từ Đại dịch cúm Tây Ban Nha cho thấy, cứ tăng 10% thu nhập thì tỷ lệ tử vong giảm 9-10%. Nhóm thượng và trung lưu có tỷ lệ tử vong trong Đại dịch H1N1 ở mức 0.38%, trong khi nhóm nghèo là 0.52%, và nhóm rất nghèo là 1%.6 Điều này không khác biệt với COVID-19. Thống kê ở Anh cho thấy, vào tháng 12/2020, tỷ lệ tử vong do COVID-19 ở vùng kém phát triển nhất là 391,6 ca tử vong/100.000 người, cao gấp 2,5 lần so với con số này ở vùng phát triển nhất (khoảng 152,3 tử vong/100.000 người). Ở Wales, khoảng cách này là 1,95 lần, với nhóm kém phát triển nhất có tỷ lệ tử vong ở mức 560 ca/100.000 người7.      Trong một trăm năm qua, cùng với cúm Tây Ban Nha và HIV/AIDS, COVID-19 là một trong ba đại dịch khủng khiếp nhất. Nguồn: https://www.visualcapitalist.com/history-of-pandemics-deadliest/    Dù có thoát khỏi dịch bệnh thì cái mà chúng ta phải đối mặt là khủng hoảng kinh tế sâu rộng. Đối diện với những bấp bênh đó, những người nghèo và nhóm yếu thế chịu nhiều rủi ro nhất và cũng thiếu khả năng hồi phục nhất. Ước tính, trong tình huống xấu nhất, khủng hoảng do COVID-19 có thể đẩy 420-580 triệu người vào nghèo, kéo lùi khoảng một thập kỷ tiến bộ giảm nghèo, đưa mức độ nghèo đói của vùng Trung Đông, Bắc Phi, châu Phi Hạ Saharah về 30 năm trước, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc đạt mục tiêu xóa nghèo vào 20308. Một nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cũng dự báo, trong điều kiện chịu ảnh hưởng bình thường của COVID-19, vào năm 2030 sẽ có thêm 44 triệu người rơi vào nghèo cùng cực, nhưng trong điều kiện chịu ảnh ưởng nặng nề (high damage), số người rơi vào nghèo đói sẽ lên tới 251 triệu, đưa tổng số người sống dưới chuẩn nghèo lên tới 1,1 tỷ người vào 20309. COVID-19 không chỉ ảnh hưởng ngắn hạn mà còn để lại những hệ lụy lâu dài hàng thập kỷ.    Những tầng lớp thu nhập thấp và dễ tổn thương (như nhóm người thiểu số, trẻ em, người già, khuyết tật, người thiếu kỹ năng, di cư, làm việc trong các ngành công nghiệp tình dục) có khả năng chịu thiệt hại nhiều nhất bởi vì họ nghèo đủ loại ‘vốn’: thiếu hụt tiếp cận đến nhà ở an toàn, nước, y tế, điện (dịch vụ xã hội cơ bản), thu nhập thấp và bấp bênh, thiếu tiết kiệm và phương tiện sản xuất (vốn kinh tế), có nhiều bệnh lý nền, trình độ học vấn thấp và thiếu kỹ năng nghề nghiệp (vốn con người), mạng lưới xã hội nhỏ hẹp, thiếu hiệu quả, thiếu thông tin (vốn xã hội), tiếng nói và tham gia chính trị hạn chế (vốn chính trị), bị kỳ thị và thiếu được tôn trọng (vốn văn hóa). Các yếu tố khiến tầng lớp có vị thế kinh tế – xã hội thấp gặp nguy cơ cao hơn trong đại dịch: 1) Nhà ở chật chội tăng nguy cơ lây nhiễm; 2) Làm trong các ngành nghề không thể làm tại nhà thông qua công nghệ; 3) Điều kiện công việc và thu nhập không ổn định dễ bị sụt giảm, từ đó khả năng bị tổn thường về sức khỏe tâm thần và suy giảm hệ miễn dịch cao hơn; 4) Do nền tảng sức khỏe yếu hơn nên khi tiếp xúc với COVID-19 có khả năng rơi vào tình trạng bệnh tật nghiêm trọng hơn; 5) Gặp nhiều cản trở khi tiếp cận các dịch vụ y tế do rào cản ngôn ngữ, thái độ của nhân viên y tế (Patel và cộng sự, 2020)10. Ở Mỹ, so với người da trắng, người da đen có khả năng lâm vào tình trạng mất an ninh lương thực, bị sa thải, và thất nghiệp cao hơn ba lần11. Những người làm trong các ngành nghề giản đơn, đòi hỏi lao động chân tay, không thể làm tại nhà (work from home) có tỷ lệ tử vong cao nhất12.      COVID-19 là một cuộc đại phẫu, phơi bày những vấn đề của thể chế hiện tại mà giờ đây mới bộc lộ hết. Bất bình đẳng của xã hội là một trong số mụn nhọt đó.      Chiến lược vaccine thiếu công bằng     Hiện nay, việc tiêm vaccine để đạt miễn dịch cộng đồng được WHO xem là một trong những giải pháp tốt nhất để đối phó đại dịch nhưng nó mới đang chỉ tốt ở các nước giàu, nhóm giàu. Cho tới nay, toàn cầu có khoảng 3 tỷ liều được tiêm, với 23,2% dân số thế giới được tiêm ít nhất một mũi, nhưng đối với các nước thu nhập thấp, con số này chỉ là 0,9%. Có 828 triệu người được nhận đầy đủ hai mũi tiêm, trong đó, có tới 88,9% (736,9 triệu người) đến từ các nước thu nhập cao và trung bình cao, trong khi đó chỉ có 10,9% đến từ các nước thu nhập trung bình thấp (90,7 triệu) và chỉ 0.13% từ các nước thu nhập thấp13. Trong khi các nước giàu cứ mỗi giây tiêm được một người, hầu hết các nước nghèo người dân còn chưa nhận được liều nào14. Một ước tính khác cho thấy các nước giàu có tốc độ tiêm vaccine cao gấp 25 lần so với các nước nghèo15. Ngoài những nguyên nhân như thời gian bắt đầu chiến dịch tiêm chủng, tỷ lệ tiêm chủng, hay chiến lược ưu tiên (tiêm mỗi mũi trước hay tiêm cả hai mũi),16 có thể thấy, có sự bất bình đẳng đối với tiếp cận vaccine giữa các quốc gia. Các nước giàu hưởng lợi từ việc có đủ tài chính để mua, có các nhà xưởng và cộng nghệ tân tiến có năng lực tự sản xuất vaccine, và có thể tự hợp tác song phương với các nhà sản xuất này, trong khi các nước đang và kém phát triển đang phải vật lộn để tìm nguồn vaccine. Ý tưởng COVAX từ đầu năm 2020 nhằm tạo ra đoàn kết và phân phối vaccine một cách công bằng giữa các nước giàu và các nước nghèo theo nghĩa ‘một người vì mọi người và mọi người vì mình’ về cơ bản đã thất bại17.      So sánh tình hình tiêm chủng ở các nước. Nguồn: https://ourworldindata.org/COVID-vaccinations?country=AUS      Các nước nghèo bị bỏ lơ đã, đang và sẽ tạo điều kiện để ủ ra các biến chủng nguy hiểm hơn. Từ tháng 12/2020 cho tới 14/6/2021, WHO đã xác định có 7 ‘biến thể đáng quan tâm’ (VOI) và 4 ‘biến thể đáng quan ngại’ (VOC) trong đó biến chủng Delta vừa phát hiện ở Ấn Độ hồi tháng 4/2020 đã chuyển từ VOI lên VOC ngay sau một tháng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với nhu cầu giao thoa kinh tế- văn hóa và di động xã hội như hiện nay, không nước giàu hay nhóm thượng lưu nào có thể đứng ngoài cuộc nếu đại dịch trở nên mất kiểm soát.    Ấn Độ là một điển hình. Sau khi tuyên bố đầy chủ quan rằng đại dịch đã được kiểm soát vào tháng 1/2021, làn sóng thứ hai với đỉnh dịch tháng 5/2021 đã ghi nhận khoảng 400.000 ca mới và 4.500 người chết mỗi ngày, mang tổng số ca nhiễm của nước này lên tới 29,7 triệu (chỉ sau Mỹ) và số ca tử vong là 381 ngàn. (Nên nhớ Ấn Độ cũng là một trong những nước chịu thiệt hại nhiều nhất trong Đại dịch H1N1 với khoảng 20 triệu người chết).18 Đang là một nhà xuất khẩu vaccine COVID-19 thuộc hàng lớn nhất toàn cầu với khoảng 193 triệu liều vaccine (chiếm 21% tổng lượng vaccine COVID-19 toàn cầu), Ấn Độ rơi vào khủng khoảng thiếu vaccine trầm trọng. Hiện tại chỉ có 19% dân số Ấn Độ được tiêm phòng vaccine và trong đó chỉ có khoảng 4% dân số được tiêm đầy đủ hai liều. Điều quan trọng hơn là do tình hình khan hiếm và cấp bách, chính phủ đang chuyển gánh nặng tài chính vaccine lên người dân, với mức giá một liều vaccine khoảng 8 USD. Đối với những gia đình nông thôn Ấn Độ có thu nhập trung bình khoảng 87 USD mỗi tháng phải chi tới 50% con số đó để tiêm cho phòng hai mũi cho cả gia đình. Trong khi nước này có tới 69% dân số (khoảng 912 triệu người) đang sống trong nghèo đói, chi phí vaccine sẽ đẩy hàng triệu hộ gia đình lựa chọn không tiêm vaccine và nếu tiêm sẽ đẩy khoảng 10% tổng số gia đình Ấn vào nghèo đói19.    Brazil là một ví dụ khác. Một trong những đất nước có cơ sở hạ tầng y tế miễn phí và lớn nhất thế giới và lịch sử tiêm chủng thành công trong quá khứ,20 vậy nhưng cho tới đầu tháng 2/2021, đợt dịch dẫn tới 18,5 triệu ca nhiễm với hơn 510 ngàn người chết (chỉ sau Mỹ), Brazil chỉ tiêm chủng 1 mũi chưa tới 1% dân số. Hơn 17 triệu người sống trong các khu ổ chuột chật hẹp là đối tượng chịu rủi ro lớn nhất21.  Họ sẽ là người, dù chưa chết bởi COVID-19 nhưng sẽ phải đối diện với thứ đáng sợ hơn: đói trong bối cảnh viện trợ khẩn cấp của chính phủ giảm hơn một nửa.22 Tỉ lệ người dân các dân tộc bản địa tử vong cao gấp sáu lần so với phần còn lại của dân số Brazil.23    Rõ ràng, những người nghèo và yếu thế là nạn nhân chịu nhiều thiệt hại nhất từ lòng tham, trục lợi, sai lầm mù quáng và mục đích chính trị trong chiến lược chống dịch.    Bài học từ bức tranh của thế giới và đặc biệt là từ Ấn Độ, Brazil rất quý giá cho Việt Nam khi chúng ta đang đối mặt những thách thức to lớn trong đợt dịch lần thứ tư, với con số đã lên tới gần 17 ngàn ca nhiễm. Việt Nam vẫn đang có tỉ lệ tiêm chủng thuộc tốp thấp nhất Đông Nam Á và cả trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Việc chủ quan với thắng lợi sau các đợt dập dịch, việc nới lỏng các quy định phòng dịch và cho phép người dân ‘xả hơi’, có thể khiến chúng ta trả giá đắt như Ấn Độ.    Để không rơi vào thảm kịch tương tự, việc tiếp cận đa dạng các nguồn vaccine đã được phê chuẩn song song với tự sản xuất vaccine đạt chuẩn là cần thiết. Bên cạnh đó, chiến dịch tiêm chủng cần chú ý quan tâm đến cho các nhóm yếu thế cũng rất quan trọng. Hiện nay Chính phủ vẫn đang cho tiêm chủng miễn phí cho chín nhóm đối tượng ưu tiên và điều này thể hiện được sự quan tâm đối với một số nhóm yếu thế tuy vậy, chính phủ cũng nên có quyết sách mở rộng cho các nhóm khác gồm cả các nhóm phụ thuộc vào kinh tế vỉa hè, nhóm điều hành hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, nhóm người lao động giúp việc và rửa dọn hay các nhóm ẩn gồm đồng tính hay nhóm làm trong lĩnh vực kinh doanh tình dục. Nhìn vào bức tranh dịch bệnh hiện nay, có thể thấy các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh hay những địa phương tập trung các khu công nghiệp như Bắc Giang, Bắc Ninh sẽ là những nơi có khả năng bùng dịch cao nhất do mật độ dân số đông. Công nhân trong các khu xí nghiệp, các lao động chân tay và mưu sinh trên vỉa hè, những người sống trong các khu ổ chuột chật hẹp, những người khuyết tật là những nhóm có nguy cơ cao. Các chương trình xét nghiệm và tiêm chủng cũng cần chú ý đến các nhóm thiếu hụt các tiếp cận tới điện thoại, điện thoại thông minh và mạng Internet, vì họ có thể là nhóm ít nhận được các thông tin chính thống. □  —–     Chú thích:   1 Saladino và cộng sự, 2020, The Psychological and Social Impact of Covid-19: New Perspectives of Well-Being.  2 Nicola và cộng sự, 2020, The socio-economic implications of the coronavirus pandemic (COVID-19): A review https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7162753/  3 Connell, R. (2020). COVID-19/sociology. Journal of Sociology, 56(4), 745-751.  4 Treichler, P. A. (1987). AIDS, homophobia and biomedical discourse: An epidemic of signification. Cultural studies, 1(3), 263-305.  5 Žižek, S. (2020). Pandemic!: COVID-19 shakes the world. New York: John Wiley & Sons.  6 Beach, B., Clay, K., & Saavedra, M. H. (2020). The 1918 influenza pandemic and its lessons for COVID-19. National Bureau of Economic Research Working Paper Series, (w27673).  7 , 12 Monthly mortality analysis, England and Wales: December 2020 https://www.ons.gov.uk/peoplepopulationandcommunity/birthsdeathsandmarriages/deaths/bulletins/monthlymortalityanalysisenglan dandwales/december2020  8 Sumner và cộng sự, 2020, Estimates of the impact of COVID-19 on global poverty https://www.wider.unu.edu/sites/default/files/Publications/Working-paper/PDF/wp2020-43.pdf  9 UN Development Programme (UNDP), 2020, IMPACT OF COVID-19  ON THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT GOALS: Explore new findings Covid Impact in low and Medium HDI countries.  10 Patel, J. A., Nielsen, F. B. H., Badiani, A. A., Assi, S., Unadkat, V. A., Patel, B., … & Wardle, H. (2020). Poverty, inequality and COVID-19: the forgotten vulnerable. Public health, 183, 110.  11 Perry và cộng sự, 2021, Pandemic precarity: COVID-19 is exposing and exacerbating inequalities in the American heartland https://www.pnas.org/content/118/8/e2020685118  13 Coronavirus (COVID-19) Vaccinationshttps://ourworldindata.org/covid-vaccinations  14 Rich nations vaccinating one person every second while majority of the poorest nations are yet to give a single dose https://www.unaids.org/en/resources/presscentre/featurestories/2021/march/20210310_covid19-vaccines  15 The World’s Wealthiest Countries Are Getting Vaccinated 25 Times Faster https://www.bloomberg.com/news/articles/2021-04-09/when-will-world-be-fully-vaccinated-pace-is-2-400-faster-in-wealthy-countries?sref=BLKWHazc  16 A global database of COVID-19 vaccinationshttps://www.nature.com/articles/s41562-021-01122-8  17 Usher, 2020, A beautiful idea: how COVAX has fallen short https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)01367-2/fulltext  18 Beach, B., Clay, K., & Saavedra, M. H. (2020). The 1918 influenza pandemic and its lessons for COVID-19. National Bureau of Economic Research Working Paper Series, (w27673), p.28.  19 Why experts are not happy with India’s COVID-19 vaccine procurement, pricing policy https://www.downtoearth.org.in/news/health/why-experts-are-not-happy-with-india-s-covid-19-vaccine-procurement-pricing-policy-76731  20 Brazil Is Brilliant at Vaccinations. So What Went Wrong This Time? https://www.nytimes.com/2021/02/28/opinion/brazil-covid-vaccines.html  21  Malta, M., Vettore, M. V., da Silva, C. M. F. P., Silva, A. B., & Strathdee, S. A. (2021). Political neglect of COVID-19 and the public health consequences in Brazil: The high costs of science denial. EClinicalMedicine, 35, 100878.  22 Covid in Brazil: Hunger worsens in city slums https://www.bbc.com/news/world-latin-america-56765150  23 Inequities in care, misinformation fuel COVID deaths among poor, indigenous Brazilians https://www.pbs.org/newshour/show/inequities-in-care-misinformation-fuel-covid-deaths-among-poor-indigenous-brazilians    Author                Nguyễn Trung Kiên        
__label__tiasang Hệ sinh thái biển Việt Nam: Cơ hội phục hồi?      Điều gì đẩy các ngư dân đến nỗi tuyệt vọng đằng sau cánh cửa nhà giam của những nước láng giềng? Và tại sao dù biết kết cục cay đắng đó, nhiều người dân vẫn liên tiếp dấn tàu vào khu vực đánh bắt cá trái phép? Và lí do gì khiến nỗ lực gỡ thẻ vàng của Việt Nam vẫn chưa thể thành công?      Đánh bắt thủy hải sản trên vùng biển đảo Phú Quốc. Ảnh: Thuyền trưởng Nguyễn Văn Thành.  Trong căn buồng giam ở Tanjung Pinang, Indonesia, ngư phủ Việt Nam tên Nguyễn Văn Tư, 64 tuổi, một mình vật lộn với những cơn đau nhức ở cẳng chân. Mùa hè hai năm trước, tàu cá ông làm việc bị bắt quả tang đang thả lưới trái phép trong vùng biển Indonesia. Theo luật pháp nước này, những ngư dân làm thuê sẽ không bị phạt tù. Tuy nhiên, Tư đã không đủ tiền mua vé máy bay về nước sau phiên tòa nên bị giữ lại suốt 20 tháng qua.   Hàng trăm ngư dân Việt Nam giống Tư đang đợi chờ ngày về từ các nhà giam kham khổ của Indonesia nhưng có lẽ tình cảnh của Tư bi đát hơn cả. Ông bị tách ra khỏi đồng hương và bị giam riêng biệt do bị nghi mắc bệnh phong.  Thực trạng ngư dân Việt Nam xâm phạm vùng biển nước khác phổ biến đến mức, năm 2017, Việt Nam đã bị Ủy ban châu Âu (EC) rút thẻ vàng cảnh cáo hoạt động khai thác thủy sản. Theo số liệu thống kê của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, hàng ngàn ngư dân trên hơn 1.000 tàu cá bị lực lượng chức năng các nước bắt giữ trong ba năm 2017-2020.      Lượng tàu cá Việt Nam tăng gần gấp bốn lần trong 20 năm qua. Tàu cá từ biển miền Trung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm lần lượt 50% và 25% tàu cá toàn bộ đất nước. Biểu đồ: Thibi.co  Sức hút bên kia biên giới  Tháng 6/2020, một chiếc tàu gỗ tải trọng hơn 200 tấn với tên gọi “tàu cái” rời tỉnh Kiên Giang chở Tư cùng 17 thuyền viên, hướng về phía Nam của Biển Đông. Trên hành trình này, đi cùng với nó là một chiếc tàu bé hơn mang tên “tàu đực”. Sau hơn ba ngày, cặp tàu đến vùng biên giới Việt Nam –  Indonesia, tài công ra lệnh thả lưới và tắt máy định vị nhằm thoát khỏi sự giám sát của cơ quan chức năng từ đất liền.   “Hai chiếc tàu chạy song song kéo theo tấm lưới phía sau. Lưới dài tận mấy km, mắt lưới nhỏ xíu nên tóm gọn mọi thứ: mực, tôm hùm, ba ba, rùa, cá ngừ, cá hồng, cá thu, thậm chí có khi cả hải mã, san hô”, Tư miêu tả lại hành trình của mình. “Nhiều lúc thuyền trưởng mải mê chạy theo luồng cá, lái tàu vào vùng biển nước khác”.  “Cá ở vùng biển Indonesia và Malaysia nhiều hơn và lớn hơn. Cá ở biển Việt Nam chỉ nặng 1-3kg, còn ở hai nước kia cá từ 6-7kg trở lên.” Sự giàu có của những ngư trường láng giềng đã kéo ngư dân ra khỏi biên giới.   Tàu cái của Tư có bảy hầm chứa cá, mỗi hầm chứa khoảng 20 tấn. Cách 10 ngày hoặc hai tuần một lần, khi các hầm đã đầy, từ đất liền, chủ tàu sẽ cử một tàu hậu cần chạy ra tiếp tế dầu, nước đá, thực phẩm cho ngư dân, sau đó vận chuyển thành quả đánh bắt được về cảng, bán cho các công ty xuất khẩu thủy sản.     Sản lượng đánh bắt cá ở Việt Nam tăng gấp 3 lần, lên tới 2.8 tỉ kg trong hai thập kỉ qua, 80% sản lượng đến từ vùng biển ở Miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Biểu đồ: Thibi.co  “Tàu hậu cần giúp ngư dân bám biển lâu hơn, kéo dài đến ba tháng. Lưới cào gần như liên tục trong lòng đại dương”, từ nhà giam người đàn ông gầy hom hem nhớ lại.   Tư cho biết, có không ít tàu ở Kiên Giang to hơn, với thiết kế hơn 10 hầm cá. Trên tàu, ông chuyên phụ trách nấu ăn và phân loại hải sản. “Lưới tóm được rất nhiều cá con. Chúng chỉ to bằng ngón chân cái và được người mua chế biến thành phân bón”. Sau một chuyến đi, chủ tàu thu về khoảng 3 tỷ đồng, gấp đôi, thậm chí là gấp ba lần so với đánh bắt tại vùng biển Việt Nam.   Để tăng sản lượng đánh bắt, không ít ngư dân Việt Nam đã đi vào vùng biển các nước: Malaysia, Indonesia, Thái Lan,…, thậm chí tiến xa hơn trên Thái Bình Dương. Trong đó, Kiên Giang được biết đến như điểm nóng của cả nước về số lượng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Rốt cuộc sau bốn năm, Việt Nam không những chưa thể gỡ thẻ vàng của EC mà còn đối mặt với thẻ đỏ treo lơ lửng trên ngành đánh bắt; nếu điều này xảy ra, lệnh cấm hoàn toàn xuất khẩu cá sang EU sẽ được thực thi. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm tháng đầu năm 2021, đã xảy ra 32 vụ với 56 tàu và 446 người vi phạm về chống khai thác “đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định” (IUU). Còn phía EC dù đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam nhưng cũng thẳng thắn, nếu còn một tàu vi phạm thì không nói đến chuyện gỡ thẻ vàng.     Ngư dân Nguyễn Thanh Hồng ở Quảng Ngãi. Ảnh: Võ Kiều Bảo Uyên.   Bờ biển trống rỗng  Không phải đến tận bây giờ, trên những con tàu nối đuôi nhau vi phạm vùng biển nước ngoài, ngư dân mới có hình thức đánh bắt tận thu như vậy. Điều đó đã diễn ra hàng thập kỉ qua trên những tàu nhỏ dọc bờ biển Việt Nam.   Trước khi trở thành ngư dân đánh bắt xa bờ, Tư đã có hơn năm năm làm ngư dân trên những chiếc tàu nhỏ đánh bắt ven bờ tỉnh Cà Mau. Chúng là những chiếc thuyền nhỏ rời cảng vào sáng sớm và cập bờ khi trời vào chiều. “Các tàu gần bờ thường sử dụng loại lưới có mắt nhỏ, bắt cả những đàn cá đang vào bờ để đẻ trứng. Bị “động” nên về sau cá dạt sang các vùng biển khác, không quay về chỗ cũ nữa”, Tư biết rõ hệ lụy của cách khai thác này. “Nhưng cá ngày càng ít còn ngư dân cần bắt thật nhiều cá để nuôi vợ con. Chúng tôi là lao động chính của gia đình”.    Biển Việt Nam đạt 56/100 điểm theo Xếp hạng sức khỏe đại dương OHI (Ocean Health Index), đứng thứ 199/221 vùng biển trên toàn cầu và xếp cuối cùng trong vùng Biển Đông. Đồ họa: Tia Sáng    Trong OHI, Việt Nam tụt hạng so với thế giới 7/10 khía cạnh, đặc biệt là khả năng cung cấp Thủy hải sản, trong đó Việt Nam được 11/100 điểm. Biểu đồ: Tia Sáng việt hóa từ biểu đồ của Thibi.co   Ban đầu, mỗi ngày Tư kiếm được 200-300.000 đồng, nhưng những năm sau, số tiền ngày càng giảm dần, thậm chí có khi ông tay không trở về. “Vì những mẻ lưới gần bờ trắng trơn, tôi phải tìm kiếm những con tàu đi xa hơn trên Biển Đông”. Tư nhớ lại.   Là một phần của Biển Đông – hệ sinh thái biển phong phú nhất hành tinh với khoảng 3.365 loài cá biển, vùng biển gần bờ của Việt Nam đã từng rất giàu có. Trong trí nhớ của thuyền trưởng Nguyễn Văn Thành, 33 tuổi, khu vực biển xung quanh đảo Phú Quốc (Kiên Giang) những năm 2000 đầy ắp các loại cá, mẻ lưới nặng trĩu mỗi lần nhấc lên khỏi mặt nước. Thành nghỉ học, bắt đầu ra khơi làm ngư dân lúc 14 tuổi và trở thành thuyền trưởng sáu năm trước. Mỗi chuyến đi của anh khi ấy dài chỉ một tuần, ngư dân bám biển 20 ngày mỗi tháng. Bây giờ, do số lượng cá ngày càng giảm, anh phải lênh đênh trên biển gần một tháng, có khi hai tháng mới về nhà. “Vùng biển gần bờ gần như trống rỗng”, Thành nói. “Muốn bắt nhiều cá to như cá ngừ, cá thu, tàu phải chạy thật xa”.  Chia sẻ ký ức tương tự như Thành, ngư dân Nguyễn Thanh Hồng ở Quảng Ngãi cũng từng nhìn thấy những đàn cá lớn ở bờ biển miền Trung mà nay đã không còn bóng dáng. “Chúng nhiều đến mức, chúng tôi chỉ cần chiều muộn ra khơi và sáng hôm sau trở về”, người đàn ông trung niên da sạm nắng nhớ về những khoang thuyền phủ đầy màu bạc, hồng, xen lẫn sắc xanh, đen của các loại hải sản. Lúc ấy, hầu hết các tàu ở quê anh có công suất thấp, chỉ đánh bắt gần bờ.    Chợ cá cảng Tắc Cậu – Kiên Giang. Ảnh: Võ Kiều Bảo Uyên  “Chúng tôi có nhiều kiểu đánh bắt như lưới kéo, lưới vây, và cả lưới cào gần bờ, bắt được mọi thứ: cá nhỏ, cá to, tôm, sò, mực… Từ độ năm 1996, ngư dân trong xã có thêm nghề pha xúc – rọi đèn pha công suất khoảng 2000W xuống biển, cá cơm sẽ tự nổi lên, sau đó ngư dân chỉ việc thả lưới kéo lên”. Thế mà giờ đây, “Số hải sản bán được không đủ trả công cho thuyền viên”, ngư dân Quảng Ngãi nói.  PGS.TS Vũ Thanh Ca (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo Việt Nam) nhận định, nguồn lợi thủy sản ở vùng biển Việt Nam đang suy giảm ở mức báo động. Một trong những nguyên nhân chính là do ngư dân đã có nhiều năm tập trung đánh bắt gần bờ với số lượng cá đánh bắt vượt quá khả năng tái tạo của đàn cá; và trong một số trường hợp, dùng các ngư cụ đánh bắt hủy diệt như thuốc nổ, thuốc độc, đèn có công suất cao, kích điện, lưới mắt nhỏ và dày – ngư cụ có thể đánh bắt tất cả các loại và kích cỡ cá kể cả cá con.    “Chính quyền một thời gian dài hoặc là lơ là, hoặc là không đủ nguồn lực để kiểm soát các hoạt động này”, ông Ca giải thích.   Thực trạng của ngư trường Việt Nam được phản ánh qua kết quả đánh giá của chương trình Sức khỏe Đại dương (OHI). OHI đánh giá 221 khu vực đại dương trên toàn cầu, với thứ hạng 199, Việt Nam là nước thấp nhất trong số các quốc gia ở Biển Đông. Ngoài ra, trong số mười tiêu chí tạo nên điểm số tổng thể 56/100 của Việt Nam, điểm Cung cấp thực phẩm và Mức độ khai thác thủy sản bền vững đặc biệt thấp.       Nhưng rủi ro và bấp bênh của nghề biển lại không đủ sức níu chân người trẻ. Tàu thuyền lớn hơn, hiện đại hơn, nhiều hơn nhưng “thế hệ ngư dân tương lai” có lẽ sẽ thưa thớt đi. Giờ đây ở làng quê, những chuyến ra khơi ngày càng chật vật khi “tìm đỏ mắt mới có ai chịu làm ngư phủ”.      Chen chúc giữa “biển đói”   Nhưng không chỉ nguồn hải sản gần bờ đã cạn, những mẻ lưới kéo lên từ khơi xa cũng chứa đầy thất vọng.   Chính phủ nhiều năm dài khuyến khích ngư dân bám biển. Họ không chỉ là một trong những trụ cột kinh tế đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ ba thế giới, mà còn được xem là cột mốc sống trên Biển Đông. Sự hiện diện của lực lượng ngư dân tại đây là một trong những cách để khẳng định chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Điều này đã dẫn đến sự bùng nổ số lượng tàu với tần suất xuất hiện dày đặc trên biển. Theo Tổng cục Thống kê, trong 20 năm qua, số lượng tàu biển tăng gần gấp bốn lần từ 9.766 chiếc năm 2000 lên hơn 35.000 chiếc. Hơn một nửa số tàu này đến từ miền Trung và hơn một phần tư đến từ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.  Đi cùng với sự tăng trưởng về số lượng tàu là sự bùng nổ của công suất tàu. Tổng công suất tàu cá của Việt Nam năm 2020 là 14 triệu CV, cao hơn gấp ba lần so với con số 10 năm trước. Trong ba tỉnh đóng góp nhiều công suất nhất, có hai tỉnh thuộc miền Trung – Bình Định và Quảng Ngãi, tỉnh còn lại thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long – Kiên Giang. Trong quan sát của Thành và Hồng, số lượng tàu hiện nhiều hơn 10 năm trước rất nhiều khiến “những con tàu san sát nhau trên mặt biển”.    Ngư dân Quảng Ngãi cập cảng Sa Kỳ sau chuyến đánh bắt. Ảnh: Võ Kiều Bảo Uyên  Và không phải chỉ “cạnh tranh gay gắt” với nhau, các ngư dân còn phải dè chừng một “thế lực khác” trên chính vùng biển của nước mình: tàu của Trung Quốc. “Nhu cầu thủy sản của 1,4 tỷ dân quốc gia này là quá lớn và để đáp ứng được, các đội tàu đánh cá của Trung Quốc phải tiến xa hơn trên các đại dương, tràn ra ngoài lãnh hải của họ. Các tàu cá Trung Quốc cào nát Biển Đông, lấn át các nước láng giềng trong khu vực” – ông Nguyễn Thế Phương, nghiên cứu viên cộng tác tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM và thành viên dự án Đại ký sự Biển Đông, cho biết.   Trên những chuyến ra khơi đến quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, hai ngư trường được cho là nguồn cá còn dồi dào của Việt Nam, Hồng và những ngư dân quê anh thường xuyên bắt gặp các đoàn tàu vỏ thép lớn của Trung Quốc. “Mỗi đoàn có 20-30 chiếc dài 60m, to gấp 2-3 lần tàu gỗ của người Việt. Họ dùng lưới cào, và có cả hải cảnh bảo vệ. Khi thấy tàu của ngư dân Việt Nam lại gần, chúng sẽ rượt đuổi”, Hồng nhớ lại. “Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam không đủ khả năng bảo vệ tất cả ngư dân hoạt động trên Biển Đông”.  Hồng là một trong năm ngư dân đầu tiên ở tỉnh Quảng Ngãi được ngân hàng và chính quyền tỉnh chọn là ngư dân tiêu biểu nhận khoản vay đóng tàu lãi suất thấp vào năm 2017. Đây là cách để nhà nước thúc đẩy ngư dân đánh bắt xa bờ và tăng sức mạnh cho tàu cá Việt Nam. Nhưng kể cả vậy, lòng Biển Đông, vựa cá của cả nước đã không còn giàu có, không đủ sức kham hết những con tàu ngày càng to lớn và nhiều lên, chưa kể còn phải oằn mình gánh cả tàu cá nước láng giềng.  “Tôi đã nghĩ đó là cách tiếp tục nghề đánh bắt khi biển gần bờ đói. Tôi sẽ đi đến những vùng biển xa hơn ở trong nước, nơi có nhiều cá to”, Hồng kể. Con tàu vỏ thép chắc chắn, có thể đi xa hàng ngàn hải lý, tải trọng mấy trăm tấn vẫn in đậm trong tâm trí anh nhưng giấc mộng đó đã kết thúc chỉ sau ba năm con tàu chạm sóng.   “Ngay cả khi đi xa bờ thì không phải lúc nào cũng nhiều cá. Chúng tôi lênh đênh trên biển cả tháng trời với con tàu hiện đại và trở về với số cá không bằng 20 năm trước trên con tàu gỗ gần bờ”, ngư dân miền Trung này nói, giọng nghẹn lại. Ở tuổi 51, ngư dân kỳ cựu cuối cùng của làng đang chìm ngập trong món nợ hơn 15 tỷ đồng, con tàu của anh cũng đã bị ngân hàng tịch thu.  Không chỉ Hồng mà hàng trăm ngư dân ở vùng biển miền Trung đều đang nợ nần chồng chất, như sự thừa nhận của chính quyền địa phương và Trung ương trong các hội thảo gần đây.      Liệu có bao giờ gỡ được thẻ vàng?   Giải pháp cho môi trường biển hiện gắn liền với nỗ lực gỡ thẻ vàng bằng mọi giá của Chính phủ, điều mà giờ đây trở thành nhiệm vụ chính trị từ Trung ương đến địa phương của Việt Nam. Năm ngoái, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo, dứt khoát đến hết năm 2021 phải gỡ bỏ thẻ vàng IUU. Nhiệm vụ này càng bị sức ép bởi những thiệt hại kinh tế mà ngành đánh bắt đang phải hứng chịu. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), án phạt của EC đã khiến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) giảm liên tục từ năm 2017 đến nay. Kể từ năm 2019, EU đã tụt từ vị trí thứ hai xuống vị trí thứ tưtrong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam, sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. Nếu chiếc thẻ phạt chuyển sang màu đỏ, khi ấy ngành thủy sản Việt Nam bị thiệt hại 573 triệu USD Mỹ mỗi năm, theo một báo cáo do VASEP phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện.  Trước thẻ vàng IUU, các quy định kiểm soát đánh bắt của Việt Nam dù tồn tại trên văn bản pháp luật nhưng dường như vắng bóng trên thực tế. Mãi đến năm 2019, trong nỗ lực gỡ bỏ nó, Chính phủ đã siết chặt hơn quy định quản lý hoạt động đánh bắt của tàu cá như: yêu cầu gắn máy định vị để cơ quan chức năng giám sát hành trình của tàu, tăng mức phạt tiền lên 1 tỷ đồng đối với các hành vi vi phạm – gấp 10 lần so với trước đây. Ngoài ra, các tàu cá vi phạm còn bị tịch thu phương tiện, hải sản khai thác, tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác từ 6-12 tháng và cắt các khoản hỗ trợ mỗi chuyến biển.   Nhưng theo các chuyên gia, nguồn lực cảnh sát biển Việt Nam và các cơ quan chuyên trách quá mỏng để kiểm soát các hoạt động đánh bắt của ngư dân. Nhận xét này có thể được minh họa bằng lời kể của thuyền trưởng Thành: “Chủ tàu phải ký cam kết chỉ đánh bắt trong vùng biển Việt Nam bằng ngư cụ hợp pháp. Nhưng việc tuân thủ hay không là tùy mỗi người. Tôi biết nhiều người vi phạm nhưng họ vẫn không bị phạt”. Ban đêm trên biển Phú Quốc, thuyền trưởng này thỉnh thoảng vẫn nghe thấy tiếng mìn nổ khai thác cá.   “Ngư dân có nhiều cách để che giấu cơ quan chức năng. Họ sợ bị bắt, bị phạt nhưng cũng sợ bị đói, mắc nợ”, Thành cho biết.  Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chính sách không nên tập trung vào chế tài mà cần phải hướng đến bảo tồn nền sinh thái và chuyển đổi sinh kế cho ngư dân. Nếu không, trong lằn ranh mưu sinh, những con tàu được khuyến khích ra khơi vẫn sẽ rơi vào “bước đường cùng” liều mình chạy sang vùng biển khác, đánh bắt bằng các hình thức tận diệt. Cơ hội cho hệ sinh thái biển Đông của Việt Nam phục hồi mà cũng chính là tương lai của ngư dân sẽ càng mờ mịt và vô vọng.   Điều cần làm, theo ông Vũ Thanh Ca, là phải giảm tần suất các hoạt động đánh bắt trên biển bằng việc giới hạn thời gian khai thác trong năm và tăng diện tích khu vực bảo tồn đa dạng sinh học trên biển, đặt ra những khu vực cấm đánh bắt để ngư trường có cơ hội phục hồi.   Ông Ca cũng cho rằng, trước mắt, phải giảm ngay số lượng tàu đóng mới ở mỗi địa phương, đồng thời có kế hoạch chuyển đổi nghề cho ngư dân. Theo TS. Vũ Kế Nghiệp, chuyên nghiên cứu các hoạt động khai thác thủy sản, Đại học Nha Trang, rào cản lớn nhất là đa số ngư dân có trình độ học vấn thấp. Báo cáo của Liên Hợp Quốc về Môi trường công bố năm 2019 ước tính có 70% người dân ở các cộng đồng này chỉ học hết tiểu học, và dưới 1% đã tốt nghiệp các trường dạy nghề hoặc đại học.  “Chúng ta chỉ có thể hy vọng vào thế hệ tương lai. Trường Đại học Nha Trang đã tổ chức các chương trình học tập cho con em ngư dân. Tôi hy vọng, thế hệ này sẽ đi trên những con tàu hiện đại, am hiểu luật pháp và môi trường”, ông Nghiệp nói.  Nhưng rủi ro và bấp bênh của nghề biển lại không đủ sức níu chân người trẻ. Tàu thuyền lớn hơn, hiện đại hơn, nhiều hơn nhưng “thế hệ ngư dân tương lai” có lẽ sẽ thưa thớt đi. Giờ đây ở làng quê của Hồng, hầu như chỉ còn những người trạc tuổi anh bám biển. Còn với Thành, những chuyến ra khơi ngày càng chật vật khi “tìm đỏ mắt mới có ai chịu làm ngư phủ”.   Về phần Tư, mỗi ngày trôi qua, sự tuyệt vọng càng lớn dần, ông sợ sẽ bị mắc kẹt trong nhà giam xứ người vĩnh viễn.     “Một ngày nào đó, nếu ra được khỏi đây và về Việt Nam, tôi sẽ không làm ngư dân nữa. Tôi sợ nhìn thấy biển và những con tàu”, người ngư dân già ngồi bó gối sau song sắt nói. □  ——-  Phóng viên đã liên hệ qua email và điện thoại đến Tổng cục thủy sản nhưng không nhận được phản hồi.   Câu chuyện được hỗ trợ bởi chương trình Mekong Data Journalism Fellowship do Earth Journalism Network của Internews và The East West Center phối hợp tổ chức.      Author                Võ Kiều Bảo Uyên        
__label__tiasang Hệ thống các khuyến khích      Lương và bổng thường có mối tương quan tỷ lệ  thuận với nhau. Lương cao thì bổng cũng cao. Tuy nhiên, thông thường,  lương tăng theo cấp số cộng, mà bổng tăng theo cấp số nhân. Chính vì  vậy, bổng đang có sức hấp dẫn lớn hơn lương rất nhiều. Bổng lại gắn với  chức tước, vì vậy những chiếc ghế có sức cuốn hút rất lớn.       (Hệ thống  khuyến khích hiện nay là làm sao  để có chức cao hơn, chứ chưa phải làm  sao để có được trình độ chuyên  môn giỏi hơn). Và chúng ta sẽ thấy, hệ  thống các khuyến khích điều  chỉnh hành vi của con người một cách lâu bền  và triệt để hơn cả.    Điều đáng buồn nói trên cho thấy hệ thống các khuyến khích có tác động lớn đến hành vi con người chúng ta, đồng thời, nó cũng gợi ý cho chúng ta về cách thức làm thế nào để bảo đảm hiệu quả cho những cố gắng cải cách. Cụ thể là, để cải cách hành chính thành công, điều cốt lõi là phải thay đổi hệ thống các khuyến khích đã được hình thành từ trước, nếu không những cố gắng là rất đáng quý về cải cách thủ tục, về thể chế, về công tác cán bộ…, thì mọi việc vẫn sẽ như xưa. Ở đời, đá có ném bao nhiêu, thì ao bèo vẫn phủ kín lại trở lại, bởi vì rằng động lực tự nhiên là sự phủ kín trở lại. Nếu chức vụ đưa lại thu nhập và bổng lộc nhiều hơn, thì những chiếc ghế sẽ có sức hấp dẫn nhiều hơn cả. Nếu gây khó cho dân mới có lợi, thì “một cửa” vẫn có thể gây ra sự tốn kém, mất thì giờ bằng cách dẫn đến nhiều bàn.  Muốn xác lập một nền hành chính công thật sự phụng sự nhân dân, thì hệ thống các khuyến khích phải được thiết kế sao cho các công chức càng phục vụ nhân dân tốt bao nhiêu, thì càng có lợi bấy nhiêu. Việc bầu cử các chức vụ lãnh đạo và một hệ thống lương bổng tử tế là một vài trong những khuyến khích như vậy. Các khuyến khích này đang được nghiên cứu để áp dụng ngày một nhiều hơn ở nước ta. Tuy nhiên, do những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chúng ta khó có thể xác lập được các khuyến khích này trong một sáng một chiều.   Có một việc dưới đây, có lẽ, sẽ dễ làm hơn. Đó là việc  xác lập hệ thống chỉ số về sự hài lòng của người dân. Ví dụ, chỉ số hài lòng của người dân đối với ngành địa chính đang tăng lên (?!) thì ngành địa chính xứng đáng được tôn vinh, được khen thưởng. Ngược lại, thì phải bị khiển trách, bị cắt tiền thưởng và không được tăng lương. Điều quan trọng ở đây là phải xây dựng cho được những cơ quan nghiên cứu dư luận xã hội độc lập và khách quan. Tình trạng  “mẹ hát, con khen”, hay tệ hơn, “thổi kèn, khen lấy” như một số địa phương đã làm thật sự chỉ gây tốn kém mà không mang lại lợi ích gì.                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp 1946: Thể hiện cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực      Ngày 12/12/2011, Tạp chí Tia sáng có đăng tải bài viết: “Học từ Hiến pháp 1946: Cần nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế” của tác giả Nguyễn Thị Hường. Trong bài viết này, tác giả cho rằng “hạn chế của Hiến pháp 1946: tập quyền chứ không phải phân quyền” và đưa ra những căn cứ mà theo tôi không thuyết phục.        1. Khi đọc bài viết, tôi không rõ tác giả bài viết hiểu “phân quyền” và “tập quyền” là theo nghĩa nào.  Montesquieu cha đẻ học thuyết phân quyền trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” hoàn toàn không dùng khái niệm “phân chia quyền lực tuyệt đối” (Séperation des pouvois), mà là “phân công quyền lực” (Distribution des pouvois)[1]. Ông cho rằng bản chất khi có quyền lực là dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền, vì vậy cần phải phân công, kiểm soát và giới hạn quyền lực để tránh lạm quyền và bảo vệ dân quyền[2]. Thực tế ngày nay ngay cả ở Mỹ, một nước theo chủ thuyết “phân quyền cứng rắn” cũng không tồn tại một sự “phân quyền tuyệt đối” giữa lập pháp và hành pháp, điều này một phần do quan hệ ràng buộc của hai viện và Chính phủ trong hoạt động lập pháp, một phần do tính chất quan hệ giữa các đảng phái không tĩnh mà luôn động[3]. Đưa ra những căn cứ lịch sử và thực tế như vậy để thấy rằng không có sự phân quyền tuyệt đối, mà chỉ tồn tại sự phân công tương đối, tồn tại song hành với việc kiểm soát và cân bằng quyền lực.  Dùng khái niệm “tập quyền” để nói về Hiến pháp 1946 cũng không có cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế lịch sử. Cái gọi là “tập quyền”, hay thậm chí nguyên tắc “tập trung dân chủ” nếu có chỉ xuất hiện trong các Hiến pháp sau này (cụ thể Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980, Điều 6 Hiến pháp 1992), tuyệt nhiên không có qui định nào trong Hiến pháp 1946 dùng đến khái niệm “tập quyền” hay “tập trung dân chủ”.  Điểm khác biệt và là nét độc đáo của Hiến pháp 1946 so với các bản Hiến pháp sau này là bản Hiến pháp này không theo bất kỳ một nguyên mẫu Hiến pháp nào có sẵn trong lịch sử. Sau khi cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 thành công, có một bản Hiến pháp rất nổi tiếng và có hiệu lực ở Liên xô thời điểm đó là Hiến pháp năm 1936, nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh – một người chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng không lấy bản Hiến pháp này là khuôn mẫu khi xây dựng Hiến pháp 1946.  2. Tác giả bài viết lấy qui định “Nghị viện chỉ có một viện. Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước” (Điều 45), Chủ tịch nước chọn Thủ tướng với sự chuẩn thuận của Nghị viện (Điều 47) […]” rồi từ đó kết luận rằng: “Hiến pháp 1946 là tập quyền chứ không phải phân quyền” là thiếu cơ sở.  Nếu cho rằng Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước (theo Hiến pháp 1946 là người đứng đầu Chính phủ) và từ đó kết luận oan uổng nhà nước đó là “tập quyền” là hoàn toàn không đúng. Chẳng hạn, Hiến pháp nhiều nước hiện nay, đơn cử như ở Đức, theo chính thể cộng hòa đại nghị, Luật cơ bản qui định người đứng đầu Chính phủ là do Hạ viện bầu (Điều 63 Khoản 1 Luật cơ bản) hay ở Anh theo chính thể quân chủ lập hiến, Thủ tướng Anh theo truyền thống là do Hạ viện bầu, Nữ Hoàng bổ nhiệm. Tuy nhiên không ai nói là nhà nước Đức hay nhà nước Anh hiện nay là theo cơ chế “tập quyền” cả.  Thực tế, Hiến pháp 1946 đã có những yếu tố nhất định thể hiện cơ chế phân công quyền lực, kiểm soát và cân bằng quyền lực (checks and balances):  Thứ nhất, cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “phân công quyền lực” là không đúng.  Nghị viện nhân dân có quyền đặt ra pháp luật – quyền lập pháp (Điều 23). Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc – quyền hành pháp (Điều 43). Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có: a) Toà án tối cao; b) Các toà án phúc thẩm; c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp – quyền tư pháp (Điều 63).  Thứ hai, cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “cân bằng quyền lực” là không đúng.  Mặc dù Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước (Điều 45 Câu 1), nhưng Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc (Điều 50). Mặc dù, các thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm (Điều 64), nhưng trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69). Những qui định này đã phần nào biểu hiện sự “cân bằng quyền lực” cần thiết giữa các thiết chế Nghị viện nhân dân, Chính phủ và Tòa án.  Chính phủ lúc đó được xác định là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43). Điều này cho thấy không có một cơ quan nào cao hơn Chính phủ trong việc thực thi quyền hành chính. Theo Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước không chỉ là nguyên thủ quốc gia, người thay mặt cho nhà nước (Điều 49 mục a), mà còn là người đứng đầu Chính phủ (Điều 44). Việc Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc thể hiện rõ tính độc lập của Chủ tịch nước, một tiêu chí để tạo nên sự “cân bằng quyền lực”.  Chính Phủ có thể bổ nhiệm thẩm phán, nhưng khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo luật, không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nào, kể cả cơ quan đã bổ nhiệm (Điều 69). Khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là đảm bảo cốt lõi nhất thể hiện tính độc lập của thẩm phán, cũng như sự độc lập của tòa án với các thiết chế khác.  Thứ ba, cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “kiểm soát quyền lực” là không đúng.   Sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể hiện rất rõ ở các qui định cụ thể sau:  –                    Chủ tịch nước có quyền phủ quyết tương đối với các đạo luật của Nghị viện nhân dân:  Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố (Điều 31).  –                    Nội các có thể bị bất tín nhiệm: Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức (Điều 54 Câu 4).  –                    Nghị viện nhân dân có thể bị giải tán: Khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán. Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy (Điều 33). Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới (Điều 56).  –                    Nghị viện nhân dân có quyền biểu quyết ngân sách: Điều 23 đã qui định rất rõ thẩm quyền này của Nghị viện nhân dân. Thẩm quyền này thể hiện sự tác động trực tiếp của Nghị viện nhân dân đến Chính phủ và Tòa án.  –                   Chính phủ có quyền tác động trực tiếp đến hoạt động lập pháp của Nghị viện nhân dân, cũng như hiệu quả thực tế của hoạt động này: Điều này thể hiện ở qui định Chính phủ có quyền đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện (Điều 52 mục b), đồng thời có quyền thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện (Điều 52 mục a).  –                    Vấn đề trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng được qui định rất rõ trong Hiến pháp: Hiến pháp 1946 đặt ra vấn đề Bộ trưởng phải được Nghị viện tín nhiệm, nếu không đuợc tín nhiệm thì phải từ chức (Điều 54 Câu 1). Chưa hết, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội Các ((Điều 54 Câu 3). Tập thể Nội các không phải liên đới chịu trách nhiệm về hành vi của Bộ trưởng, điều đó muốn nhấn mạnh vấn đề cá nhân Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách.  Với những cơ sở lập luận trên, sẽ rất khó hiểu nếu cho rằng Hiến pháp 1946 là “tập quyền” chứ không phải “phân quyền”, thậm chí coi đây là một điểm hạn chế.  Lẽ dĩ nhiên, không có bản hiến pháp nào là tuyệt đối hoàn thiện, Hiến pháp 1946 cũng không phải ngoại lệ. Khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh và chính trị rất phức tạp lúc đó, chắc chắn là rất khác so với thời điểm hiện nay, thời buổi hội nhập toàn cầu. Việc chỉ ra những hạn chế của các bản Hiến pháp, tăng cường trao đổi, lắng nghe các ý kiến khác nhau, đặc biệt khi sửa đổi Hiến pháp thời gian tới, theo quan điểm của tác giả là rất cần thiết và rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, đứng trên phương diện khoa học, kết luận Hiến pháp 1946 thể hiện nguyên tắc tập quyền, không phải phân quyền như một hạn chế của tác giả, theo quan điểm của tôi là chưa thuyết phục.  ——  * NCS Đại học Saarland, Cộng hòa liên bang Đức        [1] Xem bản gốc Tiếng Pháp: Montesquieu (1748), De L’eprit des lois, V/14, XI/6, XI/7, XI/14, XI/18, XI/20, XII/1.      [2] Montesquieu (1748), De L’eprit des lois, XI/18, XI/20, XII/1.      [3] Một bằng chứng rất rõ là ở Mỹ luôn tồn tại cơ chế vận động hành lang (lobby) trong hoạt động lập pháp. Xem thêm:Nguyễn Quốc Văn (2006), Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ, Nghiên cứu Lập pháp, số 1/2006; Nguyễn Chí Dũng (2006), Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp các nước và xu hướng ở Việt Nam, Nghiên cứu Lập pháp, số 9/2006.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp dân chủ: Những yêu cầu cơ bản      Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3.9.1945,&#160; Hồ Chí Minh đã đưa ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính phủ, trong đó nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ.”    Và theo những cam kết chính trị đã được đưa ra chính thức, Việt Nam sẽ sửa đổi Hiến pháp trong một tương lai không xa. Vì vậy việc tìm hiểu những yêu cầu của một hiến pháp dân chủ là điều cần thiết cho công cuộc điều chỉnh những thể chế cơ bản của chính quyền hợp hiến ở Việt Nam.  Tính khách quan (Objectivity)   Một hiến pháp cần thiết đối với sự phát triển xã hội phải có tính chất khách quan đối với các nhà cầm quyền. Những nỗ lực xây dựng chính quyền hợp hiến hơn hết cả là hướng đến việc rút những gia trị chung khỏi những đam mê chủ quan của các nhà lãnh đạo. Muốn vậy, hoạt động lập hiến được coi như một công việc khách quan hóa các giá trị chung, làm cho chúng không nằm trong khuôn khổ của sự điều khiển tùy ý của người cai trị. Hiến pháp, theo tinh thần này, trở thành một phương tiện biểu đạt các giá trị khách quan của chính thể trong sự so sánh với những khuynh hướng chủ quan của người điểu khiển chính thể. Trong chừng mực tạo ra được một môi trường để những ai quản trị quốc gia bị giới hạn bởi các giá trị có tính chất khách quan đối với họ, hiến pháp bảo vệ các quyền cơ bản của người dân trước nguy cơ lạm dụng quyền lực. Có hai con đường để bảo đảm sự khách quan của hiến pháp.   Thông qua việc ràng buộc nhà cầm quyền vào những quy tắc cao hơn được cắm rễ trong truyền thống. Chính quyền hợp hiến nước Anh tiêu biểu cho con đường này. Trong tác phẩm “Người bạn chung của chúng ta”, có một cuộc đàm thoại thú vị giữa Podsnap, một người Anh với một người Pháp thượng lưu, liên quan đến hiến pháp. Podsnap nói: “Người Anh chung tôi rất hãnh diện vì hiến pháp do Thượng đế ban cấp. Không quốc gia nào được hưởng thiên huệ nhiều bằng Anh quốc.” Người Pháp thượng lưu hỏi: “Còn các quốc gia khác họ làm sao ?” Podsnap đáp, đầu lắc một cách trịnh trọng: “Thưa ông- tôi xin lỗi phải nói như vậy- họ phải tự lo liệu lấy.”1 Thực ra, cái mà Podsnap gọi là “hiến pháp do thượng đế ban cấp” chính là các quy tắc điều hành chính quyền được hình thành một cách tự nhiên theo lịch sử, cái mà sau này người ta gọi là hiến pháp bất thành văn. Theo Leslie Lipson, “điều mà người Anh gọi là hiến pháp chỉ là một phương thức để tóm tắt sự đồng ý của nhân dân đối với những nguyên tắc mà chính quyền phải theo và đối với những định chế do đó các nguyên tắc này được thi hành. Sự đồng ý này có tính cách chính trị vì nó thể hiện ý nguyện của một đại đa số ưa thích một hệ thống chính quyền đặc biệt và sự cương quyết muốn bảo vệ những nét căn bản của chính quyền đó.”2 Phương thức tóm tắt sự đồng ý của dân chúng đối với các quy tắc điều hành chính quyền đó không phải được thực hiện thông qua hoạt động lập hiến hữu thức của con người mà thông qua một quá trình kết tinh dần dần các tập quán chính trị một cách vô thức trong dân chúng. Khi các quy tắc điều hành chính quyền được gắn kết ổn cố với truyền thống biểu hiện như là trầm tích văn hóa chính trị, nó trở nên khách quan đối với các nhà lãnh đạo hiện tại: họ không thể tùy ý điều hành quốc gia theo những mong muốn của riêng họ.   Không được hưởng ân huệ như người Anh, đa số các chính quyền hợp hiến hiện nay phải “tự lo liệu lấy.” Họ đi theo con đường thứ hai trong việc khách quan hóa các chuẩn mực chung của chính thể: xây dựng các hiến pháp thành văn.   Tính ngoại sinh (Externality)  Để không trở thành một vật được nhào nặn theo tư ý của nhà cầm quyền, hiến pháp phải đến từ bên ngoài họ.3 Tính ngoại sinh của hiến pháp, nói theo cách ngược lại, có nghĩa hiến pháp không phải là một sản phẩm sinh ra từ trong nội tại chính quyền. Hiến pháp học hiện đại thừa nhận một nguyên tắc căn bản rằng hiến pháp tối cao so với chính quyền. Hệ quả tự nhiên của nguyên tắc này là hiến pháp phải đứng ngoài những nỗ lực chủ quan của chính quyền. Trong khi luật pháp được sinh ra bởi chính quyền, hiến pháp là một thứ bên ngoài tạo lập nên chính quyền. Cũng có hai con đường để hiến pháp trở nên ngoại sinh đối với nhà cầm quyền: đặt hiến pháp vào bàn tay của truyền thống hoặc của nhân dân.   Người Anh theo cách thức thứ nhất. Hiến pháp nước Anh không phải do chính quyền ban cấp cho người dân Anh, mà là do « Thượng Đế ban cấp » theo cách nói của Podsnap mà thực chất là do truyền thống tạo ra một cách tự nhiên. Chủ quyền của truyền thống rút hiến pháp khỏi sự điểu khiển tùy ý của các nhà cầm quyền.   Các hiến pháp thành văn ngoại sinh đối với chính quyền bằng con đường thực thi chủ quyền nhân dân đối với hiến pháp. Một triết gia chính trị người Mỹ Thomas Paine trong cuốn « Quyền Con người » (The Right of Man) (1792) cho rằng : «Hiến pháp không phải là một đạo luật của chính quyền, mà là của nhân dân, những người cấu thành nên quyền.’’4  Thomas Paine nói thêm : «Hiến pháp là một tài sản của quốc dân, không phải của những người điều hành chính quyền. Tất cả các bản hiến pháp ở Mỹ đều tuyên bố là được xây dựng trên cơ sở chủ quyền nhân dân. Ở Pháp, từ ‘quốc dân’ được sử dụng thay thế cho từ ‘nhân dân’; nhưng trong cả hai trường hợp, hiến pháp là một thứ có trước chính quyền ». Chính quyền là một tạo vật của hiến pháp thay vì điều ngược lại. Khi đó, các nhà lãnh đạo chính quyền bị ràng buộc bởi các điều khoản khách quan đến từ bên ngoài họ.   Tính có thể nhận thức rõ (Discernibility)  Cũng tương tự như tính ngoại sinh, tính có thể nhận thức rõ là một hệ quả tự nhiên từ tính khách quan của hiến pháp. Tính chất này hiểu một cánh đơn giản nhất có nghĩa là dân chúng phải được biết một cách rõ ràng đối với các quy tắc hiến pháp.5 Sự mập mờ là người bạn đồng hành cần thiết đối với những cách cai trị tùy tiện- tâm điểm tranh đấu của chương trình hợp hiến thực sự. Tình trạng thiếu hiểu biết của dân chúng đối với các quy tắc quản trị họ, mà điều này thường xuất phát từ việc các quy tắc đó được xây dựng theo một cách thức mập mờ, là một môi trường thuận lợi cho sự nẩy nở những thói cai trị độc đoán. Chính vì vậy, các chính quyền cam kết với các giá trị hợp hiến, thường có khuynh hướng minh bạch hóa các điều khoản cơ bản để đặt các nhà lãnh đạo dưới sự giám sát thường xuyên của dân chúng.   Tính có thể nhận thức rõ của hiến pháp được bảo đảm ngay từ hoạt động lập hiến. Lấy hiến pháp để đặt tên đường phố hay trưng những biểu ngữ kêu gọi tuân thủ hiến pháp là những hoạt động hình thức có tính chất lễ nghi hơn là những hành động căn bản có tính chất thực chất để đảm bảo sự minh bạch của hiến pháp. Quy trình lập hiến minh bạch mới là điều kiện căn bản để hiến pháp trở nên có thể biết được một cách rõ ràng đối với dân chúng. Để bảo đảm tính có thể nhận thức rõ, và do đó, tính khách quan, của hiến pháp, các nền hợp hiến hiện nay cam kết với nguyên tắc chủ quyền nhân dân đối với hiến pháp, thiết lập các hội nghị hiến pháp phổ thông để điều trần các điều khoản hiến pháp, và trong nhiều trường hợp, phê chuẩn hiến pháp trong các cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc. Khi hiến pháp được thảo luận và phê chuẩn công khai trong các diễn đàn phổ thông, các quy tắc của hiến pháp tự nhiên rõ ràng đối với dân chúng.   Tính tự giới hạn (Self-limitation)  Một hiến pháp có thể khách quan, ngoại sinh, và được nhận thức rõ, vẫn có thể không phải là một hiến pháp dân chủ nếu nó thiếu những nội dung có tính chất giới hạn. Một cộng đồng tiến hành xây dựng hiến pháp, nếu thực sự cam kết với việc tiến đến một chính quyền hợp hiến, sẽ tự giới hạn những ước vọng chung của cộng động và những phương tiện thuộc về cấu trúc của việc vận hành quyền lực công. Một hiến phát tự giới hạn, như vậy, gồm hai loại giới hạn: những giới hạn ước vọng và những giới hạn cấu trúc.6   Một cộng đồng hợp hiến cần giới hạn những ước vọng của nó. Cam kết với các giá trị mĩ miều vô giới hạn có thể đưa cộng đồng đến những biện pháp bằng mọi giá để đạt được các giá trị đó, và thậm chí nguy hiểm hơn là các phương tiện độc đoán hoặc toàn trị. Thay đổi bản chất con người hay tạo lập những « con người mới », chẳng hạn, là những ảo vọng mà các cộng đồng hợp hiến sẽ không nên theo đuổi. Thông thường, các chính quyền hợp hiến giới hạn vào các mong muốn thực tế tôn trọng các quyền căn bản của người dân. Các điều khoản của hiến pháp về các quyền của công dân biểu hiện rõ nét các giới hạn ước vọng của một cộng đồng hợp hiến. Một chính quyền hợp hiến với tinh thần thực tế tránh cam kết vô hạn định với các quyền con người. Ví dụ, quyền tự do ngôn luận thường bị giới hạn bởi các quy định về quyền của người chưa thành niên hay quyền được tôn trọng nhân phẩm. Ví dụ, các quyền tự do ngôn luận không thể được sử dụng để cản trở sự phát triển về sau của những người chưa thành niên hoặc để xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân.7         Một hiến pháp khách quan đối với nhà cầm quyền, do người dân hoặc truyền thống sinh ra từ bên ngoài ý chí của nhà cầm quyền, được nhận thức rõ ràng bởi người dân, chứa đựng những quy tắc có tính chất giới hạn những mong muốn của cộng đồng và quyền lực công sẽ giúp ích cho quyền lực được sử dụng chính đáng vì sự phát triển chung của xã hội.         Các giới hạn về cấu trúc là những thiết kế về mặt thể chế để ràng buộc sự vận hành của quyền lực chính trị công nhằm tránh khả năng nhà lãnh đạo rời xa những giá trị chung. Tiêu chuẩn căn bản là hiến pháp cần phải xây dựng những giới hạn về cấu trúc, còn các quốc gia khác nhau có những con đường khác nhau để thực thi điều này. Các giới hạn về cấu trúc thường được biết đến rộng rãi như: hệ thống phân quyền giữa các ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp; hệ thống phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương hoăc giữa chính quyền liên bang và chính quyền tiểu bang trong các quốc gia liên bang; chế độ lưỡng viện; chế độ đàn hạch; chế độ điều trần; chế độ phủ quyết; chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm; chế độ độc lập tư pháp; và chế độ tài phán hiến pháp.    Hiến pháp là một phương tiện chính thức giải quyết các vấn đề quyền lực. Bốn đặc tính nói trên cần thiết để hiến pháp có thể làm cho quyền lực vận hành theo mục đích phát triển thay vì theo những đam mê cá nhân.   Những gợi mở đối với sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam  Xét về tính khách quan, Hiến pháp Việt Nam thuộc loại thành văn nhưng không hẳn có đủ tính khách quan đối với những nhà điều hành quốc gia. Trong quan niệm chính thống cũng như trong thực tế vận hành chính thức, hiến pháp được xem là sản phẩm của nhà nước do cơ quan lập pháp ban hành. Như một hệ quả tự nhiên, hiến pháp có tính chất nội sinh. Nhà nước, thay vì quyền lực của nhân dân hay truyền thống, tạo dựng nên hiến pháp. Trong khi cơ quan lập pháp ban hành ra hiến pháp, sự mâu thuẫn của tư duy hiến pháp biểu hiện ở chỗ làm sao hiến pháp có thể trở thành tối cao so với các đạo luật trong khi cả hiến pháp và luật cùng sinh ra trong một nguồn.   Một hệ quả tiếp theo của điều này, do thiếu những hội nghị hiến pháp phổ thông hay phê chuẩn toàn dân đối với hiến pháp, các điều khoản của hiến pháp không hẳn được nhận thức rõ ràng đối với đa số người dân. Từ Thủ đô cho đến những vùng quê xa xôi hẻo lánh, khi sơn son lộng lẫy, khi bám phủ rêu phong,  khẩu hiệu « Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật » dường như không thành công lắm trong việc nhắc nhở người dân về các quyền căn bản của họ. Trước pháp đình cũng như trước các cơ quan hành chính, hiếm khi người viện dẫn đến hiến pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Đâu đó người ta chua chát cho rằng người dân có ấn tượng với một công văn của chính quyền cơ sở hơn những điều khoản tối cao.   Những chủ nhân đích thực quay lưng lại với hiến pháp có lẽ không phải là một tín hiệu tốt đối với vai trò của hiến pháp. Để hiến pháp có thể đóng góp tốt hơn vào sự phát triển chung của xã hội, hiến pháp cần phải được gắt kết với nhận thức của người dân. Điều này đến lượt nó đòi hỏi sửa đổi hiến pháp trong tương lai cần xem xét việc thừa nhận chủ quyền nhân dân đối với hiến pháp, triệu tập một Hội nghị hiến pháp để thảo luận các điều khoản hiến pháp sửa đổi, và sau đó trưng cầu dân ý đối với các nội dung đã được Hội nghị hiến pháp thông qua.   Xét về tính tự giới hạn, Hiến pháp Việt Nam cam kết một cách khá đầy đủ đối với các quyền cơ bản, từ các quyền chính trị-dân sự đến các quyền kinh tế-văn hóa-xã hội (Chương V). Tuy nhiên, những giới hạn về cấu trúc để hiện thức hóa các dân quyền này chưa được thiết kế một cách đầy đủ và chi tiết. Trong các nguyên tắc căn bản của chế độ chính trị, Hiến pháp chủ trương thiết lập một nhà nước pháp quyền có sự phân công quyền lực. Tuy nhiên, các điều khoản cụ thể về các định chế nhà nước chưa đi xa hơn trong việc triển khai nguyên tắc căn bản này. Dù từ năm 2001 Hiến pháp đã chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền và phân công các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp (Điều 2), nhưng xây dựng những cơ chế pháp lý chính thức làm phản đề cho khả năng lạm quyền như  chế độ  kiểm tra tính hợp hiến của chính quyền, hạn định cụ thể của quyền lập pháp,8 xác định cụ thể chủ thể thực thi quyền hành pháp và tư pháp9 vẫn là những vấn đề đang chờ các nhà thảo hiến tương lai giải quyết.   —-  1 Dẫn lại theo: K.C. Wheare ( Nguyễn Quang dịch), Hiến pháp tân tiến, 1967, tr.23-24.   2 Leslie Lipson ( Đặng Tâm dịch), Những Vấn đề Căn bản của Chính trị. ( Sài gòn: Hiện đại thư xã ấn hành, 1974), tr 357.   3 Beau Breslin, đã dẫn, p 126.   4 Thomas Paine, Rights of Man (Meneola, New York : Dover Publications, INC, 1999), p 125.   5 Beau Breslin, đã dẫn, p 129.   6 Theo Craham Walker, đã dẫn, p.166-167.   7 Xem, ví dụ, Điều 5 Hiến pháp (Luật Cơ bản) của Cộng hòa Liên Bang Đức.   8  Theo Hiến pháp hiện hành, quyền lập pháp của Quốc hội hiện nay không có giới hạn, có nghĩa Quốc hội có thể lập pháp về bất cứ lĩnh vực nào. (Xem Điều 84).  9 Hiến pháp không quy định cơ quan nào là cơ quan hành pháp, cơ quan nào là cơ quan tư pháp. Chính phủ được quy định là cơ quan hành chính (không phải hành pháp) (xem Điều 119). Tòa án được quy định là cơ quan xét xử (không phải tư pháp) (xem Điều 127). Ở Việt Nam, các hoạt động của các cơ quan điều tra, công tố cũng được hiểu là hoạt động tư pháp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân      “Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.    1. Hiến pháp   Chào các bạn, Hiến pháp mới đã hoàn thành. Từ ngày 3 tháng 5 năm Showa thứ 22 (năm 1947-ND), quốc dân Nhật Bản chúng ta sẽ phải tuân thủ hiến pháp này. Để có được bản Hiến pháp này, rất nhiều người đã lao tâm khổ tứ.  Nhân tiện đây, các bạn có biết hiến pháp là thứ như thế nào không? Có ai nghĩ nó giống như là thứ không có liên quan gì đến mình không? Giả sử có, thì đó là một sai lầm lớn.   Việc nước không thể một ngày ngơi nghỉ. Thêm nữa, cách tiến hành công việc trị nước cần phải được quyết định rõ ràng. Để làm được điều đó cần đến rất nhiều quy tắc. Các quy tắc này có rất nhiều nhưng trong đó quy tắc quan trọng nhất là Hiến pháp.   Quy tắc cơ bản nhất quyết định trị nước như thế nào, tiến hành việc nước như thế nào là Hiến pháp. Nếu như nhà của các bạn bị mất cột thì sẽ thế nào? Ngôi nhà sẽ đổ sập ngay lập tức. Nếu ví đất nước như ngôi nhà thì cây cột chính là Hiến pháp. Nếu như không có Hiến pháp, thì cho dù trong nước có bao nhiêu người đi chăng nữa cũng không hiểu được phải trị nước như thế nào. Vì vậy cho dù là ở nước nào, Hiến pháp với tư cách là quy tắc quan trọng nhất cũng được tuân thủ chặt chẽ. Quy tắc quan trọng nhất của đất nước nói một cách khác cũng là quy tắc có vị trí cao nhất vì thế  Hiến pháp còn được gọi là “quy tắc tối cao” của đất nước.   Tuy nhiên trong Hiến pháp này, giống như vừa trình bày, bên cạnh cách tiến hành việc nước còn viết về một điều quan trọng nữa. Đó là quyền lợi của quốc dân. Quyền lợi này sẽ được nói chi tiết ở phần sau vì thế ở đây chỉ xin được nói về việc tại sao nó lại quan trọng giống như là quy tắc quyết định cách  tiến hành việc nước.   Các bạn là một thành viên trong quốc dân Nhật Bản. Nếu như từng quốc dân không trở nên thông minh và mạnh mẽ thì toàn thể quốc dân không thể nào trở nên thông minh và mạnh mẽ được. Nguồn gốc của sức mạnh đất nước là nằm ở mỗi người dân. Vì thế mà nhà nước thừa nhận năng lực của từng người dân và bảo vệ nó chu đáo. Để làm được điều đó, Hiến pháp đã quy định  rất nhiều quyền lợi của từng người dân. Quyền lợi quan trọng này của người dân được gọi là “các quyền cơ bản của con người”. Quyền lợi này cũng được ghi trong Hiến pháp.   Vì vậy, một lần nữa tôi lại muốn nói xem Hiến pháp là gì. Hiến pháp là quy tắc quan trọng nhất của đất nước tức là “Pháp quy tối cao” vì vậy ở trong đó có ghi hai việc quan trọng. Thứ nhất là quy tắc quyết định cách trị nước, cách tiến hành việc nước. Thứ hai là quy tắc quy định những quyền quan trọng nhất của quốc dân tức là những “quyền con người cơ bản”. Bên cạnh đó hiến pháp cũng quy định nhiều việc cần thiết khác. Như sẽ được trình bày ở phần sau, Hiến pháp lần này cũng quy định một việc vô cùng quan trọng là không tiến hành chiến tranh.   Hiến pháp có từ trước đến nay là hiến pháp ra đời vào năm Minh Trị thứ 22 (tức năm 1889-ND), là hiến pháp do Thiên hoàng Minh Trị tạo ra và áp dụng cho người dân. Tuy nhiên Hiến pháp mới lần này là do chính bản thân quốc dân tạo ra, là thứ được lập ra một cách tự do bằng ý kiến của toàn thể quốc dân Nhật Bản. Để biết được ý kiến của toàn thể quốc dân, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra vào ngày 10 tháng 4 năm Showa thứ 21 (năm 1946-ND), các đại biểu mới của quốc dân được bầu và những người này đã tạo ra Hiến pháp. Vì vậy Hiến pháp mới là do toàn thể quốc dân lập nên.   Các bạn cũng là một trong số quốc dân Nhật Bản. Nếu vậy Hiến pháp này là do các bạn tạo ra. Các bạn sẽ coi trọng thứ mà bản thân mình tạo ra phải không nào. Nếu như Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ toàn thể quốc dân bao gồm các bạn và là quy tắc quan trọng nhất của đất nước thì các bạn với tư cách là một thành viên của quốc dân phải bảo vệ cho được Hiến pháp. Để làm được điều đó thì trước hết các bạn phải biết rõ những nội dung nào được viết trong hiến pháp này.   Khi quyết định quy tắc cho trò chơi nào đó các bạn cùng nhau viết và đặt kí hiệu cho nó  phải không nào. Quy tắc của quốc gia cũng thế, nó được viết phân theo từng nội dung và có thêm vào kí hiệu như điều số mấy. Hiến pháp lần này có từ điều 1 đến điều 103. Bên cạnh đó  còn có phần viết ở đầu tiên. Đây được gọi là “Lời nói đầu”.   Ở phần “Lời nói đầu” này có ghi những việc như ai tạo ra Hiến pháp này, quy tắc của Hiến pháp này được tạo ra từ tư duy nào… Lời nói đầu nhắm đến hai mục đích. Thứ nhất là khi mọi người đọc Hiến pháp và muốn biết ý nghĩa của nó thì đây là đầu mối. Tóm lại, Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ tư duy được ghi ở lời nói đầu vì vậy không được nghĩ khác với tư duy có ở Lời nói đầu. Tác dụng thứ hai là từ giờ trở đi khi thay đổi Hiến pháp không được trái với tư duy đã được ghi trong Lời nói đầu.   Vậy thì tư duy của Lời nói đầu là như thế nào. Tư duy quan trọng nhất có ba điều. Đó là “dân chủ chủ nghĩa”, “chủ nghĩa hòa bình quốc tế” và “chủ nghĩa chủ quyền thuộc về quốc dân”. Khi sử dụng từ “chủ nghĩa” thì nghe có vẻ khó nhưng nếu nghĩ thì chẳng có gì là khó. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa là cách suy nghĩ về sự vật. Do vậy các bạn cần phải biết về ba nội dung này. Trước hết hãy bắt đầu từ  “Dân chủ chủ nghĩa”  2. Dân chủ là gì  Tư duy số một trở thành nền tảng của Hiến pháp lần này là dân chủ. Vậy tóm lại dân chủ là gì? Các bạn đại thể đã nghe thấy từ này phải không nào? Nếu nói đây là thứ tạo nên nền tảng của Hiến pháp mới thì các bạn cần phải biết rõ về điều này. Thêm nữa cần phải hiểu biết đúng đắn về nó.   Các bạn hãy thử nghĩ đến việc đông đảo mọi người tập trung lại để cùng làm điều gì đó. Mọi chuyện sẽ được quyết định bằng ý kiến của ai? Nếu như ý kiến của mọi người đều giống nhau  thì sẽ không có chuyện gì. Giả sử như khi ý kiến khác nhau thì làm thế nào? Quyết định bằng ý kiến của một người? Quyết định bằng ý kiến của hai người? Hay là quyết định bằng ý kiến của số đông? Cái nào tốt hơn đây? Cũng có trường hợp ý kiến của một người đúng đắn và ưu việt trong khi ý kiến của nhiều người lại sai. Tuy nhiên phần lớn là ngược lại. Khi đó, việc mọi người thảo luận về suy nghĩ của bản thân sau đó quyết định theo ý kiến của số đông là điều hoàn toàn đúng đắn. Và những người còn lại nên tuân theo ý kiến của số đông mọi người. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của số đông mọi người là cách làm dân chủ.   Việc trị nước cũng giống như thế. Việc trị nước theo ý kiến của một số ít người là điều không tốt. Trị nước theo ý kiến của đông đảo quốc dân là tốt nhất. Tóm lại đông đảo quốc dân tiến hành trị nước là cách trị nước dân chủ.   Tuy nhiên đất nước khác với lớp học. Toàn thể quốc dân không thể tập trung lại một chỗ để thảo luận được. Việc đi đến từng nơi lắng nghe ý kiến của từng người cũng không thể làm được. Vì vậy cần phải có người thay mặt cho mọi người quyết định cách trị nước. Đó là quốc hội.   Việc quốc dân bầu cử nên nghị viên quốc hội cũng chính là việc họ lựa chọn ra người thay mặt mình trị nước. Vì vậy ở quốc hội công việc sẽ được quyết định bởi ý kiến của các nghị viên thay mặt quốc dân. Các nghị viên khác sẽ phải tuân theo điều này. Đó là việc quyết định công việc theo ý kiến của toàn thể quốc dân. Đây là dân chủ. Vì vậy dân chủ là toàn dân trị nước. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của mọi người sẽ ít sai sót nhất. Vì vậy nếu trị nước bằng dân chủ thì mọi người sẽ hạnh phúc và đất nước sẽ phồn vinh.   Do đất nước rộng lớn vì thế việc nước được giao phó cho các nghị viên quốc hội cho nên quốc hội thay mặt cho quốc dân. Sự “thay mặt” này được gọi là “đại diện”. Giống như trước đó tôi đã trình bày, dân chủ là toàn dân trị nước nên quốc hội sẽ thay mặt cho toàn thể quốc dân quyết định việc nước do đó người ta gọi đây là “dân chủ theo chế độ đại biểu”.   Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là không giao phó cho quốc hội mà quốc dân quyết định công việc theo ý kiến của bản thân mình. Trong hiến pháp lần này có giả sử nếu như có sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể quyết định được mà phải bỏ phiếu để biết từng người dân phản đối hay đồng ý. Khi đó, quốc dân trực tiếp quyết định việc nước vì vậy đây được gọi là cách làm “dân chủ trực tiếp”. Hiến pháp mới chọn hai cách trị nước là dân chủ theo chế độ đại biểu và dân chủ trực tiếp nhưng chủ yếu là dân chủ theo chế độ đại biểu, dân chủ trực tiếp chỉ giới hạn trong những việc quan trọng nhất. Vì vậy có thể nói Hiến pháp lần này đại thể là dân chủ theo chế độ đại biểu.   Các bạn là quốc dân Nhật Bản. Tuy nhiên vẫn  đang  còn là học sinh. Khi các bạn 20 tuổi lúc đó các bạn lần đầu tiên mới có thể quyết định được việc nước. Cả việc bầu nghị viên quốc hội hay bỏ phiếu liên quan đến việc nước khi các bạn đủ 20 tuổi các bạn mới có thể bắt đầu. Các bạn có anh trai, chị gái trên 20 tuổi phải không nào? Khi nhìn thấy anh, chị phân vân khi bỏ phiếu các bạn có tâm trạng thế nào? Bây giờ các bạn hãy học hành thật chăm chỉ, tìm hiểu thật kĩ về việc trị nước cũng như là Hiến pháp. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ cùng anh, chị có thể tự mình quyết định việc nước. Việc trị nước sẽ được tiến hành bằng suy nghĩ của các bạn. Không có gì vui hơn việc các bạn hòa thuận và tự mình tiến hành việc nước. Đó là dân chủ.   3. Chủ nghĩa hòa bình quốc tế  […]  4. Chủ quyền thuộc về quốc dân  Các bạn hãy thử tập trung lại và  chọn ra xem ai là người vĩ đại nhất. Tóm lại “vĩ đại nhất” tức là thế nào? Có phải là học giỏi không? Hay là người khỏe  mạnh? Thật là khó vì có rất nhiều cách quyết định.   Trong đất nước thì có thể nói ai là  người “vĩ đại nhất” đây? Giả sử như việc nước được quyết định bởi ý nghĩ của một người thì phải nói người đó là vĩ đại. Nếu như việc nước được quyết định bằng ý nghĩ của nhiều người thì mọi người sẽ trở nên vĩ đại. Nếu như toàn thể quốc dân quyết định thì người vĩ đại nhất là toàn thể quốc dân. Hiến pháp lần này là hiến pháp dân chủ nên việc trị nước được tiến hành bằng suy nghĩ của toàn thể quốc dân. Và như thế thì rõ ràng toàn thể quốc dân là vĩ đại nhất.      Sức mạnh trị nước được gọi là “chủ quyền” và nếu sức mạnh này nằm ở toàn thể quốc dân thì người ta gọi đó là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Hiến pháp lần này giống như tôi vừa trình bày, coi dân chủ là gốc vì vậy chủ quyền đương nhiên là thuộc về quốc dân Nhật Bản. Vì vậy ngay ở phần Lời nói đầu và  ở  Điều 1 của hiến pháp cũng ghi rõ ràng là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Chủ quyền thuộc về quốc dân được gọi là “chủ quyền tại dân”. Hiến pháp mới được tạo thành từ tư duy chủ quyền tại dân vì vậy nó là hiến pháp chủ nghĩa chủ quyền tại dân. Các bạn là một người dân Nhật Bản. Các bạn  sẽ là người nắm chủ quyền trong tay. Tuy nhiên chủ quyền lại nằm trong toàn thể quốc dân Nhật Bản. Nó không phải là thứ từng người riêng biệt nắm trong tay. Chuyện từng người nghĩ rằng mình là vĩ đại và tự ý tiến hành mọi việc chắc chắn không phải là điều tốt. Đó là điều không thích hợp với dân chủ. Các bạn vừa phải tự hào rằng mình là một người dân nắm chủ quyền trong tay vừa phải có tinh thần trách nhiệm. Vừa phải là học sinh tốt vừa phải là quốc dân tốt.   Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp, để làm gì      Năm nay là năm được mùa về hội thảo Hiến  pháp. Các ý kiến dọc, ngang, xuôi, ngược, đủ chiều. Cũng là điều rất  nhiều người không dễ hình dung từ trước được như thế.    Xã hội cổ truyền Việt, không cần Hiến pháp  Xã hội cổ truyền Việt không cần Hiến pháp. Xã hội cổ truyền về căn bản là làng-nước. Trong làng thì chủ yếu là ước lệ, tập tục. Ngoài làng thì có chiếu vua, lệnh quan, lúc được lúc chăng. Hoạt động của thần dân thì cứ ang áng theo đó, lệ làng và phép vua, không cần thật chuẩn, mà cốt làm sao không quá chướng, kẻo mà bị phạt vạ.     Xã hội đương đại Việt, nhu cầu về Hiến pháp  Xã hội đương đại Việt tiến lên.  Những bản Hiến pháp đầu tiên có một số giá trị nhất định về mặt văn bản. Nhưng trong thực tế đời sống thì nó chỉ dừng lại là một bản bố cáo xã hội. Người dân chưa bao giờ cầu viện gì được ở nó cho các quyền của mình trong đời sống thực tế.  Con người Việt sau mấy chục năm chiến tranh, nghèo nàn, đói kém, bệnh tật, giấc mơ đầu tiên của họ là được ở yên, được ăn no, được mặc ấm, được làm ăn, được học hành, tất cả ở mức đủ để sống còn. Giấc mơ này chưa chạm đến Hiến pháp.  Những năm gần đây người Việt bắt đầu được thả ra, bung ra, tự do làm ăn. Xưa kia ra đầu đường bơm xe, không phải là người của hợp tác xã bơm xe thì hẳn là làm kinh tế cá thể, không được. Tuy nhiên, “khuất mắt”, thì kệ.   Tiến lên một bước, người Việt bắt đầu được đi lại tự do hơn, được cư trú linh động hơn ở trong nước, trong tình huống thị trường lao động tự do dần hình thành. Việc mở cửa buôn bán ra nước ngoài đưa đến việc tự do hóa việc đi lại cho người Việt ra nước ngoài, một điều khoản bắt buộc phải kí và thực thi trong những hiệp định thương mại với những đối tác trọng yếu. Và từ ít năm nay, mỗi người dân có quyền được có hộ chiếu trong tay, được cất ở nhà – trước đây thì ngay các quan chức cấp cao cũng không được giữ hộ chiếu trong tay, chỉ khi được chính quyền cử đi đâu thì mới được tạm cấp phát hộ chiếu, và khi về nước thì phải nộp lại hộ chiếu.  Về thông tin, đọc sách báo thì bắt đầu có máy photocopy là cái thứ rất khó cai quản. Rồi thì có Internet, lại càng khó cai quản hơn.  Tất cả sự phát triển và giao lưu ấy làm cho người thần dân xưa đã và đang trở thành những con người với ý thức ngày càng rõ hơn về nhân phẩm, về các quyền của mình khi tham gia vào đời sống xã hội. Làm sao để thương nghị và gìn giữ được nhân phẩm và các quyền làm người của mình ở mức khả dĩ nhất trong đời sống xã hội đương đại, câu hỏi vô hình đó đẩy người Việt lên khỏi bề mặt của xã hội thường ngày để mong chủ động được cuộc sống xã hội của mình.   Xã hội đương đại Việt, Hiến pháp phải trả lời những gì  Khi các thần dân quyết tâm trở thành công dân là một bước tiến căn bản từ xã hội quý tộc thần quyền sang xã hội cộng hòa thế tục. Hệ thống các giá trị mới của đời sống được hình thành dần lên. Những con người bị ràng buộc bởi tập tục, thần quyền truyền thống, đã bước lên để trở thành những con người tự do thế tục, và họ chủ động tìm cách đưa ra được một hệ thống những quy tắc tường minh mới để tổ chức đời sống xã hội, làm nên hợp đồng xã hội. “Chúng ta từ nay sẽ sống với nhau như thế này”. Hiến pháp đơn giản là như vậy.  Các lý tưởng xã hội, nhân văn là những ngọn đèn dẫn đường. Đó là tự do, công lý, quyền làm người, lòng nhân hậu, sự thịnh vượng chung… Những lý tưởng này đồng thời là những cái nhìn thật nghiêm khắc để kiểm tra thường hằng xem các quy trình xã hội có thỏa mãn được chính những lý tưởng này ở mức cao nhất có thể, và ngày càng cao hơn.  Nền tư duy pháp lý chịu trách nhiệm thiết kế kĩ thuật để cho những lý tưởng trên trở thành hiện thực.  Nền giáo dục trau dồi các lý tưởng xã hội, nhân văn, chuẩn bị các năng lực khoa học, kĩ nghệ để xã hội con người luôn luôn tái nạp được ngày càng đầy đủ, sáng tạo các năng lượng để bảo trì và thúc đẩy các tiến bộ xã hội.  Sự khai thông tiến triển của xã hội dân sự thúc đẩy tính chủ động, sáng kiến, tự do cho các cá nhân và toàn xã hội.  … Sau hết, với một người công dân, Hiến pháp phải là cái gì rất hiện thực. Vì thế, cuộc góp ý về bộ luật căn bản nhất của đời sống xã hội cần là một cuộc thảo luận tập thể cho thật rành rẽ, ra ngô ra khoai về nó, để có được một Hiến pháp văn minh, hiệu quả, thiết thực cho việc tổ chức và vận hành suôn sẻ đời sống của xã hội trong toàn bộ, trong dài lâu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp: Khoa học, lợi ích và thực tế      Những tiền đề khoa học, lợi ích nào được dùng để đo lường mức độ phù hợp của một văn bản Hiến pháp?    Thước đo nào cho một văn bản Hiến pháp?  Một con sói xuống uống nước phía thượng nguồn, nhác thấy một con cừu uống nước phía hạ nguồn liền quát, sao mày dám làm đục dòng nước ta uống, ta sẽ ăn thịt mày. Câu chuyện ngụ ngôn chân lý thuộc về kẻ mạnh của phương Tây trên cho một hình ảnh giữa khoa học (ở đây là quy luật dòng chảy) và cách thức xử sự đối với khoa học đó tùy thuộc lợi ích sử dụng nó (ăn thịt con cừu). Khác với loài vật chỉ hành động bản năng theo lợi ích, loài người có ý thức, lợi ích chỉ mới là điều kiện cần đạt tới, muốn thành công phải bảo đảm khoa học tức điều kiện đủ, không thể bất chấp khoa học như sói coi nước chảy ngược được. Hậu hoạ có thể rút ra từ câu chuyện cổ tích “Bộ quần áo mới của Hoàng đế“. Để đạt được lợi ích buộc ai cũng phải thừa nhận bộ quần áo mới, Hoàng Đế dựa vào “học thuyết“, chỉ những ai trung thành hoặc không trễ nại mới có thể nhìn thấy nó. Học thuyết đó bị phá sản làm lợi ích bộ quần áo mới cũng mất nốt, khi trẻ em vốn không bị chi phối bởi lợi ích nào cả, trông thấy, reo lên, “Hoàng Đế cởi truồng“ bác bỏ học thuyết trên. Ý nghĩa câu chuyện này còn minh chứng cho nguyên lý, thực tế là thước đo của khoa học, chứ không phải quyền lực hay lợi ích.   Vậy những tiền đề khoa học nào, lợi ích nào được dùng làm thước đo, đo lường một văn bản Hiến pháp, để xem nó đúng sai chỗ nào, mức độ ra sao?  Tiền đề khoa học hiến pháp  Một văn bản Hiến pháp khoa học hay không, trước hết phải đối chiếu với những tiền đề, nguyên lý, phạm trù khái niệm của bộ môn khoa học Hiến pháp. Tuy nhiên khoa học luôn phát triển, như quang học khởi đầu đưa ra tiền đề sóng ánh sáng, tiếp theo lại khẳng định hạt ánh sáng, và ngày nay thì thống nhất ánh sáng vừa tính sóng vừa tính hạt. Khoa học Hiến pháp cũng vậy, lịch sử khởi nguồn từ năm 2300 trước Công Nguyên, khi vua Urukagina ở thành phố Lagash, nước Sumer ban hành một văn bản luật lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước nhân loại, được coi là Hiến pháp xưa nhất, qua cả một quá trình phát triển hàng ngàn năm cho ta kiến thức khoa học Hiến pháp hiện đại, được dùng làm thước đo đo lường một bản hiến pháp ban hành ngày nay có tính khoa học hay không. Theo đó, ngoại diên và nội hàm khái niệm Hiến pháp ngày nay, bao gồm các dấu hiệu:   1- Là văn bản luật. Tức mang tính chế tài, nghiã là: Được cơ quan dân cử ban hành; Khi vi phạm được xét xử; Án quyết phải được thi hành, ngoại trừ bất khả kháng. Là thước đo pháp lý, nên nó phải đưa ra được những chuẩn mực, quy tắc xử sự, có khả năng định lượng.   Thiếu một trong bốn dấu hiệu trên không phải là một văn bản luật, một văn bản hiến pháp như vậy thiếu tính khoa học.   2- Không phải tất cả văn bản luật thoả mãn bốn dấu hiệu trên đều là hiến pháp mà chỉ văn bản luật gốc, tức thoả mãn các dấu hiệu: Các luật khác phải phù hợp với nó, hay dẫn xuất từ nó; được dùng làm thước đo để đo lường các văn bản luật khác và hành xử của cơ quan công quyền có đúng với nó hay không. Đây chính là giá trị sử dụng pháp lý của Hiến pháp.   Theo Mác “Đường tầu không có tầu chạy thì gọi là thanh sắt“; hiến pháp cũng vậy, nếu không bao giờ được sử dụng làm thước đo trên, thì cũng có nghĩa không có giá trị sử dụng pháp lý, chỉ mang ý nghĩa tư tưởng của một bản tuyên ngôn hay nghị quyết của một tổ chức, không được coi là Hiến pháp về mặt khoa học. Do chứa đựng những dấu hiệu kể trên mà Hiến pháp Đức đã được sử dụng để xét xử 80.046 vụ bị cáo buộc sai Hiến pháp trong vòng 40 năm 1951-1990 và lên gấp đôi 151.424 vụ trong 15 năm nước Đức thống nhất 1990-2005.   3- Đối tượng điều chỉnh của nó là các mối quan hệ pháp lý về cơ cấu tổ chức nhà nước, giữa các nhánh quyền lực và các cấp, những quyền và trách nhiệm quan trọng nhất của chúng, các chuẩn mực quy tắc xử sự cả nội dung lẫn thủ tục phải thực hiện khi ra quyết định, những giới hạn quyền lực không được phép vượt qua. Xuất phát từ những dấu hiệu trên, nên hiến pháp: chỉ có thể sửa khi điều khoản đó bị thực tế chống lại tới mức, không thay đổi không thể được, thông thường do quốc hội thực hiện, và chỉ có thể thay hoàn toàn thông qua hội nghị đại biểu hay quốc hội lập pháp, khi thay đổi thể chế (bằng hoà bình hay bạo lực).  Tiền đề khoa học về chính trị, nhà nước  Đối tượng điều chỉnh liên quan tới nhà nước, nên một văn bản hiến pháp khoa học hay không còn phải xem xét dưới góc độ khoa học chính trị, nhà nước. Gần 200 quốc gia trên thế giới, được khoa học chính trị phân loại theo hình thức hiến định (constitutional form), thành nhóm Cộng hòa (republic) 137 nước (trong đó có Việt Nam), 38 nước Quân chủ lập hiến (constitutional monarchy), 6 nước Quân chủ chuyên chế (absolute monarchy). Phân loại theo nguồn gốc quyền lực (power source) có bốn loại hình: Dân chủ (rule of the people – Democracy, gồm 25 quốc gia dân chủ đầy đủ, 53 dân chủ khiếm khuyết Flawed democracy, chiếm chừng 1/3 thế giới), Quân quyền (monarchy), Thần quyền (theocracy), Chuyên quyền (authoritarianism).   Phân loại theo ý thức hệ, sẽ có loại hình nhà nước Xã hội Chủ nghĩa và không Xã hội Chủ nghĩa.   1- Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa dựa trên tiền đề: Về chính trị, nhà nước với cả 3 nhánh quyền lực cùng toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về kinh tế theo mô hình quản lý tập trung trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất; về tư tưởng, văn hóa lấy học thuyết Mác Lê Nin làm nền tảng chính trị. Hiến pháp Xã hội Chủ nghĩa được coi là đúng với tiền đề khoa học chính trị, khi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu trên.     2- Nhà nước dân chủ đầy đủ ngược lại xây dựng và hoạt động trên tiền đề: Các đảng không nằm trên xã hội hay nhà nước để lãnh đạo nó, mà chỉ là những bộ phận khác nhau trong nhân dân, phản ảnh ý nguyện chính trị của nhân dân, nhằm tham chính (được bầu vào quốc hội), chấp chính (được lập chính phủ, gọi là cầm quyền); kinh tế thị trường; tư tưởng đa nguyên; hiến pháp họ vì vậy, có chức năng kép: Một mặt tạo dựng nhà nước theo mô hình tam quyền phân lập với các chuẩn mực, quy tắc xử sự cho từng cơ quan quyền lực; mặt khác phải đưa ra những quy phạm bảo đảm quyền lực đó được giới hạn bởi quyền cơ bản. Áp dụng cơ chế bảo hiến nhằm bảo đảm chức năng tối thượng của hiến pháp, trên cơ sở những chuẩn mực quy tắc xử sự trong hiến pháp, tuyên phán một văn bản luật vi phạm hiến pháp phải đình chỉ, hay sửa đổi hiến pháp sai không có hiệu lực. Quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Vì vậy, bản hiến pháp đầu tiên hay thay hoàn toàn phải thông qua hội nghị đại biểu hay quốc hội lập hiến và cần được dân phúc quyết hoặc hình thức tương đương. Sửa điều luật cần được thông qua cơ quan lập hiến với đa số áp đảo.  Để dẫn chứng cho phân loại trên, có thể tham khảo các quốc gia điển hình: 1- Ở các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iran, Mauritania, Sudan, Pakistan…, hiến pháp đều dựa trên nền tảng kinh Koran (loại hình thần quyền). Như “Hiến pháp Cộng hoà Hồi giáo Iran phấn đấu tạo dựng các định chế văn hoá, xã hội, chính trị và kinh tế Iran theo các nguyên tắc cơ bản và quy ước đạo Hồi“. Định chế đó thừa nhận vai trò lãnh đạo tinh thần của giáo chủ, nhà nước nhân danh Hồi giáo quyết định trực tiếp mọi hoạt động văn hoá xã hội chính trị kinh tế, và người dân có bổn phận chấp hành. 2- Hiến pháp Mỹ, loại hình dân chủ, chỉ thừa nhận hai chủ thể, theo nguyên lý, người dân chứ không phải đảng phái hay tôn giáo hay vua chúa, là chủ nhân nhà nước, có toàn quyền định đoạt nhà nước, chứ không phải ngược lại. “Chính phủ lập ra được trao quyền lực chính đáng dựa trên ý chí nhân dân; bất cứ lúc nào nếu chính quyền phá vỡ những mục tiêu trên, nhân dân đều có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó lập nên chính quyền mới“. 3- Thụy Điển là một Vương quốc, quan chủ lập hiến. Nhưng nguyên lý “tất cả quyền lực nhà nước đều từ nhân dân“ được hiến pháp họ quy phạm hoá chi tiết, hơn bất kỳ nhà nước dân chủ nào, đứng số một thế giới, “Quyền lực người dân Thụy Điển (chứ không phải nhân dân chung chung) được hình thành từ tập hợp các ý kiến biểu đạt tự do, quyền biểu quyết ngang nhau, nhà nước trung ương và cơ quan hành chính điạ phương phải biến thành hiện thực (chứ không phải chung chung dân chủ gián tiếp và trực tiếp) “. 4- Hiến pháp Liên Xô 1977 sửa lần cuối năm 1990 được xây dựng dựa trên nền tảng ý thức hệ: “Cách mạng tháng 10 đã tạo dựng được nền chuyên chính vô sản, lập ra nhà nước kiểu mới Xô-viết là công cụ chính bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội“, “đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên phong của nhân dân“. 5- Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, sửa đổi ngày 14.3.2004, cũng dựa trên ý thức hệ như Liên Xô, bổ sung đặc thù Trung Quốc: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, học thuyết Đặng Tiểu Bình, và thuyết Ba Đại diện…“. Mỗi loại nhà nước trên xây dựng trên tiền đề chính trị đặc trưng cho loại nhà nước đó, không thể lấy tiền đề loại nhà nước này để làm thước đo đánh giá nhà nước khác và theo đó hiến pháp họ, có đúng khoa học về chính trị nhà nước hay không.  Tiền đề khoa học logic  Hiến pháp được thể hiện bằng văn bản, vì vậy phải bảo đảm khoa học logic hình thức. Logic học đòi hỏi các phạm trù khái niệm sử dụng phải mang tính phổ quát, nghĩa là nằm trong hệ thống khoa học thế giới, không thể thay đổi nội hàm và ngoại diên của nó, càng không thể mâu thuẫn với các khái niệm phổ quát hiện có, như Hà Tây gọi “tép là tôm“, hay Nghi Lộc Nghệ An phát âm thường mất dấu, gọi cà là “ca có cuống“ và cá là “ca có đuôi“. Đặc biệt không được phép vi phạm nguyên lý “bài trung“: chỉ hoặc đúng hoặc sai, không thể vừa đúng vừa sai, hay đánh tráo khái niệm, không thể lấy nội hàm dân chủ đưa vào khái niệm phi dân chủ và ngược lại chẳng hạn.  Tiền đề lợi ích   Khoa học hiến pháp đã chỉ ra có nhiều loại hiến pháp. Câu hỏi được đặt ra tại sao các quốc gia lại chọn loại hiến pháp này mà không chọn loại hiến pháp khác? Câu trả lời: do lợi ích quyết định. Chính vì thế, lời mở đầu Hiến pháp Iran khẳng định: “nó phù hợp với tâm niệm cộng đồng Hồi giáo“. Hiến pháp Trung Quốc cũng vậy, “quần chúng nhân dân các dân tộc Trung Quốc tiếp tục giữ vững chuyên chính vô sản, biến Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa. Lợi ích (từng được Mác sử dụng làm tiền đề giải thích quy luật vận động của các hình thái kinh tế xã hội nhân loại đã qua, từ chiếm hữu nô lệ tới phong kiến, tư bản) không phải một khái niệm bất biến, mà luôn phát triển, từ chế độ nô lệ, phong kiến, lợi ích chỉ dành cho thiểu số (vua bảo thần tử thần bất tử bất trung) đến ngày nay cho tất cả (mọi công dân đều bình đẳng), từ khởi thủy chỉ mang nghĩa tồn tại (mọi người sinh ra đều có quyền sống) tới ngày nay bao gồm tổng hợp mọi lợi ích kinh tế, văn hoá, tinh thần, dân sự, chính trị… Vì vậy khi dùng để đo lường hiến pháp, khái niệm lợi ích phải được hiểu theo kiến thức khoa học ngày nay, cho tất cả mọi người và trên mọi lĩnh vực.  Kỳ tới: Chế độ chính trị nhìn dưới góc độ khoa học và lợi ích    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp là gì ?      Trước hết, tôi xin bày tỏ tình cảm đặc biệt của tôi đối với các trí thức, nhân sĩ, bạn bè đang bàn luận sôi nổi về hiến pháp ở trong nước và ngoài nước. Trong tình cảm liên đới đó, và ý thức rằng đây là vấn đề có liên quan đến sự tồn vong của đất nước, tôi xin có đôi lời góp ý vào quan tâm chung, với tư cách của một người làm nghề dạy học, không biết gì nhiều hơn là chút kiến thức trường ốc phổ thông. Tôi cố tránh mọi lý thuyết rườm rà, duy nhất hạn chế vào một câu hỏi thôi, câu hỏi đầu tiên của mọi câu hỏi khác: hiến pháp là gì?      Tôi biết: trong thế giới ngày nay, hầu như nước nào cũng có hiến pháp, càng độc tài hiến pháp của họ lại càng hay, càng đầy mơ ước, càng đậm triết lý, càng rộng mở ra nhiều lĩnh vực “hiện đại” – xã hội, môi trường, sinh thái… Chính vì vậy mà tôi phải lấy lập trường trước khi đi vào đề: tôi đứng ở đâu mà nói chuyện, đứng trong thế giới văn minh hay lạc hậu hằng mấy thế kỷ? Chẳng lẽ tôi đi ngược lại khẩu hiệu của nước ta là một nước “văn minh”? Bởi vậy, tôi quyết định đứng trong thế đứng của một người dân trong một nước văn minh để gạt ra khỏi đề tài mọi chuyện hoa lá cành chẳng có liên quan gì đến việc định nghĩa hiến pháp trong bước đi đầu tiên của lịch sử đã hình thành ra khái niệm văn minh này. Từ đó, mỗi nước có thể hiểu theo cách hiểu của họ về hiến pháp, tùy hoàn cảnh lịch sử riêng biệt. Nhưng đã gọi là “hiến pháp” thì đương nhiên không thể không biết nguồn gốc của nó, ý nghĩa nguyên thủy của nó, tinh túy của nó. Nhân loại học văn minh của nhau là chuyện bình thường của mọi xã hội văn minh.  Vậy thì, ý nghĩa nguyên thủy của hiến pháp là gì? Ai cũng biết câu trả lời: nguồn gốc của nó nằm trong hai Cách Mạng, của nước Pháp và nước Mỹ.  Trước hết là nước Pháp. Thật ra, danh từ “constitution” – mà ta dịch là hiến pháp – đã có từ lâu, ngay dưới thời Trung cổ, nhưng không mang ý nghĩa như sẽ có về sau. Cho đến Cách Mạng 1789, nước Pháp sống dưới chế độ quân chủ, với ông vua có toàn quyền, nhưng ngay từ trong lý thuyết, quyền của ông gặp phải một hạn chế: ông phải tuân theo những “luật căn bản của vương quốc”. Các luật này rất hiếm, và hồi đó chưa có phương thức gì cụ thể để buộc ông phải tuân theo, nhưng trên thực tế, chế độ quân chủ ở Pháp không đến nỗi “tuyệt đối” như ta nghĩ, và ngay cả ông vua đã từng tuyên bố “Quốc Gia là Trẫm” – Louis 14 – so với các nhà độc tài ngày nay hãy còn nhẹ ký lắm. Ngoài những “luật căn bản của vương quốc” mà quan trọng nhất là sự thỏa thuận của dân chúng về thuế má, quyền hành “tuyệt đối” của ông vua còn gặp phải một vài giới hạn khác do sự hiện diện của một vài định chế phong kiến nằm trung gian giữa vua và dân: các hội đoàn, đoàn thể nghề nghiệp, các thành phố… mà tập tục cổ truyền đã trao cho những đặc quyền, và những đặc quyền ấy được sử dụng một cách bền bỉ, dai dẳng, đối kháng với quyền của vua. Hơn nữa, các Tòa Án cũng có một quyền đặc biệt, từ đó mà dần dần phát triển lên thành quyền chính trị: đó là quyền đăng bạ những sắc dụ của ông vua; sắc dụ chiếu chỉ chỉ được thi hành sau khi được đăng bạ. Các ông Tòa không do vua bổ nhiệm nên vua không áp đảo được họ; cái chức vị ấy là họ mua. Đồng tiền ban chức tước, nhưng đồng tiền cũng ban độc lập mà họ cực lực bảo vệ để trở thành một quyền thực sự. Cuối cùng, tập tục buộc ông vua phải được sự thỏa thuận của một cơ quan thực sự đại diện của dân, một Đại Hội đại biểu tập hợp ba giai tầng xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân. Dù cho Đại Hội này không được triệu tập từ 1614 đến 1789, trên lý thuyết, sự thỏa thuận vẫn là nguyên tắc mà quân quyền không chối bỏ.  Vậy thì, trong thời gian tiền Cách Mạng, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp dai dẳng, tuy chẳng quân bình, giữa ông vua và các cơ quan đối trọng mà quan trọng nhất là các Tòa Án. Ông vua xác quyết chủ quyền tuyệt đối của mình; các nhà luật học tiến bộ nhấn mạnh trên sự thỏa thuận để cai trị. Họ nói: thỏa thuận có nghĩa là ông vua không được đứng trên luật pháp, và do đó quyền của ông vua không phải tuyệt đối mà là có giới hạn. Nói một cách khác, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp giữa chủ thuyết quyền tuyệt đối của vua và chủ thuyết hiến pháp, hiến định. Trong tranh chấp lý thuyết đó, bên nào cũng viện dẫn “hiến pháp quân chủ”, nhưng một bên nhấn mạnh quân chủ, một bên nhấn mạnh hiến pháp, chính sự dằng co giữa hai quyền lực, của vua và của Tòa Án, diễn tả bản chất của hiến pháp lúc đó. Ngã hẳn về phía vua chăng? Vua sẽ thành chuyên chế. Ngã hẳn về phía các Tòa Án chăng? Ông vua sẽ không hơn gì vua nước Anh, có tiếng mà không có miếng. Trên thực tế, mặc dầu cố gắng của các nhà luật học, nước Pháp đã không đi vào được con đường hạn chế quyền lực thực sự như ở Anh hồi thế kỷ 17. Các Tòa Án, cũng như Đại Hội đại biểu ba thành phần, không đủ sức để vượt qua quyền của vua. Nhưng đặc tính dằng co vẫn được duy trì kể cả trong lý thuyết, ngay cả về phía các lý thuyết gia chính thống của quân quyền. Jean Bodin, cực lực thuyết minh chủ quyền của vua là thế, mà cũng không diễn dịch “hiến pháp quân chủ” như là độc đoán, độc tài, cũng phân biệt “quân chủ vương giả” khác với quân chủ “bạo ngược”, cũng nói rõ “quyền lực tuyệt đối” không phải là “quyền lực tùy tiện”.          Montesquieu, khái niệm “hiến pháp” gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh.        Chính trong bối cảnh chính trị của một nước Pháp quân chủ, hạn chế trên thực tế nhưng vẫn tuyệt đối trên lý thuyết, mà tác phẩm “Tinh yếu của luật pháp” (“Esprit des lois”) của Montesquieu ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử của khái niệm hiến pháp. Từ đây, từ năm 1748, danh từ “hiến pháp” mới thực sự có ý nghĩa hiện đại. Điểm đầu tiên phải lưu ý là Montesquieu xây dựng một lý thuyết tự do trong một không khí quyền lực tuyệt đối. Tự do là bà mẹ trong tác phẩm. Nhưng, như ông nói, tác phẩm không được sinh ra từ một bà mẹ tự do. Đó chính là điểm đặc sắc tuyệt cú của Montesquieu. Với Montesquieu, khái niệm “hiến pháp” gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh. Chương 11 của tác phẩm ghi rõ trong tiêu đề: “Về những luật tạo nên tự do trong mối tương quan giữa tự do và hiến pháp”. Tương quan gì? Chỉ có tự do khi hiến pháp hạn chế quyền lực. Không ai không biết câu viết này, sáng chói như chân lý, ngọn hải đăng của thế kỷ 18: “Kinh nghiệm muôn thuở cho biết bất cứ ai có quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực; lạm dụng cho đến mức gặp phải giới hạn”. Vậy vấn đề là phải đặt ra giới hạn. Phân quyền nhắm mục đích ấy, bởi vì, lại một chân lý nữa, “quyền lực ngăn chận quyền lực” để quyền lực không nằm trọn trong một nắm tay.  Vậy, với Montesquieu, hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị: hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp.          Với Montesquieu, hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị:  hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các  quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành  ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã  quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp.        Tác phẩm của Montesquieu làm dấy lên cả một trào lưu trí thức nâng danh từ “hiến pháp”, từ chỗ chưa có ý nghĩa rõ ràng, lên địa vị vinh quang của khái niệm, đề tài của mọi tranh luận, mục tiêu của mọi tranh đấu nhắm hạn chế quyền hành. Sau 1750, các Tòa Án ở Pháp tận dụng quyền phản biện (droit de remontrances) sẵn có để bày tỏ ý kiến về các sắc dụ chiếu chỉ của vua và để bảo vệ những quyền căn bản mà họ không còn xem như của vương quốc nữa mà là của cả dân tộc và chính họ là cơ quan nắm giữ. Trong một phản biện của Tòa Án Rennes năm 1757, quyền của vua và quyền của các Tòa Án được diễn tả trong ý nghĩa mới đó của “hiến pháp”: “Do một quyền thiêng liêng có sẵn nơi địa vị của Hoàng Thượng, bất khả truyền, bất khả trao cho ai khác, Hoàng Thượng là nguồn gốc của mọi pháp chế. Nhưng do một hiến pháp căn bản của nền quân chủ, Tòa Án của Hoàng Thượng là hội đồng cần thiết để luật được kiểm tra, là cơ quan để luật được ban hành, là người bảo đảm cho sự minh triết của luật, là nơi đăng bạ để duy trì và thi hành luật, bởi vì từ xưa đến nay Tòa Án là người cộng sự thiết yếu của Hoàng Thượng, nhờ đó việc cai trị được văn minh và gìn giữ”.  Cùng với quan niệm mới về hiến pháp của Montesquieu, các Tòa Án nới rộng phạm vi của những “luật căn bản” và định nghĩa như là “những luật liên quan đến việc tổ chức các quyền trong chế độ quân chủ”. Một tác giả quý tộc – marquis d’Argenson – dám so sánh ví von thế này: “Dân tộc ở trên các ông vua như Nhà Thờ công giáo ở trên giáo hoàng”. “Luật căn bản”, “hiến pháp”, “quyền của Dân Tộc”, các yếu tố đó trộn lẫn với nhau trong một luận thuyết nhằm chống lại luận thuyết quyền lực tập trung của vua. Từ “hiến pháp” càng ngày càng được dùng trong tranh luận, với ý nghĩa chính trị như đã nói ở trên, “như là một dụng cụ có khả năng giới hạn vương quyền để bảo vệ một trật tự siêu việt vương quyền”.Tòa Án có mặt từ lâu trong lịch sử nhưng bây giờ mới cố gắng nâng mình lên trong thử thách để hiện diện như là đối trọng của vương quyền. Ý niệm đối trọng dần dần đi vào ý nghĩa của hiến pháp.  Tuy vậy, tất cả những tranh luận lý thuyết và thử thách thực tế trên đây vẫn không làm lung lay được một vương quyền cứng rắn. Khái niệm hiến pháp thay đổi, nhưng vẫn mang ý nghĩa chính trị, chưa được diễn dịch cụ thể ra thành ngôn ngữ luật pháp có khả năng tạo nền móng cho những quyết định pháp lý. Khác với nước Anh mà tập tục chính trị dần dần được thay đổi để chế độ quân chủ đổi mới trong ôn hòa, ở Pháp, cánh cửa không mở ra được vì vương quyền khóa chốt. Các Tòa Án nại quyền của Dân Tộc? Ông vua trả lời Ta đây, và chỉ Ta đây mới có quyền bảo vệ những “luật của lịch sử”. Một bên là hiến pháp trong nghĩa tự do của Montesquieu, một bên là những “luật căn bản của vương quyền” diễn dịch theo điệp khúc cũ. Để ý nghĩa chính trị của hiến pháp có được nội dung pháp lý hữu hiệu, phải đợi 1789. Thế thôi, có ai bao giờ đoán trước được Cách Mạng sẽ đến đâu? Ai đoán trước được ông vua toàn quyền thế kia – Louis 16 – có ngày mất tiêu cái chỗ đội mũ – đội vương miện?  Với Cách Mạng 1789, một lý thuyết gia lừng lẫy khác, Sieyès, giải quyết tranh chấp giữa “hiến pháp” và “những luật căn bản của vương quyền” một cách trọn vẹn và cách mạng. Ông giải quyết bằng cách từ bỏ luận cứ quyền lịch sử để lập luận trên quyền thiên nhiên. Từ đây, tranh luận lý thuyết không còn xoay quanh giữa quyền “tuyệt đối” và quyền “tùy tiện” nữa, mà tập trung trên “chính thể hiến pháp” và “quyền bính chuyên chế”: một bên có giới hạn do hiến pháp định, một bên vô giới hạn. Từ đây, hiến pháp có thêm một nội dung luật pháp để cụ thể hóa ý nghĩa chính trị. Biến chuyển này xảy ra được một phần lớn là nhờ ảnh hưởng của Cách Mạng Mỹ. Mười ba thuộc địa của Anh ở châu Mỹ nổi dậy giành độc lập, xây dựng một chế độ chính trị riêng, ghi nhận long trọng trong một văn bản được chấp thuận năm 1787 ở Đại Hội đại biểu Philadelphia. Đứng về phương diện khái niệm hiến pháp mà nói, họ nổi dậy chống lại cái gì cụ thể? Chống lại một số luật bất công, nhất là luật thuế má, của Quốc Hội Anh mà họ cho là trái với các hiến chương thuộc địa. Để chống lại các luật đó, họ nảy ra cái tư tưởng này: có các quyền không thể sửa đổi được, các quyền đó phải được ghi rõ trong một thứ luật khác cao hơn, tức là hiến pháp thành văn, có hiệu lực pháp lý, nghĩa là bắt buộc. Đừng quên rằng trong thời gian ấy, mẫu quốc của họ là nước Anh, và nước Anh chỉ có một thứ luật thôi là luật do Quốc Hội làm ra, không có hiến pháp thành văn. Làm luật được thì sửa đổi luật cũng được. Bởi vậy, cái ý nghĩ phải có một thứ luật cao hơn mọi luật khác, được ghi chép hẳn hoi thành văn bản, là ý nghĩ cách mạng, đưa khái niệm hiến pháp vào thời đại mới. Ý nghĩ đó bay ngược qua Đại Tây Dương, hạ cánh xuống Cách Mạng Pháp, giải quyết rốt ráo tranh chấp giữa “hiến pháp” và “những luật căn bản của lịch sử”. Cả hai khái niệm được trộn lẫn với nhau thành một trong một văn bản, được soạn thảo và chấp nhận một cách đặc biệt, văn bản ấy luật hóa một khái niệm trước đây còn mang tính chính trị.            “Hiến pháp  là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra  một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính  quyền không có luật”.                                   Thomas Payne        Ngày nay, ta khó thấy ý nghĩ đó là tuyệt tác vì đã quá quen với cái từ “hiến pháp”. Lúc đó, từ “hiến pháp” hãy còn lẫn lộn với từ “chính phủ”, “chính quyền”, hai bên không khác nhau cho đến trước ngày Cách Mạng Mỹ. Một nhân vật quý tộc Pháp, trong một thư viết cho vua, đã thốt ra một câu tiêu biểu: “Làm sao người ta có thể đồng thời vừa là bạn của chính quyền vừa là kẻ thù của hiến pháp được?” Từ đây, gió lốc cách mạng thổi bay từ “gouvernement” ra khỏi từ “constitution”. Yêu vợ không phải là yêu bồ. Hai vợ không phải đều là vợ cả. Thomas Payne, lý thuyết gia nổi bật của Cách Mạng Mỹ, nói rõ: “Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật”. Ông nhắc lại lần nữa: “Một hiến pháp là một điều có trước chính quyền, và một chính quyền chỉ là con đẻ của một hiến pháp. Hiến pháp của một nước không phải là văn bản của một chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền”.          Chủ quyền đã thuộc về dân thì việc làm ra hiến pháp  không phải là việc của một cơ quan nào mà là việc của toàn dân: từ đó lý  thuyết về một “quyền lập hiến” được chế ra thành luật.        Giữa hai bờ Đại Tây Dương, khái niệm hiện đại về hiến pháp thành hình nhờ ảnh hưởng qua lại giữa Montesquieu và Cách Mạng Mỹ. Montesquieu ngại quyền lực. Các thuộc địa ở Mỹ, ngay từ hồi nổi dậy, cũng đã nhìn quyền lực như thế qua ông vua George III, tuy rằng hồi đó vua đã bắt đầu mất thực quyền trong chế độ chính trị nước Anh. Cũng từ Montesquieu, lý thuyết phân quyền được thực hiện tại Mỹ, và áp dụng chặt chẽ hơn cả ở châu Âu vì Quốc Hội không thể buộc Tổng Thống từ chức, Tổng Thống không thể giải tán Quốc Hội. Ngược lại, từ Mỹ, việc luật hóa lý thuyết chủ quyền thuộc về toàn dân ảnh hưởng trên tư tưởng của Sieyès. Chủ quyền đã thuộc về dân thì việc làm ra hiến pháp không phải là việc của một cơ quan nào mà là việc của toàn dân: từ đó lý thuyết về một “quyền lập hiến” được chế ra thành luật. Sieyès tóm tắt: “Hiến pháp bao gồm đồng thời: việc thành lập và tổ chức nội bộ các quyền lực khác nhau của nhà nước, mối tương quan tất yếu và sự độc lập giữa các quyền lực đó, và cuối cùng, những cảnh giác chính trị phải cẩn thận xây dựng chung quanh, để các quyền lực đó lúc nào cũng có ích lợi nhưng không bao giờ trở thành nguy hiểm. Đó là ý nghĩa chính xác của danh từ hiến pháp; ý nghĩa đó liên quan đến toàn thể quyền lực của nhà nước và sự phân chia những quyền lực đó”.  Từ đầu, ý tưởng của Montesquieu đã liên hệ rõ ràng khái niệm hiến pháp với khái niệm quyền lực hạn chế để chống lại quyền hành tuyệt đối, nghĩa là vô giới hạn và tùy tiện. Đến đây, việc phân quyền được xây dựng thành những nguyên tắc thành văn, tối thượng, mà mục đích là thiết lập những giới hạn minh bạch, ai cũng biết, về quyền lực của người cầm quyền. “Nếu quyền lực không có giới hạn, quyền lực tất yếu trở thành tùy tiện, và không có gì trực tiếp đối chọi với một hiến pháp bằng bạo quyền”, Mounier đã phát biểu như thế trong diễn văn đọc ngày 7-7-1789 trước Hội Đồng Lập Hiến. Ông là đại biểu lừng danh của giai cấp bình dân. Tư tưởng đó được viết chắc nịch như đinh đóng cột trong điều 16 của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: “Bất cứ xã hội nào trong đó các quyền không được bảo đảm và sự phân quyền không được tôn trọng, xã hội đó không có hiến pháp”.  Tác giả bài này muốn nói gì khi nhắc lại những kiến thức phổ thông trên đây? Duy nhất điều này thôi: lịch sử của khái niệm hiến pháp bắt đầu từ một khao khát: tự do; khao khát đó sẽ không bao giờ thực hiện được trước một quyền lực tuyệt đối; để quyền lực không phải là bạo lực, phải phân quyền; để sự phân quyền được rõ ràng, minh bạch, phải ghi thành luật, luật đó là tối thượng, là mẹ của mọi thứ luật khác. Nghĩa là: để định nghĩa hiến pháp là gì, đừng quên rằng bắt đầu quá trình là một ý tưởng chính trị và kết thúc là một văn bản luật pháp, từ đó mà quyết định cái gì là hợp pháp, cái gì là bất hợp pháp trong mọi hành động lập pháp và lập quy của các cơ quan nhà nước. Chỉ một ý đó thôi mà tác giả đã lặp đi lặp lại bao nhiêu lần: Hiến pháp là một ý tưởng chính trị được luật hóa vào một giai đoạn quan trọng nào đó của lịch sử để một trật tự chính trị trở thành chính đáng. Điều này bao gồm hai ý nghĩa: thứ nhất, trật tự chính trị nào cũng mượn danh nghĩa luật để trở thành một trật tự pháp lý; nhưng thứ hai, không luật pháp nào ban tính chính đáng cho một trật tự chính trị nếu luật đó không xuất phát từ nguyện vọng đích thực của nhân dân.  °°°  Hơn một thế kỷ rưỡi sau Cách Mạng, nước Pháp có ông tổng thống De Gaulle làm một hiến pháp mới – hiến pháp hiện tại – để chấm dứt một trật tự chính trị cũ, lập một trật tự chính trị mới, mở đầu Đệ Ngũ Cộng Hòa. Trong một cuộc họp báo quan trọng ngày 31-1-1964, ông định nghĩa hiến pháp trong một câu nổi tiếng: “Hiến pháp là một tinh thần, những định chế, một thực tiễn”. Quá đúng. Và bộc lộ ra được những gì tôi vừa trình bày ở trên.          Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt  dưới một câu hỏi: “hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần  gì vậy?” Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và  chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của  ai.        Một thực tiễn? Tất nhiên, vì hiến pháp phải được áp dụng để trở thành luật nói, nếu không thì là luật câm. Những định chế? Hiển nhiên, khỏi cần nói. Tôi chú trọng mấy chữ đầu: “một tinh thần”. Vậy tinh thần này là gì trong bối cảnh lịch sử đã làm hình thành hiến pháp ở Pháp và ở Mỹ? Tự do! Tinh thần này quyết định tất cả. Quyết định việc thành lập các định chế. Quyết định thực tiễn của pháp luật, cả luật mẹ lẫn luật con. Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt dưới một câu hỏi: “hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần gì vậy?” Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của ai.  Vậy thì dân chúng Việt Nam chờ đợi cái tinh thần gì được luật hóa trong hiến pháp? Một tinh thần phù hợp với giai đoạn hòa bình của đất nước, sau nhiều năm chiến tranh đòi hỏi con người phải hy sinh nhiều thứ, kể cả thứ quý nhất trong đời là tự do. Chiến tranh là tình trạng bất thường, hòa bình là chấm dứt tình trạng bất thường, là phải trả lại cho con người cái khao khát bức thiết nhất của con người ở muôn thuở và muôn nơi, là phải trả lại cho con người Việt Nam cái giá đã mua bằng máu, là phải thực hiện lời cam kết chói lọi trong Tuyên ngôn độc lập vinh quang: ai cũng biết, đó là “quyền tự do”. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”: đó là tinh thần mà người dân chờ đợi luật hóa trong hiến pháp, một hiến pháp hoàn toàn mới, phù hợp với giai đoạn mới, giai đoạn hòa bình.  Tinh thần là như vậy, định chế sẽ thế nào? Tất cả những gì tôi nói trong bài này có thể tóm gọn trong hai chữ: ôn hòa. Quyền lực phải biết ôn hòa. Chính thể ôn hòa là chính thể tốt nhất. Đó là văn minh mà Âu châu thừa hưởng từ tư tưởng của Hy Lạp cổ đại. Montesquieu cũng chỉ là tiếp nối tư tưởng Aristote. Nhưng đó cũng chính là văn minh của Việt Nam, của tư tưởng Việt Nam, không hề độc đoán.  Đảng Cộng sản đã nhiều lần nêu vấn đề định nghĩa lại lãnh đạo. Đúng vậy, nhưng thế này thì hợp với mong mỏi hơn: định nghĩa lại lãnh đạo là thế nào để phù hợp với thời bình, thế nào để thực hiện lời cam kết “quyền tự do”. Đó là cứu cánh của chính trị. Đó là cứu cánh của quyền lực. Một quyền lực ôn hòa trong thời bình, khác với thời chiến tranh, khác với thời tranh đấu bí mật trước mùa Thu tháng Tám. Đó là tinh thần mới phải có trong hoàn cảnh mới của đất nước, cần thực sự đoàn kết toàn dân. Tinh thần đó sẽ quyết định tất cả mọi điều khác trong hiến pháp. Tinh thần đó, người dân khao khát chờ đợi từ lâu để được là tác giả của hiến pháp mới.          Dưới ảnh hưởng đó của tư tưởng luật hóa hiến pháp đến từ Mỹ, từ ngữ “luật căn bản” của Pháp được ngôn ngữ luật đưa lên địa vị tối thượng: hiến pháp là luật tối thượng,  nghĩa là, rất cụ thể, cao hơn tất cả các luật khác và làm vô hiệu tất  cả luật nào trái lại. Đây cũng là một sáng tạo tuyệt tác bắt nguồn từ  một sự việc bình thường trước Tòa Án Tối Cao của Mỹ. Ông Marburry, được  bổ nhiệm thẩm phán nhưng chờ mãi đến đáo hạn mà vẫn không nhận được giấy  tờ bổ nhiệm. Ông kiện tổng thống Adams (mà người đại diện là bộ trưởng  Madison) đòi gửi công văn bổ nhiệm. Ông Tòa Marshall xử rằng: kiện là  đúng, nhưng đạo luật được viện dẫn ra để kiện là không hợp với hiến  pháp, là vi hiến. Chuyện bình thường ở Mỹ. Nhưng là chuyện động trời  trong lịch sử hiến pháp của Pháp vì Tòa Án dám xía vào lĩnh vực lập pháp  để phán đúng hay sai. Cần nhấn mạnh vụ kiện danh tiếng Marburry chống  Madison này ở đây để hiểu quá trình luật hóa  hiến pháp và sức mạnh của tinh thần trọng pháp. Mười ba thuộc địa ở Mỹ  phải nổi dậy để đòi truất bỏ những luật bất công. Khổng Mạnh ở ta ngày  xưa cũng lao xao với sĩ tử rằng nước có thể lật thuyền… Suy diễn bài  học từ ông Tòa Marshall, luật pháp có chức năng và khả năng giải quyết  tranh chấp chính trị một cách hòa bình, khỏi cần gươm dáo, mà cũng khỏi  phải lội nước lật thuyền.          Chú thích:  Một số câu trích dẫn đặt trong ngoặc kép là lấy từ: Olivier Beaud, L’Histoire du concept de constitution en France. De la constitution politique à la constitution comme statut juridique de l’Etat, Jus politicum, Vol. 2, Juin 2010. Có thể đọc trên mạng:  http://www.juspoliticum.com/L-histoire-du-concept-de.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp là nền tảng, còn nền tảng của hiến pháp?      Thế giới hiện đại coi hiến pháp là nền tảng  pháp lý cho mọi nhà nước tồn tại và vận hành, bất kể là nhà nước gì,  hiển nhiên như bất cứ ngôi nhà nào cũng phải có nền móng. Tới lượt nền  móng lại được xây dựng trên nền tảng địa chất nào đó. Vậy Dự thảo sửa  đổi Hiến pháp ta hiện nay dựa trên nền tảng nguyên lý nào?       Hiến pháp nước nào cũng vậy, được xây dựng trên những nền tảng nguyên lý nhất định quyết định bản chất hiến pháp đó, được khoa học pháp lý dùng làm tiêu thức phân loại ngót 200 quốc gia trên thế giới đặc trưng bởi hiến pháp quốc gia họ. Ở các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iran, Mauretanien, Sudan, Pakistan…, hiến pháp đều dựa trên nền tảng kinh Koran. Điển hình như Hiến pháp Iran năm 1979, sửa toàn diện lần cuối năm 1989, gồm 177 điều, mở đầu: “Hiến pháp Cộng hoà Hồi giáo Iran phấn đấu tạo dựng các định chế văn hoá, xã hội, chính trị và kinh tế Iran theo các nguyên tắc cơ bản và quy ước đạo Hồi; nó phù hợp với tâm nguyện của cộng đồng Hồi giáo“. Bản chất hiến pháp chính là bản chất mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và người dân do nó điều chỉnh; ở các quốc gia Hồi giáo trên, mối quan hệ đó thừa nhận ba chủ thể, với vai trò lãnh đạo tinh thần của giáo chủ, nhà nước nhân danh Hồi giáo quyết định trực tiếp mọi hoạt động văn hoá xã hội chính trị kinh tế, và người dân có bổn phận chấp hành, được bảo đảm bằng tín điều Hồi giáo, kinh Koran. Chính trị học phân loại những nhà nước quyết định trực tiếp mọi mặt hoạt động của người dân thuộc toàn trị, luôn phải phục tùng mệnh lệnh của một hoặc một nhóm người đứng đầu là độc tài; từ đó các quốc gia Hồi giáo trên bị tạp chí The Economist xếp chỉ số thứ hạng dân chủ dưới mức trung bình, đa phần thuộc nhóm chính thể chuyên chế.           Nền tảng Hiến pháp Mỹ chỉ thừa nhận hai chủ  thể, theo nguyên lý, người dân chứ không phải một hay một nhóm người hay  bất cứ nhân danh gì, là chủ nhân nhà nước, có toàn quyền định đoạt nó,  chứ không phải ngược lại; đảng phái, tôn giáo, tổ chức dân sự đều nằm  trong phạm trù nhân dân chứ không phải trên hay ngoài nhân dân càng  không phải nhà nước.        Khác các quốc gia trên, nền tảng Hiến pháp Mỹ chỉ thừa nhận hai chủ thể, theo nguyên lý, người dân chứ không phải một hay một nhóm người hay bất cứ nhân danh gì, là chủ nhân nhà nước, có toàn quyền định đoạt nó, chứ không phải ngược lại; đảng phái, tôn giáo, tổ chức dân sự đều nằm trong phạm trù nhân dân chứ không phải trên hay ngoài nhân dân càng không phải nhà nước; được Đại hội Đại biểu 13 tiểu bang đưa vào tuyên ngôn độc lập trước đó: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền đó, chính phủ lập ra được trao quyền lực chính đáng dựa trên ý chí nhân dân; bất cứ lúc nào nếu chính quyền phá vỡ những mục tiêu trên, nhân dân đều có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc, tổ chức thực thi tốt nhất nhằm phục vụ cho hạnh phúc người dân“. Nguyên lý trên được Hiến pháp Mỹ khẳng định tiếp ở lời mở đầu: “Nhằm hoàn thiện Hợp chủng Quốc, thực hiện quyền bình đẳng, bảo đảm ổn định xã hội, quan tâm bảo vệ đất nước, thúc đẩy lợi ích chung, gìn giữ tự do cho chính mình và thế hệ con cháu mai sau, nhân dân Mỹ lập nên bản Hiến pháp này cho nhà nước Hoa Kỳ“. Tức người dân định ra hiến pháp trao quyền lực cho nhà nước thực thi ý chí họ, chứ không phải để cai trị mình – một dấu hiệu bản chất của hiến pháp dân chủ. Hệ dẫn, phúc quyết được chính trị học coi là một dấu hiệu bắt buộc của một nhà nước dân chủ, bảo đảm tính chính danh cho nó, chứ nhà nước không phải vua chuá nghiễm nhiên có quyền lực; được Hiến pháp ta năm 1946 quy định thành văn, hoặc nhiều quốc gia khác mặc định, nghĩa là tự động thực hiện không cần viết vào hiến pháp; cũng giải thích cho thực tế, tại sao Hiến pháp mới Ai Cập trưng cầu dân ý vừa qua bị biểu tình chống kịch liệt, bởi thiên về Hồi giáo, gây lép vế cho những tôn giáo khác; tức không xuất phát từ ý chí toàn bộ tầng lớp nhân dân.  Nguyên lý dân chủ trên có thể tìm thấy ở nhiều quốc gia, như Hiến pháp Liên bang Nga 1993 được thể hiện ở câu mở đầu: “Nhằm khẳng định tự do và quyền con người, ổn định và hoà hợp, gìn giữ thống nhất đất nước, xuất phát từ những nguyên tắc bình đẳng, tự chủ của người dân, tự hào với các bậc tiền nhân đã trao chúng ta tình yêu và ý thức đối với tổ quốc, tin tưởng vào bình đẳng bác ái, giữ vững chủ quyền đất nước, quyết tâm bảo vệ nền tảng dân chủ, phấn đấu vì một nước Nga hạnh phúc nở hoa, với trách nhiệm trước quê hương, mọi thế hệ, là một phần của cộng đồng thế giới, nhân dân đa sắc tộc Liên bang Nga số phận chung đã liên kết nhau trên cùng mảnh đất làm ra bản Hiến pháp này cho nhà nước Nga“.   Rút bài học từ trang sử đen tối nhất gây ra bởi chế độ Phát Xít nhân danh ưu việt đưa dân tộc Đức lên vị trí thượng đẳng thống trị thế giới, nguyên lý dân chủ trên được Hiến pháp Đức năm 1946 thể hiện chi tiết tại Điều 20: “(1) Cộng hoà Liên bang Đức là nhà nước dân chủ và xã hội. (2) Tất cả quyền lực nhà nước đều từ nhân dân. Nó được nhân dân thực thi thông qua bầu cử và trưng cầu dân ý, và bằng các cơ quan chuyên về lập pháp hành pháp và tư pháp. (3) Lập pháp chịu ràng buộc bởi hiến pháp, hành pháp và tư pháp bởi luật và các chuẩn mực luật định. (4) Bất cứ ai có hành vi vi phạm những nguyên tắc trên, mọi người Đức đều có quyền chống lại, nếu các biện pháp khác đều không thể“. Ở đây nguyên lý dân chủ đã được biến thành quy phạm, tức những “chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự, đong đo đếm được“, như tại điểm (1): nhà nước họ là nhà nước dân chủ và xã hội; tại điểm (2), người dân bầu cử và phúc quyết; tại điểm (3): mọi cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; tại điểm (4): nếu xảy ra vi phạm những nguyên tắc trên người dân có quyền chống lại, một khi cơ quan nhà nước không, hoặc không thể giải quyết.           Mối quan hệ giữa nhà nước có chức năng thực  thi quyền lực dân trao theo ý chí họ, và người dân có quyền loại bỏ  chính quyền cũ, lập mới trong nền tảng Hiến pháp Mỹ, được Chủ tịch Hồ  Chí Minh giải thích đơn giản mộc mạc cho người dân dễ hiểu, khi bàn về  nó: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. Từ Chủ  tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân,  thì dân không cần đến nữa”. Vấn đề chỉ còn nằm ở cơ chế nào để thực  hiện nguyên lý đó, chính là nhiệm vụ các điều khoản trong hiến pháp phải  giải quyết, chứ không thể trông chờ vào nhận thức đạo đức cá nhân người  hành xử.        Phạm trù nhà nước “dân chủ và xã hội“ quy định tại điểm (1), tương tư như phạm trù nhà nước “xã hội chủ nghĩa“, hay nhà nước “cộng hoà hồi giáo“, được dùng chủ yếu trong khoa học chính trị, chỉ có thể phân biệt thông qua nhận thức về nội hàm và ngoại diên của chúng. Mà đã là nhận thức thì mang tính chủ quan, không phải những quy phạm “thước đo chuẩn mực cân đong đo đếm được“ dùng trong các văn bản luật. Để khắc phục bất cập đó, Toà án Hiến pháp họ có chức năng giải thích Hiến pháp, lượng hoá phạm trù, khái niệm, thành những quy phạm, buộc cơ quan quyền lực nhà nước không thể làm theo nhận thức chủ quan của mình chệch ra khỏi phạm trù dân chủ, xã hội (sẽ được bàn đến trong chuyên đề Toà án Hiến pháp). Điểm (4) hàm chứa nguyên lý: người dân là chủ nhân được quyền làm tất cả đối với nhà nước (trừ những điều luật pháp cấm); họ có quyền can thiệp từ những hành xử thường nhật của chính quyền cho tới loại bỏ nó như Hiến pháp Mỹ ghi nhận. Cách thập niên trước, lúc tệ nạn bán thuốc lá lậu lan tràn Đông Đức mới tái thống nhất, tại Leipzig một đội cảnh sát chặn 2 đầu 1 cầu vượt dưới là đường ô tô chạy ken kín, nhằm bắt gọn mấy người Việt bán thuốc lá lậu cho khách qua cầu trên đó, lập tức bị dân chúng đi đường quây cảnh sát lại giải toả cho nạn nhân, đòi đưa cảnh sát ra toà, bởi hành vi cảnh sát có thể dẫn tới bức tử họ liều chết nhảy xuống đường. Năm 2011, dưới áp lực của dân chúng truyền thông phản đối kịch liệt đòi miễn nhiệm, bị quốc hội điều trần, Bộ trưởng Nội vụ tiểu bang Niedersachsen đã phải cho đón trở lại Đức một gia đình người Việt hai con đã sống ở Đức 20 năm bị trục xuất về nước vốn đúng luật được toà phán quyết; chỉ vì người dân cho rằng cơ quan nhà nước (kể cả toà án) đã hành xử vô nhân đạo không phù hợp bản chất dân chủ nhà nước họ được hiến định. Nói nhà nước của dân do dân vì dân được hiến định phải có giá trị trên thực tế như vậy.  Thụy Điển là Vương quốc được xếp hạng dân chủ số 1 thế giới, mặc dù trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân thừa nhận chủ thể thứ 3 là vua truyền ngôi nhưng chỉ dưới dạng biểu tượng quốc gia; nguyên lý “tất cả quyền lực nhà nước đều từ nhân dân“ được hiến pháp họ quy phạm hoá chi tiết hơn nữa tại điều 1: “Quyền lực người dân Thụy Điển được hình thành từ tập hợp các ý kiến biểu đạt tự do, quyền biểu quyết ngang nhau, nhà nước trung ương và cơ quan hành chính điạ phương phải biến thành hiện thực“. Chứ không phải cầm quyền muốn làm gì thì làm, cho dù với động cơ mang lại hạnh phúc cho người dân tốt đẹp tới mấy. Tại điều 2, mục đích vì dân của nhà nước, cũng được quy phạm hoá: “Cuộc sống văn hoá, kinh tế, việc riêng của mỗi một người (chứ không phải nhân dân chung chung – ND) là mục đích cao nhất trong hành xử hàng ngày của cơ quan nhà nước“; giải thích cho thực tế ở họ bất cứ quyết định nào của chính quyền đối với bất kỳ người dân nào đều phải ghi rõ người dân có quyền chống lại, hướng dẫn thủ tục thậm chí trợ cấp cả chi phí khiếu kiện đi lại luật sư nếu không đủ tài chính; chính quyền phải giải quyết trong thời hạn luật định, qúa hạn hoặc sai sẽ bị chế tài. Nói tuân thủ hiến pháp, không có nghĩa nhắm vào nhân dân mà nhằm vào nhà nước khi thực thi quyền lực như vậy.   Cũng thừa nhận ba chủ thể, ở Đan Mạch gồm vua, nhà nước và nhân dân, nhưng nước họ đạt chỉ số thứ hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới chính nhờ phân định vai trò độc lập trong bộ máy nhà nước, để bảo đảm người dân thực sự là chủ nhân đất nước; điều §3 Hiến pháp năm 1953, quy định: “Quốc hội cùng Vua giữ vai trò lập pháp“, “Vua giữ chức năng hành pháp“ nhưng “toà án đảm bảo chức năng tư pháp độc lập“. Chức năng hành pháp lại được Điều §13 phân định “Vua không thể truy cứu trách nhiệm, bất khả xâm phạm“, nhưng “các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm đối với điều hành của chính phủ bằng một bộ luật“. Nghĩa là bất cứ quan chức nào sai phạm đều bị chế tài, không thể đổ cho Vua.  Hiến pháp Liên Xô 1977 sửa lần cuối năm 1990 được xây dựng dựa trên nền tảng “nguyên lý Chủ nghĩa Xã hội“, “học thuyết chủ nghĩa cộng sản“, với ba chủ thể phù hợp nguyên lý đó, khái quát trong lời mở đầu: “Cách mạng tháng 10 đã tạo dựng được nền chuyên chính vô sản, lập ra nhà nước kiểu mới Xô Viết là công cụ chính bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội“, “đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên phong của nhân dân“. “Các nước Cộng hoà Liên Xô huy động lực lượng và khả năng nhân dân xây dựng nó“.   Nền tảng nguyên lý trên cũng được phản ảnh trong phần mở đầu Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, sửa đổi ngày 14.3.2004, cũng với ba chủ thể: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc , được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, học thuyết Đăng Tiểu Bình, và thuyết Ba Đại diện, quần chúng nhân dân các dân tộc Trung Quốc tiếp tục giữ vững chuyên chính vô sản, trên con đường Xã hội Chủ nghĩa… biến Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa, dân chủ và hạnh phúc“.  Nền tảng Hiến pháp nước ta năm 1946, có thể so sánh với Hiến pháp Hoa kỳ, khi bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 làm nền tảng cho nó, được mở đầu trích từ Tuyên ngôn Độc lập nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“. Mối quan hệ giữa nhà nước có chức năng thực thi quyền lực dân trao theo ý chí họ, và người dân có quyền loại bỏ chính quyền cũ, lập mới trong nền tảng Hiến pháp Mỹ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích đơn giản mộc mạc cho người dân dễ hiểu, khi bàn về nó: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”. Vấn đề chỉ còn nằm ở cơ chế nào để thực hiện nguyên lý đó, chính là nhiệm vụ các điều khoản trong hiến pháp phải giải quyết, chứ không thể trông chờ vào nhận thức đạo đức cá nhân người hành xử.  So với Hiến pháp gốc 1992 có 12 chương, 147 điều, Dự thảo sửa đổi ở ta hiện nay chỉ còn 11 chương, 124 điều; giảm một chương, bớt 23 điều, trong đó sửa 99 điều, bổ sung mới 11 điều và chỉ giữ lại nguyên vẹn 14 điều, tức còn lại chưa tới 10% hành văn hiến pháp cũ, nghĩa là sửa đổi toàn diện, có ý nghĩa như thay mới. Ví vậy, tính chất và lý do hoàn toàn khác với sửa một vài điều như Hiến pháp Mỹ hay Đức do họ nếu không sửa, luật ban hành liên quan sẽ bị bác bỏ, vốn ở ta chưa bao giờ xảy ra, để phải sửa như họ. Một bản hiến pháp chỉ được coi là thay mới một khi thay đổi nền tảng nguyên lý đẻ ra nó, nếu không hoặc các điều khoản sửa đổi sẽ xa rời nền tảng nguyên lý cũ, hoặc chứng tỏ nền tảng cũ bất định, các điều khoản xây dựng trên nó sửa thế nào cũng được. Và cũng chỉ khi xác định được nguyên lý nền tảng, lấy nó làm thước đo mới có thể đánh giá 124 điều khoản xây dựng từ đó là đúng hay sai, nếu không hoặc như “đẽo cày giữa đường“ hoặc như “thầy bói xem voi“.  Vậy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ta hiện nay dựa trên nền tảng nguyên lý nào? Nguyên lý đó đã thực đúng xuất phát từ ý chí nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân? Thuộc dạng hiến pháp quốc gia nào nêu trên, hay hoàn toàn khác biệt họ, hay đã chắt lọc được mọi tinh túy từ họ? Bởi nhân loại ngày nay sống trong thời đại hội nhập toàn cầu lấy thế giới làm thước đo; Việt Nam quan hệ với mọi quốc gia trên thế giới luôn giao thoa với hiến pháp họ; chưa nói “một bộ phận không thể tách rời dân tộc Việt Nam“ chiếm tới 1/20 người Việt, lưu trú khắp thế giới do hiến pháp các quốc gia khác điều chỉnh; đồng nghĩa con người Việt Nam sống với nhiều hiến pháp khác nhau, chứ không phải một ! Có thể phân tích 124 điều khoản Dự thảo để xác định trở lại nền tảng nguyên lý xây dựng nên nó, trả lời cho các câu hỏi trên.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp nhìn từ Tiên Lãng      Vụ việc Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng  đầu năm 2012, dù chưa xét xử ở tòa, nhưng đã có thể coi là một “án lệ”  quan trọng về pháp luật đất đai, khiếu nại, khiếu kiện v.v… Nhất là  trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay, vụ việc này có nhiều  điều đáng bàn từ góc độ luật hiến pháp như: sở hữu đất đai, quyền con  người, sự giám sát của người dân đối với chính quyền…    Sở hữu đất đai  Không phải ngẫu nhiên mà các vụ khiếu kiện về đất đai chiếm hơn 70% khiếu kiện nói chung. Bình luận về vụ việc ở Tiên Lãng, khá nhiều ý kiến chỉ ra căn nguyên các xung đột về đất đai xuất phát từ quy định của Hiến pháp “sở hữu toàn dân” về đất đai (xem thêm http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-02-02-gs-nguyen-minh-thuyet-vu-tien-lang-va-bai-hoc-long-dan; http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=474178&ChannelID=204). Sở dĩ nói như vậy vì tuy là “sở hữu toàn dân”, nhưng trên thực tế, không rõ chủ sở hữu đích thực là ai, trong khi đó, chính quyền địa phương lại được trao rất nhiều thẩm quyền về đất đai. Vì vậy, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo nên những kẽ hở lớn để các quan chức biến chất và các “đại gia” bắt tay nhau trục lợi, đặc biệt trong thu hồi đất (nhất là đất của nông dân) cho các dự án công nghiệp, thương mại. Cộng với việc thiếu sự kiểm soát quyền lực hiệu quả, thiếu tính giải trình, minh bạch, tất cả những điều trên dẫn đến hệ quả đất đai rất dễ rơi vào tay các “cường hào mới”.  Hơn nữa, với chế độ sở hữu toàn dân, đất đai được giao, cho thuê luôn có thời hạn khiến cho người sử dụng không thể an tâm bỏ vốn đầu tư lâu dài. Đặc biệt, dù biển cả hung dữ đã không ngăn được ý chí, không lay chuyển niềm tin của anh Vươn và những người như anh, nhưng chế độ sở hữu đất đai không bảo vệ được quyền sở hữu của công dân, cộng với cách hành xử của chính quyền đã làm xói mòn niềm tin đó, càng làm chùn bước những nhà đầu tư hiện tại và tương lai, cả trong và ngoài nước. Điều này kéo theo hệ lụy xấu cho cả đầu tư của tư nhân, cũng như lợi ích chung của nền kinh tế địa phương và quốc gia.  Đáng nói là, khu đất đầm mà anh Vươn có được là nhờ mồ hôi, nước mắt và máu, thậm chí cả tính mạng của đứa con gái, nhờ suốt 5 năm làm cái việc tưởng chừng như “dã tràng xe cát” để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Như vậy, nếu như quyền tư hữu về đất đai được Hiến pháp và luật thừa nhận, thì phần đất do gia đình anh Vươn lấn biển, khai hoang là sở hữu của anh Vươn, chứ không phải của “toàn dân” một cách mơ hồ, để rồi chính quyền huyện có thể tự tung tự tác(1) làm gì thì làm. Khi đất đai trở thành tài sản sở hữu của tư nhân thì việc thu hồi đất không thể dễ dàng, tùy tiện.  Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về sở hữu nói chung và sở hữu đất đai nói riêng cần xác lập chế độ sở hữu nhà nước thay cho chế độ sở hữu toàn dân, cụ thể trong lĩnh vực đất đai, nhà nước là chủ sở hữu đối với đất công. Đồng thời cần làm rõ các hình thức sở hữu khác, đặt biệt là ranh giới các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Cần ghi nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất ở và đất nông nghiệp. Đặc biệt, trong khi chờ sửa đổi Hiến pháp, Chính phủ và Quốc hội cần có phản ứng về chính sách một cách nhanh nhất để trấn an những người nông dân khác đang đứng ngồi không yên vì hạn được giao đất chỉ còn hơn một năm nữa, đồng thời ngăn ngừa ý định của những quan chức biến chất rắp tâm phen này kiếm chác từ thời hạn đó.    Quyền con người  Vụ việc ở Tiên Lãng càng cho thấy, quyền sở hữu là quyền con người thiêng liêng cần được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ. Hơn nữa, chính Hiến pháp 1992 thừa nhận nền kinh tế thị trường (dù là định hướng XHCN), thì quyền sở hữu càng phải được trân trọng. Tuy nhiên, cách thể hiện các quy định về quyền trong Hiến pháp 1992 vẫn nặng tư duy Nhà nước “ban cho” công dân các quyền đó, không thể hiện rõ các quyền đó là quyền vốn có của con người. Chính vì nhiễm tư duy như vậy, chính quyền Tiên Lãng mặc nhiên coi quyền sở hữu của anh Vươn đối với phần đất do anh và gia đình khai khẩn là do họ “ban cho”, cho thì được, không cho thì thôi.  Bên cạnh đó, khi quy định về các quyền, Hiến pháp 1992 thường kèm theo cụm từ “được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Cách thể hiện như thế vô hình trung hạn chế việc thực thi các quyền trên thực tế, vì các cơ quan nhà nước cho rằng phải có pháp luật quy định thì người dân mới được hưởng các quyền hiến định. Hơn nữa, việc sử dụng từ “pháp luật” dẫn đến cách hiểu, bất kỳ cơ quan nhà nước nào, thậm chí cấp thấp nhất cũng có thể ban hành quy định pháp luật hạn chế quyền. Không đâu xa, ngay trong vụ Tiên Lãng, chính quyền huyện đã ban hành những văn bản như giao đất thời hạn ngắn; đình chỉ, cấm tiếp tục khiếu kiện… Những văn bản đó không chỉ trái với luật, nghị định, mà còn hạn chế các quyền hiến định của người dân như quyền khiếu nại, khiếu kiện; quyền sở hữu.  Không những thế, như đã nói, trong vụ việc này vốn bắt nguồn từ vài năm nay (và nhiều vụ việc khác), chính quyền địa phương hành xử rất tùy tiện, mỗi trường hợp giao đất một kiểu(2). Điều này đã vi phạm nghiêm trọng quyền bình đẳng, một quyền rất quan trọng của con người (chứ không chỉ như Hiến pháp 1992 quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”). Nói chung, Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định các quyền công dân là chưa thật đầy đủ, chưa đề cập đến các quyền con người.  Mặt khác, nhiều điều khoản về quyền công dân trong Hiến pháp 1992 nặng tính tuyên ngôn, không ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm các quyền đó. Hiến pháp 1992 chưa tạo ra cơ chế thực tế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi các quyền này bị xâm phạm.  Do đó, cần sửa đổi các quy định trong Hiến pháp liên quan đến quyền con người theo hướng đó là các quyền vốn có của con người, được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ. Chỉ có luật của Quốc hội mới được hạn chế quyền con người, quyền công dân trong những trường hợp thật cần thiết (ví dụ, vì lý do an ninh, quốc phòng; trong tình trạng khẩn cấp). Các quy định trong Hiến pháp về nhóm quyền cơ bản của con người là đương nhiên được thực thi, không cần phải có quy định của pháp luật. Đồng thời, thiết kế lại các điều khoản để ràng buộc rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ các quyền này; tạo chơ chế để người dân có thể khiếu kiện, viện cầu công lý khi có sự vi phạm các quyền.    Dân giám sát “quan”  Dân có thể giám sát “quan” bằng tòa án thường, bằng cơ chế tài phán hiến pháp (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến, hoặc giao cho Tòa án Tối cao), qua các cơ quan dân cử, qua các tổ chức phi nhà nước. Đối chiếu với Việt Nam, theo quy định của pháp luật, có thể kiểm soát hoạt động của các cơ quan hành chính thông qua khởi kiện hành chính và hành vi hành chính của người, cơ quan hành chính có thẩm quyền. Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù theo Hiến pháp, tòa án độc lập với bộ máy hành chính cùng cấp nhưng khi giải quyết các vụ án hành chính, toà án nhân dân cấp huyện (hoặc cấp tỉnh) rất khó quyết định Uỷ ban nhân dân cấp huyện (hoặc cấp tỉnh) thua kiện, vì phụ thuộc rất nhiều vào chính quyền các cấp. Không phải ngẫu nhiên mà trong vụ Tiên Lãng, các chuyên gia pháp lý đã chỉ ra những sự việc khiến cho người ta nghi ngờ sự công tâm, minh bạch trong phán quyết của tòa án khi giải quyết khiếu kiện về thu hồi đất ở đó.  Hơn nữa, cơ chế bảo hiến ở Việt Nam còn hết sức mờ nhạt và được giao cho như một phần trong nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan như Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Việt Nam chưa có một chế định tư pháp để phán xét về những vi phạm hiến pháp đã xảy ra. Trong khi đó, trên thế giới có nhiều mô hình tài phán hiến pháp có thể nghiên cứu áp dụng. Giả sử nếu theo mô hình tòa án thường với đỉnh là tòa án tối cao thực hiện tài phán hiến pháp, thẩm phán tòa án cấp sơ thẩm như ở huyện Tiên Lãng, nếu cho rằng quyết định thu hồi đất là trái Hiến pháp, sẽ tạm dừng xem xét vụ án để chuyển cho Tòa án Tối cao xem xét vụ việc, ra phán quyết về các vấn đề Hiến pháp, sau đó tòa án cấp sơ thẩm mới xem xét tiếp. Còn trong trường hợp có Tòa án Hiến pháp, nếu công dân như ông Đoàn Văn Vươn cho rằng quyết định của UBND huyện trái Hiến pháp hoặc quyền của mình bị xâm phạm, công dân có thể kiện ra Tòa án Hiến pháp về tính hợp hiến của văn bản.  Về mối liên hệ giữa Quốc hội, HĐND và các đại biểu với cử tri, cơ chế bầu cử, cơ cấu đại biểu hiện nay chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa đại biểu và cử tri, đại biểu rất hầu như không chịu trách nhiệm trước cử tri, áp lực và động lực làm hài lòng cử tri, đáp ứng quyền lợi của cử tri là rất ít. Không chỉ đại biểu kiêm nhiệm các chức danh trong chính quyền, mà các đại biểu khác, ngay cả đại biểu chuyên trách cũng ít phụ thuộc vào cử tri, mà chịu sự tác động lớn từ chính quyền địa phương và các nhân tố khác. Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân tại sao trong hơn một tháng qua, dù đã có nhiều người lên tiếng, nhưng chưa hề có tiếng nói nào cất lên từ nghị trường, nhất là từ các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp ở Hải Phòng. Nghị trường vẫn lặng lẽ tiếng Dân Tiên Lãng.  Từ việc phân tích trên đây, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này cần tạo cơ chế hiệu quả để người dân giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, quan chức nhà nước. Trước hết cần cải cách hệ thống tòa án, để chốn công đường thực sự là nơi người dân có thể viện cầu công lý. Hệ thống tòa án không nên theo đơn vị hành chính, mà thành lập các tòa án khu vực; việc bổ nhiệm thẩm phán cần có sự tham gia của nhiều chủ thể, có thể là tòa án giới thiệu người, Chủ tịch nước bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn; thẩm phán nên được bổ nhiệm cho đến lúc về hưu, độ tuổi về hưu của thẩm phán cao hơn của công chức bình thường.  Cần xây dựng cơ chế tài phán hiến pháp để phán quyết về những hành vi vi phạm Hiến pháp. Có thể lựa chọn giữa phương án giao cho Tòa án Tối cao chức năng này và phương án thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách (Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến) có thẩm quyền phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.  Cần sửa đổi chế định bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm xác định rõ mối quan hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri. Hạn chế việc đại biểu kiêm nhiệm các chức danh trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương. Về cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội, việc phân định các khu vực bầu cử không nên trùng với các đơn vị hành chính, mà có thể đan xen giữa các tỉnh để tránh sự phụ thuộc của đại biểu vào chính nquyền địa phương. Quy định cụ thể cơ chế bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.    Chính quyền địa phương  Hiến pháp năm 1992 quy định 4 cấp chính quyền (Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) nhưng trong tổ chức lại có sự rập khuôn về mô hình tổ chức, không phân biệt thẩm quyền, trách nhiệm của trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau. Điển hình là thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cả ba cấp chính quyền địa phương đều giống hệt nhau. Điều này dẫn đến chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; vừa đùn đẩy trách nhiệm, nhưng đồng thời tạo ra kẽ hở cho chính quyền lạm dụng, tùy theo trường hợp cụ thể, ví dụ như trong vụ Tiên Lãng chính quyền đã ban hành về những nội dung không thuộc thẩm quyền của mình. Hoặc là chính quyền địa phương mà có thẩm quyền điều động cả quân đội, nhất là để làm những việc không phải thuộc lĩnh vực quốc phòng là điều rất đáng phải bàn luận.  Có những lĩnh vực mặc dù được phân quyền cho chính quyền địa phương (như quản lý đất đai) nhưng việc quản lý của trung ương trong lĩnh vực này (xây dựng và công bố quy hoạch tổng thể) lại phân định không rõ ràng hoặc thực hiện không tốt, dẫn đến sự cát cứ của các địa phương, mỗi nơi thực hiện mỗi kiểu, làm phá vỡ trật tự quản lý nhà nước. Như đã phân tích, trong vụ Tiên Lãng, chính quyền huyện đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm…Bình luận về các quy định liên quan đến chính quyền địa phương, có chuyên gia ví von, ở Việt Nam có nguy cơ phân chia thành 63 vương quốc nhỏ. Không chỉ thế, vụ việc Tiên Lãng cho thấy, đã có hiện tượng của một “tiểu vương quốc” trong số 500 huyện trên cả nước. Sửa đổi Hiến pháp 1992 là một cơ hội để góp phần xóa bỏ tình trạng cát cứ này.  Như vậy, nhìn từ Tiên Lãng, chính quyền địa phương là một trong những nội dung rất quan trọng cần sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp 1992. Như nhiều ý kiến đề xuất, có thể tổ chức 2 cấp chính quyền địa phương gồm cấp tỉnh và dưới cấp tỉnh (có thể là thành phố hay xã). Chính quyền địa phương bao gồm cơ quan do nhân dân địa phương bầu ra (HĐND), HĐND là cơ quan đại diện ở địa phương, Uỷ ban nhân dân là cơ quan tổ chức thực hiện ở địa phương, chịu sự giám sát của HĐND.  Về nhiệm vụ, quyền hạn, Hiến pháp và luật phải phân định những việc gì địa phương làm được thì trung ương không làm; những việc chỉ trung ương làm mà địa phương không làm như an ninh – quốc phòng, ngoại giao, tư pháp…; những việc cả trung ương và địa phương đều làm, nhưng có sự phân định rõ ràng. Ví dụ, từ vụ Tiên Lãng, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần được phân định lại, không phải cấp nào cũng có thể ban hành như cấp nào, về bất kỳ lĩnh vực gì.  Những biện pháp khác nhau đang được thực hiện để giải quyết vụ Tiên Lãng. Tuy nhiên, để ngăn ngừa những vụ Tiên Lãng khác, cần đặt các vấn đề nói trên trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay. Từ 1992 đến 2012, nhìn từ Tiên Lãng, 20 năm đã đủ “chín” để nhận thấy nhiều quy định của Hiến pháp cần sửa đổi căn bản, ngay bây giờ. Nếu không, sẽ có nguy cơ lớn còn gây “phát nổ” ở nhiều nơi nữa.  —  1.    http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=475831&ChannelID=204  2.    http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=475831&ChannelID=204       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp sao phải sửa?      Hiến pháp không phải sản phẩm tự nhiên mà do  con người tạo ra phục vụ lợi ích nó, tất phải thay hoặc sửa, một khi  lợi ích đó đòi hỏi.     Gần đây nhất, như hầu hết mọi cuộc cách mạng xã hội, Ai Cập đã hủy bỏ Hiến pháp năm 1971 thay bằng Hiến pháp mới có hiệu lực từ ngày 26.12.2012, sau khi lật đổ chế độ Mubarak. Hiến pháp là văn bản luật gốc làm nền tảng pháp lý cho một nhà nước, quy định bộ máy của nó, cùng các chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự nhà nước phải tuân thủ, nên một khi chế độ bị lật đổ buộc phải thay bằng hiến pháp mới, là tất yếu. Ở đây, Hiến pháp là hệ qủa của cách mạng xã hội.   Khác với lật đổ chế độ ở Ai Cập, cách thập niên trước, các quốc gia thuộc Liên bang Xô viết và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu đều thay hiến pháp, được cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cắt nghĩa “để xác lập chính thể mới phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm sửa cái lỗi hệ thống của họ. Một bài học quá đắt giá trong lịch sử nhân loại (Tuần Việt Nam)“. Tương tự, năm 2008, Chính phủ Quân sự Miến Điện đã chủ động trưng cầu dân ý hiến pháp mới, có hiệu lực từ tháng 1.2011, khởi đầu cho quá trình chuyển đổi chế độ quân sự cầm quyền dai dẳng tới nửa đời người từ năm 1962 bị thế giới cô lập, sang dân sự, với cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung ngày 1.4.2012, có 17 đảng phái tham gia, chiếm 45 ghế, trong đó có “cựu thù“ chống chế độ quân phiệt, người đoạt giải Nobel Hoà Bình, bà Aung San Suu. Ở các nước trên, hiến pháp đều đóng vai trò chủ động tạo ra một thể chế mới xuất phát từ ý chí nguyện vọng của đông đảo người dân mà lãnh đạo đất nước họ tự ý thức được, nếu không sẽ không tránh khỏi bị lật đổ.  Và hiến pháp mới ở hầu hết các nước đó, hiến pháp mới đều được phúc quyết, dấu hiệu không thể thiếu của một nhà nước dân chủ, bởi đó là quyền tự thân của người dân; nhà nước của họ, do họ sinh ra vì chính họ chứ không phải ngược lại; không lý gì là chủ nhân, họ vừa không phải tự chịu trách nhiệm vừa không có thực quyền quyết định cái của họ. Trong trường hợp này vai trò ý nghĩa của nó tương đương bầu tổng thống, quốc hội, khác bản chất với vua chúa lên ngôi chỉ cần tuyên cáo với bá tính là đủ, điều đó giải thích cho việc tại sao Hiến pháp Việt Nam năm 1946 có điều khoản phúc quyết, hay Hiến pháp Đức điều khoản 146 quy định hiến pháp họ không phải vĩnh viễn, mà chỉ: “có hiệu lực tới ngày có một hiến pháp mới được nhân dân Đức tự do quyết định“. Nghĩa là người dân chứ không phải nhà nước, có quyền quyết định tất cả – dấu hiệu phân biệt với mọi hiến pháp khác – hiến pháp dân chủ luôn thừa nhận người dân ở vai trò tối thượng có toàn quyền giữ hay hủy bỏ hiến pháp hiện hành bất cứ lúc nào.   Hiến pháp có thể là hệ quả, có thể là mở đầu hình thành nên một nhà nước mới, nhưng hoàn toàn không bất biến. Đến quốc gia có hiến pháp được coi bền vững bậc nhất thế giới là Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992, cũng sửa tổng cộng tới 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần. Đức được cho là quốc gia điển hình sửa Hiến pháp, trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 sửa tới 38 lần, bình quân mỗi năm gần 1 lần, có năm sửa tới 3 lần; tổng cộng 14 lần sửa 1 điều, 8 lần 1 điểm, 4 lần 1 câu, số lần còn lại sửa cả đoạn. Khác với trường hợp thay hiến pháp nhằm thiết lập nền tảng pháp lý cho một chính thể mới, sửa hiếp pháp nói trên nhằm thay đổi hoặc mở rộng giới hạn một hoặc một vài chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự “nhà nước được phép làm“. Lý do họ buộc phải sửa, xuất pháp từ nguyên lý: mọi điều khoản hiến pháp họ đều mang tính chế tài trực tiếp, không cần qua bất cứ văn bản luật nào dưới nó nếu không kèm phụ chú; buộc mọi cơ quan nhà nước kể cả tổng thống, quốc hội, chính phủ, viện kiểm sát, toà án phải tuân thủ, nếu không sẽ bị tài phán. Đến cựu Tổng thống Đức Köhler cũng buộc phải từ chức cách đây 2 năm  chỉ bởi phát biểu trước quân đội Đức đồn trú ở Afghanistan, sai hiến pháp đúng mỗi nửa câu, “… quân đội Đức có mặt ở nước ngoài để bảo vệ lợi ích kinh tế Đức“. Nói hiến pháp tối thượng, không hàm nghĩa thứ bậc, đạo luật gốc rễ nó vốn có, mà chính bởi sức mạnh thực tế vô biên của nó như vậy, nếu không thứ bậc cao siêu mấy cũng chỉ làm vì. Cách mấy năm trước, Bộ luật Xã hội Đức quy định không cấp tiền con cho người nước ngoài lưu trú có thời hạn; mãi không sao, tới khi có 2 gia đình người nước ngoài đâm đơn kiện, lập tức bị Toà án Hiến pháp buộc hủy bỏ. Tới năm ngoái, mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn quy định trong Bộ Luật Xã hội thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức thất nghiệp lâu năm, cũng bị Toà án bác bỏ, với lập luận, hiến pháp quy định nhân phẩm con người không thể phân biệt; trợ cấp cho người thất nghiệp lâu năm là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm đó, vậy không có lý do gì cấp cho người chờ xét tỵ nạn thấp hơn. Mới đây nhất, ngày 29.12.2012, ở Pháp, Hội đồng Bảo Hiến đã ra phán quyết bác bỏ mức thuế 75% áp dụng cho nguời có thu nhập cao do Tổng thống François Hollande và Chính phủ cánh tả của ông chủ trương, với lý giải, không tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về đóng góp đã được hiến định.   Chính do hiến pháp có chức năng chế tài trực tiếp đối với nhà nước, nên để bảo vệ văn bản luật mình ban hành, Quốc hội không còn cách nào khác phải thay hoặc sửa điều khoản hiến pháp đã giới hạn nó. Tuy nhiên không phải nhà nước họ cứ muốn sửa là sửa, bởi hiến pháp của dân do dân phúc quyết chứ không phải của riêng nhà nước, nên dù sửa cũng không được phép vượt ra ngoài khuôn khổ chính bản thân hiến pháp cho phép, nếu không sẽ bị tuyên phán vô hiệu. Năm 1996, Bộ trưởng Nội vụ Đức đưa vào Luật An ninh hàng không điều khoản cho phép quân đội bắn hạ máy bay chở khách bị bọn khủng bố cướp, kết qủa bị Toà án Hiến pháp bác bỏ, do vi phạm hiến pháp về quyền được sống của con người, không thể lấy mạng sống người này cứu mạng sống người khác. Tiếp tục theo đuổi mục đích trên, năm 2007, Bộ trưởng Nội vụ xếp khủng bố cướp máy bay vào tình huống thảm hoạ quốc gia, xoay sang đòi sửa đổi điều 87a Hiến pháp vốn cấm sử dụng quân đội ngoại trừ bảo vệ tổ quốc, nay cho phép cả khi xảy ra thảm hoạ. Mãi tới tháng 8.2012, Toà Hiến pháp mới ta tuyên phán đồng ý sửa Hiến pháp cho phép sử dụng quân đội trong trường hợp thảm hoạ đe doạ quốc gia, nhưng vẫn cấm bắn máy bay chở khách, bởi quyền được sống thuộc điều khoản cấm sửa đổi, bất di bất dịch, ngoại trừ trên máy bay chỉ có mỗi khủng bố. Ở Mỹ, vụ cuồng sát gần đây nhất tại trường tiểu học Sandy Hook giết chết 27 nhân mạng làm chấn động không chỉ nước Mỹ, nhưng Chính phủ Mỹ vẫn không thể cấm sở hữu vũ khí, bởi tu chính Hiến pháp số II quy định: “người dân có quyền sở hữu và mang theo vũ khí“. Điều khoản này đã qua bao đời tổng thống vận động hủy bỏ đều bất thành, bởi quyền sở hữu được coi là quyền người dân, không được xâm phạm. Ở Miến Điện, để có thể bầu bà Aung San Suu Kyi có chồng và con là người Anh, làm tổng thống nhiệm kỳ tới, Tổng thống đương nhiệm Thein Sein đã tuyên bố cần phải sửa đổi điều khoản Hiến pháp cấm người có thân nhân nước ngoài giữ chức vụ cao. Thế giới đang phấp phỏng chờ đợi, bởi mức độ sửa đổi hiến pháp theo hướng dân chủ tùy thuộc mức độ dân chủ người dân giành được vốn quyết định số phận mỗi quốc gia.   Việc sửa hiến pháp gần đây nhất dẫn tới thay đổi bản chất nó được thế giới đặc biệt quan tâm diễn ra tại 2 nước Venezuela và Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Venezuela, năm 2009, bản Hiến pháp năm 1999 được đưa ra trưng cầu dân ý sửa đổi điều 160, 162, 174, 192 và 230 nhằm bảo đảm cho đương kim Tổng thống Hugo Rafael Chávez Frías không bị giới hạn 2 nhiệm kỳ, có thể tại vị tới tận năm 2050 lúc 95 tuổi, và được phép nắm quân sự nhiều hơn, kiểm soát truyền thông trong các trường hợp khẩn cấp, xóa quy chế ngân hàng trung ương tự chủ, để đưa đất nước tiến vững vàng lên chủ nghĩa Xã hội như ông chính thức tuyên bố. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hiến pháp sửa đổi 26 điều khoản được đưa ra trưng cầu dân ý năm 2010, nhằm tước bỏ quyền lực của giới quân sự tưởng chừng như bất khả xâm phạm xưa nay.   Còn sửa hiến pháp toàn diện nhằm cải tổ, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất, đã được Liên Xô thực hiện vào năm 1990, với 75 điều khoản được sửa đổi trên tổng số 174 điều, chiếm 43%, kết quả chỉ tồn tại được tới ngày 5.9.1991. Đa số học giả cho đó là quá trình cải cách, kiểu vượt qua một chiếc hố bằng 2 bước nhảy.  Hiện nay, Quốc hội nước ta đã ra nghị quyết tổ chức lấy ý kiến nhân dân, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, với tổng số 124 điều được sửa hoặc thêm bớt lời văn, hoặc bổ sung hoàn toàn mới, hoặc thay đổi vị trí điều, mục, đoạn, câu; liệu việc sửa Hiến pháp như vậy có nằm trong trường hợp nào thế giới đã trải qua? Trong thời đại toàn cầu hoá, không thể không đặt ra câu hỏi trên, ít nhất có thể biết Việt Nam đứng đâu trên bản đồ hiến pháp thế giới, để có thể “sánh vai các quốc năm châu“.  Trong khi các nước thay, sửa hiến pháp được đặt ra bởi cách mạng xã hội, hoặc để tạo ra thể chế mới, hoặc nhằm cải cách, hoặc để ban hành luật vượt ra ngoài giới hạn điều khoản hiến pháp hiện hành, hoặc thay đổi bản chất hiến pháp cũ… mục đích sửa hiến pháp nước ta lần này viết ở Lời nói đầu khác họ ở điểm: “… ghi nhận những thành quả to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước“, và giống với họ ở điểm “Xây dựng và thi hành hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh“, vốn là mục đích tự thân sâu xa của bất kỳ bản hiến pháp nào, được thể hiện thành văn hoặc mặc định.   Với mục đích trên, điều 2 Nghị quyết của Quốc hội lấy ý kiến nhân dân quy định, để “Phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992“. Tinh thần trên, có thể tìm thấy phần nào ở Hiến pháp Nam Phi trong công đoạn lấy ý kiến nhân dân. Hội đồng Lập hiến họ đã thực hiện được hơn 1.000 cuộc hội thảo với 95.000 người dân tham gia; nhận được khoảng 2 triệu thư kiến nghị / tổng dân số 46 triệu người. Sau khi sửa lần 2, nhận được tiếp 250.000 ý kiến đóng góp. Liệu nghị quyết của Quốc hội nước ta có thu được kết qủa như Nam Phi? Đó là điều không chỉ các cơ quan nhà nước liên quan mà bất cứ người dân nào tâm huyết cũng phải trăn trở, được Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An giải bày: “Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước“. Liệu tâm nguyện của một Cựu Chủ tịch Quốc hội có được chính Quốc hội lắng nghe? Khi điều 124, điểm 4, câu 2, bản Dự thảo hiến định “Việc trưng cầu ý dân về hiến pháp do Quốc hội quyết định“; vậy nếu Quốc hội từ chối thì sao đây? Ngày nay, phúc quyết là dấu hiệu không thể thiếu, tức điều kiện cần, của bất kỳ một bản hiến pháp dân chủ nào, được khoa học chuyên ngành luật pháp thừa nhận!      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp trong cách nhìn chuyển đổi      Bài viết dưới đây giới thiệu cách nhìn chuyển đổi về hiến pháp được phát triển bởi một số học giả phương Tây và Châu Á. Sau đó, chúng tôi sẽ thử áp dụng cách nhìn này để xem xét các hiến pháp Việt Nam.&#160;      Trong một cuộc thảo luận về sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam, TS Nguyễn Đình Lộc, Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp băn khoăn: “Vì sao chỉ trong 46 năm từ 1946 đến 1992 mà ta có đến bốn hiến pháp – không kể những lần sửa đổi? Nước Mỹ 200 năm qua chỉ có một Hiến pháp.”(1) Điều này cũng được TS Trần Du Lịch nhắc lại trong một dịp thảo luận khác về cùng chủ đề(2).  Nhận thức này tiêu biểu cho cách nhìn ổn định về hiến pháp vốn bắt nguồn từ tư duy cổ điển về luật căn bản. Cách nhìn ổn định thích hợp trong việc giải thích các hiến pháp cổ điển được ban hành trong thế kỷ 18-19 trong đó có Hiến pháp Philadelphia 1787, nhưng có vẻ không thích hợp trong việc giải thích diễn tiến của hiến pháp hiện đại ở Việt Nam và tương lai của nó.   Bài viết dưới đây giới thiệu cách nhìn chuyển đổi về hiến pháp được phát triển bởi một số học giả phương Tây và Châu Á. Sau đó, chúng tôi sẽ thử áp dụng cách nhìn này để xem xét các hiến pháp Việt Nam.   Lập hiến  Sự sụp đổ của Bức tường Berlin kéo theo quá trình chuyển đổi sâu sắc từ các chế độ độc đoán sang các nền dân chủ mới, khởi đầu ở Trung và Đông Âu rồi mở rộng ra nhiều vùng khác của thế giới, gồm cả khu vực châu Á, một thực tế mà Samuel P.Huntington gọi là “làn sóng thứ ba” của quá trình dân chủ hóa (3). Trong bối cảnh chuyển đổi đó, tiến trình lập hiến có những chuyển đổi tương ứng với những diễn biến phức tạp và không thuần nhất. Một số nền dân chủ mới chọn con đường xây dựng hiến pháp mới rất sớm trong quá trình dân chủ hóa, như ở Cộng hòa Séc, các quốc gia Baltic, Mông Cổ và Philippines, trong khi một số nước khác xây dựng hiến pháp mới muộn hơn như ở Nam Phi, Hà Lan, và Thái Lan. Một số nền dân chủ mới lại không ban hành hiến pháp mới thay vì sửa đổi hiến pháp cũ với mức độ khác nhau, như những trường hợp của Hungary, Argentina, Hàn Quốc, Đài Loan và Indonesia.   Sau những chuyển đổi thành công ban đầu, một số nước như Hà Lan, Hungary, Hàn Quốc, và Đài Loan nhận thấy không cần thiết phải ban hành một hiến pháp mới ngay lập tức thay vì lựa chọn con đường “cải cách hiến pháp dần dần.” Hà Lan cuối cùng cũng có hiến pháp mới vào năm 1997 sau tám năm soạn thảo, trong khi Hungary, và Hàn Quốc, và Đài Loan vẫn không có hiến pháp mới.   Xét về mặt nội dung, các hiến pháp hiện đại của các nền dân chủ mới phản ánh các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa hợp hiến tự do, xây dựng các định chế nhằm thoát khỏi chế độ độc đoán, thay đổi các quy tắc bầu cử, củng cố các quyền tài sản của cá nhân để chuyển đổi nền kinh tế từ nền tập trung sang thị trường, và để thực thi những điều đó, thiết lập các tòa án hiến pháp.  Giáo sư Ruti Teitel ở ĐH New York, trong một nghiên cứu công bố trên Tạp chí Luật Yale, đề xuất cách nhìn chuyển đổi đối với các hiến pháp hiện đại. Học giả này cho rằng chủ nghĩa hợp hiến trong bối cảnh chuyển đổi phản ánh tính chất chuyển đổi của quá trình và khi đó các hiến pháp không được thiết lập một cách ổn định ngay từ đầu; quá trình lập hiến thường bắt đầu với những hiến pháp có tính chất tạm thời định vị cho những cải cách hiến pháp tiếp theo.   Ruti Teitel viết: “Mặc dù quan niệm phổ biến của chúng ta về luật hiên pháp như là có tính chất hướng về phía trước và là cơ sở ổn định cho hệ thống pháp luật, lập hiến trong quá trình chuyển đổi có tính chất tạm thời và gắn liền với những thay đổi dần dần. Nhiều hiến pháp được ban hành trong quá trình chuyển đổi chính trị rõ ràng có khuynh hướng như là những phương tiện nhất thời. Trong khi quan niệm phổ biến nhìn nhận hiến pháp như là có tính chất ổn định và lâu dài, một số phương diện của các hiến pháp chuyển đổi có tính chất nhất thời, và một số phương diện khác được củng cố theo thời gian.”(4)  Lấy dẫn chứng từ quá trình chuyển đổi hiến pháp ở Nam Phi, Brazil, Colombia, Teitel đi đến kết luận rằng trong quá trình chuyển đổi, hiến pháp không phải đóng vai trò như là kết quả cuối cùng của quá trình chuyển đổi, mà là những tác nhân trong việc xây dựng quá trình đó; các hiến pháp thường là có tính chất nhất thời để kích thích quá trình chuyển đổi chính trị; những sự chuyển đổi hiến pháp thúc đẩy những chuyển đổi hiến pháp tiếp theo.(5)  Luận điểm của Teitel được ủng hộ và được minh họa thêm bởi hai học giả ở Đại học Quốc gia Đài Loan, Jiunn-Rong Yeh và Wen-Chen Chang. Trong một nghiên cứu gần đây về chủ nghĩa hợp hiến hiện đại dưới góc nhìn chuyển đổi với những thực tế của Trung và Đông Âu, Nam Phi, Châu Á, hai học giả này khằng định: “Chức năng của hiến pháp trong quá trình chuyển đổi dân chủ rõ ràng chuyển từ việc giới hạn quyền lực chính phủ sang việc kích thích các chương trình cải cách và thậm chí tái thiết cấu trúc xã hội. Chủ nghĩa hợp hiến chuyển đổi vận hành không những là nền tảng của quá trình chính trị dân chủ hóa mà còn tạo ra khả năng chuyển đổi về mặt thể chế cho cho những chuyển đổi tiếp theo.”(6)  Tính chất của các hiến pháp hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi đỏi hỏi chúng ta suy nghĩ lại quan niệm cổ điển về hiến pháp. Trong qua niệm cổ điển, hiến pháp với tư cách luật cơ bản của quốc gia, tạo lập nền tảng cho chính thể và hệ thống pháp luật, nên được cho là có tính chất ổn định. Quan niệm ổn định có thể thích hợp trong việc nhìn nhận các hiến pháp cổ điển được ban hanh trong khoảng thế kỷ 18, 19, nhưng sẽ không giải thích được tính chất của các hiến pháp chuyển đổi được ban hành ở cuối thế kỷ 20. Nam Phi thậm chí còn có “Hiến pháp lâm thời” và “34 nguyên tắc” đóng vai trò như các nguyên tắc hiến pháp trước khi xây dựng một hiến pháp mới của quá trình chuyển đổi. Tương tự, Hà Làn có “Tiểu Hiến pháp” và mãi cho đến khi quá trình chuyển đổi đã khá vững chắc mới ban hành hiến pháp mới vào năm 1997. Cách nhìn chuyển đổi sẽ thích hợp hơn trong việc nhận thức về tính chất của hiến pháp trong bối cảnh chuyển đổi.   Các hiến pháp cổ điển được quan niệm như là khế ước xã hội áp đặt các giới hạn pháp lý lên quyền lực của chính phủ để chống lạm quyền nhằm bảo vệ các quyền cá nhân. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi hiến pháp là kết quả của một quá trình cách mạng khi sự đồng thuận xã hội đã đạt được. Các hiến pháp hiện đại không nằm trong một trạng thái tương tự. Trong bối cảnh chuyển đổi chính trị-xã hội, các giá trị xã hội không những không có sự thống nhất mà còn chia rẽ. Vì vậy, các hiến pháp chuyển đổi thay vì là kết quả của quá trình chuyển đổi như các hiến pháp cổ điển, nó là một bộ phận của quá trình chuyển đổi. Với tính chất đó, hiến pháp xác lập những cơ sở và kích thích quá trình chuyển đổi.   Sửa đổi hiến pháp  Do tính chất của quá trình chuyển đổi, các hiến pháp hiện đại nằm trong quá trình được sửa đổi khá thường xuyên. Hungary cải cách sâu rộng Hiến pháp 1949 vào năm 1989 và sau đó có nhiều sửa đổi vào các năm: 1990, 1993, 1994, 1997, 2000, 2001, và 2002.(7)  Với một tần suất tương tự, Đài Loan liên tục sửa đổi hiến pháp vào các năm: 1991, 1992, 1994, 1997, 1999, 2000, và 2005.(8)  Sự sửa đổi thường xuyên đối với hiến pháp là một điều có thể giải thích được trong bối cảnh chuyển đổi. Các chính quyền chuyển đổi phải đối mặt với những vấn đề chuyển đổi mà sự ổn định của những điều khoản căn bản không những không có ích cho việc xúc tiến quá trình mà còn làm chậm quá trình.   Hơn nữa, các nền dân chủ chuyển đổi để làm cho quá trình được diễn ra một cách hòa bình thay vì những cuộc cách mạng bạo lực, đã lựa chọn con đường “cải cách hiến pháp dần dần”. Tính chất “dần dần” của quá trình cải cách cho phép những sửa đổi hiến pháp thường xuyên. Mỗi một lần sửa hiến pháp tạo điều kiện cho những bước nhích lên của quá trình dân chủ hóa. Ngoài ra, đối với các hiến pháp chuyển đổi, những sửa đổi không có tính chất chung cuộc thay vì nó mở đường cho những sửa đổi tiếp theo.   Một điều đáng chú ý là do tính chất của quá trình chuyển đổi, các nền dân chủ phải đối mặt với các nhiều vấn đề chuyển đổi khác nhau, cho nên cải cách hiến pháp không chỉ được diễn ra qua hình thức sửa đổi chính thức hiến pháp mà còn là thiết lập các đạo luật đặc biệt có tính chất hiến pháp. Nói cách khác, người ta chứng kiến những cải cách hiến pháp diễn ra ngoài việc tu chính hiến pháp chính thức. Ví dụ ở Đài Loan và nhiều nước khác, các đạo luật thay vì hiến pháp cho phép cá nhân được quyền đòi bồi thường đối với việc xâm phạm các quyền cơ bản và tịch thu tải sản của chế độ cũ. (9) Trong trường hợp này, luật thúc thẩy tôn trọng các quyền căn bản được xem như là có tính chất hiến pháp và đóng góp vào quá trình cải cách hiến pháp. Thực tế nói trên gợi mở rằng trong việc nhìn nhận về chế độ hiến pháp trong bối cảnh chuyển đổi, người ta cần vượt ra ngoài chính văn hiến pháp và các tu chính án hiến pháp chính thức.   Tài phán hiến pháp  Một đặc điểm quan trọng của các hiến pháp hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi là sự thiết lập các tòa án hiến pháp cùng với quyền tài phán tư pháp đối với các hành vi bất hợp hiến. Khung cảnh chuyển đổi hiện đại chứng kiến sự thành lập mới hoặc sự thiết lập lại các tòa án hiến pháp ở Trung và Đông Âu, Nam Phi, và Châu Á. Dưới đây là bảng về tình hình thiết lập tòa án hiến pháp ở các nền dân chủ chuyển đổi.(10)          Năm  Thành lập mới  Thành lập lại  Thẩm phán được bổ nhiệm lại      1978  Tây Ban Nha            1986     Hà Lan  Philippines      1988     Hàn Quốc            1990  Hungary               1991  Bulgaria  Nga         1992  Romania            1993     Cộng hòa Séc/Slovakia         1994  Nam Phi,              Slovenia, Moldova     Đài Loan      1997  Thái Lan                Do được thiết lập trong quá trình chuyển đổi, các tòa án hiến pháp đóng vai trò xúc tiến cho quá trình đó. Trước tiên, các tòa án này góp phần vào việc hiện thực hóa các cam kết của quá trình chuyển đổi. Không có các tòa án này các cam kết chuyển đổi tuyên bố trong các chính văn hiến pháp sẽ trở thành hình thức. Vì vậy, các tòa án hiến pháp được cho rằng sẽ thực thi các nguyên tắc của nền dân chủ hợp hiến mà các chính quyền chuyển đổi cam kết như sự bảo vệ các quyền tài sản làm cơ sở cho sự phát triển nền kinh tế thị trường, sự phân chia quyền lực… Tòa án hiến pháp tham gia vào quá trình này bằng việc giải thích các quy tắc hiến pháp, phát triển học lý hiến pháp, và phán xét những hành vi bất hợp hiến của chính quyền.  Điều đáng nói nữa là các tòa án hiến pháp là một diễn đàn trung lập để giải quyết các vấn đề chuyển đổi một cách hòa bình. Trong bối cảnh chuyển đổi, do các giá trị chưa được thống nhất, các xung đột quyền lực diễn ra, và để tránh những con đường cách mạng và bạo lực, các chính khách có khuynh hướng lựa chọn con đường giải quyết bằng những trọng tài trung lập- các tòa án hiến pháp.   Hiến pháp Việt Nam trong cách nhìn chuyển đổi  Cánh nhìn chuyển đổi được đưa ra bởi các học giả phương Tây và Châu Á như đã trình bầy ở trên dựa trên thực tế của làn sóng dân chủ thứ ba. Mặc dù vậy, chúng tôi suy nghĩ rằng rằng cánh nhìn chuyển đổi có thể thích hợp trong chừng mực nhất định đối với việc giải thích các hiến pháp hiện đại của các xã hội chuyển đổi nói chung. Trên cơ sở đó, chúng tôi thử nhìn diễn tiến của hiến pháp Việt Nam theo tư duy chuyển đổi.   Từ khi xác lập nền lập hiến đến nay, Việt Nam đã trải qua những chuyển đổi quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Sự chuyển đổi này tất yếu dẫn đến những sự chuyển đổi về hiến pháp. Ngoại trừ Hiến pháp 1946 theo khuynh hướng cổ điển được xây dựng như là kết quả của một cuộc cách mạng, các hiến pháp sau không hoàn toàn là kết quả của quá trình chuyển đổi mà là những nhân tố của quá trình đó. Khi đó, các hiến pháp xác lập những cơ sở và kích thích cho quá trình chuyển đổi được diễn ra. Khi quá trình chuyển đổi có những khuynh hướng mới, các hiến pháp phải chuyển đổi theo. Chính vì vậy khi miền Bắc Việt Nam chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp 1959 thay thế Hiến pháp 1946; khi chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực thi trên phạm vi toàn quốc, Hiến pháp 1980 thay thế Hiến pháp 1959; và khi chương trình Đổi mới được triển khai, Hiến pháp 1992 (hiện hành) thay thế Hiến pháp 1980. Cách nhìn chuyển đổi sẽ xóa tan đi sự băn khoan “chỉ trong 46 năm từ 1946 đến 1992 mà ta có đến bốn hiến pháp.”   Chúng ta xem xét tính chất chuyển đổi của Hiến pháp hiện hành được ban hành năm 1992. Bản Hiến pháp này được xây dựng trong bối cảnh chuyển đổi từ một xã hội tập trung sang một xã hội đổi mới theo khuynh hướng thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa). Do đó, bản Hiến pháp này là một nhân tố của quá trình Đổi mới, xác lập những cơ sở và kích thích cho quá trình Đổi mới được diễn ra. Về mặt kinh tế, nó xác lập cơ sở pháp lý cao nhất cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Về mặt thể chế, nó xác lập một mô hình chính quyền bớt tập trung hơn như Quốc hội không còn được tự quy định cho mình những quyền khác khi cần thiết; thiết chế Chính phủ được tái lập thay cho thiết chế Hội đồng Bộ trưởng, với một vị trí tương đối độc lập so với Quốc hội (không còn là cơ quan hành chính của Quốc hội), Hội đồng Nhà nước được tách thành Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước như một định chế cá nhân…   Với tính chất là một Hiến pháp của quá trình Đổi mới, người ta không thể mong chờ bản hiến pháp này xác lập những nền tảng ổn định cho toàn bộ quá trình đó. Nó chỉ có thể xác lập những nền tảng ban đầu cho quá trình chuyển đổi. Do vậy, nó được điều chỉnh để tiếp tục tạo những nền tảng mới và kích thích phát triển những yếu tố mới của quá trình chuyển đổi. Chính vì vậy những chuyển đổi hiến pháp đã diễn ra tư khi chương trình Đổi mới được đưa ra cho đến nay. Cuộc sửa đổi Hiến pháp năm 2001, chẳng hạn, xây dựng những nền tảng cho sự phát triển nhà nước pháp quyền và các yếu tố kinh tế thị trường có tính chất toàn cầu (thành phần kinh tế có yếu tố nước ngoài), điều mà những nhà thảo hiến những năm 90 chưa dự trù.   Một điều cũng cần đáng chú ý là trong quá trình chuyển đổi những cải cách hiến pháp có thể diễn ra bằng con đường không chính thức, tức thông qua các luật có tính cách hiến pháp. Luật Công ty năm 1990, chẳng hạn, là một luật có tính cách hiến pháp được ban hành hồi đầu quá trình chuyển đổi. Do yêu cầu của chương trình Đổi mới, Luật này đưa ra những nền tảng pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện các quyền căn bản về tài sản của cá nhân, điều chưa được quy định trong Hiến pháp 1980. Luật Công ty 1990 có thể được coi là một luật cải cách hiến pháp.   Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005 cũng có một tính cách tương tự. Do những yêu cầu mới của bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường liên quan đến sự minh bạch nền tài chính công, Luật này được ban hành và thiết lập một định chế mới có tính cách quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chưa được tiên liệu trong Hiến pháp 1992. Với trường hợp này, chuyển đổi Hiến pháp đã diễn ra không phải thông qua con đường tu chính án hiến pháp chính thức.   Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội khóa XII về việc việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường cung cấp thêm một sự minh họa. Dù không có những sửa đổi hiến pháp chính thức diễn ra, do thực tế thực tiễn chứng minh rằng các định chế đại diện địa phương ở cấp trung gian đã tỏ ra hoạt động một cách hình thức, cấu trúc chính quyền địa phương được điều chỉnh trên thực tiễn bởi một Nghị quyết có tính cách hiến pháp của Quốc hội.   Tương lai sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam  Cách nhìn ổn định về hiến pháp không thích hợp trong việc giải thích diễn tiến của hiến pháp ở Việt Nam cũng như sự phát triển trong tương lai của nó. Do Việt Nam là một xã hội đang chuyển đổi trên nhiều phương diện, tư duy chuyển đổi sẽ thích hợp hơn trong việc nhận thức cũng như cải cách hiến pháp. Với tư duy này, những sửa đổi hiến pháp diễn ra linh hoạt hơn theo con đường “cải cách hiến pháp dần dần” sẽ thích hợp cho một xã hội chuyển đổi như Việt Nam.   Trong một thập kỷ trở lại đây, Việt Nam có những chuyển đổi năng động về mặt kinh tế-xã hội, trong khi Hiến pháp không chuyển đổi theo một cách chính thức. Chính vì vậy, như là một yêu cầu tất yếu có tính thực tiễn của quá trình chuyển đổi, một số hình thức chuyển đổi hiến pháp không chính thức đã diễn ra. Tuy nhiên, để làm cơ sở cho quá trình chuyển đổi diễn ra tốt hơn, nhanh hơn, hiến pháp cần có những chuyển đổi linh hoạt hơn cả bằng việc sửa đổi hiến pháp chính thức lẫn thông qua những đạo luật có tính cách hiến pháp.   Việt Nam có thể sẽ sửa hiến pháp chính thức trong thời gian tới không xa. Việc sửa đổi hiến pháp này sẽ cần được xem xét với một thực tế là Việt Nam là một xã hội đang chuyển đổi sang các giá trị mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, và xây dựng nhà nước pháp quyền. Như vậy, sửa đổi hiến pháp sắp tới nên tạo lập những cơ sở mới và kích thích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, và xây dựng nhà nước pháp quyền được diễn ra tốt hơn và nhanh hơn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa việc sửa đổi hiến pháp sắp tới sẽ tạo lập những nền tảng toàn diện cho quá trình đó. Những sửa đổi hiến pháp trong thời gian tới đây nếu có thể diễn ra sẽ cần được xem như là một công đoạn chuyển đổi hiến pháp, và nó sẽ tiếp tục sinh ra những sửa đổi hiến pháp tiếp theo nữa trong quá trình thúc đẩy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.   —  (1) Xem: Dân mới là chủ thể cơ bản ban hành Hiến pháp: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Dan-moi-la-chu-the-co-ban-ban-hanh-Hien-phap-926639/   (2) Sửa đổi Hiến pháp: nên trưng cần dân ý: http://phapluattp.vn/20100916105431521p0c1013/sua-hien-phap-nen-trung-cau-y-dan.htm   (3) Samuel P.Huntington, The Third Wave: Democratization in The Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991)  (4) Ruti Teitel, “Transititional Jurisprudence: The Role of Law in Political Transformation” (1997) 106 (7) The Yale Law Journal p 2057.   (5) Như trên, p 2063.   (6) Jiunn-Rong Yeh & Wen-Chen Chang, “The Changing Landscape of Modern Constitutionalism: Transitional Perspective” (2009) 4 (1) National Taiwan University Law Review p149  (7) Chi tiết hơn về cải cách hiến pháp ở Hungary, xem: Gregory Tardi, “The Democratization of Hungarian Constitution” (2000) 9 MSU-DLC Journal of International Law p 369  (8) Chi tiết hơn về cải cách hiến pháp ở Đài Loan xem: Jiunn-Rong Yeh, “Constitutional Reform and Democratization in Taiwan, 1945-2000” trong Peter C.Y. Chow (ed), Taiwan’s Modernization in Global Perspective (Westport, Conn.: Praeger, 2002), p 47-78.   (9) Xem: Jiunn-Rong Yeh & Wen-Chen Chang (đã dẫn), p157.   (10)  Nguồn: Jiunn-Rong Yeh & Wen-Chen Chang (đã dẫn), p 153           Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp và quyền chất vấn Chính phủ      Đề án “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội“ với đề xuất, “Quốc hội sẽ tăng cường hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn“… may mắn ra đời đúng vào giai đoạn sửa đổi Hiến pháp. Bởi quyền và khả năng chất vấn chính phủ hoàn toàn do Hiến pháp định đoạt, một khi không giải quyết được từ nền tảng gốc rễ này, thì đề án có đặt ra mục tiêu cao cả, biện pháp thần kỳ tới mấy, cũng không thể vượt qua giới hạn Hiến pháp cho phép, tức không khả thi, giá trị chỉ như một bản luận án khoa học thuần túy.        Quyền chất vấn chính phủ được hiến định gián tiếp ở nhiều nước, hoặc trực tiếp như Hiến pháp nước ta năm 1992, điều 98 quy định: Đại biểu Quốc hội có “quyền” chất vấn tất cả, từ “Chủ tịch nước” tới cấp thấp nhất “các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang”. Phiá được chất vấn “phải“ trả lời. Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, điều 73 cũng tương tự, chỉ khác phạm vi hẹp hơn, giới hạn chỉ trong “phiên họp“ và chỉ nhắm vào chính phủ cùng các bộ và ủy ban (như thực tế các phiên chất vấn ở Quộc hội ta hiện nay). Hiến pháp Đức hiện hành, điều 43, còn đi xa hơn không chỉ nói mà cả hành động: “Quốc hội và các Ủy ban có thể đòi bất cứ thành viên nào của chính phủ hiện diện“.  Khác với người dân được phép làm tất cả chỉ trừ những gì luật pháp cấm, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, do đó để thực hiện được quyền chất vấn hiến định cần đưa ra được những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự của một văn bản pháp lý buộc cả hai phiá chất vấn và bị chất vấn phải tự động thực hiện nếu không sẽ bị chế tài (điều kiện cần).  Có thể  nhận thấy điều kiện cần đó qua thiết chế cơ quan lập pháp Đức, về quyền chất vấn hiến định, Luật Hoạt động Quốc hội Đức quy định thi hành chi tiết, với những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự, chặt chẽ, không thể thực hiện khác đi theo động cơ hay nhận thức chủ quan cá nhân, hoặc bởi bất cứ áp lực nào. Phụ lục 4, Mục 1, Quyền chất vấn, quy định: Mỗi tuần họp Quốc hội đều có phiên chất vấn không quá 180 phút, mỗi nghị sỹ có quyền đặt tối đa 2 câu hỏi, mỗi câu không qúa 2 điểm, yêu cầu chính phủ trả lời miệng. Câu hỏi và trả lời phải ngắn, đi vào vụ việc cụ thể, không được nhận xét đánh giá chung chung. Người hỏi có quyền lục vấn tiếp người trả lời không qúa 2 câu. Người điều khiển phiên họp chỉ được phép cắt câu hỏi lục vấn khi không liên quan tới câu hỏi chính. Mục 2: Thủ tục đặt câu hỏi: Câu hỏi phải gửi Chủ tịch Quốc hội trước 10 giờ ngày thứ 6 của tuần họp trước , đồng gửi Chính phủ trước 12 giờ, và chỉ được đưa vào nghị trình khi thoả mãn đòi hỏi ở mục 1. Những câu hỏi khẩn cấp phải trình trước 12 giờ của ngày trước đó. Mục 3: Chủ tịch Quốc hội mời chất vấn theo số thứ tự câu hỏi và tên người hỏi. Những câu hỏi khẩn cấp sẽ ưu tiên trước. Câu hỏi chỉ được trả lời miệng khi có mặt người hỏi; nếu không, sẽ được trả lời bằng văn bản nếu người hỏi đề nghị trước phiên họp với Chủ tịch Quốc hội. Những câu hỏi hết thời gian trả lời, Chính phủ phải trả lời bằng văn bản, cũng được đưa vào biên bản cuộc họp. Mục 4: Câu hỏi bằng văn bản: Mỗi Nghị sỹ có quyền, mỗi tháng gửi Chính phủ tối đa 4 câu hỏi, và Chính phủ trả lời bằng văn bản sau khi nhận trong vòng 1 tuần. Nếu quá thời hạn trả lời, người hỏi có thể đòi phải trả lời miệng đầu tiên trong phiên chất vấn tiếp đó. Nếu Chính phủ trả lời kịp trước khi chất vấn, thì tại phiên chất vấn phải giải thích lý do chậm trễ. Phụ lục 7: Quyền tìm hiểu công việc Chính phủ, được quy định tiến hành vào thứ 4 tuần họp, từ 13 giờ – 13 giờ 30. Nghị sỹ được phép hỏi miệng không cần gửi câu hỏi trước như phiên chất vấn, để biết về những vấn đề bàn thảo trong cuộc họp định kỳ hàng tuần của Chính phủ trước đó. Trước khi bắt đầu, đại diện Chính phủ được nói lời mở đầu, nếu có người yêu cầu, không quá 5 phút.  Với những chuẩn mực pháp lý đong đo đếm được trên, trong năm 2011, nghị sỹ Đức đã chất vấn Chính phủ tới 6.545 câu hỏi, tính ra mỗi nghị sỹ chất vấn Chính phủ trên 10 câu trong 1 năm, chưa kể các câu lục vấn.  Quyền chất vấn được hiến định, luật hoá, chỉ mới là tiền đề, tức điều kiện cần, muốn thực hiện được phải có điều kiện đủ, tức Quốc hội phải đủ khả năng, thực lực thực hiện quyền chất vấn đó, nếu không sẽ “lực bất tòng tâm“. Muốn biết thực lực Quốc hội cỡ bao nhiểu là đủ so với quyền chất vấn đặt ra trong đề án “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội“, cần phải lượng hoá được điểm xuất phát thực lực Quốc hội ta hiện nay, trong các mối quan hệ so sánh.        Quyền chất vấn được hiến định, luật hoá, chỉ mới là tiền đề, tức điều kiện cần, muốn thực hiện được phải có điều kiện đủ, tức Quốc hội phải đủ khả năng, thực lực thực hiện quyền chất vấn đó, nếu không sẽ “lực bất tòng tâm“.        Khối lượng lập pháp 5 năm nhiệm kỳ trước, Quốc hội ta ban hành được 68 luật và 12 nghị quyết, tương đương 20 văn bản lập pháp / năm. Để hình dung độ lớn của nó, có thể tham khảo con số đó ở Đức tương đồng dân số và diện tích như nước ta. Cùng nhiệm kỳ đó, Quốc hội  họ thông qua tới 101 luật, gấp chừng 505 % nước ta. Để có kết qủa trên, họ phải họp 69 phiên toàn thể, bình quân mỗi tháng 5 phiên, mỗi tuần hơn 1 phiên với ít nhất 1 buổi chất vấn, chưa kể chất vấn tại các ủy ban; ở ta số phiên họp chỉ giới hạn trong 2 kỳ tập trung của 1 năm, với mỗi kỳ chỉ 1 phiên chất vấn, ước bằng khoảng 2/69 của họ.  Sự khác nhau về công sức bỏ ra và kết qủa đạt được ở trên, bắt nguồn trực tiếp từ tương quan so sánh thực lực 2 bên. Quốc hội ta chỉ có 494 đại biểu, trong đó lại chỉ có 100 đại biểu chuyên trách, nếu quy đổi thời lượng làm việc 2 kiêm nhiệm tối đa bằng 1 chuyên trách, thì thực tế chỉ còn 297 đại biểu, chưa bằng một nửa so với Đức 622 nghị sỹ. Nếu lấy lịch làm việc quy đổi, quốc hội Đức làm việc liên tục 11 tháng (trừ nghỉ phép 1 tháng), mỗi tháng 2,25 tuần họp liên tục, so với quốc hội ta chỉ làm việc tập trung 2 tháng x 4,5 tuần/tháng, thì thời lượng Quốc hội họ làm việc gấp gần 3 lần ta. Nếu cộng chung cả yếu tố chênh lệch số đại biểu, thì thời lượng quốc hội họ làm việc gấp tới 6 lần ta. Đã thế, mỗi nghị sỹ họ được cấp ngân sách đủ trả lương cho 3 trình độ đại học giúp việc / 1 nghị sỹ, nghĩa là qũy thời gian của 1 nghị sỹ họ gấp 4 lần ta chỉ mình đại biểu quốc hội “đơn thương độc mã“. Cộng tiếp yếu tố này, thời lượng họ làm việc nhiều gấp ta ước 24 lần.   Giả sử chất lượng văn bản luật ngang nhau, lấy số văn bản luật 2 bên đã hoàn thành chia cho tổng thời lượng thực hiện, để so sánh, thì năng suất họ chỉ bằng 20% ở ta, nghĩa là nghị sỹ ta nỗ lực gấp họ 4 lần. Ngược lại, nếu giả thiết 2 bên trình độ và nỗ lực ngang nhau, thì do thời lượng chi phí của họ gấp 24 lần ta, nên văn bản luật của họ không chỉ số lượng gấp ta hơn 5 lần, mà chất lượng cũng gấp ta tới 4 lần. Thực tế không thể định lượng tuyệt đối, nhưng chắc chắn tỷ lệ giữa 2 nước phải nằm trong khoảng 2 giới hạn giả định trên.  Nếu điều kiện cần cho đề án, có thể dễ dàng tham khảo chọn lọc văn bản luật pháp các nước tiên tiến, như đưa ra quy định số lượng, thời lượng, trách nhiệm chất vấn và trả lời chất vấn tương tự cách thức của Đức chẳng hạn, thì việc bảo đảm điều kiện đủ, tức để Quốc hội đủ khả năng thực hiện nó, khắc phục thực lực hiện nay như đã dẫn, lại đặt ra hàng loạt vấn đề cải cách thể chế, mà đối tượng đầu tiên chính là bản thân Quốc hội, và trước hết phải bắt đầu từ nền tảng các điều khoản Hiến pháp liên quan. Bởi chính Hiến pháp 1992 đã giới hạn khả năng chất vấn của Quốc hội cả về lực lượng lẫn thời gian. Về thời gian hoạt động của Quốc hội, điều 86 Hiến pháp đã giới hạn sẵn: Quốc hội mỗi năm 2 kỳ họp, vô hình trung đặt Quốc hội vào tình thế bất khả kháng, dù  năng lực ý chí cao tới đâu, cũng không thể chất vấn tầm cấp như Đức cần 11 tháng họp định kỳ. Về lực lượng, đã gọi là Đại biểu Quốc hội, thì họ chỉ đóng vai trò đại biểu, xuất phát từ  bầu cử, chứ không phải toàn những nhà thông thái “tài tử chính trị“, nên cần phải đầu tư công sức thời gian cật lực cho công việc, may ra mới hoàn thành được trọng trách cao cả nhất do cử tri giao phó, nhưng Điều 100 Hiến pháp không thể chế tài họ, mà chỉ có thể kêu gọi tinh thần: “Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu“, xuất phát từ thiết chế Quốc hội cơ cấu Đại biểu không chuyên nghiệp, tức không dùng 100% qũy thời gian làm việc, không sống bằng tiền lương nghị sỹ, làm sao đủ thời gian tâm huyết, để có thể chất vấn “đúng“ và “trúng“ ? Ở Đức lao động thời lượng như vậy được gọi lao động bán phần hay làm thêm. Họ không đủ khả năng và cũng không thể đòi họ đóng vai trò chuyên gia cho công việc đó !  ——  * TS. CHLB Đức    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp và văn hóa bản địa      Bài học quan trọng nhất mà văn hóa Hiến pháp Mỹ có thể đem lại cho Việt Nam là: khác với Coca-Cola, KFC, Rock&amp;Roll, thể chế không phải là một thứ mà người ta có thể dễ dàng nhập khẩu và thưởng thức. Bài viết khẳng định rằng các vấn đề hiến pháp cần phải được bối cảnh hóa trong điều kiện văn hóa bản địa, mặc dù không phủ nhận khả năng tiếp nhận các giá trị hiến pháp nước ngoài.    Trong một bài viết bàn về sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam, GS Tương Lai dẫn lại nhận xét của William Ewart Gladstone, Thủ tướng nước Anh (1809 – 1898) về Hiến pháp Mỹ như là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người”.   Giáo sư không quên chú thích thêm rằng Hiến pháp Mỹ là “bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử. Từ khi có hiệu lực năm 1789, bản Hiến pháp này đã là mô hình tham khảo để xây dựng hiến pháp của nhiều quốc gia phương Tây khác.”(1)  Thực sự trong việc sửa đổi Hiến pháp, Việt Nam có thể học được gì từ văn hóa Hiến pháp Mỹ?   Bài viết này trả lời rằng bài học quan trọng nhất mà văn hóa Hiến pháp Mỹ có thể đem lại cho Việt Nam là: khác với Coca-Cola, KFC, Rock&Roll, thể chế không phải là một thứ mà người ta có thể dễ dàng nhập khẩu và thưởng thức. Bài viết khẳng định rằng các vấn đề hiến pháp cần phải được bối cảnh hóa trong điều kiện văn hóa bản địa, mặc dù không phủ nhận khả năng tiếp nhận các giá trị hiến pháp nước ngoài.  Hiến pháp hay là lòng mộ đạo?   Thomas Jefferson, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, viết năm 1861 rằng: “Một số người nhìn hiến pháp với một lòng mộ đạo quá mức.” (2) Tinh thần mộ đạo đối với hiến pháp không chỉ giới hạn ở một số người mà trở thành đặc trưng chung của văn hóa hiến pháp của người dân Mỹ. GS Satanford Levinson ở ĐH Texas khái quát rằng “sự tôn kính” đối với Hiến pháp trở thành khía cạnh trung tâm của truyền thống chính trị Mỹ. Bản Hiến pháp, cùng với Quốc kỳ và Tuyên ngôn độc lập được coi là “bộ ba thánh thần” của “tôn giáo dân sự” của nước Mỹ (3).  GS Thomas C. Grey ở ĐH Stanford cũng nhận định: “Ngay từ thời điểm nó được phê chuẩn, người Mỹ đã coi Hiến pháp của Hợp chúng quốc không chỉ là một phương tiện pháp lý mà còn là một biểu tượng có tính chất thần thánh. Cùng với Quốc kỳ, nó là vật tổ của chúng ta.” (4)          2/3 dân số trên thế giới sống dưới các chính quyền hợp hiến không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến tự do phương Tây mà chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đến lượt nó lại chịu sự chi phối của chủ nghĩa hợp hiến Mỹ.         Khi người ta sùng bái một vật thể, vật thể đó tất có tính chất quyết định đối với cuộc sống của người ta. Cũng tương tự như vậy, việc sùng bái Hiến pháp của người Mỹ được lý giải từ một thực tế là Hiến pháp có tính chất quyết định đối với cuộc sống của người dân. Mọi người dân Mỹ đều có thể xác định cương vị của mình bằng ngôn ngữ Hiến pháp; nói cách khác, người dân dựa vào hiến pháp để định vị thân phận của họ. Từ việc đi xe buýt, chào cờ ở các trường tiểu học đến vấn đề nạo phá thai, hôn nhân đồng giới, hình phạt tử hình, và nói chung những vấn đề chính trị quan trọng của quốc gia, cuối cùng rồi người ta cũng viện dẫn đến Hiến pháp để giải quyết. Các vấn đề luật pháp Mỹ chẳng chóng thì chầy sẽ trở thành các vấn đề Hiến pháp.   Điều đáng nói là sự sùng bái Hiến pháp Mỹ không chỉ giới hạn ở những người dân Mỹ: các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng ngưỡng mộ bản Hiến pháp này. Một thực tế có tính chất toàn cầu là các chuẩn mực của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây như phân quyền, pháp quyền, nhân quyền, tài phán hiến pháp đang chiếm ưu thế và được “cấy” vào những vùng khác nhau của thế giới. 2/3 dân số trên thế giới sống dưới các chính quyền hợp hiến không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến tự do phương Tây mà chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đến lượt nó lại chịu sự chi phối của chủ nghĩa hợp hiến Mỹ.   Tuy nhiên, con đường vay mượn thể chế gian nan hơn rất nhiều việc trực chờ để được sở hữu phiên bản mới nhất của một sản phẩn công nghệ thông tin. Xây dựng thể chế về mặt hình thức là một chuyện, nhưng thực thi nó lại là chuyện khác.   Một học giả Mỹ cho rằng những văn bản hiến pháp được xây dựng nửa cuối thế kỷ 20 chỉ là những sự sao chép về mặt hình thức, còn thực tế chính trị lại khác xa. (5) Người ta có thể dễ dàng giải khóa các sản phẩm công nghệ có bản quyền, nhưng không dễ kích hoạt các thể chế Mỹ, dù rằng không có bản quyền, trong những môi trường khác. Lý do nằm ở chỗ các thể chế có điều kiện hoạt động của nó. Thể chế có thể hoạt động tốt ở nước này nhưng lại trục trặc ở nước khác do điều kiện bản địa khác nhau.   Người Mỹ đã “vay mượn hiến pháp” như thế nào?  Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các giá trị hiến pháp của một quốc gia được tiếp nhận và thực hiện ở các nền tài phán khác, các học giả quốc tế bàn nhiều hơn đến sự “vay mượn hiến pháp” (constitutional borrowing). Trong bối cảnh đó, Hiến pháp Mỹ được “vay mượn” ở nhiều khu vực khác nhau, và đâu đó người ta cho rằng Hiến pháp là mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của nước Mỹ. Tuy nhiên, bản thân Hiến pháp Mỹ cũng là một sự “vay mượn.” Các nhà lập hiến Mỹ đã vay mượn khá nhiều từ hệ thống hiến pháp của Anh (kể cả các tập quán chính trị lẫn các văn bản hiến pháp như Đại hiến chương Magna Carta, Luật dân quyền, Luật đình quyền giam giữ…)  Hơn một trăm năm trước đây, GS Christopher Tiedeman (1857-1903), một nhà hiến pháp học kinh điển của nước Mỹ, thuộc ĐH Missouri, đã cho rằng: “Hiến pháp của Liên bang cũng như các hiến pháp của tiểu bang ở Mỹ là sự phát triển tiếp theo một cách tự nhiên của Hiến pháp Anh, được điều chỉnh một số chi tiết và nguyên tắc bởi bối cảnh mới.” (6)  Thực vậy, không khó để chỉ ra những dấu ấn của Hiến pháp Anh trong Hiến pháp Mỹ: hệ thống phân chia quyền lực, những giới hạn của quyền lực hành pháp, chế độ lưỡng viện, hệ thống tư pháp độc lập… Nhà chính trị học Robert Lowry Clinton giúp chỉ ra rằng trong 21 khoản của 4 điều đầu tiên của Hiến pháp Mỹ (những điều khoản chính về cấu trúc lập pháp, hành pháp và tư pháp), ít nhất có 16 khoản có nguồn gốc từ các quy tắc Hiến pháp của Anh.   Không chỉ hiến pháp gốc, các tu chính án của Hiến pháp Mỹ cũng vay mượn nhiều từ nguồn Anh. Cũng theo Clinton, Luật dân quyền Anh đã cung cấp những quy tắc cho các nhà thảo hiến Mỹ trong những tu chính án liên quan đến dân quyền của nước Mỹ. Cụ thể, ít nhất 17 trong số 28 quy phạm ở 8 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Mỹ có nguồn gốc từ hệ thống thông luật Anh (7).   Nói như vậy không có nghĩa Hiến pháp Mỹ không có bản sắc riêng. Kỳ thực, nhiều quy tắc của Hiến pháp Mỹ phản ánh những đòi hỏi của bối cảnh mới khi các thuộc địa mới dành được độc lập như như hệ thống liên bang, chế độ tổng thống, chủ quyền nhân dân thay cho chủ quyền nghị viện…  Dù vay mượn từ Hiến pháp Anh, Hiến pháp Mỹ đã hoạt động thành công và tạo nên sự ngưỡng mộ của thế giới. Lý do của sự thành công này là gì? Các thể chế của Hiến pháp Anh hoạt động thành công ở Mỹ thực chất là vì chủ nghĩa hợp hiến Mỹ là vì sự liên tiếp của văn minh Anglo-Saxons ở vùng đất mới bên bờ kia Đại Tây Dương. Tiedeman đã nhận xét: “Hiến pháp Anh và Mỹ hoạt động hiệu quả, tạo nên sự ngưỡng mộ của những người nghiên cứu chính trị không phải do sự xuất sắc trừu tượng cố hữu của chúng- vì không khó chỉ ra những khiếm khuyết rõ ràng, mà do chúng là sản phẩm tự nhiên của nền văn minh Mỹ-Anglo. Các đặc tính của văn minh Anglo-Saxons như yêu chuộng tự do, tuân thủ pháp luật, và tinh thần bảo thủ, dù không tìm thấy trong bản văn hiến pháp, nhưng là những yếu tố bảo đảm cho sự vững bền của chính phủ tự do ở nước Anh và nước Mỹ.” (8)  Với thực tế đó, chúng ta cần suy nghĩ lại nhận xét Thủ tướng Anh Ewart Gladstone về Hiến pháp Mỹ như là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người.” “Sự tuyệt vời” của tác phẩm không phải ở chỗ nó chứa đựng các định chế tân tiến mà chính là ở chỗ nó phản ánh một cách trung thành nhất sự liên tục tự nhiên của văn hóa. Nếu như vậy, nó không phải được sản sinh “bởi trí óc và mục đích của con người”. Nó giản đơn chỉ là sự phản chiếu tự nhiên của một nền văn minh được mở rộng.   Tóm lại, văn hóa hiến pháp Mỹ đem lại một bài học quý giá rằng các hiến pháp chỉ thành công khi được cấy rẽ vào nguồn của nền văn hóa bản địa. Sự vay mượn hiến pháp chỉ thành công khi được sự ủng hộ của bối cảnh bản địa.   Tiếp nhận hiến pháp ở Việt Nam: một ví dụ từ quy định bỏ phiếu tín nhiệm  Đầu năm 2001 Việt Nam cải cách hiến pháp và một số thể chế nước ngoài được tiếp nhận. Điển hình nhất là chế độ bỏ phiếu tín nhiệm, theo đó, Quốc hội được trang bị thêm thẩm quyền mới là “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.” (khoản 7, Điều 84). Dễ nhận ra rằng đây là một sự tiếp nhận có điều chỉnh của chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm được áp dụng phổ biến trong các chế độ đại nghị ở Châu Âu.             Chế độ bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam là một sự tiếp nhận có điều chỉnh của chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm được áp dụng phổ biến trong các chế độ đại nghị ở Châu Âu nhưng đã được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường chính trị Việt Nam: bỏ phiếu bất tín nhiệm được mềm hóa thành bỏ phiếu tín nhiệm; bỏ phiếu đối với cá nhân thay cho bỏ phiếu đối với tập thể.          Bỏ phiếu tín nhiệm hay bỏ phiếu bất tín nhiệm là thể chế được thiết kế để ngành lập pháp có thể bày tỏ thái độ không hài lòng và áp đặt trách nhiệm đối với ngành hành pháp. Thể chế được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường chính trị Việt Nam: bỏ phiếu bất tín nhiệm được mềm hóa thành bỏ phiếu tín nhiệm; bỏ phiếu đối với cá nhân thay cho bỏ phiếu đối với tập thể. Mặc dù vậy, thể chế này, trong một thập kỷ qua chưa từng hoạt động. Cũng cần lưu ý rằng điều này không có nghĩa vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm chưa từng được đặt ra trước Quốc hội. Chúng ta có thể nhớ lại ấn tượng gần đây nhất về một vị đại biểu Quốc hội đặt vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu ngành hành pháp nhân vụ Vinashin. Tuy nhiên, Quốc hội chưa từng bỏ phiếu tín nhiệm đối với ai kể từ khi thể chế này được xây dựng từ năm 2001.   Có lẽ có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là thể chế không nhận được sự ủng hộ của văn hóa bản địa. Liên quan đến những cọ xát giữa lập pháp và hành pháp, tinh thần bằng hữu hay văn hóa hài hòa có giá trị chi phối hơn là các thể chế chính thức. “Dĩ hòa vi quý” có lẽ không chỉ là một phương châm giải quyết tranh chấp dân sự để tránh con đường kiện tụng nơi tòa án mà còn trở thành quy tắc ứng xử mang tính chất bao quát hơn trong đời sống chính trị.   Vài lời kết  Hiến pháp cũng như luật pháp là một bộ phận của văn hóa. Các hiến pháp chân thực, không phải hiến pháp hình thức, bao giờ cũng là sự phản ánh trung thành văn hóa bản địa. Sự gắn kết với văn hóa bản địa là điều kiện để hiến pháp vận hành trên thực tiễn thay vì trở thành hữu danh vô thực. Nếu hiến pháp được xem như khế ước của một cộng đồng, nó phải được xây dựng và điều chỉnh trên nền tảng lối sống, cách nghĩ, những mong muốn chung, những xu hướng chung được một cộng đồng chấp nhận.   Bài viết này, trong khi không có ý dựa vào “chủ nghĩa liên quan văn hóa” để phủ nhận khả năng tiếp nhận thể chế ngoại sinh, đề nghị rằng học thuật trong nước cũng như các nhà xây dựng thể chế quốc gia cần xem xét nhiều hơn đến sự tương quan của văn hóa bản địa đối với việc thiết lập, điều chỉnh và vận hành thể chế.   1. Xem: Để dân trao quyền mà không mất quyền: http://tuanvietnam.net/2010-08-29-de-dan-trao-quyen-ma-khong-mat-quyen.  2. David N.Mayer. The Constitutional Thought of Thomas Jefferson (Virgina: University of Virgina Press, 1994), p 296.   3. Satanford Levinson, Constitutional Faith (New Jersey: Princeton University Press, 1988), p11.    4. Thomas C. Grey, “The Constitution as Scripture” 37 Stanford Law Review p 17  5. David T Butle Ritchie, “Critiquing Modern Constitutionalism” (2004) Vol 3: 37 Appalachian Journal of Law p 45.  6. Christopher Tiedeman, The Unwritten Constitution of the United States (New York: William S.Hein& Co., Inc, 1974), p 26.      7. Do khuôn khổ bài viết có hạn, chúng tôi không tiện chỉ ra nội dung cụ thể. Ban đọc quan tâm xin tham khảo: Robert Lowry Clinton, God and Man in Law: The Foundations of Anglo-American Constitutionalism (Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 1997), pp 96-98. Trong phần viết này, Clinton chỉ ra cụ thể điều khoản nào của Hiến pháp Mỹ có nguồn gốc từ văn bản nào trong hệ thống Hiến pháp nước Anh.  8. Christopher Tiedeman, tlđd, p 26.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiến pháp Việt Nam trong cách nhìn của một học giả phương Tây      Với suy nghĩ, việc xem xét một cách toàn  diện các cách nhìn khác nhau của cả các học giả trong nước và các học  giả quốc tế về sự phát triển của hiến pháp ở Việt Nam là điều cần thiết,  chúng tôi giới thiệu cách nhìn của một học giả phương Tây về hiến pháp  Việt Nam.    Nghiên cứu về Hiến pháp Việt Nam ở nước ngoài    Trước tiên, cần phải thừa nhận rằng những nghiên cứu ở nước ngoài về hiến pháp Việt Nam không nhiều. Có lẽ nhà báo và nhà phân tích người Mỹ Bernard B. Fall là người rất sớm quan tâm đến lịch sự phát triển của hiến pháp Việt Nam. Trong một cuốn sách nghiên cứu về Việt Minh, ông đã dành khá nhiều trang phân tính bối cảnh ra đời, cấu trúc cơ bản của Hiến pháp 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.1 Ngoài ra, Fall cũng có những bài viết nghiên cứu về Hiến pháp 1959 sau đó.2 Liên quan đến Hiến pháp 1980, cần phải kể ra một giới thiệu có tính chất tổng quát của nhà sử họcWilliam J. Duiker.3 Một số học giả phương Tây khác như Robert Devereux, J.A.C Grant, Milton Sacks cũng có những nghiên cứu về hệ thống hiến pháp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Miền nam Việt Nam trước giải phóng.4   Ngoài một số nghiên cứu về lịch sử hiến pháp ở Việt Nam, có thể nói rằng những nghiên cứu về các vấn đề hiến pháp Việt Nam đương đại ở phương Tây rất hiếm hoi. Về những học giả nước ngoài có nhiều nghiên cứu của luật pháp Việt Nam nói chung,chúng ta có thể kể đến John Gillespie (Đại học Monash, Úc), Pip Nicholson (Đại học Melbourne, Úc), và Mark Sidel (Đại học Wisconsin, Mỹ). Trong đó John Gillespie quan tâm nhiều đến luật kinh doanh của Việt Nam, Pip Nicholson quan tâm đến hệ thống tòa án Việt Nam, và Mark Sidel đặt biệt quan tâm đến các vấn đề hiến pháp Việt Nam hiện tại. Do vậy, trong bài viết này chúng tôi xem xét các nghiên cứu về Hiến pháp Việt Nam của giáo sư Mark Sidel.    Nghiên cứu của Mark Sidel về hiến pháp Việt Nam  Mark Sidel hiện là giáo sư luật ở Trường Luật thuộc Đại học Wisconsin. Ông cũng là cố vấn quốc tế của Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) ở Việt Nam. Mark chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa hợp hiến so sánh (tập trung chủ yếu vào Việt Nam và Trung Quốc), các tổ chức phi lợi nhuận và nhân đạo ở Mỹ, quan hệ của xã hội dân sự và pháp luật. Ông cũng là giáo sư thỉnh giảng của các trường luật lớn khác như Trường Luật Harvard, Trường Luật Melbourne (Úc), Trường Luật thuộc Đại học Victoria (Canada)… Mark đặc biệt quan tâm đến các vấn đề pháp triển nói chung và vấn đề hiến pháp nói riêng ở Việt Nam. Ông đã công bố nhiều bài báo trên các tạp chí quốc tế, viết một số sách về luật pháp và hiến pháp ở Việt Nam.5  Một trong những nghiên cứu của Mark về hiến pháp Việt Nam cần kể đến trước tiên là một bài viết công bố trên tạp chí quốc tế ở Singapore năm 2002.6 Trong bài viết này, tác giải phân tích các cuộc thảo luận xung quanh quá trình sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam năm 2001. Từ cơ sở những phân tích đó, tác giả đề nghị một cách nhìn khác về vai trò đang thay đổi của hiến pháp xã hội chủ nghĩa. Trong khi các học giả phương Tây khác thường nhìn nhận hiến pháp xã hội chủ nghĩa như một văn bản có tính chất chương trình, như một phương tiện để biểu đạt các chính sách chính trị, Mark cho rằng cách nhìn này không còn thích hợp trong việc nhìn nhận vai trò của hiến pháp trong các xã hội chủ nghĩa đang chuyển đổi như Việt Nam. Phân tích các cuộc thảo luận liên quan đến sửa đổi hiến pháp năm 2001, Mark kết luận rằng hiến pháp ở Việt Nam bây giờ là một nền tảng cho các nhà lập pháp, các nhà luật học, các luật sư, và những người khác thảo luận về các vấn đề chính sách hiện tại và các định hướng về chủ nghĩa hợp hiến.7  Năm 2008, Mark Sidel công bố một cuốn sách có tiêu đề “Law and Society in Vietnam” (Luật và Xã hội ở Việt Nam).8 Hai phần ba cuốn sách này bàn về các vấn đề hiến pháp Việt Nam hiện nay. Nội dung của bài báo nói trên được xuất bản lại trong cuốn sách này. Ngoài ra, một vấn đề hiến pháp mới được thảo luận trong cuốn sách này là vấn đề bảo hiến ở Việt Nam. Tác giả dành hai chương thảo luận về vấn đề này: một chương phân tích các thảo luận về chế độ bảo hiến ở Việt Nam gần đây; và một chương bàn về những ý nghĩa về mặt bảo hiến của việc bãi bỏ chính sách hạn chế đăng ký xe máy (“một người một xe máy”) năm 2005 trên cơ sở những lý do khác nhau trong đó có lý do chính sách này không phù hợp với quyền sở hữu tư liệu hợp pháp được quy định trong hiến pháp, một hiện tượng mà ông gọi là “chủ nghĩa hợp hiến xe máy” (motobike constitutionalism).   Gần đây nhất (2009), Mark Sidel công bố một cuốn sách có tên “The Constitution of Vietnam.” (Hiến pháp Việt Nam).9 Cuốn sách này nằm trong một dự án xuất bản về “Các hệ thống hiến pháp trên thế giới” của Nhà xuất bản Hart. Dự án này nhằm mục đích cung cấp cho các học giả, những người nghiên cứu, và sinh viên có một cách nhìn tổng quan về các hệ thống hiến pháp trên thế giới. Mỗi một cuốn sách thuộc dự án này sẽ viết về hiến pháp của một quốc gia. Mark viết về hiến pháp của Việt Nam. Cuốn sách “The Constitution of Vietnam” của Mark Sidel được phát triển trên cơ sở các nghiên cứu của tác giả đã công bố trước đó, các bài giảng của tác giả ở các trường luật khác nhau, các báo cáo cho các chương trình mà tác giả là cố vấn.   Để viết cuốn sách này, tác giả đã có một quá trình nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau, đặc biệt các tài liệu viết bằng tiếng Việt. Tác giả đã tham khảo các sách vở của các thế hệ các nhà luật học khác nhau ở Việt Nam: từ các học giả lớp đầu như Nguyễn Mạnh Tường, Vũ Đình Hòe, các học giả ở Sài Gòn trước giải phóng như Lê Đình Chân, Nguyễn Văn Bông, đến các học giả Việt Nam hiện nay như Nguyễn Đăng Dung, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Văn Thảo, Đào Trí Úc, Tô Văn Hòa.  Cuốn sách được chia làm 9 chương. Chương 1 giới thiệu một số chủ đề cơ bản trong thảo luận về hiến pháp ở Việt Nam. Bốn chương tiếp theo bàn về bốn bản hiến pháp ở Việt Nam. Chương 6 bàn về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam năm 2001. Ba chương cuối cùng bàn về ba vấn đề khác nhau liên quan đến những cuộc thảo luận quan trọng về sự phát triển của hiến pháp ở Việt Nam hiện nay – đó là, quyền lập hội trong hiến pháp, tư pháp độc lập, và chế độ bảo hiến.   Nói chung, cuốn sách là một tài liệu đầu tiên viết bằng tiếng Anh giới thiệu một cách chi tiết quá trình pháp triển của hiến pháp Việt Nam: từ bản hiến pháp đầu tiên cho đến các thảo luận sôi nổi về bảo hiến ở Việt Nam trong những năm gần đây. Trong bốn chương về bốn bản hiến pháp, tác giả phân tích bối cảnh hình thành, những nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ công dân, cấu trúc chính quyền, các chính sách nhà nước. Trong phần kết luận, Mark cho rằng có ba xu hướng chính trong quá trình phát triển hiến pháp ở Việt Nam hiện nay:   Thứ nhất, các cuộc thảo luận về những vấn đề then chốt của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam. Tác giả cho rằng ở Việt Nam, những nhà luật học, luật sư không còn thuần túy mô tả các quy tắc hiến pháp mà đã chuyển sang phân tích những vấn đề then chốt của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam: vai trò và chức năng của Quốc hội, chính quyền địa phương, hệ thống tòa án, Viện kiểm sát, việc thực thi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.   Thứ hai, Việt Nam sẽ tiến hành sửa đổi hiến pháp trong thời gian tới, và những vấn đề chính sẽ liên quan đến: cấu trúc của hệ thống tòa án, tiền năng của một hệ thống bảo hiến; vai trò đang thay đổi của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, và Ủy ban nhân dân; các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.   Thứ ba, các cuộc thảo luận tiếp tục về chế độ bảo hiến và tiềm năng của một tòa án hiến pháp hay một hội đồng hiến pháp. Các thảo luận về bảo hiến bắt đầu trở lại từ hồi đầu thập kỷ trước, trở nên sôi nổi trong thời gian gần đây và sẽ tiếp tục là một chủ đề quan trọng khi Việt Nam xem xét sửa đổi hiến pháp.10    Thay lời kết  Nhìn chung, các học giả phương Tây khi đánh giá về các hiến pháp xã hội chủ nghĩa như hiến pháp Việt Nam thường dựa trên những tiêu chuẩn của chủ nghĩa hợp hiến tự do phương Tây hiện đại, những điều mà họ đã được đào tạo trong các trường luật ở phương Tây và định hướng tư duy của họ. Họ thường có khuynh hướng đem các vấn đề hiến pháp ở các hệ thống xã hội chủ nghĩa đối chiếu với các chuẩn mực phương Tây như: tam quyền phân lập, kìm chế đối trọng, tài phán hiến pháp, tư pháp độc lập…  Điều đặc biệt trong nghiên cứu về Hiến pháp Việt Nam của Mark Sidel là những biểu hiện của sự thoát khỏi khuynh hướng đó. Học sử ở Đại học Princeton và Đại học Yale, học luật ở Trường Luật Columbia, nhưng Mark không hoàn toàn bị thống trị bởi các chuẩn mực phương Tây trong đánh giá các vấn đề hiến pháp Việt Nam. Ngược lại, nghiên cứu của Mark có khuynh hướng bản địa hóa. Mark đến Việt Nam, gặp gỡ, trao đổi với các học giả Việt Nam, đọc sách của họ, tham dự các hội thảo quốc gia về hiến pháp, nghe những thảo luận của các học giả bạn địa. Các nghiên cứu của Mark về hiến pháp Việt Nam bám sát các vấn đề thực tế nhất đang diễn ra trong đời sống hiến pháp ở Việt Nam, từ vụ án Đồ Sơn, vụ hạn chế đăng ký xe máy cho đến các thảo luận trong nước về bảo hiến. Chính vì vậy, Mark đặt các vấn đề hiến pháp ở Việt Nam vào môi trường của Việt Nam, đánh giá nó trên cơ sở thực tế của Việt Nam thay vì áp đặt các chuẩn mực phương Tây trong việc đánh giá.   Xét về mặt nội dung, Mark vạch ra được tinh thần cơ bản của các vấn đề hiến pháp Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những phân tích về nội dung của các vấn đề sẽ sâu sắc hơn và thuyết phục hơn nêu Mark khai thác nhiều hơn các bài báo của các học giả trong nước đăng trên các tạp chí luật của Việt Nam. Mark đọc nhiều sách về hiến pháp được viết bởi các học giả Việt Nam, nhưng các bài nghiên cứu trong nước trên các tạp chí luật chưa được phân tích đầy đủ. Trong khi Mark muốn tìm hiểu những thảo luận sôi nổi về hiến pháp ở Việt Nam, các tạp chí luật là nơi biển đạt tinh thần này rõ nhất.  —  1.    Bernard B. Fall, The Viet- Minh Regime: Government and Administration in the Democratic Republic of Vietnam (New York: Institute of Pacific Relations, 1956).   2.    Bernard B. Fall, “North Vietnam’s Constitution and Government”, Pacific Affairs 34 (1960): 282; Bernard B. Fall, “Constitution-Writing in a Communist State: The New Constitution of North Vietnam,” Howard Law Journal, 6 (1960): 157.   3.    William J. Duiker, “The Constitutional System of the Socialist Republic of Vietnam” in Lawrence W.Beer (ed) Constitutional Systems in Late Twentieth Century Asia (Washington: University of Washington Press, 1992).   4.    Robert Devereux, “South Vietnam’s New Constitutional Structure” Asian Survey, (8 (8) 1968): 627; J.A.C Grant, “The Vietnam Constitution of 1956” American Political Science Review 52 (2) (1958): 437; Milton Sacks, “Restructuring the Government in South Vietnam” Asian Survey 7 (8) (1967): 515  5.    Chi tiết hơn về tác giả, xem: http://law.wisc.edu/profiles/sidel@wisc.edu  6.    Mark Sidel, “Analytical Models for Understanding Constitutions and Constitutional Dialogues in Socialist Transitional States: Re-Interpreting Constitutional Dialogues in Vietnam” Singapore Journal of International and Comparative Law, 6(2002).   7.    Như trên, 87.  8.    Mark Sidel, Law and Society in Vietnam (Cambridge: Cambridge University Press, 2008).   9.    Mark Sidel, The Constitution of Vietnam (U.S.A and Canada: Hart Publishing, 2009)  10.    Như trên, 211.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện trạng khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta      Trên cơ sở mô tả tổng trạng và dựa vào những mốc lớn của lịch sử trong một thế kỷ vừa qua, tuy không quên ghi nhận những thành tựu mà đội ngũ những người lao động trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta đã đạt được, bài viết được xây dựng chủ yếu trên cảm hứng phê phán và tự phê phán, tự xác định mục tiêu chủ yếu là chỉ ra một số phương diện yếu kém, bất cập từ trong lịch sử và cả ở hiện trạng của lĩnh vực lao động mà tác giả là một người trong cuộc.        Sứ mạng của các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam    Để có thể tổ chức và lãnh đạo những cộng đồng có tầm cỡ quốc gia – dân tộc, giới cầm quyền ở các cộng đồng hữu quan phải kiến tạo cho mình bằng được một (hay những) công cụ thống trị tinh thần, cái mà trong triết học gọi là hệ ý thức hay hệ tư tưởng. Nhưng có thực tế, là bất kỳ quốc gia nào cũng có tầng lớp (hay giai cấp) thống trị riêng, mà đỉnh chóp của chúng là các triều đại, song không phải bất kỳ, hay nói chung, đại đa số các triều đại như vậy lại hội đủ điều kiện để tích hợp khả năng hệ thống hóa tri thức (là thứ bao giờ cũng tồn tại với những đặc điểm là có khả năng tán phát và di truyền xã hội cực mạnh) để hình thành nên những hệ tư tưởng độc lập.Vậy nên trong lịch sử nhân loại, các hệ tư tưởng thường là thứ sản phẩm lai ghép từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ở đó sự cộng sinh của các thành tố dị chủng hay chuyện vay mượn (từ vay mượn yếu tố đến vay mượn hệ thống) là hiện tượng phổ biến. Tình hình đó khiến cho hệ tư tưởng là loại sản phẩm ít có khả năng hoàn nguyên về chỉ một nguồn gốc mang tính dân tộc. Cũng từ thực tế đó mà từng nhiều phen trong lịch sử xuất hiện tình huống giữa các thực thể chính trị có chung nền tảng hệ tư tưởng vẫn nảy sinh những bất đồng, xung đột chính trị sâu sắc, thậm chí trong những trường hợp nhất định dẫn tới cả những xung đột vũ trang. Các nền văn minh lớn, về sau là các nước lớn, thường có vai trò “máy cái” trong việc sản xuất các học thuyết, các hệ thống triết học và hệ tư tưởng, nhưng ngay cả các nền văn minh hay các nước lớn như thế cũng không tự khép kín, không tự cung tự cấp đủ cho chính mình mọi yếu tố cần thiết để cấu thành nên một hay những hệ tư tưởng hoàn chỉnh.Vì lẽ đó, trong lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học thế giới, các hệ tư tưởng thực thụ thường tác động trên quy mô xuyên/ liên dân tộc, nói cụ thể hơn, thường ở dạng hệ tư tưởng khu vực hay trong trường hợp thành công hơn, liên khu vực, trước khi xuất hiện những học thuyết có tham vọng phổ quát hóa ra toàn thế giới.      Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra một trong những hạn chế của giới trí thức dân tộc là ít có những thành tựu và phong cách tư duy mang tính lý luận. Xét như đối tượng của một ngành, một lĩnh vực hoạt động sáng tạo tri thức, thì triết học và tư duy lý thuyết là thứ người Việt Nam không có nhiều để tự hào. Nhưng có vấn đề lớn xuất hiện khi hệ tư tưởng chủ yếu có nguồn gốc ngoại nhập thì về nguyên tắc bao giờ cũng được thể hiện ở vùng “đất mới” trong diện mạo hoặc ít hoặc nhiều bị khúc xạ, biến thái, xuyên tạc hay cải tạo. Trong những trường hợp đó, giới cầm quyền ở các quốc gia – dân tộc “nhập khẩu học thuyết” lại cũng thường có những nỗ lực để chí ít là “vận dụng một cách sáng tạo”, cao hơn, là có kỳ vọng “bổ sung làm phong phú thêm” các học thuyết  được nhập cảng đó. Cá biệt, có những học thuyết, những hệ tư tưởng được nhập khẩu rồi chế tác lại, “cải tạo và phê phán” đến mức thành ra một hệ tư tưởng khác, một mô hình lý thuyết khác. ý đồ của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam hướng tới việc nỗ lực mong tìm thấy những đặc trưng của Phật giáo, Nho giáo, sự kết hợp Tam giáo theo “cách riêng” của Việt Nam qua tương tác với các yếu tố bản địa trong thời quân chủ chuyên chế hay nỗ lực để đề xuất nên những đặc thù của hệ tư tưởng tư sản, hệ tư tưởng vô sản trong giai đoạn Âu hóa, hiện đại hóa xã hội có cơ sở từ thực tế khách quan như thế. Mức độ chân thực của các kết quả tìm kiếm ấy đến đâu lại là chuyện khác. Chỉ có điều phải lưu ý, một học thuyết không bao giờ là chính nó nếu nó được di thực và bứng trồng vào những môi trường xã hội vốn mang sẵn những đặc trưng quá khác biệt về cấu trúc và quá trình phát triển kinh tế – xã hội – lịch sử so với ở nơi mà học thuyết đó được đề xướng nên, ở nơi, nói một cách chặt chẽ, chỉ với những điều kiện tương ứng nó mới thực sự xứng đáng để được coi là tri thức lý luận, sản phẩm trừu tượng hóa nhận thức từ một/ những thực tiễn xã hội – lịch sử cụ thể cho trước.  Toàn bộ tồn tại lịch sử của thực thể Việt Nam đòi hỏi việc khái quát “từ nó và cho nó” nên những luận điểm và thành tố lý thuyết mới, nhưng cho đến nay, nói một cách thẳng thắn và sòng phẳng, những đúc kết lý thuyết ấy còn chưa được tiến hành tới ngưỡng khả tín cần thiết. Triết học và các ngành khoa học “cận triết học” khác ở Việt Nam vẫn tồn tại lơ lửng đâu đó trong một trạng thái hoặc không trọng lượng, hoặc bị nhận mặt là con lai, trong khi cộng đồng vẫn bị níu lại bởi tâm thế khó cởi mở với những sinh linh “khác máu tanh lòng”!  Du nhập những bộ khung lý thuyết tối giản của các ngành khoa học xã hội và nhân văn từ nguồn gốc Âu Mỹ, rồi không nhận được sự liên tục bổ sung các tri thức lý luận và phương pháp làm việc hoặc bổ sung một cách chiếu lệ, gặp chăng hay chớ, khá nhiều chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam như những đứa trẻ vừa bị sinh thiếu tháng vừa bị nuôi thiếu chất trầm trọng, lâm vào một quán tính vô tích sự xã hội thường trực. Tình trạng lạc hậu và lạc lõng của các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam nếu mang so sánh với tiềm năng tiếp cận hòa nhập với trình độ thế giới của các lĩnh vực khoa học tự nhiên hay thậm chí một số khá lớn các ngành kỹ thuật là điều không thể không báo động.  Nếu được tổ chức và khai thác có hiệu quả thực sự, các khoa học xã hội và nhân văn sẽ trở thành nguyên động lực cho việc định hướng và giữ nhịp cho các quá trình vận động xã hội hiện thực, nghĩa là trở thành một công cụ nhận thức mạnh mẽ cho giới lãnh đạo xã hội đương quyền, cũng có nghĩa là đóng một vai trò chính trị trực tiếp, đồng thời với việc tìm kiếm nguyên liệu và năng lượng xã hội cho các quá trình phát triển xã hội vị lai, nghĩa là trở thành nguồn lực cho các lực lượng chính trị – xã hội trong tương lai.  Trên thực tế, cho tới nay chưa bao giờ các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam được và tự phấn đấu để giành được một địa vị như thế. Minh họa các kết luận chính trị bằng các chất liệu, các dữ kiện khoa học hóa, thậm chí đón ý và phụ họa các định kiến của những nhân vật quyền lực nào đó đã kịp trở thành “tác phong khoa học” không quá lạ lẫm ngay ở các đại diện của cả một số ngành vốn được coi là “mũi nhọn”. Vài chục năm nay xuất hiện loại hiện tượng chưa hẳn lương thiện hơn nhưng chắc chắn vô vị hơn: trưng bày những diện mạo có vẻ “khách quan, uyên bác”, “chuyên nghiệp hóa”, khai thác tâm lý hiếu kỳ  và sùng thượng khoa học, nhưng không dẫn các kết quả tới những mục tiêu thật sự rõ ràng.   Địa vị của các khoa học xã hội – nhân văn?                 90% thư tịch cổ vẫn chưa được dịch                Có một định kiến, ít nhất lưu hành trong vô thức của giới chuyên gia của các lĩnh vực chuyên môn hẹp thuộc các khoa học tự nhiên và kỹ thuật, rằng “nói trắng ra, các lĩnh vực được gọi là khoa học xã hội – nhân văn không phải là những khoa học đích thực”. Bởi không ai chính thức nói và viết thành “giấy trắng mực đen” những lời như vậy, càng không có bất cứ cơ quan có thẩm quyền xã hội nào khẳng định điều ấy, nên định kiến ấy chỉ có thể lưu hành một cách “dân gian”, nhưng với những gì lưu trong cảm nhận cá nhân, tôi cho rằng đó là một định kiến có quy mô ảnh hưởng sâu rộng, gieo rắc những sai lầm và gây họa khủng khiếp! Tôi không bịa đặt, không vu khống hay nghiêm trọng hóa chuyện tồn tại một định kiến như thế, mà đã trải nghiệm nó một cách nhức nhối qua cả một thời gian dài, qua cửa miệng của nhiều người, hoặc họ là bạn bè làm việc trong phạm vi các khoa học tự nhiên – kỹ thuật, hoặc nhiều hơn nữa trong giới trẻ chuẩn bị chọn nghề nghiệp khi bước vào đời. Định kiến đó chỉ bị thu hẹp hoặc trở nên lố bịch trong môi trường nào văn hóa khoa học cao, có thể rất mờ nhạt hay thậm chí không tồn tại ở các nước có trình độ dân trí phát triển. Rất đơn giản, ở những môi trường như vậy, người ta có điều kiện để kiểm chứng sòng phẳng và tức khắc việc thiếu vắng những hiểu biết có hệ thống và cơ bản các lĩnh vực tri thức thuộc khoa học xã hội và nhân văn đã/hay sẽ mang lại những hậu quả gì.  Nhưng nguyên nhân của một thái độ mang tính định kiến, kỳ thị đối với các khoa học xã hội và nhân văn như thế ở những nước như nước ta không thể chỉ được tìm thấy từ “bên ngoài”, mà trước hết phải được nhận ra từ bên trong bản thân đội ngũ những người theo đuổi các lĩnh vực này lẫn những thành tựu khá “khiêm tốn” – từ đó dẫn đến địa vị tinh thần cũng khá “khiêm tốn”- mà các khoa học ấy đạt tới. Hégel từng nhận xét rằng các định kiến trong nhận thức vừa thể hiện ra ở các thời điểm cụ thể như là “chân lý của thời đại”, vừa như những giới hạn cần và chắc chắn phải bị vượt qua. Việc vượt thoát khỏi những định kiến như thế phụ thuộc trước hết ở khả năng tự trưởng thành của các “đối tượng” bị định kiến đó đeo đẳng.  Trong thời đại ngày nay, ở một xã hội cụ thể, trạng thái yếu kém của các khoa học xã hội và nhân văn sẽ dẫn đến những hệ quả to lớn, bởi chỉ qua các khoa học xã hội và nhân văn mà một xã hội tự trình hiện mình, tự ý thức về chính mình một cách đích thực nhất. Số phận của một cá nhân cho đến một tập đoàn kinh tế có thể được quyết định chỉ bởi một hay một vài sáng chế, phát minh, phát kiến khoa học, nhưng số phận của một cộng đồng lại chỉ có thể được xác định thông qua hàng loạt những tương tác kinh tế, chính trị, văn hóa và đạo đức phức tạp, cả theo chiều hướng nội lẫn theo chiều hướng ngoại. Mục tiêu tối hậu của các khoa học xã hội và nhân văn là hướng tới cộng đồng, nghiên cứu con người và xã hội bằng hệ quy chiếu cộng đồng để phục vụ cộng đồng. Không biết có phải là một nhận xét nhầm lẫn không, nhưng tôi cho rằng khác với những hoạt động sáng tạo nghệ thuật hay những tìm tòi trong các khoa học tự nhiên thường dễ dàng tìm thấy nhiều hứng thú và cảm hứng tự thân, trong quá trình sáng tạo thường xuất hiện rõ nét yếu tố tự thưởng ngoạn, tự chiêm nghiệm, những người làm việc trong các khoa học xã hội thường phải tìm nguồn cảm hứng hỗ trợ từ chỗ nhận thức rõ về ý nghĩa xã hội của công việc mình đang theo đuổi. Tương tác tạo nên sức mạnh phát triển bền vững giữa các khoa học tự nhiên, kỹ thuật với các khoa học xã hội và nhân văn ngày nay đã không chỉ được các chính phủ, các thể chế xã hội – nhà nước biết tới, mà cũng đã kịp trở thành phương châm tồn tại của các hãng, các tổ hợp, tập đoàn kinh tế nổi tiếng trên thế giới. Mở rộng phạm vi quan tâm sang các lĩnh vực văn hóa, khoa học xã hội nhân văn hay nghệ thuật, đó không phải là những hoạt động đánh bóng tên tuổi hay mang tính chất từ thiện, mà quan trọng hơn, các hãng, tập đoàn, tổ hợp ấy đang tạo ra một sự tự chuyển đổi bản chất bên trong, biến mình thành những thực thể xã hội đa chiều và ổn định lâu dài, thành những cộng đồng xã hội hoàn chỉnh, chứ không còn đơn thuần là những “cơ sở sản xuất kinh doanh” như chúng là thế mấy chục năm về trước.  * * *  Có lẽ đã có quá nhiều sự mạo muội, quá nhiều những nhận xét, nhận định “vượt phận”, cho dù bài viết này, trong ý thức chủ quan của tác giả, mới chỉ là việc thốt ra những lời chẳng đặng đừng. Dẫu sao, dù bậc thánh nhân xưa có dạy rằng “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”, dân gian cũng từng giễu cợt những thân phận “gái góa lo chuyện triều đình”, nhưng cũng chính bởi bậc thánh nhân ấy cũng có khuyến dụ rằng “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, mà dân gian cũng có lời động viên đối với những ai thấy sóng cả mà không ngã tay chèo, tôi cứ muốn nêu lên một nhận xét, cũng có thể coi là lời chất vấn sau cùng này: có hay chưa ở Việt Nam một quy hoạch xứng tầm quốc gia đối với những vấn đề hết sức then chốt mang tính chiến lược của sự tồn tại và phát triển của các khoa học xã hội và nhân văn?                 Thật khó mà khẳng định chắc chắn, rằng kể từ buổi giao thoa Đông Tây dẫn đến sự xuất hiện của một thứ nghề nghiệp mới ở Việt Nam được gọi tên là nghề “làm khoa học” cho tới nay, thì ngành nào trong số các ngành của khoa học xã hội và nhân văn được “đăng ký trước bạ” sớm nhất. Tuy nhiên có thể nói hai lĩnh vực để lại những thành tựu đạt tới trạng thái “cổ điển” sớm nhất kể từ buổi Âu hóa, là thư tịch chí và dân tộc học, và điều đó không ngẫu nhiên. Nếu ta biết rằng, một trong những tác giả đầu tiên của văn học Việt Nam được người Pháp chú ý là Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên được dịch sang tiếng Pháp là truyện Nôm Lục Vân Tiên, không chỉ dịch một lần bởi một dịch giả, mà dịch vài lần với những dịch giả và sự lựa chọn thể loại khác nhau, ta sẽ hiểu dụng ý hàng đầu của người Pháp khi dịch tác phẩm và mối quan tâm của họ đối với tác giả đó: trước hết họ muốn lĩnh hội và chuyển tải những “dữ kiện dân tộc học” chứ không phải đã có hứng thú đặc biệt, “mang tính mỹ học bất vụ lợi” với một tác giả, một tác phẩm văn học! Nói rộng ra, không phải vô cớ mà những công trình nghiên cứu về dân tộc học và về sau, nhân loại học của các học giả phương Tây lại chính là bộ phận quan yếu nhất làm nên chuyên ngành Đông phương học ở các nền khoa học “chính quốc”. Tuy nhiên, một khi phải kiến tạo hệ thống cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở tầm một quốc gia có chủ quyền, độc lập, như là lĩnh vực này đòi hỏi phải thế, thì bộ ba các môn học “văn, sử, địa” (nhân thể, môn “địa lý” ở thuở manh nha buổi đầu chỉ có thể là địa lý nhân văn mà chưa phải là một chuyên ngành thuộc khoa học tự nhiên như đến thời điểm phát triển hơn về sau) lại nằm ở nền móng của cả hệ thống đó.            Ý kiến của bạn?  (Ảnh trên: Hội thảo quốc tế về chữ Nôm tháng 6/2006)      Trần Ngọc Vương    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hiện tượng con người” của Teilhard de Chardin      “Hiện tượng con người”1, cuốn luận văn được nhà thần học Pierre Teilhard de Chardin viết lúc tài năng đã hoàn toàn chín, là một tác phẩm quy mô, đồ sộ nghiên cứu về hiện tượng tiến hóa của con người. Xin được giới thiệu chắt lọc cuốn sách và giới hạn trong ba ấn tượng mà chúng tôi hy vọng là vừa đủ để giúp bạn đọc hiểu và yêu cuốn sách.     Tiến hóa của người trong sự tiến hóa chung   Ngay từ phần Dẫn luận, tuy không nói trắng ra, nhưng de Chardin đã khiến cho bạn đọc cảm nhận thấy xưa nay việc nghiên cứu con người diễn ra chỉ như xem xét một đối tượng bất kỳ, không thấy đó chính là mình đang nhìn mình. Trong một chừng mực nào đó, công trình “Nguồn gốc các loài” chẳng hạn hình như vẫn mới chỉ nhìn thấy con người tiến hóa theo cung cách chẳng khác gì muôn loài: tiến hóa bằng thích nghi và tiến hóa bằng cạnh tranh sinh tồn. Thế nên, cái luận điểm được công bố năm 1859 trong cuốn sách của Charles Darwin về “sự sống sót của kẻ thích nghi nhất” (the survival of the fittest) đã được diễn giải sai trong những hệ thống phân biệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp thành “kẻ mạnh nhất là kẻ sống sót”.  Hành trình cả đời đã tạo ra và hun đúc phương pháp tổng quát của de Chardin là nghiên cứu sự tiến hóa của con người trong sự tiến hóa chung. Con người không thể như trong quá khứ, chỉ biết “tự đóng kịch cho mình xem”, và trong cái toàn cục đó, con người sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Nhân Loại; cũng như Nhân Loại sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Sự Sống, cũng như Sự Sống sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Vũ Trụ.   Trong con mắt và cách làm việc của con người thực chứng, de Chardin vận dụng những thành tựu của nhiều ngành khoa học để lùi xa nhất theo trục thời gian, để nhìn và làm cho nhìn thấy con người trong thế tiến hóa. Được giúp sức bởi các môn Vật lý học và Sinh vật học trên đường hiện đại hóa, de Chardin đã nhận rõ sự thống nhất trong đa dạng của sự vật, nhận rõ tổ chức sinh thành ngày càng tỉ mỉ trong quá trình sáng tạo vũ trụ, như đã bộc lộ trong các đơn vị tiền nguyên tử chuyển sang nguyên tử, từ nguyên tử đến vô cơ, và về sau đến mô hữu cơ, rồi từ đó đến các đơn vị sống tiền tế bào đầu tiên hay những tập hợp mô, và rồi tới các tế bào, tới các cá thể đa bào, đến các thể có đầu óc, đến con người nguyên sơ, và rồi đến các xã hội văn minh.   De Chardin nhận thấy tính đồng qui mang bản chất người được biểu thị trên cấp độ di truyền và sinh học: sau khi Homo Sapiens bắt đầu phân hóa thành các chủng tộc riêng biệt (hay các tiểu loại) việc di dân và hỗn chủng (inter-mariage) dẫn đến hiện tượng ngày càng nuôi dưỡng nhau giữa tất cả các loại người khác nhau. Kết quả, con người là loại thành công độc nhất trong việc duy trì mình như là một nhóm hay chủng loại tương dưỡng duy nhất, và đã không đi xa ra ngoài thành nhiều tập hợp tách biệt về mặt sinh học (giống như loài chim, với khoảng 8.500 loại, hay các côn trùng với hơn một nửa triệu).  Nhưng, sự tiến hóa như thế vẫn mới chủ yếu cho thấy vẻ bên ngoài của vấn đề. De Chardin còn nhấn mạnh thêm vào mặt nội tại của sự vật – và đây là đóng góp lớn khác nữa của ông, đó là việc đưa tư duy người vào sự tiến hóa như một biến số hoàn toàn mới của sự triển diễn.  Biến số Tư duy-Người  Trước hết là những biểu hiện bề ngoài đầy ấn tượng. De Chardin viết:   Điều gì đã xảy ra giữa các địa tầng cuối cùng của Thế Thượng Tân (khi con người vắng mặt) và tầng tiếp theo nơi các nhà địa chất phải sững sờ nhận ra những khối thạch anh được đẽo gọt đầu tiên? Và độ lớn đích thực của sự đột biến này là như thế nào?  Và ở một đoạn khác, chính de Chardin đã trả lời – câu trả lời mới đầu còn trầm tĩnh, cuối cùng kết thúc như một tiếng reo vui, Tư duy đã ra đời:   Trong khi tâm thần của Loài Ngựa, Loài Hươu, Loài Hổ phát triển lên, cũng như Côn Trùng, chúng trở thành tù nhân của những phương tiện để chạy và để săn mồi mà các chi của chúng đã có được. Ngược lại, ở Bộ Linh Trưởng, sự tiến hóa, không đáng kể và vì thế vẫn để các phần còn lại mềm dẻo, đã hoạt động ngay ở trong bộ não. Và đó là lý do chính cho việc chúng dẫn đầu trong sự đi lên, hướng đến ý thức cao nhất. Trong trường hợp có ưu thế và đơn biệt này, sự trực sinh cụ thể của dòng trùng hợp đích xác với Sự Trực Sinh chủ đạo của chính Sự Sống: theo một câu nói của Orborn, mà tôi mượn và thay đổi nghĩa, sự trực sinh này là “phát sinh quí tộc”, – và vì thế mà không bị giới hạn.  Từ đó ta có được kết luận đầu tiên rằng, nếu, trên Cây Sự Sống, Động Vật Lớp Thú tạo nên một Ngành chủ đạo, cái Ngành chủ đạo; và Bộ Linh Trưởng, tức là sinh vật dùng não và tay – là mũi tên chỉ hướng của Ngành này, – và các loài Khỉ Giống Người là cái mầm kết thúc cái mũi tên đó.  Và từ đó, chúng ta hãy bổ sung rằng, ta có thể dễ dàng xác định ra chỗ đôi mắt chúng ta phải dừng lại trên Sinh Quyển, trong khi chờ đợi điều phải đến. Chúng ta đã biết rằng, ở khắp nơi, tại đỉnh những tuyến dòng đang hoạt động, chúng tự nóng lên bởi ý thức. Nhưng trong một vùng được xác định rõ, ở giữa Lớp Thú, nơi hình thành những bộ não có hiệu lực nhất mà Tự Nhiên từng tạo nên, những tuyến này bừng đỏ. Và thậm chí ở ngay giữa vùng này, một điểm nóng sáng rạng tỏa.  Chúng ta hãy đừng rời mắt khỏi cái đường nhuốm đỏ ánh rạng đông này.  Sau hàng nghìn năm nó vươn lên ở bên dưới tầm nhìn của chúng ta, rồi một ngọn lửa sẽ bùng lên, tại một điểm khu trú tuyệt đối.  – Tư Duy đã ra đời!  Biến số Tư duy góp phần ra sao vào cuộc tiến hóa của Người? Có phải tư duy là đặc quyền chỉ riêng Người mới có?  Tiến hóa, như là một sự phát triển “tự nhiên” của Tự nhiên, đã diễn ra với mọi loài. Song, cái ngưỡng tạo ra sự phân biệt con người với mọi động vật có xương sống, nhất là với động vật thuộc bộ Linh trưởng là một yếu tố hoàn toàn mới của Tư duy: de Chardin đưa ra khái niệm Tư duy Phản tư. Đó là sự nhận thức về bản thân, và đó là sự biết rằng mình biết. Rồi bản thân sự phản tư cũng tiến hóa tới ngưỡng của nó. Sự tiến hóa đó diễn ra trên ba cấp độ. Ở cấp độ phần tử, nó đánh dấu sự tiến hóa thành Người của cá thể người. Ở cấp độ dòng, nó đánh dấu sự tiến hóa thành Người của loài. Và sau hết, ở một cấp độ thứ ba, cấp độ toàn hành tinh, nó đánh dấu sự ra đời của Tuệ quyển (noosphère).  Khái niệm Tuệ quyển được hiểu như thế nào? Đối với de Chardin, noosphere là thuật ngữ diễn tả tốt nhất một thứ “nhận thức tập thể” của các cá thể người. Tuệ quyển nảy sinh từ các tinh thần con người tương tác giao thoa nhau. Tuệ quyển đã phát triển lên từng bước tương ứng với quá trình quần thể nhân loại quan hệ với nhau, khi loài người sinh sôi nảy nở đầy Trái đất. Khi loài người tự tổ chức thành các hệ thống xã hội phức tạp hơn, thì Tuệ quyển sẽ phát triển cao hơn trong nhận thức. Đó là quá trình bành trướng. De Chardin còn cho rằng Tuệ quyển đang phát triển hướng tới hội nhập, đồng qui và thống nhất lớn lao, lên đến đỉnh tột cùng là Điểm Omega, mà theo nhãn quan của ông, đó là cứu cánh của lịch sử.   Viễn cảnh Siêu việt-Người  Tư tưởng về Tuệ quyển dẫn chúng ta một cách tự nhiên sang ấn tượng của tác phẩm “Hiện tượng con người”, đó là viễn cảnh Người sau khi đã nhìn được con đường tiến hóa của mình. Phần sách thứ ba của de Chardin có tên Survie vừa dễ hiểu vừa khó dịch; cái nghĩa đen bóng bẩy của nó là như sau: ta đã biết trước khi có sự sống thì Vũ trụ này sống ra sao, rồi khi có sự sống thì Vũ trụ này sống như thế nào, và sau hết, khi ta đã biết con người là một sự sống trong Tuệ quyển, khi ấy con người sẽ phải chọn lối sống như thế nào để sự sống đích thực Người được tiếp tục phát triển mà không biến mất chất Người. Tôi đoán rằng dịch giả Đặng Xuân Thảo chọn Sự Sống Siêu Việt là có ý đó.  De Chardin có câu nói tổng hợp rất có ý nghĩa: “Mọi điều thăng hoa cao đẹp đều hội tụ nhau”2 (“Tout ce qui monte, se converge”). Ngày nay con người có xu hướng đối thoại, toàn cầu hóa, hòa giải, hơn là đối đầu và xé lẻ vị kỷ. Vào tháng 6/1995, Jennifer Cobb Kreisberg viết trên tạp chí Wired rằng “Teilhard nhìn thấy hệ thống Mạng trước khi nó xuất hiện đến hơn nửa thế kỷ“… “Teilhard mường tượng ra một giai đoạn tiến hóa đặc trưng bởi một lớp màng thông tin phức tạp bao phủ toàn cầu và được tiếp liệu bởi nhận thức của con người. Nó nghe có vẻ điên rồ cho đến khi bạn nghĩ tới hệ thống Mạng, cái hệ thống mạng điện tử khổng lồ bao quanh Trái đất, chạy từ điểm này sang điểm kia thông qua một tập hợp những sợi dây điện nối với nhau như hệ thống thần kinh.”3   Có thể hình dung thấy ảnh hưởng quan trọng của “Hiện tượng con người” đối với tư duy của mọi con người trong thế giới hiện đại. De Chardin phối hợp kiến thức khoa học uyên bác với cảm thức tôn giáo thâm sâu để cảm nhận về các giá trị nghiêm túc.  De Chardin buộc các nhà thần học phải xem xét tư tưởng của họ trong viễn tượng tiến hóa mới của con người, và các nhà khoa học thì cũng phải xem xét lại các hệ lụy trí thức của họ. De Chardin vừa soi sáng vừa giúp thống nhất cách nhìn thực tại của chúng ta, không thể mãi mãi chủ trương rằng khoa học và tôn giáo phải và chỉ có thể hoạt động trong những ngăn chật ních tư tưởng lắm khi đố kỵ. Những người có tinh thần tôn giáo không thể quay lưng họ với thế giới tự nhiên, và những người có tinh thần duy vật không thể từ chối tầm quan trọng của kinh nghiệm thiêng liêng và cảm thức tôn giáo.         Là tu sĩ Dòng Tên nhưng Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955) được các đấng bề trên cho phép nghiên cứu khoa học tự nhiên. Không có sự cho phép đó, khó có thể có một de Chardin là nhà địa chất, nhà cổ sinh vật học, người đã tham gia khám phá di chỉ người vượn Bắc Kinh ở Chu Khẩu Điếm.               Ông từng có ba năm (1905-1908) dạy lý và hóa ở ĐH Dòng Tên ở Cairo, Ai Cập. Tại đây, ông còn tham gia khai quật địa chất và tận mắt thấy và sở hữu một hóa thạch răng cá mập. Bốn năm sau đó, ông học thêm về thần học tại Sussex, Anh Quốc, nơi ông tổng hợp kiến thức khoa học, triết học và thần học của mình dưới ánh sáng của sự tiến hóa. Năm 1912, ông được truyền chức linh mục. Năm 1922, sau những khổ ải của anh lính cáng thương ngoài mặt trận, de Chardin lấy bằng Tiến sĩ Cổ sinh vật học ở ĐH Sorbonne. Năm 1923, ông qua Trung Hoa một năm để rồi có cuộc trở lại kéo dài khoảng 20 năm, kể từ năm 1926. Năm 1948, ông được mời sang Mỹ lần đầu. Ông được tạo điều kiện đi thăm nhiều nơi trên thế giới mà quan trọng hơn cả có lẽ là cơ hội đến tận nơi khai quật “người vượn Nam phương” Australopithecus ở châu Phi. Thế rồi, cú đánh nặng nề vào de Chardin có lẽ là sự kiện xảy ra năm 1950 khi đơn xin phép xuất bản cuốn Le Groupe Zoologique Humain (Nhóm động vật người”) của ông bị Roma từ chối, cấm in. Mà cuốn sách đó lại như là một kiểu “đề cương chi tiết” cho công trình Hiện tượng con người sau này!              Năm 1951, de Chardin trở lại Mỹ và lần này thì ở lại hẳn và có trụ sở tại New York. Công trình lớn của đời ông, Hiện tượng con người vẫn chưa được phép cho xuất bản của nhà thờ. Nhưng theo luật, thì sau khi tác giả qua đời, bản thảo có thể được người khác đứng ra xuất bản. Và vì thế mà bây giờ ta có Hiện tượng con người và toàn bộ công trình khoa học triệt để của một ông thầy tu vĩ đại.          —  1 Đặng Xuân Thảo dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, NXB Tri thức ấn hành tháng 6/2014, 564 trang.  2 Lời giới thiệu bản dịch sách của De Chardin do Julian Huxley viết.  3 http://archive.wired.com/wired/archive/3.06/teilhard.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện tượng Rösler và vai trò lá phiếu của người dân      Không chỉ sự nghiệp lên như diều gặp gió ít  ai có, mà ngay cả thời điểm chấm dứt nó cũng được ấn định rõ vào lúc 45  tuổi, Chủ tịch Đảng FDP, Phó Thủ tướng Đức gốc Việt Philipp Rösler được  coi là một chính khách Đức ngoại lệ.     Tinh đến ngày 24/2/2013 ông tròn 40 tuổi, tức chỉ còn năm năm hoạt động chính trường nữa, nhỉnh hơn thời gian cho một nhiệm kỳ mới. Ngoại lệ còn đặc biệt ở chỗ, ông thuộc týp người luôn tạo bất ngờ khác với cái người ta phán đoán. Rösler đi nghĩa vụ quân sự, thay vì chỉ với thời hạn một năm, thì tự nguyện ở lại học y khoa để trở thành bác sỹ quân y chuyên nghiệp, rồi tiến xa hơn bảo vệ luận án tiến sỹ. Đang theo đuổi tiếp chuyên khoa mắt để trở thành bác sỹ chuyên khoa này, thì bỏ ngang bước vào chính trường. Tiến một mạch chỉ trong vòng dăm bảy năm lên Tổng Thư ký rồi Chủ tịch đảng FFD tiểu bang, Bộ trưởng Kinh tế Tiểu bang trẻ nhất xưa nay. Sau thẳng cử của Liên minh cầm quyền năm 2009, Rösler được cử giữ ghế Bộ trưởng Y tế Liên bang cũng trẻ nhất nội các xưa nay. Nửa năm sau, ở tuổi 36, Rösler được Đại hội Đảng FDP bầu làm Chủ tịch đảng Liên bang với số phiếu tín nhiệm kỷ lục 95,8 %, và đặt trọng trách chức Phó Thủ tướng vào tay ông. Bài phát biểu vo 66 phút của ông bị ngắt quãng nhiều lần và khi dứt lời được cả đại hội đứng bật dậy vỗ tay tán thưởng như với tài tử lâu tới 11 phút, kỷ lục dài nhất xưa nay; họ kỳ vọng ông như một át chủ bài, có sứ mạng cứu vãn uy tín FDP trong dân chúng thời điểm đó đã tụt từ mức tín nhiệm chiếm 14,6% cử tri bầu Quốc hội năm 2009, xuống chỉ còn 3% theo thăm dò dư luận, mức thấp kỷ lục trong lịch sử đảng này, nếu bầu cử, sẽ bị loại khỏi Quốc hội theo luật định, nghĩa là không thể chấp chính. Lá phiếu người dân quyết định số phận mọi đảng phái liệu có đủ tín nhiệm để họ trao quyền chấp chính hay không, trở thành mục đích, thước đo, chuẩn mực, động lực vô hình, thúc đẩy mọi đảng phái phải nỗ lực phấn đấu. FDP không ngoại lệ, giải thích tại sao Rösler trở thành kỳ vọng cứu cánh.  Nhưng thật bất ngờ, kỳ vọng đó bị thực tế phủ nhận phũ phàng, khi dưới sự lãnh đạo của Rösler, FDP vẫn không tài nào bứt khỏi kỷ lục mất tín nhiệm 3% trước đó, còn bị bồi thêm 6/8 cuộc bầu cử Quốc hội cấp Tiểu bang thất bại liên tiếp. Hàng ngũ lãnh đạo từ trên xuống đều hoang mang lo cho số phận đảng FDP cầm chắc bị loại khỏi Quốc hội trong kỳ bầu cử Quốc hội Liên bang năm 2013, tất yếu nảy sinh khuynh hướng đòi Rösler đóng vai trò linh hồn của Đảng phải từ chức, sôi sục cả đảng FDP lẫn chính trường Đức. Trong cuộc thăm dò ý kiến dân chúng qua mạng FOCUS, với câu hỏi, ai sẽ cứu được FDP, 67% người trả lời tín nhiệm Chủ tịch đoàn nghị sỹ FDP Rainer Brüderle, 23% tín nhiệm cựu Chủ tịch Đảng Guido Westerwelle, chỉ còn 9% dành cho Rösler. Không thể chống lại ý chí của dân, lập tức một kế hoạch lật đổ Rösler được đặt ra đưa Rainer Brüderle lên thay thế tạm thời, để lãnh đạo Đảng trong cuộc bầu cử Quốc hội cận kề năm sau. Số phận Rösler vậy là đã được định đoạt.   Nhưng thật bất ngờ, kế hoạch chưa kịp thực hiện, thì FDP lại thắng cử lớn, chiếm được 8,2% phiếu tại cuộc bầu cử Quốc hội tiểu bang Schleswig-Holstein vào giữa năm ngoái, rồi sau đó tới tiểu bang NWR lên đến 8,6% vượt xa so với kết qủa thăm dò ban đầu chỉ 2%, cao hơn so với kỳ bầu cử trước chỉ 6,7%, gây tiếng vang lớn trên chính trường Đức, đẩy đảng FDP vào thế khó xử số phận Rösler.   Tại cuộc hội nghị gặp gỡ truyền thống đầu năm của Đảng FPD cách tháng trước, tại Thủ phủ tiểu bang Baden-Württemberg được coi như một đại hội bổ sung, các nhân vật lãnh đạo cao cấp buộc phải đặt vấn đề khủng hoảng nhân sự Chủ tịch Đảng lên bàn nghị sự. Kết qủa thương lượng thống nhất để Rösler giữ chức chủ tịch tới ngày bầu cử nghị viện tiểu bang Niedersachsen quê hương ông, nếu thất bại sẽ bị thay thế. Dư luận chính trường hồi hộp như xem bóng đá.   Tới sát kỳ bầu cử Quốc hội Tiểu bang Niedersachen, theo kết qủa thăm dò dư luận, thật lạ lùng, uy tín đảng FDP lại rơi tự do xuống đáy, chỉ còn 3-4% tín nhiệm, các đối thủ của ông phấp phỏng chờ đợi cú nốc ao kết liễu sự nghiệp Rösler ở tuổi 39 chứ không cần chờ tới 45 như ông ấn định. Nguy hiểm hơn, theo cáo buộc sau này, Hans-Jürgen Beerfeltz, cựu bí thư thường trực Đảng FDP đang giữ chức Quốc vụ khanh thứ trưởng bộ hợp tác phát triển gọi điện tới viện thăm dò dư luận của ARD vận động hạ kết qủa thăm dò, nhằm tác động xấu tới lá phiếu người dân để FDP không đủ số phiếu vào nghị viện Tiểu bang, nhằm buộc Rösler phải từ chức. Vậy là, vai trò chủ nhân của người dân không chỉ quyết định số phận một đảng mà cả nhân sự của nó cũng phải theo chiều.  Tới ngày định mệnh chính trị của Rösler, 20/1/2013, kết quả tranh cử của FDP thật bất ngờ so với mọi dự báo, vọt lên 9,9%, tăng tới 1,7 % so với kỳ bầu cử nhiệm kỳ trước, đạt kỷ lục xưa nay, một dấu hiệu tín nhiệm của dân chúng, không ai dám bác bỏ. 19 giờ 21 phút sau khi nghe công bố kết qủa bầu cử, từ văn phòng Chủ tịch FDP ở tầng ba toà nhà trụ sở Đảng Thomas-Dehler-Haus, Rösler bước xuống phòng họp báo chí mở đầu bài phát biểu của mình, “đây là ngày đặc biệt, không chỉ của Tiểu bang Niedersachsen mà của cả đảng FDP và tất cả những người ủng hộ trên toàn nước Đức”. Nhiều đối thủ của ông vốn sẵn sàng chịu đựng tranh cử thất bại hoặc chỉ đạt chừng 5% là đủ lật đổ Rösler, ngỡ ngàng. Đối thủ Kubicki, Chủ tịch Nghị sỹ Đảng FDP tiểu bang Schleswig-Holsteins, phát biểu, “Rösler không lay chuyển nổi. Vấn đề nhân sự Chủ tịch Đảng sau thắng cử này, vậy là đã được giải quyết, nếu tiếp tục đặt ra sẽ là trò hề”. Những người hâm mộ ông thở phào coi như cuộc chiến nhân sự Chủ tịch đã phân thắng bại. Nhưng ngay đêm bầu cử, không mãn nguyện như bao nhân vật lãnh đạo khác khi giành được chiến thắng, Rösler đưa ra quyết định bất ngờ, gặp đối thủ Brüderle nhân vật quyền lực thứ hai trong đảng hơn 28 tuổi đời, “đánh bài ngửa” thoả thuận phân chia quyền lực, giành cho Brüderle quyền ứng viên cao nhất tranh cử Quốc hội Liên bang, mà trước đó nhiều cộng sự của Brüderle được thăm dò cho biết sếp họ không bao giờ chấp nhận mà nhắm tới chức vụ Chủ tịch, nay với kết qủa bầu cử đã không thể từ chối. Tuy nhiên Rösler vẫn không yên tâm với thoả thuận ngầm này, bởi Brüderle có thể phá bỏ do không ai biết; các đối thủ còn lại cũng chưa chắc đã thuần phục; e ngại một khi thắng lợi huy hoàng qua đi, những người chỉ trích chưa hẳn đã chịu yên, nhất là về lâu dài, Rösler lập tức lên lịch triệu tập buổi họp lãnh đạo FDP ngày hôm sau, và tại đây đã làm tất cả bất ngờ, bởi chưa từng có tiền lệ. Ông chính thức đề nghị Brüderle giữ luôn chức Chủ tịch Đảng: “Tôi sẵn sàng xin được rút lui, nếu Brüderle muốn trở thành Chủ tịch Đảng”. Những người có mặt sững sờ, có cảm giác như hai đối thủ đứng trước phòng đăng ký kết hôn, cơ hội duy nhất hoặc trả lời ngay đồng ý sẽ nên vợ nên chồng hoặc vĩnh viễn phải bỏ nhau, chấm dứt mọi cơ hội làm lại. Buổi thảo luận kéo dài cả tiếng đồng hồ, chỉ mỗi Bộ trưởng Phát triển Dirk Niebel từng dính vụ bê bối chở thảm mua cho cá nhân từ Afghanistan bằng máy bay công vụ không đóng thuế nhập khẩu bị Quốc hội điều trần ủng hộ Brüderle làm Chủ tịch, thêm hai người phát biểu nói ý tứ. Brüderle hiểu mình hoàn toàn mất cơ hội, dù Rösler sẵn sàng, bởi nếu ông nhận chức sẽ bị coi như „kẻ phó vương lật đổ vua”, bởi uy tín Chủ tịch đã được dân chúng khẳng định qua bầu cử, không thể chống lại tín nhiệm của dân. Hơn nữa nếu đa số kêu gọi ông làm chủ tịch còn có thể sẵn sàng, đằng này bị lẻ loi. Rốt cuộc, Brüderle buộc phải tuyên bố từ chối, còn Niebel bị coi là anh hùng rơm, mất uy tín. Với tuyên bố đó, Brüderle hết cơ hội chỉ trích Rösler, hay giành ghế Chủ tịch đảng trong tương lai, vốn từng nổi tiếng dùng nghệ thuật từ ngữ tấn công Rösler, khi Brüderle phát biểu: “Người Đức cần cây cổ thụ vững vàng trước bão táp (hàm ý bản sắc Đức) hơn là cây tre nghiêng ngả (ngụ ý gốc Việt)”, do một lần Rösler đã tự ví mình cây tre hàm ý không thể bật gốc trước mọi phong ba bão táp. Truyền thông Đức được dịp bình luận, thật bất ngờ ngoài mọi dự đoán, bây giờ cây tre đó đã quật trở lại Brüderle. Đòi hỏi tổ chức Đại hội Đảng FDP nhiệm kỳ sớm hơn vào tháng Ba này, vốn theo điều lệ phải vào tháng Năm, do các đối thủ trước đây cầm chắc FDP sẽ thất cử nghị viện tiểu bang Niedersachsen thống nhất đề xuất để phế truất Rösler, bầu Chủ tịch mới kịp tranh cử quốc hội tháng Chín, cũng được Rösler nhân cơ hội uy tín đang lên đồng ý, để dứt điểm mọi vấn đề.   Buổi họp được cho là buổi sát hạch khả năng lãnh đạo của Rösler về mức độ chín muồi. Ông trở thành tâm điểm truyền thông Đức, một chính khách hiếm hoi cuả Đức vượt qua được mọi áp lực tâm lý lâu dài bởi các đối thủ, như người lái xe chạy trên đồng lầy luôn bị lún xóc nghiêng ngả nhưng vẫn băng về phía trước, được ca ngợi như người anh hùng của quê hương tiểu bang ông, bởi ông đã khẳng định vai trò của mình và Đảng mình đúng như người dân mong mỏi đã gửi gắm niềm tin nơi lá phiếu – thước đo chính xác sự tín nhiệm của họ đối với mọi đảng phái trong thế giới hiện đại!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệp định thương mại EVFTA: Việt Nam phải cải cách những gì?      Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) ký kết tại Hà Nội vào chiều ngày 30/6 được kỳ vọng mang đến những lợi ích lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng có nhiều thách thức cần phải đối mặt. Cơ hội và thách thức luôn song hành, đó cũng là lẽ thường. Quan trọng là chúng ta sẽ tận dụng những cơ hội cũng như đối mặt với các thách thức như thế nào.    Những cơ hội lớn về vĩ mô từ EVFTA  Thứ nhất, EVFTA mang lại những cơ hội lớn về phát triển thương mại giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU). EU là một trong những nền kinh tế “mở” nhất trên thế giới. Đây cũng là thị trường lớn nhất thế giới với dân số khoảng 513 triệu người, theo ước tính của Eurostat.     Thương mại giữa EU và Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua (xem Hình 1). Tổng kim ngạch thương mại giữa hai bên tăng gấp gần năm lần trong giai đoạn 2008-2018, với thâm hụt thương mại tăng về phía EU. Việt Nam là đối tác thương mại hàng hóa lớn thứ 16 của EU trên thế giới và là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Xuất khẩu chính của EU sang Việt Nam là các sản phẩm công nghệ cao, bao gồm máy móc và thiết bị điện, máy bay, phương tiện và dược phẩm. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường EU là các sản phẩm điện tử, điện thoại, giày dép, dệt may, cà phê, gạo, hải sản và đồ nội thất.    Hình 1: Xuất nhập khẩu của EU với Việt Nam: giai đoạn 2008-2018. Nguồn dữ liệu: European Commission.  Với EVFTA, hơn 99% các loại thuế quan sẽ được gỡ bỏ, trong đó EU loại bỏ thuế đối với hàng nghìn mặt hàng có nguồn gốc từ Việt Nam. Việc gỡ bỏ phần lớn hàng rào thuế quan sẽ thúc đẩy thương mại giữa hai bên hơn nữa. Sự gia tăng thương mại này được dự báo là sẽ có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm tới. Cụ thể, theo Dự án hỗ trợ đầu tư và chính sách thương mại châu Âu (MUTRAP) dự đoán, trong giai đoạn thực hiện đến năm 2025, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ cao hơn khoảng 7% đến 8% so với trước khi ký EVFTA. Xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được dự báo sẽ tăng hơn 50% vào năm 2020, cũng như lượng hàng nhập khẩu từ EU sẽ có sự tăng trưởng đáng kể. Trong khi đó, tiền lương thực tế cho lao động phổ thông ước tính tăng khoảng 3% và thu nhập hộ gia đình sẽ còn tăng nhanh hơn.  Ngoài ra, việc tham gia vào EVFTA giúp củng cố mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và EU, góp phần đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, phù hợp với đường lối đối ngoại đa phương hóa của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều này phần nào giúp chúng ta giảm bớt áp lực từ diễn biến phức tạp của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung – hai đối tác thương mại lớn hàng đầu của Việt Nam trong năm vừa qua (xem Bảng 1).    Bảng 1: Top 10 đối tác thương mại của Việt Nam trong năm 2018. Nguồn dữ liệu: European Commission.  Thứ hai, về đầu tư FDI, với tổng số vốn FDI là 6,1 tỷ euro (2017, theo số liệu Europa), EU là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam, trong năm 2017, các công ty châu Âu đã có gần 2.500 dự án đầu tư trị giá khoảng 44 tỷ USD tại Việt Nam, chiếm 10% tổng số dự án FDI và 14% vốn FDI. Lĩnh vực đầu tư lớn nhất của EU tại Việt Nam là chế biến và sản xuất công nghiệp. EU có thể cung cấp đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường và ít tiêu thụ năng lượng. Các doanh nghiệp châu  u không chỉ mang lại nguồn công nghệ và việc làm chất lượng mà còn thực hành kinh doanh có trách nhiệm.      Theo Dự án hỗ trợ đầu tư và chính sách thương mại châu Âu (MUTRAP) dự đoán, trong giai đoạn thực hiện đến năm 2025, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ cao hơn khoảng 7% đến 8% so với trước khi ký EVFTA      Thứ ba, việc tham gia EVFTA sẽ giúp Việt Nam có những bước tiến xa hơn trong việc bảo vệ môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng của đất nước sau những cải cách kinh tế từ năm 1986 (Đổi mới) đã mang đến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Việt Nam trong hơn ba thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, chúng ta cũng đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, với các vấn đề chính là suy thoái đất, suy thoái rừng, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và quản lý chất thải rắn. Hình 2 so sánh về chỉ số chất lượng môi trường của Việt Nam với một số nước trong khu vực châu Á, cho thấy Việt Nam đang ở vị trí thấp trong khu vực, chỉ trên Lào, Myanmar, Campuchia, Ấn Độ, và sau cả nhiều nước trong cùng nhóm thu nhập như Đông Timor, Phi-líp-pin, Mông Cổ, Inđônêxia.     Nếu chúng ta tiếp tục chào đón nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) một cách không chọn lọc, vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng tệ đi, đe dọa tới sức khỏe của người dân và tương lai của môi trường tự nhiên.     Hình 2: Chỉ số chất lượng môi trường của Việt Nam so với một số nước trong khu vực châu Á năm 2018. Nguồn dữ liệu: Trung tâm về Luật & Chính sách Môi trường của ĐH Yale, Mỹ.  Chương 13 của Hiệp định EVFTA về thương mại và phát triển bền vững sẽ đảm bảo rằng chúng ta có thể tận hưởng lợi ích của việc gia tăng thương mại mà không phải trả giá bằng sự suy thoái môi trường. Nó đặt ra các nghĩa vụ cho cả đôi bên trong việc thực thi các tiêu chuẩn môi trường hiện tại song song với việc thu hút thương mại hoặc đầu tư, cũng như việc tuân theo tất cả các Hiệp định môi trường đa phương đã được phê chuẩn, chẳng hạn như các thỏa thuận về biến đổi khí hậu, các loài có nguy cơ tuyệt chủng và đa dạng sinh học.     Thứ tư, EVFTA sẽ giúp Việt Nam tiến xa hơn trong việc cải thiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, vì lợi ích của chủ sở hữu và người tiêu dùng. Khi ký EVFTA, Việt Nam sẽ gia nhập Hiệp ước Internet của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Các hiệp ước này đặt ra các tiêu chuẩn để ngăn chặn việc truy cập trực tuyến trái phép hoặc sử dụng các sản phẩm sáng tạo, nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu và giải quyết các thách thức mà các công nghệ và phương thức truyền thông mới đặt ra đối với Quyền sở hữu trí tuệ. Tất nhiên, bảo vệ Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ cần một khung pháp lý toàn diện, nó đòi hỏi sự thực thi mạnh mẽ.  Thứ năm, EVFTA sẽ giúp Việt Nam tiến xa hơn và cải thiện toàn diện các vấn đề trong xây dựng chuỗi thực phẩm sạch. An toàn thực phẩm là mối quan tâm lớn ở Việt Nam. Dù chính phủ đã có những nỗ lực trong cải cách các quy định an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm thường xuyên và các sản phẩm thực phẩm bị ô nhiễm đã và đang là vấn đề phổ biến ở Việt Nam. Người dân lo lắng về chất lượng của chuỗi cung ứng thực phẩm, và sự an toàn của thực phẩm mua và bán tại các chợ truyền thống.   Chương 6 của EVFTA về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS) đưa ra một khuôn khổ để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế về các vấn đề từ chất lượng thực vật và sức khỏe động vật đến an toàn thực phẩm, như Hiệp định SPS của WTO, đều cần được thực hiện một cách sát sao.  Người tiêu dùng EU rất coi trọng thực phẩm sạch. Khi EVFTA có hiệu lực, đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như hạt tiêu, cà phê, và các loại hạt được nhập khẩu vào thị trường châu  u và các sản phẩm này sẽ phải đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường này. Điều này sẽ góp phần làm tăng chất lượng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, tạo động lực phát triển ngành nông nghiệp nước nhà. Nó cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức về thực hành canh tác đúng chuẩn cũng như vấn đề an toàn thực phẩm tại Việt Nam, mang lại lợi ích lâu dài cho cả người sản xuất và tiêu dùng.  Những thách thức từ EVFTA  Một trong những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam khi gia nhập Hiệp định EVFTA chính là việc cần nhanh chóng cải thiện quy trình sản xuất và kiểm định chất lượng trong một loạt các ngành để đáp ứng được những yêu cầu nghiêm ngặt về nhập khẩu vào thị trường EU cũng như các điều kiện để được hưởng ưu đãi loại bỏ thuế quan của EVFTA.   Trường hợp xảy ra gần đây trong ngành thủy sản của Việt Nam là một ví dụ điển hình. Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chính và là thế mạnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Theo thông tin từ Tổng cục Thuỷ sản, Việt Nam hiện đứng thứ 4 trên thế giới về xuất khẩu thuỷ sản (chỉ sau Na Uy, Trung Quốc và Nga), đứng số 1 tại Đông Nam Á và số 2 ở châu Á.  Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 2017, Việt Nam đã phải nhận “thẻ vàng” cảnh báo từ Ủy ban châu Âu (EC) về hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không theo báo cáo và không theo quy định (khai thác IUU). Việc này ảnh hưởng không nhỏ đến danh tiếng của hải sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chính phủ, cộng đồng ngư dân, doanh nghiệp thủy sản đã có những nỗ lực hành động để giải quyết việc đánh bắt cá bất hợp pháp. Tuy nhiên do Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km (không kể các đảo) với khoảng 111.000 tàu cá (theo Bộ NN&PTNT), hầu hết là tàu nhỏ, để giải quyết triệt để vấn đề khai thác hải sản trái phép cần một quá trình tốn nhiều thời gian và công sức.  Ngành thứ hai cần quan tâm là ngành dệt may ở Việt Nam. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của ngành dệt may Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4 tỷ USD vào năm 2018 (theo Tổng cục Thống kê). Việc gia nhập EVFTA được kỳ vọng ​​sẽ tạo thêm động lực cho xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam vào khối giao dịch EU.  Mặc dù vậy, trong một vài năm đầu, ngành hàng dệt may có thể gặp một số bất lợi nhất định do trong thời gian chờ thuế được giảm về 0% theo lộ trình của EVFTA, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ không còn được hưởng mức thuế 9% của Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP). Đây là mức ưu đãi mà EU đơn phương dành cho cho các sản phẩm chưa có năng lực cạnh tranh tốt từ một số nước thuộc nhóm đang/kém phát triển theo các tiêu chí mà EU quyết định. Thay vào đó, ngành này sẽ phải chịu mức thuế cao hơn từ thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) mà EU đang áp dụng – hiện đang ở mức khoảng 12%, theo số liệu từ báo cáo gần đây của VCCI về ngành dệt may ở Việt Nam.  Thêm vào đó, hiệp định thương mại EVFTA quy định các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn đang chỉ thực hiện công đoạn may cắt chứ chưa sản xuất nguyên liệu (vải và sợi). Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, giá trị nguyên liệu đầu vào trong ngành dệt may chiếm 67,1%, và đa phần nguồn nguyên liệu này được nhập khẩu từ Trung Quốc và Đài Loan – là những nước chưa có hiệp định FTA với EU – nên sẽ không được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của EVFTA. Hơn nữa, sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu sẽ là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành khi phải đối mặt với những biến động giá cả của nguồn hàng nhập khẩu này.  Do đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may và công nghiệp phụ trợ ngành dệt may cần nỗ lực phối hợp tốt hơn để tăng tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp may – cắt, tập trung vào nhuộm và sản xuất vải, cũng như đẩy mạnh năng lực sản xuất của các công ty dệt trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất quần áo.          Author                Lê Thái Hà        
__label__tiasang Hiểu đúng về chính phủ Mở      Chính phủ Mở, một khái niệm rất mới ở Việt Nam vài năm trở lại đây. Nội hàm của khái niệm đó và các khái niệm có liên quan với nó là gì? Bài viết này hy vọng nêu ra được một vài vấn đề/khía cạnh như vậy.        Lịch sử, định nghĩa và các nguyên tắc cơ bản của chính phủ mở  Đã từng có định nghĩa chính phủ mở như sau:    Chính phủ mở là nguyên tắc điều hành sao cho công việc của chính phủ và hành chính nhà nước ở tất cả các mức được kiểm tra và giám sát công khai hiệu quả.  Cũng theo nguồn này, quốc gia đầu tiên nêu về tính mở của chính phủ là Thụy Điển (Luật Tự do Báo chí) vào năm 1766 và Phần Lan (Luật về Tính mở các Tài liệu Nhà nước) vào năm 1951, trước Luật tự do thông tin của nước Mỹ ra đời vào năm 1966. Các luật đó đã được coi như những hoạt động tiên phong thúc đẩy các quốc gia châu Âu thông qua các Luật tương tự vào những năm 1970, Pháp và Hà Lan năm 1978, Úc, Canada và New Zealand vào năm 1982, Hungary vào năm 1992, Ireland và Thailand vào năm 1997, Hàn Quốc năm 1998, Vương quốc Anh năm 2000, Nhật và Mexico năm 2002, Ấn Độ và Đức năm 2005.  Ngày 21/01/2009, ở Mỹ, chính quyền của cựu Tổng thống Barack Obama đã ban hành bản ghi nhớ điều hành đầu tiên mang tên “Minh bạch và Chính phủ Mở”, trong đó ông đã đưa ra 3 nguyên tắc chỉ dẫn để tiến hành các hoạt động của chính phủ:  1. Chính phủ nên minh bạch  2. Chính phủ nên có sự tham gia  3. Chính phủ nên cộng tác  Ngày 08/12/2009, Văn phòng Quản lý và Ngân sách – OMB (Office of Management and Budget) của nước này đã công bố “Chỉ thị Chính phủ Mở” (Open Government Directive) đã chỉ thị cho các cơ quan liên bang hành động dựa trên ba nguyên tắc trên.Từ đó tới nay, các định nghĩa Chính phủ Mở vẫn đang tiếp tục được phát triển. Dù chúng đều dựa vào các nguyên tắc cơ bản này, nhưng với những biến thể khác nhau.  Vài năm trước, khái niệm Chính phủ Mở của Liên minh châu Âu được cho là không tách rời khỏi nhu cầu hiện đại hóa khu vực nhà nước với sự hỗ trợ của CNTT-TT, tiếp cận đó được nêu như sau (xem Hình 1).        Hình 1: Tiếp cận Chính phủ Mở của Liên minh châu Âu.    Hai tiêu điểm của cộng đồng này là Chính phủ mở và hiện đại hóa khu vực nhà nước nhờ sự hỗ trợ của CNTT-TT. Tiếp cận chính phủ mở này được xem như là cách tốt nhất cho hành chính công khi đối mặt với các thách thức đang nổi lên, chẳng hạn như sức ép ngân sách diễn ra sau các cuộc khủng hoảng kinh tế và sự thiếu lòng tin đang gia tăng vào hành chính nhà nước. Các chính phủ cũng phải đáp ứng những cách tân nhanh của công nghệ, sự dịch chuyển trong nhân khẩu học và môi trường. Tất cả làm thay đổi công ăn việc làm, di dân và an ninh.  Có nghĩa là, ba nguyên tắc của chính phủ mở như của cựu Tổng thống Obama được giữ nguyên trong định nghĩa này. Nhưng để hiện thực hóa chúng, thì cần tới các công cụ CNTT-TT để cung cấp các dịch vụ mở cho mọi người tiêu dùng trong xã hội dựa vào các dữ liệu mở và các quy trình mở.  Tháng 12/2017, OECD – Hội đồng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – đã đưa ra định nghĩa Chính phủ Mở như sau:  Chính phủ Mở: văn hóa điều hành thúc đẩy các nguyên tắc minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của nhiều bên để ủng hộ dân chủ và tăng trưởng bao hàm toàn diện;  Điều này cho thấy, các nguyên tắc liêm chính và trách nhiệm giải trình đã được nhấn mạnh, và mục tiêu của nó là để ủng hộ dân chủ và tăng trưởng bao hàm toàn diện.  Cùng với định nghĩa Chính phủ Mở mới này, OECD cũng đã nhấn mạnh tới một xu thế khác, là sự dịch chuyển từ chính phủ mở, với việc nhấn mạnh chỉ vào nhánh hành pháp, được mở rộng sang các nhánh lập pháp và tư pháp, và cùng với nó, là một khái niệm mới, rộng lớn hơn, bao trùm cả 3 nhánh trên, là khái niệm Nhà nước Mở, như sau:        Hình 2: Quy trình của OGP.    Nhà nước Mở: khi các thể chế nhà nước độc lập về hành pháp, lập pháp và tư pháp, và tất cả các mức của chính phủ – thừa nhận các vai trò tương ứng của chúng, các đặc quyền, và toàn bộ sự độc lập theo các khung pháp lý và thể chế đang có của chúng – cộng tác, khai thác sự đồng vận, và chia sẻ các thực hành tốt và các bài học học được giữa bản thân chúng và với các bên tham gia đóng góp khác, để thúc đẩy minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình, và sự tham gia của các bên, để hỗ trợ cho dân chủ và tăng trưởng bao hàm toàn diện.  Đối tác Chính phủ Mở  Tổ chức Đối tác Chính phủ Mở – OGP (Open Government Partnership) đưa các nhà cải cách của chính phủ và các lãnh đạo của xã hội dân sự đến với nhau để tạo ra các kế hoạch hành động làm cho các chính phủ bao quát hơn, sẵn sàng phản hồi người dân và có trách nhiệm giải trình tốt hơn. Trên tinh thần cộng tác nhiều bên tham gia đóng góp, OGP được giám sát bởi một Ban Chỉ đạo gồm các đại diện của các chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự.  OGP đã được khởi xướng chính thức vào ngày 20/09/2011, khi 8 chính phủ sáng lập (Brazil, Indonesia, Mexico, Nauy, Philippines, Nam Phi, Vương quốc Anh và Mỹ) đã phê chuẩn Tuyên ngôn Chính phủ Mở và đã công bố các kế hoạch hành động quốc gia của họ. Từ 2011, 79 quốc gia tham gia OGP và 20 chính phủ địa phương đã thực hiện 3.100 cam kết làm cho các chính phủ của họ mở và có trách nhiệm giải trình hơn.  Để gia nhập OGP, các quốc gia phải cam kết và tán thành các nguyên tắc chính phủ mở và minh bạch bằng việc phê chuẩn Tuyên ngôn Chính phủ Mở (Open Government Declaration). Thông qua việc phê chuẩn Tuyên ngôn đó, các quốc gia cam kết “thúc đẩy văn hóa chính phủ mở để trao quyền và phân phối cho các công dân, và thúc đẩy các lý tưởng của chính phủ mở và có sự tham gia trong thế kỷ 21”.  Bên cạnh việc phê chuẩn Tuyên ngôn đó, để trở thành thành viên của OGP, các chính phủ còn phải trình ra cam kết Chính phủ Mở theo 4 tiêu chí hợp lệ, và qua được vòng kiểm tra các giá trị OGP đó, chúng gồm: (1) Tính minh bạch về tài chính: (2) Quyền truy cập thông tin; (3) Công khai tài sản; và (4) Sự tham gia của công dân. Các quốc gia có thể đạt được tổng số 16 điểm cho quá trình thực thi của họ theo 4 thước đo đó, hoặc 12 điểm nếu quốc gia đó chưa được đánh giá ở một trong các thước đo đó. Các quốc gia đạt được 75% các điểm số (hoặc 12/16 tổng số điểm; hoặc 9/12 tổng số điểm) hoặc nhiều hơn sẽ được coi là đáp ứng các tiêu chí về đủ tư cách cốt lõi.  Khi đã trở thành thành viên đầy đủ của OGP, từng quốc gia sẽ có các chương trình hành động theo quy trình của OGP (xem Hình 2).  Chính phủ mở, chính phủ điện tử và chính phủ số  Một số khái niệm dễ gây ra sự lúng túng và nhầm lẫn vì chúng có vẻ như gần giống nhau, như chính phủ mở (open government), chính phủ điện tử (eGovernment) và chính phủ số (digital government). Dưới đây là một vài diễn giải với hy vọng có thể phân biệt chúng từ các tài liệu:  1. Từ tài liệu của Nghị viện châu Âu:  Chính phủ điện tử và chính phủ số là các khái niệm được sử dụng để mô tả sự ứng dụng CNTT-TT để cải thiện các dịch vụ công và gia tăng sự tham gia của các công dân trong chính phủ dân chủ. Chính phủ điện tử từng là khái niệm áp đảo được sử dụng để làm chính sách ở Liên minh châu Âu; khái niệm đó nhấn mạnh vào các dịch vụ lấy người sử dụng làm trung tâm, có thể được tích hợp CN-TT để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và người dân sử dụng dễ dàng và hiệu quả các dịch vụ công. Tuy nhiên gần đây, các nhà bình luận cũng đã và đang nói về chính phủ số, một khái niệm mở rộng mô hình chính phủ điện tử bằng việc xây dựng dựa vào ý niệm các dịch vụ mới mà ‘dữ liệu mở’ của khu vực nhà nước có thể hỗ trợ, cũng như cộng đồng cộng tác của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các công dân và xã hội dân sự có thể phát triển chúng.  Nói một cách khác, chính phủ số là khái niệm được mở rộng từ khái niệm chính phủ điện tử, trong đó dữ liệu mở là yếu tố quan trọng để xây dựng các dịch vụ mới.  2. Từ tài liệu của Trường Hành chính Công của Khu vực:  Nhiều mô hình chính phủ điện tử tập trung vào các giai đoạn phát triển, bắt đầu bằng việc số hóa hệ thống văn phòng (back office) và sau đó đặt các dịch vụ giao tiếp – giao dịch (front-office) lên trực tuyến, trước khi các khía cạnh kỹ thuật, thể chế, năng lực và chính trị có khả năng tiến bộ hướng tới khung chính phủ mở được xây dựng bằng việc sử dụng CNTT-TT và dữ liệu mở để trở nên minh bạch, cộng tác và có sự tham gia.  Nói một cách khác chính phủ điện tử là bước cần thiết để hướng tới chính phủ mở, trong đó, một lần nữa, dữ liệu mở đóng vai trò quan trọng.  Từ việc so sánh: (1) chính phủ số với chính phủ điện tử; và (2) chính phủ điện tử với chính phủ mở như ở trên, có thể thấy chính phủ số và chính phủ mở có một điểm chung nhất, đó là chúng đều dựa vào dữ liệu mở để vận hành. Điều này giải thích vì sao dữ liệu mở là rất quan trọng ngày nay đối với các chính phủ để phát triển và đáp ứng được với các nhu cầu mới trong quan hệ với các doanh nghiệp và công dân, cũng như để đáp ứng được với các nguyên tắc của chính phủ mở.  Chính phủ mở với dữ liệu mở  Dữ liệu mở là rất quan trọng với chính phủ mở. Từ khái niệm đó sản sinh ra vài khái niệm khác, như dữ liệu chính phủ mở, dữ liệu mở liên kết và dữ liệu chính phủ mở liên kết, như được minh họa trong Hình 3. Tất cả các khái niệm đó đều là mới và gắn liền với nhiều vấn đề phức tạp khác, không thuộc phạm vi của bài viết này, dù chúng là rất nóng hiện nay và thường được sử dụng như một trong các công cụ hữu hiệu để hướng tới chính phủ mở.    Hình 3: Phân loại dữ liệu và dữ liệu mở trong chính phủ.      Hình 4: Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) 2017.  Tài liệu của Chương trình Hành chính Công của Liên Hiệp Quốc nêu lên tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT-TT và dữ liệu trong các chính sách Chính phủ Mở như sau:  Các chính sách Chính phủ Mở sử dụng CNTT-TT hiện đại và dữ liệu như là các tài nguyên và công cụ để tạo ra các tương tác có ý nghĩa hơn giữa các công dân và chính phủ.  Để minh họa cho khía cạnh dữ liệu mở được sử dụng trong Chính phủ Mở, có thể đưa ra vài ví dụ sau:  ● Các nguyên tắc của Dữ liệu Mở để chống tham nhũng của G20.  ● Các tổ chức Open Data Charter, Transparency International-Mexico và Open Contracting Partnership đã xuất bản tài liệu hướng dẫn chống tham nhũng để đạt được những điều nêu trên bằng việc sử dụng dữ liệu mở với 30 cơ sở dữ liệu được khuyến cáo sử dụng khá chi tiết;  ● Tổ chức Open Data Barometer hằng năm đưa ra báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá xếp hạng các quốc gia trên thế giới về tính sẵn sàng dữ liệu mở thông qua 3 tiêu chí: (1) tính sẵn sàng; (2) triển khai dữ liệu mở; và (3) tác động ảnh hưởng của dữ liệu mở. Việc tham khảo bảng xếp hạng này sẽ giúp các quốc gia như Việt Nam phấn đấu để đạt được các mục tiêu không chỉ cho tính sẵn sàng dữ liệu mở, mà còn cải thiện sự điều hành của chính phủ dựa vào các chuẩn mực quốc tế.  ● Ngày 22/02/2018, Tổ chức Minh bạch Quốc tế – TI (Transparency International) công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng – CPI (Corruption Perceptions Index) 2017, xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên ý kiến đánh giá của các chuyên gia và doanh nhân về tham nhũng trong khu vực công. Việt Nam xếp hạng 107/180 với điểm số 35/100 (xem Hình 4).  Các khuyến cáo của OECD về chính phủ mở  Ngày 14/12/2017, Khuyến cáo Chính phủ Mở đã được OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) phê chuẩn từ đề xuất của Ban Điều hành Công (Public Governance Committee) của tổ chức này.  Khuyến cáo này đưa ra những định nghĩa mới nhất cho các khái niệm như Chính phủ Mở, Nhà nước Mở, chiến lược chính phủ mở và sáng kiến chính phủ mở cùng với một vài khái niệm liên quan khác; và quan trọng nhất là khuyến cáo 10 điểm cho các quốc gia tham gia phát triển, áp dụng và triển khai các chiến lược và sáng kiến chính phủ mở để thúc đẩy các nguyên tắc minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của các bên trong việc thiết kế và phân phối các chính sách và dịch vụ công, theo cách thức mở và bao hàm toàn diện.  Việt Nam, như một quốc gia có mong muốn tham gia OGP trong thời gian tới, rất nên tham khảo kỹ lưỡng tài liệu này.  ***  Chính phủ Mở là khái niệm rất mới và đi cùng với hàng loạt các vấn đề mới và phức tạp khác, như Đối tác Chính phủ Mở, dữ liệu mở, dữ liệu chính phủ mở, dữ liệu chính phủ mở liên kết, các công cụ CNTT-TT, và đặc biệt là văn hóa điều hành để thúc đẩy các nguyên tắc minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của nhiều bên nhằm tạo ra môi trường dân chủ và tăng trưởng bao hàm toàn diện.  Rất cần những nghiên cứu sâu hơn về tất cả những vấn đề và khía cạnh mới, được nêu sơ bộ trong bài với các tùy biến sáng tạo phù hợp với các điều kiện của Việt Nam vì sự phát triển của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.   Thông tin và tài liệu tham chiếu sẽ được cập nhật đầy đủ trên website tiasang.com.vn  Giấy phép nội dung: CC BY-NC-SA 4.0    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Hiểu đúng về nữ quyền và bình đẳng giới      Phải chăng đề cao đức tính hi sinh, sự dịu dàng và nhẫn nhịn của phụ nữ là đang bảo vệ và tôn vinh họ? Phải chăng nữ quyền là tranh đấu và chia đôi thế giới này thành hai nửa riêng để phụ nữ và nam giới đều được hưởng như nhau? TS. Khuất Thu Hồng (Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội) trao đổi với Tia Sáng về những mệnh đề cơ bản này.      TS. Khuất Thu Hồng  Tia Sáng: Nhiều người cho rằng, phụ nữ Việt Nam thời nay thật hạnh phúc vì đã bình đẳng như nam giới, có thể tự do làm nhiều điều mình muốn, được Luật Bình đẳng giới bảo vệ, có cả những cơ quan chuyên trách về các vấn đề của phụ nữ… Bà có đồng tình với quan điểm đó?  TS. Khuất Thu Hồng: Nếu chúng ta nhìn bề ngoài thì sẽ thấy dường như đúng là như vậy, người phụ nữ bây giờ sướng hơn, họ có thể ăn mặc đẹp, đi làm ở công sở, thậm chí làm lãnh đạo, một năm có mấy ngày kỷ niệm như ngày 8/3, 20/10, trong khi đó, đàn ông thì không có ngày kỷ niệm nào của riêng mình. Nhưng điều đó chưa phải là tất cả sự thật về cuộc sống của phụ nữ Việt Nam hiện nay. Đây có thể là một phần sự thật về nhóm phụ nữ trí thức, có thu nhập cao ở thành phố, nơi vị thế của phụ nữ được cải thiện nhiều hơn, nơi quan hệ giữa hai giới bình đẳng hơn. Nhưng đó không phải là sự thật cho tất cả phụ nữ Việt Nam – ở nhiều nơi trên đất nước này phụ nữ vẫn luôn phải đứng sau người đàn ông (cho dù người đàn ông đó kém cỏi hơn). Khi nhìn sâu hơn nữa vào cuộc sống của mỗi gia đình thì sẽ thấy rằng nhận xét đó còn rất phiến diện.  Không thể phủ nhận những nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao địa vị của phụ nữ ở Việt Nam nhưng chưa thể nói chúng ta đã đạt được bình đẳng giới, hay là nói theo kiểu dân dã hơn là “Như thế này là tốt quá rồi!” Tôi nghĩ, với công lao, năng lực của họ, phụ nữ Việt Nam xứng đáng nhiều hơn thế. Hãy nhìn vào từng gia đình, ngay cả ở thành phố, ngay cả ở trong những gia đình trí thức, có địa vị cao trong xã hội, liệu đã có bình đẳng thực sự hay chưa? Liệu có bao nhiêu ông chồng hết giờ làm việc về nhà nấu cơm, đón con? Có bao nhiêu ông chồng biết giặt quần áo và cho con ăn? Ở nông thôn thì bức tranh còn nhiều mảng tối hơn nữa. Cảnh “chồng chúa vợ tôi” vẫn chưa hề cũ trong cuộc sống của ngày hôm nay.      Phụ nữ thành đạt hơn người chồng là một điều mà mọi người không mấy tán thưởng ở xã hội này, người ta luôn luôn muốn phụ nữ phải thấp hơn đàn ông một tí, kể cả tuổi tác đến tài năng, địa vị, tiền bạc…      Chưa kể bạo lực gia đình vẫn còn đang là bóng ma ám ảnh bao nhiêu người phụ nữ. Gần 60% phụ nữ Việt Nam đã kết hôn đã từng phải chịu ít nhất một dạng bạo lực, thể xác, tinh thần và tình dục. 13,5% phụ nữ đã kết hôn đã trải qua quan hệ tình dục không mong muốn với chồng. Có nghĩa là, ngay cả trong quan hệ gần gũi nhất thì người phụ nữ vẫn phải “ưu tiên” nhu cầu của người chồng. Tôi có thể nêu ra rất nhiều ví dụ để chứng minh rằng bất bình đẳng giới vẫn đang hiện diện trong mọi khía cạnh của đời sống. Tôi muốn nói đến bình đẳng giới thực sự, không phải là bình đẳng giới trên giấy.  Chưa hết, mỗi khi TV, đài, báo đưa lên câu chuyện về một người phụ nữ thành đạt, thì thế nào cũng có sự nghi ngờ đại loại là ông chồng của cô này thế nào? Có thành đạt như cô ấy không? Nếu như ông chồng không thành đạt bằng vợ mình thì nhiều người sẽ chép miệng, lo lắng cho cô ấy rằng liệu như thế có bền không? Cô ấy có thời gian để nấu cơm cho chồng không? Người phụ nữ thành đạt hơn người chồng là một điều mà mọi người không mấy tán thưởng ở xã hội này, người ta không khuyến khích cho một mô hình như vậy, người ta luôn luôn muốn phụ nữ phải thấp hơn đàn ông một tí, kể cả tuổi tác đến tài năng, địa vị, tiền bạc. Người Việt Nam thường gắn hạnh phúc và sự thành đạt của người phụ nữ với một gia đình yên ổn, hạnh phúc, nơi mà người chồng luôn luôn hài lòng về người vợ, các con luôn luôn hài lòng về bà mẹ của mình, về đến nhà lúc nào cũng có cơm ngon canh ngọt. Còn những người phụ nữ thành đạt mà thiếu những tiêu chuẩn kia thì sự thành đạt đó không có mấy giá trị.  Như vậy là, người ta đang cố “nhốt” phụ nữ vào trong những khuôn mẫu rất “truyền thống”- vốn để duy trì chế độ phụ quyền gia trưởng?  Đúng vậy, khuôn mẫu này được nhập khẩu từ Nho giáo Trung Hoa và được gắn với những mỹ từ như là “thiên chức”, “truyền thống tốt đẹp”, “bản sắc văn hoá” … để ru ngủ người phụ nữ và nhốt chặt họ vào trong đó. Rất tiếc là không ít người phụ nữ cũng tự nguyện “giam mình” trong cái khuôn ấy và giam luôn cả con gái, em gái, bạn gái của mình. Có những người không nhận ra mình đang mê ngủ. Những người khác nhận ra đó là những giá trị ảo và thấy ngột ngạt nhưng không dám thay đổi, không dám thách thức bản thân, thách thức số phận.  Phải chăng chính vì đã sống lâu trong cái khuôn mẫu đó, đang quen với những giá trị đẹp đẽ mà xã hội cố gắng tôn vinh, gán cho phụ nữ như sự dịu dàng, có trách nhiệm “tối cao” là đảm bảo hạnh phúc gia đình nên nhiều người cũng chẳng còn tha thiết gì với vấn đề nữ quyền?  Dường như ở Việt Nam người ta hiểu không đúng lắm về nữ quyền, hầu như chỉ hiểu theo nghĩa đen là quyền của phụ nữ. Nếu chỉ nhìn như vậy thì hẳn là nhiều người sẽ nghĩ ngay là ôi, phụ nữ bây giờ lắm quyền rồi. Viêt Nam đã có Hội Phụ nữ to như thế, bao nhiêu chương trình chính sách về bình đẳng giới, về sự tiến bộ phụ nữ như thế thì cần gì phải có phong trào nữ quyền nữa. Cũng không ít người cho rằng đặt vấn đề nữ quyền là bắt chước phương Tây, nhập khẩu những quan niệm xa lạ với thực tế Việt Nam.    Phụ nữ được gắn với vai trò gìn giữ một gia đình hạnh phúc, nơi luôn có “cơm ngon canh ngọt”.  Mọi người “dị ứng” với nữ quyền có phải là vì cách hiểu rằng, nữ quyền là phải “phá tan” tất cả những ràng buộc, áp đặt do đàn ông xây nên?  Có không ít người nghĩ về nữ quyền đầy tiêu cực, là cứ phải gào lên, hò hét, chỉ đấu tranh cho phụ nữ, chỉ nghĩ tới quyền lợi của người phụ nữ, thậm chí chia đôi thế giới này thành hai nửa riêng cho phụ nữ và nam giới mà bất chấp mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới. Người ta có thể hiểu theo một nghĩa rất triệt để là ông rửa một cái bát thì tôi cũng rửa một cái bát. Đó cũng là cách hiểu về nữ quyền một cách khá thô thiển tuy nhiên vẫn có rất nhiều người hiểu theo cách này. Cách diễn giải như vậy sẽ khiến cho mọi người ngày càng ác cảm với nữ quyền.  Vậy phải hiểu đúng về vấn đề nữ quyền như thế nào, thưa bà?  Nói một cách ngắn gọn nữ quyền là phong trào chính trị – xã hội, nhằm khẳng định và đấu tranh cho quyền của phụ nữ trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, gia đình và cá nhân. Phong trào nữ quyền thách thức mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới hiện tại, đòi hỏi sự bình đẳng về cơ hội việc làm, học tập, tham gia chính trị, xã hội và đời sống gia đình và cá nhân. Lý thuyết nữ quyền, bắt nguồn từ phong trào nữ quyền thì tập trung nghiên cứu về bản chất của bất bình đẳng giới thông qua những vai trò và trải nghiệm của phụ nữ, từ đó giải thích nguyên nhân của bất bình đẳng giới, làm cơ sở cho những giải pháp đấu tranh cải thiện địa vị của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng.  Tiếc là từ góc độ này, những nghiên cứu thực sự về nữ quyền thì cũng chưa nhiều. Có một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam tự cho mình theo quan điểm nữ quyền hay tự cho mình là chuyên gia về vấn đề phụ nữ, về giới nhưng nghiên cứu của họ lại củng cố mối quan hệ giới bất bình đẳng, củng cố quan niệm truyền thống về phụ nữ. Thành ra, dù tiếng là nghiên cứu về phụ nữ và vì phụ nữ nhưng các nghiên cứu đó ngoài mô tả cuộc sống của phụ nữ thì không chỉ ra được nguyên nhân của bất bình đẳng giới và sự thiệt thòi của phụ nữ. Trong khi đó một số nghiên cứu rất sắc sảo của các nhà nghiên cứu nước ngoài thì lại ít được tham khảo nghiêm túc và thường có xu hướng coi đó là không phù hợp với thực tế Việt Nam.  Nhìn vào hầu hết diễn đàn cho phụ nữ hiện nay, dường như chính chúng ta lại vẫn cứ đang ràng buộc phụ nữ vào những vấn đề muôn thuở, củng cố những mối quan hệ bất bình đẳng bằng việc chỉ gắn phụ nữ với bếp núc, với những đối xử trong gia đình thay vì mở rộng phạm vi quan tâm của phụ nữ.  Đúng là các diễn đàn cho phụ nữ đang củng cố những quan điểm cũ là phụ nữ phải “truyền thống” bằng việc dạy nấu ăn, mách nhau mẹo trang điểm cho đẹp, nhưng để làm gì? Để giữ chồng, canh chồng, làm đẹp lòng và giữ chặt ông ấy ở nhà mà chưa bao giờ đặt ra câu hỏi làm thế nào để có ông chồng thay đổi?  Nhưng bởi vì tự “giam mình” trong những khuôn mẫu ở trên nên nhiều người lại nghĩ rằng chia sẻ những kinh nghiệm đó là đang làm điều rất tốt cho phụ nữ. Cuối cùng phụ nữ chỉ quanh đi quẩn lại trong những chuyện thế thôi. Và rồi những diễn đàn đó lại đả phá những người theo quan điểm nữ quyền, họ nói rằng, nữ quyền thì chỉ cổ vũ phụ nữ sống như đàn ông, không chịu nấu cơm, rửa bát, không lấy chồng, dễ dàng bỏ chồng, ăn to nói lớn. Nhưng nữ quyền không phải là như vậy. Nữ quyền khuyến khích phụ nữ sống độc lập, tự tin, không phụ thuộc. Nữ quyền không phải là phủ nhận đàn ông hay phủ nhận nữ tính.      Chúng ta hướng tới là một xã hội, mà ở đó, người phụ nữ có thể tự quyết định mình thích cái gì, chứ không phải là làm theo những điều mà người ta thích phụ nữ làm.      Tôi thấy có phần tuyệt vọng quá! Liệu có thay đổi được những điều đã thành cố hữu trong tư tưởng của xã hội và của từng người phụ nữ không? Cái mà chúng ta hướng tới là gì?  Thay đổi như chúng ta muốn là bình đẳng thực sự là rất khó. Nhưng với thời gian điều đó sẽ xảy ra. Đó là khi mà có rất nhiều phụ nữ cùng chia sẻ suy nghĩ như là chúng ta đang trao đổi ở đây. Nếu bạn xem những bộ phim của Mỹ vào những năm 1950, thì thấy giống hệt Việt Nam bây giờ. Thậm chí có những trường dạy cho những cô gái con nhà quý tộc hoặc tầng lớp trung lưu trở lên cách làm bà nội trợ, dạy họ cách làm như thế nào để lấy được một ông chồng giàu có thay vì học hành và làm việc để có cuộc sống độc lập. Tôi không nói rằng, ngày nay tất cả mọi người Mỹ đều có cùng quan điểm như mình đang thảo luận, vẫn còn nhiều phụ nữ ở đó có tư tưởng rất truyền thống, cũng như rất nhiều người đàn ông vẫn gia trưởng giống đàn ông Việt Nam nhưng mà xu hướng chủ đạo đã thay đổi. Ngay cả ở châu Âu cũng thế, có rất nhiều phụ nữ chỉ làm nội trợ suốt đời và tin rằng đó là điều tốt đẹp nhưng quan điểm chủ đạo về vị thế của phụ nữ và quan hệ giới thì đã thay đổi. Điều quan trọng là những xã hội đó thay đổi theo cách để cho phụ nữ tự lựa chọn. Người phụ nữ có thể lựa chọn ở nhà làm nội trợ nếu họ thích như vậy. Nhưng nếu họ lựa chọn làm việc, theo đuổi sự nghiệp của mình thì xã hội cũng trân trọng và ủng hộ. Những người phụ nữ như vậy sẽ không bị phê phán là thiếu nữ tính, ích kỷ hay không hoàn hảo.  Như vậy, cái mà chúng ta hướng tới là một xã hội, mà ở đó, người phụ nữ có thể tự quyết định mình thích cái gì, chứ không phải là làm theo những điều mà người ta thích phụ nữ làm. Bây giờ nhiều phụ nữ đang phải làm những điều mà người khác thích phụ nữ làm. Và đang có những nỗ lực để khiến phụ nữ tin rằng đó mới là đúng đắn.  Để thay đổi được, thì trước hết phải bắt đầu từ đâu, thưa bà?  Tôi nghĩ là sự thay đổi bắt đầu từ việc truyền bá những quan điểm đó. Truyền thông sẽ là một kênh rất quan trọng cho việc này. Những tư tưởng và hành động bắt đầu từ những cá nhân được truyền bá sẽ tạo thành làn sóng và lan rộng thành phong trào, tạo ra sự thay đổi rất căn bản, vững bền vì đó là lựa chọn của chúng ta vì chính chúng ta.  Xin cảm ơn sự chia sẻ của bà!  Thu Quỳnh thực hiện!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình ảnh Biển Đông trên Cửu đỉnh      Cửu đỉnh ở Huế đang được nhà nước Việt Nam  xét duyệt để công nhận là một Bảo vật Quốc gia. Trong các giá trị của  nó, chắc hẳn người đời nay không ai không quan tâm đến chủ đề lãnh hải  mà cổ nhân đã lưu lại một cách cụ thể bằng cả hình ảnh lẫn ký tự ở trên  đó.    Cửu đỉnh là một bộ tác phẩm bằng đồng gồm chín cái đỉnh lớn được Bộ Công đúc tại kinh đô Huế vào năm 1836 dưới thời Minh Mạng và được đặt thành một hàng ngang trước sân Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn. Kích thước và trọng lượng các đỉnh không hoàn toàn bằng nhau. Đỉnh cao nhất là 2,50m và nặng nhất là 2.601kg (Cao đỉnh). Đỉnh thấp nhất là 2,31m và nhẹ nhất là 1.935kg (Huyền đỉnh). Mỗi đỉnh đối diện với một gian thờ trong tòa miếu ấy. Riêng đỉnh tương ứng với gian thờ vua Gia Long thì đặt hơi nhích về phía trước vì vua Minh Mạng cho rằng đó là vị Hoàng đế khai sáng và có công lớn nhất của triều đại.  Ở mặt trước hông các đỉnh đều đúc nổi hai đại tự mà chữ dưới là chữ đỉnh và chữ trên là tên gọi tắt miếu hiệu (tên chọn để thờ sau khi mất) của từng vua. Chẳng hạn như Cao đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long-Thế Tổ Cao Hoàng Đế), Nhân đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng-Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế), Chương đỉnh (vua Thiệu Trị-Hiến Tổ Chương Hoàng Đế), Anh đỉnh (vua Tự Đức-Dực Tông Anh Hoàng Đế), cứ thế lần lượt cho đến đỉnh thứ 9, bao gồm: Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.  Đáng để ý nhất ở đây là 153 hình ảnh được thể hiện chung quanh hông các đỉnh. ở hông mỗi đỉnh, người xưa đã đúc nổi 17 cảnh vật, được phân bố theo một quy tắc chung: chia làm 3 hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại. Tại mỗi hình ảnh đều có chữ chỉ tên từng cảnh vật.  Bằng kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và nghệ thuật chạm khắc tinh vi, các nghệ nhân thời Minh Mạng đã thể hiện một cách khái quát nhưng súc tích sự phong phú và đa dạng của các cảnh vật tạo nên sự giàu đẹp của tổ quốc, bao gồm núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, binh khí, xe thuyền, v.v… Nếu ở Nhân đỉnh có hình ảnh sông Hương (Hương Giang) thì ở Tuyên đỉnh có sông Hồng (Nhĩ Hà) và Huyền đỉnh có sông Cửu Long (Hậu Giang, Tiền Giang). Nếu ở Cao đỉnh có hình ảnh biển Đông (Đông Hải) thì ở Nhân đỉnh có biển Nam (Nam Hải) và ở Chương đỉnh có biển Tây (Tây Hải). Nếu ở Nghị đỉnh có cửa biển Thuận An (Thuận An hải khẩu) thì ở Thuần đỉnh có cửa biển Cần Giờ (Cần Giờ hải khẩu) và ở Dụ đỉnh có cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng hải khẩu). Nếu ở Cao đỉnh có cọp (hổ) trên rừng thì ở Nhân đỉnh có cá voi (nhân ngư) dưới biển… Các hình ảnh ở Cửu đỉnh đều biểu hiện những cảnh vật rất thật và quen thân với dân tộc Việt Nam.  Khi đánh giá 153 hình ảnh trên Cửu đỉnh, một nhà nghiên cứu Tây phương là R. P. Barnouin đã nhận xét rằng bộ hiện vật bằng đồng này “tạo thành một bảng tài liệu biểu thị kiến thức bách khoa của các Nho sĩ thông thái trong triều đình Huế năm 1836, tài liệu được giữ nguyên vẹn dưới mắt chúng ta, trong khi đó thì những tài liệu khác đã bị tiêu hủy hoặc sai lạc” (The urns constitute a text expressing the encyclopedic knowledge of the learned men of the Court of Hue in 1836, a text preserved intact under our eyes whereas many others have perished or been deformed).(1)  Một nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam là Huỳnh Hữu ủy cũng đã nhận định một cách sâu sắc về Cửu đỉnh trong một bài viết của ông như sau: “Đây là một cuộc triển lãm… xây dựng trên đời sống trí tuệ và tâm linh của cả một dân tộc mà cho đến ngày nay, giá trị ấy càng được xác định hơn. Tâm hồn của đất nước truyền thống biểu hiện tài tình… để ca ngợi Tổ quốc hoa gấm, nước biếc non xanh giàu đẹp, vững bền”.(2)  Có thể nói thêm rằng cuộc triển lãm lộ thiên này, trong một chừng mực nào đó, cũng là một bảng kiểm kê tài sản quốc gia vào những thập niên đầu thế kỷ XIX. Trong những tài sản quý báu nhất của đất nước được thể hiện trên Cửu đỉnh có phần lãnh hải của tổ quốc, mà cụ thể là biển Đông, biển Nam và biển Tây.  Biển Tây là vùng biển nằm ở phía tây của Nam Bộ, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan (Gulf of Siam). Biển Nam là phần lãnh hải nằm ở phía nam của Nam Bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia, v.v… Riêng hải phận của biển Đông thì rộng lớn hơn nhiều so với hai biển kia. Mức độ rộng lớn này đã được phản ánh trong câu tục ngữ có từ thời xưa:  Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.  Thuận trai thuận bạn, tát cũng cạn biển Đông.  Nội dung câu tục ngữ cho thấy nếu có sự đồng thuận và quyết tâm trong hành động thì công việc dù khó khăn và to lớn đến mấy cũng làm được, chẳng hạn như tát hết nước của biển Đông sâu rộng.  Dù sao, các hải phận của nước ta cũng đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương đỉnh (Thiệu Trị) là 3 cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại. Trong ba vùng biển ấy, theo quan niệm của triều đình Minh Mạng, biển Đông nằm ở vị trí thiết yếu số một, cho nên hình ảnh của nó đã được đúc nổi ở Cao đỉnh, cái đỉnh trọng đại nhất trong Cửu đỉnh, xét về nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.  —  (1)    R. P. Barnouin, “Les bas-reliefs des urnes dynastiques de Huế”, Bulletin de la Société des études Indochinoises, Bộ mới, tập XLIX – số 3, 1974, Sài Gòn, tr. 426.   (2)    Huỳnh Hữu ủy, “Cửu đỉnh – Biểu tượng của văn hóa và nghệ thuật Huế”, tạp chí Đất mới, Canada, bộ 2, số 3, tháng 3/1990.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình thái kinh tế mới: Chủ nghĩa tư bản giám sát      Kỷ nguyên số mà chúng ta đang sống hiện nay xuất hiện một hình thái chủ nghĩa tư bản mới – chủ nghĩa tư bản giám sát – mà tiềm năng tác động bao phủ hầu như mọi khía cạnh, từ tăng trưởng kinh tế đến tổ chức nhà nước, xã hội, văn hóa, tự do cá nhân và các nền tảng dân chủ. Chủ nghĩa tư bản giám sát biến thế giới thành một phòng thí nghiệm khoa học dữ liệu khổng lồ để thử nghiệm, tinh chỉnh, chế tác hành vi con người và xã hội.    Khái niệm chủ nghĩa tư bản giám sát được giáo sư trường Kinh doanh Harvard, Shoshana Zuboff đưa ra vào năm 2014. Đó là một biến dạng mới của chủ nghĩa tư bản, trong đó công ty công nghệ thu lợi nhuận từ việc giám sát hành vi của con người. Khái niệm này được GS. Zuboff đào sâu, phát triển thành lý thuyết toàn diện trong cuốn sách “Thời đại Chủ nghĩa tư bản giám sát: Cuộc chiến cho tương lai con người tại ranh giới quyền lực mới”, xuất bản năm 2019.  Nhà báo Sam Biddle của tờ báo the Intercept cho rằng “Thời đại chủ nghĩa tư bản giám sát” là một tổng hợp tương đương hai cuốn sách “Mùa xuân vắng lặng” của Rachael Carson và “Tư bản” của Các Mác. “Mùa xuân vắng lặng” lên án tư bản công nghiệp đầu độc môi trường và “Tư bản” cung cấp cơ chế để hiểu và chiến đấu chống lại sự đầu độc đó. Cuốn sách chủ nghĩa tư bản giám sát của Zuboff mô tả thế giới kinh doanh công nghệ đầu độc thế giới như thế nào và trả lời câu hỏi làm thế nào để chống lại nó.        “Chúng ta xem dịch vụ số là miễn phí. Nhà tư bản giám sát đằng sau các dịch vụ đó xem chúng ta là hàng hóa miễn phí. Chúng ta nghĩ chúng ta tìm kiếm trên Google. Google đang tìm kiếm chúng ta”. GS. Shoshana Zuboff, người khai sinh khái niệm chủ nghĩa tư bản giám sát.      Trong hình thái kinh tế tư bản công nghiệp truyền thống, nhà tư bản sở hữu và đưa tư liệu sản xuất vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, bán ra thị trường và thu được thặng dư sản xuất. Hãng xe hơi Ford đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị, thuê lao động và tất cả tập hợp lại để sản xuất ra chiếc xe ô tô. Ô tô được bán ra thị trường và nhà tư bản thu lợi từ chênh lệch giữa doanh thu bán xe và chi phí sản xuất. Họ tối đa hóa thặng dư bằng cách giảm chi phí sản xuất và tăng giá bán nếu có thể.  Còn với tư bản giám sát, tư liệu sản xuất chính là nguồn thông tin kinh nghiệm, hành vi và thông tin nhân thân của con người. GS. Zuboff khái niệm hóa các tư liệu sản xuất này thành “Kinh nghiệm cá nhân”. Cá nhân cung cấp miễn phí thông tin cá nhân và thông tin hành vi quá khứ của mình cho nhà tư bản công nghệ.  Các nhà tư bản công nghệ thu thập kinh nghiệm cá nhân, sử dụng các kỹ thuật tính toán cao cấp như dữ liệu lớn, học máy, học sâu, trí tuệ nhân tạo để phân tích kinh nghiệm cá nhân. Quá trình sản xuất của tư bản giám sát chính là quá trình xử lý, phân tích dữ liệu kinh nghiệm cá nhân.  Quá trình sản xuất này tạo ra một loại sản phẩm hoàn toàn mới là gói dự báo hành vi tương lai của con người. Nhà tư bản công nghệ bán gói sản phẩm này cho các công ty kinh doanh và thu được thặng dư sản xuất, tức tiền lời của toàn bộ quá trình thu thập, phân tích thông tin và bán sản phẩm. Giáo sư Zuboff gọi phần tiền lời này là “thặng dư hành vi” (behavioral surplus), tương đương với thặng dư sản xuất của tư bản công nghiệp. Thặng dư từ việc hiểu và can thiệp vào hành vi của con người.  Ví dụ bạn mua và đọc một cuốn sách điện tử từ ứng dụng Google Play Book (Chính xác là tôi đọc cuốn “Thời đại chủ nghĩa tư bản giám sát” theo cách này). Google lưu trữ thông tin thể loại sách bạn chọn mua, thời gian bạn đọc sách, tốc độ đọc nhanh ở đâu và chậm ở đâu, bỏ qua chỗ nào, sử dụng từ điển cho những từ nào, tìm kiếm thuật ngữ nào. Cộng với các thông tin về bản thân bạn, như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, nơi sống v.v. từ tài khoản Google của chính bạn, Google đã có lượng thông tin miễn phí để phân tích, đóng thành gói sản phẩm – sản phẩm này dự báo chủ đề đọc ưa thích của bạn, sách nên được tổ chức như thế nào và bán thế nào, giá nào, thời điểm nào để bạn quyết định mua. Google bán sản phẩm dự báo hành vi mua sách tương lai của bạn cho các nhà xuất bản và phát hành sách. Một ngày đẹp trời nào đó, vào thời điểm bạn cảm thấy thư thái nào đó, điện thoại thông minh của bạn xuất hiện thông tin giới thiệu một cuốn sách, mà thông báo cũng cho hay cuốn sách này lại đang được một người bạn của bạn đang đọc. Và bạn bấm nút mua cuốn sách đó. Chủ nghĩa tư bản giám sát đã vận hành thành công: lợi nhuận được thu về cho người bán sách và cho người bán thông tin dự báo hành vi của bạn cho người bán sách, và bạn mua một món hàng mà không biết rằng đã bị dẫn dắt một cách tinh vi để đi đến quyết định chi tiêu đó.    So sánh chủ nghĩa tư bản công nghiệp và chủ nghĩa tư bản giám sát.  Chủ nghĩa tư bản giám sát đã vượt qua phạm vi vận hành liên quan đến các công ty công nghệ để trở thành hệ sinh thái dựa vào giám sát (Surveillance-based ecosystems) trong nhiều khu vực kinh tế, từ thị trường bảo hiểm, giao thông vận tải, sức khỏe, giáo dục, tài chính đến các sản phẩm được gọi là “thông minh” và dịch vụ được gọi là “cá nhân hóa”. Thông minh và cá nhân hóa là hai đặc tính dễ thấy nhất để nhận ra sản phẩm và dịch vụ đang bị chủ nghĩa tư bản giám sát khai thác tạo ra nguồn thặng dư hành vi lớn chưa từng thấy.      Các phương tiện điều chỉnh hành vi của chủ nghĩa tư bản giám sát đã làm xói mòn nền dân chủ từ bên trong.      Việc chủ nghĩa tư bản giám sát tích lũy và phân tích thông tin để hiểu hành vi hiện tại và tương lai của bạn chỉ là phần nổi của tảng băng. Phần chìm của tảng băng là họ đang phát triển các công cụ can thiệp thay đổi hành vi của bạn. Thông thường, có ba nhóm công cụ chính được dùng để thay đổi hành vi con người. Nhóm thứ nhất là dùng quyền lực của nhà nước thông qua các quy định, luật lệ. Ví dụ nhà nước quy định mọi người dân phải mua bảo hiểm y tế, do đó bạn phải mua nếu không muốn bị phạt hoặc bị các biện pháp chế tài khác. Nhóm thứ hai liên quan đến quyền lực của thị trường thông qua việc thay đổi giá cả hàng hóa dịch vụ. Ví dụ trợ giá cho bảo hiểm y tế sẽ có giá bảo hiểm thấp và nhiều người dân quyết định mua. Nhóm thứ ba dùng khoa học hành vi, dùng các tác động can thiệp vào các yếu tố tâm lý của người ra quyết định. Ví dụ khi đưa ra các lựa chọn về phương án chi tiêu của người dân, mua bảo hiểm y tế được đặt ở phương án mặc định. Kết quả là sẽ có nhiều người mua bảo hiểm y tế vì tâm lý chung của con người là chọn ở yên ở trạng thái hiện tại. Chủ nghĩa tư bản giám sát khai thác nhóm công cụ thứ ba này để can thiệp thay đổi hành vi của con người.  Chủ nghĩa tư bản giám sát tốt hay xấu? Lĩnh vực hoạt động lớn nhất của chủ nghĩa tư bản giám sát hiện nay là thị trường mua bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Chủ nghĩa tư bản giám sát cung cấp gói dự đoán hành vi tương lai của bất kỳ cá nhân nào cho bộ phận marketing bán hàng của các doanh nghiệp, và như họ nói, điều này giúp cung cầu gặp nhau nhanh hơn, dễ dàng hơn. Với người mua hàng, bạn được thuyết phục bấm nút mua một cái áo da màu đen rất thời trang, mà bạn bè và thần tượng của bạn cũng đang mua, trong khi bạn đang dự định dùng số tiền này mua một bộ sách. Bạn tặc lưỡi cho qua, vì dù sao đây cũng là chuyện nhỏ, không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của mình. Điện thoại thông minh đang giúp bạn rất nhiều chuyện, từ tìm quán ăn, chỉ dẫn đường đi, đọc sách và gặp gỡ bạn bè trên mạng xã hội.  Nhưng nếu bạn không có gì để dành cho riêng mình, bạn sẽ không là ai. Nếu không còn góc riêng tư, chính là ngôi nhà tâm hồn để trở về với chính mình, bạn sẽ không tồn tại. Chủ nghĩa tư bản giám sát, với phương tiện tối tân, hiện đại mà bạn không có khả năng hiểu và nắm bắt được, đã làm cho mỗi cá nhân không còn ngôi nhà tâm thức riêng để trở về. Các phương tiện điều chỉnh hành vi của chủ nghĩa tư bản giám sát đã làm xói mòn nền dân chủ từ bên trong. GS. Zuboff cho rằng, không tự chủ được về suy nghĩ và hành động, chúng ta còn rất ít khả năng đánh giá đạo đức và tư duy phản biện cần thiết cho một xã hội dân chủ.  Trong tác phẩm “Sự kết thúc của đại học: tạo lập tương lai học tập và trường đại học mọi nơi”, tác giả Kenvin Carey dự báo một ngày nào đó công nghệ sẽ phá tan tổ chức đại học truyền thống, tạo ra cách thức học tập mới trong đó cá nhân được công nghệ số thiết kế cho các bài học riêng phù hợp với bản thân mình và có thể học mọi lúc mọi nơi. Hiệu suất học tập của bạn sẽ được tối đa hóa. Và bạn sẽ thấy rằng, để làm được việc đó, máy móc sẽ hiểu bạn nhiều hơn chính bạn hiểu về bạn.  Quyền lực nhà nước sẽ thay đổi như thế nào khi thông tin về hành vi công dân của họ nằm trong tay nhóm nhỏ các nhà tư bản giám sát như Google, Facebook, Apple và Amazon? Sẽ thế nào khi các tập đoàn công nghệ mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài hoạt động kinh doanh mua bán sang các lĩnh vực khác như quản lý nhà nước, dịch vụ công hay an ninh, quốc phòng?  Cùng với sự mở rộng hoạt động của chủ nghĩa tư bản giám sát, cấu trúc xã hội, trật tự xã hội và thiết chế xã hội sẽ biến đổi, chuyển hóa. Thiết chế gia đình từ một tập hợp cùng nhau hiện diện chia sẻ cùng mối quan tâm được công nghệ thông minh và cá nhân hóa chuyển thành một tập hợp rời rạc các cá nhân trong thế giới riêng được công nghệ định hướng của mình. Các công đoàn người lao động trong các hãng vận chuyển taxi truyền thống tan rã khi người lao động được điều khiển riêng lẻ trên các nền tảng xe công nghệ mới. Rất nhiều ví dụ như vậy cho thấy sự chuyển hóa xã hội đang diễn ra mạnh mẽ. Không nắm bắt, không hiểu và quản lý được sự thay đổi này có thể dẫn đến tương lai tổ chức xã hội không thực sự nằm trong tay người dân, do người dân quyết định.  Có rất nhiều thách thức khi chúng ta muốn kiểm soát chủ nghĩa tư bản giám sát. Trong tác phẩm “Thời đại chủ nghĩa tư bản giám sát của mình”, GS. Zuboff cho rằng chủ nghĩa tư bản giám sát xuất hiện đúng thời điểm khi xã hội, nhất là chủ nghĩa tân tự do, đều nhất trí rằng nhà nước không nên kiểm soát thị trường, thị trường và doanh nghiệp cần được tự do hoạt động để đem lại phúc lợi cao nhất cho xã hội. Càng thuận lợi hơn khi chủ nghĩa khủng bố lên ngôi với sự kiện 9/11/2001 và hoạt động của nhà nước hồi giáo IS đặt ra nhu cầu “nhận thức thông tin toàn diện” từ các cơ quan tình báo và nhà nước. Nghĩa là bảo mật thông tin cá nhân cần nhường chỗ cho nhu cầu an ninh chung.  Và việc kiểm soát chủ nghĩa tư bản giám sát càng khó khăn khi phương pháp và hoạt động của chủ nghĩa tư bản giám sát không cho phép chúng ta hiểu được ý nghĩa, cách vận hành và kết quả của nó. Chính các công ty công nghệ đã thiết kế phương pháp thâu tóm thông tin làm cho chúng ta không thể nhận biết được chuyện gì đang xảy ra. Có hiện tượng bất cân xứng về kiến thức: Chủ nghĩa tư bản giám sát tích lũy lượng kiến thức khổng lồ và cả quyền lực để tạo ra lượng kiến thức đó. Họ biết tất cả về con người trong khi con người không biết gì về họ.  Làm thế nào để kiểm soát chủ nghĩa tư bản giám sát? GS. Zuboff đề ra ba cách tiếp cận chính để phản ứng lại chủ nghĩa tư bản giám sát. Thứ nhất, cần cuộc cách mạng thay đổi nhận thức của công chúng về cách thức hoạt động của các công ty công nghệ. Công chúng phải biết phẫn nộ, phải biết nói không. Thứ hai, cần thiết lập quy định và luật lệ để kiểm soát hoạt động của các công ty công nghệ. Thứ ba, cần tạo cơ hội cho các giải pháp cạnh tranh. Cần tập hợp các thành phần kinh tế xã hội khác nhau để tạo ra hệ sinh thái thay thế. □  —-  * Tác giả TS Phạm Khánh Nam, Khoa Kinh tế, Trung tâm Môi trường cho Phát triển Việt Nam, Đại học Kinh tế TP. HCM.  Ngày 6/11/2020 Viện Goethe Việt Nam tổ chức buổi thảo luận về chủ đề “Shoshana Zuboff: chủ nghĩa tư bản giám sát và dân chủ” do TS. Phùng Đức Tùng (Viện Nghiên cứu và Phát triển Mekong) và TS. Phạm Khánh Nam (Đại học Kinh tế TP. HCM) điều phối tại hai đầu cầu Hà Nội và TP. HCM. Buổi thảo luận này là bài giảng đầu tiên nằm trong chuỗi bài giảng của các học giả nổi tiếng thế giới về khía cạnh xã hội của kỷ nguyên số.    Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Hồ Chí Minh, “người giàu chất người nhất”      Từ năm 1949 đến năm 1969 là quãng thời gian nhà nghiên cứu Việt Phương được ở gần và có những lần được giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nói, “đây là một niềm hạnh phúc mà nhiều khi nghĩ lại tôi thấy mình chưa làm gì để xứng đáng với niềm hạnh phúc ấy”.  Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông chia sẻ với Tia Sáng những câu chuyện mà ông không bao giờ quên về Người.    Nghĩ đến Bác, tôi  thường nhớ đến một câu trong bài viết của một nhà văn  châu Á năm 1962:  “Chúng ta có thể và đã nhiều lần cùng nhau bàn luận để  tìm xem trên đời  này ai là người vĩ đại nhất, danh tiếng nhất, tài giỏi  nhất, uyên bác  nhất… nhưng Hồ Chí Minh là người hoàn toàn nhất. Đó là  người trong  các chặng đường suốt cuộc đời là người giàu chất người  nhất.” Ngày nay  chúng ta nói nhiều về Minh triết Hồ Chí Minh với nhiều  cách hiểu khác  nhau. Tôi xin kể vài câu chuyện về Bác với thiên nhiên và  con người,  như một cách hiểu giản dị về khái niệm đó.  Bác Hồ với cây cỏ  Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác về Hà Nội và chuyển đến sống ở Phủ Toàn Quyền trước đây. Phủ Toàn Quyền lúc này tiêu điều, xơ xác do bị xao nhãng vào buổi rã đám. Bác đã tự tay cùng các anh em phục hồi lại toàn bộ cây cối trong khuôn viên rộng lớn ấy, và trồng thêm nhiều hoa và cây ăn quả, trong đó có cam Xã Đoài quê Bác. Mặc dù trồng ở đất Hà Nội, cam không thật ngon và ngọt, nhưng họp Hội đồng Chính phủ cuối năm, bao giờ bác cũng có món quà nhỏ là một quả cam Xã Đoài do tự tay Bác trồng và chăm sóc tặng cho các vị Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các thành viên Chính phủ và cán bộ.  Bấy giờ có một cây muỗm cổ thụ sắp chết, thân cây nứt toác, bên trong rỗng ruột, cành lá khô héo cả. Bác nói với anh em phải cứu sống cây và bắt tay ngay vào trộn rơm với đất mùn lấy ở ao cá, đắp vào thân cây, lấp đầy bộ rễ. Một thời gian sau, cái cây đã được Bác hồi sinh.  Cạnh nhà Bác, ngay phía đầu hồi Bác ngồi làm việc, có một cây to bóng rợp. Anh em sợ tán cây che hết ánh sáng, định chặt đi, Bác biết thế bèn ngăn lại và nói anh em chỉ nên tỉa bớt cành lá. “Các chú ơi, nó là một cái cây mà,” Bác chỉ nói vậy.  Bác Hồ với chim muông   Phủ Chủ tịch có nhiều cây xanh và bóng mát nên chim chóc kéo về rất đông. Trong số các anh em giúp việc cho Bác, có một anh người miền nam săn bắn rất giỏi, có lần anh định đem súng ra bắn chim. Bác biết được, tỏ ý không hài lòng và nói, không nên bắn chim, làm như vậy sẽ kinh động đến các loài chim và chúng không bay về nữa. Không hiểu có phải vì biết tình cảm của Bác mà chim chóc “thân” với Bác hơn, khuôn viên rất rộng nhưng tôi để ý, chim chóc tụ về và hót gần nếp nhà của Bác nhiều nhất.  Ao cá của Bác thì ai cũng biết rồi. Chiều chiều, khoảng 5 giờ Bác lại ra cho cá ăn, dần dần thành nếp, cứ gần giờ đó cá lại nổi lên chờ. Bởi vậy, mỗi lần đi công tác, Bác đều dặn lại rất cẩn thận, phải cho cá ăn đúng giờ, Bác sợ cá nổi lên chờ mà không được ăn. Hàng ngày, Bác đều đi từ nhà sàn đến bếp ăn ở phía bên kia hồ, mặc dù anh em đề nghị được mang cơm tận nơi cho Bác. Rất nhiều người đi lại ở bờ hồ, nhưng không hiểu sao chỉ khi Bác đi qua, cá mới nổi lên từng đàn và bơi theo rất quyến luyến, như thể chúng phân biệt được tiếng chân của Bác với tiếng chân của những người khác vậy.  Tôi có một kỷ niệm vui và cũng là một bài học thấm thía với Bác. Đầu năm 1961, khi đó tôi 32 tuổi, có làm một bài thơ và như lệ thường, tôi đọc cho Bác nghe để Bác góp ý. Trong bài thơ, tôi nhắc đến một số loài vật:  “Chó không bao giờ ăn thịt chó  Người ăn thịt người xương không bỏ  Cuộc đời nhăn nhở như đười ươi  Cuộc đời rình mò như cú vọ  Cuộc đời nham hiểm như cáo già  Cuộc đời độc ác như báo hổ”  Bác nghe xong, lắc đầu nói: “Loài vật không xấu xa như thế đâu chú, đó chỉ là định kiến của con người thôi.” Từ sau lần đó, bản thân tôi đã hiểu lại về sự sống, sự sống tinh diệu lắm, rộng lớn lắm, và không chỉ có con người, mà còn có chim muông, cỏ cây, cát bụi…  Bác Hồ với con người  Ngày 20-5-1948, khi đó Bác 58 tuổi, đang ở Việt Bắc. Được tin cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây quyết định không tổ chức thượng thọ mà dùng tiền làm thượng thọ đóng góp cho Quỹ Kháng chiến cứu quốc, Bác đã viết một bức thư gửi cụ. Bức thư có đoạn: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ và trân trọng chúc Cụ sống lâu, mạnh khỏe để kêu gọi con cháu tham gia kháng chiến cứu quốc. Cháu lại kính gửi Cụ lời chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh”. Là một người luôn tâm niệm “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, nhưng ở cương vị lãnh tụ, Bác lại viết một bức công thư thấm đẫm tình người, đồng thời thể hiện vẻ đẹp truyền thống xưng hô của người Việt Nam. Bức công thư đó về sau đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và báo Cứu quốc.  Một câu chuyện khác khá vui về sự khen thưởng của Bác. Hằng năm, Bác đều gửi tặng huy hiệu của mình cho một số người mà lẽ thường ai cũng nghĩ phải là những người có công với nước. Nhưng cuối năm 1946, Bác đã gửi tặng huy hiệu cho một một học viên tên là Vương Quỳnh Anh, vừa đỗ tốt nghiệp với điểm số thấp nhất trong số gần 300 học viên Lục quân Trần Quốc Tuấn Khóa 1. Đó có lẽ là một cách động viên hết sức hóm hỉnh và tế nhị.  Tôi cũng nhớ chuyện về thiếu tướng Dương Văn Nuôi, người xuất thân từ gia đình địa chủ giàu sang quyền quý, luôn mặc cảm cho rằng mình thuộc thành phần không đáng tin cậy. Gặp thiếu tướng năm 1963, Bác nói: “Chú là con quan à? Tham gia kháng chiến từ đầu, lại có tài chỉ huy đánh Pháp, con quan như thế là rất tốt chứ! Bác cũng là con quan đây này. Thế chú đã bao giờ được gọi là cậu ấm chưa?” Chỉ vài câu nói vui thân tình, Bác đã hoàn toàn xóa đi mặc cảm ở vị tướng.  Hằng năm, cứ vào ngày 30 tháng Chạp, Bác lại đi chúc Tết người dân, trong đó có các nhân sĩ trí thức, nhưng chủ yếu là những người nghèo không có Tết. Đầu năm 1955, Bác đến thăm một chị phu đổi thùng góa chồng. Lúc Bác đến đã 11 giờ đêm mà chị vẫn chưa về, nhà chỉ có hai đứa trẻ không có quần áo mới đón Tết. Trên bàn thờ cắm ba nén hương chưa thắp và bầy một nải chuối xanh, chứ không có bánh chưng, khoanh giò hay mâm ngũ quả như nhiều nhà khác. Bác mang quà Tết đặt lên bàn thờ và ngồi chờ chủ nhà. Gần 12 giờ, về đến nhà, nhận ra Bác, chị ngồi thụp xuống ôm mặt khóc, để mặc hai cái thùng tuột khỏi vai. Bác lại gần chị và nói: “Thôi, cháu đừng khóc nữa, sắp giao thừa rồi, Bác đến chúc Tết mẹ con cháu đây.” “Cháu chỉ là phu đổi thùng, không ngờ lại được Bác đến thăm.” “Từ nay cháu không phải là phu đổi thùng nữa mà là công nhân vệ sinh, một công việc rất có ích và đáng tự hào. Vào ngày lễ tết, Hồ Chí Minh không đi thăm những người như cháu thì đi thăm ai!”  Con người Hồ Chí Minh là như vậy đó, có sự kết hợp giữa Đông và Tây rất mực nhuần nhuyễn. Ở Bác, có những nét nhân cách hoàn toàn phương Tây. Tôi vẫn nhớ lần Bác kể với chúng tôi câu chuyện ở Pháp: Một gia đình nọ mời thợ đến sửa đường ống nước. Khi anh này vào thì hóa ra cô con gái chủ nhà đang tắm. Anh thợ không vội vã đóng sầm cửa mà từ từ khép lại rồi nói: “Rất xin lỗi đã làm phiền ông!” Sau đó, Bác giảng giải cho chúng tôi về sự vi tế trong phép lịch sự của người phương Tây. Nhưng cũng ở Bác lại có những nét nhân cách hoàn toàn Việt Nam, qua cách thể hiện tình yêu và sự quan tâm chăm sóc đối với những con người và thiên nhiên quanh mình, như mấy câu chuyện tôi vừa kể ở trên.       Thái Thanh ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộ chiếu vaccine: Cơ hội đạt mục tiêu kép hay mối nguy phân cực xã hội?      Bất kỳ một giải pháp nào được đề xuất nhằm khống chế hay khắc phục các hệ quả tiêu cực gây ra bởi đại dịch COVID-19 đều được cho là phải đối mặt với sự đánh đổi nhất định. Dù vậy, nhiều chính phủ đang kỳ vọng tìm được phương thức đạt “hiệu quả Pareto” trong mục tiêu chính sách, ít nhất đảm bảo “mục tiêu kép” phát triển kinh tế và bảo đảm sức khoẻ cộng đồng. Với sự biến đổi mau lẹ của các thể virus COVID-19, chính sách về hộ chiếu vaccine được tin tưởng là phương án “sống chung với lũ” một cách an toàn và lâu dài trong khi chờ đại dịch hoàn toàn qua đi.      Nước Anh đang cho phép những người đã tiêm chủng có thể vào các quán bar. Ảnh: skynews.com   Theo tạp chí Forbes, tại cuộc họp G20 vào tháng 5/2021, đại diện các nền kinh tế lớn nhất thế giới đã họp bàn và quyết định cân nhắc việc thực hiện chính sách hộ chiếu vaccine như một giải pháp thúc đẩy nền kinh tế du lịch và lữ hành toàn cầu. Vào ngày 1/7 vừa qua, Quy định chứng nhận COVID kỹ thuật số (EU Digital COVID Certificate Regulation) của Liên minh châu Âu đã được đưa vào áp dụng dưới dạng mã QR, cho biết liệu khách du lịch đã được tiêm vaccine phòng COVID-19 đầy đủ hay chưa, đã nhận được kết quả xét nghiệm âm tính gần đây hoặc có khả năng miễn dịch sau khi bị nhiễm COVID-19 hay không. Chứng chỉ này được cấp miễn phí, thuộc quyền phát hành của cơ quan có thẩm quyền tại mỗi quốc gia thành viên và có giá trị ở tất cả các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU).  Dẫn từ trang SchengenVisaInfo.com, từ đầu tháng sáu đã có tám quốc gia EU đã bắt đầu cấp hộ chiếu COVID-19 gồm Bulgaria, Séc, Đan Mạch, Đức, Hy Lạp, Croatia và Ba Lan và Iceland. Việt Nam cũng đang xây dựng lộ trình công nhận hộ chiếu vaccine, thí điểm trước hết tại Phú Quốc.  Hộ chiếu vaccine không chỉ được sử dụng để mở cửa chào đón khách du lịch quốc tế mà còn được gọi chung cho các ứng dụng trong nội địa xác nhận đã tiêm chủng, đã khỏi bệnh hoặc kết quả xét nghiệm âm tính để cấp quyền di chuyển hay tiếp cận dịch vụ cho người dân, nhằm giảm tác động tiêu cực khi ban hành những biện pháp phong toả. Đan Mạch bắt đầu thử nghiệm thẻ y tế của riêng mình được gọi là Coronapass – một phiên bản khác của GreenPass được Israel phát triển từ tháng 2/2021, nhằm tạo điều kiện kinh doanh các doanh nghiệp không thiết yếu vốn đang bị đóng cửa để phòng ngừa COVID-19 và có kế hoạch mở rộng cho quyền được sử dụng dịch vụ các nhà hàng, bảo tàng và rạp chiếu phim trong nước từ ngày 6/5.  Hiện nay, trong thời gian áp dụng Chỉ thị 16, TP. Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Giấy xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 còn hiệu lực đối với người điều khiển, người phục vụ, hành khách trên phương tiện vận chuyển hành khách, hàng hóa khi từ TP.HCM đi các tỉnh/thành phố khác và ngược lại.   Do đó, ta thấy chính sách cấp hộ chiếu vaccine này, dù áp dụng ở tầm quốc tế hay trong nước, đều được xem là chìa khóa giúp các chính phủ vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế, cũng như được cho là ít tạo ra tranh cãi về hạn chế quyền con người hơn so với biện pháp phong tỏa khi mức độ kéo dài của đại dịch này và hệ quả của nó vẫn còn là một ẩn số. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế, chính sách này có thực sự vạn năng như kỳ vọng?  Hộ chiếu vaccine và hiệu quả pareto  Dù bảo vệ sức khỏe cộng đồng là quan trọng, việc dồn hầu hết vật lực và nhân lực chỉ để đạt được mục tiêu này mà không giải quyết được những vấn đề có liên quan như phát triển kinh tế, lao động, giáo dục, tâm lý, quyền con người… là một chuỗi liên hoàn trong cái “búng tay” của đại dịch là kém hiệu quả. Hiệu quả Pareto, vốn là một lý thuyết trung tâm trong kinh tế học được ứng dụng rộng rãi trong cả lĩnh vực khoa học xã hội, được phản ánh trong nỗ lực chính sách mà các quốc gia theo đuổi để đạt được “điểm cân bằng” khi thành công trong một mục tiêu cụ thể mà không ảnh hưởng đến các mục tiêu quan trọng khác. Nói cách khác, điều này có nghĩa các mục tiêu chính sách quan trọng đều được đảm bảo mà không có sự đánh đổi nào. Trong tất cả các biện pháp hiện có, có thể thấy hộ chiếu vaccine tỏ ra ít đánh đổi hơn cả, đặc biệt khi so với các lệnh giới hạn đi lại và phong tỏa (sau đây gọi chung là lệnh phong toả) và khá tiệm cận với điểm hiệu quả Pareto.  Đầu tiên, nếu xét về mục tiêu đảm bảo sức khỏe cộng đồng, lệnh phong tỏa không phải là một chính sách có hiệu quả liên tục trong trường hợp đại dịch kéo dài. Nghiên cứu của Goldstein, Yeyati và Sartoria (2021) cho thấy, lệnh phong tỏa ban đầu có mối tương quan đến sự sụt giảm đáng kể số ca nhiễm và tử vong của virus, nhưng hiệu ứng này giảm theo thời gian. Biện pháp này có thể phù hợp với các quốc gia đang phát triển đang phải đối mặt với sự chậm trễ trong chiến dịch tiêm chủng mở rộng và khó đạt được miễn dịch cộng đồng trong ngắn hạn. Tuy vậy, việc phụ thuộc vào biện pháp phong tỏa hay các giải pháp hạn chế mang tính hành chính khác như trong giai đoạn đầu của đại dịch đã không còn phù hợp khi tình hình biến chủng ngày càng phức tạp.  Trong khi đó, hiệu ứng tràn của tiêm vaccine tác động tích cực đến việc giảm khả năng lây nhiễm và đạt miễn dịch cộng đồng là không thể chối bỏ. Đây là điều khiến chính sách này ưu việt hơn hẳn so với việc chỉ phong tỏa đơn thuần trong việc đáp ứng mục tiêu sức khỏe công cộng.  Thứ hai, về mục tiêu phát triển kinh tế, đây là một trong các đánh đổi lớn nhất của việc sử dụng biện pháp phong tỏa mà chính sách hộ chiếu vaccine có thể khắc phục được. Theo một nghiên cứu, biện pháp phong tỏa đã giảm hơn 99% tổng số chuyến bay quốc tế và nội địa trong thời gian 30 ngày sau khi thực hiện; tổng lượng năng lượng tiêu thụ đã giảm hơn 95%; xuất nhập khẩu hàng hải đã giảm hơn 40%. Lệnh đóng cửa nơi làm việc và bắt buộc ở nhà có hiệu quả cao nhất trong việc “làm phẳng” các ca nhiễm và tử vong liên quan đến COVID-19, nhưng lại tốn kém nhất khi xét về hoạt động kinh tế.  Trong khi đó, với mức độ hiệu quả của các loại vaccine hiện nay cao nhất là 95% và thấp nhất là 60% đối với người chưa nhiễm lần nào, hộ chiếu vaccine lại là cánh cửa cho nền kinh tế thời đại dịch khi cho phép di chuyển thể nhân an toàn giữa các quốc gia và trong nội địa, phục hồi sức tiêu dùng dịch vụ và hàng hóa một cách tự nhiên mà không cần đến các công cụ kích cầu tốn kém từ phía nhà nước sau mỗi đợt suy giảm kinh tế hậu phong tỏa. Do đó, rõ ràng chính sách này là chìa khóa để thực hiện mục tiêu kép mà chính phủ kỳ vọng.  Nếu mở rộng ra về khía cạnh quyền con người, việc cân nhắc đến cải thiện Pareto để đảm bảo lợi ích đối với một số người mà không làm cho tình trạng của nhóm người khác trở nên tồi tệ hơn cũng là điều mà các quốc gia đang hướng tới. Việc áp dụng các lệnh phong tỏa hiện nay được cho là bảo vệ sức khỏe những người có nguy cơ bị lây nhiễm cao và nhóm yếu thế trong xã hội khó tiếp cận với hệ thống y tế. Tuy nhiên, biện pháp này vi phạm quyền tự do đi lại và quyền làm việc, quyền học tập của những nhóm người khác không có nguy cơ hoặc có nguy cơ bị nhiễm virus thấp do cách sinh hoạt hay đặc thù nghề nghiệp, vì vậy khiến cho lợi ích hưởng thụ quyền tự do của họ cũng bị ảnh hưởng.   Phong tỏa ngay lập tức tại nơi có nguồn lây cao như các bệnh viện và khu công nghiệp trong đợt bùng dịch tại Bắc Giang và TP. Hồ Chí Minh vừa qua, hoặc dồn tất cả các công nhân vào làm việc “nội trú” tại nhà máy, không chỉ giới hạn quyền tự do đi lại mà còn ảnh hưởng tới quyền được hưởng một mức sống thích đáng đủ để đảm bảo các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế nếu công tác quản lý không hiệu quả. Mặt khác, điều này gây ra hiệu ứng xã hội rằng việc cách ly, phong tỏa như một “chế tài” dành cho những người bị xem là nguồn lây nhiễm.    TP.Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách xã hội theo chỉ thị 16, người dân không được ra đường trừ trường hợp cần thiết, việc mua nhu yếu phẩm cũng khó khăn do các chợ dân sinh đều đóng cửa. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Trong khi đó, hộ chiếu vaccine dùng để chứng nhận tình trạng tiêm chủng và rủi ro lây nhiễm COVID-19 thấp để cấp phép đi lại và tiếp cận dịch vụ cho từng trường hợp là một lựa chọn hiệu quả ít hạn chế quyền tự do cá nhân nhất, mà không gây tác động tiêu cực đến quyền tự do của người khác. Do đó, trong điều kiện tất cả các thành viên trong xã hội đều phải tuân thủ những quy định giới hạn quyền tự do và một số quyền con người để phòng, chống COVID-19, hiệu quả Pareto của chính sách hộ chiếu vaccine là hoàn toàn khả thi khi “giải phóng” một cá nhân khỏi các hạn chế xã hội mà không khiến những người khác bị thiệt hại hơn, từ đó đáp ứng nhiều mục tiêu chính sách.  Một số quan điểm phản đối cho rằng việc buộc người không tiêm phải chịu hạn chế hơn so với người đã được chứng nhận tiêm chủng cũng bất bình đẳng chẳng khác gì một người không được tới chỗ làm, thậm chí mất việc so với lao động tại gia vốn không thiệt hại gì thêm khi bị phong toả. Đây là một cách tiếp cận vấn đề không chính xác, vì nếu một người có thể chứng minh rằng họ rất khó có khả năng lây lan virus làm ảnh hưởng đến quyền sống và quyền tự do của người khác, hạn chế quyền của họ là vô lý.  Mặt trái của hộ chiếu vaccine  Khi áp dụng vào thế giới thực, khả năng đảm bảo sự công bằng của cơ chế hộ chiếu vaccine là một thách thức trước nhiều rào cản về nguồn lực. Dù về nguyên tắc tất cả mọi người nên được dễ dàng tiếp cận với nguồn vaccine như một loại hàng hóa công, trên thực tế, Tổng Giám đốc của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đã bày tỏ quan ngại của mình “Bình đẳng vaccine là thử thách mang tính thời đại của chúng ta. Và chúng ta đang thất bại.”  Với tận 82% tổng số liều vaccine sẵn có đã bị các quốc gia có thu nhập cao và trên trung bình thâu tóm, trong khi các cường quốc dược phẩm như Anh Quốc đang muốn độc chiếm nguồn cung tại nhà máy sản xuất vaccine tọa lạc trên lãnh thổ nước này qua vụ kiện giữa Ủy ban châu Âu và AstraZeneca AB vào tháng sáu vừa qua, bối cảnh này có vẻ không phù hợp để áp dụng cơ chế hộ chiếu vaccine một cách triệt để.   Cụ thể, trong nội bộ quốc gia, không phải ai cũng đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận nguồn vaccine mà trước tình trạng thiếu hụt hiện nay, các thành viên trong xã hội được phân thành các nhóm được ưu tiêm tiêm vaccine và nhóm còn lại. Trong khi một số cường quốc dược phẩm như Úc có thể xây dựng được cả lộ trình phân phối vaccine cho từng nhóm người khi số lượng liều sản xuất được đạt đến từng mốc nhất định, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam không chủ động được nguồn cung rất khó để lên một chiến lược tiêm chủng có thể dự đoán được.  Bên cạnh đó, mặc cho lời kêu gọi của WHO về việc công nhận bình đẳng các loại vaccine để tránh hiện tượng phân biệt đối xử trong hệ thống du lịch trước tình trạng phân bổ không đồng đều các liều tiêm chủng hiện nay giữa các nhóm quốc gia nghèo và quốc gia phát triển, hộ chiếu vaccine của EU chỉ công nhận bốn nhóm vaccine trừ Sinovac của Trung Quốc và Sputnik V của Nga. Trong khi đó, Pfizer và Moderna – vốn chưa được công nhận tại Trung Quốc, vẫn còn đang được nước này cân nhắc đưa vào danh sách trong hộ chiếu vaccine.   Đến đây, câu hỏi đặt ra là nếu ngân sách chính phủ không tài trợ nổi cho nhu cầu tiêm vaccine quá lớn của xã hội và các lựa chọn vaccine của người dân trước tình trạng phân biệt đối xử mang tính chính trị giữa các nước, chi phí giao dịch phát sinh sẽ ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả của chính sách này? Tới nay, hộ chiếu vaccine không phải là giấy thông hành không giới hạn điểm đến, mà chỉ có hiệu lực được công nhận dựa trên nguyên tắc có đi có lại song phương hoặc nội bộ nhóm các quốc gia như G7 và EU.  Nhìn từ góc độ kinh tế, việc áp đặt sử dụng chứng nhận như một công cụ kiểm soát khả năng tiếp cận nguồn cung dịch vụ trong xã hội nhằm phòng dịch không thể khống chế cầu đi lại và tiếp cận các lợi ích khác của con người. Cầu tiêm vaccine quá chênh lệch so với nguồn cung hiện tại khiến người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gánh nặng chi phí giao dịch nếu phải tự trả tiền.  Dù có thể được thay thế bằng chứng nhận xét nghiệm âm tính, kết quả này vốn chỉ chứng minh được rủi ro mắc bệnh và lây nhiễm thấp vào thời điểm ban đầu. Việc yêu cầu cung cấp loại chứng nhận này yêu cầu người dân phải tự bỏ chi phí cho một xác nhận kết quả ngắn hạn, nhưng cần sử dụng nhiều lần dẫn đến chi phí phải trả tăng theo số lần xét nghiệm. Nhóm xã hội không có khả năng tiếp cận nguồn vaccine hoặc dịch vụ y tế sẽ quay sang tìm kiếm các biện pháp thay thế khác ngoài vòng quản lý của Nhà nước như các giấy chứng nhận giả mạo.   Hiện nay, vấn nạn hộ chiếu vaccine và giấy xác nhận xét nghiệm âm tính với virus giả được bán trên thị trường chợ đen ngày càng tăng lên tại Hoa Kỳ, Anh và một số nước khác tại châu Âu đang triển khai chính sách hộ chiếu vaccine. Theo BBC, giá thấp nhất cho loại chứng nhận này là 150 USD và cao nhất là 750 USD, khác nhau tùy theo từng loại vaccine từ AstraZeneca tới Johnson&Johnson. Có thể thấy con số này cao gấp nhiều lần so với giá thực tế của vắc-xin do Chính phủ cung cấp, ví dụ như chỉ từ 3 đến 5 USD cho một liều AstraZeneca và khoảng 15 USD cho một liều Sinovac, nhưng vẫn có nhiều người chấp nhận mua để đổi lấy quyền tự do đi lại và tiếp cận dịch vụ trong xã hội.  Thất bại của nhà nước trong việc cung cấp vaccine như một hàng hoá công để đảm bảo phúc lợi cộng đồng khiến người dân viện dẫn đến cơ chế của thị trường theo cách không mong muốn nhất. “Thị trường” này nếu bị bỏ mặc thậm chí còn có thể gây ra các tác động tiêu cực lớn hơn cho xã hội.  Do đó, để quản lý một cách hiệu quả, ngoài việc đảm bảo nguồn cung dài hạn, chính phủ lại phải xây dựng một lực lượng quản lý và thực thi vốn cũng tốn thêm nhiều phần ngân sách của nhà nước đến từ tiền thuế của người dân. Đơn cử, chính quyền New York vào tháng sáu vừa qua đã lên kế hoạch hợp tác với công ty IBM mở rộng nền tảng điện tử quản lý hộ chiếu vaccine, dự tính tốn đến 2,5 triệu USD cho việc xây dựng chương trình và tới 17 triệu đô-la để mở rộng, tất cả đều đến từ nguồn thu thuế.  Trong khi đó, giữa nội khối EU vẫn còn đang tranh cãi việc thống nhất tiêu chuẩn của giấy chứng nhận và nền tảng quản lý, đặc biệt khi nguồn lực và trình độ công nghệ giữa các quốc gia không hẳn là đồng đều nhau, chưa nói tới việc công nhận giấy phép cấp từ các quốc gia ngoại khối. Và trong khi lợi ích của việc triển khai còn cần cân nhắc từ nhiều phía, chi phí bỏ ra là một con số không nhỏ gây sức ép lên phía chính phủ và cả người dân.  Các lưu ý khi thực thi hộ chiếu vaccine  Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng hộ chiếu vaccine chỉ phát huy hiệu quả Pareto nếu như mọi người đều có khả năng tiếp cận vaccine. Lúc này, việc tiêm hay không là do lựa chọn chủ quan của họ chứ không đến từ việc thiếu thốn nguồn cung. Nếu không, hộ chiếu vaccine sẽ bị xem là một loại giấy thông hành cấp đặc quyền cho người đã được chứng nhận, tạo nên sự phân cực xã hội với những nhóm yếu thế không đủ nguồn lực để tiếp cận với nguồn vaccine.   Còn trong thời kì vaccine còn khan hiếm như hiện nay mà vẫn duy trì hộ chiếu vaccine, nếu nhóm không tiêm bị ảnh hưởng về sinh kế, sự bất bình đẳng giữa hai nhóm tiêm – không tiêm cần phải được khắc phục bằng hỗ trợ của chính phủ cho những phúc lợi xã hội. Ngoài ra, trong bất kì trường hợp nào, những đối tượng không tiêm vẫn sẽ phải chịu một số bất tiện nhất định (như không được đi dự các sự kiện giải trí đông người, không được đến các quán bar, đi ra khỏi thành phố cần có giấy chứng nhận xét nghiệm âm tính, tới nơi công sở phải ngồi dãn cách, đeo khẩu trang…) để đảm bảo sức khỏe cộng đồng, nhưng nhà nước vẫn phải đảm bảo cho họ quyền được tiếp cận với những dịch vụ thiết yếu cơ bản như giáo dục, y tế, mua nhu yếu phẩm thiết yếu.  Khi truyền thông về hộ chiếu vaccine, không nên xoáy vào những mặt bất lợi nếu không có tấm hộ chiếu này mà phải nhấn mạnh vào những lợi ích của việc tiêm vaccine. Điều này vừa tránh tạo bất bình đẳng xã hội giữa hai nhóm tiêm – không tiêm, ngăn chặn việc dấy lên các bất đồng chính trị giữa các quốc gia, và vừa tạo động lực cho mọi người tự nguyện tiêm phòng mà không cần thông qua sự cưỡng chế hành chính nào, hay bất kỳ biện pháp nào giới hạn quyền con người mang tính chế tài, trừng phạt.    Cũng nên cân nhắc để sự khác biệt về quyền lợi giữa những người tiêm và người không tiêm dần được thu hẹp khi số người tiêm chủng đạt ở một tỉ lệ nhất định hay tỉ lệ mắc bệnh trong cộng đồng ở mức chịu được. Việc bãi bỏ hiệu lực của hộ chiếu vaccine sẽ dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận được bằng việc đánh giá tác động của tiêm chủng, khả năng sản sinh các biến thể mới trong tương lai, dẫn chứng khoa học về tác hại của virus, cũng như khả năng chống chịu của xã hội theo từng quốc gia trong việc đối phó với dịch bệnh. Như vậy, những trở ngại khi triển khai hộ chiếu vaccine sẽ được giảm nhẹ hoặc chỉ mang tính chất ngắn hạn, trong khi vẫn đảm bảo việc tiến đến điểm hiệu quả tối ưu Pareto trong các mục tiêu chính sách là khả thi./  ________________________  Chú thích:  1 Giảng viên khoa Luật Quốc tế trường Đại học Luật TP. HCM.  2 Patricio Goldstein, Eduardo Levy Yeyati, Luca Sartorio (2021), Lockdown fatigue: The declining effectiveness of lockdowns, https://voxeu.org/article/declining-effectiveness-lockdowns  3 Pragyan Deb, Davide Furceri, Jonathan D. Ostry, Nour Tawk (2020), The economic effects of COVID-19 containment measures, https://voxeu.org/article/economic-effects-covid-19-containment-measures  4 YaleMedicine (2021), Comparing the COVID-19 Vaccines: How Are They Different?, https://www.yalemedicine.org/news/covid-19-vaccine-comparison  5 The New York Times (2021), New York’s Vaccine Passport Could Cost Taxpayers $17 Million, https://www.nytimes.com/2021/06/09/nyregion/excelsior-pass-vaccine-passport.html      Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Hoa anh đào bên cảng Tokyo      Đứng bên khẩu pháo có lẽ đã từng in bóng ba  nhà yêu nước họ Phan – Trần – Huỳnh trong chuyến ghé thăm cảng Cam Ranh,  tôi bâng khuâng nhớ chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân  sinh” mà các nhà cách mạng Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục đã chủ trương  từ một thế kỷ trước.    Từ ga Shinjuku phía Tây Tokyo, tôi tìm tàu đưa xuống Bảo tàng Hàng hải ở phía Nam thành phố. Mạng lưới giao thông công cộng ở một đô thị khổng lồ giao nhau như mắc cửi, có chỗ ghi thêm chữ Anh, nhưng có chỗ chỉ ghi các điểm đến bằng kanji tức chữ Hán làm cho người đi đường thấy bối rối trong vài phút đầu tiên. Cuối cùng tôi cũng đi theo đường vòng cung thành phố tới ga chuyển tàu có tên là Shinbashi (chữ Hán là Tân Kiều). Ra khỏi ga để đi bộ, chuyển ga sang tàu con thoi đi xuống phía Nam của cảng, tôi cảm thấy yên tâm vì nó rất giống ga Greenwich tại London. Cái ga cần đến có tên là Fune-no kagakukan tức Bảo tàng hàng hải được đánh số U8 rất rành mạch. Và trong nháy mắt, từ trên cao, tòa nhà với hình dáng một con tàu khổng lồ vài chục nghìn tấn đã hiện ra, uy nghi, được bao quanh bằng những rặng hoa anh đào đang nở rộ.   Bảo tàng chiếm lĩnh cả một khu đất rộng rãi đủ để làm một cái cảng cho tàu viễn dương ra vào, với bãi đậu xe buýt của các đoàn, xe cá nhân được phân lô ngay ngắn, với các khu vực trình bày ngoài trời đủ chỗ đặt những chiếc tàu lặn, tàu ngầm lịch sử, những cỗ pháo hạm khổng lồ, các tượng đài. Cầu cảng ven bảo tàng đủ chỗ trưng bày ba bốn con tàu trong đó có chiếc tàu buồm với rừng cột và xà ngang gợi nhớ kỷ nguyên buồm đầy lãng mạn. Ngày chủ nhật cũng là ngày mở cửa, nhưng dịp cuối tháng Ba này, các gian phòng trên lầu trong tòa nhà chính đóng cửa để tu sửa, phần còn lại vẫn hoạt động. Và những chiếc xe lớn đổ xuống các cô cậu học sinh trung tiểu học háo hức trèo lên những chiếc tàu bảo tàng đậu ven cảng. Lại chạnh lòng nhớ về nước mình, biển rộng sông dài như vậy mà hai trung tâm đào tạo người đi biển không có đất cắm dùi. Đại học Hàng hải Hải Phòng “núp” trên đường Lạch Tray, phải vài cây số nữa mới tới biển còn Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh “rúc” trong khu D2 Văn Thánh chật chội! Và số phận của nhà máy Ba Son sau khi di chuyển đã được định đoạt. Tại đây sẽ là một khu đô thị mua bán sầm uất trên nền của một vùng đất thiêng hàng hải, nơi đã in dấu Xưởng Chu Sư thời Nguyễn, nơi cùng với trường Cao Thắng (Bá Nghệ Sài Gòn) gần đó đã thực hiện những bước đi đầu tiên của nghề đóng tàu và hàng hải hiện đại với các tên tuổi Văn Ba-Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Đoàn Văn Bơ, Ngô Văn Năm… và hàng chục tên tuổi được đặt cho nhiều con đường thành phố Sài Gòn. Có lẽ chúng ta còn quá nghèo chăng nên không dám dành những khu đất sông biển đẹp đẽ cho giáo dục, cho bảo tàng tức một hình thức giáo dục cộng đồng trong khi lại dự kiến bỏ ra vài nghìn tỷ để xây một bảo tàng khoa học tại Đồng Nai mà tại đó chưa có một dấu vết truyền thống đáng kể?   Soya, con tàu gần 80 tuổi  Ở nước ta, con tàu già nua này chắc đã “mồ yên mả đẹp” trong các lò luyện thép sau một cuộc mua bán phế thải. Nhưng hôm nay, con tàu này vẫn bền bỉ đậu tại nơi đây để kể lại cho các thế hệ trẻ cuộc đời đầy bi tráng của mình. Được một xưởng Nhật đóng vào năm 1938 cho chủ tàu Nga với cái tên “tàu phá băng Volochaevets” nhằm trả nợ cho Liên Xô nhằm thanh toán món tiền mà Liên Xô đã để cho Nhật dùng đường sắt Nam Mãn Châu trên đất Trung Quốc. Con tàu chưa kịp bàn giao thì chiến tranh nổ ra, con tàu được quân đội Nhật phát xít huy động đi vận tải quân sự. Tàu trúng ngư lôi Mỹ, giết chết 10 thủy thủ. Sau chiến tranh, nước Nhật đứng dậy từ đống tro tàn, con tàu được sửa chữa rồi làm công tác vận tải.   Vào những năm 50, người Nhật tiếp tục cuộc nghiên cứu Nam Cực và con tàu trở về đúng với nghề “phá băng” của mình, nó mang tên Soya và là một trong những con tàu nghiên cứu Nam Cực chủ chốt của nước này. Chuyến thám hiểm vào năm 1958 của tàu đã thất bại nặng nề. Tàu không tiến vào được trạm Syowa của Nhật đã lập tại Nam Cực, chỉ cứu được người còn phải bỏ lại 15 con chó kéo xe trong trạm với điều kiện sinh hoạt còn lại chỉ giúp chúng tồn tại trong một tuần lễ.   Đối với những người nghiên cứu địa cực, các chú chó kéo xe thực sự là những người bạn mạnh khỏe, trung thành, những con tuấn mã trên băng giá giúp con người di chuyển trước khi có các phương tiện hiện đại như ngày hôm nay. Bỏ mặc chúng trong trạng thái xích chặt không cho ra ngoài, là một điều đau đớn với những người đi biển. Một năm sau, con tàu quay trở lại trạm Showa chỉ thấy 7 bộ xương, 8 chú chó đã thoát ra ngoài. Sau một hồi tìm kiếm, họ gặp lại hai chú chó có tên là Taro và Jiro. Tự sống sót một năm trời giữa băng giá bằng cách săn bắt cá, chim cánh cụt…, hai chú chó trở thành anh hùng, là đề tài của nhiều tiểu thuyết và phim ảnh không những của nước Nhật mà trên toàn thế giới.   Walt Disney có cả một cuốn phim cho giới trẻ về những chú chó kéo xe này với cái tên là “Âm Tám Độ -Eight Below” kể về tám chú chó trung thành phát hành vào năm 2006. Chẳng thế mà hôm nay các em học sinh tụ tập trên con tàu Soya để xem phim, há hốc miệng nghe những chuyện kể từ những người đã trực tiếp tham gia chuyến đi cùng với các chú chó… Biết đâu, ngày mai, trong số đó sẽ có người đóng góp vào sự nghiệp chinh phục đại dương của nước Nhật, một cường quốc biển?   Về khả năng đi khắp năm châu bốn biển rồi lặn xuống sâu, “sờ mó” được đáy đại dương chúng ta biết rằng hiện nay chỉ có 5 nước là Mỹ, Nga, Pháp, Nhật và vừa mới bổ sung Trung Quốc. Con tàu Soya đã tận tụy phục vụ suốt đời cho sự nghiệp biển, sau khi giải ngũ khỏi đội hình thám hiểm, nó trở thành tàu cứu người, tàu đèn dẫn đường ra vào cảng trước khi về “nhà dưỡng lão”, trở về với bảo tàng để kể các câu chuyện cổ tích thời hiện đại cho các cháu học sinh. Tôi chợt thấy cảm thấy tự xấu hổ, nếu bạn Nhật biết là mình là người Việt, là công dân một nước đã được Nhật tặng cho một cái nhà chiếu hình vũ trụ khá hiện đại, một phương tiện để hiểu thiên văn, để chinh phục đại dương. Cái nhà chiếu hình đó đặt tại trung tâm thành phố Vinh vào những năm 80, chỉ hoạt động được vài tháng rồi biến thành đống sắt vụn!   Khẩu đại bác của chiến hạm Đô đốC Nakhimov  Trên đường dẫn vào đại sảnh của Bảo tàng có một khẩu đại bác dài tới 7 mét, cỡ nòng trên 200 mm với dòng chữ “Pháo hạm đô đốc Nakhimov”. Tôi tự hỏi, tại sao nó lại nằm đây, khẩu pháo gắn liền với chiến hạm Đô đốc Nakhimov, con tàu đã qua Cam Ranh năm 1905? Chúng ta đều biết khi nhắc tới những đặc điểm ưu việt của vịnh Cam Ranh, người ta thường nhắc tới chuyến hành trình của đoàn chiến hạm Nga di chuyển từ Hắc Hải bên trời Âu vượt qua Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương vào Thái Bình Dương để nghênh chiến với hải quân hoàng gia Nhật tại eo Đối Mã tức là trận Tsushima vào ngày 27/05/1905. Mệt mỏi vì chặng đường quá dài, vịnh Cam Ranh trở thành một bến đỗ lý tưởng cho cả một hạm đội gồm 8 tàu tuần dương, 9 tàu khu trục trong đó có soái hạm “Đô đốc Nakhimov” dưới sự chỉ huy của Đô đốc Rozhestvensky Z. P.   Cuộc dừng chân Cam Ranh và Vân Phong đã được nhà văn-lính thủy Nga Novikoff-Priboy kể lại khá sinh động trong cuốn tiểu thuyết “Цусима Tsushima” được giải thưởng Stalin năm 1941. Vào thời điểm năm 1905, quân cảng này, như nhà văn mô tả “đượm vẻ hoang vắng điêu tàn”. Nhưng dù sao Cam Ranh vẫn nổi danh là một “hải cảng thiên nhiên toàn bích, an toàn, rộng rãi, mặt nước phẳng lặng như tờ”. Có cả những chi tiết: đó là ngày đầu tiên sau mấy tuần lễ lênh đênh trên đại dương, thủy thủ trên tàu được ăn xúp cải bẹ và rau tươi chở từ Sài Gòn. Những thương nhân người Pháp cung cấp lương thực đủ loại cho hạm đội, từ trái cây, rau tươi, cho đến bột mì, đồ hộp hay thịt gà, thịt bò. Những hàng này bán “với giá cao kinh khủng, chưa nói những mặt hàng xa xỉ có lời lớn như rượu vang hay rượu mạnh”. Thương nhân người Việt cũng thường mang thực phẩm ra bán bằng ghe.   Đặc biệt vào đêm 16/4/1905, biết thủy thủ Nga sẽ ăn mừng lễ Phục Sinh, ghe thuyền của các thương nhân người Việt chở gà vịt, rượu đế ra bán cho tới khuya. Thủy thủ Nga nhận xét là các mặt hàng do người “An Nam” chở ra bán giá phải chăng, đặc biệt họ tấm tắc tán thưởng món rượu đế, khen là “mỹ tửu” giống rượu của người Nga, ý chừng muốn so sánh với rượu vodka.   Như ta đã biết, có ba thương nhân đặc biệt cùng trà trộn trong đám người bán hàng cho các tàu Nga, đó là các nhà nho Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, với lòng nhiệt tình tìm hiểu tình hình nước ngoài nhằm tìm đường chấn hưng dân tộc. Một tháng sau khi nghỉ chân tại Cam Ranh, các con tàu tham chiến và đại bại trước quân Nhật, một thất bại lớn nhất trong toàn bộ lịch sử hải quân nước này. Cụ Phan Bội Châu ngạc nhiên trước sức mạnh Nhật đã thốt lên những dòng thơ ca ngợi “Bọn trắng da ngơ ngáo giật mình/Khen thay Nhật Bản anh tài/Từ nay danh dự còn dài về sau!”. “Đô đốc Nakhimov” yên nghỉ dưới đáy biển tại tọa độ 34 độ 34 phút Bắc, 129 độ 32 phút Đông.   Câu chuyện về con tàu này lại rộ lên vào năm 1980, tức tám chục năm sau trận Đối Mã. Căn cứ vào cuốn tiểu thuyết “Sáu trăm tỷ dưới đáy biển – 600 Billion under the Water” của một nhà văn Mỹ viết từ năm 1936 cho là các chiến hạm chìm đã mang theo xuống đáy biển không ít hơn 5 triệu USD, một nhà tỉ phú Nhật tên là Ryoichi Sasakuwa đã quyết định tiến hành lặn trục vớt những của quý từ xác tàu Đô đốc Nakhimov, mặc sự phản đối kịch liệt từ nhà nước Liên Xô. Tỉ phú công bố những bức ảnh chụp kết quả tìm kiếm nào là những thỏi vàng, những tấm platin, các đồ trang sức với trị giá lên tới 60 tỉ USD và tuyên bố sẽ trao trả cho Liên Xô nếu họ trả lại quần đảo Kurils cho Nhật! Cuối cùng đó chỉ là chuyện tầm phào, những thỏi platin, vàng bạc chỉ là những thỏi chì mà người ta dùng để dằn tàu giữ cho chiến hạm cân bằng và cái còn lại thực sự là khẩu đại pháo trưng bày tại Bảo tàng này.   Đứng bên khẩu pháo có lẽ đã từng in bóng ba nhà yêu nước họ Phan – Trần – Huỳnh trong chuyến ghé thăm cảng Cam Ranh, tôi bâng khuâng nhớ chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” mà các nhà cách mạng Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục đã chủ trương từ một thế kỷ trước, một phong trào mà ông nội của tôi, nhà nho Đỗ Văn Phong cũng đã góp phần với một cái án đày biệt xứ tại Guyanne thuộc Pháp tại Nam Mỹ. Những lời kêu gọi của các vị tiền bối vẫn còn nguyên giá trị cho ngày hôm nay trong khi trên đường tàu xuyên Tokyo, con tàu Shinkansen đang lao vùn vụt về phía trước trong cuộc tranh đua toàn nhân loại.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc      Không có sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc, Việt Nam sẽ mất đi một sức mạnh vô cùng to lớn. Đó là khẳng định của ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài (UBNNVNVNONN) trong cuộc trao đổi nhân ngày thống nhất đất nước 30/4.    * Thưa Thứ trưởng, mở đầu là một câu hỏi rất cũ nhưng có lẽ cũng vẫn  thời sự. Đó là đến nay đã 38 năm kể từ ngày thống nhất đất nước nhưng  vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn là điều thường xuyên chúng ta phải nhắc tới.  Theo ông đâu là lý do của chuyện này?  – Thực tế đúng là chúng ta  chưa làm tốt được vấn đề đại đoàn kết dân tộc, xóa đi hận thù, xóa đi  những rào cản từ quá khứ chiến tranh. Nguyên nhân tôi cho là do cả hai  phía. Từ thực tế ấy đòi hỏi phía Nhà nước cần tiếp tục có những quyết  sách hợp lý đem lại sự tin tưởng cho dân nói chung. Tức là cần có những  chính sách đem lại lợi ích thiết thực cho kiều bào như các chính sách về  quốc tịch, xuất nhập cảnh, hồi hương rồi các vấn đề liên quan đến  chuyện kiều bào về đầu tư trong nước.  Những cơ chế chính sách đối  với kiều bào phải rất rõ ràng, có lợi cho bà con. Tại sao ta chưa làm  được? Lý do trước đây có nhiều lực lượng bên ngoài có tư tưởng, hành  động chống phá chúng ta bằng con đường bạo động lật đổ nhà nước cho nên  chúng ta cũng phải có bước đi thăm dò. Thứ hai là sự tuyên truyền một  chiều bên ngoài nó đến với kiều bào quá lâu làm cho người ta suy nghĩ về  nhà nước cộng sản như một thứ gì đó rất đáng sợ.     Nói là 38 năm nhưng thực tế phải tính từ thời điểm 1994. Sau khi thống nhất năm 1975, quá trình xây dựng đất nước của chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn: Mỹ bao vây cấm vận, chiến tranh biên giới Tây Nam chống diệt chủng Polpot, rồi sau đó là vấn đề Campuchia. Chiến tranh ở biên giới phía Bắc kéo dài từ 1979 đến 1988 mới hoàn toàn chấm dứt. Cho nên 38 năm qua cần nhìn nhận cụ thể từng thời kỳ. Giai đoạn quan trọng nhất theo tôi là bắt đầu từ 1994-1995 sau khi Mỹ bỏ cấm vận và hai bên bình thường hóa quan hệ. Chúng ta mới có thời gian yên ổn phát triển được 20 năm thôi, thời gian vật chất chưa phải là nhiều.  Thực tế chúng ta cũng đã bỏ lỡ nhiều cơ hội. Nhưng dù thế nào thì cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung vẫn là cộng đồng đầy tiềm năng, có vai trò thực sự quan trọng trong việc đóng góp vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Vấn đề là ta phải hiểu được kiều bào để thúc đẩy hòa hợp, hòa giải. Muốn hòa hợp, hòa giải tốt, phải xây dựng lòng tin. Cần có thêm những cơ chế chính sách tốt đi đúng nguyện vọng của dân, đi đúng lòng dân, thể hiện sự chân thành của chúng ta đối với kiều bào.     * Cá nhân ông suy nghĩ thế nào về vấn đề hòa hợp dân tộc?  – Tôi cho rằng đây là việc làm hết sức cần thiết. Theo truyền thống văn hóa dân tộc và cũng là giáo lý nhà Phật, tôn giáo từng là quốc đạo trong các thời Lý-Trần-Lê, nếu “lấy oán báo oán” thì “oán oán suốt đời”, thay vào đó phải “lấy ân giải oán”. Chúng ta là chủ nhân đất nước hiện nay thì chúng ta cần chủ động trong chuyện “giải oán” với những người mà chúng ta từng coi là kẻ thù. Chỉ có như vậy mới có thể có được một dân tộc Đại đoàn kết như Bác Hồ đã nói. Nó cũng đòi hỏi những người có trách nhiệm, có liên quan làm việc trong vấn đề này phải có sự thành tâm, hiểu biết vấn đề và quan trọng là phải hết sức chân thành, dũng cảm.  Thiếu sự chân thành, dũng cảm sẽ khó có sự hòa hợp thực sự. Vì anh còn phải đương đầu với nhiều cơ chế chưa phù hợp về vấn đề này ở trong nước hiện nay. Và chính những cơ chế này làm kiều bào ta suy nghĩ băn khoăn nhiều lắm. Mình làm sao phải chứng minh cho bà con thấy những khó khăn là nhất thời, còn cái thành tựu là mãi mãi thì mình mới thực hiện quá trình hòa hợp hòa giải được. Nếu bà con muốn quay lại cùng chúng ta xây dựng phát triển thì mình phải tin tưởng, không có sự nghi kị. Hiện nay từng nơi từng lúc ta vẫn ít nhiều nghi kị với kiều bào, đặc biệt những người có dự án đầu tư trong nước. Anh phải tìm hiểu kỹ năng lực của họ trước khi ký kết thỏa thuận cho hoạt động của họ ở VN chứ. Anh không có lòng tin hoặc không xây dựng được lòng tin thì làm sao kiều bào dám đầu tư trong nước, làm sao giao một tài sản lớn vào tay anh?  Hơn bao giờ hết chúng ta cần có sự dũng cảm đột phá, sẵn sàng chịu trách nhiệm. Hiện nay cái dũng cảm còn thiếu quá, chân thành còn thiếu quá. Đến khi có vấn đề cần có người xử lý, có người chịu trách nhiệm thì không ai làm. Đó là nỗi ray rứt của chúng ta.  * Được biết cuối năm 2012 ông đã thăm nghĩa trang quân đội VNCH ở Biên Hòa, Đồng Nai (nay là xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương). Sự kiện này được báo chí hải ngoại  đánh giá như một động thái tích cực trong tiến trình hòa hợp dân tộc. Ông có chia sẻ gì về câu chuyện này?  – Tôi vẫn nhớ rất rõ là ngày 10.12.2007 tôi nhận quyết định bổ nhiệm vị trí quyền Chủ nhiệm UBNNVNVNONN thì sau đó hai ngày tôi đã bay vào TP.HCM để thăm nghĩa trang Biên Hòa lúc đó đang do Quân khu 7 quản lý. Lúc đó bên ngoài các thế lực chống cộng cực đoan vẫn tuyên truyền là cộng sản nói mà không làm. Cuối năm 2006, Thủ tướng đã có quyết định chuyển nghĩa trang này cho dân sự nhưng thực tế trong suốt 2007 chưa thực hiện được. Khi tôi vào thì thấy nghĩa trang rất ngăn nắp, sạch sẽ, không hề có phá phách gì nhưng vẫn do quân đội quản lý mà chưa bàn giao cho cho dân sự. Sau đó tôi cùng anh Nguyễn Phú Bình, là người tiền nhiệm của tôi, trực tiếp đến báo cáo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sau đó ba tháng, Quân khu 7 đã bàn giao nghĩa trang cho tỉnh Bình Dương. Bắt đầu từ đó quá trình dân sự hóa diễn ra.  Sau khi chính quyền dân sự tiếp nhận thì việc đầu tiên là người ta phải xây dựng và thống nhất một quy chế  quản lý giống như các nghĩa trang dân sự khác. Tôi cho điều đó là đúng thôi bởi vì không thể để như một nghĩa trang quân đội như của QĐNDVN. Hai quân đội từng đối địch nhau, để như vậy càng tạo thêm sự xung đột sau này, cho nên chuyển thành nghĩa trang dân sự là rất đúng. Vấn đề là quy chế quản lý thế nào? Bình Dương thống nhất với chúng tôi là cũng như các nghĩa trang dân sự khác, nhân dân được quyền vào thăm, chăm sóc mồ mả của người thân mình, được phép xây dựng lại, tu chỉnh sửa sang theo tiêu chuẩn của các nghĩa trang dân sự. Tôi từng nói với kiều bào là không ai cấm đoán bà con cả, bà con cứ vào chỉnh trang, tu sửa phần mộ người thân, kể cả dát vàng, dát bạc cũng không ai cấm, nhưng chiều cao chiều rộng phải đúng quy định như các nghĩa trang khác.     Vấn đề ta nói là phải làm. Tôi đi Mỹ, đi châu Âu, nói với bà con rằng những thông tin như chuyện phải nộp tiền “tiêu cực phí”, chuyện phải qua cản trở mới có thể vào thăm mộ trong nghĩa trang của binh lính, sĩ quan VNCH… đều là thất thiệt. Có thể có người cố tình tung ra để trục lợi. Vừa rồi đoàn của ông Al Hoàng (Hoàng Duy Hùng) về VN, ông ấy cũng đến thăm nghĩa trang và phỏng vấn ngẫu nhiên ngay một gia đình đang chăm sóc mộ phần thì họ nói không ai ngăn cấm gì cả. Tất nhiên cũng có những phần mộ vô chủ không được chăm sóc thì có sụt lở. Đó cũng là chuyện bình thường như ở nhiều nơi khác.  Cuối 2012 khi tôi sang Mỹ có gặp nhóm của ông Nguyễn Đạc Thành, nguyên là thiếu tá VNCH, bây giờ ông lập nhóm cựu binh về VN tìm lại hài cốt bạn bè, đồng đội của ông ấy. Ông Thành đã có một số yêu cầu liên quan đến nghĩa trang Biên Hòa. Sau khi về tôi đã kiểm tra ngay và có đề nghị với chính quyền địa phương và địa phương cũng đã xử lý ngay. Bình Dương đã cho tu sửa nghĩa đài, làm đường trồng hoa xung quanh, làm án lễ để dâng hương… Tôi cho rằng địa phương đã làm rất tốt.  Câu chuyện nghĩa trang Biên Hòa cho thấy sự đoàn kết, hòa hợp với kiều bào ở nước ngoài, đặc biệt là gia đình thân nhân những người đã tham gia quân đội VNCH.  * Trong những giai đoạn lịch sử trước đây, nhờ vào những quyết sách đúng đắn chúng ta đã tập hợp được nhiều thành phần rộng rãi dựa trên nền tảng chung là lòng yêu nước, vì mục tiêu chung là  độc lập dân tộc. Đó là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thực hiện vào thời kỳ đầu xây dựng nhà nước VNDCCH. Bài học lịch sử ấy, theo ông, có thể áp dụng thế này vào hiện tại  để tập hợp được những con người có thể có quan điểm, chính kiến khác nhau vì mục tiêu phát triển của đất nước?  – Đây là một câu hỏi thú vị. Tôi cũng đã nhiều lần khẳng định trong tất cả các lĩnh vực chúng ta đều cần học tập Bác Hồ. Hiện tại chúng ta tuyên truyền về học tập, làm theo tấm gương của Bác nhưng thực sự chúng ta học ít mà tập cũng ít. Nếu nghiên cứu kỹ về Bác, chúng ta có thể thấy là trong từng cử chỉ, lời nói của Bác đều có ý nghĩa sâu sắc. Tại sao năm 1946 khi Bác đi thăm Pháp trong bối cảnh đất nước thù trong, giặc ngoài mà Bác không chọn bác Phạm Văn Đồng hay bác Võ Nguyên Giáp làm quyền Chủ tịch nước, mà lại ủy nhiệm cho cụ Huỳnh Thúc Kháng vị trí đó? Trong những lúc đất nước lâm nguy, khó khăn thì hơn bao giờ hết tinh thần đại đoàn kết dân tộc được thể hiện qua sức mạnh dân tộc trong các thành phần dân tộc, các tầng lớp trong xã hội. Người được lựa chọn không phải là người ở trong chính đảng mà Bác thành lập, mà là một chí sĩ yêu nước có uy tín lớn, đủ khả năng lãnh đạo đất nước. Qua hành động của Bác, người ta nhìn thấy một sự công tâm, chân thành.  Để thực hiện chính sách Đại đoàn kết dân tộc thì một yếu tố quan trọng là sự chân thành, cởi mở và chân thật. Không có sự chân thật thì sao có sự hòa hợp, hòa giải được. Bản thân tôi trong quá trình công tác cũng có những lúc phải vượt qua những rào cản cơ chế, thậm chí là mạo hiểm với sinh mệnh chính trị của mình. Nhưng mình thấy những quyết định đó có lợi ích cho đất nước thì mình vẫn phải làm.  Những năm qua chúng ta đã tổ chức cho kiều bào về thăm quê hương và tham dự các hoạt động nhân dịp Giỗ Tổ, Tết Nguyên đán… thăm Trường Sa, thăm thác Bản Giốc, thăm hang Pác Bó ở Cao Bằng, rồi các trại hè cho thanh, thiếu niên kiều bào, tổ chức các hội thảo để giới trí thức trong ngoài nước có dịp gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc. Tất cả các hoạt động đó là để xây dựng lòng tin với kiều bào, hướng kiều bào về với quê hương, đất nước. Hiện tại điều kiện kinh tế của chúng ta có khó khăn, nhưng khó khăn vẫn phải làm.  Do hoàn cảnh lịch sử mà kiều bào ta vẫn còn một bộ phận mà ngày xưa chúng ta vẫn gọi là “phản động”. Quan điểm của tôi là không nên gọi như thế. Từ khi giữ vị trí Chủ nhiệm UBNNVNVNONN tôi luôn nói rằng đó là bộ phận bà con, anh chị em còn chưa hiểu hết tình hình đất nước, còn có hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc, chứ không bao giờ nói họ là “phản động”. Mình không nên đặt nặng vấn đề rồi đẩy người ta ra xa.    * Vậy các cơ quan khác, ví dụ như bên công an hay quân đội, họ đánh giá thế nào về chuyện đó?    – Tôi cũng có quan hệ rất tốt với các cơ quan quốc phòng, công an và các anh ấy cũng rất ủng hộ tôi khi có đột phá vào những chuyện vẫn bị coi là nhạy cảm. Và bởi tôi cũng là người dám làm, dám chịu trách nhiệm.  Tất nhiên trong công việc thì ý kiến của tôi là một phần, ý kiến các cơ quan khác thì cũng có cái nhìn khác nhau. Tôi vẫn nói đùa với các anh bên công an là cơ quan an ninh nhìn đâu cũng thấy gián điệp như bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng. Tôi nghĩ rằng làm sao để có cùng chung quan điểm với chúng tôi nhìn vấn đề từ góc độ một người làm ngoại giao, văn hóa, từ góc độ người nghiên cứu khoa học xã hội, giáo dục. Tôi muốn cảm hóa người ta không phải bằng súng đạn, không phải bằng bắt bớ tù đày mà cảm hóa bằng những hoạt động cụ thể, bằng những tấm lòng, tình cảm chân thành. Tình cảm chân thành là vũ khí mạnh nhất, tôi đến với anh chân thành thì chắc chắn anh không nỡ cầm súng bắn tôi.  Điều quan trọng là bên an ninh, quân đội các anh ấy cũng nhìn thấy những thành quả và luôn ủng hộ công việc của Ủy ban. Có một vị tướng quân đội đã nói tại một cuộc họp đại ý rằng không có thế lực thù địch nào có thể đem xe tăng, đại bác đến lật đổ chế độ này mà chỉ sợ là chúng ta tự diễn biến, tự làm hại chúng ta. Chúng ta cũng không thể dùng vũ lực để tiêu diệt hay bắt bớ bộ phận thù địch, hận thù với đất nước đang ở nước ngoài mà bây giờ cần nhiều hơn nữa các hoạt động của UBNNVNVNONN…     * Từ góc nhìn của một nhà ngoại giao đã nhiều năm gắn bó với công tác Việt kiều, ông nhìn thấy tương lai của vấn đề hòa hợp dân tộc sẽ như thế nào? Liệu có thể làm gì để thúc đẩy tiến trình ấy?  – Thực hiện đúng là không dễ dàng; chủ trương thì đã có nhưng trong thực hiện đôi khi chúng ta vẫn có những cái lệ làng. Cái khó của chúng ta là tư duy, nhận thức của lãnh đạo các cấp khác nhau. Đôi khi trên rất thông thoáng nhưng dưới lại rất khó khăn. Hòa hợp là xu hướng tất yếu phải đến vì chúng ta đã và luôn khẳng định người VN ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc VN. Bộ Chính trị đã có nghị quyết rồi thì nhận thức của toàn bộ hệ thống phải giống nhau chứ.  Như tôi đã trả lời báo chí về vấn đề du lịch, nhiều lĩnh vực khác bà con kiều bào cũng kêu lắm: môi trường xã hội, môi trường đầu tư… Các công trình du lịch từ bắc vào nam hầu hết các công trình lớn đều do Việt kiều làm. Người ta đã đầu tư như thế thì phải tạo điều kiện để người ta làm chứ. Một công trình mọc lên ở đất nước ta thì thêm một nguồn thuế cho ngân sách nhà nước, thêm công ăn việc làm, làm đẹp cho cảnh quan đất nước, tạo sự hấp dẫn cho khách du lịch đến VN. Bản thân trong nước chúng ta không được làm gì để cho họ bức xúc.  Tôi vẫn nói ở nhiều diễn đàn rằng không có công cụ nào của chúng ta có thể tuyên truyền giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước, phong tục, tập quán, truyền thống, đạo lý con người VN cũng như bảo tồn, phát triển những điều đó ở nước ngoài bằng người VN. Chúng ta có đưa hàng tấn sách báo ra phim ảnh ảnh ra ngoài không thể hiệu quả bằng tự kiều bào làm cái này. Người VN ở nước ngoài có thể chính là những hạt nhân giới thiệu, quảng bá, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc ở nước ngoài hiệu quả nhất.  38 năm nay mình vẫn nói là thống nhất đất nước. Nhưng thống nhất đất nước mà chưa thống nhất được lòng người bởi lẽ còn một bộ phận người VN ở nước ngoài vẫn đang tiếp tục có những hành động đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. Nhưng nếu chúng ta không đoàn kết, không hòa hợp, không hòa giải thì chúng ta mất đi một sức mạnh vô cùng to lớn. Năm 2012, lượng kiều hối gửi về VN qua con đường chính thức đạt khoảng 10,5 tỉ USD, qua đường không chính thức ước khoảng 1/3 số đó nữa, rồi hơn 6 tỉ USD đầu tư vào các dự án trong nước… Như vậy ước tính nguồn lực kiều bào đạt tới 20 tỉ USD/năm, tương đương 1/5 GDP cả nước, bằng cả hợp tác thương mại của ta với EU.  Hiện chúng ta có hơn 4,5 triệu kiều bào, trong đó hơn 400.000 trí thức, hàng nghìn các khoa học lỗi lạc, tầm cỡ có nhiều người cũng không thua kém GS Ngô Bảo Châu đâu. Người Việt có mặt ở hàng loạt các cơ quan, tổ chức, tập đoàn khoa học công nghệ hàng đầu của thế giới như NASA, Lockheed Martin, Boeing…chưa kể nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, nông nghiệp, giao thông vận tải… Các ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến VN đã được các chuyên gia Việt kiều cảnh báo, khuyến nghị từ lâu. Các dự án đường sắt cao tốc, dự án điện hạt nhân… đều được họ đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, trí tuệ nhưng tiếc là chúng ta tiếp thu còn hạn chế.     * Đã có ý kiến cho rằng câu chuyện hòa hợp có lẽ là một con đường dài đòi hỏi sự cố gắng từ tất cả các phía. Theo ông hiện nay điều gì là khó khăn, cản trở nhất cho những sự cố gắng ấy. Sự chủ động của trong nước có ý nghĩa như thế nào đối với tiến trình hòa hợp?  – Khó khăn nhất tôi cho vẫn là mặc cảm của trong nước đối với những thành phần bên ngoài. Tuyệt đại bà con khắp nơi đã về nước rồi, nhiều người đã đầu tư nhiều dự án trong nước rồi. Anh muốn thu hút người ta về thì chính sách của anh phải hài hòa, coi kiều bào cũng như người trong nước, thậm chí còn phải ưu tiên người ta nữa. Hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương phải nhìn kiều bào với nhãn quan chính trị khác. Tôi vẫn nghĩ là phải gắn kiều bào với dân tộc bằng những hoạt động cụ thể với đất nước, con người VN thì họ mới xích lại với ta. Bà con cảm thấy ta như người ruột thịt thì họ dốc hết công sức, họ đâu có nề hà gì, cũng là đất nước mình cả. Anh phải có suy nghĩ chân thành, cởi mở, chính sách cởi mở, tư duy về người VN ở nước ngoài cũng phải rất cởi mở.  Vấn đề mà chúng ta từng lo ngại là các thành phần chống cộng cực đoan thì theo quan sát của tôi cũng đã ngày càng giảm đi. Một trong những người cực đoan nhất như ông Al Hoàng (Hoàng Duy Hùng) vừa qua cũng đã được về nước và ông ấy đã có những cái nhìn hết sức tích cực như các anh đã biết.  Tháng 10.2012 tôi đi công tác ở Mỹ, đến nay cũng là chuyến đi Mỹ duy nhất kể từ khi tôi đảm nhận vị trí Chủ nhiệm UBNNVNVNONN. Trước khi đi tôi đã nói với anh em trong cơ quan rằng tôi đi Mỹ không phải đi chơi, đi phải gặp được số chống cộng cực đoan để đấu tranh, đối thoại, thuyết phục họ. Còn nếu chỉ để gặp gặp bà con cô bác Việt kiều yêu nước thì tôi gặp trong nước vì bà con về rất nhiều. Sang là để làm việc thực sự chứ không phải kiếm cớ đi “khảo sát”. Tôi rất không thích từ “khảo sát”, nhiều đoàn của các ban ngành hay sang “khảo sát”, chả hiểu khảo sát cái gì ở Mỹ, tốn tiền của nhà nước, cưỡi ngựa xem hoa, đi về rồi hồ sơ lại cất ngăn kéo mà không đạt kết quả gì.     Thông qua Đại sứ quán, Tổng lãnh sự quán VN ở Mỹ, UBNNVNVNONN đã liên hệ với tất cả các tổ chức, cá nhân còn chống đối, có tư tưởng hận thù với đất nước. Nếu họ đồng ý gặp tôi thì tôi sẽ sang. Trong chuyến đi đó tôi đã gặp một loạt các thủ lĩnh, nhân vật chống cộng khét tiếng tại Washington, Houston, California, quận Cam như Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Thành Quang, Võ Đức Quang, Đức Nguyễn (Đức đầu bạc), Tôn Thất Chiểu, Hoàng Duy Hùng, Đông Duy, Nguyễn Á Độc Lập…  Chuyến đi có thể nói là rất thành công, không có một người nào biểu tình chống đối. Tôi nghĩ có thể bản thân họ thấy mình làm công tác này mình thực sự muốn đưa đại đoàn kết dân tộc, hòa hợp, hòa giải đến tận từng con người. Họ cảm thấy sự chân thành của mình, sự dũng cảm của mình đôi khi phải vượt qua rào cản chính trị, rào cản cơ chế, thẩm quyền. Nó là công tác đặc biệt nên cần phải có những bước đi thích hợp và dám đương đầu. Từ 2011 đến nay UBNNVNVNONN đã mời một loạt báo chí hải ngoại kể cả chống cộng về nước để họ hiểu tình hình.  Tôi vẫn nhớ tại hội thảo về bản sắc văn hóa dân tộc hồi 9.2011 ông Nguyễn Phương Hùng, chủ bút của “KBC Hải ngoại”, nguyên thiếu tá quân đội VNCH, một người có thâm niên chống cộng hàng chục năm đã đề nghị tôi trả lời phỏng vấn về nhiều vấn đề nhạy cảm ngay tại hội thảo. Lúc đó là sức ép cả về thời gian, nội dung nhưng tôi đã không từ chối.  Nếu lấy lý do bận công việc hay cần chuẩn bị tài liệu, chuyển cho các cơ quan chức năng… thì họ sẽ nghĩ là mình hoãn binh, lảng tránh và thậm chí coi thường mình ngay. Trước lúc trả lời phỏng vấn tôi chỉ yêu cầu họ một vấn đề đó là hết sức trung thực khách quan trong đưa tin. Tôi nói họ không cần “tô son điểm phấn” gì cho đất nước mà chỉ cần thấy thế nào đưa như vậy, tuyệt đối không sai lệch. Trước sự chân thành, cởi mở của mình họ cũng đồng ý. Ngay phóng sự đầu tiên họ rút một cái tít rất hay trích từ câu trả lời của tôi đó là “Nhà nước VN sẵn sàng nghe các ý kiến bất đồng”. Tôi cũng nói rõ những bất đồng ấy là với tinh thần xây dựng một nước VN giàu mạnh chứ không phải lấy đó làm cớ để thực hiện kế hoạch bạo động lật đổ chính quyền.  Chúng ta phải tiếp tục xây dựng lòng tin. Muốn người ta tin mình mình phải làm cái gì để người ta tin mình. Cần hiểu là nhiều người vẫn mang tư tưởng hận thù của những người thua trận. Nhưng mà trên thực tế cuộc chiến tranh đã qua mang lại cho đất nước nhiều mất mát đau thương. Binh lính chế độ cũ họ cũng là con em cùng dân tộc bị đẩy vào đạn bom phi nghĩa. Trong hàng vạn người ngã xuống cũng có những người đã từng không muốn tham chiến, không muốn cầm súng, không muốn chiến tranh. Họ cũng muốn sống chứ. Nhưng rồi họ bị xô đẩy. Có những người vẫn luôn oán hận vì sự oan uổng đó. Đấy cũng là lý do mà không chỉ cá nhân tôi mong muốn nghĩa trang Biên Hòa được dân sự hóa bình thường mà chính quyền địa phương cũng đã thấy và họ làm rất tốt chuyện đó.  * Xin cảm ơn ông.    N.Phong thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoài bão lớn của thế hệ thanh niên mới      Trong năm vừa qua, tôi có rất nhiều cơ hội  tiếp xúc với các bạn trẻ, trong và ngoài nước, những cuộc trò chuyện với  các bạn trẻ luôn khiến tôi hứng thú. Trong bất cứ quốc gia nào, ở bất  cứ thời đại nào, thanh niên luôn là sức sống nội tại, là lực lượng nòng  cốt – những người chủ tương lai của đất nước. Nhưng nói “tương lai” cũng  không phải nữa, mà họ chính là sức mạnh hiện tại của mỗi quốc gia, dân  tộc.     Điều đó lại càng đúng hơn bao giờ hết trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước những thách thức, những khó khăn, thậm chí cả những trả giá trong cuộc chơi toàn cầu hóa ngay tại sân nhà.  Cần khẳng định rằng, mọi thành công đều phải xuất phát từ một hoài bão lớn. Vậy thì hoài bão như thế nào là lớn, nhất là trong bối cảnh mà Tổ quốc Việt Nam chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực – một cộng đồng ASEAN thống nhất trong đa dạng – với thế giới – một thế giới toàn cầu hóa với quá nhiều biến động mau chóng và phức tạp? Đây là một giai đoạn rất đặc biệt của nhân loại, giai đoạn có tính bản lề của sự phát triển văn minh toàn nhân loại, nó không giống bất cứ một giai đoạn nào khác trong lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc. Tổ quốc Việt Nam chúng ta hơn lúc nào hết đang đứng trước những thách thức to lớn và toàn diện đối với sức mạnh kinh tế, những đe doạ cứng về an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, đe dọa mềm về bản sắc văn hóa và tinh thần tự chủ dân tộc. Xây hoài bão lớn cho thanh niên cũng chính là xây hoài bão lớn cho tổ quốc Việt Nam, một cách nghiêm túc, toàn diện và khẩn trương nhất.   Theo tôi, hoài bão lớn nêu trên là hoài bão được xây dựng trên 5 yếu tố sau:   Thứ nhất, hoài bão lớn phải được xây dựng trên tinh thần độc lập và chủ động cao của thanh niên. Tự ngàn xưa đến nay, rời khỏi tuổi thơ và sự bao bọc của gia đình, tuổi thanh niên là tuổi của lập thân, lập nghiệp. Khổng Tử có nói: “Tam thập nhi lập”, vào lứa tuổi 30 là phải tự lập được. Nhưng thời đại ngày nay yêu cầu còn cao hơn thế. Hãy nhìn ra thế giới, trên tất cả mọi lĩnh vực, thời gian để một cá nhân thành công và đạt đến đỉnh vinh quang không còn là tuổi 40 hay 50 như trước đây nữa, có quá nhiều hình mẫu đạt được thành công trước tuổi 30, sự ổn định sự nghiệp có thể đạt được ngay trước tuổi 25. Justin Bieber được đề cử giải Grammy và đoạt hàng loạt giải thưởng âm nhạc danh giá khi mới 16 tuổi; Mark Zuckerberg, chưa tới 30 tuổi đã trở thành một trong những tỷ phú giàu có và ảnh hưởng nhất thế giới. Đó là một trong số rất nhiều gương điển hình thể hiện tốc độ thành đạt ngày càng nhanh trong xã hội của giới trẻ trên toàn cầu.    Còn ở Việt Nam chúng ta, mỗi bạn trẻ hãy tự vấn bản thân mình có ý thức được, và có dám thành công trước tuổi 25, thành đạt vào tuổi 30? Ai đã bỏ lỡ tuổi xuân, ai vẫn còn “ăn bám”, chưa tự lập được? Ở đây, tôi không muốn thanh niên chúng ta vội vàng, nhưng phải biết trân trọng thời gian và tự đặt ra yêu cầu rất cao cho bản thân mình. Dù rằng sự thành công của thanh niên cần rất nhiều sự hỗ trợ của gia đình và xã hội, nhưng trước khi cần đến những điều đó, bản thân thanh niên phải độc lập và chủ động. Điều đó tạo nên khí phách và trí tuệ, thiếu nó mọi sự giúp đỡ, hỗ trợ đều trở nên vô nghĩa và lãng phí. Thanh niên phải có một ý thức cạnh tranh toàn cầu mạnh mẽ của lòng tự trọng và danh dự cao của cá nhân, và đồng thời, đó cũng chính là ý thức sống còn cho vong hưng, vinh nhục của tổ quốc.  Thứ hai, hoài bão lớn phải thực tiễn và thiết thực, phải hướng đến việc tạo ra giá trị lớn lao và bền vững. Mọi hoài bão đều phải hướng đến thành tựu vật chất. Không chỉ trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, mà cả trong lịch sử, về bản chất, kinh tế luôn đóng vai trò trung tâm cho thành công của mỗi cá nhân cũng như sức mạnh của mỗi quốc gia. Mọi thành công đều được biều hiện bằng thành công kinh tế và từ sức mạnh kinh tế mà chuyển hóa thành các sức mạnh khác, gồm cả quyền lực cứng và quyền lực mềm. Một xu hướng lớn nữa trên thế giới là việc quyền lực mềm (văn hóa, tư tưởng) đang ngày càng trở nên có ưu thế và tính hiệu lực hơn quyền lực cứng (sức mạnh quân sự). Nói cụ thể hơn, hoài bão của thành niên Việt Nam cần hướng đến việc mang lại giá trị kinh tế cao cho bản thân và xã hội, đồng thời cũng phải có ở đó giá trị văn hóa, giá trị môi trường một cách hài hòa và cân bằng. Do vậy, thanh niên Việt Nam phải có cho mình một tinh thần doanh nhân, điều mà văn hóa Việt Nam xưa nay rất thiếu và yếu; và tinh thần doanh nhân đó phải được đặt trong tầm nhìn về một nền kinh tế mới – kinh tế xanh, kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo; phải được ưu tiên cho phương pháp mới của quyền lực mềm và quyền lực thông minh.      Thứ ba, hoài bão lớn là đặt trong ý thức cao độ về quyền lợi và trách nhiệm của thanh niên với tổ quốc Việt Nam. Tổ quốc được cấu thành nên bởi hai yếu tố, tổ tiên – là cội nguồn chung của dân tộc Việt Nam, những người mang trong mình dòng máu Lạc Hồng trên toàn thế giới, là nền văn hóa Việt có nền tảng hơn 6 ngàn năm; quốc gia, là đất nước Việt Nam xinh đẹp hình chữ S, trải qua hơn ba ngàn năm văn hiến với bao mồ hôi và xương máu của cha ông đã cống hiến để chúng ta có được non sông gấm vóc như ngày hôm nay. Thế hệ trẻ luôn có trách nhiệm đoàn kết bảo vệ và phát triển tổ quốc Việt Nam, sánh vai với các dân tộc vĩ đại nhất, với những quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới. Đồng thời, đó cũng là quyền lợi được thừa hưởng những di sản văn hóa của dân tộc, những lợi thế cạnh tranh của quốc gia, được sự nâng đỡ của gia đình, sự ủng hộ của xã hội, tạo điều kiện và cơ chế của Nhà nước và các đoàn thể để thanh niên có thể thành công. Tinh thần dân tộc, ý thức quốc gia chính là sức mạnh to lớn nhất của thanh niên Việt Nam. Mọi di sản của cha ông để lại từ tinh thần đến vật chất, là văn hóa hay lãnh thổ, chúng ta đều phải bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời phải mở biên, phục hưng, làm thăng hoa những di sản đó lên một cách tối đa. Khởi nghiệp để kiến quốc, kiến quốc phải khởi nghiệp chính là vì lẽ đó.   Đồng thời, và không kém phần quan trọng chính là ý thức về sức mạnh và trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng ASEAN. Với việc cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ trở thành hiện thực vào năm 2015 tới đây, 25 triệu thanh niên Việt Nam không chỉ thuộc cộng đồng hơn 90 triệu dân nước ta mà còn thuộc cộng đồng chung hơn 600 triệu công dân ASEAN. Chúng ta đã chuẩn bị tâm thế gì cho một mái nhà chung ASEAN đã rất gần kề? Thanh niên chúng ta đã sẵng sàng làm một công dân Việt Nam độc lập, một công dân ASEAN hội nhập và một công dân toàn cầu tiến bộ hay chưa?     Thứ tư, hoài bão lớn là phải được nuôi đưỡng bằng những niềm đam mê lớn. Đam mê là điều kiện cần cho sáng tạo, mà sáng tạo lại chính là điều kiện cần cho thành công. Thanh niên là lứa tuổi của những đam mê bùng cháy; đó có thể là tình yêu đôi lứa, là thể thao, là nghệ thuật, giải trí,… Thanh niên có quyền đam mê, nhưng không được để các nềm đam mê đó trở thành mục đích sống của mình, để mình trở nên lạc lối, thậm chí  trở thành nô lệ cho chính cái gọi là đam mê đó. Đừng để mọi người nhìn vào những hiện tượng như yêu đương bất chập hậu quả, fan cuồng, lối sống thời ơ và hưởng thụ, bạo lực và tội phạm,… mà mất đi niềm tin vào giới trẻ. Chúng ta phải biết sử dụng những niềm đam mê đó cho những mục tiêu lớn lao và nhiều ý nghĩa. Mỗi thanh niên là một nghệ sỹ, là một người tràn đầy năng lượng, đam mê và tinh thần sáng tạo.  Thứ năm, hoài bão lớn được xác lập bằng ý chí kiên định, tính kỷ luật cao độ và lòng quả cảm mạnh mẽ. Có biết bao nhiêu thử thách chờ đợi thanh niên trên chặng được hiện thực hóa hoài bão lớn của mình cùng thế hệ mình. Bởi vậy, thanh niên Việt Nam cần có cho mình một tinh thần chiến binh thường trực, sẵng sàng chiến đầu và chấp nhận hi sinh cho hoài bão lớn của cá nhân mình và tổ quốc Việt Nam. Tinh thần đó bên trong thì tạo ra sự đoàn kết, tạo ra hiệu quả làm việc cho nhóm, cho tổ chức; bên ngoài thì tạo ra sự nể sợ cho mọi đối thủ. Hãy dùng tinh thần chiến binh đó vào cuộc chiến kinh tế, vào việc tạo ra quyền lực mềm của Việt Nam phục vụ hòa bình và thịnh vượng của khu vực và thế giới.    Hoài bão lớn của mỗi cá nhân là một nhóm lửa nhỏ trong lòng tổ quốc Việt Nam. Khi mà chúng ta biết giữ gì cho mình, che chở và chia sẻ nó cho đồng bào ta. Người có lửa truyền cho người chưa có, người có nhiều chuyền cho người có ít. Ngọn lửa đó sẽ không mất đi, nó sẽ cùng cộng hưởng và thăng hoa để làm cho tổ quốc Việt Nam hùng mạnh, phồn thịnh và ảnh hưởng bằng toàn thế giới bằng quyền lực mềm của mình; để ai ai mang trong mình dòng máu Lạc Hồng cũng có thể tự hào và được sự ngưỡng mộ của bạn bè năm châu khi: “Tôi là người Việt Nam!” Hoài bão lớn của thanh niên chính là một mùa xuân mới đang về trên quê hương Việt Nam, một mùa xuân mới đang về trong hồn thiêng của tổ quốc Việt Nam.   Tôi tin rằng, khi chúng ta cùng nhau, không gì là không thể!            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàn cảnh của sự bộc bạch      Sẽ ra sao khi đời sống ngày càng thiếu vắng những lời bộc bạch chân thực?    Câu hỏi đó không phải vô cớ được đưa ra trong tình hình hiện nay, khi mà sự dối trá cùng những thỏa hiệp có ý thức với sự dối trá đang diễn ra một cách thản nhiên, còn kẻ có hiểu biết thì có khuynh hướng cầu an, thụ động, thì những lời bộc bạch chân thực liệu có còn đủ sức lan truyền, lay động những trái tim, thức tỉnh những khối óc đang mù mờ trước sự dối trá?; hay là, ngay từ khi những ngôn từ ấy được thốt ra trên đầu môi, trên ngọn bút, trên lời ca, nét vẽ, thì lập tức bị diễn dịch méo mó, tệ hại hơn, bị hoài nghi, dè chừng, gán “nhãn đen” và rồi nhanh chóng bị triệt tiêu.   Đơn giản, sự dối trá đang dần thống trị cuộc sống, não trạng con người, biến thành tập quán sống. Tập quán của dối trá tìm cách chi phối mọi hành vi, lập luận, quan điểm và biến thành thứ quyền lực độc tôn, chống lại những nỗ lực phê phán hòng dò tìm manh mối hướng đến sự trung thực.          Sự dối trá đang dần thống trị cuộc sống, não  trạng con người, biến thành tập quán sống. Tập quán của dối trá tìm  cách chi phối mọi hành vi, lập luận, quan điểm và biến thành thứ quyền  lực độc tôn, chống lại những nỗ lực phê phán hòng dò tìm manh mối hướng  đến sự trung thực.        Đó là thứ quyền lực được sinh ra để giấu nhẹm, phủ bóng lên mọi khiếm khuyết mà sự dối trá gây ra, xô đẩy mọi biểu hiện manh nha chống lại nó về phía các phạm trù “bất cập”, “nhạy cảm” và bóp chết mọi niềm tin cải biến hiện thực. Một mặt, nó tạo ra ngụy tín, vung vít tô hồng cái hiện thực đầy nghịch cảnh, xóa sạch những tì vết phản tiến bộ mà nó tạo ra. Nó sẵn sàng làm tất cả, nguy hiểm nhất, là nhân rộng khả năng bạo lực, bất chấp pháp lý hay đạo lý.   Về mối quan hệ “ruột thịt” của bạo lực và dối trá, Alexander Solzhenitsyn, người được giải Nobel Văn học, đã viết thật chí lý trong một tiểu luận có tựa Không sống bằng dối trá: “Bạo lực sẽ không thể nào che giấu được móng vuốt của mình nếu không có dối trá, và dối trá chỉ có thể duy trì được sự tồn tại của mình nhờ bạo lực. Bạo lực không thể nào đặt bàn tay lông lá của nó vào mọi lúc trên tất cả mọi người được, nó đòi hỏi chúng ta phục tùng sự dối trá, tham gia vào mọi hành động dối trá như một nhu cầu sinh hoạt hằng ngày – lòng trung thành tuyệt đối được đặt vào đó” (Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga).   Điều đáng nói, sau những bộc bạch có tính phản biện và phản tỉnh này, cùng với thông điệp mạnh mẽ từ tác phẩm Quần đảo Gulag, nhà văn Solzhenitsyn bị Chính phủ Liên Xô trục xuất sang Đức, năm 1974. Điều này càng minh chứng về tính bạo lực của dối trá trong thời đại ông sống và lập ngôn.  Trở lại thực tế hôm nay, người ta có quá nhiều những bản kết luận cao đạo tấn công vào căn bệnh dối trá. Tiếc rằng đó chỉ là cuộc báo động giả của những kẻ đang từng ngày từng giờ, sống tự nguyện phụ thuộc vào sự dối trá để được có một chỗ đứng, vị trí, quyền lợi trong xã hội. Những kẻ ấy chưa bao giờ mảy may tự vấn lương tâm khi để mặc thứ bạo lực của sự dối trá đang ngăn chặn mọi nỗ lực làm cho xã hội tiến bộ. Thậm chí, trong những trường hợp rất điển hình, họ là những kẻ trung thành bao biện, sẵn sàng làm cánh tay đắc lực để bảo vệ cho thứ quyền lực dối trá đầy sốt sắng.          Trong xã hội mà những cá nhân không còn nhu cầu bộc bạch trung thực với nhau sẽ là đỉnh điểm thảm họa của cộng đồng, dân tộc.         Điều đáng lo ngại không dừng ở sự cứu rỗi đối với lương tâm của họ (vì trong tình cảnh này, chúng ta không cùng niềm tin vào một ngày phán xét công bằng cho tất cả) mà đáng ngại, là thứ di sản dối trá đã biến thành tâm tính cộng đồng, sự nhiễm độc của nó đang len lỏi ngấm sâu vào vô thức đám đông, làm hoang mạc hóa viễn cảnh tương lai. Một viễn cảnh, ở đó, dối trá, bạo lực trở thành một thứ tâm tính, triệt tiêu mọi sự khả năng thức tỉnh.  Có lý do để lo âu, khi mà ba động lực (cũng là triệu chứng) của bệnh liệt tâm (institutionalism)1: sống phụ thuộc, thụ động và thờ ơ đang trở nên thật sự phổ biến, không chỉ nơi những công dân lớn tuổi, có nhiều kinh nghiệm sống và học thức mà cả nơi những người trẻ, bài học vỡ lòng đối với lớp hậu sinh khả úy này là: để sinh tồn, hãy tự biết cách khéo léo chôn giấu những tiếng nói trung thực của mình. Cuộc sống là một trận chiến sinh tồn dai dẳng giữa chính con người sinh tồn và con người nội tâm. Một khi manh giáp của sự trung thực và lương tâm cứ nhiều phen bị xuyên thủng, sẽ phơi bày ra trước mắt những điển hình cá nhân tha hóa, vong thân.  Thì chẳng phải thực tế đã chứng minh có quá nhiều bài học đau xót đó sao!?  Thì chẳng phải bấy nhiêu đã đủ lý do để câm lặng như một sự cần thiết phải xây dựng một kinh nghiệm ươn hèn cho mưu cầu được an toàn, rồi sau đó sẽ tự biết cách vuốt ve rằng, một sự nhịn (kể cả nhịn nhục) sẽ thu về chín sự lành!?  Trong xã hội mà những cá nhân không còn nhu cầu bộc bạch trung thực với nhau sẽ là đỉnh điểm thảm họa của cộng đồng, dân tộc.     —  1  Liệt tâm (institutionalization): một thuật ngữ để mô tả những tác động tâm lý bất lợi đối với những cá nhân ở lâu trong các thiết chế, đặc biệt là sống dài ngày trong những thiết chế quy mô lớn, như các bệnh viện tâm thần hay nhà tù. Những tác động được đề cập đến nhiều nhất, mà nguyên nhân chính xác của chúng thì còn đang tranh cãi, là sự phụ thuộc, thụ động và thờ ơ. Những tác động này đôi khi được gọi là bệnh liệt tâm (institutionalism) (Theo Từ điển Xã hội học Oxford, Nhóm dịch giả Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hóa dịch, NXB ĐH Quốc gia HN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hoàn cảnh phạm luật ” của Vedan      Là một cán bộ công tác lâu năm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, và là người từng được tham gia nghiên cứu công nghệ sản xuất và phân tích các nguồn thải của Vedan từ năm 1995-1996, (ngay khi báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường (ĐTM) của Vedan được phê duyệt), người viết bài này xin cung cấp một số thông tin liên quan đến công nghệ sản xuất của Vedan cũng như một số suy nghĩ còn bất cập trong quản lý và bảo vệ môi trường để có thể hiểu rõ “hoàn cảnh phạm luật” của Vedan, cụ thể là:    Hệ thống xử lý nước thải hiện có của Vedan được xây dựng từ 1994-1995 (và sau đó đã được nâng cấp) nhằm mục đích xử lý nước thải sản xuất từ các công đoạn sản xuất xút – axit clohydric, sản xuất tinh bột sắn, sản xuất bột ngọt (natri glutamat). Hệ thống xử lý này không xử lý được dịch thải sau lên men từ sản xuất axit glutamic – nguyên liệu để sản xuất bột ngọt. (Theo số liệu từ 1995-1996, lượng dịch thải sau lên men này có tải lượng khoảng 500 m3/ngày đêm với nồng độ BOD lên tới 120 kg/m3, tương ứng với công suất 30.000 tấn bột ngọt/năm). Bột ngọt được sản xuất từ tinh bột sắn là chủ yếu, với hiệu suất lên men khoảng 35%. Vì vậy, sau khi chiết axit glutamic thành phẩm ra, dịch thải sau lên men còn lại có khối lượng rất lớn với độ pH thấp; thành phần chủ yếu là cacbonhydrat (gluxit) chưa chuyển hoá, không chứa các chất độc hại nào khác (kể cả hợp chất cyanua thường có trong chất thải của quá trình sản xuất tinh bột sắn thành phẩm – nguyên liệu của sản xuất axit glutamic).  Năm 1995, khi bắt đầu hoạt động, Vedan đã kiến nghị cho phép sử dụng phương pháp “dumping and dilution” để giải quyết dịch thải sau lên men. Đây là phương pháp đổ thải các chất thải hữu cơ (gồm có dịch thải sau lên men của Vedan) dễ phân huỷ, không chứa các chất độc hại xuống vùng biển nghèo dinh dưỡng, mà không bị coi là vi phạm Công ước về Luật biển (1982) cũng như Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác (1972). Phương pháp này đã được một số nước áp dụng (trong đó có cả đổ thải dịch thải sau lên men từ sản xuất bột ngọt) với sự kiểm soát nghiêm ngặt của các cơ quan bảo vệ môi trường có thẩm quyền. Kiến nghị của Vedan đã được Bộ Thuỷ sản cân nhắc và đồng ý (với sự chỉ định vùng biển nghèo dinh dưỡng thích hợp tiếp nhận dịch thải sau lên men của Công ty Vedan). Tuy nhiên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường không chấp thuận và yêu cầu Vedan phải xử lý dịch thải sau lên men tại chỗ, kể cả tái chế thành phân bón hữu cơ.  Hiện nay, phân xưởng Vedagro của Vedan chính là phân xưởng sản xuất phân hữu cơ từ dịch thải sau lên men. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình ủ hiếu khí sản xuất phân bón Vedagro chưa đảm bảo lên men hoàn toàn (thời gian cần thiết  > 20 ngày), vì vậy khi sử dụng loại phân này có hiện tượng cây cối bị úa vàng, người sử dụng bị mẩn ngứa chân tay (do phân hữu cơ Vedagro trong điều kiện tự nhiên vẫn tiếp tục lên men, làm giảm pH – tương tự hiện tượng xảy ra khi bón phân tươi).  Như vậy, không phải vấn đề xả nước thải chưa xử lý chung chung xuống sông Thị Vải như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa, (việc Vedan xác nhận 3/10 điểm liên quan đến xả nước thải vượt quy định, cộng với 7 điểm khác không liên quan gì tới việc xả thải dung dịch thải sau lên men; theo ý kiến cá nhân điều này còn có thể giúp Vedan, về mặt pháp lý, bị phạt ít hơn nhiều so với việc Vedan xả thải dịch thải sau lên men xuống sông Thị Vải); mà chính vấn đề làm thế nào xử lý triệt để dịch thải sau lên men của sản xuất bột ngọt để có thể thải an toàn ra môi trường đang là câu hỏi nan giải ở nước ta. Và vấn đề này không chỉ là nan giải đối với Vedan mà còn cả với các công ty sản xuất bột ngọt khác từ tinh bột sắn (Ajinomoto, Miwon,…). Được biết, hiện công suất sản xuất bột ngọt của Công ty Vedan là 15.000 tấn/ tháng; và dịch thải sau lên men hiện nay còn phát sinh thêm từ công đoạn sản xuất lysin (công suất 1.400 tấn/tháng); có nghĩa là tổng lượng dịch thải sau lên men hiện nay có thể lên tới 6.000 m3/ngày, tương ứng với công suất của các công đoạn liên quan.  Để chứng minh điều các cơ quan quản lý môi trường cấp Trung ương và địa phương “đã nghi ngờ từ lâu” (14 năm), rằng Vedan “đổ trộm” chất thải chưa xử lý ra ngoài chỉ cần xem xét cân bằng vật chất liên quan tới công suất sản xuất bột ngọt và các công đoạn lên men sinh học khác; tới tình hình tiêu thụ phân bón Vedagro là có thể khẳng định “nghi ngờ” đó chính xác hay không (xin lưu ý rằng, tập quán trồng trọt hiện nay ở nước ta ưa thích sử dụng phân bón hóa học hơn sử dụng phân bón hữu cơ).  Theo chủ quan, người viết bài này cho rằng, nếu tồn tại một “đường ống bí mật” để xả thải, thì Vedan đã sử dụng đường ống này xả thải định kỳ lượng dịch thải sau lên men dư không được sử dụng để sản xuất phân hữu cơ Vedagro xuống sông Thị Vải. Dịch thải sau lên men với công suất sản xuất hiện nay, là một khối lượng khổng lồ, ngoài sản xuất phân bón hữu cơ Vedagro, không thể xử lý triệt để bằng các phương pháp xử lý hoá lý hay hoá sinh thông dụng nào khác. Để biến toàn bộ khối lượng dịch thải sau lên men thành phân hữu cơ, Vedan cần phải có các bồn chứa lớn (vì thời gian lên men khá dài), cái mà Vedan hiện không có.  Vì vậy, nếu các cơ quan bảo vệ môi trường Việt Nam không cho phép Vedan xả thải dung dịch sau lên men xuống vùng biển nghèo dinh dưỡng như một số nước vẫn làm, và nếu Vedan không có một phương án khả thi nào khác, e rằng sau khi chịu phạt lần này, Vedan vẫn phải tiếp tục “đổ trộm” chất thải dung dịch sau lên men ra đâu đó, nếu muốn tiếp tục sản xuất bột ngọt và các sản phẩm công nghệ sinh học. Và chắc chắn, nếu  các cơ quan quản lý môi trường nhân dịp này thanh tra, kiểm soát chặt chẽ tất cả các nhà máy khác sản xuất bột ngọt ở nước ta,  họ cũng sẽ phát hiện các công ty đó cũng hành xử giống Vedan.  Ngoài ra, người viết bài này cũng kiến nghị  cần sớm kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực quản lý của bộ máy kiểm tra giám sát việc thực thi Luật bảo vệ môi trường tại cả Trung ương và địa phương. Rõ ràng, 7 điểm trong số 10 điểm mà Vedan xác nhận vi phạm trong thời gian dài, liên quan đến tổ chức và năng lực quản lý của các cơ quan quản lý môi trường Việt  Nam (không nộp đủ số liệu, không cam kết bảo vệ môi trường, không đánh giá ĐTM, xả thải không đúng quy định …).  ———  * Giám đốc Công ty Tư vấn Pi C&E       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hoàn cảnh phạm luật” của Vedan – Một bài báo có nội dung chưa đúng      Vừa qua, đọc bài “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” của tác giả Lê Hoàng Lan trên Tạp chí Tia Sáng số 19 ngày 5 tháng 10 năm 2008, tôi thấy có một số điều chưa đúng cần được trao đổi như sau:      1. Về thành phần các chất có trong dòng thải của Vedan    Để làm rõ, tôi xin điểm qua công nghệ sản xuất mỳ chính của Vedan. Đây là công nghệ lên men từ nguồn nguyên liệu là rỉ đường hoặc tinh bột có sử dụng Clore (dưới dạng HCl) và để tạo nguồn Clore Vedan đã xây dựng một nhà máy điện phân muối ăn khá lớn. Dây chuyền công nghệ này có một số chất thải sau, tôi xin phép chỉ đề cập đến các thành phần chính, ngoài thành phần cacbon hydrat (lipit) mà bài báo trên đã nêu:    1.1. Clore và các hợp chất Clore hữu cơ   Chỉ cần làm một bài toán cân bằng vật liệu nhỏ ta sẽ thấy được lượng Clore đi ra theo dòng thải là rất lớn.    Clore là một hóa chất có áp lực mạnh, khi gặp các chất hữu cơ tự nhiên (natural organic matter – NOM) chúng sẽ có phản ứng để tạo ra các hợp chất Clore hữu cơ – nhóm các chất hữu cơ bền vững (persistant organic pollutants – POPs). Đây là những chất thải nguy hại vào hàng đầu bảng. Cũng vì độ bền vững này nên nó có độ độc có tính tiềm ẩn cao. Với nồng độ loãng nó phải tích tụ trong một thời gian đủ dài thì nó mới phát huy tác dụng. Cũng vì điều này mà người ta không nhận ra được tác hại của nó ở thời điểm ban đầu.    Trong sản xuất mì chính, trong nguồn nguyên liệu rỉ đường và tinh bột và ngay trong dịch lên men là cả một tập đoàn các chất NOM. Hơn nữa phản ứng của Clore với NOM là có thể xảy ra trong môi trường nước ở điều kiện thường. Cho nên trong dòng thải của Vedan thì POPs là một thành phần cực kỳ nguy hiểm.    1.2. Các chủng vi sinh vật được sử dụng trong nhà máy và các sản phẩm phụ của chúng   Các chủng vi sinh vật được sử dụng ở đây ngoài tác dụng tạo ra acid glutamic nó còn sản sinh ra hàng loạt các sản phẩm phụ (đây được coi là thuộc tính vô kỷ luật của tự nhiên). Trong các sản phẩm phụ này cũng có những chất thuộc về nhóm có hại và tất cả chúng hầu như đều có thể kết hợp với Clore để tạo ra POPs.   Về nguyên tắc thì sau khi sử dụng, các vi sinh vật này phải bị tiêu diệt trước khi thải ra môi trường. Nếu không, khi ra môi trường bên ngoài, gặp điều kiện thích hợp chúng sẽ phát triển tiếp tục làm hủy hoại môi trường sinh thái và nhiều khi nó còn là nguyên nhân tạo ra các đợt dịch bệnh lớn cho một vùng dân cư.    Tình hình cũng tương tự như thế ở các bể xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học.    Cho nên, khi Vedan không xử lý hoặc xử lý chưa triệt để các dịch sau lên men, chính là đã đưa đạo âm binh vi sinh vật này ra phá hoại môi trường sinh thái vùng phụ cận, mà tác hại của chúng rất nguy hiểm.                        Việc xử lý các thành phần BOD trong dòng thải là rẻ và dễ thực hiện. Còn để xử lý được POPs và các chủng vi sinh vật là rất đắt và khó, mà hiện tại thì công nghệ xử lý của Vedan, theo tôi, là chưa với tới được.   Cũng vì nhận thức rõ điều này mà Vedan thường chỉ to tiếng ca ngợi thành phần BOD còn các thành phần POPs và chủng vi sinh vật thì họ giấu kỹ và cũng vì vậy mà từ khi xây dựng nhà máy đến giờ họ luôn tìm cách để phi tang dòng chất thải này.             2. Về công trình xử lý nước thải của Vedan    Trong vốn đầu tư ban đầu của Vedan khoảng 320 triệu USD, trong đó phần dành cho công trình xử lý là 3 triệu USD. Trên thế giới thông thường với công nghệ sản xuất mì chính như Vedan thì kinh phí đầu tư cho công trình xử lý chiếm đến 10 – 15% tổng vốn đầu tư. Sau này Vedan có mở rộng tuy nhiên tỷ lệ này cũng rất thấp. Điều này cũng có thể kiểm tra được bằng một bài tính thiết kế ngược. Cho nên có thể nói Vedan đã xả không qua xử lý là ngay từ đầu.   3. Về nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và phân bón của Vedan.    Trong Vedan cũng có một số bã thải là sạch có thể tận dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc phân bón được. Tuy nhiên, với bản chất của Vedan như ta đã thấy thì Vedan có thể không chỉ sản xuất bằng nguồn nguyên liệu sạch ở trên mà còn trộn thêm phân thải ô nhiễm để đưa ra ngoài nhà máy. Vừa giảm tiền xử lý mà còn tăng thu nhập. Vedan có khoe rằng họ đã xuất khẩu được sản phẩm phân bón. Theo tôi đây có thể chỉ là trò “đánh bóng” thương hiệu. Có thể trong một vài container xuất khẩu là sản phẩm sạch. Nhưng phần bán nội địa là sản phẩm ô nhiễm mà đây mới là phần chính. Ý kiến nói rằng hiệu quả của phân bón làm cây có hiện tượng úa vàng là từ nguyên nhân quá trình lên men chưa hoàn toàn,  theo tôi điều đó không đúng vì với sự sai lệch công nghệ như vậy, nhà công nghệ có thể điều chỉnh không phải là việc khó và không thể phải để kéo dài cho đến nay.    Điều nghi ngờ trên cũng có thể kiểm tra được qua bài toán kiểm kê từ dòng nguyên liệu sạch đi vào và sản phẩm ra. Việc này cũng cần sớm kết luận. Vì đây là hành động phát tán chất thải nguy hại.    *******    Những điều tôi vừa trình bày ở trên, thực ra đã được nêu lên từ lần thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường lần thứ nhất của công ty Vedan. Công ty Vedan có hai lần thẩm định với hai hội đồng mà thành viên gần khác nhau.   Ngay trong lần xét duyệt đề nghị xin đổ chất thải của Vedan ra biển. Lý do mà Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường không chấp thuận kiến nghị trên một phần cũng do thành phần POPs trong dòng thải.   Rất tiếc là cũng từ lâu một bộ phận các chuyên gia môi trường của ta đã lãng quên các thành phần nguy hiểm này, cho nên sẽ không thấy lạ là tại sao các thông tin gần đây chỉ nói về thành phần BOD, mà với thành phần này thì ngay trong bài báo của “Tia Sáng” cũng đã nói là không hại.  Tôi cho rằng bài báo “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” là có nội dung chưa đúng và dễ làm cho bạn đọc ngộ nhận là “Tia Sáng” đang “chạy án” cho Vedan.   Đinh Văn Sâm – Nguyên cán bộ Viện KH, CN&MT, ĐH Bách Khoa Hà Nội        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàn thiện kỹ thuật lập hiến đối với Chương V Hiến pháp 1992      Hiện nay tại Điều 50 cũng như Chương V Hiến pháp 1992 nói chung, dường như đã không có một tiêu chí rõ ràng để phân biệt ba loại quyền: Nhân quyền, quyền cơ bản của công dân, quyền luật định (quyền được quy định bởi các văn bản luật và dưới luật).     Hay nói cách khác, dường như đã tồn tại một  phương trình hiến pháp tại Chương V Hiến pháp 1992. Theo đó: Nhân quyền =  Quyền hiến định = Quyền luật định. Vì vậy trong sửa đổi Hiến pháp 1992  cần hoàn thiện kỹ thuật lập hiến đối với Chương V Hiến pháp 1992.   Toàn văn Điều 50 như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.  Phương trình này đặt ra một số thách thức dưới đây:  1. Nhân quyền = quyền hiến định của công dân?  Công thức “các quyền con người … thể hiện ở các quyền công dân”.  Điều này dẫn đến thách thức thứ nhất cho tiến trình hội nhập quốc tế: nhân quyền ở Việt Nam sẽ đương nhiên khác với thế giới. Vì cái gì không được thể hiện ở “quyền công dân” thì không phải là nhân quyền. Trong khi đa số nhân loại coi nhân quyền mang tính phổ quát (universal), không phân biệt quốc tịch, biên giới. Định nghĩa về quyền con người được trích dẫn nhiều nhất, có hiệu lực pháp lý cao nhất, được bảo đảm thực thi bởi Liên Hợp Quốc, do Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights) xây dựng có nội dung như sau:  “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người1„.  Công thức “các quyền con người… được quy định trong Hiến pháp và luật” đặt ra thách thức thứ hai cho tiến trình hội nhập quốc tế. Việt Nam đang hiểu nhân quyền theo trường phái affirmative (phải được văn bản của nhà nước thừa nhận thì mới thành nhân quyền). Cách hiểu này không được đa phần nhân loại chấp nhận.   Hội nhập quốc tế bằng luật chơi riêng, cách hiểu riêng, tiếp tục đặt Việt Nam trước thách thức trong thực tế đàm phán quốc tế liên quan các vấn đề nhân quyền.   2. Quyền hiến định = quyền luật định?  Hầu hết các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 đều có thêm cái đuôi: “Theo quy định của pháp luật”. Mà pháp luật ở đây được hiểu là tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ Luật của Quốc hội cho tới Quyết định của UBND xã Mường Tè. Điều này có nghĩa, quyền cơ bản của công dân (quyền hiến định) = quyền luật định.  Công thức này tiếp tục đặt ra một số thách thức sau:  Làm cho quyền cơ bản của công dân mất ý nghĩa riêng. Vì toàn bộ nội dung tốt đẹp của nó có thể bị thu hẹp qua từng lát kéo của luật, nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị của UBND ba cấp; và trong một số trường hợp nó còn bị thu hẹp bởi công văn – loại văn bản không được chính thức thừa nhận là văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trên thực tế vẫn tiếp tục chứa đựng các quy phạm pháp luật. Qua sáu lát kéo nói trên thì phần quyền còn lại trên thực tế có thể khác rất xa về bản chất so với quyền cơ bản của công dân được quy định đẹp đẽ trong Hiến pháp.  Làm cho các quy định của Hiến pháp về quyền cơ bản của công dân không có hiệu lực trực tiếp; không có giá trị áp dụng tại tòa án; không có giá trị bảo vệ công dân trong các vụ kiện. Bởi vì thực tiễn xét xử ở Việt Nam chưa bao giờ áp dụng điều khoản của Hiến pháp để xét xử; trong các bài bào chữa của luật sư cũng không viện dẫn đến các điều khoản hiến pháp.  Quyền hiến định có thể bị treo trên thực tế, nếu không có văn bản chi tiết hóa quyền đó. Điển hình là quyền biểu tình tại Điều 69 Hiến pháp 1992, không kèm theo luật biểu tình, nghị định, thông tư về biểu tình. Ở các quốc gia thừa nhận nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì luật không cấm, thì điều này sẽ mở ra cơ hội tự do vô cùng lớn cho công dân; nhưng ở Việt Nam, do nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì luật không cấm vẫn chưa được thừa nhận và dẫn đến quyền hiến định của công dân tiếp tục bị treo đến khi nào có văn bản hướng dẫn.  Không có tiêu chí để hạn chế sự tùy tiện của các nhà lập pháp, lập quy trong quá trình ban hành các văn bản chi tiết hóa, bảo đảm thực thi các quyền hiến định. Với công thức “theo quy định pháp luật” thì Hiến pháp 1992 đã tin tưởng tuyệt đối trao toàn quyền nhào nặn “các quyền cơ bản của công dân” vào tay các nhà lập pháp, lập quy ở bốn cấp chính quyền.  Thực tiễn hiến pháp một số quốc gia cho thấy, họ đã chia quyền cơ bản của công dân làm ba nhóm:   Quyền hiến định không bị hạn chế bởi bất kỳ văn bản nào khác;   Quyền hiến định có thể bị hạn chế duy nhất bằng một loại văn bản đó là luật của nghị viện;  Quyền hiến định có thể bị hạn chế bằng luật và văn bản dưới luật.   Số lượng các quyền hiến định thuộc nhóm thứ ba không nhiều. Và đối với các quyền hiến định thuộc nhóm này thì có rất nhiều tiêu chí áp dụng để hạn chế sự tùy tiện của các cơ quan lập pháp, lập quy trong quá trình chi tiết hóa các quyền hiến định.    Kiến nghị:  1. Nên thay đổi tên gọi của Chương V hiện nay “Quyền cơ bản của công dân” theo một trong hai hướng. Hướng thứ nhất, đổi tên thành “Quyền con người và quyền cơ bản của công dân” để phù hợp với thực tế Chương V hiện nay không chỉ quy định về quyền cơ bản của công dân mà cả quyền con người. Hướng thứ hai, đổi tên thành “Quyền cơ bản”; với tên này thì có thể hiểu Chương V sẽ quy định cả quyền cơ bản của công dân và quyền cơ bản của con người.  2. Tiến hành phân nhóm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trước mắt tiến hành “dán nhãn” (tagging) cho hai nhóm: nhóm quyền chỉ bị hạn chế bởi các đạo luật của quốc hội và nhóm quyền có thể bị hạn chế không chỉ bởi luật mà các văn bản dưới luật (theo luật định”. Theo đó, các quyền cần được xếp vào nhóm thứ nhất gồm các quyền:   Quyền bầu cử tại Điều 54;  Quyền tự do đi lại cư trú ở trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về tại Điều 68;  Quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, biểu tình tại Điều 69;  Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do tại Điều 71;  Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, thư tín, điện thoại tại Điều 73.   Đây là các quyền vô cùng quan trọng, được bảo vệ ngặt nghèo hơn các quyền còn lại, nên tại các điều khoản vừa nêu, cần tiến hành thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” hiện này bằng cụm từ “các quyền tự do này chỉ bị hạn chế bởi một đạo luật do Quốc hội ban hành”.  Đối với các nhóm quyền thuộc nhóm thứ hai, hiện đang được quy định tại các Điều 55, 56, 58, thì việc tiếp duy trì công thức “theo quy định pháp luật” như hiện nay là cần thiết.  3. Cần đưa nguyên tắc, tiêu chí chung hạn chế sự tùy tiện của nhà lập pháp, lập quy vào trong hiến pháp. Cụ thể, cần bổ sung một điều khoản với nội dung sau đây vào Chương V hoặc Chương I Hiến pháp hiện hành2:  “Việc ban hành các quy định hạn chế các quyền và tự do trong hiến pháp này chỉ được tiến hành khi thực sự cần thiết. Việc hạn chế đến mức nội dung cốt lõi của các quyền tự và tự do hiến định mất ý nghĩa là không được phép.  Công dân có quyền khởi kiện tại tòa án, khi quyền và tự do hiến định của mình bị xâm hại bởi hành vi của các cơ quan công quyền”.   ——————  * Khoa Luật Kinh tế-ĐH Kinh tế TP.HCM  1 OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Right-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, p.1.  2 Xem thêm Võ Trí Hảo (2012), So sánh các quy định về văn hóa, giáo dục, khoa học trong Hiến pháp Trung Quốc và hiến pháp một số nước Đông Nam Á – Những kinh nghiệm có thể tiếp thu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (http://nguoibaovequyenloi. com/User/ ThongTin_Chitiet.aspx?MaTT=12031401)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàng Tụy: Người bạn lớn của tôi      Tôi lần đầu gặp Hoàng Tụy khoảng 16 năm trước; là năm thứ tư tôi sống ở Việt Nam; sau vài lần gặp gỡ tại văn phòng của anh tại tầng hầm Viện Toán học, chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè, cùng chia sẻ các quan điểm về việc cần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, những thách thức mà yêu cầu đó đặt ra, và giải pháp tiếp cận vấn đề này.      Giáo sư Hoàng Tụy và giáo sư Pierre tại buổi mừng sinh nhật lần thứ 85 của GS. Hoàng Tụy do Tia Sáng tổ chức.  Kể từ đó, tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ phai nhạt.  Tôi trẻ hơn anh Tụy mười tuổi; không quá nhiều để có thể hiểu nhau sâu sắc; không quá ít để tôi có thể lắng nghe anh với sự kính trọng dành cho một người bạn hơn tuổi. Khi tôi mới tròn tám tuổi, còn đang thụ hưởng nền hòa bình chớm nở của nước Pháp sau khi bị phát xít Đức chiếm đóng, thì anh Tụy đã 18 tuổi, phải bỏ dở việc học đại học ở Hà Nội do chiến tranh với Pháp, rồi phải di chuyển vào miền Nam; anh bắt đầu dạy toán ở trung học và từ đó trải qua bốn thập kỷ chiến tranh, đói kém, những nỗi đau và khổ ải mà đất nước Việt Nam phải gánh chịu.  Không lâu sau khi quen biết, anh Tụy giới thiệu tôi với anh Việt Phương. Ba người chúng tôi nhanh chóng có thói quen thỉnh thoảng gặp gỡ ăn trưa cùng nhau. Những lời tâm tình chia sẻ của họ về những gì đã trải qua sau 70 năm đã khiến tôi yêu quý Việt Nam đến mức sâu đậm. Những bữa trưa là dịp để chúng tôi trao đổi suy nghĩ về tình thế chung của đất nước, trong đó cụ thể là lĩnh vực giáo dục và khoa học. Chúng tôi cùng chung quan điểm về coi trọng các giá trị tri thức và đạo đức. Cũng từ đó tôi được họ giới thiệu tiếp cận những người bạn trí thức khác, được biết về những thảo luận và nỗ lực của họ nhằm giúp đất nước phát triển tiến bộ nhanh hơn, cho một tương lai tốt đẹp mà họ vẫn luôn hướng đến. Qua đấy, tôi nhận thấy tiếng nói của họ không dễ được lắng nghe và thấu hiểu, không dễ để họ thuyết phục những thái độ trì trệ bảo thủ và giữ vững tinh thần cách mạng của mình, vốn luôn đòi hỏi tinh thần không ngừng quyết liệt thay đổi vì sự tiến bộ của đất nước nhằm thích ứng với thế giới cũng đang không ngừng thay đổi. Tôi vẫn không hiểu vì sao có những nhìn nhận tiêu cực về những người trí thức đã dành trọn cuộc đời vì tình yêu, sự tiến bộ và phát triển đất nước; họ thấu hiểu sâu sắc về lịch sử đất nước mà chính họ từng tham gia với vai trò là người trong cuộc, họ hiểu rất rõ đâu là cái đích tiếp theo cần hướng đến, con đường nào cần đi theo; họ có mục tiêu, kiến thức và trí tuệ để đưa ra những phân tích, tầm nhìn rất có giá trị, đáng được nghiêm túc xem xét. Luôn giữ vững những lý tưởng về độc lập, tự do và công bằng từ thuở lập quốc, họ hiểu rằng thế giới đang thay đổi: hiểu rằng thay vì áp đặt những giáo điều của ngày hôm qua vào ngày hôm nay, các quốc gia cần phải thích nghi với môi trường xã hội và địa chính trị, đồng thời tôn trọng và bảo tồn những giá trị tinh thần và đạo đức nền tảng. Năm 2007, tôi có vinh hạnh được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông bày tỏ tha thiết mong muốn nền giáo dục nước nhà phát triển và nâng cao chất lượng. Tôi đã nghe ông chia sẻ về đề xuất thay đổi phương thức giáo dục đại học; nắm tay tôi ông nói hãy tiếp tục đấu tranh. Với tôi, Hoàng Tụy và những người bạn trí thức của ông chính là những người kế thừa niềm mong mỏi ấy của Đại tướng.  Ít ngày trước, nói chuyện với anh Tụy về những điều tôi muốn viết ở đây, anh bảo tôi rằng điều anh tự hào là chưa bao giờ từ bỏ quyết tâm nói và viết ra những suy nghĩ của mình. Anh nói thêm rằng sự thẳng thắn đôi khi khiến anh gặp rắc rối, nhưng chưa bao giờ anh ân hận vì điều đó. Với tôi, điều ấy thể hiện một nhân phẩm hết sức đáng kính trọng: tôi nhìn nhận Hoàng Tụy như một hình mẫu để hướng đến, song hành với tình bạn và sự yêu quý đối với anh.  Tôi dành sự ngưỡng mộ to lớn dành cho anh Tụy và những con người cùng thế hệ của anh, đã cống hiến khi đất nước Việt Nam còn non trẻ. Hy vọng của họ khi còn thanh niên về một tương lai sáng lạn, ngày nay có thể còn chưa hoàn toàn như ý nguyện, tuy nhiên cũng đã có rất nhiều kết quả tốt đẹp. Có những góc nhìn hạn chế từ ngoại quốc, bao gồm cả những Việt kiều, cũng có cả những người Việt trẻ tuổi ngày nay không thực sự hiểu về lịch sử đất nước: họ nhìn quá hẹp, chỉ thấy những gì sát với thời gian và không gian của bản thân, thiếu tầm nhìn rộng mở để có thể hiểu đất nước đủ sâu sắc. Bài học từ anh Tụy và thế hệ của anh đã dạy cho chúng ta là bài học về sự khiêm tốn và thái độ lạc quan; khích lệ chúng ta luôn nhìn về trước một cách tích cực và mang tính xây dựng, thay vì chỉ than phiền về nhiều khiếm khuyết cần sửa đổi; khích lệ chúng ta theo đuổi điều mà họ từng đấu tranh không biết mệt mỏi khi luôn giữ vững những giá trị căn bản về trí thức và đạo đức, điều làm nên nhân phẩm con người.  Khi tôi nghĩ về Hoàng Tụy, Việt Phương, Đặng Văn Việt, và số phận của họ, tôi thường nhớ đến một tiểu thuyết nổi tiếng của Tomasi di Lampedusa: Il Gattopardo, The Leopard bằng tiếng Anh. Cuốn tiểu thuyết từng nổi tiếng vào thập kỷ 1960, khi Luchino Visconti chuyển thể thành một trong những bộ phim đẹp đẽ nhất của thế kỷ trước, mà Burt Lancaster, Claudia Cardinale và Alain Delon đóng vai chính. Don Fabrizio, một vị hoàng tử thuộc tầng lớp quý tộc ở đảo Sicily, chứng kiến cuộc khởi nghĩa của những người mặc áo sơ mi đỏ do Garibaldi phát động; ông dành ánh mắt yêu thương và độ lượng cho người cháu ruột tham gia khởi nghĩa mang theo mơ ước về một ngày mai tươi đẹp hơn; ông đau buồn nhận thấy xu thế hèn kém và ích kỷ của những kẻ trọc phú, dần thay thế những phẩm giá cao quý, sự tự trọng trong truyền thống xã hội mà ông vẫn luôn tôn thờ; ông vừa bất lực, vừa phần nào hi vọng khi cháu trai mình hứa hôn với cô con gái tuyệt vời của Sedara, kẻ thối nát nắm giữ quyền lực và đầy tham vọng trong chính quyền mới; ông mê man giữa những hoài niệm, sự vỡ mộng, và sầu muộn trước vòng lặp vô tận của lịch sử; tất cả dường như thay đổi nhưng thực ra tất cả vẫn y nguyên.  Năm 2005, tôi mời anh Tụy đến thăm nhóm nghiên cứu vật lý thiên văn trẻ tuổi của chúng tôi tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân. Những trao đổi giữa anh và các nhà vật lý trẻ trong nhóm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong họ, và họ bày tỏ mong muốn được học hỏi nhiều hơn nữa từ anh. Khi ấy, anh Tụy nói rằng muốn tham mưu cho Chính phủ về các vấn đề khoa học và giáo dục. Chúng tôi được nghe những phân tích sâu sắc của anh về những nhược điểm trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam cùng những khuyến nghị hợp lý để có thể khắc phục rất nhiều những tồn tại vướng mắc. Chúng tôi đề nghị anh trả lời phỏng vấn đăng trên Bản tin của chúng tôi, và ngay lập tức anh lịch thiệp đồng ý. Tôi đọc lại nội dung bài báo ấy trước khi viết những dòng này mà không tránh khỏi cảm thấy ấn tượng về sự sắc sảo trong tầm nhìn của anh về những vấn đề cần giải quyết, tính hợp lý trong các ý kiến và sự đúng đắn trong các phân tích anh đưa ra. Đồng thời, tôi phải thú thực mình cảm thấy buồn khi đọc những tài liệu ấy, nhận ra chúng ta đạt được không nhiều tiến bộ sau 13 năm qua.  Bảy năm trước, chúng tôi đã mời Hoàng Tụy và Việt Phương cùng ăn trưa ở một nhà hàng gần nơi làm việc. Trong những ghi chép của Nguyễn Thị Thảo, một nhà nghiên cứu trẻ trong nhóm về chuyến thăm của anh Tụy và anh Việt Phương, Thảo đã tóm lược ấn tượng chung về chuyến thăm của anh Tụy và anh Việt Phương: ‘Sức trẻ trong ngôn từ và trong trái tim của họ, sự sáng rõ trong cách nhìn nhận về thế giới xung quanh thật tương phản với tuổi tác của họ. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên thông điệp mà họ gửi gắm: liêm chính, sáng tạo, tự do, dân chủ’.  Quả thực anh Tụy luôn giữ trong mình năng lực hòa đồng cùng trẻ thơ, điều mà nhiều người lớn trong chúng ta đã mất đi; anh luôn giữ sự tươi mới trong tình cảm và sự sáng suốt trong cách nhìn nhận, vốn là những ưu điểm thường chỉ có ở người trẻ tuổi. Khi những phẩm chất ấy hòa trộn cùng trí tuệ tích lũy qua tuổi tác, những trải nghiệm từ một giai đoạn đáng nhớ trong lịch sử Việt Nam mà anh được chứng kiến qua nhiều năm, tất cả đã tạo nên ở anh một con người hết mực đáng yêu quý.  GS Takahito Kuno (người Nhật) ví GS Hoàng Tụy như Santa Claus đến từ một nước phương Nam. Một hình tượng hay quá, đến mức khó chọn được hình ảnh nào hay hơn nữa. Nhưng tôi vẫn mạo muội liên tưởng đến hình ảnh của một ánh sao Kim. Vì sao Kim rất “đa diện”. Lúc bình minh thì lung linh với tên gọi sao Mai. Khi hoàng hôn lại rực rỡ trong tư cách sao Hôm. Và lúc nào cũng đẹp nên còn được mệnh danh là Venus (tên thần Vệ Nữ). Với mắt trần thì sao Kim là thiên thể sáng thứ ba trên bầu trời, chỉ kém Mặt trời và Mặt trăng. Vậy mà mỗi khi tỉnh dậy, hối hả bước vào ngày mới, thì chẳng mấy ai để ý. Để rồi đến lúc màn đêm buông xuống, lại ngỡ ngàng trước ánh hào quang. Hoàng Tụy mà mọi người dễ nhận ra và hay ca ngợi trên báo chí mới chỉ như một ánh sao Hôm – một người yêu nước, yêu dân thiết tha, luôn trăn trở bàn cách chống lại cái nghèo, cái dốt. Hoàng Tụy mà mọi người còn ít biết đến như một ánh sao Mai – một nhà khoa học xuất sắc, rất sáng trên bầu trời khoa học nước nhà. Hoàng Xuân Phú  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Học cách từ thiện      LTS: Câu chuyện về ca sĩ Thủy Tiên kêu gọi được 150 tỉ đồng, tương đương với hơn một nửa tổng số tiền mà Mặt trận Tổ Quốc quyên góp được để hỗ trợ đồng bào lũ lụt cho ta thấy một bức tranh từ thiện ngày càng đa dạng ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều câu hỏi về việc ta nên từ thiện thế nào cho đúng?      Thủy Tiên dành 40 ngày đi vào các tỉnh thiệt hại nặng do mưa lũ để hỗ trợ các nạn nhân. Cô chủ yếu dùng tiền mặt để trao cho họ. Ảnh: Facebook của Thủy Tiên.  Người nổi tiếng đi làm từ thiện: việc tốt nhưng làm chưa đúng  Trước giờ khi nói tới từ thiện nhân đạo, cộng đồng hay nghĩ ngay tới các Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể đi trao quà, học bổng, nhà tình thương, hay đồ cứu trợ cho bà con, hoặc nghĩ tới nhà thờ, nhà chùa, các tổ chức tôn giáo phát tâm công đức, v.v. Số cộng đồng ít biết tới hơn là các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, các hội nhóm thiện nguyện làm công tác từ thiện hoặc các dự án phát triển. Thế nhưng những năm trở lại đây, bên cạnh các lực lượng truyền thống này, chúng ta thấy rất người nổi tiếng hay các cá nhân có ảnh hưởng, các lãnh đạo doanh nghiệp đứng ra gây quỹ cho hoạt động từ thiện, và thu hút được rất nhanh và rất nhiều tiền đóng góp từ người dân.   Tôi tin rằng hầu hết người nổi tiếng có động cơ trong sáng, tâm huyết và mong mỏi đem lại những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đó là điều đáng quý. Còn bàn về cách làm, để làm từ thiện hiệu quả, minh bạch và có trách nhiệm giải trình, người làm từ thiện có trọng trách rất lớn trên vai, đặc biệt nếu tiền chúng ta làm từ thiện là tiền chúng ta huy động chứ không phải từ túi mình bỏ ra. Nhưng những người nổi tiếng thường không có chuyên môn về từ thiện, họ chưa thể làm được như vậy.      Nếu không có chuyên môn, người làm từ thiện còn có thể sẽ áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình lên người được nhận.      Trước hết là về mục tiêu gây quỹ. Khi người nổi tiếng đứng ra gây quỹ, có thể họ chỉ nghĩ đơn thuần vì những hoàn cảnh éo le, vì những người cần hỗ trợ khẩn cấp nên tôi muốn/ cần làm gì đó, và xông pha vào trận địa. Không có gì ngạc nhiên khi họ không có một chiến lược và mục tiêu gây quỹ rõ ràng. Chính vì không rõ ràng mà từ cảm xúc nên các cá nhân này chi tiền gây quỹ sai mục đích. Giống như, có lúc Thủy Tiên cầm tiền gây quỹ đi trao học bổng trong khi những người đóng góp thì lại mặc định cô ấy sẽ thực hiện các hoạt động cứu trợ khẩn cấp như cung cấp cho các nạn nhân thực phẩm, các đồ dùng vệ sinh, thuốc men để sinh tồn trước mắt (về sau Thủy Tiên lấy tiền riêng để bù lại khoản này). Cũng dễ hiểu khi những người nổi tiếng không có tiêu chuẩn để đảm bảo sự công bằng giữa những người được nhận, không biết làm sao để đánh giá đúng người nhận và người nhận đó sẽ sử dụng khoản tiền đó như thế nào. Có thể lúc này thì họ trao cho một nạn nhân năm triệu, lúc kia trao cho nạn nhân khác mười triệu, lúc sau nữa gặp một trường hợp cảm động quá thì trao 200 triệu. Cũng dễ hiểu nếu họ bị “ném đá” về cách cho giống như “ban phát”, tỏ ra không tôn trọng người nhận, không bao quát được các yếu tố về độ tuổi, người khuyết tật để cho đi một cách hợp lí.   Nếu không có chuyên môn, người làm từ thiện còn có thể sẽ áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình lên người được nhận. Họ cho đi những cái họ “thích” chứ chưa chắc đã là những thứ cộng đồng cần. Chẳng hạn, những người bị cô lập, bị cắt điện, cắt nước giữa bão lũ có cho tiền họ cũng không thể đi được đâu, mua được gì; nhưng nếu cho lương thực thực phẩm không cẩn thận lại quá nhiều trong khi những vật phẩm thiết yếu phục vụ vệ sinh cá nhân thì không ai nghĩ đến. Nếu không có chuyên môn, người làm từ thiện cũng sẽ không làm tròn trách nhiệm minh bạch và giải trình việc chi tiêu từ số tiền quyên góp được. Tuần vừa qua, Thủy Tiên đã công bố các chứng từ chi tiêu trong 40 ngày đi từ thiện ở những vùng chịu thiệt hại nặng nề trong các cơn lũ vừa qua để chứng minh mình minh bạch. Dù cho số chứng từ đó rất khiêm tốn, tôi cũng tin là Thủy Tiên minh bạch. Nhưng còn trách nhiệm giải trình nữa: số tiền đó đã dùng để mua những vật phẩm gì, cho những ai, có đúng người không, có phù hợp không?  Tôi ủng hộ Thuỷ Tiên và những người nổi tiếng tiếp tục làm từ thiện, và hẳn nhiên họ đã trải nghiệm và đã học được những bài học thực tế khi làm thực tế, và tiếp nhận những phản hồi cả tích cực và tiêu cực từ cộng đồng. Tuy nhiên, họ hoàn toàn có thể làm tốt hơn nếu có một ê kíp có chuyên môn về từ thiện đồng hành hoặc lý tưởng là họ chỉ phụ trách nhiệm vụ gây quỹ cho một tổ chức từ thiện chuyên nghiệp. Tôi cho rằng, theo thời gian, người giỏi gây quỹ và người làm từ thiện sẽ gặp nhau, như một nhu cầu tự nhiên. Trên thực tế, vừa qua nhiều người nổi tiếng đã tham gia kêu gọi quyên góp hàng chục tỉ đồng cho Quỹ Sống, nơi khởi xướng dự án Nhà Chống Lũ hay Quỹ trò nghèo vùng cao, các tổ chức phi chính phủ, v.v..        Từ thiện phát triển mới là mục tiêu chúng ta cần hướng đến, để giúp cộng đồng không chỉ đứng dậy được sau khó khăn hôm nay mà còn đủ năng lực và nguồn lực chống chọi với những thiên tai sẽ xảy ra trong tương lai.      Phát triển văn hoá từ thiện tại Việt Nam   Từ thiện không phải chỉ là hoạt động đơn thuần cho nhận. Có ít nhất hai cấp bậc của từ thiện, thứ nhất là từ thiện nhân đạo, tập trung vào các hoạt động ngắn hạn, mang tính cứu trợ khẩn cấp cho những nhu cầu cơ bản của cộng đồng và cấp bậc thứ hai là từ thiện phát triển hướng tới những mục tiêu dài hạn để cộng đồng có thể tự vực và vươn lên. Các hoạt động từ thiện ở Việt Nam chủ yếu chỉ tập trung vào từ thiện nhân đạo để đáp ứng nhanh những nhu cầu cấp bách của cộng đồng người bị nạn thông qua một thiên tai địch họa, rồi thôi. Tuy nhiên, từ thiện phát triển mới là mục tiêu chúng ta cần hướng đến, để giúp cộng đồng không chỉ đứng dậy được sau khó khăn hôm nay mà còn đủ năng lực và nguồn lực chống chọi với những thiên tai sẽ xảy ra trong tương lai. Đó cũng là lí do mà các tổ chức phát triển không ưu tiên việc trao tiền cho người dân, nếu có thì thường triển khai dưới các khoản vay với các cam kết về trách nhiệm sử dụng của người nhận. Việc cho tiền mà không đi kèm với những đánh giá, theo dõi dễ dẫn đến việc người dân sử dụng không đúng mục đích. Hoặc nguy hiểm hơn, khi các hoạt động thiện nguyện bùng nổ ồ ạt, sẽ có một bộ phận người dân trở nên quen với việc nhận các khoản hỗ trợ mà không còn ý chí vươn lên nữa.   Điều đầu tiên của từ thiện không phải là tiền đâu mà là cộng đồng cần gì. Chính vì vậy, tổ chức gây quỹ có thể đặt ở bất kì đâu nhưng tổ chức thực hiện nên là các tổ chức ở địa phương, những người hiểu và có uy tín với cộng đồng nhất. Họ đến với những người bị nạn không phải để cho một lần mà như chúng ta vẫn nói là “họ cho cần câu chứ không phải là cho con cá”. Sau đó, từ thiện cần sự chuyên nghiệp, dù là tổ chức gây quỹ hay tổ chức thực hiện đều cần xác định được mục đích, nhu cầu của mình, hỗ trợ những đối tượng nào trong cộng đồng và hỗ trợ như thế nào, chi phí của mỗi trường hợp là bao nhiêu…Trên hết, cần xác định được việc gây quỹ bao nhiêu là đủ, chứ không phải là “vô hạn”. Vì vậy, nếu một tổ chức chỉ gây quỹ 2-3 tỉ/năm, dù chỉ bằng một góc của số tiền một người nổi tiếng kêu gọi được, không có nghĩa là tổ chức đó kém bởi họ chỉ có thể cam kết được hiệu quả từ thiện trong quy mô như vậy. Cuối cùng, các tổ chức từ thiện cần đảm bảo về minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nếu không có những điều này, sẽ rất khó tạo được lòng tin giữa tổ chức từ thiện với những người quyên góp và những người trong cộng đồng nhận hỗ trợ.   Tuy nhiên, dù thiếu chuyên nghiệp đi chăng nữa, việc ngày càng nhiều người gây quỹ, triển khai các hoạt động từ thiện là điều đáng mừng. Nó truyền cảm hứng, kích hoạt sự đóng góp từ cộng đồng, và cho chúng ta thấy tiềm năng huy động từ trong dân là rất lớn, chứ không phải “dân ta nghèo lắm, lấy đâu mà đóng góp” như những suy nghĩ truyền thống. Nó thể hiện sự đa dạng của văn hóa từ thiện và nó chứng minh rằng, từ thiện là mong muốn tự nhiên của con người, không thể độc quyền trong một nhóm tổ chức nhất định. Trong giới nghiên cứu về từ thiện thì chúng tôi thấy mừng hơn là bi quan.   Những trao đổi, tranh cãi của những người đóng góp tiền cho mục đích từ thiện cũng cho tôi thấy những dấu hiệu tích cực. Trước đây khi đóng tiền cho các tổ chức hội đoàn và cơ sở tôn giáo để làm từ thiện, chúng ta không phản biện số tiền đấy đi đến đâu. Nhưng giờ đây, quay trở lại câu chuyện của Thuỷ Tiên chẳng hạn, Thuỷ Tiên có thể là ngọn cờ tiên phong để lôi kéo sự chú ý của cộng đồng tham gia từ thiện nhân đạo, lúc đầu có thể xuất phát từ cảm xúc và người đóng góp có thể không nghĩ nhiều đến việc “cho như thế nào” nhưng sau đó, khi theo dõi công việc từ thiện nhân đạo, một cách tự nhiên cộng đồng sẽ phát triển tư duy phản biện có có nhu cầu cao hơn với hoạt động từ thiện nhân đạo, có những đòi hỏi không chỉ là của cho, mà còn là cách cho. Theo thời gian, tôi nghĩ có những người sẽ quan tâm sâu hơn về những mục tiêu từ thiện lâu dài hơn, nghĩ đến việc làm sao để hỗ trợ được cộng đồng ngay cả sau khi cơn bão đã đi qua. Và đương nhiên, khi đòi hỏi của cộng đồng cao hơn thì những hoạt động từ thiện phát triển sẽ được kiện toàn, được thực hiện một cách chuyên nghiệp, hiệu quả và nhân văn hơn hơn. □  Hảo Linh ghi  ——  *Giám đốc Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững (MSD Vietnam)    Author                Nguyễn Phương Linh        
0.0150093808630394
__label__tiasang Học giả Trung Quốc khẳng định đường chữ U không có căn cứ pháp lý      Tham vọng của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành cái “ao nhà” của mình đã gây ra những căng thẳng giữa họ với 5 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Cái gọi là Đường chữ U&#160; do họ đưa ra nhằm để Trung Quốc chiếm tới 80% tổng diện tích Biển Đông, đang bị tất cả những người có lương tri trên thế giới phản đối kịch liệt.    Hàng nghìn đảo đá, bãi cạn ở gần các nước ASEAN và ở rất xa đại lục Trung Quốc, xưa nay chưa hề có người Trung Quốc sinh sống, chưa hề có sự kiểm soát của chính quyền Trung Quốc cũng bị họ ngang nhiên coi là lãnh thổ của mình. Đường chữ U lấn vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nhiều nước khác và hoàn toàn không có căn cứ lịch sử cũng như căn cứ pháp lý — điều hết sức vô lý ấy ai cũng thấy, kể cả những người Trung Quốc có lương tri. Bài viết dưới đây nói lên một phần sự thật mà chính quyền Trung Quốc luôn giấu giếm:  các học giả có lý trí ở nước họ cũng công khai thừa nhận Đường chữ U không có căn cứ pháp lý. Để tôn trọng sự thật, tôn trọng tác giả bài viết và bạn đọc, chúng tôi xin dịch nguyên văn bài này. Các ghi chú trong ngoặc vuông [ ] là của người dịch.          Ngày 14/6/2012, chủ nhân Blog này [tức Lý Lệnh Hoa] được mời tham gia cuộc hội thảo về vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là Biển Đông] do Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc 天则经济研究所 [1] và báo điện tử Sina.com/blog chủ trì tổ chức. Những người tham gia đều đã thảo luận vấn đề này một cách nghiêm túc và có lý trí. Qua chỉnh lý, nay công bố nội dung hội thảo như sau.    Tên Hội thảo:    Tranh chấp Biển Đông: chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế.    Đơn vị chủ trì:        Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử Sina.com /blog.    Thời gian:          Chiều ngày 14/6/2012, từ 13h30 đến 17h50.    Địa điểm:          Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc    Người chủ trì:        Dương Tuấn Phong, giảng viên Đại học Công an Trung Quốc.  Khách mời phát biểu chính:      1- Lý Lệnh Hoa [李令华Li Ling-hua] [2], học giả chuyên nghiên cứu vấn đề vạch ranh giới biển quốc tế, cán bộ đã nghỉ hưu của Trung tâm Thông tin biển Trung Quốc.  2-  Thời Ân Hoằng, Giáo sư Đại học Nhân dân Trung Quốc, Tham sự Quốc vụ viện [3].  Khách mời bình luận:  1- Thịnh Hồng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Thiên Tắc, GS Đại học Sơn Đông; 2- Thượng Hội Bằng GS Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Bắc Kinh ; 3- Cát Hải Đình, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xúc tiến hữu nghị quốc tế Trung Quốc, nghiên cứu viên ; 4- Hà Quang Hộ, GS Viện Triết học ĐH Nhân dân Trung Quốc ; 5- Vương Diệm, nghiên cứu viên Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, Tổng Biên tập tạp chí « Đọc sách » ; 6- Hứa Chương Nhuận, GS Học viện Pháp luật ĐH Thanh Hoa ; 7- Trương Thiên Phàm, GS thỉnh giảng của hai Học viện Pháp luật, Học viện Quản lý chính phủ ĐH Bắc Kinh ; 8- Trương Thử Quang, Chủ tịch Hội đồng Học thuật Viện NCKT Thiên Tắc, GS Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.  Lý Lệnh Hoa :  Với tư cách là học giả đã nghiên cứu nhiều năm vấn đề vạch ranh giới biển quốc tế, hôm nay tôi rất vui mừng được cùng mọi người bàn bạc vấn đề Nam Hải. Tôi có mang tới đây để mọi người xem một số thành quả nghiên cứu mới nhất của giới học thuật về vấn đề Nam Hải, gồm các sách và tạp chí như « Nghiên cứu vấn đề Luật biển quốc tế », « Nghiên cứu luật cơ bản biển Trung Quốc », « Một số trường hợp thực hiện luật quốc tế của Trung Quốc », « Tập bài nghiên cứu quốc sách biển », « Địa-chính trị và tranh chấp ở Nam Hải », « Chuyên luận vấn đề Nam Hải » ; khi nói về vấn đề Nam Hải, tôi rất chú ý quan điểm của các tác giả những nghiên cứu đó.  Tôi có cảm giác là từ hơn một năm nay, đặc biệt từ tháng 4 năm nay trở đi, khi Trung Quốc xung đột với Philippinnes, vấn đề Nam Hải trở nên rất nóng. Tôi cảm thấy trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia, từ xưa tới nay [chúng ta] đều khẳng định đảo Hoàng Nham [黄岩岛 quốc tế gọi là bãi cạn Scarborough] là lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng diện tích đảo Hoàng Nham quá nhỏ, hơn nữa lại không có người ở, khi thủy triều dâng cao chỉ còn là  một tảng đá. Năm 1947, khi vẽ “Đường 11 đoạn ” 十一段线, Vụ trưởng Vụ Khu vực và mấy người trong Bộ Nội chính chính phủ Dân Quốc [của Tổng thống Tưởng Giới Thạch] vẽ đảo này vào [bên trong đường 11 đoạn]. Khi nghiên cứu xác định điểm gốc [cơ điểm] để [phục vụ công tác] dẫn đường trên biển, đã bàn bạc về vấn đề đảo Hoàng Nham này động chạm tới việc không thể lấy nó làm điểm gốc. Vì diện tích nó quá nhỏ lại cách xa đại lục [Trung Quốc], hơn nữa còn có một vấn đề phức tạp là đảo Hoàng Nham nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines, có thể lấy nó làm điểm gốc để chủ trương [coi nó là] vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta được không ? — vấn đề này rất đáng được bàn thảo. Bởi vậy [khi] Bộ Ngoại giao và phía quân đội [Trung Quốc] có lúc rất cứng rắn trên vấn đề này, tôi cảm thấy [làm như thế] là xem xét vấn đề chưa chu toàn. Tôi đã viết rất nhiều thư gửi cho các cán bộ liên quan của Bộ Ngoại giao [Trung Quốc] nhưng cũng không có thư trả lời. Vì đảo Hoàng Nham là  một bãi đá 岩礁, căn cứ mục 3 Điều 121 của «Công ước [Liên Hợp Quốc về Luật Biển]», nó chỉ có thể có vùng nước xung quanh 12 hải lý mà thôi. Nó ở cách bờ biển Phillippines 124 hải lý, vẽ một vòng khuyên thì vị trí sở tại đảo này vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phillippines ; tàu cá đi vào đấy tất nhiên là đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Phillippines rồi. Bởi vậy xảy ra tranh chấp trên vấn đề này là điều tất nhiên.  Hiện nay nhiều học giả trong nước [Trung Quốc] vẫn khẳng định «Đường 9 đoạn» [九段线Việt Nam gọi là Đường chữ U, hay Đường Lưỡi bò, tức đường biên giới biển Đông theo yêu sách của Trung Quốc, được họ vẽ trên bản đồ bằng một đường có 9 đoạn đứt khúc]; nhưng từ xưa đến nay đường biên giới trên bộ hay trên biển của toàn thế giới chưa bao giờ có một đường nào là  đường đứt đoạn [chữ Hán là 虚线 «hư tuyến», tức đường nét đứt, đường chấm chấm, không liền nét] cả. Đường 9 đoạn do tiền nhân của chúng ta vạch ra không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý. Tháng trước, khi giảng bài cho các nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu biển và biên giới Trung Quốc thuộc trường Đại học Vũ Hán, tôi có nói rằng căn cứ pháp luật đích thực phải là “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển” năm 1982 [United Nations Convention on the Law of the Sea; 1982年《联合国海洋法公约]. Hơn nữa nước ta [Trung Quốc] là quốc gia đã ký và phê chuẩn “Công ước” này. Đường 9 đoạn chiếm tới hơn 80% diện tích vùng nước Nam Hải.  Đường cơ bản [cơ tuyến] của quần đảo Tây Sa [西沙, Việt Nam gọi là Hoàng Sa] cấu tạo bởi 28 điểm gốc, được các chuyên gia Cục Hải dương và một số đơn vị khác [của Trung Quốc] cùng nhau vẽ nên trước năm 1995. Nó gồm có nhiều bãi đá nhỏ 小岩礁, với diện tích vùng nước rộng tới khoảng hơn 12.000 dặm biển vuông. Sau khi công bố đã bị các chính phủ Việt Nam và Philippinnes phản đối và phê bình. Việc xác định 28 điểm gốc này vốn đã có rất nhiều chỗ không chuẩn xác, cũng không đạt yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật. Hiện nay [Trung Quốc] vẫn cứ muốn làm kiểu hoạch định mập mờ như thế ở quần đảo Nam Sa [南沙 Việt Nam gọi là Trường Sa].  Tài nguyên Nam Hải rất phong phú, nước ta [Trung Quốc] có tranh chấp với 5 quốc gia như Việt Nam, Philippinnes [và Malaysia, Brunei, Indonesia] về chủ quyền trên biển. Chúng ta nên chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp đàm phán hoà bình theo tinh thần của « Công ước », không thể sử dụng vũ lực giải quyết. Căn cứ xu thế phát triển của Luật biển quốc tế hiện nay và kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia, các nước ven bờ Nam Hải trước hết nên hoạch định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và biên giới thềm lục địa大陆架. Sau khi xác định rõ biên giới, [các nước] sẽ cùng nhau khai thác [tài nguyên biển].  Xin nêu một thí dụ : không thể xỏ giày trước rồi mới đi tất, cũng tức là nói không thể không làm rõ phạm vị chủ quyền trên biển mà đã cùng khai thác, bởi lẽ như vậy hoàn toàn có khả năng gây ra vấn đề phân phối thu nhập không công bằng. Sau này dựa vào điều 74 và điều 83 nói về vùng đặc quyền kinh tế và hoạch định biên giới thềm lục địa trong « Công ước », cần vạch lại biên giới biển Nam Hải. [Lúc đó] Phillippines chiếm bao nhiêu, Brunei chiếm bao nhiêu, Việt Nam chiếm bao nhiêu, Indonesia chiếm bao nhiêu… khẳng định sẽ không thể hoạch định theo chủ trương hiện nay của các quốc gia này.  Các quốc gia đương sự phải thống nhất về lý luận vạch biên giới biển và về phương pháp kỹ thuật, lấy cơ sở là các nguyên tắc quốc tế thông dụng hiện nay về cấu hình và độ dài bờ biển cũng như nguyên tắc tỷ lệ, thông qua đàm phán hoà bình, hữu nghị song phương hoặc đa phương để giải quyết vấn đề biên giới cuối cùng của Nam Hải.  Thịnh Hồng :  Đường màu lam có phải là  đường vẽ [vùng đặc quyền kinh tế] 200 hải lý của các nước không?  Lý Lệnh Hoa :  Đúng vậy. Đường màu lam trên bản đồ là vùng đặc quyền kinh tế vẽ theo Luật Biển. Đảo Hoàng Nham ở đây. Theo mục 3, Điều 121 của « Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển », Trung Quốc chúng ta chỉ có thể có vùng biển lãnh hải 12 hải lý. Thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippinnes ở đây. cho nên dù tàu cá hay tàu chiến của chúng ta khi đến Hoàng Nham đều tất nhiên đi vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của người ta. “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển” đã là công ước thì bất cứ quốc gia nào cũng phải chịu sự ràng buộc của công ước đó. Tất cả đều phải xử lý theo tinh thần của Công ước.  Thịnh Hồng :  Căn cứ của Đường 9 đoạn mà chúng ta vạch ra là gì?  Lý Lệnh Hoa :  Chẳng có căn cứ gì! [Nó chỉ] là tuyên bố đơn phương năm 1947 [của Chính phủ Dân Quốc].  Thịnh Hồng :  Không được các nước khác thừa nhận ư?  Lý Lệnh Hoa : Có thừa nhận, nhưng đấy chỉ là chuyện trong lịch sử. Hiện nay, đặc biệt là những năm gần đây, các nước xung quanh Nam Hải đều không để ý tới [điều đó] nữa. Thời đại đang tiến lên, khi hoạch định ranh giới biển chúng ta cần phải tiến hành theo tinh thần « Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển» và quy tắc quốc tế, chứ không thể nói căn cứ theo cái gọi là nhân tố lịch sử, nước giàu hay nghèo, người đông hay ít, tình trạng địa chất địa mạo đáy biển … những yếu tố đó đều không phải là căn cứ để hoạch định biên giới. Tôi cho rằng nếu căn cứ vào Luật Biển mà làm thì nhân dân các nước ven bờ Nam Hải và nhân dân Trung Quốc đều có vùng biển 200 hải lý rộng rãi, việc phát triển nghề cá và khai thác tài nguyên đáy biển đều có đủ không gian. Sau này khi kinh tế các nước láng giềng phát triển thì chúng ta cũng được hưởng lợi. Để đứng trên góc độ toàn nhân loại mà xem xét vấn đề thì chúng ta cần có quan điểm toàn cục, cần tiến lên cùng thời đại.  Các đảo đá 岛礁 ở quần đảo Nam Sa không thể duy trì cuộc sống lâu dài của nhân loại. Căn cứ theo «Công ước» nói chung, một đảo đá nhỏ chỉ có lãnh hải 12 hải lý, thậm chí nhỏ hơn, chứ không phải là vùng biển đặc quyền kinh tế 200 hải lý như có người của chúng ta chủ trương. Cách nói của chính phủ ta « Quần đảo Nam Sa và vùng biển phụ cận » quá mập mờ;  ngay chuyện phụ cận bao nhiêu hải lý đều không thể nói rõ được. Cách nói ấy không phải là ngôn ngữ pháp lý. Chúng ta cần tôn trọng các điều văn của « Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển »; chỉ có những cách nói về 12, 24, 200 và 350 hải lý. Do các đảo Nam Sa có diện tích nhỏ, cách xa đại lục [Trung Quốc], không đủ điều kiện sống còn cho loài người, nên nước ta không thể xác định các điểm cơ sở lãnh hải ở quần đảo Nam Sa. Bởi vậy chúng ta không thể có được vùng nước đặc quyền kinh tế rộng lớn ở phía Nam của Nam Hải.  Vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta [Trung Quốc] và  của Việt Nam có chồng lấn nhau trên diện tích rất rộng, thể hiện bằng màu vàng nhạt trên bản đồ. Thế nhưng khi hoạch định ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam tỏ ra tương đối có lý trí, họ đã từ bỏ đường [ranh giới] lịch sử vốn do nước Pháp và  chính phủ triều đình nhà Thanh hoạch định. Việc hoạch định ranh giới Vịnh Bắc Bộ được hoàn tất khi Chủ tịch Giang Trạch Dân còn lãnh đạo Trung Quốc, tới nay đã trải qua hơn chục năm.  Chính phủ ta xưa nay chưa bao giờ chính thức tuyên bố về Đường 9 đoạn ; thế nhưng không ít sách giáo khoa và báo chí nước ta lại coi Đường 9 đoạn là biên giới biển của Trung Quốc, bởi thế đã dẫn đến việc dân chúng [Trung Quốc] coi Nam Hải thành vùng biển của Trung Quốc xưa nay sở hữu. Có một số cơ quan truyền thông [Trung Quốc] trong khi chưa làm rõ vấn đề này, thế mà động một chút đã nói phải đưa tàu chiến đi đánh. Tôi cho rằng cần phải sớm xác định rõ địa vị pháp lý của Đường 9 đoạn. Không làm rõ ràng thì tương lai rất dễ xảy chuyện này nọ. Căn cứ mục 3 điều 121 « Công ước » : « Những đảo đá nhỏ không thể duy trì loài người cư trú hoặc đời sống kinh tế của bản thân thì không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa ». Quần đảo Nam Sa quá ư phân tán, các đảo đá nhỏ rải rác chi chít như bàn cờ, hơn nữa loài người căn bản chẳng thể dựa vào các đảo đá ấy để sống được. Căn cứ theo « Công ước » , không thể hoạch định được vùng đặc quyền kinh tế cho quần đảo Nam Sa. Quần đảo Tây sa cũng vậy. Sau này xác định địa vị pháp lý của các đảo Thủy Hưng, Thái Bình như thế nào thì cũng phải căn cứ theo « Công ước » ; chúng ta ắt phải xử lý nghiêm túc vấn đề này.  Thịnh Hồng : Quan điểm của ông là các đảo ấy là  của chúng ta, nhưng không thể lấy đó làm căn cứ để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý ; có phải như vậy không ?  Lý Lệnh Hoa :  Đúng thế, chính là cái lý lẽ ấy.  Trương Thử Quang :  Chúng ta chủ trương đảo này [đảo Hoàng Nham] là  của chúng ta ; Phillippines cũng cho rằng là  của họ, lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ. Chủ trương của chúng ta dựa trên căn cứ nào ?  Lý Lệnh Hoa : Căn cứ vào tư liệu lịch sử, từ xưa tới nay đều là lãnh thổ của Trung Quốc.  Trương Thử Quang : Bởi lẽ cho dù là  chính phủ nhà Thanh hoặc chính phủ Dân Quốc đều không thực tế kiểm soát vùng này ; chỉ có điều chúng ta đơn phương tuyên bố vùng này là thuộc về chúng ta. Nếu đảo Hoàng Nham đã nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phillippines thì tại sao ông lại cảm thấy chúng ta có thể lấy đảo này làm « Phi địa » (飞地 lãnh thổ hải ngoại không tiếp giáp với bản đồ chủ thể của một quốc gia) [4] của chúng ta.  Lý Lệnh Hoa:  Cũng không phải là tất cả các đảo trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý đều thuộc về quốc gia ven biển [ở gần đó]. Thí dụ quần đảo St. Pierre và Miquelon gần Canada thì thuộc Pháp. Hiện nay Tòa án quốc tế có quyền tài phán đối với chủ quyền lãnh thổ các đảo ; trong thực tế các quốc gia cũng có đàm phán với nhau về chủ quyền đảo. Về vấn đề « Phi địa » đảo Hoàng Nham, nước ta [Trung Quốc] không chỉ có vấn đề với Phillippines mà cũng có vấn đề với Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, bởi lẽ các đảo ấy đều là  những đảo đá nhỏ mà. Nhận thức đúng đắn và giải quyết ổn thỏa vấn đề này như thế nào — điều đó còn cần các chuyên gia nhiều chuyên ngành của chúng ta cùng bàn bạc.  Hà Quang Hộ : Còn có vấn đề thực tế kiểm soát nữa, thí dụ quần đảo Malvinas trên thực tế do Anh Quốc kiểm soát, [cần] tôn trọng sự kiểm soát thực tế.  Trương Thử Quang: Vừa rồi [ông] nói Đường 9 đoạn là do nước ta vạch ra năm 1947. Có căn cứ nào để vạch ra cái đó?  Lý Lệnh Hoa :  Đường 9 đoạn không có căn cứ pháp lý. Có nhà luật học nước ta, kể cả các đồng nghiệp ở Đài Loan cùng có nhận thức như vậy. Hồi đó, các quốc gia ven bờ có nước còn chưa độc lập nữa cơ. Đây chỉ là Trung Quốc đơn phương tuyên bố mà thôi.   Tôi xin tổng kết một chút:  Tôi cho rằng vấn đề chủ yếu nhất trong nội hàm của « Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển » là tái phân định và bố cục lại vùng biển, sao cho mỗi quốc gia ven biển đều có thể có thềm lục địa và vùng biển kinh tế 200 hải lý (hoặc vùng nước tương đối rộng), tạo thuận tiện cho các nước khai thác, sử dụng và quản lý biển, để cho toàn nhân loại đều đi lên con đường cùng nhau giàu có. Điều đó nên là căn cứ cơ bản để chúng ta và các nước xung quanh dựa vào mà giải quyết các tranh chấp ở Nam Hải. Khi đã là quốc gia ký kết  « Công ước » thì chúng ta cần phải xử lý mọi việc theo tinh thần “Công ước”, bày tỏ cho thiên hạ biết sự thành tín của mình./.   Nguyên Hải dịch nguyên văn từ     南海争端：国家主权与国际规则(2012-06-21) http://blog.sina.com.cn/s/blog_680f80d101014348.html  Ghi chú  : (của người dịch)    1) Viện Nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc (Tian ze; Unirule Institute of Economics. Website: http://www.unirule.org.cn) là  một Think-tank dân lập do một số học giả Trung Quốc lập ra, thường xuyên phát biểu các quan điểm khách quan có lý trí không rập theo quan điểm chính thống, đề xuất các kiến nghị có tính chất xây dựng về kinh tế-chính trị-xã hội, có ảnh hưởng lớn trong giới nghiên cứu lý luận ở Trung Quốc.  2) Lý Lệnh Hoa. Sinh 1946. Thời gian 1964-1970 học tại Khoa Hải dương Học viện Hải dương Sơn Đông. 1970-2006 công tác tại Trung tâm Thông tin Hải dương quốc gia (Thiên tân). Nay đã nghỉ hưu.  3) Phòng Tham sự thuộc Quốc vụ viện (QVV) Trung Quốc là một cơ quan trực thuộc QVV, có tính chất mặt trận thống nhất, tính vinh dự lại có tính cố vấn. Tham sự nhà nước là cán bộ cơ quan nhà nước, do Thủ tướng QVV bổ nhiệm ; không rõ cấp bậc hành chính, nghe nói thấp dưới Bộ trưởng.    4) «Phi địa», 飞地, tiếng Anh Exclave : phần lãnh thổ của một quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ), nhưng lại hoàn toàn cách ly với bản địa của quốc gia (vùng) đó, bị bao bọc bởi lãnh thổ của các quốc gia (hoặc vùng) khác. Thí dụ vùng Kaliningrad ở phía Đông biển Baltic, diện tích 15100 km2, là lãnh thổ của Liên bang Nga nhưng lại cách bản địa Liên bang Nga 600 km. Kaliningrad bị bao bọc bởi hai nước Ba Lan, Lithuania và biển Baltic. Khi Liên Xô chưa tan rã, Kaliningrad không phải là exclave, vì nó gắn liền với nước CHXHCN Lithuania thuộc Liên Xô.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học ở Hiến pháp năm 1946      Để nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về kỹ thuật lập hiến, về tư tưởng Nhà nước pháp quyền, có lẽ, chúng ta không cần phải học hỏi ở đâu xa, mà học ngay ở Hiến pháp năm 1946.      Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực Nhà nước. Đây thực sự là một bản kế ước xã hội về việc phân chia quyền: quyền của các công dân và quyền của Nhà nước; quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau.  Nếu Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được tổ chức trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.  Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì Hiến pháp đã được đặt cao hơn Nhà nước. Về mặt thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1. Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).  Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều 10 quy định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận; – Tự do xuất bản; – Tự do tổ chức và hội họp; – Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”; Điều 12 quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Như chúng ta thấy, Hiến pháp không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó, mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương nhiên (do tạo hóa ban cho).   Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện khá mạch lạc, và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54)…  Việc phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59).  Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).  Hiến pháp năm 1946 là di sản to lớn về tư tưởng và văn hóa lập hiến của dân tộc. Di sản này sẽ mãi soi sáng trí óc và con tim của chúng ta trong quá trình phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa      Trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Học thuyết này khác với học thuyết tam quyền phân lập vốn là nền tảng của mọi thể chế pháp trị trên thế giới, là không có sự phân lập giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà chỉ có sự phân nhiệm trong nội bộ các cơ quan nhà nước để đảm nhiệm chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.         Học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam. Có thể tóm lược những điểm chính của học thuyết như sau:  1. Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.   2. Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật do Quốc hội ban hành, trong đó hiến pháp và luật pháp là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng.  3. Thẩm quyền của Chính phủ được xác định trên cơ sở phân định những loại việc Chính phủ chủ động quyết định với những loại việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư trực tiếp quyết định hoặc cho ý kiến định hướng. Cũng tương tự như vậy, thẩm quyền của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định những loại việc do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân chủ động quyết định với những loại việc ban chấp hành và ban thường vụ đảng bộ quyết định hoặc cho ý kiến để hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện.  4. Hoạt động tư pháp, kể cả việc đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, do Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp căn cứ quy định của Đảng.  Vì quyền lực nhà nước tập trung và không phân lập nên Quốc hội và Tòa án chỉ là hai bộ phận của hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất, chứ không độc lập tuyệt đối như cách tổ chức chính thể ở các nước khác.  Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa khẳng định toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trên cơ sở xác lập vai trò đại diện mặc nhiên của Đảng đối với nhân dân nhằm thực thi và bảo vệ quyền lực đó. Toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp tập trung vào việc bảo đảm và củng cố vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.  Đối với hoạt động quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương, Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đề xuất một sự phân định thẩm quyền cụ thể và tương ứng giữa chính quyền và các tổ chức Đảng cấp trung ương và địa phương.  Như vậy, có hai hệ thống cùng tồn tại để điều hành và cai trị quốc gia, đó là chính quyền và Đảng, trong đó Đảng vừa lãnh đạo, vừa trực tiếp quyết định.  Hoạt động của các cơ quan tư pháp, tức là tòa án, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng trên cơ sở quy định của Ðảng. Cấp ủy Đảng ở địa phương đảm nhiệm việc lựa chọn để giới thiệu bổ nhiệm thẩm phán cho tòa án các cấp.  Thẩm phán do vậy vừa là đảng viên vừa là công chức trong bộ máy nhà nước. Vì lẽ đó, việc xét xử của thẩm phán không chỉ dựa vào luật và các bản văn lập pháp khác, mà còn dựa vào các bản văn lập quy của Chính phủ, Bộ và Ủy ban nhân dân địa phương.  Với sự công bố minh bạch và dứt khoát nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa như đã nêu trên, vị trí và vai trò của Đảng và Nhà nước trong chính thể hiện tại được xác lập rõ ràng, giúp tránh tình trạng can thiệp hoặc chồng lấn công việc giữa hai thiết chế như từ trước đến nay.  Tuy nhiên, sự áp dụng học thuyết này cũng đặt ra những vấn đề mới đối với bản Hiến pháp hiện hành.  Thứ nhất, nếu luật pháp là sự thể chế hóa đường lối và chủ trương của Đảng, thì vai trò của các đại biểu quốc hội ngoài Đảng trong việc xây dựng luật cần phải xác định cụ thể. Về mặt pháp lý, những đại biểu ngoài Đảng không có nghĩa vụ tuân thủ đường lối và chủ trương của Đảng. Vậy để những đại biểu này hành xử quyền hạn của mình, cần phải có cơ chế giúp họ hiểu và thấm nhuần quan điểm của Đảng đến mức có thể thể chế hóa thành luật, tất nhiên không chỉ đơn thuần qua vận động, mà phải bằng con đường hiến định.     Mặt khác, do vai trò chính của các đại biểu quốc hội là đại diện nguyện vọng của nhân dân, nên vào một thời điểm nào đó và liên quan đến một vấn đề nhất định, chính sách của Đảng có thể không phản ánh được thực tiễn phát triển của xã hội, thì các đại biểu quốc hội sẽ thể chế hóa nguyện vọng của nhân dân hay chính sách của Đảng?  Đây là tình huống cần tiên liệu cho hoạt động lập pháp tương lai.  Thứ hai, tuy vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp 1992, nhưng cần phải xác định phạm vi vấn đề nào các tổ chức Đảng trực tiếp quyết định và vấn đề nào chỉ cho ý kiến định hướng.  Điều này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối và chủ trương đối với các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng, và tránh ý kiến dị nghị về mối quan hệ của Đảng và Nhà nước trong điều hành và quản lý quốc gia.   Thứ ba, nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo luật có thể gặp nhiều trở ngại khi trên thực tế sự bổ nhiệm và miễn nhiệm thẩm phán do cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp quyết định căn cứ quy định của Đảng, thay vì chỉ dựa vào Hiến pháp và luật pháp. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực cải cách tư pháp của Chính phủ vì mục tiêu hàng đầu của chương trình cải cách là bảo đảm sự độc lập của hệ thống tài phán.   Cần phải xác định phạm vi lãnh đạo của Đảng và hiến định các quy định nội bộ của Đảng để bảo đảm tôn trọng nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập. Điều này cũng sẽ giúp các thẩm phán có thể chuyên tâm trao dồi nghiệp vụ lâu dài sau khi được bổ nhiệm, thay vì chỉ tìm cách làm hài lòng một cách ngắn hạn cấp ủy và ban cán sự đảng để chuẩn bị cho lần xem xét tái bổ nhiệm kế tiếp.  Một điều quan trọng khác là nên tập trung quyết liệt vào việc loại trừ sự buôn bán và ngả giá công lý giữa các bên tranh tụng. Đừng để người dân nghèo ngay tình chỉ biết mơ những giấc mơ công lý xa xăm mỗi khi bước chân đến cổng tòa của chính nhân dân. Điều chúng ta hiện nay thiếu là một công cụ hiến định giúp thanh lọc một số thẩm phán vừa bất tài vừa tham nhũng.  Cuối cùng, cần nghĩ đến khả năng tu chính Hiến pháp hiện hành để hiến định mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và Nhà nước mà Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đã xác lập, nếu không mối quan hệ đó trở nên vi hiến.    Luật sư Lê Công Định    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học thuyết sức mạnh biển hiện đại và triển vọng áp dụng với Việt Nam      Bài báo giới thiệu về lý thuyết Sức mạnh biển hiện đại và phân tích các thành tố sức mạnh biển của Việt Nam theo học thuyết này, từ đó đề xuất một số giải pháp bảo vệ sức mạnh biển trong bối cảnh hiện nay.      Cảng Đà Nẵng.  I. Học thuyết sức mạnh biển hiện đại  Trong lịch sử cổ đại, các dân tộc-các nhà nước ven biển đều phát triển các chính sách nhằm thực hiện tốt ba lĩnh vực cơ bản: sản xuất hàng hóa, vận chuyển hàng hóa, bảo vệ an toàn vận chuyển hàng hóa, muốn thế, phải có lực lượng hải quân và đội thương thuyền mạnh cùng một mạng lưới các căn cứ địa trên biển-đại dương. Đây chính là những nền tảng của “Quyền lực biển-(seapower)” hay Sức mạnh biển mà học giả Alfred Mahan đã đưa ra thành lý thuyết vào năm 1890.  Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sức mạnh biển quốc gia hiện đại bao gồm nhiều thành tố phức hợp hơn thời của Mahan. Nó phụ thuộc vào chính sách biển tổng hợp của quốc gia bao gồm các mặt trận: thứ nhất là đối ngoại, thứ hai là phòng thủ, quân sự (hải-lục-không quân), và thứ ba là hàng hải, thương mại (hình 1), cùng nhiều yếu tố như địa thế biển, tài nguyên biển, các ngành kinh tế biển (hàng hải, đánh bắt cá, bảo hiểm hàng hải, đóng sửa tàu, năng lượng tái tạo), trình độ dân cư, cấu trúc xã hội, thể chế chính phủ, các hoạt động hải quân, các lực lượng lục quân, không quân, các hoạt động hợp tác, các liên minh, công nghệ biển (hình 2).    II. Đánh giá sức mạnh biển Việt Nam  Trong lịch sử sức mạnh biển của Việt Nam đã có những thành tựu nhất định. Thời kỳ từ cuối thế kỷ 10 đến cuối thế kỉ 19 nổi bật sử dụng thuyền buồm và gỗ loại nhỏ của vua chúa nhà Nguyễn và của dân tộc Chăm (Cham Pa). Trong thời kỳ khoảng gần 1000 năm này đội thuyền mạnh nhất có thể nói đội Hoàng Sa được nhà Nguyễn thành lập. Các hoạt động của đội Hoàng Sa trong việc tuần duyên và một đội tàu thuyền hùng mạnh có thể chinh phục các quần đảo xa bờ như Hoàng Sa và Trường Sa. Thời kỳ này triều Nguyễn có ý chí mua tàu và thành lập đội tàu, nhưng cuối cùng cũng bất thành khi đội tàu của Pháp tấn công vào cảng Đà Nẵng. Trong đó thời kỳ 1000 năm này, có thể nói, sự nổi bật về hoạt động giao thương đồ gốm và tơ lụa là do đội tàu nước ngoài, chủ yếu là Nhật, Trung Quốc và một số tàu thuyền châu Âu mang lại. Di tích để lại là những tàu thuyền va chạm đá ngầm và đắm dọc bờ biển Việt Nam 700-1000 năm tuổi. Đến những năm trước năm 1975, lực lượng tàu thuyền Việt Nam luôn có sức mạnh duy trì sự hiện diện tại các quần đảo xa bờ như Hoàng Sa và Trường Sa. Thời kỳ sau 1975 khởi đầu cho việc khai thác dầu khí và khai thác biển. Nhưng về đóng tàu và hoạt động hàng hải thì đội tàu Việt Nam vẫn không đáng kể. Cho đến cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, đội tàu vận tải biển Việt Nam chiếm lĩnh được thị trường vận tải biển gần 30%. Trong lịch sử tại một yếu huyệt (hiểm lộ) biển của Việt Nam, quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã có một trận thư hùng quyết định chiến trường vào năm 1801 tại cửa Thị Nại mà người đời sau gọi đó là Xích Bích của Việt Nam. Hiểm lộ Thị Nại cũng là nơi vua Trần Duệ Tông tử trận trong trận phạt Chiêm năm 1377.  Chúng ta có hàng loạt các hải đảo chiến lược tại vùng ven bờ, và đặc biệt tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa đây có thể coi như các vị trí chiến lược đáp ứng được việc thực hiện học thuyết Mahan truyền thống. Các điều kiện chính để thực hiện học thuyết sức mạnh biển đó là:  Về vị trí địa lý. Biển Đông là con đường mang tính chiến lược, là huyết mạch giao thông hàng hải và hàng không, là “cầu nối” thương mại cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế Đông Á với các châu lục. Biển Đông luôn là tuyến đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải) (hình 3).    Trong 39 tuyến đường hàng hải hiện đang hoạt động trên thế giới (có tới 10 tuyến lớn), thì có 29 tuyến đi qua địa phận Biển Đông. Trong 10 tuyến lớn thì khu vực Biển Đông có một tuyến và năm tuyến đi qua hoặc có liên quan đến Biển Đông. Trung bình mỗi ngày có 250-300 lượt tàu biển vận chuyển qua Biển Đông, tính từ năm 2000-2009, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển tương đối ổn định, chẳng hạn dầu mỏ chiếm 33-36%, hàng chủ đạo 21-27% và hàng khô 39-42%.  Địa thế hàng hải Việt Nam. Hiện nay có 38 luồng đường biển, 49 cảng biển và 166 bến cảng; là một trong những điều kiện để nước ta tiến lên từ biển và làm giàu từ biển. Hệ thống các luồng biển lớn ở nước ta phân bố chủ yếu thành các cửa sông hình phễu, hệ thống các lạch triều, cửa sông phẳng dạng cúc áo, các cửa đầm, vũng vịnh. Đặc điểm các luồng biển về độ sâu, chiều rộng và chiều dài chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế; và hiện có 10 luồng biển có chiều dài hơn 1 km, rộng hơn 100 m và độ sâu trên 10 m, như nếu các luồng biển này được đầu tư đúng mức thì có thể trở thành các luồng biển mang tầm cỡ khu vực và quốc tế.  Bên cạnh đó, hệ thống các cảng biển ở nước ta được xây dựng rải rác ở hầu hết các địa phương có biển, với 49 cảng biển, trong đó 17 cảng biển loại I, 23 loại II, chín loại III và 166 bến cảng. Một điều bất cập đối với hệ thống luồng biển, cảng biển và bến cảng ở nước ta được xây dựng rải rác ở các địa phương, nhưng chưa có địa điểm nào đạt tầm quốc tế hay khu vực.  Tài nguyên và các ngành kinh tế biển khác. Hằng năm Việt Nam khai thác được khoảng 17-18 triệu tấn dầu thô. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, với tổng trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi (riêng trên địa phận quần đảo Trường Sa là 105 tỷ thùng), trong đó trữ lượng có khả năng khai thác 2 tỷ tấn dầu quy đổi và khí tự nhiên khoảng 1.000 tỷ m3. Việt Nam được xếp vào nước trung bình trong khu vực (tương đương Thái Lan và Malaysia), nhưng lại thấp hơn Trung Quốc (trữ lượng dầu mỏ ước tính 25 tỷ tấn và 8.400 tỷ m3 khí tự nhiên).  Biển Đông cũng được xem là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển (với hơn 11.000 loài) và là một trong 20 vùng biển có nguồn lợi hải sản cao nhất toàn cầu, được xem là ngư trường lớn của quốc gia và hiện nay đang được khai thác hiệu quả. Trong những năm qua, sản lượng khai thác chung hải sản đạt gần 2 triệu tấn/năm, trữ lượng khoảng 4,5 triệu tấn. Chỉ trong thời gian 20 năm, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản ở nước ta có tăng, nhưng tốc độ không cao so với sản lượng và đạt 6,2%/năm và tốc độ tăng số lượng tàu đạt 2,9%/năm.  Năng lượng sạch tái tạo, đặc biệt năng lượng gió trên biển với tiềm năng hơn 200.000 GW có thể thay thế, đáp ứng được nhu cầu điện năng của quốc gia.  Quy mô và trình độ dân cư ven biển.  Dân số các vùng biển, hải đảo và ven biển vào khoảng 30 triệu người, tức là khoảng 1/3 dân số toàn quốc, với nhiều lao động có trình độ trong các nghề đóng tàu, hàng hải, khai thác nuôi trồng thuỷ sản, diêm nghiệp, phong điện…  Hàng chục các đơn vị đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ phát triển kinh tế biển.  Với học thuyết sức mạnh biển hiện đại: Hiện nay Việt Nam đã hội nhập quốc tế toàn diện hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Việc hợp tác và hội nhập quốc tế trên biển sẽ giúp nước ta bảo vệ vững chắc chủ quyền trên biển và phát triển kinh tế vững chắc hơn. Chúng ta đã tham gia ký kết và thực hiện các công ước quốc tế về biển như UNCLOS 1982, IMO, DOC, MARPOL, CBD..  III. Đề xuất các giải pháp bảo vệ sức mạnh biển Việt Nam  1. Cần áp dụng song hành hai học thuyết Sức mạnh biển truyền thống và các đặc trưng sức mạnh biển hiện đại. Bảo vệ các tuyến hàng hải (SLOC) là những con đường hàng hải chính yếu nối các cảng thương mại, cảng tiếp vận và quân cảng. Cùng hợp tác với các cường quốc biển để các con đường SLOC xung quanh biển Đông không bị phong tỏa vào thời chiến. Chúng ta cần trang bị đủ hệ thống tàu thuyền, máy bay hiện đại giám sát và kiểm soát được hoàn toàn vùng biển Việt Nam khu vực Côn Đảo-Trường Sa-bờ biển Việt Nam thì chúng ta đã kiểm soát được một SLOC quan trọng này trong hàng hải thế giới.  2. Tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng tốt cho vùng bờ và tất cả các hải đảo trong quyền kiểm soát trở thành những địa điểm văn hóa, du lịch, trung tâm ngư nghiệp có giá trị kinh tế biển cao đồng thời với bảo đảm khả năng phòng thủ là nâng cao sức mạnh Việt Nam.  Phát triển và tăng cường đầu tư mạnh cho lực lượng đội tàu thương mại cùng phát triển, lực lượng khoa học công nghệ và khai thác biển, tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, ngành nghề đánh bắt hải sản và đóng sửa tàu, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ môi trường sinh thái và san hô.  3. Tăng cường các hoạt động đối ngoại tích cực như là thành viên tổ chức các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Và hàng loạt các hoạt động song phương và đa phương với các quốc gia trong khu vực và thế giới.  4. Thực hiện phân định biển, hợp tác biển theo Luật pháp quốc tế đặc biệt là UNCLOS 1982 với các quốc gia láng giềng xung quanh biển Đông.  —–  * Viện nghiên cứu biển và hải đảo  Tài liệu tham khảo.  Geoffrei Till, 2009. Seapower. A guide for the twenty-first century. Routledge, 432pp.  Alfred Mahan. Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783. NXB Tri Thức, 2013. 657 tr  Dư Văn Toán, 2013. Sức mạnh biển thế giới và đề xuất với Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, HVNG, tháng 9 năm 2013.   Lê Vĩnh Trương, 2011. Các cường quốc hải dương, SLOC và các hiểm lộ trên biển. http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-09-23-cac-cuong-quoc-hai-duong-sloc-va-cac-hiem-lo-tren-bien.    Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Học trở lại, tập trở lại, để sống trong cái đời sống rộng lớn đang tăng tốc hôm nay      Những ngày qua biết bao nhiêu con người đã kịp thời thể hiện và hành động mong cứu rỗi và bảo vệ môi trường sống, nối rộng vòng tay yêu thiên nhiên và con người. Điều ấy đã kích tạo nên một sự lưu thông tích cực thiết thực trong đời sống cộng đồng.      Mở rộng, lan toả được điều tốt đẹp, bình dị này là điều thật đáng quí.  Từ những đời sống nhỏ bé của những làng mạc, phố xã, phố huyện, và ngay cả của những thành phố xưa vốn từng nhỏ nhắn hơn rất nhiều, tất cả chúng ta đều phải học trở lại, tập trở lại để làm thế nào sống tốt được với nhau trong những thành phố hôm nay đã khổng lồ quá tải.  Nói chuyện, rất nhiều người bị hỏng xe trên đường cao tốc, họ đã làm gì? Họ chạy bộ băng qua đường cao tốc như vốn thường băng qua thành công những con đường phố huyện, để rồi bị chẹt xe chết thảm khốc. Vì sao? Vì thực ra trong đời họ, cũng như chính chúng ta thôi, họ chưa bao giờ chạy ngang qua những chiếc xe đang lướt với 130 km/h, 160km/h… hay còn hơn như thế. Tất cả những kinh nghiệm lao băng qua đường xưa kia của họ không những vô ích, mà còn lừa dối họ, khi họ mang chúng ra dùng một cách bản năng để đối đầu với tình huống này.   Các con vật hay bị chẹt chết thảm trên đường cao tốc cũng hoàn toàn bị sai lầm như thế.  Tôi đang nói điều gì vậy? Rằng đời sống hiện đại hoá lên rất nhanh ngay trước mắt chúng ta, và chúng ta, từ người dân đến người cầm quyền vẫn cứ tưởng rằng, và kiêu hãnh nghĩ rằng, “tôi đã biết tất cả rồi” về mọi chuyện để sống cái đời sống rộng lớn đang tăng tốc hôm nay.  Không phải như thế.  Mỗi người chúng ta, phải học lại, phải tập lại, và tham gia vào việc sắp xếp lại đời sống, cái đời sống đang ngổn ngang và bị tập trung hoá tăng tốc rất cao độ này, cái đời sống đang đòi hỏi những sự thay đổi rất căn bản cách vận hành, nếu không sẽ bị rối loạn khủng khiếp.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Học từ Hiến pháp 1946: Cần nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế      Trong cuộc thảo luận Hiến pháp những năm gần đây, bản Hiến pháp 1946 được nhắc đến nhiều, như một bản Hiến pháp mẫu mực, phản ánh chân thực tinh thần pháp quyền. Vì vậy có không ít người đề nghị cuộc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ cần quay lại mô hình đó là đủ. Nhưng nếu phân tích bản Hiến pháp 1946 trong bối cảnh lịch sử của nó, tôi e rằng để đạt được mục tiêu Nhà nước pháp quyền, chúng ta cần phải có một cơ chế tiến bộ hơn Hiến pháp 1946.       Sau khi thảo luận các ưu điểm cần học hỏi, tôi sẽ phân tích những hạn chế của Hiến pháp 1946, và những thận trọng cần có khi học tập từ mô hình này.   Tinh thần Hiến pháp 1946  So với Hiến pháp 1992 hiện hành, Hiến pháp 1946 quả thực có nhiều ưu điểm: ngắn gọn, súc tích; các điều khoản về dân quyền rõ ràng, không mập mờ bởi cụm từ “theo quy định của pháp luật”; phân định rõ quyền lập pháp, hành pháp, tòa án. Đặc biệt, hệ thống Tòa án tổ chức theo cấp xét xử, chứ không theo địa phận hành chính. Cách tổ chức hệ thống Tòa án theo địa phận hành chính như hiện nay khiến Tòa án thành “cấp dưới,” bị chi phối bởi các cơ quan hành pháp địa phương.     Bản Hiến pháp 1946 được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến  bao gồm các đảng chính trị và đoàn thể thuộc mặt trận Việt Minh, như Đảng Dân Chủ, Đảng Xã hội, nhóm Mác-xít. Các tổ chức đối lập có Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngoài ra còn nhiều đại biểu độc lập, tiêu biểu là như ông Nguyễn Sơn Hà doanh nhân Hải Phòng, người đã không bỏ phiếu thông qua Hiến pháp 1946 vì Hiến pháp không công nhận quyền tự do doanh thương; các đại biểu dân tộc thiểu số (ông Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Khánh Kim, những người cổ vũ quyền quốc dân thiểu số); các đại biểu tôn giáo (cha Tín, người đề xuất thêm quyền tự do giáo dục, cha Trực, sư Thích Mục Thể); các đại biểu phụ nữ, tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ khi thảo luận điều 12 về bình đẳng giữa nam giới và nữ giới.    Trong quá trình thảo luận Hiến pháp 1946, các đại biểu độc lập đều có quyền lên tiếng bảo vệ quan điểm của họ. Ngày 2 tháng 11 năm 1946, kỳ họp thứ hai của Quốc hội lập hiến bắt đầu thảo luận bản dự thảo Hiến pháp. Sau khi thuyết trình viên của Tiểu ban Hiến pháp, ông Đỗ Đức Dục (luật gia thuộc Đảng Dân Chủ), báo cáo các nguyên tắc chính và nội dung cơ bản của bản dự thảo đã được tiểu ban thống nhất, thành viên thiểu số của Tiểu ban được mời phát biểu để bảo vệ quan điểm của họ. Thành viên thiểu số của Tiểu ban Hiến pháp là những thành viên có quan điểm khác với quan điểm của đa số trong tiểu ban, và quan điểm thiểu số của họ đã không được phản ánh trong bản dự thảo. Tuy vậy, quy trình lập hiến bảo đảm quyền phát biểu của ý kiến thiểu số đó, để toàn thể Quốc hội được biết quan điểm của họ. Như vậy, họ có cơ hội thuyết phục Quốc hội lập hiến một lần nữa, đa số thắng thiểu số, nhưng đa số không thể tước đi quyền ngôn luận của thiểu số.     Tương tự như vậy, mỗi đại biểu đều có quyền góp ý trong việc thảo luận mỗi điều khoản cụ thể của Hiến pháp. Nếu Quốc hội chưa thể thống nhất ngay được với các đề xuất mới, Tiểu ban Hiến pháp được giao nhiệm vụ thảo luận lại câu chữ của đề xuất, và đưa ra trước Quốc hội để thảo luận trong kỳ họp sau. Ví dụ, đại biểu Công giáo – cha Tín –  yêu cầu thêm quyền tự do giáo dục vào điều 15 Hiến pháp. Sau một cuộc thảo luận sôi nổi và kéo dài mà không ngã ngũ, chủ tịch Quốc hội giao cho Tiểu ban hiến pháp nghiên cứu lại điều này. Đề xuất này sau đó được đưa vào Hiến pháp 1946: “quyền tự do mở trường học” nhưng vẫn phải theo chương trình của Nhà nước1. Ví dụ này chứng tỏ hai điều: quá trình thảo luận Hiến pháp 1946 là nghiêm túc, sôi nổi, nhưng quan điểm của đa số vẫn dè dặt mở rộng các quyền tự do và mong muốn kiểm soát các quyền tự do đó.  Trước khi bản dự thảo hiến pháp bắt đầu được thảo luận, và sau khi bản dự thảo đã được thông qua, đại diện các đảng chính trị và các đại biểu độc lập được mời phát biểu ý kiến. Có ý kiến phản đối bản dự thảo, như đại biểu Quốc Dân Đảng Phạm Gia Độ hay Trần Trung Dung  phản đối chế độ một viện, một cơ chế sẽ dẫn đến độc tài của đa số; hay đại biểu độc lập Nguyễn Sơn Hà, doanh nhân Hải Phòng, phản đối bản Hiến pháp vì trong đó không ghi nhận quyền tự do doanh thương. Có ý kiến chưa hài lòng với bản dự thảo, như đại biểu Mác-xít hay Xã hội, vì quyền lợi giới cần lao chưa được bảo vệ đủ. Có ý kiến hoàn toàn hoan nghênh. Cha Trực, đại diện Công giáo còn phát biểu, sau khi đọc dự thảo, rằng ông đã yên tâm rằng Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn toàn là một thể chế cộng hòa, chứ không phải cộng sản như nhiều người đã lo ngại. Tất cả những ý kiến đó đã được ghi lại trong báo Cứu quốc, cơ quan ngôn luận của mặt trận Việt Minh2.   Hạn chế của Hiến pháp 1946: Tập quyền chứ không phải phân quyền  Hiến pháp 1946 cần được đánh giá trong bối cảnh lịch sử của nó, thì mới có thể rút ra những bài học thực tiễn và hữu ích.           Cơ chế quyền lực Nhà nước của Hiến pháp 1946 là cơ chế tập quyền, không phải phân quyền. Các điều khoản về dân quyền và nhân quyền cũng chưa đầy đủ, không đáp ứng được nhu cầu bảo vệ các quyền công dân trong mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa công dân và Nhà nước ngày nay.        Bản Hiến pháp này được soạn thảo, thảo luận và thông qua trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Pháp, vốn toan tính quay trở lại áp đặt cai trị thuộc địa ở Đông Dương. Dù rằng có lẽ các đại biểu Quốc hội lập hiến không ai nghĩ rằng chiến tranh sẽ tái diễn chỉ một tháng sau khi bản hiến pháp được thông qua (ngày 19 tháng 12 năm 1946), không khí chung của thời điểm tháng 11 năm 1946 là sự cảnh giác và tinh thần bảo vệ nền độc lập và kiến thiết quốc gia. Đa số đại biểu Việt Minh đã cho rằng bản Hiến pháp phải đặt độc lập quốc gia và hoàn cảnh thực tế lên hàng đầu, có nghĩa rằng lợi ích tập thể đặt trước quyền lợi cá nhân, quyền lợi giai cấp. Ông Nguyễn Đình Thi, phát ngôn nhân của mặt trận Việt Minh, đã phát biểu về “cái căn bản của lập hiến” như sau: “Khi lập hiến, phải làm thế nào cho hợp với tình trạng xã hội. Ở nước ta, cái đích chính là giải phóng dân tộc. Nhưng chúng ta không quên rằng nước ta chưa được hoàn toàn độc lập. Muốn phản chiếu được thực trạng xã hội, hiến pháp Việt Nam phải là một lợi khí của tổ chức nhân dân để giải phóng dân tộc… Phải làm thế nào cho tất cả mọi giai cấp, mọi giới trong dân tộc sát cách nhau tranh đấu để dành được quyền lợi cho nước.”   Chính vì đa số trong Quốc hội lập hiến 1946 đã đặt tinh thần kiến thiết và bảo vệ quốc gia lên hàng đầu, cơ chế quyền lực Nhà nước của Hiến pháp 1946 thực ra là cơ chế tập quyền để kiến tạo một nhà nước mạnh. Nghị viện chỉ có một viện. Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước, với 2/3 số đại biểu tán thành; hoặc nếu sau lần bầu thứ nhất không có đủ 2/3 phiếu thuận, trong lần bầu thứ 2, chỉ cần đa số Nghị viện là đủ để bầu Chủ tịch nước (điều 45). Chủ tịch nước chọn Thủ tướng với chuẩn thuận của Nghị viện (Điều 47). Mà Thủ tướng được bổ nhiệm bởi Chủ tịch nước chắc chắn sẽ phục tùng các chính sách của Chủ tịch nước. Thêm vào đó, mỗi sắc lệnh của chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước (điều 53). Chữ ký này đảm bảo tiếng nói của Chủ tịch nước phải được tôn trọng trong các quyết định của Nội các.     Tiến sĩ Bùi Ngọc Sơn trong bài viết “Bài học từ Hiến pháp 1946: Ý chí nhân dân” đăng trên Tia Sáng 24/09/2011, có đề cập đến cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm với Nội các như một giá trị của Hiến pháp 1946. Nhưng đặt trong tổng thể cơ chế quyền lực của Hiến pháp 1946, vai trò kiểm soát quyền lực của việc bỏ phiếu bất tín nhiệm này là không đáng kể. Quyền lực hành pháp thực sự nằm trong tay Chủ tịch nước chứ không phải Thủ tướng và Nội các. Dù Thủ tướng và nội các có bị bỏ phiếu bất tín nhiệm, thì Chủ tịch nước, nhân vật thực sự nắm quyền lực, cũng không bị ảnh hưởng gì.   Tòa án có thể có tiềm năng làm đối trọng quyền lực. Nhưng thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm, mà bản Hiến pháp 1946 không quy định thêm bất kỳ đảm bảo thực tiễn nào cho độc lập của Tòa án ngoài một tuyên bố chung chung “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69). Tuyên bố này tự nó không làm cho Tòa án độc lập, mà cần một cơ chế cụ thể hơn, ví dụ, một nhiệm kỳ đủ dài để thẩm phán có thể phán xử theo pháp luật mà không phải lo sợ họ có thể bị miễn nhiệm bất kỳ lúc nào nếu phải ra quyết định trái ý các cơ quan quyền lực chính trị; hoặc một hệ thống tự quản của hệ thống Tòa án, để các cơ quan chính trị không thể can thiệp vào các quyết định kỷ luật hay hành chính của ngành Tòa án.  Đây là một điểm mà lần sửa đổi Hiến pháp sắp tới cần chú trọng giải quyết: kiểm soát quyền lực Nhà nước cần một cơ chế kiểm soát và đối trọng thực tiễn. Chế độ nào cũng tuyên bố “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” hay “ý chí quốc dân là trên hết.” Nhưng chỉ những tuyên bố chính trị chung chung không đủ để đảm bảo dân chủ, pháp trị hay dân quyền. Các cơ chế phân quyền, bầu cử, quy trình lập pháp, cơ quan bảo hiến, mới thực sự là thước đo quyết tâm chính trị trong việc bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.  Ngoài ra, Hiến pháp 1946 đã không ghi nhận một số quyền con người cần được đảm bảo trong bối cảnh xã hội ngày nay, ví dụ các quyền về môi trường, hoặc quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Một hạn chế khác của Hiến pháp 1946, mà tiến sĩ Bùi Ngọc Sơn đã từng nêu, là sự thiếu vắng cơ quan kiểm soát tính hợp hiến của các điều luật, hay tính hợp thức của các văn bản của Quốc hội và chính phủ. Nếu không có một cơ quan bảo hiến, dù đó là Tòa án Hiến pháp, chức năng bảo hiến của Tòa án Tối cao, hoặc một hội đồng bảo hiến trực thuộc Quốc hội, bản Hiến pháp dù tiến bộ đến mấy sẽ khó phát huy vai trò bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước lạm quyền.  Một hạn chế khác của Hiến pháp 1946 là việc hiến pháp này chưa được ban hành và thực thi. Tuy nhiên trong bài viết này tôi không tập trung vào khía cạnh này, mà chỉ phân tích tinh thần và mô hình của Hiến pháp 1946.    Học gì từ Hiến pháp 1946?  Như vậy, Hiến pháp 1946 có nhiều điều đáng để học hỏi, như sự súc tích ngắn gọn, các điều khoản về quyền con người rõ ràng không mập mờ, Tuy vậy, bản Hiến pháp 1946 có những điểm hạn chế, do được thông qua trong bối cảnh chiến tranh gần kề. Cơ chế quyền lực Nhà nước của Hiến pháp 1946 là cơ chế tập quyền, không phải phân quyền. Các điều khoản về dân quyền và nhân quyền cũng chưa đầy đủ, không đáp ứng được nhu cầu bảo vệ các quyền công dân trong mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa công dân và Nhà nước ngày nay.           Mỗi bản Hiến pháp đều là sản phẩm của thời đại trong đó chúng được làm ra, vì vậy không có bản Hiến pháp nào hoàn hảo. Điều quan trọng là mọi ý kiến đã có cơ hội được phát biểu chưa, mọi đề xuất đã được cân nhắc chưa, và cơ chế hiến pháp có uyển chuyển đủ để cho phép thích ứng với những chuyển biến trong tương lai của xã hội hay không?         Hiểu những hạn chế của Hiến pháp 1946 do bối cảnh lịch sử đem lại là để học những bài học thực tiễn cho lần sửa đổi Hiến pháp tới. Chúng ta không nên hài lòng với một mô hình nào đã có sẵn, dù đó là mô hình nước ngoài hay mô hình hiến pháp từ chính lịch sử, mà cần hiểu những nhu cầu của chính xã hội ngày nay, và cởi mởi tiếp thu mọi ý kiến từ mọi thành phần trong xã hội, để từ đó làm ra một bản Hiến pháp phù hợp với xã hội mà chúng ta đang sống.   —–  * Nghiên cứu sinh Luật, Đại học Indiana, Hoa Kỳ   1. Báo Cứu Quốc số 399.  2. Xem báo Cứu Quốc số 394 – 401, từ ngày 2 đến 10 tháng 11 năm 1946.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hội diễn” khoa học      Chủ đề vừa “vĩ mô” vừa “cấp thiết”, tổ chức đình đám, đại biểu tham dự có đầy học hàm học vị… Chỉ có chất lượng thảo luận là… nghèo nàn, nếu không muốn nói là vô bổ. Vì thế chỉ một lúc sau khai mạc “đông vui”, các đại biểu lần lượt lặng lẽ ra về… Hằng ngày, trên cả nước có không biết bao nhiêu hội nghị, hội thảo khoa học như vậy, mà cuộc hội thảo dưới đây chỉ là một ví dụ.        Tài liệu hội thảo là… tài liệu mật?   Cuộc hội thảo về kiểm soát lũ lụt và phòng hộ triều cường ở ĐBSCL diễn ra tại TP. Cần Thơ vào ngày 7-11, do VIPTAM (Viện khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển tài nguyên lãnh thổ dự phòng thiên tai và bảo vệ môi trường thuộc Hội hóa học Việt Nam) tổ chức.  Trước khi bước vào cuộc hội thảo chính, các đại biểu đã được mời tham dự dạ yến tiệc với chủ đề “Đồng hành cùng VIPTAM” tại TP.HCM và tiệc mừng “Nam Giao” tại TP. Cần Thơ. Theo lời một thành viên tham gia phục vụ, buổi tiệc chiêu đãi tại Cần Thơ rất thịnh soạn, uống toàn rượu Tây và bia đắt tiền. Đặc biệt, ban tổ chức đã mạnh tay chi… 17 triệu đồng mời các nghệ nhân đến phục vụ đờn ca tài tử nhằm giúp cho các đại biểu “hiểu rõ hơn về văn hóa của vùng sông nước Nam Bộ”.   Buổi hội thảo chính thức cũng được tổ chức rất long trọng, đầy hoa tươi. Đến khi kết thúc hội thảo vẫn còn dư hơn mười bó, không biết tặng cho ai. Một đội thiếu nhi với đầy đủ cờ, trống được “rước” đến tặng hoa chúc mừng. Ngoài ra, ban tổ chức cũng thuê cả một đội văn nghệ hơn chục người đến múa hát phục vụ.            Vài trang viết “đậm chất văn chương”              trong báo cáo khoa học.          Mặc dù tổ chức long trọng như thế, nhưng số người đến tham dự hội thảo khá thưa thớt. Trong khi lãnh đạo các tỉnh chịu ảnh hưởng nặng của lũ như: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Long An không ai đến dự thì trong thành phần đại biểu được giới thiệu, có tên của đại diện lãnh đạo một số tỉnh… miền Trung, không liên quan gì đến lũ lụt ở ĐBSCL. Thêm một điều đáng tiếc nữa là các nhà khoa học, các chuyên gia thủy lợi ở TP.HCM và khu vực ĐBSCL cũng không có ai đến dự.    Hoa dư thừa nhưng tài liệu hội thảo thì… không có! Một số nhà báo hỏi thì được ban tổ chức trả lời là “tài liệu… bí mật”, không cho được? Một người được thuê tổ chức sự kiện này cho biết: Họ thuê chúng tôi làm MC, nhưng khi hỏi xin chương trình hội thảo, họ bảo “bí mật”, khiến chúng tôi… bó tay, không thể tham gia giới thiệu chương trình?    Năm đại công trình kiểm soát lũ  Mở đầu buổi hội thảo, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Xuân Thắng, Viện trưởng VIPTAM, cho rằng: chúng ta có thể kiểm soát lũ một cách triệt để thay vì để cho người dân phải chịu cảnh “sống chung với lũ”! Theo ông Thắng, muốn kiểm soát triệt để lũ ở ĐBSCLthì phải xây dựng năm công trình, gồm: Đê giao thông Bắc sông Tiền dài 300 km, từ sông Trà (tiếp nối với sông đào Chợ Gạo) đến Konpong Cham, cách biên giới Việt Nam- Campuchia 130 km; đê giao thông – cảng biển Nam sông Hậu; nâng cấp kinh đào Chợ Gạo thành sông đào Chợ Gạo rộng 200 mét, sâu 25 mét; nâng cấp kinh đào Vĩnh Tế thành sông đào, đập tràn và xây dựng hệ thống hồ âm dưới đáy sông Tiền, sông Hậu có sức chứa 70 tỉ m3 nước. Theo ước tính thì vốn đầu tư xây dựng các công trình này chỉ từ 1- 2 tỉ USD.  Những câu nói… thú vị  Nhà văn Lê Đình Bích (giảng viên trường Đại học Cần Thơ) tỏ ra rất bức xúc về năm công trình kiểm soát lũ này. Theo nhà văn, ĐBSCL không có lũ mà chỉ có chế độ nhật triều, nguyệt triều và niên triều, nghĩa là mỗi ngày có hai con nước là con nước lớn/con nước ròng; mỗi tháng có hai con nước là con nước rong/con nước kém và mỗi năm có một mùa nước nổi tràn ngập cánh đồng. Mùa nước nổi đã mang phù sa và cá tôm về cho đồng bằng thêm tốt tươi, trù phú. Những tổn thất về người hằng năm là do bất cẩn, có thể phòng tránh được. Do vậy, ông rất bất ngờ trước đề xuất xây dựng đê giao thông quốc tế Bắc sông Tiền, vì theo ông, việc này sẽ làm cản dòng phù sa, khiến cho hàng chục ngàn ha đất phía Bắc sông Tiền sẽ bị bạc màu.   TSKH Nguyễn Xuân Thắng cho rằng: Đê giao thông quốc tế Bắc sông Tiền được xây dựng với mục đích: ngăn và kiểm soát dòng nước lũ chảy tràn qua biên giới vào Đồng Tháp Mười, đưa dòng nước chảy vào các sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn thoát ra biển đông theo cửa Soài Rạp nhằm giảm áp lực cho ĐBSCL và cả cho nước bạn Campuchia. “Còn việc phù sa không vào được thì phù sa sẽ chảy ra biển, bồi đắp cho mũi Cà Mau, mở mang bờ cõi”!- Ông Thắng nói.  Ông Vũ Quang Huy, Phó giám đốc Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ (mới nghỉ hưu) cho rằng: giải pháp xây dựng công trình với mục đích đẩy nước từ biển Đông sang biển Tây mà VIPTAM đưa ra là không khả thi vì nước lớn từ biển đông đẩy vào vài giờ sau lại rút ra biển, không đủ thời gian để đi qua biển Tây được.   Trong khi đó, Thạc sĩ Lê Hoàng Việt, Phó khoa Công nghệ (ĐH Cần Thơ) thì phản bác ý tưởng xây hồ âm dưới đáy sông vì theo ông, dưới đó không thể có sẵn những túi chứa rỗng khổng lồ (như thế sẽ bị sụp do áp suất). Kỹ sư thủy lợi Lê Văn Sang cho rằng: sông đào Chợ Gạo nếu được mở rộng chỉ có ý nghĩa về mặt giao thông thủy chớ không “ăn nhậu” gì với việc thoát lũ. Việc thoát lũ ra biển tây theo kênh Vĩnh Tế thời gian qua cũng rất yếu. Còn việc xây dựng đê giao thông Bắc sông Tiền, Nam sông Hậu là không khả thi và phản tác dụng vì trên hai bờ sông này có rất nhiều nhánh rẽ, không thể xây dựng nổi hệ thống cống đảm bảo yêu cầu thoát nước. Nguy hại hơn, hai tuyến đê này sẽ khiến các tỉnh bị kẹp phía trong gồm: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ… bị lũ lụt nặng.   Một điều khá “lạ” nữa là trong các tài liệu hội thảo mà các nhà báo tự tìm được, có khá nhiều chỗ không giống như những báo cáo khoa học thông thường mà “đậm chất văn chương”, khiến người đọc phải giật mình. Đơn cử một đoạn trong cuốn “đề cương số 2” (trang 6):   “Về độ bằng phẳng, ĐBSCL thoải hơn đồng bằng sông Hồng, nơi đã có hệ thống đê điều dài gần 4.000 km mà tổ tiên chúng ta đã mất hàng nghìn năm xây dựng để chinh phục dòng Nhị Hà, tạo lập đồng bằng sông Hồng- cái nôi văn minh lúa nước của nền văn hóa Đại Việt. Biết ơn dòng sông và khâm phục lao động của cha ông, nhà thơ hồi tưởng: Sông kia rày đã lên đồng/ Chỗ làm nhà ở, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò (Trần tế Xương)”.  Chưa hết, ở đoạn kết của cuốn đề cương trên, cũng có đoạn văn hùng hồn: “ĐBSCL là minh chứng cho qui luật âm dương vĩnh hằng, là đứa con vĩ đại của Sơn- Thủy son sắc thủy chung đời đời của mối tình vợ chồng Âu- Lạc…”. Trong đoạn kết của một cuốn tài liệu cũng có tên là “Đề cương số 2” (nhưng nội dung khác cuốn kia) có đoạn kết hết sức “lâm ly”:   “Dưới đây ghi lại một vài hình ảnh của ĐBSCL hiện tại để sau này, khi mà khát vọng cháy bỏng ý chí mong muốn đến tột bực thực hiện kiểm soát và điều khiển chế độ thủy văn ĐBSCL thành hiện thực, chúng ta sẽ ngẫm nghĩ nhìn lại, chắc chắn trong khoảnh khắc những kỷ niệm ký ức đổ về… biết bao vui, buồn, hạnh phúc… đan xen, và rồi tự hỏi: sao hồi đó mình để người dân phải chịu khổ hoài… lâu thế?  Rồi sẽ có một ngày, lịch sử sẽ nói về sự thật và tự hào về người con gái Châu Đốc- Việt Nam, ngôi sao của nền văn minh Cửu Long- Hồng Hà của Tổ quốc ta – Việt Nam muôn đời vĩ đại” .  Rất tiếc, trong cuộc hội thảo này không có đại diện của ngành Nông nghiệp và Thủy lợi nên không hiểu những đề xuất kiểm soát lũ của VIPTAM có ý nghĩa như thế nào và sẽ được thực hiện hay không. Thực tế mấy năm gần đây, người dân ĐBSCL đã quen “sống chung với lũ” và họ trông chờ mùa lũ đến để kiếm thêm thu nhập. Chính phủ cũng đã đầu tư hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng xây dựng các cụm tuyến dân cư vượt lũ để người dân có thể “sống chung với lũ”. Trong điều kiện như thế, một cuộc hội thảo khá tốn kém để bàn về “trị lũ” không hiểu có được người dân đón chào?   ———-  ảnh trên cùng: Quang cảnh hội thảo. Người đứng là TSKH Nguyễn Xuân Thắng    Trường Phong    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội đồng ngành – yếu tố quyết định  sự thành bại của NAFOSTED      Tới cuối ng&#224;y 31/3 một số lớn đề t&#224;i nghi&#234;n cứu cơ bản đ&#227; đăng k&#253; xin t&#224;i trợ từ Quỹ Ph&#225;t triển Khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ Quốc gia (NAFOSTED). Với cơ chế t&#224;i trợ v&#224; quản l&#253; mới, Quỹ NAFOSTED đ&#227; đem nhiều hy vọng đến cho những người l&#224;m khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ.      Bình mới rượu cũ hay một cuộc cách tân?   Ý kiến phổ biến là chúng ta chưa có một nền khoa học và công nghệ như mong muốn, và cách tài trợ các hoạt động nghiên cứu trong mấy chục năm qua chưa hỗ trợ hiệu quả sự phát triển khoa học và công nghệ nước nhà. Do vậy dễ hiểu vì sao sự ra đời của Quỹ NAFOSTED với những tiêu chí đổi mới đang đem lại nhiều hy vọng. Những người lâu nay kiên trì nghiên cứu khoa học đang rất mong được Nhà nước tài trợ xứng đáng để có thể dành tâm sức cho công việc và có kết quả sánh được với thiên hạ. Nhiều người tại các đại học hay viện nghiên cứu nhưng lâu nay chưa làm nghiên cứu, hoặc lâu nay chưa hướng đến công bố quốc tế chất lượng cao , …lại dường như ít nhiều lo lắng với những đổi mới này. Đang có một tâm trạng chờ xem mọi sự sẽ ra sao. Sẽ là bình mới rượu cũ hay sẽ là một sự đổi mới thật sự của việc tài trợ nghiên cứu? Tiếc là ta mới có NAFOSTED tổ chức xét đăng ký và tài trợ cho các đề tài nghiên cứu cơ bản, và chưa thấy công bố gì về kế hoạch Nhà nước tài trợ cho các loại hình nghiên cứu khác, như nghiên cứu phát triển. Chính vì vậy nhiều nhóm nghiên cứu, dù không làm nghiên cứu cơ bản, cũng hối hả chuẩn bị và nộp đề cương xin tài trợ của NAFOSTED vì “không thấy gì khác ngoài cái này”.    Phụ trách đề tài phải là người có công bố quốc tế tốt  Yêu cầu người làm nghiên cứu cơ bản phải hướng đến công bố quốc tế là kết quả của một cuộc tranh luận khá lâu, và là một bước tiến đáng ghi nhận. Dẫu sao, việc Quỹ khẳng định lại rõ ràng điều kiện có công bố ở các tạp chí trong danh sách xếp hạng của ISI trong 5 năm vừa qua của chủ nhiệm đề tài cũng là một “sự kiện” của giới khoa học. Cùng với việc Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức thu thập thông tin về các công bố quốc tế, các tiêu chuẩn này của NAFOSTED đã làm cho hầu hết cán bộ khoa học của ta phải tìm hiểu xem SCI và SCIE là gì, vào đấy khó dễ thế nào, …thiết nghĩ, đây chính là một thành công ban đầu của Quỹ. Nghiên cứu cơ bản là một loại nghiên cứu nhiều rủi ro, và do vậy việc xét chọn (do ta làm) là quan trọng và khó hơn rất nhiều so với việc đánh giá kết quả cuối (chủ yếu dùng kết quả đánh giá của các tạp chí hay các hội nghị quốc tế hàng đầu). Thường có hai tiêu chuẩn chính để đảm bảo cho các đề tài nghiên cứu cơ bản giảm được rủi ro của thất bại. Một là đảm bảo về chất lượng của nội dung và kế hoạch nghiên cứu do các chuyên gia trong hội đồng ngành của NAFOSTED đánh giá, và hai là đảm bảo về tính khả thi dựa trên thành tích nghiên cứu của các thành viên đề tài trong quá khứ. Nếu các thành viên và chủ nhiệm đề tài đã có những bài báo đăng ở các tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu, như trong các danh sách SCI/SCIE, nhất là vào những năm gần đây thì khả năng đạt được mục tiêu của đề tài trong quãng thời gian hai hay ba năm sẽ cao hơn, và ngược lại. Do vậy, ở giai đoạn đầu của cuộc đổi mới tài trợ, điều kiện về công bố SCI/SCIE của các chủ nhiệm đề tài theo tôi là cần thiết.      Các hội đồng ngành là yếu tố quyết định  Rất nhiều người quan tâm đến NAFOSTED cho rằng chất lượng các hội đồng ngành là yếu tố quan trọng nhất quyết định thành bại của Quỹ. Nếu các hội đồng gồm những người làm nghiên cứu giỏi và làm việc khách quan, Quỹ sẽ thành công và ngược lại. Hiện tượng đánh giá thiếu khách quan và cảm tính lâu nay đã và vẫn tồn tại nhiều ở ta. Do vậy các hội đồng của NAFOSTED cần bao gồm những nhà khoa học xuất sắc nhất, không kể tuổi tác, chức vụ, vùng miền. Người tham gia hội đồng cần là người đang thực sự làm nghiên cứu, công tâm, hiểu biết sâu và theo dõi được sự phát triển của lĩnh vực chuyên môn trên thế giới. Cụ thể, những người này ít nhất phải có được tiêu chuẩn về công bố quốc tế của các chủ nhiệm đề tài, và nói chung phải có thành tích khoa học cao hơn nhiều so với mức tối thiểu này. Sẽ tốt hơn nếu các hội đồng có nhiều thành viên có uy tín quốc tế (như trong ban biên tập các tạp chí quốc tế, được mời báo cáo ở phiên toàn thể tại các hội nghị quốc tế, chủ trì các hội nghị quốc tế chất lượng cao, …). Ở những ngành ta còn thiếu cán bộ đủ tiêu chí khoa học, cần mời các chuyên gia nước ngoài giúp đỡ.      Một phần của những suy nghĩ trên được tổng hợp lại từ trao đổi của nhiều người làm nghiên cứu trong thời gian qua. Mong muốn và hy vọng chung là những người điều hành Quỹ sẽ kiên trì các tiêu chí đổi mới để góp phần thúc đẩy nền khoa học và công nghệ nước nhà.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hồi kí đời tôi      Ông Tộ bảo:  – “Cụ Hinh này, tôi chỉ làm đến tổ trưởng dân phố, mà mấy ông bạn cứ giục tôi viết hồi kí, chả biết có nên không?”    – “Nếu bác Tộ thấy đáng viết, thì cứ viết thôi, bác Tộ ạ.”  – “Tôi cũng đã nghĩ đến nước ấy…   Nhưng khi thử viết lại đời mình, rồi đọc lại, lạ quá, thấy cứ đẹp như là huyền thoại của một bậc vĩ nhân đã được dung dị hóa đi vậy… Thành ra tôi đâm nghi ngờ trí nhớ của mình à.”  – “Thế thì bác viết lời tựa ‘Đây, thể loại hồi kí dành cho những độc giả không biết nghi ngờ’. Mình có lòng hướng đến chân thực, là căn bản, còn đến được hay không, là chuyện giời.”    – “Ờ nhỉ! Thế mà tôi không nghĩ ra.  Nhưng mà để xem… Có khi thôi, khỏi viết nữa…   Huyền thoại truyền mồm, có khi còn hay hơn thế nữa, Cụ Hinh ạ.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hôi nào cũng là hôi      Với những cuộc hôi của mà sản phẩm chiếm  đoạt được thuần túy là của cải vật chất, thì có lẽ xuất phát từ tư duy  ngắn hạn, sống chỉ biết trước mắt, nuông chiều lòng tham. Nhưng có những  cuộc hôi của hướng tới chiếm dụng các nguồn lợi tinh thần, hay nói cách  khác, là của cải vô hình, thì lại xuất phát từ một nguyên lý khác, liên  quan tới sự háo danh.     1.  Loot (Hôi của)1, là tên một truyện ngắn nằm trong tập Loot: and other stories (tạm dịch: Hôi của và những truyện khác), xuất bản năm 2003 của Nadine Gordimer, nhà văn Nam Phi từng nhận giải Nobel văn học năm 1991.  Như dụ ngôn phảng phất âm hưởng của trận đại hồng thủy trong Kinh Thánh Cựu ước, Nadine Gordimer kể về trận động đất mạnh chưa từng có xảy ra tại một miền duyên hải. Trận động đất, thay vì gây ra tình trạng ngập lụt như thường thấy, thì ngược lại, nó đẩy lùi đại dương ra thật xa và làm cho những gì ẩn kín nhất của thế giới nằm sâu trong lòng biển cả ngàn năm bỗng được phơi bày lồ lộ trước mắt thiên hạ. Của cải quý hiếm nằm lẫn với các phế phẩm. Xác những con tàu đắm nằm chung với những lưỡi gươm báu quyền uy bám đầy vỏ hàu…   Cư dân ở ngôi làng ven biển nọ, sau khi tháo chạy lên ngọn đồi để tránh hiểm họa, đã bất ngờ xô đạp nhau chạy ngược trở về, lao xuống lòng đại dương để giành giật những món đồ vô chủ.   Cảnh hỗn loạn bi hài đó được nhà văn mô tả như sau: “Người ta nháo nhào chạy đi lấy; lấy, lấy. Cái này ấy à – lúc nào, bất cứ lúc nào cũng có giá, một lúc nào đó sẽ có giá, cái nọ có thể hữu ích, cái này là gì đây, ờ, chắc có người biết, cái này hồi xưa chắc là của người giàu, cái này giờ là của tôi, nếu mày không chộp cái ở đằng kia thì sẽ có kẻ khác chộp đó, chân lê lết trơn chuội trên rong biển và thụt sâu vào cát sũng, những thực vật biển há hốc mồm nhìn họ… Cơ hội hôi của các cửa hàng – vốn là thói quen thường tình của thiên hạ trong những thời loạn lạc – thật không có gì sánh nổi. Niềm vui cuồng loạn khiến cho đàn ông, đàn bà và con cái họ có đủ sức lôi ra khỏi bùn và cát những gì mà chính họ chẳng biết rằng họ muốn, lảo đảo đi tới đi lui càng lúc càng nhanh; đấy không chỉ là thủ lợi nhờ tình huống ngẫu nhiên, đó còn là cướp đoạt sức mạnh của tự nhiên, cái sức mạnh từng khiến họ cuống cuồng chạy trong vô vọng. Lấy, lấy; trong vơ vét, họ có thể quên rằng nhà họ đã đổ nát hoang tàn và họ đã mất sạch những thứ của cải bị ràng buộc với thời gian…”  Và trong sự nhốn nháo của cuộc hôi của tập thể, những con – người – bầy – đàn đã bỏ ngoài tai một thứ âm thanh cuồng nộ từ xa đang tiến dần về phía mình. Rồi, như một nhát chổi lớn quét đi mọi thứ trong chốc lát: “Biển đã trở lại, vùi lấp họ để làm giàu thêm kho tàng của nó”, nữ nhà văn người Nam Phi viết.  Nhưng đó là cái chết của đám đông, của toàn cảnh một thế giới đầy vật dục bị hủy diệt. Nadine Gordimer “nham hiểm” hơn khi dành hai phần ba truyện mô tả cái chết của một quan chức danh tiếng đã về hưu, sống phong lưu và đơn độc trong căn biệt thự trên ngọn đồi ven biển. Không thuộc về cái đám đông cơ bắp ham muốn của cải tầm thường, ra sức vơ vét toàn những món đồ cổ quý báu, hay ít ra là có giá trị sử dụng cao, nhà chính trị về hưu này chẳng thiếu thốn gì, thế nên ông đã cướp từ biển một chiếc gương và nhanh chóng rút về căn nhà của mình. Nhưng, lại cũng nhận một kết liễu sòng phẳng và công bằng trong viễn cảnh của một cuộc tận thế: “Và ngọn sóng lớn đến từ sau đầu giường đã cuốn ông đi”.  Truyện có cái kết thúc bi hài của một hí kịch nhân sinh. Nó không bị chi phối bởi bất cứ lời nguyền thịnh nộ nào theo cách thức mà trận đại hồng thủy trong áng văn Cựu ước đã từng. Nó cũng không lấy quy chiếu luân lý chống lại sự tham lam bề mặt để hạ thấp con người, tôn vinh uy quyền thần thánh trong cuộc định phận lịch sử một dân tộc, một giống dân nào đó theo mô thức huyền thoại Biển Đỏ thời kỳ Moses2. Nhưng với chỉ chưa đến ba ngàn từ mang chất phúng dụ hiện đại, truyện đủ mạnh để làm nghiêng chao mặt đất dưới chân mà con người đang nuôi ảo tưởng vững bền, và từ đó, làm tròng trành cõi đại dương bí ẩn của nhân tính bằng một phép thử về lòng tham, sự tha hóa.   Quy luật sinh tử nghiệt ngã, những con sóng thần sẽ không cần biết đến câu trả lời vì sao con người lại say mê, mụ mị thái quá với những thứ chóng qua trong cuộc đời này đến vậy. Như thời gian, chúng cuốn đi tất thảy, mà không cần phân biệt một thanh gươm với một chiếc gương soi, một con tàu với một cây chổi, một kẻ giàu có hay một tên nghèo hèn, nắm xương của một chính trị gia về hưu hay một tên cướp cạn.   Chúng cuốn trôi, hòa trộn tất cả và “làm giàu thêm” kho tàng của mình.  2.  Trả lời báo chí, người mẹ hôi bia cảm thấy nhục nhã khi đứa con ngơ ngác hỏi: “Nhà mình không ai uống bia, mẹ lấy về làm gì?”3. Khoảnh khắc biết xấu hổ, sực tỉnh trước truy vấn hồn nhiên của một đứa trẻ cho thấy, người mẹ còn có một chút kháng thể trước việc làm xấu mà mình bị truyền nhiễm, dẫn dắt bởi đám đông và thực hiện nó trong vô thức. Bà mẹ đã làm cái điều mà nhiều người không có khả năng làm – không ít người biết sai mà vẫn cố tình làm sai, biết vô luân mà vẫn sống vô luân, biết vô đạo mà vẫn hành vô đạo. Những người đó quá mức khôn khéo, biết cách giấu tội, hoặc đủ quyền uy để bịt mắt thiên hạ.   Với những cuộc hôi của mà sản phẩm chiếm đoạt được thuần túy là của cải vật chất, thì có lẽ xuất phát từ tư duy ngắn hạn, sống chỉ biết trước mắt, nuông chiều lòng tham. Nhưng có những cuộc hôi của hướng tới chiếm dụng các nguồn lợi tinh thần, hay nói cách khác, là của cải vô hình, thì lại xuất phát từ một nguyên lý khác, liên quan tới sự háo danh.   Tồn tại ngay trong học giới, nhiều kẻ vì quá ý thức về sức mạnh của hiểu biết, quyền lực của danh tiếng, hiểu rõ và biết vận dụng lợi thế của công cụ truyền thông trong xã hội thông tin, đã luôn nháo nhào giành giật cái quyền sở hữu chân lý, thao túng quyền lực trong học thuật bằng mọi giá. Một khi tham vọng, niềm mê say chiếm lĩnh sức ảnh hưởng trong đại chúng không có điểm dừng, thì đám người này lộ rõ bản chất của sự hám danh; và từ hám danh tới hôi danh chỉ là một bước ngắn. Từ nỗi lo bị lãng quên đến hành động kiếm tìm, ăn theo sự bất tử (thực ra chỉ là ảo giác) là một bước ngắn, mà có khi chẳng cứ phải hành động, cái xấu sẽ tự đến trong não quyển của những kẻ bất tài.  Không khó để nhận diện những người này. Ban đầu họ tìm cách tạo ra các tụ điểm, bằng mọi giá có chân trong các đoàn hội, sống đời văn nghệ, thực chất là tụ bạ, liên kết sức mạnh, tạo ra ảnh hưởng thông qua các hoạt động xã hội; luôn sẵn lòng lên tiếng, bày tỏ quan điểm một cách ôn tồn hay sôi nổi, bất kể đó là vấn đề nằm ngoài chuyên môn chưa thực sự tỏ tường.   Một dạng thức dễ thấy khác, đó là sau cái chết của những tên tuổi lớn, bao giờ trên các mặt báo cũng xuất hiện dàn đồng ca của một đám văn nghệ sĩ trí thức lau nhau thi thố kể chuyện giai thoại, kỷ niệm với người đã khuất không ngoài mục đích tự đôn mình lên ngang vai phải lứa, ăn cùng mâm ngồi cùng chiếu với các bậc danh gia được xã hội trọng vọng và tiếc thương. Có những nhân vật lớn, trí thức thực thụ trong những năm cuối đời bị đẩy vào những nghi án, cô độc và đau đớn, nhục nhã và ê chề, nhưng vừa mới tắt thở đã xuất hiện nhiều bạn bè, đệ tử đến vậy.   3.  Kẻ thô lậu thì hôi của, người có chút học thức thì hôi danh. Xét cho cùng, danh cũng là thứ gián tiếp đem lại nguồn của cải hữu hình lẫn vô hình.  Nhưng cái thói hôi danh bằng mọi giá có khác chi tấm gương nhà chính trị về hưu kia “hôi” được từ biển cả, để đóng cửa mê đắm nhìn ngắm chân dung méo mó, bần tiện và bệnh hoạn của bản thân?  Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng. Họ cố lờ đi cơn sóng dữ đang ập đến từ phía đầu giường.    —  1 Trần Tiễn Cao Đăng dịch, giới thiệu trên evan.vnexpress.net, 2005.   2 Moses là nhà tiên tri, nhà quân sự, thủ lĩnh đã được Thiên Chúa chọn để đưa dân Israel thoát khỏi sự cai trị của người Ai Cập. Theo sách Xuất hành (thuộc Ngũ thư, Kinh thánh Cựu ước), Thiên Chúa đã ban cho ông một cây gậy thần, có thể phù phép gây ra cho dân Ai Cập mười tai họa sinh thái đầy kinh hoàng. Và đỉnh điểm, là cây gậy của Moses đã trỏ xuống dòng nước Hồng Hải, làm cho nước dựng lên như hai bức tường thành để dân Israel thoát khỏi đất Ai Cập ráo chân. Sau đó, với cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, nước biển Hồng Hải đã ập lại vùi lấp những đoàn chiến xa, kỵ mã của người Ai Cập đuổi theo phía sau.  3 Bà Nguyễn Hồng Ng., một trong số hàng trăm người tham gia hôi bia trong vụ lật xe chở bia ở tỉnh Đồng Nai vào đầu tháng 12.2013. Bà đã chia sẻ với báo chí: “Tôi quá nhục nhã trước con mình khi đã hành động như thế.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nghị Thượng đỉnh của Ban Ki – moon      Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Ban Ki-moon, 120 nguyên thủ quốc gia, mỗi người có một bài phát biểu bốn phút về những cam kết, mục tiêu của quốc gia mình trong chính sách bảo vệ khí hậu. Theo tờ The Guardian, có ít nhất năm lí do để có thể khẳng định hội nghị thượng đỉnh này đã làm thay đổi chính sách của các nước về biến đổi khí hậu.    Hội nghị thượng đỉnh Ban Ki-moon (hay còn gọi là là Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu) tổ chức vào ngày 23/9 vừa qua tại New York với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia, những người đại diện các tổ chức tư nhân và các tổ chức xã hội hoạt động về môi trường nhằm kêu gọi hành động vì một thế giới giảm lượng khí thải nhà kính.      Do Nghị định thư Kyoto (một nghị định ràng buộc các quốc gia công nghiệp giảm lượng khí thải nhà kính được kí vào năm 1997) sẽ hết hạn vào năm 2020, ban soạn thảo Hiệp ước biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) sẽ thực hiện một nghị định mới để trình lên Hội nghị biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 21 (COP21) tại Lima, Peru vào cuối năm 2014 và sẽ được triển khai vào năm 2015 tại Hội nghị lần thứ 22 (COP22) tại Paris, Pháp.             Như mọi người đã nói, các cơ quan hỗ trợ về biến đổi khí hậu của Mỹ đã vươn tới hơn 120 quốc gia trên toàn thế giới. Chúng tôi đang giúp nhiều nơi hơn vượt qua mặt tối của quá trình phát triển bằng cách sử dụng những công nghệ hiện đại để không lặp lại những sai lầm tương tự và những suy thoái về môi trường từng xảy ra […] Chúng tôi nhận ra lỗi của mình trong việc gây ra vấn đề [biến đổi khí hậu]; chúng tôi đón nhận trách nhiệm của mình để chiến đấu với nó. Chúng tôi sẽ làm phần việc của mình, và sẽ giúp  các quốc gia đang phát triển thực hiện việc của họ. Nhưng chúng tôi chỉ có thể thành công trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu này nếu chúng ta cùng hợp sức – tất cả mọi quốc gia – phát triển hay đang phát triển đều như nhau. Không ai đứng ngoài cuộc.                                                                                                               Tổng thống Mỹ Barack Obama          Hội nghị Thượng đỉnh của Ban Ki-moon  không phải là một phần của cuộc đàm phán cho nghị định mới đó và cũng chẳng đi đến một hiệp định cấp cao nào nhưng được mong đợi như một cú hích tạo ra sự thay đổi về chính sách khí hậu của các nước. Tại Hội nghị, những người đứng đầu của các quốc gia cùng các Bộ trưởng phụ trách về môi trường và các đại diện từ những tổ chức xã hội và các tập đoàn lần lượt trình bày về những chính sách, mục tiêu của quốc gia, tổ chức mình về năng lượng, rừng, tài chính…Qua đó, “Không khí chính trị quốc tế về vấn đề biến đổi khí hậu sẽ không còn như cũ nữa”. Đó là nhận định của tờ The Guardian, và họ đã đưa ra năm lý do để bảo vệ nhận định của mình.     Thứ nhất, sau hội nghị, tất cả các quốc gia trên thế giới phải công bố một loạt các mục tiêu bảo vệ khí hậu mới như một phần của đàm phán quốc tế, hướng tới hiệp định ở Paris sẽ diễn ra năm sau. Đó không chỉ là mục tiêu trên giấy mà là những tuyên bố, cam kết công khai của phần lớn các nguyên thủ có mặt tại Hội nghị. Vì vậy, khả năng tạo ra những chính sách mạnh mẽ về biến đổi khí hậu sẽ cao hơn.     Thứ hai, có những phát biểu nổi bật với cam kết đi liền chính sách. Phát biểu quan trọng nhất là của Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ. Ông nói, sẽ công bố “sớm nhất có thể” thời điểm xác định lượng khí thải nhà kính đạt hạn mức của Trung Quốc- quốc gia cho đến thời điểm hiện tại có lượng khí thải nhà kính lớn nhất thế giới. Người ta tính toán rằng, việc ngăn chặn sự nguy hiểm của biến đổi khí hậu thế giới chỉ khả thi nếu lượng khí thải của Trung Quốc ngừng tăng và giảm trong 10 năm tới. Trước ngày 23/9, Trung Quốc chưa hề cam kết một lịch trình nào cho điều này.              Với tư cách một nước có trách nhiệm chính, Trung Quốc sẽ nỗ lực hơn để đối mặt hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu và nhận những trách nhiệm quốc tế phù hợp với điều kiện, năng lực và giai đoạn phát triển của mình. Chúng tôi sẽ công bố những hành động [giai đoạn] hậu 2020 về biến đổi khí hậu sớm nhất có thể, bao gồm những cột mốc trong việc giảm cường độ phát thải carbon, tăng tỷ trọng nguồn nhiên liệu phi hóa thạch và tăng diện tích rừng, cũng như thời điểm đạt hạn mức phát thải CO2. […] Tại đây, tôi khẳng định rằng từ năm tới, Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi hỗ trợ tài chính hằng năm cho việc thành lập Quỹ Hợp tác Nam-Nam về biến đổi khí hậu. Thêm nữa, Trung Quốc sẽ cung cấp sáu triệu USD để hỗ trợ Tổng thư ký Liên Hợp Quốc trong việc tăng cường Hợp tác Nam-Nam trong việc giải quyết biến đổi khí hậu.                                                                Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ          Nếu Trung Quốc công bố sớm thời điểm hạn mức của khí thải nhà kính, Mỹ sẽ bị đặt dưới áp lực lớn phải thực hiện các dự án hỗ trợ về nông nghiệp và phát triển năng lượng sạch để hỗ trợ 120 quốc gia giảm thiểu các tác nhân làm biến đổi khí hậu.     Thứ ba, Hội nghị Thượng đỉnh đã thôi thúc một loạt các cam kết của các tập đoàn, chính phủ và các tổ chức khác trong hoạt động liên quan tới biến đổi khí hậu ở những lĩnh vực cụ thể. Như trong phiên thảo luận về rừng, 24 tập đoàn lớn trên thế giới cam kết sẽ chấm dứt việc phá rừng trước sự chứng kiến của Tổ chức Hòa Bình Xanh (một tổ chức phi chính phủ quốc tế có mặt tại hơn 40 quốc gia). Nếu được thực hiện, điều này sẽ mang lại tác động tích cực to lớn trong việc bảo tồn rừng nhiệt đới; một nhóm các ngân hàng, hãng bảo hiểm và quỹ phúc lợi từ nay đến cuối năm 2015 sẽ đầu tư 200 tỉ USD cho việc giảm CO2; 2000 thành phố trên thế giới cũng thông báo cùng nhau cam kết giảm lượng khí thải một cách quyết liệt mà không cần chờ tới sự ra đời của hiệp định quốc tế tại Hội nghị Biến đổi khí hậu – COP22 ở Paris, Pháp.     Thứ tư, Hội nghị Thượng định đề ra lí do hợp lý cho những hành động quyết liện trên. Nhiều lãnh đạo quốc tế, bao gồm Tổng thống Mỹ Obama và Thủ tướng Anh David Cameron chỉ ra rằng, hiện giờ, việc lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế và giảm khí thải là điều không cần thiết: các quốc gia, cùng nhau có thể thực hiện cả hai lựa chọn. Họ trích dẫn từ báo cáo Kinh tế Khí hậu (climate economy) được xuất bản tuần trước nhằm phục vụ Hội nghị Thượng đỉnh đã chỉ ra cho chính phủ các quốc gia bằng chứng mới về lợi nhuận kinh tế của những hoạt động bảo vệ khí hậu.     Các tờ như Financial Times và The Economist cùng nhiều ấn phẩm khác đều nhận thức được rằng, giảm khí thải thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và hoạt động kinh tế mạnh mẽ hơn. Tranh cãi xưa cũ cho rằng hành động ngăn chặn sự biến đổi khí hậu quá đắt đỏ về kinh tế giờ đây cuối cùng cũng được gác lại.      Thứ năm, và có lẽ là quan trọng nhất trong tất cả các lí do, là hội nghị đã lại thổi bùng lên phong trào chống biến đổi khí hậu.      Tờ The Guardian cho rằng, hội nghị này đã không đưa ra được quyết định gì nhưng đã mang đến nhiều thay đổi không khí chính trị quốc tế về biến đổi khí hậu. Giờ đây, vấn đề này đã trở nên nóng bỏng trong mối quan tâm của những người làm chính sách và nó sẽ không nguội đi cho đến khi một hiệp định quốc tế được kí kết ở Paris vào năm tới.       Hảo Linh (lược dịch từ http://www.theguardian.com/environment/2014/sep/24/five-ways-ban-ki-moons-summit-has-changed-international-climate-politics-forever)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập khoa học công nghệ: Chúng ta cần làm gì?      Quá trình hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Đây là một cơ hội lớn mà Việt Nam không thể không tìm cách khai thác để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như Nghị quyết Đại hội Đảng X đề ra.    Quá trình toàn cầu hóa thương mại đã dẫn đến quá trình quốc tế hóa tri thức với sự di chuyển địa điểm của hoạt động R&D từ một nước ra nước ngoài và ngược lại; sự di chuyển này đã tăng nhanh hơn sự di chuyển của các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Quá trình này đang diễn ra ở những nước có khoa học và công nghệ phát triển cao và các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam phải có những cố gắng rất lớn phát triển khoa học và công nghệ để có thể tham gia nhiều hơn vào quá trình này.  Khoa học và công nghệ thế giới đã đến Việt Nam khi người Pháp xâm chiếm nước ta. Thực dân Pháp cần phải đào tạo một số người bản xứ để mở rộng và tăng cường khai thác thuộc địa và phục vụ bộ máy cai trị của chúng. Nhưng việc đào tạo này chỉ hạn chế ở một số ít lĩnh vực với mức tối thiểu và ở những cấp học dưới, những chuyên gia trình độ cao được đưa từ chính quốc sang. Ở nhà máy dệt Nam Định chẳng hạn, kỹ sư hóa chất về nhuộm là người Pháp. Lúc bấy giờ ở Đông Dương chỉ có duy nhất một người Việt Nam là kỹ sư hóa nhuộm. Đó là ông Đặng Vũ Tiếu. Ông đi học ở Pháp không phải vì chính phủ thuộc địa quý trọng ông (ông bị đuổi khỏi trường Albert Sarraut vì  cãi nhau với hiệu trưởng) mà là do học bổng của nhà tư sản Vũ Văn An ở Hà Nội muốn có chuyên gia của mình để mở nhà máy nhuộm cạnh tranh với người Pháp.   Do đòi hỏi của nhiều thanh niên trí thức không có điều kiện xuất ngoại, thực dân Pháp đã buộc phải mở những trường đào tạo cấp cao hơn: trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương được thành lập năm 1920 và tuyển sinh lần cuối cùng năm 1930, song nặng về văn chương hơn là về khoa học (tốt nghiệp trường này có các ông Dương Quảng Hàm, Nguyễn Lân, Nguyễn Đình Hưởng, Vũ Tam Tập…; các bà Tăng Xuân An, Hoàng Thị Nga); trường Đại học Khoa học Hà Nội thành lập năm 1941 với các chứng chỉ về toán, lý hóa và vạn vật (khóa đầu tiên có các ông Nguyễn Văn Chiển, Nguyễn Chung Tú…).  Việc đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ tuy rất hạn chế về số lượng và cấp học, nhưng về chất lượng thì người Pháp chẳng dại gì mà hạn chế để chỉ có những nhân viên kém cỏi có hại cho mục đích cướp bóc tài nguyên và đàn áp nhân dân thuộc địa của họ. Trình độ của những người được đào tạo ở thuộc địa do đó cũng tuân theo các tiêu chuẩn ở chính quốc. Thí dụ như một người tốt nghiệp tú tài toán toàn phần ở Đông Dương có thể tự động được nhận vào Đại học Sorbonne ở Paris. Nếu cán bộ khoa học và công nghệ của chúng ta được đào tạo để phục vụ công cuộc xây dựng đất nước cũng với trình độ như vậy (cũng có nghĩa là theo tiêu chuẩn quốc tế) mà lại với quy mô như đã thực hiện thì chắc chắn vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế của ta hiện nay sẽ ít phải làm các nhà lãnh đạo Nhà nước băn khoăn.  Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ cũng như bất kỳ hoạt động nào khác về phát triển khoa học và công nghệ đều luôn đòi hỏi những con người có trình độ đạt các tiêu chuẩn chung trên thế giới. Một hệ thống giáo dục và đào tạo lảng tránh các tiêu chuẩn quốc tế sẽ mang lại nhiều điều tệ hại cho quốc gia. Chính hệ thống đó đã đào tạo ra hoặc tạo điều kiện tồn tại cho những người biên soạn sách giáo khoa năm nào cũng phải sửa, những người tổ chức việc thi cử năm nào cũng thay đổi, và có nhiều thứ “sáng kiến” kỳ lạ khác (thí dụ như biên soạn “sách giáo khoa sạch”), những việc làm mà những người đó đáng ra phải nhận trách nhiệm về những tổn thất do làm đi làm lại nhưng lại xem là một công việc mà học sinh buộc phải là khách hàng của họ!  Vừa mới đây, theo báo cáo “Cạnh tranh toàn cầu” của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), so với Thái Lan, các chỉ số xếp hạng về công nghệ của ta ở rất xa phía dưới: công nghệ: 92(VN) – 43(TL), đổi mới công nghệ: 79-37, chuyển giao công nghệ: 60-4, thông tin và truyền thông: 86-55, sử dụng công nghệ cao trong công nghiệp: 20%-31%. Theo báo cáo của cơ quan Tình báo kinh tế (EIU) về chỉ số sẵn sàng điện tử của 65 nước năm 2005 thì Việt Nam đứng ở thứ 61 trong khi Inđônêxia là 60, Trung Quốc 54, Philippin 51, Thái Lan 44, Mailaixia 35, Xingapo 11. Tình trạng này khó có thể nói là không có liên quan đến tình trạng thấp kém của giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ của ta hiện nay.  Nhiều nhà khoa học và giáo dục của ta đã bàn rất nhiều, năm này qua năm khác, về tình trạng giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ của ta hiện có quá nhiều vấn đề nghiêm trọng (xem: Khoa học- Giáo dục: Đi tìm diện mạo mới, NXB Trẻ/Tia Sáng, 2006). Lẽ nào mà cái tình trạng này vẫn cứ tồn tại, mọi người lại tiếp tục bàn cãi và tạp chí Tia Sáng lại phải mất nhiều trang cho những vấn đề không có gì là mới mẻ cả?!    Đặng Mộng Lân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập và Đổi mới sáng tạo: Thay đổi từ lượng sang chất      Là một nền kinh tế rất mở và càng ngày độ mở càng rộng hơn, Việt Nam đang chịu những tác động ngày càng sâu đậm và rõ ràng hơn của thị trường bên ngoài cũng như sự trỗi dậy của các đối thủ cạnh tranh cả cũ lẫn mới.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2019 | Ảnh BTC  Trong khi đó, môi trường thế giới chưa bao giờ thay đổi mạnh mẽ với tốc độ nhanh chóng như thời gian vừa qua, đặc biệt chứng kiến những biến chuyển bất ngờ gần như không ai có thể tiên đoán được như cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung từ tháng 3/2018. Cuộc chiến đó ban đầu chỉ biểu hiện ở khía cạnh thương mại, nhưng càng ngày càng bộc lộ rõ là một cuộc cạnh tranh chiến lược tổng thể giữa hai cường quốc để xác lập lại vị thế thống lĩnh toàn cầu của mình. Từ đấy, dòng chảy của thế giới hay cách thức quan hệ giữa các quốc gia đã nhanh chóng biến đổi theo hướng càng ngày càng trở nên phức tạp và đa chiều hơn. Người ta không chỉ quan tâm chủ yếu đến quan hệ thương mại giữa các nước hay các dòng vốn đầu tư mà còn bắt đầu xét nét đến các dòng chuyển giao công nghệ, sự cố gắng chiếm đoạt tài sản của nhau, chiến lược tạo thêm ảnh hưởng của nước mình lên trên nước khác….     Trong sự hội nhập đó, Việt Nam cũng đã dần thay đổi cách thức tiếp cận các vấn đề của mình. Trước đây, chúng ta nhấn mạnh và tập trung cao về khía cạnh hội nhập “kinh tế quốc tế”, nhưng càng ngày chúng ta càng thấm rõ hơn rằng phạm trù “kinh tế” này rộng mở hơn nhiều so với nghĩa hẹp của những thứ thương mại hàng hóa dịch vụ, xuất khẩu lao động hay đầu tư tiền của giữa các nước.Đằng sau đó là rất nhiều nhân tốvà những tác động của chúng giờ đây có thể đến từ nhiều hướng.  Những nỗ lực đáng ghi nhận của hội nhập  Nếu nhìn vào kết quả của hội nhập bằng các con số như tăng trưởng xuất nhập khẩu, GPD hay FDI thì có thể nói năm 2018 là một năm thành công của Việt Nam. Xuất khẩu và xuất siêu đạt mức kỷ lục (thặng dư 7,2 tỷ USD), đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục tăng cao(hơn 30.8 tỷ USD đăng ký trong 11 tháng đầu năm, giải ngân đạt khoảng 53.6%) trong khi dòng đầu tư nói chung trên thế giới – ở một chừng mực nào đó – đang dịch chuyển sang các nước phát triển hơnvà có sụt giảm nhất định ở một số nước đang phát triển khác. Tăng trưởng GPD năm 2018 theo công bố là 7.08%, mức tăng cao nhất trong vòng 8 năm qua và cũng vượt kỳ vọng ban đầu 6.7% của quốc hội.Tất cả những con số này cho thấy những bước tiến của Việt Nam trong năm qua. Tuy nhiên cần lưu ý sự phát triển của Việt Nam hiện đang dựa rất nhiều vào hội nhập và các nguồn lực nước ngoài, ví dụ FDI chiếm tới 50% sản lượng công nghiệp và 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đầu tư nước ngoài đóng góp gần 20% tỷ trọng GDP và chiếm khoảng hơn 23% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi vực FDI hầu hết sử dụng lao động giá rẻ và không có nhiều chuyển giao công nghệ.  Việt Nam đang chuẩn bị bước sang giai đoạn hội nhập mới – thời kỳ nâng cao giá trị nội tại và đáp ứng những chuẩn mực cao của quốc tế. Điều này biểu hiện bằng việc Quốc hội thông qua Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP (tháng 10/2018) và chính phủ vẫn đang dốc sức đàm phán và thúc đẩy Liên minh châu Âu sớm hoàn tất Hiệp định thương mại tự do EVFTA trong năm 2019. Khác với các FTA trước, hai hiệp định thế hệ mới này đặt ra những đòi hỏi cao hơn về mọi mặt, đặc biệt là yêu cầu về cải cách thể chế. Việc quyết tâm thúc đẩy và thực hiện CPTPP và EVFTA là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang thực sự thay đổi từ lượng sang chất.    Bà Phạm Chi Lan | Ảnh Bizlive.com  Trong năm 2018, Việt Nam đã ít nhiều tận dụng được một vài cơ hội do sự xung đột thương mại Mỹ-Trung mang lại. Khi Mỹ đánh thuế cao một số mặt hàng của Trung Quốc như đồ gỗ thì Việt Nam cũng đã tranh thủ bật lên để tăng cường xuất khẩu gỗ sang Mỹ; hoặc một số mặt hàng như thủy sản (tôm, cá…)đã có xu hướng phục hồi tốt hơn. Minh Phú, bà Khanh, Tỉnh Hoàn… một loạt công ty đều đi theo hướng đi vào công nghệ và làm sản phẩm sạch, chuyển hẳn sang cách nuôi tôm khác theo những yêu cầu về sinh thái, hữu cơ. Rau quả cũng vậy, năm nay sở dĩ Việt Nam xuất khẩu rau quả vượt trội lên, đáp ứng được một loạt yêu cầu của các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc, Châu Âu… là nhờ ứng dụng công nghệ để kiểm soát được toàn bộ quy trình sản xuất cho đến lúc xuất khẩu. Không chỉ dựa vào những thời cơ nhất thời, Việt Nam đã có những cố gắng rất lớn để cải thiện năng lực vị thế bằng cách từ bỏ dần cách cạnh tranh chỉ bằng giá thấp, thay vào đó cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất kinh doanh tốt hơn để đưa lại giá cả cao hơn trong xuất khẩu.  Có lẽ trong những thành tựu xuất khẩu của năm 2018 thì gạo là mặt hàng đặc biệt gây chú ý.Lần đầu tiên bình quân giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cao hơn so với một số đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan (công bố của bộ NN&PTNT vào tháng 3/2018).Trước đây, Việt Nam thường thua kém Thái Lan về cả chất lượng và giá cả, nhưng bước vượt lên này chứng tỏ cố gắng rất lớn của việc tái cơ cấu ngành hàng gạo. Một số vùng trồng lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long đã tập trung sản xuất những giống gạo không phải lấy sản lượng cao mà là chất lượng tốt để xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU hay Mỹ, thay vì ham những thị trường giá rẻ nhưng dễ vào như trước. Tháng 5/2018, gạo Việt Nam chính thức có tên trên bản đồ nông sản khi Bộ NN-PTNT ban hành quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận quốc gia Gạo Việt Nam/Vietnam Rice nhằm quảng bá sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh cho hạt gạo. Tháng 10/2018, Chính phủ sửa đổi Nghị định 109 cũ để ‘cởi trói’ cho xuất khẩu gạo bằng việc xóa bỏ các quy chế bắt buộc về kho chứa tối thiểu 5,000 tấn và cơ sở xay xát công suất tối thiểu 10 tấn/giờ, cũng như đơn giản hóa thủ tục hải quan cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo.  Mặc dù nhiều chuyên gia vẫn trăn trở rằng năm 2018, Việt Nam tăng trưởng cao nhưng chưa thấy những động lực mới xuất hiện, nhưng những tín hiệu manh nha trong một vài nhóm hàng như trên đã cho thấy một sự khởi động thay đổi theo chiều hướng tốt. Chính những điều đó có thể tạo nền tảng để sau này trở thành những động lực thực sự cho tăng trưởng của Việt Nam.  Đổi mới sáng tạo từ phía Chính phủ  Từ năm 2016 đến nay, lãnh đạo Đảng và Nhà nước liên tục thúc đẩy và có nhiều hoạt động nhằm đưa nền kinh tế chuyển sang phát triển theo hướng đổi mới sáng tạo (ĐMST), nhất là thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các hoạt động ĐMST. Năm 2018 ghi nhận Việt Nam có nhiều hoạt động quốc tế và hội nghị lớn trong nước, đình đám nhất liên quan đến công nghệ và đưa ra những thông điệp mạnh mẽ về khoa học công nghệ và ĐMST.  Tuy nhiên, để có một nền kinh tế ĐMST, đầu tiên chính phủ phải là người tiên phong. Bên cạnh những chủ trương chính sách đưa ra ngày càng rõ ràng hơn, thì chính phủ điện tử (CPĐT) dường như là dấu ấn ĐMST trong lĩnh vực công tốt nhất của Việt Nam năm nay. Tháng 8/2018, Ủy ban quốc gia về CPĐT được thành lập do đích thân Thủ tướng làm chủ tịch và đang ráo riết kết nối, tinh chỉnh các hoạt động dịch vụ công trực tuyến; hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực. CPĐT đã bắt đầu lôi kéo được sự tham gia của doanh nghiệp một cách tốt hơn. Đây là tín hiệu tốt, vì nếu ở tầm doanh nghiệp áp dụng ĐMST mà bản thân hệ thống chính phủ không đổi mới kịp thời, ít nhất không đưa được vào hoàn chỉnh hệ thống CPĐT và hệ thống cơ chế một cửa quốc gia thì Việt Nam sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội phát triển.    Chính phủ điện tử dường như là dấu ấn ĐMST trong lĩnh vực công tốt nhất của Việt Nam năm 2018.    Tuy vậy, số lượng các bộ ban ngành được kết nối cũng như các thủ tục hành chính được triển khai trên các hệ thống điện tử chỉ ở mức khoảng trên dưới 50% so với mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2016 – 2020. Gần 5 năm kể từ khi Nghị quyết 19 và hơn 2 năm kể từ khi Nghị quyết 35 đầu tiên được ban hành, chính phủ đã cố gắng cải thiện môi trường kinh doanh (MTKD) và đã có những chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, theo đánh giá thì tốc độ cải thiện vẫn chưa tốt mà một trong những nguyên nhân chính là do nhiều cơ quan nhà nước ở các cấp khác nhau vẫn chưa coi việc cải thiện MTKD là vấn đề trực tiếp liên quan đến cải cách hành chính, dẫn đến tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Nếu Việt Nam thiết lập được những hệ thống kết nối minh bạch như CPĐT thì các mục tiêu như cắt bỏ 50% điều kiện kinh doanh sẽ hoàn toànthực hiện được đúng tiến độ.Có thể nói, việc hội nhập thúc đẩy ĐMST không chỉ thuần túy dưới góc độ kinh tế bởi đổi mới bộ máy nhà nước là vấn đề của cả một hệ thống chính trị, là những cam kết chính trị của nhà nước với toàn bộ công dân của mình. Nếu chúng ta thực hiện tốt chỉ riêng điều này thôi cũng đã giúp cho Việt Nam thay đổi rất nhiều cả về khía cạnh chống tham nhũng, tăng cường năng lực quản trị của nhà nước, tăng năng lực của cán bộ công chức trong công việc và cải thiện được quan hệ của nhà nước với doanh nghiệp và người dân.  Những phép thử cho phía doanh nghiệp  Hội nhập là một trong những nhân tố thúc đẩy ĐMST trong nước, đồng thời cũng mở ra cánh cửa để Việt Nam đo lường được rõ ràng hơn vị trí của mình trên thế giới cũng như sự biến đổi của mình trong dòng chảy quốc tế. Có những thứ thay đổi theo hướng tích cực hơn, như năm 2018 Việt Nam có 7 sản phẩm đứng vào Top 5 thế giới đều từ nông-lâm nghiệp, chứng minh phần nào được rằng nông nghiệp vẫn là một ngành thế mạnh, và từ đấy có thể tập trung tiếp tục đầu tư vào nông nghiệp bằng những ứng dụng ĐMST để ngành này bật lên mạnh mẽ hơn nữa. Mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ nêu ra Việt Nam phấn đấu trong 10 năm nữa trở thành một trong số 10-15 nền nông nghiệp phát triển thế giới sẽ có thể đạt được. Tuy nhiên, có những ngành khi hội nhập sẽ thấy mình vất vả hơn và cơ hội sẽ nhỏ bé hơn trước, ví dụ như dệt may. Bây giờ chúng ta vẫn thấy còn cơ hội cho ngành may, nhưng nếu còn kéo dài kiểu may gia công như hiện nay thì có lẽ tương lai ngành này sẽ không còn nữa.  Lúa gạo và may mặc là hai ví dụ vô cùng đặc trưng cho những kiểu mẫu tác động, rủi ro tiềm tàng và cách thức phản ứng giữa hội nhập và ĐMST. Các ngành khác hoàn toàn có thể học được những bài học kinh nghiệm từ đây.  Ngành gạo đã phải thay đổi bởi nó đã từng chạm đến điểm nghẽn mà nếu không thay da đổi thị thì sẽ không thể phát triển được nữa. Bao nhiêu năm, lúa gạo bị chi phối bởi yêu cầu về số lượng – chính sách duy trì3,8 triệu ha đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực, trồng 2-3 vụ lúa một năm lấy năng xuất cao và sản lượng nhiều, và vui mừng với thành tích xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới về lượng.  Nhưng khi những thị trường truyền thống như Philipine hay châu Phi không thể tiếp tục được do Ấn Độ nổi lên cạnh tranh bằng giá cả rẻ hơn đáng kể, hoặc khi Trung Quốc thắt chặt nhập khẩu gạo và tăng thuế, khiến ngành gạo Việt Nam trở nên lao đao. Trong khi đó, các thị trường lớn đòi hỏi chất lượng cao hơn vẫn đang rộng mở. Việt Nam nhìn thấy nước láng giềng Campuchia khi quay lại xuất khẩu gạo đã tiến thẳng sang châu Âu chứ không tới các nước nghèo khó khác, do vậy họ thu được chất lượng và giá cả cao hơn hẳn Việt Nam.  Kể cả tại thị trường trong nước,khi người tiêu dùng ở các tỉnh Cần Thơ, Tiền Giang, Long An… quay lưng lại ăn gạo Sóc Miên, Sa Mơ của Campuchia chứ không mua gạo Việt nữa, thì người làm gạo nhận ra rằng ngay cả nuôi cho gần 100 triệu đồng bào của mình cũng phải nuôi dưỡng cho tử tế, sạch sẽ chứ không thể dùng phân bón hóa chất độc hại được. Chính những cú hích đó khiến cho người làm gạo ở Việt Nam thức tỉnh. Từ đó người ta bắt đầu thay đổi và tự tìm đến các nhà công nghệ để hợp tác tìm giải pháp làm chất lượng cao hơn. Có thể nói, chính khả năng của thị trường điều tiết trước tiên dẫn đến sự thay đổi ngành chứ chưa cần có bàn tay can thiệp của nhà nước. Nó cũng trùng hợp với thời kỳ nhà nước bắt đầu thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp nên được tiếp thêm lực đẩy bổ xung, nhưng phải khẳng định các nỗ lực trước hết là tự bản thân người lao động.  Tuy nhiên, bối cảnh ngành may mặc lại khác. Bên cạnh những cơ hội về mở rộng thị trường, việc hội nhập đang tạo ra những rủi ro tiềm tảng rất lớn. Năm 2018, dệt may là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 2 với trị giá ước đạt  30,45 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm trước, trong đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành hàng này, chiếm tỷ trọng 45%, theo sau là EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… Mặc dù trong cuộc chiến thương mại, tổng thống Trump chưa đánh tiếp tới Việt Nam về việc xuất siêu hay chưa chạm đến nhân tố trong sản phẩm may mặc của Việt Nam thì 48% nguyên phụ liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc, nhưng nếu căng thẳng hai nước tiếp tục đẩy lên cao hơn thì phần đầu vào từ Trung Quốc trong mặt hàng xuất khẩu của Việt nam sẽ phải chịu thuế rất cao. Như vậy, sản phẩm may của nước ta với giá trị gia công nhỏ bé liệu còn có thể cạnh tranh?    Trong thế giới hội nhập mới này, khái niệm về chuỗi giá trị càng ngày càng tách bạch rõ ràng – chúng ta chỉ có thể được hưởng phần giá trị do chính mình tạo ra trong chuỗi.    Tương tự, nếu nhìn vào hiệp định CPTPP đang có hiệu lực, chúng ta sẽ thấy rõ nếu ngành may mặc không thay đổi cách thức sản xuất theo hướng tạo được giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi thì việc năm bắt cơ hội cũng khó lòng hiệu quả. Trong giai đoạn hiệp định TPP khi nước Mỹ còn ở lại bàn đàm phán thì quy chế xuất xứ “Yarn Forward – Từ sợi trở đi” sẽ phải được áp dụng rất gắt gao cho hàng dệt may, có nghĩa là từ sợi vải trở đi phải làm ở Việt Nam mới được tính.Các đối tác không chấp nhận việc Trung Quốc xuất khẩu sợi sang Việt Nam để được hưởng thuế thấp trong khi nước này không phải có bất kỳ một nghĩa vụ nào đối với các thành viên còn lại mà Việt Nam lại là bên có nghĩa vụ thực hiện mọi cam kết yêu cầu.  Nếu Việt Nam tiếp tục duy trì và chấp nhận sự bất lợi của việc “xuất khẩu hộ” – hộ cho nhà đầu tư nước ngoài, hộ cho bên cung cấp đầu vào như Trung Quốc, Hàn Quốc hay ASEAN – thì dù trong bối cảnh CPTPP linh hoạt hơn TPP một chút nhưng những tiêu chuẩn nguồn gốc xuất xứ đặt ra vẫn đang vô cùng cao so với hoạt động từ trước đến giờ, thì chẳng mấy chốc chúng ta sẽ tự loại bỏ mình.Trong thế giới hội nhập mới này, khái niệm về chuỗi giá trị càng ngày càng tách bạch rõ ràng – chúng ta chỉ có thể được hưởng phần giá trị do chính mình tạo ra trong chuỗi.  Nếu như ngành gạo đã thức tỉnh và chuyển dịch cơ cấu, thì ngành dệt may vẫn còn đang khá ngập ngừngtrong việc ĐMST bởi họ vẫn xuất khẩu được với thành tích tốt, cạnh tranh được bằng giá rẻ, vẫn có thời gian tranh thủ khi sức ép hội nhập bị trì hoãn và vẫn tăng trưởng từ phần nguồn lực đầu tư nước ngoài. Nếu Việt Nam có thể thức tỉnh trước để có sự chuẩn bị chủ động thị trường đối với mọi ngành hàng, thì có lẽ giá trị và vị thế của Việt Nam trong chuỗi sẽ càng ngày càng nâng cao.  Phạm Chi Lan          THỂ CHẾ & MINH BẠCH  Khi nói đến hệ thống ĐMST quốc gia, các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách thường đề cập đến “văn hóa và giáo dục” là yếu tố căn bản, thế nhưng từ phía công chúng lại nói nhiều hơn đến “thể chể và minh bạch”. Nói cho cùng, cả hai yếu tố này đều quan trọng và đều liên quan cũng như bổ trợ cho nhau. Nhưng tại sao có sự khác biệt trong kỳ vọng như thế? Bởi lẽ sự xuống cấp của văn hóa và giáo dục ở Việt Nam hiện nay là do thể chế. Người ta thường nói “Thể chế nào thì doanh nghiệp ấy”, nếu nhìn vào tất cả các lĩnh vực thì đều có thể thấy thể chế nào thì nền giáo dục ấy, thể chế nào thì văn hóa ấy, thể chế nào thì con người ấy.  Một thể chế như thế nào sẽ khuyến khích sự ĐMST và những ý tưởng điên rồ về công nghệ để tạo thành sự đột phá? Một thể chế như thế nào sẽ khuyến khích những con người ngay ngắn, lương thiện và cần cù để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao? Vì sao trong hơn 2 năm qua, có không ít các startup Việt chuyển sang Singapore để khởi nghiệp? Những câu hỏi đó thực sự rất đáng quan tâm. Nếu nói về hai cách tiếp cận,có thể nhìn rất rõ rằng nếu không có một hệ thống nghiêm minh và minh bạch từ nhà nước thì Việt Nam sẽ rất khó có thể phát triển, hội nhập và ĐMST tốt hơn được.            Author                Phạm Chi Lan        
__label__tiasang Hội thảo về quan hệ giữa Việt Nam-ASEAN với LB Nga      Hội thảo quốc tế về quan hệ hợp tác phát triển giữa  Việt Nam-ASEAN với LB Nga sẽ được tổ chức vào tuần tới ở Hà Nội và Quảng  Ninh, bắt nguồn từ nhận thức rằng LB Nga là một cường quốc với vai trò  đang gia tăng đáng kể trên trường quốc tế, trong khi sự hợp tác phát  triển giữa Việt Nam-ASEAN với Nga chưa thực sự tương xứng với tiềm năng  của mỗi bên.    Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển giữa Việt Nam-ASEAN với Liên bang Nga: Thực trạng và triển vọng” do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức trong hai ngày 15 và 16/9/2014 tại Hà Nội và Quảng Ninh, với phần thuyết trình của nhiều đại biểu Việt Nam cùng hơn 20 đại biểu quốc tế đến từ LB Nga và chín thành viên còn lại của ASEAN.  Hội thảo được tổ chức nhằm hai mục đích: phân tích và đánh giá thực trạng quan hệ hợp tác giữa Việt Nam- ASEAN với Liên bang Nga, bao gồm cả những thành tựu lẫn hạn chế và những nguyên nhân của nó; và dự báo triển vọng hợp tác, từ đó đề xuất các giải pháp và khuyến nghị giúp thúc đẩy quan hệ giữa Nga và ASEAN mà trong đó Việt Nam đóng vai trò cầu nối.  Ngoài một phiên họp thảo luận quan hệ hợp tác giữa Việt Nam-ASEAN và Nga trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, sẽ có hai phiên họp tập trung bàn về vấn đề hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ.  Tại buổi họp báo giới thiệu hội thảo sáng 11/09, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, cho biết hội thảo bắt nguồn từ nhận thức rằng Nga thực sự là một cường quốc với vai trò đang gia tăng đáng kể trên trường quốc tế; tuy vậy, sự hợp tác phát triển giữa Việt Nam- ASEAN với Nga chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của mỗi bên, trong đó riêng mối quan hệ giữa Việt Nam và LB Nga đã bị suy giảm kể từ năm 1991.  Nga cũng đang có những dấu hiệu dịch chuyển trọng tâm chiến lược trong đối ngoại sang Đông Á. Với lịch sử quan hệ lâu dài và nguồn lực con người, Việt Nam có tiềm năng là mắt xích gắn kết hợp tác giữa Nga với các nước ASEAN khác.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hồn cây      Theo tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, mỗi  cái cây, mỗi hòn đá đều có linh hồn. Và ai xâm phạm đến các linh hồn ấy  chắc chắn sẽ phải trả giá bằng cách này hay cách – niềm tin của người  dân Việt xa xưa đã dạy cho chúng ta như thế.    Tháng ba, trời Sài Gòn đang nóng lên từng ngày dưới cái nắng gay gắt báo hiệu sự khởi đầu của một mùa khô ngột ngạt và oi bức. Buổi trưa đi trên đường, ai cũng cố tìm những đoạn đường có cây xanh mà đi, để được hưởng chút bóng râm và hít làn không khí mát rượi vào đầy lồng ngực. Tất nhiên, không phải con đường nào ở Sài Gòn cũng có cây xanh. Di chuyển trên những đoạn đường như vậy vào buổi trưa quả là một cực hình.  Nói về cây xanh, có lẽ ngay lúc này đây không ai không nghĩ đến Hà Nội. Thành phố với bề dày lịch sử trên ngàn năm này có lẽ là nơi có nhiều cây cổ thụ đẹp nhất nước. Ai đến Hà Nội mà không biết về những con đường bốn mùa rợp bóng cây, mỗi khu vực là một loại cây đặc trưng, những hàng xà cừ, lim đen, long não – những cây cao bóng cả vốn đã làm nên linh hồn của thủ đô và sẽ còn mãi mãi trong tâm tưởng mọi người qua những câu thơ, những bài hát mà ai cũng thuộc. Người Hà Nội hẳn là ai cũng yêu quý và hãnh diện về hồn phố của thủ đô. Vậy mà đùng một cái, người ta quyết định đốn hạ đến 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố.  Nói, là làm. Như một chiến dịch đang lúc cao điểm, mấy ngày qua, Hà Nội bắt đầu phải chứng kiến cảnh cây cối bị đốn hạ la liệt. Tiếng cưa máy râm ran, cảnh cưa cây, kéo cành, đào rễ nhộn nhịp, cây đổ ngổn ngang. Rồi những chiếc xe tải chở thân cây đã bị đốn hạ chạy ngược xuôi trên đường, chẳng khác gì cảnh tượng sau một trận đánh, với những tổn thất về tài sản và nhân mạng. Vâng, những cành cây bị chặt ngang để lộ thân đỏ au như máu. Những gốc cây đã bị chặt trơ trụi để lại một khoảng trống mênh mang trên bầu trời và lòng người. Mà không chỉ lòng người Hà Nội…  Hoang mang và đớn đau khi hằng ngày phải đọc những mẩu tin không ai muốn tin, nhìn những tấm hình không ai muốn thấy, tôi lẩn thẩn lên mạng tìm hình ảnh cây xanh ở thành phố tôi đang sống. Vâng, vẫn còn đó một vài con đường rợp bóng cây quanh khu trung tâm của Sài Gòn và Chợ Lớn cũ, những con đường Nguyễn Du, Lý Tự Trọng ở Quận 1, những An Dương Vương ở Quận 5. Nhưng nhìn chung thì Sài Gòn của tôi không có nhiều cây xanh, tôi biết. Cứ mỗi lần đi trên những đoạn đường không có cây xanh dưới bầu trời nắng chang chang và đầy bụi khói vào mùa khô như đường Lý Thường Kiệt, đoạn từ Quận 11 xuống đến Quận Tân Bình, hoặc đoạn đường Quang Trung, Nguyễn Kiệm ở khu vực Gò Vấp, tôi lại tiếc đến quặn lòng hàng cây cổ thụ mà người ta đã đốn hạ trước Nhà hát Thành phố để xây dựng trạm Metro. Và không chỉ có thế, mà có hẳn một kế hoạch chặt cây đã được duyệt từ trước, sẽ được thực hiện tuần tự theo thời gian.  Vẫn biết việc phát triển giao thông cho thành phố ngày càng đông dân này là cần thiết, nhưng phải chăng chặt phá cây xanh là cách làm duy nhất khi cần phát triển? Đã 40 năm rồi, mà tôi vẫn nhớ những con đường đầy cây xanh đẹp tuyệt vời mà tôi đã biết thời niên thiếu. Một trong những hình ảnh mà tôi nhớ mãi là đoạn đường Trần Quý Cáp (giờ là Võ Văn Tần), đoạn từ Lê Văn Duyệt (giờ là Cách Mạng Tháng Tám) đến Hồ Con Rùa, nơi vào mùa mưa, lá me non lên xanh mơn mởn, hai bên đường hai hàng me có tán lá giao nhau tuyệt đẹp mà bọn học trò Gia Long thời của tôi đã đạp xe qua lại không biết bao nhiêu lần.   Tôi vẫn nhớ thời ấy, tâm hồn chúng tôi vui sướng thảnh thơi, dù bên ngoài là chiến tranh khốc liệt nhưng bên trong từng ngôi trường vẫn là một khung cảnh bình yên để nuôi dưỡng cái đẹp của tâm hồn. Xa trường, chúng tôi vẫn mãi nhớ gốc phượng đỏ rực vào mùa hè, nhớ hàng cây nhạc ngựa trên đường Bà Huyện Thanh Quan ngay bên hông trường với những chùm hoa xanh xanh và những trái to nâu xù xì, khi già chín rụng những hạt có cánh màu nâu cánh gián bay bay trong gió…  Có phải vì tâm hồn trẻ thơ được nuôi dưỡng trong môi trường xanh tươi êm ả như vậy mà những ngôi trường truyền thống như Gia Long (giờ là Nguyễn Thị Minh Khai), Petrus Ký (giờ là Lê Hồng Phong) đã tạo ra không biết bao nhiêu tài năng cho đất nước trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển của mình hay chăng?  Tôi lẩn thẩn nghĩ đến ngày hôm nay. Nghĩ đến một nữ sinh cấp hai bị lớp trưởng đánh đến đổ máu trước sự chứng kiến và thậm chí giúp sức của những bạn bè cùng lớp – vụ việc chỉ mới xảy ra cách đây ít lâu ở một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nghĩ đến mấy ngàn vụ đánh nhau đến phải nhập viện trong các lễ hội vào dịp Tết nguyên đán vừa qua. Nghĩ đến sự thản nhiên, thậm chí thích thú của người dân trong các lễ hội chém lợn, đập trâu ở các tỉnh phía Bắc. Nghĩ tới cụm từ “sa mạc hóa tâm linh” mà một bài viết nào đó đã nhắc đến khi bình luận về những biểu hiện sa sút về tâm hồn của con người Việt Nam qua những ứng xử công cộng trong dịp Tết vừa qua.   Có một bài thơ có tựa Trees của Joyce Kilmer, một nhà thơ người Mỹ sống cách đây gần 100 năm. Bài thơ khá đơn giản, dễ thuộc và rất nổi tiếng, thường được đưa vào sách giáo khoa cho trẻ em Mỹ học, nhưng cũng bị chê là hơi ngô nghê như vè vì nó quá đơn giản cả về ngôn từ lẫn nhịp điệu, thiếu vẻ đẹp cầu kỳ, trúc trắc của văn chương bác học. Bài thơ chủ yếu nhằm giáo dục về lòng yêu thiên nhiên cho trẻ em. Vâng, mục tiêu giáo dục của bài thơ lộ liễu quá nên thiếu tính văn chương, nhưng tôi lại rất yêu thích vì nó đúng với suy nghĩ của mình, và càng đúng cho bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Bài thơ ấy có hai câu chót như thế này:  Poems are made by fools like me/But only God can make a tree. (Gã khờ cũng biết làm thơ/Cây xanh lá thắm phải chờ Chúa thôi.)  Vâng, đối với những người phương Tây có lòng tin thì chỉ Thiên Chúa mới có thể tạo ra những loài cây. Tất nhiên, Thiên Chúa cũng tạo ra con người nữa. Một cách nào đó, cây cối với con người là anh em. Điều này cũng giống với tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, nơi mỗi cái cây, mỗi hòn đá đều có linh hồn – “cây gạo có ma, cây đa có hồn” như trong câu nói dân gian. Ai xâm phạm đến các linh hồn ấy chắc chắn sẽ phải trả giá bằng cách này hay cách – niềm tin của người dân Việt xa xưa đã dạy cho chúng ta như thế.  Tôi bỗng chợt hỏi mình: Phải chăng sự tuột dốc về nhân cách và sa sút về đạo đức ngày càng ở mức báo động trên diện rộng ở Việt Nam chính là cái giá mà chúng ta đang phải trả cho sự tàn phá môi trường sống an lành đẹp đẽ mà chúng ta đã thừa hưởng từ cha ông?  Và cũng lờ mờ nhận ra giải pháp cho việc giáo dục nhân cách, cho việc bồi đắp các giá trị “nhân ái, nghĩa tình” của người Việt mà Hội đồng lý luận trung ương vừa nêu ra cách đây ít lâu, và cho phong trào “giáo dục môi trường” hiện nay đang được quan tâm trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế của đất nước. Những điều mà chúng ta đang cố gắng nhắm đến một cách rất khó khăn, hóa ra lại có thể bắt đầu một cách vô cùng đơn giản: Hãy bắt đầu bằng sự cẩn trọng và cân nhắc hết mức mỗi khi phải ra quyết định phá hủy môi trường dưới danh nghĩa phát triển. Và bằng thái độ và hành động yêu quý, trân trọng từng gốc cây, từng ngọn cỏ, từng bông hoa của mỗi người lớn chúng ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗn loạn thông tin ở Việt Nam: Một năm đối phó      Cách đây một năm, khi Covid-19 bắt đầu rình rập Việt Nam, tin giả bùng phát thành một cơn dịch chưa từng thấy trên mạng xã hội, làm hỗn loạn xã hội và gây sức ép lên ngành y tế công cộng. Những trận dịch thông tin như vậy sẽ còn trở lại trong những cuộc khủng hoảng khác, nhưng làm sao đối phó với nó? PGS. TS. Nguyễn Đức An – nguyên là nhà báo ở TP.HCM, hiện là nhà nghiên cứu truyền thông khoa học và sức khỏe tại ĐH Bournemouth, Anh – trò chuyện với Tia Sáng để nhìn lại một năm dịch thông tin và bài học cho tương lai.      PGS. TS. Nguyễn Đức An.  Hiện tại, Việt Nam đang đối đầu với nguy cơ bùng phát dịch Covid-19 diện rộng. Nhưng hình như so với thời điểm này năm ngoái, mạng xã hội có vẻ ít tin giả hơn?     Tôi thấy mọi thứ yên ắng hơn nhiều so với đợt bùng phát dịch thông tin trước và sau Tết năm ngoái. Chúng ta vẫn thấy các tin đồn thất thiệt – đại loại như tin sân bay Nội Bài sẽ đóng cửa, hay tin Hà Nội phong tỏa, hay các phát ngôn giả mạo ông Vũ Đức Đam, rồi tin bịa rằng các người này người kia nhiễm – nhưng nó không dồn dập, tràn ngập như lúc dịch mới khởi phát từ Vũ Hán. Lý do, theo quan sát chủ quan của tôi, là dân đợt này quen với dịch hơn, có vẻ bình tĩnh hơn, ít hoảng loạn hơn, nên ít lan truyền, chia sẻ các thông tin sai sự thật hơn.    Nếu so với những ngày đầu bùng phát dịch Covid-19 năm ngoái, bối cảnh thông tin rất khác. Dịch bệnh nào khởi phát cũng đi kèm sự bất định. Covid-19 xuất hiện đột ngột, khiến giới khoa học và các chính quyền, thế giới cũng như Việt Nam, lâm vào thế pháo thủ nhắm vào bóng đêm. Mọi phản ứng ban đầu với corona đều dựa trên những suy luận từ các virus cùng dòng trước đây. Điều chắc chắn duy nhất lúc đó là không ai có thể chắc chắn cái gì cả.    Cái oái ăm là trạng thái am hiểu cực tiểu trong giới chuyên môn và có thẩm quyền lại diễn ra lúc nhu cầu thông tin trong công chúng đang ở mức cực đại. Việc corona có xuất xứ từ Trung Quốc, một đất nước mà người Việt luôn dè chừng, càng thêm dầu vào lửa. Ai cũng cảm giác như hiểm họa đang đuổi ngay sau mình, nhất là trong những ngày đầu, khi Chính phủ Việt Nam chưa ra lệnh đóng biên giới.    Trong không khí bất an, người dân đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi mang dáng dấp sinh tồn, nhưng không nhận được gì nhiều từ giới chuyên môn hay và giới có thẩm quyền thông tin, nên phải quay sang các nguồn tin phi chính thống mà họ tín nhiệm, chủ yếu là bạn bè và người thân. Thông tin sai trái nhờ đó mà thả sức tung hoành, tạo nên cơn đại dịch thông tin trên mạng xã hội Việt Nam vào những tháng đầu 2020.    Nó như một cái vòng luẩn quẩn: càng lo sợ, càng đi tìm thông tin; càng tìm, càng thấy thiếu thông tin từ các nguồn hữu trách, lại càng dựa vào các nguồn thông tin tả pí lù trên mạng xã hội. Hoảng loạn tâm lý trở thành hỗn loạn xã hội. Người dân đổ xô tích trữ lương thực, khẩu trang, dược phẩm tới mức nhiều nơi cháy hàng. Giới y tế thêm oằn vai, thời gian chăm sóc bệnh nhân đã ít lại càng ít hơn, vì bác sĩ, y tá phải lo tiếp nhận và giải thích với dòng người khỏe mạnh đổ xô đi xét nghiệm1. Vào tháng 5/2020, khi cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump, một người coi khoa học không ra gì, bỗng dưng ca ngợi ký ninh (thuốc chống sốt rét, hydroxychloroquine) như một thuốc kỳ diệu giúp điều trị Covid-19, người dân cũng đổ xô đi mua, đẩy giá loại thuốc này lên gấp nhiều lần2. Thậm chí có người uống quá liều, bị ngộ độc phải nhập viện3.     Liệu có thể quy trách nhiệm chính cho mạng xã hội (MXH) không khi mà lịch sử cho thấy hỗn loạn thông tin gần như là một yếu tố không bao giờ thiếu mỗi khi dịch bệnh bùng phát, thưa ông?     MXH đóng phần rất quan trọng trong sự lan truyền chóng mặt của tin giả ở Việt Nam cũng như thế giới. So với cái thời H1N1 vào những năm 2003-2004 chẳng hạn, chúng ta cũng thấy hỗn loạn thông tin và hoảng loạn tâm lý như khi Covid-19 mới bắt đầu, nhưng mọi thứ chỉ lan chủ yếu qua các cuộc trà dư tửu hậu, các cuộc trò chuyện điện thoại trong phạm vi hẹp giữa các thân hữu, bạn bè.    Đến 2020, mọi sự đã khác: người người Facebook, nhà nhà Facebook. 65 triệu tài khoản Facebook, ai cũng có thể đánh vài chữ, like vài cái, hay share vài mẩu tin đồn trong tích tắc với hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu người. Dịch chưa bùng phát ngoài đời nhưng đã tràn lên MXH Việt. Giữa năm 2020, Hoàng Thị Kim Khánh, một nghiên cứu sinh tôi đang hướng dẫn tiến sĩ tại Đại học Bournemouth, khảo sát gần 1130 người sử dụng Facebook Việt Nam. Kết quả sơ bộ cho thấy đại đa số “thỉnh thoảng” (60%), “thường xuyên” (21%) hoặc “rất thường xuyên” (11%) bắt gặp tin giả về Covid-19 trên Facebook. Câu chuyện không chỉ khu trú trong những tin đồn thổi trong nước mà còn cả các thông tin sai lệch và bịa đặt từ người Việt ở nước ngoài, từ những người Việt trong nước biết ngoại ngữ, nhưng đọc và chia sẻ tin tức nước ngoài thiếu trách nhiệm.    Tuy nhiên, mạng xã hội là xúc tác, chứ không phải là nguyên nhân gốc, cho đại dịch thông tin Covid-19. Nguyên nhân chính nằm ở sức đề kháng rất yếu của người Việt Nam trước tin giả. Người Việt không được hướng dẫn và rèn luyện thói quen phản biện thông tin từ khi còn nhỏ. Sức đề kháng yếu diễn ra không chỉ ở những thành phần dân trí thấp, mà ngay trong giới trí thức, kể cả không ít nhà báo. Họ mang sứ mệnh dẫn dắt dư luận bằng sự điềm tĩnh về tri thức, chứng lý nhưng lại hùa theo dư luận, chạy theo đám đông, góp phần lan truyền những tin bịa đặt và sai lệch. Tôi thấy nhiều vị học hàm học vị đầy, nhưng chưa đọc hết một tin trên Facebook đã hốt hoảng chia sẻ bằng những lời bình luận gây sốc. Một vài người còn bịa trắng trợn vì những mục đích câu like, gây ảnh hưởng rẻ tiền.    Hơn nữa, văn hóa ứng xử trên mạng cũng là điều đáng bàn. Theo khảo sát về chỉ số văn minh số (DCI – Digital Civility Index) của Microsoft công bố vào tháng 2/2020, Việt Nam đứng hàng 21 trên 25 quốc gia được khảo sát. Nói cách khác, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có người dùng số ứng xử thiếu văn minh nhất: mỗi cá nhân dùng mạng đều đối mặt rủi bị cộng đồng tiết lộ đời tư và xúc phạm nhân phẩm. Trường hợp bệnh nhân số 17 bị phơi đời tư, bêu riếu, mắng nhiếc, dọa giết hồi cuối tháng hai năm ngoái là một minh chứng. Bịa đặt thông tin và vu khống người khác cũng phát nhanh trong bối cảnh văn minh số thấp đó.     Trong phản ứng với Covid-19, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách và quy định xử phạt rất nghiêm với những người loan tin giả trên MXH. Ông đánh giá việc này đã hữu hiệu đến mức nào trong việc ngăn chặn tin giả?     Trước tiên, cần lưu ý bản chất tin giả trên MXH. Tin giả có nhiều cấp độ thật-giả khác nhau, nhưng tựu trung có hai loại: thông tin nhầm tưởng (misinformation) và thông tin bịa đặt (disinformation). Thông tin bịa đặt là các tin giả được tung ra theo chủ ý của người đưa tin, từ các lời nói láo trắng trợn, các thông tin lừa đảo đến các thuyết âm mưu và, phức tạp hơn nữa, là các video sử dụng trí tuệ nhân tạo để giả mạo điệu bộ, giọng nói y như thật. Thông tin nhầm tưởng (misinformation) là thông tin bị bóc tách khỏi bối cảnh, bị hiểu sai, bị nhào nặn hoặc bóp méo khi được chia sẻ… Nó được lan truyền, đồn thổi từ người này sang người khác một cách vô ý.      Tin giả là vấn nạn rất lớn của thế giới cũng như ở Việt Nam.   Về mặt đạo đức, việc lan truyền thông tin như thế có thể không tệ hại – vì phần lớn đều không có chủ ý lừa lọc mà là do hiều nhầm, cả tin, không sàng lọc. Nhưng về mức độ nguy hiểm thì nó không hề thua kém gì thông tin bịa đặt. Lượng thông tin bịa đặt thực ra không nhiều, nhưng tràn ngập trên MXH, là do quá nhiều người nhầm lẫn và lan truyền cái giả như thật.    Xử lý tin giả vì thế đòi hỏi không chỉ dùng quyền lực chính trị, luật pháp và hành chính mà cả chú trọng sức đề kháng tin giả tôi nói ở trên, sâu xa hơn nữa là cải thiện nền dân trí truyền thông (media literacy) còn thấp ở ta. Mọi biện pháp xử phạt, thậm chí phạt tù, có tác dụng cảnh báo, răn đe với những hành vi bịa đặt thông tin nhưng khó có thể giải quyết tình trạng nhầm lẫn thông tin rộng rãi trong công chúng. Đó là một vấn đề lớn, đòi hỏi quyết sách, chiến lược lâu dài để giúp mỗi công dân trở thành bộ lọc thông tin cho chính mình.    Tuy nhiên, trước mắt, với Covid-19 và các cuộc khủng hoảng y tế-xã hội khác, có thể tổ chức các chiến dịch truyền thông rộng rãi và bao quát, lấy sự trung thực và minh bạch làm nền tảng. Trong những ngày đầu dịch, thông tin hỗn loạn một phần vì báo chí không đưa người đọc kịp thời đến với những thông tin rõ ràng, đáng tin cậy để họ hiểu rõ tình hình. Bản thân Chính phủ Việt Nam cũng không giải tỏa kịp cơn khát thông tin trong dân khi đã im lặng trong những ngày đầu dịch.    Rất may là mọi thứ trở nên tốt hơn sau thời gian đầu lúng túng. Sự hỗn loạn về thông tin ở giai đoạn đầu dịch có một tác dụng phụ tích cực: nó tạo một áp lực dư luận to lớn, buộc giới có thẩm quyền phải minh bạch trong công tác phòng chống dịch. Cho nên, từ khoảng tháng tư trở đi, chúng ta thấy mỗi ca bệnh mới, cùng hành tung bệnh nhân, đều được cập nhật và công bố trên báo chí. Bộ Y tế tận dụng mọi phương tiện truyền thông có thể, từ truyền thống đến phi truyền thống (SMS, Facebook, TikTok), với các mô thức truyền thông đa dạng (bài hát, thơ, nhảy…), để truyền thông về các biện pháp phòng dịch mạnh mẽ với mọi lứa tuổi.    Cần nghiên cứu bao quát để đánh giá đầy đủ hiệu quả các nỗ lực trên. Tuy nhiên, các khảo sát ban đầu đều cho thấy thông tin chính thống có vai trò rất quan trọng đối với dẫn dắt dư luận trong việc phòng chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Trong nghiên cứu nêu trên, Hoàng Thị Kim Khánh cũng tìm thấy rằng hai nguồn tin phổ dụng nhất về Covid-19 trên Facebook không phải là bạn bè/người thân mà là các cơ quan báo chí chính thống (67%) và trang thông tin chính phủ (58%). Một thăm dò gần đây của YouGov, một công ty điều tra dư luận toàn cầu, cho thấy tới 97% người Việt đồng tình với cách chính phủ phản ứng với dịch bệnh Covid-19. Đằng sau những con số tích cực đó, theo tôi, là sự trung thực và minh bạch trong truyền thông.     Theo ông thì làm sao để minh bạch trong một bối cảnh mà nhiều thứ còn bất định, sự hiểu biết về dịch bệnh thay đổi từng ngày, kéo theo yêu cầu thay đổi quyết sách liên tục?     Minh bạch là nền tảng để công chúng đặt lòng tin vào các thiết chế xã hội. Thiếu nó, mọi thứ cùng lắm chỉ có thể vận hành một cách què quặt và dễ tan vỡ, vì không ai tự tin tằng mình có đủ thông tin trung thực và độc lập để biết mình đang theo đuổi, thực hiện một việc đúng.    Tôi nói ví dụ: Nga, Trung Quốc, Mỹ và Anh đều tuyên bố tạo ra vaccine hữu hiệu cho Covid-19 nhưng thế giới chỉ dám đặt hàng vaccine chủ yếu từ Mỹ và Anh. Đó là do ở hai nước này, khoa học làm việc độc lập theo những nguyên tắc đạo đức tự trị nghiêm ngặt. Mọi dữ liệu phải công khai rõ ràng để các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn đánh giá, cũng như báo chí và công chúng giám sát, theo dõi. Minh bạch như thế nên khi công bố ra thì người ta tin. Còn vaccine Nga và Trung Quốc, hiệu quả dù cao đến mấy thì cũng khó thuyết phục thế giới, vì mọi thứ mờ mờ, ảo ảo sau các bức tường thông tin dày đặc và đầy màu sắc địa chính trị.    Quay lại chuyện chống dịch, chỉ cần truyền thông và giới thẩm quyền bất nhất hay giấu giếm một tí là có thể làm mất lòng tin, tạo thời cơ cho các đồn đoán sẽ ngay lập tức nổi lên. Khi Việt Nam lần đầu tiên có ca tử vong vì Covid-19 vào tháng bảy, việc một số báo đăng tin rồi vội gỡ xuống đã đủ gây ra sự ầm ĩ trên mạng xã hội. Sự minh bạch trong truyền thông sẽ là vũ khí hàng đầu trong cuộc chiến chống tin giả trên MXH, trong dịch Covid-19 lẫn tương lai lâu dài. Trước mắt, nó sẽ rất quan trọng để chúng ta bước tới giai đoạn tới, khi Việt Nam sẽ phải đối đầu với làn sóng nhiễu loạn thông tin rất nguy hiểm về vaccine Covid-19 từ các nước khác. Điều này, tôi hy vọng sẽ quay lại với bạn đọc Tia Sáng trong một tương lai gần. □     Hảo Linh thực hiện  —–  1 https://soha.vn/vi-bac-si-truc-tiep-doi-mat-corona-kinh-khung-nguoi-ta-huong-keu-ca-nuoc-tieu-chung-toi-qua-kiet-suc-vi-fake-news-20200203101009574.htm  2 https://tuoitre.vn/chong-covid-19-bang-thuoc-sot-ret-gia-vot-nhu-ten-lua-20200321113551685.htm  3 https://tuoitre.vn/ngo-doc-nang-vi-uong-15-vien-thuoc-sot-ret-de-phong-corona-20200322105405788.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác trong khoa học      B&#224;i viết n&#224;y tr&#236;nh b&#224;y quan điểm của t&#244;i về vai tr&#242; v&#224; vị tr&#237; của xu hướng hợp t&#225;c trong nghi&#234;n cứu khoa học, nh&#236;n từ g&#243;c độ một nh&#224; kinh tế học. Qua đ&#243; r&#250;t ra một số ch&#237;nh s&#225;ch cần c&#243; để th&#250;c đẩy hợp t&#225;c nghi&#234;n cứu khoa học ở c&#225;c nước thu nhập thấp, nằm ở ngoại vi của trung t&#226;m khoa học tr&#234;n thế giới.    Ba xu hướng trong khoa học hiện đạiTrong vòng một thế kỷ vừa qua, khối lượng tri thức khoa học của con người đã được mở rộng vượt bậc. Nếu như cuối thế kỷ 19 còn có những nhà khoa học có tầm hiểu biết bao trùm hầu hết tri thức trong mọi lĩnh vực khoa học, thì đến nay, ngay cả những nhà khoa học lỗi lạc nhất trong ngành của mình cũng khó có khả năng nắm toàn vẹn kiến thức trong ngành, đơn giản vì khối lượng kiến thức trong mỗi ngành cũng đã trở nên quá lớn. Trong khi đó, việc nghiên cứu khoa học luôn đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc trong ngành. Điều này dẫn đến việc ít có những nhà khoa học đủ tầm tri thức để tự nghiên cứu bao trùm nhiều ngành khoa học khác nhau. Khuôn mẫu “bác học” từ Galileo Galilei, Isaac Newton, Leonhard Euler, Marie Curie, có lẽ đã kết thúc với John von Neumann, nhà toán học nổi bật trong thế kỷ 20 với các công trình toán, tin học và kinh tế học. Xu hướng tất yếu trong nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học trở thành “chuyên gia” trong một lĩnh vực cụ thể, chứ không còn theo khuôn mẫu “bác học” như thế kỷ 19 nữa.            Galileo Galilei  John von Neumann      Marie Curie   Leonhard Euler                  Xu hướng tất yếu trong nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học trở thành “chuyên gia” trong một lĩnh vực cụ thể, chứ không còn theo khuôn mẫu “bác học” như thế kỷ 19 nữa. Song song với xu hướng chuyên môn hóa của cá nhân, phải kể đến xu hướng nghiên cứu xuyên ngành khoa học và khoa học hiện đại đang chuyển vận theo xu hướng thứ ba, đó là xu hướng tăng cường hợp tác nghiên cứu giữa nhiều nhà khoa học.          Song song với xu hướng chuyên môn hóa của cá nhân, phải kể đến xu hướng nghiên cứu xuyên ngành khoa học. Theo thời gian, mỗi ngành khoa học chín dần, nên việc phát hiện thêm những đột phá mới theo một phương hướng có trước trở nên khó khăn hơn. Trong khi đó, vẫn còn những cơ hội khám phá và nghiên cứu dựa theo việc trộn lẫn các phương hướng khác nhau. Theo xu hướng này, nhiều ngành khoa học mới đã xuất hiện từ việc kết hợp giữa các ngành khoa học truyền thống. Ví dụ về hiện tượng này bao gồm lý sinh học là sự kết hợp giữa vật lý và sinh học, ngành nghiên cứu mô hình kinh tế của các thực thể máy tính (kinh tế học và khoa học máy tính), ngành nghiên cứu về hòa bình (khoa học chính trị, khoa học quân sự và kinh tế học), khoa học nhận thức (tâm lý học truyền thống và sinh học về não bộ). Ở mức độ thấp hơn, sự kết hợp không tạo ra một ngành khoa học mới, mà chỉ dừng lại ở mức vận dụng phương pháp luận và nguyên tắc của một ngành vào một ngành khác để tạo ra bước đột phá. Có rất nhiều ví dụ về hiện tượng này; ở đây tôi chỉ trích ra những ví dụ trong các ngành khoa học kinh tế – tài chính. Rất nhiều kết quả nghiên cứu trong kinh tế học hiện đại xuất phát từ tri thức toán học ứng dụng, từ vận trù học đến xác suất thống kê. Phương pháp luận vật lý có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của khoa học tài chính và mô hình tài chính. Nhiều nghiên cứu kinh tế đột phá cũng có vay mượn từ xã hội học và tâm lý học, và mới đây là khoa học nhận thức và khoa học về não bộ để tạo ra một nhánh nghiên cứu mới có tên kinh tế học não bộ (neuroeconomics).              Xin nhắc đến một ví dụ trong kinh tế học hiện đại, phần nào giống như trường hợp cuốn “De revolutionibus” của Copernicus chỉ được thực sự quan tâm (và do đó bị Nhà thờ cấm lưu hành) khi Galileo theo đuổi và công bố nghiên cứu dựa trên quan điểm của Nicolaus Copernicus. Đó là công trình của nhà kinh tế học vĩ mô Robert Lucas Jr., chủ nhân giải Nobel Kinh tế. Robert Lucas được nhiều người nhắc đến như nhà kinh tế học vĩ mô xuất sắc nhất trong nửa sau thế kỷ 20, và ông được nhận giải Nobel tương đối sớm nhờ vào công trình nghiên cứu về kỳ vọng duy lý, trong đó chính sách của Nhà nước sẽ ảnh hưởng đến kỳ vọng của người dân, do đó nếu Nhà nước luôn dùng chính sách kích cầu kiểu Keynes liên tục thì sẽ tạo phản ứng xấu trong dân, dẫn đến chính sách hoàn toàn mất hiệu quả thúc đẩy kinh tế và chỉ tạo ra lạm phát. Nghiên cứu này đã thay đổi bộ mặt kinh tế học vĩ mô trong những năm 1970, làm phần đông những nhà kinh tế vĩ mô chuyển từ suy nghĩ kinh tế học vĩ mô đã giải quyết gần xong tất cả các vấn đề (trước Lucas, nhận xét của James Tobin là “Macroeconomics is finished”4) sang quan điểm rằng kinh tế học vĩ mô phải xây dựng lại từ đầu và không còn gì vững chắc nữa cả (nhận xét của Thomas Sargent sau đó cũng là “Macroeconomics is finished”,5 song với ý nghĩa hoàn toàn khác). Đáng lưu ý là ý tưởng chính của Lucas, rằng người dân có những kỳ vọng riêng về hệ thống kinh tế, xuất phát từ một nhà kinh tế học ít tên tuổi hơn, John Muth. Muth có ý tưởng đúng và đã công bố nghiên cứu của mình ở tạp chí hàng đầu Econometrica , nhưng nghiên cứu của Muth không được quan tâm vì Muth không chú tâm vào việc thuyết phục độc giả rằng ý tưởng của mình có thể có ảnh hưởng rất mạnh, và vì thế đáng được chú ý. Chỉ đến khi Lucas đem ý tưởng này ra, đào sâu thêm, và công bố như một lời chỉ trích lên toàn bộ ngành kinh tế học vĩ mô bấy giờ (mà người ta gọi là “Lời chỉ trích của Lucas”), thì ý tưởng về kỳ vọng duy lý mới trở thành một chủ đề bản lề trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô.          Hai xu hướng kể trên có nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu trúc và tổ chức nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới. Vì các nhà khoa học trở nên chuyên sâu theo ngành, họ khó có thể tự tiếp cận nhiều ngành khác nhau. Trong khi đó, sức hút của nghiên cứu xuyên ngành ngày càng lớn, vì nghiên cứu xuyên ngành có thể tiếp cận những câu hỏi mới bằng những phương pháp mới, có hiệu quả, lại không vướng phải lối mòn rất nhiều nhà khoa học đã đi qua. Kết quả là khoa học hiện đại đang chuyển vận theo xu hướng thứ ba, đó là xu hướng tăng cường hợp tác nghiên cứu giữa nhiều nhà khoa học.Xu hướng hợp tác nghiên cứu                Những ngành nghiên cứu mang tính lý thuyết cũng dần theo chân xu hướng hợp tác, cho dù vẫn còn nhiều chỗ trống cho nghiên cứu độc lập. Bên cạnh đó, sự chuyên môn hóa giữa thí nghiệm và lý thuyết dẫn đến việc hợp tác giữa các nhà khoa học lý thuyết và thí nghiệm trở nên rất quan trọng.          Các ngành khoa học khác nhau tiếp cận xu hướng hợp tác nghiên cứu trong những khung cảnh khác nhau. Kể từ khi khoa học hiện đại được định hình với phương pháp luận nghiên cứu khoa học cho đến trước thế kỷ 20, những cột mốc đáng nhớ của khoa học hầu hết đều là nghiên cứu của cá nhân. Dĩ nhiên, những cá nhân kiệt xuất vẫn dựa rất nhiều vào môi trường, khung cảnh và đặc biệt là trao đổi khoa học với một mạng lưới đồng nghiệp. Tuy vậy, phương pháp tổ chức nghiên cứu cá nhân vẫn rất khác biệt so với các nghiên cứu đồng tác giả.Xu hướng hợp tác nghiên cứu dần dần đóng vai trò chủ yếu từ đầu thế kỷ 20, bắt đầu là từ các nghiên cứu thí nghiệm. Yêu cầu về chuẩn mực trong thí nghiệm vật lý, hóa học, và sau này là sinh học, ngày một cao, dẫn đến nhu cầu nghiên cứu tập thể, trong đó nhiều cá nhân là các nhà khoa học có tầm cỡ chứ không chỉ là phụ việc. Bộ máy nghiên cứu khoa học thí nghiệm cũng dần được tổ chức chặt chẽ, kết hợp nghiên cứu và đào tạo trong trường đại học, dẫn đến các thế hệ nhà khoa học có quan hệ thầy trò, rồi quan hệ đồng nghiệp, đồng tác giả với nhau trong các nghiên cứu tập thể. Mạng lưới giữa các nhà nghiên cứu nhờ đó được kết nối vững chắc, đủ để hợp tác nghiên cứu, chứ không chỉ dừng lại ở mức trao đổi thảo luận. Cho đến nay, khó có thể tìm được những nghiên cứu nổi bật bằng thí nghiệm mà chỉ có một tác giả đứng tên.Những ngành nghiên cứu mang tính lý thuyết cũng dần theo chân xu hướng hợp tác, cho dù vẫn còn nhiều chỗ trống cho nghiên cứu độc lập. Bên cạnh đó, sự chuyên môn hóa giữa thí nghiệm và lý thuyết dẫn đến việc hợp tác giữa các nhà khoa học lý thuyết và thí nghiệm trở nên rất quan trọng: Ngành nào cũng cần có lý thuyết để dẫn đường, sắp xếp tổ chức thí nghiệm, và thí nghiệm để kiểm chứng, chỉ dẫn mô hình lý thuyết. Hơn nữa, nhiều ngành khoa học vốn bắt đầu ở mức lý thuyết, dần dần tăng thêm tính thực nghiệm và thí nghiệm, cũng dẫn đến việc tăng cường hợp tác nghiên cứu. Ví dụ có thể kể đến các ngành khoa học xã hội, điển hình là ngành kinh tế học mà tôi sẽ bàn đến chi tiết sau.
__label__tiasang Hộp vuông và khối tròn. Chiều thẳng đứng và chiều ngang      Cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về vốn xã hội. Riêng tôi, tôi thích một hình ảnh sau đây do một người bạn của tôi đưa ra khi thử định nghĩa về vốn xã hội. Theo anh ta, nếu ta hình dung toàn bộ xã hội như một khối hộp hình vuông, thì sự quản lý của Nhà nước, mà trong bất cứ xã hội nào cũng tất phải có, có thể hình dung như một khối hình cầu trong cái hộp vuông đó.    Cái khối cầu đó có thể rất lớn, nhưng dầu có lớn đến bao nhiêu nữa cũng không thể nào lấp đầy hết khối hộp vuông kia. Bao giờ cũng còn những khoảng trống mà về nguyên tắc Nhà nước không thể lấp đầy. Để lấp đầy được những khoảng trống đó, chỉ có thể là cái mà ta gọi là vốn xã hội. Hiểu như vậy, thì vốn xã hội, cái cần có để lấp đầy xã hội, tạo nên hiệu quả kinh tế đầy đủ cho xã hội, chính là những gì ở ngoài Nhà nước, phi Nhà nước. Một xã hội chỉ có hoạt động của Nhà nước, tất cả đều quy về Nhà nước, Nhà nước bao lấy tất cả, Nhà nước hóa tất cả, thì sẽ là một xã hội nghèo, nghèo một cách tất yếu, về nguyên tắc, đơn điệu, và khô cằn.                     Nhiều tác giả đã diễn đạt điều này theo nhiều cách khác nhau. Có người nói, rất đúng, rằng quan hệ Nhà nước là quan hệ theo chiều dọc, chiều thẳng đứng, chiều tôn ti trên dưới, mà quan hệ một chiều, thì như ta biết một cách vật lý, không thể trở thành không gian, không thể lấp đầy không gian xã hội. Vốn xã hội chính là quan hệ theo chiều ngang, nó cùng với quan hệ dọc, đứng trên kia, tạo thành không gian, lấp đầy không gian. Và như vậy, cũng có thể hiểu, vốn xã hội là một cái gì đó “đối lập” – xin hiểu từ này theo nghĩa triết học chứ không phải chính trị – với “vốn Nhà nước do Nhà nước tạo ra.  Đến đây, nếu ta đã tạm thời thống nhất với nhau được một cách hiểu như vậy, thì có thể bắt đầu đi vào thử xem xét thực tế hai thứ vốn đó ở ta trước nay là như thế nào. Theo tôi,  trong xã hội truyền thống của chúng ta, vốn xã hội khá phong phú. Có rất nhiều ví dụ. Chỉ thử xin nêu hai ví dụ. Thăng Long – Hà Nội là một Hà Nội 36 phố phường. Các “phường” của Hà Nội là gì? Đó là những hiệp hội ngành nghề từ các làng nghề hội tụ lên Thăng Long, kết với nhau một cách tự nguyên, tự tạo thành những mạng lưới hàng ngang, dựa vào sự hỗ trợ trên cơ sở tin cẩn với nhau mà cùng nhau làm ăn, tạo nên sức cạnh tranh, phát triển… Những phường hội đó là hoàn toàn phi Nhà nước, và hiệu quả thì rất lớn, như ta đều biết…  Hội An ở Quảng Nam có thể là ví dụ thứ hai. Điều đặc biệt là vốn xã hội mà đô thị thương cảng Hội An từng tạo được trong quá khứ cách đây mấy trăm năm, thì đến nay vẫn còn, có mất đi một thời gian, những năm gần đây đã được khôi phục và đang phát huy hiệu quả rất tốt. Chỉ xin nói chẳng hạn nghề may ở đây hiện nay. Chắc nhiều người đều biết là Hội An hiện nay có lẽ là nơi duy nhất ta có thể đặt may một bộ com-lê, “xuýt mơ-duya” hẳn hoi, chỉ trong ba tiếng đồng hồ, không phải một bộ mà thậm chí có thể hàng chục hay hàng trăm bộ một lúc, nhiều người nước ngoài đã làm như vậy để đóng thùng gửi về phương Tây. Đây là điều hoàn toàn do dân Hội An – chắc là do nhớ lại kinh nghiệm của cha ông mấy thế kỷ trước – tự nghĩ ra, tự kết hợp với nhau và tổ chức lấy, tự dệt thành một mạng lưới nghề may dày đặc, không ồn ào mà hết sức sinh động, linh hoạt, đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả. Xin tiết lộ: dân nội thị Hội An trong khoảng chục năm qua đã giàu lên rất nhiều, thậm chí có hộ, theo người có trách nhiệm ở đấy cho biết, mươi năm trước chưa hề có gì trong tay, nay đã đủ sức đầu tư xây dựng chẳng hạn một khách sạn cỡ năm sao như khách sạn Victoria đang có ở bờ biển Hội An… Rõ ràng dân Hội An đã tạo nên được một vốn xã hội rất mạnh. Có lẽ đây là một trong những ví dụ hùng hồn nhất về chủ đề ta đang muốn bàn ở đây.  Quảng Nam còn có một ví dụ cũng khá ấn tượng nữa về vấn đề này, mà vì thời gian tôi chỉ xin nhắc qua thôi. Đó là làng dệt Bảy Hiền ở Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn toàn do người Quảng Nam, trong những điều kiện lịch sử nào đó đã phải chạy vào tìm đất làm ăn ở phương nam, tự kết hợp lại với nhau, tạo thành cả một khu công nghiệp dệt, cạnh tranh hiệu quả với cả một thế lực kinh tế dệt rất mạnh ở Sài Gòn là lực lượng người Hoa Chợ Lớn…  Trong chuyện Hội An có bàn tay “chỉ đạo”, tổ chức nào của Nhà nước không? Theo chỗ tôi được biết thì không. Nhà nước, chính quyền chỉ làm mỗi một động tác hết sức quan trọng, là… không nói gì hết, không can thiệp gì cả, để cho dân tự làm lấy. Bất can thiệp hóa ra là chính sách lớn nhất, quan trọng nhất của Nhà nước ở đây.  Trong hiểu biết hạn chế của mình, tôi chỉ xin thử nêu vài ví dụ tích cực như vậy…  Xin nói tiếp đến khía cạnh thứ hai của vấn đề.  Trong kỳ họp lần này của Quốc hội thấy có đưa ra thảo luận Luật về Hội. Hình như thảo luận chưa xong, và phiên họp này chưa quyết định, để đến phiên sau. Tôi cũng chưa được biết luật ấy sẽ được quyết định theo hướng nào. Nhưng xin phép thú thật, tôi có lo. Thậm chí có người đã hỏi (hỏi thầm thôi!): sao lại có chuyện Luật Hội? Tôi rất lo chúng ta sẽ Nhà nước hoá tất cả các hội. Thật ra thì lâu nay cũng đã Nhà nước hóa rồi, lần này không khéo sẽ luật hóa một cách chính thức hơn sự Nhà nước hóa ấy thôi.  Theo tôi, hội phải là phường hội thì mới có thể làm nên vốn xã hội, Nhà nước hóa các hội tức là ta sẽ biến tất cả quan hệ ngang vốn dệt nên vốn xã hội thành quan hệ dọc, và như vậy sẽ không còn không gian xã hội nữa, chỉ còn một thứ xã hội đơn tuyến, khô cằn, nghèo nàn. Chính chúng ta đã làm điều đó trong một thời kỳ rất dài, và nói cho thật đúng, đến nay, về nguyên lý, vẫn còn chủ trương như vậy. Chúng ta nhấn mạnh đến sự “lãnh đạo toàn diện”, không để cho bất cứ lĩnh vực nào, hoạt động nào của xã hội được lọt ra ngoài sự chăm sóc, lãnh đạo, điều hành của một Nhà nước tập trung. Như vậy, về nguyên tắc, là triệt tiêu mọi nguồn lực có thể tạo nên vốn xã hội. Các hội chúng ta đang có, tất cả, đều thực chất là một kiểu cơ quan Nhà nước không hơn không kém, việc chúng đều được Nhà nước trả lương là một bằng chứng không thể chối cãi. Và như vậy thì tất yếu không có xã hội dân sự. Chỉ còn có độc quyền, “độc điều hành”, “độc chỉ huy” của Nhà nước.  Vậy đặt vấn đề vốn xã hội trong xã hội chúng ta hiện nay về lý thuyết và về thực tế là đặt vấn đề phá vỡ một trong những nguyên lý điều hành xã hội cơ bản nhất đang hiện hành.     Bây giờ thử nghĩ lại xem sự kiện rất quan trọng mà ta vẫn gọi là Đổi mới năm 1986 – bây giờ được coi là cuộc đổi mới lần thứ nhất – thực chất là gì? Theo tôi, cũng có thể nói một cách vắn tắt, đơn giản nhưng thực chất, đổi mới lần ấy thực ra chỉ là ta đã giác ngộ ra và từ bỏ độc quyền quản lý của Nhà nước ở nhiều lĩnh vực của đời sống, một thứ quyền quản lý bây giờ ngẫm lại thật kỳ quặc và vô lý vậy mà ta cứ khư khư giữ chặt lấy suốt bao nhiêu năm, trả lại quyền sống, quyền tự quyết định lấy sự làm ăn và sự tiêu dùng bình thường của con người. Thật ra hồi đó là người dân, trước hết là nông dân, đã nhất quyết đứng lên – bằng cách “chui” – tự mình giành lại quyền đó, quyền tạo ra vốn xã hội, để giải phóng xã hội ra khỏi một tình trạng nghèo khốn vô lý, hoàn toàn không đáng có. Bằng cách đó, chính người dân lúc bấy giờ đã “cứu” xã hội ra khỏi khủng hoảng đã gần đến mức lâm nguy.  Ngày nay đang cần một cuộc giải phóng tiếp như vậy nữa. Tôi rất mong Luật về Hội của Quốc hội lần này sẽ là một luật phi Nhà nước hóa các hội, Nhà nước cần từ bỏ quyền quản lý, “lãnh đạo toàn diện” các hội. Đừng biến các hội thành một thứ cánh tay nối dài của Nhà nước, một thứ Nhà nước thứ hai (hay thứ ba). Trả quyền lập hội để tạo lực xã hội lại cho dân, để cho dân có thể lấp đầy những khoảng trống trong cái khối hộp vuông xã hội mà Nhà nước, bất cứ Nhà nước nào, về nguyên tắc đều không thể lấp đầy được.     Vì vậy, đặt vấn đề vốn xã hội lần này, theo một ý nghĩa nào đó, cũng chính là đặt vấn đề về thực chất của nội dung một cuộc đổi mới lần thứ hai. Một cuộc giải phóng lần thứ hai những tiềm lực đã từng chứng minh sự giàu có của nó trong lịch sử của chính chúng ta.                Ứng dụng mới của vốn xã hội?    Khi vốn xã hội có đặc tính nào đó như “vốn”, chứ không khác biệt hoàn toàn, ta có thể vận dụng và triển khai vào trường hợp của vốn xã hội hay không?  Điều này là có thể và đặc biệt quan trọng, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi đang cố tìm mọi cách tìm ra một điều gì đó mới lạ nhằm bổ sung vào kho tàng lý luận nhiều khi đã quá lạc hậu, và vào nguồn vốn vật thể hiện hữu để thoát kiếp đói nghèo và nhược tiểu.                   Thực tế cho thấy cùng một trường hợp như nhau nhưng doanh nghiệp nào tạo ra được một cấu trúc vốn độc đáo với các công cụ kết hợp phong phú, giá trị của doanh nghiệp đó có thể tăng lên đáng kể. Như vậy, một công ty hay một định chế, ngoài các loại vốn hiểu theo nghĩa truyền thống, còn có thể huy động thông qua các công cụ là chứng khoán ngoại lai (exotic security). Các khoản vay nợ kết hợp với option mua cổ phiếu, chẳng hạn, và hàng ngàn cách kết hợp khác mà khó có ai thông thạo hết, cho dù có là các chuyên gia thứ thiệt, là điển hình của các kết hợp “vốn” độc đáo đó.  Tương tự, vốn xã hội có thể là một kếp hợp giữa những gì chung của cộng đồng và thừa nhận tính độc đáo, kiểu như “1 quốc gia 2 chế độ”. Hoặc nhiều ông bộ trưởng cũng có thể là người ngoài đảng ngay trong lòng của một đảng cầm quyền. Điều này có nghĩa, các nước có thể cùng một hoàn cảnh như nhau, nhưng nếu nước nào có được những kết hợp độc đáo trong gây dựng vốn xã hội vẫn có thể trở nên giàu có và thịnh vượng.  Sở dĩ như thế là do, thay vì tư duy theo lối cơ khí máy móc, vốn xã hội được tiếp cận theo lối tư duy hệ thống. Cách tiếp cận đặt trọng tâm vào mối quan hệ tương tác giữa các phần và của toàn hệ thống, thay vì chỉ duy nhất trong bản thân của chính từng bộ phận. Hiện tượng “đảng hóa” bộ máy nhà nước trong các chính đảng cầm quyền chính là do cách tiếp cận theo lối tư duy cơ học mà ra, thay vì là lối tư duy hệ thống.  Muốn hình thành và chuyển hóa vốn xã hội thành một động lực để phát triển, không những chỉ tìm cách tạo lập các yếu tố cấu thành mà còn cách phải thay đổi cả hệ thống, nếu như hệ thống đó là lực cản làm cho vốn xã hội mãi mãi không thể tuần hoàn và chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng mà thôi.  PGS.TS Trần Ngọc Thơ                         Nếu thiếu chiều sâu văn hóa        Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất. Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Nghĩa là thiếu đi chiều sâu văn hóa và chiều cao nhân văn thì đấy cũng chỉ là một hình thức phồn vinh thô thiển mà người xưa gọi là “trọc phú” (thanh bần hơn trọc phú) hay theo mắt nhìn của quần chúng bình dân là “giàu mà không sang”. Hình ảnh của những vùng đất giàu vốn vật chất mà nghèo vốn xã hội thường xuất hiện trong những vùng kinh tế “nước nổi”. Nếu có dịp ghé đến những vùng kinh tế quanh các khu quân sự, hầm mỏ hay hãng xưởng khai thác kinh doanh tạm thời ở Philipines, Panama, Trung Đông, Nam Phi… sẽ thấy rõ hình ảnh “giàu mà không sang” này xuất hiện nhan nhản. Theo Sennett, R. (1998) thì “Dấu hiệu báo động đầu tiên của sự suy thoái nguồn vốn xã hội là số người phát giàu mà không làm gì cả hay kiếm lợi bất chính một cách công khai càng lúc càng đông và khoảng cách giữa những người nghèo lương thiện và những người giàu gian manh mỗi ngày một lớn”.             Buổi sáng bên Hồ Gươm           Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng, một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội. Friedland (2003) đã nêu dẫn trường hợp các nước Châu Mỹ La tinh và sự èo uột của vốn xã hội. Giới lãnh đạo và thân hào nhân sĩ trong vùng thường vinh danh tinh thần địa phương và lòng tự hào nhân chủng một cách quá bảo thủ và cực đoan đến độ lơ là không quan tâm đúng mức đến sự hun đúc, nuôi dưỡng và phát triển nguồn vốn xã hội. Hậu quả là sự thiếu hợp tác giữa những thành viên xã hội và các thế lực đầu tư đã đưa đến quan hệ một chiều và dẫn đến chỗ vốn xã hội bị phá sản. Các nhà kinh doanh đầu tư nản lòng lui bước. Thay vì hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, bình đẳng và danh dự thì lại biến tướng thành quan hệ “đút” (bribe) và “đớp” (being bribed) trong mối quan hệ bệnh hoạn của hối lộ và tham nhũng. Kết quả là hơn một thế kỷ qua, các nước nghèo vẫn nghèo. Dân chúng vẫn lầm than; nền kinh tế các nước trong vùng rất giàu tài nguyên nhưng vẫn kiệt quệ vì giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài nguyên đất nước để làm giàu cho riêng cá nhân, gia đình và dòng họ của mình rồi tìm cách chuyển tiền của và gửi con cháu của mình ra nước ngoài du học và lập nghiệp.   Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau: Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.    Trần Kiêm Đoàn (Mỹ)            Nhà văn Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộp vuông và khối tròn. Chiều thẳng đứng và chiều ngang      Tôi không phải là nhà kinh tế, rất dốt chuyện làm ăn, mà đã nói “Vốn” tức là nói chuyện kinh tế, lĩnh vực tôi hoàn toàn ngoại đạo. Tuy nhiên, đây là vấn đề “Vốn xã hội”, có cái “xã hội” trong ấy, nên tôi nghĩ cũng có thể thử mạnh dạn mon men tham gia đôi điều gì chăng.    Nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước được phổ biến gần đây, và nhiều tham luận trong hội thảo này đã bàn sâu sắc về khái niệm vốn xã hội, lịch sử của khái niệm này, nội hàm của nó, đặc biệt đã có một số tác giả đi vào xem xét thực tế vốn xã hội của chúng ta, đánh giá thực trạng, xu hướng, triển vọng. Tôi nghĩ việc đánh giá này là rất cần thiết, sẽ thật sự có ích đối với sự phát triển của đất nước trong tình hình hiện nay; thậm chí có thể liên quan đến những vấn đề không hề nhỏ, có tính nguyên tắc, hay nguyên lý, trong định hướng phát triển đó.  Quả thật ở ta vốn xã hội là một vấn đề mới, khái niệm ấy mãi đến rất gần đây mới được nhắc đến, quan tâm, và bàn bạc. Nhưng lại cũng có thể nói, ngay đối với chúng ta, đây là một vấn đề vừa mới, rất mới, vừa cũng không hoàn toàn mới. Bởi vì, theo tôi, trong thực tế, trong xã hội, thậm chí từ lâu đã có cái này rồi, đã có vốn xã hội rồì, nhiều thời kỳ có nhiều nữa là khác, xã hội ta đã từng biết vận dụng nó một cách hiệu quả; đồng thời chúng ta cũng đã từng đánh mất nó, và rất có thể hiện nay đang tiếp tục đánh mất nó, tạo nên một sự lãng phí xã hội lớn, tự làm nghèo mình đi rất nhiều.       Như chúng ta đều biết, cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về vốn xã hội. Riêng tôi, tôi thích một hình ảnh sau đây do một người bạn của tôi đưa ra khi thử định nghĩa về vốn xã hội. Theo anh ta, nếu ta hình dung toàn bộ xã hội như một khối hộp hình vuông, thì sự quản lý của Nhà nước, mà trong bất cứ xã hội nào cũng tất phải có, có thể hình dung như một khối hình cầu trong cái hộp vuông đó. Cái khối cầu đó có thể rất lớn, nhưng dầu có lớn đến bao nhiêu nữa cũng không thể nào lấp đầy hết khối hộp vuông kia. Bao giờ cũng còn những khoảng trống mà về nguyên tắc Nhà nước không thể lấp đầy. Để lấp đầy được những khoảng trống đó, chỉ có thể là cái mà ta gọi là vốn xã hội. Hiểu như vậy, thì vốn xã hội, cái cần có để lấp đầy xã hội, tạo nên hiệu quả kinh tế đầy đủ cho xã hội, chính là những gì ở ngoài Nhà nước, phi Nhà nước. Một xã hội chỉ có họat động của Nhà nước, tất cả đều quy về Nhà nước, Nhà nước bao lấy tất cả, Nhà nước hoá tất cả, thì sẽ là một xã hội nghèo, nghèo một cách tất yếu, về nguyên tắc, đơn điệu, và khô cằn.  Nhiều tác giả đã diễn đạt điều này theo nhiều cách khác nhau. Có người nói, rất đúng, rằng quan hệ Nhà nước là quan hệ theo chiều dọc, chiều thẳng đứng, chiều tôn ti trên dưới, mà quan hệ một chiều, thì như ta biết một cách vật lý, không thể trở thành không gian, không thể lấp đầy không gian xã hội. Vốn xã hội chính là quan hệ theo chiều ngang, nó cùng với quan hệ dọc, đứng trên kia, tạo thành không gian, lấp đầy không gian. Và như vậy, cũng có thể hiểu, vốn xã hội là một cái gì đó “đối lập” – xin hiểu từ này theo ghĩa triết học chứ không phải chính trị – với “vốn Nhà nước, do Nhà nước tạo ra.  Đến đây, nếu ta đã tạm thời thống nhất với nhau được một cách hiểu như vậy, thì có thể bắt đầu đi vào thử xem xét thực tế hai thứ vốn đó ở ta trước nay là như thế nào. Theo tôi,  trong xã hội truyền thống của chúng ta, vốn xã hội khá phong phú. Có rất nhiều ví dụ. Chi thử xin nêu hai ví dụ. Thăng Long – Hà Nội là một Hà Nôi 36 phố phường. Các “phường” của Hà Nội là gì? Đó là những hiệp hội ngành nghề từ các làng nghề hội tụ lên Thăng Long, kết với nhau một cách tự nguyên, tự tạo thành những mạng lưới hàng ngang, dựa vào sự hộ trợ trên cơ sở tin cẩn với nhau mà cùng nhau làm ăn, tạo nên sức cạnh tranh, phát triển … Những phường hội đó là hoàn toàn phi Nhà nước, và hiệu quả thì rất lớn, như ta đều biết …  Hội An  ở Quảng Nam có thể là ví dụ thứ hai. Điều đặc biệt là vốn xã hội mà đô thị thương cảng Hội An từng tạo được trong quá khứ cách đây mấy trăm năm, thì đến nay vẫn còn, có mất đi một thời gian, những năm gần đây đã được khôi phục lại, và đang phát huy hiệu quả rất tốt. Chỉ xin nói chẳng hạn nghề may ở đây hiện nay. Chắc nhiều người đều biết là Hội An hiện nay có lẽ là nơi duy nhất ta có thể đặt may một bộ côm-lê, “xuýt mơ-duya” hẳn hoi, chỉ trong ba tiếng đồng hồ, không phải một bộ mà thậm chí có thể hàng chục hay hàng trăm bộ một lúc, nhiều người nước ngoài đã làm như vậy để đóng thùng gửi về phương Tây. Đây là điều hoàn toàn do dân Hội An – chắc là do nhớ lại kinh nhgiệm của cha ông mấy thế kỷ trước – tự nghĩ ra, tự kết hợp với nhau và tổ chức lấy, tự dệt thành một mạng lưới nghề may dày đặc, không ồn ào mà hết sức sinh động, linh hoạt, đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả. Xin tiết lộ: dân nội thị Hội An trong khoảng chuc năm qua đã giàu lên rất nhiều, thậm chí có hộ, theo người có trách nhiệm ở đấy cho biết, mươi năm trước chưa hề có gì trong tay, nay đã đủ sức đầu tư xây dựng chẳng hạn một khách sạn cỡ năm sao như khách sạn Victoria đang có ở bờ biển Hội An… Rõ ràng dân Hội An đã tạo nên được một vốn xã hội rất mạnh. Có lẽ đây là một trong những ví dụ hùng hồn nhất về chủ đề ta đang muốn bàn ở đây.  Quảng Nam còn có một ví dụ cũng khá ấn tượng nữa về vấn đề này, mà vì thời gian tôi chỉ xin nhắc qua thôi. Đó là làng dệt Bảy Hiền ở Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn toàn do người Quảng Nam, trong những điều kiện lịch sử nào đó đã phải chạy vào tìm đất làm ăn ở phương nam, tự kết hợp lại với nhau, tạo thành cả một khu công nghiệp dệt, cạnh tranh hiệu quả với cả một thế lực kinh tế dệt rất mạnh ở Sài Gòn là lực lượng người Hoa Chợ Lớn …  Trong chuyện Hội An có bàn tay “chỉ đạo”, tổ chức nào của Nhà nước không? Theo chỗ tôi được biết thì không. Nhà nước, chính quyền chỉ làm mỗi một động tác hết sức quan trọng, là … không nói gì hết, không can thiệp gì cả, để cho dân tự làm lấy. Bất can thiệp hoá ra là chính sách lớn nhất, quan trọng nhất của Nhà nước ở đây.  Trong hiểu biết hạn chế của mình, tôi chỉ xin thử nêu vài ví dụ tích cực như vậy…     Xin nói tiếp đến khía cạnh thứ hai của vấn đề.  Trong kỳ họp lần này của Quốc hội thấy có đưa ra thảo luận Luật về Hội. Hình như thảo luận chưa xong, và phiên họp này chưa quyết định, để đến phiên sau. Tôi cũng chưa được biết luật ấy sẽ được quyết định theo hướng nào. Nhưng xin phép thú thật, tôi có lo. Thậm chí có người đã hỏi (hỏi thầm thôi!): sao lại có chuyện Luật Hội? Tôi rất lo chúng ta sẽ Nhà nước hoá tất cả các hội. Thật ra thì lâu nay cũng đã Nhà nước hoá rồi, lần này không khéo sẽ luật hoá một cách chính thức hơn sự Nhà nước hoá ấy thôi.  Theo tôi, hội phải là phường hội thì mới có thể làm nên vốn xã hội, Nhà nước hoá các hội tức là ta sẽ biến tất cả quan hệ ngang vốn dệt nên vốn xã hội thành quan hệ dọc, và như vậy sẽ không còn không gian xã hội nữa, chỉ còn một thứ xã hội đơn tuyến, khô cằn, nghèo nàn. Chính chúng ta đã làm điều đó trong một thời kỳ rất dài, và nói cho thật đúng, đến nay, về nguyên lý, vẫn còn chủ trương như vậy. Chúng ta nhấn mạnh đến sự “lãnh đạo toàn diện”, không để cho bất cứ lĩnh vực nào, hoạt động nào của xã hội được lọt ra ngoài sự chăm sóc, lãnh đạo, điều hành của một Nhà nước tập trung. Như vậy, về nguyên tắc, là triệt tiêu mọi nguồn lực có thể tạo nên vốn xã hội. Các hội chúng ta đang có, tất cả, đều thực chất là một kiểu cơ quạn Nhà nước không hơn không kém, việc chúng đều được Nhà nước trả lương là một bằng chứng không thể chối cãi. Và như vậy thì tất yếu không có xã hội dân sự. Chỉ còn có độc quyền, “độc điều hành”, “độc chỉ huy” của Nhà nước.  Vậy đặt vấn đề vốn xã hội trong xã hội chúng ta hiện nay về lý thuyết và về thực tế là đặt vấn đề phá vỡ một trong những nguyên lý điều hành xã hội cơ bản nhất đang hiện hành.     Bây giờ thử nghĩ lại xem sự kiện rất quan trọng mà ta vẫn gọi là Đổi mới năm 1986 – bây giờ được coi là cuộc đổi mới lần thứ nhất – thực chất là gì? Theo tôi, cũng có thể nói một cách vắn tắt, đơn giản nhưng thực chất, đổi mới lần ấy thực ra chỉ là ta đã giác ngộ ra và từ bỏ độc quyền quản lý của Nhà nước ở nhiều lĩnh vực của đời sống, một thứ quyền quản lý bây giờ ngẫm lại thật kỳ quặc và vô lý vậy mà ta cứ khư khư giữ chặt lấy suốt bao nhiêu năm, trả lại quyền sống, quyền tự quyết định lấy sự làm ăn và sự tiêu dùng bình thường của con người. Thật ra hồi đó là người dân, trước hết là nông dân, đã nhất quyết đứng lên – bằng cách “chui” – tự mình dành lại quyền đó, quyền tạo ra vốn xã hội, để giải phóng xã hội ra khỏi một tình trạng nghèo khốn vô lý, hoàn toàn không đáng có. Bằng cách đó, chính người dân lúc bấy giờ đã “cứu” xã hội ra khỏi khủng hoảng đã gần đến mức lâm nguy.  Ngày nay đang cần một cuộc giải phóng tiếp như vậy nữa. Tôi rất mong Luật về Hội của Quốc hội lần này sẽ là một luật phi Nhà nước hoá các hội, Nhà nước cần từ bỏ quyền quản lý, “lãnh đạo toàn diện” các hội. Đừng biến các hội thành một thứ cánh tay nối dài của Nhà nước, một thứ Nhà nước thứ hai (hay thứ ba). Trả quyền lập hội để tạo lực xã hội lại cho dân, để cho9 dân có thể lấp đầy những khoảng trống trong cái khối hộp vuông xã hội mà Nhà nước, bất cứ Nhà nước nào, về nguyên tắc đều không thể lấp đầy được.      Vì vậy, đặt vấn đề vốn xã hội lần này, theo một ý nghĩa nào đó, cũng chính là đặt vấn đề về thực chất của nội dung một cuộc đổi mới lần thứ hai. Một cuộc giải phóng lần thứ hai những tiềm lực đã từng chứng minh sự giàu có của nó trong lịch sử của chính chúng ta.         Tháng 6-2006    Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa tin về quấy rối tình dục: Thế nào mới khách quan?      Tháng trước, Ngô Hoàng Anh – một nhân vật được lựa chọn trong danh sách Under 30 tuổi của Forbes Việt Nam bị phát hiện đã từng quấy rối tình dục (QRTD) nhiều nữ sinh trường Phổ thông Năng khiếu qua tin nhắn. Trong khi nhiều tờ báo đăng tiếng nói từ các nạn nhân, một số tờ, với mục đích nhằm để giúp độc giả “có cái nhìn đa chiều” về sự việc, lại phỏng vấn Ngô Hoàng Anh. Có bài dành toàn bộ 2000 chữ để Ngô Hoàng Anh và luật sư của anh ta phản pháo lại các cáo buộc dành cho mình mà không hề có kiểm chứng nào từ phóng viên.      Đưa tin nước đôi trên danh nghĩa đa chiều   Đưa tin đa chiều là một trong những nguyên tắc quan trọng của nghiệp vụ báo chí, nhằm đảm bảo bạn đọc được tiếp cận với nhiều góc nhìn của một vấn đề. Trong tin tức liên quan đến tranh chấp, đưa tin đa chiều tạo điều kiện cho các bên cùng được đưa ra quan điểm và mang lại sự khách quan cho bài báo. Tuy vậy, đối với những cáo buộc QRTD, nếu chỉ đơn thuần đặt lời khai trái ngược của hai bên cạnh nhau sẽ trở thành đưa tin nước đôi, bỏ qua những bằng chứng cho thấy lời tuyên bố của một bên (thường là của thủ phạm) hoàn toàn vô căn cứ và cảm tính.  Bình thường, người phụ nữ đã phải chịu không chỉ những tổn thương tâm lý mà còn cả những áp lực từ dư luận khi lên tiếng về việc mình bị quấy rối tình dục. Nhiều nghiên cứu cho thấy nam giới thường được dư luận tin tưởng hơn. Khi đưa vụ việc ra pháp luật, định kiến giới này cũng gây khó dễ cho họ. Tại nhiều nước, theo hệ thống thông luật cũ của Anh (common law), quan niệm cho rằng lời khai của phụ nữ là không đáng tin dẫn đến luật chỉ cho phép tòa xét xử các vụ án liên quan đến cưỡng bức tình dục khi có bằng chứng bổ sung (corroborative evidence) kèm theo lời khai của nạn nhân. Điều này còn ngặt nghèo hơn cả xử lý các vụ trộm cướp! Ngày nay, kể cả khi điều luật này đã được bãi bỏ tại hầu hết các nước, suy nghĩ trên vẫn còn ăn sâu vào thực hành của hệ thống tư pháp tại những nước này.    Bạo lực giới là xuất phát từ cấu trúc bất bình đẳng về kinh tế, xã hội và chính trị giữa nam và nữ. Ảnh: The Economist.  Ở Việt Nam, nạn nhân của QRTD còn gặp nhiều khó khăn hơn. Pháp luật nước ta, kể cả đã có quy định phạt về QRTD nhưng vẫn còn không có một định nghĩa chung về QRTD (mà chỉ có quy định về QRTD tại nơi làm việc). Bởi vậy cánh cửa để những người bị quấy rối ngoài công sở đưa vụ việc ra tòa án là vô cùng hẹp. Họ chỉ có thể tìm kiếm công lý phi chính thức (informal justice), ví dụ như sự công nhận của cộng đồng mạng hoặc lời xin lỗi từ người đã quấy rối họ. Nhưng khi kể câu chuyện của mình, dư luận cũng thường quay lưng về phía nạn nhân mà bênh vực nam giới. Lời kể của họ bị nghi ngờ và coi nhẹ. Ví dụ, trong vụ QRTD liên quan đến Ngô Hoàng Anh, bất chấp việc có nhiều nạn nhân cùng đứng ra tố cáo, và các nạn nhân đều đưa ra nhiều bằng chứng chụp/quay lại màn hình nhắn tin cho thấy Ngô Hoàng Anh quấy rối họ, họ vẫn bị chất vấn “tại sao vẫn tiếp tục nhắn tin?”, “tại sao không block?” mà bỏ qua những áp lực khiến nạn nhân vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ với thủ phạm.  Trước bức màn định kiến dày dặn như vậy, đưa tin nước đôi càng khắc sâu thêm chênh lệch quyền lực giữa nam và nữ. Báo chí đã vô tình cung cấp cho người quấy rối một kênh thông tin đầy quyền lực để “thanh minh”, thậm chí có cơ hội biến mình từ thủ phạm thành nạn nhân của sự việc và đẩy những thảo luận xã hội ra xa khỏi cốt lõi của vấn đề.  Khi người quấy rối trở thành nạn nhân    Vào năm 2018, sau khi vũ công Phạm Lịch tố cáo ca sĩ Anh Khoa, Báo Người Lao Động đăng bài bình luận “#Metoo có vẻ lệch hướng khi đến Việt Nam?”. Theo bài báo này, việc tố cáo QRTD “trở thành ‘cần câu’ sự nổi tiếng của những người biết “tận dụng” cơ hội”, và “không ít những trường hợp lợi dụng để vu khống hoặc cố tình bôi nhọ ai đó… để được nổi tiếng […]”. Đây cũng là logic mà Ngô Hoàng Anh dùng để “phản pháo” lại các nạn nhân của mình và tìm kiếm sự ủng hộ từ dư luận. Theo đó, Ngô Hoàng Anh cho rằng những tố cáo đó là “kế hoạch được lên kĩ càng từ trước”, chỉ nổi lên vào những lần mình “được truyền thông và mạng xã hội chú ý với những thành tích hay thành tựu nổi bật.” để “lăng mạ” mình. Tuyên bố vô căn cứ này được dẫn lại nguyên văn mà không thông qua xác minh. Trên thực tế, lời tố cáo của hàng chục nạn nhân dưới một nick chung ẩn danh đã gây chú ý trên mạng xã hội trong suốt hai năm vừa qua.  Câu chuyện này cũng khá giống với sự kiện ở Mỹ vào năm 2018 khi khi tờ The New York Review of Books đăng tải một bài luận dài gần 3500 chữ viết bởi Jian Gomeshi, cựu dẫn chương trình radio của Đài phát thanh và truyền hình Canada bị đuổi việc vì QRTD. Trong bài luận, Gomeshi biến mình thành nạn nhân của những cáo buộc QRTD dành cho anh: anh kể lại chi tiết cuộc đời mình và những lần định tự tử kể từ khi bị đuổi việc vào năm 2014. Việc tờ The New York Review of Books đăng nguyên văn bài luận của Gomeshi mà không đăng kèm theo bối cảnh sự việc hứng chịu nhiều chỉ trích từ dư luận. Tờ báo này sau đó phải đính chính bằng cách bổ sung thông tin về những cáo buộc dành cho Gomeshi, kèm theo lời hứa sẽ đăng tải tất cả những ý kiến phản đối lại bài luận này trong những số báo tiếp theo.      Đứng trước một vụ cáo buộc quấy rối tình dục, hãy cẩn thận khi đăng tải lời nói của thủ phạm.      Bài phỏng vấn Ngô Hoàng Anh phát đi thông điệp rằng gia đình và người thân của anh, các thầy cô, học sinh và cựu học sinh Trường Phổ thông Năng khiếu, thậm chí các bác sĩ “đã và đang phải căng mình trong cuộc chiến chống COVID-19” mới chính là nạn nhân của QRTD. Niềm tin (vô căn cứ) rằng đàn ông, người thân của họ, và nguyên cả hệ thống hỗ trợ họ là nạn nhân của tố cáo sai biến họ thành mối quan tâm mới của dư luận. Điều này làm mờ đi thực tế rằng rất ít những lời tố cáo QRTD công khai trước công chúng là bịa đặt, phần lớn phụ nữ quyết định không tố cáo người quấy rối họ và im lặng chịu đựng vì nhiều lý do (định kiến xã hội, thiếu khung pháp lý nên không giải quyết được vấn đề). Điều này hướng sự quan tâm của dư luận ra khỏi vấn đề mang tính cấu trúc là bất bình đẳng giới dẫn đến QRTD và bạo lực giới; trong đó nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở địa vị thấp hơn hoặc phụ thuộc vào người quấy rối họ.  Đưa tin sự việc riêng lẻ và có tính chất khác thường   Một xu hướng khác thường thấy khi đưa tin về QRTD và các hình thức bạo lực trên cơ sở giới khác là sự tập trung của truyền thông vào các vụ việc có tính chất cá biệt. Điều này góp phần làm lệch lạc nhận thức của công chúng về việc ai là người gây ra bạo lực, bạo lực thường xảy ra ở đâu, đối với ai, và vào lúc nào. Đây là hạn chế không chỉ của báo chí Việt Nam mà còn ở các nước trên thế giới.  Ví dụ, QRTD chỉ được truyền thông chú ý và đưa khi sự việc có liên quan đến người nổi tiếng. Trái với lầm tưởng của nhiều người rằng phong trào #Metoo khởi nguồn từ những tố cáo dành cho nhà sản xuất phim Harvey Weinstein vào năm 2017, phong trào này thực chất được khởi xướng bởi Tarana Burke, một người phụ nữ Da đen ở Mỹ từ 2006. Nhưng từ khóa #Metoo chỉ được chú ý khi ca sĩ diễn viên Alyssa Jayne Milano chia sẻ lại trên trang Twitter của cô. Tương tự, ở Việt Nam, một trong yếu tố ảnh hưởng lớn để báo chí quyết định đưa tin QRTD là vụ việc có liên quan đến người nổi tiếng (trường hợp Minh Béo, Anh Khoa, hoặc gần đây nhất là Ngô Hoàng Anh).    Đặng Quang Dũng, họa sĩ truyện tranh với biệt danh Mèo Mốc đã lên tiếng phản đối việc đưa Ngô Hoàng Anh vào danh sách Forbes Việt Nam Under 30 và đồng thời cũng tự rút tên mình khỏi danh sách này. Ảnh: Forbes Việt Nam.  Không thể phủ nhận một thực tế rằng QRTD dù gây ra bởi người dù nổi tiếng hay không đều để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nạn nhân. Sự tập trung của báo chí vào một vài trường hợp người nổi tiếng mà không chỉ ra sự phổ biến của QRTD tạo lầm tưởng rằng QRTD là những sự việc mang tính chất cá biệt, hiếm xảy ra. Trên thực tế, theo một khảo sát thực hiện năm 2014 của tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam năm 2014, 87% nữ giới được khảo sát tại Hà Nội và TP.HCM xác nhận họ đã bị QTRD tại nơi công cộng.  Truyền thông cũng đặc biệt chú ý đến những vụ xâm hại tình dục gây ra bởi những người không quen biết. Sự tập trung một cách quá mức vào những vụ việc này tạo ra ảo tưởng rằng tấn công tình dục chỉ gây ra bởi người lạ (stranger danger myth). Trái với ảo tưởng này, nghiên cứu cho thấy phần lớn bạo lực giới và cưỡng bức xảy ra đến cho phụ nữ và cả trẻ em trong chính căn nhà họ, và được gây ra bởi người thân của họ. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trên toàn cầu, ước tính khoảng 30% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên đã phải chịu bạo lực thể xác và/hoặc tình dục ít nhất một lần trong đời. Cũng theo thống kê này, khoảng 25% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên hứng chịu bạo lực tình dục hoặc thể chất gây ra bởi chồng mình. Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy cứ ba phụ nữ thì có hai người bị bạo hành ít nhất một lần trong đời.  Chỉ tập trung đưa tin những sự việc riêng lẻ, có tính chất bất thường, cá biệt khiến dẫn đến nhầm tưởng rằng tội phạm QRTD chỉ là một số ít trong xã hội và phụ nữ chỉ bị quấy rối nếu đi ra đường một mình, nơi vắng vẻ vào ban đêm. Ở cấp độ xã hội, nhầm tưởng này khiến các biện pháp phòng ngừa QRTD đi chệch hướng (ví dụ như khuyên phụ nữ không được đi lại một mình, hoặc lắp camera tại đường phố, thay vì tập trung nguồn lực để cải thiện bất bình đẳng giới). Đối với nạn nhân, điều này làm tăng khả năng im lặng khi họ bị quấy rối, vì thủ phạm không trùng khớp với hình mẫu được mô tả thông qua báo chí cũng như hình dung của cộng đồng.  QRTD và tầm quan trọng của báo chí diễn giải (explanatory journalism)  Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, báo chí đưa tin sai lệch có khả năng khắc sâu chênh lệch quyền lực và gây ra những ảo tưởng về QRTD, nhưng nếu đưa tin một cách thấu đáo, báo chí cũng có thể trở thành phương tiện tiên phong (primary intervention) trong việc phòng ngừa QRTD và bạo lực giới. Theo đó, báo chí không chỉ là phương tiện tường thuật lại vụ việc bằng cách phỏng vấn và đăng y nguyên lời các bên liên quan, mà còn là kênh cung cấp thông tin về bối cảnh rộng lớn hơn kèm những lý giải mang tính cấu trúc về việc tại sao bạo lực giới và QRTD diễn ra.  Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), trong tài liệu hướng dẫn đưa tin về bạo lực giới, nhấn mạnh vai trò của việc đưa tin kèm diễn giải (explanatory journalism). Bài báo “Một câu chuyện khó tin về hiếp dâm” kể lại hành trình tìm công bằng của một phụ nữ ở Mỹ khi bị buộc tội tố cáo sai về việc bị cưỡng hiếp là một ví dụ tiêu biểu của hình thức báo chí này. Bài báo này đã mang lại cho hai nhà báo Christian Miller và Ken Armstrong giải thưởng Pulitzer về báo chí diễn giải năm 2016. Trong bối cảnh ở Việt Nam còn thiếu vắng những tài liệu hướng dẫn cho phóng viên cách thức đưa tin về bạo lực giới và QRTD, đây là những tài liệu rất đáng để tham khảo.  Đưa tin kèm lý giải có thể thực hiện qua những bước cơ bản như (1) cung cấp số liệu thống kê để công chúng hiểu được sự phổ biến của QRTD và bạo lực giới; (2) cung cấp lý giải về QRTD và bạo lực giới là xuất phát từ bất bình đẳng một cách cấu trúc giữa nam và nữ về kinh tế, xã hội và chính trị. Chẳng hạn, trên thế giới và cả ở Việt Nam, đã có nhiều báo cáo cho thấy nam giới thường được trả lương cao hơn, dễ được cất nhắc lên vị trí quản lý hơn, có tiếng nói quyết định trong gia đình so với phụ nữ. Nói cách khác, phụ nữ có phần “thiệt thòi” hơn nam giới trong đại đa số các khía cạnh của đời sống nên họ dễ bị coi thường, bị lạm dụng. (3) tiếp cận QRTD và bạo lực dưới góc độ đây là hành vi nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền con người, đe dọa lâu dài đến sự an toàn của cả cộng đồng chứ không phải là một sai lầm cá biệt và chỉ tác động tạm thời đến một vài cá nhân đơn lẻ. Chỉ khi hiểu rõ được phạm vi, đối tượng bị ảnh hưởng bởi QRTD và nguyên nhân dẫn đến nó chúng ta mới có hy vọng phòng ngừa được hình thức bạo lực giới này.□  ——  Tài liệu tham khảo  Easteal, P., & Judd, K. (2008). ‘She Said, He Said’: Credibility and sexual harassment cases in Australia . Women’s Studies International Forum, 31(5), 336–344. https://doi.org/10.1016/j.wsif.2008.08.009  Liu, M. X., & Benton, A. K. C. (2021). Beyond Belief: How the “Corroboration Rule” in Malawi Obstructs Justice for Victims of Sex Crimes and Discriminates Against Women and Girls on the Basis of Sex—A Call for Legislative Change. Columbia Journal of Gender and Law, 40(3), 408–452. https://doi.org/10.52214/cjgl.v40i3.8650  McCann, C., & Tomaskovic-Devey, D. T. (2018). Nearly all sexual harassment at work goes unreported – and those who do report often see zero benefit. The Conversation. http://theconversation.com/nearly-all-sexual-harassment-at-work-goes-unreported-and-those-who-do-report-often-see-zero-benefit-108378  Bộ Văn hoá, Thể thao, và du lịch – Vụ Gia đình.  (2019).Tình trạng quấy rối tình dục đối với lao động nữ tại nơi làm việc. http://giadinh.bvhttdl.gov.vn/tinh-trang-quay-roi-tinh-duc-doi-voi-lao-dong-nu-tai-noi-lam-viec/  ActionAid và Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (2014). Thành phố an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái: Nơi giấc mơ thành sự thật.  https://vietnam.actionaid.org/sites/vietnam/files/publications/Policy%20Brief%20%28Vietnamese%29.pdf  UNESCO. (2019). Reporting on Violence against Women and Girls: A Handbook for Journalists (Đưa tin về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái: Sổ tay dành cho phóng viên), https://unesdoc.unesco.org/in/documentViewer.xhtml?v=2.1.196&id=p::usmarcdef_0000371524&file=/in/rest/annotationSVC/DownloadWatermarkedAttachment/attach_import_b98e44ef-ecbb-47cb-ad61-69f8ae1a4824%3F_%3D371524eng.pdf&locale=en&multi=true&ark=/ark:/48223/pf0000371524/PDF/371524eng.pdf#p108      Author                Lê Hiền Trang        
__label__tiasang Hướng tới một phương thức sống tiên tiến ở đô thị      Phương thức sống đ&#244; thị ti&#234;n tiến l&#224; một y&#234;u cầu kh&#225;ch quan của sinh hoạt x&#227; hội ở c&#225;c đ&#244; thị, v&#236; đ&#244; thị c&#243; đặc điểm m&#244;i trường, cấu tr&#250;c kinh tế, quan hệ giao lưu, tr&#236;nh độ kỹ thuật… kh&#225;c hẳn n&#244;ng th&#244;n. Cho n&#234;n khởi đi từ c&#225;c đặc điểm kh&#225;ch quan của sinh hoạt đ&#244; thị hiện tại c&#243; thể nghĩ tới việc x&#226;y dựng một phương thức sống đ&#244; thị ti&#234;n tiến.     Trong ý nghĩa là sự thể hiện trên quy mô xã hội và mang tính chất tổng hợp của các phương thức tồn tại vật chất, sản xuất tinh thần, giao tiếp xã hội, quản lý xã hội và tái sản xuất sinh học – xã hội, phương thức sống đô thị tiên tiến là các quy phạm không thể thiếu cho việc phát triển văn hóa – xã hội ở đô thị. Nhưng việc xây dựng một phương thức như thế hiện đang gặp nhiều trở ngại, mà nổi bật là quan hệ không bình thường giữa hệ thống tồn tại vật chất và hệ thống tái sản xuất sinh học – xã hội ở nhiều đô thị trong nhiều năm nay. Điển hình là ở TP. Hồ Chí Minh, những thống kê hiện còn cho thấy ít nhất trong thời gian 1954 – 1975, cơ cấu GDP của Sài Gòn khá ổn định với khoảng 5 – 10% là nông nghiệp, khoảng trên 30% là công nghiệp và trên 50% là dịch vụ. Trong thời gian 1975 – 1985, cơ cấu này đã có sự thay đổi quan trọng: Khu vực công nghiệp tăng lên trên 40%, khu vực dịch vụ giảm xuống tương đương với khu vực công nghiệp. Quá trình đổi mới từ 1986 trở đi đã khẳng định cơ cấu mới ấy, nhưng đáng tiếc sự tách rời truyền thống ấy chỉ hứa hẹn một sự trả giá cho thành phố trong tương lai. Cùng với hệ thống các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, các khu công nghiệp, khu chế xuất xuất hiện ở thành phố trong gần hai mươi năm nay đã, đang và sẽ còn liên tục gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, tóm lại là làm giảm chất lượng môi trường sống ở thành phố. Hơn thế nữa, sự hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất ấy đã mở rộng thị trường lao động ở thành phố, nhưng kết quả tất yếu là kích thích sự phát triển đột biến của hệ thống tái sản xuất sinh học – xã hội tức quá trình tăng cơ học về dân số. Cho nên dòng di dân nhập cư từ các nơi đổ về đang tạo ra áp lực ngày càng trở nên quá tải đối với hệ thống cơ sở hạ tầng từ giao thông tới điện nước cống rãnh nhà ở, hệ thống giáo dục – y tế cũng như làm phức tạp thêm tình hình trật tự trị an.   Nếu hình dung đời sống văn hóa ở các đô thị từ 1986 đến nay như một quá trình thay đổi liên tục của tam giác ba đỉnh kinh tế đô thị, môi trường đô thị và quản lý đô thị, thì rõ ràng cái tam giác này luôn luôn bị đỉnh kinh tế kéo lệch ra khỏi sự cân bằng. Việc phát triển kinh tế theo đường hướng công nghiệp hóa cổ điển thu hút di dân nhập cư đã bổ sung cho đô thị một lực lượng lao động đông đảo và khá trẻ nhưng chất lượng rất đáng lo ngại (năm 1999 ở TP. Hồ Chí Minh chỉ có 16,6% lao động có bằng cấp – tay nghề, tỷ lệ này đến cuối năm 2006 là khoảng 30%). Nhìn từ góc độ phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp như thế dĩ nhiên là một vấn nạn đối với thành phố, nhưng nhìn từ góc độ phương thức sinh hoạt đô thị thì vấn đề còn đáng quan tâm hơn, vì thực tế đã chứng minh có một khoảng cách lớn về trình độ văn hóa, hành vi xã hội và ý thức cộng đồng giữa những di dân “kiếm việc làm” với những di dân “kiếm sống”, tóm lại xét trên khía cạnh di dân nhập cư thì việc xây dựng phương thức sống đô thị tiên tiến ở thành phố còn phụ thuộc vào chỗ nó tiếp nhận loại di dân nào nhiều hơn. Rõ ràng ở đây đang tồn tại mâu thuẫn giữa đường lối xây dựng kinh tế với nhu cầu tổ chức xã hội và phát triển văn hóa, và khi nào mâu thuẫn ấy chưa được nhận thức toàn diện và giải quyết triệt để, thì một phương thức sống đô thị tiên tiến đúng nghĩa vẫn chưa thể xuất hiện.                     Bên cạnh đó, phương thức quản lý cũng đang là điểm nóng trong việc xây dựng phương thức sống đô thị tiên tiến ở thành phố. Có thể thấy trong quá trình tái cấu trúc của các hệ thống xã hội nhằm vừa trả lại cho thành phố đời sống và diện mạo đô thị đúng nghĩa vừa thúc đẩy thành phố bước mau vào quỹ đạo phát triển của đô thị hiện đại từ 1986 đến nay, hệ thống quản lý đô thị luôn là hệ thống có tốc độ tái cấu trúc chậm nhất và chất lượng tái cấu trúc thấp nhất. Không nói tới những tiêu cực của nhiều cá nhân hay tổ chức trong hệ thống này, ngay sự vận hành mang tính chất tích cực của nó cũng không đáp ứng được nhiều yêu cầu thực tiễn của sinh hoạt đô thị. Chẳng hạn đô thị luôn có mức độ sử dụng dịch vụ rất cao trong đó có dịch vụ ăn uống, nhưng trên phương diện vệ sinh thực phẩm thì năng lực quản lý và khả năng chế tài của hệ thống quản lý đô thị ở thành phố đối với dịch vụ này đang còn nhiều vấn đề rất đáng lo ngại. Tương tự, không gian đô thị mở rộng nhanh hơn nhưng ngược lại văn hóa cư trú lại ngày càng xuống cấp. Ở các khu vực có nhiều người nhập cư, tình hình xây dựng nhà cửa đã vượt khỏi tất cả những gì người ta có thể tưởng tượng được về tình trạng vô Chính phủ trong kiến trúc dân dụng. Có thể nói hệ thống quản lý đô thị ở thành phố hiện vẫn chưa khắc phục được tập tính tùy tiện của thời bao cấp, chính trên cơ sở này mà trong khá nhiều trường hợp di dân các vùng nông thôn nhập cư từ 1986 đến nay đã có thể góp phần “nông thôn hóa” được thành phố về lối sống và cảnh quan. Tốc độ tái cấu trúc quá chậm của hệ thống quản lý đô thị ảnh hưởng tới chức năng của chính nó, và thiếu đi sự điều tiết đúng mức cần thiết trên phương diện quản lý, giữa quá trình tái cấu trúc xã hội về kinh tế đô thị và môi trường đô thị ở đây có sự vận động không ăn khớp về mục tiêu, tốc độ và nhịp điệu, điều này ảnh hưởng bất lợi tới việc xây dựng phương thức sống đô thị tiên tiến ở thành phố mà biểu hiện dễ thấy nhất là những lối tư duy và cách ứng xử chống lại các giá trị tiên tiến và nhân văn.   Phải thừa nhận rằng nhiều năm qua chính quyền các cấp ở một số đô thị đã nỗ lực để hướng tới xây dựng một phương thức sống đô thị tiên tiến trên địa bàn này, dù rằng chưa phải với các biện pháp phù hợp cũng như với một nhận thức thấu đáo. Nhưng một phương thức như vậy cần có những điều kiện pháp lý tối thiểu mới có thể trở thành hiện thực. Cho nên nếu thừa nhận thành phố hiện cần một phương thức sống đô thị tiên tiến, đảm bảo tác động tích cực được tới sự phát triển và quan hệ giữa các hệ thống và quá trình xã hội, trong đó có việc xây dựng ý thức công dân thì một “Quy chế về chuẩn mực trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt và quản lý ở đô thị” cho tất cả mọi cá nhân và tổ chức ở thành phố hẳn là một việc cần được tiến hành ngay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên      Tôi muốn nói điều này với bạn ngay từ đầu,  để bạn khỏi lặp lại sai lầm của tôi: nếu đã cầm trên tay cuốn sách Hướng  tới phát triển bền vững Tây Nguyên1, bạn đừng vội nghi ngờ cái tên gọi  tưởng chừng rất chung chung, rất khẩu hiệu của nó. Thay vì vội vã buông  sách xuống, bạn cần kiên nhẫn hơn.       Có nhiều lí do thôi thúc cuốn sách ra đời. Trước hết, đối tượng của nó, Tây Nguyên, là một vùng đất đặc biệt trên nhiều phương diện: từ điều kiện lịch sử, nguồn lực phát triển cho đến quá trình hội nhập của nó vào cộng đồng dân tộc – quốc gia. Nhưng vùng đất đặc biệt ấy, trong khoàng hai thập niên trở lại đây, đang chuyển động theo chiều hướng ngày càng phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của Tây Nguyên và nhiều vùng liên đới (tr. 21 – 22). Tính phức tạp của hiện trạng đã đặt ra nhu cầu nhận diện, trầm tư về chính nó để hướng tới một triết lí, mô hình phát triển bền vững hơn cho Tây Nguyên và không chỉ Tây Nguyên.  Kể từ năm 2011, khi chương trình Tây Nguyên III chính thức khởi sự, Tây Nguyên trở thành điểm dừng chân quen thuộc của cộng đồng khoa học chính thống, với đủ loại đề tài, phương pháp và phương tiện nghiên cứu. Tình trạng “trăm hoa đua nở” đã tạo ra một áp lực tri thức rất lớn cho bất cứ ai muốn tìm một lối riêng lên xứ Thượng. Hãy cùng xem Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên là kết quả của phương pháp tư duy nào và phương pháp ấy đã đi xa đến đâu trên đôi chân của nó.  Vận dụng các quan điểm lý thuyết hiện đại về phát triển bền vững vùng và các công cụ phân tích của một số chuyên ngành liên quan (kinh tế học, xã hội học, nhân học), kế thừa những nghiên cứu từng có về Tây Nguyên, kết hợp với những khảo sát thực địa cập nhật nhất, các tác giả cố gắng phác họa diện mạo của Tây Nguyên như nó vốn có và như nó đang là, mà điểm phân ranh giữa hai trạng thái là niên đại 1975.   Trước 1975, Tây Nguyên là “mái nhà” của miền Nam, của Việt Nam và của Đông Dương. Về địa quân sự, mọi diễn biến xuất phát từ Tây Nguyên đều có thể tác động trực tiếp tới cấu trúc an ninh – chính trị của ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào. Do đó, giới quân sự thực dân đã sử dụng khái niệm “mái nhà Đông Dương” để xác nhận tầm ảnh hưởng quyết định của Tây Nguyên đối với một địa bàn rộng lớn của Đông Nam Á lục địa. Về địa sinh thái, vai trò mái nhà của Tây Nguyên càng được biểu hiện rõ. Hầu hết lãnh thổ Tây Nguyên thuộc phần đỉnh của dãy Trường Sơn Nam, nên trở thành nơi phát nguyên của nhiều hệ thống sông lớn chảy xuống vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Nam Lào, Đông Bắc Campuchia. Ngoài ra, do điều kiện khí hậu và địa hình, trên vùng Tây Nguyên đã hình thành những hệ sinh thái nhiệt đới rất đặc trưng của vùng đầu nguồn, có chức năng cung cấp và điều chỉnh vật chất, năng lượng cho các cảnh quan sinh thái trung lưu và hạ lưu. Vì vậy, mọi tác động tự nhiên hay nhân tác trên lãnh thổ Tây Nguyên đều ảnh hưởng sâu sắc đến sự ổn định hay bất ổn của môi trường sinh thái lẫn môi trường xã hội ở các vùng lân cận (tr. 465). Tây Nguyên cũng là vùng hết sức giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đỏ bazan, tài nguyên rừng và tài nguyên nước. Nguồn tài nguyên này mênh mông, trùng điệp, nhưng hoàn toàn không vô chủ mà từ rất lâu đời đã thuộc quyền sở hữu thiêng liêng của các Làng (tr. 172). Các Làng cổ truyền, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, với đời sống văn hóa đa dạng, đã sáng tạo nên không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên độc đáo – cái mà về sau sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.             “Đây là một cuốn sách cần đọc, ít nhất đối  với những người có liên quan theo cách này hay cách khác với Tây Nguyên,  hoặc quan tâm đến Tây Nguyên”.   Nguyên Ngọc           Sau 1975, trong quá trình quy hoạch phát triển, Tây Nguyên chủ yếu được xem như là một kho tài nguyên thiên nhiên. Vậy nên, phát triển Tây Nguyên thực chất là tìm cách khai thác kho tài nguyên đó nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển của chính nó và của cả nước. Định hướng này đã được cụ thể hóa thành các chương trình, chính sách lớn: quốc hữu hóa toàn bộ nguồn tài nguyên đất rừng để thành lập các nông lâm trường quốc doanh; di dân từ các vùng đất chật người đông để thành lập các vùng kinh tế mới, đồng thời, tiến hành định canh, định cư cho đồng bào dân tộc tại chỗ; ồ ạt phát triển cây công nghiệp và thủy điện bằng cách chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng; thực hiện đô thị hóa và công nghiệp hóa trên diện rộng… (tr. 122 – 140). Mặc dù đạt được những thành quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế (tr. 245 – 247), nhưng phía sau hào quang tăng trưởng, Tây Nguyên đang đối diện với hàng loạt nan đề cơ bản: (i) Khung thể chế/chính sách vừa không ăn nhập với tình hình thực tế, vừa thiếu đồng bộ giữa các bộ phận trong cấu trúc chính sách (giữa qui hoạch vùng và qui hoạch địa phương, giữa qui hoạch tổng thể với qui hoạch ngành, giữa nghiên cứu thực tiễn và xây dựng chính sách, giữa chính sách đề ra và nguồn lực thực hiện); (ii) Nền kinh tế lạc hậu, khép kín, tự phát, thiếu liên kết, lãng phí tài nguyên; (iii) Dân số gia tăng đột ngột làm xáo trộn cơ cấu dân cư và dân tộc, chất lượng cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực cách xa ngưỡng yêu cầu, tỷ lệ nghèo đói tuy giảm nhưng phân hóa giàu nghèo tiếp tục gia tăng, nhóm dân tộc tại chỗ ngày càng tụt hậu trong toàn cảnh phát triển của vùng, tiềm ẩn nguy cơ xung đột dân tộc và tôn giáo; (iv) Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, tài nguyên trên đà cạn kiệt, “lời nguyền tài nguyên” dần trở nên hiện hữu (tr. 453 – 464). Những nan đề vừa nêu không tồn tại biệt lập mà ảnh hưởng lẫn nhau theo chiều quan hệ nhân – quả, trong đó, những mâu thuẫn, bất cập trong công tác qui hoạch, thực thi chính sách là một tác nhân mang tính khởi điểm, trọng tâm, tác động sâu xa đến nhiều vấn đề còn lại.   Tuy nhiên, phản ánh trung thực hiện trạng không phải để phê phán hay phủ định nó mà là tìm cách giải thích các nhân tố đã góp phần định hình nên hiện trạng và nghiên cứu, tìm tòi những lựa chọn khác, giải pháp khác phù hợp hơn nhằm cải thiện hiện trạng ấy (tr. 512). Vì vậy, trong chương VII, các tác giả đã nêu lời đáp cụ thể cho những câu hỏi lớn của Tây Nguyên, cả trước mắt lẫn lâu dài: gồm quan điểm – định hướng phát triển mới với tầm nhìn 30 – 50 năm và bốn nhóm giải pháp vừa cơ bản, vừa cấp bách tương ứng với bốn lĩnh vực cốt yếu của phát triển bền vững: thể chế chính sách, kinh tế, văn hóa – xã hội và tài nguyên – môi trường (tr. 473 – 510).   Trong cấu trúc nội dung, song song với những vấn đề mang tính đại cương, các tác giả cũng lựa chọn phân tích, diễn giải nhiều vấn đề hoặc chưa được minh giải hoặc vẫn còn ở tình trạng bỏ ngỏ, nhờ đó, tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn, thuyết phục cho cuốn sách này. Có thể đơn cử hai ví dụ điển hình: vấn đề tôn giáo và vấn đề tính đặc thù của Tây Nguyên.     Lâu nay, trong giới quản lý nhà nước và trong một bộ phận đáng kể giới nghiên cứu khoa học, tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên (đặc biệt là đối với cộng đồng Tin lành) thường được đánh giá bằng các cụm từ mang sắc thái tiêu cực như “phức tạp”. Sách Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên cũng phần nào thừa nhận tính phức tạp của bức tranh thực tế: “Một mặt, sự cực đoan thái quá của nhiều mục sư và nhóm tín đồ đã khiến cho việc cải đạo đồng nghĩa với việc chối bỏ quyết liệt các giá trị văn hóa truyền thống và tạo nên sự phân biệt, kì thị không đáng có giữa họ với các nhóm xã hội khác trong cùng cộng đồng; mặt khác, lợi dụng các mâu thuẫn âm ỉ giữa một số nhóm người Thượng với người Kinh (liên quan đến vấn đề đất đai), nhiều phần tử từ bên ngoài đã mượn vỏ bọc tôn giáo để kích động ý thức phản kháng của người dân tộc tại chỗ, gây chia rẽ dân tộc, ảnh hưởng đến tình hình trị an ở địa phương và quốc gia” (tr. 215). Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, không nên và không thể đồng nhất một khía cạnh bộ phận với toàn thể đời sống tôn giáo trong các buôn làng Tây Nguyên. Nếu đặt hiện tượng cải đạo trong bối cảnh chuyển đổi của Tây Nguyên từ sau 1975, chúng ta sẽ thấy rằng, cải đạo chỉ trở nên phổ biến khi không gian sinh tồn truyền thống của các cộng đồng cải đạo bị phá vỡ, kéo theo sự suy tàn của các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đặc biệt là sinh hoạt tâm linh. Bị hẫng hụt về đời sống tinh thần, con người tất yếu tìm đến một cứu cánh tâm linh mới. Chính vì thế, họ đã lựa chọn các tôn giáo mới như Công giáo hay Tin lành khi các tôn giáo này xuất hiện. Hơn nữa, khi đã bén rễ trong cộng đồng, các tôn giáo mới đã ảnh hưởng tích cực đến đời sống của họ. Đúng như phân tích của các tác giả, “với bản chất duy lí, khi thâm nhập vào thế giới buôn làng, các tôn giáo thế giới như Công giáo hay Tin lành không chỉ mang đến một hệ thống đức tin mới, mà còn du nhập một lối tư duy mới: tư duy duy lí. Đây là sự bổ trợ cần thiết cho các cộng đồng khi họ đối diện với thị trường bên ngoài trong tình trạng hạn chế cả về học vấn, ngôn ngữ phổ thông, kĩ năng tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm lẫn năng lực xã hội hóa” (tr. 215). Rõ ràng, dưới góc độ quản lý nhà nước, chỉ khi tiếp cận đối tượng theo hướng khách quan, đa chiều, chúng ta mới trở nên chủ động, chính xác hơn khi giải quyết các vấn đề thực tiễn. Với người làm khoa học, thực tế này gợi ra những câu hỏi mà việc nghiêm túc trả lời chúng có thể mang lại một ý nghĩa sâu sắc nào đó trong lĩnh vực học thuật và trong công tác dân tộc, tôn giáo ở nước ta hiện nay: Các tôn giáo thế giới đã đóng vai trò gì trong sự vận động của các cộng đồng văn hóa tộc người? Giữa hai thực thể đó đã trải qua một quá trình cộng sinh, tiếp biến như thế nào để cùng tồn tại?…  Gần đây, khái niệm tính đặc thù của Tây Nguyên bắt đầu được giới quản lý và giới khoa học trong nước đề cập và cùng xem đó như là cơ sở tham chiếu thực tiễn cho công tác qui hoạch Tây Nguyên2. Đặc biệt, vào đầu năm 2014, một văn bản dưới dạng dự thảo của Chính phủ nhằm ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và an ninh – quốc phòng Tây Nguyên (tầm nhìn 2020) đã đưa từ ghép “đặc thù” vào trong tiêu đề3. Và cho đến nay, trong nhận thức của số đông, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên vẫn được xem là yếu tố quan trọng nhất giúp phân biệt Tây Nguyên với các vùng khác trong cả nước.   Cuốn sách đã cho ta một cách nhìn khác: với Tây Nguyên, sự giàu có về tài nguyên chỉ là phần nổi, phần thứ yếu của một tảng băng. Phần chìm mới là phần đặc trưng nhất của nó: sự chi phối sâu sắc, quyết định, toàn diện của Tây Nguyên đối với các vùng ngoại vi. Trong khía cạnh này, cụm từ “mái nhà” đã lột tả một cách đầy đủ và sinh động tính đặc thù của Tây Nguyên: nơi xuất phát, che chở, điều tiết, giữ nhịp cho cuộc sống của toàn bộ sinh thể tồn tại dưới mái nhà ấy, cụ thể là toàn bộ khu vực Nam Đông Dương. Ở Việt Nam, hiếm có vùng nào mà tầm ảnh hưởng đối với ngoại vi lại bao quát cả trên tầng mặt lẫn bề sâu như vậy. Cho nên, công tác qui hoạch Tây Nguyên không thể bó hẹp trong phạm vi một vùng cụ thể mà phải được đặt trong bối cảnh qui hoạch của cả nước và của vùng tam giác Đông Dương. Mặt khác, để tương ứng với chức năng mái nhà của Tây Nguyên, ý niệm về sự phát triển cần được hiểu theo một cách khác. Ở đây, phát triển không hẳn là khai thác, bóc lột tài nguyên bằng mọi giá. Ngược lại, phát triển có nghĩa là bảo tồn, làm giàu vốn tài nguyên hiện hữu để Tây Nguyên có thể trở thành một vùng dự trữ sinh thái chiến lược vì tương lai lâu dài của nhiều thế hệ, nhiều cộng đồng, nhiều vùng kinh tế – xã hội liên quan. Trong điều kiện ấy, Tây Nguyên không hưởng lợi từ con đường bóc lột mà từ sự giàu có, đa dạng tài nguyên của một vùng dự trữ đúng nghĩa. Đó là một cách làm giàu sang trọng (J. Dournes) mà Tây Nguyên đã lỡ mất cơ hội áp dụng trong quá khứ nhưng vẫn còn có thể áp dụng trong một giới hạn nào đó ở hiện tại (tr. 475 – 479).   Qua sự phản chiếu của cuốn sách này, vùng đất Tây Nguyên đã hiện hữu với tất cả sự đa dạng, sinh động, kì thú và không kém phần phức tạp của nó. Điều đọng lại không chỉ là những dữ kiện phong phú về một vùng đất cụ thể, mà còn là hình ảnh của một số phận đầy thăng trầm trên hành trình đi từ cổ truyền đến hiện đại, từ dòng riêng hội nhập vào nguồn chung. Cuốn sách cũng gợi ra nhiều vấn đề mới mẻ và cơ bản mà để nhận thức chúng, chúng ta phải tìm kiếm thêm những cách tiếp cận mới, những công cụ nhận thức mới và những trải nghiệm đúng nghĩa. Quan trọng hơn cả, cuốn sách khơi dậy ý thức trách nhiệm đối với tất cả những người trong cuộc. Về phần mình, tôi tin rằng, thông điệp mà các tác giả đưa ra sẽ khiến nhiều người phải trăn trở, thao thức: “Trong bối cảnh hiện nay, làm một điều gì đó cho Tây Nguyên hay quyết tâm phát triển Tây Nguyên theo hướng bền vững chính là cách tốt nhất để đáp lại sự hào phóng mà vùng đất này đã ban tặng cho cả nước và đưa Tây Nguyên đi đến viễn cảnh mà nó xứng đáng thuộc về. Đây còn là cơ hội hiếm có để nhắn gửi một thông điệp với thế hệ tương lai rằng, thế hệ hiện tại đã suy tư, tìm tòi, hành động đến cùng trong những khả năng và giới hạn của thời đại họ, không phải chỉ để cho họ, mà cho cả muôn đời mai sau” (tr. 513).       1 Viện Tư vấn phát triển (2014), NXB Tri thức, Hà Nội.  2 Xem Kỷ yếu hội thảo “Tham vấn chính sách đặc thù cho vùng Tây Nguyên” (do Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Viện Tư vấn phát triển đồng tổ chức vào ngày 27/11/2012 tại TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk), Hà Nội.  3 Dự thảo Một số cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù và ưu đãi phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2020 (2014). Nguồn: chinhphu.vn        Author                Quản trị        
__label__tiasang Huyền thoại về tắc đường: Bế tắc của các nhà quy hoạch giao thông Đức      Người Đức ngày càng lâm vào tình trạng tắc nghẽn giao thông ngày một nhiều hơn. Nhiều người cho là xuất phát từ nguyên nhân giá thuê nhà tăng đến mức chóng mặt, giá làm thêm nhiều con đường hơn thì vấn đề này sẽ được giải quyết nhanh chóng. Tuy nhiên có đúng như vậy không?      Ùn tắc giao thông gây mất thời gian, gây bực bội và tốn tiền bạc. Năm 2018 bình quân mỗi người Đức mất 120 tiếng đồng hồ vì tắc đường trong giao thông đô thị, theo số liệu phân tích giao thông của Inrix. Tùy theo cơ sở tính toán, phí tổn do ùn tắc giao thông gây ra bình quân một năm ở Đức khoảng từ 10 đến 100 tỷ Euro. Chúng ta hãy cùng điểm qua sáu nguyên nhân.  1. Tắc đường ngày càng nghiêm trọng hơn  Dù là người đi làm thường xuyên hay người đi du lịch, ai cũng phàn nàn: tình trạng tắc đường mỗi năm một tăng và thời gian tắc cũng ngày càng lâu hơn. Có đúng như vậy không? Số liệu do Câu lạc bộ Giao thông Đức (ADAC) cung cấp cho thấy năm 2018 trên hệ thống đường cao tốc ở Đức xảy ra 745.000  vụ ùn tắc, bình quân mỗi ngày 2000 vụ trong khi năm 2010 là 185.000 vụ. Số liệu cho thấy, số lượng tắc đường ngày một tăng.  Giáo sư Justin Geistefeldt, bộ môn giao thông đại học Ruhr- Bochum, cũng thừa nhận: “Trong những năm gần đây ùn tắc giao thông trên đường cao tốc ngày một tăng”. Có nhiều cách giải thích về nguyên nhân của tình trạng này, tuy nhiên không phải tất cả đều xác đáng.  2. Giá thuê nhà tăng mạnh là nguyên nhân gây tắc đường   Trong những năm gần đây, giá cho thuê nhà tại các thành phố lớn ở Đức tăng vọt, buộc nhiều người phải thuê nhà ở vùng ngoại ô mặc dù việc làm của họ lại thường ở khu vực nội đô. Đặc biệt vào giờ cao điểm số người đi lại tăng vọt và do đó ùn tắc cũng tăng lên. Một phân tích của hãng điều hướng Tom Tom đã đi đến nhận định này (Navigations-Firma).  Theo đó các thành phố có mức cho thuê nhà tăng cao nhất cũng là những thành phố có mức độ ùn tắc giao thông cao hơn mức bình quân, nhất là vào buổi sáng và chiều tối tại những điểm ra hoặc vào thành phố cũng như ở đường vành đai. “Ở đây sự khoảng cách giữa nơi cư trú và nơi làm việc đóng vai trò quan trọng”, theo khảo sát này.  Tuy nhiên điều này chỉ giải thích phần nào nguyên nhân dẫn đến ùn tắc. “Sự bùng nổ về chi phí nhà ở đã diễn ra trong hàng chục năm qua”, Tobias Kuhnimhof, giáo sư tại Viện Phát triển đô thị và giao thông đô thị thuộc đại học RWTH Aachen đã nói “trong khi đó sự đi lại trong những thập niên qua liên tục tăng”. Sự đi lại này là tổng số kilomet mà tất cả  các loại xe cộ ở Đức đã đi trong một năm. “Nhìn chung ta thấy trong khi dân số Đức trì trệ thì hai mươi năm qua sự đi lại của người Đức đã tăng lên nhiều”, Kuhnimhof nói.  Theo quan niệm ông: cuộc sống tốt hơn do đó nhu cầu về chỗ ở tính theo đầu người cũng tăng lên. Và điều đó cũng làm cho nhiều người có khả năng mua được xe riêng cho mình và việc đi lai cũng tăng lên. “Để đạt được  mục tiêu đã đề ra về lượng khí thải CO2 thì việc đi lại hiện nay là quá lớn”, Kuhnimhof nói. “Nếu chúng ta muốn thực hiện được mục tiêu này thì buộc chúng ta phải giảm sự đi lại hiện nay xuống mức như cách đây 20 năm”.  3. Tắc đường là kết quả quy hoạch giao thông kém  Tắc đường do nhiều nguyên nhân, thậm chí đối với một số nguyên nhân người quy hoạch giao thông cố tình chấp nhận. “Nguyên nhân phổ biến nhất gây tắc đường là do lưu lượng xe quá cao, đường cao tốc không đáp ứng nổi, thêm vào đó là những đoạn bị thu hẹp lại vì là công trường hoặc do tai nạn giao thông”, theo nhà nghiên cứu về giao thông  Justin Geistefeldt. Khác với công trường và năng lực đường xá, tai nạn là điều không thể tính trước và có khi kéo dài đáng kể  thời gian chạy xe.  “Tuy nhiên ngay cả khi hoàn toàn không có tai nạn và cũng không có công trường thì người lái xe trên đường cao tốc ở Đức phải tính đến bình quân một tiếng đồng hồ  ùn tắc trong một tuần”. Kuhnimhof giải thích. Điều này liên quan đến cái gọi là giờ thứ 50, năng lực đường cao tốc của Đức được tính trên cơ sở này. “Quy hoạch cho phép mỗi năm có trên dưới 50 giờ ùn tắc, mọi sự khác biệt là do… làn đường”.  Ở đây có một lý do đơn giản: ngay tại các điểm dễ xẩy ra ùn tắc khét tiếng như   vòng xoay Aachen người lái xe gần như suốt cả năm  hầu như không bị ùn tắc. Ùn tắc phần lớn chỉ xẩy ra vào thời gian nhất định trong ngày, khi nhu cầu đi lại nhất thời vượt rõ rệt khả năng đáp ứng của tuyến đường, thí dụ vào giờ cao điểm. “Về lý thuyết chúng ta có thể làm đường cao tốc mà không bao giờ xẩy ra ùn tắc – nhưng điều đó có nghĩa là phần lớn thời gian trong năm cung vượt quá xa cầu”, theo Kuhnimhof. Làm đường quá khổ như vậy sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh tế, đồng thời chiếm dụng diện tích đất quá mức cần thiết. “Hiện tại 5% diện tích của nước Đức đã trải nhựa làm đường giao thông”, nhà nghiên cứu giao thông nhấn mạnh. Diện tích mặt đường giao thông này bằng diện tích cả bang Sachsen.  4. Lái xe thô bạo là nguyên nhân gây ùn tắc  Khi giao thông đang trôi chảy chỉ cần một người lái xe duy nhất lạng lách cố tình vượt lên cũng đủ để tạo ra ùn tắc, vì anh ta tạo nên cái gọi là sóng xung kích  (Stoßwellen). “Người lái xe đi sau anh ta phải nhấn phanh, người đi sau người này cũng buộc phải nhấn phanh”, Kuhnimhof giải thích. “Dao động này nhân dần lên và chỉ mười phút sau sẽ có đoạn ùn tác dài hàng trăm mét để rồi hình thành ùn tắc”. Thường xuyên thay đổi tốc độ và làn đường cũng dẫn đến nhấn phanh liên tục và có thể làm tăng khả năng ùn tắc giao thông.  Điều ngược lại cũng có thể diễn ra: “Khi mật độ giao thông dày đặc hành vi có hiệu quả của người tham gia giao thông có thể đóng góp phần nào vào việc tránh ùn tắc”, nhà nghiên cứu về giao thông Geistefeldt lưu ý.  Theo Geistefeldt, có hai yếu tố chính gây tăng ùn tắc là sự phát triển tốt của nền kinh tế trong những năm qua dẫn đến tăng nhu cầu về giao thông, nhất là đối với nhưng khu dân cư đông đúc. Hoạt động xây dựng cải tạo và mở rộng mặt đường cũng tạo nên những điểm nút gây ách tắc giao thông trên mạng lưới đường cao tốc. Vậy trong tương lai gần có thể cải thiện được tình trạng này hay không?  5. Thêm các làn đường  Làm thêm làn đường trên đường cao tốc sẽ giảm lưu lượng giao thông, nhưng điều này chỉ có tác dụng nhất thời. Về lâu dài việc mở rộng  hệ thống giao thông sẽ dẫn đến tăng cường giao thông. Qua quan sát nhiều năm thấy rõ điều đó. “Điều người dân nói, nay không còn gây tranh cãi trong giới chuyên môn“, Tobias Kuhnimhof nói. “Kẻ nào làmđường xá, kẻ đó ‘gặt hái’ giao thông”. Giới chuyên môn gọi điều này là giao thông cảm ứng.  Ở đây có một sự tương quan khá đơn giản: Trên trăm năm nay người ta vẫn thường nói, con người mỗi ngày xử dụng phương tiện đi lại khoảng 80 phút – điều này được áp dụng chung cho tất cả các nền văn hoá khác nhau. Khi xe ngựa còn là phương tiện đi lại chủ chốt thì người ta đi không được bao xa. Đến những năm 70 thì trong khoảng thời gian 80 phút đó người ta đã có thể đi  từ 20 đến 30 km. Hiện nay bình quân mỗi người mỗi ngày đi khoảng 40 km. “Thời gian đi lại đại để không thay đổi. Khi các hệ thống giao thông mau lẹ hơn, chúng ta đi xa hơn”, Kuhnimhof giải thích.  6. Hạn chế tốc độ để giảm ùn tắc  Giao thông với tốc độ từ 80 đến 100 km/h là hiệu quả nhất, điều này các nhà nghiên cứu về giao thong đều nhất trí. Ở tốc độ này trên một làn đường trong điều kiện tối ưu bình quân một giờ có khoảng 1800 đến 2400 xe. Khi chạy với tốc độ cao hơn, để bảo đảm an toàn khoảng cách giữa các xe với nhau phải giãn ra –  và như vậy số lượng xe trên một tuyến đường sẽ giảm đi, từ đó nguy cơ kẹt xe cũng tăng lên.  Hiện nay, tại hầu hết các điểm dễ xẩy ra ùn tắc ở Đức đều đã có quy định giảm tốc độ, Kuhimhof nhấn mạnh. Trên đường cao tốc có biển báo giao thông tốc độ 120 km/h, khi cần xuống 100 km/h hoặc 80 km/h. “Biện pháp này nhằm điều tiết tốc độ xe tải và xe ô tô con làm sao để hai loại phương tiện giao thông này đạt tốc độ gần như nhau, nhằm khai thác cao nhất năng lực giao thông nhưng vẫn giảm được ùn tắc”, ông giải thích. Việc hạn chế tốc độ nói chung có giúp gỉai quyết vấn đề ùn tắc hay không vẫn còn là một dấu hỏi tuy nhiên điều này đã được áp dụng tại hầu hết các điểm nhạy cảm. Xét về khía cạnh bảo vệ môi trường và bảo vệ con người thì rõ ràng điều này là có ích.  Những điều thực sự có ích  Thành phố Zürich đã giải quyết vấn đề ùn tắc ở nội đô thành công bằng một biện pháp đơn giản: hạn chế số lượng các bãi đỗ xe. Tại thủ đô Jakarta của Indonesia, các tài xế phải đi luân phiên: xe có biển số chẵn hoặc lẻ luân phiên vào các ngày nhất định để đi vào nội đô. Singapore áp dụng chế độ thu phí khá cao đối với xe đi vào khu vực nội đô, đặc biệt vào giờ cao điểm.  “Các biện pháp này nhằm buộc người lái xe phải tìm giải pháp thích hợp để tới đích “, Kuhnimhof nói. Khi các thành phố trở nên quá đông đúc thì người ta càng thấy rõ, ô tô con là phương tiện giao thông rất không hiệu quả. Bình quân mỗi xe con chỉ chở một người rưỡi, chỉ thực sự hoạt động bằng 3% tuổi thọ của nó nhưng lại chiếm dụng khá nhiều diện tích. “Nếu cần vận chuyển 1000 người đi vào thành phố thì đi bằng tầu nhanh (S-Bahn) hay xe buýt tiết kiệm rõ rệt nhiều diện tích so với đi bằng xe con – ngay cả khi xe con được huy động hết công suất”, theo Kuhnimhof. Do đó ông cổ xuý cho biện pháp thu phí thông minh (citymaut) tương tự như ở Singapore. Tuy nhiên các chính trị gia cũng như những nhà quy hoạch giao thông vẫn cương quyết không chịu áp dụng các biện pháp không mấy thiện cảm này.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/politik/deutschland/stau-mythen-manchmal-nehmen-verkehrsplaner-stillstand-bewusst-in-kauf/25381156.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng đó chỉ là câu nói đùa      Nếu có ai cho rằng một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng không nhất thiết phải công bố quốc tế mà chỉ cần đăng trên các tạp chí nội hóa, tôi không biết trả lời ra sao mà chỉ nghĩ rằng chắc phải là một câu đùa chơi trái khoáy để khiêu khích, hoặc để nói lấy được, không xứng đáng với một nhà khoa học hay quản lý nghiêm chỉnh.    Ngày nay trong nghiên cứu của khoa học tự nhiên, các đề tài ứng dụng và cơ bản rất đan xen nối kết với nhau hơn bao giờ hết. Cứ nhìn các giải Nobel về Lý, Hoá, Sinh khoảng mươi năm gần đây thì thấy. Không có ứng dụng tầm cỡ nào mà không khởi đầu bằng những nghiên cứu cơ bản. Ngoài ra nên hiểu chữ công bố quốc tế theo cái nghĩa cao đẹp của nó như đồng nghĩa với chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong khoa học tự nhiên, để đánh giá chất lượng của các công trình nghiên cứu (ứng dụng hay cơ bản) một cách khách quan, có hai tiêu chuẩn thường được sự đồng thuận trong cộng đồng các nhà nghiên cứu: (a) các công trình đó được nhận đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín, có hệ số tác động (impact factor) cao và có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh với hai ba giám khảo (referee) để thẩm định xét đoán công trình; (b) các công trình đó được trích dẫn nhiều lần (từ vài chục đến vài ngàn) và trong nhiều năm bởi đồng nghiệp trên toàn thế giới.  Cụ thể tiếng Anh từ lâu rồi đã trở thành ngôn ngữ chung trong các tạp chí uy tín để các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên khắp năm châu trao đổi, tham khảo nhau. Thí dụ về vật lý ngay ở những nước khoa học tân tiến Âu châu như Đức, Pháp, Ý cũng không còn tồn tại những tạp chí quốc gia vang bóng một thời, họ bèn thành lập tập đoàn tạp chí vật lý Âu châu dùng Anh ngữ như Physics Letters, Nuclear Physics, European Journal of Physics… đủ tầm cỡ để cạnh tranh với Physics Review Letters, Science, Physics Review…của Mỹ. Điều này cũng áp dụng cho những ngành khoa học tự nhiên khác ở Á, Phi, Nam Mỹ. Trong mỗi ngành toán, lý, hoá, sinh và trong mỗi bộ môn riêng lẻ của từng ngành, bất kỳ ứng dụng hay cơ bản, cũng đều có những tạp chí quốc tế loại top 10, top 20. Có lẽ tổng cộng chỉ có chừng vài trăm tạp chí tầm cỡ hàng đầu, phản ánh thực sự chất lượng cao của những công trình nghiên cứu công bố trên đó. Nghĩa là trong gần chục ngàn các tạp chí phân loại bởi viện khoa học thông tin (ISI) có những “quốc tế” này, “quốc tế” kia chất lượng không đồng đều, nhưng ở trong nghề ai cũng biết chọn mặt gửi vàng. Chính vì vậy, những tạp chí nội hóa về khoa học tự nhiên chỉ phản ảnh hiện trạng nền khoa học nước nhà, ít ai trên thế giới tham khảo.  Ngoài ra, nếu hiểu ứng dụng theo nghĩa hẹp là trong một thời gian có hạn phải tìm ra một phương cách hay sản phẩm nào đó để đáp ứng đòi hỏi xã hội hay tạo ra nhu cầu mới cho thị trường thì công trình nghiên cứu ứng dụng không đăng trên tạp chí nào cả (vì lý do kinh tế thương mại, cần bảo mật) mà thay thế bởi văn bằng sáng chế (patent) theo tiêu chuẩn quốc tế. Giải Nobel vật lý năm 2007 về hiệu ứng Từ-Trở Khổng Lồ (GMR, Geant Magneto-Resistance) minh họa tuyệt vời sự đan xen giữa cơ bản và ứng dụng trong nghiên cứu khoa học đại diện bởi hai nhà vật lý Albert Fert(Pháp) và Peter Grünberg(Đức). Giáo sư Fert – tượng trưng cho cái gì hơi thiên về cơ bản qua Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) và Đại Học Orsay- trước tiên làm việc với đề tài thuần lý thuyết về vai trò spin của electron trong các hiện tượng điện từ rồi sau đó cộng tác với hãng kỹ nghệ Thomson-Thalès thực hiện những phím cực kỳ mỏng kích thước nanô, ông đã khám phá ra hiệu ứng GMR. Những công trình của ông đều đăng trên tạp chí uy tín hàng đầu Physical Review Letters (PRL) có hệ số tác động rất cao, bài của ông được trích dẫn vài ngàn lần. Giáo sư Grünberg – tượng trưng cho cái gì hơi thiên về ứng dụng qua Đại Học công nghệ Darmstadt và Trung Tâm Khảo Cứu Jülich -, công trình đều đăng ký bởi hai bằng sáng chế Đức và Mỹ năm 1988 đồng thời với bài báo của Fert trên PRL. Mươi năm sau, hiệu ứng từ-trở được dùng để chế tạo các đầu đọc/ghi của đĩa cứng trong máy vi tính và bộ nhớ điện tử MRAM (Magnetic Random Access Memory) ngày nay.  ——-  *Nguyên giám đốc nghiên cứu Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học Pháp, ngành Vật Lý Lý Thuyết tại Đại Học Pierre et Marie Curie, Paris.      GS.Phạm Xuân Yêm *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng Đổi Mới từ bước khởi đầu      Sau một năm 2006 tràn ngập những điều phấn khởi và hy vọng vào Đổi Mới và Hội Nhập, ta bước vào đầu năm 2007 này với một háo hức chờ đón sự thể hiện niềm hy vọng đó vào một thử thách quan trọng: một cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII thật sự đổi mới và dân chủ. Và những ngày đầu Xuân Đinh Hợi này, sự kiện quan trọng đó đang được thực hiện ở bước khởi đầu: Hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội.         Nội dung của việc hiệp thương này, theo nghĩa thông thường, là việc trao đổi bàn bạc giữa các hội đoàn và tổ chức xã hội để cùng lựa chọn một danh sách chung các người ứng cử ĐBQH để trình lên Hội đồng bầu cử quốc gia đưa ra cho cử tri bầu. Có thể có nhiều cuộc hiệp thương khác nhau (của nhiều nhóm hội đoàn khác nhau), và cũng có thể có những người ứng cử tự do không qua một cuộc hiệp thương nào cả.   Ở nước ta, theo luật bầu cử và nhiều thông lệ khác (trong đó tiếc thay có nhiều điều qui định không phù hợp với quyền tự do ứng cử và bầu cử được ghi rõ trong Hiến pháp!), cuộc Hiệp thương được giao cho MTTQ tổ chức, qui tụ đại diện của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và các hội đoàn, tổ chức xã hội trong “hệ thống chính trị” thành viên của MTTQ, với nội dung “hiệp thương” là thỏa thuận việc phân phối số ĐBQH cho các cơ quan và tổ chức đó theo một “cơ cấu” do Hội đồng bầu cử đề xuất, sau đó dựa theo cơ cấu được thỏa thuận đó, các cơ quan, tổ chức giới thiệu người cụ thể làm ứng cử viên để đưa ra cho cử tri bầu. Như vậy, qui trình này cũng có mục tiêu là lập được một danh sách ứng cử viên ĐBQH để đưa ra cho cử tri bầu.   Tuy nhiên, ít ra có hai điểm trong nội dung của “hiệp thương” cần trao đổi:  -Việc hiệp thương để thỏa thuận phân phối số ĐBQH cho các cơ quan và tổ chức thuộc “hệ thống chính trị” trước khi tiến hành bầu cử là phủ định quyền tối cao quyết định của cử tri (tức của toàn dân) trong việc lựa chọn ĐBQH thông qua bầu cử. Do đó, hội nghị hiệp thương hoàn toàn mất tính chất “hiệp thương lựa chọn ứng cử viên” mà trở thành hiệp thương để chia ghế trong Quốc hội trước khi bầu cử.  -Với việc tổ chức bầu cử và “hiệp thương” như vậy, không có chỗ cho việc ứng cử tự do của công dân. Các ứng cử viên tự do không do một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức nào trong “hệ thống chính trị” giới thiệu sẽ không có phần trong cơ cấu ĐBQH do “hiệp thương” thỏa thuận, và vì thế, dù có thể được đưa ra để bầu cũng khó trúng cử!  Về cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII, các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước đều khẳng định cần phải tổ chức thật sự tự do và dân chủ. Tôi thiển nghĩ điều đó trước hết cần được thực hiện ở giai đoạn Hiệp thương giới thiệu người ứng cử. Hiến pháp nước ta đã qui định rõ ràng quyền tự do ứng cử và bầu cử của mọi công dân. Cần xóa bỏ chăng chỉ là xóa bỏ một vài qui định tuy có tính luật pháp nhưng là vi Hiến, đi ngược lại các quyền tự do đó. Rồi sau đó, ta vẫn có thể tổ chức một hoặc nhiều Hội nghị hiệp thương để giới thiệu các ứng cử viên từ trong số những người được các cơ quan và tổ chức đề cử và cả những ứng cử viên tự do lên Hội đồng bầu cử; còn ai sẽ là ĐBQH, cơ quan nào, tổ chức nào sẽ có bao nhiêu ĐBQH, sẽ dành cho lá phiếu của cử tri quyết định thông qua một cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ. Còn cơ quan nào, tổ chức nào cần có (hay không cần có) bao nhiêu ĐBQH để phù hợp với hoạt động của mình phải là công việc được thu xếp sau bầu cử, chứ không phải là việc trước bầu cử!  Hy vọng cuộc bầu cử Quốc hội sẽ diễn ra thật sự tự do và dân chủ ngay ở bước Hiệp thương giới thiệu người ứng cử- thể hiện ý chí và nguyện vọng của Đảng và toàn dân ta.         Phan Đình Diệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng gì ở năm Hợi?      Năm Tuất qua một tia hi vọng đã lóe ra: thoáng nghe khẩu hiệu tre già măng mọc. Trong giới chính trị, thế hệ năm mươi đã xuất hiện thay thế cho thế hệ bảy mươi, rõ ràng thế hệ trẻ khỏe hơn, năng động hơn và xông xáo hơn thế hệ già. Tất nhiên trong lĩnh vực chính trị thì có lẽ sự già dặn và chín chắn cần đòi hỏi năm tháng để tích lũy, nhưng theo đó càng nhiều tuổi thì nguy cơ càng tăng tính bảo thủ, tính gia trưởng và tự cao tự mãn. Nhưng cũng không nhất thiết cứ phải 40-50 tuổi mới làm nên sự nghiệp chính trị. Mới 33 tuổi Phiđen Caxtrô đã làm thủ tướng đấy thôi.        Khác với chính trị, trong lĩnh vực khoa học, nhất là trong khoa học tự nhiên, những nhân tài xuất hiện sớm thường ở tuổi từ 20 đến 30. Điển hình nhất có lẽ là Bơledơ Paxcan (Blaise Pascal) 16 tuổi đã viết Tiểu luận về hình nón, 18 tuổi sáng tạo máy tính số học, 24 tuổi tiếp tục nghiên cứu về vật lý học… Nguyễn Mạnh Tường đã đậu hai bằng tiến sĩ quốc gia ở tuổi 22. Ở tuổi dưới 30, Lê Văn Thiêm đã sáng tạo ra định lý toán học mang tên ông. Gần đây mới 13 tuổi, Đàm Thanh Sơn đã đoạt giải Olympic quốc tế trong môn toán học, 24 tuổi đã đậu tiến sĩ vật lý và 30 tuổi đã được cử làm giáo sư của một trường đại học lớn ở Hoa Kì, Đỗ Ngọc Minh cũng đoạt giải Olympic quốc tế năm 17 tuổi, 27 tuổi đậu tiến sĩ, năm sau được cử làm trợ lí giáo sư tại Đại học Illinois. Họ và biết bao anh chị em khác là những nhân tài trẻ của đất nước, nhưng thật đáng tiếc dù họ có muốn cũng không thể trở về để thay thế cho lớp nhà khoa học già, đã được đào tạo từ những năm 60 của thế kỷ trước. Thật là đau xót, tre đã già, măng đã mọc nhưng chỉ có thể xanh tốt trên đất khách quê người. Nếu họ trở về điều đáng lo không phải chỉ là đồng lương bị tụt đi 10 lần, 100 lần mà cái chính là thiếu mảnh đất màu mỡ và nhất là một bầu không khí trong lành, cởi mở và thoáng mát để phát triển.  Cái bệnh quan liêu bao cấp đã cản bước tiến của dân tộc ta suốt bao nhiêu năm. Từ khi có đường lối đổi mới, chúng ta đã thoát khỏi chế độ bao cấp, nhưng vẫn còn đó tệ quan liêu tiếp tục hoành hành khắp mọi nơi, mọi chốn, với mọi hình thức tác oai tác quái. Rất hiếm quan nào muốn dùng người tài giỏi hơn mình, và đây cũng là lí do khiến những nhân tài biết tự trọng không thể thoải mái dưới trướng của các quan kém họ cả về năng lực và nhân cách. Với tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở Mặt trận Tổ quốc vừa qua, hi vọng sớm có những chính sách mới để trọng dụng nhân tài trẻ.       GS. NGND. Nguyễn Văn Chiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng những đốm lửa nhỏ, cần mẫn      Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.    Cạn kiệt niềm tin  Cũng khoảng giờ này năm ngoái, khi mới chân ướt chân ráo trở về, sau khi có trải nghiệm thực tế, tôi có viết một bài báo nhỏ có tiêu đề: Câu chuyện của niềm tin.  Đại thể, tôi kể lại những va chạm thực tế để thấy rằng, mất niềm tin đang là cái đáng lo ngại nhất trong xã hội Việt Nam dưới con mắt của người mới nhập cuộc. Vì thiếu niềm tin nên mọi việc bỗng trở nên khó khăn và tốn kém gấp bội. Cuộc sống bỗng trở nên toàn màu xám. Con người căng thẳng, hiệu năng làm việc thấp vì hợp tác kém, mà lý do chính là không tin nhau, nên dành thời gian kiểm soát nhau vì phối hợp làm việc chung.  Ngay lúc đó, tôi đã nhận ra rằng: Một trong những vấn đề lớn nhất mà xã hội này phải đương đầu là sự mất niềm tin trầm trọng. Niềm tin giữa người dân và chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, tóm lại giữa người và người, và đặc biệt là niềm tin vào bản thân mình.  Sau đó, mỗi khi gặp mặt, ngay cả với giới tinh hoa, giữa những than thở, hay đằng sau ánh mắt xa xăm, là một sự chán nản và khắc khoải. Rất ít hy vọng và lòng tin trong các câu chuyện. Sau những lần như thế, tôi thấy rất mệt mỏi. Sinh lực dường như đã bị rút hết đi, đến mức nhiều khi sợ gặp gỡ, vì sợ phải nghe những lời than như vậy.  Trong số những người tôi quen biết mỗi người chọn một cách phản ứng khác nhau. Nhiều người chọn sự cam chịu. Nhiều người lảng tránh, lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt đối diện.  Nhiều người giết thời gian trên bàn nhậu. Có tiền thì nhậu sang, ít tiền thì bình dân. Thanh niên ít tiền hơn thì giết thời gian trong các quán trà đá vỉa hè.  Người không thích nhậu, hoặc không đủ sức để nhậu hoặc không có tiền để nhậu thì vùi mình vào các trang lá cải, mỗi ngày ngốn hàng chục bài tin tức, na ná như nhau vô thưởng vô phạt. Sau đó bức xúc một hồi, càm ràm hoặc nặng hơn là chửi đổng vài câu rồi lại vùi đầu đọc tiếp.  Nhiều người bức xúc quá có phản ứng mạnh. Nhưng như con cá nằm trên lưới, càng giẫy giụa càng đau đớn. Nên sau mỗi hồi mệt mỏi cũng đến lúc nằm im “makeno”.  Kinh tế khó khăn, tinh thần bức bối, đặc biệt phát ngôn của các quan chức, các nhà làm chính sách bỗng trở nên đáng ngờ. Các mạng lưới hoạt động trong xã hội giờ chỉ còn quan hệ huyết thống đáng tin cẩn.Vì thế, vun vén cho gia tộc xây dựng nhà thờ họ, đã trở thành một trong lối sống của những người có địa vị trong xã hội.  Xã hội như vận hành bởi bộ tiêu chuẩn kép. Ai cũng biết vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vẫn là như vậy.Nên ở cơ quan sống theo một chuẩn khác, về nhà lại một chuẩn khác nữa. Mỗi người phải đóng quá nhiều vai diễn, đến mức mệt mỏi kiệt quệ, mà không biết để làm gì.  Chưa bao giờ các hoạt động tâm linh cúng bái lại phát triển như hiện giờ, bất chấp khoa học đã phát triển nhiều hơn so với hàng chục năm về trước, thông tin cũng phong phú hơn nhiều.Vì sao vậy? Vì người ta không tin ở con người, nên đành tìm đến nơi thánh thần, dù biết rằng cũng nhiều kẻ lợi dụng việc này để trục lợi.  Nhiều lần đi qua các quán nhậu ven đường, tôi đã tần ngần tự hỏi: sao trong giờ làm việc lại đông người lang thang quán xá đến như vậy?  Những nơi tôi đi qua không ở đâu thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa hè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tành hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng… nhiều như trên vỉa hè Hà Nội, đặc biệt là các nơi cổng trường đại học.  Không ai nói chuyện khoa học, văn chương. Không ai quan tâm đến bảo tàng, triển lãm. Không ai bàn tán về các thành tựu khoa học, nhân văn mới. Không ai đả động đến ước mơ hay khát vọng.  Những buổi nói chuyện dành cho đại chúng về các chủ đề rất mới, do các học giả nổi tiếng thuyết trình, cũng không có nổi đến vài chục người tham dự. Mà nếu có thì vẫn những khuôn mặt ấy. Rất cũ!  Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.  Trên mặt bằng truyền thông thì còn những tệ hại hơn nhiều. Nếu rút tất cả những tin liên quan đến chuyện hở hang, chém giết, sốc, sex, giật gân thì bỗng thấy nhiều tờ báo sụp cái rầm vì trống trơn bài vở.  Một năm trôi qua, câu chuyện lại có phần thêm u ám. Một xã hội thiếu hụt niềm tin mỗi ngày thêm hiển hiện rõ nét qua từng việc cụ thể chứ không chỉ là cảm giác như ngày nào.  Mỗi khi cầm một xấp giấy tờ với chồng chất dấu mộc đỏ choét tôi không khỏi ngần ngại. Chưa ở đâu tôi thấy những văn bản giấy tờ cần nhiều dấu đỏ như vậy, qua nhiều cửa ải xét duyệt như vậy. Nhưng cũng chưa ở đâu sự giả mạo trở nên phổ biến, được giao bán công khai như ở đây.  Cái nguy hiểm của sự mất niềm tin này là sự bào mòn sinh khí. Nếu như sự sợ hãi làm cho con người ta co cụm, đến một lúc nào đó có thể tạo ra một sự phản ứng đủ mạnh để vượt qua, thì mất niềm tin không gây ra một cảm xúc mạnh như vậy. Nó chỉ là đơn giản là làm mất hết sinh khí, vì người dân không còn tin vào công lý, không tin vào chính quyền, không tin ai, và không tin ngay cả chính bản thân mình.    Kiệt quệ vốn xã hội  Còn nhớ mỗi khi bàn về vốn xã hội, tuy có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng chúng tôi đều thống nhất ở một điểm: Niềm tin nằm ở trái tim của vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người, người với thể chế, người với chính bản thân mình.  Vậy là niềm tin, một khái niệm xa lạ với môn kinh tế học phát triển, đã có được chỗ đứng đàng hoàng trong lòng nhiều nhà kinh tế học.  Niềm tin đã trở thành một thứ vốn của xã hội. Mà đã là vốn thì có thể dùng để sinh lợi. Trong trường hợp này, niềm tin đã trở thành một thứ tài sản giúp cho xã hội hoạt động trơn tru hiệu quả hơn, chi phí giao dịch vì thế mà ít đi.  Khi có niềm tin thì việc gì cũng suôn sẻ dễ dàng. Điều này đúng quy mô cá nhân, đúng cả quy mô quốc gia.  Các chính trị gia lão luyện Đông Tây kim cổ đều đặt vấn đề xây dựng lòng tin với với dân mình lên hàng đầu. Ngay ở Việt Nam cũng có những ví dụ này từ xa xưa trong lịch sử. Tương truyền, để dân tin vào cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, trong lúc binh yếu lực mỏng, Nguyễn Trãi đã cho dùng mật mỡ viết lên tám chữ: Lê Lợi vì quân, Nguyễn Trãi vi thần lên lá đa. Kiến thấy vậy bu vào đục thành chữ. Người dân đọc được thì tin rằng đây đúng là mệnh trời. Bài học vỡ lòng dành cho các chính trị gia xem ra vẫn còn điều xa lạ.  Tất nhiên, bên cạnh niềm tin, thì vốn xã hội còn thêm các yếu tố khác nữa. Có thể kể hai trong các số đó: thói quen tập tục, truyền thông văn hóa ứng xử; và sự phong phú lành mạnh của các hội đoàn, tức của mạng lưới xã hội dân sự.  Tiếc rằng, cả hai yếu tố này cũng rất yếu. Đút lót hối lộ dường như đã trở thành văn hóa, gọi là văn hóa phong bì. Sự giả dối đã tràn vào cả trường học, nên bị gọi là “nỗi buồn lớn ngành giáo dục”  Cuộc khủng khoảng kinh tế kéo dài suốt mấy năm nay lại càng làm cho vốn xã hội thêm kiệt quệ. Lẽ ra nếu có một vốn xã hội thắt lưng đủ đầy, người dân sẽ dễ vượt qua những thời khắc khó khăn hơn. Vì tin nhau, tin vào quan chức và chính sách chung. Đằng này quan chức nói gì, dân chúng lại bảo nhau làm ngược lại.  Kinh tế rối loạn, lòng người hoang mang. Khó khăn càng thêm chồng chất không biết đến bao giờ mới gỡ được.  “Mất tiền là mất ít, mất bạn là mất nhiều, nhưng mất lòng tin là mất tất cả”. Người xưa đã tổng kết như vậy, nên thấy thực trạng này, không ai tránh khỏi sự buồn rầu.  Nhiều lúc nhìn xã hội như mớ bòng bong, không biết lần ra đằng nào. Mà lần ra được rồi thì cũng không gỡ ra được vì nó xoắn xuýt chặt chẽ vì lợi ích, vì bè phái, vì u mê.  Nguyên nhân vì đâu? Tất nhiên là vì cơ chế. Ai chả nói thế. Dễ nhất và trúng nhất. Nhưng cơ chế do ai làm ra? Tất nhiên là do con người, trong đó có tôi và bạn.  Nhưng cụ thể hơn, đó là cái gì của tôi và bạn? Sức khỏe, văn hóa, tri thức, học vấn, kỹ năng, tinh thần sáng tạo, ước mơ khát vọng, lòng quả cảm, sự dấn thân… hay còn gì khác nữa?  Câu trả lời là tất cả.  Đến đây lại thêm giật mình. Thì ra mọi thứ chưa tốt như mong đợi cũng có phần ta đóng góp. Vậy nên, thay vì trông chờ vào một sự thay đổi lớn hãy chủ động tạo ra những sự thay đổi nhỏ trước đã.  Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn.  Nhiều việc nhỏ góp lại sẽ thành việc lớn. Xưa nay vẫn thế, có cách nào khác được.  Đọc thêm:   Câu chuyện của niềm tin  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=42&News=6140      Author                Quản trị        
__label__tiasang ILO khuyến nghị Việt Nam cải cách chế độ hưu trí      Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Hà Nội  mới đây đã công bố một báo cáo quan trọng, kêu gọi cải cách chế  độ hưu trí tại Việt Nam trong bối cảnh Quỹ Bảo hiểm Xã hội được dự báo  sẽ sớm không còn khả năng chi trả lương hưu. Với các điều kiện hiện tại,  quỹ lương hưu sẽ cạn kiệt vào năm 2029.    Báo cáo “Đánh giá và dự báo tài chính quỹ hưu trí của Việt Nam” được ILO thực hiện theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam với sự cộng tác của Bộ LĐTBXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê.  Theo báo cáo, chỉ khoảng 20% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (theo số liệu năm 2009, có 9,3 triệu người đóng góp cho quỹ hưu trí và tử tuất trong tổng số 48,5 triệu người trong độ tuổi lao động).  Tỷ lệ này có thể tăng trong thời gian trước mắt khi Việt Nam đang bước vào “thời kỳ dân số vàng” với số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) chiếm tới 58,5% cơ cấu dân số (số liệu năm 2010). Tuy nhiên, quá trình lão hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra rất nhanh và một tỷ trọng lớn dân số sẽ không còn được hưởng trợ cấp xã hội trong tương lai.  Chuyện gia của ILO tại Việt Nam Carlos Galian cho biết: “Quỹ lương hưu sẽ bắt đầu thâm hụt từ năm 2020 và sẽ hoàn toàn cạn kiệt vào năm 2029. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam”.  Chế độ hưu trí hiện tại được đánh giá còn nhiều bất cập, thể hiện ở tuổi về hưu tương đối sớm, đặc biệt là đối với nữ giới, và một bộ phận người lao động được phép về hưu trước tuổi qui định, trong bối cảnh tuổi thọ trung bình được nâng cao và tỷ lệ sinh giảm rõ rệt.  Một vấn đề không kém quan trọng khác là sự mất cân đối về lợi ích dành cho nhóm công chức nhà nước và người làm công ở các doanh nghiệp tư nhân, do khác biệt trong cách tính lương hưu.  Giám đốc Văn phòng ILO tại Hà Nội Gyorgy Sziraczki nhận định: “Việc Quốc hội dự định sửa Luật Bảo hiểm Xã hội trong năm tới và Chính phủ ghi nhận tầm quan trọng của việc cải cách này là một tín hiệu đáng mừng. Việt Nam nhất thiết phải cân bằng được quỹ lương hưu.”  Tăng dần tuổi nghỉ hưu được cho là một biện pháp quan trọng để cân đối tài chính giữa nguồn thu và chi cho quỹ. Tuy nhiên, theo ILO, chỉ riêng biện pháp này vẫn chưa đủ để cải thiện tình hình quỹ.  ILO đồng thời khuyến nghị sự cần thiết phải sửa đổi cách tính lương hưu để giảm tỷ lệ chi trả. Sự kết hợp giữa tăng tuổi về hưu và thay đổi cách tính lương hưu sẽ giúp tăng tính bền vững của quỹ hưu trí trong dài hạn.  Theo Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Minh Huân, thúc đẩy, đảm bảo và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, trong đó bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí ở vị trí trung tâm, luôn là một chủ trương nhất quán và là định hướng xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay trong quá trình phát triển.  Chuyên gia ILO Galian khuyến nghị: “Cần thực hiện một nghiên cứu khác nhằm xác định những biện pháp thay thế hữu hiệu để bảo vệ người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức bằng cách kết hợp giữa bảo hiểm xã hội tự nguyện và lương hưu xã hội.”  Hiện tại theo luật Việt Nam, tất cả các công dân Việt Nam ký hợp đồng lao động từ ba tháng trở lên đều được tham gia bảo hiểm xã hội. Cán bộ công chức trong khu vực nhà nước được tham gia chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc và các công dân Việt Nam khác trong độ tuổi từ 15 đến 55 (đối với nữ) và đến 60 (đối với nam) không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Internet trong  thập niên qua: 7 lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu internet và xã hội      Vào năm 2020, hơn phân nửa dân số thế giới đang sử dụng internet như một phần quan trọng trong cuộc sống của họ – tăng lên đáng kể so với chỉ dưới một phần ba dân số thế giới vào những năm đầu thập niên 2010. Cùng với sự gia tăng đáng kể về mật độ di chuyển và di cư của dân số toàn cầu, mạng internet ngày càng đan chặt với cơ cấu tổ chức xã hội của thế giới. Nhìn lại thành quả 7 lĩnh vực nghiên cứu chính về ảnh hưởng xã hội của internet trong thập niên qua, nhiều câu hỏi bỏ ngỏ sẽ còn được tiếp tục tìm hiểu và tranh luận trong thập niên tới.      Ảnh minh họa: Theecononmist.  1. Kinh tế kỹ thuật số (Digital economies)  Kinh tế đóng vai trò cốt yếu trong việc định hình chính sách, kinh doanh và quy định cạnh tranh toàn cầu. Các cuộc tranh luận về những vấn đề kinh tế toàn cầu như sở hữu trí tuệ và tính trung lập mạng (net neutrality) là dấu ấn đậm nét của lĩnh vực nghiên cứu kinh tế kỹ thuật số trong thập niên vừa qua. Lĩnh vực nghiên cứu kinh tế kỹ thuật số chú trọng tìm hiểu những cách công nghệ định hình cuộc sống kinh tế và nghiên cứu ý nghĩa kinh tế và xã hội của các cấu trúc thị trường và mô hình kinh doanh mới, điển hình như AirBnB hay Uber (hoặc Grab ở thị trường Đông Nam Á). Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này thường sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế để suy nghĩ về vấn đề xã hội liên quan tới công nghệ kỹ thuật số và internet; đặc biệt, các phương pháp này thường được vận dụng để tạo nên và thay đổi chính sách công mang tính chuẩn mực.      Trong nhiều trường hợp, công nghệ kỹ thuật số còn mang lại nhiều thử thách hơn là triển vọng cho các quốc gia nghèo.      Các vấn đề nổi trội như bình đẳng kinh tế trong thời đại kỹ thuật số hay gig economy (tạm dịch là nền kinh tế ‘chạy show’) chiếm phần đa các nghiên cứu trong lĩnh vực này. Đặc biệt, việc thành lập tổ chức Fairwork Foundation với sự tham gia và ủng hộ của các nhà nghiên cứu đến từ Anh, Đức, Ấn Độ, và Nam Phi, cũng như việc xuất bản ấn bản “Năm Quy tắc trụ cột của Fairwork: tiêu chuẩn lao động trong thời kì kinh tế diễn đàn” đánh dấu những thành tựu quan trọng trong việc các nhà nghiên cứu đóng vai trò chủ động trong hình thành những chủ trương quản lý lao động công bằng. Theo thống kê của tổ chức Fairwork Foundation, hiện nay trên toàn thế giới có hơn bảy triệu người lao động đang làm việc và tìm kiếm thu nhập trên mạng internet thông qua các ứng dụng và diễn đàn.  Tuy mạng internet tạo nên cơ hội lớn cho nguồn lao động bảy triệu người này tìm kiếm thu nhập, nhiều người lao động kỹ thuật số phải đối mặt với mức lương thấp, lối sống bấp bênh, và thậm chí làm việc trong điều kiện kém và nguy hiểm do thiếu sự bảo vệ từ luật lao động hoặc các cơ quan tập thể. Tổ chức Fairwork Foundation được thành lập với mục đích mang lại sự minh bạch cho nền kinh tế kỹ thuật số này bằng cách nghiên cứu và đánh giá thực tiễn các tổ chức và cơ quan tạo ra công việc thông qua diễn đàn và ứng dụng, và chấm điểm “công bằng” cho mỗi diễn đàn và ứng dụng này trên thang điểm 10. Các ứng dụng nổi tiếng toàn cầu như UberEats hay Uber đều nhận điểm rất thấp theo đánh giá của tổ chức này: trong năm 2019, Uber nhận điểm 2 tại Ấn Độ, điểm 5 tại Nam Phi, còn UberEats nhận điểm 3 ở cả hai quốc gia nói trên. Trong khi đó, tại Ấn Độ, Flipkart (diễn đàn mua bán trên mạng) nhận điểm 8 và tại Nam Phi, NoSweat (diễn đàn ứng dụng giúp người lao động tìm kiếm việc làm thời vụ ngắn hạn) nhận điểm 7. Cùng với sự theo dõi và đánh giá sát sao của tổ chức Fairwork Foundation, chúng ta có thể chờ đợi bức tranh toàn cảnh rõ nét của nền kinh tế kỹ thuật số toàn cầu trong một tương lai không xa.  2. Kiến thức và văn hóa kỹ thuật số (Digital knowledge and culture)  Sự lan tỏa toàn cầu của internet đã thay đổi cách chúng ta tạo ra kiến thức, truy cập thông tin, và thậm chí là thay đổi cách các dân tộc toàn cầu tham gia vào di sản của mình. Những thay đổi này góp phần mở rộng quá trình kiến tạo và truyền đạt kiến thức đến ngày càng nhiều công dân hơn trên toàn cầu: không chỉ đơn thuần để lại những dấu chân kỹ thuật số (digital footprints) trên mạng xã hội hay trên các diễn đàn, công chúng đang ngày càng đóng góp một phần lớn vào việc sản xuất tri thức thông qua bàn luận và tranh luận trên internet. Hơn thế nữa, vai trò của internet và các công nghệ kỹ thuật số khác trong việc thay đổi các quy trình khoa học, khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn, cũng vô cùng phức tạp và đang ngày càng được nghiên cứu bằng nhiều phương pháp mang tính đa lĩnh vực.  Khảo sát và đánh giá lượng kiến thức đang được sản xuất trên mạng xã hội và các nguồn thông tin số khác là một chủ đề nghiên cứu nổi trội trong lĩnh vực này. Chỉ số Kinh tế Kiến thức Kỹ thuật số (Digital Knowledge Economy Index), đề xuất bởi nhóm nghiên cứu tại đại học Oxford, đánh giá hoạt động sản xuất tri thức của các quốc gia khác nhau với mục đích xếp hạng và thẩm định sự thiếu cân bằng trong sự đóng góp vào ‘kho kiến thức’ thế giới toàn cầu. Kết quả xếp hạng cho thấy các quốc gia châu Âu, đặc biệt là nhóm các quốc gia Bắc Âu, chiếm thế thượng phong trong việc định hình kiến thức toàn cầu – với các nước Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, và Hà Lan nằm trong top dẫn đầu. Ở cuối bảng xếp hạng là các quốc gia ở châu Phi và Đông Nam Á như Myanmar, Angola, Sierra Leone, Guinea, và Eritrea. Việt Nam đứng hạng 100/143 các quốc gia được xếp hạng ở bảng xếp hạng này. Bảng xếp hạng này cho thấy, khi ta xem xét yếu tố kỹ thuật số trong việc đánh giá lượng sản xuất tri thức của các quốc gia toàn cầu, phần lớn các nước thu nhập thấp vẫn không thể đuổi kịp các quốc gia có thu nhập cao; thậm chí trong nhiều trường hợp, công nghệ kỹ thuật số còn mang lại nhiều thử thách hơn là triển vọng cho các quốc gia nghèo. Đây có thể được xem là hồi chuông cảnh tỉnh cho giới chính sách và doanh nghiệp – những tổ chức thường ca ngợi và thúc đẩy nền kinh tế tri thức như chìa khóa giúp các quốc gia nghèo tăng trưởng nhảy vọt cùng với việc chào đón công nghệ kỹ thuât số.  3. Chính trị và nhà nước kỹ thuật số (Digital politics and government)  Mạng internet đã góp phần thay đổi không nhỏ các hoạt động chính trị, từ việc bỏ phiếu và vận động thay đổi chính sách đến việc hình thành các cuộc biểu tình và thậm chí là các cuộc cách mạng, đặc biệt là chuỗi sự kiện Arab Spring vào năm 2010. Những diễn biến này đặt ra nhiều thách thức mới đối với các quốc gia, khi các phong trào chính trị trở nên hỗn loạn hơn, khó có thể đoán trước và khiến xã hội khó quản lý hơn. Để có thể theo kịp được một thế giới chính trị đang biến đổi không ngừng, các mô hình và khung khái niệm của khoa học và lý thuyết chính trị truyền thống đang được mang ra rà soát và chỉnh sửa; ngoài ra,  các phương pháp khoa học dữ liệu xã hội mới đang được thiết kế với mục đích nghiên cứu các hành vi và diễn biến chính trị trong thời đại kỹ thuật số.      Các phong trào chính trị trở nên hỗn loạn hơn, khó có thể đoán trước và khiến xã hội khó quản lý hơn.      Việc sử dụng các thuật toán để quản lý thông tin và việc tự động hóa tuyên truyền đã và đang gây nhiều chuyển động lớn trong đời sống chính trị quần chúng ở các nước phát triển. Các ‘bot’ chính trị – những tập lệnh tự động trên internet được thiết kế với mục đích tương tác với các hệ thống máy tính hoặc người dùng internet – đang thao túng dư luận trên các ứng dụng mạng xã hội lớn như Twitter, Facebook, hay Sina Weibo ở Trung Quốc. Nghiên cứu xung quanh tác động của các tập của các ‘bot’ trên phương tiện truyền thông xã hội đang là một lĩnh vực nổi trội; các bot chính trị thường xuất hiện trong các cuộc khủng hoảng quốc tế, và thường được thiết kế để thúc đẩy lợi ích của các chính phủ đang gặp rắc rối. Các thành phần chính trị sử dụng ‘bot’ với mục tiêu thao túng các cuộc đối thoại trên mạng xã hội và gây nhiễu các phe bất đồng ý kiến, cũng như tạo ra tin tức giả và thiếu tính xác thực. Hiện các công cụ dùng để phát hiện các ‘bot’ chính trị vẫn còn đang được nghiên cứu và cải thiện; ngoài ra, các chiến lược chống tin giả nhằm tránh sự gia tăng tin rác để góp phần xây dựng sự tin tưởng của công chúng với môi trường thông tin trên mạng cũng là những lĩnh vực nghiên cứu đang phát triển.  4. Giáo dục, cuộc sống kỹ thuật số, và phúc lợi toàn cầu  Các vấn đề xung quanh ảnh hưởng tâm lý, xã hội, và giáo dục của internet cho mọi độ tuổi là một lĩnh vực nghiên cứu ngày càng thu hút nhiều sự chú ý. Các nhóm tuổi được chú ý quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực này là đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên – thế hệ lớn lên cùng công nghệ kỹ thuật số. Hàng loạt các phương pháp khoa học đa dạng như khảo sát dân số, thí nghiệm trên mạng, phỏng vấn trực tiếp, hay quan sát trực quan đều được sử dụng để tìm hiểu những lợi ích và rủi ro liên quan đến phát triển tâm lý của giới trẻ xung quanh công nghệ internet và mạng xã hội.    Nhờ internet, thời đại kinh tế kỹ thuật số đã bắt đầu. Trong ảnh là hãng mua bán nổi tiếng Amazon và diễn đàn mua bán trên mạng Flipkart của Ấn Độ.  Một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi trong lĩnh vực nghiên cứu này là việc đo lường ảnh hưởng của thời gian thanh thiếu niên sử dụng các thiết bị điện tử có màn hình (screen time) lên chất lượng giấc ngủ. Dù báo đài thường xuyên lên án việc sử dụng các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính bảng, hay máy tính cá nhân thường xuyên, và đặc biệt là vào ban đêm, các nghiên cứu gần đây cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của việc sử dụng các thiết bị này lên giấc ngủ của thanh thiếu niên là hầu như không đáng kể. Nghiên cứu của Amy Orben và Andrew Przybylski đến từ Đại học Oxford cho biết, trong nghiên cứu của họ về chất lượng giấc ngủ của 11,884 thanh thiếu niên Anh Quốc xuất bản đầu năm 2020, có rất ít sự tương quan giữa việc sử dụng thiết bị điện tử 30 phút trước khi ngủ và chất lượng giấc ngủ. Tuy rằng sử dụng thiết bị điện tử nhiều hơn vài giờ có tương quan với việc mất đi vài phút trong giấc ngủ, nghiên cứu của họ cho thấy hiệu ứng này chỉ xảy ra trong tuần và hầu như không xảy ra vào dịp nghỉ cuối tuần.  Điều này cho thấy ảnh hưởng tương quan giữa việc sử dụng thiết bị điện tử và chất lượng giấc ngủ rất có thể là do chu kì sinh hoạt của thanh thiếu niên, khi họ phải dậy sớm ở những ngày trong tuần để đến trường, dẫn đến việc không thể bù lại giấc ngủ bị mất do sử dụng điện thoại hay máy tính. Hơn nữa, hai nhà nghiên cứu còn cho biết, khái niệm “thời gian sử dụng thiết bị điện tử” cần được đào thải vì khái niệm này dẫn đến nhiều hiểu lầm trong việc đo lường chất lượng ảnh hưởng của công nghệ lên cuộc sống xã hội. Thật vậy, hai tiếng sử dụng các thiết bị điện tử để giải trí và trao đổi thông tin với bạn bè và người thân sẽ mang lại ảnh hưởng vô cùng khác biệt với hai tiếng sử dụng các thiết bị này để chơi game, hay tìm hiểu tài liệu khoa học, hay đọc các thông tin mang tính tiêu cực. Các xã hội nhìn nhận ảnh hưởng của công nghệ kỹ thuật số lên chính phúc lợi của người sử dụng công nghệ cần được cải thiện theo chiều hướng cởi mở hơn.  5. Đạo đức và triết lý thông tin  Nhóm từ “thời đại thông tin” thường hay được nhắc đến như một khẩu hiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy cụm từ này chứa đựng nhiều ẩn ý cần được phân tích rõ ràng, chúng ta khó lòng phủ nhận tầm quan trọng của thông tin trong xã hội năm 2020. Thông tin là thành phần cơ bản của những tiến bộ công nghệ đặc trưng của thời đại chúng ta. Sự gia tăng tương tác giữa con người, tổ chức và các công cụ và đồ vật công nghệ đang tạo ra lượng dữ liệu khổng lồ về con người và các hệ thống máy móc xung quanh họ với tốc độ và quy mô chưa từng có trong lịch sử.   Những thay đổi mang tính nền tảng như trên tạo ra các câu hỏi mang tính vĩ mô về quy chuẩn đạo đức xã hội, cũng như đòi hỏi con người suy nghĩ lại một cách nghiêm túc những câu hỏi mang tính triết lý đối với thông tin. Liệu chúng ta có nên tạo ra trí tuệ nhân tạo (AI)? Khi nào thì robot sẽ thay thế con người? Viễn cảnh đó trông như thế nào? Dữ liệu trên mạng là thuộc về ai, và ai có quyền kiếm lợi nhuận từ những dữ liệu này? Liệu việc xem các video khiêu dâm được làm giả (deepfake) dựa trên người thật là có trái đạo đức hay không? Làm thế nào để luật pháp có thể theo kịp những diễn biến này?  Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho biết sự hiểu biết chung về tiềm năng của các hệ thống AI thường mang tính lạc quan quá mức. Trên thực tế, các hệ thống này còn rất sơ khai và thậm chí dễ mắc lỗi và sai phạm. Ví dụ, các thuật toán tự học (machine learning algorithms) của IBM đã từng đề xuất các can thiệp y tế sai lầm mà nếu đưa vào tự động hóa có thể gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng con người. Elon Musk, CEO của tập đoàn Tesla, đã cho ra mắt công nghệ tự lái Tesla quá sớm, trái với lời khuyên của các kỹ sư trong nhóm nghiên cứu, và đã làm mất niềm tin của người tiêu dùng và nền công nghiệp ô tô sau một vài tai nạn chết người. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, việc kết hợp AI vào mô hình khám chữa bệnh còn đang rất sơ khai. Tổ chức WHO đang soạn thảo hướng dẫn đạo đức cho việc kết hợp AI trong sức khỏe và y tế cho chiến lược 2020-2024. Rất khó hình dung liệu sẽ có những thay đổi cụ thể nào trong các cuộc tranh luận về đạo đức thông tin và kỹ thuật số, nhưng ta có thể biết chắc rằng trong 10 năm tới đây, những vấn đề đạo đức sẽ ngày càng được quan tâm và bàn luận nhiều hơn  6. Địa lý và bất bình đẳng thông tin  Các câu hỏi về bình đẳng và công bằng xã hội ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong thời đại thông tin. Liệu internet và các công nghệ kỹ thuật số đang góp phần làm phát sinh sự phân hóa và chuyển biến xã hội, hay chỉ đơn thuần góp phần tái tạo các mối quan hệ xã hội và kinh tế sẵn có? Bằng cách thay đổi cách mọi người và các tổ chức tương tác với nhau, công nghệ thông tin phá vỡ và tái định hình các mạng xã hội, luồng thông tin và giá trị và không gian địa lý; thế nhưng các quá trình này có thể bị thao túng để gia tăng lợi ích riêng của những đối tượng nhất định?  Tìm kiếm các chiến lược quản lý đề cao tính minh bạch, trách nhiệm, ủng hộ quyền lợi của người lao động và quyền sở hữu dân chủ, là trách nhiệm của không chỉ chính phủ các nước, mà hơn hết là của các tổ chức kinh doanh điện toán. Hướng đến năm 2030, chúng ta cần một nền kinh tế thông tin toàn cầu mà trong đó người tiêu dùng biết nhiều hơn về tác động trong hành vi mua sắm của họ, các nhà quản lý phải thực thi các tiêu chuẩn công bằng tối thiểu, người lao động có quyền thực thi quyền lực tập thể của họ, và tất cả chúng ta tìm ra cách xây dựng, hỗ trợ và sử dụng các nền tảng kinh tế biểu mang tính dân chủ và có trách nhiệm .      Phần đông người sử dụng internet không tham gia vào các hành vi bảo vệ an ninh của chính mình một cách hiệu quả.      Khoảng cách kỹ thuật số (digital divide), định nghĩa là sự chênh lệch bất bình đẳng giữa người có khả năng và kĩ năng truy cập thông tin internet và người không có những khả năng và kĩ năng cần thiết để sử dụng internet, đang ngày càng được rút ngắn. Tuy nhiên, với số lượng gia tăng người sử dụng internet ngày càng đáng kể, khái niệm khoảng cách kỹ thuật số cũng dần được tái định nghĩa và mở rộng để phản ánh đúng những chuyển biến xã hội toàn cầu. Trong số người sử dụng internet, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn là xu hướng vô cùng rõ nét toàn cầu; khoảng cách chủng tộc/dân tộc và khoảng cách giàu nghèo nhìn chung vẫn được tái thiết lập trong phương thức và hành vi sử dụng internet. Việc định hình chính sách để thu nhỏ và tiến tới đóng lại khoảng cách này là vô cùng quan trọng nếu các chính phủ toàn cầu thật sự muốn tận dụng internet như một công cụ giúp cải thiện bất bình đẳng và góp phần mở rộng giao thông thông tin thế giới.  7. Quản lý và an ninh thông tin  Làn sóng tấn công mạng gần đây đã cho thấy rõ rằng tội phạm mạng là mối quan tâm gia tăng toàn cầu. Vô số mối đe dọa như nhiễm phần mềm độc hại, lừa đảo qua mạng và trộm danh tính trên mạng internet có thể gây ra hậu quả tai hại cho người dân, các doanh nghiệp, và quốc gia. Tội phạm mạng – định nghĩa là hành vi phạm pháp luật được thực hiện với chuyên môn kỹ thuật không gian mạng – là mối đe dọa ngày càng tăng cao do tội phạm ở lĩnh vực này mang tính sáng tạo cao, nhanh chóng trong việc số hoá các hành vi tội phạm, và thay đổi hành vi tội phạm dựa trên tích lũy dữ liệu khổng lồ. Tác động kinh tế và xã hội ngày càng tăng của tội phạm mạng đã thúc giục các tổ chức, doanh nghiệp và trường đại học trên toàn thế giới phát triển các chiến lược nhằm mở rộng hiểu biết hiện tại của chúng ta về hiện tượng này.  Trong lĩnh vực nghiên cứu quan trọng này, các câu hỏi chính xoay quanh hình thức kỹ thuật tội phạm mạng, phác thảo các biện pháp phòng chống tội phạm, và thẩm định hậu quả kinh tế của tội phạm mạng. Dù sử dụng các hệ thống an ninh kỹ thuật tiên tiến, người dân và các tổ chức vẫn tiếp tục gặp phải các vi phạm an ninh trong khi sử dụng internet. Trong khi nhiều người nhận ra tầm quan trọng của việc thực hành an toàn trên internet, phần đông người sử dụng internet không tham gia vào các hành vi bảo vệ an ninh của chính mình một cách hiệu quả. Các câu hỏi xung quanh yếu tố quyết định hành vi an ninh mạng cá nhân đang được nghiên cứu nghiêm ngặt ở khối các nước châu Âu, và cần được nhân rộng hơn trên toàn thế giới trong tương lai. □    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang JARED DIAMOND- Nhà sinh học và địa chất học, tác giả cuốn “Collapse” (tạm dịch: Sụp đổ)      Khi nào con người kết thúc các đợt chinh phục của mình trên toàn thế giới? Tôi có thể mường tượng được điều này nhưng vẫn chưa thể chứng minh được nó. Con người đầu tiên đã khám phá ra Châu Úc rồi Châu Mỹ. Tôi biết rằng con người đã đặt chân lên Bắc Mỹ cách đây khoảng 14.000 năm, Nam Mỹ cách đây khoảng 13.500 năm và Úc cách đây khoảng 46.000 năm.      Và con người cũng là nguyên nhân tuyệt diệt của phần lớn các loài thú lớn. Hiện giờ trên thế giới vẫn có hàng không hề có dấu vết tranh chấp của con người từ hàng triệu năm nay cho dù chúng ở Châu Phi, Châu Âu hay Châu Á. Nhưng ở Châu Mỹ và Châu Úc thì chẳng có dấu vết nào, kể cả dấu vết tranh chấp của con người có độ tuổi hơn 100.000 năm. Tại Châu Mỹ, những dấu vết tranh chấp chỉ xuất hiện vào khoảng từ thời điểm cách đây 14.000 năm trở lại đây trong khi đó tại Châu Úc, thời gian này vào khoảng giữa 46.000 năm và 16.000 năm trở lại đây.  Phần lớn các loài thú lớn như voi, sư tử hay loài lười lớn ở Châu Mỹ và Kanguru khổng lồ, và rồng Komodo ở Úc đã dần biến mất chỉ trong vài thập kỷ. Kết luận như vậy đã rõ ràng: khi con người tới đâu, họ nhanh chóng lấp đầy các lục địa và thoải mái giết chóc các loài thú lớn dù những loài thú này không hề có thù oán gì với con người. Và điều gì sẽ xảy ra đối với các loài thú lớn hiện nay vẫn còn ở Galapagos và Bắc cực khi con người bắt đầu tiến đến những nơi này?  Tia sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch cất cánh cho chính mình      Dù ai đó đang ngồi trong một quán cà phê ven đường tại một thành phố lớn hay đang đi dạo ở một vùng nông thôn Việt Nam – nơi 70% dân số nước này sinh sống, thì ấn tượng xuyên suốt là sự tăng trưởng và phát triển của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình trong 5 năm qua là 7,5%, tỷ lệ cao nhất trong các nước thành viên ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người hàng năm hiện nay là 640 USD. Mức nghèo tuyệt đối đang giảm xuống trong khi sự bất bình đẳng về thu nhập đang tăng lên. Giá đất ở các trung tâm như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh thuộc vào hàng cao nhất Đông Á. Du lịch nước ngoài vượt xa du lịch trong nước, và cầu hàng hóa tiêu dùng thì khổng lồ với các chuyến du lịch mua sắm nước ngoài thường xuyên của bộ phận dân cư giàu Việt Nam. Phần đóng góp trong GDP của khu vực sản xuất và dịch vụ đã tăng hơn 70% và mức đóng góp của mỗi khu vực này đều cao hơn của khu vực nông nghiệp – ngành mà được kỳ vọng sẽ giảm xuống 20% vào năm 2020.        Việt Nam hiện nay đang chứng kiến một làn sóng đầu tư nước ngoài thứ hai, kể từ năm 1997. Tốc độ tăng trưởng FDI mới trong hai năm 2004 và 2005 so với năm trước đó lần lượt là 41% và 50%. Tổng số FDI (trên cơ sở cam kết đến hết năm 2006) hiện nay là gần 60 tỷ USD, trong đó khoảng 35 tỷ USD được thực hiện trong năm 2005.  Nhân tố chủ yếu cho thành công mà Việt Nam có được trong thu hút FDI chính là chi phí nhân công rẻ cũng như các thị trường nội địa luôn sẵn sàng cho sự thâm nhập của các nhà đầu tư nước ngoài. Sức mạnh của những lợi thế này rất rõ ràng khi chúng ta so sánh Việt Nam với các thành viên trong ASEAN, tuy nhiên, nó lại phần nào trở nên mờ nhạt hơn khi chúng ta so sánh Việt Nam với Trung Quốc. Hai quốc gia này, mặc dù không sản xuất tất cả các mặt hàng giống nhau, song cơ cấu chi phí sản xuất hàng hóa của hai nước lại tương tự nhau. Trong đó, Trung Quốc có lợi thế hơn do thị trường nước này lớn hơn rất nhiều và vì vậy các chi phí sản xuất của các nhà sản xuất Trung Quốc thấp hơn.   Đối với Việt Nam, để có thể thành công trong thời đại trỗi dậy của Trung Quốc, nó phải phân biệt được mình với Trung Quốc, cho dù một số điểm tương đồng trước đây đã nâng Việt Nam lên vị trí con rồng đang phát triển như hiện nay. Việt Nam sẽ phải tự vẽ kế hoạch cất cánh cho riêng mình. Câu hỏi đặt ra là: Liệu có làm được không?    Một kế hoạch cất cánh cho Việt Nam   Trước hết, quản lý ở Việt Nam – cả về chính trị và đoàn thể – cần phải linh hoạt và minh bạch hơn rất nhiều so với Trung Quốc. Bởi hiển nhiên là, các nước lớn thường khó kiểm soát hơn các nước nhỏ. Vì vậy, Việt Nam – là một quốc gia tương đối nhỏ – không có lý do gì để không thực hiện tốt điều này. Đơn giản là: quản lý tốt sẽ thu hút đầu tư. Đặc biệt, chính phủ cần hết sức quan tâm việc đảm bảo giải ngân nhanh chóng các khoản đầu tư nước ngoài được cam kết, hiện đang ở mức gần như gấp đôi lượng vốn thực hiện. Thứ hai, Việt Nam cần đảm bảo rằng các lợi thế so sánh trong một nền kinh tế thị trường của mình nằm trong các lĩnh vực cụ thể chứ không nhắm tới các thị trường khổng lồ mà lợi thế so sánh của Trung Quốc hướng tới. Chế biến hàng nông sản là một ví dụ. Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam sản xuất đã có sự khác biệt căn bản so với hàng Trung Quốc. Tuy nhiên, mặc dù hoạt động nông nghiệp đang sáng sủa – và có vẻ như thu lợi từ việc Việt Nam gia nhập WTO – nhưng nông nghiệp hiện đang suy giảm. Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản chỉ còn 4% trong 5 năm qua so với mức tăng 7% trong lĩnh vực dịch vụ và 10% của công nghiệp và xây dựng. Có hai ngành sản xuất chủ đạo mà Việt Nam cần phát triển để vượt qua Trung Quốc. Trong ngành công nghiệp điện và điện tử, “made in China” vẫn tiếp tục là một vấn đề tâm lý của một số người tiêu dùng trên khắp thế giới, nhiều người trong số họ đã đánh đồng nó với chất lượng thấp. Việt Nam nên tận dụng cơ hội này bằng việc cố gắng sản xuất các sản phẩm chất lượng tốt, từ trung bình trở lên. Hãng điện tử Nhật Bản Canon có vẻ như tin tưởng nhất vào điều này khi hãng tăng gần gấp đôi lượng đầu tư của mình vào Việt Nam trong những năm gần đây. Tháng 11/2006, Intel công bố kế hoạch tăng đầu tư của hãng vào Việt Nam từ 300 triệu USD cam kết trong tháng 2/2006 lên tới 1 tỷ USD. Nhà sản xuất chíp điện tử này sẽ xây dựng một nhà máy gần Thành phố Hồ Chí Minh và dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2009. Trong khi rất ít người tin rằng Việt Nam có thể tạo nên một bước nhảy nhanh trong chuỗi giá trị dựa trên nội lực của mình, thì có vẻ như nhiều tập đoàn đa quốc gia sẵn sàng chìa tay giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt nếu điều đó giúp họ đa dạng hóa rủi ro từ Trung Quốc. Ngay sau động thái của Intel, Bill Gate cũng đã quyết định đến Việt Nam để tận mắt chứng kiến những cơ hội mà quốc gia này đang nắm giữ, và lần này là trong ngành công nghiệp phần mềm. Đây là ngành có giá trị gia tăng cao thứ hai, trong đó Việt Nam có lợi thế so sánh. Việc sử dụng bảng chữ cái Latinh trong tiếng Việt đã tạo ra lợi thế cao hơn so với chữ tượng hình của tiếng Trung Quốc trong việc đáp ứng các yêu cầu của ngành phần mềm. Các công ty Việt Nam đang tiến hành sử dụng nguồn lực bên ngoài (out-sourcing) và ký hợp đồng phụ với rất nhiều các công ty phần mềm nước ngoài. Trong khi chưa phải là một người khổng lồ khu vực thì xu hướng người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, tiếp cận nhanh chóng công nghệ mới và hiện đại sẽ định hướng thị trường công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) ở Việt Nam, và qua thời gian, sẽ tăng nhanh khả năng cung ứng sản phẩm ra thị trường toàn cầu của các công ty Việt Nam. Trong cuộc đua với Trung Quốc, một điểm cần lưu ý là Việt Nam có thể đang không cạnh tranh trực tiếp với các tỉnh đại lục Trung Quốc mà lại cạnh tranh với các tỉnh ven biển Trung Quốc, những tỉnh hiện đang thu hút một lượng vốn FDI và đầu tư trong nước khổng lồ cho các ngành xuất khẩu. Không nhất thiết phải giành lại mạng lưới sản xuất ở miền Nam và vùng duyên hải Trung Quốc về Việt Nam, tuy nhiên, có lẽ các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam cần xem xét làm thế nào để có thể thiết lập các mạng lưới như vậy xuyên suốt các tỉnh của nước mình. Để làm được việc này, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo đồng thời tham vấn ý kiến của các nhà đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường là nhân tố thiết yếu cho sự thành công. Một điều vẫn thường được nhắc đi nhắc lại rằng tỷ lệ biết chữ của Việt Nam là trên 90%, tuy nhiên chất lượng giáo dục của Việt Nam – thậm chí là giáo dục cơ sở – còn rất nhiều vấn đề cần theo đuổi.   Việt Nam cũng cần nhanh chóng tái cơ cấu và tái tổ chức khu vực quốc doanh trong nền kinh tế. Ở hầu hết các nước, khu vực tư nhân thường phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các nhu cầu thị trường so với các doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam có thuận lợi hơn Trung Quốc khi có thể đạt được điều này sớm hơn. Tuy nhiên, một lần nữa, tôi không mấy lạc quan về điều này bởi lẽ người Trung Quốc đã cho thấy họ đang ngày càng sẵn sàng thay đổi nhanh chóng, trong khi đó Việt Nam sau nhiều năm tuyên bố cải cách các doanh nghiệp nhà nước của mình, có rất ít bằng chứng về sự cải cách này.   Tuy nhiên, có lẽ nhân tố quan trọng nhất trong kế hoạch cất cánh của Việt Nam là nhu cầu đánh lửa lại lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm của công dân và viên chức đối với việc chấn hưng đất nước, trong cuộc chiến chống chủ nghĩa quan liêu và tham nhũng là cái vốn có từ hàng thập kỷ nay chứ không phải là cái mới sinh ra sau “đổi mới” năm 1986.   Một dự đoán lạc quan   Tuy nhiên, các dự đoán về Việt Nam dường như thiên về chiều hướng tốt hơn. GDP sẽ tăng khoảng 8% hàng năm, và sẽ tăng gấp đôi mức hiện tại trong 10 năm tới bởi tiềm năng phát triển của Việt Nam là rất đáng kể. Như đã đề cập ở trên, thế hệ trẻ Việt Nam tiếp cận máy tính rất nhanh và có nhiều tiềm năng để vượt trội trong ngành công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm. Chính phủ đã có một tầm nhìn đối với việc cố gắng đưa đất nước vào danh sách 15 quốc gia sản xuất phần mềm đứng đầu thế giới vào năm 2015. Có lẽ, tầm nhìn này không nhất thiết chỉ bó hẹp trong ngành công nghệ thông tin và truyền thông. Các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao khác mà Việt Nam có thể khởi động, phát triển và gặt hái được các kết quả đáng khích lệ bao gồm: các dịch vụ chất lượng cao trong du lịch, phát triển thành một trung tâm tài chính và vượt trội hơn hẳn như một trung tâm xuất khẩu và dịch vụ cho Tây Nam Trung Quốc và bán đảo Đông Dương, đặt ra thách thức to lớn cho Thái Lan và Singapore. Thêm vào đó, Việt Nam có lẽ là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á hiểu Đông Âu hơn các nước khác, do mối quan hệ lịch sử với các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong khu vực. Điều này có thể cho phép Việt Nam thắt chặt mối quan hệ đối tác với các quốc gia Đông Nam Á khác như Singapore – những nước mà hiện rất muốn có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với các nước Đông Âu.   Tất nhiên, không loại trừ khả năng Việt Nam có thể bị bao quanh bởi tâm lý tự thỏa mãn về những thành tựu hiện có và trở thành một người chơi khó có thể chấp nhận trong một thế giới toàn cầu hóa. Thái độ tự thỏa mãn này đã xuất hiện một lần trước đây, vào giữa những năm 1990, ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, cuộc khủng hoảng mà đưa người Việt Nam đến chỗ phải xem xét lại về nguồn vốn FDI và chính sách kinh tế vĩ mô của mình. Một lần tự mãn thứ hai có thể xuất hiện? Điều đó có thể xảy ra nếu làn sóng đầu tư hiện tại dâng cao và Việt Nam thành công quá sức tưởng tượng của chính mình trong vòng 3-4 năm tới. Trong bối cảnh đó, “Thế giới cần Việt Nam” sẽ là khẩu hiệu của tính tự cao tự đại này.   Chắc hẳn, sự tự mãn nào đó cũng sẽ quay trở lại, tuy nhiên có vẻ như là các nhà lãnh đạo của Việt Nam đã rút ra được một số bài học và ngày càng nhận thức được rằng nước mình không thể dậm chân tại chỗ mà phải tăng cường thích ứng và thay đổi sẽ được nâng lên.   ——————  * Chuyên gia nghiên cứu chính trị và chiến lược khu vực, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore      David Koh*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch giám sát phát thải CO2: Thị trường mua bán carbon của Việt Nam?      Dù sẽ còn tới bảy năm nữa mới chính thức mở thị trường mua bán carbon nhưng ngay từ bây giờ, Việt Nam vẫn cần cân nhắc các vấn đề có thể gặp phải khi triển khai thị trường đặc biệt này.      Các khu công nghiệp là các nguồn phát thải lớn khí CO2. Nguồn: SGGP.  Các nhiệm vụ cơ bản để thiết lập thị trường carbon     Việt Nam sẽ mở thị trường carbon trong nước vào ngày 1/1/2028, theo dự thảo Nghị định “Quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn”. Văn bản mới này sẽ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) ba nhiệm vụ để giảm phát thải khí nhà kính: 1. Thiết lập hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia; 2. Xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) để kiểm soát các nguồn phát thải lớn; 3. Thiết lập thị trường carbon, hay còn gọi là hệ thống mua bán phát thải (ETS).    Hệ thống mua bán phát thải, do các nhà kinh tế học sáng tạo ra, là một giải pháp dựa trên thị trường để giảm tình trạng ô nhiễm. ETS được sử dụng khi nhiều nguồn khác nhau phát thải gây ô nhiễm trên một khu vực địa lý rộng lớn, chẳng hạn như phát thải lưu huỳnh gây mưa axit hoặc phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Trong hệ thống ETS, chính phủ sẽ phân bổ các hạn mức phát thải (emissions permits) cho các cơ sở vẫn gây phát thải để giới hạn lượng phát thải của họ. Nếu nơi nào muốn vượt mức ấn định này, họ sẽ phải mua thêm hạn mức từ các đơn vị khác.    Một hệ thống mua bán phát thải như vậy sẽ đảm bảo sự ổn định cho môi trường do có thể kiểm soát được lượng hạn mức phát thải, và mỗi hạn mức chỉ có thể được sử dụng một lần duy nhất. Đây là một khác biệt đáng kể so với thuế ô nhiễm – một phương pháp “phạt” những cơ sở phát thải gây ô nhiễm tuy nhiên lại không thể đảm bảo môi trường sẽ không bị hủy hoại. Không chỉ vậy, hệ thống ETS còn đem lại sự linh hoạt cho các cơ sở phát thải trong việc tuân thủ quy định tùy theo các điều kiện kinh tế và kỹ thuật của mình. Sự linh hoạt này khiến cho ETS trở thành một giải pháp có chi phí rẻ hơn đối với xã hội so với các cách tiếp cận theo kiểu chỉ huy, có kiểm soát, chẳng hạn như tiêu chuẩn hiệu suất công việc (performance standard). Và cuối cùng, hệ thống mua bán carbon cũng có thể đem lại một nguồn thu cho chính phủ, do một phần nhỏ hạn ngạch phát thải có thể được bán đấu giá thay vì cung cấp miễn phí.      Với thị trường carbon, Bộ TN&MT sẽ có một công cụ để hạn chế phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Song, quyết định chính trị sẽ phải đòi hỏi sự vào cuộc của xã hội, bao gồm các công ty phát thải khí nhà kính lớn như EVN.      Trong thực tế, các chính phủ thường sẽ bắt đầu bằng việc cấp các hạn mức dựa theo lượng phát thải cơ bản – mức phát thải trước khi áp dụng bất kỳ biện pháp giảm thiểu nào – của đơn vị gây ô nhiễm và sẽ giảm dần số lượng hạn mức được phân bổ mỗi năm để giảm ô nhiễm. Do các công cụ chính sách không loại trừ lẫn nhau, vậy nên việc thiết lập thị trường carbon ở Việt Nam có thể sẽ dựa trên các quy định hiện hành, vốn đã bao gồm thuế môi trường và các tiêu chuẩn thực hiện công việc cho nhiều lĩnh vực như sản xuất thép hay xi măng.    Nhiệm vụ của Bộ TN&MT là tổ chức thị trường carbon trong nước. Và việc mua bán phát thải carbon không thể bắt đầu nếu như chưa có hệ thống MRV. Với những khó khăn mà chúng ta đã gặp phải trong việc đảm bảo chất lượng kiểm toán năng lượng ở Việt Nam, có thể thấy rằng việc triển khai hệ thống MRV sẽ cần phải mất nhiều năm, tuy nhiên Bộ TN&MT dự kiến sẽ có hệ thống này vào năm 2025. Đến năm đó, các cơ sở phát thải lớn phải có hệ thống quản lý và kiểm kê khí nhà kính, được giao hạn ngạch và tham gia vào thị trường carbon. Hệ thống sẽ bắt đầu với giai đoạn giao dịch tự nguyện trong hai năm vào năm 2026-2027, và sau đó là giai đoạn giao dịch bắt buộc đầu tiên từ năm 2028 đến năm 2030.     Việt Nam có thể học hỏi gì từ quốc tế?     Với lộ trình này, Việt Nam sẽ tham gia thị trường carbon cùng nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc hoặc các nước thành viên châu Âu đã có hệ thống mua bán phát thải.    Hệ thống ETS của Liên minh châu Âu đã bắt đầu giai đoạn bốn vào năm 2021, với hệ số giảm giới hạn hằng năm là 2,2%. Hệ thống ETS của Hàn Quốc thì bắt đầu giai đoạn ba vào năm 2021, cũng với giới hạn chặt chẽ hơn, đồng thời tỷ lệ đấu giá cho các lĩnh vực không phát thải quá nhiều và không tiếp xúc thương mại đã tăng lên 10%. Còn Nhật Bản chỉ có thị trường carbon tự nguyện, tuy nhiên hệ thống ETS được liên kết của Tokyo và Saitama đã bước vào giai đoạn ba vào năm 2020, và cả hai đều làm cho việc giảm phát thải dưới mức giới hạn cơ sở tăng lên xấp xỉ 10 điểm phần trăm so với giai đoạn năm năm trước đó.    Tại Trung Quốc, hệ thống ETS quốc gia được mở vào tháng 7/2021 sau giai đoạn thử nghiệm kéo dài tám năm –  bắt đầu vào năm 2013 với các thành phố và thị trường thí điểm quy mô cấp tỉnh. Hệ thống này nhắm mục tiêu đến 2.245 công ty trong ngành điện vốn đang thải ra hơn 26.000 tấn CO2 mỗi năm, tức bốn tỷ tấn CO2 tương đương, chiếm 40% lượng phát thải carbon quốc gia. Để mở rộng phạm vi, các lĩnh vực khác cũng sẽ được bổ sung trong kế hoạch năm năm này.      Hình 1.  Các nước láng giềng khác của Việt Nam cũng đang rục rịch thực hiện. Indonesia hiện đang xây dựng khung pháp lý và lập kế hoạch thí điểm trong lĩnh vực điện lực. Tại Philippines, một dự luật đề xuất một hệ thống mua bán phát thải cho các lĩnh vực công nghiệp và thương mại cũng đã được đệ trình. Còn tại Thái Lan, các hệ thống MRV đang được phát triển cho thị trường giảm thiểu tự nguyện, một chương trình thí điểm đang được lên kế hoạch cho khu vực hành lang kinh tế phía Đông, và công việc này đang được bắt đầu dựa trên khung pháp lý quốc gia.    Nếu nhìn vào các kinh nghiệm quốc tế (Hình 1), có thể thấy các hệ thống mua bán khí thải có thể được áp dụng, ít nhất là ở các nước tương đối giàu có. Tuy nhiên, những gì hiệu quả ở các nước giàu không có nghĩa là sẽ hiệu quả ở Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, Việt Nam có thể theo đuổi việc xây dựng thị trường carbon vì ba lý do chính:    Thứ nhất, chúng ta cần phải làm gì đó để giảm phát thải khí nhà kính. Việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính và xây dựng các hệ thống MRV không chỉ để chính phủ đáp ứng các thỏa thuận quốc tế, mà đây còn là bước cần thiết đầu tiên để thực thi các bước tiếp theo. Thêm vào đó, những hậu quả của các lựa chọn kinh tế lên khí hậu cũng cần phải được thể hiện rõ ràng qua những hệ thống như thế để các hộ gia đình và các công ty ở Việt Nam có thể tiêu dùng và sản xuất một cách có trách nhiệm hơn.    Thứ hai, các đối tác thương mại của Việt Nam cũng muốn tiêu dùng có trách nhiệm. Đồng thời, tạo thị trường cho các sản phẩm xanh đang ngày càng phát triển. Mối đe dọa của thuế carbon đã hiển hiện. Chẳng hạn, ngay cả khi Ủy ban châu Âu đã ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam, nhiều người châu Âu vẫn ủng hộ việc đánh thuế nhập khẩu hàng hóa được sản xuất tại các nước tự do phát thải CO2 ra khí quyển.    Thứ ba, việc giảm nhẹ khí nhà kính theo cách tiếp cận chỉ huy và kiểm soát sẽ không hiệu quả và không khả thi. Bộ TN&MT không thể quyết định, với danh nghĩa tối ưu hóa ngân sách carbon hằng năm của quốc gia, khi nào thì vận hành từng nhà máy nhiệt điện. Trong nền kinh tế định hướng thị trường, một giải pháp thay thế cho cách tiếp cận sử dụng ETS là đánh thuế carbon. Tuy nhiên, thuế carbon đang là một vấn đề khó khăn về mặt chính trị ở Việt Nam vào thời điểm hiện tại. Dù hiện nay đã có một khoản thuế môi trường nhỏ đối với các hoạt động gây ô nhiễm, song, chính phủ sử dụng giá năng lượng như một công cụ để bảo vệ các hộ gia đình và các công ty khỏi lạm phát quá mức, chứ không phải như một công cụ để khuyến khích họ giảm tiêu thụ năng lượng.    Ngoài ra, hệ thống mua bán phát thải có thể đóng góp vào Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam – một quỹ được thành lập vào năm 2002 và trước đây chịu trách nhiệm quản lý các dự án giảm phát thải theo Cơ chế Phát triển sạch. Theo ước tính, nếu Bộ TN&MT đấu giá 20 triệu tấn hạn mức vào năm 2028, tức là 10% của 200 triệu tấn CO2 tương đương với giá đấu giá là 5USD cho mỗi hạn mức, thì số tiền thu được sẽ là 100 triệu USD mỗi năm. Nguồn thu này sẽ giúp cung cấp các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật về kiểm soát khí nhà kính cho một số lượng đáng kể các cơ sở phát thải lớn.     Thị trường không hẳn màu hồng     Tuy nhiên, thị trường carbon cũng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Dù Bộ TN&MT đã biết đến điều này và xây dựng các quy tắc để giảm thiểu rủi ro, tuy nhiên, rất khó để có thể loại bỏ được hoàn toàn những vấn đề ấy, do vậy rất cần phải đề cập đến những rủi ro này.    Kinh nghiệm thực tế cho thấy, rất khó để có thể triển khai tốt thị trường carbon. Một ví dụ đó chính là các cơ chế thị trường carbon của Nghị định thư Kyoto hầu như đều đã thất bại. Trước đây, ý tưởng của họ là thực hiện các dự án carbon thấp ở các nước không thuộc Phụ lục I trong Nghị định thư này, chẳng hạn như các nhà máy thủy điện mới ở Việt Nam sẽ nhận được chứng chỉ giảm phát thải và có thể dùng để trao đổi và nhận tiền. Nhưng trên thực tế, những nỗ lực của Việt Nam trong việc đệ trình nhiều dự án lên Cơ chế Phát triển sạch hầu như chỉ là một sự lãng phí thời gian. Giá trị của các chứng chỉ giảm phát thải đã giảm xuống dưới 50 cent/tấn CO2 tương đương vào năm 2012 và thị trường đã không bao giờ phục hồi.    Lịch sử hệ thống mua bán khí thải của châu Âu cũng sẽ nhắc nhở chúng ta về những rủi ro liên quan đến gian lận và tội phạm mạng – những nguy cơ vốn luôn luôn hiện hữu. Và nó cũng là minh chứng sống động cho một vấn đề cơ bản của hệ thống ETS, đó là: có bao nhiêu hạn ngạch được tạo ra. Số lượng hạn ngạch này có thể là kết quả từ sự cân bằng quyền lực chính trị giữa Bộ TN&MT và các đơn vị phát thải lớn. Ở châu Âu, trong giai đoạn cam kết đầu tiên, các nhà sản xuất lớn đã giành được chiến thắng trong cuộc chơi. Họ đã nhận được nhiều hạn ngạch hơn mức cần thiết, và cuối cùng tình trạng dư cung này đã đẩy giá carbon xuống mức 0 vào năm 2007 trong hệ thống ETS của EU. Thực tế, thị trường này cũng đã sụp đổ một lần nữa vào năm 2012, tuy nhiên mức giá đã phục hồi trở lại mức bình thường sau đó. Kết quả này không chỉ do các nhà quản lý của Ủy ban châu Âu đã hiểu rõ hơn về hệ thống mới mẻ này, mà còn bởi vì các công ty tham gia vào ETS cũng bớt đi những bỡ ngỡ, lo sợ ban đầu và trở nên có trách nhiệm hơn với môi trường.    Tuy nhiên, trong bối cảnh của Việt Nam, có một rủi ro là số lượng hạn ngạch được phân bổ có thể không giảm được sau giai đoạn đầu tiên, nếu như chính phủ quyết định đặt tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu. Với thị trường carbon, Bộ TN&MT sẽ có một công cụ để hạn chế phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Song, quyết định chính trị sẽ phải đòi hỏi sự vào cuộc của xã hội, bao gồm các công ty phát thải khí nhà kính lớn như EVN.    Về bản chất, rất khó để điều chỉnh lượng hạn ngạch do nhu cầu năng lượng còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngẫu nhiên của thời tiết cũng như chu kỳ kinh doanh. Nếu thời tiết có mưa nhiều, hoặc đại dịch bùng phát, thì các nhà máy điện than sẽ ít phải vận hành hơn. Chính tính ngẫu nhiên này sẽ tạo ra sự biến động về giá như chúng ta đã thấy trước đây. Và điều này có thể khiến một số nhà phát thải lớn nhận được nhiều hạn ngạch hơn mức họ cần và thu được lợi nhuận nhờ may mắn thuần túy mà không cần nỗ lực giảm phát thải. Thêm vào đó, phương pháp phân bổ hạn ngạch vẫn chưa được xác định trong Luật. Do vậy, sắp tới chúng ta chắc chắn sẽ cần có những cuộc thảo luận pháp lý thú vị.    Trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (Nationally Determined Contribution) năm 2020, Việt Nam đã cam kết năm 2030 sẽ giảm phát thải khí nhà kính “9% hoặc 27% dưới mức cơ sở” – một đề xuất khá “yếu ớt” do mức cơ sở này là dự báo trong tương lai. Việc có một hệ thống kiểm kê khí nhà kính và MRV sẽ giúp Chính phủ chuyển đổi diễn ngôn/cuộc thảo luận sang một cơ sở có khả năng kiểm chứng chặt chẽ. Và cuối cùng, chúng sẽ giúp hạn mức phát thải khí nhà kính của Việt Nam.□     Mỹ Hạnh dịch  References  1.  Pham, M. C. Draft (May 2021) decree on Regulations to reduce greenhouse gas emissions and protect the ozone layer. (2021).  2.  Nguyễn, T. K. N. Luật số 72/2020/QH14 về Luật Bảo vệ môi trường (Law on Environmental Protection). http://vanban.monre.gov.vn/ (2020).  3.  MONRE. The third National Communication of Vietnam to the United Nations Framework Convention on Climate Change. https://unfccc.int/documents/192805 (2018).  4.  ICAP. Emissions trading worldwide: Status report 2021. https://icapcarbonaction.com (2021).    Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Kế hoạch thám hiểm vũ trụ cúa Trung Quốc      Theo tin của Thời báo Hoàn cầu, năm 2016 Trung Quốc dự định thực hiện hơn 20 vụ phóng vật thể lên không gian vũ trụ, trong đó đáng kể là phóng tàu Thần Châu 11 và Thiên Cung 2, tên lửa Trường Chinh 5 và lần đầu phóng tên lửa vận tải Trường Chinh 7. Đây là những hoạt động hết sức có ý nghĩa, khiến cho năm 2016 trở thành cột mốc trong lịch sử phát triển kỹ thuật vũ trụ của Trung Quốc.       Các tàu vũ trụ này đều là phiên bản cuối cùng đã định  hình, sau đó sẽ được sản xuất hàng loạt. Thiên Cung 2 sẽ hoàn tất công  tác giúp chuẩn bị cuối cùng cho việc lắp ráp trạm vũ trụ của Trung Quốc.  Các tên lửa sẽ phóng là phương tiện chuyên chở chủ yếu trong các sứ  mệnh phóng vật thể vũ trụ sau này.  Năm 2016 sẽ tiếp tục hoàn thiện mạng dẫn đường Bắc đẩu, xây dựng hệ thống vệ tinh ứng dụng rộng rãi hơn, tiến hành các dự án nghiên cứu trên Trạm vũ trụ. Hiện nay Trung Quốc đã thăm dò không gian ngoài Trái đất. Những công nghệ nghiên cứu nói trên còn có ý nghĩa lớn về mặt quân sự.  Năm 2016 sẽ tiếp tục thực thi dự án đổ bộ Mặt trăng và thực hiện một số việc trinh sát, như cho vệ tinh bay vòng quanh Mặt trăng để quan sát, cho xe Ngọc Thỏ đổ bộ lên Mặt trăng để khảo sát trực tiếp thiên thể này. Trước đây dự tính tuổi thọ của Ngọc Thỏ chỉ có 90 ngày, nay đã vượt xa: đổ bộ Mặt trăng ngày 15/12/2013, tới cuối 2015 vẫn làm việc.  Hiện nay, Trung Quốc cũng đang chuẩn bị đưa người máy lên Mặt trăng lấy mẫu đất đá đem về Trái đất. Trên thực tế, sứ mạng này đã tiến sang giai đoạn đếm giờ ngược. Tuy nhiên thời gian biểu thực thi dự án đưa người lên Mặt trăng còn chưa được công bố, dù Trung Quốc đang chuẩn bị xây dựng căn cứ trên Mặt trăng.  Sau khi hoàn thành việc đổ bộ Mặt trăng, bước tiếp sau sẽ là thám hiểm sao Hỏa – hành tinh có những điều kiện giống Trái đất nhất, địa điểm đầu tiên loài người sẽ di cư tới.  Trước đây nhiều nước đã phóng tàu thăm dò sao Hỏa, kể cả Ấn Độ. Riêng Trung Quốc chưa phóng vật thể nào lên hành tinh này. Nhưng năm 2016 Trung Quốc sẽ phóng tàu thăm dò lên sao Hỏa, và dự kiến sẽ hoàn tất ba mục tiêu chỉ trong một sứ mệnh phóng vật thể: đi vào quỹ đạo sao Hỏa, đổ bộ lên sao Hỏa và cho một xe khảo sát hoạt động trên thiên thể này. Các công nghệ đó đều đã được kiểm nghiệm trong dự án lên Mặt trăng. Thời báo Hoàn Cầu cũng cho hay, Trung Quốc hiện chiếm vị trí hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ thám hiểm vũ trụ.  Nguyễn Hải Hoành dịch  Nguồn: 中国火星探测为何突然高调？真相振奋人心!  http://tech.huanqiu.com/front/2016-04/8820088.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khác biệt và phức tạp so với các chuẩn mực quốc tế      Hội đồng Chức danh Gi&#225;o sư Nh&#224; nước (HĐCDGSNN) lại vừa ra qui định v&#224; ti&#234;u chuẩn mới cho chức danh gi&#225;o sư v&#224; ph&#243; gi&#225;o sư. Qui định mới c&#243; phần hợp l&#237; hơn so với c&#225;c qui định trước, nhưng vẫn c&#242;n rất kh&#225;c v&#224; phức tạp hơn so với c&#225;c chuẩn mực ở nước ngo&#224;i.     Cách tính điểm bài báo khoa học. Theo qui định mới, “bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn” có điểm tối đa là 2. Ở đây có hai vấn đề. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (khoảng 108.000 tập san và con số vẫn gia tăng) với chất lượng thượng vàng hạ cám, dù chúng đều có danh xưng “quốc tế” đâu đó trong tên gọi. Để sàng lọc thật và giả, Viện Thông tin Khoa học (Mỹ) căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hoạt động và thời gian lập nên một danh sách chỉ trên dưới 5000 tập san mà giới chuyên môn công nhận là “nghiêm chỉnh”.    Viện Thông tin Khoa học còn phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là “hệ số ảnh hưởng” (impact factor, IF). Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san. Nói chung, tập san có IF cao cũng là tập san có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp. Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học. Theo tôi biết, chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF.    Những vấn đề thực tế trên cho thấy không thể đánh giá một công trình đăng trên tập san Việt Nam bằng một công trình đăng trên một tập san quốc tế với IF trên 10. Tương tự, cũng không thể xem một bài báo trên một tập san ở Úc, Nhật, Hàn Quốc, hay Trung Quốc với chỉ số IF < 1 bằng một bài báo trên một tập san ở Mỹ với IF > 20, dù tất cả đều là “tập san quốc tế”.  Ngoài ra, cũng không thể đánh giá IF của tập san toán giống với một tập san ngành y học. Do đó, không nên cho điểm một bài báo khoa học một cách máy móc mà không xem đến tập san bài báo đó được công bố.   Nhưng IF chỉ phản ảnh uy tín và chất lượng của một tập san, chứ không phản ảnh chất lượng của bài báo trên tập san đó. Một công trình nghiên cứu có thể công bố trên một tập san có IF cao nhưng không được ai trích dẫn thì không có giá trị bằng một công trình công bố trên một tập san có IF thấp nhưng được nhiều người trích dẫn. Trong thực tế, có hơn 50% các bài báo trên các tập san quốc tế chẳng bao giờ được ai trích dẫn! Do đó, khi xem xét cho điểm bài báo, cũng cần phải xem chỉ số trích dẫn, chứ không chỉ IF của tập san.   Số lần trích dẫn bao nhiêu thì phản ảnh chất lượng?   Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này.  Vì chỉ số trích dẫn còn tùy thuộc theo “văn hóa ngành” (tức một số ngành như toán có chỉ số trích dẫn thấp hơn các ngành khác như vật lí hay sinh học), do đó cần phải điều chỉnh cho từng tập san. Theo đó, nếu số lần trích dẫn của bài báo cao hơn chỉ số trích dẫn trung bình của tập san thì có thể được xem là có chất lượng cao. Chẳng hạn như tập san A có chỉ số trích dẫn trong 10 năm là 35 lần / bài báo, và nếu một bài báo của ứng viên trên tập san đó có số lần trích dẫn trên 35 lần thì được xem là có chất lượng cao.    Vị trí tác giả trong việc định điểm. Phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thường là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, và tác giả Việt Nam thường không đứng tên đầu, tức không phải là người chủ trì công trình nghiên cứu. Do đó, nếu một ứng viên có nhiều bài báo khoa học dù trên các tập san có IF cao, nhưng nếu chỉ đóng vai trò “tác giả phụ”, thậm chí “tác giả làm quà” (gift author) thì không thể đánh đồng với một tác giả chính được. Cần nói thêm rằng, hiện tượng “gift author” là hiện tượng trong đó các nhà khoa học cho tên của đồng nghiệp hay cấp trên của mình vào danh sách tác giả dù người này chẳng biết hay chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu. Hiện tượng gift author khá phổ biến trong khoa học, nhất là ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong các qui định của Hội đồng chức danh, không thấy nói đến vấn đề tế nhị như tôi vừa đề cập.   Sách chuyên khảo. Theo qui định mới thì sách chuyên khảo được 3 điểm, sách giáo trình 2 điểm, sách tham khảo 1,5 điểm, và sách hướng dẫn 1 điểm. Những ai làm nghiên cứu khoa học thực nghiệm đều biết rằng sách, dù là sách chuyên khảo, chỉ là tập hợp những công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tập san. Trong ngành y, sinh viên ít khi học từ sách, mà học từ các bài báo khoa học trên các tập san khoa học, bởi vì sách thường lạc hậu hơn tập san.    Do đó, không nên quan trọng hóa việc đánh giá hay cho điểm sách như là một tiêu chuẩn đề bạt chức danh GS/PGS, bởi vì sách không có giá trị như là những công trình nghiên cứu trên các tập san khoa học có IF cao. Ở nước ngoài, các hội đồng khoa bảng khi duyệt đơn đề bạt giáo sư ít khi quan tâm đến sách.    Giáo sư giảng dạy và giáo sư kiêm nhiệm. Theo qui định mới, “điểm sàn” của giáo sư kiêm nhiệm cao gấp 2 lần giáo sư giảng dạy, và tôi xem đây là một điều bất bình thường, không hợp lí. Hình như có một sự nhầm lẫn về giáo sư kiêm nhiệm và giáo sư giảng dạy.    Ở nước ngoài, các đại học có 2 thành phần giáo sư mà (tùy theo trường) họ gọi là “academic professor” và “conjoint professor”. Academic professor là những giáo sư thuộc biên chế chính thức của đại học, họ nghiên cứu và giảng dạy trong đại học, và họ hưởng lương từ trường đại học. Đây có lẽ là “giáo sư giảng dạy” theo qui định của Hội đồng chức danh. Chức danh “conjoint professor” thường được áp dụng cho những chuyên gia hay nhà khoa học thuộc các trung tâm nghiên cứu, bệnh viện, thậm chí công ty kĩ nghệ tư nhân có quan hệ mật thiết với trường đại học (như nhận sinh viên thực tập, hay có đóng góp cho các chương trình đào tạo của trường đại học).  Những conjoint professor không thuộc biên chế của trường đại học, tức không nhận lương bổng từ trường đại học. Đây có lẽ là những “giáo sư kiêm nhiệm” theo qui định của Hội đồng chức danh.                 GS. Ngô Như Bình tại Đại học Harvard   Xét duyệt đề bạt chức danh GS/PGS               ở Úc và Mỹ          Ở nước ngoài, mà cụ thể là Úc và Mỹ, các đại học xét duyệt đề bạt chức danh GS/PGS dựa vào 4 tiêu chuẩn chính: thành tựu nghiên cứu khoa học (research output) giảng dạy và đào tạo (teaching & training), lãnh đạo (leadership), và phục vụ (services).                Thành tựu nghiên cứu khoa học bao gồm số lượng và chất lượng công trình nghiên cứu đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngoài ra, các bằng sáng chế (patents) cũng được xếp trong tiêu chí này.  Hội đồng khoa bảng dựa vào những chỉ số như hệ số IF của tập san và chỉ số H của cá nhân ứng viên. Không có con số cụ thể về IF để đánh giá chất lượng cao hay thấp, bởi vì IF quá tùy thuộc vào từng bộ môn khoa học, nhưng nói chung, hội đồng chú ý đến những bài báo được công bố trên những tập san hàng đầu trong chuyên ngành. Chỉ số H rất quan trọng, vì đây là chỉ số quyết định một phần sự thành bại của ứng viên. Các trường đại học danh tiếng và lớn ở Mỹ thường đòi hỏi ứng viên phải có chỉ số H tối thiểu là 15 (thường là 20) để được đề bạt chức danh giáo sư.                Giảng dạy và đào tạo. Những chỉ tiêu về số môn học (course) mà ứng viên thiết kế và giảng dạy. Ứng viên phải trình bày rất chi tiết về số sinh viên, đánh giá của sinh viên ra sao, và thành tựu trong giảng dạy.  Tôi từng thấy có ứng viên đem cả băng video và DVD, kèm theo những kết quả thăm dò ý kiến của sinh viên về môn học, để chứng minh khả năng giảng dạy của mình cho hội đồng khoa bảng xem xét.              Lãnh đạo. Không có những thước đo cụ thể về tiêu chuẩn này, nhưng những “tín hiệu” sau đây được xem là liên quan đến “lãnh đạo”: được mời viết xã luận, bình luận, bài tổng quan, được mời thuyết giảng trong các hội nghị lớn tầm quốc tế (còn gọi là invited lecture, keynote lecture, v.v…) mà ban tổ chức tài trợ hoàn toàn, được mời tham gia soạn thảo chương trình khoa học cho hội nghị, đóng vai trò chủ tọa hội nghị, v.v…               Phục vụ. Gồm những đóng góp cho các tập san khoa học trong vai trò phản biện, bình duyệt, hay cao hơn là được mời làm thành viên của ban biên tập, hoặc tổng biên tập và phó biên tập của các tập san khoa học quốc tế; những cống hiến bình duyệt đơn xin tài trợ, bình duyệt luận án tiến sĩ cho các đại học nước ngoài, tham gia bình duyệt đơn xin đề bạt của đồng nghiệp nước ngoài…           Vì là kiêm nhiệm, cho nên tiêu chuẩn để được đề bạt chức danh conjoint professor thường thấp hơn tiêu chuẩn cho một giáo sư khoa bảng. Chẳng hạn như nếu một academic professor (giáo sư khoa bảng) cần phải có 50 bài báo khoa học để được đề bạt, thì giáo sư kiêm nhiệm chỉ cần 25 bài. Nhưng ở Việt Nam tiêu chuẩn này ngược lại: giáo sư kiêm nhiệm có tiêu chuẩn cao hơn giáo sư giảng dạy! Tôi nghĩ cần phải xem xét lại tiêu chuẩn này.     Số người bình duyệt đơn đề bạt. Theo qui định mới, một hồ sơ đề bạt sẽ được duyệt xét bởi 3 người (thay vì 2 như trước đây). Theo tôi, chỉ 3 người duyệt hồ sơ vẫn chưa đủ. Duyệt đơn đề bạt của một cá nhân rất quan trọng vì quyết định có ảnh hưởng đến sự nghiệp của ứng viên, cho nên cần phải có nhiều ý kiến. Ở nước ngoài, các đại học thường cần đến 7 hay 8 chuyên gia bình duyệt độc lập, trong số này có ít nhất là 2 người từ nước ngoài.     Vài đề nghị   Tôi thấy những tiêu chí và tiêu chuẩn mới công bố rất máy móc, tính toán theo kiểu “cân đo đong đếm”. Ngoài ra, tiêu chuẩn tiếng Anh có thể cần thiết nhưng tôi thấy khá mù mờ, vì rất khó định nghĩa được thế nào là “có khả năng giao tiếp”. Vì vậy tôi đề nghị một số điều sau đây:    Phân chia ngạch đề bạt. Ở nước ta có nhiều người mà nhiệm vụ chính là giảng dạy, và xét phong giáo sư cho những người này không nên đặt nặng vào những tiêu chí liên quan đến nghiên cứu khoa học. Do đó, cần phải có những tiêu chuẩn cho những người chuyên về giảng dạy, nghiên cứu, và thậm chí phục vụ. Thật vậy, có người tuy không giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng có thành tích trong việc phục vụ và quản lí, thì Hội đồng chức danh cũng nên có cơ chế để công nhận đóng góp của họ.    Không nên có những tiêu chuẩn cứng nhắc theo kiểu cân đo đong đếm. Những chỉ số Z mà tôi đề nghị cũng chỉ mang tính tham khảo hơn là dựa vào đó để đánh giá cao thấp, bởi vì đánh giá như thế đòi hỏi nhiều khía cạnh khác chứ không phải chỉ công bố quốc tế. Trái với các tiêu chuẩn trong nước về đề bạt chức danh khoa bảng bằng cách tính điểm bài báo, ở nước ngoài người ta không có những điểm cụ thể, mà chỉ đánh giá mang tính nửa lượng nửa chất. Về lượng, họ xem xét đến hệ số ảnh hưởng của tập san, chỉ số trích dẫn của các bài báo khoa học đã công bố, và nhất là chỉ số H của ứng viên. Họ không đề ra những con số bài báo cụ thể phải là bao nhiêu để được đề bạt. Những chỉ số chỉ mang tính tham khảo, vì họ còn phải đánh giá số lượng bài báo được mời đóng góp hay những lần giảng tại hội nghị quốc tế được ban tổ chức mời và chi trả.  Vận dụng tối đa hệ thống bình duyệt (peer review). Ở một số nước việc bình duyệt chức danh khoa bảng được thực hiện bằng cách bỏ phiếu kín, nhiều trường ở Úc và Mỹ, người ta sử dụng hệ thống bình duyệt do chính các đồng nghiệp của ứng viên làm. Triết lí đằng sau cách làm này là chỉ có đồng nghiệp cùng chuyên môn với ứng viên là những người đánh giá chính xác nhất về thành tựu và uy tín của ứng viên. Một số đơn mà người viết bài này bình duyệt, hội đồng chức danh yêu cầu ứng viên tự chỉ ra trong đơn là họ tương đương với ai trên thế giới. Ngoài ra, hội đồng chức danh còn yêu cầu người bình duyệt chỉ ra thành tựu của ứng viên có thể xếp vào loại nào và tương đương với ai trên thế giới. Nói tóm lại, việc để cho đồng nghiệp trong và ngoài đánh giá còn đảm bảo tính khách quan trong quá trình đề bạt.   Tính minh bạch. Tất cả các chi tiết về thủ tục và tiêu chuẩn đề bạt cho từng chức vụ đều được phổ biến trên Internet. Ngoài ra, danh sách những người trong hội đồng phỏng vấn và lĩnh vực nghiên cứu cần được công bố cho ứng viên biết trước. Thành phần hội đồng phỏng vấn được tuyển chọn sao cho đảm bảo bình đẳng giới tính, khoa học và ngoài khoa học, trong và ngoài đại học, v.v…Tính minh bạch còn thể hiện qua qui định ứng viên có quyền được xem các báo cáo bình duyệt của đồng nghiệp. Ngoài ra, phải có cơ chế để ứng viên “khiếu nại” nếu đơn xin đề bạt không thành công.   Cố nhiên, tình hình thực tế ở nước ta không thể ứng dụng các tiêu chuẩn Âu Mỹ để đề bạt giáo sư, nhưng tôi nghĩ có thể dựa vào các tiêu chí quốc tế như là một bước đầu trong quá trình hội nhập quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khách quan và bình lắng nhìn về một quá khứ đầy xung đột      Tiếp theo bài phỏng vấn GS Trịnh Văn Thảo kỳ trước, kỳ này TS Nguyễn Thụy Phương tiếp tục phỏng vấn GS Pierre Brocheux, người sinh ra ở Việt Nam và chứng kiến nhiều biến động lịch sử trên mảnh đất này. Điều đó đã thôi thúc Pierre Brocheux đồng hành với sự hồi sinh, phát triển ngành Việt Nam học ở Pháp từ những ngày đầu tiên trong thời kỳ hậu thuộc địa.      GS Pierre Brocheux.  TS. Nguyễn Thụy Phương: Những lý do nào khiến GS chọn theo nghiệp nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Á Đông?  GS Pierre Brocheux: Tôi sinh ra và lớn lên trong một xã hội thuộc địa, nơi mà nòi giống chủng tộc được coi là tiêu chuẩn để phân cấp nấc thang xã hội. Giống nòi ấn định vị trí của anh trong xã hội. Ngay từ rất sớm tôi đã ý thức được mình mắc kẹt trong địa vị người con lai Á-Âu đầy bất tiện, mâu thuẫn và khó xử, rằng với địa vị pháp lý là công dân Pháp, về mặt lý thuyết anh ta ở thành phần thống trị trong xã hội nhưng điều đó lại không tương ứng với cương vị nghề nghiệp xã hội thực tế.  Tuy nhiên, lý do thứ hai mang tính quyết định, đó là vì bối cảnh, trật tự xã hội và không khí chính trị tôi sống lúc đó đã hoàn toàn bị đảo lộn bởi Đại chiến thế giới lần hai. Pháp bị Đức chiếm đóng. Tại Đông Dương, Nhật làm đảo chính, người Việt Nam đủ mọi thành phần chính trị nổi dậy đòi độc lập, khiến cho sự thống trị bá quyền của tộc da trắng đế quốc Tây phương bị lung lay trên toàn châu Á. Tôi nhận thức rõ về sự bấp bênh của trật tự thuộc địa và khả năng dễ bị kích động của quần chúng.  GS từng giảng dạy nhiều năm ở một trường trung học Pháp tại Sài Gòn ?  Sau khi đỗ chứng chỉ dạy trung học (CAPES), tôi xin về Việt Nam đi dạy tại trung học Jean-Jacques Rousseau. Tôi dạy lịch sử và địa lý. Ban đầu, ý định của tôi chỉ là về hai năm để thăm và đưa vợ con về ra mắt cha mẹ, nhưng cuối cùng gia đình tôi đã ở lại Sài Gòn tới tám năm.  Trong thời gian này, thông qua việc dạy sử, GS đã cố gắng dựng cầu nối giữa sử Việt và sử thế giới ?  Môn sử-địa được dạy theo chương trình Pháp ở trung học Jean-Jacques Rousseau nhưng chương trình này không hề lấy Pháp hay châu Âu làm trọng điểm mà mở rộng ra sử thế giới, đặc biệt là ở lớp 12. Năm học 1963-1964, cùng với hai đồng nghiệp Philippe Langlet và Roger Legay, chúng tôi soạn những bài giảng tập trung vào lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á. Chương trình này dành 15 tiếng/tuần để dạy tiếng Việt, sử Việt và văn Việt. Những môn học này đều do các giáo viên Việt đảm nhận.  Sự hồi sinh của nghiên cứu thuộc địa bắt đầu từ khi nào và nó diễn ra như thế nào thưa GS ?  Nhìn từ Việt Nam, sự hồi sinh của nghiên cứu thuộc địa nói chung và Việt Nam học nói riêng bắt đầu từ Đổi Mới, bắt đầu bằng sự mở cửa của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Hà Nội năm 1993, tiếp đến là Viện nghiên cứu phát triển Pháp (IRD). Nếu các trung tâm lưu trữ quốc gia mở cửa cho những nhà sử học ngoại quốc thì ở những lĩnh vực khác, những nhà kinh tế học, nhân chủng học, nông học, xã hội học, dân tộc học… cũng bắt đầu đến thực địa nghiên cứu ở Việt Nam. Hợp tác khoa học và kỹ thuật nảy nở thông qua rất nhiều hội thảo và công bố ấn phẩm. Trong tiến trình này nhất thiết phải nhắc đến rất nhiều nhà nghiên cứu đi ra từ Việt Nam bảo vệ luận án tiến sỹ tại nước ngoài. Loại bỏ đi những thiên kiến, họ đã diễn giải lại lịch sử của chính đất nước mình.  Tại Pháp, sự hồi sinh này được đánh dấu bởi việc Tạp chí Lịch sử Hải ngoại xuất bản một hồ sơ nhan đề “Đông Dương: thống trị và thỏa hiệp” vào năm 1995 với năm bài viết về chính trị, tôn giáo, giáo dục và y tế. Các công trình nghiên cứu về tương tác và tiếp biến văn hóa nảy nở kể từ 2005 ở những đề tài kiến trúc, văn hóa, chính trị, nghệ thuật, văn học…, đơn cử là những cuốn như: Le Viet Nam au féminin/Vietnam: Women’s Realities [Việt Nam ở khuôn mặt nữ giới] của G. Bousquet và Nora Taylor, Architectures du Vietnam colonial: Repenser le métissage [Kiến trúc Việt Nam thời thuộc địa : tư duy lại về sự lai tạo] của Caroline Herbelin, Théâtres français et vietnamiens (un siècle d’échanges. 1900-2008): Réception, adaptations, métissage [Sân khấu Pháp và Việt Nam một thế kỷ giao lưu : tiếp nhận, phóng tác, lai tạo] do Nguyễn Phương Ngọc và C. Flicker chủ biên, Le Vietnam, une histoire de transferts culturels [Việt Nam : một lịch sử chuyển giao văn hóa] do Hoài-Hương Aubert-Nguyễn và Michel Espagne chủ biên…  GS Pierre Brocheux sinh ra ở Chợ Lớn – Sài Gòn năm 1931. Cha ông là người Pháp đến lập nghiệp ở Đông Dương năm 1929, mẹ ông xuất thân trong một gia đình Việt nhập tịch Pháp trong thời thuộc địa. Ông học từ tiểu học đến trung học trong trường Pháp tại Việt Nam, nơi pha trộn những chủng tộc, văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Không chỉ có tuổi thơ gắn với bản địa, khi trưởng thành Pierre Brocheux còn từng tham gia các hoạt động xã hội và trải qua một số sự kiện lịch sử quan trọng như tham dự hai cuộc biểu tình lớn đòi độc lập cho Việt Nam của những lực lượng chính trị đối lập nhau: Đảng Cộng sản dưới danh nghĩa Việt Minh, Thanh Niên Tiền Phong, Phục Quốc Hội, Dân Xã Hội, nhóm trotskyste. Sau này, Pierre Brocheux sang Paris học tú tài, rồi theo học cử nhân và tiến sỹ ngành sử ở Đại học Sorbone. Luận án của ông bảo vệ năm 1969 về đề tài đồng bằng sông Cửu Long trong một thế kỷ (1860-1960) dưới lăng kính dân cư Nam bộ chứ không phải lịch sử thuộc địa.  Ông là một trong những GS đầu tiên giảng dạy Việt Nam học tại Khoa Ngôn ngữ và văn minh Á Đông (LCAO) của Đại học Paris Diderot. Hãy kể cho chúng tôi sự hình thành của Ban Việt học trong trường này ?  Đầu những năm 1970, Chính phủ Pháp quyết định thành lập thêm tám trường đại học mới trong nội thành Paris. Những giảng viên biên chế được phân bổ về những trường mới này tùy vào thiên hướng chính trị, triết học hay sư phạm. Tại Đại học Paris 7, các giáo sư sử chủ trương không dạy sử theo “bộ tứ”: Cổ đại, Trung cổ, Hiện đại và Đương đại, mà nhấn mạnh đến lịch sử đối chiếu và mở ra không gian ngoài Âu châu. Thời điểm đó tôi chọn Paris 7 để được tiếp tục làm việc với GS Jean Chesneaux, từng hướng dẫn luận án cho tôi. Ông khai mở ngành sử mới ở ĐH này, lịch sử Á Đông. Tại đây, tôi gặp lại hai nhà sử học Daniel Hémery và Georges Boudarel. Trên thực tế, tôi không thuộc biên chế của khoa LCAO mà là khoa Sử, Địa, Khoa học xã hội. Nhà nghiên cứu sử học đầu tiên được tuyển vào khoa này là Philippe Langlet, người đã dịch Khâm định Việt sử thông giám cương mục sang tiếng Pháp và chuyên gia về lịch sử Phật giáo Việt Nam.    GS Pierre Brocheux là một trong những người đầu tiên giảng dạy về Việt Nam học tại Khoa Ngôn ngữ và văn minh Á Đông (LCAO) của Đại học Paris Diderot (ĐH Paris 7). Ảnh: Đại học Paris Diderot. Tác giả: Thuỵ Phương.  GS đã viết hai cuốn sách về Hồ Chí Minh. Vì sao ông lại chọn nhân vật lịch sử này ?  Ban đầu, tôi quan tâm đến lịch sử nông thôn và giai cấp nông dân, và thế giới lao động nói chung, đấy là giai đoạn “mác xít” của tôi. Nhưng tôi cũng hiểu ngay ra rằng không thể nào tách biệt ra khỏi bối cảnh xã hội. Vì vậy tôi nghiêng về lịch trình của toàn bộ xã hội Việt Nam: tư sản thành thị, giới trí thức mang tư tưởng hiện đại hoặc canh tân hoặc cách mạng. Chính tại nút giao này tôi gặp Hồ Chí Minh. Nhân vật này đại diện cho một xã hội đang trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ, tự tìm đường trong thế kỷ 20 toàn cầu hóa đầy thảm kịch: sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc và hai cuộc đại chiến. Lúc đầu tôi chỉ viết một bài báo ngắn tiêu đề “Hồ Chí Minh, Marx và Khổng Tử” đã gây chú ý đến hai nhà xuất bản Presses Sciences Po và Payot. Từ đó mà hai cuốn sách ra đời.  GS có thể đưa ra nhận định so sánh về những nhà Việt Nam học người Mỹ và người Pháp của thế hệ ông?  Các công trình khoa học của tôi được nghiên cứu đúng vào giai đoạn chiến tranh Việt Nam, thời điểm mà cả thế giới là một sân khấu của các phong trào cách mạng. Những giáo sư, giảng viên Pháp và Mỹ như chúng tôi có quan hệ mật thiết với nhau cả trên cương vị đồng nghiệp và tình bạn. Nhiều người trong số họ và chúng tôi tham gia vào phong trào quốc tế phản chiến tại Việt Nam. Về mặt học thuật, chúng tôi quan tâm đến giai đoạn thuộc địa, các phong trào cách mạng, độc lập, phản đế. Khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam thống nhất, khi phong trào Thế giới Thứ ba và khối Xô viết tan vỡ, những mối bận tâm học thuật của chúng tôi dần thay đổi hoặc chuyển hướng.  Theo ông, những chính sách đổi mới, mở cửa của Việt Nam tác động như thế nào đến việc nghiên cứu của ngành Việt Nam học trên thế giới?  Hai sự kiện quan trọng: một là việc mở cửa những kho lưu trữ ở Việt Nam và hai là, các nhân chứng hay tác nhân của lịch sử bắt đầu kể, nói hoặc viết, và điều này dẫn đến hệ quả cho hai ngành sử: lịch sử thuộc địa và lịch sử Việt Nam. Những công trình gần đây quan tâm đến mối tương tác và trao đổi giữa thực dân và bị trị và kết quả của những tương tác này là sự hình thành nên tính hiện đại của Việt Nam. Các nhà sử học cũng quay về quá khứ trên những địa hạt khác như khảo cổ, lịch sử tôn giáo, nghệ thuật và văn học… với mục đích đối chứng quá khứ với hiện tại, giữa cái cũ và cái mới. Ở mảng này, các nhà nghiên cứu sử Pháp làm ra những công trình xuất sắc làm hồi sinh ngành phương Đông học vốn bị chỉ trích là cổ lỗ từ vài thập niên. Phía các nhà sử học Mỹ, họ lưu tâm đến cổ sử Việt Nam. Một số khác khảo cứu lại lịch sử Việt Nam Cộng hòa hoặc đào sâu vào lịch sử thể chế Bắc Việt. Tôi nghĩ rằng các nhà sử học Pháp và Mỹ đã chọn đúng hướng khi giải đáp những chất vấn của hiện tại về quá khứ và quay lưng hẳn với những luận chiến phản đế giản đơn. Những cuốn quan trọng trong thời gian gần đây theo tôi là: A History of Vetnamese [Một lịch sử của người Việt] của K.W. Taylor, Vietnam, A New History [Một lịch sử mới] của C. Goscha, Misalliance, Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam [Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ và số phận của miền Nam Việt Nam] của Edward Miller, Vietnam. A history from earliest to Time to the Present [Việt Nam. Một lịch sử từ khởi thủy cho tới hiện đại và đương đại] của Ben Kiernan…  Xin chân thành cảm ơn GS!  Nguyễn Thụy Phương thực hiện    Một trong số những xuất bản phẩm tiêu biểu của GS Pierre Brocheux là cuốn Hồ Chí Minh: Một tiểu sử (nguyên văn bằng tiếng Pháp, được Claire Duiker chuyển ngữ sang tiếng Anh, nhà xuất bản ĐH Cambridge University ấn hành năm 2007). Tiểu sử này đã cho thấy nhiều biến cố cuộc đời của Hồ Chí Minh, từ khởi đầu sự nghiệp cách mạng đầy khó khăn cho tới giai đoạn lãnh đạo nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và mất vào năm 1969. Theo GS David G. Marr, Đại học Quốc gia Úc, cuốn tiểu sử là “Một công trình nghiên cứu có cách tiếp cận tinh tế nhất về nhân vật lịch sử phức tạp cũng như biểu tượng Hồ Chí Minh mà tôi đã được đọc từ trước đến nay. GS Brocheux cho chúng ta thấy cách kiến giải riêng của ông về Hồ Chí Minh mà không bị sa vào lối viết mang tính giả tưởng”. Các xuất bản quan trọng khác của ông gồm: Hémery, Daniel et Brocheux, Pierre Indochine, la colonisation ambiguë [Đông Dương, nền thuộc địa mơ hồ], Paris, La Découverte, coll. “Textes à l’appui/ série histoire contemporaine”], 1995, 427 pp. Hô Chi Minh, du révolutionnaire à l’icône [Hồ Chí Minh, Từ nhà cách mạng tới một biểu tượng], Payot, 2003 tựa bản dịch tiếng Anh (Vietnam Expose, and New biography of Ho Chi Minh). Une histoire économique du Viet Nam. 1850-2007. La palanche et le camion [Một lịch sử kinh tế của Việt Nam: 1850-2007: Đòn gánh và Xe cam-nhông], Les Indes savantes 2009. The Mekong Delta. Ecology, Economy and Revolution. 1860-1960 [Châu thổ Cửu Long giang: Sinh thái, Kinh tế và Cách mạng]. Wisconsin University Press, deuxième édition 2009. Histoire du Vietnam contemporain. La nation résiliente [Lịch sử Việt Nam đương đại: Một dân tộc bền bỉ] , Fayard, 2011.  Bảo Như    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Khai dân trí      Đại sứ Hoa Kỳ Michael Marine đã có buổi nói chuyện ngắn, nhưng lý thú, vào chiều ngày 20/9/2006 tại Sài Gòn về quan hệ Việt-Mỹ. Ông đã có một số nhận xét đáng chú ý về nạn tham nhũng nghiêm trọng và sự thiếu minh bạch của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Sau bài phát biểu là phần hỏi đáp theo thông lệ. Thính giả hôm ấy, ngoài báo giới, phần đông là giới trí thức ở những lĩnh vực khác nhau, một số có tên tuổi trong xã hội.         Người thông thái không đến từ câu trả lời mà từ câu hỏi. Nghe nội dung và cách hỏi người ta có thể nhận biết được người hỏi ở thang bậc nào của chỉ số trí tuệ, và thậm chí, văn hóa. Tất cả những câu hỏi hôm ấy, đáng buồn thay, không thể hiện được tầm vóc của “trí tuệ Việt” mà thiên hạ đang cổ súy. Dù vậy, nhận định vui hay buồn về “trí tuệ Việt” không phải là chủ đề của bài viết này.    Buổi nói chuyện ngắn về đề tài ngoại giao của ông Đại sứ Mỹ chiều hôm ấy khiến người ta ưu tư về một đề tài khác không kém phần quan trọng, đó là giáo dục. Trong số những người đặt câu hỏi hôm ấy, đáng chú ý có một vị xưng danh là “chuyên gia kinh tế”. Vị này hỏi rằng Việt Nam nên theo đuổi chính sách phát triển kinh tế nào khi mà nền kinh tế tự do luôn mang đến nhiều bất ổn xã hội và rối loạn chính trị, với bằng chứng là ở Thái Lan ngày 19/9/2006 đã xảy ra đảo chính quân sự!  Thính giả hôm ấy quả thật kinh ngạc trước lối tư duy như vậy. Ai cũng biết cuộc chính biến vừa qua ở Thái Lan không những không mang đến bất ổn xã hội mà còn giúp giải quyết tình trạng rối loạn chính trị đang đi đến cực điểm do nạn tham nhũng bất trị của Chính phủ Thaksin Shinawatra gây ra, chứ không phải xuất phát từ chính sách kinh tế tự do của ông cựu Thủ tướng này. Mặt khác, trên thực tế, hoàn toàn không có bất kỳ mối liên hệ nhân quả nào giữa chính sách kinh tế tự do với đảo chính quân sự, bất ổn xã hội và rối loạn chính trị. Có thể kể ra nhiều bằng chứng hiển nhiên ngược lại với nhận định nông cạn ấy.  Rõ ràng những suy nghĩ kiểu như trên là điều thường thấy trong một nền giáo dục ít quan tâm đến việc trang bị cho cá nhân những kiến thức khả dụng và kỹ năng phân tích độc lập. Niềm tin của vị “chuyên gia” đó chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về những “định đề”, đặc biệt trong lĩnh vực sử học, đã gắn chặt vào đầu óc các thế hệ sinh viên Việt Nam sau khi họ được nhào nắn khéo léo trong khuôn khổ nền giáo dục hiện tại. Ai cũng tưởng lời thuyết giảng trên giảng đường là chân lý bất biến, không cần chứng minh, kể cả những người hay hoài nghi và tin rằng mình khá tự chủ.  Nhìn vào hệ thống giáo dục từ trước đến nay có thể dễ dàng nhận thấy rằng việc đề cao suy nghĩ cá nhân và phương pháp nghiên cứu độc lập hoàn toàn thiếu vắng tại các trường trung học và giảng đường đại học. Mục tiêu giáo dục chỉ nhằm nhồi nhét kiến thức đủ để đối tượng của nền giáo dục trở thành những chiếc đinh ốc chỉ biết nhảy múa theo nhịp điệu vận hành của cỗ máy nhà nước và xã hội đã được hoạch định sẵn chương trình hoạt động theo “cơ chế”.    Học sinh và sinh viên thì lười biếng tìm hiểu nguồn gốc và cơ sở của các kiến thức và thông tin được “mớm” cho mình, vì bậc cha chú và thầy cô không khuyến khích thói quen tranh luận, đối thoại, và thậm chí từ chối thừa nhận dấu ấn cá nhân trong nhân sinh quan. Giới nghiên cứu học thuật thì lờ đi hoặc ít quan tâm đến việc chú giải chi tiết nguồn gốc thông tin mà mình viện dẫn trong các công trình và luận án khoa học, vì có vẻ khắp nơi người ta mặc nhiên ăn cắp ý tưởng của người khác mà không cảm thấy ngần ngại hay xấu hổ.  Mặt khác, chưa bao giờ ở xã hội Việt Nam lại có nhiều tiến sĩ như vậy. Một thời dân chúng nhạo báng quan chức không được học hành tử tế, nhưng giờ đây, như để tránh ánh mắt miệt thị của dân chúng, vị quan to nào cũng rủng rỉnh một mảnh bằng tiến sĩ hoặc chí ít là thạc sĩ. Nạn mua bán bằng cấp do tâm lý chuộng nhãn hiệu trí tuệ bề ngoài hơn thực học báo hiệu thực trạng suy đồi không tránh khỏi của nền giáo dục cùng hệ lụy của nó là suy đồi đạo đức.  Cải cách giáo dục tại Việt Nam xem ra là một vấn đề nan giải, không chỉ đơn thuần được giải quyết bằng cách trả lương cao cho giới giáo chức hoặc tăng cường kiểm soát quy trình soạn thảo nội dung sách giáo khoa. Thật ra, tương lai hệ thống đào tạo nhân tài cho quốc gia tùy thuộc vào việc khi nào nhà nước chấm dứt sự can thiệp nghiệt ngã vào nội dung giảng dạy ở bậc trung học và đào tạo ở bậc đại học. Giáo dục là một lĩnh vực chuyên môn cần được dành quyền tự trị một cách tối đa. Chỉ người tiêu dùng, tức phụ huynh trả tiền cho con em đi học và chính người đi học, có quyền thẩm định chất lượng sản phẩm giáo dục của các cơ sở đào tạo. Không cần quá lo ngại tình trạng lừa đảo thường thấy trong hoạt động đào tạo vì luật pháp và xã hội đã có đủ những công cụ cần thiết để xử lý.  Dân trí chỉ có thể được “khai hóa” khi người dân được cung cấp kiến thức và thông tin đa chiều để tự mình thẩm định và tiếp nhận nội dung của kiến thức và thông tin ấy. Trường lớp, một công cụ của giáo dục, chỉ thủ giữ vai trò hướng dẫn và cung cấp phương pháp tư duy và phân tích cho đối tượng của nền giáo dục. Người dân, khi tranh luận, thậm chí thách thức, những kiến thức và thông tin sai lệch sẽ không gặp rắc rối về phương diện pháp lý với nhà cầm quyền, hay tối thiểu cũng nhận được sự bảo đảm và bảo vệ của luật pháp. Chỉ như vậy thì nền giáo dục mới hoàn thành được trọng trách “khai dân trí” của mình.        Lê Công Định    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI      Sáng nay 12-1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chính thức khai mạc tại Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội với sự tham dự của 1.377 đại biểu.    Theo chương trình đại hội, sau lễ khai mạc, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ đọc báo cáo chung về các văn kiện Đại hội XI. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang sẽ đọc báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Buổi chiều, các đại biểu tập trung thảo luận văn kiện đại hội tại từng đoàn.  Cũng theo chương trình đã công bố, Đại hội XI sẽ bế mạc ngày 19-1. Tại phiên bế mạc, các đại biểu sẽ nghe báo cáo kết quả biểu quyết một số vấn đề trong các văn kiện đại hội, kết quả bầu Bộ Chính trị, tổng bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra trung ương, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.  Đại hội cũng sẽ thông qua toàn văn điều lệ Đảng, nghị quyết đại hội và tổng bí thư khóa mới phát biểu bế mạc đại hội.   Phiên khai mạc và bế mạc được tường thuật trực tiếp trên VTV và VOV.  Sáng 11-1, sau khi vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đại biểu dự Đại hội XI đã họp phiên trù bị để bầu đoàn chủ tịch, đoàn thư ký, ban thẩm tra tư cách đại biểu và thông qua quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại đại hội.  ……………………………  TIẾNG NÓI CỦA ĐẠI BIỂU   * Ông LÊ HOÀNG QUÂN (ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch UBND TP.HCM):    Góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách  TP.HCM mong Đại hội XI thảo luận, đưa ra những quyết sách quan trọng đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới, đồng thời lựa chọn những người tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, trí tuệ bầu vào Ban chấp hành Trung ương khóa mới.  Tại đại hội, đoàn đại biểu TP.HCM sẽ trình bày bài tham luận tập trung vào vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì đây là nhiệm vụ trung tâm song song với nhiệm vụ xây dựng Đảng. TP.HCM với vị trí là trung tâm kinh tế của cả nước sẽ đóng góp những thực tiễn của mình trong quá trình phát triển cho đại hội để góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế trong thời kỳ mới.  Một đóng góp ý nghĩa và hết sức cụ thể cho đại hội là TP.HCM khẳng định quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 12%/năm, sẽ góp phần cho mục tiêu chung của cả nước là GDP tăng trưởng 7-7,5%/năm.  * Ông PHẠM XUÂN ĐƯƠNG (bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên):  Bầu người đủ đức, đủ tài vào Trung ương  Đại hội lần này sẽ quyết định nhiều vấn đề về vận mệnh đất nước trong thời kỳ mới. Tôi quan tâm hai vấn đề: Thứ nhất là các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra tại đại hội, chẳng hạn vấn đề tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững để 10 năm tới nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.  Thứ hai là việc bầu Ban chấp hành Trung ương khóa mới phải chọn được những người đủ đức, đủ tài để tham gia vào bộ máy lãnh đạo cao nhất của đất nước.  Hiện nay điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, chúng ta nên tập trung đầu tư vào những địa bàn, lĩnh vực có thế mạnh để phát triển kinh tế, từ đó mới có nguồn lực tiếp tục hỗ trợ những vùng khó khăn. Còn với những địa bàn khó khăn nên có chương trình mục tiêu riêng, dùng ngân sách quốc gia, ngân sách địa phương cũng như đóng góp của xã hội để cải thiện đời sống của người dân.  Bên cạnh những vấn đề dài hạn, trước mắt chúng ta cần tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Đặc biệt phải nâng cao công tác dự báo tình hình sao cho sát với thực tế.  * Chị VƯƠNG THỊ MỴ (đại biểu trẻ nhất đại hội):  Những quyết sách phù hợp thực tế  Lần đầu tiên đến thủ đô Hà Nội để dự Đại hội lần thứ XI của Đảng, Vương Thị Mỵ (sinh năm 1982, công tác tại UBND xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) là đại biểu trẻ nhất và duy nhất dưới 30 tuổi tại đại hội.  Mỵ nói: “Tôi được kết nạp Đảng năm 2007. Quê hương chúng tôi là “thủ đô kháng chiến”, nơi đã diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng. Dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới, đời sống của người dân Tuyên Quang, trong đó có người Mông chúng tôi, đã khá hơn nhiều so với trước đây. Tham dự đại hội lần này, tôi sẽ cùng với các đại biểu khác hết lòng, hết sức đóng góp cho công việc chung của Đảng và của đất nước. Cá nhân tôi kỳ vọng đại hội sẽ đề ra được những quyết sách phù hợp với thực tế đời sống người dân, giúp cho mỗi cá nhân có cơ hội phát triển tốt hơn”.  * Bà VÕ THỊ DUNG (phó chủ tịch thường trực Ủy ban MTTQ VN TP.HCM):    Cụ thể hóa chủ trương giám sát, phản biện  Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng là vấn đề lớn nhưng quan trọng là đổi mới như thế nào để Đảng phát huy được dân chủ trong Đảng, trong xã hội. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo nhưng cần phân định rõ vai trò của từng vị trí trong hệ thống chính trị. Ví dụ như vai trò, vị trí của Mặt trận cần được xác định rõ ràng bằng thể chế, pháp luật để từ đó Mặt trận và đoàn thể mới đại diện cho lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, là nơi tập hợp, phát huy trí tuệ của nhân dân đóng góp vào xây dựng chủ trương, đường lối.  Đại hội lần X đã đặt ra vấn đề giám sát và phản biện xã hội. Chúng tôi mong muốn Đại hội XI cụ thể hơn chủ trương này. Không chỉ dừng lại ở nghị quyết mà cần thể chế hóa bằng pháp luật, đồng thời có cơ chế phát huy đóng góp của các tầng lớp nhân dân, trước hết là những đóng góp vào xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng.  Hiện nay, vai trò giám sát của Mặt trận chỉ là giám sát nhân dân, hay nói cách khác là chỉ phản ảnh, kiến nghị, còn việc tiếp thu, giải quyết như thế nào chưa có cơ chế phản hồi. Do đó, cần có ràng buộc các cơ quan chức năng phải phản hồi các phản ảnh, kiến nghị của Mặt trận.  ……………………………    Ý KIẾN GỬI ĐẠI HỘI  * Ông ĐỒNG SĨ NGUYÊN (nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng):  Làm giàu cho dân nghèo  Đại hội XI sẽ tiếp tục con đường đổi mới. Tôi mong rằng việc thảo luận và thông qua các văn kiện tại đại hội sẽ nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung “dân giàu”. Lâu nay chúng ta thường nói “dân giàu, nước mạnh”, nhưng lần này phải tạo đột phá về cải thiện đời sống người dân. Nói một cách cụ thể, tôi mong đại hội tập trung trí tuệ để đề ra được một chương trình tầm cỡ quốc gia “làm giàu cho dân nghèo”, nhất là nông dân, công nhân và trí thức ở thành thị cũng như nông thôn.  Đây phải là một chương trình có tầm nhìn dài hạn cỡ 20-30 năm, nghĩa là chúng ta mở một cuộc trường chinh mới, không những xóa đói nghèo mà còn tiến lên từng bước làm giàu cho người dân ở nhiều mức khác nhau, sao cho khi kết thúc chương trình thì người dân có mức sống trung lưu trở lên.  * PGS ĐÀO CÔNG TIẾN (nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP.HCM):    Nhìn thẳng vào thực tiễn để có lựa chọn đúng  Tôi quan tâm đến việc các ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện được xử lý thế nào. Các đại biểu hãy xem xét có trách nhiệm những góp ý vào các văn kiện và hiểu được tấm lòng của những người góp ý kiến. Với những vấn đề khó, còn nhiều ý kiến khác nhau cần tổ chức nghiên cứu và giao trách nhiệm cụ thể cho ban chấp hành khóa mới, thậm chí trong nghị quyết cần ghi rõ trách nhiệm này.  Thành tựu đạt được của 25 năm đổi mới cũng như 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là to lớn và rất quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Tôi cho rằng đánh giá này đúng, nhưng cần nhận rõ đó là thành quả của sự phát triển chủ yếu trên diện rộng và về số lượng. Cái giá phải trả cho phương thức phát triển này cùng với những giới hạn của nó cũng đã bộc lộ rõ cả trên khía cạnh lý thuyết và thực tiễn.  Về vấn đề nhân sự, tôi mong muốn có bước chuyển mạnh về trẻ hóa lực lượng, mạnh dạn đưa lớp trẻ lên dù thâm niên trong cấp ủy chưa nhiều.  * Ông SEAN DOYLE (Đại sứ EU tại Việt Nam):    Hai mong đợi  Có hai điểm chúng tôi mong đợi ở Đại hội Đảng lần này. Thứ nhất là hi vọng đại hội sẽ góp phần thúc đẩy tính hiệu suất và ổn định của khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tăng cường tính minh bạch, vì tham nhũng cũng bắt nguồn từ thiếu minh bạch. Thứ hai là đẩy mạnh vai trò của Quốc hội. Trong thời gian qua, Quốc hội VN đã hoạt động rất mạnh mẽ và đây là dấu hiệu của sự tăng cường dân chủ vì Chính phủ và chính quyền lắng nghe những người đại diện cho người dân.  * TRỊNH ĐỨC NGUYÊN (công nhân Công ty Pou Yuen, Q.Bình Tân, TP.HCM):  Mong cải thiện đời sống công nhân  Tôi mong có thêm nhiều chính sách giúp cải thiện đời sống công nhân. Vừa rồi Nhà nước đã tăng lương tối thiểu, đây là tín hiệu vui cho mọi công nhân. Chính sách tăng lương đương nhiên rất được mọi người mong mỏi nhưng cũng cần có biện pháp kiểm soát giá cả để việc tăng lương đem lại hiệu quả nâng cao đời sống cho người lao động.  Nhiều công ty cũng đưa ra các biện pháp hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân nhưng những nơi làm tốt chưa nhiều, Nhà nước cần có chính sách kịp thời, cụ thể để nhân rộng việc này cho công nhân hưởng lợi. Ví dụ như việc xây nhà trẻ cho con công nhân, nếu Nhà nước đề ra chính sách cụ thể để thúc đẩy việc này diễn ra hiệu quả thì công nhân sẽ yên tâm làm việc.    * HUỲNH NHÃ YẾN (SV ĐH Kinh tế – luật, ĐHQG TP.HCM):    Tránh “hắt hủi” nhân tài  Là một sinh viên, tôi mong muốn Đại hội Đảng lần thứ XI sẽ có chiến lược phát triển nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên, cổ vũ những phương pháp dạy hiện đại phát huy tính chủ động, theo hướng sinh viên tự đào sâu, nghiên cứu kiến thức. Tạo nhiều sân chơi nghiên cứu khoa học, sáng tạo và trí tuệ mang tầm vóc quốc tế… Ngoài ra muốn nâng cao chất lượng đào tạo, cần tập trung đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy và học tập trong các trường ĐH-CĐ. Đặc biệt là thư viện, phòng nghiên cứu, phòng khoa học thí nghiệm, phòng vi tính…  Tôi cũng mong Đại hội Đảng lần này sẽ có những chủ trương, chính sách về giải quyết việc làm cho sinh viên mới ra trường. Tránh tình trạng “hắt hủi” nhân tài ở một số tỉnh.          Triển lãm về các kỳ đại hội Đảng  Bảo tàng Hồ Chí Minh vừa khai mạc triển lãm  với chủ đề “Đại hội Đảng Cộng sản VN dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí  Minh”. Triển lãm giới thiệu hơn 200 tài liệu, hiện vật, phim, ảnh… gắn  liền với các kỳ đại hội Đảng. Trước khi giới thiệu về đại hội thành lập  Đảng Cộng sản VN, triển lãm cũng giới thiệu những hình ảnh, hiện vật về  cuộc sống khổ nhục của người dân VN dưới xiềng xích nô lệ, hình ảnh  những người mở đường cho phong trào yêu nước ở VN như Phan Bội Châu,  Phan Châu Trinh, Lương Văn Can… Triển lãm sẽ kéo dài trong khoảng ba  tháng.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Khái niệm “Phát triển bền vững” của Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa      Nếu như có một nhiệm vụ duy nhất của Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa này thì đó phải là và chỉ có thể là phải phát triển bền vững, bởi phát triển bền vững là xu hướng tất yếu mà tất cả nhân loại cần phải hướng tới trong giai đoạn&#160; “tư duy lại, thiết kế lại, vận hành lại” toàn thể và toàn diện mô hình phát triển như hiện nay.    Thách thức đầu tiên và cơ bản nhất đối với nhiệm vụ phát triển bền vững của Việt Nam đó chính là hiểu khái niệm phát triển bền vững của Việt Nam, kiểu Việt Nam là như thế nào. Những định nghĩa về phát triển bền vững của các tổ chức quốc tế, của các học giả đương đại hiện nay chỉ là những định nghĩa có tính chất cơ bản; từ nền tảng cơ bản đó, chúng ta phải định nghĩa ra một nội hàm phát triển bền vững của riêng Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Nội hàm của khái niệm phát triển bền vững cho Việt Nam không thế giống với sự phát triển bền vững của Hoa Kỳ, của Trung Quốc, của Nhật Bản, của Âu châu, của các nước Đông Nam Á khác,… Sự lệ thuộc về mặt khái niệm sẽ là sự khởi đầu cho rất nhiều sự lệ thuộc khác theo sau. Sự tự chủ về mặt khái niệm là tiền đề cho sự chủ động và sáng tạo trong rất nhiều lĩnh vực cho quốc gia Việt Nam.   Theo quan điểm nêu trên, sự phát triển bền vững của Việt Nam cần phải được bổ sung 03 yêu cầu quan trọng để sự phát triển đó phải thật sự bền vững, đó là: phải phát triển đúng với tiềm năng, phải phát triển mạnh hơn sức ép, và phải phát triển xứng với cơ hội. Nếu sự phát triển của Việt Nam với những chỉ số tuyệt đối dù có tốt đến đâu mà vẫn xa với cơ hội, vẫn yếu hơn sức ép, và vẫn kém xa cơ hội thì sự phát triển đó chắc chắn thiếu tính bền vững.   Phát triển đúng với tiềm năng nội tại là một yêu cầu cơ bản vô cùng quan trọng cho Việt Nam. Như chúng ta đã biết, mọi nguồn lực đều được coi là khan hiếm, cần được sử dụng một cách đầy đủ và thông minh, từ nguồn lực của tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, sức lao động đến văn hóa, tri thức, sáng tạo. Sự lãng phí, các tiềm năng còn bị ngủ vùi là thực trạng có tính phổ biến ở Việt Nam chúng ta.  Việt Nam đang ở một vị trí địa-chính trị-văn hóa rất nóng trong bản đồ phát triển của thế giới. Với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và các quốc gia đối trọng chiến lược, Việt Nam vừa có cơ hội để phát triển vừa đứng trước một sức ép rất lớn và có tính toàn diện từ bên ngoài cả về an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, nhân khẩu học,… Một nhóm sức ép hay đe dọa mà toàn thể các quốc gia trên thế giới cùng phải đối mặt đó là các khủng hoảng toàn cầu về: kinh tế – tài chính, lương thực, năng lượng, môi trường – biến đổi khí hậu, bệnh dịch, và khủng hoảng nhân văn. Đặc biệt với vị trí địa lý của mình, với tình trạng dân số đông và y tế còn hạn chế, Việt Nam chúng ta là một quốc gia hết sức nhạy cảm với những biến đối khí hậu và bệnh dịch toàn cầu.   Toàn cầu hóa là một cuộc đua, một cuộc cạnh tranh trong việc nhận diện và đi đúng các xu thế mới của thế giới. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta vừa phải thông minh, vừa phải năng động, vừa phải kiên định. Nếu không tận dụng được quy luật tương thuộc trong thế giới mới này, quy luật về sự thắng thế của kinh tế xanh, của quyền lực mềm và quyền lực thông minh, của sự phục hưng của các giá trị phương Đông,… thì vị trí quốc gia trên đường đua quốc tế của Việt Nam sẽ không thể thay đổi, hoặc có thay đổi thì đó sẽ là sự thụt lùi khi chúng ta không tận dụng được các dòng chảy mới.   Ba yêu cầu của phát triển bền vững Việt Nam nêu trên không chỉ là của riêng Việt Nam mà còn có tính đại diện chung cho rất nhiều các quốc gia đang phát triển có quy mô nhỏ và trung bình trên thế giới, cho kể cả các quốc gia đã phát triển gần như cực đỉnh về vật chất. Nếu chúng ta cam kết và thực hiện, lợi ích của Việt Nam sẽ tương đồng với lợi ích của các quốc gia trên, sự phát triển bền vững trở thành một phong trào toàn cầu có năng lực cộng hưởng cao.      Để phát triển bền vững, chúng ta phải nhận ra được một trong những nguyên nhân nội tại hàng đầu làm cho chúng ta phát triển kém bền vững. Đó là do chúng ta còn thiếu khát vọng lớn và yếu kém trong khả năng thực thi những điểm yếu ngàn đời của người Việt, là căn bệnh âm tính trầm kha của văn hóa Việt. Vậy nên, đây chính là cơ hội ngàn năm có một để chúng ta một lần cải sửa được sự âm tính này, thực sự xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.    Author                Quản trị        
0.056511056511056514
__label__tiasang Khai thác Bauxít ở Tây Nguyên: Góp ý và kiến nghị      Sau nhiều th&#225;ng chờ đợi, một cuộc hội thảo khoa học về khai th&#225;c quặng baux&#237;t để sản xuất alumina ở T&#226;y Nguy&#234;n sẽ được tổ chức trong những ng&#224;y đầu th&#225;ng 4.2009 tại H&#224; Nội do Ph&#243; Thủ tướng Ho&#224;ng Trung Hải chủ tr&#236; với th&#224;nh phần tham dự được mời gồm đại diện c&#225;c bộ ng&#224;nh v&#224; c&#225;c địa phương c&#243; li&#234;n quan, c&#225;c nh&#224; khoa học v&#224; hoạt động x&#227; hội. Đ&#226;y l&#224; một quyết định của Ch&#237;nh phủ thể hiện sự quan t&#226;m đến dư luận x&#227; hội về việc khai th&#225;c baux&#237;t tại một v&#249;ng đất c&#243; vị tr&#237; hết sức quan trọng của Tổ quốc: T&#226;y Nguy&#234;n.                Từ tháng 11.2008, sau khi dự án “Tổ hợp bauxít-nhôm Lâm Đồng” tại Tân Rai được khởi công ngày 26.7.2008, và tiếp đó dự án “khai thác bauxít sản xuất alumina Nhân Cơ” (Đắc Nông) sẽ được khởi công trong quý I-2009, và những thông tin về dự kiến hợp tác đầu tư với nước ngoài khai thác bauxít quy mô lớn ở Tây Nguyên kèm theo bao tiêu sản phẩm từ 2007 đến 2015 có xét đến 2025, có rất nhiều bài báo trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự lo ngại trước quyết định khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nhất là vào thời điểm hiện nay với sản phẩm sơ chế là alumina, đặt dấu hỏi về hiệu quả kinh tế, cảnh báo về công nghệ và hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.      Chính vì vậy dư luận mong rằng hội thảo sắp tới sẽ là một sự phản biện được lắng nghe, một cuộc đối thoại xây dựng vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của vùng đất này. Nhằm mục đích đó, bài viết này góp một số ý về ba nhóm vấn đề và đề xuất ba kiến nghị.        Trước tiên là về hiệu quả kinh tế. Tổng Công ty Than khoáng sản Việt Nam (TKV) chắc chắn đã có những tính toán của mình để thuyết minh là hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ có hiệu quả kinh tế tính cho suốt thời gian tồn tại của chúng, ước tính là 50 năm. Vấn đề là các dự án này (và quy hoạch khai thác bauxít nói chung) đã được tính toán trong thời gian mà nhu cầu nhôm, alumina của thế giới và khu vực đang lên cao, trong khi đó giá alumina trên thị trường thế giới hiện nay và trong thời gian trước mắt xuống rất thấp và chưa ai nói được là còn sẽ kéo dài bao lâu trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Vì vậy nhà đầu tư phải xem xét lại tính toán về hiệu quả kinh tế của các dự án hiện nay (và trong quy hoạch) phù hợp với tình hình mới không thuận lợi như lúc lập luận chứng ban đầu.           Chalco, một tập đoàn lớn hàng đầu về nhôm của Trung Quốc, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ USD, trong năm 2009 vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. La Kiến Xuyên, Chủ tịch mới của tập đoàn, thông báo ngày 30.3.2009 vừa qua 1, tập đoàn này “sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời”. Chắc TKV đã nhận được thông tin này và đã liên hệ đến mình và đến việc hợp tác đầu tư, để không vì khó khăn mà giãn tiến độ hoặc “treo” các dự án, và nhất là hạ thấp trình độ công nghệ, hy sinh hoặc “rút gọn” khâu xử lý chất thải bùn đỏ (mà chúng tôi sẽ đề cập sau đây) thậm chí đổ bừa chất thải chưa xử lý ra môi trường như đã bắt gặp trong thời gian qua.   Trong quy hoạch khai thác bauxít giai đoạn 2007-2015 có xét đến 2025, có việc đầu tư một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km với chênh lệch độ cao 700 mét, đi qua một vùng địa hình khá phức tạp, để đưa sản phẩm alumina từ Tây Nguyên về xuất khẩu tại Cảng Kê Gà (Bình Thuận). Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khá cao, phản ánh hiệu quả đầu tư thấp trong thời gian qua. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư phải là một mệnh lệnh rõ ràng, dứt khoát, nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện nay.     Thứ hai là về môi trường. Theo TKV, do cấu trúc địa chất, bauxit Tây Nguyên có diện phân bố rộng, thường ở trên sườn và đỉnh đồi, chiều dày các vỉa quặng trung bình 3-5m, nằm dưới lớp đất phủ với khoảng cách trung bình 0-2m.   Các dự án sẽ tận dụng các thung lũng cho hai mục đích rất khác nhau, nằm ở hai đầu của quy trình sản xuất alumina: một bên làm hồ tích nước trong mùa mưa phục vụ tuyển quặng và sản xuất alumina, và một bên làm hồ chứa bùn đỏ, chất thải rất nguy hiểm từ quy trình sản xuất này 2 .Cần xem xét cụ thể thêm vị trí hai loại hồ chứa trên bản đồ địa hình, nhưng viêc tận dụng các thung lũng như đã nói không an toàn chút nào bởi lẽ bùn đỏ chứa một dung dịch kiềm đi kèm có tính ăn mòn mạnh, có thể thẩm thấu gây tác hại cho đất xung quanh và làm ô nhiễm nguồn nước, và nhất là vào mùa mưa, khi lượng nước mưa lớn 3 tích tụ ở các hồ bùn đỏ có thể tràn ra ngoài hoặc làm vỡ đập.  Nói về nguồn nước cho sản xuất alumina tại hai nhà máy, TKV cho biết nhà thầu sẽ sử dụng 100% nước mặt, không sử dụng nguồn nước ngầm, bằng cách đắp đập tạo hồ chứa và một phần điều hoà nước từ các đập, hồ thuỷ điện của vùng trong mùa khô. Xin lưu ý TKV rằng nước trong các đập và hồ thủy điện đều đã được quy hoạch để sử dụng đa mục tiêu ở hạ lưu cho dân sinh, nông nghiệp, thủy sản, … vì ở đó cũng rất cần nước vào mùa kiệt!   Báo cáo của các nhà thầu bảo đảm rằng việc xử lý ô nhiễm, chất thải bùn đỏ, sẽ được làm triệt để nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, và với phương pháp khai thác theo trình tự cuốn chiếu, “công tác hoàn thổ, phục hồi không gian sẽ được hoàn nguyên ngay sau khi khai thác xong từng khu vực”. Nhưng cần một thông tin đi kèm: tỉ lệ dành cho việc xử lý chất thải, đặc biệt chất thải bùn đỏ, chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng vốn đầu tư cho nhà máy.  Chính vì vậy và mặc dù việc xử lý chất thải bùn đỏ ở các nước được dẫn chứng như là an toàn (mà theo chúng tôi biết không hẳn là như vậy), chúng tôi vẫn cho rằng môi trường là một vấn đề chưa thể yên tâm. Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bauxít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bauxit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bauxit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau bốn năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.     Thứ ba là về vấn đề xã hội. Nhiều bài đã viết khá sâu về tác động đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm rằng vấn đề xã hội gắn với vấn đề môi trường và môi trường là một điều kiện quan trọng hàng đầu cho sự ổn định cuộc sống và cho sức khỏe của người dân trên địa bàn và các địa bàn lân cận.  Các báo cáo cho biết “tổng diện tích chiếm đất của toàn bộ dự án alumina Nhân Cơ khoảng 3.570 ha, trong đó phần mỏ tuyển khoảng 2.620 ha; các công trình đập, hồ chứa nước khoảng 500 ha; phần nhà máy sản xuất alumina khoảng 150 ha; các dự án tái định canh, định cư khoảng 300 ha”. Có thể khẳng định rằng tác động lên xã hội của dự án rộng hơn khoảng không gian này nhiều.   TKV cho biết con em của Lâm Đồng và Đắc Nông đã được gửi đi đào tạo để phục vụ hai nhà máy. Hoạt động của các nhà máy sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế khác. Kinh tế thuần nông lâm sẽ chuyển dần sang kinh tế đa ngành nghề. Thu ngân sách và thu nhập của người dân hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ tăng. Nếu được như vậy thì rất tốt và đáng mừng.  Tuy nhiên, yếu tố con người cần được xem trọng hơn trong cả hai dự án và sau này khi triển khai rộng ra ở Tây Nguyên. Dự án Nhân Cơ chỉ cho con số 300 ha dành cho tái định canh, định cư. Nhưng số người tái định cư là bao nhiêu, họ là ai, cuộc sống vật chất và tinh thần của họ như thế nào, nguyện vọng của họ ra sao, … không thấy nói. Công tác tái định cư của các công trình Sơn La, Dung Quất và xa hơn là Hòa Bình cho chúng ta nhiều bài học quý mà trước tiên là cần tiếp cận vấn đề xã hội sâu sắc hơn, nhân văn hơn, đậm đà tình dân tộc, nghĩa đồng bào hơn.     Từ những ý kiến trên đây, xin đề xuất ba kiến nghị:   (1) Chọn một trong hai dự án, Tân Rai hoặc Nhân Cơ, làm dự án điểm. Tập trung chỉ đạo và yêu cầu tập đoàn thầu theo phương thức EPC thực hiện dự án đúng các cam kết, đặc biệt việc xử l‎ý an toàn nhất chất thải bùn đỏ. Giám sát việc thực hiện. Làm cho tốt công tác tái định cư. Tổng kết kinh nghiệm.   (2) Tập trung xây dựng cho xong dự án quy hoạch tổng thể khai thác bauxit Tây Nguyên có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) song hành trước khi triển khai bất kỳ dự án nào mới.   (3) Khi dự án hoàn thành, thực hiện Nghị quyết 66/2005 của Quốc hội về chủ trương đầu tư, nếu một trong năm tiêu chí (trong đó có tổng vốn đầu tư, tác động lên môi trường và số dân di dời tái định cư) chạm ngưỡng thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.   Khai thác bauxit Tây Nguyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng về nhiều mặt. Dục tốc bất đạt! Quặng vẫn nằm đó trong lòng đất và chờ đợi được khai thác với công nghệ sạch và tiên tiến, trong một quy hoạch chặt chẽ và toàn diện. Chỉ có như vậy nó mới góp phần vào sự phát triển đất nước một cách bền vững./.      —————        1 Theo Wall Street Journal ngày 29.3.2009 và BBC ngày 30.3.2009.  2 Cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều chọn phương pháp thải ướt bơm bùn đỏ lỏng ra bãi thải vì “đỡ tốn kém hơn phương pháp thải khô, và thích hợp với các vùng có các thung lũng dễ tạo thành hồ chứa”.  3 Lượng mưa trung bình nhiều năm ở Tây Nguyên là từ 2000 -2500 mm/năm, tập trung trong 3 đến 4 tháng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác nguồn lực xã hội để phát triển hài hòa      Trong 20 năm qua, kinh tế Việt Nam phát triển tốt vì đã dịch chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa bị chi phối bởi khu vực kinh tế nhà nước sang kinh tế thị trường thông qua quá trình tự do hóa kinh tế cùng sự phát triển của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, trên bình diện các vấn đề xã hội, chúng ta lại chưa làm được điều tương ứng. Nghĩa là, chúng ta vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào khu vực nhà nước trong khi để lãng phí nguồn lực to lớn sẵn có trong xã hội.      Chúng ta chưa phát huy, thúc đẩy được sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: Dây chuyền sản xuất cá tra của công ty Vĩnh Hoàn, tỉnh Đồng Tháp.   Nguồn lực cho phát triển đang suy giảm  Việt Nam tăng trưởng kinh tế rất nhanh trong hai thập niên qua, nhưng tốc độ tăng trưởng đang sụt giảm dần do sự tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ, còn phần tăng trưởng dựa vào đổi mới sáng tạo và các đổi mới khác thì rất khiêm tốn, thay đổi thất thường theo thời gian (Hình 1). Đó là biểu hiện của tăng trưởng theo chiều rộng, như cách nói rộng rãi hiện nay. Sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân chưa được phát huy thực sự, đến nay vẫn chỉ đóng góp dưới 10% vào GDP toàn nền kinh tế (Hình 2). Gần đây, sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế thì động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam càng giảm do lượng vốn không còn dồi dào, nguồn lao động cũng đang đi qua giai đoạn dân số vàng (tiến sang già hóa). Điều đáng lo ngại là chúng ta có thể bị kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thấp khi còn quá sớm. Nghĩa là trong khi các nước trên thế giới thường gặp khó khăn với bẫy thu nhập trung bình khi tìm cách vượt ngưỡng GDP đầu người khoảng 10.000 USD/năm, thì có thể Việt Nam sẽ “kẹt” ngay ở mức 2000 – 3000 USD/năm, và loay hoay nhích lên từng bước nhỏ một cách chật vật.    Hình 1    Hình 2  Khác với chúng ta, các nước lớn trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc hay các nước nhỏ hơn như thành viên khối ASEAN, đang có cải cách rất rõ để tăng chất lượng tăng trưởng sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay thậm chí đang thua xa Philippines, khi họ đã có mức GDP đầu người cao hơn Việt Nam. Thêm vào đó, Philippines lại có dân số trẻ hơn Việt Nam rõ rệt, nên về lâu dài, ta có thể tụt hậu so với họ. Đi liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, nhiều vấn đề xã hội mà Việt Nam phải đối diện đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Đó là bất bình đẳng trên nhiều phương diện, kết nối xã hội lỏng lẻo, đạo đức và luật pháp bị vi phạm ngày càng nhiều, môi trường bị hủy hoại và ít có khả năng tái tạo, v.v… Nguồn lực của Nhà nước đang suy kiệt, không đủ lo toan cho bản thân bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả, chứ chưa nói tới việc xử lý hiệu quả các vấn đề về môi trường, giáo dục hay bảo đảm nhiều dịch vụ công và các vấn đề phát sinh khác.  Trong khi đó, tham nhũng ngày càng nghiêm trọng khiến một phần đáng kể nguồn lực quốc gia bị lãng phí và thao túng. Việc bù đắp thâm hụt bằng cách tăng thu thuế hoặc phí càng khiến cơ chế huy động, sử dụng nguồn lực xã hội bị méo mó. Thâm hụt ngân sách tất yếu dẫn đến việc Chính phủ phải liên tục tăng vay nợ để bù đắp ngân sách. Thiếu hụt nguồn lực khiến Chính phủ phải lệ thuộc vào các chủ nợ nước ngoài hoặc các nhóm lơi ích trong nước. Khi không đủ nguồn lực để thực thi những chức năng căn bản của Nhà nước là cung ứng dịch vụ công, duy trì luật pháp, ổn định xã hội, thì không gian chính sách ngày càng bị thu hẹp và chức năng của Nhà nước đối với xã hội càng trở nên hạn chế. Do đó, chất lượng sống của người dân giảm xuống, khả năng duy trì ổn định xã hội ngày càng giảm. Đó chính là nguồn gốc kinh tế của các bất ổn xã hội hiện nay.      Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay thậm chí đang thua xa Philippines, khi họ đã có mức GDP đầu người cao hơn Việt Nam. Thêm vào đó, Philippines lại có dân số trẻ hơn Việt Nam rõ rệt, nên về lâu dài, ta có thể tụt hậu so với họ.        Trong khi đó, như đã nói trên, trong suốt mấy thập kỷ đổi mới kinh tế, đã không có sự đổi mới trên bình diện xã hội một cách tương ứng. Nhà nước vẫn “ôm đồm” kiểm soát và cố gắng giải quyết hầu như mọi vấn đề xã hội và duy trì cách làm “từ trên xuống”. Điều này dẫn tới chất lượng quản trị công thấp, không theo kịp thực tiễn sống động, khiến quyền lợi của người dân chưa được bảo vệ hiệu quả. Một trong những vấn đề quan trọng nhất để quản lý xã hội được hiệu quả và kịp thời là vấn đề thông tin và tri thức của xã hội. Hiện nay mỗi cá nhân hay các bộ máy quản lý, dù ở cấp cao nhất, đều bị giới hạn về thông tin và tri thức đối với xã hội và thế giới xung quanh. Mỗi cá nhân, đơn vị chỉ sở hữu một mảnh tri thức giới hạn để xử lý thông tin. Vì thế, chúng ta cần phải thừa nhận những mảnh tri thức của người khác một cách khiêm tốn và cầu thị, và cần có một cơ chế để các tri thức, thông tin đó được bộc lộ và thu nhận. Một trong những cơ chế quan trọng nhất chính là sự tự do trong biểu đạt (ngôn luận) và tự do thông tin (báo chí, mạng xã hội…). Để cơ chế này được duy trì ổn định và phát huy tác dụng liên tục, chúng ta cần sự tôn trọng mỗi cá nhân như một thực thể độc lập, do đó, là sự tôn trọng những quyền cơ bản nhất của con người. Đó chính là bí quyết để tăng chất lượng quản lý các quá trình xã hội.  Thúc đẩy khu vực dân sự để phát triển “hài hòa”  Một xã hội sẽ phát triển hài hòa khi quyền lợi của tất cả các nhóm trong xã hội đều được đảm bảo, ngược lại sẽ khủng hoảng khi: 1) phát triển kinh tế bị dừng lại hoặc thụt lùi, hoặc 2) có tăng trưởng kinh tế, nhưng lợi ích kinh tế chỉ dịch chuyển vào một nhóm, còn một bộ phận lớn hoặc thậm chí toàn xã hội không được cải thiện. Như trường hợp của Ai cập, trong vòng 20 năm không có tăng trưởng kinh tế, lợi ích chỉ tập trung vào một nhóm đặc quyền khiến mâu thuẫn bùng nổ khi được “châm ngòi” chỉ bởi một thanh niên trầm uất do không tìm được việc làm.      Mỗi cá nhân, đơn vị chỉ sở hữu một mảnh tri thức giới hạn để xử lý thông tin. Vì thế, chúng ta cần phải thừa nhận những mảnh tri thức của người khác một cách khiêm tốn và cầu thị, và cần có một cơ chế để các tri thức, thông tin đó được bộc lộ và thu nhận.        Nhìn vào mô hình xã hội Việt Nam, có thể thấy vài chục năm trước chúng ta ở trạng thái hài hòa cân bằng khi đại đa số mọi thành phần đều nằm ở mức sống thấp, cả xã hội đi cùng nhau, nhưng nay chúng ta lại đang đối diện với tình trạng mất cân bằng vì bất bình đẳng gia tăng rất nhanh cùng các vấn đề đã nêu trên đây.  Để giải quyết trạng thái mất cân bằng này, nhà nước cần dần chuyển dịch vai trò thông qua một quá trình tái phân phối hoặc quá trình điều chỉnh chính sách, tránh cho một số nhóm/khu vực chịu thiệt hại vì lợi ích không công bằng dành cho một nhóm khác. Một trong những điều kiện tiên quyết là nhà nước phải tăng cường việc lắng nghe thông tin phản ánh từ các thành phần, nhóm khác nhau trong xã hội, đặc biệt những nhóm yếu thế, bị thiệt thòi (vì khả năng bộc lộ thông tin của họ kém hơn các nhóm khác).  Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nhà nước khó có thể “bao quát” hết các vấn đề xã hội đang nảy sinh hằng ngày, ngược lại, người dân thiếu các kênh truyền đạt thông tin, nên quá trình chuyển dịch đó đã không diễn ra. Vì thế, người dân rất cần có các tổ chức xã hội cất lên tiếng nói đại diện cho quyền lợi của họ để các bên có thể thảo luận, giải quyết trên tinh thần ôn hòa, qua đó đồng thời giúp nhà nước giảm chi phí giám sát và thực thi, tăng hiệu quả của quản trị công, góp phần giúp người dân thực hiện đầy đủ các quyền của mình và khiến quá trình phát triển kinh tế – xã hội trở nên nhân văn, hài hòa và bền vững hơn.  Ví dụ, gần đây, nhiều dự án xây dựng các khu đô thị đã xung đột lợi ích với cư dân nhưng tiếng nói của họ bị yếu thế so với những tập đoàn lớn có tiềm lực tài chính. Trong lĩnh vực kinh doanh, hiện nay khu vực kinh tế nội địa ở Việt Nam đang ngày càng yếu thế, nếu cách đây 5 – 7 năm xuất khẩu của khu vực này chiếm hơn 60% tổng xuất khẩu thì nay chỉ còn 28%, vì vậy rất cần tăng cường vai trò các hiệp hội bảo vệ quyền lợi của hội viên, cung cấp dịch vụ phù hợp để tăng sức cạnh tranh cho chính họ. Hay trong ngành giáo dục cần tiếng nói của công đoàn bảo vệ giáo viên trước những vấn đề đang được thảo luận như trong ngành giáo dục, có giao toàn quyền về biên chế cho hiệu trưởng hay không. Các trường học cũng cần có hội phụ huynh để đại diện tiếng nói người học, kiểm soát sự chuyên chế quyền lực của hiệu trưởng, v.v.    Hình 3  Để phát triển lấy triết lý đặt con người làm trung tâm, chúng ta phải dịch chuyển hướng điều hành “từ trên xuống” sang hấp thụ quan điểm “từ dưới lên”. Phải thừa nhận những cấu trúc không thể thiếu trong một xã hội hiện đại, có nền kinh tế thị trường phát triển, là khu vực xã hội dân sự phát triển tương ứng. Đây có thể coi là một cuộc cải cách về mặt xã hội tương ứng với cuộc cải cách về kinh tế đã diễn ra từ ba thập niên trước. Những bước đi cơ sở đầu tiên là cần công nhận về mặt luật pháp như luật về hội hay luật biểu tình, là những nền tảng đầu tiên cho sự phát triển của xã hội dân sự và những thay đổi xã hội ôn hòa.  ———–  * TS. Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN.     Thiếu chuẩn bị nền tảng cho kỷ nguyên thông tin: Trong bối cảnh chúng ta đang lúng túng nhằm phát triển khu vực tư nhân, kinh tế thế giới đã phát triển sang một “nấc” mới. Trong kỷ nguyên cách mạng 4.0 – kỷ nguyên của thông tin, kinh tế thế giới chủ yếu phát triển các mặt như viễn thông, truyền thông hay kinh tế chia sẻ. Nếu như nguyên tắc phát triển của nền kinh tế vật chất đòi hỏi thừa nhận kinh tế tư nhân cũng như nền tảng sở hữu tư nhân, thì trong kỷ nguyên thông tin chúng ta phải tôn trọng sở hữu trí tuệ, các sở hữu những ý tưởng, tự do tư tưởng và tự do công luận. Nền kinh tế mới này sẽ đòi hỏi một loạt quan hệ mới trong xã hội, đó là lý do trong khi cả thế giới bàn bạc về cách mạng 4.0 thì Nhật Bản đang đi trước một bước, tìm cách xây dựng một xã hội 5.0 để dẫn dắt chứ không bị lệ thuộc vào cách mạng 4.0. Dù chúng ta đang nói rất nhiều đến những thách thức và cơ hội của cách mạng công nghiệp 4.0 nhưng hầu như lại chưa có sự chuẩn bị đáng kể gì cho kỷ nguyên thông tin.    Author                Nguyễn Đức Thành        
__label__tiasang Khai thác và xuất khẩu khoáng sản thô: Những bài học lớn      Ngay tại châu Á, hai nền kinh tế lớn là Nhật Bản và Trung Quốc đang tìm mọi cách “bảo toàn” tài nguyên khoáng sản trong nước và tìm kiếm, khai thác nguồn nguyên liệu thô ở nước ngoài để đảm bảo nguồn cung cho sản xuất trong nước. Trong khi đó, Việt Nam lại đi ngược xu hướng này, thi nhau khai thác tài nguyên để bán ra nước ngoài. Bài học của các nước nói trên đáng để chúng ta suy nghĩ nhằm đưa ra các biện pháp quyết liệt, hạn chế tình trạng “chảy máu khoáng sản” đang diễn ra ồ ạt hiện nay.        Kinh nghiệm cho Việt Nam  Câu chuyện thứ nhất được bắt đầu với Trung Quốc – một quốc gia có nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm khoáng sản lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) cho mục đích phát triển nền công nghiệp của mình. Đến nay, ngành khai khoáng Trung Quốc đã tự đáp ứng được khoảng 92% về khoáng sản năng lượng, 80% về khoáng sản cho công nghiệp và khoảng 70% khoáng sản cho sản xuất vật tư nông nghiệp1. Tuy nhiên, để đảm bảo cho các mục tiêu phát triển trong tương lai, Trung Quốc đã có chiến lược nhập khẩu không hạn chế các loại tài nguyên khoáng sản (TNKS) chiến lược; mở rộng đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực thăm dò, khai thác TNKS; thành lập trung tâm dự trữ các loại TNKS chiến lược; đưa ra các mô hình khai thác chế biến khoáng sản trong nước theo hướng bền vững.  Hiện tại, Trung Quốc vẫn là nước cung ứng nguồn khoáng sản hàng đầu cho Mỹ nhưng Trung Quốc đã và đang trở thành đối thủ cạnh tranh lớn của Mỹ, châu Âu và Nhật Bản trong tiêu thụ nguyên liệu và sản xuất sản phẩm khoáng sản. Trung Quốc đã đưa ra những sách lược cụ thể đối với các nước đối tác của mình để “Giang rộng cánh tay thâu tóm toàn bộ tài nguyên khoáng sản trên thế giới”2.  Đối với những nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latin, Trung Quốc thực hiện hỗ trợ chính thức (ODA) đổi lấy quyền khai thác mỏ. Khoáng sản khai thác ở những nước này được mang về chế biến tiếp ở Trung Quốc. Nhờ nhập khẩu ồ ạt quặng Bauxite và quặng sắt, Trung Quốc đã trở thành nước xuất siêu về nhôm và kim loại đen trong những năm gần đây3.   Đối với những nước công nghiệp phát triển, Trung Quốc tìm cách có chân trong hội đồng quản trị những Tập đoàn khoáng sản quốc tế. Để làm được điều này, Trung Quốc áp dụng theo hai cách. Cách thứ nhất, thu mua cổ phiếu niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế. Cách thứ hai, bỏ vốn vào những tập đoàn khoáng sản gặp khó khăn tài chính phải tìm thêm vốn mới. Cả hai cách này đều đem lại nguồn khoáng sản dồi dào với giá cạnh tranh.          Kiểm tra một địa điểm khai thác than trái phép tại Quảng Ninh          Câu chuyện thứ hai liên quan tới Nhật Bản, một cường quốc kinh tế trên thế giới. Nhận thức rõ ràng là một quốc gia nghèo về khoáng sản trong khi nhu cầu sử dụng lại rất lớn, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều chính sách hợp lý để đảm bảo nhu cầu khoáng sản sử dụng trong nước cho mục tiêu phát triển kinh tế. Nhật Bản tăng cường đầu tư hoặc liên doanh, liên kết với các Chính phủ khác để có nguồn nguyên liệu. Chính phủ Nhật Bản cũng bắt đầu tiếp cận với hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân để đầu tư vào các dự án tìm kiếm quặng sắt ở Australia.   Sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản cho các công ty trong nước trong các dự án khai thác tài nguyên tại nước ngoài diễn ra trong bối cảnh nhu cầu khoáng sản ở các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ đang tăng nhanh, khiến các nước này đẩy mạnh khai thác tài nguyên tại nước ngoài. Ngoài việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Chính phủ, để đối phó với các tập đoàn lớn của Brazil, Anh và Australia đang khống chế thị trường quặng sắt thế giới, các công ty Nhật Bản có xu hướng liên minh liên kết. Vào cuối năm 2008, năm công ty cán thép hàng đầu Nhật Bản đã liên kết với nhau để mua lại quyền khai thác một mỏ quặng vào loại lớn nhất ở Brazil4.  Như vậy, với hai câu chuyện về Trung Quốc và Nhật Bản, có thể nhận thấy thế giới đang đứng trước thách thức cạn kiệt tài nguyên và xu thế cạnh tranh toàn cầu về TNKS. Nhiều quốc gia chậm phát triển nhưng có lợi thế về tài nguyên đang trở thành đối tượng để các quốc gia và các tập đoàn khai khoáng có tiềm lực gây ảnh hưởng và giành quyền khai thác tài nguyên này. Do vậy, cùng với việc điều chỉnh luật và các chính sách liên quan cho ngành công nghiệp khai khoáng, các quốc gia đứng trước thực tiễn đòi hỏi về nhu cầu tăng mạnh nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp trong nước đã và đang triển khai nhiều biện pháp. Đó là, (i) hạn chế khai thác khoáng sản trong nước, giữ nguyên hiện trạng, đóng cửa các mỏ khi chưa đủ điều kiện khai thác hoặc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời cải tiến công nghệ chế biến nhằm tận thu tối đa các sản phẩm khoáng sản có ích; (ii) tăng cường nhập khẩu khoáng sản thô, các khoáng sản có nguy cơ cạn kiệt, thực hiện dự trữ quốc gia về TNKS; (iii) thúc đẩy hợp tác, liên doanh khai thác khoáng sản.   Bên cạnh đó việc tăng cường tiềm lực tài chính, khả năng đầu tư phát triển công nghệ hiện đại và hợp lý, năng lực tổ chức quản lý trong thăm dò, khai thác và chế biến; khả năng bảo hộ và bao tiêu sản phẩm sau khai thác là những vấn đề được nhiều nước có nền công nghiệp phát triển quan tâm.    Vấn nạn khai thác bừa bãi, lãng phí  Đứng trước xu hướng nói trên của thế giới, câu hỏi đặt ra là Việt Nam nên làm gì để bảo vệ nguồn TNKS của mình cho việc phát triển nền kinh tế và cho tương lai?  Quốc hội hiện cũng đang thảo luận để điều chỉnh, sửa đổi Luật Khoáng sản hướng tới việc khai thác và sử dụng TNKS tiết kiệm, hiệu quả đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước. Dự kiến Luật Khoáng sản sửa đổi sẽ được Quốc hội thông qua vào kỳ họp cuối năm nay.  Trên thực tế, TNKS của Việt Nam đang bị khai thác bừa bãi, lãng phí và chủ yếu để xuất khẩu thô. Hiện Việt Nam vẫn chưa có chiến lược dự trữ TNKS cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tình trạng khá phổ biến hiện nay là ở đâu có khoáng sản, ở đó có khai thác, khai thác tối đa, khai thác bằng mọi giá và khai thác bất kỳ loại khoáng sản nào để xuất khẩu, không quan tâm đến hậu quả môi trường…  Việc Trung Quốc tăng cường ưu tiên nhập khẩu các sản phẩm của ngành khai khoáng Titan của Việt Nam để dự trữ, trong khi trữ lượng Titan của Trung Quốc được đánh giá đứng đầu thế giới là vấn đề đáng để suy nghĩ. Công nghệ thiếu, tiềm lực tài chính yếu dẫn đến Việt Nam đành phải chấp nhận bán thô tài nguyên khoáng sản quí hiếm của mình.           Trong khi đang xuất khẩu than với giá rẻ thì chính KTV cùng một số tập đoàn lớn khác lại xây dựng đề án nhập khẩu than từ 2012 trở đi, với số lượng ngày càng nhiều hơn          Cũng như Titan, các loại khoáng sản khác như sắt, đồng, chì,…cũng được Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam qua con đường chính thức lẫn tiểu ngạch qua biên giới. Cuối năm 2009, Bộ Công thương Việt Nam5 đã tiếp tục đề nghị Thủ tướng cho Tập đoàn TKV xuất khẩu thêm thêm 400 nghìn tấn quặng sắt, 84 nghìn tấn tinh quặng magnetit, 18 nghìn tấn mangan, 44 nghìn tấn kẽm… để tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc TKV do dư thừa biên chế và thiếu công nghệ chế biến sâu trong nước. Sau khi đã thực hiện xuất khẩu 24 triệu tấn than trong năm 2009, năm nay TKV lại đề nghị xuất khẩu thêm 18 triệu tấn nữa. Riêng đối với quặng đồng, ngày 27/2, TKV lại đề nghị cho xuất khẩu 20.000 tấn tinh quặng đồng quy khô, với lý do là để ổn định tình hình tài chính, duy trì sản xuất của tổ hợp khai thác Sin Quyền (Lào Cai)… Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2009 số lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu lên tới 2,15 triệu tấn, đạt kim ngạch gần 135 triệu USD (chưa kể dầu thô). Và các khoáng sản này chủ yếu vẫn được xuất khẩu sang thị trường quen thuộc là Trung Quốc.  Trong khi vẫn tiếp tục xuất khẩu than với mức giá được nhiều chuyên gia kinh tế cho là thấp, thì Tập đoàn TKV cùng một số tập đoàn, tổng công ty khác như Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Thép… lại xây dựng đề án nhập khẩu than để từ năm 2012 trở đi, nhập khẩu than với số lượng ngày càng lớn. Đây là một thực tế luẩn quẩn trong chiến lược tiết kiệm và sử dụng hợp lý TNKS của Việt Nam.   Việc hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng tạo ra những cơ hội lớn cũng như những thách thức đáng kể cho Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước. Những ảnh hưởng (tiêu cực lẫn tích cực) xuất phát từ yếu tố nội tại cũng như yếu tố bên ngoài đã và đang tác động mạnh mẽ tới Việt Nam trong chiến lược quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung vốn đã có nhiều bất cập.   Ngành khai khoáng của Việt Nam đang phải đối mặt với sự phát triển thiếu bền vững do nhiều yếu tố như cơ sở pháp lý, thực thi pháp luật và ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài.   Cần phải làm gì?  Việt Nam cần xây dựng và áp dụng các chính sách cũng như thể chế tốt hơn về quản lý tài nguyên thiên nhiên cho các vùng dễ bị ảnh hưởng nhằm giảm thiểu cũng như loại bỏ những rủi ro mang lại.   Bên cạnh đó, cần phải nghiên cứu xây dựng các trung tâm dự trữ khoáng sản và cấm triệt để xuất khẩu khoáng sản thô. Các trung tâm dự trữ khoáng sản này nên đặt ở các địa phương có nguồn tài nguyên lớn về khoáng sản để thuận lợi cho việc thu mua khoáng sản thô để dự trữ cho chế biến sâu và kêu gọi đầu tư để sớm tiếp nhận công nghệ và hình thành các nhà máy chế biến các sản phẩm sâu.  Ngoài ra, cũng cần nâng cao hệ số thu hồi trong quá trình khai thác chế biến. Cần có những chính sách đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị khai thác chế biến, khuyến khích hỗ trợ đối với khai thác tận thu ở khu vực khó khăn, phức tạp.  Hiểu rõ những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình khai thác quá mức các nguồn tài  nguyên và biết được những ảnh hưởng của thị trường toàn cầu tới thị trường trong nước sẽ là bước khởi đầu để thảo luận đổi mới chính sách và thể chế nhằm giải quyết bài toán tài nguyên.  —————  1 Theo các báo cáo của Ủy ban Điều tra Địa chất Hoa Kỳ (USGS) và Ngân hàng Thế giới (WB)  2 http://www.vinamotorvietnam.com /khoangsan/NewsDetail.aspx?k=3&cate=17&tuto=82   3 Ngân hàng Phát triển Châu Á – ADB  4 http//www.natural-resources.org/minerals/CD/docs/twb/Invest_Regime LAC.pdf  5 Tuần Vietnamnet – tuanvietnamnet.vn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát ở biển      1. Trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, nhờ có báo chí, người ta được biết một phần (tôi vẫn tin đó chỉ là một phần) về những cái được gọi là những chuyến “xe tù”, nơi mà gần 80 con người có thể bị nhồi nhét trong một chiếc xe 24 chỗ và được đối xử giống như một bầy súc vật (quả thực, tôi nghĩ, cần phải dùng từ này, dù biết rằng có thể là nhẫn tâm).         Phóng sự, hình ảnh, những phân tích và ý kiến hình như đã đủ để chúng ta hình dung về một vấn nạn. Những câu hỏi “tại ai?” được đặt ra. Tại những người hành khách khốn khổ và cam chịu, tại những tài xế và chủ xe, tại những cảnh sát giao thông. Tất cả đều đúng. Nhưng còn một câu hỏi mà hình như còn chưa được đặt ra một cách rốt ráo. Câu hỏi về nhân tính. Có lẽ đến một lúc, cần phải thẳng thắn đặt ra và thẳng thắn trả lời một câu hỏi, chỉ một câu hỏi. Rằng: còn hay không cái gọi là nhân tính ở những người tài xế, phụ xe, những nguời chủ xe và cả những người cảnh sát giao thông nhắm mắt làm ngơ cho những chuyến “xe tù” đó ? Tôi nghĩ, dù đau lòng nhưng cũng cần phải một lần đặt ra và trả lời câu hỏi về nhân tính nơi một phần những con người vừa là đồng loại vừa là đồng bào của chính chúng ta.   Chính tôi cũng đã từng trải qua những chuyến “xe tù” ấy. Nhưng, điều làm tôi ám ảnh lại không phải là một anh cảnh sát giao thông “làm luật” hay một tay phụ xe thoăn thoắt kẹp những tờ tiền vào giữa những tập giấy tờ xe. Cái làm tôi ám ảnh lại là những cái “bàn thờ”, nếu có thể gọi như thế, trong những chiếc xe khách. Hình như tất cả những tài xế và những “người nhà xe” đều là những người “có tín ngưỡng”. Một bát hương, một bức tượng phật những vật dụng nho nhỏ là bằng chứng cho “đức tin” của họ. Có vẻ như tất cả họ đều là những kẻ “sùng tín”. Và nếu vậy thì cái móc xích nào nối giữa một con người tín ngưỡng và một con người đối xử với đồng loại và đồng bào như những con vật? Và thực ra thì cái gọi là “tín ngưỡng” ấy mang lại cho họ được điều gì? Một cứu rỗi, một an ủi hay một bảo lãnh?            Lễ khánh thành chùa Đồng        2. Ở Hà Nội, có một huyện ngoại thành là nơi có những thiền viện đẹp nhất, được đầu tư một số lượng tiền của khổng lồ với mơ ước sẽ trở thành một trung tâm đào tạo Phật giáo lớn của Việt Nam. Nhưng đó cũng là nơi có tỉ lệ trẻ em bỏ học nhiều nhất của thành phố. Những đứa trẻ phải bỏ học thường là từ cấp một đơn giản chỉ vì một lí do: nghèo. Nếu tôi không nhầm thì ở đâu đó, trong một khu rừng ở Miến Điện, Thái Lan hay Sri Lanka… có một thiền viện mà những vị tăng ni từ khắp thế giới đến đó, sống cuộc đời giản dị đến cực độ về vật chất để tìm kiếm lẽ đốn ngộ. Giữa khu rừng thiền ấy và thiền viện nguy nga, đâu là nơi chốn mà người ta có thể tìm thấy kinh nghiệm về cái thiêng liêng?   Trên một ngọn núi được coi là một trong những ngọn núi thiêng nhất của Việt Nam, một công trình thuộc hàng độc nhất vô nhị được dựng lên. Người ta hoan hỷ khoe khoang số tiền (khổng lồ) được đắp vào công trình số một này. Hình như có cả một chiến dịch truyền thông được tổ chức theo kiểu PR hiện đại. Rồi hành lễ, rồi ghi hình. Rồi những “kỷ lục Việt Nam”. Nhưng cũng chính ngọn núi ấy, những khu rừng cổ thụ nơi những bậc thiền sư số một Việt Nam từng tu tập và hành thiền những cái cây cổ xưa đang chết dần. Mà nếu tôi không nhầm, thì Đức Phật tổ xưa kia cũng chỉ cần một cội bồ đề để đốn ngộ ra chân lí. Và cũng trên ngọn núi ấy, mấy trăm năm trước, một trong những vị minh quân vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam đã từ bỏ mọi xa hoa để tìm kiếm một kinh nghiệm về cái thiêng liêng. Cũng chính ngài đã dời bước trở về triều môn, “hòa quang đồng trần” mà một trong những lí do cũng chỉ là sợ cái xa hoa làm vẩn đục Vùng đất thiêng liêng. Cái công trình của những kỷ lục sẽ bất tử? Không biết. Nhưng chỉ biết không xa vùng đất ấy có những mỏ than “thổ phỉ” mà những người thợ phải lao động trong những điều kiện tồi tệ. Bao nhiêu người trong số họ biết đến ngôi chùa độc nhất vô nhị nọ. Mà thực ra thì nó sẽ làm được gì cho cuộc đời họ. Trước cái công trình độc nhất vô nhị ấy, tôi không khỏi không nhớ tới Luận Phật cốt biểu của Hàn Dũ *.   3. Đôi lúc, tôi có cảm tưởng xã hội chúng ta giống như một người khát giữa biển. Anh ta cần nước dù xung quanh anh ta toàn là nước. Chúng ta không thiếu những công trình tôn giáo nguy nga. Chúng ta cũng không thiếu sự cởi mở (kể cả và nhất là từ phía chính quyền) cho những hoạt động hành lễ và thực hành tôn giáo. Hình như chúng ta cũng không thiếu sự sùng tín. Chỉ cần đến những địa điểm tôn giáo trong những ngày lễ lạt là đủ thấy điều đó. Thế nhưng thực ra thì trong cuộc sống hiện tại của chính chúng ta, tôn giáo và những tín ngưỡng có thể đem đến cho con người điều gì? Một kinh nghiệm và một khát vọng về cái thiêng liêng? Nếu vậy thì liệu có cần không những công trình với hàng núi tiền của và có thể tìm được cái thiêng liêng trong những thiền viện xa hoa ở giữa nơi cuộc sống của người dân còn khó khăn? Hay là một sự an ủi. Hay một nơi chốn để cầu xin và càng cầu xin, con người sẽ càng trở nên yếu hèn. Hay một sự “bảo lãnh” vô hình (hình như không phải theo lôgích “Chúa chết rồi, muốn làm gì thì làm” của Đốt mà là theo cái lôgích “Chúa đã tha thứ rồi, muốn làm gì thì làm”).    Nhưng thực ra thì kinh nghiệm tôn giáo vẫn là một kinh nghiệm mà thiếu nó đời sống của chính chúng ta sẽ trở thành què quặt. Có những con người nói cho chúng ta điều đó. Mẹ Teresa**, Cha Pierre***, thầy Nhất Hạnh, hay một vị tăng ni bình thường không chức sắc mở cửa một ngôi chùa ở Hà Nội cho những người bị AIDS. Những con người ấy nhắc nhở chúng ta về cái mà tôn giáo có thể đem đến được cho đời sống con người.   —————–       * Hàn Dũ (768-823) tự là Thoái Chi, là một nhà Nho nổi tiếng có tài văn chương về đời Đường. Ông được người sau xếp vào “Đường Tống bát đại gia” (Tám tác gia lớn thời Đường Tống). Sinh thời, khi vua Đường tôn sùng đạo Phật làm lễ rước Phật cốt vào hoàng cung ông có làm bài biểu can ngăn.  **Mẹ Teresa (1910-1997), một nữ tu sĩ nổi tiếng với các hoạt động vì người nghèo khổ ở Ấn Độ. Đã được giải Nobel Hòa bình và được Giáo hội phong thánh.   *** Cha Pierre (1912-2007) tu sĩ người Pháp, người sáng lập Hiệp hội Emmaus, suốt cuộc đời phấn đấu cho quyền được có chỗ ở của những người vô gia cư. Tham khảo thêm tại:  http://www.emmaus-international.org/fr/index.php?option=com_content&task=view&id=1.       Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát và thừa nhân lực chất lượng cao      Chỉ số trình độ đào tạo của lực lượng lao động của Việt Nam được đánh giá là thấp so với khu vực và so với đòi hỏi của một nền kinh tế đang khát nhân lực có kỹ năng như ở Việt Nam. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học (ĐH) ở Việt Nam năm 2016 còn thấp hơn tỷ lệ này ở Trung Quốc năm 2009 (9,9%) (The State Council of China, 2010) và dù vài năm gần đây tăng nhanh thì tỷ lệ tăng vẫn thấp hơn nước láng giềng này và hiện thời chỉ bằng hơn một nửa tỷ lệ của họ.      Sinh viên ngành Dược thực tập. Nguồn: Zing.vn  Tuy nhiên, vài năm gần đây các chỉ số thống kê về tỷ lệ thất nghiệp của những người đã qua đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt của những người có trình độ ĐH trở lên luôn tăng mạnh và cao hơn so với với mặt bằng chung. Trong khi tỷ lệ thấp nghiệp trong độ tuổi lao động những năm gần đây dao động trong khoảng trên dưới 2%, thì tỷ lệ thất nghiệp của nhóm có trình độ ĐH thường cao gấp đôi chỉ số thất nghiệp chung của toàn bộ lực lượng lao động (xem hình 1). Đây có thể coi là một nghịch lý tồn tại trong một nền kinh tế khi nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên dôi dư khi nhu cầu vẫn còn rất lớn.  Nguyên nhân lớn nhất dẫn tới tình trạng ứ thừa cử nhân ĐH ở Việt Nam nằm ở sự khập khiễng trong quan hệ cung cầu: chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng.    Nguồn: Bộ LĐTBXH và Tổng cục Thống kê (2018)  Nguyên nhân từ phía các trường ĐH  Các trường ĐH ở Việt Nam dường như vẫn nằm ngoài xu thế phát triển chung là coi chất lượng đầu ra như một chỉ số quan trọng và cần thiết phải công bố cho xã hội. Mặc dù hiện nay ở một số trường lớn như ĐHQG Hà Nội hay ĐHQG TP HCM, công tác kiểm định đã được thực hiện ở một số đơn vị và một số ngành học nhưng các báo cáo kiểm định vẫn chưa được công bố rộng rãi cho xã hội. Hiện nay có rất ít khảo sát công khai, trên diện rộng và có tính hệ thống về tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm. Rất ít trường có các bộ phận chức năng hỗ trợ sinh viên trong việc chuẩn bị hành trang tuyển dụng và giúp sinh viên tiếp cận thị trường lao động. Cán bộ ở các bộ phận này (nếu có) cũng thường là các cán bộ kiêm nhiệm với vô số các nhiệm vụ hành chính khác. Đa phần website của các trường ĐH ở Việt Nam không công bố danh mục các kỹ năng hành nghề (graduate employability skills) hay kỹ năng mềm (khái niệm tương đương được dùng phổ biến ở Việt Nam) mà chương trình của họ hướng tới cho sinh viên. Phần lớn công tác phát triển kỹ năng mềm được giao cho Đoàn thanh niên – Hội sinh viên phụ trách và được coi là một hình thức hoạt động ngoại khóa trong các trường ĐH.  Theo khảo sát của Dự án giáo dục ĐH 2 của Bộ GD&ĐT (năm 2012), có tới 47,3% số cử nhân đã ra trường và đi làm cho rằng chương trình đào tạo ĐH của họ là không phù hợp, kiến thức, kỹ năng mà họ được tiếp cận trong nhà trường là không có ích đối với công việc họ đang làm. Khảo sát với 3.000 cử nhân đã tốt nghiệp ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP HCM và ĐH Huế của Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách (ĐH ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) cũng đưa ra khuyến cáo rằng nhiều kiến thức sinh viên được học trong trường không giúp gì cho họ trong công việc, nhưng ngược lại, nhiều kiến thức mà nhà tuyển dụng đòi hỏi thì họ lại không được tiếp cận.  Hơn nữa, các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được coi là trung tâm của các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Trường ĐH vốn được thành lập riêng biệt với các viện nghiên cứu và giảng viên thường được coi là viên chức hành chính nhà nước nhiều hơn là các nhà hoạt động nghiên cứu. Dù rằng thời gian gần đây nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được đưa vào như là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi giảng viên ĐH, hoạt động R&D của các trường vẫn còn rất khiêm tốn. Đây là lý do khiến các doanh nghiệp cũng không mặn mà và không thường tìm tới các trường khi họ có nhu cầu cho các hoạt động R&D. Thực tế cho thấy các trường ĐH có ít sự cộng tác với các doanh nghiệp hơn là viện nghiên cứu.  Sự thờ ơ của doanh nghiệp  Tuy nhiên, mối quan hệ lỏng lẻo, hình thức giữa trường ĐH và doanh nghiệp không hẳn tới từ một phía mà còn có phần nguyên nhân từ sự thờ ơ và những vướng mắc của đa phần các doanh nghiệp ở Việt Nam.  Ở Việt Nam, việc đào tạo sinh viên để làm việc và cung cấp nguồn lao động chất xám phục vụ cho sự phát triển của đất nước được coi là nhiệm vụ chính của các trường ĐH (George, 2010; Tran Ngoc Ca, 2006). Người ta quen với quan niệm cho rằng công tác đào tạo không thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp, mà đó là trách nhiệm của nhà nước và các cơ sở đào tạo (Le Chien Thang & Truong Quang, 2005). Chính vì vậy các nhà tuyển dụng thường chọn cách ‘đứng ngoài’ quá trình đào tạo ở các trường ĐH, và sau đó đổ lỗi cho hệ thống giáo dục về sự đáp ứng kém cỏi của các cử nhân. Đây có lẽ là lý do mà đa phần sinh viên và cử nhân đều cho rằng các hoạt động của họ trong các đợt kiến tập, thực tập ở các doanh nghiệp không giúp gì nhiều cho việc định hình những hiểu biết cũng như những kinh nghiệm làm việc thực tế họ cần khi muốn tham gia thị trường lao động sau khi ra trường (kết quả từ một nghiên cứu của tôi vào năm 2013). Doanh nghiệp dù chấp nhận sinh viên tới thực tập nhưng lại không mặn mà trong việc đào tạo, dẫn dắt thực tập sinh học hỏi kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của doanh nghiệp. Những công việc sinh viên thực tập thường được giao là những công việc thô sơ, đơn giản như photocopy, đánh máy, đưa tin, thậm chí là pha trà hoặc chỉ đọc các báo cáo cũ, rất ít sinh viên được giao công việc thực tập đúng với chuyên môn đào tạo.      Mối quan hệ lỏng lẻo, hình thức giữa trường ĐH và doanh nghiệp không hẳn tới từ một phía mà còn có phần nguyên nhân từ sự thờ ơ và những vướng mắc của đa phần các doanh nghiệp ở Việt Nam.      Hiện nay đã có những doanh nghiệp nhận thấy việc chủ động tiếp cận nguồn nhân lực có kỹ năng từ các trường ĐH là cần thiết và đã có những nỗ lực nhất định để phối kết hợp với các trường ĐH trong việc đào tạo nhân sự cho họ. Đương nhiên, sự kết hợp này đa phần mới chỉ dừng lại ở việc cấp học bổng cho sinh viên và ràng buộc trách nhiệm với sinh viên trong việc phải về làm việc cho họ trong một khoảng thời gian nhất định (Huỳnh Ngọc Long, 2012). Cũng có một số doanh nghiệp tạo điều kiện cho sinh viên thực tập tiếp cận với công việc thực tế doanh nghiệp muốn họ bắt tay vào làm sau khi ra trường. Việc tham gia các hội chợ việc làm, tham gia nói chuyện trong các hội thảo việc làm cho sinh viên của các nhà tuyển dụng cũng dần nhiều lên. Tuy nhiên, các hoạt động này đa phần mang tính thời điểm, theo lời mời hoặc đề nghị, ít có sự chuẩn bị và kết hợp thấu đáo với các trường để đưa ra những bài học, những thông điệp và những biện pháp hữu hiệu để nâng cao kiến thức, hiểu biết và hành trang cho sinh viên trước khi bước vào thị trường lao động. Giá trị định hướng nghề nghiệp của các hoạt động này, vì thế, nói chung còn rất hạn chế.  Mặt khác, đa phần doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (tuyển dụng 77% lực lượng lao động và chiếm 80% thị trường bán lẻ), trong một nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm tới chính sách cắt giảm chi phí, vì vậy, nguồn kinh phí cho các hoạt động quản trị nhân sự hay cho các hoạt động đầu tư dài hạn rất eo hẹp (Tran Ngoc Ca, 2006; Tran Thi Tuyet, 2015). Các doanh nghiệp thường không sẵn lòng bỏ thêm kinh phí đào tạo hoặc tham gia hỗ trợ đào tạo với các trường ĐH. Họ luôn hy vọng nhân viên mới có thể bắt tay vào công việc càng sớm càng tốt.  Trình độ đào tạo của người đứng đầu các doanh nghiệp cũng là điều cần bàn. Số liệu thống kê năm 2008 tại 63.000 doanh nghiệp thuộc 36 tỉnh, thành phố cho thấy tỷ lệ giám đốc doanh nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm gần 45%, số còn lại có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở xuống. Tỷ lệ này ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp hơn nữa, nhưng điều đáng bàn hơn là đa phần các lãnh đạo doanh nghiệp ở Việt Nam thiếu kỹ năng quản lý và thiếu kiến thức về quản trị nhân sự (Le Chien Thang & Truong Quang, 2005). Tinh hoa trong quản lý thường được phát triển dựa vào trải nghiệm thực tế trong công việc của họ (Fatseas, 2010; Trịnh Thi Hoa Mai, 2008). Trong khi đó việc kết hợp với các trường ĐH và đầu tư cho nguồn nhân lực trong tương lai lại cần một kế hoạch dài hơi, một nguồn kinh phí đủ mạnh và một sự đầu tư và tính toán có chiến lược. Với thực tế quản lý và vận hành các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam như hiện nay, để xây dựng một mối quan hệ bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp là điều không dễ dàng gì.  Động viên trường ĐH và doanh nghiệp bắt tay nhau  Với những khó khăn nội tại từ cả hai phía: các trường ĐH và các doanh nghiệp, việc đơn thuần chỉ đưa ra lời kêu gọi họ xích lại gần nhau khó có thể tạo được hiệu ứng cần thiết. Với tình trạng hiện tại, nhà nước cần có những chính sách và những điều luật phù hợp, vừa tạo sức ép với các cơ sở đào tạo, vừa tạo điều kiện cho hai phía bắt tay nhau. Một mặt, Luật giáo dục ĐH cần có những qui định rõ ràng về trách nhiệm của trường ĐH trong việc hợp tác với doanh nghiệp, bên cạnh đó, các chế độ đầu tư về con người, cơ chế và tài chính cho công tác định hướng nghề nghiệp cho sinh viên cũng cần được nhà nước chủ động đầu tư. Công tác đảm bảo chất lượng lấy các chỉ số về mối liên hệ với thị trường lao động (như việc lấy ý kiến của nhà tuyển dụng cho việc xây dựng chương trình đào tạo, khảo sát mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng đối với chất lượng sinh viên tốt nghiệp, khảo sát tỷ lệ sinh viên có việc làm…) cần phải được đẩy mạnh và duy trì tính xác thực, đồng thời các trường phải công bố công khai các thông tin này trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm căn cứ cho công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông.  Về phía các doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cũng cần điều chỉnh, đặc biệt cần có những điều khoản cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục. Việc khuyến khích bằng các cơ chế khích lệ như cắt giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình cho các trường, tham gia đào tạo sinh viên qua việc tham gia thuyết giảng hoặc tập huấn sinh viên thực tập, hay việc đầu tư tài chính cho các hoạt động giảng dạy và thực hành là cần thiết để tạo cú hích về tư tưởng cho các doanh nghiệp vốn không coi đào tạo là nhiệm vụ của mình. Thực tế cho thấy, khi chính quyền có tầm nhìn và đưa ra được những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, giáo dục tốt hơn như ở TP HCM hay Đà Nẵng, mối liên hệ giữa các trường ĐH với các doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ chung trở nên khăng khít hơn. Chẳng hạn như, TP Đà Nẵng xây dựng vườn ươm công nghệ để hỗ trợ kết nối những người khởi nghiệp trẻ và các doanh nghiệp. Còn TP. HCM đã rất tích cực thực thi nhiều chính sách đổi mới sáng tạo, đã tạo ra chương trình liên kết như “chương trình 04” để phát triển công nghệ phù hợp với chi phí hợp lý, chủ yếu dựa vào các nghiên cứu trong nước, và Chương trình 04 đã trở thành một động lực mạnh mẽ cho các trường ĐH cộng tác với các doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp và nhà trường có điều kiện hiểu nhau hơn và có thiện cảm với nhau hơn. Việc hỗ trợ để định hướng nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng cũng vì thế được đánh giá là tốt hơn (Trần Ngọc Ca, 2006).  Hiện tại các mô hình kết hợp giữa trường ĐH và doanh nghiệp trên thế giới đã có rất nhiều, các đơn vị cần chủ động căn cứ vào đặc thù đào tạo và các điều kiện cụ thể của mình để tiến hành nghiên cứu, chọn lọc và áp dụng những mô hình đưa kiến thức về thị trường lao động vào trường học một cách phù hợp và thiết thực. Việc chủ động tìm kiếm các nguồn lực để gắn kết đào tạo với nhu cầu sử dụng thực tế, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra trong điều kiện hạn hẹp về cơ chế và tài chính như hiện nay của các cơ sở đào tạo như ĐH Bách Khoa, ĐH FPT hay ở một số trường đã tham gia dự án phát triển giáo dục ĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam  – POHE cũng cần được khuyến khích và nhân rộng trong hệ thống giáo dục ĐH.  Tuy nhiên, sự thụ động của một bộ phận không nhỏ sinh viên cũng sẽ là chướng ngại vật cho chính họ trong quá trình chuyển dịch vốn đã rất khó khăn từ môi trường học tập sang môi trường làm việc thực tế. Quá trình trao quyền, trao trách nhiệm cho người học để họ làm chủ việc học tập, công việc và tương lai của mình là một quá trình dài hơi, cần sự thay đổi nhất định về phương châm giáo dục và sự kết hợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường và các yếu tố tác động từ phía xã hội.  Việc dịch chuyển từ môi trường học tập ở đại học sang môi trường làm việc thực tế ở doanh nghiệp là một quá trình khó khăn cho sinh viên, không chỉ ở Việt Nam, mà còn nhiều nước trên thế giới. Ở Úc, trong vòng 14 năm trở lại đây, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm toàn thời gian cao nhất cũng chỉ là 84-85% (vào năm 2007, 2008) và thấp nhất là những năm kinh tế suy thoái gần đây: 76,1% năm 2012 và 71,3% năm 2013, 68,1% năm 2014 và năm 2017 là 71,8% (theo The Australian, 2014, The Conversation, 2018). Ở Canada, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của toàn lực lượng lao động thường ở mức 7-8% thì tỷ lệ này ở những người trẻ là 14-16%. Nhìn chung, tình trạng sinh viên đại học ra trường không tìm được việc làm tương xứng với bằng cấp ở nhiều nước phát triển là khá phổ biến và được coi là một xu hướng bình thường trong nền kinh tế tri thức cạnh tranh. Sự cạnh tranh của lực lượng lao động có trình độ cũng sẽ giúp nâng chất lượng lao động của nền kinh tế. Vì vậy, tuy các trường đại học vẫn còn nhiều việc phải làm để tăng mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, nhìn chung, các nhà tuyển dụng ở đây thường hài lòng với chất lượng của các cử nhân đại học. Tuy nhiên, khác với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vấn đề của các nước phát triển dường như không nằm ở mức độ phù hợp của bằng cấp hay những kỹ năng mà người lao động được trang bị, sự ứ đọng nguồn nhân lực chủ yếu là do sự khan hiếm các cơ hội nghề nghiệp trên thị trường lao động, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế thế giới suy thoái như hiện nay.     Tham khảo  Fatseas, M. (2010). Research-Industry cooperation supporting development in Vietnam: the challenge of translating policy into practice. In G. Harman, M. Hayden, & Pham Thanh Nghi (Eds.), Reforming higher education in Vietnam: Challenges and priorities (pp. 103-116). London: Springer.  George, E. S. (2010). Higher education in Vietnam 1986-1998: Education in transition to a new era? In G. Harman, M. Hayden, & Pham Thanh Nghi (Eds.), Reforming higher education in Vietnam (pp. 31-50). London: Springer.  Huynh Ngoc Long. (2012). Đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động (Training for the employment market). Paper presented at the Đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp (Training, research and technology transfer vs enterprise demands), Dong Nai, Vietnam.  Le Chien Thang, & Truong Quang. (2005). Human resource management practices in a transitional economy: A comparative study of enterprise ownership forms in Vietnam. Asia Pacific Business Review, 11(1), 25-47.  Tran Ngoc Ca. (2006). Universities as drivers of the urban economies in Asia: The case of Vietnam. In. Policy Research Working Paper: World Bank.  Trịnh Thi Hoa Mai. (2008). Liên kết đào tạo giữa nhà trường ĐH với doanh nghiệp ở Việt Nam (Education association between universities and enterprises in Vietnam). Journal of Economy – Law, Vietnam National University, Hanoi, 24(2008), 30-34.          Author                Trần Thị Tuyết        
__label__tiasang Khát vọng của dân      Người dân mong muốn Đại hội thể hiện rõ tính chiến đấu và sự trung thực của người cộng sản, không tránh né những vấn đề có tính nguyên tắc, công khai và minh bạch trong tranh luận chứ không dễ dàng xuôi theo những vấn đề đã được chuẩn bị sẵn.       Tinh thần thời đại  “Thế giới đã biến đổi quá nhiều đến mức những công thức để thành công trong ngày hôm nay hầu như chắc chắn sẽ là những công thức để thất bại trong ngày mai”. Ý tưởng ấy là của Rowan Gipson nói với các nhà doanh nghiệp về cuộc cạnh tranh khốc liệt trong thời đại chúng ta đang sống. Và chắc là ý tưởng ấy không chỉ dành riêng cho các doanh nhân.  Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI vừa kết thúc, chúng ta đang bước vào thập kỷ thứ hai. Những diễn biến của cuộc sống trong thập kỷ vừa qua cho thấy một điều tưởng như nghịch lý: chuẩn mực chính là sự thay đổi! Khái niệm đó diễn đạt một đặc trưng của nền kinh tế số: luôn tìm kiếm sự mất cân bằng trong phát triển. Một hệ thống mạng phức tạp nếu đứng mãi ở trạng thái cân bằng và ổn định sẽ là nguy cơ đẩy tới sự đình đốn và suy thoái. Ở đây, người ta đã dùng một hình ảnh thú vị để nói về sự diễn tiến của nó: sự phá hủy sáng tạo. Nếu hiểu sự phá huỷ sáng tạo nhằm phá vỡ cái trạng thái cân bằng cũ nhằm tạo ra trạng thái cân bằng tương đối mới tạm thời trong cả quá trình vận động, thì đây không chỉ là đặc trưng của kinh tế số mà cũng là logic của phát triển nói chung. Đương nhiên, cần phải có một con mắt biện chứng để nhìn sự vật, thì mới thấy ra được sự phá huỷ sáng tạo nhằm vượt qua sự ổn định trì trệ để thúc đẩy những bước phát triển mới.  Đừng quên rằng “…trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong”*. Quan điểm biện chứng ấy của Hégel được Ăng-ghen dẫn ra cách đây gần 2 thế kỷ liệu có thể giúp làm sáng tỏ những ý tưởng vừa trình bày không? Với cái nhìn biện chứng đó mà dõi theo sự vận động của thế giới trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, với những biến động dồn dập mà trước đó khó hình dung nổi, càng hiểu ra rằng sự biến đổi chính là một hằng số trong thế giới mà chúng ta đang sống và khái niệm “chuẩn mực chính là sự thay đổi” là logic mới do thời đại tạo ra. Thử thách lớn song cũng là hạnh phúc lớn cho chúng ta là chứng nhân của những sự kiện mang tầm vóc lịch sử làm thay đổi diện mạo chính trị của thế giới trong dòng chảy bất tận của cuộc sống.  Dòng chảy của cuộc sống ấy vẫn miệt mài không một phút giây ngừng nghỉ song không phải là cái trước tiếp cái sau theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những nhân tố mới, những tương tác mới tạo ra khả năng nảy sinh những hợp trội không dự báo trước được. Trật tự mới, tổ chức mới là do các thành phần liên kết, tương tác với nhau mà cùng tạo thành, chứ không phải được lập nên do một mệnh lệnh nào từ bên ngoài, từ bên trên quyết định. Trong dòng chảy miệt mài với những đột phá những hợp trội ấy của cuộc sống, con người tịến vào những miền đất mới mà hành trang cần thiết nhất chính là đôi mắt mới của một tư duy mới. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước.  Cũng là một khuyến cáo với doanh nhân từ người được giải Nobel về kinh tế năm 2009 đại ý như sau: Câu hỏi chúng ta phải tự đặt ra là liệu chúng ta có đủ dũng khí để phá bỏ các trung tâm quyền lực truyền thống, nhờ đó quân lính sẽ được xem trọng hơn vị tướng không? Trong một trận bóng đá, có cả thảy 22 cầu thủ song vào mỗi thời điểm nhất định, chỉ duy nhất một cầu thủ có bóng. 21 người còn lại hình thành nên một cấu trúc. Cấu trúc mở mà chúng ta đang tham gia không đề cập đến cầu thủ đang có bóng mà là về cấu trúc của 21 cầu thủ còn lại. Mọi tổ chức hướng tới tương lai cần tiến hành kiểm nghiệm thực tế về thiện chí và khả năng phi cấu trúc hoá của mình để có thể thích ứng được với môi trường kinh doanh mới trong tương lai. Tầm nhìn của chúng ta đã đủ để hình dung tổ chức của mình dưới dạng các hình thái sinh tồn luôn cộng sinh và biến hoá cùng với thị trường chưa? Liệu chúng ta có dám hy sinh để bước ra khỏi cái tôi và cho nhân viên cấp dưới quyền được phát biểu ý kiến? Liệu chúng ta có đủ dũng cảm để phi cấu trúc hoá cơ chế cứng nhắc hiện tại dù biết nó từng vận hành tốt trong quá khứ? Đấy là chưa nói đến chuyện những sai lầm từng dẫn dắt sự vận hành cuộc sống trong quá khứ!   Là khuyến cáo với các nhà doanh nghiệp, nhưng có lẽ vấn đề được đặt ra có ý nghĩa rộng hơn nhiều. Sự sống không ngừng sinh sôi nảy nở. Màu xám của mọi lý thuyết đã có lúc trùm lấp lên vẻ non tơ của cây đời khiến cho tư duy của không ít người bị cầm tù quá lâu trong những giáo điều đã được học thuộc lòng. Vậy mà, có những thời điểm quyết định vào các bước ngoặt lịch sử có tầm quan trọng lớn lao hơn các thời điểm khác, bởi vì những thay đổi chúng tạo ra là cực kỳ sâu rộng, nhiều chiều và khó tiên đoán. Phải chăng thời điểm chúng ta đang sống cũng có dáng dấp của tầm vóc lịch sử ấy khi mà dân tộc ta đang đối diện với những câu hỏi lớn về sự tồn tại, hội nhập và phát triển trước những thách thức mới rất gay gắt, đồng thời cũng đứng trước vận hội mới đầy triển vọng nếu đủ bản lĩnh vượt qua những thách thức ấy.    Mệnh lệnh của cuộc sống  Trước thềm của Đại hội XI của Đảng, vấn đề này đang đặt ra một cách bức xúc. Bức xúc vì nó thể hiện khát vọng mãnh liệt của nhân dân ta. Khát vọng ấy đang đặt ra với Đảng, một đảng chính trị từng gánh vác sứ mệnh lịch sử thật vẻ vang, kế tục một cách xứng đáng truyền thống quật khởi của ông cha ta, làm nên Cách mạng Tháng Tám, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta tiến hành những cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại những kẻ thù xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội trong thế kỷ XX, đưa dân tộc ta bước lên vũ đài quốc tế với tư cách một dân tộc độc lập với bản lĩnh vốn có của mình để tồn tại và phát triển trong một vị thế địa-chính trị đặc thù, đầy thử thách cam go.  Trên bước đường gian nan của công cuộc dựng nước, hàn gắn những vết thương chiến tranh kéo dài non nửa thế kỷ mà ít dân tộc nào trên trái đất này phải gánh chịu kiên cường và khốc liệt đến vậy, những bước gập ghềnh va vấp là không thể tránh khỏi, thậm chí có lúc đứng bên bờ vực của sụp đổ, nhân dân ta vẫn đủ bản lĩnh cùng với Đảng của mình vượt qua hiểm nguy để có ngày hôm nay. Có được như vậy vì Đảng biết nghe dân, biết từ sáng kiến của dân mà đúc kết thành chủ trương, đường lối để lãnh đạo công cuộc Đổi Mới thắng lợi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”. **  Quả thật, ý dân là ý trời. Xin chỉ gợi lại một cột mốc lịch sử. Dân đã tự mình cởi trói, bung ra trong sản xuất, đẩy tới chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13.1.1981 mở đường cho nông dân làm ăn để có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5.4.1988, trả lại quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh cho hộ kinh tế gia đình nông dân, tạo nên một chuyển biến quyết định về nông nghiệp, nông thôn, để từ đó thúc đẩy sự chuyển biến của công nghiệp và đô thị. Chỉ cần một tháo gỡ về đường lối, chưa đòi phải đầu tư vốn liếng và kỹ thuật gì phức tạp cả, mà từ chỗ phải nhập 199,5 ngàn tấn gạo năm 1988 và ở Miền Bắc lúc bấy giờ có khoảng 3,6 triệu người bị thiếu đói trầm trọng, thì sang đến năm 1999, cũng con người ấy, đồng ruộng ấy, sản xuất lương thực đã tăng vọt lên 21 triệu tấn, bình quân lương thực vượt qua ngưỡng trên 300kg/ người của thời kỳ 1955-1958, lại xuất khẩu được 1,4 tấn gạo!   Có lẽ phải nói thêm cách suy nghĩ thật giản đơn nhưng hết sức năng động và sáng tỏ của người nông dân, dám đương đầu với những áp lực của những lực cản của cái cũ, “đang suy tàn nhưng được tập quán thần thánh hóa” như Ph.Ăng-ghen đã từng chỉ ra. Trước những truy chụp nặng nề và quái ác về “lập trường, quan điểm”, có đảng viên đã phản ứng thẳng thừng: “hoặc là con cháu của Mác, hoặc là chú bác với bọn phản động, thế thôi, đói quá phải chui, còn đúng hay sai, hạ hồi phân giải”*** [tưởng cũng nên nhắc thêm rằng, trên tivi đang chiếu cuốn phim “Bí thư tỉnh ủy“, có thể tìm thấy những hình ảnh thật sinh động cho chuyện này. Còn nếu muốn làm “con cháu của Mác” thì cũng xin dẫn ra nguyên văn ý của Mác: “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ chp phát triển vẫn chưa phát triển”!]  Bài học của giáo điều, bảo thủ và đổi mới, sáng tạo thật là thấm thía. Nói chữ nghĩa to tát thì thế, nhưng thật ra, chân lý thật giản đơn, vì đó là cuộc sống. Biết bám vào cuộc sống của dân, dám nghe dân, hiểu được ý chí và nguyện vọng của dân thì mọi giáo điều sẽ như sương mù tan biến dưới ánh mặt trời!   Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ vào thời điểm nhạy cảm này chính là thực hiện lời căn dặn của Bác “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước thềm Đại hội, thiết thực nhất là làm theo đòi hỏi của Bác: đừng “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà làm kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo… làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công nhưng về mặt chính trị là thất bại”. **   Về nguyên tắc thì dân không được dự Đại hội Đảng, dân cũng không được bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là bầu Tổng Bí thư! Ở đây là một thực tế lịch sử, dân ta sẵn sàng chấp nhận thực tế lịch sử đó khi Đảng thực sự là Đảng của dân, biết “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.**  Vậy là nguyên tắc thì như vậy, đồng thời về nguyên lý thì vừa qua, những Văn kiện sẽ đưa ra trình Đại hội XI thảo luận đã ít nhiều có sự đóng góp của dân, trong đó có sự đóng góp của nhiều đảng viên là cán bộ lão thành cách mạng, những người đã có trải nghiệm thành công và thất bại của Đảng, có đóng góp của những cựu chiến binh, những người đã từng cống hiến cuộc đời và một phần xương máu của mình cho sự nghiệp của dân tộc, có đóng góp trí tuệ và tâm huyết của nhiều trí thức chân chính, đã từng đúc kết những bài học của nước mình và của thế giới để đưa ra những kiến nghị có cơ sở khoa học và thực tiễn. Để chứng tỏ Đảng là Đảng của dân, Đảng biết trân trọng những đóng góp của dân, thì cần công khai toàn bộ những ý kiến đóng góp đó, ghi rõ những ý kiến nào Đại hội tiếp thu, đưa ra thảo luận để chuyển thành Nghị quyết, những ý kiến nào cần nghiên cứu để chỉ rõ đúng sai để trả lời thật minh bạch.  Một điều thiết thực và bức xúc nữa của dân, và cũng là của đông đảo đảng viên không phải là đại biểu Đại hội, nhưng thông qua đại biểu của mình, mong mỏi Đại hội đổi mới cách làm việc, đặc biệt là cách bầu BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là bầu Tổng Bí thư. Làm sao để Đại hội thực sự là cơ quan cao nhất của Đảng như Điều lệ Đảng đã quy định, nơi trực tiếp quyết định những vấn đề có ý nghĩa sống còn của Đảng, trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của dân.   Muốn thế, Đại hội phải thể hiện rõ tính chiến đấu và sự trung thực của người cộng sản, không tránh né những vấn đề có tính nguyên tắc, công khai và minh bạch trong tranh luận chứ không dễ dàng xuôi theo những vấn đề đã được chuẩn bị và sắp đặt sẵn. Đành rằng, bất cứ với cách thức nào thì sự chuẩn bị của Ban Tổ chức Đại hội là điều phải có. Song quyền quyết định phải là Đại hội, là sự tranh luận và biểu quyết của tất cả các đại biểu.   Hơn lúc nào hết, trước thềm của Đại hội XI, khí phách của dân tộc cần được khởi động. Những âm vang của lịch sử như giục giã mỗi chúng ta. Từ “Cương lĩnh dựng nước” của Khúc Hạo thế kỷ thứ X “Chính sự cốt chuộng sự khoan dung, giản dị để cho trăm họ được yên vui” đến bản lĩnh của Trần Hưng Đạo thế kỷ XIII “Bệ hạ muốn hàng xin trước hãy chém đầu tôi đã”, đến khí phách của người cộng sản Hoàng Văn Thụ thế kỷ XX trước giờ lên máy chém “Việc nước xưa nay có bại thành. Miễn sao giữ trọn được thanh danh”.  Người đảng viên của Đảng, những người gánh vác trọng trách của Đảng và cũng là của dân, trước hết phải là người yêu nước nhất, là người tỏ rõ khí phách trước kẻ thù, là người có bản lĩnh dám đương đầu trước mọi khó khăn, dám ở nơi đầu sóng ngọn gió để cùng dân tộc đi tới trong một thế giới đầy thử thách và đầy biến động khó lường của thế kỷ XXI. Đó chính là khát vọng của dân vào thời điểm nhạy cảm trước thềm Đại Hội XI của Đảng!  —  * C.Mác và PH.Ăng-ghen Toàn tập. Tập 21. HàNôi 1995, tr. 393.   ** Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 5. NXBCTQG, Hà Nội 1995. tr.295. tr.293, tr.297  *** Thái Duy. Đổi Mới ở Việt Nam. Nhớ lại và Suy Ngẫm. Chủ biên:Đào Xuân Sâm & Vũ Quốc Tuấn.   NXB Tri thức. 2008. tr.301         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát vọng Đổi mới lần hai      Những vấn đề như nợ công cao, nợ xấu lớn và kéo dài, tăng trưởng năng suất thấp và sụt giảm, cùng với các vấn đề như thiên tai, ô nhiễm môi trường… trong năm qua khiến cuộc Đổi mới lần thứ hai đã thực sự trở nên một yêu cầu hết sức cấp bách.      Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực xã hội.   Chưa bao giờ chúng ta được và phải chứng kiến những sự chuyển động mạnh, nhanh, với quy mô lớn và tác động sâu rộng như bây giờ. Trên trái đất, biến đổi khí hậu gây ra những thảm họa chưa từng có với những tổn thất hết sức nặng nề. Ở các vùng khác nhau, những điểm nóng ngày càng nóng hơn, chứa đựng nguy cơ bùng nổ những cuộc xung đột gay gắt. Chủ nghĩa dân tộc, dân túy nổi lên và lan rộng tại một số nước vốn dĩ có nền chính trị và kinh tế phát triển cao, gây nên những bất ổn mới rất khó lường. Tăng trưởng kinh tế và thương mại ở các đầu tàu sụt giảm, cộng hưởng với các nhân tố khác kéo tăng trưởng của toàn cầu đi xuống. Toàn cầu hóa rơi vào thoái trào, xu hướng tự do hóa thương mại chững lại và phần nào bị xu hướng bảo hộ đẩy lùi. Trong khi đó, thế giới lại đang thiếu vắng một cơ chế toàn cầu đủ mạnh để phối hợp xử lý và kiểm soát những vấn đề quan trọng chung.  Cùng lúc này, cách mạng công nghiệp đang nhanh chóng chuyển sang giai đoạn 4.0, với sự dẫn dắt và chi phối của công nghệ thông tin cùng hàng loạt lĩnh vực liên quan, mà cái tên của chúng mới chỉ nổi lên trong vài ba năm gần đây, như internet của vạn vật (internet of things – IOT), trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence – AI), hay mới toanh như robotic process automation (RPA)… Xu hướng “ảo”, “số hóa”, tự động hóa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghệ khác như nano, sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới…, tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp vĩ đại mà chúng ta chưa thể hình dung sẽ tác động như thế nào tới cuộc sống của con người trên trái đất này.  Trong tương lai trước mắt, cuộc cách mạng này chắc chắn làm đảo lộn cấu trúc của hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, thay thế hàng loạt nguyên vật liệu tự nhiên bằng những nguyên vật liệu nhân tạo, thay thế những thiết bị, phương tiện vốn có bằng những thiết bị, phương tiện mới với những tính năng vượt trội…, và nhất là thay thế lao động của con người bằng lao động của máy móc tự động và trí tuệ nhân tạo với năng suất, tốc độ và tính chính xác cao hơn hẳn. Từ đó, việc tổ chức và quản trị các cấu trúc xã hội, các mối quan hệ cũng như cuộc sống của con người trên hầu như tất cả các lĩnh vực cũng sẽ thay đổi mạnh mẽ.  Bên cạnh những cơ hội vô cùng to lớn và mới mẻ mở ra cho con người ở mọi quốc gia, những thách thức hết sức nặng nề cũng đang ập đến. Một tỷ lệ cao những người thường làm việc ở một số ngành sản xuất và dịch vụ dùng nhiều lao động có thể mất việc làm. Các nhân tố như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa kinh tế, lực lượng lao động giá rẻ… đang là lợi thế của một số quốc gia có thể mất đi sức mạnh vốn có, và buộc những nước sở hữu chúng phải tìm kiếm những nhân tố mới để tạo ra lợi thế mới. Mặt khác, sự khai thác thái quá các thành quả KH&CN, nhất là khi rơi vào tay những kẻ tham lam, ích kỷ, biến thái nhân cách hay bọn khủng bố có thể gây ra những tai họa ghê gớm cho con người và trái đất này.  Trong bối cảnh đó, không nước nào không lo tạo những đổi mới cần thiết ở nước mình, vừa để ứng phó với những thách thức mới, vừa để nắm bắt những cơ hội mới và vươn lên tầm phát triển cao hơn. Brexit hay sự thắng cử của Donald Trump đều phản ánh nguyện vọng của người dân Anh và Mỹ mong muốn đất nước họ giàu mạnh hơn, cuộc sống của họ tốt đẹp hơn. Nhìn rộng ra, cả thế giới đang ra sức chuẩn bị cho những chuyển động mới, lớn lao hơn, mạnh mẽ hơn trong năm 2017 và những năm sau.  ***  Đất nước ta cũng vừa trải qua một năm 2016 đầy khó khăn, thách thức. Thiên tai và nhân tai gây nên nạn hạn hán, ngập mặn rồi lũ lụt liên tục từ đầu đến cuối năm, cùng thảm họa môi trường chưa từng có gắn với cái tên Formosa và một số sự cố khác thực sự đã gióng lên những hồi chuông rất to cảnh báo rằng chúng ta không thể làm theo kiểu cũ – chạy theo tăng trưởng mà không quan tâm bảo vệ môi trường – được nữa. Các vấn đề nợ công cao, nợ xấu lớn và kéo dài, tăng trưởng năng suất thấp và sụt giảm, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các nguồn lực đang cạn kiệt dần do phân bổ không hợp lý và sử dụng lãng phí, kém hiệu quả; các tệ nạn tham nhũng, quan liêu, lạm dụng quyền lực… tích tụ từ những năm trước dường như lên tới đỉnh điểm vào đầu năm qua, cũng cho thấy chúng ta không thể làm theo kiểu cũ – giải quyết các nhu cầu và thách thức phát triển bằng các công cụ cũ – được nữa. Công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đi vào giai đoạn mới với những cam kết cao hơn và phủ rộng hầu hết các lĩnh vực cũng khiến cho những mặt yếu kém của nền kinh tế và nguy cơ tụt hậu xa hơn bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Bao trùm lên tất cả những vấn đề này là khung khổ thể chế hiện hành đã không những không thể giúp, mà còn cản trở sự phát triển của đất nước ta. Cuộc Đổi mới lần thứ hai đã thực sự trở nên một yêu cầu hết sức cấp bách.  Trong bối cảnh đó, những cam kết của Thủ tướng và Chính phủ mới về một chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ và hành động đã như một ngọn gió lành làm dấy lên niềm hy vọng mới trong bao người dân và doanh nghiệp Việt Nam. Sau những cuộc gặp mặt trực tiếp lắng nghe doanh nghiệp và các tầng lớp khác, sau khi ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy mới chứa đựng những chính sách cải cách quan trọng như cải thiện môi trường kinh doanh, tái cơ cấu nền kinh tế…, Thủ tướng đã liên tục làm việc với các bộ ngành, các địa phương, ra sức đôn đốc các cơ quan nhà nước các cấp thực hiện những cam kết của Chính phủ và tạo sự chuyển biến trong phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta.  Kết quả thực hiện các kế hoạch, chương trình phát triển của nước ta trong năm 2016 đã phần nào phản ánh cố gắng đó của Chính phủ. Việc hơn 110.000 doanh nghiệp mới ra đời, trong đó có hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp bằng những sáng tạo công nghệ hoặc sáng tạo về tổ chức, phương thức kinh doanh đã phản ánh niềm tin đang được bước đầu phục hồi trong giới kinh doanh. Kết quả của nông nghiệp cũng tương đối tốt trong điều kiện khó khăn chồng chất, thể hiện rõ sức mạnh của người dân khi biết cùng nhau vượt khó để tự cứu mình. Tình hình kinh tế vĩ mô khá ổn định trong suốt năm qua là một phần thưởng cho những cố gắng của Chính phủ trong việc chèo lái con thuyền kinh tế nước nhà giữa bao sóng gió. Tuy nhiên, những kết quả đó có thể tốt hơn nhiều nếu như cả bộ máy nhà nước có thể chuyển động một cách tích cực, đồng bộ, có thể hành động theo đúng những cam kết mà Thủ tướng và Chính phủ đã đưa ra.  Chúng ta cũng chưa thể hài lòng, vì dù cho nền kinh tế trụ được trước những khó khăn tưởng như không thể vượt qua trong năm 2016, nhưng cũng chưa tạo được nền tảng để có thể khắc phục những vấn nạn lớn hay giải quyết những vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế như đã nêu trên. Những vấn nạn như thách thức về môi trường gần như vẫn còn nguyên đó và có thể quay lại bất cứ lúc nào, nếu tư duy và hành động của chúng ta không chuyển đổi hẳn theo hướng không đánh đổi tăng trưởng bằng cái giá môi trường. Những vấn đề kinh tế vĩ mô cũng vẫn còn đó, không thể giải quyết được nếu không có cuộc cải cách mạnh mẽ, triệt để về thể chế và bộ máy vận hành đất nước. Và công cuộc hội nhập vẫn đầy thách thức trong bối cảnh thế giới thay đổi phức tạp hơn, đòi hỏi cao hơn năng lực thích ứng và cạnh tranh của cả Chính phủ lẫn doanh nghiệp.  Hơn nữa, dường như chúng ta vẫn đang loay hoay với những vấn đề cũ của mình mà chưa lo, chưa nghĩ bao nhiêu về những thay đổi đã, đang và sẽ diễn ra trên thế giới, trong khi chắc chắn những cái đó sẽ tác động không hề nhỏ lên nước ta, dù ta có muốn hay không. Những chuyển động, những thay đổi trên toàn thể trái đất này đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, cường độ ngày càng mạnh, sức lan tỏa và tác động ngày càng lớn. Chúng đủ sức đưa một số quốc gia dù lớn hay nhỏ phát triển vượt bậc và trở nên giàu mạnh, hùng cường hơn, đồng thời cũng có thể bỏ rơi hoặc nhấn chìm một số quốc gia khác trong vòng nghèo nàn, lạc hậu, mà một khi đã rơi vào đó thì khả năng vượt lên trở lại sẽ rất xa vời.  Việt Nam sẽ phát triển như thế nào, sẽ rơi vào nhóm nào trong hai nhóm nước trên, điều đó do chính chúng ta quyết định và phụ thuộc vào việc chúng ta có sớm tiến hành cuộc cải cách vô cùng cấp thiết để vượt qua chính mình và tiến cùng nhân loại hay không. Đổi mới lần thứ hai do vậy là khát vọng cháy bỏng của hơn 90 triệu người Việt Nam trong mùa xuân đang tới.       Author                Phạm Chi Lan        
__label__tiasang Khế ước xã hội      Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế  ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn  bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc  đảm nhận.     Hiến pháp trước hết cần được nhìn nhận như một bản khế ước xã hội. Dưới đây là những lý do cơ bản vì sao.  Trước hết, nếu tất cả chúng ta đều sinh ra tự do, nhưng đều phải phối hợp hành động để tồn tại, thì những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung là bắt buộc phải có. Vấn đề là chúng ta bắt buộc phải có những nguyên tắc, những khuôn khổ chung này bằng cách nào. Cách thứ nhất là chúng ta tự thỏa thuận về chúng. Cách thứ hai là chúng ta bị áp đặt về chúng. Theo cách thứ nhất, chúng ta vẫn tiếp tục là những con người tự do. Theo cách thứ hai chúng ta không còn là những con người tự do nữa. Hiến pháp là đạo luật cơ bản với những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung nhất (kể cả những nguyên tắc, khuôn khổ hạn chế quyền tự do của cá nhân). Vì vậy, chúng ta chỉ có thể vẫn là những con người tự do nếu chúng ta được tự thỏa thuận về Hiến pháp.  Thứ hai, một bản Hiến pháp chỉ thực sự hiệu năng khi nó trở thành một thứ “kinh thánh” thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Muốn được như vậy thì nó không thể bị áp đặt. Bạn yêu tha thiết đứa con của mình nhiều khi không hẳn chỉ vì nó xinh đẹp, mà chủ yếu là vì nó do bạn sinh ra. Thế thì Hiến pháp cũng vậy. Bản Hiến văn phải là đứa con tinh thần của chúng ta, là sự kết tinh của trí tuệ, đạo đức và văn hóa tâm linh của tất cả những công dân sống trên đất nước Việt Nam. Chúng ta sản sinh ra Hiến pháp, thỏa thuận với nhau về các quy định của Hiến pháp, về các quyền và nghĩa vụ của mình, thì chúng ta tuân thủ và đấu tranh đến cùng để bảo vệ Hiến pháp.  Ba là, chúng ta là gần 90 triệu người, 54 dân tộc, nhiều tôn giáo và thành phần xã hội khác nhau. Chúng ta rất chung, mà cũng rất riêng. Lợi ích của chúng ta cũng có nhiều điểm rất chung và có những điểm rất riêng. Chỉ một bản khế ước xã hội với sự tham gia xây dựng và thỏa thuận của tất cả mọi người và giữa tất cả mọi người, cái chung và cái riêng của tất cả chúng ta mới được cân nhắc đủ thận trọng, đủ cân bằng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới củng cố được khối đại đoàn kết của mình và có được sự phát triển bền vững, hài hòa. Không có Hiến pháp tốt một cách chung chung, chỉ có Hiến pháp tốt theo nghĩa được tuyệt đại đa số người Việt chúng ta chấp nhận.  Bốn là, với tư cách là một bản khế ước xã hội, Hiến pháp mới có thể tạo cho tất cả người Việt chúng ta một vị thế bình đẳng- bình đẳng với nhau và bình đẳng với Nhà nước. Tất cả chúng ta đều có những quyền và nghĩa vụ như nhau. Nhà nước được chúng ta phân chia quyền lực chỉ ở mức độ và trong phạm vi cần thiết để phụng sự cho công chúng. Nhà nước được chúng ta phân chia cho quyền lực và phải chịu trách nhiệm trước chúng ta, chứ không phải Nhà nước ban phát quyền cho chúng ta và chúng ta phải phục vụ Nhà nước. Đây cũng là lý do tại sao Hiến pháp thường quy định cụ thể hơn chế tài đối với các cơ quan Nhà nước hơn là các công dân.  Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc đảm nhận. Vấn đề là những người này phải thể hiện bản hiến văn như một khế ước xã hội, và người dân phải được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và phê chuẩn bản hiến văn đó.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi doanh nghiệp chưa là đầu tàu phát triển chuỗi giá trị      Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm địa phương, thúc đẩy kinh tế của sáu tỉnh Bắc Trung Bộ, đặc biệt là những vùng kinh tế khó khăn nhưng các doanh nghiệp chưa được ưu đãi tương xứng về mặt chính sách.    Doanh nghiệp quan trọng…  Trong Hội nghị Khoa học và Công nghệ thúc đẩy phát triển Nông nghiệp Công nghiệp hóa Hành lang đường Hồ Chí Minh vùng Bắc Trung Bộ, ông Đặng Ngọc Sơn, phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh tự tin nói rằng, chỉ cần vài nhà máy chế biến quy mô lớn là sẽ giải quyết được đầu ra cho 10.000 ha trồng cam và bưởi của tỉnh. Giải pháp cho điều “chỉ cần” này là đưa doanh nghiệp vào đầu tư tại đây.  Nhìn ở một khía cạnh nào đó, doanh nghiệp được mô tả như một “cây đũa thần” đánh thức tiềm năng của các tỉnh Bắc Trung Bộ vốn đang gặp khó khăn cho đầu ra của những đặc sản có tiếng trong nước và quốc tế, nhiều đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường vẫn chưa được sử dụng hiệu quả.  Chẳng hạn như, Tập đoàn TH được coi như đã góp phần quy hoạch lại các vùng nguyên liệu của tỉnh Nghệ An với một loạt các dự án từ chăn nuôi bò sữa, trồng rau và hoa quả, bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao, vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ, phân bố ven đường Hồ Chí Minh.    Giới thiệu một số sản phẩm của doanh nghiệp trong vùng tại hội nghị.  Hay Nafoods, đã đưa trái chanh leo được trồng ở Nghệ An lên bản đồ của thế giới bằng việc chiếm 10% thị phần nước ép chanh leo cô đặc trên toàn cầu. Công ty này đầu tư kĩ lưỡng từ việc xây dựng viện nghiên cứu và sản xuất giống chanh leo lớn nhất châu Á (vì các viện, trường tại Việt Nam chưa chọn tạo được giống chanh leo), liên kết chặt chẽ với người dân địa phương để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho đến chế biến, đóng gói và xuất khẩu sản phẩm đủ điều kiện để xuất khẩu sang thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ. Hay Vinamilk đã có sáng kiến phát triển kinh tế của người nông dân theo mô hình “vệ tinh” – khoán cho các hộ gia đình nuôi cỏ cho bò sữa rồi thu mua.  … Nhưng chưa có ưu đãi  Nhưng số lượng những doanh nghiệp như trên quá ít ỏi, tự phát, chưa đủ năng lực để lo đầu ra cho hàng triệu ha các sản phẩm nông nghiệp từ lúa, rau, cây ăn quả cho đến dược liệu, cây gia vị và sản phẩm chăn nuôi ở vùng Bắc Trung Bộ. Theo ông Nguyễn Đắc Vinh, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An các doanh nghiệp hiện nay “chỉ làm vậy thôi chứ chính sách ưu đãi về thuế là chưa có gì đâu”.    Ông Võ Văn Quang, Phó TGĐ Ngân hàng Bắc Á, đơn vị tư vấn đầu tư cho tập đoàn TH:Cần có một quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp – công nghiệp hóa hai bên hành lang đường Hồ Chí Minh.  Trong khi đó, đáng lẽ những tổ chức này cần sự khuyến khích đặc biệt vì đầu tư vào nông nghiệp ẩn chứa rất nhiều rủi ro, không chỉ vì thời tiết, thị trường biến động mà cả những vấn đề liên quan phát triển cộng đồng (chẳng hạn như Nafoods từng không nhận được nhiều thiện cảm của người dân sống quanh vùng nguyên liệu, họ đã bị phá hoại vùng nguyên liệu nhiều lần mà đỉnh điểm là bị chặt 1200 gốc chanh leo và bị phá đường ống tưới trong thời điểm thu hoạch). Hơn nữa, các doanh nghiệp này khi đầu tư, lại đều lựa chọn những vùng khó khăn về kinh tế như Viện nghiên cứu và phát triển giống chanh leo của Nafoods được xây dựng ở vùng núi cao thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, tập trung đồng bào dân tộc thiểu số trước đây trồng thuốc phiện.  Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, ông Lê Quốc Doanh chia sẻ rằng, Bộ đã chỉ đạo doanh nghiệp hợp tác với các viện trường thông qua các đề tài, dự án. Cụ thể, Bộ cho Nafoods chủ trì một đề tài hợp tác với các viện nghiên cứu để giải quyết vấn đề về giống và bệnh chanh leo hay giao cho Công ty Vật tư Nông nghiệp Nghệ An và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Bắc Trung Bộ quản trị giống cây ăn quả có múi ở vùng Bắc Trung Bộ. Bản thân Bộ KH&CN cũng trực tiếp đặt hàng Viện rau và cây ăn quả kết hợp với Sở KH&CN tỉnh Hà Tĩnh giải quyết vấn đề ra hoa kém của cây bưởi Phúc Trạch.  Tuy nhiên, ngay cả khi được đặt hàng trực tiếp thì các thủ tục tài chính liên quan mất rất nhiều thời gian và công sức của doanh nghiệp. Nafoods đã xin Bộ NN&PTNT dừng giữa chừng một dự án liên quan đến việc bảo quản hoa quả tươi vì thủ tục “khó quá” (nhưng sau đó họ lại tiếp tục vì được “động viên”).    Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT tập đoàn Nafoods cho rằng ông vừa khó tiếp cận đất đai, vừa khó tiếp cận tài trợ cho R&D của nhà nước.  Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Nafoods cũng cho biết đã quyết định không xin tài trợ từ quỹ Đổi mới Khoa học và Công nghệ quốc gia NATIF để xây dựng tổ hợp sản xuất và chế biến hoa quả xuất khẩu lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long đã đi vào hoạt động tháng 4 năm nay vì “nếu chờ quỹ chắc bây giờ nhà máy chưa khánh thành được”.  Còn về vấn đề đất đai, trường hợp được tỉnh giao tới 4000 ha một lúc như TH True Milk là hiếm hoi. Ông Hùng đặt câu hỏi trong Hội nghị: “Chúng ta bảo là đất rất nhiều nhưng thử hỏi tôi ước ao được một vùng đất như chị Hương TH có được không? Không có. Rất khó. Đất ít rồi nhưng thủ tục để có đất là bài học vô cùng nan giải.”  Một trong những lí do cho điều này đó chính là chưa có một quy hoạch tổng thể vùng Bắc Trung Bộ với sự tham gia, lấy ý kiến doanh nghiệp trong việc lựa chọn các loại cây chủ lực của mỗi vùng gắn liền không chỉ với điều kiện mà còn với cả nhu cầu của từng vùng, dẫn đến trùng lặp, cạnh tranh nhau, đặc biệt là khi mối liên kết giữa sáu tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay đang rất yếu, “người nào lo người đấy”, “không ai nghe ai cả”, theo như lời ông Huỳnh Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.  Theo Báo Khoa học và Phát triển       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nào cần làm đường sắt cao tốc?      Câu trả lời là: Chỉ khi có nhu cầu thực sự (không phải thổi phồng) về vận chuyển hành khách.      Tàu Thống nhất Bắc Nam. Ảnh: Báo Công an.  Khi các phương tiện GTVT mặt đất khác đã khai thác hết khả năng  Tất cả các nước đều chỉ xem xét khả năng làm ĐSCT khi nào các phương tiện GTVT mặt đất hiện có (ĐS, đường bộ) trên tuyến đó đã khai thác hết khả năng mà vẫn không đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách đang tăng lên; và không có phương án giải quyết nào tốt hơn ĐSCT.  Nhật là nước đầu tiên trên thế giới làm ĐSCT, vì thế tìm hiểu quá trình làm ĐSCT Nhật sẽ hữu ích cho chúng ta [4]. Cuối thập niên 50 ĐS Quốc gia Nhật (JNR) bắt đầu nghiên cứu làm ĐSCT cho tuyến Tokaido (Tokyo-Osaka) vì nhu cầu đi lại trên tuyến này cực cao và tăng nhanh tới mức không phương tiện GTVT hiện có nào đáp ứng nổi. Đường ô tô cao tốc đã chật cứng. ĐS Tokaido hồi ấy là đường đôi, khổ hẹp 1067 mm, sức kéo điện, tự động hoá điều khiển, vận tốc tàu khách 120-130 km/h, bấy giờ đã khai thác hết năng lực vận chuyển, mỗi ngày chạy 200 đôi tàu (tàu đi và tàu về tính là 1 đôi tàu), trong đó có 120 đôi tàu khách mà vẫn không chở hết lượng người (so sánh: ĐS Hà Nội-Sài Gòn mỗi ngày chỉ chạy không quá 20 đôi tàu). Chỉ chiếm 2,9% tổng chiều dài ĐS Nhật nhưng tuyến ĐS 590 km này chở 1/4 tổng lượng hàng hoá và hành khách của ĐS cả nước. Nạn tắc giao thông trên tuyến đã tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế của cả nước.      Để khai thác không thua lỗ, yêu cầu lượng chở khách đi suốt tuyến ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn phải không dưới 36 triệu lượt người/năm, hoặc gần 100.000 lượt người/ngày.      JNR cân nhắc 3 phương án giải quyết: + Làm thêm hai ĐS khổ hẹp trên toàn tuyến cũ, thành tuyến ĐS có 4 đường; + Làm mới một ĐS khổ hẹp đường đôi không cùng tuyến với ĐS hiện có; + Làm mới một tuyến ĐS dài 515 km, đường đôi khổ tiêu chuẩn 1435 mm, điện khí hoá, tự động hoá, vận tốc trên 200 km/h, tức tuyến ĐSCT Tokaido mới.  JNR chọn phương án 3, vì có hiệu quả kinh tế-xã hội lớn nhất, lại thể hiện được hình ảnh nước Nhật đã trở thành cường quốc kinh tế, nhất là khi năm 1957 Nhật giành quyền tổ chức Thế vận Olympics Tokyo 1964 và Hội chợ quốc tế EXPO Osaka 1970; chỉ ĐSCT mới đáp ứng nhu cầu chở hàng chục triệu du khách dồn dập tới trong thời gian ngắn. Từ 1/10/1964 tuyến ĐSCT Tokaido bắt đầu chạy tàu, vận tốc 210 km/h (hiện nay 270 km/h), hành trình từ 6h30 rút xuống còn 3h. Thời gian 1972-2002 làm thêm 6 tuyến ĐSCT dài 2214,7 km, vân tốc 270-300 km/h.  ĐSCT Seoul-Pusan (412 km) chỉ được làm khi năng lực chuyên chở của tuyến ĐS hiện có hồi đó đã bão hoà không thể tăng được nữa, mỗi ngày chở 180.000 lượt người mà vẫn còn rất nhiều người không mua được vé tàu. Dự kiến lưu lượng khách sẽ lên tới 620.000 lượt người/ngày.  Tuyến ĐS Bắc Kinh-Thượng Hải nối 7 đô thị lớn (loại trên 1 triệu dân), năm 2009 có năng lực chuyên chở 70 triệu lượt người/năm, không đủ sức đáp ứng nhu cầu đi lại ngày một tăng. Vì thế phải làm một tuyến  ĐSCT hoàn toàn mới, dài 1378 km, có thể chở hơn 100 triệu lượt khách/năm, khai thác từ 6/2011. Đây là tuyến ĐSCT dài nhất, tiêu chuẩn cao nhất thế giới năm đó.  Hiệu quả kinh tế của đường sắt cao tốc  Hiệu quả kinh tế của ĐSCT phụ thuộc chủ yếu vào lượng khách đi tàu. Do vốn đầu tư cực lớn mà giá vé đi tàu cao tốc lại không được đắt hơn vé máy bay (vì nếu đắt hơn thì người ta sẽ đi máy bay), nên việc khai thác ĐSCT chỉ có lãi khi lưu lượng khách cực lớn.  Giá vé tàu tuyến Tokyo-Osaka năm đầu khai thác (1964) là 3300 Yen cho toa hạng hai, 6700 Yen cho toa hạng nhất (hành trình 3 giờ, 515 km), trong khi vé máy bay là 7600 Yen [5] , thời gian bay 45 phút song việc đi lại giữa sân bay với thành phố mất nhiều thời gian, còn ĐS chạy thẳng vào trung tâm thành phố và nối ngay vào hệ thống tàu điện ngầm. Thời kỳ sau, JNR phải tăng giá vé để tránh thua lỗ, vì thế đi ĐSCT đắt hơn máy bay nhưng nhanh và tiện hơn, vì ĐSCT và metro dùng cùng loại vé. Tại Tokyo đi bộ chừng 500 m là có ga metro.  Giá vé đi ĐSCT tại Đài Loan hiện nay (hành trình 96 phút, 345 km) loại phổ thông và loại thương gia là 1488 và 2440 NTD [6] (45,4  và 74,4 USD) tức 0,13~0,216 USD/km; giá vé máy bay cùng tuyến loại phổ thông và thương gia là 2200 và 3608 NTD; nghĩa là đi tàu không rẻ hơn đi máy bay, nhưng tiện hơn, vì quãng đường 345 km quá ngắn nên máy bay không phát huy được ưu thế tốc độ, hơn nữa đi máy bay mất thêm thì giờ cho việc đi/về sân bay và kiểm tra an ninh.  Tàu cao tốc tuyến Vũ Hán-Quảng Châu (3 giờ, 1069 km) vé hạng nhất 780 CNY [7], hạng nhì 490 CNY (71,74 và 114,20 USD); bình quân mỗi km là 0,4585~0,7299 CNY tức 0,067~0,106 USD. Tuyến Bắc Kinh-Thượng Hải (5 giờ, 1318 km), giá vé dự kiến 600 CNY (87,85 USD), theo giới thiệu là rẻ hơn vé máy bay hoặc ô tô. Có thể ở đây đã có bù giá của nhà nước để khuyến khích đi tàu cao tốc (với mức giá này suy ra giá vé tàu cao tốc Hà Nội-TPHCM khoảng 100 ~170 USD). Chú ý là ĐSCT ở TQ có lượng khách đi tàu cực lớn, nhất là dịp cuối tuần và lễ hội.  Tuyến ĐSCT Tokyo-Osaka có lưu lượng khách đi tàu mỗi ngày năm 1965 là 60 nghìn, năm 1974 lên đến 340 nghìn lượt người; năm 1965 chở được 31 triệu; 1966 – 44; 1967 – 55; 1968 – 66; 1970 – 84; 1974 – 120; 2008 – 151 triệu lượt người. Giờ cao điểm chạy được mỗi giờ mỗi chiều 13 đoàn tàu loại 16 toa, có 1323 chỗ ngồi (thực tế nhiều người đứng). Ba năm đầu chở được 100 triệu lượt người. Sau 12 năm chở được 1 tỷ; sau 40 năm chở 4,16 tỷ lượt người, lập kỷ lục thế giới về lưu lượng khách. Tất cả các chuyến tàu đều chật cứng, tới mức có thời kỳ mỗi ga phải lập những “đội hỗ trợ” gồm toàn thanh niên to khoẻ trực ở cửa mỗi toa tàu, dùng sức đẩy khách vào trong toa để tàu kịp chạy. Hành trình đi tàu toàn tuyến từ 6h30 phút rút xuống còn 3h10 phút, nay là 2h18 phút, do đó đã thu hút phần lớn khách trước đây đi máy bay hoặc ô tô. Nhờ thế tuyến ĐSCT này sau 8 năm khai thác đã thu hồi vốn.  Dựa vào kết quả lạc quan nói trên, JNR đã lập kế hoạch xây dựng mạng lưới ĐSCT toàn Nhật với tổng chiều dài 6000 km. Nhưng vì các tuyến mới làm sau này có giá thành xây dựng quá cao mà lưu lượng hành khách lại không lớn nên JNR bị lỗ triền miên (tất nhiên còn những lý do khác). Đầu năm 1987, các khoản nợ của JNR đã lên đến 28 nghìn tỷ Yen. Quốc hội phải quyết định tư nhân hoá toàn bộ JNR với dự tính sẽ chấm dứt được tình trạng thua lỗ. Sau đó các công ty tư nhân đã bỏ ra 9,2 nghìn tỷ Yen mua lại toàn bộ ĐSCT của JNR.       ĐSCT ở Đài Loan tuy có lượng khách đi tàu tăng dần: 6 tháng đầu mỗi ngày bình quân chở được 50 nghìn lượt người, năm 2007 chở 15,55 triệu, 2008 – 30,59 triệu, 2009 – 32,35 triệu lượt người, nhưng vẫn là quá ít, vì thế đều lỗ trầm trọng. Doanh thu năm 2007 bằng gần 14 tỷ NTD nhưng tiền trả lãi vay là 17,4 tỷ NTD. Sau chưa đầy 3 năm khai thác, công ty ĐSCT Đài Loan THSRC thua lỗ 12,3 tỷ USD. Chính quyền đang tìm cách tiếp quản công ty này [8].  ĐSCT Seoul-Pusan mỗi năm chở 226 triệu lượt người.  ĐSCT Bắc Kinh-Thượng Hải dự kiến chở 160 triệu lượt người/năm, hơn gấp đôi ĐS hiện có.  ĐSCT còn có hiệu quả rất lớn về nhiều mặt xã hội, văn hoá, môi trường. Nó làm tăng nhu cầu đi lại của dân, vì thế đẩy mạnh giao lưu kinh tế, văn hoá, du lịch, đẩy mạnh sản xuất công nông nghiệp trong vùng ảnh hưởng của ĐS, chưa kể hiệu quả chính trị như làm tăng ảnh hưởng của đất nước, nhất là trong các dịp lễ hội quốc tế. Như tuyến Tokyo-Osaka phục vụ tốt Olympics Tokyo 1964 và Hội chợ Quốc tế EXPO Osaka 1970 (có 37 triệu du khách tới Osaka). Tây Ban Nha làm ĐSCT Madrid-Seville còn để đón EXPO Seville 1992. Do có lượng khách du lịch vào loại hàng đầu thế giới, Tây Ban Nha đang phát triển mạnh ĐSCT, đến năm 2020 sẽ có mạng ĐSCT tổng chiều dài 10 nghìn km ĐSCT, lớn nhất châu Âu.  Khoảng 40 năm nữa mới cần ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn  ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn tất nhiên phải đi theo tuyến hoàn toàn mới không liên quan tới tuyến ĐS hiện có, hầu hết đi trên cao hoặc chui hầm; công trình xây dựng cực kỳ phức tạp, tốn kém, đòi hỏi vốn đầu tư cực lớn, hiện nay nhà nước ta chưa đủ năng lực tài chính.  Nhưng dù có đủ năng lực tài chính đi nữa thì chúng ta cũng chỉ nên xét vấn đề làm ĐSCT dưới yêu cầu quan trọng nhất là bảo đảm việc khai thác ĐSCT không bị thua lỗ. Nếu không thì đất nước sẽ bị phá sản, vỡ nợ.  Muốn vậy tất nhiên phải thu hút được nhiều khách đi tàu. Thử lấy ĐSCT Đài Loan làm ví dụ tham khảo,có thể tạm kết luận: Để khai thác không thua lỗ, yêu cầu lượng chở khách đi suốt tuyến ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn phải không dưới 36 triệu lượt người/năm, hoặc gần 100.000 lượt người/ngày. Theo số liệu hiện có, lượng khách đi tàu tuyến này năm cao nhất không quá 7 triệu lượt người/năm, tức 19.200 lượt người/ngày, trong đó đã kể cả khách đi tàu đường ngắn. Theo TS Nguyễn Ngọc Hiếu, lượng khách đi suốt Hà Nội-Sài Gòn chỉ khoảng 6.000 lượt người/ngày (5-6 đôi tàu/ngày, 2,2 triệu/lượt người năm) [9]. Giả thiết lưu lượng khách tăng mỗi năm 7% tức ngang mức tăng trưởng GDP bình quân nước ta, thì từ mức lưu lượng khách 2,2 triệu lượt người/năm tăng lên tới mức 36 triệu lượt người, chúng ta cần khoảng 40 năm nữa. Cần nói thêm: khi làm xong đường ô tô cao tốc xuyên Việt (chắc hẳn sẽ xong trước ĐSCT) thì lưu lượng khách đi tàu sẽ giảm đáng kể, vì dân ta ngày càng thích sắm xe hơi. Ngoài ra hàng không giá rẻ hiện đang phát triển mạnh ở nước ngoài, trong tương lai rất có thể ta cũng khai thác loại hình này. Như vậy ở đây chấp nhận tốc độ tăng lượng khách đi tàu Hà Nội-Sài Gòn 7%/năm đã là rất lạc quan.  Dĩ nhiên ta cũng có thể chấp nhận khai thác lỗ trong 10 năm đầu, sau đó lượng khách đi ĐSCT sẽ tăng dần (do thấy các ưu điểm của phương tiện này) nên sẽ có lãi. Nhưng chắc là dân ta sẽ chẳng cho phép mạo hiểm làm như vậy.  Tóm lại theo chúng tôi, xét về mặt kinh tế, khoảng 40 năm nữa nước ta mới cần khai thác tuyến ĐSCT Hà Nội-Sài Gòn. Nếu xét tới thời gian nghiên cứu, khảo sát thiết kế, so sánh phương án và thẩm định thiết kế tuyến này cần ít nhất 10 năm, thời gian xây dựng và thử nghiệm cần ít nhất 10 năm thì 20 năm nữa mới cần đặt ra trước Quốc Hội vấn đề làm tuyến ĐSCT nói trên.    —  Ghi chú:  [4] Chi tiết đọc: Nguyễn Hải Hoành, “Vấn đề chạy tàu tốc độ cao trên đường sắt nước ngoài”, TCĐS, Hà Nội, 1970.  [5] Tỷ giá hồi thập niên 60 là 1 USD = 360 Yen; đồng USD hồi ấy giá trị gấp khoảng 20 lần hiện nay.  [6] NTD : New Taiwan Dollar, 1 NTD = 0,0303 USD (thời giá 2010).            [7] CNY: Chinese Yuan, 1 CNY = 0,14641 USD (thời giá 2010)  [8] http://www.cens.com/cens/html/en/news/news_inner_29333.html Government Takes Over to Keep High Speed Rail on Track    [9] http://www.tuanvietnam.net/2010-05-25-duong-sat-cao-toc-danh-cho-ai-    Author                Nguyễn Hải Hoành        
0.06808510638297872
__label__tiasang Khi thanh tra giao thông phạm luật      Đã phạm luật giao thông, đối mặt với cảnh sát, có tin đưa rằng một ông Phó Chánh thanh tra Bộ GTVT còn rút thẻ khoe danh tính của mình. Nếu quả đúng như vậy thì một giây ứng xử không khéo, thành chuyện của làng báo, ồn ào một lát rồi lại chìm, đến bao giờ quan phạm luật cũng nhất loạt bị xử như dân thường ở đất nước chúng ta.                            Phó chánh thanh tra chỉ là một chức quan nhỏ, có thể như một bản năng ông ấy rút thẻ những mong tước vị tạo ra ngoại lệ cho mình. Ngôi càng cao thì quyền càng lớn, quyền càng lớn thì ngoại lệ càng nhiều, luật pháp bất vị thân là mơ ước tự ngàn xưa, song để điều mơ ước ấy trở thành thực tế còn rất nhiều việc phải làm.  Quan cũng như dân, đã phạm luật thì phải bị xử như nhau. Ấy là chuyện công bằng về trách nhiệm pháp lý, bởi quan cũng là người, ai trên đời mà chẳng mắc sai lầm. Tuy nhiên, ngoài trách nhiệm pháp lý ấy, người làm quan đáng ra còn phải chịu một thứ trách nhiệm nữa được gọi là trách nhiệm giải trình.  Nhận sự ủy trị từ nơi dân, người công chức thực thi công lực, cái quyền ấy có gốc rễ từ quyền lực công của toàn thể nhân dân. Cây gậy cảnh sát, thẻ thanh tra, đã nhận lấy thì phải chịu trách nhiệm trước người trao quyền. Vì vậy, không chỉ chịu trách nhiệm như dân thường, nếu quan chức hay chính khách phạm pháp, đáng lẽ ra họ phải chịu những trách nhiệm khắt khe hơn.  Điều ấy thường được thể hiện trong quy trình tuyển lựa, thăng giáng hay thải hồi công chức. Điều ấy được thực thi qua sức ép của công luận, kỷ luật của đảng phái, dẫn đến những phiên sát hạch, điều trần, luận tội, bỏ phiếu bất tín nhiệm. Người làm quan thường vất vả hơn dân thường bởi phải giải trình những việc mình làm. Dân thường thì tự do làm giàu, song quan chức phải minh bạch tài sản, kê khai thu nhập. Nếu làm điều gì sai trái, dân thường có khi âm thầm xấu hổ với liêm sỉ của mình, còn quan chức phải chịu sự lên án công khai ồn ào trên mặt báo.  Bởi thế, nếu có chuyện ông thanh tra giao thông phạm luật giao thông thì chuyện ấy không chỉ còn là chuyện riêng tư. Một giây ứng xử không khéo, thêm một dịp đã trở thành một dư luận để người dân nước ta đòi hỏi người làm quan phải chịu trách nhiệm với những ông chủ đã trao quyền. Khi dân ta thêm khắt khe giám sát quan chức Nhà nước, ấy chính là dân ta làm chủ, Nhà nước khi ấy mới càng thêm là Nhà nước của dân./.  P/S: Có vẻ như Chánh thanh tra Bộ GTVT nói rằng tin dưới đây không đúng, không thể xác tín:  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/373633/Pho-chanh-thanh-tra-Bo-Giao-thong-vi-pham-Luat-giao-thong.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi văn hoá không song hành với kinh tế      Quá nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế đơn thuần chính là nguyên nhân khiến bản thân nền kinh tế đang đối mặt với khó khăn, lạm phát gia tăng, tăng trưởng chậm lại, và chắc chắn đây không chỉ là chuyện trước mắt mà là xu hướng lâu dài, nếu chúng ta không tìm đến ngọn nguồn của vấn đề: văn hoá không song hành với tăng trưởng kinh tế, những bất cập về văn hoá nổi lên gay gắt như hiện nay đang cản trở bước phát triển của đất nước.    Căn cứ vào đâu? Kinh tế có thể đo đếm được, tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm có thể tính đến con số lẻ phần trăm. Nên nói kinh tế nước nhà tăng trưởng, chắc không ai nghi ngờ. Trong khi đó, văn hoá vừa đa dạng, lại không có thước đo thích hợp. Căn cứ trên số người thoát nạn mù chữ hoặc số trẻ em được đến trường như UNDP vẫn thường xếp hạng trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới, chắc chắn sẽ không thấy được bức tranh văn hoá của đất nước trong thời gian qua, không trả lời được câu hỏi liệu văn hoá nước nhà đang tiến lên hay thụt lùi. Cho nên phải viện đến các bằng chứng.  Hơn hai năm trước đây, Intel nhảy vào sân chơi Việt Nam tưởng chừng như một cú hích có thể bẻ cong quỹ đạo phát triển kinh tế nước nhà theo hướng công nghệ cao, ít tiêu tốn năng lượng mà lại thân thiện với môi trường vốn đang bị tàn phá nặng nề sau nhiều năm phát triển kinh tế một chiều. Nhưng Intel đã thất vọng khi chỉ chọn được 40 trong số 2000 nhân viên cần tuyển dụng, điều nằm ngoài dự tính của họ. Cú hích đã không thành. Không chỉ Intel, người trong cuộc như chúng ta cũng không khỏi ngỡ ngàng. Hoá ra “trí tuệ Việt Nam”, “sao khuê đất Việt” … mà năm nào cũng đến hẹn lại lên chẳng qua chỉ là những màn trình diễn cây nhà lá vườn.          Mỗi một người trí thức Việt Nam, nhất là những người thường được xem như giới tinh hoa văn hoá của đất nước, hiểu rất rõ mình là ai trong các đồng nghiệp trên thế giới, mình đã được sử dụng như thế nào và thực sự làm được gì, chứ không phải làm chức gì, cho đất nước. Giới tinh hoa cần phải nói lên sự thật này để những nhà hoạch định chính sách đừng ảo tưởng về hiện trạng văn hoá và trí thức Việt Nam. Chính cái ảo tưởng đó là một trong những lý do khiến cho văn hoá không phát triển như một quốc sách đích thực. Giới trí thức hiện nay phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về chuyện này. Đã không vươn lên xứng tầm vóc dân tộc và thời đại thì chớ, một số lại còn bày ra những “trò chơi quá đà” hòng đánh bóng mình và ru ngủ mọi người.          Hãy cảm ơn Intel! Chưa biết họ sẽ đóng góp nhiều ít vào tốc độ tăng trưởng GDP trong những năm sắp tới, nhưng họ đã mang đến một thước đo văn hoá chân thật khiến chúng ta phải thức tỉnh, để còn nhận ra mình là ai. Sinh thời Cao Bá Quát vốn là người thông tuệ đến mức được xem như đã cuỗm mất một trong hai bồ chữ của thiên hạ, nhưng khi được làm tuỳ tùng theo đoàn công cán của triều Nguyễn sang Nam Dương qua ngã Tân Gia Ba đã phải thốt lên: “Tân Gia vượt biển lên tàu/Mới hay xã hội một màu bao la/ Giật mình nghĩ đến quê nhà/Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi!”.  Khác với cái thời bế quan tỏa cảng mà họ Cao đã sống, giờ đây ta đang hội nhập sâu với thế giới tràn ngập thông tin. Mỗi một người trí thức Việt Nam, nhất là những người thường được xem như giới tinh hoa văn hoá của đất nước, hiểu rất rõ mình là ai trong các đồng nghiệp trên thế giới, mình đã được sử dụng như thế nào và thực sự làm được gì, chứ không phải làm chức gì, cho đất nước. Giới tinh hoa cần phải nói lên sự thật này để những nhà hoạch định chính sách đừng ảo tưởng về hiện trạng văn hoá và trí thức Việt Nam. Chính cái ảo tưởng đó là một trong những lý do khiến cho văn hoá không phát triển như một quốc sách đích thực. Giới trí thức hiện nay phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về chuyện này. Đã không vươn lên xứng tầm vóc dân tộc và thời đại thì chớ, một số lại còn bày ra những “trò chơi quá đà” hòng đánh bóng mình và ru ngủ mọi người.          Nhìn ra thế giới, trình độ phát triển khác nhau của các quốc gia không phải đo bằng GDP, mà bằng trình độ văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, trí tuệ và tâm thức của cộng đồng. Tiền trong túi không quan trọng bằng tri thức trong đầu người dân.          Cho nên nói đến sự bất cập về văn hoá hiện đang cản trở kinh tế phát triển cũng chính là nói đến sự yếu kém của giới tinh hoa văn hoá. Tại sao khi đánh giá hiện trạng văn hoá của nước nhà ta lại chỉ nhìn vào giới tinh hoa mà quên mất rằng chúng ta đang có phong trào văn hoá quần chúng hết sức phong phú, có làng văn hoá, khu phố văn hoá rộng khắp mọi nơi? Có vẻ như nghịch lý, song có gì đó khiến cho những quá trình kiến tạo địa chất không thể biến những gò đất kia thành quả núi! Mà chỉ có đứng trên đỉnh núi cao mới thấy được con đường phải đi phía trước. Lại cũng chính qua những đỉnh núi này mà thế giới bên ngoài mới nhìn thấy Việt Nam, thế hệ người Việt mai sau mới biết đến thời đại hiện nay chúng ta đang sống.    Chúng ta đang mong thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, và mục tiêu này thường được hiểu đồng nhất với GDP trên đầu người vượt quá một con số nào đó. Lại một biểu hiện nữa của quan điểm kinh tế đơn thuần. Xem GDP và tăng trưởng kinh tế như tiêu chí tối thượng để đánh giá thành tích, hoặc đồng nhất GDP với trình độ phát triển của xã hội đã trở thành quan niệm khá phổ biến ở nước ta.           Ảnh: Lê Thiết Cương         Chẳng hạn, có người bảo Hàn Quốc bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) khi GDP trên đầu người thấp hơn 100 USD, ta hiện nay trên 800 USD, cứ thế suy ra sẽ thấy ta không có gì phải lo. Cũng vậy, trong một cuộc hội thảo mới đây, để khuyến khích Việt Nam nhanh chóng nhập nhà máy ĐHN, vị trưởng đoàn Nhật Bản cho biết họ có nhà máy đầu tiên từ năm 1965, khi đó nước Nhật cũng giống như Việt Nam bây giờ. Có thật thế không?  Trước hết, giá trị đồng USD hiện nay khác với 40 năm trước đây. Nhưng hãy bỏ qua lỗi nhỏ này để xem lại lịch sử. Người Nhật đã biết chế ra máy bay, tàu chiến trong chiến tranh thế giới thứ II, sau chiến tranh họ đã đứng lên từ một nền kinh tế kiệt quệ, ồ ạt tung ra thị trường những máy thu thanh, TV bán dẫn đầu tiên vào đầu thập kỷ sáu mươi. Về khoa học hạt nhân, năm 1935 Hideki Yukawa đã tiên đoán ra hạt pion nhằm giải thích lực tương tác trong hạt nhân nguyên tử và đã trở thành người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel. Trong chiến tranh, Nhật Bản đã có đề án phát triển vũ khí hạt nhân do Yoshio Nishina lãnh đạo, người mà từ năm 1929, khi điện động lực học lượng tử vừa mới phôi thai, đã phát minh ra công thức phân bố góc trong tán xạ Compton. Nhờ có một lực lượng hạt nhân hùng hậu cùng với một nền công nghiệp tiên tiến mà người Nhật đã dám cải tiến ngay nhà máy ĐHN ngoại nhập đầu tiên theo thiết kế của mình.     Vậy phải chăng Việt Nam bây giờ “giống” nước Nhật 40 năm về trước?  Nhìn ra thế giới, trình độ phát triển khác nhau của các quốc gia không phải đo bằng GDP, mà bằng trình độ văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, trí tuệ và tâm thức của cộng đồng. Tiền trong túi không quan trọng bằng tri thức trong đầu người dân.          Cúp điện vô tội vạ là chuyên thời sự gây bức xúc hiện nay ở nước ta. Trước tình hình này, quan điểm chung từ trên xuống dưới là gấp rút xây dựng các nhà máy phát điện mới, đẩy tốc độ tăng trưởng điện năng lên cao hơn nữa, từ 15-16%, gấp hai lần tốc độ tăng GDP hiện nay, lên 20-25%. Trong khi đó, đại đa số các nước trên thế giới, kể cả người đàn anh láng giềng khát điện như Trung Quốc, cũng chỉ tăng điện năng chưa đầy 10%/năm. Rất tiếc rằng quá ít người, nhất là những nhà kinh tế chính thống, góp ý cho Nhà nước phải kiên quyết xem xét lại chính sách năng lượng độc nhất vô nhị này.          Đương nhiên, có thực mới vực được đạo, song đồng tiền không tự nó sinh ra văn hoá để rồi văn hoá làm ra nhiều tiền hơn. Chả thế mà nhiều nước có GDP cao nhưng vẫn lạc hậu, rất nhiều người thất học, phụ nữ bị xem thường, và đây thường là mãnh đất thuận lợi cho phân hoá giàu nghèo, các nguồn lợi kinh tế chỉ tập trung vào một thiểu số giàu có. Nên chạy theo GDP bằng mọi giá, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng kẻ giàu nứt đố đổ vách, người nghèo xác xơ, một kịch bản dường như đang xảy ra qua những vụ chiếm đoạt đất đai dưới danh nghĩa các dự án phát triển như báo chí đã thường xuyên nêu lên.  Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng và biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, sử dụng năng lượng có hiệu quả, không lãng phí, không tàn phá tài nguyên thiên nhiên và môi trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá một quốc gia thuộc loại phát triển hay chậm tiến. Nhất là không để cho những công nghệ lỗi thời tiêu tốn điện năng tìm thấy mảnh đất “dễ thương” này để đầu tư, “hợp tác”. Đây chính là vấn đề văn hoá và đạo đức. Xây dựng một lối sống mới trong toàn cộng đồng cho thích hợp với xã hội văn minh phi cac bon của thế kỷ XXI là điều cần phải làm, hơn là moi hết của cải giành cho thế hệ mai sau ở dưới lòng đất lên rồi xả rác thải ra môi trường dưới danh nghĩa tăng trưởng kinh tế.  Nếu trên tầm vĩ mô GDP được xem là tiêu chí độc tôn, thì ở những thang bậc thấp hơn, đồng tiền được xem là thống soái. Quan hệ logích này rất dễ chứng minh. Trong các hoạt động văn hoá, khoa học công nghệ, đồng tiền đã trở thành cứu cánh, không còn là phương tiện như sứ mạng vốn có của nó. Đây có lẽ là lý do quan trọng nhất khiến văn hoá bị xâm hại, thụt lùi, và những nhà văn hoá đích thực khó tìm thấy chỗ đứng để phát huy vai trò của mình trong cộng đồng. Một môi trường văn hoá lành mạnh, dân chủ, không chịu sự thống trị của đồng tiền là mục tiêu cần vươn tới để phát triển giới tinh hoa, chỉ có thế văn hoá mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển.          Một môi trường văn hoá lành mạnh, dân chủ, không chịu sự thống trị của đồng tiền là mục tiêu cần vươn tới để phát triển giới tinh hoa, chỉ có thế văn hoá mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển.          Chúng ta đang chứng kiến những tượng đài vô hồn, hoặc mới dựng lên đã thành phế phẩm, những dự án phim hoành tráng hàng trăm tỷ đang có nguy cơ phá sản sau những cãi vã bất phân thắng bại giữa những người trong cuộc. Khi đồng tiền trở thành cứu cánh trong nghệ thuật, chúng ta chỉ có thể chờ đợi một nền nghệ thuật khá lắm cũng chỉ làng nhàng, cũng như chúng ta đang có một nền đại học và khoa học làng nhàng. Chả thế mà một nhà khoa học nổi tiếng thế giới, sau nhiều năm sinh sống và làm việc ở Hà Nội vẫn không hiểu nổi tại sao một dân tộc oanh liệt một thời lại để khoa học và đại học Việt Nam chịu cảnh “làng nhàng” (mediocrity) như hiện nay. Có thể chính Intel cũng bất ngờ như thế khi tính chuyện đầu tư vào Việt Nam.  Cuối cùng không thể quên vai trò của lãnh đạo tầm vĩ mô. Lo cho cái dạ dày của người dân là cần thiết nhưng chưa đủ. Người dân còn mong sao những chính sách hướng đến trái tim và khối óc của họ. Chỉ có thế mới tạo ra được nội lực cho kinh tế phát triển bền vững.   Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học cần tự do      L&#250;c nhỏ học vật l&#253;, t&#244;i thường ngạc nhi&#234;n kh&#244;ng hiểu tại sao lại tranh c&#227;i nảy lửa giữa chuyện Tr&#225;i đất quay quanh Mặt trời, hay Mặt trời quay quanh Tr&#225;i đất l&#224;m g&#236;. Về mặt vật l&#253;, hai điều n&#224;y tương đương nhau ho&#224;n to&#224;n v&#236; chuyển động l&#224; tương đối: Vật thể A quay quanh vật thể B, th&#236; vật thể B cũng quay quanh vật thể A. Sau n&#224;y mới hiểu th&#234;m l&#224; nếu diễn tả cả một hệ vận động, th&#236; việc chọn đ&#250;ng t&#226;m điểm của cả hệ (ở đ&#226;y l&#224; Mặt trời) sẽ c&#243; t&#225;c dụng tinh giảm l&#253; thuyết rất nhiều, v&#224; tạo ra một l&#253; thuyết đẹp.     Cái đẹp có lẽ chính là sức mạnh đằng sau Copernicus, Bruno, Galileo, vv., chứ không phải chân lý lý tính. Bảo rằng Galileo dũng cảm bảo vệ chân lý thì tương đối xa thực tế bấy giờ, vì về lý lúc đó ông không khác mấy người tuyên bố “không có chân không”, “có thể tạo ra động cơ vĩnh cửu”, “con người không tiến hóa từ động vật”, vv. Chính xác hơn, ông chỉ dũng cảm bảo vệ cho lý thuyết của mình, một lý thuyết mà ông thấy mức độ “lịch lãm” vượt hơn hẳn lý thuyết hiện thời. Tự do trong khoa học bảo đảm những lý thuyết như của Galileo sẽ luôn có chỗ đứng trong mỗi thời điểm đương đại (cho dù về lâu dài nó có thể bị bỏ rơi vào lãng quên, như vô vàn lý thuyết kiểu “ốm thì phải để đỉa hút máu cho khỏi”), nhờ đó, mới có cơ hội cho những lý thuyết mới thúc đẩy khoa học phát triển.        “KHOA HỌC CẦN TỰ DO”. Tất nhiên, khoa học cũng cần tiền nữa, mà tiền thì hay hạn chế tự do (budget constraint mà). Đối với xã hội ngoài giới khoa học, các nhà khoa học vừa đòi hỏi tự do, vừa đòi hỏi tiền. Nhưng còn trong giới khoa học, khi mà không nhất thiết có thể xin/cho tiền, thì các nhà khoa học cũng cần đảm bảo môi trường tự do của nhau.          Triết gia về khoa học Thomas S. Kuhn, tác giả của luận điểm về các cuộc cách mạng khoa học và mô phạm (paradigm) khoa học trình bày trong cuốn The Structure of Scientific Revolutions, có một cuốn sách ít nổi tiếng hơn, tên là The Copernican Revolution: planetary astronomy in the development of Western thought, trong đó phân tích rõ quá trình nảy nở và phát triển của học thuyết nhật tâm từ thời Copernicus. Theo những gì Kuhn chứng minh, thì trong thời kỳ đầu thuyết nhật tâm không thể thắng về lý được đối với thuyết địa tâm. Phải nói là thuyết địa tâm có bề sâu lịch sử, trải từ thời Aristotles, sau đó được Ptolemy mở rộng đáng kể để giải thích các hiện tượng trái với thuyết này, và được hầu hết những nhà thiên văn sử dụng, nghiên cứu và góp phần mở rộng (nhà thiên văn của cả Nhà thờ lẫn ngoài Nhà thờ). Vì thế, đứng trên phương diện lý tính mà phản biện lại thuyết địa tâm là một việc tương đối vất vả.  Paul Feyerabend, triết gia chủ trương vô Chính phủ (anarchy) trong khoa học, cũng đưa ra nhiều luận điểm cho thấy Galileo không thể nào đại diện cho tri thức hay lý tính khi đối diện với Nhà thờ. Xét về khả năng xác định vị trí của các hành tinh trên bầu trời (tôi nghĩ là thời đó vẫn giữ quan niệm vị trí tuyệt đối từ Aristotle), thì lý thuyết của Copernicus/Galileo không đem lại kết quả gì mới và chính xác hơn so với thuyết địa tâm đã được Ptolemy cải tiến. Sự thiếu sót về bằng chứng thực tiễn này không có gì ngạc nhiên cả. Ptolemy cải tiến thuyết địa tâm chính theo hướng cập nhật các bằng chứng thực tiễn còn có mâu thuẫn với thuyết địa tâm như Aristotle thể hiện trước đó. Phải nói thêm là về mặt hình học, chuyển động của một hành tinh (sao Kim chẳng hạn) đối với Trái đất có thể hiểu một cách đơn giản trong thuyết nhật tâm (sao Kim xoay quanh Mặt trời,                    Nhà thờ La Mã thời Galileo có vai trò như một Nhà nước đảm bảo ổn định để phát triển về mặt hiểu biết của con người, và họ làm rất đúng: Thực sự thì lý thuyết của Galileo dựa vào những dẫn chứng không tốt, dựa trên cơ sở lý luận rất sơ hở, nhiều sai sót, và đưa ra dự đoán kém hơn hẳn hệ thống hiện hành theo Aristotle – Ptolemy.         Trái đất cũng thế), song cũng có thể thể hiện được một cách chính xác trong thuyết địa tâm, cho dù mô hình thể hiện phải phức tạp hơn nhiều (Ptolemy dùng mô hình các hình tròn nhỏ có tâm chuyển động trên quỹ đạo tròn lớn xung quanh Trái đất, đại loại như vậy hoặc là phức tạp hơn nữa.) Trong khi đó thuyết nhật tâm mới còn rất thô sơ, xuất phát từ một số suy luận thuần túy lý thuyết từ những giả định mới (Mặt trời là trung tâm, quỹ đạo các hành tinh hình elipse, vv.), nên khó có thể đạt được độ chính xác của một lý thuyết đã trải qua hàng nghìn năm quan sát và thực chứng.  Khi Galileo đưa ra những bằng chứng mới về các thiên thể xoay quanh sao Mộc, thì lại có thêm một vấn đề khác. Đấy là bằng chứng quan sát được qua kính viễn vọng, về các thiên thể nhỏ đến mức mắt thường không nhìn thấy được, và vì thế thuyết địa tâm không tiên đoán được gì chính xác cả. Bằng chứng này, nhìn theo con mắt của lý thuyết của Karl Popper về phản chứng (falsification – dịch thế nào nhỉ?), có thể được coi như là luận điểm then chốt khẳng định phải chấp nhận thuyết địa tâm so với thuyết nhật tâm. Tuy nhiên, như Feyerabend đã chỉ ra, câu chuyện thời đó hoàn toàn trái ngược, và Nhà thờ cũng đã lý luận duy lý theo kiểu Popper. Galileo đã sử dụng bằng chứng từ một thí nghiệm tương đối phức tạp: Đó là việc thử nghiệm qua kính viễn vọng. Thời bấy giờ, kính viễn vọng mới được phát hiện ra ở Hà Lan (theo đạo Tin Lành, tức là đi theo một hệ lý thuyết đối lập và đã bị bài xích hoàn toàn về mặt học thuật theo quan điểm của La Mã), và ở trong phạm vi Nhà thờ La Mã thì Galileo là một trong những người hiếm hoi phát hiện sự tiện dụng của dụng cụ này (những người khác là các tu sĩ Jesuits, cũng là những học giả uyên bác, song luôn bị ý thức hệ chi phối). Bản thân người Hà Lan làm ra kính viễn vọng từ kinh nghiệm, chứ họ không có lý thuyết gì để chứng thực nó cả. Vấn đề nữa là kính viễn vọng Galileo dùng (thuộc thế hệ đầu tiên) có chất lượng kém, và dễ tạo ra ảo giác. Để quan sát đúng, người ta cũng phải học cách quan sát theo một quy trình riêng (nói đến chuyện này, tôi vẫn chưa bao giờ quan sát được những ảnh ẩn 3 chiều trên giấy cả), và quy trình này cũng là kiểm nghiệm cá nhân chứ không có gì chứng thực về cả lý thuyết lẫn thực tế. Những người có vai trò “chứng thực cho khoa học” khi được mời dùng kính viễn vọng thì đều quan sát thấy những hiện tượng trái ngược với quan sát bằng mắt thường (do ảo giác), và vì thế đưa ra kết luận hết sức lý tính và khoa học rằng phương pháp thực nghiệm để đưa ra các kết luận thực nghiệm của Galileo là sai. Một khi phương pháp đã sai, thì kết quả quan sát không thể gọi là thực tế (facts) được, và như vậy thì toàn bộ bằng chứng của Galileo không có cơ sở lý tính để được chấp nhận như là bằng chứng phân định thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm.  Ngày nay ta đã có vật lý của Newton và hậu nghiệm của rất nhiều hiện tượng, nên mọi thứ nhìn rất đơn giản. Theo đó, các sách giáo khoa về vật lý diễn tả phát kiến thiên tài của Copernicus, Galileo, và những nhà khoa học theo thuyết nhật tâm như là chân lý không thể chối bỏ, và ngược lại, hệ thống kiểm duyệt của tòa án dị giáo Nhà thờ như là những lực lượng phản khoa học cố gắng níu kéo lấy vị thế lãnh đạo của Nhà thờ, đi ngược với dòng chảy không thể ngăn cản của lịch sử. Tuy vậy, đấy là câu chuyện nhìn theo lăng kính của Newton, trong đó người ta hiểu chắc chắn và rõ ràng kính viễn vọng chỉ ra điều gì, các hành tinh chuyển vận như thế nào… Còn trong thế kỷ 17, lăng kính khoa học về cơ bản là của Kinh thánh và Nhà thờ, dựa theo những kết quả khoa học có được 2000 năm trước đó của Aristotle và Ptolemy. Galileo chỉ là một nhà khám phá, tìm ra những kết quả thú vị nho nhỏ như hiện tượng viên giấy và viên sắt rơi cùng vận tốc (vâng, Galileo chỉ có khái niệm về vận tốc chứ chưa biết về gia tốc), mà Galileo cũng không có lời giải thích hợp lý (Galileo có nhắc đến các “lực” một cách tương đối thô thiển, so với lý thuyết của Newton). Cộng thêm thái độ bất hợp tác, cao ngạo, coi khinh người Jesuits (những nhà khoa học thực thụ, và có lẽ là có nhiều công trình khoa học cơ bản cũng như ứng dụng hơn Galileo nhiều – tôi rút ra điều này qua tiểu thuyết The Island of the Day Before của Umberto Eco), coi khinh quan điểm của Nhà thờ (trong cuốn Dialogue, nhân vật Simplicio tương đối thiếu hiểu biết bảo vệ quan điểm của Nhà thờ, còn nhân vật Salviati rất giỏi bảo vệ quan điểm của Galileo), cộng tác chặt chẽ với nhiều người theo Tin Lành, thì hoàn toàn có đủ lý do, cả về lý thuyết khoa học, kiểm nghiệm thực tế, lẫn sự bảo vệ nền tảng ổn định xã hội, đạo đức, chính trị, để Nhà thờ từ chối hoàn toàn thuyết nhật tâm.                “Nguyên tắc duy nhất làm khoa học, đó là không có nguyên tắc nào cả”.  Luận điểm này của Paul Feyerabend              được trình bày trong cuốn Against Method trong đó ông kết luận rằng cách duy nhất đảm bảo tiến bộ khoa học và tri thức là phải để nhà khoa học hoàn toàn tự do. Không thể áp đặt một nguyên tắc chân lý nào lên nghiên cứu khoa học cả.          Trong một mớ những điểm yếu về khoa học, có một điểm Galileo hoàn toàn chiếm thế mạnh. Đó là sự “lịch thiệp” của lý thuyết mới, một lý thuyết đơn giản hóa rất nhiều hiện tượng và tính toán, và từ đó gợi ra rất nhiều khả năng mở rộng và hoàn thiện, cho dù bản thân nó chưa được chính xác. Tôi nghĩ đây là lý do quan trọng nhất tại sao những nhà khoa học hậu duệ tiếp tục theo hướng nghiên cứu này: Mà ví dụ đầu tiên có lẽ chính là việc Galileo đi theo học thuyết của Copernicus, vốn chỉ được thể hiện trong 1 cuốn sách bị bỏ quên hàng chục năm. Chính sự hấp dẫn trong cách trình bày này, theo nguyên lý “Dao cạo của Occam”, đã dẫn đường cho rất nhiều nhà khoa học, trong đó có Galileo, để họ theo đuổi lý thuyết này bất chấp sự cấm đoán từ Nhà thờ/Nhà nước và Xã hội.  Vì thế, nhận xét rằng Galileo là người dũng cảm vẫn đúng, song ở đây không phải là sự dũng cảm bảo vệ chân lý, mà là sự dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình. Quan điểm của Galileo không chỉ bao gồm sự đúng đắn trên thực nghiệm được đo đạc theo khoa học (mà những người khác không phải lúc nào cũng kiểm chứng được), mà còn bao gồm sự tự tin và say sưa về một lý thuyết đẹp, gọn gàng, lịch lãm. Trong lịch sử khoa học, có rất nhiều lý thuyết đẹp, gọn gàng, lịch lãm đã bị vứt bỏ vì được chứng minh là sai hoàn toàn (các ví dụ về động cơ vĩnh cửu, về truyền nhiệt qua môi trường chân không). Và cũng có nhiều lý thuyết tương đối đúng đắn trên thực nghiệm (chính lý thuyết địa tâm), song cũng bị vứt bỏ.  Trên góc độ này, ví dụ về Galileo giúp ta hiểu về môi trường khoa học nhiều hơn về con người Galileo. Từ ví dụ này, mà Paul Feyerabend đưa ra quan điểm “Nguyên tắc duy nhất làm khoa học, đó là không có nguyên tắc nào cả”. Luận điểm này được trình bày trong cuốn Against Method trong đó ông kết luận rằng cách duy nhất đảm bảo tiến bộ khoa học và tri thức là phải để nhà khoa học hoàn toàn tự do. Không thể áp đặt một nguyên tắc chân lý nào lên nghiên cứu khoa học cả: Vì với mỗi nguyên tắc, đều có những trường hợp khoa học đúng đắn sẽ đi phản lại chính nguyên tắc. Những điển hình của nguyên tắc khoa học bao hàm nguyên tắc kiểm nghiệm (verification) của triết học thực chứng logic, hay nguyên tắc phản chứng (falsification) của Karl Popper…  Tôi không hoàn toàn ủng hộ Feyerabend, vì tôi nghĩ không thể thay nguyên tắc bằng một sự “vô nguyên tắc”: Không ai có khả năng bảo đảm “vô nguyên tắc”, chứ không nói đến chuyện là như thế có tốt hay không. Vì trong môi trường khoa học, lúc nào cũng có áp lực đánh giá, so sánh kết quả nghiên cứu khoa học (quy luật cạnh tranh, quy luật tiến hóa, hay là các sức ép xã hội). Mà như thế thì luôn cần các tiêu chuẩn, và người ta thường tin vào các tiêu chuẩn khách quan hơn là tiêu chuẩn chủ quan (ví dụ của tiêu chuẩn chủ quan là sự thui chột sinh vật học di truyền ở Liên Xô trước đây). Hệ nguyên tắc, theo tôi, bao giờ cũng là nội sinh, và không thể tránh khỏi.  Như thế thì ta có thể học được gì từ lý thuyết triết học của Feyerabend? Tôi nghĩ Feyerabend đóng vai trò “trí thức cảnh tỉnh” trong bản thân giới triết gia khoa học. Nhờ sự cảnh tỉnh của Feyerabend, mà triết học khoa học không còn đi quá sâu vào các lý luận thuần túy lý tính kiểu Karl Popper, mà có mở rộng cửa cho các bằng chứng về lịch sử và xã hội học của khoa học (dù rằng rất không nên mở rộng quá đối với ngành xã hội học của khoa học, vì ngành này hiện giờ dễ tạo ra những quan điểm phản khoa học – xem Fashionable Nonsense của Sokal và Bricmont). Nhờ đó, lý thuyết triết học khoa học trở nên thực tế và gắn liền với đời thực hơn: Ví dụ tôi thấy đẹp nhất là lý thuyết của Imre Lakatos, tiếc là ông mất hơi sớm.  Nhưng từ điểm này, lại có một câu hỏi ngược lại, rằng hiện giờ triết học của khoa học có còn thực sự là triết học không, hay là một loại diễn ngôn thực chứng chỉ chạy theo công việc của các nhà khoa học thực thụ, mà không bao giờ dẫn đường được?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học cơ bản Việt Nam trên đường hội nhập      Quyển sách “Vietnamese Scientists-Mechanicians and their activities” (còn được gọi là “TS Cơ học VN”) vừa mới xuất bản năm 2007 bởi Hội Cơ học VN và NXB ĐHBK HN (tiếng Anh) giúp chúng ta có thêm thông tin về tiến trình hội nhập với quốc tế của ngành Cơ học nói riêng và KHCB của VN nói chung.    Quyển TSCH nói trên có liệt kê các kết quả nghiên cứu khoa học trong 10 năm qua của 130 TS nhưng chỉ có  hơn 25 TS có công bố quốc tế với gần 120 bài báo đăng tạp chí quốc tế (trong đó có 100 bài ISI).  Điều rất đáng lưu ý là phần lớn các GS được gọi là đầu ngành của chúng ta (kể cả 9 GS TSKH của Hội đồng ngành Cơ học) không có công bố quốc tế ISI trong 10 năm qua, nhiều người thậm chí chưa từng vươn tới công bố quốc tế độc lập nội lực, và trên thực tế đã ngừng công bố quốc tế sau khi đã bảo vệ luận án TS và TSKH (được thầy hướng dẫn) ở nước ngoài (trong khi đó lại nắm quyền chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu các loại và sản ra nhiều TS quốc nội!). Điều đáng lo ngại nữa là một số TS mới được đào tạo ở phương Tây trở về 5-10 năm trở lại đây và đã đạt được các kết quả công bố quốc tế đáng khích lệ ở nước ngoài, được nhập vào cái văn hóa làm Cơ học trong nước đã không còn thấy tiếp tục phấn đấu công bố quốc tế nữa.           Chúng ta ghi nhận những đóng góp của các TS đầu tiên của chúng ta được đào tào ở nước ngòai trong việc xây dựng nên những cơ sở bước đầu của khoa học VN, nhưng chúng ta cũng phải thấy rằng họ đã ngồi quá lâu ở vị trí cầm lái vượt quá thời gian và khả năng của họ, nhiều người đã từ lâu không còn đáp ứng được với các yêu cầu và thách thức mới và đang là trở ngại đối với tiến bộ và tiến trình hội nhập của khoa học nước nhà.        Tổng kết NCCB cả 7 lĩnh vực 5 năm 2001-2005 của Bộ KH&CN cho thấy ngành Cơ học là một trong hai ngành yếu nhất về công bố tạp chí quốc tế, nhưng lại dẫn đầu về số báo cáo hội nghị trong nước. Số báo cáo hội nghị nhiều gấp 3 lần số bài báo đăng tạp chí (trong khi chỉ có 2 ngành khác có số báo cáo vượt số bài báo là Vật lý và Tin học thì chỉ số tương ứng cũng không quá 1,5 lần). Tính tới thực tế ở VN số ấn phẩm hình thức là cần cho đóng quyển nộp tổng kết các đề tài và để tính điểm cho các chức danh GS, PGS, NCVC, NCVCC, có thể thấy điều đó phản ánh phần nào chất lượng thấp của nghiên cứu Cơ học và các chức danh nói trên, và trách nhiệm những người có chức quyền trong ngành. Trên thực tế thì người ta cố tình phớt lờ tiêu chuẩn quốc tế (kể cả khi Bộ KH&CN có nhấn mạnh yêu cầu đó trong 2 năm gần đây), ưu tiên kinh phí cho nhiều đề tài chất lượng kém một cách tùy tiện, “trừng phạt” những ai dám “chơi chội” công bố quốc tế. Chỉ cần đơn giản nhìn vào việc phân kinh phí các đề tài NCCB 2001-2005, và mới nhất 2006-2007 – ứng với sản phảm giao nộp cụ thể, hay thành tích nghiên cứu của các Chủ trì qua quyển sách trên, là có thể thấy rõ. Đừng nói tới chuyện noi gương, nhiều đồng nghiệp nhìn xuống số ít các nhà khoa học đang gắng sức công bố quốc tế nội lực như những kẻ không thức thời. Một số quan chức khoa học hàm ý thẳng ra rằng: chúng tôi mới được Nhà nước công nhận là những Nhà khoa học đầu ngành và có quyền, còn các anh có làm được gì đi nữa thì cũng chẳng là gì cả một khi chúng tôi không thích điều đó. Họ thậm chí đã có ý đe một số nhà khoa học có thành tích công bố quốc tế là sẽ cản trở việc nhận đề tài khoa học hay các thăng tiến của những người này nếu không gia nhập ekíp làm giả ăn thật của họ, hay phục vụ một số lợi ích riêng cụ thể của họ.        Mảng nghiên cứu ứng dụng chính ở Viện Cơ là mô phỏng số tính tóan kết cấu công trình, dòng chảy, lũ lụt, nước dâng bão, vận chuyển bùn cát … TS Đặng Hữu Chung là một chuyên gia nổi bật trong mảng này. Mặc dù học ĐH và bảo vệ luận án TS trong nước, nhưng vẫn kiên trì tự học để vươn được tới các công bố quốc tế ISI nội lực trên đúng lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng của mình. Nhưng cũng chính vì những thành công đó và cả cái tính bộc trực thẳng tính tới gay gắt của người miền Trung, mà người ta gây đủ khó khăn cho anh ấy cả từ nhận đề tài tới tiếp cận số liệu thực địa. Đề tài NCCB của anh ấy khi có được phân thì cũng chỉ ở mức thấp nhất (với một số người khác được phân kinh phí đề tài thì sao mà dễ thế).            Một số quan chức điền tên những người dưới quyền cho dài danh sách để biện minh số kinh phí lớn cho đề tài NCCB kết quả yếu của họ, nhưng thực tế là cá nhân họ hưởng phần lớn, những người khác ghi tên tham gia cũng chẳng dám kêu ca do thấp cổ bé họng, hay thực tế cũng chẳng đóng góp được kết quả gì đáng kể, và phải hiểu rằng đề tài có được là nhờ oai hay quan hệ của Sếp. Một GS đầu ngành hay bám lý lẽ này dưới cơ sở,  gần đây khi lên Bộ KH&CN (phải đối mặt bình đẳng với các chuyên gia am hiểu) lại phát biểu quay ngoắt rằng rất tán thành với ý kiến chung là việc phân kinh phí nghiên cứu không thể dựa theo số người mà là kết quả! Làm sao có bình đẳng ở đây khi nhiều chủ trì đề tài NCCB còn đồng thời chủ trì nhiều loại đề tài và kiêm nhiệm các việc có thu nhập khác? Các đề tài lớn cấp Bộ và cấp Nhà nước cũng đâu có phân bình đẳng cho mọi cán bộ khoa học? Nhiều cán bộ “bao cấp” mà chân ngoài dài hơn chân trong cũng có quyền được tham gia đề tài hình thức để chia miếng bánh NCCB? Chỉ có phân kinh phí theo kết quả nhận được thì mới cho được kết quả NCCB giá trị đích thực và sự tôn trọng đối với mỗi thành viên tham gia đóng góp thực vào đề tài.  Một lý lẽ chủ đạo biện minh cho đề tài NCCB kinh phí lớn nhưng không có công bố quốc tế và nặng về các báo cáo hội nghị của một số quan chức là đề tài của họ phục vụ ứng dụng (do họ đang đồng thời chủ trì các đề tài ứng dụng cấp Bộ, Nhà nước với số kinh phí còn lớn hơn!). Họ dán mác “lý thuyết” cho bất cứ ai có công bố quốc tế, và giữ độc quyền cái vỏ “ứng dụng” làm màn che cho các kiểu làm ăn đáng ngờ của họ. “Ứng dụng” đâu có mâu thuẫn với bài báo quốc tế. Có rất nhiều tạp chí quốc tế cho đủ mọi lĩnh vực ứng dụng, và các nhà khoa học ứng dụng quốc tế thường công bố nhiều hơn các nhà lý thuyết. Cả các đề tài ứng dụng cấp Bộ hay Nhà nước cũng phải chứa đựng các công đoạn nhất định có chất lượng khoa học được công bố dưới dạng các bài báo được đánh giá bởi các phản biện kín của các tạp chí (chứ không phải chỉ bởi một hội đồng đánh giá hình thức rõ mặt rõ tên nể nang nhau như ở ta hiện nay). Phần lớn các đề tài ứng dụng các cấp chưa cho được các kết quả cụ thể thấy được là các sản phẩm mới có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế rõ ràng hoặc các bằng sáng chế, thì cũng phải chứa đựng các bài báo đã được công bố để đảm bảo rằng họ nắm vững phương pháp nghiên cứu, áp dụng đúng, có đóng góp sáng tạo, và cập nhập được các kỹ thuật mới trong lĩnh vực tương ứng. Không dựa vào các thông tin khách quan chuẩn mực đó, thì việc đánh giá hay đấu thầu các đề tài nghiên cứu khoa học sẽ dễ bị làm sai lệch và chỉ dẫn đến người thắng là người có “thế lực” hơn, hay ”biết quan hệ” hơn, không phải là quá trình khách quan nghiêm túc.  Một số nhà khoa học có đủ các danh hiệu chức vị nhưng yếu về công bố quốc tế, khi phát biểu trước các đồng nghiệp NCCB các ngành thì nói là họ làm nghiên cứu ứng dụng. Nhưng khi xuống các cơ sở ứng dụng thì nói họ mạnh NCCB để lảng tránh việc không đủ khả năng và chuyên môn để giải quyết những vấn đề thực sự cấp thiết của ứng dụng, và chỉ nhằm dựng lên đề tài nặng về hình thức trang trí có tên là “ứng dụng” với giá trị khoa học đáng ngờ.           Một số nhà khoa học có đủ các danh hiệu chức vị nhưng yếu về công bố quốc tế, khi phát biểu trước các đồng nghiệp NCCB các ngành thì nói là họ làm nghiên cứu ứng dụng. Nhưng khi xuống các cơ sở ứng dụng thì nói họ mạnh NCCB để lảng tránh việc không đủ khả năng và chuyên môn để giải quyết những vấn đề thực sự cấp thiết của ứng dụng, và chỉ nhằm dựng lên đề tài nặng về hình thức trang trí có tên là “ứng dụng” với giá trị khoa học đáng ngờ.        Một GS đầu ngành vốn rất tinh vi, kín kẽ, đạo mạo và hình thức khi phát biểu công khai bên ngoài, tại một cuộc họp với Vụ KHTN tại Bộ KH&CN bàn về phương cách đánh giá mới NCCB, mà rõ ràng sẽ giúp hạn chế quyền tùy tiện của một số quan chức ngành, đã bức xúc rằng NCCB của chúng ta thời gian qua đã rất tốt phục vụ cho nghiên cứu ứng dụng, rằng đâu cứ phải vì mấy bài báo của ai đó mà phải sửa đổi chính sách, rằng đâu cứ phải công bố ở đâu đó mới là khoa học,… Một ý kiến bổ sung tiếp theo nói rằng tạp chí Cơ học của ta nay đã đòi hỏi viết bài bằng tiếng Anh nên cũng đã đạt tiêu chuẩn quốc tế để được đánh giá ngang như bài báo quốc tế, và rằng các bài báo nói cho cùng cũng chỉ là những thảo luận, và viết sách và giáo trình cho sinh viên chọn ra những cái cốt lõi mới có giá trị NCCB đích thực… Nhưng đó mới chỉ là phần nổi nhỏ của một tảng băng lớn, có những cái không được nói ra ở chỗ công khai còn thô kệch hơn nhiều. Liệu chúng ta có thể tin cậy những người như vậy tiếp tục chèo lái con thuyền NCCB, hay đợi để họ chọn ra những người hợp gu thay thế? Chúng ta ghi nhận những đóng góp của các TS đầu tiên của chúng ta được đào tào ở nước ngoài trong việc xây dựng nên những cơ sở bước đầu của khoa học VN, nhưng chúng ta cũng phải thấy rằng họ đã ngồi quá lâu ở vị trí cầm lái vượt quá thời gian và khả năng của họ, nhiều người đã từ lâu không còn đáp ứng được với các yêu cầu và thách thức mới và đang là trở ngại đối với tiến bộ và tiến trình hội nhập của khoa học nước nhà.  ***  Phân phối kinh phí NCCB năm 2006 có nhiều tiêu cực, bất chấp hướng dẫn mới của Bộ KH&CN là ưu tiên công bố quốc tế. Phân phối năm 2007 còn tiêu cực hơn dù đã có những ý kiến bức xúc của một số nhà khoa học tâm huyết. Do vậy việc phân phối kinh phí đề tài 2008 ít nhất cần phải được chỉnh lý bởi các Hội đồng ngành cần là các nhà khoa học đang thực sự hoạt động chuyên môn sung sức, chưa tới tuổi hưu (dưới 60 tuổi), có tinh thần hướng tới hội nhập, sẵn lòng giành phần thời gian làm việc vì lợi ích chung. Có thể cân nhắc mời một số thành viên cao tuổi, nếu họ vẫn đang tích cực công bố quốc tế ISI và thiết tha với tiến bộ của khoa học nước nhà. Ví dụ, GS Phạm Lợi Vũ tuy đã 73 tuổi nhưng vẫn là một tác giả công bố nổi bật trong ngành Cơ học, với 5 bài báo nội lực ISI trong 10 năm gần đây (3 bài là của 5 năm gần đây). Sẽ rất tốt nếu Hội đồng có được các TS trẻ tuổi 30-40 có thành tích công bố quốc tế ISI, đặc biệt đạt tới công bố nội lực. Hội đồng cần được thay đổi theo nhiệm kỳ, và cũng có thể được linh hoạt chỉnh lý và bổ sung trong nhiệm kỳ khi cần.  Hội đồng ngành Cơ học, trừ một người đã mất và một nguời tuổi 50 có thành tích làm ứng dụng có bằng sáng chế, còn lại đều là những người ở độ tuổi 65-70, đã ngồi ghế Hội đồng quá lâu, không có công bố quốc tế 10 năm qua và xa hơn, một số rất tiêu cực, số khác chỉ thuần túy là lành tính nhưng thiếu năng lực và lạc hậu, cần phải được thay mới hoàn toàn. Ngay cả với một ngành còn yếu như Cơ học, thì từ các thông tin còn chưa đầy đủ nói trên chúng ta cũng có không ít số chuyên gia để chọn.  Chính sách khoa học trong nước hiện nay chưa thực sự quan tâm tới chất lượng nghiên cứu. Việc xét kinh phí các đề tài các cấp, và các chức danh chưa chú ý tới các công bố chuẩn mực quốc tế (trong khi đó ở các nơi khác trên thế giới thì đó mới là tiêu chí chính). Bộ KH&CN cần có các chính sách tài chính mạnh mẽ khuyến khích nâng cao chất lượng nghiên cứu và số công bố chuẩn mực quốc tế, nhất là công bố nội lực của các ngành ứng dụng. Một giảng viên trẻ có khả năng cũng sẽ không nỗ lực công bố quốc tế một khi làm những việc khác dễ dàng hơn như dạy thêm… lại kiếm được nhiều tiền hơn. Các nhà khoa học trẻ sẽ noi gương ai khi số ít người có công bố quốc tế lại có các thu nhập từ các đề tài thua xa số đông những người không có các công bố đó. Trong khi các nhà khoa học có các bài báo quốc tế không có tiền đi dự hội nghị quốc tế,  một số chức sắc yếu kém về bài báo khoa học lại có dư tiền đề tài để đi dự các hội nghị quốc tế, để làm các báo cáo Poster không được đăng tuyển tập, và khoe khoang về “thành tích quốc tế” đó của họ – bù đắp cho việc thiếu bài báo quốc tế nghiêm chỉnh.        Một số nhà khoa học có đủ các danh hiệu chức vị nhưng yếu về công bố quốc tế, khi phát biểu trước các đồng nghiệp NCCB các ngành thì nói là họ làm nghiên cứu ứng dụng. Nhưng khi xuống các cơ sở ứng dụng thì nói họ mạnh NCCB để lảng tránh việc không đủ khả năng và chuyên môn để giải quyết những vấn đề thực sự cấp thiết của ứng dụng, và chỉ nhằm dựng lên đề tài nặng về hình thức trang trí có tên là “ứng dụng” với giá trị khoa học đáng ngờ.           NCCB không bao các chi phí trang thiết bị lớn, vốn rất cần thiết cho một số các lĩnh vực khoa học, mà đưa các đầu tư này về các đề tài lớn cấp nhà nước, phòng thí nghiệm trọng điểm… Tuy nhiên để cho các đầu tư này có hiệu quả và giảm tiêu cực, cần yêu cầu cao về thành tích về bài báo quốc tế, bằng sáng chế của các chủ trì, nhất là yêu cầu họ phải có được các sản phẩm chuẩn mực quốc tế tương ứng, sau khi nhận được các trang bị đó. Cần có chế tài kiểm soát, không để số vốn này rơi vào tay những người làm giả ăn thật, không có năng lực chuyên môn thực thụ nhưng rất khéo quan hệ và làm xiếc.  Bộ KH&CN cần đặc biệt lưu tâm tới các cán bộ trẻ, đặc biệt là số TS mới từ nước ngoài trở về mà đã có chút vốn công bố quốc tế, dù mới ở mức chung với thầy, và đang có đà. Hãy mời họ tham gia các đề tài kể cả nhận chủ trì, trước hết là đề tài NCCB. Hãy cấp kinh phí đúng theo kết quả công bố chuẩn mực quốc tế của họ, đủ để đảm bảo nếu họ tiếp tục có các công bố quốc tế, họ sẽ có đủ thu nhập để không phải bận tâm tới các việc ngoài nhiệm vụ chuyên môn chính của mình. Hãy bảo vệ họ khỏi các ảnh hưởng tiêu cực của các thế hệ đi trước, để giúp xây dựng một văn hóa làm khoa học mới hướng tới hội nhập.  Về các công bố ISI 10 năm qua của Malaixia, Singapore, Phillipine. Malaixia có mức công bố các ngành rất đáng nể – sánh được với Thái lan dù dân số chỉ bằng 1/3 của Thái lan, và 1/4 của VN. Singapore chỉ là một quốc đảo nhỏ nhưng mạnh đều về mọi lĩnh vực nghiên cứu. Phillipine có số công bố chỉ ngang chúng ta, nhưng họ hẳn là hơn chúng ta về tỷ lệ công bố nội lực, và họ nổi trội về nông nghiệp và động thực vật. Đối chiếu với quốc tế, kể từ các nước trong khu vực (trừ Phillipine), trình độ nghiên cứu các ngành Materials Science và Computer Science của ta là quá yếu dù các lĩnh vực này được chúng ta coi là ưu tiên. Thực chất chúng ta mới chỉ quan tâm phát triển chiều rộng mà bỏ qua chiều sâu, tiền đầu tư dù nhiều hiệu quả vẫn có thể thấp. Chúng ta có thể đã có được nhiều thợ tin học nhưng thiếu chuyên gia đẳng cấp. Các giải thưởng “Trí tuệ VN” hay VIFOTEC mới chỉ như tuyên dương “thợ giỏi” và “nghệ thuật biểu diễn”. Một GS đầu ngành tin học của chúng ta từng đã có thành công vang dội trong quá khứ, trong một phát biểu tại Bộ KH&CN cách đây không lâu, đã nói rằng thường chỉ những kết quả đầu của một nhà khoa học có giá trị thực thụ, còn các kết quả sau đó chỉ là hệ quả và chế biến ra từ các kết quả trước. Hẳn ông muốn biện minh cho sự “tàn úa dần theo thời gian” của mình, nếu nhìn theo kết quả công bố khoa học, như chính ông thừa nhận. Phải chăng đó cũng là chủ thuyết riêng của các nhà khoa học đầu ngành của chúng ta là sau khi đã đạt tới “đỉnh cao” là luận án TSKH và chiếm vị trí gọi là “đầu ngành”, họ có thể yên tâm ngừng phấn đấu nghiên cứu khoa học trình độ cao để tâp trung vào xây dựng các đề tài, dự án kinh phí lớn như kiểu dự án 112 và bao đề tài lớn cấp nhà nước hiện nay ? Với cách nghĩ đó chúng ta không bao giờ có thể xây dựng được một nền khoa học đích thực, và đành nhìn đất nước mình dù có một nền kinh tế tăng trưởng vẫn sẽ mãi chỉ là một xưởng gia công bậc dưới của thế giới.     TS.Phạm Đức Chính- Viện Cơ- Viện KH&CN VN      Author                Phạm Đức Chính        
__label__tiasang Khoa học là văn hóa. Văn hóa làm khoa học      Nghiên cứu khoa học chỉ mới bắt đầu gần đây ở nước ta. Ấn Độ và Trung Quốc, hai nền văn minh lớn có ảnh hưởng đến Việt Nam, đã du nhập khoa học từ phương Tây sớm hơn, nhưng vẫn là những nước đi sau. Con đường du nhập của Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam có khác nhau, in đậm dấu ấn của những đặc điểm lịch sử, xã hội và bản sắc văn hoá của từng nước.    Ở Ấn Độ, ngay dưới chế độ thuộc địa giới tinh hoa với năng lực tư duy trừu tượng và triết lý thâm sâu đã tiếp thu đầy đủ ngọn nguồn văn hoá của khoa học từ phương Tây, nhập cuộc với thế giới nhanh chóng và đúng bài bản. Từ những năm đầu thế kỷ 20, khi cả hệ thống thuộc địa còn chìm ngập trong tăm tối, một số trường đại học Ấn Độ đã giành được vị trí nổi bật trên mặt tiền khoa học thế giới. Raman quan sát tán xạ ánh sáng lên phân tử tại một phòng thí nghiệm của trường Đại học Calcotta năm 1928, đoạt giải Nobel năm 1930. Sau khi tốt nghiệp Đại học Calcotta ra thụ giáo ở Dhaka, Bose đã sánh vai cùng Einstein trong hiệu ứng ngưng tụ các hạt vi mô có spin là số nguyên, những hạt được giới vật lý gọi là boson để tôn vinh ông. Cũng thời gian này, từ đại học Madras chàng thanh niên 18 tuổi Chandrasekhar đã lên đường sang Cambridge với những ý tưởng nung nấu về các sao lạnh (sau khi đã cháy hết nhiên liệu), đã góp phần khám phá ra lỗ đen và big bang, đựơc trao giải Nobel năm 1983.  Từ khi giành độc lập năm 1949, Thủ tướng Nerhu đã chọn mặt gửi vàng, trao sứ mạng xây dựng khoa học cho Homi Bhabha, một nhà khoa học từng có tên tuổi ở Anh, đồng thời cũng là nhà ái quốc và văn hoá lớn của Ấn Độ. Hai Viện nghiên cứu cơ bản Tata và Trung tâm Năng lượng Nguyên tử do Bhabha dựng lên ở Mumbai là sự tương phản kỳ lạ giữa hoạt động học thuật cao siêu với tình trạng nghèo khó lam lũ của đám dân nghèo sống nheo nhóc trong lều bạt dựng ngay trên đường phố. Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Nhờ đó Ấn Độ đã nhanh chóng hình thành đội ngũ chuyên gia tầm cỡ thế giới và tạo ra những bước đột phá lớn như xoá bỏ nạn đói kinh niên, cho nổ thành công cơ cấu nguyên tử năm 1975 và phóng vệ tinh lên không trung.  Nhưng phải đến thời đại cách mạng thông tin gần đây, thế mạnh của tư duy trừu tưọng và tính văn hoá thấm đậm trong hoạt động khoa học mới thực sự tỏa sáng, nhanh chóng đưa Ấn Độ lên thành cường quốc hàng đầu trong công nghệ phần mềm, xuất khẩu hàng năm đến hàng chục tỷ USD. Giải thích thành công có một không hai này, Kanwai Rehki, chủ tịch hiệp hội kinh doanh Ấn Độ giáo cho rằng: “Người Ấn Độ giàu tính triết lý. Đầu óc bay bổng dễ tạo ra năng lực toán học… Quen tư duy triết học và toán học là điều kiện cần thiết của những người viết phần mềm. Sanskrit là văn hệ có cấu trúc chặt chẽ và chính xác, cái mà ngôn ngữ máy tính đòi hỏi…”.   Trung Quốc vẫn chưa có Nobel khoa học. Có thể là do thiên bẩm thực dụng của người Hoa, một đối cực với tư duy trừu tượng và triết lý nổi trội của người Ấn. Thuốc nhuộm, giấy viết, nghề in và la bàn đã được phát minh ra rất sớm ở Trung Quốc, nhưng khoa học thực thụ vẫn không đến với họ cho đến khi đụng độ với các cường quốc phương Tây hồi thế kỷ 19 họ mới ngộ ra sức mạnh của khoa học.  Giới học giả đã hình thành ở những đại học nổi tiếng như Thanh Hoa, Đồng Tế, Phúc Đán, Giao Thông Thượng Hải v.v…, nơi mà nhiều người Việt từng du học ở Trung Quốc vẫn xem như giấc mơ đại học của ta. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa ra đời năm 1949, sứ mạng làm chủ công nghệ hạt nhân và tên lửa được trao cho những nhà khoa học thành danh từ phương Tây như Tiền Học Sâm, Tiền Tam Cường v.v… Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên vị trí thứ ba trên thế giới về vũ khí hạt nhân và chinh phục không gian. Gần đây là cuộc bứt phá trong công nghệ khiến hàng hoá Trung Quốc, kể cả công nghệ cao, ngày càng tràn ngập thị trường thế giới. Có thể nói, sở trường thương mại, tính thực dụng và truyền thống công nghệ của người Hoa đã giúp họ nhanh chóng du nhập công nghệ từ bên ngoài.  Con đường du nhập công nghệ rất đa dạng, nhưng có thể tóm gọn trong ba chữ I. Thứ nhất là bắt chước (Imitation), bắt đầu bằng sao chép và làm ra các mẫu đơn chiếc, sau đó tiến lên sản xuất hàng loạt. Hàng hoá được cải tiến nhờ các khâu bảo đảm chất lượng (QA) cho đến khi công nghệ được hoàn toàn nội địa hoá (Indigenization). Tiếp theo là đổi mới công nghệ (Innovation) để cạnh tranh. Nói nôm na, quy trình ba chữ I chính là bắt chước có sáng tạo, được nhiều nước đi sau áp dụng để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước.  Nhưng rút ngắn khoảng cách bằng ba chữ I cũng có cái giá phải trả. Từ chiếc đèn điện tử chân không đến transistor và bao nhiêu thế hệ vi điện tử nối tiếp nhau ở thế kỷ XX mà các nước đi trước đã trải qua, giờ đây chỉ còn tìm thấy trong các bảo tàng. Nhưng tri thức tích luỹ được qua những nấc thang công nghệ ấy, nhiều khi chỉ tồn tại dưới dạng tiềm ẩn (tacit), là vô giá. Không nhận ra sự thiệt thòi này, các nước đi sau có thể dễ bị khẩu hiệu “đi tắt đón đầu” ru ngủ. Chỉ có tổ chức nghiên cứu khoa học (R&D) nghiêm túc, quá trình bắt chước có sáng tạo mới thành công. Yêu cầu này càng gay gắt hơn khi quy trình ba chữ I tỏ ra kém hiệu năng trong cuộc cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay bởi luật sở hữu trí tuệ và quy định cấm phổ biến những thiết bị nhạy cảm. Hơn nữa, chỉ có nghiên cứu khoa học ở tầm cao mới sáng tạo ra được công nghệ mới (Invention), chữ I thứ tư trong logic phát triển của ba chữ I nói trên.  Về mặt này, thành tích của Trung Quốc còn khá khiêm tốn. Trong số 500 trường đại học tốt nhất thế giới do Đại học Giao thông Thượng Hải xếp hạng dựa trên các tiêu chí về nghiên cứu khoa học, Trung Quốc chỉ có 05 trường xếp sau thứ 200. Ngoài ra, chỉ có 05 người lọt vào tốp 5000 nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới (xem bảng thống kê). Nghĩa là tháp nhân lực khoa học của Trung Quốc có đáy rộng mà đỉnh chưa cao, có phong trào mà ít tinh hoa. Trung Quốc phải đẩy mạnh hơn nữa du nhập khoa học hiện đại từ phương Tây để tăng cường chất lượng đội ngũ, trong đó có chính sách trải chiếu hoa nghênh đón những nhà khoa học ưu tú người Hoa từ nước ngoài về. Ray Wu, nhà sinh học người Mỹ gốc Hoa ước tính hiện nay ở Trung Quốc có 500 nhà sinh học làm việc có hiệu quả (trong mười năm công bố ít nhất tám công trình trên các tạp chí quốc tế có hệ số tác động lớn hơn hai), trong khi chỉ riêng người Hoa ở Mỹ có đến 3000 (Nature, 428. p. 206, 2004).  Ở Việt Nam, đóng góp lớn nhất của giới khoa học là đào tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu khoa học và công nghệ, góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong những năm gần đây. Còn tác động trực tiếp của KHCN đến kinh tế đời sống thì quá ít, như người đứng đầu Chính phủ đã thừa nhận trước Quốc hội: “Nhìn chung công cuộc đổi mới chưa thành công trong giáo dục và KHCN. Hai lĩnh vực này còn nhiều mặt yếu kém … tách rời nhau, ít gắn kết với sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội”. Lý do chính là chưa có đội ngũ chuyên nghiệp, thậm chí đang có xu hướng thoái hoá.  Thành tích nghiên cứu khoa học tầm cao của một số nước  a) Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University  b) http://www.isihighlycited.com/.  c) Human Development Report, UNDP, 2005; sách KHCN Việt nam 2003.  Thế hệ khoa học đầu tiên của Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài từ những năm đầu 1960. Sau bốn thập kỷ đầy biến động vừa qua, đội ngũ chưa thể hình thành, khẩu hiệu “khoa học công nghệ là động lực” chưa thể đi vào cuộc sống. Hiện ở nước ta có hơn 50.000 người làm R&D (theo sách KHCN Việt Nam, 2003), gấp 5-6 lần Thái Lan và Malaixia, hàng năm hoàn thành hơn 8000 báo cáo khoa học, nhưng hầu hết là các ấn phẩm trong nước. Nghiên cứu khoa học đã thành phong trào, nhưng bộ phận hoa tiêu còn quá lèo tèo (rất nhiều người bỏ nghề khoa học sau khi lấy được bằng cấp cao), còi cọc (có rất ít công trình nghiên cứu tầm quốc tế), và vô hiệu trong một hệ thống bị hành chánh hoá triệt để. Quân lính đông mà ít tướng sĩ, đội ngũ vẫn chưa thành.  Bước đột phá tăng kinh phí KHCN lên 2% ngân sách nhà nước từ năm 2000 vẫn chưa để lại dấu ấn. Lý ra với nguồn lực đó có thể bước đầu hình thành một số phương hướng khoa học ra trò, có quân, có tướng, có phương tiện nghiên cứu mạnh, vươn lên tầm quốc tế và ngày càng đủ sức giải quyết các yêu cầu thực tiễn của đất nước. Nhưng các phương hướng khoa học vẫn phải ăn đong. Thiếu quy hoạch dài hơi, thiếu người chỉ huy vừa có tầm nhìn chiến lược vừa biết kinh bang tế thế.  Hoạt động KHCN trong nhiều năm qua dường như xuát phát từ tiên đề Việt nam có một “đội ngũ” khoa học đủ trình độ, chỉ cần những chính sách thích hợp để gắn kết nó với thị trường là xong. Trên thực tế, các chính sách đó được hoạch định và thực thi bởi một hệ thống hành chính, hệ thống này đồng thời đảm nhận luôn cả vai trò cầm cân nảy mực thay cho cơ cấu nghề nghiệp. Hệ thống hành chính tác nghiệp bằng cơ chế xin cho còn rớt lại của thời bao cấp, chạy theo chính sách mỳ ăn liền với hy vọng dùng thị trường làm thước đo thay cho các chuẩn mực khoa học. Hệ quả đương nhiên là đội ngũ không thể phát triển, thậm chí môi trường khoa học bị ô nhiễm và một bộ phận không nhỏ đang có xu hướng tha hoá (xem Chuyện có thật) dẫn đến những thảm trạng văn hóa như mua bằng bán điểm, luận án khoa học bày bán công khai v.v…  Chính sách mỳ ăn liền bắt nguồn từ bệnh thành tích và tầm nhìn hạn hẹp về nghiên cứu khoa học. Theo đuổi chính sách này, tri thức khoa học không được tích luỹ theo quy luật cấp số nhân để tạo nên nguồn lực xã hội, trước hết thể hiện ở bộ phận hoa tiêu, từ đó lan toả ra cộng đồng qua môi trường văn hoá như trường đại học. Các nước tiên tiến phải mất hàng trăm năm mới tích luỹ được nguồn lực này. Với 9 triệu dân, Thuỵ Điển có đến 55 nhà khoa học hàng đầu thế giới (được thường xuyên trích dẫn nhất), trong khi đó, với hơn một tỷ dân mỗi nước, Trung Quốc và Ấn Độ chỉ có 5-10 người (xem bảng thống kê). Tầm vóc của bộ phận tinh hoa chính là thước đo trung thực nhất trình độ dân trí và mức phát triển của một quốc gia.   Thị trường khoa học là một khái niệm được nhắc đến trong các văn kiện chính thức ở nước ta, nhưng chưa hề xuất hiện trong từ điển ở các nước tiên tiến. Xem khoa học có thị trường tức là không nhận ra làn ranh giữa khoa học và công nghệ. Công nghệ có thể xem như hàng hoá, lấy thị trường làm thước đo, bí quyết công nghệ là sở hữu của người tìm ra nó. Còn khoa học, không riêng gì những ngành cơ bản, có mục tiêu lý giải những bí ẩn vô tận của thế giới như một nhu cầu nhận thức, để từ đó con người ngày càng làm chủ thiên nhiên và xã hội. Sản phẩm khoa học là của chung, để người này còn đứng trên vai người kia mà nhìn rõ thế giới hơn, lấy tính sáng tạo khoa họcđược bảo đảm bằng những sân chơi quốc tế làm thước đo. Khoa học hướng đến các mục tiêu kinh tế xã hội, nhưng sản phẩm khoa học không phải là hàng hoá mà là văn hoá. Xem nhẹ nghiên cứu khoa học trong các trường đại học là một trong những biểu hiện không nhận rõ bản chất văn hoá của khoa học.   Nền khoa học còn non trẻ ở nước ta đã được đặt lên đúng quỹ đạo chưa?  Có thể khó tìm sự đồng thuận cho câu trả lời khi khoa học vẫn còn tù mù trong một góc khuất của đời sống xã hội. Nhưng nền đại học nước nhà tụt hậu quá xa, giáo dục không thấy lối thoát, những biến cố xảy ra dồn dập gần đây thể hiện sự yếu kém của khoa học, nguy cơ trở thành mảnh đất chỉ biết tiêu thụ công nghệ của nước ngoài sau khi gia nhập WTO v.v… buộc chúng ta phải trả lời nghiêm túc câu hỏi trên.  Thực chất là trong quá trình du nhập khoa học ngắn ngủi vừa qua ta chỉ mới sao chép cái hình thức bề ngoài, rồi nội địa hoá và đổi mới theo sở thích của mình. Cái hình thức bề ngoài hấp dẫn nhất có lẽ là khoa bảng. Nó dễ dàng tìm thấy chỗ đứng trong thang giá trị ở nước ta. Còn tính chuyên nghiệp của đội ngũ, vai trò quan trọng của giữa nghiên cứu khoa học bài bản đối với công nghệ, và nhất là bản chất văn hoá cũng như ngọn nguồn triết học của khoa học lại chưa được tiếp thu đầy đủ. E rằng đi tiếp trên con đường vừa qua, KHCN càng xa dần mục tiêu làm động lực phát triển kinh tế xã hội, dân trí không tăng tiến và khó quay trở lại điểm xuất phát để còn hội nhập với thế giới.           Chuyện có thật  Đơn vị nghiên cứu A được cấp kinh phí để nhập thiết bị ghi đo tự động qua đấu thầu, mỗi chiếc giá 250.000 USD. Hãng B thắng thầu với thỏa thuận chấp nhận hai quan chức đi tham quan thực tập. Thiết bị được lắp lên, quan chức không tiếp quản vận hành, giao cho kỹ thuật viên. Sau một thời gian ngắn thiết bị chệch choạc rồi ngừng hoạt động. Nghe nói có thiết bị hiện đại, sinh viên liền đến mua số liệu về làm luận văn thạc sĩ. Người bán sẵn lòng vì kết quả “nghiên cứu được ra thị trường”. Sau khi ngã giá mang về đưa lên máy tính, thì thấy thiết bị chỉ cho ra những số liệu vô nghĩa. Nhưng rồi luận án cũng được bảo vệ. Kết quả “nghiên cứu” của đơn vị A cũng có mặt trong tuyển tập hội nghị khoa học được tổ chức hoành tráng. Còn người ký quyết định đầu tư không hề quan tâm thiết bị đắt tiền đó có hoạt động không, và mang lại hiệu quả gì cho xã hội.               Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Khoa học là văn hóa. Văn hóa làm khoa học      LTS: Cùng với việc tăng kinh phí KHCN lên 2% ngân sách nhà nước, nhiều năm qua, Chính phủ đã nhiều lần đổi mới chính sách và cơ chế quản lý hoạt động KH&amp;CN, nhưng cho đến nay như thừa nhận của người đứng đầu Chính phủ tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI: “…nhìn chung công cuộc đổi mới chưa thành công trong giáo dục và KHCN. Hai lĩnh vực này còn nhiều yếu kém… tách rời nhau, ít gắn kết với sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội…”.    Gần đây, Bộ KH&CN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 115, Nghị định về thị trường KH&CN và sẽ ban hành một số nghị định về doanh nghiệp khoa học; về chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài khoa học… đồng thời đang xây dựng lại một số qui chế: tuyển chọn các đề tài nghiên cứu; quản lý các đề tài KHCN trọng điểm cấp Nhà nước… Liệu Nghị định 115- được không ít người cho rằng đó là cơ chế khoán 10 trong khoa học và các nghị định và qui chế mới đó có thể góp phần quan trọng cùng với các nhà khoa học tạo nên bước đột phá trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, như tâm huyết và kỳ vọng của các nhà quản lý, hay cần những yếu tố, điều kiện gì khác để khoa học thực sự trở thành động lực của phát triển? Tia Sáng mong muốn sẽ nhận được nhiều ý kiến và đề xuất cụ thể của bạn đọc về vấn đề này.  Nghiên cứu khoa học chỉ mới bắt đầu gần đây ở nước ta. Ấn Độ và Trung Quốc, hai nền văn minh lớn có ảnh hưởng đến Việt Nam, đã du nhập khoa học từ phương Tây sớm hơn, nhưng vẫn là những nước đi sau. Con đường du nhập của Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam có khác nhau, in đậm dấu ấn của những đặc điểm lịch sử, xã hội và bản sắc văn hóa của từng nước.  Ấn Độ, ngay dưới chế độ thuộc địa giới tinh hoa với năng lực tư duy trừu tượng và triết lý thâm sâu đã tiếp thu đầy đủ ngọn nguồn văn hóa của khoa học từ phương Tây, nhập cuộc với thế giới nhanh chóng và đúng bài bản. Từ những năm đầu thế kỷ 20, khi cả hệ thống thuộc địa còn chìm ngập trong tăm tối, một số trường đại học Ấn Độ đã giành được vị trí nổi bật trên mặt tiền khoa học thế giới. Raman quan sát tán xạ ánh sáng lên phân tử tại một phòng thí nghiệm của trường Đại học Calcotta năm 1928, đoạt giải Nobel năm 1930. Sau khi tốt nghiệp Đại học Calcotta ra thụ giáo ở Dhaka, Bose đã sánh vai cùng Einstein trong hiệu ứng ngưng tụ các hạt vi mô có spin là số nguyên, những hạt được giới vật lý gọi là boson để tôn vinh ông. Cũng thời gian này, từ đại học Madras chàng thanh niên 18 tuổi Chandrasekhar đã lên đường sang Cambridge với những ý tưởng nung nấu về các sao lạnh (sau khi đã cháy hết nhiên liệu), đã góp phần khám phá ra lỗ đen và Big Bang, được trao giải Nobel năm 1983.  Từ khi giành độc lập năm 1949, Thủ tướng Nerhu đã chọn mặt gửi vàng, trao sứ mạng xây dựng khoa học cho Homi Bhabha, một nhà khoa học từng có tên tuổi ở Anh, đồng thời cũng là nhà ái quốc và văn hóa lớn của Ấn Độ. Hai Viện nghiên cứu cơ bản Tata và Trung tâm Năng lượng Nguyên tử do Bhabha dựng lên ở Mumbai là sự tương phản kỳ lạ giữa hoạt động học thuật cao siêu với tình trạng nghèo khó lam lũ của đám dân nghèo sống nheo nhóc trong lều bạt dựng ngay trên đường phố. Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Nhờ đó Ấn Độ đã nhanh chóng hình thành đội ngũ chuyên gia tầm cỡ thế giới và tạo ra những bước đột phá lớn như xóa bỏ nạn đói kinh niên, cho nổ thành công cơ cấu nguyên tử năm 1975 và phóng vệ tinh lên không trung.                      Nhưng phải đến thời đại cách mạng thông tin gần đây, thế mạnh của tư duy trừu tưọng và tính văn hóa thấm đậm trong hoạt động khoa học mới thực sự tỏa sáng, nhanh chóng đưa Ấn Độ lên thành cường quốc hàng đầu trong công nghệ phần mềm, xuất khẩu hàng năm đến hàng chục tỷ USD. Giải thích thành công có một không hai này, Kanwai Rehki, chủ tịch hiệp hội kinh doanh Ấn Độ giáo cho rằng: “Người Ấn Độ giàu tính triết lý. Đầu óc bay bổng dễ tạo ra năng lực toán học… Quen tư duy triết học và toán học là điều kiện cần thiết của những người viết phần mềm. Sanskrit là văn hệ có cấu trúc chặt chẽ và chính xác, cái mà ngôn ngữ máy tính đòi hỏi…”.    Trung Quốc: Cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa có Nobel khoa học. Có thể là do thiên bẩm thực dụng của người Hoa, một đối cực với tư duy trừu tượng và triết lý nổi trội của người Ấn. Thuốc nhuộm, giấy viết, nghề in và la bàn đã được phát minh ra rất sớm ở Trung Quốc, nhưng khoa học thực thụ vẫn không đến với họ cho đến khi đụng độ với các cường quốc phương Tây hồi thế kỷ 19 họ mới ngộ ra sức mạnh của khoa học.   Giới học giả đã hình thành ở những đại học nổi tiếng như Thanh Hoa, Đồng Tế, Phúc Đán, Giao Thông Thượng Hải v.v…, nơi mà nhiều người Việt từng du học ở Trung Quốc vẫn xem như giấc mơ đại học của ta. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa ra đời năm 1949, sứ mạng làm chủ công nghệ hạt nhân và tên lửa được trao cho những nhà khoa học thành danh từ phương Tây như Tiền Học Sâm, Tiền Tam Cường… Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên vị trí thứ ba trên thế giới về vũ khí hạt nhân và chinh phục không gian. Gần đây là cuộc bứt phá trong công nghệ khiến hàng hóa Trung Quốc, kể cả công nghệ cao, ngày càng tràn ngập thị trường thế giới. Có thể nói, sở trường thương mại, tính thực dụng và truyền thống công nghệ của người Hoa đã giúp họ nhanh chóng du nhập công nghệ từ bên ngoài.   Con đường du nhập công nghệ rất đa dạng, nhưng có thể tóm gọn trong ba chữ I. Thứ nhất là bắt chước (Imitation), bắt đầu bằng sao chép và làm ra các mẫu đơn chiếc, sau đó tiến lên sản xuất hàng loạt. Hàng hóa được cải tiến nhờ các khâu bảo đảm chất lượng (QA) cho đến khi công nghệ được hoàn toàn nội địa hóa (Indigenization). Tiếp theo là đổi mới công nghệ (Innovation) để cạnh tranh. Nói nôm na, quy trình ba chữ I chính là bắt chước có sáng tạo, được nhiều nước đi sau áp dụng để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước.   Nhưng rút ngắn khoảng cách bằng ba chữ I cũng có cái giá phải trả. Từ chiếc đèn điện tử chân không đến transistor và bao nhiêu thế hệ vi điện tử nối tiếp nhau ở thế kỷ XX mà các nước đi trước đã trải qua, giờ đây chỉ còn tìm thấy trong các bảo tàng. Nhưng tri thức tích lũy được qua những nấc thang công nghệ ấy, nhiều khi chỉ tồn tại dưới dạng tiềm ẩn (tacit), là vô giá. Không nhận ra sự thiệt thòi này, các nước đi sau có thể dễ bị khẩu hiệu “đi tắt đón đầu” ru ngủ. Chỉ có tổ chức nghiên cứu khoa học (R&D) nghiêm túc, quá trình bắt chước có sáng tạo mới thành công. Yêu cầu này càng gay gắt hơn khi quy trình ba chữ I tỏ ra kém hiệu năng trong cuộc cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay bởi luật sở hữu trí tuệ và quy định cấm phổ biến những thiết bị nhạy cảm. Hơn nữa, chỉ có nghiên cứu khoa học ở tầm cao mới sáng tạo ra được công nghệ mới (Invention), chữ I thứ tư trong logic phát triển của ba chữ I nói trên.   Về mặt này, thành tích của Trung Quốc còn khá khiêm tốn. Trong số 500 trường đại học tốt nhất thế giới do Đại học Giao thông Thượng Hải xếp hạng dựa trên các tiêu chí về nghiên cứu khoa học, Trung Quốc chỉ có 05 trường xếp sau thứ 200. Ngoài ra, chỉ có 05 người lọt vào tốp 5000 nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới (xem bảng thống kê). Nghĩa là tháp nhân lực khoa học của Trung Quốc có đáy rộng mà đỉnh chưa cao, có phong trào mà ít tinh hoa. Trung Quốc phải đẩy mạnh hơn nữa du nhập khoa học hiện đại từ phương Tây để tăng cường chất lượng đội ngũ, trong đó có chính sách trải chiếu hoa nghênh đón những nhà khoa học ưu tú người Hoa từ nước ngoài về. Ray Wu, nhà sinh học người Mỹ gốc Hoa ước tính hiện nay ở Trung Quốc có 500 nhà sinh học làm việc có hiệu quả (trong mười năm công bố ít nhất tám công trình trên các tạp chí quốc tế có hệ số tác động lớn hơn hai), trong khi chỉ riêng người Hoa ở Mỹ có đến 3000 (Nature, 428. p. 206, 2004).   Việt Nam: Đóng góp lớn nhất của giới khoa học Việt Nam là đào tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu khoa học và công nghệ, góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong những năm gần đây. Còn tác động trực tiếp của KHCN đến kinh tế đời sống thì quá ít, chủ yếu là chưa có đội ngũ chuyên nghiệp, thậm chí đang có xu hướng thoái hóa.    Thành tích nghiên cứu khoa học tầm cao của một số nước:             Việt Nam    Ấn Độ    Trung Quốc    Hồng Kông    Singapore    Thụy Điển    Mỹ        Trường đại học lọt vào tốp 500 a)                   0                   3                   5                   5                   2                   10                   170        Nhà khoa học thường được trích dẫn nhất b)                   0                   10                   5                   15                   4                   55                   3571        `Số người làm R&D (x1000) c)                   50                   128                   823                   11                   18                   46                   1324               Chú thích ảnh: Câu lạc bộ văn học dân gian ở HuếChú thích ảnh: Câu lạc bộ văn học dân gian ở Huếa) Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University  b) http://www.isihighlycited.com/.  c) Human Development Report, UNDP, 2005; sách KHCN Việt Nam 2003.  Thế hệ khoa học đầu tiên của Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài từ những năm đầu 1960. Sau bốn thập kỷ đầy biến động vừa qua, đội ngũ chưa thể hình thành, khẩu hiệu “khoa học công nghệ là động lực” chưa thể đi vào cuộc sống. Hiện ở nước ta có hơn 50.000 người làm R&D (theo sách KHCN Việt Nam, 2003), gấp 5-6 lần Thái Lan và Malaixia, hàng năm hoàn thành hơn 8000 báo cáo khoa học, nhưng hầu hết là các ấn phẩm trong nước. Nghiên cứu khoa học đã thành phong trào, nhưng bộ phận hoa tiêu còn quá lèo tèo (rất nhiều người bỏ nghề khoa học sau khi lấy được bằng cấp cao), còi cọc (có rất ít công trình nghiên cứu tầm quốc tế), và gần như vô hiệu trong một hệ thống bị hành chính hóa triệt để.  Bước đột phá tăng kinh phí KHCN lên 2% ngân sách nhà nước từ năm 2000 vẫn chưa để lại dấu ấn. Lý ra với nguồn lực đó có thể bước đầu hình thành một số phương hướng khoa học ra trò, có quân, có tướng, có phương tiện nghiên cứu mạnh, vươn lên tầm quốc tế và ngày càng đủ sức giải quyết các yêu cầu thực tiễn của đất nước. Nhưng hệ thống bị hành chính hớa làm cho cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ khoa học bị vô hiệu. Bộ phận tinh hoa ngày càng mất đi tính chuyên nghiệp, thậm chí không đủ sức đề kháng trong cơn lốc thị trường.  Hoạt động KHCN trong nhiều năm qua dường như xuát phát từ tiên đề Việt nam có một “đội ngũ” khoa học đủ trình độ, chỉ cần những chính sách thích hợp để gắn kết nó với thị trường là xong. Trên thực tế, các chính sách đó được hoạch định và thực thi bởi một hệ thống hành chính. Hệ thống này tác nghiệp bằng cơ chế xin cho còn rớt lại của thời bao cấp, chạy theo chính sách mỳ ăn liền với hy vọng dùng thị trường làm thước đo thay cho các chuẩn mực khoa học, đồng thời đảm nhận luôn cả vai trò cầm cân nảy mực thay cho cơ cấu nghề nghiệp. Hệ quả đương nhiên là đội ngũ không thể phát triển, thậm chí môi trường khoa học bị ô nhiễm và một bộ phận không nhỏ đang có xu hướng tha hoá (xem Chuyện có thật) dẫn đến những thảm trạng văn hóa như mua bằng bán điểm, luận án khoa học bày bán công khai…  Theo đuổi chính sách này, tri thức khoa học không được tích lũy theo quy luật cấp số nhân để tạo nên nguồn lực xã hội, trước hết thể hiện ở bộ phận hoa tiêu, từ đó lan tỏa ra cộng đồng qua môi trường văn hóa như trường đại học. Các nước tiên tiến phải mất hàng trăm năm mới tích lũy được nguồn lực này. Với 9 triệu dân, Thụy Điển có đến 55 nhà khoa học hàng đầu thế giới (được thường xuyên trích dẫn nhất), trong khi đó, với hơn một tỷ dân mỗi nước, Trung Quốc và Ấn Độ chỉ có 5-10 người (xem bảng thống kê). Tầm vóc của bộ phận tinh hoa chính là thước đo trung thực nhất trình độ dân trí và mức phát triển của một quốc gia.  Thị trường khoa học là một khái niệm được nhắc đến trong các văn kiện chính thức ở nước ta, nhưng chưa hề xuất hiện trong từ điển ở các nước tiên tiến. Xem khoa học có thị trường tức là không nhận ra lằn ranh giữa khoa học và công nghệ. Công nghệ có thể xem như hàng hóa, lấy thị trường làm thước đo, bí quyết công nghệ là sở hữu của người tìm ra nó. Còn khoa học, không riêng gì những ngành cơ bản, có mục tiêu lý giải những bí ẩn vô tận của thế giới như một nhu cầu nhận thức, để từ đó con người ngày càng làm chủ thiên nhiên và xã hội. Sản phẩm khoa học là của chung, để người này còn đứng trên vai người kia mà nhìn rõ thế giới hơn, lấy tính sáng tạo khoa họcđược bảo đảm bằng những sân chơi quốc tế làm thước đo. Khoa học hướng đến các mục tiêu kinh tế xã hội, nhưng sản phẩm khoa học không phải là hàng hóa mà là văn hóa. Xem nhẹ nghiên cứu khoa học trong các trường đại học là một trong những biểu hiện không nhận rõ bản chất văn hóa của khoa học.    Nền khoa học còn non trẻ ở nước ta đã được đặt lên đúng quỹ đạo chưa?  Có thể khó tìm sự đồng thuận cho câu trả lời khi khoa học vẫn còn tù mù trong một góc khuất của đời sống xã hội. Nhưng trước thực trạng nền đại học nước nhà tụt hậu quá xa, giáo dục chưa thấy lối thoát, những biến cố xảy ra dồn dập gần đây thể hiện sự yếu kém của khoa học, nguy cơ trở thành mảnh đất chỉ biết tiêu thụ công nghệ của nước ngoài sau khi gia nhập WTO… buộc chúng ta phải trả lời nghiêm túc câu hỏi trên.  Thực chất là trong quá trình du nhập khoa học ngắn ngủi vừa qua, ta chỉ mới sao chép cái hình thức bề ngoài, rồi nội địa hóa và đổi mới theo sở thích của mình. Cái hình thức bề ngoài hấp dẫn nhất có lẽ là khoa bảng. Nó dễ dàng tìm thấy chỗ đứng trong thang giá trị ở nước ta. Còn tính chuyên nghiệp của đội ngũ, vai trò quan trọng của giữa nghiên cứu khoa học bài bản đối với công nghệ, và nhất là bản chất văn hóa của khoa học lại chưa được tiếp thu đầy đủ. E rằng đi tiếp trên con đường vừa qua, KHCN càng xa dần mục tiêu làm động lực phát triển kinh tế xã hội, dân trí không tăng tiến và khó quay trở lại điểm xuất phát để còn hội nhập với thế giới.  —————  ảnh dưới: Trung tâm CNC Bangalore được coi là “thung lũng sillicon” của Ấn Độ  Chuyện có thật          Đơn vị nghiên cứu A được cấp kinh phí để nhập thiết bị ghi đo tự động qua đấu thầu, mỗi chiếc giá 250.000 USD. Hãng B thắng thầu với thỏa thuận chấp nhận hai quan chức đi tham quan thực tập. Thiết bị được lắp lên, quan chức không tiếp quản vận hành, giao cho kỹ thuật viên. Sau một thời gian ngắn thiết bị chệch choạc rồi ngừng hoạt động. Nghe nói có thiết bị hiện đại, sinh viên liền đến mua số liệu về làm luận văn thạc sĩ. Người bán sẵn lòng vì kết quả “nghiên cứu được ra thị trường”. Sau khi ngã giá mang về đưa lên máy tính, thì thấy thiết bị chỉ cho ra những số liệu vô nghĩa. Nhưng rồi luận án cũng được bảo vệ. Kết quả “nghiên cứu” của đơn vị A cũng có mặt trong tuyển tập hội nghị khoa học được tổ chức hoành tráng. Còn người ký quyết định đầu tư không hề quan tâm thiết bị đắt tiền đó có hoạt động không, và mang lại hiệu quả gì cho xã hội.             Ý kiến của bạn?  Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và chính trị      Ng&#224;y 6 th&#225;ng 10 năm 2008, tr&#234;n VTV1 c&#243; một chương tr&#236;nh kh&#225; th&#250; vị b&#224;n về một chủ đề hiếm thấy tr&#234;n c&#225;c phương tiện truyền th&#244;ng đại ch&#250;ng: tự do tư tưởng trong khoa học x&#227; hội v&#224; mối quan hệ giữa nh&#224; khoa học v&#224; nh&#224; ch&#237;nh trị, với sự tham gia của nhiều nh&#224; khoa học x&#227; hội trong đ&#243; c&#243; Gi&#225;o sư V&#245; Kh&#225;nh Vinh, Ph&#243; chủ tịch Viện Khoa học X&#227; hội Việt Nam.&#160;       Ý kiến của các vị đều rất thống nhất, cho rằng, trong thời gian qua, những người nghiên cứu khoa học xã hội thường mong muốn giữ được “an toàn”, tránh bị quy chụp chính trị, đã chọn những đề tài nặng về giải thích tính đúng đắn và sự sáng suốt về quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), ít muốn đụng chạm những chủ đề nhạy cảm về chính trị. Nhiều vị đồng tình với đề nghị của giáo sư Nguyễn Đức Bình cho ra Tạp chí “Tranh Luận” lưu hành nội bộ để các nhà nghiên cứu khoa học xã hội thảo luận thẳng thắn những vấn đề đặt trước nhu cầu phát triển của đất nước. Chương trình của VTV1 còn giới thiệu bản dự thảo quy chế dân chủ trong khoa học xã hội, theo giới thiệu, đó là bản dự thảo đã được thảo luận suốt 18 năm, nay đã đến lúc đủ điều kiện chín muồi để công bố.  Trao đổi với những người xem truyền hình VTV1 đêm đó, tôi được nghe hầu hết ý kiến cho rằng, đây là một tín hiệu tốt đẹp cho giới nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam.   Đâu chỉ có số phận của khoa học xã hội?  Lịch sử khoa học cho thấy, những bi kịch trong mối quan hệ giữa khoa học và chính trị đâu chỉ có rơi vào số phận các nhà khoa học xã hội. Vụ án Lưxenkô ở Liên Xô diễn ra từ cuối thập niên 1930 đến đầu thập niên 1940 là một vụ án mà giới chính trị đánh vào giới khoa học tự nhiên, khi các nhà di truyền học hiện đại truyền bá thuyết Mendel-Morgan vào Liên Xô. Họ đã bị lên án là truyền bá một học thuyết duy tâm tư sản phản động. Chỉ sau vài tháng phát động phong trào phê phán di truyền học hiện đại, trên ba ngàn nhà sinh học Xô Viết bị kết án, bị khai trừ đảng, bị bỏ tù và xử bắn. Vavilov, viện trưởng Viện Di truyền học thuộc Viện Hàn lâm Nông nghiệp Liên Xô bị bắt bỏ tù từ năm 1940, bị đái ra máu và chết trong tù vào năm 1942. Hiệu trưởng Đại học Kazan bị cách chức và bị khai trừ khỏi Đảng. Có thể nói, đây là một vụ tàn sát khoa học đẫm máu nhất thế kỷ 20, kéo lùi nền sinh học Xô Viết từ chỗ là đối thủ cạnh tranh đáng gờm trong các phương hướng nghiên cứu ứng dụng di truyền học hiện đại vào nông nghiệp, y học, quân sự,… đến chỗ tụt hậu hàng nửa thế kỷ so với các cường quốc sinh học1.  Một chủ đề không mới  Thật ra, mối quan hệ giữa khoa học và chính trị không phải là một chủ đề mới. Lịch sử đã chứng kiến các vua chúa đốt sách và thực hiện chính sách ngu dân. Napoleon là một người có công lao to lớn với nền khoa học Pháp, ông đã dành nhiều ưu đãi cho các nhà toán học, thiên văn học, hóa học và những ngành khoa học ứng dụng. Trong cuộc chinh phạt Ai Cập, ông đã mang theo một đoàn quân bác học đi giữa vành đai bảo vệ của các chiến binh, để lập ở đó một viện khoa học, nhưng cũng chính Napoleon đã tỏ thái độ kỳ thị với hàng loạt ngành khoa học xã hội, như lịch sử, triết học, đặc biệt là trường phái triết học của Thế kỷ Ánh sáng. Napoleon chống Kant một cách đặc biệt gay gắt, gọi Kant là một “tên bịp bợm”. Rồi đến kinh tế học chính trị cũng chịu chung số phận, nhất là trường phái kinh tế học chính trị theo chủ nghĩa trọng nông2.  Hàng loạt nhà khoa học xã hội trong các nước xã hội chủ nghĩa đã bị xử lý cầm tù không xét xử vì đã đưa những quan điểm trái ngược với quan điểm chính thống, như quan điểm về kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền, hòa giải và hòa hợp dân tộc thay vì chủ nghĩa quốc tế.        Trong cuốn sách nổi tiếng “Chức năng xã hội của khoa học” của nhà vật lý chất rắn người Anh, John Bernal, xuất bản ở Vương Quốc Anh năm 1939, có một chương thú vị, “Khoa học và biến đổi xã hội”, trong đó ông dành một phần tuy không dài, nhưng súc tích, được đặt tên là “Khoa học và Chính trị”4. Bernal đưa nhận định rằng, nhà khoa học mong muốn sử dụng các thành tựu của mình để làm biến đổi xã hội, trong khi nhà chính trị cũng mong muốn sử dụng đường lối chính trị của mình để cải biến xã hội. Trong trường hợp này, nhà khoa học đã đặt mình vào thế cạnh tranh với nhà chính trị. Điều đó cũng là lý do giải thích vì sao không ít nhà chính trị đã thẳng tay đàn áp khoa học.         Ngược lại cũng có tình huống khác. Đó là nhà chính trị đã trọng dụng nhà khoa học vì sự nghiệp cách mạng của mình, và một số nhà khoa học đã tự nguyện phục vụ mục tiêu xã hội của nhà chính trị. Trường hợp những nhà khoa học và kỹ thuật tên tuổi như Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Tường, Ngụy Như Kon Tum, v.v… cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chính vì sự gặp nhau của những ý tưởng cao cả này.  Nhưng dần dần xuất hiện những tình thế khác. Đó là trong sự hợp tác giữa nhà chính trị và nhà khoa học vì lợi ích chung của toàn xã hội, dần dần len lỏi những động cơ vụ lợi và mối quan hệ hai chiều này sẽ nghiêng dần về một nhóm quyền lực chính trị. Với thế mạnh của mình, họ thu hút một số nhà khoa học làm công cụ phục vụ cho lợi ích riêng, và đương nhiên, một số nhà khoa học không còn giữ được tư cách, trở thành kẻ cơ hội, trở thành những “nàng hầu” của nhóm quyền lực chính trị. Số khác thì tìm cách lánh xa chính trị, gọi là để tránh tiếng cơ hội chính trị, nhưng nếu không xử lý đúng đắn quan hệ này dễ trở thành kẻ đối lập với quyền lực chính trị và mang vạ vào thân. Giữa cái mớ bong bong ấy, sự xuất hiện những kẻ cơ hội, khi gặp giới khoa học thì nói chính trị, khi đi với giới chính trị thì nói khoa học là khó tránh khỏi, và đó thực sự là những quái thai của một nền khoa học và chính trị bệnh hoạn.  Triết học marxist nói gì về quan hệ giữa khoa học và chính trị?  Triết học marxist xem khoa học cũng như tôn giáo và ý thức hệ chính trị là những hình thái ý thức xã hội. Cũng theo quan điểm triết học marxist, mỗi hình thái ý thức xã hội có một chức năng xã hội riêng biệt, và có những hình thức biểu hiện riêng biệt. Hơn nữa các hình thái ý thức xã hội thì tương tác, nhưng không lệ thuộc lẫn nhau3. Có nghĩa, khoa học không có chức năng minh họa và giải thích cho các hình thái ý thức xã hội khác. Đây là điều mà nhiều người nhầm lẫn, kể cả trong giới chính trị và trong tôn giáo. Chẳng hạn, Giáo hội đã phẫn nộ và mang xử án Galileo khi ông tuyên bố ủng hộ thuyết nhật tâm, trái với tín điều trong kinh thánh. Nhưng Giáo hội đã đủ tỉnh táo nhận ra sai lầm của mình: hơn ba trăm năm sau Giáo hoàng John Paul Đệ Nhị đã lập một ủy ban xem xét lại vụ án và đến năm 1992 đã tuyên bố minh oan cho Galileo. Tương tự việc làm của Giáo hội, mười năm sau khi Stalin chết, vào giữa thập niên 1960, Nhà nước Liên Xô cũng đã xem xét lại vụ án Lưxenko và phục hồi danh dự cho Vavilov và các nhà sinh học bị xử trí trong vụ án này.  Vấn đề là nhiều người đã không hiểu mối quan hệ giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác, như đã được chỉ ra rất rõ trong những luận điểm rất quan trọng của triết học marxist. Họ nghĩ một cách chân thành rằng khoa học phải phục vụ chính trị, phải chạy theo để giải thích tính đúng đắn của đường lối chính trị, cũng như tôn giáo, đòi khoa học phải nói theo kinh thánh.  Trong xu thế ấy, người ta phê phán và lên án những kẻ nói ngược là thiếu “lập trường quan điểm”, là bấp bênh dao động là lẽ đương nhiên.  Không phải ngẫu nhiên, sau sự biến Hungary năm 1956 là những cuộc đàn áp các nhà khoa học. Nhận thức được tính chất sai lầm của những vụ án kiểu vụ án sinh học Xô Viết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Hungary đã ra nghị quyết về khoa học, trong đó có một quan điểm được ghi nhận: “Cần có biện pháp bảo vệ các nhà nghiên cứu khoa học xã hội khỏi những nguy cơ về chính trị”.  Thay lời kết luận  Tôi nhớ, khi đến dự lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, tôi được tặng một quyển sổ, trang đầu tiên ghi mấy dòng như lời đề tựa: “Khoa học xã hội phải có nhiệm vụ giải thích cho đường lối chính trị…” Hèn nào, trong buổi truyền hình đêm 6 tháng 10 vừa qua, các vị giáo sư khả kính của chúng ta bộc bạch ý nghĩ của mình… Nghiên cứu giải thích “đường lối quan điểm” là an toàn nhất (!)  Tôi thật ấn tượng nhớ lại, khi mới nhậm chức Tổng bí thư của Đảng CSVN, ông Đỗ Mười có cuộc gặp gỡ các nhà khoa học tại Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam. Phát biểu trong buổi đó, ông đã nhắc đi nhắc lại hai ý: “Khoa học phải phản biện cho đường lối chính trị của Đảng” và “Khoa học phải xây dựng luận cứ cho đường lối chính trị của Đảng”, đưa ra một quan điểm hết sức chuẩn xác về mối quan hệ giữa khoa học với chính trị.   –———————  [1] Theo số liệu công bố trong Tạp chí Tia lửa nhỏ (Ogoniok) Số 8&9 năm 1986 (nguyên bản tiếng Nga)  [2] Takle E. (1999), Napoleon Bonapart (Bản tiếng Việt), Nxb Quân đội Nhân dân, pp. 181-183  [3] Xem: Từ điển Triết học (1977), Nxb Tiến bộ, Moskva (Bản tiếng Việt)  [4] Bernal J. (1939), The Social Function of Science, Ed. Roudlege, p.402.  —————————-            ĐÍNH CHÍNH: Trong bài Khoa học và Chính trị (tạp chí Tia Sáng số 23 tháng 12) có đăng nhầm ảnh của GS Trần Đức Thảo (ảnh đã đăng là vợ của GS).              Ban biên tập Tạp chí Tia Sáng thành thật xin lỗi gia đình GS Trần Đức Thảo và bạn đọc.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và công nghệ Việt Nam đang ở đâu?      Để đánh giá sự phát triển KH&amp;CN của một quốc gia, cần phải sử dụng các chỉ tiêu đã quen thuộc trên thế giới. Về kết quả KH&amp;CN, đó là số công trình khoa học công bố trên các tạp chí quốc tế và số sáng chế đăng ký ở các cơ quan có uy tín trên thế giới (Cục Sáng chế Mỹ,…). Về chỉ tiêu thứ nhất, ta ở sau Thái Lan hơn 20 năm; về chỉ tiêu thứ hai, ta chưa có gì để so sánh!    Các kết quả về các chỉ tiêu kể trên là chứng cớ rất rõ ràng về tình trạng thấp kém của KH&CN của ta hiện nay. Đó là một điều thật đáng buồn vì vào đầu những năm 1960, sau khi thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước (năm 1959), Việt Nam được đánh giá là nước đã sớm thấy tầm quan trọng quyết định của KH&CN đối với phát triển trong số các nước đang phát triển lúc bấy giờ.  Tất nhiên, khi đánh giá sự phát triển KH&CN của Việt Nam, chúng ta không quên cuộc chiến tranh chống Mỹ rất khốc liệt (thực ra thì chính cuộc chiến tranh này đã đòi hỏi phải phát triển KH&CN) và sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước XHCN khác đã từng là một sự giúp đỡ rất to lớn đối với KH&CN của ta. Nhưng chúng ta thực sự đã có những cái không đúng từ bản thân chúng ta.        Một báo cáo do hãng dự báo RAND thực hiện năm 2001 theo yêu cầu của Ngân hàng Thế giới cho biết về năng  lực KH&CN, Việt Nam đứng hàng thứ 94 trên thế giới, khá xa sau Malaixia (thứ 71), Thái Lan (73), Philippin (80), sau không ít Xri Lanka (85), Nêpan (86), Burunđi (87), sau cả Irăc (90), Xiri (92)! Đến nay  hẳn thứ tự xếp hạng này cũng không mấy thay đổi.          Một trong những cái không đúng, có thể là có tính bao trùm, là chúng ta đã hạ thấp các chỉ tiêu về trình độ KH&CN, vì lý do này hay lý do khác. ở Philippin chẳng hạn, khi chuẩn bị luận án tiến sĩ (Ph.D.), nghiên cứu sinh cần phải có ít nhất một công trình công bố ở các tạp chí quốc tế (theo danh mục đã lựa chọn của Viện Thông tin khoa học – ISI – rất có uy tín trên thế giới). ở ta thì nhiều giáo sư, tiến sĩ chưa hề có một công trình nào như vậy cả. Nhiều người làm nghiên cứu ứng dụng tuyên bố đã có công  nghệ này công  nghệ nọ mà không bán được, nhưng khi  hỏi đến bằng sáng chế về công  nghệ đó thì lại nói là không làm ! Các báo cáo thành tích hàng năm của các cơ quan quản lý KH&CN luôn luôn nói đến số lượng giáo sư, tiến sĩ đông đảo của ta (đứng đầu khu vực Đông Nam á !) mà tuyệt  nhiên không đả động đến các chỉ tiêu về kết quả theo tiêu chí quốc tế. Chúng ta có thể hỏi: Nói đến KH&CN (hay R&D) mà chỉ kể chỉ tiêu đầu vào đó thì khác nào nói đến phát triển kinh tế mà chỉ kể ra dân số, không  nhắc gì đến GDP !.  Chúng ta không chỉ hạ thấp các chỉ tiêu về trình độ KH&CN mà còn đánh đồng những hoạt động nghiên cứu KH&CN với những hoạt động không là nghiên cứu khoa học theo đúng nghĩa của nó. Nhiều báo cáo kết quả đề tài khoa học của ta (nhất là về khoa học xã hội) thực ra chỉ là những “studies” (để khỏi nhầm với “research” là “nghiên cứu” nên dịch là “khảo cứu”), về thực chất chỉ là sự sắp xếp kiến thức đã có từ một số tài liệu (trong các đề tài của ta, nhiều khi tập hợp còn chưa đầy đủ ở mức tối thiểu), không có một sáng tạo gì đáng kể về ý tưởng, phương pháp,… Những “studies” như vậy (rất cần thiết để giải quyết nhiều yêu cầu tư vấn), theo UNESCO, được xếp vào mục “Dịch vụ khoa học” trong  phân  loại các hoạt động KH&CN, không phải là “research” (nghiên cứu).  Thậm chí, trong khi cần phải tập trung các  nguồn lực vào sáng tạo công nghệ hay thích nghi hóa công nghệ cần chuyển giao, chúng ta lại kể công về những việc về chủ yếu thuộc trách nhiệm các cơ quan về đầu tư phát triển, xúc tiến thương mại hay quản lý thị trường.  Đảng và Nhà nước ta từ lâu và luôn luôn mong muốn KH&CN đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển  của đất nước, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa cạnh tranh thị trường thế giới đang diễn ra rất gay gắt. KH&CN của ta nếu không chịu nhìn vào thế giới, nhìn vào các nước trong khu vực,  lấy các chỉ tiêu thực sự về phát triển KH&CN để nhìn thấy chính mình, so sánh  mình với thế giới, với khu vực, thì không thể nào tiến lên để làm tốt cái sứ mệnh mà nhân dân mong mỏi.  Nhiều người đang nói rằng KH&CN của chúng ta không phát triển vì chúng ta còn đầu tư ít cho KH&CN, chưa đãi ngộ các giáo sư một cách thích đáng. Nói như thế mới chỉ đúng một mặt, mặt khác còn phải xét  là có sử dụng đầu tư đó đúng cho phát triển KH&CN một cách đúng đắn hay không. Tôi  nhớ lại  câu chuyện của Hải Thượng Lãn Ông khi được mời lên Kinh để thăm bệnh cho Trịnh Cán. Ông hoảng hốt khi thấy các ngự y “tẩm bổ” cho thế tử trong khi bệnh trong người vẫn chưa đẩy ra được. Theo ông, chữa bệnh như thế thì “Nguy quá ! nguy quá !”.  Ý kiến của bạn?  Đặng Mộng Lân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây      Mấy năm gần đ&#226;y, c&#244;ng bố c&#244;ng tr&#236;nh khoa học tr&#234;n tạp ch&#237; quốc tế ng&#224;y c&#224;ng được quan t&#226;m v&#224; chấp nhận như một ti&#234;u ch&#237; đ&#225;nh gi&#225; kh&#225;ch quan chất lượng nghi&#234;n cứu khoa học (NCKH). Bộ GD&amp;ĐT tuy&#234;n bố sẽ phấn đấu đưa một trường đại học VN lọt v&#224;o top 200 thế giới, đồng nghĩa với việc ưu ti&#234;n th&#250;c đẩy c&#244;ng bố quốc tế, xem đ&#226;y l&#224; nh&#226;n tố bảo đảm chất lượng đ&#224;o tạo đại học. Trong chương tr&#236;nh đ&#224;o tạo hai vạn tiến sỹ, luận văn được y&#234;u cầu phải k&#232;m theo c&#244;ng bố quốc tế. Mới đ&#226;y, Bộ trưởng c&#242;n tuy&#234;n bố thưởng 1000 USD cho mỗi b&#224;i b&#225;o quốc tế. Tuy vậy vẫn c&#242;n nhiều tiếng b&#224;n ra khiến c&#225;c cơ quan quản l&#253; khoa học chuyển biến chậm, c&#225;c đề t&#224;i R&amp;D chưa lấy c&#244;ng bố quốc tế l&#224;m ti&#234;u ch&#237; đ&#225;nh gi&#225; khi x&#233;t duyệt v&#224; nghiệm thu như ở c&#225;c nước kh&#225;c.  C&#244;ng bố quốc tế của&nbsp;VN được chia th&#224;nh hai loại t&#249;y theo t&#225;c giả đầu mối (coresponding author) trong nước hay nước ngo&#224;i. Loại thứ nhất, gọi l&#224; c&#244;ng bố quốc tế do nội lực, được tr&#237;ch dẫn &#237;t hơn hẳn so với loại thứ hai. B&#224;i b&#225;o do nội lực li&#234;n quan trực tiếp đến đầu v&#224;o v&#224; đầu ra trong NCKH, do đ&#243; c&#243; thể d&#249;ng l&#224;m cơ sở để đ&#225;nh gi&#225; hiệu quả NCKH v&#224; gi&#250;p h&#236;nh dung cấu tr&#250;c c&#225;c ng&#224;nh khoa học nước nh&#224; hiện nay. Để biết khoa học v&#224; đại học&nbsp;VN đang ở đ&#226;u, dưới đ&#226;y sẽ so s&#225;nh c&#244;ng bố quốc tế của một số trường đại học h&#224;ng đầu ở VN với Th&#225;i Lan.      Dẫn nhập  Dưới đây, công bố quốc tế chỉ bao gồm những bài báo, mà không kể đến các loại báo cáo khoa học khác. Bài báo trong ISI phần lớn bằng tiếng Anh, tra cứu theo hai phương án “English” và “All Languages” chỉ khác nhau chưa đầy 0,5% về số lượng.    Dựa trên cơ sở dữ liệu này có thể đưa ra bức tranh tổng thể về số lượng và tốc độ tăng trưởng công bố quốc tế của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á từ 2002 đến 2007. Năng suất NCKH tính bằng số bài báo quốc tế trên một triệu dân được dùng để so sánh các nước về mặt số lượng. Về chất lượng có thể dựa trên số lần trích dẫn trung bình các bài báo công bố cách đây bốn năm (2004).     Năng suất NCKH – một tiêu chí đặc trưng cho phát triển  Bảng 1 cho ta hình dung khối lượng và tốc độ tăng trưởng công bố quốc tế của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á trong hai năm 2002 và 2007. Trung Quốc, nước đông dân nhất, giữ ngôi đầu bảng, tiếp theo là Nhật Bản vừa đông dân (thứ ba trong khu vực), vừa tiên tiến. Cho nên để loại yếu tố dân số ra, ta nên xem mỗi nước có bao nhiêu công bố quốc tế trên một triệu dân, và gọi đó là năng suất NCKH.                   Thật đáng ghi nhận khi gần đây, Bộ KH&CN đã mua quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu ISIKNOWKEDGE (http://db.vista.gov.vn/) để giới khoa học có thể cập nhật thông tin toàn diện về các công bố quốc tế trên toàn thế giới. Nơi đây tập hợp hơn một vạn tạp chí khoa học, từ tự nhiên, xã hội đến nhân văn-nghệ thuật, và bài báo (article) đăng trên những tạp chí này thường được xem như đủ “tiêu chuẩn quốc tế”.           Biểu diễn năng suất NCKH trên thang lô ga như hình 1 rất dễ thấy công bố quốc tế của các nước tăng đều hằng năm theo cấp số nhân. Việt Nam, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng khá nhanh, 16% hàng năm. Tuy nhiên, số công trình Việt Nam vẫn luôn kém Thái Lan 6,5 lần, Malaysia 9,5 lần. Nghĩa là nếu không tăng tốc mạnh hơn nữa, đại học Việt Nam rất khó chen chân vào top 200 thế giới, nơi đây đã có mặt Đại học Chulalongkorn của Thái Lan theo cách xếp hạng năm 2005 và 2007 của The Times Higher Education (tuy nhiên, Chulalongkorn vẫn chưa lọt vào tốp 500 theo cách xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, chủ yếu dựa trên thành tích NCKH).      Bảng 1. Tổng số bài báo quốc tế và tốc độ tăng trưởng của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á trong hai năm 2002 và 2007.  Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10/2008.                    2002      2007      Tăng trưởng, %/năm          Trung Quốc      31721      81006      20          Nhật Bản      59253      62044      1,3          Hàn Quốc      14948      24917      11          Đài Loan      10610      17689      11          Singapore      3863      5903      10          Hong Kong      2862      4007      7          Thái Lan      1547      3353      16          Malaysia      901      2051      16          Việt Nam      324      691      16          Indonesia      400      584      8          Philippines      398      500      3,5             Điều “an ủi” là năng suất NCKH của Việt Nam vẫn cao gấp ba lần Indonesia và từ 2004 trở đi đã vượt Philip pines nước này chỉ giữ được tốc độ tăng trưởng hằng năm khoảng 3-4%. Trung Quốc tăng trưởng nhanh nhất, hơn 20%/năm. Họ đã vượt Thái Lan và sắp đuổi kịp Malaysia.  Singapore đứng đầu bảng trong khu vực, có năng suất NCKH cao hơn Malaysia, Thái Lan và Việt Nam gấp 20, 30 và 200 lần. Cứ một nghìn người Singapore có trên 01 bài báo quốc tế hằng năm. Tiếp sau Singapore là Nhật Bản và ba con rồng châu Á. Nhưng phát triển đến trình độ càng cao, tăng trưởng càng chậm, Hàn Quốc và Đài Loan: 11%/năm, Singapore: 10%/năm, Hong Kong: 7%/năm, Nhật Bản: 1%/năm.    Thoạt nhìn, có thể nghĩ rằng sự khác biệt về năng suất NCKH giữa các nước là do chênh lệch về mức sống. Có thực mới vực được đạo. Nhưng người Philippines và Indonesia thu nhập gấp đôi Việt Nam lại công bố ít hơn chúng ta từ 1,3 đến 3 lần. Phép phân tích tương quan cho thấy trong phạm vi Đông Á, năng suất NCKH có tương quan ít nhiều với bình quân GDP (R2 = 0,64), nhưng không mạnh bằng tương quan với chỉ số phát triển con người HDI của UNDP bao gồm cả những tiêu chí về giáo dục và tuổi thọ (R2 = 0.91, hình 2). Lại một lần nữa, phát triển kinh tế một chiều sẽ không đưa chúng ta đến những đỉnh cao khoa học, công nghệ và văn hóa.        Hình 1. Năng suất NCKH thể hiện bằng số công bố quốc tế trên một triệu dân của các nước Đông Á. Độ dốc của những đường hồi quy trên đây cho ta ý niệm về tốc độ tăng trưởng năng suất NCKH.   Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10/2008, UNDP Human Development Reports.     
__label__tiasang Khoa học và mơ tưởng      Nhà khoa học Hàn Quốc Hwang Woo-suk (Đại học Quốc gia Seoul) không phải là nhà khoa học duy nhất đã phạm cái tội tày trời “xào nấu” kết quả nghiên cứu. Những ai có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học đều biết rằng trong suốt lịch sử tồn tại của nghiên cứu khoa học, người ta đã phát hiện hàng ngàn trường hợp gian lận và lừa gạt. Nhưng trong khoa học cũng có vô số trường hợp nhầm lẫn và nhà khoa học hấp tấp công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san khoa học để rồi sau đó phải rút lại những tuyên bố đó vì sai lầm. Giới khoa học gọi đó là những ý nghĩ mơ tưởng (wishful thinking).         Ảo ảnh của danh vọng  Đối với nhà khoa học tiền bạc không phải là vấn đề lớn. Ít ai làm khoa học để giàu, phần lớn các nhà nghiên cứu dấn thân vào khoa học để phục vụ con người và xã hội. Lý tưởng và động cơ của nhà khoa học là đi tìm những thử thách tri thức, đi tìm sự thật, và chia sẻ tri thức mới với đồng nghiệp trên thế giới. Trong hoạt động khoa học, việc công bố kết quả nghiên cứu qua hình thức một bài báo khoa học không chỉ là một nghĩa vụ mà còn là một cách thức khẳng định tên tuổi của một nhà khoa học trên trường quốc tế. Nhà khoa học làm việc hết mình để trở thành người tiên phong trong một lĩnh vực nghiên cứu nào đó để tạo nên cái dấu ấn trên trường khoa học, hay theo cách nói của cụ Nguyễn Công Trứ, để “có danh gì với núi sông”. Và một cách hữu hiệu để lưu danh với đời là phấn đấu trở thành ngườidẫn đầu trong một lĩnh vực chuyên môn.                    Bậc thang danh vọng đôi khi làm người ta lóa mắt và quên đi cả đạo đức. Minh họa: Corbis           Vấn đề nảy sinh là trong thực tế một số nhà khoa học trước những quyến rũ về danh vọng (để nổi tiếng làm người dẫn đầu “first scientist”) có xu hướng hấp tấp tuyên bố kết quả nghiên cứu trước khi họ có thì giờ suy nghĩ kĩ.  Nếu kết quả nghiên cứu không phù hợp hay thiếu tính nhất quán với giả thuyết (hay kỳ vọng) của nhà khoa học, thì việc “xào nấu” kết quả nghiên cứu là một cám dỗ rất lớn. Và nhà khoa học Hàn Quốc, Tiến sĩ Hwang Woo-suk, đã làm cái việc “động trời” đó: “xào nấu” kết quả nghiên cứu cho phù hợp với ý nghĩ của mình. Ông đã phải trả cái giá quá đắt cho hành động điên rồ đó.   Tháng 2 năm 2004, Tiến sĩ Hwang làm cho thế giới nghiên cứu tế bào mầm ngẩn ngơ khi tuyên bố rằng ông đã thành công tạo ra những phôi (embryos) từ các tế bào da của 11 bệnh nhân hiến tặng. Thành công này làm cho thế giới y học kính phục, vì nó có thể dẫn đến phương pháp chữa trị các bệnh ngặt nghèo (như ung thư như não, võng mạc mắt, buồng trứng, ung thư tinh hoàn, ung thư máu; bệnh lu-pút, thấp khớp…) bằng kỹ thuật tạo sinh vô tính (cloning).    Thế nhưng đến tháng 11 năm 2005 thì một số nhà khoa học Mỹ và đồng nghiệp Hàn Quốc của Tiến sĩ Hwang bắt đầu nghi ngờ kết quả của ông. Họ tố cáo ông đã ngụy tạo kết quả và vi phạm y đức. Trước dự luận công chúng và áp lực quốc tế, một hội đồng khoa học thuộc Đại học Quốc gia Seoul (Seoul National University) được thành lập để điều tra sự việc. Đến cuối năm 2005 và đầu năm 2006, sau 3 tháng điều tra hội đồng đi đến kết luận rằng những kết quả mà tiến sĩ Hwang công bố là giả tạo. Ngoài ra, những trứng mà ông sử dụng cho thí nghiệm được mua từ cộng sự viên nữ và bệnh nhân, chứ chẳng có ai hiến tặng cho công trình nghiên cứu của ông cả. Hội đồng điều tra kết luận rằng việc làm của Tiến sĩ Hwang “chỉ có thể mô tả là một sự lừa bịp”.   Cơn bão đạo đức trong khoa học  Cũng như lúc công bố kết quả nghiên cứu gần 2 năm về trước, Tiến sĩ Hwang đã làm cho thế giới khoa học chấn động, kết luận của hội đồng khoa học trường Đại học Quốc gia Seoul đã làm cho cả thế giới rúng động. Qua điều tra, người ta mới biết những việc làm phản khoa học và phi đạo đức khoa học đã tích lũy khá lâu, làm cho người ta nghĩ một cơn bão đạo đức khoa học trong thế giới nghiên cứu tế bào mầm. Người ta bắt đầu hỏi tại sao trong khoa học lại có những trò gian lận lớn như thế. Tại sao và do động cơ nào mà Tiến sĩ Hwang – một người rất có tài và trước đó được cả nước Hàn Quốc xem là anh hùng khoa học, niềm tự hào của nền khoa học Hàn Quốc – lại lừa dối thế giới khoa học?   Francis Bacon, một nhà khoa học người Anh rất nổi tiếng trong thế kỉ 17, đề nghị phân biệt hai loại khoa học: khoa học nghiêm túc dựa vào thực tiễn và bằng chứng càng ngày càng thuyết phục theo thời gian; khoa học mơ tưởng – wishful science – chỉ nở rộ khi tác giả của nó đang còn nổi tiếng, nhưng sẽ chìm vào quên lãng khi có bằng chứng rằng nó sai. Nghiên cứu của Tiến sĩ Hwang thuộc vào loại khoa học mơ tưởng.   Một trong những trường hợp nổi tiếng là Stephen J. Breuning, người bị tòa án Mỹ kết tội là đã ngụy tạo số liệu để gây ảnh hưởng đến việc điều trị bệnh nhân tâm thần. Dựa vào công trình nghiên cứu này của Breuning, các phương pháp chữa bệnh tâm thần sẽ gây biết bao tác hại cho bệnh nhân. Gần đây, hai nhà sinh học phân tử người Đức, Fridhelm Herrmann và Marion Brach, bị tố cáo ngụy tạo số liệu trong 47 bài báo mà họ công bố trên các tập san danh tiếng trong ngành như Blood và Journal of Experimental Medicine. Tuy giáo sư Brach thú nhận rằng bà là thủ phạm, nhưng giáo sư Herrmann thì từ chối không hợp tác với ủy ban điều tra vấn đề ngụy tạo số liệu.              Sân chơi khoa học là một sân chơi dân chủ. Trong một môi trường tri thức lành mạnh, tất cả những giả tạo và lừa gạt thường bị lật tẩy và sửa đổi. Ngược lại, những nghiên cứu lương thiện và chân thật thường tồn tại lâu dài với thời gian như là những chân lí khoa học. Nhưng đạo đức khoa học chỉ vận hành tốt trong một môi trường tri thức lành mạnh.          Năm 1988, hai nhà vật lí học lừng danh của Đại học Utah (Mỹ) tuyên bố rằng họ thành công trong việc tạo ra năng lượng nhiệt hạch (thermonuclear energy), còn gọi là “cold fusion”. Cần nói rằng trong hơn 50 năm trước đó, nhiều nhà khoa học đã từng mơ ước xây dựng một lò phản ứng hạt nhân để sản xuất điện vô giới hạn bằng kĩ thuật “cold fusion”, nhưng họ không thành công. Ấy thế mà hai nhà vật lí Đại học Utah tuyên bố đã thành công chỉ với một phương pháp đơn giản: chạy một dòng điện qua nước và palladium trong một cái vại!  Trước đó, chính phủ Mỹ tiêu ra hàng trăm triệu đôla cho nghiên cứu “cold fusion”. Thế nhưng sau hơn 2 năm theo đuổi công trình này, các nhà khoa học mới chứng minh được rằng kết quả của hai nhà vật lí Utah là giả tạo, viễn vông!   Cũng trong thập niên 1980 đã diễn ra một cuộc tranh chấp gay gắt diễn ra giữa hai nhóm khoa học Pháp và Mỹ, và câu chuyện chỉ có thể giải quyết qua đường ngoại giao. Các nhà khoa học Viện Pasteur của Pháp tố cáo các nhà khoa học thuộc Viện Y tế của Mỹ đã ăn cắp mẫu máu từ Viện Pasteur để khám phá ra vi khuẩn HIV. Các nhà khoa học Mỹ phản công hơi yếu ớt, cho rằng các nhà khoa học Pháp… ganh tị. Không ai chịu nhường ai và cuối cùng các chính khách ngoại giao phải nhảy vào can thiệp. Qua cuộc tranh chấp này, người ta mới thấy qui trình làm việc trong các phòng thí nghiệm của Mỹ có vấn đề.                       Lý tưởng và động cơ của nhà khoa học là đi tìm những thử thách tri thức, đi tìm sự thật, và chia sẻ tri thức mới với đồng nghiệp trên thế giới. Minh họa: Corbis               Năm 1999, một nhà hóa học nổi tiếng người Mỹ tuyên bố rầm rộ rằng ông đã khám phá ra hai nguyên tố mới có thời gian tồn tại trong vòng vài giây, và đề nghị mở rộng bảng tuần hoàn nguyên tố (tức Periodic Table) từ 116 nguyên tố thành 118 nguyên tố. Đồng nghiệp khắp thế giới thoạt đầu khâm phục khám phá này, nhưng mãi đến năm 2002 người ta mới biết đó là những khám phá “dỏm”, chủ yếu là kết quả của một sự “nấu nướng” dữ kiện!   Danh sách các trường hợp lường gạt khoa học còn kéo dài và đã được đúc kết thành ít nhất là 10 quyển sách.  Trong lịch sử khoa học, có khá nhiều nghiên cứu đã làm tốn công sức và tiền bạc cho cả một thế hệ nghiên cứu. Nhà tâm lí học người Anh, Cyril Burt, có lần “chứng minh” hùng hồn rằng hệ số thông minh (IQ) là do các yếu tố di truyền quyết định. “Phát hiện” này đã làm thiên lệch một quan điểm khoa học hơn 20 năm sau đó trước khi được chứng minh là sai lầm. Nhà sinh học người Nga, Trofim Lysenko cũng từng chi phối nền nông nghiệp Xô-viết trong suốt 25 năm với những quan điểm và tuyên bố mà sau này được xem là phản khoa học, phi lí và lố bịch. Năm 1971, một chuyên gia thuộc chính phủ Phi Luật Tân long trọng tuyên bố với thế giới rằng ông mới phát hiện một bộ lạc có tên là Tasaday thuộc thời đại Đồ Đá vẫn duy trì tập tục cũ mà không hề chịu ảnh hưởng của nền văn minh hiện đại. Chính phủ Phi Luật Tân và một số nước Tây phương đổ biết bao tiền bạc để bảo vệ bộ lạc từ ảnh hưởng của văn minh hiện đại, một bộ lạc mà mà họ cho là biểu tượng của sự “trinh nguyên”. Thế nhưng sau gần 10 năm, người ta mới biết đó là một trò lừa độc đáo và tinh vi.    Tại sao Tiến sĩ Hwang lừa gạt thế giới?                      Ngụy tạo số liệu là điều không thể chấp nhận được trong khoa học và càng không thể che dấu sau khi công bố trên các tập san có uy tín của thế giới. Minh họa: Corbis            Có người cho rằng chính cái văn hóa làm nhanh, hấp tấp của Hàn Quốc đã đẩy ông vào cạm bẫy. Hàn Quốc muốn trở thành một nước kĩ nghệ sánh vai cùng các nước Tây phương, người Hàn Quốc muốn dẫn đầu thế giới về công nghệ sinh học, và muốn làm một việc mà ta hay gọi là “đi tắt đón đầu”. Do đó, một áp lực quốc gia rất lớn đã đè lên Hwang để ông phải cho ra kết quả. Trước đây, ông Hwang dù rất nổi tiếng ở Hàn Quốc nhưng lí lịch khoa học của ông rất khiêm tốn. Ông chưa từng có một bài báo nào trên một tập san khoa học lớn cả. Do đó, ông phải tìm mọi cách để có tên tuổi trên các tập san danh tiếng như Science và Nature. Để có bài báo trên các tập san này, ông phải có những kết quả mới làm chấn động thế giới, và có thể đó chính là nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh như hiện nay.    Cần nói thêm rằng cho đến nay, Tiến sĩ Hwang vẫn không nhận rằng ông đã lường gạt ai, mà chỉ đổ lỗi cho cộng sự viên. Cũng có thể ông, một nhà khoa học tài ba và có uy tín, không lường gạt ai, nhưng là người đứng đầu trong công trình nghiên cứu, ông phải (và đã) nhận lãnh trách nhiệm. Ông từ chức giáo sư và giám đốc Trung tâm nghiên cứu tế bào mầm Hàn Quốc.   Qua sự cố này, chúng ta thấy việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế là một hình thức duy trì chất lượng nghiên cứu khoa học và đảm bảo tính minh bạch trong nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học mang tính quốc tế và phi biên giới. Một công trình nghiên cứu khi đã qua bình duyệt từ đồng nghiệp trong ngành và xuất hiện trên một tập san khoa học là một hình thức chia sẻ thông tin và một cách thông báo cho thế giới về phát hiện của mình. Phát hiện này, nếu sau khi qua thử thách   của những rà soát, kiểm tra, phê bình từ đồng nghiệp trên khắp thế giới mà vẫn đứng vững thì đó là một minh chứng cho chất lượng của công trình nghiên cứu và đem lại uy danh cho tác giả. Nếu một công trình nghiên cứu đã xong mà kết quả không được công bố trên các tập san khoa học quốc tế, thì công trình đó chưa thể nói là đã hoàn tất. Cũng không thể đánh giá đúng mức chất lượng của những công trình như thế vì chưa qua “thử lửa” với thế giới. (Bài báo của Tiến sĩ Hwang đã và đang được “thử lửa”, và kết quả có lẽ không như ông mong muốn, nhưng lại là một chiến thắng của khoa học). Chính vì thế mà tại hầu hết các trường đại học ở Anh, Canada, và Úc, nghiên cứu sinh sẽ không được viết luận án nếu chưa có ít nhất là hai bài báo công bố trên các tập san khoa học quốc tế.    Sân chơi khoa học là một sân chơi dân chủ. Trong một môi trường tri thức lành mạnh, tất cả những giả tạo và lừa gạt thường bị lật tẩy và sửa đổi. Ngược lại, những nghiên cứu lương thiện và chân thật thường tồn tại lâu dài với thời gian như là những chân lí khoa học. Nhưng đạo đức khoa học chỉ vận hành tốt trong một môi trường tri thức lành mạnh.     Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học về hành vi con người      Ai cũng khen người Việt Nam thông minh cần cù, hiếu khách, sáng tạo…, Tuy nhiên qua 30 năm xây dựng, quá trình phát triển chính trị kinh tế xã hội đã đưa tới một số mặt yếu của người Việt Nam đương đại mà nếu không khắc phục bằng việc phát huy các khoa học hiện đại về hành vi con người thì phát triển sẽ bị chậm lại.    A. MỘT SỐ MẶT YẾU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  l) Sự xuống cấp về đạo đức làm người ở mức báo động.  Con người không phải thần thánh. Có tốt có xấu, nhưng chưa hiểu vì lý do gì mà cái xấu ngự trị đến mức đáng ngạc nhiên và những giá trị căn bản của đạo làm người như sự thật thà, trung thực, sự tôn trọng người khác và quyền lợi của họ, sự công bằng… bị lãng quên. Cái xấu ngự trị một cách đường chính chính.  Khái niệm “lương tâm” hết sức cơ bản trong từng con người biến mất ở một số không nhỏ. Một nhà xã hội học luật pháp đã nói: “Luật là biện pháp cuối cùng, nó không có tác dụng nếu người ta không có ý thức tuân thủ nó”. Đó là lương tâm, khả năng phân biệt phải trái và hành động theo đó.  Không nói chi đến những người chơi bời với hàng triệu đôla, ta chỉ cần quan sát trong đời sống hàng ngày những vấn đề làm đau đầu nhà quản lý như an toàn vệ sinh thực phẩm, buôn bán gia cầm, gia súc không qua kiểm soát… Ở đây mạng sống con người không có ý nghĩa gì với những người vi phạm.  2) Ý thức cộng đồng sa sút trầm trọng.  Để xã hội vận hành tốt, người công dân không thể chỉ nghĩ tới quyền lợi riêng tư của mình mà còn phải tôn trọng quyền lợi của người khác. Ý thức cộng đồng sa sút này biểu hiện rõ trong các tai nạn giao thông (một vấn đề xã hội gây tổn phí kinh tế rất lớn). Thiếu ý thức cộng đồng dẫn tới sự coi thường luật pháp không chỉ từ người dân mà ngay cả từ những người thi hành luật. Sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề giao thông khi người vi phạm chỉ cần hối lộ cho cảnh sát thì được bỏ qua. Người cảnh sát ăn hối lộ (hay ông quan tham nhũng) cũng chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của mình mà quên đi lợi ích cộng đồng.  Sự kém cỏi trong vệ sinh công cộng là một ví dụ điển hình khác.  3) Tác phong công nghiệp còn yếu.  Đúng giờ, đúng hẹn, đúng lời hứa, tôn trọng các quy định chung của tổ chức, chấp nhận các đòi hỏi của hoạt động tập thể phải được tăng cường giáo dục.  4) Tuổi trẻ nói chung còn thụ động, làm theo phong trào, thực dụng, ít quan tâm đến những vấn đề chung của đất nước. Chưa có tinh thần ê-kíp.  5) Các tệ nạn ma túy, mại dâm, tội phạm… và đại dịch HIV là GÁNH NẶNG KINH TẾ RẤT LỚN cho đất nước. Các vấn đề này chưa được giải quyết thỏa đáng vì thiếu các phương pháp tâm lý xã hội. Phương pháp giáo dục truyền thông còn quá lỗi thời. Các biện pháp giáo dục chỉ tác động bên ngoài, chưa tạo được nội lực tâm lý để thay đổi.  6) Các vấn đề về rối loạn tâm lý, stress, trầm cảm bắt đầu phát triển mặc dù phát triển kinh tế chưa cao.  7) Ăn chơi, nhậu nhẹt, nhất là ở nông thôn vượt mức bình thường và cũng rất tốn kém về kinh tế…  Còn có thể kể thêm dài dài nhiều yêu kém khác.    B.THỬ PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN  Chắc chúng cũng đã rõ:  – Giáo dục nhân bản, giáo dục đạo đức làm người thật cơ bản bị bỏ quên. Dường như có giả định là con người tốt về chính trị tất yếu sẽ tốt về đạo đức… thanh niên có quậy phá thì Đoàn lo giáo dục chín trị tư tưởng và pháp luật không thấy nhắc tới giáo dục nhân bản và đạo đức. Sự thay đổi chỉ mới gần đây khi vấn đề quá trầm trọng.  – Gia đình hoàn toàn hụt hẫng trước những biến chuyển xã hội nhanh như vũ bão và không còn biết phải làm gì với con cái mình.  – Xã hội có quan tâm nhưng bất lực vì chỉ dựa vào kiểu kêu gọi, tuyên truyền đại trà với kết quả nước đổ lá khoai.  – Nguyên nhân cơ bản là ta hoàn toàn lạc hậu trong lĩnh vực khoa học về HÀNH VI CON NGƯỜI để có những biện pháp giáo dục hữu hiệu.  C. THỬ BÀN VỀ BIỆN PHÁP  Những vấn đề xã hội diễn ra hiện nay ở nước ta là những hậu quả xã hội tiêu cực của quá trình đổi mới về khoa học kỹ thuật và kinh tế. Hơn nữa đó là sự tiếp thu không chọn lọc, không lành mạnh những giá trị tiêu cực từ bên ngoài.  Ở các nước đi trước, quá trình công nghiệp hóa diễn ra kéo dài hàng thế kỷ. Các vấn đề xã hội xuất hiện tới đâu, họ cố gắng giải quyết tới đó. Từ từ hình thành các khoa học xã hội để đối phó với các hiện tượng xã hội tiêu cực. Ví dụ xã hội học hình thành với xã hội công nghiệp, giai cấp công nhân. Công tác xã hội bắt đầu với hoạt động tình nguyện của những nhà trí thức Anh đi thăm viếng giúp đỡ công nhân trong các khu nhà ổ chuột, giúp họ khi họ thất nghiệp… Tư vấn tâm lý hình thành trong cố gắng chăm sóc các bệnh nhân có những khó khăn về tâm lý, tâm thần…  Không phải là các nước phát triển không có những vấn đề xã hội, nhưng với những công cụ khoa học hình thành cả trăm năm nay, và tiếp tục hoàn thiện, họ làm chủ được tình hình.  Một ví dụ là đại dịch Aids. Nó được phát hiện ở Mỹ. Lúc đầu chưa có thuốc chữa. Nhưng nước Mỹ đã chế ngự sớm sự lây lan nhờ các khoa học giúp thay đổi hành vi như tham vấn tâm lý, truyền thông giáo dục, tổ chức quản lý về mặt xã hội.  Những nét đặc thù tiêu cực của người Việt Nam đương đại kể trên thuộc về thái độ và hành vi và hành vi không thể thay đổi khi ta chỉ kêu gọi hời hợt hay tuyên truyền suông.  Truyền thông đại chúng dù có hay cách mấy cũng chỉ cung cấp thông tin, không làm cho người ta thay đổi.  Ngày nay giáo dục tích cực hay giáo dục có sự tham gia, nhất là trong nhóm nhỏ, trong đó cá nhân tương tác với nhau mới làm thay đổi hành vi. Nghiên cứu khoa học cho thấy trong giáo dục hay đổi hành vi thảo luận nhóm đem lại hiệu quả gấp chục lần so với thuyết trình. Phương pháp này hiện nay có được sử dụng nhưng rất ít vì người ta còn ham số đông và chưa biết khoa học về nhóm nhỏ và sức mạnh của nó. Công tác cai nghiện ma túy rất tốn kém nhưng học viên dễ tái nghiện vì không có sự thay đổi từ bên trong, không tự tạo được cho mình một nội lực mới nhờ phương pháp tham vấn, trị liệu tâm lý hay công tác xã hội. Xóa đói giảm nghèo chưa bền vững vì chưa ứng dụng Phát triển Cộng đồng qua đó người dân tích cực tham gia vào việc làm thay đổi và làm chủ cuộc sống của họ.  Các nước phát triển cũng hết sức quan tâm đến giáo dục giới trẻ nhưng họ không hô hào “tiên học lễ hậu học văn”. Họ dạy KỸ NĂNG SỐNG là khả năng thực hành các kỹ năng tâm lý xã hội để tự mình quyết định, lựa chọn khi không có người lớn bên cạnh để chọn những hành vi tích cực và nói KHÔNG với cái xấu. Họ không bắt trẻ học thuộc lòng các bài giảng mà cho trẻ chơi, đóng kịch, sắm vai… để thực hành những tình huống sẽ gặp ngoài đời.  Họ cũng rất quan tâm đến giáo dục đạo đức nhưng không còn sử dụng ca dao tục ngữ mà dạy những GIÁ TRỊ SỐNG như sự trung thực, tinh thần trách nhiệm, tính vị tha sự tôn trọng nhân phẩm, lợi ích chung… Họ cũng dạy bằng các phương pháp thực hành như trong kỹ năng sống.  Những cách giáo dục này được các tổ chức Liên Hợp Quốc đưa vào Việt Nam từ những năm 90 nhưng cho tới nay vẫn còn ở dạng thí điểm rất hạn hẹp.  Các phương pháp giáo dục thay đổi hành vi, truyền thông nhóm nhỏ, công tác xã hội, phát triển cộng đồng, tham vấn tâm lý… cũng đã được thực hiện  đó đây ở Việt Nam và chứng minh hiệu quả. Tuy nhiên chúng chưa phát triển vì từ gốc độ chính sách chủ trưong chúng chưa được công nhận như những công cụ đắc lực của phát triển xã hội.  Nguyễn Thị Oanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học về hành vi con người      Ai cũng khen người Việt Nam thông minh cần cù, hiếu khách, sáng tạo…, Tuy nhiên qua 30 năm xây dựng, quá trình phát triển chính trị kinh tế xã hội đã đưa tới một số mặt yếu của người Việt Nam đương đại mà nếu không khắc phục bằng việc phát huy các khoa học hiện đại về hành vi con người thì phát triển sẽ bị chậm lại.    A. MỘT SỐ MẶT YẾU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  l) Sự xuống cấp về đạo đức làm người ở mức báo động.  Con người không phải thần thánh. Có tốt có xấu, nhưng chưa hiểu vì lý do gì mà cái xấu ngự trị đến mức đáng ngạc nhiên và những giá trị căn bản của đạo làm người như sự thật thà, trung thực, sự tôn trọng người khác và quyền lợi của họ, sự công bằng… bị lãng quên. Cái xấu ngự trị một cách đường chính chính.  Khái niệm “lương tâm” hết sức cơ bản trong từng con người biến mất ở một số không nhỏ. Một nhà xã hội học luật pháp đã nói: “Luật là biện pháp cuối cùng, nó không có tác dụng nếu người ta không có ý thức tuân thủ nó”. Đó là lương tâm, khả năng phân biệt phải trái và hành động theo đó.  Không nói chi đến những người chơi bời với hàng triệu đôla, ta chỉ cần quan sát trong đời sống hàng ngày những vấn đề làm đau đầu nhà quản lý như an toàn vệ sinh thực phẩm, buôn bán gia cầm, gia súc không qua kiểm soát… Ở đây mạng sống con người không có ý nghĩa gì với những người vi phạm.  2) Ý thức cộng đồng sa sút trầm trọng.  Để xã hội vận hành tốt, người công dân không thể chỉ nghĩ tới quyền lợi riêng tư của mình mà còn phải tôn trọng quyền lợi của người khác. Ý thức cộng đồng sa sút này biểu hiện rõ trong các tai nạn giao thông (một vấn đề xã hội gây tổn phí kinh tế rất lớn). Thiếu ý thức cộng đồng dẫn tới sự coi thường luật pháp không chỉ từ người dân mà ngay cả từ những người thi hành luật. Sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề giao thông khi người vi phạm chỉ cần hối lộ cho cảnh sát thì được bỏ qua. Người cảnh sát ăn hối lộ (hay ông quan tham nhũng) cũng chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của mình mà quên đi lợi ích cộng đồng.  Sự kém cỏi trong vệ sinh công cộng là một ví dụ điển hình khác.  3) Tác phong công nghiệp còn yếu.  Đúng giờ, đúng hẹn, đúng lời hứa, tôn trọng các quy định chung của tổ chức, chấp nhận các đòi hỏi của hoạt động tập thể phải được tăng cường giáo dục.  4) Tuổi trẻ nói chung còn thụ động, làm theo phong trào, thực dụng, ít quan tâm đến những vấn đề chung của đất nước. Chưa có tinh thần ê-kíp.  5) Các tệ nạn ma túy, mại dâm, tội phạm… và đại dịch HIV là GÁNH NẶNG KINH TẾ RẤT LỚN cho đất nước. Các vấn đề này chưa được giải quyết thỏa đáng vì thiếu các phương pháp tâm lý xã hội. Phương pháp giáo dục truyền thông còn quá lỗi thời. Các biện pháp giáo dục chỉ tác động bên ngoài, chưa tạo được nội lực tâm lý để thay đổi.  6) Các vấn đề về rối loạn tâm lý, stress, trầm cảm bắt đầu phát triển mặc dù phát triển kinh tế chưa cao.  7) Ăn chơi, nhậu nhẹt, nhất là ở nông thôn vượt mức bình thường và cũng rất tốn kém về kinh tế…  Còn có thể kể thêm dài dài nhiều yêu kém khác.  B.THỬ PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN  Chắc chúng cũng đã rõ:  – Giáo dục nhân bản, giáo dục đạo đức làm người thật cơ bản bị bỏ quên. Dường như có giả định là con người tốt về chính trị tất yếu sẽ tốt về đạo đức… thanh niên có quậy phá thì Đoàn lo giáo dục chín trị tư tưởng và pháp luật không thấy nhắc tới giáo dục nhân bản và đạo đức. Sự thay đổi chỉ mới gần đây khi vấn đề quá trầm trọng.  – Gia đình hoàn toàn hụt hẫng trước những biến chuyển xã hội nhanh như vũ bão và không còn biết phải làm gì với con cái mình.  – Xã hội có quan tâm nhưng bất lực vì chỉ dựa vào kiểu kêu gọi, tuyên truyền đại trà với kết quả nước đổ lá khoai.  – Nguyên nhân cơ bản là ta hoàn toàn lạc hậu trong lĩnh vực khoa học về HÀNH VI CON NGƯỜI để có những biện pháp giáo dục hữu hiệu.  C. THỬ BÀN VỀ BIỆN PHÁP  Những vấn đề xã hội diễn ra hiện nay ở nước ta là những hậu quả xã hội tiêu cực của quá trình đổi mới về khoa học kỹ thuật và kinh tế. Hơn nữa đó là sự tiếp thu không chọn lọc, không lành mạnh những giá trị tiêu cực từ bên ngoài.  Ở các nước đi trước, quá trình công nghiệp hóa diễn ra kéo dài hàng thế kỷ. Các vấn đề xã hội xuất hiện tới đâu, họ cố gắng giải quyết tới đó. Từ từ hình thành các khoa học xã hội để đối phó với các hiện tượng xã hội tiêu cực. Ví dụ xã hội học hình thành với xã hội công nghiệp, giai cấp công nhân. Công tác xã hội bắt đầu với hoạt động tình nguyện của những nhà trí thức Anh đi thăm viếng giúp đỡ công nhân trong các khu nhà ổ chuột, giúp họ khi họ thất nghiệp… Tư vấn tâm lý hình thành trong cố gắng chăm sóc các bệnh nhân có những khó khăn về tâm lý, tâm thần…  Không phải là các nước phát triển không có những vấn đề xã hội, nhưng với những công cụ khoa học hình thành cả trăm năm nay, và tiếp tục hoàn thiện, họ làm chủ được tình hình.  Một ví dụ là đại dịch Aids. Nó được phát hiện ở Mỹ. Lúc đầu chưa có thuốc chữa. Nhưng nước Mỹ đã chế ngự sớm sự lây lan nhờ các khoa học giúp thay đổi hành vi như tham vấn tâm lý, truyền thông giáo dục, tổ chức quản lý về mặt xã hội.  Những nét đặc thù tiêu cực của người Việt Nam đương đại kể trên thuộc về thái độ và hành vi và hành vi không thể thay đổi khi ta chỉ kêu gọi hời hợt hay tuyên truyền suông.  Truyền thông đại chúng dù có hay cách mấy cũng chỉ cung cấp thông tin, không làm cho người ta thay đổi.  Ngày nay giáo dục tích cực hay giáo dục có sự tham gia, nhất là trong nhóm nhỏ, trong đó cá nhân tương tác với nhau mới làm thay đổi hành vi. Nghiên cứu khoa học cho thấy trong giáo dục hay đổi hành vi thảo luận nhóm đem lại hiệu quả gấp chục lần so với thuyết trình. Phương pháp này hiện nay có được sử dụng nhưng rất ít vì người ta còn ham số đông và chưa biết khoa học về nhóm nhỏ và sức mạnh của nó. Công tác cai nghiện ma túy rất tốn kém nhưng học viên dễ tái nghiện vì không có sự thay đổi từ bên trong, không tự tạo được cho mình một nội lực mới nhờ phương pháp tham vấn, trị liệu tâm lý hay công tác xã hội. Xóa đói giảm nghèo chưa bền vững vì chưa ứng dụng Phát triển Cộng đồng qua đó người dân tích cực tham gia vào việc làm thay đổi và làm chủ cuộc sống của họ.  Các nước phát triển cũng hết sức quan tâm đến giáo dục giới trẻ nhưng họ không hô hào “tiên học lễ hậu học văn”. Họ dạy KỸ NĂNG SỐNG là khả năng thực hành các kỹ năng tâm lý xã hội để tự mình quyết định, lựa chọn khi không có người lớn bên cạnh để chọn những hành vi tích cực và nói KHÔNG với cái xấu. Họ không bắt trẻ học thuộc lòng các bài giảng mà cho trẻ chơi, đóng kịch, sắm vai… để thực hành những tình huống sẽ gặp ngoài đời.  Họ cũng rất quan tâm đến giáo dục đạo đức nhưng không còn sử dụng ca dao tục ngữ mà dạy những GIÁ TRỊ SỐNG như sự trung thực, tinh thần trách nhiệm, tính vị tha sự tôn trọng nhân phẩm, lợi ích chung… Họ cũng dạy bằng các phương pháp thực hành như trong kỹ năng sống.  Những cách giáo dục này được các tổ chức Liên Hợp Quốc đưa vào Việt Nam từ những năm 90 nhưng cho tới nay vẫn còn ở dạng thí điểm rất hạn hẹp.  Các phương pháp giáo dục thay đổi hành vi, truyền thông nhóm nhỏ, công tác xã hội, phát triển cộng đồng, tham vấn tâm lý… cũng đã được thực hiện  đó đây ở Việt Nam và chứng minh hiệu quả. Tuy nhiên chúng chưa phát triển vì từ gốc độ chính sách chủ trưong chúng chưa được công nhận như những công cụ đắc lực của phát triển xã hội.  Nguyễn Thị Oanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học vì hòa bình      Mới đây, cũng như nhiều nhà khoa học trên  thế giới, tôi đã ký vào một thư ngỏ yêu cầu “giữ cho các hoạt động trao  đổi khoa học quốc tế không bị chi phối bởi các chính sách quan hệ quốc  tế của các quốc gia, vì lợi ích của khoa học cũng như vì hòa bình.”     Căn nguyên của bức thư là do xung đột ở Ukraine khiến các nhà khoa học Mỹ không được khuyến khích tham gia hội thảo khoa học ở Nga, và các nhà khoa học Nga với hơn 20 năm là thành viên của các tổ chức hợp tác khoa học quốc tế đã bị cấm tới Mỹ dù trước đó họ được mời. Nhóm nhà khoa học Nga ấy đã khẳng định trong thư ngỏ gửi tới chính phủ các nước liên quan và các tổ chức khoa học rằng “Thảo luận và trao đổi khoa học có ý nghĩa cốt tử đối với khoa học […] và trao đổi khoa học vượt ra ngoài biên giới cũng như các hệ tư tưởng là con đường trọng yếu đưa tới một thế giới hòa bình. Cắt bỏ trao đổi khoa học là bước leo thang trong xung đột quốc tế. Chúng tôi kêu gọi tinh thần trách nhiệm của các chính phủ và đại diện trong các tổ chức và ủy ban khoa học để việc trao đổi khoa học quốc tế nằm ngoài sự chi phối của chính sách quan hệ quốc tế của các quốc gia, vì lợi ích của khoa học cũng như vì hòa bình. Chúng tôi kêu gọi tinh thần trách nhiệm của các cộng đồng khoa học, giám đốc khoa học, và các nhà nghiên cứu đồng nghiệp làm tất cả những gì có thể để quay về một tình trạng trong đó giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc tế không bị ngáng trở. Chúng tôi kêu gọi trách nhiệm của các cơ quan tài trợ kinh phí hỗ trợ mạnh mẽ trao đổi khoa học phi biên giới”.   Từ lâu đã thành truyền thống, các nhà khoa học trên khắp thế giới thỉnh nguyện cho một nền khoa học phi biên giới. Đối với những người vẫn luôn được hưởng lợi ích từ việc trao đổi tri thức với các đồng nghiệp nước ngoài như chúng tôi, khoa học rõ ràng phải có tính toàn cầu. Lẽ tất yếu, niềm tin vào giá trị của hòa bình trong quan hệ quốc tế không chỉ giới hạn trong phạm vi chuyên môn của chúng tôi, và bất cứ khi nào căng thẳng giữa hai quốc gia đe dọa tới hòa bình, thì lại có những nhà khoa học vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ để duy trì mối liên hệ khăng khít và làm hết khả năng của mình để ngăn cản xung đột leo thang. Tôi nhớ có ba bức thư, do các nhà khoa học người Ý, Pháp và Nhật Bản viết năm 1966, thuyết phục những đồng nghiệp người Mỹ gây áp lực lên chính phủ để họ rút quân khỏi Việt Nam1. Cũng trong quãng thời gian đó, Laurent Schwartz lập “Comités France Viet Nam”2 và Henri van Regemorter lập “Collectif Intersyndical Universitaire d’Action”3, cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của công chúng nhằm chống lại cuộc xâm lược Việt Nam của Mỹ.  Tiêu biểu cho hành động của các nhà khoa học vì hòa bình là Tuyên bố Erice do P.A.M. Dirac, Piotr Kapitza và A. Zichichi viết năm 1982 như một lời kêu gọi các chính phủ phải ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, và từ đó tới nay tuyên bố này đã được 10.000 nhà khoa học trên khắp thế giới ký tên. Sau lời tuyên bố “Di dưỡng yêu thương tạo nên công nghệ hòa bình, di dưỡng thù hận tạo nên công cụ chiến tranh. Yêu thương và thù hận đã tồn tại từ rất lâu, […] hiện tại đã đến lúc việc di dưỡng yêu thương nhất thiết phải chiến thắng”, bản tuyên bố tiếp tục: “Những nhà khoa học muốn cống hiến toàn bộ thời gian cho nghiên cứu về mặt lý thuyết hoặc thực nghiệm những quy luật cơ bản của tự nhiên thì không có bất kỳ trường hợp nào họ đáng bị gây khó dễ, cản trở quyền được tự do theo đuổi khoa học thuần túy. Tất các các chính phủ phải nỗ lực bằng mọi cách giảm thiểu hoặc loại bỏ những hạn chế sự tự do giao lưu của thông tin, tư tưởng, và con người. Những hạn chế ấy càng làm tăng thêm mối hoài nghi và thù hận trên thế giới”. Đóng góp của Erice vào việc kết thúc chiến tranh lạnh là điều không thể phủ nhận và trung tâm này kể từ đó trở thành mảnh đất màu mỡ cho khoa học vì hòa bình, với những seminar thường niên về Những vấn đề Cấp bách của Hành tinh tổ chức dưới sự bảo trợ của Hiệp hội các Nhà khoa học Thế giới (World Federation of Scientists)4.  Năm nay, chúng ta kỷ niệm 60 năm thành lập Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) và 50 năm thành lập Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế Abdus Salam (ICTP). Sự ra đời của hai tổ chức này đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ quốc tế giữa các khoa học gia.  Ngày 29/09/1954, CERN chính thức đi vào hoạt động và từ đó, trong nhiều mặt đã trở thành hình mẫu cho điều mà châu Âu có thể làm khi họ đoàn kết, tạo cầu nối giữa các quốc gia và đưa những nền văn hóa khác biệt xích lại gần nhau để cùng làm việc hướng tới một mục tiêu chung. Trong 60 năm, CERN đã phát triển thành một trung tâm thí nghiệm vật lý hàng đầu thế giới, hiện thực hóa giấc mơ của người sáng lập là “đem lại sự hợp tác giữa các nước châu Âu trong nghiên cứu hạt nhân thuần túy mang tính chất khoa học, hòa bình và nền tảng, với bổn phận công bố kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết của mình và để ai cần cũng có thể tiếp cận.” Thành công của tổ chức này có được là nhờ sự tự do hợp tác với tư duy cởi mở hướng tới mục tiêu chung – một sự tự do thúc đẩy những tiến bộ trong khoa học hàng thập kỷ qua.  ICTP được Abdus Salam thành lập năm 1964, là một tổ chức quan trọng góp phần ngăn chặn chảy máu chất xám khoa học từ các nước đang phát triển và giúp các nhà khoa học ở những nước đó tiếp cận nguồn tài nguyên và cơ hội tương tự mà những người đồng nghiệp ở những nước giàu có hơn được hưởng. Sáng lập trong thời kỳ chiến tranh lạnh, trung tâm này đã tạo ra luồng trao đổi thông tin hiếm hoi giữa các nhà khoa học Đông và Tây. Giờ đây nó lại nổi lên như một trọng điểm hợp tác giữa Bắc và Nam, hướng tới mục tiêu giúp các nhà khoa học ở các nước đang phát triển vượt qua tình trạng cô lập để cống hiến vào những nghiên cứu tối tân trong vật lý và toán học.  Ngày nay, ở nhiều vùng miền, chúng ta đang chứng kiến căng thẳng gia tăng và chủ nghĩa dân tộc trở nên trầm trọng: Châu Phi, Ukraine, Trung Đông và, gần chúng ta, ở biển Đông. Với tư cách là những khoa học gia, chúng ta có nhiệm vụ không đầu hàng trước ham muốn chạy theo bầy đàn. Trong thế giới toàn cầu mà chúng ta đang sống, chúng ta là công dân của cùng một hành tinh: chúng ta phải học cách chung sống và chia sẻ nguồn tài nguyên một cách công bằng. Sự thân thuộc của chúng ta đối với khoa học cùng những phương pháp của nó giúp chúng ta hiểu rằng những vị Chúa mà nhiều dân tộc nhân danh Người để chém giết nhau chỉ là tấm mặt nạ của điều huyền bí vẫn hằng ám ảnh loài người bấy lâu nay, và khoa học sẽ không bao giờ đưa ra câu trả lời cho điều huyền bí ấy: tại sao thế giới này chứ không phải hư vô? Chúng ta biết rằng thù hận không ăn sâu cắm rễ trong gene của những nước lân bang đang giao chiến hàng thế kỷ nay: đã đến lúc xây đắp hòa bình. Người đặt dấu chấm hết cho hàng ngàn năm chiến tranh và thù hận sẽ vun đắp nhân phẩm và thúc đẩy bước tiến của nhân loại tốt hơn bội phần kẻ chiến thắng trong một cuộc chiến nào đó. Là nhà khoa học, chúng ta phải trung thành với truyền thống cùng nhau hợp tác vì hòa bình.   Thanh Hương dịch  —–    1 Có thể tìm đọc trong xuất bản phẩm Bulletin of the Atomic Scientists, XXIII, 1, tháng 1 năm 1967, trang 47,http://books. google.com.vn/books?id=1QcAAAAAMBAJ&pg=PA2&lpg=PA2&dq=bulletin+of+the+atomic+scientists+1967+vietnam&source=bl&ots=CM87c4c5I5&sig=SroMdWpukMjPBkpsm5DeNLOACqY&hl=en&sa=X&ei=87rTU8ftCYO68gX3woDIDg&ved=0CBoQ6AEwAA#v=onepage&q=bulletin%20of%20the%20atomic%20scientists%201967%20vietnam&f=false.  2 Tham khảo bài viết được đề cập nhiều của Lê Dung Tráng trên tạp chí Asia Pacific Mathematics Newsletter, 2/4, Tháng 10 2012, http://www.asiapacific mathnews.com/02/0204 /0033_0034.pdf.  3 Viet Nam, une coopération exemplaire, L’Harmattan, Paris, 2004.  4 Ví dụ có thể tham khảo qua bài viết của W.A. Barletta và H. Wegener, Averting Disaster: Science for Peace in a Perilous Age, World Scientific, 2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Việt Nam qua những công bố quốc tế      Bài viết này cung cấp cho độc giả và nhất là giới trí thức và các nhà quản lý khoa học những thông tin cô đặc nhất rút ra từ những công bố quốc tế của Việt Nam, có lấy năm 2001 để so sánh với Thái Lan, mà không đưa ra bình luận gì thêm. Những con số trong         Dựa trên các công bố quốc tế để đánh giá thành tích khoa học của đất nước  So sánh hai nhà khoa học với nhau dựa trên các công bố quốc tế có khi chưa ổn. Nhưng để so sánh trình độ khoa học của các quốc gia với nhau thì không có tiêu chí nào khả dĩ, khách quan và chính xác hơn là dựa trên các công bố quốc tế, mà trước hết là các bài báo (article) đăng trên những tạp chí có phản biện đồng nghiệp (peer review).     Trình độ khoa học trong từng lãnh vực có thể được đánh giá qua số bài báo và số lần được trích dẫn. Gần đây, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã lên tiếng về việc chúng ta phải nhìn nhận công bố quốc tế như tiêu chí trung thực đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, và thống nhất sử dụng cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học ISI, Thomson Scientific để tìm kiếm thông tin và tài liệu khoa học. Được biết, Bộ KHCN VN cũng đang xem xét khả năng mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu này trong thời gian tới.   Theo thông báo mới nhất, ISI cập nhật thông tin từ 9080 tạp chí quốc tế có hệ thống phản biện đồng nghiệp nghiêm ngặt bao gồm:  Science Citation Index Expanđed –  6200 tạp chí có từ năm 1900  Social Science Citation Index –        1743 tạp chí có từ năm 1956  Art and Humanities Citation Index -1137 tạp chí có từ năm 1975.  Hiện nay chưa có tạp chí khoa học nào bằng tiếng Anh của Việt Nam được lọt vào danh sách trên. Không phải vì người ta kỳ thị mình mà vì chất lượng các tạp chí hàng đầu của ta chưa vẫn ngang tầm quốc tế. Số tạp chí nói trên lại phân theo 55 ngành khoa học rất đa dạng, có nhiều ngành hầu như chưa ai nghiên cứu ở nước ta, không giống như một số người thường ngộ nhận “oan uổng” rằng tạp chí quốc tế chỉ là sân chơi của giới nghiên cứu cơ bản. Hiện nay, ngày càng có nhiều hướng nghiên cứu liên ngành, nên những phân loại theo ngành trong ISI nhiều khi chỉ mang tính chất tương đối.    Thành tích mười năm của Việt Nam  Công bố quốc tế có tên các tác giả Việt Nam trong mười năm qua tăng từ 256 bài năm 1997 lên 550 bài năm 2006, theo cấp số nhân, trung bình mỗi năm tăng 9-10% (hình 1). Nhưng sự tăng trưởng này chủ yếu là qua hợp tác với nước ngoài, số bài báo có địa chỉ thuần tuý Việt Nam (do nội lực) vẫn dẫm chân tại chỗ quanh con số trung bình 77 bài trong suốt mười năm qua (đường dưới cùng, hình 1). Tỷ lệ bài báo do nội lực và do hợp tác liên tục giảm từ 30% năm 1997 xuống còn 13% năm 2006 (hình 2).                                  Hình 1. Số bài báo quốc tế của Việt Nam dùng nguồn nội lực và qua hợp tác quốc tế trong mười năm gần đây  Bài báo dùng nguồn nội lực khác bài báo do hợp tác với các nước tiên tiến từ đầu tư kinh phí, cơ sở hạ tầng, đội ngũ để làm ra công trình, cho đến khả năng trực tiếp đào tạo sinh viên và tác động đến sản xuất đời sống trong nước qua thực hiện đề tài. Hợp tác với nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, nhất là các nước tiên tiến, để đào tạo nhân lực trình độ cao là việc rất đáng khuyến khích. Nhưng để xem xét hiệu quả đầu tư cho khoa học, nhất là các khoa học thực nghiệm và ứng dụng, có nhiều tác động đến sản xuất đời sống, không thể căn cứ trên số lượng áp đảo các bài báo được thực hiện ở nước ngoài, với phương tiện nghiên cứu hiện đại hơn nhiều và thương hiệu đã nổi tiếng từ lâu. Trên thực tế, chất lượng của bài báo do nội lực hiện nay nói chung thấp hơn hẳn bài báo do hợp tác, xét theo số lần được trích dẫn (xem bảng 1).   Diện mạo khoa học Việt Nam so với Thái lan  Với những thành tích trên hình 1, ta không thể định lượng được liệu Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới nếu không so sánh với một nước khác, như Thái Lan chẳng hạn, nước láng giềng chưa thể xem là có đẳng cấp đáng kể về KHCN. Thông tin trên bảng 1 rút ra từ số liệu thống kê năm 2001. Chọn năm 2001 để so sánh vì thời gian 5 năm từ đó đến nay không quá lâu để mất tính thời sự, lại không quá ngắn để giới học giả đủ thời gian nghiên cứu và trích dẫn các công trình sau khi được công bố. Ngoài các thông tin về công bố quốc tế, hai dòng trên cùng có đưa thêm số liệu về dân số và bình quân GDP để làm căn cứ so sánh.                          Hình 2.  Tỷ lệ giữa số bài báo do nội lực và do hợp tác giảm liên tục trong mười năm gần đây.  Số bài báo phân theo các ngành khoa học trên bảng 2 cho ta bức tranh về diện mạo rất tương phản nhau của các ngành khoa học được nghiên cứu ở hai nước. Hai ngành mạnh nhất của Việt Nam là Toán và Vật lý lại nằm trong số những ngành yếu nhất ở Thái Lan về số bài báo quốc tế lẫn số lần trích dẫn. Còn những ngành vượt trội nhất và có tác động trực tiếp nhất đến sản xuất và đời sống của Thái Lan là y học, sinh hoá và công nghệ sinh học, thì hầu như Việt Nam không có công trình nào đáng kể.                                                                  Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học xã hội và nhân văn: Gánh nặng đường xa      Nhiều người đã nói về sự lạc hậu của KHXH&amp;NV nước ta. Sự lạc hậu hay như thừa nhận của cựu Thủ tướng Phan Văn Khải là sự “không thành công” của việc chỉ đạo công tác khoa học, được hiểu là trong đó có KHXH&amp;NV, biểu hiện như thế nào? Và làm thế nào để xây dựng và phát triển KHXH&amp;NV nước ta thành một nền KHXH&amp;NV tiên tiến?    Ấn tượng về thực trạng  Trong một phương diện nào đó có thể nói khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) của nước ta so với các nước Châu Âu còn trẻ. Những công trình nghiên cứu có tính chất khoa học theo nghĩa hiện đại của từ này chỉ mới xuất hiện cách đây chưa đầy một thế kỷ. Bây giờ ở Việt Nam nói đến nhà khoa học người ta cũng vẫn thường nghĩ ngay đó là các nhà toán học, vật lý học, sinh vật học chứ ít ai nghĩ đến các nhà triết học, nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, văn hóa. Trước đây lúc đang đi học đại học nhiều người thường hỏi tôi học ngành gì nghe tôi nói học Văn, họ liền nói thế thì ra trường viết kịch hay viết truyện. Ngay cái tên “Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường” trước đây và “Bộ Khoa học và Công nghệ” hiện nay cũng tạo ra ấn tượng rằng khoa học ở đây cũng chủ yếu là khoa học tự nhiên, là kỹ thuật chứ không dính líu gì đến nghiên cứu tôn giáo, tâm lý, triết học.  Ấn tượng ấy không phải là ngẫu nhiên. Đối với nhiều người, khoa học đồng nghĩa với sự “chính xác”, vì vậy chỉ có những “khoa học chính xác”, thường được hiểu là các khoa học tự nhiên, sử dụng phương pháp định lượng mới gọi là khoa học. Quan niệm này phần nào đã cản trở việc xem những ngành nghiên cứu xã hội như những khoa học, thậm chí có lúc có nơi nó được xem chủ yếu như một bộ phận của công tác tuyên huấn, công tác tư tưởng. Mặt khác ấn tượng trên cũng không hẳn là không có căn cứ. Trong tiếng Việt khi nói “KHXH&NV” hoặc “các KHXH&NV” nhiều người vẫn nghĩ đây chỉ là cách gọi tắt của “các khoa học xã hội và khoa học nhân văn”, trong khi trong tiếng Anh khi nói “Social sciences and Humanities” thì người ta buộc phải hiểu là chỉ có một số bộ môn nghiên cứu về xã hội như Xã hội học, Kinh tế học, Chính trị học, Địa lý học, Văn hóa học… mới được gọi là những khoa học (sciences) thuộc khoa học xã hội (Social sciences), còn Triết học, Tôn giáo, Văn học, Nghệ thuật học… không phải là các khoa học (sciences) mà là những ngành tri thức (branches of knowledge), những lĩnh vực nghiên cứu (subjects of study, fields of study) thuộc nhóm ngành nhân văn (Humanities), lấy sự phân tích và trao đổi tư tưởng, quan niệm làm chính chứ không là giải thích hay chứng minh dựa vào những phương pháp định lượng mà các khoa học thường sử dụng. Sự phân biệt này rất cần thiết cho việc nhận thức và đánh giá hiện trạng nghiên cứu KHXH&NV ở Việt Nam.  Xét dưới góc khoa học, với tư cách là những khoa học (sciences), rõ ràng nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội của chúng ta chất lượng chưa cao. Trước hết là ở tính “khoa học”. Đã là khoa học thì yêu cầu về tính khách quan của sự nghiên cứu phải đặt lên hàng đầu. Những kết luận cần phải được rút ra từ chính sự phân tích số liệu và logic của lập luận chứ không phải từ một ý đồ có sẵn, được áp đặt từ bên ngoài, nhằm minh họa cho một đường lối, chính sách nào đó. Đã là khoa học thì tính chính xác phải trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi công trình nghiên cứu, thể hiện trong việc tập hợp dữ liệu, sưu tầm tài liệu, khảo sát thực địa, xử lý số liệu, trích dẫn… Về phương diện này một trong những điểm yếu của nhiều công trình khoa học xã hội ở ta là tính chất khảo cứu chưa cao, còn nặng về lý luận và phán xét chung chung và đặc biệt là chưa chú trọng sử dụng phương pháp định lượng, khiến cho các nghiên cứu ít mang tính hiện đại, từ đó phần nào xa lạ với các công trình của giới khoa học xã hội quốc tế.  Còn đối với các bộ môn thuộc ngành nhân văn, bên cạnh những nhược điểm về tính khảo cứu và nghiên cứu, khâu yếu nhất có lẽ vẫn là tính độc lập của tư tưởng, tính chất sáng tạo và mới mẻ trong quan niệm. Khá nhiều công trình nghiên cứu về triết học, văn học, nghệ thuật vẫn loay hoay trong cái khung cũ, tiếp tục bàn về những vấn đề và những khái niệm đã ra đời trong bối cảnh xã hội nửa thế kỷ trước ở Việt Nam và các nước XHCN trước đây. Nói chung rất ít công trình có một nền tảng triết học, có tư tưởng và lại càng ít hơn nữa những tư tưởng được triển khai một cách hệ thống, triệt để, mang dáng dấp một học thuyết, một trường phái. Phần nhiều là du nhập, vay mượn những lý thuyết nào đó ở nước ngoài rồi lắp ráp, vận dụng, phổ biến trong trường đại học và giới nghiên cứu. Đáng buồn hơn, trong nhiều lĩnh vực, các nhà chuyên môn chưa tiếp cận được với những thành tựu mới của thế giới, nhiều trào lưu khá phổ biến ở nước ngoài đã mấy thập niên rồi như Giải cấu trúc (Deconstruction), Nữ quyền luận (Feminism), Hậu hiện đại (Postmodernism), Hậu thực dân (Postcolonialism)… chưa tìm thấy tiếng vang đáng kể trong nghiên cứu của các tác giả Việt Nam.  Nhìn chung lại, ấn tượng về sự “không thành công” của khoa học nói chung và KHXH&NV nói riêng là có thật. Nhiều lĩnh vực nghiên cứu còn thiếu hoặc chưa phát triển (Chính sách Xã hội, Chính trị học, Quản lý, Luật học, Giáo dục học, Tôn giáo và tôn giáo so sánh…). Số lượng các công trình xuất sắc, có tầm cỡ còn hiếm. Chất tuyên huấn trong nhiều công trình nghiên cứu còn khá đậm nét. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ KHXH&NV chưa cao, thường mỗi người làm nhiều thứ, mỗi thứ một chút, ít chuyên sâu, thành ra ít có chuyên gia và chuyên gia giỏi lại càng hiếm. Nói đúng ra chúng ta cũng có một số nhà nghiên cứu KHXH&NV xuất sắc. Phần nhiều họ thuộc thế hệ được đào tạo từ thời Pháp, trước năm 1945. Nhưng ở đây quan trọng không phải từng cá nhân mà là cả cái nền. Tài năng cá nhân là cái thuộc về ngẫu nhiên, đời nào cũng có. Trách nhiệm của xã hội chủ yếu là trách nhiệm tạo ra cái nền, bởi vì xây dựng cả cái nền mới khó và chính sự trì trệ hay phát triển của cả cái nền mới trực tiếp liên quan đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Theo nghĩa đó, nếu thừa nhận rằng sự phát triển của khoa học hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước, rằng nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu thì trách nhiệm về sự chậm phát triển này liên quan trước hết không phải đến khoa học tự nhiên mà đến KHXH&NV. Còn vì sao KHXH&NV lại lạc hậu, góp phần kéo theo sự lạc hậu của đất nước thì đó lại là một vấn đề đòi hỏi phải xem xét kỹ riêng.  Quán tính của truyền thống  Năm 1917 trong một bài viết về “Thơ Baudelaire”, Phạm Quỳnh có nhận xét: “…Tình tứ của thơ Nôm ta thì có lẽ không được dồi dào lắm, cảm hứng không được phong phú bằng thơ các nước; tuy không phải là không có cái thú thanh cao, cái giọng thâm trầm, nhưng dường như “ngắn hơi” không hô hấp được mạnh, đọc lên có cảm giác như con chim chưa bay lên đã mỏi cánh, mong sao mà vượt bể lên ngàn được?”1. Không biết nhận xét của Phạm Quỳnh đúng hay sai, nhưng chắc cảm giác của ông về sự “ngắn hơi” của thơ văn nước nhà là một cảm giác có thực. Và có lẽ không phải chỉ của thơ văn. “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường”2. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, sức nghĩ của người Việt hình như phần nào có bị giới hạn, nhất là đối với những chuyện xa xôi, trừu tượng. Biết vậy nên dân mình khôn ngoan, thường chọn làm những gì nhỏ, gọn, vừa tầm, còn nếu phải đi đường xa thì thường tấp vào đâu đấy, có khi dừng lại ở đó luôn, không cần đi tiếp nữa.  Chắc có lẽ cũng do đó mà người Việt Nam rất ngại xông vào những chỗ mịt mùng của trí tuệ, vì đi vào đó dễ hụt hơi mà lại ít thu được những lợi ích gì cụ thể. Điều này giải thích vì sao nước ta rất ít có những người làm triết học thực sự và triết học cũng không phát triển. Thế giới siêu hình là chốn để thờ phụng chứ không phải để chìm đắm, suy nghiệm. Người ta đi chùa chủ yếu vì lòng trắc ẩn, muốn tìm một nơi nương tựa về tình cảm và cầu mong một đời sống bình an, hạnh phúc hơn là vì một đức tin thuần túy, một sự cứu rỗi tinh thần. Óc thực tiễn trở thành một nét đặc trưng của văn hóa người Việt. Từ nhiều năm trước đây, Đào Duy Anh cũng đã từng nhận xét: “Não tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt cho nên dân tộc Việt Nam ít người mộng tưởng, mà phán đoán thường có vẻ thiết thực lắm” (Sđd, tr.22-23).  Chính vì thiên về óc thực tiễn và trí tưởng tượng không được phát huy đến tận cùng nên chúng ta thấy trong văn hóa Việt Nam truyền thống những gì gắn với ý nghĩa thực dụng trực tiếp thường được ưa chuộng hơn. Hội họa ít phổ biến hơn điêu khắc vì điêu khắc cần cho việc tạo ra các pho tượng để thờ cúng. Nhạc thính phòng nhường chỗ cho các loại nhạc dùng trong ma chay, lễ hội. Trong lĩnh vực văn học, tiểu thuyết ra đời khá muộn, các thể loại sử ký, hịch, cáo, chiếu biểu, văn tế khá phát triển, thơ ca thì chủ yếu nhằm bộc lộ tình cảm và chí hướng nhiều hơn là chiêm nghiệm, triết lý, nắm bắt và diễn tả những cái vô hình.  Khuynh hướng thực tiễn này đã ảnh hưởng đến tính chất của các hoạt động và công trình văn hóa truyền thống, ở đó “não sáng tác thì ít, nhưng mà bắt chước, thích ứng và dung hòa thì rất tài” (Đào Duy Anh, Sđd.tr.23). Cũng từ đây đã sinh ra tính  lắp ráp (bricolage) như một đặc điểm quan trọng của văn hóa Việt Nam mà về sau này nhà nghiên cứu Phan Ngọc cũng đã đi sâu phân tích.  Những nét trên đây đã để lại dấu ấn khá rõ rệt trong các công trình KHXH&NV hiện nay. So với gần một thế kỷ trước đây, KHXH&NV nước ta đã tiến một bước dài, có những thành tựu to lớn, một số nhược điểm cố hữu đã được khắc phục phần nào. Nhưng hình như quán tính của truyền thống vẫn còn rất lớn. Phân biệt đâu là những nét thuộc về “cố tật”, đâu là những cái do hoàn cảnh lịch sử – xã hội nhất thời tạo nên, đâu là những thứ khó mà sửa được và đâu là những cái có thể khắc phục dần dần không phải là dễ. Tuy nhiên sự phân biệt này rất cần thiết vì nó giúp chúng ta một mặt không quá ảo tưởng, một mặt cũng không quá bi quan, xem mọi thứ khó mà khá lên được.  Minh họa, phản biện, hay…  KHXH&NV là lĩnh vực của những nghiên cứu về xã hội và con người, lĩnh vực của sự trao đổi tư tưởng. Có những khái niệm đối với khoa học tự nhiên là bình thường, nhưng đối với KHXH&NV lại trở thành điều kiện, một đòi hỏi mà nếu không có thì khó thực hiện được những công trình có giá trị. Chẳng hạn, một trong những vấn đề tồn tại trong giới KHXH&NV nước ta lâu nay là vấn đề tính Đảng và tính khoa học. Đối với nhà nghiên cứu quan trọng là sự chính xác, trung thực và khách quan, trong khi tính Đảng lại yêu cầu tính khuynh hướng, tức là cái có lợi về phương diện chính trị đối với Đảng hay chính quyền. Hai cái này không phải lúc nào cũng gặp nhau. Đó là cái khó cho những người hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV ở Việt Nam cũng như ở các nước XHCN trước đây.  Mặt khác sự bao cấp về tư tưởng trong nhiều năm qua cũng đã hạn chế khá nhiều tìm tòi của các nhà nghiên cứu các vấn đề xã hội và con người. Học thuyết Mác – Lênin dường như là cái đã hoàn chỉnh và có sẵn, chỉ cần học tập, nghiên cứu và vận dụng mà thôi. Lập trường vô sản và thế giới quan duy vật trở thành nền tảng lý luận, phương pháp luận duy nhất cho mọi nghiên cứu về KHXH&NV. Những công trình đặt cơ sở trên những hệ quy chiếu khác dễ bị phê phán, kết án, chụp mũ. Từ đây chúng ta hiểu vì sao có hiện tượng “suy dinh dưỡng” trong lĩnh vực KHXH&NV. Nhiều cuốn sách chỉ lắp lại những mệnh đề có sẵn, không có tư tưởng gì độc lập và mới mẻ. Nếu nói như một nhân vật trong “Tội ác và Trừng phạt” của Dostoievski: “Đau khổ đi, trong đau khổ có tư tưởng”, thì số đông các nhà nghiên cứu của chúng ta rất ít có tư tưởng, bởi vì ở đây hình như mọi thứ đã có sẵn, đầy đủ và an bài, chẳng việc gì mà đau khổ, đau khổ có khi sinh ra đi lạc đường thì lại còn đau khổ hơn.  Một hiện tượng khác cũng thường được nói đến là xu hướng minh họa trong nghiên cứu KHXH&NV ở nước ta. Minh họa ở đây có hai mặt. Một mặt là sự minh họa cho một tư tưởng nào đó bằng hình ảnh, hình tượng, hay diễn giải các khái niệm, ý tưởng ở trên dội xuống, một mặt đó là những nghiên cứu triển khai, phục vụ cho một chủ trương, chính sách, thậm chí là cả một đường lối, ví dụ như muốn đẩy mạnh trồng sắn thì phải chứng minh là trồng sắn có lợi, ăn sắn bổ hơn ăn gạo; muốn phát triển xây dựng hợp tác xã thì phải chứng minh ưu thế của làm ăn hợp tác xã so với làm ăn cá thể. Những nghiên cứu triển khai nhiều khi là cần thiết, giúp các nhà quản lý xã hội thuyết phục quần chúng, tổ chức tốt việc thực hiện. Những năm qua, phần lớn các công trình nghiên cứu được cấp kinh phí nhà nước về KHXH&NV ở nước ta đi theo hướng này. Trong trường hợp nếu may mà các chủ trương chỉ đạo đúng đắn, hợp lý, thì dĩ nhiên các nghiên cứu minh họa cũng có đóng góp nhất định. Tuy nhiên thực tế cho thấy không phải lúc nào cũng như vậy.  Khoa học, dù là khoa học tự nhiên hay xã hội, luôn luôn tôn trọng tính khách quan và mang tính độc lập. Đó chính là sức mạnh và lý do tồn tại của nó. Các nhà khoa học vẫn làm công việc chứng minh nhưng đó là chứng minh cho một giả thuyết khoa học. Còn đối với chính trị, chính sách, thì vai trò tốt nhất của khoa học là phản biện. Đã là phản biện thì có thể tán thành, mà cũng có thể bác bỏ, nói ngược. Rất tiếc là cho đến nay trong xã hội ta kiểu phản biện tán thành vẫn là phổ biến, còn phản biện ngược thì vẫn hiếm hoi. Điều này không chỉ làm hại uy tín của giới khoa học trước mắt dân chúng mà còn làm giảm vai trò và sự đóng góp của nó đối với xã hội, bởi vì nó đã không ngăn cản được những quyết định thiếu sáng suốt có ảnh hưởng đến lợi ích chung. Thật ra đối với người hoạch định chính sách (policymakers), khôn ngoan nhất là biết sử dụng khoa học -sử dụng không theo nghĩa là chỉ biết dùng nó để minh họa hay ca tụng, mà tôn trọng tính khách quan và có căn cứ của nó, tôn trọng cả tiếng nói ngược nhiều khi rất khó chịu của nó, lắng nghe và rút ra những kết luận không phải lúc nào cũng phù hợp với các chuẩn mực có sẵn hay những dự tính từ đầu. Nhưng muốn được như vậy nhà lãnh đạo phải có lý trí đủ mạnh và bản lĩnh vững vàng. Những phẩm chất này của họ trong một hoàn cảnh lịch sử – xã hội nào đó cũng là một điều kiện cho KHXH&NV phát triển.  Đó là nói quan hệ của KHXH&NV với chính trị, hay nói đúng hơn là chính quyền. Tuy nhiên quan hệ này không phải là toàn bộ bản chất của KHXH&NV. Xét đến cùng KHXH&NV là một hoạt động tinh thần của con người, một hình thức “nhân đôi mình lên” bằng “lý luận” bên cạnh sự nhân đôi mình lên thông qua “hoạt động thực tiễn” (Hegel-“Mỹ học”, tiếng Nga, T.1, Moscow, 1968, T.37). Nó là lĩnh vực thể hiện sự phát triển tự do tinh thần của con người. Tự do là dấu hiệu và cũng là điều kiện để KHXH&NV phát triển. KHXH&NV có thể minh họa hay phản biện, nhưng trên hết nó phải là một hoạt động nhận thức độc lập, một cuộc đi tìm, tìm cả cái hữu hình và cái vô hình, cái hữu hạn và vô hạn, tìm có thể đúng và có thể sai, sai đúng chỉ là tương đối. Trong quá trình tìm tòi, khám phá và sáng tạo ấy sẽ xuất hiện vô vàn những ý tưởng, những tư tưởng,những học thuyết mà trong số đó sẽ có những cái có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển ý thức của con người, đến toàn xã hội, đến vận mệnh của dân tộc, thậm chí của cả nhân loại. Khổng Tử, Descates, Marx là những ví dụ hết sức rõ ràng.    Theo nghĩa ấy sự phát triển của KHXH&NV chỉ có thể đạt được trong một xã hội dân trí phát triển, một xã hội dân chủ, tôn trọng sáng tạo của cá nhân, và tự do tinh thần của con người. Đó là điều kiện để xây dựng một nền KHXH&NV tiên tiến, là môi trường có thể tạo ra những nhà nghiên cứu không chỉ am hiểu về chuyên môn mà còn là nhà văn hóa, nhà tư tưởng.    Lập trình cho tương lai  Làm thế nào để xây dựng và phát triển KHXH&NV nước ta thành một nền KHXH&NV tiêu biểu.  Dĩ nhiên sẽ phải cần nhiều giải pháp khác nhau. Nhưng có lẽ cái chính không phải là ở các giải pháp cụ thể. KHXH&NV là lĩnh vực của ý thức xã hội, của tư tưởng. Một nền KHXH&NV tiên tiến thì trước hết tư tưởng của nó phải tiên tiến. Ở Việt Nam muốn làm được điều đó cần có sự thay đổi nhận thức rất lớn. Phải mạnh dạn hội nhập, chủ động hội nhập và hội nhập triệt để, đừng khư khư ôm giữ cái ý thức về bản sắc được hiểu một cách siêu hình và nhuốm đầy tinh thần tự tôn dân tộc hay tâm lý tự ti mà nói như André Gide đó là “loại bản sắc mà người ta sợ đánh mất, không phải vì người ta biết nó là quý giá  mà bởi người ta lúc nào cũng tin rằng nó sắp sửa bị mất” (A.Gide: “Về ảnh hưởng trong văn học”. Văn học nước ngoài, số 3-2006, tr.167). Mọi sự tiếp thu nửa vời, ngập ngừng, vừa hội nhập vừa lo sợ đều không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí có thể kéo theo những thứ rất tệ hại. Kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy dũng cảm hội nhập triệt để một lần sẽ vừa thu nhận được tinh hoa của người ta để phát  triển, vừa giữ được bản sắc. Cái còn lại sau cuộc hồng thủy hội nhập ấy chính là bản sắc. Nó gắn với cốt cách sinh tồn của dân tộc mà cốt cách ấy thì chẳng bao giờ sợ mất, cũng như một dân tộc, một nền văn hóa không dễ gì bị hủy diệt. Hàng ngàn năm Bắc thuộc dân tộc ta hội nhập trong bị động, trong nô lệ, vậy mà bản sắc có mất đâu.  Chính trong quá trình hội nhập triệt để ấy, nhờ tiếp thu các nguồn tư tưởng khác nhau, KHXH&NV Việt Nam sẽ đa nguyên hơn, nền tảng phương pháp luận của nó cũng sẽ đa dạng hơn, không bị bó hẹp trong một học thuyết hay một lập trường cứng nhắc. Nhờ hội nhập, KHXH&NV không còn được coi như một công cụ của công tác tư tưởng mà sẽ được đối xử như một lĩnh vực hoạt động tinh thần độc lập, một khoa học có vị trí riêng, cần được cư xử bình đẳng. Nhờ chủ động hội nhập, KHXH&NV nước ta sẽ có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng tiên tiến của thời đại, từ đó hiện đại hóa mình, trước hết không chỉ ở phương pháp nghiên cứu mà ở tầm nhìn, ở quan niệm và điều đó sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của toàn xã hội. Đến lượt mình, sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước.  Thật ra để xây dựng một nền KHXH&NV hiện đại còn cần một điều kiện quan trọng nữa đó là TIỀN. KHXH&NV nước ta lâu nay còn yếu kém một phần vì nó không có nhiều tiền, mà tiền thì đều do Nhà nước chi và quản lý. Nhà nghiên cứu muốn có đủ tiền để làm và làm theo ý mình thật không dễ. Kinh phí  nhà nước chủ yếu tập trung vào một số dự án, đề tài trọng điểm ở trung ương và rơi vào một số nhóm,một số người thân quen hoặc có chức có quyền. Hàng ngàn nhà nghiên cứu ở các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu ở địa phương chỉ nhận được những đồng tiền nhỏ giọt, họ không được hưởng lợi từ hoạt động nghiên cứu của mình và cũng không được đối xử như những nhà khoa học. Muốn có được quyền lợi nhà khoa học phải chọn con đường làm quan, tức là để có chức có quyền. Trong giới khoa học cũng vậy mà trong giới sáng tác văn học nghệ thuật cũng vậy. Đó là một nguy cơ đối với đội ngũ trí thức của chúng ta.  Mới đây, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 115, được xem như là “Khoán 10 trong khoa học”. Đây là một hình thức nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị nghiên cứu và tăng cường tính hiệu quả của công tác khoa học. Tuy nhiên cần phải cân nhắc và tính toán cụ thể cho từng ngành, từng trường hợp,nhất là đối với các ngành khoa học lý thuyết và đặc biệt là KHXH&NV vốn là những ngành hay được xem là “viển vông”, giá trị của nghiên cứu thường mang tính chất chiến lược và gián tiếp hơn là hiệu quả sử dụng trực tiếp. Chúng ta hay nói về sự lãng phí trong nghiên cứu khoa học. Sự lãng phí này là có thật nhưng đó không phải là do các nghiên cứu này không ứng dụng được ngay trong thực tế mà là do chất lượng, sự vô bổ về phương diện khoa học của các đề tài được nghiệm thu. Xét về một phương diện nào đó, KHXH&NV cũng là “vô ích”. “Vô ích” như cái đẹp, như nghệ thuật. Nhưng “vô ích” về mặt này nó lại vô cùng hữu ích về mặt khác. Không có chúng, con người chỉ biết ngắm mình trong tự nhiên và sản phẩm lao động do mình tạo ra, trong khi quan trọng là phải ý thức được về mình và về những ý thức khác, tạo nên sự đối thoại như là bản chất của sự sống phát triển.  Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu KHXH&NV là hết sức cần thiết. Song không nên và không thể chỉ trông chờ vào Nhà nước. Đòi hỏi bao cấp về tiền bạc mà lại muốn thoát ra khỏi bao cấp về tư tưởng là điều không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cần xã hội hóa hoạt động nghiên cứu KHXH&NV. Cần rất nhiều quỹ “phi chính phủ” và các nhà tài trợ, các mạnh thường quân. Tiếc rằng hiện nay ở ta, những nguồn tiền này gần như rất ít và nếu có thì chủ yếu vẫn là dành cho các cuộc thi hoa hậu, các show ca nhạc và biểu diễn thời trang!  ***  Sẽ không có một lập trình nào cho tương lai của KHXH&NV Việt Nam ngoài sự lập trình của chính nó. Cởi bỏ mọi ràng buộc, tạo điều kiện để nó xích gần lại đời sống, để nó tự do trong những tìm kiếm bất tận về chân lý và hạnh phúc là mở đường cho nó phát triển, đi tới đỉnh cao và hội nhập. Và chỉ trong hội nhập nó mới thực sự đạt tới đỉnh cao.  ——————–  [1] Phạm Quỳnh. Thượng chi văn tập. NXB Văn học, 2006, tr. 163-164.  2 Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Bốn Phương, 1951, tr.22.     Lê Ngọc Trà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học xã hội và nhân văn: Gánh nặng đường xa      Nhiều người đã nói về sự lạc hậu của KHXH&amp;NV nước ta. Sự lạc hậu hay như thừa nhận của cựu Thủ tướng Phan Văn Khải là sự “không thành công” của việc chỉ đạo công tác khoa học, được hiểu là trong đó có KHXH&amp;NV, biểu hiện như thế nào? Và làm thế nào để xây dựng và phát triển KHXH&amp;NV nước ta thành một nền KHXH&amp;NV tiên tiến?        Ấn tượng về thực trạng  Trong một phương diện nào đó có thể nói khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) của nước ta so với các nước Châu Âu còn trẻ. Những công trình nghiên cứu có tính chất khoa học theo nghĩa hiện đại của từ này chỉ mới xuất hiện cách đây chưa đầy một thế kỷ. Bây giờ ở Việt Nam nói đến nhà khoa học người ta cũng vẫn thường nghĩ ngay đó là các nhà toán học, vật lý học, sinh vật học chứ ít ai nghĩ đến các nhà triết học, nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, văn hóa. Trước đây lúc đang đi học đại học nhiều người thường hỏi tôi học ngành gì nghe tôi nói học Văn, họ liền nói thế thì ra trường viết kịch hay viết truyện. Ngay cái tên “Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường” trước đây và “Bộ Khoa học và Công nghệ” hiện nay cũng tạo ra ấn tượng rằng khoa học ở đây cũng chủ yếu là khoa học tự nhiên, là kỹ thuật chứ không dính líu gì đến nghiên cứu tôn giáo, tâm lý, triết học.                     Kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy dũng cảm hội nhập triệt để một lần sẽ vừa thu nhận được tinh hoa của người ta để phát  triển,vừa giữ được bản sắc. Cái còn lại sau cuộc hồng thủy hội nhập ấy chính là bản sắc.                Ấn tượng ấy không phải là ngẫu nhiên. Đối với nhiều người, khoa học đồng nghĩa với sự “chính xác”, vì vậy chỉ có những “khoa học chính xác”, thường được hiểu là các khoa học tự nhiên, sử dụng phương pháp định lượng mới gọi là khoa học. Quan niệm này phần nào đã cản trở việc xem những ngành nghiên cứu xã hội như những khoa học, thậm chí có lúc có nơi nó được xem chủ yếu như một bộ phận của công tác tuyên huấn, công tác tư tưởng. Mặt khác ấn tượng trên cũng không hẳn là không có căn cứ. Trong tiếng Việt khi nói “KHXH&NV” hoặc “các KHXH&NV” nhiều người vẫn nghĩ đây chỉ là cách gọi tắt của “các khoa học xã hội và khoa học nhân văn”, trong khi trong tiếng Anh khi nói “Social sciences and Humanities” thì người ta buộc phải hiểu là chỉ có một số bộ môn nghiên cứu về xã hội như Xã hội học, Kinh tế học, Chính trị học, Địa lý học, Văn hóa học… mới được gọi là những khoa học (sciences) thuộc khoa học xã hội (Social sciences), còn Triết học, Tôn giáo, Văn học, Nghệ thuật học… không phải là các khoa học (sciences) mà là những ngành tri thức (branches of knowledge), những lĩnh vực nghiên cứu (subjects of study, fields of study) thuộc nhóm ngành nhân văn (Humanities), lấy sự phân tích và trao đổi tư tưởng, quan niệm làm chính chứ không là giải thích hay chứng minh dựa vào những phương pháp định lượng mà các khoa học thường sử dụng. Sự phân biệt này rất cần thiết cho việc nhận thức và đánh giá hiện trạng nghiên cứu KHXH&NV ở Việt Nam.    Xét dưới góc khoa học, với tư cách là những khoa học (sciences), rõ ràng nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội của chúng ta chất lượng chưa cao. Trước hết là ở tính “khoa học”. Đã là khoa học thì yêu cầu về tính khách quan của sự nghiên cứu phải đặt lên hàng đầu. Những kết luận cần phải được rút ra từ chính sự phân tích số liệu và logic của lập luận chứ không phải từ một ý đồ có sẵn, được áp đặt từ bên ngoài, nhằm minh họa cho một đường lối, chính sách nào đó. Đã là khoa học thì tính chính xác phải trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi công trình nghiên cứu, thể hiện trong việc tập hợp dữ liệu, sưu tầm tài liệu, khảo sát thực địa, xử lý số liệu, trích dẫn… Về phương diện này một trong những điểm yếu của nhiều công trình khoa học xã hội ở ta là tính chất khảo cứu chưa cao, còn nặng về lý luận và phán xét chung chung và đặc biệt là chưa chú trọng sử dụng phương pháp định lượng, khiến cho các nghiên cứu ít mang tính hiện đại, từ đó phần nào xa lạ với các công trình của giới khoa học xã hội quốc tế.  Còn đối với các bộ môn thuộc ngành nhân văn, bên cạnh những nhược điểm về tính khảo cứu và nghiên cứu, khâu yếu nhất có lẽ vẫn là tính độc lập của tư tưởng, tính chất sáng tạo và mới mẻ trong quan niệm. Khá nhiều công trình nghiên cứu về triết học, văn học, nghệ thuật vẫn loay hoay trong cái khung cũ, tiếp tục bàn về những vấn đề và những khái niệm đã ra đời trong bối cảnh xã hội nửa thế kỷ trước ở Việt Nam và các nước XHCN trước đây. Nói chung rất ít công trình có một nền tảng triết học, có tư tưởng và lại càng ít hơn nữa những tư tưởng được triển khai một cách hệ thống, triệt để, mang dáng dấp một học thuyết, một trường phái. Phần nhiều là du nhập, vay mượn những lý thuyết nào đó ở nước ngoài rồi lắp ráp, vận dụng, phổ biến trong trường đại học và giới nghiên cứu. Đáng buồn hơn, trong nhiều lĩnh vực, các nhà chuyên môn chưa tiếp cận được với những thành tựu mới của thế giới, nhiều trào lưu khá phổ biến ở nước ngoài đã mấy thập niên rồi như Giải cấu trúc (Deconstruction), Nữ quyền luận (Feminism), Hậu hiện đại (Postmodernism), Hậu thực dân (Postcolonialism)… chưa tìm thấy tiếng vang đáng kể trong nghiên cứu của các tác giả Việt Nam.  Nhìn chung lại, ấn tượng về sự “không thành công” của khoa học nói chung và KHXH&NV nói riêng là có thật. Nhiều lĩnh vực nghiên cứu còn thiếu hoặc chưa phát triển (Chính sách Xã hội, Chính trị học, Quản lý, Luật học, Giáo dục học, Tôn giáo và tôn giáo so sánh…). Số lượng các công trình xuất sắc, có tầm cỡ còn hiếm. Chất tuyên huấn trong nhiều công trình nghiên cứu còn khá đậm nét. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ KHXH&NV chưa cao, thường mỗi người làm nhiều thứ, mỗi thứ một chút, ít chuyên sâu, thành ra ít có chuyên gia và chuyên gia giỏi lại càng hiếm. Nói đúng ra chúng ta cũng có một số nhà nghiên cứu KHXH&NV xuất sắc. Phần nhiều họ thuộc thế hệ được đào tạo từ thời Pháp, trước năm 1945. Nhưng ở đây quan trọng không phải từng cá nhân mà là cả cái nền. Tài năng cá nhân là cái thuộc về ngẫu nhiên, đời nào cũng có. Trách nhiệm của xã hội chủ yếu là trách nhiệm tạo ra cái nền, bởi vì xây dựng cả cái nền mới khó và chính sự trì trệ hay phát triển của cả cái nền mới trực tiếp liên quan đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Theo nghĩa đó, nếu thừa nhận rằng sự phát triển của khoa học hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước, rằng nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu thì trách nhiệm về sự chậm phát triển này liên quan trước hết không phải đến khoa học tự nhiên mà đến KHXH&NV. Còn vì sao KHXH&NV lại lạc hậu, góp phần kéo theo sự lạc hậu của đất nước thì đó lại là một vấn đề đòi hỏi phải xem xét kỹ riêng.  Quán tính của truyền thống    Năm 1917 trong một bài viết về “Thơ Baudelaire”, Phạm Quỳnh có nhận xét: “…Tình tứ của thơ Nôm ta thì có lẽ không được dồi dào lắm, cảm hứng không được phong phú bằng thơ các nước; tuy không phải là không có cái thú thanh cao, cái giọng thâm trầm, nhưng dường như “ngắn hơi” không hô hấp được mạnh, đọc lên có cảm giác như con chim chưa bay lên đã mỏi cánh, mong sao mà vượt bể lên ngàn được?”1. Không biết nhận xét của Phạm Quỳnh đúng hay sai, nhưng chắc cảm giác của ông về sự “ngắn hơi” của thơ văn nước nhà là một cảm giác có thực. Và có lẽ không phải chỉ của thơ văn. “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường”2. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, sức nghĩ của người Việt hình như phần nào có bị giới hạn, nhất là đối với những chuyện xa xôi, trừu tượng. Biết vậy nên dân mình khôn ngoan, thường chọn làm những gì nhỏ, gọn, vừa tầm, còn nếu phải đi đường xa thì thường tấp vào đâu đấy, có khi dừng lại ở đó luôn, không cần đi tiếp nữa.                              Nếu thừa nhận rằng sự phát triển của khoa học hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước, rằng nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu thì trách nhiệm về sự chậm phát triển này liên quan trước hết không phải đến khoa học tự nhiên mà đến KHXH&NV.              Chắc có lẽ cũng do đó mà người Việt Nam rất ngại xông vào những chỗ mịt mùng của trí tuệ, vì đi vào đó dễ hụt hơi mà lại ít thu được những lợi ích gì cụ thể. Điều này giải thích vì sao nước ta rất ít có những người làm triết học thực sự và triết học cũng không phát triển. Thế giới siêu hình là chốn để thờ phụng chứ không phải để chìm đắm, suy nghiệm. Người ta đi chùa chủ yếu vì lòng trắc ẩn, muốn tìm một nơi nương tựa về tình cảm và cầu mong một đời sống bình an, hạnh phúc hơn là vì một đức tin thuần túy, một sự cứu rỗi tinh thần. Óc thực tiễn trở thành một nét đặc trưng của văn hóa người Việt. Từ nhiều năm trước đây, Đào Duy Anh cũng đã từng nhận xét: “Não tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt cho nên dân tộc Việt Nam ít người mộng tưởng, mà phán đoán thường có vẻ thiết thực lắm” (Sđd, tr.22-23).    Chính vì thiên về óc thực tiễn và trí tưởng tượng không được phát huy đến tận cùng nên chúng ta thấy trong văn hóa Việt Nam truyền thống những gì gắn với ý nghĩa thực dụng trực tiếp thường được ưa chuộng hơn. Hội họa ít phổ biến hơn điêu khắc vì điêu khắc cần cho việc tạo ra các pho tượng để thờ cúng. Nhạc thính phòng nhường chỗ cho các loại nhạc dùng trong ma chay, lễ hội. Trong lĩnh vực văn học, tiểu thuyết ra đời khá muộn, các thể loại sử ký, hịch, cáo, chiếu biểu, văn tế khá phát triển, thơ ca thì chủ yếu nhằm bộc lộ tình cảm và chí hướng nhiều hơn là chiêm nghiệm, triết lý, nắm bắt và diễn tả những cái vô hình.  Khuynh hướng thực tiễn này đã ảnh hưởng đến tính chất của các hoạt động và công trình văn hóa truyền thống, ở đó “não sáng tác thì ít, nhưng mà bắt chước, thích ứng và dung hòa thì rất tài” (Đào Duy Anh, Sđd.tr.23). Cũng từ đây đã sinh ra tính  lắp ráp (bricolage) như một đặc điểm quan trọng của văn hóa Việt Nam mà về sau này nhà nghiên cứu Phan Ngọc cũng đã đi sâu phân tích.  Những nét trên đây đã để lại dấu ấn khá rõ rệt trong các công trình KHXH&NV hiện nay. So với gần một thế kỷ trước đây, KHXH&NV nước ta đã tiến một bước dài, có những thành tựu to lớn, một số nhược điểm cố hữu đã được khắc phục phần nào. Nhưng hình như quán tính của truyền thống vẫn còn rất lớn. Phân biệt đâu là những nét thuộc về “cố tật”, đâu là những cái do hoàn cảnh lịch sử – xã hội nhất thời tạo nên, đâu là những thứ khó mà sửa được và đâu là những cái có thể khắc phục dần dần không phải là dễ. Tuy nhiên sự phân biệt này rất cần thiết vì nó giúp chúng ta một mặt không quá ảo tưởng, một mặt cũng không quá bi quan, xem mọi thứ khó mà khá lên được.   Minh họa, phản biện, hay…    KHXH&NV là lĩnh vực của những nghiên cứu về xã hội và con người, lĩnh vực của sự trao đổi tư tưởng. Có những khái niệm đối với khoa học tự nhiên là bình thường, nhưng đối với KHXH&NV lại trở thành điều kiện, một đòi hỏi mà nếu không có thì khó thực hiện được những công trình có giá trị. Chẳng hạn, một trong những vấn đề tồn tại trong giới KHXH&NV nước ta lâu nay là vấn đề tính Đảng và tính khoa học. Đối với nhà nghiên cứu quan trọng là sự chính xác, trung thực và khách quan, trong khi tính Đảng lại yêu cầu tính khuynh hướng, tức là cái có lợi về phương diện chính trị đối với Đảng hay chính quyền. Hai cái này không phải lúc nào cũng gặp nhau. Đó là cái khó cho những người hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV ở Việt Nam cũng như ở các nước XHCN trước đây.  Mặt khác sự bao cấp về tư tưởng trong nhiều năm qua cũng đã hạn chế khá nhiều tìm tòi của các nhà nghiên cứu các vấn đề xã hội và con người. Học thuyết Mác – Lênin dường như là cái đã hoàn chỉnh và có sẵn, chỉ cần học tập, nghiên cứu và vận dụng mà thôi. Lập trường vô sản và thế giới quan duy vật trở thành nền tảng lý luận, phương pháp luận duy nhất cho mọi nghiên cứu về KHXH&NV. Những công trình đặt cơ sở trên những hệ quy chiếu khác dễ bị phê phán, kết án, chụp mũ. Từ đây chúng ta hiểu vì sao có hiện tượng “suy dinh dưỡng” trong lĩnh vực KHXH&NV. Nhiều cuốn sách chỉ lắp lại những mệnh đề có sẵn, không có tư tưởng gì độc lập và mới mẻ. Nếu nói như một nhân vật trong “Tội ác và Trừng phạt” của Dostoievski: “Đau khổ đi, trong đau khổ có tư tưởng”, thì số đông các nhà nghiên cứu của chúng ta rất ít có tư tưởng, bởi vì ở đây hình như mọi thứ đã có sẵn, đầy đủ và an bài, chẳng việc gì mà đau khổ, đau khổ có khi sinh ra đi lạc đường thì lại còn đau khổ hơn.  Một hiện tượng khác cũng thường được nói đến là xu hướng minh họa trong nghiên cứu KHXH&NV ở nước ta. Minh họa ở đây có hai mặt. Một mặt là sự minh họa cho một tư tưởng nào đó bằng hình ảnh, hình tượng, hay diễn giải các khái niệm, ý tưởng ở trên dội xuống, một mặt đó là những nghiên cứu triển khai, phục vụ cho một chủ trương, chính sách, thậm chí là cả một đường lối, ví dụ như muốn đẩy mạnh trồng sắn thì phải chứng minh là trồng sắn có lợi, ăn sắn bổ hơn ăn gạo; muốn phát triển xây dựng hợp tác xã thì phải chứng minh ưu thế của làm ăn hợp tác xã so với làm ăn cá thể. Những nghiên cứu triển khai nhiều khi là cần thiết, giúp các nhà quản lý xã hội thuyết phục quần chúng, tổ chức tốt việc thực hiện. Những năm qua, phần lớn các công trình nghiên cứu được cấp kinh phí nhà nước về KHXH&NV ở nước ta đi theo hướng này. Trong trường hợp nếu may mà các chủ trương chỉ đạo đúng đắn, hợp lý, thì dĩ nhiên các nghiên cứu minh họa cũng có đóng góp nhất định. Tuy nhiên thực tế cho thấy không phải lúc nào cũng như vậy.  Khoa học, dù là khoa học tự nhiên hay xã hội, luôn luôn tôn trọng tính khách quan và mang tính độc lập. Đó chính là sức mạnh và lý do tồn tại của nó. Các nhà khoa học vẫn làm công việc chứng minh nhưng đó là chứng minh cho một giả thuyết khoa học. Còn đối với chính trị, chính sách, thì vai trò tốt nhất của khoa học là phản biện. Đã là phản biện thì có thể tán thành, mà cũng có thể bác bỏ, nói ngược. Rất tiếc là cho đến nay trong xã hội ta kiểu phản biện tán thành vẫn là phổ biến, còn phản biện ngược thì vẫn hiếm hoi. Điều này không chỉ làm hại uy tín của giới khoa học trước mắt dân chúng mà còn làm giảm vai trò và sự đóng góp của nó đối với xã hội, bởi vì nó đã không ngăn cản được những quyết định thiếu sáng suốt có ảnh hưởng đến lợi ích chung. Thật ra đối với người hoạch định chính sách (policymakers), khôn ngoan nhất là biết sử dụng khoa học -sử dụng không theo nghĩa là chỉ biết dùng nó để minh họa hay ca tụng, mà tôn trọng tính khách quan và có căn cứ của nó, tôn trọng cả tiếng nói ngược nhiều khi rất khó chịu của nó, lắng nghe và rút ra những kết luận không phải lúc nào cũng phù hợp với các chuẩn mực có sẵn hay những dự tính từ đầu. Nhưng muốn được như vậy nhà lãnh đạo phải có lý trí đủ mạnh và bản lĩnh vững vàng. Những phẩm chất này của họ trong một hoàn cảnh lịch sử – xã hội nào đó cũng là một điều kiện cho KHXH&NV phát triển.  Đó là nói quan hệ của KHXH&NV với chính trị, hay nói đúng hơn là chính quyền. Tuy nhiên quan hệ này không phải là toàn bộ bản chất của KHXH&NV. Xét đến cùng KHXH&NV là một hoạt động tinh thần của con người, một hình thức “nhân đôi mình lên” bằng “lý luận” bên cạnh sự nhân đôi mình lên thông qua “hoạt động thực tiễn” (Hegel-“Mỹ học”, tiếng Nga, T.1, Moscow, 1968, T.37). Nó là lĩnh vực thể hiện sự phát triển tự do tinh thần của con người. Tự do là dấu hiệu và cũng là điều kiện để KHXH&NV phát triển. KHXH&NV có thể minh họa hay phản biện, nhưng trên hết nó phải là một hoạt động nhận thức độc lập, một cuộc đi tìm, tìm cả cái hữu hình và cái vô hình, cái hữu hạn và vô hạn, tìm có thể đúng và có thể sai, sai đúng chỉ là tương đối. Trong quá trình tìm tòi, khám phá và sáng tạo ấy sẽ xuất hiện vô vàn những ý tưởng, những tư tưởng,những học thuyết mà trong số đó sẽ có những cái có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển ý thức của con người, đến toàn xã hội, đến vận mệnh của dân tộc, thậm chí của cả nhân loại. Khổng Tử, Descates, Marx là những ví dụ hết sức rõ ràng.     Theo nghĩa ấy sự phát triển của KHXH&NV chỉ có thể đạt được trong một xã hội dân trí phát triển, một xã hội dân chủ, tôn trọng sáng tạo của cá nhân, và tự do tinh thần của con người. Đó là điều kiện để xây dựng một nền KHXH&NV tiên tiến, là môi trường có thể tạo ra những nhà nghiên cứu không chỉ am hiểu về chuyên môn mà còn là nhà văn hóa, nhà tư tưởng.  Lập trình cho tương lai    Làm thế nào để xây dựng và phát triển KHXH&NV nước ta thành một nền KHXH&NV tiêu biểu.  Dĩ nhiên sẽ phải cần nhiều giải pháp khác nhau. Nhưng có lẽ cái chính không phải là ở các giải pháp cụ thể. KHXH&NV là lĩnh vực của ý thức xã hội, của tư tưởng. Một nền KHXH&NV tiên tiến thì trước hết tư tưởng của nó phải tiên tiến. Ở Việt Nam muốn làm được điều đó cần có sự thay đổi nhận thức rất lớn. Phải mạnh dạn hội nhập, chủ động hội nhập và hội nhập triệt để, đừng khư khư ôm giữ cái ý thức về bản sắc được hiểu một cách siêu hình và nhuốm đầy tinh thần tự tôn dân tộc hay tâm lý tự ti mà nói như André Gide đó là “loại bản sắc mà người ta sợ đánh mất, không phải vì người ta biết nó là quý giá  mà bởi người ta lúc nào cũng tin rằng nó sắp sửa bị mất” (A.Gide: “Về ảnh hưởng trong văn học”. Văn học nước ngoài, số 3-2006, tr.167). Mọi sự tiếp thu nửa vời, ngập ngừng, vừa hội nhập vừa lo sợ đều không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí có thể kéo theo những thứ rất tệ hại. Kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy dũng cảm hội nhập triệt để một lần sẽ vừa thu nhận được tinh hoa của người ta để phát  triển, vừa giữ được bản sắc. Cái còn lại sau cuộc hồng thủy hội nhập ấy chính là bản sắc. Nó gắn với cốt cách sinh tồn của dân tộc mà cốt cách ấy thì chẳng bao giờ sợ mất, cũng như một dân tộc, một nền văn hóa không dễ gì bị hủy diệt. Hàng ngàn năm Bắc thuộc dân tộc ta hội nhập trong bị động, trong nô lệ, vậy mà bản sắc có mất đâu.  Chính trong quá trình hội nhập triệt để ấy, nhờ tiếp thu các nguồn tư tưởng khác nhau, KHXH&NV Việt Nam sẽ đa nguyên hơn, nền tảng phương pháp luận của nó cũng sẽ đa dạng hơn, không bị bó hẹp trong một học thuyết hay một lập trường cứng nhắc. Nhờ hội nhập, KHXH&NV không còn được coi như một công cụ của công tác tư tưởng mà sẽ được đối xử như một lĩnh vực hoạt động tinh thần độc lập, một khoa học có vị trí riêng, cần được cư xử bình đẳng. Nhờ chủ động hội nhập, KHXH&NV nước ta sẽ có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng tiên tiến của thời đại, từ đó hiện đại hóa mình, trước hết không chỉ ở phương pháp nghiên cứu mà ở tầm nhìn, ở quan niệm và điều đó sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của toàn xã hội. Đến lượt mình, sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước.  Thật ra để xây dựng một nền KHXH&NV hiện đại còn cần một điều kiện quan trọng nữa đó là TIỀN. KHXH&NV nước ta lâu nay còn yếu kém một phần vì nó không có nhiều tiền, mà tiền thì đều do Nhà nước chi và quản lý. Nhà nghiên cứu muốn có đủ tiền để làm và làm theo ý mình thật không dễ. Kinh phí  nhà nước chủ yếu tập trung vào một số dự án, đề tài trọng điểm ở trung ương và rơi vào một số nhóm,một số người thân quen hoặc có chức có quyền. Hàng ngàn nhà nghiên cứu ở các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu ở địa phương chỉ nhận được những đồng tiền nhỏ giọt, họ không được hưởng lợi từ hoạt động nghiên cứu của mình và cũng không được đối xử như những nhà khoa học. Muốn có được quyền lợi nhà khoa học phải chọn con đường làm quan, tức là để có chức có quyền. Trong giới khoa học cũng vậy mà trong giới sáng tác văn học nghệ thuật cũng vậy. Đó là một nguy cơ đối với đội ngũ trí thức của chúng ta.  Mới đây, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 115, được xem như là “Khoán 10 trong khoa học”. Đây là một hình thức nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị nghiên cứu và tăng cường tính hiệu quả của công tác khoa học. Tuy nhiên cần phải cân nhắc và tính toán cụ thể cho từng ngành, từng trường hợp,nhất là đối với các ngành khoa học lý thuyết và đặc biệt là KHXH&NV vốn là những ngành hay được xem là “viển vông”, giá trị của nghiên cứu thường mang tính chất chiến lược và gián tiếp hơn là hiệu quả sử dụng trực tiếp. Chúng ta hay nói về sự lãng phí trong nghiên cứu khoa học. Sự lãng phí này là có thật nhưng đó không phải là do các nghiên cứu này không ứng dụng được ngay trong thực tế mà là do chất lượng, sự vô bổ về phương diện khoa học của các đề tài được nghiệm thu. Xét về một phương diện nào đó, KHXH&NV cũng là “vô ích”. “Vô ích” như cái đẹp, như nghệ thuật. Nhưng “vô ích” về mặt này nó lại vô cùng hữu ích về mặt khác. Không có chúng, con người chỉ biết ngắm mình trong tự nhiên và sản phẩm lao động do mình tạo ra, trong khi quan trọng là phải ý thức được về mình và về những ý thức khác, tạo nên sự đối thoại như là bản chất của sự sống phát triển.  Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu KHXH&NV là hết sức cần thiết. Song không nên và không thể chỉ trông chờ vào Nhà nước. Đòi hỏi bao cấp về tiền bạc mà lại muốn thoát ra khỏi bao cấp về tư tưởng là điều không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cần xã hội hóa hoạt động nghiên cứu KHXH&NV. Cần rất nhiều quỹ “phi chính phủ” và các nhà tài trợ, các mạnh thường quân. Tiếc rằng hiện nay ở ta, những nguồn tiền này gần như rất ít và nếu có thì chủ yếu vẫn là dành cho các cuộc thi hoa hậu, các show ca nhạc và biểu diễn thời trang!  ***  Sẽ không có một lập trình nào cho tương lai của KHXH&NV Việt Nam ngoài sự lập trình của chính nó. Cởi bỏ mọi ràng buộc, tạo điều kiện để nó xích gần lại đời sống, để nó tự do trong những tìm kiếm bất tận về chân lý và hạnh phúc là mở đường cho nó phát triển, đi tới đỉnh cao và hội nhập. Và chỉ trong hội nhập nó mới thực sự đạt tới đỉnh cao.  ——————–  [1] Phạm Quỳnh. Thượng chi văn tập. NXB Văn học, 2006, tr. 163-164.  2 Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Bốn Phương, 1951, tr.22.          Lê Ngọc Trà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Xô viết: Ưu việt và hạn chế      Được tổ chức theo một phương thức chưa từng  có trước đó, lại huy động được tối đa các nguồn lực, chỉ trong vòng bốn,  năm thập kỷ, khoa học Xô viết đã vươn lên vị thế một trong các cường  quốc khoa học hàng đầu và là một trong những yếu tố quyết định giúp Liên  xô trở thành siêu cường. Thế nhưng tồn tại và phát triển cùng Nhà nước  Xô viết với mọi ưu việt và hạn chế của nó, vào cuối thập kỷ 80, khoa học  Xô viết dần dần tụt hậu so với phương Tây và cùng với sự tan rã của  Liên bang Xô viết, khoa học Xô viết cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng.      Những người Bolshevik đã rất sớm nhận ra vai trò to lớn của khoa học trong việc tạo dựng xã hội mới. Sau cách mạng tháng Mười V.I.Lenin, lãnh tụ của những người Bolshevik, đã không ít lần nhấn mạnh: “Phải nắm lấy toàn bộ khoa học, toàn bộ kĩ thuật, toàn bộ tri thức. Không như thế chúng ta sẽ không thể nào xây dựng được xã hội cộng sản”. [1]  Với nhận thức như vậy, chính quyền Xô viết một mặt hết sức coi trọng chức năng nhận thức của khoa học, mặt khác đặt nhiệm vu trọng tâm cho khoa học kĩ thuật là phải góp phần phát triển kinh tế và cũng cố sức mạnh quốc phòng của đất nước. Hơn nữa trong bối cảnh đối kháng về tư tưởng, bao vây và cấm vận thường xuyên của phương Tây, nhà nước Xô viết chủ trương xây dựng một nền khoa học tự chủ, đủ khả năng đảm bảo sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Do đó khoa học đã được triển khai trên mọi lĩnh vực, trong đó đặc biệt ưu tiên cho các hướng nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản có ý nghĩa sống còn đối với đất nước.    1. Chính sách khoa học kĩ thuật   – Một trong những chủ trương chính sách quan trọng nhất của Nhà nước Xô viết là nhà nước đảm nhiệm hoàn toàn việc đầu tư, phát triển khoa học. Trong giai đoạn 1921-1930 đầu tư cho khoa học hàng năm tăng 30%, tính trung bình trong suốt thời kì Xô viết là 3% đến 3,5% GDP, cao hơn các nước tư bản phát triển[2];  – Mạng lưới các tổ chức nghiên cứu và đào tạo cán bộ được xây dựng và phát triển với tốc độ chưa từng có[6]. Nếu như trước cách mạng trên lãnh thổ Nga chỉ có 300 cơ sở khoa học (bao gồm cả các trường đại học và cao đẳng), chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn thì đến giữa những năm hai mươi con số này đã gấp đôi. Đến đầu những năm sáu mươi mạng lưới gồm hàng ngàn các cơ sở nghiên cứu bao gồm Viện hàn lâm khoa học liên bang và các nước cộng hòa Liên xô, các viện chuyên ngành, các tổ hợp khoa học-sản xuất, các trường đại học và cao đẳng đã được xây dựng khắp trên toàn lãnh thổ Liên xô. Một loạt các thành phố khoa học tương tự như công viên khoa học ngày nay đã ra đời, nổi bật là trung tâm nghiên cứu hạt nhân Dupna của khối các nước xã hội chủ nghĩa và thành phố khoa học Novosibirsk để khai thác và phát triển Siberia và khu vực viễn đông.  – Việc xây dựng đội ngũ khoa học kĩ thuật trở thành nhiệm vụ trung tâm trong chính sách của chính quyền Xô viết. Trong những năm sau cách mạng, một lượng lớn chuyên gia trình độ cao của chế độ cũ đã rời bỏ đất nước sang phương Tây do không tán thành chế độ mới hoặc vì điều kiện sống và làm việc thiếu thốn. Nhà nước Xô viết, một mặt trọng dụng những nhà khoa học của chế độ cũ hợp tác với chính quyền mới, mặt khác đẩy mạnh đào tạo đội ngũ “trí thức xã hội chủ nghĩa”, “vừa hồng vừa chuyên”. Tốc độ phát triển đội ngũ khoa học kĩ thuật của Nhà nước Xô viết hết sức nhanh chóng, nếu trong 1913 là 11,6 ngàn thì đến 1975 con số này đã tăng lên 100 lần, đến năm 1989 là 1,6 triệu người, chiếm ¼ số lượng cán bộ khoa học của toàn thế giới [2].  – Ngay trong điều kiện kinh tế kiệt quệ do chiến tranh thế giới lần thứ nhất và cuộc nội chiến 1918-1922, nhà nước vẫn dành một khoản tiền không nhỏ để xây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu cơ bản cho các nhà khoa học lớn như Pavlop (giải Nobel năm 1905), Mechnikov (giải Nobel 1908) và nhiều nhà khoa học tên tuổi khác. Đời sống vật chất cũng được cải thiện, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, thu nhập của các nhà khoa học được tăng vượt bậc, lương của một PTS khoa học là 200 rúp, của tiến sĩ khoa học là 400 so với 45 rúp của giáo viên tiểu học [9].  Vào những năm sáu mươi ở Liên xô lan truyền câu chuyện kể là tại một buổi chiêu đãi ở điện Cremli, Nikita Khrushchev- bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Liên xô khi đó đã nâng cốc chúc mừng chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên xô- “người giàu nhất nước”. Không rõ hư thật của câu chuyện này, nhưng nội dung của nó không phải không phán ánh một phần thực tế: Nếu xét theo hệ qui chiếu của mức sống chung của nhân dân Liên xô thời kì đó thì các nhà khoa học được xếp vào tầng lớp khá giả nhất trong xã hội Xô viết (theo hồi kí của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì đời sống tại các nước tư bản trong thời gian này cũng không phải là lí tưởng, thậm chí ở Pháp người ta còn mơ cuộc sống ở Liên xô).  – Chính quyền Xô viết thực hiện chính sách quản lí hoạt động khoa học theo phương pháp kế hoạch hóa tập trung, thống nhất thông qua một hệ thống tổ chức từ trung ương đến các bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt là đối với khoa học xã hội thì chủ nghĩa Marx –Lenin, chủ nghĩa duy vật biện chứng được xem là khoa học của các khoa học [14]. Từ giữa những năm năm mươi, phù hợp với những điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ra đời vào giữa thế kỉ trước, trong khuôn khổ của những cải cách nhất định trong hệ thống kinh tế, nhà nước Xô viết đã tiến hành một số cải cách trong quản lí khoa học, như quản lí theo chương trình mục tiêu, hạch toán từng phần và khuyến khích vật chất, hợp tác khoa học không chỉ bó hẹp trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà từng bước được mở rộng với các nước phương Tây.   – Nhiều nhà khoa học từ chế độ cũ, dù không tán thành hệ tư tưởng của những người Bolshevik, nhưng đã bắt tay hợp tác với chính quyền Xô viết vì họ thấy được trong kế hoạch phát triển khoa học của chính quyền Xô viết có những cơ hội thực hiện các ý tưởng khoa học của mình, những cơ hội mà họ không thể có trong thời kì trước cách mạng.   2. Thành tựu   Lịch sử Liên bang Xô viết ghi nhận những đóng góp vô cùng to lớn của khoa học Xô viết (KHXV) vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vai trò then chốt của nó trong những chương trình đột phá, có ý nghĩa sống còn của chế độ: Với sự tham gia của hai trăm nhà khoa học vào soạn thảo kế hoạch điện khí hóa nổi tiếng (1920) (viết tắt – GOERLO) và hàng ngàn nhà khoa học trực tiếp làm việc trên các công trường thi công công trình của các GOERLO, KHXV đã xây dựng nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa và toàn bộ nền kinh tế xô viết, góp phần đưa Liên xô chỉ sau ba thập kĩ vươn lên hàng ngũ những nước công nghiệp phát triển nhất. Trong chiến tranh vệ quốc KHXV đã cung cấp cho Hồng quân những mẫu xe tăng, máy bay chiến đấu chất lượng vượt trội, tên lửa huyền thoại Katyusha và nhiều mẫu vũ khí, khí tài khác, góp phần quyết định vào chiến thắng của Hồng quân. Trong chiến tranh lạnh chương trình lá chắn hạt nhân-tên lửa (1946-1953), chương trình vũ trụ (từ 1958) và nhiều chương trình khác đã giúp Liên xô thiết lập thế cân bằng quân sự với Mĩ.   Chỉ sau gần bốn thập kĩ KHXV đã vươn lên hàng ngũ các cường quốc khoa học: Liên xô chiếm vị thế hàng đầu về toán học, vật lí lí thuyết, đại dương học, luyện kim, xúc tác hóa học, thủy động lực học từ trường. Liên xô là nước đầu tiên xây dựng nhà máy điện nguyên tử (1954), chế tạo tàu phá băng, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên (1957), và đưa người đầu tiên vào vũ trụ (1961). Liên Xô cũng dẫn đầu trong nghiên cứu phản ứng nhiệt hạch, nguồn năng lượng vô tận trong mặt trời và bom khinh khí, phát minh ra máy phát lượng tử (laser) cùng với một người Mỹ. Những thành tựu khoa học Liên Xô được ghi nhận qua 14 giải Nobel về vật lí, 1 giải nobel về hóa học, 1 giải về kinh tế học và ba giải Fields về toán học. Và còn rất nhiều thành tựu khoa học đỉnh cao khác. Những thành tựu của KHXV đã làm chấn động phương Tây, nhiều nước vội vàng cải cách giáo dục để không bị Liên xô vượt lên trước [11].     3. Nguyên nhân của kì tích KHXV  Đặt hàng cho nhà khoa học. Năm 1918 ngay khi cuộc nội chiến đang xảy ra ác liệt, trong tác phẩm- đồng thời được coi là bản kế hoạch nhà nước về phát triển khoa học đầu tiên trên thế giới – “Phác thảo các nhiệm vụ khoa học kĩ thuật”, V.I Lenin đã đặt hàng cho KHXV hàng loạt các nhiệm vụ quan trọng. Thực hiện các đặt hàng của nhà nước, KHXV không chỉ đóng góp vào phát triển kinh tế và quốc phòng đất nước mà còn nhận được từ các đặt hàng đó động lực phát triển to lớn.           Tốc độ phát triển đội ngũ khoa học kĩ thuật  của Nhà nước Xô viết hết sức nhanh chóng, nếu trong 1913 là 11,6 ngàn  thì đến 1975 con số này đã tăng lên 100 lần, đến năm 1989 là 1,6 triệu  người, chiếm ¼ số lượng cán bộ khoa học của toàn thế giới.         Cung cấp tài chính. Cùng với đặt hàng cho khoa học, nhà nước Xô viết đảm bảo phương tiện làm việc và cung cấp tài chính-một yếu tố hàng đầu để phát triển khoa học trong điều kiện xã hội hiện đại. Và đảm bảo không tồi. Nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Liên xô và Nga, Mironin [10] đã đưa ra dẫn chứng sau “Theo tạp chí Nuture của Đức, chi phí cho nghiên cứu phát triên R&D của Liên xô chiếm 3,73% ngân sách nhà nước so với Đức 2,84%, Nhật bản 2, 77% Anh 2,18; Pháp 2,1%; vào giữa những năm ba mươi một ủy ban của quĩ hỗ trợ khoa học Rockefeller, đã đến khảo sát tại Liên xô. Kết luận của ủy ban là: KHXV được cấp tài chính tốt hơn Tây Âu”.  Hệ thống hành chính mệnh lệnh. Hệ thống này có ưu điểm là nhờ những ưu thế trong huy động nhân lực và phương tiện, đã cho phép giải quyết các vấn đề khoa học qui mô lớn trong một thời gian ngắn. Kế hoạch điện khí hóa, dự án bom nguyên tử, các chương trình vũ trụ là minh chứng cho ưu thế này.   “Tổng động viên”. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Xô viết nhận thức rất rõ rằng để có thể đứng vững được trong cuộc chạy đua với phương Tây, cần phải tạo ra “những cú đấm mạnh” trong khoa học và kĩ thuật. Do đó chính quyền Xô viết, bên cạnh việc đảm bảo phương tiện làm việc cho các nhà khoa học đã tiến hành hàng loạt biện pháp “tổng động viên “cho khoa học: tăng lương vượt bậc cho các nhà khoa học, đẩy mạnh giáo dục để tạo nguồn lực, xây dựng nhiều trường đại học đặc biệt đào tạo nhân tài, tổ chức phổ biến về vai trò và tương lai của khoa học nhằm làm cho tinh thần khoa học cắm rễ vào nhân dân, từ đó huy động tối đa nguồn lực tiềm tàng của nhân dân tham gia vào sự nghiệp khoa học kĩ thuật. Các biện pháp tổng động viên của chính quyền Xô viết được cộng hưởng với hào khí sau chiến thắng, sức hấp dẫn của lí tưởng và niềm tin vào tương lai đã thu hút đông đảo những người trẻ tuổi tài năng đi vào khoa học, một yếu tố đảm bảo cho các thành tựu khoa học sau này. Garic, nhà vật lí Xô viết, hiện làm việc tại Thụy Điển, nhớ lại [13]: Những cuộc thi tuyển vào các cơ sở nghiên cứu hàng đầu đất nước đã trở thành ngày hội của giới trẻ và không khí làm việc ở các viện nghiên cứu thì tuyệt vời. Tôi nghĩ, trước kia cũng như bây giờ, không ở đâu, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có được không khí sáng tạo tuyệt vời như thế”…  Thời kì Xô viết đã sản sinh ra một đội ngũ đông đảo những cá nhân lỗi lạc. Đó là các nhà toán học A. Kolmogorop, I. gelfand, M.Keldysh, các nhà vật lí Lev Landau, P.Kapitsa, Kurchatov, các tổng công trình sư lỗi lạc S.Corolov, A. Mikoyan, A.Tupolev và rất nhiều những tài năng lỗi lạc khác đã đi vào lịch sử KHXV và thế giới. Không một thời kì nào trong lịch sử khoa học Nga lại nở rộ nhiều tài năng như thế và nguyên nhân: không chỉ vì sự đầu tư của nhà nước, mà còn vì vị thế của khoa học và nhà khoa học trong xã hội Xô viết chưa từng có trong một xã hội, một quốc gia nào khác; thái độ như vậy đối với khoa hoc đã lôi cuốn lực lượng hùng hậu của xã hội vào khoa học, tất yếu dẫn đến xuất hiện một đội ngũ lớn các tài năng kiệt xuất theo qui luật lượng đổi, chất đổi.  Chủ nghĩa yêu nước Nga, sự thăng hoa tinh thần, tình yêu và sự dấn thân của các nhà khoa học là chất xúc tác vô giá cho KHXV. Những Pavel Corchagin trong khoa học đã hiến dâng tất cả, tài năng và sức lực, trong điều kiện đãi ngộ thấp hơn nhiều so với cống hiến của họ (nhiều người trong họ hẳn sẽ trở thành triệu phú nếu ở Mĩ). Thậm chí trong số họ không ít người chịu nhiều mất mát, đôi khi phải sống những năm tháng tù đày, vì một số sai lầm của chính quyền xô viết, nhưng họ đã không hề tính nợ với chính quyền mà tiếp tục cồng hiến, vì với họ tổ quốc và khoa học lớn hơn.     4. Những hạn chế và tụt hậu vào giai đoạn cuối   KHXV phát triển rực rỡ nhất trong khoảng hơn bốn thập kỷ, từ những năm ba mươi đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ trước, sau đó chững lại, bắt đầu thời kì tụt hậu. Theo hàng loạt tiêu chí về chất lượng và số lượng, Liên xô đã bị phương Tây vượt qua, ngay cả trong lĩnh vực vũ trụ vốn do Liên xô mở đầu và giữ vai trò thủ lĩnh trong nhiều năm cũng bị Mĩ qua mặt. Vào cuối thập kĩ tám mươi, nghĩa là trước thời điểm sụp đổ của Liên bang xô viết, hiện trạng khoa học của Liên xô đã đến mức khủng hoảng, chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Marchuk khi đó đã phải báo động “Xã hội, các nhà lãnh đạo cần phải nhận thức được: hiện trạng khoa học của chúng ta đang tương phản kì lạ không chỉ với các nước phát triển mà ngay cả với các nước đang phát triển”.   Hiện tượng tụt hậu của KHXV vào giai đoạn trước khi Liên xô sụp đổ được nhiều nhà lịch sử khoa học của Nga và phương Tây nghiên cứu và nguyên nhân của nó được tìm kiếm trên các bình diện kinh tế, cơ chế, tổ chức và xã hội [9],[8]….  – Dù có những đặc thù riêng khoa học vẫn phụ thuộc rất lớn vào kinh tế và hệ thống kinh tế mà nó được vận hành trong đó. Một số nhà nghiên cứu khẳng định “Không thể có một nền khoa học tốt trong một nền kinh tế tồi”. KHXV không nằm ngoài qui luật đó. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm nhanh, từ 10,3% trong thập kỷ 1950-1960 và 7,1% trong thập kĩ 1960-1970 xuống còn 4,2% trong thập kĩ 1970-1980 và 2,1% trong thập kĩ 1980-1990 . Kinh tế suy thoái tất yếu dẫn đến cắt giảm chi phí cho các lĩnh vực trong đó có khoa học. Hậu quả là KHXV giảm mạnh về lượng và chất, chẳng hạn tỉ lệ tăng số lượng cán bộ khoa học từ 10,1% trong thập kỷ 1960 xuống 4,1% trong những năm 1970-1980 và 1,4% trong thập kỷ 1980-1990 [9].  – KHXV vận hành trong khuôn khổ hệ thống kinh tế kế hoạch siêu tập trung và theo mô hình hành chính – mệnh lệnh cứng nhắc, thiếu linh hoạt, không đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật; thiếu thị trường sản phẩm khoa học sẽ khó đi vào cuộc sống và không có động lực phát triển. Nhiều phát minh là đột phá đã không được đưa vào thực tế. Ví dụ, phát minh về laser của hai nhà vật lí giải Nobel – Basov và Prokhorop – trong khi đã trở thành ngành kinh doanh có lợi nhuận ở phương Tây thì Liên xô phải nhập khẩu phục vụ nghiên cứu; ngành viễn thông, từ Internet toàn cầu đến các thiết bị di động đều là sản phẩm của phương Tây nhưng dựa trên phát minh của Viện sĩ Alferov (Nobel năm 2000).  – Tổ chức hệ thống nghiên cứu – triển khai hết sức phức tạp, cồng kiềng và chồng chéo. Đơn vị nghiên cứu cơ bản là các viện nghiên cứu, thường có số lượng lên tới vài ba ngàn, thậm chí dăm ngàn nhà khoa học và kĩ sư. Quản lí hiệu quả tập thể nghiên cứu với qui mô như vậy là bài toán khó vì đó không phải là xí nghiệp sản xuất với con người là những công nhân làm việc theo qui trình đã định sẵn. Hơn nữa mỗi khi xuất hiện vấn đề mới thì nhà nước Xô viết thường đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu mới, vấn đề nhỏ thì xây dựng phòng thí nghiệm, vấn đề lớn thì lập viện [5]. Cơ cấu thành phần các nhà khoa học làm việc tại viện nghiên cứu và tại các xí nghiệp không thuận lợi cho việc đưa khoa học vào sản xuất: Ở Mĩ nhiều nhà nghiên cứu làm công  việc nghiên cứu trong các viện nghiên cứu khoảng 20-25 năm, sau đó chuyển sang khu vực kinh doanh đổi mới, còn ở Liên xô – phần lớn nhà khoa học làm việc ở viện đến cuối đời. Ở Mĩ trong tổng số cán bộ làm việc tại các hãng, số cán bộ có bằng cấp tiến sĩ chiếm 70% , ở Liên xô -3%. [9]          Việc kiểm soát chặt chẽ về mặt tư tưởng và  đôi khi can thiệp trực tiếp vào đời sống của khoa học đã gây ra không ít  tổn thất: khoa học xã hội bị tách rời khỏi nhiều trào lưu nghiên cứu  hiện đại, nhiều hướng khoa học tự nhiên (trong sinh vật học, hóa học,  điều khiển học) bị coi là ngụy khoa học, do đó bị chậm lại hàng thập kỷ  so với phương Tây; thậm chí làm tổn thương đội ngũ khoa học trong đó  không ít nhà khoa học bị đàn áp và bị chết trong nhà tù.         Trong thời kì cuối của nhà nước Xô viết, việc đảm bảo trang thiết bị nghiên cứu mức độ rất thấp. Chẳng hạn, vào cuối những năm tám mươi trung bình một cán bộ nghiên cứu của Liên xô có khả năng tiếp cận phương tiện đo lường thấp hơn 200 lần ở Mĩ. Công trình khoa học của Liên xô thường trích dẫn tài liệu của phương Tây hàng thập kĩ trước đó [9]. Điều đó không chỉ nói lên sự lạc hậu của KHXV mà còn chứng tỏ khoa học đã không được kịp thời cập nhật thông tin mới.  Sự xuống dốc của KHXV ở giai đoạn cuối còn do nhiều yếu tố khác: sự chủ quan và thiếu quan tâm của lãnh đạo Xô viết đối với với các hướng đột phá sau khi đạt được thế cân bằng quân sự với Mĩ, sự cô lập tương đối của KHXV với khoa học phương Tây; thu nhập trong lĩnh vực khoa học giảm mạnh (Nếu như trước năm 1967 thu nhập trung bình trong lĩnh vực khoa học đứng vị trí hàng đầu trong các lĩnh vực công nghiệp thì đến giữa năm tám mươi tụt xuống vị trí thứ tư) và nhiều yếu tố không thuận lợi của thời kì cuối Xô viết đã làm cho khoa học, mặc dù vẫn còn uy tín rất cao, song đã không còn là sự lựa chọn của không ít người tài năng.  Thay lời kết   Vào thời hoàng kim của Liên xô, theo như hồi tưởng của nhiều nhà nghiên cứu, đời sống khoa học đôi khi lãng mạn không khác gì những câu chuyện cổ tích. Lời bài hát “Tháng ba của con người nhiệt huyết” – “ Xin chào đất nước của những người anh hùng, của những con người tràn đầy mơ ước, đất nước của nhà khoa học” được cất lên trong các trường đại học và viện nghiên cứu, và đó không phải là khẩu hiệu hay khát vọng mà là một hiện thực. Và thành tựu to lớn của KHXV được thừa nhận rộng rãi. A Gurshtein, nhà khoa học Mĩ [7] đã viết “Câu chuyện về khoa học và công nghệ Xô viết là chưa từng có. Khởi đầu bởi cách mạng Bolshevik năm 1917, với ý tưởng là khoa học có khả năng khởi đầu cho một xã hội chủ nghĩa bình đẳng và mang lại cơ hội cho tất cả mọi người đã không thành, nhưng lại tạo ra được thành tựu khoa học lớn nhất thế giới”.    Nhưng KHXV không chỉ có những trang sử huy hoàng, có không ít những trang sử buồn, thậm chí bi thương do những sai lầm của chính quyền Xô viết trong tổ chức và quản lí khoa học. Lịch sử KHXV đã để lại những bài học lớn, cả thất bại và thành công không chỉ đối với các nước đã từng đi theo mô hình tương tự mà thậm chí cho cả những nền khọa học như Mĩ và phương Tây. Loren Graham, nhà triết học và lịch sử khoa học Mĩ, đã viết trong cuốn What have We learned About Science and Technology from Experience những dòng sau “chúng ta chỉ có thể hiểu khoa học và văn hóa của chúng ta phụ thuộc như thế nào vào xã hội chúng ta nếu chúng ta có được một xã hội và văn hóa khác để mà so sánh. Liên xô có thể là một trong những lựa chọn phù hợp nhất về phương diện khoa học. Theo nghĩa đó nghiên cứu KHXV đồng thời cũng là nghiên cứu về khoa học của chúng ta” [7].    TÀI LIỆU THAM KHẢO   [1] Ленин и наука   [2].Наука в СССР-Википедия   [3] Караулов С А Государственная власть и научная интеллигенция   [4] Академия наук СССР: Организация науки в первые годы Советской власти (1917-1931)   [5] Борис Сатылков: Реформирование российской науки анализ и перспективы /.  [6] СССР: Научные учреждения   [7] Alexander Gurshtein: Lessons from Russia   [8].Loren Graham: Science in Russia and the S oviet Union (Tham khảo qua bản dịch tiếng Nga)   [9] С.С Миронин: Недостатки Советской науки   [10] С. С Миронин: Сталин и наука   [11] Pham Duy Hiển: Thăng trầm khoa học Nga (Tạp chí Tia sáng 9/2010);   [12] Гоэрло- википедия;   [13] Вспоминания о Советской науке;   [14] Идеологический контрроль в советской науке.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoan dung      Tôi được báo Tia Sáng đề nghị viết bài cho chủ đề “Vốn xã hội ở Việt  Nam”. “Vốn xã hội” tự nó đã là một đề tài mênh mang với bao nhiêu lý  thuyết khác nhau và bao nhiêu định nghĩa càng ngày càng rắc rối.      “Vốn xã hội ở Việt Nam” lại càng khó quan niệm hơn trên thực tế, vì xã  hội chưa thực sự có xã hội dân sự. Thiếu khả năng để đi vào đề tài đề  nghị, tôi có thể đứng bên lề góp một bài ngắn mua vui đầu năm ?   Đây là một bài ngắn, rất ngắn và rất đơn giản, tôi vừa đọc trong tạp chí  Le Monde des Religions vừa xuất bản, tháng 2 và 3-2013, tôi xin dịch  nguyên văn dưới đây. Tác giả của bài viết, Alexandre Jollien, một nhà  triết học Thụy Sĩ, thuật lại chuyến thăm viếng tu viện của nhà sư  Matthieu Ricard ở Kathmandu, Nepal. Matthieu Ricard quá danh tiếng trên  thế giới và quá quen thuộc với độc giả Việt Nam, tôi khỏi phải dài dòng  giới thiệu. Chỉ xin nhắc lại rằng ông là nhà khoa học đã từ bỏ Viện  nghiên cứu Pasteur ở Pháp để khoác áo thầy tu và trở thành trợ tá cho  ngài Đạt Lai Lạt Ma trên thế giới. Dù đứng ở bên lề, tôi cũng sẽ có đôi  câu có liên quan đến chuyện “vốn”; tôi sẽ nói ở cuối bài dịch mà nhan đề  là “Một bài học về đời sống ở Kathmandu”.  Mùa hè vừa qua, tôi được nhà sư Matthieu Ricard tiếp đón tại tu viện  của ông ở Kathmandu. Bước vào tu viện Shechen, tôi thấy chỗ nào cũng là  một lời mời gọi của đời sống tịnh khiết. Hôm tôi đến, một bếp lửa nổ tí  tách gần lối vào và một làn khói trắng bốc lên cao trên không. Hình ảnh  kỳ diệu như muốn mời khách đến thăm hãy xem sự tu hành như nơi chốn rực  lên tình thương và tàn lụi dục vọng điên đảo. Matthieu Ricard hướng dẫn  tôi gặp các nhà sư đang hăng say biện luận triết lý và mời tôi ngồi ăn  cùng bàn với các vị lạt ma. Ở đâu tôi cũng thấy những nụ cười rạng ngời.  Không đâu vướng mắc gì với những chuyện phù phiếm của thế sự. Tôi đã  được sống những ngày tuyệt đẹp. Và vô cùng thư giãn.  Bây giờ, tôi hiểu rằng hai chất liệu làm nên hạnh phúc, hay khiêm tốn  hơn, làm nên niềm vui, đã được tụ họp nơi đây: tu hành với bạn để giải  thoát cho mình và làm việc xã hội để giúp người khác. Bên cạnh Matthieu  Ricard, tôi hiểu rằng, để sống trong an lành, cần phải biết cả hai, quán  tưởng một mình và hành động liên đới. Nơi nhà tu hành văn sĩ này, hai  sự cần thiết đó tập trung với nhau trong một cách sống tuyệt vời, đặc  biệt, không kiểu cách, rất đơn giản.  Chúng tôi đi thăm một trường học dựng toàn bằng tre. Chỉ với một món  tiền chẳng là bao, trẻ em được đi học, được may mắn đổi đời. Chúng tôi  đi thăm một bệnh xá hoạt động nhờ nỗ lực của Matthieu Ricard. Tất cả  những hoạt động đó nằm trong một tu viện thanh bình. Chúng ta thường hay  đối chọi quán tưởng và hành động. Làm như thử hai thái độ ấy đối kháng  với nhau, mâu thuẫn nhau. Nhìn các nhà sư trong tu viện, tôi nhận thấy  ta có thể tích cực buông xả thực sự ở bên trong và rất uyển chuyển, mở  lòng ra ở bên ngoài. Nhưng đâu có cần nhất thiết phải phân biệt bên  ngoài và bên trong nhỉ?  Chủ nhân còn ân cần đưa tôi đến gặp một vị sư thầy thuốc đến từ Tây  Tạng. Với dáng đi rất yên lặng, mỗi ngày ông đến thăm tôi và đặt vào  lưng tôi những ống bầu để xua đuổi những bất quân bình trong cơ thể và  mang lại sinh lực cho cuộc sống. Chưa bao giờ tôi gặp một ông thầy thuốc  dịu dàng, thanh bình, an lành như thế. Chỉ nhìn ông thôi là đủ lành  bệnh rồi. Mỗi lần ông lấy ra một ống bầu đầy hiệu nghiệm ấy, bàn tay ông  ngừng lại như thử mỗi cử chỉ của ông đều là thiêng liêng. Một hôm, ông  thấy dưới đất cây thánh giá nhỏ mà tôi hằng mang theo trong mình. Bằng  một thứ tiếng Anh vừa học, ông nói: “Ông phải kính trọng hơn nữa cái  này”. Rồi rất long trọng, ông lượm thánh giá lên, nâng trên hai bàn tay  để đặt trên bàn cạnh giường tôi nằm. Ông cắt nghĩa cho tôi rằng sức khỏe  của tôi tùy thuộc ít nhất là 50% vào tâm linh của tôi. Và ông khuyến  khích tôi cầu nguyện Thượng Đế của tôi sâu lắng hơn nữa. Tấm lòng rộng  rãi của ông làm tôi xúc động vô tả. Một tín đồ của một tôn giáo thúc đẩy  một tín đồ của một tôn giáo khác cầu nguyện thêm nữa, quả là chứng từ  của một đầu óc rộng và một trái tim lớn. Từ đó cho đến nay, không ngày  nào tôi không đọc một trang của nhà ẩn tu Thiên Chúa giáo Eckhart mà tôi  đã khám phá lại trong chính quê hương của đức Phật. Nhà bí tu ấy mời  gọi tôi đến với sự thanh bình, sự buông xả, đến với tự do mà nụ cười của  các vị sư ở Nepal và hai cánh tay mở rộng đón chào của họ đã đánh thức  dậy trong lòng tôi.  Bên cạnh ông thầy thuốc của tôi, bên cạnh Matthieu Ricard, đời sống vén  ra cho tôi thấy tất cả vẻ đơn sơ và dịu dàng. Tranh chấp đã chấm dứt để  một đầu óc trẻ thơ được hồi xuân – trẻ thơ chứ không phải ấu trĩ một  chút nào.”  Tôi nghĩ đây không phải chỉ là “vốn”. Đây là cả gia tài của một dân tộc.  Đây là cả một nền văn minh. Nền văn minh ấy, cái “vốn” ấy của cả một  dân tộc đang bị một chính sách đồng hóa dần dần hủy diệt. Tổ tiên của  chúng ta đã lâm vào cảnh ấy trong suốt lịch sử. Cho nên, hơn ai hết,  chúng ta đau lòng.  Chúng ta càng đau lòng thêm khi cái “vốn” ấy cũng cùng một thể với cái  “vốn” của chính chúng ta. Có dân tộc nào khoan dung hơn dân tộc chúng  ta? Vậy mà con cháu cứ chiến tranh hoài trong tư tưởng. Có cái “vốn” nào  lớn hơn sự hòa hợp dân tộc? Sao vẫn hoài phân ly? Dù được định nghĩa  dưới dạng văn hóa, kinh tế hay xã hội, không có cái vốn nào vĩ đại hơn  nụ cười, sự thanh thản, và hai cánh tay mở rộng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoảng cách giới toàn cầu: Nhiều vấn đề đã được cải thiện      Những năm qua, nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tìm cách đo đạc mức độ bình đẳng giới ở nhiều cấp độ từ quốc gia cho đến quốc tế, hoặc theo từng ngành/lĩnh vực cụ thể. Trong số đó, nổi bật là báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum – WEF) với tên gọi Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap), được công bố hằng năm.  Bài viết này tóm tắt một số nội dung chính Báo cáo 2015 của tổ chức này, được xuất bản trung tuần tháng hai vừa qua.         Các chỉ số   Để đo lường vấn đề bình đẳng giới, các nhà nghiên cứu từ WEF đưa ra bốn chỉ số chính bao gồm: Sự tham gia và Cơ hội trong lĩnh vực kinh tế (Economic Participation and Opportunity), Thành tựu giáo dục (Educational Attainment), Sức khoẻ và sự sống (Health and Survival) và Phân quyền chính trị (Political Empowerment). Bốn chỉ số này lại được cấu thành từ các chỉ số con nhỏ hơn (tổng cộng có 14 chỉ số con), ví dụ Tỷ lệ sinh nữ trên nam (thuộc chỉ số Sức khoẻ và sự sống) hoặc Tỷ lệ tổng số đại biểu nữ trong Quốc hội trên tổng số đại biểu nam (thuộc chỉ số Phân quyền chính trị). Các chỉ số con này có thể do WEF trực tiếp tiến hành lấy dữ liệu hoặc lấy lại dữ liệu từ báo cáo của các tổ chức nghiên cứu/phi chính phủ uy tín khác như UNESCO, tổ chức lao động quốc tế ILO trong 2015 hoặc ở năm gần nhất mà dữ liệu sẵn có.   Kết quả 2015   Để được đưa vào bảng xếp hạng Khoảng cách giới toàn cầu 2015, một nước phải có dữ liệu ở ít nhất 12/14 chỉ số con. Năm 2015, có tổng cộng 145 nước được xếp hạng, tăng ba nước so với 2014 (ba nước mới đều đến từ châu Phi, bao gồm: Benin, Cameroon và Gambia). Kết quả trung bình Khoảng cách giới toàn cầu 2015 được thể hiện trong Hình 1.          Hình 1: Kết quả Khoảng cách giới toàn cầu 2015 (Nguồn WEF).         Từ Hình 1 có thể thấy, sau hơn 100 năm đấu tranh cho bình đằng giới, toàn thể thế giới đã đạt được thành tựu đáng kể trong hai nội dung: giáo dục và sức khoẻ. Kết quả 2015 cho thấy, hai chỉ số này đều đạt mức gần tối đa: Thành tựu giáo dục đạt 0.95/1.00; Sức khoẻ và sự sống đạt 0.96/1.00. Đối với chỉ số giáo dục, có đến 124/145 nước được xếp hạng có kết quả từ 0.90 trở lên. Kết quả đối với điểm Sức khoẻ còn ấn tượng hơn: 100% các nước tham gia xếp hạng đạt điểm trên 0.90.   Ngược lại, với hai chỉ số thành phần: Kinh tế và Chính trị, bất bình đẳng vẫn là vấn đề đáng kể. Cụ thể, điểm trung bình của Khoảng cách giới đối với chỉ số Cơ hội trong lĩnh vực kinh tế chỉ là 0.59/1.00 và với chỉ số Phân quyền chính trị chỉ là 0.23/1.00.   Tuy vậy, nếu xét cả quá trình 10 năm từ 2006 đến 2015, kết quả hai chỉ số Kinh tế và Chính trị vẫn có những bước tiến rõ rệt (xem Hình 2).             Hình 2. Kết quả Khoảng cách giới toàn cầu giai đoạn 2006 – 2015.          Bắc Âu độc chiếm đầu bảng, Việt Nam đứng thứ 83   Trong 145 nước được xem xét đánh giá mức độ bình đẳng giới, các nước Bắc Âu bao gồm: Iceland, Na Uy, Phần Lan và Thụy Điển lần lượt chiếm bốn vị trí dẫn đầu. Với Iceland, đây là năm thứ bảy liên tiếp họ đứng đầu thế giới về bình đẳng giới. Na Uy và Phần Lan tráo vị trí cho nhau so với kết quả năm 2014 còn với Thuỵ Điển, đây cũng là năm thứ bảy liên tiếp nước này đứng thứ 4 thế giới. Top 10 còn có sự hiện diện của ba nước châu Âu khác là Ireland (thứ 4), Thuỵ Sỹ (thứ 8) và Slovenia (thứ 9). Cũng trong Top 10, châu Phi đóng góp một đại diện (Rwanda, thứ 6), châu Á đóng góp một đại diện (Philippines, thứ 7), còn lại là đại diện châu Úc (New Zealand, thứ 10).   Việt Nam đứng thứ 83 thế giới, thứ 7 châu Á với 0.687 điểm trung bình và các điểm thành phần tương ứng: Kinh tế 0.731 điểm (thứ 41 thế giới), Giáo dục 0.941 điểm (114 thế giới), Sức khoẻ 0.950 (139 thế giới) và Chính trị 0.124 điểm (88 thế giới). So với 2014, Việt Nam tụt bảy bậc. Theo WEF, nguyên nhân của việc tụt hạng này chủ yếu là do điểm Giáo dục của Việt Nam bị giảm so với năm ngoái.   Một vài nhận xét sơ bộ   Như vậy, sau hơn 100 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, vấn đề bình đẳng giới đã được cải thiện rất nhiều trên toàn thế giới. Từ chỗ bị hạn chế về quyền bầu cử, đi học, việc làm và nhiều quyền căn bản khác, phụ nữ ngày nay đã có nhiều cơ hội, và cơ hội bình đẳng để phát triển, để khẳng định giá trị của mình so với nam giới, đặc biệt trong hai nội dung Giáo dục và Y tế. Mặc dầu vậy, ở nội dung Kinh tế và Chính trị, vẫn còn những “bức trần gương” (ceiling glass – khái niệm do Tạp chí Economist giới thiệu ám chỉ những khó khăn ngầm) ngăn cản sự phát triển của phụ nữ. Điều thú vị, kết quả Khoảng cách giới do WEF công bố cho thấy, các nước có thứ hạng cao về Khoảng cách giới chưa chắc đã là nước phát triển và ngược lại mà trường hợp của Philippines (thứ 6) và Nhật Bản (thứ 101) là hai ví dụ minh hoạ rõ nhất.           Hình 3: Kết quả Khoảng cách giới ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015 (Nguồn: WEF).          Việt Nam năm 2015 đứng thứ 83, vị trí ở vào mức độ trung bình trên thế giới. So với năm 2007 là năm đầu tiên tham gia vào xếp hạng Khoảng cách giới của WEF, Việt Nam tụt đến 41 bậc. Việc tụt hạng này, một phần là vì WEF mở rộng số nước đánh giá; nhưng phần khác cũng vì các chỉ số thành phần của Việt Nam gần như không tăng, thậm chí giảm đôi chút trong gần 10 năm qua trong khi cả thế giới đều có tăng trưởng đáng kể. Mặc dù vẫn biết, không có bảng xếp hạng nào là toàn diện, rõ ràng đây vẫn là vấn đề để các nhà chính sách vĩ mô ở nước ta cần đặc biệt quan tâm trong thời gian tới.    ————-  Toàn văn báo cáo đọc tại: http://www3.weforum.org/docs/GGGR2015/cover.pdf.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khơi dậy sức dân      Cùng với việc Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư Việt Nam gia nhập WTO, việc Quốc hội Mỹ vừa thông qua PNTR: “Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn” với Việt Nam, chúng ta đã khép lại giai đoạn đàm phán kéo dài.“Các nhà đàm phán từ nay bàn giao “trận địa” cho doanh nhân. Cơ hội đã mở ra hết cỡ, thắng thua phụ thuộc vào mức độ thiện chiến của doanh nhân”*. Đây là bàn giao trận địa chứ không phải bàn giao bữa tiệc đã dọn sẵn, thực khách chỉ còn có việc nâng cốc!         Trận địa này không có máu đổ, song phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt trong cuộc cạnh tranh để giành giật thị phần, chiếm lĩnh thị trường để đẩy tới tốc độ tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Ở đây là sự thử thách bản lĩnh và trí tuệ để có thể đạt “mức độ thiện chiến” không chỉ của doanh nhân, cho dù họ là lực lượng xung kích. Mà phải là bản lĩnh của cả dân tộc đang nung nấu khát vọng vươn lên rửa cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, lấy lại cái vị thế đã có của một dân tộc đã từng dám chiến đấu và biết giành thắng lợi, không phải dân tộc nào cũng làm được. Không có sự hậu thuẫn và tiếp sức của cả dân tộc, sức lao động của đội ngũ công nhân, nông dân trên mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, đặc biệt là đội ngũ trí thức và sức trẻ của lớp thanh niên thời đại mới, thì người lính xung kích dù thiện chiến đến đâu cũng không thể có đủ sức mạnh để giành thắng lợi cuối cùng trên trận địa kinh tế này.   Chính vì vậy phải có một cuộc thăm dò khảo sát trận địa thật kỹ để biết ta là ai, ta đang ở đâu, điểm mạnh ta có là gì và điểm yếu là gì. Biết mình, biết người một cách chuẩn xác là dữ kiện quan trọng để hoạch định chiến lược, chiến thuật nhằm chắc thắng trên trận địa mới này. Xin gợi lên một vài số liệu dựa theo thống kê của các quốc gia mà UNDP vừa công bố nhằm góp vào cuộc “thăm dò, khảo sát đó”: GDP đầu người của nước ta, tính ngang bằng sức mua (PPP) thì: năm 2003 là 2490 USD, chỉ bằng 1/3 Thái Lan và ¼ Malaysia. Có nghĩa là, nếu hàng năm tăng liên tục 8,5% thì đến năm 2017, GDP đầu người của nước ta có thể ngang bằng GDP của Thái Lan, nhưng là Thái Lan năm 2003! Rồi phải đến năm 2020, sẽ khoảng bằng GDP của Malaysia, nhưng là Malaysia năm 2003. Như thế thật ra vẫn là mức tăng trưởng của sự tiếp tục tụt hậu so với một số nước láng giềng chứ cũng chưa nói so với những nền kinh tế phát triển của khu vực và thế giới: 14 năm so với Thái Lan và 17 năm so với Malaysia.   Vì thế, nếu không có bước đột phá về tư duy, vứt bỏ những lối mòn, tạo ra một chuyển biến mới về chất, làm sao chúng ta “sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là mục tiêu trực tiếp của Đại hội X”, làm sao “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại”.** – theo Nghị quyết thì quãng đường còn lại là 14 năm. Thời gian không còn dài, song khoảng cách từ thực trạng kinh tế xã hội hiện nay so sánh với mục tiêu cần đạt được năm 2020 thì lại rất xa. Đấy là chưa nói, tiêu chí thế nào là về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn là một vấn đề cần được xác định thật rõ ràng, chuẩn xác, cho dù là cơ bản, thì mới vạch ra được lộ trình thực hiện.   Cả dân tộc, đương nhiên trước hết là đội ngũ tiên phong và bộ phận lãnh đạo đang gánh trên vai sứ mệnh lịch sử phải có đầy đủ ý chí và nghị lực đó, để với tầm nhìn cần phải có, đưa ra được những quyết sách đúng đắn, táo bạo và sáng tạo. Khi mà đường lối phản ánh đúng quy luật vận động của cuộc sống, đáp ứng được lòng dân thì sức mạnh của toàn dân tộc vốn tiềm ẩn trong từng con người sẽ được khởi động và bật dậy, lập nên những kỳ tích. Vì rằng, nhân tố quyết định nhất, không thể ở đâu khác là sức sống mãnh liệt của dân tộc như sức cuộn chảy bền bỉ, nhẫn nại song thật quyết liệt từ bên dưới của dòng sông cuộc sống.  Lịch sử dân tộc ta cho thấy lúc nào bộ phận lãnh đạo nắm bắt được sự kỳ diệu của sức cuộn chảy từ bên dưới ấy, tự nâng mình lên để đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống, chủ động khơi thông dòng chảy, lúc ấy sức sống của dân tộc trào dâng như nước vỡ bờ, không sao lường trước được. Chính từ cuộc sống đổ mồ hôi sôi nước mắt đó mà bật ra chủ trương, đường lối của Đảng. Thì chẳng thế sao: những “khoán chui”, những “bung ra”, những “xé rào”, đã “xé” những rào cản hữu hình và vô hình để cứu lấy mình, dẫn đến Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Nghị Quyết 8 của Bộ Chính trị trả lại quyền tự chủ sản xuất về cho hộ kinh tế gia đình xã viên để rồi từng bước hoàn thiện đường lối Đổi mới với Đại hội VI. Đương nhiên, trong dòng sông cuộn chảy đó, cũng không thiếu những váng bẩn trôi dạt, tấp đầy trên mặt nước hai bên bờ. Dòng chảy càng mạnh, nhất là ở những đoạn nước xoáy, càng nhiều váng bẩn nổi lên. Chỉ nhìn thấy váng bẩn mà không hiểu được sức cuộn chảy của dòng sông là do đâu, sẽ không hiểu nổi sự vận động kỳ diệu của cuộc sống. Sức mạnh của “đất nước phi thường” này là sức mạnh của dân tộc Việt Nam, là con người Việt Nam, là những hiền tài – nguyên khí quốc gia, từ bao đời không bao giờ thiếu. Nếu thiếu là thiều tầm nhìn, thiếu cái tâm của người lãnh đạo quyết bằng mọi cách khơi dậy, tạo điều kiện để làm bừng nở tiềm năng bất tận của từng con người, của cả dân tộc, tạo ra những đột biến đưa đất nước bứt lên.      ______________________________________________________  *. “Bàn giao trận địa cho doanh nhân”. Vietnamnet ngày 30.11.2006  ** Văn kiện Đại hội X. NXBCTQG Hà Nội 2006, tr.178 và tr 23      Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khôi phục qui chế độc lập cho báo chí      Trong xã hội hiện đại, định chế báo chí có khả năng tạo ra một không gian công cộng. Theo triết gia Đức Juergen Habermas, không gian này là nơi diễn ra sự thảo luận công khai mang tính chất duy lý và phê phán, và nó đóng vai trò trung gian giữa công dân và nhà nước.         Hiểu theo nghĩa đó, xây dựng một qui chế độc lập cho báo chí nước ta cũng chính là góp phần xây dựng một xã hội dân chủ trên cơ sở của một nhà nước pháp quyền.  Có một thực tế thường được nêu ra tại nhiều cuộc hội thảo lâu nay là hiện tượng doanh nghiệp sợ báo chí: nghe nhà báo đến là sợ, sợ bị xin quảng cáo, không cho thì sợ bị viết bài “đánh”, mà viết bài “ca ngợi” cũng sợ, vì sau đó thế nào cũng bị cơ quan thuế vụ hay quản lý thị trường nhòm ngó… Một cuộc điều tra vào đầu năm 2005 cho biết có đến 75% nhà doanh nghiệp tỏ ra e ngại khi phải tiếp xúc với báo chí và tìm cách tránh “bị lên báo”(1). Một chuyên viên từng nhận định như sau: “Chơi với báo chí như chơi dao hai lưỡi, nên nhiều doanh nghiệp lo ngại, không muốn tiếp xúc với phóng viên”(2). Đến mức mà có lần một doanh nhân phải thốt lên rằng “vốn liếng, tài sản của chúng tôi thuộc về… các nhà báo”(3)!  Đây quả là một điều lạ nếu chúng ta nhìn lại lịch sử báo chí Việt Nam trong thế kỷ XX, dường như ngày xưa không thấy có vấn đề quan hệ căng thẳng giữa báo chí và doanh nghiệp như chúng ta chứng kiến thời gian gần đây. Hình như mối quan hệ này chỉ thực sự bắt đầu trở thành một vấn đề sau ngày giải phóng và kéo dài cho tới nay, mặc dù chúng ta đã giã từ cơ chế quan liêu bao cấp từ 20 năm qua. Tại sao lại như vậy? Nhiều người cho rằng sở dĩ có vấn đề này là do thành kiến của báo giới đối với kinh doanh, do nhiều nhà báo thiếu cái tâm, chưa gần gũi với giới doanh nhân, do báo chí hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp… Nói như thế cũng đúng, nhưng chưa đủ. Nguyên nhân mấu chốt, theo chúng tôi, chính là do báo chí đã bị nhà nước hóa.    Hiện tượng “nhà nước hóa” báo chí            Nghĩ mình là “người của Đảng và Nhà nước”, lại được củng cố bởi khẩu hiệu “đọc và làm theo báo Đảng”, nên điều khó tránh khỏi là không ít nhà báo lầm tưởng rằng cơ quan báo chí là cơ quan quyền lực của Đảng và nhà nước!           Ai cũng thừa nhận là hiện nay báo chí đã đổi mới, diện mạo đã khác xa so với thời quan liêu bao cấp trước đây. Tuy nhiên, do trong một thời gian dài, báo chí đã gắn liền với các cơ quan quyền lực của Đảng và Nhà nước, nên cho đến tận bây giờ, báo chí Việt Nam vẫn còn có những “sức mạnh” hay những “quyền lực” mà báo chí các nước khác không hề có.  Quả vậy, theo Luật báo chí hiện hành, toàn bộ các cơ quan báo chí đều là “của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội”. Qui chế của nhà báo là qui chế công chức nhà nước. Thẻ nhà báo ở Việt Nam hiện nay do Bộ Văn hóa-Thông tin cấp (ở phần lớn các nước khác, không phải do nhà nước mà là do một tổ chức độc lập cấp). Nghĩ mình là “người của Đảng và Nhà nước”, lại được củng cố bởi khẩu hiệu “đọc và làm theo báo Đảng”, nên điều khó tránh khỏi là không ít nhà báo lầm tưởng rằng cơ quan báo chí là cơ quan quyền lực của Đảng và nhà nước! Một doanh nhân từng xuất thân là nhà báo có lần nói: báo chí chúng ta có cùng một lúc hai thứ quyền lực, vừa quyền lực của nhà nước, vừa quyền lực do là diễn đàn của nhân dân.  Đấy chính là căn nguyên sâu xa làm cho mối quan hệ giữa báo chí với doanh nghiệp mang tính chất gần như quan hệ quyền lực, và hệ quả là khiến doanh nghiệp sợ báo chí. Và cũng vì thế mà thường xảy ra hai loại hiện tượng tiêu cực sau: (a) có những nhà báo đi vòi vĩnh các doanh nghiệp hoặc cơ quan, thậm chí hoạnh họe hay tống tiền; và (b) có những người giả danh nhà báo để chạy chọt và lừa đảo. Hiển nhiên là vị trí nhà báo phải có vai vế và uy thế như thế nào đó thì mới có những nhà báo hay những người mạo danh nhà báo đi hoạnh họe và hù dọa người khác! Ngay một cơ quan quản lý nhà nước cũng từng nhận định rằng “báo chí nhiều lúc đã tự biến mình thành một siêu quyền lực bất khả xâm phạm, coi thường lẽ công bằng và những quan hệ bình đẳng trong một xã hội công dân”(4).  Chế độ chủ quản  Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tình trạng nhà nước hóa báo chí là chế độ chủ quản. Bất cứ tờ báo nào hiện nay cũng phải có một cơ quan chủ quản (cũng tương tự như hầu hết các tổ chức kinh tế-xã hội khác trong thời bao cấp). Cơ quan chủ quản báo chí được định nghĩa là “tổ chức đứng tên xin cấp giấy phép hoạt động báo chí và trực tiếp quản lý cơ quan báo chí”(5).      Các nhiệm vụ của cơ quan chủ quản như được qui định chi tiết trong Điều 12 Luật báo chí (sửa đổi năm 1999) vẫn còn mang nặng lối tư duy của phương thức quản lý hành chính quan liêu, và rất khó thực thi trong thực tế. Ai cũng biết báo chí là một tổ chức chuyên nghiệp, và tờ báo nào cũng có một tổng biên tập, vậy mà cơ quan chủ quản vẫn phải “trực tiếp quản lý” thì e là quá bao biện, đã vậy, lại còn phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật” khi tờ báo sai phạm(6), trong khi bản thân tờ báo đã có một tư cách pháp nhân riêng biệt khi được thành lập. Trong thực tế, phần lớn các cơ quan chủ quản đều khó mà đảm đương nổi tất cả mọi nhiệm vụ và quyền hạn đã nêu trong luật, và thường gần như phó thác cho tổ chức báo chí để còn lo công việc chuyên môn của mình. Vả lại, cơ quan chủ quản cũng khó mà can thiệp hoặc đưa ra ý kiến chỉ đạo một khi các tờ báo đều thường xuyên chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các ban tư tưởng-văn hóa. Như vậy chủ quản mà hóa ra hữu danh vô thực!  Còn về phía các tờ báo, chế độ chủ quản làm cho các tờ báo có thêm một tầng quản lý trung gian (ngoài ban tư tưởng-văn hóa và sở văn hóa): họ luôn phải xin phép, thỉnh thị ý kiến… về những việc lẽ ra có thể thuộc thẩm quyền của mình, điều này có thể hạn chế tính chủ động, và nhiều khi còn nuôi dưỡng tính ỷ lại đối với những tờ báo còn được bao cấp. Nhưng đó là mới nói về hạn chế của chế độ chủ quản xét về mặt qui trình quản lý. Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, xét về mặt qui chế của nghề làm báo, chế độ chủ quản làm cho báo chí mất đi tính độc lập mà nó phải có với tư cách là báo chí theo đúng nghĩa của từ này. Trong cơ chế chủ quản như hiện nay, chúng ta khó lòng mà hình dung một tờ báo có thể (hoặc dám) đưa ra những phê phán hay những thông tin tuy khách quan nhưng không có lợi cho cơ quan chủ quản của mình!  Qui chế độc lập của báo chí  Trên nguyên tắc, thông tin trên báo chí phải là những thông tin mang tính khách quan, vô tư (không thiên vị), vì có như vậy mới hy vọng phản ánh trung thực được sự thật. Chính là để đảm bảo cho tính khách quan ấy mà cơ quan báo chí phải mang một qui chế độc lập. Đây là sự độc lập khỏi bất cứ thứ quyền lực nào, nhưng người ta thường nhấn mạnh tới hai thứ quyền lực đáng chú ý nhất, đó là quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Ngòi bút của nhà báo chỉ có thể được tự do và công tâm khi không chịu sức ép của bất cứ cơ quan công quyền nào hay bất cứ áp lực kinh tế nào.  Báo chí không phải là một hình thái thuộc các định chế chính trị; tự nó không phải là một tổ chức nhà nước có một quyền lực chính trị nào đó (như chính phủ, quốc hội, tòa án, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân…). Báo chí là cơ quan ngôn luận, là một định chế văn hóa nằm trong xã hội dân sự. Nếu một tờ báo gắn liền với một cơ quan quyền lực nhà nước hoặc với một doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, thì lúc ấy tiếng nói của tờ báo sẽ có nhiều khả năng chỉ chủ yếu phản ánh một cách thiên vị lập trường, quan điểm và lợi ích của cơ quan nhà nước ấy hay doanh nghiệp ấy mà thôi.   Một vài đề xuất            Ngòi bút của nhà báo chỉ có thể được tự do và công tâm khi không chịu sức ép của bất cứ cơ quan công quyền nào hay bất cứ áp lực kinh tế nào.          Vậy vấn đề là cần làm thế nào để báo chí thoát ra khỏi tình trạng nhà nước hóa hiện nay. Thực ra, gần đây nhà nước cũng đã có một vài biện pháp theo hướng này. Chẳng hạn trước đây mọi nhà báo đều có hộ chiếu công vụ, cách đây vài năm mới bãi bỏ điều này và trở về với hộ chiếu phổ thông (bây giờ chỉ có tổng biên tập và phó tổng biên tập mới có hộ chiếu công vụ). Có một thời, thẻ nhà báo còn được dùng để ưu tiên mua vé xe đò, vé qua phà… sau cũng đã bãi bỏ quy định này. Ngoài ra cũng đã có một số biện pháp xóa bao cấp về tài chánh, phát hành… Tuy nhiên những biện pháp ấy chưa phải là căn bản để thực sự khôi phục qui chế độc lập cho báo chí. Vì thế, chúng tôi cho rằng cần thực hiện một số giải pháp như sau.  a. Cần thay đổi chế độ chủ quản đối với báo chí như hiện nay, để trả lại cho báo chí qui chế độc lập của nó. Những cơ quan vốn là “chủ quản” nay chỉ cần đóng vai trò là người chủ sở hữu là đủ, và cần để cho tờ báo được tự chủ về nội dung, về nhân sự cũng như về tài chính. Mặt khác, cũng cần xem xét lại và cải tổ cách thức chỉ đạo của các ban tư tưởng-văn hóa vốn nhiều khi còn mang tính chất quá ư cầm tay chỉ việc. Có như vậy, mới mong báo chí có thể có tiếng nói chủ động và mạnh dạn hơn, trung thực hơn, và trở thành một kênh phòng ngừa và chống tham nhũng thực sự quan trọng và hữu hiệu.  b. Nên chấm dứt tư duy “qui hoạch báo chí” như đang làm lâu nay một cách máy móc theo kiểu mỗi tỉnh thành phải có (và chỉ được có) một đài phát thanh-truyền hình và một tờ báo Đảng! Theo chúng tôi, cách làm này phản ánh tàn tích của lối tư duy phân phối thời bao cấp. Khó mà tin được rằng Bộ Văn hóa-Thông tin có thể hiểu được và “qui hoạch” được nhu cầu về thông tin cho một đất nước có trên 80 triệu người dân!  c. Xóa bỏ cơ chế bao cấp tràn lan đối với những tờ báo vô bổ bằng tiền đóng thuế của người dân, ngoại trừ một số rất ít tờ báo chính trị hoặc khoa học và văn hóa có giá trị cần được trợ cấp, mặt khác thúc đẩy những tờ báo thực sự có độc giả khuếch trương trên cơ sở hạch toán kinh doanh. Đồng thời cũng cần bãi bỏ những biện pháp như ép buộc mua báo, hoặc dùng ngân sách nhà nước để mua báo cho các cơ quan, đoàn thể, điều mà Trung Quốc đã làm từ mấy năm nay. Hiện nay chỉ có không đầy 1/5 cơ quan báo chí cân đối được thu chi, và khoảng 1/10 thực sự có lãi trong tổng số 553 cơ quan báo chí trên cả nước(7). Ở Trung Quốc, nhằm tăng cường tính độc lập của báo chí, việc xóa bỏ bao cấp đối với báo chí đã được thực hiện từng bước kể từ năm 1998, và việc giảm bớt vai trò của các cơ quan chủ quản cũng đã được bắt đầu kể từ năm 2003(8). Việc xác lập tính độc lập về mặt kinh tế cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu và cần thiết nhằm đảm bảo tính độc lập của ngòi bút nhà báo.  d. Về việc cấp thẻ nhà báo: Nếu quan niệm rằng báo chí là một định chế dân sự, nghề làm báo cũng là một nghề bình thường như bao nghề khác như nghề dạy học, nghề thầy thuốc, nghề kiến trúc… (chứ không phải là nghề chỉ thuộc về nhà nước!), và nhà báo không phải là công chức, thì phải thay đổi hẳn quan niệm về thẻ nhà báo: việc cấp thẻ sẽ không còn là việc của Bộ Văn hóa-Thông tin, mà sẽ thuộc thẩm quyền của một tổ chức độc lập với nhà nước. Ở Pháp chẳng hạn, để đảm bảo tính độc lập của nhà báo, việc cấp thẻ nhà báo được giao cho một ủy ban độc lập, không thuộc nhà nước, mang tên là CCIJP, bao gồm hai thành phần có số lượng ngang nhau: đại diện giới chủ nhiệm, và đại diện giới nhà báo; và thẻ nhà báo chỉ được cấp cho những người làm báo chuyên nghiệp, chứ không cấp cho những người làm kinh doanh (quảng cáo, giao tế…) hay công chức nhà nước(9).  e. Nếu chấp nhận những giải pháp trên đây, thì hiển nhiên là phải sửa đổi nhiều điều khoản trong Luật báo chí hiện hành. Và đồng thời, nên chăng như một số người từng đề nghị, cần thay bằng cái tên là “Luật tự do báo chí”, bởi lẽ ngay cái tên “Luật báo chí” hiện hành đã mặc nhiên thể hiện mục tiêu “quản lý” báo chí hơn là phát huy quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận mà Hiến pháp đã minh định.  Chú thích :  (1) Cuộc điều tra của Hiệp hội Công thương Hà Nội, xem Đầu tư, 23-3-2005.  (2) Ý kiến của ông Nguyễn Đình Cung (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương), Đầu tư, 23-3-2005. (3) Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 5-11-1998, tr. 14. Xem thêm bài “Quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp: Báo chí đang hành xử bất bình đẳng”, Pháp luật TPHCM, 23-12-2005, tr. 11.  (4) Bản báo cáo đầu tháng 3-2005 của Sở Văn hóa-Thông tin TPHCM, Tuổi trẻ, 3-3-2005, tr. 1.  (5) Điều 12, Luật báo chí, 1989.  (6) Xem mục 6, điều 12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí, 1999.  (7) Số liệu trong Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 (9-9-2005).  (8) Xem Tuổi trẻ, 10-7-2003, tr. 15, và tin Tân Hoa Xã ngày 15-2-2004 (www.chinadaily.com.cn/english).  (9) Xem trang web của Ủy ban cấp thẻ nhà báo của Pháp (Commission de la carte d’identité des journalistes professionnels – CCIJP)         Trần Hữu Quang    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không cần trải thảm đỏ      Báo chí nói nhiều về việc Nhà nước, các địa phương có chính sách “trải thảm đỏ” đón các nhà đầu tư, đón “nhân tài”, đón “trí thức Việt kiều”; gần đây lại rộ lên việc bàn luận một số ông quan cấp sở, cấp vụ bỏ nhà nước sang khu vực tư nhân, nói về “chảy máu chất xám”…   Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4      Danh mục: Diễn đàn   
__label__tiasang Không chỉ là “đối phó” với thảm họa: Giảm thiểu và ngăn chặn rủi ro hình thành      Chúng ta vẫn thường chỉ nhìn các thảm họa như những sự kiện cần phải đối phó mà không còn thấy một trong những nguyên nhân sâu xa, đó là sự bất bình đẳng xã hội và kinh tế.      Bản Tủ thuộc xã Sơn Lương, huyện Văn Chấn (Yên Bái) gần như bị “xóa sổ” sau cơn lũ vào tháng 7. Nguồn ảnh news.zing.vn  Tính đến nay, trong năm 2018 đã có hơn 75 người bị thiệt mạng hoặc mất tích ở Việt Nam vì nguyên nhân mà người ta vẫn gọi là “thiên tai”. Tổn thất về con người thực sự đau đớn và những cộng đồng bị ảnh hưởng phải đối mặt với khó khăn và bất lợi chồng chất bởi sự tàn phá nhà cửa, ruộng đồng, cơ sở hạ tầng và dịch vụ gây ra.  Trong những tháng còn lại của năm nay, khả năng cao là Việt Nam sẽ còn bị ảnh hưởng bởi nhiều cơn bão khủng khiếp hơn nữa – và điều này đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là một dấu hiệu cho một hiện tượng thảm khốc sẽ xảy ra định kì.  Bài báo thứ nhất trong loạt bài này đã đề cập và tìm hiểu vì sao thuật ngữ “thiên tai” không chính xác và dễ gây hiểu nhầm; đồng thời đưa ra lập luận rằng luôn luôn tồn tại trách nhiệm của xã hội và chính trị trong “thiên tai”.  Người dân Việt Nam xứng đáng nhận được một lời giải thích từ các cơ quan chức năng về các quyết định kinh tế, chính trị và môi trường đã gây ảnh hưởng tới họ và đẩy họ vào tình trạng như hiện nay. Tuy nhiên những điều này đến nay hầu như vẫn chưa được công bố rộng rãi. Chúng ta vẫn được ấn định nhìn vào các thảm họa như những sự kiện cần phải đối phó thay vì thấy rằng đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng xã hội và kinh tế.  Từ quản lý “thiên tai” đến giảm thiểu rủi ro  Chính phủ Việt Nam thường sử dụng phương pháp tiếp cận theo hướng ra lệnh và kiểm soát khi giải quyết và đối phó với thảm họa. Các quyết định được đưa ra bằng mệnh lệnh và yêu cầu tất cả các cấp phải chấp hành.  Cách tiếp cận này cũng có những điểm mạnh, đặc biệt là trong tính nhất quán và đồng bộ. Nhưng nó cũng đồng nghĩa rằng, nó chỉ tập trung giải quyết vấn đề nhất thời của thảm họa như những sự kiện biệt lập hơn là một quá trình dài hạn. Đây cũng là cách truyền thống của các cơ quan quản lý, đối phó với thảm họa và các tình huống nguy cấp trên khắp thế giới.  Chính phủ thường áp dụng những phương thức đối phó với thảm họa theo hướng tiếp cận “từ trên xuống” hoặc “từ dưới lên” hay thi thoảng phối hợp cả hai cách. Chủ thể “quản lý” các vấn đề liên quan đến thảm họa có thể là Nhà nước hoặc cộng đồng. Phương thức “quản lý” này không phù hợp với tư duy chia sẻ.  Trong khung hành động của phương thức từ trên xuống: thông thường, các “cơ quan phòng chống” sẽ phản ứng đầu tiên với các tình huống nguy cấp và các thảm họa. Tâm điểm hoạt động của họ là bảo vệ con người khỏi nguy hiểm. Còn trong phương thức tiếp cận “từ dưới lên”, người dân tự mình chuẩn bị sẵn sàng ứng phó và đối phó với thảm họa.  Hai cách tiếp cận này vẫn rơi vào vòng luẩn quẩn của việc đổ lỗi cho “thiên tai” là tại “thiên”. Hãy xem những tin tức trên truyền thông đại chúng về những vụ thảm họa đã diễn ra gần đây của Việt Nam thì có thể thấy – sự thảm khốc đều do thiên tai, do bão, mưa lớn, lũ lụt và sạt lở đất. Còn các nguyên nhân sâu xa về xã hội, chính trị, kinh tế và môi trường gây ra thảm họa đều dễ bị bỏ qua.  Có sự chuyển đổi lớn trong những nghiên cứu khoa học và công bố đại chúng trong hai thập kỉ vừa qua. “Đối phó với thảm họa” đã được thay bằng “quản lý rủi ro thiên tai”. Khái niệm mới này đã đưa vấn đề liên quan đến thảm hoạ trở nên phù hợp hơn với mục tiêu hướng tới con người và dần thoát khỏi tư duy ứng phó với thiên tai trong tình huống đơn lẻ sang một cách tư duy với tầm nhìn dài hạn về sự hình thành các rủi ro trong xã hội.  Trong những năm 2000, rất nhiều học giả cấp tiến đã từng chuyển sang sử dụng khái niệm “Giảm thiểu rủi ro thiên tai”. Quan điểm này lập luận rằng việc giảm thiểu mức độ dễ tổn thương của những cộng đồng bị ảnh hưởng lớn nhất từ thảm họa giúp làm giảm những tác động của thảm họa có thể xảy ra với họ.  Cần làm gì để giảm thiểu rủi ro?  Trong bài viết đầu tiên của loạt bài này, chúng ta đã nói về việc người ta thường thất bại trong việc đề cập đến năng lực của cộng đồng bị ảnh hưởng bởi thảm họa. Xã hội Việt Nam vốn mạnh mẽ và bền bỉ. Mối liên kết gia đình và cá nhân luôn được đề cao trong những thời khắc tốt đẹp và cả những thời khắc tồi tệ nhất.  Các cộng đồng thường không nhận thức được đầy đủ tiềm năng của chính mình trong việc thúc đẩy thay đổi, liên kết tổ chức và cùng nhau trở nên mạnh mẽ hơn. Dưới mối đe dọa của thảm họa, con người thường tập trung giải quyết những nguy hiểm và tai hoạ trước mắt hơn là những vấn đề và thách thức mà họ phải đối mặt hằng ngày.  Hoàn cảnh xã hội là yếu tố ảnh hưởng và quyết định xu hướng này – những ngộ nhận về thảm hoạ và việc sử dụng ngôn ngữ sai lệch là công cụ quyền lực làm suy yếu sức mạnh cộng đồng. Cách sử dụng từ “thiên tai” đánh lạc hướng chúng ta khỏi việc đặt câu hỏi chất vấn trách nhiệm của Nhà nước đối với những vấn đề đã tồn tại lâu nay, và không còn thể hiện được vai trò chính trị của công dân.  Để giảm thiểu rủi ro của thiên tai, chúng ta cần một cộng đồng biết làm chủ vận mệnh của mình. Nhà nước có thể can thiệp với vai trò thông qua các quỹ tài trợ, đưa ra các giải pháp mang tính chiến lược dài hạn hoặc ngắn hạn. Sự thay đổi chính sách dĩ nhiên là đem lại những tác động lớn.Tuy nhiên, những thay đổi cấp tiến về mặt chính sách thường tuân theo những thay đổi trong sự kỳ vọng từ xã hội. Và những kỳ vọng này được định hình dựa trên trải nghiệm và kinh nghiệm sống hằng ngày.  Tin tưởng vào một thế giới tốt đẹp hơn là cơ sở để tạo ra thế giới tốt đẹp đó. Chúng ta cần phải phân tích và học hỏi những kinh nghiệm trong quá khứ là nền tảng nhận biết những cơ hội của hiện tai và sẵn sàng nắm bắt chúng.  Mặc dù có nhiều nỗ lực của chính phủ, rất nhiều người Việt Nam vẫn phải sống chung với những rủi ro hằng ngày. Khi các cá nhân và cộng đồng càng bị cô lập và bị lề hóa thì họ càng phải đối diện với nhiều rủi ro hơn. Đó là bởi vì, họ càng khó tiếp cận với những tài nguyên và các mối quan hệ xã hội giúp họ giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương của mình. Một sự thật đáng báo động đó là những người chịu ảnh hưởng từ các thảm họa tin rằng số mệnh của họ là phải làm nạn nhân.  Dĩ nhiên đó không phải tại số phận. Nếu họ là nạn nhân, thì họ là nạn nhân của sự tham lam, của sự khai thác, tham nhũng và lạm dụng quyền lực.  Vì thế hệ tương lai, chúng ta cần phải ngăn chặn việc “hình thành rủi ro”  Hầu hết các cư dân sống trên hành tinh này giờ đây đều nhận thức được rằng sự tồn tại của chúng ta ngày càng trở nên mong manh và yếu ớt. Chúng ta nhìn các tít chạy trên các tờ báo lớn hằng ngày đều báo hiệu cho ngày tận thế và sự hủy diệt của Trái đất. Hành tinh này đang nóng lên với một tốc độ khó đoán trước. Rất nhiều sự đa dạng sinh học đang trên bờ vực tuyệt chủng hoặc bị đe dọa. Đại dương đang chết dần. Bắc bán cầu thực sự đang ở tình trạng nguy cấp.  Tất cả những ảnh hưởng này cần phải được nhận thức dựa trên việc đánh giá mối quan hệ giữa con người và hành tinh Trái đất phức tạp và tươi đẹp này. Kể từ cách mạng công nghiệp, loài người đã khuất phục và tận dụng thiên nhiên. Chúng ta đã biến những gì tuyệt vời và bền vững thành một tập hợp các nguồn tài nguyên để khai thác.  Sự thật thảm khốc là – hành tinh mà chúng ta gọi là nhà không còn có khả năng sinh sôi và đuổi kịp sự tiêu thụ khủng khiếp của chúng ta. Chúng ta đã vượt qua vô vàn ranh giới về sinh thái học và không thể chắc chắn rằng hệ quả của nó là gì.  Và sự phát triển chóng mặt này không đem lại sự công bằng, sự tự do và hạnh phúc. Ngược lại, sự bất bình đẳng giàu nghèo tiếp tục trở nên sâu sắc hơn và chúng ta chứng kiến những dòng người di cư ồ ạt và khó đoán qua biên giới của các quốc gia. Và điều này đã diễn ra trước khi vấn đề biến đổi khí hậu thực sự có tác động.  Trong bối cảnh này, điều quan trọng là chúng ta phải phản đối mạnh mẽ sự tiếp diễn của hệ thống khai thác vô độ và lạm dụng này. Chính điều này đã đẩy chúng ta vào đống hỗn loạn cả về mặt tự nhiên và con người.  Nhìn lại thảm hoạ vỡ đập thủy điện ở Lào xảy ra gần đây. Cũng giống như những đập thủy điện khác được xây dựng ở khu vực Đông Nam Á, người dân địa phương không thực sự được hưởng lợi nhiều từ những dự án này – người được lợi nhiều nhất từ đây phải kể đến khối tư nhân và các cơ quan quản lý – người dân địa phương là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề.  Chấm dứt việc tạo thêm nguy cơ rủi ro thảm họa nghĩa là phải suy nghĩ một cách sâu sắc về sự tiêu thụ quá mức của con người và sự suy giảm của môi trường sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta – và giáo dục điều này cho người khác. Cuối cùng, nó có nghĩa là đánh thức vai trò chính trị của người dân và cùng hành động vì một thế giới tốt đẹp hơn.     Hảo Linh dịch,  Thái Minh Hằng hiệu đính    Author                Jason von Meding        
__label__tiasang Không gây hại !      Đối với nghề giáo, tôi là một người vừa trong cuộc vừa ngoài cuộc. Ngoài cuộc vì tôi không thuộc biên chế của trường công chính quy nào. Trong cuộc vì lâu nay tôi vẫn đứng trên bục giảng, và trong thâm tâm tôi vẫn tự coi mình là một nhà giáo trước khi là bất cứ một người nào khác. Giáo dục, rộng hơn là mở mang tri thức và phát triển con người, vẫn là công việc mà tôi đang theo đuổi hằng ngày.      Chân thành quan sát và đón nhận những diễn biến vi tế trong đôi mắt trẻ.  Vậy nên, mỗi khi có dịp thảnh thơi thì tôi đều dành một khoảng thời gian tĩnh lặng để suy ngẫm về công việc mà mình đang theo đuổi, về những quy tắc mà nó chịu ràng buộc, và những giới hạn mà người làm nghề dạy học không được phép vượt qua.  Đã từ lâu tôi luôn nhắc các học viên của mình, trong đó có nhiều người đang làm nghề dạy học và đào tạo, rằng: Làm giáo dục, làm đào tạo, tiêu chí đầu tiên của đạo đức nghề nghiệp là KHÔNG GÂY HẠI!  Không gây hại ư!? Tại sao lại là không gây hại?  Người làm nghề dạy học chỉ nói lời hay lẽ phải. Ngoài dạy kiến thức, các thầy cô còn dạy làm người. Toàn những thứ thiện lành như thế, sao lại có thể gây hại cho học trò, những người mình hết mực thương yêu được cơ chứ? Việc nhắc nhở này phải chăng là chuyện lẩm cẩm, hay là quá khắt khe với các thầy cô?  Câu trả lời là không lẩm cẩm, cũng không khắt khe. Theo quan sát của cá nhân tôi, trong nền giáo dục còn nhiều bất cập này, thì để không gây hại với học trò của mình, nhà giáo cần một sự thức tỉnh và một lòng quả cảm dài hơi. Nếu không, rất có thể nhà giáo sẽ gây hại cho chính học trò của mình mà không biết, hoặc nếu có biết thì cũng “nhắm mắt đưa chân” cho xong việc, cho dễ dàng và bớt phiền toái.  Còn nhớ, khi tôi học cấp ba, lần đầu tiên được nghe cô giáo của tôi nói “nhà giáo là kỹ sư tâm hồn”. Mắt cô sáng long lanh. Giọng cô đầy tự hào. Tôi cũng tự hào theo cô. Mắt tôi cũng sáng long lanh như mắt cô vậy.  Bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” đã trở thành một sự thật hiển nhiên về nghề giáo. Tôi mặc nhiên chấp nhận và không mảy may chất vấn tính chính đáng và sự phức tạp ẩn chứa phía sau bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” này. Tôi thậm chí cũng không hề tự hỏi “kỹ sư” là gì, “tâm hồn” là gì, và “kỹ sư tâm hồn” có nghĩa là gì?  Rộng hơn, tôi hiểu rằng nghề giáo là nghề dạy làm người, và các thầy cô của tôi cũng hiểu như vậy. Tuy nhiên, tôi tự hỏi trong số tất cả các thầy cô, thực sự có bao nhiêu người từng nghiêm túc suy nghiệm về “Người là gì?” và “Dạy làm người là dạy cái gì?”. Nếu không trả lời thấu đáo những câu hỏi căn cốt này thì chúng ta, bao gồm thầy, trò, và cả những người thiết kế chương trình, sẽ chỉ đi qua phần việc của mình trong sự hiển-nhiên-đờ-đẫn.  Nhìn lại từ chính cuộc đời đi dạy của mình, chỉ đến khi ra trường, 22 tuổi – ở lại trường làm giảng viên – trẻ măng – ngơ ngác trước cuộc đời, tôi mới giật mình thảng thốt: Ngoài mớ kiến thức từ trong sách vở, ngoài cuốn giáo trình và những bài tập tôi gần như đã thuộc nằm lòng, tôi lấy tư cách gì để dẫn dắt cuộc đời của những bạn trẻ dưới kia, khi trải nghiệm của tôi còn ít ỏi, nhận thức của tôi còn non nớt, bản thân tôi còn hoang mang về con đường phía trước?  Tôi hiểu gì về đời và người để dẫn dắt con người đi trong cuộc đời? Tôi lấy tư cách gì để đào luyện tâm hồn của người khác, khi tôi chưa thấu hiểu bản thân, và chưa đào luyện được tâm hồn của chính mình?  Mà nếu như tôi đã không thấu hiểu việc tôi làm như thế, tôi cũng đang mò mẫm trên đường đời như thế, thì sự dẫn dắt của tôi có gây hại cho các học trò của tôi không?  Lúc đó, bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” lại vang lên như một bám víu. Tôi hoàn toàn có thể bình thản làm công việc của mình như bao người khác, tự đánh bóng nghề nghiệp của mình lên thành nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, và thầm gọi tên công việc của mình là “kỹ sư tâm hồn” trong sự kiêu hãnh ngầm và tinh tế ngôn từ.  Nhưng sự mù mờ một khi đã nhận ra sẽ trở thành một nỗi ám ảnh, không thể thoát ra nếu chưa làm sáng tỏ nó. Càng ngẫm, càng nghĩ, càng quan sát, càng trải nghiệm, tôi càng hoang mang và thấy công việc của mình quá sức. Đó là lý do tôi tạm dừng việc giảng dạy để đi du học. Trước hết, để hiểu mình, sau đó để hiểu đời, hiểu cuộc sống ngoài kia.  Hành trình học hỏi và tra vấn cùng với những trải nghiệm trong cuộc sống trong suốt 13 năm giúp tôi hiểu ra một điều giản dị rằng, nếu đã làm nghề giáo thì phải rất cẩn trọng khi thiết kế và xây dựng tâm hồn cho người khác, tức đừng vội vàng nhận mình là “kỹ sư tâm hồn” kẻo gây hại cho lớp trẻ mà không hay biết.  Kỹ sư tâm hồn… Đó là công việc quá ư khó khăn, quá ư tinh tế, và quá sức của một người. Trong khi không ít những người làm giáo dục vẫn còn là những người chưa trả lời thấu đáo được những câu hỏi cơ bản: “Tôi là ai?”, “Cuộc sống này có ý nghĩa gì?”… Chính vì thế, việc các kỹ sư tâm hồn sẽ làm là bám thật chặt sách giáo khoa được biên soạn bởi ai đó ở cao cao, theo chỉ đạo của ai đó ở cao cao hơn nữa, những người cũng y chang như họ, tức cũng chưa chắc thấu hiểu được tâm hồn mình, mà nếu thấu hiểu ra thì chưa chắc đã có một tâm hồn trong sáng, để thực thi chức trách của mình.  Sách giáo khoa, chiếc gậy chỉ đường, thay vì chỉ là công cụ, nay trở thành chủ nhân uy quyền tuyệt đối. Nhưng khi người ta còn ở trong bóng tối, nắm thật chặt cây gậy không đảm bảo rằng ta sẽ đi ra ánh sáng. Nắm chặt quá, lại tự tin vung vít, có thể gây sát thương với chính mình và những người mình dẫn dắt.  Bám chặt cây gậy và những chỉ đạo rập khuôn từ trên xuống, khi đó cũng chỉ để cho mình đỡ sợ như người hát thật to khi đi qua bãi tha ma, hoặc để né tránh trách nhiệm lẽ ra ta phải gánh vác, chứ không đảm bảo sẽ giúp ta trở thành “kỹ sư tâm hồn”. Thay vì bồi đắp những tâm hồn cao thượng, những con người tự do, nhà giáo lại chung tay tạo ra những tâm hồn méo mó, những con robot được lập trình sẵn. Vì biết đâu, chính nhà giáo cũng đang là một người như thế.  Vì thế, trước mỗi thành tích của nhà giáo, chúng ta phải giật mình cẩn trọng. Trước khi tự hào là một giáo viên dạy giỏi, chúng ta phải giật mình nhìn xem trong một nền giáo dục còn nhiều bất cập như thế, “dạy giỏi” có nghĩa là gì? Dạy giỏi liệu có phải là dạy đúng theo sách, ép cho học sinh của mình thuộc lòng nội dung giáo trình và nhớ được vô vàn mẹo mực để giải những bài tập đánh đố? Nếu quan niệm dạy giỏi theo cách như thế, thì rất có thể dạy càng giỏi lại gây hại càng nhiều mà ta không hay biết? Hiểu ra như vậy, chúng ta sẽ thận trọng hơn trong việc cổ vũ những cuộc thi giáo viên dạy giỏi.  Nhìn vào bức tranh thực trạng giáo dục màu xám mà lâu nay chúng ta vẫn chứng kiến, người làm nghề giáo càng cần phải giật mình để tỉnh thức và kiên trì một nguyên tắc dẫn đường: Không gây hại!  Bất cứ khi nào có cảm giác rằng lời nói của mình, hành vi của mình, quan điểm của mình có thể gây hại cho lớp trẻ, thì phải giật mình dừng lại để suy xét và kiểm chứng. Muốn vậy, nhà giáo phải chân thật lắng nghe lương tâm mình, lắng nghe sự mách bảo từ trong sâu thẳm của tâm hồn mình, chân thành quan sát và đón nhận những diễn biến vi tế trong đôi mắt trẻ, thì mới có thể nhận ra và không lạc lối.    Author                Giáp Văn Dương        
__label__tiasang Không gian xã hội dân sự ở Việt Nam đang mở rộng?      “Khoa học”, như Plato nói, “chẳng qua chỉ là ý niệm”. Điều mà chúng ta nghĩ là đúng có thể không phải lúc nào cũng đúng, song trong chính trị, kinh tế học…, ý niệm có vai trò rất lớn. Trong bốn tháng qua, tôi đã gặp gỡ và trao đổi với rất nhiều chuyên gia và nhà hoạt động với nhiều quan điểm khác nhau về ý nghĩa và đường hướng phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam.&#160; Không gian xã hội dân sự ở Việt Nam1 đang mở rộng ra, thu hẹp lại, hay vẫn dậm chân tại chỗ? Làm sao để biết được điều đó?  Bài viết này là một cố gắng ban đầu trong việc đánh giá xã hội dân sự ở Việt Nam.       Một quan điểm đồng nhất?     Hầu hết các nhà quan sát đều nhất trí rằng không gian xã hội dân sự (XHDS) ở Việt Nam đang mở rộng, ít ra là ở một vài khía cạnh. Dưới đây là một số minh chứng cho nhận định đó:     1. Số lượng các tổ chức xã hội có đăng ký hoạt động đang gia tăng. Theo một khảo sát thực hiện năm 2000, có 322 tổ chức có trụ sở chính ở Hà Nội và TP HCM; năm 2005, có 800 tổ chức khoa học và công nghệ đăng ký thành lập. Năm 2010, ước tính Việt Nam có khoảng 1.700 tổ chức phi chính phủ (NGO), trong đó 600 tổ chức đăng ký dưới sự bảo trợ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (VUSTA)2.  Các tổ chức NGO khác thì đăng ký dưới sự bảo trợ của các tổ chức khác như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, các trường đại học và các viện nghiên cứu… Bên cạnh đó, số lượng các hiệp hội chính trị-xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp – còn được gọi là các “tổ chức phi chính phủ nhà nước” – cũng đang gia tăng nhanh chóng. Đáng chú ý là, sự phát triển này đã và đang diễn ra trong khi Luật về Hội mới chưa ban hành, và cũng không có sự thay đổi đáng kể nào về khung pháp lý.     2. Việc đo lường chất lượng hoạt động của các tổ chức xã hội khó thực hiện hơn. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng cả chất lượng và kết quả hoạt động của các tổ chức này đều đang phát triển, nếu nhìn vào những con số ngày càng lớn về số lượng các tổ chức, số lượng thành viên, người tham gia, người thụ hưởng, và sự phong phú đa dạng của các lĩnh vực mà các tổ chức này hoạt động. Bên cạnh những lĩnh vực truyền thống như xóa đói giảm nghèo, y tế, và giáo dục, các tổ chức xã hội bây giờ cũng ngày một chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, kiểm soát tham nhũng, và vận động chính sách; trong các hội nhóm dành cho người khuyết tật, người đang sống chung với HIV, các nhóm đồng tính/chuyển đổi giới tính, có nhiều nhóm còn có thâm niên hoạt động tới 5 – 10 năm. Tuy vậy, vẫn còn cần thêm nhiều bằng chứng nữa để chứng minh cho chất lượng hoạt động của các tổ chức xã hội.     3. Song song với đó là sự phát triển mạnh mẽ của các nhà hoạt động xã hội và  các hoạt động xã hội phi chính thức, bao gồm các nhóm sinh viên tình nguyện, các hội và các quán cà phê dành cho nghệ sĩ, doanh nhân trẻ, và các nhóm học tập khác, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Theo nhận xét của một người tham gia/nhà quan sát, các nhóm phi chính thức này “có thể thậm chí còn linh động, dễ thay đổi, và thú vị hơn cả các tổ chức NGO truyền thống”, bởi đa số đều hoạt động trên cơ sở tình nguyện, không có nhân viên, văn phòng thường trực, hay được tài trợ. Hoạt động của họ hướng tới các mục tiêu từ thiện, văn hóa, và môi trường, trong đó giới trẻ tham gia rất đông, tuy rằng nhóm người trung tuổi và cao niên cũng tham gia cùng. Hiện vẫn chưa có con số ước tính nào về số lượng của các hoạt động phi chính thức như vậy.      4. Việc sử dụng Internet và các kênh truyền thông xã hội cũng đã và đang làm thay đổi bối cảnh giao tiếp xã hội. Ngày càng có nhiều người tương tác trực tuyến hơn: tỉ lệ sử dụng Internet ở Việt Nam là 43%, cao nhất Đông Nam Á 3.  Một số người sử dụng web cũng tích cực tìm kiếm các kênh thông tin trước đây chưa phổ biến; một số khác lấy công nghệ làm phương tiện phát tán các suy nghĩ/ trải nghiệm của mình lên blog và các bài viết trên mạng xã hội; theo các nguồn tin của chính phủ, Việt Nam hiện có ba triệu blogger4.  Kết quả là, những thảo luận về chính sách từng chỉ được lưu hành trong môi trường khép kín thì nay đã được đưa ra bàn luận công khai.      5. Sự tham gia và mối quan tâm của công dân đối với các sự kiện chính trị đang ở mức cao và đang trên đà phát triển – một minh chứng rõ nét là những tranh cãi gần đây và mật độ đưa tin của giới truyền thông về những diễn biến trên Biển Đông. Việc sửa đổi Luật Đất đai và Hiến pháp trong năm 2013 đã đem đến một cơ hội hiếm có để người dân được công khai thảo luận về quá trình soạn thảo. Trong các “không gian được chào mời” này, Chính phủ đã cải thiện đáng kể quá trình tư vấn, cung cấp thêm nhiều thông tin và kéo dài thời gian tham gia đóng góp ý kiến của người dân hơn so với trước đây. Hoạt động tham gia đóng góp ý kiến cũng đang diễn ra đối với một số luật và chính sách khác đang trong quá trình sửa đổi. Rõ ràng, sau đợt cải cách Hiến pháp, rất nhiều đạo luật liên quan đến quyền tự do công dân, trong đó có Luật về Hội, Luật Tiếp cận thông tin, và Luật Biểu tình, đã chính thức có tên trong chương trình nghị sự của Quốc hội trong giai đoạn 2014 – 2015 sau nhiều năm trì hoãn.      …Hay một trường hợp còn chưa chắc chắn?     Trong khi các nhà quan sát nhận thấy những dấu hiệu thay đổi tích cực ở nhiều khía cạnh của không gian XHDS, thì một số khía cạnh lại tỏ ra ít, thậm chí không hề thay đổi. Chẳng hạn:     6. Quan điểm của người dân về các tổ chức xã hội đang ở mức trung lập hoặc tiêu cực. Một nghiên cứu do Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, một NGO trong nước, thực hiện năm 2014 cho thấy 75% số người tham gia phỏng vấn nói họ chưa từng nghe nói đến NGO, và cũng có tới 75% số người cho rằng các hoạt động từ thiện chủ yếu là do các cơ quan chính phủ thực hiện. Một nghiên cứu khác tìm hiểu về đánh giá của các doanh nghiệp đối với các tổ chức NGO kết luận, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều cho rằng các tổ chức xã hội là các tình nguyện viên không chuyên nghiệp, và họ không đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước.5       7. Các quan điểm chính thức về XHDS hiện vẫn chưa rõ ràng. Thuật ngữ “XHDS” chỉ xuất hiện nhỏ giọt trên truyền thông và các tạp chí học thuật, trong khi đó các văn kiện của Đảng và Chính phủ chỉ đề cập tới “các tổ chức xã hội” và “nhân dân”. Đây đó trong các ấn phẩm, chúng ta vẫn có thể bắt gặp những quan điểm rằng XHDS là một phần âm mưu của nước ngoài nhằm làm bất ổn tình hình tại Việt Nam, dù giới học thuật nhấn mạnh sự chính đáng của việc sử dụng thuật ngữ này ở Việt Nam và tính liên kết mật thiết của nó với Chủ nghĩa Mác.6  Ngay cả khi các lãnh đạo đề cập thuật ngữ “XHDS” thì nó cũng có nhiều lớp nghĩa, phù hợp với định nghĩa của Antonio Gramsci [chính trị gia và nhà lý thuyết chính trị người Ý, một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Ý] về “khu vực gây tranh cãi”.       Các chỉ số quốc tế về không gian XHDS     Nhiều phương pháp đã được đưa ra để xác định và đo lường không gian XHDS ở các quốc gia (Hình 1), trong đó có những phương pháp chỉ thiên về cách đo định lượng, tức là tập trung vào số lượng và loại hình của các tổ chức hiện hành tại một quốc gia, hoặc đưa ra chỉ số của nhiều thuộc tính khác nhau được xếp theo thứ tự. Việc tính toán số lượng các tổ chức có thể là một chỉ số hữu ích giúp đo lường sự thay đổi theo thời gian, song lại không thể hiện được nhiều về chất lượng hay kết quả hoạt động của các tổ chức này, và bỏ qua hầu hết những hình thức và không gian khác nhau mà XHDS hoạt động. Phương pháp đo đa chiều hiện đang được ưu ái hơn, song giá trị của nó phụ thuộc vào thiết kế đo lường và sự khách quan tương đối của những người thực hiện. Thông thường, các cuộc đánh giá sẽ do các hội đồng chuyên gia thực hiện (chẳng hạn như Chỉ số Xã hội dân sự của Liên minh thế giới vì sự Tham gia của công dân CIVICUS) hoặc thông qua các cuộc điều tra về một phần hay toàn bộ dân số (chẳng hạn như Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh PAPI ở Việt Nam, hai chỉ số đo lường các khía cạnh quản lý có mối quan hệ gián tiếp tới các vấn đề của XHDS).                  Hình 1. Các phương pháp đánh giá về không gian XHDS trên thế giới           Cũng có những phương pháp miêu tả một cách định tính về không gian XHDS. Một số chính phủ, viện nghiên cứu, và các tổ chức NGO quốc tế công bố các báo cáo thường niên hoặc không thường xuyên về những vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển con người, và nhân quyền với nội dung miêu tả, thiên về phân tích. Các học giả xuất bản các công trình khảo cứu chuyên sâu nhằm so sánh giữa các quốc gia với nhau hoặc miêu tả sự thay đổi theo thời gian ở một quốc gia cụ thể. Các nghiên cứu định tính như các phân tích về kinh tế-chính trị thường cụ thể và chi tiết chứ không đưa ra các chỉ số hay các bảng xếp hạng số học. Phạm vi của các nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các trường hợp hoặc các quốc gia được điều tra, nên khó mà đưa ra những so sánh mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, bản thân nhiều chỉ số định lượng toàn cầu lại quá rộng lớn, nên khó nắm bắt được những chi tiết và những thay đổi theo tình hình ở mỗi quốc gia.7       Nỗ lực quốc tế nổi tiếng nhất là  Chỉ số Xã hội dân sự (CSI) do CIVICUS ở Việt Nam và 52 quốc gia khác thực hiện trong giai đoạn 2001-2011.8  Chỉ số này được xây dựng dựa trên bốn khía cạnh lớn của XHDS: cấu trúc, môi trường bên ngoài, các giá trị, và ảnh hưởng – các khía cạnh này được minh họa theo hình kim cương (Hình 2). Trong số đó, khía cạnh môi trường bên ngoài có mối liên hệ trực tiếp nhất đến không gian XHDS, tương tự như một số yếu tố của khía cạnh cấu trúc.      Chỉ số CSI Việt Nam do một nhóm các chuyên gia trong nước và quốc tế thực hiện với sự hỗ trợ của Trung tâm nghiên cứu Phát triển hỗ trợ cộng đồng (CECODES) hiện vẫn là nghiên cứu hoàn bị nhất về XHDS tại Việt Nam tính cho tới giờ. Theo đó, nghiên cứu này kết luận rằng Việt Nam có điểm số trung bình về mặt cấu trúc và các giá trị, điểm số về môi trường hoạt động kém hơn, còn điểm số tác động thì thấp. Nhóm nghiên cứu chỉ số CSI cũng đưa rất nhiều các tổ chức quần chúng vào phạm vi XHDS – và họ thừa nhận rằng nếu không tính đến những tổ chức này thì điểm số sẽ còn thấp hơn nữa.9 Sau nghiên cứu đó, hiện vẫn chưa có nghiên cứu lặp lại tiếp theo vì những hạn chế về nguồn lực, và bản thân CIVICUS cũng chuyển sang sử dụng các phương pháp đánh giá năng lực XHDS toàn cầu khác. Xuất phát từ những phân tích về sự mở rộng của (một số) không gian XHDS, có thể đi đến giả thiết rằng, năm 2014, Việt Nam có điểm số cao hơn ở một số khía cạnh, đặc biệt là Các giá trị và Tác động.                  Hình 2. Kết quả nghiên cứu Chỉ số XHDS ở Việt Nam (2006)           Sau năm 2011, CIVICUS thay chỉ số CSI bằng “Chỉ số môi trường thuận lợi” tập trung trực tiếp hơn vào các khía cạnh liên quan đến không gian XHDS. Theo định nghĩa của họ, “môi trường XHDS là các điều kiện mà trong đó XHDS hoạt động… được hình thành từ các lực lượng định hình và ảnh hưởng tới quy mô, phạm vi, và việc vận hành của XHDS”10.  Các điều kiện này bao gồm tình trạng quản lý nội bộ và tính minh bạch của các tổ chức XHDS, mối quan hệ và các mạng lưới giữa các nhóm XHDS và các cá nhân, khung pháp lý do nhà nước ban hành, bối cảnh chính trị, thái độ công chúng, và các nguồn lực. Sau đó, các khía cạnh này được đưa vào các nhóm kinh tế – xã hội, văn hóa – xã hội, và quản trị nhà nước, trong đó quản trị nhà nước đóng vai trò quan trọng nhất.11  Chỉ số môi trường thuận lợi cũng sử dụng nhiều dữ liệu thứ cấp, chẳng hạn như các chỉ số quản trị nhà nước của Ngân hàng Thế giới, Khảo sát ý kiến công luận về các giá trị thế giới, và các báo cáo của các viện nghiên cứu chính trị như Freedom House, một think tank có trụ sở ở Mỹ. Năm 2013, Việt Nam được điểm số cao ở mục “kinh tế – xã hội”, trong khi điểm “văn hóa – xã hội” dưới trung bình, vànằm trong top 5 quốc gia cuối bảng về “quản trị nhà nước”.      Nếu như cả hai chỉ số CSI năm 2006 và Chỉ số Môi trường thuận lợi năm 2013 – kết quả đánh giá độc lập do cùng một tổ chức thực hiện – được chấp nhận như các giá trị sơ bộ, thì môi trường hoạt động cho XHDS ở Việt Nam rõ ràng đang xấu đi trong khoảng thời gian bảy năm xen giữa hai cuộc nghiên cứu trên. Đây chính xác là điểm đối lập với quan điểm chung của nhiều nhà hoạt động Việt Nam như đã đề cập trong bài viết này ở trên. Một cách lý giải là nhóm nghiên cứu CSI năm 2006 đã đánh giá quá cao sức mạnh của XHDS ở Việt Nam tại thời điểm đó: giả thiết này có thể xảy ra ở góc độ nào đó, song việc tính điểm đã được các chuyên gia quốc tế giám sát và tuân theo các chuẩn toàn cầu. Kết quả trên thực tế, các chỉ số này chỉ ở mức từ thấp tới trung bình, và không được tán thành rộng rãi. Ngược lại, chỉ số năm 2013 lại được thực hiện hoàn toàn bởi người nước ngoài và dựa trên các dữ liệu thứ cấp, một số trong đó có thể bị coi là thiên kiến đối với các cơ chế chính trị độc đảng.12  Các tiêu chí do CIVICUS và các chỉ số quốc tế khác sử dụng thường bao hàm quá nhiều chủ đề thuộc phạm vi bối cảnh xã hội và chính trị chung, không hướng cụ thể đến XHDS, và có sự lẫn lộn giữa không gian XHDS với không gian chính trị nói chung.       Hướng tới một khung thay thế cho Việt Nam     Dựa vào những phân tích trên về các xu hướng trong nước và quốc tế, chúng ta có thể xây dựng một khung nghiên cứu linh động hơn về không gian XHDS ở Việt Nam, vẫn tận dụng được thế mạnh của các chỉ số quốc tế trong khi tránh được xu hướng đơn giản hóa quá mức và thiên kiến. Các thành tố cơ bản trong khung đó sẽ bao gồm những thay đổi về quy mô, thành phần, và tầm ảnh hưởng.      Một khung đo lường như vậy cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:     • Phải được bạch hóa và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp để cải thiện.     • Phải tham chiếu tới một số yếu tố tiêu chí quốc tế phù hợp cho mọi bối cảnh, và bổ sung những tiêu chí mới phù hợp với bối cảnh Việt Nam.     • Kết hợp cả các phân tích định tính và định lượng, vì việc sử dụng cả hai phương pháp này sẽ mang lại nhiều cách đánh giá hơn đối với không gian XHDS. Thay vì chỉ dùng một chỉ số, việc kết hợp nhiều chỉ số có thể đưa ra bằng chứng, xu hướng, và phạm vi thay đổi trong một giai đoạn cụ thể.     • Cần phải coi ý kiến của các nhà hoạt động trong nước, bao gồm cả các chuyên gia và công chúng nói chung (càng đa dạng về khu vực, dân tộc, và giới tính càng tốt) là một nguồn thông tin quan trọng, vì các nhà hoạt động trong nước hiểu rõ hơn ai hết về bản chất và các giới hạn của không gian mà họ hoạt động trong đó.      • Bên cạnh các luật và thiết chế chính thống, khung đo lường này cũng phải cân nhắc vai trò của các định chế và hệ thống phi chính thức, vốn nằm ngoài mọi chỉ số quốc tế hiện hành.     • Trọng tâm của khung này phải là đánh giá những thay đổi tại Việt Nam theo thời gian, chứ không sa đà vào so sánh Việt Nam với các quốc gia khác.     Công cụ đánh giá không gian XHDS tại Việt Nam phải được cô đọng để tránh gây phức tạp và khó khăn khi sử dụng. Sau khi thiết kế xong, một nhóm chuyên gia đại diện có thể thực hiện đánh giá hằng năm dựa trên các chỉ số định tính và định lượng cho từng thành tố như đã nói đến ở trên.      Mặc dù định nghĩa và các phương pháp tìm hiểu về XHDS rất đa dạng, và có thể còn tiếp tục có thêm nhiều định nghĩa và phương pháp mới ra đời trong các năm tới, song kinh nghiệm tại Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh rằng các khái niệm về XHDS và không gian XHDS đều phù hợp với Việt Nam, và có thể đánh giá sự thay đổi của không gian này theo thời gian. Những thay đổi đó, tương tự như các thay đổi xã hội khác, không nhất thiết phải nhất quán với nhau, có thể đảo ngược hoặc tăng tốc bởi các thay đổi đột biến hay các xu hướng bên ngoài ở cả cấp độ trong nước và quốc tế. Chẳng hạn, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, thiên tai (và nhân tai) có thể tác động tới XHDS và chính quyền – điều này đã được chứng minh qua hệ quả của đợt sóng thần tại Ấn Độ năm 2004 và trận động đất tại tỉnh Tứ Xuyên năm 2008. Khủng hoảng kinh tế cũng có thể mang lại những tác động không nhìn thấy trước. Dù không thể lường được những biến cố đó, song có thể đưa khả năng chúng xảy ra vào một bộ khung đánh giá thay đổi. Một cách để thực hiện điều này là hình thành một series các kịch bản, trong đó miêu tả những hệ quả có thể xảy ra, từ “kịch bản tốt nhất” cho tới “kịch bản xấu nhất”, dưới ảnh hưởng của các yếu tố khả biến như kinh tế, chính trị, và môi trường.   ***  Các học giả và nhà hoạt động XHDS Việt Nam cùng có chung nhiều quan điểm về sự mở rộng của không gian XHDS trong những năm gần đây. Tuy vậy, các minh chứng bằng dữ liệu định tính và định lượng vẫn còn lẫn lộn và chưa chắc chắn. Các chỉ số so sánh quốc tế chỉ là một nguồn bên ngoài nhằm đánh giá những thay đổi trong bối cảnh Việt Nam, song tiêu chí của chúng lại chỉ có giá trị hạn chế trong việc tìm hiểu những khác biệt vi tế và dần dần trong một quốc gia theo thời gian. Thay vì một chỉ số số học, bài viết này đề xuất xây dựng một Công cụ Đánh giá Không gian XHDS mà nếu được thực hiện hằng năm bởi một nhóm các chuyên gia đại diện có thể cung cấp một cơ sở vừa định tính vừa định lượng để đánh giá xu hướng và mức độ biến đổi trong xã hội Việt Nam.       Bùi Thu Trang dịch    Đây là bài cuối cùng trong series năm bài viết về XHDS ở Việt Nam của TS Andrew Wells-Dang trên Tia Sáng.    Đọc thêm:  * Xã hội dân sự Trung Quốc: Một tham khảo  www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7724  * Nhỏ mà đẹp  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7680  * Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7654  * Những người mở đường hợp tác  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7659  ———–   1Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia và các nhà hoạt động XHDS mà tác giả phỏng vấn từ tháng 4 đến tháng 7/2014 đã đóng góp ý kiến cho bài viết này. Một số buổi làm việc cũng được thực hiện dưới sự bảo trợ của Chương trình hỗ trợ liên minh DFID-Oxfam.     2CIVICUS (2006) Sự trỗi dậy của xã hội dân sự: Đánh giá đầu tiên về xã hội dân sự ở Việt Nam, ed. I. Nørlund, p. 34; Hiệp hội liên minh các tổ chức khoa học và công nghệ (2010) Bản tin phát triển #1, tháng 10, tr. 7.     3Xem http://www.internetlivestats.com/internet-users-by-country/.     4Điều trần của Thứ trưởng bộ ngoại giao Hà Kim Ngọc trước Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc tại Geneva, tháng 2/ 2014.      5CECODES, Asia Foundation, và VCCI (2013) Doanh nghiệp làm từ thiện và quan điểm của doanh nghiệp về các tổ chức NGO trong nước tại Việt Nam.     6Chẳng hạn, xem Vũ Duy Phú, ed. (2007) Xã hội dân sự: Một số Vấn đề Chọn lọc, NXB Tri Trức.     7Hyden, Goran and John Samuel (2011) Tăng cường khả năng phản hồi của nhà nước: kinh nghiệp với các bản đánh giá dân chủ về nhà nước. UNDP, tr. 17-21.     8CIVICUS (2008) Nghiên cứu toàn cầu về tình trạng xã hội dân sự, vol. 2: Các quan điểm so sánh, Kumarian Press, tr. 3-54.     9CIVICUS 2006, tr. 36-7.      10CIVICUS, Tình trạng xã hội dân sự 2013: Tạo ra và hỗ trợ môi trường hoạt động – báo cáo tổng hợp, tr. 10.     11CIVICUS, 2013 Chỉ số môi trường khả thi, tr. 19.     12Steiner N (2012) ‘Đánh giá mức độ thiên kiến về chính trị trong các điểm số dân chủ của Freedom House: Liệu các nhà nước thân Mỹ có được đánh giá là dân chủ hơn không?’, Tạp chí phân tích chính sách so sánh.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không hiểu, khó hiểu hơn      Ông Đô, Viện trưởng Viện trừu tượng học, mời Anh La đến phỏng vấn.  – Thế này Anh La à.  Ông Tình, trưởng phòng “Những vấn đề nữ quyền” mới về hưu.  Tôi đang tính, không biết Anh La có đảm đương được cái chức vị này không…  – Thế thì bác Đô cứ tính tiếp thôi ạ.      – Suốt từng đấy năm trời, ông Tình làm cái gì, quả thật không ai hiểu.  – Thế bác Đô chắc hiểu Anh La?  – Cũng không ai hiểu Anh La cả!  Cho nên tôi mới nghĩ là có khi Anh La thay ông Tình là phải.  – Thế bác định tính tiếp cái gì?  – À, tôi đã tham khảo ý kiến anh chị em ở đây.  Người ta bảo không ai hiểu ông Tình.  Nhưng Anh La xem ra còn khó hiểu hơn cả ông Tình!  Nên tôi hóa đắn đo.  – Thế giữa không hiểu với khó hiểu hơn, đâu là ranh giới?  – À, cái anh vừa nói, lại còn khó hiểu nữa!  Thôi có gì ta gặp lại nhau sau vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không làm thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A nếu ảnh hưởng môi trường      Trước ý kiến một số đại biểu Quốc hội kiến  nghị loại khỏi sơ đồ Quy hoạch điện VII hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và  6A, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết, nếu hai dự án này ảnh  hưởng tới môi trường thì sẽ không triển khai.    Các đại biểu Trương Văn Vở (đoàn Đồng Nai), Huỳnh Ngọc Đáng (đoàn Bình Dương) trong phiên thảo luận về kinh tế-xã hội sáng 30/5, đã cùng đề nghị Chính phủ loại bỏ hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi Tổng sơ đồ điện VII do lo ngại ảnh hưởng môi trường.  Đại biểu Trương Văn Vở cho rằng, để xây dựng hai dự án thuỷ điện này thì diện tích phải chuyển mục đích sử dụng Vườn Quốc gia Cát Tiên quá lớn, trên 379 ha, trong đó có gần 140 ha vùng lõi. Trong khi đó Vườn Quốc gia Cát Tiên là khu dự trữ sinh quyển đã được UNESCO công nhận, đồng thời đang xem xét trở thành Di sản thiên nhiên thế giới.  Giải trình thêm về nội dung này theo đề nghị của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết Bộ Công Thương đã báo cáo với Quốc hội, cử tri các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương tại các kỳ họp trước về hai dự án thủy điện này.  “Hai dự án này nằm trong Tổng sơ đồ điện VII và hiện nay chưa được Chính phủ phê duyệt. Do chưa được phê duyệt nên Chính phủ chưa trình Quốc hội xem xét theo Nghị quyết số 49. Báo cáo đánh giá tác động môi trường của hai dự án đã được chủ đầu tư gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Khi có ý kiến thẩm định thì chủ đầu tư mới tiến hành các bước tiếp theo. Tinh thần của chúng tôi là nếu qua xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường mà thấy rằng tác động lớn đến môi trường thì sẽ không triển khai hai dự án này”, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng trình bày.  Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng cho biết trong hai ngày 22 và 23/4, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã làm việc với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai về tác động của hai dự án thuỷ điện đến môi trường và trực tiếp kiểm tra tại hiện trường hai dự án thuỷ điện, sau đó báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để có văn bản trả lời UBND tỉnh Đồng Nai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không “mặn mà” với các tính điểm cho công trình khoa học      Thật ra, việc cho điểm một công trình khoa học là rấ khó, vì sự đa dạng và tiềm năng của các lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y học có thể có nhiều bài báo được công bố trên các “tập san quốc tế” (tôi sẽ quay lại cụm từ này sau), và không phải tập san nào cũng có giá trị như nhau, do đó nếu cứ có một thang điểm cho các bài như thế, tôi e rằng sẽ không công bằng. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng xuất phát từ tình hình ở bên nhà, nên cũng cần có một thang điểm để đánh giá. Ở các nước, họ không có “nghiệm thu” công trình khoa học, bởi vì theo họ dù có nghiệm thu hay đánh giá gì đi nữa thì chuyện cũng đã xảy ra rồi. Công trình tốt hay xấu thì sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp và khả năng xin tài trợ của nhà nghiên cứu về lâu về dài. Do đó, họ có cách kiểm tra “đầu vào” rất kĩ, và do đó tránh được tình trạng “chuyện đã rồi”.  Bây giờ tôi sẽ góp ý từng phần trong bản dự thảo qui định nghiệm thu các công trình nghiên cứu cơ bản.    1. Mục tiêu. Tôi thấy bản dự thảo không có phần mục tiêu! Theo tôi, cần phải nói rõ tại sao có chính sách đánh giá công trình khoa học. Nói gì thì nói, cũng phải có ít nhất là nữa trang nói về triết lí và lí do đằng sau việc đánh giá một công trình khoa học. Theo tôi mục tiêu là để phân biệt trắng với đen, để sàng lọc cái tốt và cái không tốt, để nâng cao chất lượng khoa học, để nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Tất nhiên, cách viết trong văn bản thì phải “lịch sự” hơn cách nói của tôi.  2. Thế nào là “nghiên cứu cơ bản”? Theo tôi, cụm từ này cần phải được định nghĩa cho rõ ràng, chứ không thể chung chung được, và cũng không thể giả định rằng người đọc sẽ hiểu nó có nghĩa gì. Trong nghiên cứu y sinh học, người ta thường xếp những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm như sinh học phân tử, như phân tích gien, hay nghiên cứu trên tế bào là “khoa học cơ bản” (basic science), nhưng đó là quan niệm xưa rồi, bởi vì đối với y học nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân cũng là nghiên cứu cơ bản! Tôi muốn nói rằng rất khó mà nói thế nào là một công trình nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Chẳng hạn như nghiên cứu về việc sử dụng gien cho việc tiên lượng và chẩn đoán bệnh, hay nghiên cứu phát triển mô hình toán để tiên đoán nguy cơ ung thư, chúng ta xem đó là khoa học cơ bản hay không? Thật ra, cái lằn ranh giữa cơ bản và lâm sàng ở đây không có ý nghĩa gì nữa, bởi vì đây là những công trình nghiên cứu mang tính interdiscipline – liên ngành. Do đó, tôi đề nghị bỏ đi cụm từ “khoa học cơ bản”. Không phân biệt cơ bản và ứng dụng gì cả. Anh / chị đã nhận tiền chính phủ, tiền của dân để nghiên cứu, thì anh / chị có trách nhiệm, có nghĩa vụ phải báo cáo những gì anh / chị đã làm, đã phát hiện, đã đem lại lợi ích gì. Đơn giản thế thôi.  3. Nguyên tắc đánh giá. Trong “Điều 2. Nguyên tắc đánh giá” tôi thấy chẳng có gì là nguyên tắc cả, mà có vẻ loên quan đến tổ chức thì đúng hơn. Tôi hiểu chữ “nguyên tắc” theo nghĩa tiếng Anh principle. Nếu là nguyên tắc, thì tôi đề nghị đưa ra cụ thể những nguyên tắc chung để người đọc hiểu rõ thêm về ý nghĩa của bản dự thảo.  4. Điều 3. Hồ sơ đánh giá. Theo tôi một báo cáo tổng hợp và bản thuyết minh (là gì ?) vẫn chưa đủ. Cần phải nói rõ trong báo cáo tổng hợp phải có nội dung như thế nào. Tôi thấy có nhiều báo cáo mà tác giả còn chụp hình những buổi nói chuyện nữa, nó chẳng khoa học tính chút nào cả! Thế còn số liệu thì sao? Một số nơi như Mĩ cơ quan FDA đòi hỏi các công trình nghiên cứu lâm sàng phải công bố tất cả các số liệu, dữ liệu trong một CD, để khi cần họ có thể phân tích và kiểm tra lại xem có gian lận hay lừa đảo hay không.  Cần phải có qui định rằng Bộ hay Hội đồng Khoa học có quyền đến kiểm tra số liệu bất cứ lúc nào, nếu cần thiết. Ngoài ra, còn phải nộp tất cả những bài báo đã công bố, tất cả những abstracts đã gửi đi dự hội nghị, những conference papers đã đăng, v.v…  5. Điều 4. Tiêu chí đánh giá. Đây là chỗ cần bàn nhiều nhất. Tôi chỉ có mấy ý kiến ngắn như sau:  (a) Cần phải định nghĩa rõ ràng thế nào là một bài báo khoa học. Theo tôi nên phân loại rạch ròi những bài báo như sau: original paper, review paper, technical commentary, editorial, book chapter, và letter. Tất nhiên, cũng cần xem xét đến abstract, conference paper (ở các nước đã phát triển không ai tính điểm cho mấy loại này, nhưng ở các nước đang phát triển thì họ tính).  (c) Tôi thấy không nên phân loại đề tài “đạt” hay “không đạt”, bởi vì trong thực tế cách phân biệt này có vẻ máy móc quá. Ví dụ (chỉ ví dụ thôi), một công trình có 6 điểm là đạt, nhưng 5.9 điểm thì không đạt! Nó chẳng những thiếu tính thực tế mà còn có khi phản tác dụng. Cách dán nhãn hiệu như thế gây ra một tâm lí tiêu cực (nếu công trình không đạt) và không tốt chút nào cả. Nhà khoa học đều là người lớn cả, không nên xem họ như học trò! Đạt hay không đạt thì đã có điểm rồi; dân trong nghề nhìn vào là biết ngay, đâu cần dán thêm một nhãn hiệu nữa.  (d) Không phải tạp chí trong ISI hay SCI nào cũng có giá trị và uy tín như nhau. Nên nhớ rằng các nước như Singapore, Trung Quốc, thậm chí Thái Lan cũng có một vài tạp chí nằm trong danh sách của ISI và SCI (bởi vì họ có tổ chức hẳn hoi và có hệ thống peer review nghiêm chỉnh), nhưng uy tín của các tạp chí này — như có thể đoán được — cực kì thấp. Nếu theo tiêu chí trong bản dự thảo thì một bài báo trên tờ tạp chí y học Thái Lan (có trong ISI) tương đương với một bài báo trong tạp chí New England Journal of Medicine hay JAMA! Tôi nghĩ không có tác giả nào đồng ý với cách cho điểm này.  Vậy thì phải làm sao cho chính xác hơn? Cách thứ nhất là dựa vào impact factor của tạp chí. Cái impact factor này không phải là hoàn chỉnh, nhưng nó cũng phản ảnh chất lượng và uy tín của tạp chí, và bài báo trên một tạp chí có impact factor cao cũng có xác suất có chất lượng cao.  Nhưng vấn đề ở đây là các tạp chí trong các ngành như toán, vật lí, hóa học … thường có impact factor thấp hơn các ngành “thời thượng” như sinh học phân tử, miễn nhiễm học, di truyền học, v.v… Do đó, nếu chỉ đơn thuần dựa vào impact factor thì sẽ không công bằng.  Để làm cho công bằng hơn là dựa vào vị trí của tạp chí trong chuyên ngành. Chẳng hạn như trong ngành nội tiết học có khoảng 5 tạp chí hàng đầu (trong số 20 tạp chí trong ISI và SCI), và tạp chí số 1 của ngành có impact factor chỉ 6.5 (trong y khoa tạp chí có impact factor cao nhất có thể lên đến 50 – tùy theo năm và thời thế!)  Do đó, tôi nghĩ cách đánh giá khách quan nhất và công bằng nhất là tìm một công thức quân bình giữa impact factor và vị trí của tạp san trong chuyên ngành. Dựa vào impact factor là nhằm khuyến khích nhà khoa học làm nghiên cứu tốt để công bố trên các tập san lớn (như Science, Nature, Cell, PNAS Proceeding of the National Academy of Sciences, v.v…) Dựa vào vị trí của chuyên ngành là nhằm “cứu” (hay nói chính xác hơn là nâng đỡ) những nhà khoa học trong các chuyên ngành hẹp.  Tôi có hỏi một người bạn Mĩ, hiện là giáo sư y khoa tại một trường đại học lớn ở Trung Đông, và được cho biết nhiều đại học ở Trung Đông áp dụng các thang điểm sau đây để đánh giá công trình khoa học. (Tôi chỉ viết lại để tham khảo chứ không mặn mà mấy với kiểu này !)                    (*) Nếu bài báo có 2 tác giả, số điểm sẽ được tính bằng 0,8*điểm; nếu có hơn 2 tác giả, số điểm là: 1,8×điểm/n (trong đó, n là số tác giả).  (**) Nếu tác giả đóng góp hơn 1 chương sách trong sách, tổng số điểm là (1+k/c)×điểm (trong đó, k là số chương sách, c là tổng số chương trong sách).    6. Điều 9. Qui trình làm việc. Ở đây tôi thấy có 3 vấn đề: thời gian, appeal, và consistency.  Vấn đề thứ nhất là thời gian “phản biện” không được ghi rõ. Theo tôi hiểu thì Hội đồng chỉ họp một lần và chỉ vài giờ đồng hồ (hay cho luôn 8 tiếng cũng được!) Với một thời gian ngắn như thế thì làm sao đánh giá nghiêm túc công trình khoa học của người ta? Một luận án tiến sĩ trung bình đòi hỏi phải thẩm định trong vòng 3 – 6 tháng. Không thể đánh giá một công trình nghiên cứu tốn hàng mấy năm trời của người ta trong vòng vài giờ đồng hồ, nhất là công trình có liên quan đến sự nghiệp và uy tín của nhà khoa học.  Vấn đề thứ hai là tôi thấy không có cơ chế để cho nhà khoa học “kháng án” (appeal). Nếu nhà khoa học cảm thấy Hội đồng đánh giá không công bằng thì anh ta (hay chị ta) khiếu nại với ai ? Như thế là không công bằng. Mình phán xét người ta, thì cũng để người ta có cơ hội đánh giá lại chứ!  Vấn đề thứ ba là không thấy có cơ chế gì để đảm bảo nhất quán trong khi cho điểm. Giả dụ như Hội đồng có 10 người, và mỗi người đều cho điểm. Nếu cả 10 người đều cho điểm giống nhau hay gần giống nhau thì không có chuyện gì. Nhưng chúng ta biết rằng 9 người 10 ý, cho nên nếu có người cho điểm quá khác nhau thì phải làm sao? Trung bình hóa hay tổng số điểm sẽ không công bằng. Ở đây, không thể đem trò thống kê đơn giản được, mà phải có cách nào đó để tạo công bằng cho công trình và cách cho điểm.  Nói tóm lại, tôi thấy có nhiều vấn đề trong bản dự thảo cần phải xem xét lại, làm cho sáng tỏ hơn, và nhất là công bằng cho cả đôi bên.  Nhưng như đã nói ngay từ đầu tôi không mặn mà với kiểu cho điểm. Theo tôi, tốt hơn hết là tham khảo cách làm việc của các nước trong vùng hay Âu Mĩ để xây dựng một mô hình mới để đánh giá công trình nghiên cứu.  ——————-  * Viện nghiên cứu y khoa Garvan  Sydney, Australia  GS. Nguyễn Văn Tuấn*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nên chạy theo GDP bằng mọi giá      Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn là một chỉ số quan trọng, cần thiết để đánh giá mức độ tăng trưởng hiện nay. Tuy nhiên, không nên “chạy theo” GDP bằng mọi giá mà quên đi các chỉ số đánh giá sự phát triển bền vững. Đó là ý kiến của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trong cuộc trao đổi với Tia Sáng.      Tăng trưởng dựa vào xuất khẩu tài nguyên không còn thuận lợi do nguồn lực ngày càng cạn kiệt. Ví dụ sản lượng khai thác dầu thô đang giảm, giá dầu thô cũng thấp. Ảnh: http://nangluongvietnam.vn  Một số nhà kinh tế học lâu nay cho rằng GDP là một phương thức đo lường không đầy đủ cho sự phát triển kinh tế và thịnh vượng xã hội, và do đó không nên là mối quan tâm duy nhất của các nhà làm chính sách. Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?  Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Chuyện tăng trưởng hay là sử dụng thước đo GDP thì đến bây giờ các nước vẫn phải thừa nhận. Đúng là GDP không phải thước đo duy nhất, nhưng vẫn là thước đo chính khi người ta tính đến tăng trưởng của toàn cầu cũng như của từng quốc gia, từng khu vực, và để so sánh giữa các nước với nhau. Đấy vẫn là công cụ cần thiết, nước nào cũng tính chứ chưa có nước nào bỏ GDP, không có nước nào là không công bố mức tăng trưởng của mình bao nhiêu phần trăm GDP hằng năm. Kể cả những nước công nghiệp hóa cao, với nền tảng GDP của họ quá lớn rồi, tăng 1% hoặc thấp hơn nữa thì cũng rất nhọc nhằn, nhưng họ vẫn phải đặt ra mục tiêu đó, vẫn công bố hằng năm là đạt hay không đạt, hoặc âm bao nhiêu. Như vậy, thước đo GDP vẫn không bỏ được. Với Việt Nam, muốn đuổi kịp các nước thì vẫn phải tăng cường chất lượng, nhưng đồng thời phải có tăng trưởng. Mình đang thấp, bé quá so với các nước. Mỗi một bước của mình đi tuy tiếng là tăng trưởng 6 – 7% nhưng so với các nước khác còn kém xa. Ví dụ như ngay với Thái Lan, tăng 1% của Thái Lan bằng hơn 2% của mình, nghĩa là một bước đi của người Thái bằng hai bước của mình. Muốn đuổi kịp người Thái, nhiều khi mình phải tăng hơn gấp đôi họ về chỉ số GDP. Mỗi 1% của họ hàm lượng lại lớn hơn mình rất nhiều, cho nên đuổi kịp theo họ là cực kỳ vất vả, cho nên nếu mà không tăng GDP thì cũng không có cách nào đuổi được. Nhưng tôi nhấn mạnh là tăng GDP phải đi cùng với chất lượng, với hiệu quả tăng trưởng chứ không phải bằng mọi giá, và không biến nó thành một thứ thành tích, để đạt được trong nhiệm kỳ của mình, cho cá nhân người lãnh đạo này, lãnh đạo khác hoặc dàn lãnh đạo này, dàn lãnh đạo khác. Đó là cái cần phải chống.  Ở Việt Nam, phải chăng ta vẫn đang cố gắng chạy theo tăng trưởng và thành tích dựa trên chỉ số GDP chứ không phải là cải thiện chất lượng tăng trưởng?  Việc đặt ra mục tiêu (tăng trưởng GDP) để cố gắng mỗi năm một tốt hơn thì cũng là việc cần thiết. Bởi vì thực ra, nếu mà không có tăng trưởng thì không có cách gì đuổi kịp được các nước khác. Vấn đề là đặt như thế nào cho đúng mức, bởi vì cái chính không phải là tăng trưởng mà cùng phải đi với nó là cải thiện chất lượng tăng trưởng. Nhưng lâu nay, các chuyên gia trong nước hay phê phán về cách đặt mục tiêu GDP theo kiểu đạt được bằng mọi giá, vì đã có những năm, từ thời Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chẳng hạn, cuối năm thấy không đạt được mục tiêu thì bơm thêm một triệu tấn dầu để bán trong lúc giá dầu đang xuống rất mạnh. Bán dầu lúc đó là lỗ, nhưng có thêm một triệu tấn dầu đó thì sẽ đẩy tăng GDP lên. Rồi bắt ngành than khai thác thêm trong khi đang thừa ế tới 9 triệu tấn than. Đó là kiểu tăng trưởng bằng mọi giá. Chưa kể là xào nấu số liệu để làm đẹp1. Đó mới là điều đáng phê phán.      Tăng GDP phải đi cùng với chất lượng, với hiệu quả tăng trưởng chứ không phải bằng mọi giá, và không biến nó thành một thứ thành tích, để đạt được trong nhiệm kỳ của mình, cho cá nhân người lãnh đạo này, lãnh đạo khác hoặc dàn lãnh đạo này, dàn lãnh đạo khác.        Trước những khiếm khuyết trên, chúng ta đã có cố gắng cải thiện như thế nào, thưa bà?  Về mặt chỉ số đánh giá, sau này Quốc hội có đưa thêm những chỉ số khác về xã hội để bổ trợ, ví dụ như chỉ số về việc làm, chỉ số về xóa đói giảm nghèo, chỉ số về môi trường… chứ không phải chỉ có GDP. Tuy nhiên thông thường đến lúc cuối năm họp thường kỳ thì … GDP lại vẫn trở thành vấn đề được tranh cãi nhiều nhất, chất vấn nhiều nhất của Quốc hội đối với Chính phủ mà nhiều khi bỏ qua các chỉ số khác đạt rất thấp hoặc không đạt. Lúc nào cũng xoáy vào chỉ số GDP, tại sao nó là ngần này, không phải ngần kia. Đó cũng là một vấn đề từ phía Quốc hội, là người đặt ra chỉ tiêu. Đáng lẽ đưa ra hệ chỉ tiêu là việc đúng, thì Quốc hội cũng phải giám sát toàn bộ hệ chỉ tiêu và phải rành mạch, vạch ra các chỉ tiêu về chất lượng, hiệu quả không tốt chứ không phải bằng lòng với một chỉ tiêu GDP cao mà lại bỏ qua tất cả các chỉ tiêu khác. Đánh giá theo kiểu thế thì vô hình trung lại vẫn đánh giá về tốc độ chứ không coi trọng chất lượng, không coi trọng hiệu quả.    Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.   Khía cạnh thứ hai, về đánh giá mức độ tăng trưởng. Quốc hội thường đưa ra mục tiêu tăng trưởng trên cơ sở Chính phủ trình, cũng có năm Chính phủ muốn trình một mức tăng trưởng GDP của năm tới vừa phải hơn để tập trung vào chất lượng hơn, thì Quốc hội bảo không, năm nay đã tăng được ngần này thì sang năm phải hơn, tại sao năm sau lại thấp hơn năm trước? Nếu chúng ta muốn điều chỉnh để tập trung cao hơn và hiệu quả vào chất lượng, vào cải cách thể chế thì phải chấp nhận tăng trưởng chậm lại, có cải cách rồi mới có tăng trưởng cao và bền vững trong tương lai. Nhưng [chúng ta] lại không chấp nhận lui lại một bước trong một năm hoặc vài năm nào đó để mà vượt lên. Và điều đó tạo ra sức ép bất hợp lý. Mà ở đây toàn bộ hệ thống, bao gồm Quốc hội và Chính phủ đều nhận thức không thật đồng nhất, đặt vấn đề không thống nhất. Nên nếu tất cả đều xuyên suốt, thấy rằng tăng trưởng là cần thiết, muốn tăng trưởng bền vững, thì phải cải thiện chất lượng tăng trưởng, mà cải cách thì có bao giờ làm được trong một năm đâu? Phải dăm bảy năm liên tục. Sau một thời gian cải cách hẵng nghĩ tới mức độ tăng trưởng cao hơn. Nếu cả hai bên đồng lòng như vậy thì mới thực hiện được cải cách. Bây giờ cuộc cải cách ở Việt Nam cứ vất vả, vì nhiệm kỳ nào cũng vậy, cả nhiệm kỳ Quốc hội lẫn Chính phủ vẫn cứ phải lao vào lo tốc độ. Vẫn muốn đạt được tốc độ. Ai cũng phải chứng minh trong thời kỳ của mình là tốc độ. Chưa kể là ngay trong chính phủ cũng có người nghĩ thế này nghĩ thế khác, không phải lúc nào cũng nhất quán.  Bà vừa nói tới việc đặt ra các mục tiêu tăng trưởng, phát triển cho mỗi giai đoạn sắp tới, vậy thì công tác dự báo để đặt ra các mục tiêu kinh tế của chúng ta hiện nay có đảm bảo cho việc đưa ra các mục tiêu như vậy?  Dự báo nhiều khi không dự báo được hết các tình huống, bởi vì nói thực là dự báo cực kỳ khó chứ không dễ.  Thứ nhất, để dự báo về thị trường bên ngoài, mình phải dự báo được về những đối tác có quan hệ lớn nhất, có ảnh hưởng chi phối đến thị trường Việt Nam, ví dụ như Trung Quốc, Mỹ hoặc EU, Nhật Bản. Nhưng mình không có khả năng đó. Nên thông thường chỉ dựa vào dự báo của các tổ chức có uy tín như ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế, OECD, ADB. Thế giới cũng thường căn cứ vào dự báo của các tổ chức đó. Ít nhiều tương đối xác đáng, nhưng phải nhớ là hằng quý họ có điều chỉnh, mỗi quý lại công bố và điều chỉnh. Mặt khác, cần chú ý, thực ra đối với mình thì họ vô cùng quan trọng, nhưng đối với họ thì mình không có vai trò gì, không phải là đối tác quan trọng, nhiều khi những điều chỉnh của họ không phải là nhằm vào phía mình nhưng cuối cùng sẽ lại có tác động lớn tới mình. Ví dụ như hiện nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đánh thuế thép lên Trung Quốc nhưng nó cũng sẽ dội vào Việt Nam, vì Trung Quốc sẽ tuồn thép qua Việt Nam để tránh bị đánh thuế. Như vậy, trong dự báo của mình thì nhiều khi phải phân tích không chỉ ở quan hệ Mỹ với Việt Nam ra sao, mà là chuyện Mỹ – Trung như thế nào, cũng như khả năng tác động tới Việt Nam ra sao.  Mặt khác, các điều chỉnh chính sách của họ cũng sẽ không ngay lập tức tác động lên mình mà có tính lâu dài. Nhìn vào chính sách thương mại của Mỹ hiện nay, thấy rằng mặc dù Mỹ kêu gọi khuyến khích các công ty quay trở về Mỹ, và mới chủ yếu tác động tới ngành ô tô, các nhà sản xuất không ở Mexico nữa mà tập trung đầu tư vào Mỹ hoặc Nhật. Đúng là ngành may mặc của Việt Nam chưa bị ảnh hưởng bởi xu hướng này, nhưng mình cần dự báo được với là tốc độ tự động hóa cao ở Mỹ, ngành may mặc của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng.  Thứ hai là các bối cảnh trong nước. Thì phải xem năm nay bối cảnh trong nước có động lực là gì, tạo thêm được gì, hay vẫn dựa vào những động lực cũ? Những động lực cũ còn cơ sở để mà tăng cao được hay không? Đấy là cách mà các chuyên gia của mình đang tính, ví dụ như báo cáo hàng quý hoặc nửa năm, cả năm của chỗ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) hoặc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách -ĐH Kinh tế (ĐHQGHN) (VERP), bao giờ họ cũng đưa ra câu hỏi động lực tăng trưởng thời gian qua là gì, động lực tăng trưởng thời gian tới là gì, có tạo thêm được động lực mới hay không.  Các báo cáo của CIEM hoặc VERP  từ mấy năm nay đều đưa ra một lo lắng là chưa tạo được động lực mới cho tăng trưởng, trong khi cái cũ cùn mòn, hết dần đi.  Đúng vậy, như vậy nếu đưa ra dự báo tăng trưởng cao trong thời gian tới là khó trở thành sự thật được.  Chủ yếu tăng trưởng của mình dựa vào những ngành lao động giá rẻ, mà phần lớn do FDI làm và một phần xuất khẩu tài nguyên như dầu thô. Trong nước, hiện nay mình đang xuất khẩu tăng cao dựa vào khu vực FDI. Nhưng cái tăng trưởng cao đó không vững chắc. Ví dụ như Samsung, năm ngoái Galaxy Note 7 có vấn đề thì xuất khẩu của họ tụt xuống, nên xuất khẩu của mình giảm, tăng trưởng GDP cũng khó hơn. Năm nay bốc lên được quý I vì Samsung làm ăn tốt, không bị như quý I năm ngoái. Vai trò của xuất khẩu tài nguyên cũng giảm dần, ví dụ như dầu thô trong đóng góp vào tăng trưởng của Việt Nam ngày càng thấp đi, bởi lượng xuất khẩu ít đi, nguồn lực cạn kiệt, rồi giá cả của dầu thô đang giảm xuống.  Cái chốt của mình là năng suất lao động thì không tăng lên được. Giờ phải đẩy năng suất lao động lên, mà muốn đẩy lên thì phải bằng đổi mới sáng tạo, bằng nguồn nhân lực chất lượng tốt hơn, có kỹ năng hơn, làm những ngành đòi hỏi tay nghề cao hơn, từ đó mới có năng suất cao. Hiện nay mình có sự dịch chuyển từ nông nghiệp sang dịch vụ, sang công nghiệp. Nhưng sang dịch vụ chủ yếu là bán buôn bán lẻ, ngành gần như năng suất lao động rất thấp, không tạo được giá trị gia tăng bao nhiêu. Hay là chuyển sang công nghiệp thì lại làm gia công nên không có giá trị gia tăng bao nhiêu. Năng suất cũng thấp. Để có thể dịch chuyển lên cao hơn trong chuỗi giá trị, làm những sản phẩm phức tạp hơn thì cần những người lao động có tay nghề tốt hơn, kỹ năng tốt hơn, đồng thời các doanh nghiệp cũng phải đầu tư vào công nghệ. Nhưng nhìn lại thì những doanh nghiệp lớn nhất thì cả bốn đại gia đều làm bất động sản. Mà kiểu phân bổ đầu tư dồn vào bất động sản nhiều quá thì sẽ làm mất đi phần phát triển của các ngành khác.  Cảm ơn bà về cuộc trao đổi!  Bảo Như thực hiện  ———-  1Trong cuộc trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, TS. Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết, đã có tình trạng, có những năm, hầu hết các tỉnh đều công bố GDP trên địa bàn của địa phương cao hơn của cả nước, chỉ có vài tỉnh thấp hơn GDP cả nước. http://baochinhphu.vn/Kinh-te/So-lieu-GDP-dia-phuong-Se-khong-con-do-khoc-do-cuoi/279575.vgp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nên coi nhẹ công bố trong nước      Các bài báo được công bố trên các các tạp chí quốc tế uy tín, có hệ số ảnh hưởng cao là các bài báo có chất lượng, có phát hiện quan trọng, tuy nhiên không vì thế mà chúng ta coi nhẹ việc xuất bản ở các tạp chí Việt Nam, cần có đánh giá công bằng với tất cả công bố trên tất cả các loại tạp chí, không tuyệt đối hóa tạp chí ISI, Scopus và quốc tế.      Tạp chí Vietnam Journal of Mechanics của Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Nguồn: Nhà xuất bản KHTN & CN  Chỉ số ảnh hưởng của tạp chí hay số trích dẫn của bài báo   Bắt đầu từ thiên niên kỷ mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xuất bản trực tuyến, bộ môn trắc nghiệm khoa học (scientometrics) đã đưa ra được một số khái niệm và chỉ số mới hỗ trợ cho cộng đồng khoa học và các nhà quản lý có các phương pháp đo lường, đánh giá năng suất và hiệu quả của hoạt động nghiên cứu khoa học. Theo đó, các bảng xếp hạng uy tín của tạp chí (Journals Impact Factors, Scimago…), xếp hạng của các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học (Scimago, ARWU, THE, QS…) cũng được công bố hàng năm. Theo xu thế chung của thế giới, cộng đồng khoa học nước ta cũng đã từng bước hội nhập. Bắt đầu từ việc khuyến khích công bố trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI, Scopus; đến việc sử dụng chỉ số ảnh hưởng của tạp chí (Impact Factor – IF) và phân nhóm Q1-Q4 cho các tạp chí để đánh giá chất lượng các công trình nghiên cứu, để xét giải thưởng; và cả việc sử dụng chỉ số h-index để đánh giá uy tín nhà khoa học… Các cách tiếp cận trên đều dựa trên một chỉ số cơ bản – số lần một bài báo được trích dẫn (cited times). Chất lượng bài báo là nền tảng, làm nên chất lượng của tạp chí, uy tín của cá nhân, tập thể… Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập hiện nay, các tiêu chí đôi lúc đang được vận dụng một cách phân khúc và hướng ngoại một chiều. Uy tín bài báo nhiều khi chỉ được đánh giá đơn giản bằng IF của tạp chí nước ngoài, “thơm lây” theo uy tín của tạp chí. Trong lúc chưa có giải pháp giải quyết triệt để bất cập này, một vấn đề khác đã đặt ra là liệu các bài báo cùng có một số lượng trích dẫn như nhau, nhưng được đăng từ tạp chí trong nước có đáng ghi nhận và khích lệ không?  Nghịch lý của chỉ số ảnh hưởng của tạp chí và số trích dẫn của bài báo   Trong suy nghĩ của mọi người, các bài báo được công bố trên các các tạp chí uy tín, có IF cao là các bài báo có chất lượng, có phát hiện quan trọng. Về cơ bản thì điều này không sai, vì các tạp chí ấy có hệ thống phản biện là các chuyên gia khoa học hàng đầu thế giới, trình độ chuyên môn xuất sắc, thông tin cập nhật, đặc biệt có trách nhiệm xã hội và đạo đức khoa học rất cao. Họ có đủ khả năng để đánh giá tính mới và giá trị khoa học của công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, các ví dụ thống kê sau đây từ nguồn Scopus cho thấy một nghịch lý rất đáng xem xét.  Tạp chí Nature (và Nature group) là hệ thống tạp chí có uy tín hàng đầu. IF có thể lên đến 38-40, nhưng thống kê cho thấy: năm 2010, hệ thống tạp chí này xuất bản 5.494 bài báo nghiên cứu (article), bài báo có trích dẫn cao nhất lên đến 3.969 lần. Tuy nhiên, số lượng bài có số lượng trích dẫn dưới 6 lần trong vòng hơn 6 năm qua có đến 2000 bài, trong đó có 1.340 bài không được trích dẫn lần nào. Cũng trong năm 2010, Tạp chí Physical Review B cũng xuất bản 6.072 bài nghiên cứu. Bài có số trích dẫn cao nhất là 789 lần, nhưng cũng có 200 bài không có trích dẫn nào. Còn số bài có trích dẫn dưới 6 lần cũng chiếm đến 1250 bài. Số liệu thống kê cho tác giả của bài báo này cho thấy có 112 bài báo từ nguồn ISI/Scopus, trong đó vẫn có 11 bài vẫn chưa được ai trích dẫn, dù các bài đó đều đăng ở các tạp chí có IF trong khoảng 2-3 cả.      Cần quan tâm đến chỉ số trích dẫn của bài báo và có đánh giá công bằng với tất cả công bố trên tất cả các loại tạp chí, không tuyệt đối hóa tạp chí ISI, Scopus và quốc tế. Việc trích dẫn minh bạch của cộng đồng bao giờ cũng đem lại các đánh giá phù hợp cho giá trị khoa học của công trình.      Tình trạng này thật ra rất khó tránh khỏi vì phản biện các công trình nghiên cứu khoa học rất khó khăn, còn phải được kiểm nghiệm bởi thực tiễn và đặc biệt chịu thách thức bởi một nghịch lý khác: kết quả nghiên cứu nếu được cho là mới thì vấn đề đúng sai và tầm ảnh hưởng của nó chưa ai biết chắc. Ngược lại, nếu quả quyết kết quả ấy là đúng, là quan trọng thì cũng có nghĩa là vấn đề phát hiện ấy đã cũ. Nói như vậy để chúng ta cẩn trọng khi nhận xét, đánh giá các công trình khoa học và việc bài báo được nhận đăng mới chỉ là vòng thẩm định đầu tiên.  Bảng 1: Chỉ số trích dẫn của một số tạp chí Việt Nam giai đoạn 2006-2016 *    Trích dẫn của các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học của Việt Nam   ĐHQGHN vừa vận hành hệ thống V-CitationGate (Vietnam Citation Gateway – https://vcgate.vnu.edu.vn/). Hệ thống này là cơ sở dữ liệu (CSDL) các bài báo đăng trên các tạp chí của Việt Nam. Thống kê chỉ số trích dẫn đầu tiên cho 52 tạp chí có trang web chuẩn mực cho thấy trong giai đoạn 2006-2016 có tổng số 24.228 bài báo với tổng cộng 7.126 lần trích dẫn. Trong đó, số trích dẫn từ các tạp chí trong nước chỉ có 729 lần, còn lại là trích dẫn từ các tạp chí quốc tế.  Đặc biệt, số trích dẫn từ các tạp chí ISI/Scopus là 3378 (chiếm 48%), xem bảng 1. Như vậy, có thể thấy là một số tạp chí của Việt Nam đã thu hút, tuyển chọn và công bố được khá nhiều công trình nghiên cứu có chất lượng, được công đồng khoa học quan tâm và trích dẫn nhiều. 14 tạp chí đã có các bài được trích dẫn trên 10 lần. Trong đó có bài báo “Silver nanoparticles: synthesis, properties, toxicology, applications and perspectives” của nhóm tác giả Trần Quang Huy đăng trên tạp chí Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology có 257 trích dẫn. Hoặc nữa, bài báo “Nonlinear postbuckling of eccentrically stiffened functionally graded plates and shallow shells” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương đăng trên tạp chí Vietnam Journal of Mechanics có 40 lần trích dẫn và bài báo “Qualification and optimality conditions for dc programs with infinite constraints” của tác giả N. Dinh và đồng nghiệp đăng trên tạp chí Acta Mathematica Vietnamica cũng có tới 38 lần trích dẫn…  Tiếc rằng, thông tin về các trích dẫn như vậy cho các tạp chí Việt Nam rất ít được quan tâm và nếu có (như được đưa ra ở đây) thì sẽ được đối xử ra sao? Bài báo có 40 lần trích dẫn của Tạp chí Cơ học Việt Nam sẽ được so sánh thế nào với bài báo đăng trên tạp chí Nature hoặc các tạp chí khác nhưng không có trích dẫn nào?  Một lời kết mở   Các công trình khoa học cần được đánh giá một cách đầy đủ cả theo phương pháp chuyên gia và phương pháp trắc lượng. Trong đó, phương pháp trắc lượng phải tích hợp đầy đủ các thông số về cả uy tín của tạp chí và tầm ảnh hưởng của công trình. Không nên trao gửi tất cả cho IF mà phải xác định chỉ số trích dẫn của bài báo là một chỉ báo quan trọng. Trong quá trình hội nhập quốc tế về xuất bản, chỉ số IF là một thước đo đầu tiên, cần khuyến khích và phát triển. Tuy nhiên, về tổng thể cần quan tâm đến chỉ số trích dẫn của bài báo và có đánh giá công bằng với tất cả công bố trên tất cả các loại tạp chí, không tuyệt đối hóa tạp chí ISI, Scopus và quốc tế. Việc trích dẫn minh bạch của cộng đồng bao giờ cũng đem lại các đánh giá phù hợp cho giá trị khoa học của công trình. Quan điểm như vậy cũng sẽ tạo điều kiện để phát triển các tạp chí trong nước.      Cộng đồng khoa học là những người vừa được tiếp cận với kết quả mới, vừa là người nhận xét và sử dụng. Chính cộng đồng này sẽ hưởng ứng (trích dẫn) với kết quả đó hay cho bài báo đó vào quên lãng.      Trong thế giới số, các xuất bản online, nhất là các tạp chí có quyền truy cập mở (open access) đang có lợi thế lớn trong việc gia tăng số lượng đọc giả. Chính các đọc giả có trình độ chuyên môn cao, đang trực tiếp nghiên cứu trong lĩnh vực đó là các phản biện uy tín nhất. Theo cách đó, đã bắt đầu xuất hiện xu hướng các nhà khoa học coi website cá nhân là các tạp chí riêng để tự xuất bản công trình nghiên cứu của mình trên đó, công bố nhanh nhất kết quả nghiên cứu của mình đến với cộng đồng. Lúc đó, cộng đồng khoa học là những người vừa được tiếp cận với kết quả mới, vừa là người nhận xét và sử dụng. Chính cộng đồng này sẽ hưởng ứng (trích dẫn) với kết quả đó hay cho bài báo đó vào quên lãng.  Để công bằng với các bài báo xuất bản trên các tạp chí trong nước, một mặt các tạp chí phải thực hiện việc xuất bản online thật chuyên nghiệp để bài báo không những được nhận diện trực tiếp của đọc giả mà còn phải được nhận diện cả về kỹ thuật (index, DOI…). Mặt khác cũng cần phát triển bộ môn trắc nghiệm khoa học (bibliometrics  hoặc/và scientometrics) có đủ khả năng phân tích các chỉ số trích dẫn cho các bài báo đó, không để khoa học Việt Nam “áo gấm đi đêm” mãi. Hệ thống V-CitationGate đang tiên phong thực hiện sứ mệnh đó. Rất mong sự chia sẻ và ủng hộ của cộng đồng khoa học Việt Nam.       Author                Nguyễn Hữu Đức        
__label__tiasang Không phải cứ tăng lương là thích      Tăng lương phải đi liền với các biện pháp kiềm chế lạm phát, quản  lý giá cả thị trường.    Trước thông tin Chính phủ dự kiến hoãn tăng lương vào năm 2013 vì tình  hình thu ngân sách khó khăn, TS Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán  Nôm cho rằng, “lương tăng là điều ai cũng mong muốn. Thế nhưng, nếu chỉ  nghĩ đến việc tăng lương mà không có biện pháp kiềm chế lạm phát, quản  lý giá cả thị trường thì thà không tăng lương còn hơn”.    Tiến sĩ vẫn phải nhờ cha mẹ     Với một nghiên cứu viên có học vị Tiến sĩ như anh thì tiền lương chắc cũng… đủ sống?   Lương của tôi cũng chỉ khoảng ba triệu. Để viết một bài nghiên cứu (để kiếm thêm), tôi mất vài tháng, đợi 2 năm mới được in trên tạp chí, nhuận bút năm trăm ngàn, trừ thuế còn bốn trăm rưỡi. Tôi thấy nghề nghiên cứu là nghề rẻ mạt nhất trên đời. Với người làm nghiên cứu thì mỗi năm, ngoài tiền lương  chúng tôi còn được Nhà nước giao cho một nhiệm vụ nào đấy, được trả  chừng 15 – 25 triệu đồng/người/năm. Thời gian còn lại, tôi xoay xở đủ  chiều, viết báo, viết nghiên cứu …Tính ra nhuận bút khoa học của tôi chỉ bằng 1/912 lần so với nhuận bút của một nhà báo. Còn nếu so với các ngành công an, bác sĩ… so làm sao được.     Với đồng lương ấy, anh chi tiêu như thế nào?  Tôi cắt nhiều thứ lắm: giảm ăn, giảm tiêu, giảm mua sách vở, giảm tối đa các giao đãi xã hội.v.v.   Thế còn các khoản mua sách, tài liệu, có bị giảm bớt không?         Ngày 16/10, Bộ  trưởng Bộ Tài chính  Vương Đình Huệ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự  toán ngân sách  nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm  2013.              Theo Bộ  trưởng, do tình hình thu ngân sách năm 2012 rất khó khăn  và tiếp tục khó  trong năm tới, Chính phủ không bố trí nguồn thực hiện  chi cải cách tiền  lương theo lộ trình vào năm 2013.              Chủ nhiệm Uỷ ban  Các vấn đề xã hội  Trương Thị Mai tính toán, sẽ có khoảng 22 triệu người  dân bị tác động  nếu không tăng lương.          Đa phần sách tôi có được là từ trước khi lấy vợ, từ ngày lấy vợ cũng phải giảm mua sách. Vì mua sách là lạm ngay vào tiền sữa, tiền thức ăn của con.   Tiền lương chỉ đủ nuôi mình như thế thì không hiểu anh xoay xở như thế nào để lo cho gia đình?       Có thể bạn không tin, nhưng lương của hai vợ chồng tôi gộp lại cũng chỉ 6 triệu/tháng. Nhưng chúng tôi may mắn là không phải thuê nhà. Vợ tôi làm ở trại chăn nuôi nên thịt, cá, trứng được mua với giá gốc nên cũng đỡ đi được phần nào. Thêm nữa, thi thoảng ông bà hai bên cũng đỡ cho khoản nào đó. Chúng tôi hoàn toàn chưa có tích cóp được gì. Thậm chí có tháng còn âm, nếu không may bị ốm, có đám cưới, ma chay…      Không có tiền tích cóp mà chẳng may lúc cần tiền thì làm thế nào?  Thì đành đi vay mượn chứ biết làm thế nào. Nếu không thì cũng phải tăng ca sản xuất, làm thuê cho người ta.    Tăng lương và nỗi lo trượt giá  Lương như thế, chắc hẳn anh cũng mong tăng lắm?         “Có thể thông cảm với lý do Chính phủ nêu ra nhưng với  điều kiện những khoản thu cho năm tới phải ưu tiên cho những việc quan trọng hơn cả tăng lương chứ không phải đầu tư dàn trải, lãng phí vào  các tập đoàn Nhà nước. Đương nhiên, giá như các tập đoàn bớt chi tiêu  lãng phí đi thì sẽ có tiền để tăng lương. Nhưng người nghĩ được như thế thì không làm  được, còn người làm được thì lại không nghĩ được như thế“.              TS. Trần Trọng Dương        Như Mác đã tính, một người lao động là người có mức lương đủ nuôi sống ba người khác nữa. Ở Việt Nam, lương như thế mình tự nuôi mình cũng khó. Tăng lương ai chẳng thích.  Thế nhưng vấn đề là tăng lương xong có thể kiểm soát hậu quả của nó không. Như những năm vừa rồi, lương chưa kịp tăng thì mọi thứ đã tăng trước rồi. Tăng như thế thì tăng làm gì? Nhà nước tưởng tăng lương là có lợi cho 20 triệu công chức, nhưng thực ra là làm hơn tám mươi triệu người gánh thêm sức nặng của sự trượt giá, mỗi lần tăng lương là một lần đồng tiền mất giá, con người cũng “mất giá” từng ngày.      Anh có thể nói cụ thể hơn?   Năm 2004, tôi ra trường và đi làm. Lương khi ấy khoảng 800.000 đồng, đổ xăng hết chừng 9.000/lít, bữa trưa 10.000 đã ngon lắm rồi. Tôi vẫn có tiền để đi chơi, mua sách. Giờ lương 3 triệu/tháng nhưng tiền xăng hơn 20.000/lít, bữa ăn trưa (cơm bụi) từ 30 – 35.000 đồng. Lương tăng nhưng chất lượng sống giảm. Thế chẳng phải thụt lùi là gì?   Theo anh, căn nguyên của nó là do đâu?   Do Nhà nước coi tăng lương là một sự cải thiện đời sống công nhân viên chức nhưng lại không có khả năng quản lý giá cả thị trường. Thế mới có chuyện, lương tăng nhưng đời sống giảm.   Anh bảo tăng lương mà không quản lý được giá cả thì thà giữ nguyên. Thế nhưng, thực tế thì giá cả thị trường còn nhảy múa theo giá xăng, điện?    Đúng thế. Xăng với điện cũng do nhà nước độc quyền, việc tăng giá của hai mặt hàng đó cũng là do Nhà nước. Việc tăng lương cũng là việc của nhà nước. Nhưng riêng thị trường lại không phải của nhà nước. Ngành quản lý của ta còn quá kém, nên xã hội giờ mới như một mớ bòng bong.   Có ý kiến lo ngại rằng, Chính phủ hoãn tăng lương vào năm tới sẽ làm cho niềm tin trong 22 triệu người bị ảnh hưởng. Anh có thấy thế?   Thực ra, tôi có tin đâu mà mất hay giảm, còn 22 triệu người thì tôi không dám nói. Hiện nay có nhiều việc chính phủ, nhà nước không làm được như: tham nhũng đang đục khoét từng tế bào của đất nước, chất lượng giáo dục thấp nhất trong vòng bảy mươi năm qua, y tế là chỗ để kiếm tiền vào lúc bệnh tật của con người… Tôi thấy chúng ta chưa đủ tầm trí tuệ và đạo đức để tự cứu mình. Vậy thì tôi biết tin vào đâu?   Liệu việc hoãn tăng lương vào năm tới có khiến cho nhiều người buộc phải xoay xở mọi cách để có thêm thu nhập, vì thế mà những khoản thu không chính đáng sẽ tăng?   Dù có tăng hay không thì toàn dân vẫn xoay xở mọi cách đó thôi. Lên cơ quan để nấu nướng, tắm giặt, ăn bớt thời gian công vụ để làm việc riêng thì người ta đã làm từ lâu rồi. Những cái đó chỉ là “cò con” so với sự lãng phí của các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Xưa các cụ bảo “dân thì gian, quan thì tham”, hẳn cũng có cơ sở.   Bây giờ, để có thể sống được từ lương thì theo anh lương phải cần bao nhiêu?   Tôi tính chừng 10 triệu/tháng/ người lao động hy vọng sẽ đủ lo cho vợ con. Còn mức lương dành cho người làm nghiên cứu như Gs Ngô Bảo Châu thì tôi không bao giờ dám mơ tới. Tôi biết tôi là ai và tôi đang ở đâu.   Xin cảm ơn anh!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể công nghiệp hoá  nếu nông nghiệp và nông thôn trì trệ      Hoàn cảnh công nghiệp hoá Việt Nam ngày nay khác căn bản so với các nước công nghiệp đi trước. Một là, không thể vắt kiệt tài nguyên nông thôn để tích lũy tư bản cho đô thị. Hai là, không được phép khai thác bừa bãi tài nguyên tự nhiên để phát triển kinh tế. Ba là, không thể mở rộng thị trường nông sản thô một cách dễ dàng. Bốn là, cạnh tranh công nghệ khó cho phép phát triển nền công nghiệp thu hút nhiều lao động thủ công trên qui mô rộng. Năm là, khi đã phát triển kinh tế không thể trở lại trợ cấp ồ ạt hoặc bảo vệ cho nông nghiệp.    Bởi vậy, không thể tạm thời hy sinh nông nghiệp, nông thôn, môi trường để đưa công nghiệp, đô thị đi trước một bước, cũng không thể ồ ạt di cư, chuyển lao động nông dân sang công nghiệp, dịch vụ như một số nước đã tiến hành trước đây. Trong thời đại ngày nay, không thể công nghiệp hoá nhanh, ổn định nếu nông nghiệp và nông thôn trì trệ.  Hôm nay, nông nghiệp chỉ chiếm 1/5 đóng góp GDP, 1/3 giá trị kim ngạch xuất khẩu nhưng vẫn là nguồn việc làm cho 50% lao động xã hội, nông thôn là nơi sống của 70% dân số cả nước, quản lý và sử dụng hầu hết nguồn tài nguyên tự nhiên của đất nước. Sức phát triển kinh tế đất nước chi phối bởi năng suất lao động và sức mua của số đông nông dân, ổn định xã hội chịu ảnh hưởng của tinh thần và sự đóng góp của phần lớn cư dân sống ở nông thôn, cân bằng môi trường cũng tuỳ thuộc phần lớn ở tinh thần bảo vệ và cung cách sử dụng của họ. Dù công nghiệp và đô thị có tăng trưởng nhanh đến mấy, tốc độ công nghiệp hoá, thậm trí sự phát triển ổn định của đất nước cũng không duy trì nổi nếu nông nghiệp không mạnh, nông thôn không giàu. Bác Hồ đã khẳng định một công thức phát triển tuyệt đẹp: “nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị, như thế là nông thôn giàu có giúp công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa*.”   Những thách thức của giai đoạn phát triển mới đang đặt sự vững bền của tiến trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam trước một bước ngoặt quan trọng. Đây là thời điểm chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng nhờ khai thác tài nguyên, đầu tư thêm vốn, vật tư, lao động sang phát triển theo chiều sâu dựa vào tăng chất lượng, giá trị gia tăng, hiệu quả nhờ khoa học công nghệ và quản lý.   ———————  *Hồ Chí Minh, Tuyển tập, trang 405-406 (T10).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể tiêm dịch vụ khi vaccine còn khan hiếm      Trong bối cảnh thiếu thốn vaccine hiện nay, yêu cầu cấp bách nhất với Chính phủ là phân phối vaccine đến đúng những nhóm cần nhất để giảm tỉ lệ tử vong và bệnh nặng mới không làm tăng gánh nặng hoặc thậm chí sụp đổ hệ thống y tế, không gãy đổ chuỗi cung ứng hàng hóa. Điều đó khiến việc tiêm vaccine trước mắt vẫn phải được coi là một dịch vụ và hàng hóa đặc biệt, không thể theo cung cầu của thị trường.      Tỉ lệ tử vong của người cao tuổi gấp hàng trăm lần so với tuổi 18-29. Trong ảnh: Tại bệnh viện 1000 giường hồi sức chữa COVID-19 lớn nhất TP.HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Vừa qua đã có một số đề xuất về việc tiêm vaccine COVID có thu phí (tạm gọi là vaccine dịch vụ) từ một số đơn vị tư nhân cũng như được bàn luận trên nghị trường Quốc hội. Trên truyền thông, nhiều bệnh viện tư nhân cho biết đã nhận được hàng chục nghìn lượt đăng ký tiêm vaccine chấp nhận trả phí lên tới 1,5 triệu đồng/liều hoặc có hàng nghìn cuộc gọi “lúc nào bệnh viện tiêm vaccine dịch vụ?”.     Đề xuất này được đưa ra với hi vọng sẽ giúp giảm tải cho khu vực y tế công, đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine và “cởi trói” giúp nhiều người có nhu cầu nhưng chưa trong diện ưu tiên có thể được tiêm vaccine. Có lẽ không chỉ hàng chục nghìn người đã đăng ký tiêm trả phí, mà còn có rất đông người dân có nguyện vọng này. Vì cuộc khảo sát hồi tháng ba vừa qua của Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRI) trên cỡ mẫu 4000 người được chọn ngẫu nhiên trong cả nước cho thấy có đến 75% người dân đồng ý trả tiền, theo TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng MDRI. Và mức giá phổ biến người dân chấp nhận trả tiền tiêm là từ 200 đến 300 ngàn đồng trở xuống.     Tuy nhiên, bản chất của việc tiêm vacine dịch vụ là phân phối theo nguyên tắc cung – cầu, tối ưu lợi nhuận của thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của người đủ khả năng chi trả chứ không phải đưa vaccine đến với các nhóm đang cần nhất. Điều này sẽ giúp người có khả năng chi trả được tiêm vaccine, nhưng cũng đồng thời làm giảm nguồn vaccine dành cho những ai không có khả năng chi trả, bao gồm phần lớn những nhóm cần được ưu tiên cấp bách nhất.     Những người thuộc diện cần ưu tiên vaccine bao gồm: tuyến đầu chống dịch; nhóm khi bị lây nhiễm sẽ có tình trạng bệnh nặng và nguy cơ tử vong cao; nhóm người dễ bị lây nhiễm do tiếp xúc với nhiều người và dễ phát tán virus do tiếp xúc với nhiều người. Vấn đề điển hình nhất là ưu tiên vaccine cho người cao tuổi – nhóm có nguy cơ tăng nặng và tử vong cao gấp hàng trăm lần so với nhóm tuổi thanh thiếu niên nên càng cao tuổi càng cần được ưu tiên tiêm vaccine nhanh chóng. Mặt khác, các nhóm có nguy cơ lây nhiễm do tiếp xúc nhiều hoặc có điều kiện sống tồi tàn dễ bị lây nhiễm nhiều hơn như người nghèo cũng có mặt trong danh sách được ưu tiên tiêm vaccine của Chính phủ. Về phân vùng, vùng nào chịu bùng phát dịch bệnh nặng nề sẽ được phân bổ vaccine và tiêm “cuốn chiếu”.      Bản chất của việc tiêm vacine dịch vụ là phân phối theo nguyên tắc cung – cầu, tối ưu lợi nhuận của thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của người đủ khả năng chi trả chứ không phải đưa vaccine đến với các nhóm đang cần nhất.      Khi người cao tuổi và các nhóm cần nhất chưa được tiêm vaccine, thì hệ quả tất yếu là tỉ lệ tử vong ở nhóm này rất cao mà hệ thống y tế khó lòng ứng phó và cứu chữa được hết. Hiện nay chúng ta chưa có các thông tin chi tiết, đầy đủ về đặc điểm nhân khẩu học như độ tuổi, nghề nghiệp để biết được tỉ lệ tử vong chủ yếu rơi vào nhóm nào nhưng tạm dựa vào phân loại của nhóm chuyên gia 5F1 (dựa vào số liệu công bố của Bộ Y tế từ ngày 27/4 đến 7/7) thì có thể thấy ngay tổng tỉ lệ tử vong của nhóm tuổi 70-79 là 11,99% (trên số ca nhiễm theo nhóm tuổi); nhóm 80-90 và 90+ tương ứng là 20,87% và 15,79%; tỉ lệ tử vong của các nhóm 60-69, 40-49 tương ứng 5.6%, và 2.2%, còn tỉ lệ tử vong của nhóm 30-39 và 20-29 chỉ ở mức 0.24% hoặc 0.13%. Một tháng qua dịch bệnh có thể sẽ khác đi ít nhiều nhưng thống kê trong ba tháng trên cũng cho thấy xu hướng tử vong và tăng nặng chủ yếu tập trung vào người cao tuổi. Khi chưa có vaccine, Hoa Kỳ cũng phải gánh chịu điều tương tự, thống kê của CDC Hoa Kỳ cho thấy, so với nhóm 18-29 tuổi thì nhóm từ 85 tuổi có tỷ lệ tử vong cao gấp 600 lần, 75-84 cao gấp 230 lần, 65-74 cao gấp 95 lần, 50-65 cao cấp 35 lần2.     Như vậy rõ ràng ưu tiên tiêm vaccine cho người cao tuổi như cách mà nhiều nước đã chọn sẽ giúp chúng ta giảm số ca tử vong, giảm số bệnh nhân tăng nặng, giảm nguy cơ đổ vỡ y tế và khủng hoảng nhân đạo. Với số lượng người trên 60 tuổi chiếm gần 14% dân số, tương đương khoảng 14 triệu người, Việt Nam sẽ cần ưu tiên khoảng gần 28 triệu liều vaccine. Đó là chưa kể chúng ta đang phải ưu tiên phân bổ vaccine cho TP. HCM và các tỉnh thuộc khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai (tổng số cả ba tỉnh/ thành có khoảng trên 15 triệu người), vừa bùng phát dịch bệnh nặng nề vừa có nguy cơ suy sụp về kinh tế. Đồng thời, chúng ta đang rất cần vaccine cho những nhóm đang là xương sống của chuỗi cung ứng hàng hóa như những người lái xe, vận chuyển hàng hóa, nhân viên bán lẻ để tránh gãy chuỗi cung ứng và giảm nguy cơ phát tán virus.     Và hệ lụy đương nhiên của việc tiêm vaccine dịch vụ trong tình trạng khan hiếm là càng làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt vaccine. Ngay cả khi Chính phủ đứng ra điều tiết và giao hạn mức nhất định cho các đơn vị tư nhân có thể tiêm thu phí, thì những giọt vaccine có thể cứu mạng sống của người già, người trong vùng dịch, giúp shipper tránh lây nhiễm lại có thể được phân bổ đến cho người chưa cần gấp và có tiền chi trả, như thế chúng ta không thể dẹp được dịch nhanh và đúng thời gian. “Chính vì vậy, loại hàng hóa khẩn cấp này chưa thể mua bán theo thị trường mà chỉ có Chính phủ mới có quyền phân bổ. Dẹp dịch không thể theo cơ chế thị trường, muốn dẹp dịch phải dựa trên nguyên tắc đúng đối tượng và các khu vực cần”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Anh cũng cho biết thêm, việc ưu tiên vaccine cho các nhóm người cao tuổi hoặc tuyến đầu chống dịch nhận được sự đồng thuận những người tham gia cuộc khảo sát của MDRI hồi tháng ba.     Phân bổ vaccine sao cho đảm bảo lợi ích tối đa cho cộng đồng, giảm thiểu nhanh nhất sự lan truyền dịch bệnh, giảm số ca nặng phải điều trị ở bệnh viện, giảm tỷ lệ tử vong cũng là điều mà các nhà dịch tễ học như TS. Nguyễn Thu Anh, Viện Nghiên cứu y khoa Woolcock nhiều lần lên tiếng. Vì thế, “quan điểm của tôi trước sau như một, là thời điểm này không tiêm dịch vụ. Sau này phủ xong vaccine mới tiêm dịch vụ”, TS. Nguyễn Thu Anh cho biết.     Trước lo ngại Chính phủ thiếu nhân lực trong khu vực công để tiến hành tiêm thật nhanh chóng thì cả hai chuyên gia đều cho rằng Chính phủ có thể sử dụng các nguồn quỹ như Quỹ vaccine để chi trả tiền công cho các đơn vị tư nhân để họ tham gia tiêm chủng theo đúng kế hoạch tiêm chủng của Chính phủ.    Ngoài ra, các nhóm càng có khả năng chi trả cho vaccine dịch vụ ở mức cao cũng là những nhóm có rủi ro ít nhất vì đã có điều kiện sống tốt hơn các nhóm yếu thế, có khả năng làm việc tại nhà, ít tiếp xúc, có khả năng giãn cách xã hội tốt hơn (so với nhiều nhóm công nhân là người di cư hầu như không có khái niệm giãn cách – khi chỉ có diện tích ở3 bình quân dưới 4m2 đến dưới 10m2). Các trận đại dịch trong quá khứ cho đến hiện nay đều tấn công chủ yếu vào các nhóm nghèo, sống trong điều kiện chật chội dễ bùng phát lây nhiễm. Thống kê ở Anh cho thấy, vào tháng 12/2020, tỷ lệ tử vong do COVID-19 ở vùng kém phát triển nhất là 391,6 ca tử vong/100.000 người, cao gấp 2,5 lần so với con số này ở vùng phát triển nhất. Bài học từ Đại dịch cúm Tây Ban Nha cho thấy, cứ tăng 10% thu nhập thì tỷ lệ tử vong giảm 9-10%4. Việc tập trung bao phủ vaccine vào các nhóm này cũng sẽ giúp kiềm chế được dịch bệnh nhanh chóng hơn.□   —  Chú thích  1 https://datastudio.google.com/u/0/reporting/1cc8d45e-2c74-4084-af70-cbbe60f1660e/page/30RVC  2 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/covid-data/investigations-discovery/hospitalization-death-by-age.html  3 Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015: Các kết quả chủ yếu, Nxb Thông tấn, 2016.  4 https://tiasang.com.vn/-dien-dan/He-qua-xa-hoi-cua-dai-dich-COVID19-28286    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Không thuộc sử văn hóa không thành người thời nay!      Không khỏe văn hóa nghệ thuật dân tộc thì không thể giao thoa, tiếp biến các nền văn hóa khác để trở nên hiện đại. Không có xương sống là văn hóa, văn nghệ dân tộc thì khó có thể đứng lên, chạy nhảy thành con người hiện đại, con người của hôm nay.    Ta tăng GDP 8-9 % thật ngoạn mục, tiền đầu tư đổ vào như thác thật ngoạn mục, uy tín quốc gia tăng ngọan mục, “ngôi sao đang lên” tăng sức hấp dẫn ngọan mục… Song chả riêng gì nước ta “ngoạn mục” mà các “người khổng lồ” Trung Hoa, Nga, Đức, Ấn Độ… hay các con rồng thực thụ Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, các con hổ cỡ Malaysia còn ngoạn mục hơn! Và trên cán cân tăng trưởng-bền vững thì phía bền vững ngày càng nặng trĩu. Không còn là chuyện hy sinh bền vững cho tăng trưởng được nữa, khi sắp thoát nghèo. Bây giờ là chuyện không bền vững thì không mong tăng trưởng được nữa. Giao thông kẹt cứng, cầu sập, đường ngập, viễn thông đứt nghẽn mạch, ngân hàng trì trệ, sốt giá lung tung… thiên tai lên tiếp, ô nhiễm trên cả ba mặt trận thuỷ lục không –trên đất, trên nước và trên trời sẽ ngăn cản tăng trưởng và hủy hoại thành quả đã có của nó. Đó là phần không bền vững “cứng”, hữu hình. Phần không bền vững mềm-vô hình còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn hơn. Đó là chất lượng nguồn nhân lực, là giáo dục đào tạo, là tiềm năng khoa học công nghệ và sự thịnh vượng trí tuệ của cả một cộng đồng dân tộc. Ta đã nhận ra sự khủng hoảng dưới đáy của GDĐT và sự tụt hậu đáng sợ của KHCN Việt Nam. Mà chất lượng nguồn nhân lực lại phụ thuộc hoàn toàn vào hai lĩnh vực trên. Có trí thức có tay nghề, đúng nhu cầu tuyển dụng gần… như đòi hỏi là làm lại từ đầu, làm lại tất cả! Làm sao sản xuất ra được  nhân lực “đúng chuẩn” khi các máy cái và cả hệ thống sản xuất tinh thần này nghèo nàn, cũ kỹ, rệu rã “không dúng chuẩn”? Quốc tế hóa về chuẩn và nhân sự, về tài chính và cơ chế, chương trình có phải là phép màu nhiệm mở ra lối thoát cuối đường hầm? Đó là chuyện  tôi không giám bàn .   Song chất lượng cuộc sống  của nguồn nhân lực với tư cách là mục đích của phát triển lại còn mang nhiều triệu chứng không bền vững hơn, “vô hình” hơn. Trí mới chỉ một trong cái tổng thể ngũ hành Trí-Đức-Văn-Thể -Mỹ của một con người, một nền văn hóa. Đào tạo giáo dục quá lệch về cái đầu tiên mà vẫn yếu kém trong khi 4 thứ sau hầu như còn bỏ hoang. Không nên tự ái khi HLV bóng đá chê người VN thua vì quá thấp bé, thể lực kém hoặc khi dân ta hầu như không được học gì về lịch sử văn hóa nghệ thuật nứơc nhà. Ý thức dân tộc, lòng tự hào, lịch sử dân tộc chỉ được xây dựng trên các chiến công và tên tuổi các chính khách, các nhà cai trị, các lãnh tụ khởi nghĩa, các anh hùng nghĩa sĩ liệu có đủ xây dựng văn hóa mới, đủ cứng cáp để hội nhập tranh đua cùng các nền văn hóa khác. Người Nhật quá đáng khi họ tự hào về món sushi, thơ haiku, trà đạo, trò gấp giấy, kịch No, cái nhà gỗ có cánh của bối giấy và lối nằm, ngồi ngay trên sàn… chẳng giống ai! Tôi ít khi thấy họ tự hào về các “võ công văn trị”  hơn các thành tựu văn hóa “nhỏ bé” hay cách thành tựu công nghệ to lớn. GS Trần Văn Khê kêu gọi dạy nhạc sử cho các em biết tự hào và biết thưởng thức nhạc Việt là rất đúng. Từ lâu đã có bao lời cảnh tỉnh rằng phải để cho người dân, từ học đường được tiếp cận, hấp thu, thưởng thức các di sản  mỹ thuật, nghành nghể thủ công, kiến trúc,sân khấu, điện ảnh,âm nhạc nước nhà. Không nên chỉ chế biến các di sản ấy, các lịch sử đẹp đẽ, thân thiết ấy thành sản phẩm du lịch bán rẻ cho người nước ngoài! Đến TT mới của Pháp còn đang lo tăng cường giáo dục nghệ thuật, văn hóa cho học sinh  Pháp vốn là một sắc dân “văn hóa cùng mình” để củng cố vị thế ngày càng sa sút của quốc gia hùng mạnh này trong thế giới ngày nay. Muốn bào vệ văn hóa dân tộc phải trang bị văn hóa dân tộc cho toàn dân (từ trong nôi tới lúc về già). Cả vùng nông thôn mênh mông của ta đang thành vùng trắng, sa mạc về văn hóa dân tộc. Còn ở các sa mạc bê – tông đô thị thì văn hóa văn nghệ sôi như nồi lẩu thập cẩm mà ưu thế hoàn toàn thuộc về các “yếu tố ngoại”. Cơ thể yếu thì phải uống thuốc, có khi còn bị dị ứng, các phản ứng phụ là không tránh khỏi chứ không thể hấp thu dinh dưỡng tốt. Cơ thể văn hóa yếu thì hóa lai căng, mất bản sắc, tụt hậu, giỏi học cài dở, tiêm nhiễm cái họ thải đi mà không học được cái hay, cái đích thực. Không khỏe văn hóa nghệ thuật dân tộc thì không thể giao thoa, tiếp biến các nền văn hóa khác để trở nên hiện đại. Không có xương sống là văn hóa, văn nghệ dân tộc thì khó có thể đứng lên, chạy nhảy thành con người hiện đại, con người của hôm nay. Nhìn vào các thành tựu văn nghệ 20 chục năm qua ta thấy gì: Ta đã thử làm đủ mọi thứ như ai và cũng có đủ mọi thứ như ai từ kiến trúc hậu hiện đại, trình diễn sắp đặt, nhạc đương đại tới thơ văn tính dục, nữ quyền, phản kháng, kịch ma, phim ma, phim hành động, phim TV sitcom, nhạc rock và Jazz đủ mọi kiểu cách. Ta cũng thử đủ mọi cách làm văn hóa văn nghệ thời hội nhập: Nhà nước đầu tư sâu, các tổ chức phi chính phủ tài trợ, hàng trăm cuộc thi tuyển, hàng trăm ngàn giải thưởng, danh hiệu… rồi diễn đàn, blog, forum, triển lãm, hội chợ… Chả thiếu món gì ngoài các tác phẩm tầm cỡ và có bản sắc VN, có bản sắc hiện đại. Một lý do cơ bản có thể là người “tiêu dùng” và người sản xuất các sản phẩm văn hóa nghệ thuật này đều bị bệnh loãng xương văn hóa truyền thống và đã nhạt khẩu vị dân tộc!  Khi nêu lý do thiếu tác phẩm lớn các nhà nghiên cứu thường nêu sự thiếu hụt “văn hoá nền” của người sáng tác nhưng không nêu rõ phần quan trọng nhất của văn hóa nền đối với người nghệ sĩ chính là thuộc nằm lòng (không phải thuộc lòng) lịch sử văn hóa văn nghệ dân tộc. Đối với người hưởng thụ cũng thế thôi. Một đầu tư cho nghiên cứu và GDĐT có lẽ phải là đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, quy mô, sâu sắc khoa học về văn minh VN, lịch sử các nghành nghệ thuật VN và nhanh chóng ứng dụng vào giáo dục ở các bâc phổ thông và đại học. (Tình trạng của các nghiên cứu KHXH, văn nghệ ở ta dù ngập tràn các học hàm, học vị được chế ra quá dễ dãi nhưng đa phần rất giả tạo, phiến diện, nghiệp dư, nhiều sai sót hoặc trong trường hợp tốt nhất là tự phát như một thú chơi cây cảnh!)  Tôi nhớ 20 năm trước có xem một cuốn lịch sử Pháp Quốc dùng cho học sinh lớp tư tiểu học Pháp. Trang tổng kết thế kỷ 19 in 4 bức tranh được chú thích, giảng giải là của bốn họa sĩ thuộc bốn trường phài lớn: Tân cổ điển của David-Lãng mạn của Delacroix-Hiện thực của Courbet- Ần tượng của Monet đi kèm với các sự kiện kinh tế, khoa học, chính trị khác. Người Pháp phải thuộc Napoleon nhưng cũng phải thuộc cả bốn ông họa sĩ kia nữa! Thế mà họ vẫn lo phát triển văn hóa không bền vững. Họ thật là quá lo xa!  Ta thì “nước đến chân rồi” thưa các quý vị.    Nguyễn Bỉnh Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khử Arsen trong nước sinh hoạt: Giải pháp đã có, vẫn khó triển khai!      “Về công nghệ, hiện tại, chúng ta hoàn toàn có thể lọc mọi độc tố trong nước ngầm sử dụng cho sinh hoạt ở cả đầu nguồn lẫn cuối nguồn”, trao đổi với Tia Sáng, PGS. TS Trần Hồng Côn (Khoa Hóa – Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) khẳng định. Tuy nhiên, việc ứng dụng giải pháp khử Arsen vào thực tiễn lại là bài toán khó giải.      PGS. TS Trần Hồng Côn thử nghiệm lọc nước sông Tô Lịch bằng thiết bị khử Arsen do ông sáng chế – Nano Sky. Ảnh tư liệu.   Thưa ông, kể từ năm 1996, đã có không ít đoàn nghiên cứu tiến hành khảo sát chất lượng nguồn nước ngầm đang được người dân sử dụng trong sinh hoạt. Nhưng vì sao cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một bản đồ Arsen trên cả nước?  Về việc nghiên cứu thực trạng nước nhiễm Arsen, có thể chia thành hai giai đoạn, trước và sau năm 1998. Trước năm 1998, công nghệ của chúng ta còn rất thô sơ, thiếu thốn. Thậm chí, năm 1996, khi xét nghiệm 30 mẫu nước ngầm do Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường gửi tới, tôi mới bắt đầu mày mò dựng phương pháp phân tích và mỗi ngày cũng chỉ “làm” được tối đa bốn mẫu. Sau năm 1998, đã có phương pháp chuẩn, các thiết bị dần được cải tiến, việc đo Arsen trong nước trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Gần đây, khi sử dụng thiết bị hấp thụ nguyên tử hay quang phổ cảm ứng plasma, chúng ta đã có thể đo Arsen rất nhanh và chính xác, chỉ 30 giây mỗi mẫu. Tuy nhiên, việc khảo sát chất lượng nguồn nước ngầm trên diện rộng lại hoàn toàn phụ thuộc vào kinh phí.   Năm 1998, sau khi kêu gọi nhiều nơi, tôi và các đồng nghiệp được Viện Nước (EAWAG, Thụy Sĩ) hỗ trợ tiến hành năm đợt khảo sát, đánh giá mức độ nhiễm Arsen trong nước ngầm tại khu vực Hà Nội. Đến năm 2000, tôi đã có báo cáo đầu tiên về hiện trạng nước nhiễm Arsen ở Hà Nội. Sau đấy, tôi chuyên sâu vào nghiên cứu giải pháp khử Arsen. Đại học Khoa học Tự nhiên tiếp tục phối hợp cùng Viện Nước lập bản đồ Arsen trong nước ngầm khai thác làm nước sinh hoạt ở lưu vực sông Hồng với sự tham gia của đông đảo chuyên gia. Ngoài lưu vực sông Hồng, các nhà khoa học đã tiến hành đo Arsen ở một số điểm thuộc lưu vực sông Mã (miền Trung), đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh thuộc miền núi.  Kết quả đã được báo cáo tại Hội nghị về Arsen diễn ra tại thành phố Valencia (Tây Ban Nha) năm 2007. Nhưng với số lượng mẫu được phân tích không nhiều, báo cáo chưa đem lại cái nhìn tổng quan về tình trạng nhiễm Arsen trong nước ngầm. Mặt khác, tất cả các kết quả nghiên cứu từ trước tới nay mới chỉ cho thấy nồng độ Arsen trong nước ngầm sử dụng cho sinh hoạt chứ không phải mức độ nhiễm Arsen trong các tầng nước. Do điều kiện tài chính, các nhà khoa học chưa chủ động khoan giếng, lấy mẫu tại tất cả các tầng nước ngầm mà thường dùng luôn nước giếng đang sử dụng cho phân tích. Chúng tôi thu thập số liệu về độ sâu của các giếng lấy mẫu rồi dựa vào bản đồ về địa chất thủy văn để ước tính mẫu nước giếng ấy thuộc tầng nước nào. Đa số giếng đều có độ sâu khoảng 30- 40m, thuộc tầng nước nông nhất – holocen, tầng nước trẻ mới được bồi tích. Vì thế, ngay cả bản đồ Arsen trên địa bàn Hà Nội đã được công bố quốc tế thực chất mới chỉ là bản đồ Arsen trong nước ngầm đang được sử dụng làm nước sinh hoạt. Về mặt nghiên cứu, giới chuyên môn mới chỉ làm được đến thế.  Năm 1996, khi xét nghiệm 30 mẫu nước ngầm do Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên môi trường gửi tới, PGS. TS Trần Hồng Côn (Khoa Hóa, Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội) bàng hoàng trước kết quả: Hơn một nửa trong số đó nhiễm Arsen và có mẫu vượt ngưỡng an toàn gấp 60 lần. Từ đó, ông kiên trì theo đuổi bài toán khử Arsen trong nước sinh hoạt. Năm 2005, trong dịp thăm quan khu K9 (Ba Vì), PGS. TS Trần Hồng Côn đã tình cờ phát hiện khả năng làm sạch nước của đá ong. Các giếng nước đào giữa các tầng đá ong tại Ba Vì đều cho nước rất trong và “ngon”. Ông mang một cục đá ong và lấy một chai nước từ giếng đá ong về xét nghiệm. Kết quả cho thấy, nước từ giếng sạch như nước đóng chai. Trong đá ong có oxit và hydroxit oxit sắt cùng một lượng nhỏ oxit nhôm. Nếu hàm lượng nhôm thấp, hàm lượng sắt cao thì đá ong có khả năng hấp thụ kim loại nặng, khử Arsen. Dựa trên nguyên lý đó, TS Trần Hồng Côn đã dùng đá ong chế tạo thiết bị khử Arsen. Máy lọc Arsen đầu tiên có tên gọi Arsen Free với một tầng lọc. Từ đấy, ông tiếp tục nâng cấp và đã chế tạo dòng máy lọc nước sử dụng công nghệ nano, vận hành theo nguyên lý hấp thụ chọn lọc với bốn tầng lọc.  Năm 2006-2007, Nhà nước đã  dành khoảng 1,8 tỷ đồng để tiến hành lập bản đồ nhiễm Arsen trong các nguồn nước ngầm (nguồn nước cấp cho sinh hoạt) trên cả nước. Tuy nhiên việc phân tích Arsen với hàm lượng phần tỷ thực ra không phải nơi nào cũng làm được. Ngay một số trường đại học cũng không có đủ điều kiện và cả trình độ để phân tích. Chính vì thế, dự án đã không đạt được mục tiêu lập bản đồ nhiễm Arsen cho cả nước.     Các nghiên cứu về nồng độ Arsen trong nước chủ yếu được tiến hành trên mẫu lấy từ giếng khoan. Liệu có nguy cơ nhiễm Arsen  trong nước sinh hoạt được cấp từ các nhà máy nước sử dụng  công nghệ lọc đã cũ  không, thưa ông?  Công nghệ xử lý nước của các nhà máy nước ở ta là công nghệ đã có từ hàng trăm năm nay. Có thể sau này,  thiết bị đã tân tiến hơn nhưng công nghệ lọc nước thì vẫn thế, chưa đủ để loại bỏ hết  Arsen và một số kim loại nặng. Nhưng rất may, khi bơm nước ngầm lên để xử lý sắt thì phần nhiều Arsen lại “đi” luôn theo sắt. Bởi thế, dù nhà máy nước không chủ tâm lọc Arsen đi chăng nữa thì quá trình xử lý sắt cũng vô tình loại bỏ đến 90% (mức tối đa) và 30% (mức tối thiểu) Arsen, tùy theo tỷ lệ sắt/ Arsen có trong nước. Nếu nồng độ sắt  trên 5 miligam/lít (mg/l), nồng độ Arsen dưới 0,1 mg/l thì loại được Arsen đến ngưỡng an toàn. Nếu nồng độ sắt chỉ ở quãng 1-2 mg/l và nồng độ Arsen là 0,1– 0,2 mg/l thì không lọc được Arsen về ngưỡng an toàn. Chính vì vậy, nước sinh hoạt cấp cho địa bàn Hà Nội luôn có nồng độ Arsen dao động và cho đến nay, chúng ta chưa có cơ chế kiểm soát. Chúng tôi đã theo dõi một chu kỳ lọc của bể cát qua mẫu lấy tại các vòi nước ở phía ngoài nhà máy. Kết quả: Khi nhà máy vừa tiến hành rửa cát xong, nồng độ Arsen lập tức tăng vì sắt chưa tích tụ nhiều. Sau đó, Arsen giảm nhưng lại tăng mỗi lần rửa cát.  Nếu như việc loại bỏ Arsen chỉ phụ thuộc vào nồng độ sắt thì phải chăng, việc xử lý Arsen tại các nhà máy nước không quá phức tạp?  Đúng vậy. Thực ra, chúng tôi đã từng đề xuất mô hình xử lý Arsen ngay trong nhà máy nước và nó rất đơn giản. Nếu sắt ít, chúng ta chỉ việc thêm sắt vào, sao cho lượng sắt nhiều gấp 50 lần lượng Arsen thì sẽ loại bỏ được Arsen. Tuy nhiên, nếu thế, phải mua sắt, thêm máy lọc và thậm chí, phải thay đổi thiết kế ban đầu, sẽ cần kinh phí. Chưa kể, các nhà máy nước hiện vẫn đang vận hành ổn định dù chạy theo quy trình cũ. Nếu bây giờ phải thêm một dây chuyền nữa để xử lý Arsen hay Mangan, người ta lại phải thêm công đoạn, thay đổi công nghệ, nên có thể ngại. Mà nói thật, dù nước có không đạt tiêu chuẩn cũng đâu thể đóng cửa nhà máy nước được.    Ngay từ năm 2004, khi Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đặt hàng giới khoa học, đề bài là: nghiên cứu loại Arsen trong nước, tôi đã đăng ký đề tài “Xử lý Arsen cho các nguồn nước cấp”. Đề tài được duyệt và sau khi hoàn thành, đã được nghiệm thu. Phía Sở thông báo sẽ tiến hành lưu trữ và sau đó triển khai. Nhưng đến giờ, đề án vẫn lưu kho.  Gần đây, chúng ta đã đổi ngưỡng Arsen an toàn trong nước từ 0,05 mg/l thành 0,01mg/l. Con số 0,01 mg/l liệu có hợp lý khi mà trên thực tế, việc nghiên cứu lẫn xử lý Arsen trong nước sinh hoạt vẫn chưa được tiến hành triệt để?    Việc thay đổi tiêu chuẩn Arsen trong nước là theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nhưng tôi cho rằng, con số 0,01 mg/l khó có thể áp dụng tại Việt Nam. Đơn giản là vì nếu lấy nồng độ 0,01 mg/l làm thước đo nước “sạch” thì có lẽ, không có bao nhiêu nguồn nước cấp của ta đạt chuẩn. Trước đây, chúng ta vẫn áp dụng giới hạn an toàn là 0,05 mg/l và theo tôi, đó là mức hợp lý, xét đến bình diện cuộc sống và công nghệ của Việt Nam. Trên thế giới cũng chưa có nơi nào phát hiện nước nhiễm Arsen 0,05 mg/l ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Bởi thế, rất nhiều quốc gia và ngay cả một số bang của Mỹ hiện vẫn giữ tiêu chuẩn 0,05 mg/l. Trên thực tế, đây vẫn là mức tiêu chuẩn chúng ta còn đang phải phấn đấu đạt tới. Nếu mà lấy mức 0,01 mg/l thì e rằng nhiều nhà máy nước không đạt chuẩn. Rõ ràng, khi đổi sang mức tiêu chuẩn 0,01 mg/l, chúng ta chỉ “chạy” theo khuyến cáo của WHO mà không hề nghiên cứu tình hình thực tế ở Việt Nam.  Ông đã có 15 năm nỗ lực tìm giải pháp xử lý Arsen trong nước. Đến nay, kết quả và việc ứng dụng các sản phẩm khử Arsen đã đạt được bước tiến nào, thưa ông?  Ngay từ năm 2001, khi công bố bản đồ Arsen Hà Nội, chúng tôi đã công bố luôn sơ đồ công nghệ xử lý Arsen trong nước. Với sự hỗ trợ của Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã tiến hành thêm một số đề tài và chế tạo thành công thiết bị xử lý Arsen ở cuối nguồn (tại vòi nước máy trong nhà dân) dựa trên thuộc tính của đá ong, có tên là Arsen Free. Sau này, nhiều nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và phát hiện những vật liệu hấp phụ Arsen tốt gấp 10, 20 lần vật liệu đầu tiên tôi tìm được. Đặc biệt, sau khi áp dụng công nghệ nano, chúng ta đã có những vật liệu siêu hấp phụ, có thể hấp phụ Arsen gấp vài trăm, thậm chí vài nghìn lần so với trước. Các thiết bị hấp phụ cũng được cải tiến gọn nhẹ hơn, không cồng kềnh như Arsen Free. Đến nay, chúng ta đã có đầy đủ công nghệ hiện đại giúp khử Arsen ở cả đầu nguồn và cuối nguồn; thậm chí, có thể khử Arsen ngay trong lòng đất trước khi nước ngầm được bơm lên, chuyển đến nhà máy nước.  Để lọc Arsen tại giếng khoan, chúng tôi đã phối hợp cùng một nhóm các nhà khoa học Malaysia, Indonesia ứng dụng công nghệ lọc bằng đá ong, tạo nên các bể lọc có thiết kế tương tự như bể lọc cát cộng thêm một tầng đá ong. Tầng đá ong này sẽ giữ Arsen lại. Khi nó hấp phụ no Arsen thì đem “rửa” và tái sử dụng. Tuy nhiên, nơi nào nồng độ Arsen cao và cảm thấy lo lắng về nước bẩn, người ta mới sử dụng bể lọc đó. Tôi cũng đã nghiên cứu, chế tạo cứu thiết bị lọc cuối nguồn với bốn tầng lọc, giúp loại bỏ an toàn  Arsen, kim loại nặng, các độc tố hữu cơ, nitơ và vi khuẩn. Trước kia, để có một cột lọc, cần đến 30g bạc phủ trên bề mặt than hoạt tính. Sau này, ứng dụng công nghệ Nano, chúng tôi chỉ mất 0,3g bạc nhưng khả năng diệt khuẩn lại tốt gấp 100 lần bạc dạng khối. Thiết bị lọc mới dựa trên nguyên lý hấp phụ chọn lọc, chỉ lọc chất độc và giữ lại những khoáng chất tự nhiên có lợi cho cơ thể ở dưới ngưỡng cho phép. Đó là một bước tiến so với lọc qua màng – sử dụng công nghệ thẩm thấu ngược RO hiện vẫn được nhiều nơi sử dụng. Nước chảy qua màng RO  trở thành nước tinh khiết nhưng tất cả muối khoáng có ích cũng bị lọc hết. Chúng tôi đã dùng thiết bị mới thử nghiệm lọc nước sông Tô Lịch rồi gửi mẫu cho Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phân tích. Kết quả nước đó sạch hoàn toàn, có thể uống trực tiếp. Tuy nhiên, do chúng tôi chỉ quen làm khoa học chứ không quen kinh doanh nên mỗi tháng, chỉ làm chừng 2.000-3.000 bộ, không có đầu tư để phát triển thêm và cũng không biết làm sao để mở rộng sản xuất. Nếu ứng dụng công nghệ Nano, việc loại Arsen ở đầu nguồn (nhà máy nước) cũng rất dễ dàng và đầu tư không lớn. Ngoài bể lọc cát chỉ cần thêm một hệ thống hấp phụ. Nước chảy qua đó là thành nước sạch. Nhưng cũng như bể lọc cát mỗi tuần cần sục một lần, hệ hấp phụ sau mỗi chu kỳ cũng phải tái sinh hay thay mới. Tất nhiên, sẽ phải có kinh phí đầu tư và kinh phí vận hành. Khó ở chỗ đấy!  Tất cả những nghiên cứu trên chúng tôi đều đã công bố. Tuy thế, các nhà khoa học chỉ có thể đưa ra giải pháp và đều là giải pháp khả thi, còn việc ứng dụng vào thực tiễn lại tùy thuộc vào nhận thức của người dân và sự cân nhắc của các cấp. Ngay như bộ kit thử Arsen đã có rất nhiều nơi sản xuất như Đại học Tự nhiên, Viện Địa chất… và giá rất rẻ nhưng không bán được. Tương tự, trên thế giới, việc dùng Nano bạc để diệt khuẩn đã rất phổ biến nhưng ở ta có cái khó là chưa có tiêu chuẩn để dùng Nano bạc. Chúng ta vẫn giữ thói quen phải có hướng dẫn của Nhà nước mới dám sử dụng. Tôi biết nhiều nơi muốn thay thế Clo bằng Nano bạc để lọc nước nhưng gặp phải khó khăn trên nên không làm được, trong khi dùng Nano bạc rẻ hơn rất nhiều so với các chất lọc khác mà còn diệt được cả rong rêu.  Xin cảm ơn ông!  Hương Lan thực hiện  Bà Phạm Thị Kim Trang – Trung tâm Nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững (Đại học Quốc gia Hà Nội), nơi bắt đầu nghiên cứu về Arsen từ năm 1998 và đã có hơn 20 bài viết về Arsen được công bố quốc tế, cho biết, Trung tâm đã tiến hành nghiên cứu tại đồng bằng sông Hồng và một phần của đồng bằng sông Cửu Long (ven sông Mê Kông). Đến nay, đã lấy mẫu tại hơn 500 điểm phân bố đều trên đồng bằng sông Hồng. Qua đó, có thể nhận định, ở các khu vực ven sông nơi thường xuyên xảy ra lũ lụt trong nhiều nghìn năm có nguy cơ hình thành Arsen nhiều hơn và nồng độ Arsen trong nước cũng cao hơn khu vực xa sông. Để nghiên cứu diện rộng, các chuyên gia lấy nước ở các giếng khoan của nhà dân. Các nghiên cứu sâu về cơ chế, con đường hình thành thì cần đến sự hỗ trợ về kinh phí của nước ngoài bởi phải chủ động tiến hành khoan giếng, chủ động về chiều sâu giếng, lấy nước…, từ đấy, mới có mô hình nghiên cứu một cách chính xác. Trung tâm cũng bắt đầu tiến hành nghiên cứu sâu, chủ yếu ở tầng nước nông – tầng nước trẻ Holocen có độ sâu khoảng 30-60m. Theo bà Trang, câu hỏi vì sao Arsen hình thành ở chỗ này mà không ở chỗ khác là câu hỏi các nhà khoa học trong nước và quốc tế đều chưa trả lời được; đây cũng là một trong những hướng nghiên cứu chính của Trung tâm trong thời gian tới.       Author                Hương Lan        
__label__tiasang Khủng hoảng corona ở Ấn Độ: “Không ai ăn được sỏi đá cả”      Ấn Độ trở thành quốc gia ban hành lệnh giới  ghiêm trên phạm vi lớn nhất thế giới trước đại dịch corona. Hàng nghìn lao động nhập cư mất việc làm buộc phải về quê hương bản quán – và có thể cùng với cả virus.      Lao động nhập cư là những cư dân thuộc diện nghèo khó nhất của Ấn độ không còn nguồn thu nhập, chỉ còn cách trở về quê hương bản quán  Bunty không sợ con virus. Vấn đề đối với anh là gia đình anh trong mấy ngày tới sẽ sống bằng gì. Anh đi bên lề đường, đứa con bé bỏng ngồi trên vai hai tay ôm cổ bố. Chị vợ Bunty đi lùi phía sau, đầu đội khăn màu xanh, bên trên là một cái bọc lớn, toàn bộ của nả của gia đình ở trong cái tay nải này. Hai đứa con nữa lẽo đẽo theo sau.  Họ phải đi bộ vì từ đầu tuần tới giờ vì xe đò và tàu hỏa đã ngừng hoạt động, xe tắc xi cũng bị cấm, các chuyến bay cũng ngừng bay, vả lại nếu còn thì gia đình này cũng không thể có đủ tiền để mua vé. Bunty ăn lương công nhật mỗi ngày không quá 60 ngàn đồng (quy ra tiền Việt). Kể từ khi Chính phủ Ấn Độ ra lệnh phong tỏa thì khoản thu nhập này cũng không còn.  Nhà máy ngừng hoạt động, công trường không một bóng người, đường phố Delhi vốn dĩ vô cùng tấp nập, đông đúc nay vắng vẻ như một thành phố chết. Ngay từ lúc này, thực phẩm mang theo không còn là bao, con đường mà họ phải đi còn rất dài và sẽ lắm gian nan: 150 km, từ Delhi về đến làng quê của họ. Bunty tính, có lẽ gia đình anh phải đi mất hai ngày, có khi còn lâu hơn. Tuy nhiên ở lại thành phố là điều không thể, vợ anh nói: “Người ta không thể ăn sỏi, đá”, chị nói với nhà báo.  Hàng nghìn người, cả đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng lội bộ dọc theo đường cao tốc như vợ chồng Bunty. Họ xách tay nải, đeo ba lô, có người chỉ mang theo mỗi một bọc ni lông. Rất nhiều người dùng khăn che kín miệng – vì Corona, cả vì bụi bặm. Dân nhập cư từng đổ xô ra thành phố với hy vọng đổi đời nay lại ùn ùn về quê với hy vọng tìm được cuộc sống bình yên. Điều mà Chính phủ Ấn Độ lo lắng và muốn cản trở là không để hàng nghìn người dân ở các thành phố trở về quê hương của họ ở nông thôn và mang theo virus gây bệnh.  “Giãn cách xã hội” không tồn tại ở khu ổ chuột  Tối hôm thứ ba vừa qua, thủ tướng Narendra Modi tuyên bố lệnh giới nghiêm với mức độ vượt ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người: Ấn Độ với 1,37 tỷ dân không được ra khỏi nhà trong ba tuần lễ. Thủ tướng Modi không giấu giếm lo ngại về đại dịch có thể bùng phát ở Ấn Độ: ông đề cập đến nước Ý và Hoa Kỳ “hai quốc gia có hệ thống y tế vào loại nhất thế giới” – từ đó người ta không thể không nghĩ đến câu hỏi sẽ được nêu lên tiếp theo: khi những nước giàu có còn bị sụp đổ thì Ấn Độ sẽ phải xử lý như thế nào?      Sự chuẩn bị phong tỏa (lockdown) không được tốt, đất nước sa vào tình trạng hoang mang, hỗn loạn và trong trường hợp xấu nhất, người nghèo ở Ấn Độ phải tự quyết định. Cái gì đáng sợ hơn đối với họ, COVID -19 hay chết đói?      Cho đến nay, số ca lây nhiễm bệnh Ấn Độ còn tương đối thấp, chưa đến một nghìn. Bộ Y tế Ấn Độ vẫn khẳng định: virus chưa lây nhiễm cộng đồng rộng trong dân chúng. Nhưng nếu mà điều đó xảy ra thì sao đây? Người Ấn Độ sống trong những không gian chật chội hơn so với người dân châu Âu, ba thế hệ chung sống dưới một mái nhà là chuyện khá phổ biến. Tại các khu ổ chuột không thể có đặc ân về một “giãn cách xã hội” (social distancing). Trong điều kiện thông thường, hệ thống y tế công cộng vốn dĩ đã mong manh và đạt tới giới hạn của nó. Nước Đức có 29 giường bệnh chăm sóc đặc biệt dành cho 100.000 dân, Ý trên 12 giường, Ấn Độ có không có nổi hai giường. Điều đó có nghĩa là nếu bùng phát dịch bệnh như điều đang diễn ra với các nước phương Tây thì hệ thống y tế Ấn Độ sẽ sụp đổ nội trong ít ngày – và không chỉ có như vậy.  Đe dọa sự sống còn của hàng triệu người  “Nếu chúng ta không vượt qua được trong 21 ngày tới thì nhiều hộ gia đình sẽ bị sụp đổ vĩnh viễn”, ông Modi nói. Điều này không phải với tư cách là một Thủ tướng mà một một người trong gia đình. Và ông giơ hai tay lên trời cầu khẩn những người đồng bào của mình, hãy ở yên tại nơi họ đang ở.  Chỉ có điều ông chưa trả lời được câu hỏi, làm sao để hàng triệu người lao động Ấn Độ, sống bằng tiền lương công nhật mỗi ngày có thể tồn tại trong những tuần tới mà không có thu nhập. Những người chạy xích lô, nhân viên bảo vệ, thu gom rác thải và phụ hồ vv… những người hằng ngày bảo đảm sự tồn tại sạch sẽ và yên bình cho các thành phố lớn như Delhi, Mumbai hay Bangalore, họ làm cách nào để tồn tại? Ba phần tư dân số Ấn Độ làm việc trong khu vực được gọi với cái tên “phi chính thức”, họ không có bảo hiểm xã hội. Hãy ngồi ở nhà, đó là một yêu cầu xa xỉ với họ. Họ cố lắm thì có thể ngồi nhà vài ngày chứ không thể ba tuần lễ. Chùa chiền, thánh đường là nơi có các suất ăn miễn phí cho người nghèo giờ bị đóng cửa và các tổ chức từ thiện lúc này cũng không biết điều gì là được phép, điều gì bị cấm đoán. Sự chuẩn bị phong tỏa (lockdown) không được tốt, đất nước sa vào tình trạng hoang mang, hỗn loạn và trong trường hợp xấu nhất, người nghèo ở Ấn Độ phải tự quyết định. Cái gì đáng sợ hơn đối với họ, COVID -19 hay chết đói?  Coronavirus đã tới các nước mới nổi châu Á, những quốc gia trong mấy năm qua đã có sự vươn lên về tiềm lực kinh tế, dẫn đến sự ra đời của một tầng lớp trung lưu và hàng triệu người thoát nghèo.  Mọi thành tựu này giờ đây có thể bị con virus này tàn phá. “Những quốc gia có lượng dân cư lớn sẽ quyết định phần lớn tương lai của đại dịch này”, Mike Ryan, trưởng ban cấp cứu của WHO, từng nhận xét như vậy.  Cho đến lúc này, Ấn Độ tuyên bố sẽ dành khoản cứu trợ trị giá 20 tỷ Euro cho người nghèo  để giúp họ vượt qua khó khăn vì lệnh phong tỏa. Tiền sẽ được chuyển vào tài khoản của người nghèo. Hiện đã có nhiều người mở được tài khoản ở ngân hàng, tuy nhiên không phải tất cả. Gạo, bột, thậm chí cả bình gas được phân phát miễn phí cho người nghèo. Dẫu vậy thì các biện pháp hỗ trợ này diễn ra chậm chạp và nhiều người không muốn chờ đợi lâu như vậy.  Anh Mintu Chaudhry 32 tuổi chạy xích lô máy ở Jaipur, một thành phố thuộc Rajasthan lại hoan nghênh lệnh phong tỏa. “Ai muốn cứu gia đình mình, kẻ đó sẽ cứu đất nước mình”, anh nói qua điện thoại. Anh luôn đeo khẩu trang và rửa tay nhiều lần trong ngày. Anh cũng đã từng đến phòng khám vì hay đưa đón khách du lịch nước ngoài ra sân bay, xách hành lý cho họ, anh nghĩ là mình có thể bị lây nhiễm. Nhưng từ hôm có lệnh giới nghiêm anh cũng không có khách để vận chuyển, cảnh sát cũng đã tịch thu xe của anh trong khi đó giá thực phẩm, rau quả tăng vọt một phần vì người dân hoảng loạn mua để tích trữ, mặt khác việc vận chuyển bị ách tắc. Trước kia mỗi ngày, Mintu có thể kiếm mươi Euro, giờ đây khoản tiền dành dụm của anh vơi đi nhanh chóng. Vì lẽ đó anh quyết định đưa vợ con về quê, cách thành phố khoảng 120 km.  Ấn Độ chưa có mạng lưới an sinh xã hội vững chắc, nhà nước không phải lúc nào cũng là chỗ dựa chắc chắn. Gia đình là chỗ dựa lớn nhất và duy nhất. Gia đình Chaudhry có một ngôi nhà nhỏ và một mảnh vườn ở quê, trong hoàn cảnh khủng hoảng hiện tại điều này rất có giá trị. Giá lương thực, thực phẩm thấp hơn. Chaudhry nói: “Tôi sẽ ở lại đây với cả gia đình”.□  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Spiegel online 29.3.2002       Author                Quản trị        
__label__tiasang KHXH&NV: Không thể ở tình trạng đặc thù      Tiêu chuẩn chức danh GS/ PGS: Khoản 6 Điều 8 (tiêu chuẩn chức danh PGS): Bổ sung, phải có ít nhất một sáng chế, phát minh được công nhận hoặc có ít nhất một bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học có trong danh sách ISI, Scopus, ResearchGate (với các ngành KHXH & NV cũng vậy, không nên đặt nền KHXH & NV của Việt Nam ở tình trạng đặc thù, đặc biệt mãi, nếu vậy chúng ta sẽ mãi đi bên lề của “sân chơi” KHXH & NV của bạn bè và đồng nghiệp quốc tế).      GS,TS. Trần Đức Viên, nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  Điều 9. Tiêu chuẩn chức danh GS: Mục 4 nên yêu cầu có ít nhất một sách chuyên khảo, lưu ý là sách chuyên khảo có thể có nhiều tác giả, những người cùng một nhóm/êkíp/lab nghiên cứu, ứng viên GS phải là người tổ chức/nhóm trưởng êkíp nghiên cứu này. Không nên đánh giá cao giáo trình, vì chúng ta đang hội nhập sâu, nên việc nhập khẩu giáo trình, bài giảng cần được khuyến khích. Và giáo trình ở Việt Nam, đa số vẫn là “biên tập” từ các giáo trình/sách của người khác, không nhiều kết quả nghiên cứu của chính tác giả.  Mục 6 nên quy định ứng viên GS phải có ít nhất hai bài báo đăng trên tạp chí khoa học có trong danh sách ISI, Scopus, ResearchGate. Trong đó có ít nhất một bài ứng viên phải là tác giả đầu hoặc là tác giả liên lạc.  Điều 11. Mục 2. Không nên quy định bài báo tiếng Anh đăng trên tạp chí trong nước được tối đa 2 điểm, mà chỉ các bài đăng trên ISI, Scopus có IF lớn hơn ba mới được cho tối đa đến 2 điểm.  Điều 13. Kết quả của các chương trình, đề tài NCKH đã được nghiệm thu, đã được thể hiện bằng các sáng chế, phát minh, giải pháp hữu ích, bài báo khoa học rồi; nay lại tính điểm cho các chương trình, đề tài này nữa vô hình trung tác giả được tính điểm hai lần. Nếu có thì chỉ nên cho điểm thấp, để ghi công người đã có công “xin” được đề tài, chương trình nghiên cứu thôi. Hơn nữa, cách chia đề tài ra các cấp nhà nước, bộ, cơ sở nghe rất “hành chính”, hơi khó chứng minh đề tài cấp nhà nước có hàm lượng khoa học hơn hẳn đề tài cấp cơ sở. Bao nhiêu phát minh, sáng chế của “hai Lúa” là đề tài cấp gì? Thuyết tương đối của Einstein hay bộ Tư bản (Das Kapital) của Karl Marx là kết quả của đề tài cấp gì? Tương tự như vậy, đề tài nghiên cứu nổi tiếng về “tổ chức tắm và giặt cho bộ đội phía Bắc” thì phải cho bao nhiêu điểm mới xứng đáng?  Điều 19. Về việc thẩm định hồ sơ:  – Ứng viên có quyền giới thiệu cho Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở ít nhất bốn người và Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở giới thiệu ít nhất sáu người để thẩm định hồ sơ ứng viên.  – Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở lựa chọn ít nhất ba người để thẩm định hồ sơ trong số những người do ứng viên và Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở giới thiệu. Trong đó phải có ít nhất một người do ứng viên giới thiệu.  Điều 22. Người thẩm định hồ sơ phải là GS, PGS có cùng chuyên môn với ứng viên, và phải có công trình khoa học (chủ nhiệm đề tài, công bố bài báo, bằng phát minh, sáng chế…) về cùng lĩnh vực khoa học của ứng viên trong năm năm gần đây.  Điều 32 (hủy bỏ, miễn nhiệm). Bổ sung: GS, PGS trong năm năm liên tiếp không có công trình khoa học (đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học, phát minh, sáng chế, sách chuyên khảo….) thì bị xóa tên trong danh sách GS, PGS của cơ sở đào tạo.  Hội đồng Chức danh  Điều 36. Hội đồng Chức danh GS: Mục 2 bổ sung: Các thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) phải có chức danh GS, phải có ít nhất năm bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học có trong danh sách ISI, Scopus, ResearchGate, trong đó có ít nhất hai bài phải là tác giả đầu hoặc là tác giả liên lạc, và có ít nhất một công trình khoa học (sáng chế, phát minh, bài báo khoa học quốc tế, sách chuyên khảo…) công bố trong năm năm gần đây.  Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐCDGSNN, bổ sung một nhiệm vụ: Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học của các GS, PGS có đường link với cổng thông tin của Cục Thông tin KH&CN quốc gia, với Google Scholar, ResearchGate và Scopus, và link với chính các công trình đã công bố của các GS, PGS.  Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, có lẽ nên tập trung vào ba việc:  a) Xây dựng tiêu chuẩn và quy trình để hướng dẫn các Hội đồng Chức danh thực hiện.  b) Giám sát việc thực hiện xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư tại các Hội đồng Chức danh.  c) Thẩm định và ra quyết định công nhận đạt chuẩn chức danh GS, PGS với các ứng viên.  Điều 46, 54 về tiêu chuẩn của thành viên HĐCDGS ngành/liên ngành và HĐCDGS cơ sở: Phải là những GS.PGS có các công trình khoa học công bố trong năm năm gần đây, và ít nhất có một bài báo đang trên các tạp chí thuộc ISI.  Một số ý kiến khác  Về số điểm công trình nghiên cứu khoa học và đào tạo đối với ứng viên là giảng viên:  – Tổng số điểm công trình kết quả nghiên cứu khoa học và đào tạo: Ứng viên chức danh giáo sư phải đạt ít nhất 15,0 điểm trở lên, ứng viên chức danh phó giáo sư phải đạt ít nhất 10,0 điểm trở lên.  – Điểm công trình kết quả nghiên cứu khoa học và đào tạo trong bảy năm cuối chiếm tối đa 25% tổng số điểm công trình tối thiểu theo quy định.  Về sách phục vụ đào tạo: Không nên quy định ứng viên chức danh giáo sư phải có giáo trình (chủ biên) là yêu cầu bắt buộc vì hiện nay chúng ta đang quốc tế hóa giáo dục – hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới nên khuyến khích nhập khẩu chương trình/giáo trình của các nước tiên tiến vào giảng dạy.  Về hướng dẫn nghiên cứu sinh: Ứng viên chức danh giáo sư phải hướng dẫn chính ít nhất hai nghiên cứu sinh bảo vệ thành công hoặc hướng dẫn chính một nghiên cứu sinh và hướng dẫn phụ ít nhất hai nghiên cứu sinh bảo vệ thành công.  Xét công nhận đặc cách chức danh giáo sư đối với các ứng viên có ít nhất 10 bài báo (tác giả đầu hoặc là tác giả liên lạc) có trong danh sách ISI hoặc Scopus hay ResearchGate có chỉ số ảnh hưởng/Impact Factor lớn hơn 3,0.  Xem xét bỏ HĐCDGS ngành/liên ngành; HĐCDGSNN quản lý trực tiếp các hội đồng cơ sở    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Kiềm chế lạm phát, lo an sinh xã hội      Nghị quyết của Chính  phủ về “những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định  kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội” có sáu nhóm chủ yếu.      * Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng. Theo đó Chính phủ sẽ điều hành thắt chặt lại, kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng tối đa là 20%, nếu cần thiết thì có thể là 17-19%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%. Giảm tốc độ và tỉ trọng cho vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán. Tăng cường quản lý ngoại hối. Trong quý 2-2011, trình nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do…  * Thứ hai, thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước xuống dưới 5% GDP.  Tạm dừng trang bị mới ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng, giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu… Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp.  Bộ Kế hoạch và đầu tư phối hợp với các bộ ngành liên quan không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho các dự án; không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011.  Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước.  * Thứ ba, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu (không quá 16%), sử dụng năng lượng tiết kiệm.  Ngân hàng Nhà nước bảo đảm ngoại tệ nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng.  * Thứ tư, điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo.  * Thứ năm, tăng cường bảo đảm an sinh xã hội. Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; cho vay học sinh, sinh viên…  * Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm kê phát thải và “ghi sổ” các cơ sở phát thải lớn      Hiện nay, việc mua bán carbon vẫn còn chưa thể bắt đầu hoạt động ở Việt Nam. Do vậy, trước khi thảo luận về việc mua bán carbon có thể thực hiện được ở Việt Nam hay không, chúng ta sẽ cùng thảo luận về hai nhiệm vụ khác của Bộ TN&MT.      Đại tu tổ máy số 3 của nhà máy nhiệt điện Phú Mĩ. Nguồn: EVN.  Nhiệm vụ đầu tiên là Thiết lập hệ thống kiểm kê hai loại phát thải khí nhà kính quốc gia. Loại thứ nhất là phát thải có khuếch tán (diffuse emissions) – loại khí thải sinh ra từ rất nhiều nguồn phát nhỏ khác nhau, ví dụ như xe máy. Loại thứ hai là phát thải tập trung (concentrated emissions) từ một lượng nhỏ của các nguồn phát thải lớn, ví dụ như các nhà máy nhiệt điện. Do đó, việc kiểm kê sẽ dựa trên hai cơ chế. Đối với phát thải khuếch tán, các Bộ chịu trách nhiệm về Công nghiệp và Thương mại, Giao thông vận tải, Nông nghiệp, Xây dựng, Sử dụng đất và lâm nghiệp sẽ lập bản kiểm kê trong ngành của mình, thu thập các dữ liệu khí nhà kính từ UBND các tỉnh, sau đó tổng hợp và báo cáo cho Bộ TN&MT. Đối với phát thải tập trung, Bộ TN&MT sẽ lập danh sách các đơn vị phát thải lớn, và các cơ sở này sẽ phải báo cáo trực tiếp cho Bộ TN&MT.    Khi hệ thống này hoạt động, nó sẽ cải thiện đáng kể kết quả kiểm kê so với phương pháp kiểm kê hiện nay. Báo cáo kiểm kê khí nhà kính quốc gia mới nhất đã được thực hiện vào năm 2014, và chủ yếu dựa vào số liệu thống kê quốc gia. Song, nếu áp dụng hệ thống mới, việc kiểm kê ít nhất sẽ dựa trên dữ liệu sơ cấp đối với các đơn vị phát thải lớn, và sẽ phải thực hiện mỗi hai năm một lần.    Nhiệm vụ thứ hai là Thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) cho các đơn vị phát thải carbon lớn. Theo dự thảo nghị định hiện nay, các cơ sở phát thải lớn được định nghĩa là các cơ sở thải ra nhiều hơn 3.000 tấn CO2 tương đương mỗi năm. Và theo một danh sách sẽ được công bố vào năm 2022, các cơ sở này còn bao gồm:    ● Các cơ sở trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, vận tải hoặc xây dựng có tổng lượng tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 nghìn tấn dầu tương đương (TOE) trở lên.    ●    Cơ sở xử lý chất thải rắn có công suất hoạt động hằng năm từ 65.000 tấn trở lên (khoảng 180 tấn/ngày) và các trang trại chăn nuôi có số lượng đầu con từ 500 trở lên.    Danh sách này của Bộ TN&MT trùng khớp với danh sách của Bộ Công thương về các cơ sở sử dụng năng lượng chính yếu, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các đơn vị vận tải sử dụng trên 1000 TOE mỗi năm. Tổng số cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trong năm 2019 là 3.006 cơ sở, bao gồm 2.441 cơ sở công nghiệp, 15 cơ sở nông nghiệp, 84 cơ sở giao thông vận tải và 466 cơ sở xây dựng. Nhưng tuy không bao gồm các cơ sở xây dựng tiêu thụ từ 500 TOE đến 999 TOE mỗi năm như danh sách của Bộ Công thương, danh sách của Bộ TN&MT lại bao gồm cả các nhà máy nhiệt điện cũng như các cơ sở quản lý chất thải cũng như các nông trại lớn – vốn là nguồn phát thải khí metan.    Khi so sánh hệ thống thống kê và dữ liệu khí nhà kính của Bộ TN&MT với hệ thống thống kê và dữ liệu năng lượng của Bộ Công thương, chúng ta thấy cả hai đều là những sự cải tiến về năng lực quản lý nhà nước, trong đó đòi hỏi những nỗ lực ở quy mô quốc gia cùng với nhiều sự hợp tác quốc tế theo Công ước khung về Khí hậu. Song, Bộ TN&MT có lẽ đã tiến bộ hơn Bộ Công thương về kiểm kê bởi họ đã thực hiện ba báo cáo kiểm kê kể từ Thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam gửi Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu vào năm 2003, và Bộ TN&MT được ủy quyền hợp pháp để thu thập dữ liệu từ các bộ khác. Tuy nhiên, Bộ Công thương có lẽ lại tân tiến hơn trong việc báo cáo và xác minh, do kiểm toán năng lượng đã là hoạt động bắt buộc kể từ khi có luật sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm từ năm 2010.    Có thể thấy rõ ràng có những cơ hội cho việc hợp tác. Và các ngành công nghiệp lớn sẽ được hưởng lợi khi giải quyết được cả hai vấn đề về hiệu quả năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính cùng một lúc, dù cho họ có phải báo cáo cho hai bộ khác nhau.□    Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Kiểm soát con robot khổng lồ internet      Với Internet của vạn vật, chúng ta đang tạo ra một con robot có kích cỡ bằng cả thế giới. Nhưng làm sao để có thể kiểm soát nó?      Ransomware – một phần mềm độc hại được các hacker cài vào máy tính của nạn nhân, mã hóa dữ liệu của họ để tống tiền.  Ngày 21/10/2016 có ai đó sử dụng đầu ghi hình kĩ thuật số (DVR) của bạn, hoặc ít nhất là một DVR giống của bạn cùng hàng triệu webcam, bộ định tuyến (router) và những thiết bị nối mạng ít bảo mật khác, phát động cuộc tấn công tạo ra phản ứng dây chuyền, khiến cả Twitter, Reddit, Netflix và rất nhiều trang mạng khác bị đánh sập. Hẳn là bạn không bao giờ nghĩ chiếc DVR của mình lại có sức mạnh đáng sợ đến vậy, nhưng đó là sự thực  Sự trỗi dậy của con robot khổng lồ  Ngày nay, con người đã không còn sở hữu các đồ vật tích hợp máy tính, mà ngược lại chúng ta đang có những chiếc máy tính có những đồ vật gắn theo nó. Chiếc máy ATM thực chất là một chiếc máy tính có chứa tiền ở trong đó. Chiếc xe ô tô của bạn không còn là một thiết bị cơ khí với vài chiếc máy tính đặt ở trong mà nó là một chiếc máy tính với bốn bánh xe và một động cơ. Chính xác hơn, nó là một hệ thống được tạo nên bởi 100 chiếc máy tính cùng với bốn bánh xe và một động cơ. Và, đương nhiên, chiếc điện thoại của bạn đã hoàn toàn trở thành một chiếc máy tính thông dụng vào năm 2007, khi Iphone ra mắt lần đầu tiên. Mạng internet cũng không đơn thuần chỉ là các trang web mà chúng ta truy cập, mà đó là toàn bộ thế giới chúng ta sống được vi tính hóa, hòa mạng, liên kết nối. Đó chính là tương lai mà chúng ta vẫn hay gọi bằng cái tên Internet của vạn vật (Internet of Things – IoT).     Nói một cách khái quát, IoT có ba phần: Thứ nhất là các cảm biến thu thập dữ liệu về chúng ta và môi trường mà chúng ta đang sống như: nhiệt kế thông minh, cảm biến gắn trên đường xá và cao tốc, những chiếc smartphone thông dụng với cảm biến chuyển động và định vị GPS; Thứ hai là “những thứ thông minh” giúp chúng ta phân tích ý nghĩa của những dữ liệu này và cho biết nên làm gì với chúng, như bộ vi xử lý máy tính của các thiết bị và trên các đám mây điện toán hay các bộ nhớ lưu trữ tất cả các thông tin; và Thứ ba là các bộ phận chấp hành – trực tiếp ảnh hưởng lên môi trường của chúng ta. Mục đích của nhiệt kế thông minh không phải là để ghi lại nhiệt độ mà là để điều khiển lò sưởi hay điều hòa nhiệt độ. Những chiếc xe tự lái thu thập thông tin về đường xá và môi trường để có thể đi đến đích an toàn.      Hãy nghĩ những cảm biến giống như mắt và tai của internet, các bộ phận chấp hành là tay và chân, còn những những thứ trung gian như bộ xử lý thì đóng vai trò não bộ. Như vậy, chúng ta đang xây dựng một mạng internet có thể nhận biết, suy nghĩ và hành động – chính là định nghĩa kinh điển về robot. Nói cách khác, chúng ta đang tạo ra một con robot có kích cỡ bằng cả thế giới mà không hề biết.  Cụm từ Internet vạn vật cũng chưa đủ để mô tả con robot này. Nó là sự kết hợp của nhiều xu thế máy tính có tuổi đời vài thập kỉ qua: điện toán di động, điện toán đám mây, máy tính có năng lượng vĩnh cửu, dữ liệu thông tin cá nhân khổng lồ. IoT – hay chính xác hơn các hệ thống vật lý – số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Mặc dù vẫn chưa được thông minh lắm, nhưng IoT đang tiến hóa từng ngày để trở nên mạnh mẽ với nhiều khả năng hơn, thông qua những kết nối mà chúng ta đang xây dựng. Nó cũng đang trở nên cực kì nguy hiểm.  Yêu cầu về bảo mật luôn là vấn đề song hành kể từ khi máy tính xuất hiện. Và mặc dù bí mật không nằm trong thiết kế ban đầu của internet, song lại là điều mà chúng ta luôn cố gắng để đạt tới.  Bảo mật điện toán truyền thống thường được phân chia theo ba thuộc tính quan trọng sau đây: tính bí mật, tính toàn vẹn và sẵn sàng của dữ liệu. Hiện nay, phần lớn các mối quan ngại thường tập trung vào tính bảo mật. Chúng ta thường lo lắng về dữ liệu của mình và ai có quyền truy cập vào đó – đó là thế giới của sự riêng tư và sự giám sát, của ăn cắp và lạm dụng dữ liệu. Tuy nhiên, còn rất nhiều mối đe dọa dưới các hình thức khác. Như những nguy cơ về tính sẵn sàng: virus máy tính xóa bỏ dữ liệu, hay các ransomware mã hóa dữ liệu rồi yêu cầu chúng ta thanh toán bằng tài khoản ngân hàng. Hay các mối đe dọa về tính toàn vẹn như việc hacker thao túng danh mục nhập liệu của chúng ta cho những mục đích khác, từ thay đổi điểm số trên lớp đến số dư tài khoản ngân hàng. Rất nhiều trong số các mối đe dọa này là có hại. Chẳng hạn, nhiều bệnh viện đã phải chịu phí tổn hàng chục ngàn USD vì tội phạm mạng sử dụng ransomware mã hóa những tệp tin y tế quan trọng; hay như JPMorgan Chase phải chi nửa tỷ USD mỗi năm cho an ninh mạng.  Hiện nay, những đe dọa liên quan đến tính toàn vẹn và tính sẵn sàng đang trở nên ngày càng phong phú và nghiêm trọng hơn so với những nguy cơ về tính bí mật. Một khi máy tính bắt đầu có ảnh hưởng trực tiếp về mặt vật chất đối với thế giới, nó thực sự kéo theo những rủi ro liên quan đến đời sống lẫn tài sản của chúng ta. Có sự khác biệt căn bản giữa sự cố máy tính khiến bạn làm mất dữ liệu thống kê với trục trặc của thiết bị điều hòa nhịp tim khiến bạn đánh đổi bằng cả mạng sống. Điều này hoàn toàn không hề bị cường điệu hóa khi gần đây, các nhà nghiên cứu bảo mật phát hiện thấy những lỗ hổng nghiêm trọng trong thiết bị cấy ghép tim tại Bệnh viện St Jude Medical. Nếu chúng ta cho Internet tay và chân thì nó sẽ có khả năng đấm đá.  Không có cách nào vá lỗi  Do đó, có rất nhiều yêu cầu khác nhau liên quan đến bảo mật, và hậu quả của những sai sót có thể dừng lại ở hoạt động giám sát trái phép, cho tới hành vi tống tiền bằng các ransomware, cho đến sự chết chóc hàng loạt.  Cho đến nay, các máy tính và điện thoại thông minh của chúng ta phần nào vẫn duy trì được sự an toàn là do các công ty như Microsoft, Apple và Google đã đầu tư rất nhiều thời gian và nguồn lực cho việc kiểm thử các đoạn mã trước khi phát hành sản phẩm và kịp thời vá lỗi khi có lỗ hổng được phát hiện. Những công ty như vậy có khả năng hỗ trợ cho một đội ngũ lớn và chuyên tâm như vậy nhờ khoản lợi nhuận khổng lồ kiếm được từ hoạt động kinh doanh, và một phần là để sản phẩm của họ trở nên cạnh tranh về độ an toàn. Không may, mô thức này đã không thể đúng với các hệ thống nhúng như máy camera DVR hay bộ router trong gia đình, vì chúng thường được bán với mức lợi nhuận thấp hơn nhiều và do bên thứ ba gia công xây dựng – những công ty này, đơn giản là không đủ chuyên môn để làm cho chúng an toàn.  Tại một Hội nghị gần đây của các hacker, một chuyên gia an ninh mạng đã phân tích lỗ hổng trên 30 loại router gia đình và có thể xâm nhập tới một nửa trong số đó, bao gồm cả những thương hiệu nổi tiếng, phổ biến nhất. Hay những vụ tấn công từ chối dịch vụ (DdoS) đã khiến cho nhiều trang web nổi tiếng như Reddit và Twitter bị gián đoạn truy cập hồi tháng 10/2016, vốn được kích hoạt bởi các lỗ hổng trên webcam và máy quay DVR. Trong tháng 8/2017, hai chuyên gia bảo mật cũng đã trình diễn phương pháp tấn công ransomware vào một nhiệt kế thông minh.  Điều tồi tệ hơn là hầu hết các thiết bị này đều không có cách nào để vá lỗi. Những công ty như Microsoft và Apple liên tục phát hành các bản vá bảo mật cho máy tính cá nhân của bạn, hay việc vá lỗi một số router gia đình cũng là điều khả thi về mặt kỹ thuật, nhưng lại theo những cách phức tạp mà chỉ các chuyên gia mới thực hiện nổi. Và nhiều khi, cách duy nhất để cập nhật phần sụn (giao thoa giữa phần cứng và phần mềm) trong các máy quay DVR bị hack, đó là hãy vứt bỏ và mua một cái mới.      Chúng ta không thể trao quyền cho những lập trình viên và các công ty thuê họ có quyền viết nên không gian mạng theo cách họ muốn. Những quyết định mang tính đạo đức, chính trị theo một cách nào đó, cần phải được đưa ra bởi tất cả mọi người.        Thị trường không thể sửa những lỗi này bởi thực sự cả người mua lẫn người bán đều không quan tâm. Người sở hữu webcam hay DVR thường chẳng mấy quan tâm khi họ bị lợi dụng cho các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DDoS). Các thiết bị tương đối rẻ tiền, vẫn hoạt động tốt, và họ cũng chẳng biết ai là nạn nhân của những vụ tấn công đó. Người bán càng không bận tâm, đơn giản họ chỉ muốn bán các phiên bản mới hơn, tốt hơn, còn người mua chỉ cần hỏi giá cả và tính năng. Thị trường không thể tự giải quyết được điều này, sự mất an toàn thông tin này được các nhà kinh tế gọi là ảnh hưởng ngoại lai: quyết định mua hoặc bán của một người sẽ tạo ra hiệu ứng ảnh hưởng đến những người khác. Nó giống như một kiểu ô nhiễm vô hình.        Ba giải pháp chính sách  Trong khi những chi tiết về bất cứ hệ thống an ninh máy tính nào đều mang tính kĩ thuật, thì mang công nghệ ứng dụng rộng rãi vào thực tế lại là vấn đề của luật pháp, kinh tế, tâm lý học và xã hội học. Xây dựng các chính sách đúng đắn cũng quan trọng không kém gì xây dựng công nghệ chính xác bởi vì, để đảm bảo an ninh mạng, luật pháp và công nghệ phải liên kết chặt chẽ với nhau. Đó có lẽ là bài học quan trọng nhất mà vụ phanh phui NSA của Edward Snowden đem lại. Chúng ta từng biết rằng công nghệ có thể hạ bệ luật pháp. Còn Snowden thì chứng minh rằng luật pháp có thể khiến công nghệ làm tay sai cho mình.  Bất kì sự thay đổi chính sách nào để đảm bảo an ninh cho con robot có kích cỡ cả trái đất này đều đồng nghĩa với sự kiểm soát khá lớn của chính phủ. Tôi biết đó là một hình dung tội lỗi trong thế giới ngày nay nhưng tôi không thể tìm thấy một phương án nào khả dĩ hơn. Đó sẽ là một thách thức to lớn đối với internet, khi bản chất tự do là một trong những điều tuyệt vời nhất của nó, là nhân tố thúc đẩy những đổi mới sáng tạo mang tầm ảnh hưởng toàn cầu của nó. Nhưng tôi không biết câu chuyện này liệu còn tiếp diễn khi internet có thể tác động đến thế giới một cách trực tiếp, bằng vũ lực.  Tôi không nghĩ rằng bất cứ ai trong chúng ta có thể dự đoán được một chính sách toàn diện để đảm bảo an toàn cho thế giới, nhưng đây là một vài cách. Chúng ta cần chính phủ đảm bảo rằng các doanh nghiệp phải tuân thủ những thực hành về an ninh: từ kiểm thử, vá lỗi, các mặc định về an ninh – và cần phải có chế tài nếu như những công ty này không làm được những điều đó. Chúng ta cần chính phủ đưa ra những chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân chặt chẽ và giới hạn việc thu thập và sử dụng dữ liệu. Chúng ta cần bảo đảm rằng những nghiên cứu có trách nhiệm về bảo mật là hợp pháp và được đầu tư đúng đắn. Chúng ta cần thi hành sự minh bạch trong thiết kế, ký thác code các chương trình của công ty cho chính phủ khi nó phá sản và sự tương hợp giữa các thiết bị của những hãng sản xuất khác nhau, để đảo ngược hiệu ứng độc quyền trong những công nghệ liên kết nối. Mọi cá nhân đều có quyền giữ dữ liệu của riêng mình. Và mọi thiết bị có khả năng kết nối internet vẫn còn giữ lại được một số chức năng tối thiểu khi bị ngắt kết nối mạng.    “Chúng ta đang xây dựng một con robot có kích cỡ bằng cả thế giới, biết cảm nhận, suy nghĩ và hành động” – Bruce Schneier.  Dĩ nhiên sẽ có những vấn đề: Thiếu chuyên gia về những vấn đề này trong chính phủ, Thiếu ý chí trong cơ quan nhà nước để làm những công việc hành chính nặng nhọc. Còn giới công nghiệp đang lo lắng về bất cứ sự quan liêu nào phát sinh thêm. Nhưng chính phủ là một thực thể mà chúng ta trông đợi phải giải quyết vấn đề như thế này. Chính phủ có sự bao quát, có thể điều phối trên quy mô rộng và có thể cân bằng lợi ích giữa các bên để xác định và giải quyết vấn đề. Trong mọi trường hợp, Chính phủ phải có trách nhiệm tham dự. Chúng ta phải đối mặt với rủi ro quá lớn và cái giá phải trả cũng quá cao. Bản thân chính phủ hiện cũng đã kiểm soát các hệ thống vật lý ẩn chứa nhiều rủi ro như xe hơi và các thiết bị y tế.  Chúng ta cũng nên bắt đầu ngắt kết nối các hệ thống. Nếu chúng ta không thể đảm bảo cho những hệ thống phức tạp đạt mức an ninh cần thiết để nó có thể vận hành tốt trên thực tế, thì chúng ta không nên xây dựng một thế giới mà mọi thứ đều được vi tính hóa và liên kết.  Đây là những mô hình khác của internet. Chúng ta chỉ khuyến khích việc giao tiếp trong phạm vi địa phương. Chúng ta có thể đưa ra những giới hạn về thu thập và lưu trữ dữ liệu. Chúng ta có thể chủ động khóa các thiết bị, đảo ngược xu hướng biến tất cả mọi thứ thành một chiếc máy tính đa dụng. Và, điều quan trọng nhất, chúng ta có thể hướng tới những hệ thống ít tập trung hơn và phân tán hơn, giống như cách chúng ta hình dung ban đầu về internet.  Tôi đoán rằng chúng ta sẽ sớm đạt tới đỉnh điểm của sự vi tính hóa và kết nối, và rốt cục chúng ta sẽ phải đưa ra những quyết định nghiêm túc về việc chúng ta kết nối mọi thứ vì cái gì và như thế nào. Nhưng giờ đây, chúng ta vẫn còn đang ở trong giai đoạn trăng mật. Chính phủ và các tập đoàn vẫn đang chìm trong cơn say của dữ liệu, và cuộc chạy đua kết nối mọi thứ được khởi sinh từ khao khát quyền lực và thị phần. Một tài liệu được tung ra bởi Edward Snowden có chứa khẩu hiệu của NSA: “Thu thập tất cả”. Một khẩu hiệu tương tự để mô tả internet ngày nay có lẽ là: “Kết nối tất cả”.  Nó sẽ là những quyết định chính sách chủ đích đặt sự an toàn và lợi ích của xã hội lên trên lợi ích của các tập đoàn và khối công nghiệp; ưu tiên an ninh hệ thống của chúng ta lên trên những đòi hỏi của các đơn vị tình báo. Đó là một chính sách khó nuốt với nhiều người nhưng sự an toàn của chúng ta phụ thuộc vào nó.  Đề xuất cuối cùng của tôi: Chúng ta cần nhiều hơn những chuyên gia công nghệ hoạt động vì cộng đồng. Thực hành an ninh IoT đúng đắn phụ thuộc vào sự kết hợp của khu vực công nghệ và khu vực nhà nước, và quan trọng hơn, mỗi bên cần có những chuyên gia từng làm việc cho cả hai phía. Chúng ta cần những nhà công nghệ tham gia vào việc xây dựng chính sách và cần những nhà làm chính sách quan tâm đến công nghệ; Cần tạo ra những cơ hội nghề nghiệp cho những nhà công nghệ vì cộng đồng tương tự như cơ chế sẵn có đang được áp dụng để tạo ra những luật sư công ích; Cũng cần các khóa học, cần các chương trình cấp bằng ở đại học, cho những người hứng thú với những nghề nghiệp trong lĩnh vực công nghệ phục vụ cộng đồng, và cần những học bổng trong những tổ chức cần họ. Những công ty công nghệ cần cho phép nhân viên của mình làm những việc như vậy. Chúng ta cần một hệ sinh thái hỗ trợ những con người là cầu nối giữa công nghệ và luật pháp.  Cho đến bây giờ, chúng ta vẫn để internet tự thân vận động. Nhưng bây giờ, điều đó đã thay đổi, chúng ta không thể trao quyền cho những lập trình viên và các công ty thuê họ có quyền viết nên không gian mạng theo cách họ muốn. Những quyết định mang tính đạo đức, chính trị theo một cách nào đó, cần phải được đưa ra bởi tất cả mọi người. Chúng ta cần nhiệt thành kết nối mọi người, chúng ta đang hăng say kết nối máy móc. “Kết nối tất cả” phải được thay chuyển thành “kết nối con người”.     Hải Đăng – Hảo Linh lược dịch  ——–  * Bruce Schneier là chuyên gia công nghệ, hiện giữ cương vị CTO tại IBM, thành viên tại Trung tâm Beckman của Đại học Harvard và Hội đồng Tổ chức Electronic Frontier Foundation (EFF)  https://www.schneier.com/essays/archives/2017/01/click_here_to_kill_e.html  ** Tít bài do tòa soạn đặt.       Author                Bruce Schneier (*)        
__label__tiasang Kiểm soát dịch COVID-19: So sánh câu chuyện của Việt Nam và Đức      Việc kiểm soát COVID-19 ở Việt Nam từng được coi là một hình mẫu mà Đức nên học hỏi. Tuy nhiên gần đây, Việt Nam đang phải chịu một làn sóng bùng phát dịch khủng khiếp. Trong khi đó, ở Đức, số ca nhiễm và tử vong lại bắt đầu tăng nhanh trở lại. Trong bài viết, chúng tôi sẽ phân tích những nhân tố đằng sau điều này và so sánh sự thay đổi của hai quốc gia. Phần một của bài viết đưa đến một bức tranh chung và thời kì đầu của đại dịch. Với Việt Nam, tức là trước thời điểm khoảng 1/4/2021. Với Đức, “thời kì đầu” kết thúc vào ngày 27/6/2021. Còn phần hai là những gì xảy ra ở sau thời kì đầu này.      Y bác sĩ từ miền Bắc chi viện cho các tỉnh phía Nam đang bùng dịch. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Việt Nam, phần 1: Vào 23/1/2020, người đầu tiên bị nhiễm virus Sars-CoV-2 đặt chân đến một sân bay ở Việt Nam. Khởi đầu từ việc Bộ Y tế nhận thức được một dịch bệnh mới có thể đang tồn tại, một Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch được thành lập để xác lập và thực thi các biện pháp cần thiết để kiểm soát dịch bệnh COVID-19. Tôi và đồng nghiệp người Đan Mạch đã mô tả những biện pháp này một cách chi tiết, và đã đăng trên Tia Sáng (xem tài liệu tham khảo I). Những biện pháp này có thể gọi là mang đậm tính địa phương. Một mặt nó bao gồm một quy trình ví dụ như tuyên truyền các thông tin chung, cách ly tập trung với những người từ nước ngoài đến Việt Nam, đeo khẩu trang v..v, tức là coi tất cả mọi người đều như nhau trong phần lớn dân số. Mặt khác, có một hệ thống thông tin được cá nhân hóa, chính là các đội Dân quân tự vệ, gõ cửa khắp các nhà và yêu cầu người dân cần phải làm gì dựa trên điều kiện và kinh nghiệm của riêng họ. Hệ thống này còn được “gia cố” bằng cách thức xét nghiệm, truy vết và các quyết định điều trị hiệu quả. Kết quả là, từ 23/1/2020 đến 1/4/2021, số lượng ca nhiễm COVID-19 trung bình mỗi ngày chỉ khoảng bằng một bàn tay và hầu hết các ngày đều không có ca tử vong nào. Thế rồi, số ca mới và tử vong bắt đầu tăng đáng kể và thậm chí là nhanh chóng kể từ 1/5 trở đi. Chỉ riêng ngày 4/9/2021, cơ quan y tế công bố có 9.521 ca mắc mới và 347 ca tử vong.    Đức, phần 1: Ca nhiễm COVID-19 đầu tiên ở Đức được ghi nhận là vào khoảng 24/1/2020. Có nhiều khía cạnh xã hội đa dạng và phức tạp ảnh hưởng tới cách mà Đức kiểm soát đại dịch  COVID-19. Trong đó, không thể không kể đến lĩnh vực Y tế công cộng (bao gồm cả quản trị Y tế). Ngoài ra còn có những khía cạnh khoa học cơ bản như dịch tễ học, virus học và miễn dịch học. Bên cạnh đó còn có cả Y tế điều trị. Rồi còn khía cạnh về tài chính, gồm bảo hiểm Y tế và các quỹ để chi trả cho những rủi ro gây ra bởi đại dịch. (xem tài liệu tham khảo II)      Có một ý tưởng mơ hồ ban đầu về việc tiêu diệt dịch bệnh bằng “hiệu ứng miễn dịch cộng đồng”. Tuy nhiên thực tế thì ý tưởng này dựa trên một mô hình toán học vốn chứa rất nhiều biến số không thể lường trước, và bởi vậy nó có rất ít giá trị.      Những khía cạnh khoa học cơ bản ở Đức đã rất phát triển và đủ để đối diện với tình huống dịch bệnh như COVID-19. Điều đó có lẽ cũng đúng với khía cạnh Y tế điều trị và tài chính. Nhưng riêng Y tế công cộng là một thiếu sót, đặc biệt là thiếu một hệ thống quản trị y tế nhất quán nên nó đã dẫn đến tình trạng thảm họa COVID-19 ở thời kì đầu. Nào hãy đi vào chi tiết.    Đức là một hợp chủng quốc gồm 16 “bang”. Một Bộ trưởng bộ Y tế của Chính phủ Liên bang được bổ nhiệm khoảng ba năm trước khi COVID-19 xuất hiện. Bằng cấp chính của người này là ngân hàng. Ở thời kì này, lịch sử của rất nhiều dịch bệnh trước đây đã quá quen thuộc trong cộng đồng khoa học Đức, đặc biệt là trong khối những nhà virus học. Chẳng hạn vào năm 2002, virus gây “Hội chứng suy hô hấp cấp nặng” (SARS) có nguồn gốc từ động vật xuất hiện ở Trung Quốc và Canada được tạo nên từ virus SARS-CoV-1. Bởi vậy, ai cũng hiểu rằng, một dịch bệnh hay thậm chí là một đại dịch tương tự sẽ xuất hiện trong một tương lai không xa. Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Y tế Liên bang không nỗ lực để đưa ra những giải pháp để đối phó khi điều đó xảy ra. Đồng thời, ông ấy cũng không thành lập “Ban chỉ đạo liên bang” để kiểm soát dịch bệnh. Ông ấy chỉ đề xuất một vài hành động vụn vặt.    Cấu trúc liên bang của Đức còn khiến bối cảnh thêm phần rắc rối. Mỗi bang có một chính quyền riêng và trong chính quyền đó lại có một bộ, chuyên trách hoặc phụ trách một phần lĩnh vực y tế. Không một bộ nào trong số đó thành lập Ban chỉ đạo hoặc ít nhất là đưa ra những chỉ dẫn thống nhất mà không thay đổi xoành xoạch. Những chỉ dẫn từ Bộ Y tế Liên bang và từ Bộ Y tế từng bang hoàn toàn không có mối liên hệ gì với nhau. Cuối cùng, rất nhiều thành phố hay tỉnh có “Sở y tế” riêng, đành phải tự đưa ra chính sách của mình, hoàn toàn độc lập với những chỉ dẫn nói trên.      Tiêm vaccine ở thành phố Hồ Chí Minh.  Với tình hình như vậy, rất nhiều chính trị gia, nhà khoa học và các “chuyên gia tự phong” và cả công dân, đều đề xuất giải pháp của họ trên đủ loại phương tiện truyền thông sau thời điểm 24/1/2020. Những ý kiến này thường mâu thuẫn nhau hoặc thậm chí những người này còn mâu thuẫn với chính mình. Chiến lược của các cơ quan chính trị của Liên bang hoặc của từng bang hay ở mức hành chính hơn nữa, như đã nói ở trên, thường phải chịu áp lực từ các nhóm lợi ích chính trị và kinh tế. Ít nhất có hai viện nghiên cứu ở cấp liên bang, theo lý thuyết là hoạt động độc lập với Bộ Y tế Liên bang và thực hiện các nhiệm vụ do Bộ chỉ đạo. Một trong hai viện nghiên cứu đó là Viện Robert Koch ở Berlin. Nhiệm vụ của viện này từ trước đến nay là xử lý và biên tập dữ liệu về số lượng ca nhiễm và tử vong do COVID-19. Viện thứ hai là Viện Virus đặt tại trung tâm điều trị và nghiên cứu y tế Charité tại Berlin. Họ liên tục đưa ra những nhận xét và lời khuyên chính đáng và hữu ích dựa trên nền tảng khoa học. Nhưng với tình trạng thiếu nhất quán trong các quyết định của chính phủ liên bang, những đề xuất của Viện Virus hẳn không thể tránh khỏi việc thi thoảng bị truyền đạt không hiệu quả như mong đợi.    Giờ thì ta hãy nhìn vào sự biến đổi của dịch COVID-19 trong bối cảnh đó. Vì số lượng các ca tử vong phụ thuộc rất lớn vào tình trạng hệ thống bệnh viện, giờ chúng ta nên nhìn vào sự tiến triển của số lượng các ca nhiễm. Chúng tôi thường đếm ca nhiễm mỗi ngày. Để đưa đến cho người đọc một xu hướng chung, chúng tôi sẽ bắt đầu bằng cái nhìn toàn cảnh của toàn bộ giai đoạn từ khi dịch bệnh khởi phát vào ngày 24/1/2020 đến 4/9/2021. Số ca tăng giảm liên tục qua nhiều làn sóng dịch. Làn sóng đầu tiên là ở thời điểm 2/4/2020 với số ca nhiễm đỉnh điểm là 6.615 ca/ngày rồi giảm dần. Sau đó có một thời gian dài mà số ca mỗi ngày vào khoảng vài trăm ca. Một làn sóng mới khác bắt đầu vào 1/10/2020. Nó đạt đỉnh đầu tiên vào ngày 16/12/2020 với 32.744 ca một ngày và đỉnh thứ hai vào ngày 28/4/2021 với số ca nhiễm là 28.263 ca. Sau khi số ca giảm dần đến 336 ca nhiễm một ngày vào 27/6/2021, một làn sóng mới lại bắt đầu. Vào 4/9 vừa qua, số ca là 18.170 ca.      Rất nhiều chính trị gia, nhà khoa học và các “chuyên gia tự phong” và cả công dân, đều đề xuất giải pháp của họ trên đủ loại phương tiện truyền thông sau thời điểm 24/1/2020. Những ý kiến này thường mâu thuẫn nhau hoặc thậm chí những người này còn mâu thuẫn với chính mình. Chiến lược của các cơ quan chính trị của Liên bang hoặc của từng bang hay ở mức hành chính hơn nữa, như đã nói ở trên, thường phải chịu áp lực từ các nhóm lợi ích chính trị và kinh tế.      Số lượng ca mỗi ngày trên toàn liên bang là tổng số ca của tất ca các bang. Tuy nhiên, số ca mỗi bang rất khác nhau theo xu hướng rất kì lạ. Kể cả giữa các tỉnh và thành phố trong một bang, số ca nhiễm cũng phân bổ cũng rất khác nhau. Số ca nhiễm ở nơi này có thể rất cao nhưng ở ngay địa điểm giáp ranh lại có thể cực thấp. Điều này dĩ nhiên một phần là bởi những yếu tố nằm ngoài hệ thống y tế công cộng như là yếu tố kinh tế, mật độ dân số hoặc đơn giản là khí hậu và địa hình. Tuy nhiên, sự khác biệt của hành động hoặc thiếu hành động của Quản trị Y tế công cộng ở khắp nơi mới đóng vai trò cốt lõi. Hai thành phố sát gần nhau có thể áp dụng những nguyên tắc và chỉ dẫn cực kì khác nhau.    Chúng ta cũng đã chứng kiến bên cạnh sự khác nhau giữa các địa điểm, còn có sự khác nhau về số lượng ca nhiễm ở các thời điểm. Ở phần 1 này chúng ta chỉ nói về kết quả của những giải pháp kiểm soát được áp dụng trong ranh giới nước Đức. Còn số ca tăng chóng mặt kể từ thời điểm tháng 6/2021 chủ yếu là vì di chuyển xuyên biên giới, và tôi sẽ đề cập đến nó trong phần 2.    Theo dõi một ổ dịch là một trong những biện pháp được áp dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, các ổ dịch được định nghĩa theo địa điểm xuất hiện của các ca, và bởi vậy nó lên xuống thất thường. Thực ra cách hiệu quả hơn là kiểm soát dịch bệnh trong một khu vực được xác định bởi biên giới địa lý hoặc hành chính (mà chúng tôi gọi khái niệm khu vực này là “tổ dịch”).    Rất nhiều phương pháp kiểm soát dịch khác được áp dụng ở Đức trước khi làn sóng vào tháng 6/2021 bùng phát. Như chúng tôi đã chỉ ra, cách cơ quan hành chính và y tế ở các địa phương quyết định theo nhiều cách khác nhau và thậm chí là các cách vô lý. Chúng ta có thể dễ dàng mô tả các quyết định đó dựa trên đối tượng mà nó hướng tới. Những kiểu quy tắc như “làm tại nhà” là hướng tới các trường học và các nhóm người đi làm ở một số lĩnh vực nhất định. Đối với phần lớn người dân, những biện pháp như đeo khẩu trang, xét nghiệm, giữ khoảng cách không được chú trọng cho lắm. Đóng cửa vô số các cửa hàng như quán ăn hoàn toàn có lẽ là một biện pháp quá khắc nghiệt. Ở một vài thành phố, quán ăn, rạp chiếu phim và những dịch vụ tương tự vẫn được phép hoạt động ở một giới hạn nhất định, chẳng hạn như nhân viên ở đó đã được xét nghiệm âm tính ngay trước đó, hoặc đã bị nhiễm, hoặc đã được tiêm đủ mũi vaccine.    Câu chuyện tiêm vaccine dẫn chúng ta đến một trong những đặc trưng của cách chống dịch COVID-19 ở Đức, gọi là các Chương trình tiêm chủng. Một số tỉnh và thành phố ở Đức đã tổ chức các chương trình này rất tốt và hiệu quả. Tuy nhiên, chương trình này cũng rất khác nhau ở các địa điểm khác nhau. Nhưng Bộ Y tế Liên bang thì chưa bao giờ quan tâm đến vấn đề chiến lược tiêm chủng nhất quán với virus SARS-CoV-2 mặc dù “Ủy ban Tiêm chủng” (STIKO) trước đây, được thành lập năm 1972 gắn liền với Viện Robert Koch là để nhằm mục đích này. Chương trình tiêm chủng ở Đức sử dụng chủ yếu vaccine BioNTech, được phát triển bởi một công ty của Đức và sản xuất bởi Pfizer tại Mỹ. Vào ngày 27/6/2021, 37,7% dân số được báo cáo là đã tiêm hai mũ đầy đủ.    Tiêm chủng cho một cá nhân có hai mục đích chính: để bảo vệ người được tiêm khỏi nhiễm bệnh hoặc nếu nhiễm thì không bị trở nặng; và để tránh lây bệnh cho người khác. Hơn nữa, có một ý tưởng mơ hồ ban đầu về việc tiêu diệt dịch bệnh bằng “hiệu ứng miễn dịch cộng đồng”, hướng tới một tác động đến phần đông dân số, chứ không phải một cá nhân. Tuy nhiên thực tế thì ý tưởng này dựa trên một mô hình toán học vốn chứa rất nhiều biến số không thể lường trước, và bởi vậy nó có rất ít giá trị (để biết thêm chi tiết có thể xem Tài liệu tham khảo I).    Đến đây thì chúng ta không cần nói thêm gì về miễn dịch cộng đồng và biến chủng mới của virus nữa.    Bây giờ chúng ta sẽ phân tích và cố gắng so sánh những tiến triển “mới” của dịch COVID-19 ở Việt Nam và ở Đức. Tôi xin nhắc lại là phần này ở Việt Nam bắt đầu từ tháng 4/2021 và ở Đức là khởi đầu sau tháng 6/2021.    Việt Nam, phần 2: Thời kì đầu dịch bệnh, các thông tin tiếng Việt về sự tiến triển của dịch bệnh ở Việt Nam rất nhanh, chính xác và hoàn thiện, xuất phát từ các nguồn chính thống qua Ban chỉ Đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh từ Bộ Y tế. Từ khi bắt đầu có sự tăng nhanh của các ca nhiễm và tử vong, xuất hiện vai trò của các nguồn tin khác, trong đó là báo chí. Ngoài ra, còn có thông tin từ Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh của thành phố.    Khi kết nối thông tin từ tất cả các nguồn tin, một bối cảnh mới xuất hiện sau tháng 4/2021. Thứ nhất, ban đầu chiến lược chống dịch trước đây phần lớn đã bị buông lỏng. Thứ hai, về sau lại xuất hiện những biện pháp kiểm soát vô cùng chặt chẽ do làn sóng các ca nhiễm và tử vong mới dâng lên quá nhanh. Thứ ba, vai trò của vaccine trong việc kiểm soát COVID-19 chưa được nhận thức đúng đắn.    Về nhận định đầu tiên, mọi người trong nước được cho phép di chuyển theo hướng ít kiểm soát hơn, chẳng hạn như được đi biển thoải mái. Nhiều người trở về thiếu kiểm soát từ biên giới Campuchia dâng cao. Đổi lại, vấn đề của nhận định thứ hai, bắt đầu bằng những biện pháp rất khắt khe: thay vì hai tuần cách li tập trung, giờ trở thành ba tuần; không cho phép nhập cảnh vào Việt Nam theo đường hàng không. Những biện pháp này bắt đầu được thực thi từ tháng tám trong một bối cảnh rất khác. Thủ tướng Phạm Minh Chính, tuyên bố rằng có một “bước ngoặt” trong áp dụng chiến lược chống dịch, mục tiêu bây giờ không phải là quét sạch dịch bệnh mà là “Sống cùng với COVID-19”. Chiến lược này diễn ra đồng thời với khẩu hiệu “Ai ở đâu hãy ở yên đó!” – nghĩa là hoàn toàn không rời khỏi nhà. Nhưng mỗi nơi ở Việt Nam lại áp dụng chiến lược này một kiểu. Thứ ba, tại sao tất cả các biện pháp trên lại chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, trái ngược hoàn toàn với những gì diễn ra trước tháng 4/2021? Rất khó để trả lời câu hỏi này một cách cân bằng. Chúng tôi đã chỉ ra rằng những biện pháp thành công ở thời kì đầu không còn được áp dụng nữa. Những biện pháp mới không được thực thi hoặc xuất hiện quá muộn màng. Các chủng mới của virus xuất hiện. Và cuối cùng, nó dẫn chúng ta đến nhận định thứ tư, Bộ Y tế không thực sự nhận thức đúng đắn về mục đích của vaccine trong việc kiểm soát dịch bệnh cũng như quy trình để thiết kế và tổ chức chiến dịch tiêm chủng.    Nhận định này xứng đáng cần phải nói thêm. Trong những tuyên bố đầu tiên về tiêm chủng, Bộ Y tế thậm chí không xác định mục tiêu khả thi là gì: Đó là để chiến đấu với dịch bệnh đang diễn ra hay là ngăn chặn làn sóng mới trong tương lai? Thứ hai, khi không còn cách nào nữa ngoài việc tiêm chủng, thì chưa có gì được chuẩn bị. Các cơ quan y tế của Việt Nam bởi vậy dựa vào chương trình COVAX của WHO, vốn để cung cấp các vaccines phù hợp cho các nước đang phát triển. Thật không may, nó không phù hợp với Việt Nam. COVAX chỉ có thể cung cấp một lượng vaccine rất hạn chế. Hơn nữa, nguồn cung của COVAX phần lớn là vaccine AstraZeneca có hiệu lực không cao. Dù là nước thu nhập trung bình thấp, Việt Nam là một quốc gia phát triển trên nhiều lĩnh vực chẳng hạn như hệ thống giáo dục, đời sống tri thức và vị thế chính trị ở khu vực Nam Á, đáng lẽ ra Việt Nam phải nghĩ tới việc mua và đa dạng hóa nguồn vaccine ngay từ đầu. Giờ đây, Việt Nam mới bắt đầu điều chỉnh chiến lược vaccine dựa trên một nền tảng vững chắc hơn. Các cơ quan y tế của Việt Nam đang tìm kiếm các vaccine khác được phát triển, hoặc trong quá trình phát triển ở các nước khác nữa. Bên cạnh đó, một số khía cạnh của chiến lược tiêm chủng của Việt Nam như phân bổ theo độ tuổi vẫn cần phải được điều chỉnh.      Đức đã gỡ bỏ hạn chế du lịch vào tháng 6 vừa qua. Ảnh: France24.  Đức, phần 2: Thoạt nhìn, số ca nhiễm mỗi ngày đột ngột và vẫn tiếp tục gia tăng ở Đức sau ngày 27/6/2021 có vẻ rất khó hiểu. Một loạt các chương trình tiêm chủng vẫn tiếp diễn, mặc dù thường được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau. Vào 7/9, khoảng 62% dân số Đức được tiêm đủ hai mũi. Các biện pháp được mô tả ở phần 1 đang được áp dụng trở lại, theo thói quen khá hỗn loạn.    Để hiểu điều gì đang diễn ra, chúng ta cần phải nhìn ra ngoài biên giới nước Đức. Các kì nghỉ bắt đầu ở thời điểm cuối tháng chín. Mọi người muốn di chuyển tới những địa điểm du lịch khắp châu Âu. Những hạn chế di chuyển qua biên giới Đức chưa bao giờ chặt chẽ, nhưng giờ đây, để vừa lòng ước muốn của dân du lịch, nó hoàn toàn được gỡ bỏ, cũng như các kiểm soát dịch bệnh ở biên giới. Rất nhiều người đi du lịch bị nhiễm COVID-19 khi ở nước ngoài, mang nó quay trở lại trong nước và lây nhiễm cho người khác.    Việc kiểm soát dịch bệnh như COVID-19 phải được dẫn dắt ngay từ đầu bởi khoa học, chứ không phải bởi chính trị.□  ——-  Cảm ơn đóng góp vào bài viết của:   Nguyễn Xuân Xanh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam  Helga Zeile, Thành phố Bielefeld, Đức     Hảo Linh dịch  *Tít bài trên báo in là do tòa soạn đặt     Tài liệu tham khảo:   1 Biến động và kiểm soát COVID – 19: Ý kiến của hai nhà toán học. Phần 1: https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Bien-dong-va-kiem-soat-COVID–19-Y-kien-cua-hai-nha-toan-hoc-Phan-1-28295, Phần 2: https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Bien-dong-va-kiem-soat-COVID-Y-kien-cua-hai-nha-toan-hoc-phan-2-28327  2 “Sự chuẩn bị sớm cho COVID-19”. Bài báo được gửi cho Viện Hàn lâm Quốc gia Đức nhưng chưa được chấp nhận đăng tải. Nếu ai muốn đọc bản thảo của tài liệu này có thể viết email cho krik@ideenwelt.de.    Author                Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Kiểm soát ô nhiễm không khí: Khởi đầu cho những chính sách hiệu quả hơn      Dù muộn thì sự ra đời của những chính sách giảm thiểu ô nhiễm không khí hiệu quả dựa trên bằng chứng khoa học vẫn đang được cộng đồng đón chờ.      Hà Nội ô nhiễm nhiều trong các tháng 1, 2 và 11, 12 hằng năm. Nguồn: TTXVN.  Rải rác từ nhiều năm nay, một số kết quả rút ra từ các nghiên cứu do các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện về tác động của ô nhiễm không khí, đặc biệt là hạt bụi ở các phân khúc kích thước khác nhau, lên sức khỏe con người đã được xuất bản quốc tế. Phần lớn các nghiên cứu này đều tập trung vào đánh giá tác động của bụi PM2.5, hạt bụi có kích thước rất nhỏ mà cơ thể con người chưa có cơ chế đào thải và khi xâm nhập qua đường hô hấp, nó có thể ảnh hưởng đến hệ hô hấp, tăng áp lực lên hệ thống tim mạch…, trên những nhóm dễ bị tổn thương bởi hệ miễn dịch chưa đầy đủ hoặc đã bị suy giảm như trẻ em và người già. “Hạt bụi càng nhỏ thì càng độc hại”, TS. Lê Hữu Tuyến, nhà nghiên cứu về các hợp chất hữu cơ trong hạt bụi ở ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, cho biết như vậy vào tháng 10/2019 khi đề cập đến nguy cơ rủi ro ung thư của các loại hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) trong mẫu bụi PM2.5 và PM10 ở Hà Nội.     Do được công bố một cách rải rác và đơn lẻ, người ta khó hình dung ra được một bức tranh toàn cảnh về những nguy cơ rủi ro mà ô nhiễm không khí có thể gây ra cho các cá nhân và cộng đồng. “Có lẽ, đây là một phần lý do khiến các khuyến nghị về tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe ít được người dân cũng như chính quyền quan tâm”, một nhà nghiên cứu kỳ cựu ở ĐHQGHN, nhận xét.       “Khi tất cả các đánh giá tác động của ô nhiễm không khí ở quy mô toàn quốc đều sử dụng cùng một phương pháp, một nguồn số liệu thống nhất và trong cùng một khoảng thời gian… để có được cả một bức tranh toàn diện về gánh nặng bệnh tật của toàn quốc.” (TS. Nguyễn Thị Trang Nhung)      Dường như, tình hình đã có phần thay đổi khi báo cáo “Tác động ô nhiễm không khí do bụi PM2,5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội năm 2019” được giới thiệu tại một hội thảo online vào tháng 8/2021. “Những việc chúng ta đang làm ngày hôm nay thì nhiều quốc gia trên thế giới họ đã làm từ mấy chục năm trước rồi. Hiện giờ, chúng ta mới bắt đầu đủ điều kiện xem xét sự ảnh hưởng để tiến tới áp dụng các biện pháp can thiệp”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung (ĐH Y tế công cộng), một trong số các tác giả thực hiện báo cáo, cho biết như vậy sau hội thảo.      Bắt đầu từ đâu?     Để có cái nhìn tổng thể về đánh giá tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe, câu chuyện sẽ không chỉ dừng ở Hà Nội, một trong hai đô thị lớn nhất nước và không hẳn là nơi ô nhiễm bụi PM2.5 hàng đầu Việt Nam. Trong bản đồ nồng độ bụi PM2.5 mà PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN) công bố vào tháng 12/2021 thì vùng đỏ với nồng độ ô nhiễm lên tới 35,8μg/m3 tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và vùng lân cận, ngoài Hà Nội có Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định… Nếu nồng độ bụi PM2.5 ở các nơi đó cao hơn Hà Nội thì gánh nặng bệnh tật sẽ như thế nào? Liệu có thể ngoại suy từ kết quả của Hà Nội? Câu trả lời là không bởi điều kiện địa lý, điều kiện môi trường, tổng diện tích, dân số, mật độ dân số… của mỗi tỉnh đều rất khác nhau.     Sau khi đã thực hiện báo cáo ước lượng gánh nặng bệnh tật do phơi nhiễm bụi PM2.5 cho Hà Nội, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung cho rằng “nếu như có được nhiều dữ liệu hơn thì tôi nghĩ là không chỉ đánh giá được cho Hà Nội mà còn triển khai cho tất cả các địa phương trên cả nước”. Ở góc độ của người đã nắm chắc trong tay phương pháp và kinh nghiệm, chị còn nhìn thấy lợi ích xa hơn của một bức tranh toàn cảnh được thiết lập một cách bài bản và thống nhất: “Khi tất cả các đánh giá tác động của ô nhiễm không khí ở quy mô toàn quốc đều sử dụng cùng một phương pháp, một nguồn số liệu thống nhất và trong cùng một khoảng thời gian… để có được cả một bức tranh toàn diện về gánh nặng bệnh tật của toàn quốc và chúng ta có cơ sở để so sánh chúng với nhau”. Theo lý giải của chị, sự thiếu đồng đẳng về số liệu và mỗi nơi làm theo một cách thì cuối cùng sẽ dẫn đến “bài toán của chúng ta không cùng một mẫu số và câu chuyện nó sẽ không đúng nữa”.       Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ không chỉ hút khách du lịch mà còn là nơi giảm tải ô nhiễm không khí cho TPHCM. Ảnh: vietnamforestry.org.vn  Là dự án đi tiên phong, báo cáo đánh giá tác động của bụi PM2.5 lên sức khỏe người dân Thủ đô thực hiện bằng kinh phí tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Tuy nhiên, để đánh giá cho các tỉnh thành ở Việt Nam, chúng ta không thể trông chờ sự tài trợ của quốc tế. “Thông thường, để hoạch định chính sách thì ngay ở nước ngoài thì cơ quan quản lý sẽ đặt hàng các đơn vị nghiên cứu. Anh đã có phương pháp rồi, anh phải dùng kiến thức đó để phục vụ đời sống xã hội”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung nói và cho biết thêm, hiện ở trong Nam ngoài Bắc đã có rất nhiều nhóm nghiên cứu đủ năng lực để có thể cùng nhau thực hiện các đánh giá như vậy.    Lợi ích lớn nhất mà một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam với những thông tin ước tính về nguy cơ dẫn đến số ca tử vong sớm, số năm sống khỏe mạnh bị mất, nguy cơ nhập viện hằng năm về các bệnh tim mạch, viêm đường hô hấp… có thể đem lại sẽ là nguồn dữ liệu đầu vào và căn cứ để mở ra những nghiên cứu mới và gợi ý chính sách đi kèm. Nhiều nhà nghiên cứu cùng cho rằng, nhóm nghiên cứu của mình đang mong muốn có được những thông tin hữu ích về tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe để tính toán đến rất nhiều khía cạnh khác nhau trong câu chuyện này: những lợi ích/thiệt hại về kinh tế nếu kiểm soát hay không kiểm soát được ô nhiễm không khí, những kịch bản về tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe trong tương lai, những nguy cơ rủi ro sức khỏe của các thành phần của hạt bụi hay của các chất ô nhiễm khác trong khí quyển…       Về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng chiến lược để tiến hành các nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của ô nhiễm không khí lên sức khỏe để không chỉ có thông số chính xác hơn được tính toán từ hàm phơi nhiễm đặc thù mà còn có đóng góp cho cộng đồng quốc tế.      Việc thực hiện những nghiên cứu như thế này cũng góp phần nâng năng lực của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Có một điều dễ nhận thấy là lâu nay, Việt Nam vẫn kế thừa các mô hình của quốc tế. Trong trường hợp của nhóm nghiên cứu đánh giá tác động của bụi PM2.5 lên sức khỏe là mô hình ước lượng tử vong GEMM – một mô hình có các hàm về đánh giá phơi nhiễm có sự đóng góp của rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có Trung Quốc và một phần của Ấn Độ. “Nhưng Việt Nam chưa đóng góp gì vào mô hình GEMM bởi Việt Nam chưa thực hiện đánh giá tác động dài hạn nào để tự xây dựng hàm phơi nhiễm mang đặc thù của Việt Nam. Vì vậy, về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng chiến lược để tiến hành các nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của ô nhiễm không khí lên sức khỏe để không chỉ có thông số chính xác hơn được tính toán từ hàm phơi nhiễm đặc thù mà còn có đóng góp cho cộng đồng quốc tế”, nhóm nghiên cứu đã nêu khuyến nghị như vậy trong hội thảo công bố kết quả.      Để người dân sống khỏe mạnh hơn     Tất cả các nghiên cứu như vậy, dù được thực hiện một cách đơn lẻ và tản mạn ở đâu đó mà chưa được phổ biến rộng rãi kết quả, cũng nhằm đến mục tiêu này. Nhiều nhà nghiên cứu không khỏi cảm thấy ưu tư khi nghĩ đến những hậu quả có thể đến trong tương lai, nếu tình trạng ô nhiễm không khí không được kiểm soát một cách rốt ráo, ít nhất là đảm bảo không vượt quá mức quy chuẩn Việt Nam. “Báo cáo của chúng tôi về Hà Nội mới chỉ đề cập đến số năm sống khỏe mạnh bị mất mà chưa đả động đến những năm sống không khỏe mạnh”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung cho biết.     Khi nói đến khoảng thời gian sống không khỏe mạnh với những hậu quả của ô nhiễm không khí, ắt hẳn người ta sẽ mường tượng đến một tương lai khi về già – với một cơ thể có hệ miễn dịch suy giảm, hệ hô hấp bị ảnh hưởng, nguy cơ ung thư vì sự phơi nhiễm dài hạn các thành phần mang độc tố của hạt bụi… – thì sẽ phải mất thêm tiền để chữa bệnh, nhập viện, chất lượng cuộc sống vì thế sẽ bị tác động không nhiều thì ít… “Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam chúng ta là 75 nhưng tuổi thọ khỏe mạnh sẽ là bao nhiêu? Hãy thử tưởng tượng, nếu trong tương lai, số lượng những người về hưu chiếm 25% dân số, sức khỏe giảm sút vì nhiều nguyên nhân, trong đó có ô nhiễm không khí, và suốt ngày đi chữa bệnh thì giá trị mất đi là gì? Thuộc nhóm người không còn làm ra tiền, thậm chí phụ thuộc vào sự chăm sóc của con cháu, việc sống không khỏe mạnh lại càng thêm tốn kém tiền chữa bệnh. Đây cũng là bài toán của quốc gia vì nó gắn liền với an sinh xã hội”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung nói.    Đặt câu chuyện ô nhiễm không khí vào bối cảnh rộng lớn hơn mà báo cáo “Thích ứng với một xã hội già hóa” (Ngân hàng Thế giới công bố vào tháng 10/2021) đề cập tới, khi Việt Nam chính thức ở thời kỳ dân số già, chúng ta mới thấy gánh nặng bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam đã được dự báo và ô nhiễm không khí có thể “gia cố” thêm cho nó một khối lượng không nhỏ. Đó cũng là một thách thức với chính sách an sinh xã hội, cụ thể ở đây là sức ép lên hệ thống chi trả quỹ bảo hiểm và hưu trí vốn đã mất cân bằng cũng như chịu ảnh hưởng của lạm phát trong nhiều năm1.      Người dân tập thể dục để có một sức khỏe tốt hơn. Nguồn: Zing.  Trong các cuộc trao đổi với các nhà khoa học và cả Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam (VCAP) hay Live and Learn, tổ chức đã cùng các nhà khoa học nhiều năm triển khai các nghiên cứu về ô nhiễm không khí, có thể thấy mong ước lớn nhất của họ là thuyết phục được các nhà quản lý có những chính sách kiểm soát chất lượng không khí nói riêng và môi trường sống nói chung một cách quyết liệt hơn. Việc đề ra những chính sách hiệu quả không chỉ làm giảm gánh nặng bệnh tật trong tương lai, mà còn đem lại ích  lợi khác: “Việc giảm ô nhiễm không khí về lâu dài lại còn có thể giúp cho tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm mới hơn”, TS. Đặng Hoàng Hải Anh, một chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới, đã từng viết như vậy trên Tia Sáng2.      Làm gì để dẫn đến đổi thay?     Dù nghiên cứu nào rồi cũng có hàm ý chính sách nhưng không dễ để các nhà quản lý tìm thấy nó giữa rất nhiều kết quả, số liệu rồi đồng thuận đưa những khuyến nghị ấy vào các chính sách quản lý môi trường. Trong một cuộc trao đổi vào năm 2017, TS. Nguyễn Anh Tuấn (Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT) cho rằng “từ những công bố khoa học mang tính nhận biết và cảnh báo của các nhà khoa học đến việc xây dựng chính sách ở tầm quốc gia vẫn còn một khoảng trống ở giữa”. Theo lý giải của anh, đó là những số liệu, bằng chứng mang tính thống kê, mang độ tin cậy cao vì “về nguyên tắc ban hành chính sách, nhà quản lý không chỉ dựa trên những số liệu được kiểm chứng mà còn tính được hiệu ứng tích cực mà các số liệu đó có thể mang lại”. Nếu sự tích cực nhiều hơn thì chính sách được ban hành mới đạt được hiệu quả3.    Cần phải xây dựng những kịch bản đánh giá về tác động của ô nhiễm không khí với sức khỏe trong tương lai như các kịch bản biến đổi khí hậu. Khi đó, việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội của các vùng, các địa phương sẽ phải tính đến ô nhiễm không khí.    Đó cũng là quan điểm của chị Lê Thanh Thủy, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Sở TN&MT Hà Nội. Trong hội thảo công bố báo cáo “Tác động ô nhiễm không khí do bụi PM2,5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội năm 2019”, chị nhận xét, kết quả của báo cáo cần được đưa vào kế hoạch hành động để cải thiện chất lượng không khí của Thủ đô, do UBND thành phố Hà Nội giao cho Sở TN&MT phối hợp với các tổ chức xây dựng. Tuy nhiên, chị lưu ý “cần kết hợp với sở Y tế Hà Nội đế đánh giá thêm tác động của các chất khác để đánh giá nguy hại tiềm tàng với sức khỏe, không riêng PM2.5” bởi trước khi triển khai chính sách, cần phải tính toán đến sự ủng hộ của cộng đồng, trong đó có cả việc định lượng sự ảnh hưởng đến kinh tế của ô nhiễm không khí, nhằm tăng thêm tính khả thi của chính sách ban hành.  Bản thân những người làm khoa học cũng tự hỏi chính mình “hiện kết quả nghiên cứu đã đủ để dẫn đến sự thay đổi của chính sách chưa?”. TS. Nguyễn Thị Trang Nhung thừa nhận, chị và đồng nghiệp cần có thêm nhiều kết quả nghiên cứu khác nữa. “Trong nghiên cứu này, do yêu cầu về thời gian và yêu cầu đặt hàng nên chúng tôi mới dừng lại ở đánh giá tác động của bụi PM2.5. Do đó, trong thời gian tới, Việt Nam cũng cần có đánh giá tác động lên sức khỏe của các chất khác nhau và theo đặc trưng ô nhiễm của từng địa phương trên toàn quốc để chúng ta có thêm bằng chứng cho việc xây dựng chính sách giảm thiểu ô nhiễm không khí một cách toàn diện hơn”, nhóm nghiên cứu nêu khuyến nghị tại hội thảo.     Tuy nhiên, khi nhìn vào bài học kiểm soát chất lượng không khí của quốc tế, những người làm nghiên cứu còn nghĩ đến cả những điều khác, ví dụ cần phải xây dựng những kịch bản đánh giá về tác động của ô nhiễm không khí với sức khỏe trong tương lai giống như các kịch bản biến đổi khí hậu. Nếu triển khai đánh giá theo cách này cho nhiều vùng trên toàn quốc, ắt hẳn việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội của các vùng, các địa phương đó sẽ phải tính đến ô nhiễm không khí? “Lúc ấy, có thể chúng ta mới thấy được giá trị của những cánh rừng, những cây xanh hay khu vực sinh thái của nơi mình sống vì đó chính là nơi ‘gánh’ tải trọng ô nhiễm”, một nhà nghiên cứu về môi trường ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, dự báo.    Có lẽ, những nghiên cứu như vậy sẽ là cách dẫn đến những số liệu thuyết phục hơn. “Các kịch bản tương lai sẽ là cơ sở để chúng ta nhìn trước được tương lai, ví dụ Việt Nam sẽ có bao nhiêu ca bệnh, chi phí bảo hiểm khi đó có sẵn sàng? Và Việt Nam phải chuẩn bị ra sao cho tương lai đó?”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung nói và đưa ra một viễn cảnh “Nếu chúng ta cứ tạo ra các nguồn phát thải từ công nghiệp, nhiệt điện than, giao thông… mà không có biện pháp kiểm soát hợp lý tại nguồn thì điều gì chờ đợi chúng ta ở tương lai, ngoài môi trường ô nhiễm, ca bệnh nhiều, người già bệnh tật…?”   Nếu không có sự chuẩn bị về chính sách, có lẽ, không ai muốn bước vào một tương lai như vậy. □  ——————-  1. https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Chung-ta-chuan-bi-gi-cho-mot-xa-hoi-gia-hoa-28640   2. https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Tang-truong-kinh-te-co-luon-di-kem-o-nhiem-khong-khi–20826  3. https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Hop-chat-huu-co-kho-phan-huy-POPs-Tu-nghien-cuu-den-chinh-sach-11052    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Kiểm soát và cân bằng quyền lực      Nam Tước Acton có một câu nói nổi tiếng: “Quyền lực luôn tham nhũng; quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng tuyệt đối.” Khi có quá nhiều quyền lực trong tay, ngay đến người tốt cũng cai trị độc đoán. Do hiểu rõ bản chất của vấn đề như vậy, chủ nghĩa hiến chế mới nảy sinh, và đó là một bước ngoặt so với cách nghĩ truyền thống về quyền lực ở châu Á cũng như phương Tây. Trong cách nghĩ truyền thống, người ta thường ca tụng các nhà lãnh đạo và trao cho họ quyền lực tuyệt đối để bảo vệ an ninh quốc gia. Các nhà lãnh đạo truyền thống thì muốn xem thần dân trong nước như con cái, để họ làm nhiệm vụ của bậc cha mẹ và ra quyền hành xử như cha với con. Vượt ra khỏi tư duy đó là điều tiên quyết để thiết lập một chính phủ hiến định và công bằng.        1. Khi một người hay một nhóm nhỏ độc quyền quyền lực, họ sẽ trấn áp người khác.  Sau một thời gian, sự tập trung quyền hành quá mức dẫn đến tha hóa về cả tinh thần và vật chất, do đó người tốt dù có muốn đi nữa cũng mất khả năng lèo lái quốc gia một cách sáng suốt. Không một cá nhân nào hoàn toàn trong sạch. Ai cũng ít nhiều có thiên kiến, sai lầm về tư tưởng và vị kỷ. Một người tốt không phải là người không có nhược điểm. Người tốt là người biết kiềm chế và vượt qua được những nhược điểm đó. Nhưng để làm được điều này, họ cần có sự hỗ trợ của người khác. Nhưng khi tập trung quá nhiều quyền lực trong tay, người cầm quyền gạt bỏ khả năng và cơ hội hỗ trợ của những người khác.        Vì lý do này, một nhà lãnh đạo tốt sẽ không muốn nắm giữ quá nhiều quyền lực. Cái anh ta cần là một hệ thống trong đó nhiều người khác có thể góp phần vào quá trình ra quyết định. Khi đó, thay vì đơn thuần điều hành đất nước bằng mệnh lệnh, anh ta sẽ cân nhắc những quan điểm khác nhau. May ra lúc ấy anh ta sẽ buộc phải nhận ra rằng chính mình cũng có những thiên kiến, những sai lầm về tư tưởng, và cũng vị kỷ. Một nhà lãnh đạo thật sự anh minh cần sự sáng suốt ấy, và sẽ biết ơn những tiếng nói phản biện, thay vì trấn áp họ.        Quyền lực tuyệt đối tha hóa tinh thần, vì khi một người có quyền lực trên hết thảy mọi người khác, những người khác sẽ chỉ nói những điều họ nghĩ rằng người cầm quyền muốn nghe. Họ giấu đi những điều gây phật lòng, và không bao giờ bày tỏ những quan điểm và ý kiến trái ngược. Kết quả là người cầm quyền chẳng bao giờ nghe được những điều cần biết để có thể lãnh đạo sáng suốt hơn. Tệ hại hơn, sự tha hóa tinh thần này có thể dẫn đến tha hóa tâm hồn. Nếu không ai dám đưa ra những thông tin hay ý kiến chói tai, hoặc phản đối người cầm quyền, người cầm quyền cứ tưởng mình không hề có thiên kiến, không hề mắc sai lầm và không hề vị kỷ. Từ đó anh ta cho rằng mọi ý kiến của anh ta đều đúng. Anh ta bắt đầu ngộ nhận rằng lợi ích cá nhân của anh ta chính là lợi ích của xã hội. Khi ấy, anh ta trở thành một kẻ độc tài.  Vì lý do này, một nhà lãnh đạo tốt sẽ không muốn nắm giữ quá nhiều quyền lực. Cái anh ta cần là một hệ thống trong đó nhiều người khác có thể góp phần vào quá trình ra quyết định. Khi đó, thay vì đơn thuần điều hành đất nước bằng mệnh lệnh, anh ta sẽ cân nhắc những quan điểm khác nhau. May ra lúc ấy anh ta sẽ buộc phải nhận ra rằng chính mình cũng có những thiên kiến, những sai lầm về tư tưởng, và cũng vị kỷ. Một nhà lãnh đạo thật sự anh minh cần sự sáng suốt ấy, và sẽ biết ơn những tiếng nói phản biện, thay vì trấn áp họ.  Dĩ nhiên, không phải nhà lãnh đạo nào cũng xuất thân là người tốt. Ngược lại, họ có thể ham muốn quyền lực chỉ để trấn áp người khác và thủ lợi cho bản thân, cho gia đình và cho những kẻ về hùa theo họ. Những người như vậy vốn đã tha hóa ngay từ trước khi họ có quyền lực. Một khi tập trung quyền lực trong tay, họ sẽ sử dụng ngay quyền lực đó để đàn áp kẻ khác.  Tóm lại, những chính quyền nắm quyền lực quá tập trung sẽ lạm quyền và tham nhũng. Cách duy nhất để giới hạn quyền lực của họ và tránh lạm dụng là tản quyền.  2. Vì lý do đó, hiến pháp cần phân bổ quyền hành cho nhiều thành phần khác nhau của chính quyền để có sự giám sát và cân bằng quyền lực.  Bởi quyền lực tập trung sẽ sinh lạm dụng, không có cách giải quyết nào khác ngoài việc phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của chính quyền. Ý tưởng này được gọi là giám sát và cân bằng quyền lực: hiến pháp thiết lập nên sự cân bằng về quyền lực giữa các thành phần khác nhau của chính quyền để chúng có thể giám sát lẫn nhau. Giám sát và cân bằng quyền lực chính là cốt lõi của chủ nghĩa hiến chế. Vì không một cá nhân hay một nhóm nhỏ nào thâu tóm mọi quyền lực, sẽ không ai có quyền lực tuyệt đối để đàn áp kẻ khác. Khi các ngành trong chính quyền cần sự hợp tác của nhau thì họ phải lắng nghe nhau, phải thương thảo và phải cùng nhau làm việc. Khi nhiều người có khả năng tác động lên chính quyền và chính sách, chính quyền đó mới có thể trở nên công bằng và trung dung hơn, bởi vì khi đó chính quyền không chỉ còn phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ. Đồng thời, chính quyền cũng sẽ sáng suốt hơn, bởi các chính sách hay quyết định là kết quả của quá trình thảo luận trong đó nhiều cách nhìn khác nhau đã được cân nhắc.  Một số người, đặc biệt tại châu Á và châu Phi, lo ngại rằng giám sát và cân bằng quyền lực sẽ tạo nên bất ổn, tranh cãi, bế tắc, thậm chí nội chiến. Đúng là khi cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực không được thiết kế hợp lý, hậu quả của nó có thể không như mong đợi. Nhưng nếu được thiết kế tốt, nó sẽ không dẫn đến bất ổn quá mức bình thường. Những đất nước ổn định và thịnh vượng đều có một cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực nào đó. Lựa chọn duy nhất ngoài phân quyền là tập quyền. Mà tập quyền, như đã phân tích ở trên, luôn dẫn đến cai trị áp bức. Điều này rõ ràng tệ hại hơn nhiều so với những bất đồng bắt nguồn từ những tranh cãi chính trị thông thường.   Có nhiều mô hình giám sát và cân bằng quyền lực, do các yếu tố khác nhau được kết hợp một cách khác nhau. Nếu được thiết kế một cách cẩn trọng, giám sát và cân bằng quyền lực có thể giảm thiểu một cách có hiệu quả các bất ổn, cũng như tăng cường bảo vệ người dân chống lại chính quyền tha hóa và độc đoán.   3. Các hiến pháp phân quyền theo nhiều cách khác nhau  Có nhiều cách phân chia quyền lực giữa các nhân tố của chính quyền. Và các hiến pháp khác nhau thiết lập nên các chính quyền với kết cấu khác nhau. Có hiến pháp gọi người đứng đầu chính phủ là tổng thống, có nơi khác gọi là thủ tướng, lại có chỗ kết hợp ngành hành pháp và lập pháp với nhau trong một hội đồng mà người đứng đầu hội đồng không phải là tổng thống mà cũng chẳng phải thủ tướng. Vài hiến pháp công nhận chính quyền địa phương bán tự trị, nơi khác thì không. Có hiến pháp tổ chức hai viện lập pháp, có chỗ chỉ có một viện duy nhất. Như vậy, trong nhiều hệ thống hiến định khác nhau, kết cấu của chính quyền là khác nhau. Vì vậy, phân chia quyền lực giữa các thành phần chính quyền của các hệ thống hiến định khác nhau cũng sẽ khác biệt.  Thêm vào đó, cho dù các hiến pháp có quy định kết cấu chính quyền tương tự như nhau, chúng vẫn có thể phân chia quyền lực theo nhiều cách khác nhau cho các nhân tố đó. Thí dụ, tổng thống có thể có quyền phủ quyết những dự án luật do bên lập pháp đưa ra, hoặc có thể không có quyền đó. Thượng viện của ngành lập pháp có thể chỉ có quyền cố vấn cho hạ viện, nhưng viện này cũng có thể có quyền bác bỏ các dự luật của hạ viện. Chính quyền địa phương có thể có quyền lực rộng rãi trên các vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân trong khu vực đó. Nhưng họ cũng có thể chỉ có quyền lực hạn chế trong một số lĩnh vực mà thôi.  Trong bài viết ngắn ngủi này, thật khó để liệt kê hết tất cả hình thức phân quyền. Nhưng tựu trung lại, các mô hình chính là:  * Hầu hết các hiến pháp chia chính quyền trung ương thành ba phần – quyền lập pháp, quyền hành pháp và tòa án. Các quyền này được trao cho những người hay nhóm người khác nhau. Một số hiến pháp tách biệt hoàn toàn các quyền lực này, tức là các nhân tố trong chính quyền không hề có những mảng phận sự chồng lấn. Nhưng cũng có một số hiến pháp cho phép sự chia sẻ quyền lực nhất định, chẳng hạn tổng thống vừa có quyền hành pháp vừa có quyền phủ quyết dự luật (một phần của quyền lập pháp) trong một số trường hợp hạn chế. Phương thức phân quyền này được gọi là tam quyền phân lập.  * Một số hiến pháp phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương hay vùng lãnh thổ. Do sự phân chia này được quy định bởi hiến pháp, chính quyền trung ương không thể can thiệp vào phạm vi quyền lực của chính quyền vùng lãnh thổ. Quan trọng hơn cả, chính quyền trung ương không thể giải tán chính quyền địa phương đó hoặc tước đoạt một số quyền đã được hiến pháp trao cho họ. Có trường hợp chính quyền vùng lãnh thổ có thể soạn hiến pháp cho riêng địa phương họ, với cả ba ngành lập pháp, hành pháp và tòa án như chính quyền trung ương. Phương thức phân chia quyền lực này được gọi là chính thể liên bang.  * Mọi bản hiến pháp chính danh phân chia quyền lực giữa chính quyền và công dân nhằm mục đích bảo vệ quyền cá nhân. Một số quyền cá nhân tự bản chất là quyền nhân thân, như quyền kết hôn. Nhưng một số quyền mang tính chính trị, như quyền biểu tình hoặc quyền thành lập hội đoàn chính trị. Bằng cách thực thi các quyền này, công dân có thể kiểm soát chính phủ. Phương thức phân quyền này được gọi là quyền cá nhân.  * Mọi hiến pháp dân chủ còn phân chia quyền lực giữa chính quyền công dân thông qua bầu cử. Trong một nước dân chủ, quyền lực thuộc về nhân dân. Chính quyền có bổn phận phục vụ người dân, chứ người dân không phải phục tùng chính phủ. Nhưng người dân không thể cáng đáng hết công việc hàng ngày của chính quyền vì còn phải lo cho cuộc sống riêng của họ. Vì vậy, hiến pháp cho chính quyền quyền thay mặt người dân để giải quyết công việc trong những lĩnh vực phù hợp, với tư cách là công bộc của nhân dân. Tuy vậy, nhân dân vẫn nắm quyền giám sát tối thượng. Nếu nhân dân không hài lòng với cách làm việc của các viên chức chính quyền, họ có thể bỏ phiếu bãi nhiệm các viên chức đó qua bầu cử.  4. Dù mọi quốc gia đều cần tản quyền, có nhiều hình thức phân quyền khác nhau, và các quốc gia khác nhau phải chọn những hệ thống khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đó.  Như đã trình bày ở trên, có nhiều hình thức phân quyền. Một số hiến pháp áp dụng nhiều hình thức cùng một lúc, trong khi một số hiến pháp khác chỉ áp dụng một hình thức phân quyền mà thôi. Không có một hình thức phân quyền nào được xem là duy nhất phù hợp cho mọi quốc gia trong mọi thời kỳ. Đã có rất nhiều sách vở bàn đến các hình thức phân quyền trong bản hiến pháp. Đôi khi các phân tích đó mang nặng tính chuyên môn. Do đó, trong phạm vi bài viết ngắn này, khó có thể tóm gọn mọi khía cạnh của các tri thức đó.  Tuy vậy, bài viết này nhấn mạnh một điều quan trọng: các hình thức phân quyền khác nhau mang lại các hệ quả khác nhau. Bởi cân bằng và giám sát quyền lực là trọng tâm của thể chế hiến định, các nhà soạn thảo hiến pháp đã dành nhiều công sức nghiên cứu các hệ quả của mỗi hình thức phân quyền khi chúng được áp dụng riêng rẽ hay kết hợp lẫn nhau. Thế nhưng, không có một hệ thống hiến định nào hoàn hảo hay đạt mọi mục đích đặt ra. Các nhà soạn thảo hiến pháp luôn phải chọn lựa hoặc thỏa hiệp. Chẳng hạn, một số thể chế hiến định tạo điều kiện cho mọi khuynh hướng chính trị được đại diện trong chính quyền, nhưng lại có thể khiến chính trị bị chia rẽ và phân tán, vì sự tham gia của quá nhiều luồng ý kiến khác nhau sẽ khiến các bên khó đạt đồng thuận để ra quyết định. Một số thể chế hiến định khác có thể khiến vài khuynh hướng chính trị thiểu số không được đại diện trong chính quyền, nhưng bộ máy chính trị hoạt động suôn sẻ hơn. Một số hệ thống tập trung vào ý thức hệ chứ không phải quyền lợi “cục bộ” của từng địa phương. Một số hệ thống khác lại chú trọng đến các mối quan tâm cụ thể của các địa phương chứ không đặt nặng ý thức hệ, v.v… Mỗi thể chế hiến định này đều có những ưu và khuyết đỉểm.  Như vậy, mỗi quốc gia sẽ thấy có một số hệ thống thích hợp với họ hơn là những hệ thống khác. Tùy từng quốc gia cụ thể, những mục tiêu nhất thiết cần phải có, và những nhược điểm cần đặc biệt lưu tâm mà tránh, sẽ không giống nhau. Ví dụ, văn hóa của một số quốc gia có khuynh hướng tập trung quyền lực vào tay một người mà thôi, như người đứng đầu hành pháp, và rồi người này tìm cách thâu tóm những quyền lực khác cho riêng anh ta. Một số quốc gia khác xem việc hạn chế quyền hành pháp là quan trọng, nên trao nhiều quyền lực hơn cho ngành lập pháp và tòa án. Cách này có thể có nhược điểm là sự thiếu vắng một ngành hành pháp mạnh có thể ứng phó mau lẹ trước những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Nhưng nếu phải cân bằng giữa các ưu và khuyết điểm của từng hệ thống cho một quốc gia cụ thể, hệ thống cho phép ngăn chặn chính quyền độc đoán có ưu điểm hơn hẳn so với một hệ thống chủ trương cho ngành hành pháp quyền được tự do làm theo ý họ. Nghệ thuật soạn thảo một bản hiến pháp cần lưu tâm đến các đặc điểm và nhu cầu cụ thể của từng quốc gia là vì thế.  Trần Duy Nguyên và Nguyễn Thị Hường dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiến nghị về nghiên cứu khoa học xã hội      Bản kiến nghị này bắt đầu bằng những con số, do website fabula.org, một website chuyên đưa thông tin về các hoạt động văn học. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2007, kể cả thời gian nghỉ hè, ở Pháp có khoảng trên 370 cuộc hội thảo về văn học, riêng Paris có khoảng 220 hội thảo. Ngoài ra, tính từ tháng 1-2007 đến ngày 27 tháng 9 năm 2007, số sách nghiên cứu về văn học được xuất bản ở Pháp là 111 cuốn, theo giới thiệu của fabula. Tác giả chủ yếu là các giáo sư, giảng viên ở các trường đại học, các cán bộ ở viện nghiên cứu.    Những con số này cho thấy, bên cạnh công việc giảng dạy, nghiên cứu đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của các trường đại học. Những con số này còn cho thấy tính liên tục và đều đặn của các hội thảo: trong năm học, số lượng cuộc hội thảo gấp đôi hoặc hơn gấp đôi trong hè, giao động từ 55-70 hội thảo một tháng. Vậy bản chất của môi trường đại học là môi trường nghiên cứu. Điều này đúng ở tất cả các nước có nền giáo dục đại học phát triển. Có thể có những người nghiên cứu vốn khởi đầu không phải từ một trường đại học, nhưng sau khi họ có công trình khoa học, họ sẽ được mời về làm việc ở các trường đại học, các viện nghiên cứu. Michel Onfray, nhà triết học còn trẻ của Pháp là một ví dụ: Onfray vốn là một giáo viên dạy triết của một trường trung học dạy nghề, sau khi xuất bản một số cuốn sách đã được mời về dạy ở đại học. Như vậy, đại học vừa là môi trường kích thích vừa có nhiệm vụ phát triển nghiên cứu.        Các cuộc hội thảo riêng trong lĩnh vực văn học ở Pháp diễn ra trong thời gian 9 tháng đầu năm 2007, chủ yếu là tại các trường đại học:   – Từ 16/1/2007 đến 3/2/2007: có 55 cuộc hội thảo, trong đó có 37 hội thảo ở Paris.   – Từ 13/2/2007 đến 26/3/2007: có 58 cuộc hội thảo, trong đó có 31 hội thảo tại Paris.   – Từ 16/3/2007 đến 18/4/2007: có 67 cuộc hội thảo, trong đó 30 hội thảo diễn ra ở Paris.   – Từ 24/4/2007 đến 21/5/20072: có 62 cuộc hội thảo, trong đó 32 hội thảo diễn ra ở Paris.   – Từ 22/5/2007 đến 15/6/2007: có 76 cuộc hội thảo, trong đó 35 hội thảo ở Paris.   Trong thời kỳ nghỉ hè:   – Từ 20/6/2007 đến 20/7/2007: có 30 cuộc hội thảo.   – Từ 1/8/2007 đến 30/9/2007: có 27 cuộc hội thảo.        Hoạt động nghiên cứu khoa học chính là một điểm yếu của giáo dục đại học Việt Nam ở các ngành khoa học xã hội. Làm thế nào để góp phần hạn chế điểm yếu này? Để tránh việc lặp lại những kiến nghị mang tính chất chung chung, tôi xin nêu ra đây một vài biện pháp cụ thể:  1. Xác định lại quan niệm và yêu cầu về giảng viên đại học: Giảng viên đại học đồng thời là  nhà nghiên cứu.  Giáo viên đại học không chỉ dừng lại ở việc soạn các bài giảng. Họ là những người tổ chức, tham gia vào các hội thảo nghiên cứu khoa học, là tác giả của các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế cho thấy, nếu đại học Việt Nam bị coi là phổ thông cấp 4 thì nguyên nhân là ở chỗ nó chưa thực sự trở thành môi trường nghiên cứu. Số người làm nghiên cứu có, nhưng không nhiều. Vậy, để nâng cấp đại học, trước hết phải nâng cấp vai trò của giảng viên đại học. Các giảng viên tương lai để được tuyển chọn cần có phẩm chất của nhà nghiên cứu, và thực tế công việc phải đòi hỏi họ trở thành nhà nghiên cứu. Các thế hệ sinh viên Việt Nam không thiếu những người có phẩm chất này. Vấn đề là cần có chính sách tuyển chọn và sử dụng người hợp lý.  2. Để giảng viên đại học có thể dễ dàng đảm nhiệm vai trò nghiên cứu của mình, về mặt phương pháp và quy định cơ cấu chương trình giảng dạy cũng cần có sự thay đổi.  2.1. Ngoài việc thực hiện chương trình khung do Bộ Giáo Dục nghiên cứu và áp dụng ở các trường đại học, giảng viên cần có một sự độc lập nhất định trong việc chọn nội dung chương trình để giảng, một sự độc lập giúp họ có thể công bố các nghiên cứu mới của họ cho sinh viên.  2..2 Đặc biệt đối với đạo tạo sau đại học, từ thạc sĩ trở lên, hàng năm giảng viên cần đưa ra một chuyên đề mới. Nếu không thực hiện được hàng năm thì cũng phải thay đổi sau một thời hạn nhất  định, tối đa là ba năm. Vì việc dạy đi dạy lại một chuyên đề trong nhiều năm liền sẽ không kích thích khả năng sáng tạo và thay đổi trong nghiên cứu của giảng viên.  Ở Pháp, ngay ở cấp Licence, tức là cấp thấp nhất của đào tạo đại học, chủ đề và nội dung của các bài giảng cũng được giáo viên thay đổi. Tại Paris 7, cơ sở đào tạo hiện nay của tôi, có những giảng viên không bao giờ lặp lại bài giảng của họ, năm nào họ cũng đưa ra một vấn đề mới để giảng cho sinh viên. Vì mục đích của giáo dục đại học không phải là trang bị kiến thức.  Ở Phương Tây, ta có thể dễ dàng mua những cuốn sách với nhan đề như: “Bài giảng của năm…” Một ví dụ đã trở nên điển hình: “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure thực chất chính là nội dung của các bài giảng của Saussure do học trò ông ghi lại. Cuốn “Herméneutique du sujet” của Michel Foucault cũng là những bài giảng của ông ấy vào năm 1982 được học trò xuất bản từ vở ghi. Hiện nay một số giảng viên ở Pháp có thói quen là sau một năm học, họ hoàn thiện và cho xuất bản luôn bài giảng mà họ đã giảng cho sinh viên, và năm sau lại bắt đầu một bài giảng mới. Như vậy, bài giảng thực chất là một công trình nghiên cứu. Và đấy chính là điều kiện để cho đại học trở thành môi trường nghiên cứu.  2.3.  Trước mắt nếu tính tự nguyện ở các giảng viên trong việc nghiên cứu chưa cao, cần có những quy định mang tính bắt buộc của ngành, ví dụ quy định mỗi năm phải công bố bao nhiêu kết quả nghiên cứu, ở những mức độ nào. Nhiều khi sự bắt buộc cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển. Giai đoạn bắt buộc sẽ kết thúc khi mà giáo dục đại học đạt tới một chất lượng nhất định, lúc mà các giảng viên đã tự bắt buộc chính họ dưới hình thức gọi là tự nguyện, lúc mà họ thấy việc nghiên cứu là nhu cầu của chính họ, nhu cầu phát triển của chuyên ngành mà họ đảm nhận, cũng như nhu cầu thể hiện và khẳng định năng lực, khẳng định giá trị của họ.   Tuy nhiên, chính sách bắt buộc chỉ có thể thực thi trong trường hợp giảng viên đại học được trả lương xứng đáng với lao động của họ, hoặc ít nhất họ có thể đủ sống bằng công việc chính của họ mà không phải mất thời gian mưu sinh bằng những việc khác không liên quan đến chuyên môn.  3) Công khai hoá việc sử dụng ngân sách của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học cấp cho  ngành giáo dục :  Một số điều cụ thể :    3.1. Công bố ngân sách Nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học của ngành giáo dục trên website của Bộ Giáo Dục để tất cả cán bộ đều được biết và có thể nộp hồ sơ tham gia.   3.2. Công bố các điều kiện và yêu cầu, cũng như các ngành khoa học cụ thể được nhà nước đầu tư trong nghiên cứu khoa học.   3.3 Công bố danh sách thành viên của các hội đồng xét duyệt và thẩm định các công trình nghiên cứu.   3.4 Chi tiết hoá kinh phí và cập nhật tại mỗi thời điểm có sự thay đổi, và công bố công khai trên mạng: đã chi bao nhiêu; cho những công trình gì, do ai phụ trách, do hội đồng nào xét duyệt; còn lại bao nhiêu…   3.5.  Công bố danh sách các công trình nhận được tài trợ của chính phủ.   3.6. Phổ biến các công trình đã nghiệm thu trên website của Bộ, để chất lượng của chúng có thể được đánh giá một cách công khai.  4. Tạo cơ hội cho cán bộ trẻ tham gia vào các hoạt động nghiên cứu   -Cán bộ trẻ, đặc biệt là sinh viên vừa tốt nghiệp được giữ lại trường thường không được giao nhiều công việc, vì họ chưa có nhiều kinh nghiệm. Cần cho phép họ tổ chức cho sinh viên các buổi thảo luận về các vấn đề mà họ đã được học. Hoặc hướng dẫn sinh viên cách đọc một văn bản, cách viết thu hoạch, cách tóm tắt các sách khảo cứu. Việc chữa các lỗi tiếng Việt và ngữ pháp, hướng dẫn cách viết, cách đọc cho sinh viên, các giáo sư không có thời gian để làm, có thể giao việc đó cho các nghiên cứu sinh hoặc các cán bộ trẻ. Ở Pháp có một chế độ gọi là monitorat, dành cho các nghiên cứu sinh, công việc của moniteur tại các khoa khoa học xã hội là tổ chức các hoạt động đọc và viết cho sinh viên, chữa bài cho họ. Sinh viên Pháp viết sai tiếng Pháp không phải là chuyện hiếm, gặp khó khăn khi viết một báo cáo cũng không phải là hiếm.  Chế độ monirtorat được thiết lập  để giúp sinh  viên khắc phục nhược điểm này. Đấy đồng thời cũng là một hình thức giúp cán bộ trẻ quen dần với việc nghiên cứu.   -Cán bộ trẻ cũng có thể tổ chức các cuộc hội thảo, hoặc các nhóm nghiên cứu tuỳ theo lĩnh vực và sự quan tâm của họ.   -Các cán bộ trẻ cũng cần nhận được sự đầu tư của nhà nước nếu họ có những dự án có chất lượng và nếu họ chứng minh được khả năng thực hiện dự án đó.     5. Đưa Lịch sử triết học thế giới thành một bộ môn của các ngành khoa học xã hội  Tại sao có đề xuất này ? Hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội đòi hỏi kiểu tư duy trừu tượng. Và tư duy trừu tượng vốn không phải là điểm mạnh của người Việt Nam. Tuy nhiên các công trình của triết gia Trần Đức Thảo cho thấy rằng người Việt Nam không phải không có khả năng tư duy trừu tượng. Nhưng chúng ta chưa tạo môi trường cho kiểu tư duy này phát triển. Việc giảng dạy môn triết học, giảng dạy các khái niệm và vấn đề triết học cho các ngành khoa học xã hội chính là một cách tạo điều kiện cho việc góp phần xây dựng tư duy trừu tượng. Không thể có hoạt động nghiên cứu nếu không có những con người có phẩm chất nghiên cứu. Và sẽ không có những người có phẩm chất nghiên cứu nếu không đào tạo họ.  5.1. Triết học là một môn thi tốt nghiệp phổ thông bắt buộc ở Pháp. Ở các nước phát triển khác, lịch sử triết học và phương pháp luận khoa học (epistemologie) được giảng dạy ở đại học cả trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Đó không những là nền tảng kiến thức quan trọng của nhân loại mà còn là bộ môn giúp xây dựng khả năng phát triển tư duy trừu tượng. Vượt qua mọi tính chất cụ thể của các bộ môn khoa học cụ thể, nó là khoa học của mọi khoa học, là thành tựu đặc thù của tư duy nhân loại. Triết học thể hiện đầy đủ năng lực tư duy trừu tượng của con người.  Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, con người Việt Nam không thể không biết những gì mà nhân loại đã trải qua trên con đường tư duy về cuộc sống, về nhân sinh, về vũ trụ, về quan hệ giữa con người với bản thân mình, quan hệ giữa con người với đồng loại, quan hệ giữa con người với thế giới…  Trong khoa học xã hội nói riêng, như đã nói, thiếu tư duy trừu tượng sẽ dẫn đến sự thiếu vắng các nghiên cứu và các lý luận mang tính hệ thống. Do vậy, điều mà bộ môn lịch sử triết học có thể mang lại không chỉ là các kiến thức tổng hợp, mà còn là sự giới thiệu và gợi mở về các hình thái tư duy phức tạp. Nó sẽ góp phần, về lâu dài, xoá bỏ tình trạng thiếu vắng các nhà lý luận, các nhà nghiên cứu và các nhà tư tưởng. Nó cũng sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng băng hoại các giá trị tinh thần. Vì triết học sẽ nuôi dưỡng sự quan tâm đặc biệt đối với các giá trị tinh thần,  giúp con người hiểu rõ chính mình trong những chiều kích khác nhau, từ những vấn đề cụ thể trong đời sống hàng ngày của chính họ: sự sống, cái chết, cái tôi, tha nhân, tâm hồn, cơ thể, hạnh phúc, đạo đức, chính trị… cũng như những tầm cao mà họ có thể đạt tới trong tư duy.  5.2.  Việc giảng dạy cụ thể bộ môn này ở từng ngành khoa học xã hội khác nhau, có thể cần có những trọng tâm khác nhau. Trọng tâm chương trình áp dụng cho sinh viên khoa văn sẽ có sự khác biệt so với khoa sử, khoa ngôn ngữ, văn hoá… Điểm khác biệt chủ yếu sẽ nằm ở sự lựa chọn các tác giả, tác phẩm và trích đoạn tác phẩm được đưa vào phân tích cho sinh viên, và ở cách khai thác các tác phẩm, trích đoạn ấy.  5.3.  Làm thế nào để có các tác phẩm triết học thế giới để dạy cho sinh viên? Thực tế đó là một vấn đề nan giải. Vì rõ ràng chỉ có thể dạy cho sinh viên dựa trên những bản dịch tiếng Việt. Chúng ta có quá ít các bản dịch. Trong khi những triết gia đương đại như Derrida đã trở thành phổ biến ở Trung Quốc thì có những tác giả cổ điển vẫn chưa hề được dịch ở Việt Nam. Như vậy chúng ta đã lạc hậu quá nhiều so với Trung Quốc.  Hiện nay ở Việt Nam có những dịch giả tâm huyết và đủ năng lực để chuyển dịch những tác phẩm thuộc lĩnh vực rất khó dịch này. Một chính sách thoả đáng của chính phủ để sử dụng năng lực của họ cho một chiến lược tuyển chọn dịch và giới thiệu  một cách có hệ thống các tác giả kinh điển của triết học thế giới sẽ thúc đẩy quá trình đi nhanh hơn. Đồng thời tận dụng được tối đa tài nguyên chất xám mà chúng ta đang có.  ***  Tất cả những điều nói trên cho thấy chỉ khi chính phủ thực hiện một chính sách mang tầm chiến lược thì mới có thể thực sự phát triển nghiên cứu ở đại học, đặc biệt là những nghiên cứu về khoa học xã hội, vốn đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều về thời gian.  Tầm quan trọng của việc phát triển khoa học xã hội là ở chỗ : nó đóng vai trò cốt yếu trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển các giá trị nhân văn, các giá trị tinh thần, các giá trị đạo đức. Khoa học xã hội cung cấp hiểu biết về xã hội (Việt Nam và thế giới) để dựa trên đó, nhà cầm quyền có thể xây dựng và chọn lựa chính sách. Nếu không có khoa học xã hội thực sự, thì các “nhà khoa học xã hội” chỉ đóng vai trò “minh họa” hay biện minh cho một chính sách không căn cứ vào thực tế xã hội, đến khi chính sách này bị cuộc sống đào thải, thì lại « minh hoạ » cho một chính sách khác. Trước những ảnh hưởng nhanh chóng và ồ ạt của các yếu tố đến từ nước ngoài trong điều kiện hội nhập hiện nay, nếu khoa học xã hội của ta không đủ mạnh, và không áp dụng được các kết quả nghiên cứu vào đời sống, thì việc không bảo vệ được bản sắc dân tộc là điều có thể nhìn thấy. Bản sắc dân tộc không chỉ dừng lại ở những bộ trang phục truyền thống được mặc trong các dịp lễ hội hay các làn điệu dân ca. Nó còn là văn hoá ứng xử, cung cách sinh hoạt hàng ngày. Nó để lại dấu ấn trên các sản phẩm được sản xuất hàng ngày, từ sản phẩm tiêu dùng đến sản phẩm văn hoá, sản phẩm trí tuệ, cách thức tư duy. Cùng với sự suy vi của bản sắc dân tộc sẽ là sự băng hoại các giá trị đạo đức, các giá trị tinh thần, các giá trị nhân bản. Một quốc gia giàu mạnh không chỉ là một quốc gia phát triển về kinh tế mà còn là một quốc gia phát triển về văn hoá, có một nền tảng đạo đức xã hội vững chắc ; một quốc gia ở đó các công dân có quyền bình đẳng về mọi cơ hội, có điều kiện phát triển đầy đủ các phẩm chất trí tuệ, có điều kiện thể hiện khả năng lao động trong mọi lĩnh vực, được đảm bảo về sức khoẻ, và có điều kiện có một cuộc sống tinh thần phong phú. Giữa phát triển kinh tế và văn hoá có mối quan hệ biện chứng, hai chiều. Trong trường hợp Việt Nam, qua 20 năm đổi mới và tăng trưởng kinh tế, nếu văn hoá không đổi mới và phát triển lành mạnh, sẽ đến lúc nó níu kéo hay triệt tiêu tăng trưởng.  ———-  * Nghiên cứu sinh ngành: Văn học  Đại học: Paris 7- Denis Diderot  Nguyễn Thị Từ Huy*      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Kiến thức phổ thông” về nguồn gốc của hiến pháp?      Sau khi tiasang.com.vn đăng bài “Hiến pháp là gì?” của GS Cao Huy Thuần,  chúng tôi đã nhận được bài viết của Ths. Bùi Ngọc Sơn, giảng viên Đại  học Quốc gia Hà Nội nhằm xem xét lại những thông tin thuộc “kiến thức  phổ thông” về “nguồn gốc của hiến pháp” mà GS Cao Huy Thuần đã đưa ra  trong bài viết.     Trang mạng của tạp chí Tia Sáng mới đăng bài viết có tiêu đề “Hiến pháp là gì?” của tác giả Cao Huy Thuần, giáo sư đại học ở Pháp1. Trong dẫn đề, tác giả nói rằng “đứng trong thế đứng của một người dân trong một nước văn minh” để thảo luận vấn đề “hiến pháp là gì”. Tuy nhiên, tác giả không làm rõ tác giả đang thảo luận với ai. Bởi tác giả đăng bài viết trên tạp chí Tia Sáng – một diễn đàn của trí thức, ta có thể nghĩ tác giả muốn hướng đến giới trí thức. Từ những hiến gia lớp đầu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, rồi Phan Văn Trường, Phan Anh, Vũ Đình Hòe, đến các học giả ngày nay như Nguyễn Đình Lộc, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Đăng Dung, giới trí thức hiến luật ở nước ta vẫn chưa biết “hiến pháp là gì” sao? Hay là tác giả Cao Huy Thuần muốn nói với dân chúng hiến pháp là gì trong dịp dự thảo Hiến pháp được than vấn công chúng? Hay tác giả muốn nói với các nhà thảo hiến Việt Nam? Hay tác giả viết để tự tìm câu trả lời cho mình? Hay tác giả muốn hướng đến tất cả? Dù trên phương diện nào, những thông tin mà tác giả đưa ra trong bài viết cần phải được xem xét thêm.   Tác giả Cao Huy Thuần muốn trình bầy lại những điều mà ông gọi là những “kiến thức phổ thông” về “nguồn gốc”, “ý nghĩa nguyên thủy” của hiến pháp. Nếu là kiến thức phổ thông, nó phải có tính chuẩn xác; nếu không, có thể dẫn đến những quan niệm sai lầm trong các thảo luận chính sách hay hàn lâm. Tôi viết bài này không có ý tranh luận với tác giả Cao Huy Thuần về quan niệm hiến pháp, mà muốn xem xét lại những thông tin thuộc “kiến thức phổ thông” về “nguồn gốc của hiến pháp” mà tác giả đã đưa ra trong bài viết.   Nguồn gốc của hiến pháp ở nước Pháp?   Tác giả đặt câu hỏi: “ý nghĩa nguyên thủy của hiến pháp là gì? Rồi tác giả khẳng định một cách chắc nịch: “Ai cũng biết câu trả lời: nguồn gốc của nó nằm trong hai Cách mạng, của nước Pháp và nước Mỹ.” Tác giả viết tiếp: “trước hết là nước Pháp. Thật ra, danh từ “constitution” – mà ta dịch là hiến pháp – đã có từ lâu, ngay dưới thời Trung cổ, nhưng không mang ý nghĩa như sẽ có về sau.” Sau đó, tác giả miêu tả lịch sử chế độ quân chủ của nước Pháp trước Cách mạng 1789 như một chế độ vương quyền bị ràng buộc bởi “luật căn bản của vương quốc.” Rồi tác giả dẫn các lý thuyết gia của Pháp như Jean Bodin, Montesquieu, Sieyès, và những ảnh hưởng của họ đối với lịch sử quan niệm hiến pháp của Pháp. Tác giả cũng có tham chiếu phần nào đến các lý thuyết và thực hành hiến pháp của Mỹ. Đặc biệt, tác giả tôn vinh: “tác phẩm “Tinh yếu của luật pháp” (“Esprit des lois”) của Montesquieu ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử của khái niệm hiến pháp. Từ đây, từ năm 1748, danh từ “hiến pháp” mới thực sự có ý nghĩa hiện đại.”   Tôi cho rằng tác giả đang viết về nguồn gốc của quan niệm về hiến pháp ở nước Pháp chứ không phải nguồn gốc của hiến pháp nói chung. Vì vậy, những gì tác giả trình bầy khó có thể coi là “kiến thức phổ thông” về nguồn gốc của hiến pháp nói chung.   Những nguồn gốc xa hơn   Theo tác phẩm “Constitutionallism: Ancient and Modern” (Chủ nghĩa Hợp hiến: Cổ đại và Hiện đại) của Giáo sư Charles Howard McIlWain 1871 –1968) ở Đại học Harvard, xuất bản lần đầu năm 1940, một trong những tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử của hiến pháp, hiến pháp có nguồn gốc xa hơn, từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại, chứ không phải từ thời trung cổ (ở Pháp?) như tác giả Cao Huy Thuần tin tưởng. Xin gợi lại rằng Aristotle có tác phẩm nổi tiếng “Hiến pháp Athens” (Constitution of Athens). Aristotle cũng bàn về hiến pháp trong cuốn “Chính trị luận” (Politics). Theo giải thích của Craham Walker – một giáo sư chính trị học và luật hiến pháp người Mỹ, các lý thuyết về hiến pháp đã được phát triển bởi Aristotle, Polybius, Cicero, và các lý thuyết gia hiến pháp của nền cộng hòa La Mã2.  Đặc biệt, Raymond Polin đã trình bầy chi tiết các quan niệm hiến pháp của Plato và Aristotle3.  Sử gia hiến pháp Scott Gordon đã có một nghiên cứu công phu về sự lịch sử hiến pháp từ Athens cổ đại đến nay4. Để tiện lợi, dưới đây, tôi xin tóm lược một số thông tin về nguồn gốc cổ đại và trung đại của hiến pháp theo nghiên cứu của Giáo sư McIlWain.   Trong những nghĩa khác nhau của danh từ “hiến pháp” (constitution), người Hy Lạp cổ đại sử dụng theo một nghĩa cổ điển nhất. Nó bao gồm những đặc tính xác định bản chất đặc biệt của nhà nước và những đặc tính này bao gồm tổng thể các cơ cấu kinh tế xã hội cũng như cơ cấu chính quyền như trong nghĩa hẹp hơn của từ nay trong quan niệm hiện đại của chúng ta.   Dưới thời đế chế La Mã, từ này bằng hình thức Latinh của nó trở thành một thuật ngữ kĩ thuật để chỉ những đạo luật do hoàng đế ban hành, và từ luật La Mã, Nhà thờ đã may mượn nó và áp dụng nó vào những quy tắc của giáo hội đối với tất cả Nhà thờ hoặc một số giáo khu đặc biệt. Từ Nhà thờ hoặc có thể chính từ những sách luật của La Mã, thuật ngữ “constitution” này được tái sử dụng vào nửa sau thời kỳ trung cổ với ý nghĩa là những đạo luật thế tục. Ở Anh, đối với Hiến pháp nổi tiếng của Clarendon năm 1164 được quy cho Henry II và những người khác thì hiến pháp có ý nghĩa liên quan đến sự tồn tại giữa nhà thờ và nhà nước vào thời đại của ông của Henry, tức Henry I.   Những thế kỷ sau, “constitution” luôn có nghĩa là những đạo luật quản lý đặc thù như nó có nghĩa đối với các luật gia La Mã. Từ này được sử dụng để phân biệt với những đạo luật đặc thù được hình thành từ những tập quán cổ. Nó không bao giờ được sử dụng theo ý nghĩa hiện đại của chúng ta là chỉ những khuôn khổ pháp lý cuả nhà nước. Năm 1578, Pierre Grégoire sử dụng từ này gần như nghĩa hiện đại của chúng ta trong tác phẩm “ Nền cộng hoà” của ông, nhưng bối cảnh dường như để diễn đạt ý nghĩa của từ “constitution” hơi rộng và chung chung hơn ý nghĩa chính trị nghiêm khắc mà từ “constitution” chuyển tải, mà vì ý nghĩa này Grégoire dường như để sử dụng cụm từ cũ “nhà nước cộng hoà”. Trường hợp đầu tiên được đưa ra trong Từ điển Oxford của ý nghĩa của từ “constitution” để chỉ toàn thể khuôn khổ pháp lý của một nhà nước là một cụm từ của Joseph Hall năm 1610, “ Hiến pháp của khối thịnh vượng chung Israel” và một vài từ của Sir James Whitelocke trong cùng năm đó, có thể không hoàn toàn rõ ràng nhưng đáng chú ý hơn: “Cơ cấu tự nhiên và hiến pháp của chính trị của Vương quốc này, một chế độ cộng hoà hợp hiến”. Việc sử dụng thuật ngữ “constitution” như vậy có thể mới vào năm 1610 nhưng ý nghĩa của nó thì cũ nhất trong toàn bộ lịch sử của chủ nghĩa lập hiến. Cụm từ của Whitelocke thực sự bao gồm hai ý nghĩa của một hiến pháp có liên quan và kếp hợp mật thiết với nhau, tuy nhiên khác nhau về chi tiết. Ý nghĩa thứ nhất thể hiện ở những từ đầu tiên “cơ cấu thực chất của nhà nước”, và ý nghĩa này dường như cũ như từ “politic” (chính trị) của người Hylạp, mà chúng ta dịch bằng từ “constitution”. Một ý nghĩa khác được diễn đạt bởi cụm từ “jus publicum regni”, luật công cộng của một vương quốc. Ý nghĩa sau có thể không cổ như xưa nhưng nó rất cũ. Ciceron, chẳng hạn, đã nói trong tác phẩm “Nền cộng hoà” của ông trong một đoạn có bao gồm việc sử dụng đầu tiên từ “constitution” (hiến pháp) trong nghĩa hiện đại: “Hiến pháp này có một thước đo vĩ đại cho sự công bằng mà không có nó con người khó có thể giữ được tự do vĩnh cửu.”5   Vài lời kết  Kiến thức về hiến pháp là một hệ thống phong phú, phức tạp. Nhận thức về hiến pháp cần những sự đào luyện chuyên biệt. Do vậy, đánh thức ý thức hiến pháp công cộng không phải là vấn đề một sớm một chiều. Nó đòi hỏi những nỗ lực thường xuyên, bền bỉ, có thể mất nhiều thập kỷ, của giới trí thức, đặc biệt là các hiến gia. Khi ý thức hiến pháp công cộng đã được xác lập một cách chắc chắn như là sự tự ý thức hiến pháp của dân tộc, nhiệm vụ của nhà thảo hiến đơn giản là biểu đạt ý thức công cộng đó dưới dạng ngôn từ.  1 Cao Huy Thuần, Hiến pháp là gì? http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6171.   2 Craham Walker, “The Idea of Nonliberal Constitutionalism” in Ian Shapiro and Will Kymlicka (eds), Nomos XXXIX: Ethnicity and Group Rights (New York and London: New York University Press, 1997), 160-164.   3 Raymond Polin, Plato and Aristotle on Constitutionalism: An Exposition and Reference Source (Aldershot, England: Ashgate Publishing Ltd, 1998).   4 Xem: Scott Gordon, Controlling the State: Constitutionalism from Ancient Athens to Today (Cambridge, Massachusetts, and London, England: Harvard University Press, 1999).   5 Charles Howard McIlwain, Constitutionalism: Ancient and Modern (Clark, New Jersey: The Lawbook Exchange, Ltd, 2005).     Author                Quản trị        
0.18085106382978725
__label__tiasang Kinh doanh và nhân quyền – Tiếp cận mới về bảo đảm quyền con người      Hiện nay, trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và học thuật toàn cầu, quan niệm và cách tiếp cận về bảo đảm nhân quyền đã có những thay đổi và bước tiến quan trọng. Một trong những nội dung mới đó chính là khái niệm Kinh doanh và Nhân quyền. Và điều may mắn đối với Việt Nam là Hội nghị không chính thức của diễn đàn hợp tác ASEM lần thứ 14 với chủ đề Kinh doanh và Nhân quyền được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 18 đến 21 tháng 11 năm 2014.    Ngược dòng thời gian  Những người khởi xướng chủ thuyết Kinh doanh và Nhân quyền đã chịu ám ảnh của câu chuyện về sự liên minh giữa các tập đoàn công  nghiệp và Nhà nước Quốc xã của trùm phát xít Hitler những năm 30 và 40 của thế kỷ 20; điển hình là việc cung cấp công  nghệ và tài chính của Tập đoàn IBM (Hoa Kỳ) cho các hoạt động tội ác nhằm diệt chủng người Do thái của Hitler, thông qua các chi nhánh của tập đoàn này tại Đức. Tuy nhiên, mặc dù có sự liên đới với hành động vi phạm nhân quyền ở mức cao nhất là tội ác chống loài người, không một doanh nghiệp nào, kể cả IBM, sau Thế chiến thứ 2 bị coi là tội phạm chiến tranh. Tại sao vậy ?  Công pháp quốc tế trước đây cũng như hiện nay vẫn xác định các Nhà nước là đối tượng chủ thể duy nhất, mà không phải là công dân hay các tổ chức, như doanh nghiệp. Tuy nhiên, với thời gian, cuộc sống đã thay đổi và đặt ra một bài toán làm đau đầu các nhà chính trị và luật học ở bình diện quốc gia và quốc tế. Đó là sự lớn mạnh và trở thành các trung tâm quyền lực có khả  năng chi phối lớn lao đến đời sống kinh tế, thậm chí chính trị của các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới vào thời điểm 2010, 25 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu đã có thu nhập của năm đó từ 71 đến 408 tỷ Đô-la Mỹ, lớn hơn hoặc tương đương với GDP của nhiều nước, ví  dụ Luxembourg (55 tỷ), Việt Nam (104 tỷ), Peru (154 tỷ), Nam Phi (365 tỷ) và Na Uy (414 tỷ). Ngoài ra, thuộc hệ thống quản trị nội bộ của các tập đoàn này còn là hàng trăm, hàng ngàn các tổ chức chi nhánh hoặc liên kết trải khắp thế giới, và từ hàng trăm ngàn đến hàng triệu người làm việc trong các hệ thống đó.  Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Tuyên ngôn phổ quát về Nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc cũng như các Công ước quốc tế về nhân quyền sau đó có thể tiếp tục chỉ áp đặt các nghĩa vụ về tôn trọng và bảo đảm nhân quyền lên các quốc gia và Nhà nước , đồng thời coi các doanh nghiệp, bao gồm cả các tập đoàn đa quốc gia nói trên, là đối tượng đứng ngoài cuộc được không ? Vào tháng 12 năm 1972, tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, chính Tổng thống Chi Lê khi đó, Salvador Allende, người năm sau đã bị lật đổ bởi đảo chính quân sự với âm mưu từ bên ngoài, đã đưa ra lời cảnh báo rằng đã đến lúc xuất hiện sự đối đầu thật sự giữa các Nhà nước và các tập đoàn đa quốc gia.   Các chính phủ đã bắt đầu thức tỉnh và năm 1976, tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD đã xây dựng và ban hành Bộ Quy tắc hướng dẫn cho các Công ty đa quốc gia (MNEs), bước đầu liên quan đến các hành xử về lao động, môi trường, công nghệ, cạnh tranh và người tiêu dùng. Đồng thời, năm 1977, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng cho ra đời bản Tuyên ngôn về các nguyên tắc liên quan đến các MNEs và Chính sách xã hội, theo đó yêu cầu tất cả các bên tôn trọng các Tuyên bố và Công ước của Liên hợp quốc về Nhân quyền, các quyền Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Xã hội và Văn hoá. Tuy nhiên, xu thế đang lên trong việc tăng cường kiểm soát đối với các tập đoàn đa quốc gia đã bị làm suy yếu vào những năm 80 của thế kỷ 20, khi khởi phát làn sóng di chuyển các nhà máy công nghiệp từ châu Âu và Bắc Mỹ sang các nước đang phát triển để tìm kiếm nguồn lao động rẻ. Cơn khát đầu tư và tăng trưởng  kinh tế của các quốc gia tiếp nhận dường như được thoả mãn, bằng việc liên minh với các MNEs thông qua hàng loại chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư và thiết lập các đặc khu kinh tế. Các tiêu chuẩn có tính phổ quát về lao động và môi trường đương nhiên đã bị bỏ qua.          Các công lao lớn nhất để làm thức tỉnh xã hội một lần nữa về trách nhiệm với xã hội và con người của các doanh nghiệp chính là các tổ chức xã hội dân sự (NGOs) ở các quốc gia cung cấp đầu tư, với các tiêu chuẩn cao về nhân quyền, cũng như các quốc gia tiếp nhận, nơi mà lực lượng lao động bị bóc lột như nô lệ trong các xưởng may gia công hay các công trường khai mỏ, và nơi mà mức độ ô nhiễm môi trường đã đến mức không thể chịu đựng nổi.        Suốt từ thời điểm đó cho tới cuối những năm 2000, những thành tựu mang tính toàn cầu đạt được về bảo đảm quyền con người trong kinh doanh chỉ là đưa ra các bộ tiêu chuẩn quản trị liên quan đến Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Tuy vậy, ngay cả bản thân các quy tắc này cũng gây nên tranh cãi và thậm chí bị hiểu một cách méo mó, chẳng hạn như nhiều người đồng tình với quan điểm từ lâu của nhà kinh tế học nổi tiếng Milton Fredman cho rằng trách nhiệm xã hội cao nhất của doanh nghiệp chính là tạo ra lợi nhuận, và do đó các đóng góp cho cộng đồng sẽ hoàn toàn chỉ là sự hảo tâm của các chủ doanh nghiệp, hay cho rằng nghĩa vụ duy nhất của các nhà quản trị doanh nghiệp là thoả mãn các cổ đông v.v.. và v.v..  Các công lao lớn nhất để làm thức tỉnh xã hội một lần nữa về trách nhiệm với xã hội và con người của các doanh nghiệp chính là các tổ chức xã hội dân sự (NGOs) ở các quốc gia cung cấp đầu tư, với các tiêu chuẩn cao về nhân quyền, cũng như các quốc gia tiếp nhận, nơi mà lực lượng lao động bị bóc lột như nô lệ trong các xưởng may gia công hay các công trường khai mỏ, và nơi mà mức độ ô nhiễm môi trường đã đến mức không thể chịu đựng nổi. Tập đoàn NIKE với việc trả lương ở mức chết đói chỉ hơn 1 Đô-la Mỹ/ngày ở các quốc gia như Trung Quốc, Indonesia hay Việt Nam đã bị chính các NGOs ở Hoa Kỳ lên án. Hay, các tổ chức nhân quyền và NGOs ở Peru đã hỗ trợ cộng đồng người dân bản địa đấu tranh bằng cách khởi kiện Công ty khai mỏ Monterrico Metal của Anh lên Toà án London năm 2009, về các vi phạm liên quan đến tàn phá môi trường và sinh kế của người dân từ việc khai thác vàng, với kết quả là công ty này đã phải chấp nhận bồi thường thiệt hại.  Các nỗ lực và “sự cố” vi phạm quyền con người do các tập đoàn kinh doanh gây ra như vậy đã tạo tiền  đề  cho bước đột phá trong xây dựng các thiết chế bảo đảm nhân quyền trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Đó chính là việc hoàn chỉnh Bộ Nguyên tắc hướng dẫn về Kinh doanh và Nhân quyền (UN Guilding Principles on Business and Human Rights), được đệ trình lên Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc và thông qua vào ngày 16/6/2011. Cùng thời gian này, Bộ quy tắc hướng dẫn cho các MNEs của OECD cũng đồng thời được bổ sung thêm một chương mới về bảo đảm quyền con người trong các hoạt động của doanh nghiệp.  Các trụ cột của bảo đảm nhân quyền trong kinh doanh  Bộ Nguyên tắc hướng dẫn của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền (sau đây gọi tắt là “Bộ Nguyên tắc”) đưa ra 31 nguyên tắc nhằm hướng dẫn việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm bảo đảm các quyền con người bị tác động bất lợi hoặc xâm phạm do các hành vi đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, mà không có sự phân biệt về địa vị pháp lý cũng như quy mô. Tựu trung, có thể khái quát về ba quan điểm cơ bản có tính trụ cột mà các nguyên tắc này được xây dựng như sau:  Thứ nhất, khẳng định Nhà nước vẫn là chủ thể quan trọng nhất có nghĩa vụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện các quyền con người để chống lại sự xâm phạm của bất cứ bên thứ ba nào, bao gồm cả các doanh nghiệp.          Với việc ban hành và quảng bá Bộ Nguyên tắc, các tiêu chuẩn và một nền tảng văn hoá chính trị mới đã hình thành giữa các quốc gia, các tổ chức và người dân toàn cầu, hướng tới các trách nhiệm và giá trị chung về nhân quyền        Mặc dù Bộ Nguyên tắc không có ý nghĩa pháp lý như một công ước quốc tế, tức không tạo thêm bất cứ nghĩa vụ pháp lý mới nào cho các Nhà nước, nhưng lại rất quan trọng bởi mang đến các nhận thức mới có tính phổ biến chung. Đó là ngoài việc bảo đảm thực thi các quyền con người và quyền công dân theo khuôn khổ pháp lý hiện hành của mỗi quốc gia, các Chính phủ cần đưa ra các chính sách, cơ chế và biện pháp để  khuyến khích và giám sát việc tuân thủ các tiêu chuẩn về nhân quyền của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong triển khai các dự án đầu tư của có sự tham gia của Nhà nước thông qua vốn hoặc doanh nghiệp của mình. Trên thực tế, hưởng ứng sự kêu gọi của Liên hợp quốc đối với triển khai Bộ Nguyên tắc này, nhiều quốc gia đã tiến hành sửa đổi pháp luật về doanh nghiệp, đưa vào các điều khoản yêu cầu doanh nghiệp phải có chính sách về bảo đảm nhân quyền, bên cạnh trách nhiệm xã hội chung, hay tổ chức các nhóm công tác để đánh giá hàng năm về hiện trạng thực thi. Đặc biệt, Toà án của nhiều nước đã bắt đầu chấp nhận thụ lý các đơn khiếu nại về xâm phạm nhân quyền ở mức độ nghiêm trọng tại nước ngoài do chi nhánh của các cộng ty tại chính quốc gây ra. Điều này được giới luật sư cho là một đột phá và cơ hội lớn để mở rộng thẩm quyền khởi kiện dân sự và hình sự ra ngoài biên giới quốc gia.  Có thể nói rằng với việc ban hành và quảng bá Bộ Nguyên tắc, các tiêu chuẩn và một nền tảng văn hoá chính trị mới đã hình thành giữa các quốc gia, các tổ chức và người dân toàn cầu, hướng tới các trách nhiệm và giá trị chung về nhân quyền. Minh hoạ cho điều này, ngay tại Diễn đàn toàn cầu của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền đầu tiên được tổ chức tại Geneva (Thuỵ Sỹ) đã có tới 1000 đại biểu từ 80 quốc gia tham dự; và ngay một năm sau đó, tại Diễn đàn này lần thứ 2, số đại biểu đã tăng lên 1500 đến từ hơn 100 quốc gia, quy tụ mọi thành phần từ Chính phủ, doanh nhân, tổ chức xã hội dân sự, nhà khoa học, công đoàn, luật sư v.v..   Thứ hai, xác định doanh nghiệp là các tổ chức có vị trí đặc biệt trong xã hội, do đó có trách nhiệm tôn trọng nhân quyền, bảo đảm tránh mọi hành vi của chính mình cũng như của người khác xâm phạm hoặc gây tác động tiêu cực đến thực thi quyền con người.  Đã có sự tranh luận trong giới học thuật rằng các tiêu chuẩn mới về Kinh doanh và Nhân quyền có phải chỉ là sự mở rộng hay đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) hay không ? Trên thực tế có sự giống nhau vẻ bên ngoài nhưng bản chất không phải vậy. Nếu như coi rằng CSR là cách tiếp cận từ trên xuống, có nghĩa rằng việc một doanh nghiệp đóng góp và làm điều thiện cho cộng đồng, sau khi làm xong các nghĩa vụ nộp thuế, hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức và lòng tốt của ông chủ hoặc nhà quản lý doanh nghiệp, thì trách nhiệm bảo đảm tôn trọng các quyền con người lại xuất phát từ dưới lên. Bởi lẽ đơn giản là đã, đang và sẽ có rất nhiều các hoạt động đầu tư, kinh doanh xâm phạm các tiêu chuẩn về nhân quyền, chẳng hạn, đó là việc cưỡng chễ người dân phải di dời địa điểm canh tác hay nơi ở làm tổn hại đến sinh kế và tập quán, văn hoá của họ, hay gây ô nhiễm và phá huỷ môi trường gây tác hại về sức khoẻ của cả cộng đồng, thậm chí đó là việc tận dụng sức ép việc làm để bóc lột lao động theo kiểu nô lệ và xâm hại bình đẳng giới v.v.. Đối với những hoạt động như vậy, người dân và các cộng đồng của họ hoàn toàn có quyền đấu tranh để tự bảo vệ. Đồng thời, với mục tiêu xây dựng một môi trường tương tác bình đẳng, công bẳng và hài hoà giữa hai bên doanh nghiệp và người dân trong vùng bị ảnh hưởng, mỗi doanh nghiệp đều cần thiết và chủ động đề ra các chính sách và quy tắc ứng xử của mình về tôn trọng và bảo đảm nhân quyền.  Theo tổng kết cho tới thời điểm 2014, trong số khoảng 80.000 tập đoàn đa quốc gia trên toàn cầu, đã có 272 tập đoàn tự đưa ra các chính sách và bộ quy tắc ứng xử nội bộ nói trên. Nhiều doanh nghiệp đã yêu cầu bắt buộc các nhà quản trị phải thực hiện việc đánh giá tác động xã hội và tác động nhân quyền như hướng dẫn của Bộ Nguyên tắc, bên cạnh việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật, đối với mỗi dự án đầu tư cụ thể. Tương tự, theo quy định của pháp luật một số quốc gia, các doanh nghiệp ghi danh trên thị trường chứng khoán cũng buộc phải công bố hằng năm báo cáo tác động và bảo đảm về nhân quyền của mình, bên cạnh các bản cáo bạch về kinh doanh và tài chính. Thực tiễn này mới là bước đầu, tuy nhiên tại các trường kinh doanh hàng đầu ở châu Âu và Hoa Kỳ, giới học thuật đã nói đến một tiêu chuẩn văn hoá kinh doanh và quản trị doanh nghiệp mới của thế kỷ 21, đó chính là kinh doanh gắn với tôn trọng và bảo đảm nhân quyền.  Thứ ba, đối với những người dân là nạn nhân của các xâm phạm và lạm dụng về quyền con người, cả Nhà nước và doanh nghiệp đều cùng phải thực hiện các biện pháp có thể, bằng con đường tư pháp hoặc ngoài tư pháp, nhằm bảo đảm cho họ có sự tiếp cận rộng rãi với sự bồi hoàn và khắc phục vi phạm một cách thỏa đáng.          Nhiều học giả kinh tế hàng đầu, chẳng hạn như  Michael Porter, đã chủ trương thay các tiêu chí quản trị doanh nghiệp, từ hướng tới “giá trị cổ động” (shareholders value) chuyển sang “giá trị chia sẻ chung” (shared value), để tạo nên sự cùng phát triển hài hoà và bền vững giữa doanh nghiệp và cộng đồng.        Cho tới nay, đối với phần lớn các vụ việc xâm phạm quyền của người dân thông qua các hành vi đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp, dù là ở quốc gia nào vẫn thường có ba cách chính được xử dụng như là các biện pháp truyền thống. Đó là nhờ cậy chính quyền xử lý hành chính, khởi kiện lên toà án và nếu hai biện pháp đó không có kết quả thì chỉ còn con đường người dân tự đứng lên, biểu tình phản đối tập thể. Tuy nhiên, cả ba biện pháp đó, một khi liên quan đến các vi phạm hay xung đột lớn và phức tạp về quyền của người dân hay cộng đồng, dường như đều ít mang lại hiệu quả thực tiễn, không những thế còn gây ra các hệ luỵ nặng nề hơn cho chính người dân, chẳng hạn như đối với các tình huống nổi dậy và chống đối tập thể. Trong bối cảnh mới của việc thiết lập các tiêu chuẩn toàn cần về Kinh doanh và Nhân quyền, một hệ giá trị mới của nền kinh tế thị trường đã hình thành và được cổ vũ. Đó, về bản chất, chính là sự cộng tác và cùng chia sẻ rủi ro và lợi ích giữa doanh nghiệp và cộng đồng. Những nhà chính trị tài ba như Tony Blair đã tuyên ngôn về một xã hội mới của “các bên tham gia” (stakeholders society), và nhiều học giả kinh tế hàng đầu, chẳng hạn như  Michael Porter, đã chủ trương thay các tiêu chí quản trị doanh nghiệp, từ hướng tới “giá trị cổ động” (shareholders value) chuyển sang “giá trị chia sẻ chung” (shared value), để tạo nên sự cùng phát triển hài hoà và bền vững giữa doanh nghiệp và cộng đồng.  Vậy, hệ quả thực tế được trông đợi của quá trình này là gì ? Đó chính là sự chủ động tương tác từ cả hai phía với nhau, giữa doanh nghiệp và người dân, tạo nên một cơ chế thông tin, thảo luận và cùng tìm ra giải pháp cho các xung đột về lợi ích trong từng dự án cụ thể; trong đó đáng lưu ý là, thay vì các đối thoại cá nhân thì một cơ chế đại diện được người dân tự thiết lập lấy hạt nhân là các cộng đồng bị ảnh hưởng. Nói một cách khác, đó là các giải pháp bên ngoài con đường tư pháp truyền thống, mà lợi ích của nó là tạo nên các mối quan hệ hài hoà và phát triển bền vững, hơn là xử lý xung đột gắn với tạo thêm xung đột mới.  Cơ hội nào cho Việt Nam   Việt Nam là một nước đang phát triển, một thị trường mới nổi và đang chuyển đổi, do đó thuộc đối tượng các quốc gia bị soi xét rất khắt khe về hồ sơ nhân quyền bởi cộng đồng quốc tế. Hồ sơ nhân quyền bao gồm sự bảo đảm cho người dân không chỉ đối với các quyền chính trị, mà còn cả các quyền dân sự, kinh tế và văn hoá.  Trên thực tế, cần phải thừa nhận rằng khó có quốc gia nào cùng một lúc thoả mãn được các yêu cầu về bảo đảm đối với tất cả các quyền ấy, đặc biệt là các quyền rất “nhạy cảm” như quyền chính trị. Ngoài ra, các cơ quan chính phủ luôn luôn phải đối mặt với tình huống xung đột nội tại, đó là vừa phải cố gắng tìm kiếm các nguồn đầu tư để duy trì tăng trưởng, đôi khi bằng mọi giá, vừa phải quan tâm đến nghĩa vụ thực thi và bảo đảm nhân quyền như đã cam kết, trong khi từ cách nhìn thực tế và ngắn hạn, hai điều này dường như là đối nghịch. Chẳng hạn như vì mục tiêu kêu gọi vốn nước ngoài mà phải chấp nhận công nghệ bẩn, gây ô nhiễm nặng nề về môi trường sau đó, v.v.. và v.v..  Trước tình thế như vậy, câu hỏi là có cơ hội và giải pháp nào mở ra cho quốc gia như Việt Nam khi hưởng ứng triển khai các Nguyên tắc hướng dẫn về Kinh doanh và Nhân quyền của Liên hợp quốc không ?  Trước hết, cần nhận thức rằng tuân thủ các tiêu chuẩn về nhân quyền không phải chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là các bên phi nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp; trong đó các tập đoàn đa quốc gia, như phân tích ở trên, đã và đang được coi là đối tượng được quan tâm hàng đầu. Như vậy, nếu có sự triển khai đồng bộ trong việc ban hành hay sửa đổi, bổ sung chính sách và pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai và môi trường … ở trong nước cùng nhịp điệu với các quá trình tương tự đang diễn ra toàn cầu thì chắc chắn các doanh nghiệp trong nước, nếu có mục tiêu hội nhập vào thị trường quốc tế, và các tập đoàn đa quốc gia đang đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam, sẽ buộc phải tự điều chỉnh mục tiêu kinh doanh và tiêu chuẩn quản trị của mình theo hướng hỗ trợ việc bảo đảm nhân quyền. Nói một cách khác, gánh nặng về thực thi các nghĩa vụ về nhân quyền của Chính phủ sẽ được cùng san sẻ bởi chính các doanh nghiệp. Họ có thể vừa là thủ phạm tiềm tàng của các vi phạm nhân quyền trong kinh doanh, đồng thời vừa là đối tượng hưởng lợi một khi các cơ quan nhà nước phải xử lý xung đột với người dân, gây nên vi phạm về nhân quyền, để triển khai các dự án của bản thân doanh nghiệp.   Thứ hai, tại Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ 20 Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương về thực hiện dân chủ ở cơ sở, và chủ trương này sau đó được pháp chế hoá bằng Pháp lệnh về Dân chủ cơ sở năm ban hành năm 2007. Khung pháp luật này, tuy nhiên, tỏ ra kém hiệu quả thực tế nếu xét từ góc độ đánh giá về mục tiêu tăng cường dân chủ cơ sở để giảm xung đột ở các làng, xã nông thôn chịu tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Tại thời điểm này, nên chăng các cơ quan chức năng cần bắt đầu một cách tiếp cận mới và xúc tiến một quá trình khác, thực chất hơn. Đó là khuyến khích và hỗ trợ để xây dựng các thiết chế cộng đồng hoạt động theo hình thức tự quản gắn với các mục tiêu cụ thể. Trên thế giới, các nhà hoạt động xã hội cùng với giới học  thuật đã  nói nhiều tới dân chủ cộng đồng, giá trị cộng đồng, cộng đồng phát triển bền vững, và đặc biệt là cơ chế giải quyết xung đột cộng đồng. Nếu các cộng đồng dân cư được tổ chức và được trao quyền để đối thoại và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chia sẻ lợi ích và giải quyết xung đột một cách trực tiếp với “các bên tham gia”, đặc biệt  là các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, cơ quan chính quyền và các tổ chức xã hội, thì phải  chăng thực trạng căng thẳng như hiện nay ở các làng, xã nông thôn sẽ được giảm nhẹ rất nhiều? Đó không phải là điều gì khác hơn ngoài sự bảo đảm nhân quyền trên thực tế trong một xã hội của “mọi bên tham gia”, chứ không phải một xã hội bị chi phối bởi các thế lực vật chất và “nhóm lợi ích”.    Cuối cùng, để hưởng ứng chủ trương của Liên hợp quốc về phổ biến rộng rãi Bộ Nguyên tắc hướng dẫn về Kinh doanh và Nhân quyền, theo gương nhiều quốc gia đi trước, vì lợi ích của chính mình, Việt Nam cần xây dựng một Chiến lược quốc gia để triển khai các nguyên tắc và tiêu chuẩn mới này./.  ——-  * Luật sư và nghiên cứu sinh tại Đại học Columbia, New York       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh Ngày Chủ      Thày H2K* quen giảng kinh cả đời rồi. Nay là lúc thày được nghỉ, nhưng ngồi không, thì thày thành ra buồn.  Vậy nên dạo này, cứ chủ nhật đến thày lại làm kinh, giảng kinh… thành ra món “Kinh Ngày Chủ” miễn phí cho mọi người.      Trích “Kinh Ngày Chủ” vừa rồi của thày, thì ra như thế này:  – “Vua chúa là đầy tớ được trả lương” (Kautilya – nhà hiền triết Ấn Độ – sách Arthashastra).  – “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em, và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” ( Phúc âm Matthew Mt 20,25-28).  […]  CHỦ-TỚ  Cái máy ấy, ở mọi nơi nó được gọi là “đầy tớ” (Server).  Là đầy tớ, nó phục vụ mọi người, cung cấp cho họ account, mật mã truy nhập, và nhiều dịch vụ khác.  Sang đến Việt Nam, nó vẫn làm những việc ấy. Nhưng làm việc kém hơn, vì người sử dụng nó trình độ còn non.  Nhưng lạ thay, từ chỗ là “đầy tớ”, nó trở thành ông chủ – máy chủ. Chắc là vì ở ta, người có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ cho xã hội lại trở thành người ban phát và có quyền của ông chủ!  Thế mới biết, Server được dịch sang tiếng Việt là Máy chủ cũng có cái lý của nó!    —-  Lời bình của Cụ Hinh    Con người thường vô thức, luôn quên rằng mình là từ động vật mà ra, Trong đời sống động vật, con nào oai dữ nhất, thì thành chủ. Thường chúng chưa đạt đến trình độ biết khiêm tốn là gì.  Con người tiến bộ hơn, ai làm chủ, thì nhờ có lòng khiêm tốn, mà lại thành ra là đầy tớ.  Đơn giản, có như vậy thôi. Kính chào thày ạ.  —  *Hà Huy Khoái      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế của hàng rong      Trong tình hình đất nước hiện nay, hàng rong không phải là một vấn đề, mà là một giải pháp.      Sự kỳ thị đối với hàng rong không chỉ gây ra phản cảm, mà còn hết sức bất hợp lý xét về mặt kinh tế. Nguồn ảnh: Vietnamnet.vn  Bán hàng rong luôn gắn với vỉa hè. Trong chiến dịch lập lại trật tự cho hè phố hiện nay, những người bán hàng rong không khéo đang là đối tượng bị tổn thương nhiều nhất khi bị xua đuổi,  hạch sách trên nhiều con đường, ngõ phố. Thật khốn khổ khi nhiều người bị tịch thu quang gánh, bị hất đổ hàng hóa, rau quả vung vãi ra đường.  Thế nhưng, sự kỳ thị đối với hàng rong không chỉ gây ra phản cảm, mà còn hết sức bất hợp lý xét về mặt kinh tế.  Trước hết, trong tình hình đất nước hiện nay, hàng rong không phải là một vấn đề, mà là một giải pháp. Hàng rong cung cấp việc làm. Thật khó xác định được có tất cả bao nhiêu người dân đang kiếm sống bằng nghề bán hàng rong và sản xuất, cung ứng hàng hoá cho những người bán hàng rong. Thế nhưng, qua những tiếng rao đêm, qua những chiếc xe đẩy, những gánh hàng hoá trăm loại, chúng ta vẫn có thể đoán được số người này là rất lớn. Bán hàng rong là nghề kiếm sống của một lực lượng đông đảo những người dân nghèo thành thị, những người dân nhập cư và những người nông dân ruộng đồng manh mún, đất đai bị mất dần trong quá trình đô thị hóa. Đành rằng, đây là một nghề nhọc nhằn, vất vả và ít có tương lai, nhưng lại là nghề kiếm sống duy nhất của rất nhiều người.  Hai là, những gánh hàng rong (những xe đẩy hàng rong, những mẹt hàng rong…) là một phần của mạng lưới phân phối hết sức hiệu quả. Thiếu hàng rong, các chợ đầu mối chắc chắn sẽ ngưng trệ. Thiếu hàng rong, nền nông nghiệp, thậm chí cả nền tiểu thủ công nghiệp theo mô hình hộ gia đình nhỏ lẻ chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Chúng ta thường quan tâm nhiều hơn đến chuyện sản xuất. Thế nhưng, nếu không có một hệ thống phân phối hiệu quả và phù hợp (theo kiểu hàng rong), nền sản xuất chắc chắn sẽ bị ngưng trệ. Mà như vậy thì mất việc làm sẽ không chỉ là những người bán hàng rong, mà cả những người sản xuất nhỏ lẻ nữa.  Ba là, tin hay không thì tuỳ, nhưng hàng rong đang là một phần của hệ thống giao thông vận tải hiện nay. Các thành phố lớn của chúng ta có rất nhiều ngõ hẹp (đến mức hai chiếc xe máy tránh nhau còn khó). Hàng rong vì vậy là cách cung ứng dịch vụ bán hàng rất hiệu quả và thiết thực. Nếu tất cả mọi người nội trợ đều đổ về các trung tâm mua bán tập trung, thì nạn tắc đường của Hà Nội, TP HCM chắc chắn sẽ nghiêm trọng hơn nhiều.  Cuối cùng, rồi sẽ có ngày, những siêu thị sang trọng, hiện đại, những cửa hàng bán lẻ tiện lợi sẽ loại bỏ hàng rong ra khỏi đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, ngày đó còn chưa biết bao giờ mới đến. Trước mắt, hàng rong vẫn là một phần cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Chính vì thế, thay vì cấm đoán, kỳ thị, hãy hướng dẫn và tạo điều kiện cho những người bán hàng rong. Làm được như vậy, chúng ta vừa bảo đảm được trật tự vỉa hè, vừa không vi phạm quyền mưu cầu hạnh phúc của những người dân phải mưu sinh trên hè phố.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam 2022: Kịch bản tăng trưởng nào khả thi?      Trải qua một năm kinh tế nhiều màu xám, chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, bước vào năm 2022, Quốc hội đang đặt mục tiêu tăng trưởng cho cả năm là 6-6.5% nhưng liệu chúng ta có khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng này không? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tăng trưởng?  Tia Sáng trao đổi với GS.TS Lê Văn Cường, Trường Kinh tế Paris (PSE), Đại học Paris 1 Pantheon-Sorbonne xung quanh vấn đề này.      Việc tăng hay giảm xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào việc kinh tế thế giới tăng hay giảm. Ảnh: Tapchicongsan  Tia Sáng: Mới đây chúng ta cũng mới biết là Quốc hội đã đặt mục tiêu tăng trưởng là 6-6.5% nhưng cũng có ý kiến cho rằng mục tiêu đó là quá cao và có quá nhiều khó khăn để đạt được mục tiêu này. Ông nghĩ gì về nhận định này?    GS. TS Lê Văn Cường: Để có thể dự báo được tăng trưởng thì chúng ta phải đặt giả thiết và tính toán các tham số ảnh hưởng. Trong ngắn hạn, chúng tôi đặt giả thiết nền kinh tế Việt Nam năm 2022 ở trạng thái Neo-Keneysian – tức là tiền lương danh nghĩa không thay đổi, giá biến động theo chi phí sản xuất, cầu hàng hóa và cầu lao động thấp hơn so với cung hàng hóa và cung lao động (trạng thái Neo-keynesian, khác với trạng thái Keynes nguyên thủy trong đó đặt giả thiết là giá và lương không biến đổi trong ngắn hạn). Đặc biệt sản xuất hàng hóa được xác định bởi cầu hàng hóa.    Với số liệu về kinh tế Việt Nam từ dữ liệu của Ngân hàng Thế giới tính theo đơn vị USD và lấy giá cố định vào năm 2010 (lấy năm 2010 làm năm gốc để so sánh mức độ tăng trưởng kinh tế), chúng tôi dùng phương pháp ước lượng OLS – để ước lượng các tham số cho các phương trình hồi quy và từ đó mô phỏng một số kịch bản tăng trưởng của Việt Nam.     Một số kết quả đáng chú ý là:     Tiêu dùng của các hộ gia đình: phụ thuộc nhiều vào tiêu dùng của các hộ gia đình năm trước với hệ số tương quan là 0,55, còn hệ số tương quan với GDP nội địa là 0,38. Như vậy trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu tiêu dùng năm nay tăng 1 đồng thì tiêu dùng của năm sau sẽ tăng khoảng 55 đồng, và nếu GDP tăng 1 tỷ đồng thì tiêu dùng sẽ tăng 380 triệu đồng.     Hàm đầu tư: cũng cho thấy đầu tư phụ thuộc nhiều vào GDP nội địa, với hệ số tương quan là 0,385.     Hàm xuất khẩu: tăng hay giảm xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào việc kinh tế thế giới tăng hay giảm, cụ thể là nếu kinh tế thế giới tăng 1% thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng 5,39%. Ngược lại, nếu kinh tế thế giới giảm 1% thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm 5,39%. Chúng ta thấy ngay cái lợi và cái bất lợi cho kinh tế Việt Nam khi kinh tế thế giới biến chuyển. Ở các nước phát triển, nếu kinh tế thế giới tăng (hay giảm) 1%, thì xuất khẩu sẽ tăng (hay giảm) quãng 1%. Nhiều nước đang phát triển cũng sử dụng xuất khẩu làm công cụ tăng trưởng. Bản thân tôi chưa bao giờ thấy một nước nào có một hệ số của xuất khẩu cao như ở Việt Nam. Nhưng có thể sau này, kinh tế Việt Nam thay đổi, hướng về thị trường nội địa hơn, thì hệ số này có thể giảm mạnh. Và như vậy, kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tác động của kinh tế các nước ngoài. Tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào bản thân mình hơn.     Hiện nay IMF đang dự báo kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 4.9% vào năm 2022.     Nhập khẩu: phụ thuộc vào GDP trong nước rất cao, cụ thể là nếu GDP trong nước tăng 1% thì nhập khẩu sẽ tăng 2.6%.     Vậy có những kịch bản nào cho năm 2022?     Dựa vào các tham số đầu vào như trên đã nêu, chúng tôi dự báo các kịch bản tăng trưởng GDP và lạm phát trong năm 2022 của Việt Nam như sau:     Kịch bản 1: Nếu tăng trưởng thế giới ở mức 4.9% và tỷ lệ chi tiêu công là 10% GDP thì mô hình dự báo GDP Việt Nam sẽ tăng 7.1%, lạm phát 3.5%.  Kịch bản 2: Nếu tăng trưởng thế giới ở mức 4.9% và tỷ lệ chi tiêu công là 8% GDP thì mô hình dự báo GDP Việt Nam sẽ tăng 6.6%, lạm phát 3.3%.  Kịch bản 3: Tăng trưởng thế giới ở mức 3.5% và tỷ lệ  chi tiêu công là 8% GDP thì mô hình dự báo GDP Việt Nam sẽ tăng 3.7%, lạm phát 1.8%.  Kịch bản 4: Tăng trưởng thế giới ở mức 4% và tỷ lệ chi tiêu công là 8% GDP mô hình dự báo GDP Việt Nam sẽ tăng 4.8%, lạm phát 2.4%.     Trong bốn kịch bản trên, ông nghĩ tới khả năng dễ xảy ra nhất ở kịch bản nào?     Với tình hình hiện nay, nếu tỉ lệ chi tiêu công là 8% thì chúng tôi cho rằng kịch bản lạc quan nhất là kịch bản 2 – kịch bản tăng trưởng cao nhất có thể đạt được là 6.6% GDP. Nhưng tôi thiên về khả năng xảy ra kịch bản 4 – tăng trưởng ở mức 4.8%, bởi vì hiện nay chúng tôi chưa nhìn thấy có dự báo và khả năng nào để kinh tế thế giới đạt tăng trưởng mức 4.9% trong năm 2022 – một yếu tố quan trọng giúp chúng ta đạt kịch bản 2.     Vì dựa vào mô hình, dựa vào những hàm chúng tôi đã tính toán cho xuất khẩu và nhập khẩu, thì xuất khẩu Việt Nam dựa vào kinh tế thế giới rất cao, có thể nói là nếu kinh tế thế giới tăng 1% thì xuất khẩu của Việt Nam tăng 5.3%, chẳng hạn như ở kịch bản 2 tăng trưởng thế giới là 4.9% thì GDP Việt Nam sẽ tăng 6.6%, trong khi đó nếu tăng trưởng thế giới tăng 4% thì tăng trưởng của Việt Nam sẽ là 4.8%. Một trong những ảnh hưởng lớn nhất là ảnh hưởng xuất khẩu.     Tuy nhiên, Việt Nam cũng có thể điều chỉnh tăng trưởng thông qua thay đổi tỷ lệ chi tiêu công của Chính phủ để có thể tác động đến tăng trưởng GDP.        GS.TS Lê Văn Cường. Nguồn ảnh: Đaibieunhandan.vn  Nếu chúng ta đạt kịch bản 4 – mức tăng trưởng khả thi nhất trong tình hình hiện nay thì cao hay thấp hơn các nước trong khu vực?    Cho đến thời điểm này, Nhật Bản và Hàn Quốc được IMF dự báo sẽ tăng trưởng quãng 3% vào năm 2022. Còn Trung Quốc thì được Morningstar dự báo sẽ tăng trưởng quãng 5%. Như vậy nếu Việt Nam đạt kịch bản 4 thì vẫn tăng trưởng cao hơn Nhật, Hàn Quốc nhưng đừng quá tự hào về điều đó. Vì những nước đã phát triển cao sẽ không tiếp tục có tăng trưởng cao lâu dài được vì đó là “quy luật” sản xuất với lợi tức giảm dần.     Chính phủ có thể điều chỉnh chi tiêu công để tác động tới mục tiêu tăng trưởng. Vậy ông có thể gợi ý chi tiêu công bao nhiêu là tối ưu cho Việt Nam?     Muốn biết chi tiêu công bao nhiêu là tối ưu thì phải biết mục tiêu của chính phủ là gì và còn phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng thế giới. Ví dụ, chính phủ đặt mục tiêu là 6% cho 2022. Nhưng nếu tăng trưởng thế giới là 4%, và nếu nhà nước đặt mục tiêu chi tiêu công là 8% GDP, thì câu trả lời của mô hình là mục tiêu sẽ không đạt được.      Ông vừa nói tới nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn nhất của xuất khẩu. Vậy thì ông và nhóm nghiên cứu có tính toán những yếu tố như kinh tế Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam ra sao?     Hiện nay, tôi chưa biết Trung Quốc dự báo sẽ giảm tăng trưởng bao nhiêu % và đóng biên bao nhiêu %. Mô hình của chúng tôi không tính đến ảnh hưởng của từng nước cụ thể như Trung Quốc một cách cụ thể. Đó là một điểm yếu của mô hình chúng tôi cần phải cải thiện. Về sơ bộ tôi nghĩ rằng GDP của Trung Quốc có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam qua xuất khẩu nhưng có thể là không lớn lắm. Hơn nữa, hiện nay tôi không biết Trung Quốc dự báo sẽ giảm tăng trưởng bao nhiêu %.Theo số liệu năm 2020 GDP của Trung Quốc là 14.7 nghìn tỷ USD, GDP của toàn cầu là 84 nghìn tỷ USD, giả sử Trung Quốc sụt tăng trưởng quãng 2% thì tăng trưởng toàn cầu cũng không sút nặng. Chúng tôi cũng đã nghĩ đến khả năng Trung Quốc giảm tăng trưởng khi làm giả thiết tăng trưởng trên thế giới sụt từ 4.9% xuống 4%. Thứ hai, đối với Việt Nam, Trung Quốc là một tác nhân về xuất nhập khẩu nhưng không nên quên còn những nước khác ngoài Trung Quốc.     Tuy nhiên, nếu muốn tính toán cụ thể hơn về ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc thì có một điểm khó là Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc một số hàng thiết bị phục vụ cho sản xuất nhưng hiện nay chúng ta không có số liệu để tính toán cho việc này – chúng tôi không rõ ảnh hưởng của nhập khẩu Trung Quốc lên trên thiết bị của Việt Nam là bao nhiêu.      Tính chính xác của dự báo phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu? vậy dữ liệu của các dự báo này thì sao?     Hiện nay chúng tôi dùng dữ liệu của ngân hàng thế giới và IMF, nhìn chung các số liệu ở Việt Nam tương đối chấp nhận được để phục vụ cho dự báo ngắn hạn. Tuy nhiên có những điểm mà số liệu chưa rõ ràng: Hiện nay chúng tôi chưa nắm được cụ thể chi tiêu công gồm có những khoản chi nào? Cần phải làm rõ chi tiêu công của nhà nước là có những gì trong đó, phân rõ ra: bao nhiêu cho lương, bao nhiêu vào đầu tư hạ tầng cơ sở, bao nhiêu cho thiết bị, bao nhiêu cho giáo dục đào tạo, cho y tế. Ngoài ra, chúng tôi cũng chưa rõ Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) được tính toán như thế nào.     Do đó, nếu dùng những số liệu hiện nay, dự báo hiện nay cho ngắn hạn thì được nhưng lấy các dự báo này để làm kế hoạch lâu dài cho Việt Nam thì không ổn. Vì những lệch lạc (do thiếu số liệu) này trong ngắn hạn thì có thể sử dụng các điểm khác, gồm xuất khẩu, tiêu dùng của hộ gia đình, tăng trưởng của thế giới để bù đắp được, còn trong dài hạn thì bị lệch lạc rất nhiều. Đặc biệt TFP là một yếu tố quan trọng cho tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn. Nên cần xác định rõ TFP là do những nhân tố nào tạo thành. TFP là yếu tố quan trọng để có tăng trưởng bền vững.     Trong bối cảnh số liệu còn thiếu thốn như vậy, công tác dự báo sẽ phải nêu rõ giả định, nhưng có vẻ nhiều dự báo và cách đặt chỉ tiêu ở Việt Nam không nêu rõ giả định?    Đấy chính là lý do chúng tôi minh bạch phương pháp và cách tính toán của mình1. Qua mô hình, các dự báo về GDP, tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu đều liên quan nhất quán với nhau.     Những giả thiết cũng được đưa ra một cách minh bạch. Chúng tôi hy vọng phương pháp dự báo này sẽ giúp các nhà làm chính sách có thể đưa ra các quyết định chính xác hơn và có thể lường trước các tính huống trong các kịch bản khác nhau. Tôi nghĩ là cần phải tạo ra không gian để dự báo một cách minh bạch, đóng góp cho nhau để dự báo tốt hơn, có phương pháp tốt hơn. Thứ hai là nó hoàn toàn có lợi cho C hính phủ Việt Nam vì thấy được phương pháp rõ ràng, tại sao thế này thế kia. Như vậy vừa có lợi về học thuật vừa có lợi về chính sách nhà nước.     Phương pháp này khác với một số dự báo dùng số liệu quá khứ để dự báo dựa trên những phương pháp thống kê, ví dụ, time series. Phương pháp của chúng tôi cho phép dự báo theo những chính sách kinh tế khác nhau hay tình hình khác nhau của kinh tế thế giới (về GDP, lạm phát). Chúng tôi không nghĩ là những phương pháp dựa thuần trên thống kê có thể dự báo kịch bản được.      Về dài hạn, ông nghĩ khả năng tăng trưởng của Việt Nam như thế nào?    Tôi chỉ nói về định tính thôi, vì muốn định lượng thì phải có số liệu, mô hình. Nhưng tôi cho rằng để tăng trưởng trong quãng 20-30 năm nữa sẽ phải dựa trên các yếu tố công nghệ, đổi mới sáng tạo, cùng với đầu tư vào sức khỏe, giáo dục. Vì trong tương lai, đổi mới sáng tạo là động lực thống lĩnh tăng trưởng ở Việt Nam, và muốn đổi mới sáng tạo thì phải có người biết sử dụng công nghệ, thiết bị, được đào tạo tốt. Có thể bước đầu chúng ta đi mua li – xăng, nhập khẩu công nghệ – tức là không có sáng tạo, nhưng chúng ta phải bước tới một bước mới là phải sáng tạo, có sáng chế, thì như vậy là phải đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu chứ không phải có được liền đâu. Tất cả các nước phát triển đều phải đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo quãng 1% đến 3% GDP và có những đánh giá đo lường rất chặt chẽ về hiệu quả đầu tư (số lượng li-xăng, số lượng bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế chất lương cao, bao nhiêu đại học lọt vào top 10, 100, 300…). Chúng ta muốn tăng trưởng có chất lượng thì không thể làm khác đi được.     Tôi cũng lưu ý lại một điểm quan trọng: mô hình này được chúng tôi sử dụng để dự báo ngắn hạn. Theo kinh nghiệm của tôi không thể dự báo tăng trưởng trong dài hạn được, cho bất cứ một nước nào vì: Không thể biết trước chính sách kinh tế của nước sở tại hay của các nước bên ngoài (ví dụ: tiêu dùng công, lãi suất, tỷ giá hối đoái); Có thể xảy ra những đột biến mà chúng ta không lường trước được (COVID là một ví dụ).    Nhưng không phải vì vậy mà không nên xây dựng mô hình kinh tế vĩ mô cho Việt Nam khi đã có chuỗi số liệu khá dài, có thể xây dựng mô hình với những phương pháp như tôi đã nói phía trên. Sau đó, một nhóm nghiên cứu hay một cơ quan kinh tế đưa ra một số mục tiêu, ví dụ như tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát… cho một khoảng thời gian (theo tôi 5 năm là tối đa),  và  sử dụng mô hình để định lượng những chỉ tiêu như chi tiêu công, đầu tư công, lãi suất danh nghĩa…để đạt được các mục tiêu đã nêu ra.     Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!□     Bảo Như thực hiện  —–  Chú thích:   1 Bạn đọc tìm hiểu thông tin chi tiết hơn về cách tính toán tại đây:   https://www.facebook.com/events/1554877528205929/?post_id=1556490711377944&view=permalink và tìm đọc file Slides Econ Model-V2.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam đã cất cánh?      Bước vào giai đoạn phát triển mới, được xác định tính chất là giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi căn bản về thế và lực phát triển. Đây là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển thành công suốt hơn 20 năm qua.    Nhưng mặt khác, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là với việc Việt Nam trở thành thành viên WTO cách đây 1 năm, lại đặt nền kinh tế Việt Nam vào một không gian phát triển mới, với những cơ hội và thách thức phát triển rất mới.  Việc nhận diện đúng tương quan giữa một bên là thực lực của nền kinh tế và một bên khác là các cơ hội và thách thức phát triển mà quá trình hội nhập mang lại là yếu tố cơ bản để xác định triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn, trên cơ sở đó, hoạch định chiến lược phát triển phù hợp.  Nhiệm vụ đặt ra là xây dựng bức tranh tổng thể của nền kinh tế theo sơ đồ SWOT (strength, weekness, opportunity, thread), trên cơ sở đó, đưa ra dự báo phát triển trung – dài hạn.  1. Không gian phát triển mới: những yếu tố xác định khung khổ chung  Hai yếu tố chính mở rộng không gian phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới là:  1.1. Mức độ sâu rộng của hội nhập quốc tế:                      Tại thời điểm hiện nay, cả “thế và lực” hội nhập của Việt Nam đều đang đạt chỉ số rất cao. Đồng thời, có cơ sở để tin rằng đến năm 2010, ba năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thế và lực đó còn được phát huy lên một tầm cao mới. Độ mở cửa, sức hấp dẫn và mức độ kết nối kinh tế của Việt Nam với thế giới tăng lên mạnh mẽ, thể hiện qua các chỉ số: FDI, kim ngạch xuất khẩu, số khách du lịch quốc tế, số TNCs đầu tư vào Việt Nam, đồng tiền chuyển đổi, sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ…  Mặt khác, phải thừa nhận rằng trong khoảng 3-5 năm tới, mức độ phù hợp của hệ thống thể chế kinh tế – xã hội – pháp luật của Việt Nam với thế giới sẽ tăng lên nhưng khoảng cách vẫn còn khá lớn.  1.2. Chiến lược biển đi vào triển khai thực hiện.  Chiến lược biển mới được thông qua mở ra một tầm nhìn mới và nạp thêm những nội dung mới vào chiến lược phát triển quốc gia tổng thể. Sự thay đổi về tầm nhìn và nội dung chiến lược như vậy đòi hỏi phải đánh giá lại căn bản thực lực xuất phát của đất nước. Thực lực đó gắn với tư duy chiến lược, với các nguồn lực biển và đại dương và các nguồn lực mà việc thực thi chiến lược biển đòi hỏi phải có. Đây là những đòi hỏi mới, gay gắt và mang tính hệ thống, chưa hề có trong các chiến lược phát triển trước đây.   2. Phân tích SWOT nền kinh tế.  a/ Về các điểm mạnh: Trong số nhiều điểm mạnh cụ thể hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, các điểm mạnh chủ yếu nhất gắn với thế đi lên mạnh mẽ mà quá trình đổi mới mang lại cho một nền kinh tế đi sau. Bảng SWOT trên phác họa các điểm mạnh này theo 3 tuyến chính.  Một là xu hướng đổi mới khách quan không thể đảo ngược đang diễn ra. Quá trình này ở Việt Nam vẫn chưa hoàn thành, thậm chí, đang trong giai đoạn “cao trào” nhờ sự “hội tụ” của xu hướng đẩy mạnh cải cách thị trường trong nước với tiến trình hội nhập quốc tế.  Hai là đà tăng trưởng kinh tế mạnh. Đà tăng trưởng này được hỗ trợ bởi sức thúc đẩy của quá trình cải cách thể chế kinh tế và bởi khả năng kết hợp với xu thế nhảy vọt chất lượng của quá trình phát triển. Quá trình cải cách thể chế đang diễn ra, cộng hưởng với những khuyến khích thị trường mới mẻ tạo động lực phát triển mạnh cho nền kinh tế. Đây là một điểm mạnh rất cơ bản của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.     Ba là các lợi thế tiềm tàng của nền kinh tế. Vị thế địa – chiến lược1, sự ổn định chính trị – xã hội vững chắc và các tiềm năng phát triển khác (chủ yếu là các lợi thế “tĩnh”) là những điểm mạnh rõ ràng. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra càng nhanh, hội nhập quốc tế càng được đẩy mạnh thì vị thế địa – chiến lược của Việt Nam càng nổi rõ. Cộng hưởng với lợi thế đó là sự ổn định chính trị – xã hội vững chắc, yếu tố biến Việt Nam thành điểm đến, là miền đất an toàn của các dòng đầu tư, thương mại và du lịch quốc tế.  Các điểm “mạnh” nêu trên là những điểm mạnh thuộc về xu thế, triển vọng chiến lược. Chúng cấu thành trạng thái xuất phát cơ bản của nền kinh tế nước ta hiện nay.  Nhận định này hàm nghĩa Việt Nam đang trong thời điểm giao thoa các cơ hội lớn. Nếu khai thác tốt tổ hợp sức mạnh này thì về nguyên tắc, nền kinh tế Việt Nam sẽ nằm trong xu thế đi lên vững chắc trong dài hạn.  b/ Về các điểm yếu: Bảng SWOT ở trên phân các điểm yếu của nền kinh tế thành hai loại:  Sự yếu kém về thực lực kinh tế, bắt nguồn từ tình trạng nghèo nàn và kém phát triển của đất nước. Sự thiếu thốn nguồn vốn tài chính, nguồn đất canh tác hạn chế, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực kỹ năng và năng suất lao động thấp… là những biểu hiện cụ thể của loại yếu kém này.  Tình trạng chưa hoàn thành của công cuộc kiến tạo hệ thống thể chế mới. Đây không hoàn toàn là trạng thái “yếu kém” theo nghĩa đen của từ. Chính xác hơn, đây là “sự non yếu” của một thực thể đang trong quá trình “lột xác để trỗi dậy”2. Sự non yếu đó sinh ra từ chính bản thân quá trình chuyển đổi sang một hệ thống mới khi quá trình này chưa hoàn tất, cấu trúc thể chế mới chưa hoàn toàn định hình.  Đặt trong tương quan với yêu cầu và thách thức phát triển to lớn, với các khó khăn của cạnh tranh và hội nhập quốc tế mà nền kinh tế phải đương đầu, dễ nhận thấy sức cản trở to lớn của loại yếu kém này đối với quá trình phát triển. Bằng chứng: sau 20 năm chuyển sang thị trường và tăng trưởng mạnh, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thực sự cất cánh.  Tính chất khác biệt của hai loại điểm yếu gợi ý rằng các giải pháp chính sách “khắc phục” chúng có thể rất khác nhau về phương pháp và hướng tác động. Không phân biệt rõ sự khác biệt này, dễ dẫn đến tình trạng lựa chọn các giải pháp và chính sách đột phá gây xung đột.  Mặt khác, cần thấy rằng tuy các điểm yếu của nền kinh tế là nghiêm trọng, nhưng trong xu thế chung, chúng chỉ là những điểm yếu cụ thể, mang tính thời đoạn, không phải là điểm yếu tổng thể dài hạn.    c/ Về các cơ hội: các cơ hội cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của Việt Nam là rất lớn, trong đó, cần nhấn mạnh loại cơ hội đặc thù dành cho các nước đi sau. Đó là khả năng thực hiện những bước nhảy vọt cơ cấu mạnh mẽ (nhảy vọt công nghệ, nhảy vọt cấp độ sản phẩm). Thực tiễn phát triển hiện đại ở nhiều nước đã chứng tỏ khả năng nhảy vọt này.  d/ Về các thách thức. Nhưng trước khi cơ hội có thể biến thành hiện thực thì Việt Nam phải vượt qua hàng loạt thách thức to lớn. Bản chất chung của những thách thức này là Việt Nam không dễ vượt qua được những yếu kém của chính mình trong khi phải đồng thời cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn trong một môi trường mới mẻ và nhiều rủi ro.  Trong nhóm thách thức liên quan đến bối cảnh quốc tế hiện đại, xin nêu 2 thách thức cụ thể.  + Mối quan hệ giữa một bên là tốc độ vận động cao, tính khó dự đoán và tính dễ bị tổn thương của các quá trình kinh tế thế giới và một bên khác là năng lực phản ứng chính sách còn hạn chế và mục tiêu phát triển nhanh bền vững của Việt Nam.  + Tình huống phát triển đặc thù: vừa mới chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã phải cạnh tranh ngay với những đối thủ khổng lồ là Trung Quốc và Ấn Độ, là những đối thủ mà các nền kinh tế đi trước Việt Nam không hề gặp phải khi họ ở vào trạng thái giống Việt Nam hiện nay. Thách thức này gắn với các nhiệm vụ “bên trong”. Đó là yêu cầu chuyển đổi thể chể nhanh, nâng cấp mạnh mẽ các điều kiện nền tảng của quá trình phát triển theo các đòi hỏi của thế giới hiện đại trong khi nền kinh tế của ta còn nghèo, năng lực có hạn, lại phải giải quyết hệ nhiệm vụ phát triển “kép”: chuyển đổi sang thị trường, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế hiện đại trong một thời gian có hạn.  Điểm cần đặc biệt lưu ý là trong số thách thức này, có những thách thức mang tính “đối nghịch” hay “lưỡng nan”, ví dụ thách thức “tạo việc nhiều làm mới, đồng thời phải rượt đuổi công nghệ cao của thế giới để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa” hay thách thức phải “đẩy nhanh đồng thời và đồng bộ cả công nghiệp hóa và hiện đại hóa”.     3. Một số cơ hội và thách thức phát triển mang tính tình thế  a/ Các nhà đầu tư quốc tế đang tích cực triển khai công thức đầu tư “Trung Quốc + 1” với sự lựa chọn ưu tiên dành cho Việt Nam khá rõ. Ví dụ, Nhật Bản tập trung đầu tư vào Việt Nam tạo ra hiệu ứng “đầu tư tạo đầu tư”, “đầu tư kéo đầu tư”. Việc Nhật Bản ưu tiên đầu tư vào Việt Nam sẽ tạo hiệu ứng “lôi kéo đầu tư” mạnh mẽ. Tuy thời gian chưa nhiều, song có thể cảm nhận tác động thực tế của hiệu ứng đang diễn ra với gia tốc tăng khá rõ rệt. Các dòng đầu tư từ Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ và EU vào Việt Nam đang mạnh lên rõ rệt.      b/ Cơ hội để Việt Nam bứt phá và vượt lên khi một số nước thành viên ASEAN đang gặp những khó khăn bên trong. Thái lan, Indonesia, Philippines đang lâm vào tình trạng bất ổn chính trị, xã hội và phần nào là bất ổn kinh tế kéo dài. Đây thực sự là một cơ hội khách quan, tạo ra những điều kiện và khả năng cho phép Việt Nam bứt lên để đuổi kịp các nước này.  c/ Một thách thức tình thế cụ thể, đang ngày càng trở nên gay gắt. Đó là sự lên giá đồng Nhân dân tệ (NDT).  Đối với Việt Nam, đồng NDT lên giá sẽ tác động trực tiếp rất mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu. Đồng NDT lên giá có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Việt Nam không kịp thời điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu hiện đang nghiêng mạnh về xuất khẩu tài nguyên và nông sản thô (việc điều chỉnh này rất khó thực hiện trong 3-5 năm tới), sự “có lợi” đó sẽ chủ yếu tác động theo hướng gây bất lợi lớn cho Việt Nam: kích thích Việt Nam tăng xuất khẩu tài nguyên và các sản phẩm thô, đẩy nền kinh tế Việt Nam rơi vào bẫy “năng suất thấp, tiền lương thấp, dựa vào xuất khẩu tài nguyên”.                   Đồng thời, đồng NDT lên giá sẽ kích thích mạnh dòng đầu tư từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam. Theo nguyên lý dịch chuyển đầu tư theo “làn sóng”, dòng đầu tư này chủ yếu mang theo công nghệ thấp. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý, nhất là khi Việt Nam đang là địa chỉ hấp dẫn đầu tư mạnh mẽ.   4. Đôi điều về triển vọng  Động lực hội nhập, đà tăng trưởng cao, khí thế phát triển của dân tộc sau 20 năm đổi mới thành công kết hợp với nỗ lực, cách thức hành động của ban lãnh đạo đất nước, bộc lộ rõ nhất ở Chính phủ mới, tạo thành một khối quyết tâm phát triển, đồng thuận và mạnh mẽ của cả dân tộc. Vấn đề còn lại là ở năng lực xử lý các điểm nút có khả năng gây tắc nghẽn phát triển trong một lộ trình dài hạn và tổng thể. Đó là: Kết cấu hạ tầng (hệ thống đường cao tốc, các cảng biển, hạ tầng đô thị); Hệ thống cung cấp năng lượng; Hệ thống an sinh xã hội; Năng lực bộ máy Chính phủ.  Triển vọng nâng cao tốc độ tăng trưởng (được dự báo là có thể đạt 12-13%/năm) và khả năng duy trì sự phát triển bền vững (trong 10-15 năm) tùy thuộc quyết định trước hết vào việc Việt Nam có tháo gỡ các nút thắt và khắc phục sự yếu kém của hai tuyến một cách hiệu quả trong khoảng 3-5 năm tới hay không.          “Cất cánh” nghĩa là Việt Nam thực sự gia nhập vào “đội bay” kinh tế toàn cầu, là Việt Nam sẽ “bay” cùng với các nền kinh tế phát triển, dù là ở vị trí phía sau họ. Nhưng nền kinh tế Việt Nam đã thực sự cất cánh chưa?              Nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian khá dài. Trong 20 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt hơn 7,0%/năm. Đây là một cơ sở thực tế quan trọng để nghĩ đến chuyện “cất cánh”.              Nhưng tốc độ chỉ là một nửa câu chuyện, thậm chí không phải là nửa quan trọng nhất. Tăng trưởng cao chỉ là điều kiện “cần”. Nhưng như vậy thì vẫn còn xa mới là “đủ”.              Càng ngày, chúng ta càng nhận thức rõ hơn rằng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế, triển vọng hình thành “thể chế kinh tế thị trường đồng bộ”, khả năng “tan băng”, giảm “sốt nóng”  trên thị trường nhà đất, mức độ kiềm chế tham nhũng, lãng phí; khả năng ứng phó với các tác động bên ngoài và thực lực của các doanh nghiệp Việt Nam, v.v…. là những nội dung quyết định triển vọng phát triển của nền kinh tế.              Ở một tầm bao quát hơn, xin đề cập đến xu hướng cải thiện chậm chạp năng lực cạnh tranh, thâm chí, liên tục bị tụt hạng, của Việt Nam đang làm trầm trọng thêm thực tế “tụt hậu” của nền kinh tế, bất chấp GDP liên tục tăng trưởng “năm sau cao hơn năm trước”.              Đương nhiên, FDI và kinh tế tư nhân sẽ tạo đà tốt cho quá trình tăng trưởng. Những “cú huých” đầu tư như của Canon, Intel, Foxxcon và các công ty nước ngoài khác mới đây sẽ tạo tiền đề để Việt Nam thực hiện “bước ngoặt” – cất cánh.              Nhưng chỉ thế thôi thì vẫn chưa đủ. Để thực sự cất cánh, bản thân nền kinh tế phải sẵn sàng một loạt điều kiện nội tại cơ bản; các chủ thể của nó phải có năng lực bay tự thân và phải sẵn sàng “bay”.              Chắc chắn nền kinh tế không thể cất cánh chừng nào các yếu tố đầu vào cơ bản của nền kinh tế thị trường – đất đai và lao động – vẫn tiếp tục tồn tại dưới hình thái hiện vật nguyên sơ. Một thị trường đất đai bị “đóng băng” kéo dài, đe dọa không chỉ sự yên ổn của hệ thống tài chính – ngân hàng mà cả triển vọng của nền kinh tế nông thôn và của quá trình đô thị hóa đang bị “tắc nghẽn”. Một thị trường lao động vận hành yếu ớt là nguyên nhân của tình trạng bất ổn và kém hiệu quả của việc phát huy thế mạnh nguồn nhân lực. Thiếu “đôi cánh” thị trường cơ sở đó, liệu nền kinh tế sẽ cất cánh đi đâu?              Nền kinh tế không thể cất cánh với nguồn nhân lực mà lợi thế hiện thực lớn nhất là “rẻ” đang bị mất dần và bộc lộ ngày càng rõ bất lợi thế dài hạn là kỹ năng kém, kỷ luật không cao và năng suất thấp.              Nền kinh tế không thể cất cánh với bộ máy quản lý nhà nước mà năng lực bất cập, đang hoạt động theo một cơ chế dung nạp nhiều yếu tố của hệ thống cũ đã bị loại bỏ.              Nền kinh tế cũng không thể cất cánh với môi trường kinh doanh bị phân biệt đối xử, làm cho các yếu tố động lực của cỗ máy hoạt động theo những “nguyên lý” khác nhau và chưa đồng thuận (thậm chí, xung đột) về lợi ích.              Đó là chưa kể hàng loạt điểm “thắt nút cổ chai” khác. Những lời cảnh báo gay gắt về tình trạng thiếu điện, về nạn tắc nghẽn giao thông, thiếu đường cao tốc, hệ thống đường sắt, cảng biển… nói lên nhiều điều về khả năng cất cánh đích thực của nền kinh tế nước ta hiện nay.                           ——-  [1] Lợi thế địa – chiến lược của Việt Nam là kết quả tổ hợp của một loạt yếu tố, trong đó, 2 yếu tố quan trọng nhất là: i) nút giao thoa của một vùng tăng trưởng nhanh và năng động nhất thế giới – Đông Á. Đặc biệt, Việt Nam ở vị thế IndoChina, trung điểm của 2 nền kinh tế khổng lồ đang nổi lên là 2 động lực tăng trưởng mạnh nhất thế giới (Trung Quốc và Ấn Độ); ii) là quốc gia – biển, nằm tại tuyến hải hành quan trọng nhất thế giới;  2 Cách diễn đạt này phần nào giống với hình ảnh “tranh tối tranh sáng” mà D. Perkins sử dụng trong cuốn “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay” (D. Perkins, 1994). Tuy nhiên, hình ảnh “đang lột xác” khắc họa chính xác hơn tình trạng non yếu, dễ bị tổn thương của một thực thể đang trỗi dậy.      Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ 1: Những viện dẫn của học giả Trung Quốc      Trong cuộc chạy đua tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Thái Bình Dương những thập niên gần đây, song song với việc tăng cường sức  mạnh quân sự, các nước cũng đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng  chứng cứ cho các lập luận về chủ quyền của mình. Trung Quốc  là nước đi đầu và hết sức chú ý đầu tư cho việc làm này.       Ngay từ khi cho quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, Trung Quốc đã huy động một lực lượng đông đảo các học giả dưới sự lãnh đạo của Hàn Chấn Hoa tiến hành kê cứu và biên soạn một cuốn sách đồ sộ, ra sức chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc. Năm 1985 bộ sách hoàn thành và được phát hành tại nhà xuất bản trường đại học Hạ Môn, dưới danh nghĩa Viện Nghiên cứu Nam Dương. Và như một một sự phối hợp có chủ đích, cùng với hành động quân sự tấn công chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, năm 1988 bộ sách tư liệu nói trên dưới đầu đề Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên (Tập hợp các sử liệu về các đảo của nước ta ở vùng biển phía nam) được in lại và phát hành với số lượng lớn bởi nhà xuất bản Đông Phương1. Tập sách dày gần 1.000 trang này đã nhanh chóng trở thành cơ sở lập luận chủ yếu cho các tuyên bố ngoại giao, những quyết định chính trị của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông nói chung.           Thái Bình Dương là đại dương không hề  yên bình như tên gọi của nó. Dưới đáy biển có rất nhiều miệng  núi lửa bao quanh vòng lòng chảo với tổng chiều dài lên tới trên  4 vạn km, tạo nên một vành đai địa chấn (hay còn gọi là vành  đai lửa), là nguyên nhân thường xuyên gây ra những trận động đất,  sóng thần khủng khiếp. Riêng trận động đất và sóng thần Tohoku năm  2011 đã lấy đi mạng sống của gần 16 ngàn người, gần 1 vạn  người mất tích, hàng triệu gia đình mất nhà cửa và cùng với  thiệt hại vật chất lên tới nhiều tỷ đô la cùng những hậu quả  năng nề mà nhiều thập niên nữa chưa chắc đã khắc phục được.  Đây cũng là vùng nhiều bão nhất thế giới, trong đó những cơn  bão có cường độ mạnh chiếm tới trên 70%.    Cũng  do đặc điểm này mà sự thành tạo các đảo ở Thái Bình Dương  cũng khác các nơi khác. Với ước chừng khoảng 25.000 đảo lớn  nhỏ, Thái Bình Dương số đảo nhiều hơn số đảo của tất cả các  đại dương khác cộng lại.         Trước khi xem căn cứ khoa học khẳng định chủ quyền của Việt Nam cần hiểu những luận lý của các học giả Trung Quốc về vấn đề này. Vậy căn cứ và lập luận chủ yếu của các tác giả cuốn sách là gì?  Không khó khăn lắm để thấy rằng tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách là cố chứng minh người Trung Quốc đã phát hiện, đặt tên các đảo và chiếm hữu hai quần đảo này từ thời Đông Hán, cách ngày nay gần 2000 năm. Sau đó đến các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, và nhất là từ triều Thanh đến nay, Trung Quốc liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Phương pháp nhất quán của các tác giả sách này là không nói rõ bối cảnh lịch sử, trích dẫn cắt xén tư liệu để người đọc khó hình dung được bối cảnh lịch sử, ngữ cảnh nguyên tác, rồi giải thích ý nghĩa những đoạn trích ấy theo ý mình.   Có thể dẫn ra đây một số thí dụ rất điển hình.  Cuốn sách sớm nhất nhất được các học giả Trung Quốc ra dẫn ra làm căn cứ về “chủ quyền” của Trung Quốc trên hai quần đảo là Dị vật chí (ghi chép về những vật lạ) của Dương Phù thời Đông Hán (23-220). Câu được chép ra là: “Trướng hải kỳ đầu thủy thiển nhi đa từ thạch…” (漲海崎頭水淺而多磁石…, có nghĩa là Biển sóng triều dâng gập ghềnh đá ngầm, nước cạn mà nhiều đá nam châm…). Các tác giả giải thích rằng Trướng hải là tên gọi biển Đông của người Trung Quốc thời đó và vùng đá ngầm dưới có từ tính nam châm là chỉ hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Tài liệu này được dẫn lại ở rất nhiều nơi, đăng trên cả trang thông tin của Bộ Ngoại giao Trung Quốc với lập luận hai quần đảo này do người dân Trung Quốc phát hiện và đặt tên sớm nhất (từ thời Đông Hán).  Tương tự như vậy, để củng cố cho lý lẽ trên, Hàn Chấn Hoa và các tác giả sách Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên còn trích ra nhiều câu khác trong sách cổ thời Tam quốc, thời Tùy, thời Đường như Phù Nam truyện của Khang Thái, Ngô lục của Trương Bột, Nhĩ nhã của Quách Phác… nói việc người thời ấy đã viết trong Trướng hải (tên Biển Đông theo cách gọi của người Trung Quốc) có san hô, có đồi mồi, có ốc lớn bằng cái đấu, vỏ có thể dùng để uống rượu…2 để suy diễn xa hơn rằng trong sách của mình, Quách Phác đã chú thích vùng biển nói tới ở đây là vùng biển thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi), rằng người Trung Quốc thời ấy đã biết đến hai quần đảo.   Những câu trích dẫn này thực ra chỉ là những ghi chép về các hiện tượng mà các tác giả đương thời cho là hay, là lạ (dị vật), chứ hoàn toàn không có ý nghĩa gì về việc phát hiện, đặt tên đảo nên không thể coi là chứng lý về chủ quyền và càng không phải là bằng chứng của việc chính quyền thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này.   Từ năm 960 triều Tống thiết lập quyền thống trị trên toàn cõi Trung Hoa. Những tư liệu lịch sử từ thời kỳ này về chủ quyền là rất đáng lưu ý. Tuy nhiên, các tư liệu được các học giả Trung Quốc đưa ra cũng thiếu tính thuyết phục. Đa số những câu trích có nhắc đến hai quần đảo Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc nói là tên khác của Tây Sa/Hoàng Sa và Nam Sa/Trường Sa) đều xuất hiện trong các hải trình, được mô tả trong các sách của tác giả Trung Quốc, nhưng nói về nước ngoài, hoặc liên quan đến nước ngoài (không phải Trung Quốc) như Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát. Đúng như tên gọi của những sách này, “Lĩnh ngoại” là ngoài biên giới Trung Quốc, nói về những chuyện bên ngoài. “Chư phiên” là các nước Trung Quốc cho là chư hầu của mình, chuyện chép về các nước xung quanh mình. Do vậy, những mô tả về biển đảo hoặc hải trình đi tới các nước các nước như Giao Chỉ, Chiêm Thành, Chân Lạp thì tên các quần đảo Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc cho là Tây Sa và Nam Sa) được nhắc đến để chỉ vị trí hoàn không có ý nghĩa nào trong việc xác định chủ quyền của Trung Quốc. Đấy là chưa kể từ ngữ dùng trong các sách này cho thấy tác giả cũng chỉ nghe truyền lại, chứ không biết đích xác ra sao. Có thể dẫn ra đây một vài đoạn trích mô tả vị thế xung quanh đảo Hải Nam mà Hàn Chấn Hoa sử dụng để khẳng định sách Chư phiên chí nói 2 quần đảo này là của Trung Quốc:   “Nam đối diện với Chiêm Thành, phía tây nhìn sang Chân Lạp, đông thì Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường, xa xôi không bờ, trời nước một màu”.  Một đoạn trích khác: “Nghe truyền rằng[nguyên ngữ 傳聞: truyền văn] biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u”3.    Các sử liệu đời sau được biên soạn vào thời Nguyên, Minh được tập hợp trích dẫn, về cơ bản cũng theo cung cách như vậy. Tất cả các đoạn trích dẫn ra đều được giải thích theo cách hiểu//chủ ý của người dẫn. Người đọc khó có thể bị thuyết phục bởi cách giải thích ấy. Nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những phân tích xác đáng và đều nhận định khá thống nhất rằng kiểu cách tập hợp, trích dẫn và giải thích sử liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa không theo các nguyên tắc khoa học mà có dụng ý chủ quan, cắt xén, lắp ghép tùy tiện và giải thích gượng ép4. Có thể nói luận lý của các học giả Trung Quốc về chủ quyền của học đối với hai quần đảo đang nói ở đây có từ thời Đông Hán và được thực thi suốt từ đó đến nay ngày càng ít người quan tâm vì tính chất phi lý, phản khoa học của nó và vì vậy, phía Trung Quốc cũng không nói tới nó nhiều.   Trong thời gian gần đây, Trung Quốc ra sức đề cao sự kiện Đô đốc nhà Thanh là Lý Chuẩn đưa quân ra Tây Sa (Hoàng Sa) kéo cờ, bắn pháo vào năm 1909 và coi đó là mốc thời gian xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này. Sự kiện này chẳng còn mấy ý nghĩa vì thời điểm diễn ra vào đầu thế kỷ XX, khi mà Việt Nam đã có rất nhiều tư liệu khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đó nhiều thế kỷ (sẽ trình bày ở phần dưới). Vả lại, chính việc đề cao này lại tự nó bác lại những lập luận mà các học giả Trung Quốc phải dày công xây dựng tư liệu để chứng minh Tây Sa và Nam Sa đã được người Trung Quốc phát hiện và sở hữu từ thời Hán, cách ngày nay tới vài ngàn năm.  Tháng 2 năm 1948, Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ của Trung Hoa dân quốc cho xuất bản bản đồ có tên Bản đồ vị trí các đảo Nam hải (南海诸岛位置图) với 9 đường đứt khúc chiếm khoảng 75% mặt nước Biển Đông, ôm trọn hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bản đồ này được vẽ dựa trên cơ sở một bản đồ cá nhân vẽ trước đó vài chục năm với 11 đoạn đứt khúc đã bỏ đi 2 đoạn nằm trong vịnh Bắc Bộ. Mặc dù đường 9 đoạn đang được dùng như một “căn cứ không thể chối cãi” về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo, nhưng tính chất phi lý, phản khoa học của nó đang bị phê phán rất mạnh mẽ. Trong thời gian gần đây, lý lẽ khoa học của Trung Quốc không thấy có gì mới, chủ yếu chỉ là những tuyên bố theo kiểu “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi” mà thôi.  Kỳ 2: Tư liệu lịch sử về việc Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa   —  1 韩 振 华(主编): 我國南海諸島史料滙编 . 厦门大学 南洋研究院出版 1985 年. 东方出版社1988 年7月第1版  2 Phần lớn các tài liệu này đều được dẫn lại trong sách Thái Bình ngự lãm (太平御覧,) của Lý  3 Phương, được biên soạn vào thời Tống, muộn hơn thời của các nguyên tác.     韩 振 华 (主编), Sđd, tr. 33-37  4 Có thể xem thêm Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an Nhân dân, 1995; Roderik Ptak: Các đảo ở biển Đông theo các tài liệu của Trung Quốc; Hồ Bạch Thảo: Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Ðông được đề cập trong tác phẩm Ngã quốc Nam hải chư đảo Sử liệu hối biên…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ 2: Tư liệu lịch sử về việc Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa      Trong khi các tư liệu của Việt Nam luôn nhất  quán với tên gọi của hai quần đảo là Hoàng Sa (hay tên Nôm là Cát Vàng  hay Cồn Vàng) và Trường Sa hay Vạn lý Trường Sa, được đồng nhất với các  tên gọi của phương Tây là Paracels và Spratley thì tên gọi do Trung Quốc  đặt lại rất hỗn loạn. Tên Tây Sa và Nam Sa mới chỉ xuất hiện rất muộn.  Đã vậy, trong nhiều tài liệu của mình Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền  trên hai quần đảo này (thực ra là không từng có trong lịch sử).    Chứng cớ rõ nhất là trên các bản đồ của Trung Quốc. Không kể những tập bản đồ được vẽ sớm, đến tận thời kỳ triều Thanh trị vì vào những năm 1894, 1904, 1908 và dưới thời Trung Hoa dân quốc vào năm 1919 có hàng loạt bản đồ do Trung Quốc vẽ vừa được triển lãm rộng rãi, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) đã gây ấn tượng mạnh cho người xem cả trong và ngoài nước. Càng bất ngờ hơn khi trên bộ Atlas được in trong trong sách Trung Hoa Dân quốc Bưu chính dư đồ, xuất bản năm 1933 cũng hoàn toàn thiếu vắng hai quần đảo này. Như vậy là căn cứ trên những bản đồ chính thức này thì chí ít đến tận những năm 30 của thế kỷ XX, địa giới cực nam của Trung Quốc khi ấy chỉ là đảo Hải Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với tư liệu lịch sử do chính người Trung Quốc biên soạn, hoặc người phương Tây thuật lại sự từ chối bỏ chủ quyền trên hai quần đảo của người Trung Quốc.   Vào cuối thế kỷ XVII, một nhà sư Trung Quốc là Thích Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến Đàng Trong. Sau khi về nước ông đã cho xuất bản cuốn sách Hải ngoại ký sự vào năm 1695 kể về chuyến đi này. Trong tác phẩm của mình, nhà sư Trung Quốc đã nói rõ việc chúa Nguyễn tổ chức các đội binh thuyền ra Hoàng Sa và Trường Sa (mà ông gọi chung là Vạn lý Trường Sa) để “thu lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào”1.  Trong tác phẩm Phủ Biên tạp lục, ngoài những căn cứ khẳng định chủ quyền của chính quyền chúa Nguyễn trên hai quần đảo (sẽ trình bày sau), Lê Quý Đôn còn cho biết một chi tiết nói quan chức nhà Thanh thừa nhận chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ông viết: “Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu [Hải Nam, Trung Quốc-VMG] gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm (có thể là Cát Vàng, tức đội Hoàng Sa – VMG) huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào cảng Thanh Lan, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu làm thư trả lời”2. Như vậy là chính quyền Quỳnh Châu sau khi biết rõ 2 người Việt là lính đang nhiệm vụ ở Hoàng Sa chẳng những không gây khó dễ hoặc trừng trị như đối với những kẻ “xâm phạm chủ quyền quốc gia”, mà còn tạo điều kiện để trở về nước. Thời điểm đó là vào giữa thế kỷ XVIII.  Trong khoảng thời gian hai năm 1895 – 1896 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa liên tục xảy ra hai vụ đắm tàu. Một của Đức, con tàu mang tên Bellona và một của Nhật, tàu Imegi Maru. Cả hai tàu này đều mua bảo hiểm của Anh nên khi nghe tin dân Trung Quốc thừa cơ tàu bị nạn đã ra cướp bóc, công ty bảo hiểm và đại diện chính phủ Anh ở Trung Quốc đã yêu cầu phía Trung Quốc phải có trách nhiệm, nhưng họ đã từ chối với lý do: “…các đảo Paracels … không thuộc Trung Quốc… chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ quận nào của Hải Nam …”3. Như vậy là nhà đương cục Hải Nam vô can với hậu quả của vụ cướp bóc, nhưng đồng thời sự kiện này cũng cho thấy, cho đến tận cuối thế kỷ XIX, nhà chức trách ở vùng đất cực nam của Trung Quốc hoàn toàn chưa có ý tưởng gì về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa (gần Trung Quốc hơn) chứ chưa nói đến Trường Sa (ở rất xa Trung Quốc).  Liên quan đến sự kiện này, một học giả Trung Quốc, ông Lý Lệnh Hoa thuộc Trung tâm Thông tin Hải dương Trung Quốc, có một nhận xét rất xác đáng trong tham luận đọc tại một hội thảo khoa học, xin được lược trích ra đây :   “Nói đến quyền lợi ở Nam Hải, chúng ta [Trung Quốc – VMG] thường thích nói một câu là: từ xưa đến nay thế này thế nọ, có lúc hứng lên còn thêm vào hai chữ “thiêng liêng”…nhưng chứng cứ thật sự có sức thuyết phục chính là sự kiểm soát thực tế. Anh nói chỗ đó là của anh, vậy anh đã từng quản lý nó chưa? Người ở đó có phục tùng sự quản lý của anh không? Có phải người khác không có ý kiến gì không? Nếu đáp án của những câu hỏi này đều là “có” thì anh thắng là điều chắc. Ở Nam Sa [tức Trường Sa – VMG], chúng ta đã không có được điều đó…  Vào thời nhà Thanh (đời Hàm Phong hoặc Đồng Trị), có một chiếc tàu hàng Pháp chở đồng đi qua vùng biển Tây Sa (tức Hoàng Sa – VMG) thì gặp cướp biển, bị cướp sạch. Theo quy tắc vận tải hàng hóa trên biển, họ phải đến gặp chính quyền sở tại để trình báo, đề nghị giúp bắt bọn cướp, đồng thời xin chính quyền nơi đó xác nhận làm bằng cứ để khi về báo cáo với chủ hàng và đòi hãng bảo hiểm bồi thường. Viên thuyền trưởng đưa tàu chạy đến cảng gần nhất là Du Lâm ở đảo Hải Nam, trình báo với tri phủ (có lẽ là tri huyện) địa phương.  Viên quan địa phương đó nói với thuyền trưởng rằng: “Nơi chúng ta đứng đây có tên là Thiên Nhai Hải Giác (chân trời góc biển). Đất của Thiên triều đến đây là hết rồi. Chuyện ông bị cướp ngoài biển biết là ở chỗ nào? Ông bị cướp, chúng tôi không chịu trách nhiệm, không quản được và cũng không muốn quản”.  Thế rồi tống cổ vị thuyền trưởng bị cướp ra khỏi nha môn. Nhưng sự kiện đó cần phải có cái kết, nếu không về nước biết ăn nói ra sao? Viên thuyền trưởng đành phải cho tàu chạy vào cảng Hải Phòng. Quan chức địa phương ở đó rất tốt, xác nhận cho ông ta, lại còn cho tàu ra chạy lòng vòng, coi như đã truy bắt cướp.  Đó là chứng cứ gì? Đó chính là chứng cứ về kiểm soát và quản lý thực tế. Chứng cứ này nói lên: chính phủ Trung Quốc ngay từ thời triều Thanh đã không thừa nhận “Tây Sa” là lãnh thổ của mình, cũng không đảm trách công tác trị an ở đó. Còn chính quyền Việt Nam khi đó không những đã cho rằng “Tây Sa” là lãnh thổ của họ, mà còn thực thi công tác giữ gìn trật tự ở đó.  Điều đó chả phải đã chứng minh “Tây Sa” từ xưa đến nay đều thuộc về Việt Nam hay sao? Nếu bạn là đại biểu đàm phán của Trung Quốc, được huấn luyện đầy đủ về luật biển và luật quốc tế, trước những chứng cứ như thế thì phải làm thế nào? Chắc chắn sẽ muốn có cỗ máy thời gian để quay trở lại thời đó bóp chết viên tri phủ kia !...”4.  Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ngay sau đó, chính quyền Trung Quốc đã cử một đoàn nghiên cứu lịch sử, khảo cổ trong đó có GS. Hàn Chấn Hoa ra khảo sát một số đảo. Trong công trình do mình chủ biên, ông đã đề cập tới ngôi chùa có tên Hoàng Sa tự trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm theo tên của Việt Nam)5.  Mặc dù tên chùa và các câu đối viết bằng chữ Hán (黄 砂 寺), nhưng lại là một trong những chứng cớ hết sức thuyết phục về chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Ngôi chùa này đã được báo chí Trung Quốc nói tới từ năm 1957, sau lần quân Trung Quốc đổ bộ lên Phú Lâm năm 1956, khi quân Pháp vừa thất bại trên chiến trường Việt Nam. Theo mô tả trong tạp chí “Lữ hành gia” quyển 6, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh thì vào thời điểm ấy trong chùa còn ghi niên đại trùng tu vào năm Bảo Đại 14 (1939). Dựa vào những ghi chép trong bộ Đại Nam thực lục chính biên, có thể biết ngôi chùa này đã được vua Minh Mệnh ra lệnh xây theo đề nghị của Bộ Công và tỉnh Quảng Ngãi. Người được giao phụ trách công việc này là cai đội Phạm Văn Nguyên. Lính và dân phu hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi đã chuyên chở vật liệu từ đất liền ra xây6.  Kỳ 3: Những tư liệu phương Tây về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa  —  1 釋大汕 : 海外記事 .中华书局,1987 , 上冊,卷三   2 Lê Quý Đôn: Toàn tập, tập I (Phủ Biên tạp lục), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 116.  3 Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, dẫn theo Monique Chemillier – Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phụ lục số 5 (La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys. L’Harmattan Paris, 3/1996). NXB Chính trị quốc gia (Sự thật), 2011.  4 Dẫn theo: Trung Quốc từng luôn thừa nhận “Hoàng Sa là của Việt Nam” đăng trên Infonet (Bộ Thông tin & Truyền thông, ngày 04/05/2013  5 韩 振 华(主编): 我國南海諸島史料滙编 . 厦门大学 南洋研究院出版 1985 年. 东方出版社1988 年7月第1版, tr.115  6 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. NXB Giáo dục, T.4, tr.673    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ 3: Những tư liệu phương Tây về chủ quyền Việt Nam trên Trường Sa và Hoàng Sa      Từ thế kỷ 17 đã có những tài liệu của các nước châu Âu  phản ánh chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.     Ngay từ thế kỷ XVI, Thái Bình Dương đã trở nên rất quen thuộc với người phương Tây, họ đã có thể vẽ khá chính xác bản đồ châu Á với những ghi chú thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các tuyến đường tàu thuyền của họ thường xuyên qua lại. Vừa qua tại một số địa phương, 56 bản đồ cổ được các nhà hàng hải châu Âu vẽ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX được trưng bày mới chỉ là một phần trong số đó. Tất cả những bản đồ này đều thể hiện hoặc chua chú đích xác hai quần đảo Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) và Spratley (Trường Sa) là thuộc Ciampa (phiên âm tên Champa, một vương quốc cổ tương đương với miền Trung Việt Nam) hay Cochinchine (tương đương với vùng đất Nam Trung Bộ, Nam Bộ, còn được dịch là vương quốc Đàng Trong).   Có rất nhiều tài liệu của các nước châu Âu phản ánh chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xin đơn cử ra đây một số. Các tư liệu được dẫn theo trình tự thời gian.  Trước hết là sự kiện chiếc tầu Grootebroek của Hà Lan trên đường đi từ Battavia (Indonesia) tới Turon (Đà Nẵng) bị đắm ở khu vực Paracels (Hoàng Sa) vào năm 1634. Những thuỷ thủ sống sót đã đưa được 4 thùng bạc lên một đảo lớn ở Paracel, sau đó cử 1 nhóm 12 người đi thuyền nhỏ vào Phú Xuân gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên xin trợ giúp. Chúa đã cho phép họ thuê tầu trở lại đảo đón 50 thuỷ thủ và lấy 4 thùng bạc. Câu chuyện phản ánh rõ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa này được này J.M.Buch khai thác trong các tài liệu công ty Đông Ấn Hà Lan và công bố trên tạp chí của Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp vào năm 19361.   Năm 1701 một người Pháp là Jean Yves Clayes trong nhật ký của mình đã mô tả rất cụ thể các bãi đá ngầm ghi rõ: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam”2.  Vào giữa thế kỷ XVIII có một nhân vật rất nổi tiếng là giáo sĩ kiêm thương nhân Pierre Poivre. Nhờ những cuốn sách và bài viết của ông mà người Pháp đã có sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam. Ngay cả đến Thomas Jefferson, vị đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, sau trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc, sau khi đọc P. Poivre cũng bị cuốn hút vào xứ sở này. Năm 1803, ngay sau khi đắc cử, vị tân Tổng thống đã cử một phái bộ đem theo dự thảo Hiệp định thương mại đến Việt Nam với hy vọng thiết lập quan hệ hợp tác, nhưng việc không thành.  P. Poivre có điều kiện thường xuyên qua lại Việt Nam và từng được chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp tại kinh thành Phú Xuân. Một trong những cuốn sách của ông là  Mémoire sur La Cochinchine (Ký ức về Đàng Trong) xuất bản tại Paris năm 1744, đã nói đến việc nhiều khẩu thần công bố trí trên tường kinh thành mà ông tận mắt trông thấy, là của các con tầu phương Tây bị đắm được lấy về từ Paracel. Trong một tập tài liệu được viết ra sau đó, Đô đốc M.d’Estaing cũng có nhận xét tương tự: “Xung quanh thành [Phú Xuân – VMG] có một nơi để rất nhiều đại bác, nhiều khẩu là được để trang trí hơn là để sử dụng. Người ta cho rằng số súng đó có thể tới 400 khẩu, một phần được đúc bằng gang, một số lớn là của Bồ Đào Nha được lấy về từ các vụ đắm tàu trước kia ở quần đảo Paracels”3.       Đây là những nhận xét khách quan nhưng lại là những chứng cớ hết sức thuyết phục về thành quả những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa mà các chúa Nguyễn đã tổ chức ra để thực thi chủ quyền trên hai quần đảo.  Jean Baptiste Chaigneau một người rất am hiểu tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu XX đã có một bản tường trình cho Bộ Ngoại giao Pháp về triều Nguyễn vào tháng 5 năm 1820, trong đó có đoạn viết: “Vua ngày nay [tức vua Gia Long-VMG] đã lên ngôi hoàng đế [của một nước-VMG] gồm Đàng Trong cũ (Cochinchina), xứ Đàng Ngoài cũ (Tonkin), một phần vương quốc Campuchia, một số hòn đảo có người ở không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, ghềnh và đá hoang vắng”4.   Năm 1837, Giám mục Jean Louis Taberd có một bài viết về Việt Nam, trong đó có đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa như sau:“Paracel hay Paracels là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến 11 độ vĩ Bắc, 107 độ kinh Đông … Người Cochinchina gọi quần đảo này là Cồn Vàng. Tuy quần đảo này không có gì ngoài tảng đá và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn thuận lợi, Vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ tăng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ và chính thức chiếm hữu mà hình như không một ai tranh giành với ông”5. Ở đây J. L. Taberd nói tới sự kiện vua Gia Long giao cho quân đội ra làm cột mốc, cắm cờ ngay từ khi mới lên ngôi (1802), ông đã liền có chỉ dụ củng cố hoạt động của đội Hoàng Sa được thành lập bởi các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII.  Vào năm sau (1838) chính vị giám mục này cho công bố tấm bản đồ, trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng). Cát Vàng là tên thuần Việt mà trên các văn bản chính thức gọi là Hoàng Sa. Đây là chứng lý xác đáng cho việc người Việt đã đặt tên cho quần đảo mà người phương Tây gọi là Paracel.  Vào năm 1849, TS. Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn một cuốn sách về Địa lý vùng đất phía nam của Việt Nam, có đoạn nói về Hoàng Sa như sau: “…Quần đảo Paracel (Kat Vang), ở ngoài khơi bờ bể An Nam, lan giữa 15 đến 17 độ vĩ Bắc và 111 đến 113 độ kinh Đông… Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài đảo bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh trào qua… Chính phủ An Nam thấy những mối lợi có thể mang lại nếu đặt ra một ngạch thuế bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải nộp, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc…”6.  Giữa thế kỷ XIX, cuốn Địa lý đại cương, một bộ sách đồ sộ của nhà địa lý học Italia nổi tiếng Adriano Balbi đã được xuất bản ở Livorno. Trong phần mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: “Thuộc Vương quốc này có quần đảo Paracels [Hoàng Sa -VMG], nhóm đảo Pirati [đảo Hải tặc -VMG] và nhóm đảo Poulo Condor [Côn Đảo-VMG]”. Trong khi đó, đoạn mô tả về địa lý Trung Hoa, mặc dù rất dài, tác giả không đề cập gì đến Hoàng Sa và Trường Sa7.  Kỳ cuối: Tư liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và ngày càng thêm phong phú  —  1 J.M.Buch: La Compagnie des Indes Neerlandaises et l’Indochine. Bulletin de l’ Ecole Francaise d’ Extrême Orient, tome XXXVI, 1936, p.134  2 Jean Yves Clayes: Mystère des atolls – Journal de voyage aux Paracels. Indochine No 46-1941.  3 Dẫn lại theo G.Taboulet: La geste Francaise en Indochine, tome I, Paris 1955, p.145 -151   4 Bulletin des Amis du vieux Huế, 1923, p.275  5 Jean Louis Taberd: Note on the Geography of Cohinchina. Journal of the Asiatic Society of Bengal, tome VI, 1837, p.745   6 K.Gutzlaff: Geopraphy of the Cochinchinese Empire. The Journal of the Royal Geographical Society of London, tome 19,1849, p. 93.   7 Adriano Balbi: Compendio di Geografia, Livorno 1854, p.641      Author                Quản trị        
0.03925619834710744
__label__tiasang Kỳ 4: Tư liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và ngày càng thêm phong phú      Trong khi những tư liệu được Trung Quốc tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và mâu thuẫn, bị nhiều học giả quốc tế phản bác thì các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ngày càng dày dặn và vững chắc thêm.    Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo xuất hiện trên các bản đồ hàng hải phương Tây trước thế kỷ XVII hầu hết đều đi liền với tên gọi Ciampa hay Campa. Điều có nghĩa những đảo này từng gắn rất chặt với vương quốc Champa, sau này trở thành một bộ phận của nước Việt Nam.   Bản đồ sớm nhất của Việt Nam có thể hiện hai quần đảo là bộ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo vẽ vào năm Chính Hòa 7 (1686). Trên bản đồ quần đảo Hoàng Sa được ghi bằng chữ Nôm là Bãi Cát Vàng (𡌣 葛 鐄) còn Trường Sa là Vạn lý Trường Sa. Phần chú giải tác giả viết:   “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hang hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”1.   Chỉ một tư liệu này thôi đã nói được nhiều điều. Từ thế kỷ XVII người Việt đã lui tới, vẽ bản đồ, đặt tên (rất Việt), khai thác và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo. Loại tư liệu có căn cứ xác đáng như vậy Trung Quốc không hề có.  Sang thế kỷ XVIII, ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn cho biết chính quyền chúa Nguyễn đã khẳng định chủ quyền thông qua việc tổ chức quy củ các đơn vị chuyên trách thực thi công vụ trên hai quần đảo (Đội Hoàng Sa và  Đội Bắc Hải), quy định rõ ràng về phiên chế, phân rõ địa phương thực hiện, quy trình, thủ tục và nhiệm vụ cụ thể: “Trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng ba nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này… Lấy được được hóa vật của tàu như gươm, tiền bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, đồ sứ, ngà voi, sáp ong, đồi mồi, hải sâm, vỏ ốc…rất nhiều. Đến tháng Tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh trở về ”.   Những công việc của các đội đặc nhiệm này được quản lý rất chặt chẽ. Lê Quý Đôn đã tận mắt xem sổ ghi chép của một viên Cai đội tên là Thuyên và cho biết: “Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc… ”2.  Năm 1802, triều Nguyễn thành lập, xây dựng một chính quyền cai trị thống nhất từ Bắc chí Nam. Tiếp tục duy trì sự hiện diện và khai thác các nguồn lợi như các chúa Nguyễn, các hoàng đế đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chủ quyền lãnh hải và trên các đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Các nhà nghiên cứu đã trưng ra được rất nhiều đoạn chính sử, các văn kiện chính thức (châu bản) và những chỉ dụ, sắc lệnh do hoàng đế trực tiếp ban ra về các công việc liên quan đến hai quần đảo, như việc vua Gia Long ra lệnh cho quân đội ra dựng mốc căm cờ vào năm 1816, vua Minh Mệnh trực tiếp xử lý việc thưởng phạt đối với các sĩ quan và bình lính thực thi công vụ; trực tiếp phê duyệt kế hoạch xây chùa cùng việc phân bổ ngân sách và nhân lực thực hiện các công việc đó…  Những căn cứ không thể xác đáng hơn là cùng với những tư liệu được ghi chép trong các bộ chính sử, các tư liệu trong kho lưu trữ, chủ quyền Việt Nam còn hiển hiện trong các tài liệu được lưu giữ trong dân như những di vật của tiền nhân là những người tham gia Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Đó còn là những di tích như miếu thờ, nghi lễ tế sống các binh lính Hoàng Sa trước khi đi làm nhiệm vụ…  Có thể nói đến thời Nguyễn, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa đã được thiết lập và thực thi một cách đầy đủ và toàn vẹn, không có sự tranh chấp nào. Chính vì vậy, khi đánh chiếm được Việt Nam, Pháp đã mặc nhiên đặt quyền quản lý của chính quyền đô hộ lên hai quần đảo. Người Pháp đã cho xây dựng các đài khí tượng, trạm quan trắc và cắt đặt lính đồn trú trên các đảo.  Năm 1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính phủ Quốc gia Việt Nam. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giao là người đứng ra tiếp nhận. Chỉ hơn một năm sau, vào tháng 8 năm 1951 Tân Hoa xã Trung Quốc lên tiếng “khẳng định quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa”. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố công khai về vấn đề này. Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 9 năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có bất cứ sự phản đối nào trước lời tuyên bố đó. Trong khí đó có ý kiến giao hai quần đảo này cho CHND Trung Hoa đã bị 48/51 phiếu chống.  Trong thời gian Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hai quần đảo nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tiếp nhận quản lý, sắp đặt lại đơn vị hành chính và liên tục có những tuyên bố và hành động chống lại các hành vi khiêu khích hoặc những yêu sách đòi chủ quyền của Trung Quốc.  Năm 1974, sau nhiều lần đột kích, Trung Quốc đã công khai dùng vũ lực chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đây là hành vi trái với tất cả mọi luật pháp và công ước quốc tế về thụ đắc lãnh thổ. Nhưng cũng từ đây Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh việc tuyên truyền, các biện pháp ngoại giao và gia tăng sức ép quân sự để đơn phương khẳng định chủ quyền của mình không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn với cả phần lớn biển Đông thông qua yêu sách đường 9 đoạn. Năm 1988, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực để chiếm các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa3.  Chính phủ Việt Nam luôn kiên trì với đường lối sử dụng các biện pháp hòa bình và tôn trọng các điều ước quốc tế để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thông qua các tuyên bố của những người đứng đầu đất nước, và thái độ của nhân dân, Việt Nam luôn tỏ rõ thái độ cương quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của mình, không phải chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động khi cần thiết.    Kết luận  Biển Đông đang nóng lên. Cùng với những biện pháp quân sự, ngoại giao, truyền thông mà các bên có liên quan đều đang cố gắng đẩy mạnh, việc nghiên cứu để hiểu sâu sắc và xây dựng những luận cứ khoa học học cho việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng cấp thiết.  Có thể nói Trung Quốc đã đi trước Việt Nam khá lâu trong việc tập hợp lực lượng và tổ chức nghiên cứu để xây dựng luận chứng khoa học và cơ sở pháp lý về chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sự cố gắng đó đã được thể hiện trong một bộ sách dày dặn với sự tham gia của đông đảo giới học giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay những luận lý đưa ra ngày càng bộc lộ những nhược điểm và hạn chế. Tư liệu được tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và giải thích tư biện và khiên cưỡng. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn giữa tư liệu này và tư liệu khác. Không phải ngẫu nhiên mà trong giới học giả quốc tế ngày càng có nhiều người phản bác luận lý của Trung Quốc. Thậm chí ngay cả học giả Trung Quốc cũng đã có người lên tiếng phê phán.   Trong khi đó rất đáng ghi nhận những cố gắng hết sức lớn lao của các cơ quan có trách nhiệm, giới nghiên cứu và của toàn thể nhân dân Việt Nam cả trong và ngoài nước trong việc sưu tầm, hiến tặng tài liệu và công bố những kết quả nghiên cứu, khiến cho luận cứ khoa học và căn cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ngày càng dày dặn thêm.  Như một chân lý khách quan, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo của Việt Nam nên những tư liệu và chứng cớ khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng với thời gian ngày càng trở nên rõ ràng và phong phú thêm. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải và trên hai quần đảo này, giới khoa học giữ một vai trò vô cùng quan trọng./.  —  1 Dẫn theo Nguyễn Nhã: Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. NXB Giáo dục, 2013, tr. 40.  2 Lê Quý Đôn: Sđd, tr. 115-116.  3 Những chi tiết cụ thể về các nguồn tài liệu rất phong phú về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể tham khảo thêm công trình của các tác giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Nhã, Nguyễn Hồng Thao, Trần Công Trục…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ luật và sự tiến bộ của xã hội      Lịch sử cho ch&#250;ng ta những b&#224;i học sinh động về sự hưng thịnh v&#224; suy vong của c&#225;c quốc gia li&#234;n quan mật thiết tới tinh thần kỷ luật của c&#225;c tổ chức b&#234;n trong l&#242;ng quốc gia ấy. Nhu cầu h&#236;nh th&#224;nh kỷ luật trong tổ chức d&#226;n sự được xuất ph&#225;t từ nhu cầu lao động sản xuất với quy m&#244; lớn. Từ đ&#243; l&#224;m th&#224;nh nội lực kinh tế của quốc gia.    Nhưng nếu tổ chức có tính trung ương nhất, tức bộ máy hành chính nhà nước, thiếu đi tinh thần kỷ luật thì mọi thành quả kinh tế của xã hội khó có thể được phân chia công bằng. Bất công xã hội và tệ tham nhũng có thể khiến cho vị thế đất nước lung lay. Một đế quốc La Mã có một nền sản xuất thành công bậc nhất trên thế giới vào thời kỳ nó tồn tại, với những con thuyền vận tải chuyên chở hàng trăm tấn đá hoa cương tấp nập trên Địa Trung Hải (1), nhưng vẫn sụp đổ vì giới cầm quyền mục ruỗng. Như vậy là thành công về kinh tế không đảm bảo, và cũng không thay thế được vai trò của cải cách bộ máy hành chính.   Việc cải cách bộ máy hành chính về bản chất cần sự đồng thuận của số đông. Nếu số đông vô trách nhiệm thì không thể có sự cải cách tiến bộ. Nhưng có ý thức trách nhiệm cũng là có tinh thần tôn trọng kỷ luật. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến những cuộc cách mạng xuất phát từ những nhu cầu nhân văn cao cả. Nhưng những giá trị nhân văn không đảm bảo cho thành công lâu dài. Một đất nước thiếu nền tảng luật pháp vững vàng thì thành quả những cuộc cách mạng dễ rơi vào vòng tranh giành hỗn loạn, hoặc là vào tay kẻ mạnh nắm giữ lực lượng an ninh và quân đội. Điều này hơi trái với với suy nghĩ của những ai cho rằng một thể chế được lãnh đạo bởi một số cá nhân tiến bộ thì sẽ tự động tạo ra một nền chính trị và xã hội tiến bộ. Đúng là xã hội và thể chế chính trị thường có sự tiến bộ khi xuất hiện những nhà lãnh đạo tiến bộ. Nhưng đó chưa phải là điều kiện đủ để tạo ra nền tảng luật pháp nghiêm minh. Như vậy thì không có thành quả chính trị tiến bộ nào đảm bảo tồn tại lâu dài.   Nền tảng luật pháp đến từ đâu? Cần nhiều cá nhân có nhân cách, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức kỷ luật. Điều này thường có được khi xã hội tích lũy được một bề dày nhất định đối với văn hóa tổ chức lao động. Nhu cầu được luật pháp bảo vệ cũng thường trở nên phổ biến hơn khi số đông cá thể có tài sản và thu nhập ổn định. Nghĩa là khi xã hội đã có mức độ phát triển nhất định về kinh tế. Nói một cách đầy đủ là sự thịnh vượng về kinh tế không chỉ đòi hỏi ý thức kỷ luật của các tổ chức sản xuất và kinh doanh. Nó còn thúc đẩy nhu cầu về tính quy củ trong việc phân chia quyền lợi giữa các cá thể và nhóm lợi ích trong xã hội.      Hiện trạng xã hội Việt Nam  Ý thức kỷ luật trong các tổ chức người Việt, đặc biệt là các tổ chức lao động và kinh doanh, có một lịch sử còn khá khiêm tốn. Quy trình trồng trọt lúa nước không đòi hỏi sự hợp tác sản xuất ở quy mô quá lớn. Trong quá khứ, dân số nước ta mật độ không cao. Lại phân bổ trên mảnh đất vị thế kéo dài cùng với kỹ thuật giao thông hạn chế nên làm giảm thiểu cả mức độ giao thương lẫn quy mô sản xuất. Các cuộc chiến tranh liên miên cũng khiến cho xã hội không thể trân trọng và duy trì sự hợp tác lao động với quy mô lớn. Ngoài các công trình có tính tín ngưỡng và an sinh xã hội sống còn (đình chùa, thành quách, đê điều), hiếm có công trình công cộng đáng kể nào được duy trì qua thời gian. Mà như chúng ta thấy, nếu không có sự hợp tác lao động với quy mô lớn và dài hạn thì nhu cầu kỷ luật không thể hình thành, hoặc là rất hạn chế.   Khi Châu Âu có đủ kỹ thuật để giao thương hiệu quả bằng đường biển sang viễn Đông thì Việt Nam thoát ra khỏi vị thế bị cô lập. Nhưng triều đình nhà Nguyễn thiếu cái nhìn chiến lược và đã từ chối vận hội này. Hậu quả là nước ta bị người Pháp mang súng đạn đến cưỡng ép phải mở cửa. Hành động xâm phạm chủ quyền này một mặt gây tổn thương tới lòng tự hào dân tộc, đồng thời làm cho nhiều quyền lợi của người Việt bị khai thác bóc lột bởi thực dân. Nhưng mặt khác cũng đem đến một số yếu tố tích cực nhất định. Người Pháp mang tới kỹ thuật và văn hóa phương Tây. Họ mở ra triển vọng mới trong sản xuất, kinh doanh, giao thương, và cả cung cách tổ chức hành chính của phương Tây. Tuy nhiên, những hạt mầm này chưa kịp sinh trưởng sum suê thì đất nước đã lâm vào nhiều thập kỷ chiến tranh khốc liệt.  Trong hai cuộc chiến tranh dành độc lập, Đảng ta đã tạo dựng được thứ tinh thần kỷ luật sắt thép giúp cho các tổ chức nòng cốt trong xã hội tồn tại qua chiến tranh, góp phần quan trọng cho việc giành chiến thắng của dân tộc. Tuy nhiên cần thấy rằng, khi đất nước có chiến tranh, các cá thể tự nguyện kết nối với nhau không chỉ để sinh tồn mà còn vì chung lý tưởng, chung lòng tự hào dân tộc. Khi đất nước hòa bình, sợi dây tinh thần đó trở nên lỏng lẻo. Vì vậy, mô hình quản lý kinh tế xã hội tập trung quan liêu bao cấp, kiểu hợp tác xã tiềm tàng đầy rẫy sự vô kỷ luật. Sau một thập kỷ, nó đã đẩy nền kinh tế gần tới mức khủng hoảng dẫn đến sự Đổi Mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Cần phải Đổi Mới để cho thị trường tự do quyết định phương thức và quy mô sản xuất. Qua đó buộc mỗi cá thể phải tự lực lựa chọn, và tự lực cạnh tranh để tồn tại. Điều ấy là cơ sở hình thành ý thức kỷ luật trong lao động – sức sống mới cho nền kinh tế.  Nhưng khi mà chiếc bánh kinh tế phình to thì sự phân chia lợi ích  càng phải chính xác và công bằng.  Nếu không, những tiêu cực tệ nạn sẽ ngày càng phóng to trầm trọng theo độ lớn của chiếc bánh kinh tế. Đó là lý do khiến cho mức độ nghiêm trọng của các vụ án tham nhũng ở ta hiện nay tăng dần theo sự phát triển của nền kinh tế. Đây hẳn không phải là lỗi của thị trường tự do, mà chính là lỗi của sự thiếu tính kỷ luật của bộ máy quản lý hành chính khiến nó không theo kịp, đáp ứng sự đòi hỏi của phát triển nền kinh tế.   Cái tác hại nghiêm trọng của tính thiếu kỷ luật ở một bộ máy hành chính trung ương là nó gây ra sự bất công và thiếu minh bạch, làm suy thoái không ít tính kỷ luật của các tổ chức trực thuộc. Biểu hiện dễ thấy nhất là ở hệ thống giáo dục và y tế. Ở nước ta, cả hai đều bị than phiền vì tình trạng trì trệ và thiếu trách nhiệm.  Nhưng lại cần nhớ rằng mọi nền văn minh có sức vươn lên mạnh mẽ đều xuất phát phần nào từ nghịch cảnh. Những thách thức mà xã hội đang đối diện quả thực nghiêm trọng. Nhưng chúng lộ diện được cũng là từ sự vận động tích cực từ bánh xe kinh tế. Thay vì nhìn nhận sự sự vật như những chướng ngại gây khó khăn, ta thấy rằng chúng là tín hiệu cho chúng ta biết cần có sự tự hoàn thiện để đủ khả năng đón tiếp vận hội phía trước. Có lẽ lúc này xã hội đã nhận ra rằng cái dũng của những người xây dựng trong thời bình cũng đáng trân trọng không kém cái dũng của người cầm súng thời chiến. Lúc này, ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần những người có nhân cách và có ý thức kỷ luật. Chính trị, an ninh, giáo dục, y tế, và đặc biệt là các tổ chức đơn vị kinh tế. Khi mà đa số các đơn vị này thoát ra khỏi tình trạng làm ăn chộp giật theo mùa vụ để sinh ra những nguồn thu nhập ổn định hơn, tạo ra những không gian văn hóa lao động nghiêm túc sáng sủa hơn, thì đó sẽ là bước cơ sở tạo đà cho xã hội chuyển mình theo những bước tiến quan trọng khác.  ———————-        (1) Tham khảo theo George W. Houston trong Port in Perspective: Some Comparative Materials on Roman Merchant Ships and Port, tạp chí American Journal of Archeology, Vol. 92, No. 4 (Oct. 1988), trang 553-564  (2) Các chi tiết trong phần này thuộc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ Toàn Thư, Quyển 2  Chú thích ảnh: Sự thiếu ý thức kỷ luật là một trong những  nguyên nhân gây ách tắc giao thông          Dựa vào những gì sử sách ghi nhận được thì chúng ta có lẽ phải công nhận rằng người lãnh đạo mang theo nền tảng tinh thần kỷ luật thực thụ đầu tiên tới Việt Nam là Triệu Đà. Tinh thần kỷ luật này là điều cần thiết khi mà Triệu Đà nắm giữ một binh lực lớn. Ông ta không chỉ đủ sức chiếm giữ nước Việt mà còn chinh phạt các tỉnh biên giới của Trung Quốc. Triệu Đà xưng làm Nam Việt Vương vào năm 207 TCN. Tới 28 năm sau nhà Hán vẫn phải nể vì, viết thư với lời lẽ khiêm hạ để thiết lập quan hệ hòa hiếu. Qua đó có thể thấy rằng quân đội của Triệu Đà duy trì được tinh thần kỷ luật khá lâu dài. Nếu đúng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì chiến dịch quân sự công kích lên Trường Sa của Nam Việt tiến hành vào năm 181 TCN, tức là 26 năm sau ngày lập quốc. Các sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên khi viết về Triệu Đà đều bày tỏ thái độ vô cùng trân trọng. Lê Văn Hưu viết “…người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi… Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài…” (2) Qua đó thì thấy rằng những bậc sử gia tiên phong của nước ta từ xa xưa đã có tầm nhìn xa, xem nhẹ sự kỳ thị chủng tộc để công nhận vai trò quan trọng của nền móng kỷ cương mà Triệu Đà đã xây dựng được.              Author                Quản trị        
__label__tiasang “Kỷ nguyên Park Chung Hee” bản tiếng Việt: Có làm thoả mãn độc giả?      Việc cho ra đời cuốn sách hàn lâm và chuyên ngành Lịch sử Chính trị của Đại học Harvard (Mỹ) dành cho giới đại học và trên đại học qua một bản dịch mềm hóa (bằng dịch thuật và cắt bỏ), liệu có làm thỏa mãn độc giả hay không?    Trong khuôn khổ Bộ sách về các nhà kiến tạo quốc gia vĩ đại/Tủ sách “Nhân vật chính trị – thời cuộc”, tháng Tám vừa qua, Alpha Books đã phát hành cuốn Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc1 (Kỷ nguyên Park).    Park Chung Hee được coi là người kiến lập Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc) mới. Ông xứng đáng được coi là người tạo ra một kỷ nguyên mang tên ông, bắt đầu và tạo nền móng cho “Kỳ tích sông Hàn” được công nhận trên toàn thế giới.     Lịch sử đã ghi lại nhiều dự báo thành hiện thực của các nhà kiến tạo quốc gia, nhưng chắc chỉ có Park là người duy nhất mà dự báo trở thành hiện thực trong đời cầm quyền của ông (tuy đã bị ngắt đi ít năm bởi một vụ ám sát). Ngay sau khi đảo chính nắm quyền tháng 7/1961, Park tuyên bố trước 20 ngàn sinh viên Đại học Seoul: “Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn được sống còn. Nếu làm được vậy, trong vòng 10 năm, chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu ở Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới… Hôm nay, có thể một số người dân bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin hiểu cho rằng Tổ quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân… Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng đã đề ra.”2    Và, người ta đã đánh giá về Park: “Với những thành công vĩ đại và thất bại tệ hại của ông, cùng phong cách lãnh đạo tuy vô cùng hiệu quả nhưng lại khét tiếng độc tài… Park vẫn sống như một người hùng đồng thời cũng như một tội đồ trong chính trị Hàn Quốc… ký ức về thời kỳ cầm quyền hào hùng và gây tranh cãi của ông vẫn còn cao ngất ở đất nước này.” (Kỷ nguyên Park, Kết luận, tr. 850). Đây quả là một tấm huy chương vàng chói ngời cả hai mặt! Có một số chi tiết về ông Park cần được nhấn mạnh: Ông Park, tuổi học trò đã rất mê sách về Napoleon. Ông tốt nghiệp xuất sắc Học viện Quân sự Đế quốc Nhật Bản tại Tokyo và là chỉ huy một trung đoàn khi Thế chiến II kết thúc. Năm 1948, ông từng bị kết án tù chung thân vì là thành viên của Đảng Công nhân Nam Triều Tiên (là đảng cộng sản ở Nam Triều Tiên từ năm 1946 đến năm 1949). Cuối cùng, điều này cũng rất quan trọng: từ khi ông bị ám sát (1979) tới nay, người ta tố cáo ông nhiều tội, song không hề có tội tham nhũng, không hề có những khoản tiền nào mang tên ông bị phơi bày. Nói như một thành ngữ Nga, ông đã nếm trải đầy đủ “Lửa, Nước và Ống Đồng” để lập ra một quốc gia hùng mạnh. Kết thúc đoạn này bằng hồi ức ngắn dưới đây hẳn không thừa:    “…Ông Jo Rip, một Hàn kiều ở Đức, người đã từng làm thợ mỏ thời đó nhớ lại: Khi đó [tháng 12/1964], Tổng thống Park tới thăm Đức là để hỏi vay tiền viện trợ. Vì là người đứng đầu của một nước nghèo nên ông chỉ có một xe máy hộ tống. Ông tới chỗ chúng tôi vào lúc đêm muộn. Tôi cùng các đồng nghiệp và các nữ y tá đã đứng chờ Tổng thống ở đó. Cuộc gặp khi đó rất nhiều cảm xúc không nói nên lời, chúng tôi chỉ nhìn nhau mà nước mắt tuôn trào.”3    ***  The Park Chung Hee Era: The Transformation of South Korea là bản gốc (tiếng Anh) của cuốn sách Kỷ nguyên Park. Theo GS sử học Kyung Moon Hwang ở Đại học Nam California, đây là một trong hai cuốn sách quan trọng nhất viết về Park và kỷ nguyên của ông – cuốn kia là  Reassessing the Park Chung Hee Era, 1961–1979: Development, Political Thought, Democracy, and Cultural Influence của Hyung-A Kim và Clark W. Sorensen.     The Park Chung Hee Era do Harvard University Press (HUP) xuất bản lần đầu năm 2011, có năm mục và 21 chương, kết cấu gồm ba phần như một sản phẩm thời thượng của Hàn Quốc (smartphone Samsung chẳng hạn) mà chúng ta quan tâm: Nguồn gốc (mục I: Sinh ra trong khủng hoảng, ba chương), tính chất (các mục II-IV: Chính trị, kinh tế, xã hội và quan hệ quốc tế, 14 chương), và đánh giá (mục V: So sánh, bốn chương).   Cuốn sách là một bộ sưu tập rất giá trị những tiểu luận của các chuyên gia Hàn Quốc. Chỉ tới mục V mới có sự tham gia của các chuyên gia ngoài Hàn Quốc. “Phạm vi và độ sắc bén của bộ sưu tập về giai đoạn quan trọng này trong lịch sử Hàn Quốc khiến nó phải được dành cho bậc đại học, sau đại học và các bộ sưu tập Hàn Quốc trong thư viện …” (JM Peek, Choice – bìa 4 bản gốc tiếng Anh)    Sách do HUP xuất bản càng cho thấy nó thuộc loại sách hàn lâm và chuyên ngành. Vậy chuyên ngành của nó là gì? Chủ biên KimByung-Kook đã chỉ rõ bằng tựa đề của phần Giới thiệu: “Một bài học Lịch sử Chính trị”. Thật vậy, xuyên suốt toàn cuốn sách hơn 900 trang chữ nhỏ, khổ lớn là Lịch sử Chính trị của Kỷ nguyên Park, một tài liệu rất quý cho ngành Hàn Quốc học. Tuy nhiên, từ đây hình như đã có thể nhìn thấy sự khác nhau rõ rệt về điều mà bản chính và bản dịch hướng tới.    Bảng dưới đây cho thấy một số khác biệt.            Sự khác biệt         Bản gốc      Bản dịch          Tên   sách      Kỷ   nguyên Park Chung Hee: Sự chuyển đổi của Hàn Quốc (dịch)      Kỷ   nguyên Park Chung Hee và Quá trình phát triển thần kỳ của   Hàn Quốc          Dịch   thuật (một ví dụ):  The Military Junta’s Path (tên Chương 3)      Chính   quyền độc tài quân sự      Chính   quyền quân sự          Bổ   sung của bản dịch      …   phong cách lãnh đạo quyết đoán cùng chiến lược “trước là công nghiệp hóa, sau   là dân chủ hóa” và bộ máy hoạt động tinh gọn của Park Chung Hee sẽ cung cấp   thêm nhiều góc nhìn mới mẻ trong việc xây dựng đường lối lãnh đạo và chiến   lược phát triển đất nước đối với các quốc gia hiện đang theo đuổi đồng thời   cả hai sự nghiệp công nghiệp hóa và dân chủ hóa.” (Trích bài viết dài bốn   trang của Rhee Jae Hoon). Tại tọa đàm về cuốn sách hôm 15/11 ở Hà Nội, diễn   giả Rhee Jae Hoon tiếp tục đề cao tấm gương này.          Loại   sách và đối tượng đọc      – Sách Lịch sử chính trị do Harvard xuất bản, hàn   lâm và chuyên ngành.  – Dành cho bậc đại học, sau đại học và các bộ sưu tập Hàn Quốc   trong thư viện      – Thuộc “Bộ sách về   các nhà kiến tạo quốc gia vĩ đại” của Alpha Books.  – Bỏ phần ghi: dành   cho bậc đại học, sau đại học… ở bản gốc (bìa 4)          Số   chương      21      19          Tên   các chương bị cắt ở bản dịch (các phần cắt bỏ khác chỉ có thể biết khi có bản   gốc)      Chương 14. Chiến tranh Việt Nam: Tìm kiếm của Hàn   Quốc đối với an ninh quốc gia, Min   Yong Lee (27 trang)    Chương 20. Các chế độ độc tài là hoàn hảo? Hàn   Quốc so với Argentina, Brazil, Chile, và Mexico, Jorge I. Dominguez (30 trang)            Vậy, liệu một cuốn sách hàn lâm và chuyên ngành Lịch sử Chính trị của Đại học Harvard giới thiệu một hình mẫu phát triển vĩ mô của quốc gia, như một tấm gương dành cho giới đại học và trên đại học, qua một bản dịch mềm hóa (bằng dịch thuật và cắt bỏ), có làm thỏa mãn độc giả hay không? Đương nhiên câu trả lời luôn luôn là: có và  không. Hiện giờ, vì mới chỉ nhìn thấy phần không nên chúng tôi tự đặt cho mình những câu hỏi mà có thể nhiều độc giả cũng muốn điều tương tự.    Do nhiều hoàn cảnh, việc dịch thuật không trọn vẹn một tác phẩm là điều bình thường ở Việt Nam. Tuy nhiên, đối với loại sách khảo cứu như Kỷ nguyên Park, dù đã được nhà xuất bản gốc cho phép (giả thiết như vậy với HUP) thì các cắt bỏ phải được bên xuất bản nói rõ với độc giả để khỏi bị coi bán một sản phẩm không đầy đủ dưới vỏ hoàn chỉnh. Thông thường, các phần cắt bỏ phải là bất khả kháng nhưng đối chiếu với yêu cầu này, việc cắt bỏ hoàn toàn Chương 20 (Các chế độ độc tài là hoàn hảo? Hàn Quốc so với Argentina…) là không hợp lý, làm hỏng kết cấu cuốn sách. Chương này cho thấy nền độc tài quân sự Hàn Quốc thành công với giá đắt trong sự so sánh với các nền độc tài quân sự Mỹ latin. Nếu thiếu chương 20, chưa chắc cuốn sách đã an tâm kết luận Kỷ nguyên Park là “thành công vĩ đại và thất bại tệ hại”.     Bên cạnh đó, việc cắt bỏ hoàn toàn Chương 14 (Chiến tranh Việt Nam: Tìm kiếm của Hàn Quốc đối với an ninh quốc gia) có rất nhiều hệ lụy. Nếu chương này được lược dịch, loại đi những phần bất khả kháng thì tốt hơn cho bản dịch tiếng Việt rất nhiều. Bởi vì, nói tới Kỷ nguyên Park và Quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc mà loại bỏ hoàn toàn (liên hệ với) Chiến tranh Việt Nam thì đó là một sự xóa bỏ lịch sử rất khó chấp nhận. Trong số các nước tham gia cùng Mỹ vào chiến tranh Việt Nam (1954-1975), Hàn Quốc đứng vị trí số 1. Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1973, đã có 312.853 binh sĩ Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam. “Đổi lại cho các cam kết quân sự, Hàn Quốc đã nhận được hàng chục tỷ đô la viện trợ, cho vay, các khoản trợ cấp, chuyển giao công nghệ, và các thị trường ưu đãi, tất cả được cung cấp bởi chính quyền Johnson và Nixon.”4     Bài viết này xin kết thúc bằng mẩu tin thời sự nóng hổi dưới đây để chúng ta cùng suy nghĩ.    “Biểu tình lớn ở Nam Hàn: Hàng chục nghìn người đã tham gia cuộc biểu tình sáng Chủ nhật 15/11… Cuộc tuần hành có sự tham gia của nhiều nhóm, trong có các nghiệp đoàn vốn không ủng hộ các chính sách khuyến khích doanh nhân của bà Park. Một số nhóm khác thì phản đối sách dạy lịch sử trong nhà trường mà theo họ đã xóa sạch quá khứ độc tài quân phiệt của Nam Hàn.”5    ***    1Kim Byung-Kook và Ezra F. Vogel (chủ biên), Hồ Lê Trung dịch, NXB Thế giới, Hà Nội, 2015, 908 tr., 309.000 đ.    2http://www.vietdc.org/wp-content/uploads/2008/10/park-chung-hee-xay-de1bbb1ng-kinh-te1babf-de1baa1i-han.doc    3http://world.kbs.co.kr/vietnamese/program/program_kpanorama_detail.htm?No=10037187    4Theo: The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship.http://citation.allacademic.com/meta/p_mla_apa_research_citation/1/1/3/6/7/p113675_index.html    5http://www.bbc.com/vietnamese/world/2015/11/151115_skorea_protest    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946: HÀ NỘI NHỮNG NGÀY KHÓI LỬA      Kính tặng các anh Hợi, Nhượng, Tuấn, và tất cả  “… Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng  Hơn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm…”  (Chính Hữu, Ngày về, 1947)         Chập tối ngày 18 tháng 12 năm 1946, anh Hợi thay mặt thanh niên phố tôi lên họp ban chỉ huy tự vệ đóng ở phố Hàng Bồ, trong một ngôi nhà rộng bỏ trống, chủ nhà đi tản cư đã từ lâu.  Nhiều năm về sau, khi kể lại cho tôi nghe câu chuyện những ngày các anh ở lại Hà Nội chiến đấu, anh Hợi thấy mình như sống lại cái giây phút hồi hộp, sôi nổi, lúc ấy. Anh nhớ rằng anh đã rất run khi nghe phổ biến tình hình và mệnh lệnh chuẩn bị. Về phố nhà truyền đạt lại những chỉ thị cho anh em tự vệ phố, anh thấy người vẫn còn run, không biết có phải vì trời hôm đó đã bắt đầu lạnh, hay vì quá xúc động.  Sau vụ tàn sát đồng bào ngày 17 ở phố Hàng Bún, sáng hôm nay bọn lính Pháp đóng trong thành lại đem xe tăng ra thăm dò và uy hiếp khu phố tôi, nhưng vẫn chưa dám vượt qua giao thông hào, bên kia hào là đống chướng ngại vật, và bãi mìn giả làm bằng nồi niêu, và bát úp do các anh tự vệ đặt từ chiều hôm trước trên khắp mặt đường. Nội trong ngày 18, chúng đã gây ra nhiều vụ khiêu khích ở các khu Hàng Đậu, Hàng Khoai, chợ Đồng xuân, Lò Đúc, Hàng Bột, v.v., rồi ngang nhiên chiếm đóng Nha tài chính, Bộ giao thông. Tối ngày 18, vào lúc 21 giờ, tên tướng Morlière, tư lệnh Pháp ở Đông Dương, dưới sức ép của Valluy, người chủ mưu gây hấn ngay từ vụ ném bom Hải Phòng, gửi tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam tước vũ khí vệ quốc đoàn, công an, tự vệ,và đòi luôn cả quyền kiểm soát trật tự, an ninh trong thành phố, điều mà cách đây không bao lâu hai bên đã thoả thuận là do Uỷ ban Liên kiểm Việt-Pháp đảm nhiệm. Chúng giao hẹn, nếu đến sáng ngày 20 tháng 12 mà những điều kiện đó không được chấp nhận, thì sẽ chuyển sang hành động.  Chúng tưởng có thể nuốt chửng được Hà Nội trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ!  Sau khi nghe anh Hợi báo cáo tình hình và phổ biến lại những mệnh lệnh của ban chỉ huy, ai nấy đều phấn khởi, sau những giây phút hồi hộp ban đầu. Điều mà mọi người nóng lòng chờ đợi từ bấy lâu nay, bây giờ đã đến, và đến vừa đúng lúc như một sự giải thoát. Hết rồi, những nhịn nhục, uất ức, của những ngày qua, những cảnh phải đứng khoanh tay nhìn bọn lính mũ đỏ ngang nhiên đem xe ra phố cướp giật, rồi chạy vào thành, mà không ai được phép bắn theo!  Việc đầu tiên anh em phải phân công nhau đi làm gấp là mở rộng thêm những lỗ xuyên tường để đi lại dễ dàng hơn từ nhà này sang nhà khác ở bên trong khối phố, và lập một số ụ súng ở những nơi có địa thế tốt : gác nhà số 27 nhìn dọc lên phố Hàng Bát sứ, ngôi đình ở góc phố Hàng Bát đàn và phố Nhà hoả (Hàng Điếu), tầng gác ba nhà Nguyên Cát, từ đó có thể nhìn rộng xuống khắp khu Đông Thành.  Việc thứ hai, là tiếp tục đào thêm lỗ chôn mìn ở ngoài đường và lấy thêm những chiếc nồi đất, những chiếc thớt và cả những cuộn thừng, vì ở phố tôi còn cả mấy nhà bán thừng, đem đặt ở ngoài đường để mở rộng bãi mìn về phía Cửa Đông.           Trường Trí tri (nay là trường Nguyễn Văn Tố nhìn từ phố Hàng Hòm        Để vượt qua đường, từ bên số chẵn sang bên số lẻ, anh em đã phải đào gấp mất mấy đêm liền một cái hào nối liền từ nhà số 21 (hiệu An Lợi) sang đúng cửa ra vào nhà Nguyên Cát. Đây vừa là giao thông hào, vừa là chiến hào. Lúc đầu, chiếc hào còn nông, mỗi khi đi qua cứ phải cúi lom khom. Sau, được đào sâu thêm, đất được đắp lên về phía Cửa Đông thành một cái ụ cao quá đầu người, nên đi qua đi lại ở trong hào an toàn hơn, đó cũng là nơi đứng nấp bắn rất thuận tiện. Sau này, có mấy anh tự vệ trẻ ngịch ngợm, đã lấy mũ sắt chụp lên đầu gậy, rồi đem cắm lên ụ đất, chỉ để thòi cái mũ sắt lên, để trêu tức bọn lính ở phía cầu Cửa Đông bắn ra cho phí đạn.  Các anh thanh niên tự vệ phố tôi ngày ấy, do mới làm quen với súng đạn, nên hay ngứa ngáy, thích trổ tài bắn súng của mình lắm. Anh Tuấn, anh tôi, lúc đó mới 17 tuổi, không biết vớ đâu được khẩu các-bin, là một loại súng tương đối tối tân của Mỹ vào thời bấy giờ, bắn vừa nhẹ lại vừa chính xác, bao đạn có tới chín viên. Nổ súng chưa được vài ngày, anh đã nổi tiếng là bắn giỏi ở trong phố. Hồi đó, ta có ít súng đạn lắm, thanh niên tự vệ mỗi phố phải tự túc lấy hết. Tôi còn nhớ mãi Chấn, xúng xính trong bộ đồ kaki Mỹ màu mỡ gà mua ở Chợ giời, Chấn lúc đó chưa được 16 tuổi, nhưng may sao lại được các anh lớn chấp thuận cho làm tự vệ, đi đâu cũng đem theo khẩu súng sáu Saint-Etienne, có lúc lại còn cầm ở tay, trông đến là ngượng ngịu !  Ngày ấy, coi như gần hết thanh niên phố tôi đã ở lại chiến đấu, tất cả được đến gần ba chục người, có người chỉ mới 15, 16 tuổi. Một hai em hãy còn là nhi đồng, mới 12, 13 tuổi. Phần đông là học sinh, sinh viên, con nhà khá giả, rặt một thứ “lính cậu” hết, trừ một vài trường hợp là các anh thợ, anh xe, hay người ở. Nhưng đấy chỉ là trường hợp phố tôi thôi, còn ở các phố khác, như Hàng Thiếc, Hàng Hòm, chẳng hạn, thì thành phần công nhân đông hơn.  Ôi quên làm sao được những khuôn mặt của các anh lớn phố tôi ngày ấy, những người đã từng dìu dắt chúng tôi, từng chia sẻ với bầy trẻ chúng tôi những ngày tươi vui của Cách mạng tháng Tám, cũng như những ngày sôi nổi trước khi xảy ra chiến sự! Quên làm sao được những “nhân vật” mà hồi nhỏ tôi không bao giờ ngờ rằng một ngày kia có thể trở thành những chàng tự vệ đanh thép, những người sẽ ở lại đến cùng trong Trung đoàn Liên khu 1, trong số đó có người sẽ ở lại với Trung đoàn thủ đô, và sau này sẽ trở nên những cán bộ cao cấp trong quân đội.  Tôi đặc biệt nhớ đến Quang, con thứ ba của ông bà Quảng Tiến, lúc đó mới chỉ 15, 16 tuổi là cùng. Quang người khoẻ mạnh, đẹp trai, có bộ tóc quăn tự nhiên và một nụ cười rất tươi. Nhưng nổi bật nhất ở anh, là tính bướng bỉnh, gan góc, và dáng đi hăm hở như lao về phía trước. Anh thích chơi súng ngay từ cái hồi mới có phong trào tập quân sự và mua súng của bọn tàu Tưởng túng tiền bán chạy. Lúc nào cũng thấy anh hí hoáy lau chùi súng, hoặc lên gác sân thượng tập bắn. Có một hôm tôi xin được ở đâu một viên đạn 6,35, liền năn nỉ Quang cho tôi lên gác sân bắn thử với khẩu Browning nhỏ xíu của anh. Đây là lần đầu tiên tôi được bắn súng lục. Với những ngón tay còn quá yếu ớt của mình lúc ấy, tôi thấy bóp được cò súng cũng không phải là chuyện dễ dàng như mình vẫn tưởng.  Sau này, Quang là người thanh niên trẻ tuổi nhất ở phố tôi đã hy sinh, không phải trong lúc đánh nhau, mà vì bị mật thám Pháp bắt, khi rải truyền đơn ở sân trường Chu Văn An vào đầu năm 1948, lúc trường này còn ở phố Hàng Cót và Quang đang hoạt động bí mật ở nội thành. Chỉ vài ngày trước đó, chị tôi và tôi còn được gặp Quang ở  trên phố Quan Thánh, nơi chúng tôi ở tạm từ lúc hồi cư về Hà Nội. Buổi gặp gỡ thật là cảm động, mặc dầu chúng tôi, những người cùng phố cũ, mới chỉ xa nhau có chưa đầy một năm rưỡi. Chính Quang đã đến thăm chúng tôi, không biết ai đã cho Quang địa chỉ của chúng tôi. Quang đến một cách giản dị, tự nhiên. Trông Quang già giặn hơn ngày trước. Điều kỳ lạ là ở phố Hàng Bát đàn ngày xưa, chị tôi không bao giờ nói chuyện với một thanh niên nào ở trong phố, vậy mà hôm đó, chúng tôi đã nói chuyện rất nhiều, thân thiết như những người vẫn từng quen thân với nhau. Bao nhiêu câu nệ, mặc cảm xưa đã biến đi đâu hết, để nhường chỗ cho một thứ cảm tình đặc biệt của những người đã từng  sống chung với nhau nhiều năm trong cùng một phố, và có lẽ đang mang trong lòng cùng một nỗi niềm nhớ tiếc.  Bữa đó, Quang rất kín đáo, và chúng tôi cũng chỉ đoán được rằng Quang đang hoạt động bí mật. Bọn mật thám ập đến trường bắt Quang đi vào một buổi sáng, lúc học trò vừa vào ngồi yên vị trong lớp học. Sau đó, không còn ai nghe thấy tin tức gì của anh nữa.  Trở lại phố tôi vào những ngày đầu tác chiến.  Ở nhà tôi, những người thợ da quê ở Dũng Kim, Hà Nam, và những người thợ mộc cùng quê với đẻ già tôi bên Bắc Ninh, ngay từ lúc tình hình làm ăn buôn bán bị ngưng trệ, đã xin về quê với gia đình, chỉ còn lại có anh thợ cả tên là Thém. Anh này người nhanh nhẹn, thông minh khác thường, chỉ phải cái là tai bị điếc nặng. anh ta cưới người chị nuôi đã nuôi tôi hồi nhỏ, nên quyến luyến gia đình nhà tôi lắm, cứ nhất định ở lại, bảo khi nào nhà tôi có rời đi đâu, anh mới chịu về quê với vợ con. Cuối cùng, riêng ở nhà tôi sau này sẽ có tất cả ba người ở lại: anh Tuấn, anh Thém thợ da, và anh xe. Anh xe này cũng gốc nông dân, ra Hà Nội kéo xe vào thời kỳ đói kém 44-45. Anh ta người tròn như củ khoai, trẻ chỉ độ 18, 19 tuổi, lúc nào cũng cười toe toét, và chiều chúng tôi lắm. Vào lúc Hà Nội còn yên, anh hay cho bọn nhỏ chúng tôi ngồi ghé xe tay đi chơi phố khi anh phải đi đâu có việc gì, và điều quan trọng hơn cả, là anh đã dạy cho chúng tôi biết bổ củi!  Anh xe đã ở lại một cách tự nhiên, như hầu hết những người trai trẻ có mặt ở phố ngày ấy, không phân biệt sang hèn. Vả chăng, anh cũng không biết đi đâu nữa. Có lẽ quê anh bây giờ cũng chỉ còn có cái đất Hà Nội này mà thôi. Cũng có thể anh đã biết nghĩ xa hơn… Sau này, khi anh Tuấn tôi rút ra ngoài cùng với một bộ phận của Trung đoàn Liên khu 1- bộ phận kia ở lại và trở thành Trung đoàn Thủ đô – đi qua một làng có trồng nhiều dừa ở gần Sơn Tây, gặp lại “anh xe” ở đây, thì anh đã xung vào bộ đội rồi , và khi hai người nhìn thấy nhau, anh vẫn chỉ biết cười toe toét.  Ngay đêm hôm 19-12, đêm đầu tiên xảy ra chiến sự, không khí trong phố tôi đã thay đổi hẳn. Nhiều sự việc khác thường bắt đầu diễn ra, thầm lặng. Một thanh niên đã đứng tuổi, ăn mặc theo kiểu thợ, tay cầm bom ba càng, được đưa đến phố tôi. Lần đầu tiên, các anh tự vệ phố tôi được nhìn thấy tận mắt bom ba càng và nhất là được tiếp xúc với một cảm tử quân bằng xương bằng thịt. Trời lúc ấy đã bắt đầu lạnh. Anh thanh niên ra đứng đợi xe tăng trong một hố chống xe tăng đã được đào sẵn ở hè đường. Anh đứng chờ như vậy trong mấy đêm liền, sau mới rút đi, khi thấy trục đường Hàng Bát đàn – Hàng Bồ không phải là hướng chủ yếu của địch ở trong thành đánh ra.  Tiếp theo việc đào công sự, đục lỗ tường, và bố trí các ụ súng, là việc thu thập, quản lý thức ăn và nước uống, vì từ lúc bắt đầu nổ súng, chỉ có dùng mà không có tiếp tế! Cũng may là ở khu phố tôi, có nhiều nhà vì đi tản cư gấp quá không kịp mang theo cái gì, nên đã để lại khá nhiều lương thực và vật dụng, kể cả tủ lạnh và những chạn dưa cà muối! Đấy là không kể phố Nhà Hoả (Hàng Điếu) vốn là một phố có những cửa hiệu bán đường, mứt, dầu lạc, v.v. và không xa đó, phố Tiên Sinh và phố Hàng Da cũng đều có những cửa hàng trước kia bán thịt và giò, chả. Riêng trên gác nhà tôi, còn nguyên bốn thạp lớn, đường kính đến hơn một mét, chứa đủ mọi thứ: gạo tẻ, gạo nếp, đậu xanh. Các anh tự vệ chia nhau đi một vòng, phát hiện ra: ở nhà số 9 nuôi bốn con lợn con, nhà số 19 vài chục con thỏ, trên gác nhà Nguyên Cát còn cả một kho mực khô. Khi đi vòng qua các ngách tường sang phố Nhà Hoả, thấy có một nhà có một kho chuối buồng, anh em đến điều đình đổi mực khô lấy chuối về, treo từng buồng lên, khi đứng bẻ ăn, cứ nói đùa là đứng “chào cờ”!  Phố tôi quả là có nhiều thuận lợi cho phép anh em tự vệ sinh hoạt tương đối thoải mái, ít ra trong những ngày đầu tác chiến. Lương thực thì như thế. Còn nước, thì nhà nào cũng có ít ra một bể nước. Cũng may mà nước máy vẫn chưa bị cúp. Ở nhà số 27, trước kia là nhà ông lang Vạn Thắng, còn có cả một cái giếng đào cổ. Cách đây chỉ vài tháng chủ nhà mới cho đậy tạm lại, do đó nếu hết nước máy, vẫn có thể dùng nước giếng được.  Lúc bấy giờ, mỗi bữa cơm phải tổ chức ăn chung. Những ngày đầu vui nhộn không thể tưởng tượng được. Chẳng ai thấy lo lằng gì cả. Ban ngày, có khi đương ăn, hay đương đàn hát, địch ở trong thành bắn súng cối ra, đạn rơi xuống mái ngói, mái tôn, nổ ngay trên đầu, mà vẫn tiếp tục sinh hoạt. Có đêm tổ chức liên hoan ở nhà số 19, tức nhà ông Đồng Đức (nhà anh Hợi, anh Nhượng), có cái giếng trời nhỏ, các anh thắp đèn măng-sông, thay vì  thắp đèn dầu hoả như mọi ngày thường. Ở đây, còn giữ cây đàn harmonium, tài sản của trường Phan chu Trinh gửi nhờ, thỉnh thoảng các anh lại lấy ra đàn hát vang cả phố.  Còn nhiều chuyện vui khác nữa, cũng là những chuyện thực tế hàng ngày cả, xen kẽ với chuyên đương đầu với địch, như đi kiếm chỗ để… đi ngoài, chẳng hạn. Thật vậy, từ lúc tác chiến, Hà Nội không còn phu đổ thùng nữa, nên các chất phế thải tràn ngập dần, vì thời ấy, nhất là ở những khu buôn bán cổ, toàn là hố xí thùng cả. Có một vài anh tự vệ đi thám thính thấy bên số lẻ có một nhà xí biệt lập, đóng chặt cửa và bỏ từ lâu không dùng. Các anh cũng láu cá, không lộ bí mật cho ai, cứ thế đi lén qua cửa đóng, mỗi anh cứ đinh ninh chỉ có một mình mình biết chỗ kín đó thôi. Ai ngờ có hôm chui vào, chạm trán ngay một anh khác, thế là vỡ lở. Nhưng đây cũng chỉ là một trường hợp ” tư hữu ” duy nhất. Ngoài ra, không ai nghĩ đến giấu giếm cái gì để dùng riêng, hay ăn riêng, mặc dầu anh em toàn là thanh niên đương tuổi ăn ngủ khoẻ cả.  Ngày ấy, mục tiêu của bộ tham mưu của ta là ghìm chân địch lại ở trong Hà Nội, không cho chúng tung quân ra ngoài vội, để ta có thời gian củng cố lực lượng và tổ chức trường kỳ kháng chiến. Chính phủ và bộ tổng chỉ huy ngày ấy cũng chỉ mong các lực lượng của ta ở Liên khu I giữ được hai tuần. Trên thực tế, họ đã giữ được đúng hai tháng trời, và đã rút ra chỉ vì lệnh trên là phải bảo toàn lực lượng cho sau này.  Ngày mồng 7 tháng 1 năm 1947, sau hơn một tháng chiến đấu và thử thách, Trung đoàn Liên khu I được chính thức thành lập, và một tuần lễ sau một bộ phận của Trung đoàn Liên khu I sẽ được tặng danh hiệu Trung đoàn Thủ đô.    Ngày 14 tháng 1, đội quyết tử của Trung đoàn Thủ đô làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như phố Hàng Bạc. Ngày 15-1, nhân cuộc thoả thuận ngừng bắn giữa hai bên để cho hơn 6000 dân thành phố công khai tản cư theo đường Hàng Đậu, lên Yên Phụ, rồi vượt qua sông Cái, 3500 thanh niên tự vệ của Liên khu I đã cải trang đi lẫn với dân chúng để vượt vòng vây của địch. Trung đoàn Thủ đô chỉ để lại có 500 người, trong đó có đội quyết tử. Trên thực tế, số người ở lại chiến đấu sau ngày 15-1-47 không phải là 500, mà là 1200 người, trong đó có cả 200 phụ nữ và hơn 100 thiếu nhi (Những con số này dựa vào các tài liệu của trung tướng Vương Thừa Vũ: Hà Nội 60 ngày khói lửa, NXB Quân đội nhân dân, 1964, và Trưởng thành trong chiến đấu, NXB Quân đội nhân dân, 1979).  Ngày 7 tháng 2 năm 1947, bọn lính trong thành mở một đợt tấn công lớn vào Liên khu I. Ở khu phố tôi, trận đánh ác liệt nhất diễn ra ở phố Hàng Thiếc. Trong trận đánh kéo dài mấy ngày liền này, chúng đã dùng súng badôka bắn phá và chiếm từng nhà một, về phía Trung đoàn Thủ đô cũng cho phun xăng đốt cháy ngay những ngôi nhà ấy, để cho địch không thể chiếm đóng được. Ngày 9-2, quân địch đã đốt phá dãy số chẵn phố Hàng Thiếc, dãy số chẵn phố Hàng Nón, và một loạt nhà bên số lẻ phố tôi, phố Hàng Bát đàn, trong đó có nhà tôi.  Nhiều năm về sau, có dịp đi qua phố Hàng Bát đàn, tôi không còn nhận ra được phố cũ nữa. Trong cái nắng như thiêu của tháng bảy mùa hè năm ấy, tôi đã cố ghi lại trong ống kính của chiếc máy ảnh những gì còn lại của những ngôi nhà quen thuộc ngày xưa. Nhưng có hình ảnh nào trung thành và nguyên vẹn bằng hình ảnh đã ghi sâu vào trí nhớ?  Tôi không thấy luyến tiếc, hay đúng hơn, tôi thấy tôi không có quyền luyến tiếc những gì đã đổi thay. Hà Nội đã thay da đổi thịt biết bao nhiêu lần. Biết bao nhiêu hy sinh, gian khổ, mới tạo nên được một cuộc đời mới. Tôi cho rằng tình cảm của con người ta đối với làng, với phố, không dễ gì mất mát, nhất là khi còn lại những kỷ niệm.  Cuộc chiến đấu của thanh niên tự vệ và của Trung đoàn Thủ đô ngày ấy, tiếp theo với tiếng súng Nam bộ kháng chiến, đã mở màn đầu cho cuộc Trường kỳ kháng chiến toàn quốc, tạo mầm mống cho những đổi thay sâu sắc sau này.  Tôi sẽ nhớ mãi hình ảnh của người thanh niên, ăn mặc quần áo thợ, tay vác bom ba càng, đứng chờ xe tăng địch dưới trời lạnh trong suốt ba đêm liền!  Cũng như tôi không thể nào quên được hình ảnh của “anh xe” nhà tôi, với nụ cười chất phác, lạc quan, trên con đường từ thủ đô khói lửa đi vào kháng chiến. “Anh xe”, mà từ đây sẽ không còn gọi con ông chủ của mình bằng “cậu” nữa, mà bằng “anh”, bằng “đồng chí”!  Và rồi quên làm sao được, những hình ảnh lãng mạn, đáng yêu, của cả một thời kỳ cách mạng sôi nổi của những người anh cùng phố, những chàng ” lính cậu ” bỗng chốc trở nên những con người đanh thép của Trung đoàn thủ đô và của đại đoàn 308!       Văn Ngọc (Paris)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ niệm khó quên của người lính Đội Hươu      Nhân kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Tám 19/8 và Quốc khánh 2/9, Ban Biên tập Tạp chí Tia Sáng gửi tới bạn đọc những hồi ức của Henri Prunier, người lính Mỹ trong nhóm tình báo Đội Hươu của Mỹ từng được gặp Bác Hồ cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp, và giúp Việt Minh hướng dẫn huấn luyện những người lính đầu tiên.    Đại tướng Võ Nguyên Giáp được mời đến dự một bữa tiệc tối năm 1995 trong vai trò khách mời đặc biệt. Vị tướng 84 tuổi quan sát căn phòng rất đông những người Việt Nam và người Mỹ được mời đến dự bởi nhà tổ chức là Dự án Hòa giải Mỹ- Đông Dương, và một người khiến ông đặc biệt chú ý. Và phải qua một khoảnh khắc hồi tưởng ông mới nhớ ra người này, vì 50 năm đã qua kể từ lần cuối hai người gặp mặt. Nhưng vị khách người Mỹ thì nhận ra tướng Giáp ngay, nhưng với tính cách tự nhiên của mình, ông chỉ yên lặng chờ đợi. Trong khi ông nhìn sang, tướng Giáp cầm lấy một quả cam từ bát hoa quả trên bàn, giang cánh tay ra phía sau, cong người quay tay một vòng như thể đang ném quả cam đi. Đó là cách để vị tướng già nói với người Mỹ rằng mình vẫn nhớ ông ta – Henry Prunier, một đặc vụ trong nhóm tình báo Đội Hươu của OSS1- người đã dạy ông cách ném lựu đạn từ năm thập kỷ trở về trước.              “Trước  khi Đội Hươu nhảy dù xuống Tân Trào, không ai biết nhiệm vụ là gì”,  Prunier hồi tưởng, “chỉ biết rằng ‘Mr. Hồ’ đang ở Tân Trào, và rằng  chúng ta phải huấn luyện cho lực lượng của ông”.        Kể từ đó, tướng Giáp đã lãnh đạo quân đội Việt Minh đánh bại quân Pháp năm 1954, và sau này làm tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đánh thắng Quân đội Việt Nam Cộng Hòa (QĐVNCH) cùng đồng minh siêu cường là nước Mỹ để đạt được thắng lợi cuối cùng năm 1975.   Về phần Prunier, ông giải ngũ vào tháng 1 năm 1946, tốt nghiệp cử nhân hóa học và tham gia vào doanh nghiệp gia đình của mình, chuyên thầu sản xuất gạch và bê tông ở Worcester, bang Massachusetts. Quãng đời này thật khác xa với những ngày tháng năm 1945 khi ông vẫn còn là đặc vụ OSS, cùng Đội Hươu nhảy dù xuống Đông Dương để giúp đỡ các nhà cách mạng Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp huấn luyện quân nổi dậy chống lại quân đội Nhật – đội du kích này đã trở thành nòng cốt tiền thân của quân đội Việt Minh và QĐNDVN. Trong vai trò là thông dịch viên, nói được tiếng Pháp và tiếng Việt Nam, Prunier có lẽ là một trong những người được chuyện trò nhiều nhất với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.     Do đa số những công việc của OSS tới gần đây đã được giải mật nên Prunier, giờ đã 89 tuổi và là người còn sống cuối cùng của Đội Hươu, được truy tặng Huân chương Sao Đồng vào tháng 2 năm 2011. “Tôi rất vui được trao tặng Sao Đồng. Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ được nhận nó”, ông nói khi được nhật báo Worcester Telegram & Gazette phỏng vấn.  Gia nhập OSS, đến Tân Trào  Thời thơ ấu ở Worcester, Prunier được cho đi học ở một trường phổ thông Công giáo nói tiếng Pháp, sau đó học ở trường cấp hai Assumption Preparatory, nơi ông được dạy bởi các thầy tu người Pháp.  “Tôi không muốn đi lính theo chế độ quân dịch vì như vậy quân đội sẽ toàn quyền quyết định nơi cử đi”, ông hồi tưởng, vậy nên năm 1942 ông tự nguyện gia nhập Lục quân, và được phép học hết năm thứ 3 tại trường Cao đẳng Assumption. Do lý lịch và khả năng ngoại ngữ, ông được đưa vào Chương trình Huấn luyện Đặc biệt của Lục quân tại Đại học Berkeley để học tiếng An Nam (cách người Mỹ gọi tiếng Việt Nam khi đó). “Ngôn ngữ này thật khó”, ông kể. “Nó đơn âm với 6 âm điệu, mà tôi thì hoàn toàn mù về nhạc”. Để những người lính – học viên làm quen với môi trường nơi được cử đi, bên cạnh việc học ngoại ngữ – tới 4 tiếng mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần – lớp học cũng giảng cả về lịch sử, địa lý, chính trị, và văn hóa Việt Nam.  Năm 1943, một sĩ quan OSS tiếp cận ông và hai người khác để đề nghị “một nhiệm vụ tình nguyện ở Đông Dương”. Prunier kể rằng cả ba người đều từ chối vị sĩ quan này sau khi biết rằng “cơ hội sống sót chỉ là 50%”. Sau khi hoàn thành khóa học tại Berkeley năm 1944, ông được cử tới trường phân tích mật mã ở bang Missouri, nơi ông được đưa vào danh sách một đơn vị bộ binh, chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của Đồng minh vào Pháp trong Thế chiến thứ II. Nhưng vào đêm trước khi đơn vị lên tàu, Prunier được lệnh đến Washington để gia nhập OSS. “Đó chẳng phải là tình nguyện”, Prunier nói, nhưng vào lúc ấy, như ông thừa nhận, “tôi cảm thấy vui”.  Bên cạnh việc phải trải qua một chuỗi những thử thách tâm lý, chương trình huấn luyện khắc nghiệt của OSS còn gửi Prunier tới đảo Catalina ở California để huấn luyện kỹ năng sống sót và các bài học judo. “Chúng tôi học cách giết và ăn thịt dê, học cách mò bắt và ăn bào ngư”, ông kể. Khi hoàn thành chương trình đào tạo, ông được đưa lên tàu vào tháng 4 năm 1945, cùng 3000 người khác, tất cả được chuyển đến Calcutta. Từ đó, ông được bay qua dãy Himalaya để tới căn cứ OSS tại Côn Minh, Trung Quốc.          Khi Đội  Hươu bắt đầu huấn luyện đội quân Việt Minh khi ấy mới được thành lập,  những vũ khí duy nhất mà quân nổi dậy có khi ấy là súng hỏa mai nòng  ngắn (musketoon) và một số ít súng thu được của Pháp. “Họ không được vũ  trang tốt và thiếu khả năng sử dụng vũ khí”.        Tại Côn Minh, Đội Hươu được hình thành vào tháng 5, tháng 6 năm 1945, dưới sự chỉ đạo của Giám đốc OSS Archimedes Patti. Đội trưởng là Thiếu tá Allison Thomas, trước đó từng là công tố viên ở bang Michigan trước khi làm việc với tình báo Anh trong thời chiến. Các thành viên khác ngoài Prunier còn có một điện đài viên người Mỹ là thượng sĩ William Zielski, và để thử nghiệm xem lực lượng cách mạng Việt Nam có chấp nhận sự giúp đỡ của người Pháp hay không, người ta đưa vào một sĩ quan Pháp cùng hai sĩ quan người Pháp gốc Việt.    “Trước khi Đội Hươu nhảy dù xuống Tân Trào, không ai biết nhiệm vụ là gì”, Prunier hồi tưởng, “chỉ biết rằng ‘Mr. Hồ’ đang ở Tân Trào, và rằng chúng ta phải huấn luyện cho lực lượng của ông”.     Sau này Prunier mới biết rằng nhiệm vụ được hình thành khi Hồ Chí Minh gặp trung úy Charles Fenn, người muốn xây dựng một quan hệ hợp tác để giải cứu các phi công của Đồng minh, đồng thời gửi báo cáo tình báo và thời tiết cho Đồng minh. Fenn và OSS muốn được cung cấp thông tin tình báo về các động thái và vũ khí của quân đội Nhật. Họ đã được Hồ Chí Minh đồng thuận để đổi lấy sự hỗ trợ của Mỹ cho các lực lượng yêu nước ở Việt Nam. Tuy OSS không biết rõ Hồ Chí Minh là ai, nhưng họ đồng ý huấn luyện một đơn vị nhỏ. “Phía Đồng minh cho rằng Nhật Bản đang muốn dùng Đông Dương làm bàn đạp tấn công phía Nam của Trung Quốc”, Prunier nói. “Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp lực lượng du kích quấy rối quân Nhật. Chúng tôi đã cùng họ phá hủy đường ray tàu hỏa, các cơ sở viễn thông. Nhưng không đối đầu trực tiếp với quân Nhật vì chúng tôi không đủ hỏa lực”.    OSS ban đầu định để cho Đội Hươu hành quân bằng đường bộ dài 300 dặm (gần 483 km) tới Tân Trào, nơi đặt các trại huấn luyện quân nổi dậy. Nhưng người Trung Quốc cảnh báo OSS rằng quân Nhật đang chờ sẵn ở biên giới để ngăn chặn mọi lực lượng của phía Đồng minh. Vì vậy, thay vì đi bộ, từng thành viên của Đội được vận chuyển bằng máy bay nhỏ loại Piper Cub tới thị trấn Po Sah, cách biên giới Việt Trung khoảng 50 dặm (80 km), nơi đóng vai trò đầu mối liên lạc giữa Côn Minh và Tân Trào. Một buổi sáng ngày 16/7/1945, sáu thành viên Đội Hươu lên một chiếc máy bay C-47, nhưng khi tới nơi viên phi công không thể nhìn thấy những chiếc khăn trắng làm ám hiệu cho biết mặt đất bên dưới là khu vực an toàn. Cuối cùng, Prunier, Thomas, và những thành viên khác đều đánh liều nhảy xuống. Tới mặt đất, trong khi đang thu xếp dù, họ nhìn thấy vài chục người tiến đến, không rõ là người Trung Quốc hay Việt Nam. Đa số là các thiếu niên, “Thiếu sinh quân”, Prunier hồi tưởng, ngoại trừ một người thấp hơn, mặc áo vải lanh màu trắng, đi giày đen, đội mũ phớt cũng màu đen, được mọi người gọi là “anh Văn”. Phải sau này nhóm đặc vụ mới được biết tên của ông là Võ Nguyên Giáp.   Huấn luyện đội quân Việt Minh  Được dẫn tới làng Tân Trào, nhóm được đón tiếp với một biểu ngữ bằng tiếng Anh có nội dung “Chào mừng các bạn Mỹ của chúng tôi”. Pruner sau đó được biết biểu ngữ này được làm bởi hai người Mỹ: trung úy Dan Phelan, nằm vùng tại Trạm Trợ giúp Không lực từ Mặt đất, có chức năng giải cứu phi công Mỹ bị rơi xuống trong vùng; và Frankie Tan, một người Mỹ sinh ra trong khu phố Chinatown ở Boston, một thành viên mạng lưới gián điệp làm việc cho Texaco và hoạt động ở Việt Nam từ 1944. “Họ bán thông tin tình báo thu lượm được cho các bên – Mỹ, Pháp, Anh”, Prunier kể.   Địa điểm huấn luyện có kích thước không lớn hơn 200 bộ (183 m) nhân 300 bộ (274 m), xung quanh là các lán. Nhóm OSS sống trong các lán trên núi. “Có một dòng suối, và họ xẻ ống bương đưa một ít nước về, thứ nước từ núi ra ấy rất tuyệt, lạnh băng”, Prunier nói.  Khi Prunier và cả nhóm gặp Hồ Chí Minh lần đầu, người mà họ chỉ biết qua cái tên “Hồ”, họ thấy ông gầy guộc “chỉ toàn da với xương”, bị ốm yếu vì những căn bệnh nhiệt đới như lỵ và sốt rét. Tuy ông nói thông thạo tiếng Pháp, nhưng không chấp nhận nói ngôn ngữ này, thay vào đó chỉ nói chuyện với Prunier bằng tiếng Anh và tiếng Việt.          Tuy Đội Hươu là một nhóm huấn luyện quân sự  thuần túy, không liên quan nhiều về chính trị, nhưng qua những cuộc  chuyện trò với Võ Nguyên Giáp và những người Việt Nam khác, Prunier nhận  ra ý nguyện của những nhà cách mạng này là đem lại độc lập cho Đông  Dương. “Phải tới lúc đó chúng tôi mới biết rằng mục tiêu hàng đầu của  ông Hồ là tống khứ người Pháp”, ông nói. Thời gian gần gũi Hồ Chí Minh  đã cho phép ông có một đánh giá riêng. “Hồ thuộc tuýp người rất trầm  lặng”, Prunier hồi tưởng. “Ông ta lắng nghe mọi điều từ người đối thoại.  Ông sẽ đề nghị bạn tự đặt ra các câu hỏi, và khiến bạn tự đưa ra câu  trả lời. Đó là một người nhiệt huyết. Khi ông cất tiếng nói, thì nội  dung luôn hướng tới quyền lợi của đa số nhân dân ông”.         Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ngay lập tức tỏ sự không tin tưởng các sĩ quan người Pháp và người Pháp gốc Việt trong nhóm, và yêu cầu họ quay trở về Côn Minh. Phải mất thêm một tuần những người Mỹ thay thế mới có mặt: bác sĩ quân y Paul Hoaglund, chuyên gia vũ khí – thượng sĩ Lawrence Vogt, và Trung sĩ Aaron Squires, người cũng đồng thời là một nhiếp ảnh gia. Thành viên cuối cùng là Trung úy René Defourneaux, một người Pháp thoát li trở thành công dân Mỹ.  Ngay khi tới nơi, ưu tiên hàng đầu của Hoaglund là điều trị cho Hồ Chí Minh, và ông đã nhanh chóng hồi phục. “Ông Hồ không có vẻ là một chỉ huy quân đội, dù những người lính của ông thể hiện sự tôn kính như với ông nội”, Prunier nói. “Ông không tạo ấn tượng với chúng tôi rằng ông sẽ trở thành một lãnh đạo quân đội, hay lãnh tụ tương lai của Việt Nam.”  “Tôi nói chuyện với ông và kể rằng tôi đến từ Massachusetts”. Ông nói “Tôi còn nhớ Boston”. Nhà cách mạng vóc người nhỏ nhắn này từng làm bếp ở London và New York, và từng có mặt trong một du thuyền cập bến Boston. “Điều thú vị mà tôi được thấy là ông dùng giấy viết của Khách sạn Parker ở Boston để viết”, Prunier nói. “Ông kể cho tôi về thời gian ông ở thành phố New York, và sự ngạc nhiên về quyền tự do mà người da màu, người Trung Quốc, và người châu Á ở đây được hưởng”.   Khi Đội Hươu bắt đầu huấn luyện đội quân Việt Minh khi ấy mới được thành lập, những vũ khí duy nhất mà quân nổi dậy có khi ấy là súng hỏa mai nòng ngắn (musketoon) và một số ít súng thu được của Pháp. “Họ không được vũ trang tốt và thiếu khả năng sử dụng vũ khí”, Prunier nói. OSS thả xuống những thùng chứa súng trường M-1, bazooka, súng cối 60 mm, và súng máy loại nhẹ, vừa đủ để trang bị cho 80 người. “Người Việt háo hức và học được cách tháo lắp súng M-1 sau ít giờ đồng hồ”, Prunier kể.  Tổng thời gian nhóm OSS dành để huấn luyện người Việt chỉ kéo dài ít tuần trong tháng 7 và tháng 8. Nhóm đã cung cấp cho ông Giáp những kỹ năng chiến trận cơ bản, nhưng “những điều họ học được về chiến tranh du kích là sau này, vì chúng tôi không có đủ thời gian để hướng dẫn họ”, Prunier kể.   Ngoài Võ Nguyên Giáp, nhóm còn huấn luyện cho ít nhất hai chỉ huy quân sự cấp cao khác, trong đó có tướng Quang Trung, người từng khiến quân Pháp và sau này là quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam phải đau đầu. “Đây là một nhóm được tinh tuyển từ nhiều nơi của Việt Nam”, Prunier nói. “Họ hoàn toàn không phải là một đám đông nông dân ô hợp”.  Khi nghe tin về vụ ném bom nguyên tử của Mỹ, những người chủ nhà Việt Nam chia vui cùng Đội Hươu vì biết rằng kết thúc Thế chiến thứ II đã gần kề. Ngày 15/8, Hoàng đế Nhật Bản Hiroshito thông báo trên toàn quốc về quyết định đầu hàng. Nhiệm vụ của OSS ở Việt Nam tới đây về cơ bản đã hoàn thành. Ngày hôm sau, Prunier nhớ lại, Chính phủ Lâm thời của Hồ Chí Minh họp tại Tân Trào. “Chúng tôi thấy rằng tình hình đã đến lúc ra đi”, ông nói. “Chúng tôi gặp ông Hồ, và Thomas nói lời từ biệt với ông”. Đội Hươu “đi cùng ông Giáp, Quang Trung, và khoảng 20 – 30 chiến sĩ Việt Minh đi xuyên vào rừng”, hướng về Hà Nội, Prunier kể.  Ngày 19/8, đơn vị của ông Giáp gặp một đồn của Nhật tại Thái nguyên. Việt Minh, háo hức muốn thử nghiệm những gì đã được nhóm OSS hướng dẫn, đã lên kế hoạch tấn công đồn. Theo Prunier, nhóm đặc vụ Mỹ được lệnh qua radio từ Archimedes Patti ở Côn Minh rằng không được tham gia vụ việc này, không được nhận tù binh, và phải án binh bất động. Nhưng Thiếu tá Thomas không nghe theo chỉ đạo này. Ông đã tham gia vào trận chiến và kể lại cho chúng tôi. “Một vài người của Việt Minh bị giết còn bao nhiêu lính Nhật chết thì tôi không biết”, Prunier nói. “Tôi nghĩ là với trận đánh này, ông Giáp muốn chứng minh cho chúng tôi thấy những kinh nghiệm quân sự mà họ đã học được”.          Sau trận chiến ở Thái Nguyên, nhóm OSS được cấp vài người dẫn đường, còn ông Giáp rời đi cùng đa số những người lính khác. Đội Hươu đi tiếp 40 dặm (64 km) nữa đến Hà Nội, tới nơi vào ngày 9 tháng 9. Ông Hồ đã tới Hà Nội từ trước và tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 – trùng với ngày Nhật Bản chính thức đầu hàng Mỹ tại chiếc bàn trên chiến hạm Missouri. Ông Hồ đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ trong bản tuyên ngôn của mình. Theo suy nghĩ của Prunier, có thể ông đã có ý tưởng này sau nhiều lần thảo luận với Trung úy Dan Phelan.            Tôi thấy bồi hồi khó tả vì ông ấy nhận ra  tôi”, Prunier nói. “Ông ấy đi tới chỗ tôi và chỉ nói ‘yes, yes, yes!’”  Một người lính Việt Nam khác thì vui sướng nắm lấy cánh tay tôi và reo  lên, “Prunier! Prunier!”, nhắc đi nhắc lại. Đó là lần đầu tiên Prunier  nhận ra những người Việt Nam dành cho mình và Đội Hươu sự quý trọng như  thế nào.        Trong ký ức của Prunier, Hà Nội là một thành phố đẹp, với những con đường lớn với các biệt thự, nhưng khi quân Tàu Tưởng tràn vào, “chúng thật là một bọn hạ lưu … một đám lưu manh. Trong khi Việt Nam đang có nạn đói thì chúng đi ăn cướp các nhà”.  Trước khi rời khỏi Hà Nội vào ngày 16/9, Prunier có gặp ông Hồ và ông Giáp một lát. Hồ Chủ Tịch đã tặng Prunier một tấm thảm lụa để bày tỏ lòng biết ơn những trợ giúp của ông.    Prunier sau đó bay về Côn Minh và được bố trí tạm thời vào một đơn vị tình báo ở đây. Một tháng sau, ông quay lại Hà Nội để thiết lập một trụ sở chi nhánh của OSS, nơi ông phục vụ việc xử lý những vụ phạm tội ác chiến tranh của Nhật đối với người Việt và người Pháp. Vì công việc này không được chú trọng nhiều trong tổ chức nên ông có khá nhiều thời gian rảnh rỗi để đi khám phá thành phố, và gặp được những người lính ông từng huấn luyện, trong đó có Thai Buc, một người phiên dịch từ thời ở Tân Trào. “Ông ấy như một người anh em”, Prunier kể. Tổ chức OSS bị giải tán vào tháng 10, và tới tháng 11 Prunier được lệnh về nhà để giải ngũ.   Nhìn nhận về Đội Hươu từ hai phía    Chính phủ Mỹ chưa bao giờ thẩm vấn Henri Prunier về nhiệm vụ của ông, hoặc về những người lính trong quân nổi dậy mà ông giúp huấn luyện ở Việt Nam. Tuy có vài lần ông được mời gia nhập CIA, vốn được thành lập năm 1947, nhưng “Tôi không hứng thú”, ông nói. Thay vào đó, ông tham gia vào việc kinh doanh của gia đình ở Worcester.  Trong 20 năm tiếp theo, sứ mệnh của Prunier ở Đông Dương hầu như bị quên lãng, trong bối cảnh nước Mỹ tập trung tất cả sự chú ý vào cuộc Chiến tranh Lạnh. Tới đầu thập kỷ 1960, khi sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam gia tăng, những thông tin về thời kỳ huấn luyện của OSS được khơi lại, và những câu chuyện về Đội Hươu lại được nhắc đến. Nhưng ngay cả lúc ấy, khi Hồ Chí Minh và Võ Nguyêm Giáp đã trở thành những đối thủ lớn của Mỹ trên đấu trường quốc tế, vẫn không ai buồn gọi đến Prunier để hỏi ông về những kinh nghiệm cá nhân với hai vị lãnh đạo này. Đến tháng 3 năm 1968, khi nước Mỹ có 500 nghìn lính ở Việt Nam, một số bức ảnh chụp Đội Hươu trước đây chụp bởi trung sĩ Squires được đăng trên tạp chí Life trong bài viết về Hồ Chí Minh. “Vài người quen nhận ra tôi, và họ liên hệ đến các tổ chức truyền thông địa phương”, Prunier nói. Ông được cấp tốc gọi đến phỏng vấn tại đài truyền hình WTAG và nhật báo Worcester Gazette của Worcester.   Chính trong những cuộc phỏng vấn đó mà nước Mỹ được Prunier cung cấp những thông tin mà rất ít người (nếu có) trong chính phủ Mỹ biết, với những nhìn nhận cơ bản về các vị lãnh đạo của Việt Nam từ thời kỳ họ còn đang xây dựng đường lối ban đầu. “Tiếng nói của ông Hồ luôn hướng đến quyền lợi của đa số nhân dân ông”, Prunier nói. “Ông ấy muốn họ giành được độc lập… Ông không thấy có gì là mâu thuẫn, giữa việc làm một người Cộng Sản, với việc hi vọng vào một đường lối dân chủ cho nhân dân…”   Prunier sau này có một ít lần nói chuyện trước công chúng, nhưng sớm dừng lại vì ông không muốn được nhìn nhận như một nhà hoạt động chống chiến tranh. “Sau khi trả lời phỏng vấn năm 1968, tôi đã nhận được vài cuộc gọi điện thoại với nội dung mạt sát. “Họ cho là tôi thần tượng Hồ Chí Minh. Tôi không thần tượng Hồ Chí Minh. Tôi đơn thuần chỉ nghĩ rằng người Việt là những con người tuyệt vời, và rất ham học hỏi”.  Trong khi Mỹ ngày càng sa lầy tại Việt Nam và cuối cùng phải tháo lui trong xấu hổ, câu chuyện của Prunier về Đội Hươu càng mờ đi trong tâm trí người Mỹ. Nhưng ở Việt Nam thì khác, những sự trợ giúp của họ cho Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp năm 1945 được coi là một phần trong trang sử mới của đất nước.  Năm 1995, Dự án Hòa giải Mỹ – Đông Dương, tên của một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập từ cách đấy một thập kỷ, đã cung cấp một cơ hội để những thành viên Đội Hươu ngày nào được đến Hà Nội, thăm lại địa điểm huấn luyện ở Tân Trào, và gặp gỡ những người lính họ từng hướng dẫn từ nửa thế kỷ trước. Có hai thành viên tham gia được sự kiện này là Prunier và Thomas. Trong lần đến Hà Nội ấy, tướng Giáp đã nhận ra Prunier, và vị tướng già thể hiện lại tư thế ném lựu đạn với trái cam. “Tôi đã huấn luyện cho ông Giáp. Tôi thấy bồi hồi khó tả vì ông ấy nhận ra tôi”, Prunier nói. “Ông ấy đi tới chỗ tôi và chỉ nói ‘yes, yes, yes!’” Một người lính Việt Nam khác thì vui sướng nắm lấy cánh tay tôi và reo lên, “Prunier! Prunier!”, nhắc đi nhắc lại. Đó là lần đầu tiên Prunier nhận ra những người Việt Nam dành cho mình và Đội Hươu sự quý trọng như thế nào.   Năm 2009, Henry Prunier quyết định hiến tặng tất cả giấy tờ, ảnh chụp, các bức vẽ, báo cáo, và có lẽ thứ quan trọng nhất, bộ quân phục Lục quân Mỹ của mình, cho Bảo tàng Lịch sử Quân đội tại Hà Nội. Giám đốc bảo tàng, thiếu tướng Lê Mã Lương, một cựu chiến binh chiến dịch Khe Sanh, đã gọi món quà của Prunier là “một trong những món quà lịch sử hiến tặng đáng kể nhất mà bảo tàng từng được nhận”.  Ngày 23 tháng 2, 2011, khi được nhận Huân chương Sao Đồng, Prunier nhớ lại những ngày thực hiện nhiệm vụ tuyệt mật của OSS giao cho Đội Hươu tại Việt Nam, được thực hiện trong một thời khắc lịch sử ngắn ngủi, khi mà có rất ít người Mỹ biết đến Việt Nam. “Tôi không biết những gì chúng tôi làm đã mang lại ảnh hưởng ở mức độ nào, nhưng cá nhân tôi qua đó đã được hiểu biết phần nào về người Việt Nam”, Prunier nói.   Có lẽ sau sáu thập kỷ kể từ khi Henry Prunier làm việc với OSS, sự tôn trọng dành cho người thành viên cuối cùng của Đội Hươu từ cả phía Việt Nam và Mỹ có thể được coi là một biểu tượng cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai đối thủ một thời.    Claude G. Berube giảng dạy tại Học viện Hải quân Mỹ và đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của Đội Hươu OSS.     Thanh Xuân lược dịch theo historynet, các tít phụ do người dịch thêm vào  http://www.historynet.com/ho-giap-and-oss-agent-henry-prunier.htm  ————–  1. Office of Strategic Services: Cơ quan tình báo thời Thế chiến II của Mỹ, tiền thân của CIA    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ niệm về nhà triết học Trần Đức Thảo      Kỷ niệm về nhà triết học Trần Đức Thảo* (1917-1993) trích từ hồi ký của GS NGND Đào Văn Tiến (1920-1995).      Triết gia Trần Đức Thảo  Tôi nghe tiếng nhà triết học Trần Đức Thảo từ hồi còn là sinh viên. Đây là người Việt Nam đầu tiên đỗ thạc sĩ triết học ở Pháp và cũng là người được giới học thuật trên thế giới chú ý, vì đã tranh luận công khai với Sartre về chủ nghĩa hiện sinh – Sartre là triết gia Pháp, sáng lập ra chủ nghĩa này.  Trong kháng chiến, tôi được tin anh về nước cùng với mấy người bạn khác, nhưng không có dịp gặp anh. Tới khi thành lập trường đại học Tổng hợp Hà Nội, anh được cử về phụ trách bộ môn Triết học của trường.  Anh đẫy người, mặt trắng trẻo đầy đặn với cái trán rộng và đôi mắt tươi cười sau cặp kính cận. Không thấy bao giờ anh thắt ca vát ngay cả trong những buổi lễ long trọng. Đôi giầy giôn của anh khô da, bạc sắc vì thiếu kem – có lần tôi tò mò hỏi anh, anh chỉ cười: “Ngay từ thời sinh viên ở Pháp, không bao giờ moa đánh giầy, vì cớ gì mà đổi thói quen đó?”. Tôi thầm nghĩ: “Đây quả là triết gia, vì anh không giống mọi người”.  Sau này tìm hiểu thêm mới biết trước kia anh học rất giỏi, nên có học bổng sang Pháp, và ở đấy anh vào Ecole Normale Supérieure, một trường đại học nổi tiếng về trình độ thày giáo và sinh viên.  Anh Trần có cái nội tâm phong phú của nhà tư tưởng. Anh ít nói, nghĩ nhiều nên gần như không để ý gì đến hoàn cảnh. Không có nhiều người thân cận với anh. Anh có vẻ như cây nấm cô đơn với kho suy nghĩ của mình.  Hồi ở trường, anh hay truyện trò với tôi, vì cả hai quan tâm tới vấn đề tiến hóa, nhất là tiến hóa của loài người – anh chú ý tới vấn đề tiến hóa của tư duy. Nhiều lúc chúng tôi gặp nhau ở thư viện khoa học kỹ thuật trung ương, cùng phát hiện những tài liệu tham khảo mới và trao đổi với nhau ý kiến. Tôi thấy nhiều buổi trưa, vì ham đọc, anh ở lại thư viện, ăn trưa qua loa rồi tiếp tục làm việc tới chiều.  Vào năm 1957, bỗng nghe tin anh liên can tới nhóm Nhân văn giai phẩm – tức là nhóm văn nghệ sĩ chống đường lối chính sách của Đảng – và chuẩn bị phải kiểm điểm ở trường, tôi rất ngạc nhiên và không tin. Trong chuyện trò ngày thường, tôi thấy anh là người học thuật đơn thuần, ít khi nói tới xã hội, càng không bao giờ nói tới chính trị.  Tôi nhớ buổi sáng hôm đó, ở giảng đường lớn đại học, người ta bố trí trên bục một bàn chủ tịch và một bàn thư kí. Chúng tôi, kể cả anh Trần, ngồi ở hàng ghế dưới, cùng với anh Hà Huy Giáp, hồi đó là thứ trưởng bộ Giáo dục. Tôi không thấy anh Trần đọc bản kiểm điểm gì, tôi không nhớ rõ – chỉ thấy lúc đó có một học trò của anh Trần lên tố giác thầy vì chuyện lạm dụng sách của bộ môn, lấy sách chung làm của riêng. Rồi một anh khác lên nói là thầy sử dụng lao động của sinh viên để viết sách cho mình. Thật ra đây là phương pháp làm việc của một giáo sư đại học, phân phát đề tài nghiên cứu cho sinh viên và tập hợp kết quả nghiên cứu của họ. Người tố giác đó rõ ràng có dụng ý trình bày là thày đã bóc lột sức lao động của trò.  Tôi liếc nhìn anh Trần ngồi cạnh, anh không có một phản ứng gì, vẫn cặp mắt sáng nhìn vào khoảng xa. Lúc đó anh dường như đã tách khỏi cái không khí ồn ào, xỉ vả anh của một số người có dụng ý.  Tôi nhớ cả một ông Vụ trưởng nào đó ở Bộ Giáo dục và một giáo viên ngôn ngữ học ngồi ghế chủ tịch đoàn, thay phiên nhau phân tích về thiếu sót của anh Trần. Người thì nhấn mạnh: “với khuyết điểm ấy, ông Trần không phải là nhà khoa học chân chính”, người thì khẳng định: “với tư cách ấy, ông Trần không xứng đáng với danh hiệu triết gia…”. Tôi không nhớ hết những lời moi móc, bêu diếu của vài kẻ bất ứng.Tuy nhiên phần lớn trong cử tọa buổi đó đã giữ im lặng. Riêng anh Trần đã ngồi im lặng không một chút phản ứng.  Tôi thấy rõ ý đồ của cấp quản lý bầy ra chuyện kiểm điểm này là để đánh đổ uy tín của anh Trần về học thuật – giống như phát động nông dân đánh đổ uy thế của địa chủ, trong cải cách ruộng đất – nhưng không đạt yêu cầu. Người dự im lặng tỏ vẻ không tán thành cách đối xử như trên với một người trí thức, một giáo sư đại học. Sau đó, dựa vào kết luận của buổi họp, người ta buộc anh Trần phải nghỉ việc.  Từ đấy, tôi ít khi gặp anh Trần – trước kia anh thường tới phòng làm việc của tôi để trò chuyện. Thỉnh thoảng có lúc gặp anh ở thư viện, anh không nói gì tới chuyện cũ mà vẫn say sưa bàn về vấn đề tiến hóa luận với những suy nghĩ trong đầu anh. Tôi biết là từ khi rời trường, anh đã phải dịch tài liệu cho Ủy ban khoa học xã hội để mưu sinh. Tuy nhiên anh đã không hề nói gì về sinh hoạt túng thiếu của mình.  Có bữa anh gặp tôi, mặt mũi hớn hở: “Tạp chí La Pensée – tạp chí duy lí hiện đại của Đảng cộng sản Pháp – vừa đăng một thông báo khoa học của moa về cấu trúc của xương chậu vượn người – vẫn lại là vấn đề tiến hóa” – Thông báo xong anh hơi buồn: “Giấy viết hết rồi, mình không biết mua ở đâu, cả giấy pơ luya nữa, toa kiếm cho moa một ít”, tôi lắc đầu ái ngại: “Giấy moa cũng lĩnh ở nhà trường, mỗi quý ba tập, viết thường không đủ”. Đúng là thời đó còn bao cấp nhiều mặt, nên còn thiếu thốn nhiều thứ thông dụng cần cho cuộc sống, nhưng không ai tưởng tượng nổi là các nhà khoa học đã rất thiếu giấy viết!  Một buổi chiều khác, tôi tới thăm anh ở bệnh viện, anh phàn nàn với nụ cười trên môi: “Moa vẫn bị cái viêm gan quái ác nó hành hạ, bệnh này tốn quá, phải có nhiều protit thì mới khỏe, bao nhiêu tiền phải dồn cho protit cả…”. Tuy phàn nàn như vậy, cặp mắt anh vẫn lóng lánh cười vui và hỏi ngay: “Độ này, toa có đọc được gì mới không?” Tôi hẹn gặp nhau ở thư viện để trao đổi như cũ. Không biết anh kiếm đâu được cái xe đạp mini Liên Xô, đạp tới thư viện, trông xa như con gấu xiếc, ai cũng phải buồn cười.  Có một hôm, anh nói với tôi rằng anh có người bạn thân, người Pháp, một giáo sư triết học, sang thăm Việt Nam, tỏ ý muốn đi thăm anh ở khu tập thể Kim Liên. Cần thêm là căn hộ quá đơn sơ của anh không có gì đáng giá. Cấp quản lí muốn cho đem tới bộ ghế sa lông để anh dùng tiếp khách cho lịch sự. Anh hồn nhiên trả lời: “Khỏi lo, hàng chục năm nay sống được như thế này rồi, việc gì phải thêm bàn ghế cho rắc rối, vả lại ông bạn Pháp của tôi cũng không phải là người hình thức…”  Có lần anh hỏi tôi xem ai có Tư bản luận nguyên bản tiếng Đức không, anh sẽ mua lại để dùng. Tôi hơi ngạc nhiên: “Thế ra toa vẫn nghiên cứu chủ nghĩa Mác?” anh gật đầu: “Như một học thuyết khoa học” Tôi tiếp: “Mới đây hay đã từ lâu?” – Từ hồi ở Pháp – anh trả lời – Chính moa phê phán chủ nghĩa hiện sinh trên luận điểm chủ nghĩa Mác. Tôi hỏi thêm: “Bây giờ, toa nghiên cứu cụ thể vấn đề gì của chủ nghĩa Mác?” Anh đáp: “chủ nghĩa Mác Châu Âu (Euro communisme) do Đảng cộng sản Ý khởi xướng – Mình muốn viết một báo cáo ngắn về vấn đề này cho một đồng chí lãnh đạo”. Hóa ra anh Trần lại là chuyên gia về chủ nghĩa Mác, ít người biết, bên cạnh một số lĩnh vực khác về triết học, ngôn ngữ, tư duy…  Quả ít người có một tư duy đa dạng, một nội tâm phong phú như anh. Phải ở gần, cùng làm việc với anh mới thấy được điều này. Chính cái nội tâm phong phú này, đã giúp anh vượt qua cơn giông tố không đáng có của cuộc đời, nơi anh là một ngôi sao cô đơn. Trong bầu trời, có nhiều sao lớn sao nhỏ thi nhau nhiễu loạn ánh sáng, nhưng ngôi sao cô đơn của anh Trần vẫn giữ nguyên vẹn ánh sáng thật chân chất của nó.  Triết gia như anh Trần không chắc gì dễ kiếm trong giới trí thức hiện nay.  * Ông Trần Đức Thảo đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000 trong lĩnh vực Khoa học xã hội.    Author                Đào Văn Tiến        
__label__tiasang Kỳ thị dân gốc Á và thiểu số kiểu mẫu      Hơn một năm qua, Covid đã cướp đi sinh mạng của hơn nửa triệu người Mỹ, đồng thời âm thầm gây ra những hệ lụy lâu dài đến nền kinh tế lớn nhất thế giới và để lại những sang chấn tâm lý cho xã hội Hoa Kỳ. Hơn nữa, những đợt cách ly xã hội đã tạo một sự đè nén o ép đến ngạt thở lên sức khỏe tài chính và sức khỏe tâm thần của một xã hội vốn coi trọng quyền tự do cá nhân.       Làn sóng kì thị người châu Á trở nên mạnh mẽ hơn trong thời kì đại dịch Covid-19. Ảnh: ft.com  “Tất cả cũng là tại vì con virus đến từ châu Á,” những điều hẳn vang lên trong đầu không ít người. Dần dà, nó trở thành “Tất cả cũng là tại bọn dân châu Á.” Chẳng ngạc nhiên khi sớm muộn những ức chế từ đợt khủng hoảng này lại bùng phát thành một làn sóng thù hận nhuốm màu sắc tộc. Cộng đồng người Việt cũng không thể tránh khỏi trở thành nạn nhân. Hôm 17/3, ông Phạm Ngọc, 83 tuổi, bị tấn công trên phố Market ở San Francisco. Ngày 20/3, một người đàn ông 60 tuổi gốc Việt khác bị tấn công ở khu Uptown, Chicago. Và mới đây nhất là một vụ xả súng ở Quận Cam, Nam California – nơi được mệnh danh là thủ phủ của cộng đồng người gốc Việt. Khi biết về những vụ tấn công này, hẳn ai trong chúng ta cũng cảm thấy tức giận và chua xót. Càng sôi sục hơn, khi biết những kẻ tấn công hèn hạ này lại chỉ chuyên nhắm vào những nạn nhân yếu thế là những cụ ông, cụ bà gốc Á lớn tuổi, không biết tiếng Anh.   Nhiều người bạn cấp tiến, cánh tả của tôi ở Hoa Kỳ nhanh chóng bắt mạch được nguyên nhân của căn bệnh xã hội mới này. Họ nói, đó chính là do câu nói “virus Trung Quốc” của cựu Tổng thống Donald Trump. Và họ nói, sâu xa hơn, chính là chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, là định kiến “thiểu số kiểu mẫu” (model minority myth) khiến người gốc Á chúng ta bị kỳ thị. Mỗi khi một sự vụ phân biệt sắc tộc xảy ra với một nhóm thiểu số, câu trả lời mặc định gần như lúc nào cũng sẽ là chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, là chủ nghĩa đế quốc và những kẻ tư bản da trắng đã bóc lột những giống nòi khác.   Tôi không phủ nhận những điều trên, nhưng tôi sợ những người bạn của mình đang bị cuốn vào một lối mòn, mới chỉ nhìn vào sự xấu xí của nước Mỹ mà chưa nói đến những góc tối của chính cộng đồng mình. Tôi e rằng, nguyên nhân của sự phân biệt chủng tộc nhắm vào người châu Á nói chung và người Việt ở Mỹ nói riêng cũng có một phần lỗi của người Mỹ gốc Việt.     Sự kỳ thị luôn tồn tại ở nước Mỹ    Có phải người châu Á chúng ta lại là một nạn nhân mới của sự kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ hay không? Hay thực tế đây là sự va chạm không sớm thì muộn của một xã hội quá đa dạng và phức tạp và vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận sự khác biệt của nhau? Hoa Kỳ là một quốc gia đa sắc tộc và chính vấn đề sắc tộc này luôn là một điểm nghẽn trong những tranh cãi về chính trị xã hội.   Tôi hình dung nếu như con virus không bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc mà ở một quốc gia khác, một châu lục khác, có thể sự kỳ thị với sắc dân đó cũng sẽ xảy ra. Hãy nhớ lại năm 2014, khi dịch Ebola bùng phát ở châu Phi, tình trạng kỳ thị đối với người gốc Phi đang trên đà bùng phát trở lại, nếu như chính quyền Barack Obama không nhanh chóng kiểm soát nó hiệu quả. Hay xa hơn, ngày 11/9/2001, khi hai chiếc máy bay đâm vào hai tòa tháp đôi của khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới, nó cũng kích nổ một làn sóng kỳ thị người Trung Đông và người Hồi giáo kéo dài đến tận bây giờ.   Cũng như Ebola hay sự kiện 11 tháng 9, Covid-19 chỉ là biến cố có thể xoáy sâu vào nỗi sợ hãi và phơi bày sự xấu xí và thiếu hiểu biết của không ít người Mỹ. Những người này cần một ai đó để đổ lỗi cho một bất trắc của xã hội và trước giờ đối tượng sẽ luôn là nhóm sắc tộc nhập cư có màu da, ngôn ngữ xa lạ.   Nên vấn đề ở đây không phải là tại sao lại là người châu Á lúc này. Vấn đề là nạn nhân bị kỳ thị có thể là bất kỳ ai. Và kẻ kỳ thị cũng có thể là người của bất kỳ màu da nào. Sai lầm của những nhà đấu tranh dân chủ cấp tiến Hoa Kỳ đó chính là họ không dám thừa nhận rằng chính những nạn nhân của sự kỳ thị có thể là kẻ kỳ thị.   Ở ngay trong chính cộng đồng châu Á chúng ta, xin hãy thú thật, bạn có sự kỳ thị đối với những sắc dân da nâu, da đen…hay đơn thuần là da sậm hơn dân châu Á, dân da trắng hay không? Bao nhiêu gia đình gốc Việt tranh cãi kịch liệt chỉ vì cô con gái hay cậu con trai dẫn về một người không phải gốc Á hay Mỹ trắng? Nghệ sĩ hài gốc Việt nổi tiếng ở Hollywood Ali Wong còn từng đùa trong tác phẩm hài độc thoại “Baby Cobra” của cô rằng bà mẹ gốc Việt của cô còn không có tới nổi một người bạn da đen.   Đó là một thực tế.   Nếu như con virus Covid đến từ một quốc gia châu Phi, bao nhiêu người Việt chúng ta sẽ không có thái độ bài xích với một người có màu da đen? Hãy khoan than khóc hay trách móc những người Mỹ trắng, mà hãy tự hỏi nhau liệu chính chúng ta có những suy nghĩ thành kiến về những cộng đồng khác hay không? Nhất là người gốc Á chúng ta, phải chăng chúng ta đã sống quá khép kín và an phận, mà đánh mất sự kết nối, thấu hiểu với những sắc dân khác?       Trang bìa của tạp chí Time năm 1987 từng bị chỉ trích vì làm hằn thêm định kiến người gốc Á chỉ là robot của thành công, là những kẻ tôn thờ điểm A, những con lừa chỉ biết học gạo và với đôi mắt một mí.   “Thiểu số kiểu mẫu” tiếp tay cho sự kỳ thị   Cũng xin đừng ngạc nhiên nếu như đến bây giờ người châu Á mới bị tấn công. Chỉ là vì phần đông dân gốc Á, như người gốc Việt, đã im lặng quá lâu trước những sự kì thị trong cuộc sống hằng ngày.    Phần lớn người Việt đến Hoa Kỳ là người tị nạn của chế độ Việt Nam Cộng hòa, họ đặt chân lên nước Mỹ theo từng giai đoạn và diện nhập cư khác nhau, nhưng đều có một mong muốn xây dựng một cuộc sống mới sau khi rời Việt Nam. Cuộc sống mới đến Hoa Kỳ, chưa kể những sang chấn về tâm lý từ chiến tranh và sự bỡ ngỡ, khó khăn trước một môi trường sống mới đầy rẫy những thách thức về văn hóa và ngôn ngữ. Tuy nhiên, cộng đồng ở đây đều mang nặng cảm giác biết ơn, và cho rằng cuộc sống ở Hoa Kỳ dù khó khăn đến đâu thì cũng xứng đáng chấp nhận hơn nơi quê hương mình đã ra đi..   Chính vì vậy, nhiều người gốc Việt phần lớn chọn cách sống cam chịu, chấp nhận và thờ ơ trước phần lớn các vấn đề bất cập trong xã hội Hoa Kỳ, ngay cả những vấn đề liên quan mật thiết đến cuộc sống của họ như chính sách thuế, tình trạng phân biệt chủng tộc đối với thiểu số da màu, hay các vấn đề an sinh xã hội. Đặc biệt trong cộng đồng gốc Việt, nhiều người còn mang nặng tư duy ở nhờ, ở tạm. Ngoài việc cảm thấy mang nặng “ơn nghĩa” với nước Mỹ, họ còn không nhìn nhận chính mình là một công dân Hoa Kỳ. Họ chấp nhận luật chơi của “người bản địa”, “người chủ nhà”.   Sự cần mẫn, cùng lối sống tiết kiệm, tập trung vào giáo dục con cái và kiếm kế sinh nhai và lầm lũi sống đã hình thành cộng đồng gốc Á, gồm người Việt thành một sắc tộc thiểu số thành công so với các sắc tộc khác – dần hình thành nên định kiến “thiểu số kiểu mẫu”. Định kiến này càng được những người theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng (white supremacy) cổ súy để đưa ra những nhận định phân biệt với các sắc tộc thiểu số khác, rằng: “Nếu các anh cũng chăm chỉ và biết điều như người gốc Á thì các anh cũng sẽ thành công vậy thôi”.   Nhiều người Việt cũng cổ vũ cho quan điểm này và tỏ ý khinh thường các sắc tộc khác, những người dễ tổn thương hơn họ. Nhưng họ đã không biết rằng, điều đó đã tiếp tay cho những kẻ kỳ thị tấn công những người yếu thế nhất trong chính cộng đồng của chính những người gốc Á. Nên nhớ rằng, hầu hết các nạn nhân trong những vụ tấn công người gốc Á gần đây là những người lớn tuổi vì có lẽ những kẻ tấn công hiểu rằng, những ông bà cụ gốc Á này, vì không biết tiếng Anh, sẽ không có khả năng lên tiếng và nhiều người gốc Á vốn chấp nhận cách sống lầm lũi cũng sẽ không bênh vực họ.    Người Việt liệu có tiếp tục sống thờ ơ?   Người Mỹ gốc Việt có lẽ là một trong những trường hợp điển hình nhất của “thiểu số kiểu mẫu”. Trong khi các nhóm dân gốc Á khác như người Hoa, người Hàn, người Nhật v.v… gần như ở mọi độ tuổi đều đang cùng nhau nỗ lực chống lại làn sóng kỳ thị người gốc Á này thì với nhóm dân gốc Việt, dường như chỉ có một nhóm những người thuộc thế hệ trẻ tham gia phong trào này. Bản thân nhóm dân gốc Việt ở Hoa Kỳ cũng là một trường hợp rất… ngoại lệ trong số các nhóm dân gốc Á.  Theo khảo sát vào năm 2020 của AAPI (cộng đồng người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương), nhóm người Mỹ gốc Việt là nhóm có tỷ lệ tham gia các hoạt động chính trị thấp nhất.  Chỉ 10% quyên góp tiền cho một chính trị gia hay một phong trào chính trị hay một đảng phái chính trị, và 7% từng liên lạc với vị dân biểu hay thượng nghị sĩ đại diện cho mình ở Quốc hội Hoa Kỳ. Chỉ có 5% từng tham dự các buổi biểu tình, tuần hành (cho một vấn đề chính trị xã hội Hoa Kỳ). Điều kỳ lạ là trong đợt bầu cử vừa qua, 56% người gốc Việt khảo sát nói sẽ ủng hộ cho ứng cử viên đảng Cộng hòa, 76% nói ủng hộ ứng cử viên này mạnh mẽ. Khi được hỏi “Chính quyền nên làm nhiều hơn để người da đen được bình đẳng như người da trắng” thì cũng chính nhóm người Việt có tỷ lệ “Phản đối mạnh mẽ” và tỷ lệ thờ ơ “Chẳng đồng ý cũng chẳng phản đối” cao nhất (lần lượt 12% và 27%).   Đáng chú ý nhất là câu hỏi, “Bạn có lo lắng về tình trạng phân biệt chủng tộc, quấy nhiễu vì Covid-19 không?” thì nhóm gốc Việt có tỉ lệ “Không bao giờ lo lắng” cao nhất, với 42%.   Nhiều người Việt có lẽ vẫn không nhận ra rằng mình có thể là nạn nhân của sự kỳ thị, cũng như việc mình có thể là kẻ tiếp tay cho sự kỳ thị. Người Mỹ gốc Việt là nhóm dân gốc Á có tỷ lệ ủng hộ ứng cử viên Đảng Cộng hòa lớn nhất, cũng là nhóm kiên trì có tỷ lệ người ủng hộ cựu Tổng thống Donald Trump cao nhất – người gọi virus Covid là “virus Trung Quốc”. Họ đã không nhận ra rằng chính họ đang ủng hộ cho một chính trị gia đang triển khai đường lối lãnh đạo theo chủ nghĩa phân biệt sắc tộc.  Một người Mỹ bình thường không thể nào phân biệt được đâu là người Việt, người Hàn, người Nhật, người Trung Quốc. Thậm chí bản thân chính người Việt còn không thể chắc chắn 100% phân biệt được giữa những nhóm người thuộc sắc dân Đông Á. Covid rồi cũng sẽ qua đi, và làn sóng kỳ thị này sẽ lắng xuống trước khi một làn sóng khác dâng lên. Đó là nước Mỹ. Đó là điều gần như không thể tránh được và chỉ mong mọi thứ sẽ dần đổi thay.   Nhưng đây là lời cảnh tỉnh cho cộng đồng người gốc Việt và đâu đó, rộng hơn, là những cộng đồng gốc Á ở Hoa Kỳ. Người ta không thể tiếp tục thờ ơ trước những vấn đề của xã hội và cầu mong nó sẽ không xảy đến với mình. □  —-  *Tốt nghiệp báo chí tại Đại học San Jose State, Hoa Kỳ và nguyên là phóng viên của BBC.     Author                Nguyễn Thùy Linh        
__label__tiasang Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: Vốn xã hội trong phát triển (Hà Nội, 24.6.2006)      Xuất hiện lần đầu tiên năm 1961 do nhà xã hội học Jane Jacob nêu ra và đã được nhiều học giả, nhiều tổ chức quốc tế nghiên cứu phát triển, nhưng “vốn xã hội” vẫn là một khái niệm còn rất mới mẻ ở nước ta.  Hội thảo khoa học “Vốn xã hội trong phát triển” do Tạp chí Tia Sáng – Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức vào ngày 24/6 vừa qua được xem là cuộc hội thảo đầu tiên – chính thức ở Việt Nam đã được đông đảo các học giả, trí thức khoa học có uy tín trong và ngoài nước tham dự.    Chỉ diễn ra trong vòng một ngày nhưng hội thảo thực sự là một diễn đàn nghiêm túc, tạo cơ hội để các học giả trình bày những suy nghĩ của mình, trước hết về các khái niệm, định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, sau đó, là nhận định về tương quan và thực trạng vốn xã hội hiện có ở Việt Nam. Đây cũng là bước khởi đầu để đi tìm giải pháp cho việc phát triển vốn xã hội – một trong những nền tảng cơ bản của sự phát triển đất nước trong toàn cảnh nói chung và nhìn từ những khía cạnh Nhà nước –Xã hội– Con người.  Sau tham luận đề dẫn của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và ông Johnathan Pincus, chuyên gia kinh tế của UNDP, các đại biểu đã đưa ra những câu hỏi khác nhau. Ông Việt Phương – Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ nêu con số cụ thể nói về sự phong phú của khái niệm vốn xã hội: chỉ mất hai giờ đồng hồ đọc Internet, ông thấy trên một trang Web phong phú đa dạng, có đến 6.780.000 tài liệu, và trên một trang khác tầm cỡ trung bình khá, lượng bài nói về nó cũng lên tới 37.700.000 tài liệu. Nghĩa là không thể nào đọc hết các giải nghĩa khác nhau về vốn xã hội. Tuy nhiên, “bớt đi những chi tiết rắc rối” như đề xuất của ông Nguyễn Trung – căn cứ trên những phác thảo thì “vốn xã hội” đều có xuất xứ từ Châu Âu, trong quan điểm P. Bourdieu (1986), Coleman (1989), Putnam (1993)…. và nó được đặt trong những mối quan hệ tương tác với quan hệ Nhà nước. Đó không phải là quan hệ trực tiếp mà là mối quan hệ xét ở tầng biểu tượng, có thể tạo ra những khả năng, một cái vốn thật sự, với những đặc tính của “vốn” là có sẵn, có thể sử dụng, đưa vào kinh doanh và sinh lợi. Như vậy, vốn xã hội là những mối liên hệ, tức là những gì trừu tượng, có thể trở thành lực lượng vật chất, thành vốn vật chất (nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc). Mặt khác, nói đến vốn xã hội, cũng tức là xã hội Dân sự. Ý kiến này được sự đồng thuận của các đại biểu Lê Đăng Doanh, Nguyễn Ngọc Bích, Đặng Kim Sơn, Trần Hữu Dũng, Lê Đạt, Thái Kim Lan, hoặc mở rộng là một Xã hội Dân chính trong trình bày của GS Ngô Vĩnh Long (Mỹ)…  Ở nước ta, vốn xã hội đã từng được đề cập trong “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông (TK 13), ở triều đại nhà Lê (TK 15), hoặc như ý kiến của nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân – được hình thành xuyên suốt quá trình hình thành những yếu tố văn hóa từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 19… Nhưng hiện nay nó đang đứng trước thực trạng là tuy sẵn có, lại không được phát huy đúng mức, thậm chí, một phần đã bị triệt tiêu và đang hình thành vốn xã hội tiêu cực. Theo GS Hoàng Tụy, vốn xã hội được khởi đầu từ nhân tố con người, nhưng giáo dục – yếu tố xây dựng và phát triển con người ở nước ta đang lâm vào căn bệnh nặng nề: “Bệnh dối trá xuất hiện ở chính bộ phận lãnh đạo, trong cơ chế lựa chọn đề cử cán bộ lãnh đạo. Đó cũng là nguyên nhân vì sao tệ tham nhũng phát triển mạnh mẽ ở nước ta”. Đồng thuận với ý kiến này, GS Ngô Vĩnh Long cho rằng nguyên nhân vốn xã hội đang bị mai một là do “nhà nước hóa mọi thứ, người dân vẫn chưa được quyền ăn nói và giám sát”…  Dù bằng tên gọi này hay tên gọi khác, nguyên nhân khiến vốn xã hội đứng trước “nguy cơ phá sản” liên quan đến vấn đề cốt lõi của “phân quyền” (Cao Chi), “thể chế” ( Hoàng Tụy), của những mối quan hệ Nhà nước – Xã hội – Con người. Vậy, làm thế nào để phát huy được vốn xã hội? Một nhà nước Pháp quyền – xã hội Dân sự sẽ là điều kiện đầu tiên, cơ bản – giải pháp đó gặp được hầu hết sự tán thành và nhấn mạnh của các học giả.  Trong số báo này và số tiếp theo, Tia Sáng xin trích đăng một số tham luận với mong muốn sẽ nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung được đề cập đến tại cuộc Hội thảo này.         Danh sách các đại biểu có tham luận tại Hội thảo   1. TS. Nguyễn Ngọc Bích; 2. Nhà văn Nguyên Ngọc; 3. GS. Phan Đình Diệu; 4. Nhà thơ Lê Đạt; 5. TS. Lê Đăng Doanh; 6. Ông Nguyễn Trung; 7. GS. Tương Lai; 8. GS. Nguyễn Quang A; 9. TS. Đặng Kim Sơn; 10. TS. Trần Ngọc Thơ; 11. Ông Phan Chánh Dưỡng; 12. GS. Phạm Duy Hiển; 13. Ông Trần Hữu Quang; 14. Họa sĩ Nguyễn Quân; 15. Ông Nguyễn Vạn Phú; 16. Ông Trần Minh Trọng; 17. Ông Nguyễn Duy Thuận; 18. Bà Nguyễn Thị Oanh; 19. Ông Đặng Mộng Lân; 20. TS. Nguyễn Trần Dương; 21. Bà Nguyễn Thị Sơn; 22. Ông Vũ Quốc Tuấn; 23. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ; 24. GS. Trần Hữu Dũng; 25. Ông Quý Đỗ (Mỹ); 26. GS. Ngô Vĩnh Long (Mỹ); 27. GS. Trần Kiêm Đoàn (Mỹ); 28. KTS. Văn Ngọc (Pháp); 29. GS. Tôn Thất Nguyễn Thiêm (Bỉ); 30. GS. Thái Kim Lan (Đức). 31. Ông Jonathan Pincus (UNDP).          BBT      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lá thư người chủ gửi đầy tớ      Thành phố Hồ Chí Minh, ngày “cá tháng 4” 2007        Kính gửi: Đầy Tớ kính mến,  Hôm nay là ngày 01/04, còn gọi là ngày “Cá tháng Tư”, Chủ lấy hết can đảm kính viết thư này gửi đến Tớ. Nếu là ngày bình thường, Chủ thật sự không dám liều lĩnh như vậy. Sở dĩ, Chủ phải nén lòng lâu như thế là vì cả thế giới đều cho phép người này nói chơi với người kia trong ngày này, nên dù nôn nóng Chủ vẫn phải chờ đúng dịp. Lỡ như thư này làm Tớ nổi giận rồi tìm cách “trù ếm”, Chủ sẽ năn nỉ ỉ ôi rằng: “Tớ ơi tha lỗi, bỏ qua cho, Chủ chỉ nói chơi thôi mà”. Còn nếu Tớ không nói gì, thì coi như… Chủ nói thiệt!  Thưa Tớ, khi viết thư này Chủ rất băn khoăn, lưỡng lự không biết có nên xưng danh tánh hay không. Không xưng, thì thư này sẽ bị Tớ xem là nặc danh, không giá trị (mà Chủ thì không muốn như thế),  nhưng nếu xưng danh tánh rõ ràng, thì nói thiệt với Tớ là… Chủ hơi bị rét. Thôi thì, một liều, ba bảy cũng liều. Như Tớ biết, trong xã hội ta đang sống hiện nay, Chủ thì cũng có năm, bảy loại Chủ, nhưng người Chủ viết lá thư này gửi Tớ là thành phần ưu tú đang được xã hội tôn vinh: Chủ doanh nghiệp! Còn Tớ, thì cũng có năm, bảy loại Tớ, nhưng Tớ mà Chủ kính gửi trong thư là các vị cán bộ trong bộ máy Nhà nước “của dân, do dân, vì dân,…”, những người tự nhận là có trách nhiệm phục vụ cho Chủ doanh nghiệp làm cái việc chấn hưng kinh tế đất nước!  Thưa Tớ, không phải tự nhiên Chủ dám xưng mình là Chủ mà vì Tớ muốn như vậy. Từ lâu, Tớ đã thường xuyên tự công khai trên các phương tiện truyền thông trong nước và cả nước ngoài, rằng: “Tớ là đầy tớ trung thành…” và đẩy vai trò người chủ về phía Chủ. Trong hoàn cảnh này, Chủ đành “ngậm bồ hòn làm… Chủ” không dám từ chối, vì lo ngại bị Tớ đánh giá quan điểm. Dù Tớ nằng nặc tự nhận mình là Tớ, nhưng Chủ không bao giờ được phép làm bất cứ điều gì khác ý Tớ, kể cả những việc “Thượng đế cũng phải cười” như Tớ buộc Chủ làm những cái đơn có nội dung “Đơn xin mua đơn” hoặc “Đơn xin mua hóa đơn” nếu muốn hoàn tất thủ tục thành lập Công ty! Điều này đã làm Chủ bỡ ngỡ trong giờ phút đầu tiên làm Chủ. Người Chủ doanh nghiệp nào có thể tin rằng muốn “làm giàu cho mình và cho đất nước” mà phức tạp và nhiêu khê đến vậy? Sau này, Chủ mới hiểu, việc “chào sân” đó chẳng nhằm nhò gì so với nỗi đoạn trường đang chờ Chủ phía trước. Và giờ đây, sau gần 20 năm hoạt động ở thương trường, Chủ đã thấm thía vai trò của Chủ và hiểu rất rõ vị trí, oai quyền của Tớ.  Thưa Tớ, có lẽ do “Ông Từ độ kẻ khù khờ” nên doanh nghiệp của Chủ ăn nên làm ra, có tiền trả lãi ngân hàng, trả lương công nhân và trả lương cho Tớ (nộp thuế). Chủ hí hửng đem những đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi, công sức của cả một tập thể nộp cho Tớ, với hy vọng làm Tớ vui, ngờ đâu không ít Tớ ngoe nguẩy không nhận; Chủ cụt hứng! Nhờ những người đồng nghiệp thân tình nói cho biết đôi điều, Chủ mới bật ngửa: thì ra, muốn Tớ nhận lương (thuế) cũng không dễ gì. Họ bày cho Chủ phải tìm cách mời Tớ vui lòng nhín chút thời gian vàng ngọc đến Công ty để bới tung sổ sách, giấy tờ, như một cách kiểm tra, xem xét, rồi sau đó Tớ sẽ hướng dẫn cách hạch toán để làm sao… đôi bên cùng có lợi (?)! Đồng nghiệp của Chủ còn dặn dò: để Tớ chịu nhận lương (thuế), Chủ phải biết cách làm Tớ vui vẻ (khổ nỗi, niềm vui của Tớ lại là nỗi buồn và mối nguy hiểm của Chủ). Nếu không, Tớ sẽ ngâm hồ sơ nộp thuế của Chủ, (nghĩa là “ngâm” lương của Tớ), thử xem ai nghèo cho biết!  Thưa Tớ, người Chủ nào cũng tin rằng: trả lương (nộp thuế) cho Tớ là việc đơn giản nhất thế mà trong thực tế nó khúc khuỷu, quanh co đến như vậy; thử hỏi các chuyện đầu tư và kinh doanh của những người Chủ doanh nghiệp còn khổ ải đến đâu? Có những dự án, Chủ đầu tư hứa hẹn tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra của cải vật chất, tạo ra lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, nhưng đành phải xếp lại chỉ vì câu hỏi của nhiều Tớ, từ cấp “ruồi” đến cấp “voi”, mà Chủ không thể trả lời: “Tớ được bao nhiêu tỷ lệ % trong dự án đó?”. Có nhiều hợp đồng kinh doanh của Chủ với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài bị Tớ “vịn” lại với những lý do không hiểu nổi, nhưng nếu “ráng mà hiểu” thì… bom nguyên tử cũng có thể chui qua lỗ kim! Tớ bất chấp các mối nguy hiểm, hậu quả mà xã hội và cộng đồng phải gánh chịu miễn sao Tớ được lợi (vụ PMU18, vụ để lọt nhiều container bình ắc quy chì phế thải của nước ngoài vào Cảng Hải Phòng, v.v…). Tất cả những gì đã và đang diễn ra trong thực tế đã đủ cho người ta tổng kết: sự giàu có bất thường của nhiều Tớ không hề tỷ lệ thuận với sự ăn nên làm ra của Chủ và sự thịnh vượng của đất nước!  Thưa Tớ! Cho đến ngày hôm nay, ngày Chủ viết lá thư này kính gửi đến Tớ, đất nước của chúng ta đã độc lập, thống nhất được 32 năm. Thời gian đã đủ dài để chúng ta xây dựng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…”. Thế mà, nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu sau khi đi thăm ngoại giao nước ta hồi trung tuần tháng 1-2007, về lại Singapore ngài đã tuyên bố: Việt Nam phải mất 10, 20, 30 năm nữa mới bắt kịp Malaysia (Straits Times ngày 20-1-2007)! Không đề cập gì đến Việt Nam bắt kịp Singapore cả! Chẳng biết bụng dạ của Tớ thế nào, riêng Chủ khi nghe câu tuyên bố này thì ruột gan như bị ai xát muối vậy. Thôi đừng viện dẫn hoài lý do: “khởi điểm thấp” hay “mới thoát khỏi chiến tranh” để lý giải cho sự tụt hậu của đất nước; như thế sẽ có lỗi với thế hệ kế thừa và rất chưa xứng đáng với sự hy sinh của nhiều thế hệ ở thời quá khứ. Theo chủ, có nhiều nguyên nhân làm cho đất nước ta vẫn còn trong nhóm “kém phát triển”, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do không ít Chủ – Tớ thiếu đồng điệu trong lợi ích và rủi ro. Tất nhiên, người dân không “vơ đũa cả nắm”, đánh đồng những cán bộ, công chức Nhà nước liêm chính tận tụy với dân và đồng hành với Chủ doanh nghiệp.  Thôi, đã đến lúc Tớ trở về đúng với nhiệm vụ đầy tớ, công bộc, người bạn đồng hành, người kề vai sát cánh với những người Chủ của mình. Tớ hãy vui trong cái vui, buồn trong cái buồn, lo trong cái lo chung của Chủ. Những người Chủ trong khu vực tư đã rất vất vả, cực nhọc để đóng góp 45,5% GDP và tạo ra 89% công ăn việc làm mới hằng năm cho người lao động. Tớ ạ, với thực trạng kinh tế chưa mấy sáng sủa như hiện nay, chúng ta hãy sớm bắt tay nhau quyết tâm rút ngắn khoảng cách lạc hậu và tụt hậu của đất nước mình. Nghĩa là từ nay Chủ và Tớ hãy “ngồi cùng thuyền”, sống cùng sống, chết cùng chết vì sự giàu sang của Chủ, ấm no của Tớ và sự thịnh vượng của đất nước chúng ta.   Kính mong Tớ hiểu tấm lòng thành của những người Chủ đất nước này, trong đó có Chủ doanh nghiệp.                                                    Thay mặt những người Chủ ký tên                                                            TẠ THỊ NGỌC THẢO  Tái bút: Nếu không, những người như Chủ sẽ đồng lòng thể hiện quyền làm Chủ thật sự của mình là buộc tất cả những người “đội lốt đầy tớ” nghỉ việc!        Tạ Thị Ngọc Thảo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946      Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành sửa đổi hiến pháp, nhiều học giả và một số nhà hoạt động chính trị đề nghị kế thừa những giá trị của Hiến pháp năm 1946 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài viết này bàn về cơ sở của những giá trị đó và gợi mở một số điều cho tương lai sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam.     1. Điều gì làm nên giá trị của Hiến pháp 1946?  Những giá trị nội dung của bản Hiến pháp 1946 có thể được tóm lược ở mấy điểm sau đây: nguyên tắc chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân; phân công quyền lực mạch lạc giữa ba cơ quan Nghị viện nhân dân, Chính phủ, và Tòa án; những hình thức kiểm soát quyền lực như chế độ bất tín nhiệm Nội các, chế độ phủ quyết tương đối các luật của ngành lập pháp; chế độ tư pháp độc lập; các dân quyền cơ bản.   Tại sao bản Hiến pháp 1946 lại có thể đạt được những giá trị như vậy? Một số ý kiến có thể cho rằng điều này bắt nguồn từ chỗ bản hiến pháp được soạn thảo bởi những con người ưu tú của dân tộc vào thời điểm đó dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh- Chủ tịch Ủy ban Dự Thảo Hiến pháp. Điều này có phần đúng, nhưng có những lý do có tính chất bản chất hơn.   Một bản hiến pháp thành văn, nếu thực sự chính đáng, không gì hơn là sự biểu đạt thành ngôn ngữ của luật cơ bản một trật tự, một trạng thái và những mong muốn thực tế của một cộng đồng chính trị. Hơn một trăm năm trước đây, GS Christopher Tiedeman (1857-1903), một nhà hiến pháp học kinh điển của nước Mỹ, đã cho rằng: “các hiến pháp chỉ hiệu quả khi các nguyên tắc của nó cắm rễ trong đặc tính của quốc gia, và do đó, là một sự phản ánh trung thành của ý chí quốc gia.”[1] Tiedeman gợi lại rằng lịch sử nhân loại không thiếu những trường hợp hiến pháp được áp đặt một cách tùy tiện lên người dân và do vậy không hiệu quả do không phản ánh những mong muốn thực sự của người dân. Để minh chứng, nhà hiến pháp học này đưa ra trường hợp Locke soạn thảo hiến pháp cho người Carolinas mà những nguyên tắc của nó không phù hợp với người bản địa và trường hợp Napoleon Bonaparte soạn thảo hiến pháp cho những vùng chiếm đóng[2].   Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, chúng tôi cho rằng điều thực sự tạo nên giá trị của Hiến pháp 1946 chính là ở chỗ bản hiến pháp này phản ánh một cách trung thành trạng thái chính trị và những nhận thức, mong muốn của người dân Việt Nam vào thời điểm đó về những giá trị hiến pháp dân chủ, mà điều này đến lượt nó là kết quả của cả một quá trình vận động hiến pháp lâu dài gần 40 năm của các khuynh hướng khác nhau trước khi bản hiến pháp được ban hành vào ngày 09 tháng 11 năm 1946. Dưới đây, chúng tôi sẽ giải thích cụ thể luận điểm này.  Từ những năm đầu của thế kỷ 20 cho đến trước khi bản Hiến pháp 1946 ra đời, Việt Nam chứng kiến những cuộc thảo luận về hiến pháp và tương lai của hiến pháp ở quốc gia có lẽ đa dạng và sôi nổi chưa được lập lại có cho đến lúc này. Thông qua những cuộc thảo luận này, những giá trị của chủ nghĩa hợp hiến (constitutionalism) hiện đại được du nhập vào Việt Nam, khơi dậy những nhận thức, mong muốn trong nhân dân và thúc đẩy những vận động thực tế về các giá trị hiến pháp dân chủ.   Nửa đầu thế kỷ 20, khi Việt Nam còn là một nước thuộc địa-nửa phong kiến, chủ nghĩa hợp hiến hiện đại đã được du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam bắt nguồn từ những sự ảnh hưởng khác nhau. Trước tiên đó là sự ảnh hưởng từ những cuộc cải cách hiến pháp ở những quốc gia đồng văn như Nhật Bản và Trung Quốc. Cuộc cách mạng Minh Trị (1868-1898 ) trong vòng 30 năm đã chuyển Nhật Bản từ một tập hợp của các vương quốc phong hiến phi tập trung thành một nhà nước tư bản hiện đại. Xét về mặt chính trị và pháp lý, nó đã thiết lập một chính quyền hợp hiến có nhiều điểm tiếp cận với những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây hiện đại. Vào thời điểm diễn ra cách mạng Minh trị, những người yêu nước Việt Nam còn đang phải vật lộn với những cuộc khởi nghĩa sớm thất bại như phong trào Cần Vương nên chỉ có những ý tưởng lờ mờ về duy tân Nhật Bản. Phải đến khi Nhật chiến thắng trong chiến tranh Nga- Nhật (1904-1905), người Việt yêu nước mới bừng tỉnh về sức mạng của hiện đại hóa trong việc gìn giữ độc lập. Điều này dẫn đến sự quan tâm của người Việt yêu nước đối với duy tân Nhật Bản nói chung và Hiến pháp Minh Trị nói riêng.   Cùng với duy tân Minh Trị, cách mạng Trung Quốc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy người Việt yêu nước tìm đến những giá trị hiện đại, gồm cả các giá trị hiến pháp. Họ đặc biệt hứng thú với Cuộc cách mạng 100 ngày dưới sự lãnh đạo của Khang Hữu Vi, Cách mạng Tân Hợi của Tôn Trung Sơn, và cải cách hiến pháp dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Lương Khải Siêu.   Cánh mạng Nhật Bản và Trung Quốc thúc đẩy người Việt yêu nước hồi đầu thế kỷ trước tìm đến Tân thư, những sách chứa đựng những kiến thức mới, gồm cả các kiến thức về hiến pháp, chính trị, luật pháp, được du nhập vào Nhật Bản, tràn sang Trung Quốc, rồi từ kênh này vào Việt Nam qua những cảnh Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, nơi có đông đảo Hoa kiều và có cả những đoàn thể cách mạng Trung Quốc.[3] Thông qua làn sóng Tân thư, những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây như Tinh thần pháp luật của Montesquieu và Khế ước xã hội của Rousseau đã được người Việt yêu nước đón nhận nồng nhiệt, với nhan đề được dịch lúc đó là Vạn pháp tinh lý và Xã ước. Cũng thông qua Tân thư, người Việt yêu nước ý thức được sự thực hành của chính quyền hợp hiến ở các quốc gia Âu Mỹ và sự đang mở rộng của nó ở các quốc gia Phương Đông.   Hơn nữa, vào đầu thế kỷ XX, việc giao lưu văn hoá được phát triển, mở ra điều kiện cho nhiều nhà trí thức Việt Nam đi nước ngoài, từ những nước phương Đông sớm có chính quyền hợp hiến như Nhật Bản hoặc đang tranh đấu cho chính quyền hợp hiến như Trung Quốc đến những nước là quê hương của chính quyền hợp hiến như Pháp, Mỹ. Phan Bội Châu đã đi Hồng Công rồi sang Nhật Bản, mở ra phong trào Đông Du. Phan Châu Trinh cũng sang Hồng Công rồi từ đó cùng Phan Bội Châu sang Nhật Bản, và sau sang Pháp 14 năm. Hồ Chí Minh cũng có nhiều năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tận mục sở thị thực tiễn của các chính quyền hợp hiến ở Pháp, Mỹ. Nhiều trí thức đến nước Pháp du học: Nguyễn An Ninh tốt nghiệp cử nhân luật học Đại học Sorbonne, Paris, 1920; Phan Văn Trường đỗ tiến sĩ luật học tại Pháp; Luật sư Phan Anh cũng đã chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ luật học ở Pháp năm 1938 do Thế chiến thứ nhất bùng nổ nên phải về nước. Một số người khác cũng đến Pháp trong một số hoạt động khác: Nguyễn Văn Vĩnh sang Pháp dự hội nghị đấu xảo Marseille năm 1906; Phạm Quỳnh cũng đã sang Pháp dự triển lãm năm 1922.   Trên những cơ sở đó, chủ nghĩa hợp hiến đã được tiếp thu ở Việt Nam bởi nhiều phong trào, nhiều tổ chức. Có thể phân loại những nhân vật và tổ chức đóng góp vào các cuộc thảo luận về hiến pháp và truyền bá chủ nghĩa hợp hiến vào Việt Nam nửa đầu thế kỷ trước thành 7 nhóm sau: (1) Những nhà nho yêu nước hay là những trí thức truyền thống như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng các tổ chức, phong trào do họ lãnh đạo hoặc ảnh hưởng trực tiếp như Đông Du (1904 – 1909), Duy Tân (1906 – 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907); (2) Những trí thức Tây học có khuynh hướng dân tộc như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và các tờ báo dưới sự ảnh hưởng của họ như La cloche fêlée [1923-1926] và L’Annam [1926-1928], Phan Anh và nhóm Thanh Nghị; (3) Những người thân Pháp như Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí [1913-1919], Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí [1917-1933], Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến ở Nam Kỳ; (4) Những người cộng sản như Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản; (5) Những nhà văn như Nguyễn Tường Tam và nhóm Tự lực Văn Đoàn; (6) Những người có nguồn gốc hoàng triều như Cường Để, Bảo Đại; (7) Những nhà hoạt động tôn giáo như Huỳnh Phú Sổ và Phật giáo Hòa Hảo[4].   Thông qua sự vận động đa dạng của các cá nhân, các tổ chức nói trên, những nội dung cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến được du nhập vào Việt Nam. Những bài viết, các cuộc thảo luận và các cuộc vận động của họ đã khơi dậy nhận thức và mong muốn của người Việt về những giá trị căn bản của một trật tự hợp hiến hiện đại như: hiến pháp thành văn, chủ quyền nhân dân, dân quyền, phân chia quyền lực, và tư pháp độc lập. Đặc biệt, có thể kể ra đây sự ảnh hưởng của những tư tưởng hiến pháp trong “Tân Việt Nam” (1907) của Phan Bôi Châu; “Dân trị và Quân trị chủ nghĩa” (1925) của Phan Châu Trinh; Diễn văn đọc trước Viện dân biểu Trung Kỳ ngày 1/10/1928 của Huỳnh Thúc Kháng; thơ văn của Đông Kinh Nghĩa thục (tiêu biểu là “Văn minh Tân học sách”); “Bản án Chế độ Thực dân Pháp”(1925-1926), “Việt Nam Yêu Cầu Ca”(1922), và “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh; Các bài viết của Phan Anh trên Tạp chí Thanh Nghị từ 1942-1945, tiêu biểu có thể kể đến như “lập hiến”, “vấn đề đại diện chính trị”, “chính thể tổng thống”, “dân quốc và Hiến pháp Trung Hoa”.   Mặc dù chủ trương hiến pháp của các cá nhân, tổ chức và các phong trào nói trên rất khác nhau (Phan Bội Châu lúc đầu ủng hộ quân chủ lập hiến, sau chuyển sang cộng hòa lập hiến; Phan Châu Trinh trước sau vẫn là “thủ xướng cộng hòa”; Hồ Chí Minh chủ trương chế độ dân chủ nhân dân, Phan Anh lại có khuynh hướng về chế độ Tổng thống…), nhưng điểm gặp nhau giữa họ là Việt Nam cần phải thoát khỏi lối cai trị độc đoán kiểu thực dân- nửa phong kiến và xác lập một chính quyền hợp hiến hiện đại. Về mặt hiệu quả, không phải tất cả các kế hoạch hiến pháp của họ đều được hiện thực hóa, nhưng họ đều thành công ở điểm: đóng góp vào việc đánh thức mấy mươi triệu đồng bào đang trong vòng nô lệ những ý niệm và mong muốn về một chính quyền hợp hiến mà thế giới và các quốc gia “đồng văn đồng chủng” đã phát triển và đang thực hành, và do vậy thúc đẩy những nỗ lực của đồng bào tranh đấu cho một trật tự chính trị-pháp lý như thế.   Hệ quả là, vào thời điểm trước khi Hiến pháp 1946 ra đời, người Việt về cơ bản đã nhận thức và mong muốn sâu sắc về những nguyên tắc căn bản của  một chính quyền hợp hiến hiện đại để thoát khỏi gông cùm của chế độ cai trị độc đoán thuộc địa- nửa phong kiến. Trong tâm thức của người Việt bấy giờ ngự trị một cách phổ biến những ý niệm và mong muốn thực tế về “hiến pháp”, “dân chủ”, “dân quyền”, và “cộng hòa.” Do vậy, sự ra đời của Hiến pháp 1946 có thể coi là một sự định chế hóa những nhận thức và nguyện vọng phổ biến đó của quốc dân.   Tóm lại, có thể rút ra rằng bối cảnh chính trị tự do cho phép những xu hướng chung, nhận thức chung, và nguyện vọng chung của quốc dân về các giá trị của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại được phán ánh trong các cuộc thảo luận chính thức về soạn thảo hiến pháp của Ủy ban dự thảo hiến pháp và Quốc hội lập hiến. Điều đáng ghi nhận đối với những nhà thảo hiến 1946 là ở chỗ: họ đã biểu đạt những nhận thức chung và nguyện vọng chung của xã hội được hình thành trong gần 40 năm dưới dạng một văn bản đơn hành với ngôn ngữ pháp lý đặc trưng của luật hiến pháp.   2. Ý nghĩa đối với Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay  Cuộc cải cách hiến pháp sắp tới là một cuộc đối thoại giữa Nhà nước và Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cuộc đối thoại sẽ đi đến đâu tùy thuộc một phần lớn vào việc mức độ xác lập những nhận thức chung và nguyện vọng chung trong Nhân dân về những giá trị hiến pháp.   Điều này lại tùy thuộc một phần không nhỏ vào vai trò của trí thức trong nước, các định chế giáo dục và học thuật, các phương tiện truyền thông trong việc thức nhận xã hội về những giá trị hiến pháp mà cộng đồng thế giới và khu vực đang chia sẻ, đồng thời xã hội Việt Nam cũng thực sự mong muốn. Trong số những giá trị đó, có một số giá trị cổ điển đã được phản ánh trong hiến Pháp 1946 như chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân hay dân quyền căn bản. Tuy nhiên, có những giá trị được ổn định về sau trong tiến trình phát triển của hiến pháp thế giới mà Hiến pháp 1946 chưa phản ánh, như Tòa án hiến pháp.   Để đóng góp vào quá trình thức nhận xã hội đối với các giá trị hiến pháp hiện đại, trí thức Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các nhà luật học, luật sư, sẽ rất cần sự tiếp tục khí phách tranh đấu cho các giá trị hiến pháp của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Vũ Đình Hòe… Các định chế giáo dục- học thuật, đặc biệt là các trường luật, sẽ rất cần sự tái sinh của tinh thần Đông kinh Nghĩa thục. Các phương tiện truyền thông cũng sẽ cần tiếp nối những nỗ lực của Tiếng Dân hay Thanh Nghị.   —  [1] Christopher Tiedeman, The Unwritten Constitution of the United States: a Philosophical Inquiry into the Fundamentals of American Constitutional Law (New York: William S.Hein& Co., Inc, 1974), p 18.   [2] Như trên, p.20.  [3] Xem, Trần Văn Giàu, Sự Phát Ttriển của Tư tưởng ở Việt Nam, Tập II (Hà nội: NXB Khoa học xã hội, 1973), tr.26.  [4] Sự phân loại là của chúng tôi. Chi tiết hơn về hoạt động của các cá nhân và tổ chức này, xem: Phan Đăng Thanh, Tư tưởng Lập hiến Việt Nam nửa đầu Thế kỷ 20 (Hà Nội: NXB Tư pháp, 2006).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm bàn về cách đặt tên đường phố      Nhân những tranh luận chung quanh việc lấy tên hai vị vua nhà Mạc đặt cho hai con phố ở Hà Nội, tác giả Vũ Minh An đề xuất cần xem xét những cách tiếp cận mới đối với việc đặt tên đường phố.    Chiều 6/7/2015, Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội đã biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết chính thức đặt tên phố Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông trên địa bàn quận Cầu Giấy, sau vài năm kể từ khi kế hoạch đặt tên này lần đầu được trình xem xét.     Trước đó, Hội đồng Tư vấn khoa học Đặt và Đổi tên đường phố và các công trình công cộng Thủ đô đã trải qua hơn 10 phiên họp bàn ở nhiều cấp độ khác nhau.    Mặc dù được thông qua với sự có mặt của nhiều cơ quan nhà nước từ Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội đồng Di sản quốc gia Việt Nam, Viện Sử học, Viện Khoa học lịch sử quân sự đến Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hà Nội, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch…, vẫn còn ý kiến phản đối như giới truyền thông loan tin: “… cũng có những ý kiến cho rằng, việc tôn vinh Mạc Thái Tổ, người đã từng quỳ gối, dâng đất (dù tượng trưng) cho ngoại bang vào lúc này là không đúng thời điểm… Quan điểm của nhà sử học Dương Trung Quốc cũng là quan điểm của nhiều học giả, nhà khoa học. Theo đó, việc chỉ đặt tên đường Mạc Thái Tông là dấu mốc ghi nhận tính chính thống và những đóng góp của vương triều Mạc với đất nước. Còn với đề xuất đặt tên đường Mạc Thái Tổ, do tư liệu về ông vẫn còn nhiều “khoảng mờ” lịch sử cùng với bối cảnh chính trị, xã hội hiện tại chưa thích hợp nên tạm gác việc đặt tên phố Mạc Thái Tổ lại.”1 (chúng tôi nhấn mạnh bằng in nghiêng).    Dù ý kiến không đồng thuận chỉ là của một thành viên trong Hội đồng Tư vấn nhưng lý do của lá “phiếu chống” đó, chủ yếu liên quan đến “công” và “tội” của nhà Mạc, lại rất cần phải bàn thêm.    Về “công” và “tội” của hai vua họ Mạc – Thái Tổ Mạc Đăng Dung và Thái Tông Mạc Đăng Doanh – cũng như của triều Mạc, những “sử quan” đương thời như Ngô Đăng Lợi, Lê Văn Lan, Nguyễn Danh Phiệt, Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc, Phan Văn Các, Hoàng Lê, Phan Đăng Nhật… đã khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu, thiết tưởng không cần bàn thêm. Ở đây chúng tôi chỉ muốn dẫn lại vài điều trong sử cũ được viết bởi các thần tử của nhà Lê – cừu thù của nhà Mạc:    – Đó là thời: “trong vài năm trộm cướp biệt tăm, súc vật nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm lại” (Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử).    – Đó là thời: “Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi” (Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông).    – Đó là thời: “cái đức chính của thời Minh Đức [niên hiệu của Mạc Thái Tổ] và Đại Chính [niên hiệu của Mạc Thái Tông] nhà Mạc vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên thời vận đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc vẫn chưa hết…” (Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút).    Có tác giả viết rằng, ngay cả thời thịnh trị của Lê Thánh Tông cũng chẳng bằng [những năm đầu nhà Mạc].    Về chuyện “quỳ gối, dâng đất (dù tượng trưng) cho ngoại bang”, nói đi rồi cũng phải nói lại, dù ngắn. Hai triều đại phong kiến Trung Hoa cuối cùng Minh – Thanh, văn thư ngoại giao chứa trong các kho lưu trữ thạch thất, kim quỹ, vẫn còn lại rất nhiều. Ví dụ: “Hồ sơ về chuyến đi sứ Thanh của Nguyễn Du được lưu giữ tại đây, không có dấu mối đục, dấu gián nhấm, chỉ màu giấy hơi ngả màu vàng, mới trông qua không ai nghĩ là những giấy tờ này cách nay đã 150 năm.”2 Hi vọng những hồ sơ đó sẽ sớm được công khai. Tuy nhiên, chỉ qua những phần đã công bố thì ngôn ngữ xin cầu phong của từ Lê Lợi – Nguyễn Trãi đến Quang Trung, chẳng khác gì Mạc Đăng Dung cả! Cũng dễ hiểu, với hoàn cảnh “trong đế ngoài vương” ngàn năm của nước ta, và thời đó, chưa có “bốn phương vô sản đều là anh em”! Bạn đọc quan tâm, tìm là có.    Tác giả của lá phiếu phản đối còn so sánh công lao của nhà Mạc với một triều đại có những tương đồng nhất định là nhà Hồ để làm rõ thêm lý do không đồng thuận của mình: “Dù quãng thời gian giữ triều ngắn ngủi, nhưng Hồ Quý Ly có vị trí rất quan trọng trong lịch sử. Công lao của nhà Hồ đã được giới sử học quan tâm, đánh giá, nhất là việc gần đây, thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, đã phần nào đó đánh giá về dấu ấn của nhà Hồ. Tôi nghĩ việc đặt tên nhà Hồ cho đường phố Thủ đô sẽ không gặp trở ngại gì.”3     Nhà Hồ và nhà Mạc đều là “ngụy triều” trong chính sử. Mọi so sánh đều khập khiễng nhưng việc đất nước và dân chúng Đại Việt lầm than suốt 21 năm Minh thuộc (1407-1427) cũng có phần do “nhân họ Hồ chính sự phiền hà”; trong khi đó “Mạc Đăng Dung đã cứu đất nước khỏi họa xâm lăng, đẩy lùi cuộc chiến tranh của nhà Minh năm 1540”4 (Phan Đăng Nhật). Vậy sao lại “trở ngại” cho việc đặt tên Mạc Thái Tổ? Nếu là vì nhà Mạc không có thành được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như nhà Hồ thì không đủ thuyết phục. Đành rằng “chớ đem thành bại luận anh hùng” nhưng trong việc này, người “thắng” lại “thua” người “bại” thì thật là… Xét việc Mạc Đăng Dung đã làm và làm được, không thể tách khỏi tương quan Việt-Hoa lúc bấy giờ. Hơn 2.000 năm trước, người Hy Lạp từng nói một điều đã trở thành ví dụ kinh điển cho chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế: “vấn đề công lý chỉ tồn tại giữa những bên ngang bằng nhau về sức mạnh, và rằng kẻ mạnh làm bất cứ những gì mình có thể, còn kẻ yếu thì phải chấp nhận những gì họ phải chấp nhận.”5 Vậy nên, phải có những liên kết để luôn luôn “ngang bằng nhau về sức mạnh” với mọi đối thủ ở mọi nơi, mọi lúc.     Với một cái tên, bàn vậy cũng đã là nhiều. Giờ xin lạm bàn về cách đặt tên đường phố. Các thành phố của nước Việt Nam hiện đại là do người Pháp thiết lập, trong đó có Hà Nội, thủ đô Đông Dương thuộc Pháp từ năm 1902; chính bởi lý do đó, cách đặt tên đường phố nơi đây mang đậm dấu ấn của văn hóa Pháp. Thật vậy, nếu Hà Nội trước thời Pháp đô hộ, người ta chỉ nhớ tới 36 phố phường, là những phường nghề thì dưới thời Pháp thuộc, đường phố được đặt theo tên các danh nhân Pháp và một lượng đáng kể các khái niệm mang tính giáo dục hoặc đề cao nền cộng hòa như: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Từ tháng 3/1945, tên đường phố đã là nơi người dân Việt có thể khám phá lịch sử của đất nước.“Mỗi tên đường mang theo kỷ niệm và chuyển tải một thông điệp. Tên phố cho phép chúng ta được dạo chơi ngoài thời gian, trở về quá khứ. Tên phố cùng với những tấm biển đường trở thành một bức tranh rộng lớn giới thiệu văn hóa và những biểu tượng mà xã hội muốn đề cao.”6 Ngày nay, ở các thành phố Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, đa số tên đường phố hoặc là địa danh (số ít hơn), hoặc mang tên các nhân vật chính diện trong lịch sử, nhưng đã có ý kiến của sử gia nghiêng về xu hướng “đặt tên theo địa danh cổ” (như: phố Trôi, đường Nhổn?) vì “danh nhân là có hạn, đường phố là vô hạn nên nếu cứ đặt tên đường theo danh nhân thì kho tên sẽ cạn”.3     Như vậy, rất cần thiết “đổi mới” tư duy về tên đường phố. Nhìn sang nước Mỹ, cách đặt tên đường phố ở đây, từng bị chê “vô hồn, nhạt từ cái tên phố” lại hóa ra “vô hồn nhưng khoa học”, thích hợp với… thời đại. Lấy thủ đô Washington D.C. làm ví dụ, thì đó là “Lấy tòa nhà Quốc hội làm trung tâm, các phố được đánh số thứ tự 1, 2, 3, theo hướng Đông – Tây và vần chữ cái A, B, C từ Nam lên Bắc. Các đường chéo là tên các bang đặt cho các đại lộ chính của thủ đô.”7    Trường hợp nước Mỹ chỉ là một trong nhiều ví dụ mà những người có trách nhiệm có thể tham khảo.    —    1 http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/tranh-cai-co-nen-dat-ten-duong-mac-thai-to-mac-thai-tong-o-ha-noi-n20150612034210542.htm    2 http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/4501-hoi-uc-chuyen-di-suu-tam-tai-lieu-nguyen-du-o-trung-quoc.aspx    3 http://www.ktdt.vn/van-hoa/tin-tuc/2015/07/8102d369/dat-ten-danh-nhan-cho-duong-pho-can-can-trong-va-thuan-y-dan/    4 Toàn bài xem: http://nghiencuulichsu.com/2012/09/29/mac-dang-dung-da-cuu-dat-nuoc-khoi-hoa-xam-lang-day-lui-cuoc-chien-tranh-cua-nha-minh-nam-1540/    5 Cuộc đối thoại ở Melos: http://nghiencuuquocte.net/2013/05/23/melian-dialogue/    6 Trần Thu Dung, Dấu ấn Việt Nam qua tên những con đường ở Pháp, TT VH & NN Đông Tây/nxb VHTT, Hà Nội, 2014, tr. 20.    7 Tên phố ở thủ đô Washington DC. http://hieuminh.org/2013/05/17/ten-pho-o-washington-dc/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm bàn về “Trí thức”      Cách đây mấy năm, sau sự việc một Diễn đàn khoa học của anh chị em trí thức trong và ngoài nước, nhằm trao đổi ý kiến và thảo luận về các vấn đề xây dựng và phát triển đất nước, đã được chuẩn bị công phu nhưng rồi không được tiến hành nữa, nhiều anh chị em đã gửi thư cho tôi, vừa thắc mắc vừa thông cảm, tôi nhớ nhất là thư của anh Cao Huy Thuần, giáo sư Đại học Pháp, trong thư đó để lý giải sự việc, anh đã trình bày một lý thuyết sâu sắc về trí thức và vai trò của trí thức trong thế giới hiện đại.    Theo anh, trí thức không phải là tất cả những người làm lao động trí óc, anh trích dẫn J.P.Sartre: trí thức là người làm những việc chẳng ăn nhập gì đến họ, “s’occupe de ce qui ne le regarde pas”, họ “xớ rớ” vào những chuyện không liên quan gì đến họ, ấy là vì họ xem rằng đó là chuyện của chính họ, chuyện không phải của họ mà họ thấy là của họ, cái thấy đó làm họ trở thành trí thức. Chữ trí thức, theo tiếng Pháp là intellectuel, vốn có một lịch sử rõ ràng xuất phát từ một biến cố lịch sử vào cuối thế kỷ 19. Khi chuyển sang tiếng Việt thì “trí thức” thường được hiểu theo những nghĩa ít nhiều khác nhau, khó mà phân định đâu sai đâu đúng, tuy nhiên theo định nghĩa nói trên của Sartre thì tìm trong ngôn ngữ nước ta, tôi thấy chữ “kẻ sĩ” có lẽ là thích hợp nhất. Theo các từ điển tiếng Việt đáng tin cậy được xuất bản gần đây, kẻ sĩ là những người có học vấn và khí tiết, “sĩ khả lục bất khả nhục” (có thể bị giết chứ không thể chịu nhục), những người mà Nguyễn Công Trứ cho là “vũ trụ giai ngô phận sự” (xem công việc trong trời đất là nhiệm vụ của mình), dẫu trong cảnh hàn vi “dường ngâm câu lạc đạo vong bần, lại đọc chữ vi nhân bất phú” mà chí vẫn không nguôi hướng tới những sự nghiệp cứu dân, cứu đời. Như vậy, dù là intellectuel ở phương Tây hay là kẻ sĩ ở phương Đông, người trí thức ở đâu và bao giờ cũng là người có học vấn cao và có ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự tiến bộ của xã hội mà mình đang sống. Trí thức là những người xuất thân từ trong tầng lớp lao động trí óc, nhưng không phải mọi người lao động trí óc đều là trí thức. Cái để phân biệt họ chính là cái ý thức “vũ trụ giai ngô phận sự”, xem mọi việc trong “trời đất”, trong xã hội cũng là việc của chính mình, cái ý thức luôn “xớ rớ” vào những chuyện tưởng chừng như không liên quan gì đến họ mà họ xem đó chính là chuyện của họ, chính cái ý thức đó làm cho họ trở thành trí thức.          Dù là intellectuel ở phương Tây hay là kẻ sĩ ở phương Đông, người trí thức ở đâu và bao giờ cũng là người có học vấn cao và có ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự tiến bộ của xã hội mà mình đang sống.         Cái ý thức xem mọi việc trong trời đất cũng là việc của chính mình làm cho người trí thức luôn luôn mong muốn tìm hiểu sự thật, nói lên sự thật, và từ đó nhìn thấy được những gì là khiếm khuyết trong hiện hữu, do đó cũng là những người thường có ý kiến phản biện, phê bình, và bằng phê bình như vậy mà góp phần giúp xã hội ý thức được chính mình, tiến tới một trật tự tốt hơn, hoàn thiện hơn.  Ta có thể nói đến việc tổ chức đào tạo một đội ngũ lao động trí óc hay chuyên gia về quản lý kinh tế, về khoa học, công nghệ, v.v. Từ trong đội ngũ lao động trí óc hay chuyên gia đó sẽ nẩy sinh những trí thức, nhiều ít ra sao sẽ không phụ thuộc vào một kế hoạch đào tạo nào cả mà chủ yếu phụ thuộc vào ý thức phấn đấu và lòng mong muốn của từng người chuyên gia đó có nhiều hay ít. Vì vậy, tuy không thể, và không nên nói đến một kế hoạch đào tạo đội ngũ trí thức nào cả, nhưng do để xã hội nhanh chóng phát triển và tiến bộ, ta vẫn có thể nói đến việc bồi dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho trí thức phát triển để ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển của đất nước và xã hội.  Một môi trường để tạo thuận lợi cho phát triển trí thức trong điều kiện hiện nay trước hết phải là một môi trường cho sự giao lưu thông tin và tri thức một cách tự do và thông suốt: một người muốn trở thành trí thức hoặc giữ được vị trí một trí thức phải thường xuyên độc lập tư duy và đổi mới tư duy về mọi vấn đề chuyên môn mà anh quan tâm cũng như các vấn đề của xã hội, của đất nước; đồng thời phải được tự do sáng tạo, luôn tham gia vào những sinh hoạt nhằm trao đổi, thảo luận, tranh luận về những đề tài thời sự trong đời sống xã hội; có ý kiến phê phán, phản biện đối với các chủ trương, giải pháp của các cơ quan quản lý mà xã hội đang quan tâm, v.v… Đó là những quyền tự do dân chủ của mọi công dân mà Hiến pháp nước ta cũng như các Công ước quốc tế mà nước ta tham gia đã ghi khá đầy đủ: quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo, tự do về ý kiến và ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp và lập hội hoà bình, v.v… Vấn đề còn lại là Nhà nước ta cần có nhiều biện pháp cụ thể hơn để mọi công dân được hưởng đầy đủ các quyền tự do dân chủ đó mà thôi. Tôi tin tưởng rằng một khi các quyền tự do đó được tôn trọng và được thực hiện đầy đủ thì giới trí thức nước ta sẽ được phát triển nhanh chóng hơn nhiều, nguồn của cải trí tuệ của dân tộc sẽ được phát huy mạnh mẽ, góp phần to lớn vào công cuộc hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.   —————  1 Xem bài “Thư gởi anh Diệu” trong sách Cao Huy Thuần Thế giới quanh ta, NXB Đà nẵng, 2007, trang.59-72.     Phan Đình Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm con “hồng hộc” bay giữa trời xanh thật quả là khó      Cao Bá Quát – con người “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, suốt cuộc đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai mà thôi, đã từng chia kẻ sĩ, nay ta gọi là trí thức, thành ba loại, ứng với ba loài chim. Loại thứ nhất là hồng hộc bay giữa trời xanh. Loại thứ hai là hạc đen ẩn bên sườn núi. Loại thứ ba là hoàng yến luẩn quẩn ở chốn lâu đài của kẻ quyền quý. Con người “những muốn vin mây mà lên cao mãi” như Cao Bá Quát tất nhiên muốn được là loại chim gì, và khinh loại chim gì rồi.     Đấy là chỉ nẩy ra từ một bài thơ làm khi uống ruợu ở nhà bạn, trong những bài thơ khác của ông, còn bao hình ảnh những kiểu loại chim khác nữa. Khi thì là cánh cò trắng giữa sông hồ trong cảnh sắc mùa xuân:”Xuân tĩnh giang hồ nhất bạch âu”. Có khi đó là”con hạc ốm kêu ở đền cổ”. Có khi chua chát, thảm hại như con sáo”chỉ vì có thể nói được tiếng người, để đến nỗi cụt mất đầu lưỡi” .   Chao ôi, chỉ để nói được tiếng người, đúng hơn, nhại được vài âm thanh vô hồn theo đúng tiếng người để rồi bị giam trong lồng, và rồi không bao giờ còn véo von được tiếng của chính mình nữa, cái thân phận con sáo nói được tiếng người sao mà khốn khổ làm vậy. Giá mà con sáo cũng biết suy nghĩ như con người thì liệu nó có cam chịu phận cụt mất đầu lưỡi như vậy không? Ấy thế nhưng, vào thời ông, lắm kẻ sĩ tuy không bị cụt đầu lưỡi nhưng nào có nói được chính tiếng của mình đâu, họ “…phải nói khẽ, sợ nói to trái ý trời, trời ghét”! Đâu phải là ý trời mà là ý người đấy thôi, người có quyền! Đâu phải là trời ghét mà là người ấy ghét đấy. Mà ghét, là vì lời của kẻ sĩ có tài và trung thực thường không thuận tai. “Trung ngôn nghịch nhĩ”, đó là một khái quát xuyên thời gian! Kẻ sĩ, người trí thức mà không nói được tiếng nói của chính mình, không nghĩ được điều mình cần nghĩ và muốn nghĩ, thì suy cho cùng, nào có khác gì con sáo bị cụt mất đầu lưõi đâu?   Ấy vậy mà làm con “hồng hộc” bay giữa trời xanh thật quả là khó lắm lắm. Còn chọn được cách thế của con “hạc đen” ẩn bên sườn núi đâu có dễ? Sự nghiệp và thân phận của Cao Bá Quát thật long đong.   Ông cũng từng dấn thân trên đường hoạn lộ: “Quan cái phân phân ngã hành hỹ”, mũ lọng nhộn nhịp ta cứ đi! Thế nhưng, “bước đường phẳng lặng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều”. Đến núi Nam Tào, nhìn vào đền thờ của Trần Hưng Đạo và nơi ẩn dật của Chu Văn An, ông ngậm ngùi “Xuân trên dòng Kiếp dồn cả vào miếu của vị vương lừng tiếng. Mây ở núi Phượng phủ kín ngôi nhà của bậc ẩn dật ngày xưa, Mà nay thì chuyện cũ anh hùng đã gửi cả cho làn sóng biếc”.   Với ông, Chu Văn An và Nguyễn Trãi là hai thần tượng mà ông kính phục. Khi có người bạn lên đường nhận chức tri phủ Thường Tín, chốn quê của Chu Văn An và Nguyễn Trãi, ông viết bài thơ dài khuyên bạn và nhờ hãy vì ông mà đến lạy trước bàn thờ hai vị đó. Trong bài thơ này, ông bộc lộ nỗi niềm: “Tiều Ẩn và Ức Trai là hai nhân vật tuyệt vời, Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường. Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành… Rồi lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết! Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai Cụ. Thì cũng mặt dày, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi”.    Những muốn làm con hồng hộc bay giữa trời cao như Nguyễn Trãi đã từng có lúc tung hoành trong sự nghiệp cứu nước, hoặc nếu không, thì như Chu Văn An thanh cao như chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi, thế nhưng Cao Bá Quát “Cây đàn thanh kiếm bao năm đi lầm đường… ngày nay một manh áo vải đứng giữa trời đất bao la”. Và, ông nhờ báo cho bạn: “rằng tôi còn khỏe, không chết, chỉ mắc chứng điên thôi! Ông điên vì thời cuộc như Khuất Nguyên bên dòng sông Mịch La. Ông điên vì hoài bão bị dập tắt, khát vọng không thực hiện được: “Mặt trời đỏ đi đằng nào? Để dân đen than thở mãi”.     Cái kết cục bi thảm của một kẻ sĩ như ông là điều đã được báo trước.     Tương Lai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm khoa học kiểu nhảy dù      Những năm gần đây số lượng bài báo công bố trên các tập san khoa học quốc tế tăng trung bình khoảng 10%. Nhưng bên cạnh con số tăng trưởng đó có một khía cạnh đáng lo ngại: đó là các công trình do “nội lực” (tức hoàn toàn thực hiện bởi các nhà khoa học trong nước) giảm từ 23% vào năm 1997 xuống còn 19% trong năm 2001. Nói cách khác, hiện nay, hơn 80% các công trình nghiên cứu khoa học xuất phát từ Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế là do hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài. Vấn đề đặt ra là hợp tác như thế nào, và sở hữu tri thức thuộc về các nhà khoa học Việt Nam hay các đồng nghiệp nước ngoài.         Ai cũng biết trong thế kỉ trước, các cường quốc phương Tây như Anh và Pháp có nhiều thuộc địa ở châu Phi và châu Á. Trong một thời gian dài, các nhà khoa học từ các cường quốc này đến các nước thuộc địa tiến hành nhiều nghiên cứu khoa học, kể cả nhân chủng học và văn hóa học, và công bố trên các tập san ở nước họ. Do đó, quyền sở hữu tri thức thuộc về họ, cho các tri thức này dựa vào các mẫu vật và sự cộng tác của nhân sự  từ địa phương. Trong giới khoa học, người ta gọi cách làm khoa học này là “khoa học thuộc địa”. Ở nước ta, do nhiều thế hệ học sinh, sinh viên không có cơ hội nghiên cứu khoa học, và do đó, một phần không nhỏ kiến thức về Việt Nam, dân tộc Việt Nam và tài nguyên Việt Nam lại nằm trong tay các nhà khoa học nước ngoài, thay vì trong tay các nhà khoa học Việt Nam.    Đến thế kỉ 20, Mỹ trở thành cường quốc khoa học và kinh tế số một. Cùng với Mỹ, các nước châu Âu, chủ yếu là Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, và các nước Bắc Âu kiểm soát gần như toàn bộ hệ thống thông tin khoa học.  Tất cả các nhà xuất bản lớn nhất thế giới, tất cả các tập san khoa học lớn và có ảnh hưởng trên thế giới đều xuất phát từ các nước này. Hệ quả là thế giới không chỉ bị ngăn cách bởi thu nhập cá nhân, mà còn bị chia cách bởi “bức tường thông tin” (Information Divide). Trong khi các nước phương Tây thừa thông tin khoa học, thì các nước đang phát triển như nước ta lại thiếu thông tin trầm trọng. Một thư viện của một đại học trung bình ở Anh hay Mỹ có 3000 tập san khoa học, trong khi đó một đại học lớn ở nước ta con số này chưa đến 50!  Khoảng 25% các nhà khoa học trên thế giới sống và làm việc ở các nước đang phát triển, nhưng họ sản xuất dưới 3% tổng số ấn phẩm khoa học trên thế giới (BMJ 1997;314:980). Vì thiếu thông tin, cho nên chất lượng nghiên cứu từ các nước đang phát triển không cao, và thường bị từ chối cho công bố trên các tập san quốc tế (hay nói đúng hơn là các tập san khoa học phương Tây). Trong thời gian 10 năm (tính từ 1989 đến 1998), tập san y khoa của Anh, British Medical Journal, nhận được 44.690 bài báo khoa học trên thế giới; trong số này chỉ có 6% (hay 2550 bài) từ các nước đang phát triển. Tỉ lệ các bài báo từ các nước đang phát triển được chấp nhận cho công bố là 8% (tức 92% trong số 2550 bài bị từ chối). Tỉ lệ các bài báo từ các nước đã phát triển được chấp nhận cho công bố là 17%. Do đó, trong tổng số các bài báo được công bố trên tập san British Medical Journal, chỉ có ~3% là từ các nước đang phát triển. Ở các tập san lớn hơn như Science, Nature, Cell, New England Journal of Medicine, Lancet… tình trạng còn “bi thảm” hơn: tỉ lệ các bài báo từ các nước đang phát triển chỉ dưới 1%.    Trong nỗ lực khắc phục tình trạng trên và nhằm gia tăng sự có mặt của các công trình nghiên cứu từ các nước đang phát triển, các nhà khoa học từ các nước phương Tây tìm cách hợp tác với đồng nghiệp ở các nước đang phát triển. Thường thường, họ được hỗ trợ và khuyến khích từ chính phủ để tiến hành các nghiên cứu “viễn chinh”. Nhưng ý đồ tích cực này đang dần dần trở thành một hình thức thuộc địa chủ nghĩa kiểu mới trong khoa học, mà giới khoa học đặt tên là “Scientific Colonism” hay “Làm khoa học kiểu nhảy dù”. Mới đây, có người còn đặt tên cho loại hợp tác này là “Safari Science”. Nói một cách ngắn gọn, cũng giống như giới khoa học thuộc địa thời xưa đến các nước châu Á và châu Phi thu thập các cổ vật văn hóa về sung vào viện bảo tàng ở nước họ, giới làm khoa học kiểu nhảy dù ngày nay là các nhà khoa học phương Tây đến các nước đang phát triển thu thập mẫu máu, DNA, hay mẫu vật, hay số liệu, và đem về phòng thí nghiệm nước họ để phân tích và công bố kết quả. Trong bài báo, họ đứng tên tác giả số một hay tác giả chịu trách nhiệm (responsible author) và cho tên của vài nhà khoa học địa phương trong danh sách tác giả như là “foot soldier” (lính đánh bộ)!    Tình trạng khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa này phổ biến cỡ nào? Tính từ 1993 đến 1998, tập san British Medical Journal công bố 59 bài báo với sự hợp tác giữa các nhà khoa học các nước phương Tây và các nước đang phát triển; trong số này, 58% bài báo mà tác giả đứng đầu là các nhà khoa học phương Tây. Tỉ lệ khoa học nhảy dù ở tập san Lancet là 57% (trong số 82 bài báo). Trong thời gian trên, tập san Science công bố 6 bài báo hợp tác, và tất cả đều do các nhà khoa học phương Tây đứng tên tác giả đầu. Tập san có ảnh hưởng càng cao, tỉ lệ khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa càng cao. Nói cách khác, các nhà khoa học phương Tây chỉ “tử tế” với các nhà khoa học địa phương chỉ khi nào các bài báo đăng trên các tập san có ảnh hưởng thấp, nhưng với các bài báo trên các tập san ảnh hưởng lớn thì họ giành quyền đứng tên tác giả đầu.    Xu hướng hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù này đã và đang xảy ra ở nước ta, nhất là trong lĩnh vực y học, nơi trong vòng 10 năm qua có hơn 95% các bài báo nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam do các tác giả nước ngoài đứng tác giả đầu hay tác giả chịu trách nhiệm. Thật ra, tất cả các nghiên cứu về chất độc da cam ở Việt Nam trong thời gian qua có thể nói là các hợp tác kiểu khoa học nhảy dù. Rõ ràng, các nghiên cứu này lấy mẫu vật và số liệu từ người Việt tại Việt Nam, nhưng các nhà khoa học Việt Nam chỉ đóng vai trò “lính đánh bộ”, và công trạng và sở hữu tri thức vẫn thuộc về các nhà khoa học nước ngoài.   Đây là một vấn đề tế nhị và gai góc. Có lẽ phần lớn các nhà khoa học phương Tây không nghĩ họ bóc lột hay lợi dụng đồng nghiệp từ các nước đang phát triển, bởi vì trong thực tế, họ là những người đề xuất ý tưởng, thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, soạn thảo bài báo, và trực tiếp thực hiện việc công bố bài báo. Đứng trên mặt qui tắc thì họ hoàn toàn có tư cách đứng tên đầu. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là họ sử dụng dữ liệu từ Việt Nam, mẫu máu, DNA, hay nói chung là chất liệu nghiên cứu từ Việt Nam và của người Việt Nam, và trong nhiều trường hợp, họ sử dụng các nhà khoa học Việt Nam để thu thập các dữ liệu này. Nếu không có các chất liệu này hay không có sự hợp tác của đồng nghiệp Việt Nam, thì dù ý tưởng có hay cỡ nào cũng không thể thành hiện thực. Vậy thì vấn đề đặt ra là việc họ đứng tên đầu có hợp lí không? Theo tôi câu trả lời là “không”. Kinh nghiệm của tôi cho thấy trước khi hợp tác với bất cứ ai ở nước ngoài, một hợp đồng phải được soạn thảo trước với những qui định rõ ràng về vị trí tác giả của bất cứ bài báo nào sẽ xuất bản, và tất cả các nhà khoa học liên quan phải kí tên vào trước khi thực hiện.    Hợp tác trong nghiên cứu khoa học cũng giống như thương lượng trong kinh doanh, tức là bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Muốn thế các nhà khoa học Việt Nam, ngoài kiến thức và năng lực cần phải tìm hiểu kĩ hơn nữa về luật chơi trong hoạt động khoa học quốc tế.  Nhưng quan trọng hơn hết, trong thời đại hội nhập quốc tế, các nhà khoa học nước ta rất cần ý thức rõ quyền lợi quốc gia và không nên để những tri thức về Việt Nam, dân tộc Việt Nam và tài nguyên Việt Nam lại một lần nữa nằm trong tay các nhà khoa học nước ngoài trong các hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù.      Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm quyền và tham nhũng      Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu cho rằng nguy&#234;n nh&#226;n khiến cuộc chiến chống tham nhũng chưa đ&#225;p ứng được y&#234;u cầu chủ yếu l&#224; gặp nhiều trở ngại từ những vi&#234;n chức đ&#227; lạm dụng quyền lực ch&#237;nh trị để tiến h&#224;nh những thủ đoạn tham nhũng.&nbsp;&nbsp;    Nếu định nghĩa lạm quyền là làm những việc vượt quá mức độ, phạm vi và tính chất quyền hạn được quy định của quyền lực, thì tệ nạn lạm quyền ở Việt Nam hiện nay là một hiện tượng phức tạp không thể tóm tắt trong một mệnh đề. Bởi vì ở đây hiện có hai cơ chế quyền lực trộn lẫn vào nhau, một là cơ chế cũ hay nói đúng hơn là tàn dư của thời bao cấp, một là cơ chế mới mà hạt nhân lý thuyết là việc chấp nhận kinh tế thị trường. Tình hình không đồng bộ ấy vừa phản ảnh tình trạng không thống nhất trong thể chế, thiết chế và cơ chế chính trị – hành chính Việt Nam hiện nay, vừa thể hiện khoảng cách giữa bộ máy Nhà nước với đời sống xã hội. Đây là những nguyên nhân pháp quyền và xã hội của tệ nạn lạm quyền hiện tại, những nguyên nhân mà đáng tiếc là không thể xóa bỏ trong một sớm một chiều. Nhưng điều đáng nói là chính vì cái tệ nạn lạm quyền này cứ lan tràn phát triển theo cấp số nhân, nên xã hội Việt Nam mới phải đối đầu với quốc nạn tham nhũng như người ta đang thấy… Có thể nói chưa bao giờ trong xã hội Việt Nam gần như bất cứ ngành nào cấp nào cũng có sự lạm quyền, bất cứ cơ quan nào tổ chức nào cũng có quyền lạm quyền. Tệ nạn lạm quyền không những khiến hình ảnh bộ máy Nhà nước, trong con mắt người dân cứ ngày càng xấu đi, mà còn khiến bản thân bộ máy này không thể vận hành một cách bình thường: không ít người có quyền hạn đã công khai phát biểu rằng mình không thể sử dụng quyền hạn hợp pháp của mình, và lý do dẫn tới kết quả phi lý này không gì khác hơn là ở đầu bên kia có những vụ lạm quyền đang được thực hiện. Dĩ nhiên giữa lạm quyền và tham nhũng còn có một dạng trung gian, đó là việc hối mại quyền lực, song điều cần lưu ý là ở Việt Nam việc lạm quyền đã có truyền thống từ thời bao cấp còn việc hối mại quyền lực chủ yếu chỉ mới xuất hiện trong thời kinh tế thị trường. Cho nên việc kiện toàn bộ máy tổ chức và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật hiện nay phải tập trung vào mục tiêu đảm bảo cơ chế nghiêm minh và dân chủ trong hoạt động của bộ máy Nhà nước, một cơ chế rất hay ngủ quên trên các văn kiện pháp luật song để đánh thức lại cần rất nhiều thủ tục hay lộ trình pháp lý nhiêu khê… Cần nhắc lại một sự trùng hợp không phải ngẫu nhiên: tất cả các vụ tham nhũng được đưa ra ánh sáng trước nay đều nảy sinh trong tình trạng không nghiêm minh và tiến triển trong hoàn cảnh không dân chủ. Báo chí phản ảnh cảnh sát giao thông, hải quan làm luật nhưng nhiều cá nhân trong cảnh sát giao thông và hải quan vẫn thản nhiên làm luật, và người ta có thể nêu ra vô số ví dụ về việc những người chống tham nhũng bị vùi dập, trả thù. Lạm quyền dung dưỡng tham nhũng, còn tham nhũng kích thích lạm quyền.    ***   Nhìn từ khía cạnh triết học của vấn đề, quyền lực luôn giúp con người thực hiện chính mình, nên nó chỉ làm người thường mạnh hơn chứ không phải lớn lên như các vĩ nhân, chính điều này đã dẫn tới sự lạm quyền như cách thức thực thi quyền hạn và phương thức tồn tại quyền lực phổ biến ở những kẻ yếu. Nhưng đó không chỉ là một đề tài suy ngẫm, bởi trong cái ly đã khá đầy sự lạm quyền của bộ máy Nhà nước hiện tại, tham nhũng chẳng qua chỉ là những giọt nước sau cùng…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao, để xã hội hóa được sự tử tế      Câu chuyện thách đố của hôm nay, của ngày mai, là tổ chức đời sống như thế nào, để cái “tử tế một mình”, hay cái “tử tế vài mình” có thể còn giữ gìn được, thậm chí thăng hoa được, trong một đời sống cộng đồng rộng lớn hơn lên, thậm chí siêu rộng lớn hơn lên, đến mức toàn cầu hóa.&#160;       Nếu bạn đi gặp từng người đơn lẻ trong xã hội chúng ta, ngay hôm nay, bạn sẽ thấy “hầu  hết ai cũng tử tế”, giống như chính bạn. Họ, ta, tôi tử tế, tử tế như một người chạy xe một mình trên một con đường không đèn xanh đèn đỏ.     Chúng ta đã từng thấy ở trong những cộng đồng cổ truyền bé xíu những sự tử tế, tuy không phải là tất cả mọi sự; chúng tồn tại giản dị, tự nhiên, gần như là không cần có sự cố gắng.  Câu chuyện thách đố của hôm nay, của ngày mai, là tổ chức đời sống như thế nào, để cái “tử tế một mình”, hay cái “tử tế vài mình” có thể còn giữ gìn được, thậm chí thăng hoa được, trong một đời sống cộng đồng rộng lớn hơn lên, thậm chí siêu rộng lớn hơn lên, đến mức toàn cầu hóa.                                                                    ***  Trong công việc ở xứ người, tôi hay đụng phải loại việc công nghệ thông tin hóa việc quản trị một doanh nghiệp.  Thoạt đầu, công nghệ thông tin hóa việc quản trị một doanh nghiệp mang dáng vẻ đơn giản, đó là từng bước đem công nghệ vào thay thế những công việc vốn được xử lý thủ công, cốt sao để cho công việc xử lý trở nên được nhanh tay hơn, nhanh mắt hơn, chính xác hơn. Đúng là như thế. Nhưng rồi, không chỉ là như thế.  Ở đây, con người lần đầu tiên đã thực sự bị buộc phải bắt đầu đụng vào tầng thực thể logic, thực thể tinh thần của đời sống doanh nghiệp, của đời sống xã hội. Moi nó ra, trưng bày nó ra, kiểm kê nó, sắp xếp lại nó, thay đổi nó, nhập hồn nó trở lại vào đời sống xã hội, vào đời sống doanh nghiệp, đó là bản chất của loại công việc này.  Từ trước tới nay, con người trong doanh nghiệp họ hoạt động như thế nào? Những thứ họ đã và đang làm, đó chỉ là những thói quen, những kinh nghiệm, dù là “tốt”? Hay là đã được suy nghĩ kĩ càng? Hay là nửa chừng kĩ càng? Người ta loay hoay trong những góc công việc như thế nào? Sự liên kết giữa các nhóm làm việc ra sao? Giữa các nhóm ấy có những bức tường tư lợi gì? Những dòng chảy thông tin diễn ra như thế nào, thường bị tù đọng ở đâu, được xử lý như thế nào? Các loại sự cố, tai nạn bất thường gì khả dĩ? Xử lý chúng ra sao? Các tri thức, túi khôn nằm ở đâu, trong đầu một số người, hay là đã được chuyển ra ngoài, được khách thể hóa? Các tri thức ấy có được tái đồng bộ hóa theo thời gian, theo các “số tái bản”, các “versioning”? Các quyết định của con người, dù ở địa vị cao nhất, có bị khống chế bởi những qui tắc nào, hay là không?  Thế rồi, các nhóm làm việc đã có khả năng diễn đạt công việc của họ một cách “mô thức hóa”, “quy trình hóa”, “kiểm tra được”, “dễ thay đổi thích ứng được”, “tiến hóa được”? “Công nghệ thông tin hóa” hóa ra không phải là chuyện của mấy cái máy tính, mà phải bắt đầu ở trong các phương thức suy nghĩ của những con người.  Công việc “vẽ bản đồ” hoạt động của doanh nghiệp bắt buộc phải cấu trúc hóa, và rồi tái cấu trúc hóa doanh nghiệp. Từng vị trí trong doanh nghiệp bắt đầu phải được định nghĩa, được định nghĩa lại, trong tình huống tự chủ và trong tình huống của các tương tác tổng thể.   Sớm hay muộn, doanh nghiệp sẽ phải đi đến một vấn đề khá cốt tử: công nghệ thông tin hóa là để cho hệ thống thông tin đáp ứng nguyên xi cái não trạng muôn thuở của doanh nghiệp, hay là bản thân doanh nghiệp sẽ phải bị “xây dựng lại” để được hợp lý hóa trở lại khi đối mặt với công nghệ thông tin? Sự tương tác hai chiều này là một hòn đá thử có tính sống còn.        Sự tử tế thật sự của hôm nay là phải bắt tay vào công  cuộc thiết kế, cải cách đời sống, xây dựng một đời sống hiện đại, dân  chủ, pháp quyền.        Những nhà “duy thực”, coi công nghệ thông tin chỉ là công cụ đơn thuần để phục vụ thực tế não trạng của doanh nghiệp, trước sau cũng sẽ bị rối loạn. Bởi vì họ không tiến hóa về logic, về thực thể tinh thần. Mỗi công đoạn việc của doanh nghiệp đối với họ đều là “một ngoại lệ”. Doanh nghiệp của họ đối với họ là một tổng hợp của toàn những ngoại lệ, không có gì giống ai được. Điều ấy giống như một cộng đồng, một quốc gia không có đường đi nước bước quyết đoán về hiện đại hóa, họ có thể nhập cảng vô số các luật lệ, các mô hình để trang điểm, hoặc để giải quyết xé lẻ từng vụ việc, nhưng chúng chỉ làm tăng độ rối loạn của các hoạt động nhìn trong tổng thể. Cái công nghệ thông tin đích thực không phải là mấy chiếc máy tính, mà nó là cải cách toàn bộ hệ thống thần kinh của đời sống xã hội của doanh nghiệp, tất nhiên với sự trợ giúp không thể thiếu của hệ thống máy tính.   Và không chỉ là kĩ thuật nữa, xúc tiến công nghệ thông tin hóa cũng là lúc cân đo lại, hợp lý hóa lại các lợi ích của các cá nhân, các nhóm, của tổng thể doanh nghiệp, để xốc lại, làm mới mẻ lại cơ thể xã hội của doanh nghiệp, khai thông dòng chảy năng lượng của doanh nghiệp. Đến một lúc, những doanh nghiệp sáng dạ nhất trong lĩnh vực này là những doanh nghiệp hiểu sâu sắc rằng việc công nghệ thông tin hóa cần một nền tảng căn bản là ý chí cải cách doanh nghiệp, vì lợi ích tổng thể của doanh nghiệp và vì mọi thành viên của nó. Giới chuyên môn về công nghệ có ưu điểm là giản dị và đi thẳng vào thực chất, họ gọi việc này không vòng vèo là đề án chính trị của doanh nghiệp.                                                                       ***  Câu chuyện công việc công nghệ thông tin vừa nói cũng là câu chuyện về cấu trúc hóa và tái cấu trúc hóa đời sống xã hội, sao cho sự tử tế nhỏ bé có thể lớn lên được.   Sự tử tế căn bản đầu tiên cần phải có, là mong muốn và quyết tâm làm cho sự tử tế nhỏ bé lớn lên được trong một đời sống cộng đồng bị xã hội hóa rất lớn lao hôm nay. Tiếp đến, là cả một cuộc cải cách xã hội nhất định phải tiến hành. Nhìn vào núi việc phải cải cách, ai cũng sợ, và ngán, và rồi muốn để cho các thế hệ sau này giải quyết. Nhưng vấn đề là ở chỗ, càng sợ, càng ngán, thì càng trì hoãn, và càng trì hoãn, thì cái núi việc phải cải cách đó lại càng lớn lên, đồ sộ lên, theo cấp số. Đáng sợ hơn, khi sự trì hoãn để lâu đến một mức nào đó, các khó khăn sẽ vượt ra ngoài năng lực giải đáp của những con người của xã hội ở thời điểm đó, và khi ấy các mối nguy hiểm về sự rối loạn, sự bùng nổ, sự mất khả năng kiểm soát sẽ lớn lên khủng khiếp, và cái giá phải trả rốt cuộc là vô cùng đáng sợ, đáng sợ cho tất cả mọi người, không loại trừ ai. Tất cả mọi người đều ở trên một con thuyền, đừng cố gắng nhắm mắt quên đi điều đó. Làm sao để những con người ở trên con thuyền ấy nuôi dưỡng được sự tử tế; hơn thế nữa, làm cho sự tử tế lớn lao lên được.  Tất cả các cuộc lên lớp đạo đức chay theo cách thức cổ truyền đã đụng trần về tác dụng, đạt mức hết tác dụng.   Sự tử tế thật sự của hôm nay là phải bắt tay vào công cuộc thiết kế, cải cách đời sống, xây dựng một đời sống hiện đại, dân chủ, pháp quyền. Phải có quyết sách, phải có lộ trình, phải có sự đóng góp của mỗi người trong xã hội. Con người chỉ cảm thấy được sự tiến hóa một khi chính họ tham gia vào việc đo đạc sự tiến hóa ấy.  Để những sự tử tế bé nhỏ có thể tồn tại được, trụ lại được, nảy mầm thêm lên được, và lớn bổng hơn lên được.   Để những năm tháng chúng ta sống có thêm vui hạnh, có thêm ý nghĩa.  Tết này về, chia sẻ điều này với các bạn có phù hợp chăng?               Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao vực dậy đời sống khoa học xã hội?      Tại sao lại có hiện tượng coi thường khoa học xã hội? Đâu là căn nguyên của tình trạng sa sút trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội? Tại sao phải bàn về quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ?    Khi bàn về nhu cầu cải tổ hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta vốn đang lâm vào tình cảnh suy thoái ngày càng nặng nề, người ta thường hay nói nhiều nhất tới nguyên nhân cơ chế quản lý. Theo một cuộc thăm dò cán bộ khoa học gần đây của Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, có 97,8 % trong số 233 người trả lời cho rằng cần đổi mới chính sách và cơ chế quản lý hoạt động khoa học1. Có lẽ cũng chính vì thế mà chính phủ đã ban hành Nghị định 115 (5-9-2005) về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu công lập nhằm nỗ lực cải cách theo hướng ấy. Cải tổ cơ chế quản lý khoa học là điều rất đúng đắn và cần thiết vào lúc này; tuy nhiên, theo thiển ý chúng tôi, nếu chỉ dừng lại ở đó mà thôi thì hoàn toàn chưa đủ vì mới chỉ đụng chạm vào cái thân chứ chưa đột phá tới những chiều sâu gốc rễ của vấn đề. Đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội mà bài này muốn bàn luận đến.  Hiện tượng coi thường khoa học xã hội  Có một thực tế mà chắc ai cũng nhận thấy là lâu nay các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam thường không được coi trọng bằng các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ. Trong lĩnh vực qui hoạch và quản lý đô thị chẳng hạn, người ta thường chỉ chú ý tập trung vào những ngành như kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng… mà hầu như rất ít quan tâm tới những ngành như xã hội học, sử học hay tâm lý học. Theo số liệu của Sở KH&CN TPHCM, trong tổng kinh phí 30,5 tỉ đồng chi cho nghiên cứu khoa học của TPHCM năm 2003, phần dành cho khoa học xã hội chỉ đạt 1,4 tỉ đồng, tức chưa đầy 5%2. Ngay trong phạm vi Đại học Quốc gia TPHCM, các đề tài nghiên cứu khoa học xã hội vào năm 2004 cũng chỉ chiếm tỷ lệ 1/6 trong tổng kinh phí cấp cho các đề tài trọng điểm cấp bộ (560 triệu đồng so với 3.443 triệu đồng) 3.  Chính vì xu hướng xem nhẹ khoa học xã hội một cách phổ biến nên không có gì ngạc nhiên khi năm nay, chỉ có 15% học sinh trung học phổ thông ở TPHCM chọn ban C (ban khoa học xã hội và nhân văn), và thậm chí một số trường sẽ không mở lớp ban C4. Dường như xu hướng tư duy kỹ trị và duy kinh tế đang ngày càng thống soái trong xã hội.    Căn bệnh “bao cấp” về tư duy và hành chính hóa hoạt động nghiên cứu  Có hai nguyên nhân chính khiến cho các ngành khoa học xã hội ngày càng sa sút và bị coi thường, đó là do căn bệnh “bao cấp” hay đóng cửa về tư duy (xét về mặt tư tưởng), và căn bệnh hành chính hóa hoạt động nghiên cứu (xét về mặt tổ chức). Nhiều người cho rằng sự sa sút ấy chủ yếu do bản thân đội ngũ cán bộ khoa học xã hội còn quá yếu kém và thụ động nên không sản xuất ra được những công trình có giá trị được xã hội công nhận. Nói như vậy có thể không sai, nhưng theo chúng tôi, điều này thực ra cũng là hệ quả của hai nguyên nhân sâu xa nói trên.  Đã từng có một thời gian dài các ngành khoa học xã hội gần như bị trói chặt trong cái “vòng kim cô” của những điều cấm kỵ mang tính giáo điều và buộc tự giới hạn lao động của mình vào công việc minh họa đến mức phải tự trào là “ăn theo, nói leo”5. Tư duy trong phần lớn các ngành KHXH bị “chính trị hóa” một cách thô thiển và phi khoa học. Xét về mặt tổ chức, cho đến nay hoạt động nghiên cứu nói chung và của khoa học xã hội nói riêng đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa nặng nề. GS Hoàng Tụy từng phê phán việc nhà nước thay vì chỉ cần xác định một số hướng nghiên cứu ưu tiên thì lại giành xác định luôn các đề tài nghiên cứu cụ thể mà không để cho các nhà khoa học được quyền tự mình chọn đề tài6. Công việc phong hàm giáo sư, phó giáo sư cũng là việc mà nhà nước ôm lấy, thay vì để cho các đại học đảm nhiệm. Thậm chí Bộ giáo dục còn ký cả bằng tiến sĩ, in phôi các văn bằng cử nhân, và giành độc quyền cả việc phát hành bộ hồ sơ tuyển sinh vàođại học!    Quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ  Bên cạnh quyền tự chủ của các tổ chức nghiên cứu mà Nghị định 115 đã qui định, chúng tôi cho rằng điều còn quan trọng hơn là cần xác lập quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ. Lẽ tất nhiên mọi công dân đều mặc nhiên phải được hưởng quyền này, nhưng riêng trong lĩnh vực khoa học xã hội, quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận lại là điều kiện tối cần để có thể vực dậy sinh khí học thuật lành mạnh và phong phú. Cần sớm giã từ lối tư duy độc quyền chân lý, vì điều này chỉ khiến cho nhiều người “chết” vì “tội nói khác”, vì dám có suy nghĩ độc lập và biết hoài nghi, biết phê phán, chứ không phải chết vì dốt hay vì lười suy nghĩ. Có thể nói cuộc thảo luận trên báo chí trong thời gian gần đây về cách dạy môn văn và cách ra đề thi môn văn là một trường hợp điển hình cho thấy cần phải nhanh chóng thay đổi triết lý về giáo dục cũng như tư duy về hoạt động khoa học xã hội.  Nếu không dám chấp nhận tranh luận và nếu ngăn cản những ý kiến phản biện thì xã hội khó lòng mà tiến bộ được. Nhà triết học người Anh John Stuart Mill từng viết: “…Cái tai họa khác thường của việc cấm đoán phát biểu một ý kiến chính là sự đánh cắp đối với loài người, kể cả thế hệ mai sau cũng như hiện nay, [điều này] gây thiệt hại cho người bất đồng với ý kiến đó nhiều hơn là cho chính người có ý kiến đó”. Và ông còn nói: “…Trong tình trạng không hoàn hảo của trí tuệ loài người, lợi ích của chân lý đòi hỏi phải có sự đa dạng về ý kiến”7.  Các ngành khoa học xã hội ngày càng đóng vai trò thiết yếu trong xã hội, không phải chỉ vì chúng góp phần sản xuất ra tri thức cho xã hội, mà còn vì và nhất là vì chúng là những công cụ giúp cho xã hội có điều kiện tự nhìn lại mình, tự ý thức về mình, hay nói cách khác, giúp cho xã hội luôn luôn phản tỉnh. Nếu trong các lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã công nhận vai trò tiên phong của tầng lớp doanh nhân, thì trong các lĩnh vực xã hội và văn hóa, một vấn đề rất lớn cần được đặt ra hiện nay là làm sao xây dựng lại và phát triển một tầng lớp trí thức theo đúng nghĩa của từ này, với tư cách là một sức mạnh trí tuệ của đất nước.  ——————–  * Viện Nghiên cứu Xã hội TP. Hồ Chí Minh.  Chú thích :  1 Xem Sài Gòn Giải phóng, 17-3-2006, trang 9.  2 Xem Người lao động, 1-12-2003, trang 11.  3 Xem Tuổi Trẻ, 23-9-2005, trang 2.  4 Xem Pháp luật TPHCM, 16-7-2006, trang 2.  5 Xem Văn Tạo, “Nghĩ về những cống hiến của khoa học xã hội”, Khoa học&Phát triển, số 29, 17-7-2003, trang 3.  6 Xem Sài Gòn Giải phóng, 3-5-2006, trang 3.  7 John Stuart Mill, On Liberty, 1859, chương 2.  Chú thích ảnh: Câu lạc bộ văn học dân gian ở Huế  Trần Hữu Quang*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao vực dậy đời sống khoa học xã hội?      Tại sao lại có hiện tượng coi thường khoa học xã hội? Đâu là căn nguyên của tình trạng sa sút trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội? Tại sao phải bàn về quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ?          Khi bàn về nhu cầu cải tổ hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta vốn đang lâm vào tình cảnh suy thoái ngày càng nặng nề, người ta thường hay nói nhiều nhất tới nguyên nhân cơ chế quản lý. Theo một cuộc thăm dò cán bộ khoa học gần đây của Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, có 97,8 % trong số 233 người trả lời cho rằng cần đổi mới chính sách và cơ chế quản lý hoạt động khoa học1. Có lẽ cũng chính vì thế mà chính phủ đã ban hành Nghị định 115 (5-9-2005) về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu công lập nhằm nỗ lực cải cách theo hướng ấy. Cải tổ cơ chế quản lý khoa học là điều rất đúng đắn và cần thiết vào lúc này; tuy nhiên, theo thiển ý chúng tôi, nếu chỉ dừng lại ở đó mà thôi thì hoàn toàn chưa đủ vì mới chỉ đụng chạm vào cái thân chứ chưa đột phá tới những chiều sâu gốc rễ của vấn đề. Đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội mà bài này muốn bàn luận đến.    Hiện tượng coi thường khoa học xã hội  Có một thực tế mà chắc ai cũng nhận thấy là lâu nay các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam thường không được coi trọng bằng các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ. Trong lĩnh vực qui hoạch và quản lý đô thị chẳng hạn, người ta thường chỉ chú ý tập trung vào những ngành như kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng… mà hầu như rất ít quan tâm tới những ngành như xã hội học, sử học hay tâm lý học. Theo số liệu của Sở KH&CN TPHCM, trong tổng kinh phí 30,5 tỉ đồng chi cho nghiên cứu khoa học của TPHCM năm 2003, phần dành cho khoa học xã hội chỉ đạt 1,4 tỉ đồng, tức chưa đầy 5%2. Ngay trong phạm vi Đại học Quốc gia TPHCM, các đề tài nghiên cứu khoa học xã hội vào năm 2004 cũng chỉ chiếm tỷ lệ 1/6 trong tổng kinh phí cấp cho các đề tài trọng điểm cấp bộ (560 triệu đồng so với 3.443 triệu đồng) 3.   Chính vì xu hướng xem nhẹ khoa học xã hội một cách phổ biến nên không có gì ngạc nhiên khi năm nay, chỉ có 15% học sinh trung học phổ thông ở TPHCM chọn ban C (ban khoa học xã hội và nhân văn), và thậm chí một số trường sẽ không mở lớp ban C4. Dường như xu hướng tư duy kỹ trị và duy kinh tế đang ngày càng thống soái trong xã hội.  Căn bệnh “bao cấp” về tư duy và hành chính hóa hoạt động nghiên cứu  Có hai nguyên nhân chính khiến cho các ngành khoa học xã hội ngày càng sa sút và bị coi thường, đó là do căn bệnh “bao cấp” hay đóng cửa về tư duy (xét về mặt tư tưởng), và căn bệnh hành chính hóa hoạt động nghiên cứu (xét về mặt tổ chức). Nhiều người cho rằng sự sa sút ấy chủ yếu do bản thân đội ngũ cán bộ khoa học xã hội còn quá yếu kém và thụ động nên không sản xuất ra được những công trình có giá trị được xã hội công nhận. Nói như vậy có thể không sai, nhưng theo chúng tôi, điều này thực ra cũng là hệ quả của hai nguyên nhân sâu xa nói trên.   Đã từng có một thời gian dài các ngành khoa học xã hội gần như bị trói chặt trong cái “vòng kim cô” của những điều cấm kỵ mang tính giáo điều và buộc tự giới hạn lao động của mình vào công việc minh họa đến mức phải tự trào là “ăn theo, nói leo”5. Tư duy trong phần lớn các ngành KHXH bị “chính trị hóa” một cách thô thiển và phi khoa học. Xét về mặt tổ chức, cho đến nay hoạt động nghiên cứu nói chung và của khoa học xã hội nói riêng đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa nặng nề. GS Hoàng Tụy từng phê phán việc nhà nước thay vì chỉ cần xác định một số hướng nghiên cứu ưu tiên thì lại giành xác định luôn các đề tài nghiên cứu cụ thể mà không để cho các nhà khoa học được quyền tự mình chọn đề tài6. Công việc phong hàm giáo sư, phó giáo sư cũng là việc mà nhà nước ôm lấy, thay vì để cho các đại học đảm nhiệm. Thậm chí Bộ giáo dục còn ký cả bằng tiến sĩ, in phôi các văn bằng cử nhân, và giành độc quyền cả việc phát hành bộ hồ sơ tuyển sinh vàođại học!  Quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ  Bên cạnh quyền tự chủ của các tổ chức nghiên cứu mà Nghị định 115 đã qui định, chúng tôi cho rằng điều còn quan trọng hơn là cần xác lập quyền tự do tư tưởng trong hoạt động trí tuệ. Lẽ tất nhiên mọi công dân đều mặc nhiên phải được hưởng quyền này, nhưng riêng trong lĩnh vực khoa học xã hội, quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận lại là điều kiện tối cần để có thể vực dậy sinh khí học thuật lành mạnh và phong phú. Cần sớm giã từ lối tư duy độc quyền chân lý, vì điều này chỉ khiến cho nhiều người “chết” vì “tội nói khác”, vì dám có suy nghĩ độc lập và biết hoài nghi, biết phê phán, chứ không phải chết vì dốt hay vì lười suy nghĩ. Có thể nói cuộc thảo luận trên báo chí trong thời gian gần đây về cách dạy môn văn và cách ra đề thi môn văn là một trường hợp điển hình cho thấy cần phải nhanh chóng thay đổi triết lý về giáo dục cũng như tư duy về hoạt động khoa học xã hội.  Nếu không dám chấp nhận tranh luận và nếu ngăn cản những ý kiến phản biện thì xã hội khó lòng mà tiến bộ được. Nhà triết học người Anh John Stuart Mill từng viết: “…Cái tai họa khác thường của việc cấm đoán phát biểu một ý kiến chính là sự đánh cắp đối với loài người, kể cả thế hệ mai sau cũng như hiện nay, [điều này] gây thiệt hại cho người bất đồng với ý kiến đó nhiều hơn là cho chính người có ý kiến đó”. Và ông còn nói: “…Trong tình trạng không hoàn hảo của trí tuệ loài người, lợi ích của chân lý đòi hỏi phải có sự đa dạng về ý kiến”7.  Các ngành khoa học xã hội ngày càng đóng vai trò thiết yếu trong xã hội, không phải chỉ vì chúng góp phần sản xuất ra tri thức cho xã hội, mà còn vì và nhất là vì chúng là những công cụ giúp cho xã hội có điều kiện tự nhìn lại mình, tự ý thức về mình, hay nói cách khác, giúp cho xã hội luôn luôn phản tỉnh. Nếu trong các lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã công nhận vai trò tiên phong của tầng lớp doanh nhân, thì trong các lĩnh vực xã hội và văn hóa, một vấn đề rất lớn cần được đặt ra hiện nay là làm sao xây dựng lại và phát triển một tầng lớp trí thức theo đúng nghĩa của từ này, với tư cách là một sức mạnh trí tuệ của đất nước.   ——————–  * Viện Nghiên cứu Xã hội TP. Hồ Chí Minh.  Chú thích :  1 Xem Sài Gòn Giải phóng, 17-3-2006, trang 9.  2 Xem Người lao động, 1-12-2003, trang 11.  3 Xem Tuổi Trẻ, 23-9-2005, trang 2.  4 Xem Pháp luật TPHCM, 16-7-2006, trang 2.  5 Xem Văn Tạo, “Nghĩ về những cống hiến của khoa học xã hội”, Khoa học&Phát triển, số 29, 17-7-2003, trang 3.   6 Xem Sài Gòn Giải phóng, 3-5-2006, trang 3.  7 John Stuart Mill, On Liberty, 1859, chương 2.  Chú thích ảnh: Câu lạc bộ văn học dân gian ở Huế       Trần Hữu Quang*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấn biển      Gần Bảo tàng Quảng Ninh có mấy hòn núi đá  vôi tuyệt đẹp. Cái thì đứng trên đất bằng, cái thì đứng trong một hồ  nước, nhưng vì cái hồ nhỏ quá nên có cảm giác như nó đứng trong ao.    Nghe nói chỉ cách đây mười năm thôi, những hòn núi đó đang ở giữa biển, bên cạnh những hòn núi khác, mà người ta gọi là đảo, để làm nên Vịnh Hạ Long. Rồi người ta lấn biển. Mỗi “đời” lãnh đạo lấn thêm một ít. Những biệt thự kiểu Pháp, nhà hàng sang trọng san sát mọc lên. Những hòn núi vĩnh viễn bị chia lìa với biển. Trông nó bây giờ như biểu tượng của sự xa cách tuyệt vọng. Núi, biển nhìn thấy nhau mà không bao giờ gặp mặt. Biển ở đây lặng quá. Bình thường thấy vịnh thật hiền hòa yên tĩnh, nhưng khi nhìn những ngọn núi này, lại có cảm giác hình như cái vịnh này hơi có phần cam chịu. Giá như biển có thể làm nên những cơn sóng cuồng nộ tràn bờ thì may ra đôi lúc núi, biển còn được gặp nhau.  Dọc theo vịnh bây giờ có một con đường “bao biển” rất đẹp. Nó cũng có công chấm dứt chuyện lấn biển. Nhưng nghe đâu một kỳ lãnh đạo mới lại muốn lấn thêm. Kế hoạch không thành vì hai lý do. UNESCO dọa là nếu còn lấn nữa thì sẽ đưa Hạ Long ra khỏi danh sách “di sản thế giới”. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Lý do chính là mấy đại gia, ông chủ những biệt thự kiểu Pháp bên bờ biển phản đối. Nếu lấn nữa, họ sẽ thành ra ở “hàng hai”, bị những đại gia mới án ngữ trước mặt. Thật là ơn các đại gia, nếu không thì Hạ Long dần dần sẽ thành “Hạ Long trên cạn”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lan tỏa Sống Xanh      Cách đây bốn năm, dự án Sống Xanh bắt đầu  được Trung tâm Hành động vì Đô thị (ACCD) thử nghiệm tại Hà Nội. Từ mười  hộ gia đình đầu tiên tình nguyện tham gia, đến nay dự án đã mở rộng đến  hơn 5.000 hộ gia đình tại các thành phố Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đà  Nẵng, Hội An và Hồ Chí Minh.    Đây là dự án phỏng theo Mô hình Sống Xanh thực hiện tại cộng đồng Ballymun ở Dublin, Ireland và được Cơ quan hỗ trợ phát triển Ireland tài trợ. Không chỉ nỗ lực và phát huy nhiều sáng kiến nhằm tiết kiệm điện – nước, giảm thiểu rác thải, tận dụng các nguyên vật liệu thừa hoặc bỏ đi trong phạm vi gia đình, các thành viên Sống Xanh còn đóng góp tích cực cho việc cải thiện môi trường sống tại cộng đồng như dọn dẹp khu dân cư, làm đường, cải tạo các bãi rác tự phát thành vườn rau xanh…  Nhằm tôn vinh những nỗ lực và sáng kiến sống bền vững của các thành viên Sống Xanh ở Việt Nam và Ireland, ACCD cùng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp tổ chức triển lãm ảnh ‘TÔI SỐNG XANH’ với gần 60 tác phẩm đầy cảm hứng của nhà nhiếp ảnh và làm phim người Anh Paul Zetter, người đã có hơn 20 năm gắn bó với Việt Nam, và nhà nhiếp ảnh người Ireland Joe St Leger.  Trong khi tác phẩm của Joe St Leger đặc tả các khu vườn cộng đồng ở Ballymun thì các tác phẩm của Paul Zetter lại nghiêng về đặc tả chân dung. Đó là những người dân thường, đồng thời là tác giả của những sáng kiến nho nhỏ nhưng bất ngờ và thú vị, đang góp phần tạo nên sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và phong cách sống ở cộng đồng của mình. Bằng nghệ thuật lột tả nội tâm và tài nắm bắt khoảnh khắc, tác phẩm của Paul Zetter có thể nói với chúng ta rất nhiều về những giá trị vốn nằm sâu trong mỗi con người nhưng luôn chờ được đánh thức: đó là sức sáng tạo, cảm hứng và lòng tự hào.  Nhà nhiếp ảnh Paul Zetter cho biết, ông đã dành thời gian đến thăm nhiều gia đình Sống Xanh ở phương Phúc Tân, Hà Nội – nơi đầu tiên thử nghiệm chương trình – và Hội An. Ông đã chụp được rất nhiều bức ảnh ưng ý nhưng “không gian triển lãm chỉ đủ cho một phần ba số đó,” ông chia sẻ tại buổi khai mạc triển lãm chiều chiều 21/11. “Thách thức lớn nhất đối với tôi, là làm thế nào để ghi lại được ấn tượng về sự kết nối giữa những con người với nhau,” ông nói.  Bên cạnh các tác phẩm nhiếp ảnh, triển lãm còn trưng bày ngôi nhà ươm rau được làm từ khoảng 1.500 chai nhựa tái chế do các em học sinh và các nhóm Sống Xanh Hà Nội đóng góp. Ngôi nhà dựa trên nguyên mẫu từ Ireland và do nhóm Kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào, Vũ Xuân Sơn, Nguyễn Văn Âu cùng các sinh viên tình nguyện trường Đại học Xây dựng thực hiện.   Triển lãm mở cửa đến ngày 14/12/2013 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, 36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.     Nguyên mẫu từ Ireland  Dự án “Nâng cao Năng lực Cộng đồng Dân cư tại Hà Nội”, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Chương trình Sống Xanh, phỏng theo mô hình đã được thực hiện tại khu dân cư nghèo Ballymun ở Dublin, Ireland từ những năm cuối thập niên 90.   Tại Ballymun, với sự giúp đỡ của các hướng dẫn viên, các nhóm cộng đồng từ 8 đến 10 người sinh hoạt hàng tuần về các chủ đề như nước, rác, năng lượng, tiêu dùng thông thái… Các cuộc họp nhóm là nơi kinh nghiệm của một người được chia sẻ đến nhiều người, kinh nghiệm của một nhóm được chia sẻ đến nhiều nhóm. Thông qua mô hình này, người dân Ballymun bắt đầu có những hành động thiết thực để cải thiện chất lượng sống của gia đình, sau đó họ liên kết với nhau để cải thiện môi trường sống ở khu dân cư của mình.   Qua sự giới thiệu của Đại sứ quán Ireland, cách đây bốn năm, ACCD đã có cuộc gặp với những người bạn từ Global Action Plan Ireland – tổ chức thực hiện dự án Sống Xanh ở Ballymun – và sau đó quyết định thử nghiệm mô hình Sống Xanh trong các cộng đồng thu nhập thấp và trung bình ở Hà Nội.   Giai đoạn thử nghiệm được thực hiện tại bốn phường Phúc Tân, Giáp Bát, Thượng Đình và Hạ Đình từ năm 2009-2010. Đến nay, mô hình được mở rộng tới hơn 5.000 hộ gia đình ở Huế, Hội An, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh.  Ước tính, trung bình một tháng mỗi hộ Sống Xanh tiết kiệm được 2m3 nước, 9kWh điện, giảm 30 kg rác thải và giảm sử dụng 90 túi nilông. Không chỉ dừng lại trong phạm vi hộ gia đình, các Câu lạc bộ Sống Xanh đã góp phần tích cực trong việc cải thiện môi trường sống tại cộng đồng như tạo góc sân tập thể dục, sửa chữa nhà văn hoá cộng đồng, làm đường nội bộ, cải tạo các bãi rác tự phát thành vườn rau…  Kinh nghiệm và sáng kiến của các cộng đồng được đúc kết trong hai cuốn sách Sổ tay và Cẩm nang Sống Xanh Sống khoẻ do ACCD biên soạn và ấn hành. Hằng năm, hai cuốn sách vẫn được chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp với điều kiện của từng địa phương.      Phát biểu tại lễ khai mạc triển lãm, bà Đặng Hương Giang, Giám đốc ACCD, chia sẻ: “Sống xanh không chỉ có nghĩa là vứt rác đúng chỗ hay tiết kiệm điện – nước; tinh thần Sống Xanh còn thể hiện ở chỗ làm sao hành động của mình có thể lan tỏa đến nhiều người khác, như nó đã lan tỏa từ cộng đồng Ireland xa xôi đến những người bạn Việt Nam, từ bác nông dân lan tỏa đến các bạn học sinh, thầy cô giáo, các kiến trúc sư.“        Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị  (ACCD) là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập năm 2006, trực thuộc  Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, hoạt động với mục đích cải  thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao năng lực tự quản của người dân ở  các đô thị Việt Na.    Các  dự án của ACCD chủ yếu tập trung ở Hà Nội và Hội An. Ngoài ra, ACCD  thường xuyên hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm hoạt động với các tổ chức tại  các địa phương khác như Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Làng không có chỗ trong Hiến pháp      Làng là một thành tố quan trọng của dân chủ,  vì không có dân chủ ở cơ sở thì sẽ không có dân chủ ở vĩ mô. Bởi vậy,  hiến pháp các nước văn minh đều trực tiếp hay gián tiếp, minh thị hay  mặc thị bảo đảm sự tồn tại của làng. Thế nhưng tìm kiếm những điều tương  tự trong hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng như trong Dự thảo sửa  Hiến pháp 1992, chúng ta không thấy bóng dáng làng, dù là một gợi ý nhỏ.          1. Làng và sở hữu làng trong chiều dài lịch sử  Làng với hình tượng cây đa – bến nước – sân đình – lũy tre bao quanh trở thành không gian dân chủ tự quản của người dân trước mọi tham vọng tập quyền, bất kể đó là phong kiến phương bắc hay phong kiến bản địa.   Quyền tự quản của làng mạnh đến mức, trong quá khứ quan triều đình cũng phải thốt lên “phép vua thua lệ làng” theo đúng nghĩa đen của nó.  Để có được những đặc tính nói trên, quyền sở hữu của làng là một khía cạnh rất quan trọng để giúp làng trường tồn, bên cạnh các khía cạnh văn hóa, xã hội học… Vì muốn cố kết văn hóa làng thì phải có không gian sinh hoạt văn hóa làng: phải có đình làng; muốn có đình làng thì phải có đất xây đình làng; muốn có đất xây đình làng và xác lập quyền sở hữu đối với làng thì làng phải có quyền sở hữu đối với mảnh đất mà trên đó đình làng được xây dựng1. Khía cạnh này luôn được nhà cầm quyền tôn trọng trong suốt chiều dài lịch sử người Việt, ngay cả thời kỳ bắc thuộc dã man.  Trải qua hơn hai nghìn năm bất khuất, ngày nay làng Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức sống còn chưa hề trải trong lịch sử: toàn cầu hóa và sở hữu đất đai. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích thách thức thứ hai.   2. Phận làng trước chính sách đất đai mới  Song song với việc đẩy mạnh mặt trận “phản đế, phản phong”2 về phương diện chính trị, kinh tế, cuộc cách mạng văn hóa (bài trừ văn hóa phong kiến, thuộc địa) nhằm hướng tới nền văn hóa mới cũng được tiến hành. Trong cuộc cách mạng này, làng trải qua những bước chuyển ngàn năm và mang phận mới.  Thứ nhất, triết học nền tảng cho giai đoạn mới chủ trương vô thần vô thánh, dẫn tới việc không khuyến khích duy trì các không gian sinh hoạt tâm linh, đặc biệt đình chùa chiền và các không gian thể hiện, lưu giữ văn hóa phong kiến, kể cả thư viện3 bị những người cực tả đập phá trong giai đoạn đầu.   Thứ hai, song song với nỗ lực thiết lập phương thức sản xuất mới, lấy hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước làm trọng tâm, về mặt thiết chế, hợp tác xã cố gắng thay vai trò của làng; lý trưởng, chánh tổng bị bắt; các thiết chế hội đồng tộc biểu, thủ chỉ làng bị xóa. Trụ sở hợp tác xã, sân kho hợp tác xã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa mới. Làng từ đây không còn là một đơn vị hành chính.   Thứ ba, quyền sở hữu của làng từng bước bị xóa sổ. Thoạt tiên, những người dân vô đạo, bất chấp thần thánh xâm canh, tăng gia sản xuất trên vườn chùa, sân đình. Sau đó, phần cơ sở vật chất còn sót lại của đình chùa được thay đổi công năng; có nơi thành kho của hợp tác xã. Bước tiếp theo, xóa bỏ quyền sở hữu đất đai của làng. Sau cùng, Luật đất đai, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại, Luật tố tụng hành chính biến làng thành một thực thể vô năng về mặt pháp luật: Làng không những mất quyền sở hữu mà còn không thể đứng tên trong bất kỳ loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào; làng không phải là cá nhân, không phải là pháp nhân, chẳng phải là tổ chức theo nghĩa của các quy định pháp luật hiện hành; làng không thể đứng đơn khởi kiện trước bất kỳ tòa án hay thủ tục khiếu nại nào.   Ngày nay, đình chùa làng nào nổi danh sẽ được nhà nước xếp hạng di tích văn hóa đồng thời quyền quản lý cũng rời khỏi tay làng4. Đình chùa nào chưa được xếp hạng, tiếp tục được dân làng hương khói, tôn tạo, thì cũng chỉ ăn nhờ ở đậu trên đất thuộc sở hữu của chủ thể khác: thuộc sở hữu toàn dân. Căn hộ chung cư còn có sổ hồng gắn liền với quyền sử dụng đất; đình làng chưa được xếp hạng thì chẳng có sổ hồng, cũng không sổ đỏ. Làng vô danh trong Luật đất đai 2003.  Ấy vậy, dân làng quen miệng vẫn nói “đình làng ta”, mà đâu biết rằng nền đất dưới đó đâu còn thuộc sở hữu của làng; họ đang nói sai chủ trương, pháp luật của nhà nước.   Chỉ bằng một quyết định hành chính, thì ông chủ sở hữu thông qua người đại diện là nhà nước, có thể thu hồi đất, mà không phải đền bù cho bất kỳ ai. Đình làng sẽ đi về đâu trong bối cảnh đô thị hóa, tấc đất tấc vàng? Làng mất quyền sở hữu đất ngàn năm – cội nguồn văn hóa Việt sẽ nương chốn nào?  3. Làng trong hiến pháp  Làng là một thành tố quan trọng của dân chủ, vì không có dân chủ ở cơ sở thì sẽ không có dân chủ ở vĩ mô. Bởi vậy, hiến pháp các nước văn minh đều trực tiếp hay gián tiếp, minh thị hay mặc thị bảo đảm sự tồn tại của làng.  Đa số hiến pháp bảo đảm gián tiếp cho sự tồn tại của làng thông qua việc ghi nhận chế độ đa sở hữu về đất đai, quyền lập hội của công dân, nguyên tắc tự quản địa phương.   Một số ít, mà điển hình là Hiến pháp CHLB Đức 1949 đã quy định một cách trực tiếp rõ ràng địa vị pháp lý của làng xã. Điều 28 Khoản 3 GG đã nhân cách hóa làng xã (Gemeide) và ghi nhận các bảo đảm tương tự như nhân quyền (Grundrecht) đối với làng xã.   Việc nhắc tên làng trong hiến pháp sẽ là vô nghĩa, nếu làng không có các bảo đảm cần thiết về tài chính, sở hữu, tự quản, dân chủ trên thực tế. Bởi vậy, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp CHLB Đức 1949 quy định trực tiếp các bảo đảm này:  (1)    …Ở các làng xã (Gemeide) phải có các cơ quan dân cử, cơ quan này hình thành từ các cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng, tự do, trực tiếp và kín… ở các làng xã các Hội nghị dân cư (trực tiếp) có thể thay thế vị trí cho các cơ quan dân cử.   (2)    Các làng xã phải được bảo đảm quyền tự điều hành và chịu trách nhiệm trong khuôn khổ các đạo luật về các quan hệ nội bộ. Các liên minh làng cũng được quyền tự quản trong lĩnh vực luật định phù hợp với phạm vi ấn định bởi các đạo luật. Bảo đảm quyền tự quản bao gồm các cơ sở cho khả năng tự chịu trách nhiệm về tài chính; các cơ sở này bao gồm (nhưng không hạn chế) nguồn thu thuế liên quan các nguồn lực kinh tế được ấn định bởi làng xã5.  Đi tìm kiếm những điều tương tự trong hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng như trong Dự thảo sửa Hiến pháp 1992, chúng ta thấy lần lượt các thực thể pháp lý: nhân dân, nhà nước, Đảng, Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, dân tộc, công dân, con người… nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng làng, dù là một gợi ý nhỏ. Bộ máy nhà nước chỉ bao gồm bốn cấp: Trung ương – tỉnh – huyện – xã. Hiến pháp không coi thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc là một cấp chính quyền, cũng không có dòng nào nói về tự quản của làng xã, đồng thời phủ nhận chế độ đa sở hữu về đất đai.   Quan trọng hơn, làng là một thực thể không có năng lực pháp lý, đặc biệt không có quyền sở hữu; hay nói cách khác cơ sở pháp lý của làng bị triệt hạ ngay từ trong hiến pháp. Đây chính là điểm khác nhau giữa Hiến pháp 1946 và các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992. Tuy không nhắc đến làng, nhưng Hiến pháp 1946 vẫn tạo cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của làng tại Điều 10 và Điều 12. Quyền tự do lập hội rộng rãi và thực chất6 tại Điều 10 Hiến pháp 1946 cho phép công dân có thể liên kết với nhau dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức cộng đồng cư trú – làng. Quyền tự do tư hữu, bao gồm tư hữu đất đai của công dân tại Điều 12, cho phép công dân tạo lập quyền sở hữu đất đai cho làng theo hình thức sở hữu hợp chung hợp nhất không thể phân chia.   Làng như đứa trẻ bị bỏ rơi, không có giấy khai sinh. Nhưng không có giấy khai sinh không có nghĩa không tồn tại; làng vẫn tồn tại ngạo nghễ bất chấp hiến pháp nói gì. Sự tồn tại thực tế làm nhà nước phát sinh nhu cầu thiết lập kênh liên lạc với làng. Sau khi mô hình hợp tác xã nông nghiệp sụp đổ ở nông thôn, các chức danh trưởng thôn, trưởng bản được tái thiết lập7. Để nuôi sống sợi dây liên lạc này, nhà nước phải có chế độ phụ cấp tiền lương cho trưởng thôn, trưởng bản. Ngoài ra, song song với chủ trương xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc sau thời kỳ Đổi mới, nhà nước cũng đặt ra một số danh hiệu như làng văn hóa, khu phố văn hóa… Như vậy, bởi sự tồn tại thực tế của làng cùng với nhu cầu quản lý của nhà nước, làng không biến mất hoàn toàn trong hệ thống pháp luật, mà được đề cập một cách gián tiếp trong các văn bản dưới luật liên quan chế độ phụ cấp các chức danh trưởng thôn, trưởng bản, bí thư thôn…   Việc đánh giá thấp vai trò của làng, dẫn tới nhà nước lấy cấp xã thay cho cấp làng để củng cố dân chủ cơ sở; việc dành cho làng địa vị pháp lý mờ nhạt, dẫn tới nhà nước gặp không ít khó khăn trong việc duy trì liên lạc ổn định với làng, dẫn tới sinh hoạt cộng đồng của nông dân gặp khó khăn khi họ muốn tự tổ chức.   4. Sở hữu làng trong thực tế – những giá trị cần khuyến khích  Pháp luật đất đai hiện hành không thừa nhận quyền sở hữu đất, quyền sử dụng đất của làng; Bộ luật dân sự không thừa nhận quyền sở hữu của làng nhưng chỉ với các văn bản quy phạm pháp luật đó, không thể nào đủ sức mạnh xóa sạch sở hữu làng. Bằng sức mạnh của lòng dân, sự tự nguyện, sở hữu làng vẫn tồn tại trên thực tế (sở hữu de facto)8.     Tuy nhiên quyền sở hữu de facto của làng, hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, mà không đủ mạnh để giải quyết những bất đồng phát sinh, củng cố khối đoàn kết của làng. Nếu có tranh chấp sở hữu liên quan cồng chiêng của làng, số tiền đóng đậu để bê tông hóa đường làng… lập tức làng trở về thân phận câm lặng trước mọi thủ tục tố tụng pháp lý của nhà nước. Sở hữu và duy trì tập tục làng tìm kiếm sự bảo vệ từ các định chế phi quan phương, không trông chờ từ nhà nước.   Kết luận:   1. Sở hữu đất đai của làng và của các loại hình cộng đồng nói chung, có nhiều nét tương đồng với sở hữu tập thể, không có gì xung đột với “sở hữu xã hội chủ nghĩa”.   2. Làng – nơi gìn giữ văn hóa Việt và là một thiết chế có sức sống mãnh liệt xuyên suốt hơn hai nghìn năm. Dù mất đất, mất chỗ đứng trong hiến pháp, làng luôn có một vị trí không thể thay thế trong lòng người Việt. Pháp luật của nhà nước nên thuận lòng dân, ghi nhận sở hữu của làng, trong đó có sở hữu đất đai của làng. Ghi nhận sở hữu đất đai của làng không có gì làm mất màu sắc xã hội chủ nghĩa. Chúng ta không nên lựa chọn cách đối đầu, xa lánh với làng, mà phải dựa vào làng.   3. Các cấp hành chính như xã, tổng, huyện, phủ, tỉnh, lộ, bộ, kỳ là các thực thể nhân tạo; việc thành lập hay giải thể tùy thuộc vào nhu cầu quản lý của nhà nước từng thời kỳ. Nhưng làng là một thực thể tồn tại ổn định suốt hàng ngàn năm, bởi vì nó là đơn vị quần cư tự nhiên, từ đặc tính sinh học sống theo bầy đàn của loài người. Làng không phải là tự nhiên nhân (thể nhân/con người), nhưng sự hình thành tự nhiên song song với loài người và đặc tính ổn định của nó, nên làng cần được đối xử như thể là một con người. Con người có nhân quyền bất khả xâm phạm, thì làng có quyền tồn tại, quyền được có giấy khai sinh, quyền tự quản, tự duy trì trật tự nội bộ của mình, và trước hết là quyền sở hữu.   —  * Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM  1 Bên cạnh đình làng thì chùa cũng có đất riêng, gọi là đất tam bảo. Xem Hồng Đức Thiện Chính Thư, Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Lệ về ruộng đất, Chương điền sản Điều 5: “Lấn chiếm ruộng tam bảo thì cho trình báo và phạt đánh kẻ đó 80 trượng, xử tội đồ”, dẫn theo Nguyễn Ngọc Nhuận – Lê Tuấn Anh – Trần Thị Kim Anh (2006), Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học Xã hội, tr. 441.   2 Chú giải: phản đế quốc, phản phong kiến.  3 Bản thân tác giả đã chứng kiến tàn tích bị đốt cháy của thư viện sách hơn một vạn cuốn khắc trên bản gỗ lim của gia đình tác giả Hoa Tiên Truyện – Nhà thơ Nguyễn Huy Tự ở làng Trường Lưu.   4 Nhà nước đã can thiệp về thời gian, nghi lễ, số lượng chất lượng phát ấn đền Trần. Xem http://dantri.com.vn/su-kien/cong-bo-thoi-diem-phat-an-den-tran-nam-nham-thin-557723.htm  5 Thường các làng xã có quyền quyết định thuế suất và thu thuế nhà, bất động sản.   6 Trong giai đoạn đầu.  7 Khi HTX còn tồn tại, kênh liên lạc với làng được thiết lập qua các đội sản xuất.   8 Ở làng của tác giả vẫn còn quỹ ruộng khuyến học của làng (không nằm trong sổ sách của nhà nước). Ai thi đỗ đại học, làng cho bố mẹ mượn quỹ ruộng này cày cấy, miễn mọi loại tiền đóng đậu, coi như là một hình thức làng hỗ trợ phụ huynh nuôi con em đi học đại học.      Chú giải: phản đế quốc, phản phong kiến.        Author                Võ Trí Hảo        
__label__tiasang Lắng nghe và  trọng dụng người tài      Thế giới đang thực hiện Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 với những thay đổi như vũ bão. Mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp và từng nhà nước buộc phải thay đổi càng sớm càng tốt nếu không muốn trở nên lạc hậu và lạc điệu so với sự phát triển của nhân loại.      Startup VNi nghiên cứu sử dụng công nghệ thực tế ảo (Virtual Reality) để tái hiện các dự án bất động sản.  Hiện nay đã có 200 thành phố đã và đang được xây dựng để trở thành thành phố thông minh (smart cities) với giao thông thông minh, dịch vụ công thông minh, thương mại điện tử, giao hàng tận nhà. Xe ô tô điện tự lái sử dụng năng lượng mặt trời sẽ giảm ô nhiễm, không tốn xăng sẽ thay thế taxi truyền thống. Kinh tế chia sẻ cho phép Uber cung ứng dịch vụ đi lại trên 92 nước mà không hề sở hữu một xe ô tô nào, hãng Airbnb chào mời hàng trăm ngàn phòng cho thuê mà không sở hữu một khách sạn nào… Kinh tế số hóa với ngân hàng số hóa, giao dịch không dùng tiền mặt và đồng tiền số hóa Bitcoin từng bước thay đổi diện mạo ngân hàng. Giáo dục đào tạo, thi cử qua mạng, chính phủ điện tử v.v… đều góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc và chất lượng cuộc sống.  Sáng tạo, đổi mới khoa học-công nghệ là nhân tố quyết định sức mạnh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu trước đây “trâu chậm uống nước đục” thì nay “cá chậm sẽ không còn gì mà ăn vì cá nhanh đã xơi hết”, máy ảnh kỹ thuật số đã thay thế phim Kodak và điện thoại di động thông minh của Samsung đã lấn át hẳn điện thoại Nokia. Điều mấu chốt là phải có khả năng thương mại hóa ý tưởng đổi mới sáng tạo, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Nếu như bao nhiêu năm cứ lặp đi lặp lại câu hỏi “trồng cây gì, nuôi con gì” mà không đem lại bất kỳ thay đổi nào thì nay nhà kính, công nghệ tưới tiêu Israel, tiến bộ sinh học đã đưa rau quả, trái cây Việt Nam ra thị trường thế giới. Bưởi da xanh từ miền Nam đã được di thực thành công ra miền Bắc, cá tầm từ Nga đã được di thực thành công về nuôi ở Sapa, đem lại thu nhập cao cho người dân và lợi ích cho người tiêu dùng. Chính cơ chế thị trường tự do kinh doanh theo pháp luật, cạnh tranh bình đẳng đã tạo ra môi trường sinh thái cho các sáng kiến đi vào cuộc sống, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân. Đối với Nhà nước, điều quan trọng là phải tạo ra hành lang pháp lý an toàn và sự ủng hộ trong xã hội cho sáng tạo và đổi mới, khuyến khích tư duy phản biện, phê phán, đặt câu hỏi về những điều lâu nay vẫn được coi là “chân lý thiêng liêng, vĩnh cửu”, tìm giải pháp mới, phương pháp mới. Thay cho không khí gia trưởng trong học thuật hay dạy học sinh phải “ngoan, vâng lời, gọi dạ, bảo vâng” thì hãy dạy các em đặt câu hỏi, tranh luận bình đẳng với thầy, cô giáo.  Nhà nước ủng hộ đổi mới phải trọng dụng nhân tài trong nước và quốc tế, thực sự cầu thị và lắng nghe những góp ý cho sự phát triển của đất nước. Nhà nước phải có các biện pháp, chính sách cụ thể khuyến khích sáng tạo, lập quỹ đầu tư mạo hiểm để tạo điều kiện thuận lợi cho những sáng chế, phát minh được đưa từ phòng thí nghiệm ra thị trường trong thời gian ngắn nhất. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng nhái, hàng giả, tạo khung khổ pháp lý để bảo vệ và hợp pháp hóa các sản phẩm mới, công nghệ mới. Không thể áp đặt luật pháp cũ, tư duy cũ cho những phát minh mới. Bộ máy nhà nước phải linh hoạt điều chỉnh luật lệ cho phù hợp với sự phát triển thực tế.  Hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam phát huy được một số lợi thế so sánh về nông và thủy sản, thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu bằng ưu đãi thuế và lao động giá rẻ nhưng đang bộc lộ những yếu kém rõ nét về thể chế, sáng tạo và đổi mới khoa học và công nghệ. Các đại gia của Việt Nam đã giàu lên chủ yếu nhờ khai thác tài nguyên, quan hệ thân hữu theo nhóm lợi ích, không có sáng chế, phát minh, công nghệ nào để đầu tư ra nước ngoài. Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ bé, đa số tìm kiếm lợi nhuận bằng khai thác chênh lệch giá đất và chia sẻ trong nhóm lợi ích bất chính, rất ít doanh nghiệp có chiến lược lâu dài đầu tư vào khoa học và công nghệ. Hy vọng mới lóe lên trong phong trào khởi nghiệp sáng tạo của tầng lớp trẻ với những khai phá mới như e.doctor (bác sỹ điện tử nối mạng với bác sỹ qua điện thoại thông minh), kết nối theo chuỗi giá trị quốc tế với doanh nghiệp nước ngoài v.v. Giáo dục và đào tạo đang bộc lộ những yếu kém nghiêm trọng trong đào tạo ra những con người “dám nghĩ, dám làm”, có kỹ năng hợp tác, thông thạo ngoại ngữ, suy nghĩ sáng tạo. Yếu kém bao trùm là thể chế quan liêu, trọng dụng người nhà hơn người tài, chạy chức, chạy quyền. Mặc dầu Chính phủ đã có chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo, nhà nước liêm chính nhưng hiện tượng “trên nóng, dưới lạnh” vẫn kéo dài, nhiều dự án đầu tư công nghệ tiên tiến như xử lý rác thải để sản xuất điện bị bế tắc vì “phí bôi trơn” quá cao v.v. Cần thẳng thắn chỉ ra tác hại của thể chế, nếu tình trạng này không cải thiện không ít doanh nhân Việt sẽ lập doanh nghiệp ở Singapore hay Thái Lan và nền kinh tế sẽ bị rút ruột về vốn, công nghệ và nhân tài.  Hy vọng Mùa Xuân sẽ mở ra một làn sóng sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ để đưa đất nước vào quỹ đạo tăng trưởng bền vững.       Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang Lắng nghe ý kiến của dân về công tác nhân sự      Đang có sự khởi sắc trong sinh hoạt tinh thần xã hội qua việc Đảng chủ trương tiến hành lấy kiến của dân đóng góp vào “Dự thảo Báo cáo Chính trị” trình Đại hội X.     Góp ý kiến vào đường lối đương nhiên là cần. Diện tranh luận đang được mở rộng và khơi sâu. Thái độ độc quyền chân lý, áp đặt tư duy đang bị đẩy lùi một bước. Mà đẩy lùi được vì cái tệ “tùy tiện quy kết” cho những ý kiến dám trái với tai của người có quyền, nhất là một nhúm người tự tung tự tác ngộ nhận quá đáng về quyền lực của mình, đã không thể tùy tiện mãi được. Vì “chân thành lắng nghe và trung thực tiếp nhận” là nguồn sinh lực của Đảng. Hơn nữa, quan điểm và chủ trương đã được hiện thực hóa bằng một chỉ thị của Trung ương ngày 3.2.2006. Qua những đóng góp, người ta càng nhận ra một sự thật rõ ràng: chỉ dựa vào dân thì mới có thể chỉnh đốn và đổi mới Đảng được. **  Lý luận đã vậy, thì tuyển chọn người đảm trách việc thực thi đường lối, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, càng cần có ý kiến đóng góp của dân. Vì rằng, “cán bộ là gốc của mọi công việc… Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý…”*. Mà có lẽ, nhận xét, góp ý kiến để chọn cán bộ xứng đáng đảm trách việc lớn của Đảng, của nước, của dân thì dân càng có nhiều ý kiến, mà là những ý kiến xác đáng. Bởi vì, dân “chẳng những trông thấy người tốt việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu việc xấu trong Đảng… Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh. Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua… Dân chúng so sánh đúng và giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình… dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”*. Lấy kiến dân về vấn đề cực kỳ quan trọng này là một việc cần kíp, nên đặt ra cùng với việc lấy ý kiến về “Dự thảo báo cáo…”.  Có thể có nhiều cách chân thành lắng nghe và trung thực tiếp nhận ý kiến của dân góp về công tác nhân sự của Đại hội X, nhưng tiện nhất là có 2 cách. Cách thứ nhất là góp ý kiến trực tiếp với Đảng qua phát biểu tại các cuộc họp hoặc qua thư. Cách thứ hai là góp với các đại biểu của Đại hội. Ở đây, xin trình bày suy nghĩ về cách thứ hai.  “Chuẩn bị nhân sự” là một việc hệ trọng. Đó là công việc của BCHTƯ với “tiểu ban nhân sự” chuẩn bị để đưa ra trước Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Đây là một bước công tác cần thiết nhưng cũng thật là tế nhị, làm thế nào để không vi phạm Điều lệ Đảng là cả một vấn đề. Vì theo Điều lệ, “cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc”, và “giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban chấp hành Trung ương”. Bởi vậy, về nguyên tắc, chỉ Đại hội đại biểu toàn quốc mới có thẩm quyền bầu ra BCHTƯ mới và các cơ quan khác của BCHTƯ như Bộ Chính trị, Ban Bí thư…, ý kiến thảo luận và lá phiếu kín của mỗi đại biểu, thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, có giá trị như nhau. Cho nên mỗi đại biểu đến Đại hội với gánh nặng quốc gia, phải làm sao thay mặt cho dân tuyển chon                    được nhân tài xứng đáng gánh vác việc Đảng Mà việc Đảng chính là việc nước, vì Đảng là Đảng cầm quyền. Do đó, nghĩa vụ và lương tâm của từng đại biểu được cử đến Đại hội là lắng nghe ý kiến trung thực và thẳng thắn của dân về những người hiện nay đang gánh vác trọng trách quốc gia và những người sẽ gánh vác những nhiệm vụ nặng nề đó. Họ “đại biểu” cho ai? Cho trí tuệ không chỉ của đảng viên Đảng bộ tỉnh hay thành phố, đương nhiên về danh nghĩa cơ bản là như vậy, mà là đại bỉểu cho nguyện vọng và lợi ích của hàng triệu công dân của tỉnh, của thành phố và rồi của cả nước. Nét tự hào đích thực của một Đảng lãnh đạo và sức sống của Đảng được vun đắp từ chính điều đó. Dân hướng về “Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X” cũng là kỳ vọng ở thực chất nội dung của khái niệm “đại biểu” đó.   Làm sao ý kiến nguyện vọng của dân đóng góp vào việc tuyển chọn cán bộ tham gia vào BCHTƯ và những cán bộ sẽ giữ những trọng trách của Đảng, của Nhà nước được các “đại biểu Đại hội” lắng nghe, để những ý kiến đó thật sự có giá trị giúp vào việc cân nhắc, bàn bạc những gợi ý của “Tiểu ban nhân sự” chuẩn bị cho Đại hội, để do đó mà ý kiến trao đổi, thảo luận và lá phiếu bầu của họ có sức nặng của trí tuệ và nguyện vọng của đảng viên và nhân dân. Làm được như thế thì những công việc chuẩn bị, những gợi ý của những người có trách nhiệm chuẩn bị giữ đúng ranh giới cần thiết của gợi ý mà không là “kịch bản” soạn sẵn cứ thế mà thực hiện, vi phạm Điều lệ Đảng về“cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc”.  Xin gợi lại ý kiến của Bác Hồ: “Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mỗi tầng lớp. Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta”.*  Vấn đề chỉ còn ở chỗ những đại biểu đi dự đại hội có thấy hết nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với dân với Đảng hay không?   ————-  *   Hồ Chí Minh.  “Sửa đổi lối làm việc”. NXBCTQG &NXBTrẻ. 2000.; tr.19, tr.49,tr.58, tr.93, tr.94  **  Xem “Chân thành lắng nghe và trung thực tiếp nhận”. Tia Sáng số 4. 20.2.2006 và “ Tin vào dân… ”báo “NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN” ngày 21.2,2006 và “Nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh” số ra ngày 3.2.2006  Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lãng phí      Lãng phí, cùng với tham ô, tham nhũng, trong  nhiều trường hợp có thể bị liệt vào tội phạm. Nhưng so với tham ô, tham  nhũng, thì lãng phí khó kết tội hơn.     Và nếu “lãng phí của công” xảy ra tràn lan ngày nay, khó kết tội, dù hậu quả của nó rất nặng nề, thì “lãng phí của tư” mới thật rất là khó kết tội. Không có luật lệ nào kết án những người lãng phí của cải do chính họ làm ra, có chăng chỉ là lương tâm kết tội, mà cũng không phải lương tâm của mọi người.  Khi nói đến những bàn tiệc ê hề thức ăn, toàn sơn hào hải vị, chế biến công phu, bị đổ đi, người ta thường nghĩ ngay, chủ của chúng là những kẻ tiêu “tiền chùa”, bởi chỉ có tiêu tiền chùa thì mới vung tay như vậy. Sự thực, có không ít những người, tuy không giàu, nhưng muốn “bằng anh bằng em” cũng vung tay quá trán. Sự lãng phí của số đông, tích tiểu thành đại, cũng chẳng kém gì sự lãng phí bởi những kẻ tiêu tiền chùa.  Chúng ta thường xót xa, phẫn nộ, khi thấy những công trình bị bỏ dở bởi tính toán sai hiệu quả kinh tế. Tiền Nhà nước đổ xuống sông mà chẳng ai phải chịu trách nhiệm. Nhưng chúng ta có bao giờ quan tâm tới việc những người dân đập phá những ngôi nhà của chính họ, mới xây dựng được vài năm, để xây trên nền cũ những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn, để rồi, cũng chẳng biết, sau bao lâu những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nhiều này sẽ lại bị đập phá để xây nên những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nữa…  Chúng ta bực tức vì những đầu tư sai mục đích của ngành Giáo dục, lãng phí trong in ấn sách giáo khoa, trong thi cử… Nhưng có mấy ai tiếc cho con cái mình, phải lãng phí thời gian quá nhiều cho việc học thêm, dẫu rằng chúng ta, với kinh nghiệm của bản thân, hiểu rõ rằng trẻ em cần được chơi. Lãng phí thời gian, nhất là tuổi trẻ, tuổi thơ, là sự lãng phí rất lớn của nhân lực xã hội.  Lãng phí đã trở thành một phần trong cách sống của mỗi chúng ta. Lãng phí của công, đầu tư không hiệu quả trong kinh tế không chỉ vì cơ chế, vì quản lý yếu kém, mà nhiều hơn, vì chính văn hóa của mỗi chúng ta. Ai cũng biết, tài nguyên đang dần cạn kiệt, ngay cả nước ngọt, thứ mà chúng ta trước kia không thể nghĩ là có thể hết, cũng đang được các nhà khoa học dự báo, sẽ trở nên khan hiếm trong tương lai. Mỗi giọt nước, mỗi giọt xăng, mỗi viên than chúng ta lãng phí bây giờ, chính là chúng ta đang cướp của con cháu ngày mai.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lao động trẻ cần những gì?      Sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số thuộc hàng nhanh nhất thế giới, chúng ta kỳ vọng vào một lực lượng lao động trẻ có kỹ năng lao động tốt hơn, năng suất lao động cao hơn hẳn. Chúng ta đã kịp chuẩn bị những gì cho lao động trẻ?      Trong nghiên cứu này, các nhà tuyển dụng cũng cho biết sẽ cắt giảm lao động ở các khâu lặp lại để thay thế bằng robot. Nguồn ảnh minh họa: Dangcongsan.vn  Vấn đề đáng lo ngại đầu tiên là tỷ lệ thất nghiệp cao ở nhóm lao động trẻ 15-24 tuổi lên tới gần 7%, so với 1.5% ở nhóm 25-49 và gần 1% ở nhóm 50+, theo thông tin từ báo cáo “Đánh giá về tình trạng thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp và thực hành tốt của doanh nghiệp để nâng cao tay nghề cho thanh thiếu niên yếu thế và dễ bị tổn thương” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRI) thực hiện.   Tỉ lệ thất nghiệp cao nhất  Vấn đề đáng lo ngại đầu tiên là tỷ lệ thất nghiệp cao ở nhóm lao động trẻ 15-24 tuổi lên tới gần 7%, so với 1.5% ở nhóm 25-49 và gần 1% ở nhóm 50+, theo thông tin từ báo cáo “Đánh giá về tình trạng thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp và thực hành tốt của doanh nghiệp để nâng cao tay nghề cho thanh thiếu niên yếu thế và dễ bị tổn thương” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRI) thực hiện. Điều này cho thấy, các em thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm so với các nhóm tuổi lớn hơn. Trong đó, hai khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ cao nhất, đều gần 9% khiến nơi đây là hai vùng kinh tế có người lao động di cư và làm các công việc tay chân phi chính thức trong các đô thị nhiều nhất hiện nay, trong tổng số 6 vùng kinh tế.   Lý giải về điều này, TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng MDRI, trưởng nhóm thực hiện báo cáo cho rằng một phần là do nhóm lao động trẻ chỉ vừa mới gia nhập lực lượng lao động và phải rất chật vật để cạnh tranh với những người lao động lớn tuổi và dày dặn kinh nghiệm hơn. Mặt khác dù nhóm lao động trẻ có trình độ ngày càng cao (từ năm 2000 đến 2016, – tỷ lệ thanh thiếu niên đi học cao đẳng/ đại học tăng lên gấp ba lần, từ 9% lên gần 30%) nhưng mất cân bằng giữa kiến thức và kỹ năng mà các em được đào tạo so với nhu cầu thực tế của nhà tuyển dụng.   Nhóm lao động trẻ cũng phải đứng trong một nghịch lý khác, là họ có khả năng sử dụng công nghệ, hấp thụ các kỹ năng việc làm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nhiều nhất so với các nhóm tuổi khác nhưng đến nay vẫn chủ yếu làm các công việc phi chính thức (lên tới 60%) – bấp bênh, không có hợp đồng lao động ổn định, mức độ an toàn thấp. Nếu làm trong khu vực phi chính thức thì việc của nhóm này cũng thường là việc giản đơn, rất dễ bị tự động hóa và máy móc thay thế. Theo dữ liệu từ Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR), trong giai đoạn 2019-2021, mức độ tăng trưởng hằng năm của các lô hàng robot công nghiệp tại Việt Nam có thể vượt quá 40%, gần gấp đôi tỷ lệ này ở Thái Lan và Trung Quốc.       Nhóm lao động trẻ cũng phải đứng trong một nghịch lý, họ khả năng sử dụng công nghệ nhưng chủ yếu làm các công việc phi chính thức (lên tới 60%) – bấp bênh, không có hợp đồng lao động ổn định, mức độ an toàn thấp.      Cuộc khảo sát cũng cho thấy về kỹ năng cứng, các doanh nghiệp khá hài lòng với các kỹ năng đọc hiểu văn bản hướng dẫn, tính toán cơ bản, công nghệ thông tin (CNTT) cơ bản/ tin học văn phòng. Nhưng các kỹ năng về ngoại ngữ và tin học nâng cao của người lao động trẻ bị đánh giá là yếu nhất. Về các kỹ năng mềm, các kỹ năng “ứng xử với khách hàng”, “làm việc nhóm”, quản lý cảm xúc và kỹ năng sáng tạo là nhóm kỹ năng được các nhà tuyển dụng kỳ vọng thì được đánh giá ở mức trung bình trong nhóm lao động được hiện tại. Nhưng đáng ngại nhất là ba kỹ năng về (1) hướng dẫn, giảng dạy, đào tạo con người, (2) bán hàng, và (3) thuyết trình của lao động trẻ chỉ được các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá là kém hoặc dưới trung bình.  Nhu cầu lao động giản đơn ngày càng giảm  Khảo sát này cũng cho thấy trong bối cảnh đang hướng tới nền kinh tế số thì các doanh nghiệp sẽ có nhiều thay đổi về nhu cầu nhân sự trong khoảng 1/3 doanh nghiệp cho biết sẽ giữ nguyên đội ngũ nhân viên hiện tại và có thêm các hoạt động đào tạo nội bộ nhưng cũng có tới 20-30% doanh nghiệp lên kế hoạch tuyển dụng thêm lao động với kiến thức/kỹ năng chuyên biệt. Tiêu biểu, ngành Dệt may sẽ có xu hướng cần nhiều lao động có tay nghề ở mức trung bình hoặc cao hơn, tiếp tục giảm tỉ lệ lao động giản đơn. Ngành này sẽ cần thêm lao động cho các vị trí mới như: vẽ và tạo mẫu 3D, thiết kế và in ấn 3D, lập trình robot dệt, đánh giá và phân tích mẫu trong môi trường ảo VR, gửi và nhận mẫu sản phẩm hoặc thiết kế đến máy cắt vải qua công nghệ đám mây, dự đoán lịch bảo trì, quản lý chuỗi cung ứng điện tử, trang thương mại điện tử…. “Các doanh nghiệp sẽ tận dụng lợi thế của mình cũng như điều kiện áp dụng các thiết bị máy móc hiện đại để thay thế lao động giản đơn, những người còn ở lại làm việc, còn được sử dụng làm việc thì đương nhiên phải có chất lượng cao hơn, có những kỹ năng cao hơn, những kỹ năng khác biệt hơn. Những công việc còn kiểu lặp đi lặp lại hiện nay chắc chắn sẽ bị thay thế”, ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết.   Bối cảnh căng thẳng thương mại gia tăng và đại dịch COVID-19 càng gây ra nhiều áp lực và thách thức với thanh niên vì tỉ lệ thất nghiệp hoặc mất việc phải rơi từ khu vực chính thức sang phi chính thức ngày càng nhiều. Cơ hội trong các khu vực kinh tế chính thức ngày càng ít đi, giới trẻ ngày càng khó dịch chuyển từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.  Làm gì để vượt qua?   Do đó, TS. Phùng Đức Tùng khuyến nghị “Chính phủ nên xây dựng và phát triển nền tảng dịch vụ việc làm tự động, miễn phí và dễ tiếp cận với thông tin về thị trường việc làm được cập nhật liên tục; cùng với đó là đưa ra các ưu đãi hấp dẫn hơn về thuế và các gói hỗ trợ tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng chính sách tuyển dụng bao trùm dành cho nhóm lao động yếu thế và dễ bị tổn thương. Các cơ sở giáo dục nên thiết kế chương trình giảng dạy sáng tạo và tự chủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường việc làm. Ngoài ra, nội dung định hướng nghề nghiệp cho học sinh theo sở thích thích cũng cần được lồng ghép một cách có ý nghĩa vào chương trình học ngay từ cấp tiểu học để các em học sinh trau dồi năng lực khám phá bản thân và nuôi dưỡng tài năng, giúp các em chuẩn bị tốt hơn cho quá trình chuyển tiếp trong tương lai”.  Mặt khác, các trường đại học, cao đẳng và các cơ sở đào tạo nghề cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để tích hợp đào tạo kỹ năng mềm, hướng nghiệp vào chương trình giảng dạy chính thức. Chẳng hạn, các doanh nghiệp có thể tham gia thiết kế hoặc cung cấp giáo trình cho các cơ sở đào tạo, thông qua tích hợp hoặc phát triển các chương trình hoặc khóa học, các chương trình thực tập và trao đổi thực tập sinh, các chương trình đào tạo cho sinh viên và nhân viên, làm giảng viên khách mời, thiết kế các chương trình học cụ thể hoặc các khóa học chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của ngành…  Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ cần trao đổi với các bên liên quan trong việc đưa ra các đánh giá, phản hồi về các chính sách, dịch vụ hỗ trợ cũng như thực hiện nghiên cứu thị trường để tư vấn chính sách cho chính phủ nhằm nhân rộng thực hành tốt sau thí điểm ở cấp độ quốc gia. Riêng đối với nhóm lao động trẻ yếu thế như những người khuyết tật, người thiểu số, TS. Phùng Đức Tùng cho biết, Chính phủ nên đưa ra các ưu đãi về thuế và các gói hỗ trợ tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương. Ngân sách nhà nước cũng nên chi trả một phần tiền lương thử việc, học nghề của người lao động khuyết tật. Chính phủ nên nghiên cứu, xem xét quy định một tỷ lệ cụ thể về vị trí công việc dành riêng cho lao động yếu thế và dễ bị tổn thương trong doanh nghiệp.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Lập Hiến hướng đến pháp quyền ở Việt Nam      Gần đ&#226;y chủ tịch Quốc hội Nguyễn Ph&#250; Trọng c&#243; đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến ph&#225;p như một nhu cầu cấp b&#225;ch[1]. T&#244;i cho rằng, nhu cầu n&#224;y l&#224; c&#243; thật, nhưng thay v&#236; sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao ch&#250;ng ta kh&#244;ng t&#237;nh đến một chiến lược l&#226;u d&#224;i hơn l&#224; ho&#224;n thiện một Hiến ph&#225;p t&#237;ch hợp được cả những điểm tiến bộ của c&#225;c bản Hiến ph&#225;p trước đ&#243; của d&#226;n tộc, vừa phải t&#237;ch hợp được những tinh hoa của nền lập hiến c&#225;c nước tr&#234;n thế giới.    Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử nhân loại và cũng là bản Hiến pháp tồn tại lâu nhất cho đến nay trên thế giới, đấy chính là bản Hiến pháp của Mỹ năm 1787. Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng, nhiều vấn đề có thể hôm nay đúng, nhưng ngày mai chưa chắc vẫn còn đúng, vậy đâu là những giá trị trường tồn có khả năng thích ứng với đổi thay của xã hội trong bản Hiến pháp này?  Cách đây không lâu tôi có dịp trao đổi với GS.TS. John Attanasio, Chủ nhiệm Khoa Luật, đến từ Đại học Dedmann của Hoa Kỳ về Hiến pháp so sánh. Chúng tôi đã cùng chia sẻ nhiều vấn đề về Hiến pháp.  Ông đã đặt một câu hỏi mà tôi cho rằng rất thú vị đó là: “Bạn thử nghĩ xem Hiến pháp Mỹ qui định cho đối tượng nào?”  Tôi biết ông đặt câu hỏi như vậy là có ý muốn chia sẻ và so sánh một điều gì đó nên tôi trả lời để lắng nghe ông giải thích: “Phải chăng cho hai chủ thể là công dân và Nhà nước?”  Ông chia sẻ:  Lẽ thường là như vậy, nhưng những nhà lập hiến đất nước tôi khi xây dựng Hiến pháp cho rằng: Hiến pháp chỉ nên qui định hành vi của Nhà nước (ông nhấn mạnh). Vì mục đích của Hiến pháp là giới hạn quyền lực của Nhà nước, tạo lập và bảo vệ xã hội dân sự (Civil Society) một cách hợp pháp, thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngăn chặn hành vi lạm quyền từ phía Nhà nước. Xã hội dân sự không thể tồn tại hợp pháp và phát triển được nếu quyền lực Nhà nước không bị giới hạn.  Tôi thắc mắc:                 “Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là bản Hiến pháp này đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu, đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các cơ quan Nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ. Thiết chế này có khả năng phản biện các chính sách, buộc Nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển”.               GS.TS. John Attanasio          “Vậy Tuyên ngôn nhân quyền (The Bill of Rights) của Mỹ qui định về các quyền công dân thì qui định cho đối tượng nào?”  Ông cũng trả lời ngay:  “Ðó cũng là cho Nhà nước. Thực chất tuyên ngôn nhân quyền chính là những qui định về trách nhiệm của Nhà nước phải đảm bảo các quyền công dân. Tuyên ngôn nhân quyền chính là kết quả sự đấu tranh của nhân dân buộc chính quyền phải thừa nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Vì một khi qui định các quyền công dân mà Nhà nước không cam kết bảo vệ và tôn trọng thì những quyền đó cũng không có ý nghĩa gì”.  Thấy thú vị, tôi tiếp tục đặt câu hỏi:  “Vậy ông đánh giá cao điều gì nhất ở Hiến pháp Mỹ?”  Ông chia sẻ:  “Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là bản Hiến pháp này đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu, đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các cơ quan Nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ. Thiết chế này có khả năng phản biện các chính sách, buộc Nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển”.  Đây chỉ là quan điểm của một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về Hiến pháp của Mỹ, nhưng những quan điểm của ông rất đáng phải suy ngẫm.   Hiến pháp bao giờ cũng là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất ở mỗi một quốc gia, khi ra đời về nguyên lý để đảm bảo tính pháp quyền, nó còn được đặt cao hơn cả Nhà nước, để nhằm giới hạn quyền lực của Nhà nước. Tất cả việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải được đặt trên cơ sở Hiến pháp. Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà quyền lực Nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp, phi chính trị, phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành. Chính xã hội dân sự đó mới là động lực phản biện đẩy Nhà nước và xã hội cùng tiến bộ.  Điều làm nên giá trị trường tồn của Hiến pháp không chỉ là những gì được qui định trong Hiến pháp, vì thực tế không có một bản Hiến pháp nào có thể qui định được cụ thể hết các điều trong đó, mà quan trọng hơn là cơ chế giải thích Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp. Cả hai cơ chế này đều phải được thực hiện bởi một thiết chế tài phán Hiến pháp độc lập, chính đó mới là công cụ hữu hiệu hiện thực hoá những điều đã qui định trong Hiến pháp.                              Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946        Chừng nào các thuật ngữ trong Hiến pháp còn chưa được giải thích bởi thiết chế độc lập này, thì chừng đó các nhà chính trị sẽ giải thích theo cách có lợi cho họ, các nhà khoa học sẽ còn tranh luận không có điểm dừng, những văn bản qui phạm pháp luật vi hiến sẽ không có cơ sở rõ ràng để huỷ bỏ, xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan vẫn cứ diễn ra và quan trọng hơn là quyền lợi của người dân sẽ không được bảo vệ.   Gần đây Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp như một nhu cầu cấp bách[1]. Tôi cho rằng, nhu cầu này là có thật, nhưng thay vì sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao chúng ta không tính đến một chiến lược lâu dài hơn là hoàn thiện một cách cơ bản Hiến pháp, để những thay đổi đó có khả năng giải quyết được căn bản nhiều vấn đề của đất nước – một bản Hiến pháp mà chúng ta có thể tin tưởng về tính lâu dài, tính ổn định, và tính pháp quyền của nó?  Nếu được xây dựng, Hiến pháp trong tương lai pháp luật Việt Nam sẽ phải là Hiến pháp tích hợp được cả những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó của dân tộc, vừa phải tích hợp được những tinh hoa của nền lập hiến các nước trên thế giới.  Từ bản Hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam đến nay, thì Hiến pháp năm 1946[2] vẫn được đánh giá là có nhiều qui định tiến bộ, đặc biệt là trên phương diện tổ chức quyền lực Nhà nước hơn cả. Nhiều sửa đổi của pháp luật hiện hành cũng đang theo hướng trở về với những giá trị của Hiến pháp 1946. Tuy nhiên nhiều tác giả khi nhận xét về bản Hiến pháp này đã quá nhấn mạnh, thậm chí tuyệt đối hóa, chỉ nhìn thấy những điểm tích cực của nó, tôi cho rằng nếu chỉ đánh giá như vậy là có phần phiến diện, lý thuyết. Vì xét trên phương diện thực tế, thì bản Hiến pháp này chưa được hiện thực hóa đầy đủ một ngày nào, lại càng khó khăn hơn khi thực tiễn lúc đó là trong hoàn cảnh chiến tranh, dân số chúng ta lúc đó chưa đông như hiện nay, và chưa kể đến tính chất quan hệ kinh tế, quốc tế lúc đó cũng khác rất nhiều so với thời điểm hiện nay.  Nhìn rộng ra thế giới, đành rằng hiến pháp nào cũng chỉ có thể qui định những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của một quốc gia, nhưng khi áp dụng nó cho những trường hợp cụ thể thì lại cần đến nhu cầu phải cụ thể hoá chúng. Khắc phục những mặt còn hạn chế của Hiến pháp hiện hành, nên xây dựng một cơ chế tài phán Hiến pháp độc lập vừa có chức năng giải thích Hiến pháp, vừa có chức năng xét xử những hành vi vi phạm Hiến pháp[3], xây dựng cơ chế giám sát bên trong giữa các cơ quan Nhà nước, bên ngoài với xã hội dân sự phù hợp.  Chừng nào Hiến pháp chưa được đặt lên trên Nhà nước, nhằm giới hạn quyền lực Nhà nước như đúng tinh thần của Hiến pháp năm 1946, chừng nào chưa sẵn sàng cho một cơ chế giám sát Hiến pháp, cơ chế giải thích Hiến pháp và tài phán Hiến pháp độc lập, thì chừng đó theo thiển ý của tôi chưa nên đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp.   ———–  * (Cộng hòa Liên bang Đức)  [1]http://www.phapluattp.vn/news/chinh-tri/view.aspx?news_id=250285 .   [2] Hiến pháp năm 1946 gồm có 7 chương, 70 điều, là một bản Hiến pháp có nhiều giá trị tiến bộ ở thời điểm lúc đó. Do hoàn cảnh chiến tranh, bản Hiến pháp này chưa được Chủ tịch nước kí lệnh công bố.  [3] Liên hệ với Hiến pháp Việt Nam hiện hành, tương ứng với nhiều quyền năng cơ bản thường kèm theo về quy định của pháp luật” (ví dụ: Điều 57. Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật; Điều 62. Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật; Điều 68. Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật…). Cách qui định này thực chất là cách mở ra rồi lại đóng vào. Với cách qui định như thế, thì người dân không biết nội hàm đầy đủ của quyền đó là gì, và giới hạn của quyền đó đến đâu, rồi khi bị vi phạm thì bảo vệ bằng con đường nào? vì theo qui định của pháp luật nói chung thì rất rộng, và khi đi tìm thì người dân không biết tìm cái gọi là “theo qui định của pháp luật” đó ở đâu.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lặp lại cảnh báo về nguy cơ Các giới hạn tăng trưởng      Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tính đúng  đắn của kết quả một nghiên cứu được công bố 40 năm trước, rằng thế giới  đang tiến gần tới một thảm họa. Đây là khẳng định của nhà vật lý người  Úc Graham Turner, người đã kiểm chứng lại nghiên cứu kinh điển từ những  năm 1970 có tựa đề Các giới hạn tăng trưởng, được thực hiện bởi một nhóm  các nhà nghiên cứu phục vụ cho Câu lạc bộ Rome.     Nghiên cứu Các giới hạn tăng trưởng dùng các mô hình máy tính để xây dựng các kịch bản sẽ xảy ra trong tương lai, trong đó dự đoán rằng nếu con người tiếp tục duy trì mức độ kinh doanh, sản xuất, và khai thác tài nguyên, môi trường quá mức như hiện nay thì kinh tế toàn cầu sẽ sụp đổ, và dân số bắt đầu suy giảm từ năm 2030. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khẳng định rằng khả năng tăng trưởng kinh tế là vô tận, nếu các chính phủ áp dụng những chính sách phù hợp, và đầu tư vào công nghệ nhằm kiểm soát tác động từ con người tới môi trường.   Một số nhà kinh tế nổi tiếng không nhất trí với phương pháp và kết luận của nghiên cứu trên. Nhà kinh tế Henry Wallich phản đối việc can thiệp vào xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu, cho rằng nếu siết giảm tăng trưởng kinh tế quá sớm thì sẽ “khiến hàng tỷ người rơi vào nghèo đói”.  Turner đã so sánh dữ liệu thực tế từ năm 1970 tới 2000 với con số dự báo trong nghiên cứu Các giới hạn tăng trưởng, và thấy sự trùng khớp đáng kể. “Đây là một hồi chuông cảnh báo rất rõ ràng”, ông nói. “Con đường mà chúng ta đang đi không bền vững”.  Mark Strauss, tạp chí Smithsonian  TS dịch theo  http://www.smithsonianmag.com/science-nature/Looking-Back-on-the-Limits-of-Growth.html#ixzz1rDxLRslu  * Chú thích ảnh:  Nét mờ: dữ liệu trong lịch sử trước 1970  Nét đứt đoạn: số liệu theo dự đoán trong nghiên cứu Các giới hạn tăng trưởng  Nét đậm: đường dữ liệu trong thực tế giai đoạn 1970-2000  Màu tím: lượng tài nguyên không tái tạo còn lại  Màu nâu: lượng lương thực – thực phẩm trên đầu người  Màu xanh lá cây: lượng dịch vụ trên đầu người  Màu đen: dân số thế giới  Đỏ: sản lượng công nghiệp trên đầu người  Xanh cô-ban: lượng ô nhiễm toàn cầu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lập pháp: Những vấn đề của quy trình      Làm luật thì cũng như làm bất cứ cái gì khác, quy trình đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy quy trình làm luật của chúng ta đã được quan tâm đổi mới rất nhiều trong thời gian qua, và thật sự đã giúp chúng ta thông qua các văn bản quy phạm pháp luật được nhanh hơn và cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, một số vấn đề thì vẫn còn đó.    Các đại biểu Quốc hội nhấn nút thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nguồn: quochoi.vn  Những vấn đề liên quan đến việc làm luật theo kế hoạch  Khách quan mà nói, cách làm luật này phản ánh nhận thức và thực tiễn của nước ta. Rõ ràng, khi đất nước chuyển đổi từ mô hình nhà nước vận hành theo chỉ thị, nghị quyết sang mô hình nhà nước pháp quyền, thì nhu cầu phải có đầy đủ pháp luật là một nhu cầu khách quan. Lên kế hoạch để xây dựng pháp luật vì vậy cũng rất cần thiết. Ngoài ra, làm luật theo kế hoạch còn giúp tập trung các nguồn lực và áp đặt kỷ luật cho cả quá trình soạn thảo và thông qua.  Tuy nhiên, khi hệ thống pháp luật của chúng ta đã được xây dựng cơ bản đầy đủ, thiết kế quy trình lập pháp bắt đầu từ kế hoạch làm luật (mà chúng ta gọi là chương trình xây dựng pháp luật), không phải là không có vấn đề.  Vấn đề đầu tiên là hoạt động lập pháp có thể xa rời với cuộc sống. Cuộc sống có thể đang đặt ra những vấn đề nóng bỏng, nhưng chúng ta không phản ứng được vì nhiều vấn đề như vậy chưa được đưa vào chương trình xây dựng pháp luật. Mặc dù chương trình xây dựng pháp luật có thể được điều chỉnh hằng năm, nhưng như vậy vẫn là chậm. (Hiện nay, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới, chương trình xây dựng pháp luật chỉ còn được đề ra cho hằng năm, chứ không phải năm năm như trước đây). Ngoài ra, các cơ quan có liên quan lại phải tập trung mọi nỗ lực để hoàn thành chương trình xây dựng pháp luật, nên sẽ không còn nguồn lực để xử lý những vấn đề mới phát sinh. Sự chậm trễ và bất tương ứng như vậy có thể làm cho nền quản trị quốc gia của chúng ta trở nên kém hiệu năng.  Hai là, không nhắm vào vấn đề của cuộc sống để làm luật mà lại theo kế hoạch để làm, thì chính sách lập pháp khó có thể xác định chính xác được. Hệ quả là chúng ta thường thiết kế vô số những chính sách theo mong muốn chủ quan (cho dù chỉ toàn những mong muốn tốt đẹp) vào trong dự luật. Một dự luật như vậy được giới nghiên cứu gọi là dự luật nhồi nhét. Các dự luật nhồi nhét được thông qua sẽ trở thành các đạo luật nhồi nhét. Các đạo luật nhồi nhét về cơ bản không thể triển khai được vì có quá nhiều chính sách ở trong đó. Không một chính phủ nào có đủ nguồn lực để triển khai những dự luật như vậy. Luật pháp không triển khai được, thì sẽ mất thiêng. Chưa nói tới tình trạng chồng chéo, xung đột giữa các văn bản pháp luật cũng rất dễ xảy ra.  Ba là, nguồn động lực rất lớn để hình thành nên chương trình xây dựng pháp luật là mong muốn có thêm quyền năng của các bộ, ngành. Mà các bộ, ngành càng có thêm quyền năng, thì người dân càng ít tự do và càng phải xin phép nhiều hơn thôi. Đó là chưa nói tới tình trạng, sau khi đã đưa được tên dự luật vào chương trình, nhiều bộ, ngành mới bắt đầu cố gắng tìm kiếm nội hàm cho chúng. Đây quả thực là cách làm ngược.  Bốn là, thẩm định về sự cần thiết của một lúc hàng chục, hàng trăm dự luật là rất khó khăn. Trên thực tế, điều này là không thể làm được. Mà như vậy, thì rủi ro của việc hoạt động lập pháp bị tách khỏi cuộc sống thật lại càng lớn hơn.  Thế thì chúng ta nên khắc phục việc làm luật theo kế hoạch như thế nào?  Cách hợp lý nhất là nên dành cho Chính phủ có quyền chủ động nhiều hơn. Về bản chất, chương trình lập pháp năm năm của Quốc hội phải là sự phản ánh các nhiệm vụ và định hướng chiến lược đã được Đại hội Đảng đề ra cho nhiệm kỳ năm năm của mình. Chính phủ sẽ lên kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ và định hướng nói trên và trình ra Quốc hội theo tiến độ công việc của mình. Ngoài ra, cần có thủ tục rút gọn để Chính phủ có thể trình ra một cách nhanh chóng nhất các dự luật cần thiết, qua đó xử lý những vấn đề nóng bỏng đang phát sinh của đất nước. Có một khái niệm chúng ta cũng nên trang bị cho mình ở đây là: ưu tiên của hành pháp. Chính phủ phải có quyền ưu tiên trong việc xác lập chương trình nghị sự của Quốc hội.  Về công đoạn tiếp theo của quy trình lập pháp  Sau khi chương trình xây dựng pháp luật được thông qua, các cơ quan hữu quan sẽ tiến hành soạn thảo các dự luật. Và các dự luật được soạn thảo xong sẽ trình ra các ủy ban tương ứng của Quốc hội để được thẩm tra. Sau khi các ủy ban thẩm tra xong thì trình ra Quốc hội. Quốc hội nước ta thông qua các dự luật theo hai lần đọc hay là theo hai lần trình ra phiên họp toàn thể của Quốc hội. Để cho nhất quán, thì xin cứ gọi là hai lần đọc. Ở lần đọc thứ nhất, Chính phủ trình dự luật ra trước Quốc hội, còn ủy ban thì trình ý kiến thẩm tra của mình. Và Quốc hội sẽ thảo luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ở lần đọc thứ hai, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) sẽ trình dự luật ra trước Quốc hội, sau khi đã tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và hoàn thiện dự thảo văn bản.  Như vậy, chúng ta thấy, triết lý của hai lần đọc ở ta là rất khác với thế giới. Thế giới thông qua một dự luật qua ba lần đọc. Lần đọc thứ nhất để thẩm định sự cần thiết của dự luật. Nếu đa số các vị đại biểu Quốc hội thấy dự luật là không cần thiết, thì dự luật sẽ chết yểu sau lần đọc thứ nhất. Lần đọc thứ hai là để thẩm định chính sách lập pháp được đề ra trong dự luật. Nếu đa số các vị đại biểu Quốc hội không đồng ý với chính sách lập pháp được đề ra, thì dự luật sẽ chết yểu sau lần đọc thứ hai. Lần đọc thứ ba là để thông qua dự luật sau khi ủy ban có liên quan đã thẩm tra về mặt kỹ thuật và hoàn chỉnh văn bản. Tại lần đọc thứ ba, nếu đa số các thành viên của ủy ban không tán thành dự luật, thì dự luật cũng sẽ chết yểu. Nếu đa số thành viên ủy ban tán thành dự luật, thì dự luật mới được thông qua.  Cách thông qua dự luật theo hai lần đọc của chúng ta có ưu điểm là rút ngắn thời gian. (Tất nhiên, chỉ rút ngắn thời gian nếu như chúng ta không phải làm đi, làm lại nhiều lần). Tuy nhiên, cách làm này không phải là không có vấn đề.  Vấn đề dễ nhận thấy nhất là Chính phủ không được theo đuổi dự luật đến cùng. Vai trò của Chính phủ trong hoạt động lập pháp thì cũng giống như trong nhiều hoạt động mang tính chất quản trị quốc gia khác. Đó là: Chính phủ đề xuất chính sách lập pháp, soạn thảo thành văn bản trình Quốc hội thẩm định và thông qua. Mặc dù, vẫn còn rất nhiều việc phải làm để đổi mới công đoạn của Chính phủ trong quy trình lập pháp, như minh định giữa quy trình chính sách và quy trình soạn thảo; nâng cao năng lực nhận biết vấn đề; nâng cao năng lực nghiên cứu và phân tích chính sách; hoàn thiện kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật… Điều đáng quan tâm hơn là việc bảo đảm cơ hội và điều kiện để Chính phủ giải trình và bảo vệ chính sách lập pháp của mình đến cùng trước Quốc hội. Theo quy định hiện hành, Chính phủ chỉ có cơ hội giải trình một lần duy nhất khi trình dự luật ra trước Quốc hội. Sau đó việc hoàn thiện dự luật được giao lại cho Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH). Quy định này có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng lập pháp là quyền của Quốc hội, nên việc sửa đổi, hoàn thiện văn bản, điều chỉnh chính sách như thế nào cũng là quyền của Quốc hội. Quan điểm này thực ra chỉ phản ánh một thứ lôgíc hình thức. Nó hoàn toàn không phản ánh đúng động lực thật của quy trình lập pháp, cũng như vai trò của quyền hành pháp và quyền lập pháp trong quá trình này. Điều dễ nhận thấy là nếu giao trách nhiệm hoàn thiện dự luật cho UBTVQH, thì UBTVQH phải đứng ra giải trình với Quốc hội. Thế nhưng giải trình chính sách với Quốc hội lại thuộc về chức năng hành pháp (Thẩm định chính sách mới thuộc về chức năng lập pháp). Sự đổi vai như thế có lẽ cũng không đáng quan ngại lắm, nếu như các chính sách mới hoặc những sửa đổi, bổ sung làm thay đổi bản chất của chính sách không được đưa vào trong dự luật. Bởi vì rằng, nếu điều trên xảy ra, thì việc triển khai thực hiện dự luật trong cuộc sống sẽ hết sức khó khăn. Lý do là vì, các chính sách mới còn chưa được nghiên cứu, phân tích và đánh giá tác động.  Hơn thế nữa, vấn đề mà Chính phủ cố gắng đề ra chính sách lập pháp để xử lý thì lại bị bỏ ngỏ. Đây có thể cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa làm cho việc ban hành nghị định để triển khai thi hành luật, pháp lệnh bị chậm trễ, kéo dài.  Một hệ lụy khác của việc đổi ngôi là động lực để nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản của các cơ quan thuộc Chính phủ bị suy giảm nghiêm trọng. Tâm lý chung là đằng nào thì Quốc hội cũng sẽ sửa gần hết, thì việc gì mà phải lao tâm khổ tứ. Quả thực, theo ý kiến của các chuyên viên của Văn phòng Quốc hội, thì các dự luật thường bị sửa đổi lên đến trên dưới 70% sau khi trình sang Quốc hội. Nhiều người coi đây là một thành tích của Quốc hội. Thế nhưng, không ít chuyên gia thì lại thấy hết sức băn khoăn về cách hiểu và cách làm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là Quốc hội có quyền thay thế một chính sách lập pháp do Chính phủ đề ra bằng một chính sách khác hay không? Xét từ góc độ kỹ trị, câu trả lời là không. Quốc hội có thể phê chuẩn chính sách lập pháp do chính phủ đề ra hoặc không phê chuẩn chính sách đó. Chứ nếu Quốc hội lại đề ra một chính sách mới cho Chính phủ thực hiện, thì Quốc hội đang lấn sân sang quyền hoạch định chính sách của hành pháp. Tệ hơn nữa, các chính sách mà Quốc hội đề ra lại hoàn toàn không được thẩm định.  Nên chăng, chúng ta cần trở lại với quy trình lập pháp được áp dụng từ năm 2008 trở về trước, khi Chính phủ có điều kiện giải trình và bảo vệ chính sách lập pháp của mình qua tất cả các lần thẩm tra, thảo luận và xem xét ở Quốc hội.  Cuối cùng, có một điều khác với thế giới nữa cần chỉ ra ở đây là: chúng ta thường không phân định được rõ ràng đâu là các vấn đề chính sách, đâu là các vấn đề kỹ thuật. Trên thế giới, các đại biểu thường chỉ quan tâm thảo luận các vấn đề chính sách chứ không đi sâu vào các vấn đề kỹ thuật. Và các phiên họp toàn thể là để tranh luận về chính sách, chứ không phải về kỹ thuật. Việc sử dụng phiên họp toàn thể để thảo luận và quyết định cả những vấn đề kỹ thuật như ở ta là rất rủi ro. Các vấn đề kỹ thuật là công việc của các chuyên gia, hơn là của các vị đại biểu. Lý do là vì không thể thảo luận và quyết định theo đa số các vấn đề kỹ thuật được. Ví dụ, bạn không thể quyết định với 100% phiếu tán thành là một ngày chỉ có 23 giờ được. Bởi vì rằng khách quan là một ngày sẽ có 24 giờ. Những vấn đề kỹ thuật thì chỉ có các chuyên gia của các bộ thuộc Chính phủ mới hiểu sâu được. Thế nên, để sửa đổi một quy định nào đó trong dự thảo thì cần phải tham vấn ý kiến của họ. Thực ra, các chuyên viên của Văn phòng Quốc hội thường vẫn hợp tác khá chặt chẽ với các chuyên gia của các bộ. Vấn đề là khi UBTVQH hoặc Quốc hội thảo luận quyết định, thì đội ngũ này lại chẳng thể nào có ý kiến được.  Về mặt thủ tục, tất nhiên, các chuyên gia không thể tham gia ý kiến tại các phiên họp của UBTVQH, cũng như của Quốc hội. Chính vì thế, lại càng nên phân định thật rõ ràng đâu là vấn đề chính sách, đâu là vấn đề kỹ thuật. Quốc hội và UBTVQH chỉ nên quyết định những vấn đề chính sách thôi.     Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Lâu lâu… siết một cái!      Chưa có một điều tra xã hội học thật cụ thể, nhưng tôi vẫn đoán chắc với các bạn rằng trong đôi ba năm trở lại đây, những “con mọt sách” thứ thiệt ở nước Nam ta mỗi khi đi tìm sách cho mình thì đều không thể bỏ qua một yếu tố có tính chất chỉ dẫn: cuốn sách ấy ở đâu làm?         Bạn chớ vội tưởng rằng họ quan tâm tới địa chỉ chịu trách nhiệm xuất bản cuốn sách – tức là các nhà xuất bản. Không đâu. Trong hầu hết các trường hợp, điều mà họ rất mực chú ý lại là những địa chỉ “phi chính thống” – tức là cái khối làm sách chẳng có lấy một gram quyền hạn nào trong việc quyết định ra đời một cuốn sách, cái khối làm sách được Luật xuất bản hiện hành định danh là”đối tác liên kết” (để thay cho tên gọi “đầu nậu” vốn quen miệng trước kia nhưng đến nay nghe có vẻ không được thuận tai cho lắm!). Thực tế là thế này: trong nỗ lực chuyên sâu hóa việc làm sách của mình, các đối tác liên kết đã tạo nên những thương hiệu có uy tín với bạn đọc, đặc biệt là với những “con mọt sách”. Tên nào của ấy, người ham đọc chỉ cần nhìn vào cái logo của đối tác liên kết – in trên bìa một cuốn sách, cạnh logo của nhà xuất bản – là đã có thể yên tâm bỏ tiền ra mua về cuốn sách mình muốn.  Thế nhưng, cái sự tiện ích ấy mới đây đã trở thành quá khứ. Ngày 22 tháng 6 năm 2007, Cục xuất bản gửi một công văn cho tất cả các nhà xuất bản trên cả nước, yêu cầu chấn chỉnh lại một số việc trong mối quan hệ liên kết giữa các nhà xuất bản và đối tác. Xuyên qua lớp ngôn từ quan phương đặc trưng cho một văn bản hành chính, người ta không khó để nhận ra trong nội dung công văn này một mệnh lệnh: các nhà xuất bản không được phép đưa logo của đối tác lên bìa một của cuốn sách (sách liên kết, tất nhiên)! Công văn vừa ban hành đã khiến giới làm sách xôn xao, người thì ồn ào phản đối, kẻ thì mềm giọng xin xỏ sự rộng lòng của cơ quan quản lý nhà nước. Còn người viết bài này, vốn không am tường lắm về những sự vụ của làng xuất bản, đành phải làm cái việc là đọc lại Luật xuất bản hiện hành, xem có gì không khớp giữa Luật và mệnh lệnh nói trên (chúng ta sống và làm việc theo pháp luật mà!).    Hóa ra, nếu căn cứ theo Luật thì mệnh lệnh của Cục xuất bản là hoàn toàn có lý. Trong Luật, điều 20 cho phép các đối tác liên kết được đưa logo của mình lên xuất bản phẩm; điều 26 quy định rõ là ở bìa một của xuất bản phẩm phải ghi đầy đủ tên tác giả, tên tác phẩm, tên đơn vị xuất bản. Nhưng chẳng có một chữ nào nói rằng mấy anh đối tác liên kết có quyền được/tự xem là “đơn vị xuất bản”, cũng chẳng có một chữ nào nói rằng họ được phép chễm chệ ở cái bìa một sang cả kia! Vấn đề đã rõ. Vậy ra bấy lâu nay các đối tác liên kết đã lợi dụng sự bao dung của cơ quan quản lý nhà nước để diễn dịch Luật theo hướng có lợi cho mình. Họ quên mất một điều cốt tử: Luật không nói, không có nghĩa là anh được phép làm. Và bây giờ chính là lúc kỷ cương siết lại!    Thế thì tóm lại, logo của đối tác liên kết – cái dấu chỉ để thiên hạ có thể nhận mặt từng người giữa một biển sách hiện nay – sẽ được đặt ở đâu trên cuốn sách? Chắc chắn là ở bìa bốn rồi. Mà nếu vậy, như tôi đã nhanh nhảu nói trước, sự tiện ích vốn có của bạn đọc khi chọn sách đã là chuyện thuộc về quá khứ. Họ phải cầm cuốn sách trên tay, lật bìa bốn, lúc ấy mới biết sách này của nhà xuất bản hay là sách liên kết, nếu là sách liên kết thì ai là đối tác liên kết? Ngẫm ra, về phía bạn đọc, cái sự mất tiện ích này chẳng đáng gì để phải than vãn. Có tốn bao công đâu. Nhưng với các đối tác liên kết thì đây là cú siết khiến khối người nghẹt thở, nhất là những anh nào chuyên làm mảng sách dịch. Xin cam đoan là tôi không bi kịch hóa vấn đề một chút nào. Này nhé, bây giờ là thời đại văn minh, không có chuyện cứ dịch và xuất bản sách nước ngoài một cách vô tội vạ nữa rồi. Phải mua/xin bản quyền. Mà người nước ngoài thường kĩ tính, không phải cứ mua/xin là họ bán/cho ngay đâu, họ phải xem đối tác có phải là đơn vị làm ăn có uy tín không đã. Vậy thì anh sẽ biện luận thế nào đây về hai chữ “uy tín”, khi mà logo của anh, cái thương hiệu kinh doanh của anh, nhẽ ra phải nằm ở “mặt tiền” – là chỗ dễ nhận thấy nhất – thì lại chui tọt vào “hậu viện” tối tăm?  Nhưng thật ra, đấy chỉ là thiệt hại “sơ sơ”, niềm tự ái bị thương tổn mới chính xác là sự thiệt hại nặng nề mà cái “mệnh lệnh nhất quyết” nói trên tạo ra cho các đối tác liên kết. Tôi đã nhắc tới chuyện người đọc hiện nay chỉ cần nhìn vào logo của đối tác liên kết là biết ngay loại sách và chất lượng của cuốn sách. Niềm tin này không phải bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống, mà nó được kiểm chứng qua quá trình các đối tác liên kết từng bước xây dựng thương hiệu của mình trong lòng bạn đọc. Để ra được một cuốn sách, thường thì họ phải tự tổ chức khai thác đề tài, rồi thương thảo bản quyền, rồi tìm người dịch (nếu đó là sách nước ngoài), rồi biên tập, rồi in ấn và phát hành… tóm lại là họ làm tất tần tật mọi công đoạn. (Tiền của và công sức đổ vào đấy, nếu không làm cho ra hồn thì chỉ có nước sớm dẹp tiệm chuyển nghề!). Cái lợi từ thực tế hoạt động của các đối tác liên kết trong đời sống xuất bản đã khá rõ. Một vị giám đốc của một nhà xuất bản thuộc vào loại ăn nên làm ra hiện nay cũng đã hơn một lần phải thừa nhận: chính họ – đối tác liên kết – đã tạo ra phần công ăn việc làm đáng kể cho các nhà xuất bản. Về phía bạn đọc thì còn rõ hơn nữa: nhờ có họ mà bạn đọc có nhiều sách hay, sách tốt, sách có giá trị hơn trong việc thoả mãn nhu cầu đọc của mình. Thế nhưng, rốt cuộc thì chỗ của họ chỉ là ở cái bìa bốn xúi xó. Bảo sao không thấy chạnh lòng xót xa cho phận con rơi con ghẻ, và tệ hơn nữa, con vô thừa nhận? (Có người thắc mắc: nếu cứ để logo của họ trên bìa một, như khi chưa có lệnh cấm, thì cũng có sao đâu! Thì….đúng là chẳng có gì ảnh hưởng đến hòa bình thế giới thật, nhưng người ta cứ thích cấm, có sao?).  Đến đây, tôi chợt muốn nhìn câu chuyện về cái logo của các đối tác liên kết theo một cách khác. Bạn đã bao giờ cầm trên tay những cuốn sách bói toán nhảm nhí, in trên giấy xấu và mực xấu mà mấy người bán sách dạo vẫn tha lôi khắp hè phố không nhỉ? Bạn thử tìm xem ở đó có chữ nào thông báo cho ta biết là nó do ai làm? Chắc chắn không có đâu. Chẳng ai dại gì chường mặt ra cho thiên hạ biết trên những ấn phẩm loại này. Cần phải nặc danh. Chỉ những người nào làm ăn đàng hoàng, chỉ những ai thực sự tự tin vào chất lượng sản phẩm của mình và tác động xã hội tích cực mà nó sẽ tạo ra thì mới không muốn nặc danh. Họ cần  phải được “vua biết mặt chúa biết tên”, cần phải được xã hội công nhận ý nghĩa công việc của mình. Thế nhưng, với cơ sự này, khéo phải mượn văn của ông Nam Cao để mà thương vay khóc mướn cho các đối tác liên kết: muốn làm người lương thiện, nhưng lại chẳng có quyền được làm người lương thiện!  Lại nhớ, đôi ba năm trước đây, khi Luật xuất bản hiện hành ra đời, công nhận cái quyền được liên kết xuất bản của giới làm sách phi công lập , khối anh đã vui như tết vì thoát khỏi tâm lý mặc cảm từ hai chữ “đầu nậu” mà họ đang phải gánh. Kể từ nay họ được “chính danh” hoạt động, được đàng hoàng đặt logo của mình bên cạnh logo của nhà xuất bản, trên bìa một cuốn sách mà họ đã phải bỏ bao công sức để nó được ra đời. Thật là bé cái nhầm. Chẳng có gì thay đổi hết. Nếu anh có “nhỡ” quên điều này thì người ta buộc phải nhắc để anh nhớ. Công văn ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Cục xuất bản là một cú siết để nhắc như vậy. Lâu lâu siết một cái, đó cũng là cách để người có quyền yên tâm hơn về sức mạnh quyền lực của mình trên thực tế!                Hoài Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấy lại vỉa hè: Trách nhiệm của toàn xã hội      Khách quan mà nói, chủ trương nỗ lực tiến hành dẹp tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lập lại trật tự, mỹ quan đô thị ở Hà Nội và TP HCM là hợp lòng dân và cần được thúc đẩy, nhân rộng ra cả nước. Bài viết này xin được góp vài ý kiến xung quanh chiến dịch góp phần chỉnh trang đô thị này.      Tạo sự công bằng xã hội  Ngoài ý nghĩa lập lại, đảm bảo an toàn giao thông, trật tự, mỹ quan đô thị, nỗ lực dẹp tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Không thể phủ nhận những không gian trên thuộc về cộng đồng, do cộng đồng tạo dựng và vì thế nó phải phục vụ cộng đồng. Tiền làm đường, lát vỉa hè cùng bao hệ thống hạ tầng liên quan được lấy từ tiền thuế của dân. Không thể vì bất cứ lý do gì, những không gian ấy bị chiếm hữu để phục vụ lợi ích cho một số ít. Sẽ vô cùng phi lý khi hè đường bị hư hại do hoạt động buôn bán, dịch vụ vốn đem lại thu nhập cho một nhóm nhưng nếu cần tu sửa, nâng cấp, kinh phí lại phải lấy từ ngân sách.  Ở một phương diện khác, duy trì tình trạng buôn bán trái phép trên vỉa hè, lòng đường tạo ra sự bất công với những người thuê ki ốt, có đăng ký kinh doanh tại các chợ hợp pháp. Việc phải đóng thuế, trả tiền thuê mặt bằng khiến giá thành sản phẩm họ bán khó cạnh tranh với những người bán rong, kinh doanh trái phép ven đường. Vị trí bán hàng của họ cũng thua thiệt cả về tính tiện lợi đối với người mua- những người thường ngại, sợ phí, sợ mất thời gian gửi xe vào chợ. Vì vậy, quá trình triển khai cần tính đến đặc thù ở từng khu vực, tuyến phố. Cần có những quy hoạch, linh động ở nơi diện tích cho phép, ưu tiên những đối tượng chính sách, hộ nghèo được duy trì buôn bán bởi đó là sinh kế chính của họ qua nhiều thế hệ, nhất là khi hoạt động buôn bán của họ không cản trở giao thông, đảm bảo vệ sinh môi trường. Thực tế này đã và đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.  Quản lý đô thị để phát triển kinh tế  Có cơ sở để khẳng định rằng khá nhiều hộ kinh doanh trái phép trên vỉa hè, lòng đường không có đăng ký kinh doanh. Ngoài việc thất thu nguồn thuế đáng kể cho ngân sách, hoạt động này còn duy trì tình trạng thiếu minh bạch giữa người bán với người mua trên đủ các phương diện: giá cả, chất lượng, nguồn gốc và độ an toàn của sản phẩm. Từ hàng ăn đến đồ gia dụng, rất ít khi người mua được đảm bảo chất lượng sản phẩm dù họ phải bỏ tiền ra mua. Vì kinh doanh không giấy phép, không ít người bán cũng chỉ quan tâm tìm nguồn hàng rẻ để thu hút khách hàng mà không lưu tâm đến xuất xứ, tình trạng hợp pháp, an toàn sức khỏe.  Thêm nữa, chiếm dụng không gian chung để kinh doanh trái phép dù đem lại lợi nhuận kinh tế cho một vài người (và một vài người khác đứng phía sau) nhưng lại gây ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của hàng vạn người lao động tại các doanh nghiệp hợp pháp khác bởi hàng hóa họ làm ra không bán được do vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng.  Giá nhà đất ở Việt Nam, nhất là ở mặt phố, ven đường được xếp vào nhóm cao trên thế giới nếu tính tương quan với thu nhập. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là việc từ lâu người ta mặc định khoảng vỉa hè trước nhà sẽ thuộc về mình, sẽ được tự do chiếm dụng để kinh doanh, thậm chí cho thuê. Hầu như không có nhà mặt phố nào lại không “tận dụng” khoảng không gian “trời cho” ấy. Người ta kinh doanh thượng vàng hạ cám, đủ quy mô, bỏ một bán mười, kiếm tiền không mấy khó khăn. Quan niệm “tỷ phú nhà quê, không bằng ngồi lê thành phố” có lẽ từ đây mà ra.  Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng việc cấm hoàn toàn hoạt động kinh doanh trên vỉa hè sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống kinh tế của một bộ phận người dân, nhất là những nhóm yếu thế. Quan điểm này cần được lưu tâm bởi trong điều kiện ở nước ta hiện nay, hoạt động buôn bán nhỏ vẫn có đóng góp quan trọng không chỉ cho hộ gia đình mà cả nền kinh tế nếu được quản lý tốt. Chính vì thế, với những trường hợp được cấp phép, nếu người dân đăng ký kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, cam kết giữ vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, an toàn cháy nổ, trật tự giao thông đô thị thì chính quyền địa phương cần tạo điều kiện để người dân thuận lợi làm ăn.  Giảm tệ nạn xã hội  Hiếm quốc gia nào mà quán cóc, chợ cóc lại phổ biến như ở nước ta. Cũng hiếm ở đâu mà lúc nào cũng dễ bắt gặp từng nhóm, đa phần trong độ tuổi lao động, miệt mài “chém gió” bên đường. Mâu thuẫn, cãi lộn, đánh nhau, đổ máu diễn ra có khi chỉ vì một ánh mắt, một câu nói bâng quơ.  Không biết từ bao giờ, tiếng Việt có thêm những khái niệm như: chuyện vỉa hè, văn hóa vỉa hè. Một số người cho đây là nét “đặc sắc” chỉ có ở riêng xứ mình, nên bảo tồn và phát huy để hấp dẫn khách du lịch. Người ta quên mất rằng không ít tệ nạn xã hội cũng từ lấn chiếm vỉa hè, lòng đường mà ra. Nếu có một điều tra bài bản, tỷ lệ quán cóc ven đường liên quan đến lô đề, vay nặng lãi, bài bạc, mại dâm có lẽ sẽ khiến không ít người giật mình. “Kinh tế vỉa hè” cũng gián tiếp làm tha hóa một bộ phận cán bộ, tiếp tay cho những môi quan hệ kim tiền, mờ ám. Lãnh đạo thành phố Hà Nội từng chỉ ra trên 80% quán bia vỉa hè có công an đứng sau. Người ta hoàn toàn có cơ sở đặt ra hơn một câu hỏi về tính trong sáng, thượng tôn pháp luật của mối quan hệ này?  Lấy lại vỉa hè, chuyện không của một ngày  Chủ trương đúng là điều kiện cần. Để đảm bảo tính hiệu quả, bền vững phải có cách tiếp cận, công cụ thực thi hợp lý. Liên quan đến chuyện lập lại trật tự vỉa hè, cá nhân tôi xin đưa ra một số vấn đề để chúng ta cùng thảo luận.  1) Cần xây dựng lộ trình, kế hoạch cụ thể, dựa trên đặc thù của từng phường, thậm chí là từng tuyến phố. Người dân cần được thông báo đầy đủ và họ nên được cho một khoảng thời gian nhất định để tự giác gỡ bỏ công trình vi phạm, tìm hướng chuyển đổi nghề nghiệp (trong trường hợp phải ngừng kinh doanh) bởi lẽ mục đích của lập trật tự vỉa hè không nhằm gây ra tác động tiêu cực đối với đời sống của người dân. Có thể tham khảo cách làm của việc thực hiện chính sách cấm đốt pháo, bắt buộc đội mũ bảo hiểm đã tiến hành trước đây.  2) Vỉa hè cần được nhìn nhận như một dạng không gian công cộng, phục vụ nhu cầu của cộng đồng. Mọi người dân đều phải có nghĩa vụ bảo vệ thay vì đẩy trách nhiệm cho chính quyền. Chính vì thế, về lâu dài, việc quản lý, giám sát phải có sự tham gia của tổ dân phố, đoàn thể. Không thể phủ nhận công an, lãnh đạo phường là lực lượng tiên phong, có ảnh hưởng mạnh nhất nếu không nói là quyết định trong việc duy trì trật tự vỉa hè. Tuy nhiên, nhiệm vụ của công an, cán bộ phường khá nhiều, quân số hạn chế, không thể ngày nào cũng đi tuần tất cả các tuyến phố trên địa bàn mình quản lý. Sự tham gia giám sát của cộng đồng thông qua quy ước tổ dân phố (một dạng giống như hương ước làng, luật tục) có thể là một cách làm đáng để cân nhắc.  3) Một trong những lý do dẫn đến hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên vỉa hè tồn tại bấy lâu nay một phần do sự thiếu, kém chất lượng của cơ sở hạ tầng tại chỗ mà điển hình là chợ. Việc dẹp chợ cóc, chợ tạm hay nạn bán hàng rong sẽ khó bền vững nếu người dân không thể tiếp cận hoặc khó tiếp cận chợ hợp pháp. Sự bất cập trong quy hoạch đã được chỉ ra ở nhiều nơi, thậm chí ngay khu đô thị mới, nơi diện tích dành cho chợ, không gian chung không có hoặc quá nhỏ so với nhu cầu thực tế của người dân.  4) Việc thực hiện quy định lập lại trật tự vỉa hè phải đảm bảo sự công bằng giữa người dân, tuyệt đối đảm bảo không có ngoại lệ vì sở hữu quan hệ… Sẽ khó thuyết phục người dân khi cùng một tuyến phố, người phải dẹp quán, kẻ thoải mái bày bàn ghế kinh doanh. Việc xử phạt cần công khai từng trường hợp, tới người dân thông qua bảng tin của tổ dân phố.  5) Để người dân thực hiện tốt, cán bộ, đặc biệt là cán bộ cơ sở phải nêu gương. Khó lòng thuyết phục người dân khi cán bộ dung dưỡng cho người nhà, người quen lấn chiếm vỉa hè. Sẽ vô cùng phản cảm nếu xe biển xanh cứ ngang nhiên đỗ sai nơi quy định. Không chỉ người dân ký cam kết mà cả lãnh đạo chủ chốt cấp phường phải gắn sinh mệnh chính trị của mình với thành bại như tuyên bố của một vị lãnh đạo cấp quận tại thành phố Hồ Chí Mính.  6) Câu chuyện vỉa hè không chỉ là việc giữa người chiếm dụng vỉa hè và chính quyền. Không có người mua, ắt sẽ không có người bán. Số đông cần thay đổi thói quen tiện lợi, xì xụp ăn, uống nơi vỉa hè thậm chí dưới cả lòng đường. Đừng lấy bất kỳ lí do gì để ngụy biện cho lối sinh hoạt rất không văn minh này. Sẽ vô cùng khôi hài và ấu trĩ nếu cho đó là nét văn hóa đặc sắc của Hà Nội hay một đô thị nào đó. Văn hóa phải luôn thuộc về số đông.  Mọi thay đổi đều phải vượt qua lực cản với nhiều thách thức và đôi khi khó tránh khỏi vấp váp. Đó là thực tế mang tính quy luật. Chính vì thế, chiến dịch lập lại trật tự vỉa hè, đường phố phải là việc thường xuyên, của toàn xã hội, đòi hỏi ý thức tự giác từ mọi tầng lớp nhân dân. Đó tuyệt nhiên không phải chỉ là trách nhiệm của chính quyền.    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Lấy ý kiến dân      Trong thời gian qua, tại Hà Nội, các phương án thiết kế Nhà quốc hội mới và Thành phố ven sông Hồng đã được trưng bày và lấy ý kiến góp ý của nhân dân. Đây không phải là một sự kiện quá mới bởi trước đây, nó đã từng được áp dụng cho một số dự ánh liên quan đến đô thị ở Hà Nội.        Tính hữu ích của nó cũng không cần phải bàn cãi khi chúng ta biết rằng trong số các ý kiến đóng góp, đã xuất hiện các ý kiến thực sự đáng để những người có trách nhiệm trong các dự án phải lưu tâm như những kì vọng về thiết kế, quy trình đấu thầu thiết kế và thi công công trình Nhà Quốc hội và cả ý kiến đề nghị xem xét lại địa điểm xây dựng công trình này của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.   Những sự kiên nói trên làm chúng tôi liên tưởng đến một sự kiện khác cũng đang là tâm điểm quan tâm của dư luận: những bê bối xung quanh dự án 112– Tin học hóa hoạt động quản lí hành chính của Chính phủ. Nhờ những thông tin trên báo chí, chúng ta biết rằng ngay khi còn đang trong giai đoạn khởi động, đã xuất hiện những lời cảnh báo về một “cái chết được báo trước” của đề án từ phía các chuyên gia, trí thức, quan chức và nhà khoa học có uy tín. Thế nhưng, khi cỗ máy tiêu tiền và ý chí tiêu tiền của một số quan chức đã được khởi động, tất cả những tiếng nói trên đều rơi vào “sự im lặng đáng sợ” và hậu quả, như đã rõ là sau một thời gian hoạt động của Đề án, hàng ngàn tỉ đồng tiền thuế của Nhân Dân đã bị tiêu tốn một cách vô ích.   Những sự kiện nói trên có mối quan hệ gì với nhau? Tất cả chúng đều liên quan đến một vấn đề vẫn còn chưa thực sự được giải quyết triệt để trong hoạt động của bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay : xây dựng một cơ cấu đối thoại hợp lí và hữu hiệu giữa nhà nước và nhân dân. Cứ nhìn vào việc những quyết định lớn của ngành giáo dục như nhập hai kì thi làm một được quyết định mà chưa thông qua Hội đồng giáo dục quốc gia* hay những phản ứng của nhiều trí thức và chuyên gia có uy tín về chính sách học phí thì có thể nói rằng thực sự cơ chế đối thoại ấy ở ta chưa thể được coi là hợp lí. Và nếu nó đã hợp lí thì đã không có việc những người nông dân khiếu kiện kéo dài ở những thành phố lớn đến mức một số thế lực âm mưu lợi dụng để gây bất ổn.   Vậy, đâu là những tiêu chí đánh giá mức độ hợp lí của cơ chế đối thoại ấy? Theo chúng tôi, có hai yêu cầu cơ bản : thứ nhất, người có trách nhiệm quyết định những quyết sách lớn không thể dựa vào ý kiến của đám đông, vào “lẽ phải thông thường” để trốn tránh trách nhiệm của mình và thứ hai, những tiếng nói phản biện chân chính từ phía giới trí thức và chuyên môn, thành phần nhân dân đặc biệt cần phải được lắng nghe và tôn trọng.  Như chúng tôi đã khẳng định, việc lấy ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân dân là một việc làm cần thiết và hữu ích, tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy một số hạn chế nhất định của hoạt động này. Người dân là một thực thể phức tạp với thành phần xã hội và học vấn hết sức khác nhau. Đa số họ không làm việc trong những lĩnh vực chuyên môn liên quan trực tiếp đến dự án. Chính vì vậy nên những ý kiến đóng góp của họ hoàn toàn có thể sa vào sự cảm tính, thiếu chính xác. Điều này kết hợp với sự phức tạp về thành phần xã hội và học vấn của các đối tượng tham gia góp ý kiến dễ dẫn đến sự nhiễu loạn ý kiến. Quan trọng hơn, quan điểm của các tầng lớp dân cư đó chỉ có giá trị trong một thời điểm lịch sử nhất định trong khi đó một tòa nhà quốc hội, một tượng đài ở không gian công cộng hay một bản quy hoạch Thủ đô không chỉ thỏa mãn những yêu cầu thực tế và thẩm mĩ của cư dân hiện tại mà cho cả những thể hệ tương lai và khi đó, việc lấy ý kiến đóng góp của người dân liệu có phải lúc nào cũng đúng và đủ. Cuối cùng, những ý kiến của người dân trong một cuộc trưng cầu dân ý thường thể hiện cái “lẽ phải thông thường” nhưng không phải trong hoàn cảnh nào chân lí cũng thuộc về phía “lẽ phải thông thường”. Quan niệm về trái đất của Galilée hay Copernic không thuộc về “lẽ phải thông thường” nhưng chân lí lại thuộc về họ. Ngược lại, trong khối quần chúng có tên là Nhân Dân đó, lại có một bộ phận ý kiến đôi khi trái ngược với “lẽ phải thông thường” nhưng thực tế lại có giá trị về lâu dài: tiếng nói của các trí thức, nhà khoa học, các chuyên gia. Việc lấy ý kiến Nhân Dân sẽ trở nên Thừa khi Thiếu đi sự tôn trọng và lắng nghe bộ phận ý kiến này.   Hơn lúc nào hết, việc xây dựng một cơ chế đối thoại với những chuẩn mực nói trên đang là một vấn đề bức thiết của hệ thống chính quyền ở Việt Nam.    ———  * Chúng tôi dựa vào thông tin của GS. Văn Như Cương, một thành viên của Hội đồng nói trên tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn đăng tải trên website Dân trí. Nguồn :http://www.dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2007/8/192097.vip?SearchTerm=v%C4%83n%20nh%C6%B0%20c%C6%B0%C6%A1ng.           Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lẽ phải không cần cái mác “trí thức”      1. Tôi nghĩ chỉ có người điên mới nói rằng  “phản biện” là không cần thiết hay nói rằng không cần trách nhiệm cộng  đồng, nhất là ở những người có vị thế xã hội về kinh tế hay kiến thức.  Việc lên tiếng chống sự độc tài, ủng hộ lẽ phải, đấu tranh vì công lý …  hiển nhiên là đáng tuyên dương và ủng hộ, từ bất kỳ ai — “trí thức” hay  không.     2. Tuy nhiên, điều tôi thấy “bánh vẽ”, không cần thiết, nằm ở chỗ sau đây: lẽ phải tự nó phải đáng được lên tiếng – không cần treo thêm cái mác “trí thức” vào. Lẽ ra người ta nên nói: “hãy cùng nhau lên tiếng vì lẽ phải”, thì tôi lại thấy nhiều người nói: “phải lên tiếng vì lẽ phải thì mới là trí thức”. Nói như vậy tự nhiên “belittle” những người như nhóm bác sĩ tình nguyện “vì nụ cười”, chỉ dùng chuyên môn của họ đi mổ sứt môi cho trẻ em khắp thế giới. Tôi thấy không có lý do gì mà các bác sĩ tình nguyện này không “xứng” tầm “trí thức”, cho dù họ không có bất kỳ câu nào “phản biện”. Khái niệm trí thức rất mông lung, distracting, làm cho người ta tranh luận về cái lý tưởng thay vì những quyền lợi cụ thể, vấn đề cụ thể đầy bức xúc như vụ anh Vươn… Vì thế, tranh luận “thế nào là trí thức” là một cuộc tranh luận – theo tôi – hoàn toàn không cần thiết.   3. Tranh luận về khái niệm “trí thức” còn dẫn đến một sự phản cảm rất tự nhiên: một số vị hay “phản biện” thì cũng lớn tiếng nói “phản biện là một điều kiện cần cho trí thức”. Có thể họ không tự tuyên bố bản thân họ là “trí thức”, nhưng khi họ đi tranh luận về cái nhãn này không khỏi làm người ta nghĩ là họ cần cái nhãn đó. Trí thức hay không, hãy để cho hậu thế viết lịch sử. Mà quan trọng gì cái nhãn, miễn là mình làm được việc. Do đó, tranh luận về trí thức không những là điều không cần thiết, mà còn gây phản ứng ngược. Không phải bánh vẽ là gì?  4. Tôi chỉ thấy có một lợi điểm của việc tranh luận nghiêm túc về “trí thức”. Đó là: nó có khả năng truyền cảm hứng cho chúng ta sống và làm việc theo “mẫu trí thức lý tưởng”, lên tiếng ủng hộ lẽ phải, ủng hộ tự do, chống lại cường quyền, vân vân. Điều này tốt thôi! Hoàn toàn có thể định nghĩa “trí thức lý tưởng” như là một hình mẫu để chúng ta noi theo. Tuy nhiên, một số người viết về “trí thức” theo nghĩa này dùng ngôn ngữ khá là miệt thị. Tác dụng của ngôn ngữ miệt thị là sẽ làm cho đối tượng “sửng cồ” lên, phản ứng ngược, tìm cách bào chữa, hoặc bất đồng với khái niệm “trí thức lý tưởng”. Nói tóm lại là đã không làm cho họ cố noi theo trí thức lý tưởng thì chớ, mà lại còn làm cho họ “trùm chăn” kỹ hơn. Vả lại, nếu người ta thấy điều phải không làm, thì người ta có làm điều phải … vì sẽ được gọi là “trí thức” không?  5. Định nghĩa “trí thức lý tưởng” tôi thấy khiên cưỡng. Cái gì mà phải thoả năm trong mười điều kiện A, B, C. Nếu đã lên tiếng vì lẽ phải thì tại sao không xắn tay áo vì lẽ phải, đã xắn tay áo vì lẽ phải thì tại sao không cầm súng vì lẽ phải, theo chân Che Guevara vào rừng kháng chiến. Đâu là điểm dừng? Các vị tranh luận ngồi sau bàn phím có vào rừng kháng chiến không? Tôi nghĩ đa phần là không – như vậy là tri hành bất nhất, làm sao “trí thức” được? Tóm lại vấn đề chỉ là định lằn ranh làm việc vì lẽ phải, vì cái bánh thật, ở đâu thôi; chứ không hẳn là vì một “chân lý tối hậu” của hành vi. Mà khi mình đã đặt lằn ranh “trí thức” là ở chỗ “lên tiếng phản biện” thôi, không “vào rừng kháng chiến”, thì mình cũng phải chấp nhận những người khác đặt lằn ranh của họ ở chỗ khác. Họ chọn đi mổ sứt môi thay vì phản biện chẳng hạn!  À mà này, trong các điều kiện A, B, C của “trí thức” có các điều kiện như “nhậu ít”, “ăn nói nhỏ nhẹ”, “lịch sự với phụ nữ”, hay “dùng thống kê trung thực” không nhỉ?  6. Kể cả cái hình ảnh “trí thức lý tưởng” như Noam Chomsky chẳng hạn; tầm ảnh hưởng của ông (trừ phần ngôn ngữ học chuyên môn chính của ông) ở Mỹ phải nói là … khiêm tốn từ sau 75 đổ lại đây. Sách viết về chính trị của ông, giới chính trị gia không làm theo, và cả những người làm về khoa học chính trị cũng không mấy quan tâm. Chúng ta có thể nói: “mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên, làm gì cho đúng lương tâm là được”. OK. Nhưng chính vì thế, không nên mỉa mai những người chọn con đường khác; chọn tác động vào những thay đổi cụ thể, thay đổi nhìn thấy được: thay đổi nếp sống văn hoá, bớt nhậu nhẹt, tôn trọng luật đi đường, tranh luận một cách văn minh. Hay, nói như Vàng Anh là dạy trẻ con đánh răng (không phải chuyện dễ dàng!). Con đường đó cũng hữu lý không kém con đường “self-righteousness”. Gọi những người như vậy là “trí thức” cũng được, có “mất gì của bọ” đâu mà phải tranh luận?   Nói tóm lại, hãy cùng lên tiếng vì lẽ phải. Hay tốt hơn hết, là hãy cùng xắn tay áo vì lẽ phải! Và khi nào rảnh lắm thì tán dóc về trí thức. Nhưng tôi nghĩ phất lá cờ “trí thức chính nghĩa” là công việc vô bổ. Self-righteousness rất là phản cảm.        Author                Quản trị        
__label__tiasang LHQ cảnh báo tình trạng ô nhiễm nặng của Trung Quốc      Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường của LHQ (UNEP) cho biết người dân Trung Quốc đang phải trả giá cho tình trạng ô nhiễm môi trường nặng ở nước này bằng chính sức khỏe của mình.    Ông Achim Steiner cho biết hàng trăm nghìn người dân nước này đã tử vong sớm và mắc bệnh hô hấp vì chất lượng không khí kém.  Tuy nhiên, Chính phủ đang lên kế hoạch cho những chính sách có thể tạo nên một Trung Quốc xanh hơn, sạch hơn.  Ông Steiner hiện đang ở Trung Quốc để công bố báo cáo về nền kinh tế xanh.  Tài liệu mất 3 năm để chuẩn bị này đã phác thảo về việc các quốc gia phải làm gì để cùng lúc duy trì tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường.  Ông Steiner đã ca ngợi cách tiếp cận của Trung Quốc trong vấn đề này.  Hiện tại, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất thế giới về năng lượng tái tạo, năm ngoái đã chi 49 tỷ USD cho lĩnh vực này – và con số sẽ tiếp tục tăng lên trong 5 năm tới.  Tuy nhiên, xét ở một khía cạnh, UNEP đã chọn một ngày xấu để thông báo thành tích xanh của Trung Quốc: Bắc Kinh đang bị bao phủ bởi một tấm chăn sương mù.  Chính quyền Bắc Kinh cho rằng không khí chỉ “ô nhiễm nhẹ”, nhưng ít nhất có một quan chức Trung Quốc tin rằng hệ thống giám sát này “khá lỏng lẻo”.  Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh – cơ quan định lượng mức độ ô nhiễm không khí tại thủ đô của Trung Quốc bằng cách sử dụng một tiêu chuẩn chặt chẽ hơn – cho biết tình trạng ô nhiễm đang “nguy hiểm” ở một số điểm hôm 16/11 vừa rồi.  Nói về vấn đề ô nhiễm, ông Steiner cho rằng đã có những cái giá phải trả cho định hướng “phát triển trước mắt, làm sạch sau này” mà Trung Quốc đã sử dụng trong ba thập kỉ qua.  “Họ đang phải trả giá bằng tình trạng tử vong sớm… Bệnh hô hấp và tử vong sớm ở hàng trăm nghìn người dân” – ông nói.   “Trung Quốc, với tư cách là một xã hội, cũng phải trả một cái giá đắt về chăm sóc sức khỏe và mất năng suất lao động”.  Báo cáo của UNEP, với tiêu đề “Hướng tới một tương lai xanh”, cho rằng với sự đầu tư tương đương 2% GDP toàn cầu, thế giới có thể bắt đầu tạo nên những nền kinh tế bền vững và thân thiện với môi trường.  Ông Steiner đã đưa ra một ví dụ về máy nước nóng chạy bằng năng lượng mặt trời – một hệ thống khá tốn kém trong việc cài đặt nhưng sau đó lại tiết kiệm tiền và năng lượng.  Nguyễn Thảo dịch theo: http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-15756235        Author                Quản trị        
__label__tiasang Li-băng – Trận chiến của những  mảng màu Mosaic      Nếu ai đó không biết tý gì về Li-băng, rồi tự dưng một buổi sáng tỉnh giấc giữa trung tâm thủ đô Beirut, hẳn sẽ rất khó để thuyết phục họ rằng đây không phải là châu Âu mà là một quốc gia nằm ngay chính giữa trái tim Trung Đông.     Đất nước đắt đỏ, hào nhoáng, không có sa mạc nóng bỏng mà có núi cao, không có nắng chói rát người mà có tuyết phủ trắng đầu. Những chàng trai cô gái Beirut bước ra đường ai cũng như đang quảng cáo quần áo hàng hiệu. Đêm xuống,  thành phố ngập tràn trong tiếng nhạc. Quán bar Sky giá hàng trăm đô la một bàn mà số khách đặt trước cả năm chưa lúc nào giảm. Bước chân vào tiệm ăn Menza nổi tiếng nhất Beirut, tôi và bạn bè như bị tấn công bởi những núi đồi đồ ăn liên tiếp được bưng ra, rượu chưa nhấp môi đã được đổ đầy, đến món tráng miệng cũng được bưng đến trên những mâm to chất ngất gần trăm miếng hoa quả. Nhịp sống ở Beirut gấp gáp, sục sôi, đổ vàng mười đổi lấy một trận cười. Từ lúc đặt chân đến nơi đây, tôi luôn cảm thấy có cái gì đó rất bất an trong cách sống hưởng thụ của người Beirut, như thể những cuộc vui thâu đêm kia đang che giấu những lo toan bộn bề không dễ dàng bày tỏ.   Mario   Mario là người Thiên Chúa giáo dòng Maronite. Anh sống cùng mẹ trong một căn hộ trang hoàng kiểu Paris, thậm chí theo như bạn bè anh nhận xét, thì còn đậm chất Paris hơn cả một ngôi nhà ở Paris. Li-băng trải qua vài chục năm thuộc địa Pháp, khi rút đi để lại một nền văn hóa đậm đặc ngấm sâu vào máu thịt của cộng đồng Thiên Chúa giáo. Trong bữa ăn ở nhà Mario, tôi khổ sở chuyển từ cách nhúm thức ăn bằng tay của người Ả rập và vắt óc lục lại những kiến thức về cách xử sự trên bàn tiệc theo phong cách châu Âu cổ điển, từ cách dùng dao, nếm rượu, đến cách để khuỷu tay. Cái kiểu sống Pháp hơn cả Pháp xịn thế này, hay nói theo kiểu văn vẻ là “sùng tín hơn cả Đức Giáo Hoàng” thế này, chắc chắn là để cố tình nhấn mạnh rằng…  “…Rằng tôi không phải là người Hồi giáo!” – Mario trả lời thẳng thắn – “Tôi thậm chí không muốn nói tiếng Ả Rập, bởi đó là ngôn ngữ của kẻ thua cuộc. Những người Hồi ở Li-băng chỉ có mỗi một việc là sinh sôi nảy nở. Hơn chục năm trước dân số hai phe còn bằng nhau, giờ thì đến 70% quốc gia là người Hồi. Họ muốn nuốt chửng chúng tôi thì có!”   Nhưng Mario thực ra đã hơi tụt hậu. Rất nhiều người Thiên Chúa Maronite ở Li-băng bây giờ đã thấy xấu hổ, không còn muốn đánh đồng danh tính với một nước từng là chủ thuộc địa của mình nữa. Họ cất công lộn ngược lại quá khứ, tìm về một nguồn gốc xịn hơn và trăm lần huy hoàng hơn: Nền văn minh Phoenicia.   Thế là tôi lóc cóc bắt xe đi Byblos.  Tôi yêu Byblos từ cái nhìn đầu tiên. Trái tim tôi tan chảy khi khe khẽ bước chân lên những lối đi nhỏ phủ bóng cây mát rượi, rụt rè ghé nhìn vào những quầy hàng bé xíu thập thò sau vòm cổng đá. Sự dịu dàng, mong manh đến dễ vỡ của Byblos khiến tôi có cảm giác như thể mình vừa mở ra chiếc hộp thần kỳ đã bị rêu phong ngàn năm lãng quên trong góc khu rừng cổ. Và khi nắp hộp được nhấc lên, không phải kim cương châu báu, mà là một thiên thần có cánh bé xíu chấp chới bay ra. Dựa lưng vào bức tường chăng mắc đầy hoa dại, bất kể một tâm hồn dù khô khan đến mấy cũng phải mềm ra, bất kể một trí óc thực tế đến mấy cũng phải băn khoăn: điều gì khiến Byblos giữ mãi được vẻ ngây thơ, điều gì khiến cho thiên thần có cánh chẳng bao giờ già, dù gần mười ngàn năm đã trôi qua và bao điều lớn lao hơn đã nhiều lần vỡ vụn?   Thật khó có thể tưởng tượng được thị trấn nhỏ xíu như một ngôi làng trong mơ này đã liên tục xôn xao tiếng người tiếng chợ suốt cả chục ngàn năm qua, chưa một lần bị ngắt quãng, chưa một lần bị tan thành tro bụi. Những thương nhân của nền văn hóa Phoenicia không những thống trị các dòng hải lý lớn trong nghề buôn bán hàng hải mà còn hiến tặng cho thế giới bộ chữ cái đầu tiên của loài người. Từ bộ chữ nguyên thủy này, hầu hết ngôn ngữ hiện đại của chúng ta vay mượn và biến tấu để ghi lại tiếng nói của dân tộc mình, từ người Hy Lạp, Ả Rập, Do Thái, Latin, cho đến người Việt chúng ta và những dòng chữ bạn đang đọc ngay lúc này đây. Tiếng tăm của nền văn minh Phoenicia và Byblos với ngôi vị của “thành phố lâu đời nhất còn tồn tại” khiến những người Thiên Chúa giáo ở Li-băng dần dần cảm thấy một niềm tự hào không thể cưỡng nổi, một nỗi khao khát muốn được đứng cùng một thuyền và mang cùng một cái tên. Và thế là mặc dù tổ tiên vốn là dân Syria vì chạy trốn cường quyền mà dạt đến đây, nhưng để khẳng định sự khác biệt của mình với số dân Hồi giáo Ả Rập tràn lên sống ở vùng này mới chỉ được hơn ngàn năm, cộng đồng Thiên Chúa dòng Maronite ở Li-băng vẫn ngấm ngầm quyết định gắn cho mình một danh tính mới với lịch sử hẳn mười ngàn năm: Họ chính là con cháu người Phoenicia.            Gus   Gus là người Thiên Chúa giáo dòng Hy Lạp Othodox. Khi gặp tôi, anh đang lèn chặt đồ đạc vào hai chiếc vali to tướng: “Biến thôi!” – Gus kết luận – “Li-băng bé như cái kẹo, gió đụng chiều nào là đổ chiều ấy. Trung Đông đang loạn, tốt nhất là chuồn.”  Li-băng có hơn 4 triệu dân nhưng có lẽ đây là quốc gia duy nhất có số người sống ở nước ngoài nhiều hơn trong lãnh thổ. Mười bốn triệu dân Li-băng trú ngụ rải rác khắp năm châu. Họ nổi tiếng là những nhà kinh doanh thành đạt. Các hiệu ăn Li-băng hễ mở là đông khách, không đơn giản chỉ là do các món ăn của Li-băng ngon hơn hẳn và phong phú hơn hẳn các nước khác ở Trung Đông. Người Li-băng, có lẽ do lịch sử luôn khiến họ phải sống chung với kẻ thù, rất khéo léo trong xã giao, chẳng bao giờ làm mất lòng khách.   Đất nước mà Gus chuẩn bị dọn đến là Saudi. Hỏi anh sẽ làm công việc gì, Gus nhìn tôi dò xét một hồi rồi thì thào: “Buôn bán vũ khí.”  Anh ta khoe rằng mình và vợ thậm chí không cần visa cũng vào được Saudi. Bà xã Gus là tư vấn thiết kế riêng cho một cô công chúa trong gia đình hoàng tộc khổng lồ gần 7.000 vương tôn công tử của vương quốc dầu mỏ. Tháng trước, cô công chúa này có việc gấp nên gọi cho vợ Gus. Chỉ một cú điện thoại và thế là “Hấp!”, vợ Gus đã vù đi Mecca. Trong khi tôi suốt hai năm qua cả bộ hồ sơ mấy chục trang nộp vào sứ quán Saudi vẫn biệt vô âm tín.     Cộng đồng người Thiên Chúa Orthodox chỉ khoảng 8% dân số Li-băng nhưng phần lớn đều thuộc tầng lớp trung lưu với một danh sách dài các thương nhân thành đạt. Họ đóng góp nhiệt thành vào việc làm nên một điều kỳ diệu chỉ có ở Li-băng. Tuy tan tác và tơi tả bởi bao cuộc chiến tranh nhưng quốc gia bé nhỏ này vẫn là một trung tâm kinh tế, văn hóa và nghệ thuật lớn của Trung Đông với nền báo chí được coi là cởi mở nhất trong khu vực. Những người như Gus là động cơ của cỗ máy Li-băng. Họ không tốn nhiều thời gian than trách, thậm chí không nhất thiết phải lựa chọn đúng sai. Điều quan trọng nhất là đứng dậy và tiếp tục bò lên phía trước. Như bây giờ đây, Gus đóng sập cái vali rồi gãi đầu kết luận: “Thật ra thì cũng áy náy lắm. Tôi không cho phép con trai mình chơi súng nhựa và nhận các món đồ chơi kiểu vũ khí, thế mà bây giờ lại dính vào cái công việc này. Nhưng mà tiền thì vẫn cứ là tiền thôi.”  Baraa     Baraa là người Hồi giáo dòng Sunni. Anh đang học năm cuối tại ĐH America. Tôi chưa từng thấy khuôn viên một trường đại học nào đẹp và nên thơ như ngôi trường thuộc loại danh giá nhất và lâu đời nhất Trung Đông này. ĐH America được tạo dựng bởi những nhà truyền giáo Thiên Chúa gần 150 năm trước. Như một Đà Lạt thu nhỏ, ĐH America trải dài những khuôn viên và giảng đường cổ kính trên ngọn đồi nhìn ra Địa Trung Hải xanh mướt. Cách đây không bao lâu, nơi đây cung cấp cho Liên Hợp Quốc nhiều tài năng hơn cả ĐH Harvard của Mỹ. Chen chân với hàng ngàn sinh viên tỏa ra khắp những con đường đồi phủ bóng cây rợp trời, cả ngày lẫn đêm, nhưng những người chủ thực sự nơi đây lại là những… con mèo.   “Có đến hàng trăm con ấy” – Baraa khổ sở giấu giếm lôi từ trong túi ra miếng bánh mỳ ăn trưa – “Mai mà không cẩn thận chúng nó nhảy lên giật miếng ăn của cậu còn tài hơn cả lũ khỉ nữa.”  Một mắt coi chừng lũ mèo, một mắt lướt trên điện thoại, Baraa cố hết sức để tìm thông tin nhằm giải thích thật ngắn gọn cho tôi về sự việc một thủ lĩnh Hồi giáo Sunni mới bị giết tại Akka. Tôi rất muốn Baraa ngừng tay, bởi tôi đã biết câu trả lời. Ở Trung Đông, nếu có một câu hỏi về nguyên nhân của những cuộc chiến, chắc chắn hơn một nửa lời giải đáp nằm ở mối xung đột gần 1.400 năm giữa Sunni và Shia. Hai cộng đồng Hồi giáo này chiếm tới 60% dân số Li-băng và dễ dàng hắt hơi xổ mũi theo diễn biến thời tiết ở bên ngoài lãnh thổ. Như bây giờ đây, nội chiến ở Syria đang diễn ra giữa quân của chính phủ theo dòng Shia và quân nổi dậy theo dòng Sunni. Thế là lập tức hai cộng đồng Shia-Sunni ở Li-băng cũng nhảy vào biến đất nước mình trở thành một chiến trường thứ hai. Ngày hôm qua, một thủ lĩnh Sunni của Li-băng bị quân Shia giết nhưng trong đám tang, quan tài của ông lại phấp phới lá cờ… Syria của quân nổi dậy Sunni bên nước láng giềng. Chỉ cần nhìn vào cái đám tang này thôi, một kẻ chẳng đến nỗi quá ngơ ngác như tôi cũng trở nên hoang mang: Rốt cuộc đây có còn là đất nước của họ không khi giữa Li-băng và Sunni, họ đã chọn vế thứ hai, khi niềm tin vào sự chia cắt tôn giáo còn mạnh hơn cả lòng trung thành với quê hương đất mẹ?    Amin  Vừa nhìn thấy tôi Amin đã phá lên cười.   Những tháng ngày ở Trung Đông đã dạy tôi một bài học đơn giản mà hữu dụng. Ấy là phải quẳng hết cái mớ kiến thức về văn hóa tập tục ở chỗ này chỗ nọ chỗ kia ra vỉa hè. Cuộc sống ở Trung Đông vô vàn sắc thái khác nhau cộng với cấu hình xã hội đậm tính bộ lạc khiến điều vốn được coi là lịch sự ở chỗ này chỉ mấy chục kilomet xa hơn đã trở thành một hành động thiếu văn minh. Thế nên tôi tự chế cho mình một lý thuyết giao tiếp đơn giản hơn gọi là “phương pháp cái gương”. Tức là thấy người bản xứ làm gì thì làm y như thế. Khi thấy Amin cười thì tôi cũng toét miệng cười xòe một cái. Cười “giao hàng” xong, tôi hỏi: “Thế cậu cười cái quái gì thế?” Amin chỉ vào cái quần đũng rộng thùng thình của tôi và đắc chí: “Nhìn cậu giống hệt… ông bô nhà tớ”.   Tôi đoán ngay Amin là người Druze. Đàn ông Druze giờ không mấy ai còn mặc kiểu quần truyền thống hạ đũng rộng như cái lưới bắt cá rồi túm lại ở bắp chân như thế này nữa, chỉ có mấy ông già trong làng may ra. Tôi liền hỏi liệu Amin có thể đưa tôi về thăm gia đình được không. Cậu nhăn trán hỏi lại: “Gia đình ở đâu? Nhà bố mẹ tớ ở Li-băng, đi trong ngày được; nhà bác tớ thì ở Israel; còn cả họ hàng thì ở Syria cơ.”  Tôi luôn tò mò về người Druze. Họ cùng với Alawite là những tín ngưỡng bí mật nhất của Hồi giáo cổ điển, tách ra từ gốc của Hồi giáo Shia khoảng hơn một ngàn năm trước. Sau khi Pháp và Anh đánh thắng đế chế Hồi giáo Ottoman rồi vẽ biên giới chia vùng này lại thành năm đất nước riêng biệt để cai trị, chừng hơn một triệu tín đồ Druze bỗng dưng thấy họ hàng bộ tộc của mình bị chia cắt thành ba mảnh rải rác ở khắp ba quốc gia. Tệ hơn, ba quốc gia này lại liên tục đánh nhau kịch liệt, không chỉ trong vùng tam giác ba bên mà còn với vô số các nước khác. Trong cơn binh đao, người Druze dần dần phát triển kiểu sống có một không hai, chia trái tim mình thành hai ngăn. Tức là sống ở đâu thờ vương ở đó, nhưng họ cũng tuyệt đối trung thành với người cùng tín ngưỡng, nếu bắt buộc phải đối đầu nhau trên chiến trường thì cố… né. Ở hai bên đường biên giới, người Druze cùng một dòng họ có thể mặc áo lính cho Li-băng, và chĩa súng vào người Druze mặc áo lính của Israel cũng đang lăm lăm lựu đạn.   Không ai có thể phủ nhận sự gan dạ và tinh thần mãnh hổ của những chiến binh người Druze. Sự trung thành tuyệt đối của họ với chính quyền, sự dạn dày trận mạc nhưng lại có phong cách sống không quá phát cuồng vì quyền lực khiến người Druze tuy không đông về mặt dân số nhưng luôn là một nét kỳ bí, vừa đáng trọng vừa đáng gờm trong mắt cộng đồng Hồi giáo chính thống Sunni và Shia. Hẳn nhiên, họ cho rằng người Druze không phải tín đồ Hồi giáo chân chính mà là một sự lai căng pha trộn của các tôn giáo “tạp nham”, nhất là việc cho rằng Thượng Đế có thể đầu thai vào người thường thì Druze như vậy có khác gì Thiên Chúa giáo với triết lý Jesus là hiện thân của Đấng Tối Cao? Nhưng chính niềm tin mãnh liệt vào đầu thai và hóa thân là một phần lý do tại sao người Druze có trái tim thép không mảy may run sợ trước cái chết. Dân Li-băng thường kể lại câu chuyện về một thương nhân Druze bị bắt cóc và đứng úp mặt vào tường. Đằng sau anh, kẻ tống tiền chậm rãi rút súng, lên đạn… nhưng không bóp cò, vì chính hắn mới là người phải ngã quỵ trong cuộc đọ dây thần kinh không cân sức. Khi được hỏi tại sao có thể bình thản được như vậy, thương nhân trả lời: “Thú thực, lúc đó tôi chỉ bận tưởng tượng ra cảnh bà mẹ trong cuộc đời tiếp theo của mình trông sẽ ra sao!”    Vậy là bữa trưa hôm ấy của chúng tôi ngoài hơn chục con mèo trấn giữ vòng ngoài, chẳng hẹn mà gặp, chúng tôi hể hả chia sẻ với nhau rằng cuộc túm tụm ăn chung này hội tụ đại diện của những nhánh tôn giáo lớn ở Li-băng. Họ từng đánh giết nhau, rồi dù ghét nhau chết thôi vẫn luôn phải cố gắng giữ hòa khí với nhau. Tại sao?  “Vì cái lũ mèo hóa cọp này này!” – Baraa cười ngất – “Nếu mà không cố sống chung với nhau thì sẽ bị nó xơi tái ngay. Li-băng nằm cạnh ba nước lớn, Thổ Nhĩ Kỳ ở trên đầu, Syria lúc nào cũng o ép ở sườn phải, sườn trái chạm biển, còn đằng sau lưng là Israel viện đủ cớ nhăm nhăm nhảy vào. Khắp Beirut thánh đường Hồi giáo và Nhà thờ Thiên Chúa san sát cạnh nhau, nhưng cậu biết không, sóng ngầm khủng khiếp lắm. Cộng thêm mấy cái nước lớn ghét nhau ở xung quanh, Li-băng như cái quả bom nổ chậm ấy. Nhiều lúc cứ phải quên đi mà sống thôi!”  Trúng phóc! Cái mớ bòng bong ở Li-băng khiến bất kể ai có ham muốn được hít thở bình thường đều phải có một cái công tắc trong đầu để có thể tắt phụt đi trước khi bộ óc của chính mình phải xì khói vì quá tải. Đi giữa thủ đô Beirut, thật khó nhận biết ngôn ngữ nào là ngôn ngữ chính thống của quốc gia. Người Thiên Chúa nói tiếng Pháp, người Hồi nửa nói tiếng Anh nửa còn lại thậm chí tiếng Ả Rập cũng bập bõm. Trong một nỗ lực cuối cùng để tránh nội chiến, hệ thống chính trị quốc gia chia chác theo thành phần tôn giáo: Tổng thống nhất định phải là người Thiên Chúa dòng Maronite, người Hồi dòng Sunni xí phần Thủ tướng, Phó Thủ Tướng không thể ai khác ngoài người Thiên Chúa dòng Hy Lạp Othodox, người phát ngôn của chính phủ chỉ có thể là người Hồi dòng Shia, và cuối cùng quân đội phải nằm trong tay người Hồi dòng Druze.  “Nhiều lúc cứ phải quên đi mà sống thôi!”  Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.  Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpetings, and farewells him with hootings,only to welcome another with trumpetings again.Pity the nation whose sages are dumb with years and whose strong men are yet in the cradle.  Pity the nation divided into fragments, each fragment deeming itself a nation.  [Tôi thương đất nước tôi, đầy tín ngưỡng mà chẳng có niềm tin,  Chào đón cả kẻ thù, chán chê mải mê, chỉ để rồi lại tung hô một bầy xâm lấn khác.  Vị cứu tinh vẫn còn trong nôi, mà những kẻ cầm đầu thì rặt một bầy phụ bạc,  Đất nước tả tơi, mỗi mảnh vụn hả hê tự xưng vương ở một góc trời.  – Khalil Gibran1]  Tôi đặt cuốn “The Prophet” [Nhà tiên tri] của Khalil Gibran xuống và ngoảnh sang bên giường của Francesca. Cô phóng viên tự do người Ý ngụp lặn trong đống sách cao chất ngất, đánh vật với cái báo cáo phân tích 30.000 chữ về tổ chức Hezbollah. Vừa gõ máy tích choách choách, cô vừa suýt xoa thán phục tài năng và óc tổ chức tuyệt vời của người cầm đầu Hassan Nasrallah. Nhìn một nữ thạc sĩ tóc vàng cổ đeo thánh giá mà cũng phải xao lòng trước Nasrallah, tôi lập tức tin ngay những gì mình từng nghe nói về con người này là sự thật.   Năm 2006, cả thế giới Ả Rập phát cuồng lên vì sướng khi tổ chức Hezbollah đánh bật Israel khỏi Li-băng, trả thù cho sự ấm ức và sỉ nhục mà quân đội của bao quốc gia Hồi giáo hợp vào cũng không làm được. Lần đầu tiên một nhà lãnh đạo Shia được tất cả các sắc dân Hồi giáo hò reo xưng tụng, được coi như Che Guevara của Ả Rập, như linh thiêng giáng thế, cộng với sự duyên dáng và hài hước bẩm sinh, bao nhiêu cô gái đã trào nước mắt nguyện sẽ yêu vị trung niên râu ria rậm rịt này đến cuối đời.    Tất nhiên, phiên bản của Nasrallah ở phương Tây thì chẳng khác gì một cơn ác mộng. Hezbollah ở Li-băng thậm chí được chính thức coi là một tổ chức khủng bố do Iran bảo trợ với mục đích triệt tiêu hoàn toàn nhà nước Israel và chủ nghĩa bành trướng phương Tây. Tổ chức Hezbollah không những thiện chiến, quy củ, dựa vào chiến tranh nhân dân, mà còn mạnh hơn cả quân đội chính quy của Li-băng. Từ một nhóm du kích bạo động, Hezbollah trở thành niềm hy vọng cho một Ả Rập khao khát tìm lại những tháng ngày huy hoàng.   Đùng một cái, Nasrallah tuyên bố sẽ đưa quân Hezbollah tham chiến ở Syria.   Tôi nhớ Baraa đã khóc sướt mướt trên facebook như thế nào khi thần tượng của mình sụp đổ. Là một tín đồ Sunni nhưng anh vẫn tôn thờ một Shia Nasrallah vì ông không ngần ngại đưa cậu con trai 18 tuổi của mình ra trận chiến. Khi Hadi chết, Nasrallah thậm chí từ chối thỏa thuận với phía Israel để chuộc lại xác con mình. Bạn tôi đã ngỡ rằng Nasrallah là biểu trưng của khối đại đoàn kết Hồi giáo chống lại kẻ thù chung Israel cho đến khi ông ta hiện nguyên hình không hơn gì những thầy tu tôn giáo đói khát cường quyền và bị cuốn vào vòng xoáy của xung đột Shia-Sunni. Gửi quân đến Syria để ủng hộ chính quyền nhà độc tài dòng Shia chống lại quân nổi dậy Sunni, Nasrallah đang đặt dấu chấm hết cho một niềm tự hào mong manh trong trái tim của rất nhiều người dân Ả Rập.     Ở Trung Đông, đất nước nào cũng tự cho mình là đặc biệt, là yếu tố sống còn của thế giới Hồi giáo, là nguyên nhân của âm mưu thâm độc này hay kế hoạch đen tối nọ, hay là cầu nối Á Âu, là con đường kết liên văn hóa. Bản thân mình, tôi dành vị trí này cho một quốc gia duy nhất: Li-băng. Lịch sử Li-băng là lịch sử của một mảnh đất nhỏ chưa bao giờ có chủ quyền lãnh thổ, từ sau thời đại Phoenician, người dân nơi đây lần lượt nằm dưới quyền cai trị của đế chế Babylon, đế chế Ba Tư, đế chế Hy Lạp, đế chế La Mã, rồi người Ả Rập tràn lên thống trị, rơi vào tay Hồi giáo Thổ Ottoman, thành thuộc địa của Pháp, và suốt từ khi độc lập vào năm 1943 cho đến nay chỉ có chưa đến 20 năm hòa bình với sự can thiệp của đủ hạng quyền lực: Syria, Israel, Palestine, Iran. Người Li-băng sống chung với lũ, quen với lũ đến mức đôi khi không còn xem lũ là kẻ thù nữa mà như những cơn sóng lớn đến rồi đi. Kẻ thù nào khi đến cũng được tung hoa chào đón vì được coi là bạn. Người bạn nào cũng hứa chỉ ở lại đến khi trong ngoài ổn định rồi sẽ đi. Lời hứa nào cũng bị bội ước. Lời bội ước nào cũng biến bạn thành thù. Kẻ thù nào kết cục cũng phải rút lui trong ê chề tủi nhục. Trận rút lui nào cũng lại được tiếp nối bằng một người bạn mới và một lời hứa mới…  Li-băng không những là chiến trường cho các cuộc chinh phạt lớn mà còn là nơi duy nhất còn sót lại để chúng ta có thể nhìn thấy Trung Đông đã bị Ả Rập hóa như thế nào suốt gần 1.400 năm qua, từ khi đa số dân là Thiên Chúa cho đến khi cộng đồng này trở thành thiểu số và ngày càng mỏng manh dần đi với hàng chục ngàn tín đồ rời bỏ vùng đất hằng là cái nôi của tôn giáo để dạt sang các quốc gia châu Âu. Ở thời điểm hiện tại, người Thiên Chúa ở Li-băng chỉ còn 40%, giảm một nửa so với năm 1926 (81%). Trong năm qua, hầu hết những người bạn Thiên Chúa của tôi đã rời quê hương, nhập vào hàng ngũ 14 triệu người Li-băng tình nguyện lưu đày viễn xứ. Mario đã mua nhà ở Bỉ, Gus đã dứt mảnh đất của gia đình. Những kẻ ở lại cùng với non 4 triệu dân của 17 nhánh tôn giáo khác nhau tiếp tục cuộc nắm tay trong một trò chơi không rõ trắng đen, một trò chơi mà ai cũng có thể là bạn và ai cũng có thể là thù.   Vì thế, thật dễ hiểu vì sao người Li-băng né tránh cả quá khứ lẫn tương lai. Với họ, hiện tại là thời kỳ vàng son. Hiện tại là nơi để rượu tràn ly, nhạc ù tai, đồ ngon ngập bàn ăn và lăn trên đường tới những party trong những chiếc xe đắt tiền. Nghìn vàng đổi một trận cười. Có lẽ chẳng ai giỏi làm điều đó hơn người Li-băng.   —-  Năm 2012, tác giả Nguyễn Phương Mai đã thực hiện một hành trình dọc Trung Đông để nghiên cứu về Hồi giáo. Loạt bài của chị về Trung Đông được khởi đăng trên Tia Sáng từ tháng 11 và khép lại ở bài này. Độc giả có thể trao đổi với tác giả tại:  www.facebook.com/dr.nguyenphuongmai  —-  1 Nhà thơ tài năng của Li-băng (1883-1931), người có số lượng tác phẩm thơ xuất bản đứng thứ ba trên thế giới, sau Shakespeare và Lão Tử.    Author                Nguyễn Phương Mai        
__label__tiasang Liêm chính khoa học: NAFOSTED gợi mở một hướng đi      Nafosted gần đây vừa công bố quy định về liêm chính học thuật* – đem đến cho chúng ta một ví dụ đáng để noi theo, một bước tiến mà chúng ta phải chào đón và cổ vũ.      Ảnh: Science.org  Sự kiện này diễn ra sau một loạt tranh cãi trong cộng đồng khoa học, khi nhiều vi phạm liêm chính học thuật của Việt Nam bị phát hiện2, trong đó có cả những phê phán việc một số công bố khoa học do NAFOSTED tài trợ cũng vướng vào các hành vi sai trái này3. Lúc đó, một nhóm Facebook có tên là Liêm chính Khoa học được lập ra với số thành viên hiện tại là 25 nghìn người4. Cá nhân tôi cũng góp một phần khiêm tốn bằng một bài báo viết trên tờ Thanh Niên5.    Quy định của NAFOSTED dựa trên bản thảo tương tự của Singapore – được biết đến là Tuyên bố Singapore6 ra đời trong Hội thảo Thế giới lần thứ hai về Liêm chính khoa học. Tuyên bố này chỉ ra những nguyên tắc chung cơ bản về đạo đức nghiên cứu, nhưng để không trở thành lời nói suông, tuyên bố này yêu cầu tất cả các cơ sở nghiên cứu ở Singapore phải tuân thủ7. Chúng ta cần thừa nhận rằng những tranh cãi về liêm chính học thuật vẫn đang nóng bỏng8 trong nước và hình ảnh của Việt Nam trong vấn đề này không thực sự sáng sủa. Tôi tin các độc giả hẳn đều thấy vấn đề nghiêm trọng này và cũng nhất trí rằng cần phải cải thiện tình trạng hiện tại. Thay vì bình luận thêm về điều này, tôi cho rằng sẽ hữu ích hơn khi nghĩ về những điều thiết thực cần làm để triển khai sáng kiến của NAFOSTED và không để nó chỉ là lời kêu gọi sáo rỗng,    Những gì liên quan đến đạo đức khoa học chạm tới vấn đề chung hơn đó là tham nhũng và sự dối trá đang trở thành một dịch bệnh ngăn cản đất nước tiến bộ. Trái với những khẩu hiệu chống tham nhũng được nhấn mạnh gần đây bởi Đảng và Chính phủ, dường như tệ nạn này vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm đáng kể trong ít nhất là ba mươi năm qua. Những vi phạm liêm chính học thuật chỉ là một trong những ví dụ. Để cải thiện thực trạng, chúng ta không nên phí thời gian soi mói từng người vi phạm, tham nhũng đã trở nên phổ biến và có lẽ số người vi phạm là quá nhiều. Đáng lẽ chúng ta nên hướng về phía những người có quyền lực để tạo ra sự thay đổi. Như tôi viết trong bài báo trên Thanh Niên vào năm 2020, các nhà khoa học Việt Nam vi phạm những nguyên tắc nghiên cứu khoa học cơ bản có thể nói: Ở đất nước tôi sống, năng lực của tôi và giá trị của tri thức nhìn chung không nhận được sự coi trọng tương xứng, thể hiện một cách chua xót ở mức lương quá thấp mà tôi phải chấp nhận. Tôi có thể phản ứng bằng cách ra nước ngoài làm việc như nhiều đồng nghiệp của mình. Nhưng tôi không thích điều đó, tôi muốn hy vọng vào một xã hội tốt đẹp hơn, tôi muốn nghĩ rằng con cái của tôi có thể sống trên mảnh đất của ông cha với sự công bằng và bình đẳng sẽ được hồi sinh, nơi mà điều ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thành sự thật. Khi tôi còn trẻ, tôi vẫn mong muốn được đóng góp vào sự đột phá đó, nhưng mọi nỗ lực của tôi dường như luôn bị dập tắt và giờ tôi nhận ra nhiệm vụ thật quá sức của mình. Bởi vậy, tôi phải học cách thỏa hiệp giữa lý tưởng và thực tại, làm sao để tồn tại với một vài hy sinh về đạo đức miễn là không xâm hại quá nhiều tới nhân cách của mình.     Những ai có quyền lực để tạo ra sự thay đổi là những người có trách nhiệm đưa đất nước tiến bộ cả về khía cạnh năng lực lẫn liêm chính, là người có trách nhiệm chèo lái kế thừa di sản của Hồ Chí Minh, những người có trách nhiệm đào tạo thế hệ trẻ – những người muốn những người muốn “một xã hội tự do bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính”, những người sẵn sàng “gột rửa sạch những vết tích xấu xa của xã hội cũ” và “ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi”.9 Họ cần giải phóng các hội khoa học khỏi những vùng cấm khiến các nhà khoa học không dám hành động, khuyến khích những tranh luận nhằm tìm ra những hướng đi hiệu quả nhất hướng tới nâng cao chuyên môn và sự liêm chính. Họ cần khôi phục sự tôn trọng đúng mực đối với giá trị của tri thức, khuyến khích thế hệ trẻ biết nghĩ với một tư duy phản biện, khuyến khích họ đọc những cuốn sách đưa ra quan điểm trái ngược để họ được trang bị năng lực đối diện với những lập luận như vậy.    NAFOSTED chỉ tài trợ với tỉ lệ rất nhỏ trong ngân sách dành cho nghiên cứu: nếu nó là cơ quan duy nhất dũng cảm đưa ra một tuyên bố về liêm chính khoa học, ai đó dễ cho rằng đây chỉ là một cách khỏa lấp sự thất bại của cả cộng đồng khoa học Việt Nam trong việc tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của đạo đức khoa học. Dĩ nhiên, đó không phải là sự thật, nhưng sẽ đáng mừng hơn nếu thấy những tổ chức hàng đầu như các Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, những đại học công lập và đại học tư lớn như VNU, VNU HCM, HUS, HUST, Phenikaa, Tôn Đức Thắng, Duy Tân, vv…tuyên bố công khai sự ủng hộ của họ đối với các nguyên tắc của Singapore. Còn nếu họ không làm, người ngoài sẽ dễ suy diễn theo hướng tiêu cực.    Các nhà khoa học nên là những người đầu tiên khẳng định quyết tâm của họ tuân thủ một cách nghiêm khắc những nguyên tắc cơ bản của đạo đức khoa học. Các nhà khoa học Việt Nam sẽ tạo dựng một hình ảnh xấu với công chúng nếu họ im lặng khi những chất vấn về liêm chính khoa học nổ ra tranh cãi trên quy mô toàn quốc. Các nhà quản lý khoa học và cơ quan tài trợ nghiên cứu, như NAFOSTED có thể và phải giúp đỡ bằng cách đưa ra các quy định và có cách thực thi phù hợp. Nhưng những nhà khoa học là những đối tượng chịu tác động trực tiếp, là những người có trách nhiệm phải tuân thủ nguyên tắc đạo đức thông qua nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc. Cách tự nhiên để họ bày tỏ cam kết của mình với các nguyên tắc đó là qua các hội khoa học. Vào Tháng 4/2016, tôi viết cho Tia Sáng một bài báo, trong đó chỉ ra rằng các tổ chức này về nguyên tắc là nơi nuôi dưỡng văn hóa trung thực, liêm chính học thuật và đạo đức, nơi thực hành quyền dân chủ và tự do ngôn luận, những điều không thể thiếu để giúp khoa học phát triển tiến bộ. Bày tỏ ý kiến cá nhân trên mạng xã hội là không đủ. Chúng ta cần một tuyên bố rõ ràng của cộng đồng các nhà khoa học về việc tuân thủ tuyệt đối và vô điều kiện với những nguyên tắc cơ bản của đạo đức khoa học nếu chúng ta muốn đất nước tôn trọng các công trình của mình. Các hội khoa học Việt Nam hẳn là một diễn đàn lý tưởng cho mục tiêu đó. Việc triển khai Tuyên bố Singapore thực tiễn nhất có thể có nhiều cách và trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tôi quen với cách của cộng đồng khoa học tự nhiên và toán học, nhưng hẳn nhiên là cộng đồng khoa học xã hội sẽ có một cách hoàn toàn khác và thậm chí trong khoa học sự sống và y dược sẽ còn khác nữa. Làm gì để tạo điều kiện cho các hội khoa học của Việt Nam đóng một vai trò tích cực hơn trong vấn đề này? Một rào cản đó là họ thiếu tiếng nói độc lập: Việc họ được đặt dưới Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và bản thân VUSTA được đặt dưới Mặt trận Tổ quốc và Chính phủ, theo nguyên tắc, lẽ ra không nên gây tác động trói buộc; nhưng trong thực tế, các hội khoa học mà tôi biết, đều khá trì trệ, không phát huy quyền tự do của mình, luôn e ngại việc “gây sóng” dư luận, ngại đưa ra các sáng kiến đòi hỏi cấp trên phải thông qua, và vì vậy đều rất bảo thủ. Sự ra đời của Tuyên bố NAFOSTED đem đến cho VUSTA một cơ hội quý giá để tuyên bố công khai sự tuân thủ vô điều kiện đối với Tuyên bố Singapore và khuyến khích các thành viên của nó tổ chức các cuộc tranh luận mở trong cộng đồng của họ về các vấn đề liêm chính khoa học. □     Hảo Linh – Trần Lê dịch  —-  *https://nafosted.gov.vn/ban-hanh-quy-dinh-ve-liem-chinh-nghien-cuu-ap-dung-doi-voi-cac-nhiem-vu-khoa-hoc-va-cong-nghe-do-quy-phat-trien-khcn-quoc-gia-tai-tro/  https://tiasang.com.vn/-tin-tuc/Quy-NAFOSTED-Lan-dau-ban-hanh-quy-dinh-ve-liem-chinh-hoc-thuat–29821?fbclid=IwAR00P55RKzFmbGKWWZrp230KmgXyFzpV0x5L8JACBkcmL91gAl9pNu4xVLw  2https://thanhnien.vn/ngay-cang-nhieu-nha-khoa-hoc-dang-bai-bao-quoc-te-khong-ghi-noi-minh-lam-viec-post1405954.html?fbclid=IwAR36-OQKOHAMrMLszrU4YPto1eUkN_AGe9RuWJ1iHnNnIzcO8ySkkpxJ7oE  https://tienphong.vn/nhom-nhoam-bai-bao-khoa-hoc-chua-co-quy-dinh-xu-ly-thong-nhat-post1396300.tpo?fbclid=IwAR2dzwBUXyHG_RuHl6j39T8NFAFftLwaY-glzhWIKUyi8PsoZcNZebnFI3g  https://tienphong.vn/nhom-nhoam-bai-bao-quoc-te-an-tien-3-dau-post1396005.tpo?fbclid=IwAR1XX2_  FgQGAzw0oWlMfoQZKg4Y7xIz-dSsxplIuWFazlnamaasdCZCRdj0  3https://thanhnien.vn/quy-nafosted-se-quy-dinh-ve-liem-chinh-hoc-thuat-va-dao-duc-nghien-cuu-post1406415.html?fbclid=IwAR1xXjxZAVV_F5gpZb-rWzAdFjLa53FwKgs7051-zD4QGBGZpexE_8FCJ5Y  4 https://www.facebook.com/groups/LiemChinhKhoaHoc/  5https://thanhnien.vn/thanh-tich-ao-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-khong-nen-tang-thu-hang-mot-cach-gia-tao-post992125.html  6 www.singaporestatement.org  https://wcrif.org/documents/327-singapore-statement-a4size/file  7 When it comes to good practice in science, we need to think global but act local, Editorial, Nature 576, 181 (2019)  Resnik, D. and Shamoo, A., 2011, The Singapore Statement on Research Integrity, Accountability in Research, 18, 71.  8https://thanhnien.vn/ro-thong-tin-ung-vien-xet-gs-pgs-2021-dang-bai-tren-tap-chi-gia-mao-post1430453.html  https://thanhnien.vn/can-xu-ly-nghiem-ung-vien-gs-pgs-gui-bai-dang-o-tap-chi-mao-danh-post1430948.html  https://thanhnien.vn/sieu-nhan-lam-dich-vu-dang-bai-bao-de-tinh-diem-xet-gs-pgs-post1432083.html  https://thanhnien.vn/khach-hang-cua-sieu-nhan-lam-dich-vu-dang-bai-tinh-diem-xet-gs-pgs-la-ai-post1432260.html  https://thanhnien.vn/vi-sao-ton-tai-thi-truong-soi-dong-mua-ban-bai-bao-khoa-hoc-post1432800.html  https://giaoduc.net.vn/goc-nhin/can-huy-vinh-vien-ho-so-ung-vien-gs-pgs-dang-bai-o-tap-chi-mao-danh-post224542.gd?fbclid=IwAR3aP2dmXp3tPR66BEq8M33uEPTGrcKO8Zm_DBmfCa3TOWHd8M1-EHbrxyo  9Những nhận định này là từ các tác phẩm của Hồ Chí Minh: “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952), Đạo đức cách mạng (1958), Elevating our Revolutionary Morality and Fighting Individualism (3 February 1969).    Author                Pierre Darriulat        
0.09289617486338798
__label__tiasang Live & Learn: Kết nối những nỗ lực cộng đồng để giải quyết ô nhiễm không khí      Với lợi thế của một tổ chức NGO, Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live & Learn) đã trở thành điểm kết nối các nguồn lực chính quyền, cộng đồng và các tổ chức quốc tế để cùng hướng tới một bầu không khí xanh, sạch hơn cho các thành phố như Hà Nội, thông qua một loạt giải pháp bền vững.      Ô nhiễm không khí tại đô thị đã trở thành vấn đề mới nổi | Ảnh: Live&Learn     Vào một ngày cuối năm 2019, khi tình cờ mở ứng dụng điện thoại theo dõi Chỉ số Chất lượng Không khí (AQI) để lên kế hoạch du lịch Đà Lạt, một vài bạn trẻ Hà Nội thấy các điểm đo ở đây đều hiện lên màu đỏ rực – báo hiệu chất lượng không khí xấu. Điều này khá kì lạ bởi Đà Lạt nổi tiếng là thành phố trong lành. Họ xôn xao lên diễn đàn hỏi liệu có phải Đà Lạt giống các tỉnh phía bắc Thái Lan đốt rác nông nghiệp không? Có ý kiến cho rằng đấy là do đốt phủ thực bì chống cháy rừng trước mùa khô?     Ngay lập tức, một số phóng viên tìm đến tận nơi và kết quả là thông tin bãi rác Cam Ly của thành phố đang bốc âm ỉ nhiều ngày qua khiến một vài người dân xung quanh đã phải tạm di dời do khó thở, dẫu chính quyền vẫn nỗ lực triển khai dập cháy. Rút cục nhóm bạn trẻ ở Hà Nội đã chọn hoãn chuyến đi, chờ thời điểm thích hợp hơn.     Nếu cách đây vài năm, một vụ ô nhiễm không khí (ONKK) kiểu này khó có thể được biết và phản hồi trong vòng vài giờ như thế, nhưng giờ đây một số người đã có ý thức và công cụ để theo dõi tình hình diễn biến không khí quanh mình.     Tương tự một số nước đang phát triển trên thế giới, ONKK đang trở thành vấn đề mới nổi của Việt Nam. Và cũng như nhiều vấn đề tác động sâu rộng đến đời sống dân sinh khác, để giải quyết vấn đề ONKK không chỉ đòi hỏi sự “ra tay” của nhà nước mà còn cần rất nhiều nỗ lực từ cộng đồng. Nhận thấy vùng đất chưa ai khai phá, Live & Learn – một tổ chức vốn tập trung vào mảng giáo dục môi trường, biến đổi khí hậu và năng lượng bền vững – đã nhanh chóng xây dựng chương trình hành động và trở thành cầu nối thu hút các bên liên quan cùng giải quyết vấn đề không khí.     Phổ biến khoa học công dân     Nguyên cớ để Live& Learn chuyển hướng thật tình cờ. Từ thời gian đầu thành lập vào năm 2009, thông qua một số hoạt động đào tạo, các thành viên của Trung tâm đã bất ngờ khi biết Hà Nội và TP.HCM được quốc tế xếp vào một trong những thành phố bụi nhất thế giới. Thậm chí khi ấy khái niệm bụi mịn PM2.5 còn chưa được nhắc đến. Từ đó, họ lặng lẽ để tâm đến vấn đề ONKK tại thành phố.     Vào khoảng năm 2014, khi phát động một chương trình tìm kiếm sáng kiến ứng dụng khoa học công nghệ mới cho các vấn đề xã hội – môi trường, Live &Learn bắt gặp câu chuyện giải quyết ONKK đáng khâm phục ở Trung Quốc: tại đây, ứng dụng thông báo chất lượng không khí trở thành 1 trong 5 app điện thoại cần có. Bắc Kinh cũng bắt đầu tăng tốc hành động chống ô nhiễm từ chính nhận thức cộng đồng này. [https://e-cso.weebly.com/china-air-quality-index.html].     Live & Learn đã chia sẻ bài học này với không ít nhóm khởi nghiệp công nghệ thông tin ở Việt Nam nhưng khi đó chưa ai đi được đến cùng. Ngay cả khi Đại sứ quán Hoa Kì lắp đặt máy quan trắc chất lượng không khí tại Láng Hạ (Hà Nội) cuối năm 2015 để chia sẻ công khai dữ liệu trên website thì vẫn không nhiều người quan tâm hoặc hiểu vấn đề. Đến năm 2016, toàn Hà Nội mới chỉ có 3 trạm đo chất lượng không khí cung cấp thông tin công khai.     Trong khi phần lớn các tổ chức phi chính phủ khác thường hoạt động tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, Live & Learn chuyển hướng chú ý tới đô thị – nơi được xem là phát triển hơn nhưng lại tiềm ẩn một loạt nguy cơ chưa được đánh giá đầy đủ vì mật độ dân cư cao và không gian sinh hoạt khép kín. Họ nhận ra, để lôi kéo sự chú ý thì cộng đồng sẽ cần nhiều thông tin hơn.         Người dân lắp đặt thiết bị cảm biến để theo dõi chất lượng không khí xung quanh         Do đó, Live & Learn thúc đẩy sự phát triển khoa học công dân thông qua việc hỗ trợ 3 đơn vị làm sản phẩm máy cảm biến đo chất lượng không khí giá thấp “made in Vietnam”, gồm PAM Air của công ty D&L, FairKit của trường ĐH Công nghệ và AirSENSE của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội – với mục đích làm tăng nhận thức và, phần nào đó, bổ sung dữ liệu cho người dân và các nhà khoa học về chất lượng không khí.     Có thể nói mạng lưới cảm biến thông minh với chi phí thấp này đã “trao quyền” cho người dân và giới truyền thông để có căn cứ lên tiếng khi phát hiện tình hình không khí bất thường xung quanh. Nhờ có mạng lưới, bất kì ai cũng có thể dễ dàng theo dõi sự thay đổi màu sắc của chỉ số chất lượng không khí, và chủ động có cách ứng phó thông thường như đeo khẩu trang, thay đổi lộ trình đi lại, hoặc theo dõi các nguồn ô nhiễm và ngăn chặn nguồn thải nhỏ…     Ý tưởng để người dân tự theo dõi không gian sống của mình không phải quá mới mẻ. Trước đây đã có một vài dự án cho phép người dân đi dọc bờ biển hàng sáng để phát hiện có cá chết hay theo dõi sinh vật trong các khu rừng để báo cho chính quyền. Hành động này hiệu quả hơn so với việc chỉ dựa vào cơ quan quản lý hay nhà khoa học, bởi không một tổ chức hay chính phủ nào đủ nguồn lực để đến kiểm tra định kì tại mọi khu rừng hay bãi biển. Điều đó cũng khiến người dân cảm thấy làm chủ được mảnh đất và tài nguyên, từ đó thay đổi việc khai thác theo hướng bền vững hơn bởi họ hiểu rằng đây là “môi trường của tôi, vấn đề của tôi”.     Tương tự, máy đo chất lượng không khí chi phí thấp cũng vận hành dựa trên thông tin từ cộng đồng, nhưng nhờ công nghệ cảm biến tự động và Internet vạn vật mà thông tin liên tục được công khai và cập nhật theo thời gian thực. “Khi hình thức khoa học công dân này phát triển, kết hợp với các bằng chứng khoa học rõ ràng, chúng ta sẽ tạo được áp lực cho các cá nhân, công ty hoặc đối tượng xả thải thay đổi hành vi của mình và đồng hành cùng các cơ quan quản lý để bảo vệ môi trường hiệu quả hơn”, chị Đỗ Vân Nguyệt, Giám đốc Live & Learn, chia sẻ.     Kéo các bên liên quan ngồi lại     ONKK có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài nhiều mặt nhưng tác động lại không thể nhìn thấy ngay trước mắt. Dư luận trong nước mới chỉ thực sự chú ý đến vấn đề này từ vài năm nay, đặc biệt khi hồi đầu năm 2019 báo chí liên tục đưa tin về xếp hạng ô nhiễm của Hà Nội so với thế giới. Người dân bắt đầu hoang mang, nhưng cũng chỉ biết đến thực trạng và tự tìm cách bảo vệ mình như đeo khẩu trang, mua máy lọc bụi. Còn rất nhiều câu hỏi để ngỏ như Ô nhiễm đến từ đâu? Ai chịu trách nhiệm? Nó ảnh hưởng đến cư dân như thế nào? Giải pháp đối phó ra sao?… Tuy nhiên để giải quyết vấn đề phức tạp này giống như nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan đã làm, cần phải có một quá trình bền bỉ không chỉ của chính quyền mà cả các doanh nghiệp và cộng đồng.     Đứng trước bài toán lớn này, xây dựng mạng lưới hợp tác là điều tiên quyết. Khi xem xét trong nước có những gì, Live & Learn nhận thấy không ít nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu về vấn đề này từ nhiều năm nhưng kết quả nghiên cứu của họ không được biết đến, một phần vì lúc đó không mấy ai để tâm đến chất lượng không khí – vốn là thứ ‘vô hình’ chẳng thể theo dõi bằng mắt thường như ô nhiễm đất, nước thải hay rác; một phần cũng vì rào cản ngôn ngữ khoa học khiến các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Thêm vào đó, các văn bản luật về quản lý chất lượng không khí vẫn chưa được chú trọng xây dựng và tồn tại không ít lỗ hổng để kiểm soát và phát hiện nguồn xả thải. Chính quyền các cấp cũng chưa xây dựng được kế hoạch hành động khả thi nào bởi lý do đơn giản ‘thiếu dữ liệu đầu vào’.     “Ban đầu chúng tôi không biết ai sẽ là người quan tâm, ai sẽ là người mong muốn làm tới cùng” – chị Đỗ Vân Nguyệt kể lại. Họ đã tổ chức nhiều buổi hội thảo kết hợp cả khoa học, chính sách và lấy ý kiến cộng đồng để thu hút các bên liên quan – từ những nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý ở Sở TN&MT, doanh nghiệp khởi nghiệp, các trường học, tổ chức phi chính phủ, tổ chức vì cộng đồng, các tổ chức quốc tế ở Hàn Quốc và ASEAN, các tổ chức truyền thông và người dân quan tâm.     Một điểm sáng tạo của Live & Learn là biến các buổi gặp gỡ giữa những dự án ONKK trong nước và quốc tế thành nơi trao đổi hai chiều: không chỉ làm theo ‘format’ thông thường là lắng nghe kinh nghiệm nước ngoài mà còn khiến đối tác và tổ chức Việt Nam (cả nhà nước và tư nhân) chia sẻ kinh nghiệm của chính để các bên hiểu rõ nhau hơn và thậm chí đi đến sáng kiến phối hợp.     Ở những buổi gặp gỡ như vậy, việc tiếp cận với chuyên gia trở nên dễ dàng và cởi mở hơn. Mọi người sẵn sàng trao đổi những góc nhìn trong ngành hẹp của mình, hiểu được khó khăn của các bên khác khi thực hiện và từ đó tìm ra cơ hội hợp tác liên ngành. Đây cũng là nơi khơi mào nhiều hợp tác và sáng kiến, một trong số đó là sự bắt tay giữa nhóm nghiên cứu về nguồn ONKK cho Hà Nội với chuyên gia sức khỏe (ĐH Công nghệ và ĐH Y tế Công Cộng) để làm báo cáo về tình hình ô nhiễm và gánh nặng bệnh tật do ONKK tại Hà Nội (dự kiến hoàn thành cuối năm 2020).         Chị Đỗ Vân Nguyệt (bên phải) trong buổi hội thảo “Chất lượng không khí Hà Nội: Hợp tác 2020 và những năm tiếp theo” tháng 1/2020.         Đó là những kết quả trước mắt. Mục tiêu lâu dài của Live & Learn là tạo ra sự phối hợp hành động của tất cả các bên liên quan trong việc cải thiện chất lượng không khí. Chị Đỗ Vân Nguyệt cũng dự đoán “đây là một quá trình lâu dài”. Tín hiệu đáng mừng là một số cơ quan quản lý tỏ ra thực sự đón nhận những đóng góp từ phía nhà khoa học và các tổ chức xã hội, đồng thời đã đưa chúng vào quy trình chính sách. Chẳng hạn năm 2019, UBND Hà Nội ban hành chỉ thị thay thế và loại bỏ toàn bộ bếp than tổ ong trên địa bàn thành phố. Quyết định này được xây dựng sau một loạt thử nghiệm liên quan tới nghiên cứu tác hại của khí than tổ ong đến sức khỏe và xem xét hiệu quả thay thế của các loại bếp thân thiện hơn với môi trường do trường ĐH Bách khoa Hà Nội thực hiện.     Hiện nay, Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội đang cùng một số tổ chức phát triển (như World Bank, Live&Learn…) và các nhà khoa học để thực hiện một số nghiên cứu và giải pháp khác, bao gồm: xác định rõ các nguồn thải chính gây ảnh hưởng đến Hà Nội, kiểm soát đốt rơm rạ ở ngoại thành, thử nghiệm kế hoạch kiểm soát khí thải xe máy.     Theo đại diện của Live&Learn, một chính sách tốt đòi hỏi nhiều điều kiện nhưng có lẽ nhân tố quan trọng nhất vẫn là việc những người thuộc khu vực công thực sự quan tâm và lắng nghe ý kiến khoa học từ các bên – điều mà Hà Nội đang có chuyển biến tích cực.     Đánh giá bằng tác động     Có rất nhiều thành bại của một dự án cộng đồng, phụ thuộc phần lớn vào năng lực đội ngũ thực hiện và sự ủng hộ của các bên liên quan, bao gồm cả nhà tài trợ. Đôi khi nguồn lực nhỏ khiến các dự án có thể quản lý tốt và giữ chất lượng, nhưng lại khó có được bước đi dài hơi. Ngược lại, nguồn lực lớn đôi khi có thể khiến tổ chức thực hiện thiếu đi sự sáng tạo, có khả năng ỷ lại vào những giải pháp tốn kém và có xu hướng quán trị cồng kềnh.     Năm 2017, khi nộp hồ sơ cạnh tranh với nhiều dự án khác về sức khỏe môi trường, vấn đề ô nhiễm không khí đô thị mà tổ chức này đề xuất đã được Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) lựa chọn – không chỉ bởi chủ đề “mới” mà còn vì cách tiếp cận sáng tạo dựa trên khoa học công dân, ứng dụng công nghệ và sự tham gia của nhiều bên. Dự án triển khai dưới cái tên “Không khí sạch – Thành phố xanh” kéo dài từ năm 2017- 2022.       Live & Learn may mắn có được một cơ chế tài trợ linh hoạt và hướng tới tác động từ USAID, do vậy họ hoàn toàn chủ động trong việc điều chỉnh các hoạt động tương ứng với tình hình thực tế, chứ không bị phụ thuộc vào các kế hoạch khuôn mẫu ban đầu. “USAID đánh giá chất lượng theo đầu ra, do vậy chúng tôi luôn có động cơ phải liên tục học hỏi và làm việc hiệu quả nhất có thể”, chị Đỗ Vân Nguyệt bộc lộ.       Nhờ sự tự chủ nhất định, trong gần 3 năm qua, tổ chức phi chính phủ này đã triển khai được một loạt hoạt động và phủ sóng liên tục trong nhiều cộng đồng – từ ngắn hạn như hội thảo kết nối, sự kiện tuyên truyền, cuộc thi ở trường học, cho đến dài hạn như tài trợ các sáng kiến cộng đồng, tài trợ chương trình khoa học công dân với máy đo và ứng dụng theo dõi chất lượng không khí. Đại diện Live & Learn cho biết, các nỗ lực từ năm 2017 đến nay vẫn đang là ‘xới xáo’ và kết nối những bên quan tâm, nhưng từ năm 2020 trở đi sẽ có nhiều hợp tác và đầu tư nghiên cứu với các bên một cách sâu sắc, rõ nét hơn./.     Theo KH&PT / http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/live-learn-ket-noi-nhung-no-luc-cong-dong-de-giai-quyet-o-nhiem-khong-khi/20200226091017153p1c160.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Livestream đối thoại chính sách: Khi người dân được tương tác      Một chuỗi livestream của các lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) xung quanh chính sách chống dịch, lộ trình mở cửa tới đây đã thu hút tới 4-5 triệu người theo dõi, hàng chục nghìn người đặt câu hỏi, cho chúng ta thấy nhu cầu được tương tác, được hỏi nhà quản lý của người dân là rất lớn. Điều ấy có thể sẽ khiến cho quá trình ban hành chính sách sẽ phải thay đổi theo một cách thức mới.    Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu chống dịch, ông Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND TP. HCM cùng các Phó Chủ tịch thay phiên livestream trên Facebook về chính sách chống dịch của thành phố. Những buổi livestream chính sách tưởng chừng “khô khan” trong suốt hơn một tiếng đồng hồ – nếu so với những buổi livestream “bóc phốt” của các nhân vật nổi tiếng – lại trở nên thu hút hấp dẫn đông đảo người dân, đã cho thấy một nhu cầu truyền thông chính sách đi vào thực chất. Chỉ cần người dân được hỏi, được nói đúng điều đang bức xúc, thắc mắc, được trả lời ngay một cách trực tiếp, bằng ngôn ngữ giản dị thường ngày không “phông bạt màu mè”, không lòng vòng là đủ thu hút hàng trăm nghìn lượt người xem trực tiếp hàng chục nghìn lượt chia sẻ, cả chuỗi có khoảng 4-5 triệu người theo dõi.      Ông Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND TP HCM (giữa)  trong chương trình livestream “Dân hỏi – Thành phố trả lời”. Ảnh: Dân trí.   Chuỗi phát trực tiếp này diễn ra trong bối cảnh TP. HCM đã trải qua ba tháng gồng mình ghìm con số nhiễm virus và tử vong tăng cao kỷ lục, áp dụng nhiều biện pháp chống dịch mà không dự liệu hết được những hệ quả không mong muốn: từ đóng cửa hoàn toàn không cho người dân ra khỏi nhà nhưng cung cấp lương thực không đầy đủ, đứt gãy chuỗi cung ứng truyền thống, phải huy động quân đội vào cấp phát lương thực, người di cư lũ lượt bỏ về quê hương… Những chính sách chưa từng có tiền lệ đó đặt cả chính quyền và người dân vào trạng thái căng thẳng nhiều sức ép nhưng trước đó hầu như chính quyền không có một “phong vũ biểu” chính sách nào để đo lường được phản ứng chính sách của người dân, không thông báo trước về kế hoạch cũng như tác động phụ của chính sách.  Tất cả những bức xúc, thắc mắc ghìm nén, những mong mỏi của người dân qua ba tháng dồn lại trong hàng chục nghìn câu hỏi không dễ trả lời: “Chồng tôi chở cá cho chợ Bình Điền thì chợ đóng, tôi đi rửa chén bát thì quán đóng cửa, đóng cửa ba tháng nay thực sự tôi không thể sống nổi nữa”, “Chú ơi, cho con hỏi là tại sao bầu cử thì chính quyền liên hệ được đến 100% người dân, ai cũng đi bầu cử, mà tại sao trợ cấp thì lại bị sót?”; hoặc “Tôi làm nước sạch đóng chai, đề nghị được đưa vào danh mục hàng thiết yếu”, hay “Kính đề nghị anh Mãi đi kiểm tra luân phiên từng phường, từng quận để người dân yên tâm và đề ra hai hướng cụ thể – dịch giảm thì như thế nào và không giảm thì thế nào?”…  Việc trả lời những câu hỏi đó đều là những thông tin quan trọng làm dịu nhu cầu trao đổi của người dân trong bối cảnh lưỡng nan – giãn cách kéo dài để cứu vãn sinh mạng nhưng thiếu đói, sản xuất đình trệ. Đây chính là sức ép khiến “nhà quản lý đứng ra đăng đàn thảo luận với người dân rằng không phải là chúng tôi cố tình, chúng tôi rất ý thức về các tác động phụ của chính sách nhưng không còn cách nào khác, chúng tôi phải làm như thế vì một lợi ích cao hơn để đưa về tình trạng kiểm soát được, thì mới nhận được sự đồng thuận”, TS. Trần Kiên, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận xét. “Chỉ có cách làm như thế mới thể hiện một điều là anh tôn trọng người dân”.       Qua kết quả của livestream, phản hồi tích cực của người dân TP. HCM dịp này, liệu chúng ta có thể kỳ vọng điều đó sẽ trở thành tiền lệ tốt để sau này chính quyền các cấp ở̀ các nơi khác học hỏi?      Không dừng lại ở “khía cạnh xoa dịu, trấn an lòng dân” về những chính sách đã qua, các buổi đối thoại còn “có khía cạnh dự liệu về những tác dụng phụ của chính sách tới đây khi chưa thể nới giãn cách cho cả thành phố; có khía cạnh muốn lắng nghe những đề xuất chính sách tốt hơn; có khía cạnh muốn thu thập thông tin phản hồi chính sách từ phía người dân”, theo nhận định của TS. Bùi Hải Thiêm, Viện Nghiên cứu Lập pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngoài ra, sự kiện livestream cũng cho thấy sự thay đổi quan điểm của các nhà quản lý, từ chỗ ngại ngần, coi mạng xã hội có nhiều điểm bất lợi, thậm chí trong nhiều trường hợp có ý nghĩa tiêu cực cho công tác tuyên truyền chính sách sang chỗ cởi mở hơn, coi đây là một không gian tuyên truyền, vận động chính sách.  Những cuộc đối thoại trực tiếp như vậy là hết sức cần thiết để đáp ứng nhu cầu đối thoại giữa chính quyền và người dân về các chính sách một cách nhanh chóng. Điều đó giúp người dân tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ hơn và gia tăng sự đồng thuận. Mặt khác giúp chính quyền kịp thời nhận được các phản hồi và từ đó điều chỉnh chính sách một cách linh hoạt theo yêu cầu thực tiễn.  Trên thực tế, không chỉ đến đại dịch chúng ta mới cần có một quy trình lắng nghe vận động chính trị thường ngày từ dưới lên, đo lường các phản ứng chính sách của người dân như thế, bởi suy cho cùng, sự thành bại của các chính sách phát triển đều phải được xây trên yếu tố đồng thuận. Nhưng trước đại dịch thì các chính sách tác động (và cả gây tác dụng phụ) không nhanh chóng như hiện nay. Ví dụ như chính sách y tế, huy động y tế tư nhân vào chữa trị hoặc lưới an sinh xã hội có khi hàng vài năm hoặc cả thập kỷ mới bộc lộ hết các tác động, còn bây giờ có khi chỉ vài ngày đã gây ra xáo trộn. Mặt khác, “dù chính sách nào cũng sẽ có tác động phụ nhưng trước đây chúng ta thường nặng về tuyên truyền, hiệu quả tích cực khi đưa ra chính sách chứ không nói về các tác động phụ. Trong một số trường hợp cũng không lường được, hoặc vô tình bỏ qua mặt tác động phụ của nó”, TS. Bùi Hải Thiêm nhận xét. Anh cũng đánh giá, việc lãnh đạo TP. HCM đứng ra đăng đàn là hệ quả của một loạt chính sách trước đó đã gặp phải tác động phụ, dẫn tới những phản ứng dữ dội ở một số bộ phận công chúng và đặc biệt là trên mạng xã hội. Người dân đã chỉ ra rất nhiều thiếu sót, sơ suất của chính sách ở thành phố này. Có thể nói, sự cầu thị của chính quyền đã được ghi nhận. Phần lớn các ý kiến góp ý chính sách trong thời gian này đều mang tính xây dựng, tích cực nên chính quyền đã thấy rằng phải có đối thoại hai chiều, trong đó thứ nhất là chính quyền chủ động đối thoại trước công chúng, thứ hai là công chúng muốn được minh định hệ quả của chính sách trước đây cũng như định hướng sắp tới ra sao.     Như vậy, không chỉ mới mẻ trong bối cảnh chống dịch COVID, lần livestream trên mạng xã hội này cũng đã đặt ra thay đổi trong chính sách truyền thông tương tác- là điều chưa từng có tiền lệ với các nhà quản lý, với văn hóa chính trị ở Việt Nam nói chung. Dù còn xa lạ với Việt Nam, nhưng đây là cách làm mà các tổ chức phát triển khuyến nghị lâu nay: đưa truyền thông không chỉ là một hoạt động riêng lẻ mà phải trở thành một hợp phần chính trong tất cả các bước của quá trình ra chính sách, để đảm bảo có sự tương tác thông tin hai chiều (giữa nhà quản lý và người dân chịu tác động của chính sách) và qua đó tăng khả năng tham gia của cộng đồng. Quá trình tương tác này phải liên tục ở mọi khâu, từ trước khi lên kế hoạch chính sách, trong suốt quá trình thực thi cho đến lúc tổng kết đánh giá chính sách, để đảm bảo nhà quản lý luôn cập nhật được những phản ứng chính sách và có điều chỉnh kịp thời.   Những diễn biến khó lường của đại dịch trong thời gian qua và tới đây sống chung với virus biến thể mới sẽ còn tiếp tục đặt ra nhiều thách thức chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi nhà quản lý phải liên tục cập nhật chính sách, thảo luận và tương tác với người dân một cách nhanh nhất. Theo hai nhà nghiên cứu, chúng ta có thể kỳ vọng mong chờ bởi có một chỉ dấu cho thấy điều đó – việc TP. HCM chứ không phải bất kỳ tỉnh thành nào khác dám tiên phong bước ra khỏi vùng an toàn phát live đối thoại chính sách không phải ngẫu nhiên. “TP. HCM làm được cũng vì đây là nơi luôn luôn tiên phong đi đầu trong xé rào, tiên phong tiếp nhận những ý tưởng mới nhất và có đột phá chính sách. Một trung tâm đô thị lớn nhất chịu hệ quả quá lớn của đại dịch như vậy mà không có sự lắng nghe, tương tác để điều chỉnh kịp thời thì hệ quả còn lớn hơn nữa”, TS. Trần Kiên nhận xét. □    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Lỗ hổng trong ngành tình báo thế giới      Không một cơ quan tình báo nào trên thế giới  biết được cái chết của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il cho đến tận  hôm thứ hai, hơn năm mươi mốt giờ sau khi ông qua đời.    Thiết bị tinh vi, nhưng không đủ  Giữa thời điểm của cái chết của Kim Jong-il, nhà lãnh tụ bí ẩn nhất của hành tinh, thứ bảy 17 Tháng Mười Hai vào 08:30 giờ địa phương, và thông báo về cái chết của ông qua truyền hình nhà nước Triều Tiên vào buổi trưa thứ hai, hơn năm mươi mốt giờ đã trôi qua. Hai ngày trong thời gian đó nước láng giềng Hàn Quốc đã không hay biết bất cứ điều gì, chứ đừng nói đến Hoa Kỳ, nơi mà Bộ Ngoại giao nhắc đến “tin tức báo chí” về cái chết này rất lâu sau thông báo bằng phương tiện truyền thông của phía Triều Tiên. Nếu Washington và Seoul được cho là những người thông thạo về những bí mật của Bình Nhưỡng, họ quả là đã tiêu tiền tốt! Trong thực tế, không một cơ quan tình báo nào trên thế giới đã biết được cái chết của nhà lãnh đạo này cho đến tận hôm thứ hai.  “Không ai đã kịp bám theo được thông tin về cái chết bất ngờ của ông Kim, Ralph Cossa, trưởng nhóm các chuyên gia CSIS Diễn đàn Thái Bình Dương (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế), công nhận với Reuters. Nếu ai cho rằng mình kiểm soát tốt tình hình của Triều Tiên, nguồn tin của anh ta rõ ràng là rất tồi.”  “Hoa Kỳ, Nhật Bản và Nga đã được biết tin chỉ sau khi có thông báo của Triều Tiên. Chúng tôi có biết rằng đã có một nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn [của ông Kim Jong-il] từ ít lâu nay, nhưng không ai biết chính xác khi nào những điều này có thể xảy ra “, một trách nhiệm gia người Mỹ giấu tên nhận lỗi.  Có thể nói từ nhiều năm nay các cơ quan tình báo phương Tây đã sử dụng đủ các loại thiết bị tinh vi để mong tìm hiểu thêm về những gì đang xảy ra bên trong biên giới Triều Tiên. Hệ thống vệ tinh, hệ thống nghe lén, điệp viên tại chỗ cùng các cộng tác với các đồng minh châu Á của họ đã từng phỏng vấn hàng ngàn người Triều Tiên đã chạy trốn. Rốt cuộc, tất cả thiết bị này đã không thể thu thập, giải mã được những manh mối chỉ dấu của diễn biến quan trọng của nước này đã xảy ra vào hôm thứ bảy – chẳng hạn như các cuộc gọi điện thoại từ các quan chức chính phủ hoặc các quân nhân tụ tập đông đảo xung quanh con tàu mà ông Kim đã chết trong đó.    “Vành đai hạn chế bất khả thâm nhập”  “Có tất cả các loại điều tra thông tin ở các cấp ở Triều Tiên. Tuy nhiên, cái vành đai hạn chế đã không thể thâm nhập vào được, Ralph Cossa cho biết. Triều Tiên rất giỏi giữ bí mật. Họ hẳn phải có các thủ cách của mình.” Thực tế là rất ít thông tin về hoạt động nội bộ của chính phủ Triều Tiên bị lọt ra ngoài. Bình Nhưỡng hạn chế các thông tin nhạy cảm trong một phạm vi hạn chế các quan chức chính phủ. R. Christopher Hill, một cựu đặc phái viên đàm phán với những người Triều Tiên về chương trình hạt nhân của nước này, nói với tờ New York Times : “Để hiểu về cấu trúc của giới lãnh đạo này phải quay trở về những nền tảng của văn hóa Triều Tiên,nhất là phải hiểu biết về các nguyên tắc Khổng giáo.”  Cái chết của Kim Jong-il không phải là ví dụ duy nhất về sự tối mờ, cái thứ thách thức các điệp viên và các vệ tinh, New York Times cho biết. Bình Nhưỡng đã từng xây dựng một nhà máy làm giàu uranium vĩ đại ở Yongbyon, mà trong khoảng một năm rưỡi nó đã không hề bị phát hiện bởi các vệ tinh theo dõi, cho đến khi các nhà chức trách Triều Tiên tiết lộ hệ thống này cuối năm 2010 cho một chuyên gia hạt nhân Mỹ. Triều Tiên cũng đã giúp xây dựng một lò phản ứng hạt nhân ở Syria hoàn chỉnh mà không hề làm cho tình báo phương Tây tỉnh ra. Cuối cùng lò này đã bị phá hủy bởi Israel trong một cuộc không kích vào năm 2007.  Trong lúc Hoa Kỳ và các đồng minh tiếp nhận giai đoạn tinh tế này của thời kỳ chuyển tiếp ở Triều Tiên, thì “với rất ít thông tin về người con trai, người kế nhiệm của ông Kim, Kim Jong-un, và lại còn ít hơn nữa các hiểu biết về các mưu toan ở bên trong các cung điện ở Bình Nhưỡng, phần lớn hành động của họ ta chỉ biết đoán mò thôi”, tờ nhật báo Washington Post của Mỹ nhận xét.   HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lộ trình 5 bước cho dự án nhà máy điện hạt nhân      Mặc d&#249; đ&#227; phục vụ nh&#226;n loại hơn nửa thế kỷ v&#224; trải qua một qu&#225; tr&#236;nh ph&#225;t triển với nhiều thăng trầm kh&#225;c nhau, điện hạt nh&#226;n (ĐHN) lại đang thu h&#250;t sự quan t&#226;m của ch&#250;ng ta như một nguồn năng lượng quan trọng của nh&#226;n loại với hai l&#253; do ch&#237;nh sau:    ·        Với sự phát triển kinh tế thế giới hiện nay, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển ở châu Á trong đó có Việt Nam, nhu cầu năng lượng nói chung và điện năng nói riêng đang ngày càng trở nên cấp bách. Tình trạng thiếu hụt điện, nhu cầu xăng dầu tăng nhanh… cho ta thấy rằng các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống đang ngày một cạn kiệt và chắc chắn sẽ không đáp ứng nổi nhu cầu của kinh tế và đời sống. Trong tình hình này, năng lượng hạt nhân được coi như một trong những giải pháp tất yếu cho nhu cầu năng lượng đang tăng của nhân loại.   ·        Tiêu thụ điện, xăng dầu cùng các sản phẩm năng lượng khác có nguồn gốc hóa thạch đã được khẳng định là nguồn đã và đang phát ra một lượng khí thải khổng lồ vào khí quyển gây hiệu ứng nhà kính (green house effect) làm nóng dần hành tinh, với những hệ quả rất nguy hại đến cuộc sống của loài người (đặc biệt Việt Nam sẽ là một trong những điểm bị ảnh hưởng tồi tệ nhất của hiệu ứng nhà kính). Trong khung cảnh này, ĐHN (nuclear power), với mức thải khí CO2 gần bằng không so với các nguồn nhiệt điện dùng nhiên liệu than hoặc dầu khí… (xem Hình 1 dưới đây), là một giải pháp quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, giữ được một môi trường sống thân thiện và an toàn cho chúng ta và cho các thế hệ tương lai.        Hình 1: So sánh lượng khí thải (tương đương số  g CO2 /kWh) bởi các nguồn sản xuất điện khác nhau. Ô màu sẫm tương ứng với CO2 thải trực tiếp từ dây chuyền đốt nhiên liệu than và khí dầu.      Tình trạng thiếu điện cho sản xuất và đời sống cùng với sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã cho thấy nhu cầu phát triển điện hạt nhân cũng đã trở nên rất sát thực đối với đất nước ta. Do đó mà Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định về chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình trong năm 2006, và Quốc hội đã thông qua Luật năng lượng nguyên tử trong năm 2008 với mục đích xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN đầu tiên của Việt Nam từ sau năm 2020. Tuy nhiên, với nhiều nguồn thông tin khác nhau về ĐHN có thể dễ dàng cập nhật trên báo chí trong nước và quốc tế, đặc biệt là qua Internet, dư luận xã hội Việt Nam hiện vẫn đang có khá nhiều nghi ngờ và lo lắng xung quanh những yếu tố rủi ro tiềm ẩn của ĐHN. Gần đây nhất là những phản ứng từ nhiều bạn đọc trên mạng sau bốn bài báo bàn về điện hạt nhân của tác giả Nguyễn Quốc Anh đăng trên báo điện tử Tuần Việt Nam[1]. Trong giai đoạn hiện nay, khi ĐHN đã trở thành mục tiêu hiện thực của chiến lược năng lượng Việt Nam, những bình luận ủng hộ hoặc phản đối ĐHN với các luận điểm định tính chung chung phải được thay thế bằng những bình luận khách quan kèm những thông tin định lượng tin cậy, góp phần mang lại những kiến thức thiết yếu cần thiết về ĐHN cho đông đảo các tầng lớp xã hội (đặc biệt là đối với một số đồng bào ở Ninh Thuận, địa điểm được chọn để xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên, những người đang tìm cách bán đất và nhà cửa để đi định cư nơi khác vì những lo lắng về rủi ro tiềm ẩn nguy hiểm của ĐHN). Dưới đây tác giả cố gắng trình bày một cách khách quan các thông tin tham khảo về ĐHN thế giới nói chung và những suy nghĩ của mình về công cuộc phát triển ĐHN ở Việt Nam.    I. Hiện trạng ĐHN trên thế giới và những đánh giá rủi ro tiềm ẩn:         Hình 2: Kết quả phân tích đại lượng “Số ngày mất đi trong đời sống con người” của tác giả B.L. Cohen [4]. Đáng chú ý là rủi ro gắn với việc sống gần nhà máy ĐHN thấp hơn nhiều nghìn lần so với rủi ro gắn với thói quen nghiện hút thuốc lá…  Về khía cạnh kinh tế, ĐHN hiện vẫn đang có giá thành khá cao so với các nguồn điện dùng nhiên liệu hóa thạch. Giá bán điện từ nhà máy ĐHN [1] thường được tính để bù dần khoản chi phí đầu tư ban đầu trong nhiều thập kỷ, chi phí mua nhiên liệu và vận hành nhà máy. Nếu tính hết tất cả các chi phí cho các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và xử lý chất thải phóng xạ thì giá thành ĐHN chắc chắn cao hơn giá khuyến cáo của các nhà cung cấp. Vì thế, một thách thức quan trọng đối với việc thiết kế và triển khai LPUHN thế hệ mới (thế hệ 3 và 4) là làm sao cho giá thành của ĐHN phải rẻ hơn trước nhưng công nghệ LPUHN lại phải an toàn hơn.  Tuy nhiên, điều mà bạn đọc quan tâm hơn cả vẫn là độ rủi ro, xác suất sự cố kỹ thuật nguy hiểm của ĐHN hiện nay ra sao. Nói chung, việc đánh giá độ rủi ro của ĐHN cần phải được tập trung vào hai khía cạnh: Khả năng (xác suất) của các sự cố có thể xảy ra với nhà máy ĐHN; Tất cả những hậu quả nguy hiểm của những sự cố đó.  Xác suất rủi ro của nhà máy ĐHN phải thực hiện bằng các tính toán mô phỏng qui mô lớn sử dụng máy tính hiệu năng cao hoặc dựa trên các phương pháp khoa học phân tích kết hợp số liệu sự cố trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Một trong những kết quả phân tích như vậy của Giáo sư Cohen [4], thực hiện tại Trường đại học tổng hợp Pittsburgh, Hoa Kỳ (xem hình 2), đã cho thấy khả năng rủi ro nguy hiểm cho tính mạng con người gây bởi sự cố của nhà máy ĐHN thấp hơn nhiều nghìn lần so với bệnh tật hiểm nghèo hoặc tai nạn giao thông (ở Việt Nam thì chắc chắn con số gắn với tai nạn giao thông phải khác). Từ hình 2 ta thấy mặc dù khả năng rủi ro gắn với nhà máy ĐHN lấy từ phân tích của các lực lượng phản đối ĐHN cao hơn số liệu lấy từ phân tích chính thức của Chính phủ Mỹ khoảng 20 lần, con số “phản đối” này vẫn nghìn lần thấp hơn khả năng rủi ro gắn với thói quen nghiện thuốc lá của đàn ông. So sánh giữa các công nghệ sản xuất điện khác nhau, ĐHN cũng được khẳng định là có tỉ lệ tai nạn gây tử vong thấp nhất. hình 3 trình bày kết quả phân tích của Viện Paul Scherrer (Thụy Sỹ) [5] dựa trên tổng số các sự cố tai nạn gây tử vong tại các nhà máy điện trên thế giới từ năm 1969 đến 2000 và ta thấy là ĐHN (bao gồm cả 50 ca tử vong trực tiếp trong sự cố nhà máy ĐHN Chernobyl năm 1986) có tỷ lệ “số người tử vong trực tiếp vì tai nạn trên một Gigawatt-năm điện” thấp nhất (gần 0.1 so với trên dưới 10 của các nhà máy nhiệt điện). Tuy nhiên, nếu như xét đến khía cạnh thứ hai của việc đánh giá rủi ro thì sự cố nhà máy ĐHN Chernobyl lại có những hậu quả rất lớn đối với cộng đồng dân cư và môi trường trong một thời gian dài sau đó. Theo báo cáo chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, gần 4000 người đã phải chịu ảnh hưởng khác nhau của phóng xạ phát táng ra từ sự cố ĐHN Chernobyl và có khả năng mắc các loại bệnh ung thư cao hơn các nhóm dân cư bình thường, trong số này 9 trẻ em được khẳng định là đã chết vì ung thư vòm họng do nhiễm xạ [6]. Mặc dù con số này ít hơn nhiều so với những đánh giá ban đầu tới hàng trăm nghìn người bị nhiễm xạ Chernobyl, nó sẽ luôn là một bài học cảnh báo đối với hàng vạn nhân lực đang vận hành các nhà máy ĐHN trên thế giới. Ở đây tác giả nhấn mạnh “nhân lực” bởi vì thảm họa Chernobyl xảy ra hoàn toàn do lỗi của các kỹ sư vận hành nhà máy lúc đó. Theo báo cáo chính thức của đại diện Liên Xô tại Tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) thì có 6 quy định an toàn vận hành ĐHN đã bị vi phạm tại Chernobyl mà nghiêm trọng nhất là việc tắt hệ thống làm nguội khẩn cấp (emergency cooling) lõi LPUHN.               Sau hơn 50 năm vận hành ĐHN, hiện chỉ có 2 sự cố nghiêm trọng đã xảy ra (hoàn toàn do lỗi con người) là sự cố nhà máy ĐHN ở Three Mile Island (Hoa Kỳ) và Chernobyl (Liên Xô cũ), với lượng phóng xạ (radioactivity) lớn thoát ra môi trường xung quanh. Đặc biệt, sự cố Chernobyl đã có độ phóng xạ này cao đến mức được đánh giá là thảm họa không chỉ gây thương vong tại chỗ mà còn có hậu quả lâu dài cho dân cư và môi trường.            Cho đến nay, hơn 20 năm sau sự cố ĐHN Chernobyl, 12 LPUHN kiểu RBMK với thiết kế tương tự LPUHN Chernobyl vẫn đang được vận hành phát điện tại LB Nga và Lithuania. Khả năng xảy ra một tai nạn tương tự Chernobyl đã gần như được loại trừ trong thiết kế các LPUHN thế hệ 3 và đặc biệt là LPUHN thế hệ 4. Các tính toán mô phỏng qui mô lớn đã khẳng định là sẽ không có khả năng thoát phóng xạ ra ngoài ngay cả khi lõi LPUHN bị phá hủy và nóng chảy (meltdown) bởi những nguyên nhân khác thường như khi LPUHN bị máy bay hành khách loại lớn nhất đâm vào hoặc khi LPUHN bị các phần tử khủng bố phá hoại [2]. Nhân đây cũng phải nhấn mạnh với bạn đọc là nhờ sự phát triển không ngừng của công nghệ máy tính, các phương pháp tính toán mô phỏng trong công nghệ năng lượng hạt nhân trên siêu máy tính (supercomputer) đã đạt được độ tin cậy cao chưa từng thấy [7]. Thí dụ như một vụ nổ bom hạt nhân đã có thể được thực hiện hoàn toàn bằng mô phỏng trên supercomputer loại lớn nhất của IBM. Việc tính toán mô phỏng khí tượng thủy văn trên siêu máy tính cũng cho phép dự báo mưa với độ chính xác trong khoảng 5 mm (chỉ tiếc là Việt Nam vẫn chưa có những công nghệ mô phỏng siêu cao này nên đã phải hứng chịu những tổn thất nặng nề qua mưa bão và lũ lụt trong năm vừa qua do dự báo khí tượng kém). Tóm lại, ta có thể tin tưởng rằng thiết kế của LPUHN thế hệ 3 và trong tương lai là thế hệ 4 có khả năng đảm bảo tăng sự an toàn của nhà máy ĐHN lên mức cao nhất.     Hình 3: Thống kê số người tử vong trực tiếp vì sự cố nhà máy trên một Gigawatt-năm tại các cơ sở sản xuất điện dùng nhiên liệu than (coal), dầu, khí (oil, gas), khí lỏng (LPG); nhà máy thủy điện (hydro) và ĐHN (nuclear) trên thế giới từ năm 1969 đến 2000 [5].                       Ta có thể tin tưởng rằng thiết kế của LPUHN thế hệ 3 và trong tương lai là thế hệ 4 có khả năng đảm bảo tăng sự an toàn của nhà máy ĐHN lên mức cao nhất. Và khả năng xảy xa một tai nạn tương tự Chernobyl đã gần như được loại trừ.            Khả năng rủi ro thứ hai gắn với việc vận hành ĐHN là khả năng sự cố gắn với việc xử lý nhiên liệu ĐHN đã qua sử dụng (còn được nhắc đến như chất thải phóng xạ) với độ phóng xạ cao nguy hiểm đối với con người và môi trường. Hàng năm khoảng 10500 tấn chất thải phóng xạ sinh bởi các nhà máy ĐHN trên thế giới phải được xử lý. Nếu như nhà máy ĐHN dùng nhiên liệu theo chu trình một lần (once-through cycle) như ở Hoa Kỳ thì chất thải phóng xạ phải được vận chuyển đến những kho chứa ngầm sâu dưới lòng đất để giữ gìn, bảo quản cẩn thận ít nhất 170 nghìn năm (đến khi độ phóng xạ giảm đến mức an toàn). Để đảm bảo môi trường an toàn cho thế hệ tương lai, ngày nay kỹ thuật xử lý chất thải phóng xạ trước khi đem đi bảo quản đã được triển khai dùng các phương pháp phản ứng hạt nhân tách những đồng vị phóng xạ có chu kỳ rã lâu để đưa vào quá trình tái chế làm thanh nhiên liệu mới [3] và thời gian cất giữ dưới đất của chất thải phóng xạ còn lại được giảm xuống chỉ còn khoảng 300 năm [2]. Việc xây dựng và duy trì lâu dài những kho chứa chất thải phóng xạ ngầm sâu dưới lòng đất là rất tốn kém, đặc biệt đối với những vùng đất thấp và có nhiều mạch nước ngầm lớn nhỏ (như ở Việt Nam) hoặc ở những địa điểm có khả năng động đất cao. Ngoài ra, tất cả các qui trình cất giữ hoặc tái chế chất thải phóng xạ phải được tiến hành trong một chế độ nghiêm ngặt tuyệt đối, đảm bảo không có bất kỳ rò rỉ đồng vị phóng xạ nào ra ngoài. Bất kỳ một rò rỉ chất phóng xạ ra ngoài sự kiểm soát của cơ quan pháp qui đều có thể có những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống dân cư, môi trường, an ninh và uy tín quốc gia. Tóm lại, công nghệ ĐHN là một công nghệ đặc biệt phức tạp và tốn kém, tuy nhiên với vai trò quan trọng của một nguồn sản xuất điện không sinh khí thải CO2 đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững, ĐHN đang dần trở thành một lựa chọn tất yếu của nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, một khi hạ tầng cơ sở kinh tế, nhân lực chuyên môn và khả năng vốn cho phép.     II. Phát triển ĐHN ở Việt Nam:       Với việc thành lập Viện Nghiên cứu hạt nhân từ cuối những năm 70 thế kỷ trước mà là tiền thân của Viện Năng lượng Nguyên tử (NLNT) Việt Nam  ngày nay, việc xây dựng nhà máy ĐHN ở Việt Nam luôn được coi là một dự án chiến lược lâu dài trong công cuộc phát triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, sau gần 30 năm tiến hành các công việc chuẩn bị, nghiên cứu khảo sát độ khả thi của dự án quan trọng này, cùng với việc Luật NLNT đã chính thức được Quốc hội thông qua, vẫn còn nhiều câu hỏi “chất vấn” dự án ĐHN của nước ta [1] mà không phải dễ dàng có được trả lời thích đáng từ phía các nhà chức trách. Có thể nói đa số các câu hỏi do tác giả Nguyễn Quốc Anh đặt ra là rất đáng chú ý, đặc biệt là sự thiếu chuyên nghiệp trong cách tiếp cận và xây dựng dự án đầu tư nhà máy ĐHN của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Với tầm quan trọng của một dự án công nghệ đặc biệt phức tạp, tốn kém và nhạy cảm trong những tiểm ẩn rủi ro, thiết nghĩ các cơ quan liên quan (EVN, Viện NLNT, Cục An toàn bức xạ hạt nhân…) phải có những trả lời công khai trên báo chí cho các câu hỏi trên.              Mô hình nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận          Là một nhà khoa học nghiên cứu trong Vật lý hạt nhân cơ bản gần 30 năm, tôi có một vài suy nghĩ băn khoăn về dự án ĐHN, tóm tắt trong hai điểm chính sau:     * Nếu như mục tiêu chiến lược là khởi động vận hành nhà máy ĐHN đầu tiên của Việt Nam vào năm 2020 (khoảng 10 năm nữa) thì một chương trình khảo sát chi tiết và nghiêm ngặt nhất  lẽ ra đã phải được bắt đầu chính thức cách đây từ 3 đến 5 năm. Và đây phải là một dự án tầm cỡ quốc gia, có đầu tư thích đáng và được thực hiện cùng với một đối tác quốc tế (hoàn toàn độc lập với nhà cung cấp nước ngoài sau này) có trình độ chuyên môn cao. Đối với một quốc gia lần đầu tiên xây dựng ĐHN, những công việc khảo sát nghiêm ngặt như vậy là vô cùng quan trọng và phải được thực hiện rất chuyên nghiệp bởi các chuyên gia quốc tế trình độ cao để đảm bảo mọi chuẩn bị tối ưu nhất cho dự án ĐHN. Thí dụ như các nghiên cứu khảo sát, tính toán mô phỏng vận hành nhà máy ĐHN trong các điều kiện địa vật lý, khí tượng thủy văn phức tạp nhất phải được thực hiện để có được một lựa chọn địa điểm tối ưu cùng với loại LPUHN thế hệ mới thích hợp nhất đối với Việt Nam. Những công việc như vậy nằm trong chương trình các hoạt động RD&D (research, development and demonstration) [2] mà thường phải được bắt đầu tiến hành vài năm trước khi dự án lớn chính thức khởi động. Nhân đây cũng phải khẳng định rằng lực lượng nhân lực ít ỏi và yếu kém của chúng ta [1] chắc chắn không có đủ khả năng và tiềm lực chuyên môn để thực hiện các hoạt động RD&D này. Việc báo cáo đầu tư xây dựng nhà máy ĐHN đã được EVN chính thức trình trước hội đồng thẩm định Nhà nước cho thấy là Việt Nam đã rút ngắn tiến độ, bỏ qua giai đoạn RD&D khảo sát trên. Ai đó có thể nghĩ rằng việc đốt cháy giai đoạn này cũng không có gì nghiêm trọng lắm vì nhà cung cấp nước ngoài tương lai thế nào cũng sẽ có những hoạt động RD&D riêng của mình cho nhà máy ĐHN Việt Nam. Khi đó chúng ta nên tự hỏi tại sao Philippines đã không thực hiện chương trình RD&D của mình trước khi quyết định lựa chọn nhà thầu nước ngoài (Westinghouse) để tin cậy chi 2,3 tỉ USD xây dựng nhà máy ĐHN Bataan công suất  621 MW năm 1976 để rồi phải đóng cửa năm 1984 khi chưa có một giờ vận hành phát điện nào vì lý do không an toàn đối với động đất. Chính phủ Philippines đã khởi kiện nhà thầu Westinghouse vì hành vi kinh doanh thiếu minh bạch với những dấu hiệu hối lộ và ép giá quá cao cho LPUHN của nhà máy ĐHN Bataan, tuy nhiên đơn kiện mức chính phủ này đã bị Tòa án tối cao Hoa Kỳ bác. Đầu năm 2008, một cuộc thanh tra của IAEA đã kết luận rằng phải tiến hành một cuộc khảo sát kỹ thuật chi tiết với một đội ngũ chuyên gia trình độ cao nhất thì mới có thể xác định dự án nhà máy ĐHN Bataan có thể khởi động lại được hay không [8]. Bài học đắt giá này phải là một cảnh báo đối với các nhà quản lý dự án ĐHN Việt Nam, đặc biệt những ai đang đặt quá nhiều tin tưởng vào nhà thầu nước ngoài.           * Trong bối cảnh phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, người viết bài này cùng nhiều đồng nghiệp thực sự có cảm giác bất yên khi thấy dự án nhà máy ĐHN đặc biệt phức tạp, tốn kém và nhạy cảm trong những tiềm ẩn rủi ro lại đang nằm dưới sự quản lý chồng chéo bởi đa cơ quan Nhà nước như hiện nay. Có gì đó không ổn lắm khi EVN làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy ĐHN còn Viện NLNT và Cục An toàn bức xạ (ATBX) thay mặt Bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) lo gánh vác trách nhiệm hỗ trợ, thẩm định kỹ thuật… Nghe có vẻ đơn giản nhưng thực tế nếu xét đến tất cả các khía cạnh phức tạp của công nghệ ĐHN, chỉ riêng việc hỗ trợ và thẩm định kỹ thuật dự án thật nghiêm túc đã là khó khả thi đối với đội ngũ nhân lực ít ỏi yếu kém của ta hiện nay (một chuyên gia của Bộ KH&CN đã từng ví việc này như bắt một đứa trẻ 2 tuổi gánh một tạ thóc!). Ai cũng hiểu là nhân lực trình độ cao là chìa khóa thành công của dự án ĐHN (xin một lần nữa nhắc lại rằng những sự cố lớn của ĐHN đã xảy ra trên thế giới đều do lỗi con người gây ra chứ không phải do nguyên nhân khách quan từ thiên nhiên hoặc từ lỗi nghiêm trọng trong thiết kế LPUHN…) nên trong thời gian hiện nay EVN đã có chương trình đào tạo nhân lực ĐHN riêng của mình, Viện NLNT và Cục ATBX cả hai cũng đều có những chương trình đào tạo tương tự. Ngoài ra, Bộ KH&CN đang tiến hành kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để chuẩn bị các chương trình tuyển chọn và đưa nhân lực ĐHN tương lai đi đào tạo ở nước ngoài… Hơn thế nữa, việc đào tạo “chay” chuyên ngành công nghệ hạt nhân vẫn đang được tiến hành tại một số trường đại học với những người thầy chưa bao giờ được đào tạo chính qui về công nghệ hạt nhân cũng như ĐHN và không có bất kỳ kinh nghiệm thực tế nào trong việc vận hành nhà máy ĐHN. Liệu bằng cấp “kỹ sư công nghệ hạt nhân” cấp ra từ những cơ sở trong nước này có thể là “giấy thông hành” tin cậy để tham gia hỗ trợ kỹ thuật hoặc trực tiếp vận hành nhà máy ĐHN tương lai được không? Giáo sư Pierre Darriulat, một nhà vật lý Pháp nổi tiếng hiện đang sống và làm việc ở Hà Nội đã có lần gửi tới lãnh đạo Viện NLNT những nhận xét và đề nghị của ông cho chương trình ĐHN Việt Nam. Trong đó, ông khẳng định việc quan trọng nhất trong những năm này là phải lo xây dựng và đào tạo gấp một đội ngũ nhân lực chuyên môn cao cho dự án ĐHN và việc đó phải được sự quan tâm lớn và lãnh đạo trực tiếp từ phía Chính phủ Việt Nam. Cách tiếp cận manh mún hiện nay của các cơ quan Việt Nam đối với vấn đề hệ trọng này theo ông là hoàn toàn chưa thỏa đáng. Có thể nói cơ chế quản lý đa cơ quan đối với một dự án rất phức tạp và nhạy cảm như ĐHN đang tiềm tàng chứa trong mình những bất cập lớn. Năm ngoái, các đại biểu Quốc hội đã phải bật cười khi chứng kiến “quả bóng trách nhiệm” về an toàn vệ sinh thực phẩm được đá qua đá lại giữa các lãnh đạo Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT… Đối với vấn đề an toàn nhà máy ĐHN tương lai, việc đá bóng trách nhiệm như vậy là một kịch bản mà chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận được.         
__label__tiasang Lộ trình tiêm vaccine chống COVID-19 cho mục tiêu kép mới của Việt Nam      Với mô hình này, Việt Nam sẽ có cơ hội phục hồi tương đối kinh tế và bảo đảm giảm tối đa các ca tử vong hay bệnh nặng xảy ra cho độ tuổi trên 65 và những người có bệnh nền.      Tiêm vaccine ở TP HCM vào cuối tháng 6 vừa qua. Ảnh: Trương Thanh Tùng.    Việt Nam đã và đang theo đuổi mục tiêu kép: vừa phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới1. Trong năm 2020 và những tháng đầu năm 2021 Việt Nam đã thực hiện thành công chiến lược này – với tỷ lệ người nhiễm COVID-19 thấp (0,01% trên tổng dân số) và số người tử vong cũng rất thấp (55 người – chiếm 0,56% trong tổng số người mắc COVID).      Tuy nhiên, với biến chủng Delta2, vì sự lây lan quá nhanh của nó, đã gây ra đợt dịch COVID-19 hiện tại, de dọa nghiêm trọng tới việc thực hiện chiến lược mục tiêu kép của Việt Nam (số lượng người nhiễm từ ngày 27/4 đến 5/8 lên 177.804 người. Dịch đã lan ra 62 tỉnh trên toàn quốc, tình hình diễn tiến đặc biệt nghiêm trọng ở một số tỉnh thành là các trung tâm kinh tế trọng điểm của Việt Nam như TP Hồ Chí Minh (TP HCM), Bình Dương, Đà Nẵng, dẫn đến việc phải giãn cách toàn xã hội, theo chỉ chị 16 và còn cao hơn Chỉ thị 16). Tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về mặt chiến lược chống COVID cũng như điều chỉnh về mục tiêu kép trong tình hình mới.      Mục tiêu kép mới: Nếu mục tiêu kép trước đây giữ gìn và đẩy mạnh tăng trưởng và giảm tối đa các ca dương tính, thì mục tiêu kép “mới” là: cực tiểu hóa các ca nhiễm bệnh nặng và tử vong, trong khi vẫn có thể có tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhưng với một nhịp độ có thể thấp hơn chỉ tiêu 6,5% cho năm 2021. Theo ý chúng tôi, Việt Nam nên tạm thời gác qua một bên sự quan tâm về nhịp độ tăng trưởng kinh tế 6.5% cho năm 2021 (như nêu tại Nghị quyết số 75/NQ-CP banh hành ngày 14/7/2021, tại phiên họp Chính phủ)3, và tập trung vào chống dịch và đặc biệt chiến lược tiêm vaccine. Giám đốc Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF bà Kristalina Georgieva đã kêu gọi các quốc gia tập trung vào thực hiện chính sách vaccine, và cho rằng trong năm 2021 và có thể cả năm 2022 chính sách vaccine còn quan trọng hơn cả các chính sách tài chính và tiền tệ4.      Việt Nam nên tạm thời gác qua một bên sự quan tâm về nhịp độ tăng trưởng kinh tế 6.5% cho năm 2021. Trong năm 2021 và có thể cả năm 2022 chính sách vaccine còn quan trọng hơn cả các chính sách tài chính và tiền tệ.      Điều này cũng nhất quán với nhận định của Philippe Aghion (GS Harvard và từng làm tư vấn chính sách choTổng thống Pháp) cùng cộng sự rằng không có sự đánh đổi giữa sức khỏe và kinh tế – chỉ có thể phát triển kinh tế khi chống dịch COVID thành công5. Ngoài ra, việc tiêm nhanh và hiệu quả còn có tác dụng (i) ngăn chặn chủng Delta bành trướng mạnh, có cơ nguy biến dạng thành một chủng khác nguy hiểm hơn và gây tác hại toàn cầu; (ii) để hy vọng Việt Nam sẽ đạt được miễn dịch cộng đồng trong chừng mực nào đó.      Hiện nay, đã có sự đồng thuận tương đối giữa các giới chuyên môn về y khoa, kinh tế cũng như các cơ quan hữu trách về sự cần thiết của biện pháp tiêm vaccine chống COVID-19 càng nhanh càng tốt. Mục tiêu của bài viết ngắn này là đưa ra một lộ trình tiêm vaccine với mục tiêu kép mới.       Lộ trình triển khai tiêm vaccine chúng tôi đề xuất ở đây được đặt trong hoàn cảnh: (i) Việt Nam đang có dịch nghiêm trọng với biến thể Delta có khả năng lây nhiễm cao; (ii) các địa phương có mật độ dân số khác nhau, vai trò kinh tế khác nhau và mức độ dịch khác nhau, (ii) Việt Nam chưa tự chủ được nguồn vaccine, phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu hoặc viện trợ từ bên ngoài, (iii) đa dạng chủng loại vaccine với các mức hiệu quả chống lây nhiễm và chống tử vong khác nhau.        Đối tượng ưu tiên: Ngoài những nhóm đối tượng đã được Chính phủ xác định ưu tiên tiêm chủng vaccine phòng COVID, chúng tôi muốn bổ sung ba nhóm đối tượng     • Nhóm 1: Ở Việt Nam cũng giống như các nước trên thế giới, nếu tỷ lệ bị lây nhiễm COVID-19 của người dưới 65 tuổi rất cao so với người trên 65, thì ngược lại những ca bị nặng phải vào đơn vị chăm sóc đặc biệt hay tử vong lại rất cao ở những người trên 65 tuổi, và những người có bệnh nền. Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của tiêm chủng là để hạn chế tôi đa những ca tử vong hay bệnh nặng. Do đó những người trên 65 tuổi và những người có bệnh nền là đối tượng đáng quan tâm nhất trong chiến lược tiêm vaccine.      Như hình minh họa dưới dây của trong bài viết Chiến lược tối ưu chống COVID của Melis Tekant6 trên của Đại học Harvard, thì khi ưu tiên người trẻ sẽ làm giảm số ca lây nhiễm nhưng không làm giảm các ca nặng và tỷ lệ chết, nhưng ưu tiên tiêm cho người già thì sẽ giảm các ca nặng nhưng không làm giảm lây nhiễm. Trong hoàn cảnh số ca nhiễm đã quá lớn, việc đặt mục tiêu không lây nhiễm là bất khả thi, và mục tiêu giảm ca nặng cần được ưu tiên.       • Nhóm 2: Nhóm lao động thiết yếu (essential workers), là những nhóm lao động cần thiết để đảm bảo cho sự vận hành cơ sở hạ tầng và dịch vụ thiết yếu7. Đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng việc ưu tiên vaccine cho nhóm lao động thiết yếu này sẽ làm giảm cả số lượng người  bị lây nhiễm cũng như ca nặng phải nhập viện hay chết8. Ở từng nước khác nhau, nhóm lao động thiết yếu có thể khác nhau. Do đó, Việt Nam cần xác định các nhóm lao động thiết yếu để đảm bảo nền kinh tế vẫn có thể vận hành suôn sẻ, vừa chống dịch vừa đảm bảo mục tiêu kinh tế.     • Nhóm 3: Nhóm siêu lây nhiễm (super spreaders)9. Đây là nhóm người, dân cư có tiếp xúc xã hội nhiều (một phần có thể do tính chất ngành nghề, độ tuổi). Họ chỉ chiếm 10% tổng số người bị nhiễm nhưng lại có thể gây ra đến 80% tổng số ca nhiễm10. Tiêm vaccine sớm cho nhóm này cũng được coi là một ưu tiên chống dịch đặc biệt hiệu quả, nếu như có thể xác định sớm được nhóm này.     Trong Phần 1, chúng tôi đưa ra lộ trình tiêm vaccine cho Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong Phần 2, chúng tôi sẽ đưa ra lộ trình cho các vùng, miền khác.     1. Thành Phố Hồ Chí Minh     Hiện tại diễn biến COVID-19 tại thành phố vẫn còn rất phức tạp, và đang được sự ưu tiên của cả nước, vừa để chống dịch sớm vừa để đảm bảo phát triển kinh tế.      Thành phố TP. HCM là nơi năng động nhất về kinh tế của Việt Nam. Tỷ trọng GDP của TPHCM là 22% của GDP Việt Nam. Dân số TPHCM vào khoảng 9 triệu người, trong đó số lượng công nhân vào khoảng 3,5 triệu.11       Tỷ lệ người trên 65 tuổi của toàn quốc là khoảng 8%. Giả thiết là tỷ lệ này cũng đúng cho TPHCM thì chúng ta sẽ có trên dưới 720.000 người trên 65 tuổi ở TPHCM. Trong số những người này có nhiều người có bệnh nền (huyết áp cao, tiểu đường, suy tim, mỡ trong máu nặng, ung thư). Chúng tôi giả sử số người dưới 65 tuổi có bệnh nền ở TPHCM là khoảng 500,000. Như thế, tổng cộng số người trên 65 tuổi, số người có bệnh nền và số lượng công nhân sẽ là khoảng 4,7 triệu người.  TP HCM đã thông báo là sẽ có 5 triệu liều vaccine trước 15 tháng 8 năm nay12.  Chúng tôi đề ra phương án như sau:      • Đợt 1. Tiêm vaccine cho toàn bộ những người công nhân (3,5 triệu) và toàn bộ người trên 65 tuổi và có bệnh nền. Sẽ dôi ra 300,000 liều vaccine. TPHCM sẽ tiêm cho những người ở tuyến dầu chống dịch và những người lái xe đường dài, bán chợ đầu mối, giao hàng (đây chính là nhóm lao động thiết yếu đề cập ở trên, đồng thời cũng có khả năng lây nhiêm cao do tiếp xúc nhiều), vv chưa được tiêm. Đợt 1 sẽ tiến hành trong vòng 3 tuần, nếu TPHCM có thể tổ chức được.     • Đợt 2: Sẽ tiêm tiếp toàn bộ những người đã được tiêm mũi thứ nhất ở Đợt 1.  Đợt 2 cũng sẽ diễn ra trong 3 tuần.     Như vậy, sau 6 tuần, TPHCM sẻ giải quyết vấn đề của những người trên 65 tuổi, những người có bệnh nền và những người lao động ở các khu công nghiệp. Những khu công nghiệp có thể hoạt động trở lại tương đối một cách bình thường. Những công nhân sẽ không bị giữ lại tại chỗ, để vừa làm việc, vừa nghỉ. Họ về lại nhà như trước. Vì những người lớn tuổi và những người có bệnh nền đã được tiêm hai lần, những người dưới 65 chưa được tiêm sẽ không làm lây lan nhiều đến những người cao tuổi và những người có bệnh nền13.       Mô hình ở TPHCM sẽ được áp dụng cho những tỉnh thành, những vùng có những khu công nghiệp đang có nguy cơ. Lộ trình tiêm sẽ đi từ nhóm ưu tiên đến dân số nói chung. Còn ở những vùng phi công nghiệp khác tại các tỉnh này, nên tiêm ưu tiên cho những người trên 65 và những người có bệnh nền.      • Đợt 3: TPHCM sẽ tiến hành tiêm cho những người dưới 65 tuổi (dân số nói chung).  Mục đích tiếp tục tiêm vaccine là:  (i) ngăn chặn chủng delta bành trướng mạnh và có cơ nguy biến dạng thành một chủng khác nguy hiểm hơn nữa. Như thế sẽ tác hại toàn cầu; (ii) để hy vọng là Việt Nam sẽ đạt được, trong chừng mực nào đó, miễn dịch cộng đồng.     • Cũng nên tiêm, tương đối ưu tiên, cho những người muốn trở về quê sinh sống, vì họ đã suy sụp kinh tế ở các thành phố lớn như TPHCM, TP Hà Nội. Dĩ nhiên những người trở về quê phải làm test PCR.     2. Lộ trình cho những tỉnh thành khác, vùng khác     2.1 Những tỉnh, thành có tầm quan trọng kinh tế, có nguy cơ COVID cao (như Bình Dương, Đồng Nai, Đà nẵng, các tỉnh miền tây phía Nam): Mô hình ở TPHCM sẽ được áp dụng cho những tỉnh thành, những vùng có những khu công nghiệp đang có nguy cơ14. Lộ trình tiêm sẽ đi từ nhóm ưu tiên đến dân số nói chung. Còn ở những vùng phi công nghiệp khác tại các tỉnh này, nên tiêm ưu tiên cho những người trên 65 và những người có bệnh nền.       Cũng nên tiêm, tương đối ưu tiên, cho những người lái xe đường dài để hàng hóa có thể lưu thông (chuỗi sản xuất không bị cắt đứt) và để cho những người muốn trở về quê sinh sống, vì họ đã suy sụp kinh tế ở các thành phố lớn như TP HCM, TP Hà Nội. Đương nhiên những người trở về quê phải làm test PCR.     2.2 Những tỉnh miền núi, dân cư thưa, nguy cơ COVID chưa cao: Hiện số lượng vaccine được phân bổ cho các tỉnh này chưa nhiều, do còn đang ưu tiên những tỉnh đang có dịch, nên sẽ triển khai tiêm trước cho các nhóm ưu tiên đã nêu ở trên.     3. Vấn đề chống vaccine, không tiêm vaccine, ngần ngại tiêm vaccine (Vaccine hesitancy): Trên thế giới cũng như Việt Nam, việc tiêm vaccine luôn gặp phải vấn đề ngần ngại, chống vaccine của một bộ phận không nhỏ dân chúng. Nếu điều này không được xử lý tốt trong hoàn cảnh dịch COVID-19 hiện nay, Việt Nam có thể không đạt được mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch tiêm vaccine, nhìn tỷ lệ người sẵn sàng tiêm vaccine sẽ lớn, không gây ra chậm trễ đáng kể trong việc triên khai tiêm. Tuy nhiên sau một thời gian, thì tỷ lệ này ngày càng giảm xuống (do những người sẵn sàng tiêm đã tiêm rồi), và tỷ lệ người ngần ngại tiêm sẽ tăng lên. Do đó Việt Nam cần xây dựng các thông điệp, biện pháp chính sách để người dân sẵn sàng đi tiêm hơn. Một trong những gợi ý, đó là cho phép tiêm dịch vụ chất lượng cao có sự tham gia của các bệnh viện tư.     Lời kết:      Tóm lại, với mô hình này, Việt Nam sẽ có cơ hội phục hồi tương đối kinh tế và bảo đảm giảm tối đa các ca tử vong hay bệnh nặng xảy ra cho độ tuổi trên 65 và những người có bệnh nền.     Về các tác giả:  TS Nguyễn Ngọc Anh (DEPOCEN)  GS Trần Nam Bình (The University of New South Wales Sydney)  GS Lê Văn Cường (Paris School of Economics)     Lời cảm ơn:  Các tác giả cám ơn GS TS BSĐinh Xuân Anh Tuấn đã giải thích cặn kẽ, rõ ràng về dịch COVID-19 qua hai webinars do ISVE, CASED và DEPOCEN tổ chức. Các tác giả cũng xin cám ơn Bác Sĩ Jerome Couturier đã đóng góp ý kiến về bài này.     Chú thích:   1 Cụ thể là: “mục tiêu kép” là vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới. (xem https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/tiep-tuc-tap-trung-muc-tieu-kep-1491879166)   2 Biến chủng COVID-19 Delta đã và đang thách thức các nước chống dịch thành công trong giai đoạn đầu của năm 2020 khi chưa có Vaccine. Việc áp dụng cứng nhắc mục tiêu không lây nhiễm (zero-COVID) trong hoàn cảnh hạn chế về vaccine (về hiệu quả cũng như tính sẵn có) cũng đặt một loạt nước vào hoàn cảnh khó khăn. https://www.theguardian.com/world/2021/aug/04/with-the-delta-variant-spreading-is-chinas-zero-tolerance-COVID-approach-over https://www.telegraph.co.uk/news/2021/05/09/china-closed-border-allies-now-trapped-zero-COVID-nightmare/   3 https://dangcongsan.vn/thoi-su/kien-quyet-kien-tri-thuc-hien-thanh-cong-muc-tieu-kep-585445.html   4 https://www.cnbc.com/2021/06/16/COVID-imf-chief-says-vaccine-policy-is-the-most-important-economic-driver.html   5 https://voxeu.org/article/aiming-zero-COVID-19-ensure-economic-growth.   Indonesia được cho là ngước thực hiện chiến lược vaccine phi truyền thống, khác với các nước khác, đó là ưu tiên kinh tế, nhưng đã bị ảnh hưởng nặng về cả kinh tế và y tế khi số ca nhiễm lên rất cao 3,496,700 và 98,889 người chết  (xem: Indonesia’s unorthodox vaccination strategy puts the economy first  https://www.dw.com/en/opinion-indonesias-unorthodox-vaccination-strategy-puts-the-economy-first/a-56383343  và https://reliefweb.int/report/indonesia/situation-update-response-COVID-19-indonesia-3-august-2021-enid)  6 https://sitn.hms.harvard.edu/flash/2021/optimal-strategy-for-a-COVID-19-vaccine-roll-out/   7 Tham khảo thêm https://www.cdc.gov/vaccines/COVID-19/categories-essential-workers.html   8 https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.02.23.21252309v1.full   9  https://www.wired.com/story/COVID-19-vaccine-super-spreaders   10  https://healthpolicy.usc.edu/article/COVID-19-vaccine-model-needs-to-prioritize-superspreaders-here-is-why/   11 https://vnexpress.net/tiep-tuc-uu-tien-vaccine-cho-tp-hcm-4336417.html   12 https://thanhnien.vn/suc-khoe/tphcm-se-co-them-5-trieu-lieu-vac-xin-COVID-19-1423323.html   13 Ở Pháp, thống kê cho thấy là từ 86% đến 96% người nhiễm COVID hiện nay là những người không tiêm vắc-xin, (https://www.la-croix.com/Sciences-et-ethique/COVID-19-96-Francais-contamines-semaine-derniere-netaient-pas-vaccines-2021-07-16-1201166534). Và nếu bị nhiễm COVID-19, thì những người đã được tiêm 2 mũi sẽ không bị triệu chứng nặng phải vào hồi sức hoặc bị tử vong (https://www.latribune.fr/economie/france/COVID-19-pres-de-8-deces-sur-10-sont-des-personnes-non-vaccinees-selon-une-etude-889996.html)  14 https://vnexpress.net/chu-tich-binh-duong-du-bao-so-ca-nhiem-tang-len-30-000-4336353.html     Author                Nguyễn Ngọc Anh, Trần Nam Bình, Lê Văn Cường        
__label__tiasang Lời cầu chúc đầu năm      Năm mới người ta thường mong có thể vứt bỏ những cái cũ kỹ, lỗi thời để đón lấy những cái mới mẻ, tốt tươi. Một mong ước phù hợp qui luật tiến hoá của thiên nhiên, nhưng không phải cứ tự nhiên mà thực hiện được.      Đối với một cá nhân thay đổi đã khó, đối với một đất nước càng khó gấp bội. Nhưng nếu không thay đổi thì làm sao thích ứng với môi trường xung quanh, với thế giới, với thời đại biến chuyển không ngừng. Mà không thích ứng được thì sớm muộn sẽ bị đào thải, đó cũng là qui luật thiên nhiên.  Trên đất nước ta hiện còn nhiều cái cũ kỹ, lỗi thời, ngược hẳn lại với thế giới văn minh. Cái sự chẳng giống ai đó chẳng phải là độc đáo gì, chẳng phải là cái khác biệt làm nên giá trị riêng khiến chúng ta đồng hành với thế giới mà không bị lẫn với ai. Chẳng qua chỉ là sự không thức thời, sự bảo thủ sinh ra từ cố chấp, chủ quan, tự mãn.  Đầu năm ngoái, tôi có chúc bạn bè xa gần lấy cảm hứng từ câu thơ của B.G.:  Xin chào nhau giữa con đường,  Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.  Câu thơ cũ mà như vận vào thời sự đất nước hôm nay.  Mong những ai đó còn mải ngủ say hãy tỉnh lại cùng với nhân dân chung tay xây dựng một mùa xuân mới cho đất nước.  Thế giới đã khác xưa lắm rồi. Nếu cứ để đất nước mãi tụt hậu thì chúng ta có tội với tiền nhân, với con cháu!  Hơn lúc nào hết, hãy can đảm từ giã tất cả những gì cũ kỹ, đã từ lâu không còn phù hợp. Đem lại cho năm mới 2016 những điều thật sự mới mẻ tốt tươi. Để cho đất nước nở hoa. Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau!    Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Lời chào từ năm 2030: Những hình ảnh về một lối sống ít phát thải carbon      Con gửi mẹ bưu thiếp này với lời chúc mừng năm mới và để mẹ biết rằng cuộc sống của con vào năm 2030 rất ổn.  Con biết mẹ đã từng lo lắng rằng con, cũng như thế hệ Gen Z, sẽ lớn lên với nỗi lo về biến đổi khí hậu.      Cầu Long Biên. Tranh: Nguyễn Linh Đan  Hà Nội, 3.2.2030  Gửi mẹ yêu,  Con gửi mẹ bưu thiếp này với lời chúc mừng năm mới và để mẹ biết rằng cuộc sống của con vào năm 2030 rất ổn.  Con biết mẹ đã từng lo lắng rằng con, cũng như thế hệ Gen Z, sẽ lớn lên với nỗi lo về biến đổi khí hậu. Mẹ hãy yên tâm, Gen Alpha bọn con đang tận hưởng lối sống bền vũng, kết nối toàn cầu. Để mẹ dễ hình dung, con sẽ kể cho mẹ nghe câu chuyện về các hoạt động thường ngày theo lối sống ít phát thải carbon của con.  Ăn uống bền  vững hơn  Hiện giờ, hầu hết thực phẩm con ăn ở trường đều có nguồn gốc hữu cơ và mỗi ngày đều có lựa chọn món ăn không có thịt. Rau củ được trồng mà không sử dụng thuốc trừ sâu. Chúng đến từ các trang trại hệ sinh thái tự nhiên1 bên kia sông, chính là trang trại con đến làm việc tình nguyện dịp hè năm trước. Có hẳn một mạng lưới nhà nông thế hệ mới cũng như truyền thống trong khu vực đang triển khai biện pháp canh tác hữu cơ này. Con dự định sau khi tốt nghiệp sẽ dành một năm để đi du lịch đồng thời làm việc tình nguyện trên các vùng đất khác nhau của đất nước (bọn con gọi đấy là woofing2).  Không còn ai sử dụng đồ nhựa dùng một lần trong tiêu dùng thực phẩm nữa và túi nilon cũng đã bị cấm khi đi mua hàng. Qua đó, con nhận thấy rằng việc cấm nhựa dùng một lần trên toàn quốc là một biện pháp hiển nhiên. Bạn con ở Phú Quốc nói với con rằng các bãi biển tại đó ngày càng sạch hơn. Con và phần lớn các bạn của con tự thấy mình là những người có chế độ ăn linh hoạt (flexitarians), chủ yếu ăn rau nhưng cũng  vẫn ăn thịt và cá tuy không quá thường xuyên. Con yêu động vật và con thấy đạm thực vật rất tốt cũng như ít dấu chân carbon hơn. Các loại thực phẩm thay thế cho thịt làm từ thực vật và các loại thịt nhân tạo (cultivated meat3) tốt hơn và rẻ hơn thịt bò bít-tết. Tuy nhiên con vẫn còn lo ngại về phát thải khí metan4 từ trồng lúa gạo và chăn nuôi gia súc.  Các ngôi nhà thân thiện môi trường  Hôm qua con đến thăm trường Đại học Khoa học và Công nghệ ; họ có một tòa nhà  Zero-Energy5. Tất cả các phòng đều có ánh sáng tự nhiên do có các tấm gương đưa ánh sáng xuống đến các tầng thấp hơn. Ánh sáng nhân tạo cũng được sử dụng rất hiệu quả và thông minh với đèn LEDs và công tắc tự động sử dụng cảm biến ánh sáng. Thông khí hầu hết là tự nhiên và tòa nhà còn sử dụng nhiệt từ các tấm pin mặt trời để thu khí nóng lên và đưa ra ngoài theo hiệu ứng ống khói. Tòa nhà của trường đại học có các công nghệ thông minh phát triển sau 1o năm so với Tòa nhà Xanh của Liên Hợp Quốc tại Kim Mã được xây vào năm 2015. Không chỉ dừng lại ở việc những người trong tòa nhà có thể kiểm soát thông khí và nhiệt độ tại bàn làm việc của mình, tòa nhà còn có một bản sao số hóa. Tất cả dữ liệu về sử dụng năng lượng được lưu trữ, phân tích và tối ưu hóa theo các thông lệ tốt nhất hiện có.  Các thầy ở trường nói với con rằng quy định về hiệu quả năng lượng trong tòa nhà gần đây càng đã được siết chặt hơn. Chẳng hạn, tất cả các dự án tòa nhà công nghiệp và thương mại mới phải đạt tiêu chuẩn LOTUS bạc và các ngôi nhà ở cần đat cấp độ Green. Ngoài ra, Luật Trung hòa Carbon gần đây quy định việc nâng hạng tự động bắt buộc sau mỗi 5 năm. Con ước rằng tất cả các ngôi nhà hiện có đều đã trung hòa carbon, tuy nhiên chúng ta mới chỉ ở năm 2030! Con mong rằng những công ty xây dựng sẽ không còn tạo ra nhiều tiếng ồn và bụi tại những khu dân cư ở Hà Nội nữa, thay vào đó họ sẽ sử dụng các máy in công nghệ 3D6 mới để đổ bê-tông, điều có thể làm chỉ trong một đêm.  Con nhận thấy rằng các công trình xây dựng tại Hà Nội đã sử dụng nhiều công nghệ được minh chứng tại trường đại học. Các tòa nhà đã trở nên thông minh hơn, không chỉ là cho marketing mà còn thực sự về cách sử dụng năng lượng. Trong tháng trước, thành phố đã hoàn thiện việc xây dựng lại Khu tập thể cũ ở Thành Công chỗ nhà dì. Các tòa nhà mới đã có những mái xanh cùng với hệ thống thu nước mưa và nước thải để xử lý tái sử dụng.  Bệnh viện của bố đã lắp đặt máy phát điện mới dùng trong trường hợp khẩn cấp sử dụng tấm pin mặt trời và hệ thống pin lưu trữ. Giờ đây bệnh viện đã có hệ thống lưới siêu nhỏ luôn hoạt động và đã tham gia vào chương trình quản lý nhu cầu7 ở phía Bắc. EVN trả8 cho bệnh viện để chủ động hỗ trợ lưới khi cần, chẳng hạn như khi tất cả mọi người cùng bật điều hòa một lúc.  Giao thông bền vững hơn  Hà Nội đã cấm tất cả xe máy chạy xăng ở các quận nội thành và đã hoàn thiện hệ thống làn đường cho xe đạp. Hầu hết các bạn cùng lớp con đi bộ, đi xe đạp hoặc xe đạp điện đến trường một cách an toàn. Có vài bạn sử dụng phương tiện công cộng như xe bus – tất cả đều chạy điện – hoặc tàu điện ngầm. Con thì thích hình thức xe đạp và xe đạp điện chia sẻ9 vì con cảm thấy nó lãng mạn hơn. Con cũng không còn nhìn thấy các xà lan hay tàu chạy diesel khi con đi bộ dọc bờ sông (chúng rất ồn và làm bẩn nước). Thật thích khi thấy  các phương tiên chạy bằng nhien liên hydrogen sạch thay thế chúng.    Hà Nội là Hành Trình. Tác giả: Ngô Thị Linh Chi  Cái xe điện mẹ mua cho con khi con vào trung học vẫn chạy tốt. Con sạc nó hàng ngày bằng hệ thống sạc thông minh từ pin mặt trời lắp ở nhà để xe, chỉ vào thời điểm hệ thống cho sản lượng cao nhất vào ban ngày. Cũng như tất cả các tòa nhà công cộng khác, trường con có hệ thống điện mặt trời áp mái10 tuy chưa có hệ thống lưu trữ. Thầy hiệu trưởng nói hệ thống này hiện còn đắt. Dù vậy, với số lượng xe điện hiện có11, chúng con vẫn có thể đóng góp vào hỗ trợ lưới điện của EVN. Con sẽ chỉ đi tàu, xe bus hoặc thuyền trong năm con đi du lịch quanh ASEAN vì con thấy đi máy bay phát thải CO2 cao hơn. Con không chắc liệu có bao giờ mình muốn lái xe ô tô hay không, nhưng chắc chắn sẽ không phải là xe chạy bằng nhiên liệu hóa thạch. Giá xăng đã tăng nhiều lần so với thời của mẹ và chính quyền thành phố cũng đã cấm các xe này đi vào trung tâm trong những thời điểm chất lượng không khí xuống thấp.  Lời kết  Mẹ thấy đấy, công nghệ chúng ta đang ứng dụng trong năm 2030 để quản lý phát thải carbon đã có từ năm 2021, khi quốc gia tuyên bố sẽ trở nên trung hòa carbon vào giữa thế kỷ. Con sẽ dừng thư tại đây vì con cần chuẩn bị cho bài thi cuối kỳ môn Khoa học về Tính bền vững. Chúng con biết rằng sau đại dịch Covid-19, Quốc Hội đã điều chỉnh luật để đảm bảo rằng sự phát triển của Việt Nam cũng quan tâm đến các vấn đề sức khỏe và môi trường nhiều như các vấn đề về kinh tế-xã hội. Hiến pháp12 đã nêu lên Việt Nam đang chuyển dịch sang một xã hội trung hòa carbon và nền kinh tế tuần hoàn. Chúng ta đã có thị trường carbon trong nước vào năm 2028. Thị trường cũng cho phép các cá nhân mua chứng chỉ giảm phát thải CO2. Liệu con có thể nhận các chứng chỉ này để bù cho toàn bộ lượng phát thải CO2 của con như món quà cho sinh nhật kế tiếp không ạ ?  Con muốn gửi đến mẹ những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm 2022 và những năm sau đó. Mẹ hãy giúp con chuyển những lời này đến gia đình mình cũng như các đồng nghiệp của mẹ tại Sáng kiến về Chuyển dịch Năng lượng Việt Nam. Việc lựa chọn các công nghệ phù hợp sẽ trao quyền cho chúng con, thế hệ Alpha, để hướng đến một cuộc sống không chỉ giàu có hơn về mặt vật chất mà còn về công bằng xã hội và các giá trị sinh thái.  Con gái gửi mẹ từ năm 2030,  Chúc mừng năm mới !  Tái bút: Tiền đề của bài viết này là mức độ phát triển bền vững của xã hội không chỉ phụ thuộc vào quản trị công và hành vi của các doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào hành động của mỗi cá nhân. Nhiều người trong thế hệ tương lai đang lức giận và lo lắng rằng chúng ta, những người lớn đang để lại cho họ một thế giới đã bị hủy hoại. Các công nghệ  hiện có nào chúng ta cần thúc đẩy để giới trẻ có thể có lựa chọn thực sự và hiện thực hóa quan điểm của họ về một thế giới tốt đẹp hơn?  Trương An Hà (Sáng kiến về Chuyển dịch Năng lượng Việt Nam) dịch  ——-  1 Nông nghiệp thâm canh tiêu tốn nhiều năng lượng hơn là năng lượng thu được từ mặt trời. Phương thức canh tác này đang dần được thay thế bởi các chuỗi sản xuất thực phẩm  bền vững:  – Canh tác hữu cơ không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và các giống biến đổi gen.  –  Canh tác tái tạo tập trung vào cải tạo đất.  – Canh tác hệ sinh thái tự nhiên quan sát các hệ sinh thái trong tự nhiên để quản lý đất và sinh vật.  2 Woofing (cơ hội làm việc tại các trang trại hữu cơ trên thế giới) là một dạng homestay, trong đó người tham gia sẽ làm việc tình nguyện tại các trang trại và được ăn ở miễn phí tại đó.  3Thịt nhân tạo là các mô cơ được làm bằng công nghệ in 3D các tế bào động vật nuôi trong ống nghiệm. Nhiều công ty khởi nghiệp đang tăng quy mô để sản xuất với chi phí rẻ hơn thịt sản xuất theo phương pháp truyền thống trước năm 2030.  4Các kỹ thuật quản lý nước như xen kẽ giữa canh tác khô và ướt, tháo nước khỏi ruộng vào giữa vụ và tưới xen kẽ để tăng sản lượng lúa đồng thời giảm phát thải. Trâu bò có thể được cho ăn theo chế độ có thêm các thực phẩm bổ sung, chăn thả trên các đồng có được quản lý tốt hơn để giảm phát thải khí mêtan.  5Nhà thụ động (passive house) sử dụng rất ít năng lượng do vậy các tấm pin mặt trời và các nguồn năng lượng tái tạo khác được tích hợp trong ngôi nhà đủ cung cấp điện để sử dụng.  Đây là công nghệ đã trưởng thành, ví dụ ở Pháp tất cả các ngôi nhà xây sau năm 2022 phải là ngôi nhà sinh năng lượng (energy positive house)  6Công nghiệ in 3D trong xây dựng giúp giảm thời gian, tiếng ồn, vật liệu và phát thải CO2: đây là công nghệ trong một nền kinh tế trung hòa carbon. Tuy nhiên tính kinh tế của công nghệ này sẽ tốt hơn khi nó giúp giảm chi phí nhân công, và do đó giảm nỗi lo của tác giả.  7Quản lý nhu cầu (Demand Side Management) cho phép nhà vận hành lưới điện đưa ra tín hiệu cho người sử dụng điện để họ điều chỉnh phụ tải của mình theo thời gian thực.  Công nghệ này đã trưởng thành v à có tiềm năng tăng trưởng cực lớn cùng với Internet Vạn vật (Internet of Things).  8Thị trường cho các dịch vụ phụ trợ để hỗ trợ lưới điện đã có ở nhiều nước.  Đây là bước phát triển theo logic của thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam.  9Xe đạp chia sẻ là một giải pháp giao thông khi đường phố đô thị được trang bị bởi hệ thống xe đạp công cộng, cho phép người dùng thuê xe sử dụng một ứng dụng điện thoại để di chuyển những quãng ngắn. Mô hình này cũng áp dụng cho xe điện.  Công nghệ này đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều thành phố. Tập đoàn Trí Nam đã cho ra mắt dịch vụ  xe đạp công cộng vào thàng 12/2021 tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.  10 Công nghệ xe điện kết nối lưới điện Vehicle-to-grid (V2G) bắt đầu từ hệ thống sạc thông minh. Điều này có thể được đưa vào quy định bắt buộc tại Việt Nam vào năm 2030.  V2G hai chiều cần có các phần cứng tiên tiến hơn nữa và hiện mới đang ở giai đoạn thử nghiệm.  11Sản xuất điên phân tán là một công nghệ đã trưởng thành. Các công ty tư nhân sử dụng công nghệ này khi chi phí sản xuất điện từ pin năng lượng mặt trời rẻ hơn điện từ lưới. Một ví dụ về công nghệ này trong khu vực công là gần đây Trung Quốc đã khởi động « Chương trình thí điểm dự án điện mặt trời áp mái phân tái tại các tỉnh« .  12Theo báo cáo toàn cầu đầu tiên của Liên Hợp Quốc về Quy định Môi trường trong Luật, tính đến năm 2017 đã có 150 quốc gia đưa việc bảo vệ môi trường hoặc quền có một môi trường lành mạnh vào hiến pháp của mình.  Đến năm 2021, Tổng thống Pháp Macron đã nỗ lực ba lần để bổ sung Bảo vệ khí hậu và Đa dạng sinh học vào hiến pháp nhưng chưa thành công. Pháp đã có thể là quốc gia đầu tiên làm việc này trong số các nước G20.       Author                Hà-Minh Dương        
__label__tiasang Lời giải cho bài toán phát huy vốn xã hội      1/ Khái niệm về vốn xã hội  Ngày nay khi nói đến sự phát triển vươn lên của một đất nước, một gia đình hay một cá nhân người ta đều nói đến yếu tố đầu tiên là cần phải có vốn. Vốn với ý nghĩa thông thường có thể là sức khỏe, lao động, đất đai (tài nguyên thiên nhiên), của cải vật chất, hay tay nghề, kinh nghiệm, kiến thức, khoa học kỹ thuật, trí tuệ, mối quan hệ xã hội…    Thật ra khái niệm về vốn thay đổi theo từng thời kỳ, từng nền chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau. Từ thời phong kiến xa xưa khi đất đai của một quốc gia đều là của vua, và vua chỉ ban phát cho các vương công quí tộc. Thì đất đai, một yếu tố tối quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, cũng không trở thành vốn cho người nông dân dựa vào đó để phát triển cuộc sống. Điển hình gần đây nhất, thời kỳ còn bao cấp của nước ta, khi người dân chưa có quyền sử dụng đất thì đất đai cũng không trở thành vốn để đưa nó vào nền kinh tế như một yếu tố vốn đầu tư.  Như vậy, nói đến vốn còn phải nói đến một môi trường xã hội mà trong môi trường đó những cái hữu hình cũng như vô hình tồn tại trong xã hội đều có thể trở thành một lực lượng để đưa vào phát triển kinh tế xã hội. Hay ngược lại, môi trường xã hội không tốt, nó làm cản trở cho sự phát triển kinh tế xã hội như một thứ chi phí xã hội.  Đi sâu hơn về vốn vô hình, chúng ta có thể xem xét một chiều dài lịch sử  của sự hưng suy của nhiều nước. Ta thấy, mỗi quốc gia đều có một lịch sử và một nền văn hóa của quá khứ để lại và một thể chế chính trị đang vận hành, hai yếu tố trên tạo nên môi trường luật pháp chính trị kinh tế xã hội của quốc gia đó. Nếu hai yếu tố đó gắn bó nhau một cách hòa hợp hữu cơ thì nó tạo nên một nội lực vô hình, làm cho từng người dân thông qua thể chế đó gắn kết lại với nhau. Nội lực vô hình đó thể hiện bằng niềm tin giữa người và người, giữa người và bộ máy nhà nước, giữa người dân và các cấp lãnh đạo. Từ đó mà mọi nguồn lực hữu hình, vô hình trong xã hội đều được phát huy, tạo nên một lực cộng hưởng vô cùng to lớn đưa đất nước đó tiến lên theo xu thế của thời đại, với tốc độ một ngày bằng một tháng, một năm tiến lên bằng mười năm, bằng trăm năm… Chính nhờ vào những thời kỳ như thế này mà có những nước trong lịch sử bị tụt hậu, có khả năng vươn lên vượt qua các nước hùng mạnh trước đây một cách thần kỳ. Nhưng nếu hai yếu tố trên nó mâu thuẫn nhau, thì nội lực sẽ bị yếu đi, ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia, nghiêm trọng hơn thậm chí còn làm cho nội lực tan rã đưa đến sự diệt vong. Đây mới là cái cốt lõi của cái mà ta gọi là “vốn xã hội” được bàn ở đây.  Như vậy ta có thể hiểu vốn xã hội ở ba cung bậc khác nhau gồm:  l                  Trình độ dân trí, tinh thần lao động, ý thức kỷ luật, trình độ kiến thức khoa học kỹ thuật, tâm lý xã hội… được phản ảnh trong một xã hội.  l                  Môi trường chính trị, hệ thống luật lệ, kinh tế, văn hóa, xã hội… trong đó yếu tố chính trị, văn hóa giữ vai trò quan trọng nhất.  l                  Sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố trên ở các mức độ khác nhau, qua sự kế thừa quá khứ, thể hiện trong hiện tại, và gắn kết hiện tại với xu thế phát triển trong tương lai của môi trường chung quanh. Xem mức độ kết hợp đó có tạo nên một niềm tin cho mọi người trong tương lai ở mức độ nào. Từ đó nhận dạng ra vốn xã hội của xã hội đó.  Đã nói đến vốn xã hội thì không thể không nói đến chi phí xã hội. Chi phí xã hội (social cost) là một thuật ngữ kinh tế để diễn tả cái chi phí, cái giá phải trả của xã hội cho một hành vi kinh tế, văn hóa của một người, một tổ chức hoặc một chính sách kinh tế xã hội của một chính phủ. Với cái nhìn vĩ mô, nó là thước đo, là cơ sở đánh giá tính hiệu quả về mặt kinh tế của mọi hành vi hoạt động trong xã hội. Từ đó, cho ta một sự so sánh chọn lựa cái gì nên làm và cái gì không nên làm, nhìn trên bình diện lợi ích chung.  Ngày nay nền kinh tế ta có một bước phát triển to lớn so với thời kỳ kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp. Nhưng sự phát triển vẫn chưa ngang tầm, vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng. Chúng ta vẫn còn thấy những trì trệ lãng phí, những chủ trương chính sách chồng chéo nhau, khi áp dụng gây nên nhiều khó khăn cho người dân. Vướng mắc nhất  hiện nay là cơ chế quản lý và thủ tục hành chính.   Chúng ta thử xem xét lại hằng ngày có bao nhiêu người dân đến các cơ quan nhà nước, để xin phép làm những việc mà họ hoàn toàn được phép làm. Cơ quan nhà nước đã đòi hỏi họ bao nhiêu loại giấy tờ phải đính kèm theo, như hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, giấy nhà giấy đất, giấy nộp thuế, giấy đã nộp nghĩa vụ lao động… Trong số giấy tờ liên quan đó cơ quan nhà nước đều có lưu sẵn trong các ngăn kéo, kho dữ liệu lưu trữ… nhưng nhân viên phụ trách không muốn tốn công phải lật ra xem hay liên hệ với các cơ quan liên quan trong bộ máy nhà nước để có những thông tin cần thiết, mà tất tất đều buộc người dân phải làm đi làm lại, đã làm tốn biết bao thời gian của dân. Chi phí xã hội cho những yêu cầu trên nếu tính ra bằng tiền, chắc rằng là con số khổng lồ, nhưng chỉ để đổi lại cho sự tiện lợi, thậm chí sự vô trách nhiệm của các viên chức nhà nước. Và chính từ đó tạo ra môi trường, nhũng nhiễu dân, làm phát sinh trạng thái tiêu cực để các quan chức nhà nước trục lợi. Như vậy, chi phí xã hội không những làm lãng phí các nguồn lực xã hội mà còn làm cho vốn xã hội bị xói mòn và đi đến tan rã.  Từ khái niệm về vốn xã hội và chi phí xã hội như được phân tích ở trên có thể cho ta một cái nhìn toàn diện về tiềm năng của đất nước chúng ta hiện nay và vốn xã hội của ta có phát huy đến đâu. Chúng ta đã sử dụng vốn xã hội ở cung bậc nào, và ở mức độ nào.     2/ Vốn xã hội ở Việt Nam  Nước ta là nước có nền văn hiến khá lâu, thuộc loại trên ngàn năm tuổi, kết cấu văn hóa xã hội của cộng đồng đã trưởng thành. Tính đồng nhất trong văn hóa, trong tư duy của cộng đồng rất cao so với các nước trên thế giới. Đây là cơ sở vật chất tạo nên niềm tin và sự gắn bó giữa con người Việt Nam với nhau để hình thành ra nước Việt Nam. Niềm tin này đã qua thử thách trong quá trình xây dựng, gìn giữ và phát triển đất nước suốt chiều dài của lịch sử cho đến ngày nay. Từ niềm tin gắn bó ruột thịt ấy, theo tiến trình phát triển của cộng đồng, những thể chế xã hội phù hợp cho từng giai đoạn phát triển đã được hình thành, để từ đó mà những con người bé nhỏ riêng biệt đã dựa vào nhau, thông qua các cơ chế xã hội đó không những đã tồn tại được trong quá trình đấu tranh sinh tồn của con người với thiên nhiên, đấu tranh giữa con người với con người và giữa các cộng đồng người khác nhau. Niềm tin đó đã được nâng lên theo chiều dài lịch sử, đã được thể hiện qua sự gắn bó, đoàn kết dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân trên đất nước Việt Nam, thể hiện rõ nét nhất là trong quá trình bảo vệ Tổ quốc. Đây là vốn xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất tạo nên sức mạnh cho Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và cả trong tương lai.  Ngoài ra, trong quá trình dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã tích lũy được kinh nghiệm thực tế, tìm ra những phương thức tồn tại và phát triển, đồng thời còn thu hút được nhiều tư tưởng văn hóa tiến bộ của các nền văn hóa khác của nhân loại để nâng cao trình độ khả năng tổ chức xã hội cho cộng đồng. Khả năng tiếp thu các nguồn lực từ bên ngoài để bổ sung vào như một nguồn sinh khí mới, làm cho sức sống của cộng đồng luôn được phát triển là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được của một dân tộc còn tồn tại và phát triển trên thế giới hiện nay. Đó là khả năng “tiếp nhận, thích nghi và cải tạo”, biến mọi cái du nhập từ bên ngoài ở mọi hình thức trở thành công cụ phục vụ lại cho cộng đồng mình. Về phương diện này, ông cha ta đã có những kinh nghiệm quí báu, đã chủ động và khôn ngoan nên ta từng sáng tạo chữ Nôm trước đây hay chữ quốc ngữ theo cách viết phiên âm latin như ngày hôm nay. Và về mặt văn hóa xã hội ta dung nạp được cả tư tưởng văn hóa, đạo đức Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Chủ nghĩa Mác-Lênin… bất chấp mọi rào cản. Khả năng “tiếp nhận, thích nghi và cải tạo” đó có trong mọi người, có trong toàn xã hội, đó là một trong những vốn quí của xã hội chúng ta.  Với truyền thống lao động cần cù, siêng năng, hiếu học, mọi người Việt Nam luôn có ý thức vươn lên. Do đó chỉ cần có môi trường thuận lợi, có được cơ hội là nhanh chóng lao về phía trước, từ đó có được những thành tích không kém gì những thành viên trong cộng đồng cùng sống trong môi trường đó. Điều này chúng ta đã thấy thế hệ thứ hai của những Việt kiều sống trong các nước tiên tiến đã đạt được những thành tích trong học tập, và trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao như sinh học, hàng không vũ trụ đều có con em người gốc Việt tham gia. Đây cũng là một loại vốn quí của đất nước Việt Nam. Và truyền thống lao động cần cù siêng năng hiếu học đó cũng là một loại vốn xã hội mà cả một thời kỳ dài lịch sử của ông cha ta tích lũy truyền lại.  Những nguồn vốn xã hội truyền thống đã được tích lũy trước đây do ông cha ta để lại phải được gìn giữ trong một môi trường chính trị, luật pháp phù hợp thì mới phát huy được, nếu không có môi trường phù hợp nó có thể bị thui chột đi.     3/ Làm gì để phát huy vốn xã hội trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam?  Công cuộc đổi mới trong 20 năm qua, đã chỉ cho chúng ta thấy rõ đâu là lực đẩy, đâu là lực cản sự vươn lên của đất nước chúng ta tiến lên xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, Nước mạnh”, một xã hội Việt Nam “Tự do, dân chủ, công bằng và văn minh”. Do đó, công cuộc đổi mới còn phải tiếp tục đẩy mạnh sâu rộng hơn. Nhất là nhằm vào mục tiêu tìm một vị trí, một thế đứng thích hợp nhất, có lợi nhất cho đất nước trước trào lưu toàn cầu hóa về mọi phương diện của thế giới. Như vậy, bài toán được đặt ra là phải phát huy tối đa vốn xã hội (nội lực) để có thể vận dụng thời cơ: “trào lưu toàn cầu hóa” (ngoại lực)  đang làm thay đổi cấu trúc kinh tế, chính trị xã hội của thế giới hiện đại. Sự thay đổi này có thể cho ta những cơ hội vươn lên  Từ những phân tích trên, để phát huy vốn xã hội trong nền kinh tế Việt Nam chúng ta hiện nay có thể nhằm vào các vấn đề sau:  a/ Trong lĩnh vực văn hóa truyền thống.  – Đạo đức và luân lý gia đình của ta là nền tảng tạo nên nền văn hóa truyền thống hằng ngàn năm của dân ta. Trong đó có phần nguồn gốc tinh hoa bất biến như đạo hiếu với cha mẹ, thương yêu đùm bọc anh em, bạn bè, tôn sư trọng đạo, lá lành dùm lá rách… và những đạo lý thuộc sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp và một thể chế quân chủ tạo ra như sự cứng nhắc trong tôn ti trật tự xã hội phong kiến làm cho vai trò người phụ nữ không được phát huy, tư tưởng trung quân (trung với vua)… đã lạc hậu. Chúng cần phải gạt bỏ phần lạc hậu, nhưng phải phát huy phần tinh hoa, phần giá trị đạo đức truyền thống, để tạo được sự ổn định xã hội trong quá trình tiếp thu và sáng tạo ra cái mới thúc đẩy xã hội phát triển đi lên.  – Đạo đức xã hội tạo nên niềm tin giữa người và người trong cộng đồng xã hội, mọi người tự nguyện tôn trọng như một sự ràng buộc thiêng liêng. Do đó nó làm cho chi phí xã hội được giảm đi, và sự vận hành trong kinh tế được thông thoáng và nhanh chóng. Điển hình nhất là trong kinh doanh, chữ “Tín” là nguồn vốn mà mọi doanh nhân đều cần phải có, và ngay cả ở cấp nhà nước thì chữ “Tín” càng có giá trị lớn hơn, nếu thiếu chữ Tín thì mọi luật lệ quốc gia đều trở thành trò chơi rượt đuổi, đánh đố nhau mà thôi.  – Đạo đức truyền thống không được kế thừa và phát huy thì nền giáo dục chỉ còn lại cái máy vô hồn, nó chỉ cung cấp công cụ khả năng cho con người kiếm sống bằng mọi phương tiện mà không đào tạo nên con người văn minh sống có trách nhiệm với mọi người kể cả cha mẹ anh em, quốc gia dân tộc. Như vậy, ý nghĩa của cuộc sống sẽ mất đi, sự giả dối, tham lam, tàn ác sẽ sinh ra, mầm nguy hại sẽ xuất hiện ở mọi nơi mà con người đó hiện diện. Dù cho luật pháp có đầy đủ đến đâu thì xã hội đó cũng chỉ là những xã hội đen tối u mê, được trang bị những ánh đèn màu chói lọi, như những mê cung đánh đố con người mà thôi (luật lệ làm sáng tỏ cái đạo đức con người, và buộc kẻ vô đạo đức phải tôn trọng. Luật lệ không thay được đạo đức). Ngày nay chúng ta thấy có đầy rẫy những sự kiện tham ô lãng phí của cải xã hội trong guồng máy nhà nước ở mọi ngành mọi cấp. Nguyên nhân cơ bản nhất, ngoài việc do cơ chế nhà nước khập khễnh tạo ra, căn bản hơn vẫn là sự suy đồi của đạo đức con  người.  b/ Về cơ chế quản lý nhà nước (kinh tế, xã hội…)  – Tách quản lý kinh tế ra khỏi đơn vị hành chính lãnh thổ. Không thể hô hào hội nhập kinh tế toàn cầu mà trong nước lại phân mảng nền kinh tế quốc gia ra thành các mảng tỉnh thành (như những tiểu bang, hay tiểu quốc tự trị) như hiện nay. Sự vận hành của nền kinh tế cần một môi trường không gian và thời gian rộng và thông thoáng. Nếu bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thổ hành chính và theo từng nhiệm kỳ lãnh đạo hiện nay (4-5 năm) như hiện nay thì không những chi phí xã hội sẽ gia tăng, hiệu quả kinh tế xã hội kém mà còn làm cho tư duy của lãnh đạo bị bó hẹp theo xu hướng cục bộ địa phương. Từ đó sinh ra các chương trình đầu tư ăn xổi ở thì, chỉ cốt sao cho địa phương mình, cho cái nhiệm kỳ mình phụ trách, mà không màng đến lợi ích chung nhất của toàn dân. Hệ quả là nó làm tan nát vốn xã hội của chúng ta.  – Về xã hội, phải tạo được cơ hội đồng đều cho mọi tầng lớp cùng tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là phải xóa bỏ định kiến nguồn gốc nhân thân gia đình. Qui luật của xã hội xưa nay đã chứng minh rằng nơi nào có sự ưu tiên về quyền lợi hay quyền lực, thì nơi đó không những trở thành mục tiêu của  kẻ cơ hội chui vào, mà những người tốt đưa vào đó cũng bị suy yếu đi ý chí phấn đấu, và tệ hại hơn còn bị thối hóa (giống như cây xương rồng hằng ngày được tưới nước như tưới rau tươi thì nó bị thối đầu rồi chết).  c/ Nền tảng tư tưởng của thiết chế xã hội phải được định vị rõ ràng  – Chúng ta phải khẳng định “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhân dân ta bản chất là lương thiện, là yêu nước không phải chứng minh trước luật pháp và được luật pháp bảo vệ. Luật pháp không được xây dựng trên cơ sở hoài nghi nhân dân. Nếu như thế bộ máy nhà nước sẽ vô cùng to lớn và lãng phí, hơn nữa nó trở thành bộ máy kìm kẹp dân.  – Do đó Luật pháp là một hành lang bảo vệ; là đường dẫn thông thoáng cho mọi hoạt động kinh tế văn hóa xã hội cho toàn dân. Những gì luật không cấm thì người dân được làm. Nên thủ tục hành chính không được phép bắt người dân phải xin phép với cơ quan quản lý nhà nước những gì mà quyền công dân được làm. Do đó người dân chỉ đăng ký, và được cung cấp thông tin, hướng dẫn các điều cần thiết nhằm tiết kiệm thời giờ và công sức của dân. Cán bộ nhà nước không được đòi hỏi người dân phải xuất trình những giấy tờ gì mà những thông tin đó đã có lưu trữ trong các cơ quan nhà nước, trừ chứng minh nhân dân và một chứng thư liên quan về hành vi của người đó đang hành xử công việc của họ (như bằng lái xe khi lái xe). Như thế mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước sẽ được gắn bó tốt.  d/ Sự hài hòa của hệ thống quyền lực với yêu cầu phát triển của xã hội  Phải đánh giá một cách nghiêm túc khách quan về hệ thống quyền lực đang lãnh đạo và quản lý đất nước ta có những gì không ổn, những gì thoát ly khỏi nền tảng văn hóa truyền thống và những gì lạc hậu, không theo kịp thời đại. Cơ chế vận hành hiện tại có kết hợp hài hòa với mọi nguồn lực quốc gia hay không. Đây mới là điều kiện căn bản nhất để phát huy nội lực và là tiền đề cho sự hội nhập với thế giới, nhằm thu hút nguồn lực tiên tiến bên ngoài phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước chúng ta. Từ đó tạo dựng lại niềm tin cho mọi người dân đối với nhà nước, và đối với chính mình và với mọi người trong tương lai. Nguồn vốn xã hội sẽ được phát huy từ đấy.  Phan Chánh Dưỡng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời giải cho bài toán phát huy vốn xã hội      Công cuộc đổi mới còn phải tiếp tục đẩy mạnh sâu rộng hơn, nhất là nhằm vào mục tiêu tìm một vị trí, một thế đứng thích hợp nhất, có lợi nhất cho đất nước trước trào lưu toàn cầu hóa về mọi phương diện. Như vậy, bài toán được đặt ra là phải phát huy tối đa vốn xã hội (nội lực) để có thể vận dụng thời cơ: “trào lưu toàn cầu hóa” (ngoại lực) đang làm thay đổi cấu trúc kinh tế, chính trị xã hội của thế giới.        Vốn xã hội ở Việt Nam  Nước ta là nước có nền văn hiến khá lâu, thuộc loại trên ngàn năm tuổi, kết cấu văn hóa xã hội của cộng đồng đã trưởng thành. Tính đồng nhất trong văn hóa, trong tư duy của cộng đồng rất cao so với các nước trên thế giới. Đây là cơ sở vật chất tạo nên niềm tin và sự gắn bó giữa con người Việt Nam với nhau để hình thành ra nước Việt Nam. Niềm tin này đã qua thử thách trong quá trình xây dựng, gìn giữ và phát triển đất nước suốt chiều dài của lịch sử cho đến ngày nay. Từ niềm tin gắn bó ruột thịt ấy, theo tiến trình phát triển của cộng đồng, những thể chế xã hội phù hợp cho từng giai đoạn phát triển đã được hình thành, để từ đó mà những con người bé nhỏ riêng biệt đã dựa vào nhau, thông qua các cơ chế xã hội đó không những đã tồn tại được trong quá trình đấu tranh sinh tồn của con người với thiên nhiên, đấu tranh giữa con người với con người và giữa các cộng đồng người khác nhau. Niềm tin đó đã được nâng lên theo chiều dài lịch sử, đã được thể hiện qua sự gắn bó, đoàn kết dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân trên đất nước Việt Nam, thể hiện rõ nét nhất là trong quá trình bảo vệ Tổ quốc. Đây là vốn xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất tạo nên sức mạnh cho Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và cả trong tương lai.  Ngoài ra, trong quá trình dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã tích lũy được kinh nghiệm thực tế, tìm ra những phương thức tồn tại và phát triển, đồng thời còn thu hút được nhiều tư tưởng văn hóa tiến bộ của các nền văn hóa khác của nhân loại để nâng cao trình độ khả năng tổ chức xã hội cho cộng đồng. Khả năng tiếp thu các nguồn lực từ bên ngoài để bổ sung vào như một nguồn sinh khí mới, làm cho sức sống của cộng đồng luôn được phát triển là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được của một dân tộc còn tồn tại và phát triển trên thế giới hiện nay. Đó là khả năng “tiếp nhận, thích nghi và cải tạo”, biến mọi cái du nhập từ bên ngoài ở mọi hình thức trở thành công cụ phục vụ lại cho cộng đồng mình. Về phương diện này, ông cha ta đã có nhưng kinh nghiệm quí báu, đã chủ động và khôn ngoan nên ta từng sáng tạo chữ Nôm trước đây hay chữ Quốc ngữ theo cách viết phiên âm Latin như ngày hôm nay. Và về mặt văn hóa xã hội ta dung nạp được cả tư tưởng văn hóa, đạo đức Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Chủ nghĩa Mác-Lênin… bất chấp mọi rào cản. Khả năng “tiếp nhận, thích nghi và cải tạo” đó có trong mọi người, có trong toàn xã hội, đó là một trong những vốn quí của xã hội chúng ta.                           Với truyền thống lao động cần cù, siêng năng, hiếu học, mọi người Việt Nam luôn có ý thức vươn lên. Do đó chỉ cần có môi trường thuận lợi, có được cơ hội là nhanh chóng lao về phía trước, từ đó có được những thành tích không kém gì những thành viên trong cộng đồng cùng sống trong môi trường đó. Điều này chúng ta đã thấy thế hệ thứ hai của những Việt kiều sống trong các nước tiên tiến đã đạt được những thành tích trong học tập, và trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao như sinh học, hàng không vũ trụ đều có con em người gốc Việt tham gia. Đây cũng là một loại vốn quí của đất nước Việt Nam. Và truyền thống lao động cần cù siêng năng hiếu học đó cũng là một loại vốn xã hội mà cả một thời kỳ dài lịch sử của ông cha ta tích lũy truyền lại.  Những nguồn vốn xã hội truyền thống đã được tích lũy trước đây do ông cha ta để lại phải được gìn giữ trong một môi trường chính trị, luật pháp phù hợp thì mới phát huy được, nếu không có môi trường phù hợp nó có thể bị thui chột đi.  Vấn đề cần làm để phát huy vốn xã hội Việt Nam  Từ những phân tích trên, theo tôi để phát huy được tối đa vốn xã hội, tạo lực đẩy mạnh mẽ đưa đất nước vươn lên, cần có những giải pháp hữu hiệu cho 4 vấn đề sau:   Văn hóa truyền thống.    Đạo đức và luân lý gia đình của ta là nền tảng tạo nên nền văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân ta. Trong đó có phần nguồn gốc tinh hoa bất biến như đạo hiếu với cha mẹ, thương yêu đùm bọc anh em, bạn bè, tôn sư trọng đạo, lá lành đùm lá rách… và những đạo lý thuộc sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp và một thể chế quân chủ tạo ra như sự cứng nhắc trong tôn ti trất tự xã hội phong kiến làm cho vai trò người phụ nữ không được phát huy, tư tưởng trung quân (trung với vua)… đã lạc hậu. Chúng cần phải gạt bỏ phần lạc hậu, nhưng phải phát huy phần tinh hoa, phần giá trị đạo đức truyền thống, để tạo được sự ổn định xã hội trong quá trình tiếp thu và sáng tạo ra cái mới thúc đẩy xã hội phát triển đi lên.  Đạo đức xã hội tạo nên niềm tin giữa người và người trong cộng đồng xã hội, mọi người tự nguyện tôn trọng như một sự rang buộc thiêng liêng. Do đó nó làm cho chi phí xã hội được giảm đi, và sự vận hành trong kinh tế được thông thoáng và nhanh chóng. Điển hình nhất là trong kinh doanh, chữ “Tín” là nguồn vốn là mọi doanh nhân đều cần phải có, và ngay cả ở cấp nhà nước thì chữ “Tín” càng có giá trị lớn hơn, nếu thiếu chữ Tín thì mọi luật lệ quốc gia đều trở thành trò chơi rượt đuổi, đánh đố nhau mà thôi.  Đạo đức truyền thống không được kế thừa và phát huy thì nền giáo dục chỉ còn lại cái máy vô hồn, nó chỉ cung cấp công cụ khả năng cho con người kiếm sống bằng mọi phương tiện mà không đào tạo nên con người văn minh sống có trách nhiệm với mọi người kể cả cha mẹ anh em, quốc gia dân tộc. Như vậy, ý nghĩa của cuốc sống sẽ mất đi, sự giả dối, tham lam, tàn ác sẽ sinh ra, mầm nguy hại sẽ xuất hiện ở mọi nơi mà con người đó hiện diện. Dù cho luật pháp có đầy đủ đến đâu thì xã hội đó cũng chỉ là những xã hội đen tối u mê, được trang bị những ánh đèn màu chói lọi, như những mê cung đánh đố con người mà thôi (luật lệ làm sáng tỏ cái đạo đức con người, và buộc kẻ vô đạo đức phải tôn trọng. Luật lệ không thay được đạo đức). Ngày nay chúng ta thấy có đầy rẫy những vụ tham ô lãng phí của cải xã hội trong guồng máy nhà nước ở mọi ngành mọi cấp. Nguyên nhân cơ bản nhất, ngoài việc do cơ chế nhà nước khập khễnh tạo ra, căn bản hơn vẫn là sự suy đồi của đạo đức con  người.  Cơ chế quản lý nhà nước (kinh tế, xã hội…)              Ngày 24 tháng 4 năm 2006 vừa qua, Bill Gates, chủ nhân công ty Microsoft và cũng là người giàu nhất thế giới với gia tài xấp xỉ 53 tỷ đô la Mỹ, đến thăm Việt Nam. Nhân vật này đã được giới trẻ Việt Nam đặc biệt quan tâm theo dõi. Đã có người tự hỏi: “Nếu Bill Gates sinh ra tại Việt Nam hay một nơi nào đó không phải là Mỹ thì liệu một Bill Gates hạt giống có khả năng trở thành một Bill Gates thành công lẫy lừng như hôm nay không? Tuy đây chỉ là câu hỏi giả định, nhưng câu trả lời dĩ nhiên là “không!” và câu hỏi tiếp sẽ là “Tại sao?” Câu trả lời đơn giản nhất sẽ là: “Vì Mỹ khác, ta khác. Mỹ có nhiều phương tiện kinh doanh và điều kiện thuận lợi nghiên cứu kỹ thuật và tham khảo thị trường mà ta không có…”  Thế thì có người lại hỏi, một nhân vật Mỹ nổi tiếng khác cũng đã đến thăm Việt Nam, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, có một người em trai cùng cha khác mẹ, lớn lên trong cùng một mái ấm gia đình, suýt soát tuổi nhau là Roger Clinton lại trở thành một tay lêu lổng, bị tù tội vì nghiện xì ke, ma túy. Như vậy có hai Clintons trái ngược nhau trong cùng một hoàn cảnh. Clinton anh là vốn xã hội đáng quý và Clinton em là cục nợ xã hội đáng thương hại.    Trên đây là thí dụ cụ thể về mối tương quan và sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh. Đây là cả một sự tương tác về cả ba mặt: Vật chất, tinh thần, hoàn cảnh riêng, chung. Bởi vậy, phương pháp luận cũng như dữ kiện về các mặt nhân sinh và môi trường xã hội thường là những đối tượng rất phức tạp trong việc đo lường hay phân tích nguồn vốn xã hội.            Tách quản lý kinh tế ra khỏi đơn vị hành chính lãnh thổ. Không thể hô hào hội nhập kinh tế toàn cầu mà trong nước lại phân mảng nền kinh tế quốc gia ra thành các mảng tỉnh thành (như những tiểu bang, hay tiểu quốc tự trị) như hiện nay. Sự vận hành của nền kinh tế cần một môi trường không gian và thời gian rộng và thông thoáng. Nếu bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thổ hành chính và theo từng nhiệm kỳ lãnh đạo hiện nay (4-5 năm) như hiện nay thì không những chi phí xã hội sẽ gia tăng, hiệu quả kinh tế xã hội kém mà còn làm cho tư duy của lãnh đạo bị bó hẹp theo xu hướng cục bộ địa phương. Từ đó sinh ra các chương trình đầu tư ăn xổi ở thì, chỉ cốt sao cho địa phương mình, cho cái nhiệm kỳ mình phụ trách, mà không màng đến lợi ích chung nhất của toàn dân. Hệ quả là nó làm tan nát vốn xã hội của chúng ta.  Phải tạo được cơ hội đồng đều cho mọi tầng lớp cùng tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là phải xóa bỏ định kiến nguồn gốc nhân thân gia đình. Qui luật của xã hội xưa nay đã chứng minh rằng nơi nào có sự ưu tiên về quyền lợi hay quyền lực, thì nơi đó không những trở thành mục tiêu của kẻ cơ hội chui vào, mà những người tốt đưa vào đó cũng bị suy yếu đi ý chí phấn đấu, và tệ hại hơn còn bị tha hóa (giống như cây xương rồng hằng ngày được tưới nước như tưới rau tươi thì nó bị thối đầu rồi chết).  Nền tảng tư tưởng của thiết chế xã hội phải đượng định vị rõ ràng.  Chúng ta phải khẳng định “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhân dân ta bản chất là lương thiện, là yêu nước không phải chứng minh trước luật pháp và được luật pháp bảo vệ. Luật pháp không được xây dựng trên cơ sở hoài nghi nhân dân. Nếu như thế bộ máy nhà nước sẽ vô cùng to lớn và lãng phí, hơn nữa nó trở thành bộ máy kìm kẹp dân.   Do đó Luật pháp là một hành lang bảo vệ; là đường dẫn thông thoáng cho mọi hoạt động kinh tế văn hóa xã hội cho toàn dân. Những gì luật không cấm thì người dân được làm. Nên thủ tục hành chính không được phép bắt người dân phải xin phép với cơ quan quản lý nhà nước những gì mà quyền công dân được làm. Do đó người dân chỉ đăng ký, và  được cung cấp thông tin, hướng dẫn các điều cần thiết nhằm tiết kiệm thời giờ và công sức của dân. Cán bộ nhà nước không được đòi hỏi người dân phải xuất trình những giấy tờ gì mà những thông tin đó đã có lưu trữ trong các cơ quan nhà nước, trừ chứng minh nhân dân và một chứng thư liên quan về hành vi của người đó đang hành sử công việc của họ (như bằng lái xe khi lái xe). Như thế mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước sẽ được gắn bó tốt.  Sự hài hòa của hệ thống quyền lực với yêu cầu phát triển của xã hội.  Phải đánh giá một cách nghiêm túc khách quan về hệ thống quyền lực đang lãnh đạo và quản lý đất nước ta có những gì chưa ổn, những gì thoát ly khỏi nền tảng văn hóa truyền thống, và những gì lạc hậu, không theo kịp thời đại. Cơ chế vận hành hiện tại có kết hợp hài hòa với mọi nguồn lực quốc gia hay không. Đây mới là điều kiện căn bản nhất để phát huy nội lực và là tiền để cho sự hội nhập với thế giới, nhằm thu hút nguồn lực tiến tiến bên ngoài phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước chúng ta. Từ đó tạo dựng lại niềm tin cho mọi người dân đối với nhà nước, và đối với chính mình và với mọi người trong tương lai. Nguồn vốn xã hội sẽ được phát huy từ đấy.    Phan Chánh Dưỡng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời giải cho sự phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam      Hiện nay, Bộ KH&amp;CN đang hoàn chỉnh Đề án Quy hoạch mạng lưới và tăng cường tiềm lực về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các Viện, Trung tâm nghiên cứu và Phòng thí nghiệm công nghệ sinh học (CNSH) ở Việt Nam. Bài viết này nhằm góp phần và bản Đề án trên.    Bức tranh CNSH ở Việt Nam  Trong khi CNSH thế giới đã và đang phát triển như vũ bão, thì CNSH ở ta còn ở mức rất thấp so với khu vực (1), chứ chưa nói so với các nước phát triển. Một số nhà CNSH cũng thừa nhận là trình độ CNSH của ta đang ở giai đoạn “công nghệ chai lọ” (2).. Thực vậy, CNSH của ta hiện nay vẫn chỉ đang ở giai đoạn ban đầu làm quen, tiếp cận với các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu CNSH và cũng mới chỉ có mặt tại một số Viện nghiên cứu và một số trường Đại học lớn. ở mức.  CNSH là một trong số ít các chương trình KHCN trọng điểm được Nhà nước quan tâm đầu tư từ năm 1986 đến nay (Chương trình CNSH phục vụ nông nghiệp và 3 chương trình CNSH từ 1991-2005. Tuy nhiên, có thể nói trải qua hơn 20 năm triển khai nghiên cứu với hàng trăm tỷ đồng đã được đầu tư những kết quả từ các Chương trình CNSH mang lại còn quá nhỏ bé và khiêm tốn. Hầu như không có một dấu ấn nào từ các chương trình CNSH trên mang lại(3). Cũng trong thời gian đó, ở các nước xung quanh như Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan, từ xuất phát điểm gần như ta CNSH của họ đã trở thành một lĩnh vực công nghệ cao và một ngành kinh tế mũi nhọn thật sự. Thực tế, không những chưa có kết quả nào của CNSH triển khai vào thực tiễn mà ở góc độ nghiên cứu thuần túy thì cũng rất ít, nếu không nói là chưa một kết quả nào được công bố trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành CNSH.  Hầu hết các kết quả nghiên cứu KHCN nói chung và CNSH nói riêng chỉ ở mức giải pháp có tính khuyến nông, chưa có giải pháp công nghệ lớn đủ sức tạo sự phát triển đột phá cho nông nghiệp. Bằng chứng là rất ít patent được đăng ký, rất ít công trình nghiên cứu được công bố quốc tế. Thực tế, số giải pháp KHCN do các chương trình/đề tài nghiên cứu CNSH có được còn thua xa số sáng kiến/giải pháp của “các nhà khoa học chân đất” tạo ra (4).  Vậy nguyên nhân nào mà CNSH của ta trong một thời gian dài vẫn ì ạch, dậm chân tại chỗ, không trở thành động lực thực sự cho nền kinh tế nông công nghiệp y dược. Có khá nhiều, tuy nhiên, có lẽ rất ít người dám nhìn nhận đúng những bất cập cả về đường lối chính sách, chiến lược đầu tư, cách tổ chức nghiên cứu và cả về đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ vừa yếu vừa thiếu. Những bất cập rất đặc thù Viêt Nam mà nếu không nhìn nhận đúng e rằng chúng ta không thoát khỏi tình trạng trên.  1. Đường lối chính sách CNSH chưa đồng bộ và còn nhiều bất cấp. Mặc dù có nhiều chủ trương, đường lối về CNSH đã được đưa ra, nhưng các chủ trương đường lối hoặc ở dạng khẩu hiệu hoặc chưa xuất phát từ tầm nhìn chiến lược và toàn diện, nặng về ý muốn chủ quan, duy ý chí mà thiếu tính khả thi. Hơn nữa, cho đến nay, ngoài một số hội nghị, hội thảo triển khai các chủ trương, chính sách, hầu như không có hoạt động tổng kết đánh giá một cách nghiêm túc, trung thực và khách quan những gì đã làm được hoặc không làm được để đề ra giải pháp điều chỉnh hoặc xác định lại cách đi cho phù hợp.  2. Cách đầu tư và tổ chức nghiên cứu CNSH vẫn mang tính chất bao cấp. Hầu hết các đề tài CNSH do các nhà khoa học đề xuất và do nhà nước cấp tiền mà không phải do nhu cầu xã hội đặt hàng và đầu tư. Đây là cách làm có lẽ chỉ ở Việt Nam: nhà nước đầu tư cho nhà nước – các nghiên cứu không xuất phát từ thực tế. Hiệu quả ai cũng thấy, Các kết quả nghiên cứu (nếu có) cũng chi xếp ngăn kéo, không cần cho ai và cũng không ai cần đến. Nhà quản lý và nhà khoa học tiếp tục nghĩ ra các chiêu mới, đề tài mới, mục tiêu mới để tiêu tiền nhà nước không cần biết đến hiệu quả thực tiễn. Cách quản lý bao cấp kéo dài, không những kìm hãm sự phát triển của KHCN mà còn đã nảy sinh trào lưu chạy chọt, ăn chia nguồn kinh phí được cấp dưới danh nghĩa nghiên cứu KHCN, không cần tính đến hiệu quả nghiên cứu. Tình trạng bao cấp còn phổ biến trong việc tổ chức xét duyệt, nghiệm thu đề tài không chặt chẽ, nghiêm túc, bởi các chuyên gia có đủ trình độ và năng lực thẩm định KHCN (5).  3. Bản thân cộng đồng khoa học còn yếu kém, chưa đủ tâm và đủ  tầm để nghiên cứu CNSH. Hầu hết đội ngũ cán bộ KHCN hiện nay nói chung và CNSH nói riêng đều được đào tạo để nghiên cứu khoa học cơ bản theo kiểu Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây. Thực chất ta chưa có ngũ nghiên cứu đích thực về CNSH. Một số cán bộ CNSH trẻ được đào tạo tốt ở Mỹ và Tây Âu, nhưng chưa được coi trọng sử dụng hoặc với mức lương và đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn họ đầu quân cho các cơ sở nghiên cứu CNSH. Đời sống nhà khoa học khó khăn, thu nhập thấp, không đủ ăn là bức tranh tương phản với hình thái “lao động trí tuệ” trong lĩnh vực công nghệ cao. Nhà khoa học mất quá nhiều thời gian công sức vào việc tìm cách để có được đề tài đề án; khi có được đề tài đề án lại tìm cách xoay sở thanh quyết toán và báo cáo mà không đủ thời gian dành cho công việc nghiên cứu thật sự.  4. Điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng cho hoạt động CNSH.  Khác với các lĩnh vực KHCN khác, nghiên cứu CNSH cần sự đầu tư lớn và đồng bộ cho cơ sở phòng thí nghiệm. Trang thiết bị thiếu và không đồng bộ, tài liệu chuyên sâu (rất cần cho nghiên cứu mới) hầu như không có là thực trạng chung tại các cơ sở nghiên cứu hiện nay. Vật tư nguyên liệu cho CNSH hầu như không sẵn có ở VN. Muốn mua phải đặt từ các nước xung quanh. Ngay cả việc đầu tư xây dựng 5 Phòng thí nghiệm trọng điểm trong lĩnh vực CNSH (CN gene, CN enzym và protein, CN vắc-xin và các chế phẩm y sinh học, CN tế bào thực vật, CN tế bào động vật) mặc đù được đầu tư khá lớn những cũng đã tỏ ra nhiều bất cập và chắc chắn sẽ không phát huy hiệu quả như mong muốn. Bởi lẽ, mỗi “Phòng thí nghiệm trọng điểm” trên đây là cả một lĩnh vực rộng lớn, tổ chức một PTNTĐ  như vậy ngang tổ chức một Viện nghiên cứu chuyên ngành. Vì vậy, dù có tiền “đầu tư” nhưng sự đầu tư đó không gắn với một đề tài, mục tiêu và sản phẩm cụ thể và nhất là không gắn với những con người đã được đạo tạo và có ý tưởng cụ thể thì đó cũng chỉ là một kiểu “đầu tư ngược”, kiểu như “mua áo cưới trước tìm cô dâu sau”. Đầu tư như vậy chắc chắn không đồng bộ cho một nghiên cứu cụ thể. Vả lại đầu tư mua máy móc thiết bị, nhưng không có người nghiên cứu hoặc không có kinh phí cho nghiên cứu thì thiết bị được mua sắm cũng trở thành vô dụng(6).   Trong khi điều kiện cơ sở vật chất của hầu hết cơ sở nghiên cứu còn thiếu thốn thì một số nơi do quan hệ cá nhân, được nhận các dự án đầu tư mua sắm thiết bị lớn, nhưng không có nhu cầu hoặc khả năng khai thác, sử dụng thật sự, họ xin dự án đầu tư chủ yếu để ăn chênh lệch giá, thu lợi cá nhân. Còn thiết bị mua về đắp chiếu, không dùng đến.  Môi trường hoạt động KHCN thiếu minh bạch, không bình đẳng. Nguồn kinh phí cấp cho những người lãnh đạo, có chức quyền hoặc một số người biết chạy chọt. Các hoạt động KHCN, trong đó có CNSH hầu như dựa trên quan hệ cá nhân, mang tính chia chác, trục lợi. Nguồn kinh phí ít ỏi được phân chia không công bằng, không căn cứ vào năng lực thật sự của nhà khoa học. Các giá trị KHCN thật – giả, trắng – đen lẫn lôn. Tình trạng thiếu tinh thần hợp tác, thiếu khiêm tốn, thiếu trung thực và đố kỵ trong KHCN đã trở thành bệnh nan y của đội ngũ cán bộ KHCN của ta.  5. Thị trường KHCN và CNSH nói riêng chưa phát triển (hầu như chưa có). Thị trường KH-CN phải xuất phát từ nhu cầu mua bán và chuyển giao công nghệ giữa một bên là nhà khoa hoc và một bên là các công ty sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ, và cuối cùng là các cơ sở sản xuất nông nghiêp. Mặc dù nhu cầu thực tế lớn, nhưng do nguồn cung hầu như còn ít nên thị trường chưa phát triển. Thị trường chỉ phát triển khi có nguồn cung sản phẩm KH-CN, khi hệ thống sản xuất kinh doanh công nghệ hình thành. Nói đến CNSH phải nói đến một nền công nghiệp sản xuất và thương mại hóa các chế phẩm sinh học. Đây cũng chính là nguồn đầu tư để nghiên cứu và phát triển CNSH, nhưng cho đến nay ta chưa có một nền công nghiệp như vây. Thậm chí, cho đến nay, ngoài một số cơ sở sản xuất vacxin của Bộ Y tế, ta chưa có một nhà máy, công ty nào chuyên về CNSH, sản xuất kinh doanh các chế phẩm sinh hoc.  Trong khi trên thế giới, nghiên cứu phát triển CNSH hầu như là thế mạnh của các công ty chuyên về CNSH, các hãng dược phẩm lớn có tên tuổi tiến hành. CNSH đòi hỏi đầu tư rất lớn, nhưng đây là ngành công nghiệp siêu lợi nhuận chỉ có những hãng lớn mới có khả năng đầu tư. Mặt khác, nghiên cứu và phát triển CNSH gắn liền với sản xuất và thương mại hóa, nên luôn là mô hình hơp tác giữa nhà nghiên cứu và hãng sản xuất và các phòng thí nghiệm ở các Viện nghiên cứu và các trường đại học. Các hãng này đầu tư cho các phòng thí nghiệm CNSH tại các trường đại học, viện nghiên cứu để nghiên cứu giải quyết từng vấn đề, góp phần tạo ra một sản phẩm CNSH hoàn chỉnh. Các hãng có các chuyên gia lớn cùng với phòng thí nghiệm hiện đại để tổ hợp các kết quả riêng thành quy trình công nghệ hoàn chỉnh để sản xuất ra một chế phẩm sinh học, đưa vào sản xuất thử nghiệm, triển khai thử nghiệm trước khi thương mại hóa. Vì vậy, sản phẩm CNSH luôn gắn với các bí mật, hay bí quyết công nghệ mà chỉ có ít người nắm giữ (7).  Như vậy, một tổ hợp nghiên cứu và phát triển CNSH hoàn chỉnh phải là nhà khoa học (và phòng thí nghiệm) + hãng sản xuất (và nhà máy) + hệ thống thử nghiệm đánh giá sản phẩm (bệnh viện, trạm trại) + hệ thống marketing và phân phối sản phẩm.  Như vậy, ngay cả khi chúng ta có đội ngũ cán bộ nghiên cứu CNSH giỏi (hy vọng 10 năm nữa) và có đầu tư tốt (?) thì cũng chưa phải là điều kiện đủ để phát triển CNSH.    Định hướng phát triển Công nghệ sinh học ở Việt Nam  Cần một tư duy hệ thống. Để phát triển KHCN nói chung và CNSH nói riêng đã đến lúc phải thay đổi tư duy, bỏ cách nghĩ cảm và duy ý chí. Thay vào đó là cái nhìn toàn diện hay cách nhìn tổng thể theo một hệ thống đồng bộ. Nước ta còn nghèo, ta càng cần phải tìm cách đi khôn ngoan và phù hợp, làm sao để phát triển CNSH trong thời gian ngắn nhất và đạt hiệu quả nhất. Sơ đồ tổng thể dưới đây cho thấ: để tạo ra một sản phẩm CNSH đích thực cần phải có ít nhất 6 nhóm yếu tố: từ hệ thống chính sách khôn ngoan, nguồn nhân lực được đào tạo tốt, điều kiện cơ sở vật chất, môi trường nghiên cứu lành mạnh, thị trường CNSH phát triển đến hệ thống tổ chức nghiên cứu CNSH. Có thể thấy rằng, theo sơ đồ tổng quát trên thì hiện nay, ngoài chủ trương, đường lối ở dạng nửa vời, ngoài một số đầu tư ít ỏi cho CNSH, ta thiếu hầu hết các nhóm yếu tố cần và đủ để phát triển ngành CNSH thật sự.  Từ phân tích hệ thống, có thể thấy rằng để xây dựng, phát triển và phát huy có hiệu quả hệ thống KH-CN, cần phải vận hành đồng bộ tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống. Sự yếu kém hoặc thiếu hụt dù một yếu tố trong đó cũng có thể dẫn đến thất bại, hệ thống không những không phát huy tác dụng mà còn gây lãng phí lớn về tài nguyên con người và nguồn kinh phí đầu tư.          Tôi nghĩ  mô hình phòng thí nghiệm trọng điểm của ta có lẽ là bắt chước từ Pháp (CERN). Đó là một ý tốt, nhưng cần phải xem xét rõ ràng về khả năng chuyên môn và dự án làm gì trong tương lai. Tôi có lần ghé thăm một phòng thí nghiệm ở Hà Nội với thiết bị rất oách, tốn hàng trăm ngàn USD, nhưng chỉ “đắp chăn”, thậm chí chẳng phục vụ cho nghiên cứu gì cả. Tôi biết rằng đó không phải là trường hợp cá biệt. Còn có một trưởng hợp âấy thiết bị nhà nước để làm.. dịch vụ lấy tiền. Có người làm chuyện rất đơn giản như xét nghiệm gen để biết quan hệ huyết thống! (Ngay cà một việc làm như thế đáng lẽ phải tranh luận về đạo đức khoa học, nhưng ở nước ta thì người ta cứ thấy có lời là làm, chẳng quan tâm gì đến vấn đề y đức hay giáo dục khoa học!    GS. Nguyễn Văn Tuấn            Đầu tư cho KHCN nói chung và CNSH nói riêng, không chỉ là lấy tiền nhà nước cấp cho các đề tài nghiên cứu mà cần có cách nhìn mới theo tư duy mới: nhà nước chỉ đầu tư cho các nghiên cứu CNSH cơ bản và định hướng và đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó nhà nước cần tạo môi trường và khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng CNSH cho sản xuất và nhờ sản xuất thành công chính doanh nghiệp tự đầu tư để phát triển CNSH nhắm tạo ra các sản phẩm CNSH có sức cạnh tranh trên thị trường. Khi CNSH biến thành sức mạnh vật chất, khi có nhu cầu thật sự, doanh nghiệp không những sẽ tự tổ chức nghiên cứu những gì họ cần mà còn đầu tư cho các Phòng thí nghiệm CNSH thông qua hợp đồng nghiên cứu những công nghệ hay sản phẩm mới mà tự họ chưa hoặc không tự làm được.  Như vậy, bài toán KHCN nói chung, trong đó có CNSH không thể được giải bằng tư duy đang vận hành. Nếu thật sự muốn CNSH trở thành động lực phát triển cần phải đổi mới mang tính chất đột phá từ tư duy chiến lược, các chính sách khả thi, nguồn nhân lực đủ tâm đủ tầm đến tổ chức thực hiện. Rõ ràng để làm được như vậy cần phải có bước đi thích hợp từ mức độ thấp đến cao, vừa có thời gian đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực, phát triển thị trường trong khoảng 5 đến10 năm.  1. Nhập khẩu công nghệ. Cũng như bất kỳ một nước đang phát triển từ một xuất phát điểm thấp chiến lược phát triển CNSH khôn ngoan nhất là: nhập khẩu – bắt chước – cải tiến – và làm mới CNSH. Nhập khẩu công nghệ không có nghĩa nhà nước bỏ tiền ra mua công nghệ mà thông qua đường lối chính sách của mình, nhà nước khuyến khích bằng cách giảm thuế hoặc không đánh thuế, cho thuê đất những dự án đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất ứng dụng CNSH như: chế biến nông sản, thực phẩm, thủy, hải sản, sản xuất các thuốc, đặc biệt thuốc thế hệ mới phục vụ cho người, vật nuôi, cây trồng. Khuyến khích và tạo môi trường tốt cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực CNSH mà Việt Nam đang cần.  Để nhập khẩu công nghệ thích hợp không thể thiếu vắng vai trò của nhà khoa học trong việc tư vấn thẩm định công nghệ để không biến Việt Nam thành bãi thải công nghệ lạc hậu ảnh hưởng đến môi trường.  2. Khuyến nông và Khuyến công. Đây cũng là cách làm khôn ngoan và rất thực tiễn. Đừng vội và đừng tham vọng nghiên cứu những cái mới khi mà lực ta còn nhỏ sức ta còn yếu, hãy khôn khoan chọn lựa những gì thế giới đã làm được đưa chúng đến với doanh nghiệp, nhà nông và hướng dẫn cho họ áp dụng thành công trong.  Khi hàng vạn nông dân và hàng nghìn doanh nghiệp của ta còn sử dụng các công nghệ lạc hậu, sử dụng các vật nuôi cây trồng năng suất và chất lượng thấp thì bất kùy một tiến bộ CNSH nào được sử dụng ở Thái Lan hay Trung Quốc đều có lợi đối với họ.  Thực tế phần lớn các đề tài  nghiên cứu CNSH của ta thời gian qua không hơn không kém cũng chỉ ở mức khuyến nông – khuyến công, nhưng có lẽ ít người dám chỉ tên thật cho nó. Vì tính chất “nghiên cứu” nên nó chỉ loay hoay ở các phòng thí nghiệm mà  không đến được với người sản xuất. Thực tế, nhờ các tiến bộ như lúa lai của Trung Quốc và hàng loạt giống cây, con của Trung quốc, Thái Lan đã được nhập vào Việt Nam và đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp của ta.  Tuy nhiên, có lẽ ít người dám chỉ tên thật cho nó và chủ yếu là người sản xuất tự làm chứ vai trò nhà khoa học còn rất mờ nhạt. Vì vậy, đến lúc gọi đúng tên áp dụng tiến bộ CNSH cho nông nghiệp công nghiệp Việt Nam và khuyến khích các nhà khoa học tham gia Khuyến nông và Khuyến công làm việc này, miễn là nhà khoa học chọn đúng những tiến bộ mà Việt Nam cần thật sự.  Công việc Khuyến nông và Khuyến công ứng dụng tiến bộ CNSH của thế giới không có nghĩa l;à không cần nghiên cứu thử nghiệm mà ngược lại rất cần nhằm thuần hóa các giống cây con nhập nội thích nghi với điều kiện các vùng sinh thái của Việt Nam và tránh hoặc hạn chế các thảm họa sinh thái môi trường.                3. Phát triển thị trường CNSH. Làm sao tất cả tất cả các tiến bộ CNSH, các quy trình mới, sản phẩm mới đều dễ dàng được trao đổi, mua bán giữa những người sở hữu nó (nhà khoa học) và người cần nó (doanh nghiệp, nhà nông). Một thị trường cho các hoạt động trên đây với các sàn giao dịch thuận lợi, công khai và minh bạch với sự đảm bảo của nhà nước (bởi luật pháp) là cần thiết thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và chuyển giao CNSH. Làm sao để bất cứ người sản xuất nào cũng phải nhận thức được vai trò của CNSH trong việc tạo ra sản phẩm mới, bất cứ doanh nghiệp nào cũng ý thức được rằng hoặc tồn tại hoặc là chết trong cuộc đua cạnh tranh chất lượng và giá thành. Chỉ một khi CNSH trở thành nhu cầu thật sự của người sản xuất thì nó mới có chỗ đứng thật sự. Công cụ vĩ mô nằm trong tay nhà nước là thuế và tài trợ thông qua chương trình Khuyến nông và  Khuyến công.  4. Đi tắt đón đầu và đầu tư có trọng điểm. Trước hết, nhà nước cần xác định vai trò của nhà nước ngoài đường lối chính sách như trên thì nhà nước chỉ nắm phần nghiên cứu CNSH có tính chất định hướng và chức năng quan trọng không kém là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thật sự đủ sức thực thi nhiệm vụ CNSH tại các cơ sở nghiên cứu, các cơ sở sản xuất kinh doanh các sản phẩm công nghệ sinh học. Để thực hiện chức năng nghiên cứu định hướng, trong điều kiện kinh phí không lớn nhà nước cần đầu tư có trọng điểm, không dàn trải, trên cơ sở xác định các nhiệm vụ CNSH ưu tiên: như CNSH trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp dược phẩm, v.v. phù hợp với điều kiện Việt Nam . Công việc này do Hội đồng CNSH quốc gia với sự tham vấn rộng rãi các nhà khoa học có uy tin trong và ngoài nước. Việc này được tiến hành từng năm, từng nhiệm kỳ.  Đối với các cơ sở nghiên cứu CNSH của nhà nước, trước khi giao nhiệm vụ nghiên cứu phát triển một vấn dề CNSH, nhà nước cần thẩm định năng lực nghiên cứu, gồm lực lượng (con người, trong đó quan trọng nhất là người đứng đầu nhóm nghiên cứu và kinh nghiệm đã có), trang thiết bị (phòng thí nghiệm), thuyết minh đề án nghiên cứu có tính khả thì (mục tiêu rõ ràng, phương pháp chuẩn xác) và và kèm theo biện pháp kiểm tra, đánh giá tiến độ. Việc đặt hàng nghiên cứu sau khi thẩm định được tiến hành thông qua hợp đồng nghiên cứu, với mục tiêu và sản phẩm cụ thể và ràng buộc trách nhiệm rõ ràng giữa nơi cấp tiền và nhà khoa học. Tất nhiên, đề hoàn thành công trinh nghiên cứu thì kinh phí phải được tính đúng, tính đủ với mục tiêu và sản phẩm nghiên cứu. Đây là một trong những vấn đề khó nhất hiện nay, bởi vì: thế nào là đúng, thế nào là đủ, ai là người thẩm định xét duyệt đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu. Để tránh tình trạng “nhóm lợi ích” trục lợi, nhà nước phải xây dựng một quy trình tuyển chọn đánh giá đề tài theo chuẩn quốc tế và cần mời chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm tham gia cácHội đồng tuyển chọn này.  Lời kết. Kinh nghiệm và những thành tựu phát triển CNSH của Trung Quốc và Thái Lan được coi là những mô hình rất tốt mà Việt Nam có thể noi theo. Thay bằng các nỗ lực “duy ý chí” trong chúng ta cần phải xác định một lộ trình khả thi để phát triển CNSH ở Việt Nam. Thay bằng việc cấp tiền triển khai những nghiên cứu mà không cần biết có làm được hay không, không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, không cần ràng buộc giữa người nghiên cứu và người sản xuất, hãy đầu tư cho chính sách ưu tiên “nhập khẩu công nghệ” phát triển một hệ thống công nghệp CNSH, tiến tới nghiên cứu phát triển CNSH bằng chính nội lực của ta trong 15-20 năm tới.   —————-  (1) Nông nghiệp Việt Nam, thành tựu và đinh hướng phát triển, Bộ Nông nghiệp và PTNT  (2) Thông tin Công nghệ sinh học, NACENTECH, 9/4/2007: CNSH Viêt Nam chỉ có thể trên Campuchia, Lào va Myanmar.  (3) Nguyễn Ngọc Châu. Đổi mới Quản lý hoạt động KH-CN, cái nhìn của người trong cuộc. Hội thảo về Đổi mới Quản lý hoạt động KH-CN, tháng 1/2007.  (4) Tuổi trẻ Online, ngày 10/4/2007. Trong bài Nhà khoa học phải sống bằng sản phẩm của mình GS. Trần Đình Long – Chủ tịch Hội đồng Khoa hoc Gống cây trồng cho biết: đề án lúa lai có tổng kinh phí đầu tư được đề xuất là 1.200 tỉ đồng, qua ba lần thẩm định, đề án này chỉ cần 43 tỉ đồng.  (5) Người viết bài này đã từng tham gia Hội đông tuyển chọn và chứng kiến sự bất cập: các thuyết minh đề tài tham gia tuyển chọn đều không có tính khả thi nhưng yêu cầu vần phải tuyển chọn và được gợi ý tuyển chọn đề tài nào.  (6) Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ KHCN năm 2002, tác giả đã cảnh báo về tính bất cập và không khả thi của chủ trương đầu tư cho các PTN trọng điểm.  (7) Tác giả đã thăm và làm việc với các giáo sư về CNSH của Mỹ, Đức và Austrtalia và biết mặc dù chính họ là những người tham gia nghiên cứu ra một số chế phẩm sinh học và là cố vấn của hãng sản xuất nhưng họ cũng không biết được bí quyết công nghệ để sản xuất thương mại (có giá thành rẻ) các chế phẩm sinh học này.  (8) Ngoại trừ sản xuất được một số vacine với sự giúp đỡ của Nhật Bản và Tổ chức Y tế thế giới.  ———–  *Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật     PGS.Nguyễn Ngọc Châu*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗi lầm không thuộc về GDP      Mọi người chỉ trích GDP, nhưng những lựa chọn thay thế cũng không tốt hơn. Khi chúng ta vẫn đang ở trong “màn sương mù” bởi thiếu vắng dữ liệu thống kê đầy đủ, thì “GDP, với tất cả thiếu sót, vẫn là một ánh sáng rực rỡ xuyên qua màn sương.”1      GDP bắt đầu được sử dụng từ hội nghị Bretton Woods năm 1944. Nguồn: Nature.com  Một biểu tượng gây tranh cãi  Khái niệm GDP được phát triển lần đầu tiên ở Mỹ trong thời kỳ suy thoái. Thiếu vắng một bộ tổng hợp đầy đủ của tài khoản quốc gia, các chính trị gia phải dựa vào các tài liệu mơ hồ như tải trọng xe tải chở hàng hay các vụ bạo loạn thức phẩm để phân biệt nền kinh tế đang mở rộng hay thu hẹp. Vì vậy, năm 1932, Bộ Thương mại Mỹ đã giao cho nhà kinh tế học Simon Kuznet đo lường các hoạt động kinh tế trên quy mô toàn quốc. Báo cáo tiếp theo của ông (1934) tiết lộ rằng giữa năm 1929 và 1932, thu nhập quốc gia của Mỹ đã giảm đáng kể 40%.  Kỹ thuật khảo sát của Kuznets sau đó được các nhà kinh tế học từ Anh và Canada cải tiến để trở thành sản phẩm quốc gia tổng thể và sau đó cải tiến hơn nữa thành GDP. Sự hiện diện của một bộ tài khoản quốc gia đáng tin cậy đã chứng tỏ một phép lạ cho việc hoạch định chính phủ và phân tích kinh tế, đặc biệt là trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Khi Mỹ xây dựng lại châu Âu sau chiến tranh, họ yêu cầu các đồng minh của mình áp dụng một hệ thống lưu giữ hồ sơ kinh tế giống hệt nhau. Vì vậy, học thuyết về GDP được truyền bá rộng rãi.  GDP đã trở thành một trong những con số không thể thiếu trong đời sống kinh tế của chúng ta. Các nước được xếp hạng và so sánh với GDP. Không thể nghĩ về một nền kinh tế hiện đại mà không đề cập đến GDP. Nó là thước đo cho tất cả các thước đo khác. Thế nhưng GDP đồng thời cũng là biểu tượng gây tranh cãi nhất trong giới thống kê và kinh tế. Nó đo lường thu nhập, nhưng không phải sự công bằng, nó đo lường tăng trưởng, nhưng không nhắc đến những gì đã bị phá hủy, và nó phớt lờ những giá trị xã hội và môi trường. Một trong những sai lầm nổi tiếng nhất của GDP là không tính đến giá trị của việc nội trợ – chúng ta không tính GDP khi một bà mẹ tự chăm sóc con cái của mình, nhưng lại tính khi thuê một bảo mẫu làm những công việc giống y hệt. GDP giảm đi khi một người đàn ông góa vợ kết hôn với bà giúp việc – khi người vợ mới của ông không còn được tính phí cho các công việc mình vẫn làm. Và GDP lại tăng sau tai nạn xe, hỏng hóc bằng cách buộc mọi người phải sửa chữa và thay thế mới. Hay các thảm họa như sóng thần ở châu Á làm suy giảm GDP khi xóa sạch cộng đồng cư dân và các hoạt động kinh tế của họ, nhưng cũng đồng thời thúc đẩy GDP nhờ việc tái xây dựng, đầu tư mới,…      GDP là thước đo cho tất cả các thước đo khác. Thế nhưng GDP đồng thời cũng là biểu tượng gây tranh cãi nhất trong giới thống kê và kinh tế. Nó đo lường thu nhập, nhưng không phải sự công bằng, nó đo lường tăng trưởng, nhưng không nhắc đến những gì đã bị phá hủy, và nó phớt lờ những giá trị xã hội và môi trường.        Với những hạn chế của mình, GDP đang trở thành đối tượng bị công kích trên toàn cầu. “GDP theo một logic lừa đảo,” Dirk Philipsen viết trong cuốn The Little Big Number – “Nó đếm mọi thứ mà nền kinh tế sản xuất ra, kể cả khi nó bỏ lại đằng sau …’những đống đổ nát lớn’”. Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Joseph E.Stiglitz và Amartya Sen cảnh báo: “dưới áp lực tăng GDP, chúng ta lại càng tiến tới một xã hội với công dân tồi hơn”. Thế giới chứng kiến một cơn sóng ồ ạt những lời chỉ trích về GDP và yêu cầu thay đổi nó, bằng một công cụ đo lường khác mà họ thấy tối ưu hơn.  Thay thế không có nghĩa là tốt hơn  Nhiều khuôn khổ đã được giới thiệu trong những năm qua, từ “Đo lường Phúc lợi Kinh tế” của Nordhaus và Tobin năm 1972 cho tới “Chỉ số Phát triển Xanh” của Trung Quốc gần đây đã công bố. Worldbank phát triển Chỉ số phát triển con người (HDI), Diễn đàn kinh tế thế giới ra mắt chỉ số  Inclusive Development Index (IDI). Năm 2012, Ủy ban thống kê Liên Hợp Quốc đã áp dụng tiêu chuẩn thống kê quốc tế hoàn toàn mới mang tên SEEA liên kết số liệu thống kê về môi trường với các số liệu kinh tế.  Thế nhưng những chỉ số này có tốt hơn GDP? Chỉ số phúc lợi của Canada do ĐH Waterloo tạo ra, tính ngân sách của văn phòng Thủ tướng dành cho các thành phần, trong đó chi tiêu giáo dục công (lương giáo viên,..) hay tham quan vườn quốc gia đều là những thành phần đóng góp tích cực – nó hoàn toàn tùy ý, giống như GDP. Chỉ số hạnh phúc của Bhutan thực sự là thước đo các nguyên tắc tôn giáo của Phật giáo: Nó khảo sát công dân về cuộc sống tình cảm của họ (bao nhiêu lần trong bốn tuần qua bạn cảm thấy ích kỷ, tha thứ hay mãn nguyện?). Các đối thủ đáng gờm hơn như HDI, IDI lại cần những thống kê phức tạp, đa dạng hơn, vì thế không phải quốc gia nào cũng muốn tổng hợp mỗi năm – vì thế không có giá trị đo lường toàn cầu. Hiện nay, không có sự đồng thuận ở cấp độ quốc tế nào về một phương pháp đo lường thay thế cho GDP.  Các công cụ đo lường thay thế cho GDP tập trung nhiều hơn vào sự tiến bộ chung thay vì chỉ hoạt động kinh tế. Thế nhưng để đo lường tiến bộ xã hội – hay phúc lợi lại là việc không hề đơn giản. Trở ngại chính để có được một phương pháp duy nhất đo lường mọi khía cạnh là tìm ra một giá đại diện thuyết phục – hay giá đầu vào – cho mọi thành phần. Nếu không có một giá như vậy, không thể kết hợp tất cả các thành phần khác biệt vào trong phúc lợi quốc gia. GDP chưa làm được, và các chỉ số khác cũng vậy. Nhưng phải thừa nhận rằng ít nhất GDP đã đo được một phần của sự thịnh vượng – sự thịnh vượng từ sản xuất sản phẩm và dịch vụ.  Thêm vào đó, nhiều lời chỉ trích ở mức GDP thực sự chỉ là những lời phàn nàn về chủ nghĩa tư bản và tăng trưởng kinh tế nói chung. Pilling viết trong cuốn The Growth Delusion: “Chỉ trong kinh tế việc mở rộng không ngừng được coi là tốt đẹp. Trong sinh học chúng được gọi là ung thư.” Thế nhưng không có tăng trưởng, thế giới sẽ toàn nghèo đói, hung hăng và giận dữ. Hãy nhớ rằng tuổi thọ ở Bhutan hạnh phúc chỉ là 70 năm (158 trên thế giới), nó có tỷ lệ tự tử cao và chỉ một nửa dân số nữ có thể đọc hoặc viết. Đo lường hạnh phúc không nhất thiết làm cho mọi người hạnh phúc hơn.  Đừng chỉ trích, hãy hoàn thiện     Tạp chí The Economist nổi tiếng đã đánh giá về GDP như sau: “Một con số [GDP] đã trở thành viết tắt của phúc lợi vật chất, mặc dù nó là thước đo thịnh vượng không hoàn thiện và ngày càng trở nên tồi tệ hơn.” Thế nhưng vấn đề là GDP chưa bao giờ là một thước đo của sự thịnh vượng chung, cũng không phải là sự hạnh phúc về mặt triết học – bản thân người tạo ra GDP, nhà kinh tế học Kuznet cũng đã cảnh báo về những giới hạn của GDP nhưng chúng ta – những người đương thời đã lơ đi những cảnh báo này và bóp méo GDP, từ một thước đo hoạt động kinh tế vĩ mô thành thước đo phúc lợi của một quốc gia. Phải hiểu rằng khi Kuznet xây dựng GDP, nhiệm vụ của nó chỉ đơn giản là tiết lộ một nền kinh tế đang mở rộng hay thu hẹp. Theo tiêu chuẩn này, GDP là một kỳ quan của thời đại. Chỉ cần nghĩ rằng một con số có thể cho ta ý niệm về một nền kinh tế đang như thế nào – Paul Samuelson, nhà khoa học từng nhận giải Nobel miêu tả GDP là “một phát minh tuyệt vời của thế kỷ 20, một ngọn hải đăng giúp các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy nền kinh tế hướng tới các mục tiêu kinh tế quan trọng”.  Thêm vào đó, GDP đang ngày càng đo lường sát hơn năng lực kinh tế thực sự của một quốc gia, mà không cần nhiều chỉ số bổ sung. Nếu như trước đây, các chuyên gia khuyến nghị rằng bên cạnh GDP, cần sử dụng thêm GNI (Tổng thu nhập quốc nội) để đánh giá đúng khả năng sản xuất mà công dân của một quốc gia làm ra, thì nay khoảng cách đấy đang được kéo gần thông qua các giải pháp pháp lý. Một trường hợp nổi tiếng là vào năm 2015, GDP của Ireland đạt mức tăng 26,3% nhưng thực chất là do hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia trên địa bàn nước này, họ tới và làm tăng số lượng sản phẩm dịch vụ cho Ireland – nhưng đưa thu nhập về công ty mẹ – chủ yếu là của Mỹ; báo cáo nghiên cứu của OECD về trường hợp này đã kết luận rằng GDP là một chỉ số không đáng tin cậy cho phúc lợi vật chất của một quốc gia. Nghiên cứu gần đây của Khan, Nallareddy và Rouen về tăng trưởng kinh tế Mỹ, đã chỉ ra rằng lợi nhuận của các công ty đa quốc gia ít khi được chuyển ngược trở lại thành đầu tư vào Mỹ nếu thuế suất của Mỹ cao hơn so với mặt bằng chung các nước OECD khác. Vì thế, Mỹ đã thông qua đạo luật H.R.1 (trước đây là “Đạo luật về Việc làm và Cắt giảm thuế”) tromg đó cắt giảm thuế doanh nghiệp về mức cạnh tranh toàn cầu và bổ sung các điều khoản tốt hơn cho việc “hồi hương” lợi nhuận, nhờ vậy thu nhập của các công ty đã chuyển trở lại Mỹ, qua đó đó sẽ làm khoảng cách giữa GDP và GNI thu hẹp, thậm chí chấm dứt, ở cả Mỹ và Ireland.   ***  Dù còn nhiều hạn chế, chưa có một công cụ đo lường hiện tại nào có thể thay thế hoàn hảo cho GDP, ngay cả về mặt phúc lợi xã hội, GDP cũng có vai trò tích cực. Justin Wolfers – nhà kinh tế được IMF bình chọn là 1 trong 25 nhà kinh tế trẻ sáng giá nhất, được kỳ vọng có thể định hình tư duy thế giới về nền kinh tế toàn cầu, nhận xét: “Cách đo này bỏ qua rất nhiều thứ. Nhưng đó là trên lý thuyết. Còn trên thực tế, những nước có GDP cao vẫn làm tốt hầu hết những điều mà mọi người coi là thực sự quan trọng”. Vì thế, thay vì tiếp tục tranh luận về GDP và đòi hỏi thay đổi bằng một khuôn khổ mới – phức tạp và cần sự thay đổi hoàn toàn hệ thống và dữ liệu hiện tại, các nhà thống kê nên tìm cách cải thiện dữ liệu của GDP. Và điều quan trọng cần phải nhớ là, một con số thống kê không bao giờ có thể phản ánh hết xã hội hiện tại – càng cố gắng đo mọi thứ bằng một con số, con số càng ít cho chúng ta biết về bất kỳ điều gì.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn:  https://www.weforum.org/agenda/2018/01/gdp-should-be-corrected-not-replaced/  https://www.theglobeandmail.com/business/rob-magazine/article-everybody-hates-gdpbut-the-suggestions-to-replace-it-are-worse/  https://www.weforum.org/agenda/2016/04/why-we-need-to-complement-rather-than-replace-gdp/  http://oecdobserver.org/news/archivestory.php/aid/1518/Is_GDP_a_satisfactory_measure_of_growth_.html  —–  Chú thích  1 Diane Coyle (2014), GDP: A Brief But Affectionate History    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lội ngược dòng      Đọc l&#225; thư gửi Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN của một nh&#224; khoa học &#8220;nhớn&#8221; ng&#224;nh Cơ học, t&#244;i cảm thấy buồn v&#224; thất vọng. Kh&#244;ng buồn v&#224; thất vọng sao được khi đến thời điểm n&#224;y m&#224; vẫn c&#243; người &#8220;t&#226;m huyết&#8221; đề nghị xem x&#233;t lại ti&#234;u ch&#237; đ&#225;nh gi&#225; của ISI. Kh&#244;ng buồn sao được khi đ&#227; c&#243; hơn 5 năm (kể từ khi Nghị định 122/2003 của Ch&#237;nh phủ về th&#224;nh lập Quỹ Ph&#225;t triển Khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ Quốc gia) c&#244;ng khai b&#224;n thảo với sự tham gia nhiệt t&#236;nh của cộng đồng khoa học để đến nay mới ra đời được Quy chế hoạt động của Quỹ trong sự đồng t&#236;nh của hầu hết những người l&#224;m khoa học ch&#226;n ch&#237;nh th&#236; vẫn c&#243; những người cố t&#236;nh lội ngược d&#242;ng.    Nếu như trước đây chúng ta đã từng ngạc nhiên khi nghe nói có một số nhà khoa học lớn của ta bị bệnh “dị ứng” với công bố quốc tế và không thích cách đánh giá của ISI thì nay ta đã biết họ là ai. Chỉ có điều, chắc chắn: họ thừa biết những ý kiến như vậy là đi ngược lại xu hướng khách quan, đi ngược lại cộng đồng khoa học chân chính nên họ không lộ diện trên các diễn đàn thảo luận công khai mà chỉ tích cực tuyên truyền miệng và chỉ thích hành động trong bóng tối. Nay nghe chừng, đi đêm “đánh du kích” không xong, họ mới quyết tâm lộ diện chính thức, nhân danh một Hội khoa học để tác động vào bộ máy cao nhất đang vận hành NAFOSTED. Đến lúc này, khi được chứng kiến những dòng kiến nghị đầy  “tâm huyết” của họ chúng ta mới tin những gì TS. Phạm Đức Chính (một người trong cuộc) đã nói không ít hơn một lần về Hội của những cây đa cây đề trong làng Cơ học, hay Hội của những người quen làm giả ăn thật là hoàn toàn có lý.   Thực ra, Quy định của NAFOSTED, mặc dù cũng còn vài vấn đề nhỏ có thể cần cải tiến, hoàn thiện hơn, nhưng về cơ bản nó đã đi đúng xu hướng phát triển để hội nhập quốc tế. Về cơ bản nó đã tạo ra bước ngoặt cho khoa học và công nghệ Việt Nam: không những quốc tế hóa tiêu chuẩn để được tài trợ mà còn công khai, minh bạch các tiêu chuẩn của cả người tham gia xin tài trợ và cả những người sẽ được mời thẩm định đề tài và tư vấn cho Quỹ tài trợ.   Cái mới và linh hồn của cách làm mới của NAFOSTED chính là tạo ra một sân chơi mới cho các nhà khoa học muốn làm khoa học thực sự. Nghĩa là Quỹ tạo điều kiện cho những người “làm thật’ được “ăn thật”, đó là những người có công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín trong 5 năm gần đây và yêu cầu sản phẩm đầu ra cũng là công bố quốc tế. Đương nhiên, cách làm mới này cũng sẽ loại bỏ những ai xưa nay quen lối “làm giả” nhưng lại “ăn thật”. Vì vậy, không ngạc nhiên khi thấy các phản ứng trái chiều trong cộng đồng khoa học khi đón nhận các tiêu chí tài trợ mới và cách quản lý mới của NAFOSTED. Trong khi, phần lớn những người làm khoa học chân chính, trong đó có nhiều người trẻ tiếp nhận cách làm mới một cách hào hứng, phấn khởi thì cũng không ít “cây đa”, “cây đề” phải ngậm ngùi nói lời chia tay với cách làm mới. Cũng chẳng ngạc nhiên khi một số quan chức khoa học quen “ăn trên, ngồi trốc” vẫn cố tình ngăn cản hoặc tìm cách làm chậm tiến trình đổi mới bằng việc công kích, gây nhiễu hoặc làm rối khái niệm công bố quốc tế có uy tín (peer reviewed jourrnals) của ISI với lý lẽ mơ hồ rằng ISI chỉ là đánh giá của một tổ chức tư nhân, chỉ mang tính chất thống kê chứ không phải đánh giá của chuyên gia, hay: đánh giá của ISI là không khách quan vì ISI chỉ chú trọng các tạp chí của Anh, Mỹ xuất bản bằng tiếng Anh mà ít hoặc không quan tâm đến các tạp chí khác.   Có lẽ cũng cần nhắc lại rằng, mặc dù việc đánh giá của ISI (Institute of Scientific Information) dựa trên hệ số tham khảo của các công bố khoa học cũng còn một số hạn chế như một số ý kiến đã phân tích (1), nhưng có lẽ cũng không hy vọng có một phương cách đánh giá nào hoàn hảo có thể thay thế ISI. Thực chất đánh giá của ISI không đơn thuần chỉ là thống kê đơn thuận mà dựa theo hệ số tham khảo, theo đó ISI đã xếp các tạp chí có hệ số tham khảo cao là các tạp chí có uy tín thuộc 2 danh sách là danh sách các tạp chí Scientific Citation Index (SCI) là những tạp chí có hệ số ảnh (impact factor) và danh sách mở rộng (Scientific Citation Index Expanded-SCIE) mặc dù không thống kê IF nhưng cũng thuộc danh sách tạp chí có uy tín. Thực tế danh sách xếp hạng ISI không chỉ là các tạp chí tiếng Anh mà cả các tạp chí công bố ngoài tiếng Anh, mặc dù không nhiều. Trong danh sách hàng chục ngàn tạp chí SCI và SCIE ngoài các các tạp chí xuất bản ở Mỹ, Anh cũng có khá nhiều tạp chí xuất bản ở các nước và khu vực khác nhau trên thế giới.   Tiêu chí đánh giá và thống kê của ISI đã được hầu hết các tổ chức KHCN (viện nghiên cứu, trường đại học) sử dụng làm nguồn tham khảo chính để đánh giá, xếp hạng năng lực nghiên cứu KHCN của một viện, một trường đại học hay một nước. Ngay cả các nhà khoa học ở các nước không nói tiếng Anh như Nga, Pháp Đức v.v. cũng chấp nhận các tiêu chí này. Hiện nay có khá nhiều tạp chí tiếng Anh xuất bản ở Nga có mặt trong danh sách SCI và SCIE. Ngay cả các nhà khoa học Nga nhận tài trợ của Quỹ Nghiên cứu Khoa học Nga (Russian Foundation for Basic Research-RFBR) cũng được khuyến khích có các công bố trên các tạp chí SCI (2).   Thực tế, trong quy định của NAFOSTED về tạp chí quốc tế có uy tín, không chỉ bao gồm các tạp chí SCI, SCIE mà còn cả một số tạp chí khác tương đương, nghĩa là ngay cả tạp chí chưa có trong danh mục SCI nhưng nếu được Hội đồng thẩm định xác nhận đó là tạp chí có uy tín thì vẫn có thể chấp nhận như SCI. Ngay cả thời gian tính có công bố quốc tế trong 5 năm cũng đã là một quy định khá rộng, cho phép nhiều nhà khoa học còn khiêm tốn với công bố quốc tế cũng có thể tham gia nhận tài trợ của Quỹ. Chắc chắn trong thời gian tới, khi công bố quốc tế của Việt Nam trở nên phổ biến hơn thì cái thời hạn 5 năm mới có một công bố quốc tế cũng trở nên lỗi thời.   Đọc văn bản kiến nghị của nhà khoa học “nhớn” ấy, tôi đồ rằng ông không hiểu ý nghĩa đích thực của SCI là gì và danh sách SCI/SCIE gồm những gì (đâu chỉ các tạp chí Anh, Mỹ), hoặc mới hiểu ISI là Thompson Institute of Information như trong văn bản của họ đã thể hiện. Và mong rằng nếu ông thực sự “tâm huyết” với sự phát triển KHCN của nước nhà thì đừng lội ngược dòng với những thay đổi tích cực trong quản lý KHCN của nước nhà theo chuẩn mực thực tế.    ————–  (1). VietnamNet, 2007-2008 đã đăng hàng loạt bài viết của các GS Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Duy Hiển và Phạm Đức Chính về vấn đề này./   (2). Người viết bài này đã và đang có đề tài đối tác với RFBR và vừa đi thăm RAS năm 2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lối ra cho cảng Lạch Huyện      Chủ đề cảng Lạch Huyện (Hải Phòng) đang thu  hút sự tham gia bàn thảo, tranh luận của nhiều người, đặc biệt là của  các nhà khoa học quan tâm đến ngành cảng đường thủy. Rõ ràng cảng biển  này đang bị tắc theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng!     Ý tưởng xây dựng cảng Hải Phòng có từ thời ông Bùi Viện, sau đó được người Pháp biến thành hiện thực. Trong quá trình khai thác sử dụng cảng Hải Phòng đã thấy hạn chế do bồi lắng cửa Nam Triệu nên đã có các nghiên cứu nâng độ sâu luồng lạch. Trong quy hoạch cảng biển khu vực phía Bắc, cần có cảng nước sâu đáp ứng được yêu cầu và xu thế phát triển kinh tế xã hội. Cảng nước sâu Cái Lân hiện nay, hiệu quả khai thác rất hạn chế, cho nên cảng Lạch Huyện ở Hải Phòng có ý nghĩa quyết định cho xu thế tiến mạnh hơn ra biển. Phương án của Bộ Giao thông vận tải và đề xuất của Công ty TNHH Sơn Trường đều phù hợp với quy hoạch chung nhưng khác nhau ở quan điểm Bộ Giao thông muốn khai thác cảng nước sâu từ phía sông ra biển, ngược lại Công ty Sơn Trường muốn khai thác từ ngoài biển vào trong sông. Đây là bài toán chủ yếu liên quan đến kinh tế và môi trường (khoa học công nghệ ngày nay đủ sức giải quyết các vấn đề về kỹ thuật).  Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng giai đoạn khởi động có 2 hợp phần: Hợp phần A: (Luồng tàu, vũng quay tàu, đê chắn sóng, đê chắn cát, đường ngoài cảng) do Cục Hàng hải làm Chủ đầu tư và hợp phần B: (cầu cảng, đường bãi, thiết bị trong cảng,…) do Liên doanh giữa Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và đối tác Nhật Bản – công ty Molnykit đại diện. Trong thực tế, còn có dự án độc lập do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, nhưng với tư cách là tuyến đường kết nối cảng cửa ngõ này với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đây vẫn được coi là hợp phần cầu đường của Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Cảng Lạch Huyện. Nếu cộng cả 3 hợp phần nói trên thì theo tính toán số vốn đầu tư phục vụ cho cảng Lạch Huyện khoảng 38 nghìn tỷ đồng (chưa phải là con số cuối cùng)! Xin lưu ý, theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội, quy mô vốn đầu tư từ hai mươi nghìn tỷ đồng Việt Nam trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên và công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, thì Chính phủ phải trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư.  Trong buổi truyền hình thời sự mới đây, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường khẳng định Bộ chọn phương án hiện nay (khai thác cảng nước sâu từ sông ra biển) nhưng cũng không quên đá “quả bóng” là việc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của việc nạo vét 40 triệu m3 bùn cát do Bộ Tài nguyên & Môi trường xem xét, quyết định. Câu hỏi đặt ra vì sao đánh giá ĐTM chưa được thẩm định phê duyệt, Bộ Giao thông đã cho tiến hành đối với Hợp phần A (hiện nay Cục Hàng hải đang triển khai) Gói thầu số 6 [Đê chắn sóng đoạn A, kè bảo vệ bờ, tường chắn đất, tôn tạo xử lý nền, bến công vụ, đường sau cảng, hạ tầng điện nước. Thiết kế do các đơn vị tư vấn bao gồm các Công ty: Oriental Consultants, Nippon Kei, Padeco, Japan Bridge & Structure Institute, INC. Đơn vị thẩm tra: Công ty Cổ phần tư vấn Thiết kế Cảng – Kỹ thuật biển (Portcoast)]. Đối với Hợp phần B: hiện nay Công ty TNHH Cảng công ten nơ quốc tế Hải Phòng đang tuyển chọn tư vấn rà soát dự án và thiết kế cơ sở. Theo kế hoạch năm 2013 sẽ tuyển chọn tư vấn thiết kế chi tiết và thi công công trình. Phải chăng Hội đồng thẩm định ĐTM chỉ là hình thức sẽ phải hợp lý hóa cho mọi việc đã rồi!?   Lối ra nào cho cảng Lạch Huyện? Trong khi chờ đợi sự công minh sáng suốt đánh giá của Hội đồng thẩm định ĐTM, cần phải xác định ngay các hạng mục công trình ưu tiên dù sớm hay muộn cũng phải làm. Đề xuất của Công ty TNHH Sơn Trường không có gì mới, vì trên thế giới đã có nhiều nước khai thác cảng nước sâu hiệu quả từ ngoài biển như Pháp, Hà Lan, Trung Quốc vv…  Trường sóng chủ yếu ở cảng Lạch Huyện là từ phía Nam và Đông Nam (hướng Đông Bắc đã được che chắn bởi đảo Cát Bà). Tuyến luồng cảng Lạch Huyện đi theo hướng Tây Bắc-Đông Nam trùng với phương truyền sóng cho nên đê chắn sóng trong gói thầu số 6 của Bộ Giao thông trái với nguyên lý đê chắn sóng muốn hiệu quả cao phải đặt vuông góc với hướng truyền sóng. Việc tiếp tục nghiên cứu một cách bài bản, khách quan khoa học so sánh phương án hiện tại của Bộ Giao thông với đề xuất của Công ty Sơn Trường (kể cả nghiên cứu đê chắn sóng từ phía biển) là cách tốt nhất để tìm lối ra cho công trình lớn này thật sự có hiệu quả cao, hạn chế tác hại đối với môi trường.   Có một thực tế lâu nay là, ở rất nhiều cấp, nhiều ngành, nhất là cấp Trung ương hô hào dân chủ, mời gọi góp ý, đề xuất, phản biện, tổ chức hội thảo… nhưng rồi cứ làm theo ý mình, thậm chí còn phê phán người phản biện là “cầm đèn chạy trước ô-tô”! Kết quả thực tế ngày nay, rất nhiều bài học đắt giá, đau đớn về đầu tư công dàn trải, lãng phí, không hiệu quả mà ai cũng rõ.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời tiễn biệt người Anh của gia đình Tia Sáng      Sáng ngày 25.4, tang lễ nhà thơ Lê Đạt- một trong số ít những tài năng lớn trong thi đàn Việt Nam, một tâm hồn Việt đẹp với tiếng cười đặc hiệu Lê Đạt- đã được Hội Nhà văn, Tạp chí Tia Sáng và gia đình tổ chức tại Hà Nội trong niềm tiếc thương của rất nhiều trí thức văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và một số cơ quan ngoại giao, tổ chức văn hóa nước ngoài tại Hà Nội đã đến dự lễ tang, gửi vòng hoa viếng Nhà thơ.  Sau Điếu văn của Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh, Phó Tổng biên tập phụ trách tạp chí Tia Sáng bà Hoàng Thị Thu Hà, Phó trưởng ban tổ chức lễ tang, đã đọc Lời Tiễn biệt người Anh của gia đình Tia Sáng.    Nhà thơ Lê Đạt, một nhân cách cao đẹp, một trong vài tài năng lớn của thơ ca Việt, đã đột ngột ra đi sau một hành trình nhiều khúc quanh, sóng gió.  Trong kháng chiến chống Pháp, Ông làm việc ở Ban tuyên huấn Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Khi hòa bình về trên nửa nước, Ông tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật. Cùng với một số trí thức, văn nghệ sĩ, Ông đã kiên trì đòi hỏi xây dựng một môi trường tự do cho sáng tạo, cho sự phát triển lành mạnh của nền văn hóa nghệ thuật nước nhà. Và rồi Ông đã trải qua một khoảng thời gian không dưới 30 năm im lặng cách biệt với công chúng do cái mà Ông hài hước gọi là “tai nạn nghề nghiệp”. Trong suốt 30 năm đó, Ông không ngừng làm công việc “phu chữ” nhọc nhằn của mình để đi đến một Lê Đạt ở tầm cao hiền triết hơn, vượt lên những đau khổ của phận người để đạt được tới những chiều kích nhân bản bao quát cả đạo và đời.  Ngôi nhà Tia Sáng thật may mắn khi được Nhà thơ Lê Đạt đến và gắn bó mật thiết từ những ngày đặt viên gạch đầu tiên. Cùng với nhiều nhà khoa học, văn hóa có uy tín ở trong và ngoài nước, Ông đã góp phần quan trọng xây dựng Tia Sáng trở thành một diễn đàn trí tuệ và đầy tâm huyết của trí thức trong công cuộc chấn hưng đất nước.  Trong hơn 10 năm qua, chúng tôi đã có niềm vui lớn được sống gần gũi Ông, học được ở Ông ý thức tôn trọng sự khác biệt, tinh thần dân chủ thẳng thắn trong trao đổi học thuật. Ông đã truyền năng lượng sống, niềm đam mê sáng tạo bất chấp tuổi tác cho mọi thành viên của tòa soạn Tia Sáng.  Trong giờ phút chia tay Ông ở ga cuối của cuộc đời này, chúng tôi – những người thân của Ông trong gia đình Tia Sáng – dường như vẫn thấy Ông ung dung tự tại trước mọi đảo điên của thời cuộc; vẫn nghe rõ giọng nói nồng nàn, tiếng Ông cười sảng khoái hồn nhiên- đặc hiệu Lê Đạt- trong các buổi gặp gỡ sáng thứ bảy của gia đình Tia Sáng, các buổi tọa đàm, hội thảo…  Chúng tôi xin được thay mặt gia đình Tia Sáng và rất nhiều người thân quen Ông và cả những người chưa một dịp được gặp ông ở trong và ngoài nước vừa qua khi nghe tin ông ra đi đã gửi thư đến Tòa soạn bày tỏ sự ngưỡng mộ tài năng, kính trọng nhân cách Ông, cầu mong Ông thanh thản yên nghỉ nơi vĩnh hằng.  Xin gửi đến bà quả phụ Thúy Thúy và gia đình nhà thơ Lê Đạt lời chia buồn sâu sắc và thương tiếc vô hạn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời trách yêu…      Trong tạp chí Tia Sáng số 4/2006, ở trang thời sự trong nước, có 2 đề mục thiếu chủ ngữ khiến người đọc phải mất công tìm hiểu. Đề mục 1. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về KH&amp;CN khiến người đọc tưởng là một khẩu hiệu đấu tranh, té ra nó là đầu đề của một dự án của Bộ KH&amp;CN. Thế thì tại sao đầu đề không ghi Đề án đẩy mạnh… rồi nội dung nói tóm tắt những đề xuất của dự án? Đề mục 2 ghi: Sắp chế tạo VINASAT khiến tôi tự hỏi ai là chủ ngữ đây? Là Việt Nam ư? Là Bộ Bưu chính Viễn thông ư? Nếu đúng thế thì mừng quá! Thế nhưng đoạn dưới lại viết: ta phải chi 2.800 tỉ tức là ngót 200 triệu đô la để thuê một hãng của nước ngoài chế tạo. Vậy để lửng chủ ngữ ở đề mục 2 phải chăng để lừa dối thiên hạ?    Nhân đây tôi cũng xin kể lại sai lầm của chính tôi khi đề xuất với lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam thành lập Trung tâm Không gian (Space center) với nhiệm vụ chính là nghiên cứu kĩ thuật viễn thám, ngoài ra có việc chuẩn bị cho đồng chí Phạm Tuân bay vào vũ trụ. Mùa hè năm 1980, trong khi Phạm Tuân bay vào vũ trụ cùng Gorơbachôp, thì tôi được đến thăm Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu không gian của Pháp ở Tuludơ (CNES – Centre national d’etudes spaciales) là nơi nghiên cứu chế tạo vệ tinh, tên lửa và máy bay phản lực. Tôi sửng sốt khi thấy quy mô các phòng thí nghiệm và trình độ khoa học công nghệ của Trung tâm đó. Tôi nghĩ ngay cái tên Trung tâm không gian thì oai thật, nhưng nếu cứ giữ cái tên gọi đó thì thành ra vừa tự dối mình vừa dối người, nên đã đổi tên là Trung tâm Viễn thám. Một tạp chí khoa học đứng đắn và trí tuệ như Tia Sáng sao lại sơ suất như vậy? Đó vừa là lời trách yêu vừa là mong muốn của tôi nhân Tia Sáng tròn 15 tuổi.  GS. NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lộn trái quyền riêng tư: Một cách tiếp cận hiệu quả hơn?      Lộn trái quyền riêng tư (Turning privacy inside out) là tựa đề một tiểu luận nổi tiếng của giáo sư Julie E. Cohen, được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Lý thuyết Luật pháp (Theoretical Inquiries in Law) số 20, kì 1, năm 2019. Cho rằng quyền riêng tư đã bị hiểu và thực hiện sai, đến mức việc bảo vệ quyền riêng tư theo cách hiện nay là vô nghĩa, GS. Cohen đề xuất thay đổi cơ chế bảo vệ quyền riêng tư, chuyển sự tập trung từ chủ thể sang điều kiện bối cảnh cụ thể. Cơ sở của cách tiếp cận mới này là gì, và nó bảo vệ quyền riêng tư trong xã hội số như thế nào?    GS. Julie E.Cohen, tác giả của tiểu luận “Lộn trái quyền riêng tư”, hiện đang làm việc tại ĐH Geogretown. Ảnh: georgetown.edu  Quyền riêng tư: Giữa lý thuyết và thực thi  Bảo vệ quyền riêng tư đã được ghi nhận thành quy phạm pháp luật cụ thể trong cả hai công ước nền tảng về nhân quyền trên bình diện luật quốc tế. Theo Điều 12 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người (UDHR), quyền riêng tư được diễn giải là “không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy”.1 Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng tái khẳng định quan điểm trên, và coi quyền riêng tư như một quyền dân sự phổ quát của tất cả mọi người.  Nhưng không đợi đến sự ghi nhận hay trao quyền thông qua quy phạm pháp luật, tự thân con người có những quyền dân sự, chính trị cơ bản mà không ai được phép tước đoạt và xâm phạm. Khi nhắc đến sự riêng tư, một trong những ý niệm đầu tiên là xem nó như một quyền con người cơ bản và phải được luật pháp nói chung bảo vệ. Trước đây, các nhà luật học đã cho rằng bảo vệ quyền riêng tư chính là bảo vệ sự toàn vẹn phẩm giá của mỗi người, vì ý thức về cái tôi bản thể và phẩm giá chỉ hình thành khi con người được tách ra khỏi những ràng buộc xã hội và phản tư về giá trị của chính mình.2  Tuy nhiên, những trình bày trên chỉ là cách hiểu và giải thích quyền riêng tư ở bình diện phổ quát và lý thuyết, còn thực thi quyền riêng tư trên thực tế thì không mang tính phổ quát mà phải gắn liền với bối cảnh cụ thể. GS. Cohen đã mở đầu tiểu luận của mình bằng cách nhấn mạnh về sự khác biệt giữa lý thuyết và thực thi quyền riêng tư trong đời sống: “Riêng tư là một quyền, song nó chưa bao giờ đứng vừa khít trong hàng ngũ những quy chuẩn ngầm định của những hình thức diễn ngôn thông ước về các quyền cơ bản”. Theo Cohen, việc thực thi quyền riêng tư trong đời sống thực tế phải căn cứ trên bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội và trình độ nhận thức của dân chúng trong những khu vực khác nhau.3 Tập thể, cộng đồng, và không gian – những yếu tố tạo nên tri nhận về sự riêng tư trong tâm thức con người – là những hiện tượng thuộc về những bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội rất cụ thể và đa dạng. Lấy ví dụ, cảm thức về không gian của dân du mục hẳn sẽ khác với cảm thức về không gian của dân văn phòng; tương tự, một số tôn giáo thờ cúng bộ phận sinh dục như thần linh và thực hành tính dục như một nghi thức, trong khi số còn lại xem những vấn đề tính dục như điều cấm kị và trái ngược với thần tính của thần linh.4    Việc thực thi quyền riêng tư trong đời sống thực tế phải căn cứ trên bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội và trình độ nhận thức của dân chúng trong những khu vực khác nhau.    Quyền riêng tư bị biến dạng  Từ nhận định trên, Cohen chỉ ra rằng việc kiến tạo quyền riêng tư như một quyền tự do, bình đẳng của nhân loại đã làm biến dạng quyền riêng tư trên bình diện thực thi. Vì các nhà luật học biện minh cho quyền riêng tư qua nhận định rằng nó thúc đẩy sự phát triển và bảo vệ (i) tính tự chủ ý chí của cá thể, và (ii) sự phân tách giữa cái tôi với cộng đồng đến một mức độ cần thiết; cho nên, hệ quả tất yếu là pháp luật chỉ có thể bảo vệ quyền riêng tư bằng cách đối chứng với sự kiến tạo cái tôi (selfhood), mà điều này đến lượt nó lại là bất khả nếu ta không viện đến những giá trị của sự riêng tư trong một cộng đồng cụ thể. Chẳng hạn, một kênh truyền thông vô tình chụp và đăng ảnh anh A trong quán rượu. Cộng đồng xung quanh anh A quan niệm rằng người đàn ông mẫu mực là người ít khi đi uống rượu. Nếu anh A muốn giữ gìn hình ảnh người cha hoàn hảo của mình trong mắt bạn bè, anh sẽ không cho phép báo chí đăng tải bức ảnh đó. Anh sẽ cảm thấy quyền riêng tư bị xâm phạm nếu mình không có tiếng nói trong việc quyết định vai trò, giá trị xã hội của mình. Nhưng giá trị xã hội đó phụ thuộc hoàn toàn vào vai diễn mà anh A định hướng trở thành.  Điều này dẫn thẳng đến hệ quả là, các quy định pháp luật về quyền riêng tư sẽ yêu cầu chủ thể nào có hành vi đe dọa quyền riêng tư phải tiến hành xin phép và được sự đồng ý của chủ thể riêng tư qua cơ chế thông báo – đồng ý (notice – consent)5 và cơ chế hợp pháp (lawfulness). Trong cả hai trường hợp, chủ thể riêng tư được đặt ở ngay trung tâm của việc bảo vệ quyền riêng tư, có quyền thể hiện ý chí gần như tuyệt đối trong việc định đoạt số phận các thông tin về mình.  Tuy nhiên, bảo vệ quyền riêng tư theo cách này gây ra sự mất cân bằng trong trật tự các quyền, nếu giả định phạm vi của một hệ thống pháp luật được tạo nên từ trật tự của nhiều quyền của nhiều chủ thể. Chẳng hạn, anh A có quyền riêng tư, nhưng vợ anh A có quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm uy tín nếu anh A đi uống rượu về rồi đánh đập, chửi mắng, xúc phạm vợ; đồng nghiệp anh A có quyền được thông tin nếu như quy định của công ty là không được uống rượu trong giờ nghỉ trưa, các hãng thông tấn có quyền tự do báo chí, v.v. Nếu anh A có toàn quyền quyết định nhiều vấn đề để tự bảo vệ quyền riêng tư, thì quá trình toàn quyền quyết định đó chắc chắn sẽ sinh ra xung đột cách này hay cách khác đến việc thực hiện quyền khác của người khác.  Tập thể, cộng đồng, và không gian – những yếu tố tạo nên tri nhận về sự riêng tư trong tâm thức con người – là những hiện tượng thuộc về những bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội rất cụ thể và đa dạng. Trong ảnh là minh họa về sự riêng tư giữa các cá nhân trong gia đình ở các quốc gia khác nhau. Ảnh: AppLock.  Ấy thế nhưng không có cách nào khác để bảo vệ quyền riêng tư nữa, nếu ta vẫn cứ gắn liền quyền này với cái tôi cá nhân, và hiện tại luật pháp nói chung đã xem quyền riêng tư như một thứ quyền phổ quát của nhân loại, với những giá trị tương đồng nhau cho tất cả mọi người trong tất cả nền văn hóa. Sự “biến dạng” của nó chính là ở chỗ này: nó là một quyền con người chính đáng, nhưng việc bảo vệ nó phải dựa trên cơ sở các giá trị mang tính địa phương đa dạng, vì các giá trị xã hội làm chuẩn mực tham chiếu cho việc xây dựng hình tượng xã hội là khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau, vì thế không thể có một lối bảo vệ quyền riêng tư chung cho cả nhân loại trên cơ sở tập trung quyền tràn lan vào ý chí chủ thể trong mọi bối cảnh. Ở xã hội của anh A, việc bước vào quán rượu có thể vi phạm chuẩn mực nhưng ở xã hội khác thì đó lại là chuyện bình thường.  Quyền riêng tư trong môi trường số  Xuất phát từ tính chất của thế giới số,6 các luật gia về quyền riêng tư đã mở rộng vấn đề lên bình diện quan hệ thu thập và sử dụng dữ liệu liên quan đến con người, giữa một bên là chủ thể riêng tư và bên kia là các thực thể quyền lực, có khả năng khai thác dữ liệu để mang về lợi ích. Song phương thức bảo vệ riêng tư biến dạng đã ngăn trở quyền dụng ích dữ liệu trong thời đại mới và – đến một mức độ nào đó – kìm hãm sáng tạo.7  Giáo sư Helen Nissenbaum đã lý giải vì sao giới luật học ráo riết nối lý thuyết về quyền riêng tư – vốn biến dạng – với bảo vệ dữ liệu lại với nhau. Theo bà, sự xuất hiện của mạng với tư cách là một hiện tượng khách quan đã gieo vào nhận thức của người dùng về một đại tổ hợp nơi thông tin “chảy” dưới các dạng thức kì lạ, trên những nền tảng kì lạ và đến với những người tiếp nhận kì lạ dưới những sự ràng buộc kì lạ.8 Khi đứng trước những hiện tượng kì lạ, bản năng thúc đẩy con người thu mình lại và tìm kiếm biện pháp phòng giữ những giới hạn không gian cho bản thân mình.9 Đồng tình với quan điểm này, Cohen lý giải rằng diễn ngôn bảo vệ quyền riêng tư đứng vững vì nó đảm bảo sự an toàn cho chủ thể riêng tư trước cảm giác ghê tởm (creepiness) gây ra khi đứng trước những hiện tượng “dị biên” như những cỗ máy biết nói, một giống “người” khác không phải là homo sapiens, hay một trợ lý ảo không hình hài mà vẫn trò chuyện được với mình; khi ấy, phản ứng hợp lý của con người là tái khẳng định thẩm quyền kiểm soát của mình đối với ý chí tự chủ và tìm kiếm không gian để “thở”.10    Nếu ta tiếp tục áp dụng cơ chế bảo vệ quyền riêng tư theo lối tự do và khả thể, theo Cohen, việc thực thi quyền riêng tư trong môi trường điện toán sẽ trở nên bất khả thi và vô nghĩa.    Mặt khác, những thuật toán và mô hình vận hành của thế giới điện toán nằm ngoài tầm hiểu biết của số đông dân chúng. Nếu áp dụng cơ chế bảo vệ riêng tư truyền thống, luật sẽ đặt ra nghĩa vụ “thông báo – đồng ý” cho chủ thể sử dụng dữ liệu; đồng thời, chủ thể dữ liệu sẽ có quyền định đoạt, cho phép, đổi ý, xóa sổ các dữ liệu liên quan đến mình mà không cần biết lý do. Cơ chế này được đặt cơ sở trên tiếp cận tự do và khả thể: tự do ở chỗ nhận thức rằng chủ thể dữ liệu hoàn toàn có quyền tự do định đoạt (và không định đoạt) mọi vấn đề liên quan đến mình, và khả thể ở chỗ cơ chế này trao quyền tiếp cận cho chủ thể đối với vấn đề có liên quan đến mình. Nhưng chủ thể dữ liệu chưa chắc đã hiểu được cách thức mà dữ liệu của mình sẽ được sử dụng về mặt kĩ thuật để có thể đưa ra quyết định hợp lý, vậy nên sự tự do “đến rồi đi” của chủ thể dữ liệu sẽ gây nguy cơ phân bổ quyền lực thiên lệch về hướng chủ thể riêng tư, gây khó dễ cho việc thực hiện quyền của những chủ thể khác.11 Nếu ta tiếp tục áp dụng cơ chế bảo vệ quyền riêng tư theo lối tự do và khả thể, theo Cohen, việc thực thi quyền riêng tư trong môi trường điện toán sẽ trở nên bất khả thi và vô nghĩa.  Tiếp cận cung tính và bảo vệ quyền riêng tư trong bối cảnh cụ thể  May mắn thay, cách tiếp cận cung tính mà Cohen vay mượn từ James Gibson và Donald Norman12 giải quyết được các vấn đề của tiếp cận tự do và tiếp cận khả thể đối với quyền riêng tư trong kỷ nguyên số. Cung tính (affordances) của một vật là những loại hình và cách thức sử dụng vật ấy giúp hỗ trợ cho một nhiệm vụ cụ thể. Lấy ví dụ, anh A có thể ngồi hoặc nằm lên một chiếc ghế đá; vậy cung tính giữa A và ghế đá là tính ngồi hoặc tính nằm. Cung tính thay đổi khi chất liệu thực tế thay đổi. Trong ví dụ nêu trên, nếu người quản lý công viên muốn tránh tình trạng nằm ngủ bừa bãi trên ghế đá gây mất mỹ quan, cô có thể bổ sung thanh chắn cao ở giữa ghế đá sao cho diện tích ghế ở hai bên thanh chắn không đủ để một người có thể đặt lưng xuống nữa. Lúc này, sự thay đổi chất liệu (material) của ghế đá đã ảnh hưởng đến cung tính giữa ghế và người, khiến cung tính nằm mất đi và chỉ còn lại cung tính ngồi.  Tiếp cận cung tính có lợi thế lớn lao hơn tiếp cận tự do và tiếp cận khả thể trong việc “lộn trái” quyền riêng tư. Lấy ví dụ, một giáo viên đã chụp ảnh danh sách lớp và đăng tải lên trang cá nhân của mình trên mạng xã hội mà không nói gì với những học viên có tên trong danh sách; danh sách lớp ấy gồm đầy đủ họ, tên, giới tính, quê quán, số điện thoại, địa chỉ và email cá nhân của các học viên. Trong trường hợp này, tiếp cận bảo vệ riêng tư dựa trên quyền tự do sẽ đặt câu hỏi về sự đồng ý và cho phép của những người có tên trong danh sách đối với việc chụp, lưu giữ và đăng tải thông tin của họ một cách công khai, cùng câu hỏi về thẩm quyền và mục đích của giáo viên khi đăng tải tấm ảnh; tiếp cận khả thể sẽ tập trung vào sự bất lực của học viên trong việc can thiệp vào quy trình xử lý thông tin của họ trong danh sách lớp. Tiếp cận cung tính không đặt ra câu hỏi về thẩm quyền và mục đích đăng tải, mà xoáy sâu vào những người có khả năng tiếp cận thông tin bật lên từ bức ảnh, những nguy cơ tiềm tàng, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người giáo viên đối với danh sách lớp, và quy chuẩn kĩ thuật an toàn, bảo mật mà mạng xã hội đó áp dụng để xử lý những thông tin được đăng tải trên nền tảng ấy. Nói cách khác, tiếp cận cung tính cho phép đặt câu hỏi về các thiết chế cơ sở đã tạo điều kiện cho việc xâm phạm quyền riêng tư.  Khi đứng trước những hiện tượng kì lạ, bản năng thúc đẩy con người thu mình lại và tìm kiếm biện pháp phòng giữ những giới hạn không gian cho bản thân mình.  GS. Cohen chỉ ra hai lợi ích của việc áp dụng cách tiếp cận cung tính trong việc bảo vệ quyền riêng tư. Thứ nhất, tiếp cận cung tính hứa hẹn sẽ mang lại sự phân biệt rõ ràng hơn trong diễn ngôn về quyền. Nếu “Quyền riêng tư” là được tạo ra từ công thức tự do, thì “quyền được bảo vệ về dữ liệu”, vốn quan tâm đến những điều kiện mà theo đó dữ liệu cá nhân được thu thập, xử lý, dụng ích và tái dụng, sẽ phù hợp hơn với phép biểu đạt trong khuôn khổ diễn ngôn dựa trên cung tính.13  Thứ hai, nếu nhìn nhận việc thực thi quyền trong bối cảnh là phụ thuộc vào điều kiện môi trường và (những) điều có thể làm trong môi trường ấy, thì quyền riêng tư có thể được hiểu như việc đặt ra những điều kiện giúp duy trì một không gian, xác định các quy chuẩn tối thiểu giúp chủ thể dấn thân vào quá trình kiểm soát các đường biên của không gian ấy, từ đó cho họ khoảng lặng để trở về với chính mình, chứ không đặt quá nhiều thẩm quyền vào tay chủ thể dữ liệu nữa. Cách bảo vệ quyền riêng tư này không chỉ giải thoát được quyền riêng tư khỏi vòng luẩn quẩn của lý thuyết, nó còn giúp gắn liền quyền riêng tư với những bối cảnh cụ thể, đa dạng của đời sống xã hội, đặc biệt có ý nghĩa đối với môi trường điện toán vốn thay đổi liên tục và mang tính phi truyền thống.  Lộn trái quyền riêng tư: vấn đề điểm nhìn  “Lộn trái quyền riêng tư” thực chất là cách nói phúng dụ, là lời kêu gọi chuyển dịch điểm nhìn về bảo vệ quyền riêng tư từ việc lấy chủ thể làm trung tâm sang việc kiến tạo điều kiện xây dựng môi trường riêng tư. GS Cohen đề xuất, thay vì quan tâm đến ý chí của chủ thể, nhà làm luật cần tập trung xây dựng những quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật tối thiểu, đảm bảo sao cho cá nhân được hưởng những điều kiện cần thiết để giữ khoảng cách, nhận diện giới hạn với cộng đồng và tìm kiếm chính mình trong xã hội số. Vì tiếp cận cung tính phải gắn liền với sự tác động vào chất liệu thực tiễn (materiality), muốn thay đổi hoàn cảnh nơi quyền riêng tư được đảm bảo, phải thay đổi những điều kiện hữu hình lẫn vô hình liên quan đến hạ tầng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, thuật toán, giao diện, thiết kế, v.v. Những tiêu chí và điều kiện này phải phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội, và trạng huống rất cụ thể trong đó thông tin đang được dẫn truyền và thu thập.  Song từ lý thuyết đến thực thi luật pháp là cả một quãng đường dài; không hiếm khi, giữa lý thuyết và thực thi không đưa đến những kì vọng tương đương nhau. Thậm chí, cách tiếp cận cung tính có nguy cơ dẫn đến sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân dữ liệu. Vì thế, lộn trái quyền riêng tư phải đi liền với nhận thức đạo đức và sự nhận biết đối với các giá trị cơ bản của con người; điều này chỉ có thể đạt đến khi có sự nỗ lực và ý thức từ nhà làm luật, doanh nghiệp công nghệ số, nhân lực công nghệ và các chủ thể khác trong xã hội số. □  ——-  1 Bản dịch được dẫn theo Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, và Lã Khánh Tùng, Giáo Trình Lý Luận và Pháp Luật về Quyền Con Người (Tái bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – sự thật 2015), tr.178.  2  Samuel Warren & Louis Brandeis, The Right to Privacy, 4 HARV. L. REV. 193 (1890).   3 Alan F Westin, Privacy and Freedom (2nd edition, International Association of Privacy Professionals 2013). Xem thêm Daniel J Solove, The Digital Person: Technology and Privacy in the Information Age (NYU Press 2006).  4 Một khảo cứu công phu liên quan đến sự xung đột và tiếp biến tôn giáo, văn hóa trên cùng mảnh đất Việt Nam, xem Tạ Chí Đại Trường, Thần, Người và Đất Việt (NXB Tri Thức 2014).  5 FZ Borgesius, ‘Informed Consent: We Can Do Better to Defend Privacy’ (2015) 13 IEEE Security Privacy 103.  6 Solove (n 5); Daniel J Solove, ‘Privacy and Power: Computer Databases and Metaphors for Information Privacy’ (2000) 53 Stanford Law Review 1393 <https://heinonline.org/HOL/Page?handle=hein.journals/stflr53&id=1411&div=&collection=>; Paul M Schwartz, ‘Property, Privacy, and Personal Data’ (Social Science Research Network 2005) SSRN Scholarly Paper ID 721642 <https://papers.ssrn.com/abstract=721642> accessed 27 February 2021.\\uc0\\u8216{}Property, Privacy, and Personal Data\\uc0\\u8217{} (Social Science Research Network 2005  7 Julie E Cohen, ‘What Privacy Is For’ (2012) 126 Harvard Law Review 1904 <https://heinonline.org/HOL/Page?handle=hein.journals/hlr126&id=1934&div=&collection=>; Václav Janeček and Gianclaudio Malgieri, ‘Data Extra Commercium’ (Social Science Research Network 2019) SSRN Scholarly Paper ID 3400620 <https://papers.ssrn.com/abstract=3400620> accessed 16 October 2020.  8 Cảm giác kì lạ này một phần đến từ sự không hiểu biết của dân chúng phổ thông về công nghệ điện toán và những kĩ thuật ẩn sau nó, mặt khác, đến từ sự lạ lẫm của dân chúng đối với những nguyên lý vận hành mới mẻ và khác biệt của giao tiếp, trao đổi và kinh doanh trên mạng. Xem Helen Nissenbaum, ‘A Contextual Approach to Privacy Online’ (2011) 140 Daedalus 32 <https://www.jstor.org/stable/23046912> accessed 28 March 2021; xem thêm: Helen Nissenbaum, ‘Excerpt from A Contextual Approach to Privacy Online *’, Ethics of Data and Analytics (Auerbach Publications 2022).\\uc0\\u8216{}Excerpt from A Contextual Approach to Privacy Online *\\uc0\\u8217{}, {\\i{}Ethics of Data and Analytics} (Auerbach Publications 2022   9 Nissenbaum (n 12); Niels ten Oever, ‘“This Is Not How We Imagined It”: Technological Affordances, Economic Drivers, and the Internet Architecture Imaginary’ (2021) 23 New Media & Society 344 <http://journals.sagepub.com/doi/10.1177/1461444820929320> accessed 28 March 2021.”plainCitation”:”Nissenbaum (n 12  10 Julie E Cohen, Configuring the Networked Self: Law, Code, and the Play of Everyday Practice (Illustrated edition, Yale University Press 2012).  11 Tuomas Pöysti, ‘The IIoT and Design for Contextually Relevant Data Protection’ in Rosa Maria Ballardini and others (eds), Regulating Industrial Internet through IPR, data protection and competition law (Kluwer Law International BV 2019), trong bài này tác giả thậm chí dùng từ “lạm phát sự đồng ý” (consent-inflation).  12 James J. Gibson, The Ecological Approach to Visual Perception 127-37 (1979); Donald A. Norman, The Design of Everyday Things 9-11, 81-92 (1988).  13 Xem thêm Aurelia Tamò-Larrieux, Designing for Privacy and Its Legal Framework: Data Protection by Design and Default for the Internet of Things, vol 40 (Springer International Publishing 2018) <http://link.springer.com/10.1007/978-3-319-98624-1> truy cập ngày 13 tháng mười 2020.    Author                Huỳnh Thiên Tứ        
__label__tiasang Lòng giếng      I. Ông Tộ hỏi chuyện.  –  “Cụ Hinh này, tôi thấy có những người được may mắn, cũng đi Đông, cũng  đi Tây, có khi còn sống chán ở bên những xứ đó, mà khi về đến đây vẫn  suy nghĩ nói năng khùng nghê, như là chưa bao giờ lên khỏi giếng. Vậy là  cớ làm sao?”    – “Bác Tộ à, bác hỏi khó quá, vượt sức tôi ạ!”  – “Cụ Hinh không biết, tôi biết hỏi ai bây giờ?”  – “Tôi đoán thế này.  Ở đâu thì cũng có cái giếng. Mà nằm trong đó, thì tha hồ yên.  Còn lại là mỗi người có muốn chui ra khỏi giếng. Sau đó thì họ có đủ sức để chui ra được khỏi giếng không.”  II.  Ông Tộ mời tuần trà mới, đoạn hỏi Cụ Hinh.  – “Chán là gì ạ”?  – “Cái này, bác Tộ ạ, liệu có cần phải định nghĩa không?”  – “Nếu không, thì Cụ Hinh thấy chán là gì ạ?”  – “Tôi thì thấy thế này.  Hoặc là mình ở mãi trong giếng, không ra được.  Hoặc là người quen của mình ở mãi trong giếng, không chịu ra.”  III.  Cụ Hinh cảm ơn buổi trà của ông Tộ.  Ông Tộ quen giữ lễ, mang giấy bút ra mời Cụ Hinh họa mấy chữ lưu lại trước khi ra về.  Cụ Hinh vui lòng họa lại thế này.  “Giếng nọ,   Cố mà ra được,    đâu chuyện dễ.   Quyết chí không ra,    khó chi đâu?“    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lòng tin trong xã hội và vốn xã hội      Trong giới nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới hiện nay, khi nói tới “vốn xã hội”, người ta thường hiểu là bao gồm những nét sau đây trong đời sống xã hội: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực xã hội (social norms), và lòng tin trong xã hội (social trust) – vốn là những cái được coi là giúp cho các thành viên có thể hợp tác làm việc chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung – theo định nghĩa của James Coleman và Robert Putnam.1 Trong bài này, chúng tôi sẽ tập trung vào việc tìm hiểu khái niệm lòng tin (hay sự tin cậy), vấn đề lòng tin ở Việt Nam hiện nay, và những hệ luận của nó đối với vốn xã hội ở Việt Nam.    Khái niệm lòng tin  Ở đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “lòng tin” không phải theo nghĩa niềm tin tôn giáo, mà theo nghĩa lòng tin giữa con người với nhau trong cuộc sống xã hội. Trong tiếng Việt, còn có nhiều từ khác diễn đạt hiện tượng này như: tin cậy, tin cẩn, hay tin tưởng. Mặc dù thuật ngữ “trust” trong tiếng Anh hay “confiance” trong tiếng Pháp thường được dịch là “sự tin cậy”, nhưng chúng tôi cho rằng chữ “lòng tin” trong tiếng Việt diễn tả sát hơn và sâu hơn thực tại này.  Trong nhãn giới xã hội học, lòng tin (hay sự tin cậy) vào người khác là một hiện tượng xã hội-tâm lý-văn hóa tổng hợp, và tâm thế này được coi là một trong những điều kiện căn bản để có thể duy trì đời sống tập thể. Người ta không thể sống được với nhau nếu không tin nhau. Theo từ điển Oxford thì “trust” (tin cậy) là tin rằng người nào đó hay cái gì đó là tốt, thành thật, tử tế… và người đó hay cái gì đó sẽ không làm hại mình hay đánh lừa mình. Nhà xã hội học người Anh Anthony Giddens viết như sau: “Có thể nói sự tin cậy là một phương tiện làm ổn định các mối quan hệ tương tác [giữa con người với nhau]. Có thể tin cậy vào một người khác là có thể tin rằng người này sẽ có một loạt những phản ứng mà mình mong đợi”.2  Gia đình và cộng đồng là những tập thể mà người ta thường coi là điển hình cho mối quan hệ tin cậy giữa con người với nhau. Hai khái niệm bạn và thù tiêu biểu cho sự đối lập giữa thái độ tin cậy và thái độ ngờ vực.3 Cuộc sống xã hội không thể ổn định và bền vững nếu mỗi cá nhân chỉ hành xử theo những tính toán thuần túy dựa trên lợi ích cá nhân.4 Trong phạm vi một tổ chức hay phạm vi xã hội nói chung, người ta không thể quản lý một cách có hiệu quả bằng sự hoài nghi và lại càng không thể bằng sự sợ hãi, mà trước hết phải bằng lòng tin vào người khác, nhất là trong môi trường xã hội hiện đại.5 Ngay cả trong lĩnh vực kinh doanh, người ta cũng phải dựa trên sự tin cậy để giao dịch làm ăn, buôn bán với nhau. Emile Durkheim từng nói một câu nổi tiếng: “Trong một hợp đồng, không phải cái gì cũng mang tính chất hợp đồng”.6 Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây, theo chúng tôi, là như sau: nguồn gốc của sự tin cậy trong xã hội không phải xuất phát từ lòng tốt hay từ thiện ý chủ quan của từng cá nhân, mà là xuất phát chủ yếu từ các định chế xã hội. Nói cách khác, sự tin cậy tồn tại trên nền tảng của các qui ước và các chuẩn mực xã hội trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định. Trong xã hội cổ truyền, người ta tin nhau vì cùng là thành viên của một định chế xã hội nào đó, như làng xã, dòng tộc hay cộng đồng tôn giáo. Mỗi thành viên yên tâm rằng các thành viên khác (trong cùng một cộng đồng) sẽ cư xử với mình phù hợp với những qui tắc và chuẩn mực mà cả cộng đồng cùng chia sẻ. Phạm vi bán kính của sự tin cậy này nói chung là hẹp, đóng kín; các mối liên hệ xã hội thường là trực tiếp và diện đối diện (face to face). Trong xã hội hiện đại, ngoài những mối liên hệ trực tiếp trong gia đình hay giữa bạn bè thân thiết với nhau, người ta còn có những mối liên hệ giao tiếp rộng rãi hơn ngoài xã hội, và trong nhiều trường hợp còn mang tính chất vô danh tính hoặc nặc danh. Những định chế mang tính chất trung giới (mediation) giữa cá nhân với xã hội không còn là những định chế cổ truyền (như làng xã hay dòng tộc), mà là những định chế xã hội đa dạng của xã hội hiện đại (trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội). Ngoài phạm vi gia đình và những nhóm xã hội nhỏ, cơ sở xã hội của sự tin cậy giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội lúc này phần lớn không còn dựa trên phong tục và tình cảm như trong xã hội cổ truyền, mà dựa trên luật pháp và lý tính.     Sự tin cậy trong giao thông  Lấy thí dụ một trong những sinh hoạt sơ đẳng nhất của xã hội đô thị hiện đại, đó là việc đi lại trên đường phố. Sở dĩ tôi yên tâm chạy xe vượt qua ngã tư khi thấy đèn xanh là vì tôi tin tưởng rằng những người khác phải dừng lại khi thấy đèn đỏ ở giao lộ. Người ta khó lòng mà thiết lập được một trật tự giao thông an toàn và bình thường nếu không có sự tin cậy tối thiểu này. Cơ sở của sự tin cậy này không là gì khác ngoài định chế giao thông đô thị, chứ không phải nằm trong ý thức chủ quan của từng cá nhân. Nói cách khác, sở dĩ người ta có thể tin tưởng lẫn nhau (một cách mặc nhiên) khi đi đường chính là nhờ vào một định chế xã hội (bao gồm luật giao thông, cảnh sát giao thông, hệ thống tín hiệu… và nhất là các biện pháp xử phạt khi vi phạm để đảm bảo cho các qui tắc giao thông được mọi người tôn trọng). Nếu định chế xã hội này bị trục trặc hay lỏng lẻo, chẳng hạn nếu người ta có thể vượt đèn đỏ thoải mái mà không bị phạt như tình hình phổ biến hiện nay, thì hậu quả tất yếu của tình trạng này là phá vỡ sự tin cậy nói trên: ai cũng mắt trước mắt sau mỗi khi đến ngã tư, và lúc nào cũng phải thấp thỏm đề phòng dù mình đang gặp đèn xanh. Trong thực tế, người vi phạm cứ việc giành đường và chạy ẩu mà không bị thổi còi, trong khi người đi đúng luật lại bị phiền nhiễu và có khi gặp vạ (đến đèn đỏ mà dừng lại có khi bị chửi, hoặc bị xe sau tông vào mình!). Nhiều người cho rằng chuyện giao thông chỉ là chuyện nhỏ, chẳng có gì phải bận tâm cho lắm. Nhưng theo chúng tôi, xét về mặt tâm lý xã hội, tình hình chạy xe vô kỷ luật hiện nay có thể dẫn tới những hệ quả sâu xa và nghiêm trọng hơn là chuyện an toàn và tai nạn giao thông: (a) lòng tin vào người khác dần dà bị xói mòn, gia tăng tâm lý hoài nghi và bất an mỗi khi bước chân ra đường phố; (b) người ta không còn tin vào sự nghiêm minh của luật pháp; và (c) người ta có thể rút ra những kết luận như vi phạm thì không sao cả, làm đúng luật là khờ dại, và tai hại hơn hết là làm điều càn thì có lợi hơn là làm điều ngay!7  Mối quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác luôn diễn ra trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định và luôn tuân theo các qui tắc và chuẩn mực của những định chế này. Vì thế, lòng tin giữa các cá nhân với nhau hẳn nhiên là hệ quả của những đặc trưng của những định chế này, và phụ thuộc vào sự cảm nhận của các cá nhân đối với những định chế ấy.8     Chữ “tín” trong kinh doanh  Một thí dụ khác về sự tin cậy trong xã hội là chữ “tín” trong kinh doanh. Lâu nay nhiều người thường hay nhắc đến chữ “tín” như là một đặc điểm trong truyền thống kinh doanh của người Hoa. Thế nhưng trong thế giới kinh doanh ở các nước tư bản công nghiệp, người ta cũng đề cao giá trị của chữ “tín”. Vậy hai chữ “tín” này có gì khác nhau hay không? Theo chúng tôi, ít ra có một điểm khác biệt rất căn bản.  Trong khuôn khổ xã hội truyền thống, chữ “tín” trong kinh doanh thường được đặt nền tảng trên tập quán, phong tục, và tình cảm. Trong những vụ buôn bán nhỏ, nhà kinh doanh truyền thống có thể bán chịu cho những khách hàng dù chưa quen biết. Nhưng chữ “tín” này không phải hoàn toàn vô điều kiện, bởi lẽ với những vụ làm ăn lớn, họ chỉ xác lập niềm tin vào một đối tác nào đó sau quá trình trải nghiệm trực tiếp, và thường dựa trên những mạng lưới xã hội thân thuộc như đồng tộc, đồng hương… để mở rộng các quan hệ giao dịch làm ăn.  Trong khi đó, trong xã hội hiện đại, chữ “tín” trong hoạt động kinh doanh mặc dù cũng thường kinh qua trải nghiệm nhưng lại được xác lập chủ yếu dựa trên nền tảng luật pháp và lý tính. Chính những nền tảng này làm cho các mối quan hệ giao dịch có thể khuếch trương mạnh hơn nhiều so với kinh doanh cổ truyền. Nhà kinh doanh có thể yên tâm ký kết hợp đồng với một nhà sản xuất nào đó ở một quốc gia khác cách xa hàng ngàn cây số, dù có thể chưa quen biết thân thiết, vì tin rằng nếu nhà sản xuất này không tôn trọng hợp đồng thì sẽ có thể viện đến sự can thiệp của luật pháp – nhờ những thỏa thuận về tư pháp đã ký kết giữa hai quốc gia. Trong trường hợp này, sự tin cậy đã có sẵn một khuôn khổ pháp lý để được bảo vệ.  Ở Việt Nam trong thời quan liêu bao cấp trước đây, vào cửa hàng mậu dịch quốc doanh, khách hàng chỉ được phép nhìn các kệ hàng từ xa và nếu muốn mua thì phải nhờ cô nhân viên lấy ra. Ở cửa hàng ăn uống quốc doanh thời ấy, ai cũng phải trả tiền trước khi ăn, chứ không như quán hủ tiếu hay tiệm phở tư nhân không bao giờ dám tính tiền trước khi người khách gọi tính tiền. Sở dĩ như vậy là do cửa hàng quốc doanh thời ấy không tin vào khách hàng, không tin là người ta sẽ trả tiền sau khi ăn xong tô phở, sợ rằng nếu để khách hàng tự tiện vào tận kệ hàng thì họ sẽ bỏ túi luôn món đồ nào đó.9  Ngày nay, may mắn là tình hình ấy không còn nữa trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại. Tuy nhiên, trong phần lớn các lĩnh vực xã hội khác, vẫn còn tồn tại với mức độ đậm nhạt khác nhau những di chứng của chế độ quản lý tập trung quan liêu xuất phát từ một mô hình chủ nghĩa xã hội sùng bái nhà nước. Trong đó, theo chúng tôi, có hai xu hướng nổi bật cần bàn đến liên quan đến mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, hay nói cụ thể hơn là liên quan đến mối quan hệ tin cậy giữa nhà nước và xã hội, đó là xu hướng nhà nước hóa (xét về mặt tổ chức đời sống xã hội), và xu hướng chính trị hóa (xét về mặt tư duy quản lý xã hội).     Xu hướng nhà nước hóa  Trong thời kỳ đổi mới, nhà nước đã công nhận quyền tự do kinh doanh và nhìn nhận sự tồn tại chính đáng và cần thiết của các doanh nghiệp tư nhân, cũng như đã giải thể các hợp tác xã và tập đoàn để trao trả lại ruộng đất cho nông dân – thoát ra khỏi một quan niệm duy ý chí và máy móc cho rằng cái gì cũng phải thuộc về quốc doanh và tập thể, cái gì cũng phải do nhà nước trực tiếp “quản lý”. Thế nhưng sự thay đổi theo chiều hướng nhìn nhận và khuyến khích các sáng kiến cá nhân và tính năng động cá nhân chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế (mà thực ra quá trình cải tổ này cũng chưa phải đã hoàn tất). Còn trong lĩnh vực xã hội, xu hướng nhà nước hóa vẫn còn rất nặng và chưa thực sự chuyển biến bao nhiêu. Chẳng hạn, mặc dù đã có chủ trương “xã hội hóa” các lĩnh vực giáo dục, y tế, thể thao… (theo nghĩa là mở rộng cửa cho sự tham gia và sự đầu tư của khu vực tư nhân), nhưng thực tế cho thấy chưa có được bao nhiêu cơ sở mới của tư nhân10 dù rằng nhu cầu phát triển còn rất lớn, và vẫn còn vô vàn những rào cản từ chính các cơ quan nhà nước, làm nản lòng những ai có thiện chí muốn bỏ vốn tham gia vào những lĩnh vực này. Cuộc thảo luận gần đây về bản dự thảo luật về hội cũng cho thấy tư duy “nhà nước hóa” vẫn còn nguyên vẹn khi nhiều người đòi hỏi các hội phải có cơ quan “chủ quản”.11 Cho đến nay, người dân bình thường không dễ gì mà lập được một hội đoàn theo sáng kiến và thiện chí của mình, trong khi đó, ai cũng biết là phần lớn hoạt động của các đoàn thể xã hội chính thức đều bị rơi vào tình trạng xơ cứng và hành chính hóa. Chính vì xu hướng “nhà nước hóa” này, nghĩa là cái gì Đảng và nhà nước cũng muốn nắm lấy, cái gì cũng phải trực tiếp “quản chặt”, nên xã hội dân sự nói chung ở Việt Nam vẫn còn ở tình trạng hết sức phôi thai – và ngay bản thân thuật ngữ “xã hội dân sự” cũng chưa được giới lãnh đạo hiểu một cách đầy đủ và chấp nhận.     Xu hướng chính trị hóa  Nếu xu hướng nhà nước hóa nói trên tồn tại chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức đời sống xã hội, thì trong lĩnh vực tư duy quản lý xã hội, một xu hướng khác không kém phần phổ biến và thống soái là xu hướng chính trị hóa. Có lẽ do bị ảnh hưởng sâu xa bởi lối tư duy và phản xạ thời chiến tranh, nên có thể nói phần lớn các nhà lãnh đạo có xu hướng qui mọi thứ về “chính trị”, quan niệm rằng cái gì cũng phải được xem xét dưới quan điểm chính trị, mặc dù có nhiều cái hoàn toàn không thuộc về lĩnh vực chính trị.  Có thể kể ra rất nhiều thí dụ biểu hiện cho xu hướng này. Cách đây không lâu, nhà kinh doanh không được nhìn dưới góc độ kinh tế, mà luôn luôn bị xem xét dưới quan điểm kinh tế chính trị học và quan điểm đấu tranh giai cấp (điều này từng dẫn tới những cuộc cải tạo công thương nghiệp vào cuối thập niên 1970). Các đoàn thể xã hội cho đến nay vẫn chủ yếu mang sắc thái của các “tổ chức chính trị-xã hội”, nên hoạt động thường khô khan, xơ cứng mà không chú trọng đến những nhu cầu bình thường và thiết thân của các hội viên.  Trong lĩnh vực nhân sự, việc tuyển dụng và đề bạt được thực hiện căn cứ trên lý lịch, mà chủ yếu là lý lịch chính trị của gia đình, chứ không phải dựa trên năng lực và phẩm chất của bản thân (mặc dù trong nhiều trường hợp, đây chỉ là cái cớ để đưa con em thân thuộc vào). Trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học, ngay cả môn triết học cũng không được giảng dạy như một bộ môn khoa học thực thụ và độc lập, mà thường được trình bày và diễn giải một cách máy móc theo quan điểm chính trị.12 Có lần nhà triết học Trần Đức Thảo nói với cố thủ tướng Phạm Văn Đồng như sau: “Tạp chí Triết học của Việt Nam toàn là chính trị, chẳng có chút triết học nào trong đó cả.” Và “thủ tướng cũng phải công nhận điều đó”, theo lời kể của ông Việt Phương, người từng làm trợ lý cho cố thủ tướng.13 Ở nhà trường, bất cứ sinh viên nào cũng buộc phải học môn chủ nghĩa Mác-Lênin, cho dù ngành học chính của họ không liên quan gì tới môn này. Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, xu hướng quản lý và đánh giá nặng về chính trị diễn ra cũng tương tự như vậy (điển hình gần đây nhất là vụ “kiểm điểm” nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau). Thậm chí ngay cả lứa tuổi thiếu nhi cũng thường được dạy dỗ trong đoàn thể và ở nhà trường nặng về chính trị hơn là về đạo đức làm người hay về luân lý gia đình…     Hệ quả xã hội  Trong khuôn khổ của những định chế đã bị nhà nước hóa và chính trị hóa, vị thế và giá trị của cá nhân được xét đoán chủ yếu dựa trên những tiêu chuẩn “chính trị” (như có lý lịch tốt, thuộc gia đình công nông, gia đình cách mạng, bản thân là đảng viên hay đoàn viên…), và dựa trên những chuẩn mực chủ yếu phô diễn ở bên ngoài (như lập thành tích, đạt danh hiệu thi đua…) chứ không dựa trên những chuẩn mực xuất phát từ bên trong (tức là những chuẩn mực đạo lý nhân văn thường đã ăn sâu trong nội tâm mỗi người) và đồng thời cũng không chú trọng đủ đến những phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức và lương tâm nghề nghiệp.  Não trạng coi trọng chính trị hơn là đạo đức làm cho người ta có xu hướng quan tâm tới mục đích hơn là phương tiện, coi trọng thành tích hơn là coi trọng nỗ lực, phương pháp và con đường đạt tới mục tiêu ấy – điều này vô hình trung dẫn tới một thứ tâm lý thực dụng (hiểu theo nghĩa tiêu cực).14 Điều này càng được củng cố khi mà trong một thời gian dài người ta hoài nghi và bài xích các giá trị tín ngưỡng và tôn giáo. Chính vì thứ tâm lý thực dụng ấy mà nhiều người không còn cảm thấy ngại ngần, hối hận (hay “bị đứt dây xấu hổ”, như có người từng nói) khi giành được một cái ghế, một danh hiệu hay một mảnh bằng nhờ chạy chọt và hối lộ.  Mặt khác, cũng còn phải nhắc tới não trạng coi trọng chính trị hơn là pháp luật (cho rằng vì “chính trị” là lĩnh vực thống soái nên nó cao hơn và có thể vượt lên trên pháp luật), vốn là lối suy nghĩ có thể dẫn tới những kiểu hành xử võ đoán, vô nguyên tắc và bất chấp luật pháp của một số người đang giữ quyền lực (trong nhiều trường hợp, người ta “nhân danh” quan niệm này như một chiêu bài để tìm cách khỏa lấp những quyết định phi dân chủ hoặc kể cả những vụ tham ô, nhũng lạm).  Chính cái môi trường trong đó hệ thống các giá trị và các chuẩn mực xã hội đã bị lộn ngược (quan tâm tới những chuẩn mực ngoại tại hơn là những giá trị xuất phát từ nội tâm, thiên về “phong trào” hơn là chiều sâu, nặng về chính trị hơn là đạo đức, coi trọng “ý thức chính trị” và “quan điểm chính trị” hơn là ý thức luật pháp và lương tâm nghề nghiệp…), là nguyên nhân xã hội và cơ sở xã hội sâu xa của tình trạng suy thoái về đạo đức và nhân cách, làm phát sinh ra các thứ bệnh mà trước đây không có hoặc nếu có cũng không đến mức nghiêm trọng như bây giờ, như bệnh thành tích, bệnh gian dối, sống hai mặt, đầu óc thực dụng, bệnh chạy chọt, bệnh tham nhũng…15     Lòng tin trong xã hội và vốn xã hội  Theo giả thuyết của chúng tôi, có hai nguyên nhân dẫn tới hai xu hướng hay nói đúng hơn là hai căn bệnh nhà nước hóa và chính trị hóa nói trên. Thứ nhất, đó là do ảnh hưởng sâu xa trong tiềm thức bởi não trạng nặng tính phong kiến cho rằng nhà nước và những người lãnh đạo là “dân chi phụ mẫu” (cha mẹ của dân), là “cán bộ”, là “quan chức”, nghĩa là thuộc về một tầng lớp đứng bên trên người dân và có quyền nghĩ thay cho người dân. Thứ hai (và phần nào cũng là hệ luận của nguyên nhân thứ nhất), đó là não trạng độc quyền chân lý, không chấp nhận những ai nói khác với mình, cho rằng mình có quyền ban hành và áp đặt các quyết sách mà không cần hỏi ý kiến của người dân. Dù có biện minh thế nào và nhân danh cái gì đi nữa thì hai não trạng này thực chất phản ánh thái độ xem thường và không tin vào người dân16, không tin vào trí tuệ cũng như sự lương thiện của họ, thực chất là xa rời người dân và trong thực tế người ta thường sử dụng những nguyên tắc giáo điều để biện hộ cho hai não trạng trên. Nói cách khác, đấy cũng là lối suy nghĩ đi ngược lại với tư tưởng dân chủ và công bằng.  Có lẽ chính những não trạng ấy mới là lý do sâu xa giải thích cho câu chuyện, chẳng hạn, tại sao lâu nay không sử dụng và phát huy được những người có năng lực (chứ không hẳn do những vấn đề thuộc về chính sách). Và cũng chính vì vậy mà một trong những nội dung trọng yếu nhất trong quá trình cải cách tư duy luật pháp, đó là chuyển từ lối tư duy “người dân chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép” sang lối tư duy “người dân được quyền làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm”, vẫn còn là chuyện trầy trật và đầy khó khăn.  Sống trong bối cảnh những định chế đã bị nhà nước hóa và chính trị hóa vốn được quản lý và vận hành không dựa trên cơ sở của niềm tin vào con người, các cá nhân khó lòng mà thiết lập được những mối quan hệ tin cậy bình thường và lành mạnh giữa các cá nhân với nhau, khó lòng mở rộng các mạng lưới xã hội trong xã hội dân sự (chẳng hạn muốn lập hội rất khó, trong khi đó, ngược lại, quan hệ xã hội theo kiểu nhờ vả, xin xỏ, chạy chọt… lại có chiều hướng lan rộng!), và do đó cũng khó lòng thiết lập được quan hệ hợp tác tự nguyện giữa các cá nhân với nhau.17 Tình trạng “khủng hoảng niềm tin” mà một số ý kiến lâu nay có nhắc tới, theo chúng tôi, phản ánh một thực tại đáng báo động, đó không chỉ là tình trạng mất lòng tin vào các định chế nhà nước, mà còn là mất lòng tin vào người khác nói chung, và nghiêm trọng hơn là mất cả sự tự tin vào chính mình. Tình trạng mất lòng tin này cũng là một trong những dấu hiệu bộc lộ sự tha hóa của con người, “tha hóa” hiểu theo ý nghĩa triết học – nhưng đây lại là một chủ đề khác mà chúng tôi không đi sâu ở đây.  Như vậy, đề cập tới lòng tin hay sự tin cậy xét như là một kích thước quan trọng của vốn xã hội, chúng ta có thể nhận thấy rằng muốn hiểu vốn xã hội ở Việt Nam thì không thể không khảo sát diện mạo và đặc điểm của các định chế trong xã hội. Lòng tin giữa các cá nhân với nhau trong xã hội không phải là chuyện mang tính chất cá nhân, hay chỉ phụ thuộc vào các cá nhân, mà là hệ quả của các chuẩn mực đang ngự trị trong các định chế xã hội, cũng như nói rộng ra là hệ quả của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội.  Trong một bài viết gần đây, tác giả Nguyễn An Nguyên cho rằng trong công cuộc đổi mới hiện nay, “cần một nền tảng lý luận mới về nhà nước trong tương quan với xã hội”, bởi lẽ theo ông, “toàn bộ cuộc tranh luận 20 năm về pháp quyền có thể tóm gọn bằng một câu hỏi cốt tử: có đối trọng và chế ước quyền lực, trên nền tảng coi hiến pháp là tối cao hay không?”18  Theo chúng tôi, để có thể vượt qua tình trạng khủng hoảng trong mô hình tổ chức đời sống xã hội vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi xu hướng nhà nước hóa và chính trị hóa như chúng tôi đã trình bày, thì không có câu trả lời nào khác ngoài con đường xây dựng một nền dân chủ đặt nền tảng trên nhà nước pháp quyền, và tạo điều kiện thuận lợi để hình thành một xã hội dân sự lành mạnh.19 Cuối cùng là một nhận xét về mặt phương pháp luận nghiên cứu về vốn xã hội. Sau những phân tích và nhận định trên đây về lòng tin trong xã hội ở Việt Nam, điều rút ra ở đây là chúng ta không thể hiểu được vốn xã hội nếu không xem xét nó dưới kích thước văn hóa cũng như kích thước định chế xã hội. Chúng ta không thể nói một cách đơn giản rằng vốn xã hội ở Việt Nam hiện nay nhiều hay ít, mạnh hay yếu – nghĩa là khó lòng mà định lượng hóa được vốn xã hội, và do đó hiển nhiên là không thể chỉ sử dụng một hệ thống những chỉ tiêu khảo sát về vốn xã hội thường được các nhà nghiên cứu áp dụng chung ở các nước trên thế giới để có thể hiểu được và lý giải được vốn xã hội ở một quốc gia. Cách tiếp cận phù hợp và cần thiết đối với chủ đề này phải chủ yếu mang tính chất định tính, ít ra bao gồm lối tiếp cận văn hóa và lối tiếp cận định chế.  TPHCM, ngày 11-6-2006 T.H.Q.  ———–  1 James Coleman, Foundations of Social Theory, Cambridge (Massachusetts), Harvard University Press, 1990. Robert Putnam, “Bowling alone : America‘s declining social capital”, Journal of Democracy, số 6 (1), tháng 1-1995, trang 67.  2 “Trust, it might be said, is a device for stabilizing interaction. To be able to trust another person is to be able to rely upon that person to produce a range of anticipated responses.”  (Anthony Giddens, Social Theory and Modern Sociology, Stanford, Stanford University Press, 1996, trang 136).  3 Xem André Akoun, Pierre Ansart (dir.), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert, Seuil, 1999, trang 101.  4 Xem Gordon Marshall (Ed.), A Dictionary of Sociology, Oxford, Oxford University Press, 1998, trang 674.  5 Xem thêm bài của Trần Hữu Quang, “Lòng tin trong quản lý”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 26-12-2002, trang 36-37.  6 “Tout n’est pas contractuel dans le contrat.” (Emile Durkheim, De la division du travail social, 1893).  7 Lâu nay, nhiều người thường lý giải nguyên nhân của tình trạng vượt đèn đỏ, chạy ngược chiều… ở TPHCM là do ý thức tự giác của người dân còn kém. Nói như vậy chỉ đúng ở phần ngọn : nguyên nhân chính của tình trạng này nằm nơi bản thân định chế giao thông (bộ máy cảnh sát giao thông, tính nghiêm minh của các biện pháp xử phạt…). Người ta chỉ có thể giải thích một hiện tượng xã hội này bằng những hiện tượng xã hội khác, chứ không thể qui kết cho ý thức cá nhân. Tuyên truyền, giáo dục về luật giao thông dĩ nhiên là điều cần thiết và phải làm, nhưng hoàn toàn không đủ để tái lập trật tự giao thông. Vấn đề then chốt ở đây là cải tổ lại bộ máy quản lý giao thông, và thiết lập lại trật tự giao thông bằng các biện pháp xử phạt cứng rắn. Tập quán và ý thức chấp hành luật giao thông chỉ có thể hình thành trên cơ sở của một định chế giao thông vững mạnh và nghiêm minh, chứ không phải trên cơ sở của những đợt tuyên truyền, giáo dục. Ngay như ở Mỹ chẳng hạn, là nơi thường được coi là người dân có ý thức tự giác kỷ luật cao, trên một số xa lộ, cảnh sát thỉnh thoảng vẫn phải đặt những hình nộm cảnh sát bằng gỗ để nhắc nhở và răn đe những tài xế nào có ý định vi phạm luật.  8 Xem Olivier Galland, “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, no. 277, juillet-aout 2002, trang 20.  9 Xem Trần Hữu Quang, bài đã dẫn.  10 Theo số liệu thống kê, ở TPHCM trong năm học 2004-2005, số học sinh ở các trường dân lập và tư thục chỉ chiếm 1,62 % trong tổng số học sinh ở cấp I, 1,87 % ở cấp II, và 7,89 % ở cấp III (xem Cục Thống kê TPHCM, Niên giám thống kê 2004, TPHCM, trang 229). Hiện nay trên cả nước mới có 50 bệnh viện tư nhân, với số giường chỉ chiếm gần 3 % tổng số giường bệnh của cả nước (xem Người lao động, 9-6-2006, trang 12).  11 Xem bài phỏng vấn của Phan Lợi, “Góp ý cho dự án luật về hội, PGS-TS Hồ Uy Liêm: Không phải việc gì nhà nước cũng ‘ôm’!”, Pháp luật TPHCM, 17-10-2005, trang 3. Các bài tường thuật của Phan Lợi, “Các nhà khoa học đề xuất một dự luật mới!”, Pháp luật TPHCM, 26-12-2005, trang 3, và của Công Thắng và Cao Cương, “Vẫn nhà nước hóa, hành chính hóa”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 6-4-2006, trang 45-47. Mai Anh, Phan Mai, “Quốc hội thảo luận Luật về hội: Hội phải là tổ chức tự nguyện, tự quản”, Pháp luật TPHCM, 12-6-2006, trang 3.  12 “Nếu xem chủ nghĩa Mác-Lênin là một khoa học thì phải đối xử với nó như một môn khoa học. Một khi khoa học bị chính trị hóa và đi kèm với nó là thói quy chụp, cấm đoán những ý kiến khác biệt thì tính chất khoa học sẽ bị lệch lạc và dễ trở thành thành lũy vững chắc của những gì là xơ cứng, giáo điều.” (Trần Thượng Tuấn, “Hãy tin dân”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 23-2-2006, trang 14).  13 Xem bài phỏng vấn ông Việt Phương của phóng viên Thu Hà, “Thủ tướng giữ bản thảo cho nhà triết học”, Tuổi trẻ, 4-6-2006, trang 10.  14 Con người chúng ta thường dễ ngả từ cực đoan này sang cực đoan khác : chẳng hạn, tại sao gần đây nhiều người lại đề cao khẩu hiệu “làm giàu” như một lý tưởng sống, trong khi đáng lý cái cần đề cao hơn là học giỏi, kinh doanh giỏi, hay giỏi nghề chẳng hạn mà hệ quả của chúng mới là trở nên giàu có ?  15 “Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của nhà nước. Không tham nhũng mới là lạ ! Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Mọi người nhận lương đó, nhưng mà có ai sống bằng lương đâu ! Nói dối hằng ngày nên thành thói quen. Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành ‘đạo đức’, mà cái ‘đạo đức’ đó là rất mất đạo đức. Đấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.” (Bài phỏng vấn ông Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, của Xuân Toàn, “Cơ chế này sinh ra nói dối hằng ngày”, Thanh niên, 20-5-2006).  16 Có thể xem thêm bài của Trần Thượng Tuấn, “Hãy tin dân”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 23-2-2006, trang 14, Phạm Ngọc Phúc, “Tin ai ?” (mục ý kiến độc giả), Người lao động, 8-6-2006, trang 11.  17 Tình hình tương tự cũng đã được ghi nhận tại nước Nga, trong một cuộc điều tra đối chiếu về vốn xã hội giữa hai nước Nga và Đan Mạch (xem Lene Hjollund, Martin Paldam, Gert Tinggaard Svendsen, “Social capital in Russia and Denmark : A comparative study”, 2001, www.gov.si/zmar/ conference/2001/pdf-konf/17-paldam.pdf).  18 Nguyễn An Nguyên, “Tư tưởng phát triển của dân tộc”, Tuổi trẻ cuối tuần, 16-4-2006, trang 9.  19 Khi bàn luận về việc làm sao xây dựng lại vốn xã hội ở Nga nói riêng và ở các nước Đông Âu nói chung sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội theo kiểu cũ sụp đổ, Robert Putnam từng cho rằng phải mất hàng thế kỷ, nhưng cũng có một số tác giả khác cho rằng chỉ cần vài chục năm (xem Lene Hjollund, Martin Paldam, Gert Tinggaard Svendsen, bài đã dẫn).     Tài liệu tham khảo  1. GALLAND Olivier, “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, no. 277, juillet-aout 2002, trang 15-39.  2. GIDDENS Anthony, Social Theory and Modern Sociology, Stanford, Stanford University Press, 1996.  3. FUKUYAMA Francis, “Social capital and civil society”, IMF Working paper WP/2000/74.  4. HJOLLUND Lene, PALDAM Martin, SVENDSEN Gert Tinggaard, “Social capital in Russia and Denmark: A comparative study”, 2001 (www.gov.si/zmar/ conference/2001/pdf-konf/17-paldam.pdf).  5. NGUYỄN An Nguyên, “Tư tưởng phát triển của dân tộc”, Tuổi trẻ cuối tuần, 16-4-2006, trang 4-5, và 9.  6. NGUYỄN Ngọc Bích, “Vốn xã hội và phát triển”, bài viết tháng 4-2006 (chưa đăng báo).  7. OMORI Takashi, “L’équilibre entre la croissance économique et le bien-être : Les implications de l’expérience japonaise”, ISUMA, Canadian Journal of Policy Research, Volume 2, No. 1, Spring 2001, trang 99-106.  8. PUTNAM Robert, “Bowling alone : America‘s declining social capital”, Journal of Democracy, số 6 (1), tháng 1-1995, trang 65-78.   9. TRẦN Hữu Dũng, “Vốn xã hội và kinh tế”, tạp chí Thời đại, số 8, tháng 7-2003, trang 82-102.  10. TRẦN Hữu Quang, “Lòng tin trong quản lý”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 26-12-2002, trang 36-37.  Trần Hữu Quang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lựa chọn công nghệ cho nhà máy điện hạt nhân của VN      Để thực hiện được mục ti&#234;u đưa tổ m&#225;y điện hạt nh&#226;n đầu ti&#234;n của Việt Nam v&#224;o vận h&#224;nh thương mại trong năm 2020, với thời gian rất ngắn – 12 năm, ch&#250;ng ta phải thực hiện một khối lượng c&#244;ng việc rất lớn, phức tạp, trong đ&#243; điều hết sức quan trọng v&#224; c&#243; &#253; nghĩa quyết định cho sự ph&#225;t triển điện hạt nh&#226;n (ĐHN) của Việt Nam l&#224; ch&#250;ng ta phải sớm lựa chọn đ&#250;ng đắn loại c&#244;ng nghệ ĐHN n&#224;o ph&#249; hợp với Chiến lược ph&#225;t triển Năng lượng hạt nh&#226;n, với tr&#236;nh độ KH&amp;CN, đội ngũ chuy&#234;n gia về ĐHN, nền c&#244;ng nghiệp v&#224; khả năng t&#224;i ch&#237;nh c&#242;n rất hạn chế của đất nước. V&#236; theo kinh nghiệm của c&#225;c nước nhập khẩu c&#244;ng nghệ ĐHN rất th&#224;nh c&#244;ng trong qu&#225; tr&#236;nh nội địa h&#243;a, tiến tới tự chủ c&#244;ng nghệ ĐHN như Ph&#225;p, Nhật Bản, Trung Quốc, H&#224;n Quốc&#8230; cũng như của c&#225;c nước chưa th&#224;nh c&#244;ng như Bulgaria, Cộng h&#242;a S&#233;c, Hungary&#8230; việc lựa chọn loại c&#244;ng nghệ cũng như x&#225;c định sẽ ph&#225;t triển một hay nhiều loại c&#244;ng nghệ đ&#250;ng ngay từ đầu sẽ r&#250;t ngắn được thời gian nội địa h&#243;a v&#224; tự chủ c&#244;ng nghệ, cũng như giảm chi ph&#237; do đầu tư sai.    Hiện nay, công nghệ lò phản ứng phát triển rất phong phú, đa dạng và hướng tới mục tiêu tăng tính kinh tế, nâng cao độ an toàn và giải quyết vấn đề bã thải hoạt độ cao sống dài ngày và rất khó có thể đánh giá ưu thế tuyệt đối của công nghệ loại lò này so với công nghệ lò khác, nhưng xu thế chung của các nước phát triển ĐHN trên thế giới là sử dụng các loại lò cải tiến thế hệ III, thế hệ III+ (các lò thế hệ IV mặc dù có ưu điểm vượt trội nhưng do cỡ công suất hạn chế và chưa được cấp phép cũng như chưa được kiểm chứng nên chưa quốc gia nào sử dụng). Còn công nghệ lò thế hệ II chỉ ở hầu hết các dự án đang được xây dựng dở hoặc đã đặt hàng từ trước. Trong các cuộc hội thảo gần đây về dự án phát triển ĐHN của Việt Nam, phần lớn các chuyên gia, nhà khoa học và nhà tư vấn nước ngoài cho rằng, Việt Nam cần chọn công nghệ lò thế hệ III hoặc III+ ngay từ tổ máy ĐHN đầu tiên. Như vậy việc vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng các nhà máy ĐHN cùng loại công nghệ có thể phối hợp, hỗ trợ cho nhau, giảm được nhiều thời gian và chi phí. Việc hai công ty Toshiba và Hitachi, mặc dù là đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực ĐHN nhưng cùng phát triển một loại lò nước sôi nên hai công ty này đã hợp tác cùng nhau chia sẻ trong việc vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng… là một ví dụ điển hình; Việc đánh giá kiểm tra an toàn định kỳ, đánh giá cấp phép hoạt động cho các nhà máy ĐHN cùng loại công nghệ sẽ thuận lợi và kinh tế hơn; Việc đào tạo cán bộ vận hành cho nhà máy ĐHN cùng công nghệ sẽ đơn giản và ít tốn kém. Và một lợi ích đặc biệt là trong quá trình nội địa hóa việc đầu tư cho ngành chế tạo thiết bị, chế tạo nhiên liệu cho các nhà máy ĐHN cùng loại công nghệ – một mục tiêu mà tất cả các nước nhập khẩu công nghệ ĐHN đều hướng tới – sẽ nhanh chóng và kinh tế hơn. Còn nếu chọn lò thế hệ II cho tổ máy ĐHN đầu tiên, sau đó chọn lò thế hệ III cho các tổ máy ĐHN sau này, thì quá trình chuyển giao công nghệ sẽ dài hơn vì phải tiến hành hai lần cho hai loại công nghệ và tổn thất về kinh tế.Vì vậy để bảo đảm an toàn và lợi ích kinh tế lâu dài như mong muốn của nhân dân, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển công nghệ ĐHN của thế giới, chúng ta phải bằng mọi giải pháp khắc phục những khó khăn về nguồn nhân lực, tài chính…, sớm quyết định lựa chọn lò phản ứng thế hệ III hoặc III+ cho tổ máy ĐHN đầu tiên. —————-* TS. Viện KH&KT Hạt nhân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Luận bàn về sự công bằng      Công bằng (justice) là một khái niệm luôn gây ra sự tranh cãi. Quan niệm thế nào cho đúng về sự công bằng? Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay, cần phải nhìn nhận vấn đề công bằng như thế nào, và khả năng vận dụng vào thực tế ra sao để góp phần tạo nên sự phát triển bền vững cho xã hội.    Công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc     Trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau. Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc). Thí dụ, những bác sĩ có cùng trình độ, cùng năm cống hiến phải được hưởng lương như nhau, nhưng không thể đòi hỏi lương một người bác sĩ lâu năm đã bỏ bao công lao động, học hỏi, phải ngang bằng với lương một người y tá mới ra trường.       Công bằng theo nghĩa khách quan và công bằng theo nghĩa chủ quan     Công bằng cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là nghĩa khách quan (objective justice) hoặc nghĩa chủ quan (subjective justice)1. Theo nghĩa khách quan, công bằng được hiểu là những giá trị đúng đắn, những qui tắc, chuẩn mực chung hoặc cách thức hành động phù hợp, được cộng đồng thừa nhận2. Chẳng hạn: Cái thiện luôn thắng cái ác, Cô Tấm hiền thảo, chịu khó hay Thạch Sanh nghĩa hiệp cuối cùng được hưởng vinh hoa phú quí, còn mẹ con Cám độc ác hay Lý Thông gian ác, xảo quyệt cuối cùng phải bị trừng trị. Đó là sự công bằng; Hay qui định người nào làm nhiều sẽ được hưởng nhiều, người nào làm ít sẽ được hưởng ít, người có công được thưởng, người có tội phải bị trừng phạt; người có công càng lớn thì mức thưởng càng lớn, người có tội càng nặng, mức phạt sẽ càng nặng. Đó là công bằng. Theo nghĩa chủ quan, công bằng phụ thuộc vào sự cảm nhận, đánh giá, phán xét của mỗi cá nhân3. Mỗi người sẽ có những đánh giá riêng của mình thế nào là công bằng hay không công bằng. Tóm lại, công bằng có thể hiểu một cách khái quát nhất là trạng thái lý tưởng của xã hội loài người, trong đó vấn đề tài sản, lợi ích, cơ hội giữa các thành viên trong xã hội được phân chia một cách phù hợp, không thiên vị4.     Bình đẳng về cơ hội và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ý tưởng     Xã hội nào cũng luôn tồn tại những nhóm người yếu thế, nhóm người dễ bị tổn thương. Những đối tượng này cần phải được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh nhằm góp phần kiến tạo sự công bằng về điều kiện sống và công bằng về cơ hội phát triển trong xã hội5. Chẳng hạn chính sách cộng thêm điểm thi đại học theo vùng hiện nay, chính sách hỗ trợ cho những người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa ở Việt Nam hiện nay ngoài ý nghĩa là những chính sách xã hội, đó còn là biểu hiện của sự công bằng (công bằng theo chiều dọc).      Công bằng còn được hiểu là sự tìm kiếm một môi trường mà trong đó các cơ hội là ngang bằng nhau. Chẳng hạn, trong một xã hội đa dạng, đa chiều, sự cạnh tranh giữa các ý tưởng sẽ tạo điều kiện cho các sáng kiến của cá nhân phát triển. Chính sự cạnh tranh giữa các ý tưởng là bước khởi đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần tạo nên sự công bằng xã hội. Điều này cũng phản ánh một qui luật tất yếu: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.     Bình đẳng và công bằng dưới góc độ pháp lý     Dưới góc độ pháp lý, bình đẳng và công bằng là hai khái niệm khác nhau. Bình đẳng chỉ là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng. Không ở đâu luật pháp qui định “mọi người đều bình đẳng”,vì điều đó không thể có, nhưng gần như pháp luật của quốc gia nào cũng qui định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng6. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, xu hướng tình dục, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, nguồn gốc xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác.Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật bị vi phạm khi công quyền hành xử tùy tiện, đối xử bất công hơn đối vớimột nhóm người này so với một nhóm người khác, không dựa trên căn cứ pháp lý nào cả, mặc dù giữa hai nhóm này không có bất cứ một sự khác biệt nào về mặt địa vị pháp lý. Những đạo luật vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị tuyên bố vô hiệu. Những quyết định hành chính hay phán quyết của Tòa án vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị hủy bỏ.     Trong xã hội hiện đại ngày nay, để đảm bảo cho sự công bằng, cơ quan lập pháp có vai trò rất quan trọng. Lập pháp có nhiệm vụ phải tối ưu hóa mọi lợi ích của mọi thành phần xã hội (welfare maximization). Muốn vậy, phải có cơ chế giải trình, kiểm tra, giám sát và đảm bảo minh bạch thông tin. Người dân phải được quyền biết và đóng góp ý kiến vào việc hình thành, cũng như giám sátviệc thực thi pháp luật. Hoạt động hành pháp và tư pháp cũng phải dựa trên cơ sở pháp luật và đảm bảo sự vô tư (fairness), đồng thời phù hợp với tính chất, mức độ của từng quan hệ pháp lý cụ thể.               Việc thực thi hiệu quả các vấn đềnhư công bằng trong  việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm  chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên  chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo  nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.        Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.” Công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong thế giới đương đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo đánh giá mức độ phát triển bền vững của một xã hội. Mặc dù có nhiều cách quan niệm cũng như lý thuyết về sự công bằng, tuy nhiên những lý thuyết này vẫn chưa đủ để tạo ra một cách hiểu thống nhất về sự công bằng, bởi lẽ mỗi một nền văn hóa, ở không gian và thời gian khác nhau, lại xuất hiện những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về sự công bằng. Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, công bằng dần được nhìn nhận trong một phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ được hiểu là công bằng trong phạm vi quốc gia, mà hơn thế, công bằng còn được hiểu ở phạm vi quốc tế. Việc thực thi hiệu quả các vấn đề như công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.  ————–   1Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., 2011, Rn. 347.   2Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. 348.   3Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. 349.   4 Xem: Oswald Schwemmer, Gerechtigkeit, in: Jürgen Mittelstraß (Hrsg.): Enzyklopädie Philosophie und Wissenschaftstheorie. Band 1. Metzler, Stuttgart 1995, S. 746   5Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Development Report 2006 – Equity and Development) ở những nước nào mà các yếu tố về công bằng, đặc biệt là công bằng về mặt cơ hội (equality of opportunity) được quan tâm, bảo vệ thì ở những nước đó có sự tăng trưởng tốt về kinh tế. (Xem báo cáo của ngân hàng thế giới (World Bank) về sự công bằng và phát triển (Equity and Development) năm 2006 tại địa chỉ: http://econ.worldbank.org/external/default/main?pagePK=64165259&theSitePK=478060&piPK=64165421&menuPK=64166093&entityID=000112742_20050920110826).   6Nguyên tắc này đóng vai trò như là nền tảng của nhà nước pháp quyền hiện đại và là một nguyên tắc quan trọng của nhiều bản Hiến pháp dân chủ. Trong tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) có ghi nhận là: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi.” Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 cũng qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật an ninh mạng: Khoảng trống về điện toán đám mây      Luật An Ninh Mạng (LANM) mới được Quốc hội thông qua vào ngày 12/06/2018. Nhưng để có thể thực hiện được những gì ghi trong luật, cần một cái nhìn thấu đáo và cẩn trọng hơn về mặt công nghệ trong các văn bản dưới luật.      Một trung tâm dữ liệu của Facebook tại Prineville, bang Oregon, Mỹ với hàng nghìn nhân viên.  Thuyết minh lần cuối về Dự luật LANM trước khi Quốc hội thông qua biểu quyết, tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa 14, đã nêu đại ý như sau: Hiện nay, Google và Facebook đang lưu giữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt tại Hồng Kông và Singapore. Nếu quy định của luật này có hiệu lực thì các doanh nghiệp này phải dịch chuyển đám mây điện toán, đám mây ảo về Việt Nam để mở trung tâm dữ liệu tại Việt Nam. Và điều đó là hoàn toàn khả thi… Những gì ông Võ Trọng Việt nói ở trên, được ghi tại khoản 3, điều 26 trong LANM đã được phê duyệt.  Điều 26. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng  3. Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.  Doanh nghiệp nước ngoài quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.  Đúng là hiện nay, nhiều dịch vụ trên Internet được cung cấp là các dịch vụ điện toán đám mây (ĐTĐM). Để tìm hiểu về qui mô khả thi của điều 26 và ĐTĐM trước hết chúng ta cần tìm hiểu về kiến trúc của loại hình công nghệ này.  Google, Facebook chỉ là trường hợp đặc biệt  Thị trường mua-bán đám mây không đơn giản chỉ bao gồm nhà cung cấp và người sử dụng. Trong tài liệu ‘Kiến trúc tham chiếu điện toán đám mây của NIST1’ do Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia – NIST (National Institute of Standards and Technology) của nước Mỹ phát hành tháng 09/2011 đã đưa ra mô hình kiến trúc tham chiếu với ba lớp dịch vụ tương ứng với ba dạng nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM cùng với năm đối tượng tham gia hệ sinh thái ĐTĐM với các vai trò khác nhau.  Nhà cung cấp đám mây là một người hoặc một tổ chức giành quyền nắm và quản lý hạ tầng tính toán, các phần mềm và phân phối các dịch vụ trên đám mây cho những người sử dụng. Ba dạng nhà cung cấp bao gồm: (3) Phần mềm như một dịch vụ – SaaS (Software as a Service) theo đó, nhà cung cấp sẽ quản lý và kiểm soát các phần mềm và ứng dụng chạy trên đám mây. Chẳng hạn như các ứng dụng của Google như Google docs, Google drives…đều là ví dụ về SaaS (2) Nền tảng như một dịch vụ – PaaS (Platform as a Service) cung cấp nền tảng và môi trường cho phép các nhà phát triển phần mềm xây dựng các ứng dụng và dịch vụ trên internet. Google App Engine, bộ công cụ để các nhà lập trình tự xây dựng và phát triển các ứng dụng đám mây là một ví dụ của PaaS. Nhà cung cấp này có thể kiểm soát cả các ứng dụng, phần mềm trên đám mây và có thể một số môi trường đặt hosting, nhưng không có hoặc chỉ có quyền hạn chế truy cập tới hạ tầng mạng, các máy chủ, các hệ điều hành, hạ tầng lưu trữ (1) Hạ tầng như một dịch vụ – IaaS (Infrastructure as a Service) nhà cung cấp nắm quyền quản lý tài nguyên vật lý tính toán cho các phần mềm, bao gồm các máy chủ, các mạng, hạ tầng lưu trữ và đặt chỗ hosting. Nói nôm na, nhà cung cấp IaaS cung cấp cho người dùng một máy tính ảo. Người sử dụng đám mây IaaS vừa có các tài nguyên giống như PaaS và SaaS nhưng có nhiều quyền truy cập và kiểm soát lớn hơn với từng thành phần phần mềm và phần cứng.    Mô hình tham chiếu điện toán đám mây của NIST.    Tương tác giữa các thành phần trong điện toán đám mây.  Hơn nữa, việc vận hành thị trường đám mây không chỉ có người sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ đám mây mà có tới ba đối tượng khác gồm Nhà kiểm toán (một bên tiến hành đánh giá độc lập về các dịch vụ đám mây, các hoạt động hệ thống thông tin, hiệu năng và an ninh của triển khai đám mây); Nhà môi giới (một tổ chức quản lý sử dụng, hiệu năng và phân phối các dịch vụ đám mây, và kết nối giữa các nhà cung cấp đám mây và những người sử dụng đám mây); và Nhà vận chuyển đám mây (tổ chức cung cấp kết nối và vận chuyển các dịch vụ đám mây từ nhà cung cấp đến người sử dụng).  Ông Võ Trọng Việt có nhắc đến trường hợp của Google, Facebook cần phải đặt máy chủ tại Việt Nam, nhưng đây là hai trường hợp cá biệt, là các tập đoàn với nguồn lực khổng lồ và sở hữu nhiều trung tâm dữ liệu, là đơn vị đủ khả năng cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ đám mây mà không cần ký hợp đồng với bên thứ 3. Tuy nhiên, trên thực tế, việc mua bán các dịch vụ liên quan đến đám mây sẽ chồng chéo và đa phần sẽ phải thông qua các bên trung gian. Vấn đề là, các bên trung gian này không có chức năng thu thập hay xử lý dữ liệu được quy định trong điều 26 nhưng không thể đảm bảo rằng, họ không chứa các thông tin của người sử dụng một cách vô tình hay hữu ý và cũng rất khó có thể kiểm tra được điều này (ví dụ, nhà cung cấp đám mây điện toán phải sử dụng đường truyền của nhà vận chuyển đám mây, không ai chắc chắn là nhà vận chuyển này không hoàn toàn không có thông tin). Xét một ví dụ, người sử dụng dịch vụ không ký hợp đồng trực tiếp với nhà cung cấp đám mây mà kí thông qua nhà môi giới đám mây, thì trong trường hợp này rất cần LANM làm rõ xem ai, nhà môi giới đám mây hay tất cả các nhà cung cấp dịch vụ đám mây, sẽ phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở Việt Nam. Điều này cũng tương tự như trường hợp thay nhà môi giới đám mây bằng nhà vận chuyển đám mây. Vì có tất cả năm tác nhân trong hệ sinh thái ĐTĐM, có nghĩa là từ góc độ của người sử dụng hoặc nhà cung cấp hay bất kỳ tác nhân nào khác, chúng ta đều nên tính tới tất cả các tình huống có thể xảy ra đối với các mối liên hệ giữa các tác nhân đó, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, để đảm bảo LANM sẽ không bỏ sót bất kỳ trường hợp nào vì sự đơn giản hóa, như các trường hợp ví dụ được nêu ở trên.  Ngay cả giữa các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM với nhau – bao gồm cả IaaS, PaaS và SaaS có mức độ tiếp cận và lưu trữ dữ liệu rất khác nhau và cũng sẽ có rất nhiều trường hợp “lai ghép”, chẳng hạn như nhà sử dụng dịch vụ ký hợp đồng với một nhà cung cấp SaaS, nhưng nhà cung cấp SaaS này lại ký hợp đồng với một nhà cung cấp SaaS khác (vì họ không có dịch vụ mà người sử dụng cần) hoặc sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp PaaS (điều này là đương nhiên). Vậy thì, các văn bản dưới LANM cũng cần làm rõ để hiểu liệu trong thực tế có các dạng kết hợp nào tồn tại giữa họ hay không, có thể quy về một đầu mối mà không gây ra sự bất tiện khó có khả năng tuân thủ cho các nhà cung cấp đó hay không?  Làm việc cộng tác xuyên biên giới qua mạng.  Việc kiểm soát thông tin, dữ liệu trên mạng theo điều 26 nói trên sẽ ngày càng khó khăn trong một thế giới mở. Ngày nay, nhiều công việc, bao gồm cả công việc nghiên cứu khoa học, đòi hỏi sự cộng tác làm việc của các cá nhân, tổ chức không chỉ ở một quốc gia, mà trên phạm vi toàn cầu. Hơn nữa, công việc của họ nhiều khi được thực hiện qua nhiều chứ không phải chỉ một ứng dụng, dịch vụ trên điện toán đám mây. Thông qua công việc nghiên cứu như vậy, chắc chắn các nhà khoa học Việt Nam cũng sẽ tạo ra các thông tin, nội dung và/hoặc dữ liệu bên trong các ứng dụng – dịch vụ có khả năng nằm trong các máy chủ khác nhau nằm rải rác trên toàn cầu. Liệu chúng ta có phải yêu cầu mỗi nhà khoa học tạo ra dữ liệu phải có một máy chủ đặt ở Việt Nam? Và ngay cả yêu cầu như vậy, làm sao chúng ta kiểm soát được các dữ liệu họ trao đổi với đồng nghiệp nằm trong máy chủ khác trên toàn thế giới?  Điều 23, Khoản 3 của LANM có liên quan tới các tình huống khác nhau khi mọi người làm việc trong thực tế hàng ngày hiện nay với các ứng dụng – dịch vụ dựa vào web trên trực tuyến và/hoặc công nghệ ĐTĐM. Giả sử, trong trường hợp có sự vi phạm và phải xóa thông tin – dữ liệu theo LANM quy định, và giả sử, công ty/hãng nước ngoài đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của họ ở Việt Nam cũng đã xóa đi các bản ghi trên tất cả các máy tính họ quản lý, làm thế nào để các nhà quản lý chắc chắn được sẽ không còn bản sao nào tồn tại trên Internet nữa? Khi này, ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm pháp lý theo LANM?      Rất cần nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các trường hợp có khả năng xảy ra trong đời sống thực khi làm việc với các công nghệ trong giai đoạn xây dựng các văn bản dưới luật, nhằm tránh việc luật hóa chỉ dựa vào vài trường hợp cụ thể, không đủ đại diện cho đa số lớn các trường hợp khác.      Điều 26, Khoản 3 của LANM hiện hành có lẽ áp dụng được trong một vài trường hợp với những điều kiện cụ thể nhất định, nhưng không chắc áp dụng được với đa số các trường hợp khác của ĐTĐM và làm việc cộng tác có sử dụng các ứng dụng – dịch vụ dựa vào web trên trực tuyến. Vì vậy, rất cần được nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các trường hợp có khả năng xảy ra trong đời sống thực khi làm việc với các công nghệ như được nêu ở đây trong giai đoạn xây dựng các văn bản dưới luật, tránh việc luật hóa chỉ dựa vào vài trường hợp cụ thể, không đủ đại diện cho đa số lớn các trường hợp khác có liên quan, để khi đưa LANM vào cuộc sống sẽ không cản trở dòng chảy thông tin – dữ liệu, làm khó cho các doanh nghiệp và các thành phần khác làm ăn chính đáng trong kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu.  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.  ———-  https://www.dropbox.com/s/il80qn6u3zm7fer/CloudComputingReferenceArchitecture-Vi-20112011.pdf?dl=0       Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Luật biểu tình      Sự chậm trễ trong việc ban hành Luật biểu tình là một điều không may. Bởi vì rằng điều này có thể gây ra rất nhiều rắc rối cho chúng ta trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta. Thật khó lý giải việc người dân Thái Lan, người dân Myanmar… có thể thực thi được quyền biểu tình của mình, còn người dân Việt Nam thì lại chưa thể làm được như vậy.     Quyền biểu tình là một quyền hiến định. Quyền này được ghi nhận tại Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 như sau: “Công dân có quyền… biểu tình theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Hiến pháp ghi nhận quyền, nhưng không quy định thủ tục để thực thi quyền. Hiến pháp giao việc này lại cho hoạt động lập pháp. Theo đó, thủ tục thực thi quyền biểu tình phải được bảo đảm bằng một đạo luật.   Hiến pháp đã được ban hành đã gần 20 năm nay. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật biểu tình. Có vẻ như, theo lô-gíc luật phải chờ nghị định, nghị định phải chờ thông tư, thì Hiến pháp cũng phải chờ thôi. Và không khéo phải chờ lâu hơn cả.   Sự chậm trễ trong việc ban hành Luật biểu tình là một điều không may. Bởi vì rằng điều này có thể gây ra rất nhiều rắc rối cho chúng ta trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta. Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, với việc hàng chục triệu người Việt có thể tiếp cận Internet (và con số nay đang tăng lên với tốc độ nhanh nhất nhì thế giới), với các mạng xã hội ngày càng mở ra vô tận, chúng ta đang hội nhập sâu rộng vào thế giới hiện đại, đang sống cùng nhịp với nó, đang chia sẻ những giá trị phổ quát nhất của nó và chịu tác động nhiều mặt từ những ảnh hưởng của nó. Trong một bối cảnh như vậy, thì áp lực bị so sánh với thế giới xung quanh là rất lớn. Thật khó lý giải việc người dân Thái Lan, người dân Myanmar… có thể thực thi được quyền biểu tình của mình, còn người dân Việt Nam thì lại chưa thể làm được như vậy. Và nếu có điều gì đáng phải quan ngại, thì đây là một điều như thế. Rõ ràng, các thế lực thù địch sẽ rất dễ lợi dụng điều này để truyên truyền, chống phá chúng ta.  Quyền biểu tình là một quyền tự do. Quyền tự do là một quyền lựa chọn. Anh có quyền tự do đi biểu tình, thì tôi cũng có quyền tự do không đi biểu tình. Điều kiện tiên quyết để thực thi một quyền tự do là việc thực thi quyền đó phải không được ảnh hưởng đến quyền tự do của những người khác. Việc tự do đi biểu tình không thể được ảnh hưởng đến việc tự do đi vui chơi, giải trí, tự do đi làm ăn, đi mưu cầu hạnh phúc. Những quy định rõ ràng và hợp lý của pháp luật là không thể thiếu để chúng ta bảo đảm rằng việc người dân thực thi các quyền tự do của mình là không xung đột với nhau.  Nói đến biểu tình, chúng ta cần phải quan tâm tới vấn đề về tâm lý của đám đông. Như từng cá nhân, về cơ bản, chúng ta hành xử hợp lý, nhưng như một đám đông chúng ta rất dễ bị kích động. Chuyện đập phá, đốt xe, ném đá… là những chuyện rất dễ xảy ra khi tâm lý đám đông bị kích động. Và điều này chứa đựng những rủi ro rất lớn đối với trật tự-pháp luật và ổn định xã hội. Làm sao chúng ta có thể tránh được những phản ứng phụ bất lợi này nếu không có các quy định về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành biểu tình?!   Cuối cùng, Dự án Luật biểu tình do Thủ tướng Chính phủ đề xuất và bảo trợ đã được Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng pháp luật của mình. Hy vọng dự luật rất cần thiết cho giai đoạn phát triển mới của đất nước này sẽ sớm được thông qua.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật có là giá trị tự thân ?      Quốc hội khóa XIII đang tổng kết nhiệm kỳ của mình. Bên cạnh các chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng, chức năng lập pháp cũng đang được mang ra phân tích, đánh giá, và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về chức năng này là rất khác nhau.       Bên cạnh những ý kiến đánh giá tích cực, không ít vị đại biểu đã thật sự băn khoăn về chất lượng, cũng như tác động ngoài mong muốn của nhiều đạo luật. Có vẻ như thời kỳ chúng ta coi luật là một giá trị tự thân, luật là tốt đang qua đi. Và có vẻ như chúng ta đang có được cái nhìn tỉnh táo hơn về việc ban hành pháp luật.  Thật ra, để ban hành một đạo luật, việc đầu tiên mà Quốc hội của nhiều nước làm là tổ chức một phiên họp để tranh luận về sự cần thiết của đạo luật đó. Các vị đại biểu sẽ tranh luận và tìm cách trả lời các câu hỏi sau: Cuộc sống có vấn đề gì không? Đó có phải đang là vấn đề hệ trọng nhất không? Có cách gì khác để xử lý vấn đề hiệu quả hơn là ban hành pháp luật không?  Muốn hay không muốn thì ban hành pháp luật cũng là một cách giải quyết vấn đề hết sức tốn kém. Việt Nam ta chưa có con số tính toán cụ thể, nhưng theo tính toán của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế), năm 1998, chi phí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Australia để tuân thủ các quy định của luật pháp về môi trường và điều kiện lao động là 17 tỷ USD (khoảng 2,9% GDP). Nên nhớ đây chỉ mới là việc tuân thủ pháp luật về môi trường và điều kiện lao động và cũng chỉ mới là chi phí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chi phí để tuân thủ các quy định của pháp luật nói riêng và của cả xã hội nói chung sẽ lớn biết nhường nào?! Trước đây, có lần Bộ trưởng Bộ Tư pháp của nước ta đã nhắc tới một nghiên cứu cho rằng chi phí tuân thủ pháp luật ở Việt Nam chiếm khoảng 30% GDP. Không biết nghiên cứu trên chính xác đến đâu, nhưng điều chắc chắn là con số đó cực lớn. Chi phí tuân thủ mới chỉ là chi phí của người dân, còn với toàn bộ chi phí cho luật pháp, chúng ta phải kể đến cả chi phí áp đặt sự tuân thủ, chi phí giải quyết tranh chấp, chi phí truyền thông và chi phí soạn thảo, thông qua văn bản.    Ngoài ra, quyền tự do của người dân là nội dung cần được luôn luôn quan tâm khi tranh luận về sự cần thiết của các dự luật. Tất cả các đạo luật đều nhằm điều chỉnh hành vi của người dân, vì thế mà hạn chế quyền tự do của họ. Khi và chỉ khi một sự hạn chế như vậy là thật sự cần thiết mới nên ban hành pháp luật. Chân lý bất biến của cuộc sống là: người dân càng tự do, thì đất nước càng phát triển. TS Phạm Duy Nghĩa đã diễn đạt điều này rất hay bằng câu nói: “Đất nước ta sẽ giàu có hơn, khi nhân dân ta tự do hơn”. Mà như vậy thì sự anh minh của Quốc hội không nằm ở khả năng ban hành luật, mà nằm ở khả năng canh giữ quyền tự do của nhân dân.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật mới tương tác  với cơ chế cũ như thế nào?      Ngày 24/11/2014, Quốc hội đã bấm nút thông qua Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân với rất nhiều câu chữ được thay đổi, đưa tòa án theo hướng ưu tiên bảo vệ công lý. Nhưng liệu những thay đổi về mặt câu chữ này có đủ để thay đổi cơ chế cũ hay không?     Trong số tám điểm đổi mới mà Tòa án Nhân dân Tối cao giới thiệu về Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân 20141, hai điểm sau đây có khả năng góp phần lớn nhất vào việc nâng cao chất lượng xét xử của tòa án: kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán lên 10 năm đối với người được tái bổ nhiệm nhiệm kỳ thứ hai, và giao cho Tòa án Nhân dân Tối cao chọn lọc án lệ.   Những thay đổi này tạo ra cơ hội lớn cho việc xây dựng một nền tư pháp độc lập, vì công lý, bảo vệ dân quyền tốt hơn. Nhưng những thay đổi này có đủ sức vượt qua những thách thức cũ?  Thứ nhất, khi bàn đến sự độc lập của tòa án ở Việt Nam là bàn đến sự độc lập của tòa án với ai. Câu trả lời: Với nhiều tác nhân khác nhau, đặc biệt với những tác nhân có quyền lực nhất trong xã hội. Vụ án bà Ba Sương cho thấy sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng vào quá trình khởi tố, điều tra, xét xử là không nhỏ; dường như đôi khi không còn dừng lại ở chỉ đạo đường lối, mà đi vào rất chi tiết, nghiệp vụ.  Thay cho việc dùng từ “Tòa án Nhân dân Sơ thẩm” như trong Dự thảo 5, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 tiếp tục dùng từ “Tòa án Nhân dân cấp huyện” như cũ. Với cách dùng từ này, chúng ta có thể dự đoán khuynh hướng thành lập thêm các tòa án cấp huyện sẽ diễn ra trên thực tế, chứ không có chuyện hai ba huyện chung một tòa án. Điều này là cần thiết ở các đô thị lớn, nơi tòa án cấp quận bị quá tải. Nhưng điều này, tiếp tục đặt ra câu hỏi cũ: các đảng viên – bao gồm các thẩm phán và chánh án – sẽ do huyện ủy quản lý hay đảng ủy nào quản lý. Nếu vẫn tiếp tục do cấp ủy cùng cấp quản lý thì trạng thái độc lập của tòa án vẫn tiếp tục như cũ2.    Có ba cơ chế, tuy nằm ngoài luật, nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến sự độc lập của tòa án: cơ chế họp liên ngành, cơ chế thỉnh án cấp trên, và cơ chế xin ý kiến cơ quan lãnh đạo cùng cấp trước khi xét xử án dự kiến mức hình phạt tử hình hoặc án liên quan an ninh quốc gia. Việc thiết lập ba cơ chế này được lý giải bởi nhiều lý do và đã tồn tại song song với lịch sử ngành tòa án Việt Nam. Việc Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân 2014 tiếp tục không điều chỉnh theo hướng củng cố hay loại bỏ ba cơ chế này, mà tiếp tục để ngoài luật, cho thấy sự độc lập của tòa án còn tiếp tục có nhiều thách thức.   Thứ hai, việc nâng thời gian nhiệm kỳ thứ hai của thẩm phán từ năm năm lên 10 năm sẽ giảm bớt áp lực không được tái cử sau năm năm và cho phép họ có sự độc lập hơn đối với những cơ quan nắm giữ quyền quyết định về nhân sự trong hệ thống tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, bảo đảm này chưa chắc chắn, chưa đầy đủ. Liệu thẩm phán có bị thuyên chuyển trái ý muốn của mình trong thời gian tại nhiệm? Mức lương của họ có đủ nuôi gia đình hay còn phải trông chờ vào những nguồn thu nhập khác là hai câu hỏi còn bỏ ngỏ trong Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân. Nhìn vào cơ chế luân chuyển “cán bộ” và hệ thống ngạch bậc lương hiện nay thì câu trả lời chưa có gì thay đổi cả. Tại sao nhiệm kỳ thẩm phán không được bố trí so le với nhiệm kỳ của các cơ quan chính trị khác, ví dụ độ dài nhiệm kỳ là chín-bảy thay cho năm-mười?  Thứ ba, trao cho Tòa án Nhân dân Tối cao chức năng: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” (Điểm c Khoản 2 Điều 22) là một hướng đi hòa nhập với thông lệ quốc tế.   Thế nhưng, sự thay đổi này chỉ thực sự tạo ra hệ thống án lệ theo chuẩn mực quốc tế với ba điều kiện sau đây: A. Cách viết án, luận án phải thay đổi, không thể sơ sài như hiện nay, vì khi viện dẫn án lệ người ta viện dẫn cách giải thích, lập luận, tư duy, thậm chí là học thuyết pháp lý mới chứa đựng trong bản án được viện dẫn. B. Không chỉ các thẩm phán mà thân chủ hoặc luật sư cũng có quyền viện dẫn án lệ để bảo vệ quyền lợi của mình như thể viện dẫn một điều luật của Quốc hội. Khi “án lệ” không phải là nguồn luật thì án lệ không khác gì mấy cuốn bình luận luật của các giáo sư luật bán ngoài hiệu sách – chỉ khác ở điểm bắt buộc phải “nghiên cứu”; C. Mọi bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao đều có tính chuẩn mực, đều là án lệ. Vì nếu ngược lại thì có nghĩa rằng trong số các quyết định, bản án giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao sẽ có bản án, quyết định “không có tính chuẩn mực”. Và lúc đó, cơ chế chọn lọc để công bố một số bản án sẽ không có sự thay đổi về chất so với cơ chế ban hành nghị quyết hướng dẫn xét xử mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hiện nay đang làm.  Để ba điều kiện này hình thành đòi hỏi thời gian, không thể trong ngày một ngày hai. Điều này có nghĩa, điều tiến bộ này muốn đến được với người dân còn phải trải qua nhiều thách thức, nhiều nỗ lực.   Nghị quyết 49-NQ/TW đã mở đường cho sự đổi mới tòa án trong Hiến pháp 2013. Nhưng dường như sự đổi mới trong Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân 2014 còn dè dặt, chứa đựng nhiều thách thức, bỏ ngỏ nhiều điểm, đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ của các cơ chế khác, đạo luật khác để tòa án có thể hoàn thành sứ mệnh mang công lý đến cho mọi người.   —————–  * Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM    1 Tòa án Nhân dân Tối cao (2014), Giới thiệu Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, ngày 11/12/2014(http://www.toaan.gov.vn/portal/pls/portal/!PORTAL.wwpob_page.show?_docname=6716818.HT)    2 Chuyển việc quản lý Tòa án Nhân dân từ Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp sang hệ thống ngành dọc (tòa án) đã diễn từ năm 2002. Hay nói cách khác, sự độc lập với cơ quan hành chính cùng cấp đã diễn ra hàng chục năm, nhưng tác nhân chính không phải nằm ở mối quan hệ này.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lực cản từ chính một số “cây đa, cây đề”      Tại buổi họp mặt cộng t&#225;c vi&#234;n cuối năm của tạp ch&#237; Tia S&#225;ng, sau ph&#225;t biểu của GS. Ho&#224;ng Tụy đ&#225;nh gi&#225; cao việc Bộ KH&amp;CN đ&#227; lắng nghe &#253; kiến đ&#250;ng đắn v&#224; t&#226;m huyết của c&#225;c nh&#224; khoa học, tiến h&#224;nh cải c&#225;ch quản l&#253; NCCB, l&#224; ph&#225;t biểu của một nh&#224; Sinh học, đại &#253;: Tia S&#225;ng viết hơi qu&#225; nhiều về c&#244;ng bố quốc tế. Đ&#224;nh rằng c&#244;ng bố quốc tế của ch&#250;ng ta yếu, người của ch&#250;ng t&#244;i c&#244;ng bố quốc tế chung với Nhật l&#224; được rồi, cần g&#236; phải l&#224; t&#225;c giả ch&#237;nh như GS. Phạm Duy Hiển n&#243;i. Đề t&#224;i giống l&#250;a mới được chuyển giao cho một cơ sở ở Nam Định với gi&#225; 10 tỷ đồng vừa rồi c&#243; gi&#225; trị thực tế r&#245; r&#224;ng, nhưng chẳng c&#243; tạp ch&#237; quốc tế n&#224;o đăng kết quả đ&#243;.     Đầu năm mới, sau khi chúc tết nhau, tôi và một lãnh đạo Viện Cơ học (Viện KH&CN VN) có cuộc tranh luận không có hồi kết về hoạt động khoa học vì quan điểm khác nhau. Sau đây là một số luận cứ của anh ấy về chuyện công bố quốc tế:   – Tôi ủng hộ yêu cầu luận án TS phải có bài báo quốc tế. Nếu có quy định của Bộ GD&ĐT tôi sẽ yêu cầu NCS của tôi phải làm việc công bố quốc tế. Còn như hiện nay chưa có quy định này, ta cũng chẳng cần phải đòi hỏi công bố, vì sẽ rất khó và vất vả cho NCS.  Bài báo quốc tế cũng có nhiều loại, có người có cả chục bài vẫn chưa là gì, có người chỉ cần một bài là khẳng định được đẳng cấp (có lẽ hàm ý cái bài báo quốc tế nói trên của anh ấy đủ mạnh bằng cả chục bài của những người khác).  Tôi đi nước ngoài nhiều nên biết rõ rằng, ở phương Tây, nhất là ở Mỹ, các ĐH không hề quan tâm các GS của họ có công bố quốc tế hay không, nhiều hay ít, mà chỉ quan tâm các GS có mang được nhiều đề tài, hợp đồng, và tiền về cho ĐH hay không (ở VN đây là điểm mạnh của anh này vì liên tục chủ trì các đề tài và hợp đồng kinh phí lớn – tôi ở gần nên cũng được nghe ít nhiều chuyện từ chính những người trong cuộc về các đề tài này)  Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn.  ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến.  Hàn Quốc và TQ đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó. Do vậy, Bộ KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào.  Quy định mới về NCCB của Quỹ có một điểm tiến bộ là có quy định rõ ràng, không để các Hội đồng phân phối kinh phí tùy tiện như trước. Tuy nhiên đề tài chỉ cho thời gian quá ngắn 2 năm mà lại đòi hỏi 2 bài báo quốc tế là phi thực tế. Mà tại sao cứ phải đòi hỏi công bố quốc tế? Công bố trong nước cũng được chứ. Và nếu quốc tế được 10 điểm thì bài trong nước cũng phải được 5,6 điểm.  Ngay ở Liên Xô người ta chỉ cần nhấn mạnh cần có bài báo trong nước là đủ. Còn việc hiện nay nhiều người Nga có viết bài cho các tạp chí tiếng Anh, chẳng qua là vì họ muốn kiếm việc ở phương Tây.  Tại sao ta cứ phải yêu cầu công bố quốc tế. Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của chúng ta ở đâu. Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta.  Ở các viện khác người ta cũng nói với tôi là họ không đồng tình với các bài báo viết về khoa học VN trên báo chí thời gian qua. Một số cán bộ quản lý ở Bộ KH&CN cũng nói với tôi: chúng tôi vẫn luôn ủng hộ các anh đấy chứ, nhưng chính từ trong nội bộ giới khoa học các anh có người cứ cố tình bới chuyện làm vấn đề trở nên to ra…  Và trong cuộc Hội thảo khoa học của Viện Cơ học cuối năm 2008, một Phó Viện trưởng Viện Cơ học lập luận, đại ý:   Bên Toán họ công bố quốc tế là đúng rồi, họ chỉ có mỗi cái việc đó. Nếu không làm được việc đó thì cái Viện Toán phải bị giải tán. Còn Viện Cơ ta làm NCCB phục vụ ứng dụng nên không cần phải công bố quốc tế. Vì nghiên cứu ứng dụng là quan trọng đối với đất nước nên phải được Nhà nước ưu tiên bao cấp và đầu tư kinh phí chứ không phải để tự trang trải kinh phí bởi thị trường (như tinh thần nghị định 115). Ngay cả ở Úc và Nhật Bản, từ cả nghìn nghiên cứu ứng dụng cũng chỉ có một nghiên cứu đem ra được sản phẩm thành công trên thị trường (hàm ý trong số hàng ngàn đề tài nghiên cứu ứng dụng của ta, Bộ KH&CN chỉ cần chỉ ra một đề tài có được kết quả trên thị trường là đạt thành công ngang như quốc tế ?)…  Còn Viện trưởng Viện Cơ học ứng dụng TP. HCM thì trích dẫn ý kiến “khách quan” của một nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn quốc tế (GS Vật lý Trương Văn Tân ở Úc): nghiên cứu cơ bản ở VN để công bố quốc tế các bài báo mang tính chung chung chỉ là theo đuôi nước ngoài, không có ích lợi gì cho VN mà chỉ làm lãng phí tiền thuế của nhân dân. VN ta phải tập trung nghiên cứu ứng dụng.   Không chỉ ở Viện Cơ học mà hiện nay, cán bộ quản lý ở một số viện, cơ quan nghiên cứu có rất nhiều kiểu ngụy biện khác nhau nhằm phản bác lại chủ trương của Bộ KH&CN về cấn có công bố quốc tế, bằng sáng chế trong nghiến cứu, như: nước ngoài họ công bố quốc tế vì lương tháng của họ là 5-10 ngàn USD, còn ở ta chỉ vài triệu VND, đầu tư cơ sở vật chất của họ lại còn gấp hơn nhiều lần nữa. Khi nào kinh tế và cơ sở vật chất của ta bằng được như họ ta sẽ công bố quốc tế. Nghiên cứu để công bố quôc tế và nghiên cứu ứng dụng phục vụ nhu cầu thiết thực của đất nước cái nào quan trọng hơn…  Có thể nói việc đưa các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động KH&CN của Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng- một lĩnh vực chiếm phần lớn ngân sách đầu tư cho KH&CN thật chẳng dễ dàng gì do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là lực cản từ chính một số nhà quản lý khoa học được coi  (hoặc tự coi) là “cây đa, cây đề”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lương bổng      Nếu như chữ “lương” tồn tại đã từ rất lâu đời, thì khái niệm “tiền lương hoàn chỉnh” là câu chuyện chưa trở thành hiện thực ở xứ ta, giản đơn là như vậy.  Cả một di sản ngàn năm về câu chuyện này. Không dễ giải quyết, nhưng đó chìa khóa để đi vào xã hội hiện đại.        Chữ “lương” xưa đơn giản là gạo mỳ khoai sắn.  Để sai tướng lính đi làm một công việc, một sứ mệnh nào đó, bề trên cấp cho một khoản đồ ăn để “ăn no đánh thắng”. Còn lại thì phần thưởng là chuyện khác, chuyện “bổng lộc” về sau.  Mở rộng ra dân gian, để sai hay thuê làm một công việc nào đó, người sai hay người mướn cấp cho người thực hiện một khoản đồ ăn để “trả lương” công thợ.  Câu chuyện là ở chỗ này.  Trong xã hội cổ truyền, tất cả các hình thức sai bảo, thuê việc này đều chưa có thể chế hợp đồng, chưa có thị trường lao động, cùng một hệ thống pháp lý ở tầm mức toàn xã hội để đảm bảo sự ổn định, công bằng cho việc thuê mướn và trả tiền lương.  —-  Để đảm bảo quyền lực tối cao của nhà nước xưa, một cơ chế khác được bảo hành để duy trì sự lệ thuộc mạnh mẽ của đội ngũ quan lại đối với triều đình.  Đó là cơ chế bổng lộc.  Trong cơ chế trả lương, người nhận lương và người trả lương không nợ gì nhau nữa. Tiền trao, cháo múc. Cái này nhà vua, nhà chúa tất nhiên không mê gì.  Trong cơ chế bổng lộc, cái ân nợ của người được nhận bổng lộc là hiển nhiên.  Cái bổng lộc là do bề trên ban phát trực tiếp.  Cái bổng lộc này là bao nhiêu, không có gì ràng buộc cả.  Cái bổng lộc này là cho mượn, có thể bị đòi lại bất cứ lúc nào.  Cái bổng lộc này, ngay cả đã tiêu hết rồi, vẫn là món nợ, có thể bị kể ra để hạch tội bất cứ lúc nào.  Và một khi cái bổng lộc bị tước đi, bị đòi lại, thì cả lợi ích sống còn lẫn danh giá của người được hưởng đều tan bay trong phút chốc.  Hơn thế nữa, thường là điềm họa đã đến.  Trong bổng lộc, không có sự công bằng, sự bảo đảm, sự tôn trọng, sự vững bền, sự tự do.  —-  Vậy nên nhà nước phong kiến xưa rất hạn chế việc trả lương cho quan lại, lương chỉ như một phụ phí để qua ngày đoạn tháng.  Mà sử dụng bổng.  Quan lại càng phải trung trinh.          Cái bổng lộc là do bề trên ban phát trực tiếp.              Cái bổng lộc này là bao nhiêu, không có gì ràng buộc cả.              Cái bổng lộc này là cho mượn, có thể bị đòi lại bất cứ lúc nào.              Cái bổng lộc này, ngay cả đã tiêu hết rồi, vẫn là món nợ, có thể bị kể ra để hạch tội bất cứ lúc nào.              Và một khi cái bổng lộc bị tước đi, bị đòi lại, thì cả lợi ích sống còn lẫn danh giá của người được hưởng đều tan bay trong phút chốc.              Hơn thế nữa, thường là điềm họa đã đến.              Trong bổng lộc, không có sự công bằng, sự bảo đảm, sự tôn trọng, sự vững bền, sự tự do.          Sự mẫn cán là đức tính phải có, để mà hy vọng một ngày kia bổng lộc của nhà vua, của bề trên sẽ đến với mình.  Được nhận bổng lộc không chỉ là quyền lợi vật chất. Đó còn là một danh giá lớn lao xác nhận hạng bậc quý tộc của một quan lại.  Mặt bên kia của vấn đề là sự nghèo hèn của đa phần quan lại, đặc biệt là các quan lại nhỏ bé.  Đồng lương bé xíu rồi sẽ mách bảo các quan lại con đường gần như duy nhất để kiếm sống : xà xéo kho bổng lộc, làm tiền bề dưới, nịnh bợ bề trên, và tranh giành phá phách nhau.  Còn các quan to nếu không biết chế ngự lòng tham của mình, của gia tộc mình, thì cũng chả ngại gì phương pháp phổ thông này cả.  Chính nhà vua cùng các đại thần cũng thừa hiểu câu chuyện này. Và nhiều khi họ cũng phải mặc kệ cho bề dưới kiếm sống, biết làm thế nào khác đây nếu như vẫn phải duy trì bằng được hệ thống bổng lộc tối đa, lương lậu tối thiểu này?  Điều này đau đầu cho các “vua sáng tôi hiền”, mà thực chất thì nếu muốn duy trì bằng được hệ thống này thì không thể có giải pháp nào cả!  —-  Hôm nay, xã hội ta đang làm một cuộc tự vượt mình : xây dựng một xã hội hiện đại.  Tất nhiên là phải xây nó từ cái xã hội cổ truyền! Xã hội mới không thể rơi từ trên trời xuống được.  Hình thành thị trường lao động, chuyển hóa hệ thống bổng lộc sang hệ thống tiền lương hoàn chỉnh. Đó là công trường vĩ đại nhất ngày hôm nay của toàn xã hội.  Đồng lương hoàn chỉnh hiện đại, một khi được hình thành, tuy có thể còn ít, có thể còn nghèo, nhưng nó phải là cái hiện thân của một xã hội tự do.  Nó là cái hợp đồng trên nền tảng của toàn xã hội, tuy được cụ thể hóa bởi những trường hợp cụ thể.  Nó đưa mọi thành phần kinh tế, xã hội vào một nền tảng chung.  Nó là giá trị lao động của mỗi con người, trong đó có tất cả các yếu tố xã hội đang nhắm tới.  Nó chứa trong mình tiền đóng góp cho các quỹ xã hội, cho y tế, giáo dục, đào tạo lại, văn hóa, xây cất nhà cửa, đóng góp chung, thuế má, giao thông, tai nạn, hưu trí…  Nó khẳng định cái tự do của người công dân hôm nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Luồng hàng hải vào sông Hậu và cảng biển Trà Vinh: Trao đổi và kiến nghị      Tiếp theo các bài báo2 và thư tôi gửi Phó  Thủ tướng Hoàng Trung Hải, ngày 25.06.2013, tôi đã làm việc với Bộ GTVT và EVN về việc nạo  vét luồng vào sông Hậu qua Cửa Định An, về dự án Luồng vào sông Hậu qua  Kênh Quan Chánh Bố, và dự án Cảng biển phục vụ Trung tâm Nhiệt điện 3  Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Dưới đây là nội dung trao đổi trong hai buổi  làm việc và mười kiến nghị của tôi3.    I. Về việc nạo vét luồng Định An    Số liệu nạo vét từ năm 1983 đến 2012, do Bộ GTVT và Cục Hàng Hải Việt Nam thông báo, đã được thảo luận.      Trong 30 năm đã có 20 lần nạo vét. Tổng khối lượng nạo vét là 6.979.764 m3; bình quân 233.000 m3/năm và 349.000 m3/lần nạo vét.  Có ý kiến cho rằng các số liệu bình quân không nói lên điều gì bởi đã có năm (1983) khối lượng nạo vét lên đến 1.452.000 m3.  Tôi cho rằng các số liệu bình quân phản ánh trung thực số liệu nạo vét các năm. Số liệu nạo vét năm 1983 là một ngoại lệ, sau 8 năm không nạo vét.  Có ý kiến cho rằng việc nạo vét là không có hiệu quả vì bùn cát sẽ bồi tụ lại ngay sau đó, các bãi cạn dịch chuyển “không theo quy luật nào cả” (báo cáo của Công ty tư vấn PORTCOAST).  Nghiên cứu của HAECON, dựa vào số liệu địa hình cửa sông Hậu đo đạc năm 1996 – 1997, đã chỉ ra các tuyến luồng có thể, và cho rằng luồng tàu thích hợp nhất ở sông Hậu là luồng sử dụng độ sâu tối ưu nhất, đó là luồng triều chính.  Tôi đã trình bày, ngoài số liệu năm 1996, kết quả mà tôi đã có được qua xử lý số liệu địa hình luồng tàu cần nạo vét đo đạc các năm 2004, 2006, 2007 và 2008.   Kết quả cho thấy luồng qua cửa Định An, có một đoạn dài tương đối ổn định và một phần có biến động nhưng sự bồi lắng bùn cát trở lại cần nạo vét duy tu hàng năm có lẽ không lớn như đã được đưa ra.   Từ nhận xét đó4, tại cuộc họp tôi đã đề nghị với Cục Hàng hải Việt Nam:   (KN1) Nên khai thác số liệu địa hình đo đạc định kỳ hàng quý và hàng năm để nhận thức rõ hơn về sự biến động, nhận diện những đoạn nào cần nạo vét duy tu, và kết hợp với số liệu khảo sát về địa chất ở các vị trí này, xác định chuẩn tắc luồng cần nạo vét ở đoạn nào, như thế nào là tối ưu.  Việc bồi tụ trầm tích ở cửa sông là một thực tế có tính quy luật. Tất cả các cảng biển trên thế giới đều phải nạo vét duy tu hàng năm. Nạo vét duy tu Cửa Định An phục vụ các cảng biển trên sông Hậu không phải là một ngoại lệ.   Chính từ những kết quả nói trên, tại hội thảo khoa học tại Cần Thơ ngày 23.05.2008, tôi cho rằng có thể tìm được một luồng vào sông Hậu có hiệu quả tổng hợp, khá ổn định khi được nạo vét duy tu định kỳ theo đúng chuẩn tắc cho tàu biển có trọng tải đến 10000 DWT ra vào (chiếu video), và đã kiến nghị với Chính phủ:   (KN2) Cho phép thực hiện các phương án khả thi nhằm đạt được một “Luồng Định An tự nuôi mình” nếu ngân sách nạo vét duy tu không đủ sức đảm đương.   Đầu tháng 7.2008, một cuộc họp của Cục Hàng Hải Viêt Nam tổ chức tại Cần Thơ, do một Phó Cục trưởng chủ trì, đã xem xét một dự án nạo vét duy tu định kỳ cửa Định An theo phương thức BOT. Trong phần kết luận, hội nghị ghi nhận có một luồng Định An ổn định nếu được nạo vét duy tu định kỳ đúng chuẩn tắc. Phương án nạo vét Cửa Định An theo phương thức BOT là khả thi. Luồng này đã được một công ty tư vấn của chính Cục Hàng hải xác định trong luận chứng kinh tế kỹ thuật lập theo hợp đồng với nhà đầu tư BOT. (Chiếu video).  Tại cuộc họp tôi cũng đã lưu ý về tình hình xói lở ở Hộ Tàu (có thể nhìn thấy rất rõ qua ảnh vệ tinh các năm 1979, 1989, 2001). Sự xói lở này chắc chắn đã ảnh hưởng đến việc bồi lấp trở lại ở nhánh luồng phía Bắc trên đoạn đi qua gần Hộ Tàu trong khoảng thời gian đó.  Tôi cũng cho rằng trong khi nghiên cứu và nạo vét luồng Định An như hiện nay, mà lại kết luận rằng luồng Định An là không thể, là chưa thể hiện hết trách nhiệm đối với luồng qua Cửa Định An.  Tôi ghi nhận các đề xuất gần đây của Bộ trong báo cáo số 4975/BGTVT-KHĐT ngày 31.5.2013 gửi Thủ tướng Chính phủ, được “thuê thiết bị thi công công suất lớn”, “nghiên cứu xã hội hóa việc duy tu nạo vét luồng (Định An)”, và được “thực hiện rút gọn thủ tục lựa chọn đơn vị nạo vét duy tu” là đã có chuyển biến.  Các đề xuất này gián tiếp thừa nhận rằng việc nạo vét trong thời gian qua hoàn toàn có thể làm nghiêm túc và căn cơ hơn, rằng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong thông báo 189/TB-VPCP tháng 8.2008 trên thực tế hầu như chưa được thực hiện.   Liên quan đến các đề xuất này, tôi đã nêu lên mấy câu hỏi: Tại sao đến bây giờ Bộ GTVT mới đề xuất và tại sao phải “thực hiện rút gọn thủ tục lựa chọn đơn vị nạo vét duy tu”?    II. Về Luồng vào sông Hậu qua Kênh Quan Chánh Bố  1. Trong báo cáo Modelling report_final.doc, trang 20, Công ty tư vấn SNC LAVALLIN viết: “Việc mô phỏng sự vận chuyển trầm tích cần được hoàn tất”.  Ở trang 67, báo cáo này khuyến cáo “cần xây dựng một mô hình toán mô phỏng sự tập trung bùn cát trong toàn bộ hệ thống kênh, như là một hợp phần của thiết kế cuối cùng.”  Việc mô phỏng phụ thuộc trước tiên vào bản thân mô hình toán mô tả hiện tượng vật lý với mức độ chính xác ra sao, vào nhận thức về nguyên lý chi phối (quy định) hiện tượng vật lý của người mô phỏng, và vào các số liệu đầu vào.  + Giáo sư Lương Phương Hậu, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Tư vấn thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi cảu dự án Kênh QCB, nhận xét:  (1) Do chưa thể hiện đầy đủ sự hiểu biết sâu sắc về bản chất các hiện tượng vật lý vốn rất phức tạp ở vùng cửa sông ven biển, số liệu phục vụ nghiên cứu lại quá thiếu thốn, không đồng bộ, nên gặp nhiều khó khăn trong xử lý các vấn đề đặt ra. Số liệu dùng cho các mô hình không đủ tin cậy như thời điểm không tương thích; đo một ngày để chạy cho cả tháng, cả năm; số liệu về độ mặn, về bùn cát sai,…  (2) Vận dụng các mô hình chưa thật hợp lý nên kết quả chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra là bổ sung các mô hình toán để làm rõ thêm, trong điều kiện hiện tại và sau khi có kênh tắt cùng nạo vét luồng, sáu vấn đề: Chế độ dòng chảy kênh Quan Chánh Bố và cửa Đại An; Chế độ dòng chảy kênh tắt và cửa kênh tắt chảy ra biển; Ảnh hưởng xâm nhập mặn; Chế độ bùn cát và bồi xói; Chế độ sóng, bão và tác động của chúng lên công trình; Ảnh hưởng của đê ngăn cát giảm sóng đối với diễn biến bờ biển khu vực lân cận;  Tại Hội thảo kỳ 2 về Luồng Kênh Quan Chánh Bố ngày 5-10-2004 tại Hà Nội, Giáo sư L.P. Hậu cho rằng “Việc xây dựng đê chắn sóng ở cửa vào Kênh Tắt phía biển sẽ tạo ra một cửa Định An khác”.  + Về phần mình, theo dõi, góp ý với dự án từ tháng 6.2005, tôi ủng hộ ý tưởng tìm một luồng mới vào sông Hậu, nhưng với điều kiện phải bảo đảm tính khả thi, bền vững của công trình và làm rõ tác động lên môi trường, bảo vệ báo cáo tác động môi trường đúng với quy định của Luật bảo vệ môi trường.  Làm việc với Công ty tư vấn PORTCOAST từ năm 2006, tôi đề nghị làm rõ đầu trổ ra biển của Kênh Tắt thuộc loại cửa sông nào, triều chi phối, sông chi phối, hay hỗn hợp vì điều này quyết định cơ chế lắng đọng bùn cát tại đầu ra của kênh.   Mặt khác, không tìm thấy mô phỏng với số liệu trong mùa gió chướng, nhất là lúc trùng hợp với triều cường, tôi đã đề nghị bổ sung số liệu ngay từ lúc đó.   Để thấy tầm quan trọng của đề xuất, tôi đã nhắc lại hậu quả của sóng trong mùa gió chướng trùng hợp với triều cường cuối tháng 10 đầu tháng 11.2011, đã đánh vở đê tạm bảo vệ công trình tôn nền NMNĐ DH1 Trà Vinh. (Xem dưới đây).  Kết quả mô phỏng mà PORTCOAST trình bày về trường bùn cát trong kênh Quan Chánh Bố trước và sau khi đào kênh Tắt, là không thể chấp nhận.      PORTCOAST cần nói rõ trong mấy năm gần đây, hệ thống số liệu đã bổ sung thêm được gì, và đã khắc phục nhược điểm căn bản này đến mức độ nào.   Thuê lại công ty tư vấn nước ngoài, sử dụng mô hình toán tiên tiến không có nghĩa là đã giải quyết hai vấn đề trên. Kết quả vẫn tùy thuộc vào số liệu và sự hiểu biết sâu sắc về bản chất các hiện tượng vật lý của người mô chạy mô hình.  2. Có ý kiến cho rằng dự án trước khi được Chính phủ phê duyệt5 đã nhận được sự đồng ý của các Bộ có liên quan. Tôi đã nhắc lại ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:  “Kết luận cuối cùng của cơ quan thẩm tra độc lập chưa khẳng định rõ tính khả thi của dự án về những giải pháp kỹ thuật. Đề nghị Bộ GTVT lưu ý, chỉ đạo tiếp tục bổ sung hoàn thiện.”6,   và   “Sự ổn định của Luồng quyết định tính khả thi của dự án. (…) Bộ KH và ĐT đã có ý kiến tại văn bản số 2021/BKH-TĐ&GSĐT ngày 28/3/2006, theo đó đề nghị Bộ GTVT chỉ đạo Tư vấn cần có kết luận về những vấn đề như sự ổn định của luồng trên kênh, cửa biển, và đánh giá mức độ bồi lắng, khối lượng nạo vét hàng năm, sự xói lỡ bờ kênh, …”  .  Và của Bộ Tài nguyên và Môi trường:   “Bộ TNMT đã lưu ý về độ tin cậy của các số liệu, đặc biệt về khí tượng, thủy văn và hải văn được sử dụng trong báo cáo. Ngoài ra cũng đề xuất việc cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá khả năng bồi lắp trở lại đối với luồng tàu qua cửa Định An để xác định hiệu quả kinh tế của dự án”7;   “Bộ TNMT tiếp tục yêu cầu dự án phải làm rõ khối lượng bùn cát cần nạo vét hàng năm, đánh giá cụ thể các tác động lên hoạt động cấp nước và thoát lũ trong khu vực khi hình thành kênh đào mới.”8;   “Cho đến nay chủ dự án chưa trình báo cáo ĐTM chi tiết”10.  3. Bộ GTVT khẳng định việc phê duyệt báo cáo tác động môi trường của dự án là đúng luật, căn cứ vào Luật bảo vệ môi trường và các nghị định, thông tư hướng dẫn.  Tôi cho rằng việc phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án luồng qua kênh QCB là không đúng luật vì dự án luồng qua kênh QCB + Kênh tắt không chỉ liên quan đến ngành GTVT và cũng không chỉ liên quan đến tỉnh Trà Vinh, trong tác động lên môi trường, kinh tế và xã hội. Trước những phát sinh mới, tôi kiến nghị:  (KN3) Khi kết hợp các tuyến đê chắn sóng của dự án luồng qua Kênh Quan Chánh Bố và của dự án Cảng biển của Trung tâm nhiệt điện Duyên hải lại trong một công trình (xem dưới đây), phải làm lại báo cáo và thẩm định, phê duyệt đúng với quy định của pháp luật.  4. Những thay đổi trong dự án Luồng qua Kênh QCB  Báo cáo của Công ty tư vấn PORTCOAST tại cuộc họp cho biết so với dự án được duyệt đã có nhiều điều chỉnh và thay đổi như:  Khối lượng nạo vét luồng:      28,1 triệu m3        thay vì     22 triệu m3;  Kè dọc tuyến luồng:     35,94 km        thay vì    27,57 km;  Giải phóng mặt bằng: 1406,47 ha        thay vì    300 ha;  Thay cầu Kênh bắt qua Kênh Tắt bằng phà Kênh Tắt trên TL 53;  Thay đổi mái dốc nạo vét do nền đất yếu;   Thay đổi đê chắn cát thành đê chắn sóng;   Kết hợp đê chắn sóng của dự án luồng với dự án Cảng biển TTNĐ Trà Vinh.  Những điều chỉnh và thay đổi đã dẫn tới tổng mức đầu tư được Bộ GTVT duyệt tại QĐ 3744 ngày 30.11.2007, từ 3.148,5 tỷ đồng lên 10.319,2 tỷ đồng.   Những thay đổi trên đây và tổng mức đầu tư của dự án tăng lên 3,28 lần, thể hiện không thể rõ ràng hơn rằng báo cáo nghiên cứu khả thi và luận chứng kinh tế kỹ thuật trước đây làm không đạt yêu cầu. Nhưng quan trọng là liệu những thay đổi này đã phải là cuối cùng? và có bảo đảm luồng sẽ tồn tại bền vững?   Về mặt quản lý nhà nước, theo tôi nghĩ, cách chuẩn bị hồ sơ dự án, cách phê duyệt dự án luồng qua Kênh Quan Chánh Bố (kể cả cách phê duyệt báo cáo tác động môi trường) rõ ràng là có nhiều bất cập. Xin kiến nghị:   (KN4) Cần xem xét, rà soát lại dự án này, thậm chí phải phê duyệt lại dự án với tất cả các đổi thay quan trọng. Nói chung, cần xem lại quy trình xét duyệt dự án.  5. Về kết hợp đê chắn sóng của 2 dự án KQCB và Cảng biển TTNĐTV  Trong các đổi thay, việc kết hợp tuyến đê chắn sóng của cảng biển NHMĐ Duyên Hải với đê chắn cát nay đổi thành đê chắn sóng ở đầu ra của Kênh Tắt trong dự án luồng vào sông Hậu qua Kênh Quan Chánh Bố là một thay đổi quan trọng về nhiều phương diện.  Việc kết hợp này làm phát sinh mấy vấn đề mới cần được làm rõ.  (1) Kết hợp một dự án đầu tư của một doanh nghiệp (cho dù là doanh nghiệp nhà nước) với một dự án sử dụng ngân sách nhà nước. Do vậy:  (KN5) Cần xác định rõ cơ chế tài chính trong mô hình kết hợp này tránh khả năng “gài hai chiều” (như đề cập dưới đây).   Việc kết hợp có nhiều khả năng sẽ “gài” dự án luồng qua Kênh QCB (trong khi còn nhiều vấn đề về tính khả thi và bền vững) vào tiến trình của NMNĐ Duyên hải, đặc biệt về kinh phí, và ngược lại (vì vậy tôi gọi là “gài hai chiều”).  (2) Liệu việc kết hợp hai dự án có “gài” luôn việc lấy đất đào Kênh Tắt để tôn nền Trung tâm nhiệt điện hay không?11. Đây là lý do bổ sung để “gài” vấn đề cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho dự án luồng qua Kênh Quan Chánh Bố.  (3) Báo cáo tác động môi trường riêng lẽ cho từng dự án không còn giá trị12.  (KN6) Cần xét duyệt báo cáo ĐTM mới của cảng với đê chắn sóng kết hợp lên bờ biển huyện Duyên Hải từ cửa Cung Hầu cho tới Cửa Định An.   III. Làm việc với EVN về Trung tâm nhiệt điện Trà Vinh và Cảng biển  Dự án Trung tâm điện lực Duyên Hải có tổng vốn đầu tư 5 tỉ USD, tổng công suất khoảng 4.200 MW. Đây là một trong những trung tâm điện lực lớn nhất nước, với hệ thống cảng biển tiếp nhận than cho toàn bộ trung tâm, sản xuất theo công nghệ nhiệt điện than.  Trung tâm gồm có ba tổ máy: Duyên Hải 1 (DH1) công suất 1.200 MW do Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, nguồn vốn ban đầu hơn 10 ngàn tỉ đồng; tổ máy DH2 công suất 1.200 MW và tổ máy DH3 công suất 2.000 MW do một tập đoàn kinh tế của Malaysia làm chủ đầu tư.  Dự án tọa lạc tại ấp Mù U và Láng Cháo, thuộc xã Dân Thành và một phần ấp Cồn Trứng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải. Tổng diện tích dự án đã được phê duyệt trên 640 ha, trong đó có 306 ha diện tích lấn biển.    1. Về dự án xây dựng Trung tâm nhiệt điện Trà Vinh  Trong buổi làm việc tôi đã nêu câu hỏi: đất cát để tôn nền Trung tâm lấy từ đâu, và là bao nhiêu? Tôi nhận được hai con số về tổng khối lượng đất cần để tôn nền là 1,7 triệu m3 và 3 triệu m3. Theo tôi, qua tổng diện tích mặt bằng của Trung tâm nhiệt điện và chiều cao cần tôn lên, con số này phải cao hơn nhiều lần.   Theo lãnh đạo Sở TN-MT tỉnh Trà Vinh, theo báo cáo ĐTM của dự án đã được phê duyệt thì cát san lấp dự kiến lấy từ 2 nguồn chính là dùng cát nạo vét được từ khu vực dự kiến làm khu vực cảng biển và cát nạo vét từ các khu vực biển lân cận Trung tâm điện lực Duyên Hải13.  Việc lấy cát từ bãi biển để tôn nền dẫn đến hậu quả khôn lường vì sẽ làm thay đổi địa hình bãi biển và tạo nên một dòng chảy xoáy. Dòng chảy này sẽ xói lở bờ biển tại chỗ và trong một vùng lân cận, rộng hay hẹp tùy thuộc vào khối lượng cát lấy đi. Quy luật này đã được kiểm nghiệm qua thực tế, tại hiện trường.  Quá trình thi công san lấp mặt bằng của tổ máy DH1 đã bị người dân phản đối và gửi đơn khiếu nại đến các ngành chức năng tại tỉnh Trà Vinh.  Theo người dân tại địa phương, “từ cuối năm 2009 khi đơn vị thi công tiến hành hút cát để thi công san lấp mặt bằng thì các đoạn đê chung quanh khu vực trên bắt đầu có hiện tượng sạt lở. Từ cuối năm 2010, hiện tượng sạt lở đê bao ven biển liên tục xảy ra, có khi vài tháng bị sạt lở đến 3 lần, mỗi lần sạt lở sâu vào ít nhất trên 20m, làm mất từ 500 – 700m2 đất sản xuất, nuôi trồng của dân. Hiện nay, vào những ngày gió to, sóng lớn, các hộ dân trong khu vực phải thay nhau thức trắng đêm để canh chừng, sợ đê bao bị vỡ, nước biển sẽ tràn vào đe dọa tính mạng và tài sản của dân”.            Cuối tháng 10, đầu tháng 11.2011, nước biển  dâng cao do gió chướng cộng hưởng với triều cường đã làm nước biển tràn  qua đê tạm vào bên trong khu vực đang thi công nền của NMNĐ DH1. Do  sóng cao, lượng nước ập vào quá lớn nên khi nước biển rút ra, toàn bộ  tuyến đê tạm bảo vệ công trình (cao 3,5 mét) bị biến dạng, bề mặt đê bị  lún rất sâu, một số đoạn sạt mái và hư hỏng hoàn toàn.        Mặc dù vậy, việc lấy cát biển để tôn nền vẫn tiếp diễn14. Tháng 9.2011, Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh đã phải yêu cầu BQLDA Nhiệt điện III đình chỉ ngay việc khai thác cát biển làm VLXD tại xóm Khâu Lầu, xã Trường Long Hà, huyện Duyên Hải.  Theo tôi nghĩ cần nắm rõ quy luật, đừng làm trái quy luật thì mới không bị bất ngờ như đã xảy ra: “Trong thiết kế đê tạm, đơn vị thiết kế cũng tính đến việc tác động của sóng biển. Cụ thể, theo thiết kế thì tần suất mà sóng biển có thể ảnh hưởng đến đê là 20 năm mới xảy ra một lần. Nhưng không ngờ nước biển cao, sóng mạnh quá mức tính toán”.  Địa hình huyện Duyên hải, ngoài các giồng cát, rất thấp. Ảnh vệ tinh cho thấy cùng với mất rừng ngập mặn trên diện rộng, các vuông tôm đã “ăn” vào các giồng cát từ đầu những năm 2000.  Việc nhà đầu tư đã lấy tài sản công (cát biển) để tôn nền, đã lấy đất từ đào kênh Tắt để tôn nền NMNĐ (cần kiểm tra), là những gương xấu cho người dân đào cát trong các vuông tôm trên đất của mình đem bán cho nhà thầu để tôn nền. (Xem video của VTV ngày 24.05.2013).   (KN7) Đây là một vấn đề mà quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường cần chấn chỉnh và quy định chặt chẽ.  2. Về dự án xây dựng Cảng biển cho Trung tâm nhiệt điện Trà Vinh  Cảng biển phục vụ cho TTNĐ Duyên Hải là một công trình biển rất quan trọng về nhiều phương diện. Tuy vậy, nội dung làm việc giới hạn vào đánh giá tác động của Cảng lên đường bờ và ngược lại, không đề cập đến loại than nhập, nhập từ đâu, giá than nhập, những yếu tố quyết định hiệu quả kinh tế của TTNĐ DH.  Những vấn đề mới đặt ra, cần được làm rõ khi kết hợp các đê chắn sóng của dự án cảng biển và dự án luồng qua Kênh Quan Chánh Bố đã được đề cập trên đây.  Báo cáo tác động môi trường của dự án kết hợp các tuyến đê chắn sóng cần làm rõ tác động lên đường bờ không chỉ cục bộ tại địa bàn mà lên suốt dọc bờ biển tỉnh Trà Vinh, lên các cửa sông Cung Hầu, Định An và Trần Đề.  Theo EVN, dự án Cảng biển sẽ được hoàn vốn sau 18 năm. Nhưng hậu quả của tác động của cảng và các đê chắn sóng còn có thể kéo dài trong nhiều thập kỷ. Tôi không rõ Nhà nước đã có những quy định gì về trách nhiệm đối với hậu quả của việc xây dựng cảng đối với vùng duyên hải về môi trường, kinh tế và xã hội.  (KN8) Cơ quan nào có trách nhiệm phê duyệt phương án kết hợp sẽ chịu trách nhiệm đối với hậu quả gây ra cho bờ biển và cho đời sống người dân suốt dọc duyên hải. Cần làm rõ phạm vi trách nhiệm của nhà đầu tư, trong nước và ngoài nước.   Tôi đã trình bày với cuộc họp diễn biến đường bờ của tỉnh Trà Vinh từ năm 1973 đến nay qua ảnh vệ tinh và qua ký ức của nhân dân địa phương; những hình ảnh khảo sát hiện trường và ảnh vệ tinh về tác động của cảng Phan Thiết (cửa sông Cà Ty), cảng La Gi (cửa sông Dinh, Huyện Hàm Tân) ở tỉnh Thuận Hải, và cảng Phú Quý (đảo Phú Quý) lên đường bờ.   Tác động bồi tụ và xói lở hai bên đê chắn sóng rất quan trọng. thấy rất rõ chỉ trong khoảng thời gian độ mười năm, từ 2001 đến 2012, thậm chí ngắn hơn.  3. Nhận thức về bờ biển và tác động lên đường bờ  Cảm nhận chung của tôi sau hai buổi làm việc với Bộ GTVT và EVN là nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của các hậu quả khi tác động lên bờ biển và vùng duyên hải chưa đúng mức.  Mọi người đều biết khi một công trình được xây dựng trên bờ biển, nó sẽ tác động lên bờ biển, và ngược lại bờ biển, cả vùng duyên hải sẽ tác động trở lại công trình. Tác động hai chiều này không phải tức thì mà trong một thời gian sau đó, dài hay ngắn tùy thuộc vào quy mô của công trình, chiều sâu, rộng của tác động và mức độ biến động của bờ biển tại nơi xây dựng công trình.  Khi công trình còn làm thay đổi cả địa mạo tư nhiên, hệ thống sông rạch, sự trao đổi nước giữa biển và nội địa, như trường hợp luồng qua kênh QCB + Kênh tắt, thì tầm tác động còn sâu rộng hơn, phức tạp hơn, không chỉ ở huyện Duyên hải tỉnh Trà Vinh mà lên cả các tỉnh lân cận. Vì vậy:  (KN9) (1) Cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bờ biển và tác động lên đường bờ trong xã hội, trước tiên trong quản lý nhà nước.    (2) Liên quan đến hai dự án, ngoài việc mô phỏng bằng mô hình số, cần tiến hành các mô phỏng cần thiết bằng mô hình vật lý.  Tuy có tốn kém nhưng đây là sự tốn kém cần thiết và là sự đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này đối với một đất nước có bờ biển dài như Việt Nam, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng.     IV. Chưa tính đến bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng  Từ cuối năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 158/QĐ-TTg ngày 02.12.2008, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.   Trong phần quan điểm chỉ đạo cũng như trong phần xây dựng kế hoạch hành động, có ghi rõ “các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu phải thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát tiển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và được quán triệt trong tổ chức thực hiện”.   Trong cả hai dự án đều chưa tính đến tác động của biến đổi khí hậu nước biển dâng. Theo EVN, việc xây dựng các công trình chỉ dựa trên 18 tiêu chí và các tiêu chuẩn xây dựng công trình biển hiện nay.  Đây không phải là trường hợp riêng biệt. Quan điểm chỉ đạo trên đây chưa thực sự đi vào công tác quản lý nhà nước.  Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng không phải chỉ là ngập tĩnh mà còn là những thay đổi về động lực học biển ven bờ trong tương tác với công trình và đường bờ.   Từ thực tế này, tôi xin kiến nghị:  (KN10) Cần sớm thể chế hóa quan điểm chỉ đạo trong QĐ 158/QĐ-TTg bằng một văn bản pháp quy có hiệu lực cao trong công tác quy hoạch, kế hoạch và xét duyệt dự án, công trình, đặc biệt có liên quan đến bờ biển.  —  1 Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long 60-B (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007).  2 Gần đây có bài Điều gì đang diễn ra ở Huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh? Báo Đại biểu nhân dân, ngày 20.8.2012, http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=255794 và bài Nạo vét cửa Định An: Về giải trình của Bộ Giao thông – Vận tải, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 10.6.2013, http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=282921      3 Đã được gửi đến Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, các Bộ trưởng có liên quan, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh và T.phố Cần Thơ.  4 Hai nghiên cứu gần đây Nguyen, V. T., Zheng J. H., and Luong, P. H. (2011) và Nguyen Viet Thanh, Zheng J. H, Zhang J. S, (2013) xác định thêm diễn biến và mức độ của đoạn không ổn định giữa các bãi ngầm.  5 Công văn số 123/TTg-CN do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký ngày 22.01.2007.  6 Công văn số 8465/BKH-TĐ&GSĐT ngày 15/11/2006.  7 Công văn số 346/BKH/KCHT&ĐT ngày 16/01/2008, do Bộ trưởng Võ Hồng Phúc ký      8 Công văn số 4443/BTNMT-TĐ, ngày 11/11/2005,   9 Công văn số 4157/BTNMT-TĐ, ngày 27/9/2006.  10 Công văn số 3382/BTN-TĐ của Bộ TNMT ngày 04/9/2007, do BT Phạm Khôi Nguyên ký.  11 Tháng 8.2010 và tháng 1.2011, tôi đã chụp ảnh đất lấy từ đào Kênh Tắt được đưa về nền nhà máy D1.  12 Rất tiếc tôi chưa có được văn bản báo cáo ĐTM và văn bản phê duyệt riêng lẻ của cả hai dự án.  13 Thế nào là “các khu vực lân cận”? Điều này chưa được làm rõ trong báo cáo của EVN ngày 25.6.2013.  14 Trong 2 đợt kiểm tra của Sở TN&MT vào tháng 5 và tháng 7/2011, cơ quan chức năng của tỉnh đã phát hiện đơn vị thi công vi phạm khai thác cát biển không có giấy phép.   Vào lúc 10 giờ 15 ngày 19.7, lãnh đạo Sở TN-MT, Thanh tra TN-MT, UBND tỉnh, PC49, UBND Huyện Duyên Hải và UBND xã tiếp tục kiểm tra thì phát hiện có 4 máy bơm hút cát cùng 1 sà lan chở cát của Công ty Hồng Lực (TP Trà Vinh), 1 xáng cạp của Công ty Phú Thành (TP Trà Vinh) đang tiếp tục khai thác cát trái phép trên diện tích khoảng 50 ha (chiều sâu gần 10m, trong khu quy hoạch làm bãi chứa xỉ than) để lấy cát san lấp mặt bằng cho dự án, làm một đoạn bờ biển dài trên 2 km bị sạt lở nghiêm trọng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Lý anh Mèo” và một thói nhìn lạc hậu      Hầu như cả độc giả và truyền thông đại chúng luôn nhận xét về văn hóa dân tộc thiểu số “lạc hậu” bằng cái nhìn phân biệt “có văn hóa cao và thấp” mang tính tiến hóa. Đó là tư tưởng cũ nên loại bỏ, nhường chỗ cho cái nhìn tôn trọng sự đa dạng văn hóa, thấu hiểu và nhân văn hơn.        Những người phụ nữ Hmông trong phiên chợ miền núi.  Tuần qua, clip “Màn đối đáp giữa quan tòa và bị cáo cướp vợ” đã thu hút đông đảo người xem trên các mạng xã hội, đặc biệt là giới trẻ, và họ cười ngặt nghẽo, bình luận hài hước, chê bai lạc hậu. Tất cả yếu tố gây hài đều do “sự thiếu hiểu biết” tới ngây ngốc cho đến biểu cảm “thộn” của một chàng trai, hay việc lưu giữ những “hủ tục lạc hậu” như “cướp vợ”, “cúng” ở tộc người Hmông mà anh là người đại diện. Ngay hôm sau, nhiều báo lớn đăng tải bài viết nhận xét clip này “hài hước”, “đầy tính giáo dục” và “có nhiều bài học rút ra1” cho công tác tuyên truyền, giáo dục người dân tộc thiểu số để họ tuân thủ pháp luật. Và dường như đó là tất cả những gì chúng ta đang thấy trên truyền thông về nhiều dân tộc thiểu số, một cách mặc định, họ vô cùng “lạc hậu, thấp kém”, hoặc có phần “mông muội”.  Hiện tượng đó phản ánh một thực tế, đó là một cách vô thức, không chỉ truyền thông mà cả số đông chúng ta – những người xem, đang nhận xét về văn hóa các tộc người thiểu số theo quan điểm tiến hóa xã hội, mà không hề biết rằng đó là một quan điểm sai lầm từ lâu đã bị những tư tưởng tiến bộ lên án và bác bỏ.  Tư tưởng tiến hóa xã hội (social evolutionism) đã từng thống trị thế kỷ 192 với lý luận chủ yếu rằng các tộc người trên thế giới đang ở trong những giai đoạn phát triển khác nhau, bao gồm: mông muội, dã man và văn minh (savagery, barbarism, civilization). Chỉ xã hội phương Tây mới đạt tới giai đoạn tiến hóa cao nhất, còn mọi dân tộc khác ngoài phương Tây đều có văn hóa thấp hơn. Lý luận này là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân trong giai đoạn phát triển bùng nổ, khi các nền văn hóa ngoài châu Âu hiện lên đầy lạ lẫm, lạc hậu trong những mô tả sai lệch và định kiến của các “nhà khai sáng”.  Cùng với sự suy tàn của chế độ thực dân, các học giả châu Âu tiếp xúc những nền văn hóa ngoài châu Âu ngày càng nhiều, thay cho các mô tả thiên kiến trước đây là các miêu thuật ngày càng tôn trọng hơn để tiến tới thấu hiểu các bản sắc văn hóa phi Tây phương. Hàng loạt trào lưu lý thuyết ra đời sau chấp nhận, tôn trọng sự tồn tại đa dạng của các nền văn hóa, các luận điểm tiến hóa từ thấp đến cao bị bẻ gãy, cái nhìn dân tộc khác như những “kẻ thấp hèn” bị phê phán, loại trừ ra khỏi các thảo luận khoa học. Trong nghiên cứu văn hóa, cách tiếp cận văn hóa bằng con mắt của người ngoài cuộc cũng dần được thay thế bởi quan điểm khác – nhân văn hơn – quan điểm của người trong cuộc3.  Quay trở lại câu chuyện hài ở trên, clip dàn dựng của một ê – kip chương trình đã phản ánh cái nhìn của đa số trong chúng ta: cái nhìn về một nền văn hóa khác dưới góc độ người ngoài (outsider). Nhưng ngược lại, nếu một anh Tây nhận xét người Việt cực kỳ thấp kém và lạc hậu vì “thế kỷ 21 rồi vẫn xì xụp khấn vái xin thần thánh tài lộc, quan chức cho đến con cái … hay mọi nhu cầu cuộc sống khác”, hẳn là chúng ta sẽ gân cổ cãi “đấy là văn hóa của tao, phải tôn trọng sự khác biệt”. Vậy đấy, chúng ta thường nhận xét về các nền văn hóa khác bằng định kiến của người ngoài cuộc, nhưng vẫn luôn đòi hỏi người khác nhìn nhận mình trên quan điểm tôn trọng sự đa dạng văn hóa của qua lăng kính của người trong cuộc (insider).  Hẳn vì chúng ta đã sống quá lâu với nhận thức rằng các tộc người thiểu số kém văn minh hơn, được truyền thông rằng các tộc người đó giữ hủ tục lạc hậu, được “cho thấy” hoặc tận mắt chứng kiến họ nghèo khổ, thiếu thốn mà ít khi cố gắng thấu hiểu nền văn hóa đó bằng trái tim đồng cảm, con mắt sáng suốt và trên quan điểm tôn trọng đa dạng văn hóa tộc người. Đã quá lâu xã hội ta thấm đẫm tinh thần tiến hóa văn hóa mà chúng ta không hề nhận ra điều đó. Và tự bao giờ, cái sai lệch, thiên kiến trong đôi mắt đa số trở thành cái hiển nhiên đúng.  Đặc biệt, xu thế đó lại càng trở nên trầm trọng hơn khi các đơn vị truyền thông, đại diện cho tiếng nói của thể chế hoặc của cả xã hội đưa các thông tin với quan điểm sai lệch, càng củng cố cho những cái nhìn, kiến thức sai lầm trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, và khắc sâu sự hiểu lầm giữa các tộc người khác nhau.  Muốn thay đổi, hãy giã từ quan điểm tiến hóa lạc hậu của chế độ thực dân xưa cũ để cố gắng thấu hiểu hơn và tôn trọng sự đa dạng bằng ánh mắt của người trong cuộc. Ví dụ, trước hết, xin hãy gọi đúng tên tộc danh Hmông4 với âm “h” câm thay vì tự định danh họ bằng những khái niệm khác. Nhưng để bắt đầu, trước hết không phải là truyền thông, truyền thông chỉ là phương tiện thể hiện tiếng nói, quan điểm của các nhóm đa số trong xã hội mà sự thay đổi phải bắt đầu từ tư tưởng, từ thể chế.     —————–  Chú thích  1Báo Thanh niên http://thanhnien.vn/gioi-tre/man-doi-dap-giua-quan-toa-va-bi-cao-cuop-vo-gay-sot-mang-683068.html, truy cập ngày 31/03/2016  Báo điện tử Zing http://news.zing.vn/bai-hoc-sau-doi-dap-cua-bi-cao-cuop-vo-trong-toa-tuyen-an-post635742.html, truy cập ngày 31/3/2016  2 Tiến hóa luận đơn tuyến do Lewis Henry Morgan và Edward Burnett Tylor khởi xướng với các công trình tiêu biểu Xã hội nguyên thủy (Ancient Society or Researches in the Lines of Human Progress from Savagery through Barbarism to Civilization) và Văn hóa nguyên thủy (Primitive culture : researches into the development of mythology, philosophy, religion, language, art, and custom)   3 Quan điểm tiếp cận văn hóa bằng con mắt người trong cuộc (emic) thay thế cho quan điểm người ngoài cuộc (etic) đã dấy lên trong khoa học lâu nay. Tham khảo thêm http://www.columbia.edu/~da358/publications/etic_emic.pdf  4 Để viết chính xác, tham khảo quy định về Danh mục tên các dân tộc ở Việt Nam http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=405&idmid=6&ItemID=1851     Author                Bảo Như        
__label__tiasang Lý Đăng Huy: Nhà kỹ trị xuất chúng      Sự phát triển kinh tế thần kỳ của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) trong nửa sau của thế kỷ 20 cho thấy vai trò mang tính quyết định của những lãnh đạo giỏi theo trường phái kỹ trị1. Nổi bật trong số đó là trường hợp cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy.      Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (1923 – ) vẫn còn rất minh mẫn dù đã 95 tuổi. Ảnh: Defense.pk   Dù chỉ là một hòn đảo nhỏ, ít tài nguyên, lại hay bị thiên tai và có xuất phát điểm thấp với hàng triệu người sống trong cảnh nghèo đói trong thập niên 1950, nhưng chỉ sau 30 năm, Đài Loan đã cất cánh, hóa rồng và dân chủ hóa thành công. Có nhiều nguyên nhân – cả trực tiếp lẫn gián tiếp – lý giải cho kỳ tích này, song quan trọng nhất có lẽ là do chính quyền Đài Loan đã xây dựng được một chính phủ kiến tạo, giúp huy động hiệu quả các nguồn lực vào việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ. Có lẽ, mô hình ấy đã không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu tài năng và đóng góp của những lãnh đạo kỹ trị tài giỏi – có trách nhiệm, dám quyết định, làm việc vì dân vì nước nhiều hơn là cho cá nhân. Trong đó, Lý Đăng Huy chính là một ngôi sao sáng nhất.  Học giả và chính khách  Sinh trưởng trong thời kỳ cai trị của Đế quốc Nhật Bản, tiếp đó là Quốc Dân Đảng Trung Hoa (chạy sang sau khi thua trận ở Đại lục), Lý rất thấu hiểu và thông cảm với khát vọng thịnh vượng, công bằng, dân chủ của những người đồng hương Đài Loan bản địa và ý thức được rằng chính quyền cần tôn trọng ước nguyện đó nếu muốn được người dân ủng hộ. Từ thập niên 1960, bằng tài năng, phong cách kỹ trị và sự nhẫn nại, Lý được cố Tổng thống Tưởng Kinh Quốc để ý, mời tham gia chính trường, trải qua nhiều chức vụ như Bộ trưởng không Bộ, Thị trưởng Đài Bắc, Chủ tịch Tỉnh Đài Loan, trước khi trở thành Phó Tổng thống và được Tưởng chỉ định kế vị, chấm dứt chế độ “cha truyền con nối”. Khi lên thay Tưởng (qua đời) năm 1988, được bầu làm Chủ tịch Quốc dân Đảng và trở thành Tổng thống dân cử đầu tiên vào năm 1996, Lý thật sự đã hoàn thành rất nhiều sứ mệnh, bên cạnh phát triển kinh tế là từng bước mở rộng không gian cho các quyền tự do, tự nguyện giảm bớt quyền lực và ảnh hưởng của Quốc dân Đảng để thiết lập một nền tảng dân chủ vững chắc cho đảo quốc. Tới nay, so với nhiều quốc gia phát triển khác ở châu Á như Hàn Quốc, Hongkong và Singapore, người Đài Loan có vẻ đã đạt mức độ tự do dân chủ cao hơn và cũng không thua kém châu Âu là mấy.     Cá nhân Lý Đăng Huy vốn được đánh giá mang phong cách của một trí thức hơn là chính trị gia lão luyện. Học giỏi, Lý tốt nghiệp Đại học đế chế Kyoto Imperial University (Nhật Bản) chuyên ngành kinh tế, Đại học Quốc gia Đài Loan (National Taiwan University – NTU) chuyên ngành nông nghiệp, lấy bằng thạc sĩ tại Iowa State University (Mỹ) và tiến sĩ kinh tế nông nghiệp tại Cornell (Mỹ), trước khi về nước làm giáo sư tại NTU. Đáng chú ý, luận án tiến sĩ của Lý, Intersectoral Capital Flows in the Economic Development of Taiwan, 1895–1960 (tạm dịch: Luồng vốn tư bản liên ngành trong sự phát triển kinh tế Đài Loan, giai đoạn 1895 – 1960), được trao giải luận văn xuất sắc nhất năm 1968 của Hiệp hội Kinh tế Nông nghiệp Mỹ (American Association of Agricultural Economics), và vẫn có ảnh hưởng nhất định cho đến hôm nay.  Ưu tiên nông nghiệp  Nhờ am hiểu Nhật Bản2 và là một chuyên gia kinh tế nông nghiệp, từ sớm Lý đã sang Nhật tìm hiểu và nghiên cứu về chính sách đất đai của nước này trong thời hậu chiến. Cụ thể, Lý đã dành nhiều tháng trời để phân tích Đạo luật đất nông nghiệp Nhật Bản (Agricultural Land Bill) – được Nghị viện Nhật thông qua ngày 15/7/1952 và có tác động lớn đối với sự phát triển kinh tế Nhật. Ngoài ra, Lý còn nghiên cứu về chính sách nông nghiệp dưới thời Thủ tướng Ikeda Hayato (giai đoạn 1960 – 1964), khi ấy nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ của Nhật khiến cả thế giới phải trầm trồ thán phục. Từ những phân tích của mình, Lý nhận ra: các hộ nông dân Nhật đã phải chịu đựng nhiều cú sốc lớn vì sự đánh đổi, khi chính phủ nước này lấy đi một phần lớn diện tích đất nông nghiệp cho mục tiêu công nghiệp hóa. Theo đó, tổng diện tích đất nông nghiệp co lại sẽ gây ra hệ quả: giá đất tăng vọt và hàng triệu nông dân bị buộc phải từ bỏ nghề nông. Mặc dù tổng sản phẩm quốc dân GNP của Nhật, trên thực tế gia tăng rất mạnh, nhưng một khi những cú sốc nghiêm trọng xảy ra, như suy giảm kinh tế, hàng triệu nhân công Nhật có thể sẽ mất việc làm. Chắc chắn, sự phát triển thần kỳ của Nhật trong thập niên 1960 đã mang lại rất nhiều lợi ích cho các tập đoàn khổng lồ, song chính nó cũng góp phần khiến cho không ít nông dân nghèo đi – vì phần lớn thu nhập của họ là không tăng nhiều trên thực tế. Do đó, khi trở về, Lý xác định và quyết tâm phải giúp Đài Loan tránh được “cạm bẫy” này bằng nhiều bản kế hoạch và đề xuất.    Lý Đăng Huy và Tưởng Kinh Quốc (1910 – 1988). Ảnh: Quora.com  Lý Đăng Huy luôn ý thức được rằng việc cân bằng giữa tăng trưởng công nghiệp và bảo vệ lợi ích của nông dân cần phải là mối ưu tiên hàng đầu đối với tương lai kinh tế Đài Loan. Lý luôn nắm vững tư tưởng của nhà kinh tế đoạt giải Nobel Theodore W. Schulz, nhấn mạnh tầm quan trọng của nông nghiệp như một thành tố đóng góp tích cực nhất vào sự phát triển kinh tế quốc dân và chính sách nông nghiệp hợp lý chỉ có thể đạt khi các nhân tố phi nông nghiệp khác – như phúc lợi xã hội, phân bố dân cư và đào tạo hướng nghiệp – được coi trọng.  Năm 1973, Lý tham gia và là kiến trúc sư trưởng xây dựng Đạo luật Phát triển Nông nghiệp (Agricultural Development Act). Cũng trong thời kỳ này, một số tổ hợp công nghiệp của Đài Loan, vận động chính quyền cho phép họ mua nhiều đất nông nghiệp hơn để phục vụ mở rộng quy mô. Lấy ví dụ, Tập đoàn nhựa Formosa, nhằm tận dụng lợi thế nhân công giá rẻ tại khu vực nông thôn, đã huy động rất nhiều tiền mặt để mua 3880 hecta đất với giá thị trường khoảng hơn 40.000 Đài tệ (1000 USD) mỗi hecta. Tuy nhiên, Lý đã phản đối kế hoạch này dữ dội, viện dẫn những gì đã xảy ra đối với khu vực kinh tế nông nghiệp và dân cư nông thôn Nhật Bản trong thập niên 1960. Bằng những tài liệu và thống kê chuyên sâu, Lý lập luân rằng nếu Formosa được cấp phép, khoảng gần 100.000 hecta đất sẽ bị thôn tính tiếp để làm khu công nghiệp và ít nhất nửa triệu nông dân sẽ bị ép phải từ bỏ công việc kinh doanh vừa và nhỏ, truyền thống của mình. Hơn thế nữa, những diện tích đất bị thu mua đó sẽ dễ dàng trở thành đối tượng của tình trạng đầu cơ và gây nên lạm phát. Bên cạnh đó, vì nền công nghiệp của Đài Loan khi ấy hãy còn ở giai đoạn “bán khai” hay vị thành niên, các thành phố sẽ khó có khả năng tiếp nhận hết lượng dân cư dư thừa ở nông thôn. Và với điều kiện phúc lợi cùng mạng lưới an sinh xã hội chưa được hoàn chỉnh, sẽ mang đến rất nhiều vấn nạn, gây hỗn loạn xã hội. Trong nhiều phiên họp nội các, Lý chính là bộ trưởng duy nhất phản đối đề xuất sửa luật – giúp các tập đoàn lớn tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking) nhờ chiếm đất hơn là giúp ích cho người dân và đất nước. Cuối cùng, Tưởng Kinh Quốc (khi ấy còn làm Thủ tướng), bị thuyết phục bởi các ý tưởng của Lý về vốn tri thức, chính sách đất đai và kinh tế nông thôn, đã bác yêu sách của các tập đoàn.   Lý luận và thực tiễn         Lý Đăng Huy không chỉ là người thường xuyên phê phán chính sách công nghiệp hóa vô tội vạ, mà còn có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển hài hòa, cân bằng của kinh tế Đài Loan. Tin tưởng vào sự tiến bộ, Lý hiểu xu thế công nghiệp hóa và đô thị hóa là không thể cưỡng lại, nhưng cần đảm bảo có biện pháp hạn chế bớt những mặt trái do sự biến đổi kinh tế – xã hội sâu sắc gây ra. Chính vì vậy, Lý đã đề xuất đầu tư thêm vốn và nguồn lực cho nhiệm vụ hiện đại hóa nông nghiệp, thông qua hoạt động cơ giới hóa và đào tạo nghề cho nông dân, hỗ trợ chuyển đổi công ăn việc làm tại các địa phương. Điều này cho thấy, Lý không chỉ là người hiểu rõ các lý thuyết kinh tế mà còn vận dụng chúng trong thực tế rất thành công.  Trong thời gian 6 năm làm bộ trưởng, Lý Đăng Huy đã công bố hơn 100 bài báo thể hiện tầm nhìn của mình, với tư cách một học giả hàng đầu, chuyên về nông nghiệp. Trên thực tế, Lý đã chỉ đạo, điều phối rất hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho nông dân, thúc đẩy xây dựng thêm nhiều trường học, đường xá, kho bãi nông sản, hệ thống thủy lợi và kiểm soát lũ lụt, các cơ sở y tế công cộng và phòng khám bệnh mới, mở rộng lưới điện, điện thoại và hệ thống cấp thoát nước tới các ngôi làng lớn nhỏ trên khắp đảo quốc. Nhờ đó, với một cơ sở hạ tầng văn hóa nông nghiệp tương đối hoàn thiện ngay tại chỗ, lực lượng lao động nông thôn của Đài Loan có thể tiếp tục tham gia vào những lĩnh vực, ngành nghề như thủ công mỹ nghệ, dệt may, sửa chữa, lắp ráp thiết bị, hay trồng hoa cho mục đích thương mại, … Người dân nông thôn cũng được khuyến khích sử dụng ô tô, xe máy nhiều hơn để rút ngắn khoảng cách trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học giữa thành thị và nông thôn.  Ngoài ra, nhiều ý tưởng và đề xuất của Lý cũng được đưa vào Đạo luật Phát triển Nông nghiệp (Agricultural Development Act) do Viện Lập pháp (Legislative Yuan) thông qua vào tháng 9/1973. Bên cạnh đó, Lý còn sáng lập Quỹ nghiên cứu phát triển nông nghiệp (Agricultural Research Development Fund) – tháng 9/1974; Quỹ phát triển sữa (Milk Development Fund) – tháng 3/1975; Hiệp hội nuôi lợn thịt (Hog-raising Association) – tháng 8/1975. Chưa kể, bản đề cương trong lĩnh vực chế biến thủy hải sản do Lý soạn thảo cũng được đưa vào luật tháng 3/1977, và những gợi ý về việc giảm thuế đánh vào gạo cũng nhanh chóng trở thành chính sách của chính phủ trong cùng năm. Nhờ vào chuyên môn xuất sắc trong lĩnh vực nông nghiệp, Lý được chính quyền Tưởng Kinh Quốc cử làm đại sứ nhằm thiết lập, nuôi dưỡng mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia kém phát triển hơn ở châu Phi, Mỹ La-tinh và Thái Bình Dương – nơi vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với Đài Loan, thông qua viện trợ vốn, khoa học kỹ thuật và đào tạo nhân lực, trong đó có nông nghiệp.  Có thể nói, nhà kỹ trị tài ba Lý Đăng Huy đã có công rất lớn, dẫn dắt Đài Loan phát triển vượt bậc và tạo nên kỳ tích (Taiwan Micracle)3 – trở thành hình mẫu đáng học hỏi cho những nhà hoạch định chính sách tại các quốc gia đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam.  Chú thích  * Phần lớn ý chính trong bài viết này được đúc kết từ cuốn sách Lee Teng-hui and Taiwan’s Quest for Identity (Shih-Shan Henry Tsai, 2005). Tạm dịch: Lý Đăng Huy và công cuộc tìm kiếm bản sắc của Đài Loan.    1. Kỹ trị (technocracy) là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống quản trị, nơi các nhà hoạch định chính sách được tuyển chọn dựa trên chuyên môn, đặc biệt là kiến thức khoa học trong các lĩnh vực, chứ không phải đảng phái, phe nhóm hay quan hệ chính trị. Hệ thống này tương phản với quan niệm cho rằng nên để các đại diện do dân bầu nên ra quyết định trong chính phủ, dù điều đó không nhất thiết là phải loại bỏ hệ thống dân chủ đại diện.  2. Hưởng nền giáo dục trong thời Nhật cai trị Đài Loan, Lý Đăng Huy rất có thiện cảm với người Nhật. Thậm chí, tại thời điểm năm 1996 khi được bầu làm Tổng thống dân cử đầu tiên của Đài Loan dân chủ, Lý nói tiếng Nhật có phần còn tốt hơn cả tiếng Quan Thoại.  3. Trong giai đoạn 1952 – 1986, GDP của Đài Loan tăng trưởng trung bình hơn 8%, cá biệt có những năm vượt quá 12% như 1973. GDP đầu người năm 1975 chỉ là 700 USD, tới năm 1987 đã đạt gần 5000 USD và Đài Loan trở thành nước có dự trữ ngoại tệ lớn thứ hai thế giới khi đó (chỉ sau Nhật Bản).    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Lý Quang Diệu viết về những ngày cuối đời      Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từ trần vào sáng ngày 23/3, thọ 91 tuổi. Trên cương vị Thủ tướng đầu tiên của Singapore, ông đã góp phần quan trọng vào việc đưa đảo quốc Sư tử trở thành một quốc gia thịnh vượng bậc nhất châu Á. Dù rời cương vị vào năm 1990 nhưng ông vẫn là nhân vật có tầm ảnh hưởng bậc nhất Singapore.  Xin giới thiệu cùng độc giả phần cuối trong cuốn sách “One Man’s View of the World” của ông.   One Man’s View of the World  One Man’s View of the World  &#160;    Trình tự công việc hằng ngày của tôi đã được định sẵn. Tôi thức dậy, kiểm tra email, đọc tin tức, tập thể dục và ăn trưa. Sau đó, tôi đến văn phòng tại Instana, kiểm tra các văn bản và viết các bài báo hoặc bài phát biểu. Vào buổi chiều hoặc tối, tôi thỉnh thoảng có lịch phỏng vấn với các nhà báo, sau đó tôi có thể dành một hoặc hai giờ học tiếng Hoa.  Tôi tập thể dục như một thói quen hằng ngày. Ở tuổi 89, tôi có thể đứng lên mà không cần đến gậy đỡ. Khi tôi còn ở độ tuổi 30, tôi thích hút thuốc và uống bia. Tôi bỏ thuốc lá vì nó đã làm tôi mất giọng trong các chiến dịch tranh cử. Việc này xảy ra trước khi có những nghiên cứu y tế về việc hút thuốc có thể dẫn đến ung thư phổi và cổ họng. Kỳ lạ hơn, sau đó tôi trở nên dị ứng với thuốc lá.  Việc uống bia nhiều khiến tôi có “bụng bia” và nó đã được chụp trong những bức ảnh trên báo chí. Tôi đã bắt đầu chơi golf nhiều hơn để giữ thân hình, nhưng sau đó phải chuyển sang việc chạy bộ và đi bơi, những hoạt động này tốn ít thời gian hơn để đạt được cùng khối lượng luyện tập thể dục. Hiện tại, tôi đi bộ trên máy tập 3 lần mỗi ngày: 12 phút buổi sáng, 15 phút sau giờ trưa và 15 phút sau buổi tối. Trước buổi tối, tôi từng bơi 20 đến 25 phút. Nếu không có nó, tôi không thể có được sức khỏe tốt như hiện nay. Đó là một quy tắc.  Tôi tiếp tục có hẹn gặp những người khác. Bạn phải gặp gỡ người khác vì bạn bắt buộc phải có quan hệ xã hội nếu như bạn muốn mở rộng quan điểm của mình. Bên cạnh người Singapore, tôi gặp cả người từ Malaysia, Indonesia và rất nhiều lần, người Trung Quốc, Châu Âu và người Mỹ. Tôi cố gắng không chỉ gặp những bạn cũ và các chính trị gia hàng đầu mà còn những người từ nhiều lĩnh vực khác nhau như các học giả, người kinh doanh, nhà báo và cả những người bình thường.  Tôi hạn chế nhiều những chuyến bay xa bởi vì hiện tượng chênh lệch múi giờ, đặc biệt là khi tôi đến thăm Mỹ. Cho đến năm 2012, tôi vẫn đến Nhật mỗi năm một lần để nói chuyện tại Hội thảo Tương lai Châu Á- hiện tại là lần thứ 19, được tổ chức bởi tập đoàn truyền thông Nhật Bản Nihon Keizai Shimbun (Nikkei). Có khoảng thời gian, tôi đến thăm Trung Quốc gần như mỗi năm một lần, mặc dù hiện tại tôi không thích đến Bắc Kinh vì sự ô nhiễm ở đấy. Nhưng các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) ở đó nên bạn vẫn phải đến đó để gặp họ. Hội đồng Quốc tế JP Morgan, nơi tôi là một thành viên, đã vinh danh tôi khi tổ chức cuộc gặp thường niên năm 2012 tại Singapore, và Hội đồng Cố vấn của hãng Total cũng vậy. Đi Pháp thì không có vấn đề gì. Mất 12 tiếng bay thẳng trên chiếc Airbus 380, tới đó rồi về. Nhưng đến Mỹ thì mệt mỏi hơn rất nhiều, đặc biệt là vì thay đổi múi giờ, từ ngày trở thành đêm và ngược lại. Đi ra nước ngoài giúp tôi mở mang tầm nhìn. Tôi thấy được cách thức những nước khác phát triển. Không một nước hay thành phố nào đứng yên, tôi đã chứng kiến London và Paris thay đổi, hết lần này qua lần khác.  Rời khỏi chính trường tức là tôi không còn được biết rõ như trước về những việc đang diễn ra và những áp lực phải thay đổi. Vì thế nhìn chung tôi đồng thuận theo quyết định của các bộ trưởng. Tôi hiếm khi bày tỏ những quan điểm trái ngược, ít ra là hiếm khi hơn so với khi tôi còn làm việc trong chính phủ và tham dự các cuộc họp nội các, điều giúp tôi có thể tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận.  Thỉnh thoảng, khi tôi nhất quyết không đồng ý với việc gì đó, tôi bày tỏ quan điểm với Thủ tướng. Một ví dụ là khi chính phủ định giới thiệu lại các chương trình bằng tiếng địa phương Trung Quốc trên các kênh truyền hình miễn phí. Một ý kiến đã được đưa ra: “Hiện tại tiếng Quan thoại đã được thiết lập vững chắc trong người dân rồi, bây giờ chúng ta hãy quay lại tiếng địa phương để những người già có thể thưởng thức các phim truyền hình.” Tôi đã phản đối, chỉ ra rằng khi còn là thủ tướng, tôi đã phải trả một cái giá rất đắt để xóa bỏ các chương trình tiếng địa phương, để khuyến khích mọi người nói tiếng Quan thoại. Vì vậy tại sao giờ phải quay ngược lại? Tôi đã làm cả một thế hệ người gốc Hoa nổi giận, vì các chương trình tiếng địa phương yêu thích của họ đã bị cắt bỏ. Đã từng có một người kể chuyện rất hay tên là Lee Dai Sor trên kênh Rediffusion, và chúng tôi đã phải cắt bỏ chương trình này. Tại sao giờ tôi lại phải đồng ý để tiếng Quảng Đông và Phúc Kiến xâm nhập vào thế hệ tiếp theo? Nếu bạn để chúng quay lại, bạn sẽ thấy nhiều người lớn tuổi bắt đầu nói chuyện với con cháu bằng tiếng địa phương. Điều đó sẽ quay trở lại, chậm rãi nhưng chắc chắn.  Mỗi đất nước cần một thứ ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Việc tích hợp bốn loại ngôn ngữ lại với nhau sau khi người Anh ra đi đã từng là một nhiệm vụ khó khăn của chúng ta.  Tôi phải đấu tranh rất nhiều để biến Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung cho tất cả các trường học và tiếng mẹ đẻ trở thành ngôn ngữ thứ hai. Những nhà sô-vanh ủng hộ tiếng Hoa đã chống lại chính sách này rất gay gắt. Những nhà báo và trường học của người Hoa muốn tăng số học sinh và độc giả của họ. Vì sự kiểm soát của tôi đối với người Hoa lúc đó chưa đủ, nên bộ trưởng báo chí của tôi lúc đó là Li Vei Chen đã phải kiểm soát khắt khe các tòa báo tiếng Hoa, các trường trung học tiếng Hoa cũng như trường Đại học Nanyang cùng nhân viên của họ để hạn chế và ngăn chặn biểu tình, đình công và lãn công.  Cuối cùng thì chính giá trị thị trường của nền giáo dục bằng tiếng Anh đã giải quyết được vấn đề. Vì thế, chúng ta có Singapore ngày nay, với việc tiếng Anh kết nối chúng ta với thế giới và thu hút những tập đoàn đa quốc gia, và tiếng mẹ đẻ được xem như là ngôn ngữ thứ hai, giúp chúng ta có sự gắn kết với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Đó từng là một bước đột phá vượt bậc. Nếu người dân chọn con đường khác, Singapore đã bị đẩy lùi lại.  Vì những lý do tình cảm và thực tiễn trong giao thương với Trung Quốc, chúng ta cần tiếng Hoa như là ngôn ngữ thứ hai. Nhưng chúng ta chắc chắn không cần các tiếng địa phương. Việc đảo ngược quá trình gỡ bỏ tiếng địa phương ra khỏi các phương tiện truyền thông đại chúng – điều mà chúng ta đã phải mất rất nhiều thời gian, năng lượng và nguồn vốn chính trị đạt được – sẽ là một điều hết sức ngớ ngẩn.                                                                   ***  Cuộc sống tốt hơn là cái chết. Nhưng cái chết cuối cùng cũng đến với tất cả mọi người. Đó là thứ mà ở tuổi thanh xuân con người không nghĩ đến. Nhưng ở tuổi 89, tôi thấy lãng tránh vấn đề này là vô ích. Việc tôi quan tâm đó là: Tôi sẽ ra đi như thế nào? Sự kết thúc có đến nhanh chóng không, bằng một cơn đột quỵ ở một trong số các động mạch vành? Hay sẽ là một cơn đột quỵ trong não khiến tôi nằm liệt trên giường bệnh nhiều tháng, trong trạng thái bán hôn mê? Trong số 2 cách đó, tôi thích cách nhanh chóng hơn.  Một thời gian trước đây, tôi đã cho soạn một bản hướng dẫn điều trị y tế cao cấp. Bản hướng nói rằng nếu tôi phải được cho ăn bằng đường ống và không thể hồi phục và ngồi dậy, bác sỹ của tôi sẽ phải tháo ống tube và cho tôi ra đi sớm. Tôi đã để tờ hướng dẫn được ký bởi một người bạn làm luật sư và một bác sĩ.  Nếu bạn không kí một tờ hướng dẫn như vậy, người ta sẽ làm mọi việc có thể để ngăn chặn điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi đã chứng kiến điều này trong nhiều trường hợp khác. Anh rể của vợ tôi, Yong Nyuk Lin, phải đeo ống. Ông ấy ở nhà, và vợ ông ấy cũng nằm liệt giường, trong thân hình tàn tạ. Tâm trí ông ấy đã trở nên vô thức. Hiện tại ông ấy đã chết. Nhưng họ giữ ông ấy như thế trong một vài năm. Làm vậy để làm gì? Thường thì các bác sỹ và người thân của bệnh nhân tin rằng họ nên kéo dài cuộc sống, nhưng tôi thì không đồng ý. Mọi thứ đều đến lúc phải kết thúc và tôi muốn nó xảy ra với tôi càng nhanh và càng ít đau đớn càng tốt, chứ không phải để tôi nằm bất động bán hôn mê trên giường bệnh với một cái ống dịch chuyền thức ăn xuống dạ dày. Trong những trường hợp ấy, người ta chỉ còn là một cái xác mà thôi.  Tôi không thích tự gắn ý nghĩa cho cuộc sống – hoặc nghĩ ra những câu chuyện lớn lao về cuộc đời – mà chỉ tìm cách đo lường nó bằng những gì bạn nghĩ bạn muốn làm trong cuộc sống. Đối với tôi, tôi đã hoàn thành những việc tôi muốn làm, trong khả năng lớn nhất của tôi và tôi hài lòng với việc đó.  Những xã hội khác nhau có những quan điểm triết học khác nhau về cuộc sống hiện tại và kiếp sau. Nếu bạn đến nước Mỹ, bạn sẽ tìm thấy những người theo đạo Thiên chúa nhiệt thành, đặc biệt là trong nhóm người bảo thủ ở vùng Vành đai Kinh Thánh (Bible Belt) chiếm phần lớn miền Nam nước Mỹ. Ở Trung Quốc, mặc dù qua nhiều thập kỷ truyền bá chủ nghĩa Mác và tư tưởng Mao, việc thờ cúng tổ tiên và những phong tục tín ngưỡng khác dựa trên đạo Phật và Đạo Giáo vẫn còn phổ biến. Ở Ấn Độ, niềm tin vào kiếp luân hồi vẫn tồn tại rộng rãi.  Tôi không phải là người theo thuyết vô thần. Tôi không công nhận cũng không phủ nhận việc Chúa tồn tại. Vũ trụ được cho rằng sinh ra từ vụ nổ Big Bang. Nhưng những con người trên thế giới này đã phát triển hơn 20.000 năm qua, trở thành những sinh vật biết suy nghĩ, và có thể có cái nhìn vượt ra ngoài bản thân và khám phá về bản thân. Đó là kết quả của thuyết Tiến hóa Darwin hay đó là do Chúa? Tôi cũng không biết nữa. Do đó tôi không cười nhạo những người tin vào Chúa. Nhưng tôi không nhất thiết phải tin vào Chúa – hay phủ nhận rằng Chúa tồn tại.  Tôi đã có một người bạn rất thân, Hon Sui Sen, một tín đồ Công giáo La mã ngoan đạo. Khi ông ấy gần mất, các linh mục đã ở bên cạnh ông ấy. Ở tuổi 68, ông ấy khá trẻ để ra đi nhưng ông ấy hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi. Là người Công giáo La mã, ông ấy tin rằng ông sẽ gặp lại vợ mình vào kiếp sau. Tôi ước rằng tôi cũng có thể gặp lại vợ mình ở kiếp sau nhưng tôi thực sự không tin vào điều đó. Tôi chỉ không còn tồn tại tương tự như bà ấy không còn tồn tại nữa – chứ nếu không thế giới bên kia sẽ bị quá tải dân số. Thiên đường có phải đủ rộng lớn và không có giới hạn để luôn đủ chỗ cho tất cả mọi người trên thế giới trong hàng ngàn năm qua không? Tôi rất nghi ngờ về điều đó. Nhưng Sui Sen đã tin vào điều đó và nó đã mang lại cho ông ấy sự bình yên nhất định trong tư tưởng khi ông ấy vượt qua những thời khắc cuối cùng bên cạnh các linh mục. Vợ ông ấy, người đã mất vào tháng 11 năm 2012, đã tin rằng họ sẽ gặp lại nhau lần nữa.  Những người xung quanh từng khuyên tôi, rằng tôi sớm muộn gì cũng như thế, đã không còn làm như vậy nữa bởi vì họ biết rằng điều đó vô ích. Vợ tôi có một người bạn thời đi học, cô ta rất sùng đạo và đã không ngừng cố gắng truyền đạo cho vợ tôi. Nhưng cuối cùng, vợ tôi đã tránh xa khỏi người bạn đó và nói rằng: “Thật vô lý. Mỗi lần gặp mặt cô ta đều muốn tôi trở thành một người theo đạo Thiên chúa.” Vợ tôi không tin vào kiếp sau, mặc dù đúng là sẽ thoải mái hơn nếu bạn tin vào kiếp sau dù nó không thực sự tồn tại.  Cứ mỗi ngày trôi qua tôi cảm thấy thể xác mình mất thêm năng lượng và ngày càng ít năng động hơn. Nếu bạn muốn tôi ra ngoài khi nắng nóng lúc hai giờ trưa để gặp gỡ người khác, bắt tay và ôm hôn các em bé, tôi sẽ không thể làm được nữa. Tôi có thể làm như vậy 20, 30 năm trước, nhưng giờ thì không thể. Bạn chấp nhận cuộc sống khi nó tới, với sự già đi của thể xác qua thời gian. Thỉnh thoảng người thư ký của tôi nhìn thấy tôi nghỉ ngơi trong phòng làm việc và hỏi tôi có cần hoãn cuộc gặp tiếp theo hay không. Tôi thỉnh thoảng vẫn nói: “Không, hãy để nó tiếp tục”. Tôi cần 15 phút chợp mắt để đầu óc sau đó có thể hoàn toàn tập trung được. Nhưng nếu tôi không thể, tôi sẽ nói rằng: “Được, hoãn lại đi. Để tôi ngủ một lát”. Bạn không thể dự đoán được cơ thể bạn sẽ trở nên như thế nào. Dù tôi có mạnh mẽ và kỉ luật tới đâu, tình trạng của tôi vẫn sẽ tiếp tục xuống dốc.  Cuối cùng, sự hài lòng lớn nhất của tôi đối với cuộc đời đến từ thực tế rằng tôi đã dành nhiều năm tập hợp sự hỗ trợ, ý chí để biến đất nước này thành một nơi nhân tài được trọng dụng, sạch bóng tham nhũng và bình đẳng cho mọi sắc tộc. Điều đó sẽ tiếp tục tồn tại sau khi tôi ra đi. Nó không giống như khi tôi mới nhậm chức. Chính phủ Lim Yew Hock lúc đó đã tham nhũng rồi. Những người Singapore trẻ tuổi có thể sẽ không biết đến cái tên Mak Pak Shee, một thành viên của chính phủ đó. Ông ấy là một người lai Ấn Độ và Quảng Đông với một bộ ria mép, và được gọi người “dàn xếp” – tức giúp hoàn thành các ưu đãi để đổi lấy một khoản phí.  Singapore như hiện tại là một địa chỉ sạch bóng tham nhũng trong một khu vực mà nạn tham nhũng rất phổ biến. Các thể chế đã được lập ra để giữ cho nó như vậy, ví dụ như văn phòng chống tham nhũng. Mọi người thăng tiến dựa trên năng lực của họ chứ không phải sắc tộc, ngôn ngữ hay tín ngưỡng của họ. Nếu chúng ta giữ vững được những thể chế này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bộ. Đó là hi vọng lớn nhất của tôi.  Nguyễn Tiến Chương dịch, Lê Hồng Hiệp hiệu đính  Biên  dịch: Nguyễn Tiến Chương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp – See more at:  http://nghiencuuquocte.net/2015/03/23/ly-quang-dieu-viet-ve-nhung-ngay-cuoi-doi/#more-6561  Nguồn: http://nghiencuuquocte.net/2015/03/23/ly-quang-dieu-viet-ve-nhung-ngay-cuoi-doi/#more-6561            Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từ trần ở tuổi 91  Theo thông báo của Văn phòng Thủ tướng Singapore, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew), đã từ trần vào hồi 3h18 phút sáng ngày 23/3, hưởng thọ 91 tuổi.   Thông báo cho biết ông Lý Quang Diệu đã ra đi một cách “yên bình”.    Ông Lý Quang Diệu đã phải nằm viện kể từ ngày 5/2/2015 do bị viêm phổi nặng. Từ khi nhập viện, ông phải thở bằng máy và điều trị kháng sinh tại khoa chăm sóc đặc biệt của Bệnh viện Đa khoa Singapore.  Sức khỏe yếu đã ngăn cản ông xuất hiện trước dân chúng trong những tháng gần đây. Lần xuất hiện gần đây nhất của ông là tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập đảng Hành động của Nhân dân hồi tháng 11 năm ngoái.   Ông Lý Quang Diệu là Thủ tướng đầu tiên của Singapore và là cha của Thủ tướng đương nhiệm Lý Hiển Long (Lee Hsien Loong). Ông được cho là người có công đưa Singapore trở thành một trong những nền kinh tế giàu có nhất châu Á chỉ trong vòng ba thập kỷ.   Từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng từ năm 1959 đến năm 1990, ông Lý Quang Diệu được xem là một người có ảnh hưởng chính trị lớn tại Đảo quốc Sư tử.  (Theo Vietnamplus.vn)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý tưởng bình thiên hạ      Cái thế mạnh nhất của lý thuyết Khổng giáo là tính cực giản. Tất cả các quan hệ xã hội chỉ cần quy về ba giềng mối chính yếu: vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là tam cương. Ba mối quan hệ này lại được cực giản hóa một lần nữa: sự thống trị một chiều tuyệt đối của vua với tôi, cha với con, chồng với vợ.     Thiên hạ thái bình… Con người còn mong gì hơn thế?  Lý tưởng Khổng giáo của bậc lập chí ở xứ Đông xưa thật rõ ràng: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đỉnh cao nhất là thiên hạ thái bình.   Thật trong trẻo, còn gì phải nghi vấn?   Vậy nên ngày hôm nay, nhiều người còn đang mong làm hồi sinh lại thật mạnh mẽ cái lý tưởng này.   —-  Có thể bàn về cái việc đầu tiên, “tu thân”, bằng thiên kinh vạn quyển. Chữ nghĩa tha hồ sáng láng. Mà cũng có thể kết cái việc này lại rất cô đọng trong mấy nguyên lý “cách vật, trí chi, thành ý, chính tâm”.  Việc tu thân, lo sửa mình, theo nghĩa thông thường, tất nhiên là một việc rất thiết yếu trong đời sống thường ngày.  Vấn đề còn lại là tại sao phải sửa mình, và sửa mình theo hướng nào?  Chữ “sửa mình” đã ngụ ý rằng: con người sống là một quá trình bị xa rời, bị hư hỏng, bị trật khỏi nguyên mẫu, cần phải luôn luôn níu kéo, uốn nắn, chỉnh gọt lại mình.   Con người của Khổng giáo không có lựa chọn: sửa mình theo khuôn mẫu của thánh hiền.   Thánh hiền trừu tượng quá? Thì Vua Phương Đông chính là hiện thân trực diện nhất, cao nhất của thánh hiền. Vua Phương Đông là toàn quyền, toàn năng. Vua nắm trọn thế quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, toàn dân là nô dân. Vua nắm trọn thần quyền: thực thi chức năng giáo chủ, toàn quyền diễn giải giáo lý, và toàn dân phải là thần dân.  Điều căn bản nhất trong “tu thân” là gì? Là phủ nhận tự do của cá nhân con người và của xã hội, phủ nhận khám phá, phủ nhận sáng tạo, phủ nhận lý tưởng nhân văn, phủ nhận tiến hóa.  Dưới mẫu vua thì người ta có các quan to, rồi quan nhỡ, quan nhỏ.  Tu thân, căn bản nhất, là để mình đừng đi trật ra khỏi cái khuôn quyền chính của xã hội Khổng giáo.   —-  Tiến lên một bước, bậc quân tử lo tề gia.  Sắp xếp việc nhà “đâu ra đấy” thì là lẽ hay thông dụng. Nhưng việc quan trọng nhất của tề gia cũng là để cái nhà mình đừng đi trật ra khỏi cái khuôn quyền chính của xã hội Khổng giáo.  Trong tề gia, “người quân tử” có cái lợi thế riêng là mình được đứng ngôi vua trong nhà, còn đàn năm thê bảy thiếp cùng con cháu thì chính là bày tôi của mình. Trong nhà, người quân tử làm vua, còn thê thiếp con cháu làm nô dân, thần dân.  —  Cái thế mạnh nhất của lý thuyết Khổng giáo là tính cực giản. Tất cả các quan hệ xã hội chỉ cần quy về ba giềng mối chính yếu: vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là tam cương.   Ba mối quan hệ này lại được cực giản hóa một lần nữa: sự thống trị một chiều tuyệt đối của vua với tôi, cha với con, chồng với vợ. Tuyệt đối là gì? Là vua xử tôi chết: tôi phải chết, cha xử con chết: con phải chết, chồng hô việc gì: vợ phải rắp theo. Cái đó là trung, là hiếu, là tiết.  Thực chất Khổng giáo phủ nhận các quan hệ xã hội! Nói khác đi, Khổng giáo cấm xã hội và con người tự do tồn tại.  Sau này đôi lúc tam cương được mở rộng thêm ra thành ngũ thường, bằng cách kết nạp thêm vào hai quan hệ phụ là anh em, bạn bè. Anh thống trị em, vậy nên khi nói kết nghĩa anh em, thì nên làm rõ ai là anh, ai là em, để còn biết ai trị ai!  Tính cực giản này cho thấy một tinh thần lý thuyết cực đoan được bồi đắp ngự trị qua hàng ngàn năm trong tư duy và trong các giá trị xã hội xứ Đông! Thực chất Khổng giáo không cần hiểu biết và bất chấp con người, không cần hiểu biết và bất chấp xã hội với các cách thức tổ chức cùng vận hành của nó. Khổng giáo chỉ nhăm nhăm lo áp đặt “tam cương”, giáo hóa tam cương để cúc cung phụng sự quyền thế mà thôi.  Nếu hôm nay mà ai đó bảo rằng người dân xứ Đông đã ra khỏi hoàn toàn được cái tinh thần Khổng giáo cực đoan này, xin người đó hãy tự sờ lại gáy mình.  —-  Tiến lên bước nữa, lo trị quốc, để rồi lo bình thiên hạ.  Khổng giáo coi thiên hạ như là một khu rừng nguyên sinh. Những mảnh đất rừng đã được khai phá làm thành những thành bang có chủ.  Phải có sức mạnh để chiếm được bờ cõi, giữ được bờ cõi, và mở rộng được bờ cõi của mình trong thiên hạ.  Việc trị quốc như vậy gắn liền với việc bình thiên hạ, tùy theo sức mình. Chúng là hai nhiệm vụ chiến lược song song.  Trị quốc, là để mọi quyền lực về tay triều đình một cách tuyệt đối, và để giáo hóa cái hệ tư tưởng Khổng giáo cực giản của mình ngày một thấm đẫm vào người dân cũ mới.  Người dân là của thiên hạ, và bị chiếm đoạt được như một nguồn lợi tức, một nguồn tài sản. Trị dân xứ mình, giáo hóa dân xứ mình, hay trị dân xứ mình mới chiếm đoạt được, giáo hóa họ, về bản chất là như nhau. Không ai lại đi đặt vấn đề dân chủ, quyền lực xã hội-chính trị đến từ người dân cũ hay dân mới ở đây cả! Vua quan Khổng giáo cai trị dân mình với tâm thế của những kẻ đang chiếm đóng.  Lý tưởng bình thiên hạ như thế chỉ là để mở việc trị quốc rộng ra tới vô cùng.   Cho nên nếu việc trị quốc đã yên được vài năm thì lại phải lo mở rộng lãnh thổ, chiếm thêm dân, như thế gọi là quá trình “bình thiên hạ”.   Chiếm đoạt, cướp bóc lãnh thổ, tài sản, và con người là phương pháp đương nhiên trong quá trình bình thiên hạ này. Không có gì lạ khi một chí sĩ có thể khuyên vua thản nhiên như “tiên sinh nọ là một kẻ đại tài, bệ hạ nên dùng ông ấy vào việc lớn. Còn nếu không dùng được ông ấy, thì bệ hạ nên giết người đó đi, kẻo rồi có ngày người khác dùng ông ấy mất”.   —-   Khổng giáo không đặt vấn đề “tinh thần dân tộc” hay “tinh thần quốc tế”. Khổng giáo quan tâm “chủ nghĩa thiên hạ”.  Lý tưởng “bình thiên hạ” diễn chữ hôm nay thì chỉ đơn giản là lý tưởng bành trướng cái quyền chính Khổng giáo cực đoan cực giản, vật chất và tinh thần, trên toàn thiên hạ.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Mắc kẹt trong điện than      Vừa qua, Carbon Tracker, một Think Tank của Anh tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong thị trường vốn hiện nay đã công bố một báo cáo về thị trường điện than của Việt Nam. Về cơ bản, báo cáo này muốn cảnh báo những nhà đầu tư và Chính phủ Việt Nam nếu tiếp tục cam kết với điện than. Tia Sáng đã có dịp phỏng vấn Matthew Grey, tác giả chính của báo cáo và cũng từng là chuyên gia phân tích của Cơ quan Năng lượng Quốc tế về tại sao hiệu quả đầu tư vào điện than ngày càng giảm và những rủi ro mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong tương lai.      Matthew Grey.  Ông có thể nói qua về những phát hiện của Carbon Tracker trong báo cáo này không?   Chúng tôi là những chuyên gia phân tích tài chính nên đặc biệt chú ý đến khía cạnh này trong quá trình chúng ta chuyển đổi sang một nền kinh tế ít khí thải hơn. Trong thị trường năng lượng, chúng tôi quan tâm đến hình thức năng lượng nào có chi phí thấp nhất và khi nào điện than không còn giá trị đầu tư nữa, dựa trên ba điểm uốn kinh tế:  Điểm uốn kinh tế thứ nhất đó là khi nào thì chi phí đầu tư vào một dự án điện tái tạo mới sẽ rẻ hơn đầu tư vào một dự án điện than, tức là khi nào thì giá điện quy dẫn (được tính bằng tỉ lệ của toàn bộ chi phí xây lắp, vận hành một nhà máy điện trên tổng sản lượng điện mà nó sản sinh ra trong suốt vòng đời của mình) của điện tái tạo rẻ hơn điện than.   Điểm uốn kinh tế thứ hai đó là khi nào thì chi phí đầu tư vào một dự án điện tái tạo mới còn rẻ hơn cả chi phí vận hành nhà máy điện than đã hoạt động, dựa trên việc phân tích giá điện quy dẫn của dự án điện tái tạo với chi phí vận hành hiện tại của điện than.   Điểm uốn thứ ba có lẽ là phức tạp nhất và đòi hỏi những phân tích sâu hơn đó là khi nào chi phí để vận hành một hệ thống phát điện linh hoạt chỉ có duy nhất điện tái tạo sẽ rẻ hơn là chi phí vận hành một nhà máy điện than? Nếu trả lời được câu hỏi này sẽ phần nào giải quyết được tranh cãi lớn nhất hiện nay về năng lượng tái tạo, bởi vì hiện nay điện gió hay điện Mặt trời vẫn cần “phụ tải nền” do gió không phải lúc nào cũng thổi hay Mặt trời không phải lúc nào cũng sáng. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa phân tích điểm uốn thứ ba này trong báo cáo của mình mà sẽ thực hiện nó trong tương lai.   Báo cáo này có ba phát hiện chính trong đó hai phát hiện đầu tiên liên quan đến hai điểm uốn kinh tế thứ nhất và thứ hai. Phát hiện thứ ba là những đề xuất chính sách liên quan đến hai điểm uốn trên.   Vậy thì khi nào đầu tư vào nhà máy năng lượng tái tạo sẽ hiệu quả hơn là đầu tư vào điện than?    Về điểm uốn kinh tế thứ nhất, chúng tôi thấy rằng, ngay sau năm 2020, việc xây dựng một nhà máy điện Mặt trời và điện gió trên bờ (onshore wind) sẽ rẻ hơn việc xây dựng một nhà máy điện than mới. Lí do là bởi chúng tôi tin rằng khi năng lượng tái tạo ngày càng phát triển và phổ biến, thị trường cho nguồn năng lượng này ngày càng trưởng thành và bởi vậy giá điện quy dẫn cho điện tái tạo sẽ giảm theo thời gian. Xu hướng này chúng ta đều chứng kiến ở những thị trường điện lớn trên thế giới như Mỹ, châu Âu và gần đây là Trung Quốc và Ấn Độ.       Khi nào chi phí để vận hành một hệ thống phát điện linh hoạt chỉ có duy nhất điện tái tạo sẽ rẻ hơn là chi phí vận hành một nhà máy điện than? Nếu trả lời được câu hỏi này sẽ phần nào giải quyết được tranh cãi lớn nhất hiện nay về năng lượng tái tạo.      Về điểm uốn kinh tế thứ hai, trong tương lai, chúng tôi cho rằng việc xây dựng các nhà máy phát điện năng lượng tái tạo còn rẻ hơn việc tiếp tục vận hành các nhà máy điện than. Điều này thực tế đã xảy ra ở các thị trường như Mỹ và châu Âu. Mặc dù ở Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu trong công cuộc chuyển đổi sang các nguồn nguyên liệu phát thải thấp nhưng chúng tôi cho rằng chi phí để duy trì một nhà máy điện than có thể đắt hơn chi phí xây mới một nhà máy điện Mặt trời vào năm 2022 và đắt hơn chi phí xây dựng mới một nhà máy điện gió trên bờ vào năm 2024, nếu như giá tiền nhập khẩu và vận chuyển than bằng đường biển ở mức cao khoảng 100 USD. (ngay cả với kịch bản chi phí điện quy dẫn của điện tái tạo cao nhất và chi phí sản xuất điện than ở mức thấp nhất thì dự báo này cũng sẽ thành hiện thực vào sau năm 2040).   Vâng, theo như tôi hiểu thì xu hướng điện tái tạo giá rẻ mới chỉ xuất hiện ở các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ chứ không phải là thị trường nhỏ như Việt Nam phải không?   Đúng là như thế bởi vì thị trường Việt Nam là thị trường mới nổi, quy mô nhỏ, chuỗi cung ứng xây dựng và vận hành các nhà máy năng lượng tái tạo chưa hoàn thiện. nhưng theo thời gian chúng tôi kì vọng nó sẽ phát triển và kết quả là chi phí cho nó sẽ giảm dần. Việc chi phí này sẽ giảm như thế nào sẽ phụ thuộc vào chính sách đúng đắn của chính phủ. Ví dụ ở Ấn Độ, giá điện Mặt trời đã giảm xuống một nửa trong vòng một năm qua, một con số khá ấn tượng và thay đổi hoàn toàn bức tranh phát điện của nước này.   Vậy theo ông thì Việt Nam nên thực thi những chính sách nào để phát triển thị trường điện tái tạo?  Có hai loại thị trường điện tái tạo, đó là thị trường mới và thị trường đã có kinh nghiệm. Ở thái cực thị trường điện mới, như Nga, một nơi chưa hề làm gì trong lĩnh vực này, dĩ nhiên giá điện tái tạo sẽ rất cao. Ở thái cực thị trường giàu kinh nghiệm, như châu Âu đã có rất nhiều năm đầu tư vào lĩnh vực này thì rất khác, một quỹ đầu tư ở đây không chỉ có hứng thú đầu tư vào một dự án năng lượng tái tạo mà hàng trăm dự án cùng một lúc. Đó là lí do giá điện tái tạo ở châu Âu khá thấp mặc dù đây không phải là nơi có nhiều tài nguyên gió trên thế giới.     Dù thế nào thì Việt Nam cũng phải đầu tư nâng cấp hệ thống lưới điện nhằm tránh nghẽn đường dây truyền tải và linh hoạt trong việc truyền tải điện từ nơi sản xuất đến nơi có nhu cầu.   Một thị trường mới sẽ chuyển mình thành thị trường có kinh nghiệm khi chuỗi cung ứng phát triển, cho phép một nhà đầu tư luôn tự tin rằng một khi đã bỏ tiền ra thì sẽ có những công ty xây lắp, nhân lực vận hành sẵn sàng, đảm bảo chắc chắn nhà máy sẽ hoạt động và sản xuất điện chính xác và hiệu quả như kì vọng mà họ đặt ra ban đầu. Để được như vậy, chúng tôi có hai đề xuất, thứ nhất là chuyển từ việc tăng giá điện mua vào (feed-in-tariff) sang mô hình đấu giá ngược (trong đấu giá thông thường, chủ thể là người bán nên giá càng cao càng tốt, còn chủ thể của đấu giá ngược là người mua, giá càng thấp càng tốt. Các bên cung cấp trong đấu giá ngược, hơn nữa, lại không biết giá của các đối thủ khác đưa ra là bao nhiêu nên họ sẽ cố gắng đưa ra giá thấp nhất có thể để cạnh tranh), để khuyến khích các nhà phát triển điện tái tạo giá rẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển điện tái tạo của quốc gia. Càng nhiều nhà máy điện tái tạo được xây dựng thì giá điện tái tạo lại càng rẻ và chính phủ lại càng muốn phát triển hình thức năng lượng này.   Thứ hai là chúng tôi nghĩ rằng hợp đồng mua bán điện với EVN cần phải được điều chỉnh để các nhà phát triển điện tái tạo có thể xin vốn vay từ ngân hàng dễ dàng và thuận lợi hơn. Các điều khoản hiện nay rất bất lợi cho họ trong việc vay vốn, EVN sẽ luôn nắm đằng chuôi vì không chấp nhận việc đưa ra trọng tài, phán xử với quốc tế nếu EVN vi phạm hợp đồng, không mua điện như đã cam kết (điều này cũng xảy ra thường xuyên do nghẽn đường dây tải điện).  Việt Nam đã từng đưa ra nhiều lí do tại sao thời điểm này không phải là lúc thích hợp để đầu tư vào năng lượng tái tạo, chẳng hạn như hiện nay chưa chi phí đầu tư vào lưu trữ điện tái tạo khi trời không có gió và nhiều mây hay vào lưới điện thông minh rất đắt đỏ. Vậy các ông suy nghĩ gì về những lí do này?   Tôi chỉ muốn nêu ra hai ví dụ ở châu Âu khoảng chục năm về trước. Ở Đức vào năm 1993 khi điện gió chỉ chiếm 0.1% tổng sản lượng điện quốc gia, một công ty phát điện lớn của Đức đã phát biểu trên báo Die Zeit là nước này không thể có thêm điện tái tạo nữa vì quá khó để đưa lên lưới điện. Nhưng 20 năm sau, điện tái tạo ở Đức chiếm 30% tổng sản lượng điện quốc gia và có những thời điểm con số này lên đến 90%. Ở Ireland cũng vậy, vào năm 2003, giám đốc công ty vận hành lưới điện quốc gia tuyên bố rằng nước này không thể có hơn 2% điện gió nếu không muốn làm tổn hại đến an ninh năng lượng. Nhưng giờ đây thì 20% sản lượng điện Ireland là điện gió và có những thời điểm con số này là 70%. Đưa một lượng điện tái tạo lớn vào lưới điện là điều hoàn toàn khả thi về mặt kĩ thuật mà không cần phải đầu tư lớn vào các giải pháp pin lưu trữ. Hơn nữa, nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng chỉ ra rằng nếu đưa vào lưới điện 15% sản lượng điện là điện tái tạo thì chỉ cần sự thay đổi về mặt vận hành (chứ chưa cần đến thay đổi về mặt công nghệ).   Thay đổi về mặt vận hành ở đây chủ yếu là dự báo được trước nhu cầu dùng điện cũng như sản lượng điện của các nhà máy điện tái tạo theo điều kiện thời tiết trong thời gian ngắn. Các nhà vận hành lưới điện của Anh đang triển khai giải pháp dự báo tới 5 phút một lần. Mặc dù người ta nói nhiều đến lưới điện thông minh nhưng theo quan điểm của tôi, lưới điện nào hiện nay cũng đều thông minh, chỉ là bạn tận dụng nó thế nào thôi. EVN thực ra cũng đã triển khai công tác dự báo cách đây 5 tháng và có thể dự báo trước một ngày rồi, chỉ là họ cần tiếp tục cải thiện quá trình này thôi. Và đó không phải là đầu tư gì đắt đỏ, mà chỉ là hiểu hơn về cách thức vận hành lưới điện.   Tôi cũng muốn thêm một ý nữa là, dựa trên những gì chúng tôi nghiên cứu về Việt Nam, thì dù thế nào Việt Nam cũng cần đầu tư vào lưới điện của mình để tránh tình trạng nghẽn đường dây tải điện trong tương lai và truyền tải điện từ nhà máy điện đến nơi có nhu cầu linh hoạt hơn, chẳng hạn như các hộ dân cư ở Đức thường xuyên dùng điện Mặt trời ở phía Nam Italy.    Nếu Việt Nam tiếp tục tập trung vào điện than thì điều gì sẽ xảy ra?  Chúng tôi cố gắng nói với các nhà hoạch định chính sách rằng nếu họ vẫn tiếp tục cam kết phát triển điện than thì họ sẽ buộc phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan trong tương lai. Họ sẽ đứng giữa quyết định phải trợ giá cho các nhà máy phát điện than cũ hoặc trợ giá cho người tiêu dùng điện bởi chi phí cho điện than sẽ ngày càng cao. Nếu họ lựa chọn trợ giá cho các nhà máy phát điện chạy than, mà đó là quyết định họ sẽ đưa ra bởi vì các nhà máy càng chạy thì càng lỗ so với các nguồn năng lượng khác. Sau đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ phải tiếp tục đưa ra một quyết định tiếp theo, đó là tiền đâu để trợ giá? Chuyển gánh nặng sang cho người dùng điện hay tìm nguồn khác? Nếu không chuyển sang cho người dùng điện thì họ sẽ phải tăng thuế hoặc tăng trần nợ công để trợ giá đó. Nhưng nếu bắt người dùng điện phải chi trả thì họ sẽ nổi giận bởi họ sẽ phải trả tiền điện nhiều hơn và đồng thời cũng ảnh hưởng đến tính cạnh tranh kinh tế của Việt Nam bởi rất nhiều người đầu tư vào Việt Nam vì chi phí sản xuất rẻ. Nếu ban đầu họ không trợ giá cho nhà máy điện than mà trợ giá cho người tiêu dùng điện, thì kết quả cũng tương tự thôi. Chúng tôi gọi đó là uống viên thuốc xanh hay là uống viên thuốc đỏ? Viên thuốc nào cũng dẫn đến những kết cục không lấy gì làm tốt đẹp. Hoặc là tăng nợ công, tăng thuế hay thỏa hiệp với lợi thế kinh tế vốn có của Việt Nam.   Trong báo cáo của Carbon Tracker, các ông có nhắc đến rủi ro tài sản mắc kẹt trong kịch bản dưới 2oC, nghĩa là hơn 6 tỉ USD doanh thu bị mất nếu các nhà máy điện than sẽ không thể hoạt động bình thường mà phải đóng cửa sớm để gắn với mục tiêu nhiệt độ trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Vậy khả năng Việt Nam phải đối diện với rủi ro đó là như thế nào?        Hợp đồng mua bán điện với EVN cần phải được điều chỉnh để các nhà phát triển điện tái tạo có thể xin vốn vay từ ngân hàng dễ dàng và thuận lợi hơn.      Bất kì quốc gia nào có nhiều nhà máy điện than mới đều sẽ phải đối diện với rủi ro mắc kẹt trong tương lai bởi vì tuổi thọ của một nhà máy điện than là khá dài. Câu hỏi ở đây là làm thế nào để tối thiểu hóa rủi ro này và ai là người sẽ phải chi trả cho khối tài sản mắc kẹt đó. Điều chúng tôi lo ngại là nếu Chính phủ Việt Nam không hành động để giảm thiểu tài sản mắc kẹt đó thì cuối cùng là người sử dụng điện, người đóng thuế sẽ phải gánh chúng trên vai.   Tôi cũng muốn nói thêm là các số liệu mà bạn thấy trong báo cáo chỉ bao gồm những nhà máy điện than đã hoạt động và đang xây dựng hiện nay nhưng Việt Nam còn có dự định xây dựng thêm nhiều nhà máy điện than mới nữa với tổng công suất lên đến 30 GW và thực tế chúng sẽ phải đóng cửa sớm khi các hiệp định về môi trường có hiệu lực vào năm 2030 hay 2040 sẽ khiến rủi ro tài sản mắc kẹt ngày càng phình lên. Về cơ bản, chi phí để sản xuất, vận hành, phân phối một GW điện than là một tỉ USD và chúng ta có nguy cơ thêm 30 tỉ USD tài sản mắc kẹt. Ở thời điểm này, tôi phải nhấn mạnh là, ưu tiên đầu tiên của chính phủ Việt Nam là nghiêm túc suy nghĩ về việc xây mới 30 GW điện than bởi vì nếu cần, có những lựa chọn khác rẻ hơn có thể thay thế.   Xin cảm ơn ông! .   Hảo Linh thực hiện   (với sự trợ giúp của Trung tâm Sáng kiến và Phát triển cùng các đồng nghiệp ở Vietnamplus và Người Đồng Hành)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặc nhiên được coi là hợp lý      Nguy&#234;n nh&#226;n chủ yếu của nhiều hiện tượng l&#227;ng ph&#237; t&#224;i sản c&#244;ng ở Việt Nam hiện nay nằm ở chỗ bộ m&#225;y ti&#234;u d&#249;ng t&#224;i sản c&#244;ng chưa hợp l&#253; về cơ cấu cũng như nguy&#234;n tắc vận h&#224;nh… Nhưng điều quan trọng l&#224; dường như t&#236;nh trạng chưa hơp l&#253; n&#224;y lại mặc nhi&#234;n được coi l&#224; hợp l&#253;    Đọc lại sử sách, có thể thấy rất nhiều bài học lời răn về việc tiết kiệm. Dĩ nhiên với từng cá nhân thì tiết kiệm là để đề phòng khi túng thiếu, song thật ra vấn đề không chỉ giới hạn trong phạm vi giải quyết mâu thuẫn cung cầu trên phương diện tiêu dùng vật chất. Chẳng hạn nhà chính trị kiệt xuất thời Tam quốc Gia Cát Lượng từng nói trong Giới tử thư (Thư răn con) rằng “Phàm nết của quân tử yên tĩnh để tu thân, tiết kiệm để nuôi đức, không đơn bạc không lấy gì làm rõ chí, không yên tĩnh không lấy gì để cao xa. Phàm học phải yên tĩnh mới có thể tu sửa việc học. Không học không lấy gì để mở rộng tài, không có chí không lấy gì để làm tròn việc học. Kiêu dâm thì không thể cổ vũ tinh thần, mạo hiểm thì không thể sửa đổi tính nết” (Gia Cát Lượng tập), đủ thấy tiết kiệm trong tiêu dùng vật chất còn có tác dụng tích cực tới việc bồi dưỡng nhân cách, rèn luyện đạo đức cá nhân. Còn trên bình diện xã hội thì nhiều kẻ cầm quyền thời phong kiến cũng thường đề cao việc tiết kiệm, coi đó là một trong những biện pháp căn bản để giữ gìn trật tự trị an. Năm 1760 vua Khang Hy nhà Thanh cho ban bố trên toàn Trung Quốc bản Thượng dụ thập lục điều nổi tiếng, nội dung mười sáu điều ấy là “Dạy hiếu đễ để trọng nhân luân, trọng tôn tộc để rõ hòa mục, hòa làng xóm để dứt kiện tụng, trọng canh cửi để đủ cơm áo, chuộng tiết kiệm để đủ chi dùng, dựng trường học để nêu sĩ phong, trừ dị đoan để tôn chính học, giảng rõ pháp luật để dạy kẻ ngu bướng, làm sáng lễ nhượng để hậu phong tục, giữ nghề gốc để yên lòng dân, dạy con em để ngăn việc xấu, dứt vu cáo để bảo toàn kẻ thiện lương, cẩn thận kẻ trốn lánh để khỏi liên lụy, nộp đủ thuế má để tránh phiền phức, liên kết bảo giáp để chống trộm cướp, cởi bỏ thù oán để trọng mạng người”, trong đó việc tiết kiệm được xếp thứ năm.  Nhưng trong xã hội nông nghiệp mà kết quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thì tiết kiệm thường thiên về nội dung cắt giảm chi phí, hạn chế nhu cầu. Cách hiểu ấy qua thời hiện đại đã được điều chỉnh, chẳng hạn những người từng học tiểu học ở Sài Gòn khoảng 1960 – 1963 hẳn đều nhớ một bài tập đọc – học thuộc lòng về việc tiết kiệm trong đó có câu “Người tiết kiệm là người khi cần thì bao nhiêu cũng tiêu, còn khi không cần thì một xu cũng không tiêu phí”. Câu ấy chưa đủ gọi là danh ngôn nhưng cũng đã nói tới sự cần thiết như tiêu chuẩn khách quan để nhìn nhận thế nào là tiết kiệm và thế nào là không tiết kiệm. Bởi vì một người một nhà có sự cần thiết của một người một nhà, một thời một nước có sự cần thiết của một thời một nước, lúc kinh tế khó khăn cha mẹ có thể bắt con cái nhịn ăn sáng chứ nhà nước thì không thể giảm tiền lương của cán bộ viên chức trong biên chế được. Vả lại nhu cầu của con người cũng có sự phát triển về cả nội dung lẫn cơ cấu. Ví dụ một nhà tâm lý học người Mỹ đã nêu ra sự phát triển tinh thần của con người với hệ thống nhu cầu năm bậc từ thấp tới cao là nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu thể hiện (tự khẳng định) mình, thì theo lẽ được ăn no mặc ấm là đã đáp ứng được nhu cầu sinh lý. Nhưng thực tế lại không phải thế, xưa nay con người đều phấn đấu để không những ăn no mà còn ăn ngon ăn sang, không những mặc ấm mà còn mặc đẹp mặc sang, tóm lại đã gán cho cái ăn thức mặc những chức năng ngoài việc đáp ứng nhu cầu sinh lý, dùng chúng làm phương tiện để thực hiện ba nhu cầu bậc trên. Sự chuyển dịch hệ giá trị như vậy cũng trình hiện rầm rộ ở Việt Nam qua hơn hai mươi năm đổi mới, là một chỉ báo đáng mừng về sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưng cũng hàm chứa nhiều tiêu cực trong đó có sự lãng phí tới mức kinh người. Có điều nếu một cá nhân thích và có tiền thì chẳng pháp luật nào cấm được y mua chẳng hạn 365 đôi giày để đi trong một năm, mỗi ngày một đôi, năm nào nhuận mua thêm đôi nữa, vì đó là lãng phí tiền túi của y, mà biết đâu y còn được các hãng giày bầu làm Khách hàng sành điệu gì đó cũng chưa biết chừng. Nhưng với tài sản công như ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên… thì vấn đề có khác, không những không ai được trộm cắp bỏ túi riêng đã đành, mà còn không được phép chi tiêu quá mức cần thiết. Tóm lại chi tiêu đúng mức cho những việc cần thiết là tiết kiệm, còn chi tiêu cho những việc không cần thiết hay chi tiêu quá mức cho những việc cần thiết là không tiết kiệm, tức chi tiêu một cách hợp lý là tiết kiệm.  Vậy thế nào là hợp lý? Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 48/2005/QH11 ngày 29. 11. 2005, Điều 3 mục 1 giải thích “Tiết kiệm là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định. Đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên ở những lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì tiết kiệm là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đã định”. Nghĩa là trên phương diện pháp lý, sự cần thiết trong phạm vi việc tiết kiệm tài sản công ở Việt Nam đã được chuẩn hóa bằng các định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Cho nên ngoài việc nâng cao ý thức trách nhiệm của người quản lý, sử dụng và có hệ thống cũng như biện pháp giám sát chặt chẽ việc quản lý, sử dụng, thì việc tiết kiệm tài sản công ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào mức độ hợp lý của các định mức, tiêu chuẩn, chế độ ấy. Nếu chúng thực sự hợp lý, thì việc tiết kiệm tài sản công chỉ còn là vấn đề ở khâu thực hiện, nhưng nếu chúng chưa hợp lý, thì việc tiết kiệm tài sản công chỉ còn là khẩu hiệu suông để nói cho vui miệng hay sướng tai.  Nhưng cái gọi là việc chi tiêu – tiêu dùng vốn có nhiều cấp độ, nên đó cũng chỉ là một khía cạnh của sự hợp lý. Ví dụ một chiếc xe công 4 chỗ ngồi chạy 100 km hết 50 lít xăng, nhờ người lái xe có tay nghề cao nên thường xuyên giảm mức tiêu hao được năm ba lít, thì phải thừa nhận rằng y đã sử dụng nhiên liệu một cách hợp lý. Nhưng trong cả đội xe chỉ có chiếc ấy có mức tiêu hao nhiên liệu như thế, chứ những chiếc 4 chỗ ngồi khác chỉ cần 30 lít cho 100 km, thì rõ ràng đội xe ấy có vấn đề bất hợp lý, và trách nhiệm về việc không tiết kiệm này dĩ nhiên thuộc về người quản lý đội xe và cấp trên của y. Thành tích tiết kiệm của người lái xe kia vì vậy chỉ còn là một sự hợp lý nhỏ trong một hệ thống bất hợp lý lớn. Sau đây là vài thông tin rút từ bài Càng tinh giản, bộ máy hành chính càng phình to trên VnExpress:  Chiều 23. 7. 2008, thảo luận về Dự luật cán bộ công chức, nhiều Ủy viên Thường vụ Quốc hội bày tỏ bức xúc trước thực tế hàng chục năm thực hiện tinh giản biên chế, nhưng số cán bộ công chức không giảm, thậm chí còn phình to. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên dẫn chứng “Khi xem xét khoán biên chế cho các ngành thuế, hải quan, kho bạc, nói thật là không biết bao nhiêu mới là vừa. Tiếp xúc cử tri, đâu đâu cũng thấy đề nghị tăng biên chế xã, thậm chí cả ở thôn”. Ông Kiên lo ngại với việc mở rộng biên chế cấp xã như Dự luật thì ngân sách nhà nước không chịu nổi. Khẳng định bộ máy hành chính còn cồng kềnh, mục tiêu tinh giản biên chế không đạt được, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển nói “Từng ở địa phương, tôi thấy từ năm 2001 đến nay, cấp huyện thay đổi liên tục và bộ máy ngày càng lớn…”.  Qua giám sát về việc thực hiện Pháp lệnh cán bộ công chức, Ủy ban Pháp luật cho rằng đang có xu hướng phình biên chế công chức cấp xã. Hiện nay bên cạnh chức danh chuyên trách cấp xã như Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, Hội đồng nhân dân, trưởng các đoàn thể, còn có cán bộ công tác chuyên môn như Trưởng công an xã, Chỉ huy trưởng quân sự, tư pháp, địa chính được xếp vào ngạch công chức. Tính trung bình mỗi xã có 17-25 công chức. Ngoài ra cấp xã còn nhiều chức danh không chuyên trách được hưởng phụ cấp hoặc khoán phụ cấp như cấp phó các tổ chức đoàn thể, Tổ trưởng, Tổ phó dân phố, Trưởng thôn, Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ, Công an viên, Tổ hòa giải… Đội ngũ này rất đông, bình quân mỗi xã tới 200 người.  “Ngân sách chi hằng năm cho cán bộ chuyên trách xã đã 3.000 tỷ đồng, cho cán bộ không chuyên trách là 2.500 tỷ đồng. Con số này quá lớn, lớn hơn cả ngân sách chi cho cán bộ từ trung ương đến huyện (số này 2.140 tỷ đồng)”, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận nói.  (http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/07/3BA04C56/).  Rõ ràng nguyên nhân chủ yếu của nhiều hiện tượng lãng phí tài sản công ở Việt Nam hiện nay nằm ở chỗ bộ máy tiêu dùng tài sản công chưa hợp lý về cơ cấu cũng như nguyên tắc vận hành… Nhưng điều quan trọng là dường như tình trạng chưa hơp lý này lại mặc nhiên được coi là hợp lý, nên không lạ gì mà gần đây có nhiều điều phi lý tức lãng phí trong việc quản lý và sử dụng tài sản công như hiện cả nước có 141 sân gold ở 39 tỉnh sử dụng 49.268 ha đất trong đó có 2.625 ha trồng lúa, hay vụ lấy đất nhân giống để kinh doanh nghĩa trang ở Long An…    Cao Tự Thanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mahathir Mohamad và công cuộc kiến tạo Malaysia      Cuốn Hồi ký chính trị dày gần 1.000 trang của Mahathir Mohamad là một cuốn giáo trình  hoàn chỉnh về hoạt động chính trị với các bài học thực tế trên một nền  tảng chính trị xã hội có phần nào đó tương đồng, thậm chí còn phức tạp  hơn Việt Nam.  &#160;    Quá trình phát triển thần kỳ của các quốc gia châu Á trong giai đoạn giữa và cuối thế kỷ XX gần như đều gắn với một thời kỳ tương đối dài được những nhà lãnh đạo có năng lực kiệt xuất và cá tính mạnh mẽ dẫn dắt. Ví như, sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc gắn với giai đoạn cầm quyền của Park Chung Hee trong suốt 16 năm làm Tổng thống (1963-1979); câu chuyện thành công của đảo quốc Singapore gắn với 31 năm làm Thủ tướng của nhà lãnh đạo Lý Quang Diệu (1959-1990); công cuộc đổi mới và phát triển của Trung Quốc, kể từ năm 1978, gắn với tên tuổi của Đặng Tiểu Bình… và ở Malaysia là Mahathir Mohamad, người đảm nhiệm vị trí Thủ tướng suốt 22 năm (1981-2003).  Ở Việt Nam, sự phát triển vượt bậc của Singapore và Trung Quốc sau năm 1978 đã được biết đến khá nhiều qua cuốn Hồi ký của Lý Quang Diệu và các cuốn sách viết về Đặng Tiểu Bình. Nhưng câu chuyện thần kỳ của Malaysia hầu như mới chỉ được giới thiệu và tìm hiểu trong giới nghiên cứu kinh tế chính trị, còn độc giả rộng rãi thì khó có cơ hội tiếp cận.  Nhiều lần đến thăm các quốc gia châu Á, nhất là chuyến đi Malaysia đầu tiên, khi đến thăm Kuala Lumpur và tòa tháp đôi Petronas, tôi đã tò mò tự hỏi vì sao và như thế nào một quốc gia như Malaysia lại có thể thành công như vậy. Cùng với Singapore, Hàn Quốc…, Malaysia sẽ và phải là một bài học tham khảo quan trọng cho công cuộc phát triển của Việt Nam. Thậm chí theo tôi, rất có thể còn là bài học sâu sắc và hữu ích nhất vì nhiều vấn đề lớn mà Malaysia đã phải đương đầu và giải quyết có những điểm tương đồng với Việt Nam chúng ta.  Cũng như Lý Quang Diệu gắn với sự phát triển của Singapore, Mahathir Mohamad chính là người dẫn dắt đất nước Malaysia trong những năm tháng quan trọng trở thành một quốc gia thịnh vượng. Năm 2010, lần đầu tiên tôi được đọc cuốn hồi ký của ông, mang tên A Doctor in the House1. Sau đó tôi đã tìm hiểu kỹ về sự phát triển của Malaysia và đọc Thế bế tắc của Mã Lai2 – tác phẩm đầu tiên do ông viết, trình bày rõ quan điểm về những vấn đề người Mã Lai đang phải đương đầu và những hành động cần thiết để kiến tạo một tương lai thịnh vượng.   Cuốn sách Thế bế tắc của Mã Lai, được Mahathir công bố năm 1969, sau cuộc khủng hoảng lớn mà người Mã Lai gặp phải, cũng là khi ông bắt đầu bước chân vào chính trường. Cuốn sách cho thấy trí tuệ và kiến thức uyên thâm của ông về lịch sử và xã hội Mã Lai, về tầm nhìn và những ý tưởng lớn cho sự phát triển của Malaysia mà rồi đây ông sẽ dành cả cuộc đời để theo đuổi. Trong cuốn sách này ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu, mổ xẻ tỉ mỉ những yếu kém cơ bản của dân tộc, xã hội và nền kinh tế của người Mã Lai trong suốt thế kỷ trước. Từ đó, Mahathir – một bác sĩ trở thành chính trị gia – đã đưa ra các giải pháp và phác đồ điều trị hiệu quả cho sự phát triển của đất nước Malaysia. Sau này, chính sách kinh tế mới (NEP) của Malaysia, do chính phủ khởi xướng và thực hiện từ năm 1971 kéo dài tới năm 1990, đã vay mượn nhiều ý tưởng từ cuốn sách này.   Lần theo từng trang hồi ký A Doctor in the House của Mahathir, tôi càng hiểu rõ hơn sự quả cảm của ông khi viết tác phẩm Thế bế tắc của Mã Lai cũng như việc phản đối đường lối của Tunku – Thủ tướng Malaysia giai đoạn đó, mà hậu quả là việc chấp nhận mất ghế tại Nghị viện và bị khai trừ khỏi Đảng UMNO để trở về làm người bác sĩ bình thường…   Cuốn A Doctor in the House, được dịch sang tiếng Việt dưới tên Hồi ký chính trị dày gần 1.000 trang của Mahathir mà các bạn đang cầm trên tay hẳn sẽ được coi là một cuốn giáo trình hoàn chỉnh về hoạt động chính trị với các bài học thực tế trên một nền tảng chính trị xã hội có phần nào đó tương đồng, thậm chí còn phức tạp hơn Việt Nam. Qua cuốn sách, bạn không chỉ hiểu về chính tác giả mà còn hiểu hơn về đất nước và dân tộc Mã Lai, hiểu về những thăng trầm của họ trong thế kỷ XX, giai đoạn biến động nhiều nhất trong lịch sử.  Là chủ nhân của vùng đất Malacca (Malaysia ngày nay), từng là đô thị lớn bậc nhất thế giới, nhưng sau 450 năm làm thuộc địa của Bồ Đào Nha, rồi Đế quốc Anh, và có một thời gian ngắn dưới ách phát xít Nhật trong Thế chiến thứ hai, tộc người Mã Lai đã trở thành thiểu số ngay trên chính mảnh đất quê hương mình: Họ là sắc tộc ít người nhất, nghèo nhất, thất học nhất, và ít quyền lợi chính trị nhất.   Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, người Mã Lai dần làm chủ mảnh đất quê hương, thoát khỏi ách thống trị của người Anh. Nhưng di sản của quá khứ quá nặng nề: Tranh chấp biên giới với các nước láng giềng Indonesia và Thái Lan, quan hệ xấu với Singapore – hết sáp nhập rồi lại chia tách do vùng lãnh thổ này người Hoa nắm hết quyền lợi kinh tế chính trị, còn người Mã Lai chỉ là công dân hạng dưới… khiến cho 70% người dân Malaysia sống ở mức nghèo khổ, tỷ lệ biết chữ rất thấp, cả nước chỉ có 100 người học đại học. Hạ tầng cơ sở nghèo nàn vì thực dân Anh chỉ chú trọng xây dựng hạ tầng để phục vụ khai thác khoáng sản. Hải cảng Malacca bị hạn chế năng lực để người Anh dồn giao dịch vào Singapore vốn được coi trọng hơn…  Hơn thế nữa, di sản nặng nề của quá khứ còn nằm ở chỗ đất nước Malaysia hiện đại là một quốc gia đa sắc tộc (Hoa, Ấn, Mã Lai gốc Arab, Mã Lai gốc Ấn, Mã Lai thuần…), đa tôn giáo (Công giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Do Thái giáo), chính trị phức hợp kiểu quân chủ lập hiến, xã hội nặng về phong kiến, chấp nhận đa thê, hôn nhân cận huyết và chấp nhận quyền lực chính trị cha truyền con nối. Ngay cả nền giáo dục cũng là một nền giáo dục thực dân. Chính Mahathir, cho đến tuổi trưởng thành, vẫn đặt niềm tin và tình yêu vào người da trắng và đế chế Anh và hầu như không biết gì về quá khứ lịch sử của dân tộc mình, đất nước mình.  Tun Mahathir đã lớn lên trong một đất nước và hoàn cảnh xã hội phức tạp như vậy và bản thân ông xuất thân từ một gia đình Mã Lai khá nghèo. Tuy nhiên, ông may mắn có cha là một nhà giáo còn mẹ là người phụ nữ khoan dung. Ông được gia đình nuôi ăn học và kèm cặp để trở thành một người công dân có trách nhiệm. Do nhà nghèo, và thực sự không có nhiều lựa chọn, nên ông phải theo học ngành y để trở thành bác sỹ với học bổng. Khi bước chân vào hoạt động chính trị, trở thành đảng viên Đảng UMNO, người bác sỹ trẻ Mahathir không mơ rằng có ngày mình sẽ bước lên đỉnh cao quyền lực, bởi lúc đó các lãnh đạo đảng đều xuất thân từ những gia tộc lớn, danh giá và ba vị thủ tướng đầu tiên đều học ngành luật. Và tất nhiên, bị khai trừ đảng khi ở tuổi sung sức nhất, Mahathir cũng không mơ có ngày ông được Đảng UMNO đón nhận trở lại, thăng tiến và bất ngờ trở thành Phó Thủ tướng (đồng thời là Phó Chủ tịch Đảng) rồi rất nhanh sau đó trở thành Thủ tướng (và là Chủ tịch Đảng UMNO) – vị thủ tướng thứ tư của Malaysia và là thủ tướng đầu tiên không thuộc giới quý tộc.  Đọc cuốn hồi ký này, tôi phần nào hiểu được suy nghĩ của ông trong những ngày tháng tuổi trẻ, hiểu được cuộc chiến đấu bền bỉ của ông để theo đuổi mơ ước phát triển đất nước Malaysia.   Thành tựu mà ông và người dân Malaysia đạt được sau hơn bốn thập niên phát triển, kể từ những năm 1980 khi nền kinh tế Malaysia được thế giới chú ý đến, rất ấn tượng: Tăng trưởng liên tục từ năm 1957 (năm độc lập) tới năm 2005 với tốc độ bình quân 6,5%. Khi Mahathir lên cầm quyền, năm 1981, nước Malaysia có dân số 13 triệu, trong đó có 7 triệu người Mã Lai. Ngày nay Malaysia có dân số 28 triệu người, chưa bằng 1/3 dân số Việt Nam; nhưng GDP danh nghĩa năm 2012 là 340 tỷ đô-la, gấp 2,4 lần Việt Nam.   Đằng sau những thành tựu to lớn, những số liệu thống kê đầy tính thuyết phục đó là vô vàn khó khăn vất vả. Tôi hiểu được những gì ông đã vượt qua, từ việc đương đầu với những chống đối ngay trong nội bộ Đảng UMNO đến những thách thức ngoài đảng, trong nước và quốc tế; hay những thăng trầm trong quan hệ với Singapore; vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998; vượt qua xung đột giữa người Hoa và người Mã Lai; trải qua ba lần bầu cử quyết liệt để đảm trách vị trí Thủ tướng tới 22 năm…  Nhưng cũng thật buồn khi đọc đến đoạn ông từ biệt, khi ông trăn trở với quyết định đến lúc phải rời vị trí của mình. Nhưng ông hoàn toàn có thể tự hào và hãnh diện vì đã để lại một di sản đồ sộ với nhiều thành tựu to lớn, điều mà nhiều nhà lãnh đạo khác không thể làm được.  Tuy nhiên, không chỉ nhận được những lời ca ngợi, Mahathir còn phải đương đầu với nhiều sự chỉ trích và chống đối mạnh mẽ, từ những chính khách trong đảng, hay xung đột với Ibrahim Anwar. Không phải tất cả mọi người đều ca ngợi ông… Nhưng bất chấp những đánh giá trái chiều, thì trên hết, Mahathir vẫn là một nhà lãnh đạo đầy lôi cuốn. Ông hẳn xứng đáng đứng trong hàng ngũ Nation Builders, mà tôi gọi là những nhà kiến tạo quốc gia, có thể sánh với những nhân vật khác như Lý Quang Diệu, Park Chung Hee và Đặng Tiểu Bình…  Với việc xuất bản cuốn Hồi ký chính trị của Mahathir Mohamad đồ sộ này, chúng tôi mong rằng sẽ mang lại cho độc giả Việt Nam một câu chuyện lôi cuốn và nhiều bài học hữu ích đã được kiểm nghiệm qua thực tế.   —     * Alpha Books và NXB Thế giới ấn hành tháng 11/2013, 944 trang, giá bìa 399.000 đồng  1 A Doctor in the House: The Memoirs of Tun Dr Mahathir Mohamad được Mahathir Mohamad viết và xuất bản tại Malaysia năm 2011. Tên sách là một kiểu chơi chữ rất khó dịch, vì bản thân Mahathir là một bác sĩ được đào tạo đúng chuyên môn. Nhưng với sự nghiệp cả đời cống hiến cho đất nước Malaysia, ông – với cương vị Thủ tướng tới 22 năm – cũng chính là vị bác sĩ tài ba đã đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả cho nền chính trị và kinh tế của quốc gia này. Dịch là Người bác sĩ trong ngôi nhà (house) hay Người bác sĩ trong Quốc hội (House) đều đúng, nhưng đều không diễn đạt được hết ý nghĩa.   2 The Malay Dilemma: Thế bế tắc của Mã Lai, được Mahathir Mohamad viết và xuất bản năm 1969.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mái ấm gia đình của các cộng tác viên      Khi Tia Sáng trở thành mái ấm gia đình của cộng tác viên thì dĩ nhiên cộng tác viên cũng hết lòng quý mến gia đình ấy, đó là lời tâm sự chân thành của ông Hải Hoành, một cộng tác viên thân thiết của Tia Sáng. Ông nói lên những suy tư của mình khi tự đặt ra câu hỏi: Vì sao tôi gắn bó với Tia Sáng?   &#160;    Tôi bắt đầu cộng tác với tạp chí Tia Sáng từ ngày tòa soạn còn làm việc ở đường Phan Chu Trinh. Gặp là “kết” luôn. Loáng một cái tới nay đã được khoảng 15 năm. Chưa tờ báo nào tôi có quan hệ bền lâu như vậy. Năm 2014, tôi còn được Tia Sáng tặng quà vì có nhiều bài đăng. Thực ra đó chỉ là những tin khoa học công nghệ, số báo nào cũng phải có, chỉ chiếm 1-4 trang báo thôi nhưng cũng làm tôi bận túi bụi, vì tin KH&CN thế giới nhiều vô kể và không dễ hiểu, phải đọc rộng rồi lựa chọn lấy tin hay, sau đó mới dịch tóm lược và làm chú thích.  Vì sao tôi gắn bó với Tia Sáng?     Trước hết là do thực lòng quý mến Ban Biên tập. Hồi mới đầu tôi chỉ biết hai anh Lê Tư và Nguyễn Văn Thành. Anh Thành thường có mặt ở tòa soạn nên gặp nhiều hơn. Các anh làm báo một cách hết sức tâm huyết, đọc kỹ và biên tập công phu tất cả các bài được chọn. Tôi không hề tự ái về chuyện bài của mình được BBT sửa hoặc cắt xén, bởi lẽ nếu không làm thế thì đặt ra BBT để làm gì. Tia Sáng đặt mục tiêu trở thành “góc nhìn” của giới trí thức, vì thế việc biên tập càng cần làm kỹ. Do BBT làm việc nghiêm chỉnh, hiệu quả, Tia Sáng nhanh chóng có tiếng vang trong giới trí thức cả nước, ngày càng có nhiều người đến với tòa soạn. Nhìn chung tờ báo trình bày đẹp, sáng sủa, các bài đều có chất lượng tốt, rất ít khi có lỗi biên tập. Nội dung bao quát cả đời sống văn học nghệ thuật, hội họa âm nhạc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của tầng lớp trí thức. Một tạp chí sang trọng!  Gần đây, bộ máy BBT Tia Sáng đã được bổ sung một số cán bộ trẻ (đa phần là nữ) đầy năng lực và rất năng nổ. Chẳng hạn bài “Đọc sách Những Kiến trúc sư bạn tôi” đã được BTV trẻ Thái Thanh sửa là “Những cuộc đời xứng đáng được biết đến” – một cái tít làm tăng sức thu hút của bài báo… Tạp chí ngày càng khởi sắc. Tất nhiên một tờ báo hay và đẹp thì được ưa thích. Một số tổ chức và cá nhân bỏ tiền mua ngót nghìn số báo Tia Sáng mỗi kỳ để tặng các bạn đọc họ quan tâm, trong đó có 500 đại biểu Quốc hội. Dường như chưa có báo nào được yêu thích đến mức như thế.  Điểm độc đáo nhất là  Tia Sáng có mối quan hệ chân thành và thân thiết hiếm thấy với các cộng tác viên. Nhờ thế tờ báo thu hút được nhiều cộng tác viên từ khắp nơi. Ai đến đây cũng được tiếp đón vui vẻ thân mật như người nhà. Cộng tác viên gặp nhau, quen biết rồi giúp đỡ lẫn nhau. Đáng quý là Tia Sáng có những cộng tác viên rất đáng ngưỡng mộ cả về trình độ hiểu biết và nhân cách, như bác Nguyễn Văn Chiển, anh Lê Đạt (cả hai đã mất), bác Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, viện sĩ Pierre Darriulat v.v… Chắc hẳn các cộng tác viên này đã có những đóng góp quý giá cho thành công của tờ báo. Riêng tôi cũng được lợi từ sự quen biết ở Tia Sáng. Chẳng hạn, nhờ anh Văn Thành giới thiệu, tôi may mắn được nhà thơ Lê Đạt dù rất bận nhưng do nể Tia Sáng mà viết lời tựa cho hai cuốn sách. Không thể nào quên lần gặp anh ở nhà riêng tại phố Lãn Ông. Nhớ mãi những dòng chữ nguệch ngoạc anh viết trên mặt sau mấy tờ lịch. Anh viết rất ngắn nhưng cực kỳ cô đọng súc tích, mỗi chữ đều có sức nặng, đọc xong tôi ngẩn người suy nghĩ mãi. Anh tự nhận là “phu chữ” thật đúng.    Chỉ ít lâu sau tôi đã thấy tòa soạn Tia Sáng trở nên thân thiết tới mức có thể trao đổi cả những công việc khác. Còn nhớ đầu năm 2002, khi đại gia đình tôi quyết định tổ chức kỷ niệm 100 năm sinh Thiều Chửu-Nguyễn Hữu Kha, tôi đã mạnh dạn đề nghị tòa soạn Tia Sáng giúp đỡ. Thật không ngờ BBT với đại diện là anh Văn Thành đã giúp chúng tôi một cách hết sức chân tình, thiết thực và hiệu quả. Hoạt động kỷ niệm thành công quá mức mong đợi. Mỗi lần nghĩ lại việc này tôi đều cảm thấy trong lòng vô cùng ấm áp. Tia Sáng thực sự là gia đình của mình! Chưa bao giờ tôi từ chối đề nghị nào của BBT, kể cả khi yêu cầu viết bài rất gấp. Và viết với tất cả tinh thần trách nhiệm.  Khi Tia Sáng trở thành mái ấm gia đình của CTV thì dĩ nhiên CTV cũng hết lòng quý mến gia đình ấy. Mối quan hệ tương hỗ này đã góp phần làm nên thành công của tạp chí Tia Sáng thân yêu.   —–      Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Mạng xã hội chưa là một sân chơi phẳng      Mạng xã hội có thực sự mang lại không gian tự do, bình đẳng như nó từng được kỳ vọng thuở mới bắt đầu?    Không gian mới khai phóng cảm xúc cá nhân  Sự bùng nổ của mạng xã hội ngày nay dựa trên nền tảng cơ bản là sự khai phóng các cảm xúc cá nhân, mà như sử gia người Israel Yuval Harari đánh giá, đó là do mỗi chúng ta cho rằng chỉ có chính mình mới tiếp xúc đặc biệt và hiểu được rõ nhất thế giới nội tâm, suy nghĩ và lựa chọn của bản thân. Đó là cái gốc của những khẩu hiểu mỹ miều như trong chính trị là “cử tri mới biết rõ nhất” và trong kinh tế là “khách hàng luôn đúng”.  Sự du nhập của Internet vào Việt Nam từ cuối năm 1997 và sau đó là sự xuất hiện của mạng xã hội trùng hợp với giai đoạn cải cách kinh tế và chú trọng tăng trưởng nhanh. Sự tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức tương đối cao trong giai đoạn khoảng hai thập niên đã tạo ra một tầng lớp trung lưu đáng kể gia nhập vào không gian mạng thông qua nhiều phương tiện dễ dàng như điện thoại thông minh, máy tính bảng, laptop ngày càng phổ biến. Tốc độ phát triển của mạng xã hội tăng cao từ nửa cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI và lên đến mức chóng mặt từ khi có Facebook vào đầu thập niên thứ hai của thế kỷ này. Mạng xã hội đem lại ấn tượng hoàn toàn mới về một không gian có thể bày tỏ tâm tư, tình cảm, tư tưởng, quan điểm của cá nhân về mọi vấn đề của đời sống xã hội một cách tự do và an toàn, hầu như không bị kiểm duyệt. Sự tin tưởng đó được tiếp thêm năng lượng bởi một lực lượng hùng hậu “nhà báo công dân” khi bất cứ ai tham gia mạng xã hội đều có thể trở thành nhà báo. Sự tin tưởng vào tiềm năng khai phóng và giá trị dân chủ, tự do, sáng tạo mà mạng xã hội có thể đem lại cho xã hội hiện thực không phải không có cơ sở. Với một cơ cấu dân số trẻ và quy mô ngày càng lớn, Việt Nam cần thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của giới trẻ về những kênh giao tiếp xã hội tự do, an toàn khi cất lên tiếng nói của mình.   Tuy nhiên, nhiều người với lòng tin tưởng nhiệt thành đó đã phải sớm thất vọng vì sự thay đổi mang tính đảo ngược không kém phần nhanh chóng.      Nguồn ảnh minh họa: Theguardian.  Xung đột và bất bình đẳng   Mạng xã hội đã lôi kéo sự tham gia của không chỉ các cá nhân, các tổ chức tư nhân, xã hội mà ngày càng nhiều các tổ chức chính phủ, nhà nước tham gia. Sự phát triển vượt bậc của Facebook ở Việt Nam đã tạo ra một người khổng lồ gần như độc quyền trong lĩnh vực truyền thông nhưng lại tuyên bố rằng mình không tạo ra nội dung thông tin, nên không phải là một công ty truyền thông, mà chỉ cung cấp nền tảng cho giao tiếp truyền thông của người dùng. Đây là một mâu thuẫn lớn mà ở ngay chính “mẫu quốc” của Facebook đã nhận ra nhưng chưa có lời giải về phương diện pháp lý và điều chỉnh thực tế. Sử gia Francis Fukuyama, ĐH Johns Hopkins cho rằng vấn đề lớn nhất đối với mạng xã hội hiện nay là quy mô chi phối xã hội không thể tưởng tượng nổi của các công ty sở hữu và điều hành mạng xã hội; từ đó ông đề xuất siết quy định pháp lý đối với các công ty đó như là các công ty truyền thông truyền thống, nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của các công ty này và chia tách, thu nhỏ các gã khổng lồ này lại.       Sự tham gia của công chúng trên mạng xã hội nói chung không hoàn toàn là một tiến trình chủ động mà gặp phải nhiều nguy cơ bị dẫn dắt, thao túng bởi các nhóm lợi ích nhiều thế lực.      Ở góc độ người dùng, sự cởi mở, phóng khoáng ban đầu của các thành viên tham gia mạng xã hội ngày càng đối diện với sự truy bức của đe doạ, bắt nạt kiểu “cả vú lấp miệng em”, tin giả, thao túng, định hướng, lừa đảo… “văn hoá làm nhục trên mạng”, khắc hoạ mặt trái của mạng xã hội đang bóp nghẹt ước mơ “tự do ngôn luận” thời công nghệ. Điều đó khiến cho nhiều người dùng đã phải lui vào thế phòng thủ bằng cách gia tăng các phương thức tự bảo vệ khi tham gia trên mạng xã hội, hoặc rút vào các nhóm kín, nhóm đóng,… giới hạn bởi những người mà các thành viên biết nhau trên thực tế để giao tiếp cho an toàn hơn. Các xung đột xã hội ngày càng được biểu lộ chân thực hơn, gay gắt hơn, thậm chí sinh động hơn trên mạng xã hội so với đời thực. Những vụ việc đơn lẻ có thể được nhanh chóng xâu chuỗi thành vấn đề xã hội có tác động rộng lớn khiến các chính trị gia, các nhà làm chính sách phải đưa ra các phản ứng với tốc độ mau lẹ, khôn ngoan hơn mới đáp ứng được đòi hỏi của các “cử tri mạng”.  Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của các chính phủ theo các cách khác nhau vào không gian mạng đang diễn ra ngày càng rõ nét, thể hiện tư duy về “chủ quyền quốc gia” trên không gian mạng vẫn rất đậm nét trong hệ thống quản trị, điều hành của các quốc gia, đặc biệt là phản ứng của các “đại cường” trong lĩnh vực công nghệ. Châu Âu lựa chọn cách tiếp cận tăng cường thể chế pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân và quy định chặt chẽ trách nhiệm của các công ty cung cấp nền tảng mạng xã hội. Còn Trung Quốc lại thúc đẩy sử dụng công nghệ cao nhằm phục vụ mục đích kiểm soát xã hội, với sự ra đời của nhiều nền tảng mạng xã hội nội địa để xây bức “vạn lý trường thành trên mạng” ngăn chặn sự xâm nhập của các nền tảng mạng xã hội phương Tây cùng với việc tài trợ cho các “binh đoàn” trên mạng để gây ảnh hưởng, định hướng dư luận. Nga lại lựa chọn cách can thiệp thông qua việc vũ khí hoá công nghệ thông tin và tiến hành các chiến dịch gây ảnh hưởng có chọn lọc đối tượng trên mạng xã hội với chi phí rẻ hơn của Trung Quốc và khả năng thích ứng, dễ dùng cao. Những diễn biến như trên khiến nhiều người bắt đầu nghi ngờ hơn về việc sử dụng các sáo ngữ như “toàn cầu hóa là không thể đảo ngược”, “ngôi làng toàn cầu”…    Cầu nối giữa chính trị bình dân và quản trị quốc gia ở Việt Nam  Từ chỗ coi thông tin trên mạng xã hội chủ yếu là xấu, độc và khuyến nghị các công dân tránh xa mạng xã hội, hoặc không khuyến khích sử dụng, các cơ quan nhà nước của Việt Nam đã chuyển sang một cách tiếp cận thực dụng hơn, chủ động hơn và ứng biến linh hoạt hơn khi tìm thấy giá trị sử dụng và chức năng của mạng xã hội với tư cách là một công cụ hữu hiệu để tạo lập và duy trì “đồng thuận xã hội”, phục vụ đắc lực cho mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội. Các cơ quan Đảng, Nhà nước theo dõi sát sao những diễn biến có tính xu hướng trên mạng xã hội, những xung đột xã hội được phản ánh trên không gian mạng để đưa ra những can thiệp mang tính xử lý khủng hoảng hoặc chiến lược. Việc chú trọng xây dựng các thể chế pháp lý để điều chỉnh không gian mạng cùng với các biện pháp kỹ thuật, công nghệ như xây dựng mạng xã hội riêng của Việt Nam nằm trong hệ thống chiến lược theo lối tiếp cận tự tin hơn, chủ động hơn trong ứng phó với các thách thức do mạng xã hội đem lại. Là một nước đi sau về công nghệ, Việt Nam đã áp dụng một phức hợp pha trộn đa dạng các cách tiếp cận và biện pháp can thiệp từ kinh nghiệm của cả châu Âu, Trung Quốc và Nga, vận dụng “tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài” cho phù hợp đặc thù Việt Nam trong xây dựng và vận hành thể chế quản trị mạng xã hội.  Mạng xã hội chưa hẳn là một sân chơi “phẳng” bình đẳng cho tất cả mọi người tham gia mà một số chủ thể vẫn “bình đẳng” hơn chủ thể khác theo nghĩa là có nhiều lợi thế hơn trong việc tạo ra và sử dụng thông tin cho mục đích của mình, đặc biệt là sự xuất hiện các nhóm lợi ích hùng mạnh tham gia vào sân chơi mạng xã hội. Sự tham gia của công chúng trên mạng xã hội nói chung không hoàn toàn là một tiến trình chủ động mà gặp phải nhiều nguy cơ bị dẫn dắt, thao túng bởi các nhóm lợi ích nhiều thế lực. Trong bối cảnh môi trường thực tế và môi trường trên không gian mạng vẫn bị che phủ bởi sự thiếu minh bạch, nhiều thông tin nhiễu loạn, lòng tin xã hội thấp, sự tham gia của công chúng chủ yếu vẫn dừng lại ở những phản ứng, tình cảm bộc phát nhất thời, đột ngột rồi cũng mau chóng qua đi vì thiếu vắng nền tảng và chiều sâu của văn hoá tranh luận, trách nhiệm giải trình trước các vấn đề trọng đại của cộng đồng, của quốc gia.□  —–  * TS. Bùi Hải Thiêm, Viện Nghiên cứu Lập pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội.    Author                Bùi Hải Thiêm        
__label__tiasang Mạng xã hội khiến chúng ta giảm khả năng sáng tạo      Trong một nghiên cứu về đại dịch COVID-19, các nhà nghiên cứu ở Đại học Bath, Dublin, chỉ ra rằng đại dịch, làm việc tại nhà, và tình trạng cô độc do hoàn cảnh bắt buộc mang đến cơ hội để trải nghiệm hai cấp độ buồn chán – “hời hợt” và “sâu sắc” – khái niệm mà triết gia người Đức Martin Heidegger đặt ra đầu tiên.    Buồn chán hời hợt – trạng thái buồn chán phổ biến nhất – được định nghĩa là cảm giác bồn chồn không yên, chẳng hạn khi chờ tàu, chúng ta tìm cách phân tán chú ý, và đây là lúc mạng xã hội và thiết bị điện tử trở nên quan trọng.    Buồn chán sâu sắc bắt nguồn từ tình trạng cô đơn trong một thời gian dài liên tục, điều này có thể dẫn tới thái độ thờ ơ, hững hờ, và mọi người đặt ra câu hỏi về ý thức bản thân cùng sự tồn tại của mình – đây là trạng thái mà Heidegger cho rằng sẽ dẫn con người ta tới cách tư duy và hoạt động sáng tạo hơn.        Nghiên cứu xem xét những trải nghiệm buồn chán trong đại dịch của những người phải nghỉ phép không lương hay làm việc tại nhà.    “Vấn đề chúng tôi quan sát thấy là mạng xã hội có thể giải khuây cho mọi người, nhưng trò tiêu khiển này gây tốn thời gian và năng lượng, đồng thời ngăn con người ta tiến tới một trạng thái buồn chán sâu sắc, tại đây họ có thể khám phá ra những đam mê mới”, Tiến sĩ Timothy Hill, đồng tác giả của nghiên cứu.    “Nghiên cứu này hé lộ cho chúng ta thấy rằng văn hóa online 24/7 và các thiết bị hứa hẹn nhiều thông tin cùng các trò tiêu khiển có thể khắc phục nỗi buồn chán hời hợt của chúng ta, nhưng thực ra lại ngăn chúng ta tìm thấy những thứ có ý nghĩa hơn”, ông nói. “Cơn buồn chán sâu sắc có thể nghe như một khái niệm quá ư tiêu cực, nhưng trên thực tế, nó có thể cực kỳ tích cực nếu mọi người có cơ hội suy nghĩ và phát triển mà không bị xao nhãng. Chúng ta phải nhận thấy rằng đại dịch là một trải nghiệm bi thảm, hủy hoại và gây hao tổn cho hàng ngàn người kém may mắn, nhưng chúng ta cũng quen thuộc với các câu chuyện về những con người trong thời điểm cách ly đã tìm thấy sở thích, nghề nghiệp hay hướng đi mới trong cuộc sống.”    TS Hill cho biết các nhà nghiên cứu lấy làm ngạc nhiên khi kết quả khảo sát của nghiên cứu dường như minh chứng cho tư tưởng của Heidegger, ông đã mô tả hai loại buồn chán này trong các bài giảng của mình vào những năm 1929-1930, và nhấn mạnh chính những nỗi buồn chán sâu sắc mang lại cho ta sức sống.    TS Hill cùng các cộng sự đã xem xét cuộc sống của 15 người, trong đó có người được cho nghỉ làm và có người làm việc tại nhà trong đại dịch COVID-19. Tất cả đều là người Anh hay Ireland với tuổi tác, nghề nghiệp và nền tảng học vấn khác biệt. Ông cho biết khảo sát tương đối hạn chế nhưng cũng có giá trị, chẳng hạn như xem xét các điều kiện vật chất và tầng lớp xã hội đóng vai trò như nào trong trải nghiệm buồn chán của con người.    Ông nói: “Chúng tôi cho rằng những phát hiện ban đầu này sẽ cộng hưởng với trải nghiệm của rất nhiều người trong đại dịch và việc họ sử dụng mạng xã hội để giảm bớt cảm giác buồn chán. Chúng tôi mong nghiên cứu này tiếp tục được tiến hành.”    Bài báo được đăng trên tạp chí Marketing Theory.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Mạng xã hội ở Việt Nam: Để trở thành nền tảng tốt ?      Khi một mạng xã hội mới ra đời, dường như chúng ta hướng vào hai vấn đề chính: một mạng xã hội của người Việt làm cho người Việt và làm thế nào cạnh tranh với Facebook. Ở góc độ một người làm về khoa học dữ liệu, tôi vẫn rất mong sẽ có những nền tảng thông tin lớn như một mạng xã hội do những người Việt tạo nên và thành công ở Việt Nam.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nghe giới thiệu về việc hình thành mạng xã hội trong nước. Nguồn: laodong.vnTại sao nên cố gắng gây dựng một mạng xã hội Việt Nam khi đã có Facebook?  Dễ thấy các công cụ tìm kiếm như Google, mạng xã hội Facebook từ nước ngoài đã hút gần hết người sử dụng ở Việt Nam. Vậy tại sao chúng ta vẫn phải nghĩ đến việc xây dựng các công cụ trong nước cạnh tranh với các nền tảng đã có rất nhiều người sử dụng trên? Việc quyết định tự xây dựng, hay mua, hay “dùng nhờ” sẽ phải dựa vào rất nhiều các yếu tố về giá trị kinh tế, lợi ích quốc gia, năng lực thực hiện…  Thứ nhất về giá trị thông tin với người sử dụng. Chúng ta có thể thấy các công ty nước ngoài có thể đưa hay chấp nhận những thông tin chưa cập nhật, chính xác. Ngay một công ty hàng đầu thế giới về tìm kiếm dữ liệu bản đồ là Google thì dữ liệu địa điểm, ảnh từ trên cao nhiều vùng ở Việt Nam chưa được cập nhật. Cái này các hệ thống bản địa có thể làm tốt hơn. Chính Google cũng phải bỏ tiền ra để mua hay hợp tác để có những thông tin này từ một số công ty tại các quốc gia khác nhau. Việc so khớp (matching), xếp hạng (ranking), lọc (filter) hiển thị nội dung trên các nền tảng như Facebook trong một số lĩnh vực vẫn có thể cải tiến, nhưng có thể họ biết mà không làm vì ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và số đông người dùng khác của họ. Cái thiểu số họ bỏ qua đó có thể là người dùng Việt, một doanh nghiệp Việt. Xây dựng một nền tảng trong nước với nội dung thông tin chính xác, phong phú, thiết yếu, cách hiển thị thông tin tốt vẫn có thể hấp dẫn được người dùng so với các nền tảng từ nước khác.  Thứ hai về khía cạnh an ninh. Một hệ thống tìm kiếm hay mạng xã hội có thể chứa các thông tin để giúp cho việc ngăn ngừa xử lý các vụ việc hình sự khi người dùng Internet ngày càng phụ thuộc vào nó như một phần của cuộc sống. Nếu Google, Facebook không hợp tác giúp các quốc gia giải quyết vấn đề này thì các quốc gia phải tự có công cụ để giải quyết nó. Ví dụ một cá nhân dùng một công cụ tìm kiếm hay mạng xã hội để phục vụ cho một việc xấu (tìm đối tượng hành động, tìm địa điểm hành động, tìm cách thức hành động hay đưa tin lừa đảo, vu cáo gây thiệt hại lớn) nếu các nền tảng này không cung cấp dữ liệu cho cơ quan an ninh Việt Nam thì các cơ quan chức năng sẽ khó có thể giải quyết các vụ việc hình sự, gây nguy hại đến xã hội và an ninh quốc gia.      Xây dựng một nền tảng trong nước với nội dung thông tin chính xác, phong phú, thiết yếu, cách hiển thị thông tin tốt vẫn có thể hấp dẫn được người dùng so với các nền tảng từ nước khác.      Ngay cả các quốc gia phát triển ở châu Âu, khi cần, vẫn phải yêu cầu các các công ty dịch vụ Internet, viễn thông cung cấp dữ liệu, thông tin của người dùng để xử lý các vụ việc hình sự và bảo vệ an ninh quốc gia. Không có một chính sách riêng nào bảo vệ cho một việc vi phạm hình sự cả. Nó như một cảnh sát có quyền dừng và khám xét bất kỳ một chiếc xe nào vi phạm luật lệ giao thông. Dĩ nhiên bên cạnh đó cần phải có các điều luật đảm bảo tính riêng tư về dữ liệu người dùng, đảm bảo việc truy cập thông tin người dùng phải được thông báo cho người dùng biết, đúng quy trình và pháp luật, tuyệt đối không được lạm dụng, dùng không đúng mục đích hay gây thiệt hại cho người chủ của dữ liệu.  Thứ ba về lợi ích kinh tế, không có gì là miễn phí cả. Các công ty công nghệ lớn như Facebook có nền tảng công nghệ tốt nên khi có rất nhiều dữ liệu họ có thể định hướng mục đích thu lời cho họ. Người dùng chúng ta đưa thông tin lên, đưa bấm chuột (click), đưa lượt đọc (views) để họ dùng những tương tác đấy thu lợi rất nhiều từ quảng cáo và thậm chí có vụ đưa tin cho bên thứ ba kiếm lời. Nếu thiếu sự cạnh tranh thì mọi người phải chấp nhận trả giá cao cho doanh nghiệp nước ngoài. Tôi từng biết một doanh nghiệp Việt sẵn sàng bỏ 50.000 USD cho một doanh nghiệp Việt khác nếu giúp họ có số views quảng cáo chỉ cần gần bằng con số tương tự Facebook đưa lại vì họ thấy rõ mất quá nhiều tiền cho công ty nước ngoài mà có thể không hướng được vào đúng đối tượng mình cần.  Mạng xã hội Facebook từ nước ngoài đã hút gần hết người sử dụng ở Việt Nam. Nguồn: VietTimesCuối cùng, dù đi sau không có nghĩa là chúng ta quá thiệt thòi. Kinh nghiệm, bài học thành công, thất bại, của các nền tảng đi trước có thể giúp chúng ta hoàn thiện nhanh sản phẩm và tăng số lượng người dùng. Chính các nền tảng đã thành công trên thị trường như Google, Facebook, Amazon đã cung cấp những khung khổ, công nghệ, hàng trăm thư viện phần mềm, giao diện lập trình ứng dụng (APIs) mà ta có thể sử dụng và học hỏi để phát triển hệ thống mới của chúng ta hiệu quả hơn. Những nền tảng này cũng đã “đào tạo” thói quen của người dùng Internet, và chúng ta có thể tận dụng nền tảng của họ để marketing cho ứng dụng của mình trong giai đoạn đầu.  Do vậy thay vì để người dân, doanh nghiệp “vô tư” cung cấp dữ liệu, trả tiền cho những “xa lộ thông tin” nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, chúng ta cũng nên gắng có những “xa lộ thông tin” của chính mình, để ta tự chủ trong việc kiểm soát an toàn, bảo vệ người lưu thông trên đó, giúp người lưu thông hiệu quả hơn. Nhưng nếu ta xây một xa lộ thông tin chất lượng quá kém, luật lệ trái khoáy, thu phí vô lý thì dĩ nhiên người dân sẽ chọn con đường khác, dù nó do một quốc gia khác xây trên “lãnh thổ dữ liệu” của chúng ta.  Có cách nào xây dựng một mạng xã hội tốt?  Việc một mạng xã hội xây dựng ở Việt Nam có thành công hay đủ sức cạnh tranh với một nền tảng đã quá thành công từ nước ngoài hay không tôi chưa dám lạm bàn. Tuy nhiên tôi tin những hệ thống xây dựng ở Việt Nam có thể làm tốt hơn được qua chiêm nghiệm của bản thân.  Tìm cho mình một triết lý phát triển  Nhìn lại quá trình thành công của các công ty công nghệ hấp dẫn một lượng lớn người dùng, họ đều bám vào một triết lý nào đó và làm những việc tốt nhất để thực hiện triết lý đó.  Theo tôi, ẩn đằng sau sự thành công của Facebook là triết lý “Kết nối bằng hình ảnh”. Người sáng lập Facebook Mark Zuckerberg đã từng nổi danh tại Đại học Harvard khi tạo ứng dụng Facemash cho phép sinh viên lựa chọn người đẹp nhất từ một số bức ảnh.  Người dùng Facebook dễ thấy mạng xã hội này gợi ý “tag” khuôn mặt người trong ảnh rất tốt. Việc gợi ý người dùng để kết nối, giúp người dùng dễ nhận ra ngay một khuôn mặt, một cái tên thân quen, cộng với đặc tính “thế giới nhỏ – small world theory” của mối quan hệ trong xã hội, đã giúp Facebook nhanh chóng có một số lượng bùng nổ người dùng. Khi Facebook mua Instagram, một hệ thống chia sẻ và xử lý ảnh mới nổi với giá 1 tỉ USD cách đây vài năm để tăng cường sức hấp dẫn người dùng cũng không nằm ngoài triết lý “Kết nối bằng hình ảnh” của Facebook. Trong thời đại gần như ai cũng dùng điện thoại thông minh và chất lượng chụp, chia sẻ các bức ảnh ngày càng tốt, nó như sự tận dụng “thiên thời” để nhân thành công triết lý này lên.<      Nếu ta xây một xa lộ thông tin chất lượng quá kém, luật lệ trái khoáy, thu phí vô lý thì dĩ nhiên người dân sẽ chọn con đường khác, dù nó do một quốc gia khác xây trên “lãnh thổ dữ liệu” của chúng ta.      Hay như Amazon, họ có một triết lý về đổi mới sáng tạo (Innovation) là: Innovation không phải là dự đoán cái gì sẽ thay đổi trong tương lai mà lại là dựa vào những gì sẽ không thay đổi trong tương lai. Chính vì dự đoán mỗi con người sẽ không thay đổi mong muốn mua được mặt hàng rẻ, có chất lượng, giao hàng nhanh trong vài thập kỷ mà Amazon liên tục có những sáng tạo và trở thành một đế chế bán hàng và công nghệ như hiện nay và từng nhận danh hiệu công ty sáng tạo nhất thế giới.  Vì vậy, một mạng xã hội hay một hệ thống thông tin nào đó ở Việt Nam muốn thành công, đủ sức cạnh tranh với những “ông lớn” công nghệ chắc chắn phải tìm cho mình một triết lý phát triển, kiên định thực hiện nó. Hãy định nghĩa cho đúng khái niệm “kết nối” mà người Việt cần để nỗ lực tạo và mở rộng sự “kết nối” và đừng bỏ qua những yếu tố hiển nhiên mà các hệ thống mạng xã hội khác đã thành công, như hình ảnh, nội dung trên ứng dụng phải đẹp và tạo sức hấp dẫn chia sẻ. Thêm nữa luôn cần phải có được cả ba yếu tố để thành công là (1) thiên thời – bắt được mạch phát triển của công nghệ và xã hội, (2) địa lợi – phát triển tại Việt Nam và phục vụ thị trường người dùng khá lớn Việt Nam, và (3) nhân hòa – bắt tay được với nhiều người có tầm ảnh hưởng về mặt xã hội và doanh nghiệp Việt để chung tay phát triển.  Phát triển một sản phẩm cho tử tế  Khi tải xuống ứng dụng một mạng xã hội ở Việt Nam mới công bố về dùng thử, cảm nhận ban đầu của tôi không như kỳ vọng. Về mặt nội dung, ứng dụng này không khác một trang tổng hợp tin tức, mà lại phần nhiều là các tin tức giải trí, giật gân, hàm lượng thông tin thấp khi phần “trending news” chưa giải quyết được sự trùng lặp nội dung trong tin tức. Nó khác với cảm giác của tôi khi xưa cài Facebook hay Linkedin là tìm ngay được những người thân quen hay đồng nghiệp cùng công ty. Giao diện trên Mobile vẫn gặp lỗi, hiển thị ảnh và nội dung chưa “mượt”. Chức năng tìm kiếm người hay nội dung tôi quan tâm còn hạn chế về việc sắp xếp và hiển thị.  Những nền tảng đã thành công trên thị trường như Google, Facebook, Amazon… đã cung cấp những khung khổ, công nghệ, hàng trăm thư viện phần mềm, giao diện lập trình ứng dụng (APIs) để ta có thể sử dụng và học hỏi.  Tôi vẫn hy vọng vào năng lực phát triển sản phẩm công nghệ của người Việt nói chung và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực Internet của đơn vị tạo ra sản phẩm xã hội mới này nói riêng. Tin là mọi người đã tính đến các vấn đề về hiệu năng (performance), bảo mật (security), tính mở rộng (scalability) của hệ thống. Nhưng một sản phẩm ra mắt với sự quan tâm khá rộng của công chúng, số tiền đầu tư không phải nhỏ thì cố gắng đừng để lỗi và hãy mang cho người dùng trải nghiệm tốt hơn. Dường như một số người phát triển sản phẩm đã hiểu sai quy tắc 80/20 để có thể mỗi bộ phân phát triển tặc lưỡi hoàn thành 80% chất lượng mà quên mất một phép toán đơn giản: Nếu một sản phẩm có nội dung chỉ tốt 80%, chất lượng xử lý nội dung ở mức 80%, chất lượng hiển thị nội dung 80% tức là tạo ra một sản phẩm làm thất vọng gần một nửa người dùng thử (0.8 x 0.8x 0.8 ~ 0.5).  Khái niệm token nên có tính khoa học và tạo sự công bằng  Khi thấy ý tưởng thưởng “token” cho người sử dụng tạo nội dung trên mạng xã hội ở Việt Nam, ban đầu tôi nghĩ đây là một cách tiếp cận khá hay để khuyến khích người dùng tương tác và tạo nội dung tích cực hơn trên mạng xã hội mới. Khi dùng mạng xã hội như Facebook, tôi cũng từng suy nghĩ Facebook đã thu lời quá nhiều từ nội dung người dùng cung cấp. Thậm chí nhiều nội dung copy qua lại, chia sẻ lại nhận được ủng hộ nhiều hơn cả những nội dung thông tin gốc. Nếu có một cơ chế ghi nhận, trả thù lao (reward) cho những người dùng đóng góp cho nội dung của Facebook, dù rất nhỏ theo một dạng “smart contract” hay “cryptocurrency token” thì sẽ công bằng hơn. Mọi người sẽ yên tâm tạo nội dung và nếu nội dung tốt sẽ được nhận phần thưởng tương xứng và không lo lắng về bản quyền.  Việc “trao” token phải dựa trên một nền tảng khoa học rõ ràng. Nó như những “đồng tiền ảo” và lý thuyết blockchain mà chúng ta hay nhắc đến gần đây dựa vào thuật toán rất chặt chẽ để chắc chắn việc tạo tiền ảo (cryptocurrency mining) không khiến đồng tiền ảo bị “lạm phát” và thuật toán cũng đảm bảo có thể lần ngược được chuỗi giao dịch của “hợp đồng thông minh” để xác thực việc giao dịch.      Cần cả ba yếu tố để thành công là: thiên thời – bắt được mạch phát triển của công nghệ và xã hội, địa lợi – phát triển tại Việt Nam và phục vụ thị trường người dùng khá lớn Việt Nam, và nhân hòa – bắt tay được với nhiều người có tầm ảnh hưởng về mặt xã hội và doanh nghiệp Việt.      Quay trở lại một chút lịch sử Internet, khi Google đánh bại Yahoo trên lĩnh vực máy tìm kiếm, một phần vì ban đầu họ phát minh ra thuật toán PageRank rất hay, (mô tả trong bài báo “The PageRank Citation Ranking: Bringing Order to the Web” năm 1998 của hai đồng sáng lập Google) để sắp xếp thứ tự các trang web trên kết quả tìm kiếm. Đây là một hình thức “cho điểm” các trang web dựa vào các “link vào” và “link ra” từ trang web đấy. Công thức cho điểm dựa trên một nền tảng tính toán đảm bảo tránh được tình trạng spam link, giúp phản ánh đúng sự quan trọng của các trang web dựa trên tri thức của người dùng một cách rất khoa học và tự nhiên.  Tuy nhiên sự kỳ vọng của tôi đã chưa đạt được khi nhìn cách “trao” token của mạng xã hội (MXH) mới xuất hiện ở Việt Nam vì nó quá giản đơn, thoáng thấy một số nhân viên của công ty viết những bình luận đại loại “comment vào đây để nhận gấp 2 số token nhé” hay “share tin này để nhận được token nhé”.  Làm như vậy là một sự khiên cưỡng, giảm đi sự tự nhiên và thiếu tôn trọng giá trị thông tin và nội dung của những người đóng góp cho MXH. Nó không trân trọng những người tạo nội dung thực cho mạng xã hội và có thể khuyến khích những tương tác “ảo”, đi ngược lại bản chất khuyến khích tạo nội dung có giá trị của token. Vì thế nhóm phát triển MXH Việt Nam nên đầu tư nghiên cứu cách trao “token” một cách khoa học hơn để nhắm đúng mục đích khuyến khích việc tạo và chia sẻ nội dung trên MXH.  Hãy giúp xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn  Có một câu chuyện nhân tiện xin chia sẻ: Cách đây vài năm lúc tôi còn ở trong một nhóm phát triển ứng dụng tìm kiếm tại một công ty ở Thụy Sĩ, khi phân tích dữ liệu người dùng, tôi thấy có thể xây dựng một chức năng mới cho hệ thống giúp rất nhiều người dùng tránh được các liên lạc gây phiền toái qua điện thoại. Tuy nhiên nếu làm chức năng này thì nó có khả năng chặn một số liên lạc của chính bộ phận marketing hay bán hàng của công ty mình tiếp cận khách hành. Nghĩa là để mang lại lợi ích mới cho nhiều người dùng thì phải hy sinh một ít doanh thu của một bộ phận công ty mình. Mang băn khoăn trao đổi với một lãnh đạo công ty, anh ta đã nói: “Phải làm chứ, vì nó giúp xã hội tốt đẹp hơn”. Vài tháng sau khi triển khai chức năng này, hàng trăm nghìn người đã sử dụng nó và là một trong ít tính năng của công ty nhận được lời khen chủ động của người dùng trên các mạng xã hội như Twitter…  Nên khi xây dựng một nền tảng thông tin cho một số lượng lớn người dùng Việt, tôi hy vọng những người tham gia xây dựng mạng xã hội này hãy tập trung giải quyết những vấn đề của người dùng, của xã hội Việt Nam. Đừng quá vì sức ép canh tranh, sức ép doanh thu mà quên đi sứ mệnh của mình là: Giúp cho xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn.    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Mạng xã hội và những kỳ vọng ảo      Là một người đấu tranh và bảo vệ nữ quyền hơn 20 năm ở Việt Nam, có lẽ TS. Khuất Thu Hồng hiểu rõ sức mạnh của mạng xã hội khi phong trào #Metoo bùng nổ và bà cũng tham gia.      TS. Khuất Thu Hồng đặt vấn đề, mạng xã hội được tạo ra để giải phóng con người nhưng lại ngày càng trói buộc họ.  Một phong trào trên internet thúc đẩy các nạn nhân bị quấy rối tình dục lên tiếng và chia sẻ câu chuyện của mình, xuất phát từ Mỹ sang tới một nơi chịu ảnh hưởng Nho giáo mạnh mẽ như Việt Nam. Nó như một cơn sóng làm bật tung những áp lực xã hội to lớn vốn đè nặng lên những nạn nhân buộc họ phải im lặng và giáng một đòn chí mạng cho những kẻ vẫn hả hê dùng quyền lực để chà đạp lên nhân phẩm phụ nữ, tất cả chỉ trong vòng vài tháng.  Mặc dù vậy, TS. Khuất Thu Hồng vẫn đầy dự cảm không hay về tương lai của con người trước mạng xã hội. Bà gọi mạng xã hội là “Phát minh vĩ đại và rồ điên vì nó làm cho chúng ta trở nên tiến bộ và vô cùng mạnh mẽ nhưng cũng khiến cho chúng ta trở thành ‘anh hùng bàn phím’, lợi dụng để mạt sát, chửi rủa lẫn nhau, trốn tránh thực tại,”. Trong buổi nói chuyện: “Ta đã làm gì đời ta…trong thế giới ảo” do bà khởi xướng cùng Tia Sáng gần đây, với sự tham dự của TS. Đặng Hoàng Giang, tác giả của cuốn sách bán chạy “Thiện, ác và smartphone” và TS. Giáp Văn Dương, họ cùng trao đổi về những tiêu cực của mạng xã hội và internet, đã làm tan vỡ những ước mơ tốt đẹp của con người khi tạo ra chúng như thế nào.      Mạng xã hội có khiến con người mất tự do?  TS. Khuất Thu Hồng cho rằng, mạng xã hội được tạo ra để giải phóng con người nhưng lại ngày càng trói buộc họ. Con người càng phơi bày cuộc sống riêng tư, cá nhân của mình trên mạng thì càng cảm thấy cô độc. Họ thay đổi từ việc suy nghĩ rất kĩ trước khi viết trở nên không ngần ngại “nghĩ sao viết vậy”, sử dụng từ những từ viết tắt cho đến chửi bới, “những từ tồi tệ nhất” trên Facebook. Nhờ mạng xã hội mà con người không chỉ sống cuộc đời của mình, còn được sống cả cuộc đời người khác khi đọc, bình luận, phán xét, can thiệp vào chuyện của họ. Mạng xã hội, với sự ảo của nó cho người ta cảm giác được tự do biểu đạt, tự do nêu ý kiến nhưng đồng thời cũng cho người ta quyền cướp đi tự do của nhau, khiến người ta trở nên độc ác và tàn nhẫn, chà đạp và mạt sát người khác. Cuối cùng, thứ tư do mà chúng ta tưởng, chỉ là thứ “tự do ảo”.     TS. Đặng Hoàng Giang nhận định “Rất tiếc với nhiều tiềm năng, mạng xã hội đã trở thành một quán bia khổng lồ, triệu người tán nhảm, lăng nhục lẫn nhau”.  Việt Nam có hơn 60% dân số đang sử dụng mạng xã hội với thời gian sử dụng mỗi ngày là 2,5 tiếng (còn thời gian sử dụng internet là xấp xỉ 7 tiếng). Trong bữa cơm, cũng có những gia đình mỗi người lại ngồi một góc nhìn vào màn hình điện thoại. Công nghệ này cho con người cảm giác được giải thoát khỏi cuộc đời trôi đều đặn hằng ngày, tránh xa những nỗi muộn phiền về gia đình, đồng nghiệp và hàng xóm láng giềng. TS. Khuất Thu Hồng lấy ví dụ về Second Life, một nền tảng game cho phép con người tạo ra một cuộc đời thứ hai trên mạng (mỗi người chơi được đại diện bởi một avatar 3D và họ có thể xây những ngôi nhà mơ ước, làm những công việc mình khao khát, gặp người bạn đời lý tưởng) để minh chứng cho luận điểm này. Sau khi Facebook ra đời, Second Life vẫn thịnh hành và có vài chục triệu người dùng trung thành. Có những người với thời gian biểu không thể dày đặc và căng thẳng hơn, vẫn dậy thật sớm để chơi trước khi bước vào một ngày mới thực sự. Người ta tìm đến mạng xã hội, như tìm một nơi an ủi tâm hồn khi những người xung quanh họ hằng ngày, không đủ khả năng để chia sẻ những day dứt, dằn vặt của họ về thời cuộc. Dồn tâm huyết vào mạng xã hội là cách để người ta chạy trốn thực tại, để không phải đối diện với sự thật.  Mạng xã hội cho người ta hoài niệm về quá khứ, tìm lại bạn cũ; cho người ta tưởng tượng cuộc sống là hoàn hảo; cung cấp cho người ta những ứng dụng để xem trước tương lai, nhìn về kiếp trước…Với tất cả những gì mạng xã hội mang lại, TS. Khuất Thu Hồng thấy “thế giới ảo” như đang tràn ra khắp các chiều cạnh và cấp độ, cái gì cũng mạnh hơn và bà lo sợ về tương lai với sự phát triển của công nghệ, sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo, liệu con người có trở nên “sống ảo toàn tập”? Liệu những phát minh để làm cho con người hạnh phúc rồi có khiến cho họ khổ sở? Bà lấy ví dụ về con robot sẽ làm hộ bà tất cả mọi việc, điều mà các nhà công nghệ đang nỗ lực tạo ra, liệu có khiến con người vui vẻ, rảnh rang hay rồi lại khiến họ cảm thấy xa lạ với chính ngôi nhà của mình?  Mạng xã hội có kéo lùi sự phát triển?  TS. Đặng Hoàng Giang cũng không phải là một người nhiều hi vọng về tương lai của công nghệ. Và ngay trong câu chuyện về robot của TS. Khuất Thu Hồng, ông cũng tin rằng, sẽ là cả một vấn đề đau đầu nếu chú robot thân thiết với con người bị hỏng và khiến họ đau buồn hay “trở mặt” thay đổi mã khóa cửa ra vào và cướp tiền của chủ nhà. Công nghệ nói chung và internet nói riêng khi mới ra đời được kỳ vọng rất nhiều với tạo ra một “ngôi làng toàn cầu”, tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người bất kể xuất thân và sắc tộc, giúp họ chia sẻ ý tưởng và liên kết với nhau. Nhưng, sau hai, ba thập kỷ, giấc mơ nhanh chóng biến thành ác mộng, ngôi làng kì diệu đó có thể là nơi lưu trữ những ý tưởng tốt đẹp nhưng cũng là địa ngục đầy những thị phi và xô xát.      Mạng xã hội, với sự ảo của nó cho người ta cảm giác được tự do biểu đạt, tự do nêu ý kiến nhưng đồng thời cũng cho người ta quyền cướp đi tự do của nhau, khiến người ta trở nên độc ác và tàn nhẫn, chà đạp và mạt sát người khác.        Trong buổi nói chuyện, TS. Đặng Hoàng Giang tóm lược lại những gì ông đã viết trong quyển sách ăn khách “Thiện, ác và smartphone” của mình, lý giải tại sao những khía cạnh tích cực của Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng lại bị suy tàn trên quá trình vận hành của nó. Về cấp độ cá nhân, mạng xã hội khơi dậy chủ nghĩa ái kỷ, kích thích cảm giác muốn được tung hộ, được tán thưởng, khao khát được “like”. Ngoài đời, một người khó có cơ hội được nói trước đám đông và tán thưởng nhưng làm được điều đó trên mạng thật dễ dàng, khiến cho người ta sớm “nghiện” và không thể chịu được nếu không đăng gì đó: Đứng trước hoàng hôn tuyệt đẹp mà không có ảnh để đăng trên Facebook thì giây phút đó coi như không xảy ra, cảm xúc chiêm ngưỡng hoàng hôn không còn đầy đủ và trọn vẹn. Không ngạc nhiên mà vì thế, con người không ngại ngần lột trần những gì riêng tư, cảm xúc phụ thuộc vào đám đông và không chịu được cảm giác một mình. Về cấp độ cộng đồng, hình thức làm nhục công cộng từ thời kỳ trung cổ và phong kiến giờ lại có cơ hội phục sinh trong thời hiện đại với một mức độ mạnh mẽ hơn. Bất kì ai cũng có “tiềm năng bị làm nhục”, không chỉ họ ngoại tình, trộm cắp mà vì họ hát quốc ca không đúng kỳ vọng của đám đông, vì họ chơi “Ai là triệu phú?” trên truyền hình và trót không biết canh cua nấu với rau gì. Sự trừng phạt trên mạng, khủng khiếp đủ khiến người ta tự tử hoặc đi nơi khác để sống. Bên cạnh làm nhục công cộng, còn là “hình thức công lý mạng” – một thứ công lý thô sơ do đám đông quyết định, dựa trên nguyên lý “kẻ mạnh thắng kẻ yếu”, “đa số thắng thiểu số” mà không có một cơ chế bảo vệ nạn nhân. Nhiều người nhân danh đám đông để miệt thị những người khác quan điểm với mình. Các ý kiến khác nhau trong cộng đồng, thay vì tìm cách chung sống để tiến tới đồng thuận, lại càng trở nên phân cực và chia rẽ con người. “Chúng ta chỉ biết người ta qua một avatar bé tẹo với một cái tên. Chúng ta dễ độc ác và không nhìn thấy sau đấy là một con người bằng xương bằng thịt” – TS. Đặng Hoàng Giang nói. Internet cũng không cho phép quên những lỗi lầm của người khác, dù là nhỏ nhất. Qua nhiều năm, nếu các trang tìm kiếm không thêm những thông tin mới về cuộc đời của những người phạm lỗi, họ sẽ bị “dán nhãn” suốt đời và không được trao cho cơ hội quay trở lại cuộc đời bình thường. Người ta đã mơ ước mạng xã hội có thể thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, trao cho những người thấp cổ bé họng quyền được lên tiếng và bảo vệ mình nhưng cuối cùng, mong muốn ấy cũng tan tành vì vụ bê bối Cambridge Analytica đã cho thấy, mạng xã hội có thể thao túng cả một quy trình bầu cử của một nền dân chủ lâu đời. Với cốt lõi kinh doanh làm thế nào để người dùng dành nhiều thời gian trên mạng ngày càng tốt, các mạng xã hội chỉ bủa vây con người bằng những thông tin mà họ muốn đọc, muốn xem, muốn nghe. Xung quanh mỗi người, sẽ chỉ toàn những người có suy nghĩ giống hệt họ: Khi ta nói thì mọi người tán thưởng, khi mọi người nói thì ta tán thưởng. Chúng ta không hay biết về những người có ý kiến khác với mình. Cộng đồng bị xé lẻ thành các nhóm mà mỗi nhóm ngồi trong căn phòng đồng vọng của riêng mình, không quan tâm và không hiểu người khác tại sao lại có quan điểm như vậy và liệu có thể thương thuyết để tạo được sự đồng thuận. Thế giới chia thành hai cực, như kẻ thù của nhau, nhóm đồng ý và không đồng ý. “Rất tiếc với nhiều tiềm năng, mạng xã hội đã trở thành một quán bia khổng lồ, triệu người tán nhảm, lăng nhục lẫn nhau, người tiếng to nhất sẽ được nghe, những kẻ thấp bé hơn, nhát hơn thì mình không nghe được họ, như thế không phải là dân chủ” – TS. Đặng Hoàng Giang nhận định.  Cơ hội cho chúng ta hiểu mình  TS. Giáp Văn Dương, tuy vậy, lại có một góc nhìn lạc quan về mạng xã hội và Internet. Với anh, thế giới được tạo nên bởi bốn yếu tố: các sự vật vật lý, sự vật tinh thần, những người khác và những tình huống. Và cái vẫn được gọi là “thế giới ảo”, trong đó, vật chất chỉ là thông tin được biểu đạt bằng con chữ, hình ảnh và mã hóa thành các bit 0 và 1 thực chất chỉ là kéo dài của “thế giới thực”. “Nó không xấu, chúng ta mở rộng được cuộc sống của chúng ta mà thôi” – Anh nói.  Thời điểm này là lần đầu tiên trong lịch sử con người được chứng kiến sự mở rộng này và trong tương lai rất gần, thậm chí sẽ không còn sự phân biệt giữa khái niệm online hay offline nữa vì tất cả đều được nối với nhau bằng mạng không dây, được điều khiển bằng cảm ứng, cảm biến chứ không phải bằng các nút bấm vật lý. Người ta không còn cảm nhận được sự hiện diện của ranh giới giữa “ảo” và “thực” nữa. Mỗi ngày, số thông tin một người xử lý bằng lượng thông tin cả một đời của người sống trong thời kì internet chưa xuất hiện. Con người đang rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa thông tin. Chúng ta chưa biết hành xử như thế nào. TS. Giáp Văn Dương cho biết: “Chúng ta còn quá non nớt, chưa đủ trưởng thành để tránh khổ đau”. Mạng xã hội với tất cả những tiềm năng và ác mộng do con người tạo ra, theo một nghĩa nào đó, mở ra cơ hội cho con người hiểu hơn về chính mình, tạo điều kiện cho những nghiên cứu mới và học hỏi những cách ứng xử mới trong cuộc sống.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Mất di sản, thành phố sẽ trống rỗng ký ức      Một cái nhìn mới, cởi mở về di sản và vai trò của nó trong quá trình phát triển có thể đem đến cho các di sản một đời sống mới, thay vì phá hủy và biến thành phố trở thành nơi rỗng ký ức. Đó là quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, trong cuộc trao đổi với Tia Sáng xung quanh những di sản ở các đô thị đang bị mất mát nhanh chóng trong thời gian qua.     Nhà máy in Tiến Bộ phản ánh lịch sử của thời kỳ đầu xây dựng XHCN. Ảnh: Bác Hồ thăm nhà máy in Tiến Bộ. Nguồn: website nhà máy in Tiến Bộ.  Sự việc khu nhà 61 Trần Phú, nằm trong vùng “lõi” di sản của Hà Nội, bị phá dỡ khiến chúng ta phải xem xét lại các kho di sản kiến trúc thời Pháp thuộc ở Hà Nội. Vậy theo ông, hiện trạng của di sản này như thế nào?   Chúng ta hiện có biết bao nhiêu những căn biệt thự, tòa nhà cũ nhưng giờ dường như nhiều tòa nhà chẳng còn giá trị gì, hầu hết đều xuống cấp, bẩn thỉu, nhếch nhác, không ai coi đó là di sản cả. Trong khi các tòa nhà đó chính là di sản phản ánh đời sống xã hội của người Pháp, của các nhà tư sản dân tộc hay của lớp trí thức, người giàu mới nổi, viên chức cũ ở Hà Nội cách đây hơn một thế kỷ, mà ngay cả những người đang sống ở Hà Nội ngày nay cũng không hình dung ra được hồi đó người ta sống như thế nào.  Tôi cho rằng nói về các kiến trúc gắn liền với di sản ở Hà Nội, đương nhiên không chỉ là kiến trúc thời Pháp thuộc mà là những kiến trúc xuyên suốt từ thời phong kiến, kéo sang thời Pháp thuộc, mà còn là những di sản kiến trúc giai đoạn sau này, như kiến trúc thời xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là những công trình kiến trúc về xây dựng trong thời kỳ đầu, từ những năm 1995-1980 như các nhà tập thể, không gian khu tập thể. Người ta không nghĩ đó là di sản, chỉ nghĩ các công trình này quá xập xệ, toàn “chuồng cọp” mà quên đi rằng những tòa nhà được xây lên ở thời điểm thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa đó thể hiện những ước vọng của xã hội, của người dân thời đó, rồi sau này mới xuống cấp. Và ngay cả khi xuống cấp và được cơi nới thì những khu tập thể, những không gian đó cũng thể hiện những câu chuyện về đời sống của thị dân thời kỳ sau đó.  Nhìn theo hướng các di sản phản ánh đời sống, văn hóa, lịch sử của những thời kỳ trước thì chúng ta thấy có rất nhiều di sản đã bị bỏ quên, bị phá đi một cách vô cùng lãng phí. Ví dụ, Nhà máy in Tiến Bộ bây giờ còn gì? Nhà máy đó không chỉ phản ánh lịch sử của thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa mà trước khi trở thành nhà in Tiến Bộ thì đó cũng là nhà in tiền của một nhà tư sản…  Ngay cả với những chỗ đang được gìn giữ rất tốt, chúng ta vẫn nhìn di sản một cách riêng lẻ chứ chưa hình dung một không gian di sản. Như hiện nay, trường Đại học Dược (khởi thủy là khoa Dược thuộc Trường Y Dược khoa Đông Dương) đang được giữ rất tốt nhưng ít ai biết rằng đó là một phần của cả khu vực cổ nhất của Hà Nội dưới thời Pháp thuộc. Bởi khi Hà Nội là nhượng địa, khi Pháp bắt đầu đánh Hà Nội, triều Nguyễn cắt đất nhượng địa Pháp thì có một khu vực rộng, bắt đầu từ bệnh viện Việt Xô, Bệnh viện 108 ngày nay (nhà thương Đồn Thủy trước đây), kéo sang Bộ Tư lệnh Biên phòng, qua khu vực khách sạn Quân đội ở phố Phạm Ngũ Lão, Bảo tàng Lịch sử (Viện Viễn Đông Bác Cổ trước đây), kéo sang hệ thống trường Đại học ở phố Lê Thánh Tông. Đó là một vùng di sản, thậm chí bây giờ phải xứng đáng là không gian di sản đặc biệt, cần phải giữ gìn.   Một góc trường THPT Trần Phú, trước đây từng là Trường Petit Lycée, rồi Trường Albert Sarraut. Ảnh: Mỹ Hạnh.  Dường như trong quyết định cải tạo lại hoặc bán, các công trình cũ chỉ được nhìn nhận là tài sản chứ không phải là di sản?  Tôi đã tìm xem có các báo cáo đánh giá thực trạng các công trình cụ thể thì chỉ thấy đánh giá tính kỹ thuật, còn về tính văn hóa của các kiến trúc cũ như các khu tập thể và giá trị của các công trình đó trong bối cảnh lịch sử đất nước thời đó thì không hề có.  Ngay với các tòa biệt thự thời Pháp thuộc đang được rao bán (và mới đây có quyết định tạm dừng), khi quyết định bán có quan tâm các giá trị văn hóa của các tòa nhà này không hay chỉ bán như một tài sản thôi? Nếu nhận thức của những người quản lý thấy đó là di sản, là một phần của lịch sử Hà Nội thì khi bán phải có một quy định về cải tạo sao cho phù hợp chứ không phải bán rồi phá xây mới. Và muốn có được điều đó thì cần phải quy định trong Luật Thủ đô hay các văn bản dưới luật. Chúng ta đã có một luật riêng để quản lý một cách tốt nhất cho thủ đô rồi nhưng dường như chưa nói đến câu chuyện sẽ phải ứng xử như thế nào với các di sản như thế, hoặc là nói một cách chung chung không thành chế tài. Gốc rễ của vấn đề này cũng vì chúng ta chưa hiểu và quan niệm đầy đủ, tổng thể về di sản kiến trúc Pháp cũng như kiến trúc về thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ khi nào chúng ta nhìn nhận đúng về các di sản mà thủ đô đang có thì mới quản lý tốt được.   Qua tất cả những câu chuyện đó, có thể thấy rằng, để giữ được và phát huy giá trị của di sản đô thị đòi hỏi không chỉ các nhà quản lý mà cả các nhà đầu tư bất động sản cần nhìn xa hơn rất nhiều, rằng khi cải tạo lại và vẫn giữ giá trị của di sản thì sẽ tạo ra cho khu vực mới được cải tạo ấy có chiều sâu lịch sử, chiều sâu văn hóa. Cư dân sinh sống ở đó được hưởng giá trị lịch sử, giá trị văn hóa chứ không phải là một không gian có lịch sử trống trơn.   Với quan niệm như vậy, liệu việc phát huy giá trị các di sản của chúng ta có thể trở nên đỡ bế tắc hơn?  Lâu nay, chúng ta vẫn có cái nhìn khá bế tắc về bảo tồn di sản nhưng thực tế không phải như vậy. Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế trong việc họ ứng xử hài hòa với di sản thì sẽ thấy không bế tắc, nhiều nơi người ta giải quyết tốt việc hài hòa giữa bảo tồn giá trị lịch sử, văn hóa với phát triển. Câu chuyện mà các quốc gia đã trải qua cho chúng ta thấy, họ cũng từng lâm vào tình trạng không tôn trọng di sản. Tuy nhiên họ đã rút được kinh nghiệm khi nhận thấy rõ ràng giá trị của văn hóa, của lịch sử mang lại lợi ích kinh tế chứ không phải chỉ là giáo dục truyền thống nói chung.   Đại học Tổng hợp, trước đây là Viện Đại học Đông Dương. Ảnh: Mỹ Hạnh    Một trong những ví dụ điển hình là bài học về việc phá di sản kiến trúc thời hậu chiến sau năm 1945 ở những nước giàu có và tiên tiến nhất như Hà Lan, Anh, Pháp. Khi tôi trao đổi với bạn bè quốc tế thì họ nói đúng là vào những năm 2000-2010, ở Anh, Pháp, Hà Lan đã xảy ra tình trạng phá những kiến trúc sau 1945 của thời hậu chiến. Người ta cho là kiến trúc thời đó đã lạc hậu, không đẹp và đã thành những khu ổ chuột nên phải triệt tiêu đi, phá hết đi, xây mới. Nhưng trong mười năm đó vẫn luôn có nhóm đấu tranh, phản đối và rồi đến một lúc thì người ta tỉnh ngộ, nhận ra đấy là di sản, là những dấu ấn của lịch sử kiến trúc, lịch sử xã hội, là ký ức của một thành phố. Ở Mỹ, những tòa nhà tập thể của những người dân di cư khắp thế giới vào New York đều đã rất cũ, xuống cấp và tồi tàn nhưng thay vì đập đi, họ cải tạo, biến các dãy nhà đó thành bảo tàng, nơi kể lại cuộc đời của từng gia đình di cư của các nhóm người khác nhau sống ở đó như thế nào. Những dãy nhà bảo tàng đó trở nên rất đông khách. Xóa hết tất cả những thứ đó đi thì thành phố còn gì nữa?   Bây giờ nhiều người TP. Hồ Chí Minh đã tiếc Ba Son, hay Hà Nội cũng nhiều người tiếc Hỏa Lò, tại sao lại chỉ để 1/3 mà không để hết! Ở các nước phát triển, những cảng cũ, nhà máy cũ có nhiều khu kho rất lớn không bị phá mà được cải tạo lại thành không gian hoạt động văn hóa, bảo tàng, không gian triển lãm nghệ thuật. Giả sử như để lại nguyên vẹn Hỏa Lò thì có thu lại được nhiều tiền về cho thành phố hơn công trình xây mới sau đó không? Trong khi cũng ở Thụy Điển, người ta cải tạo lại một nhà tù cũ thành khách sạn hiện đại để cho du khách trải nghiệm.   Những tài sản của quá khứ, nó có những giá trị lịch sử, nó có những giá trị văn hóa, chúng ta cần phải nghiên cứu, thiết lập quan điểm, chủ trương lưu giữ và cải tạo như thế nào đó để giữ và cho nó sống trong cuộc sống đương đại. Không phải tất cả đều trở thành di tích lịch sử nhưng đa số là di sản, di sản có cuộc sống trong xã hội đương đại. Tôi luôn nghĩ rằng chúng ta cần làm thế nào để giữ được các ký ức lịch sử, các không gian, các công trình kiến trúc tiếp tục có cuộc sống trong xã hội đương đại bởi nếu chúng mất đi thì thành phố sẽ trở thành một thành phố không có ký ức. Và cái ký ức đó phải là ký ức liên tục, không có những khoảng trống.  Chưa kể có một vấn đề là việc xóa bỏ đi các công trình cũ thực sự tốn kém và là vấn đề lớn về mặt môi trường với rất nhiều xi măng, sắt thép vừa là phế thải lại vừa xây dựng mới. Tính sơ sơ Hà Nội có khoảng 1200 dãy nhà tập thể hoặc hàng trăm căn biệt thự cổ, nhiều nhà máy cũ… Chúng ta có thể phân loại và nghĩ nhiều đến cải tạo chúng, ở những nơi có thể cải tạo, thay vì đơn thuần xóa bỏ, như vậy quá lãng phí.   Nhưng chắt lọc nét đẹp của quá khứ, như những kinh nghiệm quốc tế đó, trong một không gian hiện đại không hề đơn giản?   Tôi cho rằng, mấu chốt của vấn đề là người ta tư duy và kể chuyện về các di sản này như thế nào. Việc cải tạo là để cho di sản đó sống, đi vào cuộc sống, chứ không phải là tạo ra di tích “bất động”. Làm theo cách này thì vừa có thể gìn giữ di sản mà không cản trở sự phát triển.   Mới đây, tôi đi khảo sát ở khu tập thể như ở Trung Tự và thấy những điều rất thú vị: trong một ngõ rất nhỏ, mấy quán cafe trong ngõ, ban ngày các cặp đôi đến chụp ảnh cưới, từ khoảng 6h tối thanh niên lại đến càng đông để chụp ảnh dưới ánh đèn và trang trí nội ngoại thất hiện đại. Thế hệ trẻ và kiến trúc sư đang làm thay đổi bộ mặt của không gian, họ làm cho các khu tập thể với những con ngõ nhỏ đó tưởng như chết đi rồi trở nên sống lại được, thu hút người ta tới khám phá. Điều đó giúp chúng ta suy nghĩ lại về khu tập thể trong bối cảnh phát triển. Thế hệ trẻ luôn có cách kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa những gì xưa cũ truyền thống với nhu cầu thẩm mỹ của cuộc sống hằng ngày. Nó không chỉ là hoài cổ đơn thuần, mà trong sự hoài cổ đó có sự tổ chức, kết nối và hòa quyện giữa cũ và mới, tâm lý của xã hội. Hoài cổ thì hoài cổ nhưng cuối cùng thì nó vẫn phải là cái đẹp, hoài cổ trong không gian đương đại, hiện đại. Hoài cổ là giữ lại không gian của một khu tập thể cũ hoặc là kiến trúc cũ của Pháp như tòa nhà 61 Trần Phú để cải tạo lại cho mới và tiện nghi hơn nhưng vẫn giữ được cái cũ, giúp cái cũ hài hòa, sống được với cái mới. Không gian cũ được làm với tinh thần mới. Đó mới là bài toán khó, đấy mới là thách thức để cho những người muốn sáng tạo, muốn thành phố phát triển. Đó là một hướng nên theo đuổi.   Xét cho cùng, nó là ký ức của xã hội mà chúng ta cần phải giữ lại. Nếu không làm như vậy, khi thế hệ này qua đi, đến thế hệ sau, không có ký ức gì cả, mọi người đều sống trong một thành phố không ký ức. Hãy thử hình dung, một thành phố thiếu ký ức chắc chắn sẽ là một thành phố buồn tẻ, trống rỗng, chơi vơi, chỉ còn những cái mới.   Vì vậy, đừng có nghĩ là giữ gìn các di sản này thì mâu thuẫn với phát triển, vấn đề là hài hòa câu chuyện bảo tồn và phát triển như thế nào? Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải có đường hướng chiến lược, có quy định rõ ràng; các nhà đầu tư nên có cái nhìn mới về di sản, và phải làm cho di sản sống được trong xã hội đương đại, gắn được với vấn đề kinh tế chứ không phải để yên đấy cho mọi người nhìn ngắm.   Theo tôi, ngay cả các công trình đang được giữ lại tốt, chúng ta cũng chưa phát huy được giá trị lịch sử văn hóa của nó?  Thực ra với các công trình này, chúng ta cũng vẫn đang lãng phí. Có nhiều di sản tuyệt đẹp mà tôi đã khảo sát như Bắc Bộ Phủ bây giờ đang được sử dụng như nhà khách chính phủ nhưng người ta không biết kể câu chuyện mà tòa nhà đó chứng kiến. Bên trong khuôn viên đẹp đẽ đó, những viên gạch lát, cầu thang gỗ vẫn còn nguyên, nhiều chi tiết của một thời kỳ văn hóa lịch sử vẫn còn nguyên. Nếu Bắc Bộ Phủ được cải tạo lại thành một không gian để kể biết bao nhiêu chuyện hay và lý thú, về thời thực dân, đó là đầu não của cơ quan cai trị Bắc Kỳ; Sau đó là lớp chuyện về chính quyền Cách mạng và Bác Hồ đã làm việc đưa ra mọi quyết sách trong những năm tháng đầu của cách mạng. Khi nơi này trở thành nhà khách chính phủ nhiều chính khách, vị khách nổi tiếng thế giới như Fidel Castro đã ở đây. Một công trình có quá nhiều lớp ký ức và câu chuyện để kể.   Những khu nhà cũ của người di cư ở Lower East Side được cải tạo lại, kể chuyện về hành trình di cư, những dấu ấn của họ đã giúp hình thành nên di sản văn hóa của thành phố New York và nước Mỹ. Nguồn ảnh: tenement.org    Trường hợp tiếp theo là tòa nhà nơi Trần Phú soạn thảo Luận cương chính trị, là một di tích lịch sử quan trọng nhưng không được dùng để kể chuyện về bối cảnh thời đó. Nếu có thể phục hồi một không gian sống động với nhiều lớp lang lịch sử thì tòa nhà Trần Phú sẽ kể được câu chuyện về một cuộc sống của người chủ Pháp vào những năm 1920-1930. Rồi sau đó tới lớp thời gian ông Trần Phú viết Luận cương ở đó như thế nào. Những lớp thông tin đặc sắc vì cả Hà Nội không nơi nào kể được những câu chuyện đó.  Hoặc ngay tòa nhà của ông Trịnh Văn Bô ở Hàng Ngang là nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập, đang bị biến thành “bảo tàng” chỉ nói về cụ Hồ bắt đầu từ Pác Bó mà những câu chuyện này thì có ở mọi nơi. Cách kể chuyện ở đó vẫn còn chưa phản ánh hết những gì mà căn nhà đó chứng kiến. Tòa nhà đó còn có thể kể được về truyền thống buôn bán của người Hà Nội trước 1945 như thế nào. Nếu tầng một có thể tái tạo quầy hàng tơ lụa của gia đình nhà tư sản Trịnh Văn Bô thì sẽ khiến người ta trầm trồ, hiểu được bối cảnh thực sự của xã hội, kinh doanh thời đó – đó là những điều mà hiện nay không nơi nào có thể kể được. Ở tầng hai là phòng tiếp khách của một nhà tư sản, bên trên là các phòng cho thấy cuộc sống của nhà tư sản. Hãy trưng bày một cuộc sống của nhà tư sản dân tộc hồi đầu thế kỷ 20. Trong tòa nhà đó có không gian mà chủ căn nhà đã dành cho Bác Hồ ở và viết Tuyên ngôn Độc lập. Chỉ một địa chỉ thôi, người tham quan sẽ cảm nhận rất nhiều chuyện, có thể nhờ đó họ mới hiểu được đời sống và suy nghĩ của một nhà tư sản dân tộc thời đó.   Soi chiếu sang khu phố đi bộ của Hà Nội, chúng ta có thể thấy tuy được đánh giá là rất thành công nhưng khu vực này vẫn chưa có nhiều nội dung đặc sắc. Nếu chúng ta tạo ra được những câu chuyện kể ở các di sản trong vùng di sản lõi này như tòa nhà bưu điện, nhà Khai trí Tiến Đức, nhà máy đèn cũ, Tòa nhà Ngân hàng, Bắc Bộ phủ… thì dòng du khách tham quan sẽ đổ về đây. Hà Nội sẽ có cả một hệ thống mạng lưới rất nhiều bảo tàng nho nhỏ, không gian di sản nhỏ, mỗi không gian đều độc đáo kể những câu chuyện riêng có về lịch sử văn hóa, đời sống, là nơi mà thế hệ sau có thể trải nghiệm, có thể hoài cổ. Mạng lưới ấy sẽ khiến Hà Nội trở nên độc đáo mà không một thành phố nào có được.   Cảm ơn ông về cuộc trao đổi! □  Thu Quỳnh thực hiện    Author                .        
__label__tiasang Mất niềm tin là mất tất cả      Nói về tác hại của nạn tham nhũng từ góc độ nhà sử học, ông Nguyễn Khắc Thuần cho rằng, bên cạnh tổn thất về vật chất còn có tổn thất to lớn hơn là mất niềm tin. “Tổn  thất vật chất còn làm lại được, mất đi cũng tìm lại được, còn mất niềm  tin là mất tất cả,” ông nói.     * Trong lịch sử Việt Nam, ông nhận thấy người dân e ngại điều gì nhất ở Nhà nước, và khi xảy ra những điều đó sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào?  – Có hai điều và đó là những cảm thức chung của nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Thứ nhất là tình trạng bè phái, mất đoàn kết, lũng đoạn trong chính quyền. Nhiều triều đại trong lịch sử đã đánh mất sự ủng hộ của dân vì bè phái, chia rẽ như thời Lê – Mạc (còn gọi là thời Nam – Bắc triều), thời Trịnh – Nguyễn phân tranh… Xung đột, chiến tranh dẫn đến thế nước yếu, loạn lạc gây nên đau khổ, mất mát cho người dân, tình thế đó lại tạo thêm cơ hội cho ngoại bang nhòm ngó, xâm chiếm. Nỗi sợ thứ hai là tham nhũng. Từ mấy ngàn năm lịch sử đến nay, nước ta chỉ mới thoát ra khỏi chữ “nghèo” được chừng 10 năm. Dân ta ai cũng biết những đau khổ từ cái nghèo, quan tham bòn rút mồ hôi nước mắt của dân chắc chắn sẽ bị nghiêm trị. Đã có nhiều triều đại bị sụp đổ, bị dân chúng lật nhào vì dung dưỡng quan tham, nhũng nhiễu.          “Không gì bằng những hành động mà người  dân nào cũng mong đợi: xử lý nghiêm, công minh và minh bạch các vụ án  tham nhũng, bảo vệ triệt để những người đứng ra tố cáo tham nhũng. Người  dân phải nghe, thấy, sờ được những hành động này của Chính phủ.”   Nhà sử học               NGUYỄN KHẮC THUẦN        * Tham nhũng là một nguyên nhân gây ra bức bối xã hội. Trong những phát biểu của các nhà lãnh đạo đất nước, tham nhũng là ung nhọt cần phải loại bỏ và chống tham nhũng được xếp loại ưu tiên hàng đầu…  – Hứa thôi, nói thôi chưa đủ mà phải làm, phải thực hiện cho được. Người dân sẽ rất cảm kích khi tận tai nghe, tận mắt thấy tham nhũng bị nghiêm trị. Trong lịch sử đã có những câu chuyện như thế trở thành bài học lưu truyền. Như thời Lê sơ có tới bốn ông tướng mang tên Lê Lai. Ông thứ nhất là Lê Lai cứu Chúa. Ông Lê Lai thứ hai được Lê Lợi giao việc mua lương thực cho quân sĩ, ông này cầm tiền trốn mất và bị Lê Lợi tìm bắt lại, chém bêu đầu. Gần đây hơn thì người dân vẫn còn nhắc mãi việc Bác Hồ xử Trần Dụ Châu, vụ án tham nhũng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.  Vừa rồi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân” là rất thấm thía.  * Xét về góc độ lịch sử, tác hại của những vụ án tham nhũng vừa qua chắc chắn không thể tính bằng tiền. Theo ông, phải làm gì để khắc phục?  – Tổn thất lớn nhất là mất niềm tin. Tổn thất vật chất còn làm lại được, mất đi cũng tìm lại được, còn mất niềm tin là mất tất cả. Tuy nhiên, niềm tin rất dễ mất nhưng không phải là không thể tái lập. Thành tâm nhận ra sai lầm, thiếu sót, thành tâm hối lỗi ăn năn, thành tâm sửa chữa, khắc phục thì sẽ khôi phục được lòng tin. Và khi có lòng tin thì dân sẽ trao cho tất cả. Những ngày này 67 năm trước, chỉ vài ngàn đảng viên đã được sự ủng hộ của dân chúng mà làm được một cuộc giành chính quyền từ Bắc chí Nam trong vòng chưa đầy một tuần. Sau lễ độc lập, dân lại quyên tiền, quyên vàng giúp Chính phủ. Rồi kháng chiến, dân cống hiến máu xương. Lịch sử của chúng ta chứng minh dân không tiếc gì với Nhà nước khi đã có niềm tin.    * Quy luật lịch sử nào sẽ ủng hộ một nhà nước bền vững, thưa ông?  – Câu khẩu hiệu của chúng ta “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” là quy luật ấy. Với chính quyền thì “dân giàu, nước mạnh” nên phải chăm lo cho dân, tạo điều kiện để dân làm giàu chính đáng. Với dân thì “nước mất nhà tan”, luôn đặt nghĩa vụ giữ nước lên đầu. Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo) một đời trận mạc, trước khi nhắm mắt để lại một câu: “Nới sức dân làm kế rễ sâu gốc vững ấy là thượng sách giữ nước”.  Nghiên cứu lịch sử, tôi hiểu tiền nhân của chúng ta luôn nhận thức: “Một lời khen trong sử là vinh muôn đời/Một lời chê trong sử là nhục vạn kiếp”. Học được tiền nhân điều đó, chắc rằng sẽ được dân tin. Lịch sử đổi mới của chúng ta mới được hơn hai thập niên, đã có chuyện khiến nhiều người đau lòng, phẫn nộ nhưng cá nhân tôi thấy cục diện đang trên đà đi tới, những cái xấu rồi sẽ bị đào thải, mây đen sẽ bị xua tan. Tôi nhìn thấy điều đó trong thế hệ trẻ, các sinh viên trong sáng, mãnh liệt và bừng bừng sức sống của chúng ta.          Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần hiện là Trưởng  khoa Việt Nam học tại ĐH Bình Dương. Ông giảng dạy tại nhiều trường đại  học và là tác giả của nhiều bộ sách lịch sử, văn hóa như: Việt sử giai  thoại, Danh tướng Việt Nam, Đại cương Việt sử cổ trung đại, Đại cương  lịch sử văn hóa Việt Nam…               Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặt nước yên vui      &#160;Nằm phơi đón nắng và khí trời trên cát, êm ả  dễ chịu là thế, nhưng tấm bản đồ cứ ám ảnh tôi. Tôi bị cuốn hút bởi cái  chuyện khỉ gió này, rằng tại sao người ta có thể sống yên vui đến thế  cùng nhau trên cái vùng hồ vĩ đại này, trong khi cái biển Đông hôm nay  cứ suốt ngày phải thành nơi biểu diễn bạo lực.       Được rủ xuống tắm ở bãi bờ nơi đây, tôi quả quyết với mình rằng đây là một bãi biển tuyệt vời. Nước không thể trong hơn, trời không thể xanh hơn, núi non không thể huyền ảo hơn, con người không thể hiền hòa hơn, và cuối cùng, thì những bộ đồ tắm thanh nữ không thể khéo may hơn như thế…  Tõm mình vào nước… Lạnh a! À mà nước ở đây ngọt, không mặn tí nào!  Tôi đã thoạt mất hết trí khôn trước vẻ đẹp, là như thế đó.     Thì đúng rồi, đây là hồ mà, hồ Léman, còn gọi là hồ Genève, hồ tự nhiên lớn nhất vùng Tây Âu. Bạn muốn đi dạo vòng quanh hồ ư? Quyết tâm nhé. Khoảng 200 cây số. Một vùng nước mênh mông 581,3 cây số vuông, với 73 cây số chiều dài, 14 cây số chiều ngang, nằm trên độ cao 372 mét, có độ sâu trung bình 154,4 m với nơi sâu nhất là 310 m… Hồ này hứng trọn 89 tỉ mét khối nước từ vùng chảo có diện tích 7395 cây số vuông của một vùng núi đồi tuyệt đẹp!  Tại sao mình không kiếm được việc làm ở cái vùng hồ vĩ đại này nhỉ? Để mà được sống quanh năm cùng với nó?   Chạnh nhớ biển Đông  Nằm phơi mình trên bãi cát óng ánh nắng pha-lê, tôi giở tấm bản đồ ra ngắm, xem sức mình sẽ loay hoay dạo bộ được bao nhiêu lâu quanh cái bờ hồ này. Tấm bản đồ tự nhiên làm tôi chạnh lòng nghĩ tới biển Đông, thật có vẻ không đâu vào đâu.     Nhưng mà, đúng là như thế đó.  Hồ Léman, hay Genève, nằm vắt vẻo giữa nước Thụy Sĩ nhỏ bé hiền hòa, và nước Pháp vốn từng có chàng lính Chauvin cùng “chủ nghĩa Sô-vanh”! Cái biên giới giữa hai nước hôm nay thật là khéo cắt, để mà phần hồ của Thụy Sĩ lớn hơn hẳn phần hồ của nước Pháp! Bạn cứ nhìn cái vạch xanh ở tấm bản đồ kèm theo đây nhé: Thụy Sĩ giữ phần phía trên, cùng hai đầu hồ, với Genève, Montreux nổi đình nổi đám. Nước Pháp giữ phần khiêm tốn phía dưới của hồ, ở đoạn giữa, với Thonon-les-Bains xinh đẹp là nơi tôi đang ườn người ra ngắm cái bản đồ này đây.      Nằm phơi đón nắng và khí trời trên cát, êm ả dễ chịu là thế, nhưng tấm bản đồ cứ ám ảnh tôi. Tôi bị cuốn hút bởi cái chuyện khỉ gió này, rằng tại sao người ta có thể sống yên vui đến thế cùng nhau trên cái vùng hồ vĩ đại này, trong khi cái biển Đông hôm nay cứ suốt ngày phải thành nơi biểu diễn bạo lực. Ý nghĩ này cuối cùng đã làm hỏng cái bãi cát tuyệt trần của tôi, làm tôi phải dựng mình dậy. Tôi sẽ cố đi vòng quanh cái hồ này, được đến đâu thì đến, để xem con người có thể vui sống yên ổn với nhau đến mức nào…  —-  Nếu không có chỗ giảm tốc này, thì tôi quên tịt mất rằng mình đã vào đất Thụy Sĩ. Ôi khu phố xưa của Genève thật là tĩnh lặng, cùng những con người thật là hiền hòa.  Lang thang  mãi đó đây trong thành phố, với một ý nghĩ   rồi đến ngày nào đấy, chúng ta sẽ đi chơi vòng quanh biển Đông, hay bơi dọc bơi ngang biển Đông, mà quên tịt đi rằng mình đang ở chỗ nào trên nơi đó, và thích thú bị lạc vào giữa những ánh nhìn thân thiện bạn bè ở khắp mọi nơi đó. Như ở đâu? Như ở đây. Ở vùng hồ Léman, vùng hồ Genève này. Nơi chốn của mặt nước yên vui.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặt trái của lễ hội bóng đá thế giới      Bốn tuần lễ hội bóng đá đã trôi qua, cuộc  sống thường ngày đã trở lại với người dân Brazil. Chi phí cho World Cup  là một con số bùng nổ nhưng tương lai của các sân vận động vô cùng đắt  đỏ vẫn chưa có lời giải. Trong khi đó, Liên đoàn Bóng đá Thế giới FIFA  đã thu lợi lớn và có thể hân hoan chờ đón giải đấu tiếp theo.  &#160;    Lễ hội chấm dứt, màn trình diễn đã trôi qua, người dân Brazil cởi bỏ trang phục của đội tuyển quốc gia mà họ đã mặc hàng ngày cho đến trận bán kết thảm hại. Bốn tuần lễ liền ở Brazil, người dân ăn bóng đá, ngủ bóng đá, giờ đây họ quay trở lại với những nỗi lo lắng, phiền muộn thường trực. Sau thảm bại thể thao của đội bóng chủ nhà, Brazil lại có thêm một chấn thương về bóng đá.   Tháng mười tới ở Brazil sẽ diễn ra bầu cử và trong thâm tâm, nhiều người đã vui mừng vì đội bóng của họ không trở thành nhà vô địch thế giới. Cơ hội đắc cử của bà tổng thống Dilma Rousseff do đó không tăng lên, điều mà bà Rousseff thầm mong ước.   Vậy thì bốn tuần vừa qua đã để lại những gì cho người Brazil? Các sân vận động. Những thánh đường của bóng đá nhưng đồng thời cũng là những tượng đài thể hiện sự lãng phí ghê gớm. FIFA và chính phủ Brazil đã biến giải World Cup lần này trở thành giải đấu tốn kém nhất trong lịch sử. Con số chi phí chính thức của chính phủ đưa ra là 8,75 tỷ Euro, nhưng theo ước tính thực tế đã lên tới trên 10 tỷ Euro.     Sân vận động: Tàu vũ trụ giữa những khu lao động nghèo   Đối với Fortaleza hay Recife thì các sân vận động như là những con tàu vũ trụ giữa những khu nhà lụp xụp rộng mênh mông. Những sân vận động này trong tương lai sẽ từng bước thu hồi nguồn chi phí khổng lồ như thế nào cho đến nay vẫn chưa có lời giải. Tại các địa điểm thi đấu Natal, Manaus, Brasilia và Cuiaba đều không có các đội bóng ngoại hạng để có thể tiếp quản các sân vận động.   Ngay cả Liên đoàn bóng đá Đức (DFB) cũng luôn mồm nói về tính bền vững, mỗi khi đề cập đến các hoạt động ở Brazil. Christian Hirmer, một nhà đầu tư người Đức, đã xây dựng Trại Bahia đúng theo yêu cầu của đội tuyển quốc gia Đức, có lẽ sẽ thắng to, vì nơi này sẽ trở thành một resort ven biển Đại tây dương để phục vụ du khách châu Âu giầu có.   DFB còn dành một khoản tiền mặt để hỗ trợ người Da Đỏ ở vùng Porto Seguro, đồng thời hứa giúp xây sân thể thao cho một trường học ở địa phương. Người phát ngôn của DFB Jens Grittner tuyên bố “chúng tôi bảo đảm thực hiện những gì mà chúng tôi đã hứa”. Có lẽ năm tới, người ta nên trở lại đây để xem sân thể thao này như thế nào.   Các cầu thủ hết lời ca ngợi sự mến khách của dân Brazil. Nhà quản lý – DFB Oliver Bierhoff – nhấn mạnh, “chúng tôi cảm nhận được sự tin cậy và gần gũi con người ở đây”. Thực ra đội bóng Đức hầu như không có một chút tiếp xúc nào với người dân nước chủ nhà, ngoại trừ tại các sân bay và sân vận động. Chưa bao giờ có một đội bóng lại tách hoàn toàn với môi trường xung quanh và chỉ trụ lại trong điều kiện lý tưởng ở trong trại. Điều này được coi là cần thiết để dành thắng lợi trong thể thao.  Sự phản đối World Cup đã lắng xuống   Đối với FIFA, dự án World Cup ở Brazil là một thành công mĩ mãn, điều này không có gì ngạc nhiên. Liên đoàn dưới sự lãnh đạo của ông Joseph Blatter luôn biết cách để trở thành người thắng cuộc về tài chính. Riêng việc bán bản quyền truyền hình và tiền của các nhà tài trợ hàng đầu đã bảo đảm điều này. Dự đoán FIFA đã thu lợi tiền triệu ở ba con số.   Những cuộc biểu tình phản đối World Cup, chống tham nhũng và cưỡng bức di dời từng là những chủ đề lớn được báo chí đề cập trước khi diễn ra giải đấu nhưng trong bẩy tuần qua, mọi sự đã lấn dịu. Và nếu như còn có sự phản đối đi nữa thì dư luận cũng không mấy bận tâm. Bóng đá đã lấn át tất cả. FIFA đã tính đến điều đó, cho đến nay, về điểm này thì FIFA luôn có lý. Ông Joseph Blatter lại một lần nữa là người chiến thắng ở giải đấu này.   Gia đình bóng đá sẽ gặp lại nhau bốn năm sau ở nước Nga. Tổng thống Wladimir Putin, đã có mặt tại trận chung kết hôm chủ nhật và bảo đảm giải vô địch bóng đá thế giới sắp tới sẽ diễn ra trôi chảy theo tinh thần của FIFA. Ông đã chứng minh có thể làm được điều này qua thế vận hội Olympic ở Sochi vừa qua.   Năm 2018, bộ máy an ninh chắc sẽ còn đồ sộ hơn so với năm nay ở Brazil, nơi mà trước mỗi trận đấu người ta phải đi qua một hàng rào cảnh sát và binh lính với súng tiểu liên lăm lăm trên tay. Giải chắc sẽ còn tốn kém hơn nữa, như từng diễn ra ở Sochi – chi phí cho thế vận hội Olympic tại đây cũng đã tạo nên một kỷ lục mới. Vòng xoắn ốc tiếp tục xoay. Ông Blatter và Putin sẽ lo cho điều này. Hai vị đó cũng sẽ làm hết mình để đến lúc đó còn tại vị.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Matxcơva trong tôi…      Cách đây 40 năm, mùa thu năm 1967, đoàn lưu học sinh chúng tôi, những thanh niên lứa tuổi 17, 18 ở một đất nước đang còn khói lửa chiến tranh sau một chặng đường dài, đã đến đất nước của Lê Nin vĩ đại.         Đêm đầu tiên trên đất Nga là đêm xe lửa chạy qua phía Nam Irkutsk. Thành phố lấp lánh ánh điện trong đêm thu thảo nguyên với bầu trời đầy sao, mặt đất cũng đầy sao. Hình ảnh thành phố lung linh ấy dẫu thời gian đã quá cách xa rồi, trong ký ức của mỗi chúng tôi vẫn không thể nào quên; cho dù sau này, tôi đã có dịp qua nhiều thành phố trên thế giới.   Tối tháng 10, chúng tôi đến Mat-scơva. Thành phố mà tôi từ lâu hằng mong mỏi được đặt chân đến và giai điệu bài “Chiều Mạc Tư Khoa” như vang lên trong tôi.   Và phải đến bốn năm sau, năm 1971, cũng vào cuối mùa thu, chúng tôi mới lại có dịp đến Mat-cơ va. Lần này ở lâu hơn. Tôi đi viếng Lăng Lê Nin, thăm nhiều nơi trong thành phố; từ khu triển lãm các thành tựu kinh tế quốc dân Liên bang Xô viết đến đồi Lê Nin ửng vàng nắng trong chiều êm ả. Tôi cũng có dịp cùng bạn bè quốc tế và đông đảo lưu học sinh, cán bộ Việt Nam đang công tác tại đó dự buổi gặp mặt và xem biểu diễn văn nghệ của đoàn nghệ thuật Việt Nam tại Hội trường lớn của Đại học Lômônôxốp.   Cuối mùa hè 1973, trên đường về nước sau khi hoàn thành việc học tập, chúng tôi dừng chân 4 ngày ở Matxcơva đúng vào dịp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta do Cố Tổng bí thư Lê Duẩn đứng đầu, sang thăm và làm việc tại Liên Xô. Chúng tôi hòa vào dòng cờ hoa của hàng vạn người dân Thủ đô nước bạn và các bạn bè đang có mặt ở đây hân hoan, chào đón các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và các nhà lãnh đạo của Liên bang Xô Viết. Đoàn xe chạy dài từ sân bay về trung tâm thành phố. Biểu ngữ căng qua nhiều phố lớn. Cờ đỏ bay cao trên bầu trời lộng gió.   Sau này, nhiều dịp được cùng công tác và sinh hoạt với các chuyên gia và cán bộ Xô- Viết ở công trình đường ống dẫn dầu B12 do Liên Xô giúp Việt Nam, ở các hãng vận chuyển xăng dầu, các tầu dầu của nước bạn, tôi vẫn kể cho các bạn nghe những kỷ niệm sâu đậm về đất nước Cách mạng Tháng Mười, về những buổi chiều vàng nắng trên đồi Lê-Nin mà tôi từng chiêm ngưỡng mê say thuở ấy…  ———————-    Ảnh: Tác giả trên đại lộ Kalinin (Maxcơva) hè 1971    Lê Tuấn Hiến    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mẫu số trí thức      Trong cuốn sách tư liệu Mọi Kontum do hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi soạn chung (xuất bản năm 1937) chủ yếu giới thiệu về sắc dân thiểu số Bahnar, nhân đề cập mối quan hệ làm ăn buôn bán giữa hai miền thượng và đồng bằng, các tác giả đã dẫn lời linh mục Pierre Dourisboure nêu nhận xét về người Việt như sau : Tôi chú ý một điều là những người Annam thường có tánh kiêu ngạo. Tánh ấy là do đã quen cái thói nô lệ ở trong nước. Đối với kẻ quyền thế thì bò sát dưới chân và có bị đòn mấy cũng không dám hé răng, nhưng đối với kẻ kém mình thì họ lên mặt ngạo mạn ngay. Cũng chẳng lạ chi cái thói kiêu căng kia, chẳng qua ở trong cái thói nô lệ mà ra.    Sau khi dẫn lời một người ngoại quốc nhận xét về dân tộc mình, hai tác giả này đã bình thêm : lời nói mới chua cay làm sao, nhưng xét kỹ thời cái thói đó là có thực và cũng bởi chế độ không hay ở trong nước ta gây ra đã mấy mươi đời nay.   Trước tiên hãy nói về linh mục Pierre Dourisboure. Là giáo sĩ thuộc dòng Thừa sai Paris, vị này là một trong bốn linh mục người Pháp đặt chân lên Tây Nguyên năm 1850, tức là vào thời điểm vua Tự Ðức đang ra sức truy sát các giáo sĩ phương Tây. Trong khi lẩn trốn vào nơi cư trú của các tộc người Bahnar, Rengao, Sedang, P.Dourisboure đã lần hồi thiết lập các họ đạo tại Kon Xolang, Kon Koxam và Kon Rohai (các địa danh thuộc tỉnh Kontum hiện nay). Sau này khi trở về đồng bằng, vị linh mục này đã vẽ lại bản đồ và ghi chú chi tiết phong tục tập quán của từng nhóm sắc tộc đã tiếp xúc. Còn hơn cả Mọi Kontum, những ghi chép này được xếp vào loại sử liệu trực tiếp đầu tiên về cao nguyên miền Trung. Bởi vì trước đó, năm 1776 khi vào Nam kiểm kê, cho dù Lê Quí Ðôn có ghi lại một số quan hệ giữa các vua Hỏa Xá và Thủy Xá với triều đình xứ Ðàng Trong nhưng những mô tả này chỉ dựa trên những lời thuật lại chứ không do giao tiếp trực tiếp.  Dù sao thì đó cũng chỉ mới là công trạng ngoài “chuyên môn nghiệp vụ” của linh mục P. Dourisboure. Vị giáo sĩ này, được người thời đó thân thiết đặt cho một cái tên thuần Việt là cha Đỗ Đình Bộ, không chỉ góp công trong mục tiêu chiến lược của Pháp ở thời kỳ đó là loại trừ ảnh hưởng của Xiêm La ở Tây Nguyên, mà còn dạy cho những tộc người ở đây canh tác nông nghiệp (trồng lúa nước, bắp, cây bông gòn) và nghề chăn nuôi gia súc, những việc mà người Kinh thời đó không hề có ý định làm. Để hoàn thành sứ mệnh thiết lập các cơ sở họ đạo trên vùng đất mới, P. Dourisboure chọn cách làm có thể nói là khá mới mẻ so với tư duy chính trị của triều đình nhà Nguyễn thời đó. Những tín đồ đầu tiên của các giáo điểm do vị giáo sĩ này thiết lập là những nô lệ, tù binh chiến tranh, trẻ em mồ côi… tóm lại là những nạn nhân từ những biến động xã hội và tất nhiên thuộc tầng lớp “phi trí thức”. Những người này có thể được giải thoát, được chuộc về, được mua về. Trong hồi ký của mình được xuất bản năm 1929, P. Dourisboure viết : Mỗi khi có thể được, chúng tôi chuộc lại họ. Họ đảm nhiệm việc canh tác, lập cư trên những cánh đồng mà chúng tôi đã phát quang trong nhiều cứ điểm của chúng tôi và sau khi họ nhập đạo, họ sẽ là nòng cốt của các cộng đồng Kitô hữu mới.  Kể dài dòng như thế cũng nhằm mục đích khẳng định một điều rằng cha Đỗ Đình Bộ không phải không có đủ tư cách để nêu những nhận xét xác đáng về người Việt. Đó là nhận xét của một trí thức chân chính, thẳng thắn nêu lên những điều mình nghĩ dù điều đó chẳng những không đem lại lợi lộc mà còn chuốc thêm kẻ thù cho mình.  Bây giờ trở lại với hai anh em tác giả Mọi Kontum. Có lẽ cũng cần nói thêm là ở thời điểm viết cuốn sách này, bác sĩ Nguyễn Kinh Chi và nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi là những thanh niên tuổi đôi mươi sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước nổi tiếng, nghĩa là ở một khía cạnh nào đó có thể gọi họ là những trí thức điển hình thời đó. Không thể nói là họ không bị tổn thương trước lời nhận xét của một người ngoại quốc về dân tộc mình, huống hồ linh mục P. Dourisboure lại là một bộ phận trong lực lượng thống trị của thực dân Pháp. Thế nhưng họ đủ dũng khí để nhìn nhận tính chân xác trong nhận xét của vị giáo sĩ. Cũng trong phần ghi lại lời linh mục P. Dourisboure, các tác giả kể thêm một câu chuyện như sau: Chúng tôi đã từng được mục kích một đôi người Annam ở Kontum – mà may toàn là hạng vô học thức cả – tỏ dạng khinh khi người Mọi một cách quá đáng: có khi họ xô đẩy không cho cùng ăn một bàn, một mâm. Chúng tôi có lấy câu “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” mà khuyên họ không biết họ có hiểu không.  Nhưng trong một cuốn sách không chủ yếu viết về người Việt, thì liệu có cần phải đem người mình ra “bêu riếu”? Điều này thì các tác giả đã nói ngay ở phần mở đầu: Duy về bên người Nam ta, chúng ta nên làm thế nào cho xứng với lòng tin cậy của người Bahnar kia? Tưởng chỉ có một cách hay hơn hết là ăn ở thân thiện với họ nghĩa là khi giao thiệp với thổ dân, chúng ta chớ thấy người ta hèn kém mà tỏ dạng khinh khi, chớ thấy người ta chất phác mà thò ngón điêu xảo.  Kể dài dòng về một người sống ở thế kỷ 17 và hai người khác ở đầu thế kỷ 20 với những lý tưởng và xuất phát điểm khác nhau, cũng là để nói lên một điều rằng trí thức thời nào, ở vị trí xã hội nào và thuộc bất cứ một thể chế chính trị nào thì trước tiên, và cơ bản, cũng đều có chung một giá trị nhân sinh quan. Cho dù thế giới có đổi thay đến mức nào thì trí thức, hạt nhân của xã hội, chỉ có duy nhất một mẫu chung. Đó là những con người có khả năng đứng trên một bậc trong cái cộng đồng mà họ sống, do đó họ không bao giờ là nô lệ và chính vì thế bao giờ họ cũng có phản ứng trước trạng thái nô lệ của cộng đồng đương thời.      Đỗ Phước Tiến      Author                Quản trị        
__label__tiasang May rủi lúa vụ 3: Tính dễ tổn thương của nông dân ĐBSCL      Trong điều kiện biến đổi khí hậu với nguy cơ hạn hán tăng cao và tình trạng phát triển đập thủy lợi của các nước vùng thượng nguồn sông Mekong, trong đó có sự tham gia gần đây của phía Việt Nam1, nguy cơ các nông hộ sản xuất lúa vụ 3 huyện Long Phú nói riêng và các tỉnh duyên hải ĐBSCL nói chung một lần nữa bị tổn thương bởi hạn mặn là rất lớn. Cách duy nhất để phòng tránh điều đó chính là phải ‘điều trị’ tận gốc được tính dễ tổn thương hiện có.      Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long là nhóm chịu nhiều tổn thương nhất trước bối cảnh biến đổi khí hậu. Nguồn ảnh: ccafs.cgiar.org/  Vào một tối oi ả của Melbourne, điện thoại tôi bỗng rung lên. Tin nhắn từ anh Đa, người nông dân tham gia nghiên cứu cùng tôi ở Sóc Trăng, báo lúa vụ 3 năm nay bội thu. Anh thở phào nhẹ nhõm quên đi những ngày quên ăn, đêm mất ngủ cuối hè năm 2016 khi cùng bà con huyện Long Phú, Sóc Trăng hứng chịu đợt hạn mặn nặng nề nhất trong 90 năm trở lại đây.    Hồi tưởng lại những ngày năm ấy, bác Ngôn, một lão nông người Kinh, hạ giọng: ‘Cái năm đó là khổ quá trời, mấy cái sông này là cạn đáy.’ Chị Lành đồng tình, trong ánh mắt chị hiện lên cảnh ‘máy cắt nó chạy dưới đáy sông’. Những ký ức này làm cho những người nông dân huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng cảm thấy còn ‘nổi da gà’, ‘hết hồn’, ‘sợ gần chết’…    Không chỉ họ, toàn tỉnh Sóc Trăng có tới 31,560 ha lúa và hoa màu, hạn mặn nặng nề, thiệt hại toàn tỉnh lên tới 908 tỉ đồng, gấp 27 lần tổng thiệt hại kinh tế do tất cả loại thiên tai của 7 năm trước đó cộng lại. Tính trên toàn bộ cả nước, ước tính của UNDP cho biết có tới 52 tỉnh thành bị ảnh hưởng, trong đó có tới 18 tỉnh ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và ĐBSCL ban bố tình trạng khẩn cấp. Chính phủ buộc phải tạo ra các gói cứu trợ khẩn cấp và kêu gọi viện trợ từ quốc tế. ĐBSCL là một trong những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, với 10/13 tỉnh thành hứng chịu hoặc hạn hán hoặc xâm mặn, với 9/10 tỉnh thành gặp cả hai loại. UNDP ước tính, toàn quốc thiệt hại 674 triệu USD và bị ảnh hưởng tới 659,245 ha lúa và hoa màu, trong đó lúa chiếm tới 41,4% diện tích (273 nghìn ha), khoảng 89.7% diện tích lúa bị thiệt hại nằm ở khu vực ĐBSLC (244 nghìn ha). Trước một sự kiện như vậy, câu hỏi đặt ra là vì sao người nông dân ĐBSCL lại trở nên yếu đuối như vậy khi hạn mặn tới?     Không có đường tránh thiên tai?     Câu trả lời dễ hình dung nhất là do tự nhiên. Mặc dù đỉnh điểm của hạn hán và xâm mặn diễn ra vào cuối năm 2015 đến giữa 2016 nhưng thực tế hạn hán đã bắt đầu từ một năm trước đó. Theo các nhà phân tích, cuối năm 2014, một sự kiện El Nĩno – hiện tượng nóng lên của bề mặt nước biển trong khu vực phía Đông và trung tâm biển Thái Bình Dương, bắt đầu từ trạng thái rất yếu, trở nên rất mạnh từ cuối năm 20152, vượt qua sự khốc liệt của hai sự kiện El Nĩno lớn nhất trong lịch sử 100 năm trở lại đây là sự kiện năm 1982-1983 và 1997-1998. Dưới ảnh hưởng của nó, hạn hán kéo dài, mùa mưa bắt đầu muộn và kết thúc sớm, mùa khô khốc liệt hơn. Cộng với lượng nước đổ về từ thượng nguồn giảm, hạn hán cường hóa xâm mặn vào mùa khô. Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam3, mặn đã theo đường sông xâm nhập vào đất liền hơn 20-30 km so với cùng kỳ các năm, có nơi lên tới 100-120km ở khu vực Vàm Cỏ. Mặn lên, các cống ngăn mặn được đóng lại, khiến cho người nông dân chỉ còn cách sử dụng nguồn nước dự trữ có sẵn trên các kênh mương sông ngòi bên trong hệ thống cống. Khi sử dụng hết, họ đành bất lực nhìn lúa chết khô.      Một thảm họa tự nhiên chỉ xảy ra khi và chỉ khi có sự kết hợp đồng thời giữa hai yếu tố gồm tác nhân bên ngoài (thiên tai và các hiện tượng tự nhiên cực đoan) và tính dễ tổn thương bên trong xã hội.      Các nhà xã hội học cho rằng quy kết nguyên nhân gây ra thảm họa tự nhiên do các hiện tượng cực đoan và thiên tai là một cách nhìn phiến diện và không hiệu quả. Dựa trên quan điểm lấy thiên tai làm trọng tâm (hazard perspective) thịnh hành những năm đầu thế kỷ XX, cách làm này đã bỏ qua hoặc xem nhẹ vai trò chủ đạo của con người trong việc can thiệp vào các tác động do tự nhiên gây ra. Để nhìn nhận một cách rõ hơn vai trò của con người-xã hội trong việc tạo ra thảm họa tự nhiên, các nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng chúng ta nên tiếp cận góc độ tính dễ tổn thương (vulnerability perspective) bằng cách xem xét con người là chủ thể của các hành động của mình. Cách nhìn này giúp ta thấy, một thảm họa tự nhiên chỉ xảy ra khi và chỉ khi có sự kết hợp đồng thời giữa hai yếu tố gồm tác nhân bên ngoài (thiên tai và các hiện tượng tự nhiên cực đoan) và tính dễ tổn thương bên trong xã hội.    Tính dễ tổn thương trước thiên tai (vulnerability to natural hazard) nói đơn giản là sự thiếu hụt khả năng và nguồn lực để ứng phó với thiên tai, khiến cho một cộng đồng có nguy cơ rơi vào khủng hoảng xã hội với sinh hoạt thường ngày và các chức năng cơ bản bị đình trệ. Tính dễ tổn thương được tạo ra bởi các quá trình và cấu trúc xã hội, chẳng hạn như nghèo đói, bất bình đẳng xã hội, đô thị hóa, di dân, hay sâu xa hơn nằm trong đường hướng và mô hình hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng/xã hội chịu ảnh hưởng được xem xét. Chính các quá trình và cấu trúc xã hội này khiến các nguồn lực xã hội bị khan hiếm hoặc được phân bố không đồng đều, từ đó dẫn tới suy yếu năng lực phòng chống, giảm thiểu, và hồi phục từ các tác động của thiên tai. Khi một cộng đồng thiếu hụt năng lực để chống chọi với thiên tai (natural hazard), họ sẽ phải đối mặt với một thảm họa tự nhiên (natural disaster). Ngược lại, nếu một cộng đồng có năng lực ứng phó với thiên tai, thì thiên tai không hoặc ít có khả năng biến thành một thảm họa. Nói cách khác, đối với các nhà nghiên cứu xã hội, tính dễ tổn thương xã hội là nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro thảm họa trong công thức sau4: R=H*V.    Trong đó R là khả năng xảy ra thảm họa, H là thiên tai hay tác nhân tự nhiên, V là tính dễ tổn thương.    Chúng ta không thể thay đổi tự nhiên nhưng chúng ta có thể làm giảm nhẹ tính dễ tổn thương xã hội. Vậy tính dễ tổn thương trước hạn mặn của nông dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nằm ở đâu và nó do những tác nhân nào?    Có lẽ có người sẽ nhanh chóng suy luận rằng các hộ nông dân chính là những người phải chịu trách nhiệm đầu tiên cho thiệt hại của họ. Nên nhớ, trong vụ hạn mặn năm 2015-2016, không phải toàn bộ nông dân ở Sóc Trăng bị thiệt hại. Nói đúng hơn, chỉ có các nông hộ sản xuất lúa vụ 3 (hay còn gọi là lúa Đông Xuân (muộn) hoặc lúa Xuân Hè, diễn ra từ tháng 12 năm 2015 và thu hoạch vào tháng 3 tới tháng 5 năm 2016) mới bị ảnh hưởng. Theo số liệu của tỉnh Sóc Trăng, kể từ năm 2010, độ mặn đo được tại các trạm chính của tỉnh cho thấy độ nhiễm mặn của nước sông thường lên cao nhất vào tầm tháng 2 đến tháng 4, và khoảng thời gian này là khi lúa vụ 3 ở vào giai đoạn phát triển quan trọng trước khi thu hoạch. Vậy câu hỏi đặt ra là, tại sao các nông dân lại tiến hành một vụ lúa rủi ro như vậy?      Lúa không trổ nổi bông vì hạn mặn ở huyện Long Phú, Sóc Trăng vào năm 2016. Ảnh: Vietnamnet.   Nghiên cứu trường hợp tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng5 cho thấy, những nông dân bị thiệt hại hầu hết đối diện với thiên tai mà thiếu hụt các phương án phòng chống hiệu quả như: đánh giá thấp tác hại của hạn mặn; thiếu các lựa chọn sinh kế và cách làm liều mạng với thiên tai. Vấn đề thứ nhất xuất hiện từ việc người nông dân ở Long Phú nói riêng và Sóc Trăng nói chung tuy đã quen thuộc với xâm mặn hằng năm vào mùa khô nhưng lúa vụ 3 của họ chưa từng trải qua mất mát thực sự nặng nề do mặn. Bác Tào, một lão nông người Khmer kể kinh nghiệm làm lúa vụ 3 của mình:  …năm 2000 hình như bắt đầu làm lúa vụ 3 rồi đó. Thất có một năm rồi sau này làm là trúng hết, tới năm 2015 mới thất 2 năm.     Khi được hỏi liệu đã trải nghiệm bị xâm mặn lần nào chưa, một lão nông khác cho biết: ‘Có, nhưng mặn năm lên 1-2 lần rồi xuống hết thôi’. Như vậy, kinh nghiệm làm lúa vụ 3 của các hộ thường là trúng mùa và hiếm khi bị thiệt hại. Theo một số nghiên cứu, kinh nghiệm quá khứ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định một chủ thể đánh giá mức độ rủi ro cao hay thấp hoặc có tiến hành các biện pháp phòng chống thiên tai không. Ở đây nông dân Long Phú cho rằng xâm mặn là hiện tượng hằng năm không gây hại gì nên họ tiếp tục làm vụ 3 mà không nghĩ tới phòng tránh. Tuy vậy, họ lại không tính được tác động của hạn hán cường hóa xâm mặn trong vụ 3 năm 2015-2016.    Thiếu hụt các lựa chọn sinh kế khác cũng là một nguyên nhân khiến các nông hộ chỉ còn lựa chọn làm lúa vụ 3. Mặc dù hiểu được mối họa tiềm tàng từ xâm mặn vào mùa khô, người nông dân ở đây không biết phải làm gì khác ngoài gắn bó với mảnh ruộng của họ và nghề trồng lúa. Cô Điền, một phụ nữ người Khmer ở tuổi 50 có chồng vừa mất cho biết đối với vụ 3, ‘năm nào cũng làm, trúng thất cũng làm. Nhiều khi nước mặn vô vài trăm km cũng làm. Bởi vì có làm cái gì đâu chú, vụ 3 thì ai cũng làm, trúng thất thì mình chịu.’ Lời tâm sự của cô Điền cũng là nỗi lòng của anh Chuyên. Đáp lại câu hỏi vì sao người nông dân lại phải gắn bó với lúa vụ 3, anh cho biết trước hết là vì các hộ ở đây gắn với ruộng đồng: ‘Mình sống vì ruộng thì mình cứ làm thôi chứ’. Thứ hai, anh cho biết, nếu không làm lúa, các hộ sẽ gặp khó khăn trong việc tìm nguồn thu nhập để thay thế: ‘Trong vòng 8 tháng. Lấy gì sống. Người nông dân chỉ có trông chờ vụ lúa.’ Tám tháng là quãng thời gian từ khi kết thúc lúa vụ 2 (tức Thu Đông) vào khoảng tháng 12 năm trước cho tới khi thu hoạch được vụ 1 (Hè Thu) rơi vào khoảng tháng 8- tháng 9 năm kế đó. Hỏi vì sao các hộ không chuyển qua trồng các loại rau màu thay vì trồng lúa vụ 3, bác Tân một lão nông người Kinh giải thích: ‘bây giờ chuyển sang trồng màu khoai mì, bắp, khoai lang, chuyển thì chuyển ba thứ đó thôi chứ chuyển cái gì bây giờ? Mà ba thứ đó đó, nước mặn là nó còn chết sớm hơn cây lúa nữa.’ Ngoài gắn bó với ruộng lúa, các hộ nông dân cũng có thể lựa chọn đi làm ăn xa để kiếm thêm thu nhập. Tuy vậy, lựa chọn này không phải dành cho số đông, đặc biệt là đối với các hộ có nhiều ruộng đất họ không thể bỏ ruộng hoang, hay những nông dân đã lớn tuổi có sức khỏe kém. Chính những hộ này phải ở lại và chấp nhận rủi ro làm vụ 3.      Tính dễ tổn thương của các nông hộ trước hạn mặn là một hệ quả đến từ quá trình tương tác qua lại giữa nông dân với tư cách là các chủ thể hành động và môi trường chính sách thể chế với tư cách là cấu trúc xã hội. Điểm mấu chốt để lý giải tính dễ tổn thương trước hạn mặn năm 2015-2016 chính là cần lý giải vì sao lúa vụ 3 – một cách thức đầu tư có tính rủi ro cao, lại trở thành một phần quan trọng trong tập quán sản xuất nông nghiệp của nhiều nông hộ ở huyện Long Phú nói riêng và Sóc Trăng nói chung?      Tuy vậy, việc chọn lựa làm lúa vụ 3 nhìn chung là một đánh cược có tính chủ động của nông dân Long Phú nói riêng và Sóc Trăng nói chung. Dữ liệu thực địa cho thấy mặc dù các hộ nhận thức được nguy cơ xâm mặn nhưng họ chấp nhận theo đuổi vụ 3 vì cho rằng vụ này vượt trội hơn so với hai vụ lúa còn lại ở khả năng sâu bệnh, chi phí, năng suất, sản lượng, và lợi nhuận. Bác Đào, một nông dân Khmer giải thích: ‘‘Lúa [vụ 3] trổ phơi bông [khi] không có bị mưa, phơi bông tốt. Nhờ là nhờ vụ 3 nè, chuẩn bị thu hoạch là lúa vụ 3 một công gần 1 tấn có đó, phải làm thôi chứ sao bây giờ, vụ này nó trúng dữ lắm. Hai vụ kia chừng 600 700kg hà, 700kg là lúa trúng rồi đó (cười)’. Anh Bên, một nông hộ người Khmer sống ở ấp người Kinh cũng đồng tình cho rằng: ‘Vụ 1 và vụ 2 không hiệu quả bằng vụ 3. Hai vụ này không tạo ra nhiều sản lượng như vụ 3. Với lại, vụ 3 dễ làm hơn vì mùa khô, ít sâu bệnh, năng suất cao hơn, giá tốt hơn’. Vì khả năng vượt trội đó, hầu hết các hộ được phỏng vấn đều cho biết họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro làm vụ 3. Tính chất đánh cược với vụ 3 được thể hiện qua phát biểu của bác Đào: ‘Vụ 3 là một canh bạc. Nếu nó trúng thì sẽ rất có lợi nhuận’.    Tâm lý đánh cược này lại không đi cùng với kiến thức và kỹ năng cần có để ứng phó hạn mặn. Do đó, hầu hết các hộ đều bỏ qua khuyến cáo về xâm mặn qua đài, tivi hoặc cán bộ xã/ấp và không có sự chuẩn bị cần thiết. Cô Chanh, một phụ nữ người Kinh lấy chồng người Khmer cho biết mặc dù xã có thông báo nhưng cô nghĩ cũng như các năm trước mặn không lên nên cô vẫn làm. Từ các hộ được phỏng vấn cho thấy chỉ có một vài hộ chủ động bỏ qua hoặc giảm diện tích canh tác vụ 3 năm 2015-2016, còn lại nhiều hộ tiếp tục canh tác, thậm chí còn tăng diện tích với hy vọng thu được nhiều lợi nhuận. Anh Đa chính là một trong các hộ này. Nhà chỉ có 6 ha nhưng anh đã chủ động mướn thêm hơn 4 ha nữa để canh tác và kết quả là thất trắng toàn bộ hơn 10 ha và lâm vào cảnh nợ nần.     Đánh cược với rủi ro     Trong xã hội học, có một nan đề làm đau đầu các nhà lý thuyết chính là liệu cấu trúc xã hội (social structure) quyết định hay năng lực chủ thể hành động xã hội (agency) quyết định? Ở đây, chúng ta cũng có thể đặt cùng một câu hỏi: liệu nguyên nhân gây ra tính dễ tổn thương trước thảm họa tự nhiên có phải hoàn toàn là do lỗi của các nông hộ – những chủ thể hành động xã hội? Nhà xã hội học người Anh Anthony Giddens6 khi nêu quan điểm về tính hai mặt của cấu trúc xã hội (duality of structure) phủ nhận quan điểm cực đoan về sự thống trị của hoặc là cấu trúc xã hội hoặc là hành động xã hội lên yếu tố còn lại. Ông cho rằng hai yếu tố này luôn có quan hệ biện chứng, trong đó cấu trúc xã hội (các quy tắc và chu trình) tạo ra môi trường vừa có khả năng khích lệ hành động xã hội vừa có khả năng kìm hãm chúng. Ở chiều ngược lại, các chủ thể hành động không phải luôn bị động mà có thể kiến tạo và tái tạo lại cấu trúc xã hội. Khi sử dụng quan điểm này vào giải thích thảm họa tự nhiên năm 2015-2016, chúng ta thấy rằng, tính dễ tổn thương của các nông hộ trước hạn mặn là một hệ quả đến từ quá trình tương tác qua lại giữa nông dân với tư cách là các chủ thể có năng lực hành động và môi trường chính sách thể chế với tư cách là cấu trúc xã hội.    Điểm mấu chốt để lý giải tính dễ tổn thương trước hạn mặn năm 2015-2016 chính là cần lý giải vì sao lúa vụ 3 – một cách thức đầu tư có tính rủi ro cao, lại trở thành một phần quan trọng trong tập quán sản xuất nông nghiệp của nhiều nông hộ ở huyện Long Phú nói riêng và Sóc Trăng nói chung? Thực tế, việc làm lúa vụ 3 không phải là quyết định nhất thời vào mùa vụ năm 2015-2016 mà đã thành một phần tập quán từ trước đó. Tuy vậy, nếu lùi thêm một chút về những năm 1980 trở về trước, vụ lúa này chưa tồn tại khi mà nông dân vùng này chỉ có sản xuất 1 vụ lúa một năm gọi là vụ Mùa. Giống lúa này dài ngày kéo dài khoảng 4-6 tháng, bắt đầu từ khoảng tháng 7 tháng 8 và kết thúc vào khoảng tháng 12 trước khi mùa khô bắt đầu. Mặc dù năng suất thấp nhưng lúa mùa cho phép nông dân tận dụng được mùa mưa, tránh được xâm mặn vào mùa khô. Về cơ bản, các nông dân thời kỳ này chưa từng nghĩ họ sẽ làm lúa mùa khô.     Chính sách có giảm thiểu rủi ro?     Tuy vậy, sự kiện chính trị xã hội những năm 1970-1990 mang lại những biến đổi quan trọng. Sau thống nhất 1975, Việt Nam lúc đó rơi vào khủng hoảng kinh tế và lương thực. Nhờ Đổi Mới (1986), Việt Nam từ vị thế một nước nhập khẩu gạo thành một nước xuất khẩu gạo. Để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu, chính phủ đưa ra chính sách tăng cường sản xuất lúa gạo nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung7. Nhu cầu tăng cường sản xuất nông nghiệp dẫn tới hai vấn đề.    Thứ nhất là việc trói buộc các địa phương có hệ thống sản xuất hàng hóa lớn như các tỉnh ĐBSCL với sản xuất lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu (xem Nghị định 2/2006/NĐ-CP)8. Do đó, các địa phương phải xem sản xuất lúa gạo là hoạt động trọng tâm để đảm bảo hai mục tiêu trên. Đối với các huyện nông nghiệp như Long Phú, chỉ tiêu sản xuất lúa gạo cần phải tuân theo chỉ tiêu đề ra bởi cơ quan chính quyền cấp tỉnh. Theo chúng tôi, việc quy định hạn mức sản xuất lúa gạo hằng năm vô hình tạo ra ràng buộc khiến nông dân phải gắn bó với cây lúa và khó khăn trong quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây trồng khác hoặc sản xuất thủy sản.        Cống ngăn mặn tại Long Phú, Sóc Trăng. Ảnh:Nongnghiep.vn    Tăng cường sản xuất nông nghiệp mang tới vấn đề thứ hai là chính sách quản lý tài nguyên nước, trong đó gồm cả việc quản lý hệ thống thủy lợi. Sau Đổi Mới, Chính phủ Việt Nam theo đuổi chính sách xây dựng các công trình thủy lợi lớn để quản lý nước, sản xuất nông nghiệp và ứng phó với thiên tai. Ngày 9 tháng 2 năm 1996, Quyết định 99-TTg tập trung vào phát triển thủy lợi gồm hai phần: một, phòng chống lũ cho các tỉnh vùng giáp ranh biên giới như khu vực Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, và Tây Sông Hậu; hai là thực hiện dự án ‘ngọt hóa’ để bảo vệ các tỉnh duyên hải gồm khu vực Bán đảo Cà Mau, Gò Công, Nam Măng Thít9 khỏi xâm mặn và giữ nước ngọt để sản xuất và sinh hoạt. Dự án ngọt hóa bao gồm đê biển, hệ thống cống ngăn mặn, trạm bơm cho phép phòng chống xâm mặn vào mùa khô, mang lại cơ hội sản xuất nông nghiệp nhiều vụ một năm cho các tỉnh như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.    Dưới ảnh hưởng của dự án ‘ngọt hóa’, cuối những năm 1990 tới đầu những năm 2000 một số hộ nông dân ở Long Phú và các địa phương xung quanh đã có những thử nghiệm sản xuất một vụ xen giữa vụ 2 và vụ 1. Thử nghiệm táo bạo này mang lại những thành quả tích cực khiến cho phong trào làm lúa vụ 3 bắt đầu lan rộng, đặc biệt từ giữa cuối những năm 2000. Nhớ lại quãng thời gian đó, bác Tào cho biết: ‘Tôi quyết định làm vụ 3 vì nhà nước đã xây dựng đê và có đầy đủ nước ngọt. Từ đó tôi làm liên tục cho tới nay. Trước năm 2010, không nông dân nào quanh đây dám làm vụ 3 vì không có đập ngăn mặn’. Từ chỉ là một vụ mang tính thử nghiệm, vụ 3 đã dần trở thành một phần sinh kế quan trọng của nông hộ và được chính quyền công nhận trong kế hoạch sản xuất nông nghiệp hằng năm.    Khi vụ 3 trở thành một vụ chính, lịch thời vụ đã có những biến chuyển, theo đó, vụ 1 được đẩy lên sớm hơn từ cuối tháng 4 thay vì tháng 5 (vẫn là Hè Thu), vụ 2 được đẩy lên từ tháng 9, kết thúc vào tầm tháng 11 (nay được xem là Thu Đông thay vì Đông Xuân sớm) và vụ 3 được chen vào giữa từ cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1 cho tới tháng 4.    Việc chuyển đổi từ hệ thống 1 vụ/năm sang 3 vụ/năm không chỉ gây ra các hệ lụy như suy kiệt tài nguyên đất mà còn đẩy nông dân vào lằn ranh phải đối mặt với nguy cơ xâm mặn hằng năm và thiếu hụt nước tưới tiêu.    Như vậy, qua phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rằng tính dễ tổn thương trước hạn mặn năm 2015-2016 không chỉ đơn giản là một hệ quả của các hành động và năng lực của nông hộ trong thời điểm trước khi diễn ra hạn mặn. Tính dễ tổn thương này thực tế đã bén rễ từ mối quan hệ tương tác qua lại giữa môi trường chính sách và lựa chọn của nông hộ trong quá trình lịch sử trước đó. Chính sách phát triển nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước cụ thể là chương trình xây dựng công trình thủy lợi lớn nhằm ngăn mặn, giữ ngọt, một mặt cho phép tăng diện tích gieo trồng và sản lượng lúa, mặt khác dẫn nông dân tới tập quán sản xuất 3 vụ/năm. Hệ thống 3 vụ/năm không những làm cho hệ thống thủy lợi bị quá tải mà còn đẩy nông dân tới ‘điểm nóng’ đối chọi với tấn công của xâm mặn hằng năm. Tuy vậy, bản thân chính sách hay cấu trúc xã hội không phải là yếu tố duy nhất tạo ra điểm yếu trước thiên tai, mà bản thân nông dân cũng có trách nhiệm của họ. Chính họ là những người chủ động trong việc thử nghiệm lúa vụ 3 vào mùa khô, trực tiếp đặt bản thân mình vào nguy cơ bị xâm mặn tấn công. Quan hệ qua lại giữa nông dân và môi trường chính sách thể chế đã dần dần tạo ra các vết rạn nứt tiềm ẩn và chúng chỉ bộc lộ vào mùa khô năm 2015-2016. Trong điều kiện biến đổi khí hậu cùng nguy cơ hạn hán tăng cao và tình trạng phát triển đập thủy lợi của các nước vùng thượng nguồn sông Mekong trong đó có sự tham gia gần đây của phía Việt Nam, nguy cơ các nông hộ sản xuất lúa vụ 3 huyện Long Phú nói riêng và các tỉnh duyên hải ĐBSCL nói chung một lần nữa bị tổn thương bởi hạn mặn là rất lớn. Cách duy nhất để phòng tránh điều đó chính là phải ‘điều trị’ tận gốc được tính dễ tổn thương hiện có. □  —  1Tom Fawthrop, Did Vietnam Just Doom the Mekong? A policy reversal on Mekong dams has put Hanoi’s credibility – and the river’s fate – on the line. Accessed 10 December 2019 https://thediplomat.com/2019/11/did-vietnam-just-doom-the-mekong/  2 Null J (2019) El Niño and La Niña Years and Intensities. Based on Oceanic Niño Index (ONI). DOI: http://ggweather.com/enso/oni.htm. (accessed April 9 2019).  3 Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (2016), Saline intrusion in the Vietnamese Mekong Delta February 2016. Ho Chi Minh city.  4 Xem Wisner, B., Blaikie, P., Cannon, T. & Davis, I. (2004), At risk: natural hazards, people’s vulnerability and disasters, 2nd edn, Routledge, London and New York.  5 Nguyen-Trung K (2019) Vulnerability to Natural Disasters: The Case of Vietnam’s Mekong Delta. Vulnerability in a Mobile World. Emerald Publishing Limited, pp.71-90.  6 Giddens A (1984) The constitution of society: Outline of the theory of structuration. Cambridge, UK: Polity Press.  7 Biggs D, Miller F, Hoanh CT, et al. (2012) The delta machine: water management in the Vietnamese Mekong Delta in historical and contemporary perspectives. Contested waterscapes in the Mekong Region. Routledge, pp.225-248; Hoanh CT, Tuong T, Gallop K, et al. (2003) Livelihood impacts of water policy changes: evidence from a coastal area of the Mekong River Delta. Water Policy 5(5-6): 475-488.  8 Chính phủ Việt Nam (2006), Nghị định Quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, 23/1/2006.  9 Can ND, Le Thanh Duong NVS and Miller F (2007) Livelihoods and resource use strategies of farmers in the Mekong Delta. Challenges to sustainable development in the Mekong delta: regional and national policy issues and research needs. The Sustainable Mekong Research Network, Bangkok. 69-98.        Author                Nguyễn Trung Kiên        
__label__tiasang Mệnh lệnh trái tim      Hẳn chúng ta ai cũng hết sức xúc động trước hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng che kín một mảng lớn khán đài sân Municipality trong trận bán kết Việt Nam-Myanmar, những niềm vui bùng nổ cùng những giọt nước mắt thất vọng trên gương mặt đau đớn của cổ động viên Việt Nam lặn lội từ nhà sang nước bạn để cổ vũ cho đội bóng nhà. Có thể nói những hình ảnh đó thật sự nói lên cường độ mãnh liệt và ý nghĩa trong suốt của mệnh lệnh trái tim, những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim của mỗi người yêu nước.    Ở đây, không cần phải trang trọng diễn đạt hay định nghĩa về nội dung của tình yêu nước đó, vì “…tình yêu nước ban đầu là tình yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu…”. Dẫn ra câu trên từ một tác phẩm văn học Xô Viết, để muốn nói rằng, lòng yêu nước không hề là một sản phẩm riêng của Việt Nam. Dân tộc nào cũng cổ vũ cho một tinh thần yêu nước vì lợi ích của dân tộc mình. Tuy nhiên, do đặc điểm hình thành mà mỗi dân tộc lại có những nét đặc thù mà có khi dân tộc khác lại không hoàn toàn giống như thế.  Chẳng hạn như Tôn Trung Sơn, đã từng phê phán để chấn hưng dân khí Trung Hoa: “Ở nước ta gia tộc và tông tộc được đồng bào sùng bái nhất, cho nên có thể nói nước ta chỉ có chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa tông tộc nhưng thiếu hẳn chủ nghĩa dân tộc”1. Còn ở Việt Nam thì, khi đã trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp , là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh với sự am hiểu sâu sắc về truyền thống lịch sử Việt Nam và nền văn hóa của nước mình, sau khi đã bôn ba khắp năm Châu bốn biển, đã khẳng định răng “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Vì thế Hồ Chí Minh đòi hỏi “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản… Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người Việt Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”2[cần hiểu thuật ngữ “chủ nghĩa” dùng ở đây là “tinh thần” dân tộc]. Chính vì thế, trong những cái tạo thành sức mạnh Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ đó là lòng yêu nước “…mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”3.  Cái gì “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” đó? Chính là những mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người Việt Nam có ý thức về dân tộc, về tổ quốc, về chủ quyền đất nước. Mệnh lệnh đó có được là do sự hun đúc, nung nấu tự bao đời dựng nước và giữ nước, trở thành một truyền thống Việt Nam. Đó là ngọn lửa, là chất lửa được diễn đạt thất thâm trầm và cô đọng trong bài kệ “Nguyên hỏa” [Gốc Lửa] của đại sư Khuông Việt cách đây mười thế kỷ:                       Mộc trung nguyên hữu hỏa        Trong cây vốn có lửa                       Nguyên hỏa phục hoàn sanh       Sẵn lửa, lửa mới sinh ra                       Nhược vị mộc vô hỏa                  Nếu cây không có lửa                      Toàn toại hà do manh                   Khi cọ xát sao lại thành? 4  Chính ngọn lửa ấy, chính chất lửa ấy, tạo thành sức mạnh Việt Nam. Ông cha ta đã biết nuôi dưỡng ngọn lửa đó một nghìn năm Bắc thuộc không thể dập tắt được ngọn lửa ấy. Một trăm năm thực dân đô hộ không dập tắt được ngọn lửa ấy. Đế quốc Nguyên-Mông thế kỷ XIII với sức mạnh của một đế chế từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa từng có trong lịch sử đã bị ngọn lửa ấy ba lần thiêu cháy mộng bành trướng về phương Nam, nhòm ngó vùng Đông Nam Á, thâu tóm lấy vùng lãnh thổ mà “đất ở đấy là đất vàng đất bạc” như  nhà văn và nhà khoa học cổ La Mã Plinius (23-79 sau CN) miêu tả. Chính nhờ ngọn lửa ấy đã làm bừng sáng tài thao lược của vua quan và quân dân thời Trần. Điều cần lưu ý là buổi ấy, Việt Nam đơn thương độc mã chém đầu Toa Đô, bắt sống Ô Mã Nhi, khiến chủ soái thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về quý quốc. Làm nên chiến thắng lẫy lừng đó, đương nhiên phải có “khí phách Đông A” của các Vua Trần, tài thao lược của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh. Nhưng xét đến cùng, đấy cũng là ý chí của quân dân thời Trần, hai chữ “Sát Thát” khắc trên cánh tay chính là mệnh lệnh của trái tim yêu nước của mỗi một người tự nguyện đứng lên đánh giặc giữ nước. Và  cũng cần phải nhắc lại lời dụ của Vua Lê Thánh Tông với “ bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy”, “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tất đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di”4.  Hơn lúc nào hết phải gợi lại những bài học lịch sử để chúng ta hiểu thật kỹ rằng, trong cái vị thế địa-chính trị hiện nay của đất nước, thường xuyên chăm lo giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia phải là mối bận tâm thường trực của tất cả chúng ta. Là mệnh lệnh từ trái tim của những người yêu nước.  ———–  1.”Tam dân chủ nghĩa”, tr.2  2.và 3  HCM toàn tập. Tập 1.tr. 464.465,466. tập 6, tr. 171  4 . “Đại Việt Sử ký Toàn thư” NXBKHXH, Tập II,  tr.51 và tr. 462      Tương Lai       Author                Quản trị        
__label__tiasang #MeToo-  sức mạnh của đa số      Đã hơn một năm kể từ khi phong trào #MeToo ra đời nhưng sức ảnh hưởng của nó vẫn tiếp diễn. Bài viết dưới đây, của GS. Micheline Lessard, ĐH Ottawa, nhân dịp 8/3, tổng kết lại chặng đường mà phong trào này đã đi qua và sức mạnh mà nó trao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ yếu thế trong xã hội.          Phong trào #MeToo đã dẫn đến một cuộc tuần hành tháng 3, diễn ra vào năm 2018. Chiếc mũ hồng len có hai cái tai mèo – tiếng anh là pussy, một từ tượng trưng cho tất cả những định kiến mà người ta nói về phái nữ, do một sinh viên Kiến trúc nghĩ ra, tạo ra một hiệu ứng thị giác đặc biệt. Ảnh: Odyssey.    Đốm lửa từ Hollywood     Phong trào #MeToo được khởi xướng đầu tiên tại Mĩ vào ngày 5 tháng 10 năm 2017, khi nữ diễn viên người Mĩ Ashley Judd lên tiếng cáo buộc nhà sản xuất truyền thông có thế lực ở Hollywood là Harvey Weinstein vì đã có hành vi quấy rối tình dục. Judd là một nữ diễn viên nổi tiếng qua các loạt phim truyền hình đình đám như Nhà ga Berlin (Berlin Station) và Mất tích (Missing). Cô cũng góp mặt trong nhiều phim điện ảnh từng tạo nên những cơn sốt phòng vé như Sức nóng (Heat), Thời gian hành quyết (A Time To Kill), Hai lần phạm tội (Double Jeopardy). Judd tuyên bố rằng cách đây khoảng hai mươi năm, cô nhận lời mời của Harvey Weinstein tới Khách sạn bán đảo Beverly, chỉ chuẩn bị tinh thần cho một cuộc gặp gỡ trao đổi trong khi dùng bữa sáng. Thế nhưng, Judd đã khá “sốc” khi biết rằng Weinstein yêu cầu cô tới gặp riêng y trong phòng khách sạn. Khi cô tới, trên người Weinstein chỉ khoác độc một chiếc áo choàng tắm, y ngỏ ý muốn giúp cô mát-xa thư giãn, còn ướm hỏi liệu cô có muốn ngắm nhìn trong khi y tắm.1 Kiểu buộc tội của Judd đối với Weinstein trong thực tế không có gì quá xa lạ trong làng giải trí Holywood, nơi thường xuyên xì xào bàn tán về hiện tượng các đạo diễn, nhà sản xuất, thậm chí cả các diễn viên nam đặt vấn đề mời gọi một diễn viên nữ bước vào mối quan hệ tình dục chơi bời.  Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 2017, rất nhiều việc đã thay đổi. Judd gọi đích danh hành vi của Weinstein là quấy rối tình dục, và tuyên bố thẳng những chuyện như thế này không thể bị lấp liếm thêm nữa. Những lời buộc tội của Judd, không những thế, còn cất lên trong kỉ nguyên của phương tiện truyền thông đại chúng, khi tin tức có độ lan truyền chóng mặt và sự kiện cả cộng đồng cùng lên tiếng phê phán chống lại các hành vi xấu đã trở thành quá quen thuộc trong xã hội. Sự cáo buộc của Judd đã mở màn cho một cơn bão dồn dập những lời cáo buộc sau đó nhắm tới các nhân vật khác trong làng giải trí Holywood. Nhiều phụ nữ đấu tranh cùng Judd khi đưa ra những lời buộc tội của chính họ đối với Weinstein. Hai nữ diễn viên Rose McGowan và Annabella Sciorra tố cáo việc từng bị y cưỡng hiếp trong khi Angelina Jolie, Mira Sorvina, và Gwyneth Paltrow lên tiếng về việc bị ông quấy rối tình dục và đe dọa sẽ làm lụn bại sự nghiệp diễn xuất nếu không ưng thuận. Ba ngày sau, một nữ diễn viên khác, Alyssa Milano, đăng twitter với lời kêu gọi: “Nếu như bạn đã từng bị quấy rối hay xâm hại tình dục, hãy viết ‘me too’ để hồi đáp tweet này.”2 Đó chính là thời điểm đầu tiên hashtag #MeToo bắt đầu được lan truyền rộng rãi.  Tuy nhiên, cách dùng cụm từ “Me Too” theo nghĩa ám chỉ tới việc bị quấy rối hay xâm hại tình dục đã được đặt ra lần đầu tiên từ năm 2006 bởi một phụ nữ Mĩ gốc Phi có tên Tarana Burke, cũng là người từng bị xâm hại tình dục. Cô đã sử dụng cụm “Me Too” để cất lời kêu gọi: “Xin hãy giúp những phụ nữ và bé gái da màu khác cũng đang phải chịu đựng cảnh bạo lực tình dục.”3 Khi nhận ra khái niệm “Me Too” đã được sử dụng từ hơn một thập kỉ trước, Alyssa Milano bày tỏ niềm cảm kích với Tarana Burke ngay trên trang mạng xã hội của mình và cổ vũ tất cả những người theo dõi trang Twitter của cô hãy cùng học theo và hưởng ứng Burke. Chính trào lưu này là tiền thân của hashtag #MeToo.4 Sau khi phong trào #MeToo bắt đầu có sự lan tỏa rộng rãi trên toàn thế giới, Tarana Burke thổ lộ niềm vui trước thực tế rằng ý tưởng của cô đã nhận được những sự lưu tâm mới, đồng thời tuyên bố đây là phong trào đặt nền tảng trên “quyền lực có được từ sự cảm thông” của những người phụ nữ.5 Điều này có nghĩa là giờ đây phụ nữ đã hoàn toàn có thể cảm thấy an toàn khi nói về những gì mình đã trải qua, không những thế, còn nhận được sự khuyến khích ủng hộ hãy làm việc ấy. Một số lượng lớn không thể tin nổi những phụ nữ công khai lên tiếng về việc đã bị xâm hại hay quấy rối tình dục, hiện tượng này đã tạo nên một không khí đầy cảm thông khiến những người phụ nữ khác dám cất lên tiếng nói chia sẻ về những chuyện họ đã phải trải qua khi rơi vào những tình thế tương tự.         Ashley Judd, người khởi xướng phong trào #MeToo. Ảnh chụp trên tạp chí Time, vinh danh cô là một trong số những nhân vật của năm 2017.    Trên các phương tiện truyền thông, phụ nữ thuộc đủ mọi tầng lớp, địa vị, ngành nghề xã hội cùng chia sẻ những trải nghiệm của mình, nhưng chính những vụ việc đình đám liên quan tới danh tiếng của các nữ diễn viên mới là yếu tố chính khiến trào lưu #MeToo có sức lan tỏa rộng ra toàn thế giới trong năm 2017. Một khi đã được khởi xướng, việc dừng #MeToo lại dường như là bất khả. Ngay nhiều tháng nhiều tuần sau đó, rất nhiều người đàn ông nổi tiếng đã bị cáo buộc về việc có hành vi xấu hay phạm phải những tội ác tình dục. Một trong những vụ cáo buộc gây “sốc” nhất được đưa ra bởi vận động viên bộ môn thể dục dụng cụ Mĩ McKayla Maroney, cô đăng trên tweet của mình việc từng bị Larry Nassar, nguyên bác sĩ đội tuyển Thể dục dụng cụ, xâm hại tình dục. Nassar, như sau này chúng ta biết thêm, đã quấy rối một cách có hệ thống rất nhiều nữ vận động viên trẻ trong suốt mấy chục năm. Chỉ đến gần đây Nassar mới bị tuyên án 60 năm tù vì tội có hành vi khiêu dâm xâm phạm trẻ em. Trong suốt sáu tuần Judd lên tiếng tố cáo và hashtag của Milano được truyền bá rộng khắp, rất nhiều lời buộc tội khác cũng được cất lên nhắm vào nam diễn viên Kevin Spacey, diễn viên hài kịch Louis C.K, các chính trị gia Mĩ cùng rất nhiều nhân vật công chúng tiếng tăm khác. Qua trường hợp Kevin Spacey, có thể thấy một điều rõ ràng rằng chính nam giới cũng có thể là nạn nhân của những vụ xâm hại, bởi lời buộc tội đến từ một người đàn ông khác, tố cáo rằng đã bị nam diễn viên này lạm dụng tình dục khi còn mới ở độ tuổi vị thành niên.     Giành tiếng nói cho những người yếu thế     Trong khi thường là rất khó để có thể chứng minh hay khởi tố đến cùng những kẻ lạm dụng tình dục, phong trào #MeToo dù vậy cho phép các nạn nhân phần nào giành được cái mà họ coi là công bằng và công lí bằng cách làm cho kẻ bị buộc tội cảm thấy ê chề ô nhục trước con mắt cộng đồng. Đương nhiên, vấn đề nảy sinh là có một nguy cơ rất có thể sẽ xảy ra khi một số người đàn ông (và cả phụ nữ – một nữ diễn viên bị tố cáo xâm hại tình dục một cậu bé ở độ tuổi vị thành niên) bị buộc tội có phần bất công vì những hành động của mình. Trong thực tế, nhiều nam diễn viên trong đó có Spacey bị buộc phải trốn tránh tới mức không thể tiếp tục làm việc, thậm chí còn không nhận được một chút tiền bồi thường nào từ vụ kiện tụng ấy. Tình thế tương tự cũng xảy ra với một thượng nghị sĩ Mĩ, người đã phải từ chức vì những cáo buộc như thế. Đúng là có một vài bức ảnh chụp cảnh viên thượng nghị sĩ này bông lơn đưa tay chộp lấy ngực một người phụ nữ, nhưng ở các tình huống khác thì sự việc trở nên khó xét đoán hơn nhiều bởi rõ ràng sự buộc tội ở đây mới chỉ đơn thuần dựa trên việc đặt niềm tin tuyệt đối vào phát ngôn của người buộc tội hay người bị buộc tội.      Rất khó để có thể chứng minh hay khởi tố đến cùng những kẻ lạm dụng tình dục, dù vậy phong trào #MeToo cho phép các nạn nhân phần nào giành được cái mà họ coi là công bằng và công lí bằng cách làm cho kẻ bị buộc tội cảm thấy ê chề ô nhục trước con mắt cộng đồng.      Dù vẫn còn những bất cập như trên, phong trào #MeToo đã góp phần quan trọng trong việc đưa ra ánh sáng thái độ đồng lõa, thậm chí khuyến khích, một cách có hệ thống và có tổ chức hành vi xâm hại quấy rối tình dục. Luận điểm này thực sự chính xác với trường hợp Ấn Độ, nơi một viên chức chính phủ đã buộc phải đâm đơn từ chức khi làn sóng này lan rộng trên đất Ấn. M.J. Akbar, viên chức chính phủ kiêm tổng biên tập một tờ báo lớn, đã bị chỉ đích danh và đấu tố bởi một lượng lớn những người phụ nữ trên các phương tiện truyền thông xã hội. Kể từ thời điểm đó, nhiều nhân vật danh tiếng khác ở Ấn Độ, trong đó có các nam diễn viên Bollywood, các giám đốc điều hành ở nhiều công ty và cả các nhà báo cũng phải đối mặt với những vụ việc chỉ trích buộc tội tương tự như vậy.6 Phong trào #MeToo ở Ấn còn đưa lại cơ hội cho sự lên tiếng của những người phụ nữ không được nổi tiếng cũng như không có điều kiện kinh tế. Bhanwari Devi không hề biết đến phong trào #MeToo cho tới khi một nhà hoạt động thuộc tổ chức Nhân quyền đến thăm làng cô ở Rajasthan. Devi là một phụ nữ nông dân thuộc ‘tầng lớp thấp’ trong hệ thống phân chia đẳng cấp ở Ấn Độ, cô từng bị hãm hiếp tập thể vào năm 1992 như một hành động trả đũa cho hoạt động xã hội mà cô tham gia. Trước vụ tấn công, Devi đã làm công việc gõ cửa từng nhà, giảng giải và thuyết phục những người phụ nữ hãy đứng lên phản đối tình trạng tảo hôn. Ngay trước khi bị tấn công, cô vừa cố gắng thuyết phục một gia đình hoãn lại việc tổ chức đám cưới cho một đứa trẻ mới đầy chín tháng tuổi.7 Ngay sau đó, Devi bị bố đứa trẻ và những người đàn ông khác trong làng tấn công. Cô tường thuật lại vụ hãm hiếp với cảnh sát. Những người đàn ông thừa nhận việc tấn công cô, nhưng phủ nhận việc hãm hiếp cô. Đứa trẻ được làm đám cưới ngay ngày hôm sau. Cuối cùng vụ việc Devi cũng nhận được sự lưu tâm của một tổ chức phụ nữ, và trường hợp của cô đã được đưa lên Tòa án Tối cao Ấn Độ, nơi vào năm 1997 đã lần đầu tiên thông qua luật xét xử hành vi xâm hại tình dục nơi làm việc. Trường hợp Devi cho thấy một cách rõ ràng rằng phong trào #MeToo đã phơi lộ ra trước mắt chúng ta nỗi khốn khổ tuyệt vọng ở những người phụ nữ rất đỗi bình thường. Cũng giống như nhiều nơi khác, sự thật là những người phụ nữ chịu tổn thương sâu sắc nhất ở Ấn Độ không phải là các nữ diễn viên Bolywood mà chính là những người phụ nữ nghèo khó sống ở các vùng nông thôn, nơi những tội ác như thế không được chú ý, ghi nhận, và cũng chẳng có hình phạt nào được thực thi.      Thảo luận về sự đồng thuận     Không chỉ thế, phong trào #MeToo thúc đẩy việc đưa ra thảo luận lại một số quan niệm nhất định, chẳng hạn như quan niệm về sự đồng thuận. Khả năng xác quyết xem một cá nhân có đồng thuận hay không có ý nghĩa trọng yếu trong việc ngăn chặn cưỡng hiếp và các hình thức xâm hại tình dục khác. Ở Thái Lan, Wepaphan Wongsawang sáng lập một dự án có tên là “Thái đồng ý” (Thaiconsent), với rất nhiều bài báo được viết ra để giải thích lại khái niệm về sự đồng thuận.8 Bên cạnh việc tổ chức những cuộc đàm luận công khai được xem như là nền tảng căn bản cho hành động, Wongsawang và những người bạn đồng chí hướng cùng tham gia trào lưu “Thaiconsent” với cô còn thiết lập một diễn đàn online nơi những người phụ nữ có thể lên đó kể về tình cảnh bị xâm hại tình dục mà chính mình đã phải trải qua.  Ở Việt Nam, phong trào #MeToo tự khẳng định chính nó qua việc phủ sóng một phạm vi ảnh hưởng rộng rãi kể từ mùa xuân năm 2018, được khơi mào từ sự kiện một nữ thực tập sinh trẻ tuổi làm việc tại báo Tuổi trẻ. Cô gái này, như được đưa tin, đã bị biên tập viên giám sát của tòa soạn cưỡng hiếp, bị thương tổn sâu sắc về mặt tâm lí tới mức theo thông tin từ một số nhà báo, đã từng có ý đồ tự sát.9 Ngay sau khi những thông tin về vụ việc này được công bố rộng rãi, phụ nữ trên khắp Việt Nam bắt đầu lên tiếng chia sẻ những trải nghiệm của họ, mỗi bài viết đăng lên đều đính kèm những tag như: “#toasoansach, #ngungimlang, và #MeToo.” Rõ ràng phong trào #MeToo có hiệu lực đáng kể ở Việt Nam, những cuộc thảo luận cộng đồng về xâm hại và quấy rối tình dục bắt đầu được khởi xướng. Mặc dù nhà nước Việt Nam đã có những chính sách cho phép phụ nữ “tham gia vào lực lượng lao động ở một tỉ lệ cao”, đủ cơ hội giành được những cấp bậc cao trong hệ thống giáo dục cũng như dành “một sự tôn trọng nhất định đối với phụ nữ khi quyết định đưa ra các chính sách”, nhưng rất nhiều bất cập vẫn còn bỏ ngỏ, chẳng hạn như phải giáo dục thế nào để cả nam giới và nữ giới nhận thức được đúng đắn nhất những khái niệm về sự đồng thuận cũng như về các vấn đề về xâm hại và quấy rối tình dục.10 Nhìn rộng ra, cũng như ở các nước khác trên thế giới, rất nhiều đàn ông không cho rằng những hành vi khiến phụ nữ khó chịu của họ có thể bị xếp vào một dạng quấy rối tình dục. Nhà nghiên cứu xã hội học Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, từng kể lại việc bà “xuất hiện trong một chương trình truyền hình để thảo luận về các vấn đề này và chứng kiến các nam phóng viên thực sự bối rối trước những tuyên bố bà nêu ra.”11 Một số ý kiến cho rằng phong trào #MeToo ở Việt Nam có những nét khá đặc thù vì phụ nữ Việt thường mang mặc cảm sợ hãi nếu những gì họ đã trải qua bị đưa ra công khai trước cộng đồng, rất có thể sẽ đưa lại những hậu quả khôn lường khác. Nhà nước Việt Nam hiện thời vẫn đang nỗ lực hoàn thiện và xây dựng bộ quy tắc ứng xử trong luật lao động, nhất là những vấn đề liên quan đến hành vi quấy rối tình dục.12      Bhawari Devi (thứ hai từ phải sang) là người tạo ra bước ngoặt trong đấu tranh bình đẳng giới ở Ấn Độ. Ảnh: Times of India.    Mặc dù #MeToo, không thể tránh khỏi, vẫn có khả năng tạo môi trường cho những lời buộc tội oan uổng, hay chỉ dừng ở việc nêu đích danh kẻ xấu mà chưa tiến hành những thủ tục tố tụng pháp lý, phong trào đã khiến cho những vụ việc xâm hại và quấy rối tình dục người thực việc thực được đưa ra công chúng. Nó mở đường cho việc tiến hành những hành động pháp lý chống lại những kẻ có hành vi phạm tội, nhất là ở những nước đã thông qua luật cấm quấy rối tình dục trong bộ luật lao động. Tại các quốc gia khác, phong trào #MeToo thúc đẩy chính phủ các nước này chỉnh sửa và ban hành những bộ luật mới hướng đến bảo vệ phụ nữ. Không chỉ thế, phong trào #MeToo đã mở đường cho những cuộc tranh luận và đối thoại về việc dựa vào những yếu tố nào để xác định đâu là hành vi xâm hại, quấy rối hay đồng thuận, từ đó đặt lại những câu hỏi về các vấn đề tưởng chừng đã bị chôn vùi. Cuối cùng, phong trào #MeToo đã lan rộng ra toàn thế giới, ở đây phải kể đến công của mạng xã hội, trao cho các nạn nhân sự mạnh dạn dám cất tiếng nói công khai về câu chuyện riêng của mình trong một bầu khí quyển đầy cảm thông thấu hiểu, bởi họ biết rằng hashtag #MeToo cũng đang được dùng bởi rất nhiều nạn nhân khác nữa đều đã từng phải chịu sự xâm hại và quấy rối tình dục giống như mình. Đó chắc chắn là sức mạnh của đa số. □     Thái Hà  dịch     —-  1Carrie Wittmer, “Ashley Judd cáo buộc Harvey Weinstein quấy rối tình dục, một sự kiện bom tấn trên tờ New York Times,” Business Insider, 5/10/2017.  2, 3  Đội ngũ Chicago Tribune & K. T. Hawbaker, “#MeToo: theo dòng sự kiện,” Chicago Tribune, 23/1/2019.  4,5 Abby Ohlheiser, “Người phụ nữ đằng sau ‘Me Too’ đã tri nhận được sức mạnh của chính cách nói ấy ngay khi cô sáng tạo nên nó từ 10 năm trước,” The Washington Post, 19/10/2017.  6 Furkan Latif & K.T. Hawbaker, “Một viên chức chính phủ đã phải từ chức khi phong trào #MeToo giành được quyền lực lớn ở Ấn Độ,” Đài phát thanh nhân dân quốc gia, 16/10/2018.   7 Furkam Latif Khan, “Họ xứng đáng được hưởng Công lý: Mẹ đỡ đầu của #MeToo ở Ấn Độ lên tiếng,” Đài phát thanh nhân dân quốc gia, 24/10/2018.   8 Hannah Ellis-Petersen, “Đã đến lúc nói về sự Đồng thuận: Phong trào #MeToo khởi sinh ở Thái Lan,” The Guardian: International Edition, 17/1/2019.  9,10,11,12 Isabelle Taft, #MeToo Việt Nam: Sự phát triển của phong trào #MeToo ở Việt Nam đã phơi lộ những Hạn chế của nhà nước hướng đến Bình đẳng giới như thế nào,” The Diplomat, 15/5/2018.  Dưới đây là bài viết nguyên gốc bằng tiếng Anh do GS Micheline Lessard gửi cho Tia Sáng (tít và tít phụ trong bản dịch tiếng Việt là do tòa soạn đặt):      The #MeToo Movement  The #MeToo movement started in the United States on October 5th of 2017 when the American actress Ashley Judd accused media mogul Harvey Weinstein of sexual harassment. Judd is a well-known actress whose work includes television series such as Berlin Station, and Missing. She has also acted in box-office hits such as Heat, A Time to Kill, and Double Jeopardy. Judd stated that some twenty years before, Harvey Weinstein had invited to the Beverly peninsula Hotel for what she thought was a breakfast business meeting. Instead, Weinstein shocked Judd by having her sent to his room. When she arrived there, Weinstein was wearing a bath robe and he offered to give her a massage and asked her if she wanted to watch him as he took a shower.  Until then, Weinstein was one of the most powerful men in Hollywood’s entertainment business. In 1970, with his brother Bob, Weinstein had created the film company Miramax. Over the following decades Miramax became one of the preeminent entertainment companies and the Weinsteins wielded much power in the film industry. The type of accusations made by Judd against Weinstein were all too familiar in Hollywood circles. It was a poorly guarded secret in the film industry that directors, producers, and even actors offered women movie roles on the condition of sexual favours.    In October 2017, however, much had changed. Judd named Weinstein ensuring that sexual harassment would now be taken out of its secrecy. Weinstein’s name was out in the open. Judd’s accusations were also made in an era of social media, where news travels fast and where public shaming of bad behaviour has become commonplace. Judd’s accusations resulted in a landslide of subsequent accusations made against others in Hollywood. A number of women joined Judd in their own accusations against Weinstein. Actresses Rose McGowan and Annabella Sciorra accused him of rape while Angelina Jolie, Mira Sorvina, and Gwyneth Paltrow accused him of harassment and making threats to ruin their careers. Three days later, another actress, Alyssa Milano, used twitter to state the following: “If you’ve been sexually harassed or assaulted, write ‘me too’ as a reply to this tweet.”    This is when the hashtag #MeToo went viral.   However, the use of the term “Me Too” in reference to sexual harassment or assault had been first used in 2006 by an African-American woman by the name of Tarana Burke, who had been sexually assaulted. She had used the phrase “to help women and girls of color who had also survived sexual violence”  Once she realized that the “Me Too” concept had been created more than decade earlier, Alyssa Milano gave credit, on social media, to Tarana Burke, and encouraged her followers on twitter to learn more about Burke and the movement that had preceded the hashtag.   After the #MeToo movement began to make its way throughout the world, Tarana Burke expressed joy at the fact that her idea had been getting new attention and she stated that the movement was based on women’s “empowerment through empathy.”  The idea was that women now felt safe to tell about their experiences given the wide amount of support they were getting. The Incredibly large number of women who now publicly claimed to have been either sexually harassed or assaulted provided a certain comfort and support for other women who had experienced similar situations.   On social media, women from all walks of life shared their experiences, but it was the notoriety of the actresses and of the accused that allowed #MeToo to reach the world in 2017. Once unleashed, #MeToo was impossible to stop. In the ensuing weeks and months more, famous men were accused of sexual misconduct or crimes. Some of the most shocking accusations were made by an American gymnast, McKayla Maroney who tweeted that she had been sexually assaulted by the former Gymnastics team doctor, Larry Nassar. Nassar, it was subsequently learned, had systematically assaulted many young female gymnasts over decades. Just recently Nassar has been sentenced to 60 years in prison for child pornography offenses.    Within six weeks of Judd’s accusations and of the propagation of Milano’s hashtag, accusations had been made against the actor Kevin Spacey, comedian Louis C.K., American politicians and other public figures.  In the case of actor Kevin Spacey, it became clear that men could also be victims of such assaults as accusations against came from a man claiming the actor had sexually abused when he was an under-age teenager.   While it has all too often been difficult to prove or to successfully prosecute sexual abusers, the #MeToo movement nonetheless allows some victims to attain what they believe was a measure of justice simply by publicly shaming those against whom they were making accusations. One of the problems of course, is that there is a very real danger that some men (and women—one actress was accused of sexually abusing a teenage boy), would be accused unjustly of such actions. In fact, many actors, like Spacey, were forced into hiding and were unable to continue to work, even without the benefit of a trial. This was also the case of a US senator, who resigned as a result of these accusations. There were photographs of the senator jokingly grabbing a woman’s breasts, but other cases were more problematic because proving the accusations depended simply on believing the statements of either the accused or the accuser.   In spite of such problems, however, the #MeToo movement has been able to bring to light what can be considered systemic and institutional tolerance, and even encouragement, of sexual assault and harassment. This was certainly the case in India, for example, when a government official had to resign as the movement became widespread in that country. M.J. Akbar, an editor and government official, was named and shamed by a number of women on social media. Akbar claimed his innocence and filed a defamation lawsuit against his accusers. Since then other famous figures in India, including Bollywood actors, corporate executives, and journalists faced similar charges.   The movement in India has also allowed less famous and poor women to speak out as well. Banwhari Devi was unaware of the #MeToo movement until a Human Rights worker visited her village in Rajasthan. Devi is a what would be called in India a “low caste” peasant woman who had been gang-raped in 1992 in retaliation for her activist work.  Before the attack, Devi had been working, going door to door, to educate and to convince women against child marriage. Just prior to the attack against her she had been trying to convince a family to postpone the wedding of a nine-month-old child.  Devi was subsequently attacked by the baby’s father and other men in the village. She reported the rape to the police and the men admitted they had attacked her and denied that they had raped her. The baby was married the next day. Ultimately Devi’s situation caught the attention of a Women’s group, and her case eventually was heard by the Supreme Court of India, which in 1997, adopted India’s first workplace sexual harassment policies.  The #MeToo movement has also prompted the Indian government to make even more revisions to these policies. What the Devi case has shown is that the #MeToo movement has informed us about the plight of ordinary women.  As is the case elsewhere, the fact is that the most vulnerable women in India are not Bollywood actresses, but rather poor women living in rural areas, where such crimes go unnoticed, unreported, and unpunished.   The #MeToo movement has also been able to allow discussion of certain concepts, like that of consent, for example. Being able to determine when one person gives consent is crucial in preventing rape and sexual assault. In Thailand, Wepaphan Wongsawang created a project titled “Thaiconsent” which included a number of articles written to explain the concept of consent.   In addition to the talks she gives on a regular basis, Wongsawang and her “Thaiconsent” allies have managed to also to provide an online platform where women report instances of sexual assault. There have also been art exhibits highlighting and challenging Thailand’s “culture of misunderstanding over sexual assault.”   In Thailand to date there has been very little public shaming of well-known people but according to activists, the #MeToo movement is nonetheless is gradually becoming part of public discussion on these issues.    In Vietnam, the #MeToo movement manifested itself on a fairly broad scale in the Spring of 2018. It was prompted by the rape of a young intern who worked at the Tuoi Tre newspaper. The young woman had apparently been raped by the supervising editor and she had been so traumatized that , according to some journalists, she had attempted suicide as a result.    Soon after news of this became public, women throughout Vietnam began to share their experiences, as the “tagged their posts #toasoansach, #ngungimlang, and #MeToo.”  It was clear that the #MeToo movement had reached Vietnam and that public discussion of sexual harassment and sexual assault had begun. Although the Vietnamese state had policies which had allowed women a high rate of “labor force participation rates” and had also women to attain high educational levels as well as “better-than-average representation of women in its legislature,” that there was still much to be done when it came to education both women and men on the concepts of consent and on the question of sexual harassment and sexual assault.   By and large, as everywhere else in the world, many men do not consider that the unwanted attention they give to women classifies as sexual harassment. Khuat Thu Hong, ta sociologist and then Director of the Institute for Social Development Studies, mentioned that she had “appeared on a television program to discuss the issue and found the male reporters perturbed about her claims.” The #MeToo movement is a bit difficult in Vietnam, according to some because women fear public disclosure of their experiences for fear of repercussions. Still, in April of 2018, the singer Pham Anh Khoa was accused of sexual harassment by three women. He initially denied the accusations but subsequently apologized publicly on television. And the Vietnamese state is also now working on the development of labour codes of conduct pertaining to sexual harassment.   Although the #MeToo movement still carries the possibility of false accusations and of finding people guilty without due process, it has nonetheless allowed very real instances of sexual harassment and sexual assault to be made public. It has paved the way for legal actions against these perpetrators in countries where laws and labour codes prohibit sexual harassment. In other countries, the #MeToo movement has prompted governments to change or to enact laws to protect women. Furthermore, the #MeToo movement has also resulted in public debate and dialogue about what constitutes, assault, harassment and consent,  conversations that have been long overdue. Finally, the #MeToo movement has reached the world thanks to social media and it has empowered victims to publicly state their case in an empathetic setting, knowing that the hashtag was created by other victims of sexual harassment and assault and that there is certainly strength in numbers.     Author                Micheline Lessard        
__label__tiasang Mĩ không có giải đáp cho sách lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc      John Mearsheimer gần đây cho rằng Trung Quốc (TQ) đang theo đuổi ở châu Á đìều mà Hoa Kì đã thực hiện ở châu Mĩ Latinh: bá chủ khu vực. Khi theo đuổi mục tiêu đó, TQ tiếp tục cố gặm nhấm từng chút một lãnh thổ ở biển Hoa Đông và biển Đông, kiểu làm này, được gọi cắt từng miếng salami-slicing [hay như ta diễn đạt là ‘tằm ăn dâu’].    Sách lược ‘tằm ăn dâu’ của TQ đã tăng tốc trong vài năm qua. Trong năm 2012, TQ thành lập “thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm, một hòn đảo trong chuỗi đảo Hoàng Sa mà TQ chiếm đoạt của Việt Nam Cộng Hoà bằng vũ lực vào năm 1974. TQ tuyên bố rằng thành phố Tam Sa sẽ là trung tâm hành chính của toàn bộ khu vực biển đảo họ yêu sách ở Biển Đông, kể cả các yêu sách trong nhóm đảo Trường Sa. Các cơ sở quân sự và bán quân sự nhỏ trên đảo Phú Lâm củng cố hình ảnh chính đáng về chủ quyền mà TQ đang cố lập – một hình ảnh mà các nước láng giềng như Việt Nam và Philippines thiếu các nguồn lực để làm theo. Chỉ mới tháng trước, TQ đã cho một tàu tuần tra bán quân sự 5000 tấn trú đóng thường trực ở đảo Phú Lâm.     Sách lược ‘tằm ăn dâu’ nhắm vào lãnh thổ Philippines cũng đang tỏ ra có kết quả. Vào tháng 4/2012, hải giám TQ và các tàu tuần duyên Philippines đã bắt đầu một cuộc dằng co giành bãi cạn Scarborough nằm cách Luzon khoảng 230 km mà cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Thiếu nguồn lực vật chất để duy trì sự hiện diện liên tục, tuần duyên Philippines cuối cùng đã rút lui để TQ nắm quyền kiểm soát rạn san hô này. Chính quyền TQ sau đó căng dây rào rạn san hô và  ngăn chặn ngư dân Philippines quay trở lại.     Với bãi cạn Scarborough bị chiếm giữ, cuộc thi thố không cân sức giữa TQ và Philippines đã di chuyển đến đảo Ayungin (bãi Cỏ Mây) trong quần đảo Trường Sa, còn được gọi bãi ngầmThomas II. Một bài báo tháng 10/2013 trong tạp chí New York Times mô tả cuộc dằng co giữa một đội tàu hải giám hiện đại TQ và một đội lính thuỷ đánh bộ Philippines. Tám lính thuỷ đánh bộ bám trụ gần như trong điều kiện sau thảm hoạ, sống lây lất như “Mad Max” trên con tàu đổ bộ rỉ sét, hư hỏng thời thế chiến mà Philippines cố ủi mắc cạn trên đảo để làm chỗ đặt chân cuối cùng cho Philippines, trong vòng vây TQ.     Trong cuộc phỏng vấn tháng 5/2013 trên truyền hình TQ, Thiếu tướng Trương Triệu Trung (Zhang Zhaozhong) của Quân đội Giải phóng Nhân dân TQ đã mô tả “chiến lược cải bắp” mà TQ đang sử dụng trong biển Đông. Theo tướng Zhang, chiến lược cải bắp gồm việc bao vây một hòn đảo đang tranh chấp với vòng trong vòng ngoài tàu đánh cá , tàu ngư chính, tàu hải giám, và tàu chiến của TQ sao cho “hòn đảo bị bao bọc hết lớp này tới lớp khác như một bắp cải.” Về việc giành lãnh thổ của Philippines, tướng Zhang nói chúng ta nên làm những điều như vậy nhiều hơn trong tương lai. Đối với những đảo nhỏ này, chỉ có một vài binh bính có thể đóng chốt trên mỗi đảo, nhưng ở đó không có thức ăn hoặc ngay cả nước uống cũng không có. Nếu chúng ta thực hiện chiến lược cải bắp, thì không thể chuyển thức ăn và nước uống tới đảo được. Nếu không được cung ứng một hoặc hai tuần, lính đóng quân sẽ tự rời khỏi đảo. Một khi họ đã rời đi, họ sẽ không bao giờ có thể quay trở lại.     Ở biển Hoa Đông, va chạm giữa TQ và Nhật Bản trong tranh chấp đảo Senkaku / Điếu Ngư đang nóng lên trong nhiều năm qua. Theo Bộ Quốc phòng Nhật Bản, các cuộc xâm nhập của tàu chính phủ TQ trong vùng lãnh hải của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku đã bắt đầu tăng tốc vào cuối năm 2012 và trung bình có khoảng 5 lần xâm nhập mỗi tháng trong khoảng thời gian đầu năm 2013.     Tháng 11/2013 đã có tuyên bố đột ngột của TQ về vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên phần lớn biển Hoa Đông, kể cả trên quần đảo Senkaku. Một vài ngày sau đó, ở biển Đông, một tàu chiến TQ gần như đụng phải tàu tuần dương tên lửa có hướng dẫn USS Cowpens, một tín hiệu bất bình với việc tàu tuần dương này dòm ngó tàu sân bay mới của TQ đang chạy thử nghiệm. USS Cowpens sau đó rút đi, người Mĩ hẳn không muốn liều lĩnh để thành một cuộc chạm trán. Cuối cùng, vào tháng 1/2014, một cơ quan địa phương TQ ở Hải Nam đã ban hành lệnh đòi hỏi các tàu đánh cá nước ngoài hoạt động trong biển Đông (cách xa vùng đặc quyền kinh tế của TQ) trước hết phải có giấy phép đánh bắt của họ.     Một ví dụ khác về cố gắng của TQ để thiết lập nhận thức về chủ quyền ở biển Đông là nỗ lực phát triển kinh tế trong khu vực. Tháng 8/2012, Tổng công ti quốc gia dầu khí ngoài khơi TQ (CNOOC), công ty quốc doanh khai thác dầu khổng lồ mời các các công ti khoan dầu khí nước ngoài đấu thầu các lô ở biển Đông nằm bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ). Thật ra, trước đây Việt Nam đã từng hợp đồng cho thuê một số trong các lô này. Tương tự như vậy, TQ và Philippines cũng từng đụng độ về dầu khí ven đảo Palawan.     Hàng loạt trò ‘tằm ăn dâu’ dù chưa liệt kê đủ cho thấy TQ đang gắng hoàn tất ba mục tiêu:  1.    TQ sử dụng lợi thế vật chất về tàu dân sự, bán quân sự, và quân sự để tạo ra một hình ảnh hiện diện vượt trội và lâu bền, so với các đối thủ yếu hơn như Việt Nam và Philippines. Mục tiêu là tạo ấn tượng về tính hợp pháp duy nhất và đúng lúc về chủ quyền.  2.    TQ hi vọng tạo dựng được các chỉ dấu truyền thống về thẩm quyền nhà nước. Các chỉ dấu này bao gồm việc các tàu hải giám bán quân sự và tàu hải quân tuần tra liên tục, lập Văn phòng Chính phủ ở những nơi như đảo Phú Lâm, lập cơ sở và đơn vị trú đóng bán quân sự và quân sự, ban hành lệnh và quy định hành chánh, và thiết lập các hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước như CNOOC.  3.    Các sự kiện như việc thành lập ADIZ ở biển Hoa Đông và việc gần như đụng tàu sân bay USS Cowpens được bày vẽ để cố tình làm tăng thêm rủi ro cho các hoạt động của Mĩ và đồng minh trong khu vực, với mục tiêu làm cho những hoạt động đó tốn kém hơn và thưa dần đi. Khi mức độ hiện diện của Mĩ và đồng minh giảm xuống, ảnh hưởng của TQ và tính chính đáng của yêu sách của họ sẽ tăng lên.      Phản ứng của Mĩ     Chính phủ Mĩ không có phản ứng rõ rệt đối với sách lược ‘tằm ăn dâu’ của TQ. Các quan chức Mĩ, trong đó có Đô đốc Harry Harris, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ, Đô đốc Samuel Locklear, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kì đã bày tỏ sự hối tiếc về tuyên bố ADIZ của TQ, và khẳng định ý định tiếp tục các hoạt động quân sự thông thường của Mĩ trong vùng nhận dạng đó và các nơi khác trong khu vực. Tuy nhiên, TQ đã không phải chịu trừng phạt nào cho hàng loạt các hành động của họ. Liên quan đến các yêu sách tranh chấp nhau ở hai biển này, chính sách chính thức của Washington là các nước láng giềng của TQ tự lo liệu – Hoa Kì sẽ không đứng về phía nào trong các tranh chấp lãnh thổ. Hoa Kì cũng phản đối việc sử dụng cưỡng chế trong giải quyết tranh chấp. Nhưng mỗi hành động ‘tằm ăn dâu’ riêng lẻ của TQ đều được hiệu chỉnh cẩn thận để lọt xuống dưới ngưỡng mà hầu hết các nhà quan sát bên ngoài sẽ xem như là cưỡng chế công khai.     Không vấp phải phản kháng nào đối với hành động của mình, TQ chắc chắn sẽ tiếp tục sách lược ‘tằm ăn dâu’. Phần lá dâu gặm nhấm tương lai của TQ có thể bao gồm:  •    Máy bay thám sát không người lái TQ tuần tra trên quần đảo Senkaku  •    TQ đổ bộ dân phản kháng lên quần đảo Senkaku  •    Máy bay chiến đấu TQ ngăn chặn và hộ tống các máy bay Nhật Bản quá cảnh vùng ADIZ của TQ ở biển Hoa Đông.  •    Tuyên bố ADIZ của TQ ở một số phần của biển Đông  •    Khám xét, bắt giữ tàu đánh cá Việt Nam hoặc Philippines vì không tuân thủ chính sách đánh bắt cá của TQ  •    Ngăn chặn việc tiếp tế hoặc thay thế các đơn vị trú đóng Philippines trên bãi Cỏ Mây hoặc đơn vị trú quân khác trong quần đảo Trường Sa  •    Máy bay và tàu TQ tạo thêm các quấy rối với tàu chiến và máy bay tuần tra Mĩ và Nhật Bản.     Với những hành động kiểu này, TQ hi vọng sẽ từng bước tạo ra “các sự kiện mới trên thực địa” và tăng nhận thức về nguy cơ trong tâm trí của những nhà ra quyết định của Mĩ và đồng minh, tất cả đều được tính toán để xảy ra mà không gây ra cuộc đối đầu nào.      Lí thuyết về thành công của Mĩ cho đến nay     Người ta sẽ nghĩ rằng hành động ‘tằm ăn dâu’ tiếp nữa của TQ sẽ kéo căng sự kiên nhẫn của các nhà hoạch định chính sách Mĩ và đồng minh. Tuy nhiên, kiên nhẫn vẫn đang là chính sách bề nổi của Hoa Kì. Theo Kurt Campbell, trợ lí Ngoại trưởng Mĩ về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương trong nhiệm kì đầu của chính phủ Obama bằng cách lôi kéoTQ vào hệ thống quốc tế hiện hành, một hệ thống mà từ vẻ bề ngoài TQ hưởng lợi lớn trong ba thập kỉ qua, TQ sẽ chấp nhận và hậu thuẫn hệ thống đó (G. John Ikenberry, một giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Princeton, bênh vực cho vị thế này trong một tiểu luận về Ngoại giao. Trớ trêu thay, tiểu luận này xuất hiện năm 2008, đúng ngay khi sách lược ‘tằm ăn dâu’ của TQ bắt đầu tăng tốc). Ngoài ra, Campbell giả định rằng các nhà lãnh đạo TQ sẽ thấy rằng Mĩ và các nước láng giềng của TQ, thông qua cách thức nhẹ nhàng và nhẫn nại của họ, không đặt ra một mối đe dọa an ninh cho TQ. Và có lúc họ nhận ra rằng, hành động ‘tằm ăn dâu’ của TQ sẽ kết thúc.     Thái độ quyết đoán của TQ rõ ràng đang khơi mào một phản ứng an ninh mạnh mẽ toàn khu vực. Hợp tác an ninh đang phát triển nhanh chóng, từ Ấn Độ qua Đông Nam Á và Úc, và lên đến Nhật, nhằm cân bằng sức mạnh quân sự của TQ. Chi tiêu và mua sắm của quân đội các nước khác trong khu vực dự kiến sẽ nhảy vọt tương tự nhau trong 5 năm tới. Các quan chức Mĩ có thể kết luận rằng hoạt động như vậy càng xảy ra, gánh nặng an ninh của Mĩ trong khu vực càng nhẹ đi.      Với nhẫn nhịn, các nhà hoạch định chính sách Mĩ đã cố gắng tránh những nan đề an ninh tồi tệ trong đó các quan ngại về an ninh sẽ khiến hai hay nhiều cường quốc thành đối thủ cạnh tranh nhau, với hậu quả là chạy đua vũ trang tăng tốc và lãng phí. Sự nhẫn nhịn của Mĩ có thể là một nỗ lực có ý tốt để tránh một hậu quả như vậy ở Đông Á. Nhưng khi mà TQ cứ tiến tới trong hiện đại hoá quân đội và ‘sách lược tằm ăn dâu’, các nhà hoạch định chính sách Mĩ sẽ sớm phải đối mặt với việc buộc phải thừa nhận TQ là một cường quốc ở châu Á và rằng sách lược nhẫn nhịn đã thất bại, rõ ràng sẽ có nghĩa là quay trở lại việc răn đe và trông cậy vào tính hữu ích của sức mạnh quân sự của Mĩ và đồng minh để duy trì sự ổn định. Các quan chức Mĩ sẽ bào chữa rằng họ không bao giờ từ bỏ răn đe như là một chính sách – họ sẽ trỏ vào việc tái cân bằng châu Á và cam kết đưa 60 % lực lượng không hải quân Mĩ đóng trong khu vực làm bằng chứng.      Phục hồi biện pháp răn đe sẽ đòi hỏi Đô đốc Locklear và Harris và các cấp trên dân sự của họ phải thẳng thắn hơn với quân đội, đồng minh, và bản thân họ đối với mục đích và nhiệm vụ cụ thể của lực lượng trú đóng ở đó của họ cũng như những thiết bị, huấn luyện cần thiết cho công việc của họ là gì. Hiện nay, Hoa Kì chưa có giải đáp cho sách lược ‘tằm ăn dâu’ của TQ. Phải có thay đổi nào đó!  Robert Haddick là nhà nghiên cứu độc lập hợp đồng cho  Sở chỉ huy các hoạt động đặc biệt của Hoa Kì. Ông viết ở đây với tư cách  cá nhân. Vào tháng 9/2014, Nhà in học viện Hải quân Mĩ sẽ xuất bản cuốn  sách của Haddick về sự trỗi dậy thành cường quốc quân sự của TQ và  chiến lược của Mĩ ở Đông Á.  Dịch: Phan Văn Song  Hiệu đính: Lê Vĩnh Trương    Nguồn: War on the Rocks (06/2/2014)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh bạch hóa thông tin về tình hình biển Đông      Qua hai phép thử gần đây của Trung Quốc, kết quả cho thấy họ khó lòng có thể đạt được tham vọng lãnh thổ trên biển Đông một cách chính danh. Tuy nhiên, họ có thể sẽ cố níu kéo tình trạng mập mờ và lấn tới một cách âm thầm.&#160; Việt Nam cần tăng cường minh bạch hóa thông tin về tình hình biển Đông để đối phó với sách lược này.      Sự ủng hộ chủ động và tích cực của các thế lực lớn tại Thái Bình Dương như Mỹ và Nhật đối với Việt Nam và Philippines qua hai phép thử gần đây1 của Trung Quốc trên biển Đông – vụ tranh chấp tại bãi cạn Scarborough và vụ mời thầu 9 lô trên thềm lục địa của Việt Nam– là trở ngại không nhỏ cho tham vọng Trung Quốc. Giờ đây, Trung Quốc biết rằng nếu họ càng cố áp đặt yêu sách đường lưỡi bò thì sẽ càng làm xấu đi mối quan hệ với các nước có lãnh thổ bị xâm phạm bởi yêu sách này, đồng thời càng tạo động lực củng cố quan hệ của các nước này với những nước ủng hộ cho chủ quyền của họ trên biển Đông, trong đó có Mỹ.  Phản ứng của Trung Quốc trước sự can dự của Mỹ vào tình hình tranh chấp ở biển Đông là khá yếu ớt với luận điệu yêu cầu Mỹ tôn trọng các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trong khi không đưa ra bất cứ một đe dọa trả đũa cụ thể nào. Có thể trước đây Trung Quốc cho rằng Mỹ sẽ vì mối quan giao thương kinh tế mà nhắm mắt làm ngơ trước tham vọng của Trung Quốc tại biển Đông, nhưng việc Mỹ ủng hộ cho chủ quyền trên biển Đông của các nước bị đe dọa bởi yêu sách của Trung Quốc, đồng thời không giấu giếm dự định sẽ tăng cường hiện diện về quân sự tại khu vực, cho thấy: Mỹ thừa biết bản thân Trung Quốc cũng không dám làm căng với Mỹ, đơn giản vì tiềm lực quân sự của Trung Quốc vẫn chưa đủ, và lợi ích trong quan hệ kinh tế với Mỹ là quá lớn để Trung Quốc gây sứt mẻ vì bất kỳ lý do gì.   Trong khi đó, cộng đồng quốc tế không có bất kỳ quốc gia nào đứng ra công khai ủng hộ cho yêu sách lãnh thổ mà Trung Quốc đưa ra. Điều này khiến tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc thuần túy mang tính đơn phương và hoàn toàn không có cơ hội được chính danh hóa trên trường quốc tế.   Nguyên nhân cốt lõi của cục diện này chính là tham vọng đường lưỡi bò mà bất kỳ ai với đôi mắt khách quan tỉnh táo khi nhìn vào cũng có thể thấy rõ ràng sự phi lý và phi nghĩa. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ vẫn cố gắng níu kéo tham vọng của mình bằng cách duy trì tình trạng mập mờ, trước mắt là trì hoãn sự ra đời của bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông càng lâu càng tốt. Và trong bối cảnh tranh tối tranh sáng ấy, họ vẫn có thể âm thầm lấn tới từng chút một, ví dụ thực hiện thăm dò dầu khí và triển khai xây dựng giàn khoan ngay trong lãnh thổ của chúng ta.   Nguy cơ chủ quyền bị ăn mòn qua những xung đột quy mô nhỏ theo cách này đã được đề cập trong bài Phát triển thị trường để bảo vệ chủ quyền biển2, trong đó cũng đã nêu ra một giải pháp cho Việt Nam là tăng cường sự có mặt thường trực của những con tàu có khả năng duy trì lâu dài tại vị trí tranh chấp. Kinh nghiệm của Philippines tại bãi cạn Scarborough cho thấy đây là biện pháp khả thi và rất cần thiết. Sự có mặt những con tàu của Philippines tại bãi cạn Scarborough không chỉ giúp duy trì sự khẳng định lập trường về chủ quyền của Philippines, mà còn biến vụ việc thành tâm điểm chú ý của dư luận trong nước và quốc tế, tạo sức ép ngược lại đối với Trung Quốc.   Việt Nam cần có những đội tàu tuần tra có khả năng nhanh chóng tiếp cận hỗ trợ lẫn nhau và ứng cứu những tàu thuyền ngư dân bị Trung Quốc gây phiền nhiễu. Những đội tàu này cần có khả năng ghi hình và nhanh chóng chuyển thông tin về đất liền, tạo bằng chứng chính xác, minh bạch về những hành vi xâm phạm của đối phương, đồng thời giảm thiểu nguy cơ bị đối phương vu cáo là gây hấn trước.     Bên cạnh việc tiếp tục nỗ lực vận động cho một bộ quy tắc ứng xử công bằng và rõ ràng trên biển Đông, việc tập hợp một cách có hệ thống những bằng chứng và thông tin theo cách trên sẽ tạo một công cụ đắc lực để dùng đến khi Việt Nam cần chứng minh những xâm phạm của Trung Quốc và tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Minh bạch hóa thông tin chính là giải pháp tối ưu để Việt Nam làm thất bại sách lược níu kéo tình trạng mập mờ và cục bộ hóa tranh chấp mà lâu nay Trung Quốc vẫn tiến hành.   Khi đó, Trung Quốc sẽ thực sự lâm vào thế hoàn toàn bế tắc và buộc lòng phải đối thoại và hợp tác thiện chí hơn với các bên liên quan nhằm tháo gỡ khỏi thế bí mà họ đã tự đẩy mình lâm vào.           ——————  1 Xem bài Phép thử của Trung Quốc tại Biển Đông: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5335  2 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News= 4827&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh bạch nhằm vào chu trình tham nhũng (Bài 3)      Chu trình tham nhũng trải qua hai công đoạn  chính: 1- Nhận hối lộ, biển thủ, chiếm đoạt tài sản chung. 2- Cất giữ và  sử dụng nó bằng hình thức hợp pháp, nếu không tài sản tham nhũng sẽ trở  thành vô nghĩa. Chế tài minh bạch hoá thu nhập thêm đối với nghị sỹ Đức  nhằm vào công đoạn 1, áp dụng cho đối tượng đó và khoản đó. Tới lượt  mọi cơ cấu bộ máy công quyền của Đức đều bị luật chế tài như vậy.     Chẳng hạn, Luật Bộ trưởng Liên bang Đức BminG, gồm 24 điều, trong đó có điều năm yêu cầu phải trình báo khi có người tặng qùa và được phép hay không do chính phủ quyết định. Các Tiểu bang cũng vậy, Luật Bộ trưởng Tiểu bang Niedersachsen, cấm nhận thưởng công, quà cáp liên quan tới chức vụ. Bộ trưởng cả Liên bang lẫn Tiểu bang còn bị điều chỉnh bởi Bộ luật quan chức Đức, dài tới 147 điều, điều 71 quy định: (1) Kể cả sau khi mãn nhiệm, không được phép hay ủy quyền cho người khác nhận quà, lợi ích từ những người có liên quan đến chức vụ của mình trước đây… (2) Ai vi phạm, trong trường hợp chưa tới mức truy tố, phải thực hiện trách nhiệm trình báo với cơ quan chức năng về toàn bộ sự việc. Vụ nhận 25.000 Euro tiền thù lao diễn thuyết của Steinbrück có thể bị điều tra theo điều khoản trên.          Văn bản luật chỉ mới là tiền đề, hiệu lực  của nó còn phục thuộc vào thiết chế bộ máy nhà nước có bảo đảm luật pháp  được thực thi tự động hay không. Chỉ khi đó mới ngăn chặn, phát hiện  được mọi khả năng tham nhũng.        Văn bản luật chỉ mới là tiền đề, hiệu lực của nó còn phục thuộc vào thiết chế bộ máy nhà nước có bảo đảm luật pháp được thực thi tự động hay không. Chỉ khi đó mới ngăn chặn, phát hiện được mọi khả năng tham nhũng. Kế qủa, ở Đức, Lothar Spảth nguyên Thống đốc bang Baden-Württemberg buộc phải từ chức năm 1991, chỉ vì mấy chuyến du lịch không mất tiền do giới doanh nhân chiêu đãi bị đưa ra công luận. Günther Krause phải từ chức Bộ trưởng Giao thông Liên bang năm 1993, sau khi nhờ lực lượng công vụ chuyển nhà riêng lấn vào thời gian làm việc công, bị nhân viên tố giác. Gehard Glogowski, nguyên Thống đốc bang Nidersachsen xin từ chức năm 1993, do nhận tiền quà mừng đám cưới từ các doanh nghiệp, không khai vào thu nhập tính thuế, bị phát hiện qua kiểm toán doanh nghiệp. Kurt Biedenforf, nguyên Thủ hiến tiểu bang Sachsen, xin từ chức năm 2002, do ở nhà công vụ với tiền thuê nhà rẻ thậm vô lý và sắm đồ gỗ của hãng Ikea giảm giá riêng bất bình thường, bị nghị sỹ đối lập phát hiện. Rudolf Scharping nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Đức mất chức năm 2002 chỉ vì mấy bộ comle đắt tiền ông mặc do một doanh nghiệp tặng, bị đưa lên mặt báo. Gysi Chủ tịch đảng cộng sản Đức, Bộ trưởng kinh tế Berlin từ chức chỉ đơn giản sử dụng vé máy bay giá rẻ dành cho quan chức đi công vụ vào việc tư. Vụ Ernst Welteke Thống đốc Ngân hàng Liên bang Đức từ chức năm 2004 thật bi hài: Ông là đồng cha đẻ tiền Euro, lương 350.000 Euro/năm. Trong buổi lễ phát hành đồng Euro vào dịp giao thừa 2001/2002, ông cùng vợ lưu lại 4 ngày tại khách sạn 5 sao Adlon Berlin, do ngân hàng Dresdner Bank thanh toán tổng cộng 7661,20 Euro, không đáng là bao so lương ông. Năm 2004 vụ việc vỡ lỡ, buộc Viện Kiểm sát mở cuộc điều tra, chính phủ lập tức lên tiếng khuyên ông từ chức, để bảo vệ uy tín trong sạch cho cơ quan công quyền; Hội đồng quản trị Ngân hàng Liên bang phải họp khẩn dài 7 tiếng để ra quyết định, chưa kịp ngã ngũ, ông đã phải tuyên bố từ chức – thể hiện lòng tự trọng của một quan chức, không “cố đấm ăn xôi” của kẻ hạ nhân bất chấp dư luận. Bẽ mặt là vụ 7200 lượt Nghị sỹ Quốc hội EU tới Brüssel dự họp Quốc hội từ năm 2001-2004, được nhận tiền công tác phí 262 Euro/ ngày, mà chỉ đến ghi danh rồi về nước, hoặc cố lùi lại sau 22 giờ để tính thêm một ngày, bị Nghị sỹ Áo Hans-Peter Martin tổng hợp công bố.           Chỉ khi ở cấp cao nhất, tham nhũng chỉ con  số “lẻ” thôi cũng bị phát hiện như vậy, thì mới có thể yên tâm cấp dưới  họ, cũng tức toàn bộ bộ máy nhà nước, trong sạch.        Gần đây nhất, đầu năm nay, Tổng thống Đức Christian Wulff buộc phải từ chức, cũng chỉ vì bị cáo buộc mưu lợi chức quyền, vay tiền lãi suất thấp do quan hệ với doanh nhân để mua nhà riêng, đi du lịch bằng tiền chiêu đãi, mua vé máy bay hạng rẻ đi hạng thương gia… Tới cách mấy tháng trước, Bộ trưởng Hợp tác và Phát triển Dirk Niebel bị điều trần “vật vã” trước quốc hội, suýt mất chức, chỉ vì nhờ chở một thấm thảm chừng 4.000 Euro từ Afganistan về Đức bằng máy bay công vụ và không nộp thuế nhập khẩu, bị nhân viên thuộc quyền gửi thư nặc danh tố cáo ra báo giới.   Chỉ khi ở cấp cao nhất, tham nhũng chỉ con số “lẻ” thôi cũng bị phát hiện như vậy, thì mới có thể yên tâm cấp dưới họ, cũng tức toàn bộ bộ máy nhà nước, trong sạch. Điều đó cho thấy, trong bối cảnh tham nhũng ở ta hiện đang theo quy tắc bất thành văn: chia 3, một phần cá nhân trực tiếp tham nhũng giữ lại, một phần chia đều cho mọi đồng cấp liên quan, và một phần cho cấp trên trực tiếp, thì điều kiện tiên quyết để có thể trị tham nhũng là phải nhắm vào quan tham các cấp, với hình phạt nặng nhất, ở ta còn gọi là để “làm gương”.  Kết quả trên ở Đức có được đều bắt nguồn từ tai mắt dân chúng, truyền thông tự do, buộc vấn đề phải đặt lên bàn nghị sỹ; đảng phái, chính trường bắt buộc phải lên tiếng, nếu không họ sẽ bị người dân bất tín nhiệm, đó chính là áp lực cao nhất. Chừng nào tiếng nói của người dân và truyền thông được thiết chế tiếp nhận tới mức đó, chừng đó mới có thể nói đến một nhà nước trong sạch. “Bởi cán bộ thế nào người dân đều biết hết”, nhưng người dân sinh ra không phải chuyên trách hưởng lương chống tham nhũng; một khi họ không được “bảo vệ”, thậm chí còn bị nguy cơ “trù úm cả dân tộc”, sẽ ít ai dám. Quan tham tha hồ tự tung tự tác, ai đụng vào người đó thiệt thân !  Xem tiếp: Chống rửa tiền tham nhũng    Đọc thêm:  * Bài 2: Tham nhũng, ai chống và chống như thế nào?  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5839  * Bài 1: Tham nhũng, ai chống và chống như thế nào?   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5834      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình phát triển bền vững ĐBSCL      Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng ĐBSCL theo hướng bền vững phải đặt trong tổng thể lịch sử –  địa lý – kinh tế – chính trị  – văn hóa vùng ngập lụt, mới khai khẩn nhưng đang bị biển xâm thực do biến đổi khí hậu nước biển dâng và phải gắn với Sài Gòn – Gia Định và Miền Đông Nam Bộ; phải giữ diện tích đất lúa cho có 15 – 20  triệu tấn để nuôi cả Vùng ĐBSCL + ĐNB + Tây Nguyên (chiếm gần 50% dân số cả nước); khai thác lợi thế của nước lợ, nước mặn làm nông nghiệp và xây dựng dân cư cho phù hợp; tiếp cận dần với một nền nông nghiệp thông minh, không gây ô nhiễm công nghiệp cho toàn vùng, nhất là các nhà máy nhiệt điện – than, dệt nhuộm, đóng tàu, giấy…; nâng cao dân trí, dạy nghề phi nông nghiệp, phục vụ chuyển dịch lao động ra ngoài vùng, vừa giải quyết việc làm, vừa giảm mật độ dân cư; đầu tư KH&CN.        Trồng hoa cảnh ở đồng bằng sông cửu Long. Nguồn ảnh: Pinterest.  Mô hình kinh tế  Do điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, tay nghề truyền thống của nông dân nên đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được xác định “mô hình kinh tế” gồm có nông nghiệp lúa nước, nuôi trồng thủy – hải sản – đánh bắt xa bờ, du lịch tâm linh – sông nước – hải đảo và thương mại – dịch vụ. Việc xác định “mô hình” đó thực ra không có gì mới, chỉ là căn cứ vào tình hình thực tiễn để làm rõ nhận thức về: biến đổi khí hậu, liên kết vùng trên cơ sở khác dạng chứ không chỉ liên kết đồng dạng (đồng dạng là ra sản lượng – về số, khác dạng là tạo ra giá trị – về chất).  Từ mô hình đó, ĐBSCL đã được xác lập cơ cấu kinh tế phù hợp:  – Công nghiệp của ĐBSCL sẽ tập trung vào công nghiệp chế biến nông sản – thủy sản, năng lượng tái tạo, sản xuất máy và phụ tùng cho ngành nông nghiệp – ngư nghiệp. Những thông tin gần đây cũng cho thấy các tỉnh ĐBSCL đã chuẩn bị cho cơ cấu công nghiệp này. Chẳng hạn vừa qua, tỉnh Cà Mau đã kiến nghị Chính phủ cho rút cơ sở nhiệt điện Cái Cung ra khỏi qui hoạch điện VII trên địa bàn tỉnh để thay bằng điện gió, nhằm đảm bảo an toàn cho vùng nuôi thủy sản, là tín hiệu vui cho ĐBSCL.  – Cơ cấu kinh tế nông nghiệp  + Lúa gạo vẫn là thế mạnh chiến lược của ĐBSCL. Từ 1989 đến hết năm 2016, tổng lượng gạo xuất khẩu 116 triệu tấn, thu về 39,28 tỷ USD, trong đó ĐBSCL góp trên 90%. Nếu biến đổi khí hậu cực đoan, có thể chúng ta không còn xuất khẩu gạo, nhưng vẫn phải bảo đảm an ninh lương thực.  + Sản xuất cá tra là thế mạnh của Việt Nam vì hầu hết các nước ASEAN có cá tra nhưng chỉ phát triển tự nhiên mà không nuôi công nghiệp. Theo Bộ NN& PTNT có 9/10 tỉnh, thành trong khu vực ĐBCSL nuôi cá tra, với tổng diện tích 4.552 ha. Theo VASEP, sản lượng cá tra đạt trên 1,4 triệu tấn vào năm 2010, đến năm 2016 tuy sụt giảm sản lượng nhưng vẫn đạt 1,15 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt 1,71 tỷ USD. Đây vẫn là ngành kinh tế quan trọng, thu hút trên 200.000 lao động.  + Rau củ, trái cây xuất khẩu có khả năng cạnh tranh. ĐBSCL là vùng sản xuất rau, trái cây lớn nhất, chiếm trên 50% diện tích và 60% sản lượng trái cây của cả nước.  + Sản xuất dược liệu là lĩnh vực tạo ra giá trị cao và các tỉnh ở ĐBSCL có điều kiện về đất đai, nguồn gene, đặc biệt là khu vực An Giang – Bảy Núi có lợi thế này. Phát triển dược liệu ở ĐBCSL phù hợp với nhu cầu về dược liệu trong nước cần khoảng gần 60-80.000 tấn/năm. Khối lượng dược liệu xuất khẩu đạt gần 5.000 tấn/ năm, đem lại giá trị trên 6 triệu USD mỗi năm.  + Nghề đánh bắt-nuôi-trồng hải sản vốn là thế mạnh của vùng ĐBSCL và đang phát triển mạnh.  – Du lịch ở ĐBSCL có các loại hình đa dạng như du lịch tâm linh, du lịch biển đảo, du lịch sông nước v.v… đã và đang mở ra khả năng thu hút đông đảo du khách. ĐBSCL là một không gian khá hẹp lại bao gồm khá nhiều tài nguyên du lịch là vốn quí do thiên nhiên và con người tạo ra đang cần khai thác trong thế liên kết – liên hoàn.  Hợp tác và liên kết kinh tế  – Hợp tác, liên kết ngoại vùng: Đặt mối quan hệ chiến lược với TP HCM. Hợp tác với các tỉnh, các khu công nghiệp, với các doanh nghiệp nước ngoài trên từng lĩnh vực, từng sản phẩm cụ thể để tạo ra sự đồng dạng, đồng chất, đồng giá thị trường.  – Hợp tác giữa các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác xã (HTX), kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại làm tăng nội lực là chính.       + Hộ nông dân có xu hướng liên kết với nhau dưới hình thức tập trung đất, đồng thời hợp tác với các hộ có phương tiện dịch vụ sản xuất và thương lái (nhà buôn) mua bán vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Các hộ nông dân đó có thể hợp tác với các bên thông qua “đầu mối” là giám đốc HTX nhưng phải có hợp đồng kinh tế tay đôi (nông dân với HTX), hoặc tay ba (nông dân với thương lái và HTX). Tất cả đều phải có giá trị pháp lý.    Sản xuất lúa mùa nổi trong bờ bao, diện tích nhỏ, phải xua đuổi nhiều động vật gây hại.  + Kinh tế trang trại thực chất là doanh nghiệp nông nghiệp, có vai trò rất tiến bộ và rất quan trọng, vì là hình thức tích tụ đất sản xuất quy mô lớn, hiện đại, linh hoạt với thị trường. Mối quan hệ của trang trại với hộ sản xuất và HTX là quan hệ kinh tế, xử sự “thấu tình đạt lý” hơn pháp lý, cùng mục đích làm giàu.    + Nhà khoa học (các viện, trường, cơ sở nghiên cứu và cá nhân) cung cấp các sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng thành công cho nông dân bằng cách bán lại cho cơ quan Nhà nước để chuyển giao lại hoặc bán trực tiếp cho nông dân, HTX. Thúc đẩy mua bán các nghiên cứu sáng tạo mới mong có KH&CN phát triển.  + Nhà nước đưa ra chế tài pháp luật, giúp công nhận, bảo vệ bản quyền sáng chế, làm trọng tài đối với các hợp đồng kinh tế giữa các “nhà” với nhau. Đây là công cụ hữu hiệu nhất cho hợp tác bền vững.   Một số giải pháp  1/ Mở rộng liên kết nghiên cứu khoa học, nâng cao hiểu biết sâu về một vùng đất trẻ đã “thâm canh” 200 năm nhưng vẫn còn nhiều điểm “hoang hóa” trong nhận thức của chủ nhân ông của nó. Đặc biệt về mặt văn hóa lịch sử, phải khẩn trương tiến hành nghiên cứu nền Văn minh Óc Eo để tìm câu trả lời cho một vấn đề bức thiết là: Dân tộc Phù Nam là dân tộc như thế nào, tồn tại ra sao? Lãnh thổ và tổ chức đời sống người Phù Nam xưa như thế nào? Vì sao họ biến mất? Hơn nữa, có thể vấn đề “biển tiến – biển lùi” qua nghiên cứu khảo cổ sẽ dạy cho ta bài học về “sống chung với mặn”.  2/ Phải có chiến lược tổng thể đa mục tiêu. Quy hoạch phải thống nhất ở cấp lưu vực sông. Lấy nước và đất làm cơ sở, rồi từ đó xét các vấn đề hạ tầng kinh tế xã hội khác. Còn nếu cứ quy hoạch theo kiểu mạnh ai nấy làm thì tiếp tục tan nát đồng bằng. Do đó, tôi đề nghị nghiên cứu nhập Tổng cục Thủy lợi vào Bộ TN&MT để thống nhất quản lý hành chính và khoa học kỹ thuật chuyên ngành về đất và nước, trong đó có nước cho nông nghiệp, nước cho công nghiệp và cả nước cho sinh hoạt, tránh tình trạng quản lý “hai bộ cùng với…” đang có kẽ hở.  3/ Đầu tư giao thông trong vùng ĐBSCL: Nên đầu tư vào các quốc lộ bằng ngân sách quốc gia, hạn chế BOT các con đường huyết mạch không phải quốc lộ để thể hiện trách nhiệm Nhà nước và công bằng xã hội, sòng phẳng với nông dân. Bởi vì toàn bộ cầu đường nông thôn, hệ thống đê bao khép kín căn bản là do nông dân ĐBSCL góp sức xây dựng, trong khi đó họ đã sản xuất cứu đói, cứu nguy những năm 1986 – 1989 và xuất khẩu gạo, cá tra, cá basa từ năm sau đổi mới tới nay mang về bao nhiêu là ngoại tệ!  4/ Tạo mọi điều kiện phát triển doanh nghiệp tư nhân tham gia xây dựng mô hình kinh tế ĐBSCL. Không giao nhiệm vụ kinh doanh cho cơ quan hoặc doanh nghiệp Nhà nước. (vai trò lịch sử của doanh nghiệp nhà nước qua rồi). Nhà nước chỉ quản lý hành chính, nghiên cứu KH&CN; có chính sách khuyến khích sản phẩm mới, tận dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp, phát triển cây dược liệu, phát triển năng lượng tái tạo; tăng thuế hoặc phạt nặng cơ sở sản xuất gây ô nhiễm; ưu đãi cơ sở sử dụng lao động tại chỗ. Tăng cường vai trò trọng tài của nhà nước trong quản lý kinh tế – xã hội mà từ lâu bị buông lơi hoặc không làm.  5/ Tạo sự liên kết tương hỗ, gắn bó giữa hai vùng kinh tế ĐBSCL và TP. Hồ Chí Minh vốn đã có mối liên hệ hàng trăm năm trong lịch sử. Trong đó, đầu tư trường học, giao thông trên vùng ĐBSCL cũng chính là đầu tư trực tiếp cho TP. Hồ Chí Minh và ngược lại. Ví dụ, xây dựng Quốc lộ 1 từ Bình Chánh về Cà Mau không thể nào chỉ có lợi riêng cho các tỉnh! Các trường học trong vùng đào tạo lao động trẻ không chỉ để làm nông nghiệp cho tỉnh!  6/ Công cụ “đo lường” hiệu quả quản lý nhà nước: Đề nghị không để tỉnh tính GDP ở cấp tỉnh (mà phải do Tổng cục Thống kê công bố và cấp nào cũng phải sử dụng). Phát triển không chạy theo GDP bằng mọi giá theo cách làm mang tính thi đua như lâu nay mà phải có lấy ý kiến người dân, theo dõi dư luận xã hội về các hạng mục cụ thể trong quá trình xây dựng, phát triển như: Cầu đường, trường học, an ninh – an toàn – trật tự – vệ sinh công cộng, bộ mặt xã hội và quan hệ đối xử giữa người với người v.v… Phát huy vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ Quốc, của báo chí – truyền thông – dư luận xã hội, nhất là trực tiếp ở địa phương.  7/ Nên để tiền thuế lại cho TP. Hồ Chí Minh với tỷ lệ thích hợp, công bằng, đủ sức xây dựng – phát triển, vì xây dựng cho TP. Hồ Chí Minh cũng là cho ĐBSCL, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. TP. Hồ Chí Minh nếu không là “đòn gánh” thì cũng là “đòn bẩy” cho toàn Nam Bộ và cả nước. Tháng 6 vừa qua Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhận định, nếu GDP TP. Hồ Chí Minh tăng 1% thì GDP cả nước tăng 0,21%. TP. Hồ Chí Minh góp 22% GDP và 30% ngân sách quốc gia. Kinh tế TP. Hồ Chí Minh yếu là cả nước yếu và ngược lại. Không nơi nào thay thế được vai trò đó. Nhưng TP. Hồ Chí Minh cũng không thể “đơn độc” mạnh lên mà thiếu Đông Nam Bộ và hai “Tây” – Tây Nam, Tây Nguyên liên kết. Dư luận không thể chấp nhận tình hình trầy trật vì thiếu vốn tại công trình Metro TP. Hồ Chí Minh hiện nay, trong khi các Bộ và thành phố đổ lỗi cho nhau! Ai xử?  8/ Kiện toàn các cơ quan chức năng, tránh tình trạng “Bộ này cùng Bộ kia phối hợp…”    Author                Nguyễn Minh Nhị        
__label__tiasang Mô hình phát triển nông nghiệp bền vững của Malaysia      Ấn tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời khoa học của tôi có lẽ là buổi gặp gỡ với Thủ tướng Tunku Abdul Rahman của Malaysia vào tháng 6-1968 khi ngài tiếp đoàn thanh niên châu Á đang viếng đất nước cựu thuộc địa Anh sản xuất nhiều cao su và kẽm nhất thế giới này. Ông Tunku say sưa giảng cho bọn thanh niên chúng tôi rằng trong vòng 20 năm nữa Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ.    Nhóm thanh niên chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó, nhất là khi chúng tôi không hiểu rõ cây cọ dầu là thứ gì mà được chú ý hơn cây lúa như vậy. Ông Tunku giải thích: chọn cây cọ dầu làm cây chiến lược, vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, chắc chắn mọi người – nhất là những người giàu- sẽ là khách hàng thường xuyên.  Thị trường là mắt xích được xác định đầu tiên trong kế hoạch phát triển nông thôn tổng hợp. Các khâu kế tiếp được tổ chức một cách đồng bộ nhắm vào đích chiếm lĩnh thị trường bằng một loạt biện pháp chính sách. Chiến lược của Thủ tướng Tunku nhằm vào hai đối tượng: các doanh nghiệp có vốn sản xuất và hàng vạn người dân nghèo ở thành phố và nông thôn không đất đai canh tác.  Đối với doanh nghiệp đang sản xuất, Ông Tunku đặt ra chính sách khuyến khích họ hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu, cụ thể là Chính phủ đầu tư nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được đưa cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn nông dân. Đồng thời Chính phủ công bố chính sách miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn thuế năm năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu. Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu, Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.   Đối với dân nghèo, không đất canh tác, Ông Tunku giao cho Bộ Nông nghiệp và Bộ Kế hoạch qui hoạch vùng sản xuất trên đất rừng đang khai thác, giao cho FELDA (Cơ quan phát triển đất đai Liên bang Malaysia, thành lập năm 1956) là một tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững rất thành công của Malaysia, lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi là nông trường FELDA) trên các vùng qui hoạch ấy. Vốn Ngân hàng Thế giới được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo qui định của Ngân hàng Thế giới. Chủ hộ được ngành nông nghiệp hướng dẫn trồng cây cọ dầu, nhận phân bón và các vật liệu khác. Khi cây cọ có trái, chủ hộ thu hoạch trái cọ dầu, giao cho nhà máy sơ chế trong nông trường, và bắt đầu được trừ nợ. Phần lớn họ trả xong nợ trong vòng 15 năm, cái nhà và lô đất hoàn toàn thuộc quyền sở hửu của chủ hộ. Song song với hoạt động nghiên cứu nông nghiệp, Nhà nước lập Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu. Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục Xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu các mặt hàng từ dầu cọ. Tố chất “đồng bộ” trong thực hiện kế hoạch phát triển nông công nghiệp và thương mại dầu cọ trên đây đã bảo đảm ngôi vị quốc gia xuất khẩu dầu cọ số 1 thế giới từ năm 1988, đúng như đường hướng vạch ra 20 năm trước của vị lãnh tụ chiến lược tài giỏi của Malaysia. Con đường dẫn đến thành công của mô hình này rất đáng để những nhà lãnh đạo Việt Nam áp dụng sớm hầu có thể chấm dứt nạn nông dân mất đất không nơi làm ăn sinh sống như hiện nay.  Từ cơ sở này, trong bối cảnh đất chật, người đông, chúng tôi đề xuất: chúng ta nên mạnh dạn dẹp bỏ tâm lý “lấn rừng” để tổ chức trồng mới một số cây đặc sản của từng vùng sinh thái trên đất nước ta, thí dụ như vùng sinh thái Phú Quốc có cây tiêu, cây sim; vùng sinh thái đồng bằng bắc bộ có cây vải thiều, khoai tây, v.v. Những người dân bị thu hồi đất và dân không đất đai nhà cửa sẽ được nhận vào thực hiện các dự án phát triển công nông nghiệp và du lịch sinh thái. Quỹ tiền thay vì dung để đền bù cho dân bị thu hồi đất sẽ dùng cho xây dựng khu trang trại, còn thiếu sẽ vay Ngân hàng Đầu tư Phát triển. Người dân được di dời về đây, không chỉ thu hoạch và bán nông sản chất lượng cao và thuần nhất, và nhiều nông sản khác cho doanh nghiệp xuất khẩu mà còn kinh doanh thông qua hình thức “du lịch nhà vườn, thưởng thức đặc sản” vừa tăng thêm mô hình hấp dẫn du khách, vừa góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Khi đó, người dân sẽ dồn sức chăm sóc vườn cây của mình làm tốt chức năng che phủ hơn cả nền rừng nghèo trước đó. Còn Nhà nước cũng không phải nơm nớp canh người dân nghèo khai thác tài nguyên rừng kiếm sống với những hệ lụy khó lường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình quản trị trên tàu sân bay Mỹ      Siêu tàu sân bay USS Carl Vinson của Hải quân Hoa Kỳ (vừa thăm Việt Nam) được vận hành và quản trị theo một mô hình đặc biệt, đòi hỏi sự chính xác và độ tin cậy cực kỳ cao, gọi là High Reliability Organization.      Siêu tàu sân bay hạt nhân USS Carl Vinson của Hải quân Mỹ.  USS Carl Vinson là một trong mười siêu tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz – lớn nhất của Hải quân Hoa Kỳ (trước khi bị thay thế bởi tàu sân bay lớp Gerald R. Ford), có thể hoạt động liên tục trong 20 năm mà không cần tiếp nhiên liệu nhờ trang bị lò phản ứng hạt nhân Westinghouse thế hệ bốn (A4W). Quy mô của nó lớn tới mức có thể mang theo 90 máy bay, gần 6000 binh sĩ, chuyên viên và thủy thủ đoàn – nhân khẩu thậm chí đông hơn dân số của một thành phố nhỏ. Trên thành phố nổi này có cả quầy phục vụ cà phê Starbucks, phòng khám nha khoa, phòng tập thể dục, phòng hát karaoke, nhà nguyện phục vụ nhu cầu tâm linh của các tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật giáo, … Thậm chí, bếp ăn trên tàu còn có thể hoạt động 24/7 và phục vụ 15.000 suất ăn mỗi ngày.  Nhịp sống trên USS Carl Vinson là một chuỗi những hoạt động liên tục. Mỗi ngày, các chiến đấu cơ đều cất – hạ cánh liên tục, thực hiện những nhiệm vụ tuần tra kéo dài hàng giờ trên các vùng biển xung quanh để chuẩn bị cho những tình huống bất ngờ. Do vậy, hoạt động tập huấn chiếm phần lớn thời lượng trên tàu sân bay, với biên độ sai sót luôn phải ở mức cực kỳ nhỏ, thậm chí bằng không. Tại những môi trường như vậy, tinh thần kỷ luật là điều kiện tiên quyết, tất cả mọi thành viên đều luôn phải ở trong trạng thái sẵn sàng từng phút từng giây.  Giá trị của tàu sân bay nằm ở khả năng triển khai sức mạnh không giới hạn, là biểu tượng và niềm tự hào về quân sự, kinh tế, chính trị của quốc gia sở hữu. Trên thế giới, cũng chỉ một vài nước là có đủ tiềm lực tài chính lẫn công nghệ – bao gồm cả tri thức quản trị, để có thể chế tạo và vận hành loại phương tiện chiến tranh này.  Tổ chức tin cậy cao  Trong khoa học quản trị, người ta xếp hệ thống vận hành trên các tàu sân bay vào loại High Reliability Organization (HRO) – tức Tổ chức Tin cậy cao, được thiết kế đặc biệt để có thể đối phó, hay để phòng tránh những thảm họa gây ra từ các sự cố thông thường do nhiều nhân tố rủi ro và môi trường hoạt động phức tạp (complexity).  Đặc điểm chung của các tổ chức dạng này là: Chúng thường hoạt động trong những môi trường (chính trị – xã hội) mà các sai lầm là không được phép hay không thể tha thứ; Các HRO thường sử dụng và vận hành những công nghệ ẩn chứa rất nhiều nguy hiểm và khả năng để xảy ra lỗi là thường trực; Quy mô của hậu quả do những sai sót tưởng như rất bình thường, nhưng có thể cực kỳ nghiêm trọng, thậm chí trở thành thảm họa, do đó không cho phép thử nghiệm để học hỏi; …  Thử tưởng tượng, chỉ một vật thể lạ rơi rớt trên sàn tàu sân bay (như con ốc) cũng có thể gây ra thảm họa khôn lường mỗi khi chiến đấu cơ cất và hạ cánh. Hay trong một số nhiệm vụ như vận chuyển và lắp ráp vũ khí (tên lửa, bom, thậm chí có gắn đầu đạn hạt nhân) lên thân máy bay chiến đấu, các chuyên viên kỹ thuật vẫn phải thực hiện bằng tay không [thay vì máy móc], cho nên rủi ro là hoàn toàn có thể xảy ra.    Công đoạn gắn tên lửa, bom lên thân máy bay F/A-18 được thực hiện bằng tay.    Trên thế giới, đã có nhiều bài học về những vụ tai nạn khủng khiếp trong khi vận hành các hệ thống phức tạp, xuất phát từ những lỗi lầm rất nhỏ, điển hình như vụ lõi lò phản ứng của Nhà máy Điện hạt nhân Three Mile Island bị nóng chảy (1979, Mỹ), nổ tàu con thoi Challenger (1986, Mỹ) và Columbia (2003, Mỹ), rò rỉ hóa chất ở Bhopal (1984, Ấn Độ), vụ đâm máy bay Tenerife (1977, Tây Ban Nha), và vụ cháy rừng Mann Gulch (1949, Mỹ), …  Những nghiên cứu đầu tiên về HRO được thực hiện vào cuối thập niên 1980 bởi một nhóm các nhà khoa học tại Đại học California, Berkekey là Todd LaPorte, Gene Rochlin và Karlene Roberts khi tiến hành khảo sát hoạt động của những tổ chức “không được phép mắc lỗi” như Tàu sân bay (phối hợp cùng Đô đốc Tom Mercer, chỉ huy tàu USS Carl Vinson); Hệ thống kiểm soát không lưu của Cục Quản lý hàng không Liên bang; Nhà máy điện hạt nhân Diablo Canyon của Tập đoàn Pacific Gas và Electric Company. Sau một hội thảo chuyên đề tại Đại học Texas (tháng 4/1987), các nhà nghiên cứu bắt đầu mở rộng mô hình HRO sang các hệ thống trong những lĩnh vực khác như cứu hỏa, bệnh viện, hệ thống chăm sóc y tế, …  Cho đến nay, vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh việc định nghĩa và xác định thế nào là một HRO. Những nghiên cứu đầu tiên tại Berkekey, như của Roberts (1990, 1993), đã đi theo hướng định nghĩa HRO dựa trên năng lực vận hành của các tổ chức mà không để xảy ra sự cố theo thời gian. Theo đó, nếu như trong suốt quá trình hoạt động, tổ chức tránh được những thảm họa có nguy cơ xảy ra với xác suất lên đến hàng nghìn lần, thì tổ chức đó được xem là đáng tin cậy. Tuy nhiên, cách định nghĩa trên bị chỉ trích vì quá bao gồm và chẳng giúp ích gì nhiều cho việc nhận diện các HRO. Lý giải cho điều này, bởi vì các nghiên cứu truyền thống về HRO thường được thực hiện dựa trên những thống kê tai nạn để làm bằng chứng cho thấy một tổ chức có đáp ứng được các tiêu chí về độ tin cậy cao, tuy nhiên những số liệu kiểu này lại bị chỉ trích vì thiếu tính khách quan. Nhằm giải quyết vấn đề trên, Rochlin (1993) đã đề xuất HRO nên được phân biệt dựa trên cách thức mà tổ chức quản lý, vận hành những công nghệ phức tạp và rất dễ phát sinh rủi ro, nhờ vào cơ chế kiểm soát theo tiến trình đối với tất cả các nguy cơ lẫn xác suất xảy ra chúng.  Thiết kế đặc biệt để chịu lỗi  Nhằm đạt được độ tin cậy mong muốn và duy trì hồ sơ an toàn gần như “tuyệt đối”, hoạt động của các HRO cần luôn phải tuân thủ những quy trình được thiết kế đặc biệt để có thể chống chọi hay chịu lỗi. Trong đó nhấn mạnh năm nguyên tắc:  – Thứ nhất, nhạy cảm trong hoạt động. Điều này đòi hỏi cả lãnh đạo lẫn cấp dưới thừa hành của các HRO thường xuyên nhận thức về những gì đang diễn ra, về ảnh hưởng của quy trình đối với sự vận hành của cả hệ thống. Do đó, mọi thành viên được khuyến khích chú ý đến từng chi tiết, dù là nhỏ nhất, và không có chỗ cho sự “phỏng đoán”. Chỉ tập trung cao như vậy mới đem lại những quan sát sâu sắc nhằm cung cấp thông tin chính xác cho việc ra quyết định, và có những sáng kiến mới cho hoạt động của tổ chức.  – Thứ hai, không bao giờ hài lòng, chấp nhận những lý giải quá giản đơn, nhất là với các lỗi lầm. Mặc dù sự đơn giản hóa các hoạt động nhiều khi cũng đem lại lợi ích (như tiết kiệm thời gian, chi phí), nhưng các HRO nhận thấy điều này mang lại rủi ro, giống như việc vẽ tranh chỉ bằng các nét bút lớn. Vì thế, tất cả các thành viên cần được khuyến khích liên tục đào bới, hoài nghi, đặt câu hỏi cho đến khi tìm ra đúng nguồn gốc, căn nguyên của vấn đề cụ thể.  – Thứ ba, thường xuyên ưu tư với thất bại. Trên các HRO, thành viên ở mọi phòng ban, cấp bậc, luôn được khuyến khích suy nghĩ về những rủi ro và cách thức tiềm ẩn có thể khiến cho quy trình hoạt động của tổ chức đổ vỡ, và chia sẻ, ngay cả những vấn đề nhỏ nhất.  – Thứ tư, tôn trọng chuyên gia. Lãnh đạo của các HRO thường lắng nghe ý kiến của những cá nhân giàu chuyên môn, kiến thức, bất kể thâm niên, cấp bậc, đặc biệt là đối với nhiệm vụ đang thực hiện. Mọi nhân viên được khuyến khích để nói lên mối quan tâm và ý tưởng trong đầu mình.  – Thứ năm, các HRO có tính chống chịu cao nhờ môi trường học hỏi và đào tạo liên tục. Ngay cả các lãnh đạo cũng thường xuyên phải học để trang bị cách thức ứng phó với những thất bại và tìm ra giải pháp mới, cho cả những vấn đề không mong đợi. Mặc dù HRO vẫn không thể tránh khỏi xác suất để xảy ra sai sót, nhưng điều quan trọng là nó có khả năng phục hồi và giải quyết vấn đề nhanh chóng để ngăn ngừa thảm họa. Đào tạo cũng là phương thức hữu hiệu giúp xây dựng niềm tin và sự tín nhiệm giữa các thành viên trong cùng tổ chức.  Thay lời kết  Nhìn chung, hầu hết tất cả các HRO thành công đều là những tổ chức liên tục tự làm mới mình, trước sức ép cực lớn từ những nguy cơ thường xuyên phải đối mặt. Hiện nay, ngoài hệ thống kiểm soát không lưu và một số cơ sở nhỏ (để phục vụ nghiên cứu) như lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, Việt Nam chưa có điều kiện để sở hữu, vận hành những HRO lớn và phức tạp như tàu sân bay, hay thiết thực hơn là nhà máy điện hạt nhân cho nhu cầu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, có lẽ đã tới lúc chúng ta nên có sự quan tâm đúng mực hơn dành cho lĩnh vực này.  Tham khảo  1. Roberts, K. (1990). Some characteristics of one type of high reliability organisation. Organization Science, 1 (2), 160-176.  2. Roberts, K. (1993). Cultural characteristics of reliability enhancing organisations. Journal of Managerial Issues, 5 (2), 165-181.  3. Rochlin, G. I. (1993). Defining “high reliability” organizations in practice: a taxonomic prologue. In K. H. Roberts (Ed.), New challenges to understanding organizations (pp. 11-32). New York: Macmillan.       Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Mở rộng dân chủ qua cách lắng nghe dân      Cuộc đình công của công nhân Công ty  Pou-Yuen Việt Nam phản đối Luật Bảo hiểm Xã hội, hay xu hướng phản đối  của người dân Hà Nội trước việc chính quyền triển khai chặt hạ 6.700 cây  xanh trong thành phố, là những ví dụ cho thấy nhà nước chỉ tiếp thu  tiếng nói của người dân khi chính sách đã hoặc sắp sửa đi vào đời sống,  và nhân dân hầu như không được thông tin từ sớm để có cơ hội tham gia  góp ý dự thảo chính sách.    Trên  thế giới, tính dân chủ trong công tác  thông tin tới người dân về nội  dung các luật, chính sách, dự án của nhà  nước có thể chia thành ba cấp  độ.    Ở cấp độ thấp nhất, nhà nước chỉ thuần  túy  làm công tác tuyên truyền, nghĩa là thông tin hầu như chỉ chạy một   chiều từ phía nhà nước tới người dân, trong khi tiếng nói phản biện của   người dân cất lên rất hạn chế; ở cấp độ thứ hai, giữa nhà nước và người   dân có sự trao đổi thông tin hai chiều dựa trên một cơ chế hữu hiệu  cho  phép nhà nước đối thoại với nhân dân một cách nhanh chóng, cởi mở,  kịp  thời; và ở cấp độ thứ ba, cơ chế trao đổi thông tin được tiến lên  một  bước nữa khi người dân không chỉ bày tỏ ý kiến mà còn có thể trực  tiếp  đàm phán các lợi ích liên quan đến mình.  Nhìn vào thực trạng ở Việt Nam, có thể thấy chúng ta đang ở đâu đó dưới cấp độ hai, bởi người dân vẫn chưa có nhiều cơ hội tham gia ý kiến về các luật, chính sách liên quan tới lợi ích của họ, đặc biệt trong giai đoạn còn đang ở bước xây dựng dự thảo. Cuộc đình công của công nhân Công ty Pou-Yuen Việt Nam phản đối Luật Bảo hiểm Xã hội, hay xu hướng phản đối của người dân Hà Nội trước việc chính quyền triển khai chặt hạ 6.700 cây xanh trong thành phố, là những ví dụ cho thấy nhà nước chỉ tiếp thu tiếng nói của người dân khi chính sách đã hoặc sắp sửa đi vào đời sống, và nhân dân hầu như không được thông tin từ sớm để có cơ hội tham gia góp ý dự thảo chính sách.  Có thể thông cảm phần nào với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam bởi nhận thức về tính dân chủ trong công tác thông tin của nhà nước tới người dân không phải bỗng nhiên có, mà là một quá trình phát triển. Nhìn sang nước Pháp, một quốc gia phát triển đã có thể chế tương đối ổn định hàng trăm năm, nhưng tới giữa thế kỷ 20 người ta vẫn quen với cách thông tin một chiều, kể cả với những vấn đề nhạy cảm dễ gây tranh cãi như xây dựng nhà máy điện hạt nhân1. Phải tới những năm 1990 nước Pháp mới thành lập ra Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia (Commission Nationale du Débat Public), một cơ quan độc lập với chính phủ, có trách nhiệm tổ chức các cuộc thảo luận công khai của công chúng về lợi ích quốc gia, ảnh hưởng kinh tế – xã hội, tác động môi trường liên quan tới các dự án đầu tư quan trọng, đồng thời chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính minh bạch, đầy đủ của thông tin về dự án mà công chúng được tiếp nhận. Thời gian công chúng thảo luận kéo dài từ 13 tới 15 tháng, đủ để họ được cung cấp mọi thông tin cơ bản và đặt các câu hỏi về dự án, đồng thời qua đó các cấp quản lý và chủ đầu tư được tiếp thu ý kiến phản hồi từ các nhà khoa học, các tổ chức môi trường, và đông đảo các tầng lớp công chúng khác. Nếu qua được giai đoạn này, dự án còn phải trải qua một-hai tháng lấy ý kiến đồng thuận của nhân dân địa phương gần địa điểm đầu tư, trong đó người dân địa phương không chỉ được quyền đặt ra mọi câu hỏi mà còn có thể thỏa thuận với chủ đầu tư dự án về các lợi ích họ muốn được tiếp nhận. Tương tự như Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia, ở cấp địa phương, Pháp lập ra các Ủy ban Thông tin Địa phương (Local Information Commission) cũng là những cơ quan độc lập, vừa chịu trách nhiệm về tính minh bạch thông tin các dự án, vừa là cầu nối giữa công chúng với chủ đầu tư.  Đối chiếu vào thực tiễn Việt Nam hiện nay, câu hỏi đặt ra là vì sao các tổ chức, đoàn thể đại diện cho tiếng nói của quần chúng nhân dân như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chưa tổ chức được những cuộc thảo luận rộng rãi giữa nhân dân với chính quyền cùng các bên liên quan về các dự thảo luật, chính sách liên quan đến lợi ích quốc gia và cá nhân họ tương tự như Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia của Pháp từ cách đây 20 năm? Đặc biệt trong bối cảnh xu hướng thông tin qua các mạng xã hội trong thời gian gần đây đang thay đổi cục diện chính trị xã hội các quốc gia từng ngày từng giờ, cho thấy ý thức tham gia tiếng nói của người dân ngày càng tăng, kể cả ở những nước đang phát triển, thì phương thức điều tiết dòng thông tin theo một chiều như trước đây đã không còn phù hợp, và nhất thiết các chính quyền phải có cơ chế đối thoại với nhân dân một cách chủ động, rộng rãi, thẳng thắn, và cởi mở.  —————————————  1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News= 4684&CategoryID=36       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở và Vô hình      Chỉ với Mở và Vô hình, đổi mới sáng tạo mới có khả năng phát triển mạnh nhất.      Trên thế giới, châu Âu và Mỹ cũng đang hiện thực hóa mô hình này: châu Âu nổi bật với khoa học mở, bao trùm cả truy cập mở, dữ liệu mở, giáo dục mở.  Mô hình đổi mới sáng tạo MỞ có những nguyên tắc của nó. Một trong các nguyên tắc cơ bản là grassroot, nghĩa là đi từ dưới lên, từ những người dân thường mà lên, nó là khác biệt so với các mô hình khác, thường chỉ dựa vào nhóm Elite. Tuy nhiên, với thực trạng của Việt Nam, thì không chỉ từ dưới lên, mà cần tới các tác động từ tất cả các phía, theo kiểu: trên xuống, dưới lên, tứ bên đánh vào thì mới hiệu quả.  Văn hóa. Mô hình đổi mới sáng tạo MỞ là không dễ ở Việt Nam từ góc nhìn văn hóa. Văn hóa lúa nước, tiểu nông đặt lợi ích của cá nhân lên trên tất cả, câu hỏi thường thấy là “của tôi đâu?” là trở ngại lớn nhất cho cả dân tộc tiến lên theo con đường MỞ, vì MỞ – cơ bản nhất – dựa vào việc chia sẻ để hiện thực hóa nguyên lý cộng lực. Nếu chỉ “của tôi đâu” thì không có chia sẻ; không có chia sẻ thì sẽ không có MỞ. Con đường để đi từ “của tôi đâu?” sang “của chúng tôi đâu?” có lẽ là còn rất dài.  Giáo dục. Sẽ không thể hiện thực hóa các con đường Mở, xây dựng Cộng đồng hay làm “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” nếu chỉ dựa vào các doanh nghiệp. Không thể xây dựng cộng đồng những lập trình viên, các nhà phát triển nếu chỉ dựa vào các doanh nghiệp. Chỉ có giáo dục mới thực sự là nơi để đào tạo ra những con người có tư duy MỞ, sống và làm việc theo các nguyên tắc MỞ và xây dựng các cộng đồng MỞ, đặc biệt là giới công nghệ thông tin (CNTT). Cũng chính giáo dục mới có thể cung cấp một cách bền vững nhân lực có đủ tri thức và các kỹ năng cần thiết cho các doanh nghiệp và xã hội. Để làm được việc này, trước hết giáo dục CNTT trong các trường phổ thông từ cấp tiểu học trở đi cần phải có dũng khí để từ bỏ hoàn toàn và vô điều kiện cách giáo dục CNTT chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất. Trong khi đầu tư vào giáo dục MỞ ở đại học là theo cách “ăn xổi” – sau 4-5 năm sẽ có lứa đầu nhưng vẫn phải mất công sức, tiền bạc và thời gian để chuyển đổi từ đóng sang mở – thì đầu tư vào giáo dục MỞ ở bậc tiểu học là theo cách “đi đường dài” – sau 15-17 năm mới cho ra lứa đầu nhưng đổi lại, không phải mất công chuyển đổi từ đóng sang mở. Chỉ giáo dục MỞ mới đảm bảo được cho từng công dân Việt Nam có khả năng có được tri thức nhân loại lớn nhất với chi phí nhỏ nhất và với số lượng người được tiếp cận các tri thức lớn nhất và là cách nhanh nhất để có được các kỹ năng cần thiết để sống, làm việc và học tập trong kỷ nguyên số – kỷ nguyên tri thức. Trong kỷ nguyên số – kỷ nguyên tri thức, nếu không có tri thức và các kỹ năng cần thiết ngang bằng với những phần còn lại của thế giới, chắc chắn sẽ biến Việt Nam thành quốc gia bị trị và các công dân của nó là các công dân bị trị. Cũng chỉ giáo dục MỞ mới có khả năng tạo ra lớp các lập trình viên thế hệ sau này có khả năng hiểu biết hệ thống CNTT-TT để từ đó đảm bảo được an toàn an ninh thông tin các hệ thống mạng của Việt Nam, điều mà thế hệ các lập trình viên hiện nay của Việt Nam, được giáo dục trong môi trường ĐÓNG, không có cách gì làm được – không làm chủ được công nghệ mà nói “đảm bảo an toàn an ninh mạng” chỉ là nói liều.  Khi có hàng triệu người đi với MỞ, thì làm cách mạng công nghiệp lần thứ 4 chắc không còn khó, vì hàng triệu người đó sẽ được trang bị đủ các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho tương lai của Việt Nam, bao gồm cả về triết lý, pháp lý, cách tổ chức cộng đồng, mô hình phát triển, mô hình kinh doanh, mô hình cấp phép và nhiều điều liên quan khác của thế giới MỞ.  Với MỞ, đổi mới sáng tạo dựa vào tri thức đã có của nhân loại là không có giới hạn!!!    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Mốc biên giới đóng từ 0 đến 1      Nhìn tổng thể phát triển kinh tế và công nghệ, lẫn dịch chuyển xã hội, Việt Nam đang chứng kiến đồng thời sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế số, đi kèm với gia tăng các rủi ro về an ninh mạng. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và thảo luận một cách cẩn trọng, khoa học về vấn đề này.      Làm mọi thứ chỉ với 1 chiếc điện thoại, và nguy cơ ‘chết trong một nốt nhạc’  Nhiều lần sau những chuyến đi công tác, khi vừa rời cửa máy bay xuống sân bay Nội Bài, bật điện thoại lên, tôi đã nhận được những tin nhắn chào mời từ các hãng taxi. Chuyện đó đã xảy ra từ lâu, vài năm trước khi vụ việc tương tự được đưa lên mặt báo vào năm ngoái. Công nghệ đã làm mọi thứ trở nên tiện lợi, nhưng những rắc rối cũng sẽ là không nhỏ. Thay vì đi ra phòng vé mua vé, rồi lên sân bay xếp hàng; nay tôi có thể ngồi nhà, với smart phone có thể vào mua vé, đặt chỗ, và đến giờ chỉ lên thẳng sân bay. Tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí. Nhưng lợi cũng đi kèm với hại: những tin nhắn chào mời dịch vụ taxi cũng tự động ‘chui’ vào điện thoại tôi theo những cách nào đó.  Có thể những tin nhắn kể trên chỉ gây một chút phiền toái vô hại, nhưng thử hỏi nếu thông tin cá nhân của tôi không được bảo mật tốt, điều gì sẽ xảy ra nếu hồ sơ bệnh án của tôi bị lọt ra ngoài cũng theo ‘một cách nào đó’ tương tự? Điều đó là hoàn toàn có thể. Ngày nay mỗi khi vào viện, bệnh án điện tử có thể lưu hồ sơ của tôi đầy đủ chi tiết. Một mặt, điều tiện là chỉ cần gặp bác sỹ thôi, và quay ra quầy thuốc mua thuốc về mà không cần ôm tập hồ sơ bệnh án dày cộp. Và mỗi lần tái kiểm tra sức khỏe, tôi chỉ cần nhớ số chứng minh thư và trở lại bệnh viện mà không cần ôm chồng hồ sơ cũ. Nhưng nếu bệnh viện bảo mật không tốt, rất có thể, một ngày hồ sơ sức khỏe tôi sẽ tràn ngập trên mạng xã hội. Về lý thuyết, tôi có thể khởi kiện ra tòa bên làm lộ bí mật của tôi – nhưng với tốc độ chia sẻ thông tin tính bằng giây, bằng phút của công nghệ ngày nay, tòa án hay các thiết chế công quyền chưa kịp bảo vệ tôi, tôi đã ‘tiêu đời’ rồi. “Được vạ thì má đã sưng’ – ông bà ta nói thế; nhưng ngày nay, chưa được vạ thì đã ‘chết trong một nốt nhạc’ – đúng như cách nói thời thượng ngày nay của ‘dân cư mạng’. Internet và thiết bị số quả thực đã giúp cuộc sống và công việc thuận tiện đi rất nhiều trên nhiều phương diện, nhưng đổi lại, mối lo khác đang hiện hữu trên đầu hàng tỉ người dùng internet: bảo mật hồ sơ tài chính, hồ sơ sức khỏe, những vấn đề riêng tư cá nhân khác đang mong manh hơn bao giờ hết.  Dân lo, nhà nước cũng lo  Nhưng nỗi lo không chỉ đơn giản ở cấp độ cá nhân – mà các nhà nước, chính phủ, cũng đang phấp phỏng với nỗi lo về chủ quyền quốc gia, về quyền lực nhà nước trên không gian mạng. Không lo sao được, khi tội phạm mạng có thể ngồi từ bất kỳ đâu trên toàn cầu, chỉ với một cái máy tính hay điện thoại nối mạng đã có thể tấn công vào bất cứ hạ tầng số, tài nguyên số của quốc gia, của công dân nước đó. Chưa nói đến việc phức tạp về kỹ thuật: xác định nơi tấn công, người tấn công; có xác định được rồi, việc truy tố xử lý một cá nhân ngoài biên giới, tức là ngoài chủ quyền tài phán, cũng là hết sức vất vả. Chính quyền của nước Mỹ, quốc gia mạnh nhất toàn cầu là thế, mà chính trị nội bộ – cả toàn bộ cuộc bầu cử tổng thống, bị ảnh hưởng và chi phối từ các hãng công nghệ ở Nga – và vẫn đau đầu chưa có một giải pháp nào hữu hiệu.  Đấy là chưa nói đến công nghệ vẫn tiếp tục thay đổi. Hiện nay, ‘cá mập’ còn có thể cắn cáp – một quốc gia có thể yêu cầu một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet trong nước tác động vào hạ tầng internet để ‘bóp’ đường truyền, chặn một website, một dịch vụ nào đó không ‘ưng ý’. Nhưng một khi sóng wifi được phủ toàn cầu bằng công nghệ vệ tinh – đến lúc đó, việc ‘bóp đường truyền’ của doanh nghiệp trong nước cũng là vô ích. Và điều đó không hề là lo lắng hão huyền – các công ty công nghệ, điển hình như Tesla đã thử nghiệm thành công và có kế hoạch thương mại hóa các công nghệ tương tự.  Rồi sự bùng nổ của tiền mật mã (crypto currency) – đe dọa luôn thành lũy tưởng như vững chắc nhất của chủ quyền tối cao của Nhà nước – quyền phát hành tiền tệ. Hiện nay nhiều quốc gia đang cấm công dân của mình thanh toán bằng tiền mật mã. Nhưng quốc gia, như Việt Nam chẳng hạn, có thể cấm công dân của mình chuyển đổi trực tiếp từ tiền mật mã ra tiền Việt Nam, nhưng không thể ngăn cản công dân đó dùng tiền mật mã, mua đồ trên Amazon hay một trang thương mại điện tử nào đó chấp nhận tiền mật mã; và từ đó chuyển hàng về Việt Nam để sử dụng. Mà ‘chợ điện tử’ ngày nay – cũng như ‘đi chợ điện tử’ bằng ‘ví điện tử’ – đã là điều thông dụng với công dân toàn cầu.  Những khái niệm ‘chủ quyền quốc gia’, ‘quyền lực nhà nước’ đang bị thách thức và đặt ra yêu cầu cấp bách phải định nghĩa lại, phải hiểu lại – trên một không gian mới ‘không gian internet toàn cầu’.  Việt Nam, kinh tế số, an ninh mạng, quyền riêng tư, và những thách thức chính sách  Nhìn tổng thể phát triển kinh tế và công nghệ lẫn chuyển dịch xã hội, Việt Nam đang chứng kiến đồng thời sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế số, đi kèm với gia tăng các rủi ro về an ninh mạng. Ngoài các rủi ro đã được nhận diện – như tấn công mạng và tội phạm mạng; các rủi ro khác gồm: xâm phạm quyền riêng tư và khai thác trái phép dữ liệu cá nhân cho mục đích thương mại cũng như phi thương mại; vấn đề tin giả, thông tin không chính xác; phát ngôn thù ghét cũng đã gia tăng đáng kể với người dùng internet, với doanh nghiệp. Trong khi những thách thức truyền thống chưa được giải quyết xong, những vấn đề mới cũng hóc búa không kém và đương nhiên, khi vấn đề chưa được quan tâm, chưa được thảo luận và nhận thức rõ thì chưa thể có lời giải.  Nhưng kinh tế số và công nghệ, dù đặt ra những thách thức lớn lao, nhưng rõ ràng là xu thế không thể đảo ngược. Và lợi ích mang lại, với những quốc gia như Việt Nam là rất lớn lao. Vấn đề không phải là quay đầu, hay lùi bước, co cụm phòng thủ hay cản trở những xu hướng tiến bộ.Trước khi bàn đến những giải pháp chính sách, cần phải tiếp tục thảo luận để có cái nhìn chính xác về vấn đề.Việt Nam đang thiếu vắng các nghiên cứu và thảo luận một cách cẩn trọng, khoa học về vấn đề này. Và bài viết này chỉ mong muốn ‘đặt vấn đề’ chứ chưa phải là nêu giải pháp.  30 năm trước, nhà thơ Nguyễn Duy từng viết những dòng thơ đầy tâm huyết trong “Nhìn từ xa Tổ quốc: “Dù ở đâu Tổ quốc cũng trong lòng – mốc biên giới đóng từ thương đến nhớ”. 30 năm sau, mốc biên giới có thể lại dịch chuyển: xin mượn ý ông, mốc biên giới ngày nay ‘đóng từ không (o) đến một (1). Nhưng biên giới dù có là gì, tổ quốc vẫn trong lòng từng công dân Việt. Không gian có số hóa, nhưng căn tính Việt vẫn luôn là điểm neo cho mọi thảo luận, mọi cách nhìn, mọi giải pháp.  ——-  Tít bài mượn ý thơ Nguyễn Duy trong bài Nhìn từ xa Tổ quốc.  Một số khuyến nghị chính sách an ninh mạng   * Tính phức tạp, đa phương diện và liên quan đến rất nhiều chủ thể khác nhau, vượt ra ngoài “biên giới cứng” quốc gia khiến cho an ninh mạng trở thành vấn đề chính sách phức hợp và không có một giải pháp duy nhất. Do đó, Việt Nam cần một tiếp cận chính sách toàn diện; hệ thống chính sách đa giải pháp cho vấn đề an ninh mạng; trong đó huy động cả 3 khu vực Nhà nước, khu vực doanh nghiệp; và cả cá nhân người dùng cùng tham gia. Chúng tôi nhấn mạnh rằng, giải pháp pháp lý (bằng luật và quy định dưới luật như Luật An toàn thông tin; Luật An ninh mạng (dự thảo) và các quy định pháp lý khác); và giải pháp kỹ thuật (phòng ngừa, ứng phó với các cuộc tấn công) là không đủ để giải quyết thách thức phức hợp và xuyên quốc gia như an ninh mạng.  * Cần có chương trình truyền thông và giáo dục sâu rộng về an toàn internet để nâng cao nhận thức lẫn kỹ năng của người dùng Internet – bao gồm cả người dân, và doanh nghiệp, ở Việt Nam như trước đây, Việt Nam từng thực hiện các nỗ lực truyền thông lớn về “An toàn giao thông”, đồng thời cập nhật và giáo dục trẻ em về internet, ngay từ trong trường học.  * Chính phủ Việt Nam cần tham gia nhiều hơn, rộng hơn và sâu hơn vào các sáng kiến, diễn đàn hợp tác quốc tế song phương, đa phương về an ninh mạng; tích cực tham gia các diễn đàn diễn tập quốc tế liên quan đến an ninh mạng để học hỏi, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm tác chiến trên không gian mạng ở phạm vi quốc tế. Việt Nam cũng cần chú trọng tới các điều khoản về an ninh mạng, phòng chống tội phạm mạng trong các hiệp định hợp tác kinh tế.    Author                Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Mô-đun hóa Hiến pháp      Mô–đun hóa, phân cấp quản trị, bảo mật nhiều lớp không phải là vấn đề kỹ thuật mà đó là các nguyên tắc quản lý. Tôi dùng hình ảnh và các ví dụ của tin học để dễ dàng làm nổi bật những ưu điểm của các nguyên tắc này, và từ đó phân tích việc vận dụng các nguyên tắc này vào việc soạn thảo, sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam sắp tới.     Một tiến bộ của con người qua việc xây dựng các website cũng như các hệ điều hành là việc mô–đun hóa và phân cấp quản trị, bảo mật nhiều lớp.   Việc mô–đun hóa giúp cho việc xây dựng, cũng như nâng cấp một hệ điều hành, một website dễ dàng hơn, giúp hạn chế sự gián đoạn trong quá trình nâng cấp website, trong một vài trường hợp có thể cho phép xây dựng các mô–đun song song. Quan trọng hơn, khi đưa hệ thống vào vận hành thì là việc mô–đun hóa giúp người quản trị soát lỗi dễ hơn; và nếu có trục trặc tại một mô đun thì các bộ phận khác vẫn hoạt động bình thường. Việc mô–đun hóa, tách biệt phần nhân (Kernel) với các thành phần khác đã giúp cho các hệ điều hành nên Unix nổi tiếng về sự ổn định, bảo mật, đặc biệt khi so sánh với các hệ điều hành windows của Microsoft.   Việc phân cấp quản trị, bảo mật nhiều lớp giúp hài hóa giữa nhu cầu truy cập website của hàng triệu người và quyền kiểm soát việc thay đổi nội dung, cơ chế vận hành website của người chủ sở hữu. Đặc biệt cơ chế bảo mật nhiều lớp giúp cho các website tồn tại trước sự tấn công thường xuyên của các hacker.   Mô–đun hóa hiến pháp  Việc mô–đun hóa trong tất cả các bản hiến pháp trong lịch sử Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức thấp: chia các điều khoản hiến pháp thành các chương; tất cả các điều khoản của hiến pháp có hiệu lực, giá trị ngang nhau và có hiệu lực vào cùng một ngày, không có các điều khoản chuyển tiếp.   Ở thái cực ngược lại, thì Hiến pháp CHLB Đức 1949 (GG) là một điển hình cho việc mô–đun hóa ở mức độ cao.   Trong bản hiến pháp này thì các điều khoản có hiệu lực khác nhau, những điều khoản quan trọng sẽ được bảo vệ bởi thủ tục sửa đổi hiến pháp ngặt nghèo hơn các điều khoản khác. Ví dụ: Điều 79 Khoản 3 GG quy định như sau:  “Một tu chính đối với hiến pháp này, mà thông qua đó cấu trúc liên bang – tiểu bang, sự hợp tác cơ bản của các tiểu bang trong vấn đề lập pháp (TG: của liên bang) hoặc các nguyên tắc được nêu ở Điều 1 và Điều 20 bị đụng chạm, thì sẽ không được phép.”  Tìm hiểu kỹ hơn về phương diện sửa đổi hiến pháp, thì các điều khoản của Hiến pháp CHLB Đức có thể được chia làm ba nhóm theo thứ tự giá trị, hiệu lực pháp lý tăng dần. Nhóm thứ nhất: các quy định về bộ máy nhà nước, trừ các vấn đề liên quan cấu trúc liên bang, các quyền cơ bản của công dân thuộc nhóm thường. Nhóm thứ hai: các quy định về nhân quyền và nguyên tắc “các quyền cơ bản của công dân có hiệu lực ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp tư pháp với tư cách là những quy định có hiệu lực trực tiếp (TG: không cần phải quy định chi tiết hóa, hướng dẫn). Nhóm thứ ba: các vấn đề nguyên tắc liên quan chế độ dân chủ, mục tiêu của nhà nước. Theo Điều 20 GG thì nhóm này gồm các quy định sau:    –    Cộng hòa Liên bang Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và xã hội chủ nghĩa;  –    Tất cả quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lực nhà nước sẽ được thực hiện bởi nhân dân (TG: trực tiếp) thông qua các cuộc cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý và thông qua các cơ quan đặc biệt của lập pháp, hành pháp và tư pháp:  –    Cơ quan lập pháp phải tuân thủ tính hợp hiến, cơ quan hành pháp và tư pháp bị ràng buộc bởi các đạo luật của quốc hội và các văn bản pháp luật khác.   Đối với các quy định hiến pháp thuộc nhóm thứ nhất, có thể được sửa đổi theo thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định tại Điều 79. Nhưng đối với các quy định hiến pháp thuộc nhóm thứ hai thì không được phép sửa đổi, bất luận vì lý do gì. Đặc biệt đối với các quy định thuộc nhóm thứ ba, thì toàn thể nhân dân Đức có quyền thay đổi Nhà nước để chống lại bất kỳ thay đổi nào liên quan đến các quy định thuộc nhóm này, khi việc sử dụng các con đường khiếu nại, trưng cầu là bất khả thi (Điều 20 Khoản 4 GG).   Như vậy, việc mô–đun hóa các nhóm quy định này của Hiến pháp CHLB Đức sẽ cho phép có áp dụng những điều chỉnh riêng biệt, trật tự ưu tiên và phương thức bảo vệ khác nhau cho các phần của hiến pháp.  Việc mô–đun hóa trong Hiến pháp CHLB Đức còn thể hiện ở việc quy định về điều khoản chuyển tiếp. Hiếm có bản hiến pháp nào như Hiến pháp CHLB Đức dành riêng một chương cho các quy định chuyển tiếp với 31 điều (từ Điều 116 đến Điều 146). Các quy định chuyển tiếp này đã giúp nước Đức giải quyết thành công bốn vấn đề mà không có sự xáo trộn lớn về hiến pháp: kế thừa các nội dung dân chủ tốt đẹp của Hiến pháp Weimar bằng cách viện dẫn trực tiếp các Điều khoản của hiến pháp này, hay nói cách khác làm cho một góc của Hiến pháp Weimar sống lại trong bản Hiến pháp 1949 (GG); gia nhập EU; thống nhất Đông Đức và Tây Đức; giải quyết các vấn đề lịch sử để lại sau Thế chiến II.   Chúng ta thử hình dung về việc gia nhập WTO của Việt Nam sẽ như thế nào, nếu như những người soạn thảo hiệp định gia nhập WTO cũng mang tư duy như các nhà soạn thảo Hiến pháp 1992: không nghĩ đến lộ trình, không thời gian ân hạn, không có tư duy chuyển tiếp. Khi đó chỉ có một trong hai khả năng sẽ xẩy ra, hoặc Việt Nam không được gia nhập WTO, hoặc được gia nhập mà theo đó tất cả các biện pháp bảo vệ sản xuất nội địa bị xóa bỏ, nền công nghiệp non trẻ của Việt Nam sẽ bị bóp chết bởi các tập đoàn quốc tế.   “Phân cấp quản trị hiến pháp” như là phân quyền truy cập, phân quyền quản trị website  Hiến pháp nói chung, cũng như các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói riêng một mặt có vai trò giúp công dân bảo vệ các quyền tự do của mình trước sự lạm quyền của nhà nước, một mặt trao cho các cơ quan nhà nước khoảng tự do hành động để có thể hoàn thành các kỳ vọng, nhiệm vụ mà công dân đặt ra khi đóng thuế cho nhà nước. Nếu công dân trao hết các quyền tự do của mình thì chẳng khác nào hình thức “ủy quyền định đoạt” trong giao dịch bất động sản hiện nay (1). Người chủ đích thực trong trường hợp này là bên được ủy quyền, bên trao quyền chỉ còn là chủ sở hữu mang tính hình thức. Ở một thái cực khác, nếu khoảng tự do hành động hẹp quá thì nhà nước không có đủ thẩm quyền, nguồn lực cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của mình.   Đâu là điểm cân bằng giữa hai thái cực này, và có những phương thức nào để kiểm soát sự cân bằng này?  Các quy định về quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp CHLB Đức một lần nữa đại diện cho các bản hiến pháp hiện đại (2) về kỹ thuật “phân quyền quản trị” để kiểm soát điểm cân bằng này. Bản hiến pháp này chia các quyền cơ bản của công dân làm ba nhóm.     Đối với nhóm thứ nhất thì bất kỳ việc quy định, can thiệp hay hạn chế nào của nhà nước (không phân biệt là do quốc hội hay một cơ quan địa phương) vào quyền tự do thuộc nhóm này sẽ bị xem là vi hiến. Các quyền tự do thuộc nhóm này chỉ có thể bị hạn chế bởi các quyền tự do hiến định khác, chứ không bị hạn chế bởi bất kỳ văn bản nào của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hay nói cách khác, nhóm quyền tự do này vĩnh viễn thuộc về công dân một cách nguyên vẹn, và được bảo vệ một cách cao nhất, nhà nước không có cơ hội lẹm vào. Đối với nhóm quyền này thì các luật gia và thẩm phán Tòa án hiến pháp Đức đã phát triển học thuyết Konkurent (Tạm dịch là cạnh tranh).   Đối với nhóm quyền tự do thứ hai thì có thể bị điều chỉnh, hạn chế nhưng chỉ bằng một công cụ duy nhất: các đạo luật của nghị viện. Đối với nhóm quyền tự do này thì các luật gia đức đã phát triển học thuyết Wesentlichkeitslehre (Tạm dịch là học thuyết về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng đạo luật đối với các vấn đề cơ bản của xã hội).   Đối với nhóm quyền tự do thứ ba thì các cơ quan lập pháp, hành pháp có thể điều chỉnh, hạn chế bằng các văn bản quy phạm nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc: mang tính phổ quát, bảo đảm tính xác định, trích dẫn điều khoản hiến pháp khi quy định về một quyền tự do hiến định và đặc biệt là Verhältnisprinzip (Tạm dịch là quan hệ tương đối).   Việc phân vùng quyền can thiệp vào quyền tự do cơ bản của công dân đối với các cơ quan nhà nước Đức như trên có thể ví với việc phân vùng truy cập website của một công ty làm ba vùng: vùng cho phép khách hàng truy cập và sửa đổi, vùng chỉ cho phép nhân viên công ty truy cập và sửa đổi, vùng chỉ cho phép thành viên ban giám đốc truy cập và sửa đổi.   Hiện nay, Hiến pháp 1992 của Việt Nam bị đóng khung bởi cụm từ “theo quy định của pháp luật”. Điều đó đồng nghĩa với việc các nhà soạn thảo hiến pháp không đặt ra bất kỳ giới hạn nào đối với cơ quan lập pháp, hành pháp trong việc ban hành các quy định điều chỉnh, hạn chế quyền cơ bản của công dân.   Điều này phát sinh ba bất cập trên thực tế:  + Không có sự khác biệt giữa quyền tự do trong hiến pháp và quyền tự do được quy định trong nghị định, thông tư. Hay nói cách khác ranh giới và sự khác biệt đã bị vô hiệu hóa bởi cụm từ nêu trên.  + Trao quyền “truy cập” (quyền điều chỉnh, hạn chế) các quyền tự do cơ bản hiến định của công dân như nhau cho tất cả các cơ quan nhà nước. Hay nói cách khác quyền tự do cơ bản của công dân có thể bị hạn chế bởi một văn bản của cơ quan trung ương ở Hà Nội đến một văn bản của Ủy ban nhân xã Mường Tè. Không chỉ văn bản quy phạm có thể khống chế các quyền tự do hiến định, mà chỉ cần một văn bản cá biệt  (3), một bản thông báo (4) của một cơ quan hành pháp thì quyền tự do cơ bản của công dân sẽ được đóng khung một cách nhanh chóng gọn gàng.   + Các cơ quan bảo vệ hiến pháp, cơ quan tài phán hiến pháp (nếu được thành lập) sẽ không có căn cứ để xem xét một văn bản nào là vi hiến, xâm phạm đến các quyền tự do hiến định của công dân, bởi vì theo cụm từ “theo quy định của pháp luật” thì sẽ không có bất kỳ văn bản nào vi hiến, bởi vì trong việc thể chế hóa các quyền cơ bản của công dân thì các văn bản này có vị trí như hiến pháp; các cơ quan nhà nước trở thành là “chủ sở hữu đích thực” bởi họ đã được nhân dân “ủy quyền định đoạt” thông qua cụm từ “theo quy định của pháp luật” tại Chương V Hiến pháp 1992.   Kiến nghị:  1.    Đất nước đang trong thời kỳ quá độ thì hiến pháp nên có các quy định chuyển tiếp.  2.    Bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong Chương V Hiến pháp 1992 và trong hiến pháp cần quy định rõ đối với từng quyền tự do thì cơ quan nào được phép hạn chế, hạn chế đến đâu thì bị xem là chạm vào phần lõi bất khả xâm phạm, thủ tục hạn chế, các điều kiện hạn chế. Và bản thân quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải có tính quy phạm, chứ không phải thuần túy là khẩu hiệu.  3.    Cần thừa nhận các quyền cơ bản của công dân nói riêng và các quy định của hiến pháp nói chung có hiệu lực ràng buộc trực tiếp đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.  —  (1) Mặc dầu mang tên là Hợp đồng ủy quyền nhưng giao dịch bất động sản này vẫn bị Bộ tài chính đánh thuế, vì bên A sau khi ủy quyền định đoạt cho bên B, thì bên A chỉ là chủ sở hữu trên danh nghĩa, còn bên B mới là chủ sở hữu đích thức; Hợp đồng ủy quyền định đoạt trong trường hợp này chỉ là danh nghĩa để che dấu Hợp đồng mua bán.  (2) Sự “phân quyền quản trị” chỉ có ở các bản hiến pháp hiện đại, còn trong các bản hiến pháp cổ điển như hiến pháp Liên bang Hoa kỳ không được quy định minh thị.  (3) Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002, thì thông báo không được xem là văn bản quy phạm pháp luật.  (4) Xem Tiến Dũng, Vnexpress: Hà Nội yêu cầu chấm dứt biểu tình tự phát, ngày 18/8/2011 (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/08/ha-noi-yeu-cau-cham-dut-bieu-tinh-tu-phat/)         Author                Quản trị        
__label__tiasang MỜI THAM GIA BÁO XUÂN TIA SÁNG MẬU TÝ 2008      Sau hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, những thành tựu to lớn đạt được đã tạo ra cho đất nước chúng ta một thế và lực, một thời cơ lớn để bước vào giai đoạn phát triển mới với hiệu quả cao, bền vững hơn, nhằm thực hiện mục tiêu: Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng đã đề ra.    Nhưng làm thế nào để có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững khi mà cũng với những thời cơ lớn, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức,  những vấn nạn, tiêu cực đang tồn tại, hoặc sẽ nảy sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, môi trường, văn hóa nghệ thuật, giáo dục, khoa học công nghệ… và dường như cho đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục hữu hiệu.  Với chủ đề Tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, Tia Sáng Xuân Mậu Tý 2008 mong muốn qua những bài viết của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà giáo… cùng bạn đọc góp phần trả lời cho câu hỏi trên.  Ngoài chủ đề trên, Tia Sáng Xuân Mậu Tý còn có các chuyên mục quen thuộc với bạn đọc như: Diễn đàn đầu Xuân, Phát triển mới, Nhân vật, Văn hóa nghệ thuật… và  Hương vị Tết …  Ban biên tập Tia Sáng rất mong cộng tác viên và bạn đọc dành cho Tia Sáng những bài viết tốt nhất để Tia Sáng Xuân Mậu Tý 2008 sẽ là một ấn phẩm có nội dung bổ ích, hẫp dẫn, hình thức đẹp.  Bài viết xin gửi về Tòa soạn trước ngày 15 tháng 1 năm 2008 theo địa chỉ:  * tiasang@fpt.vn; tiasang@hn.vnn.vn  * Tạp chí Tia Sáng – 70 Trần Hưng Đạo- Hà Nội  * Fax: 049426376  Tia Sáng       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mời tham gia Diễn đàn: Nghiên cứu KH&CN: Thực trạng và giải pháp      Với chức năng khám phá tự nhiên, xã hội và con người, nghiên cứu khoa học (NCKH) tác động đến phát triển xã hội theo ba con đường 1) văn hoá – giáo dục – dân trí, 2) công nghệ – sản xuất, và 3) quyết định chính sách phát triển.      Trên cả ba con đường này, đến nay NCKH ở nước ta vẫn nằm bên ngoài lề và chưa có mấy đóng góp vào sự phát triển KT-XH của đất nước, nhất là khi chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức như thiên tai, dịch bệnh, tàn phá môi trường, tai nạn giao thông.  Để góp phần tìm ra nguyên nhân của tình trạng trên ở cả nhận thức của giới lãnh đạo về vai trò của NCKH, của nhà khoa học dám nhận ra mình là ai, và mô hình quản lý bất cập hiện nay. Từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy NCKH phát triển. Bắt đầu từ số báo này, Tia Sáng mở Diễn đàn Nghiên cứu KH&CN: Thực trạng và giái pháp.  Rất mong nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc.        Author                Quản trị        
__label__tiasang ‘Món nợ’ với giáo sư Trần Đức Thảo      Gần nửa thế kỷ từ khi có chủ trương “quét sạch những nọc độc của Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết học”, ngày 7/5, lớp hậu sinh ngồi lại nơi ngày xưa ông làm Phó Giám đốc, nhắc tới những “món nợ” mà ngày hôm nay cần trả.      Một con người đặc biệt  GS Trần Đức Thảo thuộc “thế hệ vàng một đi không trở lại” trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 20:  học hành bài bản ở nước ngoài và trở về tham gia cách mạng.  Cuộc đời và sự nghiệp của ông được đánh dấu bằng những sự kiện tinh thần và chính trị đặc biệt: từ cuộc tranh luận với nhà văn nổi tiếng Jean Paul Sartre 1949 đến việc trở về Việt Nam tham gia cách mạng 1951/1952, từ sự hiện diện trong vụ ánNhân Văn-Giai Phẩm 1956 đến việc trở lại và qua đời trong âm thầm tại Pháp 1993, và cuối cùng là việc tác phẩm Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức được tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” đợt II, năm 2000.  Trong tham luận của mình,GS văn học Nguyễn Đình Chú đã phác họa “con người – sự nghiệp” của Trần Đức Thảo với 5 khía cạnh cơ bản: Là người con ưu tú của Kinh Bắc – Bắc Ninh, cái nôi của người Việt, văn hóa Việt; là một trí thức trọn đời yêu nước với nhiều biểu hiện;là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.  GS Phạm Thành Hưng (cùng biên soạn 2 công trình nổi tiếng trong số di sản đồ sộ của GS Thảo), nhìn nhận: Ông là hiện tượng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam thế kỷ 20, người vừa là sản phẩm, vừa là nạn nhân của thời đại; đồng thời cũng là người góp phần tạo ra thời đại. Ông không thể thành thiên tài mà chỉ là môt “thần đồng triết học”, vì đã chấp nhận làm một trí thức hiến thân cho cách mạng.   Các tác phẩm của Trần Đức Thảo được nghiên cứu nhiều ở nước ngoài. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông đã được nhắc tới ở Việt Nam như: Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức, Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không con người,v.v…  Trước đó, Trường CĐ Sư phạm phố Ulm – Pháp (nơi GS Thảo tốt nghiệp thủ khoa lúc 26 tuổi) cũng đã dành hẳn 2 ngày tổ chức hội thảo về Trần Đức Thảo và dự kiến sẽ tiếp tục tổ chức vào năm 2013. GS Trần Văn Đoàn (ĐH Đài Loan, ủy viên liên đoàn triết học thế giới) nói, Trần Đức Thảo là “nhà triết học có một vị trí đặc biệt” khi phản ánh về vị trí của ông trong giới triết học quốc tế.  Sửa sai lối làm khoa học “mờ, nhòe”  Được nhìn nhận là danh giá nhất trong “những ôm trùm văn hóa sáng danh của đất nước”, nhưng số phận của Trần Đức Thảo nghiệt ngã chẳng ai bằng. Ông đã gặp bi kịch suốt cuộc đời làm triết học trong hoàn cảnh phi triết học, hoàn cảnh mà người ta chỉ cần minh họa và phổ biến những luận điểm triết học có sẵn, không cần sự nghiên cứu, khám phá.  Sau khi qua đời, giá trị của GS Trần Đức Thảo được Nhà nước nhìn nhận lại với những truy tặng: Huân chương Độc lập, giải thưởng Hồ Chí Minh. Một phần nhỏ trong số di sản đồ sộ của ông đã được tập hợp, dịch sang tiếng Việt và xuất bản. Tiến sĩ Cù Huy Chữ đã bỏ công lưu trữ di sản bề thế của ông với gần 200 tác phẩm bằng tiếng Việt, Pháp và Đức với khoảng 15 ngàn trang, mà chỉ riêng danh mục để liệt kê về  “di sản Trần Đức Thảo” đã dày hơn 500 trang.  Cho rằng “một đất nước hùng cường, sánh với với năm châu không thể không có triết học”, GS Nguyễn Đình Chú đặt vấn đề: cần nghiên cứu, khám phá toàn diện và thấu đáo giá trị tư tưởng triết học Trần Đức Thảo, để từ đó thúc đẩy triết học Việt Nam.  Tuy nhiên, vị giáo sư cao tuổi cũng nhận thấy “điều này không dễ” bởi đòi hỏi người làm phải  có trình độ tiếng Pháp, đặc biệt là tiếng Đức thật giỏi; có trình độ hiểu biết nhất định về triết học thế giới; có hiểu biết về khoa học tự nhiên như vật lý học hiện đại, sinh vật học, khoa học nhân văn (nhân chủng học, sử học, tâm lý học, ngôn ngữ học, logic học) và quan trọng nhất là năng lực tư duy trừu tượng khoa học, trong khi thế mạnh của người Việt lại là tự duy cụ thể.  Nhìn nhận ở khía cạnh khác, GS Hoàng Chí Bảo phân tích, lâu nay việc nghiên cứu triết học ở Việt Nam bị mờ, nhòe vì lẫn với lý luận chính trị. Vị ủy viên Hội đồng lý luận trung ương này đề xuất cần sửa sai; trả lại cho triết học vị trí độc lập, tách hẳn nghiên cứu triết học độc lập với lý luận chính trị, nếu không thì nghiên cứu khoa học sẽ tiếp tục lạc hậu.    Bài học “siêu sư phạm”  Tiếp thu những bài học từ di sản đồ sộ của GS Trần Đức Thảo là điều không dễ với đa số người Việt Nam. Tuy nhiên những học trò, trực tiếp hoặc gián tiếp, đã thụ giáo được ít nhiều tinh thần cao đẹp từ nhà khoa học chân chính này.  Một số học trò khóa 1 Trường ĐH Sư phạm Hà Nội vẫn còn nhớ tới hình ảnh người thầy  đến lớp không một mẩu giáo án, không ngồi ở ghế mà ngồi lên bàn, không hề nhìn sinh viên, chỉ ngước lên trần giảng đường, nói thì lúng túng, thỉnh thoảng tự mỉm cười.  Giờ giảng cho sinh viên sư phạm nhưng sinh viên y dược học chung sân cũng sang nghe, đại giảng đường 35 Lê Thánh Tông từ phòng chính đến chuồng gà chật ních người nghe và tĩnh lặng.  Theo GS Nguyễn Đình Chú, người thầy tưởng như “phản sư phạm” ấy chính là một bậc “siêu sư phạm” vì đã gieo vào lòng ông mộtám ảnh suốt đờivề phải đeo đẳng và phấn đấu thèm khát suy nghĩ, thèm khát một năng lực tư duy trừu tượng khoa học.  Còn PGS Phạm Thành Hưng đúc kết, việc nghiên cứu và xuất bản di sản triết học của Trần Đức Thảo để lại hai bài học. Bài học về phương pháp tư duy và bài học “không kém phần quan trọng, đồng thời dễ có nhất”, là bài học về nhân cách của người trí thức, cũng là bài học làm người.  GS Hưng cũng đem tới hội thảo một câu chuyện ông quan sát bấy nay.  Do điều kiện sống thiếu thông tin trầm trọng, phải đợi đến khi xuất bản sách Trần Đức Thảo, PGS Hưng mới có trong tay trọn vẹn văn bản “Nội dung xã hội truyện Kiều” mà GS Thảo viết cho Tập san ĐH Sư phạm. Bài phê bình văn học sử này khiến ông có cảm giác như đã đọc ở đâu rồi, những ý kiến này có vẻ trùng lặp với một số quan niệm, luận điểm trong các chuyên luận hay giáo trình đại học nào đó. Đọc lại nhiều lần, đưa ra so sánh, PGS Hưng mới biết các tác giả chuyên luận và một số nhà phê bình đàn em đã thực sự kế thừa các luận điểm của Trần Đức Thảo mà không hề chú thích nguồn, xuất xứ.  “Tôi nghĩ, chắc các tác giả đó cũng không có điều kiện, hoặc không có đủ dũng khí đến gặp mà “có nhời” với cụ. Giai phẩm Tập san… chắc chắn thuộc số tư liệu kín, độc giả phổ thông rất khó có điều kiện tiếp xúc. Hơn nữa, việc chú thích một nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân văn – Giai phẩm sẽ để những hệ lụy khó lường” – PGS Hưng phỏng đoán.  Nghỉ mà chưa an    Sau khi nghỉ ở Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cuộc đời GS Thảo là chuỗi cô đơn, với những câu chuyện rớt nước mắt về một lối sống không thể giản tiện hơn (bỏ gạo lẫn nước mắm nấu cơm, bán dần đồ đạc, sách vở để sống, đi trên vỉa hè thường lẩm bẩm một mình…).  Trong những năm cuối đời, GS thiết tha một điều là sau khi mất, sẽ được về an giấc ngàn thu nơi quê cha đất tổ ở làng Song Tháp.  GS Nguyễn Đình Chú không giấu nổi nước mắt khi nhắc nhớ: “Triết gia không vợ con, lại xa quê họ tổ, chỉ có một người cháu ruột đã cao tuổi và sống trong Nam. Hài cốt của ông được nhà nước lệnh cho sứ quán đưa từ nghĩa tang Pere Lachaise về Văn Điển, nhưng ông nghỉ mà chưa an. Mong quê nhà đón ông về yên nghỉ”.          GS Trần Đức Thảo sinh tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, năm 1917.   Năm  1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường Đại học  Sư phạm Paris. Ông tốt nghiệp thạc sĩ triết học hạng nhất tại Pháp lúc  mới 26 tuổi (1942).  Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn.   Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.   Sau 1954 về Hà Nội, ông kết hôn, đến năm 1967 thì ly hôn.   Năm  1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư  phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội.   Ông bị quy tội dính líu đến phong trào Nhân văn Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ.              Hạ Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Món nộm thánh nhân      Nói chuyện ngày trước, với các bạn thật trẻ  thì đã là ngày xưa, ông Edouard Chevardnadze làm ngoại trưởng Soviet.  Khi đi ra xứ ngoài, ông này thật đĩnh đạc, vui vẻ, hào hoa, nhưng mỗi  khi trở về đến quê nhà, thì lại cáu cẳn, điên đầu, bứt rứt. Có lần khi  trả lời phỏng vấn báo chí, ông ấy tỏ ý rằng không gì khổ bằng nói chuyện  với người Soviet.    Vậy muốn một khối người đổi thay được lối nói điên đầu, lối nghĩ điên đầu, phải có những nhóm người tiên phong đi ra khỏi lối mòn nói và lối mòn nghĩ đó.   Làm thế nào để đi ra khỏi lối mòn đó? Phải tự nhận ra lối mòn đó. Chưa đủ. Phải tự thú ra lối mòn đó. Phải kiểm tra lại được trên cái bàn thờ đang kê ở trong đầu mình, xem có những món gì phải dọn đi được.  Với mỗi con người nhỏ bé chúng ta, cũng đúng như vậy thôi. Muốn vui vẻ, muốn đi lên, phải kiểm tra lại trên cái bàn thờ đang kê ở trong đầu mình, xem có những món gì phải dọn đi được.  Với tôi, tôi thấy trước hết có một món phải dọn đi, món nộm thánh nhân.  Chúng ta bị món này nó hành quen quá, quen hàng ngàn năm, quen đến mức lúc nào cũng bị cái cảm giác so sánh, chia ngôi, xếp hạng với người đối thoại, hữu hình và vô hình, rằng người này thuộc đẳng hơn, rằng người kia thuộc cấp kém. Nếu nói một câu tiếng ta trốn được việc chia động từ, thì lại cứ lo chia ngôi thứ nhau cho bằng chết được. Cái virus của món nộm thánh nhân này nó theo máu ăn vào khắp chốn ở trong ta, vào lời ăn, vào tiếng nói, vào suy nghĩ, vào hành xử. Chúng ta vào mỗi cuộc chuyện trò, ngay từ trong nhà, thậm chí ngay trong một đôi lứa, một cặp vợ chồng, mà cứ sau ba câu là đã hầm hè như cùng nhau chính thức bước vào sới vật, để giải quyết cái việc quan trọng nhất trên đời của món nộm thánh nhân, việc ai thắng ai. Chúng ta chỉ chực muốn nhai rau ráu người tham chuyện. Trời ơi, giá như trời cho ta được một cơ hội. Rất nhiều các cuộc thảo luận người ta không còn để ý gì nữa đến “cái gì đang được thảo luận”, mà lập tức đến “ai đang rao giảng, định âm mưu gì, thớ gì mà nói…”.  Dẹp được cái món nộm này đi, cuộc đời mỗi chúng ta sẽ trở nên thanh nhã biết bao, vui vẻ biết bao. Với mỗi cuộc trao đổi, dù là để bàn về con muỗi, hay nhằm luận về con voi, mỗi người chúng ta đều có thể tham gia được với cái mình có thể và mong muốn, hoà nhã, và không bị cái cảm giác rằng mình đang nằm chơi vơi trên một cái thớt vô hình mà các bậc anh hùng hảo hán đang nấp xung quanh khéo léo bày ra. Nhiều người cai được món nộm thánh nhân, thì rồi sẽ đến ngày các cựu anh hùng hảo hán xung quanh cũng sẽ thay đổi dần lẽ chơi trong đời, sẽ tìm ở các câu chuyện về những tính thú vị đáng học hỏi gì ở chúng cho mình , sẽ vui vẻ tham gia đóng góp hồn nhiên thanh nhã cho các cuộc thảo luận cùng cộng đồng.  Mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ, khó thật, nhưng chính tôi cũng đang cố thoát ra khỏi cái cơn nghiện thánh nhân dai dẳng của người mình. Và ước mong rồi ai cũng thành nên thanh thoát, hợp tác, nhã nhặn, vui vẻ, hết bị chứng bệnh thánh nhân hóa.  Như thế văn hóa của chúng ta sẽ tiến hóa dần, sẽ bay bổng thêm lên. Lúc cần tụ nhau, là lúc chúng ta cốt cùng nhắm tới để dựng được với nhau những trò chơi hợp tác, bền bỉ, sáng tạo, mới mẻ. Chúng ta thôi nhắm tới mong ước đè bẹp được người, mà nhắm tới tự vượt được chính mình, tự mình “bay được” hơn lên.  Tôi nghĩ rằng không có trại cai nghiện nộm thánh nhân nào có thể thành công được, vì lấy ai ra mà trông nom nó? Chỉ có niềm vui tươi mới dung dị mà thôi, niềm vui vứt bỏ, niềm vui hóa vàng dứt điểm món nộm này đi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Món quá nhân ngày nhà giáo và những cuộc phiêu lưu mới của ngành giáo dục      (Suy nghĩ tản mạn nhân vài sự kiện gần đây của ngành giáo dục)        Ngày nhà giáo năm nay, những ai quan tâm tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam không khỏi sửng sốt trước một tuyên bố của ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân trên tờ nhật báo Tiền phong của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản. Xin được dẫn nguyên văn: “Biếu thầy cô một ít tiền thì không có gì phải ngại nếu như thật sự xuất phát từ tấm lòng. Tuy nhiên, cả phụ huynh cũng như thầy cô phải nhận thức được, nên thể hiện ở mức độ nào”1. Rằng hay thì thật là hay… Nhưng. Tôi đã từng nghe những câu hỏi sau phát ngôn của ông Bộ trưởng: Vậy, thế nào là “một ít”? Và như thế nào là “xuất phát từ tấm lòng”? Và liệu sau phát ngôn này sẽ có thêm bao nhiêu vị giáo viên bắt đầu năng kiểm tra “tấm lòng” của học sinh và phụ huynh? Và liệu tất cả chỉ dừng lại ở ngày Hiến chương nhà giáo? Hay là còn bao nhiêu dịp để thể hiện tấm lòng nữa? Tết Dương lịch, Tết Âm lịch, ngày 8.3, ngày 20.10? Vốn là người lạc quan, tôi không nghi ngờ gì về “tấm lòng” của ông Bộ trưởng. Cũng như khi ông đầy xúc động trình bày trước Quốc hội về đời sống của những người giáo viên ở miền núi trong những cái được chính ông gọi là “lều công vụ”. Tôi tin điều đó. Nhưng liệu ông có lường đến việc biết bao nhiêu những “con sâu” (không thiếu) trong ngành giáo dục sẽ lợi dụng những phát ngôn của ông để che chở cho những hành vi tột cùng phi giáo dục?   Và biết bao nhiêu những phát ngôn đã được sử dụng làm vỏ bọc cho những thực tế đáng buồn? Trong một lễ chấm khóa luận tốt nghiệp của sinh viên hệ chính quy, tôi đã được nghe một vị giáo sư thuyết giáo về cái gọi là sự thay đổi định hướng của nền giáo dục đại học hiện đại từ cái gọi là giáo dục tinh hoa sang cái gọi là giáo dục đại chúng, về cái gọi là sứ mạng phổ biến kiến thức của giáo dục hiện đại. Nhưng kết cục là gì? Là hãy nhắm mắt cho qua những khóa luận tốt nghiệp đầy rẫy những lỗi ngữ pháp và được viết theo trường phái “copy and paste”.   Trước Quốc hội, đáp lại sự bức xúc của nhiều vị đại biểu nhân dân về sự xuống cấp của nhiều loại hình đào tạo đại học mà điển hình là hệ đại học tại chức, ông Bộ trưởng trầm ngâm rằng: đó là “nồi cơm” của các trường đại học. Ông rất dè dặt vì sợ “ảnh hưởng đến nồi cơm của các trường”2. Nhưng có bao giờ ông biết rằng cái hiểm họa thực sự xói mòn chất lượng của hệ thống đại học chính là những cái gọi là “tại chức”, “từ xa”… đủ kiểu đó. Đã đến lúc cần phải sòng phẳng với nhau trước một thực tế rằng hệ “tại chức” chính là một minh chứng cho cái gọi là “xã hội hóa giáo dục”, “thị trường hóa giáo dục” theo kiểu “rừng rú” nhất. Ông Bộ trưởng hãy thử làm một “thí điểm” là ngừng cấp bằng (diplôme) tại chức và thay vào đó bằng chứng chỉ (certificat) bồi dưỡng kiến thức. Liệu sẽ còn có bao nhiêu học viên còn lại? Loại hình đào tạo tại chức không gì khác hơn, chính là cách các trường “kiếm cơm” bằng cách thỏa mãn nhu cầu đáng phải phê phán nhất của xã hội: sự thèm khát bằng cấp. Không hiểu ông Bộ trưởng có biết hầu như đại bộ phận sinh viên những lớp tại chức đi học với vốn từ gần như chỉ gồm một từ duy nhất: “xin thông cảm”. Và còn gì nữa?   Trong một cuộc gặp mặt các Giáo sư, Nhà giáo nhân dân vừa được phong tặng nhân 20.11 ông Bộ Trưởng đã nhấn mạnh về chiến lược hai vạn tiến sĩ trong mười năm tới3. Người ta có cảm giác như một chương trình phổ cập hóa văn bằng đang chuẩn bị được khởi động. Và hình như chương trình đó đã bắt đầu được khởi động. Tất nhiên, nếu nó có được khởi động đi chăng nữa thì cũng không phải là vấn đề. Vấn đề chỉ là trước khi cái chương trình “hai vạn tiến sĩ” ấy được bắt đầu, chưa thấy Bộ giáo dục có một điều tra cơ bản nào về năng lực đào tạo Tiến sĩ và rộng ra, sau Đại học của các cơ sở đào tạo đại học trong toàn quốc trên tất cả các bình diện: năng lực đào tạo của đội ngũ Giáo sư, Phó giáo sư; điều kiện vật chất phục vụ học tập và nghiên cứu của các học viên cao học và nghiên cứu sinh (phòng thí nghiệm, thư viện, các nguồn tài liệu, khả năng tiếp cận với thông tin khoa học của nước ngoài…); kinh phí dành cho đào tạo… Và cũng chưa có một nghiên cứu chiến lược nào về chuẩn mực trình độ thạc sĩ và nghiên cứu sinh cho những năm tới ngoài những hô hào nâng cao chất lượng chung chung. Thiếu những điều đó, chương trình “hai vạn tiến sĩ” kia có nguy cơ trở thành một thứ “bệnh thành tích” kiểu mới. Cái mà chính ông Bộ trưởng đang hô hào chống lại.   Rộng hơn một chút, nếu ông Bộ trưởng chịu khó làm một cuộc “vi hành” đến một số trường đại học ở trong chính khu vực Hà Nội, không cách xa Bộ bao nhiêu, ông có thể chứng kiến một khuynh hướng “tại chức hóa” các lớp cao học và nghiên cứu sinh. Để đạt được mục tiêu là thu hút một số lượng tối đa học viên cao học và nghiên cứu sinh, các trường sẵn sàng núp dưới lý do thiếu phòng học để tổ chức các lớp sau đại học vào buổi tối, sau giờ hành chính, từ 17h30 chiều. Người ta đến lớp học cao học sau một ngày làm việc ở các văn phòng. Người ta học trong một sự uể oải của cả thầy lẫn trò, trong một sự co ngắn tối đa thời gian học và một sự kéo dài tối đa thời gian nghỉ. Và người ta đi về, và người ta sẽ tìm mọi cách để có được những tấm bằng với một từ vựng gồm một công thức duy nhất: “xin thông cảm”. Xin được nhấn mạnh rằng trong những trường nằm trong trào lưu nói trên có cả những trường thuộc khối những trường đầu ngành, trọng điểm của cả khối đại học. Và tất cả không chỉ dừng lại ở đó.   Thực ra thì sau đại học cũng chỉ là một kịch bản kéo dài của một chiến lược có được bằng cấp bằng mọi giá. Chúng tôi không phủ nhận rằng trong số những học viên cao học có những người thực sự xuất phát từ nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức chuyên môn. Thế nhưng cũng khó phủ nhận là một số không ít những học viên của những lớp sau đại học đó đi học với một mục đích duy nhất và chính yếu: đánh bóng bằng cấp. Có thể đó là những sinh viên mới ra trường chưa có công ăn việc làm và các lớp sau đại hoc với họ chính là một điểm dừng chân hợp lý “chờ thời”. Có thể đó là các cán bộ có bằng cấp chưa đạt chuẩn hy vọng có thêm một tấm bằng cao học để có thể ổn định công việc. Nhà trường sẽ “tạo điều kiện” cho họ bằng các lớp “chuẩn hóa”, “bổ túc kiến thức” và rồi họ sẽ thi cao học. Hoặc có thể đó là các sinh viên tại chức và cao học chính là một con đường để “chính quy hóa”. Bằng một cách nào đó người ta thi và sẽ đỗ. Và thực ra thì tỉ lệ thi đậu cao học cũng cao hơn rất nhiều tỉ lệ thi tuyển sinh đại học, điều mà họ đã không thể vượt qua trước đó nhiều năm.   Truớc tình hình giáo dục của Việt Nam hiện nay người ta có cảm tưởng như đang trong một sự mất phương hướng trầm trọng. Và sự mất phương hướng dường như đến cả từ chính những người “phản biện giáo dục”. Cách đây không lâu, một giáo sư hết sức khả kính và có nhiều đóng góp cho khoa học đồng thời cũng là một người rất tâm huyết với sự nghiệp đổi mới giáo dục đã công khai lên tiếng trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng người nhà nước cần bãi bỏ việc quy định tuổi hưu trí với các giáo sư. Bởi lẽ họ là nguồn chất xám vô giá đối với đất nước đồng thời cũng là những nhân cách lớn, “đã là GS hay các nhà khoa học lớn thì họ đều là những người tự trọng. Một khi người ta thấy mình không còn làm việc được nữa thì họ xin nghỉ ngay, chưa đến tuổi hưu trí cũng xin nghỉ…”4. Tất nhiên, chính bản thân vị Giáo sư này cũng phải tự nhận thấy những đề xuất của mình là “ảo tưởng”5 thế nhưng chừng nào chính những những người phản biện giáo dục còn bị lùng nhùng trong những hy vọng duy ý chí như vậy thì liệu có thể có được những giải pháp tỉnh táo và khả thi cho giáo dục?   Một ví dụ khác. Trong thời gian gần đây báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng nói rất nhiều đến việc độc quyền của Nhà xuất bản Giáo dục trong việc ấn hành sách giáo khoa. Người ta nói rất nhiều đến việc xóa bỏ độc quyền của NXB này trong một lĩnh vực xuất bản đặc biệt nhạy cảm và có vẻ như một thứ “siêu lợi nhuận”. Những tiếng nói này dường như được sự đồng tình và ủng hộ của nhiều cơ quan báo chí. Không biết đằng sau những tiếng nói đó bao nhiêu là xuất phát từ trách nhiệm xã hội và bao nhiêu xuất phát từ sự thèm khát một “miếng bánh” khổng lồ? Chỉ có một điều, với một trí tuệ tỉnh táo, hãy thử suy nghĩ xem xóa bỏ độc quyền của NXB Giáo dục liệu có phải là một giải pháp khả thi và tối ưu. Chỉ riêng trong lĩnh vực sách tham khảo, với sự tham gia của một số lượng lớn các nhà xuất bản với một mục đích duy nhất là lợi nhuận, người ta đã chứng kiến một sự bát nháo mà chính các đại biểu Quốc hội, những người đại biểu nhân dân cũng phải than phiền. Vậy lấy gì đảm bảo rằng sự bát nháo đó sẽ không diễn ra khi người ta xóa bỏ độc quyền in sách giáo khoa của NXB Giáo dục ?   Bài viết này xin được kết thúc bằng một hiện tượng cuối cùng. Trong phiên trả lời chất vấn các đại biểu quốc hội ngày 25.11.2006, ông Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã lạc quan đề cập đến phương án xóa bỏ kỳ thi tuyển sinh đại học trong năm 2009 và thay vào đó là một kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học duy nhất. Thậm chí, ông còn khẳng định, nếu hội đủ điều kiện sẽ tiến hành ngay từ năm 20086. Sự lạc quan của ông Bộ trưởng không khỏi làm người ta “hoảng hồn”. Trong kỳ thi tốt nghiệp vừa qua, ở một tỉnh không xa Thủ đô, người ta đã được chứng kiến sự hoành hành trắng trợn của nạn gian lận thi cử trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Vậy, không hiểu “cây đũa thần” nào sẽ giúp ông Bộ trưởng vãn hồi được tình hình chỉ trong một khoảng thời gian hai năm. Ngành giáo dục đã chứng kiến sự phá sản của các “sáng kiến” như tuyển thẳng vào đại học và cộng điểm thi đại học. Nguyên nhân của sự phá sản ấy không gì khác, chính là những tiêu cực trong hệ thống giáo dục. Vậy lấy gì đảm bảo rằng một lần nữa kế hoạch của ông Bộ trưởng lãng mạn sẽ thành công khi mà bất cứ một người tỉnh táo nào cũng phải công nhận rằng căn bệnh tiêu cực trong giáo dục đã trở thành một thứ ung thư. Thay vì thu lại quản lý tuyển sinh đại học trong chưa đầy sáu đầu mối trong cả nước, Bộ Giáo dục lại muốn “thả” việc tuyển sinh ra trên gần sáu chục đầu mối và đuổi theo quản lý. Phải dùng từ gì khác hơn là một sự lãng mạn tột cùng? Ai cũng biết trong thời gian gần đây, dư luận đã hết sức bức xúc về chất luợng của kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Thế nhưng, thay vì nâng cấp, kế thừa những điểm tích cực và cải tiến cách thức thi cử thì giống như Hoàng đế Alexandre7, họ chặt phắt kỳ thi này. Vậy là cách tốt nhất để lẩn tránh một vấn đề là xóa ván cờ chơi lại.   Chúng ta có cảm tưởng rằng cả những nhà phản biện giáo dục lẫn những người thực thi giáo dục đều rất nhạy cảm với những vấn đề và hiện tượng của đời sống giáo dục. Nhưng có lẽ, cái mà nền giáo dục của chúng ta đang cần là dũng khí đi thẳng vào cái thực chất yếu kém, mất phương hướng có tính tổng thể của nền giáo dục, vào những vấn đề có tính bản chất chứ không phải chỉ là những hiện tượng bề mặt. Và thế là đổi mới giáo dục ở Việt Nam trở thành một cuộc phiêu lưu bất tận.   Và ai phải trả giá cho cuộc phiêu lưu này?   —————————         Toàn văn bài phỏng vấn có thể tham khảo tại : http://tienphongonline.com/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=67223&ChannelID=71  2 Toàn văn tường thuật phiên trả lời chất vấn có thể xem tại: http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=67858&ChannelID=71  3 Xin xem chi tiết tường thuật tại: http://www3.vietnamnet.vn/giaoduc/2006/11/635007/  4 Xin xem toàn văn tại: http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/nhanvat/2006/11/51568.cand  5 Xin xem bài đã dẫn.   6 Xin xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2006/11/637630/  7 Một điển tích của văn hóa phương Tây. Có một lời nguyền về một nút thắt mà ai gỡ được hai sợi dây khỏi nhau sẽ trở thành hoàng đế. Alexandre là người đã giải lời nguyền bằng cách dùng gươm chặt đứt hai sợi dây thay vì gỡ nút thắt. Sau này, Alexandre (356-323 Tr.CN) trở thành Hoàng đế của Maxêđônia, người chinh phục vĩ đại của thời Cổ đại.       Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mong chờ ở Chính phủ mới      Sau Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII, một Chính phủ mới sẽ được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ&#160; tới. Chúng ta mong chờ những người cầm lái mới cần tuyên bố những đường hướng chính sách mới giúp con thuyền quốc gia xa dần những lối mòn cũ sống nhờ vào tận khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân công giá rẻ.      Cuộc họp thường niên của Hội đồng thống đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) lần 44 đã kết thúc. Năm nay Hà Nội, sang năm Manila, không chỉ là nơi gặp gỡ của các thống đốc ngân hàng, Bộ trưởng tài chính các quốc gia châu Á, hội nghị còn là nơi gặp gỡ của gần 4000 đại biểu từ giới hoạch định, nghiên cứu chính sách, doanh nhân, xã hội dân sự và báo chí.   Người ta dự báo thế kỷ XXI sẽ trở thành kỷ nguyên của người châu Á. Tương lai là của chung, vì lẽ ấy quan chức, doanh nhân, nhà nghiên cứu, đại diện các tổ chức của nhân dân và giới truyền thông nắm lấy mọi cơ hội để chia sẻ tầm nhìn của mình về những động lực đóng góp cho sự phát triển kinh tế quốc gia và khu vực.        Người Nhật vốn kín đáo, lại cực kỳ cận trọng lựa lời phê phán người ngoài, đã diễn đạt một cách không bóng gió rằng chúng ta đã nói nhiều, hội nghị, hội thảo nhiều, song vẫn làm được rất ít việc để tạo ra những chính sách tốt.        Xung quanh những cuộc thảo luận đa dạng ấy, ngoài những lời khen theo lệ thường, lần này nước chủ nhà Việt Nam được nghe thêm nhiều lời cảnh báo rất thẳng thắn rằng chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam có dấu hiệu thiếu ưu tiên, phát triển cho đến nay nặng về bóc lột tài nguyên thiên nhiên, rằng hiệu suất của nền kinh tế thấp và toàn bộ sức mạnh quốc gia, từ lựa chọn chính sách cho tới các nguồn lực đa dạng của người dân chưa được huy động triệt để nhằm thực hiện bằng được các mục tiêu ưu tiên của quốc gia.   Người Nhật vốn kín đáo, lại cực kỳ cẩn trọng lựa lời phê phán người ngoài, đã diễn đạt một cách không bóng gió rằng chúng ta đã nói nhiều, hội nghị, hội thảo nhiều, song vẫn làm được rất ít việc để tạo ra những chính sách tốt. Và vì chưa có chính sách tốt, nhất là ưu tiên phát triển các ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh, toàn bộ tinh thần và lực lượng của dân tộc bị phân tán. Ngân sách quốc gia đã nghèo, lại rải mành mành cho hàng trăm mũi nhọn với hàng vạn dự án đầu tư công, sự thành công của Việt Nam cho đến nay mới mạnh về bán tài nguyên thô và lao động giản đơn, gia công cho thương hiệu nước ngoài.   Mô hình kinh tế ấy hiển nhiên mang lại lợi ích cho những tập đoàn kiểm soát tài nguyên quốc gia, lớp váng ấy sẽ giàu lên nhanh chóng. Ngược lại, hàng triệu nông dân sẽ trở thành người thợ hoặc thị dân thời công nghiệp hóa, song với mức lương chỉ đủ duy trì cuộc sống họ khó thoát khỏi ngưỡng bần hàn. Lạm phát càng làm cho ranh giới giữa nghèo nàn và khốn cùng trở nên mong manh. Thiếu một tầng lớp trung lưu khá giả, một xã hội phân hóa giữa lớp trên giàu sang và phần đông dân chúng bần hàn sẽ trở nên vô cùng chênh vênh, mở cửa cho bất ổn định xã hội.               Các ưu đãi về tín dụng, vốn, đất đai, các độc quyền kinh doanh của tập đoàn kinh tế nhà nước phải được các cơ quan dân cử và công luận kiểm soát. Nói cách khác, của công phải bị kiểm soát chặt chẽ, khắt khe hơn của tư nhân.          Vì lẽ ấy, nhìn thẳng và nói thật về các yếu kém của mô hình kinh tế hiện tại để tìm cách điều chỉnh hợp lý chúng cũng là cách chúng ta chuẩn bị cho một xã hội tương lai. Khó có thể có hòa bình, ổn định, một xã hội thượng tôn pháp quyền và công lý sẽ là xa vời nếu Nhà nước không thực hiện những chính sách tốt tạo ra nhiều phúc lợi và đảm bảo những nguồn phúc lợi ấy được phân phối công bằng.  Sau Đại hội Đảng lần thứ XI, một Chính phủ mới sẽ được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ  tới. Chúng ta mong chờ những người cầm lái mới cần tuyên bố những đường hướng chính sách mới giúp con thuyền quốc gia xa dần những lối mòn cũ sống nhờ vào tận khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân công giá rẻ. Muốn làm được điều ấy, dường như cần có một tuyên ngôn mạch lạc hơn về chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Điều này cũng phù hợp với xu thế cần tu chỉnh chương Chế độ kinh tế trong Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp hơn với thực tế nước ta sau hơn hai thập kỷ đổi mới.        Nói ít, làm nhiều, tướng tài cốt ở dụng mưu, những mong nhà nước mạnh dần trở thành nhạc trưởng định ra chính sách cho cuộc ganh đua của hàng triệu sáng kiến dân doanh.         Chúng ta mong chờ thái độ của Chính phủ đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước, hiện nay đang trở thành một vấn đề không thể né tránh trong chính sách kinh tế quốc gia. Buộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước phải cạnh tranh, phải chịu kỷ luật của thị trường, phải bị giám sát chặt chẽ bởi các định chế kiểm toán, báo chí và các thiết chế đại diện cho quyền lợi nhân dân, đó hầu như là cách duy nhất nhằm sàng lọc và lựa chọn những mầm sống khỏe mạnh nhất từ khu vực kinh tế Nhà nước. Vì lẽ ấy, các tập đoàn kinh tế Nhà nước phải chịu một cuộc giải phẫu đau đớn, phải được tách ra khỏi quyền lực làm chính sách và hành chính của Chính phủ. Các ưu đãi về tín dụng, vốn, đất đai, các độc quyền kinh doanh của tập đoàn kinh tế Nhà nước phải được các cơ quan dân cử và công luận kiểm soát. Nói cách khác, của công phải bị kiểm soát chặt chẽ, khắt khe hơn của tư nhân.  Chúng ta mong chờ thái độ của Chính phủ đối với hàng vạn dự án đầu tư công, với tiền chu cấp từ ngân sách Nhà nước rải đều từ Trung ương tới các địa phương. Một Nhà nước mạnh không bởi Nhà nước ấy ham làm nhiều việc, một Chính phủ hiệu năng phải làm ra chính sách tốt và huy động được sức mạnh của toàn dân. Xét về tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP, Chính phủ Việt Nam đang là nhà đầu tư lớn nhất so với Chính phủ các nước Đông Á và Đông Nam Á. Mỗi năm, đầu tư công của Việt Nam bằng khoảng 17%-20% GDP. Tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều (mức trung bình là dưới 5%, tại Trung Quốc là 3,5%, Indonesia 1,6%). Muốn đầu tư công phải ít nhất như cần thiết, đầu tư của tư nhân phải nhiều như có thể, cần phải làm cho doanh nghiệp tư nhân trở thành trụ cột cho nền kinh tế quốc gia. Kinh tế Nhà nước là chủ đạo phải được tái định nghĩa với những nội dung mới rằng Chính phủ phải có đủ năng lực làm nhạc trưởng cho mọi sinh hoạt kinh tế, tức là phải ban hành những chính sách có tầm nhìn dài hạn, có đủ độ tin cậy, xây dựng niềm tin của người dân vào Chính phủ, và dựa vào niềm tin ấy người ta mới đưa tài sản tích góp vào cuộc kinh doanh.   Chúng ta mong Chính phủ từ giã dần đam mê lấy tốc độ tăng trưởng GDP làm thước đo hầu như duy nhất cho phát triển kinh tế. Phát triển để làm gì nếu đô thị ngột ngạt và ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá, nếu người thợ chỉ còn thời gian vừa đủ để ngủ giữa triền miên ca kíp. Quá sùng bái GDP, thậm chí áp dụng tràn lan chỉ số GDP cho cấp tỉnh, chúng ta đã lãng quên nhiều tiêu chí đo lường khác để giữ cho môi trường sống bền vững cho những thế hệ hôm nay và mai sau. Phát triển nối tiếp phát triển, nếu tiền cho thuê đất chiếm tới 60% ngân sách của một tỉnh, điều gì sẽ xảy ra khi tài nguyên đất cạn kiệt dần. Không trải thảm đỏ mời gọi đầu tư bằng mọi giá, một Chính phủ điều tiết tốt phải có những chính sách cân đối các nguồn lợi từ đầu tư chí ít với các chi phí để bảo vệ môi trường thiên nhiên, các chi phí giáo dục và chuyển đổi nghề cho người nông dân chuyển thành người thợ.                     Chúng ta mong Chính phủ phải nói không được với bệnh thành tích và những lối suy nghĩ vun vén lợi tư trong nhiệm kỳ của mình. Từ công ty cho tới quốc gia, khi quyền lực quản trị được trao cho người điều hành, chúng ta mong có những cơ chế giám sát tốt buộc người điều hành phải hành xử vì lợi ích lâu dài, vượt xa khỏi những cám dỗ thành tích hay lợi ích tư trong nhiệm kỳ được bổ nhiệm. Thảo luận điều chỉnh mô hình kinh tế cũng chính là suy nghĩ về những cách thức góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của những người lãnh đạo quốc gia. Nói một cách dễ hiểu, người lãnh đạo phải lý giải được vì sao họ lựa chọn những chính sách nhất định, chúng có lợi cho ai, và nếu phát sinh chi phí, ai sẽ là người gánh chịu những tổn thất nếu có.   Cánh cửa đã mở, con thuyền đã ra khơi, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của thị trường thế giới rộng lớn. Thương trường như chiến trận, người ta bảo nhiều dân tộc láng giềng chưa chắc đã giỏi giang, khéo léo gì hơn người Việt Nam, song có chăng trong phát triển kinh tế họ may mắn hơn dân tộc chúng ta bởi có được những chính sách tốt. Nói ít, làm nhiều, tướng tài cốt ở dụng mưu, những mong Nhà nước mạnh dần trở thành nhạc trưởng định ra chính sách cho cuộc ganh đua của hàng triệu sáng kiến dân doanh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mong Tia Sáng vẫn nuôi một khát vọng đổi mới      Tôi đặc biệt ấn tượng với những bài viết của các tác giả Nguyên Ngọc, Hoàng Tụy…, những tiếng nói chừng mực nhưng rất quyết liệt, mang tính phản biện cao.     Gần đầu tiên tôi biết đến Tia Sáng cách đây đã gần mười năm. Hôm đó, một người bạn của tôi, trở về từ cuộc gặp mặt đầu năm của Tia Sáng, hồ hởi khoe rằng, thế là giờ đây chúng ta đã chính thức có một diễn đàn của giới trí thức, mà hẳn là giới trí thức tinh hoa.  Quả là bạn tôi không hề nói ngoa về tờ báo. Bài vở đầy đặn, có sức nặng, đọc rất “sướng” vì biết bao vấn đề giáo dục, khoa học, kinh tế, lối sống được phân tích mổ xẻ một cách cực kỳ thuyết phục, khiến người đọc nuôi niềm tin rằng những tiếng nói đó chắc chắn sẽ được lắng nghe và xã hội chắc chắn sẽ có biến chuyển. Cả tờ báo là một thể thống nhất, từ tâm thế của người viết đến phong cách của người biên tập, câu chữ được chăm sóc chu đáo, khiến tờ báo đáng được xem là một mẫu mực về tiếng Việt báo chí. Các bức ảnh đi kèm bài viết đều có chú thích theo phong cách báo chí phương Tây, đầy đủ chi tiết về tình huống và nhân vật trong ảnh. Những ngày đó tôi đặc biệt ấn tượng với những bài viết của các tác giả Nguyên Ngọc, Hoàng Tụy…, những tiếng nói chừng mực nhưng rất quyết liệt, mang tính phản biện cao.  Rất tiếc là thời gian gần đây, dù có thêm một số cộng tác viên mới, (trong đó tôi đặc biệt thích thú với những bài viết uyên thâm, khách quan của GS Nguyễn Văn Tuấn), nhưng cảm giác háo hức khi cầm Tia Sáng trên tay dường như đã phần nào giảm bớt. Có thể giải thích rằng, đó là do mười năm qua đã xuất hiện thêm rất nhiều diễn đàn cởi mở trên báo chí, trên mạng, và cả qua thế giới blog nữa. Những nét độc đáo trước kia của Tia Sáng giờ đang bị cạnh tranh quyết liệt, mặc dù hầu hết bài vở của Tia Sáng, theo tôi, vẫn giữ được chất lượng đồng đều và ổn định. Sẽ rất vô lý nếu đòi hỏi tất cả các bài vở trong mỗi số báo đều phải hấp dẫn, nhưng cá nhân tôi cho rằng, có lẽ Tia Sáng vẫn nên xem lại mật độ một số bài viết mang tính chuyên môn quá sâu, khó hiểu đối với phần lớn bạn đọc. Để nhận xét này không mang tính chủ quan, phải chăng Tia Sáng nên khảo sát ý kiến của bạn đọc đối với nội dung của mình? Một điểm nữa mà tôi muốn góp ý liên quan đến mục tin khoa học, nằm trang trọng ở mấy trang đầu nhưng nôi dung gần như hoàn toàn mượn lại của các báo khác. Theo tôi, vị trí này chỉ nên dành cho những tin bài thuộc bản quyền của Tia Sáng, (không lý gì một tờ báo của Bộ Khoa học lại phải “xài” tin khoa học của những tờ báo phổ thông). Tôi cũng nhận thấy gần đây hầu như không số báo Tia Sáng nào tránh được những lỗi biên tập thông thường. Như vậy là trong khi chưa phát huy được bản sắc mới, thế mạnh mới thì dường như Tia Sáng lại chưa giữ vững một số chuẩn mực rất đáng quý của mình trước đây.  Nói như vậy không có nghĩa là Tia Sáng không còn là tờ báo yêu thích của tôi. Và tôi vẫn thành thực tin rằng, chưa có tờ báo nào thuộc quyền quản lý của cơ quan bộ lại có tầm ảnh hưởng trong xã hội lớn và đạt được mức độ chuyên nghiệp như Tia Sáng.  Chúc cho Tia Sáng ngày càng tạo được ảnh hưởng rộng lớn hơn. Tia Sáng hoàn toàn làm được điều đó nếu kiên trì theo đuổi con đường là diễn đàn của trí thức Việt Nam, và nếu đội ngũ của tòa soạn vẫn còn nuôi một khát vọng đổi mới.  Bạn đọc thân mến  Cùng với động viên, khích lệ, những điểm chưa được, thậm chí “kém chuẩn mực hơn xưa” trong thư bạn Thái Thanh và một số cộng tác viên khác chỉ ra thực sự là một trong những động lực thúc đẩy Tia Sáng quyết tâm đổi mới khi bước sang tuổi 18. Và số báo bạn đọc đang có trên tay là khởi đầu của quá trình đổi mới đó.  BBT chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để Tia Sáng ngày càng hay như kỳ vọng của những bạn đọc.  TIA SÁNG      Author                Quản trị        
__label__tiasang Monod và Camus      Monod và Camus cùng được giới thiệu trong cuộc gặp mặt của một nhóm bảo vệ nhân quyền và hợp nhau ngay lập tức mặc dù cả hai dường như chẳng có điểm chung gì về thân thế cũng như nghề nghiệp. Điều kết nối họ, có lẽ là tinh thần đấu tranh không ngừng nghỉ cho những điều mình tin là đúng.     Camus trong áo khoác phòng thí nghiệm    Jacques Monod (1910-1976) được giải Nobel Y học vào năm 1965 nhờ sự phát hiện về cơ chế điều hòa của gene cùng với hai người đồng nghiệp Francois Jacob và Andre Lwoff. Nghiên cứu của ba người đã lí giải cơ chế đóng mở của gene khi một tế bào phát triển và phát hiện ra vai trò của ARN. Jacques Monod và Francois Jacob đã giúp giải đáp một trong những bí ẩn lớn nhất của ngành sinh học: Sự phát triển của một sinh vật phức tạp từ một quả trứng được thụ tinh.    Tuy nhiên, Monod được công chúng biết đến nhiều hơn với tập bài luận được in thành sách vào năm 1970, mang tên “Ngẫu nhiên và thiết yếu” (Chance and Neccesity), đứng thứ hai trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất ở Pháp năm đó. Trong đó, Monod khẳng định rằng sự ngẫu nhiên thuần túy (pure chance) là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo trong tự nhiên. Tác phẩm của Monod đã thách thức quan niệm của công chúng về sự tiến hóa và đồng thời cũng làm “đau đầu” giới triết học. B.Caroll (tác giả cuốn Brave genius) viết, Monod đã từ chối quan điểm cho rằng nhiệm vụ của khoa học là đóng góp vào sự thoải mái và hạnh phúc của con người mà nghĩ rằng, đóng góp quan trọng nhất của khoa học là thường xuyên khiến con người không thoải mái bằng việc thách thức quan niệm của họ về chính mình. Monod từng trả lời đài BBC: “Tôi cảm thấy rằng, những kết quả của khoa học từ trước đến nay đã thay đổi mối quan hệ của con người với vũ trụ hay cách nhìn của con người về bản thân mình trong vũ trụ”.        Không chỉ là nhà khoa học, Monod còn là một nhà hoạt động chính trị xã hội, lên tiếng đấu tranh cho khoa học chân chính, dân chủ, bình đẳng trong xã hội giữa một thời kì xung đột chính trị tư tưởng gay gắt ở châu Âu sau Thế chiến thứ hai. Monod từng viết trên tạp chí Bulletin of the Atomic Scientists: “Bất cứ khi nào sự khách quan, sự thật và công lý bị đe dọa, một nhà khoa học có trách nhiệm phải xác lập quan điểm của mình và bảo vệ nó”. Ông đã lên án gay gắt Lysenko (một kỹ sư nông học Liên Xô phủ nhận toàn bộ lý thuyết di truyền học cổ điển) trên trang nhất của tờ Combat và chỉ trích sự bành trướng quyền lực của Lysenko. Ông đã yêu cầu hợp pháp hóa việc tránh thai (trước việc số ca nạo phá thai chui tương đương với số trẻ sinh ra mỗi năm và hiểm họa của quy trình này là khôn lường) trong khi giới chính trị và tôn giáo cấm đoán mọi thông tin về vấn đề này. Jacques Monod cũng đứng lên đọc điếu văn trong lễ tưởng niệm Martin Luther King được tổ chức bởi phong trào phản đối nạn phân biệt chủng tộc, chống lại chủ nghĩa bài Do Thái và vì hòa bình. Trong cuộc nổi dậy vào tháng 5/1968 tại Paris, khi các sinh viên bị bắt giữ vì lên tiếng phản đối sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Pháp và cơ chế quan liêu kiểm soát tài trợ cho các trường đại học, khi cảnh sát tham gia đàn áp các cuộc biểu tình và các trường đại học bị buộc đóng cửa, Jacques Monod đã đứng về phía sinh viên. Ông công khai yều cầu chính quyền trả tự do cho những sinh viên bị giam giữ và mở cửa lại các trường đại học.      Tư duy rộng mở và tinh thần nhân văn của Monod không chỉ do ông xuất thân từ một gia đình yêu văn chương và nghệ thuật (bản thân Jacques Monod còn là nhạc công và từng là người sáng lập một dàn nhạc với tên gọi La Cantate chơi các tác phẩm của Bach và được đánh giá cao trong buổi ra mắt công chúng khi đang làm luận án Tiến sĩ) mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ Albert Camus. B.Caroll viết rằng, “với việc công khai cam kết đấu tranh vì nhân quyền, tự do cá nhân và thậm chí cả sự cần thiết phải nổi loạn, Monod là hiện thân của Camus, trong áo khoác phòng thí nghiệm.”    Người “ngoài cuộc”    Khác Monod có một tuổi thơ bình yên ở thành phố biển Cannes, Abert Camus (1913-1960) sinh ra ở Algeria, cha mất sớm do tai nạn nghề nghiệp và ông được nuôi dạy bởi người mẹ mù chữ và hầu như câm điếc. Ông sống trong một căn hộ tồi tàn với mẹ, em trai, người bác bị liệt và bà. Camus sống trong nghèo đói, không có sách vở, báo chí hay radio. Hơn thế nữa, sức khỏe Camus bị “hành hạ” vì bệnh lao ở phổi bên  phải, tưởng chừng không qua khỏi.    Mặc dù phải đấu tranh với bệnh tật và những khó khăn trong cuộc đời, Camus lại không có quan điểm giống như những triết gia theo học thuyết hư không trước đó là phủ định mọi giá trị của cuộc sống. Ông phát triển một điểm nhìn khác biệt, theo đó vừa phải chấp nhận sự phi lí của cuộc sống như sự thật hiển nhiên, vừa trân trọng hết mực cuộc sống. Sự phi lí là một phạm trù quen thuộc trong tiểu thuyết, kịch… của ông, đó là khao khát đi tìm ý nghĩa cuộc sống của con người, trong khi vũ trụ lại hoàn toàn “lờ đi” khao khát đó. Hình tượng Sysiphus trong tác phẩm của Camus chính là sự kết nối giữa việc đón nhận sự phi lí đó và việc tìm kiếm hạnh phúc. Trong huyền thoại, Sysiphus bị trừng phạt bởi chúa trời phải lăn đá lên đỉnh núi mỗi ngày để rồi đến nơi nó lại tự lăn xuống. Tuy nhiên, trong điểm nhìn của Camus, đó lại là sự khinh thị của Sysiphus với chúa trời, sự căm ghét cái chết và khát khao được sống khi phải đối mặt với những vật lộn vô ích. Camus đã tổng kết rằng: “Sự vật lộn với những đỉnh cao đủ để lấp đầy trái tim con người. Mọi người phải nghĩ rằng bản thân Sisyphus đang cảm thấy hạnh phúc”.     Cuộc đời của Camus có phần “chật vật” giống nhân vật của ông. Ông luôn bị “chĩa mũi dùi” từ dư luận, khi bảo vệ quan điểm của mình. Một trong những người bạn thân của ông, Jean Paul Sartre, chỉ trích Camus kịch liệt khi ông cho xuất bản cuốn “Sự nổi loạn” (The Rebel) lí giải nguồn gốc của các cuộc nổi dậy và cách mạng là do sự phủ nhận của cá nhân với những chuẩn tắc công lý hiện tại. Tuy nhiên, ông thà chấp nhận mất đi tình bạn với Sartre còn hơn là bẻ cong ý kiến của mình. Camus cũng là người đã lên tiếng yêu cầu xóa bỏ án tử hình ở Hungary; và vì phản đối án tử hình vô điều kiện, ông còn viết thư cho Tổng thống Pháp René Coty xin giảm án cho những phần tử cực đoan của Mặt trận giải phóng quốc gia đang bị bắt giữ ở Algeria (trong cuộc nội chiến giữa bên trung thành với Pháp và những người Algeria Hồi giáo muốn độc lập). Chính vì hai sự kiện này, Camus chịu  nhiều chỉ trích từ những người quen thuộc giới chính trị và giới văn chương, thậm chí cả sự nghi ngờ từ phía Viện Hàn lâm Thụy Điển khi trao giải Nobel cho ông.    Camus là người sợ hãi mọi hình thức phát biểu trước công chúng. Và vì thế, giải Nobel đến với ông vào năm 1957 đem lại cho ông nhiều nỗi lo hơn là niềm vui. Ông cho rằng giải thưởng vinh danh bộ tác phẩm hoàn thiện của ông nhưng ông lại hi vọng rằng, nó vẫn chưa hoàn thiện. Ông sợ những lời đề nghị phỏng vấn, chụp ảnh và thư mời tới dự các bữa tiệc sẽ khiến ông phân tán khỏi công việc viết lách. Ông sợ giải thưởng sẽ càng khiêu khích những người bất đồng quan điểm với mình. Thế nên, chờ những lời mời phỏng vấn lắng xuống, ông mới trả lời một số rất ít lời chúc từ bạn bè, trong đó có Jacques Monod. Mặc dù ông biết rất nhiều văn nghệ sĩ tiên phong thời kì bấy giờ, như George Orwell hay Pablo Picasso, nhưng ông quả quyết rằng: “Tôi trước giờ chỉ biết một thiên tài thực sự là Jacques Monod”.  Đọc thêm:  Những thiên tài dũng cảm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=8810&CategoryID=42                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Một “bước chuyển cơ bản”      Dự thảo “Quy định tạm thời nghiệm thu đánh giá đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên” đang được Bộ Khoa học và Công nghệ lấy ý kiến của các nhà khoa học. Theo GS. Hoàng Tụy , bản Dự thảo đã đánh dấu một “bước chuyển cơ bản” trong việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản ở nước ta. Đây là lần đầu tiên, các chuẩn mực quốc tế được áp dụng (một phần) để đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học trong nước.         Theo Thứ trưởng Lê Đình Tiến, người chủ trì chỉ đạo soạn thảo Qui định tạm thời thì sở dĩ bản quy định được coi là tạm thời vì chủ yếu chỉ để nghiệm thu trên 160 đề tài đã hoàn thành và trên 900 đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB) đang triển khai. Qui chế tuyển chọn và đánh giá các đề tài NCCB, Bộ KH&CN sẽ soạn thảo tiếp, trong đó đặc biệt coi trọng các tiêu chí đánh giá đầu vào theo các chuẩn mực quốc tế.  Theo Quy định tạm thời này, việc đánh giá các đề tài NCCB sẽ được tiến hành dựa trên các tiêu chí “Kết quả nghiên cứu” và “Kết quả tham gia đào tạo trên đại học”. Ngoài ra còn có tiêu chí khác là “Tiến độ thực hiện đề tài” và “Tình hình sử dụng kinh phí”. Trong các tiêu chí nói trên, “Kết quả nghiên cứu” là chuẩn mực đánh giá quan trọng nhất, nó được thể hiện bằng các công trình đã công bố hoặc đã được nhận đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có tên trong danh sách chỉ số trích dẫn SCI và SCI Expanded do ISI công bố và một số tạp chí chuyên ngành uy tín khác. Ngoài ra, các công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc gia hàng đầu, báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu… cũng được tính đến.  Đánh giá chung về bản Quy định, nhiều nhà khoa học cho rằng, vì hầu hết các đề tài NCCB đã hoàn thành hoặc đang triển khai đều được tuyển chọn chưa theo chuẩn mực quốc tế nên việc qui định những tiêu chí để đánh giá kết quả nghiên cứu như vậy là có thể chấp nhận được nhưng về lâu dài, nếu không áp dụng hoàn toàn các chuẩn mực quốc tế thì vẫn sẽ còn lỗ hổng cho các nghiên cứu kém chất lượng “lọt lưới”. Mặt khác, các tiêu chí đánh giá của Quy định vẫn còn chung chung. Cần phải có những hệ thống chuẩn mực đánh giá cụ thể và chi tiết cho từng ngành. Cụ thể, đối với ngành Toán thì việc đạt chuẩn SCI là cần thiết nhưng với các ngành khác thì có thể thấp hơn (GS Phùng Hồ Hải -ĐH Essen – Đức). Hơn nữa, việc đạt chuẩn SCI cũng chưa hẳn đã đủ để đánh giá chính xác  và chặt chẽ kết quả nghiên cứu ở tất cả các lĩnh vực NCCB, nhất là những ngành đang phát triển với tốc độ rất nhanh như công nghệ thông tin. (Xem “Văn hóa ngành” trong tiêu chí đánh giá. Hồ Tú Bảo. Tia Sáng số14 – 20/7).  Một trong những vấn đề cũng được các nhà khoa học hết sức quan tâm đó chính là chất lượng của Hội đồng khoa học, tổ chức được ủy quyền để đánh giá các công trình NCCB. Theo Quy định, Hội đồng Khoa học do Bộ trưởng Bộ KH&CN thành lập cho từng chuyên ngành hoặc lĩnh vực khoa học. Hội đồng có từ 9 đến 13 thành viên là những nhà khoa học có uy tín, có trình độ chuyên môn phù hợp (tiến sĩ trở lên), có công trình công bố trên các tạp chí khoa học quốc gia, quốc tế trong 5 năm trở lại đây. GS Hoàng Ngọc Long (Viện Vật lý và Điện tử) cho rằng: “Quan trọng nhất trong đánh giá là Hội đồng. Thành viên Hội đồng phải thực sự giỏi và công tâm mới có thể đánh giá chính xác”. Trong tiêu chí “có công trình công bố trên các tạp chí khoa học quốc gia, quốc tế” đối với thành viên Hội đồng, GS Long từng đề nghị bỏ tiêu chí “quốc gia” vì kinh nghiệm cho thấy có rất nhiều “nhà khoa học đầu ngành” nhưng từ hàng chục năm nay không nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu cũng chỉ ra những công trình chất lượng kém, không thể đăng ở các tạp chí quốc tế. “Nếu không (xem lại tiêu chí này), có khi người không làm việc lại đi đánh giá người làm việc”.  GS Ngô Việt Trung (Viện trưởng Viện Toán học) cũng đồng tình với GS Long: “Thành viên Hội đồng mà chỉ đáp ứng được tiêu chuẩn ‘có công trình công bố trên tạp chí quốc gia’ không thôi thì không phản ánh được xu thế vươn lên trình độ quốc tế của nền khoa học nước nhà. Nếu không đủ người thì Hội đồng chỉ cần 5 thành viên là đủ”.    “Đánh động” giới nghiên cứu  Bản Quy định trên chỉ để đánh giá nghiệm thu một phần hoạt động nghiên cứu khoa học trong một giai đoạn không dài, với kinh phí có thể nói là không đáng kể so với ngân sách nhà nước dành cho “quốc sách hàng đầu”. GS Phạm Duy Hiển cho rằng Quy định này chỉ để “chữa cháy” cho việc xét duyệt các công trình NCCB đã có, không thể dùng lâu dài sau này. Dù sao nó cũng “đánh động” giới nghiên cứu khoa học trong nước phải “vươn lên tầm quốc tế”, không chỉ trong lĩnh vực NCCB mà cả nghiên cứu ứng dụng,  không chỉ lĩnh vực khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội.  Tuy nhiên, việc mất tới gần nửa năm để bàn bạc, lấy ý kiến các nhà khoa học và quản lý khoa học để xây dựng một văn bản đánh giá “nhỏ” này cho thấy một vấn đề lớn hơn: Cách đánh giá thực trạng nền khoa học nước nhà. Qua các cuộc bàn thảo, có người rút ra nhận xét: Những người đang thực sự làm khoa học thường đánh giá khoa học Việt Nam ở sau một khoảng cách rất xa so với thế giới và kiến nghị cần áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc đánh giá kết quả hoạt động khoa học. Trong khi đó, một “số khác”, phần lớn là các nhà quản lý, lại cho rằng dù còn yếu kém song những công trình nghiên cứu trong thời gian vừa qua là “tiến bộ đáng ghi nhận”. Vì thế, bên cạnh các chuẩn mực quốc tế, vẫn cần duy trì các chuẩn mực “của ta”.   Sự khác nhau trong cách nhìn nhận này lại liên quan đến tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu của nhà khoa học “chẳng giống ai” của chúng ta từ nhiều năm nay. Một nhà khoa học phát biểu trong cuộc trò chuyện “ngoài lề”: Có những vị “chức sắc khoa học” tên tuổi thường xuyên xuất hiện trên báo chí, nhưng vào Google Scholar tìm thì không thấy công trình đâu!   Để đánh giá chính xác thực trạng nền khoa học thì không gì hơn là có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, tin cậy về đội ngũ làm khoa học nước nhà. Hiện nay Bộ KH&CN đang có một chương trình xây dựng cơ sở dữ liệu như vậy, song một việc tưởng như khá đơn giản trong thời đại thông tin hoá ra lại gặp rất nhiều trở ngại: nhiều người không muốn công khai “hồ sơ khoa học” của bản thân.   Và từ đây lại mở ra một vấn đề khác:  Việc áp dụng các chuẩn mực rõ ràng để đánh giá “đầu vào” (chất lượng những người tham gia nghiên cứu) cũng cấp thiết không kém việc áp dụng chuẩn mực quốc tế để đánh giá “đầu ra” (sản phẩm nghiên cứu).    Kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện bằng các công trình đã công bố hoặc đã được nhận đăng (có giấy xác nhận của Ban biên tập tạp chí, của Ban tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, của nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật) trên các ấn phẩm khoa học sau:  1. Các công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc tế gồm các tạp chí có tên trong danh sách chỉ số trích dẫn khoa học (SCI và SCI Expanded) do Viện thông tin khoa học (ISI) công bố và các tạp chí chuyên ngành uy tín khác do Hội đồng xác định;  2. Các công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc gia gồm các tạp chí hàng đầu do Hội đồng xác định dựa trên cơ sở danh sách tạp chí khoa học quốc gia được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước quy định để xét nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư;  3. Báo cáo khoa học được đăng trong kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế có phản biện;  4. Báo cáo khoa học được đăng trong kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia có phản biện và có giấy phép xuất bản;  5. Sách chuyên khảo từ kết quả nghiên cứu được xuất bản tại một nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật và có nộp lưu chiểu.  (Trích “Quy định….”)         Việt Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cách nhìn về giới tinh hoa      Trong thời đại ngày nay, để phát triển, hội nhập, giới tinh hoa đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào. Để phát huy tối đa vai trò của tầng lớp này, điều kiện tiên quyết là cần phải có một cách nhìn đúng đắn và tránh những ngộ nhận về họ.      Giới tinh hoa rõ ràng là “báu vật”. Song, cần nhìn về giới này trong trạng thái động và mở. Mở là vì tinh hoa có thể tìm thấy ở mọi tầng lớp, địa vị, tuổi tác, dân tộc. Một người thợ thủ công tài hoa, một vận động viên điền kinh đẳng cấp quốc tế, một doanh nhân thành đạt, một ca sỹ được số đông thừa nhận, một nhà văn có sức ảnh hưởng dư luận cao… đều là tinh hoa của đất nước. Những con người này có thể chẳng cần có bằng đại học hay nắm giữ bất cứ vị trí quản lý nào, tuổi đời thậm chí mới ngoài 20. Cách nhìn này trên thực tế đã được Đảng và Chính phủ thừa nhận thông qua chính sách ưu đãi nhân tài, phong nghệ danh, giải thưởng, bổ nhiệm cán bộ trẻ… Tuy nhiên, để điều này trở thành quan điểm của số đông thì vẫn cần thời gian, cần có các hoạt động truyền thông để thay đổi nhận thức, thái độ. Điều kiện tiên quyết để có được cách nhìn này là việc chấp nhận tôn trọng sự đa dạng văn hóa, coi đa dạng như một tất yếu, có tác động tích cực chứ không phải kìm hãm phát triển.  Một cá nhân có thể là tinh hoa ngày hôm nay nhưng có thể trở thành bình thường trong ngày mai nếu như cá nhân ấy không ngừng học tập, phấn đấu. Cần hiểu khái niệm học tập theo nghĩa rộng chứ không chỉ bó hẹp trong chuyện đèn sách. Tinh thần này thực ra đã được thể hiện khá rõ trong Chủ nghĩa Duy vật biện chứng. Sẽ chẳng có gì lạ nếu một giáo sư, nghiên cứu viên cao cấp không xứng đáng ngồi ở vị thế của mình nếu suốt nhiều năm trời người ta không biết ông ấy đang làm gì? Công trình khoa học có hay không? Đóng góp mới cho ngành mình là gì? Sẽ hoàn toàn công bằng và theo lẽ thường khi những quyền lợi tương xứng với chức phận ấy bị lấy đi. Sẽ là bất thường nếu một phó giáo sư cả đời không viết nổi cho riêng mình một cuốn sách trong khi suốt ngày phê phán năng lực nghiên cứu khoa học của đồng nghiệp.  Quyền lợi giới tinh hoa nhận được phải tương xứng với chức phận và đóng góp mà họ tạo ra. Dù là ai, nam hay nữ, già hay trẻ, tiến sĩ hay nông dân…, chừng nào có đóng góp cụ thể, thiết thực, hữu ích cho xã hội, chừng ấy người ta cần phải được công nhận, vinh danh, trao quyền lợi tương xứng. Cần nhấn mạnh là những đóng góp cần cụ thể, hữu hình, có thể lượng hóa được tùy theo chức phận, lĩnh vực liên quan. Một nhà khoa học không thể đòi hỏi nhà nước đãi ngộ khi không có thành tích, kết quả nghiên cứu nổi bật, công bố công khai mà chỉ dựa trên số đề tài, dự án hay sự nhiệt tình tham gia vài hoạt động thể thao hoặc phong trào đoàn thể… Một vận động viên thể thao cần xác lập được kỷ lục, trao tặng huy chương để có thể vinh danh thay vì liệt kê số cuộc thi đã tham dự (mà không đạt thành tích đáng kể). Sẽ là vô lý và bất công bằng khi cùng là nhà khoa học, người lại được tôn vinh xuất sắc nhờ hát hay, múa giỏi, trong khi có người vô tình bị “bỏ quên” dù anh ta có nhiều nghiên cứu đến bao nhiêu đi nữa.      Một số ngộ nhận: 1. Đồng nhất giới tinh hoa chỉ là trí thức, những người có học hàm, học vị cao. 2. Đứng trên các tầng lớp khác và quyết định của họ mang tính chân lý. 3. Nghiễm nhiên được hưởng những đặc quyền, đặc lợi mặc dù không có đóng góp thực tế cho đất nước. 4. Gắn tinh hoa với tuổi tác và địa vị.      Giới tinh hoa không đứng trên mà song hành với phần còn lại của xã hội. Một cá nhân có thể tinh hoa ở điểm này nhưng lại hết sức bình thường ở điểm khác. Chính vì thế, người ấy là một phần của cộng đồng, chứ không hề đứng trên cộng đồng. Cách nhìn này hết sức quan trọng bởi nó giúp xóa nhòa đi ranh giới không cần thiết giữa các nhóm xã hội; khuyến khích, thúc đẩy sự học hỏi lẫn nhau từ các thành viên. Một giáo sư vẫn còn có quá nhiều điều đáng học từ những người xung quanh vì phẩm hàm của ông chỉ có ý nghĩa đến một địa hạt vô cùng nhỏ bé trong biển tri thức rộng lớn. Một nhà quản lý luôn cần đặt hai chân trên mặt đất, lắng nghe, học hỏi kiến thức từ các chuyên gia của mình để có thể đưa ra những quyết sách hợp lý.  Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng đối với giới tinh hoa là yêu cầu cực kỳ quan trọng. Việc đánh giá phải dựa trên những bằng chứng, phẩm chất cụ thể, xác thực, tương xứng với vị trí của người được đánh giá. Những “xì xào” trong việc phong hàm GS, PGS, phong tặng danh hiệu NSƯT, NSND phần nào phản ánh vẫn còn nhiều quy định phải thay đổi cho phù hợp. Không ít nhà hoa học được đánh giá chiến sỹ thi đua khi chẳng có công trình nghiên cứu tiêu biểu, báo cáo đề tài dự án được đánh giá xuất sắc nhưng chỉ khiến giá đựng trong thư viện dày thêm… Tác hại của việc đánh giá “nhầm” vừa khiến ai đó “ngộ nhận” về năng lực bản thân, vừa khiến không ít người có năng lực, tự trọng giảm động lực phấn đấu.  Tinh hoa cũng cần cơ chế tốt để làm việc theo nhóm. Đã từng có nhiều câu chuyện bên lề với đại ý nếu tách riêng, hiệu suất làm việc của một người Việt không thua người nước ngoài nhưng khi phải làm việc theo nhóm thì năng suất thua xa. Nếu nhận định trên là đúng, điều này một phần phản ánh văn hóa làm việc tập thể chưa cao của người Việt, một phần phản ánh sự cần thiết phải có thêm cơ chế phù hợp, khuyến khích người tài làm việc theo nhóm, giúp bổ trợ điểm mạnh của nhau. Nhìn ở bình diện rộng hơn, rõ ràng sự thiếu vắng hay thiếu tính liên kết, hợp tác hiệu quả giữa các cá nhân tinh hoa đến từ các lĩnh vực khác nhau là một trong số nguyên nhân quan trọng khiến khả năng hội nhập, cạnh tranh của chúng ta còn tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực.  Giới tinh hoa không thể làm việc thay cho tất cả, quyết định cho tất cả. Họ cần điều kiện làm việc tốt, sự ủng hộ từ mọi người và ngược lại, kết quả làm việc của họ cũng phải phục vụ, chịu sự đánh giá của số đông. Không duy trì được mối quan hệ hai chiều đó, giới tinh hoa mãi sẽ chỉ là những bình hoa tồn tại trong trí tưởng tượng của một số người.    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Một cách trở về căn cước: Tâm linh/thiêng hóa Trường Sa      1.&#160; Có lẽ, không phải ngẫu nhiên mà trong một khoảng thời gian tương đối gần nhau, sự kiện 725 năm chiến thắng Bạch Đằng (1288-2013) lại thu hút sự chú ý của dư luận đến thế và nhanh chóng được các cơ quan, chính quyền cũng như người dân phục hoạt sống động theo hai hướng: đầu tiên, tổ chức hội thảo khoa học (27/3) nhằm thu nhận về mặt nhận thức lịch sử, đặc biệt là giá trị của chiến thắng đó trong quá khứ – hiện tại; và thứ nữa, nghi lễ hóa các hoạt động liên quan đến kỉ niệm chiến thắng Bạch Đằng, trong đó có việc tổ chức Đại trai đàn cầu siêu cho các vong linh quân dân nhà Trần và cầu quốc thái dân an (15/4), tổ chức rước tượng Trần Hưng Đạo từ đền Trần Hưng Đạo về đình Yên Giang và ngược lại (16, 17/4).     Bạch Đằng và nghệ thuật thủy chiến, Trần Hưng Đạo và thượng sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, đế chế Nguyên Mông tàn bạo và vua tôi nhà Trần trên dưới một lòng…, dĩ nhiên, không còn hiển hiện một cách chung chung sách vở nữa, mà đã được kích hoạt bàn luận bằng cái nhìn hôm nay với bao thực tế nóng hổi đặt vào, nhất là khi ý hướng của mỗi diễn giả được cho là ưu thời mẫn thế đều nhắm đến vấn đề giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng đang cấp bách hơn bao giờ hết1. Nhưng Đại trai đàn cầu siêu và rước tượng Trần Hưng Đạo, diễn ra ở những khía cạnh ít học thuật hơn và với sự tham gia đông hơn của người dân, sẽ cho ta cảm nhận gì?  2. Ngày 27/7/2012, tại huyện đảo Trường Sa, lễ kỉ niệm 40 năm sự kiện bảo vệ thành cổ Quảng Trị bên dòng Thạch Hãn, Đại đức Thích Giác Nghĩa, trụ trì chùa Trường Sa lớn cùng chư tăng, quân dân trên đảo đã tổ chức lễ cúng cầu siêu cho hương hồn các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì từng hải lí và hòn đảo của Tổ quốc. Lễ cầu siêu, không phải lần đầu diễn ra ở Trường Sa, là sự hiện hữu không gì thấm thía, sắc nét hơn về đời sống tâm linh tại một nơi mà sự bình an thật khó lường nhất, còn sự khắc nghiệt, hiểm nguy tính mạng lại thường trực nhất. Trường Sa đã có tiếng chuông, tiếng kinh tụng niệm để không chỉ nói lên đất lành hạnh ngộ đấng từ bi mà chủ yếu, để chạm đến những khát vọng an sinh thuộc vào cõi sâu kín nhất của tất cả cư dân nơi đây – an sinh tinh thần; để thương tưởng những mất mát và đau đớn của một dân tộc từng kinh qua quá nhiều binh đao mà mỗi tấc đất đều đang lưu giữ những lớp linh hồn có thể chưa siêu thoát. Người ta sẽ tìm thấy trong nghi lễ cầu siêu và ngôi chùa trên đảo tiếng nói tín ngưỡng nảy sinh từ một không gian thiêng đầy an ủi và bảo trợ, điều mà các nhà chính trị khó có thể đảm đương nổi, đặc biệt trong tình thế ám ảnh thương vong chiến tranh chưa hề nguôi giảm ở nơi chứng kiến thường ngày các mối đe dọa. Cùng với huyền thoại về những địa chỉ linh thiêng trên đất liền vốn được tạo tác từ trong/sau chiến tranh, từ/bởi tâm thế ưu tư hiện sinh hằng ngày (ngã ba Đồng Lộc, thành cổ Quảng Trị, hang tám cô Quảng Bình…), Trường Sa đã là điểm nối dài của những ý hướng tâm linh/thiêng hóa giang sơn giữa biển cả mênh mông không hề tô vẽ. Một nén hương dâng trong ngày các thiền sư hành lễ sẽ đồng nghĩa với lòng thành tâm cầu mong che chở và thờ cúng đức Phật, đồng nghĩa với sự giao tiếp thánh thần phi rào cản nhằm vợi bớt những lo âu hiện tại. Ở góc độ này, rõ ràng, nghi thức tôn giáo đó xuất phát đơn thuần từ yêu thích tự nguyện của đức tín bình dân, trước khi là “sự quan tâm và chăm lo” của chính quyền như tin tức sáo ngữ hằng gửi đến.  3. Bóng Phật đã ngự tại Trường Sa thì một nhân thần tiêu biểu của dân tộc cũng phải xuất hiện để hoàn tất các giải pháp bảo trợ. Tháng 5/2012, tượng đài Trần Hưng Đạo, tạc bằng đá nguyên khối, cao sừng sững 11m, hướng nhìn ra biển phía Đông Nam, đã được khánh thành tại đảo Song Tử Tây thuộc Trường Sa. Lý do dựng tượng, vốn là món quà của “chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Định”, có lẽ không chỉ vì danh uy của vị tướng văn võ song toàn mà chiến công lừng lẫy có gắn với thủy quân (ngụ ý đến hải quân ngày nay) nhằm tăng thêm ý chí, sức mạnh, khí phách dân tộc; mà chủ yếu vì, từ lâu, ông đã là nhân thần nằm trong hệ thống thờ cúng linh nghiêm bậc nhất. Và cũng vì mô hình kéo dài của tục thờ Trần Hưng Đạo, chúng ta buộc cần thêm những suy nghĩ khác ngoài cách phân tích đơn giản coi việc dựng tượng, nói chung, nằm trong động thái “nêu cao truyền thống” bảo vệ Tổ quốc.  Một nghiên cứu thực địa của TS. Phạm Quỳnh Phương về các di tích thờ Trần Hưng Đạo2 cho hay: không chỉ ở miền Bắc, quê hương danh tướng, mà ở miền Nam cũng tăng nhanh chóng số lượng đền thờ danh tướng này; không chỉ chính quyền miền Bắc xã hội chủ nghĩa trưng dụng tài đức vị tiết chế thống lĩnh chống Nguyên Mông như một kết tinh của tinh thần chống giặc ngoại xâm mà chính thể miền Nam cộng hòa cũng từng coi ông là anh hùng kiệt xuất và bức tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng với tư cách là thánh tổ ngành hải quân do chính thể này dựng nên vẫn tồn tại đến ngày nay. Nghịch lí đó sẽ không còn những vướng víu địa-chính trị khi sự thiêng hóa Đức Thánh Trần là nhu cầu nội tại của toàn thể cộng đồng người Việt có nhiều dị biệt trong kí ức vui buồn. Và từ không gian thiêng đó, các quan hệ giữa quyền lực chính trị và bản sắc xã hội, giai tầng, khu vực…, sẽ trở nên đồng thuận, hòa hợp hơn nhờ một quá khứ chung được chia sẻ, một cội nguồn truyền thống được thuộc về. Vai trò nhà nước như đại diện tập hợp nhân dân trên dưới đồng lòng, xét cho cùng, khá mờ nhạt một khi nỗ lực xác thực căn cước dân tộc đã được rọi chiếu qua những cá nhân kiệt hiệt, những nhân cách văn hóa xuất chúng, những mẫu hình mà mỗi thế hệ sau đều hướng đến với điểm chung là chiêm bái và phụng hiến. Bởi vậy, nếu coi Trần Hưng Đạo là một biểu tượng dân tộc và trước khả năng nhân thần hóa nhân vật lịch sử này đã trải qua nhiều thế kỉ, được liên tục củng cố quyền uy trong hệ thống đền thờ dày đặc, thì việc dựng tượng và dâng hương thờ ông ở Trường Sa càng làm cho tính thiêng ở đây thêm bao trùm. Bởi tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là một tín ngưỡng kép: vừa có tính chất dân gian rộng rãi khi cộng gộp cả niềm tin vào vị thần có thể tiệt trừ tà ma quỉ quái, vừa mang sắc thái cộng đồng quốc gia nghiêm túc thành kính mỗi khi giang sơn gặp biến cố (mà sự kiện tầng lớp sĩ phu trí thức cuối thế kỉ XIX đầu XX, trước cảnh nước mất nhà tan, đã tổ chức lễ cầu cơ có xuất hiện vị thần này là ví dụ cụ thể). Bức, đặt trong chuỗi diễn biến Phật giáo đồng hành, và nhất là trong quan hệ với yếu tố nước (thủy/biển) – một yếu điểm nhưng thường xuyên gây rủi ro thực sự trong đời sống và tâm thức Việt, chính là chỗ đứng của một nhân thần rồi đây chắc chắn còn được linh thiêng hóa thêm nữa.  4.Thực ra, trong quá trình tạo dựng độc lập và tồn tại như một quốc gia có chủ quyền bên cạnh phương Bắc, Việt Nam không ít lần phải nhờ/sử dụng tâm linh như thao tác chính trị để muôn dân hiểu rằng, đó là cách tìm đến sự “phù hộ độ trì” từ các đấng tối cao cho đời sống thế tục mà tất cả vua chúa quan lại lẫn dân đen con đỏ đang tham dự vào. Một hệ thống thần linh, trong đó có nhiên thần là các thần sông nước và thần linh biển đã không ngừng phát triển và có vị trí thờ cúng thật sâu rộng trên lãnh thổ của quốc gia duy trì đời sống nông nghiệp cao độ như Đại Việt, điều đã được Tạ Chí Đại Trường chỉ ra thấu rõ trong cuốn Thần người và Đất Việt (NXB Văn hóa Thông tin, 2006). Cuốn sách cho biết, bất chấp sự có mặt của tầng lớp nho sĩ cầm quyền, tầm quan trọng của thần sông nước trong thời Bắc thuộc và thần linh biển, từ thế kỉ XI, khi có cương vực lãnh thổ riêng, vẫn luôn được duy trì, củng cố và kết nối lâu bền. Điều này cố nhiên sẽ bị sự bành trướng méo mó của tư tưởng vô thần, trong một thời gian dài, liệt vào những tàn dư phong kiến lạc hậu, mê tín dị đoan phản động. Nhưng rõ ràng, những lí lẽ dựa trên khoa học thuần túy thanh giáo và dè bỉu duy tâm cứng nhắc đã không làm mai một thái độ trọng thần, tín thần, cầu thần để vừa hộ quốc vừa an dân từng diễn ra trong quá khứ hàng trăm năm. Thái độ ấy đã tạo nên nền tảng tâm lí cộng đồng luôn biết nương tựa vào các thế lực siêu hình, tiến tới cố kết một nội lực đủ mạnh nhằm đương đầu và vượt qua muôn vàn thử thách đến từ ngoại giới. Trong thời điểm hiện tại, khi “sức mạnh tổng hợp” mới là hiệu triệu cao nhất từ chính quyền thì chắc chắn, những sản phẩm đến từ văn hóa tâm linh sẽ vẫn đầy cơ hội tỏ rõ sức hấp dẫn ở khả năng tụ hợp sự nhất tề ủng hộ từ nhiều cá nhân, đoàn thể. Chẳng ai còn ngỡ ngàng khi nhìn thấy những vị quan chức cấp cao có mặt tại Đồng Lộc, Thạch Hãn, Côn Đảo…, để tham dự các nghi thức thuộc về không gian thiêng, điều tưởng như trái ngược với ý thức hệ duy vật Marxist giữa thời điểm kinh tế thị trường đang là mục tiêu theo đuổi.  Những phân tích của tôi trên đây, phần nào giúp tôi hiểu việc rước tượng Trần Hưng Đạo, tổ chức Đại trai đàn cầu siêu liên quan đến kỉ niệm chiến thắng Bạch Đằng, đều nằm trong quá trình tâm/linh thiêng hóa một nhân thần và bằng cách đó, truyền đạt đến tâm thức con cháu hôm nay sức mạnh quá khứ trong việc giữ gìn biển đảo. Nhưng xin vĩ thanh thêm rằng, chẳng ai có thể biến Trường Sa, biển Đông trở thành không gian thiêng nếu xương máu cha ông đã không đổ xuống ở đó và vì đó; nếu các thúc ước tâm linh không tự nguyện lên tiếng để mong được đáp đền một hòa bình yên ổn dài lâu mà dân tộc này, vì quá khứ từng trông cậy rất nhiều vào thánh thần, đã rút ra như tiếng nói bản sắc.     —    1 Cụ thể, trong Báo cáo đề dẫn, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã trích lại lời của TS Vũ Thị Thu Thủy, Trưởng Ban tổ chức Hội thảo, về mục đích “nâng cao lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của toàn dân trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị của khu di tích lịch sử Bạch Đằng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng”. Đồng thời, ông Ngọc cũng cho rằng Hội thảo đặt “nhiều kì vọng” vào báo cáo của Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến và trích đoạn: “…Truyền thống thủy chiến của dân tộc nói chung, truyền thống đánh giặc trên sông Bạch Đằng nói riêng mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Hải quân Nhân dân Việt Nam. Truyền thống ấy đã và đang được bộ đội Hải quân phát huy cao độ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp quản lý bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc hiện nay”. Điều này cho thấy, tiếng nói từ Hội thảo cũng không nằm ngoài việc “Bạch Đằng hóa” tinh thần giữ biển đảo quê hương. Toàn văn bản Báo cáo đề dẫn này có thể tìm tại địa chỉ: http://hist.hnue.edu.vn/TabId/228/articleID/301/default.aspx   2 Phạm Quỳnh Phương, ‘Những không gian thiêng: Một nghiên cứu thực địa về các di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Việt Nam’ trong Nhiều tác giả (2010), Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, tập II, NXB ĐH Quốc gia TP HCM, tr.86-102    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một chính trường rộng mở      Phải chăng, bài học lịch sử thảm khốc nước  Đức phát xít thù ghét, tiêu diệt, xua đuổi người nước ngoài cùng mọi  người Đức thuộc đảng phái khác, người thiểu năng, đồng tính…  để làm “trong sạch” dòng giống Đức “thượng đẳng” đã biến nước họ ngày nay  thành một chính trường rộng mở, hoà nhập với cả thế giới, thu hút chính khách lỗi lạc của bất kỳ quốc gia dân tộc nào, sẵn sàng phụng  sự dân tộc họ, quốc gia họ?    Người nước ngoài và một Quốc hội đa sắc tộc  Trong văn bản nhà nước Đức, tất cả những người mang quốc tịch Đức, nhưng di dân tới CHLB Đức sau năm 1949, người nước ngoài sinh ra ở Đức, người nhập quốc tịch Đức, người có bố và/hoặc mẹ là người nước ngoài, được gọi chung là “người Đức có nguồn gốc nhập cư”, còn dân dã vẫn quen gọi là “người nước ngoài”.  Trong danh sách ứng cử nghị sỹ 2013 vừa qua có ít nhất 89 ứng viên nguồn gốc nhập cư, gồm 23 ứng viên của Đảng Xanh, 20 ứng viên của Đảng Linke, 20 của SPD, 10 FDP, 8 Piraten, 8 CDU, tổng cộng chiếm 4% tổng số ứng viên của các đảng có đại diện trong Quốc hội.   Kết quả bầu cử, 35 trên tổng số 89 ứng viên người gốc nhập cư trúng cử gấp rưỡi so với khoá bầu cử trước chỉ 21, chiếm 5,6% trên tổng số 630 nghị sỹ, trong khi tỷ lệ người nước ngoài ở Đức là 19% tổng dân số. Đặc biệt số nghị sỹ gốc Thổ Nhĩ Kỳ, tộc người nước ngoài đông nhất chiếm 3,7% dân số Đức, tăng gấp đôi từ năm người trong kỳ bầu cử trước lên 11 người kỳ này, tương đương 1,7% tổng số nghị sỹ. Các nhà phân tích cho kết quả đó phản ảnh “sức khoẻ” của một nhà nước dân chủ đại diện của mọi công dân, không phân biệt nguồn gốc từ đâu, bởi nhà nước nào ngày nay đều thừa nhận nguyên lý của, do, vì dân (tất cả mọi người) thì phải do sức mạnh tổng hợp toàn dân định đoạt chính trường. Người nước ngoài không ngoại lệ, phải được thu hút, hoà nhập vào sức mạnh đó!   Điều mới mẻ nhất trong lịch sử quốc hội Đức là có hai người da đen đều gốc Senegal trúng cử. Karamba Diaby sinh năm 1961 tại Marsassoum, nguyên là cậu bé mồ côi, tốt nghiệp Đại học Halle, mang quốc tịch Đức từ 2001, gia nhập đảng SPD năm 2009. Là Tiến sỹ ngành hóa, trưởng phòng đặc trách hoà nhập của Chính phủ Tiểu bang Sachsen-Anhalt. Còn Charles Muhamed Huber, cháu chắt của cố Tổng thống Senegal Léopold Sédar Senghor, sinh ở München, là diễn viên, nhà viết văn nổi tiếng, tư vấn chính sách cho các cơ quan cấp bộ ở Đức và FAO Liên hợp quốc.   Bao nhiêu phần trăm Ba Lan trong con người Thủ tướng Merkel?   Trong nội các Đức hiện nay không chỉ Philipp Rösler Phó thủ tướng là gốc ngoại quốc thuần Việt, mà chính Thủ tướng Merkel cũng vậy nếu tính mốc từ đời ông bà vốn thuộc tộc người Ba Lan.   Ông nội Angela Merkel là Ludwik Kazmierczak sinh năm 1896 tại Posen, đất Ba Lan, hồi đó thuộc Đế chế Đức (sau thế chiến thứ nhất trả lại Ba Lan). Bà con của Kazmierczak thế hệ cháu chắt ở Ba Lan còn lưu bức ảnh năm 1920 chụp 2 vợ chồng, ông Ludwik Kazmierczak trong bộ quân phục quân đoàn người Đức gốc Ba Lan bị bắt, đặt dưới sự chỉ huy của quân đội Pháp chống lại Đế chế Đức hồi chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Năm 1915, Ludwik Kazmierczak, 19 tuổi gia nhập quân đội Đức tham gia mặt trận phía Tây, có thể bị bắt hoặc trốn sang hàng ngũ quân Ba Lan thuộc Pháp. Quân đoàn này sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất được trả lại Ba Lan, tham gia phòng thủ biên giới phiá Đông chống Hồng quân Nga. Cũng vào thập niên trên, Ludwik Kazmierczak di dân sang Đức, sống ở Berlin-Pankow, làm cảnh sát, mất năm 1959. Cha Merkel được sinh ra tại Berlin năm 1926 mang họ tên Horst Kazmierczak, bốn năm sau đổi họ sang người Đức thành Horst Kasner, sau này chuyển về Hamburg, quận Barmbek sinh sống. Tại đó, năm 1954, ông cùng vợ Herlind Kasner sinh hạ Angela Kasner, Thủ tướng Angela Merkel hiện nay. Ông mất năm 2011. Merkel nhiều lần kể về nguồn gốc Ba Lan của mình. Năm 1995 tại ngày lễ thánh Hamburg, bà cho biết cha mình gốc Ba Lan. Năm năm sau, trả lời phỏng vấn báo Spiegel bà khẳng định 1/4 con người bà là Ba Lan. Vậy là cháu ruột Ludwik Kazmierczak, người Ba Lan nhập cư sang Đức cách đây hơn 70 năm, đã trở thành Thủ tướng Đức ba nhiệm kỳ liên tiếp, một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Phải chăng, bài học lịch sử thảm khốc nước Đức phát xít thù ghét, tiêu diệt, xua đuổi người nước ngoài cùng mọi người Đức thuộc đảng phái khác, người thiểu năng, đồng tính luyến ái… để làm “trong sạch” dòng giống Đức “thượng đẳng” đã biến nước họ nay thành một chính trường rộng mở, hoà nhập với cả thế giới, thu hút bất cứ chính khách lỗi lạc nào của bất kỳ quốc gia dân tộc nào, sẵn sàng phụng sự dân tộc họ, quốc gia họ? Thế giới không thiếu gì quốc gia mức độ thảm khốc tương tự, nhưng liệu có rút ra được bài học như dân tộc Đức đưa quốc gia họ lên hàng đầu thế giới?    Merkel còn bao nhiêu phần trăm Chủ nghĩa Xã hội trong ý thức hệ?   35 năm đầu cuộc đời Merkel người Tây Đức ít biết, được hé mở trong cuốn sách “Quãng đời đầu tiên của Angela Merkel” do nhà sử học Ralf Georg Reuther và nhà báo Günther Lachmann xuất bản hồi đầu năm nay: Vào thời kỳ phân chia hai nước Đức, hàng tháng có tới hàng vạn người ở xứ sở “Nhà nước công nông liên minh” quay lưng lại với chính quyền chuyển sang Tây Đức, thì một nhà thần học trẻ cùng vợ với một đứa con gái mới vài tuần tuổi, Thủ tướng Đức hiện nay, lại chuyển sang CHDC Đức ở. Ông chủ hãng giúp di chuyển nhà cửa hỏi ông Horst Kasner, cha đẻ của Angela Merkel: “Tại sao một cố đạo tin lành lại tự nguyện rời miền Tây để sang sống ở miền Đông? Chỉ những người cộng sản hoặc những kẻ ngu ngốc thực sự mới làm điều đó”. Vài năm sau, việc chuyển nhà của gia đình Kasner hoàn tất từ Hamburg đến làng Quitzow, tỉnh Brandenburg, CHDC Đức. Cố đạo sau này của Hamburg có tên là Hans Otto Völber nói với Kasner rằng, “ông rất cần cho Brandenburg, vì ở đó không đủ cố đạo”. Albrecht Schönherr, Tổng Giám mục giáo xứ Brandenburg an der Havel đã cất nhắc Kasner từ trợ lý cố đạo lên chức vụ cao hơn, và đưa vào làm việc trong nhóm Weißenseer, gồm những nhà thần học được giới thiệu làm việc cho nhà nước Đông Đức. Nhóm này giành nhiều thời gian và tổ chức nhiều cuộc họp nhằm đả thông tư tưởng cho giáo dân ủng hộ xây bức tường thành Berlin, đồng thời cho rằng nhà thờ cần phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH. Ông “Kasner đỏ”, tên dân làng gọi cha của Angela Merkel, có thái độ thù nghịch với CHLB Đức mãi cho đến khi mất vẫn không muốn thay đổi.          Nhiều nhà quan tâm tới tiểu sử Merkel tự  hỏi, còn bao nhiêu phần trăm CHDC Đức trong con người Angela Merkel?  Phải chăng ý thức về vận mệnh và tiền đồ dân tộc quyết định vai trò của  chính khách, bất luận tư tưởng của họ sẵn có như thế nào, miễn là họ hoà  nhập vào xu thế chính trường của thời đại? Nếu không xã hội loài người  đã dẫm chân tại chỗ, không phát triển tới thế giới hiện đại ngày nay!        Năm 1961, Angela Merkel bắt đầu đi học và cũng là năm bức tường thành Berlin được xây dựng. Cô là một học sinh xuất sắc luôn mang điểm 1 và 2 về nhà. Không thể khác được, bởi bà Herlind đã nói với con gái khi tới trường rằng: “Con là con của cố đạo, phải luôn học giỏi hơn những đứa trẻ khác”.   Với tính hiếu học đặc biệt, Angela học giỏi nga văn. Vào năm lớp 9, cô nữ sinh mẫu mực đạt giải Olympiade tiếng Nga của CHDC Đức. “Kasi” như các bạn cùng lớp thường gọi Merkel lúc đó, được cử sang Moskau năm 1970 để thi Olympiade quốc tế tiếng Nga. Từ năm lớp hai, Angela đã được đeo khăn quàng xanh của Đội thiếu niên trẻ, một tổ chức cơ sở cấp dưới của Đoàn Thanh niên tự do Đức FDJ. Điều đó gần như tự động, bởi “đơn giản em cũng như bao học sinh khác thích vào Đội thiếu nhi”. Lên các lớp trên, Kasi thuộc những thanh niên tiêu biểu nhất, luôn là cán bộ Đoàn FDJ của lớp, được thưởng huy chương bạc Lessing vào năm lớp 10. Duy nhất một lần trong cuộc đời học sinh, nữ sinh lớp 12b Angela có “vấn đề” khi tham gia tổ chức chương trình văn nghệ với chủ đề “Đoàn kết với Việt Nam”. Angela lên sân khấu đọc bài thơ “Cuộc sống buồn tẻ” của Christian Morgenstern, tiếp đó hát bài “Quốc tế ca” không bằng tiếng Nga hay Đức mà lại bằng tiếng Anh, rồi rời bỏ sân khấu. Hậu quả, Angela Kasner mất chức Phó Bí thư Đoàn và suýt nữa không được vào đại học. Cha của Angela phải lo cho con gái thoát khỏi kỷ luật. Trước tiên, ông nhờ cậy đến Schönherr với cương vị vừa là bạn bè vừa là cấp trên để có thể tác động tới Văn phòng tỉnh phụ trách các vấn đề tôn giáo, gửi bản kiểm điểm của con tới BCH Đảng bộ SED tỉnh Brandenburg, bảo con gửi tiếp tới Hội đồng tôn giáo tối cao Berlin do ông Manfred Stolpe phụ trách, sau này là thủ hiến tiểu bang Brandenburg. Cuối cùng thì Angela cũng được tha thứ với mức cảnh cáo cho hành động “khiêu khích chính trị”. Tuy nhiên trong văn bằng tốt nghiệp không hề ghi hình thức kỷ luật này.  Cô nữ sinh tốt nghiệp phổ thông với điểm xuất sắc bắt đầu khóa học mùa thu năm 1973 tại Leipzig, với chuyên ngành vật lý. Ngoài học tập nghiên cứu, Angela Kasner luôn là Ủy viên BCH Đoàn cơ sở, được phân công phụ trách tuyên truyền.  Tháng 6.1978, Angela Merkel nhận được tấm bằng tốt nghiệp loại ưu, và phân công về Viện hàn lâm khoa học CHDC Đức vốn được coi là nơi làm việc tốt nhất của CHDC Đức. Nhà nữ vật lý trẻ với mức lương 650 Mark Đông Đức hàng tháng nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống hàn lâm, và còn là một cán bộ BCH Đoàn FDJ năng động phụ trách công tác cổ động tuyên truyền. BCH Đoàn của Viện trực thuộc Trung ương Đoàn mà Bí thư lúc bấy giờ là Egon Krenz sau trở thành Tổng Bí thư cuối cùng của đảng SED cầm quyền. Thông thường, hàng tháng cứ một – hai lần, tại Viện, những vấn đề chủ nghĩa Mác – Lênin, đánh giá kết quả các kỳ Đại hội, Nghị quyết Đảng cũng như những tranh cãi nóng bỏng về kẻ thù giai cấp được đưa ra bàn luận. Tuy nhiên, năm 1991 trong một lần phỏng vấn báo FAZ Merkel nói: “Tôi chỉ là một đặc trách viên về văn hóa. Tôi lo đi mua vé xem kịch và tổ chức các buổi đọc sách”. Còn người đỡ đầu và ủng hộ bà Merkel sau này là Günther Krause, nguyên Bộ trưởng Giao thông vận tải thì phản bác lại: “Bà ấy phụ trách công tác cổ động, tuyên truyền, được trang bị đầy đủ các kiến thức Mác trong đầu và với mọi thủ thuật chính trị để làm việc”. Như biên bản của kỳ họp vào tháng 11.1981 ghi, Angela Merkel là một trong chín ủy viên BCH công đoàn Viện. Bà chịu trách nhiệm về công tác thanh niên. Tuy nhiên, trong chuyến trở lại từ Ba Lan năm 1981, công an biên phòng Đức kiểm tra túi xách tay của bà, phát hiện được hai tấm ảnh mang biểu tượng công đoàn đoàn kết Ba Lan, một tạp chí và một huy hiệu công đoàn đoàn kết. Merkel giải thích được các bạn Ba Lan đưa đi thăm quan và tặng qùa, không hề biết những thứ đó có được phép mang theo hay không.   Chủ trương “mở cửa” và “đổi mới” mà Tổng Bí thư Đảng cộng sản Liên Xô muốn cải cách Chủ nghĩa Xã hội như luồng điện đánh thức tất cả những người ngưỡng mộ Liên Xô như Angela Merkel. Kỹ sư hóa lượng tử Michael Schindhelm nhớ lại, “người bạn, nữ đồng nghiệp phòng bên cạnh (Angela Merkel) mỗi ngày uống hai cốc cà phê hòa tan của Thổ Nhĩ Kỳ tại bàn của tôi. Chúng tôi dẹp phần “thế giới máy tính” của chúng tôi sang một bên, để quan tâm đến sự phát triển tuyệt vời của đất nước đổi mới”.   Tháng 9.1989, tại nhà thờ Templin, bà Merkel tham dự hội thảo về tình hình chính trị của đất nước cùng với cha, em trai và Günther Nooke sau này là ủy viên đoàn chủ tịch phong trào “Khởi xướng dân chủ”. Tuy nhiên bà Merkel lại cương quyết từ chối một hệ thống xã hội kiểu phương tây: “Nếu chúng tôi cải cách thì sau đó cũng không có nghĩa như kiểu CHLB Đức”.   Vào thời điểm này, Angela Merkel đã thuộc về đảng đối lập “Khởi xướng dân chủ”. Cũng như các đảng đối lập khác, Đảng này theo quan điểm xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ ở miền Đông nước Đức. Bà Merkel cũng như hàng triệu người dân CHDC Đức, kết thúc năm 1989 vẫn không muốn rời bỏ hoàn toàn Chủ nghĩa Xã hội. Nhóm trí thức cánh hữu, trong đó có nhà văn Christa Wolf và Stefan Heym, tháng 11.1989 vẫn đưa ra lời hiệu triệu: “Tất cả cho đất nước chúng ta”. Trong đó, họ đặt nhân dân trước sự lựa chọn: Một bên là một “xã hội đoàn kết” trên mảnh đất CHDC Đức cũ và một bên là “bán hết mọi giá trị tinh thần và vật chất của chúng ta” bằng việc chuyển giao cho Tây Đức. Trong một lá thư ngỏ gửi Chrita Wolf, Merkel viết: “Nếu như Ngài còn muốn tin vào tương lai của Chủ nghĩa Xã hội thì đó có thể là một điều cần thiết, song phải soạn thảo ngay một dự án để hiện thực nó, chứ đừng tranh luận vô bổ. Trong thời điểm nóng bỏng của đất nước này, việc các Ngài còn đi tập hợp và quyên góp chữ ký để nghiên cứu thì sẽ không còn tác dụng!”  Vì sao một Angela Merkel trong tháng 12.1989 còn đang ủng hộ một viễn cảnh CNXH, sau 13 tháng đã trở thành Bộ trưởng Gia đình trong Chính phủ Liên bang Đức? Làm sao từ một người ý thức hệ cộng sản, sau hơn chục năm thống nhất nước Đức, bà đã trở thành Chủ tịch Đảng CDU, Thủ tướng CHLB Đức, và lãnh đạo CDU thắng cử kỳ bầu cử quốc hội lần này cao bậc nhất trong lịch sử Đảng CDU? Nhiều nhà quan tâm tới tiểu sử Merkel tự hỏi, còn bao nhiêu phần trăm CHDC Đức trong con người Angela Merkel? Phải chăng ý thức về vận mệnh và tiền đồ dân tộc quyết định vai trò của chính khách, bất luận tư tưởng của họ sẵn có như thế nào, miễn là họ hoà nhập vào xu thế chính trường của thời đại? Nếu không xã hội loài người đã dẫm chân tại chỗ, không phát triển tới thế giới hiện đại ngày nay!    Chính trường và quy luật “chọn lọc tự nhiên”   Lần đầu tiên trong lịch sử CHLB Đức, Đảng FDP, một đảng lớn hàng đầu xưa nay, bị loại ra khỏi Quốc hội với số phiếu bầu tụt từ 14,7% kỳ bầu cử năm 2009 xuống còn 4,8% năm nay, dưới ngưỡng tham gia Quốc hội quy định 5%. Chủ tịch đảng FDP, Philipp Rösler gốc Việt và toàn bộ BCH trung ương Đảng phải nhận trách nhiệm đối với thất bại, cùng từ chức, mặc dù nguyên nhân gốc rễ chưa hẳn đã hoàn toàn do họ.           Khi lá phiếu định đoạt số phận đảng phái  được đặt vào tay người dân tự chọn lựa. Nó buộc mọi đảng phái dù thắng  cử cũng phải nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi nếu không sẽ bị người dân gạt  bỏ tại bất cứ kỳ bầu cử nào. Nhưng nó cũng tạo cơ hội cho bất cứ Đảng  nào quyết tâm vượt qua thất bại.        Trước hết, FDP đã sai lầm khi tranh cử bằng “mưu lược” với lời kêu gọi cử tri, “Nếu muốn tiếp tục bầu Merkel, hãy bầu đảng FDP”, nhằm vận động phiếu bầu của những tín đồ liên minh Đảng CDU/ CSU với lập luận, chỉ khi bầu đảng FDP, Chính phủ của Liên minh FDP+CDU/CSU rất uy tín hiện nay mới có thể duy trì. Tuy nhiên, nhiều tín đồ thất vọng, cho đó là hành động tự hạ thấp không thể tưởng tượng được khi không tin vào chính khả năng, trí óc của mình mà “ăn mày dĩ vãng”, bám vào qúa khứ, vào danh tiếng của nữ Thủ tướng Merkel. Các cử tri đã đưa ra quyết định logic nhất, đánh dấu tín nhiệm vào ô bầu Đảng CDU/ CSU khi muốn tiếp tục thấy bà Merkel trong dinh Thủ tướng mà không cần đánh vào ô Đảng FDP. Kết qủa, hơn hai triệu người năm 2009 bầu đảng FDP năm nay chuyển sang ủng hộ liên minh Đảng CDU/ CSU, khiến số phiếu bầu của họ đạt kỷ lục xưa nay tới 41,5%. Đảng FDP mất phiếu nhiều nhất ngay tại tiểu bang Baden-Württemberg từng tín nhiệm họ nhất vào năm 2009 tới 18,8% phiếu bầu; nay có tới 570.000 số cử tri đó chuyển sang bầu cho đảng SPD và 400.000 bỏ bầu cử do quá thất vọng. Ngoài ra, đảng AfD mới thành lập xuất hiện trong kỳ bầu cử này với tôn chỉ mục đích chống đồng Euro đã lấy mất tới 440.000 cử tri của FDP. Không đảng nào mất số phiếu bầu nhiều hơn thế vào tay AfD.   Tiếp theo, đảng được dân tín nhiệm cầm quyền hay không rốt cuộc do niềm tin của họ vào chủ trương đường lối đảng đó qua thực tế quyết định; nhưng chính sách thuế của đảng FDP, theo thăm dò dư luận, chỉ được 6% dân chúng ủng hộ, chính sách y tế chỉ 4%, và chính sách kinh tế mặc dù thuộc lĩnh vực chủ chốt có tiếng của đảng FDP xưa nay cũng chỉ 3%. Đặc biệt có tới 83% người được hỏi, đồng ý với đánh giá: Đảng FDP hứa hẹn nhiều nhưng gần như không thực hiện được, tức bất lực – nguyên nhân cốt lõi FDP bị người dân bất tín nhiệm!  Đó cũng là thước đo “chọn lọc tự nhiên” nghiệt ngã nhất của chính trường, khi lá phiếu định đoạt số phận đảng phái được đặt vào tay người dân tự chọn lựa. Nó buộc mọi đảng phái dù thắng cử cũng phải nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi nếu không sẽ bị người dân gạt bỏ tại bất cứ kỳ bầu cử nào. Nhưng nó cũng tạo cơ hội cho bất cứ Đảng nào quyết tâm vượt qua thất bại. Ngay đêm bầu cử, Christian Lindner, Phó Chủ tịch FDP, Chủ tịch đoàn Nghị sỹ FDP tiểu bang Nordrhein-Westfalen đã nhận thấy nguy cơ thất cử, ra tuyên bố, kêu gọi “tình trạng FDP rất nguy ngập, chúng ta phải cải cách tư duy tận gốc rễ” ! Quốc hội Đức là nơi tập trung mọi sức mạnh chính trường Đức; FDP dù thất cử, hay bất kỳ đảng nào, chính khách nào cũng vậy, đều có quyền kỳ vọng tham chính, một khi thay đổi được chính mình như người dân mong đợi, chứ không phải ngược lại!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cơn gió bụi      Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả  uyên thâm cả tân học lẫn cựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục  Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và  dân tộc-bảo hoàng. Chính Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên trong Nội các  trước đây của ông đã từng nhận xét: “Trần Trọng Kim là một người yêu  nước nhưng không phải là một nhà chính trị”.     Không ai phủ nhận Nội các Trần Trọng Kim là do Nhật lập ra để lèo lái theo ý đồ chính trị của Nhật (chuyện này chính Trần Trọng Kim và những người xung quanh ông cũng đã biết trước và sau khi chấp chính), nhưng nội các đó có “tay sai bù nhìn” hay không thì lại là vấn đề đã gây nên nhiều tranh cãi.         Bùi Diễm cháu gọi ông bằng chú (miền Nam gọi dượng) có lẽ là một trong những người có điều kiện tiếp xúc gần gũi và rành rẽ hơn hết về tính cách ngây thơ chính trị của ông cũng như của cả nhóm bộ trưởng dưới quyền ông, đã từng đánh giá: “Cụ Kim vẫn còn bị những khuynh hướng tổ chức theo lối cổ ngày xưa ảnh hưởng rất nhiều. Khi tìm người ra phục vụ, cụ đã mời những người vừa xuất sắc về học vấn, vừa chánh trực thanh liêm về cùng làm việc. Cụ coi đây là những đức tính tiên quyết, bắt buộc phải có ở những người phục vụ đất nước. Khi nhìn lại bằng con mắt hiện thời thì quả thật lúc loạn ly bấy giờ chưa chắc đã phải là lúc của những đức tính như vậy….Tuy thế, hầu hết các nhân viên trong cả chánh phủ đều thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Khi giải quyết các vấn đề chính trị, họ thường giải quyết dựa vào các quan niệm lý thuyết. Họ sẵn sàng tán thành các giải pháp được đề ra, miễn là những giải pháp đó có vẻ hợp luận lý….Tuy không hề nghe lệnh [người Nhật], họ cũng chẳng hề biết rõ thấu đáo tình hình chính trị và quân sự đang gây sóng gió chung quanh…. Họ chẳng biết tí gì về người Mỹ…. Theo tôi nhớ thì hình như các bộ trưởng chưa bao giờ nói gì đến chuyện ông Hồ Chí Minh hoặc Việt Minh…. Ngay cả đến người Nhật, mà tôi nghĩ là họ phải hiểu hơn cả, họ cũng chẳng biết rõ ý định của người Nhật. Dường như họ cũng chẳng lo lắng mấy về vấn đề người Nhật sắp sửa thất bại…. Theo tôi thấy thì có lẽ ông [ông chú tôi] không màng gì đến chuyện tranh chấp quyền lực trong tương lai. Ngược lại, ông đã nghe về Việt Minh và đang tự hỏi xem thật sự họ có phải là nhóm người lãnh đạo hữu hiệu nhất cho quốc gia vào những ngày khó khăn sắp tới hay không? Ông bảo tôi rằng hình như đảng Việt Minh đã được Hoa Kỳ ủng hộ. “Nếu đúng như vậy thật”, ông nói tiếp “thì ta vui lòng nhượng quyền cho họ”… Một tuần sau thì có tin Nhật đầu hàng Đồng minh, ở Huế tình hình chẳng những đã cực kỳ sôi sục, mà còn rối ren mù mịt. Vì chưa sửa soạn kỹ lưỡng để nắm quyền, khi định mệnh xô ngã Nhật, chánh quyền của ông chú tôi hoàn toàn bỡ ngỡ, không biết phải hành động ra sao….Tuy thế sau khi cụ Kim đã quyết định [từ chức] thì tất cả những cảm giác vui buồn lẫn lộn đều hoàn toàn biến mất. Cụ đã nói với tôi rằng: ‘Giờ chú hoàn toàn vui mừng như xưa, sẽ có người khác phải gánh trách nhiệm. Thật là nhẹ nhàng vô cùng’”.          Do cái ngả rẽ sang con đường chính trị mà không thành công như niềm tin có thể ngây thơ và chí hướng tốt đẹp, sau khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, và nhất là sau năm 1954, cũng vì cái lý lịch chính trị đó, nên tương tự như trường hợp Phạm Quỳnh, ở miền Bắc người ta không nhắc gì đến ông nữa, cả về phương diện học thuật. Cá nhân Trần Trọng Kim cùng với quyển Việt Nam sử lược nổi tiếng một thời đã bị một số nhà sử học mác-xít đầu đàn như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu… phê phán nặng nề bằng một số cụm từ như bù nhìn, phản dân tộc… Các sách giáo khoa môn sử cũng theo đó mà đưa ra các nhận định, hoặc mạt sát nặng nề, hoặc chỉ nhắc lướt qua như một chi tiết phụ không đáng kể…, khiến cho học sinh và thậm chí một số trí thức tương đối trẻ ngày nay không còn biết Trần Trọng Kim là ai và nội các do ông lãnh đạo có vai trò lịch sử như thế nào nữa.         Riêng cuốn Việt Nam sử lược đã từng bị coi là sách cấm, khiến cả những giáo sư dạy sử trong trường đại học (như GS Trần Quốc Vượng…) cũng chỉ dám cất giấu đọc lén, bởi vì theo quan điểm chính thống, “những người làm công tác sử học Việt Nam đã bóc trần các quan điểm sử học thực dân phong kiến trong một số sách lịch sử do bọn bồi bút thực dân biên soạn, mà tiêu biểu là cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim” (xem Văn Tạo, “Khoa học lịch sử Việt Nam trong mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, Viện Sử học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1981, tr. 9).            Khoảng hơn chục năm gần đây, qua lớp bụi thời gian, “tội lỗi” của Trần Trọng Kim đã dịu bớt, người ta bắt đầu biết đến rồi nhận ra giá trị, cho in đi in lại nhiều lần những Việt Nam sử lược, rồi Nho giáo, Phật giáo, Phật lục… , nhất là bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và  Luân lý giáo khoa thư do ông chủ trì nhóm biên soạn. Từ năm 2000, tức 47 năm sau khi Trần Trọng Kim qua đời, mới thấy mục từ TRẦN TRỌNG KIM bắt đầu xuất hiện trong cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm-Trương Hữu Quýnh chủ biên (NXB Giáo Dục). Năm 2004, khi bộ sách quy mô Từ điển Văn học bộ mới ra đời (NXB Thế Giới), mục từ TRẦN TRỌNG KIM lại được đưa vào một cách trân trọng hơn, do nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi trình bày, với gần đầy 3 trang giấy khổ lớn, bỏ hết mọi lời công kích.              Trong số những nhà sử học trụ cột thế hệ tiếp sau Trần Huy Liệu-Trần Văn Giàu, mặc dù vẫn ở trong phái “chính thống” hay “dòng chính”, mọi người nhận thấy dường như chỉ có GS Đinh Xuân Lâm đi trước một bước với những quan niệm, nhận định cởi mở và chính xác hơn về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim, khi ông nói: “Chúng tôi cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật là chính xác vì thực tế nó ra đời là do bàn tay Nhật tạo dựng và theo ý định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nhìn e rằng chưa thật sự đúng, vì trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ý muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước” (Trường Thanh niên tiền tuyến Huế-1945: Một hiện tượng lịch sử, NXB Công An Nhân Dân, 2008).         Cho đến nay, biên khảo về Trần Trọng Kim nói chung và về Nội các Trần Trọng Kim nói riêng, theo sự hiểu biết của chúng tôi, có lẽ chưa có công trình nghiên cứu nào tập hợp đầy đủ tư liệu và viết có phương pháp, hệ thống bằng cuốn Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Phạm Hồng Tung (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009; tái bản năm 2010).          Cuốn sách nêu trên, dày 380 trang, đoạt Giải thưởng ĐHQG Hà Nội 2010, nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể hoàn cảnh, nguyên nhân ra đời, các chủ trương, chính sách và hoạt động của Nội các Trần Trọng Kim, để đi tới cách đánh giá có phần tiến bộ hơn so với các thế hệ đi trước về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của nó. Tuy nhiên nếu đứng trên phương diện quan điểm đánh giá lịch sử mà xét thì dường như tác giả cũng chỉ dựa chủ yếu theo quan điểm “chính thống” để giải thích mọi hiện tượng lịch sử, theo hướng minh họa cho nổi bật thêm những nét thành công của Cách mạng tháng Tám và ít nhiều có thái độ ác cảm với nhân vật họ Trần (biểu hiện qua lời lẽ diễn đạt, thể cách xưng hô, gọi Trần Trọng Kim là “ông ta”…). Từ đó, Phạm Hồng Tung đã chỉ tổng hợp các cách đánh giá, chỉnh sửa đôi chút để đi đến những kết luận ít cực đoan hơn so với phái “chính thống” cũ, khi cho rằng: (1) Nội các Trần Trọng Kim vẫn là một chính quyền bù nhìn của người Nhật, nhưng đó chỉ là một chính quyền bù nhìn thụ động, không phải là chính quyền tay sai đắc lực của người Nhật; (2) Trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của nó, đối với việc phụng sự chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, Nội các Trần Trọng Kim đã có một số đóng góp quan trọng, đáng được ghi nhận; (3) Việc luận chứng đầy đủ về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Nội các Trần Trọng Kim và hệ thống chính quyền bù nhìn thân Nhật đã góp phần quan trọng để khẳng định rằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam là cuộc cách mạng thực sự mang tính chất dân tộc và tính chất dân chủ sâu sắc (xem Phạm Hồng Tung, tr. 343-367).         Với cách đánh giá của Phạm Hồng Tung, tuy có bị ảnh hưởng nhiều bởi những nguồn thông tin “ác cảm” từ tập hồi ký Phạm Khắc Hòe, Nội các Trần Trọng Kim đã được “giảm án” đi đôi chút. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích đánh giá, một vài nhận xét của tác giả chỉ dựa trên những suy luận gán ghép đơn thuần chứ không căn cứ vào lẽ công bằng và kinh nghiệm thực tế, như nói “Trong suốt hơn ba tháng cầm quyền, nội các này không hề biếm phạt nghiêm khắc một viên quan nào…”  để phê bình sự biện bạch của Trần Trọng Kim trong việc chỉnh đốn quan trường (tr. 210-211); hoặc “một chính phủ bù nhìn, bất lực trước những nhiệm vụ do tự nó đặt ra” (tr. 196)…, là những vấn đề mà chỉ trong vòng 4 tháng thì không một nhà chính trị thần thánh nào có thể làm khác nổi.          Năm 1962 được thầy Trần Quốc Vượng lén chỉ và khuyên tìm đọc Việt Nam sử lược, ông Mai Khắc Ứng từ đó hết sức trân trọng Trần Trọng Kim cùng tác phẩm sử học của ông, và mãi đến gần đây mới viết ra được một số ý kiến, tâm tư của mình trong bài “Trần Trọng Kim với Việt Nam sử lược”, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay (số 346, tháng 12.2009).         Để biện hộ cho tính chính đáng trong lựa chọn-hành động chính trị của Trần Trọng Kim, tác giả bài báo đưa nhiều lý lẽ như: Trần Trọng Kim là một học giả không có thủ đoạn chính trị và tham vọng quyền lực, thực sự chưa hề chuẩn bị làm chính khách đứng ra thành lập Chính phủ. Nhân tình thế chủ quan, khách quan của đất nước nửa đầu năm 1945, ông nhận ra con đường thực thi phận sự công dân trước vận mệnh Tổ quốc…. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập đơn giản bao nhiêu thì cáo chung cũng nhẹ nhàng, thanh thản bấy nhiêu, không có ai trong hàng các bộ trưởng tỏ ra cay cú bực dọc phản ứng thù hận…. Nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thực sự thì ngay thời điểm đó và cả sau này nữa, tại sao nhiều người đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà?… Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ. Pháp lo sợ điều này và săn đuổi Trần Trọng Kim là lẽ đương nhiên…. Một điều không nói ra nhưng ai cũng biết là Pháp quay lại Việt Nam lần này với hai sứ mạng. Một là giành Đông Dương từ tay Nhật bại trận. Hai là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản. Chính phủ Trần Trọng Kim là trở lực của hai sứ mạng đó… Còn nếu cho rằng mọi sự bắt tay trong quan hệ bang giao là tay sai thì tội cho những người trước và sau Trần Trọng Kim lắm lắm….Có một chi tiết đáng được lưu ý là Trần Trọng Kim đã yêu cầu Nhật mở cửa các nhà tù của Pháp, ân xá toàn bộ chính trị phạm, kể cả người tù cộng sản….          Rồi đi đến kết luận dứt khoát:          “Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chí ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỷ XX và Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ tri thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hoà”.         Hơn nửa năm sau, Phạm Hồng Tung đã viết bài “Nội các Trần Trọng Kim và Cách mạng tháng Tám” (Xưa & Nay, số 361, tháng 8.2010) để bác bỏ những lý lẽ cho là chưa vững của Mai Khắc Ứng.   Trong bài viết đó, trước khi đưa ra kết luận đánh giá của riêng mình, tác giả Phạm Hồng Tung đã có công phu sưu tầm-ghi chép khá đầy đủ những tài liệu đánh giá của người khác, trước hết là tiếng nói của người trong cuộc (ý nói như của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh…), tiếp đến ý kiến của một số sử gia phương Tây và Nhật Bản, rồi đến cách đánh giá của sử gia Việt Nam, mà dưới đây chỉ xin trích dẫn lại 3 đoạn tiêu biểu phân biệt cho 3 loại đánh giá (xem Phạm Hồng Tung, sđd., tr. 300-342):  – Khi một người ngoại quốc là Stein Tonnesson hỏi ông Phan Anh (nguyên Bộ trưởng Nội các Trần Trong Kim) Chính phủ Trần Trọng Kim có phải là một chính phủ bù nhìn không, thì Phan Anh khẳng định: “Lấy tư cách là thành viên của Chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập”.  – Ý kiến của chính Stein Tonnesson (tác giả cuốn The Vietnamese Revolution of 1945, xuất bản năm 1991): “Nói chung, Chính phủ Trần Trọng Kim không thể bị coi là thân Nhật”.    – Ý kiến của Trần huy Liệu và Trần Văn Giàu. (1) Của Trần Huy Liệu: “Chính phủ bù nhìn gắn liền vận mạng của nó với phát xít Nhật, đặc biệt là phát xít Nhật trong lúc giẫy chết. Vì vậy nó ra đời cũng chỉ có chiều hướng đi xuống, chết yểu và sống nhục”.- (2) Của Trần Văn Giàu: “Nói tóm lại, Chính phủ Trần Trọng Kim dù là gồm những nhà trí thức tư sản nổi tiếng, vẫn là một chính phủ bù nhìn của Nhật. Nó biểu lộ không phải tính chất dân tộc và dân chủ mà biểu lộ tính chất phản dân tộc, phản dân chủ. Vẫn biết có một ít nhân vật trong đó có ý muốn làm cho nước nhà được giải phóng thực sự, nhưng không thể phủ nhận rằng sự tổ chức, sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim nhằm cản trở phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhằm tranh thủ quần chúng với Mặt trận Việt Minh; sở dĩ họ không đạt mục đích của họ, không phải vì họ thiếu ý thức giai cấp và thiếu hoạt động, mà trước hết vì thời gian không ủng hộ họ, vì tình hình quốc tế bất lợi cho họ, vì hoạt động giỏi của Đảng Cộng sản và Mặt trận Việt Minh không cho phép họ”.   Năm 1983, Phạm Khắc Hòe (1901-1995), từng giữ chức  Đổng lý Ngự tiền văn phòng thời Bảo Đại 1945 (sau đó theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp),  cho xuất bản tập hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, đã mô tả từng hành động, quyết định của Trần Trọng Kim như một kẻ vụng về, cơ hội, tham quyền cố vị, bất tài và bất lực với những lời lẽ biếm nhẽ, đôi khi còn rất nặng nề.           Có lẽ vì chịu ảnh hưởng cách giá đánh của các vị tiền bối sử học-chính trị học cách mạng nêu trên, nên sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 (NXB Giáo Dục, ấn bản năm 2001) khi nhắc đến giai đoạn lịch sử trước Cách mạng Tháng 8 đã mạnh tay viết về Trần Trọng Kim với những lời lẽ không kém phần gay gắt, nếu không muốn nói còn có phần “lướt” hơn: “Bọn thân Nhật Trần Trọng Kim đứng ra lập Chính phủ mới, bù nhìn Bảo Đại được khoác danh hiệu “Quốc trưởng” (phải nói “Hoàng đế” mới đúng-TVC). Bọn thân Nhật muốn dựa vào quan thầy mới để hoạt động, làm ra vẻ “ái quốc, ái quần” (yêu nước, yêu dân); nhưng chúng nhanh chóng tỏ ra bất lực (…). Chúng trở thành những tên tay sai ngoan ngoãn để cho chủ mới là Nhật càng thêm dễ dàng lừa bịp và vơ vét, bóc lột nhân dân ta thậm tệ hơn (…). Vì vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của phát xít Nhật cũng như bộ mặt tay sai bỉ ổi của bọn bù nhìn thân Nhật đã bị bóc trần. Nhân dân ta ngày càng thêm căm thù Nhật và chán ghét bọn bù nhìn tay sai của chúng” (dẫn lại theo Phạm Hồng Tung, tr. 340-341).  Cũng Lịch sử lớp 12, nhưng ở ấn bản năm 2010 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 2), chỉ có một dòng ngắn ngủi về chính phủ Trần Trọng Kim: “Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Điều kiện khách quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa đã đến” (tr. 115)       Đến ấn bản mới nhất, Lịch sử Lớp 12 (NXB Giáo Dục, tái bản lần thứ 5, tháng 3.2013), đoạn viết về Trần Trọng Kim chỉ giảm lại còn: “Chúng [Nhật] dựng lên Chính phủ Trần Trọng Kim và đưa Bảo Đại lên làm ‘Quốc trưởng’” (tr. 112).  Tôi có thói quen khi thấy có vấn đề gì liên quan lịch sử thì lấy sách giáo khoa xem trước để nắm chắc một số sự kiện căn bản hoặc ý niệm tổng quát, vì nghĩ rằng đã sách giáo khoa do Bộ Giáo dục-Đào tạo xuất bản thì tất phải chính xác, đàng hoàng hơn hẳn những loại sách biên khảo lịch sử của tác giả khác, do nó phải khách quan khoa học, lời lẽ lịch sự, đáng tin cậy, với lượng kiến thức cần thiết cung cấp cho học sinh được chắt lọc lại từ rất nhiều nguồn sử liệu khác nhau, trên cơ sở có sự đối chiếu thẩm định, nghiên cứu nghiêm túc. Nào ngờ, như 3 đoạn vừa dẫn trên cho thấy, tùy theo lần và năm xuất bản, sách Lịch sử lớp 12 lại lúc vầy lúc khác: có lúc mạt sát Trần Trọng Kim và Nội các của ông thậm tệ, với lời lẽ hằn học, lúc khác không công kích nữa (chỉ gọi Nhật là “chúng”) nhưng lại chỉ nói phớt qua một hai dòng.   Vậy là có lúc tôi đã hiểu nhầm về độ tin cậy và tính nghiêm túc của sách giáo khoa, không dè nó đã được biên soạn một cách rất tùy tiện, thậm chí sai kiến thức (như chi tiết gọi Bảo Đại năm 1945 là “Quốc trưởng”).  Trở lại câu chuyện, mặc dù đã có kết luận đánh giá trông có vẻ dung hòa tiến bộ hơn của Phạm Hồng Tung, vấn đề xem chừng vẫn chưa hết hồi phức tạp, vì vậy mà trong bài “Bàn thêm về Trần Trọng Kim” (Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, 26.11. 2009), GS Vũ Ngọc Khánh đã đặt vấn đề nên có một cuộc hội thảo khoa học về Trần Trọng Kim vì đã có nhiều ý kiến trao đổi, nhưng nhận định chung hình như chưa thật thoả đáng.          “Tôi nghĩ rằng vấn đề có thể suy nghĩ và cân nhắc thêm (…). Nói sang chuyện hoạt động chính trị. Hình như đây là vấn đề được nhiều người quan tâm  hơn và sự nhận định nói chung là khe khắt hơn. Song những điều đắc thất của Trần Trọng Kim ở chặng cuối đời này nên được làm rõ”.  Đại khái theo GS Vũ Ngọc Khánh, về việc ra làm thủ tướng, trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, nếu  không phải Trần Trọng Kim thì phải có con người khác, nhưng lại phải do người của Nhật đưa ra (như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm đều được Nhật và Bảo Đại nhắc đến), nhưng cuối cùng họ chỉ dùng Trần Trọng Kim. Còn về việc liên hệ với Nhật Bản, cho đến nay vẫn chưa phát hiện được tài liệu gì, do ông và cả Nhật cố tình giữ kín nên không ai biết, chỉ thấy ông được Nhật đưa đi trốn rồi đưa về để đẩy ra làm thủ tướng…. Điều hiển nhiên ông đã là một con bài do Nhật chuẩn bị.  Nhận định về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Khánh cho rằng mặc dù dư luận vẫn gọi đây là chính phủ bù nhìn, nhưng nên hiểu cái danh hiệu này cho có mức độ. Nói bù nhìn là nói theo cách vạch trần chân tướng để hạ uy thế, có phần không thoả đáng với nhiều thành viên chính phủ đều là người tốt, có uy tín. Không rõ có ai kín đáo thi hành lệnh của Nhật không, chứ là tay sai thực thụ thì không rõ mặt (kể cả Trần Văn Chương sau này phục vụ chính quyền Ngô Đình Diệm).  Về việc làm và luận điệu của Chính phủ, ông Khánh viết: “…tất nhiên, khi ra đời cũng như khi tuyên bố nọ kia, chính phủ Trần Trọng Kim phải có những câu như: cảm tạ công ơn Nhật, v..v.. Tôi nghĩ đó chỉ là cách nói khách sáo …, không nên căn cứ vào những điều đó để đánh giá. Còn việc tha các tù phạm, nghe nói là những tù cộng sản không được tha [ý chỉ thả những tù nhân không cộng sản, Phạm Hồng Tung dẫn lại của Trần Văn Giàu từ sách gốc của Devillers xuất bản năm 1952, nhưng đoạn tha tù phạm, sau này Devillers đã điều chỉnh trong cuốn Paris-Saigon-Hanoi, sđd, tr. 106-TVC]…, nhưng lúc đó (tháng 5, 6.1945) tôi ở Vinh thì đây là chuyện có thực. Khi ông bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh này, nhiều đồng chí bị bắt giam đã được giải phóng. Các ông Nguyễn Duy Trinh, Lê Tính từ trong Nam về Vinh, có đến trọ ở nhà tôi. Nhiều đồng chí khác được “sổ lồng” vào dịp này. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, chính phủ Trần Trọng Kim có ra lệnh hoãn nợ để đỡ phần cho nông dân nghèo tại các xã (không biết việc thực thi có chu đáo không). Ngoài ra có một chương trình giáo dục mới (chương trình Hoàng Xuân Hãn). Có phong trào ngay lúc đó được gọi là Thanh niên Phan Anh, thực tế nhiều nơi đã thành tổ chức do Việt Minh lãnh đạo. Nếu là một chính phủ thân Nhật khác, dễ gì đã có được những hành động tạo điều kiện thuận lợi như vậy”.  Về cá nhân Trần Trọng Kim, tác giả có mấy ý kiến, xin tóm tắt lại như sau: (a) Ông là người có lòng yêu nước, vẫn giữ được tư cách người trí thức của dân tộc; (b) Ông bị lôi cuốn vào hoạt động chính trị, vì sự hiểu biết chính trị của ông không sâu sắc, nên bị người ta dùng làm con bài, mà vẫn tưởng là họ cho ra đóng góp với dân tộc; (c) Tư tưởng của ông là tư tưởng luân lý phong kiến, cho đến khi gặp bế tắc, ông vẫn cứ phải loay hoay với lý thuyết của Khổng Tử (qua câu cuối cùng của ông nói với Phạm Khắc Hoè về việc hành tàng), do đó bế tắc lại càng bế tắc.  Rồi bài viết đi đến kết thúc bằng một nhận xét có phần xác đáng: “Còn có một điều khiến chúng ta phải phàn nàn, mà khó lòng thông cảm với ông. Đó là vào khoảng cuối đời, ông đã tiếp tục gieo mình vào những biến cố không cần thiết, hoàn toàn bất lợi. Ông không chịu “tàng” như cách nói với Phạm Khắc Hoè mà lại cố “hành” khi đã thành vô dụng. Không rõ ông hiểu Bảo Đại thế nào mà còn đi sang Trung Quốc gặp lại Bảo Đại rồi quay lại Sài Gòn, được mời đóng vai trò chủ đạo cho cuộc vận động của Chính phủ do Bảo Đại làm quốc trưởng, mặc dầu ông không hoạt động được gì cũng không chỉ đạo ai. Ông vẫn bị lợi dụng mà không hay. Tôi nghĩ rằng khi ông được đẩy ra làm thủ tướng, rồi lại làm chủ tịch gì  gì đó, thì ông hoàn toàn là một nạn nhân chứ không có vai trò chủ động gì nữa”.  Quả thật ở giai đoạn cuối đời, tuy luôn miệng than vắn thở dài, ngán ngẫm thời cuộc và chỉ muốn được an nhàn, nhưng thực tế Trần Trọng Kim vẫn có vẻ tất bật, chạy vạy vất vả, nhất là từ thời kỳ “tòng vong” theo Bảo Đại ở Hương Cảng cho đến lúc về Sài gòn dự Quốc dân đại hội năm 1953! Vì hoàn cảnh phải ra đi, vì bạn bè lôi kéo thúc đẩy (cái này cũng thường dễ mắc phải lắm), vì còn tham chút danh vọng, hay vì trong tâm khảm ông vẫn còn vương vấn bận rộn việc đời?  Thậm chí, ngay khi còn đương chức Nội các Tổng trưởng, đi đâu gặp bạn bè Trần Trọng Kim cũng tâm sự do mình chẳng đặng đừng phải đứng ra nhận thành lập Nội các, như có lần đã chia sẻ với nhà báo Lãng Nhân khi gặp nhau tại dinh Thống sứ cũ, trong chuyến ông đi công cán ở Hà Nội để thuyết phục Tổng tư lịnh Nhật cho lấy lại các thành phố đang nằm trong tay Nhật: “ ‘Ngô bất đắc dĩ’ mà! Chỉ khi vì gặp vua, thấy là người thông tuệ có thể hợp tác nên tôi nghĩ trong lúc rối ren, không đành từ chối, nhưng thật tình không biết có làm nên việc hay không” (sđd., tr. 86). Còn thật bụng ra sao, có lẽ chỉ mình ông hoặc vợ con ông mới biết.   Cũng có thể ban đầu ông “bất đắc dĩ” thật, hoặc muốn thử tài kinh bang tế thế theo lý tưởng nhà nho mà không cuồng vọng, nhưng phàm tâm lý con người, đã ở trong chức vụ cao được tiền hô hậu ủng quen rồi thì khi mất đi cũng tiếc. Chỉ có khác ít nhiều là với tư tưởng-phong cách sống nhà nho, lại mộ đạo Phật, ông chắc chắn có phần thanh thản hơn nhiều so với những người khác có hoàn cảnh tương tự.   Dù sao chăng nữa, về mặt nhân cách đạo đức, chưa phát hiện có chuyện gì bê bối trong đời tư của ông. Trước sau ông cũng chỉ là một hạng nho Tây thanh bạch, cuộc sống suốt đời chỉ từ đủ ăn cho đến thiếu thốn, và phần nhiều thời gian phải ở đậu ở nhờ nhà cửa của bạn bè, thân thuộc. Cả Trần Trọng Kim lẫn các thành viên trong nội các của ông không có người học kém, đặc biệt chưa bị mang tiếng gì về chuyện tham ô móc ngoặc, tự tư tự lợi (cũng có thể là vì chưa tới lúc bị tha hóa quyền lực?). Tất cả họ đều là một đám thư sinh trói gà không chặt, chỉ có tấm lòng mà thiếu mưu mẹo chính trị, nên không thể đảm đương việc nước trong khúc quanh lịch sử đoạn trường này của dân tộc.       Đến đây, tôi đã cố gắng trình bày tương đối đầy đủ về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim cùng Nội các của ông, bằng việc chắp vá, tổng hợp lại từ một số tài liệu chủ yếu bao gồm những tập hồi ký có được trong tay mà các tác giả đều là chứng nhân của thời cuộc, với một phần dè dặt thận trọng về tính chủ quan cũng như về độ chính xác của thể loại hồi ký. Những tài liệu này kể ra cũng chẳng quý hiếm gì. Nó chỉ hơi khó kiếm đối với một số bạn trẻ, vì có thời gian, từ nhiều lý do ngoắt ngoéo của lịch sử, chúng đã ít được phổ biến hoặc được nhắc tới, nhất là đối với khu vực phía Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám. Đó là một trong những lý do khiến tôi nảy ra ý định trình bày lại các sự kiện lịch sử liên quan một cách tản mạn, trong khi chưa đủ khả năng trình độ viết thành một chuyên luận có hệ thống, nhằm mục đích để các bạn trẻ ngày nay được biết thêm về một khúc quanh lịch sử đặc thù đầy đau thương buồn bã của dân tộc, điều mà họ không thể tìm đọc được trong các sách giáo khoa hiện tại.  Nhắc lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý định đề cao ai hoặc phê phán ai, chỉ cốt tuần tự trình bày các sự kiện thu thập được qua tài liệu sách vở. Song vì điều tôi quan tâm hơn cả là muốn qua những câu chuyện quá khứ, chúng ta ngày nay có thể suy nghiệm được những bài học lịch sử hữu ích gì để áp dụng cho hiện tại và tương lai, nên trong khi “tản mạn”, tôi cũng có tùy hứng thỉnh thoảng đưa vào một vài nhận định riêng có tính chủ quan của người viết, chỉ nhằm gợi ý tham khảo, chứ không có ý muốn người khác phải đồng tình hết với mình.  Tôi cũng muốn nhân câu chuyện Trần Trọng Kim mà trình bày một số vấn đề liên quan khoa học lịch sử và việc giảng dạy môn học này trong các trường học hiện tại. Theo quan niệm đơn giản của tôi, về môn lịch sử, trước nhất phải tôn trọng sự thật chứ không nên vo tròn bóp méo vì bất cứ lý do gì, và phải được biên soạn theo đúng phương pháp chuyên ngành, rồi trình bày nó ra bằng một thứ ngôn ngữ khoa học vừa lịch sự, nhã nhặn vừa chuẩn xác và có tính trung hòa. Trong các công trình sử học cũng như trong sách giáo khoa về môn lịch sử, nhất định phải không chứa sự sân hận đối với những gì đã xảy ra trong quá khứ.  Trước đây, nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cực đoan thiếu khách quan trong khi trình bày lịch sử cũng như phê phán các nhân vật lịch sử,  trong đó có nguyên tắc bất di bất dịch về tính Đảng, tính khoa học, vốn một thời được coi là “vấn đề trung tâm của phương pháp luận sử học mác-xít” (xem Phạm Xuân Nam, “Về những vấn đề phương pháp luận trong công tác sử học của chúng ta mấy chục năm qua”, Sử học Việt Nam trên đường phát triển, sđd., tr. 246), mà hai năm trước Viện Sử học cùng Hội Sử học đã kịp nghĩ lại khi họ đề xuất kế hoạch sẽ tổ chức biên soạn một bộ thông sử Việt Nam mới với nội dung vượt qua được những giới hạn ràng buộc của vấn đề ý thức hệ.  Cách triển khai hay là nghệ thuật chủ yếu của cái phương pháp luận sử học cũ kỹ vừa nói trên là “tự viên kỳ thuyết”, tức trong khi giải thích các sự kiện-hiện tượng lịch sử, tìm mọi cách vo tròn bóp méo sao cho phù hợp với hệ quy chiếu lý luận đã định sẵn một cách xơ cứng, kết quả là cho ra những bài viết hoặc công trình nghiên cứu của những tác giả khác nhau nhưng đều có luận điệu, cách diễn đạt và thậm chí cả câu chữ cũng gần gần giống nhau. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng khiến cho môn học Lịch sử trở nên nhàm chán đối với học sinh các cấp suốt mấy chục năm nay, mà nếu không giải quyết từ căn bản, sẽ chẳng bao giờ tìm thấy lối ra, cho dù có tổ chức thêm hàng trăm cuộc hội thảo cũng vậy!   Xem bài “Về những vấn đề phương pháp luận…” của Phạm Xuân Nam trong cuốn Sử học Việt Nam trên đường phát triển, thấy tác giả có nêu mấy vấn đề “cần tiếp tục soi sáng” thêm, như “Mối quan hệ giữa nghiên cứu và trình bày lịch sử”, “Ngôn ngữ sử học”… (sđd., tr. 268). Hiện tôi chưa tìm được tài liệu nào của nhà sử học Việt Nam viết về ngôn ngữ sử học nên mãi đến nay vẫn còn chưa hiểu sâu về phong cách của ngôn ngữ sử học. Nhưng dù nó có phải là thứ ngôn ngữ khoa học đòi hỏi tính chuẩn xác và tính trung lập hay không, tôi vẫn dám chắc đó tuyệt đối không phải là thứ ngôn ngữ văn chương mạt sát kiểu “đào mồ cuốc mả” kẻ thù, hoặc giống những bài hịch văn kêu gọi quần chúng nổi loạn, mỗi khi cần đề cập những nhân vật lịch sử quen gọi “phản diện”, hoặc sự kiện lịch sử đã đi hẳn vào quá khứ!  Đã có thời gian khá dài, khi khảo cứu  văn-sử, người ta đã mạnh miệng gọi vua Gia Long là “y”, là “hắn”…, thì  chưa cần biết vua là người thế nào, cái lối trình bày lịch sử đưa vào  sách vở như vậy chẳng khác nào vô tình giáo dục cho con người lòng thù  hận, và thói trịch thượng đối với tiền nhân, hoàn toàn không phù hợp với  đức tính chung nho nhã, lễ phép, khiêm cung của dân tộc Việt Nam, và  cũng chắc chắn không có lợi cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi rất thích lối nói công tâm nhũn nhặn của nhà sử học Pháp Philippe Devillers chuyên khảo cứu về lịch sử Việt Nam giai đoạn chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954 mà ông thuộc “bên thua cuộc”: “Băn khoăn giữa một bên là ý thức tôn trọng sự thật và một bên là những tình cảm yêu nước thúc đẩy mình phải đồng tâm với đồng bào [Pháp], một nhà sử học Pháp làm sao có thể phân tích được một cách khách quan và sâu sắc một cuộc chiến tranh đã đối lập, từ 1945 đến 1954, hai đất nước mà với mình đều rất thân yêu, là nước Pháp và nước Việt Nam, nhất là khi ông ta [tức tác giả Devillers] biết rằng nếu chia phần lầm lỗi ra hai bên thì phần lớn lầm lỗi lại thuộc về phía chính đồng bào [Pháp] mình” (“Lời tựa”, sđd., tr. 5).                                                                                                                                                             Hết      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một đề nghị      Trong một hội thảo vừa rồi ở Hội An, Bùi Văn Nam Sơn có kể câu chuyện thú vị về việc anh đã trở thành một người nghiên cứu triết học như thế nào.         Hồi ấy, cách đây hơn nửa thế kỷ, ở phố nhỏ và hẻo lánh Hội An, cha anh, không biết bằng một tài năng kỳ diệu đến chừng nào mà qua bao nhiêu xáo trộn của những chuyến tản cư, chạy giặc vất vả, hiểm nguy, khi trở về phố sau kháng chiến chống Pháp, vẫn giữ được cho gia đình một tủ sách đầy đặn, được coi là tài sản quý nhất trong nhà. Anh bảo ông cụ đọc sách, tất nhiên rồi, nhưng hình như cũng không nhiều lắm. Ông chăm lo tủ sách gia đình là để cho các con đọc, rồi sẽ đọc. Chính trong tủ sách ấy, một hôm, mới 12 tuổi, Bùi Văn Nam Sơn tò mò cầm đọc một cuốn sách của Nguyễn Đình Thi viết về triết học Decartes, và tuy chẳng hiểu gì cả, song vẫn giật mình ngạc nhiên một cách thích thú: hóa ra ở đời còn có một thế giới khác, gồm toàn những chuyện rắc rối, bí hiểm ở đâu đâu, mà trong sách lại chẳng thấy xuất hiện bóng dáng một nhân vật cụ thể nào cả!… “Cảm ơn tủ sách gia đình đã mở ra cho tuổi thơ tôi một chân trời khát vọng…”. Vậy đó, cuốn sách nhỏ trong tủ sách gia đình ngày ấy do cha anh bằng một sự dũng cảm văn hóa và đạo đức phi thường nâng niu gìn giữ được cho các con, đã đưa Bùi Văn Nam Sơn lên con đường dài của cuộc sống trí tuệ, để hơn 50 năm sau, trở thành nhà nghiên cứu triết học uyên thâm, người đầu tiên đã dịch ra tiếng Việt, và dịch một cách tuyệt vời, toàn bộ bộ “Phê Phán” nổi tiếng của Kant, một trong những bộ sách quan trọng nhất trong gia tài tri thức của toàn nhân loại cổ kim đông tây… Nhắc kỷ niệm xưa, rồi anh mỉm cười nhẹ nhàng và buồn rầu nói rằng bây giờ anh đến nhà nhiều quan chức và nhiều nhà giàu thấy nhà nào cũng có một tủ rượu rất sang, nhưng hầu như không nhà nào có tủ sách. Vậy đó, có một nền văn minh của những tủ sách gia đình, và nền văn minh ấy ngày nay chúng ta đã đánh mất! Tôi xin lỗi nếu có làm ai đó mất lòng, nhưng tôi muốn nói thật điều này: ngày nay chúng ta sống kém văn minh hơn nhiều so với cách đây 50 năm. Câu chuyện nhỏ của Bùi Văn Nam Sơn là một bằng chứng. Cũng cần nói thêm: trong các nước phát triển và đang phát triển hiện nay trên thế giới, có lẽ chúng ta thuộc nước đọc sách kém nhất. Chúng ta đã đánh mất thói quen đọc sách trong xã hội. Và đó là một trong những nguồn gốc của sự xuống cấp về đạo đức mà chúng ta lo lắng và đang cố đi tìm nguyên nhân cùng phương cách giải quyết. Nguyên nhân tất nhiên không trực tiếp và rõ ràng lắm đâu, nhưng rất sâu xa, hiểm nguy và lâu dài.   Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. Rất đáng kinh ngạc là ngày nay, trong giới quan chức cả ở những cấp rất cao, đặc biệt cả trong giới được gọi là trí thức và tự coi mình là trí thức, rất ít người đọc sách, thậm chí có thể nói không sợ quá lời có không ít người hầu như hoàn toàn suốt đời không hề đọc một cuốn sách nào, và thản nhiên coi đó là hết sức bình thường. Tôi từng nghe nói một vị thủ trưởng cấp rất cao, cứ hết giờ làm việc thì lao vào đánh tu lơ khơ và kéo cả các cấp dưới của mình vào cuộc chơi say mê ấy nhiều khi đến suốt đêm… Ngày nay còn có bao nhiêu bậc cha mẹ muốn để lại cho con một tủ sách thay vì một tủ rượu? Cũng có thể nói cách khác: cứ nhìn tình tình các tủ sách gia đình trong một xã hội thì ắt biết trình độ văn minh, đời sống tinh thần và đạo đức của xã hội ấy…  Đời sống văn hóa của một đất nước như vậy thì quả đã đến mức báo động.   Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn có nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, tắt đi, và cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc và dài, cần được trao đổi, thảo luận rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, trong đó phải nói thật có nhiều sinh hoạt rất hình thức, ồn ào và vô bổ, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước. Và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình. Tạo trở lại thói quen đọc sách cho từng người, cho toàn xã hội, trước hết trong thanh niên. Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong một năm đọc được lấy một cuốn sách. Có thể cứ đọc sách gì cũng được, để cho người ta trở lại thấy việc cầm đọc một cuốn sách không phải là việc quá xa lạ. Rồi dần dần sẽ nói đến chuyện chọn sách, cách đọc sách… Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó, việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu công cuộc lớn, phục hưng dân tộc.   Để cho đất nước ta trở lại là một đất nước văn minh. Để cho đất nước ta khi giàu lên như chúng ta đang phấn đấu ngày nay, không là một đất nước của những anh chàng trọc phú. Để cho sự phát triển của đất nước là phát triển bền vững, tức phát triển có văn hóa.        Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một góc nhìn về vốn xã hội trong nghiên cứu Biển Đông      Vốn xã hội (VXH) Việt Nam bao hàm  lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, lưu ý giúp đỡ nhau, vượt  khó, hiếu học, tình người và cả những thói quen không hẳn là tốt…  trong đó nguồn vốn xã hội về nhận thức, cảm nhận chia sẻ và cả sự thôi  thúc để hành động cụ thể vì vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa  (BĐHSTS) là một thành phần của tổng vốn.      1-    Vốn xã hội  Việc quan tâm, nghiên cứu và góp sức cho giải quyết những vấn đề của  BĐHSTS ở Việt Nam và thế giới đang diễn ra liên tục. Có lẽ chưa bao giờ  các cuộc hội thảo, cuộc vận động ngoại giao, việc bàn luận từ nhà ra  phố, từ phòng hội nghị đến trường học vì BĐHSTS hoặc về BĐHSTS lại nhiều  như những năm gần đây.   2-    Các nhóm nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề Biển Đông   Nguồn vốn xã hội BĐHSTS của Việt Nam bao gồm các mối quan tâm của nhiều  giới Việt Nam và ngoại quốc trong và ngoài nước đến Biển Đông, nhằm hành  động vì công lý và hòa bình, và trui rèn ý chí thực thi công lý cho  Biển Đông. Trước sức tấn công nhiều mặt và lấn tới liên tục của Trung  Quốc, nguồn vốn này lộ rõ dần dưới nhiều chiều kích, ở nhiều giới khác  nhau. Nguồn vốn quan trọng này bao gồm tình dân tộc nghĩa đồng bào, tình  nhân loại trong sự tôn trọng pháp luật quốc gia và quốc tế và những yếu  tố khác nữa. Nguồn vốn này vẫn có mặt thường xuyên trên các diễn đàn,  trong các bài viết, khi tiềm ẩn lúc trào dâng, khi ở các thành phố và  những vạn chài Việt Nam, lúc ở các thủ đô ASEAN và các nước khác, có  những lúc bị ngăn cản nhưng không gì có thể kiềm hãm nguồn vốn này lan  tỏa, dù lúc yếu lúc mạnh.     a-    Các chuyên gia, nhà nghiên cứu, chính khách tại các viện, trường,  cơ quan, đơn vị ngoại giao và tham chính trong nước hiện đang tư vấn cho  giới công quyền là bộ phận quan trọng bậc nhất trong việc mưu tìm gói  giải pháp về BĐHSTS cho VN. Trong vị trí có được cơ hội học tập, trao  đổi và tiếp xúc các giới rộng rãi hơn tất cả mọi bên khác, kiến thức của  giới này nếu có sự giao thoa đúng mức với mối ưu tư của người Việt nói  chung về vấn đề này, thì sẽ là một dòng vốn xã hội mạnh mẽ đóng góp vào  quá trình gìn giữ BĐHSTS cho Việt Nam.   b-    Những nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài cũng có  nhữngđiều kiện khác như cách nhìn cộng với điều kiện viết khách quan  hơn, khả năng tiếp cận các giới chức, giới làm chính sách, ngoại giao,  kể cả ngoại giao công chúng không thua chuyên gia trong nước. Những  người nghiên cứu này cũng có khả năng tiếp cận giới nghiên cứu nước  ngoài về BĐHSTS và là cầu nối cho các chuyên gia trong nước ra ngoài về  vấn đề BĐHSTS.   c-    Ngoài ra, những nhà nghiên cứu nghiệp dư hiện đang làm việc trong và  ngoài nước cũng có thể đóng góp  những ý kiến, ý tưởng cho các quyết sách về BĐHSTS đối với nhà nước và  góp phần vào hiểu biết chung của xã hội về vấn đề không dễ tiếp cận thấu  đáo này.  Những nhà nghiên cứu nghiệp dư thường làm việc đơn lẻ, ít đồng nghiệp và  khả năng thu thập tư liệu là có hạn, cộng với sự tổ chức có thể không  cao. Ngoài ra khả năng tiếp cận các hội thảo trao đổi học thuật trong và  ngoài nước không nhiều do tính chất công việc và nghề nghiệp. Chưa nói  đến nguồn động viên tinh thần còn hạn chế.   d-    Sức mạnh tổng hợp bao gồm vốn xã hội của sự hiểu biết và cảm nhận về BĐHSTS không thể thiếu các giới trong quân ngũ, các lực lượng đang trực tiếp và gián tiếp bảo vệ các  loại biên giới và hải đảo của đất nước. Sĩ khí của những lực lượng này  và những kết nối tinh thần của họ với các chủ vốn khác ở giai đoạn đặc  biệt này của đất nước chắc chắn tác động đến nhiều giới trong và ngoài  nước.  e-    Như các thành tố của chính sách đối ngoại do các tác giả của chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển đã nêu 1, quảng đại quần chúng nhân dân (thường dân)  sẽ là người có ý kiến trực tiếp hợp pháp, hợp hiến và hợp đạo lý thông  qua quyết định mua sắm, kinh doanh, đầu tư, nạp thuế, kiến nghị… Những  quyết định của  thường dân là đa chiều lên mọi mặt đời sống xã hội và  cần được trân trọng lắng nghe. Thường dân với tinh thần yêu nước, chịu  thương chịu khó, lam lũ và có ít điều kiện tiếp cận thông tin ở tầng  nghiên cứu cũng vừa là đối tượng vừa là nguồn lực của mối quan tâm về  BĐHSTS.  Những ngư dân bám biển chân chất và có xác tín (yếu tố căn bản  của vốn xã hội) về biển đảo, biên giới, lãnh thổ do họ kế thừa vùng đánh  cá từ các thế hệ trước cùng các giá trị tinh thần, tâm linh ngàn xưa  truyền lại. Những nhân chứng khắc khổ, chân thật tại các vùng biển như  Lý Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức… là những người làm nghề cá bình thường nhưng  họ cũng là những chuyên gia về luồng lạch, hướng gió. Đó là một dạng sức  mạnh mềm, vốn xã hội đáng quý. Ngoài ngư dân, những người lao động bình  thường ở mọi nơi luôn đóng góp nhiều trong lúc đất nước nguy biến, thụ  hưởng chưa xứng đáng khi qua cơn chiến tranh, song họ luôn là chủ vốn xã  hội lớn nhất vì chính họ là nguồn của những chủ vốn xã hội ở mai sau,  mọi giới.  Thường dân là thành tố thụ hưởng kiến thức về BĐHSTS và quan trọng hơn  hết, họ chính là thành phần thúc đẩy các kiến thức về vấn đề quan trọng  liên quan tồn vong của đất nước bao gồm cả vấn đề BĐHSTS, từ đó tác động  đến ý thức và ý chí của các giới khác trong vấn đề này.   f-    Ngoài ra, kiến thức, hiểu biết và sự cảm nhận nhiều chiều (mang đặc tính vốn xã hội) đối với nghiên cứu và truyền thông tôn trọng sự thật lịch sử  của các bên liên quan BĐHSTS như của Trung Quốc, Philippines, Nhật bản,  Đài Loan, Ấn Độ và các nước khác cũng chính là vốn xã hội VN liên quan  BĐHSTS. Những hiểu biết này cần thiết không chỉ trên mặt trận ngoại giao  hay quân sự mà thôi mà đó chính là những bổ sung cho vốn xã hội VN.    g-    Nói đến vốn liếng tức nói đến thị trường, nguồn vốn xã hội còn  manh mún của giới nghiên cứu và quan tâm đến BĐHSTS sẽ có đất dụng võ  tại đâu? Vốn liếng sinh ra sản phẩm và phải phục vụ cộng đồng. Vốn tốt,  người tạo sản phẩm tốt thì xã hội được hưởng và ngược lại. Theo chúng  tôi, nơi cần đến nguồn vốn xã hội của giới nghiên cứu và các giới khác  phần lớn là nằm trong các mối quan hệ giữa các nhóm này với nhau. Quan  hệ đó đậm hay nhạt, kết chặt hay lỏng lẻo sẽ có ý nghĩa vốn ấy ít hay  nhiều. Khi vốn xã hội được sử dụng, tự thân vốn ấy sẽ gia tăng. Sẽ có  một sự gạn lọc các kiến thức và cảm nhận thông qua bộ lọc kiểm chứng,  minh bạch hóa và tinh lọc bởi thời gian. Những yếu tố lịch sử chân thật,  luật quốc tế khoa học và tinh thần vì con người sẽ còn đó sau khi gạt  bỏ các yếu tố giả tạo, gán ghép hoặc im lặng do thờ ơ hay e ngại. Thái  độ tích cực dần của thường dân các vùng biển như Lý Sơn khi trao cho nhà  nước các châu bản, sắc phong… nằm trong các yếu tố này.    3-    Sự kết nối của vốn xã hội Biển Đông  a-    Trong điều kiện hiện tại 2013, khi các luồng và phương tiện thông  tin ngày càng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các bên liên kết cùng làm việc,  việc tăng giảm vốn xã hội nằm ở sự liên kết,sự hiện thực hóa vốn thành  nguồn lực của các bên nêu trên. Vốn xã hội VN như tinh thần chị ngã em  nâng, lao động cần cù, đấu tranh bất khuất – thừa hưởng từ cha ông-  có  cộng thêm vào vốn xã hội (ý thức, kiến thức, ý chí và cảm thức VN về  BĐHSTS ) hay không sẽ tùy thuộc vào độ liên kết, sự tin cẩn 2 và sự hợp tác để có sản phẩm cụ thể của các bên sở hữu vốn này.   b-    Giới chức có trách nhiệm phải tìm kiếm các nguồn khảo cứu về  BĐHSTS từ nhiều nơi để tập hợp, giải mã, minh bạch, phổ biến và kêu gọi  sự quan tâm (vốn xã hội) và ra sức nghiên cứu thành tác phẩm cụ thể  (nguồn lực xã hội). Để vốn thành sản phẩm và quay vòng trở lại và lớn  vốn hơn hay cụt vốn, nằm trong trách nhiệm của tất cả những người đang  quan tâm đến BĐHSTS.   c-    Những thông tin thiếu chính xác có thể sẽ làm giảm nhuệ khí của  tất cả những người con Việt Nam, từ những quân đội đang nắm võ khí ở  tuyến đầu tổ quốc đến những học giả lặng lẽ đang ngày đêm làm việc để  gia tăng vốn xã hội đặc biệt này. Và như vậy chẳng phải là làm cho hao  hụt vốn sao?  4-    Kết luận  Quan trọng nhất trong vốn xã hội BĐHSTS là niềm tin vào chính nghĩa của  Việt Nam trong vấn đề BĐHSTS, niềm xác tín bất diệt vào thành quả xây  dựng và bảo vệ bờ cõi đất nước. Niềm tin, tình nghĩa mà cả nước dành cho  ngư dân, cho những anh hùng đã hy sinh vì Hoàng Sa, Trường Sa và tự hào  dân tộc can đảm nhiều ngàn năm chống giặc. Đó là vốn xã hội quý báu  nhất của Việt Nam hôm nay.  Việc liên kết các bên sở hữu vốn xã hội BĐHSTS là rất cần thiết để chia  sẻ kiến thức, thông tin và cảm xúc- của các bên với nhau để kế thừa tinh  thần chung và phát huy sáng kiến mới, và hành động cụ thể để có tác  phẩm, bài nghiên cứu và nhiều dạng kết quả khác.. Dù rằng có thể thấy  tính chất thiên về cảm hơn tri, uy tín hơn khế ước của loại hình sức  mạnh-vốn xã hội này, việc tạo ra một thể chế để thúc đẩy gia tăng vốn là  cần làm.  Những nhóm, thực thể có hiểu biết về BĐHSTS sẽ là bên làm gia tăng vốn  đặc biệt này. Liên kết, trao đổi và hành động có ý thức để vốn đó sinh  sôi nảy nở. Nói rộng hơn về tổng vốn xã hội mà vốn xã hội về BĐHSTS là  một thành phần, cộng đồng cần bản lĩnh để vượt qua định kiến khoan dung,  và bản lĩnh chia sẻ niềm vui của thành công của cộng đồng người Việt ở  nước ngoài, chia sẻ những thành tựu của người trong nước.  Vì vốn xã hội BĐHSTS là một nguồn vốn tinh thần, vô hình, phi vật thể,  nên luôn cần những nguồn lực xã hội để giúp sức hành động, trong đó có  việc mang đến cho loại vốn này một khung pháp lý như tinh thần yêu nước  luôn cần những góp sức hiện thực để có thể cụ thể hóa việc giải quyết  vấn đề của đất nước, của cộng đồng.        Tham khảo  –    Trần Hữu Dũng, Tạp Chí Thời Đại Mới, http://www.tapchithoidai.org/TD8_THDung.pdf  –    Tạp Chí Tia Sáng, www.tiasang.com.vn  –    Trần Kiêm Đoàn, trang web Trần Kiêm Đoàn, http://www.trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/vonxahoi.html  –    Huỳnh Phan, Các bài phỏng vấn trên Vietnamnet,  http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/97678/nghien-cuu-bien-dong-khong-nhu-mong-doi–tai-ai-.html  http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/97187/nghien-cuu-bien-dong—dong-cua-doc-cho-nhau-nghe-.html  http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-08-16-thieu-nhac-truong-trong-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong  ——–  [1] http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6038&CategoryID=42  [2]  Fukuyama: “Chất lượng đời sống, cũng như khả năng cạnh tranh của một  quốc gia, tuỳ thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc  gia ấy, đó là mức độ tin cẩn trong xã  hội”http://www.viet-studies.info/THDung_VonXaHoi_PhatTrienKinhTe.htm           Author                Quản trị        
__label__tiasang Một hội thảo khoa học hiếm có      Hội thảo khoa học là một từ đẹp khoảng 30 năm trước. Nó được kỳ vọng sẽ là nơi người ta tự do tư tưởng, khách quan một cách khoa học, công bố những thành tựu nghiên cứu mới mẻ và nhất và có thảo luận công khai, công bằng không bị một áp lực nào ngoài khoa học cản trở.        Những ý kiến phản biện, những thông tin phản hồi là thu hoạch của các tác giả tham gia hình thức hoạt động này. Nhưng rồi với cơ chế bao cấp, cửa quyền, với bệnh duy ý chí, nhiều hội thảo khoa học, nhất là trong các ngành khoa học xã hội, trở thành các cuộc thi đua biện minh cho một chính sách, chủ trương nào đó. Kinh phí cho hội thảo là cái vỏ ngoài cho kinh phí lễ lạt, kỷ niệm.   Những năm gần đây, những cơn mưa học hàm học vị để đạt yêu cầu “tiêu chuẩn hóa”, người ta nói tới việc mua bằng ngoại ngữ, thuê viết luận văn, tỷ lệ 80% GS, TS, Th.S,  thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế cứ như là chuyện tất nhiên. Việc băng hoại đạo đức của nhà khoa học, của trí thức và văn nghệ sĩ trong việc cấp danh hiệu, học hàm, học vị không phải chỉ là chuyện hình thức, nội bộ trong ngành. Nó là một nguyên nhân làm khoa học tụt hậu, nghệ thuật, văn hóa bị tầm thường hóa và là một đầu tầu làm băng hoại đạo đức xã hội. Vì với những người dân bình thường những học hàm, học vị ấy là rất đáng quý trọng, đáng vươn tới, đáng tin tưởng thế mà giờ đây bị “vấy bẩn” đến như vậy thì họ mất niềm tin. Mà mất niềm tin thì rất nguy, nhiều lãnh đạo Đảng ta luôn nhắc nhở, lo lắng về điều đó.   Sự băng hoại đạo đức ấy, sự tụt hậu khoa học ấy thể hiện rõ nhất ở nhiều hội thảo khoa học, khi mà sự dốt, kém, sáo rỗng, cóp nhặt, trưởng giả huyên hoang với micro hết cỡ và sự sâu sắc, mới mẻ, khiêm tốn, bất vụ lợi của khoa học thường im hơi lặng tiếng. Thế nên cá nhân tôi từ mấy năm nay chán và trốn các hội thảo khoa học. Cái từ này giờ đã mất hết vẻ đẹp của nó tiến gần tới đồng lõa với các từ quan liêu, giáo điều, cơ hội, thậm chí là tham nhũng. Biết như vậy những năm vừa qua tôi lại thử “tái xuất giang hồ” dự một hội thảo khoa học cấp TW và một cấp Hội TP, thì quả thật vẫn là như vậy, 80% là “bổn cũ soạn  lại” và chủ nghĩa cơ hội mới!  Với nỗi nghi hoặc như vậy tôi tới Hội An dự Hội thảo khoa học “Vật lý-Văn hoá và Phát triển” do Tia Sáng và Ban vận động thành lập Đại Học Phan Châu Trinh, Quảng Nam tổ chức nhân thế giới kỷ niệm 100 năm Einstein công bố thuyết tương đối. Tôi ngạc nhiên là suốt ba buổi nghe hàng chục báo cáo phức tạp, khó hiểu mà tôi vẫn ngồi chăm chú.   Về tính khoa học của các báo cáo của các nhà khoa học Phạm Duy Hiển, Phan Đình Diệu, Cao Chi, Đặng Mộng Lân, Đỗ Kiên Cường, Nguyễn Văn Trọng… tôi không dám nhận định gì nhưng đối với tôi là thực sự bổ ích. Ngay các tham luận của ba vị nghệ sĩ Lê Đạt, Nguyên Ngọc và Phan Cẩm Thượng cũng khoa học thật sự. TS. Lê Đăng Doanh chỉ kể về cá tính đời thường của Einstein nhưng lại lưu ý sâu sắc về cách đào tạo và thái độ ứng xử với nhân tài ở nước ta.   Thứ hai là tính khách quan, bất vụ lợi của các diễn giả và người tham gia. Mọi người chỉ muốn trao đổi các ý tưởng, các suy nghĩ của mình dù phải phản bác nhau, phủ nhận nhau khá thẳng thừng ngay tại diễn đàn. Và lạ là (hay không lạ là) chính điều đó làm cho hội nghị có một không khí thân mật ít có! (phải chăng vì những người tham gia đều đang làm việc độc lập và/hoặc đã ra khỏi quan trường? Và một tiếng nói có vị “cay cú” lập tức thành lạc lõng.)  Thứ ba là chủ đề của Hội thảo rất lạ và hóc búa. Làm sao làm bật được, tìm ra được mối tương-thông giữa vật lý hiện đại và văn hóa ngày nay. Sự thay đổi cái nhìn, góc nhìn, lối tư duy, sự tự do và bạo dạn cùng khoái thú của tưởng tượng, phiêu lưu, khám phá làm cho hai thứ đó gần nhau. Tác động kinh khủng của khoa học vào đời sống xã hội và giới hạn của chính nó làm cho nó không thể tách rời văn hóa vật thể và phi vật thể. Sự hoang mang bất định, bế tắc về thế giới quan hay sự đụng độ văn hóa thời toàn cầu hóa làm cho văn hóa cần tới các thành tựu khoa học và tư duy, tưởng tượng khoa học để tìm ra những con đường mới những phương án mới và cảm xúc mới. Tôi nghĩ cả hai thành phần văn hóa và khoa học dự hội thảo này đều đã “có lợi”.  Cuối cùng ở Việt Nam hội thảo này là lần đầu tiên gặp gỡ nghiêm túc, khoa học giữa hai giới sản xuất tinh thần các nhà khoa học và các nhà nghệ thuật. Tưởng như sẽ là một ngã ba, người quẹo trái, kẻ rẽ phải. Nhưng thực tế lại là sự thống nhất quan niệm về sự cần cứu vãn sự toàn vẹn của nhân cách con người hiện đại với cá tính văn hóa và tri thức, tư duy duy lý và xúc cảm thẩm mỹ… cũng như về sự toàn vẹn của một xã hội với lý trí, trí tuệ, đức tin và nghệ thuật.     Chỉ một điều mong nữa là thành phần tham gia phải trẻ hơn nhiều!  Mong sao cái từ Hội thảo khoa học dần lấy lại được vẻ đẹp của mình.             Nguyễn Bỉnh Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một lớp trí thức mới của Tây Nguyên, hoàn toàn là hiện thực      Đối với Tây Nguyên, lâu nay tuy không được công khai nói ra nhiều, nhưng dường như vẫn âm ỉ một câu hỏi không dễ trả lời: Phải giữ cho được bản sắc độc đáo của các dân tộc trên vùng đất đặc biệt về nhiều phương diện này, nhưng Tây Nguyên, ngay hôm nay và sắp đến, chắc chắn không thể đứng ngoài sự phát triển chung của đất nước, thậm chí của thế giới, tất phải hiện đại hóa, Tây Nguyên sẽ có còn là mình trong hiện đại hóa không? Hoặc nói một cách thẳng thắn và rõ ràng hơn: con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên có đủ khả năng trụ vững và phát triển trong hiện đại hóa tất yếu không?         Quả thật câu hỏi không dễ. Hình như trên khắp thế giới và xưa nay, bảo tồn và phát triển bao giờ cũng là câu hỏi khó, thậm chí cực khó, và không phải bao giờ cũng được giải quyết thành công. Riêng tôi, tôi muốn thử đặt vấn đề đó theo một cách như thế này: trong con người Tây Nguyên, trong văn hóa Tây Nguyên có những tiềm năng gì cho một sự “đương đầu” với thách thức, mà là thách thức rất gay gắt và chắc chắn không thể tránh của phát triển đang và sẽ đến. Và gắn bó lâu với Tây Nguyên, tôi tin ở một tiềm năng như vậy, trong chiều sâu của con người ở đây, trong nền văn hóa thăm thẳm của các dân tộc Tây Nguyên mà chúng ta hẳn còn chưa thật sự hiểu được bao nhiêu.                 Gần đây, tôi tìm được một ví dụ. Chẳng là, do sáng kiến của một người cũng từng gắn bó và yêu mến sâu sắc Tây Nguyên, mới đây Viện Văn hóa Dân gian Việt Nam có tổ chức một lớp thạc sĩ cho 12 nghiên cứu sinh, toàn là người bản địa Tây Nguyên. Kết quả thật tuyệt vời, cả 12 người đều tốt nghiệp xuất sắc. Tôi đã tận mắt đọc đuợc cả 12 bản luận văn ấy. Không thể nói gì hơn nữa: vui mừng, ngạc nhiên, thậm chí có khi đến kinh ngạc, và cảm phục. Thử xin nói đến một trong những luận văn đó, của chị Phạm Thị Trung, người Xteng, tức một nhánh nhỏ chỉ gồm đâu có vài trăm người của dân tộc Xơ-đăng. Đề tài: “Linh hồn người và các nghi lễ liên quan đến linh hồn ở người Xteng làng Tu-mơ-rông, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum”. Tôi chưa bao giờ đọc được một luận văn thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn của bất cứ một nghiên cứu sinh người Kinh nào hay đến thế, sâu sắc, tinh tế, và cả uyên bác đến thế. Để chuẩn bị cho các luận văn của mình, các nghiên cứu sinh Tây Nguyên đã nghiên cứu các tác phẩm của những nhà nhân loại học, dân tộc học hàng đầu thế giới và những tác giả kinh điển nhất từng viết về Tây Nguyên, những Claude Lévy Strauss, E. Durkheim, A. van Gennep, Taylor, G. Condominas, P. Guilleminet, J. Dournes… Và họ hoàn toàn làm chủ được các tri thức cao nhất của nhân loại trong lĩnh vực này. Còn hơn thế nữa, họ đem các tri thức đó soi sáng một cách hết sức chủ động, vững chắc, sáng tại vào thực tiễn văn hóa và đời sống của dân tộc mình, phát hiện ra ở đấy những giá trị kỳ lạ, thâm thúy đến nhiều lúc khiến người đọc sững sờ. Hãy nghe chẳng hạn Phạm Thị Trung nói về một nghi lễ mở đầu vòng đời ở người Xteng. Chị viết: “Cũng nh¬ư quan niệm của nhiều cư¬ dân khác, ng¬ười Xteng cho rằng con ng¬ười khởi đầu vốn vô tính. (Thần) Jă Ka Đo đã nặn ra chúng ta từ bùn đất. Khi chuyên tâm vào công việc, bà nhào nặn ra những cá thể hoàn hảo. Khi lơ đãng thì là những hình nhân xấu xí. Về sau công việc “nhân bản” cái thể xác đư¬ợc giao lại cho con ng¬ười, còn bà, chỉ làm công việc là nhào nặn từ đất một quả tim và đặt nó vào đứa trẻ”. Đối với người Xteng, cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, đứa trẻ sinh ra còn “vô tính”, chưa phải là người. Nó chưa có linh hồn, người ta phải trao cho nó một linh hồn bằng cách thổi hồn vào lỗ tai đứa bé. Bao giờ cũng là bà mụ, và bà thổi hồn vào lỗ tai đứa trẻ qua một cuộn chỉ lấy ở chiếc xa quay, vừa thổi vừa khấn. Lời khấn không chỉ là lời cầu xin Thần linh mà, thật lạ lùng và tuyệt diệu, lại là lời ràng buộc điều kiện cơ bản đứa bé phải chấp nhận nếu có muốn thành người. Điều kiện đó là: nó chỉ được “bắt đầu số phận làm người với lời hứa chấp nhận một trong những hình thức của cái chết”. Bạn có nghe ở đâu khác trên khắp thế giới này, điều kiện làm người đối với một con người, ngay từ buổi khởi đầu bước vào đời, được đặt ra kỳ lạ, quyết liệt, sâu thẳm đến vậy chưa? Mà nghĩ lại xem: trong tất cả các loài vật trên thế gian này, chỉ có con người là con vật duy nhất biết rằng mình sẽ chết. Sống, đối với con người, có nghĩa là sẽ chết, theo “một hình thức nào đó”. Ý nghĩa toàn bộ cuộc sống của con người, với tư cách là người, sinh vật cao cấp nhất trên thế gian này, lại nằm trong cái điều kiện kỳ lạ và kỳ diệu ấy. Giá trị toàn bộ cuộc sống của con người hóa ra cũng lại là chính ở đó…  Vậy đấy, người Xteng, một dân tộc chỉ vỏn vẹn đâu có 200 người, sống trên lưng chừng một ngọn núi cao nhất và bí ẩn nhất của Tây Nguyên: núi Ngok Linh. Đọc Phạm Thị Trung rồi, bạn có còn nghĩ là có những dân tộc “lớn” và những dân tộc “nhỏ” không? Và thế nào là “văn hóa”, là “văn minh”?…  Nhân đây tôi muốn kể cùng các bạn một câu chuyện nhỏ này nữa: vào khoảng cuối những năm 1940 thế kỷ trước, có một vị linh mục người Pháp đã đến Tây Nguyên, tất nhiên là linh mục thì đến là để truyền đạo. Ông sống ở Tây Nguyên suốt 30 năm, thâm nhập sâu sắc vào đời sống của các dân tộc ở đây, thông thạo hàng chục thứ tiếng Tây Nguyên…, và cuối cùng ông đã bỏ đạo, cái đạo cao siêu mà ông đã định mang đến khai hóa cho những người “bán khai”, ông bỏ đạo, “quy y” theo văn hóa Tây Nguyên! Ông tên là Jacques Dournes, là một trong những tác giả lớn nhất, viết nhiều nhất và hay nhất về Tây Nguyên.  Vâng, Tây Nguyên là như vậy đấy. Tiềm năng văn hóa và tinh thần của nó là vĩ đại và vô tận. Lớp thạc sĩ Tây Nguyên đầu tiên vừa kể trên là một bằng chứng quá hùng hồn. Hoàn toàn có thể đào tạo nên cả một tầng lớp trí thức mới của Tây Nguyên, trao cho họ những tri thức cao nhất trong tất cả các lĩnh vực cả tự nhiên lẫn xã hội, mà họ chắc chắn sẽ làm chủ được một cách vững vàng. Vững vàng và uyên thâm hơn rất, rất nhiều những người đang định đến đấy để làm thay họ, với những ý định có thể là tốt lành đấy nhưng vẫn tiềm ẩn một thứ tâm lý dân tộc lớn mà chính mình có khi không nhận ra. Chính lớp trí thức mới của Tây Nguyên sẽ trả lời câu hỏi Tây Nguyên sẽ hiện đại hóa như thế nào trên đất nước và trong thế giới hôm nay, để chẳng hề thua ai trong cuộc đua chen ngày nay đồng thời vẫn rực rỡ là mình, vô cùng độc đáo, vô cùng hiền minh. Cũng rất có thể, còn hơn thế nữa, bằng nền minh triết sâu xa tiềm tàng trong vốn văn hóa vô tận của mình, cũng chính họ sẽ góp phần trả lời những câu hỏi nóng bỏng về phát triển bền vững, nghĩa là phát triển một cách có văn hóa, có hạnh phúc, có sự bình tâm thanh thản trong thế giới vũ bão và hỗn độn ngày nay, mà nói cho đúng, nhân loại đến nay vẫn còn lúng túng lắm.        Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một mệnh lệnh tai quái      Nông thôn, nông dân vẫn đang là vấn đề “nóng” tại Quốc hội. “Tốc độ tăng của nông nghiệp thời gian qua chỉ 3,5%, nhưng đây lại là khu vực có dân số rất lớn và thu nhập rất nhỏ, trong khi giá tiêu dùng lên 8% thì rõ ràng đời sống của họ thấp đi”.        Chính ở nơi có sự thụ hưởng thấp nhất hoặc không được thụ hưởng thành tựu của tăng trưởng kinh tế, cũng là nơi buộc phải đóng tới 641 các loại phí và lệ phí lớn nhỏ của trung ương và địa phương, mà cấp xã lại là cấp tùy tiện đặt ra và thu phí quyết liệt nhất. “Kể từ khi Pháp lệnh Phí và lệ phí đi vào cuộc sống đến nay, Bộ Tài Chính đã công bố bãi bỏ hơn 340 khoản lệ phí thì hiện nay còn khoảng 301 loại phí và lệ phí, trong đó có 171 loại phí và 130 khoản lệ phí”.*  Nếu có ý kiến nêu lên: “Chính phủ dùng sức dân để chịu đựng sự tăng giá thay vì Chính phủ phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để kiềm chế tăng giá…”** thì “sức dân” ở đây chủ yếu cũng là nông dân. Những gánh nặng quá sức đang trĩu trên vai nông dân. Không chỉ là chuyện “nợ áo cơm phải trả đến hình hài”! Đã đành miếng cơm, manh áo là chuyện phải lo toan, song sức ép tinh thần có khi còn có khía cạnh nặng nề hơn sức ép về vật chất. Xin nói về sức ép của một quả bom chưa nổ.  Đó là quả bom dài cỡ 1,6m nằm cách mặt đất độ 1m, nơi ông Nguyễn Văn Ẩn đào cát làm móng nhà thì phát hiện ra. Chuyện xảy ra ngày 21.10.2007 tại xã Đồng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thấy quả bom, sợ quá ông Ẩn nhờ mọi người trong thôn cùng khiêng ra bỏ ở cồn cát phía sau nhà rồi báo với chính quyền xã Đồng Trạch.   Chắc là vì các vị xã đội Đồng Trạch và những quan chức ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình đã quá nghiêm minh tuân thủ quy trình xử lý các vụ việc tương tự, phải nghiêm ngặt bảo vệ hiện trường, nên bắt dân khiêng bom về lại nhà mình cất giữ để giữ nguyên hiện trường chờ cấp trên về khám nghiệm và xử lý. Ngày 25.10, một đoàn cán bộ của xã và huyện đội về cắm biển báo nguy hiểm nơi quả bom đã được khiêng trả lại nhà ông Ẩn. Vì thế, các nhà chức trách đã khóa cửa nhà ông Ẩn rồi lệnh cho gia đình ông Ẩn phải bảo vệ quả bom này, không được để mất.  Thế là công dân Nguyễn Văn Ẩn được “vinh dự” phải sử dụng quyền làm chủ của mình mà “làm chủ” quả bom cho kỹ, không được để kẻ xấu lấy mất bom! “Quả bom còn mới lắm, nên hắn có thể nổ bất cứ khi mô, ai mà không sợ”, chị Hiên, người hàng xóm của ông Ẩn nói với nhà báo. Còn khổ chủ thì than thở: “Nói chúng tôi giữ củ khoai củ sắn chi thì còn được chớ ai lại bắt chúng tôi giữ quả bom trong nhà… lỡ hắn bùm một phát thì bay hết, không chỉ nhà tui mà hàng chục nhà xung quanh cũng đi tong!”** Thế là, sợ bom nổ, cả nhà ông Ẩn phải “di tản” sang ở nhờ nhà hàng xóm, nhưng mỗi ngày vài lần, ông phải đáo qua nhà để xem quả bom có “diễn biến” gì không?   Chẳng biết liệu có uẩn khúc hoặc tình tiết gì nữa ở bên trong, chứ với cách xử lý tai quái này của nhà nước ở cấp cơ sở sát dân nhất, hiểu dân nhất, gắn bó với dân nhất thì dứt khoát cần phải đặt ra trên bàn nghị sự của Quốc hội để hiểu sâu hơn, kỹ hơn về thân phận của những người ở nơi “thôn cùng xóm vắng” mà xưa kia Nguyễn Trãi từng sâu sắc chỉ ra rằng nếu ở đó “không có tiếng oán giận sầu than” mới tạo dựng được cái gốc của văn hóa của một nước khi bàn về lễ nhạc. Còn Trần Hưng Đạo, vị võ tướng được dân tôn là bậc thánh, “Đức Thánh Trần” thì lời dặn về sách lược giữ nước đối diện với âm mưu thường trực liền kề vẫn là “khoan thư sức dân, lấy kế sâu rễ bền gốc”.  Song, khoan thư sức dân không chỉ là kế sách giữ nước mà còn là tạo động lực quyết định cho phát triển đất nước. Khi còn những mệnh lệnh tai quái như của chính quyền xã Đồng Trạch. Tự đặt mình vào cảnh ngộ dù phải “cưỡi lên bom” vẫn không dám trái lệnh “nhà nước” cho dù đây là “nhà nước con” ở địa phương mới thấy hết người nông dân phải nhẫn nhục chịu đựng như thế nào? Họ không dám trái lệnh, vì chính cái “nhà nước con” đó, nơi dám ra những cái lệnh tai quái như vậy, nơi tùy tiện đặt ra và kiên quyết thu các loại phí và lệ phí mà “mỗi khoản dù to dù nhỏ đều khiến cho họ rơi nước mắt khi phải móc hầu bao ra nộp”. Tại sao? Bởi vì, “nếu không nộp đủ, con cái họ sẽ không được xã chứng khai sinh, chứng đi học, chứng lấy chồng, lấy vợ…” *.   Quả là đúng như điều Thủ tướng Chính phủ đã thừa nhận: “Có những cái chúng ta chưa lường được hết để điều hành” ***. Phải chăng một trong những cái “chưa lường được hết để điều hành” ấy không chỉ là những vấn đề thuộc về kinh tế, mà còn là và chủ yếu là các vấn đề xã hội,  mà xã hội luôn là mục tiêu và cũng là động lực của phát triển kinh tế.   ____________________________________   *     Nông thôn Ngày nay 25. và 26.10.2007  **  Tuổi Trẻ Chủ Nhật 28.10 và “Tuổi Trẻ” ngày 26.10.2007  *** Lao Động 27.10. 2007        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một mùa no chữ      Ở miền núi rừng xa xôi, ngày khai trường đơn sơ, giản dị nhưng thiêng liêng như một cái tết. Tết của đất trời mở ra một năm mùa màng lúa, ngô tốt tươi, ngày “tết” khai trường mở ra một mùa chữ no chữ.    Tháng 9, sau này về miền xuôi tôi biết, nắng thu vẫn còn gay gắt. Thế mà ở đây, sương đã buông mành lối ngõ sớm mai. Những em bé bản Thái mọi ngày bận bịu dắt trâu lên đồi cao, hôm nay í ới gọi nhau đến trường. Quyển sách, tập vở trắng tinh mẹ vừa sắm chiều qua bằng mấy ếp gạo thơm cứ nhảy tung tăng trong chiếc túi đeo ngang vai mấy cậu bé khôi ngô đang mải reo hò đuổi theo nhau trên trường. Khai giảng là gì, em chưa biết. Nhưng đó là ngày mẹ bảo thôi đừng lên nương, không phải hái rau, cắt cỏ… đến trường tìm thầy, tìm cô xin con chữ. Hồn nhiên là thế mà cũng trang trọng là thế.   Ngày ấy trường của chúng tôi cũng chỉ là mấy mái nhà tranh nằm nép bên đồi. Bãi đất phẳng phiu là cái sân trường mà bất cứ đứa trẻ nào ở đây cũng nhớ. Chỉ có một chấm đỏ, lá cờ tổ quốc đỏ tươi bay phấp phới trên cây tre thẳng tắp còn tươi nguyên thế mà khiến cỏ cây, trời đất bỗng trở nên thiêng liêng đến lạ. Những thầy, cô giáo già như những mẹ, những bác của chúng tôi ngày nào từ miền xuôi lên đây giờ cũng làm nương, kiếm củi thành thạo như người trong bản. Những thầy giáo trẻ hôm qua còn khoác ba lô lên dốc, lưng vẫn đeo cây đàn ghi ta hồ hởi đem ánh sáng, tiếng hát, nụ cười lên với núi rừng giờ cũng nghiêm trang đứng chào cờ trên sân trường ấy. Thế rồi một hồi trống vang lên, trái tim như muốn nhảy nhót trong lồng ngực. Thế là khai trường đấy, năm học mới đấy, một mùa chữ đấy. Thầy cô sẽ giúp mình hái chữ trên chiếc bảng đen gác bên vách nứa. Những con chữ tròn lắm, đẹp lắm, bọn trẻ con chất phác như đá núi, măng rừng cứ tròn miệng ê a đọc. Trong những cặp mắt trong veo ngày hôm ấy mọi thứ đều diệu kì như được sinh ra lần thứ hai trong đời.   Trời đã sang trưa, con đường đi học với những tán cây lúp xúp vẫn veo von tiếng chim. Cậu bé đi về bàn chân tung tăng, chiếc túi sách có quyển vở nguệch ngoạc những con chữ đầu tiên nhưng mà quý lắm. Chỉ mai này nó sẽ đầy ắp chữ như bồ thóc mỗi vụ mùa. Thế rồi đêm ấy những cậu bé, cô bé ngủ thiếp đi vẫn mơ màng nghe tiếng trống trường, có lá cờ đỏ, mảnh sân trường xinh xắn. Ngày khai trường của tuổi thơ tôi chỉ có thế thôi mà không thể nào quên.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nhân vật rất đời      Nhờ Tia Sáng, tôi hình dung rõ nét hơn giới trí thức đương đại, những người đang sống: Trong đầu óc họ có gì, họ nghĩ gì, họ nghĩ (tư duy) như thế nào… Tia Sáng khá nặng đối với tôi. Các bài nặng mà gọn thì đỡ hơn nhiều so với các bài không nặng lắm nhưng cồng kềnh. Tôi rất thích những bài có “nghiệp vụ”. Chán ngắt là mấy bài “kín kẽ” kiểu học trò, toàn chữ là chữ…    Số bạn đọc Tia Sáng, tất nhiên, không đông như số bạn đọc báo hằng ngày hay cuối tuần. Gọn, không cồng kềnh, không chiếm nhiều không gian xã hội – ấy, thế mà hay, rất hợp với những câu chuyện thực, cho lời nói thật. Chuyện cần nói cứ nói. Mà ai cần? Người nói cần. Còn người nghe có cần không, cần đến đâu… thì việc này đã có Tòa soạn lo.  Là người viết, tôi chỉ dám viết việc của mình, mà việc đã chắc, chắc như gạo đã sàng sẩy. Là người đọc, tôi nghĩ rằng những bài có chuyện, buộc phải chọn lựa là những bài đáng gọi là tia sáng, soi rọi cho thấy một cái gì đó, tạo ra sức hấp dẫn tự nhiên, thậm chí như ma lực. Những bài báo ấy ngày càng biến Tia Sáng thành một nhân vật của thời đại, với những niềm vui và nỗi buồn, với những hy vọng và ảo tưởng, với những xót xa và cam chịu… Tóm lại, một nhân vật rất đời. Có điều, nhân vật này xem ra còn cả nghĩ, chưa biết đùa, nhưng liệu có dám cho người đời mượn cớ để đùa, cơ hội để nói lên đích xác nhất các sự thực khó nói? Tôi đã đưa vào sách giáo khoa lớp Một chuyện đùa này:  Einstein vào quán ăn, quên kính ở nhà, phải nhờ người hầu bàn đọc hộ thực đơn.  Người hầu bàn tế nhị, tỏ ra thông cảm, ghé sát tai ông nói khẽ: Tôi cũng không biết chữ như Ngài.  Chúng ta, máu thịt của Tia Sáng, cũng mong sao được những người tế nhị thông cảm cho.  GS. Hồ Ngọc Đại       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một quốc hội lập pháp      Chức năng lập pháp là một chức năng quan trọng, vốn có của Quốc hội. Tuy nhiên, ít quốc gia nào trên thế giới lại có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật như ở Việt nam.       Chỉ tính riêng trong năm 2013, các cơ quan nhà nước ở trung ương đã ban hành 1 Hiến Pháp, 17 Luật, 22 Nghị quyết của Quốc hội; 3 Pháp lệnh, 8 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 215 Nghị định của Chính phủ; 703 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; 106 Thông tư liên tịch. Như vậy, tính sơ bộ trong một năm các văn bản được ban hành đã vượt con số 1.000 văn bản, chưa kể Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao… Thực trạng đó khiến ta phải đặt một câu hỏi vậy “quyền lập pháp” của Quốc hội hiện nay có còn là lập pháp nguyên thủy không? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này trước đòi hỏi Quốc hội ngày càng phải chuyên nghiệp hơn, phải giải quyết nhiều hơn những “đơn đặt hàng” từ cuộc sống?  –    Lập pháp nguyên thủy và lập pháp ủy quyền   Quốc hội thực hiện quyền lập pháp. Tuy nhiên thực tế ở Việt Nam “chức năng lập pháp” đúng nghĩa lại do nhiều cơ quan thực hiện. Quốc hội lập pháp nhưng thực tế đa phần các dự luật là do Chính phủ và các Bộ ngành đệ trình. Sau khi luật có hiệu lực lại cần phải có những văn bản hướng dẫn của những cơ quan này mới có thể đi vào cuộc sống. Chính qui định không rõ ràng như vậy nên ở Việt Nam quyền lập pháp vốn thuộc về Quốc hội, nhưng hóa ra trên thực tế đã chuyển một phần lớn sang Chính phủ và các Bộ, vì hồn cốt của luật lại nằm ở các dự luật và văn bản hướng dẫn thi hành.   Luật được ban hành ra nhưng vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành, điều đó nảy sinh cách hiểu những văn bản hướng dẫn thi hành luật hóa ra “quan trọng hơn cả luật”. Như vậy trật tự, nguyên tắc và giá trị vốn có của hệ thống pháp luật sẽ bị đảo lộn, tạo điều kiện nảy sinh sự tùy tiện trong giải thích và thực thi luật pháp của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.    Mỗi đạo luật do có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, nên không tránh khỏi tình trạng nội dung và tinh thần của luật bị biến dạng, biến tướng hoặc không thân thiện với đối tượng được điều chỉnh, dễ cho việc quản lý, nhưng lại khó cho người dân khi thực hiện. Ủy quyền cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, nhưng đáng tiếc chúng ta chưa có cơ chế xác định rõ nội dung, mục đích và phạm vi uỷ quyền, hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện nghĩa vụ ban hành qui phạm được uỷ quyền ra sao.   –    Hạn chế lập pháp ủy quyền, cương tỏa quyền lập quy  Toàn bộ quyền lập quy lâu nay phải bị cương tỏa dần và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ để bảo vệ dân quyền. Quốc hội cần ban hành nhiều đạo luật nhỏ, cụ thể, chi tiết và có thể thi hành được ngay sau khi có hiệu lực. Việc làm này sẽ cắt giảm việc ủy quyền lập pháp ban hành văn bản hướng dẫn.   Chúng tôi cũng cho rằng cần thiết phải có một quy phạm qui định rõ nếu không có ủy quyền của Quốc hội ngay trong chính văn bản Luật thì cũng không đặt ra vấn đề cần có văn bản hướng dẫn thi hành, đạo luật đó có thể thi hành được ngay. Quy phạm cần thiết đó có thể là: “Trong từng đạo luật, tùy từng trường hợp cụ thể, Quốc hội sẽ xác định rõ nội dung, phạm vi ủy quyền cho Chính phủ, một Bộ hoặc chính quyền địa phương ban hành văn bản hướng dẫn.” Qui định như vậy sẽ minh thị rõ ủy quyền về vấn đề gì, phạm vi đến đâu cụ thể trong ngay văn bản Luật của Quốc hội. Hay nói cách khác, Chính phủ, một Bộ ngành hoặc chính quyền địa phương không đương nhiên có quyền hướng dẫn, mà quyền đó có được trên cơ sở trao quyền của Quốc hội, vì Quốc hội mới có quyền lập pháp nguyên thủy. Cách làm rành mạch này sẽ hạn chế được tình trạng có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như hiện nay, hạn chế tình trạng phân tán, chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn, không rõ ràng giữa các văn bản hướng dẫn liên quan đến một vấn đề. Khi văn bản hướng dẫn thi hành có sự xung đột, mâu thuẫn với luật do Quốc hội ban hành thì vẫn phải thực hiện nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật của Quốc hội.   –    Tăng số lượng và chất lượng Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp  Muốn có một Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp thì phải gia tăng số lượng và tính chuyên nghiệp của Đại biểu Quốc hội. Đại biểu phải là người dành nhiều thời gian, tâm huyết cho hoạt động của Quốc hội. Hiện nay Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm vẫn chiếm số lượng lớn. Những Đại biểu này ngoài việc thực hiện nhiệm vụ Đại biểu thì họ còn phải thực hiện các công việc theo chức trách nơi mình công tác, không có nhiều thời gian chuyên tâm vào hoạt động lập pháp.   Để hoạt động lập pháp của Quốc hội được tăng cường, cần gia tăng số lượng Đại biểu chuyên nghiệp của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp sẽ có điều kiện tốt hơn để phản biện các dự luật, cản trở những dự luật có thể gây phương hại cho lợi ích của cử tri đã bầu ra mình. Thực chất Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội mới là “công xưởng của Quốc hội”, vì đây là bộ phận chuyên môn của Quốc hội, có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án Luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Đại biểu chuyên nghiệp ở Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là những người không kiêm nhiệm chức vụ nhà nước hoặc tư nhân nào khác, là những người thạo nghề (thạo giao tiếp, thuyết phục, thương lượng, nắm vững các quy trình và thủ tục làm việc của Quốc hội…) và có điều kiện làm việc chuyên nghiệp (thu nhập cao, bộ máy giúp việc chuyên nghiệp, có nhiều đặc quyền của Đại biểu Quốc hội…).   Tóm lại, việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả chức năng lập pháp của Quốc hội là đòi hỏi khách quan của cuộc sống hiện nay. Một Quốc hội thực sự phải là Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp. Ngoài việc nhà nước cần phải hạn chế việc ủy quyền lập pháp, thì một Quốc hội chuyên nghiệp cần có những Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp. Khi quyền lập quy của Chính phủ từng bước bị cương tỏa, số lượng Đại biểu quốc hội chuyên nghiệp được tăng cường, các dự án luật sẽ được xem xét cẩn trọng hơn, khi đó chất lượng luật chắc chắn sẽ được nâng cao, đảm bảo tính khách quan, ổn định và khả thi hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số đề xuất về vấn đề phát triển nghiên cứu khoa học ở Việt Nam      I. Phát triển nghiên cứu khoa học: ưu tiên mang tính chiến lược  Hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm 2 nhóm chính là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.    1. Nghiên cứu cơ bản: mục tiêu là tìm ra những phát kiến mới về mặt học thuật cũng như những hướng mới để giải quyết một vấn đề cụ thể. Các nghiên cứu loại này đòi hỏi chi phí rất lớn, thời gian nghiên cứu lâu dài và hiệu quả về mặt kinh tế chưa nhìn thấy ngay được, thậm chí chỉ có ý nghĩa đơn thuần đóng góp cho khoa học. Do vậy, nên chăng khuyến khích các nhà khoa học cơ bản có năng lực ở lại công tác tại nước ngoài để phát huy khả năng của họ, qua họ là cầu nối để trao đổi những kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản giữa các nhà khoa học trong nước và giới khoa học quốc tế. Đây cũng là một giải pháp để từng bước nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu trong nước tới mặt bằng quốc tế. Nếu các nghiên cứu nào thực sự có ý nghĩa, thể hiện như được đăng tải tại các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới thì nhà nước có thể xem xét tiếp tục đầu tư. Ngoài ra, nếu các nghiên cứu đó được quảng bá rộng rãi, có thể sẽ có những cơ sở nghiên cứu nước ngoài đầu tư kinh phí phát triển đề tài, điều này cũng giảm bớt đáng kể gánh nặng ngân sách cho nhà nước mà vẫn đảm bảo cho các nhà khoa học thực hiện được các ý tưởng của mình. Mặt khác, nhà nước nên sớm có chính sách tổng thể và hệ thống về sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao là trí thức Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài, mạnh dạn mời họ về nắm giữ các vị trí quản lý khoa học tại các Viện nghiên cứu trọng điểm.  2. Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu nhằm áp dụng các công nghệ tiên tiến, có giá trị về mặt kinh tế, kỹ thuật, công nghiệp vào nền sản xuất hàng hoá của Việt Nam, giúp thị trường Việt Nam có những sản phẩm chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.  Sau khi gia nhập WTO, để duy trì, phát triển được tính cạnh tranh trong sản xuất, cả trên việc xuất khẩu ra thị trường thế giới cũng như ngay chính tại thị trường trong nước, vấn đề triển khai nghiên cứu ứng dụng phải được đặt lên hàng đầu.  •  Để có thể tạo bước đột phá, nhà nước phải mạnh dạn hơn nữa để chuyển hoá các cơ sở nghiên cứu sang mô hình các công ty công nghệ cao, tạo ra nhu cầu bằng cách đặt hàng những vấn đề nghiên cứu thật cụ thể. Để có thể nhanh chóng bắt kịp trình độ nghiên cứu triển khai của quốc tế, một lần nữa nhu cầu phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa một bên là các nhà khoa học trong nước, thấu hiểu rõ tình hình thực tế tại Việt Nam và một bên là các nhà khoa học đang làm việc tại nước ngoài cũng như các du học sinh, những người có điều kiện tiếp cận các thành tựu công nghệ của thế giới. Một môi trường hợp tác thông thoáng, thủ tục đơn giản, khuyến khích nhanh chóng thương mại hoá kết quả bằng chính sách minh bạch, rõ ràng ưu đãi về thuế, vốn, đất đai, … là khâu then chốt. Phải coi nghiên cứu ứng dụng là một ngành kinh tế non trẻ nhưng triển vọng, nên cần được hưởng sự quan tâm như bất cứ một ngành kinh tế mũi nhọn nào của đất nước.  •   Một yếu tố vô cùng quan trọng để tạo động lực và sức bật cho ngành kinh tế này là vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Các sản phẩm trí tuệ một khi thương mại hoá thành công có thể đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chủ sở hữu. Nếu vấn đề bản quyền không được làm nghiêm túc, các nhà phát minh công nghệ không thể yên tâm khi tiết lộ hoặc triển khai các ứng dụng do họ sáng tạo. Nhà nước phải bảo vệ quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ của công dân và tổ chức như bảo vệ quyền sở hữu các tài sản cá nhân, với những chế tài mạnh mẽ và cụ thể, đủ sức răn đe các hành vi ăn cắp, khai thác bất hợp pháp.  •  Khả năng tiếp cận các nguồn thông tin khoa học có giá trị. Hiện nay, trong thời đại kinh tế tri thức, thông tin khoa học đã là một thứ hàng hoá có giá trị. Với khối lượng tri thức khổng lồ hiện nay, việc tra cứu trước khi bắt tay vào bất cứ dự án khoa học nào là điều bắt buộc. Hiệu quả và sự thành công của dự án cũng phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của thông tin đầu vào. Tuy nhiên vấn đề đầu tư cho việc tiếp cận các nguồn thông tin giá trị ở nước ta hiện còn rất yếu và không được coi trọng đúng mức. Hệ quả là chất lượng và tính thời sự của các đề tài khoa học không bám sát được vào thực tế, và đấy là sự phí phạm rất lớn. Tuy vậy vấn đề này hiện nay lại cần được sự hỗ trợ của nhà nước vì chi phí để thuê bao truy cập các cơ sở dữ liệu lớn, có uy tín trên thế giới là rất cao, trong khi hiệu quả vật chất mang lại có thể chưa đo đếm ngay được. Có thể giải quyết bằng cách nhà nước đứng ra đăng cai việc này, sau đó các đơn vị nào muốn sử dụng có thể trả phí truy cập dưới sự quản lý của nhà nước.  Trước mắt, chúng tôi đề nghị nhà nước giải quyết 2 vấn đề cấp bách tạo điều kiện cho sự phát triển nghiên cứu khoa học như sau.  II.  Thành lập và phát triển các trung tâm nghiên cứu khoa học mũi nhọn tầm cỡ quốc tế  Việc thành lập các khu đại học trong đó có những trung tâm nghiên cứu chất lượng cao đang là một nhu cầu cấp bách trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Thực chất chúng ta đã thành lập rất nhiều trung tâm nghiên cứu trong nước nhưng hầu như chưa có những trung tâm nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc tế.  Do kinh phí nhà nước có hạn, trước mắt chúng ta hãy tập trung xây dựng một số trung tâm mô hình mẫu có tầm vóc quốc tế tập trung cho một số ngành mũi nhọn và trọng điểm, đây chính là những đầu tàu dẫn dắt việc nghiên cứu khoa học trong nước dần dần hoà nhập với thế giới.  Chúng tôi đề xuất mô hình cụ thể như sau cho các trung tâm nghiên cứu chất lượng cao:  Hội đồng khoa học: Gồm những nhà khoa học, giáo sư đầu ngành của Việt nam, các Việt kiều và các nhà khoa học lớn người nước ngoài, có uy tín phụ trách về mặt khoa học, điều hành và lập chương trình hoạt động, định hướng chính cho công việc nghiên cứu và giảng dạy, liên kết việc nghiên cứu trong nước và quốc tế .  Chủ tịch hội đồng khoa học phải là người có tầm uy tín quốc tế lớn (không loại trừ là người nước ngoài),  là người có thể kêu gọi các trí thức trẻ ở nước ngoài trở về làm việc.   Ban Giám đốc điều hành: Gồm các nhà khoa học có tâm huyết, có kinh nghiệm làm việc trong nước, rất am hiểu tình hình nghiên cứu và giáo dục của Việt nam. Nhiệm vụ của Ban giám đốc là thực hiện các kế hoạch mà hội đồng khoa học đề ra và còn có nhiệm vụ kêu gọi, phát triển nguồn tài chính. Ở các trường đại học hàng đầu thế giới, hiệu trưởng  là những người kêu gọi và gây quĩ được nhiều nhất từ các nguồn tài trợ, đặc biệt là từ các Mạnh Thường Quân. Ngoài ra, ban giám đốc bắt buộc phải có kinh nghiệm làm việc ở môi trường quốc tế.  Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu:  Được Ban giám đốc tuyển chọn qua thi tuyển công khai và công bằng, chú ý tới nguồn nhân lực đã được đào tạo ở nước ngoài. Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực tri thức một cách hiệu quả của đất nước sẽ được thí điểm qua các trung tâm này. Những người được tuyển chọn  sẽ được đãi ngộ xứng đáng với công sức làm việc của họ. Tuy nhiên, trách nhiệm của họ là phải hoàn thành được nhưng chỉ tiêu “chuẩn hoá quốc tế” mà Hội đồng khoa học và Ban giám đốc đề ra. Ví dụ người làm nghiên cứu mỗi năm phải có ít nhất một bài báo quốc tế đăng trên những tạp chí mà Hội đồng khoa học đề ra, phải tham gia vào các hội thảo quốc tế và có những công trình có giá trị ứng dụng cho đất nước.   Để các trung tâm nghiên cứu tầm quốc tế này hoạt động hiệu quả, các trang thiết bị và cơ sở dữ liệu cần phải trang bị đầy đủ. Để các nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu mới, phù hợp với xu thế thời đại, công việc rất cấp thiết là cập nhật các tạp chí quốc tế trên đó đăng tải các công trình khoa học của nhân loại. Vì vậy các trung tâm nghiên cứu này cần liên kết với nhau để mua cơ sở dữ liệu trực tuyến, đầu tư các thư viện có đầy đủ sách báo để cán bộ sử dụng. Ngoài việc nghiên cứu và đào tạo các chuyên gia chất lượng cao, trung tâm  phải thường xuyên tổ chức các hoạt động seminar và các hội thảo quốc tế để giao lưu, trao đổi và hợp tác khoa học. Qua các hoạt động như thế sẽ truyền bá và  giúp đỡ những sinh viên trong nước có điều kiện tiếp cận với kiến thức khoa học hiện đại và những hợp tác như vậy sẽ thúc đẩy việc hợp tác, nghiên cứu khoa học trong nước.  Trung tâm cũng là nơi tin cậy để có thể đảm nhận các dự án lớn của nhà nước và dự án liên kết với nước ngoài. Nguồn tài chính của trung tâm, ngoài sự đầu tư của nhà nước, những dự án trung tâm thực hiện mang lại, cần có sự kêu gọi giúp đỡ của các nhà tài trợ ở trong và ngoài nước, trong đó uy tín khoa học quốc tế của Trung tâm và ban điều hành đóng vai trò rất quan trọng.     III.  Thành lập Uỷ ban phát triển và chống lãng phí nguồn nhân lực  Hiện tượng chảy máu chất xám và lãng phí nhân lực hiện nay đòi hỏi những biện pháp quản lý cụ thể và hiệu quả. Chúng tôi cho rằng việc thành lập một «Uỷ ban phát triển và chống lãng phí nguồn nhân lực » trực thuộc Chính phủ, trong giai đoạn trước mắt, sẽ góp phần giải quyết vấn đề này.  Chúng ta đang lãng phí nhân lực theo các hướng sau:  1- Những người có trình độ và được đào tạo trong và ngoài nước bỏ Việt Nam sang sống và làm việc ở nước ngoài.  2- Những lưu học sinh Việt Nam du học ở nước ngoài sau khi tốt nghiệp không trở về nước làm việc vì lý do không tìm được công việc phù hợp.  3- Những người Việt Nam có trình độ và được đào tạo không làm việc cho chính phủ Việt Nam mà làm việc cho các công ty nước ngoài ở Việt Nam.  4- Những người Việt Nam có trình độ đang làm việc cho chính phủ nhưng không được sử dụng đúng với năng lực, phải làm những công việc không giúp họ phát triển khả năng của họ, hoặc phải làm những việc trái chuyên môn của họ để kiếm sống, hoặc họ làm việc một cách tự phát, trong khi, nếu chính phủ sử dụng họ sẽ có thể tạo ra những hiệu quả to lớn.  5- Những người gốc Việt Nam sống và làm việc ở nước ngoài muốn đóng góp cho đất nước nhưng chưa hiểu rõ các chính sách của chính phủ cũng như chưa được tạo điều kiện đầy đủ để đóng góp một cách tối đa khả năng của họ.  Muốn chống lãng phí nhân lực có hiệu quả, trước hết cần có sự quản lý tốt nguồn nhân lực hiện có và hoạch định được chiến lược về nguồn nhân lực cho tương lai. Do vậy, Uỷ ban này sẽ có nhiệm vụ quản lý một cách chặt chẽ, thậm chí đến từng cá nhân có năng lực trong các ngành.  Các chức năng của uỷ ban bao gồm :  1- Kiểm tra, giám sát việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao trong hệ thống các cơ quan nhà nước, các vùng, ngành kinh tế khác nhau.  2- Tư vấn, giúp việc chính phủ trong công tác xây dựng chính sách phát triển, sử dụng và thu hút nhân tài.  3- Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực trình độ cao: quản lý quá trình sử dụng, sắp xếp nguồn nhân lực.  « Uỷ ban phát triển và chống lãng phí nguồn nhân lực » cần đảm bảo các nhiệm vụ sau :  1- Lập hồ sơ quản lý các cán bộ nhà nước được cử đi đào tạo. Thông tin được cung cấp bởi các bộ ngành cụ thể, ví dụ, thông tin về các cán bộ đào tạo trong chương trình 322 sẽ do Bộ Giáo Dục cung cấp. Quản lý, theo dõi sự phát triển của các cán bộ đã kết thúc quá trình đào tạo và trở về nước làm việc.  2- Có chương trình tìm kiếm cán bộ tương lai, bao gồm phát hiện, tiếp cận các cá nhân có năng lực, và cuối cùng là thuyết phục bằng các chính sách hợp lý.  3- Xây dựng chương trình quốc gia tổng thể về đào tạo, sử dụng, phát triển và thu hút nguồn nhân lực: Định hướng các ngành trọng điểm cần ưu tiên đào tạo, phổ biến công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cho các du học sinh và quản lý hồ sơ các đối tượng lưu học sinh đang du học, có kế hoạch tiếp nhận họ trở về làm việc một cách rõ ràng.  4- Khuyến khích các du học sinh đã kết thúc giai đoạn đào tạo về mặt lý thuyết nhưng có điều kiện ở lại làm việc thêm một thời gian. Đây là một hình thức giúp họ có thêm kinh nghiệm thực tế, vững vàng hơn khi về nước công tác sau này.  5- Thiết lập quan hệ chặt chẽ với các Việt Kiều có điều kiện và mong muốn được cống hiến cho đất nước, chủ động tiếp cận và đặt vấn đề mời họ cộng tác.  6- Xử lý những hành vi gây nên sự lãng phí nguồn nhân lực có trình độ cao (cố ý không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, công tác tuyển dụng không đúng quy trình pháp lý…). Lập đường dây nóng để tạo điều kiện can thiệp, xử lý những vi phạm trong việc sử dụng nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho mọi cán bộ gặp bất công trong việc phân công lao động có thể liên lạc với Uỷ ban. Đồng thời thành lập website và công bố công khai thông tin về các hoạt động của Uỷ ban, cung cấp địa chỉ email, điện thoại và địa chỉ cụ thể của Uỷ ban cho mọi cán bộ được biết.  Tập thể lưu học sinh đề án 322 tại Cộng hoà Pháp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số quan niệm về phát triển      Ý muốn “bay lên”, “bứt phá”, “cất cánh”, “đi tắt”, những băn khoăn xem ta “lớn hay nhỏ” sẽ là rất tốt để thể hiện nguyện vọng của nhân dân (mặc dù mang nặng tâm lý nóng vội). Nhưng đó không nên là mục tiêu để các nhà hoạch định chính sách kinh tế, những doanh nhân hướng tới trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Thay vào đó, họ cần có một số thay đổi trong suy nghĩ, quan niệm và hành động dựa trên các dữ kiện thực tế (facts) để đề ra những phương án mang tính khả thi hơn là những dự án “tô hồng” nhưng khó lòng hoàn tất.        1. Về nền Kinh tế quốc dân.  So với nền kinh tế đóng, nền kinh tế mở (hội nhập) có cách tính toán và cân đối nền kinh tế quốc dân phức tạp hơn nhiều. Lúc đó sẽ có các mối liên kết kinh tế giữa các đơn vị trong nước với bên ngoài và các mối liên kết này đòi hỏi có phương pháp riêng để thống kê. Nhà nước cần có mô hình chuyên biệt cho việc cân đối quốc gia. Việc quản lý theo ngành của các bộ cần được thiết kế lại vì rất nhiều hoạt động kinh doanh của các công ty (thuộc bộ hoặc không thuộc bộ) không mấy liên quan đến chức năng của ngành mà thuần túy chỉ là các mắt xích cho những chuỗi cung ứng bên ngoài. Việc tạo ra giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị của sản phẩm của thế giới đóng góp thế nào cho nền kinh tế quốc dân cũng cần được xem xét kỹ.  Khái niệm “cân đối” của nền kinh tế quốc gia cũng cần được quan niệm lại vì sự “mất” cân đối trong phạm vi quốc gia (khi đóng) có thể lại là sự cân đối trong bối cảnh hội nhập. Quan niệm rằng ta có quá nhiều người tốt nghiệp đại học, cao học so với khả năng thu hút của nền kinh tế (khi chưa hội nhập sâu) có thể trở thành sai khi những người này làm việc cho các chuỗi cung ứng, trung tâm R&D của nước ngoài trong thời gian tới. Việc “lập kế hoạch” (mà chủ yếu dựa trên các cân đối, chiến lược tính toán cho quốc gia) sẽ không thích hợp (thậm chí trái) với tư duy, phương thức hoạt động của các chuỗi cung ứng đang hoạt động ngoài ý muốn của bất kỳ một quốc gia nào.   Hiện nay doanh nghiệp (DN) Việt vẫn trông chờ quá nhiều vào Nhà nước và Nhà nước vẫn hay “chỉ ra” cho DN phải làm gì, làm thế nào. Một bản chiến lược tổng thể của một bộ, ngành mà không “chỉ ra” được một vài sản phẩm, bước đi cụ thể để cho DN thì bị coi là chưa đầy đủ, chung chung. Nhưng khi hội nhập sâu và vốn từ bên ngoài đổ vào nhiều hơn vốn trong nước, lúc đó, Nhà nước không (và không thể) đưa ra chiến lược sản xuất, kinh doanh cho các DN được nữa mà các DN cần tự làm lấy. Trong các liên doanh, bên nước ngoài thường nắm các quyết định quan trọng. Lúc này, DN, nhà nước cần thay tính chủ động bằng khả năng phản ứng. Tức là ta phản ứng (re-act) tùy theo các động thái của họ.    2. Chiến lược Công nghiệp hóa.  Lý thuyết về công nghiệp hóa (CNH) đã được xây dựng chủ yếu dựa trên bối cảnh trước hội nhập, khi mà các nước còn tách biệt về kinh tế thế giới, khả năng bảo hộ thị trường nội địa và bao cấp cho DN nội địa rất cao so với thời kỳ hội nhập. Nếu áp dụng các kinh nghiệm, chính sách CNH của Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia,… một cách máy móc sẽ không những không thích hợp gây lãng phí lớn. Những bao cấp cho các ngành công nghiệp trong nước trong bối cảnh hội nhập có thể sẽ như rót nước vào cái thùng không đáy và nước (tức là đầu tư) sẽ không bao giờ tới ngưỡng. Lãng phí càng lớn hơn trong các dự án, chương trình quốc gia lớn, ví dụ: xây dựng các ngành công nghiệp (CN), cụm CN. Khi đó, các DN có thể dùng bao cấp của nhà nước vào các mục đích khác và không liên quan gì đến thiết lập cụm theo dự kiến. Chương trình mía đường, xi măng, thép, ôtô, cơ khí,…đã không tính đến các yếu tố hội nhập dẫn đến thiệt hại cho nhà nước, nông dân trồng mía.  Kinh nghiệm CNH của các nước nay đã phát triển thì nhiều. Nhưng kinh nghiệm CNH trong bối cảnh hội nhập thì không nhiều. Vì vậy, cần xem xét, tính toán lại toàn bộ vấn đề CNH của chính chúng ta trong bối cảnh hội nhập. Khi hội nhập, một nước nông nghiệp lạc hậu rất khó có thể xây dựng được ngành công nghiệp ôtô, điện tử,… khi bao cấp của Nhà nước không sánh được với lợi nhuận của các DN khi làm việc khác với bên ngoài. CNH có thể không chỉ là phát triển những ngành công nghiệp (theo quan niệm kinh điển) mà là phát triển sản xuất kinh doanh bằng phương pháp công nghiệp. Ví dụ: không phải là trong CNH, sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, thủ công nghiệp sẽ giảm đi mà là việc sản xuất-kinh doanh của các ngành trên được tiến hành chủ yếu bằng phương pháp công nghiệp.  3. Quan điểm về tạo dựng cụm công nghiệp  Trên thế giới có một số cụm đơn lẻ mang tính tập trung cao và chuyên ngành rất sâu; đồng thời với rất nhiều các cụm phân bổ rộng khắp trên thế giới tạo ra các mạng lưới toàn cầu.Thung lũng Silicon (Mỹ) là một cụm địa phương mang tính tập trung rất cao và chuyên ngành rất sâu về công nghệ cao của cả thế giới trên một diện tích tương đối nhỏ ở một nước. Các cụm phân bổ khắp nơi trên thế giới tạo ra các mạng lưới toàn cầu. Ví dụ: các cụm sản xuất phần cứng hoặc phần mềm tạo thành những mạng lưới phân bổ trải dài từ Đông Á, châu Âu và Mỹ. Các chuyên gia hoạch định công nghiệp lưu ý là: các cụm đơn lẻ với độ tập trung, chuyên ngành cao thì rất ít, việc xuất hiện đòi hỏi nhiều yếu tố ngoại cảnh và thường ít do kết quả của việc lập kế hoạch. Người ta nói: “Chỉ có Silicon Valey là không lập kế hoạch xây dựng một khu công nghệ cao” là nhấn mạnh về tính ngẫu nhiên của việc hình thành Silicon Valey. Nhưng con người lại có thể chủ động hơn nhiều trong việc tạo ra các cụm để hòa vào các mạng lưới toàn cầu. Ví dụ: Phần Lan chủ động tạo ra nhiều cụm sản xuất phần cứng cho CNTT, chuỗi cung ứng toàn cầu của tập đoàn WalMart, các cụm sản xuất phần mềm ở Ấn Độ, Israel, Iceland.   Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập, các nước nhỏ, yếu không nên lập các cụm chuyên ngành của mình căn cứ vào yếu tố địa phương, vì nó sẽ trở nên quá nhỏ bé trong vòng xoáy của các yếu tố bên ngoài dẫn đến cụm thất bại. Thế nhưng các nước này có thể dễ dàng hòa vào các mạng lưới, chuỗi cung ứng đang tồn tại trên thế giới và trở thành một mắt xích cho các chuỗi này.  4. Phòng, ban Hợp tác Quốc tế.  Một tổ chức có phòng, ban hợp tác quốc tế (gọi tắt là phòng HTQT) thường có nghĩa: tổ chức đó chưa thực sự hòa nhập quốc tế. Một tổ chức thực sự hội nhập sẽ không có phòng HTQT vì tất cả các phòng nghiệp vụ nghiễm nhiên đã tính toán các vấn đề nghiệp vụ trên bình diện quốc tế. Các công ty, các tổ chức, cơ quan nhà nước ở các nước phát triển hầu như không có phòng HTQT. Có phòng HTQT tức là vẫn cần một bộ phận làm cầu nối giữa tổ chức đó với bên ngoài. Nói cách khác là các phòng của tổ chức đó chưa tính đến yếu tố bên ngoài khi tác nghiệp, tức là còn “tách” với thế giới bên ngoài. Khi hội nhập thế giới, các phòng của một tổ chức cần giao dịch trực tiếp (kể cả theo ngành dọc và quan hệ ngang) với thế giới. Phòng HTQT (nếu có, trong một giai đoạn ngắn để hội nhập) cần tính toán, thiết kế lại (re-design) tất cả các hoạt động nghiệp vụ trên bình diện hội nhập và đưa ra các điều chỉnh về cơ cấu và hoạt động của tổ chức cho phù hợp với hội nhập. Ví dụ: khi hội nhập, cần tính toán hàng hóa nước ngoài tràn vào thì sản phẩm A, B của mình còn có thể bán được không và ta có thể đem sản phẩm đi bán ở nước nào, sản xuất cả sản phẩm hay làm gia công cho hãng nào để có lợi… Thay vì làm phiên dịch, đặt vé máy bay, đặt khách sạn, tổ chức tiếp khách nước ngoài… như hiện nay, phòng HTQT cần phải biết được: thế giới đang làm các công việc tương tự của mình như thế nào, khi hội nhập, sản phẩm gì, công đoạn gì ta có thể hoặc không thể cạnh tranh được, cái gì ta nên làm thuê cho bên ngoài, cái gì ta nên thuê khoán bên ngoài làm… Ví dụ: trong công nghiệp, trước ta chỉ biết các sản phẩm, công nghệ trong nước, nay phải biết một khối lượng khổng lồ về các sản phẩm, công nghệ của ngành mình trên thế giới.  5. Không gian văn hóa, bản ngã.  Văn hóa có liên quan chặt chẽ với Kinh tế. Khi Kinh tế gắn chặt (hay là mắt xích hữu cơ) với các chuỗi cung ứng nước ngoài thì sẽ dẫn đến nền Văn hóa cũng sẽ bắt rễ, sẽ gắn kết với các nền Văn hóa bên ngoài. Nói cách khác, nền Văn hóa sẽ trở nên đa dạng hơn khi nền kinh tế có thêm yếu tố nước ngoài. Vấn đề “lựa chọn” văn hóa, ý thích, cách sinh hoạt, cách sống, quốc tịch (naturalise) và việc “lựa chọn” bản ngã là những vấn đề tất nhiên và thuộc vào quyền của con người. Trước đây, Con người sinh ra là đã “gắn chặt” vào một nền Văn hóa. Khi thế giới đã phát triển, con người có thể chọn cho mình một nền văn hóa phù hợp. Có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam, thích văn hóa Việt và muốn ở lại, lập gia đình với người Việt. Họ đã lựa chọn Văn hóa Việt. Tương tự như vậy, có người Việt phù hợp, tiếp nhận và lựa chọn văn hóa khác (họ có thể ở nước ngoài hay ở Việt Nam). Ta đón chào, yêu mến người nước ngoài thích văn hóa Việt thế nào thì cũng nên trân trọng, quý mến người Việt với văn hóa nước ngoài như vậy. Ông Trần Văn Thình-chuyên gia kinh tế cao cấp của EU, Ông Ngô Cao Phong-người điều phối viên thân cận thu xếp các chuyến công du của TT Bush là những người đáng trân trọng, kính nể khi họ quan niệm rằng cả Pháp, Mỹ và Việt Nam đều là quê hương máu mủ của họ. Ngoài ra, Văn hóa, cũng như Kinh tế ở trong trạng thái động, tức là không bất di bất dịch mãi mãi.   6. Định hướng duy lý.  Để phát triển Kinh tế chủ yếu có hai động lực. Một là, dựa trên tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, nặng về Duy Tình (định hướng “cây Ôliu” theo Friedman trong “Chiếc Lexus và cây Ôliu”); Hai là, dựa trên định hướng toàn cầu, dựa trên thành tựu chung của cả loài người (cái gì tốt thì theo), cân nhắc và thẩm định khách quan, nặng về Duy Lý. Thường các dân tộc lớn, các cường quốc dễ theo định hướng quốc gia, dân tộc. Các nước nhỏ, dân tộc nhỏ, thuần túy theo quy luật vật lý và quy luật giá trị, sẽ thiên về sự Hợp Lý, lôgic của định hướng Duy Lý. Tuy nhiên, các nước dựa vào tinh thần dân tộc để phát triển cũng chỉ áp dụng trong một giai đoạn nhất định, rồi cũng phải đi vào hướng Duy Lý như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc vì nó mang tính bền vững. Anh hô khẩu hiệu để kích động tinh thần cũng chỉ trong thời gian ngắn, chứ không thể lấy đó làm kế sinh nhai lâu dài được. Để phát triển Kinh tế quốc gia mà dựa quá nhiều vào ý chí chủ quan và yếu tố tinh thần thì thường mất tính duy lý, dẫn đến bỏ qua các yếu tố và quy luật khách quan. Như vậy sẽ không thể duy trì sự nỗ lực được lâu dài.   ————-  CHÚ THÍCH ẢNH:  Đường nét công nghệ – Ảnh: Lê Văn Đính       Đinh Thế Phong    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thế giới trước khủng hoảng (Phần 1)      Năm 2022 sẽ đánh dấu 50 năm ra đời của ấn phẩm Giới hạn của Tăng trưởng(1), báo cáo đầu tiên cho Câu lạc bộ Rome, một tổ chức tập hợp các nhà lãnh đạo, học giả và doanh nhân được Aurelio Peccei thành lập bốn năm trước đó.      Lũ lụt ở Bandung, Indonesia, 24/4/2021. Ảnh: Gettyimages.   Ấn phẩm đã khiến công chúng hết sức chú ý bởi lần đầu tiên chúng ta cùng ý thức được rằng tăng trưởng kinh tế không thể diễn ra vô hạn do cạn kiệt về tài nguyên. Báo cáo thứ hai, Nhân loại tại Thời điểm Bước ngoặt2 xuất bản hai năm sau đó đưa ra dự đoán lạc quan hơn về diễn tiến của môi trường sống và cho thấy rằng nhiều yếu tố liên quan nằm trong tầm kiểm soát của con người, có thể giúp tránh và ngăn ngừa các thảm họa môi trường và kinh tế. Tuy nhiên, vào năm 1991 Câu lạc bộ Rome xuất bản Cuộc Cách mạng Toàn cầu lần thứ Nhất3 lên án thói quen của chúng ta khi tìm một kẻ thù chung để đổ lỗi khi đối diện với những vấn đề mà chúng ta không thể tự giải quyết: “Chúng ta đã nhầm lẫn khi nhận định rằng mối đe dọa chung đối với nhân loại là các nguy cơ đến từ ô nhiễm, sự nóng lên toàn cầu, thiếu hụt nguồn nước, nạn đói và những thứ tương tự; nhưng khi làm như vậy chúng ta đang rơi vào bẫy nhầm lẫn giữa triệu chứng và nguyên nhân. Tất cả những nguy cơ này đến từ sự can thiệp của con người vào các quá trình tự nhiên, và chỉ khi chúng ta thay đổi thái độ và hành vi, chúng mới có thể được khắc phục. Kẻ thù thực sự là chính nhân loại”. Sự lạc quan nhạt dần theo năm tháng, và vào năm 2008, G. Turner4 đã chỉ ra rằng dữ liệu 30 năm qua diễn ra tương đối phù hợp với kịch bản bi quan nhất đã dự liệu trong Giới hạn của Tăng trưởng, dẫn đến khả năng sụp đổ của thế giới vào giữa thế kỷ 21.    Thật vậy, thực tế 50 năm qua đã chứng tỏ chúng ta đã không ứng xử lý tính và có trách nhiệm một cách thích đáng trước những mối nguy khẩn cấp xảy đến với hành tinh của chúng ta; thay vào đó, các lập luận phi lý tính và cảm tính đã chiếm ưu thế, chia rẽ chúng ta thành các phe phái thù địch, đổ lỗi cho nhau về sự suy thoái ngày càng nhanh của thế giới toàn cầu hóa nơi chúng ta đang sống. Tôi điểm lại dưới đây 10 nguy cơ đã trở nên đặc biệt nghiêm trọng với hành tinh trong 50 năm qua, được chọn từ các mối đe dọa với tương lai của chúng ta5.     1. Nhân khẩu học tăng trưởng quá nóng     Trong 50 năm qua, dân số thế giới đang tăng đều đặn với tốc độ một tỷ người sau mỗi 12 năm và dự kiến sẽ đạt 8 tỷ người vào năm 2023. Các dự đoán trong 50 năm tới có rất nhiều con số, nhưng không có xu hướng rõ ràng nào về sự tăng trưởng chậm lại của dân số trong thời gian ngắn. Toàn cầu hóa và gia tăng dân số là những yếu tố đóng vai trò quyết định đến diễn tiến của các nguy cơ đối với hành tinh của chúng ta. Trong 50 năm qua, Ngày Trái đất Vượt ngưỡng Phục hồi (một chiến dịch của tổ chức GFN nhằm ước tính khả năng tái tạo tài nguyên so lượng tiêu thụ trong năm để từ đó cảnh tỉnh con người về các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn của Trái đất) đã chuyển từ cuối tháng 12 sang cuối tháng bảy. Các hành động nhằm hạn chế gia tăng dân số bao gồm giáo dục dành cho phụ nữ và giới hạn số con trên mỗi cặp vợ chồng đều cho kết quả tích cực. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tôn giáo và niềm tin phi lý tính đã phần nào hạn chế hiệu quả của biện pháp tránh thai cũng như thái độ của chúng ta đối với dân số đang già đi: số năm một người sẽ sống tính từ thời điểm bây giờ nên được coi là một thước đo lý tính cho giá trị mạng sống của người đó, nhưng một ý tưởng như vậy lại bị coi là sự xúc phạm. Nếu ngài mai tôi chết, thì tổn thất đối với nhân loại rõ ràng sẽ thấp hơn một bậc so với trường hợp một đứa trẻ chẳng may chết vào ngày mai; nhưng những lập luận lý tính như vậy đang bị bỏ qua.      Các lập luận phi lý tính và cảm tính đã chiếm ưu thế, chia rẽ chúng ta thành các phe phái thù địch, đổ lỗi cho nhau về sự suy thoái ngày càng nhanh của thế giới toàn cầu hóa nơi chúng ta đang sống.      2. Di cư, nghèo đói, bất bình đẳng     Toàn cầu hóa đã giúp cho chúng ta nhận thức rõ ràng hơn về những bất công do bất bình đẳng mang lại trên khắp thế giới. Ở một số quốc gia châu Phi, hơn 1 trong số 10 trẻ em sinh ra ngày nay sẽ chết trước 5 tuổi, so với con số 1 trên 250 trẻ em ở châu Âu và Đông Á. Số năm được đến trường cũng khác nhau, giữa 5 năm ở các quốc gia Châu Phi so với 15-20 năm ở các quốc gia kia. Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người ở Qatar lớn hơn 150 lần so với Cộng hòa Trung Phi, so sánh giữa hai quốc gia lớn nhất và nhỏ nhất; trong khi nếu so sánh Hoa Kỳ với các quốc gia khác, con số này là gấp bảy lần với Trung Quốc và 25 lần với Việt Nam. Quy đổi theo chi phí sinh hoạt tương đối (sức mua tương đối), các tỷ lệ là 3,5 giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc và 8,0 giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.    Các tỷ phú trên thế giới, với số lượng hơn hai nghìn một chút, có giá trị tài sản nhiều hơn 4,6 tỷ người cộng lại – tức 60% dân số hành tinh. Bốn trong số năm người dưới mức nghèo (theo chuẩn quốc tế) sống ở các vùng nông thôn, một nửa trong số họ là trẻ em, phụ nữ chiếm đa số, khoảng 70% người nghèo từ 15 tuổi trở lên không được đi học hoặc chỉ được giáo dục cơ bản. Hơn 50% người nghèo sống trong các nền kinh tế yếu ớt, có nguy cơ xung đột và bạo lực cao hiện chiếm 10% tổng dân số thế giới, với con số dự kiến ​​sẽ tăng lên 67% trong thập kỷ tới.    Hệ quả của bất bình đẳng là sự di cư của các nhóm dân cư, chủ yếu do các yếu tố chính trị xã hội, kinh tế và môi trường thúc đẩy: sự chênh lệch kinh tế giữa các nền kinh tế đang phát triển và đã phát triển khuyến khích sự di chuyển của lao động có kỹ năng sang nền kinh tế đã phát triển. Bạo lực gia tăng trên toàn thế giới, thường là kết quả của sự không khoan dung của sắc tộc hoặc tôn giáo, dẫn đến gia tăng di cư. Trong 50 năm qua, mức di cư thuần đến các khu vực phát triển đã tăng từ 0,3 triệu lên 3,1 triệu người mỗi năm. Thông thường, 2% người di cư đến châu Âu qua đường biển tử vong trong suốt hành trình. Di cư sẽ là động lực quan trọng ngày càng tăng làm thay đổi dân số vài thập kỷ tới. Về lâu dài, mặc dù có tác động tích cực tổng thể đến phát triển kinh tế và xã hội, di cư cũng gây ra mối quan tâm, lo lắng và tranh luận chính trị về tính bền vững của nó và các phong trào có nguy cơ gây bất ổn xã hội nơi người di cư ra đi và cả nơi tiếp nhận họ.      Bé gái người Syria, một trong số hàng nghìn người đã đi trên những chiếc thuyền bơm hơi từ Thổ Nhĩ Kỳ đến đảo Lesbos, Hy Lạp. Thường có 2% người di cư đến châu Âu bằng đường biển tử vong trong suốt hành trình. Ảnh: Theguardian.     3. Các cuộc chiến tranh và khủng bố     Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, 50 năm qua thế giới chỉ chứng kiến ​​rất ít xung đột lớn, trong đó đáng kể nhất là ở cuộc chiến ở Afghanistan (1978-2021) với 1,7±0,3 triệu người thương vong và Đại chiến châu Phi (1998-2003) với 4,0±1,5 triệu người thương vong. Nhưng một số quốc gia ở châu Phi, Trung Đông và Nam Á đang ở trong tình trạng bất ổn liên miên với các cuộc xung đột liên tục trong một thời gian dài. Không phải bạo lực của một cuộc chiến tranh gây ra tổn hại lâu dài cho một quốc gia (như nước Đức đã phục hồi ra sao sau Thế chiến Thứ hai) mà là thời gian của nó, nghĩa là sự mất mát của một hoặc nhiều thế hệ đóng góp vào quá trình phát triển đất nước: cần rất nhiều thập kỷ mới có thể phục hồi tổn thất đó.    Tuy nhiên, điểm đặc biệt trong suốt lịch sử 50 năm qua là sự ra đời của hình thức bạo lực mới, được gọi là khủng bố, với các hành động “nhằm gây ra cái chết hoặc tổn thương nghiêm trọng cho dân thường với mục đích đe dọa người dân hoặc chính phủ của họ”. Từ năm 1970 đến năm 2015, đã có tổng cộng 160.000 vụ khủng bố diễn ra, với trung bình 10 vụ mỗi ngày; một nửa trong số đó ở Iraq, Pakistan, Afghanistan và Ấn Độ. Con số này tăng liên tục trong thời gian qua và đạt mức cao nhất vào năm 2015; riêng năm 2019, khủng bố đã gây ra cái chết của 14.000 người trên toàn thế giới, trong đó 5.700 người ở Afghanistan và 1.200 người ở Nigeria. Taliban, Boko Haram và ISIL (Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant) là những nhóm khủng bố chính. Trong năm năm qua, trong khi tác động của ISIL ngày càng giảm ở Trung Đông, thì Thế giới phương Tây đã chứng kiến ​​sự gia tăng của chủ nghĩa Cực hữu, và ở mức độ thấp hơn là chủ nghĩa khủng bố Cực tả.      Lịch sử nhận thức của công chúng về những lợi ích và nguy hiểm của năng lượng hạt nhân là biểu tượng cho việc chúng ta không có thái độ thảo luận một cách duy lý về những vấn đề như vậy.      Đặc điểm chung của chủ nghĩa khủng bố và các cuộc chiến tranh trong 50 năm qua là sự tương phản mạnh mẽ giữa sự sợ hãi mà chúng đe dọa reo rắc trong dân chúng và tác động thực tế nhỏ hơn nhiều của chúng. Một ví dụ minh họa là ở Hoa Kỳ, bệnh tim gây ra hơn 30% số ca tử vong, trong khi chủ nghĩa khủng bố gây ra ít hơn tỷ lệ 1 trong 10.000 số ca tử vong; nhưng xét về mức độ phủ sóng trên các phương tiện truyền thông, bệnh tim chỉ chiếm 2% so với 33% của khủng bố. Đáng quan ngại hơn là mối đe dọa gia tăng của một cuộc xung đột hạt nhân, có nguyên nhân từ sự thất bại của chính sách ngoại giao nhằm giảm số lượng vũ khí hạt nhân trên thế giới. Do đó, Lầu Năm Góc gần đây đã ban hành một tài liệu nhận định rằng “có khả năng gia tăng xung đột khu vực liên quan đến các đối thủ được trang bị vũ khí hạt nhân ở một số khu vực trên thế giới và leo thang hạt nhân trong trường hợp khủng hoảng hoặc xung đột”. Biển Đông đang trở thành một khu vực đặc biệt nhạy cảm về khía cạnh này, đặc biệt là với quyết tâm gần đây của Trung Quốc nhằm tái thống nhất Đài Loan.     4. Quản trị, thất bại dân chủ, chủ nghĩa dân túy     Các mối đe dọa toàn cầu cần nền quản trị toàn cầu với tầm nhìn rõ ràng về tương lai. Trong hơn 50 năm qua, bằng chứng cho sự vắng mặt của nó ngày càng tăng lên. Liên Hợp Quốc và các sự kiện như Hội nghị thượng đỉnh G20 rõ ràng đóng một vai trò tích cực trong việc quản trị hành tinh của chúng ta, nhưng họ thiếu quyền lực cần thiết để thực hiện các quyết định có thể gặt hái kết quả về lâu dài. Việc không đạt được thỏa thuận toàn cầu về giải trừ vũ khí hạt nhân hoặc phát thải carbon dioxide là một ví dụ điển hình. Một trong những quan ngại xuất hiện trong những năm gần đây là nhận thức về sự suy giảm đáng kể chất lượng quản trị ở nhiều quốc gia phương Tây. Tiêu biểu cho sự sa sút đó là nhiệm kỳ Tổng thống của Donald Trump ở Hoa Kỳ như một mẫu hình của sự khiếm nhã, đồi bại và không tôn trọng các giá trị đạo đức cơ bản mà thế giới đã liên tục gây dựng trong 25 thế kỷ qua. Sự thất bại của hệ thống trong việc ngăn chặn tác hại mà nó gây ra cho quốc gia đó đã cho thấy sự mong manh và tính dễ bị tổn thương của các nền dân chủ phương Tây trước chủ nghĩa cực đoan. Nó cũng cho thấy mức độ nào đó, hành động của hầu hết các chính trị gia được thúc đẩy bởi mục tiêu tái cử thay vì phục vụ lợi ích quốc gia.    Trong 50 năm qua, theo xu hướng chung ở Mỹ Latinh, chủ nghĩa dân túy đã và đang phát triển vững chắc trong hệ thống quản trị của thế giới phương Tây. Chủ nghĩa này hướng tới việc làm hài lòng đám đông hơn là giới tinh hoa, và đưa ra tầm nhìn ngắn hạn thay vì dài hạn về tương lai. Trích Bách khoa Toàn thư Britannica, “Nó xoay quanh một nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn, người thu hút và tuyên bố là hiện thân của ý chí của nhân dân để củng cố quyền lực của chính mình. Trong hình thức chính trị được cá nhân hóa này, các đảng phái chính trị mất đi tầm quan trọng của chúng và các cuộc bầu cử diễn ra nhằm xác nhận quyền lực của nhà lãnh đạo hơn là phản ánh nguyện vọng khác nhau của người dân. Một số hình thức chủ nghĩa dân túy độc tài có đặc điểm là chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân biệt chủng tộc, thuyết âm mưu và đổ lỗi cho các nhóm bị gạt ra ngoài lề xã hội, mỗi hình thức đều nhằm củng cố quyền lực của nhà lãnh đạo, đánh lạc hướng sự chú ý của công chúng khỏi những thất bại của nhà lãnh đạo hoặc che mắt người dân trước bản chất sự cai trị của người lãnh đạo hoặc những nguyên nhân thực sự của các vấn đề kinh tế hoặc xã hội”. Kết quả là thập kỷ qua đã có thêm rất nhiều đánh giá và đã nhận định về mối nguy hiểm thực sự trong các diễn tiến đó và cách thức đối mặt với nó; nhiều quan điểm đa dạng cũng đã xuất hiện, trải rộng từ trường phái lạc quan vừa phải tới bi quan cùng cực.     5. Năng lượng, nhiên liệu hóa thạch, hạt nhân, năng lượng tái tạo     Trong 50 năm qua, so với mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu, phần nhiên liệu hóa thạch đã thay đổi từ 93,5% xuống 84,5%, năng lượng tái tạo tăng từ 5,8% lên 11,3% và năng lượng hạt nhân điều chỉnh từ 0,7% lên 4,2%. Quá trình diễn ra khá chậm chạp và những phỏng đoán tương lai về những thay đổi nhanh chóng là không thực tế. Tuy nhiên, cũng có những tiến bộ đáng kể trong một số lĩnh vực: trong thập kỷ qua, số người không được sử dụng điện đã giảm từ 1,2 xuống 0,8 tỷ, và dòng vốn quốc tế đổ vào các nước đang phát triển để hỗ trợ năng lượng sạch đã tăng từ 10 lên 21 tỷ USD. Sự chênh lệch lớn trên thế giới khiến ước mơ về một chính sách toàn cầu hiệu quả về năng lượng trở nên có phần không tưởng: mức tiêu thụ điện trung bình trên đầu người là trên dưới 1500W ở Hoa Kỳ và Canada, chừng 500W ở Trung Quốc, khoảng 260 W ở Việt Nam và xấp xỉ 50W ở Bangladesh. Chúng tương ứng với tỷ lệ phát thải CO2 bình quân đầu người gần lần lượt là 17, 7,4, 2,2 và 0,5 tấn/năm. Với chênh lệch như vậy, người ta không thể mong đợi về một tập hợp các ưu tiên chung có thể được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu trong trường hợp không có cơ quan quyền lực mạnh có thể thực thi chúng.      Ông Simon Kofe, Bộ trưởng Ngoại giao của Tuvalu, phát biểu trước Hội nghị khí hậu COP26 giữa bốn bề nước biển nhằm nhấn mạnh nguy cơ bị nhấn chìm của đảo quốc này Ảnh: REUTERS  Lịch sử nhận thức của công chúng về những lợi ích và nguy hiểm của năng lượng hạt nhân là biểu tượng cho việc chúng ta không có thái độ thảo luận một cách duy lý về những vấn đề như vậy. Ở một nền văn minh được điều hành bởi những người trách nhiệm, năng lượng hạt nhân hẳn sẽ được hoan nghênh và vai trò của nó sẽ không ngừng tăng lên trong 50 năm qua. Thay vì thế, sự cố Chernobyl đã làm bùng lên nỗi sợ hãi, tạo ra các phản ứng thiếu duy lý và cùng với sự ra đời của phong trào phản đối hạt nhân, đã cản trở mạnh mẽ sự phát triển và tiến bộ. Sự cố Fukushima đã tạo cơ hội cho phong trào này tung hỏa mù vào nhận thức của công chúng, gây lẫn lộn về những thương vong gây ra do sóng thần với do sự tan chảy của lõi lò phản ứng, bất chấp sự so sánh là không tương xứng. Trong khi thế giới phương Tây không quản lý được năng lượng hạt nhân một cách hợp lý, Trung Quốc và Ấn Độ hiện đang thúc đẩy việc sử dụng năng lượng hạt nhân trên quy mô lớn. Hồ sơ an toàn kém của một số ngành công nghiệp nặng khác ở Trung Quốc, kết hợp với tốc độ phát triển nhanh chóng của năng lực phát triển điện hạt nhân dân dụng ở quốc gia này, đã làm dấy lên lo ngại về khả năng ngăn ngừa sự cố nghiêm trọng của ngành.    Hình ảnh tương lai thảm khốc được dự đoán trong Giới hạn của tăng trưởng đã không xảy ra lập tức; nhưng khó khăn và chi phí gia tăng trong việc khai thác các nguồn nhiên liệu hóa thạch (cắt phá thủy lực, khoan dầu xa bờ), cùng với các vấn đề liên quan đến việc khai thác hiệu quả năng lượng gió và mặt trời, khiến chúng ta chưa hẳn đã thoát khỏi nó. (Còn tiếp)  Lưu Quang Hưng dịch  ——  1  Meadows, Donella; Meadows, Dennis; Randers, Jørgen; Behrens III, William (1972). The Limits to Growth; A Report for the Club of Rome’s Project on the Predicament of Mankind. New York: Universe Books. ISBN 0876631650.  2 Mesarovic, Mihajlo; Pestel, Eduard (1975). Mankind at the Turning Point. Hutchinson. ISBN 0-09-123471-9.  3 Alexander King & Bertrand Schneider. The First Global Revolution (The Club of Rome), 1993.  4  Turner, Graham (2008), A comparison of The Limits to Growth with 30 years of reality, Global Environmental Change, 18/3,397.  5 This review borrows much of its content from numerous sources on the web.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Một thế giới trước khủng hoảng (Phần 2)      Chỉ cho đến những năm bảy mươi, Manabe và các cộng sự của ông mới mô hình hóa thành công hiệu ứng nhà kính theo những điều kiện thực tế chấp nhận được và dự đoán nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng 2 độ C khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi; và chỉ vào quãng những năm tám mươi, nhận thức nghiêm túc về tầm quan trọng của vấn đề này mới được hình thành.      Quỹ Sống khảo sát để trồng rừng giữ nước cho các khu rừng trên núi đá chịu khô hạn ở Ninh Thuận. Ảnh: Sống Foundation.   6. Sự nóng lên toàn cầu     Chỉ cho đến những năm bảy mươi, Manabe và các cộng sự của ông mới mô hình hóa thành công hiệu ứng nhà kính theo những điều kiện thực tế chấp nhận được và dự đoán nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng 2oC khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi; và chỉ vào quãng những năm tám mươi, nhận thức nghiêm túc về tầm quan trọng của vấn đề này mới được hình thành. Thật không may, vấn đề này ngay lập tức nhận được sự quan tâm mạnh mẽ trong dư luận và cũng kể từ đó, những suy xét phi lý tính và gây chia rẽ đã chiếm ưu thế trong cuộc tranh luận. Một thái độ duy lý có nghĩa là biết cách phân biệt giữa những gì chúng ta biết, những gì chúng ta có thể dự đoán một cách hợp lý và những hành động chúng ta nên làm. Những gì chúng ta biết là nhiệt độ toàn cầu (định nghĩa của nó không phải là duy nhất) đã tăng chừng 1oC trong 50 năm qua và nguyên nhân phần lớn là do con người (thông qua phát thải CO2 và metan sinh ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch, phá rừng, nông nghiệp và trồng trọt). Những gì chúng ta có thể dự đoán bị chi phối bởi sự bất định gắn với một lượng lớn các tham số, nhiều trong số đó tạo ra các hiệu ứng chưa được hiểu biết với độ chính xác và tin cậy ở mức đầy đủ; dầu vậy, về ngắn hạn, có vẻ hợp lý khi kỳ vọng nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng gần 2oC vào năm 2050 nếu các yếu tố nhân sinh không bị thêm tác động. Tuy nhiên về dài hạn, những bất định ấy sẽ cản trở việc đưa ra các dự đoán đáng tin cậy, đặc biệt liên quan đến khả năng ước lượng mực nước biển dâng. Về khía cạnh hành động nên được thực hiện, chúng cần phải thực tế, lý tính và dựa trên kết quả của phân tích ở quy mô toàn cầu. Dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực, một số ít người giàu phát thải hơn 10 tấn CO2 mỗi năm tính theo đầu người không thể áp đặt quy tắc của họ cho phần lớn các nhóm dân số nghèo hơn và phát thải ít hơn một nửa số lượng như vậy mà không có lựa chọn nào khác hơn là đốt nhiên liệu hóa thạch để phát triển. Nhu cầu giảm phát thải CO2 và phá rừng là điều hiển nhiên, bởi độc lập với hiện tượng nóng lên toàn cầu, trữ lượng nhiên liệu hóa thạch bị hạn chế và những bất định gắn với hậu quả lâu dài của sự nóng lên toàn cầu quá mức khiến chúng ta buộc phải thận trọng. Nhưng điều này trên thực tế có thể thực hiện ra sao, và trên quy mô thời gian nào, chỉ có thể được hình dung trên quy mô toàn cầu có tính đến sự bất bình đẳng một cách thích đáng. Việc cấp thiết nhất có lẽ là thực hiện các hành động giảm thiểu sự hoành hành của các đợt lũ lụt và hạn hán lớn xảy ra trong thời gian ngắn trước mắt, bất kể chúng được tạo ra bởi nguyên nhân gì chăng nữa. Ví dụ, chúng ta biết rằng sự sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long, gây ra bởi việc bơm hút quá mức lượng nước ngầm, là yếu tố tác động nhanh hơn ảnh hưởng do nước biển dâng. Việc cấp bách không phải là giảm lượng khí CO2 phát thải mà thực hiện các biện pháp cần thiết về canh tác, và trong mọi trường hợp, chuẩn bị cho tình trạng nhiễm mặn gia tăng bất khả kháng ở các vùng ven biển và các trận lũ lụt xảy ra với tần suất và quy mô lớn hơn. Hậu quả khác có thể xảy ra (nhưng gây tranh cãi nhiều hơn) của hiện tượng nóng lên toàn cầu là sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan. Ở đây một lần nữa, giảm thiểu tác động vẫn nên là ưu tiên hàng đầu hiện nay: tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng 80% đến 90% các vụ cháy rừng là do con người gây ra.      Lịch sử nhận thức của công chúng về những lợi ích và nguy hiểm của năng lượng hạt nhân là biểu tượng cho việc chúng ta không có thái độ thảo luận một cách duy lý về những vấn đề như vậy.      Thật không may, phản ứng đối với sự nóng lên toàn cầu vừa mang tính cảm tính vừa phi lý trí, phục vụ lợi ích chính trị và tài chính, đồng thời ngăn cản một cách tiếp cận đúng đắn về lâu dài ở quy mô toàn cầu. IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu) vừa ban hành Báo cáo Đánh giá Tác động lần thứ Sáu, chúng ta hãy hy vọng rằng nó sẽ giúp làm cho tranh luận trở nên bớt cảm tính và nhiều lý tính hơn.     7. Ô nhiễm     Ô nhiễm môi trường bắt đầu thu hút sự chú ý lớn của công chúng ở thế giới phương Tây vào đầu những năm 70 khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật về Chính sách Môi trường Quốc gia, Nước sạch và Không khí sạch. Các sự cố ô nhiễm nghiêm trọng đã giúp nâng cao ý thức chung. Sự phát triển của năng lượng hạt nhân và vũ khí hạt nhân đã dẫn đến ô nhiễm phóng xạ, yếu tố có thể gây chết người trong hàng trăm nghìn năm. Các thảm họa quốc tế như chìm tàu chở dầu Amoco Cadiz ngoài khơi bờ biển Brittany năm 1978 và thảm họa Bhopal năm 1984 đã chứng tỏ tính phổ biến của những sự kiện như vậy và xác định quy mô cần thiết cho các nỗ lực giải quyết chúng. Bản chất không có biên giới của bầu khí quyển và đại dương chắc chắn dẫn đến hệ quả là ô nhiễm ở cấp độ hành tinh. Gần đây nhất, các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), một nhóm các hợp chất hữu cơ có khả năng chống lại sự suy thoái môi trường, đã được phát hiện trong các môi trường sống xa các hoạt động công nghiệp, cho thấy khả năng khuếch tán và tích lũy sinh học nhanh chóng. Được phát hiện gần đây hơn nữa là khối rác thải lớn ở Thái Bình Dương (Great Pacific Garbage Patch), tập hợp một lượng lớn chất dẻo, bùn hóa học và các mảnh vụn khác đã tích tụ trên một khu vực rộng lớn của Bắc Thái Bình Dương bởi vòng xoáy hải lưu. Ô nhiễm là nguyên nhân do môi trường lớn nhất gây ra bệnh tật và tử vong sớm, với hơn 9 triệu ca tử vong sớm trên toàn thế giới (chiếm 16% tổng số ca tử vong), gấp ba lần so với AIDS, lao và sốt rét cộng lại.    Ô nhiễm không khí, với hậu quả là khiến ta hít thở phải các hạt sol khí nhỏ, là nguyên nhân gây ra 7 triệu ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm. Chín trong số mười người trên thế giới hít thở không khí có hàm lượng chất ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép của WHO, đặc biệt là tại một loạt các quốc gia từ Trung Phi đến Bangladesh. Ô nhiễm đất tạo ra bởi phân bón nông nghiệp, khai thác mỏ và các bãi chôn lấp; với lượng chôn lấp chứa khối lượng lớn chất thải rắn có thể mất hàng thế kỷ để phân hủy hoàn toàn. Ô nhiễm nước chủ yếu là hệ quả của ô nhiễm đất do nước đã qua canh tác nông nghiệp và nước thải công nghiệp hoặc sinh hoạt. Cơ sở hạ tầng được quản lý kém khiến một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý bị chảy ngược trở lại môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước và khiến hàng tỷ người phải uống nước không an toàn, dẫn tới các căn bệnh giết chết hàng trăm nghìn người mỗi năm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.    Trên toàn cầu, 50 năm qua đã chứng kiến ​​sự gia tăng lớn của ba dạng ô nhiễm, không khí, đất và nước. Tuy nhiên, các biện pháp chống ô nhiễm tỏ ra rất hiệu quả ở một số nước phát triển.     8. Đô thị hóa, thực phẩm và cấp thoát nước     Trong 50 năm, tỷ lệ dân số thế giới sống ở các khu vực thành thị đã tăng từ một phần ba lên một nửa. Hầu hết các thành phố đang phát triển nhanh chóng, chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp ở châu Phi và châu Á. Đến năm 2050, 6,5 tỷ người sẽ sống ở các trung tâm đô thị – chiếm 2/3 dân số thế giới dự kiến. Nổi bật trong số đó là thành phố Lagos, với dân số đã tăng từ 300 nghìn lên 20 triệu trong 50 năm qua. Dự báo về sự gia tăng dân số đô thị đến năm 2050 là đáng báo động, với Bangalore đạt trên 20 triệu dân hoặc Kinshasa trên con số 80 triệu. Ở Việt Nam, dân số thành thị và nông thôn hiện có tỷ lệ từ 40 đến 60 và dự kiến ​​sẽ bằng nhau vào năm 2037; trong đó 75% dân số thành thị sống trong các khu vực dễ bị ảnh hưởng bởi lũ lụt và 27% nhà ở có chất lượng thấp.      Khối rác thải lớn ở Thái Bình Dương tập hợp lượng lớn chất dẻo, bùn hóa học và các mảnh vụn khác trên một khu vực rộng lớn của Thái Bình Dương.   Trên quy mô toàn cầu, số người thu nhập thấp tại các thành thị đang tăng nhanh và có thể lên tới 3 tỷ người vào năm 2050. Mỗi năm, các thành phố sẽ cần 7 triệu ngôi nhà giá rẻ mới, kèm theo đó lượng cư dân đô thị không có nước và vệ sinh cơ bản tăng với tỷ lệ tương tự, trong khi dân cư tại các khu ổ chuột sẽ không ngừng tăng lên. Các vấn đề về giao thông công cộng, tắc đường và xử lý chất thải trở nên gay gắt: ít hơn 5% thành phố ở các nước thu nhập thấp và trung bình đáp ứng các hướng dẫn (tiêu chuẩn) về chất lượng không khí của WHO.    Mang nước sạch và thực phẩm đến các thành phố đặt ra những thách thức lớn; nhưng vấn đề nan giải nhất là tại các vùng nông thôn, nơi cứ 10 người thì có 8 người thiếu nước sạch. 62% dân số thành thị trên thế giới đã được tiếp cận với dịch vụ vệ sinh một cách an toàn, nhưng chỉ 44% dân số nông thôn có được điều đó. Châu Phi cận Sahara đang có tốc độ phát triển chậm nhất trên thế giới. Chỉ có 54% người dân được sử dụng nước sạch. Đến năm 2030, nếu các xu hướng hiện tại vẫn tiếp diễn, chỉ 81% dân số thế giới được tiếp cận với nước uống an toàn tại nhà, còn 1,6 tỷ người không có được điều đó; và chỉ 67% được cung cấp dịch vụ vệ sinh an toàn, trong khi 2,8 tỷ người thì không; và chỉ 78% sẽ có thiết bị rửa tay tối thiểu, còn lại 1,9 tỷ vẫn không có.    Vào tháng sáu, Chương trình Lương thực Thế giới đã báo cáo rằng 41 triệu người đang “đứng trên bờ vực của nạn đói” ở 43 quốc gia, và rằng cú sốc nhỏ nhất cũng sẽ đẩy họ xuống bờ vực thẳm. Con số này đã tăng từ 27 triệu người vào năm 2019. Xung đột, khí hậu và các cú sốc kinh tế là nguyên nhân chính, nhưng tình hình gần đây đã trở nên trầm trọng hơn do giá lương thực tăng vọt.      Các mạng xã hội đóng vai trò hàng đầu trong việc ngăn chặn các cuộc tranh luận lý tính về các vấn đề xã hội thiết yếu như năng lượng hạt nhân, sự nóng lên toàn cầu và đại dịch gần đây.      9. Sức khỏe     Trái ngược hoàn toàn với đa số các nguy cơ kể trên, dịch vụ chăm sóc sức khỏe không ngừng được cải thiện trên toàn cầu trong 50 năm qua. Dân số toàn cầu tiếp tục có tuổi thọ cao hơn và sống lâu hơn trong điều kiện sức khỏe tốt. Từ năm 2000 đến năm 2019, tuổi thọ trung bình toàn cầu tăng từ 66,8 lên 73,3 tuổi. Tuổi thọ tăng theo mức thu nhập quốc dân, nhưng cải thiện đáng kể nhất được quan sát ở các nước thu nhập thấp. Nhờ những nỗ lực toàn cầu bền bỉ, tiến bộ đáng kể tiếp tục diễn ra, đặc biệt trong việc giảm số ca tử vong do các bệnh không lây nhiễm (NCD), bao gồm những căn bệnh có xu hướng gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.    Những tiến bộ vượt bậc cũng đã được thực hiện trong việc giảm thiểu một số bệnh truyền nhiễm hàng đầu trên thế giới. HIV/AIDS và bệnh lao (TB) đều đã lọt khỏi danh sách 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên vào năm 2019. Lao vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu dù chỉ bởi một tác nhân lây nhiễm duy nhất: trên toàn cầu, ước tính có khoảng 10 triệu người bị bệnh lao vào năm 2019. Các ca nhiễm mới HIV đã giảm 40% trong 20 năm qua và tỷ lệ tử vong do sốt rét giảm hơn một nửa. Xu hướng tử vong do bốn bệnh không lây nhiễm chính (ung thư, tiểu đường, tim mạch và bệnh hô hấp mãn tính) về tổng thể có giảm.    Bảo hiểm Y tế Toàn dân (UHC), đảm bảo tất cả các cá nhân và cộng đồng nhận được các dịch vụ y tế cần thiết mà không phải chịu gánh nặng về tài chính, đã gia tăng trên toàn cầu nhưng vẫn còn nhiều bất bình đẳng. Trên toàn cầu và đối với nhiều quốc gia, tốc độ tiến bộ đã chậm hơn kể từ năm 2010, và các nước nghèo nhất và những nước chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột nhìn chung tụt hậu xa nhất. Lực lượng lao động trong lĩnh vực y tế toàn cầu cần phải tăng lên đáng kể nếu thế giới muốn đảm bảo Bảo hiểm Y tế Toàn dân vào năm 2030. Cứ 3.600 người thì có một bác sĩ ở châu Phi, so với tỷ lệ 1.150 người ở Đông Nam Á và 230 người ở châu Âu; những con số này lần lượt là 970, 410 và 130 ứng với tỷ lệ y tá và nữ hộ sinh. Tuy nhiên, nhìn chung, khả năng bảo vệ về khía cạnh tài chính trước COVID-19 đã bị suy giảm. Quá trình liên tục đòi hỏi phải tăng cường đáng kể hệ thống y tế, đặc biệt là ở những nơi có thu nhập thấp hơn, cùng với việc công nhận vai trò quan trọng của nhân viên y tế đối với năng lực y tế công cộng với sự bảo vệ đầy đủ cho sự an toàn và điều kiện sức khỏe của họ.    Kể từ năm 2020, đại dịch COVID-19 có nguy cơ làm trật bánh những tiến bộ đạt được trong 20 năm qua, đồng thời làm nổi bật sự bất bình đẳng hiện có về y tế trong và giữa các quốc gia. Giữa những khiếm khuyết khác nhau, nó cho thấy sự thất bại của hệ thống thông tin y tế trong việc theo dõi thích hợp những thay đổi của các chỉ số liên quan đến sức khỏe và trong việc xác định nơi tập trung nguồn lực đem lại tác động nhiều hơn giúp cải thiện sức khỏe dân số và giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của bất bình đẳng.    Nhưng quan trọng hơn, COVID-19 đã cho thấy thái độ thiếu hiểu biết sâu sắc của công chúng và các chính phủ trong việc ứng phó với sự kiện một cách lý tính, có trách nhiệm và chín chắn. Những tranh luận phi lý tính và xúc cảm đã chia rẽ mọi người ở hai phe: ủng hộ hoặc chống lại việc đeo khẩu trang, ủng hộ hoặc phản đối việc tiêm chủng. Sự thiếu căn cứ hợp lý cho các quyết định về thời điểm và cách thức mở cửa trở lại một quốc gia sau một thời gian phong tỏa đã được thể hiện rõ. Ở một góc nhìn, các chuyên gia y tế chọn thái độ thận trọng do họ không hoàn toàn nắm vững cơ chế lây lan của vi rút và bị bất ngờ trước các sự kiện lây nhiễm bùng phát và có quy mô lớn. Dưới góc nhìn khác, các nhà kinh tế học và xã hội học nhận thấy thiệt hại do thời gian khóa cửa quá dài và có xu hướng xem nhẹ nhận định của các chuyên gia y tế. Các chính trị gia và mạng xã hội nhanh chóng nắm lấy sự bất đồng và đổ thêm dầu vào lửa bằng những suy nghĩ cảm tính, phi lý tính, hung hăng và thường là dối trá. Thật vậy, chúng ta thiếu một thước đo để có thể so sánh giữa thiệt hại về sức khỏe và xã hội. Chúng ta đo lường thiệt hại về sức khỏe bằng số người chết, và thiệt hại về xã hội bằng đô la. Hệ quả là các ý kiến ​​cực đoan cho rằng phong tỏa gây hại nhiều hơn lợi có thể được bày tỏ một cách phổ biến mà không bị phản bác một cách có hiệu quả bởi những người ủng hộ các quy tắc phòng ngừa nghiêm ngặt. Và hỗn loạn nhiều hơn lý trí thường trở thành quy luật, như đã được minh họa bởi Tổng thống Hoa Kỳ khi mâu thuẫn công khai với cố vấn y tế dưới quyền.      Chúng ta vẫn tiếp tục đặt câu hỏi “làm thế nào để có thể nuôi sống 9,6 tỷ người vào năm 2050?” thay vì hỏi “làm sao giảm tỷ lệ sinh để hạn chế con số đó xuống ở mức 8,6 tỷ người?”.         10. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và mạng xã hội     Hơn 50 năm trước, lần sử dụng máy tính đầu tiên của tôi là để tính toán quỹ đạo của các tia siêu âm trong nước biển, nhằm tính toán sự phân tầng trong các lớp nước có nhiệt độ khác nhau. Máy tính đang sử dụng ống chân không thay vì bóng bán dẫn và trống quay chứa các thanh lưu trữ dữ liệu. Nó phải được lập trình bằng ngôn ngữ máy. Máy tính phát triển nhanh hơn nhiều so với con người, nhưng tôi vẫn giữ ý niệm rằng chúng chỉ là công cụ, không thể làm nhiều hơn được những gì chúng ta yêu cầu. Dữ liệu đầu tiên được lưu trữ trên thẻ đục lỗ, sau đó trong băng từ, sau nữa trên đĩa cứng và bây giờ là trên các trung tâm lưu trữ dữ liệu lớn khổng lồ. Tôi rất ngạc nhiên trước hiệu suất mà các công cụ tìm kiếm trả về từ dữ liệu lưu trữ trên điện toán đám mây, nhưng chỉ là sự ngưỡng mộ, không phải sự tán dương. Tôi đã thấy nhiều nhà vật lý sử dụng cái mà họ gọi là mạng nơ-ron để phân tích dữ liệu, nhưng tôi chưa bao giờ thấy chúng có thể làm nhiều hoặc tốt như chúng ta có thể thực hiện bằng các thuật toán thông thường. Lớn tuổi hơn, và do đó suy nghĩ hẹp hòi hơn, tôi nhận thức một cách thích thú nhưng không thần thánh hóa sự ra đời của các khái niệm mới như trí tuệ nhân tạo, cách mạng số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Và tôi tự hỏi liệu chúng ta có thực sự nên chi nhiều tiền như vậy cho việc phát triển xe hơi tự lái và du lịch vũ trụ vào thời điểm mà thế giới đang ở trong tình trạng nguy cấp hiện nay hay không. Vì vậy, tôi xin lỗi bạn đọc, nhưng tôi không thể mong đợi khách quan về những vấn đề ấy. Ở chiều ngược lại, tôi cũng rất thiếu công bằng và có xu hướng quên những ngày đầu khi còn là một nhà vật lý làm việc với máy tính cơ học, quy tắc trượt với thước và bảng logarit; ngày nay tôi chỉ mất vài giây để lập bản đồ độ sáng của một ngôi sao được quan sát bởi chừng bốn mươi ăng-ten của máy giao thoa kế vô tuyến; do đó tôi cần trân trọng và biết ơn. Nhưng đã có rất nhiều tiếng nói ngợi ca giá trị của máy tính và khen ngợi những đóng góp to lớn của chúng trong cải thiện cuộc sống, nên tôi không cảm thấy quá tội lỗi nữa.    Máy tính giúp chúng ta giải phóng những công việc mà chúng ta nghĩ là nhàm chán và cho chúng ta thời gian để học hỏi và trở nên khôn ngoan hơn. Nhưng chúng ta đã không trở nên khôn ngoan hơn và bây giờ tôi dành nhiều thời gian để làm những việc trên máy tính mà những người khác đã làm giùm tôi trước đây, tốt hơn nhiều so với những gì tôi có thể làm; họ yêu công việc họ làm và họ hạnh phúc khi làm tốt công việc đó; và giờ thì việc làm của họ không còn tồn tại trong khi tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu vượt quá 200 triệu người.    Thật vậy, sự xâm nhập của công nghệ thông tin vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta dường như đã hơi robot hóa xã hội của chúng ta và phần nào tước đi trái tim và bộ não của chúng ta. Chúng có xu hướng khiến chúng ta chìm đắm trong thế giới ảo. Trên đường phố, tôi thấy mọi người đang đi bộ mà vẫn chúi mũi vào điện thoại thông minh. Tại nhà hàng, tôi thấy các cặp đôi không chú ý đến nhau mà thay vào đó dành thời gian cho điện thoại thông minh. Các nhà vật lý đồng nghiệp của tôi trên khắp thế giới đã quen với việc gặp gỡ “trực tuyến”. Khi tôi đặt một câu hỏi cho một tổ chức nào đó, một con robot bảo tôi nhấp vào một trong những Câu hỏi thường gặp, và tôi phát điên với lập trình viên đã tạo ra trang web, người chắc chắn có năng lực về phần mềm nhưng không biết gì về nội dung của trang web. Tôi thấy các văn mẫu ngày càng được sử dụng nhiều hơn giúp chúng ta biết cách viết, hoặc thậm chí suy nghĩ, và nhào nặn bộ não của trẻ em và học sinh của chúng ta, làm chúng mất đi tư duy phản biện mà chúng thực sự cần phải tiếp thu. Việc nghiện mạng xã hội, ứng dụng hẹn hò và nhắn tin có thể kéo dài đến mức bạn bè ảo, trực tuyến trở nên quan trọng hơn các mối quan hệ ngoài đời thực. Tôi thấy cách các mạng xã hội được sử dụng ra sao để lan truyền những lời nói dối và lăng mạ; các cách chúng ủng hộ sự tầm thường và thô tục trong các thông điệp được truyền tải; cách dễ dàng như thế nào mà một chính trị gia tập hợp “những người theo dõi” và “lượt thích” xung quanh các học thuyết và hệ tư tưởng chỉ nhằm phục vụ lợi ích của người đó. Các mạng xã hội đóng vai trò hàng đầu trong việc ngăn chặn các cuộc tranh luận lý tính về các vấn đề xã hội thiết yếu như năng lượng hạt nhân, sự nóng lên toàn cầu và đại dịch gần đây.  * * *  Trong hơn 50 năm qua, dường như thế giới đã thay đổi quá nhiều và quá nhanh khiến chúng ta không thể bắt kịp. Toàn cầu hóa đã làm nổi bật sự bất công không thể chịu đựng được và sự bất bình đẳng rành rành trên khắp thế giới. Việc thiếu một nền quản trị toàn cầu hiệu quả đã cho thấy sự yếu kém của chúng ta trong ứng phó một cách có trách nhiệm trước mối đe dọa đang gia tăng nhanh chóng đến từ các nguy cơ tác động tới hành tinh của chúng ta.  Chúng phần lớn có mối quan hệ với nhau và tất cả chúng đều quan trọng, nhưng sự gia tăng nhanh chóng của dân số thế giới nổi lên như là một yếu tố có tính quyết định. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp tục đặt câu hỏi “làm thế nào để có thể nuôi sống 9,6 tỷ người vào năm 2050?” thay vì hỏi “làm sao giảm tỷ lệ sinh để hạn chế con số đó xuống ở mức 8,6 tỷ người?”. Và nhiều người đã lên tiếng rằng “cách chữa từ gốc, thông qua việc giảm quy mô tổ chức của con người (bao gồm cả quy mô dân số) để giữ tổng mức tiêu thụ trong khả năng cung cấp của Trái đất, là hiển nhiên nhưng bị bỏ quên hoặc bị phủ nhận quá nhiều. Có những rào cản lớn về xã hội và tâm lý trong các nền văn hóa “tăng trưởng” để bình thản xem xét nó. Điều này đặc biệt đúng với nguyên nhân từ “endarkenment” – một phong trào đang phát triển nhanh chóng hướng tới các tôn giáo chính thống mà từ chối các giá trị khai sáng như tự do tư tưởng và dân chủ”6.    Con đường đến với tiến bộ thường luôn bị cản trở bởi rất nhiều chông gai và chúng ta đã học cách vượt qua. Trong nhiều thế kỷ, quyết tâm của chúng ta đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hơn và niềm tin vào các giá trị mà sự khai sáng đã được minh chứng là thành công. Chúng ta tin tưởng vào khoa học, giáo dục và một nền tảng luân lý dựa trên sự nghiêm cẩn về trí tuệ và đạo đức. Nhưng những phát triển gần đây đang làm lung lay niềm tin của chúng ta và nhiều tiếng nói đang lên tiếng, cảnh tỉnh về mối đe dọa có thể dẫn tới sự sụp đổ có nguy cơ xảy ra với nền văn minh toàn cầu. □     Lưu Quang Hưng dịch  ————     6 R. and A. Ehrlich, Can a collapse of global civilization be avoided?, https://royalsocietypublishing.org/doi/10.1098/rspb.2012.2845    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Một thời trăn trở đổi mới      Trong buổi gặp mặt mừng Thầy Hoàng Tuỵ 88  tuổi tại Toà soạn tạp chí Tia Sáng, Thầy đã kể lại một số trăn trở của Thầy trước hiện trạng của đất nước và mối quan hệ của Thầy với một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước trước thời Đổi mới.                                                             Dưới đây là lược ghi chuyện kể của Thầy.        Giáo sư Hoàng Tụy báo cáo Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một lần Thủ tướng làm việc tại Viện Toán học.    Vào đầu những năm 1960, hưởng ứng cuộc vận động đưa khoa học đi vào thực tế đời sống, tôi tạm gác lại việc nghiên cứu giải tích thực vốn là sở trường chuyên môn của tôi để chuyển sang nghiên cứu lý thuyết tối ưu, bắt đầu với Vận trù học (Operations research) là môn học có nhiều ứng dụng thực tế hơn. Từ đó, trong nhiều năm, với sự ủng hộ nhiệt thành của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tôi ra sức gây dựng một phong trào rộng khắp ở miền Bắc, đưa Vận trù học vào ứng dụng ở các cơ sở sản xuất công, nông nghiệp. Hai năm một lần, chúng tôi tổ chức hội nghị tổng kết toàn miền Bắc về ứng dụng Vận trù học; ở mỗi hội nghị, Thủ tướng cùng nhiều bộ trưởng đều đến dự và phát biểu. Có lúc phong trào lôi cuốn hàng nghìn người tham gia, gây sự chú ý của nhiều phóng viên quốc tế ở Hà Nội. Trong một bài phóng sự về Việt Nam đăng trên báo Pháp Le Monde, tác giả đã tường thuật một cách thú vị về các hoạt động Vận trù học ở quanh vùng Hà Nội, Hải Phòng và tỏ ý vô cùng ngạc nhiên thấy cả một số thành tựu Vận trù học vừa mới ra đời ở Mỹ cách đó chỉ vài năm (như phương pháp PERT) mà đã được ứng dụng ở ngay đây, tuy Việt Nam là một đất nước mà cả thế giới đều biết còn rất nghèo và lạc hậu lại đang oằn mình dưới những trận bom ác liệt của không quân Mỹ. Để đánh giá việc ứng dụng Vận trù học ở miền Bắc vào giai đoạn này thành công đến mức độ nào thì khó nói cụ thể, nhưng ít nhất nó cũng đã đem lại một hiệu quả thiết thực: trước đó dân ta làm việc chỉ cốt đạt mục đích, bất kể đến hiệu quả, nhưng sau khi có phong trào Vận trù học, mọi người đã có ý thức biết tính toán, cân nhắc lựa chọn cách làm việc và hoạt động sao cho tốn ít phương tiện, mà đạt được hiệu quả cao. Cùng với đó dần dần, từ “vận trù” (với ý nghĩa biết tính toán so sánh nhiều phương án hoạt động) len lỏi vào cả trong ngôn ngữ thường ngày của người dân. Đó cũng là một nét văn hóa góp phần làm giảm lãng phí, tăng năng suất lao động xã hội, ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển kinh tế.  Nhưng Vận trù học chỉ mới áp dụng được ở cấp xí nghiệp, tức là ở cấp kinh tế vi mô. Để tiến lên tác động vào hiệu quả quản lý cả nền kinh tế quốc dân thì cần nghiên cứu khoa học hệ thống để vận dụng vào kinh tế vĩ mô. Từ các quan sát thực trạng kinh tế xã hội lúc đó, dễ nhận thấy kiểu kinh tế kế hoạch hóa tập trung, duy ý chí, tự cung tự cấp, “ngăn sông cấm chợ” dẫn đến nhiều hệ lụy tệ hại: hiệu quả sản xuất thấp, tham nhũng, lãng phí tràn lan, lãnh đạo ngày càng quan liêu, xa dân, xa thực tế… Mặc dù tôi chỉ mới dám phát biểu những suy ngẫm đó một cách dè dặt, thận trọng, nhưng vẫn bị phản ứng, nói chung không nhận được sự đồng tình của giới quan chức hữu trách, vốn là đối tượng chủ yếu tôi muốn nhằm tới để thuyết phục.  May mắn, đến khoảng đầu thập kỷ 70, cùng với luận điểm “cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”, nhận thức của lãnh đạo về vai trò của khoa học, kỹ thuật có sự chuyển biến mạnh. Bộ Chính trị quyết định, mỗi tháng một lần mời các nhà khoa học đến trình bày về một vấn đề thời sự khoa học cho toàn thể Trung ương nghe (sau đó có mở rộng ra cho cả cán bộ trung cao cấp xung quanh TƯ). Vì đã từng khởi xướng Vận trù học và đã có một số dịp phát biểu liên quan đến quản lý kinh tế nên tôi được mời tới nói chuyện lần đầu về các vấn đề khoa học trong quản lý kinh tế xã hội.  Trong buổi nói chuyện đó, tôi nêu lên và phân tích nguyên nhân những hiện tượng tiêu cực đã nổi lên khá trầm trọng trong xã hội lúc bấy giờ như: kinh tế sút kém dần, hàng hoá thiếu thốn, không đáp ứng nhu cầu tối thiểu, chợ đen phát triển, cán bộ quan chức nhũng nhiễu, lòng dân bất an. Tôi muốn chỉ ra rằng đó là hậu quả tất yếu của chế độ quản lý kinh tế tập trung, bao cấp và để khắc phục, tôi đề nghị phải tiến tới phi tập trung hóa quản lý kinh tế. Thực ra, trong trí óc tôi lúc ấy, biện pháp phi tập trung hóa quản lý kinh tế chính là sử dụng cơ chế thị trường, song tôi không dám nói thẳng ra ý đó. Sở dĩ tôi ngại là vì trước đó vài năm, xảy ra vụ Liên Xô đưa quân đội vào Tiệp Khắc để lật đổ nhà lãnh đạo Dubcek, nguyên do là ông này đã dám đưa ra chủ trương sử dụng cơ chế thị trường để khắc phục các yếu kém của kinh tế xã hội chủ nghĩa – một chủ trương mà Liên Xô và theo sau đó toàn phe xã hội chủ nghĩa đã nhất trí lên án là phản động, trái với học thuyết chính thống về chủ nghĩa xã hội.  Mặc dù khi nói chuyện, tôi không đả động gì đến cơ chế thị trường mà chỉ mới dám nêu ra ý kiến phi tập trung hóa quản lý kinh tế thay cho kế hoạch hóa tập trung, nhưng một số ông bộ trưởng cũng khá “thính”, báo ngay cho lãnh đạo Ủy ban Khoa học nhà nước (nơi tôi công tác lúc đó) rằng tôi có quan điểm “xét lại” cần phải phê phán. Để tránh những cáo buộc do hiểu lầm, tôi viết lại bài nói chuyện và đưa đăng toàn văn trên tạp chí Tin tức hoạt động khoa học, giải thích rõ quan điểm khoa học vì sao nên quản lý phi tập trung hóa nền kinh tế.  Bất ngờ một tuần lễ sau, Ủy ban Khoa học nhà nước nhận được thông báo của Văn phòng Tổng bí thư, cho biết Tổng bí thư Lê Duẩn đã đọc bài của tôi và muốn trực tiếp gặp tôi để hỏi thêm, nên đã chỉ thị Ủy ban Khoa học nhà nước đưa tôi xuống Đồ Sơn để làm việc với Tổng bí thư trong mấy ngày.  Cuộc họp có cả đại diện của Ủy ban Khoa học xã hội, một số cán bộ đầu ngành kinh tế, và Văn phòng Trung ương. Bước vào phòng họp, nhìn thấy ông Duẩn đem đến bài báo của tôi trong Tin tức hoạt động khoa học với chi chít những gạch xanh, gạch đỏ, tôi bắt đầu lo lắng. Thế nhưng thật may ông Duẩn nói ngay: ông đã đọc kỹ bài này, tuy có một số vấn đề ông thấy cần trao đổi thêm nhưng căn bản ông đồng tình quan điểm nêu trong bài. Hú vía, thế là được giải thoát tội “xét lại” – một tội mà thời đó, nặng thì có thể vào tù, nhẹ cũng bị lắm rắc rối, phiền phức trong công tác và sinh hoạt.  Rồi liên tiếp trong hai ngày, Tổng bí thư chăm chú lắng nghe và hỏi han về cách quản lý phi tập trung như thế nào, và vì sao cơ chế thị trường là biện pháp thực hiện quản lý phi tập trung. Kết thúc cuộc gặp, ông Duẩn còn bảo Ủy ban Khoa học nhà nước lập ra một viện giao tôi phụ trách để nghiên cứu về các phương pháp khoa học trong quản lý kinh tế (cái viện này về sau không ra đời được vì ban Tổ chức Trung ương không thuận). Ông Trần Quỳnh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, khi kể lại các buổi làm việc của Tổng bí thư với tôi còn cho biết thêm, ông Duẩn bảo: tôi nghe các anh em Toán nói chuyện kinh tế mà thấy còn sâu sắc hơn các cán bộ kinh tế. Sau đó, mấy vị bộ trưởng từng phê phán tôi có quan điểm “xét lại” lần lượt cho thư ký đến mời tôi đến nói chuyện ở bộ của họ, coi như một cử chỉ làm lành.  Sự việc trên báo hiệu một sự thay đổi đáng mừng: Thứ nhất, bắt đầu có những tiếng nói nêu ra những bất cập của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, buộc các nhà lãnh đạo phải suy nghĩ lại. Thứ hai, từ đấy trở đi, các hội nghị Trung ương mở rộng bàn về kinh tế thường mời các nhà khoa học đến dự nghe và góp ý kiến.  Sau năm 1975, có một giai đoạn kinh tế hết sức khó khăn. Đó là thời kỳ ăn bo bo hay khoai sắn, mì sợi thay cơm một phần mà ai nhớ lại cũng thấy hãi hùng. Khoảng năm 1979, khó khăn lên tới cực điểm. Một hôm, để chuẩn bị cho Hội nghị TƯ thứ 6, Tổng bí thư mời năm anh em khoa học gồm tôi, Vũ Đình Cự, Bùi Huy Đáp và hai kỹ sư ngành cơ khí (tôi đã quên tên) xuống Đồ Sơn để tham khảo ý kiến, giúp tìm ra kế sách vượt qua khủng hoảng. Bốn anh kia đều có chức vụ cao trong bộ máy nhà nước, chỉ riêng tôi không có chức vụ gì, cho nên các anh đều ngại, đẩy tôi ra phát biểu trước.  Vào thời kỳ đó, lý thuyết làm chủ tập thể do ông Duẩn đưa ra được coi là một sáng tạo lý luận lớn của Tổng bí thư đóng góp vào học thuyết chủ nghĩa xã hội. Trong các buổi sinh hoạt chính trị, hầu như ai phát biểu gì cũng cố liên hệ tới lý thuyết đó để tăng thêm trọng lượng cho ý kiến của mình, dù nhiều khi hết sức gượng gạo. Riêng tôi và một số anh em khoa học nghĩ khác, thật sự không thấy thuyết phục.  Vì không quen nói dối để làm vừa lòng cấp trên, tôi mạnh dạn nói thẳng với Tổng bí thư rằng anh em khoa học chúng tôi không hiểu lý thuyết làm chủ tập thể của ông, không thấy nó có ý nghĩa gì thiết thực cho việc xây dựng đất nước. Tưởng tôi thật tình không hiểu, ông Duẩn thuyết một thôi một hồi về làm chủ tập thể. Tôi đáp, những điều ông nói đó, chúng tôi đều đã được nghe không chỉ một lần mà nhiều lần trong các buổi thảo luận chính trị. Điều tôi vẫn thắc mắc là tại sao ta nói làm chủ tập thể là một hình thức dân chủ còn cao hơn cả dân chủ xã hội chủ nghĩa trong khi đó ngay cả cái dân chủ tư sản mà ta thường chê, thì trên thực  tế cũng chưa đạt được như họ. Để minh họa, tôi dẫn ra một số sự việc và sẵn dịp đọc luôn cho ông nghe mấy câu vè hồi ấy thường lan truyền ở vỉa hè giới trí thức: “Năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ …”. Hẳn là lần đầu tiên được nghe những lời trái tai như vậy, ông lặng người đi. Nhưng là người lãnh đạo có bản lĩnh, ông trấn tĩnh lại ngay và bảo: đúng là ta còn mất dân chủ, có nơi khá nặng, cho nên vừa rồi trong cuộc vận động làm trong sạch Đảng, tôi đã nhắc các tỉnh ủy phải chú trọng kiểm điểm kỹ chuyện này.  Sau đấy, ông nêu câu hỏi: bây giờ làm sao chống tiêu cực? (hồi đó tham nhũng còn chưa quá nặng, nên chỉ được gọi nhẹ nhàng là “tiêu cực”). Tôi trả lời, với cách quản lý kinh tế như ta mà không có tiêu cực mới lạ. Bởi tiền lương không đủ sống buộc người ta phải xoay xở mà xoay xở thì làm sao không phạm pháp, không tiêu cực. Ban đầu, chỉ có cấp dưới mới không đủ sống bằng lương, nhưng kinh tế khó khăn thì cấp trên cũng không đủ sống bằng lương. Do đó, tiêu cực lan dần lên cấp cao, mà cấp càng cao chừng nào thì càng dễ xoay xở chừng đó. Hơn nữa, vì có lý do đời sống biện minh cho nên tiêu cực dễ được xã hội thông cảm, dung thứ và cứ thế nó phát triển rộng ra, đến lúc cả những cán bộ lương cao cũng tiêu cực. Nói thật ra, với cách quản lý này của ta, gần như ai cũng phải ít nhiều phạm pháp, ít nhiều ăn cắp, không ăn cắp của dân thì ăn cắp của nhà nước, dưới hình thức này hay hình thức khác. Một ông lãnh đạo cấp cao nghe tới đó liền phản ứng gay gắt: “Anh nói không đúng, tôi có ăn cắp đâu và anh chắc cũng không ăn cắp, sao anh có thể nói bừa như vậy?”. Tôi thưa lại, ông là cán bộ cấp cao được nhà nước chu cấp hết mọi khoản thì dĩ nhiên cần gì tiêu cực, trừ khi quá tham. Còn tôi, vì làm khoa học thỉnh thoảng được mời ra nước ngoài làm việc thì chỉ với đồng lương một tháng ở nước ngoài cũng đủ sống cả năm trong nước. Chỉ có thế thôi, chứ chẳng có gì lạ, tôi chỉ nói đúng sự thật dù là sự thật rất khó nghe.  Ngoài vấn đề dân chủ và tiêu cực, tất nhiên chúng tôi cũng góp ý thẳng thắn về nhiều vấn đề khác, như: nên coi trọng thật sự lợi ích vật chất, không nên chỉ nhấn mạnh một chiều tinh thần; cần bỏ “ngăn sông cấm chợ”, phải để người dân được tự do buôn bán làm ăn, v.v. Thậm chí có người còn bạo mồm phê phán chính sách trao đổi đối với nông dân thời bao cấp: mua như cướp, bán như cho1, thật sự đã làm bần cùng hóa nông dân.  Sau cuộc gặp mấy hôm, ông Duẩn làm việc với ông Nguyễn Văn Trân (trong Ban Bí thư và đương nhiệm Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế TƯ). Ông Trân nói lại, buổi làm việc của chúng tôi với ông Duẩn ở Đồ Sơn đã có tác dụng rất tốt, góp phần làm cho Nghị quyết Hội nghị TƯ 6 có được rất nhiều điểm mới, thay đổi hẳn nhiều nhận thức và quan điểm cũ trước đây.  Cùng thời điểm ấy, tôi chuẩn bị đi Canada theo lời mời thỉnh giảng của một số trường đại học. Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp tôi để dặn dò những điều cần thiết khi gặp anh em trí thức Việt kiều bên đó. Ông cho biết, với Nghị quyết Hội nghị TƯ 6, kỳ này chúng ta sẽ chuyển mạnh. Với trí thức Việt kiều, không nên che giấu mà cần phải cho họ biết sự thật về một số khó khăn trong nước, đồng thời nói rõ cho họ thấy quyết tâm sửa chữa của chúng ta.  Sang tới Montreal, tôi được anh em Việt kiều mời nói chuyện trước một cử tọa khoảng vài trăm người. Tôi nói thật với họ chuyện tham nhũng, quan liêu và những thay đổi mạnh về chính sách theo tinh thần Nghị quyết TƯ 6… Về sau, tôi được biết anh em trí thức Việt kiều rất phấn khởi vì lần đầu tiên có người từ trong nước sang mà nói thật chứ không che giấu những bê bối trong nước, anh em tin hơn và giải tỏa được các bức xúc trước đây, khi họ chỉ được nghe giải thích một chiều, luôn luôn được bảo những tin tức về tham nhũng trong nước chỉ là tin đồn, bịa đặt hoặc phóng đại của bọn phá hoại. Anh em đều cho rằng, dù có sai lầm, bê bối nhưng một khi các nhà lãnh đạo đã nhìn thấy được sự thật và tỏ rõ quyết tâm sửa thì có hy vọng sẽ sửa được và tình hình sẽ dần tốt lên.  Mấy tháng sau chuyến đi Canada, tôi được mời sang Pháp. Lần này gần sát đến ngày phải lên đường mà thủ tục vẫn chưa xong, tôi tới gặp anh Trần Đại Nghĩa, lúc ấy là Viện trưởng Viện Khoa học Quốc gia. Nghe tôi thắc mắc vì sao mãi vẫn chưa có quyết định đi Pháp, anh Nghĩa bảo tôi: “Lẽ ra tôi không được phép nói, vì đây là công văn mật, nhưng chỗ thân tình, tôi nói thật, không biết anh qua Canada nói những gì mà sứ quán ta ở đó báo cáo về Bộ Ngoại giao kể tội anh nói xấu chế độ về bảy chính sách lớn. Vì lý do đó, người ta không duyệt để cho anh đi lần này”.  Nhờ anh Nghĩa là nhà khoa học chân chính, rất quý trọng anh em khoa học nên tôi mới được biết có cái công văn mật này. Tôi gọi điện cho anh N., thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, kể lại sự việc và nhờ anh lấy ở Bộ Ngoại giao băng ghi âm buổi nói chuyện của tôi ở Montreal (vì tôi nhớ chắc chắn buổi nói chuyện đó có ghi âm đầy đủ) để kiểm tra xem có đúng tôi nói xấu chế độ như sứ quán đã báo cáo về nước không. Mấy hôm sau tôi được truyền đạt lại ý kiến của Thủ tướng là tôi chẳng nói gì sai phạm cả. Hoá ra, khi tôi nói chuyện với anh em Việt kiều theo tinh thần Nghị quyết TƯ 6, không che giấu sự thật, thì khi đó Sứ quán chưa nhận được trong nước thông báo về Nghị quyết TƯ 6 nên tưởng lầm rằng tôi nói xấu chế độ. Sau đó, tôi được báo thủ tục đi Pháp đã được khai thông, tuy có trễ là vì có mấy việc phải xác minh về chuyến đi Canada của tôi.  Dù câu chuyện kết thúc tốt đẹp, song việc đã xảy ra cũng khiến tôi rất buồn. Nếu không nhờ sự can thiệp của Thủ tướng, thì biết đến bao giờ mới gỡ oan được. Mà đâu thể bất cứ việc gì, bất cứ ai cũng kêu oan được tới Thủ tướng.  Đó là nỗi khổ của anh em trí thức một thời, muốn nói thật cũng phải đắn đo suy nghĩ, nhưng ngay cả khi đắn đo suy nghĩ rồi vẫn có thể gặp nạn. Dù sao vẫn còn may thời đó có một số người lãnh đạo sáng suốt như Tổng bí thư và Thủ tướng, biết lắng nghe và tôn trọng trí thức.   ——–  1 Hồi đó, nhà nước thu mua nông sản với giá rẻ, gần như là trưng thu chứ không “mua” (chẳng hạn thu mua hoa hồi để xuất khẩu với giá rẻ đến mức người nông dân cho rằng thà đốn cây hồi để bán như củi còn lợi hơn chăm sóc cây để bán hoa). Ngược lại, nhà nước bán cho nông dân phân bón, thuốc trừ sâu, v.v. cũng với giá rẻ, gần như cho không. Đó là vì giá cả lúc đó đều do các cơ quan nhà nước ấn định, không dựa vào cơ chế thị trường, lắm khi rất vô lý, làm nông dân bị thiệt thòi nhiều, làm lụng vất vả mà mãi vẫn nghèo.           Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Một trong những việc cần làm ngay      Diễn đàn “Nghiên cứu Khoa học – Công nghệ và Giáo dục đại học” của Tia Sáng đã nhận được rất nhiều ý kiến của những người nghiên cứu khoa học, giảng dạy và của cả nhiều sinh viên ở trong và ngoài nước. Hầu hết đều cho rằng một trong những việc cần làm ngay để chấn hưng nền khoa học nước nhà là phải xây dựng và thực thi các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu theo chuẩn mực quốc tế.    Dẫn sự thành công của khoa học Ấn Độ trong hoàn cảnh nền kinh tế còn đang phát triển, GS Phạm Duy Hiển viết: Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong Nghiên cứu khoa học (NCKH). Chính vì thế mà ngày nay Ấn Độ có chỗ đứng trên hầu khắp mặt tiền khoa học thế giới. Mặc dù vậy, trong diễn văn khai mạc đại hội hằng năm Hiệp hội Khoa học toàn Ấn Độ vừa qua, Thủ tướng Manmohan Singh đã cảnh báo giới khoa học: “Tôi thật buồn khi biết chất lượng nghiên cứu ở các trường đại học lẫn những viện khoa học hàng đầu của chúng ta đang tụt hậu. Chúng ta chỉ đóng góp có 2,7% số công bố quốc tế so với 6% từ Trung Quốc 2). Rồi đây, rất có thể, tôi sẽ cho mời tư vấn nước ngoài đánh giá khách quan các viện nghiên cứu của chúng ta”.        Làm khoa học cho vui    Có một thực tế là khi làm xong nghiên cứu sinh, về nước, một thầy rất có tâm huyết với nghề đã căn dặn tôi: Hiện tại trường đại học của ta không phải là cơ quan nghiên cứu. Nghiên cứu chỉ làm cho vui, lấy cơ sở để làm chức danh. Cái quan trọng nhất là tập trung vào việc giảng dạy, có giảng dạy tốt thì mới tồn tại được. Có lẽ vì thế mà GS, PGS, TS ở trường khi nói về nghiên cứu thì rất lơ mơ, đặc biệt là các TS thuộc thế hệ đào tạo trong nước, thậm chí có người còn chưa biết viết và gửi email, không biết truy cập Internet, không biết pubmed (dành cho ngành y tế) là gì. Khi thiết kế nghiên cứu, không biết nên làm gì cho nên đành đem mấy cuốn luận văn cũ đã làm ra làm lại y nguyên (có mô hình đã sử dụng cách đây 50 năm).  Tôi rất băn khoăn về việc này, chẳng lẽ tôi phải chuyển công tác vì khi tôi được đào tạo ở nước ngoài, việc chính của tôi là học cách thiết kế một nghiên cứu nghiêm chỉnh có kết quả. Làm thạc sĩ hay nghiên cứu sinh cũng chủ yếu là để hợp lý hóa cái tiêu chuẩn của Bộ đề ra là phải có bằng để được giảng dạy lý thuyết, cho nên chất lượng công trình nghiên cứu rất thấp. Vì vậy nhiều cán bộ giảng dạy coi việc công bố quốc tế là điều xa xỉ và không cần thiết.  TS Nguyễn Khánh Hòa           Cũng về tiêu chuẩn công bố quốc tế, GS Hoàng Tuỵ viết: Nếu trong một ngành khoa học có tính quốc tế như các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, y học, v.v…,  mà không dựa vào các chuẩn mực quốc tế để đo lường từng bước thành tựu của mình thì căn cứ vào đâu so sánh ta với thế giới, làm sao biết được ta tụt hậu, tụt hậu đến đâu và cần làm gì để gỡ sự chậm trễ? Gần mươi năm trước, Chính phủ ta đã từng mời một đoàn chuyên gia Canada sang ta khảo sát và góp ý kiến về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ. Một trong các khuyến cáo trong bản kiến nghị ấy là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm.  Trong khi đó có nhiều ngành khoa học của ta hằng năm vẫn được cấp những khoản kinh phí không nhỏ về nghiên cứu cơ bản, nhưng rất ít có công trình được công bố trên quốc tế. Có phải là do có nhiều nghiên cứu được kể là nghiên cứu cơ bản một cách gượng ép?  Trên lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, tiêu chuẩn công bố quốc tế cũng không thể xem nhẹ. Bởi thế,  GS Nguyễn Văn Tuấn viết: “Bởi vì chỉ có nhà khoa học cùng chuyên môn mới có khả năng thẩm định giá trị của một công trình nghiên cứu, cho nên các báo cáo khoa học phải công bố trên các tập san khoa học có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh. Hệ thống bình duyệt là một cơ chế khoa học nhằm loại bỏ các công trình nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn hay các trường hợp gian lận khoa học. Quan điểm cho rằng nghiên cứu ứng dụng không cần phải công bố quốc tế thì tôi phải nói là rất lạ lùng, nếu không muốn nói là rất sai lầm. (Tôi hi vọng rằng quan điểm này chỉ tồn tại trong nội bộ, vì nếu phát biểu trước đồng nghiệp ngoại quốc thì họ sẽ cười chúng ta không biết gì về hoạt động NCKH). Việc báo cáo kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế không phân biệt nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng”. Trong khi đó thì ở ta trong nghiên cứu khoa học: “không ít các cán bộ khoa học có đủ mọi bằng cấp và chức danh thường tìm mọi cách lảng tránh các chuẩn mực khoa học nghiêm túc và khách quan với ngụy biện rằng họ thực hiện các đề tài nghiên cứu “ứng dụng” không đòi hỏi phải có công bố quốc tế”. (TS. Phạm Đức Chính).  Thực trạng này dẫn đến chất lượng nghiên cứu bị xem nhẹ, nhưng lại gắn liền với lợi ích của không ít các “giá trị ảo” nên họ ra sức bảo vệ. Vì thế theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Châu: “Đã đến lúc cần nhận rõ yếu tố cản trở KHCN không những là hệ thống KHCNVN đã trở nên lỗi thời mà còn là các nhóm lợi ích, trong đó gồm những nhà quản lý, những công chức khoa học có thế lực, có khả năng lũng đoạn, muốn kéo dài tình trạng quản lý KHCN như hiện nay để họ hưởng lợi. Cái lợi mà họ đang thu được không hơn không kém là hành vi tham nhũng trong hoạt động KHCN. Cần sớm loại trừ lực cản này bằng những qui định có tính pháp lý như: các GS, PGS phải dành khoảng 70% quỹ thời gian cho nghiên cứu; công bố quốc tế và chất lượng giảng dạy phải được coi là tiêu chí hàng đầu trong việc thăng tiến của các GS, PGS tại các trường đại học”…        Mọi việc phụ thuộc vào người đứng đầu    1. Tôi hoàn toàn đồng ý thay Thư mời bằng Nghị định đăng ký chuyên gia theo đề xuất của Tia Sáng.  2. Cần thành lập ngay các Hội đồng xét duyệt/nghiệm thu các dự án kho ahọc, bao gồm những nhà khoa học thực thụ (đang làm khoa học, thường xuyên có công bố quốc tế hoặc có trong những năm gần đây, hạn chế tối đa những người chỉ đơn thuần làm công tác quản lý).  3. Kinh phí cho một đề án khoa học không căn cứ vào kết quả thực sự (đối với KHCB là các công bố quốc tế hoặc ít ra cũng là công bố trên các tạp chí của Quốc gia, KHÔNG THỂ là các công bố ở các tạp chí của trường hoặc trong các kỷ yếu của các hội nghị tổ chức trong nước…). Đề án nào được cấp nhiều kinh phí hơn, nhất thiết phải có yêu cầu nghiệm thu cao hơn. Nếu không đạt yêu cầu cần thiết phải hoàn lại kinh phí (một phần hoặc toàn bộ, tùy mức độ).  Chỉ có như thế khoa học của Việt nam mới tiến được.  PGS.TS Nguyễn Bá Ân          Cùng với việc cần sớm xây dựng và thực thi các tiêu chí đánh giá theo chuẩn mực quốc tế là việc lựa chọn ra được những hội đồng khoa học có đủ khả năng và thẩm quyền đánh giá chính xác các kết quả nghiên cứu. “Khoa học VN làm sao mà tiến bộ được khi phần lớn các thành viên của một Hội đồng ngành NCCB, Hội đồng chức danh GS Ngành, Ban biên tập tạp chí ngành… không có nổi lấy một bài báo khoa học đăng tạp chí chuẩn mực SCI trong 5 năm, và thậm chí 10 năm gần đây nhất” (TS Phạm Đức Chính).  Để lựa chọn được những thành viên hội đồng như vậy, nhiều ý kiến đồng tình với giải pháp mà Tia Sáng đưa ra. Đó là cần “Thay thư mời bằng Quy định” cán bộ nghiên cứu phải đăng ký chuyên gia. Một số ý kiến còn cho rằng, với thực trạng đội ngũ khoa học hiện nay, giải pháp này chỉ có thể thực thi được khi Chính phủ có Nghị định về việc đăng ký chuyên gia KH&CN, trong đó có một điều khoản quy định mọi cán bộ khoa học nếu muốn nhận/tham gia đề tài nghiên cứu phải đăng ký chuyên gia với cơ quan quản lý.  Đáng lưu ý, diễn đàn Nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học thời gian qua của Tia Sáng đã thu hút được rất nhiều ý kiến đóng góp của những nhà khoa học, nhà giáo; trong khi đó lại không hề nhận được một ý kiến phản hồi nào từ các nhà quản lý khoa học. Không chỉ trên Tia Sáng, nhiều bài viết phản ánh thực trạng yếu kém của KH&CN Việt Nam trên báo chí (như Tuổi Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn…) cũng rơi vào im lặng như vậy. Hẳn là vì lí do nào đó chứ không phải họ xem nhẹ tiếng nói của những người làm khoa học.  Từ diễn đàn của Tia Sáng đã hình thành một nhóm nhiều nhà khoa học trao đổi ý kiến qua thư từ (mail group). Nơi đây các nhà quản lý có thể nhận được trực tiếp những ý kiến thẳng thắn từ các nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến nghiên cứu và quản lý khoa học. Từ đó có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy nền khoa học nước nhà.  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vài hiểu lầm tai hại      Đọc b&#224;i Lực cản ch&#237;nh từ một số c&#226;y đa c&#226;y đề của TS. Phạm Đức Ch&#237;nh, điều khiến t&#244;i thực sự lo ngại cho sự ph&#225;t triển của khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ v&#236; một số c&#226;y đa, c&#226;y đề đ&#243; đứng đầu ng&#224;nh, cầm trịch một số khoa học của nước nh&#224;.  Ph&#226;n t&#237;ch từng điểm m&#224; t&#244;i nghĩ l&#224; ngộ nhận của c&#225;c vị n&#224;y c&#243; lẽ cần một b&#224;i b&#225;o nghi&#234;m chỉnh. Ở đ&#226;y t&#244;i chỉ muốn chỉ ra v&#224;i điều thật tai hại trong c&#225;ch nghĩ của họ.     Về ý kiến cho rằng ở các đại học phương Tây, người ta không quan tâm đến việc giáo sư họ có công bố quốc tế hay không, mà chỉ quan tâm đến thu hút tài trợ, tôi thấy thực tế không đúng như thế. Ở trường tôi, người ta đánh giá giáo sư qua nhiều tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí chính: nghiên cứu khoa học, đào tạo, thu hút tài trợ, và phục vụ cộng đồng khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm năng suất khoa học qua những công bố quốc tế, vì đây là “đơn vị tiền tệ” của giới khoa bảng. Là giáo sư mà không có công bố quốc tế thì chắc chắn chẳng gây được uy tín nào, thậm chí không thể nào có được chức danh đó.   Ở Mỹ hay các nước phương Tây nói chung, để duyệt xét một đề cương nghiên cứu, người ta căn cứ vào những tiêu chí cụ thể như thành quả khoa học, kinh nghiệm của những người chủ trì dự án, và tính khả thi của đề án. Thành quả khoa học ở đây chính là số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học (thể hiện qua những chỉ số trích dẫn hay chỉ số H). Tài trợ cho nghiên cứu khoa học là một sự đầu tư, cho nên người ta phải xem xét kĩ năng suất của nhóm chủ trì để sao cho số tiền chi ra đem lại hiệu quả cao nhất và an toàn. Thật ra, người ta đã làm phân tích trên Scientometrics cho thấy những ai có nhiều bài báo khoa học và chất lượng cao có xác suất cao nhận được tài trợ cho nghiên cứu. Hệ số tương quan giữa xác suất xin được tài trợ và số lượng và chất lượng bài báo công bố là 0.69. Do đó, công bố quốc tế là một yếu tố để thu hút tài trợ. Nói rằng ở phương Tây người ta chỉ quan tâm đến đề tài mà xem nhẹ công bố quốc tế chẳng những thể hiện sự thiếu hiểu biết về cơ chế tài trợ nghiên cứu khoa học mà còn có phần mâu thuẫn.   Tôi thấy ý kiến hay quan điểm “ngành tôi khó, ngành anh dễ” (phản ảnh qua câu“Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn”) hết sức “hồn nhiên”.  Hình như người nói câu này không biết gì về sinh học, mà chỉ nhìn qua thực vật với một cặp mắt phiến diện như thế.  Sinh học là một ngành rất rộng lớn, và tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay. Người ta cho rằng thế kỉ 21 là thế kỉ của sinh học, kể cả sinh học phân tử và di truyền học.  Làm sao để đánh giá ngành nào khó hơn ngành nào? Một lần trước, có người làm toán cũng nói với tôi giống như thế: mấy anh làm bên y sinh học thì dễ công bố, chứ bên chúng tôi phải 2 hay 3 năm mới công bố được một bài vì làm toán khó lắm. Không biết các bạn thì sao, chứ mỗi lần tôi nghe câu nói loại này tôi cảm thấy tội nghiệp cho người nói (bất kể anh chị ta làm trong ngành nào) hơn là chấp nhất họ. Đây cũng là loại suy nghĩ “vùi đầu trong cát” (head in the sand), không nhìn chung quanh xem người ta làm ra sao. Thật ra thì trong bất cứ ngành khoa học nào, nếu làm chuyên sâu và nghiêm chỉnh, đều có cái khó của nó. Chẳng riêng gì ngành toán, vật lí, y sinh học, mà ngay cả ngành kinh tế học cũng thế. Do đó, đem so sánh chuyên ngành của mình với ngành khác là một việc làm tương đối mạo hiểm và thể hiện thiếu kém suy nghĩ trong khoa học.  Có người biện minh rằng trong số 1000 nghiên cứu chỉ có 1 công trình là có khả năng ứng dụng, và như thế không cần công bố quốc tế, nhưng lí giải này thiếu tính logic và không thuyết phục. Trước khi một loại thuốc ra đời, các nhà khoa học phải truy tầm hàng trăm ngàn phân tử, với hàng ngàn bài báo khoa học, và cần đến hai thập niên. Nếu không công bố kết quả, người ta cũng đăng kí bằng sáng chế. Không có cơ quan nào mướn người làm mà không có kết quả. Cũng có người cho rằng làm nghiên cứu ứng dụng cũng không cần công bố quốc tế. Cả hai suy nghĩ đều có vấn đề. Nếu nhà khoa học làm trong các trung tâm nghiên cứu của các công ty kĩ nghệ, có thể nhu cầu công bố quốc tế không phải quan trọng, nhưng họ vẫn phải chứng tỏ năng suất khoa học qua những bằng sáng chế được đăng kí. Nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng đều phải có thành quả (nếu không thì không nên làm), và thành quả phải được thể hiện qua bài báo khoa học hay bằng sáng chế.    Lấy thu nhập ra để biện minh không cần công bố quốc tế cũng là một ngụy biện thường gặp. Ngụy biện là vì công bố quốc tế chẳng có liên quan mật thiết đến thu nhập bình quân đầu người, cũng chẳng tùy thuộc vào dân số của một nước. Canada và Hà Lan là những nước nhỏ về dân số, thu nhập thấp hơn Mỹ, nhưng năng suất khoa học của họ hơn Mỹ. Malaysia có thu nhập bình quân đầu người cao hơn, nhưng về mặt năng suất khoa học thì kém hơn Thái Lan.    Liên quan đến vấn đề tiền bạc, có một dòng suy nghĩ khá phổ biến là “thiếu tiền cho nghiên cứu”.  Điều này cũng đúng một phần, nhưng tiền không phải là yếu tố ngăn cản không làm nghiên cứu khoa học. Có nhiều người đã làm nghiên cứu thực nghiệm và có công bố quốc tế với số tiền chưa đầy 5000 USD.  Đối với những người này, họ làm nghiên cứu khoa học để tự học, tự khẳng định mình, và qua đó có cơ sở để đi xin tài trợ. Cái khác giữa một nhóm với tư duy “cho tiền mới làm” và một nhóm với tư duy “làm để chứng minh khả năng và xin tiền sau” là giữa thụ động và chủ động. giữa ngồi chờ và đi tìm, giữa bất biến và đột phá … Khoa học cần những người chủ động, truy tầm, và đột phá.   Lại có người cho rằng “công bố với đồng nghiệp Nhật là được rồi, cần gì phải là tác giả chính”. Tôi nghĩ đó là một tư duy an phận, an phận với vai trò của một người “lính đánh bộ” (foot solider), mà không chịu vươn lên một hợp tác trong tinh thần bình đẳng. Phát biểu này còn cho thấy có người còn khá vô tư đối với tài sản tri thức của nước nhà.  Người ta lấy dữ liệu của Việt Nam, chất liệu của Việt Nam, nhờ người Việt Nam làm và người ta đứng vai chủ nhân. Có cái gì không ổn ở đây. Chả trách với tư duy này mà trong vòng 100 năm qua những kiến thức về nước Việt và người Việt lại lọt vào tay của người nước ngoài!   Khi không thích cái gì người ta thường gán cho nó một nhãn hiệu với hàm ý khinh khi. Tiêu biểu cho thái độ này là quan điểm cho rằng “ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến”. Tôi thấy quan điểm này rất giống thời bao cấp, xem bất cứ điều gì từ Nhà nước là chân lí. (Hình như người phát biểu quên rằng chúng ta đang theo kinh tế thị trường.) Các đại học hàng đầu của Mỹ đều là tư nhân. Các tập đoàn lớn về kinh tế và quốc phòng của Mỹ đều là tư nhân. Ở Mỹ và Úc, thậm chí còn có nhà tù do tư nhân quản lí. Theo quan điểm này thì các đại học đó, tập đoàn kinh tế và quốc phòng đó, nhà tù đó … không đủ uy tín!   Vấn đề không phải là “tư nhân” hay “nhà nước” mà là đóng góp của họ cho xã hội. ISI đã có những đóng góp cực kì lớn cho phát triển khoa học. Dù những sản phẩm và thống kê của họ chưa hoàn hảo, nhưng những chỉ số của ISI đã và đang được các đại học trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam?), các cơ quan tài trợ, các bộ khoa học công nghệ, v.v… dựa vào đó mà đánh giá năng lực khoa học. Không thể xem thường đóng góp của ISI chỉ vì họ là một doanh nghiệp tư nhân. Còn các tập san Anh, Pháp, Nhật, Hàn, v.v… cũng có một số nằm trong danh sách của ISI, nhưng phần lớn không được công nhận vì chưa đạt được những điều kiện mà cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Làm sao và lấy gì để nói rằng một tập san khoa học của Nga hay Pháp tương đương với tập san Nature (của Anh) hay Science (của Mỹ)? Người phát biểu câu này thật là can đảm!  Thật là hài hước khi đọc ý kiến cho rằng “Hàn Quốc và Trung Quốc đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó”. Dùng cách lập luận đó, có lẽ Úc, Canada, Hà Lan, và Anh cũng có thể nói không cần gây áp lực cho các nhà khoa học của họ công bố quốc tế, vì 4 nước này là nước nhỏ và cũng không có làm “tàu vũ trụ”! Thật là đáng ngại khi có người đang cầm trịch khoa học mà có suy nghĩ quá đơn giản như thế.   Quan điểm về ta là ta, ta có con đường của ta (như “KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào”) mới nghe qua thì cũng lọt tai, nhưng không thể khái quát hóa và đơn giản hóa câu đó cho mọi vấn đề được. Có những cái chúng ta cần giữ bản sắc của mình (như văn hóa), nhưng có những cái mình phải hội nhập với cộng đồng quốc tế (như các chuẩn mực khoa học). Chúng ta vào WTO và phải tuân thủ theo luật chơi của WTO, chứ không thể nói rằng ta có con đường riêng của ta. (Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà Vietnam Airlines đã thua trên sân chơi quốc tế, và tốn khá nhiều tiền cho một kẻ lường gạt.) Chúng ta không thể đi dự hội nghị khoa học mà mặc áo dài khăn đóng, không thể tham gia hội thảo mà trong đó mọi người nói tiếng Anh còn ta nói tiếng Việt. Tương tự, chúng ta muốn hội nhập quốc tế thì phải học và hành xử theo luật chơi mà quốc tế chấp nhận.    Luật chơi và chuẩn mực khoa học đã được hình thành từ rất lâu, và đến nay đã được đại đa số cộng đồng khoa học thế giới chấp nhận. Nước nào không chấp nhận thì sẽ tự cô lập và bị loại ra ngoài dòng chảy của khoa học. Không thể ngụy biện theo cảm tính bằng những “Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc” để kêu gọi “Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta”. Hệ luận của câu này là công bố trên các tập san quốc tế là không yêu nước, thiếu tự hào dân tộc. Nếu thế thì Chính phủ và các đại học Úc, Hà Lan, Canada, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, v.v… đều không có tinh thần yêu nước thương dân vì họ kêu gọi các nhà khoa học của họ công bố trên các tập san có impact factor cao, mà đại đa số các tập san này là ở Mĩ hay ở nước ngoài.  Nếu các tạp chí của Việt Nam được ISI công nhận, có cơ chế làm việc minh bạch, và đã gây được uy tín trong khoa học qua những công trình có chất lượng cao, thì lời kêu gọi đó có thể chấp nhận được. Nhưng hiện nay, chúng ta biết rằng chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam đạt được những chuẩn mực đó. Vì thế lời kêu gọi đó không thực tế. Người phương Tây có câu “Nếu bạn không thắng được họ, thì nên tham gia với họ” (if you cannot beat them, join them), và mượn câu nói đó, tôi nghĩ nếu chúng ta chưa có khả năng lập ra những “luật chơi” khoa học mang tính Việt Nam, chưa đủ “critical mass” (thực lực) thiết lập một tập san khoa học tầm cỡ quốc tế, thì cách hay nhất là học họ và tham gia họ bằng cách công bố các công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vài vấn đề về qui định chức danh giáo sư ở Việt Nam      Hội đồng chức danh gi&#225;o sư Nh&#224; nước (HĐCDGSNN) lại vừa ra qui định v&#224; ti&#234;u chuẩn mới cho chức danh gi&#225;o sư v&#224; ph&#243; gi&#225;o sư.&nbsp;Qui định mới c&#243; phần hợp l&#237; hơn so với c&#225;c qui định trước, nhưng vẫn c&#242;n rất kh&#225;c v&#224; phức tạp hơn so với c&#225;c chuẩn mực ở nước ngo&#224;i.&nbsp;Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, t&#244;i nghĩ cần phải xem x&#233;t lại c&#225;c ti&#234;u chuẩn mới sao cho ph&#249; hợp với đa số c&#225;c nước tr&#234;n thế giới.&nbsp; B&#224;i viết n&#224;y sẽ chỉ ra những kh&#225;c biệt v&#224; bất cập ch&#237;nh về ti&#234;u chuẩn cho chức danh GS/PGS.     Thứ nhất là cách tính điểm bài báo khoa học. Theo qui định mới, “bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn” có điểm tối đa là 2. Ở đây có hai vấn đề. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (khoảng 108.000 tập san và con số vẫn gia tăng) với chất lượng thượng vàng hạ cám, dù chúng đều có danh xưng “quốc tế” đâu đó trong tên gọi. Để sàng lọc thật và giả, Viện Thông tin Khoa học (Mỹ) căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hoạt động và thời gian lập nên một danh sách chỉ trên dưới 5000 tập san mà giới chuyên môn công nhận là “nghiêm chỉnh”.    Viện Thông tin Khoa học còn phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là “hệ số ảnh hưởng” (impact factor, IF). Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san. Nói chung, tập san có IF cao cũng là tập san có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp. Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học. Theo tôi biết, chưa có một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF.    Những vấn đề thực tế trên cho thấy không thể đánh giá một công trình đăng trên tập san Việt Nam bằng một công trình đăng trên một tập san quốc tế với IF trên 10. Tương tự, cũng không thể xem một bài báo trên một tập san ở Úc, Nhật, Hàn Quốc, hay Trung Quốc với chỉ số IF < 1 bằng một bài báo trên một tập san ở Mỹ với IF > 20, dù tất cả đều là “tập san quốc tế”.  Ngoài ra, cũng không thể đánh giá IF của tập san toán với một tập san ngành y học. Do đó, không nên cho điểm một bài báo khoa học một cách máy móc mà không xem đến tập san bài báo đó được công bố.   Nhưng IF chỉ phản ảnh uy tín và chất lượng của một tập san, chứ không phản ảnh chất lượng của bài báo trên tập san đó.  Một công trình nghiên cứu có thể công bố trên một tập san có IF cao nhưng không được ai trích dẫn không có giá trị bằng một công trình công bố trên một tập san có IF thấp nhưng được nhiều người trích dẫn.  Trong thực tế, có hơn 50% các bài báo trên các tập san quốc tế chẳng bao giờ được ai trích dẫn! Do đó, khi xem xét cho điểm bài báo, cũng cần phải xem chỉ số trích dẫn, chứ không chỉ IF của tập san.   Như nói trên, IF của tập san tùy thuộc vào từng ngành chuyên môn.  Độ dao động IF cũng rất khác nhau giữa các ngành chuyên môn. Do đó, tôi nghĩ có một cách để “chuẩn hóa” bằng cách tính chỉ số Z cho một tập san. Nói cách khác, lấy IF của một tập san mà ứng viên công bố trừ cho chỉ số IF trung bình của ngành và chia kết quả tính toán cho độ lệch chuẩn trong ngành. Với chỉ số Z, chúng ta có thể so sánh tương đối (chỉ “tương đối” thôi) khách quan giữa các ngành chuyên môn.    Số lần trích dẫn bao nhiêu là phản ảnh chất lượng?  Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này. Vì chỉ số trích dẫn còn tùy thuộc theo “văn hóa ngành” (tức một số ngành như toán có chỉ số trích dẫn thấp hơn các ngành khác như vật lí hay sinh học), do đó cần phải điều chỉnh cho từng tập san. Theo đó, nếu số lần trích dẫn của bài báo cao hơn chỉ số trích dẫn trung bình của tập san thì có thể được xem là có chất lượng cao. Chẳng hạn như tập san A có chỉ số trích dẫn trong 10 năm là 35 lần / bài báo, và nếu một bài báo của ứng viên trên tập san đó có số lần trích dẫn trên 35 lần thì được xem là có chất lượng cao.    Cũng như chỉ số IF, chỉ số trích dẫn cũng rất phụ thuộc vào “văn hóa ngành”, và so sánh chỉ số trích dẫn giữa các ngành cũng không công bằng. Bởi vì mỗi ngành đều có những số liệu như chỉ số trích dẫn trung bình và độ dao động, tôi đề nghị tính chỉ số Z cho số lần trích dẫn tương tự như chỉ số Z cho IF.    Thứ hai là vấn đề vị trí tác giả trong việc định điểm.  Phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thường là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, và tác giả Việt Nam thường không đứng tên đầu (xem bài “Khoa học Việt Nam đang ở đâu?” của tôi), tức không phải là người chủ trì công trình nghiên cứu. Do đó, nếu một ứng viên có nhiều bài báo khoa học dù trên các tập san có IF cao, nhưng nếu chỉ đóng vai trò “tác giả phụ”, thậm chí “tác giả làm quà” (gift author) thì không thể đánh đồng với một tác giả chính được. Cần nói thêm rằng, hiện tượng “gift author” là trong đó các nhà khoa học cho tên của đồng nghiệp hay cấp trên của mình vào danh sách tác giả dù người này chẳng biết hay chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu. Hiện tượng gift author khá phổ biến trong khoa học, nhất là ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong các qui định của Hội đồng chức danh, không thấy nói đến vấn đề tế nhị như tôi vừa đề cập.   Thứ ba là sách chuyên khảo.  Theo qui định mới thì sách chuyên khảo được 3 điểm, sách giáo trình 2 điểm, sách tham khảo 1,5 điểm, và sách hướng dẫn 1 điểm. Những ai làm nghiên cứu khoa học thực nghiệm đều biết rằng sách, dù là sách chuyên khảo, chỉ là tập hợp những công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tập san.  Trong ngành y, sinh viên ít khi nào học từ sách, mà học từ các bài báo khoa học trên các tập san khoa học, bởi vì sách thường lạc hậu hơn tập san.    Do đó, không nên quan trọng hóa việc đánh giá hay cho điểm sách như là một tiêu chuẩn đề bạt chức danh GS/PGS, bởi vì sách không có giá trị như là những công trình nghiên cứu trên các tập san khoa học có IF cao. Ở nước ngoài, các hội đồng khoa bảng khi duyệt đơn đề bạt giáo sư ít khi nào quan tâm đến sách.    Thứ tư là vấn đề “giáo sư giảng dạy” và “giáo sư kiêm nhiệm”.  Theo qui định mới, “điểm sàn” của giáo sư kiêm nhiệm cao gấp 2 lần giáo sư giảng dạy, và tôi xem đây là một điều bất bình thường, không hợp lí.  Hình như có một sự nhầm lẫn về giáo sư kiêm nhiệm và giáo sư giảng dạy.    Ở nước ngoài, các đại học có 2 thành phần giáo sư mà (tùy theo trường) họ gọi là “academic professor” và “conjoint professor”. Academic professor là những giáo sư thuộc biên chế chính thức của đại học, họ nghiên cứu và giảng dạy trong đại học, và họ hưởng lương từ trường đại học. Đây có lẽ là “giáo sư giảng dạy” theo qui định của Hội đồng chức danh.  Chức danh “conjoint professor” thường được áp dụng cho những chuyên gia hay nhà khoa học thuộc các trung tâm nghiên cứu, bệnh viện, thậm chí công ty kĩ nghệ tư nhân có quan hệ mật thiết với trường đại học (như nhận sinh viên thực tập, hay có đóng góp cho các chương trình đào tạo của trường đại học). Những conjoint professor không thuộc biên chế của trường đại học, tức không nhận lương bổng từ trường đại học. Đây có lẽ là những “giáo sư kiêm nhiệm” theo qui định của Hội đồng chức danh.   Vì là kiêm nhiệm, cho nên tiêu chuẩn để được đề bạt chức danh conjoint professor thường thấp hơn tiêu chuẩn cho một giáo sư khoa bảng. Chẳng hạn như nếu một academic professor (giáo sư khoa bảng) cần phải có 50 bài báo khoa học để được đề bạt, thì giáo sư kiêm nhiệm chỉ cần 25 bài. Nhưng ở Việt Nam, tiêu chuẩn này ngược lại: giáo sư kiêm nhiệm có tiêu chuẩn cao hơn giáo sư giảng dạy!  Tôi nghĩ cần phải xem xét lại tiêu chuẩn này.     Thứ năm là số người bình duyệt đơn đề bạt.  Theo qui định mới, một hồ sơ đề bạt sẽ được duyệt xét bởi 3 người (thay vì 2 như trước đây). Theo tôi, chỉ 3 người duyệt hồ sơ vẫn chưa đủ. Duyệt đơn đề bạt của một cá nhân rất quan trọng vì quyết định có ảnh hưởng đến sự nghiệp của ứng viên, cho nên cần phải có nhiều ý kiến. Ở nước ngoài, các đại học thường cần đến 7 hay 8 chuyên gia bình duyệt độc lập, trong số này có ít nhất là 2 người từ nước ngoài.       Kinh nghiệm từ ngoài   Ở nước ngoài, mà cụ thể là Úc và Mỹ, các đại học xét duyệt đề bạt chức danh GS/PGS dựa vào 4 tiêu chuẩn chính: thành tựu nghiên cứu khoa học (research output), giảng dạy và đào tạo (teaching & training), lãnh đạo (leadership), và phục vụ (services).    Thành tựu nghiên cứu khoa học bao gồm số lượng và chất lượng công trình nghiên cứu đã công bố trên các tập san quốc tế.  Ngoài ra, các bằng sáng chế (patents) cũng được xếp trong tiêu chí này.  Hội đồng khoa bảng dựa vào những chỉ số như hệ số IF của tập san và chỉ số H của cá nhân ứng viên. Không có con số cụ thể về IF để đánh giá chất lượng cao hay thấp, bởi vì IF quá tùy thuộc vào từng bộ môn khoa học, nhưng nói chung, hội đồng chú ý đến những bài báo được công bố trên những tập san hàng đầu trong chuyên ngành. Chỉ số H rất quan trọng, vì đây là chỉ số quyết định một phần sự thành bại của ứng viên. Các trường đại học danh tiếng và lớn ở Mỹ thường đòi hỏi ứng viên phải có chỉ số H tối thiểu là 15 (thường là 20) để được đề bạt chức danh giáo sư.    Giảng dạy và đào tạo là những chỉ tiêu về số môn học (course) mà ứng viên thiết kế và giảng dạy.  Ứng viên phải trình bày rất chi tiết về số sinh viên, đánh giá của sinh viên ra sao, và thành tựu trong giảng dạy. Tôi từng thấy có ứng viên đem cả băng video và DVD, kèm theo những kết quả thăm dò ý kiến của sinh viên về môn học, để chứng minh khả năng giảng dạy của mình cho hội đồng khoa bảng xem xét.  Lãnh đạo ở đây không phải là quản lí hay hành chính, mà là đi đầu trong một lĩnh vực nghiên cứu. Không có những thước đo cụ thể về tiêu chuẩn này, nhưng những “tín hiệu” sau đây được xem là liên quan đến “lãnh đạo”: được mời viết xã luận, bình luận, bài tổng quan, được mời thuyết giảng trong các hội nghị lớn tầm quốc tế (còn gọi là invited lecture, keynote lecture, v.v…) mà ban tổ chức tài trợ hoàn toàn, được mời tham gia soạn thảo chương trình khoa học cho hội nghị, đóng vai trò chủ tọa hội nghị, v.v…   Phục vụ ở đây là phục vụ cho chuyên ngành và cộng đồng. Hội đồng thường xem xét đến những đóng góp cho các tập san khoa học trong vai trò phản biện, bình duyệt, hay cao hơn là được mời làm thành viên của ban biên tập cho tập san, hoặc cao hơn là đóng vai trò tổng biên tập và phó biên tập của các tập san khoa học quốc tế. Phục vụ trong các hiệp hội khoa học cũng được xem là một chỉ tiêu quan trọng. Ngoài ra, hội đồng cũng xét duyệt đến những cống hiến bình duyệt đơn xin tài trợ, tham gia bình duyệt luận án tiến sĩ cho các đại học nước ngoài, tham gia bình duyệt đơn xin đề bạt của đồng nghiệp nước ngoài. Đó là những “chỉ tiêu” được xem là đóng góp, phục vụ cho chuyên ngành.       Vài đề nghị   Đối chiếu những tiêu chí và tiêu chuẩn này với tiêu chuẩn của Việt Nam, tôi thấy những tiêu chí và tiêu chuẩn mới công bố rất phức tạp, máy móc, tính toán theo kiểu “cân đo đong đếm” rất phi khoa học tính. Ngoài ra, tiêu chuẩn tiếng Anh có thể cần thiết nhưng tôi thấy khá mù mờ, vì rất khó định nghĩa được thế nào là “có khả năng giao tiếp”. Nếu những gì vừa trình bày dẫn đến cải tiến, tôi nghĩ đến những đề nghị sau đây:       Thứ nhất là nên phân chia ngạch đề bạt. Ở nước ta có nhiều người mà nhiệm vụ chính là giảng dạy, và xét phong giáo sư cho những người này không nên đặt nặng vào những tiêu chí liên quan đến nghiên cứu khoa học. Do đó, cần phải có những tiêu chuẩn cho những người chuyên về giảng dạy, nghiên cứu, và thậm chí phục vụ. Thật vậy, có người tuy không giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng có thành tích trong việc phục vụ và quản lí, thì Hội đồng chức danh cũng nên có cơ chế để công nhận đóng góp của họ.       Thứ hai là không nên có những tiêu chuẩn cứng nhắc theo kiểu cân đo đong đếm.  Những chỉ số Z mà tôi đề nghị cũng chỉ mang tính tham khảo hơn là dựa vào đó để đánh giá cao thấp, bởi vì đánh giá như thế đòi hỏi nhiều khía cạnh khác chứ không phải chỉ công bố quốc tế. Trái với các tiêu chuẩn đề bạt trong nước về đề bạt chức danh khoa bảng bằng cách tính điểm bài báo, ở nước ngoài người ta không có những điểm cụ thể, mà chỉ đánh giá mang tính nửa lượng nửa chất. Về lượng, họ xem xét đến hệ số ảnh hưởng của tập san, chỉ số trích dẫn của các bài báo khoa học đã công bố, và nhất là chỉ số H của ứng viên. Họ không đề ra những con số bài báo cụ thể phải là bao nhiêu để được đề bạt. Những chỉ số chỉ mang tính tham khảo, vì họ còn phải đánh giá số lượng bài báo được mời đóng góp hay những lần giảng tại hội nghị quốc tế được ban tổ chức mời và chi trả.     Thứ ba là vận dụng tối đa hệ thống bình duyệt (peer review). Không như ở một số nước việc bình duyệt chức danh khoa bảng được thực hiện bằng cách bỏ phiếu kín, nhiều trường ở Úc và Mỹ, người ta sử dụng hệ thống bình duyệt do chính các đồng nghiệp của ứng viên làm. Triết lí đằng sau cách làm này là chỉ có đồng nghiệp cùng chuyên môn với ứng viên là những người đánh giá chính xác nhất về thành tựu và uy tín của ứng viên. Một số đơn mà người viết bài này bình duyệt, hội đồng chức danh yêu cầu ứng viên tự chỉ ra trong đơn là họ tương đương với ai trên thế giới. Ngoài ra, hội đồng chức danh còn yêu cầu người bình duyệt chỉ ra thành tựu của ứng viên có thể xếp vào loại nào và tương đương với ai trên thế giới. Nói tóm lại, để cho đồng nghiệp trong và ngoài đánh giá còn đảm bảo tính khách quan trong quá trình đề bạt.      Thứ tư là tính minh bạch. Tất cả các chi tiết về thủ tục và tiêu chuẩn đề bạt cho từng chức vụ đều được phổ biến trên Internet. Ngoài ra, danh sách những người trong hội đồng phỏng vấn và lĩnh vực nghiên cứu cần được công bố cho ứng viên biết trước. Thành phần hội đồng phỏng vấn được tuyển chọn sao cho đảm bảo bình đẳng giới tính, khoa học và ngoài khoa học, trong và ngoài đại học, v.v… Tính minh bạch còn thể hiện qua qui định ứng viên có quyền được xem các báo cáo bình duyệt của đồng nghiệp. Ngoài ra, phải có cơ chế để ứng viên “khiếu nại” nếu đơn xin đề bạt không thành công.      Cố nhiên, tình hình thực tế ở nước ta không thể ứng dụng các tiêu chuẩn Âu Mỹ để đề bạt giáo sư, nhưng tôi nghĩ có thể dựa vào các tiêu chí quốc tế như là một bước đầu trong quá trình hội nhập quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vấn đề cần được chất vấn      Một số câu hỏi và kiến nghị về dự án Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong.      Trong ảnh: Đập Xayaburi đang được xây dựng ở Lào (Nguồn: East by Southeast)  Phiên chất vấn tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV là một bước tiến được cử tri ghi nhận.  Về phía những người chất vấn (đại biểu Quốc hội) câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng. Về phía những người được chất vấn, trả lời tập trung hơn trước đây tuy vẫn còn những Bộ trưởng nhận lỗi quá dễ dàng, hoặc có lúc đưa ra các khẳng định thiếu thuyết phục vì không đưa ra căn cứ cơ sở. Điều hành của Chủ tịch Quốc hội đã mở ngõ cho truy vấn để làm rõ vấn đề là một điểm sáng.  Nội dung chất vấn tập trung vào các nhóm vấn đề “nóng”, những bất cập, yếu kém đang kìm hãm sự phát triển đất nước. Điều này là xác đáng qua đó giải tỏa một phần những bức xúc của cử tri. Tuy nhiên đó là những vấn đề đã xảy ra. Nhiều cử tri cảm thấy tiếc vì thiếu những chất vấn về những gì sắp, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra, mà tác động lên tương lai đất nước là hết sức to lớn, thậm chí mang tính sống còn đối với cả một vùng lãnh thổ.  Một trong những vấn đề như vậy là tác động của các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong đến đồng bằng sông Cửu Long. Sau Xayaburi, Don Sahong, nay đến Pak Beng đang được xây dựng. Cách đây hơn 3 năm Chính phủ Việt Nam quyết định tiến hành một dự án, Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong, giao cho Bộ TN&MT quản lý với kinh phí 4,3 triệu USD. Về việc này, không dừng lại ở tiếc nuối, tôi đã gửi đến Bộ trưởng Bộ TN&MT, đồng kính gửi đến Chủ tịch Quốc hội điều hành phiên chất vấn, nội dung sau đây:  Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 2016,  Thưa Bộ trưởng,  Đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong là một việc quan trọng cần làm. Dự án nghiên cứu các tác động này (MDS) là một dự án của Chính phủ Việt Nam, được giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, và do Viện Thủy Lợi Đan Mạch (DHI) thực hiện thông qua một hợp đồng trị giá 4,3 triệu USD, trong 30 tháng từ 01.6.2013 đến 31.12.2015.  Trong 2 lần phản biện của mình, tôi đã chỉ rõ 5 điểm yếu cơ bản của nghiên cứu của DHI (phương pháp luận, mô hình hóa, số liệu, chế độ vận hành, hiểu biết thực tế) và đi đến kết luận là các kết quả và kết luận của công trình là không đáng tin cậy và tiềm ẩn hậu quả bất lợi khôn lường nếu được Chính phủ Việt Nam phê duyệt.  Trong hai văn thư gửi Bộ trưởng ngày 30.3.2016, và ngày 20.4.2016, tôi có 2 câu hỏi và 4 kiến nghị với Bộ TN&MT nhưng tới nay tôi chưa nhận được trả lời.  Câu hỏi 1: Xin Bộ trưởng xác nhận có phải Báo cáo MDS của công ty tư vấn đã được Bộ TN&MT nghiệm thu?   Nếu đã được nghiệm thu, chúng tôi có 4 kiến nghị :      1. Công bố Báo cáo cuối cùng về MDS của Công ty tư vấn trước Hội đồng nghiệm thu;      2. Công bố kết quả nghiệm thu với các tài liệu có liên quan (danh sách Hội đồng nghiệm thu, các báo cáo phản biện, trả lời của Cty tư vấn, và kết quả bỏ phiếu);      3. Công bố văn bản hợp đồng đã ký giữa Bộ TN&MT với CTy Tư vấn;      4. Báo cáo tài chính về Dự án MDS.”  Các công bố được đưa lên Cổng thông tin của Bộ TN&MT.  Câu hỏi 2: Xin Bộ trưởng cho biết việc nghiệm thu của Bộ TN&MT có cần Chính phủ phê duyệt, và đã được phê duyệt?  Mong được Bộ trưởng trả lời. Xin cám ơn Bộ trưởng.  Nguyễn Ngọc Trân  Đại biểu QH khóa IX, X, XI  Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối Ngoại QH       Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Một vấn đề cấp thiết đối với ngành NLhạt nhân: ĐT nhân lực KHCN (trước khi nói đến vấn đề NCKH)      Ngày 03/01/2006 Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký quyết định số 01/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020”.  Để thực hiện chiến lược đó vấn đề đào tạo nhân lực khoa học – công nghệ hạt nhân là vấn đề quan trọng số một. Nhân lực này sẽ quyết định thành công của chương trình hạt nhân, quyết định mặt an toàn và tính kinh tế của các dự án.  Đào tạo nhân lực phải đi trước một bước bằng 10-15 năm. Với nhân lực non yếu chưa đủ sức nghiên cứu khoa học (NCKH) như hiện nay trong chương trình điện hạt nhân thì vấn đề đào tạo phải đặt trước vấn đề NCKH.  Thất bại trong công việc đào tạo có thể dẫn đến nguy cơ thất bại của điện hạt nhân!    Chọn  con đường phát triển năng lượng hạt nhân là việc làm đúng đắn. Thật vậy nếu xét từ 3 góc độ: vĩ mô, dài hạn và ngoại giá (externalities)  thì hạt nhân vẫn là chiếm ưu thế cho ngành năng lượng tương lai của Việt nam.  Trong vận hội WTO, Đảng và Chính phủ sẽ đưa nước ta hòa nhập vào cộng đồng những nước có điện hạt nhân . Điều này làm nức lòng các nhà khoa học và các nhà năng lượng.  Song chúng ta phải ý thức được rằng điện hạt nhân sẽ đặt chúng ta trước nhiều thách thức vô cùng lớn lao. Năng lượng hạt nhân không thuộc về năng lượng cổ điển và đòi hỏi những tri thức đặc thù mà chúng ta chưa có nhiều [1] [2] và cũng đòi hỏi những cơ cấu tổ chức thích hợp.  Đối diện với điện hạt nhân chúng ta cần một đội ngũ cán bộ có trình độ cao về khoa học cũng như về công nghệ. Đội ngũ đó hiện nay chúng ta chưa có đủ, hay nói thẳng là chúng ta chưa có. Và muốn đầo tạo được một đội ngũ như vậy phải có một chiến lược quốc gia lâu dài, sâu rộng. Nhiều nước đi theo con đường hạt nhân đã tung ra đào tạo trong nước và nước ngoài hàng nhiều trăm cán bộ ưu tú  trong vòng 10-15 năm trước khi chế ngự được ngành điện hạt nhân theo đúng ý nghĩa của vấn đề: du nhập điện hạt nhân và nội địa hóa, tiến đến làm chủ hầu hết các công đoạn [3].  A  .  Vì sao cần có một Ban Chỉ đạo quốc gia (hoặc liên Bộ) chương trình hạt nhân?  Như chúng ta biết muốn làm điện hạt nhân phải có sự cam kết của Nhà nước, đây là khuyến cáo đầu tiên của IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế) [4]. Có được cam kết của Nhà nước chúng ta mới có cơ sở, có khả năng huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc hạt nhân, mới có đủ tư cách pháp nhân trên trường quốc tế.  Muốn làm được việc đó không một Bộ nào đứng riêng lẻ làm được mà cần sự hợp lực của nhiều Bộ, và muốn điều hành được công việc của nhiều Bộ cần thành lập một Ban Chỉ đạo quốc gia (hoặc liên Bộ) chương trình hạt nhân.  Trong cuộc hội thảo do IAEA tổ chức tại khách sạn Melia, 19-21 tháng 6/2007 về hạ tầng cơ sở cho ngành hạt nhân, GS. R I Facer đã nhấn mạnh sự cần thiết của một ban chỉ đạo quốc gia để điều hành mọi công việc (NEPIO-Nuclear Energy Program Implementation Organisation)  Theo kinh nghiệm nhiều nước, chỉ đạo  chương trình hạt nhân là một cán bộ quản lý cao cấp có quyền lực (ở một số nước là quyền lực rất lớn), hoặc một nhà khoa học có tài đức được trao đủ quyền, có khả năng điều hành và thực hiện một chương trình lớn như chương trình hạt nhân,  là một nhạc trưởng lớn (theo cách phát biểu của Bộ trưởng Bộ KH&CN), đứng đầu một Ban chỉ đạo quốc gia (hoặcBan chỉ đạo liên Bộ) Chương trình hạt nhân để điều hành mọi công việc (xem tư liệu 1).  Sau đây dùng  BCĐQG/LBCTHN  để chỉ Ban chỉ đạo quốc gia (hoặcBan chỉ đạo liên Bộ) Chương trình hạt nhân.        Tư liệu tham khảo 1    Sau đây là một số nhà khoa học có công lớn trong ngành hạt nhân ở  một số nước:  • Ông Homi Jehangir Bhabha (1909-1966) sinh tại Bombay, học tại Elphinstone College vàViện Khoa học Hoàng gia (Royal Institute of Science). Ông nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Cambridge  năm 1934. Cùng với J.R.D. Tata  ông thành lập Viện nghiên cứu cơ bản Tata (Tata Institute of Fundamental Research) tại Mumbai. Được Nehru giao nhiệm vụ, ông đứng ra lãnh đạo ngành hạt nhân và thành lập ủy ban năng lượng nguyên tử  ấn độ năm 1948. Hiện nay Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Bhabha được mang tên ông.  • J. Robert Oppenheimer (1904-1967) là một nhà vật lý lý thuyết , giám đốc khoa học Dự án Manhattan, cố vấn chính của ủy ban năng lượng nguyên tử Mỹ.  • Igor Vasilyevich Kurchatov (1908-1960) là nhà vật lý được Stalin giao nhiệm vụ xây dựng ngành công nghệ hạt nhân Xô viết cũ.  • Jean Frederic Joliot-Curie (1900-1958). Sau thế chiến thứ II ông phụ trách  Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Khoa học quốc gia  (Centre National de la Recherche Scientifique)   và trở thành Cao ủy Năng lượng nguyên tử Pháp (High Commissioner for Atomic Energy) . Năm 1948 ông chỉ đạo xây dựng Lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Pháp. Miệng núi Joliot trên mặt trăng mang tên ông.          Tại nhiều nước ủy ban Năng Lượng Nguyên tử Quốc gia, hoặc Cục Năng lượng Nguyên tử, đóng vai trò BCĐQG/LBCTHN. Vì BCĐQG/LBCTHN nằm ở  mức Chính phủ  nên có thể điều hành được công việc, vốn liên quan đến nhiều Bộ, nhiều ngành.  Nhiều nước lấy các  Bộ quan trọng sau đây (hoặc các Bộ tương đương) làm hạt nhân trong  BCĐQG/LBCTHN:  1  /  Bộ Công Thương  2  /  Bộ Khoa học và Công nghệ  3  /  Bộ Giáo dục & Đào tạo.  4  /  Bộ Tài nguyên & Môi trường  Hiện nay chúng ta đang có Tổ chỉ đạo quốc gia chương trình hạt nhân (TCĐQGCTHN). Đây là một yếu tố  thuận tiện.  Có thể  huy động sự tham gia của những chuyên gia Việt kiều trong ngành hạt nhân vào BCĐQG/LBCTHN.  B  .   Các Ban chỉ đạo quốc gia hoặcBan chỉ đạo liên Bộ (BCĐQG/LB) về các chuyên ngành  dưới BCĐQG/LBCTHN  Như chúng ta biết chương trình hạt nhân gồm hai phần mà người ta thường ví như hai bánh  của cỗ xe hạt nhân:  – phi năng lượng (non power), sử dụng khoa học & kỹ thuật hạt nhân vào các ngành kinh tế quốc dân  – năng lượng (power) tức điện hạt nhân  Nội dung bài này tập trung vào phần thứ hai, tuy nhiên các ý tưởng trình bày ở đây có thể áp dụng cho cả hai phần.  Trong bài này chúng tôi xin bàn về đào tạo nhân lực, cho nên trong sơ đồ dưới đây chỉ biểu diễn BCĐQG/LB về đào tạo nhân lực nằm dưới BCĐQG/LBCTHN.  Một trong các nhiệm vụ rất lớn trước mắt là đào tạo nhân lực, đào tạo nguyên khí của ngành hạt nhân. Nếu trong tay chúng ta có chừng 300-400 chuyên gia giỏi với trình độ cao thì sự thành công của chương trình hạt nhân sẽ được bảo đảm trong giai đoạn đầu.  Vấn đề đào tạo nhân lực cho ngành hạt nhân phải là một vấn đề ở mức Chính phủ (Government level) cũng có thể ở mức liên Bộ. Đây cũng là một khuyến cáo quan trọng của IAEA [4]. Không ý thức được điều này khó lòng có được một đội ngũ cán bộ tối cần thiết cho ngành điện hạt nhân.                Không có một Ban chỉ đạo quốc gia hoặc Ban chỉ đạo liên Bộ về đào tạo nhân lực (gồm các Bộ: Công Thương + Khoa học Công nghệ+  Giáo dục Đào tạo) chúng ta không thể thi hành được nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho chương trình hạt nhân. Điều này đã được khẳng định trong “Chiến lược ứng dụng Năng lượng Nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.  BCĐQG/LB  về đào tạo nhân lực sẽ hoạt động với đầy đủ điều kiện về tổ chức, kinh phí với một kế hoạch khẩn trương, chi tiết, chuyên nghiệp.  Cần tổng hợp đề án đào tạo nhân lực của 3 Bộ nói trên  để có một chương trình hành động mạnh mẽ và hiệu lực, nhất quán và  thống nhất.  Việc đào tạo nhân lực cho chương trình hạt nhân phải gồm ba công đoạn lớn:  1 /  Công đoạn củng cố, đào tạo lại, nâng cấp đối với nhân lực hiện có (existing manpower)  2 /  Công đoạn hướng dự án (project-oriented) nhằm đào tạo trước mắt nhân lực cho nhà máy điện nguyên tử đầu tiên (và trong tương lai cho những nhà máy điện nguyên tử tiếp theo)  3  /  Công đoạn hướng chương trình (programme-oriented) nhằm đào tạo nhân lực lâu dài cho cả chương trình hạt nhân.  Có thể biểu diễn ba công đoạn trên bằng đồ thị sau đây.                Trong đồ thị trên  I  …………………….. biểu diễn nhân lực hiện có  IIa,b,c ……………… biểu diễn  nhân lực hướng dự án  IIIa,b,c …………….  biểu diễn nhân lực hướng chương trình (đầu đàn +R&D+pháp quy)    Bị chú:  1/ Lộ trình IIIb có thể xem là lộ trình kéo dài bổ sung cán bộ R&D của lộ trình I.  2/ Trong trường hợp dự án NMĐHN đầu tiên có chậm lại một vài năm thì các lộ trình IIa, IIb và IIc cũng sẽ được lùi lại tương ứng theo số năm như vậy. Tuy nhiên các lộ trình I, IIIa, IIIb và IIIc vẫn phải giữ nguyên như cũ vì các lộ trình này liên quan đến chương trình điện hạt nhân nên cần được giữ nguyên để tranh thủ thời gian vốn còn rất ít cho chương trình.   3/ Đoạn lấm chấm trong đồ thị có ý nghĩa là công đoạn tương ứng có thể bắt đầu sớm  hơn hoặc kéo dài thêm nhiều năm sau.  Những điểm quan trọng trong kế hoạch đào tạo:  i / Cả ba công đoạn I, II & III phải được tiến hành cùng một thời điểm (2006-2007). Có nhiều quan điểm cho rằng trước tiên hãy tập trung vào đầo tạo nhân lực cho dự án(xem tư liệu 2). Song điều này không đúng vì trong giai đoạn đầu của chương trình hạt nhân các công đoạn I, II & III gối đầu nhau. Ngay từ lúc ban đầu chúng ta đã phải cần có những cán bộ chuyên gia công nghệ giỏi để am hiểu thẩm kế, có trình độ làm việc với tư vấn ngoại quốc trong mọi ký kết, chúng ta cần phải có cán bộ pháp quy để giải quyết những vấn đề về an toàn, luật pháp. Cho nên nhiều cán bộ thuộc phạm trù hướng chương trình cũng thuộc phạm trù hướng dự án .         Tư liệu tham khảo 2     Nhiều người quan tâm đến cán bộ vân hành trực tiếp lò phản ứng. Kinh nghiệm của nhiều nước cho biết rằng những càn bộ này có thể đào tạo từ những cán bộ đại học trong vòng 2 năm. Song những cán bộ đứng sau các cán bộ vận hành đó (supervisors) mới là những cán bộ cần đào tạo lâu năm. Họ thuộc về lộ trình các chuyên gia IIa & IIIb.          ii  /  Một nhân lực quan trọng là nhân lực hiện có (existing man power). Chính hiện nay lực lượng này đang giúp Chính phủ vạch kế hoạch cho chương trình hạt nhân. Trong số họ nhiều chuyên gia giỏi về kỹ thuật, công nghệ hạt nhân, tính toán lò phản ứng, nhiều người đã học tập, thực tập trên các lò phản ứng  ở nước ngoài, nhiều người là chuyên gia của IAEA. Bộ phận nhân lực này đã có nhiều công trình khoa học công nghệ quan trọng đăng trong nước và nước ngoài, nhiều công trình rất có giá trị. Nhân lực hiện có này đã được đào tạo trong nhiều chục năm trong thời gian trước đây, và trong những kế hoạch ngắn hạn sau này. Biết củng cố, đào tạo thêm, nâng cấp thì đây là một vốn nhân lực rất mạnh, rất hữu ích cho công đoạn hướng dự án và cả cho công đoạn hướng chương trình trong giai đoạn đầu. Trong vòng 10 năm nữa lực lượng này đang và sẽ đóng vai trò quan trọng. Trong sơ đồ trên  chúng ta thấy đuờng biểu diễn IIIb và I có thể xem là kéo dài của nhau.  Nhưng phải nói rằng số nhân lực này không đủ và không thể đáp ứng được các nhiệm vụ nặng nề trước mắt.  iii  /  Đường IIIa biểu diễn việc đào tạo những cán bộ đầu đàn. Nhiều nước đã lo nghĩ đến cán bộ đầu đàn từ rất sớm, họ gửi ra nước ngoài hàng trăm cán bộ học tập trong 5 năm trong 10 năm. Nếu ngay bây giờ (2007) chúng ta gửi đi khoảng 10-30 người xuất sắc thì đến năm 2011-2012 chúng ta sẽ có khoảng 10-20 cán bộ thật giỏi, xứng đáng ở cương vị đầu đàn. Việt nam trước đây trong thời bao cấp đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong đào tạo cán bộ đầu đàn (xem tư liệu 3), có thể đơn cử những nhà khoa học được Đảng và Chính phủ gửi đến Viện nghiên cứu hạt nhân Đúp na, hiện nay họ vẫn tiếp tục là những cán bộ đầu đàn trong lĩnh vực được đào tạo.        Tư liệu tham khảo 3    GS Tạ Quang Bửu, lúc sinh thời có một cách nhìn rất sáng suốt trong việc đào tạo những cán bộ đầu đàn. Ông chọn người, mời đến nhà riêng giao nhiệm vụ và tìm mọi cách gửi họ ra nước ngoài trong vòng 5 đến 10 năm theo những thủ tục đặc biệt thoát khỏi thông lệ thời bao cấp. Nhờ phương thức này mà VN có được một số cán bộ đầu đàn hiện nay đang phát huy tác dụng, mặc dầu nhiều người đã lớn tuổi.          C .  Mô hình đào tạo trong nước  Cần đào tạo các chuyên gia các cấp sau:  BS (Bachelor of Sciences)– trình độ đại học, cử nhân  MS (Master of Sciences)– trình độ sau đại học, thạc sĩ  PhD (Doctor of Philosophy) – trình độ trên đại học, tiến sĩ  Trong nước chúng ta có thể có 4 lộ trình đào tạo chuyên gia như sau :  1  /  Lộ trình  xuất phát từ các trường Đại học Bách khoa  2  /  Lộ trình   xuất phát từ  các trường Đại học KHTN         Lộ trình  cũng dành cho cán bộ pháp quy.  3  /  Lộ trình   xuất phát từ các trường đại học, sau đó tiếp tục tại các cơ sở đào tạo của các         Viện nghiên cứu.  4  /  Lộ trình  xuất phát từ Đại học điện lực (Bộ Công nghiệp).  Chú ý : Trên đây là các lộ trình đào tạo từ cơ sở đến cấp học PhD  Song ở một cấp nào (BS, MS hay PhD) ta đều có thể lấy tắt ngang các cán bộ hoặc từ các nhà máy, công ty hoặc từ các Viện đã có một trình độ tương đương (trong một chuyên môn có thể khác hạt nhân) với cấp đang xét để học tiếp những giáo trình nâng cao và chuyên sâu hơn về hạt nhân.  Các cơ sở đào tạo của các Viện nghiên cứu sẽ cấu tạo thành một TRUNG TÂM đào tạo . Có thể nói đây là tiền thân của Trung tâm đào tạo quốc gia cho ngành hạt nhân .  Trung tâm này được mô phỏng theo mô hình INSTN của Pháp và sẽ nằm dưới sự chỉ đạo của 3 Bộ  (xem tư liệu 4):  – Bộ Khoa học & Công nghệ  – Bộ Giáo dục & Đào tạo  – Bộ Công Thương.  Bị chú :Ngoài các hình thức trên còn có những lớp ngắn hạn, tổ chức cùng với các cơ quan bên các nước khác: ví dụ những lớp học cho EVN và các cơ quan khác (phối hợp với Nhật/Toshiba năm 2005, 2006) hay lớp học về an toàn (phối hợp với IAEA/Argonne laboratory năm 2005).        Tư liệu tham khảo 4    INSTN (Institut National des Sciences et Techniques Nucléaires), trung tâm nghiên cứu và đào tạo lớn với 50 năm kinh nghiệm.  Nhận sinh viên từ nước ngoài.    INSTN được thành lập vào năm 1956 nằm dưới quyền của các Bộ Giáo dục quốc gia và Bộ Công nghiệp. Viện này có khả năng đào tạo kỹ sư và cấp học 3 ème – cycle .    Đây là một đặc thù rất đáng nghiên cưú của INSTN : vừa chịu sự điều khiển của Bộ Giáo dục vừa chịu sự điều khiển của Bộ Công nghiệp , như vậy INSTN vừa mang tính đào tạo cơ bản vừa mang tính đào tạo  công nghiệp.  Chương trình đào tạo gồm  a  /  Kỹ sư công nghệ nguyên tử (Ingénieur  en Génie Atomique)  Phần chuẩn bị  : Kỹ thuật , Công nghệ kỹ sư , địa điểm TOULOUSE   Phần chuyên sâu: Công nghệ nguyên tử (génie atomique), địa điểm SACLAY, CADARACHE, CHERBOURG.  b  / 3ème cycle . Các phần đào tạo 3ème cycle được kết hợp với các trường đại học:   – DEA (diplôme d’études approfondies) .  Sau DEA sinh viên thực hiện một luận án doctorat .   – DESS (diplôme d’études supérieures spécialisées).  Ngoài ra có thể có phần DES (diplôme d’études spécialisées :ví dụ y học hạt nhân) và DESC (diplôme d’études spécialisées complémentaires, ví dụ radiopharmacie, radiobiologie).          D . Đào tạo ở nước ngoài (vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện tại)  Cần phải xác định rằng công đoạn đào tạo ở nước ngoài và ưu đãi, mời về nước làm việc các chuyên gia lớn  đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Nhiều nước đi trước chúng ta như Hàn quốc, Trung quốc đã gửi đào tạo trong nhiều năm (10 – 15 năm) nhiều cán bộ đến các nước như Mỹ, Anh, Pháp…và sẵn sàng mời những chuyên gia lớn về nước làm việc với những chế độ đặc biệt .Nhiều người trong số đó đã đóng vai trò cán bộ đầu đàn, vai trò chỉ đạo (xem tư liệu 5).  Chú ý trong hoàn cảnh giáo dục ở nước ta gặp nhiều khó khăn, cơ sở thiết bị hạn chế việc đào tào ở nước ngoài đóng vai trò đặc biệt quan trọng.  Chỉ nên gửi đi nước ngoài những cán bộ có trình độ BS (tốt nghiệp Đại học).    E . Những quan điểm cần tránh  a  /  Tách rời đào tạo nhân lực hướng dự án và nhân lực hướng chương trình  b  /   Phương thức vừa học vừa làm chỉ có thể áp dụng cho một số công việc còn đối với chương trình hạt nhân cần đào tạo trước một bước (10 đến 15 năm) vì những kiến thức hạt nhân không thể học được ngay một sớm một chiều.  c  /  Đào tạo tự phát trong từng cơ sở không theo một quy hoạch tổng thể ở mức quốc gia.    F  .  Kinh nghiệm  Sau đây là những kinh nghiệm quý báu lấy từ các nước mà hoàn cảnh lúc ban đầu xây dựng hạt nhân gần giống ta đến những nước tiền tiến.  Kinh nghiệm Tây ban nha (TBN)  a  / TBN đã bắt đầu chương trình đào tạo nhân lực hạt nhân của mình 15 năm trước lúc LPƯ đầu tiên hoạt động.  b  /  Hành động quyết tâm của Chính phủ  c  /  Kết hợp chặt chẽ với ngành công nghiệp, bảo đảm việc cung cấp thiết bị và các dịch vụ quan trọng, trong đó có đào tạo nhân lực.  d  / TBN có một chương trình hạt nhân dài hạn với quy mô lớn và một quá trình nội địa hoá nhất quán.  Những kinh nghiệm trên  làm cho TBN trở thành một nước có ngành hạt nhân mạnh mẽ .        Tư liệu tham khảo 5    Sau đây là các nhà khoa học được đào tạo thành công ở nước ngoài hoặc đã nổi tiếng ở nước ngoài và được mời về làm việc trong nước ở những lĩnh vực khác nhau:  • Zhou Guangzhao- Chu Quang Triệu (周?光召) sinh năm 1929. Năm 1957 ông được cử đến Viện liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đúp na. Năm 1960 ông trở về Trung quốc làm việc trong ngành hạt nhân  Năm 1979 ông sang Mỹ làm việc tại Viện Bách khoa Virginia rồi sang Thụy sĩ  làm việc tại Tổ chức nghiên cứu hạt nhân Châu Âu. Ông  được bầu làm Phó chủ tịch (1984-1987) rồi Chủ tịch (1987-1997) Viện Hàn lâm TQ (Sinica)  và Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Mỹ năm 1987.  • Tsien Hsue-shen – Tiền Học Sâm  錢X學森? (1911- …) là chuyên gia lớn về tên lửa của Mỹ và Trung quốc. Ông tham gia xây dựng Phòng thí nghiệm tên lửa tại Viện Công nghệ California sau về TQ trở thành “cha đẻ tên lửa” của TQ. Tiểu hành tinh 3763 mang tên ông.          Kinh nghiệm Pháp  Một mô hình đào tạo rất nên được chú ý ở Pháp là  Viện INSTN (Institut National des Sciences et Techniques Nucléaires). Viện INSTN đóng một vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nhân lực của Pháp (xem Tư liệu tham khảo 4 )  Kinh nghiệm của Mỹ  Một phương thức mạnh của Mỹ là phối hợp trong công tác đào tạo giữa  các cơ sở với các tập đoàn đại học, các phòng thí nghiệm lớn quốc gia, với những tổ chức, công ty sở hữu nhiều thiết bị hiện đại với công nghệ cao. Đây có thể nói đây là quan điểm tổng lực trong đào tạo.  Hàn Quốc  Một chiến lược đào tạo nhân lực lâu dài, có hệ thống, một chủ trương R&D các công nghệ tiên tiến và một nghệ thuật quản lý tài tình đã giúp Hàn quốc trở thành một trong những nước hùng cường về hạt nhân.    Kinh nghiệm của các nước khác  Nhiều cán bộ được chuyển từ nhiệt điện truyền thống để sang làm việc trong lĩnh vực hạt nhân.  Ngoài ra có thể lấy cán bộ từ các ngành khác như  cơ, điện, xây dựng,… và đào tạo bổ túc kiến thức hạt nhân, biến họ thành những chuyên gia phục vụ cho chương trình hạt nhân.  Việc huy động được nhân lực (ngoại  kiều) đang công tác học tập ở nước ngoài  (không được Nhà nước chính thức cử đi đào tạo), cũng là yếu tố quan trọng trong vấn đề tạo nguồn nhân lực .  G  .  Kết luận          Tư liệu tham khảo 6  Một số khả năng chính trong vấn đề đào tạo nhân lực Việt Nam ở nước ngoài là:  a  /  IAEA  b  /   Pháp .Địa chỉ gửi đến có thể là INSTN  và CNRS. Thời hạn đào tạo : 1-2 năm .  c  /   Nga. Những  địa chỉ quan trọng và đáng tin cậy là:MIFI, MPEI & Joint Institute for Nuclear Research (Viện nghiên cứu hạt nhân Đúp Na, đã từng đào tạo nhiều chuyên gia đầu ngành cho Việt Nam). Với Nga, chúng ta đã có hiệp định ở cấp Chính phủ.  d  /  Nhật Bản. Địa chỉ gửi đến: IOT (Institute of technologies), văn bản khung đã ký kết năm 2003. RIKEN, chương trình hợp tác đã ký kết và thực hiện từ năm 2001.JAERI.  e  /  Hàn Quốc. Địa chỉ gửi đến :KAERI, KAIST (Korea Advanced Institute of Science & Technology)  Đã có hiệp định cấp Chính phủ về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử .  f  /  ấn Độ. Đã có Hiệp định cấp Chính phủ về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử . Có thể gửi cán bộ đi đào tạo trên một năm theo các chuyên môn: Công nghệ, Chu trình nhiên liệu, …  Các địa chỉ: BARC, Bhabha Atomic Research Centre, Bombay ,HYDROBAT (tổ hợp chu trình nhiên liệu)  g  /  Canada.Đã có thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân.Địa chỉ: AECL  h  /  Mỹ. Đã có hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ.          Đào tạo nhân lực cho hạt nhân  là một vấn đề phức hợp và có tầm quan trọng vào bậc nhất đối với chương trình hạt nhân.  Muốn có một nhân lực hạt nhân hùng hậu, và gìn giữ được nhân lực này cần có một chính sách thích hợp. Nhiều nước như Trung quốc có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với nhân lực hạt nhân.  Đầo tạo nhân lực hạt nhân phải đặt ở tầm quốc gia, với một mức độ cấp thiết cao và phải được tiến hành ngay từ bây giờ (2007) để đi được trước một bước so với các tiến độ khác của chương trình hạt nhân.  Sự thành công của chương trình hạt nhân do yếu tố nhân lực quyết định một phần lớn.  Tài liệu tham khảo:  [1] Đề án đào tạo nhân lực (VNLNT VN-Bộ Khoa học & Công nghệ)  [2] Đề án đào tạo nhân lực cho NMĐHN đầu tiên (VNL- Bộ Công Thương)  [3] Hợp tác đầo tạo nhân lực Hàn-Việt. Hàn quốc đã góp ý kiến cho Việt nam bằng cách đưa ra  một khẩu hiệu quan trọng trong việc đào tạo nhân lực hạt nhân:  教  育ý – 百  年?  之?  大 計‹ (Giáo dục – Bách niên chi đại kế =  Giáo dục– kế lớn 100 năm)  [4] Technical Reports Series No 200, IAEA      Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vấn đề khẩn cấp của Việt Nam: Ngăn chặn nạn chảy máu chất xám      Gần đ&#226;y, Hiệp hội C&#225;c nh&#224; khoa học Thế giới (World Federation of Scientists) được dẫn dắt bởi hai nh&#224; khoa học uy t&#237;n l&#224; GS Antonino Zichichi v&#224; GS Tsung Dao Lee (L&#253; Ch&#237;nh Đạo) vừa tổ chức một cuộc hội thảo về những vấn đề khẩn cấp to&#224;n cầu tại Erice (Sicily, &#221;). Hội thảo n&#224;y đ&#227; được tổ chức li&#234;n tục 25 năm qua, thu h&#250;t nhiều nh&#224; khoa học quan t&#226;m đến sự c&#226;n bằng mỏng manh của h&#224;nh tinh m&#224; sự sống tr&#234;n Tr&#225;i đất dường như phụ thuộc v&#224;o sự c&#226;n bằng đ&#243;; đồng thời hội thảo cũng thu h&#250;t c&#225;c c&#225; nh&#226;n đ&#227; v&#224;/hoặc đang chịu tr&#225;ch nhiệm về những vấn đề li&#234;n quan đến nội dung của hội thảo.      Erice nổi tiếng là nơi đặt Quỹ Ettore Majorana (Ettore Majorana Foundation) và Trung tâm Văn hóa Khoa học (Centre for Scientific Culture), do A. Zichichi làm giám đốc. Từ khi thành lập năm 1963 đến nay, hàng trăm nghìn các nhà khoa học từ một trăm bốn mươi quốc gia đã nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của một khoa học không biên giới và không bí mật. Điển hình là Bản tuyên bố Erice năm 1982, được viết bởi P.A.M. Dirac, P. Kapitza và A. Zichichi. Trong vòng 3 năm sau đó, tuyên bố này được ký bởi mười ngàn nhà khoa học trên toàn thế giới với mục đích bảo vệ sự sống và văn hóa của loài người khỏi sự tàn phá của chiến tranh hạt nhân trong tương lai.  Chương trình hội thảo bao trùm những vấn đề chính mà chúng ta đang phải đối mặt: các vấn đề về khí hậu (sự nóng lên của trái đất, sự phá hủy tầng ozone, hiệu ứng nhà kính, băng tan ở các cực, v.v) và năng lượng (nhiên liệu hóa thạch, năng lượng và chất thải hạt nhân, các loại năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học, v.v). Hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và những hệ quả do chúng gây ra tác động lên môi trường sinh thái và tầng sinh quyển cũng được đem ra thảo luận (dịch tễ học, phá rừng, khủng hoảng lương thực, ô nhiễm môi trường, v.v). Ngoài ra, hội thảo cũng thảo luận về các mối đe dọa ngày càng tăng đối với an ninh mạng Internet và nhìn lại những thành tựu đạt được trong việc ngăn chặn phổ biến, hạn chế kho tàng vũ khí hạt nhân, tăng cường hiểu biết về các hiệp định cấm thử nghiệm và làm giàu hạt nhân.  Hầu hết các vấn đề trên đều đang được xem xét giải quyết bởi nhiều tổ chức khác nhau trên thế giới như: hội khoa học, viện hàn lâm khoa học, các tổ chức chính phủ và quốc tế khác, v.v. Trong hầu hết các trường hợp, thông điệp các tổ chức đó truyền tải thường mang nặng tính chính trị và sự “kêu gọi”. Còn việc tập hợp nhiều cá nhân từ khắp nơi trên thế giới, với tư cách là những nhà khoa học chứ không phải là thành viên của một quốc gia, một tập đoàn, một đảng phái, một hệ tư tưởng nào cả là cơ hội thu thập các quan điểm, phân tích những cản trở tiến tới đồng thuận trong những vấn đề khác.  Trên đường trở về từ hội nghị, tôi băn khoăn không biết sẽ mang về cho những người bạn Việt Nam của mình thông điệp gì qua đó có thể giúp ích cho họ. Càng nghĩ, càng xuất hiện rõ ràng trong tôi rằng việc khẩn cấp hiện nay của Việt Nam trong lĩnh vực khoa học công nghệ cũng như nhiều lĩnh vực khác là chặn đứng hiện tượng chảy máu chất xám nghiêm trọng mà Việt Nam đang phải hứng chịu. Đây là một việc khẩn cấp của Việt Nam, nên được xem như là điều kiện cần để có thể tiến tới giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề khẩn cấp của thế giới.  Tôi biết rằng lặp đi lặp lại điều này nhiều lần, mọi người có thể cho tôi là lẩn thẩn, như Cato Trưởng lão của Viện nguyên lão ở Rome luôn kết thúc các bài nói của mình, bất kể chủ đề của bài nói là gì, bằng câu Censeo Carthaginem delendam esse (Đế chế Carthage phải bị hủy diệt). Cuối cùng Carthage cũng bị hủy diệt; thật không may Cato không được trực tiếp chứng kiến sự kiện này, ông đã chết trước đó ba năm.  Chúng ta sống trong một thế giới mà 20% dân số giàu nhất tiêu thụ 80% tổng năng lượng tạo ra. Nếu so sánh 16 nước giàu nhất với 26 nước nghèo nhất trên thế giới, nhóm các nước giàu tiêu thụ năng lượng lớn hơn 120 lần trên đầu người so với người dân ở các nước nghèo và GNP trên đầu người cũng lớn hơn 120 lần. Trong nhóm các nước nghèo, tỉ lệ tử vong ở trẻ cao hơn 17 lần so với tỉ lệ ở các nước giàu, tuổi thọ trung bình ở nam ít hơn 24 năm và ở nữ 28 năm. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà quốc gia thải ra lượng khí gây hiệu ứng nhà kính cao nhất trên thế giới đã từ chối phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, Nghị định thư thế giới chống lại sự nóng lên toàn cầu. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà xung đột vũ trang vẫn đang tiếp tục bùng phát đây đó và dường như không bao giờ chấm dứt.  Sự bất bình đẳng, bất công càng làm trầm trọng thêm những hậu quả do những vấn đề cấp thiết chúng ta đang phải đối mặt gây ra. Trong khi, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, việc sản xuất nhiên liệu sinh học đang được mở rộng nhanh chóng và sẽ còn tiếp tục tăng lên với sự phát triển của nhiên liệu sinh học cellulo. Việc mở rộng sản xuất này ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ lên diện tích rừng bao phủ, nhu cầu lương thực và dinh dưỡng ở các nước đang phát triển. Trong khi sự tan chảy băng ở các cực cho phép mở đường biển lên phía Bắc, tức là ta sẽ có nhiên liệu hóa thạch rẻ hơn, nhưng nó cũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến phần dân số đông đúc ở các vùng ven biển ở một vài nước nghèo nhất trên hành tinh… Những hậu quả do chúng gây ra có ảnh hưởng khác nhau đối với các quốc gia trên thế giới phụ thuộc vào sự thịnh vượng, vị trí địa lý, tình trạng phát triển của quốc gia đó v.v.  Nếu thế giới mà chúng ta đang sống là công bằng và mẫn tiệp thì chúng ta đã có thể mơ rằng tất cả các quốc gia trên thế giới có thể cùng nhau nỗ lực đối mặt với những thách thức, đề cập ở trên, của hành tinh. Nhưng thế giới mà chúng ta đang sống vừa không công bằng lại vừa không mẫn tiệp do đó mỗi quốc gia vừa hợp sức với cộng đồng thế giới vừa phải tự mình đối mặt với những thách thức đó, từ đó có những quyết định đúng đắn để mang lại lợi ích cao nhất cho nhân dân.   Hiện nay chúng ta đã dần nhận thức được sự tồn tại của sự sống phụ thuộc vào sự cân bằng hóa học, vật lý và sinh học mỏng manh của Trái Đất, tuy nhiên trong nhiều lĩnh vực chúng ta vẫn không thể dự đoán xa và đáng tin cậy trước được về sự tiến triển của chúng. Do vậy các chính phủ cần có đội ngũ các chuyên gia có năng lực, có hiểu biết và có tài năng để có thể dẫn dắt đất nước qua khỏi “cánh rừng rậm rạp” này. Đối với Việt Nam, để xây dựng được một tập thể các chuyên gia như vậy, có phải rõ ràng rằng nạn chảy máu chất xám hiện nay cần phải được chặn đứng khẩn cấp không?  Một ví dụ đơn giản sẽ giúp minh họa luận điểm của tôi: năng lượng hạt nhân. Việt Nam tuyên bố dự định đến trước năm 2020 sẽ khai thác năng lượng hạt nhân với công suất một GW và sẽ mở rộng công suất tới 5 GW trước năm 2025. Theo quan điểm của tôi, đây là một quyết định đúng đắn. Nhưng, xây dựng nhà máy điện hạt nhân không phải như mua một cái xe máy, ta chỉ việc bật khóa và chạy. Nhà máy điện là một hệ thống thiết bị công nghệ cao đòi hỏi đội ngũ có kĩ năng cao để có thể vận hành và bảo trì nhà máy. Người ta nói rằng ngày nay năng lượng hạt nhân là cực kỳ an toàn, nhưng điều đó chỉ đúng khi nhà máy được đặt trong tay những người có năng lực. Một đất nước nếu mong muốn khai thác điện hạt nhân phải sớm đào tạo được một đội ngũ chuyên gia trình độ cao. Không chỉ gồm các kỹ thuật viên (tương đối dễ) mà còn phải đào tạo được một đội ngũ các nhà vật lý, kỹ sư trình độ cao có kiến thức, khả năng làm chủ về các vấn đề an toàn, xử lý chất thải, hiểu sâu vật lý và kỹ thuật lò phản ứng hạt nhân; phải có một đội ngũ có thể ra những lựa chọn, quyết định tốt và chính xác; phải có những người có đủ năng lực điều khiển, phụ trách liên lạc với công chúng, cung cấp các thông tin phù hợp. Để đào tạo được những đội ngũ như thế phải mất hàng năm, nếu không muốn nói là hàng chục năm; Điều đó yêu cầu phải tích lũy kinh nghiệm về lò phản ứng ở nước ngoài và phải tạo ra trong nước một trung tâm mạnh để có thể mời các chuyên gia nước ngoài đến, giảng dạy và truyền đạt cho nhau kinh nghiệm của mỗi người (Việt Nam may mắn có một lò phản ứng hạt nhân ở Đà Lạt, nhỏ nhưng vẫn đang hoạt động và có thể dùng làm hạt nhân để xây dựng một trung tâm như vậy). Nếu không thực hiện được điều này có nghĩa Việt Nam sẽ để cho các quốc gia khác quản lý vận hành nhà máy, sẽ không tránh khỏi việc mất tự chủ. Ngược lại, nếu làm được điều đó có nghĩa là phải thu hút những sinh viên, các nhà khoa học giỏi nhất trong nước, đem lại cho họ những vị trí, lương phù hợp và điều kiện làm việc đủ tốt để có thể giữ họ, hoặc mời họ trở về nước làm việc. Nói tóm lại, phải ngăn chặn chảy máu chất xám.  Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam cần phải đối mặt với nhiều thách thức, phải xử lý có hiệu quả những vấn đề khẩn cấp của hành tinh đang đặt ra để có thể giữ được độc lập và tự do và phát triển bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam chỉ có thể thực hiện được điều đó nếu không để những người con ưu tú ra đi và gọi trở về một số người mà ta đã mất.                          Tôi thường đọc được rằng Việt Nam khuyến khích những Việt kiều giàu có dành một phần vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhưng sự thịnh vượng của một dân tộc không chỉ được tạo nên từ đô-la mà còn được tạo nên từ những khối óc đã tiếp nhận được những kỹ năng, kinh nghiệm từ nước ngoài, hữu dụng cho sự phát triển của đất nước.          Tại kỳ thi Olympic vật lý quốc tế mới diễn ra ở Hà Nội mùa hè này, tôi rất vui được góp một tay cho một hội đồng khoa học chịu trách nhiệm tổ chức sự kiện này. Tôi đã được chứng kiến công việc khó khăn mà hội đồng gặp phải cùng với sự nhiệt tình không mệt mỏi của họ để kỳ thi đạt được thành công lớn. Trong cuộc họp hội đồng để xem xét lại lần cuối các đề lựa chọn cho các thí sinh, có bốn nhà khoa học trẻ Việt Nam đang làm việc tại các trường đại học của Hoa Kỳ. Họ đã có những nhận xét rất phù hợp, mang tính xây dựng và hiệu quả giúp cải thiện chất lượng của đề thi cả về hình thức lẫn nội dung. Thật là quý giá biết bao cho đất nước nếu có thể lôi kéo được những người như thế trở về! Tôi thường đọc được rằng Việt Nam khuyến khích những Việt kiều giàu có dành một phần vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhưng sự thịnh vượng của một dân tộc không chỉ được tạo nên từ đô-la mà còn được tạo nên từ những khối óc đã tiếp nhận được những kỹ năng, kinh nghiệm từ nước ngoài, hữu dụng cho sự phát triển của đất nước.                          Khi thanh niên Việt Nam nhìn xung quanh mình, họ dễ dàng nhận thấy rằng một kế toán viên trẻ của một công ty liên doanh có thể kiếm được nhiều tiền hơn một vị giáo sư đại học. Vì thế khi quyết định nghề nghiệp tương lai, họ sẽ có lựa chọn tương ứng.          Tôi thường nghe những phàn nàn rằng giới trẻ Việt Nam hiện nay không có lý tưởng, không có đam mê hoặc thậm chí không coi trọng những giá trị mà cha ông họ đã chiến đấu vì nó. Chắc chắn một điều rằng, cũng như các nước khác bị chi phối bởi nền kinh tế thị trường, bất kể là chủ nghĩa tư bản, tự do hay chủ nghĩa xã hội, giới trẻ Việt Nam bị lôi cuốn mạnh bởi đồng tiền. Ở một đất nước mà con người đã phải chịu đựng sự nghèo khó trong một thời gian dài, điều này không có gì là ngạc nhiên. Họ càng bị tiền bạc lôi cuốn hơn khi các phương tiện thông tin đại chúng đem đến cho họ những hình tượng thành công hoàn toàn dựa vào tiền. Người ta không do dự nêu lên báo chí danh sách một trăm người giàu nhất Việt Nam như những điển hình. Người ta thường viện dẫn những gương “thành công” nhờ những kỹ năng trong kinh doanh của họ. Khi thanh niên Việt Nam nhìn xung quanh mình, họ dễ dàng nhận thấy rằng một kế toán viên trẻ của một công ty liên doanh có thể kiếm được nhiều tiền hơn một vị giáo sư đại học. Vì thế khi quyết định nghề nghiệp tương lai, họ sẽ có lựa chọn tương ứng.  Tôi biết nhiều các bạn trẻ Việt Nam. Cũng giống như các bạn của họ trên toàn thế giới, họ yêu đất nước mình, họ hào phóng và đầy nhiệt huyết. Họ mong ước được đi du học vì từ khi còn nhỏ thầy cô và cha mẹ họ nói đi nói lại rằng nên làm vậy để có thể thành công. Khi đã đi du học, những người giỏi trong số họ không trở về, không chỉ bởi vì họ được đề nghị mức lương và điều kiện làm việc tốt hơn, mà có lẽ quan trọng hơn, bởi vì họ không nhận được một tín hiệu cụ thể nào rằng đất nước này cần họ, rằng đất nước này tự hào về họ, rằng tương lai của đất nước phụ thuộc vào họ. Đó là hoàn cảnh mà thế hệ trẻ Việt Nam đang phải đối mặt. Đó là nguyên nhân của nạn chảy máu chất xám. Ngăn chặn nó lại đồng nghĩa với việc đem lại địa vị, sự tín nhiệm về các giá trị văn hóa và tri thức mà Việt Nam đã trân trọng gìn giữ trong suốt quá trình lịch sử lâu đời và vinh quang của mình. Không một quốc gia nào khác có thể giúp Việt Nam giải quyết việc này.                                               Sinh viên Đinh Q Huy tốt nghiệp loại giỏi khoa CNTT Đại học Công nghệ 2004, ở lại làm thực tập sinh và chuyển tiếp cao học và tham gia dạy các môn thực hành và cơ sở của khoa. Anh bảo vệ thạc sĩ năm 2007 và được học bổng làm nghiên cứu sinh ở University  of Vienna.  Tia Sáng xin trích đăng một phần bức thư của anh gửi người Thầy – GS Hoàng Xuân Huấn để các nhà quản lý khoa học-giáo dục hiểu được tâm trạng của các nhà khoa học trẻ.     Kính gửi Thầy!  Xúc động thay khi trong một email gần đây Thầy có nhắc tới “nghề giáo chân chính”, vâng thưa Thầy cái nghề cao quý nhất trong xã hội ta từ ngàn xưa đến giờ, cái nghề mà đáng lẽ không cần cái tính từ “chân chính”, “cao quý”, … hay bất cứ một mỹ từ nào để miêu tả bởi tính mặc nhiên thiêng liêng của nó. Trong cơn bão táp của kinh tế thị trường,              không ít người thầy đã đánh mất mình, cuộc chiến của họ không phải trên giảng đường với những bài toán NP, những trăn trở của “người đưa đò” mong đưa học sinh mình đi càng xa càng tốt trên con đường học vấn, sung sướng gọi điện/email với học sinh, đồng nghiệp khi đăng một paper trên tạp chí lớn, hay đơn giản là đọc và sửa một luận văn còn dang dở. Vẫn biết bài toán “cơm-áo-gạo-tiền” thật khó giải, nhưng cũng thật khó tìm lý do cho những con người mang cái danh cao quý, những vị TS, GS đi làm bằng xe hơi, nhà cao cửa rộng nhưng không biết “impact factor”, và quy một bản dịch tài liệu (thậm chí là chép y nguyên) là một công trình nghiên cứu. Ấy thế mà những người ấy lại mang một trọng trách lớn lao, được phép xét duyệt thậm chí là quyết định sinh mạng khoa học của người khác, đáng buồn hơn họ còn được coi là những “hoa tiêu” đưa giáo dục và khoa học Việt Nam lên tầm quốc tế. Chẳng muốn viết cái này trong ngày cả xã hội hướng về những người thầy, thế nhưng nặng lòng lắm thưa Thầy …  Duyên số và may mắn cho em được trở thành học trò của Thầy, em rất biết ơn nhưng gì Thầy dạy cho em, đặc biệt là “Thế nào là nghiên cứu?”, những câu chuyện “Cái ốc vít ở tàu vũ trụ và cái xe bò”, “Đọc mỗi bài báo sẽ có bài báo mới”, … sẽ theo em suốt cuộc đời nghiên cứu và học tập. Tuổi trẻ gắn với hoài bão, đam mê nhưng cũng gắn với những cám dỗ và thử thách khốc liệt, đôi khi em thấy kiệt sức, mệt mỏi, và em đã chểnh mảng nhiều khi làm Thầy buồn. Mong Thầy tha lỗi và tin tưởng học sinh của Thầy sẽ cố gắng hết sức để không phụ công Thầy!  Chúc Thầy vững vàng tay lái để tiếp tục chèo đò đưa nhiều thế hệ sang sông.  Một ngày đẹp trời hiếm hoi trong mùa đông giá lạnh ở Vienna.  Em Huy                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu và nội dung giáo dục của thế kỷ XXI      Thế kỷ 20 vừa đi qua đã là một thế kỷ của nhiều đổi thay to lớn trong cuộc sống của loài người, từ những đổi thay trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội,… cho đến những đổi thay trong tư tưởng và nhận thức của con người về chính cái thế giới đang liên tục đổi thay đó. Và, loài người chúng ta, bước sang thế kỷ 21, đã mang theo mình gần như nguyên vẹn mọi thứ đang thay đổi dở dang hoặc đang đòi được thay đổi đó, trong thế giới cũng như trong chính đầu óc của mình.    Vậy thì, để sống được trong thế giới ở cái thế kỷ 21 này, con người cần có những hiểu biết gì, những năng lực gì? Đó phải là những câu hỏi đặt ra cho chúng ta khi xác định mục tiêu và nội dung cho giáo dục của thế kỷ 21.  Mục tiêu của việc học, hay mục tiêu của nền giáo dục mà ta đang hướng tới, phải là (hay nên là) hình thành và phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ 21 có các phẩm chất chủ yếu:  a. Có những hiểu biết cơ bản về tri thức của thời đại, đồng thời có những cảm thụ sâu sắc đối với tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó thường xuyên rèn luyện một năng lực tư duy độc lập, cụ thể hơn là một tư duy phê phán và tư duy sáng tạo, cơ sở của một năng lực thích nghi và sáng tạo trong môi trường mới luôn biến động của cuộc sống;  b. Có ý thức trách nhiệm trong cuộc sống và một đạo đức cộng đồng, cụ thể hơn là có ý thức trách nhiệm của một con người và một công dân (đối với gia đình, với cộng đồng, với đất nước, với thế giới, với thiên nhiên…).  Nội dung và chương trình giáo dục: Phải thừa nhận rằng trong thế kỷ 20 vừa qua trong hầu khắp mọi lĩnh vực nhận thức của loài người đã có những biến đổi to lớn, những biến đổi đó đang làm nên những thay đổi căn bản trong cách nhìn, cách hiểu, và cả cách sống của con người trong thế giới hiện tại. Mặt khác, càng hướng đến tương lai, ta lại càng tiếc nuối nhìn về quá khứ, mới thấy rằng ngày trước khi mê say “tân học” ta đã vô tình vứt bỏ luôn nhiều di sản quí báu của các thế hệ cha ông; để rồi đến nay, mới chợt hiểu ra để trở thành con người “Việt Nam hiện đại” không thể không có những tố chất nào đó của một nền văn hoá truyền thống của dân tộc.  Chính vì vậy, tôi nghĩ rằng trong công cuộc cải cách và đổi mới giáo dục hiện nay của chúng ta, ta cần đầu tư nghiên cứu một cách thấu đáo để xây dựng chương trình và nội dung dạy học trên cơ sở ba nguồn tri thức chủ yếu:  1. nguồn tri thức từ trong các triết thuyết cổ phương Đông cùng với những tinh hoa trong văn hoá và giáo dục truyền thống của dân tộc,  2. nguồn tri thức khoa học của nền văn minh công nghiệp, vốn là phần chủ yếu trong chương trình hiện hành của nền giáo dục nước ta, và  3. nguồn tri thức từ các lý thuyết “khoa học mới” đang và sẽ có tác động lớn đến cuộc sống con người trong thế kỷ mới và tương lai.  Tất nhiên, các nguồn tri thức đó không phải được dạy và học một cách riêng rẽ, mà cần được kết hợp một cách nhuần nhuyễn để tạo nên nội dung của một chương trình giáo dục thống nhất phù hợp với các quan điểm mới về tư duy và nhận thức hiện nay.  Cần dựa trên cơ sở chương trình giáo dục và hệ thống sách giáo khoa hiện có vốn đã được biên soạn rất công phu mà tiến hành việc cải cách từng bước một cách thận trọng, được nghiên cứu và trù tính công phu trên một quan điểm hệ thống và hiện đại về sự phát triển của con đường nhận thức, sự liên kết của các ngành kiến thức và những hiểu biết mới về vị trí và tác động của tri thức nói chung, và của khoa học nói riêng trong thời đại ngày nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười lăm năm chống sáng lòe      Vấn đề cải tạo báo Tia Sáng thành một tờ tạp chí có chất lượng, xứng đáng với định danh của nó hình như được đặt ra từ giữa những năm 90 khi nó là một tờ báo nghèo. Tòa soạn, cả biên tập lẫn văn phòng lèo tèo năm sáu đầu người. Cơ quan Bộ chủ quản lại chẳng mấy mặn mà. Tia Sáng như một đứa con tiên thiên bất túc suy dinh dưỡng quanh năm quặt quẹo lom đom mãi không lóe lên được. Tạp chí chỉ có một vốn đáng kể: đó là lòng tận tụy của ba người: Tổng biên tập Lê Tư, Trưởng ban trị sự Hoàng Thu Hà, Biên tập viên Văn Thành.    Tôi nhớ mãi những cuộc trao đổi đầu trăng đầu nước ấy. Gọi là hội nghị thì không phải, có lẽ dùng từ gặp gỡ thì đúng hơn: những cuộc họp mặt gồm các đại biểu, bạn của đại biểu, bạn của bạn các đại biểu.  Qua các cuộc trao đổi lúc tay đôi, tay ba, lúc thầm thì, lúc sôi nổi tất cả đã đi đến một xác định quan trọng: mục tiêu của Tia Sáng. Tờ tạp chí phải cố gắng trở thành một diễn đàn của trí thức. Là một diễn đàn thật sự của trí thức rồi thì khỏi còn cần lo nhờ vả xin xỏ ai nữa, lửa tâm huyết của giới trí thức sẽ nuôi Tia Sáng.  Giữa một xã hội thị trường ở đâu người ta cũng cất lên tiếng hát “đầu tiên” quyến rũ của đồng đô la, khi Văn Thành đứng lên xin lỗi mọi người vì tình hình tài chính eo hẹp của tạp chí chỉ có thể trả cho các cộng tác viên một số tiền nhuận bút tượng trưng, một cây bút “bạc triệu” tuyên bố xanh rờn: “Đã thấy cần thì không tiền cũng viết”.  Đêm ấy là một đêm rằm ở nhà Tổng biên tập Lê Tư bên Hồ Tây có khá đông những bộ mặt sáng giá của giới trí thức miền Bắc, Văn Thành mặt hớn hở:  – “Ai bảo Tia Sáng không trường vốn”.  Nom Thành trẻ ra đến chục tuổi.  Điều quan trọng thứ hai sau mục tiêu là những trao đổi chung quanh vấn đề chất lượng.  “Chúng ta quyết làm một tờ Tia Sáng thật hay!”.  Nhưng một tờ báo hay là thế nào?  Có phải một tờ báo “mua” được nhiều cộng tác viên nặng ký do trọng lượng những chức danh của họ.  Tôi không nhớ rõ ai, hình như giáo sư Hoàng Tụy thì phải (nếu lẫn mong anh Tụy thể tất) đã có một nhận xét rất đắt:  – Chức danh “dỏm” làm gì có trọng lượng. Nhân một trăm, một nghìn với số không tích vẫn bằng không.  Trong hoàn cảnh suy thoái đạo đức của nạn bằng giả, người giả, quan tham, cái hay giờ đây không còn nằm trong phạm vi kỹ thuật nữa mà đã bước sang lĩnh vực đạo đức: hay đồng nghĩa với trung thực.  Trong tiếng sột soạt được khuếch âm của đồng đô la và ánh sáng trang kim lóa mắt của những tiến sĩ giấy, người ta đã quên mất một điều kiện cơ bản không có không được của hoạt động tinh thần: lòng trung thực trí thức. Nhớ ông già Rabơle “tri thức không lương tri chỉ là tàn phế của tâm hồn”.  Tạp chí bắt đầu vận hành. Không khí thật nức lòng. Sau mỗi số anh em lại gặp nhau, thường vào sáng thứ bảy ăn phở và uống trà, phân tích ưu khuyết điểm của những bài quan trọng một cách thẳng thắn, bè bạn rồi cùng bàn số mới. Một định danh bắt đầu được nhiều người nhắc tới: những sớm thứ bảy Tia Sáng.  Qua một thời gian không dài, Tia Sáng đã trở thành một thương hiệu chất lượng cao được chấp nhận rộng rãi.  Từ một tờ tạp chí kém của Bộ KH&CN, Tia Sáng đã trở thành một diễn đàn trí thức tầm quốc gia và hơn nữa, Tòa soạn nhận được thư góp ý từ khắp nơi và xây dựng được một mạng cộng tác viên đáng tin cậy, từ giới trí thức Việt kiều nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý… cho đến tận Châu Đại Dương.  ***  Tôi nhớ hình ảnh điềm đạm trầm mặc của GS Nguyễn Văn Chiển, nó cho anh dáng dấp một triết gia phương Đông. Những nhận xét sắc sảo của anh nhiều khi rất mạnh nhưng hiếm khi người ta cảm thấy quá do chân tình và lòng nhân hậu toát ra từ những câu chữ cân nhắc.  Tôi nhớ hình ảnh đăm chiêu và nghiêm khắc của GS Hoàng Tụy. Những phát biểu của anh thường có hối suất cao của loại chỉ tệ mạnh vì chúng không phải những bận tâm theo thời tiết mà những trăn trở trường kỳ của một nhà khoa học yêu nước gần trọn đời lo lắng về xu thế xuống cấp của nền giáo dục và môi trường trí thức nước Việt.  Tôi nhớ tiến sĩ Phan Đình Diệu và những lập luận sâu sắc, thâm hậu của anh được phát biểu với phong thái hồn nhiên, trong sáng đến dũng cảm của trẻ nhỏ.  Rồi nhà văn Nguyên Ngọc, tóc đã bạc toàn phần nhưng vẫn nguyên cái tâm huyết thanh niên của thuở “Báo Văn nghệ” hai mươi năm trước.  Rồi GS Hồ Ngọc Đại, nhà lý luận “cái-cách” (đừng lầm với cải cách), có biệt năng gỡ rối những mớ học thuyết ngổn ngang thành những đề xuất độc đáo và sinh sự.  Rồi GS Tương Lai, nhà xã hội học năng nổ từ thành phố Hồ Chí Minh bay ra lúc nào cũng tất bật, lúc nào cũng sẵn trong cặp một bài báo rất sốt dẻo về thời cuộc.  Hồi đó Chu Hảo chưa dọn ra ở riêng tại Nhà xuất bản Tri thức, và tôi cứ luận mãi mình không phải một nhà nhiếp ảnh để ghi lại một “pô” hình bộ ba xe pháo mã vật lý: Chu Hảo tài hoa, Phạm Duy Hiển cần cù và Nguyễn Văn Trọng trầm tư trong những giấc mơ lý thuyết.  Rồi còn những Lê Đăng Doanh, Văn Như Cương, Đặng Mộng Lân, Trần Đình Thiên, Phạm Duy Nghĩa, Hà Huy Khoái, Nguyễn Thúc Hải, Phạm Toàn… rồi ba thế hệ thầy trò họa sĩ: Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, Lê Thiết Cương, vân vân và vân vân. Tốt hơn hết là mời các bạn đến gặp họ lúc nào cũng thường trực đợi khách trên các trang Tia Sáng.  ***  Nhưng Tia Sáng còn có những vấn đề rất cấp thiết cần giải quyết để bảo đảm một vận hành vững chắc, cơ bản nhất là vấn đề tổ chức- nạn thiếu người của Tòa soạn đã trở thành một  bệnh mãn tính cho mãi đến nay vẫn chưa giải quyết được. Do thiếu người trầm trọng (vì nghèo) do việc phân công chưa hợp lý (xét cho cùng không thể hợp lý được vì có người đâu mà phân công) nên Văn Thành đã phải cáng đáng nhiệm vụ của một “tổng lão bộc” chẳng “quan liêu”  mà cũng “khổ sở” hơi dài.  Lần ấy Văn Thành đã ốm lắm, bài vở thì lại cạn, hai anh em chẳng có cách nào khác là điện thoại đến các “cựu thần” S.O.S- trong chưa đến một tuần, hầu hết đều “có mặt”. Bài không những đủ mà còn thừa để làm số tiếp. Tôi bảo Thành:  – Hay Thành nghỉ ít ngày cho lại sức.  Văn Thành chỉ số bài nhận được còn ngổn ngang trên bàn khổ sở:  – Các anh già yếu cả mà còn tâm huyết với Tia Sáng như thế làm sao em dám nghỉ.  Người ta nói quá nhiều đến tình cảm của trái tim mà hơi ít đến tình cảm của bộ óc.  Cho đến một ngày bước xuống bậc thang ở nhà GS Văn Như Cương, Thành ngã lăn xuống đất.  May quá, ở hiền gặp lành, Thành chỉ lên cơn choáng vì quá sức chứ không phải vì tai biến não.  ***  Tại trụ sở Tia Sáng, trong một “ghêm” đố chữ, một nhà thơ trẻ hỏi tôi:  – Cháu đố bác tìm được một từ thật đắt diễn tả hiện tượng sáng “dởm”!  Tôi bí mãi không ra, chừng ái ngại tuổi già óc chậm, nhà thơ trẻ lấy một tờ giấy trắng viết hai chữ rõ to: sáng lòe.  Có thể nói bài học lớn nhất của Tia Sáng trong mười lăm năm qua là nỗ lực không mỏi mệt của nó chống lại hiện tượng sáng lòe ấy. Đó cũng chính là đòi hỏi bức xúc và cốt tử của chữ tín.      Lê Đạt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười lăm tuổi rồi, phải biết cãi chứ!      Các tạp chí khoa học quốc tế giữ được uy tín của mình nhờ biết dựa vào một hệ thống phản biện (peer review) sừng sỏ nhất thế giới. Đọc phản biện, tác giả bài viết có khi tức phát điên lên, nhưng như trải nghiệm của bản thân tôi, dù “ngớ ngẩn” đến mấy, ý kiến phản biện nào cũng đều rất hữu ích. Quen dần, ngày càng thấy chán những ông phản biện khen qua quýt cho xong chuyện. Tập hợp lại tất cả các bài phản biện những công trình mình đã đăng gần đây trên tạp chí quốc tế, tôi phát hiện ra một quy luật thống kê rất thú vị: Công trình nào càng bị mấy ông phản biện mắng mỏ gay gắt, sau khi đăng, càng được nhiều người trích dẫn. Ngược lại, mấy công trình xuôi chèo mát mái với đám phản biện thường được ít người nhắc đến.    Nhìn sang các chuyện đại sự khác hình như cũng thấy na ná như thế. Theo dõi các cuộc điều trần trước Quốc hội, tôi chưa bao giờ thấy có phiên nào dành cho khoa học công nghệ (KHCN), mặc dù ai cũng bảo đây là mặt trận then chốt của đất nước. Phải chăng KHCN của ta ổn cả?  Không đâu! Coi chừng sóng ngầm đấy!  Thế nhưng, hễ ai đó nói đội ngũ KHCN Việt Nam còn non kém thì một số người quản lý khoa học lại thường tỏ ra khó chịu. Như thể họ chính là những người phải chịu trách nhiệm trước cấp trên về sự yếu kém đó. Nhưng không non kém sao được khi mà nước ta bắt đầu làm KHCN mới có vài chục năm gần đây trong khi nhiều nước khác đã có truyền thống đến ba bốn trăm năm nay. Không non kém sao được khi mà giở sách giáo khoa ra, trẻ con ta chỉ thấy toàn là các ông “Tây”, lên bậc đại học lại có thêm ông Nhật, ông Ấn Độ. Nhưng chưa hề có ông Nguyễn, ông Phạm nào cả.  Bài toán KHCN phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ban đầu: Ta đang ở đâu? Hình như quỹ đạo ta đang đi xuất phát từ một điều kiện ban đầu như thế này: “Ta cũng đang giống như Hàn Quốc, Trung Quốc, thậm chí cả Mỹ, Nhật”. Từ cách nhìn nhận đó ta mới sáng chế ra nhiều thứ, trong đó có cái thủ tục “đấu thầu” trong nghiên cứu khoa học. Rốt cuộc, kết quả nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế rất nghèo nàn, mà đầu tư cho KHCN ngày càng nhiều. Hai phần trăm ngân sách nhà nước không phải là ít của. Nếu nhận diện điều kiện ban đầu đúng đắn hơn, có thể ta sẽ đi theo quỹ đạo khác. Và sẽ đến đích khác.  Làm kinh tế trong cơ chế thị trường còn có mô hình để bắt chước. Giải bài toán KHCN cho Việt Nam là một mảnh đất hoàn toàn mới. Theo tôi, các nhà quản lý KHCN cần lắng nghe và chịu làm quen với các ý kiến khác mình, có thế những chính sách mình đưa ra mới bớt rủi ro. Đừng để cho quỹ đạo hiện nay dẫn ta đến chỗ vẫn là ta sau mười, mười lăm năm nữa.  Mà Bộ KH&CN đã có Tia Sáng trong tay. Hãy sử dụng nó như một công cụ phản biện cho mình. Nó lại rất mực chân thành và trí tuệ.  Anh bạn tôi có ba đứa con. Một lần tôi nghe anh phàn nàn: “Hai đứa đầu hiền lành, dễ bảo, chỉ có thằng thứ ba, năm nay lên 15, là hay cãi lại bố mẹ, nhiều lúc phát ngượng với hàng xóm láng giềng”. Tôi vỗ vai anh: “Thế là cậu có phúc đấy!”.  GS. Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười phân vẹn mười      Giống như mọi người, tôi vẫn nhớ mãi cái  thuở mình còn rất trẻ. Khác nào như buổi sớm mùa xuân cựa mình ở vùng  trung du, sương móc giăng yên ả trên những ngọn cỏ, và hơi nồng của đất  quyện vương với mùi khói rơm tỏa từ bếp lửa sớm của nhà nào trong xóm. Và rồi tôi bắt đầu tham dự buổi hội thảo đầu  tiên của giới học thuật! Chao, mình người lớn rồi nha, bàn toàn những  vấn đề cực to.    Buổi sáng khai mạc hôm ấy có ba chuyến tham luận dài như những đoàn tàu hỏa sang sảng trôi qua. Giờ giải lao đến, anh Ba, người đàn anh mới của tôi, mời tôi ra quán nước trà kẹo lạc bên kia đường để «tĩnh tâm».  – Sao, nhà học giả trẻ Cụ Hinh, bạn thấy các tham luận ra sao?   – Dạ, khó nói quá ạ… Chặt chẽ, kín bưng, hùng dũng…   – Cậu được đấy, thật thà… Nhưng mà, dát.  Tôi thấy thế này : họ tham luận cốt để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba. Còn lại chả có cái nội dung gì. Có một bài thôi, họ hát ở khắp nơi, rằng đâu có họp là ta cứ đi. Các loại bài này, không thể bị phê phán ở đoạn này hay đoạn kia được. Đâu cũng rào then ‘như dưới đây sẽ nói’, ‘như trên kia đã nói’, ‘xem toàn tập trang…’, bày binh bố trận tinh xảo, không biết đâu mà lần, đã rơi vào trong là không có lối ra.   Ông chủ quán hiền hậu đơm thêm lượt trà mới cho hai anh em, cười giòn «cứ chuyện đi, lượt trà này tôi biếu nhuận khẩu, không tính tiền!».  —-  Vừa vặn lúc ấy bác Hai bước vào oang oang «mấy ông này lại rình nói xấu tôi hả? Lạ gì! Cho tôi nước nhá, ông chủ kính mến của tôi!».  Bác Hai chính là người đọc tham luận sang sảng lúc vừa rồi trên hội trường!  Ghế đẩu được kê thêm vào. Thêm người, cái quán đầu xuân vênh cửa này cũng đỡ lạnh hơn.  – Mời bác Hai! Đúng thế đấy, đang nói xấu người vắng mặt, như xưa nay thôi! Giới thiệu với bác Hai, một học giả trẻ của tương lai, mới tinh, bạn Cụ Hinh. Có người mới, nên có dịp nói lại chuyện cũ.   Bác Hai trịnh trọng là thế trên diễn đàn lúc nãy, mà giờ này thì đã lại rất tinh anh dân dã.  – Tôi biết thừa các ông nói gì về bọn tôi rồi! Biết cả là các ông đang nói về chính tương lai của các ông mà các ông không biết đó thôi.   Có sếp lớn, anh Ba gọi thêm đĩa kẹo lạc.  Bác Hai bảo.  – Hôm nay có bánh kẹo, trà lá trên sảnh bên hội trường, chắc các anh chị em chúng nó tiết kiệm tiền không ra quán à? Lỗ ông chủ nhé! Ít người, nói chuyện kiểu ít người, cũng hay.   Anh Ba bảo.  – Xưa bác Hai cũng múa gươm chịu chơi lắm, dạo này bác nói tôi buồn ngủ quá!»  – Thế này nhé – Bác Hai hắng giọng :  – Bây giờ người ta đến hội thảo để làm gì? Như cậu vẫn thích nói đấy thôi, để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba.  Nói hay đến giời, có ai nghe ai đâu. Thế nhưng nếu cậu nói hở một câu, mà chưa cần hở thật đâu – chỉ cần ‘có vẻ hở thôi’, thì hôm sau là câu ấy lên đến tận bàn tiệc của cấp trên cùng! Không phải người ta mách để mà làm quà các mâm trên cao đâu. Mà để có cái làm chứng, để rồi quay về xơi tái cậu.  Bác Hai thấy bạn Cụ Hinh nghe chăm chú quá, quay sang vỗ vai vui vẻ.  – Nói thêm với các ông thế này. Xứ mình có nền bắt bẻ, không có nền nghị luận. Người ta không chỉ giỏi cái nền bắt bẻ, mà còn có bầu trời suy diễn siêu việt thêm nữa.   – Vâng, thưa bác Hai với anh Ba, tôi trẻ người, nhưng thấy người ta khi đọc khi nghe thì không hề cố tìm cách hiểu cái dòng chảy suy nghĩ của tác giả, tìm cách lật đi lật lại các vỏ từ của tác giả dùng để xem chúng chứa những nội dung gì mới của riêng tác giả đó. Người ta có vẻ chỉ lăm le lên đạn sẵn, chực xem người kia nói chỗ nào có vẻ chệch mình, là nổ súng liền ạ.   Bác Hai cười sảng chí.  – Chà, tay chịu chơi này cũng đáng hứa hẹn a! Để tôi nói tiếp.   Nghị luận đối với người xứ Đông là võ công, là khẩu chiến, nôm na là võ miệng. Võ công thì trước hết phải thủ thế an toàn, mười phân vẹn mười, cốt sao cho không ai làm gì được mình đã. Chiến đấu mà lại sẵn sàng để cho người ta thắng mình, đấy là chuyện gì chứ không phải là võ công. Hơn nữa thì rồi lừa miếng, rồi chớp thời cơ, rồi quật ngã đối thủ mà giành chiến thắng.  Các biện sĩ thời xưa bắt đầu cuộc luận tranh nào cũng phải kín đáo, gói ghém chuyện từ «Tam hoàng, ngũ đế» đã, rồi khéo bày ra cái lưới lý luận kín bưng bâng quơ, để cuối cùng bất ngờ «ụp một cái» chụp ngay được đối thủ tranh luận vào trong chiếc vó luận của mình và khua trống đem trình bà con.   Đỉnh cao của công nghệ này là cuộc khẩu chiến giữa Gia Cát Lượng với Vương Lãng, các ông nhớ chứ. Ông Vương Lãng trổ tài mắng Gia Cát Lượng, đã tưởng trên tuyệt vời, đã cất vó được đối thủ. Thế mà khi bị Gia Cát Lượng mắng lại, ông Vương Lãng phải tức hộc máu lăn đùng xuống ngựa mà chết tại chỗ trong cái vó luận của Gia Cát Lượng. Thực ra thì hai ông này luận biện giống hệt nhau, khác nhau chỉ về kín hở, cùn sắc tí tẹo mà thôi. Mà rồi tôi nghĩ cuốn Tam Quốc cũng bịa vụ này nốt, cốt để khoe cái người kể chuyện thành ra là người trên tài cả Gia Cát Lượng! Tranh biện ở xứ Đông cốt sao sướng được miệng mình, tàn hại được đối thủ, ở tầm cao nhất có thể!  Thôi ta vào đi, muộn rồi. Ông chủ ghi sổ tôi đi, mấy chục năm ghi sổ nhau rồi còn gì. Hôm nay tôi chiêu đãi anh em một phần nhuận bút. Nhanh nhanh, còn phải kịp lĩnh tiền rồi đi ăn trưa nữa chứ!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ từng giúp Trung Quốc đào tạo nhân tài      Năm 1906, Edmund J. James hiệu trưởng Đại học Illinois đề nghị Tổng thống T. Roosevelt cử người sang Trung Quốc khảo sát tình hình giáo dục và tìm cách thu hút học sinh nước này sang Mỹ học, nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức có thể tác động tới các lãnh tụ Trung Quốc và coi đó là cách tốt nhất để Trung Quốc và Mỹ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như về chính trị. Năm 1908, Quốc hội Mỹ thông qua đề án trả lại Trung Quốc một nửa số tiền trong khoản bồi thường Canh Tý quy định (11,6 triệu USD) giao cho Tổng thống tổ chức thực hiện việc mở trường học ở Trung Quốc và đưa học sinh nước này sang Mỹ học.    Khoản bồi thường năm Canh Tý   Cuối thế kỷ XIX, do không chịu nổi ách áp bức bóc lột dã man của phong kiến Mãn Thanh, nông dân một số tỉnh ở Trung Quốc đã nổi dậy chống triều đình. Phong trào này mới đầu có tên Nghĩa Hoà Quyền; từ 1899 đổi tên là Nghĩa Hoà Đoàn, chuyển mục tiêu sang chủ yếu chống đế quốc phương Tây.    Năm Canh Tý (1900), Nghĩa Hoà Đoàn chiếm Bắc Kinh và một số thành phố. Triều đình nhà Thanh của Từ Hy Thái hậu chạy lên Tây An, bỏ ngỏ Bắc Kinh. Quân Nghĩa Hoà Đoàn mặc sức hãm hại giáo sĩ, kiều dân nước ngoài, cướp phá tài sản của họ và các sứ quán. Trước tình hình đó, lấy danh nghĩa bảo vệ kiều dân và sứ quán, quân đội 8 nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Ý và đế quốc Áo-Hung liên kết nhau tiến vào Bắc Kinh và các thành phố bị chiếm. Phong trào Nghĩa Hoà Đoàn bị dập tắt.    Tháng 9/1901, triều đình nhà Thanh phải đàm phán với 11 nước phương Tây và ký Điều ước Tân Sửu gồm 12 điều khoản; trong đó điều khoản nhận bồi thường toàn bộ phí tổn và thiệt hại của các nước này do việc Nghĩa Hoà Đoàn chống lại họ (các nước tự khai phí tổn và thiệt hại).  Khoản bồi thường đó gọi là  Khoản bồi thường Canh Tý (KBTCT), quy định bằng 450 triệu lạng bạc, tức mỗi người Trung Quốc trả 1 lạng bạc. Được bồi thường nhiều nhất là Nga (28,97%), Đức (20,02%), Pháp, Anh, Nhật, Mỹ (7,32% hoặc 24,4 triệu USD), Ý, Bỉ, đế quốc Áo-Hung, Hà Lan… Theo quy định, KBTCT được trả dần trong 39 năm, lãi suất mỗi năm 4%, tổng cộng cả vốn lẫn lãi sẽ là 982 triệu lạng bạc. Số tiền này vượt quá khả năng chi trả của Trung Quốc.   Điều ước Tân Sửu rõ ràng là bất công, là nỗi xỉ nhục của Trung Quốc. Trong 11 nước phương Tây nói trên, Mỹ là nước duy nhất có chính quyền dân cử và đang muốn đóng vai trò dẫn đầu phong trào dân chủ thế giới; vì vậy Chính phủ Mỹ với đại diện là Tổng thống William McKinley và Bộ trưởng Ngoại giao John. Hay có quan điểm tương đối công bằng, đã đề nghị các nước phương Tây bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc và giảm khoản bồi thường.   Cuối 1904, Mỹ tuyên bố: qua điều tra thấy phí tổn và thiệt hại của Mỹ chưa đến 24,4 triệu USD và Mỹ sẽ trả lại Trung Quốc phần dôi ra. Cuối 1908, Mỹ công bố lệnh trả lại Trung Quốc 28,9 triệu USD trong tổng số tiền bồi thường 53,35 triệu USD Trung Quốc phải trả (cả vốn lẫn lãi). Hành động của Mỹ trả lại khoản bồi thường Canh Tý cho Trung Quốc được các nước khác noi theo (Anh, Pháp: 1920; Nhật: 1923; Hà Lan: 1926; Ý: 1933) với quy mô hoàn trả khác nhau. Nhờ đó và nhờ các lý do khác, cuối cùng Trung Quốc chỉ phải trả 58% tổng số tiền quy định trong Điều ước Tân Sửu và có cơ hội đưa nhiều người sang Âu Mỹ du học.    Học bổng Khoản Bồi thường Canh Tý    Chính quyền Trung Quốc tuyên bố cảm ơn Mỹ về kế hoạch đào tạo nhân tài,và để tỏ lòng tri ân, họ lấy tên Tổng thống Mỹ đặt cho Cung Thể thao ở ĐH Thanh Hoa (Roosevelt Memorial Gymnasium), có tạc tượng Roosevelt (sau 1949 tượng này bị phá).    Hai bên thoả thuận sẽ dùng số tiền Mỹ hoàn trả Trung Quốc để làm học bổng cho học sinh Trung Quốc sang Mỹ du học, gọi là Học bổng Khoản Bồi thường Canh Tý. Phía Trung Quốc dự định mỗi năm cử 100 người, từ năm thứ 5 trở đi mỗi năm 50 người, cho đến khi dùng hết số tiền trả lại. Hai bên thống nhất: 80% học sinh sẽ học các ngành nông nghiệp, khoáng sản, vật lý, hoá học, công trình đường sắt, cơ khí, ngân hàng; 20% học các ngành chính trị, pháp luật, tài chính, kinh tế và sư phạm. Việc tổ chức tuyển chọn du học sinh do Trung Quốc tự làm, phía Mỹ không tham gia.   Năm 1909, chính quyền lập Vụ Du học Mỹ để tổ chức thực thi việc nói trên. Các tỉnh được chọn người đưa lên Bắc Kinh dự thi. Khoá thi đầu tiên (8/1909) có 630 người ghi tên; 68 người lọt qua vòng sơ tuyển (thi Quốc văn và Anh văn), rồi thi tiếp các môn toán, lý, hoá, sử Anh, Mỹ, Hy Lạp, La Mã. Sau 5 đợt thi, kết quả chọn được 47 người. Tháng 10/1909 tốp học sinh đầu tiên đi Mỹ du học. Việc thi cử tiến hành nghiêm chỉnh chặt chẽ, thí sinh phải giỏi Quốc văn, Anh văn, và phải đạt yêu cầu “khoẻ mạnh, đứng đắn, tướng mạo không có khiếm khuyết, lý lịch trong sạch”. Khoá thi năm 1910 có 400 thí sinh, chọn được 70. Khoá thi năm 1911 chọn được 63 người.    Chính quyền còn cấp đất và kinh phí lấy trong KBTCT để xây dựng Trường Dự bị du học Mỹ, năm 1911 đổi tên là Thanh Hoa Học đường (năm 1924 đổi tên là Đại học Thanh Hoa), chia 2 khoa Trung học và Cao đẳng, mỗi khoa học 4 năm, chuyên đào tạo học sinh đi du học Mỹ. Tháng 3/1911 Thanh Hoa Học đường khai giảng, gồm hơn 400 học sinh 12-20 tuổi đã được tuyển chọn nghiêm ngặt từ các địa phương. Nhờ có kinh phí lớn nên trường này có cơ sở vật chất tốt nhất trong các trường ở Trung Quốc. Học sinh tốt nghiệp khoa Cao đẳng của Thanh Hoa Học đường có thể vào thẳng năm thứ 3 đại học Mỹ.   Ngoài ra từ năm 1917, Mỹ còn dùng KBTCT để xây dựng Y viện Hiệp Hoà hiện đại nhất Trung Quốc và Học viện Y khoa Hiệp Hòa.    Năm 1924, Quốc hội Mỹ thông qua luật dùng KBTCT còn lại (12,54 triệu USD) lập Quỹ Xúc tiến Trung Quốc. Quỹ này đã dùng một phần kinh phí cho học sinh ĐH Thanh Hoa du học Mỹ.          Ba chuyên gia khí động học nổi tiếng thế giới: Ludwig Prandtl (Đức), Tiền Học  Sâm, Von Karman (1945)             Trong thời gian về sau, do tình hình chính trị trong nước không ổn định, việc thi tuyển lưu học sinh đi Mỹ không tiến hành liên tục. Từ năm 1932 bắt đầu tăng trở lại, năm 1935 số lưu học sinh lên tới 1033 người. Thời kỳ kháng chiến chống Nhật (1937-1945) việc đưa người đi du học bị ngừng. Năm 1946 tiếp tục tổ chức chiêu sinh dự thi toàn quốc đi du học nước ngoài, có 4463 thí sinh. Sau đó do có cuộc chiến tranh giải phóng nên việc tổ chức du học nói trên chấm dứt. Quỹ Xúc tiến Trung Quốc chuyển sang Đài Loan và dùng số tiền còn lại thành lập trường Đại học Thanh Hoa tại khu Tân Trúc ở Đài Loan.    Kết quả của Chương trình  du học bằng học bổng KBTCT   Thời gian 1909-1928, Trung Quốc đưa được hơn 1000 người sang Mỹ du học; sau đó vẫn cử người đi tiếp, nhưng không có số liệu thống kê. Số người du học Mỹ chưa nhiều lắm, nhưng điều quan trọng nhất là nước Mỹ đã đào tạo cho Trung Quốc nhiều nhà khoa học giỏi, thậm chí hàng đầu thế giới, về sau có đóng góp cực kỳ quan trọng cho sự phát triển khoa học nhân văn và khoa học kỹ thuật của Trung Quốc (hơn hẳn số hàng chục nghìn lưu học sinh sau này đào tạo tại Liên Xô và Đông Âu). Chẳng hạn nhờ đó chương trình làm bom nguyên tử và làm tên lửa, vệ tinh nhân tạo của Trung Quốc hoàn thành sớm được ít nhất 20 năm. Các nhà khoa học chủ yếu trong chương trình này như Đặng Gia Tiên, Tiền Học Sâm… đều học ở Mỹ về.     Dưới đây xin giới thiệu hai gương mặt điển hình của số học sinh đi Mỹ theo chương trình học bổng khoản bồi thường năm Canh Tý.                       Hồ Thích         Về khoa học nhân văn có Hồ Thích (1891-1962), năm 1910 đi Mỹ du học tại Đại học Cornell, về nước 1917. Ông là nhà thơ, sử gia, triết gia, nhà giáo dục, luân lý học, nhà tư tưởng…, một đại học giả của Trung Quốc, từng được tặng 36 bằng tiến sĩ (chủ yếu ở Mỹ), nổi tiếng có nhiều cống hiến trên nhiều lĩnh vực. Sau khi về nước đã đề xướng cách mạng văn học, trở thành một trong các lãnh tụ Phong trào Tân Văn hoá. Từng là Đại sứ Trung Hoa Dân quốc tại Mỹ (1938), hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh (1946), Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan, 1957). Từ 1949 ở Mỹ và Đài Loan. Hồ Thích là nhà tiên phong chủ nghĩa tự do ở Trung Quốc, đề xuất thuyết điều hoà giai cấp, cho rằng chủ nghĩa Marx và thuyết đấu tranh giai cấp không thích hợp với Trung Quốc. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học thực dụng của J. Dewey. Hồ Thích có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hoá Trung Quốc; một thời gian ông từng bị phê phán, phủ định, nhưng về sau được đánh giá cao. Ông là người đầu tiên đề xuất dùng văn Bạch thoại, lật đổ hình thức văn Văn ngôn từng thống trị nước này hơn 2000 năm. Ông cũng có những ý kiến cực đoan như chủ trương Trung Quốc nên phương Tây hoá toàn bộ, bỏ chữ Hán, dùng ký hiệu phiên âm La tinh…                         Tiền Học  Sâm        Về KHKT có Tiền Học Sâm (1911-2009, tên La tinh là Qian Xue-sen hoặc H.S.Tsien), người được gọi là Cha đẻ tên lửa và du hành vũ trụ Trung Quốc. Năm 1934 tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải, thi đỗ vào lớp học sinh du học Mỹ của Đại học Thanh Hoa. Năm 1935 sang Mỹ học tại Học viện Công nghệ Massachusetts, lấy bằng thạc sĩ, năm 1936 đến Học viện Công nghệ bang California (Caltech) làm nghiên cứu sinh ngành cơ khí hàng không dưới sự hướng dẫn của chuyên gia cơ học nổi tiếng Von Karman. Năm 1939 nhận bằng tiến sĩ, ở lại trường giảng dạy và tham gia nhóm nghiên cứu thiết kế tên lửa. Cuối 1942 được Karman đề cử làm công tác nghiên cứu khoa học cho quân đội Mỹ. Từng tham gia Dự án Manhattan (làm bom nguyên tử) và chương trình chế tạo tên lửa, được phong hàm Đại tá. Là người nước ngoài duy nhất được Karman đề cử vào Nhóm Cố vấn khoa học cho Không quân Mỹ (Karman làm Trưởng nhóm). Năm 1947 được Caltech đặc cách phong hàm Giáo sư suốt đời, được cử làm Giám đốc Phòng Thí nghiệm Phản lực của Caltech và trở thành chuyên gia kỹ thuật tên lửa nổi tiếng. Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, Tiền Học Sâm xin về nước nhưng bị chính quyền Mỹ từ chối vì sợ tiết lộ bí mật quân sự. Chính phủ Trung Quốc qua thương lượng với Mỹ, đã xin được Tiền Học Sâm về nước bằng cách trao trả cho Mỹ một số phi công Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Sau 5 năm bị giam lỏng, năm 1955 Tiền Học Sâm được trở về Trung Quốc. Ông đề xuất nhiều ý kiến xây dựng ngành tên lửa-hàng không và thám hiểm vũ trụ. Từ 1958 trở đi lãnh đạo công tác nghiên cứu chế tạo tên lửa và tàu vũ trụ. Ông còn được cử làm Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc, Chủ tịch Hội Phổ biến KHKT toàn quốc. Do có cống hiến kiệt xuất trong lãnh đạo nghiên cứu thiết kế chế tạo tên lửa và vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ, ông được Chính phủ tặng nhiều vinh dự như giải nhất thành tựu khoa học tự nhiên (1957), giải đặc biệt tiến bộ KHKT Nhà nước (1985), danh hiệu Nhà khoa học có cống hiến kiệt xuất cấp Nhà nước và huy chương Anh hùng lao động hạng nhất (1991), huy chương Công huân “Lưỡng đạn nhất tinh” (bom nguyên tử, tên lửa và vệ tinh) (1999), giải thưởng danh dự cao nhất 50 năm sự nghiệp hàng không vũ trụ Trung Quốc (2006), cùng nhiều vinh dự khác.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ viện trợ Việt Nam 17 triệu USD chống BĐKH      Trong chuyến thăm đất mũi Cà Mau sáng 15/12, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã công bố cam kết ban đầu trị giá 17 triệu USD thông qua Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam của Cơ quan Phát triển  Quốc tế Hoa Kỳ USAID để giúp các  cộng đồng người dân ở Việt Nam chống suy thoái môi trường và thích ứng  với biến đổi khí hậu.     Dưới đây là một phần bài phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại Bến tàu Chợ Kiến Vàng, Cà Mau:  “Việt Nam là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất trên thế giới bởi biến đổi khí hậu. Và chúng ta sẽ phải đối mặt với những tác động nghiêm trọng nếu chúng ta không thay đổi cách xử lý vấn đề ngay hôm nay. Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải hợp tác cùng nhau và tập trung vào những vấn đề này. Đó là lý do vì sao tôi đến đây, vùng xa xôi của Đồng bằng Sông Cửu Long, ngẫu nhiên cũng là nơi tôi đã từng có mặt trước đây. Nhưng tôi đến đây không phải để nhắc lại quá khứ, mà để tìm cách ứng phó với thách thức mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong tương lai.   Hoa Kỳ và Việt Nam đã và đang hợp tác với nhau. Chúng ta đang cùng làm việc ở nhiều cấp khác nhau để tăng cường khả năng chống chịu của Việt Nam trước các tác động mà chúng ta đã có thể nhận thấy được. Và hôm nay, tôi xin trân trọng công bố cam kết ban đầu trị giá 17 triệu đôla Mỹ thông qua Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID. Khoản tài trợ này sẽ được sử dụng để giúp các cộng đồng người dân ở Việt Nam chống suy thoái môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.    Nhưng hành động này không chỉ nhằm nâng cao khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu. Trước hết, chúng ta cũng đang cùng nhau làm việc để ngăn chặn những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu, bao gồm thúc đẩy phát triển năng lượng sạch và sử dụng năng lượng hiệu quả. Tôi tự hào khi nói rằng các công ty của Hoa Kỳ đang tham gia tích cực vào nỗ lực này: Chỉ mới hôm qua, khi tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty General Electric đã ký một hợp đồng trị giá 94 triệu đôla Mỹ với Công ty Công Lý, một công ty của Việt Nam, để cung cấp thêm tua-bin điện gió cho nhà máy điện gió đầu tiên ở tỉnh Bạc Liêu, gần nơi chúng ta đang có mặt về hướng bắc.   Và một sự thật hiện nay là nếu không hoạch định cẩn thận, một số công trình phát triển năng lượng sạch – ví dụ như thủy điện – cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng. Trung Quốc hiện đang xây dựng các con đập dọc sông Mekong, Thái Lan cũng đang có những dự tính tương tự – và cả Cambodia nữa. Có nhiều quốc gia thượng nguồn tiếp cận nguồn nước từ sông Mekong trước Việt Nam, nhưng tất cả đều cùng hưởng lợi từ nguồn nước quan trọng. Và không quốc gia nào có quyền tước đi sinh kế, hệ sinh thái và sự sống mà con sông này mang lại cho các nước khác. Sông Mekong là một tài sản toàn cầu, là một kho báu của cả khu vực. Và do đó, một vấn đề sống còn là chúng ta cần phải tránh gây ra những thay đổi lớn làm ảnh hưởng  đến dòng chảy và các lớp trầm tích. Chúng ta cũng đã thấy rõ là ngành thủy sản đang gặp phải khó khăn do nguồn cá bị ảnh hưởng từ những thay đổi đang diễn ra. Điều này đặc biệt đáng lo ngại vì thủy sản là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của tỉnh Cà Mau. Và hiện nay, sản lượng thủy sản xuất khẩu tại đây còn vượt cả sản lượng lúa gạo xuất khẩu.  Để tôi nói rõ thêm: Chuỗi nhà hàng hải sản Legal Sea Foods tại Boston, bang Massachusetts, vốn hiện có cửa hàng ở nhiều nơi khác khắp Hoa Kỳ- cả thủ đô Washington và nhiều bang khác, cũng đã đến đây, và nhiều sản phẩm được phục vụ trong chuỗi nhà hàng Legal Sea Foods cũng như các nhà hàng khác tại Hoa Kỳ cũng có nguồn gốc từ chính nơi đây. Chúng ta có mối liên kết với nơi này. Sinh kế và nền kinh tế của chúng ta có liên hệ chặt chẽ với con sông này. Và chúng ta cần phải hợp tác cùng nhau để giải quyết những vấn đề có liên quan đến nó.  Đó là lý do tại sao những quyết định phát triển cơ sở hạ tầng- bao gồm việc xây dựng các con đập- phải được nghiên cứu và hoạch định một cách kỹ lưỡng, cẩn thận, và minh bạch. Chia sẻ dữ liệu và những phương pháp thực hành tốt nhất thông qua đối thoại cởi mở và hợp tác sẽ đảm bảo nguồn tài nguyên của sông Mekong tiếp tục mang đến lợi ích cho người dân không chỉ riêng một quốc gia nào, và không chỉ những quốc gia ở thượng nguồn, mà tất cả những nơi con sông này chảy qua.  Tôi có thể nói với các bạn rằng chúng tôi, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sẽ tiếp tục quan tâm đến vấn đề này. Và tôi, trong chuyến công du kế tiếp đến Trung Quốc cũng như khi tham gia các diễn đàn quốc tế, sẽ đề cập đến vấn đề này để chúng ta có thể cùng hợp tác với nhau một cách hiệu quả. Chúng tôi, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thực sự có thể chia sẻ với mọi người về vấn đề này vì chúng tôi đã giải quyết những vấn đề tương tự suốt một thời gian dài- hàng thập niên qua- tại khu vực đồng bằng sông Mississippi và sông Mississipi, tại Vịnh Chesapeake và những vùng miền khác ở Hoa Kỳ. Chúng tôi đã trải nghiệm, và đã rút ra một số bài học và chúng tôi muốn chia sẻ những bài học này với nhân dân các nước. Chúng tôi đang triển khai thông qua chương trình Cơ sở Hạ tầng Thông minh cho sông Mekong, gọi tắt là SIM. Chúng tôi đang chia sẻ những bài học mà chúng tôi đã tích lũy được. Đây là một phần của Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong và là chủ đề tôi đã thảo luận với Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và bộ trưởng ngoại giao của các nước thuộc khu vực Hạ lưu sông Mekong khi tôi ở Brunei...”  Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Myanmar cần tăng cường giáo dục cơ bản và thể chế pháp trị”      Trong những mối ưu tiên hàng đầu của  Myanmar, Aung San Suu Kyi chú trọng nhiều tới giáo dục cơ bản và thể chế  pháp trị. Bà cũng mong muốn đầu tư nước ngoài sẽ không làm gia tăng  tham nhũng và bất bình đẳng ở đất nước mình.     Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á hôm 1/6 vừa qua, bà Aung San Suu Kyi, Chủ tịch Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) và là Đại biểu Nghị viện Myanmar, khẳng định rằng nhu cầu ưu tiên hàng đầu của Myanmar là giáo dục cơ bản và pháp trị. Bà nói: “Chúng tôi cần giáo dục cơ bản. Người ta vẫn thường quá để tâm tới giáo dục đại học, hay thậm chí trên đại học. Nhưng chúng tôi [trước mắt] cần thứ giáo dục giúp nhân dân đủ nuôi được bản thân”. Bà cho rằng Myanmar cần tập trung vào đào tạo dạy nghề, đặc biệt là cho những người trẻ tuổi, vì nhiều người trong số họ đang dần mất hi vọng kiếm được việc làm. “Điều tôi lo sợ không hẳn là nạn thất nghiệp, mà là sự tuyệt vọng”, Suu Kyi khẳng định.   Aung San Suu Kyi từng được trao giải Nobel Hòa bình năm 1991. Theo bà, Myanmar cần tăng cường thể chế pháp trị. “Có nhiều đạo luật tốt đang tồn tại ở Myanmar, nhưng chúng tôi không có một hệ thống tòa án độc lập và trong sạch.” Nếu không có pháp trị, những quy định pháp lý đúng đắn về đầu tư sẽ trở nên vô ích, bà nhận định.   Chuyến công cán tới Diễn đàn Kinh tế Thế giới lần này tại Bangkok, Thái Lan, là chuyến ra nước ngoài đầu tiên của Aung San Suu Kyi trong vòng 24 năm. Thông điệp của bà gửi tới các nhà đầu tư ngoài là hãy thể hiện tinh thần trách nhiệm với xã hội, và hãy đảm bảo rằng những khoản đầu tư của họ không làm gia tăng nạn tham nhũng và sự bất bình đẳng ở Myanmar. “Chúng tôi không muốn những khoản đầu tư làm tăng khả năng xảy ra tham nhũng. Chúng tôi không muốn những khoản đầu tư làm tăng bất bình đẳng. Và chúng tôi không muốn những khoản đầu tư làm gia tăng đặc ân cho những người đã hưởng lợi từ quá nhiều đặc ân”. Nói về những khác biệt cố hữu giữa các sắc tộc bản xứ, bà cho rằng Myanmar sẽ giải quyết được những khác biệt này nếu giữa mọi người có sự tôn trọng lẫn nhau.   Suu Kyi cho rằng tiến trình cải cách ở Myanmar phụ thuộc nhiều vào sự cam kết của quân đội, nhưng cũng phụ thuộc vào sự cam kết của cả đất nước. “Tất cả mọi người đều phải cam kết cho sự cải cách đất nước. Nếu không có sự cam kết của toàn quốc gia, chúng tôi sẽ không thể tiến lên. Chúng tôi không muốn mình bị rớt lại bên lề vì chọn sai đường”.  Bà kêu gọi hơn 600 lãnh đạo các chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội từ 50 quốc gia tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á hãy giúp Myanmar vượt qua giai đoạn chuyển đổi và cải cách khó khăn. “Tôi đến đây không nhằm nói với bạn về điều bạn phải làm, mà để nói về những điều mà chúng tôi đang cần”, bà nói.   Trong khi nhân dân Myanmar và nhiều ý kiến trên thế giới thể hiện sự lạc quan về triển vọng của đất nước vì những thay đổi nhanh chóng gần đây, nhưng Suu Kyi cho rằng có lý do để mọi người kiềm chế sự hứng khởi. “Lạc quan là điều tốt, nhưng nên là sự lạc quan thận trọng. Tôi đã từng chứng kiến những sự lạc quan thái quá. Chúng ta nên có một chút nghi vấn mang tính lành mạnh”.   Thanh Xuân lược dịch theo bản tin Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á  http://www.weforum.org/news/aung-san-suu-kyi-calls-investors-focus-how-help-myanmar    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2020 ấn nút mấy lò phản ứng?      Trả lời báo chí do cúp điện thường xuyên gần đây, ông Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết sau 2020 điện hạt nhân (ĐHN) sẽ chiếm 20% tổng sản lượng điện và Việt Nam sẽ bắt đầu chương trình ĐHN bằng hai nhà máy với bốn lò phản ứng, công suất mỗi lò 1000 MW.  “Xây được một lò, hà cớ gì mà không xây bốn lò một thể”, một số người hăng hái giải thích như thế. Song là một người đã từng lăn lộn trong nhiều năm xây dựng và vận hành lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, quen biết không sót ai trong giới hạt nhân nước nhà, tôi nghe qua thấy “choáng”.    Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu và Trái Đất đang ấm lên do con người đốt quá nhiều nhiên liệu hoá thạch gây ra, ĐHN đang được xem như một giải pháp thích hợp cho bài toán năng lượng trước yêu cầu cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Dẫm chân tại chỗ từ nhiều năm nay ở mức 16% tổng điện năng toàn thế giới, ĐHN rất có thể sẽ cất cánh trở lại như những năm bảy mươi của thế kỷ trước. Trong bối cảnh đó, ĐHN xuất hiện ở Việt Nam sau 2020 là hợp lý, và cần ra sức thực hiện. Thậm chí mục tiêu này còn khả thi hơn tham vọng đưa một trường đại học của ta lọt vào tốp 200 cũng ở cọc mốc 2020.  Nhưng đưa bao nhiêu ĐHN vào thì vừa?  Trong lịch sử phát triển ĐHN trên thế giới, chưa có nước nào vào cuộc một lúc với 4000 MW và 20% tổng sản lượng điện như kịch bản của ta. Hùng hậu, lại rất khát điện như Trung quốc cũng không dám. Trung Quốc bắt đầu có nhà máy ĐHN đầu tiên năm 1991 tại vùng đông bắc với công suất khiêm tốn 300 MW. Sau ba năm nhà máy này mới đi vào vận hành thương mại và một năm sau mới được cấp chứng chỉ. Sau 17 năm, tại cụm ĐHN này chỉ có thêm 2800 MW.  Trung Quốc cũng đồng thời xây dựng cụm ĐHN thứ hai tại vùng đông nam, cách Hồng Kông và Thẩm Quyến chưa đầy 50 dặm. Tại đây, nhà máy đầu tiên theo công nghệ của Pháp với công suất 950 MW bắt đầu vận hành năm 1993. Ngay năm đầu tiên đã xảy ra 13 lần dừng lò không theo kế hoạch. Năm 1994 Tập Đoàn ĐHN Quảng Đông mới khởi động lò thứ hai, và tám năm sau mới khởi động lò thứ ba. Sau 17 năm, hiện nay ĐHN chỉ chiếm khoảng 2%, và dự kiến năm 2020 cũng chỉ tăng lên 5% tổng sản lượng điện toàn Trung Quốc.  Ấn Độ còn có ĐHN sớm hơn Trung Quốc, từ đầu thập kỷ bảy mươi. Sang thập kỷ tám mươi họ đã nội địa hoá thành công lò nước nặng PHWR 220 MW, từ đó đặt ra một chương trình hoành tráng ấn định mục tiêu tròn 10.000 MW trước năm 2000. Nhưng trước thềm thế kỷ XXI, họ mới chỉ đi được chưa đầy 15% đoạn đường. Chậm tiến độ và vượt dự toán xảy ra thường xuyên trên mọi công trình. Mắc mớ lớn nhất vẫn là các khâu xét duyệt, bảo đảm an toàn, và năng lực công nghiệp nội địa không đáp ứng được yêu cầu chế tạo thiết bị. Nước nặng không sản xuất kịp tiến độ xây nhà máy.  Nhận ra tình trạng ỳ ạch với công nghệ bản địa theo công thức “nước nặng + urani thiên nhiên” sẽ không đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế, từ cuối thế kỷ trước Ấn Độ đã vượt qua bao nhiêu trở ngại ngoại giao (do không chịu ký tên vào hiệp ước cấm lan truyền vũ khí hạt nhân NPT) để mở quan hệ với các cường quốc hạt nhân nhằm nhập công nghệ rất phổ dụng trên thế giới theo công thức “nước thường + urani giàu”. Lò phản ứng đầu tiên với công nghệ VVER 1000 MW của Nga, trải qua bao nhiêu trở ngại từ bên trong và ngoài nước, dự kiến sẽ được ấn nút trong năm nay. Sau hơn 30 năm phát triển, hiện nay ĐHN chỉ chiếm chưa đầy 2% tổng sản lượng điện năng toàn Ấn Độ.  Hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đất rộng người đông, đều khát điện do kinh tế tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng GDP của Trung Quốc đạt hai chữ số trong nhiều năm liền. Nhưng điều đáng nói hơn, cả hai đều có lực lượng hạt nhân rất hùng hậu, họ nắm được bí quyết nguyên tử rất sớm. Ấn Độ đã cho nổ cơ cấu hạt nhân từ 1974, chính thức có vũ khí hạt nhân năm 1998. Trung Quốc còn có vũ khí hạt nhân sớm hơn nhiều, từ năm 1964, chỉ đứng sau Mỹ và Nga về kỹ thuật tên lửa và du hành vũ trụ. Cả hai đều có đầy đủ các cơ sở sản xuất nguyên nhiên vật liệu hạt nhân, tự chế tạo được lò phản ứng nghiên cứu công suất lớn, máy gia tốc và nhiều thiết bị hạt nhân khác. Hiện cả hai đều vừa nhập công nghệ từ bên ngoài để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa theo đuổi công nghệ ĐHN đặc thù của mình. Đặc biệt, cả hai đều có lực lượng chuyên gia cao cấp rất đông đảo, có bề dày nghiên cứu công nghệ hạt nhân ngang ngửa với các cường quốc khác.  So với họ, tiềm lực hạt nhân của Việt Nam hiện chưa có gì đáng nói. Số người am hiểu lãnh vực này chỉ đếm trên đầu ngón tay, năng lực nghiên cứu chuyên ngành về ĐHN chưa hề có. Giới chuyên môn trong và ngoài nước đều biết rõ việc này. Muốn phát điện năm 2020 phải động thổ công trình không chậm hơn năm 2015, nghĩa là ngay từ bây giờ dàn chuyên gia cao cấp của ta phải bắt tay vào cuộc. Nhìn quanh quất không thấy mấy ai.  “Phát triển ĐHN mà không tính đến thách thức này có nghĩa là phó thác cho người nước ngoài quyết định mọi chuyện”, một chuyên gia hạt nhân nước ngoài tầm cỡ hàng đầu thế giới, hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội, đã nhận xét chua chát như vậy. Đương nhiên, chúng ta cần nhập công nghệ ĐHN từ bên ngoài, thậm chí theo công thức chìa khoá trao tay, nhưng không người Việt nào muốn trao lại chiếc chìa khoá đó cho người đã rèn ra nó.  Kịch bản khởi động ĐHN ở hai cường quốc châu Á Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như ở hầu hết các nước khác trên thế giới, chứng tỏ rằng du nhập ĐHN, dù chỉ với mục tiêu đơn thuần là vận hành nhà máy (chưa nghĩ đến khâu nội địa hoá công nghệ), không dễ dàng đến mức có thể bỏ qua giai đoạn thử nghiệm, học hỏi, xây dựng đội ngũ và cơ sở hạ tầng, để từng bước tiến lên vận hành nhà máy ổn định và an toàn. Bởi không giống nhiều công nghệ khác, ĐHN vẫn chưa an toàn, và đây là chuyện đau đầu của khoa học công nghệ hiện đại, vấn đề lại hết sức nhạy cảm đối với công luận. Công tác giám định, kiểm tra và xét duyệt an toàn hạt nhân trong mọi khâu tiền dự án, xây lắp và vận hành luôn phát sinh ra những mắc mớ đòi hỏi có đủ tri thức để ra quyết định. Quyết định sai, hoặc sẽ rất tốn kém, hoặc sẽ xảy ra sự cố. Người nước ngoài không thể quyết định thay ta.  Ngay như Phần Lan, một nước giữ kỷ lục thế giới về vận hành an toàn nhà máy ĐHN với hiệu suất trên 90%, vẫn không tránh khỏi khó khăn này. Phần Lan là nước EU độc nhất đang xây nhà máy ĐHN. Tuy có trình độ công nghệ hàng đầu thé giới, họ vẫn phải chấp nhận đầu tư rất tốn kém để nhập lò phản ứng thế hệ thứ ba của Pháp, được xem là có tính năng an toàn cao nhất hiện nay. Theo thiết kế, nhà máy sẽ không hề hấn gì khi máy bay rơi thẳng xuống lò phản ứng. Song kết quả kiểm tra trong quá trình thi công cho thấy chất lượng công trình không đáp ứng được yêu cầu trên, họ phải bỏ công của ra khắc phục, và đây là một trong những lý do khiến tiến độ xây dựng đang chậm mất hai năm (nghe nói phải dời công trình sang một địa điểm mới).  Nguy hại hơn, lấy cớ này các nhóm Hòa bình Xanh trong và ngoài nước đã dấy lên làn sóng phản đối ĐHN. Họ leo lên cần trục cao 100 m biểu tình ngồi qua đêm giá rét để phản đối. Họ yêu cầu chủ đầu tư công khai ra báo chí hơn 1000 lỗi kỹ thuật phạm phải trong quá trình thi công và đình chỉ toàn bộ dự án. Dự toán ban đầu 2,5 tỷ Euro nay đã lên 4 tỷ (tương đương 6 tỷ đô la Mỹ). Cho nên, chẳng những luôn nhạy cảm với công luận, ĐHN còn không rẻ chút nào khi người ta phải bỏ ra những khoản chi phí khổng lồ để đánh đổi lấy sự an toàn và an dân.  Tôi hy vọng những bằng chứng trên đây không làm phật lòng những người đang hăng hái muốn có ngay 4000 MW ĐHN vào năm 2020. Hội nhập với thế giới này, chúng ta phải biết người biết ta để định ra dường đi nước bước. Đây là những sự thật mà người trong cuộc, cấp cao và cả công luận cần biết. Có nhận dạng đúng bản chất của ĐHN, mới có giải pháp khả thi để cho một chủ trương đúng đắn đi vào cuộc sống. Hơn là phí phạm hàng chục năm nay để lo hô hào, làm chiến lược và vẽ nên các chương trình hành động hoành tráng trên giấy mà chưa hề có bước đi cụ thể nào nhằm tạo ra những điều kiện tối cần thiết để thực hiện mục tiêu.  Vâng, người Việt có thể giỏi giang, nhưng không luyện võ suốt đêm ngày, sao có thể trở thành chuyên gia được! Làm ĐHN mà không tạo nên một môi trường học thuật, nghiên cứu khoa học công nghệ hăng say, để cho tình trạng uể oải, ê a kéo dài hết năm này sang tháng khác, thì thật đáng lo! Không đầy mươi người có ít nhiều kinh nghiệm về lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt cứ “đến hẹn lại lên” bàn điều khiển, mỗi tháng một lần. Thế hệ đàn anh của họ đang lần lượt bước ra ngoài cuộc.  Nghĩ đến đây, tôi thấy không an tâm chút nào.  Không chỉ thiếu chuyên gia để làm chủ công nghệ, cái thiếu đáng sợ hơn là tính kỹ luật, tôn trọng quy chế, luật pháp của hàng nghìn con người và hệ thống quản lý. Mới bước ra khỏi nền sản xuất tiểu nông, người Việt chúng ta chưa quen với kiểu quản lý nghiêm túc này của nền sản xuất đại công nghiệp và đặc biệt là công nghiệp hạt nhân. Thảm hoạ sập cầu Cần Thơ vẫn còn đó. Cần phải có ít nhiều thời gian để học được cách tổ chức quản lý, cách thực thi luật pháp thích ứng với một công nghệ có nhiều tiềm năng mất an toàn.  Cho nên, theo tôi, trước tiên chỉ nên khởi động một lò, và cố tận dụng trường học thực tiễn này để xây dựng đội ngũ, nhất là đội ngũ chuyên gia, xây dựng cơ sở hạ tầng, học cách thực thi pháp luật hạt nhân, rồi trong quá trình đó sẽ tính tiếp. Thành công của dự án không chỉ là đưa một lò phản ứng vào hoạt động, mà chính là có được nền tảng bước đầu đủ sức nhân lên cho các bước tiếp theo. Tạo ra mãnh đất để hấp thu và đồng hoá công nghệ ĐHN qua lò phản ứng đầu tiên, tuy trong tầm tay, song cần tính toán hết sức chu đáo và hành động quyết liệt mới mong thành công. Bởi chúng ta nên nhớ rằng ĐHN là công nghệ rất nhạy cảm, nước cung cấp thiết bị chỉ đào tạo người vận hành, họ không có trách nhiệm, và không muốn, đào tạo chuyên gia, những người chủ thực sự của nhà máy.    Năm năm sau, khởi động lò thứ hai cũng không muộn.  Vả lại, toàn bộ nội lực của nền công nghiệp chúng ta chỉ có hạn. Chính vì chậm tiến độ và trục trặc kỹ thuật ở nhiều nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện mà hiện nay EVN không cung cấp đủ điện, người dân cứ phải chịu cảnh cúp điện thường xuyên. Mà đây chỉ là những công nghệ cổ điển, đã có hàng trăm năm nay, yêu cầu an toàn và an dân không gắt gao như ĐHN. Cho nên, xây một lúc bốn lò phản ứng 4000 MW là quá sức và không khả thi. Thậm chí, không khéo sẽ tác hại đến toàn bộ quá trình đưa ĐHN vào Việt Nam.  Nhưng sẽ có người lo lắng lấy gì thay vào ba tổ máy 3000 MW kia? Tôi tin rằng với xu thế sử dụng điện năng ngày càng hiệu quả hiện nay trên thé giới, năm 2020 ta không cần đến 200-250 tỷ kWh như EVN đề xuất trong Tổng sơ đồ 6.  Có gì đáng hãnh diện khi chúng ta phát triển điện năng với tốc độ 17%, thậm chí 20-22%/năm, chẳng giống ai trên thế giới này? Cần sớm nhận ra cái lỗ thủng khổng lồ trong nền kinh tế đang hút hết điện năng một cách phí phạm. Tiêu thụ nhiều điện đâu phải là thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Dùng ít điện nhưng vẫn giàu có mới thể hiện sự văn minh. Mà GDP của ta đâu có tăng trưởng liên tục trên 9%/năm từ nay đến 2020 để cứ nhân đôi con số này lên sẽ thành tốc độ tăng trưởng điện năng? Cứ xem năm nay thì rõ!  Không thể còn lý do nào khác minh chứng cho chủ trương xây một lúc bốn lò phản ứng.  Mong sao trong chuyện hệ trọng này của đất nước những người trong cuộc có quả tim nóng và cái đầu lạnh.  Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2050, mọi người chúng ta sẽ ăn chay?      Đó là đầu đề bài báo đăng ngày 28/8/2012 trên tờ Le Monde  của Pháp [1]. Tác giả Audrey Garric đưa ra ý kiến trên trước viễn cảnh  thiếu hụt lương thực và khan hiếm nước ngọt ngày càng trầm trọng trên  thế giới.       Viễn cảnh u ám này cũng được đưa ra tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 2 về Nông nghiệp, An ninh lương thực và Biến đổi khí hậu họp tại Hà nội từ ngày 3 đến 7/9 vừa qua.  Thiếu hụt lương thực  Lương thực sản xuất trên thế giới ngày càng thiếu hụt trước nhiều yếu tố mà đặc biệt là các điều kiện thiên nhiên gây ra do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và đà gia tăng dân số không kiểm soát được. Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán tại Mỹ, khu vực quanh Biển Đen, Ấn Độ đã đẩy giá lương thực tăng gấp đôi chẳng khác gì tình hình dẫn đến cuộc khủng hoảng lương thực năm 2007-2008. Chỉ riêng trong tháng 7-2012 vừa qua, giá lương thực toàn cầu đã tăng lên 10% theo một báo cáo cuối tháng 8 của Ngân hàng Thế giới [2] và Chủ tịch Kim Jim Yong của WB đã phải công nhận đây là một đợt gia tăng mang tính lịch sử.   Cũng trong báo cáo nêu trên, từ tháng 6 đến tháng 7-2012, giá lúa mì và bắp (ngô) đã tăng 25%, giá đậu nành tăng 17%, chỉ có giá gạo là giảm đi 4%. Ngân hàng Thế giới kết luận là giá lương thực tăng vọt sẽ đe doạ sự sống của người dân nghèo trên thế giới là chính, đặc biệt là ở châu Phi và vùng Trung Đông.  Tình hình đáng báo động trên có lẽ sẽ tiếp diễn trong những năm tới vì áp lực của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng kéo theo hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng… làm cho nhiều diện tích đất nông nghiệp không sử dụng được để sản xuất lương thực. Hơn nữa, tại nhiều nước trên thế giới, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp vì có xu hướng dùng chúng để trồng cây tạo nhiên liệu sinh học [3]. Trong khi ấy, dân số thế giới ngày càng tăng, gây căng thẳng trong việc cung cấp lương thực cho một số dân ước tính là sẽ lên đến 9 tỷ người vào năm 2050. Với dân số 7 tỷ người như hiện nay, sản lượng lương thực trên thế giới vẫn chưa đủ và khoảng 1 tỷ người còn trong tình trạng thiếu đói; các nhà khoa học của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) tính rằng đến năm 2050, sản lượng lương thực cần phải tăng thêm 70%, một mục tiêu rất khó thực hiện.   Sự thiếu hụt lương thực trong những năm gần đây phần lớn là do nạn hạn hán trầm trọng xảy ra tại nhiều vùng trên thế giới – hiện tượng khí hậu cực đoan này cũng có nguyên nhân từ biến đổi khí hậu. Bản báo cáo gần đây của Viện Nước Quốc tế ở Stockholm [4] công bố nhân dịp Tuần lễ Nước Thế giới cũng nêu rõ: “Sẽ không có đủ nước trên đất canh tác của chúng ta để sản xuất đủ lương thực cho một dân số 9 tỷ người năm 2050 nếu ta cứ tiếp tục xu hướng dinh dưỡng hiện nay ở các quốc gia phương Tây”. Xu hướng ấy là 3.000 kcal trên đầu người với 20% lấy ra từ các protein động vật.  Nhận thấy sự thiếu hụt lương thực trên thế giới bắt nguồn từ hiện tượng biến đổi khí hậu làm cho Trái Đất ngày càng nóng lên nên biện pháp rõ rệt nhất là giảm thiểu sự phát tán của các khí nhà kính trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Trong công nghiệp, việc tiết kiệm năng lượng hay việc thay thế các nhiên liệu hoá thạch được xem là những hướng đi đáng khích lệ nhất [3]. Tuy nhiên trong những năm gần đây, người ta thấy rằng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo và phát tán khí nhà kính, do đó, ngành chăn nuôi súc vật để giết mổ làm thức ăn cho người đã gián tiếp góp phần vào việc gây khan hiếm lương thực trên thế giới.   Ngành chăn nuôi – thủ phạm phát tán khí nhà kính  Tài liệu Livestock’s Long Shadow của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) công bố năm 2006 [5] cho thấy ngành chăn nuôi có tác động quan trọng lên việc sản xuất lương thực dùng cho con người qua việc phát tán nhiều khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Theo tạp chí The Lancet của Anh [6], tất cả các hoạt động của ngành chăn nuôi súc vật để lấy thịt đều phát tán khí nhà kính ra không trung mà quan trọng hơn hết là khâu chuẩn bị đất làm đồng cỏ và để trồng cây làm thức ăn cho súc vật (chiếm 35,4% lượng khí thải), phát tán từ phân động vật (35,5%), từ tiêu hoá trong ruột các loài nhai lại (25%).   Các khí nhà kính do ngành chăn nuôi phát tán gồm điôxit cacbônic (CO2), mêtan (CH4, có khả năng gây biến đổi khí hậu cao gấp 21 lần CO2), ôxit nitrơ (N2O, có khả năng cao gấp 296 lần CO2). Nếu quy ra CO2 thì lượng khí nhà kính phát thải từ ngành chăn nuôi chiếm 80% tổng lượng khí thải có nguồn gốc từ nông nghiệp.   Khi biết rằng nông nghiệp tạo ra khoảng 22% của toàn bộ khí nhà kính có nguồn gốc từ các hoạt động của con người thì ta có thể nói là ngành chăn nuôi tạo ra 18% tổng lượng khí thải nhà kính. Đây là một tỷ lệ rất quan trọng vì đem so sánh với các ngành khác, ta thấy ngành giao thông vận tải bằng đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không gộp lại cũng chỉ đóng góp 14% cho tổng lượng khí nhà kính phát tán ra không trung. Vì vậy, giảm khí thải nhà kính bằng cách giảm số lượng động vật chăn nuôi lấy thịt là một biện pháp rất hữu hiệu để chống lại biến đổi khí hậu nhằm tăng nguồn lương thực trên thế giới.  Người ta cho rằng muốn đạt đến mục tiêu tăng sản lượng lương thực lên 70% vào năm 2050, người dân ở các nước công nghiệp giàu có hiện đang tiêu thụ phần lớn sản vật của ngành chăn nuôi phải chuyển sang một chế độ dinh dưỡng ít protein động vật, nghĩa là phải ăn chay [7]. Ăn chay để giảm số lượng động vật chăn nuôi lấy thịt còn làm tăng các tài nguyên thiên nhiên như đất và nước phục vụ sản xuất lương thực cho con người.   Ngành chăn nuôi trên thế giới hiện nay sử dụng đến 30% đất canh tác để làm đồng cỏ và trồng cây làm thức ăn gia súc như đậu nành, ngô (bắp), đậu, lúa mạch v.v. Trong thời gian qua, 70% rừng Amazon ở Nam Mỹ đã được phá để làm đồng cỏ chăn nuôi gia súc. Theo L. Reijinders và S. Soret [8] thì diện tích đất để sản xuất 1 đơn vị protein động vật cao gấp từ 6 đến 17 lần diện tích để sản xuất một đơn vị protein từ đậu nành. Tương tự như thế, 1kg thịt bò cần 323 m2 đất trong khi 1kg khoai tây chỉ cần 6 m2.   Ở nhiều nơi trên thế giới, tình trạng thiếu nước ngọt cũng tác động tiêu cực lên việc sản xuất lương thực. Để sản xuất 1kg thịt bò người ta cần đến 15.500 lít nước trong khi 1kg khoai tây chỉ cần 500 lít. Ở Botswana, đến 23% tổng lượng nước ngọt được sử dụng cho ngành chăn nuôi, chủ yếu là cho súc vật uống và để lau rửa chuồng trại. Ngành chăn nuôi cũng sử dụng nhiều năng lượng đầu vào để chạy máy nông nghiệp, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, chế biến thịt…   Hai nhà khoa học Gildon Eshel và Pamela Martin thuộc trường đại học Chicago định nghĩa hiệu suất năng lượng chăn nuôi là tỷ số của năng lượng đầu ra (năng lượng do thực phẩm cung cấp) và năng lượng đầu vào. Họ thấy hiệu suất của việc sản xuất thịt động vật rất thấp như lợn (heo) là 3,7%, bò 6,4% trong khi hiệu suất của các loài thực vật khá cao như khoai tây (123%), đậu nành (415%). Khí nhà kính phát thải cũng tỷ lệ với năng lượng đầu vào [9].     Giải pháp ăn chay  Nói tóm lại, để đạt mục tiêu tăng 70% sản lượng lương thực từ nay đến năm 2050 người ta phải có một chế độ dinh dưỡng không ăn thịt để chống lại biến đổi khí hậu và sử dụng hợp lý các tài nguyên đất và nước ngọt.   Người ta thường so sánh các chế độ dinh dưỡng với các phương tiện giao thông đường bộ trên mặt phát thải khí CO2. Đối với một người theo chế độ ăn chay trong một năm thì khí CO2 phát ra chỉ tương đương với việc chạy xe ô tô trên một quãng đường 629 km trong khi một chế độ dinh dưỡng không kiêng thịt động vật thì quãng đường tương đương lên đến 4758 km, nghĩa là khí nhà kính phát tán ra cao gấp 7,5 lần. Tiến sĩ Rajendra Pachauri, người thay mặt Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) nhận giải thưởng Nobel Hoà bình năm 2007 nói rằng sau 10 năm chuyển sang chế độ ăn chay, ông đã giúp giảm được 12 tấn CO2 thoát ra không trung. Để chống lại hiện tượng trái đất ấm dần lên do biến đổi khí hậu, các nhà năng lượng học đã đề nghị đưa công suất năng lượng tiêu thụ tính theo đầu người xuống còn 2 kW vào năm 2040, lúc ấy lượng khí nhà kính phát thải chỉ còn bằng 50% của năm 1997.   Cũng tương tự như thế, tạp chí The Lancet của Anh đưa ra đề nghị giảm lượng thịt tiêu thụ hàng ngày tính theo đầu người từ 100 gr hiện nay xuống còn 90 gr với lượng thịt đỏ từ các loài nhai lại không quá 50 gr/ngày. Lúc ấy lượng khí thải nhà kính phát ra từ ngành chăn nuôi năm 2050 chỉ còn bằng mức của năm 2005. Các nhà khoa học thuộc Cơ quan Nghiên cứu Môi trường của Hà Lan cũng đề nghị thay thế thịt trong các bữa ăn bằng các loại thực vật. Nếu nồng độ khí thải nhà kính năm 2050 được ổn định ở mức 450 ppm thì từ nay cho đến lúc ấy, chi phí dành cho mục tiêu này mà IPCC đề ra có thể giảm đi 70%-80%.  Nhà khoa học lớn nhất của thế kỷ 20, Albert Einstein, là một người ăn chay trường và ông được xem như là một thiên tài có tầm nhìn rất xa, đi trước thời gian. Khi vấn đề biến đổi khí hậu và khan hiếm lương thực còn chưa đặt ra, Einstein đã có phát biểu sau: “Không có gì lợi cho sức khoẻ con người và tăng khả năng tồn tại của đời sống trên Trái Đất bằng việc tiến dần đến một chế độ ăn chay”.  —  [1] http://ecologie.blog.lemonde.fr/2012/08/28/serons-nous-tous-vegetariens-en-2050  [2] www.worldbank.org/en/news/2012/08/30/severe-droughts-drive-food-prices-higher-threatening-the-poor  [3] Nguyễn Thọ Nhân, 2009, Biến đổi Khí hậu và năng lượng, Nxb Tri Thức, Hà nội, tr.299  [4] Stockholm International Water Institute, 2012, Feeding a Thirsty World, Report No. 31  [5] Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2006, Livestock’s Long Shadow, Rome  [6] The Lancet, vol. 370, issue 9594 ngày 6-10-2007  [7] Nguyễn Thọ Nhân, 2009, Ăn chay chống lại Biến đổi Khí hậu, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh  [8] Reijinders L., Soret S., 2003, ‘Quantification of the Environmental Impact of different Dietery Protein Choices’ , Am.J Clin. Nut., 78, 664S-668S  [9] Eshel G., Martin P., 2005 , ‘Diet, Energy and Global Warming’ Earth Interactions, 10(2006), paper No. 9, pg. 1      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm mới, chuyện cũ      Cách đây mấy tháng, phát biểu trước Quốc hội khi từ nhiệm, nguyên Thủ Tướng Phan Văn Khải nhìn nhận chúng ta không thành công trên lĩnh vực giáo dục và khoa học. Rồi chỉ mới cách đây vài tuần, ông Lý Quang Diệu, một chính khách lỗi lạc của Singapore, lại có lời nhắc nhở chúng ta: thắng trong giáo dục thì sẽ thắng trong kinh tế.  Trong không khí rộn ràng chuẩn bị cho việc hội nhập quốc tế khi đất nước gia nhập WTO, mong rằng hai ý kiến đó sẽ tạo một cú hích mới cho giáo dục và khoa học Việt Nam.         Thật ra sự trì trệ triền miên của giáo dục và khoa học Việt Nam nhiều năm qua là sự thật khách quan dễ nhận thấy. Nhưng đây là lần đầu tiên sự thật đó được chính thức thừa nhận bởi người có trách nhiệm chính quyền cao nhất trong một thời gian dài. Nếu như trung thực với chính mình, không tự ru ngủ bằng những thành tựu ảo hay phóng to lên nhiều lần, là điều kiện đầu tiên để thành công trong hội nhập thì nhận định của vị cựu lãnh đạo không những không làm chúng ta bi quan mà ngược lại đã gây cho chúng ta niềm tin vào tương lai hơn, vì từ đây ta biết rõ hơn mình đang ở đâu và cần làm gì để gỡ lại sự chậm trễ.   Singapore là nước đã bứt phá ngoạn mục từ kém phát triển lên tiên tiến trong thời gian 3-4 thập kỷ, nhờ chủ yếu đã biết chăm lo giáo dục từ sớm. Cho nên lời khuyên của họ có trọng lượng thuyết phục hơn cả mọi lý thuyết. Phải nói rằng chúng ta cũng đã có những nhà lãnh đạo sáng suốt nhìn nhận tầm quan trọng “quốc sách hàng đầu” của việc phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ. Song thực tế nhiều năm qua cho thấy không dễ gì đưa được quan điểm ấy vào cuộc sống. Trong khi các văn kiện, nghị quyết nhấn mạnh quan điểm ấy, thì nhiều chính sách thực tế liên quan giáo dục và khoa học đều thể hiện tinh thần ngược lại. Hy vọng lần này tác dụng cộng hưởng của hai ý kiến trên của hai chính khách Việt Nam và Singapore sẽ làm thức tỉnh quan chức ở mọi ngành để có quyết tâm cao hơn góp sức chấn hưng giáo dục và khoa học vì sự phát triển của đất nước.  1. Cần một tầm nhìn chiến lược. Muốn vực giáo dục và khoa học lên, vấn đề đầu tiên không phải là “tiền đâu”. Thật sự nguyên nhân chính của sự suy thoái giáo dục, khoa học không phải do thiếu tiền mà do ta không biết cách làm, cách quản lý. Giáo dục, khoa học là một hệ thống phức tạp, chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ các đặc thù hệ thống của nó, và chú ý kinh nghiệm của thế giới và các thế hệ đi trước. Điều quan trọng trước hết là phải có một tầm nhìn chiến lược về mục tiêu trước mắt và lâu dài, hướng đi, nhu cầu, khả năng trong xu thế phát triển, tư tưởng chỉ đạo, đường lối tổng quát, cũng có thể gọi là triết lý làm giáo dục, khoa học thời nay, trong thế giới này. Thiếu một tư duy hệ thống, một tầm nhìn chiến lược bao quát thì dễ sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “cải cách” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều mà kết quả chỉ là làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, không có sinh khí. Thế giới ngày nay biến chuyển mau lẹ, xây dựng giáo dục và khoa học trong thế giới đó đòi hỏi những người lãnh đạo không chỉ có tâm trong sáng và trung thực mà còn phải đủ tầm nắm bắt nhanh nhạy những biến chuyển đó và có khả năng suy nghĩ sáng tạo để tìm ra chiến lược phát triển thích ứng nhất.                Được điểm 10- Trần Thế Long        2. Một lỗi hệ thống cần sửa. Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn trong lĩnh vực giáo dục, khoa học. Một nền giáo dục, khoa học đã thiếu vắng các đạo đức cơ bản ấy tất nhiên hoạt động không bình thường và sớm muộn lâm vào bế tắc. Khi đó chỉ bằng những điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi trong điều hành không cứu nổi hệ thống, mà phải tìm cho ra các lỗi hệ thống và sửa các lỗi đó mới mong đưa được hệ thống ra khỏi khủng hoảng. Vậy cái lỗi hệ thống gì khiến cho giáo dục, khoa học của ta thiếu cần, thiếu kiệm và thiếu cả liêm, chính? Câu hỏi này đặt ra không chỉ cho giáo dục, khoa học mà cho cả bộ máy nhà nước ta. Chính vì cái lỗi hệ thống đó nên cuộc chiến chống tham nhũng cho đến nay vẫn chưa thành công.   Mấu chốt nằm ở nghịch lý lương/thu nhập: lương chỉ bằng một phần nhỏ thu nhập ngoài lương, thì đương nhiên người lao động giáo dục, khoa học phải dồn phần lớn tâm trí, khả năng để kiếm thu nhập ngoài lương, mà phần này thì phân phối tùy tiện, bất công, không có kiểm toán chặt chẽ, cho nên là nguồn gốc nhiều sự tiêu cực mà ai cũng biết. Vì sao nói đó là lỗi hệ thống? Vì nó chi phối, làm méo mó mọi quan hệ trong hệ thống. Đến mức bây giờ dù có tăng lương cho đủ sống mà không sửa cái lỗi hệ thống đó thì cũng chẳng thay đổi được tình hình. Thậm chí lỗi hệ thống đó đã sản sinh ra những quan hệ vận hành lâu ngày trở thành một phần cấu trúc của hệ thống nên ngay khi đã sửa lỗi đó rồi cũng phải đợi một thời gian và có thể phải sửa thêm một số lỗi hệ thống khác nữa mới đưa được hệ thống về hoạt động bình thường.  Dù sao, giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cần, kiệm, liêm, chính và do đó nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục, khoa học. Tôi dám cam đoan còn tồn tại nghịch lý đó thì giáo dục, khoa học còn hư hỏng. Mà giải tỏa cái nghịch lý đó hoàn toàn khả thi về tài chính, nhưng đương nhiên khó khăn tư tưởng khá lớn vì nó đụng chạm đến một bộ phận khá đông quan chức được hưởng lợi từ cách quản lý thiếu minh bạch này. Chung quy vấn đề là ta có thật sự muốn xây dựng một nền giáo dục, khoa học lành mạnh hay không, đó chính là câu hỏi phải trả lời trung thực.    3. Tư duy toàn cầu. Muốn thắng cuộc trong thế giới toàn cầu hóa, tất nhiên mọi suy nghĩ và hành động đều phải chú ý tới luật chơi chung. Phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực hoạt động thì mới có thể hợp tác và cạnh tranh được. Tiếc thay, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, tiêu chuẩn đánh giá trình độ một công trình khoa học, một nhà khoa học, một trường đại học, chúng ta đều có tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Có những công trình khoa học, những luận văn tiến sĩ của ta ngay cả về những ngành học thuật có tính quốc tế như khoa học cơ bản, kinh tế, v.v…, nếu xét theo tiêu chuẩn thông thường ở các nước thì thậm chí chỉ là những mớ giấy lộn. Đội ngũ GS của ta thì nhiều người hữu danh vô thực, số khá đông dưới xa chuẩn mực quốc tế bình thường nhất. Oái ăm là trong khi đó nhiều người có năng lực xứng đáng, nhất là người trẻ, lại bị loại vì không đạt các tiêu chuẩn vớ vẩn, không giống ai, của ta. Chẳng lạ gì có những ông A bà B trong nước được coi là nhà khoa học nổi tiếng mà trên quốc tế hoàn toàn vô danh. Thời gian gần đây lại xuất hiện ngay trong hàng ngũ các quan chức hàng loạt viện sĩ “hữu nghị”, viện sĩ “chạy”, viện sĩ “mua”, hoàn toàn không xứng với danh hiệu mà nhiều người vẫn tưởng là dành cho những tài năng lỗi lạc.  Chuẩn mực xô bồ như vậy mà ngày nọ tôi còn thấy môt vị lãnh đạo của Hội đồng Chức danh GS tuyên bố trên báo rằng GS… phải là người xây dựng được trường phái học thuật của mình(!). Thật tình tôi không biết cái gọi là trường phái học thuật đó có gì chung với khái niệm trường phái học thuật theo cách hiểu thông thường ở các nước. Với chuẩn mực khác người như vậy, làm sao có thể hội nhập quốc tế dễ dàng được..   Cái nguy hại của việc huênh hoang bất chấp các chuẩn mực quốc tế là ta tự lừa dối ta quá dễ dàng, cuối cùng thật giả lẫn lộn, chẳng còn sự phân biệt nào giữa người có năng lực thật và những kẻ bất tài. Các chức danh GS, PGS ở Việt Nam bây giờ quá rẻ, đến độ khi bàn về nhân tài mà nêu GS nọ GS kia, nhiều người nghe cũng đủ ớn.    4. Trách nhiệm cộng đồng. Kinh tế tri thức thực chất là nền kinh tế dựa vào chất xám và tài năng. Cho nên công cuộc hội nhập muốn thành công phải coi trọng đặc biệt vấn đề thu hút nhân tài. Đã từ nhiều năm Nhà nước hô hào người Việt thành tài ở nước ngoài về nước làm việc. Chủ trương đó rất đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên sự thực thì vấp phải quá nhiều rào cản, mà rào cản lớn nhất là chủ trương chung thì thoáng nhưng đi vào cụ thể thì còn nhiều chính sách rất bí. Từ cấp lãnh đạo cao đến người dân chưa phải ai cũng đã thật sự thông suốt với chủ trương này.   Chẳng hạn các cơ quan quan trọng như Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ đều có nhiều quy định kỳ lạ, thể hiện những quan niệm rất bảo thủ và lạc hậu hoàn toàn không đếm xỉa gì đến những yêu cầu tối thiểu về điều kiện làm việc cho các nhà khoa học. Một vài ví dụ: theo quy định của bộ Tài Chính, tiêu chuẩn không gian nơi làm việc cho giáo sư thấp hơn cả trưởng phó phòng hành chính, giáo sư phải chen chúc nhiều người trong một phòng chật hẹp, tìm đâu có chỗ để nghiên cứu, thảo luận, gặp gỡ giúp đỡ sinh viên. Tiền thù lao giờ giảng thì phụ thuộc chức vụ hành chính một cách lố bịch (Thứ, Bộ trưởng được thù lao giờ giảng cao hơn hẳn GS, PGS). Xếp ngạch bậc lương thì GS bậc cao nhất cũng chưa bằng chuyên viên cao cấp bậc thấp nhất, và số bậc nhiều đến mức phần lớn nhà khoa học giỏi làm việc nghiêm túc đến khi nghỉ hưu vẫn chưa leo lên được đến bậc cuối cùng, trừ khi tuổi hưu được gia hạn đến… 90 hay 100.   Hôm nọ tôi thấy trên báo còn có độc giả phát biểu: những người được đi học thành tài ở nước ngoài chưa đóng góp được gì cho Tổ quốc mà đòi hỏi điều kiện đãi ngộ này nọ là không ổn. Ai dám bảo ý kiến đó sai, nhưng sao mà nó giống với ý kiến: giáo sư là gì mà đòi hỏi buồng riêng, hoặc: anh là nhà khoa học Việt kiều, đã sống sung túc bao nhiêu năm, bây giờ về nước công tác sao còn đòi hỏi ưu đãi nọ kia. Với những quan niệm như thế thì thôi xin đành gác lại chủ trương thu hút người tài, và lùi cái thời hạn đất nước thoát khỏi  nghèo nàn lạc hậu sang thế kỷ 22 hoặc sau nữa.     5. Tư duy tốc độ. Để hội nhập thành công trong thế giới ngày nay, không chỉ cần hiệu quả mà còn cần tốc độ, hay nói đúng hơn đáp ứng nhanh trở thành một lợi thế đáng kể trong kinh doanh, nhiều khi còn quan trọng hơn hiệu quả.   Số là, cho đến gần đây, tiêu chí hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh là hiệu quả và thông thường các hãng tập trung vào dự đoán nhu cầu của khách hàng và tăng hiệu quả đồng vốn. Logic kinh doanh đó thích hợp khi thị trường ổn định và thay đổi chậm. Nhưng ngày nay, khi thị trường khó tiên liệu và thế giới biến chuyển nhanh chóng mặt, thì cái logic ấy không còn thích hợp mà phải nhường chỗ cho một logic mới đặt ưu tiên vào khả năng thích ứng mau lẹ nhiều hơn là hiệu quả. Trước kia cặm cụi “làm-ra-và-tiêu-thụ” – make-and-sell thì bây giờ phương châm hoạt động là thường xuyên “nắm-bắt-và-ứng-đáp” – sense-and-respond. Tốc độ, khả năng thích ứng mau lẹ trở thành yêu cầu tối quan trọng, nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội.   Trong cái thế giới đổi thay cực nhanh này, khó ai chấp nhận kiểu làm việc lề mề, chậm chạp như chúng ta. Cải cách hành chính hơn mười năm chưa thấy kết quả gì, chỉ thấy làm rối thêm một số việc đơn giản. Nhiều lỗi hệ thống là nguyên nhân chủ yếu sinh ra tham nhũng, quan liêu, lãng phí tràn lan, nhưng vẫn cứ tồn tại năm này qua năm khác. Kỳ họp Quốc hội nào cũng lên án mạnh mẽ tham nhũng, thế mà rồi cái quốc nạn ấy không hề bị đẩy lui. Ngay cái tập quán phong bì là nét văn hóa đáng xấu hổ của xã hội ta mà hàng chục năm rồi vẫn ngang nhiên tồn tại, thậm chí văn phòng một cơ quan đầu não còn làm gương xấu. Giáo dục, khoa học trì trệ, trong lúc chất xám bị sử dụng hết sức lãng phí. Năm này qua năm khác, hội thảo đi rồi hội thảo lại không biết bao nhiêu lần mà vẫn không có được một chính sách cụ thể khả dĩ đem lại chút niềm tin trong vấn đề này. Bàn đi tính lại mãi chuyện khuyến khích tài năng, cuối cùng chỉ  làm được mỗi việc là ghi tên các thủ khoa đại học vào bảng vàng để ở Văn Miếu!  Từ hơn mười năm về trước đã có biết bao đề nghị hợp lý về cải cách, chấn hưng giáo dục, từ việc đào tạo tiến sĩ, công nhận GS, PGS, đến nhiều việc cụ thể khác về thi cử, phân ban, tuyển sinh, tự chủ đại học,v.v. có thể nói không có vấn đề gì thiếu những đề nghị cải cách cụ thể, nhưng mãi đền gần đây một số những đề nghị ấy mới bắt đầu được nghiên cứu. Cải cách quản lý luôn là những chủ đề nóng của giáo dục và khoa học, nhưng cũng không có lĩnh vực nào đổi mới chậm chạp hơn giáo dục và khoa học. Ngay gần đây nhất cái ý tưởng hay lập một đại học đẳng cấp quốc tế, từ lúc được Thủ Tướng chấp nhận và nêu ra, được nhiều nhà khoa học Mỹ nhiệt tình ủng hộ, đến nay đã gần hai năm vẫn chưa thấy hình hài rõ ràng. Anh bạn tôi kể lại trong khi đó Thủ tướng Trung Quốc vừa sang thăm một nước Phương Tây, thỏa thuận với họ cho một đại học nổi tiếng mở chi nhánh ở Bắc Kinh thì chỉ mấy tháng sau họ đã chiêu sinh. Cơ hội gì cũng chỉ trong thời gian nào đó, có bao giờ là vĩnh viễn.  Sống trong thời đại internet, tên lửa vũ trụ, điện thoại di động, mà cứ giữ nếp tư duy chậm chạp và làm việc rùa bò thì mọi thời cơ bay đi hết. Không ai đủ kiên nhẫn chờ chúng ta. Thời đại công nghệ thông tin vừa mới bắt đầu chưa lâu la gì thì nay họ đã bàn chuyển qua thời đại công nghệ nano, chưa biết rồi sẽ còn những gì bất ngờ nữa đây để liệu mà vừa làm vừa nghĩ vừa chạy, vẫn không kịp “sense-and-respond”.   Ảnh trên cùng: Thế hệ tương lai- Nguyễn Thị Sin      Hoàng Tụy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nắn cầu để bảo tồn Đàn Xã Tắc      Chiều 5/6, UBND TP Hà Nội chủ trì hội nghị lấy ý kiến thiết kế nút giao thông Ô Chợ Dừa. với sự tham gia của nhiều chuyên gia ngành giao thông và sử học. .  &#160;    Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nhấn mạnh, quan điểm của Hà Nội là phải bảo tồn tốt nhất di tích Đàn Xã Tắc, trong sự phù hợp với quy hoạch.   Dựa trên quan điểm này, Sở GTVT Hà Nội nghiêng về phương án 4 trong số sáu phương án do Sở đề xuất. Lãnh đạo sở GTVT Hà Nội cho rằng, vấn đề tổ chức giao thông tuy có khó khăn (do cầu cong) nhưng giải quyết được yêu cầu bảo vệ di tích.  GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, thừa nhận, nút giao thông Ô Chợ Dừa cực kỳ gây bức xúc cho dân và chắc chắn phải xây cầu. Ông cũng thống nhất quan điểm với Hà Nội, chọn phương án 4, bởi phương án này giải quyết được các mâu thuẫn, kết hợp hài hòa giữa giao thông và di sản.          Phương án 4 xây cầu vượt trực thông theo hướng vành đai  1, đi lệch về phía Nam, đồng thời có thêm một cầu nhánh đi một chiều từ Khâm Thiên qua nút  Ô Chợ  Dừa, nhập vào cầu chính trên đường Vành đai 1.        Chuẩn bị rất nhiều tài liệu để sẵn sàng “chiến đấu”, thảo luận với những quan điểm cho rằng, địa điểm này chưa chắc đã là Đàn Xã Tắc như một số người từng đưa ra, tuy nhiên GS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ thừa nhận, “không còn gì để nói, vì Hà Nội đã đánh giá cao di tích này”. Ông Tín cho rằng, phương án 4 và 6 rất đáng lưu ý vì giữ được vùng lõi di tích.  Trong khi đó, nhà sử học Dương Trung Quốc cũng tỏ ra hài lòng. Ông chia sẻ, việc xây dựng cầu vượt ở khu vực Đàn Xã Tắc tưởng như không có lối thoát vì bất đồng quan điểm, tuy nhiên, tại hội nghị này các bên đã tìm được nhiều tiếng nói đồng thuận. “Mỗi lĩnh vực chuyên môn có “lợi ích” khác nhau, vì thế cần có sự hài hòa giữa các bên.  Ông Quốc cho rằng, con đường có thể kém đẹp mắt, nhưng “các hướng dẫn viên có thể giới thiệu cho du khách, con đường phải uốn cong thế này vì Hà Nội quyết tâm bảo tồn di tích, nắn cầu để không ảnh hưởng đến Đàn Xã Tắc”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ?      Có thể thấy rõ là chất lượng chung của đào tạo tiến sĩ hiện nay của ta còn thấp so với mặt bằng chung của thế giới. Với toàn bộ năng lực đào tạo hiện nay, liệu chúng ta có thể đào tạo “tốt” (theo yêu cầu đã quy định) cho khoảng 10 nghìn đào tạo trong nước của kế hoạch 20 nghìn tiến sĩ trong mười năm tới? Rõ ràng là không thể, và ta cần dứt khoát lấy chất lượng của đào tạo tiến sĩ làm trọng.        Dường như nét nổi bật của đào tạo tiến sĩ ở ta cho đến nay là một phần, có thể là phần rất lớn, người đã tốt nghiệp tiến sĩ chưa được rèn luyện và làm nghiên cứunghiên cứu theo các chuẩn mực quốc tế thông thường khoa học để đạt các kết quả . Vì vậy để có thể nâng chất lượng đào tạo tiến sĩ, chúng ta cần:  1.      Trước hết, cần xác định rõ về bản chất, mục tiêu và yêu cầu của đào tạo tiến sĩ.  2.      Tuyển chọn chặt chẽ để chỉ đào tạo tiến sĩ cho những người có động lực và khả năng nghiên cứu. Khi được chọn những người này phải được tạo điều kiện để có thể phấn đấu vươn đến chuẩn mực quốc tế (như phải có bài ở các hội nghị quốc tế tốt và được cấp ít nhất một lần kinh phí trong thời gian đào tạo để đi dự hội nghị quốc tế).  3.      Có các điều kiện và quy định thích hợp để chọn người hướng dẫn nghiêncứu sinh không bởi bằng cấp khoa học và chức vụ lãnh đạo mà nhất thiết phải bởi kết quả nghiên cứu khoa học hiện tại, bởi kết quả đã có trong việc hướng dẫn nghiêncứu sinh vươn đến chuẩn mực quốc tế. Nếu người hướng dẫn chưa bao giờ công bố ở tạp chí quốc tế sẽ rất khó dẫn dắt nghiên cứu sinh làm được điều này. sinh,  4.      Đưa lên mạng các luận án đã bảo vệ, để tránh nể nang và tiêu cực khi cho tốt nghiệp những luận án chưa đạt. Và quan trọng hơn, cần phải tuân thủ chặt chẽ tiêu chuẩn về chất lượng của các luận án tiến sĩ, như tiêu chuẩn dự định ban hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Có thể tham khảo và học tập một kinh nghiệm từ Trung Quốc. Gần đây phần lớn các trường đại học ở Trung Quốc quy định yêu cầu tối thiểu của một luận án tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ là hai bài báo trong các tạp chí hay hội nghị khoa học được xếp loại trong SCI (science citation index) hoặc EI (engeneering index). Nghiên cứu sinh cứ việc theo các điều kiện cần này mà phấn đấu, chưa đủ thì chưa được bảo vệ.  5.      Tìm cách nâng cao chất lượng của các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước, mỗi lĩnh vực cần có một tạp chí cấp quốc gia được xác nhận về chất lượng, phổ biến rộng rãi và sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo.  Một cách ngắn gọn, hiểu rõ bản chất và có quan niệm xác đáng, có chương trình thích hợp và đề cao chất lượng, đặt ra và tuân thủ các yêu cầu tốt nghiệp là những yếu tố quyết định của việc nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.  Có thể nói chúng ta sẽ phải trả giá lâu dài với những hậu quả xấu khôn lường nếu tiếp tục đào tạo chạy theo số lượng khiến chất lượng thấp tiến sĩ ngày càng thấp hơn như hiện nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao quyền uy của tòa án và uy tín của thẩm phán      Tất cả những ai nằm trong phạm vi thẩm quyền của pháp luật Việt Nam đều trông đợi những biện pháp cần thiết để nâng chất lượng hoạt động của ngành tòa án lên. Nếu ở quân đội người ta trông đợi sự anh dũng và chiến thắng thì công dân Việt nam trông đợi ở tòa án sự công minh trong xét xử và nhất quán trong các quyết định. Sự trông đợi đó là nhu cầu nhân bản của mỗi người. Nó là tâm lý con người và có tính bền bỉ, chứ không phải là khẩu hiệu chính trị có tính nhất thời; hơn nữa, nó tồn tại ở bất cứ chế độ chính trị nào. Và nó chỉ có thể thành hiện thực khi chúng ta nâng cao quyền uy của tòa án và uy tín của thẩm phán.         Hai việc làm này là một vì tòa án là cái vỏ, công việc của thẩm phán là cái ruột. Khi thẩm phán có uy tín thì tòa ắt có quyền uy, cái này là hệ quả của cái kia; còn nếu thẩm phán không có uy tín thì chẳng ai sợ tòa án cả. Vì thế ở đây, tôi sẽ đề cập đến thẩm phán và có ba điểm.   A. Dựa vào bên ngoài để nâng năng lực của thẩm phán  Nếu câu tục ngữ “học thầy không tày học bạn” đúng thì nhận định “tự một mình mình các thẩm phán không thể nâng cao năng lực xét xử của họ” cũng đúng. Đây là một sự thật nhưng nói ra có thể có nhiều thẩm phán không đồng ý. Sở dĩ vậy là vì cách hoạt động của các tòa án ở hệ thống khác ít được mình xem đến khi thiết lập; hơn nữa tòa án là một cơ quan quyền lực, nó ban phát công lý và đứng trước nó, tất cả mọi người phải khuất phục; do sức mạnh này một số thẩm phán dễ lập luận “khác biệt cơ bản về quan điểm”. Vậy đã là quan tòa thì đương nhiên có quyền và không cần phải nghe ai. Thực tế cho thấy một luận điểm đưa ra phải được phản biện thì nó mới có giá trị để được nhìn nhận. Bản án đáng lẽ cũng phải trải qua một quá trình như thế; nhưng thẩm phán có thể dùng quyền hành để không nghe quan điểm trái ngược. Tôi nhấn mạnh đến việc chỉ nghe thôi, còn chấp nhận là một bước khác.   Quyền hành mà thẩm phán có, ngăn chặn sự gia tăng về năng lực của họ; có nghĩa là nó không khuyến khích thẩm phán gia tăng năng lực. Vậy phải thiết lập một cơ chế để giảm thiểu thái độ đó, nếu nó chưa có, hay phải thúc đẩy nếu đã có rồi. Trong trường hợp của ta, tôi đề nghị công việc sau.    Thành quả công việc của một thẩm phán là các bản án họ viết ra. Năng lực của thẩm phán nằm ở đây. Một bản án không chỉ giải quyết vụ tranh chấp trước mắt mà nó còn là giải pháp cho các vụ tương tự trong tương lai tùy theo tính chất bản án là hình sự hay phi hình sự. Có sự khác biệt giữa tính chất của hai loại bản án này. Bản án hình sự có tính trừng phạt trong hiện tại và răn đe trong tương lai. Tính chất của nó là hành động. Bản án phi hình sự giải quyết nội vụ bây giờ và thiết lập một trật tự lâu dài cho xã hội. Tính chất của nó là thời gian. Sự khác nhau đó xuất phát từ số người có liên quan. Số người tham gia các hoạt động dân sự và thương mại có nhiều gấp bội so với những người vi phạm luật hình. Vì lẽ này, bản án cho một vụ phi hình sự phải phản ánh những ý kiến, những quan điểm khác nhau để từ đó thẩm phán chọn lựa giải pháp nào công minh nhất; chứ không phải dùng quyền hành để khư khư giữ quan điểm của mình. Cái gì công minh thì sẽ tồn tại lâu dài.   Trong một vụ án, những lập luận khác nhau được nguyên đơn, bị đơn, kiểm sát viên, luật sư đưa ra. Họ tranh luận bằng lời hay đối đáp với nhau bằng văn bản. Thường thường tòa và viện kiểm sát dễ đồng ý với nhau; kiểm sát viên dễ “ăn theo” tòa; như nhận xét của một vị cựu chánh án đã nêu ra gần đây. Các ý kiến có khác nhau là do luật sư nêu ra. Lập luận của mỗi bên là “chân lý” của vụ việc nhìn theo con mắt của mỗi người; giống như các cạnh của một viên kim cương. Mỗi người cố gắng thuyết phục người khác ủng hộ “chân lý” của mình. Và thẩm phán là người quyết định cuối cùng. Thẩm phán xem xét các “chân lý” đó rồi đưa ra “chân lý” của riêng mình tức là ra bản án. Nếu “chân lý” của thẩm phán rút ra từ, hay cọ sát với, những “chân lý” khác nhau thì “chân lý” của thẩm phán sẽ vững chắc. Nó được thử thách về mặt lý luận và được củng cố nhờ quyền uy của toà án, nhân danh quốc gia. Nếu “chân lý” của thẩm phán không bị cọ sát bởi các “chân lý” khác, thì ông ta cũng không tin chắc vào “chân lý” của mình. Đã tuyên đấy nhưng còn e ngại, nó đã thực sự công minh chưa. Không tin vào công việc của mình, và cũng để tránh rắc rối, thẩm phán có khuynh hướng không muốn phổ biến bản án rộng, viện cớ điều khoản về cấp trích lục bản án hiện có. Khi ấy sự quan tâm của thẩm phán không phải là sự công minh, tức là chất lượng, mà là cấp trên, tòa trên của họ.    Đến tòa cấp trên, nếu “chân lý” của thẩm phán ở đó không bị mài dũa bởi các ý kiến khác thì bản án phúc thẩm cũng sẽ như ở tòa dưới. Thẩm phán quyết định một mình. Nếu họ chấp nhận quan điểm của tòa sơ thẩm thì ấy là “con hát mẹ khen hay”; còn nếu bác thì cũng chỉ là vì tòa dưới làm không “đúng quan điểm” của mình. Tuy nhiên tòa dưới cũng không bị buộc phải theo khi xử lại. “Chân lý” đơn phương ở hai cấp như thế thì năng lực xét xử của tòa án nói chung khó tăng lên được để đáp ứng sự phát triển của xã hội. Luật lệ có thể đi sau thực tế, nhưng bản án phải đi trước và hướng dẫn thực tế.    Khi tòa án cứ duy trì tình trạng hiện nay thì sinh viên luật không có luật pháp trong thực tiễn để học hỏi; luật sư không thấy “sự công minh được trải dài” để mà góp ý kiến hoặc để khuyến cáo thân chủ tuân theo. Hiệu quả lâu dài của bản án không có; chất lượng của nó sẽ thấp mãi.   Để gia tăng cơ hội cọ sát “chân lý” của thẩm phán, phải nâng vai trò của luật sư lên. Luật sư của cả hai bên tranh chấp sẽ đưa ra những bằng chứng khác nhau, quan điểm khác nhau để bênh vực thân chủ mình; họ bày ra, thẩm phán xem xét, chấp nhận hay bác bỏ lý lẽ nào đó và cho biết tại sao trong bản án. Đó là mâm cỗ dọn sẵn cho thẩm phán tùy ý lựa chọn, thêm bớt để ra bản án. Lựa chọn của thẩm phán như thế sẽ là lựa chọn có cân nhắc và đã được thử thách. Luật sư vì được các bên tranh chấp thuê nên họ bị áp lực phải tìm tòi lý lẽ để thắng; do đó họ có động lực nâng cao chất lượng của bản án. Vấn đề chỉ là thẩm phán lắng nghe dù thấy nó trái ý mình.   Về luật sư, Bộ Tư pháp muốn nâng số luật sư cả nước lên 20.000 vào năm 2010. ý định của Bộ tôi không rõ; nhưng tôi cho rằng đấy là cách nâng trình độ của ngành tư pháp qua sự tranh luận tại tòa của luật sư. Việc này không gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên dự định ấy, nếu có, sẽ không dễ dàng nếu thẩm phán không bị buộc phải nghe. Hơn nữa, luật sư có ba hạn chế lớn. Một là họ không thể nâng tài năng lên được nếu không có khách thuê khiến họ phải nỗ lực. Hai là, dù lập luận của họ có sắc bén mà tòa án không nghe, không chấp nhận thì cũng vô nghĩa. Ba là, vai trò của họ rất thụ động. Theo Luật luật sư, họ tham gia vào công việc tố tụng, theo sự lựa chọn của khách hàng và được cấp giấy chứng nhận cho phép tham gia.   Để thực hiện điều trên trong tình hình của luật tố tụng hiện nay, đề nghị Ông chánh án ra chỉ thị các thẩm phán, nếu chỉ thị nằm trong thẩm quyền của mình, còn không thì khuyến khích các thẩm phán, sử dụng ý kiến của luật sư nhiều hơn, hiểu rằng họ giúp mình chứ không ép buộc mình, nghe họ để so sánh, để mài dũa “chân lý” của mình cho nó chắc chắn và sáng chói. Gần đây tòa phúc thẩm có trả lại những vụ án không có luật sư tham dự khi mà luật đòi hỏi. Việc này rất đáng ca ngợi. Nhưng đó là tòa “khiển trách” cơ quan điều tra, còn về phần mình thì sao? Tòa có sẵn sàng nghe ý kiến của luật sư và có cho các vị thẩm phán ký tên trong bản án không? Điều này không phải vì lợi ích của luật sư mà là cho sự công minh của bản án.     B. Lập ra cơ chế để giảm bớt công việc cho tòa án   Hiện nay, khi muốn tăng cường tính hữu hiệu của tòa án thì cách làm, trong khuôn khổ cải cách tư pháp, là gia tăng số thẩm phán, giao bớt việc về cho các tòa quận/huyện để giải quyết các vụ khiếu kiện của dân chúng. Tôi xin dùng hình ảnh này để cho dễ hiểu. Khiếu kiện, khởi tố của dân chúng ra tòa giống như một dòng nước lớn ùa tới. Để giải quyết, người ta có hai cách làm: một là đào thêm hồ, thêm ao để chứa nước; hai là không đào hồ mà đặt ra các vật cản dòng nước lại. Cải cách tư pháp ở ta làm theo cách đầu. Nó sẽ không hiệu nghiệm vì chỉ làm cho dòng nước kia lớn tràn đến mạnh hơn mà thôi, vì dòng nước là tâm lý của những người “khôn ngoan” mà nó lôi cuốn theo nhiều người khác làm vì thấy lợi. Hồ đào sẽ không kịp. ở các nước khác vì quan niệm tòa ban phát công lý nên họ làm theo cách thứ hai. Và về mặt tâm lý khi bị cản trở người ta sẽ ngại đi đòi, hay phải suy tính kỹ trước khi đòi. Họ đặt ra các “đê chặn” để cản bớt việc kiện cáo và khuyến khích giải quyết tranh chấp bên ngoài tòa án, qua các ủy ban trọng tài, hiệp hội chuyên ngành… Khi tòa xử ít đi thì sẽ trở nên công minh và hữu hiệu; còn cứ tìm cách giải quyết hết như ta hiện nay thì công việc sẽ luôn luôn ối đọng và trước áp lực đó thì sẽ xử sai, xử sót.             Các luật sư tham gia một phiên tòa ở TP. HCM              Ảnh: Lê Toàn        Ở Mỹ tòa án không cho đương đơn trực tiếp trình bày trước tòa mà buộc phải sử dụng luật sư. Thủ tục giải quyết các vụ dân sự ở Mỹ được trao cho luật sư hai bên. Họ nghe lý lẽ khiếu kiện của thân chủ mình, rồi hai người xem xét để bàn với nhau các vấn đề nào có thể tự giải quyết được; đem ra thuyết phục thân chủ; chỉ những vấn đề hai luật sư không giải quyết được theo yêu cầu của thân chủ họ mới đem ra tòa để xin xử. Tòa chỉ xử một hai vấn đề quan trọng sau khi hai bên đã chọn lọc chứ không phải nguyên đơn muốn gì tòa cũng xử. Ngoài ra, trong hệ thống thông luật, người ta coi công dân đến tòa là nhờ vả tòa và tòa có quyền đặt ra các điều kiện để mình thụ lý. ở bên Pháp tòa để cho hai bên cứ lời qua tiếng lại bằng lý đoán; khi nào hết lẽ thì xin tòa xử. Bằng cách làm này họ đẩy trách nhiệm cho công dân. “Các anh phải tự xử với nhau, cuối cùng tòa mới can dự”. Tòa có thái độ như thế nên các bên tranh chấp suy nghĩ kỹ càng trước khi định đưa ra tòa; còn không thì nghe luật sư hay nhờ một cơ quan trọng tài.    Người Mỹ không ngại tranh chấp, thích kiện cáo, mà tòa “sử dụng quyền” theo kiểu kia nên đội ngũ luật sư đông! Luật sư đông chứ không phải thẩm phán đông. Luật sư chính là “đê chặn”. Luật sư giảng giải cho khách hàng để làm giảm sự thiếu chính đáng, không phù hợp luật pháp trong các đòi hỏi của khách. Vì vậy, việc đến tòa án ít. Tòa xử vụ nào ra vụ ấy, không sợ mất thời gian như ở ta như trong vụ PMU 18 vừa rồi. Một vụ xét xử công minh sẽ tạo nên nề nếp trong xã hội. Nó đưa hoạt động của xã hội vào một trật tự mà mọi người mong đợi và đáp ứng, tranh chấp ít xẩy ra, nếu có thì luật sư giải quyết.   Ngoài việc sử dụng lực lượng luật sư, cơ chế của họ còn khuyến khích sự dàn xếp bên ngoài tòa qua các “giải pháp thay thế để giải quyết tranh chấp” (alternative dispute resolution – ADR). Việc này do các tổ chức trọng tài, các hiệp hội đứng ra làm. Tòa án chỉ xem lại nếu thủ tục làm sai và có bên xin phúc thẩm.   Bên ta, thì ngược lại. Tòa ôm hết. Chẳng bao lâu nữa các tòa quận cũng sẽ bị quá tải. Đang khi ấy lại vẫn có ý kiến trên báo chí cho rằng quy định về chứng cứ ban đầu trong luật tố tụng dân sự cần phải bỏ, vì nó chỉ làm khó người khởi kiện! Lý do nêu lên là quyền khởi kiện là quyền của công dân, được pháp luật bảo vệ. Hoặc có ý kiến khác cho rằng khi luật cho phép trong những trường hợp nhất định đương sự có quyền yêu cầu tòa thu thập giúp chứng cứ giải quyết vụ kiện; như vậy tại sao lại bắt đương sự đưa ra chứng cứ ban đầu để tước đi quyền khởi kiện của họ? Thậm chí lại có ý kiến bảo bỏ thời hiệu. Những ý kiến này có thiện ý, nhưng không thực tế, không hiểu sức tòa… có hạn.   Một điểm nhận xét nữa là dường như tòa án ta nghĩ rằng mình sẽ có quyền lực nhiều nếu xử nhiều, vì nhiều người cần đến mình. Ai thưa cũng xử; nơi khác mà xử thì sẽ dùng quyền của mình để loại họ ra.   Thực ra tòa sẽ có quyền uy, thẩm phán sẽ có uy tín, nếu bản án tòa tuyên công minh. Muốn công minh thì chỉ xử ít. Khi xử ít thì sẽ mất giờ tức là không bị áp lực về thời gian. Nhìn vào một phiên tòa người ta cần thấy công lý được thực hiện, sự công minh được trải dài; chứ không cần biết tòa xử bao nhiêu vụ trong một năm như thường được báo cáo trong các phiên họp của Quốc hội. Muốn xử ít thì phải có cơ chế để làm như các nước phát triển. Họ cũng đã trải qua như chúng ta hiện nay và họ đã giải quyết được.   Thủ tục tố tụng dân sự của chúng ta không du nhập những nguyên tắc đã có từ thời La mã để ngăn chặn lòng tham và sự không công bằng với chính mình của con người. Khi thiết lập chế độ, chúng ta mong muốn là sẽ lo hết mọi thứ cho dân vì nghĩ rằng sẽ công hữu hóa được tư liệu sản xuất. Điều đó đã không thực hiện được. Hệ quả của hoài bão đó là người dân cảm thấy mình có quyền đòi theo tâm lý “nhờ ơn nọ ơn kia”. Chúng ta không có quan niệm là luật pháp chỉ bảo vệ và có thể bảo vệ cái mà một người đã mong đợi khi bắt đầu giao dịch, chứ không thể bảo vệ lòng tham của họ. Các định chế tài chính đang tồn tại như thị trường hàng hóa giao sau, quyền lựa chọn, chứng quyền, các quỹ hắt rủi ro (hedge fund) đều hoạt động trên căn bản này. Không ai có thể bảo vệ lòng tham của người khác vì nó vô giới hạn. Khi chúng ta ước mong lo hết mọi thứ cho dân để chứng tỏ mình hơn hẳn, chúng ta đã vô tình bảo vệ “sự khôn ngoan hay nhất định không chịu thua” của một số không ít người trong dân chúng. Nền kinh tế đã thay đổi, nhưng số người đó vẫn giữ tâm lý kia vì có lợi. Trong hoàn cảnh như thế tòa án phải thay đổi tư duy để đổi cách làm.    Hiện nay bên phía luật tố cáo và khiếu nại đang có thay đổi theo hướng mới. Luật sư được cho phép làm đại diện hay tháp tùng người khiếu nại để cho thỉnh cầu của người khiếu nại với cơ quan xử lý được giải quyết dễ dàng. Hai người hiểu biết nói chuyện với nhau rất dễ giải quyết. Giải quyết công việc với người cãi chầy cãi cối mệt lắm.  Việc lọc bớt vụ việc chuyển đến tòa chưa thể làm ngay được vì còn luật pháp hiện hành; nhưng cần được quan tâm khi luật về tổ chức tòa án được soạn thảo; hoặc ít ra phải có sự thay đổi về tư duy vốn không bị luật pháp cản trở.   C. Tạo phương tiện cho thẩm phán ra phán quyết nhất quán trong các vụ dân sự có tình tiết giống nhau  Hiện nay, các thẩm phán xét xử theo luật pháp mà luật pháp thì có nhiều cách giải thích, khi rộng, khi hẹp tùy người; cho nên, trong các vụ có cùng tình tiết, án tuyên ở các tòa các nơi khác nhau; thậm chí trong cùng một vụ, quan điểm của tòa phúc thẩm không được tòa sơ thẩm xử lại tuân theo. Lý do là vì luật tố tụng của ta không qui định giá trị bằng chứng, phân định tòa dưới xử gì, tòa trên xử gì. Khi luật tố tụng chủ trương công lý tối đa thì việc xét xử trở thành không có điểm dừng.   Sự không nhất quán trong các biện pháp đưa ra cho các vụ phi hình sự có cùng tình tiết làm cho dân chúng bất an. Người nhát thì không dám làm vì không biết tòa sẽ xử ra sao nếu có tranh chấp sau này; kẻ bạo thì cứ làm bừa với hy vọng tòa sẽ xử khác. Khi dân chúng có thái độ khác nhau về uy lực của luật pháp thì họ sẽ khó cam kết gì với nhau vì sợ rằng nếu trục trặc xảy ra thì không biết hậu quả thế nào. Người tốt lại hay có tâm lý này. Tòa án hoạt động như thế thì, về mặt tâm lý, nó không tạo trong lòng người dân một sự ổn định và tiên đoán được.   Trong các vụ hình sự, khi ra hình phạt khác nhau cho các vi phạm giống nhau thì không quan trọng lắm vì chúng bị chi phối bởi sự khác biệt trong yếu tố chủ quan và chủ thể của các đương sự trong mỗi vụ. Hơn nữa, đối với những người xấu trong xã hội, vốn không nhiều, thì phải làm cho họ sợ bằng cách không cho biết nếu vi phạm họ sẽ bị trừng phạt như thế nào; có khi vì không biết nên họ không dám phạm. Trái lại, những bản án của các vụ phi hình sự tác động đến nhiều người ngay, và số này lại chiếm đa số trong xã hội; họ đòi hỏi luật pháp phải ổn định và tiên đoán được để còn tính chuyện lâu dài cho cuộc đời.   Bàn về sự nhất quán của các vụ án có cùng tình tiết thì ở các nước phát triển họ có một cơ chế giúp thực hiện: án lệ và chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán; khiến cho thẩm phán không bị ảnh hưởng bởi các áp lực trực tiếp trong mỗi vụ mà mình xét xử.   ở Mỹ, các thẩm phán, khi xem xét một vụ án để đưa ra quyết định, họ bị chi phối bởi hai yếu tố phụ (sub-culture) nằm trong văn hóa pháp lý (legal culture): (i) tư duy pháp lý (hay cách suy nghĩ theo kiểu của pháp lý – legal reasoning) và (ii) văn hóa của nền dân chủ. Trong yếu tố đầu họ suy luận bằng cách dùng các gương người xưa. Đó là một quá trình có ba bước của học thuyết về tiền lệ: tìm sự tương đồng giữa các vụ án –  nêu lên quy tắc luật pháp nằm ẩn trong các vụ án trước – quy tắc luật pháp áp dụng cho vụ án đang xử lý. Tư duy này được duy trì trong cộng đồng luật pháp gồm tòa án, các trường luật, các đoàn luật sư và các hội luật gia. Mảng thứ hai là các yêu cầu chính trị. Họ cân bằng hai thứ này trong quyết định của mình.          Tôi nêu lên điểm trên để nói rằng, để đạt được sự nhất quán, trong các quyết định đưa ra trong các vụ án khác nhau mà có cùng tình tiết, thì nó sẽ đòi hỏi thẩm phán phải được hỗ trợ theo một định chế. ở ta không có định chế này. Tiền lệ thì có, nhưng không bị bắt buộc phải theo, cho nên không có đơn vị nào trong tòa án đứng ra duy trì. Năm 2004, với sự giúp đỡ của cơ quan STAR có hai quyển sách về các vụ án giám đốc thẩm được Tòa tối cao xuất bản, hai năm vừa rồi không còn nữa. Khi không dùng án lệ và tập tục, thì nó có cái lợi trong ngắn hạn là giới cầm quyền có thể ra lệnh cho mỗi vụ án phải xử như thế nào (chẳng hạn vụ ở Đồ Sơn), nhưng nó gây ra thiệt hại lâu dài về mặt tâm lý là người dân không biết phải ứng xử như thế nào trong những trường hợp nhất định; và xã hội có tiềm ẩn một sự bất an về mặt pháp lý.   Những điều tôi đề nghị trên các nước khác họ đã giải quyết xong từ lâu rồi. Ta cần biết về chúng để từ từ du nhập vào hệ thống của mình.    LS. Nguyễn Ngọc Bích    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao vai trò phản biện của báo chí      LTS: Vừa qua, Ban Biên tập Tạp chí Tia Sáng đã nhận được thư chúc mừng nhân Ngày Nhà báo Việt Nam 21-6 của ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang. Chúng tôi xin trích đăng phần nói về vai trò phản biện của báo chí trong bức thư của ông.    Bây giờ báo chí nhiều, sách cũng nhiều, chỉ tiếc là mình có tuổi, ham đọc, đọc nhiều mà không nhớ. Lúc nhỏ, nhà nghèo, không được học cho ra học, không có sách báo để đọc. Cũng may nhờ theo cách mạng sớm nên đọc sách báo kháng chiến, đọc thơ cách mạng… tuy không nhiều, và cộng với nỗ lực tự học trong thực tế mà có một ít hiểu biết để làm cái việc gọi là “cầm quyền” sau khi nước nhà thống nhất. Nhưng cái sai lầm lớn nhất là khi đang làm việc chưa lúc nào tôi thấy mình dốt, vì lúc nào cũng được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ! Nghỉ hưu rồi có dịp đọc nhiều mới tá hoả ra là mình dốt quá!      Thật tình trên cương vị lãnh đạo cấp huyện đầu những năm mới giải phóng; rồi trong công tác lãnh đạo ngành nông nghiệp tỉnh hay gần 15 năm ở Ủy Ban tỉnh… tôi đều hết sức cố gắng và làm được một số việc, được tổ chức và dư luận khen. Còn những khuyết điểm mà tôi mắc đều được tập thể nhận thay cho hết rồi – do hậu quả chiến tranh, do cơ chế và do nền sản xuất nhỏ. Những lúc như vậy đôi khi tôi cũng tự mãn. Bây giờ nghĩ lại, không phải tự phê mà chỉ tiếc là mình tiếp cận được ít nguồn thông tin quá nên nhiều quyết định của mình còn thiếu tầm cao, rộng và sâu; nếu mình có học, có đọc, có tư duy thì thành công hay hiệu quả công việc chắc chắn không chỉ dừng ở đó. Nói cụ thể: khi gia nhập WTO ai cũng nghĩ rằng thị trường sẽ mở rộng, sản xuất và xuất khẩu gia tăng, nông dân sẽ đổi đời. Nào ngờ, từ khi gia nhập, thua thiệt cứ đổ lên người nông dân, do ta chưa chuẩn bị đủ điều kiện cần có cho họ, thậm chí còn giảm đầu tư cho nông nghiệp do sợ bị buộc là “trợ cấp”. Sau khi Tổng thống Bush ký đạo luật trợ cấp cho nông nghiệp Mỹ trị giá gần 50 tỷ USD cho 10 năm (ký vào cuối nhiệm kỳ hai của ông ta), và gần đây Trung Quốc lần lữa không điều chỉnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ thì tôi mới nhận thức ra bản chất của kinh tế thị trường không có tự do như ta nghĩ. Nhớ lại, năm 1991 sang Đài Loan, các thương nhân nói với tôi rằng: Ở đây thị trường tự do, nhưng những hàng hoá thiết yếu cho dân như: gạo, đường, muối và những thứ siêu lợi nhuận như rượu, bia, thuốc lá chỉ có quốc doanh và hợp tác xã độc quyền. Những năm gần đây hàng Việt Nam bị kiện bán phá giá tại thị trường EU, Mỹ, Ấn Độ… Từ đó, tôi ngộ ra, dù hết sức muộn màng, rằng: Tự do chỉ là hình thức hào nhoáng, giống như chiếc áo tàng hình mà chỉ kính hồng ngoại mới thấy. Tiếc rằng ta chưa có loại kính ấy để thấu suốt “chiếc áo tàng hình” của thị trường tự do hay tự do thương mại thế giới! Nói ta ở đây là nói những người làm công tác quản lý kinh tế – xã hội ở cùng thời với tôi nói chung.  Vì sao tôi có nhận thức ngây thơ và muộn màng như vậy? Đó là lỗi hệ thống. Chúng ta chỉ có hệ thống ra quyết định và thi hành quyết định, thiếu tổ chức hệ thống phản biện và cơ chế lắng nghe. Chúng ta không thiếu chủ trương chọn người tài và chúng ta có rất nhiều nhân tài tầm cỡ quốc tế; không thiếu tư vấn, phản biện; không thiếu tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Đặc biệt ta có hệ thống truyền thông khổng lồ với hơn 700 tờ báo các loại, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình với trên 16 ngàn phóng viên… Vậy, với nguồn “nguyên liệu” dồi dào và công cụ mạnh mẽ ấy mà ta chưa có một hệ thống tư vấn, phản biện, lắng nghe hoàn chỉnh, để đưa cuộc sống phong phú muôn màu và vô cùng phức tạp vào các quyết định ở các cấp là điều đáng suy nghĩ! Nói đến đây tôi lại nhớ đến một người mà mỗi khi con nước Sông Cửu Long quay (5/5 âm lịch), báo hiệu mùa nước nổi bắt đầu cũng là kỷ niệm ngày Ông tạ thế. Ông là Thủ tướng của nhân dân – Võ Văn Kiệt. Trong nhiều câu chuyện mà tôi lãnh hội ở Ông, có lần Ông nói với tôi sau Đại hội X khi tôi đến thăm Ông tại 16 Tú Xương: “Cậu về bàn với anh em báo chí, làm sao có tờ báo cho nông dân đọc. Trước mắt là cho, sau là bán có bù lỗ. Trước là cho Đồng bằng Cửu Long, sau là nông dân cả nước. Báo mình nhiều mà không đến được nông dân và nói về nông dân ít quá!” Mỗi lần nhớ tới Ông, tôi lại buồn vì thấy mình có lỗi với Ông và nói đúng hơn là lỗi với dân, bởi còn nợ dân nhiều quá!  Nhắc đến Ông Sáu bất cứ lúc nào tôi luôn thấy đó là giây phút thiêng liêng nhất trong tôi. Lúc nầy, nhớ Ông qua câu chuyện “tờ báo cho nông dân” càng thiêng liêng hơn, bởi chúng ta sắp kỷ niệm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam.   Nguyễn Minh Nhị      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lực áp dụng pháp luật      Như giọt nước phản ánh bầu trời, cách hành xử của Cục Văn hóa cơ sở đối với slogan quảng cáo của Coca-Cola cho thấy năng lực áp dụng pháp luật để quản lý đang là một vấn đề rất lớn của nền quản trị quốc gia.      Xét về mặt truyền thông, Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT&DL) đã gây ra phản ứng ngược, khi thổi còi slogan quảng cáo “Mở lon Việt Nam” của Coca-Cola. Không chỉ ý kiến của Cục bị phản biện về nhiều phương diện, mà slogan của Coca-Cola còn được đăng tải miễn phí tràn ngập trên mạng xã hội.    Cho dù, Coca-Cola đã nhanh chóng đồng ý sửa đổi slogan quảng cáo của mình như được yêu cầu, thì lợi ích mà chiến dịch quảng cáo mang lại cho doanh nghiệp vẫn lớn ngoài mức mong đợi. Tin hay không thì tùy, nhưng lợi ích có được nhờ vào sự sáng tạo của Coca-Cola thì ít, mà nhờ vào cách phản ứng, cách lý giải của Cục Văn hóa cơ sở thì nhiều.  Trong tiếng Việt, các từ có dấu và không có dấu là những từ khác nhau. Chúng được sử dụng để diễn tả những sự vật và những khái niệm hoàn toàn khác nhau. Khi nói đến từ “lon”, ai cũng biết đây là vật dụng được dùng để dựng một thứ gì đó, như lon bia, lon Coca-Cola, lon gạo… “Lon” còn có nghĩa là hàm cấp như “lon thiếu úy’. “lon đại tá”… chẳng hạn. Từ  “lon” với cả hai nghĩa nói trên đều không có gì nhạy cảm. Chính vì vậy, coi slogan “mở lon”  trái thuần phong, mỹ tục là không có căn cứ. Còn lập luận rằng người ta có thể thêm dấu, thêm mũ vào cho từ “lon” nên nó rất nhạy cảm thì thật là vô cùng. Trước hết, nếu thêm dấu vào cho từ “lon” thì đó sẽ không còn là “lon”. Sau nữa, có rất nhiều từ trong tiếng Việt thêm bớt dấu, mũ vào đều trở nên nhạy cảm. Chẳng lẽ lại cấm sử dụng tất cả các từ đó để quảng cáo hay sao? Căn cứ pháp luật để cấm như vậy tìm ở đâu ra?  Cho dù, việc quảng cáo “trái với thuần phong, mỹ tục Việt Nam” bị cấm (theo Điều 8, Luật Quảng cáo) là chuyện không phải bàn cãi, thì việc xác định thế nào là trái với thuần phong, mỹ tục Việt Nam lại không hề đơn giản. Chủ quan áp đặt cách hiểu, cách suy diễn của cơ quan quản lý chắc chắn sẽ bị xã hội phản ứng. Đó là chưa nói tới việc các doanh nghiệp có thể khởi kiện nếu căn cứ pháp lý cho việc áp đặt đó là không chắc chắn.      Để cải cách hành chính trước hết phải nâng cao năng lực áp dụng pháp luật cho các cơ quan quản lý nhà nước. Quan trọng là các cơ quan này phải khắc phục được hiện tượng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện.      Như giọt nước phản ánh bầu trời, cách hành xử của Cục Văn hóa cơ sở đối với slogan quảng cáo của Coca-Cola cho thấy năng lực áp dụng pháp luật để quản lý đang là một vấn đề rất lớn của nền quản trị quốc gia. Để cải cách hành chính vì vậy trước hết phải nâng cao năng lực áp dụng pháp luật cho các cơ quan quản lý nhà nước. Quan trọng là các cơ quan này phải khắc phục được hiện tượng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện. Vì áp dụng pháp luật như vậy không chỉ gây khó cho các doanh nghiệp, mà còn phá hỏng môi trường kinh doanh của đất nước.  Ngoài ra, cách làm việc của các cơ quan quản lý cũng cần được cải tiến theo hướng thiết thực và hiệu quả. Nếu thấy slogan quảng cáo “Mở lon Việt Nam” vẫn có thể dễ bị suy diễn, thì một sự góp ý cho Coca-Cola sẽ hiệu quả hơn là một mệnh lệnh hành chính. Đặc biệt, trong những trường hợp căn cứ pháp lý không đủ vững chắc, thì thay vì ngồi bên bàn giấy để ban hành mệnh lệnh, cách gọi điện trao đổi trực tiếp bao giờ cũng hợp lý hơn. □    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Năng lực cạnh tranh của Việt Nam: Tụt hạng vì những vấn đề cũ      Theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 – 2012 do diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) vừa công bố, Việt Nam rớt sáu bậc so với năm ngoái, xếp hạng 65/142 quốc gia được khảo sát. Nhìn vào các chỉ số cạnh tranh quốc gia (GCI) của Việt Nam, các nhà phân tích quốc tế đánh giá nguyên nhân tụt hạng chủ yếu đến từ các vấn đề cũ.    Sự trỗi dậy của kinh tế châu Á là nhờ động lực đáng kể của cạnh tranh. Trong năm năm qua, các nước trong khu vực, gồm Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam và Sri Lanka có những bước tiến đáng kể về GCI.  Tuy nhiên, châu Á cũng là khu vực có sự chênh lệch quá cách biệt về khả năng cạnh tranh: từ hạng 2 (Singapore) đến 131 (Đông Timor). Và trong lúc hai trong số các nền kinh tế lớn nhất khu vực – Bangladesh (108) và Pakistan (118), tiếp tục xếp hạng rất thấp, một số nền kinh tế châu Á mới nổi đường hoàng lọt vào nhóm 30 nước có năng lực cạnh tranh cao nhất.  Nhìn vào các chỉ số GCI, môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam có bước cải thiện đáng kể, tăng 20 bậc so với một năm trước. Tuy nhiên, điểm sáng này không tạo được sự thay đổi lớn khi mười trong tổng số 12 các chỉ số chính của GCI bị mất điểm. Thâm hụt ngân sách năm 2010 còn quá lớn, ở mức 6% GDP, và lạm phát đã trở lại mức hai con số sau khi hạ một thời gian ngắn trong năm ngoái. Thách thức đáng kể là cải thiện hiệu quả của thị trường lao động (vị trí 46), khả năng đổi mới của nó (66) cho giai đoạn phát triển.  Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, dù đã được cải thiện trong những năm gần đây. Đặc biệt là chất lượng đường giao thông (123) và cảng biển (111).  Mặc dù giáo dục dường như đạt yêu cầu về chất lượng đào tạo cho người dân, tỷ lệ nhập học các cấp vẫn còn thấp (64, 103, và 110 tương ứng cho các cấp tiểu học, trung học và đại học). Để nâng cao khả năng cạnh tranh, Việt Nam cần một thể chế tiến bộ cho cải cách giáo dục.  Về điều kiện kinh doanh, theo khảo sát của ngân hàng Thế giới, để thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam, cần chín thủ tục, mất 44 ngày và chi phí chiếm khoảng 12,1% so với thu nhập trên đầu người. Vì vậy mà quy chế thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam được coi là nặng nề (vị trí 113). Như vậy, thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn với nhà đầu tư nước ngoài.   Ngoài ra, còn những quan ngại về mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ (127), và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ (98).  Tham nhũng vẫn là mối bận tâm lớn  WEF công bố, dân số Việt Nam đến cuối năm 2010 là 89 triệu người, GDP đạt 103,6 tỉ USD, tương đương 0,37% GDP toàn cầu. Tính trung bình thu nhập bình quân đầu người ở mức 1.174 USD/năm. Tuy vậy, mức thu nhập này thấp hơn 2.000 USD so với mức trung bình của các nước đang phát triển tại khu vực.  WEF nhận định chính sách tài khoá của Việt Nam bị cản trở bởi các thâm hụt có tính cơ cấu của khu vực nhà nước. Áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao cho thấy chính sách tiền tệ có nhiều việc phải giải quyết.  Các nhà phân tích khuyến nghị Việt Nam cần nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả đầu tư, năng suất nền kinh tế, giải quyết các nút thắt hạ tầng, kỹ năng lao động, cải cách thủ tục hành chính.  Mức độ tham nhũng là một trong bốn yếu tố cơ bản hàng đầu (cùng với lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ) ảnh hưởng tới GCI của một quốc gia.  Để có cơ chế minh bạch hơn, Việt Nam cần thành lập hội đồng cạnh tranh để điều phối, tập hợp được các dự án đang rải rác ở nhiều bộ ngành, cũng như đánh giá hiệu quả thực hiện các dự án.          Báo cáo cạnh tranh toàn cầu là một bản tin hàng năm được WEF phát hành hàng năm từ năm 1979.    GCI nhằm đo lường khuynh hướng của thể chế, chính sách, những nhân tố tạo thành tình trạng hiện thời và những mức giới hạn về thịnh vượng kinh tế.   Xếp hạng năng lực cạnh tranh dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố. Kết quả lấy từ khảo sát ý kiến các doanh nhân và chuyên gia kinh tế.   Năm nay, Thuỵ Sĩ tiếp tục dẫn đầu, Singapore xếp hạng nhì.                                                                                                                                     Bá Nha (Weforum.org)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lực lắng nghe      Ở ta hiện nay, không ít ý kiến phản biện của các chuyên gia có trách nhiệm cao không nhận được hồi âm. Có thể hiểu được thực trạng này từ nhiều lý do: 1. thư đã không đến tay người nhận do sự tắc trách của bộ phận giúp việc, 2. thư đã đến tay người nhận nhưng bị bỏ qua hoặc do thấy nội dung không đáng quan tâm, hoặc do sơ suất vì quá bận roan… Nhưng có một lý do dễ nhận ra thuộc về năng lực lắng nghe và văn hoá ứng xử cần có trong phẩm chất của người lãnh đạo.  Xin nhắc lại 2 câu chuyện mà nhiều người đã biết và xin kể một câu chuyện mà nhiều người có thể chưa biết.    Chuyện thứ nhất: Năm 1919, các nước thắng trận trong cuộc Thế chiến Một họp nhau ở Vec-xay của nước Pháp để bàn chuyện tương lai của thế giới. Tổng thống của Hoa Kỳ lúc đó mang đến hoà hội một chính sách trong đó hứa hẹn quan tâm đến lợi ích của các nước nhược tiểu. Nước ta lúc đó là thuộc địa của Pháp cũng nằm trong số các nước nhược tiểu. Do vậy một nhóm các nhà ái quốc Việt Nam sống ở Pháp đứng đầu là cụ Phan Châu Trinh và trẻ tuổi là Nguyễn Tất Thành cùng viết một văn bản gửi Hoà hội Vec-xay đưa ra “những yêu sách của người An Nam” và được ký bằng cái tên chung là “Nguyễn Ái Quốc”.  Văn bản được gửi đến một số thành viên tham dự và đương nhiên trong đó có Tổng thống Hoa Kỳ. Kết quả ai cũng biết rằng hồi đó chẳng có đế quốc nào (thắng hay thua trận cũng vậy) quan tâm đến thân phận các nước nhược tiểu. Nhưng điều đáng nói là các cụ ái quốc nhà ta vẫn nhận được ít nhất 2 lần phúc đáp của văn phòng tổng thống Hoa Kỳ báo tin là văn phòng đã nhận được văn bản gửi đến và văn bản đã chuyển tới tay tổng thống. Ở đây, chỉ bàn đến tính nghiêm túc của bộ máy hành chính và văn hoá trong ứng xử ngay với những người xa lạ…  Chuyện thứ hai: Thời cách mạng mới thành công ở nước ta, có hai nữ sĩ gửi tặng quà tới cụ Chủ tịch nước. Một người tặng mấy quả cam (nữ sĩ Hằng Phương) và một người tặng mấy câu thơ thêu trên một bức trướng (nữ sĩ Ngân Giang). Ngay lập tức, hai nữ sĩ đều nhận được lời cảm ơn rất ý nhị bằng hai bài thơ của cụ Chủ tịch. Tất cả sự việc đều đã được ghi chép vào sử sách.  Chuyện thứ ba: Năm 2000 là năm chuyển tiếp giữa hai thế kỷ lại có dịp kỷ niệm Đảng 70 tuổi. Không hiểu từ sáng kiến của ai, ngành bưu chính được giao nhiệm vụ làm bộ tem “các lãnh tụ của Đảng”. Đây là kế hoạch đột xuất vì theo chương trình đã thông qua thì Hội đồng tem mà tôi có tham gia đã hoàn tất kế hoạch là sẽ có 2 mẫu tem đã thiết kế vào dịp này, nay theo chủ trương mới phải là 10 mẫu tem chân dung từ Nhà sáng lập đến nhà lãnh đạo đương đại.  Tham gia cuộc họp triển khai đề án làm tem mới, tôi nêu ý kiến không nên làm tem những nhà hoạt động chính trị đang sống và đương quyền với lý lẽ đơn giản như các cụ vẫn dậy là “cái quan định luận”. Nhưng xem chừng không khí chung của mọi thành viên khác là khó xoay chuyển vì nhiệm vụ quan trọng đã được giao mà thời gian phải phát hành tem đúng ngày lễ trọng đã đến gần, tôi bèn viết một bức thư với lời lẽ mở đầu là “ngày xưa, người viết sử còn là gián quan vì thế tôi viết thư này gửi đến…”. Bức thư có địa chỉ nơi nhận là nhà lãnh đạo cao nhất lúc đó, được tôi thả vào thùng thư ngoài phố với suy nghĩ mình đã làm tròn bổn phận và trách nhiệm nghề nghiệp…  Vậy mà, chỉ vài hôm sau, vị thư ký của nhà lãnh đạo cao nhất ấy đã trực tiếp gọi điện cho tôi báo tin theo kiểu nhà binh: “thủ tưởng đã nhận được thư của anh và đã có chỉ đạo”, và kèm lời cảm ơn.  Ngày phát hành tem được tổ chức trang trọng ở Bưu điện Bờ Hồ, bộ tem bớt đi 2 mẫu so với dự kiến ban đầu. Một nhà lãnh đạo công tác tư tưởng văn hoá khi đó trong lời phát biểu hướng về tôi nhẹ nhàng cảm ơn vì sự đóng góp để bộ tem có chất lượng…  Như thế, nếu trong giao tiếp giữa những nhà lãnh đạo với quần chúng của mình trong đó có các nhà trí thức hay các nhà chuyên môn mà giữ được năng lực biết lắng nghe, khắc phục được những cách bức của bộ máy giúp việc dễ bị quan liêu và hơn thế, giữ được sự lịch thiệp, biết tôn trọng những ý kiến đóng góp, lại đủ năng lực để xử lý những ý kiến đóng góp ấy thì chắc chắn nhà lãnh đạo ấy không chỉ tránh được những sai sót có thể tránh được mà còn thực thi tốt hơn nhiệm vụ của mình. Lại có được sự quý trọng của người đời nữa…    Dương Trung Quốc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng tái tạo: Các mục tiêu hướng tới có thể làm suy yếu tính bền vững      Khi tìm cách tận dụng những tiến bộ mới về năng lượng tái tạo (NLTT) nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và phục hồi kinh tế hậu COVID-19 mà vẫn  đảm bảo được các kết quả tích cực về xã hội và môi trường, các nền kinh tế trên thế giới cần tránh sự cứng nhắc, cố định các mục tiêu trong quá trình ra quyết định.      Điện mặt trời và điện gió đã được phát triển để thế giới khỏi phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhưng các nhà khoa học đang đề nghị cần suy nghĩ lại về các quyết định liên quan đến hai loại năng lượng này. Nguồn: Siegfrie Kuttig/Alamy.  Phát triển NLTT là điều cần thiết để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu. Thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc được rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu là một cuộc khủng hoảng khẩn cấp; do vậy, chính phủ tại nhiều nước đã thông qua các mục tiêu NLTT (renewable energy targets – RETs; ví dụ: Ấn Độ1, Mỹ2, châu Âu3 và Úc4), trong đó định rõ thời hạn nào bắt buộc phải đạt đến ngưỡng tỷ lệ phần trăm NLTT bao nhiêu trên tổng các nguồn năng lượng. Mấu chốt của các mục tiêu này là đẩy nhanh việc mở rộng NLTT, từ đó giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu một cách kịp thời. Không có nhiều tranh cãi về vấn đề này. Sự phức tạp ngày một gia tăng bởi việc đạt được những mục tiêu NLTT đó đòi hỏi phải chuyển đổi các hệ thống năng lượng của chúng ta với tốc độ và quy mô chưa từng có trong lịch sử loài người5. Điều đó cho thấy, để đạt được mục tiêu về NLTT nhiều thách thức về kỹ thuật và hậu cần được đặt ra, chưa kể đến một thực tế là các cơ sở hạ tầng năng lượng được xây dựng trong tương lai và cách chúng ta xây dựng chúng, có thể đem đến nhiều hệ quả – theo nghĩa tốt và xấu – cho xã hội loài người và môi trường (Hình 1). Có lẽ sẽ cần đến các khuôn khổ đa chiều hơn cho mục tiêu NLTT để kết hợp cả lợi ích và chi phí khi các cơ sở NLTT gia tăng một cách nhanh chóng, không chỉ vì việc nhận thức rõ được tác động của biến đổi khí hậu mà vì thế giới còn phải đối mặt với nhiều vấn đề toàn cầu, chưa tìm ra giải pháp.  Ở khía cạnh tích cực, NLTT nói chung mang lại lợi ích về khí hậu, thúc đẩy an ninh năng lượng, cải thiện chất lượng không khí địa phương và sức khỏe con người6. Từng loại NLTT cụ thể sẽ là một mũi tên trúng nhiều đích nhờ đa lợi ích cùng lúc. Chẳng hạn, các tấm pin mặt trời nổi trên hồ chứa có thể làm giảm thất thoát nước ngọt do bay hơi ở những khu vực phải chịu tình trạng thiếu nước tại các nước đang phát triển. Lắp đặt các tấm pin mặt trời trên cánh đồng nông nghiệp sẽ gia tăng nguồn thu cho nhà nông, đồng thời tăng thu hoạch của các loại cây ưa bóng. Lắp đặt các thiết bị khai thác năng lượng sóng biển ở nhiều khu vực trọng điểm giúp bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn và lũ lụt. Một ví dụ khác là dùng tảo để sản xuất nhiên liệu sinh học vừa tạo ra năng lượng, vừa làm sạch chính dòng sông bị ô nhiễm7 mà tảo sinh trưởng tại đó.      Để đạt được mục tiêu về NLTT nhiều thách thức về kỹ thuật và hậu cần được đặt ra, chưa kể đến một thực tế là các cơ sở hạ tầng năng lượng được xây dựng trong tương lai và cách chúng ta xây dựng chúng, có thể đem đến nhiều hệ quả – theo nghĩa tốt và xấu – cho xã hội loài người và môi trường      Tuy nhiên, phát triển NLTT rộng khắp có thể gây ra nhiều vướng mắc, nhất là khi không làm tốt các kế hoạch có liên quan. Thông thường, triển khai NLTT đòi hỏi một lượng lớn tài nguyên đất, dẫn đến phát sinh xung đột đất đai giữa chủ đầu tư với quyền lợi của người dân địa phương, quyền tự do tiếp cận các vùng đất hoang dã của dân chúng, và đôi khi với việc chăn nuôi và trồng trọt8. Ngoài ra, việc chặt cây, phát quang đất đai, mở đường cho lắp đặt NLTT9 làm cho tỷ lệ phá rừng gia tăng, gây ra tình trạng mất đa dạng sinh học, và trong một số trường hợp, chính các biện pháp khuyến khích NLTT lại khiến lượng khí thải toàn cầu tăng lên do rừng bị chặt để lấy củi đốt, duy trì các máy phát điện10.    Hình 1: Những kết quả tích cực và tiêu cực của việc phát triển năng lượng tái tạo. (a,b) Khi đưa ra những quyết định khôn ngoan và chặt chẽ, các phát triển năng lượng tái tạo có thể đóng góp tích cực (a) cho các mục tiêu không liên quan đến năng lượng. Nếu ngược lại, có thể dẫn đến kết quả tiêu cực (b) ở những mục tiêu khác.  Vấn đề xoay quanh các mục tiêu về NLTT (RETs)  Điều chính yếu ở đây là việc mở rộng NLTT là hành động để giải quyết chỉ một mục tiêu mang tính toàn cầu mà không phải tất cả các mục tiêu đó. Và trong một số trường hợp, có những hậu quả không lường trước được khi bùng nổ tăng trưởng NLTT, gây cản trở khả năng giải quyết các thách thức toàn cầu khác như giảm thiểu bất bình đẳng và thoát nghèo trên thế giới. Chính sách và quyết định liên quan đến chuyển đổi hệ thống năng lượng không thể tập trung một cách thiếu cân nhắc vào mục tiêu NLTT mà cần phải đặt mục tiêu NLTT trong mối tương quan với các mục tiêu khác, đảm bảo một tương lai bền vững. Đáng chú ý nhất là các mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals – SDGs), đã được 196 quốc gia và Liên hợp quốc thông qua, cho thấy tầm nhìn toàn diện, bao quát tương lai của nhân loại dưới dạng một danh sách gồm 17 mục tiêu11. Mặc dù năng lượng chỉ được đề cập một cách rõ ràng tại mục tiêu 7 của SDG (“Năng lượng sạch và giá cả phải chăng”), nhưng các hệ thống năng lượng được xây dựng cho tương lai sẽ đóng một vai trò chủ chốt, xác định mức độ đạt được cho hầu hết mục tiêu phát triển khác12.  Dễ dàng nhận thấy các mục tiêu NLTT có thể hỗ trợ chiến lược triển khai mục tiêu PTBV như thế nào, nhưng cũng giống như các phương pháp điều trị y tế cứu người, cách thức thực hiện ra sao mới là tối quan trọng để giảm thiểu và tránh các tác dụng phụ có hại. Nhờ bản chất định lượng vốn có, các mục tiêu đã định sẽ có giá trị như các công cụ thúc đẩy chính sách, tuy nhiên, trong thực tiễn cũng có những nhược điểm đáng kể khiến chúng trở nên kém phù hợp để hướng dẫn chính sách năng lượng. Chẳng hạn, việc đặt ra mục tiêu (ngưỡng định lượng cần đạt được; ví dụ: 80% năng lượng gió), chứ không phải một đích đến (hướng định tính cần theo đuổi; ví dụ, tối đa hóa năng lượng gió) có thể khiến chúng ta thiếu tỉnh táo, khó cân bằng các yếu tố khi nhìn nhận, đánh giá các hành động chính sách khác nhau14.      Chính sách và quyết định liên quan đến chuyển đổi hệ thống năng lượng không thể tập trung một cách thiếu cân nhắc vào mục tiêu NLTT mà cần phải đặt mục tiêu NLTT trong mối tương quan với các mục tiêu khác, đảm bảo một tương lai bền vững.      Về mặt tâm lý, đặt mục tiêu sẽ tạo ra động cơ kích thích hành động nhanh chóng để triển khai và đạt được chúng13,15, làm cho những người có quyền ra quyết định quên mất các đích đến cơ bản hơn, vốn là động cơ ban đầu khi xây dựng mục tiêu15,16. Chỉ thị về năng lượng tái tạo của Châu Âu là một ví dụ, thay vì giảm lượng khí thải cácbon và bảo vệ môi trường, lại có nguy cơ gia tăng lượng khí thải cácbon ròng và nạn phá rừng17. Tương tự, những lời kêu gọi đầu tư mạnh tay vào năng lượng tái tạo để dịu bớt căng thẳng do COVID-1918 lại trở thành những áp lực mới, dễ khiến chúng ta phải đánh đổi một cách thiếu khôn ngoan. Các mục tiêu NLTT tưởng chừng sớm phát ra tín hiệu có thể giải quyết được vấn đề, nhưng tính bất di bất dịch, không linh động sẽ biến NLTT thành gánh nặng nếu năng lực kinh tế kỹ thuật cơ bản, bối cảnh môi trường và/hoặc các giá trị xã hội thiết lập lúc khởi đầu có thể thay đổi trong thời gian triển khai để đạt được nó.  Hướng đến việc lập kế hoạch năng lượng toàn diện hơn    Lắp đặt các trụ điện gió ở nhà máy Điện gió Đầm Nại. Nguồn: icon.com.vn  Bằng cách đưa NLTT trở thành trung tâm của chiến lược chuyển đổi năng lượng, nhiều quốc gia đang tự đẩy mình vào tình thế dễ phải hứng chịu những hệ lụy quá mức do phát triển kém bền vững. Ở đây, chúng tôi ủng hộ việc tái định hướng các ưu tiên đã có, chuyển từ thu hẹp trọng tâm chiến lược vào năng lượng tái tạo sang tập trung rộng rãi vào phát triển bền vững. Trong cách tiếp cận này, vẫn có thể xem mục tiêu NLTT như một lựa chọn về chính sách, nhưng chỉ nên “chốt” các quyết định sau khi đánh giá toàn diện các lựa chọn khác và tìm hiểu đầy đủ về chi phí và những đánh đổi liên quan đến việc lắp đặt ồ ạt các cơ sở sản xuất năng lượng gió và năng lượng mặt trời quy mô lớn. California hiện đang bị mất điện luân phiên trên diện rộng. Một số nguyên nhân là do theo đuổi quá mức các mục tiêu NLTT trên toàn tiểu bang mà không giải quyết được vấn đề liên quan là phải làm gì khi tăng nhu cầu năng lượng mà không có nắng hoặc gió và khi bộ lưu trữ pin với giá cả phải chăng chưa hiện hữu9.      Các mục tiêu NLTT tưởng chừng sớm phát ra tín hiệu có thể giải quyết được vấn đề, nhưng tính bất di bất dịch, không linh động sẽ biến NLTT thành gánh nặng nếu năng lực kinh tế kỹ thuật cơ bản, bối cảnh môi trường và/hoặc các giá trị xã hội thiết lập lúc khởi đầu có thể thay đổi trong thời gian triển khai để đạt được nó.      Đại dịch COVID là một minh chứng thuyết phục cho thấy, không thể giải quyết một cách hiệu quả khủng hoảng toàn cầu – đại dịch – mà không tính đến thực tế rằng, cách đối phó với đại dịch có thể gây ra khủng hoảng về việc làm, phát triển kinh tế và công bằng xã hội. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thực thi các mục tiêu NLTT, nên coi SDGs là các đích đến cơ bản đã được thống nhất chung để đánh giá bất kỳ mục tiêu về NLTT nào. Việc đánh giá đó có thể giúp chúng ta cân nhắc một số hành động thay thế khác: các mục tiêu về NLTT với đa dạng danh mục, tỷ lệ phần trăm hoặc khung thời gian đầu tư, hoặc các công cụ hoàn toàn khác nhau, chẳng hạn như thuế cácbon hoặc thiết lập thị trường carbon. Mỗi hành động thay thế sẽ trải qua quá trình phân tích nghiêm ngặt để định lượng các hậu quả dự kiến ​​đối với một loạt các mục tiêu SDGs có liên quan và một khi hành động, sẽ cần có sự giám sát và dữ liệu đầu vào về hậu quả dự kiến đó của các bên liên quan. Sau cùng, có thể thấy rằng một số hình thức của mục tiêu NLTT cách tốt nhất để đạt được các mục tiêu bền vững đa dạng, nhưng quan trọng là, việc đưa ra quyết định cần được củng cố bằng một quá trình đánh giá nghiêm ngặt và có phương pháp, xem xét hành động dựa trên việc cân bằng các yếu tố xã hội quan trọng. Tuân theo một quy trình đa mục tiêu sẽ giúp chúng ta chuẩn bị tốt hơn, giúp lường trước và xử lý được nếu phải đối mặt với những đánh đổi không thể tránh khỏi liên quan đến năng lượng tái tạo. Một quy trình như vậy tương tự như cách tiếp cận phân tích quyết định20, nhằm tìm ra các công cụ và phương pháp luận để giúp con người và các tổ chức cấu trúc được các vấn đề về ra quyết định, phân tích hậu quả, thấu hiểu nguyên tắc đánh đổi và đưa ra quyết định sáng suốt hơn.      Chúng ta không cố gắng xây dựng một thế giới phủ đầy những tấm pin mặt trời và turbine gió, mà đích đến phải là một thế giới thịnh vượng, lành mạnh và công bằng hơn. Năng lượng tái tạo và các mục tiêu của nó chỉ là một phương tiện trên hành trình đi đến đích.      Gần đây, các phương pháp tiếp cận cấu trúc về ra quyết định, chẳng hạn như phân tích quyết định, đã xuất hiện dày đặc hơn trong cơ sở lý luận về lập kế hoạch năng lượng21, nhưng vẫn còn hiếm được áp dụng trong khu vực công 22. Nếu các chính phủ không sử dụng phân tích quyết định hoặc cách tiếp cận cấu trúc tương tự để định liệu các mục tiêu, hành động, hậu quả và vấn đề đánh đổi, thì làm sao họ ra quyết định thiết lập mục tiêu NLTT ở cấp độ nào? Các mục tiêu này có thể đạt được về mặt kỹ thuật hay không và/hoặc chúng ta có đạt được chúng hay không? Các mục tiêu chỉ đơn thuần là kết quả của những mưu toan về mặt chính trị nhằm đưa ra thông điệp và khẳng định cho có rằng “chúng tôi đang hành động đây”23? Câu trả lời cho những nghi vấn này rất mơ hồ, và rất ít nghiên cứu hoặc báo cáo làm cơ sở cho quy trình thiết lập NLTT được công bố. Không thể tìm thấy bất kỳ tài liệu nào giải thích tại sao một mục tiêu NLTT lại là 50%, mà không phải 45% hay 55%. Nhưng những gì chúng ta biết là những mục tiêu này đang dẫn dắt chính sách và quá trình chuyển đổi năng lượng của chúng ta, làm cho nó có thể tốt hơn mà cũng có thể tệ đi.  Các mục tiêu NLTT là bước quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi hướng tới một tương lai năng lượng sạch. Tuy nhiên, việc tập trung một cách hạn hẹp vào mục tiêu NLTT có thể cản trở tiến độ hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững; các mục tiêu NLTT không phải đích đến cuối cùng mà là phương tiện để đạt được ở tầm lớn hơn các mục tiêu xã hội cơ bản – đó phải là cơ sở củng cố cho quá trình thiết lập bất cứ mục tiêu NLTT nào. Trong thế giới hậu COVID đầy rẫy bất định, các mục tiêu đơn giản như mục tiêu NLTT chưa thể hiện hết tính phức tạp của nhiều thách thức đan xen và có nguy cơ trở thành những khẩu hiệu hô hào cho chiến dịch, hơn là giữ vai trò là những can thiệp chính sách đầy cẩn trọng. Cần nhớ rằng chúng ta không cố gắng xây dựng một thế giới phủ đầy những tấm pin mặt trời và turbin gió, mà đích đến phải là một thế giới thịnh vượng, lành mạnh và công bằng hơn. Năng lượng tái tạo và các mục tiêu của nó chỉ là một phương tiện trên hành trình đi đến đích.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/s41558-020-00939-x#Fig1  * Đây là một phần công bố của nghiên cứu sinh Scott Spillias trên tạp chí Nature Climate Change.  Có thể đọc toàn văn tại đây: https://vinatom.gov.vn/nang-luong-tai-tao-cac-muc-tieu-huong-toi-co-the-lam-suy-yeu-tinh-ben-vung/  Tài liệu tham khảo  1. Lakshman, S. PM Modi vows to more than double India’s non-fossil fuel target to 450 GW by 2022. The Hindu https://www.thehindu.com/sci-tech/energy-and-environment/prime-minister-narendra-modi-addresses-the-un-climate-summit-in-new-york/article29492091.ece (2019).  2. Barbose, G. et al. Energ. Policy 96, 645–660 (2016).  3. Howes, T. The New Climate Policies of the European Union: Internal Legislation and Climate Diplomacy (Acad & Scientific Pub, 2010).  4. Warburton, D., Zema, M., Fisher, B. & In’t Veld, S. Department of the Prime Minister and Cabinet (RET Review Expert Panel, 2014).  5. Solomon, B. D. & Krishna, K. Energ. Policy 39, 7422–7431 (2011).  6. Buonocore, J. J. et al. Nat. Clim. Change 6, 100–105 (2016).  7. Burke, M. Relations 6, 87–116 (2018).  8. Yenneti, K., Day, R. & Golubchikov, O. Geoforum 76, 90–99 (2016).  9. Rehbein, J. A. et al. Glob. Change Biol. 26, 3040–3051 (2020).  10. Kiesecker, J. et al. Front. Environ. Sci. 7, 151 (2019).  11. Transforming Our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development in A New Era in Global Health (ed. Rosa, W.) (Springer Publishing Company, 2017).  12. Santika, W. G. et al. Energy Res. Soc. Sci. 50, 201–214 (2019).  13. Merry, S. E. Curr. Anthropol. 52, S83–S95 (2011).  14. Gregory, R. et al. Structured Decision Making: A Practical Guide to Environmental Management Choices (Wiley-Blackwell, 2012).  15. Fukuda-Parr, S. J. Hum. Dev. Capabil. 15, 118–131 (2014).  16. Barnes, M. D., Glew, L., Wyborn, C. & Craigie, I. D. Nat. Ecol. Evol. 2, 759–762 (2018).  17. Searchinger, T. D. et al. Nat. Commun. 9, 3741 (2018).  18. Ambrose, J. How renewable energy could power Britain’s economic recovery. The Guardian https://www.theguardian.com/environment/2020/may/19/how-renewable-energy-could-power-britains-economic-recovery (2020).  19. Smith, R. & Blunt, K. Why California keeps having blackouts. Wall Street Journal https://www.wsj.com/articles/why-california-keeps-having-blackouts-11598198401 (2020).  20. Howard, R. A. IEEE Trans. Syst. Sci. Cyber. 4, 211–219 (1968).  21. von Stechow, C. et al. Annu. Rev. Env. Resour. 40, 363–394 (2015).  22. Bhardwaj, A., Joshi, M., Khosla, R. & Dubash, N. K. Energy Res. Soc. Sci. 49, 143–157 (2019).  23. Nathan, H. S. K. Econ. Political Wkly 1, 10–14 (2015).  24. Performance Standards on Environmental and Social Sustainability (International Finance Corporation, 2012); https://www.ifc.org/wps/wcm/connect/Topics_Ext_Content/IFC_External_Corporate_Site/Sustainability-At-IFC/Policies-Standards/Performance-Standards/Performance-Standards  25. Investors Make Unprecedented Commitment to Net Zero Emissions (UN Environment Programme, 2019); https://www.unenvironment.org/news-and-stories/press-release/investors-make-unprecedented-commitment-net-zero-emissions  26. Rincón-Ruiz, A. et al. Ecosyst. Serv. 36, 100901 (2019).    Author                Scott Spillias        
__label__tiasang Năng lượng trong biến đổi khí hậu: Giải pháp cho Việt Nam ?      Cho đến nay, ngay cả những quốc gia tiên tiến về KH&CN vẫn chưa có giải pháp nào coi là hoàn hảo về một nguồn năng lượng xanh không phát thải carbon.       TS. Trần Chí Thành là một chuyên gia về công nghệ hạt nhân và an toàn hạt nhân. Ảnh: Thanh Nhàn.   Tuy nhiên, ngay cả khi không tồn tại giải pháp nào hoàn hảo thì vẫn có những lựa chọn tối ưu – nghĩa là vừa đảm bảo an ninh năng lượng mà vẫn hạn chế phát thải, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, cho biết như vậy qua góc nhìn của một chuyên gia về công nghệ hạt nhân và an toàn hạt nhân.     Nguồn năng lượng nào thực sự tin cậy?     Người ta vẫn chờ đợi một giải pháp năng lượng từ COP26 nhưng khi hội nghị khép lại thì có vẻ điều này vẫn chưa đến?    Năng lượng là một bài toán khó của thế giới hiện nay. Ngay trước Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu (COP26), châu Âu đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng năng lượng bởi rất nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân quan trọng như nhu cầu năng lượng của cả nền sản xuất sau một năm ngưng trệ vì COVID rất lớn; châu Âu phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu mà giá khí đốt năm nay tăng lên gần 600% lần do nhu cầu khí đốt tăng đột biến, sau khi nhiều quốc gia như Trung Quốc tăng cường nhập khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) từ năm ngoái để thay thế than; ảnh hưởng từ sự đứt đoạn của chuỗi cung cấp năng lượng và các hiện tượng thời tiết cực đoan (sóng nhiệt trong mùa hè, mùa đông kéo dài…); sự thiếu tin cậy của hệ thống năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió)… Diễn đàn Kinh tế thế giới đã đưa ra dự đoán, một mùa đông lạnh giá và khó lường đang chờ châu Âu phía trước bởi sự gia tăng về chi phí năng lượng có thể sẽ làm tăng hóa đơn tiền điện và tăng giá rất nhiều mặt hàng nhu yếu phẩm khác.    Châu Âu vẫn đang tranh cãi và tại COP26, người ta cũng chưa tìm được lối thoát hoàn hảo cho vấn đề năng lượng. Kết quả cuối cùng của COP26 thực ra cũng không thành công lắm khi chỉ có thể thống nhất ở việc giảm dần điện than bởi quan điểm về năng lượng đi kèm phát triển kinh tế của các nước giàu, các nước nghèo, các nước chưa phát triển đều rất khác biệt. Bây giờ, có thể người ta không nhìn vấn đề ở mức dài hạn lắm, và theo ngắn hạn thì trước mắt cần nỗ lực giảm phát thải CO2.     Vấn đề khủng hoảng n ăng lượng hiện nay và tương lai có được các chuyên gia dự báo không?    Trong thời gian mấy năm gần đây, có rất nhiều nghiên cứu và báo cáo về xu thế, chuyển đổi cơ cấu nguồn điện và vấn đề khủng hoảng năng lượng, ưu nhược điểm của từng loại hình năng lượng và những hậu quả có thể có, nếu chúng ta không theo xu thế và bỏ qua những khuyến cáo khoa học. Mặc dù vậy, không phải bao giờ những khuyến nghị khoa học cũng được các chính trị gia quan tâm. Hiện nay, vấn đề chuyển đổi cơ cấu nguồn điện, đáp ứng biến đổi khí hậu đang được quan tâm rất nhiều, thông tin thay đổi hằng ngày. Chúng ta cần có tầm nhìn đúng đắn và lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với điều kiện và yêu cầu của đất nước, nếu không muốn phải trả giá đắt cho sự phát triển trong tương lai.      Với những quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao như Việt Nam thì rất khó đủ diện tích để phát triển điện mặt trời. Vì vậy nếu không thận trọng triển khai giải pháp này sẽ ảnh hưởng đến đời sống, kế sinh nhai của người dân.      Vậy nếu theo tinh thần của COP26 là giảm dần điện than thì người ta có thể trông cậy vào điện tái tạo và điện khí?    Để lý giải tình huống này, chúng ta hãy nhìn vào bản chất của từng loại hình năng lượng. Không có loại hình năng lượng nào lại không phát thải, chỉ nhiều hay ít. Các nhà máy điện khí vẫn phát thải CO2, cứ một kW điện được tạo ra thì nó phát thải gần 500g CO2/ (than khoảng hơn 800g CO2/kWh). Hơn nữa, sự biến động về giá cả của khí quá lớn khiến người ta lo ngại vào nguy cơ lặp lại khủng hoảng năng lượng như châu Âu vừa qua, nếu vẫn cứ phụ thuộc vào điện khí nhập khẩu. Mặt khác, với mức giá nguyên liệu như vậy thì giá điện thành phẩm cũng sẽ rất đắt. Ngay ở Nhật Bản, nhiệt điện khí hóa lỏng vẫn đắt hơn điện hạt nhân. Do đó, nhìn về tương lai thì điện khí cũng là thứ năng lượng mà chúng ta phải loại dần.    Còn năng lượng tái tạo, chúng ta đã biết là bản chất của năng lượng tái tạo là thiếu sự ổn định do phụ thuộc vào tự nhiên (nắng, gió), đòi hỏi diện tích lắp đặt lớn, đấy còn chưa nói đến chuyện sau này phải xử lý các tấm panel mặt trời sau khi hết hạn sử dụng. Hiện tại, người ta hay nói về giải pháp lưu trữ để hạn chế sự bất định của năng lượng tái tạo nhưng chưa phổ biến và giá thành điện tăng lên cao. Để có được những thiết bị lưu trữ đủ tin cậy, được sản xuất hàng loạt và giá thành rẻ thì chúng ta có thể phải chờ thêm vài chục năm nữa.    Với những quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao như Việt Nam thì rất khó đủ diện tích để phát triển điện mặt trời đáp ứng nhu cầu năng lượng. Vì vậy nếu không thận trọng triển khai giải pháp này sẽ ảnh hưởng đến đời sống, kế sinh nhai của người dân, họ sẽ mất đất, không trồng trọt chăn nuôi được. Với điện gió ngoài khơi, không phải không có điểm yếu bởi ngoài độ thiếu ổn định thì nó còn ảnh hưởng đến giao thông hàng hải, đánh bắt cá là nghề sinh nhai của hàng chục triệu con người, và có thể liên quan đến quốc phòng, an ninh.      Nguồn: gpsolar.vn     Nếu các nguồn năng lượng này không phải là giải pháp tối ưu thì các quốc gia trên thế giới có thể chọn giải pháp nào?    Nếu quan sát chuyển động của năng lượng nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới trong vài năm trở lại đây, người ta có thể thấy sự trở lại với điện hạt nhân của Nhật Bản. Theo cách đánh giá của tôi, bài toán năng lượng của họ sẽ rất trầm trọng nếu như không có điện hạt nhân bởi sau sự cố Fukushima, họ đóng cửa hàng loạt lò phản ứng hạt nhân và buộc phải nhập khẩu dầu, khí hóa lỏng (LNG) từ nước ngoài để phát điện, có giai đoạn họ phải nhập tới 90% nhiên liệu… Một trong những hậu quả của việc phụ thuộc nhiên liệu khí là giá điện tăng lên 30% trong vòng ba năm, đặt thêm một gánh nặng cho ngành công nghiệp đang phục hồi. Do đó, họ đã cho vận hành lại các lò phản ứng, hiện hơn 10 lò đang hoạt động và kế hoạch của họ là phải vận hành khoảng 30 lò. Những lò phản ứng còn lại sẽ được tái khởi động dần dần.    Điện hạt nhân có một vai trò rất quan trọng đối với Nhật Bản bởi điện hạt nhân chắc chắn không chỉ là nguồn điện ổn định, tin cậy nhất để đảm bảo công suất chạy nền cho cả một hệ thống điện quốc gia mà còn là bài toán về tiềm lực quốc gia, là ngành công nghiệp. Đây là lý do khiến Chính phủ Nhật Bản vẫn kiên định con đường phát triển điện hạt nhân.    Bên cạnh đó, có một làn sóng trở lại với điện hạt nhân đã bắt đầu xuất hiện tại châu Âu: Anh đang bắt đầu xây dựng rất nhiều. Một số quốc gia khác như Phần Lan, Czech, Slovakia, Bungari, Hungari… cũng chọn trở lại điện hạt nhân, một số khác xây mới các lò phản ứng như Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, Belarus, UAE…, một số bắt đầu chuẩn bị triển khai chương trình điện hạt nhân như Ba Lan, Ai Cập… Bangladesh là một nước dân số đông, quy mô hệ thống điện còn rất nhỏ nhưng họ đã bắt đầu xây dựng hai lò hạt nhân (cùng với Rosatom của Liên bang Nga), dự kiến 2023 sẽ vận hành. Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) ông Rafael Grossi cho biết trong 10 năm tới, sẽ có hàng chục nước mới sẽ bắt đầu phát triển điện hạt nhân.     Tuy nhiên, ở châu Âu, một quốc gia từng phát triển điện hạt nhân như Đức lại quyết tâm đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân.    Đúng là nước Đức đã ứng xử như vậy. Tuy nhiên hiện nay, các nhà trí thức, các nhà khoa học quốc gia này cũng đang kêu gọi chính phủ giữ nguyên việc vận hành các lò phản ứng đang hoạt động tốt, chẳng việc gì phải ngừng vận hành cả, rất lãng phí tiền của.    Dĩ nhiên, khi không vận hành các lò phản ứng thì Đức vẫn không thiếu điện vì họ có thể đi mua điện từ các quốc gia xung quanh, đặc biệt là từ Pháp. Nhưng phải nói thêm là điện họ mua từ Pháp chủ yếu cũng là điện hạt nhân. Một hệ quả của việc mua điện từ nước ngoài và trợ giá cho năng lượng tái tạo là giá điện của họ bây giờ cao nhất châu Âu, hầu như hơn gấp đôi giá điện ở Pháp. Đây là lý do vì sao các doanh nghiệp lớn của Đức cũng đang kêu gọi chính phủ phục hồi các lò phản ứng để giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế.     Việt Nam trước bài toán năng lượng     Sau COP26, Việt Nam sẽ chọn giải pháp nào để đạt được mục tiêu giảm dần sự phụ thuộc vào điện than và giảm phát thải?    COP26 khuyến khích các quốc gia đang phát triển thực hiện theo cam kết, dù không bắt buộc. Nếu mình vẫn tiếp tục đầu tư vào điện than, đến một lúc nào đó mình sẽ gặp khó khăn như việc áp dụng thuế carbon hoặc các nước, các ngân hàng quốc tế không cho phép vay vốn xây dựng nhà máy nhiệt điện than nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận là bài toán môi trường liên quan đến năng lượng không chỉ để “đối phó” với bên ngoài mà là bài toán cho chính chúng ta và thế hệ mai sau. Ngay cả Trung Quốc, quốc gia từng phát triển rất nhiều nhà máy nhiệt điện than đang từng bước đóng cửa các nhà máy để giảm phát thải carbon và hơn nữa là giảm ô nhiễm không khí, vốn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Cùng với năng lượng tái tạo, Trung Quốc có một chương trình phát triển điện hạt nhân lớn nhất thế giới (hiện nay đã có khoảng 50 lò hạt nhân đang vận hành, đến 2050 sẽ có khoảng hơn 270 lò), điện hạt nhân vừa là nguồn điện ổn định, hầu như không phát thải, cũng vừa là công cụ hữu hiệu trong nhiều vấn đề cạnh tranh, địa chính trị khu vực, năng lực quốc phòng… Chẳng lẽ sự lựa chọn của họ là sai?      Đoàn làm việc của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tới địa điểm đề xuất xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận vào tháng 1/2014. Nguồn: IAEA  Nhưng với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nhu cầu năng lượng rất lớn. Không có điện than, chúng ta lấy điện ở đâu bù đắp cho sự thiếu hụt?    Với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt muốn thúc đẩy công nghiệp phát triển, nhu cầu về điện năng tăng nhanh (tiêu thụ điện trên đầu người của Việt Nam vẫn thấp hơn so với trung bình thế giới), khi tỷ lệ điện tái tạo trong hệ thống cao thì đặc biệt rất cần nguồn điện có công suất lớn và ổn định. Hiện chúng ta đã khai thác gần hết tiềm năng thủy điện, hầu như không còn mấy. Do nền sản xuất cần nguồn cung điện ổn định và tin cậy làm phụ tải nền nên nếu không còn thủy điện thì chỉ còn điện than và điện khí nhưng như phân tích ở trên thì cả hai không phải lựa chọn tốt, nghĩa là chỉ còn mỗi một lời giải là điện hạt nhân thôi.    Ở đây, chúng ta thấy điện hạt nhân cũng là xu hướng của thế giới. Hầu như ở các quốc gia đang vận hành các lò phản ứng hạt nhân đều duy trì một cơ cấu điện năng hỗn hợp với nhiều thành phần năng lượng khác nhau như năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân, thủy điện tích năng… để tạo sự ổn định đảm bảo an toàn cho hệ thống điện năng, đồng thời khiến hệ thống đó ít phát thải và tận dụng ưu điểm của các loại hình.    Nhìn chung, với bài toán năng lượng thì quốc gia nào cũng sẽ phải giải quyết như nhau, đều phải theo xu thế và theo trình độ phát triển KH&CN, chẳng lẽ mình lại khác họ.     Hiện nay việc phát triển điện hạt nhân đang bị chỉ trích là chi phí đầu tư quá cao và ẩn chứa nguy cơ rủi ro.    Là một người làm nghiên cứu về công nghệ hạt nhân và an toàn đã chứng kiến và hiểu rõ những thăng trầm của ngành hạt nhân trên thế giới, tôi có thể thành thực nói rằng, tất nhiên chi phí ban đầu và việc đảm bảo các yêu cầu an toàn hậu Fukushima khiến giá thành đầu tư cho một nhà máy điện hạt nhân cao hơn so với các nhà máy phát điện của các loại hình công nghệ khác. Tuy nhiên, hãy nhìn vào vấn đề hiệu quả công suất và thời gian vận hành. Các lò phản ứng hạt nhân luôn đạt hiệu suất sử dụng công suất đặt tới hơn 90% nhưng điện gió trên bờ thì chỉ khoảng 20%, còn về thời gian vận hành thì nhà máy điện hạt nhân trung bình đạt 60 năm, thậm chí có thể mở rộng tới 80 năm trong khi nhà máy nhiệt điện than là 20 đến 30 năm.    Về vấn đề an toàn thì bây giờ điện hạt nhân và đặc biệt là công nghệ lò nước nhẹ đã rất phát triển.  Trong quá trình vận hành điện hạt nhân, do trải qua một số sự cố như Chernobyl hay là Fukushima nên người ta cũng đã trả giá và nắm được nhiều các vấn đề về mặt khoa học, do đó đã nâng cao các tiêu chuẩn, điều kiện kỹ thuật và hệ thống pháp quy rất chặt chẽ. Công nghệ thiết kế mới cũng đảm bảo an toàn, cho nên tôi tin rằng những vấn đề rủi ro tai nạn đáng kể sẽ không xảy ra nữa.     Việc vận hành một cơ sở phức tạp như nhà máy điện hạt nhân chắc hẳn sẽ đem lại lợi ích ngoài năng lượng ?     Có một hệ quả rất lớn mà tất cả các quốc gia phát triển điện hạt nhân có được là sự lớn mạnh về KH&CN và năng lực công nghiệp. Bởi vì việc phát triển điện hạt nhân đòi hỏi năng lực về mặt KH&CN hạt nhân, năng lực công nghiệp để có thể tham gia xây dựng và đưa các lò phản ứng vào vận hành. Để đáp ứng những điều đó, anh buộc phải có những con người giỏi, nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ hạt nhân và pháp quy hạt nhân. Mọi thứ anh làm đều phải ở tiêu chuẩn cao và khắt khe nhất. Có thể ban đầu, một quốc gia mới phát triển điện hạt nhân sẽ rất khó để làm được điều này nhưng khi đã đáp ứng được rồi thì anh sẽ được hưởng lợi từ những việc mình đã làm. Tất nhiên, khi đó năng lực mới ấy sẽ đóng góp rất lớn vào các ngành khác và trở thành tiềm lực của đất nước.      Tổng giám đốc ROSATOM Alexey Likhachev trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên Việt Nam tốt nghiệp xuất sắc tại trường ĐH nghiên cứu hạt nhân quốc gia Nga vào tháng 3/2018. Nguồn: nhandan.com.vn  Các quốc gia phát triển điện hạt nhân, trong đó có các cường quốc hàng đầu về phát triển công nghệ hạt nhân như Nga, Mỹ, Pháp, Anh… đều cạnh tranh như thế. Các quốc gia phát triển sau như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đã đi theo con đường đấy và tạo được tiềm lực rất tốt trong nhiều lĩnh vực khác nhau như các ngành khoa học cơ bản, ngành cơ khí chế tạo, tự động điều khiển, vật liệu thép hợp kim, hóa công nghiệp, công nghệ thông tin… Đáng chú ý gần đây, Hàn Quốc đã bắt đầu xuất khẩu được công nghệ thành công cho UAE và lò phản ứng đầu tiên của UAE đã được vận hành.     Nhưng liệu Việt Nam có đủ năng lực để đáp ứng những yêu cầu vô cùng khắt khe trong xây dựng, lắp đặt và vận hành một dự án điện hạt nhân?    Chương trình phát triển điện hạt nhân Việt Nam đã thực hiện từ mấy chục năm trước và dừng lại vào năm 2016 vì lý do kinh tế. Nếu bây giờ, Việt Nam nghĩ rằng phải có nguồn điện ổn định như điện hạt nhân để phát triển trong tương lai thì theo tôi nên bắt tay vào làm sớm, nếu không sẽ là một sự lãng phí lớn trong đầu tư, chuẩn bị suốt cả một quá trình dài, lãng phí về nguồn lực con người, về cơ sở hạ tầng, về thời gian và cả niềm tin. Mình đã làm rất nhiều thứ chuẩn bị cho chương trình này như đào tạo nguồn nhân lực và đang bắt đầu công việc này, công việc khác như chuẩn bị địa điểm, xây dựng hệ thống pháp quy,… Bây giờ đã năm năm trôi qua, khi bắt đầu lại nói chung cũng rất khó rồi nhưng nếu mình bỏ thêm vài ba năm nữa thì khi muốn quay lại phát triển điện hạt nhân sẽ mất hàng chục năm, hai chục năm chuẩn bị. Đấy là một sự lãng phí kinh khủng, mà quan điểm của Đảng và Nhà nước là tránh lãng phí. Tôi tin rằng con người Việt Nam có năng lực tốt, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển được điện hạt nhân.    Ở đây, tôi muốn nói thêm về nguồn nhân lực. Mình đã đào tạo hơn 400 con người, cộng thêm hàng trăm con người đào tạo từ trước nữa nhưng khi chương trình điện hạt nhân dừng lại, họ phải chuyển sang những ngành khác, lĩnh vực khác, không tiếp tục đào tạo họ thì sau này mình mất đi nguồn nhân lực, đấy là giá trị đáng quý của lĩnh vực hạt nhân. Và lúc đó muốn làm thì phải làm lại từ đầu…     Cảm ơn ông!      Thanh Nhàn thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng Việt Nam nhìn từ EOR19      Trong bài toán đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của Việt Nam, chúng ta cần phải chuẩn bị những gì?      Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam năm 2019 đưa ra nhiều triển vọng cho Việt Nam khi phát triển năng lượng tái tạo. Nguồn: EVN  Để trả lời một phần câu hỏi này, Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam năm 2019 (EOR19) do Cục Điện lực và năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) phối hợp với Cục Năng lượng (Đan Mạch) xây dựng – một phần trong khuôn khổ Chương trình hợp tác đối tác năng lượng Việt Nam và Đan Mạch giai đoạn 2017-2020 do chính phủ Đan Mạch tài trợ – công bố vào đầu tháng 11/2019 đã đưa ra gợi ý về những kịch bản năng lượng và khuyến nghị chính sách đối với cơ cấu năng lượng Việt Nam đến năm 2050 được coi như một kênh tham khảo hữu ích. EOR19 đã đưa ra một viễn cảnh về tương lai năng lượng Việt Nam, chủ yếu dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng xanh vốn đang ngày một thịnh hành và phổ biến trên thế giới như điện gió, điện Mặt trời, điện sinh khối… – một trong những yếu tố quan trọng để các quốc gia có thể thực hiện cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu.   Tuy nhiên, một tương lai dựa vào những nguồn năng lượng tái tạo này có đủ an toàn và đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam?  Những kịch bản năng lượng xanh hấp dẫn  Nhóm chuyên gia thực hiện EOR19 đã đề xuất năm kịch bản mà họ cho rằng có thể “minh họa những lộ trình phát triển khác nhau cho hệ thống năng lượng của Việt Nam” vào năm 2030 và năm 2050. Đó là những kịch bản tập trung vào hai vấn đề chính là năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng: 1. Không đạt được các mục tiêu về năng lượng tái tạo, không hạn chế nguồn nhiệt điện than và không áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng ở phía tiêu dùng; 2. Có mục tiêu năng lượng tái tạo cho ngành điện và không áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng ở phía tiêu dùng; 3. Không xây dựng nhà máy nhiệt điện than mới, thực chất là bổ sung cho kịch bản 2 về mục tiêu năng lượng tái tạo, hạn chế đầu tư các nhà máy điện than mới bắt đầu từ năm 2025, mặc dù công suất nhiệt điện than trong nước vẫn được giữ nguyên; 4. Tiết kiệm năng lượng là sự bổ sung cho kịch bản 2 về mục tiêu năng lượng tái tạo, cho phép đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng với tỷ lệ áp dụng 50% ở phía tiêu dùng vào năm 2030 và 100% vào năm 2050; 5. Kết hợp các kịch bản trên, trong đó có phát triển năng lượng tái tạo, hạn chế nhiệt điện than từ năm 2025 và áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng với tỷ lệ cao.      Trong các kế hoạch dài hạn của các quốc gia tiên tiến này, họ vẫn xác định một cơ cấu năng lượng hỗn hợp với đầy đủ các thành phần năng lượng, từ năng lượng truyền thống như điện than, thủy điện, khí hóa lỏng đến năng lượng mới như hạt nhân, điện gió, điện Mặt trời, sinh khối…, trong đó tùy theo đặc điểm của từng quốc gia mà xác định các nguồn phụ tải nền, phụ tải trung gian và phụ tải đỉnh.      Sau khi tính toán các chi phí hệ thống năng lượng (bao gồm chi phí đầu tư tính theo năm, chi phí nhiên liệu, chi phí vận hành và bảo dưỡng), nhóm tác giả nhận thấy có một số hiệu quả hứa hẹn mà các kịch bản đem lại như “mặc dù chi phí hệ thống sẽ tăng lên khi hạn chế đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện than mới, nhưng việc tập trung vào đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng sẽ làm giảm đáng kể chi phí tăng thêm” (Kịch bản 5); phát thải CO2 thấp nhất trong kịch bản 5; kịch bản 3 đến năm 2030 sẽ đạt tỷ trọng năng lượng tái tạo cao nhất vào năm 2030 nhưng về dài hạn thì kịch bản 5 sẽ đạt tỷ trọng này cao nhất; nhập khẩu nhiên liệu thấp nhất với kịch bản 5.  Do vậy, nhóm chuyên gia đã nhận xét, các kịch bản đều có thể đáp ứng mục tiêu năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện lớn và nhỏ) cho ngành điện trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (trừ kịch bản 1), tuy nhiên đối với mục tiêu tiết kiệm năng lượng thì kịch bản 4 không đáp ứng được mục tiêu đề ra vào năm 2050.    Một nhà máy điện gió ở Việt Nam. Nguồn: baodauthau.vn  Kết hợp các chi phí hệ thống năng lượng với các tác động khí hậu, nhập khẩu nhiên liệu, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu…, các chuyên gia đi đến kết luận, “việc kết hợp các nỗ lực thúc đẩy năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng, đồng thời hạn chế đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện than mới giúp đạt được các kết quả tốt nhất”. Họ đưa ra con số tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng có thể tăng lên trên 20% vào năm 2050 nếu Việt Nam thực hiện các giải pháp hạn chế nhà máy nhiệt điện than mới. Do nhìn nhận các công nghệ và các biện pháp tiết kiệm năng lượng chỉ đem lại một tác động hạn chế đối với tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo, họ cho rằng việc hạn chế các nhà máy nhiệt điện than như thực hiện trong kịch bản 3 và kịch bản 4 mới tạo ra cơ hội lớn cho phát triển năng lượng tái tạo.  Giải pháp nào khả thi?   Trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, những nơi dành nhiều đầu tư cho R&D về năng lượng tái tạo, sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực năng lượng cũng như có lượng phát thải khí thải nhà kính cao, việc xác định cơ cấu điện năng dài hạn luôn được các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia năng lượng quan tâm. Dù ưu tiên vào phát triển năng lượng tái tạo vấn đề phát triển năng lượng tái tạo và vai trò của nó trong cơ cấu điện năng của một quốc gia vẫn là gây nhiều tranh cãi. Và trên thực tế, dù theo đuổi năng lượng tái tạo thì những quốc gia này vẫn phụ thuộc vào năng lượng từ các nhà máy nhiệt điện than, hay nói cách khác, nhiệt điện than là phần quan trọng trong nguồn phụ tải nền do hoạt động ổn định và chi phí thấp.   Do đó, trong các kế hoạch dài hạn của các quốc gia tiên tiến này, họ vẫn xác định một cơ cấu năng lượng hỗn hợp với đầy đủ các thành phần năng lượng, từ năng lượng truyền thống như điện than, thủy điện, khí hóa lỏng đến năng lượng mới như hạt nhân, điện gió, điện Mặt trời, sinh khối…, trong đó tùy theo đặc điểm của từng quốc gia mà xác định các nguồn phụ tải nền, phụ tải trung gian và phụ tải đỉnh.       Khi chưa tìm được một nguồn cung năng lượng xanh và bền vững như mong muốn thì có thể thấy một phần giải pháp đó ở ngay trong các kịch bản mà EOR19 đưa ra, đó là tiết kiệm năng lượng ở phía người tiêu dùng.      Tại sao năng lượng tái tạo vẫn chưa được xác định là nguồn cung năng lượng chính? Theo nhận định của Burton Richter, nhà vật lý Mỹ từng đoạt giải Nobel về phát hiện ra hạt J/ψ meson, vấn đề của năng lượng tái tạo không chỉ ở sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như ai cũng biết (ví dụ gió thổi, mặt trời chiếu sáng) mà còn là “sự gia tăng về quy mô không đủ nhanh để đạt tới mức giá rẻ và thực tế trước những yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng”. Ngay cả Cơ quan Năng lượng tái tạo quốc tế (IRENA) cũng từng thừa nhận trong một báo cáo năm 2015 là “năng lượng tái tạo cần phải tăng quy mô ít nhất gấp sáu lần hiện nay để thế giới bắt đầu đáp ứng được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu đề ra”.   Trong xu thế chung ấy, một kịch bản phụ thuộc vào năng lượng tái tạo và “đoạn tuyệt” với nhiệt điện than chưa thật sự phù hợp với Việt Nam, dù cho các kịch bản của EOR19 cũng đưa ra triển vọng đầy hứa hẹn: “nếu không xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới sau năm 2025, tỷ trọng của điện Mặt trời và điện gió sẽ cao hơn trong cơ cấu nguồn điện (tương ứng là 22% và 40% vào năm 2030 và 2050), và tỷ trọng năng lượng tái tạo sẽ đạt 50% vào năm 2050”. Tuy nhiên, dù lạc quan mấy thì các chuyên gia EOR19 cũng phải thừa nhận trong báo cáo của mình, “mặc dù các kịch bản trên cơ sở mô hình hóa cho thấy những lợi ích trong đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam, vẫn cần có thêm các phân tích, sự cân nhắc kỹ cũng như xác định ưu tiên của các nhà hoạch chính sách để có thể xác định được một lộ trình phát triển năng lượng khuyến nghị cho Việt Nam”.   Giải pháp khả thi cho bài toán năng lượng Việt Nam là gì? Khi chưa tìm được một nguồn cung năng lượng xanh và bền vững như mong muốn thì có thể thấy một phần giải pháp đó ở ngay trong các kịch bản mà EOR19 đưa ra, đó là tiết kiệm năng lượng ở phía người tiêu dùng. Theo tính toán của ROR19, việc tiết kiệm năng lượng sẽ làm giảm tổng chi phí hệ thống năng lượng ngay từ năm 2030, trong đó mức giảm về chi phí nhiên liệu và nhu cầu điện năng thậm chí có thể cao hơn so với mức tăng chi phí đầu tư trong các lĩnh vực sử dụng năng lượng. Hiệu quả của các biện pháp tiết kiệm năng lượng được định lượng một cách rõ ràng: ngay cả trong trường hợp áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng như thay thế các công nghệ cũ, tiêu tốn nhiều năng lượng, nhiên liệu hay phát thải lớn đòi hỏi những suất đầu tư “lên đến 7 tỷ USD vào năm 2030 và 16 tỷ USD vào năm 2050 thì Việt Nam vẫn có thể tiết kiệm được một lượng lớn chi phí nhiên liệu và đầu tư trong ngành điện, qua đó dẫn tới tổng chi phí hệ thống hằng năm giảm 8,9% năm 2030 và 10,6% năm 2050”, các chuyên gia EOR19 lưu ý.   Điều này hoàn toàn trùng khớp với nhận định của các chuyên gia Việt Nam. Ví dụ theo ông Chu Bá Thi, chuyên viên năng lượng của Ngân hàng Thế giới tại Diễn đàn năng lượng Việt Nam: Tiết kiệm năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam phát triển bền vững vào tháng 8/2019, “chi phí xã hội bỏ ra để tiết kiệm một đơn vị điện năng chỉ bằng 1/3, 1/4 so với chi phí sản xuất ra một đơn vị điện năng mới”. Còn ở góc độ của một nhà quản lý và tư vấn chính sách, ông Đỗ Hữu Hào, chủ tịch Hội KH&CN Sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả (Bộ Công thương) đưa ra một con số ấn tượng, nếu nâng tỷ lệ tiết kiệm năng lượng lên đến mức 10% thay vì khoảng 6% như hiện nay thì mỗi năm, mức năng lượng Việt Nam tiết kiệm được sẽ tương đương công suất của một nhà máy điện tầm trung.  Với nhận thức này mà tiết kiệm năng lượng là vấn đề mà Việt Nam theo đuổi nhiều năm qua với một loạt chính sách, chương trình quốc gia, tuy nhiên khâu thực thi chưa thật sự hiệu quả ở các lĩnh vực được nhìn nhận là tiêu thụ nhiều điện năng nhất như công nghiệp (chiếm 55%), chiếu sáng, sinh hoạt (32%) – số liệu báo cáo năm 2018 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Dù nhận thức được hiệu quả của tiết kiệm năng lượng nhưng theo chia sẻ của ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững (Bộ Công thương) thì “các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm về lợi ích công nghệ mang lại, đặc biệt với những lĩnh vực ngành nghề mà chi phí năng lượng trên giá thành sản phẩm thấp”.   Đối với những doanh nghiệp mong muốn đổi mới công nghệ bằng giải pháp vay vốn ngân hàng thì “gặp phải nhiều bất cập và rào cản trong cơ chế tài chính. Chi phí đầu tư ban đầu cho các dự án đều ở mức cao nên nhiều ngân hàng coi rủi ro trong lĩnh vực này lớn, hầu hết các đề xuất vay đều dựa vào tài sản đảm bảo nhưng xếp hạng tài sản của nhiều doanh nghiệp ngành thép tương đối thấp trong khi năng lực đánh giá, thẩm định công nghệ trong các dự án cho vay của các ngân hàng rất yếu”, ông Chu Bá Thi nêu thực trạng mà ông thấy trong quá trình khảo sát đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp về chính sách tiết kiệm năng lượng giữa Worldbank và Bộ Công thương.   EOR19 cũng nhận ra vấn đề này và đề xuất, “các giải pháp tiết kiệm năng lượng tham vọng cần được ưu tiên hàng đầu trong Quy hoạch phát triển điện quốc gia 8”. Do chỉ khoanh vùng ở phạm vi công nghệ nên EOR19 không đề xuất những giải pháp chính sách về tài chính mà tập trung vào những vấn đề như các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu (các thiết bị trong tòa nhà, điều hòa không khí), dán nhãn năng lượng bắt buộc cho các thiết bị sử dụng năng lượng; đầu tư mới vào các nhà máy nhiệt điện đồng phát trong công nghiệp. □     Tham khảo:  Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam năm 2019 (EOR19)  https://vietnam.um.dk/en/green-growth/vietnam-energy-outlook-report/  https://www.worldenergy.org/assets/images/imported/2016/10/World-Energy-Resources-Full-report-2016.10.03.pdf  Kể từ năm 2015, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, năm 2017 là 20%. Xu hướng tăng trưởng nhu cầu năng lượng ở Việt Nam được dự báo còn tiếp tục, kết hợp với việc khai thác tối đa tiềm năng của các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong nước, thủy điện và sinh khối dự kiến trong tương lai (đặc biệt là trữ lượng dầu thô và khí thiên nhiên), có thể đặt ra một thách thức đối với cung cấp năng lượng bền vững ở mức chi phí hệ thống thấp nhất.    Author                Tô Vân        
__label__tiasang Nên có học hàm tương đương Assistant Professor      Để việc phong học hàm ngày càng hội nhập quốc tế, chúng ta rất nên có học hàm tương đương assistant professor vào trong hệ thống. Tên Việt Nam có thể gọi là “trợ lý GS” hay “PGS1” còn học hàm PGS hiện nay thì tương ứng với associate professor của quốc tế và có thể gọi là PGS2.      TS Trần Xuân Bách (32 tuổi, ĐH Y Hà Nội) là người trẻ nhất trong 638 nhà giáo được công nhận phó giáo sư năm 2016.  1) Về các tiêu chí về số điểm công trình cho ứng viên GS và PGS, tôi rất nhất trí với đề nghị của GS Ngô Việt Trung. Tuy nhiên, đối với những ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật thì tôi đề nghị 1/2 số điểm các công trình quốc tế do ứng viên GS chủ biên phải là những bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (theo quyết định phân loại của Quỹ Nafosted được đưa ra chính thức hằng năm và thường ứng với xếp loại tạp chí Q1 theo Scimago). Về lâu dài có thể cân nhắc đưa chỉ số h-index tối thiểu cho các ứng viên GS của mỗi ngành.  2) Để tuyển được các nhà khoa học trẻ giỏi vào hàng ngũ GS và PGS, các tiêu chí về điểm sách cần giảm đến tối thiểu và cần có số điểm công trình quốc tế uy tín nhất định để tính thay cho điểm sách. Tương tự đối với số năm thâm niên đào tạo cũng có thể được tính tương đương một số điểm nhất định các công trình quốc tế uy tín (tạp chí trong danh sách của Quỹ Nafosted công bố hằng năm).  3) Để việc phong học hàm ngày càng hội nhập quốc tế chúng ta rất nên có học hàm tương đương assistant professor vào trong hệ thống. Tên Việt Nam có thể gọi là “trợ lý GS” hay “PGS1” còn học hàm PGS hiện nay thì tương ứng với associate professor của quốc tế và có thể gọi là PGS2. Các tiêu chí cho PGS hiện nay có thể chuyển thành tiêu chí cho PGS1 còn tiêu chí cho PGS2 phải đưa lên mức gần với GS hơn (có thể bằng khoảng 2/3 yêu cầu về số điểm công trình quốc tế cũng như bài báo quốc tế uy tín). Đây là việc rất nên làm vì phần lớn các nước trên thế giới đều có ít nhất ba mức học hàm GS như vậy, chưa nói nhiều nước châu Âu có bốn mức (ở CHLB Đức người ta xếp loại full professor là C4 so với associate professor được xếp loại C3…). Làm được việc này thì cũng sẽ dễ dàng hơn đối với giới quản lý khi quy định các chế độ lương bổng và đãi ngộ tương ứng với các học hàm. Quy định xếp lương cho PGS và GS hiện nay là chưa hợp lý. Khi được phong PGS là ứng viên được chuyển ngay sang ngạch lương giảng viên cao cấp như GS và như vậy không hề có khác biệt gì về ngạch lương giữa GS và PGS. Nghe nói năm vừa qua đã có trường hợp thầy được phong GS và trò được phong PGS cùng đợt và cả hai được quyết định hưởng mức lương mới hệt như nhau.  Nếu chúng ta có các học hàm PGS1, PGS2 và GS thì tương ứng có thể xếp lương PGS1 = giảng viên chính, PGS2 = giảng viên cao cấp (bậc 1) và GS = giảng viên cao cấp (bắt đầu luôn từ bậc 5).    Author                Đào Tiến Khoa        
__label__tiasang Nền cộng hòa      Con người ở khắp muôn nơi từ hàng ngàn năm nay luôn luôn phải thao thức về việc làm sao tổ chức được đời sống của mình cho thỏa đáng. Cái công việc tổ chức đời sống cộng đồng ấy là nguồn gốc của chữ cộng hòa, “res publica” trong tiếng latin, “sự nghiệp công cộng”.  Nhưng phải mãi đến gần đây con người mới có được những bước tiến thực sự mạnh mẽ và hiệu nghiệm về cách thức tổ chức và vận hành được cái “sự nghiệp công cộng” này.    Thần quyền  Buổi đầu sự trị vì cai quản đời sống của một cộng đồng được nhuộm màu thần quyền linh thiêng, là lĩnh vực mà suy nghĩ của các thường dân không được quyền chạm tới. Sự cai trị này được độc quyền lý giải bởi “Thiên cơ”, “Trời định”, và những người cầm quyền được mệnh danh là những “Con Trời”, được Ông Trời lựa chọn để thay Trời trị dân. Người dân chỉ có một quyền duy nhất là chịu đựng và tuân phục các bậc cai trị. Bạo lực tinh thần và bạo lực tổ chức được xây dựng để duy trì trật tự này, đè bẹp mọi sự bất tuân.  Quí tộc  Xác lập được thần quyền, thì con của “ông Con Trời” sẽ khắc là “con cháu Nhà Trời”. Từ đó quyền lực trở thành một tài sản thần thánh được chu chuyển chỉ trong những dòng họ nhất định này, họ thành ra “quí tộc”.  Nhờ thần quyền mà quí tộc có được chính danh.  Và cũng nhờ sức mạnh của quí tộc mà thần quyền mới được uy linh.  Thần quyền và quí tộc nương dựa vào nhau, một mà hai, hai mà một.  Ở một thời điểm lịch sử nhất định khi xã hội có biến động lớn, thường hay liên quan chặt chẽ tới cả thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh lớn lao nữa, có thể có sự đổ vỡ của những dòng họ, sự lung lay của thần quyền. Nhưng sau đó thì người ta lại thấy có sự yên bình trở lại, với những dòng họ quý tộc mới cùng thần quyền được tái ngôi, tuy có thể có những trang trí thích hợp trở lại.  Khoa học và thương mại, công nghệ và tự do  Hàng ngàn năm trôi qua, trước mặt là hàng ngàn năm sắp đến. Không có gì mới.  Thế rồi nhờ khả năng tìm tòi hiểu biết và sáng chế, con người đến lúc đã mở mang khoa học và thương mại. Họ hiểu ra rằng để có được sự giàu có ấm no thì không chỉ nhờ có việc loay hoay cướp đoạt hay cưỡng bức nhau, mà còn có thể nhờ đẩy mạnh sự hiểu biết và trao đổi sản vật.  Và rồi công nghệ là điều phát hiện lớn lao. Một cái cối xay tự động dùng được sức gió hay sức nước cho con người thấy ra một thế giới mênh mông về các khả năng được mở ra, mà chìa khóa là sự hiểu biết và chế tạo, còn tự do chính là nền móng cho chúng mà cũng là đích sống.  Tất cả những lĩnh vực này thúc đẩy nhau mạnh mẽ.  Hơn thế nữa, chính bản thân cái tổ chức đời sống cộng đồng của con người cũng không còn thần bí là do Trời định, mà có thể đươc suy ngẫm và được can thiệp tái tổ chức trở lại sao cho hợp lý, thuận lợi hơn.  Bắt đầu bằng tổ chức lại các lĩnh vực sản xuất, rồi trao đổi thương mại, rồi quân sự, rồi tổ chức đời sống dân sự, rồi tổ chức đời sống văn hóa tinh thần… Sự phức tạp và phong phú của các lĩnh vực đòi hỏi sự tự do hóa công việc tổ chức, sự tiêu chuẩn hóa, sự hình thành luật pháp dân sự, sự trọng tài tranh chấp dân sự, sự học hành đào tạo, v.v. Con người ngày càng chủ động hơn trong việc xây dựng trở lại trật tự đời sống của chính mình. Thần quyền và quí tộc không đủ để duy trì và phát triển xã hội nữa.  Nền cộng hòa  Và con người bước tới nền cộng hòa, với các hình thức và tên gọi khác nhau của chúng, cũng như cả các sự lạm dụng của các tên gọi này.  Nền cộng hòa trước hết là sự vượt qua và khước từ các nguyên tắc thần quyền và quí tộc.  Nếu ai đó lợi dụng khái niệm này để tạo ra một thể chế “nền cộng hòa thần giáo” gì đó, bạn nên quay đi.  Nếu ai đó lợi dụng khái niệm này để tạo ra một thể chế “nền cộng hòa thái tử” gì đó, bạn khỏi cần quay lại.  Nền cộng hòa là sự công nhận các quyền thế tục của xã hội dân sự.  Nền cộng hòa đòi hỏi xóa bỏ nền pháp trị Trung cổ: pháp luật là một công cụ để kẻ mạnh hơn sử dụng nó để áp chế kẻ yếu hơn.  Nền cộng hòa đòi hỏi thiết lập nền pháp quyền dân sự: pháp luật là cái khung để mọi người theo đó mà triển khai các hoạt động tự do phong phú của mình.  Nền cộng hòa đòi hỏi thiết lập sự tự do của công dân. Nguyên lý là “phi cưỡng bức” (khái niệm  “bình đẳng” hơi mơ màng). Nguyên lý “phi cưỡng bức” bắt buộc xã hội phải hoạt động thông qua nền pháp quyền.  Nền cộng hòa đòi hỏi hệ thống tư pháp, hay hệ thống tòa án, phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật để bảo vệ được nền pháp quyền.  Và nền dân chủ thì cũng chính là nền cộng hòa, chúng là hai tên gọi khác nhau của cùng một thể chế xã hội, trong đó mỗi công dân thực hành sự tự do của mình trên nền tảng pháp quyền.  Bộ máy vận hành xã hội sẽ được hình thành và kiểm tra thông qua các quyền của các công dân bầu cử phổ thông trực tiếp các đại biểu của mình vào Quốc hội, và cũng có thể bầu trực tiếp nguyên thủ quốc gia, quyền thực hiện trưng cầu ý dân về các quyết định lớn của Nhà nước, ví như thay đổi hiến pháp. Và tất nhiên các quyền gián tiếp thông qua các đại biểu của mình.  Con đường xây dựng, gìn giữ, và hoàn thiện nền cộng hòa đòi hỏi ở chúng ta cả một sự nghiệp lớn lao, bền bỉ, sự sáng suốt, và tinh thần vì con người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế cần đến đâu thì khai thác bài bản đến đó      Tài nguyên khoáng sản (TNKS) là lĩnh vực được nhiều người nhắc đến trong thời gian gần đây. Để hiểu thực trạngTNKS của Việt Nam cũng như những vấn đề nội tại của nó, Tạp chí Tia Sáng đã có buổi trao đổi với Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn*. Dưới đây là nội dung chính của buổi trao đổi đó.      Theo ông, đâu là những nguyên nhân dẫn đến thực trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trước tình hình bát nháo mà báo chí nêu ra trong thời gian gần đây như ở Cao Bằng, Quảng Ninh v.v…?  Những bát nháo, lộn xộn hiện nay trước hết xuất phát từ những chệch choạc trong quản lý vĩ mô.   Từ thời Tổng Bí thư Đỗ Mười, năm 1993, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 13 về phát triển ngành công nghiệp khai khoáng. Đó là một nghị quyết rất chuẩn mực. Nhưng từ đó đến nay chúng ta không có cái gì cụ thể để triển khai cả: không có chiến lược chung về TNKS, không có các thăm dò, qui hoạch riêng cho tất cả các loại khoáng sản.   Trước kia, trong các ngành kinh tế lớn có hai ngành than và điện là có quy hoạch tương đối bài bản. Khi làm quy hoạch điện, than, chúng ta đã thuê các viện đầu ngành của Liên Xô thực hiện. Chuyên gia họ làm hằng năm trời, thu thập hàng container tài liệu cơ sở. Sản phẩm quy hoạch làm xong khi họ đưa cho mình cũng cả container tài liệu. Giờ thì mình làm qui hoạch rất “nhẹ nhàng”, cứ ngồi vẽ khoảng dăm ba tháng là đã ra được cái qui hoạch ngành. Hiện nay, gọi là “quy hoạch” nhưng không bằng kế hoạch dài hạn, phải chỉnh sửa hằng năm, rồi chưa thực hiện đã bị “vỡ” như quy hoạch ngành than, quy hoạch ngành thép thì còn gọi gì là “quy hoạch”!             Khai thác Titan ở Bình Định        Ngoài việc thiếu qui hoạch như ông vừa nói, dư luận còn nói nhiều đến việc quản lý gần như bị buông lỏng.  Đúng vậy. Trong khâu quản lý, đáng kể nhất chúng ta có Luật Khoáng sản. Nhưng Luật Khoáng sản hiện nay chỉ như là một luật cấp giấy phép, chứ không phải là luật quản lý hoạt động khai thác khoáng sản. Luật Khoáng sản chỉ nặng về “cấp” giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến v.v.. Trong khi đó, những mảng “quản lý” quan trọng lại được đề cập rất mờ nhạt. Ví dụ như làm thế nào để khai thác, chế biến được một cách hiệu quả, tận thu được khoáng sản thì trong luật lại đề cập đến rất ít. Các vấn đề như môi trường, phát triển bền vững và an toàn lao động trong khai thác TNKS hầu như không được nhắc tới. Thời gian qua, ngành than đã “khai thác” cả các lộ vỉa than dẫn đến tình trạng bục nước, sập lò. Người Pháp ngày xưa còn biết để lại, không dám đụng đến các lộ vỉa than ở Quảng Ninh, còn TKV hiện nay đã “dỡ” cả mái nhà mang đi xuất khẩu mà chẳng có luật nào điều chỉnh.  Đánh giá thực chất về tài nguyên than của Việt Nam theo ông là như thế nào?  Tài nguyên than của Việt Nam nói thẳng là nghèo. Tôi vẫn nhớ trong một tài liệu có tựa đề “Việt Nam giữa ngã ba đường” trong những năm đầu thập kỷ 1990, các chuyên gia của Harvard đánh giá là trữ lượng than của Việt Nam chỉ có khoảng 500 triệu tấn. Khi đó, theo tôi họ đánh giá như vậy là rất đúng. Nhiều người cứ lộn tùng phèo giữa “tiềm năng” suy diễn với “trữ lượng” thực. Chính vì thế, cứ tưởng là có nhiều than, rồi cho khai thác nhiều hơn nhu cầu để đem đi xuất khẩu. Đến bây giờ, mới thấy trữ lượng than của Việt Nam là không nhiều, không đủ để đáp ứng cho ngành điện, sẽ phải nhập khẩu than, nhưng cũng chưa biết nhập từ đâu?  Tại sao lại như thế?  Về “tiềm năng” than thì có thể nói vô tội vạ, ông nói 10 tỉ, tôi nói 20 tỉ, chả ai bắt bẻ ai được. Nhưng đã nói đến trữ lượng, tức là những cái có thật thì phải nói một cách nghiêm túc. Ở vùng Quảng Ninh hiện nay, trữ lượng than chỉ khoảng 2,5 tỉ tấn là hết, chứ nói 10 tỉ tấn chỉ là suy đoán, phỏng đoán.   Người ta lại cứ nói thế vì điều đó phục vụ cho ý đồ cá nhân. Muốn xuất khẩu thì đương nhiên phải nói rất nhiều lên. Còn nói chỉ có 2,5 tỉ tấn thì ai cho ông xuất khẩu.   Vậy, tương lai ngành than sẽ như thế nào?        Đừng hy vọng nhiều vào tiềm năng TNKS của ta. Thứ gì nền kinh tế cần thì hãy tập trung và ưu tiên để khai thác, cần đến đâu thì khai thác đến đó, khai thác thật bài bản, thứ gì chưa cần thì đừng động vào kẻo mất cả chì lẫn chài.        Theo qui hoạch mới của ngành than thì than ở Quảng Ninh chỉ khai thác được khoảng 30-50 năm nữa là hết. Những mỏ hiện có đến lúc đó là đóng cửa hết rồi. Muốn kéo dài “tuổi thọ” ngành than ở vùng Đông Bắc thì phải đầu tư vào khu vực Bảo Đài-Yên Tử, và Phả Lại-Đông Triều (từ Mạo Khê về đến Cầu Bình-Hải Dương), tức là vào những khu hoàn toàn mới. Trong đó, Bảo Đài-Yên Tử lại là khu vực nhạy cảm, thuộc vùng cấm và hạn chế hoạt động khoáng sản. Giả sử, Chính phủ có cho phép khai thác ở đây thì TKV cũng khó có thể thăm dò để biến “tiềm năng” thành “trữ lượng” trong 5-10 năm tới. Còn khu vực Đông Triều-Phả Lại thì làm gì có nhiều than như các nhà địa chất đang “mơ”. Tôi sợ rằng, tập trung thăm dò than ở các khu vực này sẽ giống như “ném tiền qua cửa sổ” thôi.  Như vậy, Việt Nam từ trước tới nay vẫn luôn ngộ nhận là nước giàu TNKS?  Hoàn toàn là ngộ nhận. Về mặt khách quan, Việt Nam không thể là nước giàu TNKS được vì không có đủ không gian và thời gian cần thiết để hình thành và lưu trữ được nhiều khoáng sản.  Việt Nam mình nằm trên một lục địa non trẻ, thời gian để hình thành ra khoáng sản là chưa đủ. Thí dụ than cần tới hàng trăm triệu năm để hình thành, thềm lục địa của mình cũng chỉ cỡ hàng trăm triệu năm tuổi thì làm sao mà có nhiều than được. Tương tự như vậy, không gian của mình cũng không lớn. Việt Nam có diện tích hơn 300 nghìn cây số vuông mà cứ khoe là đứng đầu thế giới về khoáng sản nào đó thì thật buồn cười. Nước Úc lớn như thế mà người ta cũng chẳng dám vỗ ngực là có nhiều khoáng sản. Mình có diện tích chỉ bằng một tỉnh của họ lại nói là có nhiều than thì ai tin.          khai thác than dưới độ sâu 250 m tại mỏ than Mông Dương, Quảng Ninh.          Về mặt chủ quan, nhận thức về khoáng sản của ta còn quá kém. Mức độ thăm dò đánh giá trữ lượng còn rất thấp. Có những người có trách nhiệm, biết rõ việc đầu tư cho khâu thăm dò chưa đáng kể, nhưng khi nói về trữ lượng titan rất “bốc”. Lúc thì nói 200 triệu tấn, lúc thì lại nói 400 triệu tấn, vài hôm sau nữa nghe mấy ông nào đó nói, lại đưa Việt Nam lên thành nước đứng đầu thế giới về titan. Tôi cho đây là biểu hiện của sự ấu trĩ trong nhận thức về TNKS. Về đất hiếm cũng vậy, đã lâu rồi tìm thấy (ở Nậm Xe Điện Biên), tưởng chỉ mình có nên cứ như một cô gái đã ế chồng còn kênh kiệu, đối tác nào vào cũng phải bỏ đi.  Đùng một cái, Trung Quốc cũng tìm ra đất hiếm ở Nội Mông. So với Trung Quốc thì đất hiếm của Việt Nam chả là cái gì, chẳng còn là “hiếm” nữa và sẽ không thể cạnh tranh được. Thế mà vẫn có người cho rằng đó là một nguồn khoáng sản lớn, tiềm năng kinh tế của Việt Nam. Quặng sắt ở Thạch Khê cũng chỉ có khoảng nửa tỷ tấn, điều kiện khai thác rất khó khăn. Khâu chế biến (tuyển-luyện) cần vốn lớn và thời gian đầu tư rất dài thì chưa làm được gì đã lao vào “đào” quặng.   Ông đánh giá như thế nào về trình độ công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực khai khoáng?  Nhìn chung, công nghệ khai thác khoáng sản là lĩnh vực trì trệ nhất. Thí dụ, làm lộ thiên thì quanh quẩn vẫn chỉ có khoan, xúc, gạt, vận chuyển. Còn làm hầm lò thì hết đào lò bằng thì đào giếng nghiêng, giếng đứng- vẫn là những giải pháp có từ lâu rồi. Các lý do trình độ kỹ thuật kém thì có nhiều, chủ yếu là do các thiết bị kỹ thuật về mỏ phần lớn mình chưa chế tạo được, phải nhập từ nước ngoài. Khai thác lộ thiên tưởng là đơn giản thế thôi nhưng ngay ở khâu vận tải cũng phải cần đến những phương tiện vận tải chuyên dụng, hay máy khoan, máy xúc mình đều chưa chế tạo được. Trong công nghệ khai thác hầm lò, về mặt kỹ thuật mình lạc hậu khoảng 50 năm so với thế giới, những gì mình đang dùng hiện nay là cái hoặc là người ta bỏ đi, hoặc là người ta dùng từ lâu rồi.  Như vậy phải chăng chúng ta đã coi nhẹ việc áp dụng khoa học công nghệ vào khai thác khoáng sản?  Nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực khoáng sản ở Việt Nam hiện nay chỉ nhại đi, nhại lại vài ba đề tài mang tính chất cục bộ. Trong lĩnh vực khoáng sản chưa có một đề tài ngành nào cả. Thí dụ như dự án Vinaalta (cơ giới hóa đồng bộ khai thác than) thì rất cục bộ, xong thì thôi. Bản thân dự án cũng chả có hiệu quả gì cả. Gần 11 triệu USD (tương đương 186 tỉ đồng) đầu tư cho một lò chợ gần bằng tiền đầu tư cho cả một mỏ (mỏ Vàng Danh trước kia đầu tư tất cả chưa đến 15 triệu USD). Công suất lò chợ cơ giới hóa mà chỉ đạt 160.000 tấn/năm thì cũng chỉ ngang với lò chợ thủ công thôi (trị giá chỉ khoảng 5-7 tỉ đồng). Gần đây nhất là dự án đào lò bằng máy liên hợp mà TKV đang làm. Các nước họ sử dụng máy liên hợp để đào lò vì qui mô mỏ của người ta lớn, đường lò dài, tiết diện lò rộng. Mình thì ngược lại, tiết diện lò thì nhỏ, đường lò thì ngắn mà cũng đầu tư máy liên hợp đào lò liên hợp thì rõ ràng là lãng phí. Thực ra, để nâng cao tốc độ đào lò thì chỉ cần đầu tư thêm ở mỗi gương lò một hai búa khoan, thêm một máy xúc nữa thì tốc độ cũng chẳng kém cái máy đào lò liên hợp đắt đến hàng trăm tỉ đồng. Nói chung, điều kiện khai thác của mình khá phức tạp, khả năng cơ giới hóa đồng bộ như các mỏ trên thế giới là rất khó và chắc chắn không hiệu quả.  Thế mà người ta vẫn làm?  Vì, những người làm, hoặc là chẳng hiểu gì về kỹ thuật, hoặc là tiêu tiền chùa. Khi mình hỏi sao dự án Vinaalta đắt và kém hiệu quả như thế mà vẫn làm, họ nói: “TKV có mất gì đâu”. Nói vậy mà cũng có người nghe.  Vậy theo ông, cần làm gì để cải thiện được thực trạng quản lý và khai thác TNKS hiện nay?  Cách tốt nhất và dễ nhất thì mình lại không làm. Thí dụ như than, theo tôi cứ cấm xuất khẩu thì mọi việc sẽ khác. Không còn xuất khẩu thì sẽ không còn chênh lệch giá, không còn ăn cắp để xuất khẩu nữa. Chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước thì quản lý sẽ dễ dàng hơn nhiều. Những loại khoáng sản khác cũng vậy, bây giờ nếu trong nước chưa chế biến sâu được, chưa có nhu cầu thì tạm thời không khai thác. Chứ cứ khai thác như hiện nay, ông thì chở ô tô, ông thì chở tàu thủy, có ông thậm chí đưa qua biên giới bằng ngựa, khoáng sản gì cũng bán được, khoáng sản gì người ta cũng thu mua thì làm sao mà quản lý được. Vì vậy, cứ chủ trương là nếu không chế biến được, không luyện được quặng thành kim, chỉ làm mỏ thôi thì không làm. Cách quản lý dễ nhất là chặn khâu cuối cùng, chặn đầu ra thì mọi việc sẽ yên ngay…  Nếu Việt Nam sẽ thực hiện đấu giá và đấu thầu trong lĩnh vực TNKS thì sao?  Trong lĩnh vực dầu khí chúng ta đã “đấu” từ lâu rồi. Đối với những khoáng sản khác thì chẳng còn gì để mà “đấu” cả. Những mỏ “ngon” như: than, đồng, chì, kẽm, thiếc, sắt, đá trắng, apatite, pirit v.v. thì đã “cấp” hết rồi. Những thứ chưa “cấp” là vì đều “khó nhằn” nên chưa ai xin. Bây giờ có mang ra “đấu” thì chưa chắc có ai tham gia (ví dụ như than ở Đồng bằng Sông Hồng, vì rất khó khăn), hoặc sẽ có người tham gia, nhưng chưa chắc Nhà nước đã thu được gì (ví dụ như vàng sa khoáng, vì chưa biết nhiều hay ít).   Xin cám ơn ông!   NGUYỄN HOÀNG  thực hiện  ————  (*) Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, đơn vị thành viên của TKV    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế trong đại dịch: Phao cứu sinh của nhà nước?      Dù Việt Nam là một nước chống dịch thành công nhưng sau một năm rưỡi khó khăn bủa vây do đóng cửa nền kinh tế, khả năng chịu đựng của doanh nghiệp và người dân cũng đã giảm sút nhiều. Giờ là lúc họ cần các biện pháp hỗ trợ thật mạnh tay của nhà nước.       Quán cơm chay Bình An, số 49 đường Ngô Quyền, Quận 10 phát cơm miễn phí cho người nghèo, người lao động tự do gặp khó khăn. Nguồn: https://hcmcpv.org.vn/  Cho đến nay, Việt Nam vẫn kiên định con đường chống dịch bằng các biện pháp quyết liệt, chặt chẽ cho đến lúc có vaccine. Suốt một năm qua, cách làm này đã đem lại hiệu quả, mang lại mức tăng trưởng nhất định và bảo toàn được sinh mạng con người. Tuy nhiên càng gần đến cuối cuộc đua, khi các thương thảo vaccine đang được tiến hành rốt ráo thì cũng là lúc nền kinh tế suy giảm, sức chịu đựng của người dân và doanh nghiệp đã tới hạn.    Sức chịu đựng giảm sút   Là người thiết kế nghiên cứu đánh giá tác động của ba đợt bùng phát dịch trước đến người dân và doanh nghiệp nhưng chưa lần nào TS Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong thấy đại dịch gây ra tác động nặng nề bằng đợt bùng phát lần thứ tư này. Trong cả email và suốt cuộc đối thoại với phóng viên Tia Sáng, anh liên tục nhắc đi nhắc lại từ “nghiêm trọng hơn ba lần trước rất nhiều”. Đến nay, chúng ta vẫn còn ít nghiên cứu đánh giá hậu quả của ba lần bùng phát dịch trước ngoại trừ một vài nghiên cứu hiếm hoi như của Viện Nghiên cứu phát triển Mekong, công bố hồi tháng 12/2020, khảo sát trên hơn 1300 người. Khảo sát cho thấy, chỉ có một phần ba không suy giảm thu nhập, còn lại đều bị giảm sút thu nhập tùy mức ít hay nhiều. Trong đó đáng báo động nhất là lao động có kỹ năng thấp, không có kỹ năng, làm dịch vụ, hoặc những hộ nghèo và cận nghèo vốn cũng đã “giật gấu vá vai” từ trước đại dịch… và con số 24% người mất việc làm chủ yếu rơi vào nhóm này. Trong một năm qua, phần lớn những người giảm thu nhập và mất việc đã phải cắt giảm chi tiêu, sử dụng tiền tiết kiệm từ trước (42%) hoặc vay mượn (15%), thậm chí có một số người đã phải bán tài sản để sinh sống (7%).       Các gói hỗ trợ tới đây cần được tiến hành với các thủ tục càng đơn giản càng tốt và tránh để cán bộ quản lý cấp cơ sở phải chịu trách nhiệm cho việc xác minh thông tin về người nhận.      Trong đợt bùng phát dịch lần thứ tư, những nhóm này vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề trước tiên bởi vì các lệnh giãn cách đều yêu cầu đóng cửa các nhóm dịch vụ không thiết yếu. Công việc “buôn thúng bán bưng”, hàng quán vỉa hè cho đến người lao động có hợp đồng thời vụ đều bị ảnh hưởng… Kịch bản khó khăn của ba lần trước quay trở lại nhưng nặng nề hơn vì các nhóm lao động “ráo mồ hôi là hết tiền” này đa phần đã sử dụng hết khoản tích trữ cho năm 2020.   Mặt khác, cho dù những lần trước dịch bệnh gây điêu đứng thì chưa lần nào, nền kinh tế bị đánh vào những phòng tuyến quan trọng nhất như lần này. Điều đó khiến những doanh nghiệp lớn ở các khu công nghiệp quan trọng trong nước chịu tác động nghiêm trọng, chỉ riêng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang – mũi nhọn thuộc top đầu về giá trị sản xuất công nghiệp trong cả nước đã có tới khoảng 400.000 công nhân phải tạm nghỉ việc do dịch bệnh.   Đối diện với dịch bệnh trăm năm mới xảy ra một lần, có lẽ các doanh nghiệp cũng không đỡ lúng túng hơn người dân là bao nhiêu và cũng không ít doanh nghiệp phải sống bằng nguồn dự trữ hoặc vay mượn, đặc biệt là các ngành dịch vụ, du lịch đã “ngủ đông” suốt cả năm qua. Một kết quả khảo sát với quy mô 700 doanh nghiệp hoạt động tại đầu tàu kinh tế TP. Hồ Chí Minh do TS Nguyễn Hữu Huân và cộng sự, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh thực hiện, công bố trên tạp chí Research in International Business and Finance vào tháng tư vừa qua cũng cho thấy có tới hơn 75% doanh nghiệp bị giảm doanh thu và lợi nhuận. Hơn một nửa doanh nghiệp trong đó chủ yếu tập trung ở các ngành dịch vụ, du lịch và vận tải hành khách, họ bị sụt giảm doanh thu tới hơn 75%. Bức tranh mà các nhà nghiên cứu phác thảo chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 74% số doanh nghiệp được khảo sát) và tình trạng của họ có lẽ cũng phản ánh số phận chung của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh đại dịch.   “Mặc dù vậy các doanh nghiệp cũng chỉ có thể xoay xở ứng phó bằng các biện pháp ngắn hạn, khó duy trì được trong một thời gian dài”, TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết. Non nửa số doanh nghiệp được khảo sát trong nghiên cứu này buộc phải cắt giảm chi phí hoạt động, và hai phần ba trong số đó thực hiện việc cắt giảm nhân sự để giảm chi phí. Ngoài ra còn có các chiến lược khác nhưng đa số đều là để đối phó trong ngắn hạn và tập trung cắt giảm chi phí như cắt giảm tiền thuê văn phòng, vay vốn ngân hàng, bán tài sản công ty, đóng băng mọi hoạt động công ty… Chỉ có một số ít là sử dụng các chiến lược thích ứng dài hạn như chuyển sang hoạt động kinh doanh online, chuyển đổi số nhằm thích nghi với điều kiện “bình thường mới” hay tìm kiếm các nguồn thu khác. Nếu cuộc khảo sát doanh nghiệp này được thực hiện sau đợt dịch thứ tư thì những con số hẳn còn bi đát hơn nữa.   Quan trọng nhất là vai trò của nhà nước   Viện Mekong vẫn đang thiết kế một cuộc điều tra mới về ảnh hưởng của dịch bệnh lên đời sống người dân và doanh nghiệp trong đợt dịch lần thứ tư này. TS Phùng Đức Tùng nhận xét: “Tôi nghĩ đợt dịch này sẽ tác động nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng lớn tới cả cung và cầu. Mảng chế biến, chế tạo có tăng trưởng nhưng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ. Cầu tiêu dùng trong nước giảm mạnh do người dân phải thắt lưng buộc bụng cũng dẫn tới tình trạng sản xuất ra không bán được hàng, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cũng phải cầm chừng”.       Về phía doanh nghiệp, chính phủ không chỉ xem xét giảm thuế, phí cho doanh nghiệp, hỗ trợ lãi suất, giãn nợ cho các doanh nghiệp mà cần kích cầu bằng các biện pháp giảm thuế VAT cho các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, tiền điện, nước, xăng dầu, TS. Phùng Đức Tùng đề xuất.        Tình trạng khó khăn hoặc tới mức phải phá sản không chỉ ảnh hưởng tới số phận đơn lẻ của từng doanh nghiệp mà còn kéo theo chuỗi ảnh hưởng là người lao động và sức khỏe nền kinh tế nói chung. Doanh nghiệp và người dân cần phao cứu sinh ngay lúc này, dù chỉ để sống sót chứ chưa phải là quay trở về hoạt động như bình thường. Có hai xu hướng chủ yếu: một là trực tiếp cứu người lao động, hai là cứu doanh nghiệp để thông qua đó cứu người lao động.   Vào năm ngoái, nhà nước đã tung ra gói hỗ trợ 62.000 tỉ cấp phát tiền cho các nhóm chịu ảnh hưởng của đại dịch. Nhưng cho đến hết quý hai năm nay, chúng ta chưa thấy gói cứu trợ nào tương tự, mặc dù các đợt bùng phát dịch càng về sau càng nặng nề hơn. Theo TS. Phùng Đức Tùng, có thể có nỗi lo bội chi ngân sách và lấy tiền từ đâu để cấp phát cho người lao động, nhưng đây không phải là điều đáng lo vì báo cáo bội chi ngân sách năm 2020 ở mức 3,9% vẫn dưới ngưỡng Quốc hội cho phép (5%). Đồng thời, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vẫn đang kết dư trên 80.000 tỷ đồng và đây là nguồn lực quan trọng có thể huy động để đảm bảo kinh phí cho chính sách hỗ trợ người lao động.   Mặt khác, khi có gói cứu trợ trực tiếp thì việc triển khai cấp phát tiền phải được thực hiện khẩn cấp, khắc phục những điểm bất hợp lý, dùng dằng như năm ngoái. Cũng cuộc khảo sát của Viện Mekong năm ngoái cho thấy 36% hộ gia đình nghèo thuộc diện cần hỗ trợ chưa nhận gói này nhưng ngược lại có tới 19% hộ không nghèo, không cần hỗ trợ lại được nhận. Mấu chốt của cứu trợ là cần khẩn cấp nhưng thực tế là tốc độ giải ngân còn chậm. Để khắc phục, các gói hỗ trợ tới đây cần được tiến hành với các thủ tục đơn giản và tránh để cán bộ quản lý cấp cơ sở phải chịu trách nhiệm cho việc xác minh thông tin về người nhận. “Việc cán bộ địa phương phải lãnh trách nhiệm trong việc xác định chính xác đối tượng hỗ trợ như năm ngoái sẽ khiến họ mất rất nhiều thời gian vì họ sợ làm sai sẽ bị truy cứu trách nhiệm khiến cho việc giải ngân không kịp thời”, TS Phùng Đức Tùng nói. Thay vào đó, chính người nhận hỗ trợ phải tự ký cam kết về việc nhận ngân sách, sau này hậu kiểm nếu họ không đúng đối tượng thì sẽ phải tự chịu trách nhiệm. “Vấn đề quan trọng là tiền vào dân, thực thi chính sách cứu trợ trong tình huống cấp bách giờ không phải là để quan tâm đến một vài sai sót nhỏ. Về cơ bản các chính sách đều có tỉ lệ sai sót nhất định, nhưng nếu đẩy rủi ro vào người quản lý, cán bộ địa phương thực hiện thì người ta không bao giờ thực hiện ngay mà sẽ đùn đẩy, làm chậm nhưng chắc. Như vậy sẽ khiến chính sách không kịp thời và hiệu quả thấp”, TS. Phùng Đức Tùng giải thích.   Trên thực tế, các nước từ Âu sang Á đều có chính sách hỗ trợ người lao động, vì việc làm này không chỉ duy trì an sinh xã hội mà còn đảm bảo các doanh nghiệp duy trì được lực lượng lao động, không bị đứt gãy chuỗi sản xuất hậu đại dịch. Lấy ví dụ đơn cử, Pháp trả lương thay cho doanh nghiệp đang trong tình trạng “ngủ đông”, hỗ trợ người lao động bị mất việc, phải ở nhà trong lockdown với mức lương lên tới 60-70% mức trước đại dịch. Cùng với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khác, nền kinh tế của Pháp đã quay trở lại tăng trưởng nhanh chóng sau đại dịch. Ngay gần Việt Nam, tháng 3/2021, Thái Lan đã tung gói kích thích kinh tế thứ ba trị giá 58 tỉ USD, trong đó 15 tỉ USD cho các khoản vay của doanh nghiệp, 30 tỉ USD hỗ trợ người lao động tạm thời, lao động hợp đồng, và những người làm việc tự do, 12 tỉ USD thành lập Quỹ Bình ổn Thanh khoản Trái phiếu Doanh nghiệp. TS. Phùng Đức Tùng cho rằng, nếu Việt Nam dè dặt trong hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thì tốc độ tăng trưởng sau đại dịch sẽ thấp và mất cơ hội bắt kịp với các quốc gia khác. Một quan ngại hiện nay là nếu hỗ trợ bằng tiền mặt thì có thể sẽ dẫn tới lạm phát. Tuy nhiên đây không phải là điều đáng lo vì lạm phát chỉ xảy ra khi cung không đáp ứng được cầu. Với quy trình sản xuất hiện nay thì cung phục hồi rất nhanh và có độ trễ rất ngắn. Do vậy lạm phát tăng lên chỉ trong ngắn hạn, không tác động nhiều.  Quỹ vaccine nên dành để đầu tư cho R&D vaccine  Để cho doanh nghiệp và người dân sớm đi vào sản xuất và quay trở lại cuộc sống bình thường, Chính phủ đã sử dụng cả ngân sách nhà nước và huy động người dân tự nguyện đóng góp cho quỹ vaccine. Theo TS. Phùng Đức Tùng, vẫn có dư địa ngân sách để mua vaccine, mặt khác chính phủ phải có trách nhiệm sử dụng ngân sách cho các tình huống khẩn cấp như thiên tai dịch bệnh. Còn một quỹ tự nguyện đóng góp nên dành cho việc nghiên cứu và phát triển vaccine COVID, vaccine cho các bệnh mới nổi có nguy cơ lan rộng trở thành dịch bệnh cũng các loại vaccine khác mà Việt Nam đang cần. Đây là điều mà Việt Nam cần chuẩn bị để ứng phó với các tình huống bất trắc như dịch bệnh mới nổi trong tương lai và cần một quỹ với cơ chế hoạt động riêng để tài trợ. Quỹ vaccine này có thể học hỏi một tiền lệ là cơ chế vận hành của Quỹ Nafosted hiện nay.  Về phía doanh nghiệp, TS Phùng Đức Tùng đề xuất, chính phủ không chỉ xem xét giảm thuế, phí cho doanh nghiệp, hỗ trợ lãi suất, giãn nợ cho các doanh nghiệp mà cần kích cầu bằng các biện pháp giảm thuế VAT cho các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, tiền điện, nước, xăng dầu. Chính sách giảm thuế sẽ tác động tức thời và trực tiếp đến người tiêu dùng và kích cầu tiêu dùng. “Đó là một số việc cấp thiết cần phải làm, còn nếu không thì hậu quả rất nặng nề. Doanh nghiệp phá sản sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy kinh tế xã hội khác nhau. Cần hỗ trợ để họ có thể quay trở lại lại sản xuất ngay khi có thể”, TS. Phùng Đức Tùng nói. □  ——  Tài liệu tham khảo   Do, Huyen Thanh et al. (2021): Citizens’ Opinions of and Experiences with Government Responses to COVID-19 Pandemic in Vietnam, GLO Discussion Paper, No. 776, Global Labor Organization (GLO).  Huan Nguyen Huu, Vu Minh Ngo, Anh Nguyen Tram Tran, Financial performances, entrepreneurial factors and coping strategy to survive in the COVID-19 pandemic: case of Vietnam, Research in International Business and Finance, Volume 56, April 2021, 101380.   Gói cứu trợ thứ ba của Thái Lan https://www.aseanbriefing.com/news/thailand-approves-latest-economic-relief-package-for-businesses/   Pháp trả lương cho người lao động bị mất việc do đại dịch để đảm bảo các doanh nghiệp vẫn duy trì lực lượng lao động và quay trở lại hoạt động sau đại dịch.   https://www.eurofound.europa.eu/observatories/emcc/erm/support-instrument/partial-activity   Cập nhật hàng loạt gói hỗ trợ của EU hoặc của Pháp để hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian phải đóng cửa do COVID. https://ec.europa.eu/info/live-work-travel-eu/coronavirus-response/jobs-and-economy-during-coronavirus-pandemic/state-aid-cases/france_en     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nên làm theo lời khuyên của GS. Hoàng Tụy      Tr&#234;n Tia S&#225;ng c&#243; b&#224;i của PGS L&#234; Tuấn Hoa, Chủ tịch&nbsp; Hội To&#225;n học Việt Nam n&#243;i về một chương tr&#236;nh trọng điểm quốc gia với mục ti&#234;u đến năm 2020 đưa Việt Nam trở th&#224;nh một cường quốc to&#225;n học.  Phải chăng v&#236; tiềm lực to&#225;n học Việt Nam l&#224; số 1 của khoa học nước ta? Thực tế kh&#244;ng phải như vậy. H&#227;y lấy số b&#224;i b&#225;o khoa học tr&#234;n c&#225;c tập san quốc tế ra l&#224;m minh chứng: Trong thời gian 1996- 2005, Việt Nam c&#244;ng bố được 3.456 b&#224;i b&#225;o khoa học; trong số n&#224;y, những b&#224;i li&#234;n quan đến to&#225;n l&#224; 452 b&#224;i (chiếm 13% tổng số), tương đương với vật l&#237; (450 b&#224;i), kĩ thuật (406 b&#224;i), thậm ch&#237; h&#243;a học (385 b&#224;i). Một phần ba những b&#224;i b&#225;o khoa học từ Việt Nam li&#234;n quan đến y sinh học. Do đ&#243;, ch&#237;nh ng&#224;nh y sinh học, chứ kh&#244;ng phải to&#225;n, mới l&#224; ng&#224;nh c&#243; đ&#243;ng g&#243;p mạnh cho khoa học Việt Nam. Với những sự thật đ&#243;, nếu đầu tư để ph&#225;t triển khoa học, ch&#250;ng ta chọn ng&#224;nh n&#224;o để ưu ti&#234;n?    Theo tôi hiểu, tác giả bài báo trên lí giải rằng Việt Nam cần phát triển toán học vì các nước tiên tiến khác như Mỹ và Hàn Quốc cũng có một nền toán học tốt vì toán học là “hoàng tử” của khoa học. Nhưng tôi nghĩ nếu tác giả cung cấp vài bằng chứng cụ thể là toán học đã đóng góp gì cho phát triển kinh tế trong vòng 20 năm qua thì sẽ thuyết phục hơn. Nhưng rất tiếc, chúng ta chưa thấy những bằng chứng đó. Thật ra, chưa thấy bằng chứng gì cho thấy ở bất cứ nước nào trên thế giới có mối liên hệ nhân quả là phát triển toán học sẽ dẫn đến phát triển kinh tế.  Có thể nói rằng một mối liên hệ nghịch đảo thì đúng hơn: Phát triển kinh tế và khoa học sẽ dẫn đến phát triển toán. Singapore là một minh chứng cho mối liên hệ này. Trước đây, Singapore chẳng có bao nhiêu bài báo toán học, nhưng khi kĩ nghệ máy tính, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phát triển thì số bài báo toán học của họ tăng rất nhanh.  Có thể xem qua trang web của Viện Toán học để thấy rằng phần lớn những nghiên cứu về toán ở Việt Nam chỉ là toán thuần túy, chưa thấy phát triển toán ứng dụng. Bộ môn thống kê học, thì hầu như không một đại học nào ở Việt Nam có một “Department of Statistics” hay một “Department of Applied Mathematics”. Khi cần đào tạo, người ta phải gửi sang … Thái Lan để học!   Chính vì thế mà ở Việt Nam, mỗi khi các nhà nghiên cứu thực nghiệm muốn giải quyết một vấn đề gì mang tính tính toán, họ phải nhờ đến các chuyên gia toán ứng dụng và thống kê nước ngoài. Không biết bao nhiêu bài báo khoa học của Việt Nam bị từ chối công bố chỉ vì làm phân tích thống kê không đúng chuẩn mực quốc tế và thiết kế không đúng.  So với nước ngoài thì sao?   * Trong thời gian 2000 – 2005, khi Việt Nam công bố được 326 bài báo khoa học về toán, với tổng số trích dẫn 797 lần. Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 2,4, chỉ số H là 11, thì Singapore công bố 1.474 bài, với chỉ số trích dẫn trung bình là 5,43, chỉ số H là 30.  * Khoảng 44% các nghiên cứu về toán từ VN không được ai trích dẫn hay tham khảo.  Các con số này cho thấy toán học Việt Nam chẳng những kém về số lượng mà còn thua về chất lượng so với Singapore.   Dù Việt Nam cần phát triển toán nhưng tôi vẫn nghĩ rằng Việt Nam cần nhiều nhà khoa học toán (mathematical scientists), những người biết ứng dụng lí thuyết và phương pháp vào giải quyết các vấn đề thực tế hơn những nhà toán học tự hài lòng với vấn đề do chính họ đặt ra và tự họ giải. Và chỉ khi nào toán học Việt Nam tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học thì lúc đó mới có thể lí giải toán học có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học.  Có tham vọng là tốt, nhưng tôi vẫn ngại với những mục tiêu thành “cường quốc” trong khi thực lực còn rất thấp. Có lẽ cách tốt nhất là nghe theo lời khuyên của GS Hoàng Tụy: “Nói ít, làm nhiều hơn” thì hay hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu chỉ dừng ở một cách nói…      Ở Việt Nam có chuyện là, do chúng ta tụt hậu quá xa so với các nước phát triển, và tụt hậu ngay cả với một số nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia nên chúng ta nóng lòng muốn phát triển nhanh để đuổi kịp hoặc không tiếp tục tụt xa thêm nữa. Một thời gian dài, chúng ta đã chấp nhận đặt tốc độ và số lượng phát triển lên trước chất lượng mà quên mất rằng, số lượng nhiều, tốc độ cao trong một giai đoạn nào đó, thường là khi mở đầu một tiến trình, có thể tạo tiền đề cho chất lượng nhưng không trực tiếp đẻ ra chất lượng; còn chất lượng cao lại có thể đẻ ra số lượng và tốc độ, một cách bền vững. Ưu tiên cho chất lượng tức là hướng tới bền vững.      Những năm gần đây, chúng ta đã rút ra những bài học về phát triển nhanh và bền vững, (Văn kiện Đại hội X của Đảng (2006), mục Bài học về phát triển nhanh và bền vững nêu rõ: Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội). Các chương trình, chiến lược đã bắt đầu chuyển từ phát triển theo chiều rộng (hùng hục sức người, vay mượn) sang chiều sâu (nâng cao hàm lượng tri thức, phát huy nội lực và vốn tự có).  Có thể nói, phát triển bền vững ở Việt Nam không thiếu gì cam kết, chương trình, chiến lược, và giải pháp. Chúng ta đã có cả một Hội đồng Phát triển bền vững Quốc gia thành lập từ năm 2005 mà đứng đầu là những người nắm trọng trách cao nhất của quốc gia. Nhưng thật khó mà nói về các kết quả cụ thể của nó. Đây cũng không phải đặc sản của riêng Việt Nam mà là câu chuyện chung của con người ở khắp mọi chân trời. Tôi nhớ Liên Hợp Quốc từng có lần phát động và đưa ra khẩu hiệu “Văn hóa là mục tiêu cao, động lực mạnh, và hệ điều tiết của phát triển” (mà về đến Việt Nam thì vế cuối bị cắt bỏ) nhưng đến giữa chừng chiến dịch thì phải thừa nhận thất bại do các Chính phủ không quyết tâm hành động như cam kết.  Năm nay Việt Nam lạm phát cao, nhập siêu nặng, cùng với tình hình nợ nần của Vinashin – đó là những hồi còi báo động cho hiệu quả đầu tư và sản xuất nói chung và trong lĩnh vực công nói riêng. Trước tình hình này, Ngân hàng TG đã khuyến cáo Việt Nam phải cân nhắc giữa các mục tiêu phát triển và bình ổn.   Cách đây khoảng 10 năm, một tài liệu của Ngân hàng TG đã viết: “Cái sọt rác của lịch sử thế giới đầy những chương trình, kế hoạch, biện pháp hay và đúng, chỉ có điều không thực hiện được hoặc không được thực hiện”. Còn người Pháp có câu: “Những con đường dưới địa ngục đều được lát bằng những dự định tốt đẹp của con người.”  P.V ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu chỉ lo “cơm áo gạo tiền”, tôi đã không về      “Ban đầu, tôi nghĩ 90% độc giả khuyên tôi  đừng về. Nhưng tôi rất vui là có trên 40% độc giả khuyên tôi nên về ở  những khoảng thời gian khác nhau,” GS Nguyễn Văn Thuận, người quyết định rời môi trường làm việc thuận lợi ở Hàn Quốc để trở vể Việt Nam, tâm sự.     GS Nguyễn Văn Thuận, Đại học Konkuk, Hàn Quốc, sẽ trở về Việt Nam vào năm tới với dự án phát triển một trung tâm điều trị vô sinh nhằm mang lại hạnh phúc cho những người hiếm muộn.  – Nỗi lòng tâm sự với mong muốn về Việt Nam của giáo sư nhận được sự quan tâm của rất nhiều độc giả VnExpress. Nhưng có hơn 60% độc giả khuyên giáo sư không nên về Việt Nam, điều đó có tác động như thế nào với ông?  – Thật ra suy nghĩ trở về Việt Nam ấp ủ trong tôi từ lâu, gần đây các đồng nghiệp của tôi tại các trường đại học trong và ngoài nước cũng biết ý định này. Nhiều người trong số đó từng đến thăm và làm việc với tôi tại Đại học Konkuk, họ thấy rõ môi trường làm việc của tôi ở đây, vì vậy nếu ai đó ngạc nhiên khi tôi có ý định trở về để làm lại từ đầu cũng đúng thôi.  Bạn đọc VnExpress đưa ra nhiều ý kiến trái ngược là lẽ thường tình. Ở mỗi góc độ khác nhau suy xét vấn đề, nhiều bạn khuyên tôi không nên về hoặc động viên tôi “về thôi” đều có lý lẽ của họ. Tôi cảm ơn tất cả những lời khuyên và phản biện trái chiều, vì chính họ giúp tôi có quyết định đúng hơn và quyết tâm hơn.  Ban đầu, tôi nghĩ 90% độc giả khuyên tôi đừng về. Nhưng tôi rất vui là có trên 40% độc giả khuyên tôi nên về ở những khoảng thời gian khác nhau. Tôi hiểu, nếu đứng ở góc độ các bạn đang là sinh viên trong nước, làm nghiên cứu sinh, hoặc bắt đầu làm nghiên cứu sau tiến sĩ, tôi cũng sẽ đưa ra ý kiến là chưa nên về như tôi viết trong bài về nỗi lòng giáo sư đi “xây nhà hàng xóm”: “Nên xây dựng lý lịch khoa học cho mình, vừa chứng tỏ sự độc lập và tự tin trong nghiên cứu để hòa nhập vào dòng chảy khoa học quốc tế. Nhiều người rất giỏi chưa về quê hương vì gia đình nhỏ hoặc hoàn cảnh cá nhân, có người chọn cách đứng từ xa để xây dựng quê hương thông qua chuyển giao học thuật, cũng như tiếp nhận hoặc giới thiệu sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học. Tất cả đều đáng trân trọng và tôi cũng làm điều này trong suốt 10 năm qua.  – Vì sao đến bây giờ giáo sư mới quyết định về nước, mà không phải là ở thời điểm khi vừa hoàn thành nghiên cứu sinh?          Giáo sư Nguyễn Văn Thuận sinh năm 1966, tốt  nghiệp Đại học Kobe vào năm 2002. Năm 2002-2007, ông làm nghiên cứu sinh  sau tiến sĩ tại Viện Công Nghệ Sinh học thuộc Viện RIKEN, Nhật Bản.      Từ tháng 3/2007 đến nay, tiến sĩ Nguyễn Văn  Thuận giảng dạy tại Khoa Công nghệ sinh học động vật tại Đại học Kiến  Quốc (Konkuk), Seoul, Hàn Quốc. Hiện ông là Chủ tịch Hiệp hội Công nghệ  sinh học sinh sản châu Á.        – Theo quan điểm của một người tham gia đào tạo tiến sĩ, tôi nghĩ người vừa tốt nghiệp tiến sĩ như một quả tên lửa mang phi thuyền vào vũ trụ mới được đặt vào bệ phóng. Tên lửa tốt, nhiên liệu tốt sẽ chống chọi được lực hút trái đất và ma sát với khí quyển để đưa phi thuyền vào không gian (giai đoạn nghiên cứu sau tiến sĩ). Khi phi thuyền vào vũ trụ, bản thân sẽ tự chuyển động thôi. Lúc đó tận mắt chúng ta sẽ thấy trái đất hình tròn.  Việt Nam có rất nhiều tiến sĩ, nhưng thiếu những tổng công trình sư nắm trọn vẹn chìa khóa công nghệ. Vì khoa học công nghệ hiện đại rất phức tạp, nếu chỉ biết một vài kỹ thuật trong chương trình tiến sĩ thì khó hòa nhập với học thuật của thế giới và làm tốt một dự án lớn đạt hiệu quả.  Một câu chuyện tôi muốn chia sẻ là khi tôi quyết định rời Nhật Bản sang Hàn Quốc làm việc năm 2007 (thời điểm Hàn Quốc thua Nhật Bản 15 bậc). Tiến sĩ Takashi Nagai, Giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp Tsukuba sang trường Konkuk. Ông đã ngồi uống rượu với tôi một đêm chỉ muốn biết lý do tại sao tôi rời bỏ vị trí lương rất cao và hứa hẹn biên chế vĩnh viễn tại Nhật để sang Hàn. Sau đó tiến sĩ Takashi Nagai còn nhờ tiến sĩ Bùi Xuân Nguyên, trước làm về phôi tại Viện Khoa học công nghệ Quốc gia Việt Nam, tác động để tôi trở về lại Nhật Bản.  Bây giờ thì các bạn đồng nghiệp của tôi đã biết, tôi đi để học thêm những gì mình còn thiếu vì Hàn Quốc rất giỏi về kỹ thuật chuyển gene trên động vật, và tôi đã học được. Do đó, quyết định trở về của tôi là bình thường. Hơn nữa “khi còn trẻ thì người ta thường bàn về tương lai, nhưng khi có tuổi thì người ta thường nói về quá khứ”. Vợ chồng tôi còn cha mẹ đang sống tại quê hương, tôi muốn được ở gần bên cạnh các cụ để họ ôn lại những khoảnh khắc của quá khứ khi có chúng tôi bên cạnh, tôi muốn sau này con cái tôi cũng như vậy.  – Tức là khi giáo sư quyết định ở lại nước ngoài làm việc là vì cần học thêm kiến thức, còn chuyện “cơm áo gạo tiền” thì sao thưa giáo sư?  – Đúng vậy, tôi cần học thêm nữa nên tôi quyết định ở lại. Chắc các thế hệ đi trước và các bạn đang theo con đường khoa học trên thế giới đều đồng ý với tôi rằng: đi theo con đường khoa học gian nan lắm. Nhưng bù lại thành quả nghiên cứu của bản thân sẽ góp phần nhỏ bé cho khoa học thế giới, giống như cảm giác không gì hạnh phúc bằng việc học trò của mình thành công. Đến bây giờ khi đã là thầy giáo Đại học, tôi vẫn thường về nhà hàng đêm lúc 9 hay 10 giờ tối.  Nếu tôi chỉ lo chuyện “cơm áo gạo tiền”, tôi đã ở lại Nhật Bản, vì đến nay kinh tế Hàn Quốc vẫn thua Nhật Bản 10 bậc. Cuộc sống phải có cái tâm tốt và trách nhiệm không những cho gia đình mà còn cho quê hương.  – Giáo sư nghĩ sao về ý kiến, nhà khoa học ở nước ngoài tạo tiếng tăm, giúp đỡ các sinh viên quê nhà học tập nghiên cứu cũng là làm việc gì đó cho quê hương, chứ không nhất thiết phải về nước?  – Nhà khoa học Việt Nam làm việc ở nước ngoài đang giúp đỡ cũng như tạo tiếng tăm cho Việt Nam, tất cả đóng góp đó cho quê hương đều qúy giá và đáng trân trọng. Tuy nhiên, trong ngành công nghệ và khoa học ứng dụng, việc xây dựng những căn bản cần cho sự phát triển từ bên trong đất nước là rất cần thiết. Nếu chúng ta có tiếng nhưng vẫn nghèo, “hàng xóm” sẽ xem thường mình.  Đất nước chúng ta từng trải qua bài học thất bại về phát triển ô tô và cần nhớ rằng Việt Nam là một đất nước có thế mạnh về nông nghiệp, phải tập trung công nghệ cao phát triển nông nghiệp, với những kỹ thuật hiện đại của thế kỷ 21 trong công nghệ sinh học (chuyển gene, biệt hóa tế bào, nhân bản vô tính). Chúng ta có quyền mơ ước một ngày nào đó một con bò của Việt Nam sẽ tạo ra hàng chục ngàn đến hàng trăm triệu USD mỗi năm thông qua thực phẩm chất lượng cao và dược phẩm cho người như dự án mà tôi đã và đang thực hiện tại Hàn Quốc.  Thật đau lòng khi biết một đất nước nông nghiệp mà phải nhập mỗi năm hàng trăm tấn gà từ một nước có nền kinh tế chính là công nghiệp như Hàn Quốc.  – Nhiều lần về thăm quê hương và tìm hiểu điều kiện khoa học nước nhà, giáo sư thấy môi trường khoa học Việt Nam như thế nào?  – 10 năm qua, năm nào tôi cũng về Việt Nam một đến hai lần, khi thì tham dự hội thảo khoa học, khi thì phỏng vấn sinh viên để gửi ra nước ngoài học tại các phòng thí nghiệm của đồng nghiệp tôi ở Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới. Tôi biết rất rõ những khó khăn về khoa học và giáo dục của Việt Nam hiện tại.  Gần đây tôi có về TP HCM báo cáo trong hội nghị quốc tế, tiếp xúc với rất nhiều nhà khoa học, tôi thấy nhiều điểm sáng trong một bức tranh không mấy sáng sủa về học thuật tại Việt Nam, nhiều công bố quốc tế đã xuất hiện từ những điểm sáng đó, chính điều này làm cho tôi có niềm tin hơn về quyết định trở về Việt Nam của mình.  – Khi về Việt Nam giáo sư dự định làm việc ở đâu và bắt đầu như thế nào?  – Ấp ủ về quê hương của tôi có từ lâu và tôi quyết định về Việt Nam trong năm tới cho dù hiện tôi đang ở ngạch giáo sư giảng dạy kiêm nghiên cứu (Academic Faculty Member) của Đại học Konkuk. Với vị trí này tôi có thể làm việc cho đến khi về hưu và nhận lương hưu (xem xét 4 năm một lần để nâng cấp), hơn nữa trong năm nay chúng tôi có những nghiên cứu công bố trên những tạp chí chuyên ngành hàng đầu của thế giới về biotechnology như Stem Cells and Development….  Các đồng nghiệp ở Hàn Quốc rất ngạc nhiên khi nghe tôi nói về dự định về Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng gần, chúng tôi có thể gặp nhau hàng năm thông qua hội thảo khoa học. Còn gia đình tôi, các cháu vẫn phải ở lại cho đến khi bước vào cổng trường đại học. May mắn là bà xã tôi cũng là nhà khoa học đang làm việc ở Hàn Quốc, vì vậy tôi tạm thời yên tâm theo đuổi ước mơ của bản thân.  Để chuẩn bị cho sự trở về, tôi đã hợp tác với giáo sư, bác sĩ Morimoto, Chủ tịch kiêm CEO của IVF-Japan, Bệnh viện điều trị vô sinh CHA tại Seoul, cùng Đại học Tân Tạo phát triển Trung Tâm điều trị vô sinh với mục đích mang lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn vô sinh. Mọi việc chuẩn bị gần hoàn tất và chắc chắn sẽ đi vào hoạt động trong năm tới. Bên cạnh đó tôi sẽ tham gia đào tạo nghiên cứu sinh tại Trường đại học quốc tế TP HCM.  Ngoài ra, dự án tôi ấp ủ triển khai tại Việt Nam về biệt hóa tế bào và dược phẩm tái tạo đã thảo luận sơ bộ với Bộ Khoa học và Công Nghệ. Bộ trưởng Nguyễn Quân rất tâm huyết và mong muốn dự án thành công tại Việt Nam như tôi đang làm ở Hàn Quốc. Tôi mong Bộ Nông Nghiệp và các nhà khoa học Việt Nam trong chuyên ngành cùng hỗ trợ và hợp tác để tạo ra những sản phẩm quý giá cho quê hương. Đồng thời, tôi luôn sẵn sàng truyền đạt hiểu biết của cá nhân đến cho các em sinh viên trong chuyên ngành của mình nếu các trường có yêu cầu.    Đọc thêm:    Phải về thôi…  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5899        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngã ba 2007*      LTS: Bài viết Ngã ba 2007 của nhà nghiên cứu Nguyễn Trung là một trong những tham luận của cuộc hội thảo Tăng trưởng và phát triển bền vững do Tạp chí Tia Sáng dự kiến tổ chức vào tháng 2 năm 2008.    Trong lịch sử quốc gia, phát triển bao giờ cũng là một quá trình mang tính liên tục, thường khó xác định một cột mốc thời gian cụ thể cho một bước tiến hóa nào. Song thật hiếm thấy ở nước ta có năm nào có những chuyển biến xuất hiện rõ ràng như năm 2007: (a)quy mô nền kinh tế đã tới đạt đỉnh cao của phương thức phát triển theo chiều rộng, (b)đòi hỏi về sự phát triển năng động mới đang trở nên bức thiết, (c)thời cơ to lớn trong tay và những thách thức mới trong tình hình hội nhập toàn diện càng thúc đảy phải đi tìm chiến lược phát triển mới.  Cả 3 yếu tố này đang tạo ra một tình hình phảng phất không khí của năm 1986, khác chăng hồi đó là sự bức bách bất khả kháng mở ra công cuộc đổi mới, còn bây giờ – năm 2007 – là sự thôi thúc không nhân nhượng:  Hoặc là năm 2007 sẽ đánh dấu sự mở đầu bước vào một thời kỳ mới với sự lựa chọn dứt khoát chuyển sang sự phát triển năng động và bền vững để đi lên, hoặc là để cho thời cơ tuột tay và mọi yếu kém hiện có lấn át – với tất cả hệ lụy trước sau sẽ dẫn tới một bước ngoặt khác.  Tính chất quyết liệt ấy chính là điều đáng ghi nhớ cho năm 2007.    I. Con đường chuyển sang thời kỳ phát triển mới đã mở ra  Trước hết, năm 2007 nước ta đạt thành tích cao nhất trong 22 năm đổi mới, mặc dù vẫn còn nhiều yếu kém lớn.  Những thành tựu cụ thể và các chỉ số tăng trưởng nêu trong báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X nói rõ điều này. Tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,5%, là mức cao nhất từ 10 năm này. Đương nhiên kết quả này là sự tiếp nối những nỗ lực và thành tựu của những năm trước. So sánh tốc độ tăng trưởng từng mặt của năm 2007 sẽ thấy hầu hết các chỉ số đều vượt tốc độ của năm 2006; (chỉ riêng sức tăng trưởng xuất khẩu dầu thô giảm vì lượng khai thác dầu giảm khoảng 1 triệu tấn, tương đương 500 triệu USD); đặc biệt FDI thực hiện tăng 17% so với 2006; FDI cam kết đạt 13 tỷ USD – cao nhất từ trước đến nay 2.  Có thấu hiểu hết mọi mất, được của 32 năm đầu tiên sau khi giành được độc lập thống nhất để đi tới thành quả hôm nay, mới biết rõ được chặng đường đã qua và biết được hiện nay đất nước ta đang đứng ở đâu.  Năm 2007 – một năm quả là thời gian quá ngắn để nói lên điều gì, tuy nhiên có thể nhận xét: Năm đầu tiên là thành viên WTO của VN là xuôn xẻ, mặc dù còn rất nhiều chuyện hệ trọng phải bàn. Nhìn vào những việc đã làm được: Rõ ràng với tư cách mới này, Việt Nam năm 2007 Việt Nam tăng thêm được sức phát triển năng động của mình, đồng thời đã tạo ra được một vị thế quốc tế mới và một bước đột phá về kinh tế đối ngoại.  Đặc biệt là những mối liên kết mới trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa được thiết lập trong những chuyến viếng thăm chính thức của các vị lãnh đạo nhà nước ta, cũng như thông qua các đoàn chính giới và doanh nhân nước ngoài vào thăm Việt Nam trong năm 2007 đã mở ra một không gian mới, với nội dung mới ở tầm cao hơn cho hợp tác song phương, đa phương. Có thể nói lần đầu tiên kể từ sau năm 1975 Việt Nam đứng trước một triển vọng chưa bao giờ có trong việc mở rộng các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là với tất cả các đối tác lớn nhất của nền kinh tế thế giới.  Tính riêng các dự án kinh tế đạt được trong những chuyến viếng thăm này đã vượt 50 tỷ USD, bao gồm những ngành kinh tế rất thiết yếu đối với thời kỳ phát triển sắp tới của Việt Nam như: kết cấu hạ tầng, sản phẩm công nghiệp mới, sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ tài chính ngân hàng.., tất cả là những cam kết với các nước phát triển. Thực tế này đòi hỏi bản thân nước ta phải tự vươn lên như thế nào để những dự án này sẽ mở đường cho sự hợp tác ngang tầm với tiềm năng của đất nước và bối cảnh cho phép của bên ngoài.  Dựa trên những gì đã làm được trong năm 2007, Quốc hội khóa XII tại kỳ họp thứ 2 đã thông qua mục tiêu phấn đấu năm 2008 sẽ vượt cái ngưỡng quốc gia có thu nhập thấp tính theo đầu người. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát biểu đầy tự tin: mục tiêu tăng trưởng 8,5 – 9% của 2008 là khiêm tốn, tận dụng tốt những điều kiện có trong tay còn có thể vượt, có ý kiến tính toán đến khả năng tăng trưởng 2 con số…  Nếu nhìn nhận tình hình theo một hướng khác, phải chăng có thể đưa ra kết luận:  Việt Nam hiện nay có đầy đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài tốt nhất vừa đòi hỏi, vừa cho phép mở đường đi vào một thời kỳ phát triển mới: Chất lượng hơn, bền vững hơn, giá trị gia tăng cao hơn – chủ yếu dựa trên phát huy yếu tố con người và hội nhập?  Đây mới chính là vấn đề trung tâm của năm 2007, cần được xem xét từ mọi khía cạnh.  Những cái mới so với trước  Ngoài vị thế mới trên trường quốc tế sau khi Việt Nam được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an, kinh tế Việt Nam năm 2007 có 3 đặc trưng mới: thị trường vốn trong nước phát triển nhanh, thu hút FDI mạnh, khả năng mở rộng xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài ngày càng lớn.  Khai thác và phát huy mạnh mẽ 3 đặc trưng mới này, sẽ tạo ra động lực to lớn cho kinh tế phát triển mạnh cả về lượng và chất. Chính những thành tích mọi mặt đạt được, cùng với 3 đặc trưng mới này đòi hỏi:  Phải chuyển mạnh sang thời kỳ từ lợi thế so sánh chủ yếu dựa trên lao động rẻ và khai thác tài nguyên, môi trường – gọi là phát triển theo chiều rộng, sang thời kỳ tạo ra lợi thế so sánh mới chủ yếu dựa trên phát huy nguồn nhân lực và khai thác hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa – thời kỳ phát triển theo chiều sâu. Đòi hỏi này là tất yếu khách quan vì sau chặng đường 22 năm tình hình bên trong và bối cảnh bên ngoài đã thay đổi sâu sắc:  a. quy mô nền kinh tế nước ta ngày càng lớn (đạt tới đỉnh cao của phát triển theo chiều rộng),  b. nguồn lực trong và ngoài đưa vào nền kinh tế nước ta tăng nhanh,  c. nền kinh tế nước ta có thị trường ngày càng mở rộng trong và ngoài nước, ngày càng nhiều đối tác mới tầm cỡ quốc tế,  d. cạnh tranh hàng dựa trên lao động rẻ và chất lượng thấp ngày càng lợi bất cập hại – nhất là do giá cả nguyên nhiên liệu và sự trả giá về môi trường; trong khi đó thị trường ngày càng bão hòa những mặt hàng này.  Ngay trước mắt, trong những năm tới nếu không tạo ra được sự phát triển kinh tế – xã hội hiệu quả hơn và bền vững hơn, hệ quả sẽ rất khắc nghiệt: Sau khi khai thác cạn kiệt các yếu tố phát triển theo chiều rộng, thời kỳ phát triển với tốc độ cao như hiện nay có thể ngắn lại đáng kể, đất nước sớm chồng chất nhiều vấn đề nan giải mới, mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 khó mà thực hiện được.  Thực tế nêu trên tất yếu đòi hỏi phải nâng cao chất lượng sản phẩm và đi vào những sản phẩm mới, với nhiều hàm lượng công nghệ và dịch vụ hơn, với giá trị gia tăng cao hơn. Ví dụ, ngay cả việc tiếp tục xuất khẩu những mặt hàng truyền thống như thủy sản, nông phẩm, hàng may mặc.., song rõ ràng trong những năm tới nếu những sản phẩm này không được nâng cao chất lượng mọi mặt và dịch vụ,  thì giữ được thị trường và khách hàng cũ đã khó, đừng nói gì đến mở rộng. Nhưng quan trọng hơn nhiều vẫn là phải sớm tìm đường đi vào những sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ và dịch vụ cao hơn.  Việc tạo ra những sản phẩm mới như thế còn vô cùng bức bách ở chỗ nó là nội dung chủ yếu của những cam kết hợp tác mới giành được trong năm nay và triển vọng của những năm tiếp theo  – bởi lẽ: ngoại trừ những kẻ chụp giựt, đánh quả, không đối tác nào có tầm cỡ lại thừa tiền và công sức lựa chọn nước ta là bạn đồng hành chỉ để sản xuất ra các thứ hàng đồ đồng nát.  Hơn thế nữa, là một quốc gia có dân số đứng thứ 13 thế giới, đất hẹp người đông, ở vào vị trí địa lý kinh tế và chính trị đầy thuận lợi bậc nhất cũng như thách thức bậc nhất, Việt Nam sẽ là một đất nước ra sao? – tất cả  tùy thuộc vào việc nước ta từ nay lựa chọn phát triển theo hướng nào? Trước đây 22 năm còn có thể trì hoãn câu trả lời phải đi tìm này, nhưng bây giờ không thể!  (a) Nói về quy mô nền kinh tế: Ngay trước mắt, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho thời kỳ 2006-2010 dự kiến sẽ đạt trên 140 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài (FDI+ODA) dự kiến trên 50 tỷ USD, so với các chỉ số này của thời kỳ 2001-2005 là 100 tỷ và 30 tỷ. Chí ít về mặt số học, quy mô nguồn lực đưa vào nền kinh tế thời kỳ 2006 -2010 lớn hơn thời kỳ 5 năm trước đó 1/3. Theo Vietnam Economic News Online 19-10-2007, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Danh mục dự án quốc gia gọi vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thời kỳ 2006 – 2010 với tổng số 163 dự án, ước tính 61 tỷ USD, nghĩa là quy mô nền kinh tế có thể còn lớn hơn nữa…  Trong 22 năm qua dân số nước ta tăng khoảng 15 triệu người; nền kinh tế nước ta tính theo GDP năm 2007 ước tính lớn gấp 6 lần năm 1986; quan hệ kinh tế đối ngoại năm 2007 – ví dụ tính theo kim ngạch xuất nhập khẩu – lớn hơn khoảng 60 lần năm 1986 3… Thiện chí hay không thiện chí, không ai có thể bác bỏ thành tựu hiếm hoi này, mặt khác cũng không nên để cho những lời khen ngợi quá mức quyến rũ và làm cho mê ngủ. Sự thật là từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đến nay trên thế giới chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là hai nước đang phát triển đông dân đã giành được những kết quả như thế trong quá trình chuyển đổi. Nhưng xin đừng giây phút nào quên: So với cả thế giới nước ta vẫn còn thua kém rất xa trên nhiều phương diện.  Thành tựu tự nó đặt ra những vấn đề mới, những thách thức mới: Xin các chuyên gia thống kê làm giùm con tính so sánh trong quãng thời gian 22 năm này riêng kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật và những tiện ích công cộng khác đã tăng lên được bao nhiêu? đã chuẩn bị được bao nhiêu cho 5 năm tới, 10 năm, 20 năm tới? Có cách nào tính thử xem hay so sánh nguồn nhân lực và chất lượng của nó cũng như khả năng quản trị quốc gia của nước ta trong 22 năm này đã tăng lên như thế nào? Trong khi đó kinh tế nước ta đang phải đối mặt với sự thật hiển nhiên:  giá trị gia tăng trong sản phẩm và hiệu quả kinh tế nói chung của Việt Nam thua tất cả các nước trong nhóm ASEAN6 (trong 5 năm vừa qua chỉ số ICOR của những nước này thường là 3, của Việt Nam là 4 – 5, lạm phát của Việt Nam có chỉ số cao nhất, hơn cả Trung Quốc…).  Đứng trước tình hình như thế, giữ nguyên sự phát triển theo chiều rộng hoặc cải tiến không đáng kể lợi thế so sánh hiện có, đồng nghĩa với kéo dài và mở rộng thêm lạc hậu, nhân thêm những yếu kém trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt.  Hơn nữa, từ nay trở đi nước ta sẽ phải hoạt động trong những lộ trình ngày càng cao hơn của khung khổ WTO và gánh vác trách nhiệm ủy viên không thường thực của HĐBALHQ, tầm suy nghĩ và việc làm phải thay đổi theo hướng này.  (b) Nói về nguồn lực đưa vào nền kinh tế nước ta ngày càng lớn: Các số liệu về vốn đầu tư trong nước, về FDI, các dự án đã cam kết với nước ngoài nêu trên, sự phát triển hiện nay của thị trường vốn – đó là những dữ liệu cho phép lượng hóa khối lượng ngày càng lớn các nguồn lực đưa vào nền kinh tế nước ta hiện nay và cho những năm tới. Bản thân sự tăng vượt bực khối lượng các nguồn lực này đòi hỏi gay gắt phải chuyển sang chất lượng phát triển mới; yêu cầu cạnh tranh và yêu cầu hội nhập làm cho đòi hỏi này càng trở nên gay gắt. Nền kinh tế sẽ đi về đâu nếu với khối nguồn lực mới này – ví dụ làm ra nhiều than hơn nữa, nhiều hàng gia công may mặc hơn nữa, nhiều gạo, cà phê, cá..? Với quy mô lớn, sản phẩm chủ yếu dựa trên lao động cơ bắp và tài nguyên thiên nhiên càng mất lợi thế cạnh tranh, sẽ đem lại những hệ quả khủng khiếp: sản xuất những mặt hàng này đã tới trần, không thể mở rộng thêm, giá trị gia tăng của sản phẩm rất thấp, ngày càng thấp (vì tiền lương và chi phí sản xuất ngày một tăng), cũng không thể sử dụng hết các nguồn lực hiện có để đưa vào (input) nền sản xuất này, sẽ dẫn tới nền kinh tế chết vì lạc hậu, ách tắc và bội thực.  Các số liệu nêu trên liên quan đến quy mô các nguồn lực mới của nền kinh tế chưa tính tới nguồn nhân lực ở nước ta ngày càng lớn và năng suất lao động ngày càng cao, khả năng ứng dụng những thành quả mới của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát huy, khả năng phát triển cộng hưởng do giao lưu kinh tế ngày càng thông xuốt hơn trên thị trường nội địa và trên thế giới – bao gồm cả khả năng huy động tăng lên không ngừng các nguồn lực trong nước và nước ngoài trong quá trình tiến triển của hội nhập.  (c) Nói về thị trường ngày càng mở rộng cho nền kinh tế nước ta : Ngoài những điều đã trình bày bên trên, cần đặc biệt lưu ý đến hiện tượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có liên quan đến hướng ngoại trong hầu hết các nước phát triển và trong các nền kinh tế lớn – hiện tượng outsourcing (tạm dịch: khai thác các nguồn lực bên ngoài). Hiện tượng này nổi lên từ một vài thập kỷ nay và ngày càng bành trướng, càng tăng tốc, nhất là từ khi nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy trở thành công xưởng của thế giới.  Có thể quan sát hiện tượng này rất rõ nét tại các nền kinh tế Mỹ, Nhật, EU và một số nền kinh tế khác như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan… Việt Nam đang là một quốc gia, một nền kinh tế trở thành một trong những điểm ngắm để hướng tới của hiện tượng outsourcing này. Hiện tượng này còn liên quan mật thiết với yêu cầu các nền kinh tế lớn đang muốn đảy mạnh đa dạng hóa thị trường đầu tư để xan xẻ hay cân bằng các mối rủi ro kinh tế và chính trị.  Có thể nói toàn bộ sự phát triển trình bày trên là một thời cơ lớn và đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam.  Xin thử hình dung: Giả thử khai thác tốt tình hình trên, ví dụ Việt Nam sẽ là  một nền kinh tế cung ứng một cách tin cạy những sản phẩm mà nền công nghiệp Nhật cần chuyển dịch ra nước ngoài, trở thành một nền kinh tế có những mối quan hệ mật thiết (gần như quan hệ hữu cơ) với nền kinh tế Nhật… Việt Nam sẽ làm được như thế với một số nền kinh tế lớn khác nữa (kể cả Trung Quốc, nếu được 4), kết quả sẽ là: Việt Nam tự tạo ra cho mình một sức phát triển năng động rất đáng mơ ước, với một vị thế kinh tế và chính trị hoàn toàn khác so với hiện nay. Những dự án hợp tác lớn dành được sự cam kết trong năm 2007 hé mở khả năng đáng mơ ước này. Tuy nhiên, nếu để cho Việt Nam trượt ra ngoài điểm ngắm của quá trình outsourcing đang diễn ra, (ví dụ để điểm ngắm này rơi vào Thái Lan), hệ quả sẽ không chỉ là bị giam hãm mãi trong sự bất lực “ta về ta tắm ao ta”, mà nước ta còn phải hứng chịu số phận của kẻ đứng ngoài cuộc trên bàn cờ kinh tế và chính trị của thế giới –  kẻ trong tay không có sức mạnh đáng kể để mặc cả với thiên hạ, vận mệnh đất nước ta sẽ bị các thế lực lớn trên thế giới trao tay buôn bán với nhau trên đầu chúng ta như đã từng xảy ra trong quá khứ thời chiến tranh lạnh. Ngày nay “số phận” này nếu phải hứng lấy, sẽ còn hẩm hiu gấp nhiều lần, mọi người đều hiểu vì sao!  (d) Nói về những cái bất lợi (disadvantages) của phát triển theo chiều rộng trong nền kinh tế nước ta hiện nay: Cái nghèo hiện hữu của đất nước mới chỉ là câu chuyện trước mắt.  Theo cách nhìn con người là trung tâm và là mục đích của sự phát triển, điều tối quan trọng là sau 32 năm hòa bình, trong đó có 22 năm đổi mới, nguồn nhân lực cả nước vẫn còn tới 70% sống trong nông thôn và chủ yếu với nền nông nghiệp còn lạc hậu; điều này có nghĩa nguồn lực quý báu nhất của quốc gia chưa được giải phóng. Không gì nguy hiểm hơn một cách lâu dài và toàn diện cho đất nước nếu không sớm khắc phục được thực trạng này. Liên quan mật thiết đến con người là chất lượng nền kinh tế còn rất thấp, lợi ích con người được hưởng thụ – trước hết là những người lao động ở nông thôn cũng như thành thị – còn rất ít so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, cái giá phải trả cho môi trường xã hội và môi trường tự nhiên rất lớn.  Nước ta đang có nghịch lý nguồn nhân lực rất dồi dào, nhưng lại thiếu gay gắt nguồn nhân lực có kỹ năng lao động cao, trong khi đó lại chưa xử dụng được tối ưu nguồn nhân lực đã qua đào tạo. Tình hình nay khiến cho lợi thế lớn nhất của nước ta không phát huy được, thậm chí đang nảy sinh nhiều vấn đề xã hội lớn – trước hết là việc làm. Nhìn về lâu dài, trong môi trường thế giới ngày nay, nếu nước ta không phát triển tốt nguồn nhân lực, nếu nước ta không tạo ra được môi trường kinh tế – chính trị – xã hội thuận lợi cho sự phát triển của con người tự do, chảy máu chất xám và di cư lao động sẽ là bất khả kháng, tới mức nào đó nguyên khí quốc gia suy vong, đất nước sẽ cạn kiệt sinh lực không khác gì lắm nguy cơ mất nước. Không thể coi thường nguy cơ này ngay từ bây giờ 5.  Hơn nữa, nước ta đang đứng trước tình hình: Xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng thúc đẩy mạnh mẽ sự giao lưu đan xen lẫn nhau giữa các nguồn lực vốn, công nghệ và lao động trên thế giới theo hướng ngày càng hình thành các “chuỗi” và “mạng” cung ứng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường toàn thế giới. Trong tình nhình như vậy, các “chuẩn” của “chuỗi” và “mạng” sẽ ngày càng nhiều và luôn luôn thay đổi, cạnh tranh để chiếm một vị trí tốt trong “chuỗi” và “mạng” sẽ càng gay gắt. Ngày nay sẽ là hiểm họa cho nền kinh tế của quốc gia nào đứng ngoài các “chuỗi” và “mạng” như thế, dù nó lớn như thế nào.  Mặt khác, bên cạnh thể chế quốc tế WTO, thể chế  song phương trong khung khổ Hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement) đang tiếp tục lan rộng tại các châu lục. Đồng thời đang chớm xuất hiện những hợp tác mới của phạm vi khu vực như ở Đông Á, châu Mỹ Latinh, hợp tác giữa các nước lớn Trung Quốc – Nga – Ấn Độ. Toàn bộ sự phát triển này sẽ đặt ra nhiều rối rắm mới. Trong tình hình phức tạp như thế, tiêu chí thế nào là một “nước công nghiệp theo hướng hiện đại” vào thời điểm năm 2020 mà nước ta đang mong muốn chắc chắn sẽ ngày càng ít phụ thuộc hơn vào mức độ sắt thép, điện đóm, đường xá, thu nhập… tính theo đầu người, mà trước hết ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng nước đó mở rộng thị trường đến mức nào, chiếm lĩnh được những vị trí thỏa đáng ra sao trong các “chuỗi” và “mạng” của nền kinh tế toàn cầu. Nghĩa là đã đến lúc không thể dùng các tiêu chí phấn đấu nước ta tự đặt ra cho mình khi xây dựng chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa cách đây khoảng 20 – 30 năm!  Toàn thế giới hiện nay đang loay hoay với cái “công xưởng của cả thế giới”. Trời đất sinh ra nước ta ở sát nách cái “công xưởng của thế giới”, nước ta lựa chọn cho mình chỗ đứng nào thích hợp trong tình hình này? Câu trả lời đáng mong muốn nhất phải chăng nên là: Đặt mục tiêu phấn đấu trong vòng vài ba thế hệ, với ý chí như rời núi lấp biển, phấn đấu xây dựng bằng được một Việt Nam phát triển như một dạng Singapore trên bán đảo Đông Dương – một cầu nối giữa các nền kinh tế trong khu vực và liên khu vực. Sự lựa chọn khác còn lại là hít khói bụi và trở thành bãi thải.  Về lâu dài, cần mạnh dạn nhìn nhận Việt Nam có lợi thế lớn hơn Singapore. Về lâu dài, sự phấn đấu nêu trên còn là phương thức tạo ra thế đứng cần phải có cho nước ta trong tình hình mới: Việt Nam trở thành đối tác của cả thế giới, cả thế giới là đối tác của Việt Nam. Đứng cạnh cái “công xưởng của cả thế giới” thì cần lựa chọn vị thế như vậy. Đường lối đối ngoại của nước ta là bạn với mọi quốc gia vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác, song đường lối này chỉ khả thi khi ta có thực lực để trở thành một đối tác như thế, bởi vì tất cả những thứ nước ta rất mong muốn này không ai cho không cả.  Trong trường hợp trên thế giới xảy ra một chấn động mạnh không lường trước được (dưới dạng một backlash), ví dụ do một tình huống bất khả kháng nào đó gây ra (một “force majeure” – giá dầu lửa tăng vọt, đồng đô-la Mỹ suy sụp, một cái bong bóng nào đó – giả dụ trong lĩnh vực ngân hàng –  trong cái “công xưởng của thế giới” nổ tung, sự đổ vỡ của tình hình Trung Đông, mâu thuẫn mới giữa các “cực”, thiên tai hay dịch bệnh vượt quá khả năng kiểm soát, nạn khủng bố…), tình hình sẽ còn phức tạp hơn nữa. Song dù thế nào, ở vào vị thế của nước ta, trong một thế giới ngày càng có nhiều vấn đề phức tạp mới như vậy, lựa chọn cho quốc gia mình một vai trò có thể ai cũng cần đến cho hòa giải, một vai trò có ích cho giải pháp là đáng mong muốn nhất cho chính mình và cho thiên hạ. Muốn được như vậy, việt Nam phải là một quốc gia có thực lực và bản lĩnh. Ngày nay, đối sách với  mọi mâu thuẫn hay thách thức từ thế giới bên ngoài tác động vào nước ta không phải là sự lựa chọn phương thức lấy nước này đối trọng với nước kia để cân bằng tình thế. Mà hãy lựa chọn trí tuệ và ý chí phấn đấu trong sự đồng thuận dân tộc cao nhất làm đối trọng cho mọi vấn đề thế giới bên ngoài đặt ra cho nước ta, với tinh thần là đối tác của cả thế giới.  Thực tế trình bày trên cho thấy bối cảnh trong nước và thế giới đặt ra những dữ kiện hoàn toàn mới, đó là cuộc sống, không nằm trong nghị quyết nào cả, nhất là từ năm 2007. Con đường chuyển sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước đã mở ra. Thực tế này đặt ra yêu cầu gắt gao phải nhìn nhận lại toàn diện con đường đi lên phía trước của nước ta đã được ghi trong các Nghị quyết các Đại hội Đảng, nhất là chặng đường dự kiến sẽ đi cho tới những năm 2020 –  không phải là để xem xét nước ta tiến nhanh hay tiến chậm, vấn đề này sẽ bàn sau vào một dịp khác, mà trước hết là để không lại rơi vào tình cảnh tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển của thế giới – nguyên nhân chính đã dẫn đến mất nước cách đây gần hai thế kỷ.  II. Thành tựu đạt được và thời cơ trong tay đang làm cho những yếu kém vốn có trở nên gay gắt hơn  Năm 2007 cũng nổi lên một vấn đề lớn khác: Trong tình hình mới, các yếu kém vốn có từ nhiều năm của nước ta càng bộc lộ rõ, nhiều yếu kém đã đi tới điểm “nóng”, có điểm trở nên rất “nóng”.  Cái “nóng” của quán tính ứng phó  Yếu kém đáng nêu lên nhất là quán tính ứng phó – đối với thời cơ cũng như đối với thách thức – nghĩa là thụ động, phản ứng theo lối mòn, ít sáng tạo, chưa ráo riết chuyển sang cách ứng xử của một thành viên WTO.  Đối với thuận lợi hay cơ hội mới, quán tính ứng phó thể hiện rõ nét nhất theo kiểu: “tranh thủ được gì làm nấy”. – ví dụ năm 2007 còn thu hút quá nhiều nhiều dự án FDI nhỏ, chủ yếu với mục đích “tăng GDP địa phương”, giải quyết vấn đề việc làm tại chỗ, lấp chỗ trống cho khoảng 40 – 50% diện tích chưa sử dụng của các khu công nghiệp… Cách làm như vậy đương nhiên ít nhiều thụ động trước  tác động của kinh tế thế giới, coi nhẹ những đòi hỏi trong định hướng chiến lược của nước ta về công nghệ, môi trường, nguyên liệu… Không ít dự án trong số này nếu có chính sách tốt có thể dành cho đầu tư trong nước. Tại diễn đàn lãnh đạo các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp Đông Nam Á họp cuối tháng 8-2007 có Ấn-độ và Trung Quốc tham dự, Việt Nam chưa được liệt kê vào mạng các quốc gia sản xuất của khu vực, đến nay chưa có một doanh nghiệp Việt Nam nào đứng vào được trong một “chuỗi” cung ứng sản phẩm và dịch vụ của khu vực hoặc trên thế giới – nghĩa là Việt Nam vẫn chỉ là một nước gia công. Tình hình này “nóng” đến mức có nguy cơ biến nước ta mãi mãi là kẻ làm thuê!6, kéo dài tình hình này không phù hợp với mục đích ta gia nhập WTO.  Quán tính ứng phó còn thể hiện theo phong cách “xử lý tình thế”. Ví dụ dễ thấy nhất là ngoại tệ dồn về nhiều, phải bỏ nội tệ ra mua khoảng 7 tỷ USD đã góp phần nhất định vào việc đẩy lạm phát lên, đồng thời thiếu hẳn kế hoạch sử dụng nguồn ngoại tệ thu vào được sao cho sinh lời tối ưu cho nền kinh tế 7.  Ngay sau đó chính phủ đã cảm nhận được phản ứng tức thì của lạm phát. Tuy nhiên trong xử lý, chính phủ thiên về dùng những biện pháp hành chính (kiềm chế giá săng, giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng…), kết quả đạt được không như mong muốn. Những tháng cuối năm lạm phát đã tới mức “nóng” – hết năm có thể bằng hoặc vượt chỉ số tăng trưởng kinh tế, đang trở thành gánh nặng lớn đối với tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, đảy lùi đáng kể những nỗ lực xóa đói giảm nghèo 8. Chính phủ đã phải tính đến những biện pháp vỹ mô 9.  Thị trường chứng khoán phát triển mạnh liên quan mật thiết đến “sốt bất động sản” (không loại trừ sự tham gia của hoạt động “rửa tiền”), một tình huống khó lường trước và mang nhiều đặc thù phải xem xét từ những chính sách kinh tế vỹ mô. Song cách giải quyết đang thiên về tìm kiếm những biện pháp ứng phó trước mắt nhằm chống đầu cơ bất động sản (ví dụ tăng thuế sử dụng đất đai và chuyển nhượng bất động sản), thay vì cần tập trung nỗ lực vào việc tìm ra những công cụ vỹ mô khác tạo nguồn cung mới để thu hút những nguồn tiền nóng từ những cơn sốt của thị trường bất động sản. Trong khi đó hạ nhiệt giá đất nói chung ở Việt Nam đang là một vấn đề “rất nóng”, nhưng đến nay chưa có một phương sách khả thi nào được đề ra.  Thị trường vốn trong nước phát triển nhanh là một bước phát triển mới quan trọng, song sẽ rất dễ trở thành vấn đề “nóng” nếu không chủ động có những chính sách thông minh của nhà nước nhằm kiểm soát chặt chẽ sự vận động của các dòng vốn – đặc biệt là trước tình hình các tập đoàn kinh tế quốc doanh đang có xu hướng dùng thế và lực của mình nhảy vào thị trường vốn, thị trường bất động sản, hoặc thậm chí đang lăm le chiếm lĩnh trận địa lập ngân hàng hay công ty tài chính riêng cho mình. Thụ động ứng phó với thực trạng này, tới mức nào đó tình hình sẽ có thể là “bom” chứ không còn là “nóng” nữa, ngay từ bây giờ phải rất cảnh giác!10  Nhìn chung những lúng túng của Chính phủ vấp phải trong năm đầu tiên của thời kỳ phát triển mới –  năm 2007 – trong các vấn đề tài chính tiền tệ – đặc biệt là vấn đề lạm phát, thị trường vốn và thị trường bất động sản… một mặt cho thấy tình hình có nhiều vấn đề khó lường trước, rất khác với các dự báo ghi trong nghị quyết – tình hình này là lẽ tự nhiên nhưng phải hết sức chú ý để phản ứng và xử lý kịp thời; mặt khác báo hiệu sẽ có những thách thức lớn hơn và phức tạp hơn đối với khả năng điều hành của chính phủ trong những năm tới, bởi vì tính chất phát triển và sự vận động của nền kinh tế có nhiều điểm khác trước.  Cái “nóng” trong quy hoạch phát triển  Một tồn tại cố hữu là tính quy hoạch chưa cao nên xảy ra tình trạng nhiều dự án kinh tế bị tồn đọng hoặc triển khai chậm – nhất là do các khâu đền bù giải tỏa đất đai, hoặc do những điều kiện cung ứng bất cập (đường, điện, nước, nguồn nhân lực thích hợp…), có những công trình trở nên “đắt” nhất thế giới. Trong khi đó vì thiếu hụt nhiều thứ khác, trước hết là thiếu quy hoạch, nên nhiều dự án FDI quan trọng đành bỏ lỡ hay tạm “gác lại”. Nguồn vốn có thể huy động được từ thị trường trong nước và từ kiều hối tăng nhanh, nhưng thiếu các kênh và các dự án đủ sức hấp dẫn những nguồn vốn này vào các hoạt động kinh tế, trong khi đó nhiều dự án có sẵn lại thiếu vốn – chủ yếu vì ít hấp dẫn hoặc tính khả thi thấp.  Sâu xa hơn nữa, sự hẫng hụt của quy hoạch phát triển, của quy hoạch tổng thể đã “nóng” tới mức làm cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng mang nặng tính chất của từng kế hoạch 5 năm với những thay đổi và sự nhấn mạnh khác nhau của từng thời đoạn, không còn giữ được tính liên tục với đường nét rõ ràng của một chiến lược, không giữ được tính tập trung vào một hướng phát triển – ví dụ hướng phát huy ưu thế lớn nhất của đất nước là con người và tận dụng tình hình hội nhập. Thực trạng này có thể dễ dàng nhận thấy ở sự chồng chéo, trùng lặp và tính cục bộ trong các chiến lược ngành cũng như trong các chiến lược phát triển của các địa phương. “Nền kinh tế GDP tỉnh” là một biểu hiện rất đặc trưng của sự phát triển này. Hệ quả là kinh tế cả nước đã là một thị trường thống nhất nhưng tính manh mún và cục bộ vẫn còn khá đặm nét. Tư duy “nhiệm kỳ” hoành hành nặng nề và đang làm cho thực trạng manh mún này “nóng” thêm nữa.  Riêng về quy hoạch phát triển giao thông vận tải và phát triển đô thị để giải quyết ách tắc cũng như để tạo ra sức phát triển năng động mới – đặc biệt là tạo ra sức phát triển hướng ra biển (rộng hơn khái niệm kinh tế biển) – còn đang là vấn đề đại đại sự và hết sức lúng túng, đụng chạm trực tiếp đến tư duy lựa chọn chiến lược phát triển nào. Hình như không một bộ óc nước ngoài siêu việt nào có thể cố vấn cho chúng ta trong vấn đề quy hoạch này nếu như trước đó tự chúng ta chưa lựa chọn cho mình một tư duy, một chiến lược phát triển rõ ràng: Đi vào thời kỳ phát triển mới chủ yếu dựa trên phát huy con người và hội nhập.  Cái “nóng” của lãng phí, tham nhũng  Trước hết hiệu quả chung của cả nền kinh tế còn thấp, chỉ số ICOR ước tính là 4 – 5 – nghĩa là cao nhất trong khu vực; lạm phát cũng cao nhất trong khu vực, trong khi đó tốc độ tăng trưởng kém xa các nước NICs ở vào giai đoạn phát triển như nước ta hiện nay 11. Giá thành xây dựng 1 km đường, một KW điện… nói chung cao hơn giá trung bình của Trung Quốc và các nước trong khu vực. Thực tế này cho thấy ngay tình trạng lãng phí và tham nhũng là rất lớn. Rất tiếc đến nay chưa có những điều tra và so sánh một cách khách quan để đưa ra công luận những con số cụ thể.  Trong so sánh với 125 nước, năng lực cạnh tranh của Việt Nam xếp thứ 74 năm 2005, tụt xuống thứ 77 năm 2006; tình trạng tham nhũng xếp thứ 111 năm 2005, tụt hạng xuống thứ 123 năm 2006, mặc dù Việt Nam hiện nay xếp thứ 6 trong “top ten” thu hút FDI và xếp hạng môi trường kinh doanh được tăng lên 13 bậc. Đấy là những con số cũng phản ánh tình trạng lãng phí.  Báo cáo của Kiểm toán nhà nước  năm 2007 cho thấy con số thất thoát 7600 tỷ đồng trong phạm vi các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước và là 9400 tỷ đồng nếu tính cả khu vực an ninh và quốc phòng; tuy nhiên đây mới chỉ là một phần của sự việc (VNN ngày 24-09-2007). Theo một điều tra xã hội học mới đây nhất của Thụy Điển chỉ có 6% người được hỏi ý kiến ở Việt Nam chấp nhận chống tham nhũng, điều này nói lên tính nan giải của vấn đề và sự bi quan của người dân trước hiện tượng tiêu cực này (ở Thụy Điển chỉ số này là 70% – VNN 03-12-2007).  Nghiêm trọng hơn là lãng phí dưới dạng “đầu bài sai”  trong đầu tư nói chung (lựa chọn công trình đầu tư kém hiệu quả, tốn đất đai, trả giá đắt về môi trường, các chương trình kinh tế sai như “1 triệu tấn đường”, “đánh cá xa bờ”…), trong xây dựng cơ bản (không đồng bộ, chắp vá, cầu chờ đường dẫn, đường chờ cầu, cảng chờ đường…), trong giáo dục (các chương trình cải cách), trong nghiên cứu khoa học (các đề tài kém giá trị ứng dụng)… Các đầu bài sai thường có 3 nguyên nhân chủ yếu: (a)hạn chế của tư duy và tầm nhìn, (b)duy ý chí, (c)sự can thiệp của yếu tố chính trị. Những “đầu bài sai” như thế chắc không ít, nhưng đến nay chưa liệt kê ra được. Riêng thất thóat về đất đai thời gian 1994 – 2004 Gs. Đặng Hùng Võ đưa ra con số 70 tỷ USD 12…  Những năm gần đây liên tục thiếu điện (năm 2006 thiếu 1,1tỷ kwh; năm 2007 thiếu 6,6 tỷ kwh, năm 2008 Tập đoàn Điện EVN dự báo thiếu 8,6 tỷ kwh) song từ nhiều năm nay có nhiều dự án FDI lớn về nhiệt điện có tính khả thi cao lại phải nằm chờ – nguyên nhân chính thường được đưa ra để biện minh là chưa đạt được thỏa thuận giá ta bán than và mua điện, cách ta mua điện… Không thể không đặt ra câu hỏi “ta” đây là ai? Các lý lẽ biện minh nói chung thiếu sức thuyết phục…  FDI và các nguồn vốn khác cho phát triển kết cấu hạ tầng rất sẵn sàng (đường sắt cao tốc xuyên Việt, đường tầu điện ngầm cho các thành phố lớn…), nhưng đang thiếu quy hoạch, thiếu dự án, thiếu nhân lực..; có khi còn chưa làm rõ cả quan điểm sơ bộ ban đầu cho sự lựa chọn – ví dụ nên làm ngay toàn bộ, hay làm từng bước hệ thống đường sắt hiện đại Bắc – Nam, thế nào là tối ưu nhất?.. Tất cả chưa có câu trả lời, mà sự lựa chọn nào thì sẽ hệ lụy ấy… FDI cho công nghệ cao cũng đang phải chầu chực: Các khu công nghệ cao Hòa Lạc, Bắc Ninh… triển khai chậm… – hiện tượng “bội thực” dự án vì khả năng “hấp thụ” hạn chế. Đồng thời trong khi đó báo chí rền rĩ chuyện “vốn nước ngoài đang bí đầu ra” (TBKTVN 30-10-2007)…  Phân bổ nguồn lực mọi mặt không tối ưu hóa sự lựa chọn trước sau cũng tạo ra lãng phí lớn, bởi lẽ trí, lực, thời gian đều có giới hạn, cái nào nên làm ngay – ví dụ kết cấu hạ tầng (điện. đường, trường, trạm…), đào tạo nguồn nhân lực, cải cách hành chính.., cái nào có thể để chậm lại dăm mười năm cũng không sao – ví dụ xây mới các trụ sở cơ quan…  Lãng phí còn đẻ ra lãng phí ở chỗ nhiều nơi tiếp tục tình trạng bước trước cản trở bước tiếp theo. Chuyện nhỏ nhất thường xảy ra là làm đường xong lại đào bới lên lắp cống lắp điện. Chuyện lớn hơn là việc tiếp tục phát triển đô thi hướng vào bên trong, việc mở rộng đô thị và phát triển các đô thị vệ tinh trên cơ sở quy hoạch rắm rối đang gây thêm nhiều ách tắc và bất cập mới, đang làm cho bần cùng hóa nông thôn gia tăng…  Cái lãng phí lớn nhất không được nói đến nơi đến chốn là lãng phí về con người, vì nhiệm vụ giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ hàng chục năm nay sa đà vào phát triển đại trà và bệnh thành tích. Do vậy mặc dù chi phí của toàn xã hội rất lớn, nhưng kết quả đạt được không tương xứng,  ưu thế lớn của nước ta về nguồn nhân lực không phát huy được, không đón trước được sự phát triển của tình hình nên hiện nay đang nảy sinh hẫng hụt lớn về nguồn nhân lực thích ứng, chất lượng nguồn nhân lực nước ta hiện nay thấp nhất so với 5 nước ASEAN6 và Trung Quốc. Giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đang tích tụ nhiều vấn đề nan giải lâu năm và chưa tìm được lời giải thỏa đáng 13.  Còn phải kể tới từ nay đến năm 2010 nếu không tạo ra được một trạng thái phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu – bao gồm cả đổi mới năng lực điều hành vỹ mô và quản lý toàn bộ đời sống đất nước, sẽ dễ xảy ra lãng phí về cơ hội với những thách thức khó lường.  Những cái “nóng” hàng ngày cũng rất nóng  Nhiều điểm “nóng” khác đã trở nên bức xúc hàng ngày, như: tai nạn giao thông, kẹt xe, vấn đề điện, nước, y tế, nhà ở cho người nghèo, về văn hóa, xã hội…  Nhiều địa phương có các công trình kết cấu hạ tầng xây dựng trước năm 1975 nay xuống cấp hàng loạt, tai nạn dập dình hàng ngày; việc phải cử công an chặn hai đầu cầu Đồng Nai – cửa ngõ đi vào TPHCM –  để giảm bớt lượng xe cùng một lúc có mặt trên cầu phòng ngừa sập cầu bất kỳ lúc nào là ví dụ rợn người.  Trong cả nước xảy ra nhiều vụ khiếu kiện đông người và kéo dài của nông dân, chủ yếu liên quan đến vấn đề đất đai… Cho đến nay chưa có cách gì giảm bớt một cách cơ bản những căng thẳng phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp và nông thôn – nhất là vấn đề tạo việc làm và cuộc sống ổn định cho nông dân những vùng phải di dời. Thực trạng này là một trong những nguyên nhân chính gia tăng khoảng cách giàu nghèo và làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội khác.  Liên tiếp trong 2 năm 2006 – và 2007 thiên tai và dịch bệnh xảy ra nhiều và lớn hơn các năm trước với tổn thất lớn, trong đó một phần có nguyên nhân môi trường tự nhiên bị xâm hại quá mức, uy hiếp đáng kể khả năng phát triển năng động của đất nước, tiêu hao nguồn lực tích lũ được và thách thức khả năng xử lý hữu hiệu của bộ máy nhà nước.  Trong những bức xúc hàng ngày, phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội thừa nhận cái khó nhất vẫn là vấn đề cải cách hành chính. Nói thẳng thắn: cái “nóng” nhất của mọi cái “nóng” trong cả nước là khả năng quản trị quốc gia còn nhiều bất cập.  Trong cải cách hành chính, nói về con người: So với chức năng nhiệm vụ của nó, nhân lực của hệ thống hành chính quốc gia – nhất là đội ngũ cán bộ kỹ trị và chuyên môn –  đang là một trong những bộ phận có nhiều yếu kém nhất trong toàn bộ nguồn nhân lực cả nước. Nói về bộ máy: Tình trạng quan liêu tham nhũng và chất lượng bất cập của nền hành chính quốc gia đang là trở lực trực tiếp đối với sự phát triển năng động và bền vững của đất nước. Điều tra mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) phối hợp với Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh VN (VNCI) cho thấy chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2007 tuy được cải thiện hơn 2006 nhưng vẫn còn nhiều vấn đề: Khoảng 70% doanh nghiệp còn phải trả “phí không chính thức” để cho công việc được chạy; 56% doanh nghiệp cho biết phải có “quan hệ” mới có thông tin cần thiết cho công việc kinh doanh của mình; 44% doanh nghiệp cho thấy quan hệ với cán bộ thuế rất quan trọng; số giờ doanh nghiệp hàng năm phải chi dùng riêng cho việc đóng thuế là 900 – 1050 giờ, cao nhất trong khu vực; tiếp cận với thông tin về đất đai còn rất nhiều khó khăn… Có thể tin rằng các số liệu này mới chỉ là cái mỏm băng nhìn thấy được của cả tảng băng.  Các đánh giá của một số cơ quan nghiên cứu nước ngoài, trong đó Economist Intelligence Unit (EIU), Transparency International (TI).., cho rằng có các nhóm lợi ích chi phối đáng kể hoạt động của các tập đoàn kinh tế – biểu hiện rõ nét nhất là ưu tiên dồn các nguồn lực tài chính và nhiều ưu ái khác cho bộ phận kinh tế này, việc thực hiện cổ phần hóa tại một số đơn vị kinh tế thực ra là tiến hành tư nhân hóa gần như trực tiếp vào túi những người trong nhóm lợi ích, sự bất công gia tăng. Báo chí trong nước có không ít bài phanh phui những hiện tượng này.  Xin hãy quan sát những cái “nóng” khác trong đời sống thường ngày:  • chuyện xảy không hiếm trong bộ máy chính quyền như người thiếu đạo đức được trọng dụng – ví dụ như gần đây nhất là dư luận phản ứng  gay gắt việc ông Đỗ Văn Công nguyên bí thư huyện ủy Tân Uyên/Bình dương – cha của cảnh sát giao thông Đỗ Hoài Minh Phương (múa kiếm tại sân bay Đà Nẵng) vừa mới được bổ nhiệm làm Bí thư Đảng ủy khối dân – chính – Đảng tỉnh 14;  • những sai trái trong đời sống pháp luật  – tiêu biểu là các vụ xử án oan sai, vụ quan thanh tra tham nhũng ngay trong khi làm việc thanh tra (Lương Cao Khải), vụ tòa án Đồ Sơn xử án tham nhũng đất đai như một màn kịch hề vụng về;  • những tội phạm hình sự trong đời sống xã hội – điển hình như vụ nhân viên trường mầm non Lĩnh Nam (Hoàng Mai – Hà Nội) âm mưu đầu độc học sinh cả trường bằng thuốc chuột 3 lần không thành – đáng lo nữa là mọi chuyện rơi tõm vào lãng quên, hay là cuộc sống đã trở nên quá chai sạn?15  • cháu gái Nguyễn Thị Bình bị 21 tuổi chưa biết đọc, bị ngược đãi bằng nhục hình man rợ hàng chục năm trời ngay giữa thủ đô mà xã hội chung quanh khoanh tay còn bộ máy chính quyền thì không hay biết – đây là sự vô cảm hay sự bất lực?16;  • vụ dân quân đánh đòn dã man 4 học sinh lớp 9 tại trụ sở chỉ huy quân sự P. 10 Q. 15 TPHCM để lấy cung chiều 13-11-2007 làm chết tim người đọc, thêm một lần chết nữa là vụ này lại do chính thầy giáo của trường các em yêu cầu 17;  • những hiện tượng xuống cấp trong đời sống văn hóa xã hội và sự bất lực của học tập bồi dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ – điển hình là sử nước thì không thuộc nhưng tên các ca sỹ trên M-TV thuộc vanh vách, vụ video clip  “Vàng Anh”..;  • tình hình trí tuệ và người tài phải lùi bước trước những mối “quan hệ” phức tạp, chưa có được chỗ đứng và tiếng nói lẽ ra phải có trong đời sống mọi mặt của đất nước..,  • mấy ngày nay báo chí rôm rả chuyện cười làm se lòng người trong đối thoại ở Trà Vinh giữa dân và cán bộ liên quan đến tính thu nhập bình quân theo đầu người; có thể diễn đạt: tại bàn tiệc nọ hai người được ăn một con gà, như vậy bình quân mỗi người được ăn nửa con gà, trong đó một người được chén cả con, một người không được miếng nào!..18  • Vân vân…  Tất cả những cái “nóng” ấy trong cuộc sống hàng ngày cho thấy câu hỏi “hoặc là.., hay là..?” đặt ra cho đất nước hôm nay thật như xóc vào gan ruột! Một tâm tư lo lắng cho tương lai đất nước đang lan rộng 19.  Trên con đường công hiệp hóa – hiện đại hóa, những thành tựu đạt được sau 22 năm đổi mới và thời cơ đang có trong tay làm bộc lộ rõ tình hình: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự còn đang ở mức rất thấp, nếu không xoay chuyển hẳn được tình hình này sẽ là lún sâu không cưỡng lại được vào con đường của sự phát triển hoang dã, sẽ không thể có ổn định bên trong, sẽ lệ thuộc nhiều mặt vào bên ngoài.  III. Chuyển sang con đường phát triển theo chiều sâu  Sau 22 năm đổi mới, đất nước bây giờ đã tạo ra được tình hình: thực lực của bản thân cho phép nắm lấy thời cơ bên trong và bên ngoài để bước sang thời kỳ phát triển mới: Phát huy yếu tố con người và hội nhập. Trước đây 22 năm không thể có tình hình này. Thậm chí cách đây 5 năm cũng chưa thể tạo ra tình hình này, nguyên nhân hàng đầu là vì chưa hội đủ những yếu tố bên trong.  • Nhưng nắm bắt lấy bằng cách nào?  • Bằng cách tiếp tục kéo dài con đường của 22 năm phát triển theo chiều rộng như vừa qua?  Hiển nhiên các giới hạn không được phép vượt qua của sự phát triển theo chiều rộng đã ở ngay sát chân chúng ta – nhìn về bất kể phương diện nào cũng thấy như vậy: đất đai, tài nguyên, môi trường, lao động giá rẻ và trình độ phát triển thấp của nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, trình độ quản trị quốc gia…  Hiện nay đã xuất hiện những ách tắc, những mâu thuẫn cục bộ không dễ gì khắc phục được về nhiều phương diện. Đi tiếp con đường phát triển như 22 năm vừa qua, sẽ tích tụ thêm mãi những mâu thuẫn nội tại phát sinh ngay trong lòng bản thân quá trình phát triển này của đất nước.  Có thể nói dứt khoát, không một diễn biến hòa bình của thế lực nào thù địch với việt Nam có thể đảo ngược được thành quả độc lập thống nhất đất nước đã giành được của dân tộc ta. Nhưng để cho bất cập và tha hóa đẻ thêm mãi các mâu thuẫn nội tại và ách tắc hiện nay, thì tới một lúc nào đó Độc lập quốc gia trong trường hợp này sẽ biến dạng thành lệ thuộc.  Có thể nói hình ảnh thế này: Sau 22 năm đổi mới, sự phát triển bên trong của nước ta và thời cuộc quốc tế đang đặt nước ta trước ngã 3 đường của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đaị hóa:  • Sẽ tiến tới một nước “NIC” trong tương lai không xa lắm – ví dụ dưới dạng một Việt Nam Hàn Quốc?  • Hay là để cho quán tính tiếp tục chi phối, cuối cùng sẽ đưa nước ta trở thành một quốc gia vẫn là lạc hậu – ví dụ một Việt Nam kiểu như Philippines?20  Mà nếu là một quốc gia nghèo, hèn, lạc hậu, chẳng những sẽ không có nhiều thứ, mà bên trong thì phân tán, chia rẽ, bên ngoài thì bị các thế lực khác nhau xâu xé, đất nước không yên, không thể trở thành một quốc gia có tự trọng, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.  Là người việt Nam xin đừng lúc nào quên nước ta từ bao thế kỷ nay có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thuận lợi số 1 và thách thức số 1 –  trong thế giới hôm nay và trong tương lai cũng  vậy. Tạo hóa đặt nước ta vào vị trí này mà! 80 năm mất nước và những hệ quả sau đó có nguyên nhân quan trọng là dân tộc ta đã đứng với tư thế nào trên vị trí tạo hóa trao cho này trong bối cảnh của thế giới đương thời. Cái giá của độc lập thống nhất của đất nước hôm nay đắt lắm, chúng ta vẫn chưa có đủ khoảng cách thời gian, cái tâm và tầm nhìn lường hết được. Vì thế không được phép để cho quốc gia đi tới viễn cảnh trở thành kẻ làm thuê về kinh tế và vong quốc vì lệ thuộc!  Như một mệnh lệnh 21 của đất nước: Đứng trước ngã ba này, phải tìm đường đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, hiện đại!  Cũng phải nói ngay, lựa chọn đúng và thực hiện đúng sự lựa chọn là hai chuyện khác nhau. Đã 6 thập kỷ trôi qua, cả thế giới thứ ba mới chỉ xuất hiện được vài ba “con rồng”, còn lại hàng chục nước đang phát triển khác tuy đã giành được những bước tiến rất xa, nhưng vẫn chưa thoát hẳn tình trạng các nước nghèo và lệ thuộc, không ít nước vẫn còn ở thời kỳ phát triển hoang dã. Ngay trong ASEAN, các nước như Indonesia, Thái Lan… đã phát triển năng động trong 3 thập kỷ kiên tiếp, nhưng từ hai thập kỷ trở lại đây, nhất là từ 10 năm nay đang giẫm chân tại chỗ; Philippines cũng vậy, và ngày nay chủ yếu vẫn là một quốc gia làm thuê.  Là nước đi sau, nước ta phải ngẫm nghĩ rất nhiều về thực tế lịch sử này. Trước sau bí quyết của các nước thành công vẫn là phát huy yếu tố con người – do xây dựng được hệ thống kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội dựa trên yếu tố phát huy con người.  Một thành tựu quan trọng khác của năm 2007 – tuy còn rất khiêm tốn – nhưng nếu được tiếp tục phát huy sẽ có ý nghĩa sâu xa đối với toàn bộ sự phát triển của đất nước trong tương lai, đó là một số tiến bộ mới trong quá trình dân chủ hóa đời sống mọi mặt của đất nước – trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Có thể đo những tiến bộ mới này qua nhiều giác độ khác nhau, từ giảm bớt một chút thủ tục hành chính phiền hà, cải tiến hệ thống luật pháp theo hướng thân thiện hơn với kinh tế thị trường và phù hợp với những cam kết quốc tế và khu vực, tiến thêm một bước trong tự do hóa thương mại và đầu tư, môi trường kinh doanh năm 2007 được World Bank xếp cao lên 13 bậc, riêng thuận lợi về cấp tín dụng 2006 xếp thứ 80/104 năm 2007 xếp thứ 48/104; có một số biện pháp mới khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân và thực hiện một số biện pháp đảy mạnh kinh tế quốc doanh ra thị trường, cải thiện một số chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tiếng nói của báo chí ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển đất nước…  Thực tế này càng làm rõ: Chỉ có thể thông qua phát huy dân chủ để khơi dạy mọi ý chí và nguồn lực chuyển hướng nền kinh tế sang phát triển theo chiều sâu.  IV. Khắc phục tình trạng “thắt cổ chai”  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước thẳng thắn nêu ra sự bất cập của kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực kém phát triển và năng lực quản trị quốc gia hẫng hụt. 3 yếu kém này tạo nên tình trạng “thắt cổ chai” kìm hãm sự phát triển năng động của quốc gia. Chiến lược nào hay kế hoạch gì cho trước mắt và cho nhiều năm tới cũng phải bắt đầu từ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này – đòi hỏi ưu tiên số 1.  Rất đáng huy động trí tuệ cả nước mổ xẻ nguyên nhân mọi mặt để nhận dạng chính xác thực trạng cái “thắt cổ chai” này. Huy động trí tuệ khắc phục cái “thắt cổ chai” này là thực hiện dân chủ có thực chất nhất.  Thực hiện dân chủ ở đây trước hết là thực hiện quyền nói của người dân, của trí tuệ về những vấn đề hệ trọng liên quan đến xóa bỏ cái “thắt cổ chai”. Đứng trước yêu cầu phải thực hiện ưu tiên số 1 này, dân chủ có nội dung vô cùng đơn giản và rõ ràng, có một sức mạnh giải phóng không thể lường hết được! Tuy nhiên, thực hiện quyền này lại đang là việc rất khó, và chỉ có thể khả thi hơn trên cơ sở thực hiện công khai minh bạch, nâng cao dân trí và thường xuyên nâng cao những quyền khác của công dân, trước hết là quyền được thông tin, quyền được nói – để cả nước cùng nhìn thẳng vào sự thật, cùng sẵn sàng chia sẻ mọi khó khăn thử thách, cùng chung một quyết tâm đưa đất nước đi lên.  Yêu cầu khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này đòi hỏi trong năm 2008 cần hình thành được các chiến lược phát triển cho từng vấn đề: (1)kết cấu hạ tầng, (2)nguồn nhân lực, (3)quản trị quốc gia, với những quy hoạch và kế hoạch cụ thể. Có thể nói trong vòng 5 – 10 năm tới và đến năm 2020 phải tiến hành những cải cách lớn cho 3 vấn đề nêu trên, có như vậy mới hy vọng chuyển mạnh sang một thời kỳ phát triển cao hơn và mới có điều kiện thực hiện lộ trình của những cam kết trong khung khổ WTO, tạo ra động lực thực hiện thành công chiến lược phát triển đến năm 2020.  Về kết cấu hạ tầng: Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho cả nước là điều kiện hàng đầu để quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn, tạo điều kiện chuyển nền kinh tế sang chiến lược mới phát triển theo chiều sâu. Một vấn đề bức xúc mới là thiên tai ngày càng gay gắt, những dự báo về thay đổi môi trường tự nhiên do tổn thất tầng ô-zôn của bầu khí quyển liên quan đến nước ta đầy lo ngại, có thể kiểm chứng qua 3 năm gần đây có sự gia tăng rõ rệt của lũ lụt miền Trung và triều cường. Riêng lũ lụt miền Trung năm nay cướp đi 70 sinh mạng và gây thiệt hại ước khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tương đương  3% GDP; nếu tính gộp cả thiệt hại năm 2007 do kẹt xe ở hai thành phố lớn và triều cường, tổng thiệt hại lến tới khoảng 4% GDP. Thực tế này đặt ra bài toán nên chăng phải dồn lực trong một số năm tới cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, những công trình phòng chống thiên tai, những dự án bố trí lại các khu dân cư… Đây là những vấn đề từ năm 2007 trở đi không thể trì hoãn được nữa.  Ngay trước mắt, những ách tắc về giao thông – đặc biệt là ở TPHCM và Hà Nội phải cần tới 2 – 3 năm mới giải quyết được nếu có phương án xử lý đúng đắn 22.  Việc khắc phục những yếu kém hiện tại trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Nếu làm giỏi mọi việc, dự báo chúng ta có lẽ cũng phải cần tới khoảng 10 năm mới có thể cải cách xong hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay để đi vào một hướng phát triển mới của nguồn nhân lực đáp ứng được những đòi hỏi của đất nước 23. Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thành công với sự vận động rộng lớn toàn xã hội tham gia gìn giữ, xây dựng những giá trị nền tảng của đất nước; gắn với việc đổi mới nhiều vấn đề, nhiều chính sách trong hệ thống chính trị theo những kỷ cương của nhà nước pháp quyền – nhất là chính sách dùng người và phát huy con người. Ví dụ: Mọi nỗ lực cải cách hay đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ trở nên vô nghĩa nếu xã hội và hệ thống chính trị còn dung tha chuyện chạy ghế, còn tồn tại chuyện dùng người theo các mối quan hệ, những thủ đoạn học giả bằng thật vẫn còn đất dụng võ… Nói một cách khác, nhiệm vụ này thành hay bại gắn hữu cơ với những đổi mới sâu xa trong xã hội và trong đời sống chính trị của đất nước – và hiển nhiên đây không thể là câu chuyện ngày một ngày hai.  Việc nâng cao được năng lực quản trị quốc gia theo kịp nhịp độ phát triển của đất nước: Lâu nay nhiều nghị quyết của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới hệ thống chính trị phải theo kịp đổi mới kinh tế. Song nhận thức đúng đắn này khi biến thành hành động cụ thể lại chỉ khuôn vào vấn đề cải cách hành chính, mà đúng ra phải là nhiệm vụ nâng cao năng lực quản trị quốc gia.  Cuộc sống cho thấy chỉ có thể nâng cao năng lực quản trị quốc gia thông qua đổi mới hệ thống chính trị – đây là một tồn tại lớn, đã đến lúc phải đặt lên bàn nghị sự. Rõ ràng việc tiến hành cải cách hành chính với nội dung hạn hẹp như hiện nay và tách rời khỏi hệ thống chính trị nói chung và hệ thống nhà nước nói riêng như đang làm không thể mang lại hiệu quả mong muốn. Các Đại hội Đảng, các dịp tổng kết kết thúc nhiệm kỳ đã đánh giá: nhiệm vụ cải cách hành chính tiến hành chậm, ít hiệu quả, không theo kịp đòi hỏi tình hình… Trong những văn kiện này không hiếm sự phê phán nghiêm khắc những bất cập của bộ máy hành chính quốc gia, có ý kiến nêu rõ cải cách hành chính chỉ có khả năng thành công nếu xuất phát từ đổi mới toàn diện vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là những đánh giá xác đáng. Chỉ cần dựng lên một sơ đồ sự vận hành của hệ thống chính trị, bao gồm cả hệ thống nhà nước, sẽ càng thấy rõ việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia cần bắt đầu từ việc đổi mới và nâng cao chất lượng vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền.  Việc đổi mới hệ thống quản trị đất nước đòi hỏi bao nhiêu năm, nhanh hay chậm, thành hay bại, tất cả phụ thuộc vào việc đổi mới triệt để Đảng CSVN trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc để có khả năng thực hiện được vai trò lãnh đạo đất nước; toàn bộ sự vận động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước phải nằm trong khung khổ kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ngày càng phát triển.  Sau 22 năm đổi mới, tình hình phát triển mọi mặt ở nước ta hiện nay đã đến mức cho phép kết luận: Không xây dựng được một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, sẽ không thể có một Việt Nam công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Đây thực sự là thách thức lớn nhất đối với đảng cầm quyền (xem thêm chú thích 21).  Tình hình và mọi điều kiện đất nước đang có trong tay cho phép nhiệm vụ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển năng động và bền vững của đất nước về mọi mặt, thực hiện được với chất lượng tốt hơn những mục tiêu tăng trưởng và phát triển đã đề ra cho đến năm 2010. Đấy cũng là sự phản ứng quyết liệt và dứt khoát nhất cần phải có trước những vấn đề năm 2007 đặt ra cho đất nước, là hướng phấn đấu đúng nhất, để đất nước ta sẽ không ngoặt vào hướng đi dẫn tới một quốc gia lạc hậu.    V. Trí tuệ, ý chí chính trị và thời gian là quyết định  Chuyển sang thời kỳ phát triển mới như thế nào?  Tiền bạc, nguồn lực vật chất, nguồn lực chất xám có thể huy động được cho phép nước ta chuyển lên thời kỳ phát triển cao hơn có thể nói không thiếu. Hy vọng phần I của bài này đã lý giải được như thế. Song sẽ phải bàn cãi rất nhiều: Huy động chúng bằng trí tuệ nào, với ý chí được thống nhất ra sao? cũng có nghĩa là nhằm vào mục tiêu nào? Đã có sự lựa chọn? Tất cả – ở đây là nhân dân, nhà nước, đảng lãnh đạo – đã thống nhất trong một sự lựa chọn? Và thời gian? Chúng ta nhận thức nó đang là thúc bách, là đang ở ngã 3 “hoặc là… hay là..,”  hay là chỉ là sự tiếp nối bình thường muôn thuở giữa ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai?  Đó phải là câu hỏi của mỗi người và của tất cả mọi người khi cùng nhau chia sẻ nỗi bức xúc: Làm gì để đất nước trở thành một quốc gia phát triển?  Chỉ có thể tìm được câu trả lời khi rà xoát lại và xác định lại tất cả cho phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới.  Ví dụ: Than phát triển mạnh và xuất khẩu nhiều như hiện nay đang phát sinh hệ quả gì? Hàng loạt các mỏ khoáng sản trong các tỉnh biên giới phía Bắc đang được triển khai, sắp tới sẽ là quặng bauxite ở Tây Nguyên, sẽ tiếp tục khai thác để xuất khẩu dầu thô?.. Như thế có phải là sự lựa chọn tối ưu không cho một quốc gia đất hẹp người đông với một vị thế đầy thách thức hay không? Tiếp tục hay không việc có thêm những công trình kinh tế gây ô nhiễm môi trường đến nỗi báo chí đã phải tặng cho cái tên “kẻ giết người thầm lặng” (Tuổi trẻ ngày 29-10-2007 và các số tiếp theo), trong khi đất nước đang xuất hiện những dòng sông “chết”, các làng ung thư..? Chúng ta lựa chọn ngành đóng tầu biển, ngành bột giấy, ngành khai khoáng… là chiến lược dài hạn, hay “giải pháp tình thế”?.. Là nước đi sau có nhất thiết phải chấp nhận tất cả những gì các nước đi trước đang thải loại không?..  Tư duy “nhiệm kỳ” đang là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong chiến lược và quy hoạch phát triển, trong phát huy sức mạnh của nền kinh tế thống nhất, trong công tác tổ chức cán bộ… Tư duy “nhiệm kỳ” là một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kẻ ăn ốc, người đổ vỏ, các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá. Lối tư duy này đối kháng với lợi ích phát triển chiến lược của quốc gia. Ai không muốn khắc phục tư duy này? Trí tuệ và ý chí nào để cho nó kéo dài sự tồn tại?  Vân… vân…  Không chủ quan tự mãn, thì còn rất nhiều câu hỏi như thế phải đặt ra. Giả thử tìm được câu trả lời đúng, song có gan vượt lên sức ép tâm lý nhiều bề và của chính mình để lựa chọn quyết định đúng không?  Chỉ có cách bám chắc vào thực tế khắc nghiệt của bối cảnh thế giới để quyết định: Là một quốc gia đất hẹp, người đông, có vị trí địa lý kinh tế và chính trị thuận lợi số 1, đồng thời cũng chịu thách thức số 1, nước ta lựa chọn gì cho mình – từ sản phẩm kinh tế cho đến vị thế chính trị quốc tế? Phải làm gì để thực hiện được sự lựa chọn ấy?  Đất nước này là của dân, do dân, vì dân, sẽ có câu trả lời.  Lời kết: Bài học của Đại hội VI  Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đi vào lịch sử là mở đầu thời kỳ đổi mới. Nội dung cách mạng nhất của Đaị hội này là ý chí nhìn thẳng vào sự thật, nhờ vậy đã xác lập được con đường đổi mới, nhờ vậy đã dẫn tới thành quả đất nước giành được như hôm nay. Vì lý do này, bài học quan trọng của Đaị hội VI thường được nhắc tới là thái độ nhìn thẳng vào sự thật. Trên chặng đường đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, bài học này càng có ý nghĩa. Bởi vì nhìn thẳng vào sự thật thì tránh được lạc hậu với sự thật, hơn thế nữa đó là cách nhìn, là tiền đề không thể thiếu cho mỗi quyết định đúng nhất thiết phải có.  Đại hội VI còn một bài học khác quan trọng không kém, cần được nhấn mạnh trong năm 2007: Đừng bao giờ lặp lại tình hình bị dồn đến chân tường mới quyết định đổi mới.  Xin lưu ý, trong 22 năm đổi mới vừa qua có không ít trường hợp đã để cho   cơ hội tuột tay hoặc không được tận dụng được.  Ví dụ, mỗi một lần Đại hội Đảng, mỗi lần bầu Quốc hội mới đều là một cơ hội cực kỳ lớn để giải phóng nghị lực sáng tạo của toàn dân mang lại sức mạnh mới cho đất nước, để đổi mới Đảng, để nâng cao năng lực, phẩm chất của hệ thống nhà nước..; mỗi lần đại hội cấp tỉnh và bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh cũng mang lại những cơ hội như vậy cho mỗi tỉnh… Nếu mỗi lá phiếu bầu trong những dịp như thế có chất lượng và sức nặng đích thực của nó!.. Song tiếc rằng những gì đạt được qua những lá phiếu như thế chưa đủ sức nâng hệ thống chính trị lên ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ, chưa nói đến những tha hóa mới. Chẳng lẽ lại chờ đợi nước đến chân mới nhảy?  Xem lại tư liệu báo chí, toát lên một thực tế quan trọng: Bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ (BTA), việc gia nhập WTO lẽ ra có thể diễn ra sớm hơn một số năm. Tiếc thay những cơ hội cho phép đạt kết quả sớm hơn đã không được tận dụng – tất nhiên cái giá của sự chậm chạp không bao giờ rẻ.  Đàm phán để gia nhập WTO kéo dài một thập kỷ, song chuẩn bị cho hậu WTO không được bao nhiêu; thị trường vốn trong nước và quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển đột phá, nhưng thiếu vắng sự sẵn sàng cần thiết –  nổi cộm nhất hiện nay  là nguồn nhân lực, dự án khả thi, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị…  Còn bao nhiêu cơ hội khác nữa đang có trong tay không đủ kiên nhẫn chờ đợi sự chậm chạp của chúng ta?  Nhớ lại, tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội của nước ta vào giữa những năm 1980 đã lên tới đỉnh điểm, tác động của bối cảnh quốc tế càng làm gay gắt thêm đến tột độ. Song may mắn thay cuộc sống đã đi trước những bước quyết định: từ hiện tượng Kim Ngọc, đến khoán chui, khoán 10, khoán 100, bù giá vào lương, kế hoạch 3, nguồn hàng của cá nhân những người Việt các “binh chủng” sinh sống tại các nước Liên Xô Đông Âu cũ kiên nhẫn gửi về… Khi công cuộc đổi mới được tiến hành, ngay lập tức một sức sống mới được giải phóng. Yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh quốc tế mới đặt ra cho Đảng tình hình và nhiệm vụ hoàn toàn khác hẳn trước. Không ý thức sâu sắc điều này sẽ là thảm họa.  Lịch sử không nhất thiết lúc nào cũng lặp lại may mắn như thế, cũng không có chữ “nếu”. Song lịch sử nhắc nhở: Đừng bao giờ để xảy ra tình trạng bị dồn vào chân tường mới quyết!  Đấy cũng là lời gửi gắm của năm 2007 cho năm 2008, tất cả cho một quốc gia Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại!  Hà Nội, 20-11-2007  Ý kiến của bạn?  ——————————  * Bài viết này đúc kết lại từ bài tùy bút Cảm nhận 2007. Cảm ơn anh Việt Phương đã gợi ý tôi viết lại bài này theo bố cục mới.  2 Tham khảo báo cáo của Thủ tướng Chính phủ về tình hình kinh tế xã hội năm 2007 tại kỳ họp thức 2 Quốc hội khóa XII.  3 Ước tính theo số liệu của Tổng cục thống kê theo thời giá – Nguyễn Trung.  4 Trên thực tế sản phẩm chế biến của Việt Nam bắt đầu len vào ngày càng nhiều trên thị trường Trung Quốc, đã bắt đầu có đầu tư của Việt Nam vào Trung Quốc, đương nhiên với những con số rất khiêm tốn. Hiện nay Việt Nam vẫn là nước nhập siêu lớn của Trung Quốc.  5 Thực tế này đang xảy ra ở Philippines từ hàng chục năm nay và không có cách gì cứu vãn. Ở nước ta, đội ngũ trí thức còn quá mỏng và thiếu, trong khi đó chất xám hiện có chưa được sử dụng và phát huy hết; một ví dụ khác: giả thử  cho đến năm 2010-2015 đào tạo thêm được 20.000 tiến sỹ có chất lượng, nhưng vì những lý do nào đó trong nước không dùng được họ, hoặc số đông được đào tạo ở nước ngoài không muốn trở về nước sinh sống, tình hình phát triển nguồn nhân lực sẽ ra sao? Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” – Tia Sáng số 06-11-2007  6 Tham khảo Vietnam Net 24-08-2007.  7 Tham khảo thêm bài: Dollar’s double blow from Vietnam and Qatar, BST ngày 04-10-2007  8 Diện “đói nghèo” hiện nay ước tính chiếm khoảng 20% dân số (Vũ quang Việt).  9 Tham khảo: Vũ Thành Tự Anh, “6 lý do để lo lắng về lạm phát hiện nay” TBKTSG 8-11-2007; một số cơ quan nghiên cứu nước ngoài cho rằng Việt Nam thực ra đang lạm phát 2 con số. Phải chăng lạm phát cao năm 2007 ít nhiều có những bóng dáng rất kinh điển của những năm 1970 – 1980, nghĩa là do nhiều nguyên nhân tổng hợp lại: Sức đẩy của chi phí, sức kéo của cầu, chính sách tiền tệ (tìm hiểu các ý kiến của Vũ Quang Việt rải rác trong nhiều bài). Hiện nay đang có ý kiến đề cập tính chỉ số lạm phát theo công thức mới, xin miễn bàn ở đây để khỏi lạc đề.  10 Bài học cay đắng nhất của khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 là chính phủ các nước lâm sự mất sự kiểm soát sự vận động của các dòng vốn và để xảy ra những quả “bom” khốc liệt từ thị trường địa ốc và thị trường tài chính; sự đổ vỡ của một số Chaebol Hàn Quốc – điển hình là sự sụp đổ hoàn toàn của tập đoàn Daiwoo có thể được coi như một bài học kinh điển của sự câu kết giữa tập đoàn + quyền lực + tài chính, với sự trả giá khủng khiếp của cả nền kinh tế (Hàn Quốc tự đánh giá: bị kéo lùi 10 năm!). Ở nước ta kiểm soát sự câu kết này khó hơn, để xẩy ra sự câu kết này, tình hình còn nguy hiểm hơn, vì các tập đoàn này thuộc quyền sở hữu nhà nước, nên tự nó có những điều kiện gắn kết hữu cơ với quyền lực nhà nước. Rất nên xem xét lại hoặc thiết kế lại chủ trương cho phép tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước lập các công ty tài chính hay ngân hàng riêng của mình – Nguyễn Trung.  11 Ví dụ, tham khảo một số tài liệu, sách báo, được biết: Hàn Quốc, Đài Loan trong giai đoạn phát triển tương tự như nước ta hiện nay – nghĩa là thời kỳ đạt GDP p.c. khoảng 800 – 1000 USD – chỉ số ICOR thường là >3, đạt tăng trưởng 2 con số hàng chục năm liền, lạm phát khoảng 5 – 6%, song vào thời điểm này kết cấu hạ tầng của Hàn Quốc đã đi trước sự phát triển kinh tế khoảng  5 năm. Cách đây vài năm có tài liệu của chuyên gia nước ngoài cho rằng tham nhũng, lãng phí của Việt Nam hàng năm ước khoảng 3 – 4% GDP hoặc hơn nữa.  12 Xem báo Người Lao động ngày 06-02-2007.  Chú ý: Cho đến nay diện tích đất đai đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng chiếm 71% diện tích lãnh thổ quốc gia (trên thực tế – de facto – là giao quyền sở hữu), song Nhà nước vẫn “nghèo” và hầu như không tạo ra được nguồn vốn đáng kể nào từ sự việc này cho việc phát triển kinh tế của đất nước. Cũng có thể nói Nhà nước đã để “mất” một nguồn vốn rất lớn của quốc gia; mặt khác để lại nhiều hậu quả lớn, trong đó có vấn đề giá đất nói chung của cả nước quá cao đang kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. – Nguyễn Trung.  13 Tham khảo: Nguyễn Trung, “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” Tia Sáng online 15:02:42 01/11/2007,  và  Nguyễn Trung: Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta – Viet-Studies 10-11-2007  14Xem báo Người Lao động 09-11-2007;  xem thêm các bài  “Tân Uyên, Bình Dương: Xe ông Hai  – “vua” của “xe vua” – Tuổi trẻ, Tuổi trẻ online 26 và 27-08-2007. Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khó XII một số đại biểu quốc hội chất vấn về tình hình “chạy ghế”…  15 Xem báo Gia đình & Xã hội 05-052007.  16 Xem:  Gặp người giải cứu em Nguyễn Thị Bình, Tiền Phong, thứ Năm, 08/11/2007, 08:48; cách xử lý là cách chức tổ trưởng dân phố và kiểm điểm cơ quan chính quyền phường, quận.  17 Xem Tuổi trẻ ngày 16-11-2007.  18 Đọc: Tuổi trẻ online 21-11-2007.  19 Trong các cuộc tiếp xúc với cử tri đầu tháng 12-2007 ở một số địa phương, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng cũng nêu lên câu hỏi đầy tâm tư  của cử tri về vấn đề này.  20 Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Chỗ đứng của Việt Nam trong thế giới đa cực” – Thời đại mới số 11 tháng 7-2007 (Nếu Việt Nam là một Philippines trong tương lai…). Tuổi trẻ 30-11-2007: Philippines: “Sẽ không có gì thay đổi”  21 Dưới dạng gần như một “postulation”.  22 Xin lưu ý: Nói riêng về kết cấu hạ tầng (hệ thống giao thông, thông tin, điện, nước, thủy lợi…) nếu nước ta giữ tốc độ xây dựng như hiện nay thì tụt hậu khoảng 10 – 15 năm so với Thái Lan hoặc Malaysia; cả hai nước này vẫn chưa được coi là NIC; khoảng cách tụt hậu về hệ thống hành chính quốc gia của ta so với hai nước này cũng khá lớn; khoảng cách GDP danh nghĩa tính theo đầu người hiện nay ta kém Thái Lan khoảng 2000 USD (tính theo PPP là 5300 USD), kém Malaysia khoảng 4300 USD (tính theo PPP là 8300 USD) (tham khảo báo cáo IMF 2006 và 2007, Wikipedia 2006). Xem như thế, sẽ có câu hỏi: Mục tiêu nước ta trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020 sẽ theo tiêu chí nào?  Xin lưu ý: Đối chiếu giữa một bên là chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa được đề ra trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước và một bên là quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra trên thực tế trong xuốt 22 năm đổi mới,  nhất là trong vòng 10 năm trở lại đây, thấy có nhiều điểm không khớp nhau, có nhiều điểm sai, bị cuộc sống lôi kéo đi nhiều hơn là làm kim chỉ nam cho cuộc sống. Tư duy “nhiệm kỳ” và mọi ảnh hưởng của nó (nhất là bệnh “tân quan tân chính sách” của mỗi nhiệm kỳ) càng làm cho chiến lược đã đề ra bị biến dạng hay gián đoạn. Tình hình có  hai điểm nổi bật như sau:  (a)không ít những việc hay mục tiêu định làm thì thất bại hoặc thành công không như mong đợi  (chế tạo cơ khí, công nghiệp nặng, khai khoáng, hợp tác xã kiểu cũ, các xí nghiệp quốc doanh lỗi thời…) –  nguyên nhân chủ yếu là không thực tế, duy ý chí, không theo quy luật; (b)nhiều vấn đề hay mục tiêu không đề ra hoặc không coi là trọng tâm lại phát triển rất  mạnh (sản phẩm chế biến, công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu, nông lâm thủy sản, dịch vụ, khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại…) –  nguyên nhân chủ yếu của những thành công này là hợp quy luật phát triển và khai thác được thế mạnh nội tại, khai thác được hợp tác với bên ngoài. Từ những thất bại và thành công như vậy trong thực tiễn cần đánh giá lại tư duy và phương pháp làm chiến lược với tầm nhìn mới để xác định những bước đi sắp tới.   23 Xin tạm gạt sang một bên vấn đề y tế để bàn vào một dịp khác; xin chưa đặt vấn đề nâng cao nền giáo dục của ta ngang tầm khu vực hay trên thế giới.          Nguyễn Trung     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga cam kết xây điện hạt nhân an toàn cho Việt Nam      Nga sẽ xây dựng ở Việt Nam nhà máy điện hạt nhân an toàn và tiên tiến, người đứng đầu Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Liên bang Nga (Rosatom) khẳng định trong cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam hôm 15/5.    Cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng giám đốc Rosatom, ông Sergey Kiriyenko, diễn ra trong khuôn khổ chuyến thăm bắt đầu từ ngày 12/5, của người đứng đầu chính phủ Việt Nam tại Nga.      Theo Tiếng nói nước Nga, trong buổi làm việc, ông Kiriyenko cam kết Nga sẽ xây dựng ở Việt Nam “nhà máy điện hạt nhân an toàn nhất và tiên tiến nhất”. Rosatom là đơn vị trực tiếp tư vấn, xây dựng trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam tại Ninh Thuận.      Trước đó, sau cuộc hội đàm với người đồng cấp Nga Dmitry Medvedev, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Chúng tôi đồng ý với nhau rằng sẽ tích cực hợp tác trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam, để dự án phát triển theo đúng lịch trình đã định, với việc sử dụng công nghệ tiên tiến nhất bảo đảm an toàn mức cao nhất cho nhà máy”.      Thủ tướng Medvedev cũng bày tỏ hy vọng Việt Nam và Nga có thể hợp tác không chỉ trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân, mà còn trong việc hình thành cơ sở hạ tầng tương ứng.      Tháng 11/2009, Quốc hội Việt Nam thông qua dự án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận. Dự án điện nguyên tử đầu tiên của Việt Nam sẽ đặt tại tỉnh Ninh Thuận, gồm hai nhà máy có tổng công suất 4.000 MW. Theo kế hoạch, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I sẽ được khởi công vào năm 2014, và bắt đầu phát điện năm 2020.      Nhà máy Ninh Thuận I sẽ do Nga xây dựng. Để đảm bảo nhà máy đi vào vận hành đúng tiến độ, Việt Nam và Nga đã nhiều buổi gặp gỡ bàn bạc về vấn đề trên. Phía Việt Nam khẳng định quyết tâm sẽ làm điện hạt nhân, còn đại diện Nga đưa ra lời cam kết sẽ đảm bảo an toàn cho nhà máy điện hạt nhân.      “Việt Nam hoàn toàn có thể yên tâm về tiêu chuẩn an toàn hạt nhân của Nga. Lò phản ứng của Việt Nam khó có khả năng xảy ra sự cố như ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản”, ông Petr G. Shchedrovitsky, cố vấn Tổng giám đốc tập đoàn Roatom khẳng định vào tháng 2/2012.      Một đại diện khác của công ty Rosatom là Sergey A. Boyarkin, Phó tổng giám đốc Rosatom, từng khẳng định, điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ được đảm bảo an toàn nếu sử dụng công nghệ của Nga.      Về những lo lắng khi xảy ra động đất sóng thần, vị đại diện trên cho biết, theo khảo sát ban đầu, tại Ninh Thuận có thể xảy ra động đất lên đến 7,5 độ Richter, trong khi bản thiết kế, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận có thể chịu được động đất cấp 9.      Hồi tháng 3 vừa qua, 50 chuyên gia Việt Nam đầu tiên đã đến Nga thực tập tại các lò phản ứng hạt nhân thứ ba và thứ tư của nước này. Sau khi được đào tạo, họ sẽ trở về Việt Nam tham gia xây dựng nhà điện hạt nhân.      Cũng trong tháng 3, Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia, do bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân làm chủ tịch, đã dẫn đầu đoàn công tác khảo sát thực tế địa điểm dự kiến xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I và nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận II tại huyện Ninh Hải, Ninh Thuận.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày 24/8/1945 – Báo Cứu Quốc      Ngày 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, các đảng viên Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, các đoàn thể cứu quốc và nhân dân Hà Nội đã khởi nghĩa thành công lật đổ bộ máy chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội và các vùng lân cận.  Nhưng hôm ấy, các đồng chí lãnh đạo Đảng dự Hội nghị Tân Trào đang trên đường về Hà Nội.    Chiều 21/8/1945, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh và Trần Huy Liệu mới về đến Hà Nội.  Sáng ngày 22/8/1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp. Tranh thủ giờ nghỉ giải lao, đồng chí Đan (bí danh của đ/c Xuân Thủy) gặp đ/c Trường Chinh đề nghị:  Xin anh cho báo Cứu Quốc xuất bản công khai và báo ra hằng ngày (hồi bí mật đ/c Xuân Thủy phụ trách báo Cứu Quốc).  Đồng chí Trường Chinh bằng lòng ngay:  –    Đồng ý. Báo càng ra nhanh càng tốt.  –    Thưa anh, tòa soạn đã có đầy đủ người viết bài nhưng không ai biết điều khiển nhà in vì trước đây in litô. Xin anh giới thiệu cho một người làm việc ấy.  Những năm 1936-1939, đ/c Trường Chinh phụ trách báo Le travail, nên chỉ mấy giây suy nghĩ đ/c trả lời ngay: Tìm anh Nguyễn Trí Uẩn. Anh Uẩn đã làm việc ở báo Le travail với chúng tôi hơn một năm và sau anh Uẩn, anh Đào Duy Kỳ phụ trách báo Thế Giới, cơ quan tuyên truyền của đoàn Thanh niên dân chủ.  –    Địa chỉ anh Uẩn ở đâu? Lại mấy giây suy nghĩ rồi đ/c Trường Chinh trả lời:  –    Năm 1943, tôi giới thiệu anh Nguyễn Trí Uẩn về sinh hoạt và hoạt động trong một tổ Thanh niên cứu quốc ở Hà Nội. Tổ trưởng là anh Phí Văn Bái. Anh Lê Quang Đạo có báo cáo với tôi, tổ này hoạt động tốt, trong tổ có mấy nhà văn và nhà báo anh cứ hỏi Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội là biết ngay.  Đồng chí Xuân Thủy về tòa soạn định cử người đi gặp Thường vụ Thành ủy Hà Nội thì anh Trần Mạnh Hảo ở tòa soạn nói ngay: Tôi là bạn của anh Uẩn, tôi và anh đến ngay 101 Hàng Đào là hiệu sách của chị Uẩn chắc sẽ gặp và biết anh Uẩn ở đâu.  Hôm ấy anh Uẩn có nhà. Anh Hảo giới thiệu anh Xuân Thủy với anh Uẩn. Anh Xuân Thủy nói ngay với anh Nguyễn Trí Uẩn:  –    Anh Trường Chinh giới thiệu anh về báo Cứu Quốc làm việc với chúng tôi. Anh phụ trách kỹ thuật ấn loát. Báo cần ra ngay anh cho biết in báo ở nhà in nào tốt nhất.  –    Sao lại phải in nhà in tư nhân? Anh Uẩn trả lời và nói tiếp. Ngày 19-8 khởi nghĩa thành công, thì ngày 20-8, tôi ở nơi khác về ngay Hà Nội. Tôi đã đi quan sát nhiều kinh tế của Pháp ở phố Tràng Tiền, một nhà in lớn của Pháp là Nhà in Taupin sau ngày 9-3, Nhật đảo chính bắt chủ nhà in người Pháp, nhà in vẫn niêm phong. Ta đến trưng tập về dùng.  –    Việc này giao luôn cho anh được không?  Anh Uẩn nhận. Sau đó anh Uẩn đến gặp anh Võ Nguyên Giáp (hai anh đã quen biết nhau từ phong trào bình dân 1936-1939 ở Hà Nội).  Anh xin Ủy ban khởi nghĩa lệnh trưng tập Nhà in Taupin và bốn anh Giải phóng quân cùng đi thi hành.  Chỉ buổi sáng ngày 23/8/1945, mọi việc xong xuôi. Toàn bộ các máy trong Nhà in Taupin đã đưa về trụ sở Tổng bộ Việt Minh ở phố Hàng Trống, nay là trụ sở của báo Hà Nội mới. Ngay buổi chiều công nhân đã làm việc.  Mới 5 giờ sáng ngày 24/8/1945, đã có mấy trăm người đến trước trụ sở Tổng bộ Việt Minh chờ mua báo. Các anh em trong tòa soạn và các công nhân đúng 6 giờ sáng mở cửa đem báo ra bán. Có người mua hàng trăm tờ đem ra ngoại ô bán.  Các báo hằng ngày ở Hà Nội như báo Trung Bắc Tân Văn, Ngọ Báo, Đồng Phát… chỉ in 3.000 đến 4.000 tờ hằng ngày. Hôm 24/8/1945, không kể báo Cứu Quốc gởi đi các tỉnh, riêng ở Hà Nội để báo phát hành tới mấy chục vạn tờ.  Các anh em trong tòa soạn và công nhân làm việc suốt đêm và cả buổi sáng ngày 24/8/1945 mà không ai biết mệt.  Đó là ngày báo Cứu Quốc xuất bản công khai ở Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.     Ảnh: Tòa soạn báo Cứu Quốc năm 1945     Phí Văn Bái      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày ngoại giao châu Âu về khí hậu      Trong khuôn khổ “Ngày ngoại giao châu Âu về  khí hậu” diễn ra vào ngày 17/6/2015, một chuỗi các hoạt động được Phái đoàn Liên  minh Châu Âu tại Việt Nam và các Đại sứ quán của các quốc gia thành viên  EU đồng tổ chức.       Ngày châu Âu về khí hậu được tổ chức nhằm mục đích kêu gọi sự tham gia và nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp tới Việt Nam, một trong những quốc gia được dự báo là sẽ bị ảnh hưởng nặng nề về biến đổi khí hậu. Khi tổ chức Ngày Châu Âu về khí hậu, Phái đoàn Liên  minh Châu Âu tại Việt Nam cũng mong muốn giới thiệu Hội nghị toàn cầu về khí hậu Paris 2015 (COP21), quan điểm chung của EU và những hoạt động do Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên tiến hành tại Việt Nam nhằm chống biến đổi khí hậu… với người dân Việt  Nhiều hoạt động diễn ra trong khuôn khổ Ngày châu Âu về khí hậu. Mở mản cho chuỗi hoạt động này là cuộc họp báo của Đại sứ Pháp Jean-Noël Poirier (nước đăng cai và chủ trì Hội nghị toàn cầu về Khí hậu Paris 2015), và bà Delphine Malard, Đại biện Lâm thời Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, với sự hiện diện của Đại sứ Bỉ, Đan Mạch, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha và Anh. Qua cuộc họp báo, các thông tin về những sáng kiến của châu Âu nhằm chống biến đổi khí hậu tại Việt Nam đã được cung cấp rộng rãi.  Tiếp theo, tại l’Espace –Viện Pháp tại Việt Nam, bộ phim “Age of Stupid” được trình chiếu. Kết thúc bộ phim, các nhà tổ chức đã mở cuộc đàm luận tiếp về các chủ đề đã được đề cập trong phim. Đây là bộ phim của nữ đạo diễn Franny Armstrong (Anh), sản xuất năm 2009, miêu tả thế giới bị tàn phá vào năm 2055 với câu hỏi: “Tại sao chúng ta không ngăn chặn biến đổi khí hậu khi có cơ hội?”.  Ngoài ra, một hoạt động khác được kỳ vọng sẽ thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng Việt Nam là chơi đố trên mạng truyền thông xã hội về biến đổi khí hậu và những hành vi thực tiễn góp phần chống biến đổi khí hậu. Câu hỏi đố vui sẽ được đăng tải trên mạng xã hội Facebook (www.facebook.com/EUandVietnam) của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam từ ngày 18 đến 24/6/2015. Lễ trao giải sẽ diễn ra vào ngày 26/6/2015, tại Lotte Center Hà Nội.  Hiện tại, để góp phần ngăn chặn biến đổi khí hậu, Liên minh châu Âu EU đang theo đuổi những mục tiêu tham vọng: cắt giảm ít nhất 40% lượng khí thải của Liên minh từ nay tới năm 2030, và 50% tới năm 2050 (so với năm tham chiếu 1990).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghề làm toán ở Mỹ      Theo Bộ Lao Động Mỹ: http://www.bls.gov/ oco/ocos043.htm (Occupational Outlook Handbook, 2008-09 Edition), v&#224; theo b&#225;o c&#225;o Mathematics In Industry của SIAM (Hội To&#225;n học Ứng dụng Mỹ): Năm 2006 ở Mỹ c&#243; 3.033 người được tuyển việc với danh nghĩa nh&#224; to&#225;n học (mathematician), kể cả l&#253; thuyết lẫn ứng dụng). Trong đ&#243; c&#243; 412 người được nhận việc academic (c&#225;c trường đại học cao đẳng), 1.302 người v&#224;o l&#224;m cho c&#225;c cơ quan Ch&#237;nh phủ (như Bộ Quốc Ph&#242;ng, NASA&#8230;), v&#224; 1.155 người l&#224;m cho &#8220;doanh nghiệp&#8221; (c&#244;ng nghiệp, t&#224;i ch&#237;nh&#8230;). Trong số 1.155 người n&#224;y, c&#243; 748 người l&#224;m c&#225;c c&#244;ng việc nghi&#234;n cứu v&#224; ph&#225;t triển, 277 người l&#224;m tư vấn quản trị v&#224; kỹ thuật, v&#224; 112 người l&#224;m trong c&#225;c dịch vụ kiến tr&#250;c v&#224; kỹ sư. Lương trung b&#236;nh (median) của c&#225;c nh&#224; to&#225;n học ở Mỹ năm 2006 l&#224; qu&#227;ng 87 ngh&#236;n USD, trong đ&#243; c&#243; 10% số người c&#243; lương cao hơn 132.000, v&#224; 10% số người c&#243; lương thấp hơn 43.500.    Về môi trường làm việc, các nhà toán học thường có phòng làm việc khá tiện nghi và thoải mái. Nhiều nhà toán học ứng dụng làm việc trong các nhóm nghiên cứu, trong đó có những người là chuyên gia các lĩnh vực khác. Các nhà toán học làm việc trong academia (đại học và viện nghiên cứu) thường có trách nhiệm giảng dạy đi kèm với trách nhiệm nghiên cứu, và có thể có các trợ lý là nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Đi công tác xa khá thường xuyên (dự hội nghị, hội thảo, hợp tác khoa học, …) là một đặc điểm hay thấy ở các nhà toán học.  Thông thường để nhận được một công việc với danh nghĩa nhà toán học, điều kiện không thể thiếu là phải có bằng PhD về toán. Vào năm 2007, có khoảng 300 chương trình sau đại học (graduate) về toán tại Mỹ.  Hầu hết các trường đại học (university) và cao đẳng (college) ở Mỹ có chương trình đại học (Bachelor) về toán. Các môn không thể thiếu được trong chương trình là giải tích (calculus), đại số (linear and abstract algebra), và phương trình vi phân (differential equations). Ngoài ra có thể có thêm nhiều môn khác, như logic, giải tích nhiều biến, giải tích phức, tô pô, giải tích số, toán rời rạc, xác suất thống kê, v.v. Các trường thường khuyến khích học sinh ngành toán học lấy bằng kép (double major): Toán và một chuyên ngành khác (như máy tính, kỹ sư, kinh tế, sinh vật, v.v.). Bằng kép như vậy thuận lợi cho xin việc và cho công việc về sau. Những người có bằng Đại học (Bachelor) hoặc Cao học (Master) về toán có thể làm những nghề liên quan đến toán, ví dụ như lập trình viên, phân tích viên, giáo viên dạy toán, v.v. Chỉ riêng nghề dạy toán cho các trường postsecondary (trung cấp ?) năm 2006 ở Mỹ đã tuyển đến 54 nghìn người.            Giải quyết vấn đề      Kỹ năng thiết lập cơ sở lý thuyết, mô hình hóa, và giải quyết vấn đề trong các lĩnh vực đa dạng và luôn biến đổi          Năng động      Có ý thức quan tâm và có kiến thức cũng như khả năng điều chỉnh thích nghi với nhiều lĩnh vực ứng dụng          Tính toán      Có kiến thức và kinh nghiệm Tính toán          Giao tiếp      Có các kỹ năng giao tiếp, cả nói và viết          Teamwork      Giỏi hợp tác với các cộng sự (”teamwork“)            Theo báo cáo Mathematics In Industry của SIAM, thì các kỹ năng sau được đánh giá là quan trọng nhất đối với các nhà toán học làm việc trong môi trường nonacademic (tức là trên 85% các nhà toán học ở Mỹ):  Tất nhiên, đấy cũng là những kỹ năng quan trọng cho cả các nhà toán học làm việc trong môi trường academic.  Kỹ năng tính toán là đặc biệt quan trọng: 93% các nhà toán học trong môi trường nonacademic đánh giá kỹ năng tính toán (computing skills) là không thể thiếu trong công việc của họ. Dưới đây là những chuyên ngành toán được dùng nhiều nhất trong môi trường nonacademic (số % bên phải là số nhà toán học nonacademic dùng đến nó trong công việc):          Chuyên môn      Tỉ lệ           Tạo mô hình và tiến hành giả lập      73%          Phương pháp/tư duy tính toán      65%          Thống kê      55%          Xác suất      50%          Giải tích ứng dụng kỹ thuật/phương trình vi phân      50%          Nghiên cứu/tối ưu hóa các tiến trình      38%          Toán rời rạc      26%            Báo cáo trên của SIAM đã hơi cũ (từ năm 1998) và từ đó đến nay tình hình có thể đã thay đổi đôi chút, nhưng về cơ bản các kết luận trên vẫn đúng. Ứng dụng vào tình hình Việt Nam: Do Việt Nam đang thụt lùi so với thế giới (ít nhất) mấy chục năm, nên các thông tin phía trên có thể dùng làm định hướng cho phát triển toán Việt Nam trong những năm tới.     Author                Quản trị        
0.5172413793103449
__label__tiasang       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ về phương pháp nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh      Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi để hiểu được sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nghiệm ra rằng, cần phải xác lập cho mình một phương pháp luận khoa học. Phải có sự lựa chọn, có mức độ, có điểm dừng, có thái độ trung thực khoa học đầy trách nhiệm để có cách xử lý thỏa đáng. Như thế mới có thể thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn lao như thế nào đối với vận mệnh của đất nước, sự nghiệp của nhân dân và tương lai của dân tộc.  Đây là những suy ngẫm nghiêm túc song không thể tránh khỏi những thô thiển, xin mạnh dạn nêu lên để trao đổi.    Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp; cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng ; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình. Vì vậy, đơn giản hóa, tầm thường hóa, dung tục hóa, hoặc ngược lại rắc rối đến cầu kỳ, phức tạp, đi sâu vào tầm chương trích cú, tìm sự phong phú ở cái rậm rạp, xô bồ trong cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì rồi dù vô tình hay cố ý cũng đều không dẫn đến cách nắm bắt và tiếp nhận cái cốt lõi của tư tưởng Hồ chí Minh.  Cũng giống như những nhà tư tưởng lớn của loài người mà Hồ Chí Minh đã học hỏi, tiếp thu, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự đa dạng, nhiều chiều, năng động, luôn luôn phát triển chứ không phải là “nhất thành bất biến”. Chỉ có một điều cần thấy rõ, đó là, từ lúc manh nha, đến lúc hình thành, và khi vận dụng vào cuộc sống, rồi được sửa chữa, bổ sung, đều đã thể hiện sự nhất quán, rất nổi bật “tính chất trước sau như một” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cả hai biểu hiện ấy, “đa dạng, năng động, nhiều chiều, không“nhất thành bất biến” thông nhất với sự nhất quán, “trước sau như một”, xin được gọi là “tính chất một” cực kỳ hàm súc của tư tưởng Hồ Chí Minh, có ý nghĩa rất lớn.  *Chú ý đến biểu hiện ấy trong phương pháp luận nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là chú ý đến sự gặp gỡ thú vị của phong cách Hồ Chí Minh với xu thế hiện nay của khoa học và của đặc điểm trí tuệ của thời đại là tổng thể h óa trong đa dạng, chứ không chỉ là chuyên biệt hóa ngày càng sâu, càng tinh vi khi đi sâu vào phân tích cụ thể mà thiếu sự tổng hợp.    Đây là sự tổng thể hóa đầy mâu thuẫn trong đời sống và hoạt động của con người, từ cá nhân đến cộng đồng, từ một góc tâm linh, một nét tiềm thức hoặc là vô thức sâu kín, bí ẩn nhất của mỗi con người, cho đến động thái của mỗi dân tộc và của cả loài người. Có sự tổng thể hóa nhiều sắc thái của kiến thức và nghiên cứu khoa học của con người, nó là kết quả đan xen vào nhau, trở thành nhau của nhiều ngành, nhiều phương pháp khoa học, trong khi mà sự chuyên biệt hóa, bên cạnh mặt mạnh của nó, ngày càng bộc lộ những nhược điểm khá rõ. Đó là sự liên ngành, mà thực chất mới chỉ là sự phối hợp, kết hợp giữa nội dung và phương pháp của nhiều ngành để bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau vẫn chưa bộc lộ hết tiềm năng của nó, chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.  * Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh phải là sự nghiên cứu rất hiện đại, chứ chỉ dừng lại phương pháp liên ngành như đã từng có trong nửa cuối thế kỷ XX thì chưa đủ và đã bị vượt qua. Phương pháp phân tích cụ thể quá sẽ thành ra chi li, dẫn đến phân tán. Tuy rằng đi sâu vào từng lĩnh vực của tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần thiết, song chưa đủ. Cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có triển vọng nhất đó là một, nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú. Với phương pháp luận đó thì có thể sẽ tìm ra và nhấn mạnh không nhiều, nhưng lại có sức khái quát lớn.  * Tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động, cho nên phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải như vậy. Sự nghiên cứu uyên bác là rất cần, càng uyên bác, thâm thúy thì càng hay, nhưng cần luôn luôn ghi nhớ cái chất của Hồ Chí Minh, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động. Uyên bác và thâm thúy nhất của Hồ Chí Minh là thiết thực và có hiệu quả trong hành động.  *Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực. Bởi vậy, vấn đề là phải làm sao phát hiện được, tiếp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự chân thực đó. Trong những thiên lệch cần phải tránh thì trước hết phải tránh sự “tụng ca”, “vĩ nhân ca”. Không nên và không thể cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vì tư tưởng ấy cũng chính là nhân cách Hồ Chí Minh. Mọi ý định, cho dù là thiện chí muốn thêm vào thì chỉ là trừ đi, và nếu Hồ Chí Minh biết thì sẽ cười rằng “đừng vẽ rắn thêm chân”! Sự cường điệu về chất, về mức là không trung thực, hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa, là có hại. Vấn đề là ở chỗ nhận cho ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua cơ đồ, qua sự nghiệp. Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh.  *Kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự nâng niu, bảo quản như bảo quản một di vật quý trong bảo tàng. Kế thừa là vận dụng và phát triển. Vậy thế nào là kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, điều kiện của dân tộc, của thế giới, của thời đại? Đây là một khó khăn phức tạp và có thể tác động ngược lại đến việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh.  Thông thường, việc kế thừa và vận dụng một tư tưởng đòi hỏi một sự lựa chọn. Nếu không có sự lựa chọn thì cũng không thể có sự kế thừa, vận dụng và phát huy. Và nói lựa chọn tức là đòi hỏi phải bỏ qua một số điểm nào đó, cố ý làm nổi bật lên hay làm nhẹ bớt đi một số điều nào đó, là nắm bắt những thông điệp nào đó và lướt qua những thông điệp nào đó. Đó là cách làm đúng đắn mang tính khoa học cao, có thể gọi đó là điều có tính quy luật được vận dụng phổ biến, để không chỉ nhằm học tập, tiếp thu những thành tựu trí tuệ của văn hóa và văn minh loài người đã đạt được mà cũng chính là cách những người được xem là những vĩ nhân, những nhà tư tưởng lớn của loài người đã thực hiện để trở thành vĩ nhân.  * Có một lập luận cho rằng : hãy nghe thấy trong Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nghe vào chính lúc này. Hãy tìm thấy, làm nổi bật lên, học theo và thực hiện tư  tưởng Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nhất vào lúc này với niềm tin rằng, những cái đó đều có trong tư tưởng Hồ Chí Minh . Lập luận đó có cơ sở đúng bởi vì, thường là vĩ nhân nào mà cốt lõi tư tưởng là vì con người, dân tộc và loài người thì càng đa dạng và phong phú, càng chứa đựng nhiều thông điệp cần thiết cho mọi thời đại, càng dễ vận dụng theo cách lựa chọn trên. Vấn đề là, với sự tiếp cận này, sự chân thực có được với niềm tin rằng đó là khách quan và khoa học đạt được đến đâu và đâu là điểm dừng cần phải có?  Những người phản bác lại lập luận đó thì cho rằng, với cách ấy rất dễ chủ quan , tùy tiện gán cho Hồ Chí Minh những điều mà mình muốn, mình đang trông chờ chứ không phải là trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những điều đó. Lúc này đang cần có tri thức và kinh nghiệm về kinh tế thị trường thì  cố đào cho ra trong tư  tưởng Hồ Chí Minh những điều ấy. Khi đất nước đang bị hút vào quỹ đạo của toàn cầu hóa thì đã cố moi tìm chỗ này, chỗ kia rằng Hồ Chí Minh đã nói về toàn cầu hóa và hội nhập hay chí ít cũng manh nha những tư tưởng ấy. Nếu làm như vậy thì đúng là giả tạo và không biết đến điểm dừng.  Tương Lai       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ về việc khai thác tài liệu lưu trữ quốc gia      Ngày 24/12/2021, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã ký quyết định phê duyệt Chương trình “Công bố tài liệu lưu trữ quốc gia phục vụ xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ chủ quyền đất nước” (trở xuống rút gọn và viết tắt là CTCBTLLT) nhằm mục đích công bố rộng rãi tài liệu lưu trữ quốc gia. Đây là tin tức đáng mừng đối với nhiều ngành nhiều giới, song nhận thức và thực hiện chương trình ấy là những công việc rất không đơn giản. Để làm rõ điều này, cần nhìn lại lịch sử ngành lưu trữ Việt Nam và lịch sử hoạt động lưu trữ từ thế kỷ XX ở Việt Nam.       Toà nhà Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương, nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia I  Giống như ở nhiều quốc gia, từ thời phong kiến đến nay các lực lượng cầm quyền ở Việt Nam ở những mức độ và qui mô khác nhau đều có cơ quan lưu trữ trước hết ở cấp trung ương để bảo quản trước hết là các văn bản nảy sinh từ hoạt động của mình, phần lớn các văn bản ấy đều chứa đựng những kinh nghiệm về việc xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, tổ chức xã hội và bảo vệ đất nước. Cho nên ngoại trừ những mất mát do chiến tranh hay thiên tai, các chính quyền có sau thường vẫn có ý thức giữ gìn tài liệu lưu trữ mà các chính quyền có trước đã thu thập. Nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử và văn hóa, mặc dù tuyệt đại bộ phận đã bị mất mát, hệ thống văn bản hiện còn được lưu giữ ở các cơ quan lưu trữ ở Việt Nam hiện nay vẫn là mảng tài liệu nguyên thủy rất quan trọng. Tuy nhiên trong nhiều năm qua việc khai thác những tài liệu ấy vẫn chưa được thực hiện rộng rãi và đạt được những kết quả lẽ ra phải có.  Vài nét về tài liệu lưu trữ ở Việt Nam  Ngược dòng thời gian, có thể thấy hệ thống lưu trữ quốc gia cấp trung ương ở Việt Nam trước thế kỷ XIX đã bị tàn phá tan nát. Trong các cuộc chiến tranh Việt Nguyên, Việt Chiêm trước thời thuộc Minh, kinh đô Thăng Long nhiều lần thất thủ, cung điện hoàng gia nhiều lần bị cướp phá. Đến thời thuộc Minh thì ngoài số bị đốt phá hủy hoại, nhiều thư tịch đồ bản trong đó có tài liệu lưu trữ của các chính quyền Lý Trần và Hồ ở Việt Nam đã bị nhà Minh đưa về Kim Lăng. Từ thời Lê rồi Lê trung hưng trở đi, chiến tranh Lê Mạc rồi Trịnh Nguyễn có nhiều tác động tiêu cực tới việc lưu trữ tài liệu quốc gia, song hoàn cảnh tương đối hòa bình từ 1672 đến 1773 cũng giúp các chính quyền ở Việt Nam lưu giữ được nhiều văn thư sổ sách. Nhưng năm 1774 quân Trịnh vượt sông Gianh đánh chiếm Thuận Hóa đã đưa nhiều tài liệu lưu trữ trung ương của chính quyền Đàng Trong ra Thăng Long, đến 1786 quân Tây Sơn ra Thăng Long lần thứ nhất lại cho đốt phá cung phủ của chúa Trịnh, văn khố trung ương của cả hai chính quyền cát cứ ở Việt Nam thế kỷ XVII –XVIII vì thế cũng tan tành. Chưa thấy thông tin nào về lưu trữ của các chính quyền Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII, nhưng tư liệu lưu trữ của chính quyền Nguyễn Ánh trước 1802 cũng gần như hoàn toàn không còn dấu vết. Sau khi chiếm được Thăng Long, Nguyễn Ánh sai chở văn thư ở Gia Định về kinh nhưng chẳng may gặp bão, năm thuyền văn thư đều bị đắm, thủy thủ đoàn không ai sống sót, toàn bộ số văn thư khá nguyên vẹn của chính quyền Gia Định thời gian 1788 – 1802 đã tan theo bọt biển. Nói thêm thì ngay sau tháng 4/1975, một khối lớn tài liệu lưu trữ cấp địa phương ở nhà tù Côn Đảo đã bị cháy rụi, hồ sơ về hàng vạn chiến sỹ yêu nước và cách mạng trên cả nước suốt hơn một trăm năm sau 1862 cũng biến thành tro tàn theo gió bay đi…    Theo Luật Lưu trữ hiện hành (ban hành ngày 4/4/2011, có hiệu lực từ ngày 1/7/2012), điều 20 thì tài liệu Lưu trữ trung ương Việt Nam gồm hai bộ phận là Lưu trữ Nhà nước và Lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng trong thực tế còn có ba bộ phận khác không phải do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước quản lý mà được quản lý riêng biệt tức tài liệu của các ngành quân đội, công an và ngoại giao.    Cùng với sự tồn tại từ 1802 đến 1945, văn khố trung ương của triều đình nhà Nguyễn đã lưu giữ được nhiều tài liệu quan trọng trong đó có các khối Châu bản, Địa bạ… Nhưng đến ngày 11/8/1943, vua Bảo Đại mới ra dụ quyết định sáp nhập văn khố ở kinh đô (Quốc sử quán, Tàng thư lâu, Văn khố Nội các, Văn khố Cơ mật viện và Thư viện Bảo Đại) thành một cơ quan duy nhất là Sở Lưu trữ và Thư viện thuộc chính phủ Hoàng gia. Bên cạnh đó, những tài liệu nảy sinh trong hoạt động của quân đội rồi chính quyền thuộc địa Pháp trước sau 1862 cũng đạt tới một khối lượng đáng kể. Đến ngày 29/11/1917 rồi 26/12/1918 số tài liệu này bắt đầu được thu thập, bảo quản và chỉnh lý một cách thống nhất với sự thành lập Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương cùng năm kho địa phương ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Phnom Penh và Vientiane. Nhưng sau 1945, văn khố Hoàng gia thuộc chính quyền Bảo Đại đã tan tành, chẳng hạn khối Châu bản hiện chỉ còn khoảng một phần năm so với số đã được nhóm Ngô Đình Nhu kiểm kê năm 1942.  Lưu trữ viên dưới thời thuộc địa. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I  Đến 1950 Văn khố Đông Dương lại bị chia năm xẻ bảy, trong đó những tài liệu trước khi có Liên bang Đông Dương (1862 – 1887) thuộc về nước Pháp. Lưu trữ trung ương Việt Nam hiện nay vì thế hình thành trên một cơ sở tài liệu đồ sộ nhưng vì nhiều lý do đều không hoàn chỉnh: tài liệu của văn khố hoàng gia triều Nguyễn, của chính quyền thuộc địa Pháp thời Liên bang Đông Dương (1888 – 1945), của chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa (từ 1945 đến 1976), của chính quyền Nam Kỳ tự trị và Quốc gia Việt Nam (từ 1946 đến 1954), của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (từ 1955 đến 1975), cả của chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1977 đến nay) cũng chia thành bốn năm bộ phận.  Phần đầu tờ sớ ngày 18 tháng 3 năm Tự Đức thứ 1 (1848) của Vũ Xuân Cẩn được in lại trong Việt Nam tập lược, quyển Tạp ký, phần Tấu sớ. Hai chữ “Việt Nam” đầu văn bản có lẽ do Từ Diên Húc thêm vào.  Quá trình hình thành phức tạp như vậy còn đưa tới sự phức tạp của hệ thống tài liệu hiện được cơ quan lưu trữ cấp trung ương ở Việt Nam lưu giữ. Chẳng hạn Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV đang bảo quản khoảng 35.000 tấm mộc bản (bản khắc ván gỗ để in sách) mà nhiều người vẫn tán dương như một loại di sản văn hóa. Nhưng một là số mộc bản ấy chỉ là vật trung gian để in sách theo lối thủ công ngày xưa, sách in ra rồi thì chẳng có giá trị gì trong việc tìm hiểu nội dung tài liệu, hai là phần lớn đều bị tàn khuyết, không thể dùng để in lại một bộ sách nào trọn vẹn, ba là không đủ để thành một hệ thống về nghề in sách kiểu thủ công nghiệp, có lưu giữ hay không thì cũng rất ít người buồn khai thác, nếu chuyển giao cho các cơ quan bảo tàng quản lý và khai thác thì chắc chắn là phù hợp hơn. Hay đầu năm 2022, lúc CTCBTLLT đã được phê duyệt, khi được một cán bộ ở Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước hỏi về một số tài liệu chữ Hán đang được lưu giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia I như Bích ung canh ca, Thánh chế văn tam tập…, kẻ viết bài này bắt buộc phải trả lời đó là những tác phẩm văn chương, cho dù đang được cơ quan lưu trữ lưu giữ cũng không thể coi là tài liệu lưu trữ, vả lại cũng không phải là tài liệu độc bản mà hiện được lưu giữ ở nhiều thư viện cả trong nước lẫn ngoài nước, việc phiên dịch và công bố cứ để cho các cơ quan hay cá nhân thuộc các ngành Văn học hay Hán Nôm làm.  Theo Luật Lưu trữ hiện hành (ban hành ngày 4/4/2011, có hiệu lực từ ngày 1/7/2012), điều 20 thì tài liệu Lưu trữ trung ương Việt Nam gồm hai bộ phận là Lưu trữ Nhà nước và Lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng trong thực tế còn có ba bộ phận khác không phải do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước quản lý mà được quản lý riêng biệt tức tài liệu của các ngành quân đội, công an và ngoại giao.  Bộ phận tài liệu Lưu trữ Nhà nước hiện do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước bảo quản được chia thành bốn mảng do bốn trung tâm trực tiếp quản lý: mảng tài liệu hình thành trước Cách mạng Tháng Tám được giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội), mảng tài liệu hình thành sau Cách mạng Tháng Tám được giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Hà Nội), mảng tài liệu hình thành ở Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX và ở miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1975 được giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (Sài Gòn), ngoài ra còn một mảng gồm mộc bản và một số văn bản chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc ngữ… được giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt). Nói rõ hơn thì những tài liệu hình thành ở miền Nam trong thời gian 1945 – 1954 bị chia đôi: một số thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa được đưa ra Bắc năm 1954 được giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, một số thuộc chính quyền Chính phủ Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa được giữ ở Trung tâm Lưu trữ II. Còn nói sâu hơn thì những tài liệu thuộc chính quyền Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam từ 1969 đến 1976 hiện nay vẫn chưa rõ do cơ quan nào bảo quản…  Vài nét về các cơ quan chuyên trách và hoạt động lưu trữ ở Việt Nam từ thế kỷ XX  Lịch sử hình thành của hệ thống lưu trữ cấp trung ương ở Việt Nam nói trên dẫn tới các định hướng phát triển không nhất quán theo thời gian, không thống nhất trong không gian và không đồng bộ về nghiệp vụ lưu trữ ở tất cả các khâu từ phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, bổ sung tài liệu, thống kê và kiểm tra tình hình tài liệu, tổ chức sử dụng tài liệu, biên mục hồ sơ, tổ chức công cụ tra cứu… tới bảo quản, giải mật và tiêu hủy tài liệu. Ngoài hệ thống lưu trữ còn thủ công về nghiệp vụ của triều Nguyễn, hệ thống lưu trữ của chính quyền thuộc địa Pháp trước khi thành lập Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương cũng rất phân tán và mang nhiều khiếm khuyết, như một nghiên cứu năm 1974 ở miền Nam từng tổng kết “Tóm lại trước 1917, về mặt tổ chức, văn khố Việt Nam chưa được tập trung. Trung Kỳ đã có được kho trung ương từ 1897. Tại Nam Kỳ một kho duy nhất được thành lập trên nguyên tắc vào năm 1909, nhưng trên thực tế vì thiếu phương tiện và nhất là thiếu kỹ thuật nên việc tập trung vẫn không thực hiện được. Ở cả ba miền, văn khố các tỉnh đều hoàn toàn vô tổ chức” (Nguyễn Tư Lạc, Văn khố Việt Nam).  Sau các Nghị định ngày 29/11/1917 rồi 26/12/1918 của Toàn quyền Đông Dương, hệ thống lưu trữ của chính quyền thuộc địa mới chính thức được thành lập, đây là sự kiện mở đầu cho hoạt động lưu trữ hiện đại ở Việt Nam. Sự nỗ lực của Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương thời gian 1917 – 1945 đã đặt định nhiều tiền đề tài liệu và nghiệp vụ cho ngành lưu trữ Việt Nam sau đó. Tuy nhiên ngành hoạt động này vẫn mang tính chất thuộc địa, nên tình hình chính trị ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám đã tác động bất lợi tới hệ thống lưu trữ Việt Nam.    Từ lịch sử hình thành của hệ thống lưu trữ cấp trung ương ở Việt Nam nói trên dẫn tới các định hướng phát triển không nhất quán theo thời gian, không thống nhất trong không gian và không đồng bộ về nghiệp vụ lưu trữ ở tất cả các khâu từ phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, bổ sung tài liệu, thống kê và kiểm tra tình hình tài liệu, tổ chức sử dụng tài liệu, biên mục hồ sơ, tổ chức công cụ tra cứu tới bảo quản, giải mật và tiêu hủy tài liệu…    Ngày 8/9/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh thành lập và chỉ định Ngô Đình Nhu làm người đứng đầu Nha Lưu trữ Công văn và Thư viện toàn quốc thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục. Tiếp theo, ngày 3/1/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký Thông đạt số 1C-VP nhấn mạnh giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ đối với việc kiến thiết quốc gia và nghiêm cấm tiêu hủy hồ sơ, tài liệu nếu chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền. Nhưng cuộc kháng chiến chống Pháp sau đó đã làm gián đoạn công tác lưu trữ ở cấp trung ương của chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau Hiệp định Genève 1954, Việt Nam Dân chủ cộng hòa tiếp thu các tài liệu ở Kho Lưu trữ trung ương Hà Nội của Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương, số tài liệu này được giao cho Bộ Tuyên truyền (sau đổi tên là Bộ Văn hóa) quản lý. Ngày 4/9/1962 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Cục Lưu trữ trực thuộc Phủ Thủ tướng, sau đó Cục này đã tiếp nhận Kho Lưu trữ Trung ương do Bộ Văn hóa chuyển giao, ngoài ra còn quản lý những tài liệu thời gian 1945 – 1954 từ Việt Bắc được mang về và một số tài liệu của Ủy ban Hành chánh kháng chiến Nam Bộ thời gian 1945 – 1954 chuyển ra khi tập kết. Đến 1975, hệ thống này đã được gia tăng với những tài liệu sản sinh dưới thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa.  Từ 1950 đến 1954, theo thỏa thuận phân chia tài liệu lưu trữ giữa Cao ủy Pháp Pignon và Quốc trưởng của chính quyền Quốc gia Việt Nam Vĩnh Thụy, toàn bộ tài liệu trước khi có Liên bang Đông Dương (1887) trong đó có Fonds des Amiraux (Thống đốc Đô đốc Nam Kỳ) được đưa về Pháp, Fonds Nha Kinh lược Bắc Kỳ được đưa vào Sài Gòn (Xem Nguyễn Hùng Cường, Văn khố Việt Nam, in trong Tập san Sử Địa số 26, Sài Gòn, tháng 1 – 3/1974). Kế đó theo Hiệp định Genève, Việt Nam Cộng hòa tiếp thu tất cả các tài liệu văn khố phía Nam vĩ tuyến 17 gồm phần còn lại của Văn khố hoàng triều, Văn khố Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, Văn khố Thống đốc Nam Kỳ (chủ yếu từ thời Liên bang Đông Dương), Văn khố Chính phủ Lâm thời Nam Kỳ và chính phủ Quốc gia Việt Nam. Đến 1975, hệ thống này cũng được gia tăng với những tài liệu sản sinh dưới thời Việt Nam Cộng hòa.  Một văn bản song ngữ Hán Chăm đề ngày 17 tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743).  Ngày 13/4/1959 Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh thành lập và tổ chức Nha Giám đốc Văn khố và Thư viện Quốc gia trực thuộc Bộ Quốc gia giáo dục. Ngày 28/1/1973, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh đổi tên Nha Văn khố và Thư viện quốc gia thành Nha Văn khố Quốc gia. Ngày 26/12/1973 Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ký Luật Văn khố… Từ 1960, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã bắt đầu thực hiện việc khai thác Châu bản triều Nguyễn với sự giúp đỡ của học giả Trần Kinh Hòa, nhưng sự sụp đổ của Đệ nhất cộng hòa năm 1963 đã khiến công việc này không tiếp tục được nữa. Nói thêm thì khoảng cuối 1991 đầu 1992, hầu hết các tài liệu chữ Hán ở Trung tâm Lưu trữ Sài Gòn được đưa ra Hà Nội, trong đó có các Fonds Châu bản, Địa bạ Minh Mạng, Nha Kinh lược Bắc Kỳ, việc khai thác các tài liệu này của giới nghiên cứu trên địa bàn phía nam vì vậy cũng ít nhiều bị gián đoạn (Xem Cao Tự Thanh, Châu bản triều Nguyễn, một quốc bảo của Việt Nam, in trong Nghiên bút mười năm, Nxb, Văn học, 1999 và Cao Tự Thanh, Ba mươi năm Mạch đạo Dòng đời, in trong Ba mươi năm Mạch đạo Dòng đời, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 2002).  Sau tháng 4/1975, thi hành điều 14 của Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia ban hành ngày 30/11/1982 (trở xuống viết tắt là Pháp lệnh 1982), ngày 1/3/1984 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 34-HĐBT qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục Lưu trữ Nhà nước. Ngày 25/1/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 24-CT giao cho Cục này quản lý công tác văn thư. Từ 1984 đến 1991, Cục Lưu trữ Nhà nước trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Từ 1992, theo yêu cầu tinh giản bộ máy nhà nước và giảm đầu mối các cơ quan trực thuộc, Hội đồng Bộ trưởng đã giao Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cho Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) trực tiếp quản lý. Ngày 6/6/2019, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra Quyết định Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan này, với một trong những nhiệm vụ quan trọng là “Thống nhất quản lý về thống kê văn thư, lưu trữ trong phạm vi cả nước”.□  (Còn tiếp: Việc công bố tài liệu lưu trữ quốc gia trong hoàn cảnh hiện nay).     Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng?      Một chủ đề hay được nhắc đến khi luận b&#224;n về ch&#237;nh s&#225;ch ph&#225;t triển khoa học l&#224; sự ph&#226;n biệt giữa nghi&#234;n cứu cơ bản v&#224; nghi&#234;n cứu ứng dụng. B&#224;i viết n&#224;y nhằm g&#243;p phần nh&#236;n nhận sự ph&#226;n biệt đ&#243; trong ho&#224;n cảnh Việt Nam hiện nay.    Trước hết, tôi xin nêu lại những nhận định chung thường được đưa ra tranh luận và được sự tán đồng rộng rãi của phần đông các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách.  Điều đầu tiên được sự đồng tình là không nên đối lập nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản mà thậm chí phân biệt thứ bậc giữa chúng cũng là điều không nên. Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rằng khoa học được tạo nên bởi nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản; lý thuyết; quan sát và thí nghiệm; chúng có quan hệ tương hỗ và cần có nhau để phát triển. Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rằng sự đa dạng của khoa học là một trong những giá trị chính của nó. Phân biệt thứ bậc giữa các ngành khác nhau, như những nhà nhận thức luận đang làm, không những vô ích mà còn rất nguy hiểm. Phân biệt giữa khoa học tốt và tồi không phải ở chủ đề mà ở chất lượng nghiên cứu, năng lực, sự nghiêm túc, kỹ năng và sự sáng tạo của nhà khoa học hoặc một nhóm các nhà khoa học. Dĩ nhiên, một nhà khoa học giỏi sẽ chọn đề tài nghiên cứu dựa vào tầm quan trọng của đề tài và cơ hội thành công của mình. Điều này đúng cho một nhà lý thuyết giỏi cũng như một nhà thực nghiệm giỏi; đúng cho nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng. Khi Penzias và Wilson phát hiện bức xạ phông nền vũ trụ, họ đang chỉnh ăng-ten tại Bell Telephone để liên lạc với vệ tinh; khi Anderson phát hiện hạt positron, ông cũng đang điều chỉnh buồng hơi  cho Millikan. Có rất nhiều ví dụ như vậy trong tất cả các lĩnh vực khác nhau. Thực ra, sự khác biệt giữa ứng dụng và cơ bản, giữa lý thuyết và thực nghiệm chỉ mới xuất hiện gần đây và đó là hệ quả đáng tiếc khi một số ngành khoa học trở nên quá phức tạp; chúng ta không nên bị huyễn hoặc bởi sự khác biệt này.              Thực ra, sự khác biệt giữa ứng dụng và cơ bản, giữa lý thuyết và thực nghiệm chỉ mới xuất hiện gần đây và đó là hệ quả đáng tiếc khi một số ngành khoa học trở nên quá phức tạp; chúng ta không nên bị huyễn hoặc  bởi sự khác biệt này.          Ở đây, tôi không cần nhắc lại những luận điểm mà các nhà khoa học vẫn thường lặp đi lặp lại với một số nhà quản lý vốn chỉ ủng hộ nghiên cứu cơ bản một cách miễn cưỡng. Một trong những điển hình nhất trong số đó là câu trả lời của Faraday tới Bộ trưởng Tài chính khi ông này hỏi về giá trị thực tế của điện: “Thưa ngài, đến một lúc nào đó ngài sẽ có thể đánh thuế nó.” Hoặc câu chuyện vui rằng điện đã có thể không bao giờ được phát minh nếu người ta chỉ lo việc cải tiến những ngọn nến. Tuy nhiên, điều quan trọng là, những luận điểm này rất rõ ràng và có giá trị phổ quát, nhưng chúng lại có thể không áp dụng được vào một cộng đồng nhất định, chẳng hạn như các nước đang phát triển. Một Bộ, nhà quản lý khoa học Việt Nam nào đó có thể nói rằng: “Tôi hoàn toàn nhận thức được tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản nhưng nó đang được tiến hành ở các nước phát triển; Việt Nam đang phát triển rất nhanh nhưng nguồn nhân lực của đất nước thì có hạn; điều quan trọng đối với chúng ta bây giờ là phát triển nghiên cứu ứng dụng để có thể đào tạo được nhiều kỹ sư và thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp; ở bất kỳ khía cạnh nào, chúng ta đều không thể cạnh tranh được với các nước phát triển về nghiên cứu cơ bản; hãy tạm thời quên nó đi và tập trung vào ứng dụng”.              Hàng loạt các ứng dụng thực tế đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản và rất nhiều, có thể hầu hết, nghiên cứu ứng dụng đều xuất phát từ những phát minh mà mục đích ban đầu không phải là tìm các ứng dụng khả dĩ trước mắt.          Nếu thế, câu hỏi sẽ không còn là “Tại sao chúng ta phải làm nghiên cứu cơ bản?” mà sẽ là “Tại sao Việt Nam phải  làm nghiên cứu cơ bản và nếu phải làm thì tỉ lệ nguồn tài lực phải đổ vào đấy là bao nhiêu và phải chọn hướng nghiên cứu nào?”   Tôi không có câu trả lời hoàn hảo cho những câu hỏi này, nhưng chúng ta hãy thử góp nhặt một vài ý trả lời cho những câu hỏi đó.  Một luận cứ rõ ràng và có sức thuyết phục, có thể là duy nhất: Hai nhà khoa học Penzias và Wilson được đề cập ở trên, một người được đào tạo tại Đại học Columbia và người còn lại tại Caltech, hai trong số các trường đại học uy tín nhất trên thế giới. Ở đó họ được hưởng thụ môi trường khoa học chất lượng rất cao như là trường học của kỉ luật, cần cù và tôi dám nói là trường học của đạo đức. Ở đó, họ được làm việc với những nhà khoa học hàng đầu, những người truyền niềm đam mê khoa học cho họ. Ở đó, lần đầu tiên trong đời, họ bắt đầu hiểu khoa học thực sự là gì.  Các trường đại học và các phòng thí nghiệm Việt Nam vẫn còn đang phải hứng chịu những hậu quả sau nhiều năm chiến tranh. Chúng ta bị mất gần ba thế hệ giảng viên và các nhà khoa học. Chúng ta phải mất hàng thập kỷ để gây dựng lại những gì đã bị tàn phá bởi chiến tranh, đặc biệt trong trường hợp các trường đại học và phòng thí nghiệm nơi cần bắt đầu bằng việc đào tạo một thế hệ giảng viên mới trước khi đào tạo những thế hệ sinh viên mới. Tuy nhiên, các nước đang phát triển phải dành ưu tiên cao nhất để tạo dựng nên một môi trường tốt tại các trường đại học và các phòng thí nghiệm làm nền tảng cho các tài năng đua nở và lôi kéo họ ở lại làm việc trong nước.  Đó là một nhiệm vụ khó khăn và cấp thiết; để làm được điều đó đòi hỏi nhiều hơn điều đơn giản là ra nghị quyết. Không có chiếc đũa thần nào có thể biến các trường đại học Việt Nam sau một đêm thành các đại học đẳng cấp quốc tế như người ta biến những quả bí ngô thành những chiếc xe tuấn mã. Không có công thức thần kỳ nào cả. Tuy nhiên, có thể xác định một vài yếu tố cần thiết cho công thức đó ví dụ như bắt đầu bằng việc hình thành một vài trung tâm chất lượng cao, giao phó trọng trách cho những tiến sỹ trẻ xuất sắc, lôi kéo những nhà khoa học thành công, phù hợp với yêu cầu chuyên môn, ở nước ngoài về nước làm việc, thành lập những  hội đồng khoa học trong đó có các thành viên nước ngoài có uy tín quốc tế tư vấn, đảm bảo thực hiện chính sách tuyển dụng nghiêm ngặt, chặt chẽ, tăng lương đủ để đảm bảo cho đội ngũ công chức không bị phân tâm bởi công việc ngoài giờ, vân vân …. Trong danh sách này, tôi muốn thêm vào ngoài những điều trên: phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản.  Tại sao lại phải làm vậy?  Đầu tiên, hãy nghĩ về một sinh viên tài năng có quyết tâm cống hiến cuộc đời cho khoa học. Anh ta sẽ luôn bị hấp dẫn bởi những vấn đề lớn thuộc tuyến đầu của tri thức. Những vấn đề đó có thể gần với các ứng dụng có tiềm năng, như trong các lĩnh vực công nghệ nano, khoa học môi trường và hầu hết các ngành khoa học về sự sống, nhưng cũng có thể dường như khá xa với những ứng dụng trước mắt như trường hợp của vật lý thiên văn hoặc vật lý các hạt cơ bản . Đóng cửa đối với sự quan tâm tìm hiểu biết của anh ta với lý do rằng mối quan tâm đó thuộc lĩnh vực không có ứng dụng hiển nhiên chẳng khác nào buộc sinh viên đó phải rời bỏ đất nước, đấy là một tổn thất lớn cho Việt Nam. Đấy là chưa nói rằng hàng loạt các ứng dụng thực tế đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản và rất nhiều, có thể hầu hết, nghiên cứu ứng dụng đều xuất phát từ những phát minh mà mục đích ban đầu không phải là tìm các ứng dụng khả dĩ trước mắt.          Không có chiếc đũa thần nào có thể biến các trường đại học Việt Nam sau một đêm thành các đại học đẳng cấp quốc tế như người ta biến những quả bí ngô thành những chiếc xe tuấn mã. Không có công thức thần kỳ nào cả. Tuy nhiên, có thể xác định một vài yếu tố cần thiết cho công thức đó ví dụ như bắt đầu bằng việc hình thành một vài trung tâm chất lượng cao, giao phó trọng trách cho những tiến sỹ trẻ xuất sắc, lôi kéo những nhà khoa học thành công, phù hợp với yêu cầu chuyên môn, ở nước ngoài về nước làm việc, thành lập những  hội đồng khoa học trong đó có các thành viên nước ngoài có uy tín quốc tế tư vấn, đảm bảo thực hiện chính sách tuyển dụng nghiêm ngặt, chặt chẽ, tăng lương đủ để đảm bảo cho đội ngũ công chức không bị phân tâm bởi công việc ngoài giờ, vân vân…. Trong danh sách này, tôi muốn thêm vào ngoài những điều trên: phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản.          Thứ hai, một trường đại học tốt nên có một vài nhà khoa học trình độ quốc tế – ít nhất một người trong một khoa – có khả năng dạy sinh viên những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực của họ cũng như đào tạo những sinh viên này lên trình độ cao hơn. Hầu hết các ngành liên quan đến nền tảng của khoa học hiện đại như vật lý lượng tử, thuyết tương đối, sinh học phân tử, vân vân… không được giảng dạy vì các ứng dụng của nó mà vì những giá trị tự thân của chúng. Các kỹ thuật viên có thể bỏ qua những môn này. Nhưng các nhà khoa học và kỹ sư, bất kể làm gì trong một lĩnh vực có hoặc không có ứng dụng hiển nhiên, phải làm chủ được chúng nếu muốn thành công. Một lần nữa, chúng ta không nên nghĩ đến khía cạnh cơ bản hay ứng dụng mà đơn giản là phải nghĩ đến chất lượng. Đóng cửa với nghiên cứu cơ bản sẽ làm các trường đại học Việt Nam mất nhiều giáo sư và nhà khoa học xuất sắc.  Cách tiếp cận này nghe có vẻ như chỉ dành riêng cho một nhóm người. Tuy nhiên không phải thế. Đây là một tiếp cận thực tế: trong khi  chúng ta có khả năng thành lập một vài trung tâm chất lượng cao, thì chúng ta không thể nào nâng toàn bộ hệ thống đại học của Việt Nam lên tầm cỡ quốc tế trong một lúc. Tuy nhiên các Đại học của Việt Nam có thể hưởng lợi từ sự tồn tại của những trung tâm chất lượng cao này, thành công của  những trung tâm này sẽ lan tỏa đến các trường và đóng vai trò như những hạt nhân cho những bước phát triển sâu rộng hơn.                Dự án quốc tế Pierre Auger nghiên cứu về tia vũ trụ hiện có hơn 370 nhà khoa học và kỹ sư tham gia. Việt Nam là nước thành viên châu Á duy nhất của Dự án này (với Nhóm Vật lý tia vũ trụ thuộc Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân – Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ). Cách đây gần một năm, Dự án này đã thông báo một phát hiện mới về các tia năng lượng cao trong vũ trụ. Mới đây, các nhà khoa học của Dự án lại lý giải được “câu đố về hiệu ứng GZK”. Đó là những thành tích đáng nể của các nhà khoa học tham gia Dự án, và họ có quyền nghĩ về một phần thưởng xứng đáng cho công sức đã bỏ ra.          Tất cả những điều tôi đang nói là một chính sách khoa học hợp lý phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản hoặc, có thể nói là, cho nghiên cứu không có ứng dụng hiển nhiên trước mắt… Chính sách đó phải lựa chọn được các đề tài và các nhà khoa học dựa trên nền tảng chất lượng. Chính sách đó cũng phải cung cấp cho họ đủ nguồn tài chính, nhớ rằng một nhà khoa học làm việc trong một lĩnh vực không có ứng dụng rõ ràng gần như không thể kiếm được nguồn kinh phí hỗ trợ từ công nghiệp (ngược lại với các nhà khoa học làm việc trong các lĩnh vực có ứng dụng rõ ràng). Phải dành chỗ cho những nghiên cứu không có ứng dụng rõ ràng, bởi vì đó là điều kiện không thể thiếu để nâng cao đẳng cấp các đại học lên tầm quốc tế, để đào tạo các nhà khoa học và các kỹ sư hơn là các kỹ thuật viên. Để thành công, nghiên cứu ứng dụng cần phải đồng hành với nghiên cứu cơ bản.  Trong một đất nước việc dành tỉ lệ nào đó cho khoa học mà không quan tâm đến những ứng dụng khả dĩ là một quyết định quan trọng của các nhà lãnh đạo. Mỗi quốc gia đều có một số lĩnh vực cần ưu tiên phát triển và trong các lĩnh vực đó tuyển chọn những đề tài nhất định. Trong hoàn cảnh Việt Nam, những ngành khoa học có những ứng dụng trong nông nghiệp, môi trường, y tế là những trường hợp hiển nhiên. Song đó cũng là  trường hợp của vật lý hạt nhân để chuẩn bị vận hành, bảo trì và phát triển khoảng năm lò phản ứng hạt nhân mà Việt Nam dự định xây dựng đến trước năm 2025. Những ngành này cần có chính sách ưu tiên, cũng như phải được đầu tư nguồn nhân lực và vật lực, đó là những yếu tố quan trọng trong chính sách khoa học của đất nước. Những yếu tố này xác định mức độ nỗ lực của Nhà nước trong đầu tư nghiên cứu khoa học. Sự đầu tư cho nghiên cứu không để ý đến ứng dụng, lấy chất lượng làm tiêu chuẩn lựa chọn duy nhất, được đánh giá theo mức độ đó, điều này dẫn đến một quyết định về tỉ lệ đầu tư nghiên cứu của đất nước. Dĩ nhiên, đầu tư cho khoa học càng nhiều càng tốt, nhưng để xác định đúng mức độ đầu tư đòi hỏi một sự phân tích chi tiết trước về tình hình, hiện trạng và một sự đánh giá khách quan những người có kĩ năng và tài năng với mục đích tìm ra được những người mà trình độ có thể nâng lên tầm quốc tế khi họ được cung cấp đủ các điều kiện cần thiết..   Việt Nam hiện nay đang tiến hành từng bước quá trình hướng tới việc nâng cấp các trường đại học và các phòng thí nghiệm. Đây là một cơ hội tốt không thể bỏ qua để làm rõ chính sách  khoa học liên quan đến những vấn đề nêu ra.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu khoa học và tu hành có nhiều điểm chung      Trong cuộc trò chuyện với thầy Thích Nhật Từ mới đây, GS Ngô Bảo Châu cho rằng công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành vì nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục.Dưới đây là nội dung cuộc trò chuyện.    * Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có?  – Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam.  * GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào?  – Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác.  * Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS?  * Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình.  Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước.  Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa.  * Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào?  – Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo.  Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt.  * Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ?  – Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học.  Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng.  * Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì?  – Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết.  * Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này?  – Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn.  * Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa?  – Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghiên cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường.  * Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào?  – Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học.  * Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống?  – Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái.  * Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, GS có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho GS thời trẻ?  – Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà.  Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế.  * Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình?  – Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”.  * Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được?  – Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở.  Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh.  * Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì?    – Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ.  Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu, tuyên truyền về biển đảo: Sự bài bản của Trung Quốc      Vào những ngày cuối năm âm lịch vừa qua (26-27/1/2011), các nhà hải dương học Trung Quốc đã nhóm họp tại một hội nghị ở Thượng Hải để thảo luận về một dự án có tên là “Biển Đông sâu thẳm” (South China Sea-Deep). Mục đích của dự án là thăm dò, khám phá Biển Đông, nơi mà Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa.      Theo một bài viết trên tờ The Economist ngày 10/2, tổng kinh phí cho “Biển Đông sâu thẳm” là 150 triệu Nhân dân tệ (tương đương 22 triệu USD), được chi trả trong vòng 8 năm tới. Dự án do Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia– một cơ quan Nhà nước có trụ sở tại Bắc Kinh – thực hiện. Quỹ này không phải đơn vị duy nhất của Trung Quốc nghiên cứu về hải dương học: The Economist cho biết Trung Quốc cũng sẽ chi 400 triệu Nhân dân tệ (khoảng 58 triệu USD) để mở một trung tâm công nghệ hàng hải ở Thanh Đảo, và đầu tư tới 1,4 tỷ Nhân dân tệ (hơn 200 triệu USD) xây dựng một mạng lưới đài quan sát đáy đại dương tương tự như chương trình Neptune của Canada và Sáng kiến Đài Quan sát Hải dương của Mỹ.  Điều đáng chú ý là, cả ba dự án trên cũng không phải là một vài dự án nghiên cứu Biển Đông lẻ tẻ của Trung Quốc, mà chỉ là một phần trong công cuộc nghiên cứu và tuyên truyền về biển đảo, chủ quyền lãnh thổ, v.v. từ những năm 50 của thế kỷ trước và ngày càng tiến hành một cách bài bản, đồng bộ hơn.   Đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới   Đặc điểm nổi bật trong hoạt động nghiên cứu và tuyên truyền của Trung Quốc là sự đồng bộ và toàn diện từ Trung ương xuống địa phương. Ông Phạm Hoàng Quân – một trong số rất ít người ở Việt Nam hiện nay (có thể đếm trên đầu ngón tay) nghiên cứu về cổ sử Trung Quốc – cho biết, Trung Quốc thực hiện nghiên cứu và phổ biến kết quả nghiên cứu về chủ quyền biển đảo trên ba cấp: Trung ương, địa phương (tỉnh thành), và hệ thống trường đại học.  Ở cấp Trung ương, Trung Quốc có hẳn một viện nghiên cứu rất lớn về Biển Đông là “Trung Quốc Nam Hải Nghiên cứu Viện”, và nhiều cơ quan trực thuộc Trung ương khác như: Sở Nghiên cứu Nam Hải (Viện Khoa học Trung Quốc), Bộ Tư lệnh Hải quân, Sở Nghiên cứu Tình báo Khoa học Kỹ thuật Hải dương… Hoạt động thường xuyên của các cơ quan này là tiến hành nghiên cứu, biên soạn tài liệu, tổ chức hội thảo v.v. về chủ quyền biển đảo. Ngay từ năm 1975, Viện Nghiên cứu Biển Đông đã xuất bản “Báo cáo sơ bộ về việc điều tra tổng hợp khu vực quần đảo Tây Sa” (tức Hoàng Sa, theo cách gọi của Trung Quốc).   Ở cấp tỉnh, mỗi tỉnh ven biển Trung Quốc đều có nhiều cơ quan nghiên cứu về biển đảo. Hoạt động mạnh nhất có lẽ là các cơ quan thuộc Quảng Đông, Phúc Kiến. Tháng 9 năm 1974, Bảo tàng Lịch sử Quảng Đông đã in “Hiện vật khảo cổ Tây Sa”. Năm 1976, Sở Ngoại vụ Quảng Đông tung ra một loạt tài liệu: “Địa lý các đảo Nam Hải”, “Vấn đề đối ngoại của nước ta về các đảo Nam Hải”, “Khái luận về chủ quyền của nước ta đối với các đảo Nam Hải”, v.v.  Ở các trường đại học, chẳng hạn Đại học Hạ Môn trong hai năm 1975-1976 đã xuất bản trọn bộ sáu cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta”. Khoa Địa lý Đại học Sư phạm Hoa Nam xuất bản cuốn “Nghiên cứu địa danh các đảo Nam Hải” (1983). Đại học Trung Sơn xuất bản nghiên cứu chuyên đề về “Lịch sử địa lý quần đảo Nam Sa” (1991). Các tác phẩm đều được dịch sang tiếng Anh để đưa ra thế giới.  Bên cạnh đó, các cơ quan Trung Quốc cũng tiến hành dịch công trình nghiên cứu của nước ngoài sang tiếng Trung để giới khoa học tham khảo. Chẳng hạn, Tập san Sử Địa, chuyên đề về Hoàng Sa – Trường Sa, của Việt Nam ra đời năm 1974 thì năm 1978 có bản tiếng Trung. Cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” của học giả Đào Duy Anh (không nhắc tới Biển Đông) cũng được Trung Quốc dịch sang Trung văn với tựa đề “Việt Nam cương vực sử”.   Kiến thức là sức mạnh  Trở lại với dự án “Biển Đông sâu thẳm” nói trên, theo The Economist, các nhà khoa học Trung Quốc khẳng định dự án không có mục đích nào khác ngoài nâng cao hiểu biết của con người. Họ cũng nói rằng dự án tập trung vào các vấn đề khoa học cơ bản chứ không nhằm tìm kiếm những thứ như dầu mỏ hay các tài nguyên khoáng sản. Tuy thế, đối tượng nghiên cứu của nó lại là Biển Đông – vùng biển với diện tích 3,5 triệu km2 và độ sâu xấp xỉ 5,5km, và được tiến hành bất chấp cuộc cạnh tranh tuyên bố chủ quyền từ mọi nước khác. Ta có thể thấy dường như Trung Quốc đã và đang tìm một cách tiếp cận khôn khéo hơn đối với vấn đề Biển Đông.   Bài viết trên tờ The Economist nhận định: “Kiến thức là sức mạnh, và nếu các nhà khoa học Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá vùng biển sâu của Biển Đông, thì sau đó các doanh nhân Trung Quốc sẽ có vị trí tốt hơn với những người khác trong việc khai thác bất cứ giá trị thương mại nào và hải quân Trung Quốc cũng sẽ có vị thế vượt trội hơn để bảo vệ họ”.   Còn nếu chúng ta nói một cách khái quát, thì theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều, khả năng có những công trình chất lượng càng cao.  Số lượng áp đảo  Trong số các quốc gia liên quan đến tranh chấp chủ quyền đối với Trường Sa, Malaysia, Philippines và Brunei không có nhiều cơ sở về mặt lịch sử; chỉ hai nước có sử liệu liên quan tới Trường Sa (và Hoàng Sa) là Việt Nam và Trung Quốc. Vì thế, trong việc xác lập chủ quyền đối với Trường Sa – Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc là hai bên tham gia chính với nhiều luận cứ hơn cả, và cả hai đều dựa vào tư liệu lịch sử. Do sử liệu có giá trị quan trọng như thế, nên một phần lớn “nhân tài, vật lực” nghiên cứu của Trung Quốc được dồn vào lĩnh vực này. Tuy thế, công việc nghiên cứu cũng được bài bản trong các ngành khác, và có tính liên ngành cao. Các dự án nghiên cứu đáy biển mà Trung Quốc sắp thực hiện tới đây là một ví dụ.   Chưa nói đến chất lượng của các công trình nghiên cứu về biển đảo của Trung Quốc, nhưng với số lượng cực lớn như vậy, theo nhà khoa học trẻ Việt Nam, TS Vũ Hoàng Linh: “Giả sử 10-20 năm nữa, có nhà nghiên cứu phương Tây muốn tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với Hoàng Sa – Trường Sa: Cái mà ông ta tìm thấy sẽ là hàng chục bài viết của học giả Trung Quốc trên các tạp chí quốc tế nhằm chứng minh Hoàng Sa – Trường Sa là của họ. Lúc đó, ông ta có muốn khách quan khoa học cũng khó. Tích tiểu thành đại, hàng loạt bài viết như vậy sẽ làm cán cân sức mạnh nghiêng thêm về phía Trung Quốc, gây ảnh hưởng rất bất lợi cho Việt Nam”.  ***  Những điều kể trên cho thấy rằng đã đến lúc Việt Nam cần tiến hành một cách bài bản hơn chương trình mục tiêu Quốc gia nghiên cứu về biển đảo nhằm đưa tiếng nói khách quan và khoa học của các nhà nghiên cứu Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế; đồng thời nâng cao ý thức và hiểu biết của chúng ta về giá trị lãnh thổ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu ứng dụng và một số nghiên cứu cơ bản có nhất thiết phải công bố quốc tế?      Giáo sư Hồ Tú Bảo nêu ý kiến của việc công bố quốc tế trong nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng, một vấn đề còn đem lại nhiều ý kiến khác nhau trong cộng đồng khoa học Việt Nam.      Công bố quốc tế cũng là đỉnh cao mà nghiên cứu ứng dụng cần hướng tới   Mục đích của nghiên cứu (research) là việc tìm ra các tri thức mới và có giá trị. Giá trị của nghiên cứu hoặc ở việc góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết của con người, hoặc ở việc góp phần vào việc làm ra của cải vật chất cho xã hội. Các tri thức tìm được do nghiên cứu vì vậy, trừ những nghiên cứu có mục tiêu hoặc ràng buộc đặc biệt, đều cần được công bố, thường dưới dạng hoặc các ấn phẩm hoặc các bằng phát chế phát minh. Công bố là cách phổ biến nhất để đánh giá tính mới mẻ và giá trị của kết quả nghiên cứu.  Các nghiên cứu thường được phân loại theo nghiên cứu cơ bản (basic research, pure research, fundamental research) hoặc nghiên cứu ứng dụng (applied research), mặc dù một số nghiên cứu có thể  mang cả tính chất của nghiên cứu cơ bản và ứng dụng.     Nghiên cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm nền tảng cho các nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng khác, như việc chứng minh ức đoán Poincaré trong toán học, việc tìm các genes gây ra bệnh tật, hay việc xác định mô hình thống kê của tiếng Việt. Nghiên cứu cơ bản thường được bắt nguồn bởi tính tò mò và ham thích khám phá khoa học, và thường không cần phải ràng buộc bởi bất kỳ ứng dụng cụ thể nào. Phần lớn những vấn đề của nghiên cứu cơ bản là những chuyện của chung thiên hạ, không của riêng một xứ sở quốc gia nào, và do vậy giá trị của nghiên cứu cơ bản thường là giá trị toàn cầu. Giá trị của các nghiên cứu cơ bản trước hết và chủ yếu được đánh giá bởi việc công bố trên các tạp chí quốc tế (đối với một số ngành khoa học, việc công bố kết quả tại các hội nghị quốc tế hàng đầu cũng có giá trị rất cao 1). Giá trị của các nghiên cứu cơ bản sẽ được khẳng định thêm nếu sau khi công bố, kết quả nghiên cứu này được nhiều nghiên cứu khác hoặc việc sản xuất dùng đến, thể hiện qua chỉ số trích dẫn (citation) hoặc giá trị của hàng hóa được tạo ra. Ai làm khoa học cũng đều biết, hoặc cần phải biết, các nơi để công bố kết quả có “trọng lượng” rất khác nhau, từ “thượng vàng” đến “hạ cám”. Các tạp chí hoặc hội nghị quốc tế nói chung có giá trị hơn các tạp chí và hội nghị quốc gia. Thứ hạng của các tạp chí hoặc hội nghị quốc tế trong mỗi ngành cũng đều được xác định, thể hiện qua hệ số ảnh hưởng (impact factor) hoặc thứ hạng được xác định bởi nhiều tổ chức khác nhau 2. Một bài đăng trên Nature hoặc Science, như bài ngày 9 tháng 11 trên Science về tính phân bố không đồng đều của các tia vũ trụ trong dự án quốc tế Pierre Auger, trong đó có đóng góp của nhóm tác giả Việt Nam, có giá trị cao hơn rất nhiều lần, thậm chí hàng chục lần, so với một bài ở một tạp chí vật lý thông thường khác.  Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra các tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra từ nhu cầu thực tế, như việc tìm cách làm các tấm vật liệu lợp nhà chống nóng với giá rẻ, việc tìm cách tạo ra nước ngọt ở những vùng nước mặn, hay việc tìm cách làm ra các chương trình máy tính dịch tự động tiếng Anh sang tiếng Việt. Rất nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng ra đời từ nhu cầu thực tế của các ngành nghề, các vùng miền, và liên quan đến đặc tính tự nhiên, địa lý, xã hội của những xứ sở khác nhau (như việc xử lý tiếng Việt trên máy tính trước hết là nhu cầu của người Việt). Cũng cần nói thêm về tính mới mẻ của nghiên cứu ứng dụng. Đã nghiên cứu thì phải nhằm đến việc tìm ra tri thức mới, nhưng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tế, nhất là các tri thức liên quan đến sản xuất, không luôn được công bố như các tri thức khoa học cơ bản, do vậy tính mới mẻ của nghiên cứu ứng dụng nhiều khi có thể là tương đối, tức chừng mực nào đó có thể không hoàn toàn mới trong kho tàng tri thức của nhân loại nhưng là mới với một cộng đồng, một đất nước. Thí dụ như nếu ta nghiên cứu tìm ra được cách chế tạo một sản phẩm quan trọng nào đó đã có trên thế giới để dùng trong nước với giá rẻ, thì tri thức này là mới và rất có giá trị với ta, nhưng không hẳn là mới với thiên hạ. Do vậy, tính cần thiết hay cấp thiết của các nghiên cứu ứng dụng có thể được nhấn mạnh hơn cả tính mới mẻ của chúng [3]. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ những tri thức tìm ra có thể dùng để giải quyết vấn đề thực tế đến đâu. Giá trị khoa học của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ nghiên cứu đó có thể viết ra thành những phương pháp chung hoặc bài học cho mọi người cùng dùng, công bố dưới dạng các ấn phẩm.      Từ những phân tích trên, tôi cho là: Khi bàn về chuyện công bố các kết quả khoa học do được hỏi, tôi vẫn cho đây là một việc phụ trong câu chuyện khoa học Việt Nam. Vấn đề đáng quan tâm hơn rất nhiều theo tôi là chúng ta cần xác định làm nghiên cứu cơ bản nào, nghiên cứu ứng dụng nào, tỷ lệ của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là bao nhiêu, làm sao có các chính sách tốt để đạt được mục tiêu, làm sao nuôi dưỡng đội ngũ khoa học để họ làm được việc khi đã bỏ rất nhiều tiền để đào tạo họ, v.v.? Khi lo những điều này, chuyện “công bố quốc tế” chắc không phải là câu hỏi rất “nóng” nữa. Xin nêu lại một ý trong một tài liệu của World Bank và UNESCO để chúng ta suy nghĩ 4      Ngoài ra, rất cần phân biệt sự khác nhau giữa nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng (application). Ứng dụng không nhằm vào việc tìm ra tri thức mới, mà vào việc dùng các tri thức đã biết để làm những việc cụ thể. Do ranh giới không luôn rõ ràng, nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng rất hay bị lẫn lộn trong thực tế. Rất nhiều đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở ta, thay vì phải làm một nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng để tìm ra tri thức mới, lại chủ yếu thực hiện một ứng dụng. Ở nhiều cơ quan nghiên cứu của ta, thay vì được giao nhiệm vụ và cấp kinh phí để làm nghiên cứu nhằm tìm ra cách thực hiện các việc quan trọng (của Bộ, của ngành hay đất nước), thì việc làm nghiên cứu gì lại thường bị thả nổi, và rất nhiều nhóm nghiên cứu chủ yếu đi làm các ứng dụng, vốn là việc của các doanh nghiệp.  1. Đã làm nghiên cứu cơ bản thì phải công bố. Giá trị của một nghiên cứu cơ bản trước hết được nhìn nhận bằng nơi nghiên cứu này công bố được kết quả. Các công bố quốc tế nói chung có giá trị cao hơn các công bố trong nước. Ai làm khoa học khi có kết quả vốn cũng đều phải tự đánh giá xem có thể gửi đăng ở đâu. Nói chung ta ít công bố quốc tế vì kết quả nghiên cứu của ta còn chưa đủ hay, chưa vào được những nơi “danh giá”, chứ không phải không cần và “không nhất thiết” cần. Ở đây phải chăng cần lòng trung thực và tính không ngụy biện. Lĩnh vực nghiên cứu cơ bản nào không được đem công bố quốc tế thì người chịu trách nhiệm cần có lý giải thỏa đáng, sòng phẳng. Rạch ròi vậy để tránh chuyện do không làm được nghiên cứu có chất lượng sánh với thiên hạ thì đặt ra việc không cần công bố với thiên hạ. Phải nói thêm là hầu hết những người đứng đầu các cơ quan khoa học của ta đều đã có thời làm các luận án, tức làm nghiên cứu, và đều đã phải “sống chết” với chuyện công bố, nhất là công bố quốc tế.  2. Với hầu hết các nghiên cứu ứng dụng, công bố cũng là một thước đo chính để khẳng định giá trị khoa học. Trừ ra những đề tài không được phép công bố hoặc có giá trị thực tiễn nhưng còn ít giá trị khoa học, nghiên cứu ứng dụng cũng rất cần công bố. Và khi đã công bố thì theo tôi không có hoặc rất ít lĩnh vực chỉ có thể công bố trong nước mà không thể công bố quốc tế, kể cả những việc làm ở Việt Nam cho những nhu cầu của Việt Nam. Có chăng chỉ là nghiên cứu của ta chưa đủ tầm và chất lượng để công bố được với thiên hạ. Việc nêu vấn đề rằng nghiên cứu ứng dụng “có nhất thiết phải công bố quốc tế” không, theo tôi chưa hợp lý. Hợp lý hơn phải chăng là câu hỏi: đối với mỗi đề tài nghiên cứu ứng dụng cụ thể, có cần phải công bố kết quả không? Nếu đã thấy là cần công bố, thì công bố quốc tế vẫn là đỉnh cao mà nghiên cứu này cần hướng đến hoặc mong ước đến được. Ngành khoa học nào cũng có rất nhiều tạp chí và hội nghị quốc tế tốt để công bố các kết quả nghiên cứu ứng dụng.  3. Cần chú ý là các tạp chí và hội nghị quốc tế cũng rất thượng vàng hạ cám. Chỉ các chuyên gia của mỗi chuyên ngành mới biết chất lượng của các nơi công bố quốc tế trong ngành mình hay dở thế nào. Rất tiếc là theo quan sát của tôi, nhiều vị đứng đầu các ngành khoa học, các cơ quan khoa học, cũng khá lơ mơ với những thứ này (có thể vì đã lâu không làm khoa học và không theo dõi tiến bộ trong ngành mình).  4. Việc không phân biệt giá trị khác nhau của các loại công bố khoa học sẽ góp phần làm hủy diệt những nghiên cứu khoa học chất lượng cao, nuôi dưỡng những nghiên cứu “hàng chợ”.  5. Mặc dù mong muốn của ta là có các công bố quốc tế, nhưng việc này không dễ trong khi nền khoa học của ta còn yếu và dường như đang ngày càng yếu hơn. Các nhà quản lý khoa học và người làm khoa học nên đặt ra các mục tiêu công bố quốc tế hợp sức cho từng giai đoạn, như trước hết hướng đến các tạp chí/hội nghị hạng hai, hạng ba, trước khi hướng đến các tạp chí/hội nghị hàng đầu, trừ những ngành ta có lực lượng và truyền thống như toán học và vật lý lý thuyết. Làm nghiên cứu ra kết quả rồi, biết cách viết để các kết quả công bố được cũng là một việc không đơn giản, cần phải học, cần phải có cách huấn luyện cho cán bộ khoa học. Trước hết là các lãnh đạo các cơ quan khoa học cần tổ chức huấn luyện cho nhân viên của mình.  “Khả năng thực hiện nghiên cứu khoa học là hết sức hạn chế ở nhiều nước đang phát triển. Trong khi không phải mọi đất nước đều cần tiến hành nghiên cứu cơ bản ở nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi đất nước cần phải xem xét các loại nghiên cứu khoa học và công nghệ có thể trực tiếp đóng góp vào sự phát triển của mình. Khi nhìn vào đòi hỏi chi phí lớn và những khó khăn của nghiên cứu khoa học, có lẽ câu hỏi cần hỏi nhất là: đâu là mức tối thiểu các hoạt động khoa học và công nghệ cần phải có để đạt được các mục tiêu của quốc gia?”.  (“The capacity to carry out scientific research is extremely limited in many developing countries. While not every country needs to conduct basic research in a variety of fields, each country must consider the types of scientific and technological research that can directly contribute to its development. In view of the costs and other difficulties, per-haps the right question to ask is: what is the minimum level of scientific and technologi-cal capacity necessary to achieve national goals?”).  Chú thích  1. “‘Văn hóa ngành’ trong tiêu chí đánh giá”, http://www.tiasang.com.vn/news?id=1771.  2. Chẳng hạn chỉ cần tìm với cụm từ “computer science journal ranking” hoặc “computer science conference ranking” trên Google là có thể thấy các thứ hạng này trong ngành khoa học máy tính.  3 Chú ý rằng đề tài nào cũng phải thuyết minh về “tính cần thiết” của mình và cụm từ này thường được nêu một cách khá định tính.  4 Peril and Promise: Higher Education in Developing Countries, World Bank and UNESCO http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/TOPICS/EXTEDUCATION/0,,contentMDK:  20298183~menuPK:617592~pagePK:148956~piPK:216618~theSitePK:282386,00.html    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Nghiên cứu về tuổi thọ: Không có sự khác biệt giữa người ăn chay và ăn mặn      Tuổi thọ của những người ăn chay và ăn thịt nói chung như nhau.         Đây là kết quả một công trình nghiên cứu dài hơi do các nhà khoa học đại học  Oxford tiến hành và có sự tham gia của khoảng 60.000 người Anh. Trong đó 20.000 người Anh ăn thịt thường xuyên, số người ăn chay cũng tương tự, 13.000 người tuy có ăn thịt nhưng ít hơn so với thông thường, và 8.000 người ăn cá là chủ yếu. Trong khoảng thời gian tiến hành điều tra đã có  5.000 người tham gia bị chết.   Không lệ thuộc vào nguyên nhân gây tử vong  công trình nghiên cứu này cho thấy ở tất cả các nhóm số lượng người bị chết tương đối như nhau. Tuy nhiên nguyên nhân dẫn đến cái chết trong từng nhóm thường có sự khác nhau: người ăn  cá thường xuyên thường chết vì bệnh tim mạch nhiều hơn so với người ăn thịt hoặc ăn chay. Ngược lại những người thường ăn cá lại ít bị chết do bị ung thư so với các nhóm khác. Nhiều người ăn chay hy vọng, bằng việc kiêng ăn chất béo động vật thì tim, mạch sẽ được bảo vệ tốt hơn, tuy nhiên nghiên cứu của các nhà khoa học Anh không chứng minh được điều này.   Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế” 19. Januar 2016      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngô Đức Hùng: Một hiện tượng truyền thông khoa học      Là những người làm truyền thông khoa học toàn thời gian ở Việt Nam, càng ngày chúng tôi càng thấy công việc của mình khó khăn. Trong thời kì mạng xã hội lên ngôi, ai cũng có thể trở thành chuyên gia, kể cả trong lĩnh vực họ không được đào tạo. Một cá nhân cũng có thể khởi đầu một trào lưu phản khoa học, gieo rắc những thông tin bịa đặt, sai sự thật, lôi kéo hàng vạn người tin và tiếp tục truyền bá những điều đó một cách cực đoan và mù quáng. Và nếu bạn muốn chống lại đám đông này? So với những phương thuốc đơn giản nhưng được hứa hẹn là cực kì hiệu nghiệm của họ, bạn có gì? Khoa học – thứ không đem đến một sự thật tuyệt đối và chứa rất nhiều điều chưa chắc chắn, bỗng nhiên trở thành một vũ khí yếu đuối. Bạn kì vọng sẽ có các chuyên gia cùng hợp sức với bạn? Không dễ thế, phần lớn các nhà khoa học ở Việt Nam khó có thể diễn đạt cho đại chúng hiểu, và thậm chí còn không muốn lên tiếng. Hơn nữa, bạn muốn dùng lí lẽ để thuyết phục đám đông này? Không chỉ thất bại đợi bạn phía trước mà còn cả những lời mạt sát khiến bạn “xây xẩm” mặt mày.  Chính vì vậy, nhiều khi chúng tôi cảm thấy cô độc trong việc truyền thông tri thức khoa học. Và có lúc chúng tôi cảm thấy bất lực khi nhìn thấy quá nhiều người, trong đó có cả bạn bè, người thân trong gia đình mình vẫn chạy theo những tin tức phi lí, dù chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian, công sức và chuyên môn để ngăn cản.  Thế mà trước những khó khăn như núi đó, có một người dám tay ngang bước vào công việc này và lại rất thành công: Ngô Đức Hùng.      Anh Ngô Đức Hùng (trái) trong buổi giới thiệu ra mắt sách 3 phút sơ cứu của anh.   Vác tù và hàng tổng đi ngàn dặm  Nếu điều đó chưa đủ ngạc nhiên thì xin nói thêm là đây chỉ là việc tay trái của anh bên cạnh việc tay phải đầy căng thẳng và áp lực là bác sĩ khoa cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai vốn một ngày tiếp hơn 200 bệnh nhân (và khung cảnh nhiều xe cấp cứu chở bệnh nhân đến mức tắc cả đường Giải Phóng là chuyện như cơm bữa). Và nếu vẫn chưa đủ ấn tượng thì, việc bị kéo vào cuộc tranh luận với các tín đồ của những trào lưu phản khoa học, với anh, không phải là một điều phiền toái mà anh nói: “là niềm vui, giúp tôi xả stress”. Thật. Anh đặt tên Fanpage của mình là Đốc tờ Húng Ngò, dựa biệt danh mà một nhóm người theo phái thực dưỡng chữa bệnh ung thư gọi chệch tên anh (để tránh bị anh “chọc phá” mỗi khi họ tung tin mới, nhưng họ đâu ngờ được anh có đầy tài khoản ảo để theo dõi và kết bạn với họ!).       Ngô Đức Hùng là người đầu tiên lên tiếng về hiện tượng antivax ở Việt Nam từ năm 2017. Các nhóm antivax, thổi phồng các biến chứng sau tiêm, rỉ tai nhau các thuyết âm mưu liên quan đến các hãng dược phẩm, thậm chí là bịa ra khả năng “tự chữa lành” của cơ thể đã khiến nhiều người, đặc biệt là “dân văn phòng” ở các thành phố lớn từ chối đưa con đi tiêm, khiến các dịch bệnh nguy hiểm tưởng như đã kiểm soát được như sởi, viêm não Nhật Bản, bạch hầu… bỗng nhiên bùng phát ở các thành phố lớn những năm gần đây. Sau đó, anh nổi tiếng với việc kiên trì chiến đấu với các nhóm theo trường phái thực dưỡng – những người tuyên truyền nhiệt thành về một chế độ dinh dưỡng chỉ với một số rất ít loại thực phẩm (thường là ăn chay chỉ với gạo lứt muối mè) cũng có thể chữa được bách bệnh, đặc biệt là các bệnh nan y.  Gần đây nhất là anh lên tiếng với những tin sai lệch, tin bịa đặt và các thuyết âm mưu xung quanh đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.        Có thể nói, Ngô Đức Hùng làm mọi cách “lu loa” lên để mọi người tự thấy rằng, các nhóm truyền bá thông tin ngụy khoa học và mê tín kệch cỡm và vô minh như thế nào.      Không chỉ dẫn ra các bằng chứng khoa học và những ví dụ từ bệnh viện (chẳng hạn như do antivax mà dịch viêm não Nhật Bản bùng phát ở trẻ nhỏ, thậm chí hai trẻ phải nằm chung một giường bệnh), Ngô Đức Hùng còn bẻ từng quan điểm, “cãi nhau tay đôi” với các phát ngôn ngụy khoa học (các hội thực dưỡng “lí luận” con bò chỉ ăn cỏ mà khỏe như vậy thì anh “vặn” lại rằng, vậy con bọ hung chỉ ăn phân bò mà khỏe gấp 1000 lần con bò thì sao?). Chưa hết, anh còn như một phóng viên điều tra thực thụ, “nằm vùng” trong các hội, nhóm, diễn đàn để theo dõi họ và chỉ ra rằng đằng sau những lời tuyên truyền về các tác dụng kì diệu đến khó tin của những phương pháp chữa bệnh chưa được khoa học kiểm chứng là lợi nhuận (những hội nhóm này thu nhiều tiền từ việc cúng, bái, bán thuốc không rõ nguồn gốc, bán thực phẩm chức năng, thậm chí là cả bán thịt dù ngay trước đó họ còn ca ngợi hùng hồn về ăn chay chữa bách bệnh). Anh cũng bỏ công sức để xác nhận những ca tử vong (do người nhà bệnh nhân bình luận trên các hội nhóm đó nhưng ngay lập tức bị xóa hoặc bị lờ đi) vì tin theo các lối sống thực dưỡng, lối sống thuận theo tự nhiên để cho cộng đồng thấy những hậu quả đau xót từ những phương thức thực hành này là có thực. Có thể nói, anh làm mọi cách “lu loa” lên để mọi người tự thấy rằng, các nhóm truyền bá thông tin ngụy khoa học và mê tín kệch cỡm và vô minh như thế nào.  Đằng sau sự nổi tiếng  Nhưng kể cả khi đó là công việc mà như anh tự trào là vì vui, vì xả stress đi chăng nữa, thì động cơ nào khiến con người này “đi cả ngàn dặm” để “vác tù và hàng tổng” như thế? Là người trực ở phòng cấp cứu, Hùng chứng kiến quá nhiều bệnh nhân mắc những bệnh nan y và chịu hậu quả từ những loại thuốc được quảng cáo là “nhà tôi ba đời làm nghề y” và thực hành phương pháp ăn uống không được kiểm chứng. Những bệnh nhân phủ nhận Tây Y, từ chối các phác đồ điều trị mà bác sĩ đưa ra. Đến khi bệnh trở nặng, họ cầu cứu các bác sĩ thì nhiều khi đã muộn. “Họ chết dần vì không làm gì được, đó là nỗi bức xúc cực lớn. Mạng người là quan trọng, đối với tôi là như vậy.” – anh nói đi nói lại điều này không dưới năm lần trong cuộc trò chuyện chưa đầy hai tiếng với phóng viên Tia Sáng. “Đó là sự độc ác của bọn xúi dại”.      Một internet memes chế giễu các hội thực dưỡng do anh Hùng tự biên tự diễn (dựa trên tranh của Mai Trung Thứ).   Bản thân chính người mẹ của anh, một người có học, từng là hiệu trưởng của một trường phổ thông cũng là nạn nhân của các thực hành ngụy khoa học như vậy. Khi anh còn là sinh viên Đại học Y Hà Nội, bà được chẩn đoán là ung thư phổi. Bà đã đọc rất nhiều sách nhưng theo lời anh “toàn những sách khoa học nửa vời” và tự cho mình uống thuốc này uống thuốc kia mà không nghe theo lời bác sĩ. Cuối cùng, khối u di căn khắp nơi và mẹ anh mất trong vòng chưa đầy ba tháng.  “Mình phải lên tiếng để những người vấp phải những vấn đề tương tự không mắc phải những sai lầm như thế nữa” – anh nói. Ít nhất thì anh cũng có thể đưa ra một minh chứng cho điều đó, chính từ người dì ruột. Bà bị ung thư đại tràng và di căn đến gan nhưng khác với mẹ anh, tuân thủ tuyệt đối phác đồ điều trị của bác sĩ, “ông cháu bảo gì nghe nấy”. Và những tưởng ban đầu thời gian dự trữ của bà chỉ là sáu tháng, nhưng giờ đây đã năm năm trôi qua, bà vẫn sống khỏe mạnh.   Trang facebook cá nhân của Hùng có gần 150 nghìn và trang fanpage Đốc tờ Húng Ngò của anh cũng có gần 100 nghìn lượt theo dõi, dù mới thành lập được chưa đầy hai năm. Con số này không thua kém gì với các người mẫu, fashionista (người tạo xu hướng thời trang), blogger đang hot trong giới trẻ như Nguyễn Đặng Khánh Linh (gương mặt đại diện của Gucci và Channel tại Việt Nam), Helly Tống, Vũ Dino (blogger ẩm thực)… Độc giả của anh đến từ mọi trình độ và từ cả các địa phương cho đến những thành phố lớn.       Hùng tự nhận mình là người “tưng tửng bốn mùa”, nhưng dưới những dòng status “tưng tửng” trên mạng xã hội của anh là nguyên tắc bất di bất dịch: Anh đọc kĩ các nghiên cứu trước khi viết. Anh cảnh báo các giới hạn về hoàn cảnh của các nghiên cứu khoa học, tránh hết sức việc mọi người trở nên cực đoan, tuyệt đối hóa một vấn đề.      Gặp Hùng ngoài đời, anh như một người “sống chậm”, không có vẻ gì là một con người tất bật với những công việc đòi hỏi luôn phải “căng như dây đàn”.  Có lẽ đó là điều khiến anh khác với các đồng nghiệp dù bức xúc trước các nhóm ngụy khoa học nhưng “chỉ muốn tập trung vào chuyên môn, rất ngại va chạm”, hoặc phải khóa tài khoản mạng xã hội của mình vì không chịu nổi sự tấn công của cư dân mạng. Hùng tự nhận mình là người “tưng tửng bốn mùa”, nhưng dưới những dòng status “tưng tửng” trên mạng xã hội của anh là nguyên tắc bất di bất dịch: Anh đọc kĩ các nghiên cứu trước khi viết. Anh cảnh báo các giới hạn về hoàn cảnh của các nghiên cứu khoa học, tránh hết sức việc mọi người trở nên cực đoan, tuyệt đối hóa một vấn đề. Anh luôn sẵn sàng đối thoại, không áp đặt, không bao giờ xóa bình luận của người đọc, kể cả những công kích cá nhân. “Tôi muốn giúp cộng đồng tìm hiểu kiến thức khoa học nhất có thể, giúp mọi người dù ít hay nhiều hiểu mình nên đặt niềm tin vào đâu. Đôi khi cách nhìn của tôi không hoàn toàn đúng” – anh nói.   Sự hấp dẫn trong cách truyền thông của Hùng, có thể lạ nếu so sánh với các đồng nghiệp của anh, nhưng không ngạc nhiên nếu biết được nền tảng của Hùng. Trước khi nổi tiếng với cá tính của Đốc tờ Húng Ngò bây giờ, anh đã từng có một facebook viết nhật ký với gần 100 nghìn lượt người theo dõi (nhưng anh đã “vứt” tài khoản này vì muốn thay đổi phong cách). Anh là một nghệ sĩ origami và tác phẩm của anh được đăng trong quyển sách 50 Hours of Origami + (Tạm dịch: Trên cả 50 giờ gấp Origami) do nghệ nhân origami, kiến trúc sư Trịnh Đình Giang (Mỹ) tuyển chọn và phát hành tại Mỹ và châu Âu. Anh cũng từng có nhiều năm học vẽ để thi kiến trúc (bìa cuốn sách tản văn của anh “Để yên cho bác sĩ hiền” là do anh vẽ minh họa). Anh cho rằng, những sở thích này rèn cho anh một tư duy logic. Nhưng có lẽ, mối quan tâm đa dạng tới văn hóa và nghệ thuật còn khiến anh sáng tạo nhiều cách tiếp cận đối với công chúng.  Giới hạn của một cá nhân  Dù xuất thân từ mạng xã hội, nhưng đó không phải là phương tiện truyền thông duy nhất của Hùng. Anh dành thời gian xuất hiện trên cả các chương trình truyền hình, truyền thanh, báo mạng. Anh từng hợp tác với báo Sức khỏe và Đời sống để thực hiện một loạt bài về thuốc Nam không rõ nguồn gốc, được quảng cáo là trị các bệnh nan y. Anh tự bỏ tiền túi để đi xét nghiệm liều lượng các chất trong những viên thuốc này tại Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an và thấy rằng chúng có trộn các thuốc Tây Y nhưng bị cấm từ lâu hoặc các chất phải kiểm soát liều lượng cực kì nghiêm ngặt. Chẳng hạn, các viên thuốc chữa tiểu đường được trộn phenformin, đã bị cấm trên thị trường các nước từ những năm 70 do liên quan đến các ca nhiễm toan lactic, tác động nghiêm trọng đến gan và thận. Hoặc các viên thuốc chữa xương khớp thường trộn corticoid không kiểm soát liều lượng và nếu bệnh nhân uống hằng ngày (bởi corticoid có khả năng chống viêm cực mạnh, “hôm trước đau hôm sau đỡ ngay”) thì sẽ dẫn đến loãng xương, nhiễm trùng nghiêm trọng. Tuy nhiên, loạt bài này phải dừng lại vì hiệu quả truyền thông không được mong muốn.     Bìa sách “Để yên cho bác sĩ hiền” (đến nay đã bán được hơn 65 nghìn bản) do anh tự vẽ.   Và cũng nhờ hoạt động trên mạng xã hội mà Hùng đủ hiểu độc giả để bắt tay vào viết cuốn sách 3 phút sơ cứu, phù hợp với trình độ hiểu biết không đồng đều về sức khỏe và y tế của người Việt Nam – Điều khiến anh trăn trở suốt gần 10 năm mà vẫn chưa đặt bút viết. Ngoài đặc điểm dễ tiếp cận, cuốn sách còn gần gũi với văn hóa, thói quen của người Việt vì nó đưa ra cách giải thích và phản biện khoa học với những kinh nghiệm dân gian. Đây có lẽ là cuốn cẩm nang sơ cứu đầu tiên được xuất bản rộng rãi ở Việt Nam. Và chỉ trong vòng ba tháng kể từ khi xuất bản, nó đã bán được 30.000 cuốn, là sách bán chạy nhất của nhà sách Nhã Nam năm 2020.   Nhưng nỗ lực của một con người có giới hạn. Hùng không thể duy trì đều đặn các bài viết trên Facebook vì anh không có đủ thời gian. “Viết về một vấn đề khoa học nào đó, mình vẫn phải đọc nhiều, đọc kĩ, khi chắc chắn rồi mình mới viết được. Đó là lí do tại sao cứ “tắc bụp” có đợt thì ào ào vài ba bài liên tục, có đợt thì bẵng đi cả tháng chẳng thấy bài nào”. – anh nói. “Tôi cũng chưa đủ tin tưởng để giao cho người khác viết”.  Anh còn đang muốn kết hợp với đài truyền hình Việt Nam để thực hiện và phát sóng các clip về sơ cứu, xây dựng e-kip để đưa kiến thức sơ cứu về các trường mầm non, tiểu học. Anh cũng muốn dần dần chuyển đổi các trang fanpage của mình trở thành một địa chỉ hỏi đáp với các vấn đề sức khỏe đời thường của mọi người. “Nhưng tôi chưa dứt ra một khoảng thời gian nào để chuyên tâm vào nó cả dù tôi rất muốn làm, rất muốn tạo cảm hứng, tạo phong trào để mọi người tìm hiểu” – anh cho biết.   “Anh có kỹ năng kể chuyện khoa học (science storytelling) cao, sử dụng ngôn ngữ dung dị, không nặng nề thuật ngữ, pha với chất hài hước, nên dễ thu hút độc giả và truyền bá tri thức“ – Nguyễn Đức An, nhà nghiên cứu truyền thông khoa học ở Việt Nam tại Đại học Bournemouth, Anh nhận xét về Ngô Đức Hùng qua email với Tia Sáng. Khi nói về những hội nhóm ngụy khoa học, Hùng không ngại lựa chọn cách viết ngoa ngoắt, giễu nhại. Anh xưng hô với độc giả theo phong cách tán chuyện trên mạng xã hội bây giờ (“các mẹ ơi”, “các mẹ ạ”, “các mẹ đã biết gì chưa?”…). Anh dùng cả các internet memes để chế giễu các thực hành ngụy khoa học. “Đôi khi nó hơi bỗ bã, bậy bạ nhưng quan trọng là truyền tải được thông điệp đến nhiều người” – anh nói.    Chưa bao giờ cảm thấy muốn bỏ cuộc trước hiện tượng, như anh gọi là “dân trí thấp ở những người có học”, Hùng hiểu rằng con đường để cộng đồng đủ vững vàng trước các thông tin bịa đặt còn dài. “Việc tôi làm đôi khi chỉ biết rằng chỉ để cho nó vui, chỉ giúp lợi ích một nhóm nhỏ thôi nhưng mình vẫn cần lên tiếng”. – anh nói.   Sau nhiều năm “đấu tranh” và chịu nhiều tấn công từ các hội nhóm ngụy khoa học, Hùng vẫn thấy lạc quan: “Trong vòng một vài năm trở lại đây, có rất nhiều người cùng lên tiếng về các vấn đề sức khỏe sai lầm đó, thì tôi thấy mình không còn đơn độc nữa”.  □          Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ngôi nhà Tia Sáng      Kỷ niệm tròn 25 năm thành lập, Tia Sáng đã nhận được những lời tâm tình, nhắn nhủ ân cần của một số trí thức tên tuổi đã nhiều năm sống chung trong “tổ ấm” Tia Sáng (lời nhà giáo Phạm Toàn), các nhà quản lý, các độc giả thân thiết.  Tia Sáng xin trích đăng một số trong các ý kiến đó.      Tôi đến với Tia Sáng thật tình cờ, khi chưa biết trên đời này tồn tại một tờ báo có tên là “Tia Sáng”. Đó là năm 1995, khi Định lý cuối cùng của Fermat được chứng minh, và thầy Hoàng Tuỵ đề nghị tôi viết một bài giới thiệu. Cũng tưởng chỉ là “tình cờ”, không ngờ khi đã biết có Tia Sáng thì tôi không xa rời được nó nữa. Tôi cảm thấy đó chính là tờ báo “của mình”. Tia Sáng trở thành nơi tôi có thể học hỏi nhiều điều, có thể chia sẻ nhiều suy nghĩ của mình với những người khác.  Anh Văn Thành, chị Hoàng Thu Hà1 và nhiều người khác nữa thường dùng từ “Ngôi nhà Tia Sáng”. Có tờ báo nào khác cũng được nhắc đến như là “ngôi nhà” không nhỉ? Nó cho ta cái cảm giác thân thiết, bình yên, và hơn tất cả, là nơi chúng ta có thể nói thật, như nói chuyện trong nhà.  Có cái gì đó rất chung cho những người trong ngôi nhà ấy. Đó là nhà thơ Lê Đạt, người mà những thăng trầm của cuộc đời chỉ làm ông thêm uyên bác, nhân hậu, chứ không xoá được nụ cười trẻ thơ. Là thầy Hoàng Tuỵ, mà mỗi chữ, mỗi câu đều là một trăn trở lớn trước những ung nhọt của xã hội. Là nhà văn Nguyên Ngọc không chịu già cùng thời gian, khi ngọn lửa rừng già Tây Nguyên vẫn cháy mãi trong lòng. Không thể kể hết, vì như người ta nói, “chọn lọc chính là loại trừ”. Biết “loại trừ” ai, khi trong ngôi nhà ấy, mỗi người một vẻ, đều rất tuyệt vời. Đôi khi tôi thấy có người dùng từ “nhóm Tia Sáng”, và tự hào vì họ ghép mình vào “nhóm” đó.  Cho đến nay, hầu như những bài tôi viết trên báo đều do anh Văn Thành “nhắc nhở”, thường thì giống như “trả nợ” vì đã lỡ hứa. Viết để đăng báo thật khó, vì như người ta nói, “mỗi người cầm bút viết đều như đã có sẵn một ông kiểm duyệt trong đầu”. Nhưng cũng nhờ Tia Sáng mà tôi thỉnh thoảng chiến thắng được cái tính “lãn” cố hữu để viết linh tinh ít dòng.  Bây giờ xã hội hay nhắc đến từ “sạch”. Tiền sạch, rau sạch, thịt sạch. Vì xã hội còn quá nhiều những cái chưa sạch. Đầy rẫy trên báo chí, sách vở những bài “câu khách” kiếm tiền, góp phần làm nên những chứng bệnh ung thư độc ác trong tâm hồn người. Bởi thế nên ngoài thực phẩm sạch cho bữa ăn hằng ngày, người ta cũng cần những tờ báo sạch cho tâm hồn.  Có thể nói đơn giản thôi, Tia Sáng luôn là một tờ báo sạch.   GS.TSKH Hà Huy Khoái  ———  1 Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Tia Sáng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “NGÔI SAO VÀ BẦU TRỜI”      Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, đó là “trái ngọt của 20 năm miệt mài chuẩn bị, 20 năm Hà Nội nỗ lực cải cách và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, 20 năm Đổi mới” như bình luận của tờ Le Figaro. Kết quả là, như tờ “Le Monde” vốn được xem là tờ báo quy chiếu của giới trí thức phương Tây, đánh giá: Việt Nam gia nhập WTO có thể làm thay đổi cân bằng kinh tế ở Châu Á cũng như trên thế giới.         Hãng Reuters nhận định rằng việc Việt Nam gia nhập WTO ngay trước thềm Hội nghị APEC thực sự là làn gió mát khiến vị thế của nước chủ nhà được nâng cao, đồng thời tạo ra động lực kép thúc đẩy Việt Nam bước những bước xa hơn về ngoại giao và thương mại. Và không chỉ có thế, tờ L’Expansion dẫn ra nhận định của một chuyên gia Thụy Sĩ: Ngoài những cơ hội về kinh tế, cần phải thấy được cả những tác động mạnh mẽ về mặt chính trị của sự kiện này.  Như vậy là, con thuyền dân tộc đã dong buồm thời đại, lướt sóng đại dương. Để có cái bản lĩnh “sóng cả không ngã tay chèo”, phải dám nhìn lại mình để chủ động bước vào thách thức mới, biến thách thức thành vận hội, đưa đất nước chớp lấy thời cơ, bứt lên.  Sóng đại dương, đương nhiên không như sóng vỗ mạn thuyền thơ mộng, dịu êm với “cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm” trong thơ Nguyễn Bính! Lại càng không hề là “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” ru người trong “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” đang ngủ quên trên ao làng của cụ Yên Đổ! Đừng quên rằng, từ cái ao làng này, con người Việt Nam đã bước ra sát mép nước Biển Đông. Đứng trước bao la của Thái Bình Dương mênh mông sóng vỗ, không hiểu có phải bị choáng ngợp và sợ say sóng không, mà các cụ ta lại quay về với sự an ủi pha chút dư vị ngậm ngùi AQ: “ta về ta tắm áo ta, dù trong, dù đục ao nhà đã quen”.   Chao ôi, chính cái sự “quen” này đã dìm chết bao khát vọng muốn bung ra khỏi cái hạn hẹp, bảo thủ trì trệ của ao tù nước đọng với một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, triền miên trong suốt chiều dài lịch sử không có mấy đổi thay về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Cái cày chìa vôi từ thời nhà Lý thế kỷ XI vẫn còn phổ biến trên các cánh đồng thế kỷ XX.  Lam lũ, đổ mồ hôi sôi nước mắt, cả đời “bán lưng cho trời, bán mặt cho đất” mà năng suất quá thấp, chỉ đủ “vắt mũi bỏ miệng”, “tay làm hàm nhai”. Không có thặng dư, không có tích lũy, đành phải tự bằng lòng với lối sống đạm bạc “thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản”, chỉ cần “cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết” là đã có thể ung dung nhìn ngắm sự đời. “Giấc mộng tiểu nông” ru người trong sự tù đọng của ao làng, lại được thăng hoa trong ảnh hưởng của triết lý “an bần lạc đạo”, chỉ cần “ăn cơm rau, uống nước lã, co tay làm gối mà nằm, cái vui đã có ở trong đó”. Lớp con cháu thì được khuyến cáo chỉ cần “nối tiếp, làm theo, không bao giờ thay đổi” (kế, thuật, vô cải) thế là giữ được cái nề nếp của cha ông. Cứ đi theo lối mòn ấy, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, con đường mòn ấy kéo dài cho đến thế kỷ XIX, khi mà “Trời kia khiến vậy sông nên bãi, Ai khéo xoay ra phố cả làng”(Tú Xương). Manh nha xuất hiện nền kinh tế hàng hóa, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội đặc quánh “nông vi bản”. Một xã hội tuyệt đối đóng cửa, khước từ hội nhập, khước từ canh tân. Thế thì mất nước là chuyện khó tránh. Trong “Thời vụ sách”, Nguyễn Lộ Trạch viết: “Hiện nay thời thế như cục ung thư lớn. Trị thì không có phương thuật. Không trị chăng? Thì không thể cam ngồi mà ngó.Điều lo trong thiên hạ không phải ở chỗ nước yếu và nghèo, mà ở chỗ không gắng sức làm việc tự cường”. Không “làm việc tự cường được” là do lối suy nghĩ trì trệ: “Nước ta thì từ trước cấm dân đi ra hải ngoại, dân không đi buôn xa, trong nước không có bọn buôn, mà muốn dắt người buôn nước ngoài đến, thế chưa có thể vội được”* như lời các trọng thần tâu lên vua Tự Đức. “Chưa có thể vội” khi mà những chiến thuyền thực dân đã áp sát cửa sông, súng xâm lược đang chực nhả đạn!  Những khúc đoạn trường đầy máu và nước mắt mà dân tộc đã phải trải qua từ khi mất nước cho đến khi giành lại được độc lập và thống nhất kể sao cho hết. Bài học mất nước có nhiều, trong đó, mất thời cơ là cái mất oan uổng nhất, mà hệ lụy của nó thì thật khó lường hết. Khi mà nước Nhật của vua Minh Trị biết mở cửa đón nhận nền văn minh công nghiệp thì những đầu óc canh tân của Việt Nam lại bị khước từ do sự bảo thủ, trì trệ của nhà cầm quyền, đánh mất cả một giai đoạn của sự phát triển, để lại một hậu quả lâu dài và nghiệt ngã.  Ấy vậy, nay nghĩ lại vẫn còn phải giật mình: Cái lập luận “chưa có thể vội được” đâu chỉ là lập luận của các trọng thần tâu với vua Tự Đức về chuyện giao thương với nước ngoài ở thế kỷ XIX. Sang đến cuối thế kỷ XX, tiến trình Đổi Mới đôi lúc vẫn còn có những bước ngập ngừng, mà nhìn cho thật kỹ, thì xem ra cũng là vướng vất cái quán tính “chưa thể vội” kia, nhưng được biến thái dưới những mệnh đề sang trọng, lanh lảnh tiếng cảnh báo về sự “đổi màu”, khéo khéo không bị “hòa tan” mất! Thế đấy, nhưng cuộc sống thì không thể đợi được, cuộc sống phải vội mở đường mà đi tới.   Đại hội X phê phán: “Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm chủ trương lớn chưa được làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành” (Văn kiện, tr.16). Thế rồi, tháng 11 đáng ghi nhớ này đang diễn ra những sự kiện mang tầm vóc của “tầm quan điểm chủ trương lớn” nói trên, chứng minh tính kịp thời của sự phê phán đúng đắn ấy. Đất nước đang dồn dập những bước có ý nghĩa cần được ghi nhận như những cột mốc của Đổi mới : mở cửa, hội nhập và hợp tác quốc tế.   Và thế là cái gì đến đã đến: Việt Nam được nhìn nhận là “ngôi sao mới nổi trên bầu trời thương mại thế giới” như đánh giá của Tổng giám đốc WTO. Cuộc thương thảo phải kéo dài đến 11 năm. Mà để bước vào hành trình thương thảo nhằm trở thành “ngôi sao mới nổi” ấy, trước hết phải vượt qua chính mình. Tức là vượt qua cái cửa ải trì trệ bảo thủ của thói quen lèo lái con thuyền trên sông rạch, không muốn và không dám giương buồm ra khơi. Đấy là vì, mỗi bước tiến mới luôn luôn vấp phải “trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng lại được tập quán thần thánh hóa” như Ph Ăngghen đã từng chỉ ra. Cái tập quán “ta về ta tắm ao ta”.  Bầu trời đã mở rộng, nhưng để không bị chìm đi trong bầu trời đầy sao, kể cả những ngôi sao đã tắt mà ánh sáng của nó bây giờ mới đến được trái đất, cả dân tộc phải dám nhìn lại mình, thấy được mặt mạnh, đặc biệt là phải dám thấy cho thật rõ mặt yếu của mình để biết mình phải làm gì.    Lênin đòi phải hành động. Gớt thì nói cần biết ước mơ. Tục ngữ Việt Nam thiết thực dạy rằng “Có cứng mới đứng được đầu gió”. Có ước mơ mới đủ bản lĩnh hành động.   Lúc này càng cần phải có bản lĩnh. Bản lĩnh đứng đầu gió!  _______________________________  *.Trần Văn Giàu “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam…” Tập I. NXBKHXH” 1975, tr..407        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôn ngữ dịch thuật – Rào cản hội nhập WTO?      Trong bản tin thời sự tối ngày 15/11/2006, Người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã dùng cụm danh từ “chính phủ Mỹ” để nói về việc chính phủ nước này đã rút Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC), trong khi đó, tại một triển lãm chào đón APEC tại Hà Nội, cái tên “Liên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ” được trang trọng giới thiệu bên cạnh đất nước Australia.         Tại tất cả các văn bản pháp qui, chúng ta đã chính thức thay đổi cách gọi nước úc thành Australia (tiếng gọi nguyên bản mà người úc cũng như quốc tế đều hiểu). Cách thức thay đổi này có thể đã giúp cho ngưòi dân Việt Nam gần gặn hơn trong cách tưởng tượng về đất nước của những con Kanguru. Cũng như thế, tấm biển hiệu “Đại sứ quán nước Cộng hòa ý” trước đây nay đã được đổi thành “Đại sứ quán nước Cộng hòa Italia”. Thiết nghĩ, chẳng cần bảng hiệu tiếng Anh thì bất cứ một công dân nào trên thế giới khi qua đây đều hiểu rằng: Italia-tự nó đã mang quá đầy đủ thông tin.   Thông tin- có thể hiểu nôm na rằng nếu Anh tên là Hùng, thì khi tôi gọi “Anh Hùng ơi”, Anh Hùng phải hiểu được rằng tôi đang gọi Anh. Giả thiết rằng nếu ta quen một anh chàng đang đi trên phố có tên là America thì dẫu ta có gọi mỏi mồm “Anh người Mỹ ơi!” hoặc “Anh Hoa Kỳ ơi” thì anh ta vẫn cắm cúi đi như không có chuyện gì xảy ra trên đời!  Một cách diễn nôm về hai đội bóng đá của thế giới đá với nhau, trong đó hai mươi hai cầu thủ hai bên đều mang tên của hai mươi hai quốc gia. Một trong hai mươi cầu thủ đó có cầu thủ Việt Nam. Sẽ không có bất cứ trục trặc nào cho cầu thủ của Việt Nam khi đồng đội gọi “Việt Nam ơi”, tuy nhiên, nếu cầu thủ Việt cứ gọi anh chàng trung phong Italia kia là “ý ơi” thì sẽ mất cơ hội hợp tác vì anh chàng Italia kia sẽ không biết là anh ta đang được gọi để “làm bàn”.  Ai cũng nói về sự hợp tác đa phương, và ai cũng thấy khả năng cạnh tranh của hàng Trung Quốc cũng như của thương gia Trung Quốc như thế nào, song một cách chủ quan, nếu chúng ta không định vị được tính thông tin của quốc gia này một cách có thể gọi là WTO nhất thì vô hình trung, chúng ta đã đặt ra một rào cản cho chính mình trên con đường hội nhập.  Chỉ nhìn qua những thông tin đã đưa lên các trang Web, ta có thể hiểu được phần nào sự thần kỳ  của nền kinh tế Trung Quốc. Hiện nay, trong khi chúng ta vẫn giữ các thông tin về đất nước Việt Nam, về con người Việt Nam cũng như về đất nước và con người Trung Quốc theo kiểu của những năm 70-80 của thế kỷ trước thì họ đã tiến rất xa, chí ít là trên các phương tiện thông tin đại chúng. Câu hỏi đặt ra là: Trong khi người Trung Quốc và thế giới đều dùng chung một giải pháp cho địa danh hành chính của họ (nguyên bản từ “China Travel and Destination Guide” như: Beijing, Hong Kong, Lijiang, Lhasa, Pingyao, Kunming, Zhao Xing, Shanghai, Xian, Guidlin, Chengdu, Suzhou…) thì những doanh nhân Việt đọc tương đối nhiều cũng chỉ chắc chắn rằng trong cái “lít” kia có: Hồng Kông, Thượng Hải, còn Bắc Kinh-thì liệu Bắc với Beij… có  là một?  Đấy là nói về địa lý, còn nếu tranh luận thêm về thời cuộc và con người thì sự phức tạp sẽ tăng lên rất nhiều. Nói về tài năng của cựu Thủ Tướng Singapore, chúng ta gọi ông là Lý Quang Diệu, văn bản chính thống Sing gọi Ông là Lee Kuan Yew (âm tiếng Hoa: Li Guângyao). Thủ tướng đương nhiệm, con trai của ông Diệu – theo văn bản chính thống Sing: Lee Hsien Loong (âm tiếng Hoa: Li Xianlong). Tuy nhiên, nếu có ai đó chỉ đọc báo và nghe đài Việt Nam thì sẽ không thể biết được Tổng Bí Thư ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa như chúng ta vẫn thường nhắc đến:  Hồ Cẩm Đào được gọi chính thức theo thông lệ Quốc tế là Hu Jintao mà bất kỳ một công dân Trung Quốc nào đều hiểu ngay rằng đó là tên của vị Chủ tịch nước của họ.   Vậy thì tính thông tin ở đây đáng phải bàn là gì, và trong thời đại WTO thì cách dịch tên riêng có vẻ mang tính “truyền thống” Hán Nôm có những hạn chế gì?  Việc dịch thuật tên riêng của một nước, đặc biệt phiên âm tên nước cũng như tên người lâu nay đã là cả một vấn đề đã được bàn cãi rất nhiều mà không có một hồi kết nào cả. Tuy vậy, với việc ta đã là thành viên WTO, thì việc này thiết tưởng cũng nên dựa vào một số tiêu chí có thể thống nhất được theo kiểu WTO.    Tiêu chí hội nhập?  Một trong những tiêu chí quan trọng nhất của hội nhập là-Tính thông tin. Đây cũng chính là lợi ích đầu tiên đối với bất kỳ một quốc gia tham gia APEC như các nhà lãnh đạo tham gia APEC 14 đã phát biểu. Một cái tên gọi-có thể tượng thanh, tượng âm, tượng  hình… song điều bắt buộc là: Cái tên đó phải là cơ sở ban đầu để thông tin hai chiều. Có nghĩa là người nói và người nghe có thể bắt đầu “có kết nối”. Kết nối ngôn từ công nghệ thông tin có thể hiểu được như đó là sự bắt đầu của một giao thức thông tin (communication protocol). Đơn giản như trong việc truyền một địa chỉ giữa hai máy điện thoại cầm tay, một khi tiếng “bíp” nho nhỏ kêu lên thì có nghĩa là giao thức thông tin giữa hai chiếc “Dế” kia đã được bắt đầu.  Có thể thấy rằng vào WTO không phải là một sân chơi như nhiều báo chí, thậm chí cả một số quan chức cũng thích dùng khái niệm này. Cho dù nó là một sân chơi như trò chơi bóng đá như đã kể trên thì tính hội nhập của trò chơi WTO cũng bắt đầu chính bằng những giao thức thông tin rất cơ bản: Tên gọi giao tiếp phải mang tính thông tin.  Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc lướt trên trang Web với cái danh từ: president of China Hu Jintao: Kết quả là trong vòng 0.09 giây, trang chủ Google đã liệt kê ra được 2,290,000 (hai triệu, hai trăm chín mươi nghìn)  kết quả nói về ông Hu Jintao.  Bây giờ, ta hãy làm tương tự xem có bao nhiêu chương mục có thể có với ông Hồ Cẩm Đào? Câu trả lời: Chúng ta có 158,000 (một trăm năm tám nghìn) kết quả đã tìm được.  Trong số 2,100,000 (hai triệu, một trăm nghìn) kết quả cụ thể liên quan riêng đến việc tra cứu Hu Jintao, kết quả thứ 773 là gì?- xin trích nguyên văn tiếng Anh: “Ever since he became General Secretary of the Chinese Communist Party and President of the Peoples’ Republic of China four years ago, Hu Jintao has remained …” Đó là một thông tin chính hiệu liên quan đến tính cách quần chúng của Ông Hu Jintao sau khi đã trở thành Tổng Bí Thư của ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa được 4 năm.  Bây giờ, chúng ta hãy tra cứu theo cách không dấu chữ: Ho Cam Dao. Kết quả đã có 231,000 (hai trăm ba mươi mốt nghìn). Tuy nhiên,  kết quả thứ 19 cho ta một nội dung như sau: (xin trích nguyên văn): “Toi cam thay yeu ho hon boi giay phut ay toi da nhin ho bang trai tim”!  Như vậy, đã quá đủ để hiểu được tính thông tin nằm ở đâu trong cách dịch thuật tên riêng của người, của địa danh nước ngoài theo cách Hán-Nôm!  Tiêu chí hội nhập trên cơ sở dân tộc và truyền thống?  Ai trong chúng ta chẳng tự hào về những câu thơ bất hủ như “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”, sang sảng hào khí Đông á!, song cũng thử hỏi nếu không được học văn học ở nhà trường phổ thông thì hỏi mấy người biết rõ thực hư cái âm vang sông núi, sang sảng tiếng hịch kia có ý nghĩa gì?  Tôi không dám bàn ở đây về tính dân tộc, bởi nó là cái không phải để bàn cãi, cũng bởi cái gì đã thuộc dân tộc thì nó mãi trường tồn. Tuy nhiên cái gì có thể được làm tốt hơn thì ta không nhất thiết cứ phải đi mãi một lối mòn.  Xin được cung cấp thêm thông tin cho bạn đọc: Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, kênh thể thao nổi tiếng nhất thế giới ESPN đã mời các fan của môn túc cầu ở Việt Nam tham gia vào chương trình nhắn tin có thưởng của họ bằng tỷ số trận đấu, và cầu thủ ghi bàn tới địa chỉ sau: Score board và gửi đến hộp thư 8413. Trong chương trình này, với các cổ động viên của Chelsea, có thể bắt ai là người ghi bàn trước, như trong trận Chelsea thắng Watford 4-0 thì đó là Drogba (1) và sau là Shevechenko (2). Quay trở lại Worl cup, giả thiết fan người Việt có thể gửi tin nhắn về kênh truyền hình này để chọn ai là cầu thủ Trung Quốc ghi bàn đầu tiên trong trận Trung Quốc – Australia. Chắc chắn, những bản tin nhắn đi từ Việt Nam sẽ làm rối tung tổng đài của ESPN vì kênh thể thao ESPN sẽ không thể nào xử lý và nhận biết được các bản tin nhắn có tên cầu thủ được dịch Hán-Nôm-cách mà bình luận viên truyền hình lâu nay vẫn làm.   Quay trở lại cách gọi tên nước Italia trên. Chúng ta đã khá quen, văn bản giấy tờ cũng đã thành qui định. Tuy nhiên, ngay một nước trong khối ASEAN mà ta vẫn có thói quen gọi theo Hán Nôm là Miến Điện, mà thực ra nên gọi là Mianma thì rõ ràng là không chỉ có chuyện không đồng nhất trong hệ thống gọi tên, mà tính thông tin trong cách dịch thuật đã bị giảm đi chí ít 70%- Tại sao lại 70%? Đó có thể còn là khả quan vì chỉ có gần 100 triệu người Việt hiểu được Miến Điện chính là Mianma trên tổng số cả vài tỷ dân số toàn cầu mà thôi.   Nhân đây, cũng xin cung cấp bạn đọc một thông tin nhỏ: Các đại diện của tập đoàn viễn thông hàng đầu thế giới Huwei rất không thích cách gọi công ty của họ là Hoa vĩ vì họ bảo chỉ có các bạn Việt Nam hiểu chữ này thôi, chứ Huwei là một cái tên mang tính cạnh tranh toàn cầu mà từ Đông sang Tây, ai cũng vì nể khi nghe đến tên này.   Nói rộng hơn một chút, trên bình diện hội nhập, hãy xem xét lại cách gọi những tên nước như: Pháp-France, Holland-Hà Lan, Đức- Germany, v.v. và v.v. Chắc chắn, sẽ có nhiều người đồng ý   rằng đây là một công việc rất nghiêm túc để làm khi Việt Nam đã là thành viên WTO. Hãy coi đây là một cơ hội cho chính mình để có thể chuẩn hóa hay nói một cách khác rằng phải WTO hóa chủ trương dịch thuật tên riêng, đặc biệt các địa danh hay tên một Nước.       Lâu nay, chúng ta đã quá quen với việc bình luận viên, biên tập viên của Đài truyền hình Việt Nam, luôn trân trọng dành một chút “lặng” nhất định trước khi có thể phát âm chuẩn như người Nga vốn gọi tổng thống của họ là – “Puchin”. Nên biết rằng,  ngay cả người Pháp vẫn gọi là ông Putchin chứ tuyệt nhiên họ không gọi ông là “putanh” theo phiên âm của ngôn ngữ tiếng Pháp.       Là người thường xuyên theo dõi các chương trình thời sự, tôi thấy chúng ta đã có thể làm vừa lòng những vị khách quốc tế hơn khi mà người sĩ quan chỉ huy đội quân danh dự của ta có thể gọi đúng  họ và tên theo cách quốc tế. Giống như trường hợp của vị Tổng Bí Thư ĐCS Trung Quốc và Chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Tôi tin tưởng rằng,  vị Tổng Bí Thư của nước bạn sẽ nhận biết được ngay rằng người dẫn chương trình Kinh tế APEC đang trân trọng giới thiệu ông, dù rằng đó là tiếng Việt chính hiệu -xin nhấn mạnh là bằng tiếng Việt: “Xin trân trọng giới thiệu Ngài Hu Jintao”.        Phạm Côn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngũ Luân Thư*      Người ta vẫn nói, để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hằng ngày thế nào, các doanh nghiệp Nhật lập chiến lược kinh doanh của mình ra sao, các chính trị gia ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm Thánh Myamoto Musashi.    Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến cực kỳ khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15 tháng thứ 9 niên hiệu Khánh Trường thứ 5 (ngày 21 tháng 10 năm 1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi là tử địa vì sau trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết, còn Seigahara được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.   Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi, bước vào trận đánh với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, sau đó là phe thua trận. Kiếm khách trẻ trung và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến.Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát. Kể từ ngày đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Mushashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Nhị Thiên Nhất Lưu. Sau này ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).  Người ta vẫn nói, để hiểu được một người Nhật bước chân ra thế giới bên ngoài để kinh doanh, thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh bước vào tử địa Seigahara.   Để hiểu được các quan chức chính phủ hoặc tập đoàn Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng giống như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và “tướng quân” của mình bị làm nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sỹ đạo.  Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hằng ngày thế nào, các doanh nghiệp Nhật lập chiến lược kinh doanh của mình ra sao, các chính trị gia ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm Thánh Myamoto Musashi.  Go Rin No Sho là quyển sách về binh pháp được Kiếm Thánh Musashi viết trong những tuần lễ cuối đời khi ông ở ẩn trong hang núi. Kể từ khi được dịch sang Anh ngữ với tên A Book of Five Rings, cuốn sách được nghiền ngẫm từ giảng đường Havard nơi các sinh viên sử dụng sách như cẩm nang để thành công trong cuộc đời, đến các doanh nhân đọc để có cách nghĩ mới về chiến lược kinh doanh và các nhà quân sự cao cấp đọc để biết những nguyên tắc của một binh pháp thư chưa bao giờ sai suốt 300 năm kể từ khi được viết ra.  Tạp chí Time ca ngợi cuốn sách rất ngắn gọn: “Ở phố Wall, khi Musashi cất tiếng, tất cả lắng nghe”.   Time cũng viết “Go Rin No Sho là câu trả lời của Nhật Bản cho Havard MBA”.  Với những doanh nghiệp đang khát khao chinh phục phương Tây giống như người Nhật cũng rất nên đọc cuốn sách này, bởi như Time Out viết: “Nếu bạn tò mò tại sao người Nhật có thể xông pha giữa cộng đồng kinh doanh phương tây dễ như lưỡi kiếm samurai cắt ngang miếng bơ, câu trả lời không nằm trong những xí nghiệp hay những máy móc tự động. Câu trả lời nằm trong sách binh pháp Go Rin No Sho”.  Giới quân sự và chính trị thì ngầm so sánh Go Rin No Sho với Tôn Tử Binh Pháp khi cho rằng binh pháp của Tôn Tử chỉ là sách dành cho bậc tướng, còn Go Rin No Sho mới là sách cho bậc vương.  Dựa trên triết lý của Zen (Thiền) và cách tiếp cận thực dụng để làm chủ kỹ năng chiến thắng, Go Rin No Sho được cho là cuốn cẩm nang sâu sắc nhất từng được viết ra trên thế giới này. Với doanh nhân, đây là cuốn cẩm nang chiến lược kinh doanh. Với nhà chính trị quân sự, đây là cẩm nang binh pháp. Với tất cả những ai yêu thích kinh doanh và quân sự, đây là cuốn sách không dễ đọc nhưng rất đáng để nghiền ngẫm.  Sau chiến thắng của Đông Quân ở trận chiến Sekigahara, Chúa Tokugawa Ieyasu chính thức trở thành Shogun của Nhật Bản và là Shogun đầu tiên của Mạc Phủ Tokugawa. Mạc Phủ Tokugawa đặt chính quyền của mình ở Edo (ngày nay là Tokyo). Từ đây, một thời kỳ thanh bình tương đối lâu dài mở ra với đất nước Nhật Bản (1603-1867).   Thời kỳ Tokugawa (còn được gọi là thời kỳ Edo) đánh dấu sự chuyển biến lớn lao trong lịch sử xã hội Nhật Bản. Bộ máy của Tokugawa không chỉ kiểm soát chính quyền, luật pháp, giáo dục mà còn kiểm soát trang phục và hành vi của các giai cấp vốn được phân biệt rất rạch ròi: samurai, nông dân, nghệ nhân và thương nhân. Samurai là giai cấp tinh hoa nhất.   Tinh thần Bushido (võ sỹ đạo) được hình thành và phát triển trong suốt hai thế kỷ rưỡi thanh bình của thời kỳ Tokugawa. Trong thời gian này có nhiều binh thư được các Samurai đọc để tiếp thu và rèn luyện tinh thần sống mà không quan tâm đến cái chết. Họ hiểu và chấp nhận lối sống khổ hạnh, tu dưỡng tinh thần và lý tưởng. Sẵn sàng dâng hiến bản thân mình cho cái hay, cái đẹp của võ đạo. Họ đọc sách, nghiền ngẫm và rèn luyện phân biệt thiện ác, để trong nguy nan họ sẵn sàng hiến sinh mạng của mình cho thị tộc và lãnh chúa của mình. Tinh thần võ sỹ đạo đó tồn tại trong tư tưởng của người Nhật Bản cho đến tận ngày nay.   Dưới thời Tokugawa, các đội quân địa phương bị giải tán. Mặc dù Tokugawa và một số lãnh chúa vẫn tuyển dụng samurai nhưng phần lớn các samurai trở nên thất nghiệp. Một số samurai sống được nhờ sở hữu điền trang, số còn lại phải chuyển sang làm nghề thủ công hoặc làm kiếm khách lang thang. Thiên hạ thái bình đã khiến cho tầng lớp chiến binh trở thành người thừa, họ phải chuyển đổi thành giai cấp khác để nuôi giữ tinh thần thượng võ cổ xưa. Đây cũng là thời kỳ nở hoa của Kiếm Đạo (Kendo).  Kể từ khi tầng lớp samurai hình thành ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ tám, nghệ thuật quân sự luôn được coi là hình thái học thuật cao nhất, được truyền cảm hứng nhờ dạy Thiền và cảm nhận Thần Đạo. Còn Kiếm Đạo luôn đồng nghĩa với sự cao quý.  Musashi là một samurai ở đầu thời kỳ Tokugawa. Nhưng khác với các samurai từ bỏ đao kiếm, Musashi vẫn kiên trì theo đuổi mẫu hình của kiếm khách lý tưởng để kiếm tìm sự giác ngộ trên con đường gian nan của Kiếm Đạo.   Trong phần “binh pháp” ngắn gọn thuộc Địa Thư của Go Rin No Sho, ta có thể thấy triết lý của Musashi ngay trong lời phê phán những samurai vì mưu sinh mà kiếm tiền bằng nghề dạy đánh kiếm: “Nếu ta nhìn vào thế giới, ta thấy các môn nghệ thuật được đem bán. Người ta dùng khí tài để bán chính bản thân mình. Cũng như đối với hạt và quả, cái hạt ngày càng ít quan trọng hơn quả. Trong cái đạo binh pháp đó, cả người dạy lẫn người học đều chú tâm để phơi bày kỹ thuật hoa mỹ. Họ tìm cách để đóa hoa nở vội. Họ nói Đạo trường này Đạo trường kia. Họ tìm kiếm tư lợi. Có người đã từng nói: Binh pháp sơ lậu là căn nguyên khổ ải. Lời nói thật chí lý”.  Hy sinh cả cuộc đời cho kiếm đạo, chấp nhận cuộc sống khổ hạnh, cấm dục và nhẫn nhục của Musashi đã đi vào nhiều tác phẩm văn học, trong đó có tiểu thuyết kiếm hiệp kinh điển “Miyamoto Musashi” của văn hào Yoshikawa Eiji. Tiểu thuyết kiếm hiệp này là best-seller ở nước Nhật thời trước Đệ nhị thế chiến. Cuộc đời và lý tưởng võ sĩ đạo cao cả của Musashi chính là liều doping cho tinh thần cực đoan của dân Nhật, từ người dân đến binh lính, từ sĩ quan tới lãnh đạo chính trị, giúp họ tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Trung Quốc, Đông Dương và Thái Bình Dương. Hơn nữa, khi thế chiến kết thúc và Nhật Bản thành kẻ thua cuộc, người dân Nhật Bản lại đọc tiểu thuyết “Miyamoto Musashi” và dựa vào nguồn lực tinh thần của Musashi để tái thiết đất nước trong hoàn cảnh: kinh tế thì đổ nát bên ngoài, con người thì đổ vỡ bên trong.   Kiếm khách vô song từ thế kỷ 17 Musashi tiếp tục đồng hành với người dân Nhật Bản trong suốt thế kỷ 20: khi nước Nhật gây chiến với thế giới, khi nước Nhật chiến bại, khi nước Nhật tái thiết. Tinh thần của Musashi đã dẫn dắt nước Nhật Bản thành cường quốc của thế kỷ 20.  Miyamoto Musashi là ký ức và là tương lai của tinh thần Nhật Bản.  Shinmen Musashi No Kami Fujiwara NoGenshin, hay còn được biết nhiều hơn với tên Miyamoto Musashi sinh năm 1584 trong một gia đình Samurai có gốc gác lâu đời. Số phận nghiệt ngã đến với ông rất sớm khi trở thành trẻ mồ côi năm bảy tuổi.  Năm mười ba tuổi, với sức vóc mạnh mẽ hơn lứa tuổi của mình cộng với tài năng và sự hung hãn bẩm sinh, Musashi đã có tham gia cuộc quyết đấu đầu tiên của đời mình với kiếm thủ Thần Đạo Lưu có tên là Arima Kihei. Với thanh mộc kiếm trong tay, Musashi đã đánh kiếm thủ lớn tuổi hơn này ngã xuống, rồi dùng mộc kiếm đập vào ông này vào đầu cho đến chết.   Năm mười sáu tuổi Musashi tham dự cuộc quyết đấu thứ hai và đánh bại võ sĩ tài năng Tadashima Akiyama.  Sau trận chiến Sekigahara, Musashi đến Kyoto là thủ đô Nhật Bản lúc bấy giờ để tìm gia đình cừu hận Yoshioka, thách đấu và đánh bại cả ba anh em võ sĩ lừng danh của gia tộc này. Musashi dùng mộc kiếm đánh gục người anh thứ nhất, đánh chết người anh thứ hai bằng cách chém mộc kiếm vào đầu, và giết người thứ ba bằng cách dùng kiếm thép xả thân võ sĩ này.   Sau cuộc quyết đấu có tính trả thù này, Musashi bắt đầu từ bỏ kiếm thép và chỉ sử dụng mộc kiếm. Trong một lần thách đấu với kiếm sĩ giỏi nhất của lãnh chúa Matsudaira, Musashi dụng song kiếm đánh bại võ sĩ này nhưng không giết chết. Ngay lập tức chính lãnh chúa Matsudaira thách đấu với Musashi và bị Mushashi dùng tuyệt chiêu “Thạch Hỏa” để hạ gục nhưng không giết chết. Lãnh chúa Matsudaira chấp nhận thua cuộc, mời Musashi ở lại và tôn làm sư phụ.  Musashi dọc ngang Nhật Bản, trả thù, thách đấu và bị thách đấu như vậy đến năm hai chín tuổi. Giai đoạn này giúp Musashi có những trải nghiệm để xây dựng kiếm pháp của riêng mình.   Kiếm pháp do Musashi phát triển là lối tập kiếm tự thân sáng tạo dựa trên kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Ông là bậc thầy của các trường phái song kiếm (Nhị Đao Lưu – Nito Ryu, Nhị Thiên Nhất Lưu – Niten Ichi Ryu, Thần Đạo Nhị Thiên Nhất Lưu – Shinmen Niten Ichi Ryu) sử dụng một trường kiếm và đoản kiếm. Kiếm pháp do Musashi sáng lập sử dụng hai thanh trường kiếm có tên là Nhị Thiên Nhất Lưu. Tên này là do tư thế cầm hai trường kiếm vung trên đầu của ông. Tuyệt chiêu của kiếm pháp Niten (Nhị Thiên) là dùng “hợp kiếm”, và “giao kiếm”: hai thanh kiếm cùng lúc chuyển động tới mục tiêu thay vì một thanh phòng thủ và một thanh tấn công.   Vào độ tuổi gần ba mươi Musashi trở thành huyền thoại sống và được coi là đệ nhất kiếm khi ông đánh bại và giết chết đại cừu thù và cũng là kiếm thủ thượng thừa Sasaki Korijo ở đảo Ganryu Shima. Ông đánh bại Sasaki bằng một thanh mộc kiếm ông tự đẽo từ mái chèo của con thuyền ông dùng để bơi ra đảo.   Ở tuổi ba mươi, sau khoảng sáu mươi trận quyết đấu bất bại, Musashi bỗng từ bỏ quyết đấu. Có lẽ ở đỉnh cao danh vọng ấy ông nhận ra mình vẫn còn yếu kém và con người không có ai là vô khuyết. Từ năm ba mươi tuổi đến năm năm mươi tuổi, kiếm khách Musashi trở thành một nghệ nhân lừng danh trong các lĩnh vực nghệ thuật mà ông tham gia: điêu khắc, thư pháp và tranh thủy mặc.   Ở tuổi năm mươi ông viết: “Ta đã nhận ra chân đạo”.  Suốt phần đời còn lại ông chỉ luyện kiếm, dạy kiếm, phát triển kiếm pháp, tư duy binh pháp và viết sách. Ông thực hành, chiêm nghiệm Thiền và Kiếm đạo để tìm ra chân lý. Musashi trở thành biểu tượng của sự phá chấp, huỷ bỏ mọi chấp ngã, từ hành động đến nhận thức.   “Thần đạo và Kiếm đạo vốn dĩ chỉ là một. Vì cả hai cùng dẫn đưa con người đến một mục đích là diệt ngã”.   Đệ nhất kiếm khách Musashi đã trở thành Kiếm Thánh. Một kiếm khách mà ẩn chứa bên trong lại là một vị đại thiền sư.   Ngoài kiếm đạo, tất cả những lĩnh vực nghệ thuật mà Musashi tham gia, từ thư pháp, tranh thủy mặc đến tranh khắc gỗ, từ rèn kiếm đến điêu khắc, ông đều là bậc thầy. Ông trở thành bậc thầy vì ông không có thầy. Ông tự mình rèn luyện, tìm tòi,cải cách, sáng tạo. Ông xóa bỏ lối mòn, kể cả lối mòn do chính mình tạo ra.   Ông đập vỡ các chấp ngã trong chính bản thân mình để mở cái ngã của mình ra với cả thế giới, hài hòa với âm-dương, với thiên-địa và trên tất cả là hòa hợp con người với tự nhiên.  Ông nói: “Không có nghề cao quý,chỉ có con người cao quý. Không có kiếm pháp vô địch, chỉ có con người vô địch”.  Ông cũng nói: “Khi ngươi đã thấu hiểu cái đạo của binh pháp, sẽ chẳng có một thứ gì ngươi không thể hiểu”.  Năm 1643 Musashi lánh đời về ở ẩn trong một hang núi có tên Reigendo. Ở đây, trong những tuần cuối đời ông viết cuốn binh thư Go Rin No Sho.  Go Rin No Sho ngày nay đứng đầu bảng trong tất cả các thư viện Kiếm đạo. Đây là cuốn sách độc đáo nhất trong các sách binh pháp khi nó đề cập đến binh pháp chiến trận và thuật chiến đấu cá nhân bằng cùng một cách tiếp cận. Cuốn sách không phải là thuyết về binh pháp thuyết, mà theo lời của Musashi cuốn sách này là cẩm nang cho những người đàn ông muốn học binh pháp.   Bởi nó là cẩm nang, nội dung của nó luôn vượt lên trên tầm hiểu biết của những ai đọc nó. Đọc sách này càng nhiều lần, người đọc càng tìm thấy nhiều hơn trong từng trang sách.   Nhãn quan Kiếm đạo trong sách của Musashi cực kỳ đa dạng. Kẻ nhập môn có thể đọc sách này ở đẳng cấp nhập môn. Những bậc thầy cũng đọc những trang sách này nhưng ở đẳng cấp cao hơn. Sách không chỉ áp dụng cho quân sự, mà có thể dẫn đường cho bất cứ chiến lược gia nào, từ kinh doanh đến chính trị, miễn là ở lĩnh vực áp dụng người ta cần lập kế hoạch và có chiến thuật cho mọi tình huống.   Mọi kế hoạch kinh doanh, mọi chiến dịch quân sự, đều có thể dùng Go Rin No Sho làm cẩm nang dẫn lối. Ngay cả một người bình thường, cũng có thể đọc Go Rin No Sho để hoàn thiện cuộc sống của mình. Và triết lý của cuốn binh thư này có thể ảnh hưởng đến người đọc trong suốt cuộc đời.  Cuốn Go Rin No Sho – Ngũ Luân Thư mà quý độc giả đang cầm trên tay là bản dịch của dịch giả Bùi Thế Cần. Bản dịch Ngũ Luân Thư này dựa vào các bản tiếng Anh: A Book of Five Rings của Victor Harris do The Overlook Press xuất bản năm 1974, The Book of Five Rings của Nihon Services Corporation do Bantam Books xuất bản năm 1982; có tham khảo bản tiếng Nhật kim văn của Kamata Shigeo (Liêm Điền Mậu Hùng) xuất bản năm 1986, và các bản dịch nội gia của Hà Ngân và Mạnh Sơn từ bản tiếng Trung và tiếng Nhật kim văn. Do bản dịch không được dịch thẳng từ nguyên tác bằng tiếng Nhật cổ văn nên chắc chắn sẽ còn những sai sót. Mong độc giả lượng thứ và góp ý để lần tái bản được tốt hơn.  Dịch giả Bùi Thế Cần nguyên là giáo sư Pháp văn Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Hiện ông lui về chốn vắng để dành thời gian cho niềm đam mê của mình là nghiên cứu và tập luyện song kiếm theo trường phái Niten Ichi Ryū của Kiếm thánh Miyamoto Musashi. Ông cũng là võ sư Aikido đệ lục đẳng, có nhiều đóng góp cho phong trào Aikido ở thành phố Hồ Chí Minh.  —  + Alpha Books và NXB Thế giới ấn hành          Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngừng bắn sẽ kéo dài bao lâu?      Ngày 22-11, thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Gaza đem lại một tiếng thở phào nhẹ nhõm cho toàn thế giới. Các tờ báo lớn chạy tin reo vui buổi sáng, nhưng chỉ đến cuối ngày, tâm điểm chú ý của thế giới đã kịp hướng sang vô số những vấn đề thời sự khác. Tuy nhiên, với những người dân ở Gaza và Israel, thỏa thuận này chỉ là để đánh dấu sự bắt đầu của một chuỗi ngày thấp thỏm mới.    Một điều vô cùng rõ ràng là cuộc xung đột kéo dài 64 năm không thể dễ dàng chấm dứt. Tiếng súng ngưng là để chuẩn bị cho một cuộc chiến mới. Những thỏa thuận có tính tạm thời không giải quyết được thấu đáo gốc rễ của vấn đề. Như một quả bom không được tháo kíp mà chỉ bị lùi ngày nổ tung đến một thời điểm bất thình lình không xa.   Để có thể hiểu về cuộc xung đột phức tạp này, không thể không nhìn nhận những yếu tố lịch sử quan trọng thậm chí từ ba đến bốn ngàn năm trước.  Miền đất hứa thuộc về ai?  Toàn bộ vùng đất rộng lớn có tên là Palestine đã có từ hàng ngàn năm bao gồm lãnh thổ Israel, Palestine, cùng phần lớn Jordan, Li-băng và Syria. Ngoài các bộ lạc Ả Rập lẻ tẻ thì cả người Do Thái Israel lẫn người Palestine đều không phải là cư dân gốc của vùng đất này. Hàng ngàn năm trước, người Do Thái di cư đến đây từ Iraq do tin vào lời hứa ban đất của Chúa Trời (Kinh Cựu ước). Ít lâu sau, người đảo Crete của Hy Lạp cũng vượt biển đến vùng này, gây chiến với người Do Thái trong quá trình tìm nơi sinh sống mới.           Gaza và Hamas   Gaza là một dẻo đất nhỏ với dân số 1,7 triệu người nằm lọt thỏm trong lãnh thổ Israel với một mặt giáp biển và một đường biên giới nhỏ thông qua Ai Cập. Gaza thuộc vùng đất LHQ phân chia cho dân Hồi giáo Palestine.     Hamas là một tổ chức chính trị của Gaza tách ra từ mạng lưới lớn Huynh Đệ Hồi Giáo của Ai Cập. Cái tên Hamas có nghĩa là “Phấn chấn”. Năm 2006, Hamas thắng cử trong cuộc bỏ phiếu dân chủ tại Palestine. Một động thái khá bất ngờ của Hamas là gửi thư cho Tổng thống Mỹ Bush khẳng định việc Hamas sẵn sàng công nhận quyền tồn tại của Israel. Tuy nhiên, nhiều nguồn tin khác nhau cho rằng câu trả lời của Bush không rõ ràng hoặc Bush không trả lời.     Na Uy là nước phương Tây duy nhất chấp nhận chính quyền Hamas trong khi Mỹ và một số nước phương Tây coi Hamas là một tổ chức khủng bố.          Cái tên Palestine xuất phát từ tiếng Do Thái để chỉ người Crete có nghĩa là “kẻ di cư” hay “kẻ chiếm đóng”, sau đó được các đế quốc thực dân dùng để chỉ toàn bộ cùng lãnh thổ rộng lớn. Thuật ngữ “người Palestine” cuối cùng dùng để chỉ cả 3 nhóm người: dân Do Thái, dân đảo Crete, và cư dân gốc ở đây.  Bản chất cuộc chiến giữa Israel và Palestine là cuộc chiến về quyền chủ đất. Tuy nhiên, việc xác nhận xem ai thực sự là chủ đất sau ba bốn ngàn năm lịch sử là điều gần như không thể. Không ai có thể chắc chắn rằng những người Palestine đòi đất là con cháu người vùng Crete hay con cháu của người gốc Ả Rập ở đây.  Những chủ nhân của Miền đất hứa  Vùng Palestine liên tục nằm dưới quyền cai trị của nhiều chính quyền ngoại quốc. Sau khi đế chế Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh thua trận, Palestine bị hai cường quốc thực dân mới là Anh và Pháp chia cắt lãnh thổ. Một phần lớn Palestine bị cắt cho Li-băng, Syria, Jordan. Phần còn lại của Palestine nằm dưới quyền kiểm soát của Anh. Dân cư ở đây chủ yếu là người Do Thái và người Hồi.  Cả hai nhóm người đều đấu tranh với thực dân Anh để được thành lập quốc gia riêng, nhất là người Do Thái sau hàng ngàn năm lịch sử bị xua đuổi và diệt chủng của Đức Quốc xã. Bên cạnh đó, cả hai nhóm người cũng xung đột dữ dội với nhau do làn sóng người Do Thái liên tục tìm đường trở về miền đất hứa.  Ít người biết rằng chính dân Do Thái ở Palestine là người đẻ ra khái niệm “Khủng bố”. Năm 1946, tại khách sạn King David, một quả bom nổ khiến 91 người thiệt mạng, chủ yếu là người Anh. Vụ đánh bom do người Do Thái tổ chức với mục đích duy nhất là để thu hút sự chú ý của báo chí thế giới đến đòi hỏi được thành lập nhà nước độc lập. Chiến lược “khủng bố” này giúp họ đạt được kết quả. Năm 1948, đế quốc Anh lo sợ trước các cuộc đánh bom và cũng không điều khiển được xung đột giữa hai sắc dân nên tuyên bố rút lui, để lại số phận phần còn lại của Palestine rộng lớn khi xưa cho Liên Hợp Quốc giải quyết.  Cơ hội hòa bình để mất   Liên Hợp Quốc (LHQ) đề xuất việc chia mảnh đất này làm hai phần, một cho dân Do Thái lập nhà nước Israel, một cho dân Palestine, riêng Jerusalem linh thiêng với những địa điểm tôn giáo quan trọng nhất của cả ba tôn giáo Thiên Chúa, Hồi giáo và Do Thái giáo thì trở thành trung tâm quốc tế do LHQ kiểm soát.  Dân Do Thái đồng ý và lập tức thành lập Nhà nước Israel. Người Do Thái Palestine lập tức đổi tên là người Do Thái Israel. Các tờ báo lớn của người Do Thái, trong đó có tờ báo nổi tiếng Palestine Post cũng đổi tên thành Jerusalem Post.  Tuy nhiên, dân Ả Rập ở cả miền đất hứa và gần như toàn bộ Trung Đông kịch liệt phản đối. Lý do được đưa ra là người Do Thái chỉ chiếm có 35% dân số Palestine còn người Ả Rập Hồi giáo chiếm tới 65%. Theo nguyên tắc đa số, nhà nước mới thành lập chỉ có thể là một quốc gia duy nhất mang tên Palestine.           Mặc dù việc nước Palestine được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc công nhận ngày 29/11/2012 vừa qua là một chiến thắng lịch sử mang tính biểu tượng cho người Palestine, nhưng một nền độc lập thật sự còn đang mờ mịt phía trước, phụ thuộc vào tiến trình đàm phán hòa bình giữa Palestine và Israel. Israel đã cảnh báo rằng hành động vừa rồi của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc sẽ càng gây chậm trễ một giải pháp có tính lâu dài.          Chỉ một ngày sau khi Nhà nước Israel non trẻ tuyên bố thành lập, liên minh 5 nước lớn xung quanh gồm Ai Cập, Jordan, Syria, Iraq và Li-băng đồng loạt nổ súng tấn công. Đất đai giành giật, chiếm đi cướp lại xóa nhòa đường biên vốn do LHQ đề xuất. Israel mới đầu chỉ là tự vệ, sau càng đánh càng hăng, mỗi lần thắng trận lại khẳng định chủ quyền trên phần đất xung đột. Jerusalem trở thành thủ đô Israel, và quân đội Israel kiểm soát cả một phần lớn vùng đất của dân Hồi giáo Palestine, vì thế nên đây còn là vùng bị chiếm đóng.  Phải đến gần đây, ngày 29/11/2012, Palestine mới được công nhận là một nhà nước tự chủ. Lý do sự chậm trễ này là vì sự phản đối của Mỹ và các nước Tây Âu trong LHQ, quan ngại về sự an toàn của Israel. Một khi Palestine được thành lập, họ lo rằng đây có thể trở thành nền móng của một tổ chức Hồi giáo cực đoan tấn công và tiêu diệt Israel vì người Palestine luôn coi việc thành lập Israel là không thể chấp nhận.  Bản đồ đồng minh thay đổi  Suốt trong vài thập kỷ, cuộc chiến ở vùng nóng Trung Đông này bản chất là cuộc chiến giữa Israel Do Thái giáo và Liên minh Ả Rập Hồi giáo “thay mặt” đòi chủ quyền cho dân Palestine thấp cổ bé họng trên vùng đất hứa. Chỉ cho đến gần đây tiếng nói Palestine mới thực sự chiếm diễn đàn do hầu hết các nước trong Liên minh Ả Rập đã bình thường hóa quan hệ với Israel hoặc ngừng cuộc chơi đổ máu. Vua Jordan thậm chí còn mạnh mồm tuyên bố với con dân: “Ai mà dám đụng vào người Israel thì ta sẽ tự tay bóp chết!”  Tuy một số quốc gia trên thế giới chuyển thái độ từ bài Israel sang trung lập, nhưng việc Israel liên tục xây các khu định cư trái phép trên đất Palestine và dựng nên bức tường ngăn cách lại khiến cho một số đồng minh phương Tây của Israel giảm sự ủng hộ, ví dụ như Pháp và Na Uy.   Trong khi đó, người Palestine cũng liên tục phản đối Israel bằng các đợt bắn rocket và đánh bom cảm tử. Hàng chục ngàn quả rocket đã được bắn vào Israel từ Gaza với tầm sát thương chiếm tới 45% diện tích Israel. Cả hai bên cùng tuyên bố ủng hộ tiến trình hòa bình, nhưng đồng thời Israel không dứt khoát trong việc ngừng các khu định cư trái phép và Palestine không tuyệt đối chấm dứt tấn công Israel bằng vũ lực. Cuộc xung đột hiện diễn ra trong những ngày gần đây chỉ là một trong những điểm sôi của một cuộc chiến âm ỉ. Hầu như không thể xác định ai là người khởi xướng. Cả hai phe coi việc sử dụng vũ lực là để “tự vệ”.  Cuộc chiến vẫn tiếp diễn sau ngừng bắn  Trong khi tiếng súng gần đây đã ngưng sau thỏa thuận ngừng bắn mà hai bên mới đạt được, nhưng các công dân mạng ở Palestine vẫn tiếp tục cuộc chiến online với Israel. Bình thường mỗi ngày chỉ có khoảng vài trăm cuộc phá rối các trang mạng của chính quyền Israel, nhưng kể từ khi xung đột leo thang con số đã lên đến hơn 44 triệu tính từ hôm thứ 4 tuần trước. 650 trang mạng đã bị phá hủy.           Việt Nam và Israel   Trong một giai đoạn khá dài, hình ảnh của Israel trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam được mô tả khá tiêu cực. Nhưng từ năm 1993, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Israel và cử đại sứ đầu tiên. Từ đó đến nay, Việt Nam giữ thái độ trung lập trước cuộc chiến. Israel cấp cho Việt Nam hàng trăm học bổng đào tạo ngắn hạn, đóng góp khắc phục thiên tai, xếp thứ 56/81 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các công ty Israel tham gia đầu tư vào Việt Nam như tòa Landmark ở Hà Nội và Capital Fund tại thành phố Hồ Chí Minh.         Nếu nhìn một cách tổng quát, thỏa thuận ngừng bắn đạt được do Ai Cập đứng ra dàn xếp chứng tỏ một điều, cuộc chiến ở Gaza ngày càng đi vào hồi bế tắc. Những người bạn mà tôi quen biết ở cả hai phía trong thời gian tôi ở Israel và Palestine hồi tháng 7 năm nay, vẫn giữ liên lạc được với tôi trong những ngày vừa qua. Đối với họ, cuộc chiến này dường như đang đi vào ngõ cụt.  Hôm 21-11, trước thỏa thuận ngừng bắn đúng một ngày, khi chiếc xe bus số 142 đi ngang qua Shaul Hamelech Street bị đánh bom nổ tung, một người bạn của tôi ở Tel Aviv thông báo cô và chồng đã thoát chết trong gang tấc khi nghỉ ở nhà không phải đi làm. Bác tài lái chiếc xe bus này, Nachum Hertzi, thậm chí là một người bạn của gia đình.  Trong hàng chục ngàn lính dự bị Israel được lệnh điều động trở lại hàng ngũ, phần đông trong số họ vẫn chưa kịp trở về gia đình, trong đó có 3 người bạn của tôi. Một trong số họ vừa có con chào đời. Bạn tôi, người cùng chồng thoát chết vì không đi chuyến xe buýt số 142, đang có bầu 5 tháng. Sự căng thẳng trong suốt quá trình mang thai và đỉnh điểm là sự cố đánh bom khiến cô đã phải nhập viện.  Cuộc chiến 64 năm giữa Israel và Palestine cho đến ngày hôm này đã cướp đi mạng sống của hơn 7000 người Palestine và 1500 người Israel, trong đó có 1800 trẻ em. Và như một câu chuyện đau thương không hồi kết, những thương vong nhỏ ở khu vực đường biên chắc chắn sẽ lại diễn ra hằng ngày. Câu chuyện này đã quá quen thuộc, đến mức đa số truyền thông quốc tế xem là quá đỗi bình thường và không còn coi là tin tức. Vì vậy, chúng ta sẽ chỉ được nghe tới xung đột Israel-Palestine khi bất thình lình có một quả rocket rơi thẳng vào trung tâm phồn hoa của Tel Aviv.   —  Bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Phương Mai, giảng viên ngành Đàm phán Đa văn hóa tại ĐH khoa học ứng dụng Amsterdam, Hà Lan, hiện đang thực hiện một chuyến hành trình dọc Trung Đông để nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của Hồi giáo. Bạn đọc có thể cập nhật thông tin tại www.CultureMove.com hoặc www.facebook.com/dr.nguyenphuongmai    Author                Nguyễn Phương Mai        
__label__tiasang Người đem “quốc tế” về với Việt Nam      Sau bốn năm theo học tại Australia, trong hành trang trở về của người thanh niên 33 tuổi Lê Hồng Hiệp không chỉ có bằng tiến sĩ về chính trị quốc tế mà còn có một dự án dịch thuật và nghiên cứu đang rất được giới học thuật chuyên ngành trong cũng như ngoài nước chú ý: Dự án Nghiencuuquocte.net.  &#160;    Thành lập tháng 5/2013 từ ý tưởng cá nhân của Lê Hồng Hiệp với mục tiêu ban đầu là cung cấp các học liệu chuyên ngành nghiên cứu quan hệ, kinh tế và chính trị quốc tế có chất lượng cho độc giả trong nước chủ yếu bằng cách biên dịch Anh – Việt các tài liệu học thuật đã được thẩm định, cho đến nay, Nghiencuuquocte.net đã thu hút được hơn 600 đăng ký cộng tác viên, fanpage trên Facebook có hơn 5.000 lượt likes, hàng trăm bài biên dịch (từ các tạp chí, báo uy tín ở nước ngoài) hoặc bài viết đã được công bố.   Động lực khiến Hiệp quyết định đầu tư thời gian, vốn đã rất eo hẹp do yêu cầu cao từ chương trình nghiên cứu sinh tại Đại học New South Wales, để triển khai dự án, xuất phát từ chính những khó khăn và trải nghiệm của anh trong thời gian hai năm giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam; “trong khi số người học tập và nghiên cứu về các vấn đề quốc tế ở Việt Nam ngày càng gia tăng thì việc tiếp cận các tài liệu mang tính học thuật của thế giới về lĩnh vực này còn rất hạn chế”, Hiệp chia sẻ. Theo Hiệp, bất cập này xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, “các tài liệu [khoa học] này thường phải trả phí mới tiếp cận được, trong khi các trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam hầu như không có nguồn lực cho việc này”, và thứ hai “rào cản ngôn ngữ tiếng Anh khiến nhiều sinh viên, nhà nghiên cứu, và đặc biệt là quảng đại độc giả quan tâm đến các vấn đề quốc tế nói chung, gặp khó khăn trong việc tiếp thu, lĩnh hội”.  Mô hình dự án học thuật dựa trên mạng xã hội   Trăn trở từ lâu, nhưng mãi đến tháng 5/2013, Hiệp mới “định hình được một cách có hệ thống cách thức triển khai từ ý tưởng ban đầu, cụ thể là việc sử dụng website tích hợp mạng xã hội và fanpage trên Facebook để kết nối với độc giả và tập hợp các cộng tác viên, tình nguyện viên có trình độ ngoại ngữ và am hiểu chuyên môn”.Nhờ cách làm này, bên cạnh các đồng nghiệp quen biết từ trước, Hiệp đã mời thêm được khá nhiều cộng tác viên, vốn ban đầu chỉ là những độc giả của Nghiencuuquocte.net, cùng tham gia tích cực vào dự án. Trần Kiên, nghiên cứu sinh ngành luật tại Đại học Glasgow, Anh Quốc – người chưa bao giờ gặp Hiệp ngoài đời, là một trong số đó. Tình cờ biết đến Nghiencuuquocte.net qua mạng xã hội và internet, “thấy anh Hiệp khởi xướng dự án rất ý nghĩa, có liên quan phần nào đến chuyên môn, và trong khả năng đóng góp, tôi đăng ký tham gia: ban đầu chỉ là dịch bài, và sau này trở thành thành viên chính thức của Ban biên tập” – Trần Kiên chia sẻ.   Trên thực tế, từ năm 2010 trở lại đây, mô hình dự án phổ biến tri thức dựa vào mạng xã hội (cả lợi nhuận lẫn phi lợi nhuận) đã và đang phát triển nở rộ trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, có thể kể đến một số trường hợp thành công như Triết học đường phố – trang web do một du học sinh tại Mỹ thành lập từ năm 2011 với mục đích chia sẻ những bài viết về các quan niệm, triết lý đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, đến nay fanpage của dự án này đã có hơn 150.000 lượt “like”, hay Tinh tế – diễn đàn dành cho cộng đồng yêu khoa học và công nghệ với hơn 200.000 thành viên.   Tuy vậy, điểm đặc biệt của Nghiencuuquocte.net so với các dự án khác là bởi tính “kén độc giả” và “hàm lượng học thuật” rất cao. Lướt qua một vòng trên Nghiencuuquocte.net, chúng ta có thể thấy, các bài được lựa chọn để đăng hoặc là liên quan những chủ đề nóng và gây tranh cãi nhất không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới như vấn đề bán đảo Crimea, tình hình biển Đông, Bắc Triều Tiên, vai trò của đồng dollar … hoặc là đề cập đến những vấn đề kinh điển như dân chủ, chủ nghĩa khủng bố hay phát triển bền vững.   Mặc dù vậy, điều làm chính Lê Hồng Hiệp cảm thấy ngạc nhiên là chỉ một thời gian ngắn sau khi thông báo nhu cầu cộng tác viên, đã có khá đông sinh viên, nghiên cứu viên và nhiều người trong giới chuyên môn hưởng ứng, hoàn toàn tự nguyện và phi lợi nhuận. Có lẽ, “điều giúp cuốn hút và gắn kết các biên tập viên và cộng tác viên với Dự án là do tính hữu ích, thiết thực, học thuật và thẳng thắn của Dự án,” Lê Hồng Hiệp lý giải.   Hướng tới việc tư vấn chính sách  Thời gian gần đây, bên cạnh các bài dịch của các học giả nước ngoài, Nghiencuuquocte.net tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động với việc giới thiệu hai chuyên mục mới là Quân sự và Bình luận – nơi chủ yếu giới thiệu các bài do chính Lê Hồng Hiệp và các thành viên trong Ban biên tập viết. Trong đó, đã có một số bài có chất lượng và sức lan tỏa vượt ngoài phạm vi của dự án. Ví dụ như bài “Biển đông trên bàn cờ lớn của Trung Quốc” của tác giả Đỗ Thanh Hải, giảng viên Học viện Ngoại giao Việt Nam, nghiên cứu sinh Đại học Quốc gia Australia, có phiên bản tiếng Anh (South China Sea in China’s Grand Chessboard) đã được đăng tại PacNet, tạp chí thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế (CSIS) – tổ chức hàng đầu thế giới về lĩnh vực chính trị quốc tế. Một ví dụ khác là bài “Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam” của chính người chủ xướng dự án đã được Thông tấn xã Việt Nam lựa chọn in trong Bản tin hàng tuần gửi tới các cơ quan chức năng trong nước để tham khảo.  Có thể nói, về mô hình, từ một trang web thuần túy dịch thuật, Nghiencuuquocte.net đang dần phát triển trở thành một diễn đàn có dáng dấp của một think-tank với nhiều bài viết, phân tích, bình luận sắc sảo, độc lập dựa trên các luận cứ khoa học hiện đại và cập nhật, vừa hữu ích cho giới chuyên môn, vừa có giá trị về mặt thực tiễn cho các nhà lập pháp, hoạch định chính sách.  Tuy vậy, với Lê Hồng Hiệp và các cộng sự, dường như việc có trở thành một think-tank trên danh nghĩa hay không, cũng không quá quan trọng, như Trần Kiên chia sẻ, “đa số các thành viên đều là những người rất có năng lực cả về phương pháp, kiến thức và ngôn ngữ; việc họ tự nguyện tham gia vào dự án là một chuyện hết sức tự nhiên và bình thường, và đơn giản chỉ là minh chứng cho năng lực và tâm huyết của họ”. Còn riêng với Hiệp, điều mà anh quan tâm nhất trong năm 2015 cũng như trong tương lai là làm sao duy trì được “cách làm việc nghiêm túc, chuyên nghiệp và đảm bảo nhất quán chất lượng học thuật các bài viết, bài dịch để giúp Dự án tiếp tục tạo được uy tín và sự tin tưởng từ những người quan tâm”.           Lê Hồng Hiệp vừa hoàn thành chương trình  nghiên cứu sinh tiến sĩ về Chính trị học tại Đại học New South Wales  (Australia) tháng 12/2014. Trước đó, anh đã có thời gian công tác tại Bộ  Ngoại giao Việt Nam và làm giảng viên tại Đại học Quốc gia TP Hồ Chí  Minh.Lê Hồng Hiệp đã có nhiều bài báo khoa học, các phân tích, bình luận  được đăng trên các tạp chí và diễn đàn uy tín trên thế giới như  Contemporary Southeast Asia, Southeast Asian Affairs, Asian Politics  & Policy, ASPI Strategic Insights, ISEAS Perspective, American  Review, The Diplomat hay East Asia Forum.                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Đức trước các chương trình tranh cử Quốc hội 2013      Năm Đảng đại diện trong Quốc hội Đức (tức  đạt trên 5% phiếu cử tri kỳ bầu cử trước) đang cố gắng vận động phiếu  bầu của người dân cho kỳ bầu cử Quốc hội Liên bang tháng 9.2013.     Từ mấy tháng trước, các Đảng đều tổ chức Đại hội thống nhất chương trình tranh cử. Bằng các cách khác nhau, các đảng ra sức chào mời công dân tham gia thảo luận, góp ý cho chương trình tranh cử của họ, người dân nhờ đó có đầy đủ căn cứ với cơ man khả năng lựa chọn để cân nhắc lá phiếu của mình: Đảng CDU mời công dân góp ý về 8 chính sách lớn của họ với khẩu hiệu: “Điều gì nằm trong tim tôi!“ Đảng SPD bằng chương trình mang tên: “Đối thoại với công dân“, Đảng FDP với khẩu hiệu “Tự do của tôi“, mở diễn đàn mời công dân đăng ký thảo luận trực tiếp; Đảng Linke, Đảng Bündnis/Grünen mời đảng viên và công chúng tham gia các diễn đàn tổ chức tại các điạ phương và bố trí giờ nối mạng cho lãnh đạo đảng đối thoại với công chúng.     1. Chương trình Đảng cầm quyền CDU/CSU     Ngay đầu năm, Ban chấp hành Đảng CDU thông qua “Tuyên bố Wilhelmshaven“ với chủ đề „Cùng nhau vì một nước Đức hùng mạnh“, trong đó nêu rõ họ muốn xây dựng nền chính trị nước Đức như thế nào. Đồng thời CDU/CSU giới thiệu trên trang web của họ những chính sách chủ yếu.   – Thuế – Tài chính. Tuyên bố khẳng định, trật tự tài chính là chìa khóa phát triển bền vững và thịnh vượng lâu dài. Vì vậy CDU mong muốn cố gắng giảm nợ mới. Từ năm 2015 ngân sách quốc gia sẽ không thêm nợ mới. Theo kế hoạch tài chính của Chính phủ Liên minh CDU/CSU và FDP, từ năm 2016 nợ sẽ hoàn trả dần. Tuy đưa ra nhiều kế hoạch tiết kiệm, CDU vẫn nhấn mạnh sẽ tiếp tục đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu. Ngoài ra, CDU sẽ giảm thuế cho tầng lớp trung lưu và sửa đổi cách tính thuế lũy tiến có lợi cho tầng lớp này thông qua loại bỏ yếu tố lạm phát. CDU bác bỏ việc tái áp dụng thuế tài sản, hay tăng thuế thừa kế, vì sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, dẫn tới thiếu việc làm.  – Năng lượng. CDU nhấn mạnh cách mạng năng lượng đảm bảo cho nước Đức một nguồn năng lượng có thể chi trả, sạch và vững chắc, đồng thời tạo nhiều chỗ làm việc cho tương lai. Mục tiêu phấn đấu là biến Đức thành một trong những nền kinh tế thế giới sử dụng năng lượng hiệu quả và thân thiện môi trường nhất. Đến năm 2050, mức tiêu thụ năng lượng hóa thạch phải giảm nửa, tăng năng lượng tái tạo chiếm 80% trên tổng mức tiêu thụ điện, và hiệu ứng nhà kính gây tổn hại khí hậu phải giảm ít nhất 80% so với năm 1990. Khi chuyển đổi nguồn cung cấp năng lượng phải tính toán kỹ lưỡng theo đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế. Do đó, CDU tiếp tục giữ các quy định ngoại lệ, như ưu đãi về thuế năng lượng và phí mạng điện cho các công ty tiêu thụ nhiều năng lượng, để giữ nước Đức luôn là một nền công nghiệp có tính cạnh tranh quốc tế, đảm bảo chắc chắn cho hàng trăm nghìn chỗ làm việc. Quy định ngoại lệ này đồng thời cũng nhằm bảo vệ hiệu quả môi trường toàn cầu. Bởi nếu không, các doanh nghiệp sẽ dời sang các nước có đạo luật bảo vệ môi trường ít khắt khe hơn ở Đức.  Để cuộc cách mạng năng lượng thành công, đòi hỏi mạng lưới điện phải được xây dựng lại. Đạo luật đẩy nhanh hoàn thiện mạng lưới điện và thay đổi luật về kinh tế năng lượng đã ban hành đặt nền tảng pháp lý cho hiện đại hóa mạng lưới truyền tải điện. Ngoài ra, CDU tiếp tục các biện pháp tiết kiệm năng lượng như chương trình hỗ trợ tu bổ các tòa nhà cũ để cách nhiệt tốt về mùa Đông.   – Lao động – Xã hội. CDU khẳng định, người dân phải sống được bằng đồng lương của họ, nhưng kiên quyết bác bỏ mức lương tối thiểu bắt buộc. Thay vào đó áp dụng mức lương „nền“ chung cho các ngành không ký hợp đồng lao động tập thể. Một Ủy ban đại diện lao động và chủ lao động có thể ấn định mức lương nền này. Trên nguyên tắc, CDU ủng hộ mô hình lao động chuyển giao (tức lao động do công ty này thuê nhưng sử dụng tại công ty khác). Theo cách này, những người không được đào tạo chuyên ngành có thể tham gia vào thị trường lao động dễ dàng hơn. Tuy nhiên, phải tuân thủ nguyên tắc “cùng mức lương cho cùng công việc“.  – Đối với hưu trí, CDU chủ trương chính sách nghỉ hưu non linh hoạt. Với chính sách “bán nghỉ hưu“, người về hưu non được tạo điều kiện làm việc bán thời gian. Đến nay mức thu nhập thêm cho phép tối đa 400 Euro/tháng, cao hơn sẽ bị khấu trừ vào lương hưu non. Theo chính sách hưu trí mới nhất được Liên minh cầm quyền thông qua, các bà mẹ sinh con trước năm 1992 sẽ được nhận thêm điểm tính tiền hưu sau này. Ngoài ra, cái được gọi là “tiền hưu trí đảm bảo cuộc sống“ sẽ được thực hiện để tránh tình trạng nghèo đói tuổi già. Theo đó, những người đã đóng bảo hiểm hưu trí nhà nước trong ít nhất 40 năm và đóng tiền tiết kiệm dự phòng về già sẽ nhận được một khoản hỗ trợ hưu trí để đạt được mức tối thiểu 850 Euro/tháng, nếu lương hưu của họ dưới mức đó.   – Gia đình. CDU yêu cầu luật hóa quyền trẻ nhỏ từ 12 đến 36 tháng phải có chỗ chăm sóc miễn phí. Hiện tại, các tiểu bang và địa phương đang nỗ lực xây dựng nhà gửi trẻ cả ngày. Chính phủ đồng ý chi thêm cho các tiểu bang 580,5 triệu Euro và hỗ trợ chi phí hoạt động mỗi năm 75 triệu Euro. Ngoài ra, áp dụng “tiền chăm sóc con“, trợ cấp cho gia đình tự chăm sóc con ở nhà, giúp họ có cơ hội lựa chọn tự chăm sóc ở nhà hay gửi nhà trẻ. Trong tương lai, CDU phấn đấu cho một môi trường làm việc phù hợp gia đình. Các bậc cha mẹ sẽ ít căng thẳng hơn khi quay lại làm việc toàn phần sau một thời gian làm việc bán phần do bận nuôi con. Ngoài ra, giờ mở cửa nhà trẻ sẽ dài hơn. Đồng thời triển khai chính sách “trợ cấp cho ông bà nghỉ việc chăm nuôi cháu“.  CDU tôn trọng kết hôn đồng tính. Tuy nhiên không thừa nhận ngang với hôn nhân dị tính, bởi không đúng với điều 6 Hiến pháp quy định đặc quyền hôn nhân giữa nam và nữ.   2. Đảng SPD  Đại hội Đảng SPD thông qua chương trình tranh cử, với khẩu hiệu cổ động “das Wir entscheidet – Một tập thể chúng ta sẽ quyết định tất cả“. Khẩu hiệu trên bị đảng FDP chỉ trích cho là tuyên truyền (mỵ dân, không bao giờ có trong thực tế) tương tự khẩu hiệu thời Đông Đức, “vom Ich zum Wir – từ tôi trở thành chúng ta“.   – Thuế- Tài chính. SPD chủ trương kiểm soát thị trường tài chính theo diện rộng. Hậu quả đầu cơ vô trách nhiệm trên thị trường tài chính sẽ dẫn đến nợ nhà nước gia tăng rất nguy hại. Do đó, SPD chủ trương đánh thuế giao dịch tài chính, quy định chặt chẽ về vốn chủ sở hữu của ngân hàng, tách bạch ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại. Các ngân hàng toàn EU nên thành lập một cơ chế bảo lãnh, để khi rơi vào nguy cơ phá sản, nhà nước không phải gánh chịu trách nhiệm thay. Ngoài ra, cần cấm đầu cơ nguyên liệu và lương thực.  SPD đưa ra kế hoạch tăng thuế, để có tiền thặng thu giảm nợ mới tập trung đầu tư cho đào tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng. Từ đó, SPD lên kế hoạch áp dụng trở lại thuế tài sản “với một mức độ phù hợp“ nhằm tạo điều kiện cho các tiểu bang nâng cấp đầu tư giáo dục. Tuy nhiên nâng thuế phải tránh nhắm vào các công ty hợp doanh và tư nhân quy mô nhỏ. Đối với từng cá nhân, khoản miễn thuế tài sản phải bảo đảm cho nhà ở bình thường của họ không bị đánh thuế. Ngoài ra, thuế thu nhập cũng sẽ được nâng lên đối với mức thu nhập cao nhất. Với thu nhập cá nhân từ 100.000 Euro/năm, (cho vợ chồng là 200.000 Euro/năm), thuế tăng từ 42% hiện nay lên 49%. Lợi tức đầu tư tài chính cũng bị đánh thuế cao hơn ở mức 32% so với hiện tại 25%.   – Năng lượng. SPD muốn lập Bộ Năng lượng riêng để điều hành cuộc cách mạng năng lượng, nhằm bảo đảo khả năng chi trả giá năng lượng trong quá trình chuyển đổi năng lượng và tránh áp lực lên khu vực sản xuất và hộ gia đình, như giảm thuế điện chẳng hạn. Từ đó, SPD chủ trương cải cách cơ bản đạo luật năng lượng tái tạo, cụ thể: hoạch định lại chương trình hỗ trợ năng lượng tái tạo và hệ thống định giá điện với điều kiện tiên quyết đảm bảo đủ cung cấp với giá điện người mua có thể trả được. Năng lượng tái tạo được ưu tiên hàng đầu. Tiến bộ kĩ thuật và những phát minh trong lĩnh vực này sẽ giúp giảm chi phí sản xuất trung hạn đến dài hạn. Nhờ đó từng bước cắt giảm hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực này. Để thúc đẩy hoàn thiện và hiện đại hóa mạng lưới điện, SPD dự định hợp nhất các mạng điện vào công ty lưới điện quốc gia Đức. Chính quyền các cấp sẽ đầu tư, tham gia cổ phần, và chia lợi nhuận, qua đó thực hiện chức năng điều hành.   – Lao động và xã hội. SPD chủ trương áp dụng mức lương tối thiểu bắt buộc 8,50 Euro/giờ. Cho cùng một công việc, lao động chuyển giao cũng phải được nhận cùng mức lương như đồng nghiệp biên chế của công ty sử dụng lao động.   Để chống lại giá thuê nhà tăng, trong tương lai giá thuê nhà cho các hợp đồng thuê mới chỉ được phép cao hơn mức sàn tại khu vực đó tối đa 10%. Đối với những hợp đồng đang có hiệu lực chỉ được tăng tối đa 15% trong vòng 4 năm. Nhằm giảm tải gánh nặng tiền thuê nhà, nhà nước sẽ đầu tư các dự án xây nhà xã hội với chương trình hàng tỉ Euro.  Về hưu trí, đến năm 2020, lương hưu phía Đông sẽ bằng phía Tây. Để ngăn chặn tình trạng đói nghèo khi về già, SPD dự trù chi trả “lương hưu đoàn kết“ 850 Euro/tháng cho những người có thu nhập thấp đã đóng phí bảo hiểm hưu trí nhà nước ít nhất 30 năm trong vòng 40 năm làm việc. Từ 63 tuổi trở đi, được quyền nghỉ hưu non, không bị cắt giảm mức hưu, nếu họ đã đóng bảo hiểm hưu trí nhà nước được 45 năm.  – Gia đình. SPD trù định hủy bỏ trợ cấp “tiền chăm sóc con“ được Liên minh đang cầm quyền ban hành hiện nay và dùng toàn bộ số tiền đó đầu tư xây dựng nhà trẻ cùng các cơ sở chăm sóc trẻ em cả ngày. Tiền con được cải cách để giữ cho các gia đình thu nhập thấp và vừa không bị rơi vào nhóm đối tượng phải xin nhà nước trợ cấp bảo đảm cuộc sống (được gọi là trợ cấp Hartz IV): những gia đình có thu nhập dưới 3000 Euro hàng tháng sẽ nhận thêm 140 Euro tiền hỗ trợ trẻ em bên cạnh 180 Euro tiền trẻ em như trước đây, nâng tổng số tiền được nhận lên đến 324 Euro/tháng.  3. Liên minh Bündnis 90/Grünen   Đại hội Đảng Grünen thông qua chương trình tranh cử với tiêu đề “Zeit für den grünen Wandel – thời kỳ để chuyển đổi sang màu xanh (hàm ý chính quyền chuyển sang cho đảng Grünen-Xanh nắm)“. Chương trình này đã được công bố trên mạng để đảng viên và công chúng tham gia thảo luận   – Thuế – Tài chính. Thông qua chính sách thuế, đảng Xanh muốn tạo ra một sự công bằng xã hội tốt hơn. Theo đó, mức thu nhập miễn thuế tăng lên ít nhất 8.700 Euro/năm, so với hiện tại 8.130 Euro/năm. Người có thu nhập cao, ngược lại, phải đóng góp cho nhà nước nhiều hơn. Với thu nhập trên 60.000 Euro/năm, mức thuế tăng lên 45%, trên 80.000 Euro tới 49%. Giảm thuế cho những thu nhập dưới 60.000 Euro/năm. Tính ra thặng thu thuế khoảng 3 tỉ Euro/năm. Thuế thừa kế sẽ tăng gấp đôi.  Ngoài ra, Grünen dự trù thu 1,5% tiền thuế đối với tài sản ròng từ 1 triệu Euro trở lên. Sau dăm, mười năm, nhà nước sẽ thu được khoảng 100 tỉ Euro. Mức thuế tài sản được áp dụng cho 10 năm, sau đó sẽ điều chỉnh. Khoản thu này chỉ dành để trả nợ công. Đối với doanh nghiệp cổ phần trách nhiệm hữu hạn, thuế suất phải đóng tối đa 35% trên tổng lợi nhuận.   – Năng lượng. Đảng Xanh đề xuất một đạo luật bảo vệ khí hậu, giảm lượng khí thải đến năm 2020 đạt 40%, năm 2050 đạt 95% so với năm 1990. Đạo luật cũng đưa ra những mục tiêu cụ thể cho các lĩnh vực công nghiệp, giao thông, nông, lâm nghiệp. Ngoài ra, sửa đổi Luật khai khoáng nhằm chấm dứt khai thác than nâu đến năm 2030. Cách mạng năng lượng sẽ được thúc đẩy nhanh hơn và trong thập niên kế tiếp năng lượng tái tạo phải đạt trên 50% tổng nguồn điện. Điện gió và điện mặt trời sẽ là nguồn năng lượng nền tảng trong tương lai. Tuy nhiên vẫn cần bổ sung các nhà máy điện nhiên liệu thạch hóa đảm bảo cung cấp đủ điện vào thời kỳ ít gió, nắng.   – Lao động – Xã hội. Áp dụng mức lượng tối thiểu bắt buộc 8,50 Euro/giờ trên toàn quốc. Công việc làm thêm (bán thời gian) được giới hạn và về lâu dài sẽ bãi bỏ, tức chỉ còn lao động toàn phần. Lao động chuyển giao sẽ nhận lương ngang bằng nhân viên biên chế cho cùng một công việc kể từ ngày làm việc đầu tiên. Tiền mặt trợ cấp Hartz IV (áp dụng cho bất cứ ai (tức mọi công dân và cả người nước ngoài được phép sinh sống ở Đức) còn sức lao động mà thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu cuộc sống cơ bản) tăng từ 382 Euro hiện nay lên 420 Euro/tháng (chưa kể các khoản miễn phí: tiền thuê nhà, điện nước, bảo hiểm sức khoẻ và các nhu cầu phát sinh bất khả kháng như hiếu hỷ, sinh con…). Ngân sách chi trả tiền Hartz IV tăng lên được bảo đảm nhờ áp dụng mức lương tối thiểu, qua đó trợ cấp Hartz IV cho lao động lương thấp như hiện tại không còn nữa. Áp dụng “Lương hưu đảm bảo“ chi trả bằng ngân sách nhà nước, ít nhất 850 Euro/tháng cho người về hưu đã đóng bảo hiểm 30 năm.   – Gia đình. Hủy bỏ tiền chăm sóc con (tiền nhà nước cấp cho mọi công dân có con từ 1 tuổi tới 3 tuổi không có chỗ gửi trẻ, dưới 1 tuổi được cấp tiền „cha mẹ“ do phải nghỉ việc chăm nuôi con), thay vào đó là đáp ứng quyền trẻ em có chỗ chăm sóc cả ngày cho mọi độ tuổi. Trong nhiệm kì tới, bắt đầu áp dụng tiền đảm bảo cơ bản cuộc sống trẻ em, gồm tiền con (cấp cho con cái tới 18 tuổi, hoặc 25 tuổi nếu đi học, nghĩa vụ quân sự, chưa tìm được việc làm), tiền con bổ sung (áp dụng cho những gia đình có con thu nhập thấp, để nếu được cấp tiền này sẽ thoát khỏi đối tượng xin Hartz IV), các loại tiền hỗ trợ trẻ em khác. Mỗi một trẻ được hưởng một khoản hỗ trợ từ nhà nước bằng nhau, không phụ thuộc vào thu nhập của bố mẹ.  Bảng thuế thu nhập gọi là Splitting (dành cho cặp vợ chồng, thường thấp hơn thuế 2 hộ độc thân cộng lại) sẽ được thay thế bằng hình thức “đánh thuế cá nhân, và vợ chồng có thể cấp dưỡng cho nhau để bảo đảm cuộc sống cơ bản“. Thặng thu thuế từ đó được dùng để cấp tiền đảm bảo cơ bản cuộc sống trẻ em. Cải cách bảng thuế Splitting, giai đoạn đầu phải bảo đảm sao cho thu nhập chỉ từ 60.000 Euro/năm mới bị đánh thuế.  Đảng Xanh công nhận quyền bình đẳng pháp lý giữa hôn nhân đồng giới có đăng ký với hôn nhân khác giới, nhất là trong quyền làm công vụ nhà nước, quyền đóng thuế và quyền nhận con nuôi.    4. Đảng FDP  Chương trình tranh cử được được Chủ tịch gốc Việt Rösler và Tổng thư ký Döring công bố từ quý I, đồng thời đưa lên mạng kêu gọi đảng viên và công dân tham gia thảo luận.  – Thuế- Tài chính. FDP đòi một “cú hãm thuế“. Bổ sung vào Hiến pháp quy định không đóng thuế cho nhà nước quá nửa thu nhập. Trên nguyên tắc, bác bỏ tăng thuế đánh vào doanh nghiệp hay người dân. Phản đối mọi chủ trương tăng thuế thừa kế và thuế tài sản, bởi e ngại tạo ra áp lực thuế không thể gánh nổi lên các công ty vừa và nhỏ, dẫn tới dòng tài sản và vốn chảy ra khỏi nước Đức, giảm chỗ làm việc. Về cơ bản, nguồn thu quốc gia chỉ nên dựa vào thuế thu nhập, không phải từ thuế tài sản hiện hữu.  Mặc dù chủ trương vậy, nhưng FDP vẫn chủ trương củng cố ngân sách quốc gia, và từ năm 2015 sẽ không có thêm nợ mới. Để đạt được, cần chấm dứt trợ giá, và các cơ quan nhà nước phải chi tiêu tiết kiệm. Từ năm 2016, nguồn thặng thu liên quan đến tăng trưởng sẽ chỉ còn được dùng để giảm nợ quốc gia, dành đầu tư cho đào tạo và cơ sở hạ tầng.  Ứng viên đứng đầu FDP, Rainer Brüderle, tuyên bố, FDP sẽ nhanh chóng giảm khoản đóng phí đoàn kết (phí hỗ trợ Đông Đức từ ngày tái thống nhất, người lao động phải gánh chịu, hiện bằng 5,5% thuế thu nhập và trừ thẳng vào lương hàng tháng), hủy bỏ nó sớm như có thể, chậm nhất năm 2019.   – Năng lượng. FDP xem cách mạng năng lượng là một cơ hội giúp họ cầm quyền thành công. Bằng mọi giá, cần ngăn chặn các khoản chi phí sản xuất điện tăng vọt. Do đó FDP chủ trương một cuộc cải cách cơ bản đạo luật năng lượng tái tạo, nhằm xây dựng thị trường năng lượng theo hướng kinh tế thị trường hơn. Cần đưa năng lượng tái tạo vào thị trường nhanh và liên tục hơn hiện tại. Triển khai một kế hoạch từng cấp độ rõ ràng, theo đó tất cả các thiết bị và công nghệ buộc phải chuyển từ nhà nước phân định giá để hỗ trợ tài chính hiện nay, sang để cho thị trường tự quyết định.   Tiếp tục giữ nguyên những ưu đãi ngoại lệ dành cho sản xuất điện tái tạo, như ưu đãi phí mạng điện và thuế điện đối với các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều năng lượng (thuộc ngành công nghiệp nặng). Nhờ đó, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế và vì thế sẽ đảm bảo chỗ làm việc, tăng trưởng kinh tế. FDP tuyên bố hỗ trợ tu bổ nhà cũ để cách nhiệt tốt, giảm năng lương, nhưng theo nguyên tắc “khuyến khích thay vì ép buộc“.   – Lao động – Xã hội. FDP phản đối mức lương tối thiểu bắt buộc áp dụng chung và đại trà. Lên kế hoạch từng bước áp dụng cái gọi là “tiền công dân tự do“, nhằm khuyến khích nỗ lực cá nhân và giảm bớt nạn hành chính quan liêu. Đó là sự hợp nhất mọi khoản tiền trợ cấp cho công dân, như tiền Hartz IV, trợ cấp xã hội (tương tự Hartz IV nhưng áp dụng cho người không còn khả năng lao động), trợ cấp tiền thuê nhà (cho những người nếu được trợ cấp khoản này sẽ không phải xin trợ cấp Hatz IV), trợ cấp căn bản tuổi già (cho những người lương hưu không bảo đảm cuộc sống), tiền con bổ sung (cho những người được trợ cấp khoản này sẽ không phải xin tiền Hatz IV)…. Đối với hưu trí, FDP không tán thành quy định cứng nhắc tuổi nghỉ hưu. Các đối tượng từ 60 tuổi trở lên, nếu chấp nhận tăng hoặc giảm tiền hưu tính theo mô hình toán học, sẽ được quyền chọn lựa thời điểm về hưu, tuy nhiên chỉ áp dụng khi các khoản lương hưu do doanh nghiệp hỗ trợ đóng phí hưu trí, lương hưu nhà nước cấp và bảo hiểm nhân thọ đạt trên mức đảm bảo nhu cầu cuộc sống cơ bản (nghĩa là khi nghỉ hưu không còn phải xin tiền trợ cấp xã hội). Đồng thời, cần tháo dỡ các rào cản đối với lao động tuổi già và giới hạn mức thu nhập thêm đối với người hưởng hưu non.   – Gia đình. FDP sẽ xem xét lại chính sách trợ cấp tiền chăm sóc con vừa được áp dụng. Ngoài ra, FDP chủ trương tiếp tục hoàn tất các cơ sở chăm sóc chất lượng cao cho trẻ dưới 3 tuổi, cải thiện đội ngũ chăm sóc và giảng dạy trong nhà trẻ. FDP chủ trương cấp cho trẻ em một loại thẻ điện tử, để trẻ em có thể tiếp nhận trực tiếp các hỗ trợ, ưu đãi liên quan đến trẻ.   Để cân bằng công việc gia đình và nghề nghiệp, FDP đề xuất sử dụng các mô hình thời gian làm việc linh hoạt, làm việc tại nhà và chuyển đổi từ làm việc bán phần thành toàn phần. Ngoài ra sẽ đơn giản hóa, linh hoạt hóa các khoản tiền cấp cho cha mẹ nghỉ việc sinh con nhằm tạo điều kiện cho nhiều ông bố ở nhà chăm sóc con hơn. Để làm điều đó cần thỏa thuận với chủ thuê lao động một khoản qũy thời gian hoàn toàn linh hoạt.  FDP tuyên bố quyền bình đẳng giữa hôn nhân dị tính và đồng tính có đăng ký, đặc biệt áp dụng trong luật thuế thu nhập, hưu trí và nhận con nuôi.  5. Đảng cánh tả Die Linke (hợp nhất giữa đảng Cộng sản và đảng WASG)     Chương trình tranh cử với tiêu đề “100 phần trăm Xã hội“, được đề xuất từ đầu năm, sau đó được thảo luận trong 5 cuộc họp địa phương.  – Thuế – Tài chính. Die Linke đòi tài sản phải được nhà nước phân phối lại. Theo đó, người giàu và doanh nghiệp lớn cần tham gia cung cấp tài chính cho cộng đồng. Yêu cầu đánh thuế tài sản đối với triệu phú, bao gồm bất động sản và tài chính ở mức 5%. Tuy nhiên, miễn thuế đối với 1 triệu Euro đầu tiên trong tài sản cá nhân. Cải cách lại thuế thu nhập, tăng mức thu nhập được miễn thuế lên 9.300 Euro/năm. Giảm thuế cho người có thu nhập hàng tháng dưới 6.000 Euro, bằng cách không áp dụng tỷ suất thuế lũy tiến trong khoảng thu nhập trên. Với mức thu nhập mỗi năm từ 65.000 Euro trở lên, thuế suất nâng lên 53%. Mỗi một đồng Euro từ 1 triệu Euro đầu tiên, sau khi trừ các khoản bảo hiểm xã hội, sẽ bị đánh thuế 75%.  Thuế thừa kế cũng sẽ được sửa đổi, để tăng ngân khố quốc gia. Theo đó, giá trị tài sản thừa kế được miễn thuế ở mức 150.000 Euro và tăng gấp đôi (300.000 Euro) cho những đối tượng được thừa kế là người già từ 60 tuổi trở lên, trẻ em, vợ chồng. Bất động sản nhỏ và vừa, cũng như nhà riêng dùng để ở không bị ảnh hưởng bởi cải cách này. Đánh thuế kinh doanh tài chính để hạn chế đầu cơ trên thị trường tài chính. Các đối tượng gây ra khủng hoảng tài chính có trách nhiệm tham gia chi trả giải quyết hậu quả. Giao dịch thương mại tài chính chịu mức thuế 0,1%. Tiền thu được từ việc tăng thuế sẽ dùng để chi trả cho các chính sách xã hội.  – Năng lượng  Đảng cánh Tả ủng hộ mạnh mẽ cách mạng năng lượng. Đến năm 2020, nâng mức cung cấp điện tái tạo lên 50% tổng số nguồn điện. Giảm nửa mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính so với năm 1990 và hạ xuống ít nhất 90% vào năm 2050. Đồng thời hiến định quyền cơ bản được cung cấp điện nước (tức miễn phí cho mọi công dân bất kể giàu nghèo). Theo đó, nhà cung cấp năng lượng có trách nhiệm áp dụng „biểu giá nền“ để mỗi hộ tiêu thụ được nhận một định mức điện miễn phí căn cứ theo quy mô mỗi hộ; Không bị cắt điện, nước và lò sưởi trong mọi trường hợp.  Để cách mạng năng lượng mang tính xã hội hơn, đối với ngành công nghiệp cần hủy bỏ các ưu đãi không công bằng về thuế môi sinh, phí mạng điện, thương mại, khí thải. Ngoài ra, Đảng cánh Tả còn yêu cầu ngừng ngay các lò phản ứng hạt nhân và chuẩn bị từ bỏ cung cấp điện sản xuất từ than, đến năm 2040 sẽ hoàn tất việc đóng cửa toàn bộ các nhà máy điện than. Liên quan đến khai thác khí đốt thiên nhiên, cần cấm chôn CO2 và các sản phẩm Fracking khí đốt.  – Lao động – Xã hội. Đảng cánh Tả yêu cầu mức lương tối thiểu bắt buộc áp dụng toàn quốc ở mức 10 Euro/giờ, tăng đều mỗi năm và đạt mức 12 Euro/giờ vào cuối nhiệm kì. Cấm lao động chuyển giao. Lao động làm thêm (hiện không phải đóng bảo hiểm xã hội) chuyển thành lao động toàn phần (đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc). Tăng trợ cấp Hartz IV lên 500 Euro, đồng thời bãi bỏ hình phạt cắt giảm nó khi người thụ hưởng vi phạm các điều kiện được cấp.   Về lương hưu, tăng mức đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người về hưu lên mức 53% tiền lương khi làm việc. Trên nguyên tắc, cần có mức lương hưu tối thiểu khoảng 1.050 Euro/tháng. Cần hủy bỏ chế độ về hưu từ tuổi 67 hiện hành. Phải cân bằng mức lương hưu phía Đông như phía Tây. Để có kinh phí chi trả, tất cả mọi người bao gồm cả những người tự hành nghề, công chức và chính khách đều phải đóng bảo hiểm hưu trí bắt buộc.  – Gia đình. Đảng Linke đòi nhà nước đảm bảo tài chính cho trẻ em khoảng 536 Euro/tháng nhằm bảo vệ trẻ em khỏi nạn đói nghèo. Biện pháp tức khắc là tăng tiền con lên 200 Euro cho 2 con đầu tiên và ấn định phù hợp đối với các con tiếp theo. Mỗi ông bố, bà mẹ được nhận riêng rẽ tiền cha mẹ trong 12 tháng (24 tháng cho những người nuôi con một mình), trong mỗi giai đoạn từ lúc con 2 tháng đến khi đủ 7 tuổi. Tăng tiền cha mẹ mức tối thiểu lên 450 Euro/tháng. Bãi bỏ tiền chăm sóc con. Thay vào đó, hoàn thiện các cơ sở chăm sóc trẻ em cả ngày chất lượng cao và phù hợp với nhu cầu; giờ mở cửa linh động hơn. Ngoài ra, cung cấp cho trẻ thức ăn ngon miễn phí ở các nhà trẻ công cộng. Cha mẹ được quyền quay trở lại làm việc toàn phần và bảo đảm không bị sa thải cho đến khi con đủ 6 tuổi. Tuyên bố quyền bình đẳng giữa hôn nhân đồng tính và dị tính.   Điều 26 Hiến pháp Đức quy định, Đảng phái đóng vai trò “tham gia vào qúa trình hình thành ý chí chính trị của nhân dân“. Nghĩa là nhân dân quyết định số phận đảng phái chứ không phải ngược lại. Số phận đó phụ thuộc vào 2 điều kiện cần và đủ: 1- Mức độ thể hiện tập trung ý chí nguyện vọng của từng người dân trong chương trình tranh cử, và 2- Khả năng đảng đó có biến nó được thành hiện thực hay không hay chỉ là tuyên truyền. Vì vậy chương trình tranh cử chỉ mới là tiền đề. Chính trường Đức đang sôi sục từng ngày, người dân hồi hộp như những fan hâm mộ bóng đá trước chung kết cúp vô địch vậy!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người làng hay anh chàng tiểu nông      Trong những ngày nóng bức này, trong cái dự cảm là lịch sử đất nước đang sang trang mà đọc được bài “Sức sống Việt” (Đặc điểm của văn hóa Việt Nam) của Nguyễn Bỉnh Quân trên số Tia Sáng ra ngày 5/7 thì thật là khoái như uống được ngụm nước đá. Khoái vì tác giả nhắc người đọc trở lại vấn đề cốt lõi Ta là ai ở những năm đầu thiên niên kỷ mới. Song giá trị của bài báo ngắn này là ở một cách tổng thể tiếp cận vấn đề/hệ vấn đề và kiến giải riêng của ông Quân và không ít các học giả khác    Tác giả say sưa và tỏ ra uyên bác trong việc đi tìm bản sắc văn hóa Việt Nam đến mức còn đề nghị để nguyên từ LÀNG như một thuật ngữ quốc tế. Về chuyện chữ nghĩa tôi không rành là làng (làng xóm, làng mạc) có phải là từ cổ thuần Việt hay Hán Việt nên không lạm bàn, chỉ góp ý sau với hy vọng nâng chủ đề này thành một diễn đàn có sự tổng kết hẳn hoi để in thành sách- chuyên đề không tập hợp tản mạn, đa tạp kiểu tiểu nông. Thiết nghĩ đó cũng là cách ứng dụng thiết thực. 1/ MỞ rồi lại ĐÓNG? Vì sao?  Trong 5 đặc điểm của văn hóa Việt Nam (có lúc là “văn hóa” có lúc không, có lúc là con đường?), Đông Á+Đông Nam Á+văn hóa ngã tư+văn hóa làng- cổ điển thế kỷ 16,17,18. Văn hóa mở đất và con đường trung dung “vừa phải”, thì cái mà ông Quân gọi là “Văn hóa mở đất” (ông không chú thích cách hiểu của mình về “văn hóa”) là mới là và lý thú hơn cả vì nó gồm hai từ MỞ và ĐẤT. Mở: mở cửa- mở/đóng, hệ mở/đóng, kín, mở/khép và Đất: đất đai, đất nước… Vấn đề ở đây không chỉ là các liên tưởng ngôn ngữ mà ở “thời hoàng kim”- thế kỷ 16,17,18. Cổ điển là cái vùng tìm kiếm thăm dò để phát huy bản sắc Việt Nam chứ không chỉ ở huyền thoại, huyền sử. Tôi không rõ tại sao ông Quân chỉ cắt ra, trưng ra cho mọi người cái lát cắt nội soi “hoàng kim” ấy để rồi bảo chúng ta rằng “trong mỗi chúng ta tôi tin vẫn có tới 60-70% là người Việt thời nay”? Còn 30% là của thời nào tác giả chưa cho ta biết vì sao “thời hoàng kim” lại kết thúc, sau nó là “thời gì”? thời bế tắc? hay “thời khai sáng”? Do hay bởi/nhờ ngoại lực? Khác với một số tác giả khác, Nguyễn Bỉnh Quân viết: “Mỗi người Việt Nam cho tới hôm nay vẫn là một người làng, một người mở đất và một người lính“. Tôi cho rằng người lính và người nhà quê (nói ngôn ngữ khoa học là người tiểu nông) vẫn áp đảo, lấn át người mở đất trong mỗi chúng ta- con người Việt Nam hiện đại, nếu có kiểu người mở đất thật sự trong ký ức và tâm thức tập thể- cộng đồng Việt. Có lẽ căn nguyên sâu xa theo tôi là người mở đất té ra vẫn là anh tiểu nông dù mở mang bờ cõi phía nam, dù thêm một con trâu mộng (hãy nhớ đàn trâu béo trong phim “Mùa len trâu”) cái cầy cải tiến vẫn là cái cầy chìa vôi nguyên bản. Có lẽ không phải do hoài cổ thương tiếc “một thời xa vắng” mà ông Quân do nghiêng về cách nhìn văn hóa học hơn cách nhìn kinh tế học- xã hội học nên kiến giải như vậy.  2/ AO NGÒI hay BIỂN?  Có biển rộng chưa chắc có văn hóa biển. Không có biển, chỉ ở đất liền, đại lục vẫn có thể có tư duy biển- như một thực thể vật chất, như một biểu tượng vùng xa lạ, không biên giới, kích thích óc phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá. Tôi không đồng ý khi tác giả Quân viết: “bản sắc văn hóa Việt, thế mạnh của nó chính là tính lưỡng căn- hai gốc rễ (lưỡng thế mà văn hóa biển vừa văn hóa đại lục (tôi nhấn mạnh Đ.U). Thất bại của chương trình đánh bắt xa bờ ở xứ ta không chỉ do quan tham mà trước hết do chưa có nhóm dân cư- nghề nghiệp làm nghề biển- đại dương với công cụ tầu thuyền hiện đại thay vì đánh bắt gần bờ không khác gì câu cá ao ngòi, kinh tế biển sẽ đẻ ra văn hóa biển. Bài ca- bài thơ “Biển và em” là cảm nhận của chàng lãng mạn ngồi co ro bờ biển nhớ nàng, là người của đại lục, đất liền mà thôi! Ao ngòi là hệ khép kín khác về chất so với biển là hệ mở theo nghĩa tương đối là một thành tố của nền tiểu nông lúa nước. Nó là một trong các yếu tố kìm hãm văn hóa ngã tư Việt Nam. Chỉ là ngã tư để đi qua, để quá cảnh. Đến ngay các bậc trí thức làm quan ở thành, phủ – một cái làng kéo dài với dịch vụ nhằm vào quan nha, bất mãn, cáo quan về làng mà không vượt biên, vượt biển. Trí tuệ Việt Nam tập trung ở làng như ông Quân nói thì chỉ hơn người nhà quê ở cái óc sách vở, dạy đời mà thôi. Hồ Chí Minh trở thành Hồ Chí Minh hôm nay và mai sau như một danh nhân văn hóa thế giới vì Người vượt biển để trở về cải tạo cái ao làng tù đọng và thay cái cầy chìa vôi!  3/ Sốc tới thiên niên kỷ mới!  Vừa phải (ba phải) sẽ bị hòa tan! Trở lại khái niệm “phương thức sản xuất Châu Á” “tiểu nông” trong di sản Mác xít chưa đủ để lý giải sự trì trệ phương Đông mà theo tôi phải tìm căn nguyên ở Khổng Giáo và Bụt học (Budism). Nhà văn Nguyên Ngọc cho tôi biết chính minh triết Phương Đông là căn nguyên trì trệ của châu- vùng này tuy là nét độc đáo của người Phương Đông. Cái gì cũng nhỏ, đã nhỏ lại yếu vì phát triển thấp, sơ đẳng, nguyên sơ, nguyên thủy, tiểu nông không chỉ là dạng kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp mà còn là một cách sống, một triết lý sống, một kiểu tổ chức, quản lý. Con người ba mặt của bản sắc Việt Nam: người làng, người mở đất, người lính muốn lao vào thiên niên kỷ mới thay vì lừ đừ như ông từ vào đền phải thêm một mặt nữa người nghề, từ làm quan cho đến làm gạch… cái gì cũng làm, vừa phải khéo tay, tinh mắt mà vẫn không ra tấm ra món, không ra tiền- hàng hóa, không ra nghề ngỗng gì, né tránh, ứng phó, giỏi chịu đựng nhẫn nhục hơn là chịu đau đớn để dũng cảm vượt chính mình, lao vào cơn bão lốc cuồng phong của đại dương. Ta là ai? Vẫn là câu hỏi cho cộng đồng và mỗi một người chúng ta hôm nay.  Đức Uy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người mở cửa nước Nhật lần thứ hai      Nước Nhật trong lịch sử từng hai lần được mở cửa với thế giới phương Tây, nhờ đó nhanh chóng trở thành cường quốc thế giới. Và như một định mệnh, cả hai lần mở cửa ấy đều do người Mỹ chủ động thực hiện.       Tướng Douglas MacArthur.  Nhân vật đầu tiên mở toang cánh cổng mấy nghìn năm đóng kín nước Nhật phong kiến bảo thủ là Phó Đô đốc Hải quân Mỹ Matthew Perry (1794-1858). Ngày 14/7/1853 hạm đội do ông chỉ huy cập bến Kurihama (nay là Yokosuka) ở vịnh Tokyo, chuyển tới chính quyền Nhật thư của Tổng thống Mỹ Millard Fillmore yêu cầu Nhật mở cửa thông thương với Mỹ. Chín tháng sau, khi hạm đội Perry quay lại Tokyo, chính quyền Nhật chấp nhận mở cửa, từ đó nước Nhật sang trang lịch sử mới, bắt đầu bước lên con đường hiện đại hóa, nhanh chóng trở thành một cường quốc. Nhưng cuối cùng sự nghiệp hiện đại hóa vẻ vang ấy đã bị bọn quân phiệt Nhật chôn vùi trong đống tro tàn của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do chúng gây ra.  Lần mở cửa thứ nhất kết thúc thất bại vì nước Nhật chưa triệt để hiện đại hóa về chính trị. Nhưng sau đó nước này được mở cửa lần nữa và nhân vật có vai trò quyết định trong việc mở cửa nước Nhật lần thứ hai lại là một người Mỹ – tướng Douglas MacArthur (1880-1964).  Đóng góp của MacArthur đối với nước Nhật lớn tới mức ông là người nước ngoài duy nhất được xếp vào danh sách Mười hai người tạo dựng nước Nhật (The Twelve Men Who Made Japan) trong cuốn sách cùng tên của Sakaiya Taichi xuất bản năm 2003 tại Tokyo. Chương 10 sách này có đầu đề “MacArthur – Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một ‘nước Mỹ lý tưởng’”. Sở dĩ gọi là “nước Mỹ lý tưởng” vì MacArthur không hài lòng với nước Mỹ đương thời, ông tưởng tượng ra một nước Mỹ hoàn hảo hơn, và ông muốn tạo dựng nước Nhật theo hình mẫu nước Mỹ lý tưởng ấy.  Trước đó MacArthur đã rất nổi tiếng ở Mỹ. Ông là người Mỹ duy nhất từng chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn là Thế chiến I, II và Chiến tranh Triều Tiên, thập niên 1930 từng làm Tổng Tham mưu trưởng quân đội Mỹ, là một trong 5 quân nhân Mỹ được phong hàm Thống tướng (General of the Army), là người Mỹ duy nhất được Chính phủ Philippines phong hàm Nguyên soái quân đội Philippines (Field Marshal). Vì mâu thuẫn với Tổng thống Truman về chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh Triều Tiên (MacArthur muốn ném bom vùng Đông Bắc Trung Quốc, Truman phản đối vì ngại Liên Xô có cớ can thiệp) mà tháng 4/1951 ông bị mất chức và phải về Mỹ, kết thúc cuộc đời binh nghiệp 52 năm.  Hai quyết định quan trọng  Tháng 8/1945, MacArthur 65 tuổi được cử làm Tư lệnh Tối cao Quân đội Đồng minh (Supreme Commander for the Allied Powers, SCAP). Ngày 30/8, ông đến Tokyo. Ngày 2/9, ông thay mặt lực lượng Đồng minh ký văn kiện chấp nhận Nhật đầu hàng trong nghi lễ đầu hàng cử hành trên tàu chiến Missouri của Mỹ đậu trong vịnh Tokyo. Phát biểu tại nghi lễ ấy, ông nói về việc tạo ra một « thế giới tốt đẹp hơn » cho nước Nhật. Ngày 27/9 ông tiếp Thiên Hoàng Hirohito lần đầu tiên.  MacArthur chủ trương thiết lập chế độ chiếm đóng quân sự nhằm tạo dựng một nước Nhật phi quân sự hóa, dân chủ hóa và phi tập trung hóa.  MacArthur đã tự mình đưa ra hai quyết định quan trọng: giữ lại Thiên Hoàng Nhật, và trừng trị các tội phạm chiến tranh Nhật. Với quyết định thứ nhất, ông đã chống lại sức ép mạnh mẽ từ trong nước và từ các nước Đồng minh đòi xử tử đầu sỏ tội phạm chiến tranh Hirohito và thủ tiêu chế độ Thiên Hoàng. Tuy rằng bản thân Hirohito cũng tự nhận chịu toàn bộ trách nhiệm về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, nhưng MacArthur cho rằng Thiên Hoàng là biểu tượng sống của nước Nhật, biểu tượng sự ổn định và hòa hợp của người Nhật, nếu không có Thiên Hoàng thì dân tộc này sẽ hỗn loạn, các phe phái sẽ tranh giành quyền lực, gây mất ổn định chính trị, tàn binh Nhật sẽ tổ chức đánh du kích chống lại quân chiếm đóng. Quan điểm này về sau đã được chứng minh là đúng. Dân Nhật có truyền thống tuyệt đối nghiêm chỉnh chấp hành lời Thiên Hoàng, họ không hề có hành động nào chống lại quân chiếm đóng.  MacArthur và Thiên Hoàng Hirohito gặp nhau tất cả 11 lần, Hirohito đều tiếp thu các chủ trương của MacArthur về quản trị nước Nhật. Ngày 1/1/1946, Hirohito đọc bản Tuyên ngôn Nhân gian (Ningen-sengen) trên đài truyền thanh, lần đầu tiên trong lịch sử tuyên bố Thiên Hoàng chỉ là người thường, không phải thần thánh, nghĩa là chấp nhận từ bỏ địa vị nắm quyền tối cao của quốc gia. Như vậy MacArthur là người lãnh đạo cao nhất nước Nhật.  Thi hành quyết định thứ hai, các quan tòa người Mỹ đã tổ chức xét xử tội ác chiến tranh, phát hiện hơn 4200 quan chức Nhật có tội, trong đó 700 tội phạm nặng nhất bị kết án tử hình. Ngoài ra 186 nghìn nhân vật công chúng (public figures) bị thanh trừng. 28 quan chức chính phủ và sĩ quan cấp cao bị đưa ra Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông họp ở Tokyo, trong đó 25 người bị tuyên án có tội, 7 người bị kết án tử hình.    Nhật Hoàng Hirohito và Tướng General MacArthur gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1945.  Sau khi đến Nhật, MacArthur lập tức ra lệnh cấm quân đội Đồng minh tấn công người Nhât và dùng lương thực thực phẩm của Nhật. Ông yêu cầu Chính phủ Mỹ viện trợ khẩn cấp lương thực thực phẩm cho Nhật để ngăn ngừa nạn đói và rối loạn chính trị. Sau chiến tranh, nước này chỉ còn là đống tro tàn. 9 triệu người không có nhà ở, 13 triệu người thất nghiệp. Bộ Tài chính Nhật báo cáo có 10 triệu dân bị đói. Đường phố đầy người ăn xin, phần lớn là lính giải ngũ và người tàn tật. Khẩu phần ăn của mỗi viên chức chỉ bằng một nửa so với tiêu chuẩn 2200 calorie/ngày. Đã thế mùa màng năm 1945 lại xấu nhất trong 30 năm. Giá lương thực đắt gấp 7,5 lần. MacArthur lập tức tìm mọi cách cứu đói. Ngay từ cuối năm 1945 ông sửa lại kế hoạch đưa quân đội Mỹ đến chiếm đóng Nhật, giảm bớt 200.000 người, lấy số lương thực dôi ra để giúp dân Nhật. Năm 1946, ông đề nghị Chính phủ Mỹ viện trợ không hoàn lại cho Nhật 330 triệu USD; năm 1947 – 297 triệu USD. Quốc hội Mỹ đáp ứng mọi yêu cầu cứu đói dân Nhật do MacArthur nêu ra. Nhờ đó tới năm 1948, công chức Nhật đã được hưởng khẩu phần 2.000 calorie/ngày. Năm 1949, dự trữ lương thực từ số không lên tới 3 triệu tấn. Sản lượng gạo năm 1950 đạt 9,5 triệu tấn. Chính phủ Nhật dự định từ 4/1951 sẽ bỏ chế độ tem phiếu lương thực, nhưng sau đó phải hoãn lại, vì chiến tranh Triều Tiên bất ngờ có thay đổi do Trung Quốc đưa quân vào Triều Tiên tham chiến.  Xây dựng chế độ dân chủ kiểu Mỹ tại Nhật Bản  MacArthur từng nói: Xét theo tiêu chuẩn hiện đại, nước Nhật là “một bé trai 12 tuổi” (a boy of 12), cần được dẫn dắt tiến lên chế độ dân chủ và chế độ tư bản phương Tây. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi đến nước này là tịch thu 5 triệu thanh kiếm Nhật – biểu tượng tinh thần thượng võ của samurai (võ sĩ), từng bị bọn quân phiệt Nhật lợi dụng để gây chiến tranh. Ông ra lệnh bãi bỏ Thần đạo nhà nước (State Shinto) tức quốc giáo của nước Nhật, tôn giáo từng được bọn quân phiệt lợi dụng để phục vụ chiến tranh xâm lược, tuy vẫn cho các tôn giáo khác hoạt động. Ngày 4/10/1945, ông ra lệnh thả hết tù chính trị, kể cả tù cộng sản Nhật, cho dù Mỹ là nước chống chủ nghĩa cộng sản.  Đồng thời với việc tiêu diệt tận gốc cơ sở của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, MacArthur đã phát động cuộc cải cách dân chủ hóa nước Nhật toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế và giáo dục, khởi đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp.  Ngay từ tháng 7/1945, khi Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân quốc bàn về các điều kiện đầu hàng của Nhật, MacArthur đã đề xuất Nhật phải sửa đổi Hiến pháp Minh Trị (ban hành năm 1889) nhằm thực hiện dân chủ hóa nước này. Tháng 10/1945 ông chỉ thị Chính phủ Nhật tiến hành việc đó. Tháng 2/1946 phía Nhật đưa ra dự thảo Hiến pháp, nhưng MacArthur không chấp nhận. Ông lập một Hội đồng gồm 25 người Mỹ và yêu cầu trong vòng một tuần phải dự thảo xong Hiến pháp mới, tức xong trước ngày họp các nước Đồng minh (26/2/1946), như vậy nước ngoài sẽ không thể can thiệp nội trị Nhật.  Hiến pháp mới thể hiện đầy đủ quan điểm tự do dân chủ và nguyên tắc tam quyền phân lập. Thiên Hoàng bị tước bỏ địa vị nắm quyền tối cao của quốc gia, chỉ còn là “Tượng trưng của quốc gia Nhật, của khối thống nhất quốc dân Nhật; địa vị của Thiên Hoàng dựa vào ý chí của toàn dân”. Việc cải cách triệt để chế độ Thiên Hoàng đã quét sạch chủ nghĩa độc tài chuyên chế phong kiến và đánh sập trụ cột tinh thần của chủ nghĩa phát xít Nhật.  Chương II quan trọng nhất chỉ có một điều khoản (Điều 9) ghi rõ: Nhân dân Nhật vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh, vĩnh viễn không sử dụng vũ lực hay đe dọa vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Nhằm mục đích đó, nước Nhật sẽ không duy trì lục quân, hải quân, không quân cũng như các tiềm năng chiến tranh khác, không công nhận quyền tuyên chiến của quốc gia có chủ quyền.  Chế độ Nghị viện được cải cách theo hướng dân chủ hóa : Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện, thành viên Quốc hội là do công dân đủ 20 tuổi trực tiếp bỏ phiếu bầu ra. Thiên Hoàng và quân đội không còn có quyền can thiệp vào công việc của Quốc hội. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội chỉ định, do lãnh tụ chính đảng giành nhiều phiếu nhất trong Quốc hội đảm nhiệm. Quân nhân chuyên nghiệp không được tham gia Chính phủ. Chế độ tập trung quyền lực được thay bằng chế độ địa phương tự trị. Quyền tư pháp không còn tập trung vào Thiên Hoàng như trước mà thuộc về Tòa án Tối cao và Tòa án các cấp, mở rộng tính độc lập của các cơ quan tư pháp. Các điều 10~40 của Hiến pháp mới quy định quyền lợi và nghĩa vụ công dân; phụ nữ trước đây có địa vị cực thấp trong xã hội nay được hoàn toàn bình đẳng với nam giới.    Ngày 10/4/1946, nước Nhật tổ chức tổng tuyển cử, bầu ra Chính phủ đầu tiên. Thiên Hoàng Hirohito và đại đa số dân Nhật ủng hộ Hiến pháp mới. Ngày 3/11/1946 Hirohito công bố Hiến pháp này trước Nghị viện. Từ 3/5/1947 bắt đầu thực thi Hiến pháp mới, đánh dấu thắng lợi của công cuộc cải cách chính trị.  Cải cách giáo dục, kinh tế  Về giáo dục, MacArthur chỉ thị loại bỏ tư tưởng quân phiệt ra khỏi hệ thống trường học, cấm tuyên truyền giáo dục Thần đạo, phải dạy học sinh học tinh thần dân chủ chứ không dạy sùng bái nhà vua, cấm dạy tinh thần Võ Sĩ Đạo (Bushido). Luật Cơ bản về giáo dục ban hành ngày 31/3/1947 cải cách thể chế hành chính giáo dục tập trung quyền lực vào trung ương, thực hành chế độ phân quyền địa phương, Ủy ban Giáo dục các cấp do dân bầu ra sẽ phụ trách công việc hành chính trong công tác giáo dục của địa phương. Hệ thống giáo dục theo kiểu Mỹ này đã đào tạo ra những người trẻ tuổi có tư tưởng tự do dân chủ, căm ghét tư tưởng quân phiệt Nhật và ủng hộ Mỹ.  Đồng thời MacArthur tiến hành các cải cách kinh tế mạnh dạn, như cải cách ruộng đất, tổ chức lại các công đoàn, ủng hộ quyền bãi công của công nhân, tái cơ cấu các tập đoàn tư bản tài chính-công nghiệp. Công cuộc tái phân phối ruộng đất do MacArthur tổ chức được coi là hình mẫu cải cách ruộng đất thành công nhất thế giới, chính ông cũng nói đây là thành tích lớn nhất trong sự nghiệp làm chính trị của mình. Theo chỉ thị của ông, Chính phủ Nhật ban hành Luật Cải cách ruộng đất, lần thứ nhất ngày 28/12/1945, lần thứ hai ngày 21/10/1946. Các chủ đất buộc phải bán cho nhà nước theo giá quy định tất cả số ruộng đất họ không tự cày cấy, sau đó nhà nước bán lại cho nông dân chưa có đất, ưu tiên cho người đang cày thuê mảnh đất đó. Cuộc cải cách này tiến hành rất quyết liệt và triệt để, kết quả toàn bộ người cày đều có ruộng, nước Nhật thực sự không còn tầng lớp địa chủ nữa, tức không còn cơ sở của chế độ phong kiến.  Nền công nghiệp Nhật trước đây tập trung vào tay các zaibatsu (tập đoàn tài phiệt gia tộc) nhằm phục vụ chính sách xâm lược của quân phiệt Nhật. MacArthur chủ trương giải thể các zaibatsu. Bước đầu, hai zaibatsu lớn nhất là Mitsubishi và Sumimoto bị chia thành nhiều công ty cổ phần nhỏ, 56 người là gia tộc tài phiệt của 10 zaibatsu lớn bị chỉ đích danh và buộc phải nộp hơn 160 triệu cổ phiếu trị giá hơn 7,57 tỷ Yên. Bước hai, ông chỉ thị Chính phủ Nhật ban hành Luật Cấm độc quyền và lập Ủy ban Kinh doanh công bằng, nhằm ngăn chặn sự phục hồi tư bản độc quyền.  Ngay từ ngày mới đến Nhật, MacArthur từng chân thành thổ lộ ý muốn biến nước Nhật thành một Thụy Sĩ phương Đông. Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) là thời cơ có một không hai giúp kinh tế Nhật cất cánh. Sản xuất công nghiệp tăng vọt do nhận được những đơn đặt hàng khổng lồ của quân đội Mỹ. Rốt cuộc nước Nhật thù địch trở thành siêu cường kinh tế thứ hai thế giới và đồng minh trung thành của Mỹ.  Người xã hội chủ nghĩa  MacArthur chưa hề đi hết nước Nhật, ông rất ít gặp người Nhật, chỉ tiếp xúc với một số quan chức Nhật cấp cao, thế nhưng đông đảo dân Nhật có thiện cảm với ông tới mức say mê, tôn kính ông như tôn kính Thiên Hoàng, coi ông là cứu tinh của nước Nhật. Họ gửi tặng ông vô số quà biếu và lời mời. Cách thể hiện tình cảm thú vị nhất là họ viết thư cho ông. Tổng cộng MacArthur đã nhận được khoảng nửa triệu bức thư từ dân chúng Nhật.  Người Nhật thích MacArthur vì ông đã giải thoát họ khỏi chiến tranh, đói nghèo, khỏi ách áp bức của chế độ chính trị chuyên chế Nhật, cũng như khỏi tâm trạng chán chường thất vọng. Dưới sự chỉ huy của MacArthur, đội quân chiếm đóng Nhật trở thành đội quân giải phóng nhân dân Nhật. Trước và trong chiến tranh, người Nhật sống dưới ách cùm kẹp của bọn quân phiệt. Hệ thống cảnh sát quân sự Kampeitai [còn viết Kenpeitai, tức Hiến binh đội, thành lập năm 1881] theo dõi thái độ chính trị của từng người, chúng không cho dân được nói ý kiến của mình, chúng bỏ tù hoặc giết bất cứ ai dám có ý kiến khác với chính quyền hoặc không ủng hộ các nỗ lực chiến tranh. Vì thế khi SCAP ban hành các sắc lệnh thủ tiêu mọi sự hạn chế quyền lợi của dân chúng, người Nhật vô cùng cảm động, phấn khởi và biết ơn người Mỹ. Ngay từ tháng 10/1945, MacArthur đã tuyên bố toàn dân Nhật có quyền tự do phát ngôn và hội họp. Ông ra lệnh cho Thủ tướng Nhật mở rộng quyền của các công đoàn, trao cho phụ nữ quyền tự do ngôn luận và bầu cử.  MacArthur một mình cai trị toàn diện nước Nhật bại trận trong gần 6 năm, bỏ ngoài tai mọi ý kiến bất đồng của các nghị sĩ và quan chức Mỹ; người ta gọi ông là “nhà độc tài thần thánh” (Godlike dictator). Nhưng nhà độc tài ấy được đông đảo dân Nhật thực sự tôn kính với lòng biết ơn sâu sắc. Có phụ nữ Nhật viết thư xin được sinh con với ông. Khi MacArthur dự tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1948, người Nhật ủng hộ ông mạnh nhất. Ngày ông trở về Mỹ, hàng trăm nghìn người Nhật kéo nhau ra đường đưa tiễn ông, hô vang từ “Đại nguyên soái”, nhiều người nước mắt ròng ròng.  Hồi ký của Kiichi Miyazawa (Thủ tướng Nhật nhiệm kỳ 1991-1993) có đoạn viết: Ngày 11/4/1951, báo đài đưa tin MacArthur bị miễn chức. Tin này làm người Nhật vô cùng sửng sốt, họ không thể nghĩ tới chuyện Thống tướng MacArthur – người nghiễm nhiên tự cho mình là Thái Thượng Hoàng nước Nhật lại có thể bị bãi miễn dễ dàng bởi một mệnh lệnh của Tổng thống. Ngày 16/4, MacArthur rời Tokyo về Mỹ. Hôm ấy dân chúng Nhật đứng chật kín suốt hai bên đường từ trụ sở SCAP tới sân bay Haneda. Thủ tướng Nhật cùng toàn thể thành viên Chính phủ ra sân bay tiễn đưa. Tôi đứng sau Bộ trưởng Tài chính, đối diện với chiếc chuyên cơ. MacArthur cùng vợ và con trai lần lượt bắt tay từng quan chức. Khi MacArthur bước lên thang máy bay, một quan chức Nhật bỗng hô to “MacArthur muôn năm!” Thế là tất cả mọi người đều giơ tay hô theo “Muôn năm”….  Trở về Tổ quốc sau 11 năm ở châu Á, ngày 19/4/1951 MacArthur ra trước Quốc Hội Mỹ đọc bài diễn văn từ biệt1 kết thúc bằng lời một khúc quân ca: “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần (Old soldies never die ; they just fade away). “Và giống như người lính già của bài hát đó, giờ đây tôi khép lại cuộc đời binh nghiệp của tôi và mờ nhạt dần — một người lính già đã tận sức mình làm tròn bổn phận của mình khi Thượng Đế ban cho tôi ánh sáng để tôi thấy được bổn phận đó. Xin tạm biệt”. Bài nói dài 11 phút bị ngắt quãng 10 lần bởi những tràng vỗ tay và cuối cùng cử tọa đứng dậy hoan hô nồng nhiệt. Diễn văn có tên « Những người lính già không bao giờ chết » này được coi là một trong số những bài diễn văn hay nhất thế giới.  Dư luận Mỹ đánh giá cao MacArthur. Nhà Nhật Bản học Edwin Reischauer (thập niên 1960 làm Đại sứ Mỹ ở Tokyo) đánh giá MacArthur là “nhà lãnh đạo Mỹ cấp tiến nhất, có thể gọi là người xã hội chủ nghĩa, và cũng là một trong những người thành công nhất”.  Douglas MacArthur qua đời ngày 5/4/1964 tại Washington, D.C, thọ 84 tuổi. Lễ tang ông cử hành theo quy chế quốc tang. Ông được mai táng tại Nhà Tưởng niệm Douglas MacArthur ở thành phố Norfolk, bang Virginia. Đây là nhà bảo tàng lưu giữ bộ sưu tập về cuộc đời binh nghiệp của vị danh tướng này, và cũng là nơi yên nghỉ của vợ ông – bà Jean Marie Faircloth, một nhà hoạt động xã hội (1898-2000).  —————-  1.http://www.americanrhetoric.com/speeches/douglasmacarthurfarewelladdress.htm    Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Người Nhật mê đọc sách      Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số “khủng” về giáo dục và văn hóa đọc. Những lý do nào khiến cho một dân tộc võ sĩ lại trở thành mê đọc sách như thế? Tại sao không phải các dân tộc có truyền thống văn sâu đậm như Trung Hoa hay Việt Nam mà lại một dân tộc có truyền thống võ như Nhật Bản?     Người ta đã từng nghe nói về sự đọc sách khủng của người Nhật thời Minh Trị Duy Tân, cách chúng ta hôm nay ngót một thế kỷ rưỡi. Thí dụ minh họa thường là quyển sách Bàn về Tự do, On Liberty, của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với tác phẩm Thuyết tiến hóa của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi được dịch sang tiếng Nhật quyển sách đã bán trên triệu bản.    Một quyển sách khác, có lẽ ít được biết hơn đối với độc giả Việt Nam, là Tự lo, Self-Help của Samuel Smiles. Quyển sách này là best-seller ở phương Tây, đến cuối thế kỷ 19 bán được số lượng 250.000 bản ở Anh, Mỹ, nhưng khi được Nakamura Masanao, một học giả Khổng giáo từng học bên Anh, dịch sang tiếng Nhật những năm đầu của thời Minh Trị thì quyển sách bán đến một triệu bản! (Nakamura cũng là người dịch quyển Bàn về Tự do) Một con số thật “khủng” nếu ta biết rằng thời đó dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu thôi. Self-Help là một trong ba quyển sách được gọi là “Bộ kinh thánh Minh Trị” có sức hút mãnh liệt đối với người Nhật, nhất là giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đổi mới của Nhật Bản.   Hai sự kiện sau đây ở thế kỷ 20 minh họa thêm óc tò mò học hỏi đặc biệt của người Nhật:   Năm 1922 khi Einstein thực hiện lời mời sang thăm và diễn thuyết khoa học tại Nhật thì nước Nhật vừa có ngay một tuyển tập Einstein gồm bốn quyển. Lúc đó không đâu ở châu Âu hay ở Mỹ có tuyển tập này. Tương tự, ba năm trước đó, 1919, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên xuất bản tuyển tập Karl Marx, Friedrich Engels. Cũng không đâu trên thế giới, kể cả Nga, Đức là những nơi có phong trào xã hội chủ nghĩa mạnh nhất thế giới có tuyển tập này. Người Nhật quả muốn biết hết những suy nghĩ gì của thế giới trước đó.          Con số phát hành 10.000 bản là rất đáng ghen  tị cho những nhà xuất bản và tác giả Việt Nam hiện nay, đất nước với  gần 90 triệu dân. Trong gần mười năm qua từ khi loại sách khai trí bắt  đầu xuất hiện, có mấy tác giả nào có số ấn bản tương đương như thế? Cho  nên số ấn bản 10.000 của người Nhật thời Tokugawa cách đây 300 năm quả  là con số “khủng”! [Việt Nam lúc bấy giờ đang trong giai đoạn Trịnh  Nguyễn phân tranh, không hiểu giáo dục và văn hóa đọc sách ra sao.]        Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị Duy Tân kinh doanh gì? Được sách sử ghi lại, đó là công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzen của Hayashi Yuteki. Năm 1869 ông Hayashi Yuteki mở công ty đầu tiên tại Yokohama có tên Maruya, và năm sau mở thêm cửa hàng thứ hai tại Nihonbashi, khu phố cổ trung tâm sầm uất và thời trang nhất của Tokyo lúc bấy giờ! Ngoài các hiệu sách, Maruzen còn xuất bản một nguyệt san cho giới văn sĩ, học thuật có tên “Ánh sáng của Khoa học”, Gakutō. Một thời gian dài Maruzen là cửa sổ duy nhất nhìn ra phương Tây. [Công ty sách này ngày nay vẫn còn tồn tại, hoạt động rộng rãi, có doanh số năm 1996 hơn một tỉ Euro với 2.100 nhân viên. Khách hàng của họ là nhiều đại học, cơ quan chính quyền và viện nghiên cứu.].  Một truyền thống lâu đời  Thực ra người Nhật đã có truyền thống đọc sách khủng lâu đời, ít ra từ thời Tokugawa 1600-1686. Trong thời đầu của Tokugawa Ieyasu, người thống nhất đất nước và lập nên triều đại Tokugawa hòa bình 265 năm lâu dài nhất lịch sử, thì chuyện một samurai có thể diễn đạt được ý tưởng của mình một cách mạch lạc trên giấy trắng mực đen là điều hi hữu, và tình trạng mù chữ là bình thường. Văn hóa Nhật Bản trước 1600 là văn hóa võ sĩ. Nhưng vào cuối thế kỷ 18, có thể nói một samurai mù chữ là một điều hụt hẫng đáng buồn, và tới giữa thế kỷ 19, tình hình lại khác nhau một trời một vực.  Trong thời Genroku (1688-1704), được xem là thời vàng son của Tokugawa với kinh tế ổn định, nghệ thuật và văn chương phát triển, Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, đặc trưng bởi sự hiện hữu của nhiều nhà xuất bản lớn, nhiều nhà minh họa sách có tiếng và nhiều nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Đây là một con số “khủng” thời đó; Nhật Bản lúc đó chỉ có chừng 20 triệu người, vì thời Minh Trị dân số Nhật Bản khoảng 30 triệu. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hàng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng. (Hiện nay VN chưa có được những bộ danh mục như thế tại các nhà sách).  Thương mại sách ở Nhật bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 17. Giới đọc sách truyền thống như quý tộc, tu sĩ và thượng lưu trong thành phố được mở rộng sang các giới đại chúng. Mặc dù số lượng phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hóa đọc sách thuê, ra đời trong thời Kan’ei (1624-44), trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn như Edo, Kyoto và Nagoya. Các cửa hàng cho thuê sách, kashihonya, đóng vai trò quan trọng ở đây. Cuối thế kỷ 18 các cửa hàng cho thuê sách có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Sách vở có thể đi đến tận các hải đảo xa xôi. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho mượn sách ở Nagoya, tên Daisō của Sōhachi, như lịch sử còn ghi, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt hoạt động có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho mượn.  Nhật Bản thế kỷ 18 có những thành phố lớn phát triển với dân số tập trung cao như châu Âu. Edo có trên một triệu dân, nhất thế giới, hơn cả Paris. Các thành phố khác như Osaka có con số non một triệu. Nhật Bản có văn hóa thành thị, có cả văn hóa salon (zashiki), đời sống sung túc rõ nét như ở châu Âu thời Trung cổ. Và đó cũng là điểm hấp dẫn đối với giới thương nhân nước ngoài khi họ kêu gọi Nhật Bản mở cửa. [Việt Nam lúc đó chưa được như thế về mặt phát triển kinh tế.]  Nguồn gốc đọc sách: văn đi trước võ  Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi đã bình định được gần ba trăm phiên trấn (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, phát đi mệnh lệnh như một ‘big bang’ cho các đại danh, daimyō, chủ phiên trấn và các võ sĩ, samurai: Điều 1 của mệnh lệnh nói: “bun bên tay trái, bu bên tay phải”. Bun là văn, sự học, là cây bút, trong khi bu là võ, nghệ thuật chiến tranh, từ đó chữ bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Như thế Điều 1 nói “quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải”, và văn đi trước võ, để có thể trị nước lâu bền. Các võ sĩ Nhật dần dần trở thành giai cấp cầm quyền có học. Ở Nhật Bản, cầm quyền là việc của giai cấp samurai, cha truyền con nối, không phải việc của các Khổng nho như ở Trung Hoa hay Việt Nam, Triều Tiên. Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn với đồng lương thấp. Nhật Bản cũng có xếp hạng “sĩ, nông, công, thương” (shi, nō, kō, shō) dưới ảnh hưởng của Khổng giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.  Các daimyō giờ đây phải học văn hóa, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước. Một daimyō có học phải đọc sách hằng ngày. Để phục vụ cho việc học tập của daimyō, và các gia thần, thư viện được thành lập, sách vở được sưu tầm một cách qui mô, và trở thành biểu tượng cho tri thức. Thư viện bao gồm các loại sách về lịch sử Nhật Bản và Trung Hoa, các sách về Khổng giáo, Phật giáo và Thần giáo; sách về nghệ thuật quân sự, chiến lược quân sự, địa lý, thiên văn, kinh tế, toán học, y khoa và vô số sách về văn chương cổ điển. Bản thân tướng quân Ieyasu từng lập thư viện cho mình. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất chưa bao giờ thấy trước đó.   Phát triển giáo dục  Văn hóa đọc sách gắn liền với giáo dục. Tokugawa là thời kỳ của sự bùng nổ giáo dục, hệ thống trường học, phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều đẳng cấp, trường trung ương của shogun, trường phiên của các daimyō, trường tư, cho dân thường và trường hỗn hợp cho cả samurai và dân thường. Vài con số dưới đây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hóa đọc và giáo dục.  Ngoài những trường chính thống dành cho giai cấp samurai của Mạc phủ, như “Hàn lâm Khổng giáo”, Shōheikō, thành lập năm 1630, và trường của các phiên, còn có các loại trường như trường terakoya cho thường dân; trường gōgaku dành cho cả con em samurai lẫn thường dân học chung, được chính thức hỗ trợ từ nhà nước, báo trước loại giáo dục hiện đại phi đẳng cấp sẽ ra đời thời Minh Trị. Ngoài ra có loại trường tư thục, shijuku, private academies, với khoảng 1.500 trường, từ qui mô nhỏ vài ba chục đến qui mô lớn cả ngàn sinh viên, cạnh tranh với các trường trung ương hay trường phiên, dành cho cả samurai và thường dân mọi tầng lớp.  Tại phiên Chōshū, một trong những phiên quan trọng trong việc lật đổ Mạc phủ để phục hồi Thiên hoàng, nhiều samurai nổi loạn và trở thành lãnh đạo của Chính phủ Minh Trị đã từng là học trò của nhà yêu nước Yoshida Shōin (1830-1859) tại trường tư thục do ông thành lập. Shijuku thường phục vụ cho giáo dục cao cấp (advanced education), đi vào nghiên cứu, là trường của những người muốn tiến thân vào học thuật. Đó là loại trường “vườn ươm nhân tài”, bất kể từ đâu đến, samurai hay thương gia, thầy tu, tạo nguồn nhân lực quốc gia, jinzai (nhân tài, human resource), điều cũng được các giới chính quyền Trung ương và địa phương ủng hộ.  Theo tinh thần của jinzai, việc tuyển mộ nhân sự được dựa trên cơ sở tài năng hơn là nguồn gốc thân thế, và tài năng có thể đi từ phiên này sang phiên khác sống. Ngoài ra còn các trường dạy nghề và trường tôn giáo.  Năm 1868 khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Đây cũng là một con số ‘khủng’ nữa. Hàng triệu người đã được học hành. [Việt Nam có được bao nhiêu trường học và học sinh lúc đó? Nam Kỳ lúc đó vừa trở thành thuộc địa Pháp.] Có một ước tính theo đó cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40 phần trăm con trai và 10 phần trăm con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học. “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học” như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết.  Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Shōheikō được xây dựng lại năm 1799 thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campus to lớn, nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn là một cái trường đơn giản theo quan niệm của chúng ta. Trường Nisshinkan tuy có thể nhỏ hơn nhưng cũng rất lớn. Chúng ta biết rằng tại Hoa Kỳ, các đại học dạng campus hình thành chủ yếu từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các Đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?  Nước Nhật bước vào hiện đại hóa không phải từ tro tàn của chế độ cũ, mà ngược lại, được xây dựng trên một nền móng văn hóa đã phát triển cao, đa dạng về nội dung học, và vững chắc. Năm 1872 (cũng là năm sinh của cụ Phan Châu Trinh), tức chỉ bốn năm sau khi vua Minh Trị được phục hồi, một chế độ giáo dục cưỡng bách toàn dân được thực hiện trên khắp nước Nhật, một kỳ công. Điều này sẽ khó có thể được nếu Nhật Bản Tokugawa không có gì cả. Năm 1900 Nhật Bản có tỉ lệ người biết chữ cao hơn tỉ lệ của Anh. Đó là một môi trường văn hóa tốt và thiết yếu cho sự phát triển mạnh của khoa học và kỹ thuật.  Nếu đầu thời kỳ Tokugawa lưỡi gươm là quan trọng, thì vào cuối thời Tokugawa thì quyển sách là quan trọng hơn.  Trước áp lực của nguy cơ nước ngoài sự học cổ điển dần dần được hiện đại hóa bằng các môn học phương Tây. Các môn tri thức quân sự, luyện kim, vẽ bản đồ, y khoa, hóa học…, cũng như các môn học về các thể chế chính trị, kinh tế các quốc gia phương Tây có sức hút mạnh mẽ. Các daimyō biết nhìn xa gửi sinh viên tài năng đi học tại Nagasaki hay tại những trường Lan học tại Edo và Osaka. Và trong những năm 1850, 1860 họ thành lập các trung tâm Tây học tại các phiên của họ. Các nhà lãnh đạo của Minh Trị Duy Tân như Saigō của phiên Satsuma, Kido, Itō và Inoue của Chōshū, Soejima và Okuma của Saga, Gotō, Sakamoto và Sasaki của Tosa, Yuri của Fuki, Mutsu và Katsu của Mạc phủ, tất cả đều đã một lần học tại Nagasaki, trung tâm Lan học hiện đại của cả đất nước.  Sự phát triển giáo dục thời Tokugawa gắn liền với sự phát triển văn hóa Edo. Edo là thời kỳ của nghệ thuật và học thuật. Tokugawa chọn con đường đóng kín không phải để suy tàn, mà ngược lại, để phát triển bản sắc Nhật Bản không bị phá rầy, đưa sức sống của dân tộc lên đỉnh cao văn hóa và nghệ thuật, vun xới đạo đức và bản sắc. Đó là thời kỳ của sự tự tôi luyện, sự quyết tâm tự khẳng định mình, biến đổi miếng đất hoang sơ thành một vườn hoa sặc sỡ, phát triển các hình thái nghệ thuật lên cao nhất, để bản sắc Nhật Bản trở thành nền tảng không lung lay được trong thời mở cửa xáo trộn sau, để tài năng Nhật Bản được tinh luyện làm niềm tin của dân tộc. Khi mở cửa, nghệ thuật Nhật Bản đã chinh phục được các quốc gia phương Tây và quốc gia được nể phục.     Lan học, cuộc dịch thuật vĩ đại  Còn một sự kiện ‘khủng’ khác cần được nói lên  ở đây. Đó là cuộc dịch thuật vĩ đại hai thế kỷ của giới trí thức Nhật Bản trong thời Tokugawa tự đóng cửa. Sáu năm sau khi Copernicus qua đời (1543) và tác phẩm cách mạng Về chuyển động quay của các thiên thể xuất bản, Nhật Bản tiếp xúc với những người phương Tây đầu tiên. Nhưng năm mươi năm sau, Nhật Bản, như chúng ta biết, chọn con đường đóng kín cửa, “toả quốc”, sakoku, từ 1640 (Việt Nam từ 1630), khi thấy sự phát triển của Kitô giáo là nguy hiểm cho tinh thần dân tộc và cho quyền lực. Nhật Bản chỉ chừa một cửa thông thương duy nhất với Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Sự đóng kín này kéo dài cho đến hết thời Tokugawa năm 1868. Vậy mà trong điều kiện đó, đây là điều Việt Nam không có, trí thức Nhật Bản đã làm một cuộc dịch thuật vĩ đại sách vở phương Tây. Tuy không quyển sách nào thóat khỏi bàn tay kiểm duyệt nghiêm ngặt của Mạc phủ, tuy giới học giả phải làm việc trong điều kiện khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng tính mệnh, nhưng họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đại từ cái được gọi là Lan học, rangaku, Dutch learning  (“Lan” là gọi tắt của Hà Lan), bắt cầu cho khai trí, khoa học, kỹ thuật để Minh Trị Duy Tân bước tới mạnh mẽ.   Trí thức Nhật, nhất là giới bác sĩ, đặc biệt chú ý đến khoa học kỹ thuật từ châu Âu qua các tác phẩm dịch từ tiếng Hà Lan. Họ nhìn thấy trong đó một nền văn minh mới xuất hiện, và ý thức rằng, nếu một ngàn năm trước Nhật Bản đã từng gửi học giả và tăng lữ sang Trung Hoa để học văn hóa, thì nay, họ cũng đang đứng trước một nền văn minh mới đồ sộ cần phải học hỏi, và họ phải tự học trong sự dè chừng của Mạc phủ. Qua Lan học- hay Tây học qua tiếng Hà Lan – người Nhật học hầu như tất cả các môn khoa học và công nghệ phương Tây: y khoa, sinh học, thiên văn, toán học, vật lý, hóa học, điện, cơ học, máy bơm, đồng hồ, máy hơi nước, kính thiên văn, kính hiển vi, luyện kim, đúc súng, đóng tàu…Họ thường xuyên theo dõi sự tiến bộ khoa học công nghệ châu Âu. Các thương nhân Hà Lan ngay từ đầu được Mạc phủ yêu cầu hằng năm viết báo cáo (fūsetsugaki) cho chính phủ tướng quân về tình hình thế giới, và về cuộc cách mạng công nghệ và khoa học ở châu Âu.           Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là  muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế  giới và sáng tạo cái mới làm giàu đất nước Việt Nam, mới giúp cho chúng  ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức  vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hoá đọc mới có thể thăng hoa.         Từ thế kỷ 18, tức khoảng một thế kỷ sau tác phẩm Principia của Newton, các học giả Lan học đã nắm bắt được vật lý Newton, họ đã dịch được các khái niệm như “trọng lực” (jūryoku), “lực hút” (inryoku), “lực ly tâm” (enshinryoku), “khối tâm” (jūten, centre of mass) vẫn còn được sử dụng ngày nay. Các học giả Lan học đã hiểu các hiện tượng điện, tĩnh điện, hiểu nguyên lý ắc-quy của Volta đầu thế kỷ 19, chỉ mấy năm sau khi Volta phát minh ở châu Âu. Họ hiểu hóa học của Lavoisier, có thể chế tạo kính thiên văn không lâu sau Hans Lippershey và Galilei đầu thế kỷ 17; chế tạo đồng hồ, máy bơm, súng hơi, chế tạo những con búp bê cơ khí tự động phục vụ trà. Đặc biệt máy hơi nước được Nhật Bản chế tạo lần đầu tiên năm 1853. Người Nhật đã đóng được tàu chiến chạy hơi nước chỉ hai năm sau cuộc gặp gỡ lịch sử với Commodore Perry 1853. Tất cả cũng chỉ dựa trên bản vẽ. Một quan chức Hà Lan bình luận rằng “Tuy có những sự không hoàn chỉnh về chi tiết, nhưng tôi phải ngả mũ trước dân tộc thiên tài có khả năng chế tạo những thứ này mà họ không hề thấy một chiếc máy thực ngoài đời, chỉ dựa trên các bản vẽ đơn thuần”.  Cuộc dịch thuật diễn ra trong hai thế kỷ với hàng ngàn cuốn sách được xuất bản và truyền bá trong giới học thuật, làm cho người ta nhớ đến cuộc dịch thuật vĩ đại văn minh Hy Lạp cổ đại và Ả Rập vào châu Âu hai thế kỷ 11 và 12 đúng lúc đại học châu Âu đang hình thành, làm cho đại học và khoa học châu Âu phát triển mạnh mẽ. Chỉ có khác một điều: trong khi cuộc dịch thuật ở châu Âu được phần lớn các học giả Ả Rập thực hiện thì ở Nhật Bản cuộc dịch thuật được do chính người Nhật thực hiện, những người được đào tạo từ một nền văn hóa rất khác. Phương Đông chưa có cuộc dịch thuật nào như cuộc dịch thuật Nhật Bản phản ảnh trung thực nền khoa học kỹ thuật phương Tây. (Cuộc dịch thuật ở Trung Hoa bởi các nhà truyền giáo bóp méo một phần khoa học vì mục tiêu truyền giáo, và gặp sức ỳ mãnh liệt của sự tự mãn văn hóa Trung Hoa). Đây là một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử giữa Tây và Đông. Hai trăm năm dịch thuật ở Nhật Bản Tokugawa cũng là thời gian tại châu Âu diễn ra các cuộc cách mạng khoa học, công nghiệp dữ dội, tạo nên sự mất cân bằng lực lượng nghiêm trọng trên thế giới dẫn tới thay đổi lớn lao chưa từng có trong lịch sử loài người. Người Nhật đã biết tiếp cận các cuộc cách mạng đó từ xa để chuẩn bị mình.  Người Nhật không thể yêu nước trong sự mê muội, vô minh, lại càng không yêu nước bằng những nội dung khuôn sáo không thực chất. “Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình” với tư cách là người phục vụ đại danh và đất nước, như một lời tự thú của Sugita Gempaku (1733-1817), một bác sĩ tên tuổi và là người đã tạo cú hích quan trọng cho Lan học cuối thế kỷ 18, sau khi ông chứng kiến rằng cấu trúc của cơ thể con người không giống như sách vở của Trung Hoa hay Nhật Bản bấy lâu nay, mà giống chính xác các bản vẽ cơ thể học của một quyển sách từ phương Tây (Tafel Anatomia), sau đó được Gempaku và các đồng nghiệp dịch ngay sang tiếng Nhật, tạo cú hích mạnh mẽ cho phong trào Lan học.     Kết luận  Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có óc tò mò không bao giờ nguôi, tinh thần khao khát học hỏi cái mới mãnh liệt không bao giờ tắt, và khả năng hiểu biết nhanh chóng, để hoàn thiện mình, để bảo vệ đất nước, để “kiểm soát những người man di bằng tri thức của họ”, và vì thế họ đọc sách dữ dội, và đã thành công dữ dội. Thế kỷ thứ bảy và tám họ đã từng vượt biển trong hiểm nguy để học văn hóa Trung Hoa đem về xây dựng nền tảng văn hóa riêng của họ. Rồi một ngàn năm sau, cũng trong khó khăn và nguy hiểm, giới trí thức đã tiến hành cuộc dịch thuật văn hóa phương Tây hai thế kỷ liền, và từ 1868 trở đi một cách bùng nổ, để có thể nhanh chóng hiện đại hóa đất nước với mục tiêu trở thành ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Đó là hai sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử văn hóa nước Nhật. Và họ đã thành công. Họ bỏ lại Trung Hoa từng là trung tâm văn hóa đối với họ, để rồi chính Trung Hoa sau đó phải học lại họ. Nhật Bản đã từng trở thành trung tâm văn hóa mới và niềm hy vọng ở phương Đông, thay thế cho cái trung tâm Trung Hoa cũ đang rệu rã.  Nhật Bản là tấm gương “tổng hợp văn hóa Đông Tây” của thế giới mà không mất đi bản sắc sâu đậm của mình. Họ là một tấm gương tuyệt vời của sự tự-khai trí vươn lên. Họ đóng cửa mà không hư hỏng hay hỗn độn. Ngược lại, họ đóng cửa để phát triển các tố chất dân tộc thành tinh hoa, làm bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp vững chắc, không chao đảo khi mở cửa ồ ạt thời Minh Trị. Họ là một dân tộc văn hóa đáng kính phục.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người ơi người ở đừng về…      Cuộc sống t&#244;i c&#242;n c&#243; cả những cuộc hẹn m&#224; kh&#244;ng đến nữa &#8211; v&#224; trong những l&#250;c đứng ngồi kh&#244;ng y&#234;n ấy, c&#226;u ca xưa nỉ non, l&#250;c xa l&#250;c gần, l&#250;c như để n&#243;i thay t&#244;i điều mong đợi, l&#250;c như để vợi bớt đi trong t&#244;i nỗi khắc khoải…  Hẹn m&#224; kh&#244;ng đến c&#243; nhiều lắm trong đời con người ta chứ, nhưng nếu phải c&#243; gấp năm gấp mười lần c&#225;c cuộc hẹn m&#224; kh&#244;ng đến như thế, t&#244;i vẫn kh&#244;ng sao quen được… H&#236;nh như chẳng ai quen được điều n&#224;y…    Mấy hôm nay, câu ca ấy tự nhiên văng vẳng trong tâm thức tôi, như nhắc nhớ điều gì đó… Nhưng hiện giờ tôi có chờ đợi ai đâu! Từ nhiều tháng nay đầu óc tôi hình như chỉ ăn với bauxit, ngủ với bauxit, đi đứng với Biển Đông, khủng hoảng kinh tế, nằm ngồi với kích cầu, tỷ giá, chiến lược, hội thảo… Trên mọi báo giấy, báo mạng ăm ắp những sự kiện như thế, những câu hỏi không dễ trả lời, làm sao dửng dưng được!.. Bao nhiêu chuyện trong đời thuộc loại nóng bỏng ấy choán hết đầu óc tôi. Làm gì còn tâm trạng nào nữa mà hẹn với chẳng hò!.. Cả trong những lúc mấy anh em bạn hữu chúng tôi tranh luận với nhau đến mụ mị cả người mà chưa ngã ngũ về những chuyện “ôm rơm nặng bụng”, vẫn gợn lên trong tôi một cảm giác thiêu thiếu nào đấy… Sở dĩ tôi gọi những chuyện chúng tôi vơ vào bàn bạc là những việc “ôm rơm nặng bụng”, hay là “xớ rớ”, là “gái góa lo việc triều đình”.., chẳng qua là vì tất cả chúng tôi đều đã quá giang lâu rồi cái tuổi xưa nay hiếm… Song câu ca xưa cứ vương víu đâu đây… Và không ít lần tôi thốt lên trong đầu: Giá mà lúc này còn Anh Sáu..!  Vâng, giá mà lúc này còn Anh Sáu!..  Đất nước đang đứng trước những vấn đề quyết liệt, đòi hỏi tất cả phải động não góp những tiếng nói quyết liệt. Chính trong lúc này, chúng tôi càng mong có tiếng nói của Anh Sáu… Một sự trống trải khó tả… Trong cuộc đời mình, tôi đã từng trải nghiệm và hiểu là thế nào khi mình phải chiến đấu thiếu vắng tiểu đội trưởng. Hôm nay, trong một bối cảnh hoàn toàn khác, song sự thiếu vắng này sao vẫn giữ lại trong tôi nguyên vẹn những cảm nghĩ tôi đã trải nghiệm thời chiến sỹ trai trẻ… Đã đi gần hết cuộc đời, ai không có những trải nghiệm như thế!                  Đ/c Võ Văn Kiệt cùng lao động với TNXP trên công trường thủ công Tam Tân (Củ Chi) năm 1976          Tôi xắp xếp lại trong trí nhớ của mình những buổi thảo luận cuối cùng do Anh Sáu đề xướng, nhiều người tâm huyết tham gia lắm. Chúng tôi còn vạch ra cho nhau cả một chương trình nghiên cứu phải làm, cho nhiều năm tới, chia nhau mỗi người chuyên suy nghĩ một vấn đề… Đơn giản là đất nước còn nhiều câu hỏi phải có lời giải, may ra chúng tôi có thể góp ý đôi điều chắt lọc từ những gì chúng tôi đã trải nghiệm suốt chiều dài lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám. Chúng tôi đã xắp lịch, hẹn nhau cuộc gặp tới, có nhiều chuyện đáng bàn lắm… Đâu có nghĩ đấy là những buổi thảo luận cuối cùng với Anh Sáu! Tôi còn nhớ như in dáng điệu, giọng nói đầy nhiệt huyết “…Tôi sẵn sàng lấy thẻ đảng viên ra bảo vệ quan điểm của mình!..”  Đấy là những buổi thảo luận, anh Sáu Dân nêu lên những suy nghĩ trăn trở về các vấn đề trọng đại: phải phấn đấu xây dựng Đảng trở thành Đảng của dân tộc, phát huy dân chủ trong Đảng là vấn đề sống còn, cải cách hành chính phải bắt đầu từ đổi mới xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng…  Tôi có thể dám chắc rằng trong những năm cuối cùng trước khi đi xa, đổi mới xây dựng Đảng là vấn đề ngày đêm thiêu đốt tâm can anh Sáu Dân. Dù anh Sáu Dân bàn bạc hay tìm hiểu một đề tài nào đó, lúc ở trong Nam, lúc ngoài Bắc, dù lặn lội ngược xuôi, cuối cùng Anh vẫn liên hệ đến vai trò của Đảng và người đảng viên tại chỗ – qua những sự việc đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày.    Chúng tôi thán phục ông già này còn nặng lòng lặn lội với công việc nước non đã đành, song chính chúng tôi luôn luôn được ông mang lại cái nhìn mới gắn bó mật thiết với các sự kiện nóng hổi ở khắp mọi miền đất nước. Có lẽ sống trong hơi thở của cuộc sống đất nước – một phong thái rất Sáu Dân – nên anh Sáu luôn luôn tìm cách vượt qua mọi giáo điều và rất sợ để cho mình “cũ”. Nhất là ở tuổi của Anh..! Chúng tôi coi đấy là tấm gương sáng cho chính mình.  Thoắt một cái, đã sắp đến ngày giỗ đầu của Anh Sáu rồi… Thời gian sao mà vùn vụt như tên bắn. Những công việc “xớ rớ” của chúng tôi tự đặt ra cho mình ùn tắc – vì thời gian keo kiệt bủn xỉn, vì biết bao nhiêu câu hỏi không dễ trả lời…  Trong tôi, một sự trống trải khó nói nên lời. Xa xa đâu đó … Người ơi người ở đừng về!..  Hà Nội, Tháng 5 – 2009     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người tài      Ít thời gian gần đây, người ta nói nhiều đến việc trải thảm đỏ đón người tài.  Đó là một việc tốt rất nên làm, nhưng không hiểu tại sao công việc tiến hành xem chừng không thu được những kết quả mong muốn.         Theo nhận định thông thường, đất nước không hiếm người tài.  Tôi không phủ nhận tính đúng của nhận định này.  Bây giờ chỉ còn có việc trải thảm đỏ mời họ về với tất cả những ưu đãi có thể.  Công việc tưởng như không còn gì dễ dàng hơn.  Nhưng chính những khó khăn thường khi hay nảy nở từ những dễ dàng đó.  Chúng ta có một thói quen không tốt là ưa vận động xã hội theo “chiến dịch”.  Cách tiến hành này có cái hay là tập trung được phương tiện, sức lực nhưng lại có cái dở là dễ rơi vào tình trạng vội vàng, a dua và nhiều khi hình thức.  Muốn mời nhân tài trước hết phải xác định rõ nhân tài là ai? (nhất là khi thị trường hàng dỏm tràn lan như bây giờ).  Theo tôi nhân tài là một định danh quá bao quát đến mức mơ hồ.  Các trí thức, các chuyên gia có bằng cấp (lẽ dĩ nhiên bằng thật) có đúng là người tài không?  Các sinh viên đỗ thủ khoa có đúng là người tài không?  Đúng. Nhưng không phải chỉ có thế!  Vậy nhân tài anh (chị) là ai?  Chúng ta nên chấm dứt quan niệm về những nhân tài chung chung như những thứ hàng mẫu.  Theo tôi nhân tài là những người xuất sắc có khả năng bứt phá những đòi hỏi cụ thể và đa dạng của xã hội.  Do đó có nhiều “tuýp” người tài (không hiếm trường hợp vượt ngoài chủ kiến của lãnh đạo).  Không nên quên chính trị là nghệ thuật về cái có thể, và cái có thể là ở phía trước mặt chứ không phải ở phía sau lưng.  Một người tài không phải là một cây kiểng mà là một tác nhân tích cực và hành động ở những vị trí cụ thể được xác định.  Một người tài đặt sai vị trí có thể sẽ trở thành một kẻ bất tài.  Một nhà khoa học tự nhiên giỏi có thể là một ông bộ trưởng tồi.  Muốn tìm cũng như sử dụng người tài, nhà quản lý phải nắm bắt được mình thật sự cần gì khi biết mình cần gì thì đồng thời hiểu được ai là người tài và người tài cần gì.  Tôn vinh người tài không phải chỉ là tặng hoa, tiền thưởng hay huân huy chương. Nó lớn hơn một cuộc mừng công kết thúc, mà là sự khởi đầu một cam kết sử dụng, một hợp đồng làm việc cùng phấn đấu cho dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh.  Đó là một chính sách xuất phát từ nhu cầu thật của cả hai phía chứ không phải từ sự chiếu cố đơn phương của người quản lý “tốt bụng”.  Xác định như thế mới tránh được tình trạng một số địa phương mời nhân tài về để “ngắm” và để nhân tài cùn đi trong những phân công trái khoáy hay ngồi chơi xơi nước.  Các nhà quản lý hứa hẹn ưu đãi lương cao nhà ở. Tóm lại những tiện nghi vật chất cho người tài. Rất tốt. Vì như một nhà thơ lớn đã viết: Một thiên tài kiệt xuất cũng cần ăn.  Nhưng không nên quên rằng đó chỉ là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ.  Một việc làm hết sức quan trọng không nên quên đó là những ưu đãi về tinh thần, tạo một môi trường thân thiện để các tài năng có thể phát triển sở trường phục vụ đất nước, để người tài đỡ ân hận rằng mình cần đất nước nhưng đất nước không cần mình.  Người tài thật sự muốn được làm việc, và muốn cộng đồng tạo cho mình có điều kiện  làm việc. Tài năng là để cống hiến hơn là để nhận danh hiệu. Người tài luôn coi trọng trách nhiệm của mình đối với cộng đồng.  Cộng đồng cũng nên có trách nhiệm phải “xót” người tài và tạo điều kiện cho họ cống hiến.  Tài năng chỉ là của quý của đất nước khi nó được sử dụng một cách công tâm, thông minh và hữu hiệu.  Một chế độ không có khả năng “đẻ” ra người tài, nhưng có khả năng tạo ra những điều kiện để người tài có thể hình thành và phát triển (cũng như tàn lụi).  Câu hỏi cấp bách đối với cộng đồng không phải là ta có ít hay nhiều người tài mà là cộng đồng đã làm gì để tài năng nảy nở.  Đó là một trách nhiệm khó khăn về ứng xử và nghiêm ngặt về đạo đức mà không phải cộng đồng lúc nào cũng đảm đương một cách đầy đủ.  Đất nước không thiếu nguyên khí, nhưng khai thác được nhiều hay ít tùy thuộc vào bản lĩnh, tâm huyết và cơ may của những người quản lý.  Lãng phí bao giờ cũng đáng trách, nhưng có lẽ đáng trách nhất là lãng phí người tài.  L.Đ    Ảnh trong bài: Phạm Bá Thịnh         Lê Đạt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Thụy Điển ủng hộ phát triển điện hạt nhân trở lại      78% người tham gia điều tra tại Thụy Điển, ủng hộ điện hạt nhân, cao hơn con số 71% năm 2017. Trong số này, 43% sẵn sàng ủng hộ việc xây mới các nhà máy điện hạt nhân và 35% muốn tiếp tục sử dụng các lò phản ứng năng lượng vận hành trọn vẹn vòng đời của chúng.      Nhà máy điện hạt nhân Forsmark. Nguồn: world-nuclear-news.org  Tương phản, có 11% tỏ thái độ phản đối điện hạt nhân. Đây là kết quả một cuộc điều tra của Novus, một công ty nghiên cứu công của Thụy Điển về quan điểm, thị trường và chiến lược phát triển và do Analysgruppen thực hiện.  Chính quyền Thụy Điển đang lập kế hoạch dừng vận hành tất cả 8 lò phản ứng năng lượng của mình vào năm 2040, nhưng kết quả bỏ phiếu cho thấy, chính sách này không phản ánh quan điểm của công chúng. Analysgruppen đã điều tra các quan điểm của người Thụy Điển đối với điện hạt nhân kể từ năm 1997 đến nay.  Hiện Thụy Điển có ba nhà máy điện hạt nhân, góp phần cung cấp 40% điện năng quốc gia. “Từ chỗ có khoảng 20% theo các năm như trước đây, chúng tôi thấy một thay đổi đáng kể trong cuộc điều tra năm nay: tỷ lệ những người muốn dừng vận hành vĩnh viễn các nhà máy điện hạt nhân giảm xuống chỉ còn 11%”, Mattias Lantz, một nhà nghiên cứu trường đại học Uppsala và là thành viên của Analysgruppen, cho biết. Kết quả này phản ánh sự thật là có sự đồng thuận trên diện rộng của người Thụy Điển về việc điện hạt nhân có tác động tối thiểu lên biến đổi khí hậu.  Cuộc điều tra này được thực hiện thông qua các phỏng vấn trên trang web với bảng lựa chọn của Novus. Có tổng số 1027 người ở độ tuổi 18 đến 79 trả lời khảo sát từ ngày 24 đến 30/10/2019.  Năm 1980, chính quyền Thụy Điển đã quyết định không tiếp tục chương trình điện hạt nhân nhưng vào tháng 6/2010, nghị viện đã bỏ phiếu bãi bỏ chính sách này. Chính sách năng lượng năm 1997 của đất nước cho phép 10 lò phản ứng năng lượng vận hành trong thời gian lâu hơn dự tính của chính sách năm 1980, nhưng vẫn dẫn đến việc đóng cửa sớm một nhà máy điện hạt nhân với hai lò phản ứng tại Barsebäck, cách Malmö ở phía nam Thụy Điển 30 km, lần lượt vào tháng 11/1999 và tháng 5/2005.  Tuy nhiên, điện hạt nhân là vấn đề gây tranh cãi tại Thụy Điển. Để bù lại việc đóng cửa nhà máy Barsebäck đã khiến quốc gia này phải gia tăng lượng điện của các nhà máy điện hạt nhân còn lại với con số 1600 MWe.  Vào tháng 5/2005, một cuộc thăm dò ý kiến những cư dân sống quanh khu vực nhà máy Barsebäck cho thấy, 94% muốn nhà máy vận hành trở lại. Thạm chí, một cuộc rò rỉ nước thải phóng xạ từ khu bảo quản chất thải hạt nhân ở Forsmark cũng không làm thay đổi quan điểm của công chúng. Theo một cuộc thăm dò ý kiến vào năm 2008, 48% người Thụy Điển đồng thuận với ý tưởng xây các nhà máy điện hạt nhân mới, 39% phản đối và 13% do dự. Dẫu vậy, sau tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2011 tại Nhật Bản thì sự ủng hộ điện hạt nhân đã đảo chiều khi chỉ còn 27% ủng hộ. Trong một cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 3/2019 thì quan điểm của công chúng lại có sự thay đổi khi số người ủng hộ đã tăng lên 66% và chỉ 19% là phản đối.  Được biết, EOn – đơn vị sở hữu Barsebäck, đã quyết định vào tháng 10/2015 là có thể đóng cửa vĩnh viễn hai lò Oskarshamn 1 và 2 trên. Các quyết định được đưa ra năm 2015 là đóng cửa 4 lò phản ứng vào năm 2020 sẽ làm mất đi của quốc gia này 2,7 GWe.  Thanh Phương dịch  Nguồn: http://www.world-nuclear-news.org/Articles/Swedish-support-for-nuclear-continues-to-grow,-pol       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người tị nạn: “Nước Đức sẽ phải trả giá đắt”      Liệu sự thần kỳ về hội nhập của Hoa kỳ có thể diễn ra một lần nữa? Trong cuộc trả lời phỏng vấn, nhà nghiên cứu về di dân George Borjas thuộc Uni Harvard cảnh báo về hậu quả của việc nhập cư không hạn chế vào châu Âu và Hoa kỳ.       Thưa giáo sư Borjas, những người ủng hộ nhập cư tự do thường lấy Hoa Kỳ làm gương. Vậy Hoa Kỳ được hưởng lợi như thế nào nhờ nhập cư?  Chuyện về Hoa Kỳ, nước mà người nhập cư rửa bát có thể nỗ lực để trở thành triệu phú xảy ra vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Khi đó những người thợ lành nghề, giỏi giang nô nức sang Mỹ với số lượng lớn. Đó là thời kỳ công nghiệp hóa, khi đó nước Mỹ rất cần lao động lành nghề. Năm 1917 tại hãng sản xuất ô tô Ford người nhập cư chiếm tới hai phần ba lực lượng lao động. Cả doanh nghiệp lẫn người nhập cư đều hưởng lợi.   Thưa giáo sư, phải chăng sự hội nhập của người nhập cư của Hoa Kỳ đã diễn ra một cách tự nhiên?   Sự thật là nhờ tình trạng thiếu lao động trầm trọng ở các doanh nghiệp, quá trình hội nhập diễn ra dễ dàng hơn. Một số bang của Hoa Kỳ đã buộc người nhập cư gốc Đức không được nói tiếng Đức với nhau ở nơi công cộng. Sự thần kỳ về hội nhập thời đó đã diễn ra trong bối cảnh thuận lợi có một không hai trong lịch sử. Điều này khó có thể được tái diễn.   Sau đó tình hình Hoa Kỳ tiếp tục diễn biến như thế nào, thưa giáo sư?  Do nhập cư tăng nhanh nên năm 1924 Hoa Kỳ đã hạn chế nhập cư. Thời kỳ đó chủ yếu những  dân di cư châu Âu mới có cơ may nhận được thị thực nhập cảnh. Năm 1965 chính phủ lại nới lỏng chế độ nhập cư. Thời đó người nhập cư vào Hoa kỳ chủ yếu là những người đi theo chế độ đoàn tụ gia đình, không có sự tuyển lựa theo trình độ đào tạo. Nhiều người nhập cư trình độ  chuyên môn thấp chủ yếu làm công việc đơn giản trong lĩnh vực dịch vụ, từ đó diễn ra sự cạnh tranh giữa những người nhập cư và dân bản địa. Trong vòng hai chục năm qua số người nhập cư trái phép vào Hoa Kỳ tăng từ hai triệu lên trên mười triệu người, gây nhiều căng thẳng trong xã hội.  Hiện nay, hầu hết dân nhập cư vào châu Âu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thấp kém, điều đó tác động như thế nào đối với các nước đó?  Nhà nước phúc lợi ở châu Âu phần lớn phân chia thu nhập và tài sản của những người có trình độ cho những người không có trình độ, chính vì vậy, các nước đó thu hút dân nhập cư nói chung thiếu tinh thần sẵn sàng làm việc và thiếu năng lực. Với dân bản địa thì dân nhập cư là một gánh nặng về tài chính. Còn doanh nghiệp họ có thể lựa chọn lực lượng lao động dễ dàng hơn, do đó không có gì ngạc nhiên khi họ muốn có nhiều người nhập cư hơn. Dân chúng thì lại khác. Các cuộc thăm dò dư luận từ nhiều năm nay cho thấy, người dân muốn giảm người nhập cư.   Giáo sư có lời khuyên gì cho châu Âu và nước Đức?  Bản thân tôi cũng là người tỵ nạn từ Cu Ba sang Hoa Kỳ. Vì vậy tôi có thiện cảm to lớn với những người phải trốn chạy khỏi Syri. Nhưng nước Đức đang làm một việc quá sức của mình nếu như Đức muốn cứu cả thế giới. Người nhập cư không chỉ mang theo sức lao động của họ mà còn mang theo cả văn hóa của họ. Sự cân bằng về chính trị, chủng tộc và văn hóa của xã hội Đức nhất định sẽ có sự dịch chuyển dù muốn hay không. Nước Đức sẽ phải trả một cái giá đắt cho chính sách mở cửa của mình – một cái giá mà có khi còn đắt hơn cái giá đóng cửa biên giới.    ——  * GS George Borjas, 65 tuổi, là giáo sư về kinh tế quốc dân tại Uni Harvard. Nhà kinh tế gốc Kuba là tác giả của nhiều cuốn sách và là một trong những nhà nghiên cứu về di dân nổi tiếng nhất thế giới.  Xuân Hoài  dịch Theo “Tuần kinh tế” 24. 1. 2016    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Trung Quốc nói gì về giải Nobel khoa học đầu tiên của mình?      Lâu nay người Trung Quốc vẫn nói họ “không  bén duyên” với giải Nobel. Có lẽ như thế thật! Giải Nobel khoa học đầu  tiên họ được trao chẳng những không làm toàn dân nước này nhất trí hân  hoan đón chào mà còn gây ra nhiều tranh cãi chia rẽ dư luận chưa biết  bao giờ mới kết thúc.        Sự kiện công dân nước CHND Trung Hoa đầu tiên được trao giải Nobel khoa học đang gây sóng gió trong dư luận nước này. Đại để họ đang bàn luận sôi nổi về mấy vấn đề sau:    Cần thay đổi cơ chế nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc    Nhiều người đã bình luận về việc “nhà khoa học ba không” Đồ U U được tặng giải Nobel. Họ cho rằng câu chuyện của bà Đồ nói lên một vấn đề nhức nhối đã lâu, đó là sự tồn tại một QUY TẮC NGẦM trong giới khoa học, giới trí thức Trung Quốc: “những người không có năng lực nhưng có nhiều mối quan hệ xã hội thì vô cùng mát mày mát mặt, còn những người có năng lực nhưng không quen biết ai thì bị chèn ép”. Nay đã đến lúc quy tắc ngầm này không thể tiếp tục tồn tại; cần thay đổi cơ chế nghiên cứu khoa học để những người chỉ say mê nghiên cứu mà không chú ý móc nối quan hệ vẫn có thể được coi trọng.    Đồ U U âm thầm làm việc suốt đời, không mấy ai biết tên tuổi bà. Chính quyền chưa tặng bà giải thưởng nào. Giờ đây chắc hẳn 720 viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc (có 131 viện sĩ Sinh học và Y học), cùng 611 viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc đều ngạc nhiên khi thấy giải thưởng khoa học quốc tế cao quý nhất đầu tiên trao cho người nước mình lại vào tay một bà lão 85 tuổi chưa có học vị tiến sĩ, ba lần bầu viện sĩ đều trượt, chưa lần nào được ra nước ngoài học tập, nghiên cứu.     Nhưng người Mỹ đã nhận ra tài năng ấy: năm 2011 Quỹ Lasker tặng bà Giải Nghiên cứu y học lâm sàng Lasker, còn gọi là giải Nobel y học của nước Mỹ, trị giá 250.000 USD. Đây là giải y học có uy tín cao chỉ sau giải Nobel. Giờ đây, với việc trao Nobel Y học 2015, giới y học quốc tế dành lời tuyên dương cao nhất cho các cống hiến của Đồ U U. Lần đầu tiên bà trở thành nhân vật của công chúng.     Thành công của Đồ U U bắt rễ sâu trên mảnh đất tổ quốc mình. Sau 55 năm sưu tầm chỉnh lý các thư tịch y học cổ, các loại thảo dược, các bài thuốc dân gian, phác đồ điều trị của sách thuốc địa phương, phỏng vấn các chuyên gia Trung y, lặp lại nhiều thí nghiệm… cuối cùng bà đã sáng chế ra loại thuốc mới chữa sốt rét – Artemisinin và Dihydroartemisinine. Đây là một thí dụ xuất sắc của sự nghiên cứu kết hợp Trung y với Tây y. Vinh dự này không chỉ thuộc về một cá nhân bà Đồ mà đằng sau bà còn có cả một đội ngũ nhà khoa học trình độ cao tuy chưa có học vị, học hàm cao.     Giải Nobel trao cho Đồ U U phải chăng đã khẳng định vai trò của Trung y?    Từ sau phong trào Ngũ Tứ, rất nhiều người Trung Quốc hoài nghi thậm chí phủ định Trung y và Trung dược, tức y dược cổ truyền Trung Quốc. Tôn Trung Sơn, Lỗ Tấn (vốn là bác sĩ Tây y) đặc biệt không tin Trung y, cho là trò bịp. Nhiều nhà khoa học phương Tây cũng hoài nghi Trung y. Thành công của Đồ U U chưa đủ bác bỏ quan niệm trên, mà chỉ chứng tỏ nếu biết nghiên cứu kết hợp Trung-Tây y thì có thể phát huy được tác dụng của Trung y. Quan trọng nhất là phải áp dụng phương pháp khoa học của Tây y, đặc biệt là phương pháp chiết xuất hiện đại.     Đồ U U nói bài thuốc của Cát Hồng, một đạo sĩ luyện đan và thầy lang thời cổ (AD 265-317) đã đem lại gợi ý cho bà. Sách Trửu hậu bị cấp phương 肘后备急方của ông có nói tới việc dùng Thanh hao chữa sốt rét, nhưng đồng thời cũng nêu lên 40 phương pháp chữa bệnh này rất phản khoa học (như nuốt nhện sống). Đồ U U chỉ chọn dùng Thanh hao. Câu “Lá Thanh hao một nắm, ngâm nước 2 thăng, vắt lấy nước” trong sách này đã đem lại cảm hứng cho bà. Nhưng Trung y thời xưa đều đem thảo dược sắc thuốc, nhiệt độ cao làm hỏng chất quý trong dược liệu. Tuy có công tìm ra mối liên quan giữa Thanh hao với bệnh sốt rét nhưng thực tế Trung y lại chưa hề dùng Thanh hao chữa bệnh này. Chỉ sau khi dùng phương pháp chiết xuất hiện đại (dùng Ether có độ sôi 60 độ C), Đồ U U mới tách được thành phần hữu hiệu của Thanh hao là chất Artemisinin, nhờ đó mới làm ra thuốc. Nhiều người nói không thể gọi Artemisinin là thảo dược Trung Quốc. Người Pháp chẳng đã chiết xuất được chất Alkaloid từ vỏ cây Canh-ki-na để làm ra thuốc Ký-ninh (Quinine) đấy ư.     Khi có nhà báo hỏi giải Nobel trao cho Đồ U U có phải là sự khẳng định Trung y không, bà Juleen Zierath, Chủ tịch Ủy ban Nobel Y học đã nói tránh: “Youyou Tu chiết xuất được chất Artemisinin dùng để điều trị bệnh sốt rét. Điều đó chứng tỏ thảo dược truyền thống của Trung Quốc cũng có thể đem lại những gợi ý mới cho các nhà khoa học.” Bà nói, nhờ kết hợp công nghệ chiết xuất hiện đại với y học hiện đại, thảo dược Trung Y đã lập được thành tựu “rất xuất sắc” về chữa bệnh.     Một tác giả Trung Quốc cũng cho rằng chất Thanh hao (Artemisinin) có thành tựu lớn như vậy là công trạng của y học hiện đại. Artemisinin không phải là Trung dược, nó là dược phẩm hóa chất, cũng như Aspirin, Quinine mà thôi, có dược chất lấy từ thực vật.   Tóm lại, giải Nobel trao cho Đồ U U là thắng lợi của việc hiện đại hóa y học cổ truyền Trung Hoa.    Không ít người cho rằng việc chiết xuất chất Artemisinin là thành tích của hàng trăm người tham gia Dự án 523, một mình Đồ U U được hưởng vinh quang là vô lý.     Nếu bà có thành tích nổi bật thì chính phủ Trung Quốc đã tặng bà giải thưởng nào đấy. Thập niên 1970 nước này chưa có chế độ bản quyền trí tuệ, các báo cáo khoa học đều ký tên một tập thể nào đó, không có tên cá nhân. Năm 1978, hội nghị giám định thành quả Dự án 523 cũng nói việc chế tạo chất Thanh hao là vinh dự của tập thể, hoàn toàn không nhắc đến tên bất cứ người nào.    Sau khi Đồ U U được tặng giải Lasker, trang mạng tạp chí Science viết: Giải Lasker tái châm ngòi cho cuộc tranh cãi về chuyện Dự án 523 quy mô lớn do Chính phủ tổ chức đã làm ra loại thuốc có hiệu quả chống sốt rét, thành tích ấy có nên quy công cho một người hay không?    Giờ đây cuộc tranh cãi ấy lại bùng lên mạnh mẽ sau khi Đồ U U được trao giải Nobel Y học. Người hăng hái phát biểu nhất là Phương Châu Tử, nhà khoa học nổi tiếng trực ngôn, từng dũng cảm vạch mặt nhiều nhà khoa học giả hiệu. Ông nhiều lần phát biểu trên Twitter, cho rằng Đồ U U không phải người đầu tiên chiết xuất được chất Thanh hao; bà ba lần không đủ phiếu bầu nhận học hàm Viện sĩ vì các viện sĩ nghi ngờ vai trò của bà trong một dự án nghiên cứu có rất nhiều người tham gia, vả lại nhiều người không đánh giá cao trình độ và tác phong học thuật của bà. Phương Châu Tử cũng cho biết các đại công ty dược hiện nay về cơ bản cũng không nghiên cứu thảo dược nữa.     Riêng về Đồ U U, sau khi có tin được tặng giải Nobel bà đã thay số điện thoại và không ai biết hiện giờ bà ở đâu, kể cả cô trợ lý riêng của bà.    Thời báo Hoàn cầu ngày 8/10 có đăng bình luận đề nghị người Trung Quốc chớ nên “quấy rầy” Đồ U U, nhân vật được họ quan tâm nhất hiện nay, vì chính bà đã nói đây là thành tựu của tập thể các nhà khoa học Trung Quốc. Bài báo nhắc nhở mọi người nhớ rằng cho tới nay đã có 21 người Nhật được trao giải Nobel khoa học, nhiều thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ ; Trung Quốc mới chỉ có một người. Dư luận nên tập trung suy nghĩ về vấn đề tạo dựng môi trường và cơ chế nghiên cứu khoa học tốt hơn, sao cho Trung Quốc ngày càng có nhiều người đoạt giải Nobel khoa học.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Việt dùng mạng xã hội Việt: Những câu hỏi bỏ ngỏ      Thời gian gần đây, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã nhiều lần đề xuất việc Việt Nam nên tạo ra mạng xã hội cho riêng mình. Đặc biệt, ông nhấn mạnh những hạn chế của Facebook – mạng xã hội lớn nhất thế giới – như là bàn đạp cho một mạng xã hội mang tính Việt Nam và mang triết lý khác xa triết lý hoạt động thương mại của Facebook.    .      Gapo mới khai trương với nhiều tham vọng nhưng đã gặp trục trặc kỹ thuật ngay sau ngày ra mắt.  Mạng xã hội Việt Nam, tại sao không?     Ý tưởng tạo lập mạng xã hội riêng cho Việt Nam không phải mới. Zingme, Yume.vn, Tamtay.vn, Zalo.vn, Go.vn hay gần đây hơn là Biztime và Gapo đều là những sản phẩm mạng xã hội được thành lập tại Việt Nam với chủ trương hướng về người dùng Việt Nam. Việc các mạng xã hội này không đạt được thành công ngang tầm với mạng xã hội toàn cầu như Facebook cũng không phải là điều mang tính độc nhất: việc Facebook đánh bại hàng chục ngàn các mạng xã hội được viết ra mỗi năm để giữ vững vị trí độc tôn trên thế giới là không hề ngẫu nhiên. Ngoài lợi thế đi đầu, Facebook là mạng xã hội luôn tiến hóa để không chỉ thích nghi, mà còn dẫn đầu xu hướng công nghệ mạng xã hội; những xu hướng Facebook tạo ra thường trở thành quy tắc hoạt động của mạng xã hội nói chung. Người dùng Facebook thường tìm cách thích nghi với những tính năng mới của Facebook để có thể tiếp tục sử dụng mạng xã hội này; sức mạnh của Facebook nằm ở chỗ họ là công ty dẫn đầu trong lĩnh vực mạnh xã hội, và có sức mạnh tạo ra quy chuẩn cho lĩnh vực.  Tuy nhiên, nhiều vụ bê bối gần đây liên quan đến bảo mật thông tin và quyền riêng tư của người dùng đã khiến Facebook ngày càng bị chỉ trích nặng nề. Cách đây 5 năm, những chỉ trích này chỉ được đề cập đến trong giới học thuật; sau hàng loạt những bê bối liên quan đến việc Nga can thiệp và bầu cử toàn quốc tại Mỹ trong năm 2016, việc chỉ trích Facebook đã không còn là điều chỉ nằm trong vòng tròn thảo luận của các nhà nghiên cứu và phê bình xã hội. Các phát biểu gần đây của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, do đó, rất mang tính thời cuộc: ông chỉ ra rằng việc Facebook thu lợi nhuận từ dữ liệu người dùng song song với việc không để người dùng có tiếng nói hoặc quyền lợi nào trong việc hình thành các quy ước và điều khoản quản lý Facebook là rất bất cập. Quan sát này rất thức thời với cách thế giới đang nhìn nhận các công ty công nghệ khổng lồ như Facebook hay Google.  Từ nhìn nhận này, việc đề xuất một mạng xã hội mới mang tính cấp tiến và bình đẳng hơn Facebook là vô cùng chính đáng. Trên thực tế, Facebook đã mất không ít người dùng sau những bê bối mà họ đương đầu. Chỉ riêng ở Mỹ, Edison Research ước tính Facebook đã mất đi 15 triệu người dùng trong 2 năm gần đây. Sự suy giảm niềm tin đối với Facebook gắn liền với việc người dùng internet nói chung mong muốn một mạng xã hội mới được xây dựng từ những sai lầm và bất cập mà Facebook đã và đang tạo nên. Liệu điều này có khả thi hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản lý dựa trên luật pháp thường được đề cập ngày càng nhiều.      Sẽ rất vô ích nếu mạng xã hội Việt Nam chỉ được thiết kế ra với mục tiêu phục vụ người Việt Nam; trong thời đại toàn cầu hóa, lối tư duy địa phương không chỉ ngăn cản sự sáng tạo và đổi mới, mà còn vô hình trung tạo ra những giới hạn khiến trí tuệ Việt không thể vươn cao hơn và xa hơn.      Trong việc hình dung ra một mạng xã hội khác hoặc thay thế Facebook, Trung Quốc là quốc gia hay được nhắc đến nhiều nhất bởi sự thành công của các mạng xã hội nội địa với số lượng người dùng khổng lồ như Weibo, QQ, WeChat, và gần đây nhất là TikTok. Tuy nhiên, khó mà nói rằng sự thành công của mạng xã hội tại Trung Quốc có thể được xem như một mô hình có thể nhân rộng bên ngoài bối cảnh chính trị xã hội của Trung Quốc. Sự thành công của mạng xã hội Trung Quốc bắt nguồn từ việc quốc gia này thi hành chính sách cấm vận các mạng xã hội và dịch vụ mạng mang tính toàn cầu như Facebook, Instagram, và Youtube. Tuy người dùng Trung Quốc có thể sử dụng VPN (Virtual Private Network – mạng riêng ảo) để truy cập Facebook, việc này đòi hỏi kiến thức và kỹ năng công nghệ mà không phải người dân Trung Quốc nào cũng có thể làm được dễ dàng. Ngoài việc thành công đến từ những cấm đoán, mạng xã hội tại Trung Quốc còn chịu nhiều chỉ trích với thiết kế khép kín. WeChat và TikTok được thiết kế với hai phiên bản độc lập: phiên bản dành cho Trung Quốc và phiên bản quốc tế. Phiên bản Trung Quốc được thiết kế dành riêng cho người dân Trung Quốc và các cư dân sinh sống tại Trung Quốc, bởi lẽ phiên bản này chỉ có thể được truy cập khi người dùng đăng ký với số điện thoại Trung Quốc. Weibo chỉ hỗ trợ tiếng Hoa trên mạng xã hội của mình. Sự thành công của các mạng xã hội Trung Quốc tại Trung Quốc mang lại những bất cập mới: nếu mục đích của việc tham gia mạng xã hội và internet là đến gần hơn với thế giới, là để mở mang kiến thức và tiếp cận thông tin, thì việc xây dựng mạng xạ hội mang tính quốc gia một cách cực đoan dựa trên mô hình phân hóa “chúng tôi – bọn họ” như cách Trung Quốc đang làm không phải là giải pháp phù hợp.    Mạng xã hội Việt Nam, tại sao?     Vậy, Việt Nam đang những có ưu thế gì để có thể xây dựng một mạng xã hội vừa mang tính Việt Nam lại vừa có thể vượt qua những bất cập của Facebook hay Weibo? Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh trong một phát biểu gần đây trước các doanh nghiệp công nghệ thông tin, rằng việc xây dựng “một Facebook của Việt Nam” không phải là hướng đi đúng đắn, bởi lẽ chúng ta không thể nào cạnh tranh với vị trí độc tôn của Facebook bằng cách bắt chước họ. Đặc biệt, ông nhấn mạnh việc trao quyền hình thành cơ cấu mạng xã hội vào tay người dùng – lấy người dùng làm trọng tâm thiết kế, lắng nghe mong muốn và yêu cầu của họ để hình thành nên một mạng xã hội đủ tầm thay thế Facebook, ít nhất là tại Việt Nam. Đây là một quan điểm cấp tiến mà các doanh nghiệp trong nước thật sự cần chú ý khi thiết kế các mạng xã hội mới: làm cách nào để người dùng mạng xã hội không chỉ tìm thấy được những chức năng xã hội thú vị và mang lại nhiều lợi ích cho họ, mà còn có thể đóng góp tiếng nói và ý kiến của họ trong việc hình thành các quy ước người dùng, điều khoản quản lý, và quan trọng hơn hết, là cách mạng xã hội thu thập và bảo vệ dữ liệu của người dùng.      Mạng xã hội Lotus thuộc VCCorp của Việt Nam cũng mới được quảng bá, dự kiến bắt đầu đi vào hoạt động từ 16/9. Đại diện Lotus cho biết mạng này này đặt mục tiêu cung cấp thông tin phổ quát từ các lĩnh vực chuyên sâu như y tế, giáo dục, sức khỏe, khoa học… đến các lĩnh vực đại chúng như phim ảnh, âm nhạc nên đã hợp tác với hơn 500 nhà sáng tạo nội dung, trong đó có trên 30 nguồn chính luận như VTV, Tuổi trẻ, Lao động, Thanh niên, Dân trí…    Nếu thực sự các doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam có thể làm được điều này, đây sẽ là tín hiệu đáng mừng không chỉ cho ngành công nghệ thông tin Việt Nam, mà còn là tin vui cho người dùng mạng xã hội tại Việt Nam. Người dùng internet tại Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, đang ngày càng trở nên thông minh và hiểu biết hơn: thế hệ trẻ lớn lên cùng với internet và mạng xã hội, hơn ai hết, hiểu được sức mạnh của mạng xã hội trong việc kết nối với gia đình, bạn bè, và cộng đồng thế giới. Hơn ai hết, người dùng mạng xã hội hiểu được giá trị mà công nghệ thông tin mang lại cho cuộc sống của họ và cộng đồng xung quanh họ. Và, hơn ai hết, họ chính là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của một mạng xã hội. Suy cho cùng, tính xã hội của mạng xã hội bắt nguồn từ không đâu khác hơn là chính người dùng. Một mạng xã hội với thiết kế phản ánh được giá trị và mong muốn của người dùng ngay từ những bước chân đầu tiên sẽ có cơ hội thành công cao hơn những thiết kế mang tính chuyên quyền. Sự cởi mở này trong thiết kế mạng xã hội, nếu được vận dụng một cách hiệu quả, sẽ góp phần kích thích sự sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam và mang lại sự năng động trong phân khúc mạng xã hội trong nước.      Làm thế nào để có thể thực sự trao quyền cho người dùng mạng xã hội để họ có thể tham gia định hình một mạng xã hội mang tính mở, minh bạch, công bằng, và phản ánh giá trị xã hội Việt Nam?      Tuy nhiên, điều đáng lưu ý ở đây là việc, nếu muốn thực sự thành công, bất kỳ mạng xã hội nào được thiết kế tại Việt Nam, dành cho người Việt Nam, đều phải hướng tới việc nhân rộng đối tượng phục vụ của mình. Mark Zuckerberg, với khởi điểm mạng xã hội The Facebook (sau đổi tên thành Facebook) dành cho sinh viên và giảng viên tại Đại học Harvard, đã nhân rộng đến các trường đại học hàng đầu nước Mỹ, giới sinh viên học sinh Mỹ, và rồi cuối cùng là toàn thế giới. Sẽ rất vô ích nếu mạng xã hội Việt Nam chỉ được thiết kế ra với mục tiêu phục vụ người Việt Nam; trong thời đại toàn cầu hóa, lối tư duy địa phương không chỉ ngăn cản sự sáng tạo và đổi mới, mà còn vô hình trung tạo ra những giới hạn khiến trí tuệ Việt không thể vươn cao hơn và xa hơn.     Mạng xã hội Việt Nam, như thế nào?     Câu hỏi cuối cùng được đặt ra là câu hỏi xung quanh đặc tính mạng xã hội với giá trị Việt Nam. Một mạng xã hội được thiết kế nhằm phản ánh giá trị và tư duy người dùng Việt Nam sẽ có đặc tính như thế nào? Ai sẽ là người trả lời những câu hỏi này? Làm thế nào để có thể thực sự trao quyền cho người dùng mạng xã hội để họ có thể tham gia định hình một mạng xã hội mang tính mở, minh bạch, công bằng, và phản ánh giá trị xã hội Việt Nam? Đây là những câu hỏi mở mà chỉ có thể được giải đáp bởi sự sáng tạo của ngành công nghệ thông tin Việt Nam.  Chúng ta không phải bắt đầu từ số không. Đã có rất nhiều bài học xoay quanh sự minh bạch và cẩn trọng trong quản lý dữ liệu mà thế giới đã và đang học được từ xã hội châu Âu, mà Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo khi thiết kế mạng xã hội của riêng mình. Đối với vấn đề tư duy chủ quyền dữ liệu, khái niệm mà ông Nguyễn Mạnh Hùng có nhắc đến trong phát biểu của mình, tôi cũng đã đưa ra thảo luận trong bài viết “Từ chủ quyền dữ liệu đến ban-căng hóa internet: Những vận động mới trong quản lý internet” trên Tia Sáng số 1 tháng 1 năm 20191. Chủ quyền dữ liệu là thuật ngữ dùng để chỉ các động thái làm luật với mục đích kiểm soát dữ liệu đi ngang qua, hoặc được tạo ra ngay tại lãnh thổ các quốc gia trên thế giới. Quản lý internet là vấn đề ngày càng mang tính địa chính trị đậm nét. Thời đại mà internet được xem như một ‘ngôi làng chung’ kết nối toàn thế giới dưới cùng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật trung lập vận chuyển dữ liệu toàn cầu dường như đã kết thúc. Ngày nay, sự can thiệp của chính quyền các quốc gia với những tư tưởng chính trị đối lập đến việc quản lý và kiểm soát môi trường thông tin số đang ngày càng trở nên có hệ thống và phần lớn mang nhiều tính cực đoan. Rất nhiều nước đều muốn giữ vị trí độc quyền trong quản lý nguồn tài nguyên cũng như cơ sở hạ tầng internet. Do đó, điều mà ta có thể bắt đầu làm rõ và phát triển ngay từ bây giờ, đó chính là lập trường quản lý internet dựa trên tinh thần hợp tác và thiện chí. Các quốc gia dù nhỏ hay lớn đều có quyền và nghĩa vụ tìm lấy tiếng nói riêng của mình và đóng góp mang tính xây dựng vào diễn đàn toàn cầu trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường thông tin điện toán chung của toàn nhân loại. Tôi cũng đã đề cập tới những biến đổi mới trong việc quản lý và bảo vệ dữ liệu người dùng ở châu Âu cũng đã được đề cập trong các bài viết “Cuộc cách mạng về quyền riêng tư” và “Chúng ta có quyền đòi hỏi gì từ Facebook, Google, Apple…?” trên Tia Sáng2 , theo đó Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (General Data Protection Regulation, viết tắt GDPR) vẫn là thành quả cải cách rất quan trọng trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên môi trường internet. Chúng ta sống trong một xã hội mà cơ hội sáng tạo và đổi mới ngày càng nhân rộng khắp nơi; các quốc gia đang phát triển đang ngày càng có nhiều cơ hội để chứng tỏ khả năng mình hơn. Nếu Việt Nam thực sự mong muốn đóng góp một sản phẩm công nghệ không chỉ mang tính trí tuệ mà còn mang tính nhân văn, bước đi đầu tiên hẳn nhiên phải là học hỏi những thành tựu và bài học kinh nghiệm của thế giới. □     Chú thích:  1 http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Tu-chu-quyen-du-lieu-den-bancang-hoa-internet-Nhung-van-dong-moi-trong-quan-ly-internet-14094  2 http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Cuoc-cach-mang-ve-quyen-rieng-tu-12542  http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Chung-ta-co-quyen-doi-hoi-gi-tu-Facebook-Google-Apple…-12579      Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Người Việt không nói  “thu giá”, “thu giá dịch vụ đào tạo”      Cách gọi thu giá, thu giá dịch vụ đào tạo là thứ ngôn ngữ quan quyền, một thứ ngôn ngữ duy ý chí, bất chấp sự hợp lí, hợp tình, bất chấp quy tắc, bất chấp lẽ thường, bất chấp cảm thức bản ngữ, bất chấp cái đúng cái hằng tồn hiển nhiên trong con người Việt.      Từ chuyện “trạm thu giá” đến chuyện “thu giá dịch vụ đào tạo”  Câu chuyện “trạm thu giá” của Bộ Giao thông Vận tải vẫn chưa nguội thì cái nắng nóng của mùa hè năm nay lại được gia tăng khi ở trong nghị trường Quốc hội, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ trong lúc trình bày về các nội dung sửa đổi của Luật Giáo dục đại học đã đưa ra đề xuất đổi tên gọi học phí thành “giá dịch vụ đào tạo”. Mặc dù khái niệm “giá dịch vụ” (không có định ngữ “đào tạo” đằng sau) là một tên gọi không xa lạ trong tiếng Việt, nhưng người ta lại cảm thấy nó vẫn có cái gì đó xa lạ, ngộ ngộ, dị thường (dĩ nhiên ít nhiều là do sự cộng hưởng tiêu cực từ câu chuyện “trạm thu giá”) đối với cách nói mới “giá dịch vụ đào tạo”.  Cũng như chuyện “trạm thu giá”, đây không phải là câu chuyện thuần tuý câu chữ, mà đằng sau nó lại là những vấn đề lớn, hết sức hệ trọng, đáng được bàn thảo cho ra nhẽ. Ai cũng biết rằng giáo dục, cùng với y tế, luôn là những vấn đề thuộc về phúc lợi xã hội, là những dịch vụ công vô cùng thiết yếu. Người dân đóng thuế cho nhà nước, từ một việc nhỏ cỏn con là mua cái tăm cho đến việc đại sự là mua một ngôi nhà, là để nhà nước thực hiện các nghĩa vụ về giáo dục, y tế đối với mình, là để nhà nước chi cho các chi phí vận hành trường học, bệnh viện… Người học đóng học phí là để bù đắp lại một phần chi phí giáo dục, đào tạo mà họ đã thụ hưởng (phần còn lại thì ngân sách nhà nước do tiền thuế của dân đóng mà thành phải chi trả); còn đóng “giá dịch vụ đào tạo” là phải trả hết toàn bộ chi phí đào tạo (cộng thêm lợi nhuận của việc đào tạo). Vì lẽ đó, không thể chuyển dồn những gánh nặng chi phí các dịch vụ công đó từ nhà nước sang tư nhân, sang người dân được. Nếu chuyển như vậy thì người dân ngày càng phải trả nhiều tiền hơn để thụ hưởng nền giáo dục đáng ra họ được thụ hưởng miễn phí. Và nếu chuyển như vậy thì nhà nước đã ngang nhiên từ chối thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với người dân. Xã hội càng phát triển thì số tuổi mà người ta được thụ hưởng giáo dục càng lớn, và nhà nước càng phải ý thức được trách nhiệm không thể thay thế của mình, chứ không thể từ chối trách nhiệm của mình để đẩy sang tư nhân, để rồi mà đề xuất “thu giá dịch vụ đào tạo” hòng đạt mục đích là đến năm 2021 thì “hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công (tính đủ tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lí và khấu hao tài sản) đối với một số lĩnh vực cơ bản như y tế, giáo dục – đào tạo, giáo dục nghề nghiệp” (Nghị quyết số 19-NQ/TW). Giáo dục và y tế mà như thế thì phát triển đất nước như thế nào được?!      Ngôn ngữ không phải của riêng anh, cũng không phải của riêng tôi, mà là chung của tất cả số đông chúng ta. Nếu không phải là cái của chung ấy, không phải là cái tuân thủ các quy ước xã hội chung ấy thì “ông nói gà bà nói vịt”, không ai hiểu được nhau.        Phí hay giá?  Trong tiếng Việt, từ phí được hiểu là “khoản tiền cố định mà người ta phải trả cho một công việc, một dịch vụ công cộng nào đó”, và việc nộp phí chỉ nhằm mục đích bù đắp lại một phần các chi phí đã bỏ ra. Điều này cũng giống như cách hiểu về thuật ngữ phí trong Luật Phí và Lệ phí (2015): “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công”. Trong khi đó từ giá được người Việt hiểu với một phạm vi rộng hơn. Giá bao gồm tất cả các chi phí để có thể sản xuất ra một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, và bao gồm luôn cả lãi, cả lợi nhuận trong đó. Giá = chi phí + lợi nhuận đem lại. Như vậy, rõ ràng là phí chỉ là một phần chi phí trong cái giá đó. Phí thì thường hiểu là được gắn với những cái gì thuộc về nhà nước, công cộng, còn giá thì không hẳn như vậy. Giá thì có thể mặc cả linh hoạt, còn phí thì không, đã được ấn định trong luật. Phí nhiều hay ít là do việc định giá cao hay thấp. Và trong tiếng Việt, người ta hiểu giá chính là sự biểu hiện bằng một lượng tiền cụ thể nào đó (Vì thế người ta mới hỏi giá bao nhiêu (tiền), chứ không ai hỏi phí bao nhiêu (tiền)). Cái vật quy chiếu (referent) của phí là một lượng tiền cụ thể, có thể nhìn thấy, sờ thấy và đếm được; còn cái vật quy chiếu của giá là cái con số biểu hiện một lượng tiền cụ thể, chỉ có thể nghe thấy và đếm được bằng con số một hai mà thôi. Như vậy, rõ ràng là một thực thể nào đó được nhà nước giao quyền cung cấp dịch vụ công thì thực thể đó có thể thu phí để bù đắp lại các chi phí mà mình đã bỏ ra để có thể cung ứng được dịch vụ công đó. Vậy thì nếu như Bộ GTVT, và Bộ GD&ĐT đã cung cấp các dịch vụ công cho người dân sử dụng thì họ có quyền thu phí là chuyện không phải bàn cãi. Nhưng thực tế vấn đề không đơn giản như vậy. Người dân chỉ có thể chấp nhận được cách nói thu phí, học phí, chứ tuyệt nhiên không thể chấp nhận cách nói “cải tiến” (mà thực chất là “cải lùi”) thu giá, giá dịch vụ đào tạo, thu giá dịch vụ đào tạo. Vì sao vậy?  Thu phí hay thu giá?  Câu trả lời có tính dân gian “cùn” nhất, nhưng lại cơ bản nhất, dễ hiểu nhất và đương nhiên nhất là: Người Việt không nói thế. Tiếng Việt không có cách nói như thế. Người Việt chỉ nói thế này chứ không nói thế kia. V.v. Còn nói theo kiểu ngôn ngữ học thì người bản ngữ bao giờ họ cũng có cái trực cảm hay cảm thức ngôn ngữ riêng của họ. Trực cảm hay cảm thức bản ngữ này là cái mà chỉ người bản ngữ mới có, và nó được hình thành từ rất sớm, không thể thể bị mất đi hay thui chột, ngay cả trong trường hợp người ta không sử dụng đến tiếng mẹ đẻ, và chỉ sử dụng một ngoại ngữ nào đó trong suốt một thời gian dài. Cảm thức bản ngữ là cái luôn hiện diện thường trực trong tiềm thức bản ngữ, nó sẽ được đánh thức, dựng dậy bất cứ lúc nào khi có điều kiện, khi có kích thích. Người học ngoại ngữ không thể và không bao giờ có được cái cảm thức ngôn ngữ như người bản ngữ, dù rằng người học ngoại ngữ có thể nói ngoại ngữ rất giỏi, có thể sử dụng ngoại ngữ theo phong cách ngôn ngữ hình thức như ngôn ngữ khoa học hay ngôn ngữ ngoại giao rất giỏi. Cái cảm thức bản ngữ này được bộc lộ rõ ràng và chính xác nhất trong các tình huống nói năng thường nhật, trong những lúc vui nhất hay buồn nhất, trong những lúc đau đớn nhất hay hạnh phúc nhất,…, chứ không phải trong các bối cảnh nói năng có tính hình thức trang trọng và quy phạm. Cái cảm thức này là cái có được một cách tự nhiên, chứ không phải do được dạy dỗ, rèn cặp. Chính vì lẽ đó, ai nói tiếng Việt cũng có thể nói được rằng người Việt không nói thu giá, giá dịch vụ đào tạo, đây là cách nói vô nghĩa, sai ngữ pháp, mà chỉ nói thu phí, học phí. Từ thu mà chúng ta đang bàn có nghĩa là “chủ động nhận về, lấy về một cái gì đó có giá trị vật chất, trực quan hay định lượng cụ thể mà người thu là người có quyền, thẩm quyền hay quyền lợi chính đáng được nhận về, lấy về một cái gì đó đó”. Người nộp một cái gì đó cho người thu là người có nghĩa vụ, quyền lợi hay trách nhiệm liên đới phải thực hiện hành động nộp đối với người thu. Khi người nộp không thực hiện việc mình phải làm thì người thu đương nhiên sẽ phải có một công cụ, một phương tiện hay một ràng buộc quyền lợi liên đới nào đó buộc người nộp phải thực hiện. Vì thế, nếu một nhân viên công quyền đến thu cước điện thoại, thu tiền điện, thu thuế mà chúng ta không nộp thì người đó sẽ có một hình thức phạt hay xử phạt tương ứng với chúng ta. Vì thế, trong ngôn ngữ đời thường và trong ngôn ngữ luật pháp lâu nay của tiếng Việt cũng chỉ có thu phí, thu cước, thu tiền, thu thuế chứ không hề có thu giá. Người ta đi thu là chỉ thu cái lượng tiền cụ thể vốn chỉ có thể được giải thích là (tiền) cước, thuế, phí, chứ không thể được giải thích là (tiền) giá; chứ không phải là đi thu cái con số thể hiện giá.    Các quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ cũng không các gì các công thức, biểu thức toán học. Ảnh: Đoạn trích của cuốn “Phát triển năng lực tư duy – ngôn ngữ dành cho học sinh tiểu học của Tác giả Phạm Văn Lam do NXB Giáo dục ấn hành.   Bản chất của ngôn ngữ là thói quen. Các thói quen ngôn ngữ ấy luôn có tính lịch sử và có tính xã hội. Nói đến tính lịch sử là vì mọi hành vi, sự kiện ngôn ngữ hôm nay đều là sản phẩm của quá khứ hôm qua. Các sự kiện ngôn ngữ đang xuất hiện hay sắp xuất hiện, hay được sáng tạo mới cũng luôn phải tuân thủ các quy tắc có tính lịch đại như vậy. Nói đến tính xã hội là vì mọi sự kiện, hành vi ngôn ngữ đều là của số đông, thuộc về số đông. Ngôn ngữ không phải của riêng anh, cũng không phải của riêng tôi, mà là của chung của tất cả số đông chúng ta. Nếu không phải là cái của chung ấy, không phải là cái tuân thủ các quy ước xã hội chung ấy thì ông nói gà bà nói vịt, không ai hiểu được nhau. Cái gọi là có tính lịch sử và xã hội, tính ổn định, ít thay đổi và ràng buộc mạnh nhất đối với chúng ta nói nôm na, dễ hiểu chính là các quy tắc ngữ pháp. Các quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ cũng không khác gì các công thức, biểu thức toán học. Nếu ví một biểu thức ngôn ngữ với một công thức toán học a + b = c thì có thể phân tích thế này: a, b chính là các từ ngữ, khi các từ ngữ kết hợp với nhau sẽ tạo nên một kết quả ngữ nghĩa c. Như vậy, nếu chúng ta chỉ cần thay a hoặc b thôi thì lập tức c sẽ thay đổi. Tương tự, nếu chúng ta thay đổi giá trị của c thì lập tức a, b cũng phải thay đổi theo. Cho nên, trong một phép toán nếu ta biết được con số này thì ta có thể dựa vào quy tắc để dự đoán sự xuất hiện của con số khác. Sự xuất hiện của con số này sẽ quy định sự xuất hiện của con số kia.  Trong ngôn ngữ cũng vậy. Nếu biết trước một từ nào đó thì ta, cũng dựa vào các quy tắc sẵn có, có thể dự đoán được từ khác xuất hiện theo. Và cố nhiên, nếu biết ý nghĩa cần diễn đạt của một câu nói ta cũng có thể dự đoán được phải sử dụng tới những từ gì. Ví dụ, nếu biết cơm…  thì ta có thể dự đoán được là cơm tám, cơm nhà, cơm cá, cơm sống, cơm chín, cơm ngon,… chứ không  thể nói được là cơm sách, cơm vở, cơm tỏi, cơm hành,…  được. Nếu biết rằng Tôi ….. cơm,  thì có thể nói là tôi ăn cơm, tôi chén cơm, tôi dùng cơm, mà không thể nói tôi uống cơm, tôi đi cơm, tôi xây cơm,… được. Cũng vì thế mà, khi nói đến thu thì người ta chỉ có thể nói đến thu phí, thu cước, thu thuế, hay một biểu thức ngôn ngữ nào đó, chứ dứt khoát không thể nói đến, kể đến thu giá, và càng không thể nói đến việc thu giá dịch vụ đào tạo.  Trong tiếng Việt, với từ giá, ta chỉ gặp những cách nói quen thuộc với nghĩa chúng ta đang bàn như: báo giá, bù giá, chào giá, đấu giá, định giá, đơn giá, giảm giá, hoá giá, mất giá, nâng giá, ngã giá, phá giá, sụt giá, trả giá, trợ giá, trượt giá, tăng giá, thời giá, tỉ giá, vật giá, yết giá,…; trong tất những cách nói này, trừ mấy cách nói giảm giá, trả giá, nâng giá, tăng giá là có thể thay giá bằng phí được (giảm phí, trả phí, nâng phí, tăng phí), còn không cách nói nào có thể thay giá bằng phí được. Với từ phí, chúng ta chỉ nói: án phí, bưu phí, cấp phí, cước phí, công tác phí, công đoàn phí, đảng phí, học phí, kinh phí, lệ phí, lộ phí, miễn phí, nộp phí, phụ phí, sinh hoạt phí, thu phí, viện phí,….; trong tất cả các cách nói với từ phí này, không có cách nói nào mà có thể thay phí bằng giá mà vẫn đảm bảo được đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa được. Với từ thu, chúng ta chỉ nói: bội thu, lạm thu, gián thu, trực thu, truy thu, thu phí, thu tiền, thu cước, thu thuế,…; chứ không thấy ai nói thu giá, thu giá dịch vụ đào tạo cả. Cách nói thu giá, giá dịch vụ đào tạo nếu có chỉ có thể là cách nói của người nước ngoài đang tập nói tiếng Việt; và nếu là cách nói của người Việt thì đó có thể chỉ là cách nói nhịu, rối loạn ngôn ngữ có tính lâm thời (có thể tự sửa được).  Quy tắc gọi tên để có tên gọi  Khi xuất hiện một sự vật, hiện tượng, khái niệm mới, người ta có nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm mới đó. Gọi tên thì sẽ có tên gọi. Đây là mối quan hệ nhân quả của ngôn ngữ học. Ngôn ngữ học có hai cách tiếp cận đối với cách gọi tên và các tên gọi. Cách tiếp cận thứ nhất được gọi là cách tiếp cận của danh học (onamastics). Cách tiến cận này bắt đầu từ mặt nội dung ngôn ngữ: cho một nội dung X, người ta phải tìm cách gọi tên cái nội dung X đó. Cách tiếp cận thứ hai là cách tiếp cận của nghĩa từ học (semasiology). Cách tiếp cận này bắt đầu từ mặt hình thức ngôn ngữ: cho một hình thức ngôn ngữ Y, người ta phải đi tìm cái nội dung được biểu đạt trong đó. Trong cả hai cách tiếp cận này, X và Y đều phải được mã hoá và giải mã theo các quy tắc vốn có của ngôn ngữ mà không một người bản ngữ nào không dám không tuân thủ. Ở đây (câu chuyện “thu giá, giá dịch vụ đào tạo”) cũng vậy. Giả sử lời giải thích đổi tên gọi từ  “thu phí, học phí” sang “thu giá, giá dịch vụ đào tạo” là để phù hợp với Luật Phí và Lệ phí, Luật Giá hiện hành, nhưng việc đổi tên gọi đó cũng phải tuân theo các quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa, sử dụng của tiếng Việt – những thứ vốn thường trực trong cảm thức bản ngữ của người Việt. Nếu gọi tên gọi đúng quy tắc thì không ai phản đối cả. Nói phải củ cải phải nghe. Nhưng ở đây việc tuân thủ này đã không diễn ra. Thay vì việc tìm tòi một tên gọi phù hợp, hay định nghĩa hoặc điều chỉnh lại nội hàm của khái niệm của tên gọi, người ta đã vô tư sáng tạo (thực ra là “tối tạo”) ra một cách gọi phi cú pháp, vô nghĩa trong tiếng Việt. Chính vì vậy nên người ta mới gán cho cách gọi thu giá, thu giá dịch vụ đào tạo là cái thứ ngôn ngữ quan quyền, một thứ ngôn ngữ duy ý chí, bất chấp sự hợp lí, hợp tình, bất chấp quy tắc, bất chấp lẽ thường, bất chấp cảm thức bản ngữ, bất chấp cái đúng cái hằng tồn hiển nhiên trong con người Việt.       Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Nguồn nhân lực – chìa khóa của sự chuyển đổi*      Sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ mới, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết nêu những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, đó là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, đề cao vai trò phản biện xã hội, phát triển nhanh nguồn nhân lực, và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.    Dưới đây Tia Sáng xin trích đăng phần viết về nhiệm vụ phát triển nhanh nguồn nhân lực:  Chúng ta đang sống trong một thời đại với ba đặc điểm kinh tế lớn chi phối sự phát triển của mỗi quốc gia. Đó là: (i) Khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, rất mạnh, hơn bất kỳ một thời đại nào trước đó. Chính sự phát triển này tạo ra làn sóng công nghiệp hóa lần thứ ba và hình thành nền kinh tế tri thức; (ii) Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều, thúc đẩy sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu; cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng quyết liệt và mỗi quốc gia phải giành cho được ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó; (iii) Tình trạng khan hiếm các loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được, đòi hỏi con người phải tìm kiếm các dạng nguyên liệu, năng lượng mới, bảo đảm phát triển bền vững.  Những đặc điểm nêu trên làm nổi bật vai trò ngày càng tăng của nguồn lực con người – lợi thế cạnh tranh động trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia. Tình hình đó vừa đặt ra yêu cầu vừa tạo điều kiện cho việc thay đổi mô hình phát triển, từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ nhưng chất lượng thấp sang sự phát triển dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp bao gồm khả năng áp dụng các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại.  Chìa khóa của sự chuyển đổi, nhân tố trung tâm của quá trình này là nguồn nhân lực chất lượng cao. Xét đến cùng, đây là khâu quan trọng nhất trong ba khâu đột phá, có vai trò chi phối việc thực hiện các đột phá khác, vì chính con người tạo ra và thực thi thể chế, xây dựng bộ máy, quy hoạch và phát triển kết cấu hạ tầng. Thực hiện tốt đột phá này sẽ làm tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng – một quan điểm quan trọng mà Đại hội XI đã xác định.  Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy quốc gia nào xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người thì hoàn toàn có thể thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn. Những năm qua, chúng ta đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn, chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề không hợp lý.  Phát triển nguồn nhân lực vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài theo tiến trình phát triển của tri thức nhân loại. Trong năm  năm tới, phải tập trung chỉ đạo xây dựng và triển khai chương trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Đặc biệt coi trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Lấy nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo làm trục xoay chính, kết hợp với mở rộng quy mô hợp lý.  Quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính; thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.  Điểm nhấn mới trong khâu đột phá này là đặt việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự gắn kết với việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Điều này thể hiện tính hướng đích của sự phát triển khoa học, công nghệ, bảo đảm chuyển tiềm năng trí tuệ của nguồn nhân lực thành những thành quả ứng dụng và sáng tạo khoa học công nghệ – động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững.  Trong nhiệm kỳ 2011-2016, Chính phủ sẽ đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học công nghệ; hướng trọng tâm hoạt động khoa học công nghệ vào phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ưu tiên sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh.  —  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn nhân lực cho các công trình trọng điểm Quốc gia      Vừa qua, Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường Quốc hội khóa XII đã có Báo cáo giám sát tình hình thực hiện các công trình trọng điểm quốc gia trong năm 2007 theo nghị quyết của Quốc hội.     Qua báo cáo này, có thể thấy những vấn đề từng tồn tại kéo dài trong xây dựng cơ bản ở Việt Nam vẫn tiếp tục bộc lộ trong các công trình trọng điểm quốc gia này: tiến độ thi công chậm so với dự kiến; việc huy động và đảm bảo vốn đầu tư, mức độ giải ngân thấp, đặc biệt, tổng mức đầu tư hầu hết các công trình đều tăng hơn nhiều so với dự kiến ban đầu; việc tái định cư chậm và còn gây cho cuộc sống người dân nhiều khó khăn… mà nguyên nhân trước hết là do chất lượng và số lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của công trình.   Chẳng hạn ở nhà máy lọc dầu Dung Quất, tiến độ thi công dự án chậm hơn so với dự kiến do công tác khảo sát và chuẩn bị mặt bằng ban đầu thực hiện chưa tốt dẫn đến việc phải xử lý, gia cố nền móng tốn kém thời gian và chi phí, điển hình là việc thi công gặp “túi bùn” ở gói thầu 5A hoặc số lượng cọc khoan phát sinh ở gói thầu 5B. Nếu tất cả các khâu bắt buộc trong công tác khảo sát thiết kế đều được tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc; nếu ngay từ đầu số lượng các mũi khoan khảo sát không vì lí do này hay lí do khác mà bị cắt xén về số lượng thì chắc chắn sẽ không thể có những phát sinh bất thường này (chúng ta hoàn toàn có thể liên hệ với vụ công trình cao ốc Pacific tại TP. Hồ Chí Minh gây sập công trình lân cận do thiếu kĩ lưỡng trong khâu khảo sát nền móng và thi công công trình ngầm sai phép).   Nhà máy thủy điện Sơn La hay nhà máy lọc dầu Dung Quất đều là những công trình hiện đại mà nhà nước đã phải huy động một khối lượng lớn tiền của nhân dân xây dựng. Những công trình này đòi hỏi phải có một đội ngũ kĩ sư, chuyên gia lành nghề quản lí và vận hành. Vậy mà dù đã bước vào thi công vài năm, chúng ta vẫn chưa thực sự nghiêm túc thực thi các giải pháp đảm bảo yêu cầu đề ra của công tác đào tạo nguồn nhân lực cho các công trình đó. Ví dụ, theo kinh nghiệm của các nước, chi phí đào tạo nhà máy lọc dầu thường chiếm ít nhất 1% tổng mức kinh phí. Nhưng, do giới hạn về kinh phí đào tạo (chỉ 9,6 triệu USD trong tổng mức đầu tư 2,5 tỉ USD, chiếm 0,38%) nên một số chương trình thực tập vận hành ngắn hạn cho các phân xưởng công nghệ của nhà máy lọc dầu đáng ra phải thực tập ở nước ngoài, lại phải thực tập tại các nhà máy trong nước (nhà máy khí hóa lỏng Dinh Cố, Đạm Phú Mỹ, Kho cảng Thị Vải…).   Trên con đường trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, thời gian tới, chúng ta sẽ phải thực hiện một số công trình trọng điểm quốc gia khác, mà quan trọng nhất là xây dựng nhà máy điện hạt nhân dự kiến sẽ được vận hành vào năm 2020 (nếu được Quốc hội cho phép xây dựng). Và chúng ta cần phải làm gì để có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao cho các công trình đó?   Trong bức thư trao đổi với một chuyên gia về năng lượng nguyên tử của nước ta, GS Pierre Darriulat- một nhà vật lý nổi tiếng thế giới, đã bày tỏ ngạc nhiên trước sự quá chậm trễ của Việt Nam trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Ông cho rằng nếu không sớm có biện pháp khắc phục, thì toàn bộ việc tư vấn thiết kế, xây dựng quản lí và vận hành nhà máy điện nguyên tử sẽ phải “khoán trắng” cho người nước ngoài.  Hẳn chúng ta không muốn như vậy!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới      I. Đặt vấn đề:  Hiện nay cả nước đang quan tâm đến vấn đề giáo dục, với mong muốn nước ta sớm có được một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của đất nước. Muốn vậy, nên xuất phát từ đánh giá tình hình phát triển con người và nguồn nhân lực nước ta, để làm rõ những yêu cầu cần đạt tới, những việc cần phải làm cho việc xây dựng nên một nền giáo dục cho đất nước trong tình hình mới. Hơn nữa, phát triển nguồn nhân lực đang trở thành đòi hỏi bức thiết hàng đầu trên chặng đường công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay của đất nước, chặng đường nước rút – vì thời gian từ nay đến năm 2020 không phải là dài. Bài viết này cố gắng nêu lên một số suy nghĩ ban đầu với cách nhìn như vậy1.         Sự thật là chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay, bởi các lẽ:  1. Đất nước giành được nhiều thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, ngày nay đang bước vào một thời kỳ phát triển mới sau khi đã hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu hóa, với những cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng.  2. Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất cơ hội đang đến với đất nước; thậm chí nếu không mau chóng khắc phục được yếu kém này, có nguy cơ khó vượt qua những thách thức mới, sẽ kéo dài sự tụt hậu của đất nước.      II. Điểm lại  nhận thức và việc làm thực tế  Trong hầu hết các Đại hội Đảng và trong nhiều văn kiện quan trọng khác nhau của Đảng đã khẳng định:   Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa; khẳng định con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo và tính tích cực chính trị – xã hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm chính là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam…2  Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ.   Sau 22 năm đổi mới, nước ta đứng trước thực tế:  Kinh tế tăng trưởng và phát triển liên tục, 10 năm qua tăng trưởng trung bình 7%; 5 năm qua tăng trưởng trung bình 7,5%. Năm 2007 – năm đầu tiên là thành viên của WTO, chỉ số tăng trưởng GDP là 8,5%, của xuất khẩu 20,5%, thu hút FDI tăng 17% (TBKTVN ngày 15-10-2007). Năm 2007, Việt Nam được UNDP đánh giá là nước thứ 6 trong “top ten” của thế giới về thu hút FDI cho các năm 2008-2009 (sau TQ, Mỹ, Ấn độ, Nga, Brazil), xếp hạng môi trường kinh doanh  được nâng cấp lên 13 bậc 3…. Nhờ GDP tính theo đầu người tăng gấp 4 lần so với trước đổi mới, nên đời sống của nhân dân nhìn chung được nâng cao rõ rệt. Việc Việt Nam ngày 16-10-2007 được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc khóa 2008-2009 cho thấy vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Song chính những thành tựu đạt được này đối chiếu với công sức bỏ ra, với những điều kiện và cơ hội cho phép, phải chăng Việt Nam đang phát triển dưới mức tiềm năng của mình?                Trong phát biểu của mình tại những cuộc hội đàm chính thức hai năm qua với người đứng đầu chính phủ các nước phát triển, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá quan hệ song phương phát triển chưa đúng tầm; điều này cũng hàm ý tự khẳng định sự phát triển chưa đúng tầm về phía nước ta. Nếu  so sánh với các NICs ở châu Á sau 30 năm phát triển đầu tiên, nước ta phát triển như hiện nay là chậm, mặc dù điều kiện ngày nay của nước ta thuận lợi hơn nhiều về mọi mặt so với họ thời đó. Có không ít ý kiến các học giả trong và ngoài nước cho rằng chưa bao giờ Việt Nam hội đủ được thiên thời, địa lợi, nhân hòa như ngày nay, mức độ đạt được sau 32 năm phát triển – trong đó có 22 năm đổi mới – như thế là thấp. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, từ năm 2000 đến nay, đầu tư toàn xã hội ước chừng chiếm khoảng 30 – 40% GDP/năm, so với chỉ số tăng trưởng của những năm này ta có chỉ số ICOR hàng năm là xấp xỉ 5 hoặc <5, nghĩa là quá cao; lẽ ra chỉ số này chỉ nên là 3 – 3,5 so với mức tăng trưởng. Nói cách khác, với tổng đầu tư hàng năm như thế cho thấy tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chung của nền kinh tế như thế là dưới khả năng cho phép, kết cấu hạ tầng vẫn phát triển rất chậm; thực trạng này có nguyên nhân quan trọng liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực nước ta…          Giáo dục, đào tạo, và khoa học 22 năm qua phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào những thành tựu của đất nước đã nêu trên. Nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nét nhất ở năng xuất lao động của toàn xã hội đã thay đổi hẳn cục diện phát triển kinh tế nước ta kể từ khi tiến hành đổi mới, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng thứ nhì thế giới trong những năm gần đây, trình độ giáo dục phổ cập và số lượng học sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số người tốt nghiệp các bậc học tăng nhanh so với nhiều nước, đặc biệt trong vòng 10 năm 1993 -2002 tỷ lệ đói nghèo giảm còn một nửa (từ 57% xuống còn 28%).  Những thành thành tựu nêu trên được thế giới đánh giá là “star performer”4 trong đổi mới, trong gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội của nền kinh tế đang chuyển đổi (WB).   Trên đây là so sánh ta hôm nay với ta cách đây 22 năm. Tuy nhiên có vấn đề: trung tuần tháng 10-2007 cuộc họp đoàn đại biểu quốc hội Hà Nội và cuộc họp của đoàn đại biểu quốc hội TPHCM đều nêu ý kiến: Đã đến lúc cần phải xem xét chất lượng cuộc sống so với tăng trưởng kinh tế đạt được. Đấy là chuyện ta so với ta.   Đứng chân trong thế giới này, nước ta còn phải làm hai so sánh nữa:   Một là, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động so với các nước chung quanh, khoảng cách phát triển không thu hẹp được bao nhiêu; nếu lấy chỉ số thu nhập tính theo đầu người làm thước đo chung nhất, khoảng cách này có xu hướng đang rộng thêm.            Sau 20 năm đổi mới GDP danh nghĩa tính theo đầu người năm 2006 tăng gấp 4 lần năm 1986. Số liệu này khẳng định tất cả những gì đã làm được.              Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của IMF năm 2006:              GDP danh nghĩa toàn thế giới tính theo đầu người năm 2005 là 7263 USD, của Việt Nam là 650 USD, nghĩa là gần bằng 9% mức của thế giới – nghĩa là khoảng cách của nước ta so với thế giới bên ngoài là rất lớn.              So sánh với các nước láng giềng chung quanh, cùng nguồn thống kê nêu trên cho thấy: Mặc dù gần một thập kỷ liên tiếp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc, nhưng GDP danh nghĩa tính theo đầu người của Việt Nam năm 2005 bằng 33% của Trung Quốc (1940 USD); 2,1% Singapore (29765 USD), 3,6% Hàn Quốc (17865 USD); 4,2% Đài Loan (15387 USD); 12% Malaysia (5376 USD); 21% Thái Lan (2993 USD); 43% Indonesia (1500 USD); và 50% Philippines (1278 USD).              Năm 1986 – năm bắt đầu công cuộc đổi mới – thu nhập theo đầu người của ta kém Trung Quốc 200USD, kém Thái Lan 997 USD, kém Malaysia 1950 USD, kém Indonesia 550 USD, kém Philippines  440 USD, kém Hàn Quốc 6940 USD… Cũng so sánh như vậy, năm 2006 thu nhập của ta kém Trung Quốc 1100 USD, Thái lan 2140 USD, Malaysia 4520 USD, Indonesia 750 USD, Philippines 420 USD, Hàn Quốc 17.000 USD…  Nghĩa là khoảng cách thu nhập của ta so với những nước này đang ngày càng rộng ra!              (Tham khảo thêm thống kê của IMF 2007).            Hai là, khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới mức trần, nước ta đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ và nhờ cậy vào tài nguyên, môi trường sang tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người. Ngay trước mắt, thời cơ đang đem lại cho đất nước khả năng đột phá sang một giai đoạn phát triển mới, có thể khắc phục tình trạng tụt hậu. Song nước ta đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân lực, sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, năng lực quản lý hẫng hụt nhiều mặt.    Phải chăng đất nước đứng trước một nghịch cảnh: Kinh tế phát triển mạnh và cơ hội đang đến với đất nước rất lớn, nhưng trong khi đó giáo dục – đào tạo – khoa học và vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung sau  thời kỳ giành được những thành tựu ban đầu theo xu hướng phát triển đại trà, ngày nay đang đi tới một điểm nóng, với nhiều hệ quả trầm trọng. Trong phát triển con người và nguồn nhân lực, nhiều yếu kém và tiêu cực tích tụ lâu năm đang dồn nén lại thành nguy cơ có thể làm cho đất nước bó tay trước cơ hội lớn. Bản thân ngành giáo dục – đào tạo – khoa học (bao gồm cả hệ thống phát triển nguồn nhân lực) có thể rơi vào khủng hoảng: đào tạo nhiều mà dùng được ít, số người được đào tạo thất nghiệp cao, chi phí của toàn xã hội quá lớn so với những gì gặt hái được, có nhiều hậu quả lớn  phải xử lý tiếp (ví dụ vấn đề đào tạo lại, việc bố trí người không đúng việc, phát sinh bộ máy cồng kềnh, không chuẩn bị kịp cho các bước phát triển tiếp theo của đât nước…). Đất nước đứng trước tình hình:  không đẩy nhanh phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học thì bất cập, đảy nhanh thì thiếu nhiều nguồn lực, đảy nhanh theo hướng đang làm sẽ có thể đi tới đổ vỡ lớn hơn, hướng đúng là gì chưa rõ, ý kiến đang rất khác nhau.  Có đúng như vậy không?   Đây là vấn đề cần tìm hiểu và kết luận dứt khoát. Chưa lúc nào trong xã hội tỏ ra lo lắng bức xúc về tình hình giáo dục – đào tạo – khoa học với nhiều lý lẽ rất xác đáng như ngày nay 5.   Trước hết nói về công sức bỏ ra rất lớn.  Trên thực tế, tính theo thu nhập trên đầu người, Việt Nam có lẽ là nước chi cho giáo dục cao nhất thế giới: trung bình hàng năm khoảng 8% GDP/năm, ở Mỹ mới chỉ là 6%, Trung Quốc là 2,7%..; nếu tính theo thu nhập của hộ gia đình tỷ lệ chi cho giáo dục ở nước ta còn cao hơn nữa 6. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo năm 2000 là 11,5%, năm 2005 là 13%, năm 2007 là 20% (nguồn TCTK và BKHĐT), nhiều quốc gia mơ tưởng chỉ số này dành cho giáo dục của họ. Gần đây còn có nhiều quyết sách khác về tài chính – kể cả việc cho sinh viên vay tiền ngân hàng để chi cho học tập – hỗ trợ việc phát triển giáo dục. Nghĩa là cả nước nỗ lực rất lớn cho phát triển giáo dục nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung.   Thực trạng hiện nay:               Trong các chuyến đi thăm chính thức các nước phát triển của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong năm 2007, Việt Nam được các nước chủ nhà coi là đối tác đầy triển vọng, những công trình hợp tác kinh tế được ghi nhớ lên tới nhiều chục tỷ USD, nhiều công trình đầu tư lớn, dự án lớn được được cam kết ở mức sâu hơn trên những lĩnh vực quan trọng – nghĩa là chỉ còn chờ phía ta bật đèn xanh để đi vào đàm phán cụ thể: phát triển hệ thống đường xá toàn quốc, phát triển ngành hàng không, mở rộng khả năng sản xuất nhiệt điện, (vấn đề điện năng lượng hạt nhân đang được đề cập), phát triển toàn diện ngành dầu khí, phát triển những khu công nghệ cao, phát triển thị trường tài chính, phát triển thị trường địa ốc, mở rộng ngành công nghiệp du lịch..; ngay trong nước thị trường tài chính có triển vọng thu hút những nguồn vốn lớn… Lần đầu tiên nước ta đứng trước tình hình không thiếu vốn và cơ hội, có nhiều dự án lớn, nhưng lại thiếu trầm trọng năng lực quy hoạch và quản lý, thiếu trầm trọng nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng những dự án lớn này. Tiến độ nhiều dự án lớn đã triển khai thường chậm một, hai năm so với kế hoạch hoặc hơn nữa. Trên hết cả, khoảng 2/3 GDP của nước ta dành cho xuất khẩu, cạnh tranh hàng giá rẻ với chất lượng thấp và dịch vụ thấp ngày càng không còn đất sống trước những làn sóng hàng hóa rẻ Trung Quốc khắp thế giới, chỉ còn một con đường cạnh tranh bằng hàng hóa chất lượng cao và dịch vụ cao. Trong khi đó cơ hội không biết chờ đợi. Nói riêng về điện: năm 2006 ta thiếu 1,1tỷ kwh; năm 2007 thiếu 6,6 tỷ kwh, năm 2008 Tập đoàn Điện (EVN) dự báo thiếu 8,6 tỷ kwh, mọi kế hoach sản xuất điện EVN đã cam kết với Chính phủ đều chậm vài năm, thế nhưng từ nhiều năm nay không một dự án đầu tư nhiệt điện nào của nước ngoài dù khả thi về mọi mặt, kể cả dự án BOT, có thể vào VN; một ví dụ này nói lên nhiều điều.            Báo cáo khảo sát “200 doanh nghiệp top của Việt Nam” của UNDP – Hà Nội xuất bản tháng 9-2007 cho biết: Qua phỏng vấn, các chủ doanh nghiệp Việt Nam đều cho rằng (a)họ phải đào tạo lại hầu hết mọi người ở mọi cấp bậc – học nghề, đại học, sau đại học –  mà họ nhận vào doanh nghiệp của mình, (b)họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên cứu của trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung yếu và lạc hậu; khả năng nghiên cứu thấp; sách vở và thiết bị đều thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ, rất yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp…  Tình  hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay là: Sau 30 năm công nghiệp hóa, vẫn còn khoảng 70% lao động cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp; tỷ lệ học sinh trên triệu dân, tỷ lệ số trường các loại trên triệu dân, tỷ lệ số trường đại học trên triệu dân; tỷ lệ tốt nghiệp đại học trên triệu dân, tỷ lệ có học vị tiến sỹ trên triệu dân của nước ta đều cao hơn tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầu người tương đương như Thái Lan, nhưng chất lượng đang có nhiều vấn đề. Điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề mình đã học, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu lực nguồn lực chuyên nghiệp. Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sỹ trong cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác quản lý; số bài báo khoa học được công bố hàng năm chỉ bằng khoảng ¼ của Thái Lan và bằng 0,00043% của thế giới, mặc dù số tiến sỹ của ta hàng năm nhận bằng thường nhiều hơn của Thái Lan, có năm cao gần gấp đôi, vân vân…   Nguồn nhân lực nước ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời trung bình – một ưu thế lớn), đông (một ưu thế lớn khác, nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ tính trên triệu dân của số người có nghề và có trình độ chuyên môn rất thấp so với tất các nước trong nhóm ASEAN 6 và Trung Quốc; số cán bộ kỹ trị và có trình độ quản lý cao rất ít so với dân số cũng như so với quy mô nền kinh tế.                    Nền tảng khoa học để phát triển các đội ngũ nguồn nhân lực nước nhà  được giáo sư  Phạm Duy Hiển đánh giá khái quát:   “Bản danh mục các đề tài được tuyển chọn để đấu thầu thuộc Chương Trình KHCN cấp Nhà Nước giai đoạn 2006-2010 là một bức tranh sinh động về hiện trạng KHCN Việt Nam. Qua đây ta hiểu được tại sao vị thế của khoa học Việt Nam qua các công bố quốc tế từ nhiều năm nay vẫn không được cải thiện, mặc dù ngân sách nhà nước cứ tăng đều hàng năm theo GDP, giờ đây đã lên đến hơn 300 triệu USD. Thoạt nhìn, số tiền này còn quá nhỏ nhoi nếu đem so với nhiều nước khác, hoặc đem chia ra cho hàng vạn người làm R&D ở nước ta. Ấy thế mà đội ngũ chúng ta lại bị bội thực. Trong hai năm liền, 2005 – 2006, hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách R&D phải đem trả lại Kho Bạc Nhà Nước.      Cứ thế này, chắc khó có trường đại học nào sẽ lọt vào tốp 200 của thế giới, như mục tiêu Bộ GD ĐT đặt ra cho năm 2020, thậm chí xa hơn. Đội ngũ KHCN của ta chắc chắn sẽ phải đứng chầu rìa nhìn người nước ngoài định đoạt mọi chuyện liên quan đến nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Đông Nam Á, từ tổ chức đấu thầu, xét duyệt thiết kế, xây dựng đến vận hành. Với năng lực KHCN như hiện nay, làm sao Việt Nam có thể trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020?”7   Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005: Nguồn nhân lực Việt Nam về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân đối nghiêm trọng:   – Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10;   – Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế giới là 100, của Trung Quốc là 140 mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người của TQ khoảng gấp đôi của nước ta, vân vân 8… Vân… vân…   Tác động sâu xa và lâu dài của những tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục về mặt văn hóa là nhiều giá trị cao quý bị mai một, với nhiều di chứng khó sửa: suy nghĩ lệch lạc về cái học trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, tư tưởng bằng cấp, tình trạng chạy trường chạy điểm, bằng thật học giả, gian lận, bệnh hình thức và thành tích chủ nghĩa, dạy và học nhồi sọ, kìm hãm tự do tư duy sáng tạo, nhìn chung giác ngộ thấp về ý thức làm chủ bản thân và về vai trò chủ nhân ông của đất nước, chịu ảnh hưởng sự nô dịch sùng ngoại, không hiếm tư tưởng “ăn đong” và tư tưởng làm thuê…Tất cả những hiện tượng này lan tỏa thành nhiều nếp sống tiêu cực, vùi dập và bỏ phí người tài, đang ngày càng bắt rễ sâu vào đời sống mọi mặt của đất nước. Đi vào thời kỳ phát triển hiện đại và hội nhập, nhưng nhìn chung trong cả nước ý thức luật pháp đối với nhà nước pháp quyền, cũng như ý thức tự chủ đối với xã hội dân sự của dân và của những người trong hệ thống bộ máy nhà nước nhiều mặt còn thấp.                                     Kết quả chung là: Nhìn nhận theo góc độ đánh giá nguồn nhân lực, chất lượng con người Việt Nam thấp về nhiều mặt so với các nước ASEAN6 và Trung Quốc, có nhiều ưu thế không được nuôi dưỡng và phát huy đúng hướng. Có phải như thế không? – xin được xem xét.   Những nguyên nhân chính của tình trạng nêu trên có thể như sau:   1. Không quan tâm và không kế thừa, phát huy những thành tựu giáo dục của nước ta đã tích lũy được trước đổi mới cũng như những thành tựu của thế giới, không khai thác lợi thế nước đi sau, thậm chí ít nhiều hoang tưởng, duy ý chí hoặc nhân  danh phát huy sáng tạo đi tìm một con đường riêng, nhưng thực tế là lạc lõng (ví dụ: định thay bản chữ cái ABC, abc bằng bảng E,e; tình trạng bất cập của chương trình chuẩn, giáo án chuẩn; kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sỹ; một số chương trình nghiên cứu Kx;  sáng tác ra học vị phó giáo sư; việc ồ ạt xây dựng  trường đại học tại nhiều tỉnh – trong khi đó bằng đại học của nước ta không được quốc tế công nhận, cả nước chưa có một trường đại học nào so sánh được với đại học Thái Lan Chulalongkorn, nếu so với đẳng cấp quốc tế khoảng cách này còn xa nữa., vân vân…)9.   2. Tiêu cực và chủ nghĩa cơ hội đã bóp méo những ý tưởng, những mong muốn tốt đẹp dành cho phát triển con người và nguồn nhân lực; làm sai lệch hướng vận dụng mọi nguồn lực – điển hình là sự ra đời của khái niệm “xã hội hóa”, bóp méo khái niệm này với khuynh hướng đẩy việc phát triển con người và nguồn nhân lực đi sâu vào con đường trở thành hàng hóa và dịch vụ kiếm lợi nhuận, đã xẩy ra siêu lợi nhuận.    3. Không lường đúng những khó khăn, mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là khả năng cho phép của nguồn lực và một bên là đòi hỏi của phát triển – (cụ thể ở đây là phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực – của một nước nghèo, đông dân, đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi nhanh như nước ta); không lường đúng những mặt phức tạp và những khó khăn rất đa dạng, sâu xa của lĩnh vực thiết yếu bậc nhất và rất nhạy cảm này trong đời sống quốc gia, không nhận thức đúng những yếu kém lớn về năng lực tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước. Duy ý chí và bệnh thành tích đầu độc trầm trọng thêm tình trạng này.   4. Tri thức, tầm nhìn và đạo đức nghề nghiệp của nhiều chuyên gia,   nhà khoa học được giao nhiệm vụ trực tiếp làm chính sách quốc gia về giáo dục – đào tạo – khoa học, của những người được trực tiếp giao nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý lĩnh vực phát triển giáo dục và nguồn lực con người, nhìn chung trình độ của đội ngũ này dưới tầm so với đòi hỏi của nhiệm vụ. Xét theo lương tâm nhà giáo, theo bản lĩnh người trí thức thì còn phải nêu ra nhiều yếu kém nghiêm trọng khác nữa của đội ngũ này.       III. Nhìn nhận lại vấn đề phát triển nguồn nhân lực   Xây dựng được con người như thế nào thì sẽ hình thành một quốc gia và xã tắc như thế. Mặt khác, con người tự giác thường là yếu tố quyết định nhất thay đổi xã hội và quốc gia nó đang sống. Sự hưng vong, thịnh suy của một quốc gia gắn liền với những điều mang tính nguyên lý này. Văn minh nhân loại ở nấc thang toàn cầu hóa ngày nay khiến cho việc làm chủ những điều mang tính nguyên lý này càng trở thành lẽ sống còn của mỗi quốc gia và mỗi công dân của nó.   Vì lẽ vừa trình bày, phát triển nguồn nhân lực về thực chất là ngày càng phải làm tốt hơn việc giải phóng con người. Đòi hỏi này đặt ra hai yêu cầu cùng một lúc: Phải tập trung trí tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng thời thường xuyên cải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gìn giữ môi trường tự nhiên của quốc gia.   Vấn đề lớn nhất đặt ra cho nước ta không phải là cái nghèo, mà là ý chí phấn đấu với tất cả trí tuệ và nguồn lực có trong tay cho phát triển nguồn nhân lực như một ưu tiên quốc gia hàng đầu – điều này bao gồm cả ý chí xây dựng một thế chế chính trị và đời sống kinh tế – xã hội – văn hóa hướng vào phát huy những giá trị chân chính của con người, trước hết là tự do và nghị lực sáng tạo của nó; là ý thức vận dụng có hiệu quả mọi nguồn lực có trong tay và tìm cách kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại (lợi thế nước đi sau).   Vì thế phải đặt vấn đề phát triển nguồn nhân lực trước hết là vấn đề phát triển con người trong một cách nhìn toàn diện.      Ngày nay không thể quan niệm đơn thuần nguồn nhân lực là lực lượng lao động với nghĩa đơn giản là những người làm công ăn lương, những người nông dân ít có điều kiện học hành… Cuộc sống ngày nay đòi hỏi phải nhìn nhận nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau –  kể từ người làm nghề lao động đơn giản nhất, nông dân, công nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học, người làm nhiệm vụ quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định chính sách, quản lý đất nước… Tất cả đều nằm trong tổng thể của cộng đồng xã hội, từng người đều phải được đào tạo, phát triển và có điều kiện để tự phát triển, phải làm mọi việc để từng người đứng đúng chỗ của mình và chịu sự sàng lọc của cuộc sống.                          Thử hình dung, bất kể một bộ phận, một tầng lớp hay một giới nào đó, thậm chí một cá nhân riêng lẻ nào đó có ảnh hưởng trong nguồn nhân lực này yếu kém hay bệnh hoạn, sẽ có hệ quả gì? Ví dụ: Nguồn nhân lực cả nước ta làm sao phát huy hết mức trong tình hình đội ngũ trong bộ máy quản lý đất nước – một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực – để cho năm 2005 nước ta xếp hạng thứ 107 về nạn tham nhũng, năm 2006 thứ 111 và năm 2007 thứ 123 (tham khảo báo cáo hàng năm của Transparency International), nhiều doanh nghiệp hàng năm phải dùng tới khoảng 900 giờ làm việc năm riêng cho một việc nộp thuế cho nhà nước, vv.., trình độ kỹ trị của đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền còn thấp, công việc ùn tắc nhiều và gây nhiều lãng phí, chỗ này chỗ kia còn những Bùi Tiến Dũng… Đề án 112 giả thử có tìm được những phương án tối ưu nhất cho các phần khác nhau trong chương trình tin học hóa sự vận hành của bộ máy nhà nước, thì nó cũng chỉ có thể đem lại hiệu quả nếu được thiết kế gắn liền với các bước đi thành công của cải cách hành chính – nghĩa là liên quan mật thiết đến đổi mới đội ngũ làm việc trong bộ máy công quyền. Một mình đề án 112 không thể tạo ra sự thay đổi này. Vân… vân…     Xin cho phép tôi ở chỗ này nói chệch vấn đề một chút: Tôi nghĩ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong bộ máy công quyền hiện nay có lẽ cũng phải đặt thành một ưu tiên nếu không hơn thì ít nhất cũng không kém gì những ưu tiên khác dành cho những lực lượng lao động khác trong chủ trương phát triển nguồn nhân lực của nước nhà. Đã có không ít tiếng nói trên báo chí và trong dư luận xã hội đòi hỏi phải nâng cao “quan trí”, nâng cao năng lực kỹ trị, nâng cao ý thức công bộc của đội ngũ cán bộ viên chức ăn lương nhà nước. Người ta hay nói nhiều đến ý thức thấp kém của người nông dân, người công nhân – ví dụ tình trạng ăn cắp vật liệu ở công trình nhà máy lọc dầu Dung Quất… Song hiện tượng đáng lo lắng hơn lại là cuộc sống có không biết bao nhiêu ví dụ về tác trách, về vận dụng hay thi hành sai luật pháp và những chính sách đúng đắn 10. Rõ ràng có làm tốt được việc đổi mới đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền, nhiều việc khác mới hy vọng làm tốt được, mọi người khác mới có điều kiện phát huy được mình.     Có thể nói thế này: Cầu Văn Thánh ở Thành phố Hồ Chí Minh là một sản phẩm tiêu biểu, (a)phản ánh tổng hợp được thực chất trình độ của nguồn nhân lực nước ta – từ người công nhân bình thường đến người thiết kế, người làm kỹ thuật, nhà thầu, người quản lý, người quyết định chính sách – nghĩa là trình độ nguồn nhân lực nào sản phẩm nấy; (b)đồng thời cũng phản ánh  sinh động môi trường pháp lý và đời sống kinh tế – chính trị – văn hóa xã hội của nguồn nhân lực đã làm nên cây cầu này, nghĩa là môi trường nào thì tạo ra nguồn nhân lực nấy!      Nhìn nhận như vậy, quốc sách về phát triển nguồn nhân lực, về phát huy và sử dụng con người và người tài đòi hỏi phải gắn liền với việc đảy mạnh đổi mới trên nhiều phương diện – về lâu dài là đổi mới toàn diện cả thể chế và xã hội.      Với những điều trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực ngày nay không thể chỉ đơn thuần một chiều hiểu theo nghĩa phát triển lực lượng lao động như lâu nay thường làm: mở thêm các trường, các cơ sở đào tạo nghề, cải tiến nội dung dạy, đổi mới chính sách lao động tiền lương, cải tiến công tác công đoàn, phổ biến kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, vân vân… Đây chỉ là một khía cạnh nhất định của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực đối với những bộ phận nhất định người lao động trong cộng đồng dân cư của đất nước.     Đặt vấn đề với cách nhìn toàn diện, có nghĩa phải đồng thời và từng bước làm rất nhiều việc khác – ví dụ những việc đã liệt kê ra được như cải cách hành chính, xóa bỏ chủ quản, xóa bỏ bao cấp.., giảm biên chế, bổ túc và đào tạo lại đội ngũ cán bộ viên chức các cấp, mở rộng và nâng cao đội ngũ cán bộ kỹ trị, cán bộ quản lý, người làm chính sách, đổi mới chính sách phát huy con người và dùng người…; còn biết bao nhiêu việc chưa liệt kê ra được như trong phát huy dân chủ, trong đổi mới thể chế quốc gia, trong hội nhập sân chơi toàn cầu…      Phát triển nguồn nhân lực hiển nhiên đòi hỏi phải đồng thời đổi mới triệt để toàn xã hội hướng thiện – theo những giá trị chân chính – ví dụ, để có một môi trường xã hội trọng công bằng, kỷ cương, đạo đức; pháp luật được coi làm chuẩn mực; xã hội trở thành xã hội học tập..; tất cả theo nghĩa muốn có nguồn nhân lực nào thì cũng phải đồng thời tạo ra môi trường nấy.      Lẽ đương nhiên không thể tạo ra mọi thứ trong một đêm, nhưng cần có cái nhìn toàn diện để xác định cho đúng cái đích cần lựa chọn rồi mới hoạch định những bước đi, những việc làm.       Như vậy không thể có vấn đề phát triển nguồn nhân lực riêng lẻ tách khỏi đời sống chung quanh – như trong một xã hội chân không, mà phải nhìn thẳng vào thực tế: Xã hội nào thì nguồn nhân lực nấy, muốn có cái này tốt, cái kia cũng phải làm cùng tốt theo, tất cả cùng phải đi chung vào  xu thế hội nhập bước đi của toàn cầu.     Nói ngắn gọn: Tất cả với cái đích là có được một nguồn nhân lực phát triển trong một môi trường thân thiện với phát triển. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đúng khi đã nói tới ý nghĩa đổi mới giáo dục thực chất là một cuộc cách mạng chấn hưng đất nước.   IV. Bình tĩnh, tranh thủ thời gian tìm ra giải pháp thuyết phục  Trước khi bàn tiếp, xin kiến nghị:   (1) Bất luận lựa chọn và quyết định giải pháp gì và trong bất cứ hoàn cảnh nào, ý chí muốn học, tinh thần ham học, quyết tâm chịu đựng mọi hy sinh khốn khó để học và học cho đến cùng của người dân nước ta, trước hết là của lớp trẻ, là cái vốn vô giá của quốc gia. Tinh thần này, ý chí này cần được gìn giữ, nâng niu, cổ vũ.    (2) Sự phát triển ồ ạt theo số lượng về giáo dục ở nước ta đặt ra vấn đề: Đã chót đẻ ra thì phải nuôi. Đất nước đứng trước tình thế có quá nhiều trường đại học, học viện, các loại trường khác.., trong khi đó chất lượng của những loại trường này nhìn chung thấp, nguồn lực có thể huy động được lại cực kỳ eo hẹp. Giải pháp nào cũng phải hạn chế xuống mức thấp nhất gánh nặng dồn lên vai học sinh.  (3) Bình đẳng về cơ hội cho mọi người là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của xã hội văn minh, trong đó bình đẳng về cơ hội trong giáo dục là quan trọng bực nhất. Song lực và trí nước ta có hạn, nên tôi nghĩ nước ta cũng phải đi từng bước, điều kiện cho phép đến đâu thì làm đến đấy, nỗ lực hết mức làm đến đấy.11!  Chỉ ba điều nêu trên đủ cho thấy phải bình tâm suy nghĩ, xem xét lại tất cả, phải mất công động não cân nhắc mọi điều trước sau mới hy vọng tìm ra giải pháp đúng.   Trong 22 năm đổi mới vừa qua, xin hãy kiểm kê lại xem Nhà nước ta đã bao nhiêu lần cải cách, cải tiến giáo dục – từng phần hoặc toàn phần, thế nhưng kết cục là có tình hình giáo dục – đào tạo – khoa học như hôm nay. Chẳng lẽ cứ tiếp tục cải cách thêm kiểu như thế này để kéo dài, để mở rộng mãi tình trạng hôm nay? Đã đến lúc nên tổng kết một cách triệt để.  Cả nước đều biết, ngay từ khi nhận trọng trách mới, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã dành nhiều công sức trực tiếp lao vào giải quyết những vấn đề nóng bỏng trong ngành giáo dục. Đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng quan tâm chỉ đạo Bộ này và các ngành có liên quan làm tất cả những gì có thể để cải thiện tình hình và đẩy mạnh phát triển giáo dục, coi đấy là một trong những ưu tiên lớn của quốc gia. Việc làm gần đây nhất là Thủ tướng chỉ thị đẩy mạnh vấn đề cho các sinh viên nghèo vay tiền ngân hàng để đi học…  Song như đã trình bày, những khó khăn yếu kém trong lĩnh vực giáo dục nói riêng và trong phát triển nguôn nhân lực nói chung tích tụ từ hai mươi năm nay thành nhiều vấn đề lớn, nan giải, có nhiều vấn đề đã trở thành những nếp khó sửa, không thể một sớm một chiều nhìn được hết, càng không thể tìm ngay được lối ra. Đấy là chưa nói đên đòi hỏi của cạnh tranh kinh tế toàn cầu nà nước ta nhất thiết phải đương đầu: Trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đổi mới, cách gì đi nữa, vẫn cần tiếp tục duy trì sự phát triển năng động, ổn định và có chất lượng ngày càng tốt hơn của toàn bộ nền kinh tế.  Xin nêu ra một số vấn đề dưới đây để thấy rằng tình hình dù bức xúc thế nào, cũng không thể nôn nóng được, vì cuộc sống không có liều thuốc tiên.  IV.1 Vấn đề tăng học phí  Đây đang là vấn đề thời sự nóng hổi nhất.  Phó thủ tướng Bộ trưởng Nguyễn thiện Nhân giải thích:   …Đối với giáo dục đại học, hiện ngân sách của bậc học này chiếm 16,2% ngân sách dành cho giáo dục, chỉ bằng hơn một nửa so với kinh phí dành cho bậc tiểu học. Chúng ta đang phát triển một nền kinh tế cần có nhân lực trình độ cao nhưng chi cho toàn bộ bậc đại học gồm 1,4 triệu sinh viên chỉ bằng hơn phân nửa so với chi cho giáo dục tiểu học (27,4%).   …Hiện nay, học phí đại học của chúng ta cao nhất là 180.000 đồng/tháng, tức khoảng 150 USD/năm, đó là một trong các mức học phí thấp nhất thế giới, trong khi ở Mỹ, ở Anh, đa số từ 10.000 USD – 15.000 USD/năm, điều đó có nghĩa 1 sinh viên họ đóng học phí 1 năm, bằng 1 sinh viên ta đóng 60 tới 100 năm, ở các trường nổi tiếng có thể tới 25.000 USD/năm, tức gấp chúng ta 160 lần.   …Với mức đầu tư thấp như vậy không thể nâng đáng kể chất lượng đào tạo và tăng quy mô đào tạo.   …Chúng tôi có làm việc với một trường cao đẳng ở Nghệ An hợp tác với Hàn Quốc, mức học phí sinh viên phải đóng mỗi tháng là 100.000 đồng nhưng UBND tỉnh phải bù 400.000 đồng/tháng/sinh viên. Nhưng tất cả sinh viên tốt nghiệp đều có việc làm với thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Học phí thật để đào tạo sinh viên cao đẳng làm nghề được là phải 500.000 đồng/tháng (gấp 2,5 lần học phí đại học hiện nay).   …Vì vậy, không tăng học phí đại học thì không thể có chất lượng như mong muốn.  Nếu tính học phí đại học cũng dựa vào thu nhập của người dân thì sẽ rơi vào vòng bế tắc, luẩn quẩn: nước nghèo nên ngân sách cho giáo dục ít, người dân thu nhập thấp nên khả năng đóng học phí thấp, do đó chi cho đào tạo ít. Hệ quả là thiếu kinh phí xây dựng trường lớp, mua sắm thiết bị, trả lương giáo viên kém nên chất lượng đại học thấp, quy mô nhỏ. Nếu cứ thế thì những người ra trường với chất lượng đào tạo thấp làm việc hiệu quả không cao, nền kinh tế lại chậm phát triển, đất nước tiếp tục nghèo.   …Tăng học phí là một đột phá trong tài chính cho giáo dục đại học, thay vì trả học phí thấp theo mức thu nhập hiện tại của quốc gia và người dân thì chúng ta phải trả học phí ở mức đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội, đa số người ra trường phải có việc làm và thu nhập khá.   Mức thu nhập này cho phép trả lại số tiền đã vay để trả học phí trước đó. Tức là lấy thu nhập của tương lai cao hơn rất nhiều so với học phí hiện tại để trả học phí ở mức có chất lượng đào tạo cao.   Đối với bậc đại học, nếu không tăng học phí thì không thể giải quyết được vấn đề chất lượng…    (Sài Gòn Giải Phóng 10-09-2007)  Phó thủ tướng Bộ trưởng nhiều lần nhấn mạnh tăng học phí gắn với nói “không” với dạy học không có chất lượng, với dạy những điều thị trường không có yếu cầu.  Lô-gích là như thế, song có nhiều ý kiến cho rằng thực hiện điều nói “không” này đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều biện pháp đồng bộ, không thể ngày một có ngày hai có ngay được.   Ví dụ:  Ý kiến của giáo sư Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá Giáo dục Quốc hội : ”Vấn đề tăng học phí phải được cân nhắc từ hai phía. Thứ nhất, phải phù hợp với khả năng của người dân, đáp ứng được nhu cầu học tập của giới trẻ.   Thứ hai, học phí tạo điều kiện để cùng với kinh phí nhà nước hỗ trợ cho các trường đại học bảo đảm được chất lượng theo nhu cầu xã hội. Học phí tăng là tất yếu nhưng phải làm thế nào đáp ứng, hài hoà được cả hai nhu cầu trên.   Với hoàn cảnh kinh tế của chúng ta hiện nay, nếu có tăng thì cũng ở mức vừa phải, không phải một lúc tăng lên gấp vài lần. Để tăng học phí, một điều quan trọng hơn nữa là phải thay đổi quan niệm về công tác giáo dục đào tạo, đặc biệt là cấp đại học.  Theo tôi, không nên tăng học phí đồng loạt vì nếu làm vậy, xã hội sẽ đặt câu hỏi: “Tăng học phí chất lượng dạy có tăng?”. Trên thực tế, nếu tăng học phí đồng loạt thì toàn bộ chất lượng cũng tăng đồng loạt? Tôi tin là không có. Vì thế, tăng học phí chỉ nên theo hướng: nhu cầu xã hội khác nhau, người có khả năng đóng góp nhiều hơn, rất có thể người ta chấp nhận đóng góp nhiều hơn để được nhận một dịch vụ cao hơn, chất lượng hơn thì học phí tăng ở khu vực đó.   Với giáo dục đại trà, vẫn phải xác định một mức học phí vừa phải, phù hợp với khả năng đóng góp của đông đảo nhân dân lao động.   Tuy nhiên, trước khi tăng nên kiểm tra học phí được sử dụng như thế nào? Cần có đánh giá tổng kết để xem tăng bao nhiêu là vừa đáp ứng yêu cầu, phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân và đáp ứng yêu cầu tối thiểu nhu cầu đào tạo nhân lực.   Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cũng có nói, việc sử dụng học phí ở một số trường đại học chưa đúng với quy định của ngành, chẳng hạn một số trường dùng học phí để chi cho cán bộ công nhân viên, giáo viên mà không chi cho giáo dục đào tạo.   Báo cáo đó rõ ràng đặt ra vấn đề, học phí chưa được sử dụng đúng, vậy tăng học phí có phải khó thuyết phục dư luận?”  (Tin tức Onlne, 09-10-2007)  Ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy:  “…Tôi hoàn toàn thông cảm với ông Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo: một bên thì những khó khăn lớn để lại từ trước, khiến cho không tăng học phí sẽ rất khó bảo đảm chất lượng giáo dục, một bên thì người dân chưa sẵn sàng chấp nhận học phí cao. Cho nên những ý kiến đóng góp sau đây đều trên tinh thần xây dựng và thông cảm đó, chỉ để mong giúp chúng ta gỡ các khó khăn một cách hợp lý nhất.   Trong vài dịp được phát biểu trên báo (báo Người Lao Động ngày 14-8, báo Tuổi Trẻ ngày 12-9, và báo Lao Động ngày 24-9) tôi chủ yếu nói về học phí ở cấp phổ thông, và đề nghị ngay trong năm học này, giữa lúc tham nhũng chưa bị đẩy lùi, Kiểm toán Nhà nước vừa phanh phui bao chuyện thất thoát công quỹ, hơn nữa, đời sống người dân đang rộn lên bao chuyện bất an (tai nạn giao thông, an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, vật giá leo thang…), thì đặt vấn đề tăng học phí chưa ổn. Còn về lâu dài, muốn chấn hưng giáo dục thật sự đạt kết quả, Chính phủ và Quốc hội cần quyết liệt hơn nữa trong chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, và riêng trong ngành giáo dục cần chấn chỉnh quản lý trong nội bộ ngành, rà soát lại mọi chế độ, quy định, tổ chức, để sử dụng đầu tư của Nhà nước và nhân dân có hiệu quả hơn. Tôi tin rằng ngân sách ngành giáo dục và đào tạo được cấp, cộng thêm phần đóng góp trực tiếp của dân (bằng hai phần ba ngân sách) hoàn toàn đủ cho nhu cầu giáo dục phổ thông mà không cần tăng học phí. Vì sao có thể tin như vậy? Ở Hà Nội và một vài nơi khác có những trường phổ thông tư thục đạt chất lượng tốt, với mức học phí không cao hơn bao nhiêu so với chi phí học ở trường công, mà họ vẫn trả lương cao cho giáo viên lại thu được lợi nhuận lớn, chứng tỏ chất lượng ở trường công thấp hoàn toàn không phải do thiếu tiền mà do quản lý kém và cách làm giáo dục chưa tốt.   Riêng đại học thì có khác vì dù thế nào ở đây Nhà nước vẫn cần đầu tư thêm. Tuy nhiên khoản đầu tư này cũng phải chủ yếu từ công quỹ, và đi đôi với chấn chỉnh quản lý để sử dụng có hiệu quả. Ở đây nên đặc biệt lưu ý tình hình là trong khi nhiều trường phổ thông tư thục đạt chất lượng khá mà vẫn lãi cao, thì phần lớn các đại học tư thu lợi nhuận cao đều đạt chất lượng rất thấp so với chất lượng đã chẳng cao gì của đại học công. Nếu không lo chấn chỉnh thì rồi đây nhiều trường nước ngoài chất lượng rất xoàng nhưng học phí đắt có thể ồ ạt nhảy vào vì vẫn cạnh tranh tốt với các trường trong nước, làm cho giáo dục đại học thêm xuống cấp và tăng thêm lãng phí của xã hội.    Mới đây, tôi rất sửng sốt đọc một tin trên báo cho biết một đại học công ở Hà Nội, có thời kỳ chỉ trong vòng ba năm mà lãi đến 27 tỉ đồng, số lãi đó từ nguồn nào nếu không phải từ nguồn học phí, đặc biệt là học phí thu ở những lớp “liên kết đào tạo” với các địa phương khác, mà chất lượng ai cũng biết cực kỳ thấp? Đã như thế mà nay tăng học phí nữa thì những trường đó sẽ lãi đến bao nhiêu?    Có một số vấn đề nguyên tắc phải tôn trọng nếu thật sự ta muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ. Thứ nhất, cấp phổ cập phải tuyệt đối miễn phí, hơn nữa phải tiến đến chỗ sách giáo khoa cũng được cấp hoặc cho mượn. Thứ hai, trên cấp phổ cập (từ cấp 3 phổ thông trở lên) thì trong giai đoạn nào đó trường công lập có thể thu học phí nhưng học phí phải khác nhau tùy vùng giàu, nghèo, và phải đi đôi với chính sách học bổng thực sự hữu hiệu, đồng thời về lâu dài vẫn cần tiến đến chỗ miễn phí, hoặc thu phí rất thấp chỉ để nhắc nhở trách nhiệm cho người học, hoặc Nhà nước cho vay tiền để đi học như Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có chủ trương rất đúng đắn.”   (Thời báo kinh tế Sài Gòn, 04-10-2007)  Trong giải quyết vấn đề có nhiều mối hệ lụy phức tạp, chọn khâu đột phá thường là cách tiếp cận cần thiết; song chính biện pháp “đột phá” lại đòi hỏi phải cân nhắc và chuẩn vị kỹ lưỡng nhiều mặt, nếu không biện pháp đột phá có nguy cơ: phá mà không đi tới đột. Có ý kiến nói: Chương trình đào tạo 20.000 tiến sỹ và 1 tỷ USD cho dạy nghề cho thấy thiếu tiền chưa phải là vấn đề nóng bỏng nhất đối với giáo dục. Ý kiến giáo sư Hoàng tụy khá rõ: vấn đề nóng bỏng hơn là sự phân bổ và sử dụng đúng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Nhà nước đang có trong tay 12… Ngoài ra còn có một số người nêu câu hỏi: Hiến pháp quy định bậc tiểu học hoàn toàn miễn phí, tại sao vẫn có tình trạng đóng góp dưới dạng thu một lọai phí hay học phí…  Còn rất nhiều ý kiến khác nữa.  Còn nhiều câu hỏi khác nữa, tập trung vào nỗi bức xúc: Làm gì với mọi nguồn lực sẵn có trong tay sớm xây dựng nên một nền giáo dục đáng mong muốn? Không thể khoanh tay ngồi nhìn trong lúc đất nước còn nghèo.   Vì vậy, trước mắt vấn đề tăng học phí chỉ nên thực thi với tính chất là khâu đột phá sau khi đã có kế hoạch đầy đủ trên cơ sở rà soát và phân bố lại toàn bộ thu – chi cho giáo dục từ ngân sách nhà nước cũng như từ phần đóng góp của dân; chống thất thoát và tham nhũng trong ngành giáo dục; xóa bỏ những thu – chi không hợp lý trong ngành để dồn cho nâng cao chất lượng giáo dục.   Rất đáng cả nước thắt lưng buộc bụng để mà học. Điều này có nghĩa là huy động đóng góp phải đúng và gắn liền với cắt bỏ những lãng phí. Tôi xin nhấn mạnh xóa bỏ những lãng phí – ví dụ những khoản chi cho những công trình nghiên cứu vô bổ, những chi tiêu sai (như báo cáo Kiểm toán Nhà nước 2007 đã nêu ra) hay những khoản đầu tư sai từ ngân sách nhà nước, cắt bỏ những chi tiêu vì chạy theo thành tích hình thức, kể cả những việc học hình thức… Làm được như vậy chắc chắn nước ta không đến nỗi quá ít tiền để phát triển giáo dục.   Tựu trung lại, tăng học phí với tinh thần cả nước thắt lưng buộc bụng để mà học là rất nên. Cả nước cần quyết tâm làm như thế để sớm ra khỏi dốt và nghèo. Nhưng phải làm đúng với tinh thần thắt lưng buộc bụng – với nghĩa thu, chi từng xu từng đồng phải tính toán chi li: lấy từ đâu, chi vào việc gì, hiệu quả thế nào. Thắt lưng buộc bụng như thế không dính dáng gì đến tính keo kiệt.  Không có lý do gì cả nước – bắt đầu từ Đảng đến toàn bộ hệ thống chính trị, hệ thống xã hội của cả nước – lại không dấy lên ý thức xây dựng một chuẩn mực đạo đức và văn hóa cho lẽ sống và ý chí phấn đấu: Thắt lưng buộc bụng cho cái học, cả nước học, toàn xã hội là xã hội học tập. Mọi nơi mọi cấp trong cả nước đã nói nhiều đến “truyền thống hiếu học của Việt Nam”, mong rằng lời nói sẽ trở thành hành động thắt lưng buộc bụng như thế. Điều này đáng khao khát lắm, vì học như thế chẳng những sẽ được trí tuệ mà nên người. Nhưng cũng thiết tha xin đừng làm việc này như một “phong trào”!  IV. 2.  Vấn đề chất lượng giảng dạy  Có hai vấn đề lớn: Chương trình giảng dạy và người dạy.  IV. 2. 1. Về chương trình giảng dạy: Hầu như có sự đồng tình rộng rãi phải cải tiến mạnh mẽ chương trình giảng dạy của các loại trường ở tất cả các cấp, nhưng cải tiến như thế nào để không đi vào vết xe của những đợt cải cách, cải tiến đã thực hiện trong 20 năm qua, thì chưa được bàn tới một cách triệt để, thực tế là đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Trên báo chí, nhiều học giả Việt Nam sống trong nước và ở ngoài nước đã giới thiệu nhiều mô hình khác nhau của các nước có nền giáo dục tiên tiến (Phần Lan, Anh, Đan Mạch, Bỉ, New Zealand, Úc…). Đáng chú ý là trong những kiến nghị này đều toát lên một số ý chung:  Cải cách giáo dục đang trở thành vấn đề thời sự ở nhiều nước, chứ không riêng gì nước ta, đương nhiên mỗi nước có những vấn đề riêng của mình. Điểm giống nhau là không nước nào dám khoanh tay ngồi yên.  Trong khi ở Mỹ cải cách này nhằm mục đích chính là cơ cấu lại nguồn nhân lực nước Mỹ đứng trước tình hình: xu thế “outsourcing” ngày càng mạnh của nền kinh tế Mỹ; hàng tiêu dùng rẻ đổ vào Mỹ ngày  càng nhiều, đòi hỏi kinh tế Mỹ phải tiếp tục loại bỏ nhiều sản phẩm; lao động rẻ nhâp cư tăng mạnh… Hướng cải cách giáo dục của mỹ chủ yếu nhằm bảo vệ khoảng cách đi trước của kinh tế Mỹ so với kinh tế của các nước đối thủ và so với cả thế giới 13. Ở nhiều nước Tây Âu mục đích chính của những nỗ lực này là đẩy mạnh kinh tế tri thức và thích ứng với đòi hỏi mới của nền kinh tế toàn cầu hóa. Trung Quốc và Ấn Độ nhằm nâng cao chất lượng đại học và đảy nhanh tiến độ tiếp cận, ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ mới. Nhật chú trọng hơn nữa đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước đáp ứng yêu cầu nước Nhật sớm trở thành một cường quốc hoàn chỉnh cả kinh tế và chính trị. Singapore – vì mục đích kinh doanh và vì muốn tiếp tục giữ vị thế quốc tế của mình –  chú trọng làm mọi việc để trở thành “cái lò” đào tạo trí thức cho các nước (nhất là các nước trong khu vực), bao gồm cả việc mời những trường đại học quốc tế có tên tuổi sang mở trường trực tiếp ở Singapore, song ý đồ này không dễ gì thực hiện 14… Nghĩa là nhiều quốc gia đã có nền giáo dục tiên tiến mà cũng không dám khoanh tay ngồi yên trước sự phát triển năng động của nền kinh tế toàn cầu hóa và của khoa học và công nghệ. Riêng ở Pháp, thư của tổng thống Sarkozy gửi các nhà giáo Pháp15 đặt vấn đề một cách toàn diện, bắt đầu từ đổi mới quan điểm dạy học – kể từ dạy các lớp học sinh nhỏ tuổi, sao cho nhân bản hơn, phát huy tốt hơn năng lực riêng của mỗi cá tính, tránh tình trạng dao động lúc quá nhấn mạnh cái này, khi quá nhấn mạnh cái kia; cần tuân thủ “mỗi thời kỳ lịch sử gợi ra những ước vọng riêng”… Cũng có nghĩa giáo dục phải nhằm giúp đạt được ước vọng của mỗi con người ở thời nay…  Điểm qua như vậy, chúng ta sẽ được những gợi ý gì về nội dung và chất lượng giảng dạy? Đây là điều rất đáng suy ngẫm.  IV. 2. 2. Về người dạy ở nước ta  Gần đây có nhiều tiếng nói trên báo chí thẳng thắn phê phán tình trạng chất lượng thày dạy nhìn chung trong cả nước là thấp; không hiếm trường hợp thày, cô giáo đứng nhầm bục dạy; dạy theo giáo án tủ, giáo án mượn; dạy theo theo lối mài chữ, chép chữ; tình trạng các trường thiếu thày…16  Nguyên nhân có nhiều và cũng được nêu lên khá đày đủ trên báo chí.  Một trong những giải pháp được Bộ Giáo dục và đào tạo đưa ra giải quyết vấn đề thiếu thầy nêu trên là đề án đào tạo 20.000 tiến sỹ 17, căn cứ vào Nghị quyết số14/2005NQ-CP  ngày 02-11-2005 của Chính phủ về “đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020”.   Giáo sư Bùi Trọng Liễu nhận xét: “Đề án đào tạo 2 vạn tiến sĩ cho mươi năm tới lại không đủ sức thuyết phục. …Ông bộ trưởng có lý khi phát biểu muốn nâng một cách đáng kể tỉ số tiến sĩ [này]. Nhưng nếu số trường đại học có hạn thì dễ thực hiện hơn, còn nếu mở vung vãi quá nhiều đại học thì đề án trở thành bất khả thi. Bởi vì đào tạo tiến sĩ không dễ : đào tạo trong nước đã khó ; gửi ra ngoài đào tạo cũng khó, vì các trường đại học nghiêm chỉnh nước ngoài cũng tuyển một cách chặt chẽ ; không phải nghiên cứu sinh Việt Nam nào được phép đi du học cũng có thể ghi tên soạn luận án được, và ghi tên soạn luận án tiến sĩ rồi không có nghĩa là sẽ hoàn thành nổi một luận án. Đã có những trường hợp phải bỏ cuộc »18.   Còn không ít những ý kiến khác chung quanh vấn đề người dạy và các giải pháp. Thực tế này cho thấy thiếu thày và thiếu nhiều tiến sỹ lắm, phải đào tạo thêm, nhưng đòi hỏi phải có giải pháp đúng, với những nỗ lực rất lớn và đúng hướng, phải mất nhiều thời gian mới giải quyết được 19. Thế nào là giải pháp đúng? Đang ngổn ngang quá nhiều câu trả lời cho sự lựa chọn, hình như không thể nóng vội làm theo kiểu kế hoạch chỉ tiêu được 20.  IV. 2. 3. Chất lượng nhà trường nước ta  Nhiều trường, nhiều trường lớn và đông, chất lượng nhìn chung thấp.  Đó là đặc điểm chung nhất cho các loại trường từ tiểu học cho đến đại học, các học viện, viện nghiên cứu. Nguyên nhân phổ cập là nghèo. Tuy nhiên, dồn hết lý do lên cái nghèo thì cũng không đúng, bởi lẽ giả thiết rằng chúng ta giàu có hơn song nếu chạy theo xu hướng phát triển đại trà như những năm vừa qua chưa hẳn chúng ta có được các trường viện tốt hơn. Một chiều đổ mọi tội lỗi nên cái nghèo sẽ không tìm được lối ra.  Xin lưu ý, đã có một thời nước ta còn nghèo hơn hiện nay, trong nước còn chiến tranh, thế nhưng nền giáo dục nước ta thời đó đã đóng góp không nhỏ vào cuộc kháng chiến và mọi nhiệm vụ khác nó phải cáng đáng đối với đất nước, đã trở thành niềm tự hào lớn của đất nước, một vết son sáng ngời của chế độ chính trị nước ta với những tên tuổi bất hủ như Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Đặng Thái Mai, Đặng Văn Ngữ.., với không ít những mái trường từ trung học phổ thông đến đại học, từ trường dạy nghề đến trường cao đẳng… đã một thời làm dạng danh nền giáo dục Việt Nam. Chính quá khứ đáng ghi nhớ này thôi thúc chúng ta phải kiên tâm đi tìm đâu là những nguyên nhân đích thực của những yếu kém hôm nay trong nhà trường của nước ta.  Bàn riêng về nhà trường, những yếu kém chính là chương trình giảng dạy, điều kiện vật chất kỹ thuật và trường sở, thư viện, sách tham khảo… Nếu so với nền giáo dục ở thời đại tin học thì còn phải nêu nhiều yếu kém khác nữa.   Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông với tinh thần chống bệnh thành tích của năm 2006 và 2007 đưa ra nhiều con số, sự việc làm choáng váng cả nước, phản ánh toàn diện thực trạng nhà trường cấp trung học phổ thông của nước ta.   Dưới đây xin tập hợp một số nhận xét rất đáng suy ngẫm về cấp đại học.  Theo số liêu thống kê, cả nước hiện nay có 322 trường đại học và cao đẳng, trong đó khoảng 1/10 là dân lập (nghĩa là trường tư). Tiến sỹ Vũ Quang Việt cho rằng như thế là số trường quá nhiều so với tỷ lệ dân số và mức thu nhập quốc dân thu nhập – cao hơn Trung Quốc 15% mà mức thu nhập của nước ta chỉ bằng ½ của Trung Quốc. Anh Vũ Quang Việt lưu ý quy mô một số trường của nước ta quá lớn: “…Đại học Quốc gia TPHCM 81 ngàn, Đại học kinh tế TPHCM 34 ngàn, Đại học Huế 81 ngàn, Đại học Đà Nẵng 52 ngàn, Đại học mở Hà Nội 46 ngàn, Đại học Thái Nguyên 34 ngàn, v.v. Đây là những đại học vào hàng khổng lồ nhất thế giới. Ở Mỹ, đại học lớn nhất là Arizona State cũng chỉ có khoảng 52 ngàn sinh viên. Các đại học hàng đầu của Mỹ chỉ khoảng 15 ngàn. Tôi không hiểu trong mỗi đại học Việt Nam có bao nhiêu sinh viên là chính khoá, còn bao nhiêu là tại chức, chuyên tu, v.v.”  Bài “Chất lượng các trường đại học mới: S.O.S!” đăng trên báo Lao Động số 228 Ngày 02/10/2007 cho chúng ta bức tranh sau đây:  “Nhiều trường ĐH ngoài công lập thành lập cuối những năm 1990 đều  phải vận dụng cách “lấy GV thỉnh giảng bù đắp cho khoảng trống về đội ngũ GV”. Cũng trong thời gian ấy, lãnh đạo nhiều trường ĐH công lập đau đầu vì tình trạng GV của trường, trong đó có những GV đầu ngành lao vào dạy cho trường ngoài công lập. Thay vào việc đầu tư đổi mới cách dạy học, nghiên cứu khoa học, GV nhiều trường trở thành “thợ giảng”.  Tình trạng này đến nay chưa cải thiện là bao thì lại bắt đầu có hàng loạt trường ĐH mới  ra đời tiếp tục phương châm “trông cậy vào GV thỉnh giảng;  Trong số 25 trường ĐH mới thành lập có trường hiện nay chưa hề có một GV nào là GS, PGS  hay có trình độ TS.  Ví dụ như ĐH Hoa Lư (Ninh Bình) hay ĐH Trà Vinh. Một số trường khác trong báo cáo với Vụ ĐH&SĐH, Bộ GDĐT cũng chỉ có 1-2 GV là TS, không có GS, PGS, như ĐH Bạc Liêu, ĐH Phú Yên, ĐH Hoa Sen, ĐHSP Kỹ thuật Vinh… Theo bà Trần Thị Hà – Vụ trưởng Vụ ĐH&SĐH – thì có một vài trường gửi con số báo cáo số GV là GS, PGS và TS, nhưng thực tế không có như thế. Khi kiểm tra lại thì các trường giải thích “đó là con số trường đang phấn đấu!”. Tình trạng trường “ĐH giống trường THPT”  là phổ biến, nhất là khi có hàng loạt trường mới được thành lập. Nhiều trường ĐH mới hiện nay chưa có  các phòng thí nghiệm chuyên ngành. SV chủ yếu học chay, chưa có giáo trình, tài liệu tham khảo, trang thiết bị hỗ trợ dạy học…Lịch học thay đổi do lệ thuộc vào GV thỉnh giảng…”  Thực tế nêu trên cho thấy đại học mang tính đại trà kéo dài nhiều năm như vậy trong một nước nghèo, và trình độ tổ chức và trình độ quản lý đều rất hạn chế, tất yếu để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đây là vấn đề rất khó tháo gỡ, càng khó tháo gỡ nhanh, nhưng trước sau không thể tránh né được.  Ngoại ngữ đang là một trong những vấn đề bức thiết nhất và cũng bất cập nhất của nhà trường nước ta. Không thể hình dung sống trong thế giới ngày nay không có ngoại ngữ. Con đường tiếp cận mọi thành tựu văn hóa, tiến bộ khoa học và kỹ thuật của thế giới, con đường hội nhập vào kinh tế và cộng đồng thế giới đều phải đi qua cái cầu ngoại ngữ. Con đường khai thác lợi thế nước đi sau và làm giàu trí tuệ của chính mình phải có ngoại ngữ hỗ trợ. Sự thật là nền giáo dục nước nhà không quan tâm đúng mức vấn đề ngoại ngữ, thường đổ tội cho cái nghèo một cách không thể biện bạch được. Đã đến lúc phải đưa chương trình dạy ngoại ngữ trở thành một phần bắt buộc trong chương trình giảng dạy từ cấp phổ thông – khả năng cho phép đến đâu thì thực hiện tới đấy rồi mở rộng dần ra – ví dụ bắt đầu từ các vùng đô thị và kinh tế phát triển. Vì yêu cầu hội nhập và vì ở sát nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc, học tiếng Anh và tiếng Hoa ngày càng trở nên cấp thiết 21.  Riêng về mặt văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ, phát huy truyền thống và bản sắc dân tộc, vấn đề duy dưỡng và khai thác vốn Hán nôm của quốc gia ngày càng trở nên quan trọng. Vấn đề này bị sao lãng hời hợt đến mức có nguy cơ đi tới một nền văn hóa mất gốc. Còn rất nhiều việc phải làm để văn hóa Việt trở thành tâm hồn dẫn dắt con đường đi lên của đất nước, là yếu tố gìn giữ sự trường tồn của dân tộc ta. Để đứng được trong cạnh tranh của toàn cầu hóa, Việt Nam chẳng những cần hiển diện trước thế giới là một nền kinh tế mà còn là một hình ảnh văn hóa của chính mình.  Trong nhà trường còn có vấn đề sách và thư viện không thể bỏ qua được.   Nếu nói tỷ lệ số lượng sách in ra so với dân số, có lẽ phải xếp hạng bậc cao hay rất cao cho nước ta, có lần báo chí nước ta đã tự xếp hạng ta là nước Đông Nam Á có cố lượng đầu sách hàng năm cao nhất trong vùng, không rõ chính xác đến mức nào. Nhưng xin mời các bạn ra bất kỳ cửa hàng sách hay vào bất kỳ thư viện nào, sách của tác giả nước ta nhìn chung chất lượng thấp, không ít nội dung sao chép một cách chắp vá của bên ngoài, lạc hậu xa so với trình độ chung trên thế giới, nhiều sách rất khó tin cạy cho việc nghiên cứu nghiêm túc của người dậy cũng như người học ở tất cả các bậc học. Trong khi sách dịch cũng rất nhiều chuyện để nói. Điều khổ sở nữa là giá sách nhìn chung đắt quá so với số đông trong xã hội. Dạy mà không có sách tốt cho tham khảo, nghiên cứu, cập nhật thì chỉ còn cách mài giáo án – dù là giáo án vay mượn –  ra mà dạy. Học mà không có sách cho tự học thì chỉ còn cách học nhồi sọ và học thuộc lòng. Tình hình thư viện cũng tương tự như vậy. Rất nên có một chuyên đề riêng bàn tính việc tháo gỡ vấn đề sách và thư viện.  Một vấn đề nóng bỏng thường trực: Mỗi năm chỉ có khoảng 20% thí sinh thi đại học trúng tuyển, con số này là hợp lý trong điều kiện của nước ta hiện nay. Nhưng 80% không trúng tuyển sẽ đi đâu? Các trường loại khác và các trường nghề cần cho số 80% còn lại này hiện nay thế nào, bàn tay của nhà nước và bàn tay của xã hội giúp được gì cho số 80% không đỗ còn lại này?  Vân… vân…  Phần IV của bài này mới chỉ xới lên được một số vấn đề bức xúc chứ không phải là tất cả. Mong rằng cả nước sẵn sàng chấp nhận mọi đau đớn để chấn chỉnh lại nền giáo dục nước nhà, có không ít việc phải làm lại từ đầu, có nhiều vấn đề đòi hỏi phải có những giải pháp quyết liệt, nhưng không thể nôn nóng được. Làm gì cũng phải tính đến kế thừa và khai thác lợi thế nước đi sau.  Trước mắt nên vận dụng tối ưu mọi nguồn lực có trong tay, có thể phải chấp nhận một số biện pháp “tình thế” để chữa cháy tức thì vấn đề nào nào đó. Tất cả nhằm tranh thủ thời gian huy động trí tuệ của toàn thể cộng đồng dân tộc, trước hết là của các nhà khoa học, các nhà giáo dày dạn, cùng nhau thảo luận cho vỡ vấn đề. Rất cần bàn thảo rộng rãi, công khai và dân chủ trong cả nước, sao cho trong trong một hai năm tới đất nước có một kế hoạch chấn chỉnh nền giáo dục được cả nước hậu thuẫn mạnh mẽ, xây dựng được một chiến lược phát triển con người và nguồn nhân lực của nước ta theo tinh thần  thắt lưng buộc bụng cho cái học để sớm thoát khỏi tụt hậu và cái nghèo.  Nên tổ chức trưng cầu dân ý về những vấn đề lớn, nên sửa những điều trong Hiến pháp có liên quan về những vấn đề hệ trọng của lĩnh vực giáo dục nước nhà.  Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh sự cần thiết và nêu lên nội dung phải đổi mới và kiện toàn Hội đồng giáo dục quốc gia là bước đi đầu tiên. Kinh nghiệm về cơ quan chuyên trách cấp cao như vậy ở các quốc gia rất phong phú, làm việc có kết quả thực chất, rất đáng để nước ta tham khảo.  Tôi tự hỏi mình, cả bài viết hơn hai chục trang giấy như thế này mà chỉ làm được mỗi cái việc điểm ra một số vấn đề bức xúc và nhắc lại đề nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp?    Vâng, mới chỉ có thế, không thể khác được. Bởi vì trước hết nên đặt lên bàn mọi vấn đề cho sự thảo luận rộng rãi, dân chủ, công khai trong cả nước. Nên thực hiện sớm đề nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Hội đồng giáo dục quốc gia được chấn chỉnh cần bắt tay ngay vào bàn thảo mọi vấn đề đã được đặt lên bàn. Xin làm việc này ngay. Vì mỗi ngày bây giờ được đếm bằng vàng, bằng hơn vàng!   Thay cho phần kết luận  Nếu được phép nêu ra một đề nghị với nhà nước, tôi xin nói: Đề nghị nội dung của nhiệm vụ phát triển con người và nguồn nhân lực của nước ta nên tập trung vào yêu cầu nâng cao quyền năng con người. Không thể cầm tay chỉ bảo từng người trồng cây gì con gì, làm sản phẩm nào để thoát được nghèo hèn. Nhưng con người được nâng cao quyền năng về trí tuệ, về ý chí sẽ tìm được cho mình con đường đi lên, trong đời sống và lập nghiệp sẽ khó bị lừa hay bị bắt nạt, dễ tiếp thu cái mới và không dung tha cái lạc hậu, sẽ biết cách thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình và lợi ích cộng đồng, sẽ làm được nhiều việc lớn. Đấy là con đường hứa hẹn nhất khắc phục sự tụt hậu của đất nước. Quốc gia có những công dân đầy quyền năng như thế, quốc gia này sẽ tiến lên văn minh hiện đại. Đề nghị này khó, nhưng rất nên.  Nếu được phép nêu ra một đề nghị như thế với người dân, với thanh thiếu niên, tôi xin nói: Yêu tổ quốc mình với tất cả bản lĩnh người Việt Nam, với tinh thần thắt lưng buộc bụng để mà học, với tất cả sự khiêm tốn đến nhẫn nhục, với lòng kiên nhẫn như đào núi lấp biển, xây dựng ý thức hiệp đồng, gìn giữ bằng được chữ tín, tất cả để làm chủ bản thân mình và làm chủ thực sự đất nước của mình, gìn giữ và không dung tha sự vi phạm quyền làm chủ này. Tôi hy vọng đó cũng là con đường mỗi bạn và cả nước ta có thể trở thành đối tác tin cạy của cả thế giới trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.  Giáo dục, đào tạo như thế nào để nước ta có những công dân giàu quyền năng như thế? Để Việt Nam xứng đáng với lịch sử của mình và vị thế quốc tế mới!  —————————–  1 Trong bài này tôi chưa dám bàn đến lĩnh vực y tế.  2 Tham khảo các Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc VI, VII, VIII, IX và X và nhiều Hội nghị Trung ương có liên quan.  3 Tuy nhiên cũng nên thận trọng với đánh giá này, năm 2007 Thái Lan trong tình hình có đảo chính mà  đánh giá môi trường kinh doanh vẫn được nâng cấp lên 5 bậc (do có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh). WB cho rằng tuy chỉ lên 5 bậc nhưng chất lượng cạnh tranh của Thái Lan cao hơn Việt Nam nhiều.  4 Tạm dịch: Người thực hiện xuất sắc công cuộc đổi mới.  5 Tham khảo các bài báo, bài viết sau đây: (1) Võ Nguyên Giáp, “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà”, Tuổi trẻ, 10-09-2007; (2) Hoàng Tụy, bài  “Xã hội hóa hay là đẩy gánh nặng cho dân?” đăng trên Người Lao Động số ra ngày 14.8.2007 và Tia Sáng ngày 24/8/2007, bài “Học phí và đổi mới giáo dục” đăng trên TBKTSG 04-10-2007; (3)Phạm Duy Hiển, “Thử đi tìm một mô hình khác phát triển khoa học”, (4) Bùi Trong Liễu – Trả lời phỏng vấn ngày 06-08-2007 – toàn văn, đề nghị tìm đọc trên http://www.diendan.org/viet-nam/;  Hà Nội 04-010-2007; (5) Nguyên Ngọc, “Lại xôn xao chuyện Triết lý giáo dục” – bản toàn văn bài 20-09-2007; (6) Tọa đàm tháng 9-2007 của tuần báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần về giáo dục, đăng trên Tuổi trẻ ngày 29-09-2007; (7) Vũ Quang Việt, “Xin được đối thoại với Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân” ngày 17-09-2007, toàn văn trên Viet-Studies.info (8) Phạm Xuân Yêm, “Xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam”, Vietsciences 11-09-2007: (9)Mai Đình, “Chất lượng, hiệu quả trong giáo dục”; (10) Lê Việt Hưng (NCS tại Nottingham, UK) “Đề án 20.000 tiến sỹ không thực thi và quá mạo hiểm”, Dân Trí ngày 03-10-2007; (11) “Chất lượng các trường đại học mới: SOS!”, bài ghi lại của Kỳ Thanh, báo Lao Động ngầy 02-10-2007; (12) Nguyễn Trung, “Đề án 112 và 20.000 tiến sỹ…, Tuổi trẻ cuối tuần số 21-09-2007 và bài phản biện của Đá Chông: “Phê phán phải dựa trên  Biết và Hiểu” đăng trên CAND ngày 25-09-2007; (13)  “Về triết lý giáo dục Việt Nam”, Tạp chí Cộng Sản 26-09-2007; (14) Nguyễn Xuân Hãn, Đại học Quốc gia Hà nội, Bài “Nh­ng quan träng h¬n vÉn lµ  ®øng trªn lËp tr­êng nµo, v× lîi Ých cña ai?”, Hà nội 01-10-2007;  (15) Tham khảo thêm thư của Tổng thống Pháp N. Sarkozy ngày 04-09-2007 gửi những người làm công tác giáo dục ở Pháp (bản do anh Phạm toàn dịch)… vân vân…  6 Tham khảo bài “Xin được đối thoại với Phó Thủ tưởng Nguyễn Thiện Nhân về vấn đề giáo dục” của tiến sỹ Vũ Quang Việt, Diễn đàn online, 17-09-2007.  7 Phạm Duy Hiển, “Thử đi tìm một mô hình khác phát triển khoa học”  8 (tham khảo thêm bài “Xin được đối thoại…” của Vũ Quang việt, và bài “Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu”, của Nguyễn Xuân Hãn, báo Lao Động ngày 06-10-2007).   9 “Có người nghĩ đơn giản rằng người Việt Nam chúng ta thông minh, hiếu học, cần cù thì chẳng có gì đáng lo khi thế giới chuyển sang lấy tri thức làm nguồn lực phát triển chủ yếu. Nhưng kinh nghiệm hai mươi năm qua là một bài học đắt giá : chúng ta càng tự nhận thông minh không kém bất kỳ ai thì càng tụt hậu dài dài trong nhiều lĩnh vực khoa học, giáo dục, ngay cả so với những nước chẳng phải xuất sắc gì trên thế giới. Nói ra đáng tủi hổ nhưng là sự thật, chỉ có các học vị, học hàm rởm, những Tiến Sĩ ,Viện Sĩ giấy, những chức vị hư danh thì không nước nào trên thế giới sản xuất nhanh, nhiều, rẻ bằng ta. Mà khi những thứ này tràn ngập xã hội thì còn chỗ đâu cho trí tuệ chân chính phát triển” – Hoàng Tụy. (Xin phụ họa vào ý kiến của anh Hoàng Tụy một giai thoại  buồn: Trong một cuộc họp có một số quan chức nước ngoài ở Hà Nội, giờ giải lao họ hỏi tôi: Tại sao SEA Game 23 trong danh sách quan chức Việt Nam được chào mừng tại buổi lễ khai mạc có nhiều giáo sư tiến sỹ đến thế, họ chưa hề được chứng kiến chuyện này tại một buổi lễ tương tự như thế ở bất kỳ nước nào! Đầu óc tôi đặc lại vì không có câu trả lời).  10 Vụ xử án tham nhũng đất đai ở Đồ Sơn là một bê bối điển hình; huyện Hải Lăng, Quảng Trị, giao đất tái định cư cho dân xã Hải Lâm chạy lũ ngay trên khu vực còn bom đạn thời chiến tranh nằm trong lòng đất chưa được rà xoát bốc đi và hàng năm vẫn xảy ra tai nạn sát thương – Tuổi Trể ngày 11-10-2007! Vân vân…  11 Xin lưu ý: Các nước tư bản phát triển, bên cạnh phát triển hệ thống trường công các cấp với nguồn chi lớn từ ngân sách nhà nước, không hạn chế phát triên hệ thống tường tư,  nhưng toàn bộ vấn đề giáo dục phải tuân thủ những quy định chung của nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự, nguyên tắc phi lợi nhuận, không thể mạnh ai nấy làm; tuy vậy vấn đê mất bình đẳng về cơ hội đối với học sinh và thanh niên ở những nước này vẫn là vấn đề nan giải.  12 Tìm đọc trên “Dân trí” ngày 11-10-2007, http://www1.dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2007/10/200997.  13 Nên tìm đọc diễn văn nhậm chức của bà hiệu trưởng Đại học Harvard, Drew G. Faust, ngày 12-10-2007 để hiểu thêm những vấn đề đặt ra cho giáo dục ở Mỹ, cảnh báo tính lỗi thời của nền đại học Mỹ… VSI – 15 Oct 2007.  14 Xem bài “Singapore’s Failing Bid for Brainpower” của Simon Montlake,  Far Eastern Economic Review October 2007. Đại ý: Singapore muốn vời đại học Harvard sang cùng với thương hiệu của trường này nhưng chưa thành.  15 Toàn văn xem: http://media.education.gouv.fr/file/41/3/6413.pdf  16 Xem:  “Lên bục giảng bằng giáo án… vay mượn!” Vietnamnet, 00:06′ 08/10/2007 (GMT+7); bài    “Thiếu giảng viên là giáo sư, phó giáo sư ở trường ĐH mới”, Người Lao động ngày 02-10-2007…   17 Tham khảo bài của tác giả Đá Chông đăng trên báo CAND 25-09-2007 giải thích vì sao cần đào tạo 20.000 tiến sỹ.  18Tìm đọc trên  « Không cung  với  cầu rởm », đăng ngày 30/1/2007 trên Vietnanmnet. http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/659380/ và Hà Nội Mới đăng lại ngày 31/1/2007 : http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/118003/ . Ngoài ra, có ý kiến hỏi: Theo Điều 87 của Luật giáo dục năm 1998 và Điều 100 của Luật giáo dục sửa đổi năm 2005, có hiệu lực từ 01-01-2006 thì vấn đề đổi mới giáo dục đại học phải được Quốc hội phê chuẩn; nhưng Nghị quyết số14/2005NQ-CP  ngày 02-11-2005 của Chính phủ về “đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020” có cần sự phê chuẩn này không? Nếu cần mà chưa được phê chuẩn thì nên xem xét Nghị quyết 14 này như thế nào? So sánh nghị quyết này với Điều 36 của Hiến pháp năm 2002 có những điểm gì không phù hợp?• Có thông tin nói Ủy ban giáo dục của Quốc hội đã từng nhắc nhở cần thiết có sự phê chuẩn nghị quyết này… Nghị quyết 14 là cơ sở quan trọng cho đề án đào tạo 20.000 tiến sỹ.   19 Nền giáo dục Ấn độ có nhiều thành tựu quan trọng, song cũng có nhiều vấn đề rất giống tình hình ở nước ta, nhưng cách tiếp cận khác ta; tham khảo bài: In India, Economic Success Leaves Universities Desperate for Professors,  Đăng tài trên Viet-studies. Info ngày 10-10-2007.  20 Nhân đây xin nhắc lại chuyện cũ của Trung Quốc: Một thời hàng vạn học sinh TQ ra nước ngoài học, song số trở về rất ít, Đặng Tiểu Bình đã phải tuyên bố: Ai học xong về là giúp nước, ai học xong ở lại cũng là vì nước! Nhiều năm qua đi mãi cho tới gần đây kinh tế TQ lên,  cơ hội làm ăn trong nước lớn và thông thoáng, số du học trở về nước ngày một đông dần, họ làm những việc họ lựa chọn chứ không phải theo kế hoạch của nhà nước. Thực tế này của TQ cho ta nhiều điều để suy nghĩ.  21 Đai học Quốc gia TPHCM là trường lớn, song chỉ có 11,6% giảng viên môn tiếng Anh có chứng chỉ TOEFL, 2 năm học gần đây điểm thi môn tiếng Anh của sinh viên của trường nhìn chung đạt 4/10 nghĩa là dưới trung bình (Tuổi trẻ ngày 17-10-2007). Còn các trường tầm cỡ thấp hơn thì sao?     Nguyễn Trung    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ gia tăng bất bình đẳng giới      Báo cáo “Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” đã chỉ ra nguy cơ gia tăng bất bình đẳng giới nếu Việt Nam không tăng cường cung cấp các cơ hội công việc tốt hơn cho phụ nữ và hỗ trợ giảm thiểu vai trò của phụ nữ trong các công việc chăm sóc gia đình không công.    Nữ công nhân may. Nguồn ảnh: Dantri.com.vn  Ngày 03 tháng 6, tại Hà Nội, Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN women) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) công bố báo cáo “Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ”.  Đây là báo cáo đầu tiên phân tích một cách toàn diện về nền kinh tế thông qua lăng kính giới, đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và chỉ ra rằng, mặc dù phụ nữ đang góp phần lớn vào phát triển kinh tế nhưng chưa được chú ý đảm bảo quyền lợi một cách công bằng so với nam giới từ sự phát triển đó. Các lợi ích của tăng trưởng kinh tế được phân bổ không đồng đều và quá trình quản lý không tốt làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương của lao động nữ và làm giãn rộng khoảng cách tiền lương giữa hai giới.  Báo cáo cũng phân tích, mặc dù cơ hội công việc cho lao động nữ ngày càng nhiều hơn nhưng phụ nữ Việt Nam rất ít có cơ hội thăng tiến so với nam giới bởi vì họ bị ràng buộc vào các công việc nội trợ không công. Đồng thời gánh nặng đó cũng đã làm tăng mức độ stress của nữ giới và khiến họ yếu thế hơn trong quan hệ quyền lực trong gia đình.  Phát biểu tại buổi công bố báo cáo, bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện của UN Women tại Việt Nam nhận định: “Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa chú ý đến quyền hưởng lợi của phụ nữ từ sự phát triển kinh tế. Nếu các chính sách hiện thời không xem xét lại và cải cách từ góc độ giới, phụ nữ sẽ bị bỏ lại phía sau. Do đó, ưu tiên bình đẳng giới cần phải đặt ở trung tâm của các chính sách phát triển”.  Trên cơ sở các phân tích trên, các tác giả của báo cáo này cũng đề xuất những khuyến nghị về chính sách để thúc đẩy tiềm năng của phụ nữ và giúp cho sinh kế của họ được đảm bảo hơn. Đây là một nguồn tài liệu tham khảo về vị thế của phụ nữ ở Việt Nam nhằm cung cấp các bằng chứng thực tiễn cho các chính sách và chương trình kinh tế có yếu tố giới của Việt Nam.  Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ Australia và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam.    Author                T.Q        
__label__tiasang Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Một nhân cách lớn      Sớm có những phẩm chất cao quý của một nhân cách lớn nên ngay từ những năm đầu hoạt động chính trị, những năm còn nằm trong vùng tối của lịch sử, những người cùng thời với Người, dù khác biệt về chính kiến cũng đều kính trọng và đánh giá cao trí tuệ, lòng yêu nước thương dân, cũng như đạo lý hành xử của Người.        Năm 1919, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và một người Việt Nam yêu nước khác ở Paris quyết định thảo bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam để gửi tới các nước thắng trận dự Hội nghị Versailles. Lúc đó, nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Tiến sĩ luật học Phan Văn Trường đã là những người có tiếng tăm ở Paris, còn chàng trai Nguyễn Tất Thành ít người biết đến. Nhưng nhóm người Việt yêu nước này đã nhất trí để anh Nguyễn thay mặt họ đứng tên trong bản “Yêu sách” với danh xưng Nguyễn Ái Quốc. Và, ngày 18/6/1919, qua báo L’Humanité và Journal du peuple, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện trên trường chính trị Paris với tư cách “Đại diện cho nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp”.                                 Sau sự kiện Tours (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản. Nhiều đồng bào của ông trong nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Paris đã không có sự chuyển hướng đó. Giữa ông Nguyễn và những người này đã nảy sinh sự khác biệt và bất đồng về nhận thức chính trị cũng như về cách cứu nước, cứu dân, nhưng ngay từ những năm tháng đó, họ đã nói về ông với sự kính trọng và khâm phục.  Trong một lá thư gửi cho Nguyễn Thế Truyền vào tháng 9/1922, Tiến sĩ Phan Văn Trường đã vui vẻ nói rằng: “Tôi chắc tôi là người đầu tiên ca ngợi Nguyễn Ái Quốc”.  Khi báo chí thuộc địa của chính quyền ở Đông Dương viết bài nói xấu và gọi ông Nguyễn là “một con người đầy tham vọng”, thí ít lâu sau, ở Paris, trong bài viết của mình đăng trên báo Le Paris, số 9 ra ngày 1/12/1922 Nguyễn Thế Truyền đã lên tiếng bảo vệ ông Nguyễn: “Con người đầy tham vọng ư? Đúng. Nhưng anh Nguyễn tham vọng cái gì? Tham vọng giải phóng anh em của anh bị rơi vào vòng nô lệ, bị bọn thực dân bóc lột hết sức dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn thế không?  … Ngực anh không có huân chương. Túi anh không có ngân phiếu của chính phủ. Nhưng anh mang nguyện vọng của nhân dân và niềm hi vọng của một dân tộc bị áp bức…”  Nhà ái quốc Phan Châu Trinh trong lá thư viết ngày 23/1/1923 gửi cho một sinh viên Việt Nam đang theo học tại Paris, đã nhận xét: “Tôi xem anh Quốc, anh Truyền và ông Trường là người thông minh bậc nhất xứ ta… chẳng biết ngày sau có làm ra công hiệu cho nòi giống ta được nhờ không?”. Cần lưu ý rằng cụ Phan Châu Trinh là người rất kiệm lời khen. Cũng chính cụ, một năm trước, ngày 28/2/1922, từ Marseille viết thư gửi cho Nguyễn Ái Quốc ở Paris để tranh luận về phương pháp cứu nước, Phan Châu Trinh đã viết: “Mãi tới bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chân dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp “ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” (nằm ở nước ngoài chiêu hiền nạp sĩ, đợi thời cơ về nước hoạt động) của anh. Thực tình, từ trước tới nay tôi chẳng bao giờ khinh thị anh mà ngược lại, tôi còn cảm phục anh nữa là khác”.  Cử nhân luật Nguyễn An Ninh, người trí thức yêu nước du học ở Pháp về, lúc đó đang được lớp thanh niên tân học cấp tiến ở Nam Kỳ trọng vọng, trong một bài viết đăng trên báo La Cloche Fêlée số 14, ra ngày 21/4/1924 tại Sài Gòn cũng đã viết: “Chúng ta tự hào có những Phan Châu Trinh, những Phan Bội Châu, những Nguyễn Ái Quốc, những Đề Thám, những Lương Văn Can, những Lương Ngọc Quyến và vô số những vị anh hùng vô danh”.  Cuối năm 1924, sau những lần tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan Bội Châu đã giới thiệu những thanh niên cách mạng Việt Nam vẫn hoạt động với cụ bấy lâu trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… để ông Nguyễn gặp gỡ và huấn luyện họ theo con đường của ông Nguyễn. Sau khi cụ bị Pháp bắt đưa về nước và quản thúc tại Huế, nhiều chí sĩ và thanh niên yêu nước tìm đến thăm hỏi và đàm đạo về thời cuộc với cụ. Học giả Đào Duy Anh trong bài “Một số hồi ức chưa được công bố về Phan Bội Châu” (Ông già Bến Ngự. NXB Thuận Hóa, Huế 1982) kể lại rằng: Một lần, ông và thừa phái Trần Lê Hựu tới thăm cụ Phan, hai người được cụ mời đi chơi đò. Bữa đó, trên đò sọc sông Hương thừa phái Trần hỏi cụ: “Thưa Cụ, chúng tôi không hiểu rồi nước ta có độc lập được không. Thấy từ trước đến nay hễ lớp anh hùng chí sĩ nổi lên thì sớm hay muộn cũng là bị bắt, bị tù, bị giết, cho đến Cụ là niềm hy vọng trong mấy chục năm nay của quốc dân cuối cùng lại cũng bị bắt đem về giam lỏng ở đây, như thế thì còn mong gì nữa!  – Ông không nên nghĩ thế. Đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn, đó là bởi tôi tuy có lòng mà thật bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập, nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác giỏi hơn lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đương công việc để làm trọn cái việc mà lớp chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?  – Có báo đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt và chết ở Hương Cảng cách hai ba năm rồi mà!  – Không, tôi chắc ông Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Họ bắt tôi dễ chứ làm sao bắt được ông Quốc, mà có bắt đi nữa thì cũng phải thả thôi, vì ông ấy giỏi, lại có nhiều vây cánh và bạn bè ở khắp thế giới.  – Thưa Cụ, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là Cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!  – Kể cái nghề cử tử thì xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học mà gán cho người ta tiếng nọ, tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thật thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc không phải ai khác”.  ***  Những người nước ngoài quen biết Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ trước cũng đánh giá cao và biểu thị sự kính trọng Người.  Stéphanie, Thư ký nhóm xã hội người gốc thuộc địa ở Paris, trong một lá thư gửi cho ông Nguyễn vào tháng 3/1921 đã bày tỏ: “Tôi là một trong số những người rất khâm phục sự can đảm và tận tâm của đồng chí”.  Vào một ngày cuối năm 1923, sau giờ làm việc tại văn phòng Quốc tế cộng sản ở Matxcơva, ông Nguyễn vừa về đến nơi ở của mình tại khách sạn thì nhà thơ Xô viết Iossip Mendenstam (1891-1943), phóng viên tạp chí Ogoniouk đến gặp và đề nghị ông trả lời phỏng vấn của tạp chí. Ngày 23/12/1923, số 39 của tạp chí đó đã đăng bài phỏng vấn này dưới đầu đề “Đến thăm một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Nguyễn Ái Quốc”. Trong bài báo, tác giả viết: “Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai…”  Ngày 19/9/1924, tại phòng triển lãm nghệ thuật tạo hình Đức tổ chức ở Matxcơva, họa sĩ Thụy Điển Erik Johansson gặp Nguyễn Ái Quốc và đề nghị được ký họa chân dung Người. Dưới bức ký họa còn có dòng chữ Hán do tự tay ông Nguyễn ghi lúc đó: Nguyễn Ái Quốc. 19-9-1924. Cuộc gặp gỡ và hình ảnh ông Nguyễn năm đó đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho người họa sĩ Thụy Điển. Sau này, ông viết: “Cử chỉ văn hóa và thân mật của Người gây một ấn tựơng là Người có uy tín. Người có thể trở thành lãnh tụ không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của Người”.  Trong những năm 1925-1927, khi hoạt động ở Quảng Châu ông Nguyễn làm việc trong Phái bộ Borodin. Trong cuốn Hai năm ở nước Trung Hoa nổi dậy, V.Akimova, một nữ nhân viên của văn phòng Borodin viết: “Ở nhà Borodin, tôi may mắn được làm quen với một trong những con người tuyệt diệu ở Quảng Châu lúc ấy. Đó là Lý Thụy, một người Việt Nam”.  Qua một số nhận xét, đánh giá của những người cùng thời trong những năm 20 của thế kỷ trước về Nguyễn Ái Quốc, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay từ những năm đầu hoạt động chính trị, với trí tuệ mẫn tiệp, với tấm lòng cao thượng, trong sáng và những phẩm chất tốt đẹp khác, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã được đồng chí tin yêu, đồng bào kính trọng và những người khác chính kiến khâm phục.      Đặng Hòa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên lý nào cho phạt vi phạm hành chính trong gia đình?      Trong dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành  chính mà  Bộ Công an đang lấy ý kiến, nhà làm luật đã coi quan hệ nội bộ gia đình  cũng thuộc phạm vi “quản lý nhà nước“, nên mới áp dụng phạt hành chính  vào lĩnh vực gia đình theo danh mục vi phạm, tương tự như trong giao  thông công cộng.     Từ phạt vi phạm hành chính trong gia đình ở ta…  Bộ Công an đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; và phòng, chống bạo lực gia đình. Trong Mục 4, các vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, Dự thảo quy định:   – Người bắt thành viên trong gia đình nhịn ăn, nhịn uống, mặc rách, chịu rét sẽ bị phạt tiền từ 1,5 đến 2 triệu đồng.   – Việc bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ cũng bị phạt tương tự.   – Người thường xuyên dọa nạt thành viên gia đình bằng các hình ảnh, con vật, đồ vật làm người đó hoảng sợ, ảnh hưởng đến tinh thần; ép buộc xem, nghe, đọc văn hóa phẩm đồi trụy, kinh dị cũng bị phạt từ 1,5 đến 2 triệu đồng.   – Người chửi bới, chì chiết thành viên trong gia đình sẽ bị quy vào nhóm hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự và bị phạt từ 1 đến 1,5 triệu đồng. Nếu tiết lộ và phát tán tư liệu thuộc bí mật đời tư thì mức phạt tăng thêm 500.000 đồng.   – Hành vi cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý như cấm ra khỏi nhà, không cho làm việc, không tiếp cận thông tin đại chúng sẽ bị phạt 100.000-300.000 đồng. Mức này cũng áp dụng với người theo dõi thành viên gia đình vì lý do ghen tuông gây tổn hại đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của nạn nhân.   – Ai buộc thành viên trong gia đình phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục, ép uống thuốc kích dục, cưỡng ép thực hiện các hành động khiêu dâm sẽ bị phạt từ 500.000 đến một triệu đồng. Đặc biệt người “có hành vi bạo lực trong sinh hoạt tình dục của vợ chồng mà vợ hoặc chồng không muốn” cũng bị xử lý cùng mức.   … Đến câu chuyện đau lòng của một người Việt ở Đức  Cách đây 2 năm, một toà án điạ phương ở Đức đã ra một án trát khẩn không cần mở phiên xét xử cho bắt đi 2 bé gái L 3 tuổi và S 10 tuổi, con của bà Nguyễn và ông Lê đã ly dị (danh tính đã đổi). Lệnh Toà phán, 1- Tạm thời tước quyền cha mẹ đối với 2 con của họ. Cha mẹ không được phép chăm lo việc ăn ở, khám chữa bệnh, học hành, giáo dục và giao dịch với chúng. 2- Chừng nào quyền cha mẹ vẫn bị tước, thì quyền đó được chuyển cho Sở Thanh thiếu niên điạ phương và tìm cha mẹ giám hộ thay thế. Cho phép áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao 2 bé cho cha mẹ giám hộ, bằng cách lục soát nhà ở cha mẹ đẻ, sử dụng lực lượng cảnh sát mở cổng ra vào và cửa các phòng, để tìm chúng. 3- Cử Luật sư bảo vệ quyền lợi cho 2 bé khi xét xử chính thức. Toà ra án trát chỉ 5 ngày sau khi nhận được đơn đệ nghị của Ủy ban thành phố chiểu theo Điều 8a đoạn 3, Bộ Luật Xã hội SGB VIII, Điều 1666 Bộ luật Công dân BGB, để bảo vệ trẻ em. Đơn đề nghị của Ủy ban giải trình:  – Tình cảnh gia đình. Vợ chồng Lê-Nguyễn ly dị, người mẹ giữ quyền một mình nuôi 2 con nhỏ, sống trong một căn hộ chừng 70 m2. Bé S học lớp 3 trường phổ thông cơ sở cạnh nhà, buổi chiều chơi trong vườn trẻ. Bé L, do nhà trẻ thiếu chỗ không nhận, ở nhà với mẹ cả ngày. Hai bên ly dị khi người mẹ đang có thai bé thứ 2, phải mang theo bé lớn S vào nhà bảo hộ phụ nữ sống ở đó một năm, để tránh nạn bạo hành cả 2 mẹ con như cơm bữa của người chồng vũ phu. Bé S lớn lên trong cảnh sợ hãi, dúm dó trước những cơn thịnh nộ của người cha sáng xỉn chiều say, đánh đập vô cớ 2 mẹ con triền miên; người mẹ luôn đau khổ uất ức tới mức phải tìm đến nhà bảo hộ phụ nữ trốn tránh, đâu còn mấy tâm trí để ý đến bé, mặc dù lòng mẹ nào chẳng thương con. Một bàn tay vuốt ve, một cử chỉ cưng nựng, một lời trìu mến của cha lẫn mẹ, bé hiếm khi có. Thay vào đó, giận cá chém thớt, mọi bực bội, phẫn uất của mẹ từ bố lại trút xuống đầu bé, làm bé khiếp đảm trước cả cha lẫn mẹ. Cảnh trốn chạy và sống trong nhà bảo hộ phụ nữ, một mặt giúp bé dần ý thức được sự phản kháng trước mọi hà hiếp áp bức của người khác, nhưng mặt khác trí óc non nớt của bé không thể hiểu hết nổi nỗi lòng người mẹ, ngày một trở nên khó bảo làm mẹ bé cũng ngày càng thêm bẳn tính khó chịu, hay doạ dẫm, quát nạt, bợp tai bé. Cái gì phải đến tất đến!  – Khởi đầu. Giữa năm trước, nhà trẻ báo cáo với Sở Thanh thiếu niên về tình hình bạo hành trong gia đình bé S và khả năng người mẹ bị qúa tải trong chăm nuôi con cái. Họ phát hiện ở cả trường lẫn nhà trẻ, bé S luôn mệt mỏi, kêu đau đầu, khám bác sỹ không phát hiện được nguyên nhân. Từ mấy tháng trước đó, nhiều lần bé tỉ tê kể cho cô nuôi dạy trẻ, cả hai chị em bị mẹ nhốt ở nhà, bỏ đi đâu cả ngày, điều bị pháp luật Đức cấm, làm họ lo ngại. Họ còn phát hiện được cả vết bầm tím trên cánh tay bé, rồi vết sứt trên môi, hỏi nguyên nhân, bé không nói. Tháng tiếp theo, cô giáo trông thấy nhiều vết thâm tím trên tay, dỗ hỏi, bé mới thành thật trả lời bị mẹ dùng đũa ăn cơm đánh đòn. Lập tức, họ mời người mẹ tới làm việc. Tại đó, người mẹ đồng ý ký đơn nhờ Sở Thanh thiếu niên giúp đỡ, được họ cử cô giáo tới nhà hướng dẫn, đỡ đần bớt công việc chăm sóc dạy dỗ 2 bé vốn quá tải so với khả năng người mẹ. Thoạt đầu, nhà trẻ, trường học cùng Sở Thanh thiếu niên hài lòng, nhận thấy người mẹ có tiến bộ dần nhận biết được nhu cầu của trẻ, chọn được biện pháp thích ứng xử sự, theo hướng dẫn của cô giáo. Tuy nhiên sau 6 tháng, tới tháng 4.2011, Sở Thanh thiếu niên buộc phải ngừng cử người tới giúp đỡ, bởi người mẹ cảm giác mất tự do, luôn bị xét nét, một mực từ chối, bỏ các lịch họ hẹn gặp giúp đỡ, sau khi tuyên bố với họ đã học được cách chăm sóc giúp đỡ con cái, hứa giáo dục chúng bằng tình yêu, không bao giờ dùng roi vọt nữa. Sở Thanh thiếu niên đành buộc phải chấp nhận, sau khi đánh giá tình hình không nghiêm trọng tới mức phải viện đến toà án chế tài, chỉ khuyên người mẹ, bất cứ lúc nào cần cứ viện đến họ, họ sẵn sàng giúp đỡ. Trong biên bản hai bên ký kết đồng ý chấm dứt hỗ trợ, phiá Sở Thanh thiếu niên nhấn mạnh, nếu xảy ra tình hình nghiêm trọng đe doạ trẻ như trước, họ sẽ viện đến toà án cưỡng chế người mẹ phải nhận giúp đỡ. Họ cẩn thận mời cả phiên dịch có mặt để tránh người mẹ không hiểu thấu đáo tiếng Đức.   – Tình hình nghiêm trọng. Cách tháng trước, bé S mách với cô giáo dạy trẻ bị mẹ đánh mắng liên tục, cô giáo báo tiếp lên trường và nhà trẻ. Nhà trường lập tức tổ chức gặp gỡ bé gợi hỏi thực hư. Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ, bé S được dịp kể lể 2 chị em thường xuyên bị mẹ đánh đòn, tới mức không nhớ được mỗi tuần bị mấy trận. Khi được cô giáo dỗ dành khơi gợi, đánh nhiều thế chắc bé đau lắm phải không, bé bắt đầu kể các kiểu đòn bé phải chịu đựng, khi thì bằng đôi đũa ăn, khi thì dùng đũa bếp, lúc thì sẵn tay bợp, khi thì dùng giày, nghĩa là gặp bất cứ thứ gì. Cô giáo không hiểu đũa bếp Việt Nam như thế nào, hỏi lại, bé giải thích loại đũa dùng vào 2 việc, vừa để khuấy đảo nồi cơm, vừa để đánh đòn con cái cho tiện. Rồi bé sải thẳng 2 cánh tay miêu tả nó dài tới 1 m như này, như này!? Trả lời câu hỏi bị đánh như thế nào, bé diễn tả bị bắt nằm sấp xuống, giơ mông và đùi cho mẹ đánh. Có lúc để nguyên cả quần còn đỡ đau, có lúc bắt tụt cả quần, đau lắm. Cả ngón tay, cánh tay cũng bị đánh, tóc cũng bị túm giật. Bé hồn nhiên kể lại rằng, cô giáo tới nhà giúp đỡ trước đây giải thích với nó ở Đức trẻ em không ai được phép đánh đập. Nhưng khi cô giáo nói điều đó với mẹ bé, thì mẹ bé liền bảo, chúng tôi là người Việt phải giáo dục theo kiểu Việt Nam. Cô giáo hỏi kiểu đó như thế nào, bé thản nhiên trả lời nghĩa là trẻ con sẽ bị ăn đòn nếu làm sai. Thấy cô giáo lắc đầu không hiểu như thế nào được coi là làm sai, bé kể chẳng hạn ăn không hết cơm, chải đầu không kỹ, bài tập về nhà không làm hết, sáng uể oải gọi không dậy ngay. Cô giáo hỏi xem mẹ bé xử sự với em gái bé như thế nào, bé trả lời, cũng vậy, bị la đánh, nếu ăn không hết, không đúng cách, hoặc để rơi quần áo xuống sàn. Mẹ bé thường đưa em của bé vào phòng tắm để trừng phạt, tránh nó khóc to hàng xóm biết; hết thảy mấy cô giáo ngồi nghe đều rùng mình. Hỏi bé nghĩ như thế nào về thời kỳ được cô giáo tới nhà giúp đỡ, bé S cho đó là những ngày đẹp đẽ nhất, và rất thích thú khi được cô đưa đi dã ngoại. Nhưng sau này, mẹ bé tỏ ra khó chịu. Thành ra, cô giáo không giúp đỡ được gì để mẹ bé thay đổi cách đối xử với con cái.   Cuối buổi gặp gỡ, cô giáo cho bé biết muốn mang 2 bé tách ra khỏi mẹ, đến ở một nơi khác, bé bỗng trở nên già dặn như người lớn, lập tức giải thích rất lo ngại, không thể bế được đứa em đi. Bởi bé L hàng ngày do bạn của mẹ bé nhận chăm sóc, nó lại không hề biết tiếng Đức. Bé cũng cảnh giác, biết đâu cha mẹ giám hộ cũng có thể đánh bé, bởi khi đánh mắng, người lớn rất kín đáo làm như không hề đánh mắng, chẳng ai biết.   Muốn giúp bé thì phải được bé đồng ý, luật Đức quy định chính xác như vậy; cô giáo hỏi rõ ràng, bé thích ở với mẹ như hiện nay hay muốn thay đổi, đến một nơi ở mới, có cha mẹ giám hộ chăm sóc. Bé trả lời dứt khoát muốn thay đổi. Nhưng khi được giải thích tới chỗ mới, bé phải thay đổi cuộc sống, trường học mới, bạn bè mới, cha mẹ mới, một vùng đất mới, mẹ đẻ chỉ tới thăm, thì lòng bé bỗng rối bời, xao xuyến, không nỡ từ giã nơi ở cũ, liền hỏi, liệu người ta có thể đưa mẹ bé ra khỏi nhà để bé được ở lại, cha mẹ giám hộ sẽ về ở với bé, bé đã quen sống nơi này rồi không muốn rời xa. Các cô giáo nghe bé thổ lộ, rơm rớm nước mắt, một đứa trẻ tha thiết với ngôi nhà mình đến nhường ấy, mà rốt cuộc lại không tỏ ra một dấu hiệu vương vấn gì với người mẹ từng chăm bẵm mang nặng đẻ đau ra bé. Chẳng người mẹ nào không thương con, nhưng liệu thế giới này có bao nhiêu người mẹ đã không thấu hiểu nổi nỗi lòng của chúng?  *Thi hành án: Cảnh sát điạ phương đã khôn khéo thực hiện trát khẩn của toà, bắt mang đi 2 bé gái L 3 tuổi và S 10 tuổi, một cách nhẹ nhàng, êm thấm, không xảy ra bất cứ sự cố gì. Bị mất con hoàn toàn bất ngờ, bà Nguyễn thất thần, khóc hết nước mắt, vái trời, lạy đất thảm thiết, thực qúa đỗi thương tâm. “Của đau, con xót“, bị mất cùng lúc 2 đứa con còn thơ dại, người mẹ nào chẳng đứt ruột, lià gan, bà tức tốc chạy ngược xuôi, tìm đến luật sư cầu cứu, đến những địa chỉ tư vấn tin cậy, đến Thời báo Việt Đức, đến các cơ quan hữu trách, nhất mực bác bỏ cáo buộc tố bà qúa đáng tội đánh đập con cái, quyết tâm tìm mọi cách, bằng mọi giá, cứu chúng trở về. Nhưng tất cả đã qúa muộn, hai con bà đã bị pháp luật kéo tuột khỏi bàn tay chở che, nắm giữ của bà. Án trát khẩn đã được thi hành, mọi ý kiến tư vấn chỉ còn đặt hy vọng vào phiên toà xét xử chính thức sẽ trả lại con cho bà, nếu thực sự hai con bà không thể sống thiếu tình mẫu tử dứt ruột đẻ ra chúng, và bà chứng minh được cho cơ quan công quyền tin tưởng tình mẹ con không thể chia lià đó.   *Về phiá bé S, ngày đầu tiên được đưa đến gia đình giám hộ, sau những giờ phút ngỡ ngàng làm quen ban đầu, bé bắt đầu chờn chợn cảm giác trống vắng, không giống như giờ khắc bé xăm xăm theo cảnh sát bỏ nhà ra đi, mơ về một mái nhà thoả ước, không còn bị đánh mắng. Tới đêm, khi bước vào phòng ngủ lạ, bé bỗng bừng tỉnh, nhận ra thực tại, đây không phải nhà của bé, rồi bật khóc nức nở như một đứa trẻ bỗng dưng mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi bấu víu, chở che. Suốt đêm, đứa em bé bỏng cứ giật mình thức giấc cuống cuồng, khóc lóc, gọi mẹ thảng thốt, lòng dạ bé càng rối bời, loay hoay không biết phải làm gì. Hai chị em mặt ướt đẫm úp vào nhau, thút thít, nước mắt cả hai cứ thế ràn rụa chảy vòng quanh sang nhau.   Bao quan tâm, chiều chuộng, chăm sóc của cha mẹ giám hộ không hề vơi đi ở bé bản năng nhớ mẹ ngày một chồng chất. Bé bắt đầu thấm thiá, tiếc nuối, khát khao bóng hình mẹ, khóc bất cứ lúc nào trống vắng. Bức thư đầu tiên bé viết thấm đẫm nước mắt, tới tay người mẹ cũng được đọc trong nước mắt chan hoà. Đầu bức thư, bé vẽ một bầu trời cuồn cuộn những đám mây trắng, từ đó thả xuống bao trái tim non nớt, phiá trên là khuôn mặt 2 bé gái nhỏ nhoi thẫn thờ ngóng xuống, như đang tìm kiếm bóng hình mẹ chúng ẩn náu đâu đó, sau những búp hoa đang chờ nở. “Mẹ thương yêu của con! con không được khoẻ, bởi nhớ mẹ quá. Bất kể như thế nào, mẹ vẫn là người mẹ của hai con tốt nhất trên trần gian này. Đối với chúng con, thế giới này không người mẹ nào tốt hơn và đẹp hơn mẹ cả. Con gửi tặng mẹ những nụ hôn nồng thắm nhất, đặt lên má mẹ, bé L cũng vậy, con hôn bên phải, bé L bên trái. Con đã khóc, rất, rất, rất… nhiều, vào mỗi tối đến, trong từng buổi chiều, khi sáng sớm thức dậy. Con mong được nhìn thấy mẹ ngay bây giờ, được ôm chặt lấy người mẹ vô cùng yêu dấu của chúng con. Em L luôn miệng hỏi con, mẹ đâu rồi, con chỉ biết trả lời, mẹ đang bận đi làm…“. Đọc thư con, bà Nguyễn lòng dạ ngổn ngang, ân hận đã trót đòn roi phạt chúng, sung sướng hạnh phúc bởi con mình dù ở đâu mãi mãi vẫn con mình, tuyệt vọng trong nỗi bất lực không biết cách nào cứu chúng trở lại. Viết thư gửi con, bà Nguyễn nghẹn ngào, nức nở như khi chúng viết thư cho bà, mỗi chữ viết ra, là mỗi dòng nước mắt lả chã tuôn theo. “Thương gửi 2 con gái yêu! Mẹ… cô đơn biết dường nào. Nhìn vào cái gì, mẹ cũng nhớ đến các con nhiều hơn, nước mắt mẹ rưng rưng các con có biết không?… Cuộc sống của 3 mẹ con mình biết bao thăng trầm buồn khổ, những lúc các con gặp trái nắng trở trời, những quãng đời mẹ nghiệt ngã éo le trắc trở, gia đình tan nát. Nhưng chính các con đã tiếp sức cho mẹ, mẹ kiên quyết phải sống chỉ vì các con của mẹ bé bỏng còn đó, chúng không thể thiếu được tình mẫu tử của mẹ. Vậy mà giờ đây, các con đang rời xa mẹ. Mỗi một đêm về là thêm một đêm mẹ sợ hãi, mở mắt ra mẹ rùng mình, nhắm mắt lại mẹ hoảng hốt hơn, mẹ lo và thương 2 con mẹ còn bé bỏng đang đâu đó ngóng lòng mong mẹ. Chỉ khi nào các con lớn khôn, có con cái như mẹ bây giờ, mới hiểu hết nỗi lòng mẹ lúc này, tan nát xót xa dường nào khi buộc phải xa lìa những đứa con mình dứt ruột đẻ ra.  “Xứ người ơi…! / Kiếp tha hương thật phũ phàng tàn nhẫn, / Xô đẩy tôi chới với giữa biển đời. / Con tôi đâu? hỡi đất trời câm lặng. / Có thấu không? tình mẫu tử vĩnh hằng…“.  Ngày các con ra đi là một cơn ác mộng hãi hùng. Liệu đến bao giờ giấc mơ của mẹ đón các con trở về, thành hiện thực? Hỡi hai con thiên thần của mẹ, mẹ yêu các con hơn mọi thứ trên đời này, kể cả bản thân mẹ…“.  Bức thư thứ nhất vừa gửi đi, ngày hôm sau, bé S gửi tiếp mẹ bức thư thứ 2. Lần này là một bài thơ tiếng Đức dài cả một trang giấy. Người Đức nào được đọc, cũng không khỏi xúc động đến lặng người. Thơ là tiếng lòng, có nghiã bé đã trăn trở thai nghén nó, ít nhất từ khi viết bức thư thứ nhất. „Cha mẹ thương yêu! Con nhớ cha mẹ tới nhường nào, mong sao mau chóng được gặp lại cha mẹ. Cha mẹ là duy nhất và tất cả. Mẹ nghe bài thơ con viết kính tặng cha mẹ nhé: “Con nhớ cha mẹ lắm! / Cha mẹ biết hay không? / Con mơ cha mẹ từng đêm ròng… / Nỗi nhớ dày vò tới mức, / Lòng con gào thét đau thắt ngực, / Cha mẹ có nghe cùng? / Không một tiếng trả lời, / Nó cuống cuồng kêu cứu, / Còn ai không, hỡi trời! / Nỗi nhớ con có còn? / Cái gì đã xảy ra / Thật đau xé lòng con. / Tâm can con lửa đốt, / Con yêu cha mẹ nhất, / Chẳng ai hơn trên đời. / Không ai thay mẹ nổi, / Dù vật đổi, sao dời!“.  Xin tạm biệt cha mẹ bằng những nụ hôn nồng thắm“. Cuối bức thư, bé S thêm dòng tái bút: „Mẹ viết cho con công thức nấu món bún nhé, để con lại được thưởng thức món ăn thuần Việt. Hôn mẹ nhiều!“. Chữ: bún, bé viết bằng tiếng Đức thành: Pún.  Ngày thứ 3, bé S tiếp tục trải lòng trên trang giấy gửi mẹ, cũng vẫn bắt đầu bằng hình vẽ bầu trời đầy mây trắng bồng bềnh thả xuống những trái tim mỏng manh run rẩy, xa xa điểm các nhụy hoa. „Con nhớ mẹ lắm lắm. Ăn uống ở đây khá ngon. Nhưng con không thể quên những bữa ăn mẹ nấu. Con không tài nào ngủ yên, bởi con rất nhớ, rất nhớ mẹ. Con thành thật xin mẹ tha thứ, mong từng ngày được gặp lại cha mẹ, lúc đó sung sướng biết chừng nào. Em L ngày nào cũng hỏi, mẹ đâu rồi, con chỉ biết trả lời, mẹ bận đi làm. Con yêu, yêu mẹ vô cùng, người mẹ tốt nhất trên đời này của con! Một nụ hôn tạm biệt nồng thắm nhất, con chỉ để dành tặng riêng mẹ“.  Bức thư thứ 4, bé viết bằng máy tính cẩn thận, không còn bóng mây, quả tim, nụ hoa với hai khuôn mặt bé gái thẫn thờ. “Mẹ thân yêu của con! Con nhớ mẹ lắm lắm. Bé L cũng rất nhớ, rất nhớ. Cả bé L và con đều nghĩ, trong quãng đời qua, chưa bao giờ mẹ con chúng ta lại rời xa nhau lâu tới vậy. Chúng con nhớ mẹ và mong chóng được gặp lại goị mẹ bằng tiếng Việt: mẹ ơi, bởi mẹ là duy nhất và tất cả, bởi đơn giản, không có mẹ, con không thể sống nổi. Con luôn khóc chỉ vì nhớ mẹ. Để mẹ luôn nhớ và nhớ nhiều, con gửi mẹ kèm theo một thiên thần luôn mang lại hạnh phúc cho con. Nếu mẹ có ước muốn gì, mẹ hãy viết vào mảnh giấy cho vào bộ cánh của nó. Tới tối, trứơc lúc đi ngủ, mẹ hãy mở giấy ra đọc và cài trở lại thiên thần như cũ. Để mẹ không quên con, con gửi mẹ tấm hình kèm theo!  Gửi tới mẹ nụ hôn tạm biệt nồng thắm nhất!  Những bức thư thấm đẫm nước mắt cả mẹ lẫn con, vừa cào xé ruột gan bà Nguyễn khôn cùng, vừa mang lại cho bà niềm hy vọng, tại phiên toà xét xử chính thức, sẽ được trả lại 2 đưá con bà mang nặng đẻ đau, từng vì chúng mà bà vượt qua được nỗi éo le duyên nợ vợ chồng đày đoạ mình. Vốn tâm hồn nhạy cảm, hầu như bức thư nào gửi mẹ, bé S cũng vẽ vài hình ngộ nghĩnh, đủ mọi thứ tưởng tượng, khi thì ông mặt trời, hoa, lá, khi thì đầu bé gái bím tóc đuôi sam, lúc thì nụ cười chỉ mỗi đôi môi gắn các quả tim, không thư nào quên kèm theo dòng tít đầu thư bằng tiếng Đức: Con yêu mẹ, hoặc con nhớ mẹ lắm. Trước ngày toà xét xử chính thức, bé gửi thư cho mẹ, nghĩ gì viết nấy: „Mẹ kính yêu! Con rất nhớ mẹ. Chắc mẹ cũng nhớ con như vậy. Vắng mẹ, cuộc sống con không còn gì hạnh phúc. Con hy vọng sắp tới được gặp mẹ. Con phải đi học đây. Cô giáo mới của con là bà Müller. Con nhớ cả thôn xóm mình ghê lắm. Cho con gửi lời chào tới bạn Zehra của con nhé“. Rồi bé lại viết tưng tửng, đúng con trẻ, kiểu „chưa cười đã khóc“: „Nếu có thời gian, mẹ đến trường dạy nhảy, hỏi cô giáo xem con nên học bộ môn nào nhé. Con đã đi khám tai. Bác sỹ bảo chẳng nguy hiểm gì đâu“. Cuối thư bé lại trải lòng với mẹ bằng những vần thơ tiếng Đức, tha thiết:  “Con nhớ mẹ lắm! / Mẹ có biết, mẹ là người tốt nhất, / Dù điều gì xảy ra. / Con nhớ diết da /Bàn tay mẹ vuốt xoa / Mắt mẹ ngắm mắt con. / Con nhảy tới định ôm / Nhưng xa quá chẳng còn. / Mẹ đâu rồi sớm hôm? / Mẹ có còn nhớ con? / Còn con nhớ mỏi mòn! / Mẹ là người tốt nhất / Con không thể nào mất. / Cuộc đời con chỉ còn / Mẹ chính là kho báu! Khắc hình mẹ trong tim“.  Ngày 12.5.2011, toà án điạ phương Amtsgericht mở phiên chính thức, mời 2 vợ chồng ông bà Lê Nguyễn, Luật sư của 2 ông bà, bé L và S cùng luật sư được ủy nhiệm đại diện cho 2 bé. Phiên toà được tách biệt xét xử đối với 2 con trước, lấy đó làm cơ sở cho việc xét xử đối với bố mẹ tiếp theo. Hai bên không được gặp nhau tại toà.  *Phân vân, giằng xé. Trước các câu hỏi toà đặt ra để tìm hiểu xem thực sự bé muốn gì, bé S không khỏi phân vân, giằng xé trả lời ngập ngừng, nửa vẫn muốn ở lại gia đình giám hộ, bởi không còn bị đánh mắng, nửa nhớ mẹ khôn nguôi bởi tình mẫu tử. Trường mới, bé vẫn chưa quen còn lạ lẫm. Bé cũng không tránh khỏi hay cãi nhau với các con nuôi và con đẻ của cha mẹ giám hộ. Bé bênh mẹ, giải thích những vệt bầm tím trước đây không phải hoàn toàn do mẹ đánh, mà thỉnh thoảng do cãi lộn với bạn bè. Nhưng rồi cũng không thể giấu được, khi bé tường trình, hồi đó mẹ đánh bé không chỉ ở tay mà khắp mình mẩy, bạ đâu đánh đó. Mặc dù vậy, thực lòng bé vẫn muốn về nhà hơn là tiếp tục ở với cha mẹ giám hộ. Bé kể tiếp, em gái của bé cũng bị mẹ đánh, chẳng hạn khi ăn không đúng hoặc để rơi cả điã cơm xuống sàn. Lúc đó mẹ cáu kỉnh mang vào phòng tắm đánh, làm chính bé cũng sợ hãi. Mẹ bé bảo bản thân mẹ hồi nhỏ cũng bị đánh như vậy, bởi ở Việt Nam đó là chuyện bình thường. Thậm chí, mẹ bé còn bị đánh bằng sống dao, nhưng may mẹ bé đã không đánh bé như vậy. Toà hỏi tới khoảng thời gian Sở Thanh thiếu niên đến nhà giúp đỡ. Đúng là ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ, sau khi trả lời mẹ bé ít đánh hơn so với trước và sau đó, rồi tiện thể bé kể vanh vách: Mẹ không chỉ đánh bằng gậy, còn sẵn tay ném cả giày, thậm chí hắt cả điã cơm hướng vào mặt. Mẹ bé còn dặn không được kể cho ai bị mẹ đánh, và nếu có ai hỏi thì phải trả lời do đánh nhau với bạn bè hoặc bị ngã. Luật sư tìm hiểu thêm có đúng là bé bị thương thường do bé chơi trượt ba tanh như mẹ bé giải thích hay không. Bé thật thà kể đúng một lần như vậy. Còn những lần khác là do mẹ đánh, thường nhiều lần trong tuần, nhất là vào dịp cuối tuần hoặc các ngày lễ, ngày nghỉ. Khi được luật sư giải thích điều kiện phải tuân thủ khi mẹ con gặp nhau là phải nói bằng tiếng Đức để người giám sát biết, đề phòng bé bị mẹ doạ dẫm, bé băn khoăn trả lời, không biết có cần người khác bên cạnh hay không. Nhưng trong mọi tình huống, bé thích nói tiếng Việt với mẹ. Bé cam đoan dịch lại những điều theo luật định bị cấm mà mẹ bé vẫn nói. Phiên toà thẩm vấn bé chỉ kéo dài 20 phút được ghi âm và lập biên bản gửi cho 2 ông bà Lê Nguyễn. Rốt cuộc, Toà vẫn phải tiếp tục kéo dài thời gian tước quyền hai vợ chồng chăm sóc con cho tới khi chúng hoàn toàn ưng thuận trở về.  Nhà nước và gia đình  Từ phạt vi phạm hành chính trong gia đình ở ta… đến câu chuyện đau lòng của một người Việt ở Đức, bất cứ ai quan tâm tới hạnh phúc gia đình mình không thể không so sánh, bức xúc, suy ngẫm; và nếu thừa nhận chức năng của mọi nhà nước ngày nay đều do dân vì dân thì người làm luật phải thấu hiểu được tâm tư đó của họ vốn đóng vai trò hồn cốt, tính người trong mọi văn bản luật.   Hành vi bị phạt hành chính ở ta được định nghĩa trong chính Dự thảo, là những “hành vi có lỗi, của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về an ninh, trật tự mà không phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính“. Định nghĩa trên cho thấy, nhà làm luật ở ta đã đương nhiên coi quan hệ nội bộ gia đình cũng thuộc phạm vi “quản lý nhà nước“, nên mới áp dụng phạt hành chính vào lĩnh vực gia đình theo danh mục vi phạm, tương tự như trong giao thông công cộng. Dư luận bức xúc là đương nhiên bởi không ai muốn tổ ấm riêng tư của mình trở thành giao thông công cộng luôn có cảnh sát tuần tra. Ở đây liên quan tới câu hỏi mang tính nguyên lý, nhà nước có vai trò gì đối với quan hệ trong gia đình? Câu trả lời trong dự thảo Nghị định của Bộ Công an biến quan hệ gia đình thành quan hệ nhà nước, phạt hành chính kẻ không chấp hành quy định của nhà nước để răn đe. Trong khi đó, thế giới hiện đại phân biệt rõ ràng nhà nước là nhà nước mang quan hệ hành chính, nên mới áp dụng phạt hành chính, không thể áp dụng hình phạt đó cho gia đình vốn mang quan hệ tình cảm ruột thịt, hay cho thị trường mang quan hệ trao đổi tiền hàng, hoặc xã hội dân sự mang quan hệ tự nguyện bất vụ lợi. Vai trò nhà nước họ là bảo hộ nạn nhân như trường hợp giúp bà Nguyễn tránh chồng bạo hành, hay mang 2 con bà đi chăm nuôi. Chính vì vậy luật phạt hành chính ở họ không áp dụng đối với thủ phạm như ta, mà đối với nhà chức trách nếu họ không hoàn thành được nhiệm vụ bảo hộ đó. Năm ngoái tại thành phố Leipzig Đức, một cô gái đơn thân nghiện chích, nuôi con lên 3, Sở thanh thiếu niên phải cung cấp dịch vụ hỗ trợ; nửa chừng vì tin tưởng lời cô gái khai báo chuyển hộ khẩu sang thành phố khác nên cắt. Chẳng may sau đó, cô gái chích quá liều chết tại nhà, tận 7 ngày sau mới phát hiện được, bên cạnh là xác đưá con bị bỏ chết khát. Giám đốc Sở thanh thiếu niên bị bãi chức và cùng Chủ tịch thành phố bị Viện kiểm sát ra quyết định điều tra hình sự.   Áp dụng nguyên lý phạt hành chính sai đối tượng sẽ lợi bất cập hại hậu hoạ khôn lường và không một nhà nước nào kiểm soát nổi.   Xã hội nào cũng lấy gia đình làm tế bào, đều muốn nó tốt đẹp cả. Nhưng gia đình là gia đình cần nhà nước bảo hộ chứ nó không phải một cơ quan nhà nước chỉ cần áp dụng phạt hành chính răn đe và cách chức thành viên sai phạm là tốt lên. Nếu chúng ta không làm được hơn thế giới thì ít nhất cũng phải học được họ, bởi chúng ta đang sống trong thời đại hội nhập toàn cầu!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên nhân bạo lực?      Chủ nghĩa khủng bố và những biến động chính trị gần đây ở nhiều nước Ả rập đều có liên quan đến tỷ lệ thanh thiếu niên cao ở các nước này.     Dưới góc độ nhân khẩu học, một số nhà nghiên  cứu cho rằng “Nguyên nhân chính dẫn đến leo thang khủng bố không  phải do vấn đề tôn giáo, sắc tộc hay nghèo đói mà là do tỷ lệ  thanh thiếu niên quá cao so với tổng số dân”.  Vành đai Hồi giáo bao phủ một phía Châu Âu và khu vực Trung Cận đông có phải là điểm lõi thường xảy ra bất ổn về chính tri? Afghanistan lật đổ chính quyền Taliban đã 10 năm nhưng tại sao chưa yên ổn? Còn Pakistan vẫn bị hỗn loạn và luôn có nguy cơ sụp đổ! Tại sao Al-Qaeda lại có chỗ dựa ở Yemen và vùng sa mạc Sahara. Tại sao Somalia lại trở thành hang ổ của bọn cướp biển còn Syria thì chìm đắm trong nội chiến; và tại sao sau nhiều thập niên tưởng như yên bình để rồi bất thình lình bùng nổ phong trào mùa xuân Ả rập?…Hàng loạt câu hỏi đặt ra.  Nhiều nguyên nhân được chỉ ra, nhiều vấn đề có tính chiến lược cho đến tôn giáo được đặt ra như: sự đối đầu giữa các cường quốc đang tranh giành quyền lực ở khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, cuộc xung đột giữa Israel và Palestine, những mâu thuẫn dẫn đến bạo lực giữa người Shiite và người Sunni, những khả năng mới về thông tin liên lạc nhờ mạng xã hội và điện thoại di động …   Bùng nổ dân số trẻ và bạo lực chính trị   Tuy vậy, có một nguyên nhân ít được nhắc đến: vấn đề nhân khẩu học. Những quốc gia này có một đặc điểm chung là tỷ lệ sinh đẻ cao và tỷ lệ tuổi từ 14-24 thường rất cao. Khái niệm “youth bulge” thường được dùng để mô tả tình trạng này.   Gunnar Heinsohn, nhà nghiên cứu diệt chủng đôi khi dịch khái niệm này là “sự bùng nổ thanh thiếu niên”. Ông Heinsohn cho rằng Youth Bulge là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng bạo lực và sự biến động xã hội trong thế giới Hồi giáo. “Nguyên nhân chính dẫn đến leo thang khủng bố không phải do vấn đề tôn giáo, sắc tộc hay nghèo đói mà là do tỷ lệ thanh thiếu niên quá cao so với tổng số dân”.   Trong tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh và việc thiết lập lại trật tự thế giới” (The Clash of civilization and the remaking of world order), Samuel Huntington viết: “Giới trẻ là lực lượng chính gây ra các cuộc biểu tình phản đối, mất ổn định, cải cách và cách mạng. Mảnh đất mầu mỡ cho lực lượng hồi giáo cực đoan hành động mạnh mẽ không phải là vấn đề tôn giáo. Đạo Hồi không hề bạo lực hơn bất kỳ một tôn giáo nào. Yếu tố nhân khẩu học mới thực sự có ý nghĩa quyết định. Nhìn chung những kẻ giết người thường ở độ tuổi từ 16 đến 30”.   Theo Huntington, năm 1980 số người theo đạo Hồi chiếm 18% dân số thế giới, đến năm 2025 tỷ lệ này sẽ là 31%. Con số này cao hơn tỷ lệ người châu Âu so với dân số thế giới vào đầu thế kỷ 19, khi châu Âu âm mưu đô hộ cả thế giới. Ở thời điểm đó cứ bốn người dân trên trái đất thì có một người sống ở châu Âu. Vì vậy, một số nhà khoa học tiên đoán thế kỷ này không phải là thế kỷ của châu Á, của Hoa kỳ hay của Trung Quốc mà là thế kỷ của đạo Hồi.   Nhà nghiên cứu Henrik Urdal làm việc tại Harvard và Viện nghiên cứu hòa bình (Peace Research Institute) ở Oslo nhận nghiên cứu đề tài của Liên hiệp quốc mang tên “Sự đụng độ của các thế hệ? Bùng nổ dân số trẻ và bạo lực chính trị” (A Clash of Generations? Youth Bulges and Political Violence). Ông nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian từ 1950 tới năm 2000 và đưa ra kết luận: “Sự bùng nổ thanh thiếu niên gắn liền với nguy cơ ngày càng tăng về bạo lực chính trị. Tỷ lệ thanh thiếu niên so với dân số tăng 1% thì nguy cơ xung đột tăng 4%”. Theo Urdal, các nước ở khu vực Trung Đông, châu Phi và một phần châu Á, những nơi có tỷ lệ sinh đẻ cao, nguy cơ xảy ra bạo lực lớn hơn nhiều so với những nơi khác.   Thực tế là tỷ lệ sinh đẻ cao ở các nước Hồi giáo đã dẫn đến bùng nổ dân số. Chỉ trong một thế kỷ, dân số ở khu vực có đạo Hồi tăng gấp 8 lần từ 150 triệu lên 1,2 tỉ người, đây là mức tăng nhanh nhất trong Thế giới thứ ba. Cũng trong thời gian trên dân số Ấn độ tăng gấp 4 lần và Trung quốc tăng gấp 3 lần.    Bảng 1: Dân số ở các quốc gia Hồi giáo trước cửa ngõ châu Âu                                                                                                           Đ/vị: triệu người                                                                                                   Nguồn: Số liệu của Liên hợp quốc    Ngoài Pakistan, sẽ có một số nước Hồi giáo có dân số trên dưới 100 triệu người, trong đó có những nước là những trung tâm bất ổn như Iraq, Sudan, Afghanistan và Yemen. Dân số Somalia sẽ tăng gấp 8 lần, có nghĩa là số người tham gia tổ chức Al-Qeada và các nhóm cướp biển sẽ tăng lên. Iraq sẽ tăng trên 4 lần, thế chỗ Ai cập thành nước có số dân đông nhất trong các quốc gia Ả rập.   Dân số các nước Hồi giáo trẻ hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp phát triển. Huntington viết: “Đạo Hồi đang trải qua giai đoạn bùng nổ dân số với hậu quả gây mất ổn định cho các nước Hồi giáo và các nước láng giềng”. Theo nhận xét của nhà nghiên cứu này, bạo lực có nhiều khả năng xảy ra ở những nơi tỷ lệ thanh thiếu niên 15-24 tuổi đạt ít nhất 20% và tỷ lệ trẻ em (dưới14 tuổi) đạt 30%. Giới trẻ nổi loạn không phải vì không gian sống của họ chật hẹp, vì thiếu ăn hoặc không có điều kiện học hành mà bởi vì họ nhận thấy không có cơ hội để vươn lên về mặt xã hội. Heinsohn: “Giết người được coi là địa vị và quyền lực”.     Bảng 2: Tỉ lệ thanh thiếu niên và trẻ em ở một số quốc gia Hồi giáo                     Bảng 2 cho thấy nguy cơ bạo lực tiềm tàng về nhân khẩu học ở các quốc gia Hồi giáo rất khác nhau (so sánh với các số liệu của Trung quốc và Đức). Ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, tất cả các nước khác đều có tỷ lệ trẻ em trên 30%. Nguy cơ bạo lực tiềm tàng lớn nhất thực sự đã hiện hữu tại các nước thường xuyên bị lao đao về tình trạng bạo lực triền miên như Afghanistan, Somalia, Yemen, Iraq và Palestine. Các chỉ số trên rất cao của Sudan cho thấy tương lai của đất nước mới bị chia cắt này không mấy sáng sủa, cả hai miền đều có tiềm năng tuyển mộ binh lính khá cao. Tại các nước như Pakistan, Syria, Ả rập Saudi và Ai Cập, tỷ lệ sinh đẻ tuy có giảm nhẹ nhưng vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của tình trạng bùng nổ thanh thiếu niên trong một hai thập niên tới.   Sự bùng nổ thanh thiếu niên dẫn đến nguy cơ tăng bạo lực không chỉ ở các quốc gia Hồi giáo. Sự bùng nổ thanh thiếu niên bao giờ cũng trở thành vấn đề khi thế hệ kế tiếp không có chỗ đứng thích hợp đối với lứa tuổi của họ trong xã hội. Có thể nêu lên một loạt ví dụ trong lịch sử:    – Sự bùng nổ thanh thiếu niên cuối cùng ở Đức diễn ra trước chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi đó tỷ lệ trẻ em ở Đức khoảng 35%, tương tự như ở Pakistan hiện nay. Theo Heinsohn, số lượng thanh thiếu niên đông đảo này dẫn đến “các cuộc chiến đấu trên đường phố thời Cộng hòa Weima”.    – Trước cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã diễn ra sự bùng nổ dân số ở nước này, dân số Nga từ 60 triệu người tăng lên 90 triệu trong vòng 16 năm trước năm 1913.    – Châu Âu chinh phục thế giới cũng nhờ dân số tăng trưởng vũ bão. Thời Trung cổ, sau khi đế chế La Mã sụp đổ, châu Âu thường phải chống chọi các cuộc tấn công từ những đội kỵ binh thiện chiến của châu Á. Nhưng từ thế kỷ 16 đến 20 dân số châu Âu tăng gấp 9 lần, đạt 460 triệu người, nhờ đó châu Âu mới có thể tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược. Trong thế kỷ 19, dân số châu Âu chiếm 1 phần tư dân số thế giới.     Dân số già nua sẽ hòa bình hơn?    Nếu thuyết Youth Bulge đúng thì cần phải có sự nhìn nhận khác trước đối với sự tăng cường lực lượng quân sự hiện nay ở Trung Quốc (TQ). Vào thời điểm xảy ra cách mạng văn hóa, tỷ lệ trẻ em từ 34% vào năm 1950 tăng lên 40%, trong những năm 80 và 90 tỷ lệ thanh thiếu niên là 22%. Hiện nay tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên ở TQ thấp hơn hẳn ngưỡng đáng lo ngại. Nay số trẻ em giảm, dân số TQ già đi nhanh, giới lãnh đạo TQ không dễ chơi con bài hiếu chiến, xâm lược như trong cuộc chiến tranh Triều tiên. Trong chính sách đối ngoại, giới lãnh đạo TQ phải cân nhắc khi tiến hành các hoạt động quân sự vì người dân TQ sẽ không tán thành hoặc thậm chí phản đối chính sách gây chiến, xâm lược của giới lãnh đạo trước nguy cơ tuyệt tự, mất đứa con trai duy nhất trong gia đình.    Tại các nước phát triển có tỷ lệ sinh đẻ thấp như Đức là 1,36% hoặc Pháp là 2%, các bậc cha mẹ thường lo cho sự tồn tại của nòi giống mình và không tán thành các cuộc phiêu lưu quân sự của Nhà nước. Chính vì thế các nước phát triển có xu hướng dùng kỹ thuật thay thế cho con người nhằm hạn chế tổn thất về người để không làm mất đi chỗ dựa ở hậu phương. Mỹ sử dụng máy bay do thám không người lái ở Afghanistan và Pakistan để bảo vệ các chuyên gia ngồi trong công sự kiên cố. Tuy nhiên cách này chỉ có thể tiêu diệt được kẻ địch chứ không thể triệt hạ được sự thống trị trên một vùng lãnh thổ, nhất là khi kẻ thù có đủ khả năng bổ sung quân số nhờ tỷ lệ sinh đẻ cao. Vì các cuộc chiến tranh kiểu này được quyết định bởi yếu tố dân số nên một khi Mỹ đã quyết định rút quân khỏi Iraq đương nhiên cũng sẽ buộc phải rút quân khỏi  Afghanistan.    Liên hiệp quốc dự báo đến giữa thế kỷ này sẽ có một sự thay đổi lớn về cơ cấu dân số. Nếu từ năm 1950 đến  1990, ở thế giới thứ ba tỷ lệ thanh thiếu niên 15-24 tuổi chiếm 25% dân số thì đến năm 2050 tỷ lệ này chỉ còn tồn tại ở các nước thuộc miền nam sa mạc Sahara. Còn ở các khu vực khác trên thế giới tỷ lệ thanh thiếu niên chỉ còn chiếm 15% dân số hoặc thấp hơn.     Đối với chuyên gia nghiên cứu về hòa bình Urdal thì với việc tăng tuổi bình quân ở các nước thế giới thứ ba có thể diễn ra một kỷ nguyên mới: “Phải chăng một thế giới già nua sẽ hòa bình, yên ổn hơn?”.  Xuân Hoài dịch theo Wiwo    —-     Chú thích:   1 Trước khi chia tách Sudan.   ** tỷ lệ % trên tổng số dân.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên nhân của một thực trạng đáng SOS!      Về nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học, chúng ta thấy rất rõ rằng chúng ta đang ở trong “vùng trũng”. Nếu chỉ so sánh với các nước trong khu vực không thôi, về các nghiên cứu chúng ta đã được đăng tải trên các tập san quốc tế sẽ thấy rõ qua các bài viết đã được đăng tải trong nước của các tác giả Phạm Duy Hiển, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Tuấn…, thiết nghĩ không cần phải đề cập lại vấn đề là cần nghiêm túc nhìn nhận nguyên nhân của hiện tượng đáng SOS đó.    Nguyên nhân của thực trạng  Trước hết chúng ta phải nói ngay đến những người lãnh đạo đầu ngành khoa học, giáo dục, liệu họ đã phải là những người có tầm vóc và cập nhật được kiến thức quốc tế hay chưa?  Nằm trong một thực trạng chung là các nhà lãnh đạo đầu ngành của chúng ta được chọn lựa theo cơ chế cử tuyển chứ không qua cơ chế tuyển trạch. Chúng tôi nghĩ cần phải thay đổi cơ chế làm việc này. Lãnh đạo một nhóm nghiên cứu khoa học cũng như lãnh đạo của một công ty. Đã là một chức vụ thì cần phải có cơ chế cạnh tranh, đó là tuyển lựa theo đơn xin việc chứ không phải là cử tuyến.  Cũng nằm trong khâu này, chúng ta đã có cơ chế không giống các nước về hệ thống đào tạo những nhà nghiên cứu thực thụ (tiến sĩ và hậu tiến sĩ) và những chức vụ thực thụ (giáo sư). Chúng ta đang có một cơ chế thúc đẩy việc học lấy bằng tiến sĩ là một hình thức mua danh, mua tước. Có những người lãnh đạo phải “hợp thức hóa” bằng cấp để phù hợp với địa vị lãnh đạo, đó là một cơ chế sai lầm. Tiến sĩ được đào tạo ra trước hết là để làm việc chứ không phải để làm lãnh đạo. Lãnh đạo chẳng qua cũng chỉ là một nhiệm vụ và phải qua tuyển lựa để chứng tỏ khả năng. Lãnh đạo nhiều khi không nhất thiết phải là tiến sĩ hay giáo sư. Giống như thế, ở nước ta, giáo sư được coi như là một phẩm hàm, có tính cách tưởng thưởng công và cũng dựa vào đó mà lên chức, lại là một sai lầm. Cần phải coi giáo sư như một vị trí công tác, lãnh đạo đầu ngành hay lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, đào tạo. Đã là vị trí công tác thì cần phải qua tuyển lựa và qua tiêu chuẩn tuyển lựa. Lãnh đạo làm được việc thì được tái bổ nhiệm, không được việc thì tái tuyển chọn, chứ giáo sư không phải làm một phẩm hàm suốt đời.  Thứ hai, về nhân lực. Hệ thống đào tạo tiến sĩ của chúng ta có vấn đề. Ngay ở cơ chế, như đã nêu, đào tạo tiến sĩ vì mục đích danh xưng nhiều hơn là vì phụng sự và cống hiến cho khoa học. Hệ quả là các tiến sĩ của chúng ta được đào tạo trong nước ra lò hàng loạt nhưng con số làm được việc có lẽ còn quá khiêm tốn. Chúng ta hàng năm có hàng trăm đến hàng ngàn tiến sĩ ra lò nhưng không có bao nhiêu công trình nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn, được đăng tải trên tập san quốc tế. Đó là một nghịch lý thấy rõ.  Chúng ta có thể bao biện rằng  giáo sư quốc nội, tiến sĩ cấp quốc nội khác giáo sư, tiến sĩ quốc tế. Điều đó có thể chấp nhận được khi chúng ta chỉ đứng ở “sân chơi khoa học” riêng lẻ, chứ không thể đặt vấn đề “hoàn cảnh” khi chúng ta hội nhập quốc tế. Chúng ta không thể nào biện hộ được khi các chuyên viên đầu ngành, các nghiên cứu viên trong nước đi tham dự hội thảo quốc tế mà không tìm được tiếng nói chung với đồng nghiệp quốc tế.  Thứ ba, về vấn đề cập nhật thông tin, liệu chúng ta có được cập nhật thông tin hay không? Câu trả lời có thể có hai vế: vế thứ nhất là về mặt cung cấp thông tin. Dù rằng việc truy cập internet ở Việt nam hiện nay là khá phổ biến, tuy nhiên lại có sự phân bố bất hợp lý. Trường đại học phải là những nơi có trang bị hệ thống truy cập thông tin hiện đại nhất và cập nhật nhất. Nhưng chúng tôi hiếm thấy có một trang web của bất kỳ một trường đại học nào ở Việt nam đạt được một tiêu chuẩn trung bình. Vấn đề tường lửa cũng là một sự cản trở truy cập thông tin phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy. Qua mấy kỳ công tác trong những năm vừa qua, chúng tôi rất vất vả nếu không nói là bất lực khi ngồi ở Việt nam để truy cập internet tìm tài liệu. Chỉ lưu lại Việt nam một vài tuần, chúng tôi cảm giác gần như bị lạc hậu nhiều so với đồng nghiệp. Thư viện là bộ mặt của trường đại học, là bộ mặt của tri thức, thế mà hệ thống thư viện ở các trường đại học Việt nam quá cũ kỹ, thô sơ và gần như là hoạt động không hữu hiệu. Vế thứ hai là về kỹ năng truy tìm thông tin của sinh viên đại học Việt nam quá kém. Họ không được đào tạo kỹ năng này, vì thế họ cũng sẽ khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin khoa học cần thiết và cập nhật.  Từ những yếu kém kể trên của GD-ĐT dẫn đến thực trạng khoa học của nước ta hiện nay trong tình trạng đất nước đi vào con đường hội nhập là bấp bênh và khá lạc điệu. Chúng ta chưa có một tiếng nói chung với thực trạng khoa học không nói ở tầm vóc quốc tế lớn mà vẫn chưa có tiếng nói chung với các nước trong khu vực.  2.Việc có một trường đại học ở top 200 không phải là cái đích chúng ta đến. Xếp hạng chỉ là một hệ quả của một quá trình hoạt động, làm việc. Làm bao nhiêu thì được hưởng bấy nhiêu, còn việc xếp hạng chỉ có tính tương đối.  Theo chúng tôi, mục tiêu nên đặt ra là cần phải có một trường được công nhận trên trường quốc tế (internationally recognized) hoặc cao hơn là đạt đẳng cấp quốc tế (world class). Nếu đặt mục tiêu cụ thể như vậy thì điều phải làm gì sẽ rõ ràng và cụ thể hơn.  Nói đến một đơn vị trường đại học chúng ta chỉ có các đối tượng: cấu trúc hạ tầng, giảng viên và sinh viên. Đã nói đến tầm vóc quốc tế thì cấu trúc hạ tầng phải đạt tầm vóc quốc tế, đội ngũ giảng dạy phải đạt tầm vóc quốc tế, và sinh viên địa phương phải có lối học như sinh viên quốc tế.  Thế nào là một cơ sở hạ tầng đại học quốc tế:  Một trường đại học có tầm vóc quốc tế đó thường là một môi trường đậm tính khoa bảng, nơi mà mọi sinh hoạt phục vụ học tập và giảng dạy phải là một quy trình kín.  Nơi đầu tiên phải nói đến của một trường đại học phải là thư viện, đó là kho tang tri thức, là bộ mặt của trường đại học. Thư viện cần phải có cấu trúc sao cho phù hợp với cơ số sinh viên của trường, nơi có một môi trường thân thiện và thuận lợi cho sinh viên và nghiên cứu viên tìm tư liệu để học tập và nghiên cứu.  Sách tham khảo: Cần phải đầy đủ và cập nhật. Bố trí theo cách thức sao cho sinh viên có thể tự động tìm kiếm sách mình cần tìm. Nhân viên thủ thư chỉ là người hướng dẫn khi cần thiết, và giải quyết các thủ tục mượn sách cũng như tìm kiếm liên hệ mượn sách nơi khác khi có yêu cầu.  Ngoài sách đóng quyển có trong thư viện của trường thì việc liên kết với các trường khác để có thể gia tăng cơ số sách có thể trao đổi chéo, nhằm đáp ứng nhu cầu đọc.  Một bộ phận trong thư viện mới mà gần như đóng một vai trò rường cột đó là thư viện điện tử. Thư viện điện tử của một trường đại học phải thuê bao các thư viện điện tử quốc tế lớn để có thể truy cập được gần như đầy đủ các tài liệu lưu trữ trên mạng phục vụ các ngành liên quan đế mục đích đào tạo của trường, học tập của sinh viên và nghiên cứu. Do đó dịch vụ phần cứng và phần mềm cũng cần phải đủ mạnh để có thể đáp ứng được việc truy nhập và truy xuất thông tin nhanh chóng. Thủ thư cũng có nhiệm vụ đáp ứng tìm kiếm các tư liệu điện tử không có trong hệ thống thuê bao của trường một khi có yêu cầu.  Phần cấu trúc và không gian của thư viện trường đại học cần phải có đủ chỗ rộng rãi, riêng tư để sinh viên có thể học tại thư viện. Phòng lab thư viện cũng phải có một cơ số máy tính nhất định để sinh viên và nhân viên sử dụng.  Phần đầu tư xây dựng cơ bản cho một trường đại học mang tầm vóc quốc tế là một yếu tố quan trọng khác, chúng tôi không bàn sâu ở đây.  Thứ hai là giảng viên mang tầm vóc quốc tế:  Để có một trường có tầm vóc quốc tế, đội ngũ giáo sư, giảng viên của trường đại học đó phải đủ tầm vóc quốc tế. Có nghĩa là giáo sư giảng dạy tại trường phải là những giáo sư có uy tín trên trường quốc tế về chuyên ngành của mình về những điểm: được đồng nghiệp quốc tế cùng ngành công nhận, có bề dày nghiên cứu về chuyên ngành của mình, có công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế theo đúng yêu cầu của một vị giáo sư quốc tế, có thành tích về xin tài trợ nghiên cứu, có kinh nghiệm lãnh đạo nhóm nghiên cứu quốc tế và có kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh quốc tế. Nếu xét về những yếu tố này, trong thời điểm xuất phát hiện nay, chúng ta không có cơ sở nào để tự tin phát biểu được rằng trong vòng 13 năm nữa, chúng ta sẽ có được một đội ngũ giáo sư đại học có tầm vóc quốc tế.  Tình trạng này cũng tương tự như các trường đại học khác trên thế giới. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, các trường có chủ trương thuê các giáo sư có tầm vóc quốc tế về để lãnh đạo chuyên môn của từng chuyên ngành. Riêng Trung quốc, họ có chính sách đãi ngộ các vị giáo sư và nghiên cứu người Trung quốc ở hải ngoại có tầm vóc quốc tế, về làm việc và hưởng lương theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là một bài học cần thiết đối với ngành giáo dục Việt nam.  Do đó hệ quả kéo theo là giá chi trả cho một giáo sư quốc tế là việc phải tính đến.  Thứ ba, là cần phải có một lực lượng sinh viên nội địa đạt trình độ đầu vào ngang cấp quốc tế. Chúng ta cần phải thấy rõ rằng môi trường sinh viên là một yếu tố quan trọng. Đa số các sinh viên Việt nam đi du học theo dạng học bỗng ở các nước ngoài đạt được thành tích cao. Điều đó có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Yếu tố chủ quan là chính các sinh viên đó vốn đã là các sinh viên ưu tú của Việt nam, họ đã có tố chất để thích nghi nhanh và bắt kịp với cách học và nghiên cứu của sinh viên quốc tế. Yếu tố khách quan là họ là những thành tố đơn lẻ trong một môi trường sinh viên quốc tế, cho nên họ có đủ cơ hội để học hỏi những sinh viên quốc tế xung quanh mình. Nó giống như người học tiếng Anh, thì sẽ tiến bộ nhanh hơn nếu được sống trong môi trường nói tiếng Anh mẹ đẻ. Ngược lại, tương tự như vậy, nếu sinh viên đó chỉ học đại học trong nước, thì họ cũng sẽ không thoát ra được môi trường giáo dục ở trong nước.  Yêu cầu của đội ngũ sinh viên đầu vào như vậy cần chuẩn bị bao nhiêu lâu? Có lẽ thời gian sẽ đúng bằng từ lớp mầm non đến khi họ vào đại học nếu nền giáo dục Việt nam cải tổ ngay từ bây giờ và đúng hướng.  Một số các thí dụ: Yêu cầu cho một sinh viên quốc tế là họ phải có tính tự học, độc lập, chủ động. Điều này không phải chỉ ra yêu cầu, hô khẩu hiệu mà làm ngay được. Họ phải được rèn luyện và đào tạo đức tính này ngay khi bước vào trường mầm non. Không thể nào có được một sinh viên có tính làm việc độc lập, tự học và sáng tạo, một khi học sinh từ lớp 1 cho đến 12, hàng ngày phải ngồi vào lớp trật tự theo bàn. Trên bảng thầy giáo thao thao bất tuyệt giảng bài, dưới lớp học trò cắm cố thi nhau chép. Đến buối trả bài như vẹt. Tất cả kiến thức là từ thầy trao truyền, được chữ nào, học trò học bài thuộc long thì nhớ từng đó, để đối phó với bài kiểm tra, bài thi chứ không phải để hiểu biết. Trong khi đó, học sinh tiểu học ở Úc chẳng hạn, đến trường hầu như chẳng có sách vở gì, tất cả các bài học do giáo viên thiết kế, về nhà không có bài tập ở nhà; bài tập thì dễ. Thế mà khi đến ngưỡng đại học, sinh viên của họ hoàn toàn có một tư duy và cách học hết sức năng động, độc lập. Vấn đề chỉ là ở phương thức giáo dục của chúng ta đã quá lạc hậu và kiềm hãm tính độc lập suy nghĩ của sinh viên ngay từ tuổi ấu thơ.  Một khi chúng ta có được đội ngũ sinh viên nội địa có tầm vóc quốc tế, thì chúng ta mới tạo được một môi trường học đường có tầm cỡ quốc tế, khi đó chúng ta mới thu hút được sinh viên quốc tế đến để học.  Một yêu cầu khác mà chúng tôi nghĩ rằng một trường có tham vọng để lọt vào trường có đẳng cấp quốc tế, thì ngôn ngữ giảng dạy chính của trường phải là tiếng Anh. Sẽ không có một trường có đẳng cấp quốc tế nếu sinh viên trường đó không có khả năng giao dịch quốc tế! Chúng tôi không kỳ thị tiếng mẹ đẻ, nhưng chúng ta cần phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế trong chuyên ngành của mình. Giáo trình đại học chỉ để đợi các giáo sư, giảng viên đi dịch lại sách nước ngoài (mà chưa chắc đã chính xác), đợi in ấn thì kiến thức đã lạc hậu. Sinh viên đại học là tự học, tự nghiên cứu, chứ không phải đến trường để nghe truyền đạt. Giáo sư và giảng viên ở trường đại học chỉ là người chỉ đường, chứ không phải cầm tay chỉ việc.  Có cơ sở hạ tầng, đội ngũ giảng dạy, sinh viên có tầm vóc quốc tế thôi chưa đủ. Một trường đại học nếu muốn vươn lên đẳng cấp quốc tế thì trường đó phải mạnh về nghiên cứu khoa học có tầm vóc quốc tế. “Giấy thông hành” cho điểm này là thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học là dự án nghiên cứu có tầm vóc và được đăng tải trên các tập san chuyên ngành quốc tế và có hiệu quả quan trọng đến lợi ích của cộng đồng, là các sản phẩm công nghệ-thành quả từ các nghiên cứu ứng dụng đáp ứng được nhu cầu của khoa học kỹ thuật hiện đại.  Nghiên cứu khoa học được công bố quốc tế thôi chưa đủ, mà giá trị ứng dụng của các nghiên cứu đó phải ở tầm vóc có ảnh hưởng đến cộng đồng khoa học của quốc tế, thì uy tín của trường đại học đó mới được nâng tầm.  Một trường đại học có tầm vóc quốc tế còn phải là một trường đào tạo được nhiều nhân tài, và sau đó họ là những người có một tầm ảnh hưởng đến chuyên ngành của họ trên trường quốc tế. Dựa vào những cống hiến đó của các cựu sinh viên, uy tín của trường đại học đó sẽ được nâng lên.  Để đạt được những điều này ngân sách đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu cho một trường đại học rất lớn. Ở nước ngoài, ngoài ngân sách của chính phủ, các nghiên cứu viên của trường đại học còn phải dốc sức đi xin tài trợ từ các quỹ tài trợ nghiên cứu quốc gia, của các công ty mạnh thường quân, mà ở nước ngoài họ đều có dành ra một quỹ hỗ trợ nghiên cứu. Điều này không thể có ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay, cho nên ngân sách nghiên cứu hầu như phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ. Thế nhưng ngân sách đòi hỏi cho các nghiên cứu có tầm vóc quốc tế là rất lớn, và ngân sách này đòi hỏi phải lâu dài để giữ vững vị trí của trường.  Với những chi tiết vắn tắt nêu trên, quá trình phấn đấu của một trường đại học để đạt được tầm vóc quốc tế là một quá trình gian nan, dài hạn và như là một cuộc đầu tư đầy rủi ro và nhà đầu tư phải theo đuổi mục đích cho đến cùng. Trở thành trường đẳng cấp quốc tế là quả chín thu hoạch được sau một quá trình của gieo giống trồng cây. Quả chín đó là do người tiêu dùng thẩm định và đánh giá.  Cho đến nay, các trường vươn lên đẳng cấp quốc tế hầu như không có trường nào có độ tuổi dưới 30-40 năm, mà tại điểm xuất phát họ đã có đủ nhân-tài-vật-lực. Cho nên một tiêu chí phấn đấu đến 2020 Việt nam có một trường đại học lọt vào top 200 các trường đại học hàng đầu thế giới, chúng tôi nghĩ là thiếu thực tế và bất khả thi. Mà như đã đề cập ban đầu, chúng ta vươn đến xây dựng một đại học có tầm cỡ quốc tế thì thiết thực hơn.  3.Các công trình nghiên cứu khoa học dù là cơ bản hay ứng dụng đều phải tính đến công bố quốc tế ngay từ khởi đầu thiết kế công trình nghiên cứu. Đó là một thử thách lớn cho các nhà nghiên cứu trong nước chưa từng có kinh nghiệm “va chạm” với hệ thống bình duyệt nghiêm túc của quốc tế, nhưng nếu không làm, chúng ta sẽ mãi nằm trong “vùng trũng” của nghiên cứu khoa học, và những công trình nghiên cứu tốn kém đó sẽ không đưa lại giá trị xứng đáng với tiền của nhân dân và nhà nước đầu tư vào.  Chỉ có đăng tải quốc tế thì uy tín của các nhà khoa học trong nước, nền khoa học nước nhà mới được nâng lên tầm vóc quốc tế. Còn công bố trên trường quốc tế dưới hình thức nào, cũng là một điều quan trọng cần nêu. Công bố quốc tế ở dạng khởi sự là bằng cách nộp các tóm tắt nghiên cứu (abstract) để đi báo cáo tại các hội nghị khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chúng tôi nghĩ đây là thủ tục nên trở thành một quy định bắt buộc cho các đề tài nghiên cứu cấp quốc gia. Cần phải có những chế độ ưu đãi cho các đề tài được chấp nhận thuyết trình (oral presentation) tại các hội thảo quốc tế lớn của mỗi chuyên ngành. Tuy nhiên thủ tục nộp abstract và  đăng tải dưới dạng monographs hoặc proceedings tại các hội thảo khoa học quốc tế chỉ mới là bước khởi đầu, sau đó các nghiên cứu này còn phải được viết thành bài báo khoa học nghiêm túc (scientific paper) để dự đăng tải trên các tập san chuyên ngành có qua hệ thống bình duyệt (peer-reviewed journal) và có uy tín.  Xin mở rộng thêm một ý là chúng ta còn có quá nhiều quyết định “khơi khơi” và cảm tính, thiếu lý trí (rationale) khi tiến hành một nghiên cứu khoa học. Chỉ nghe, và nghĩ là đã có thể tiến hành ngay một nghiên cứu khoa học (kể cả cấp quốc gia) mà không hề có một quy trình làm việc nghiêm túc nào (chúng tôi không tiện trích dẫn ví dụ) để đánh giá về giá trị, tinh khả thi, tính thực tiễn của đề tài; cũng chẳng qua một nghiên cứu “tiền trạm” (pilot study) để xem liệu có nên tiếp tục đầu tư nghiên cứu hay không. Do đó, đầy rẫy các công trình nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, sau nghiệm thu rồi cũng chỉ để đó mà không hề có một giá trị ứng dụng nào. Thì việc mà các nghiên cứu khoa học đó không chen chân được vào trường quốc tế thì cũng là điều dễ hiểu.  Một chuyện khác, chúng tôi nhận được các luận án tiến sĩ của đồng nghiệp trong nước nhờ xem giúp. Chúng tôi có những gợi ý về cách phân tích số liệu (còn chuyện thiết kế nghiên cứu là chuyện đã rồi), sau khi trao đổi lại với giáo sư hướng dẫn, ông bảo các anh ấy ở nước ngoài thì làm theo trình độ khác, còn trong nước thì nên làm đơn giản để cho người phản biện họ hiểu được. Nếu rắc rối quá họ sẽ bắt bẻ và mình sẽ gặp rắc rối! Chúng tôi xin miễn bàn.  4.Nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn nền công nghệ và khoa học kỹ thuật thế giới đã ở mức độ phát triển hiện nay thì cần phải xem đó là một loại nghiên cứu “xa xỉ”. Mặc dù nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu có tính đột phá (breakthrough), thế nhưng hiện nay nó ít có cơ may đem lại tính ứng dụng cao mà thường là chỉ để: hoặc tìm hiểu một cơ chế tác động trên một khâu nào đó của chuỗi phản ứng, hoặc để tạo ra một tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng.  Do vậy, nghiên cứu ứng dụng có thể phù hợp với Việt nam hơn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế mà tiến hành. Thà rằng chỉ có ít các nghiên cứu, nhưng “dụng tinh hơn dụng đa”.  5. Lợi thế của một nước đang phát triển là có thể học hỏi kinh nghiệm thành bại từ các nước đã kinh qua để tìm cho mình một hướng phát triển riêng.  Chẳng hạn ở Trung quốc họ có mô hình sử dụng nhân tài là các nhà khoa học ở Trung quốc sống ở hải ngoại có tầm cỡ quốc tế. Những người này được mời về giữ các trọng trách lãnh đạo nghiên cứu khoa học, họ được hưởng lương theo tiêu chuẩn quốc tế, nhưng họ được co giãn về thời gian. Vì họ vẫn phải làm việc ở nước ngoài, mà đó mới chính là cầu nối tri thức giữa trong và ngoài. Và họ đang thành công. Nếu nhìn vào danh sách các nghiên cứu khoa học đăng tải trong những năm gần đây, các tác giả Trung quốc đã có một số lượng đáng nể, và đằng sau đó, dễ dàng nhận thấy “kiến trúc sư” của công trình là người Trung quốc ở nước ngoài. Một thí dụ điển hình trong ngành Y sinh học mà một đồng nghiệp của chúng tôi làm được đó là Hong-Wen Deng (chỉ cần vào trang nhà www.pubmed.gov, một thư viện điện tử y sinh học quốc gia của Mỹ, gõ tên Deng HW, sẽ thấy). Đây là một điểm đáng để học hỏi.   Hoặc ở Thái lan, về ngành Y khoa, tất cả các bác sĩ sau tốt nghiệp phải đi phục vụ xa, sau đó mới quay lại Bang Kok, muốn vào các bệnh viện điểm ở Bang Kok, các bác sĩ còn phải đi tu nghiệp (nghiêm chỉnh) ở nước ngoài, cụ thể là Mỹ, Anh, Úc và các nước đã phát triển thì mới được vào làm. Tuy nhiên, hệ thống tuyển dụng nhân viên của họ minh bạch và công bằng. Chúng tôi có một đồng nghiệp trẻ người Thái lan. Anh này đến làm việc ở chỗ chúng tôi với tư cách thực tập sinh. Anh ta rất “lơ ngơ” về nghiên cứu khoa học mặc dù anh ta là bác sĩ, giảng viên của một trường đại học lớn ở Đông băc Thái lan. Thế nhưng anh ta rất khiêm tốn học hỏi, và cố gắng để học. Sau một năm, anh ta về lại Thái, và anh ta cứ rập khuông những gì anh ta đã thu lượm được ở chỗ chúng tôi. Anh ta vẫn tiếp tục liên lạc nhờ giúp đỡ và hợp tác với chúng tôi. Sau đó anh ta có đến trên 5 nghiên cứu khoa học (xuất phát từ Thái) được đăng tải trên tập san quốc tế. Anh ta liên tục nhận được những giải thưởng quốc gia cho nhà nghiên cứu trẻ đang lên. Sau đó anh ta được đề bạt phó Giáo sư tại trường. Anh xin được nhiều nguồn tài trợ trong nước, đến nỗi anh ta không biết phải làm gì với số tiền đó. Lại liên lạc với xếp chúng tôi để xin phương hướng nghiên cứu. Qua câu chuyện này để chúng ta có một bài học gì? Thái độ cầu tiến, khiêm tốn học hỏi, áp dụng những tri thức mình học được, có trách nhiệm với công việc mình làm và chí công vô tư với ngân sách nghiên cứu (tiền của nhân dân). Ngược lại, phía lãnh đạo đã cho phép những người đi học về được làm, được trải nghiệm những gì đã học được, có chế độ đãi ngộ công bằng cho những người làm được việc. Mẫu chuyện nhỏ nhưng là một bài học lớn.  Tóm lại, có nhiều mẫu chuyện, nhiều mô hình mà chúng ta có thể thu lượm, điều nghiên, cân nhăc để áp dụng một cách đúng đắn để nhằm một mục đích tối hậu: cải tổ và thúc đẩy nền khoa học nước nhà kịp bước với đồng nghiệp trong khu vực và trên thế giới.  ———-  * Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan-Sydney, Australia  TS. Nguyễn Đình Nguyên *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên tắc công bằng số học và trách nhiệm của người làm luật      Nguyên tắc đặt cơ sở cho việc thiết lập trật tự, an toàn xã hội và công bằng xã hội được các nhà hiền triết thời cổ gọi đó là nguyên tắc công bằng số học trong giao tiếp giữa người và người.  Nếu không có một nguyên tắc như thế, thì chẳng ai dám sống trong không gian chung, do không thể biết trước khi nào sẽ có ai đó lù lù xuất hiện và trút tai hoạ lên đầu mình mà mình cứ phải cam chịu; để tránh rủi ro và hiểm nguy tiềm tàng, mỗi người sẽ tạo cho mình một không gian riêng, biệt lập, ngăn cách với những người còn lại; xã hội sẽ không thể hình thành và phát triển.    Chi phối hành vi của tất cả thành viên xã hội một cách bình đẳng, nguyên tắc công bằng số học cũng mang ý nghĩa một lời cảnh báo đối với mỗi thành viên. Đó là lời nhắc nhở về sự cần thiết phải thận trọng, biết giữ chừng mực, đàng hoàng trong giao tiếp, ứng xử để tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho thành viên khác.    Ý nghĩa này phải được đặc biệt nhấn mạnh đối với những thành viên được xã hội phân công đảm nhận các chức năng hoạch định chính sách, xây dựng chuẩn mực pháp lý. Đây là những người có quyền dùng sức mạnh của nhà chức trách để áp đặt khuôn mẫu ứng xử lên toàn xã hội; mỗi hành vi của họ, thực hiện trong khuôn khổ tác nghiệp chuyên môn, có ảnh hưởng sâu rộng đối với cuộc sống xã hội.   Trong xã hội được tổ chức tốt, mọi thành viên được bảo đảm thụ hưởng trong bình yên các lợi ích thuộc về mình. Bởi vậy, mỗi khi thành viên nào đó bỗng nhiên chịu một mất mát mà không phải do lỗi của chính mình, thì phải tiến hành điều tra làm rõ ngọn ngành. Nếu thiệt hại do rủi ro khách quan, nói nôm na là do ông trời, thì thôi đành chịu; nhưng nếu không phải vậy, thì cần đi tìm cho được người nào trên đời này đã gây ra thiệt hại, bắt họ nhận lãnh trách nhiệm bồi thường.   Thời gian vừa qua, có khá nhiều trường hợp chính sách, quy tắc pháp lý được đề ra chưa thấy đem lại lợi ích xã hội gì rõ ràng, nhưng đã gây thiệt hại nhận thấy được cho người này, người kia. Một trong những ví dụ tiêu biểu là các quy định của Bộ Giao thông Vận tải, yêu cầu các chủ ô tô vận tải phải chuyển hẳn phương tiện cho hợp tác xã làm chủ sở hữu mới được phép tiếp tục hành nghề.  Trong một câu chuyện khác xảy ra cuối năm trước, dịch tiêu chảy bùng phát, nhà chức trách nghi mắm tôm là thủ phạm gây dịch và ra lệnh cấm sản xuất, lưu hành đối với loại nước chấm này. Dịch qua đi, lệnh cấm được dở bỏ. Cuối cùng, mắm tôm được chính thức minh oan trên cơ sở các kết quả xét nghiệm do nhà chức trách y tế thực hiện; nhưng thiệt hại mà người sản xuất, mua bán phải gánh chịu do lệnh cấm trước đây thì chẳng người nào trong giới có thẩm quyền muốn nhắc tới.   Một cách tự nhiên, khi được hưởng quy chế siêu chủ thể và đứng trên các hệ thống chuẩn mực, con người sẽ có xu hướng phát triển tính cách độc đoán và tuỳ tiện trong quan hệ giao tiếp. Người làm luật mà không sợ chế tài sẽ có thể thoải mái đề ra quy tắc pháp lý theo ý mình; nếu có lỡ làm sai, thì nhiều lắm cũng chỉ cần xoá đi làm lại. Thái độ dửng dưng, có vẻ như muốn thách đố dư luận của một số quan chức ngành giao thông vận tải trước phản ứng quyết liệt của những người bị thiệt hại do quyết định tập thể hoá ô tô vận tải nói trên, là một minh chứng.   Hiện dự thảo Luật bồi thường nhà nước đang được xây dựng. Đây là luật có tác dụng đặt cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm vật chất của Nhà nước trong trường hợp viên chức nhà nước gây thiệt hại cho dân trong quá trình thực thi công vụ. Việc ban hành luật này sẽ phần nào đáp ứng được mong đợi của người dân về một bộ máy công quyền hữu hiệu với một đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực, mẫn cán và có trách nhiệm. Đặc biệt, nó giúp khai thông bế tắc trong nhiều trường hợp người dân thường bị thiệt hại do hành vi sai trái hoặc thiếu trách nhiệm của cơ quan công quyền: quy hoạch treo; lề mề, chậm trễ trong việc xúc tiến thủ tục hành chính; bắt bớ, xử phạt bừa bãi, gây oan ức;…        Đáng tiếc là dù đã có nhiều ý kiến đóng góp, bản dự thảo Luật gần nhất vẫn chưa ghi nhận việc qui trách nhiệm của người ra quy tắc ứng xử pháp lý trái luật gây thiệt hại cho xã hội.  Gần đây, nhiều người chua chát nói đó là “hậu”…cấm xe lôi, xe ba gác. Cực chẳng đã người ta phải quay lại tận dụng xe trâu, xe bò, xe thồ để gồng gánh lúa từ ngoài đồng về, chở heo gà vịt cá rau ra chợ. Nhếch nhác và chậm chạp không sao chịu nổi.Còn tìm loại xe thay thế thì chuyện như đùa. Chứng tỏ, những tổ chức ra lệnh cấm không chịu trách nhiệm nghiêm túc để có quá trình chuẩn bị thỏa đáng cho người dân. Rồi như chuyện lạ, giữa lúc lệnh cấm còn “tranh tối tranh sáng” thì lập tức xe lôi của Trung Quốc  đã lù lù có mặt đó đây. Hỏi ai cho phép nhập thì câu trả lời thật “lập vập”. Thế rồi nó cũng lần lượt được cấp phép lưu hành trót lọt. Mà nào có phải xe lôi Trung Quốc đẹp đẽ và an toàn lắm đâu, nếu không nói còn xấu hơn và chất lượng an toàn không hơn gì xe lôi, xe ba gác máy của ta. Nhiều người nói vui “Tự mình đá thủng lưới nhà một cách ngoạn mục” (!). Còn các loại xe tải nhỏ trong nước thì có chiếc nào dưới trăm triệu đâu, hỏi làm sao người chạy xe lôi, xe ba gác mua nổi. Vả lại, nếu có mua được thì nó cũng khá kềnh càng rất khó thay thế cho xe lôi, xe ba gác vốn quen bà con mình, bởi từ lâu thích hợp với đường ngang ngõ tắt và những con hẻm ngoằn ngoèo nhỏ hẹp. Thực trạng này không chỉ người chạy xe kêu trời mà cả những chủ bán vật liệu xây dựng cũng chẳng biết nói vào đâu cho thấu, dẫn tới việc bán buôn ế ẩm. Chẳng lẽ mua một bao xi măng, vài mươi viên gạch lại phải mướn chiếc xe tải cả tấn để chở? Bài toán thất thu do trở ngại, ách tắc trong vận chuyển hàng hóa chắc chắn không thể tính bằng triệu được.  LÊ CHÍ    Nguyễn Ngọc Điện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên thủ quốc gia với mạng xã hội      Theo một nghiên cứu mới đây về việc sử dụng  mạng xã hội của các vị lãnh đạo trên thế giới thì Tổng thống Mỹ Obama là  một trong những chính khách thích sử dụng mạng xã hội nhất.    Nghiên cứu được thực hiện với 260 vị lãnh đạo ở 120 nước.  Chỉ gửi tin mà lười trả lời  Báo cáo phát hiện, tài khoản Twitter của Obama đến nay có hơn 5.000 tin, trong đó chỉ có 8 tin do chính tay Obama viết, những tin này đều có chữ “-BO” ở đằng sau, trong đó có một tin nhắn gửi cho Đệ nhất phu nhân Michell Obama nhân ngày Valentine.  Báo cáo còn chỉ ra, phần lớn các lãnh đạo sử dụng Twitter đều lạnh nhạt với fan của mình. 99 vị lãnh đạo được theo dõi đều không có một tin nhắn nào trả lời các fan.   Các lãnh đạo Uganda và Rwanda là những người chăm trả lời tin nhắn nhất, trong khi Tổng thống Obama trả lời chưa đến 1% các tin. Tổng thống Venezuela chỉ đứng sau Tổng thống Mĩ về số fan trên Twitter và ông trả lời tới 38% số tin nhắn.   Cực hiếm Follow  Điều đáng chú ý là các nguyên thủ quốc gia rất ít liên hệ với nhau.  Twitter của Obama được các vị lãnh đạo các quốc gia khác quan tâm nhất, có tới 76 người theo dõi, trong khi Obama chỉ “Follow” Tổng thống Na Uy và Tổng thống Nga.   Một số bộ phận các lãnh đạo chỉ đăng ký tài khoản trên các mạng xã hội với mục đích tranh cử, một khi đã trúng cử rồi thì không còn gửi đi bất cứ thông tin gì nữa, như trường hợp Tổng thống Brazil hay Tổng thống Pháp.   Báo cáo còn cho biết:  Thế giới có 264 vị lãnh đạo sử dụng Twitter với 52 triệu fan;  Tổng số tin được viết ra là 350 ngàn;  Chỉ có 30 người tự tay viết blog.   Blog của họ được thể hiện bằng 43 ngôn ngữ, trong đó tiếng Anh chiếm 90%, sau đó là tiếng Tây Ban Nha, Pháp, và  A rập  Nhị Giang lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà chức trách cũng cần xử sự theo chuẩn mực chung      Cuối cùng, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm đã bước vào thời kỳ bị dập tắt… về mặt pháp lý, nghĩa là do hiệu lực của một tuyên bố hết dịch của nhà chức trách.    Cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa làm rõ được nguồn gốc đích thực của dịch, dù lúc đầu, các nguồn tin chính thức (xuất xứ từ nhà chức trách y tế) đã khẳng định rằng mắm tôm là thủ phạm. Cũng do quy kết lúc ban đầu đó mà mắm tôm đã bị cấm sản xuất, cũng như bị một bộ phận lớn của xã hội tẩy chay, ít nhất là trong một giai đoạn, và, tất nhiên, các nhà sản xuất, nói chung, những người sinh sống bằng công việc tạo ra thứ mắm đó,  phải lãnh trọn hậu quả thiệt hại vật chất trực tiếp. Sự đối xử tệ hại và những mất mát ấy phải bị coi là không công bằng, trong điều kiện người chịu mất mát và món nước chấm ấy, cũng được ví như một con người, đều chưa bị tuyên bố có lỗi trên cơ sở những bằng chứng có căn cứ khoa học và thuyết phục.  Vấn đề là nhà chức trách luôn giữ thái độ của một người không có trách nhiệm gì đối với những chuyện này. Bộ trưởng Y tế, khi trả lời chất vấn trong kỳ họp vừa qua của Quốc hội, đã lên tiếng yêu cầu người dân nên thông cảm với Nhà nước mà tạm ngưng sản xuất, tiêu dùng chất nước chấm bị nghi là “có tội” đó, cho đến khi hết dịch. Ông Bộ trưởng hoàn toàn không đả động đến vấn đề liệu trong thời gian tạm nghỉ theo khuyến cáo, những người tham gia sản xuất, đặc biệt là các công nhân làm thuê và gia đình họ, làm gì khác để sống; ông cũng không hề nhắc đến chuyện bù đắp thiệt hại cho những người này, trong trường hợp theo kết luận cuối cùng, sản phẩm họ làm ra không phải là tác nhân gây dịch.       Ứng xử của các đại diện quyền lực công hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản được thiết lập trong tất cả các hệ thống chuẩn mực pháp lý của xã hội có tổ chức. Đáng lý ra, nếu  gây thiệt hại cho một người khác mà không phải để bảo vệ một lợi ích chính đáng nào đó và người bị thiệt hại không có lỗi, thì người gây thiệt hại phải bồi thường. Quy tắc này được áp dụng mà không phân biệt người gây thiệt hại là nhà chức trách hay thường dân.     Tất nhiên, trong trường hợp nghi vấn về khả năng gây tác hại của một thứ gì đó, nhà chức trách có quyền tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm kiểm soát, hạn chế, thậm chí đình chỉ sự vận hành của nó, để ngăn chặn tác hại. Thế nhưng, một khi mọi chuyện đã rõ ràng, thì việc giải quyết hậu quả thiệt hại, do biện pháp ngăn chặn gây ra, phải được thực hiện một cách sòng phẳng, theo luật chung về trách nhiệm dân sự.    Đây không phải là lần đầu tiên, nhà chức trách lẫn tránh trách nhiệm đối với dân. Trong một câu chuyện khác, xảy ra cách nay không lâu, một người bị chó cắn được tiêm vaccine phòng dại, sau đó bị tai biến liệt não; loại vaccine gây tai họa ấy được Bộ Y tế cho phép sản xuất và lưu hành trong nước ở thời điểm đó, dù, đã từ lâu, có khuyến cáo ngưng sử dụng của Tổ chức Y tế Thế giới. Nạn nhân đã gần như bị bỏ mặc, cùng với gia đình, trong cuộc vật lộn với cái chết. Phải đợi đến khi họ khởi kiện trước tòa án và báo chí lên tiếng, một vài cơ quan (được chỉ định) mới thực hiện các giao tiếp ngoại tư pháp để khắc phục hậu quả. Tuyệt đối, không một lời xin lỗi chính thức nào được đưa ra.  Đáng chú ý là những người có thẩm quyền đều có nhận thức rất tốt về sự cần thiết của việc quy trách nhiệm đối với các hành vi quảng bá, cho lưu hành những thông tin không đúng sự thật hoặc đề ra những quyết định sai lầm, mà dẫn đến hậu quả thiệt hại vật chất cho xã hội. Bằng chứng là trong vụ một số tờ báo đưa thông tin sai lệch về tác dụng của bưởi đối với sức khoẻ con người, các cơ quan chức năng đã vào cuộc rất nhanh chóng, xác định chủ thể của trách nhiệm, mức độ sai phạm, đánh giá hậu quả thiệt hại và, sau đó, đã đưa ra các quyết định chế tài nghiêm khắc.    Tích cực, mẫn cán trong việc quy trách nhiệm cho người dân về hành vi sai trái, nhưng lại không biết hoặc không muốn quy trách nhiệm cho mình, nhà chức trách có thiên hướng tự xây dựng thành một siêu chủ thể đứng trên các khuôn mẫu ứng xử.      Cần nhấn mạnh rằng nguyên tắc bình đẳng giữa mọi chủ thể trong xã hội có tổ chức đòi hỏi Nhà nước cũng được đặt dưới sự chi phối của hệ thống chuẩn mực khách quan, như bất kỳ chủ thể nào khác, trong giao tiếp nhân văn. Được nhân cách hóa, Nhà nước-chủ thể, cũng như một con người, có thể được xã hội giám sát, đánh giá về mặt đạo đức, hạnh kiểm và được uốn nắn khi cần thiết, để cư xử đúng mực. Ở góc độ  pháp lý, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm, bằng tài sản của mình, về hệ luỵ của những hành vi do mình thực hiện, cũng như có quyền đòi hỏi lập lại sự công bằng, nhất là trong khuôn khổ một vụ kiện trước tòa án, trong trường hợp bị thiệt hại do hành vi của chủ thể khác.          Sòng phẳng và sẵn sàng nhận trách nhiệm, Nhà nước không hề bị giảm sút uy tín đối với dân trong những trường hợp phạm sai lầm. Trái lại, thái độ xử sự ấy giúp chủ thể quyền lực công tạo dựng được hình ảnh tốt đẹp về nhà chức trách trung thực, dũng cảm và lương thiện, qua đó, mới tỏ ra xứng đáng nhận lấy sứ mạng dẫn dắt toàn xã hội trong công cuộc kiến tạo trật tự, công lý và bảo vệ lẽ phải.           Nguyễn Ngọc Điện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học đối thoại với công chúng: Nói gì vì một thế giới tốt đẹp hơn ?      Tôi được Ban biên tập Tia Sáng đề nghị viết về “nâng cao nhận thức về truyền thông khoa học và tiếp cận công chúng”, chủ đề được lựa chọn cho số báo kỷ niệm ba mươi năm thành lập Tia Sáng. Tất nhiên tôi hào hứng nhận lời. Những thập kỷ qua, tôi vẫn thường viết về vai trò của nhà khoa học trong chia sẻ tri thức với cộng đồng, với ý thức rằng khoa học cơ bản chủ yếu lấy nguồn kinh phí từ ngân sách công và giới khoa học có nghĩa vụ giải trình với nhân dân về cách chúng ta sử dụng tiền thuế của họ như thế nào. Tôi cũng thường nói về ý nghĩa quan trọng của khoa học đối với sự tiến bộ của nhân loại; khi còn là một nhà vật lý hạt nhân, dù rất khó để lý giải với những người bình dân về tầm quan trọng của các hạt Higgs, tôi vẫn mạnh dạn đưa ra những ví dụ về các sáng chế phát sinh giúp ích cho con người, từ điện năng cho tới mạng Internet. Tôi làm những điều ấy một cách thành tâm bởi tin tưởng sâu sắc rằng khoa học là ngôi đền của trí tuệ và liêm chính, cùng những giá trị khác làm nên nhân phẩm con người.      Nếu thấu hiểu nhau hơn, chúng ta sẽ nhận ra mình thật giống nhau, cùng mong muốn được sống trong bình yên và hòa thuận, cùng có lòng trắc ẩn và sẵn lòng chia sẻ những khổ đau  Đến nay tôi vẫn tin như vậy.    Nhưng lúc này điều đã thay đổi trong nhận thức của tôi là việc nhận ra đám đông ít chịu lắng nghe, chưa nói tới thấu hiểu nhau, như thế nào. Càng có tuổi, tôi càng cảm thấy thế giới đang suy thoái một cách không thể đảo ngược. Chỉ sau một thế kỷ, không gian và thời gian sống của nhân loại bùng nổ; về không gian, con người đã chiếm lĩnh toàn bộ hành tinh, cho thấy sự giới hạn của tăng trưởng cùng những bất công trong cách chia sẻ tài nguyên; về thời gian, người ta chỉ mất một phần triệu giây để chuyển hàng tỷ USD từ một ngân hàng ở New York tới một ngân hàng ở Bermuda. Những đột phá chẳng hề giúp con người chung sống tốt hơn; chúng ta xây tường ở biên giới để ngăn người nhập cư từ các nước láng giềng; bốn năm nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ của Trump cho thấy sự mong manh của các nền dân chủ, khi thật dễ dàng thao túng một bộ phận công chúng vào những niềm tin sai lệch, khi tôn giáo vốn dựa trên tình thương đối với những người kém thế và sự coi thường chủ nghĩa vật chất nhưng giờ đây bị lợi dụng để lên giọng với những người kém thế và tụng ca đồng tiền. Chúng ta không thể kiểm soát những vấn đề cấp bách toàn cầu như bùng nổ dân số mà hệ quả là đô thị hóa, nạn ô nhiễm và khan hiếm năng lượng, vấn đề tử vong trẻ em, vấn đề phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, các đại dịch. Và khoa học, như cách công chúng nhìn nhận, thay vì giúp giải quyết những vấn nạn này lại bị phân tán vào những sáng kiến vô bổ, như làm rùm beng về trí tuệ nhân tạo và “công nghiệp 4.0”, sản xuất xe không người lái, những robot thuần túy chỉ có kỹ năng trả lời “các câu hỏi thường gặp”, những chiếc điện thoại thông minh gây nghiện cho phần lớn dân số toàn cầu, và những mạng xã hội nơi người ta chia sẻ và cộng hưởng những quan điểm chung ấu trĩ và đả kích những ai mang quan điểm khác biệt.    Tôi cảm thấy xấu hổ viết những điều vừa rồi. Từ xưa đến giờ, tôi vẫn nghĩ và nói rằng cho dù điều gì xảy đến, chúng ta hãy cứ mỉm cười và chịu đựng, tạo ra điều tốt nhất từ những cái xấu, giữ vững niềm tin vào tương lai và tiếp tục đấu tranh. Sau tất cả, vẫn còn đó tình yêu và khao khát trong đôi mắt và nụ cười trẻ thơ giống như hàng nghìn năm trước, hoàng hôn vẫn như vậy, những khuấy động trong tim những thanh niên đang độ yêu đương, vẫn còn những xúc cảm trong nhịp điệu các bài thơ và nốt nhạc. Hãy đổ lỗi bi quan cho tuổi già của người viết và quên đi chuyện này. Nhưng bạn đọc hẳn cũng hiểu thật khó khăn cho tôi khi giãi bày những dòng này, cần cả cuốn sách để nói hết những cảm nhận chất chứa trong lòng.    Những người phê phán khoa học đã chỉ ra sự vô ích của nó. Và chúng ta không còn có thể kiêu ngạo bỏ ngoài tai những gì họ nói. Cần đối diện một cách có trách nhiệm với câu hỏi về sự hữu ích của khoa học trong thế giới hôm nay. Với những người bình dân, thật vô nghĩa nếu nhà khoa học thuần túy chỉ chia sẻ về công việc mình đang làm. Bản thân chúng ta mất nhiều năm học tập và nghiên cứu để thấu hiểu các lý thuyết tương đối và lượng tử bởi chúng thật trái ngược với trực giác thông thường; hay thậm chí thuyết tiến hóa cũng thật trái tai, làm sao để thuyết phục ai đó không có nền tảng về sinh học phân tử và tế bào tin rằng những kỳ quan của tạo hóa như một con mắt hay cái tai được hình thành bởi sự tình cờ và nhu cầu thích nghi để sinh tồn? Điều đó thật bất khả thi.      Là một nhà khoa học, mỗi ngày trong năm ta đều cần cảm thấy có trách nhiệm thúc đẩy tư duy lý trí, nhất là ở những quốc gia nơi các giá trị trí thức bị suy thoái. Chúng ta phải đấu tranh chống sự mê tín còn phổ biến ở mọi nơi.      Những thập kỷ gần đây, chúng ta cảm nhận sâu sắc rằng không thể thảo luận duy lý về hai chủ đề quan trọng: năng lượng hạt nhân và biến đổi khí hậu. Người ta chia phe, đả kích lẫn nhau; cảm xúc thay thế lý trí. Sau nhiều năm chứng kiến quá trình nhận thức của công chúng đối với những câu hỏi này, tôi mất đi hi vọng vào sự tiến bộ; chúng ta sẽ không bao giờ hiểu nhau và buộc phải chấp nhận điều ấy.    Không thấu hiểu là nguồn gốc thất bại của chúng ta trước những thách thức đang đối diện. Nếu thấu hiểu nhau hơn, chúng ta sẽ nhận ra mình thật giống nhau, cùng mong muốn được sống trong bình yên và hòa thuận, cùng có lòng trắc ẩn và sẵn lòng chia sẻ những khổ đau; ít nhất thì đa số con người là vậy. Chúng ta sẽ biết rằng có những người ích kỷ và tham lam quyền lực, địa vị nhiều hơn công lý, nhưng đó chỉ là một bộ phận nhỏ, và điều ấy tồn tại ở mọi quốc gia và chủng tộc. Và ta sẽ học cách lựa chọn những người lãnh đạo: người dành cuộc đời phụng sự đất nước thay vì quyền lợi riêng; người thống nhất thay vì chia rẽ đất nước; người sống giữa nhân dân, cùng chia sẻ buồn vui, thay vì những tỉ phú xa rời hiện thực của thế giới xung quanh; người thấu hiểu, như Hồ Chí Minh, rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, và “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”, thay vì đốt sách vở trái với đường lối tư tưởng chính thống như Goebbels từng hô hào các sinh viên Đức năm 1933.    Trong một bài viết ngắn đăng trên Tia Sáng cách đây ít lâu, tôi nhận xét rằng làn sóng dân túy đang làm rung động phương Tây, từ nước Mỹ của Donald Trump tới nước Anh của Nigel Farage, thúc đẩy sự ấu trĩ trong đám đông ủng hộ họ: ấu trĩ về hiện thực thế giới toàn cầu hóa, ấu trĩ về lịch sử và những cuộc chiến tranh nhân loại phải gánh chịu, những bài học từ các chế độ chính trị. Đối lập với sự ấu trĩ, những tri thức về lịch sử và những ý thức hệ mà con người theo đuổi nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, chính là một bài học về sự khiêm nhường và trí tuệ: khiến chúng ta nhận ra thật khó để con người chung sống hòa bình, trong sự hài hòa và tôn trọng những giá trị nhân bản mà tất cả cùng tin tưởng: công lý, nhân ái, đoàn kết, chính trực và phẩm giá con người. Marx từng kêu gọi vô sản toàn thế giới đoàn kết lại. Chưa đầy một thế kỷ sau nhân loại rơi vào hai cuộc đại chiến, gây ra cái chết cho bảy mươi triệu người.    Những người lãnh đạo không tôn trọng nhân dân cũng giống như cha mẹ không tôn trọng con cái, muốn con mình tin tưởng tuyệt đối vào những lời thuyết giảng giáo điều. Những bậc cha mẹ tôn trọng con cái thay vào đó sẽ đào tạo con mình trở thành những người trưởng thành và công dân với tâm trí cởi mở, biết tự đánh giá và phản biện một cách khách quan để đưa ra những lựa chọn tốt nhất cho cộng đồng, đất nước, và thế giới.      Một cuộc tuần hành vì môi trường của các em học sinh tại Mỹ. Ảnh: Steven Paul Whitsitt.  Khoa học có ích cho việc đào tạo như vậy, không nhờ vào những chất liệu chuyên môn cụ thể của ngành học, mà nhờ vào phương pháp luận: nó từ chối sự áp đặt của kẻ quyền thế, không chấp nhận che đậy đi những luận điểm trái ngược với lý thuyết chính thống. Lý thuyết của hiện tại là cái tốt nhất từ trước đến nay, và ngày mai có thể bị thay thế bởi lý thuyết tốt hơn, đúng đắn và phổ quát hơn: khoa học không hề tham vọng nắm giữ chân lý tuyệt đối. Điều quan trọng với khoa học không phải là tin hay không tin, mà là cuộc chiến giữa tri thức với ấu trĩ.    Dạy trẻ em sớm tự suy nghĩ độc lập có lẽ là cống hiến quan trọng nhất của khoa học cho sự tiến bộ của nhân loại. Đây không phải là đặc quyền của riêng các nhà khoa học, mà là giá trị phổ quát của mọi học giả, những ai từ chối các giáo điều và cổ vũ cho sự chính trực trong tư duy. Chúng ta phải cảm thấy có trách nhiệm thúc đẩy một thái độ phản biện như vậy trong suy nghĩ. Cần dạy thế hệ trẻ nhìn nhận thế giới xung quanh một cách cởi mở, suy nghĩ về những gì mình thấy một cách cởi mở, học hỏi từ cách nhìn của những người khác để làm giàu cho tri thức bản thân khi họ sẵn lòng chia sẻ, và đấu tranh một cách hiệu quả khi họ không sẵn lòng đối thoại.    Các nhà trí thức nói chung, các nhà khoa học nói riêng, có vai trò thúc đẩy những giá trị đó trong xã hội. Việt Nam cần nhớ về phiên tòa Russell-Sartre và đóng góp quan trọng của nó giúp thế giới nhận thức về những tội ác của nước Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Vai trò của nhà khoa học trong truyền thông xã hội không chỉ giới hạn trong Ngày Khoa học và Công nghệ mỗi năm một lần. Là một nhà khoa học, mỗi ngày trong năm ta đều cần cảm thấy có trách nhiệm thúc đẩy tư duy lý trí, nhất là ở những quốc gia nơi các giá trị trí thức bị suy thoái. Chúng ta phải đấu tranh chống sự mê tín còn phổ biến ở mọi nơi. Chúng ta tôn trọng các tín ngưỡng như một cách biểu đạt khả năng giới hạn của con người trong việc làm sáng tỏ nguồn gốc của hiện hữu: khoa học chỉ có thể lý giải cách thức thế giới vận hành, nhưng không thể cho biết vì sao thế giới hiện hữu thay vì hư vô; nhưng chúng ta phải phản bác những câu chuyện méo mó, như tưởng tượng rằng thế giới được Thượng đế tạo ra khoảng chục nghìn năm về trước, hay những thuyết giảng cổ vũ cho lòng hận thù với những ai không tin tưởng vào các vị Thượng đế của mình.    Chỉ như vậy chúng ta mới có cơ hội đối diện với những thách thức của thế giới hôm nay. Và cho dù sự thoái trào của con người là không thể tránh được, rằng đây chỉ là lời nói dông dài của một ông già, thì ít nhất chúng ta hãy thoái trào với những con mắt mở rộng.□         Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nhà nước kiến tạo      Những cố gắng của Chính phủ trong việc cắt  giảm thủ tục hành chính để cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao  năng lực cạnh tranh đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong cách nghĩ  và cách làm của chúng ta. Chúng ta thật sự đang đi những bước đầu tiên  trên con đường chuyển đổi từ mô hình nhà nước quản lý toàn diện sang mô  hình nhà nước kiến tạo phát triển.       Nhà nước kiến tạo phát triển thì không làm thay dân, mà tạo khuôn khổ thể chế và mọi điều kiện cần thiết khác để từng người dân có thể mưu cầu hạnh phúc. Khi và chỉ khi hàng triệu người dân Việt Nam có điều kiện làm ăn dễ dàng, có năng lực làm chủ cuộc sống và sáng tạo tương lai thì sự giàu có và thịnh vượng bền lâu mới đến với đất nước ta. Điều quan trọng là phải xây dựng một nhà nước bé nhất có thể, nhưng một xã hội công dân lớn nhất có thể. Xã hội hóa là một bước đi cụ thể theo hướng này. Chúng ta thúc đẩy xã hội hóa không chỉ để huy động các nguồn lực to lớn từ xã hội, mà còn để trả lại cho xã hội những chức năng, những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn. Ngoài ra, để xây dựng một bộ máy nhà nước bé nhất có thể, chúng ta còn cần phải làm cho bộ máy hoạt động chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn.    Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước biết làm cho người dân trở nên thực sự có quyền lực. Mở rộng dân chủ, bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách là rất quan trọng. Chỉ có mở rộng dân chủ, chúng ta mới có thể xác lập được chế độ trách nhiệm trước dân và hệ thống khuyến khích phục dân. Chỉ có bảo đảm sự tham gia của người dân chúng ta mới có thể làm cho chính sách, pháp luật gần với cuộc sống hơn, phản ánh đúng ý nguyện và lợi ích của người dân hơn.  Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước tuân thủ pháp quyền. Pháp luật trước hết ràng buộc nhà nước và các cơ quan công quyền. Người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, nhưng quan chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Từ việc xây dựng dự án, đề ra chính sách đến việc thực thi pháp luật, các quan chức đều cần bảo đảm một cách chắc chắn rằng pháp luật cho phép họ làm như vậy. Trước khi hành động mọi cơ quan công quyền, mọi công chức thực thi công vụ đều phải chỉ ra được điều luật cho phép họ hành động. Việc áp dụng các chế tài của pháp luật nặng với dân, mà nhẹ với quan là không thể chấp nhận được.  Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nươc biết tạo ra cạnh tranh lành mạnh để mọi chủ thể trong xã hội đều phải vươn lên và để thu hút được người tài. Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và kiểm soát gắt gao những doanh nghiệp còn chiếm giữ vị thế độc quyền là rất quan trọng. Độc quyền không chỉ dẫn đến lạm quyền, mà còn làm cho hoạt động kinh tế kém hiệu quả, và xã hội kém năng động. Một cơ chế để người tài được tuyển chọn cũng hết sức quan trọng. Một phần của cơ chế này là áp đặt chế độ trách nhiệm rất rõ ràng, để những người đứng đầu bắt buộc phải chọn cho được người tài (không chọn được người tài không thể hoàn thành được công việc). Tất nhiên, cũng phải trao quyền tuyển chọn cho quan chức này.   Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước biết bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Các phiên chất vấn, giải trình trước Quốc hội và hoạt động tranh luận ở Quốc hội là những công cụ hết sức quan trọng ở đây. Chúng làm cho chính sách và hành động của các cơ quan nhà nước trở nên rõ ràng, minh bạch. Quốc hội, đặc biệt là các phiên họp toàn thể của Quốc hội, cung cấp cho các quan chức nhà nước một diễn đàn hết sức quan trọng và hiệu quả để giải trình không chỉ với các vị đại biểu, mà còn với đông đảo nhân dân. Biết sử dụng diễn đàn này để giải trình, để làm cho các quyết định và chính sách của mình trở nên minh bạch là một kỹ năng quan trọng đối với tất cả các chính khách và các nhà lãnh đạo. Ngoài ra, giải trình trực tiếp với nhân dân cũng rất quan trọng. Chương trình “Dân hỏi, bộ trưởng trả lời”, các chương trình giao lưu trực tuyến qua các cổng thông tin điện tử là những cố gắng cụ thể theo hướng này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước kiến tạo hay nhà nước điều chỉnh      Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa ký phê chuẩn dự luật cắt giảm thuế lớn chưa từng có, đặc biệt là cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Mục tiêu chính sách ở đây là để khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư, trong đó có việc rút vốn từ nước ngoài về đầu tư trong nước.      Chúng ta đã không thúc đẩy phát triển công nghiệp thông qua các công ty, các tập đoàn tư nhân mà lại thông qua các doanh nghiệp nhà nước.    Hệ quả được hy vọng là kinh tế sẽ được thúc đẩy phát triển và nhiều việc làm cho người Mỹ sẽ được tạo ra. Trước đây, ông Trump cũng đã ban hành sắc lệnh về độc lập năng lượng hạ thấp các tiêu chuẩn phát thải cho các nhà máy điện dùng than. Việc hạ thấp tiêu chuẩn này được tin là sẽ tạo điều kiện để mở rộng sản xuất điện than nhờ đó mà ngành khai thác than cũng có thể mở rộng sản xuất. Hệ quả tiếp theo là công ăn việc làm mới sẽ được tạo ra cho những người dân Mỹ. Cách hành xử như vậy là rất đặc trưng cho mô hình nhà nước điều chỉnh. Nhà nước chỉ tác động lên các ngành công nghiệp bằng cách điều chỉnh chính sách, pháp luật chứ không trực tiếp xây dựng kế hoạch rồi đầu tư phát triển các ngành này. Và đây cũng là điểm khác biệt hết sức quan trọng giữa mô hình nhà nước điều chỉnh với mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.  Thực ra, thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được nhà nghiên cứu Chalmers Johnson đưa ra từ những năm tám mươi của thế kỷ trước khi ông nghiên cứu về sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Ông nhận thấy rằng trong sự phát triển thần kỳ ấy có vai trò rất quan trọng của nhà nước. Nhà nước Nhật Bản đã không chỉ tạo ra khuôn khổ cho sự phát triển, mà còn định hướng và thúc đẩy sự phát triển đó. Sau này, ngoài Nhật Bản ra, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… đều được xem là những nhà nước kiến tạo phát triển. Đặc trưng hết sức cơ bản của mô hình nhà nước này là nhà nước trực tiếp đề ra một kế hoạch phát triển công nghiệp (với những tham vọng lớn) và đầu tư mạnh mẽ về cơ chế, chính sách và nhiều khuyến khích khác để thúc đẩy công nghiệp phát triển. Theo các nhà nghiên cứu, đây là mô hình nhà nước nằm ở giữa nhà nước điều chỉnh (theo chủ thuyết thị trường tự do) và nhà nước kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống). Nhà nước kiến tạo phát triển không đứng ngoài thị trường, nhưng cũng không làm thay thị trường. Mà nhà nước kiến tạo phát triển chủ động can thiệp mạnh mẽ vào thị trường để thúc đẩy phát triển và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được đề ra. Để đạt được mức tăng trưởng GDP gấp đôi, một nhà nước điều chỉnh (như Hoa Kỳ) sẽ phải mất đến 50 năm, trong lúc đó một nhà nước kiến tạo phát triển (như Trung Quốc) chỉ mất 10 năm. Từ ví dụ về sắc luật cắt giảm thuế và sắc lệnh độc lập năng lượng của Tống thống Mỹ Trump, chúng ta cũng sẽ thấy khá rõ những hạn chế của mô hình nhà nước điều chỉnh. Cụ thể, lấy sắc lệnh độc lập năng lượng làm ví dụ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc hạ thấp tiêu chuẩn phát thải chưa chắc đã khiến các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất điện than nhiều hơn; việc khai thác than vì vậy chưa chắc đã được mở rộng; công ăn, việc làm mới cho người dân Mỹ chưa chắc đã được tạo ra.      Nhà nước kiến tạo phát triển chủ động can thiệp mạnh mẽ vào thị trường để thúc đẩy phát triển và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được đề ra.        Nhiều người cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước kế hoạch hóa tập trung.  Ở Việt Nam, kể từ Đại hội VI của Đảng, chúng ta đã thật sự từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung, mà đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Đảng và Nhà nước đã đề ra đường lối công nghiệp hóa đất nước, đã công nhận cơ chế thị trường, nhưng vẫn coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước. Như vậy tất cả các phần cấu thành quan trọng của một nhà nước kiến tạo phát triển đều đã được khẳng định trong đường lối phát triển của chúng ta. Có lẽ, chính vì thế, kinh tế nước ta đã có sự phát triển khá ngoạn mục trong thời gian vừa qua. Sau 30 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế, cũng như thu nhập bình quân đầu người ở nước ta đã tăng đến hàng chục lần. Rất nhiều nước cộng hòa Xô viết (thuộc Liên Xô trước đây) từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung đã không có được một sự phát triển ngoạn mục như vậy.  Tuy nhiên, vấn đề là đất nước ta vẫn chưa trở thành “hổ”, thành “rồng’ như các nước Đông Bắc Á.  Nguyên nhân có nhiều, nhưng cơ bản nhất là chúng ta đã không thúc đẩy phát triển công nghiệp thông qua các công ty, các tập đoàn tư nhân như ở Nhật Bản và Hàn Quốc, mà lại thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Một nguyên cơ bản khác nữa là chúng ta cũng đã không có được một bộ máy hành chính, công vụ chuyên nghiệp và tài giỏi để hiện thực hóa chương trình công nghiệp hóa. Có lẽ đây là những khiếm khuyết mà chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực để khắc phục. Đồng thời phải kiên trì mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Kinh nghiệm của Trung Quốc một lần nữa khẳng định đây là mô hình phù hợp nhất để thúc đẩy sự phát triển vượt bậc về kinh tế.  Công bằng mà nói, một khuôn khổ khái niệm sáng rõ và mạch lạc về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển chưa thật sự hình thành ở nước ta. Sự lựa chọn của chúng ta trong quá trình đổi mới nếu không phải do may mà đúng, thì cũng chủ yếu là đi theo sự đòi hỏi khách quan của tình hình hơn là trên một nền tảng lý thuyết vững chắc. Tuy nhiên, điều đáng băn khoăn là những cố gắng của chúng ta trong thời gian gần đây lại có vẻ đang đi chệch khỏi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển sang mô hình nhà nước điều chỉnh. Điều này được thể hiện rất rõ trong phát biểu ngày 18/11/2017 vừa qua của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trước Quốc hội. Khi được hỏi về nội hàm của Chính phủ kiến tạo, Thủ tướng đã khẳng định: “Chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển”; “Nhà nước không làm thay thị trường”; “Chính phủ phải kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi”… Đây quả thực là mô thức hành động của nhà nước điều chỉnh (trong đó có Chính phủ điều chỉnh) theo mô hình Anh, Mỹ. Cách làm này đã đưa lại sự phát triển và thịnh vượng cho hai quốc gia nói trên là điều không thể chối cãi. Và trong điều kiện các doanh nghiệp của nước ta làm ăn khó khăn như hiện nay, có lẽ đây cũng là cách làm rất cần thiết. Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất ở đây là các điều kiện kinh doanh thuận lợi có thể được tạo ra, nhưng tận dụng chúng lại là các doanh nghiệp nước ngoài chứ không phải là doanh nghiệp Việt. Thành công của mô hình nhà nước điều chỉnh vì vậy còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các doanh nghiệp trong nước. Sự lựa chọn đúng đắn hơn cho đất nước ta vì vậy có vẻ vẫn là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (theo mô hình các quốc gia Đông Bắc Á) chứ không hẳn là mô hình nhà nước điều chỉnh (theo mô hình Anh, Mỹ).       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Nhà nước, nhân dân, trí thức      Hiện nay không phải chính phủ và nhà nước mà chính là giới trí thức chịu trách nhiệm chính trong nhận thức về tình thế hiện nay, trong việc so sánh đối chiếu những lựa chọn cho sự phát triển. Chính giới trí thức có nhiệm vụ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra và tại sao lại xảy ra, xem cái gì của quá khứ nên gìn giữ bởi lẽ chủ nghĩa hư vô tổng thể rất nguy hiểm, nó làm cho tầm hồn nhân dân khô héo, khiến cho mọi người trở nên hung bạo, nó tước đoạt mất của họ một trong những đặc tính tuyệt vời nhất của con người là khả năng biết tha thứ. Và trong bối cảnh như vậy chúng ta cần phải xem xét lại một cách có phê phán nhiều luận điểm về đạo đức mà trong suốt ba phần tư thế kỷ đã trở thành những chuẩn mực.      Cũng như nhiều người, tôi cho rằng sự tồn tại vật chất là có trước. Nhưng đó chỉ là luận điểm triết học chung chung. Trong thực tế, yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần gắn liền khăng khít với nhau bằng nhiều mối liên hệ gián tiếp. Và chúng mang tính chất không đơn nghĩa và đôi khi còn mang tính chất mâu thuẫn.  Văn minh và đạo đức hoàn toàn không đồng nghĩa với nhau. Và đồng thời chúng cũng không tách biệt khỏi nhau. Đạo đức là cốt lõi của văn minh. Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với điều đó. Nhưng đối với tôi thì đó là định lý, là định đề khởi thuỷ, bởi vì tôi tin tưởng sâu sắc rằng bất cứ một nền văn minh nào nếu đánh mất đạo đức, đánh mất phẩm chất tinh thần của mình hoặc làm suy yếu cơ sở đạo đức thì đều bị thoái hoá và sẽ phải rời khỏi vũ đài lịch sử. Lịch sử đã cung cấp cho chúng ta không ít dẫn chứng để xác nhận điều đó. Chỉ cần nhớ lại lịch sử Cổ La Mã.  Văn minh cũng không đồng nhất với khái niệm “văn hoá”. Đó cũng là một trong những cái tạo nên các nền văn minh và chính nó xác định những chuẩn mực trong cách ứng xử của con người. Văn hoá gắn chặt với đạo đức và là một trong những phương thức, có lẽ thậm chí là phương thức quan trọng nhất, để ngăn chặn thói man rợ và sự gây hấn do các bậc tổ tiên xa xưa của chúng ta truyền lại cho chúng ta, và, thật đáng tiếc, đã thâm nhập vào gen di truyền của chúng ta như những quy luật của sinh học xã hội mà tổ tiên là những người tạo nên chúng.  Không bao giờ được quên rằng ông tổ chung của tất cả những người đang sống hiện nay, người Cro-Magnon, về mặt sinh học đã được hình thành cách đây hàng chục nghìn năm, khi họ sống giữa các loài thú rừng hùng mạnh và cấu tạo tâm lý của họ đã hầu như thích nghi với cuộc sống dã thú của những thời kỳ xa xưa ấy. Và sự hoàn thiện của con người đã chấm dứt chính khi đó, ở giai đoạn cuối của thời đại đồ đá cổ đại. Như thế có nghĩa là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của con người nằm trong gen di truyền của chúng ta, những cái mà ngày nay chúng ta thừa hưởng, không thể là gì khác mà chính là kết quả của sự thích nghi với những điều kiện của cuộc sống thời kỳ tiền băng hà. Và chúng hoàn toàn không phù hợp với những điều kiện hiện nay của sự siêu hùng mạnh về kỹ thuật, của sự phát triển nhanh như vũ bão những kiến thức trong các lãnh vực rất khác nhau. Con người cần phải biết kịp thời điều chỉnh các quy luật xã hội sinh học vốn đã chi phối cuộc sống ở thời kỳ nguyên thuỷ và hiện nay không còn phù hợp với những điều kiện đã thay đổi của cuộc sống, bằng những quy tắc của sự chung sống, bằng đạo đức mới. Nếu làm khác là sẽ xảy ra tai hoạ, nếu làm khác sẽ xảy ra thảm hoạ! Đó chính là ý nghĩa của giai đoạn mang tính chất xã hội của sự tiến hoá xã hội mà cần phải biết đưa những người săn ma mút vào thời đại nguyên tử. Bởi thế xã hội ngày nay không thể sống thiếu “văn minh tinh thần”, thiếu văn hoá, thiếu nghệ thuật, bởi thế con người mới cần đến những quy tắc của cách ứng xử văn minh, những quy tắc này bao gồm toàn bộ những điều cấm kỵ hoặc tabu như chúng được gọi ở buổi bình minh của đời sống văn minh hoặc những chuẩn mực pháp lý và đạo đức như chúng ta quen gọi hiện nay. Và vai trò của tất cả những nhân tố phi kinh tế, mang tính chất “thượng tầng kiến trúc” trong số phận của nhân loại sẽ gia tăng không kém phần nhanh chóng so với sự gia tăng của sự phức tạp trong cuộc sống chúng ta, sự phức tạp vì dung lượng của cái mà chúng ta quen gọi là hạ tầng cơ sở.  ***  Văn minh và những bộ phận cấu thành của nó – đạo đức, văn hoá, những quy tắc (những chuẩn mực pháp lý) đảm bảo sự kế thừa của các thế hệ, sự kế thừa của cách ưng xử và nếp tư duy của con người. Đó là ký ức đặc thù của con người, ký ức về kinh nghiệm tích cực mà nhân loại đã tích luỹ được từ những thời đại cổ xưa. Và ký ức này bao giờ cũng mở ngỏ đối với tương lai. Tất cả của cải văn minh không cho chúng ta những chế định chặt chẽ trong khi lựa chọn những hành động của chúng ta. Về phương diện này chúng tác động khác hẳn so với những phản xạ có điều kiện. Nhưng chúng bao giờ cũng là cội nguồn của sự tìm tòi trong việc khắc phục những khó khăn ập đến. Đó là những cái mốc chỉ rõ chiều hướng của chỗ nông trong dòng các sự kiện vốn được gọi là lịch sử.  Văn minh đồng thời cũng là màng lọc, tách sự dối trá đủ loại ra khỏi chân lý mà chúng ta không phải bao giờ cũng biết nhưng rất cần thiết cho con người như khí trời. Dấu hiệu đầu tiên về sự suy đồi của văn minh và sự thoái hoá của nhân dân – đó là sự truyền bá cái giả dối. Trở thành chuẩn mực của xã hội, cái giả dối, giống như bệnh di căn, bắt đầu thâm nhập vào cách ứng xử xã hội và vào ý thức xã hội, làm nó mất đi sức mạnh, niềm hy vọng, tinh thần lạc quan, làm nó mất đi niềm tin vào con người, vào khả năng của nó đối với những hành động tập thể có tính mục đích.  Tôi đã nhiều năm làm việc phân tích những hậu quả có thể xảy ra của chiến tranh hạt nhân. Tôi thử nghĩ rằng chuyện gì có thể xảy ra do những thảm hoạ sinh thái khác. Rút cục ở tôi nảy sinh một quan niệm về mệnh lệnh sinh thái và về người bạn đường không thể thiếu được của nó là mệnh lệnh đạo đức. Và tôi đã đi tới một nhận định rằng sự đoạn tuyệt giữa quá khứ và hiện tại đối với từng dân tộc riêng lẻ cũng như đối với cả loài người là một mối nguy vong không kém phần khủng khiếp như sự huỷ hoại mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên. Những suy nghĩ như vậy buộc tôi phải hiểu, nói đúng hơn là thậm chí buộc tôi phải cảm nhận rằng văn minh, văn hoá, đạo đức là những cấu trúc tế nhị và mỏng manh. Không bao giờ được quên rằng đó là những cái màng mỏng ngăn cản dòng tình cảm sôi sục của con người và đôi khi dường như chỉ cần mình cử động nhẹ là cái dòng đó sẽ cuốn trôi những tấm chắn mỏng manh của văn minh và làm lộ ra cái bản chất nguyên thuỷ của con người.  Văn minh không bao giờ là vô bản sắc. Nó bao giờ cũng có gốc rễ dân tộc và lịch sử sâu sắc – trong ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo và trong những nguyên tắc đạo đức. Nếu những tư tưởng mới và những giáo điều mới không phù hợp với chúng thì những thứ này sẽ bị nhân dân bác bỏ.  ***  Người đại diện cho văn hoá là giới trí thức. Nhưng không nên đồng nhất những người lao động trí óc, những người phụng sự văn hoá và giới trí thức. Tôi biết nhiều người ở ta cũng như ở nước ngoài đang nghiên cứu vô tuyến điện tử, đang lập trình hoá, những nghệ nhân xuất sắc, những người có trí tuệ rất đáng kính nhưng đồng thời tôi không dám gọi họ là những nhà trí thức. Ngày nay sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đang dần dần xoá nhoà ranh giới giữa những người mặc áo cổ xanh và những người mặc áo cổ trắng. Nếu căn cứ theo lối sống, theo tính chất y phục và theo sự sung túc về mặt vật chất thì những loại người khác nhau bây giờ ít có những nét khác biệt.  Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là số lượng trí thức gia tăng một cách đáng kể, mặc dầu ý nghĩa của nó đối với số phận loài người gia tăng rất nhanh.  Người trí thức là người bao giờ cũng tìm tòi, không bó hẹp trong phạm vi chuyên môn của mình hoặc trong khuôn khổ những lợi ích có tính chất nhóm phái thuần tuý. Người trí thức luôn suy nghĩ đến số phận của dân tộc mình trong sự so sánh đối chiếu với những giá trị toàn nhân loại. Anh ta có khả năng vượt ra khỏi chân trời hạn hẹp của sự hạn chế về nghề nghiệp hoặc lối sống phàm tục. Theo tôi, một trong những người trí thức đầu tiên của Nga mà chúng ta biết tới là đại giáo chủ Avvakum: Vả lại, bất cứ một dân tộc nào bao giờ cũng có những nhà trí thức của mình.  Vào nửa sau thế kỷ XIX ở Nga đã xuất hiện một tầng lớp trí thức khá nổi bật với thế giới tinh thần, với những truyền thống, với chỗ mạnh và chỗ yếu của họ. Gần với tầng lớp này là sự cất cánh bay bổng kỳ diệu của nền văn hoá Nga vốn đã từng cung cấp cho thế giới những nhà văn, những hoạ sĩ, những nhạc sĩ và tất nhiên cả những nhà bác học trứ danh. Trong số trí thức có những người thuộc các đẳng cấp khác nhau: những nhà quý tộc, những quan chức cao cấp, những thương gia, tỷ như Tretjakov hoặc Mamontov. Còn giới trí thức khoa học – kỹ thuật Nga thì đại bộ phận của nó được hình thành từ những lớp người dân chủ bình dân.  Và cho dù gốc gác nhân dân có ăn sâu đến mấy đi nữa thì giới trí thức ở mức độ đáng kể bị tách khỏi nhân dân, giữa nhân dân và họ bao giờ cũng có một rào chắn nhất định. Rào chắn đó không thể không có. Thiên hạ có nhiều loại khác nhau và do bản chất và số phận nên không phải ai cũng có khả năng trừu tượng hoá khỏi những công việc bận bịu hàng ngày để suy nghĩ về cái “không trực tiếp liên quan đến họ”. Và trình độ học vấn cũng không phải là đặc tính thừa! Bởi thế cho nên mới nảy sinh sự thoát ly dần dần của người trí thức.  Tuy thế, giới trí thức là máu thịt của nhân dân nước mình. Hơn nữa, sự hưng thịnh chung của văn hoá của dân tộc, lối sống dân tộc, những chuẩn mực tư duy của nó, tính chất của lợi ích và cái chủ yếu là sự bộc lộ tiềm năng về sáng tạo, về tinh thần và đạo đức trước hết phụ thuộc vào giới trí thức. Và tất cả những cái mới và hữu ích, kể cả cảm xúc về cái đẹp, về sự hài hoà, thậm chí nếu nó nảy sinh trong quần chúng nhân dân, đều được truyền bá qua giới trí thức như thấm qua tấm lọc rồi chỉ sau đó mới trở thành sở hữu chung của toàn dân. Vai trò đó của giới trí thức được đặc biệt thấy rõ qua sự tiến hoá của lối sống, của tính cách và những tập quán của nhân dân.  Sự biến mất của giới trí thức hay cuộc loại trừ nó ra khỏi đời sống tinh thần của xã hội – đó là tấn bi kịch của cả dân tộc. Điều đó có thể sẽ kết thúc bằng sự tiêu vong đạo đức của dân tộc đó. Dù sao chăng nữa thì đó là sự rút lui dần dần của dân tộc khỏi tiền đài của lịch sử để lui về phía hậu đài. Việc phục hồi giới trí thức đòi hỏi nhiều thế hệ. Không thể nói đến “việc đào tạo giới trí thức”. Sự phát triển của giới trí thức, sự hình thành của nó là một quá trình khác biệt về chất so với việc đào tạo một công nhân lành nghề, một kỹ sư hay một nhà vật lý hạt nhân. Đó là quá trình tự nhiên về sự tự phát triển của dân tộc.  Người ta thường gọi giới trí thức là tầng lớp trung gian vì không xếp được nó vào một giai cấp nào cả. Mặc dù tồn tại những câu nói “giới trí thức tư sản”, “giới trí thức vô sản” v.v…, tuy nhiên những cách nói như vậy không mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi lẽ những lợi ích và mục đích của giới trí thức hoàn toàn không gắn với những lợi ích của một giai cấp này hay một giai cấp khác. Có thể dẫn ra nhiều thí dụ khi những người đại diện của cái gọi là giới trí thức quý tộc hay giới trí thức tư sản là những người biểu hiện lợi ích của giai cấp vô sản. Và ngược lại, những người xuất thân từ tầng lớp công nhân có thể đóng vai thầy cãi cho giai cấp tư sản. Việc sản sinh ra giới trí thức – đó là đặc tính của một dân tộc, đặc tính của bản chất xã hội và sinh học của nó, mặc dầu, lẽ dĩ nhiên là mỗi một người trí thức tuỳ thuộc vào tính chất giáo dục của mình và con đường đời của mình phản ánh những quan điểm này hay những quan điểm khác, những truyền thống này hay những truyền thống khác mang tính chất giai cấp, tính chất dân tộc…  Giới trí thức còn có thêm một đặc điểm nữa. Đó là việc nó hướng tới chủ nghĩa quốc tế, đó là tính chất thế giới của nó, nếu có thể nói như vậy. Người trí thức, xét theo bản chất của anh ta, có năng lực suy nghĩ về những vấn đề toàn nhân loại, cho dù anh ta thuộc về một dân tộc nào, theo bất cứ một tín ngưỡng nào, thuộc về bất cứ một đảng phái nào và có bất cứ một màu da nào. Tất nhiên không nên hình dung người trí thức bên ngoài dân tộc, thậm chí nếu anh ta có tự xưng là “công dân của thế giới” đi nữa. Tuy vậy những người trí thức của các nước khác nhau dễ dàng tìm ra được ngôn ngữ chung và lợi ích chung. Tôi đã có dịp nói chuyện với một người Nhật về âm nhạc Nga, với một người Mỹ La-tinh về chủ nghĩa chính thống của đạo Hồi. Chúng tôi rất khoái nhau và nếp tư duy của chúng tôi té ra là khá giống nhau. Dù sao tôi cũng hiểu người trí thức Nhật Bản hơn là hiểu người cán bộ đảng hoặc nhà kinh doanh trẻ tuổi hiện đại!  Trong một trăm năm gần đây trên thế giới chúng ta có nhiều thay đổi, và cuối thế kỷ này hoàn toàn không giống phần đầu của nó. Vai trò của yếu tố trí tuệ trong số phận nhân loại đã gia tăng rất mạnh, do đó vai trò của giới trí thức, ý nghĩa của văn hoá, của yếu tố tinh thần và nhân bản cũng gia tăng.  Nhưng cái chủ yếu nhất mà giới trí thức cuối thế kỷ XX đã hiểu ra, như tôi hy vọng, là không bao giờ có thể tiêu diệt hoàn toàn bất cứ một cái gì: chỉ có sự tiến triển dần dần và rất thận trọng mới có khả năng bảo vệ được một tác phẩm đẹp nhất và mỏng manh nhất của thiên tài nhân loại – đó là văn minh và văn hoá, mà như thế cũng nghĩa là bảo vệ niềm hy vọng về “sự tồn tại của loài người”.  Nền văn hoá và khoa học Nga vào những năm 20 và đầu những năm 30 đã bị mất cả một lớp người đại diện ưu tú của nó như: Chichibabin, Ipat’ev, Gamov, Kandinski, Shagal, Benua, Shaljapin, Rakhmaninov và nhiều người khác… Lunacharski, Bukharin và các nhà hoạt động trí óc khác của đảng ở thời tiền Stalin không thể hiểu và cảm nhận được rằng cái khẩu hiệu “Ai hôm nay không hát cùng với chúng ta tức là kẻ đó chống lại chúng ta” mà vào những năm đó từng được căng trên mặt tiền của toà nhà Viện bảo tàng Lenin và việc áp dụng triệt để nó vào cuộc sống – đó là một trong những nguyên nhân sâu xa của sự lạc hậu ngày nay của chúng ta không chỉ vè mặt văn hoá mà cả về mặt công nghệ học so với những nước phát triển!  Có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận chủ nghĩa tiên phong đa dạng và sự “kỳ cục” của những hoạ sĩ và thi sĩ của những năm 20. Họ có thể được ưa chuộng hoặc không được ưa chuộng, và trong số họ có thể có không chỉ những thiên tài lên tiếng ca ngợi tổ quốc mình. Trong số đó chắc chắn cũng sẽ có những kẻ bất tài và những kẻ đầu cơ về “mốt” – tôi sẵn sàng thừa nhận rằng họ nhiều vô thiên lủng. Nhưng đồng thời tôi cũng tin sâu sắc rằng lớp váng bọt đó sẽ nhanh chóng trôi qua. Nhìn chung, tất cả những cái “tiên phong chủ nghĩa” là tiền đề tất yếu của sự đi tìm đường cho sự phát triển hợp lý. Nếu không có những sự tìm tòi như vậy thì xã hội và nền văn hoá của nó nhất định sẽ có lúc bế tắc. Và tiên đoán một cách chính xác xem con đường nào trong số đó sẽ là con đường duy nhất cần thiết cho chúng ta – điều này khó hơn nhiều so với việc đoán trước thời tiết một tháng. Tôi khẳng định điều đó với tư cách là một người chuyên nghiệp biết được rằng tạo ra một sự dự báo như vậy thật khó khăn biết chừng nào!  Rõ ràng là việc đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và kỹ sư giỏi không khó khăn cho lắm. Và ở đây chúng ta khá thành công. Cuộc chiến tranh vệ quốc, thời kỳ khôi phục hậu chiến và lịch sử xây dựng tiềm năng tên lửa hạt nhân đã cho thấy điều đó. Còn sự hình thành các nhà tư tưởng, tức là giới trí thức – những triết gia, như người Pháp ở thế kỷ XVIII đã gọi họ, lại đòi hỏi nhiều thế hệ.   ***  Như vậy là giới trí thức là một trong những bảo đảm quan trọng hạng nhất cho sức sống của xã hội. Nhờ có giới trí thức mà xã hội có khả năng đón nhận cái mới và cái chưa được biết đến với cuộc sống chúng ta, có khả năng đem thích nghi với những điều kiện mới không chỉ cơ sở vật chất mà còn cả nếp tư duy và đạo đức. Và mức độ gia tăng sự lạc hậu về kỹ thuật của chúng ta trên ngưỡng cửa của sự biến đổi nhanh chóng về cơ sở công nghệ của sự phát triển xã hội, những khó khăn mà chúng ta gặp trong công cuộc cải tổ cách tư duy, cách nhận thức về yêu cầu công nghệ và về sự cần thiết của đạo đức mới phần nhiều là hậu quả của sự hạ thấp “tiềm năng trí tuệ”.   Nhưng cho dù lịch sử của chúng ta có nặng nề đến đâu chăng nữa, cho dù chúng ta phải chịu những tổn thất như thế nào chăng nữa thì mối liên hệ về thời gian không bao giờ bị đứt đoạn. Chúng ta không phải là những anh chàng Ivan vô thừa nhận không nhớ tổ tiên dòng giống của mình. Chúng ta đã giữ gìn mình với tư cách là những người kế thừa nền văn hoá vĩ đại. Và ký ức của nhân dân, ký ức của giới trí thức được bảo tồn nhờ những bậc vĩ nhân như Vernadski hoặc Timofeev, Rezovski nhờ những chiến sĩ đấu tranh quên mình như Sakharov, Losev. Và nhờ nhiều người khác đã duy trì được “những cây nến đã thắp sáng” và chuyển giao cho cuộc chạy tiếp sức. Bây giờ chỉ cần tạo ra bầu không khí để ngọn lửa leo lét lại cháy bùng lên thành một đống lửa, như điều đó đã hơn một lần xảy ra trong lịch sử chúng ta sau những thời kỳ rối loạn. Và về chuyện này giới trí thức phải có trách nhiệm. Tôi muốn hy vọng rằng thay vì cuộc đấu tranh để giành “ghế” mà trong đó giới trí thức đằng nào cũng thất bại, nó sẽ chuyên tâm làm những công việc thực sự là đặc trưng của nó!  Vào những năm gần đây giới trí thức bắt đầu dần dần được phục hồi. Ngọn gió ấm áp đã thổi, sự trói buộc đã được nới lỏng và “sự cựa quậy của trí tuệ” đã bắt đầu. Hiện nay mới chỉ cựa quậy thôi! Còn sự vận động thực sự thì sẽ phải xuất hiện. Nhưng chất đất đã khác rồi. Tôi nghĩ rằng văn hoá nông thôn và cái nền văn minh đặc biệt mà Toynbee từng suy nghĩ, đã vĩnh viễn bị phá huỷ. Đang nảy sinh một cái gì mới. Cái gì từ quá khứ sẽ nhập vào nền văn hoá đó? Đó là những câu hỏi hết sức hóc búa, nhưng cần phải trả lời chúng. Nếu không thì sẽ bắt đầu những cuộc thí nghiệm mới và những sự phá huỷ mới.  Và sau hết, còn một điều cuối cùng. Đang diễn ra sự tiến triển rất nhanh chóng của toàn xã hội. Cuộc luận chiến càng ngày càng gay gắt. Nhưng tôi cảm thấy rằng hiện nay nó còn mang tính chất rất tư biện và trừu tượng. Không thể chỉ nói về cuộc sống của xã hội nói chung. Tổ chức của xã hội, sự ổn định của nó, phúc lợi của nhân dân, những triển vọng được mở ra cho mọi người – tất cả những cái đó gắn bó khăng khít với toàn bộ lịch sử. Và mỗi dân tộc, mỗi nước, thậm chí mỗi khu vực đều có con đường riêng của mình. Tuy nhiên cũng tồn tại những quy luật phát triển chung, nhất là ở thế kỷ chúng ta trước ngưỡng cửa của cuộc khủng hoảng sinh thái, của sự tăng nhanh lực lượng sản xuất và sự tăng cường mạnh mẽ mối quan hệ qua lại của con người.  Đã đến lúc giới trí thức phải thôi là những người “sùng bái phương Tây” và những người “sùng bái Slavo” và cần phải nhìn thẳng vào những đặc điểm thực tế của cuộc sống hiện nay. Đã đến lúc phải khước từ những nguyên tắc của “những không tưởng vĩ đại”, khước từ thái độ ngạo mạn chính trị riêng tư hoặc “sự khao khát phục thù” và phải hiểu rằng trên thế giới cũng như trong con sông chảy ở vùng núi có luồng chính và thật bất hạnh cho kẻ bơi lội nào không muốn đi theo luồng nước đó.  Lê Sơn dịch  (theo báo “Kul’tura” của Nga)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước pháp quyền      “Nhà nước pháp quyền” đã được chính thức du nhập vào Việt Nam từ cuối năm 1991. Chính Tổng bí thư Đỗ Mười đã nêu lên khái niệm này trước tiên trong một bài nói tại hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa 7 ngày 29-11-1991. Mười sáu năm trôi qua, dư luận vẫn còn tự hỏi: “Nhà nước pháp quyền” là gì? Hỏi như vậy, khác gì xác nhận vấn đề hãy còn là thời sự? Mà lại là thời sự nóng hổi! Trong nước, vi phạm luật là tin tức hàng ngày trên báo chí. Ngoài nước, các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia không ngớt đòi hỏi “Nhà nước pháp quyền” như một điều kiện phải thực hiện. Thực hiện thế nào trước mắt dân và trước mắt quốc tế, nếu trước hết không định nghĩa cho rõ khái niệm này? Đã đành Việt Nam không bắt buộc phải theo quan niệm của ai, nhưng mơ hồ về chính khái niệm mà mình đã thừa nhận là chuyện không ổn.  Bài viết này bắt đầu từ chỗ bắt đầu, nghĩa là từ lịch sử phát sinh ra khái niệm. Gạn lọc hết những phức tạp không cần thiết, tác giả tóm lược ba quan điểm đại diện cho ba hệ thống pháp lý lớn nhất tại châu Âu: Đức, Pháp và Anh. Mỗi quan điểm dính liền với hoàn cảnh chính trị của mỗi nước: nước Đức đang tìm cách thống nhất dưới uy quyền của một Nhà nước mạnh; nước Pháp vẫn còn giữ cuốn rốn của Cách Mạng 1789; nước Anh chung thủy với tập tục bất thành văn mà tòa án là người bảo vệ. Không ai giống ai, nhưng quan tâm không xa nhau mấy.                               1. Rechtsstaat của Đức.  Tiếng Đức, Recht là luật pháp, Staat là Nhà nước, Rechtsstaat là Nhà nước luật pháp, nhưng tôi đề nghị giữ nguyên không dịch, để phân biệt với cách gọi của Pháp (Etat de droit) và cách gọi của Anh (Rule of law). Học thuyết về Rechtsstaat xuất hiện từ giữa thế kỷ 19, trước khi Bismarck thống nhất nước Đức năm 1871, thành lập Đế chế. Nhà nước vững mạnh được xem như giải pháp cho nhu cầu thống nhất mà giới tư sản, giai cấp tiến bộ lúc đó, muốn thực hiện, nhưng đồng thời họ cũng muốn Nhà nước đó tôn trọng tự do của các tầng lớp đang lên: hai nhu cầu đưa đến quan niệm Nhà nước luật pháp. Nhà nước được đồng hóa với một người, vua, và vua chỉ có thể thi hành nhiệm vụ của mình bằng phương tiện luật pháp và bằng cách tôn trọng luật pháp.  Hiểu như vậy, mục đích của Rechtsstaat là hạn chế quyền lực của Nhà nước bằng luật pháp. Trong quan hệ giữa Nhà nước và người dân, cũng như đối với tất cả những gì liên quan đến đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, Nhà nước phải hành động theo những quy tắc tổng quát, những nguyên tắc đã vạch ra từ trước. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa Nhà nước luật pháp (Rechtsstaat) và Nhà nước cảnh sát (Polizeistaat).  Nhà nước cảnh sát đã là một bước tiến so với Nhà nước chuyên chế hoặc tùy tiện, bởi vì đã biết công nhận và dành cho luật pháp một địa vị khá rộng. Thế nhưng luật pháp ở đây chỉ là một thứ luật có tính thuần túy phương tiện, luật mà chính quyền hoàn toàn làm chủ, luật được dùng để buộc dân thi hành nhiệm vụ chứ không ràng buộc chính quyền: luật pháp kiểu này biểu hiện quyền uy của người cầm quyền, khí cụ để đạt những mục đích mà chính quyền vạch ra.  Nhà nước luật pháp Rechtsstaat vượt lên trên Nhà nước cảnh sát: luật pháp không phải chỉ là phương tiện hành động của Nhà nước, mà còn là cái khung giới hạn quyền lực của Nhà nước. Do đó, luật pháp có hai bộ mặt đối với các cơ quan hành chánh: vừa tạo khả năng cho bộ máy hành chánh hành động, vừa tạo ràng buộc trên cơ quan hành chánh. Chính quyền không thể buộc ai làm điều gì mà luật đã không minh bạch cho phép, và người dân có thể viện dẫn trước một cơ quan tài phán luật đã làm ra để đòi hủy bỏ, tu chính, hoặc không áp dụng những quyết định hành chánh đã vi phạm luật. Trong thực tế, học thuyết Rechtsstaat nhằm xác nhận ưu thế của luật trên bộ máy hành chánh. Hành chánh không những không được hành động trái luật mà làm gì cũng phải được luật cho phép. Chỉ luật mới có thể tạo ra những nguyên tắc tổng quát, hành chánh chỉ có thể áp dụng những nguyên tắc tổng quát đó cho từng trường hợp cá biệt.   Như vậy, phải nói thêm: Rechtsstaat không những chỉ có nghĩa là Nhà nước phải hành động theo luật pháp, mà Nhà nước còn phải được đặt dưới luật pháp. Vì vậy, vấn đế lý thuyết là phải cắt nghĩa tại sao Nhà nước đặt dưới pháp luật? Chẳng phải là trước đó, Nhà nước vẫn được hiểu như là quyền uy thống trị, dọc ngang nào biết trên đầu có ai hay sao? Trên đầu đã không có ai ngoài tóc, thì làm gì có những nguyên tắc có trước, ở ngoài, và ở trên Nhà nước? Mà ví thử những nguyên tắc ấy có chăng nữa, nếu không có Nhà nước thì lấy ai áp dụng, lấy ai chế tài, có cũng như không? Chẳng phải Nhà nước là điều kiện sinh tồn của nó, cho nó ra đời, làm ông tạo hóa của nó hay sao? Cho nên, trong quan niệm trước đó, chỉ những nguyên tắc nào được Nhà nước ban ra và chế tài mới có tính pháp lý. Làm sao dám nói Nhà nước nằm dưới luật pháp được?           Trong lịch sử của bất cứ nước phát triển nào, dù ở   phương Tây hay ở phương Nam, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát   triển xã hội, phát triển chính trị, phát triển gì gì đi nữa, cũng phải dựa   trên phát triển ý thức tôn trọng luật pháp, bắt đầu từ chính quyền để thấm   vào người dân.          Để bênh vực Rechtsstaat, học thuyết Đức sáng tạo ra thuyết “Nhà nước tự giới hạn”. Một mặt, thuyết này thừa nhận truyền thống tư tưởng trước đây: Nhà nước là nguồn gốc của luật pháp, luật pháp không áp đặt trên Nhà nước một ràng buộc từ bên ngoài, một giới hạn khách quan. Một mặt, thuyết này nói thêm: điều đó không có nghĩa rằng quyền uy của Nhà nước là vô hạn, mà chỉ có nghĩa rằng Nhà nước có một đặc quyền – đặc quyền tự mình đặt ra cho mình những nguyên tắc tạo khung cho việc thực hiện quyền lực của mình. Vị thế đặc biệt đó của Nhà nước trong mối tương quan với luật pháp cắt nghĩa tại sao Nhà nước không bị chi phối bởi cùng những nguyên tắc như những cá nhân thông thường: Nhà nước được đặt dưới một luật pháp đặc biệt, luật hành chánh, bảo vệ Nhà nước hơn.  Mặc dầu có châm chước như vậy, các lý thuyết gia của thuyết tự giới hạn vẫn xem luật pháp như thực sự ràng buộc Nhà nước: Nhà nước không những không thể tự mình hủy bỏ trật tự pháp lý mà không làm rạn nứt nền móng của chính mình, mà Nhà nước còn phải tôn trọng luật pháp một cách tự nhiên. Tại sao? Vì hai lẽ. Một, là vì Nhà nước có lợi để làm như thế: chính mình tôn trọng luật thì luật do mình làm ra càng tăng thêm giá trị, càng được mọi người tôn trọng. Hai, là vì áp lực của xã hội thúc đấy Nhà nước phải tôn trọng. Dù giải thích như vậy có vững hay không, trong lý thuyết tự hạn chế, ý chính là luật pháp không phải nằm ở ngoài Nhà nước, không phải hạn chế từ bên ngoài, không phải ràng buộc từ bên ngoài, mà nằm ở bên trong Nhà nước, do chính ý muốn của Nhà nước. Quan niệm này phản ánh triết lý truyền thống của Đức về Nhà nước, đặc biệt là từ Kant, Fichte, Hegel, và phản ánh chế đô chính trị của Đức hồi đó, cần một Nhà nước để thống nhất.   Do đó, học thuyết Rechtsstaat không được tiếp nhận trọng đãi ở Pháp. Một mặt, các tác giả Pháp xem đó như là cách biện minh cho chế độ chính trị của Đức; một mặt, lý thuyết tự hạn chế bị chê là lừng khừng, cố ý tránh né để khỏi hạn chế thực sự Nhà nước bằng luật pháp. Thêm nữa, lý thuyết của Đức cũng trái hẳn với quan niệm của Pháp về Nhà nước: một bên xem Nhà nước như một thực thể trừu tượng, độc lập; một bên xem Nhà nước như một phương tiên pháp lý để Dân Tộc tự tổ chức. Đây là quan niệm đặc thù của Pháp, thừa kế từ Cách Mạng 1789, xem Nhà nước là Nhà nước-Dân Tộc (Etat-Nation) hoặc Quốc Dân. Bởi vậy, tuy ra đời trước Pháp, học thuyết của Đức phải đợi đến khoảng 1920 mới thực sự được du nhập vào Pháp, rồi được nhào nặn, sửa đổi để trở thành học thuyết của Pháp, mang tên là Etat de droit, dịch sát nguyên văn Rechtsstaat.   2. Etat de droit của Pháp.            Giữa thế kỷ 20, có một nước thuộc địa               anh hùng vùng lên viết trên lịch sử dành               độc lập của thế giới quật khởi ba chữ tiên               phong: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.               Tự do là gì nếu không phải là quyền của               người dân buộc chính quyền phải tôn trọng               luật pháp? Hạnh phúc là gì nếu trước hết               không phải là quyền của người dân không bị               nhũng nhiễu quấy rầy? Nhà nước pháp quyền               có lạ lùng gì đâu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh              – người khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ               Cộng Hòa?          Miếng đất chính trị của Pháp đã được Cách Mạng 1789 cày bừa trước khi nhận hạt giống Rechtsstaat. Thay đổi toàn bộ hệ thống pháp lý có trước, Cách Mạng lập ra một thứ bậc pháp lý rất chặt chẽ, phân minh. Trên tột cao là “những quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng, và thiêng liêng của con người”. Dưới đó là hiến pháp mà mục tiêu là bảo đảm những quyền vừa nói và thực hiện sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp. Dưới nữa là luật do Quốc hội biểu quyết. Dưới cùng là những văn kiện của chính phủ mà nhiệm vụ là ban hành và áp dụng luật. Bộ máy hành chánh, không có tư cách đại diện ai cả, không được xen lấn vào việc sử dụng quyền lập pháp và cũng không được ngưng hoãn việc áp dụng luật.  Thứ bậc pháp lý đó, rõ ràng trên lý thuyết, lại sơ hở cả trên lý thuyết lẫn thực tế. Nguyên nhân là Rousseau.- là lý thuyết quá nặng ảnh hưởng của Rousseau về luật và về Quốc Dân. Quốc Dân, trong tư tưởng của Rousseau, là một thực thể trừu tượng, độc lập, không đồng hóa với từng cá nhân cụ thể. Vì trừu tượng, Quốc Dân không có miệng để nói lên trực tiếp ý muốn của mình, phải nói qua miệng của những người đại diện được bầu lên: tiếng nói của họ, ý muốn của họ phát biểu ý muốn của chính Quốc Dân. Ý muốn đó diễn dịch ra thành luật. Luật, “biểu hiện ý muốn của toàn thể”, chói lọi hào quang. Hào quang đó làm mờ nhạt thứ bậc pháp lý vừa sắp đặt, cụ thể là hiến pháp. Tình trạng chính trị thiếu ổn định sau 1789, chế độ này đổ, chế độ khác lên, Cộng hòa rồi lại quân chủ, quân chủ rồi lại Cộng hòa, rồi quân chủ, rồi Đế chế, hiến pháp thay đổi năm lần bảy lượt, mất uy thế trước luật. Là tối thượng trong thực tế, luật mang áo bào tối thượng khoác lên vai cơ quan làm ra luật, tức là Quốc hội. Khác hẳn Đức, Quốc hội làm mưa làm gió trong lịch sử chính trị Pháp, lật hết chính phủ này đến chính phủ khác trong suốt giai đoạn Đệ Tam, Đệ Tứ Cộng Hòa, từ 1875 đến tận 1958. Và cũng vì luật chói sáng hào quang như thế, cho đến 1958, Pháp không giải quyết nổi mâu thuẫn căn bản trong đẳng cấp pháp lý: không thành lập được một cơ quan nào để hủy bỏ luật trong trường hợp luật vi phạm hiến pháp. Ngược lại, Pháp rất tinh vi trong việc kiểm soát tính cách hợp luật của các quyết định hành chánh. Ngăn cấm không để cho các cơ quan hành chánh vi phạm luật là quan tâm chính của hệ thống pháp lý Pháp.  Bởi vậy, trong suốt giai đoạn Đệ Tam Cộng Hòa (1875-1940), người dân không được bảo vệ nếu quyền của mình bị chính luật của Quốc hội làm ra vi phạm. Đâu có phải luật nào cũng tốt? Đâu có phải làm nhiều luật là tốt? Thiếu gì luật vi phạm quyền và tự do của dân chúng? Thiếu gì luật gây nhiễu cho dân? “Hợp pháp” với thứ luật đó lại hóa ra nối dáo cho giặc. Làm sao chống lại thứ luật như vậy?  Lý thuyết Nhà nước pháp luật (Etat de droit) được du nhập từ Đức và được triển khai chính là khí giới tư tưởng để chống lại Nhà nước hợp pháp (Etat légal). Vấn đề là phải quan niệm lại địa vị hào quang của luật và xác nhận lại vị thế cao nhất của hiến pháp so với luật của Quốc hội. Cụ thể, tranh luận diễn ra trên tính pháp lý của Tuyên Ngôn về quyền của con người và công dân 1789. Một số tác giả lớn xem Tuyên Ngôn đó như một văn kiện luật pháp thực sự, cao hơn luật và cao hơn cả hiến pháp. Một số khác chủ trương phải tu chính hiến pháp 1875, đưa những quyền mà Tuyên Ngôn công nhận vào trong hiến pháp, để cơ quan làm luật không được vi phạm. Dù khác nhau, cả hai ý kiến đều nhất trí trên cùng một nhận định: phải quy định bằng hiến pháp những bảo đảm cho quyền của người dân chống lại một cơ quan làm luật xét ra còn nguy hiểm cho tự do của người dân hơn cả quyền lực hành chánh. Có hai cách để thực hiện bảo đảm: hoặc trao cho các tòa án quyền kiểm soát hiến tính các đạo luật như ở Mỹ, hoặc thành lập một Tòa án đặc biệt như ở Pháp hiện nay.  Du nhập Rechtsstaat, các lý thuyết gia của Pháp cũng phải giải quyết vấn đề lý thuyết hóc búa về tương quan giữa Nhà nước và luật pháp. Nhà nước ở trên hay luật pháp ở trên? Giải pháp hàng hai tự hạn chế của Đức là đề tài tranh luận sôi nổi. Hai phe chống đối nhau trên giá trị pháp lý của Tuyên Ngôn 1789. Khuynh hướng chủ trương địa vị tối ưu của Tuyên Ngôn bênh vực ý kiến theo đó Nhà nước, cơ quan nói lên ý muốn của nhà cầm quyền, phải được đặt dưới một trật tự khách quan mà chính mình không lập ra. Khuynh hướng đối lập, chủ trương Tuyên Ngôn không có giá trị pháp lý, bênh vực quan điểm theo đó Nhà nước chủ tể chỉ có thể bị hạn chế bằng những nguyên tắc do chính mình tạo lập.  Thủy thổ của nước Pháp cách mạng rốt cục không hợp với khuynh hướng thứ hai, chịu ảnh hưởng của Đức: nhiều tác giả lớn chỉ trích kịch liệt thuyết tự hạn chế, xem như biện minh cho quyền lực toàn trị của Nhà nước, đặt Nhà nước trên luật pháp. Vậy, theo họ, nếu luật pháp không do Nhà nước mà ra thì do đâu? Trả lời: do một nguyên tắc có trước và trên Nhà nước. Nguyên tắc gì? Thuở trước là Thượng đế: luật pháp được xem như xây dựng trên trật tự do Thượng đế an bài. Bây giờ là Thiên Nhiên, là Người, là Xã Hội, là trật tự thiên nhiên, trật tự nhân bản, trật tự xã hội mà Nhà nước chỉ diễn dịch ra như một thông dịch viên. Khi Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ tuyên bố: “Chúng tôi cho rằng những chân lý sau đây là hiển nhiên tự bản thân: tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng; được Tạo Hóa ban cho một số quyền không thể chuyển nhượng trong đó có quyền sống, tự do và mưu cấu hạnh phúc…”, bản Tuyên Ngôn đã viện dẫn nguồn gốc thiêng liêng. Khi Tuyên Ngôn 1789 của Pháp tuyên bố về những quyền thiên nhiên bất khả xâm phạm, văn kiện đó tiếp thu máu mủ từ triết lý quyền thiên nhiên phổ biến từ thế kỷ 17. Đến đầu thế kỷ 20, triết lý quyền thiên nhiên bị lu mờ trước cao trào của xã hội học, nhường chỗ cho triết lý ý thức xã hội. Phân biệt cái “có sẵn” và cái “được xây dựng”, các tác giả lớn không xem luật pháp như nằm trọn gói trong lĩnh vực thứ hai, nghĩa là do Nhà nước tạo dựng ra: đàng sau những quy tắc tạo dựng đó đã có sẵn một thực tại pháp lý sâu xa, hiện hữu dưới dạng chưa khai thác trong cộng đồng xã hội. Nhà nước, xét cho cùng, chỉ là một thực thể trừu tượng, nấp sau những người cai trị có xương có thịt, để tạo cơ sở chính đáng cho việc sử dụng quyền lực cưỡng bách. Hành động gọi là của Nhà nước thật ra chỉ do từ ý muốn cá nhân của nhà cầm quyền: sau lưng Nhà nước là những người có tên có tuổi muốn thế này, hành động thế kia, áp đặt thế nọ. Vấn đề là hạn chế việc sử dụng quyền uy đó bằng luật pháp.  Tác giả Duguit, một trong những ngôi sao bắc đẩu của luật học Pháp đầu thế kỷ 20, giải thích “ý thức xã hội” thế này: trong đám đông cá nhân tập hợp lại thành một nhóm xã hội nào đó, luật pháp hiện hữu khi đám đông đó “hiểu và công nhận rằng một phản ứng chống lại những người vi phạm nguyên tắc có thể được tổ chức từ xã hội”: tình trạng ý thức đó là “nguồn gốc sáng tạo ra luật pháp”. Chính từ cái lúc chính xác đó, một nguyên tắc xã hội, xây dựng trên tính liên đới và quan hệ hỗ tương, biến thành nguyên tắc luật pháp. Do đó, luật pháp không phải từ Nhà nước mà ra, hiện thân của địa vị tối thượng của Nhà nước, mà là một “hiện tượng xã hội”, được tạo thành “một cách tự nhiên trong đầu óc của con người” dưới ảnh hưởng của hai tình cảm: tính xã hội, thúc đẩy việc chế tài mọi hành vi xâm phạm đến liên đới xã hội, và tính công lý, buộc phải bảo vệ bình đẳng cho tất cả mọi người trong tương quan giữa họ với nhau và giữa họ với tập thể.  Cùng đi đến một kết luận, một ngôi sao bắc đẩu khác, Hauriou, giải thích một cách khác. Nhà nước, theo ông, vẫn là cơ sở của quyền lực, nhưng người dân không tuân lệnh nhà cầm quyền như là những người có xương có thịt, mà là vì tư cách đại diện của Nhà nước. Quyền hành của họ chỉ chính đáng vì được hành xử nhân danh Nhà nước, hiện thân của ý muốn sống chung. Luật pháp, vì vậy, không phải nằm ở ngoài Nhà nước như Duguit chủ trương, mà đúng là do Nhà nước tạo ra nhân danh mình. Tuy vậy điều đó không có nghĩa là Nhà nước toàn trị, muốn làm gì thì làm. Giống như mọi định chế khác, Nhà nước được xây dựng trên sự thỏa thuận của tập tục: chính Dân Tộc thỏa thuận và thúc ép việc xây dựng một quyền hành có tính cưỡng bách, nhưng quyền hành đó không thể tồn tại nếu không thường xuyên dựa trên sự gắn bó của thành viên. Ý tưởng này chứa đựng sẵn mầm mống của nguyên tắc giới hạn Nhà nước: người dân không từ bỏ toàn thể tự do của mình vào tay Nhà nước, và nếu sự thỏa thuận của người dân tiêu tan thì Nhà nước sẽ không còn chính đáng. Từ điểm đó, Nhà nước không thể được xem như là nguồn gốc duy nhất của luật pháp.  Tranh luận trên đúng sai của những lý thuyết này thì vô cùng, chỉ cần ghi rằng ý chính của mọi lý thuyết về Nhà nước luật pháp là hạn chế quyền lực của Nhà nước để bảo vệ quyền của người dân. Nhà nước không phải muốn làm gì thì làm mà nhất nhất phải hành động đúng luật pháp, nghĩa là: tôn trọng những văn bản luật pháp quy định thẩm quyền của mình, tôn trọng những nguyên tắc luật pháp do cơ quan cấp trên của mình làm ra, và tôn trọng những nguyên tắc do chính mình làm ra. Đây là điều cực kỳ quan trọng, bởi vì chính sự tôn trọng luật pháp của chính quyền tạo ra một quyền thực sự của người dân: quyền buộc chính quyền, buộc cơ quan hành chánh phải tôn trọng luật. Nhiệm vụ của tư pháp là chế tài mọi vi phạm nguyên tắc đó, kể cả vi phạm của chính quyền. Trên điểm này, Rule of law của Anh tự hào giải quyết vấn đề gọn nhất, hữu hiệu nhất, ít lý thuyết nhất, cụ thể nhất.    3. Rule of law của Anh.  Trong quan niệm của Anh, Rule of law không phải chỉ có nghĩa luật là cao nhất và mọi công dân đều bình đẳng trước luật, mà còn có nghĩa luật pháp hàm chứa những tính chất căn bản trong nội dung: chỉ nhắm đến tương lai mà quy định, không trở lui quá khứ; phải được công bố; phải rõ ràng, phân minh, vững bền; phải có tính tiên liệu; phải tôn trọng quyền và tự do của công dân… Quan niệm luật tối thượng của Pháp chủ yếu nhắm tối thượng qua đẳng cấp, nghĩa là trọng hình thức; quan niệm luật tối thượng của Anh còn bao hàm một định nghĩa về luật xét trên nội dung. Cùng một quan niệm tương tự, due process of law của Mỹ, do tu chính Hiến pháp thứ 14 (1868) thiết lập, dần dần được hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ buộc chính quyền tôn trọng đúng thể thức khi áp dụng luật (procedural due process), ví dụ phải bảo đảm tổ chức vụ kiện cho đúng đắn, mà còn buộc xét luật về mặt nội dung (substantive due process). Cả hai tính chất “nội dung” và “thể thức” đều không có mặt trong quan niệm của Pháp.  Dicey, trong quyển sách “Introduction to the Study of the Law of the Constitution” (1885) cắt nghĩa rõ thế nào là Rule of Law.  Thứ nhất, Rule of Law có nghĩa: luật là cao nhất, cao tuyệt đối, chống lại ảnh hưởng của quyền lực tùy tiện, của đặc quyền, của quyền uy phân biệt đối xử về phía chính quyền. “Người dân Anh được cai trị bởi luật, và chỉ duy nhất bởi luật mà thôi; một người có thể bị trừng phạt vì vi phạm luật nhưng không thể bị trừng phạt vì bất cứ lý do gì khác”.  Thứ hai, Rule of Law có nghĩa là: mọi người dân đều bình đẳng trước luật pháp, trước luật thông thường được áp dụng trước các tòa án thông thường. Điều này loại trừ ý nghĩ các viên chức Nhà nước hay ai đó có thể thoát ra khỏi bổn phận tuân theo luật áp dụng cho các công dân khác trước các tòa án thông thường. Câu nói này vạch ra điểm khác biệt căn bản giữa hệ thống pháp lý Anh và Pháp: ở Pháp, người dân kiện chính quyền trước các tòa án hành chánh; ở Anh, trước các tòa án thường, không phân biệt. Nhà nước, trong chuyện đáo tụng đình, và người dân không ai hơn ai.  Thứ ba, Rule of Law có nghĩa: luật của hiến pháp, những nguyên tắc mà các nước khác quy định trong hiến pháp, không phải là nguồn gốc mà là hậu quả của những quyền của cá nhân như các tòa án đã định nghĩa và đã thực hiện. Ai học luật đều biết: nước Anh không có hiến pháp thành văn; những nguyên tắc có tính hiến pháp ở Anh được tạo ra do tập tục và luật thông thường mà thành. Trước mắt Dicey, nghĩa là của người Anh, khi một nước Âu châu khác “bảo đảm quyền của người dân”, quyền này được xem như một đặc ân, do một quyền lực trên cao bảo vệ. Ở Anh, việc bảo vệ quyền và tự do của người dân được thực hiện một cách bình thường, do việc áp dụng luật lệ bình thường, trước các tòa án bình thường.  Điểm qua ba học thuyết chính ở châu Âu về Nhà nước luật pháp, có thể tóm gọn thêm một lần nữa ý chính. Khái niệm Nhà nước luật pháp bao gồm ba chiều hướng, ba cấp bậc xen kẽ với nhau.  * Cấp bậc thứ nhất, tối thiểu, Nhà nước luật pháp có nghĩa là nhà cầm quyền phải đặt mình dưới luật pháp. Cụ thể, trật tự pháp lý phải được tôn trọng, luật pháp phải được bảo đảm áp dụng cho tất cả mọi người, dân cũng như quan chức, do một cơ quan tư pháp đôc lập. Ở cấp bậc này, sự tôn trọng luật của chính quyền được xem như phát xuất từ ý muốn tự chế, tự tuân theo kỷ luật của chính quyền – một quá trình lý trí hóa trong tiến bộ của một xã hội về cách hành động của guồng máy Nhà nước nhắm loại trừ tùy tiện.  * Cấp bậc “tối thiểu” này, một Nhà nước độc quyền, nếu hành động theo đúng luật, cũng có thể gọi là Nhà nước luật pháp. Tất nhiên, xét về mặt nội dung, luật có thể cho phép chính quyền làm bất cứ biện pháp gì, tốt cũng như xấu cho người dân, nhưng “Nhà nước luật pháp ở cấp tối thiểu” cũng đã khác với Nhà nước toàn trị rồi: Nhà nước toàn trị thì bất chấp luật pháp.  * Cấp bậc cao hơn, Nhà nước phải đặt mình dưới luật pháp và không được làm ra những luật, những nguyên tắc pháp lý trái với những nguyên tắc tổng quát cao hơn mà hiến pháp có thể công nhận tinh túy. Ở cấp bậc này, luật pháp được xem như có trước và cao hơn Nhà nước, tạo giới hạn cho hành động của chính Nhà nước. Tất cả vấn đề là tìm cách cắt nghĩa trên lý thuyết giới hạn đó.  * Cấp bậc thứ ba, Nhà nước luật pháp là Nhà nước trong đó người dân được bảo đảm những quyền và tự do một cách hữu hiệu. Quyền của con người và dân chủ trong chính trị là hậu quả của bảo đảm này. Quyền của con người bảo đảm cho người dân không bị chính quyền vi phạm; dân chủ bảo đảm cho đa số được nắm quyền và cho thiểu số đủ mọi tự do để trở thành đa số trong lần bầu cử kế tiếp. Ở đây, Nhà nước cũng bị giới hạn: giới hạn bởi quyền của công dân, trong đó có quyền thay đổi ý kiến về việc lựa chọn người cầm quyền. Rộng hơn, Nhà nước bị giới hạn vì một nguyên tắc chung: những gì không liên quan đến lĩnh vực công thì thuộc lĩnh vực tư; những gì không cần Nhà nước phải nhất thiết nắm, hãy để cho xã hội tự quản. Phân biệt giữa công / tư và Nhà nước / xã hội dân sự là đặc điểm của một xã hội tiến bộ, văn minh.  ***  Trong ngôn ngữ của thế giới, sau Rechtsstaat, Etat de droit, Rule of Law, Việt Nam có “Nhà nước pháp quyền”. Tên gọi thật hay. Vừa “pháp”, nghĩa là luật pháp; vừa “quyền”, nghĩa là… quyền. Chưa biết quyền của ai, nhưng chắc chắn không phải là quyền của Nhà nước, vì Nhà nước cần gì phải đòi quyền – đòi một cái đã có. Thiện chí tôn trọng pháp luật của Chính phủ Việt Nam đã có từ 1991 và tiếp tục được phát huy cho đến nay, không ai chối cãi được. Nhà nước Việt Nam thừa biết: một nước đang phát triển mà luật pháp không được tôn trọng thực sự không thể nào tránh khỏi hỗn loạn, dẫn đến cái họa diệt vong. Trong lịch sử của bất cứ nước phát triển nào, dù ở phương Tây hay ở phương Nam, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển xã hội, phát triển chính trị, phát triển gì gì đi nữa, cũng phải dựa trên phát triển ý thức tôn trọng luật pháp, bắt đầu từ chính quyền để thấm vào người dân. Làm gì có ổn định xã hội nếu không có ổn định luật pháp? Làm gì có ổn định luật pháp nếu luật không được áp dụng nghiêm minh? Làm gì có áp dụng nghiêm minh luật nếu tòa án không độc lập? Nếu người xử án không có trình độ? Nếu người dân không tin tưởng ở công lý? Nếu chính quyền không tự mình nêu gương tôn trọng luật pháp trước tiên?  Nhà nước pháp quyền thì có gì lạ đâu với chúng ta! Đầu thế kỷ 20, Tôn Dật Tiên đã giương cao tiêu chí “Dân Tộc – Dân Quyền – Dân Sinh”. Dân quyền là gì nếu không phải là hệ quả của tôn trọng luật pháp? Quyền của dân được xem như mục tiêu của Nhà nước từ 1911! Giữa thế kỷ 20, có một nước thuộc địa anh hùng vùng lên viết trên lịch sử dành độc lập của thế giới quật khởi ba chữ tiên phong: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. Tự do là gì nếu không phải là quyền của người dân buộc chính quyền phải tôn trọng luật pháp? Hạnh phúc là gì nếu trước hết không phải là quyền của người dân không bị nhũng nhiễu quấy rầy? Nhà nước pháp quyền có lạ lùng gì đâu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh- người khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?  Cao Huy Thuần     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước pháp quyền – cần đầu tư cấp thiết cho quốc hội      Trong một nhà nước pháp quyền, tất cả mọi hành xử của nhà nước can thiệp vào quyền mỗi cá nhân phải được cân nhắc và có thể bị toà án kiểm tra đối chiếu với hiến pháp và luật. Vì vậy đầu tư cho quốc hội đủ năng lực đảm đương việc xây dựng các văn bản pháp luật có chất lượng là nền tảng tiên quyết, điều kiện cần của một nhà nước pháp quyền.      I Số lượng luật  Một khi luật là dấu hiệu của một nhà nước pháp quyền, và nếu thừa nhận xã hội vận động phát triển không ngừng, thì số lượng luật càng nhiều bao nhiêu, nền tảng pháp lý cho sự vận động đó càng vững chắc bấy nhiêu, nếu mọi yếu tố ảnh hưởng khác tương đương. Thống kê năm 2014, với 2 kỳ họp thứ 7 và 8, Quốc hội khóa XIII nước ta đã thông qua tổng số 29 luật, tăng hơn gấp đôi so với 17 luật năm trước đó, đánh dấu thành tích cố gắng vượt bậc của cơ quan lập pháp nước ta giữa 2 năm.   Tuy nhiên với câu hỏi, số lượng luật đó so với nhu cầu xã hội đòi hỏi đã đáp ứng ở mức độ nào? câu trả lời quả khó lượng hoá, nhưng có thể dùng phương pháp so sánh với các quốc gia khác để ước lượng chỗ đứng đó của nước ta trên thế giới. Chẳng hạn, lấy nước Đức tương đương dân số và diện tích so sánh; trong 4 năm nhiệm kỳ trước, 2009-2013, họ thông qua tới 553 luật, bình quân mỗi năm 138 luật gấp nước ta tới 475%. Cuối năm 2014 chưa có số liệu cơ quan thống kê, nhưng chỉ trong tháng 12 tính đến trước kỳ nghỉ Giáng sinh, quốc hội họ thông qua 37 luật, đã nhiều gấp 127% cả năm của nước ta. Dĩ nhiên so sánh trên còn phải xét đến ảnh hưởng đặc thù của 2 nước; Đức trình độ phát triển thuộc hàng đầu thế giới đòi hỏi luật cũng ở cấp độ đó; nước ta đang ở giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường nhu cầu luật cũng buộc tăng đột biến. Nếu coi mức độ tác động 2 yếu tố đó tương đương, và lấy Đức làm chuẩn phấn đấu, thì tỷ lệ so sánh trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nước ta cần nhanh chóng ban hành số lượng luật gấp hơn 4 lần hiện nay!  II Mục đích buộc nhà nước bảo đảm cho từng con người  Dấu hiệu này phản ảnh chất lượng văn bản lập pháp thể hiện ở mức độ lợi ích và số người cùng được thụ hưởng từ luật đó. Chất lượng có thể dương, mang lại lợi ích cho từng con người, nhưng cũng có thể âm tước đi của họ, điển hình như Sắc lệnh Tổng thống Đức ký do nội các Hitler soạn thảo, được quốc hội thông qua, mang danh cực kỳ tốt đẹp „Bảo vệ nhân dân và nhà nước“ hiệu lực từ ngày 28.2.1933, nhưng kết qủa có chất lượng âm cực tiểu so với mọi luật trên thế giới xưa nay. Bởi số người thụ hưởng lớn cả nước Đức và ở bất kỳ quốc gia nào do Đức chiếm đóng. Về mức độ lợi ích bị tước bỏ hầu hết mọi quyền cơ bản của con người đã được hiến định trước đó, từ cấm tự do cá nhân, báo chí, lập hội, biểu tình, bí mật thư tín điện thoại… đến hạn chế quyền sở hữu, bắt bớ tùy tiện, tiêu diệt đảng Cộng sản rồi lần lượt tới mọi đảng đối lập khác, mở đường đưa Hitler trở thành nhà độc tài, gây thảm hoạ thế chiến thứ 2, phạm tội diệt chủng, chống lại loài người, với thiệt hại hơn 65 triệu nhân mạng trên thế giới.   A- Sử dụng dấu hiệu trên để đo lường, thì luật do Quốc hội Đức thông qua có hiệu lực từ năm 2015 đã đem lại kết quả trực tiếp sâu và rộng, áp dụng cho 80,8 triệu dân số Đức (73,2 triệu công dân Đức và 7,6 triệu công dân nước ngoài sống ở Đức), chẳng hạn như quy phạm pháp lý về mức lương tối thiểu bắt buộc: Từ năm 2015, nhà nước, doanh nghiệp, người thuê việc phải trả lương tối thiểu ít nhất 8,50 Euro một giờ. Với thời gian làm việc quy định hiện tại không quá 40 giờ/tuần, tính ra người lao động được trả ít nhất 1473 Euro brutto/tháng. Lần đầu tiên, nhà nước Đức đã bảo đảm cơ sở pháp lý cho khoảng 3,7 triệu người lao động trong khu vực lương thấp hơn 8,50 Euro/giờ được hưởng lợi từ luật này. Luật cũng không đánh đồng, gây bất lợi cho những trường hợp đặc biệt, bằng cách ngoại trừ trẻ dưới tuổi vị thành niên, 6 tháng đầu đối với người thất nghiệp lâu dài ít nhất một năm, học sinh học nghề, thanh thiếu niên trẻ tuổi học nghề lần đầu, những người lao động thiện nguyện, những người không phải lao động hưởng lương, như giúp đỡ hàng xóm, đổi công… hay quy phạm pháp lý về thay đổi mức đóng bảo hiểm xã hội, áp dụng cho tổng số 42,7 triệu lao động/80,8 triệu dân số. Phí bảo hiểm y tế giảm 0,9% xuống còn 14,6% tính trên tổng lương. Người lao động và chủ lao động mỗi bên đóng một nửa. Bảo hiểm chăm sóc tăng 0,3% lên 2,35% để đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc cho người cần chăm sóc. Bảo hiểm hưu trí: Do qũy trả lương hưu trí nhà nước cuối năm 2014 còn dư 33,5 tỷ Euro đủ thanh toán lương hưu 1 tháng rưỡi, nên phí bảo hiểm hưu trí giảm 0,2% xuống còn 18,7%. Bảo hiểm thất nghiệp không thay đổi 3%…  B- Chất lượng văn bản lập pháp ở ta: Trong tổng số luật Quốc hội ban hành năm 2014 được Chủ tịch nước công bố, có 8 luật điều chỉnh mối quan hệ công quyền, bộ máy nhà nước, chỉ mang lại lợi ích gián tiếp cho người dân, gồm: Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Việt Nam; Tòa án nhân; Quốc hội (hiệu lực từ ngày 01/01/2016); Công an nhân dân (hiệu lực từ ngày 01/7/2015); Sĩ quan Quân đội nhân dân(sửa đổi), hiệu lực từ ngày 01/7/2015; Hải quan (sửa đổi); Xây dựng (sửa đổi); Đầu tư công.  Có 5 luật liên quan tới ngành nghề kinh tế, tức nửa gián tiếp nửa trực tiếp đối với lợi ích người dân, gồm: Luật Công chứng (sửa đổi); Hàng không dân dụng (sửa đổi), hiệu từ ngày 01/7/2015; Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); Phá sản (sửa đổi); Giao thông đường thủy nội địa (sửa đổi); Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Có 6 luật liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích người dân, gồm: Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi); Căn cước công dân (hiệu lực từ ngày 01/1/2016); Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), hiệu lực từ ngày 01/1/2016; Nhà ở (sửa đổi); Hôn nhân và gia đình (sửa đổi); Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài. Trong đó có 2 luật tới năm 2016 mới có hiệu lực. Tức bước sang năm 2015, người dân chỉ được thụ hưởng mỗi 4 luật (tỷ lệ ít nhất trong tổng số luật công bố).   C- Kết qủa phân tích thực tế 2 nước trên cho thấy chất lượng văn bản lập pháp ở ta chỉ bằng 4/20 tức 20% Đức, với giả định các quy phạm chứa đựng trong các luật đó mang lại quyền, lợi ích trực tiếp cho người dân 2 bên tương đương nhau.  III Thi hành và chế tài  Văn bản lập pháp Đức có giá trị: (1) thi hành trực tiếp; (2) đúng ngày có hiệu lực. Nghĩa là đúng không giờ ngày đó, người đứng đầu những cơ quan chịu trách nhiệm thi hành phải thực hiện, không cần xin chỉ thị, ý kiến hay văn bản lập quy bất cứ cấp nào, nếu văn bản lập pháp không đòi hỏi. Nếu chậm thi hành hoặc thi hành sai, người dân có quyền khiếu nại; không được họ sẽ kiện ra toà. Chỉ riêng trợ cấp xã hội Hartz IV, thống kê năm gần nhất 2013 có tới 193.966 đơn kiện mới. Số đơn chống lại hình phạt bị cắt giảm tiêu chuẩn do bị cáo buộc vi phạm quy chế xin cấp trợ cấp tới 61.498 vụ. Sau khi khiếu nại, 22.414 người được giải quyết  chiếm 36%. 6.367 người trong số còn lại kiện tiếp ra toà có 2.708 người thắng, chiếm tới 42,5%. Nghĩa là cứ 100 vụ khiếu nại, kiện cáo, có ít nhất 78 người thắng nhà nước, đúng với bản chất nhà nước pháp quyền là công bộc của dân, không được phép và không thể bất chấp lợi ích họ.  Về mặt chế tài, đã là luật thì phải có chức năng đó. Các quy phạm trên, cơ quan hành xử nào sai phạm gây thiệt hại cho nhà nước hay các bên liên quan, người đại diện pháp nhân cơ quan đó sẽ bị chế tài; miễn lấy chỉ thị, ý kiến của bất cứ ai cơ quan tổ chức nào để đổ trách nhiệm cho họ vốn không nằm trong quy phạm pháp lý đó.   Trong khi đó, ở ta 4 văn bản lập pháp mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân lại phải qua quy trình: (1) gián tiếp qua văn bản lập quy. (2) Dù không được thi hành đúng ngày có hiệu lực cũng chẳng cơ quan công quyền nào bị chế tài cả, mặc nhiên đã coi luật là công cụ để chế tài chỉ dân chứ không phải nhà nước; trong khi nhà nước pháp quyền “chỉ được làm những gì luật cho phép“. Do quy trình trên, bình quân một luật có 6-7 văn bản hướng dẫn mới thực hiện được (theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân). Thấp nhất vào năm 2001 cũng thiếu tới 60 văn bản hướng dẫn, cao nhất năm 2006 tới 165 văn bản (theo Chủ nhiệm ỦB PL Phan Trung Lý). Năm 2014, có 55,6% các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực nhưng thiếu văn bản dưới luật triển khai, tức chỉ 44% luật có hiệu lực đúng ngày (theo báo cáo Chính phủ). Có những luật ban hành chờ tới được thời điểm có hiệu lực thì đã phải sửa đổi (theo Chủ nhiệm ỦB Dân tộc Ksor Phước). Hệ lụy tới tháng 12.2014 còn nợ 20 văn bản tồn đọng cùng 91 văn bản thi hành 12 luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, cộng thêm 18 luật được thông qua tại kỳ họp thứ 8 cần văn bản thi hành, nguy cơ số lượng văn bản nợ sẽ tăng đột biến trong tháng đầu năm 2015. Vậy là ngay chính nhà nước đã vi phạm luật, gây thiệt hại cho người dân không được thụ hưởng quyền lợi ích do luật đem lại khi nó đã có hiệu lực.  Nguyên nhân được nhiều đại biểu quốc hội và các cấp soạn thảo văn bản dưới luật đưa ra là do mâu thuẫn: (1) số lượng văn bản hướng dẫn quá lớn, nhiều nội dung khó quy định chi tiết, phức tạp cần thời gian, nghiên cứu, khảo sát thực tiễn; (2) trong khi nguồn nhân lực hạn chế.     IV Cấp thiết nâng cao năng lực quốc hội   Quốc hội Đức: Nhiệm kỳ 4 năm trước có 622 nghị sỹ, tất cả đều chuyên trách, thực hiện tổng cộng 253 phiên họp toàn thể, bình quân mỗi tuần họp 1 phiên, để thông qua 553 luật. Để thông qua được, họ phải chất vấn chính phủ tổng cộng 19.373 lần bằng giấy, 6.057 lần trên nghị trường, và 107 lần chất vấn khẩn cấp, tổng cộng 25.537 lần. Bởi Chính phủ đã soạn tới 434 dự thảo chiếm 78% tổng số luật đúng với chức năng hành pháp.    Lương chính nghị sỹ do Hiến pháp và Luật nghị sỹ ấn định bằng lương của Chánh án Toà án Liên bang, và điều chỉnh theo chỉ số biến động chi phí cuộc sống, từ ngày 1.1.2015 là 9082 Euro/tháng so với năm trước đó 8.667 Euro. – Văn phòng riêng, với đầy đủ dụng cụ trang thiết bị, chi phí hàng tháng 4.204 Euro.   Quốc hội Việt Nam: Theo Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, Đại biểu Quốc hội không quá 500 người. Với tỷ lệ ít nhất 35%, Đại biểu chuyên trách chỉ còn 175 người đúng với khái niệm nghị sỹ phổ quát trên thế giới, tương đương  28% Đức. Nếu ở ta tính thêm cả nghị sỹ bán chuyên trách và ở Đức tính cả 4 nhân lực hỗ trợ 1 nghị sỹ, thì tỷ lệ trên giảm xuống chỉ còn 16%.   Tiền lương Đại biểu Quốc hội ở ta mặc nhiên chứa đựng phân biệt, trong khi thế giới coi mọi nghị sỹ như nhau, bởi lá phiếu sản phẩm cuối cùng của họ không khác nhau. Ở ta đại biểu chuyên trách TƯ hưởng mức lương cấp thứ trưởng, có nhà ở công vụ, trong khi ở điạ phương thì chỉ ngang lương phó Chủ tịch HĐND, và đều tùy thuộc ngạch, bậc, thâm niên công tác. Các khoản phụ cấp khác, theo Nghị quyết UBTVQH số 1157/NQ-UBTVQH11 ngày 10/07/2007 gồm: hoạt động phí bằng 1,0 lương tối thiểu tức 650.000 đ/tháng (từ năm 2009); phụ cấp họp 2 kỳ 450.000 đ/kỳ; nghiên cứu tham gia ý kiến luật chỉ 300.000đ/1 dự án. Tính theo tỷ lệ trên lương chính thấp rất xa so với Đức, không thể thuê nổi 1 nhân lực trình độ cao hỗ trợ, tự mình đảm đương từ A-Z, trong khi ai cũng phải đại diện cho 90 triệu dân.    Vì vậy cần cấp thiết nâng cao năng lực của quốc hội Việt Nam để có thể đảm đương việc xây dựng các văn bản luật pháp có chất lượng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước vì dân như thế nào?      Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.      Lúc 1 giờ sáng, ngày 17.6.2012, tại thành phố Leipzig, Đức, hàng xóm trong một chung cư phát hiện có mùi lạ nồng nặc từ căn hộ 2 phòng tầng trệt tràn ra cầu thang, liền gọi điện khẩn cho cảnh sát và cứu hoả tới. Phá cửa vào, đập vào mắt họ một thảm cảnh thương tâm, xác đứa con trai Kieron-Marcel 2 tuổi gục mặt vào xác người mẹ Christin F, 26 tuổi, nằm còng queo trên lối vào phòng khách, lâu ngày đang thối rữa. Cảnh sát lập tức phong toả hiện trường điều tra án mạng. Khám nghiệm pháp y sau đó cho thấy, Christin F chết vào khoảng từ ngày 7-10.6, do sốc ma túy Intoxikation, hỗn hợp pha trộn giữa Heroin và Kokain. Mẹ mất, bé trai đói khát, gào khóc bên cạnh xác mẹ suốt 1 tuần rồi lả dần đến chết. Kết quả giải phẫu tử thi còn phát hiện được người mẹ đang mang thai nhi tháng thứ 3. Ba mạng người bị chết bỏ mặc, chấn động nước Đức, đánh vào ý thức, lương tri con người, gây sốc dân chúng, hầu như không ngày nào không được truyền thông đưa tin, với hàng loạt câu hỏi, xoáy quanh vấn đề cốt lõi, trách nhiệm nhà nước trước thảm kịch. Tại sao không hàng xóm nào đoái hoài tới vận mệnh đồng loại mình, mặc đưá bé 2 tuổi gào khóc khản cổ đến chết bên xác người mẹ, và căn hộ 3 mẹ con có dấu hiệu bất thường suốt cả tuần, trong khi luật pháp chế tài mọi hành vi bỏ mặc nạn nhân? Ba nhân mạng cũng là 3 đồng chủ nhân, nhân dân, sinh ra nhà nước không nhằm mục đích nào khác ngoài phục vụ cho chính họ. Bộ máy của nó ăn lương từ tiền thuế họ đóng, không được phép để chủ nhân của mình bị chết thảm bỏ mặc. Vậy ai là người đại diện pháp lý cho nhà nước, chịu trách nhiệm đó ? Tương lai của một đất nước bình đẳng bác ái sẽ ra sao, khi đưá bé sinh ra từ thân phận xã hội thấp kém bị chết thảm bỏ mặc?  Một khi nhà nước thực sự vì dân, thì nhân sự bộ máy của nó không thể không lên tiếng trước bất kỳ câu hỏi bức bách nào của người dân, bất kể họ là ai, nếu không sẽ bị chính thiết chế nhà nước đó tự động đào thải thay thế. Cơ quan liên đới đầu tiên, Viện Kiểm sát Leipzig lập tức ra tuyên bố cho điều tra mọi hướng, xem nhà chức trách có hành vi sao nhãng trách nhiệm, bỏ mặc nạn nhân hay không? Cơ quan hành pháp từ Thủ hiến tới Bộ trưởng Xã hội tiểu bang, yêu cầu Sở Thanh thiếu niên trình báo cáo chi tiết, để hội đồng chuyên môn của bộ giám định, nếu do lỗ hổng pháp lý thì phải bổ khuyết, nếu lỗi từ trách nhiệm cá nhân thì phải xử lý. Cấp thành phố, Hội đồng nhân dân phải cho họp phiên điều trần; Thị trưởng thành phố, đứng đầu cơ quan hành chính, gửi lời chia buồn tới thân nhân người bị nạn, khẳng định “không ai có thể làm ngơ trước vụ chết thảm này“.  Sở Thanh thiếu niên, Sở Y tế, Đặc trách giúp đỡ người nghiện, và Tổ chức dịch vụ xã hội ASD là những cơ quan hành chính chịu trách nhiệm hành xử, buộc phải tập hợp hồ sơ tường trình vụ việc. Theo tường trình, Christin F nghiện chích từ năm 16 tuổi,  đủ các loại ma túy; thành phố hỗ trợ tới 6 khoá cai nghiện, cả 6 lần tái phát. Tới ngày 16.4.2010, bé trai Kieron-Marcel chào đời, trở thành niềm hy vọng, an ủi, chỗ dựa tinh thần cho Christin F bắt đầu cuộc đời mới; Christin F luôn thích thú mang theo con khoe khắp bạn bè, nối lại quan hệ với mẹ mình vốn đã cắt đứt từ ngày bỏ nhà đi “bụi“. Ai cũng nghĩ may cho Christin F, nhưng đâu biết tình trạng nghiện chích vẫn chưa buông tha nạn nhân, một khi tái phát càng nghiệm trọng hơn. Chưa đầy 2 tháng sau, cả mẹ của Christin F , lẫn chủ cho thuê nhà ở, người trông trẻ giúp, phải báo động nhà chức trách về mệnh hệ đưá con bị đe doạ, khi Christin F, cao 1,65 m, nặng chỉ còn 40 kg, tỏ ra bị quá sức, không thể tự mang con tới người trông trẻ, bỏ nó ở nhà vất vưởng. Là cơ quan có chức năng bảo vệ trẻ em, Sở Thanh thiếu niên cùng Đặc trách giúp đỡ người nghiện lập tức đưa 2 mẹ con vào trại chăm sóc giúp đỡ thanh thiếu niên kể từ ngày 8.6.2010, tiếp đó cho học thực hành chương trình chăm nuôi con kéo dài không thời hạn, do ASD chịu trách nhiệm. Nhưng rồi từ cuối năm 2011, Christin F tự động bỏ ngang, hủy mọi lịch hẹn thực hành, mặc cho các cơ quan chức năng liên tục tới gặp gỡ yêu cầu; bác sỹ xét nghiệm nước tiểu cho biết, Christin F vẫn tiếp tục nghiện ma túy. Dùng dằng đến ngày 10.4.2012, Christin F mang theo bạn trai mới, tới ASD trình bày không tham gia khoá học nữa, và thông báo cả nhà sẽ chuyển chỗ ở tới thành phố khác. Sau 1 tiếng rưỡi phỏng vấn, nhân viên ASD ghi vào biên bản nhận xét sức khỏe 2 mẹ con tốt, và xoá tên khỏi danh sách chăm sóc, đồng nghĩa Sở Thanh thiếu niên hết trách nhiệm.        Giũ bỏ trách nhiệm không có nghĩa nó tự động mất.Người dân không thể chấp nhận một thảm kịch đã xảy ra ai cũng trông thấy, mà không nhà chức trách nào gánh chịu trách nhiệm. Một khi cấp hành xử khẳng định mình đúng luật, thì chỉ có thể văn bản lập quy hoặc lập pháp sai, tức người đứng đầu hành chính, hành pháp và lập pháp phải đối mặt.        Giám đốc Sở Thanh thiếu niên cho họp báo tường trình vụ việc đã tổng hợp, rồi kết luận, Sở ông không hề vi phạm chuẩn mực chuyên môn và các văn bản luật, nghĩa là không chịu trách nhiệm. Lập tức bị công luận bất bình lên tiếng phản bác dữ dội, cáo buộc Sở Thanh thiếu niên giũ bỏ trách nhiệm, đặt ra hàng loạt câu hỏi xoáy vào ngày 10.4.2012. Tại sao mới nghe nạn nhân nghiện chích trình bày, đã kết luận đứa trẻ không còn bị đe doạ mệnh hệ, không cần giám hộ tiếp? Tại sao không kiểm tra nạn nhân chuyển chỗ ở thực hay không? Tại sao 8 tuần liền không một nhà chức trách nào liên hệ với nạn nhân vốn được bác sỹ giám định đang nghiện?  Giũ bỏ trách nhiệm không có nghĩa nó tự động mất. Người dân không thể chấp nhận một thảm kịch đã xảy ra ai cũng trông thấy, mà không nhà chức trách nào gánh chịu trách nhiệm. Một khi cấp hành xử khẳng định mình đúng luật, thì chỉ có thể văn bản lập quy hoặc lập pháp sai, tức người đứng đầu hành chính, hành pháp và lập pháp phải đối mặt. Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố lập tức công bố quyết định thành lập một hội đồng giám định độc lập bao gồm các nhà khoa học, các bác sỹ, các nhà tâm lý học. Còn Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang bị điều trần trước Quốc hội về trách nhiệm phía cảnh sát. Các biên bản công vụ cảnh sát cho thấy, mấy tháng liền trước vụ chết thảm, tổng cộng 6 lần nạn nhân bị cơn nghiện hành hạ đập phá nhà cửa ầm ĩ hàng xóm, kèm theo mệnh hệ đứa trẻ bị đe doạ, được cảnh sát và bác sỹ cấp cứu tới can thiệp, và luôn báo kịp thời cho ASD. Chiếc thòng lọng trách nhiệm pháp lý trước thảm kịch đối với Chủ tịch thành phố, Sở Thanh thiếu niên đang siết dần, hiện chỉ chờ kết luận của hội đồng giám định.  Truy cứu trách nhiệm nhà chức trách không thể trông chờ vào mỗi bộ máy nhà nước vốn không thể nói trước không bao giờ trục trặc. Trong thể chế pháp quyền, đó còn là quyền cơ bản, tự bảo vệ của công dân trước sai phạm của nhà nước, pháp luật phải bảo hộ, trong xét xử được coi là đồng nguyên cáo với công tố. Của đau con xót, mẹ của Christin F lập tức đệ đơn kiện Chủ tịch thành phố, Giám đốc Sở Thanh thiếu niên và ASD, với cáo buộc tội hình sự bỏ mặc, gây hậu qủa chết người. Bằng chứng được đưa ra là cả người mẹ, lẫn chủ nhà cho thuê, người trông trẻ đã trình báo tình trạng nghiện chích của người mẹ đe doạ vận mệnh đứa con, với nhà chức trách, nhưng đã bỏ mặc dẫn tới thảm kịch. Các bị đơn lập tức bị Viện Kiểm sát cho điều tra phục vụ  khởi tố, thu thập chứng cứ, triệu tập thẩm vấn, thu giữ tài liệu…  Tuy nhiên, truy cứu trách nhiệm nhà chức trách dù nghiêm khắc tới đâu cũng chỉ là biện pháp chế tài để bảo đảm nhà nước luôn tự động vì dân, nhưng một khi thiệt hại đã xảy ra, cái người dân cần ở nguyên lý nhà nước vì dân chính là được bồi thường thiệt hại. Nước Đức sôi sục suốt từ đầu năm tới nay bởi hậu quả của nhóm cực hữu, NSU, sát hại tới 9 doanh nhân nhập cư Đức, xảy ra từ tháng  9.2000 – 6.2006, nhưng  mãi tới tháng 11.2011 nhà chức trách mới phát hiện được thủ phạm. Họ bị buộc gánh chịu trách nhiệm, phải thôi chức gồm: Chủ tịch Mật vụ Liên bang, mật vụ 2 tiểu bang, cùng Chủ tịch Cảnh sát Liên bang. Trước trách nhiệm không bảo vệ nổi quyền được sống cho 9 người dân, Chính phủ Đức phải công khai xin lỗi và chi ngân sách tới 486.440 Euro bồi thường cho gia đình họ, 10.000 Euro/ người cho vợ chồng con cái, 5.000 Euro/người cho anh chị em ruột, để chia sẻ giảm thiểu phần nào nỗi đau mất mát của họ.  Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó. Cũng như họ, ở ta  nhà nước được hiến định của dân do dân vì dân; vậy thực tế thiết chế bộ máy nhà nước họ đặt trách nhiệm hiến định đó lên “ đầu“ nhà chức trách liệu có thể  tham khảo để khắc phục tình trạng nhân sự bộ máy công quyền ta hiện nay như Nghị quyết Trung ương 4,  đã nêu, “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc“. “Không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm“. “Tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân“.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà thơ lớn của nửa cuối thế kỷ XX      Biết ông từ lâu nhưng tôi vẫn bị bất ngờ khi Lê Đạt bảo tôi làm bìa cho tập Bóng Chữ. Tôi tìm bản rập một hoa văn gốm Trần trên giấy Dó, nhờ anh Đỗ Huy chụp rất kỳ công cho được cả những tầng bóng đổ nhoè như sương khói của các ‘tín hiệu thị giác’ cổ kính và mộc mạc kia. Bìa xấu, NXB không ưng nhưng ông nhất định đòi in. Tập Bóng Chữ gây ra một cuộc tranh luận lớn về thơ, ngôn ngữ và thi pháp. Các bài viết in thành một tập dày để tham khảo. Tôi cũng viết một bài về tập thơ mà tôi cho là rất “lạ” và đẹp này.    Sáng 14/4 vừa qua, ở trang trại Ma Đ’răc, vì cùng mệt không vào rừng chơi tôi may mắn được đàm đạo thơ và họa cùng lão thi nhân lần cuối. Lê Đạt thông tuệ minh mẫn và thẳng thắn tới (cuối) cùng. Ông bảo “Tranh Ph. thì thường nhưng Ngh. thì ghê đấy!”. Ông bình luận về Picasso, Matisse và Toulouse-Lautrec như một nhà phê bình mỹ thuật thực thụ. Mái tóc húi ‘cua’ bờm xờm lắc lư, cái miệng chúm chím trẻ thơ hóm hỉnh và đôi mắt biết cười thật ‘minh triết’ hiếm hoi. Khó mà không bị bất ngờ trước các ‘phán xét’ chính xác, gọn gàng, đánh ‘rụp’ như những nhát rìu tạc tượng gỗ của Lão phu – chữ về một con người hay tác phẩm nào đó.              Lưu bút bài thơ Bóng chữ của nhà thơ              Lê Đạt viết tặng Phó TBT Hoàng Thu Hà          Tôi nói với ông về các nhà thơ tiếng Việt. Nhà thơ lớn, tập thơ lớn phải là những ‘miền khí hậu’ riêng biệt. Ở đó kẻ hợp thì sảng khoái, khoẻ khoắn, sung sướng, kẻ không hợp thì bức bối khó chịu, thậm chí sinh bệnh, kẻ chưa quen thì hắt hơi xổ mũi qua loa rồi quen dần và khám phá. Chỉ các ‘miền khí hậu’ mới lạ mới thực sự mở rộng vương quốc của nghệ thuật, thi ca. Tôi nói mà không nịnh rằng nửa cuối thế kỷ 20 có hai tập thơ tạo được miền khí hậu là Kinh Bắc của Hoàng Cầm và Bóng Chữ của ông. Lê Đạt ảnh hưởng không nhỏ về thi pháp với nhiều nhà thơ già và trẻ nhưng học ông là rất khó.  Ông bảo: “Ngay cả chữ phu chữ nó cũng tự nhiên bật ra chứ ‘tao‘ có nghĩ ra đâu!” Thơ, chữ là phải tự nhiên sinh ra chứ không học mà được, cố mà được. Có lẽ phu chữ là cái nghiệp, là cái hạnh ngộ giời cho với cái đẹp chứ không phải sự kỳ khu làm chữ, đẽo chữ, nung nấu, khuân vác chữ… Ai ngờ đó là cuộc đàm đạo cuối cùng, nơi rừng suối.  Lê Đạt,một nhà thơ lớn cuối cùng của thế kỷ xx của chúng ta vẫn mãi còn đây, để   “… trắng đầy cong khung nhớ  Mưa mấy mùa mây mấy độ thu  … bóng chữ động chân cầu.”    Sài Gòn 21/4/2008    Nguyễn Bỉnh Quân     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân cách khoa học của nhà nghiên cứu      Tạp ch&#237; Tia s&#225;ng số ra ng&#224;y 20. 5. 2009 c&#243; đăng tải b&#224;i &#8220;Chuyện&#8221; con người khoa học Việt Nam của t&#225;c giả Nguyễn Bỉnh Qu&#226;n viết về một số ti&#234;u cực v&#224; yếu k&#233;m trong nghi&#234;n cứu khoa học x&#227; hội với dẫn chứng về một số vụ việc cụ thể. Đ&#225;ng tiếc l&#224; do sơ suất, t&#225;c giả đ&#227; dẫn nhầm nhan đề c&#244;ng tr&#236;nh &#8220;Một số vấn đề cấp b&#225;ch về x&#226;y dựng giai cấp c&#244;ng nh&#226;n Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh c&#244;ng nghiệp h&#243;a &#8211; hiện đại h&#243;a đất nước&#8221; của Tổng Li&#234;n đo&#224;n Lao động Việt Nam th&#224;nh &#8220;C&#244;ng t&#225;c c&#244;ng đo&#224;n cơ sở&#8221;, vả lại, với một b&#224;i b&#225;o ngắn như thế kh&#243; c&#243; thể ph&#226;n t&#237;ch một c&#225;ch thấu đ&#225;o đủ mức cần thiết, n&#234;n dễ g&#226;y ngộ nhận v&#224; do đ&#243; cũng khiến b&#224;i viết &#237;t nhiều chưa thuyết phục được người đọc. Tuy nhi&#234;n vấn đề nh&#226;n c&#225;ch khoa học của người nghi&#234;n cứu m&#224; b&#224;i viết n&#234;u ra quả l&#224; một điểm n&#243;ng trong nghi&#234;n cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay, n&#234;n cũng cần được nhiều người c&#249;ng quan t&#226;m để c&#243; thể giải quyết.    Nếu nhìn nhận hoạt động khoa học xã hội Việt Nam hiện nay bằng mô hình sản xuất chung nhất với ba khâu cơ bản là sản xuất – phân phối – tiêu dùng, thì hệ thống sản xuất đang có vấn đề trên phương diện tổ chức. Chưa nói tới chất lượng, chỉ riêng việc lực lượng nghiên cứu khoa học tập trung trong khu vực Nhà nước, nhưng bị rải ra trong nhiều hệ thống nghiên cứu riêng biệt từ Trung ương tới địa phương, mà không có cơ chế liên kết ngang mang tính pháp quy gây ra tình trạng trùng lặp phổ biến về đề tài nghiên cứu và cát cứ ít nhiều về tư liệu khoa học, cũng đã không hứa hẹn điều gì tốt đẹp cho một nền khoa học phát triển lành mạnh, vì nó xé lẻ một thị trường khoa học thống nhất có thể có ra thành nhiều mảnh mang tính chất cục bộ hay địa phương. Có lẽ cũng cần có sự phân định rạch ròi giữa hoạt động nghiên cứu với hoạt động khoa học, vì rất nhiều người có nhu cầu nghiên cứu và đều có thể thực hiện nhiều thao tác nghiên cứu hoặc lớn hoặc nhỏ, nhưng không phải bất cứ ai cũng có được tư duy, phương pháp luận và định hướng hoạt động khoa học. Bởi vì có nhiều vấn đề tuy rất cần nghiên cứu nhưng mang tính nhất thời, đơn lẻ hay thậm chí còn là ngẫu nhiên, tóm lại không thành hệ thống, không tồn tại một cách ổn định và lâu dài đủ để trở thành đối tượng của một ngành khoa học độc lập. Chẳng hạn ngay từ tên gọi thì công trình Một số vấn đề cấp bách…nói trên cũng cho thấy nó chỉ hướng tới tổng kết, lý giải một số vấn đề nhất thời đặt ra trong thực tiễn hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động vào lúc công trình ấy được tiến hành, không thể coi là một đề tài khoa học. Hơn thế nữa, một đề tài nghiên cứu của Tổng Liên đoàn Lao động do vị Chủ tịch Tổng Liên đoàn làm chủ nhiệm đề tài, do Hội đồng khoa học của Tổng Liên đoàn Lao động nghiệm thu, thì bất kể chất lượng thế nào cũng khó tránh được sự hiềm nghi về chuyện              Làng An Định – An Giang        “Mẹ hát con khen hay”. Còn nói sâu hơn thì việc chỉ ra những vấn đề cấp bách như thế vốn thuộc nhiệm vụ pháp quy của Tổng Liên đoàn Lao động mà trước hết là những người lãnh đạo, bộ máy ấy được tổ chức và trả lương vốn để làm việc ấy, tại sao lại biến nó thành một đề tài để lấy thêm kinh phí Nhà nước? Sở dĩ không ai coi các Nghị quyết Đại hội Đảng hay Nghị quyết các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là những công trình khoa học chính vì điều đó, mặc dù những người soạn thảo ra các Nghị quyết ấy cũng phải dùng nhiều thao tác nghiên cứu để tổng kết, lý giải và dự báo các vấn đề có liên quan. Sự đánh đồng hoạt động nghiên cứu với hoạt động khoa học xã hội ngay từ tổ chức và hoạt động như thế đang gây trở ngại cho việc hoàn thiện nhân cách khoa học hiện đại vì nó cản trở giới khoa học Việt Nam bước vào quỹ đạo chuyên nghiệp hóa đồng thời nâng cao chất lượng nghiên cứu, còn trên khía cạnh tác động xã hội thì đây chính là tiền đề cho sự xuất hiện của nhiều “nhà khoa học xã hội” với các công trình tào lao.          Quá trình tái cấu trúc xã hội trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hóa hơn 20 năm qua còn chưa tạo ra được điều kiện cần thiết để san bằng khoảng cách giữa các cấu trúc xã hội rất khác nhau ấy, thực tế này cũng chi phối tính mục đích của nhiều người nghiên cứu trong việc hành xử các nhiệm vụ khoa học. Và khi tính mục đích không rõ ràng sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với việc xây dựng một xã hội thống nhất.        Bên cạnh đó, một trong những nan đề của khoa học xã hội Việt Nam hiện nay là chưa có một hệ thống phân phối và tiêu dùng có thể kích thích hệ thống sản xuất. Lề lối tác nghiệp cổ điển ít nhiều lạc hậu đã khiến khoa học Việt Nam nói chung chỉ có một khách hàng lớn nhất là Nhà nước với khả năng mua còn rất có hạn, trong khi lối làm đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Viện với kinh phí Nhà nước thật ra chỉ là một hình thức tái bao cấp, đây là những lý do chủ yếu khiến thị trường khoa học quốc gia vẫn chưa hình thành và vì vậy cũng khiến khoa học xã hội Việt Nam hiện nay phát triển một cách rất không giống ai. Ai cũng biết trong hoạt động khoa học xã hội thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất, mà lối cung cấp kinh phí theo đề tài như vậy thật ra là Nhà nước mua quá trình lao động chứ không phải mua kết quả sản xuất, và nếu kinh phí đổ ra càng lớn – có khi tới vài trăm triệu thì Hội đồng nghiệm thu càng khó kiên quyết trước việc quyết định điểm Không đạt cho công trình. Mặt khác không phải bất cứ người nghiên cứu có năng lực nào cũng có thể được nhận kinh phí ngoài tiền lương để thực hiện đề tài, khá đông vì vậy phải bán ở các thị trường khác để có thể mua ở thị trường chung, thứ nhân cách kinh tế lưỡng phân này đã tác động xấu tới nhân cách trong đó có lương tâm khoa học và ý thức xã hội của không ít người nghiên cứu.   Tuy nhiên trên đây chỉ là những yếu tố tổ chức và hoạt động tác động bất lợi tới nhân cách khoa học, có thể giải quyết bằng các biện pháp tổ chức, tài chính và kỹ thuật. Vấn đề nhân cách khoa học của người nghiên cứu xã hội còn bị chi phối bởi yếu tố định hướng phát triển, trong phạm vi hẹp là định hướng phát triển khoa học xã hội, trong phạm vi rộng là định hướng phát triển xã hội. Đây mới chính là vấn đề cốt tử đối với nhân cách khoa học của những người nghiên cứu khoa học hiện nay.         Vấn đề nhân cách khoa học của người nghiên cứu còn bị chi phối bởi yếu tố định hướng phát triển, trong phạm vi hẹp là định hướng phát triển khoa học, trong phạm vi rộng là định hướng phát triển xã hội. Đây mới chính là vấn đề cốt tử đối với nhân cách khoa học của những người nghiên cứu khoa học xã hội hiện nay.         Nhìn vào kết cấu tổ chức – ý thức hệ của xã hội Việt Nam hiện nay, có thể thấy đó là một phức hợp đan xen nhiều cấu trúc xã hội. Bên cạnh những công dân tuy còn khiếm khuyết của xã hội dân chủ vẫn có những con người của xã hội quân chính, bên cạnh những con người của xã hội thị trường vẫn có những con người của xã hội bao cấp, bên cạnh những con người của xã hội hiện đại vẫn có những con người của xã hội phong kiến, tóm lại là sản phẩm của nhiều cấu trúc xã hội với những định chế rất khác nhau, thậm chí cả những con người vô Chính phủ cũng đã xuất hiện. Quá trình tái cấu trúc xã hội trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hóa hơn 20 năm qua còn chưa tạo ra được điều kiện cần thiết để san bằng khoảng cách giữa các cấu trúc xã hội rất khác nhau ấy, thực tế này cũng chi phối tính mục đích của nhiều người nghiên cứu trong việc hành xử các nhiệm vụ khoa học. Một người nghiên cứu các môn Phong thủy, Dịch học, Tử vi thì trong thực tế y đã tái lập một mảnh của văn hóa và xã hội tiền tư bản, một người nghiên cứu làng xã thì trong thực tế y đã tái lập một mảnh của văn hóa và xã hội nông nghiệp cổ truyền, một người nghiên cứu Phật giáo thì trong thực tế y đã tái lập một mảnh của văn hóa và xã hội tôn giáo, một người nghiên cứu lịch sử Đàng Trong thì trong thực tế y đã tái lập một mảnh của văn hóa và xã hội Việt Nam dưới sự cát cứ của các chúa Nguyễn Đàng Trong. Chất lượng nghiên cứu càng cao thì sự tái lập ấy càng chính xác, nhưng tính mục đích không rõ ràng lại khiến điều đó tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với việc xây dựng một xã hội thống nhất. Không lạ gì mà nhiều người đi vào cái học Phong thủy, Tử vi đã trở thành những người tiên phong trong việc tuyên truyền cho tư tưởng mê tín dị đoan. Năm trước một nhà nghiên cứu từng làm xúc động dư luận với một công trình quy đồng nhiều yếu tố truyền thống của văn hóa Việt Nam vào mẫu số văn hóa Phật giáo, cách nhận định ấy dù đúng dù sai cũng khiến người ta phải lo ngại, vì trong thực tế nó có thể đưa tới những nhận thức lịch sử bất lợi cho việc xây dựng một xã hội hiện đại không bị chi phối bởi các tư tưởng tôn giáo ở Việt Nam. Tương tự, trong Hội thảo do Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT và Tạp chí Tia sáng tổ chức tháng 6.2008, có nhà nghiên cứu nêu ra việc phát triển văn hóa làng như một biện pháp xây dựng nông thôn mới, trong khi cái gọi là văn hóa làng ấy về cơ bản là tàn tích xã hội của nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà sau Hội nghị về triều Nguyễn và các chúa Nguyễn Đàng Trong cuối năm trước ở Thanh Hóa, nhiều người đã bày tỏ sự lo ngại về lối thay đổi nhận thức kiểu quay ngoắt 180 độ về lịch sử, trước kia cái gì cũng chê bai lên án thì bây giờ cái gì cũng khen ngợi ca tụng. Bởi trong thực tế lối thay đổi ấy chỉ có một kết quả duy nhất là cản trở nếu không nói là phá hoại tiến trình tái cấu trúc xã hội về mặt nhận thức lịch sử và văn hóa dân tộc, một tiến trình mà mục tiêu chủ yếu là thống nhất cách nhìn về quá khứ để tiến tới sự đồng thuận trong cái nhìn về tương lai. Dĩ nhiên nạn nhân đầu tiên của những kết quả nghiên cứu ít có hiệu quả xã hội ấy chính là những người nghiên cứu, vì nếu bị chi phối bởi những không gian xã hội xưa cũ do chính mình tái tạo, họ sẽ ít nhiều tách rời với các nhu cầu nhận thức và định hướng thực tiễn của xã hội đương đại, thiếu tỉnh táo để nhận chân về các bước đi tiếp theo trên con đường khoa học của mình. Còn nếu nói thêm thì giống như một bầy kiến cùng khiêng một con sâu nhưng mỗi con đều ra sức kéo về một phía, một nền khoa học phát triển trên cơ sở những con người như thế có thể cũng sẽ về tới đích, nhưng phải theo một lộ trình quanh co không cần thiết và vì thế lại góp phần làm chậm lại tốc độ hiện đại hóa của xã hội Việt Nam.    ***  Sau cùng, tôi cũng muốn qua bài viết này tạ lỗi với Chi đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Viện Nghiên cứu Hán Nôm, vì buổi nói chuyện vừa qua của tôi chắc chắn không đáp ứng được lòng mong muốn của các em. Bởi vì tôi khiếp sợ trước viễn cảnh một nền khoa học xã hội của quốc gia lại bị phân tán, chia rẽ về tính mục đích và động cơ nghiên cứu mà nhất thời tự thấy không sao trình bày một cách rõ ràng và chính xác. Nhưng một nhân cách khoa học lành mạnh thì phải có ý thức trách nhiệm với xã hội, tôi hy vọng được các em chia sẻ điều này.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân chuyện xâm nhập mặn đồng bằng sông Cửu Long      Chuyện nầy cứ nói hoài và nói nữa, nói mãi. Hổm rày đọc báo thấy nông dân Cà Mau “lén” bửa đê để lấy nước mặn vào ruộng nuôi tôm sú, nông dân Hậu Giang thì “làm ngơ” trước khuyến cáo của ngành chức năng và đã xuống giống hàng ngàn hecta vụ lúa hè thu.    Tại sao nông dân phải “lén” làm chuyện nầy? Tại sao họ lại “làm ngơ” trước các khuyến cáo của ngành chức năng? Bởi vì họ có “quyền sử dụng đất” và mục tiêu của họ là lợi nhuận, cái gì có lợi thì họ làm! Trong khi đó thì “sở hữu đất đai thuộc về toàn dân” và đại diện cho toàn dân là Nhà Nước, và mục tiêu của Nhà Nước là “bảo đảm an ninh lương thực”.  Vì vậy chính quyền địa phương đang bị “kẹt” giữa một bên là “ông chủ đất” (nhà nước) và một bên là “ông chủ ruộng” (nông dân), và hai ông chủ nầy có mục đích khác nhau xa.  Và bấy lâu nay, “ông chính quyền” khuyến khích nông dân “khai thác thế mạnh” để “trồng cây gì, nuôi con gì?” nên ông chủ ruộng A nói thế mạnh của tui là nuôi tôm sú, tại sao cấm? ông chủ ruộng B nói tui giỏi trồng lúa tại sao cấm? Thế là ông chính quyền địa phương hết biết phải làm sao!  Nhưng cái khó nó làm “ló” cái khôn mà! Thế là nhân chuyện xâm nhập mặn Ông Cà Mau cho chuyển đất “dành cho an ninh lương thực” sang nuôi tôm, Ông Hậu Giang xin kinh phí cho xây con đê to đùng để ngăn nước mặn từ phía Cà Mau tràn sang, và Trung ương cũng phải “ừ” cho xong, kẻo nông dân trồng lúa “uýnh” (“đánh”) nông dân nuôi tôm…thì chí nguy!  Rồi đây khi Hậu Giang xây xong đê ngăn mặn với Cà Mau, đến mùa mưa nước thoát không kịp đành ngập úng, lúa chết, và ông Hậu Giang “xin” thoát nước ô nhiễm qua Cà Mau làm tôm chết. Sau khi tôm chết, lúa chết thì ông chủ ruộng (nông dân) cũng chết, còn ông chủ đất thì vẫn … vô tư.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân khẩu học thế giới      Tạp chí Lancet gần đây công bố một bài báo quan trọng về mô hình về gia tăng dân số toàn cầu với sự cải tiến so với những dự đoán trước đây của Liên Hiệp quốc hay của Trung tâm Wittgenstein, nhưng điều đáng quan tâm nhất không phải là kết quả dự đoán của mô hình mà là nhận thức mới về các tham số quyết định mức độ gia tăng dân số và cho thấy mức độ ảnh hưởng chính sách các quốc gia có thể mang lại1.  Tôi xin đưa ra bình luận vắn tắt về một số nội dung của bài báo với tham vọng thúc đẩy những cuộc thảo luận giữa các học giả trong bối cảnh cơn đại dịch khiến chúng ta phải suy nghĩ về những yếu tố quyết định sự tiến hóa và phát triển của thế giới và các quốc gia.      Nhìn chung trên thế giới cũng như tại Việt Nam, thế hệ tương lai sẽ phải đối mặt với viễn cảnh mỗi người lao động phải nuôi khoảng 1,16 người không lao động. Ảnh: Vietnamplus.   Bài báo đăng trên Lancet cho biết, mặc dù khó có thể đưa ra dự đoán chính xác về mức độ tăng dân số toàn cầu, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn về một số điểm sau:  1. Kiểm soát gia tăng dân số ở cấp độ toàn cầu cũng như quốc gia là tối cần thiết và phải là ưu tiên hàng đầu của các chính phủ. Thay đổi quy mô dân số và cơ cấu độ tuổi sẽ mang lại những tác động sâu sắc về kinh tế, xã hội và địa chính trị.  2. Trong những giới hạn nhất định, việc kiểm soát nêu trên là khả thi; bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục dành cho nữ giới và tiếp cận tránh thai, cho thấy chúng hiệu quả ra sao trong việc định hướng xu thế toàn cầu.  3. Thế giới đang thay đổi rất nhanh, khiến khó đưa ra những đự đoán chắc chắn, nhưng chúng ta có thể chắc rằng bức tranh chung vào cuối thế kỷ này sẽ rất khác so hiện nay.  4. Các nhà hoạch định chính sách không nên coi các dự đoán đưa ra từ các mô hình như thực tế chúng ta phải chấp nhận để thích nghi, mà hãy coi chúng là minh họa cho tầm quan trọng của những nhân tố cần được điều chỉnh để định hướng quốc gia mình tiến tới một tương lai tốt đẹp hơn.  Bài báo của Lancet đưa ra một số dự đoán tương lai, dựa trên hai kịch bản về giáo dục nữ giới và việc tiếp cận các phương tiện phòng tránh thai, trong đó một kịch bản được coi là lạc quan, kịch bản còn lại bị coi là bi quan. Trung dung giữa hai kịch bản này là vùng tham chiếu, được coi là kịch bản dễ xảy ra nhất, căn cứ theo thông tin tốt nhất chúng ta có được. Hình 1 minh họa mức tăng theo mô hình của ba đại lượng: tử vong, sinh sản, và dân số. Tất cả cho thấy việc cải thiện giáo dục nữ giới và tiếp cận tránh thai, căn cứ theo đường đồ thị mà xu hướng hiện nay cho thấy, sẽ giúp dân số thế giới thoát khỏi xu hướng bùng nổ thảm họa như diễn ra trong các thập kỷ trước, và đạt mức tối đa ngay trong thế kỷ này. Như đã nhấn mạnh tại điểm thứ tư trên đây, bài học rút ra không phải là chúng ta có thể an tâm, mà trái lại, hãy làm tất cả những gì có thể để cải thiện giáo dục với nữ giới và tiếp cận tránh thai, cùng những tác nhân cần thiết khác có tác động tích cực tới kiểm soát tăng dân số.         Hình 1. Mô hình tuổi thọ của nam và nữ; mô hình tăng dân số toàn cầu; mô hình tỉ lệ sinh của toàn thế giới và châu Phi vùng Hạ Sahara. Vùng tham chiếu được hiển thị màu xanh nhạt.  Tuy không quá lệ thuộc, nhưng hãy tham khảo mức tăng dân số theo mô hình và so sánh giữa Việt Nam với thế giới. Năm 2017 dân số Việt Nam là 96 triệu, chiếm 1,3% của 7,6 tỷ dân số thế giới; dự đoán năm 2100 theo kịch bản tham chiếu dân số Việt Nam sẽ là 73 triệu, chiếm 0,83% của 8,8 tỉ dân số thế giới; tại đỉnh điểm: dân số Việt Nam đạt 107 triệu người vào năm 2044, trong khi dân số thế giới đạt 9,7 tỉ người vào năm 2064. Năm 2017 tỉ lệ sinh của Việt Nam là 1,85, bằng 78% tỉ lệ 2,37 của thế giới; năm 2100 mô hình dự đoán tỉ lệ sinh của Việt Nam là 1,39, bằng 84% tỉ lệ 1,66 của thế giới. Mức giảm toàn cầu tỉ lệ sinh từ trên xuống dưới mức 2,1 (2,1 là tỉ lệ sinh giúp duy trì mức dân số không tăng không giảm) rất quan trọng trong việc kiểm soát xu hướng dân số toàn cầu; các tác giả bài báo đã cung cấp những lập luận thuyết phục cho điểm này. Như vậy, xu hướng tăng giảm ở Việt Nam được dự đoán khớp với xu hướng thế giới, và các quốc gia khác nhau sẽ có xu hướng đồ thị phát triển dân số ngày càng tương đồng. Kết quả đáng kinh ngạc nhất là ở châu Phi vùng Hạ Sahara, nơi ngày nay đang có sự phân hóa đa dạng nhất. Dân số khu vực này được dự đoán sẽ tăng gấp ba từ 0,9 tỉ người năm 2017 lên 2,7 tỉ người vào năm 2100: Hình 2 cho thấy mô hình tăng dân số tại Nigeria, Congo (Cộng hòa Dân chủ) và Ethiopia.       Căn cứ theo đường đồ thị về xu hướng hiện nay cho thấy, việc cải thiện giáo dục nữ giới và áp dụng các biện pháp tránh thai sẽ giúp dân số thế giới thoát khỏi xu hướng bùng nổ thảm họa như diễn ra trong các thập kỷ trước, và đạt mức tối đa ngay trong thế kỷ này.      Các tác giả của bài báo đăng trên tạp chí Lancet dành trọn bốn trang để thảo luận các kết quả, cung cấp không chỉ là những thông tin thiết yếu mà còn có thể truyền cảm hứng cho những phân tích sâu hơn về những vấn đề cấp bách. Họ chỉ rõ những hạn chế của các dự đoán mô hình đưa ra, những tham số đặc biệt khó để ngoại suy trong tương lai, và nhấn mạnh vai trò của những quyết sách từ các chính phủ.  Những dự đoán về dân số thế giới suy giảm trong tương lai mang đến những tín hiệu tích cực đối với môi trường, biến đổi khí hậu và sản xuất lương thực, thực phẩm, nhưng có thể lại là tin xấu đối với vấn đề lực lượng lao động, tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội (gắn với thay đổi cơ cấu độ tuổi dân số do tỉ lệ sinh giảm): ứng phó với tỉ lệ sinh giảm trong lâu dài sẽ là mối quan tâm của nhiều quốc gia, do những hệ quả về kinh tế, xã hội, môi trường và địa chính trị mà vấn đề tỉ lệ sinh thấp gây ra.       Hình 2. Mô hình tăng dân số của Nigeria, Congo và Ethiopia. Vùng tham chiếu màu xanh nhạt.  Ở 57 quốc gia, dân số dự kiến sẽ giảm 25% hoặc hơn và tỉ lệ giữa số người trên 80 tuổi với số người dưới 15 tuổi sẽ tăng từ 16% hiện nay lên 150% vào năm 2100, gây ra những hệ lụy vô cùng thách thức về kinh tế và tài khóa. Tỉ lệ số người không lao động trên số lao động sẽ đạt 1,16 trên toàn cầu, trong khi mức năm 2017 là 0,8: nghĩa là trung bình trên toàn thế giới, mỗi người lao động sẽ phải nuôi  1,16 người không lao động. Số lượng các quốc gia có tỉ lệ này cao hơn 1 vào năm 2017 là 59, đến năm 2100 sẽ là 145. Thuế suất cần thiết để duy trì các chương trình an sinh xã hội và bảo hiểm y tế sẽ gia tăng tạo ra căng thẳng chính trị đáng kể.     Các tác giả lưu ý rằng các quốc gia đối mặt với thách thức về tỉ lệ sinh thấp có bốn lựa chọn: “tìm cách tăng tỉ lệ sinh bằng cách tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ nuôi con đồng thời vẫn có thể theo đuổi sự nghiệp, kiểm soát việc tiếp cận các dịch vụ y tế sinh sản, gia tăng lực lượng lao động, đặc biệt tạo điều kiện cho người có tuổi được tham gia lao động, và khuyến khích di cư.” Kinh nghiệm cho thấy khó có thể tăng tỉ lệ sinh bằng những ưu đãi dành cho việc sinh con, và cấm phá thai sẽ cản trở tiến bộ và quyền của nữ giới. Còn việc tăng lực lượng lao động như đã nêu chỉ nên coi là giải pháp tạm thời, về lâu dài hệ lụy của suy giảm dân số vẫn bộc lộ trừ phi có những tác động khác để tạo ra sự ổn định thực sự.  Bài báo viết, “Chiến lược tối ưu cho tăng trưởng kinh tế, ổn định tài khóa và an ninh địa chính trị là cho phép di cư cởi mở và tạo sự hòa nhập trong xã hội. Tuy nhiên, các chính sách di cư một cách cởi mở gặp nhiều lực cản chính trị tại Mỹ trong những năm gần đây, điều này đe dọa tiềm năng quốc gia về ổn định tăng trưởng dân số và kinh tế. Trái ngược với các nước Canada, New Zealand và Úc, nhiều nước như Nhật Bản, Hungary, Slovakia và các nước Baltic mặc dù đối diện với suy giảm dân số đáng kể nhưng [không tha thiết với chính sách nhập cư] cho rằng nhu cầu duy trì một xã hội đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa là quan trọng hơn so với những rủi ro về kinh tế, tài khóa và địa chính trị do suy giảm dân số.”     Câu chuyện già hóa dân số cho thấy rõ bề rộng của những vấn đề cần được xem xét để hiểu rõ hơn về thực trạng và những tác nhân quyết định xu hướng gia tăng dân số. Các xu hướng trong quá khứ không nhất thiết đúng với tương lai; điều này hẳn là đúng trong vấn đề di cư gia tăng gắn với toàn cầu hóa, ngày nay người dân còn buộc phải di cư do nước biển dâng, biến đổi khí hậu và môi trường sống bị hủy hoại. Di cư còn bị thúc đẩy bởi chiến tranh, xung đột, những thảm họa tự nhiên, và những nền kinh tế bị sụp đổ… chưa kể tới các chính sách về di cư, tất cả đều rất khó để dự đoán.    Sẽ cần tới vài bài báo trên Tia Sáng để có thể phân tích tất cả những vấn đề mà nghiên cứu công bố trên tạp chí Lancet nêu ra, nhưng tham vọng của tôi chỉ là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thấu hiểu nguyên nhân và tác động của những yếu tố quyết định sự tiến hóa và phát triển của thế giới và các quốc gia. Chúng ta cần đào tạo, giáo dục một thế hệ những người Việt Nam trẻ tuổi am hiểu những vấn đề này, những người sẵn sàng trao đổi với tư duy phản biện độc lập, để có thể đưa ra những phân tích khách quan, không giáo điều; những người nhìn thế giới xung quanh một cách toàn diện, với tư duy phân tích cởi mở, am hiểu góc nhìn và quan điểm ở những quốc gia khác. Sẽ là không đủ nếu chỉ duy trì một Tổng cục Thống kê, chúng ta cần đào tạo những học giả trẻ tuổi, tinh hoa đủ khả năng để khai thác dữ liệu một cách tối ưu. Khái niệm tinh hoa đôi khi mang đến những hàm ý chính trị không đúng đắn, tuy nhiên chúng ta không nên e ngại sử dụng nó phù hợp với lợi ích của đất nước.    Để kết luận, cho phép tôi nhận xét rằng thật vô cùng đáng buồn khi nhân loại hầu như chỉ có thể thảo luận trong phạm vi từng quốc gia về những thách thức cấp bách quy mô toàn cầu. Hai mươi lăm thế kỷ sau thời của Pericles và Khổng Tử, chúng ta vẫn chưa học được cách chung sống. Những vấn đề toàn cầu đòi hỏi giải pháp toàn cầu, nhưng con người tiếp cận chúng với tâm trí mù quáng và nhỏ hẹp do sự phân mảnh bởi những xung đột, kèn cựa giữa các quốc gia. Thay vì sự mạch lạc và đoàn kết, chúng ta tạo ra hỗn loạn. Đây là thời mà vị tổng thống của một đất nước tự coi mình là biểu tượng cho dân chủ trên toàn thế giới quyết định xây một bức tường vây bọc đất nước mình để che chắn khỏi những tác động quốc tế. Thật đáng buồn thay!□  Thanh Xuân dịch  —  1 https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30677-2/fulltext. Vollset et al., Fertility, mortality, migration, and population scenarios for 195 countries and territories from 2017 to 2100: a forecasting analysis for the Global Burden of Disease Study, 14 July 2020.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám: LỊCH SỬ VÀ ĐIỂM THI MÔN LỊCH SỬ      Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử có sức âm vang sâu lắng và gợi dậy mãnh liệt những suy tư về đất nước, về dân tộc, về con người. “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho các vấn đề gặp phải”. Đó là nhận xét của một nhà văn hóa Pháp trong một hội thảo khoa học tại Hà Nội cách đây cũng đã khá lâu về “truyền thống và hiện đại”. Cách mạng Tháng Tám là một chứng minh sinh động cho tính độc đáo đó.         Khác nào một phản ứng dây chuyền, mệnh lệnh khởi nghĩa như được phát ra từ trái tim yêu nước vốn lưu chuyển trong huyết quản giòng máu quật khởi, cả dân tộc ào lên như nước vỡ bờ, chớp lấy thời cơ, giành lấy chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Bài học lớn ấy, mỗi người Việt Nam phải nhớ nằm lòng. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, bài học ấy đã thấm vào máu Việt Nam. Và đấy chính là cội nguồn của cái “khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho các vấn đề vấp phải”.  Bởi lẽ,“lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được. Và nếu không có ý thức đó thì sẽ không thể có nền văn hoá độc đáo, không thể có nền văn minh thật sự” (Fernand Braudel). Trong tính phổ quát ấy, với dân tộc ta, lại càng phải thấy rõ rằng: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được”(Phạm Văn Đồng). Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội .   Phải chăng là cái nền tảng ấy có vấn đề với sự hiểu biết về lịch sử của các “cô tú, cậu tú” đang mon men bước vào cổng trường Đại học trong kỳ thi tuyển sinh vừa rồi. Trong 4622 thí sinh thi vào Đại học Sư phạm Hà nội, có đến 655 thí sinh bị điểm 0 (chiếm 15%) và chỉ có 6 thí sinh được điểm 8 trở lên, so với năm ngoái là 103/5399. Tại Đại học Đà Lạt, điểm 0 nhiều nhất thuộc môn lịch sử (1022). Cũng năm ngoái, nếu tính gộp cả bốn trường đại học, trong đó ba là Sư phạm, nghĩa là trường đào tạo ra những người thầy dạy lịch sử, thì 58,5%  thí sinh có điểm lịch sử từ 1 trở xuống.  Đừng quên rằng, Đại học, theo ông cha ta, là “cái học để làm người lớn” [Đại học giả, đại nhân chi học dã”]. Và cũng đừng quên, hai chữ  “đại nhân” trong Kinh Dịch thường hàm nghĩa người tài đức! Liệu những “người lớn”, “người tài đức” của đất nước mà sự hiểu biết về lịch sử dân tộc mình như vậy, thì rồi đất nước này sẽ ra sao đây? Liệu cái khả năng “tìm ra những giải pháp độc đáo cho các vấn đề gặp phải  ” có bị mai một với những người có thể sắp trở thành “đại nhân” kia không?  Người ta đã phân tích và tìm nguyên nhân trong cách dạy, cách học môn sử, sự khô khan, mòn sáo “thiếu lửa” trong sách giáo khoa. Nhưng đâu chỉ riêng môn sử. Điểm của môn địa lý  cũng chẳng mấy khả quan hơn. Rồi điểm môn văn. Để biết “văn là người”, xin hãy đọc “những bài văn dễ sợ” mà một giám khảo đã trích đăng trên báo1. Nhưng, để hiểu từ đâu có những bài “văn dễ sợ” đó, có lẽ phải đọc “hệ thống sách ngữ văn lớp 10 bao gồm sách giáo khoa, sách giáo viên và tài liệu bồi dưỡng, chỉ đạo thực hiện chương trình, sách giáo khoa” do Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử chủ biên*.   Xin chỉ lấy ra một ví dụ: người soạn sách hướng dẫn giáo viên phải “Kết hợp, tích hợp giáo dục môi trường khi giảng bài “Đại cáo bình Ngô”: lúc lên án tố cáo tội ác kẻ thù, tác giả tố cáo hành động hủy diệt môi trường sống. Bại nhân nghĩa nát cả đất trời-Nặng thuế khóa sạch không đầm núi(…), với những câu văn trên, Nguyễn Trãi là “người xưa của ta nay” trong vấn đề bảo vệ môi trường”. Chẳng những thế, người biên soạn còn hùng hồn hơn: “Giáo viên cần lưu ý cho học sinh rằng, bằng linh cảm thiên tài, Nguyễn Trãi đã đề cập vấn đề môi trường sống” (trang 21). Hướng dẫn dạy và học như thế, thì đương nhiên thi cũng phải “tương thích”! Hãy xem đề thi trắc nghiệm với đề bài “Tỏ lòng”, tức là bài “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão. Sách đã đưa ra mô hình trắc nghiệm như sau: “Bài thơ “Tỏ lòng” được sáng tác trong thời kỳ nào: A: nhà Tống; B: nhà Đường; C: nhà Minh; D: nhà Thanh. Và đáp án là B!* Làm sao có thể tách bạch ra đâu là sự thiếu hiểu biết về kiến thức lịch sử, đâu là sự méo mó trong cảm thụ văn chương, đâu là sự sai lầm về phương pháp, hay đâu là sự tắc trách của những người chủ biên đã không đọc kỹ tác phẩm biên soạn “Bồi dưỡng, chỉ đạo thực hiện chương trình…” mà mình đứng tên.  Lê Quý Đôn trong “Quần thư khảo biện” đã cảnh báo: “Nếu tài sức chưa làm nổi thì cũng thành một người biết bồi bổ nguyên khí cho nước. Còn nếu dùng chút ít hiểu biết riêng của mình thì dù bằng hình danh pháp thuật có thỏa mãn được một thời, nhưng rồi sẽ để độc hại đến đời sau”2. Chắc ai cũng biết, văn, sử, địa, những bộ môn được xếp vào “khoa học xã hội”, bộ môn khoa học được xác định là khoa học về người, về mối quan hệ giữa người và người. Chẳng trách mà “học sinh quay lưng với ban khoa học xã hội” như một tờ báo đã giật tít lớn khi phản ánh về việc tuyển sinh vào lớp 10 ở Hà Nội.3  Liệu đã quá chín muồi để có sự  kiểm nhận một cách nghiêm cẩn và thật khách quan, trung thực về thực trạng của ngành khoa học này chưa? Nếu giáo dục và đào tạo là một hệ thống lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội, thì cần phải đặt hệ thống ấy vào trong một hệ thống lớn hơn của khoa học xã hội  để đánh giá đúng thực trạng của nó, nhằm cung cấp kiến giải cho giáo dục và đào tạo. Làm hư hao, thất thoát “nguyên khí quốc gia” không chỉ quy trách nhiệm về riêng cho ngành Giáo dục-Đào tạo được.   Nếu Cách mạng Tháng Tám là minh chứng hùng hồn của “lịch sử cổ xưa và hiện đại” đã cho thấy “khả năng kỳ lạ của đất nước này” thì nhân thiết thực kỷ niệm 61 năm ngày lịch sử vẻ vang này, xin nêu lại bài học lịch sử  mà Bác Hồ từng chỉ ra, để cùng suy ngẫm về cái nền tảng tinh thần của xã hội, đặng có một cách nhìn sâu hơn, quyết liệt hơn những hiện tượng vừa nêu trên. “Vô viễn lự tất hữu cận ưu”(Luận ngữ, thiên Vệ Linh công). Cần có cái nhìn xa để lo xa, nhằm tránh cái buồn gần khó tránh!     Chú thích :  *  Báo “Tuổi Trẻ” ngày 7.8. 2006. Vì không có điều kiện đọc những sách nói trên, tôi dựa vào bài báo này. Nếu báo đưa tin không chính xác thì tôi xin lỗi các soạn giả .  1. Báo “Tuổi Trẻ” ngày 26.7.2006  2. Lê Quý Đôn. “Quần thư khảo biện” NXBKHXH. Hà Nội 1995, tr.468  3. Báo “Thanh Niên” ngày12.8.2006     Chú thích ảnh: Hai chiến sĩ- Tô Ngọc Vân        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân lực cho khoa học và giáo dục đại học      Tuy số những b&#224;i b&#225;o, ph&#243;ng sự, phản biện&#8230; rung chu&#244;ng về thực trạng đ&#225;ng buồn của khoa học (KH) v&#224; gi&#225;o dục đại học (GDĐH) nước nh&#224; ng&#224;y c&#224;ng tăng, dường như ch&#250;ng ta c&#243; vẻ bắt đầu &#8220;quen&#8221; với những hồi chu&#244;ng n&#224;y v&#224; chấp nhận hiện thực l&#224; hai lĩnh vực thiết yếu tr&#234;n sẽ tiếp tục vận h&#224;nh kh&#244;ng hiệu quả, với những bất cập m&#224; c&#243; khi đến những thế hệ sau cũng chưa khắc phục được (mặc d&#249; đầu tư của Nh&#224; nước v&#224; x&#227; hội cho KH v&#224; đặc biệt cho GDĐH vẫn đang tăng nhanh c&#249;ng với sự tăng trưởng của kinh tế đất nước).      Các nguyên nhân sâu xa đưa tới hiện trạng yếu kém của KH và GDĐH đã được phân tích nhiều trong những phát biểu của các nhà khoa học, các nhà giáo tâm huyết trong nước như GS Phạm Duy Hiển trên Tạp chí Tia Sáng và GS Chu Hảo trên trang VietnamNet… Tuy nhiên, những ý kiến sâu sắc mới đây của GS Pierre Darriulat (một nhà Vật Lý nổi tiếng thế giới hiện đang định cư ở Hà Nội) trên Tạp chí Tia Sáng cảnh báo về nạn chảy máu chất xám của nền KH nước nhà là đặc biệt ấn tượng. Làm sao ta chấn hưng được nền KH và GDĐH của Việt Nam khi mà nguồn sức trẻ mà lẽ ra phải là thành phần chính của “nguyên khí” quốc gia lại dễ dàng bị hấp thụ bởi thị trường, ra nước ngoài phục vụ những nền KH, GDĐH và kinh tế của các quốc gia phát triển. Ta phải khẳng định rằng cho dù có một nguồn tài chính dồi dào, công cuộc cải cách KH và GDĐH sẽ thất bại nếu chúng ta không thu hút được nguồn nhân lực cần thiết bằng những chế độ đãi ngộ thích đáng và không từ bỏ được cơ chế hành chính nặng nề hiện nay. Với hơn 70% số nhân lực hiện nay đang làm các công việc “quản lý hành chính” khác nhau, lực lượng chất xám thực sự trong KH và GDĐH đang ngày càng giảm và không thấy có một triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Cơ chế hành chính nặng nề tiếp tục đưa không ít cán bộ trẻ thế hệ 6x và 7x được nhận vào các cơ sở KH và GDĐH vào các công việc quản lý để hỗ trợ hoặc thay thế các cán bộ hành chính nghỉ hưu. Thêm vào đó là không ít các nhà KH, nhà giáo đã từ bỏ nghiên cứu KH và giảng dạy để ra thị trường làm những công việc kinh doanh với thu nhập cao hơn (mà thường lại với ít chi phí chất xám hơn). Kết quả là số người thực sự làm các công việc trí óc sáng tạo thực sự đang giảm và các Viện, Trường đang rơi vào cảnh thiếu nghiêm trọng nhân lực chuyên môn trình độ cao. Ta có thể vẫn tiếp tục phải chấp nhận một bệnh trạng yếu của KH và GDĐH nước nhà, nhưng với những chẩn đoán công tâm của một người bạn quốc tế, đã đến lúc mỗi chúng ta phải thấy rõ hơn được mức độ trầm trọng của nó.  ————————————–  (Nhân bài viết của GS Pierre Darriulat về nạn chảy máu chất xám)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân sinh quan tích cực      Mỗi người đều có một nhân sinh quan khác nhau, có người lạc quan, có người bi quan. Người lạc quan luôn nghĩ về mặt tốt của mọi việc, giữ cách nhìn lạc quan; người bi quan lại luôn nghĩ về mặt xấu của mọi việc, giữ cách nhìn bi quan.    Thật ra, trên thế giới không có lạc quan tuyệt đối, cũng không có bi quan tuyệt đối; “Tâm sinh tắc chủng chủng pháp sinh, tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt” (Tâm sinh có vô vàn cách sinh, tâm diệt có vô vàn cách diệt). Lạc quan, bi quan, đương nhiên có nhân duyên bên ngoài, nhưng đa số đều là tự mình tạo nên.  Có một vị quốc vương, khi ra ngoài đi săn không may bị đứt một ngón tay, mới hỏi vị đại thần thân cận nên làm thế nào? Đại thần nói với giọng lạc quan, nhẹ nhõm: “Đây là việc tốt!” Quốc vương nghe vậy giận lắm, trách ông hí hửng khi thấy người khác gặp nạn, vì thế ra lệnh nhốt ông vào đại lao. Một năm sau, quốc vương lại ra ngoài đi săn, bị thổ dân bắt sống, trói vào đàn tế, chuẩn bị tế thần. Thầy phù thủy đột nhiên phát hiện quốc vương khuyết mất một ngón tay, cho rằng đây là vật tế không hoàn chỉnh, bèn thả quốc vương ra, thay vào đó viên đại thần tùy tùng làm vật hiến tế. Trong niềm vui thoát nạn, quốc vương nghĩ tới viên đại thần vui vẻ từng nói rằng mất ngón tay là việc tốt, liền ra lệnh thả ông, và xin lỗi vì đã vô cớ bắt ông chịu nạn 1 năm trong ngục tối. Vị đại thần này vẫn lạc quan nói: “Cái họa 1 năm ngồi tù cũng là việc tốt, nếu như tôi không ngồi tù, thì thử nghĩ, vị đại thần theo người đi săn mà bị lên đàn hiến tế kia sẽ là ai?”  Bởi vậy, việc tốt chưa chắc đã tốt hoàn toàn, việc xấu cũng chưa chắc đã hoàn toàn xấu; Phật giáo dạy “vô thường”, mọi chuyện có thể thành tốt, mọi chuyện có thể nên xấu. Người bi quan mãi mãi nghĩ đến mình chỉ còn một triệu đồng mà buồn lo, người lạc quan vĩnh viễn hạnh phúc chỉ vì mình vẫn còn mười ngàn đồng.  Khi Tô Đông Pha bị giáng về đảo Hải Nam, sự cô tịch, hoang vu trên đảo, so với thời kỳ đầu ông mới được thăng chức vùn vụt, đúng là hai thế giới khác nhau một trời một vực. Nhưng sau đó, Tô Đông Pha nghĩ, giữa vũ trụ này, sống trên hòn đảo cô độc này, thực ra, không chỉ có một mình ông, trái đất cũng là một hòn đảo cô độc giữa biển cả, giống như con kiến giữa chậu nước, khi leo lên một phiến lá, đây cũng là một hòn đảo mồ côi. Vì thế, Tô Đông Pha cảm thấy, chỉ cần có thể biết hài lòng là có thể vui vẻ.  Ở trên đảo, mỗi lần ăn một món hải sản địa phương, Tô Đông Pha lại thấy mình thật may mắn vì có thể đến đảo Hải Nam này. Thậm chí, ông nghĩ, nếu trong triều có vị đại thần nào đến đây sớm hơn ông, ông làm sao có thể được tự mình nếm những món ăn ngon lành như thế? Vì vậy, nghĩ đến mặt tốt của mọi chuyện, là sẽ cảm thấy cuộc đời hạnh phúc không gì sánh nổi.  Những nhà sư xuất gia theo Phật giáo, chỉ một chiếc áo cà sa, một đôi giày cỏ mà vân du khắp cõi. Họ có thể đồng hành cùng kẻ hành khất, nhưng cũng có thể ngồi ngang với bậc quân vương, xem ra lẻ loi một mình, nhưng tăng có cả pháp giới, cùng một thể với chúng sinh trong vũ trụ, vậy nơi nào có chỗ cho cô đơn đây?  Bởi vậy, đời người không có vui buồn tuyệt đối, chỉ cần một tinh thần phấn đấu, tích cực, chỉ cần luôn nghĩ đến mặt tốt của mọi chuyện, tự  nhiên có thể biến khổ thành vui, biến khó thành dễ, biến nguy thành an. Helen Keller nói: “Hướng về ánh nắng, bạn sẽ không nhìn thấy bóng tối.” Nhân sinh quan tích cực, chính là ánh nắng trong trái tim, lời này thật là chân giá trị!  Đại sư Tinh Vân  Nguồn tin: ebud.net(Nhuệ Anh dịch)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân sự kiện xuất bản sách của Plato và Aristotle ở Việt Nam      Thật là một tin mừng đối với những người như tôi khi nghe được tin này. Hai tác phẩm lớn nhất của nền chính trị học phương tây đã được xuất bản tại Việt Nam. Đó là Cộng hòa1 của Plato và Chính trị luận2 của Aristotle.     Lý do khiến tôi vui mừng đến vậy là vì những cuốn sách cũ này không chỉ là những tác phẩm cổ điển từ ngày xa xưa (thế kỷ V và IV trước CN) mà một giáo viên như tôi muốn sinh viên của mình đọc. Mà đó còn là những cuốn sách đòi hỏi mọi người suy nghĩ về tương lai. Thời điểm này, công luận Việt Nam đang bàn thảo về Hiến pháp, cũng như tìm kiếm các cách thức để bảo đảm một Việt Nam có thể tồn tại, phát triển và hạnh phúc trong thế kỷ XXI này, những tranh luận của thế giới cổ xưa là con đường đúng đắn để nhìn nhận thế giới của chúng ta rõ ràng hơn. Cả Plato và Aristotle đều đưa ra những câu hỏi mà thế kỷ XXI cần đặt ra, cho dù chúng ta có thể trả lời chúng theo những cách thức khác biệt hoàn toàn với họ. Tôi muốn đưa ra một vài lý giải đang chiếm ưu thế trong tranh luận này một cách chung nhất.  Tôi sẽ bắt đầu với câu hỏi về hiến pháp. Trong khía cạnh này có vẻ như đây là một câu hỏi về pháp luật đơn thuần, đưa ra ý nghĩa gì đó cho những chuyên gia ở các trường luật và những chuyên viên khác. Tuy nhiên, vì khái niệm về hiến pháp khởi nguồn từ Hy Lạp cổ đại thời kỳ mà Plato và Aristotle sinh sống, nó được nhìn nhận tương xứng với cách mà họ hiểu về khái niệm này. Nó cũng tương xứng với điều mà họ cho là quan trọng nhất trong một bản hiến pháp, và tạo sao những hiến pháp trong thế kỷ XXI lại có vài khía cạnh khác biệt hoàn toàn.  Ngày nay, khi chúng ta nói tới hiến pháp, hầu hết chúng ta đều muốn nói tới khung pháp lý cơ bản; đó là luật pháp cơ bản làm nền tảng cho các bộ luật khác. Theo lý thuyết chung ngày nay – ở các quốc gia khác nhau – nếu có gì đó bị đánh giá là mâu thuẫn với hiến pháp thì sẽ bị hủy bỏ hoặc sửa đổi, cho dù đó có là một bộ luật khác do chính phủ ban hành, hoặc là một thông lệ lâu đời được sự chấp thuận của phần đa trong xã hội đi nữa.  Có một cách giải thích khác là coi những chức năng của hiến pháp như những đường biên của một sân bóng, nhưng tinh vi và phức tạp hơn nhiều. Nếu như không có giao kèo về trận đấu trên sân bắt đầu và kết thúc thì sẽ chẳng ai biết khi nào họ cần hoặc không cần lắng nghe trọng tài. Do vậy, cũng không có giao kèo về các luật lệ chơi bóng, và cũng không có cách thức thống nhất để tổ chức các đội bóng.  Điều làm cho ví dụ này bị giới hạn là đã có một thỏa thuận mang tính toàn cầu về sân bóng, và chẳng có nhiều lắm tranh cãi về các luật chơi đã được chấp nhận. Tuy nhiên, không có hiến pháp có thể chấp nhận được – hoặc những bộ luật thực hiện chức năng như hiến pháp – sẽ thật là khó khăn để đạt tới một thỏa thuận về các quy định cơ bản trong xã hội. Thật khó khăn để biết bộ luật nào cụ thể hơn để thực hiện và tuân thủ, và nói chung người dân sẽ không biết họ có thể trông đợi được điều gì từ chính quyền. Nói một cách ngắn gọn, những nội dung và tư tưởng về hiến pháp cũng chính là mục đích của các nội dung của pháp luật.  Plato và Aristotle hiểu điều này theo cách của họ. Họ sống trong thời kỳ mà bản chất của nhà nước và pháp luật dễ đổ vỡ hơn bây giờ nhiều. Kết quả của sự bất an toàn này là khi họ nghĩ về thứ mà chúng ta gọi là một bản hiến pháp thì họ không hạn chế bản thân trong những câu hỏi thiên về pháp luật và theo nghĩa hẹp. Họ hỏi về mục đích bao quát toàn bộ của pháp luật và những sự dàn xếp về chính trị nói chung. Bởi vì họ đặt ra những câu hỏi cơ bản này khi đã nhận thức được rằng họ không thể chỉ đơn thuần dựa trên mỗi truyền thống. Đó là họ đã nhận ra rằng họ không thể nói rằng “chúng ta nên làm mọi việc theo cách này vì đó là cách chúng ta vẫn thường làm.” Đúng ra là họ đã phải đưa ra những lý do để thuyết phục bất cứ ai lắng nghe, và họ đã phải lôi cuốn cảm xúc rộng mở hơn của chủ nghĩa yêu nước và công lý cho chính dân tộc mình.  Vậy thì điều gì đã khiến những nhà tư tưởng cổ đại nói rằng điều đó vô cùng lý thú? Trong tiểu luận tiếp theo của loạt bài này tôi sẽ giải thích cách thức phản ánh của pháp luật và đạo đức đã dẫn dắt Plato tới tranh luận rằng chỉ có một bản hiến pháp là không đủ, đúng hơn là hiến pháp là một bản kế hoạch cho một xã hội hoàn hảo, và rằng chính bản thân ông đã biết xã hội không tưởng đó như thế nào. Trong tiểu luận sau đó tôi sẽ lý giải cách thức Aristotle tranh luận rằng pháp luật và hiến pháp sẽ vô nghĩa trừ khi chúng ta tìm được cách thức nào đó để đối phó với sức mạnh đen tối của đồng tiền.  Đến giờ, chúng ta có thể nhắc nhở bản thân về điểm mấu chốt: một vài nhà tư tưởng cổ đại đặt câu hỏi về mục đích cơ bản của pháp luật, chính trị và xã hội. Xem xét những câu trả lời của họ là cách thức kích thích bản thân chúng ta đưa ra những câu trả lời tốt hơn của chính mình.  Đặng Ly dịch    —  * Trường ưu tú Barrett, thuộc Đại học Bang Arizona  1 Dịch giả: Đỗ Khánh Hoan; NXB Thế giới và AlphaBooks ấn hành; Giá bìa: 169.000 VND  2 Dịch giả: Nông Duy Trường; NXB Thế giới và Alphabooks ấn hành; Giá bìa: 119.000 VND    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân tố thành công về nông nghiệp của một số nền kinh tế?      Trước hết, tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn trong hoàn cảnh công nghiệp hóa đòi hỏi người lãnh đạo phải có quyết tâm chính trị tuyệt đối cao, cao đến mức loại quyết tâm này thường chỉ xuất hiện và được đông đảo các tầng lớp trong xã hội ủng hộ trong hoàn cảnh rất đặc biệt, khi đất nước đứng trước những thử thách mất còn.    Ixrael là một nước có diện tích đất canh tác ít, rất thiếu nước và thiếu lao động. Đất canh tác chỉ có 411 nghìn ha. Chiếm 18,3% tổng diện tích. Lượng mưa ít, nơi có lượng mưa cao nhất bằng vùng ít mưa nhất ở Việt Nam (80mm/năm), nơi thấp phải dùng đến 44% nước cho nông nghiệp là nước nhiễm mặn, nước tái tận dụng. Còn lao động nông nghiệp phải sử dụng hơn 70% là công nhân làm thuê, trong đó 64% là người nước ngoài. Thị trường trong nước thì quá nhỏ với dân số hơn 6 triệu người.  Hà Quốc là một nước có diện tích nhỉ, dân số đông, hơn 70% dân số sống ở nông thôn, núi đồi chiếm phần lớn, chỉ 22% diện tích đất có thể canh tác, mùa đông kéo dài, tuyết rơi trung bình 1.300mm/năm. Bước vào công nghiệp hóa thập kỷ 1960, không có vốn tích lũy trong nước, không có đầu tư nước ngoài, Hàn Quốc đã phải đầu tư bằng tiền đi vay (60% tư nhân vay đầu tư kinh doanh, 28% Chính phủ vay phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở).           Israel xây dựng một nền nông nghiệp kỹ thuật cao        Nếu kể cả trường hợp Đài Loan, một vùng lãnh thổ đã phát triển thành công thì có thể thấy mức độ quyết liệt khi cần lựa chọn được một chiến lược phát triển công nghiệp hóa đúng đắn.  Chính quyền Quốc dân Đảng vừa thua trận kéo theo 2 triệu quân dân chạy ra Đài Loan; toàn dân tộc Ixrael mới thoát khỏi nạn diệt chủng khủng khiếp của chế độ quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai kéo về định cư trên miền đất mới; đất nước Hàn Quốc cũng vừa ra khỏi cuộc nội chiến khốc liệt, hàng triệu người chết, các thành phố lớn và cơ sở công nghiệp bị phá hủy hoàn toàn. Ở cả ba khu vực nói trên, khi khởi đầu công nghiệp hóa, nhân dân phải sống bằng nguồn viện trợ nhân đạo quốc tế; trong suốt quá trình công nghiệp hóa phải nơm nớp sống dưới sự de dọa gay gắt của nguy cơ chiến tranh cận kề. Chính quyền hiểu rõ yêu cầu mất còn của mục tiêu yên dân, dựa vào dân. Toàn dân nhận thức rõ muốn tồn tại và phát triển, nông nghiệp phải nhanh chóng đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, cộng đồng nông thôn phải tự đứng lên, sẵn sàng sức người, sức của cho quốc phòng.  Có lẽ đó là căn cứ chính trị để nhà nước mạnh dạn giúp nhân dân tổ chức lại, giao quyền cho cộng đồng phát triển sản xuất nông nghiệp và điều khiển xã hội nông thôn. Huy động nội lực, tinh thần và năng lực tự chủ của người dân phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đó cũng là căn cứ kinh tế để con người được coi là nguồn tài nguyên quan trọng nhất cần được ưu tiên phát triển. Công tác giáo dục phổ thông và đào tạo quản lý, đào tạo nghề được coi trọng. Sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần được đề cao để nông dân sản xuất nhỏ nhanh chóng chuyển thành lao động của nền kinh tế công nghiệp và công dân của xã hội pháp quyền.  Với chủ trương dành được trái tim, khối óc của đông đảo nông dân, nhà nước coi nông dân, nông thôn là vấn đề chính trị sống còn ngay từ đầu công nghiệp hóa và kiên trì mục tiêu này suốt quá trình phát triển. Chính sách “khoan sức, tiếp sức cho dân” được áp dụng ngay khi tăng tốc công nghiệp hóa, không đợi GDP nông nghiệp giảm tới 15%, việc “tổ chức nông dân, trao quyền cho dân” làm từ rất sớm, trước khi tủ lệ nông dân xuống 7-10%, nảo vệ và phục hồi môi trường sớm hơn ngưỡng thu nhập bình quân 8.000 USD rất nhiều, tạo môi trường thuận lợi đặc biệt cho quá trình công nghiệp hóa. Chính sách tiếp cận rút ngắn khung thời gian đã giúp các nền kinh tế này           Nông dân Đài Loan thu hoạch lúa        thiết lập và duy trì thành công trạng thái cân bằng về kinh tế, xã hội và môi trường, mà không mất thời gian và hy sinh để phá vỡ rồi thiết lập lại như các nước đi trước. Điểm quan trọng nhất là làm thế nào các nền kinh tế thành công rút ngắn được khung thời gian? Họ huy động nguồn tài lực nào để bổ sung các mất mát và bù đắp đầu tư to lớn mà các nước khác phải tích lũy trong hàng trăm năm.  Thứ nhất, lấy không gian đổi lấy thời gian. Đưa đô thị về kết nối với nông thôn, phân tán công nghiệp về gắn kết với nông nghiệp, nâng cao trình độ và tinh thần của người dân nông thôn lên gắn vào xã hội và kinh tế đô thị. Thứ hai, vận dụng các động lực của quy luật kinh tế thị trường, tạo nên sự đồng nhất về lợi ích của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Thống nhất quyền lợi tạo nên động lực phối hợp hành động. Những vấn đề gây nên mâu thuẫn xã hội ở các nền kinh tế công nghiệp hóa thất bại (chuyển sử dụng đất đai, di cư lao động, tiếp cận dịch vụ, tham gia thị trường, ô nhiễm môi trường…) nếu được xử lí trên tinh thần thống nhất quyền lợi lại chính là những vấn đề tại nên sự đồng thuận cùng có lợi ở các nền kinh tế thành công. Nông nghiệp trở thành thị trường lớn cho công nghiệp, doanh nghiệp nông thôn là vệ tinh cho nhà máy công nghiệp lớn, nông thôn là địa bàn thích hợp để xây dựng nhà máy và các khu đô thị vệ tinh. Nông dân có việc làm, thu nhập tốt, doanh nhân có hướng đầu tư có lợi, thị dân có nơi ở rộng rãi, sạch đẹp…  ———  hàn Quốc tăng cường đầu tư, áp dụng tiến bộ KHCN trong nông nghiệp      Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang NHÂN và QUẢ      Nội dung của nhan đề NHÂN và QUẢ của thực trạng NCKH sẽ sáng tỏ sau khi đọc Phần II viết về quan niệm, nguyên nhân và giải pháp, phần III viết về nội dung cụ thể của chữ TÂM và chữ TÀI.    I. Thực trạng của nghiên cứu khoa học (NCKH)  Về phần I, xin lấy thí dụ ở một ngành: ngành Cơ học. Có nhiều tài liệu phản ánh thực trạng NCKH ở ngành này. Quyển sách dày 413 trang “Vietnamese Scientists-Mechanicians and their activities” (còn được gọi là TS Cơ học VN) do Hội Cơ học VN xuất bản năm 2007. Quyển sách liệt kê các kết quả nghiên cứu khoa học trong 10 năm vừa qua của 130 TS, trong đó chỉ có 25 TS có kết quả NCKH công bố Quốc tế. Quyển sách dày 289 trang nhan đề: “Kết quả nghiên cứu cơ bản (NCCB) ngành Cơ học giai đoạn 2004-2005” do Hội đồng ngành Cơ học chủ biên. Một quyển sách khác nhan đề: “Kết quả nghiên cứu cơ bản ngành Cơ học giai đoạn 2001-2003” do Hội đồng ngành Cơ học chủ biên, v. v. và v. v. … Đa số những sản phẩm được ghi nhận trong các tài liệu kể trên là những báo cáo hội nghị, có rất ít sản phẩm công bố Quốc tế. Chín vị GSTSKH là thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố Quốc tế ISI trong mười năm vừa qua. Những đề tài NCCB được phân bổ nhiều tiền nhất và được Hội đồng ngành Cơ học tuyên dương về thành tích NCCB thuộc về những vị giáo sư đầu ngành-quyền chức khoa học (GSĐN-QCKH). Những vị GSĐN-QCKH này tại vị, tại chức gần như từ khi thành lập ngành Cơ học VN, đã và đang lãnh đạo Hội Cơ học VN, Tạp chí Cơ học, các Hội đồng ngành Cơ học, Viện Cơ học, … từ khi khai sinh ra những tổ chức này cho đến hiện nay.        Chín vị GSTSKH là thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố Quốc tế ISI trong mười năm vừa qua. Những đề tài NCCB được phân bổ nhiều tiền nhất và được Hội đồng ngành Cơ học tuyên dương về thành tích NCCB thuộc về những vị giáo sư đầu ngành-quyền chức khoa học (GSĐN-QCKH).            Tổng kết NCCB giai đoạn 2001-2005 của Bộ KH&CN cho thấy ngành Cơ học là một trong hai ngành yếu nhất về công bố bài báo ở các tạp chí Quốc tế, nhưng dẫn đầu về số lượng báo cáo Hội nghị trong nước.II. Quan niệm, nguyên nhân và giải pháp  1. Tư duy và quan niệm  Lý do gì mà các vị GSĐN-QCKH ngành Cơ học chủ trì nhiều đề tài NCKH và được phân bổ kinh phí nhiều nhất kéo dài trong hàng chục năm qua? Vì  những đề tài này được thuyết minh là quan trọng, là phục vụ cho thực tế Việt Nam. Sản phẩm của những đề tài là những bản báo cáo cho các Hội đồng nghiệm thu, và những bản báo cáo Hội nghị, không có hoặc có rất ít kết quả công bố trên các tạp trí khoa học Quốc tế.  Giá trị của các sản phẩm NCKH của ngành Cơ học ở mức nào? Có sản phẩm nào đã làm đến nơi đến chốn? Có sản phẩm nào đã đóng góp thực sự cho sự phát triển của kinh tế – xã hội ?  Trả lời: Đa số các sản phẩm NCKH không có công bố Quốc tế, nghĩa là không chịu sự kiểm tra với chuẩn mực Quốc tế thì giá trị của sản phẩm không thể được khẳng định. Muốn biết sản phẩm NCKH có thực sự hay không thì điều kiện cần là sản phẩm phải được công bố ở các Tạp chí khoa học chuyên ngành (trong danh sách các tạp chí do ISI liệt kê), ở đó có phản biện kín, có chuẩn mực Quốc tế.         Thực tế cho thấy rằng: trong việc đánh giá sản phẩm NCKH, trong việc cấp bằng ThS, TS, những chức sắc QCKH đã coi thường ngạn ngữ:                                            “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”        Ngành Giáo dục-Đào tạo đã trả lời câu hỏi về thành tích thi tốt nghiệp. Nhiều địa phương trong những năm trước tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT đạt thành tích 80-90%, thậm chí gần 100%, còn năm học vừa qua chỉ đạt 40-50%. Vậy “thành tích” thu nhận được từ những năm trước là loại thành tích gì? Những thành tích đó để làm gì? Xã hội VN nhận được những NHÂN và QUẢ gì về những thành tích loại như vậy? Rất nhiều người bảo vệ thành công luận án TS ở trong nước mà không có  kết quả KH công bố Quốc tế. Xã hội VN có cần nhiều TS loại như vậy không? Đào tạo nhiều loại TS đó để làm gì? NHÂN và QUẢ ở đây đang sẽ là gì? Thực tế cho thấy rằng: trong việc đánh giá sản phẩm NCKH, trong việc cấp bằng ThS, TS, những chức sắc QCKH đã coi thường ngạn ngữ:                                            “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”  Trong các bài diễn văn của các vị chức sắc QCKH thường có những lời khuyên: “Chúng ta phải tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc để làm chủ KH-KT, để sáng tạo phục vụ thực tiễn VN ”. Thực tế đã không diễn ra như vậy vì NCKH phải được thừa kế tỉ mỉ, phải hiểu sâu sắc thì mới sáng tạo được. “Đi tắt đón đầu” trong NCKH thường dẫn đến thiệt hại và phải làm lại những công đoạn mà người nghiên cứu “nóng ruột” muốn “tiến nhanh, tiến mạnh”.  Người làm NCCB sau 10 năm làm việc không có sản phẩm công bố Quốc tế thì xin đề nghị: dừng lại để chuyển sang làm việc khác, như vậy sẽ hữu ích cho xã hội hơn. Trong tình trạng hiện nay lời đề nghị đó chắc chắn sẽ không được chấp nhận, vì sao?  Xin hãy đọc bản phân bổ kinh phí cho các đề tài NCCB ngành Cơ học năm 2001-2005, và mới nhất năm 2006-2007. Từ những văn bản tài liệu chính thức này cho thấy: đề tài có nhiều sản phẩm công bố trong các tạp chí thuộc danh sách ISI thì nhận kinh phí ít nhất, còn các đề tài chỉ có sản phẩm “ báo cáo hội nghị” thì nhận kinh phí nhiều hơn. Đề tài nhận kinh phí nhiều nhất là đề tài của các chức sắc QCKH. Các GSĐN-QCKH của ngành Cơ học đã phớt lờ hướng dẫn của Bộ KH&CN về tiêu chí coi trọng công bố Quốc tế. Một trong những NHÂN và QUẢ là góp phần  hình thành một lớp người làm KH “hình thức”. Không coi trọng:  “Nhất nghệ tinh      Nhất thân vinh”  và người ta vẫn chạy theo bằng cấp và học hàm, học vị, vì đó là điều kiện cần để tiến thân lên quan chức.    2. Nguyên nhân.  a) Tư duy ích kỷ, nhiều QCKH ngụy biện rằng: “Việt nam ta có cách làm của ta”, NCKH theo kiểu “mì ăn liền”, sản phẩm NCKH mang tính “hình thức”, nghiệm thu sản phẩm rồi xếp vào“kho để đấy”không để làm gì.  b) Sử dụng chức sắc QCKH không đúng ngôi vị.  c) Cơ chế và mô hình quản lý NCKH hiện nay mang nặng tính hành chính hình thức, bao gồm nhiều văn bản pháp quy, quản lý tài chính NCKH không còn phù hợp.  3. Giải pháp:        Cơ chế và mô hình quản lý NCKH hiện nay mang nặng tính hành chính hình thức, bao gồm nhiều văn bản pháp quy, quản lý tài chính NCKH không còn phù hợp.            a) Tư duy và quan niệm NCKH phải theo những chuẩn mực Quốc tế.  b) Bãi bỏ những công đoạn của cơ chế quản lý hành chính mang nặng tính hình thức đối với KH. Soạn thảo các văn bản quản lý KH, quản lý tài chính NCKH theo phương hướng để có phát minh, sáng chế và có công bố Quốc tế.  c) Thành lập các Ban Quản trị để tự quản dự án, đề tài KH của mình.Thay thế Hội đồng ngành bằng Hội đồng nhiệm kỳ 3 năm gồm những người đang làm KH thực sự có phát minh sáng chế, có kết quả công bố Quốc tế.  III. Nội dung cụ thể của chữ TÀI và chữ TÂM.  Mấy câu thơ sau đây trong đoạn kết của truyện Kiều phù hợp với kết luận của bài này:  “ Đã mang lấy nghiệp vào thân,  Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.  Thiện căn ở tại lòng ta,  Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”         “ Tiền nào của nấy”  Chúng ta không quên câu tục ngữ dân gian này khi giao nộp sản phẩm NCKH và hồi tưởng đến lao động lam lũ vất vả ở miền quê xa xôi, vùng lũ lụt nghèo khó.        Chữ TÀI được hiểu là: người TÀI thì phải có sản phẩm TÀI. Không có loại người TÀI GIỎI trừu tượng. Các Ban Biên tập Tạp chí Quốc tế đều hiểu: Những sản phẩm NCKH của tác giảViệt nam đã công bố trong các tạp chí thuộc danh sách do ISI liệt kê là những đóng góp cho kiến thức-tài sản chung của Việt Nam và của thế giới.  Truyện Kiều của Nguyễn Du, bài Tiến Quân Ca của Văn Cao, Thẻ ATM (công trình được thực hiện ở Mỹ) của Đỗ Đức Cường (làm việc ở Mỹ 40 năm), Con Trạch (động vật được nhân bản vô tính đầu tiên trên thế giới, công trình được thực hiện ở nước Nga) của Nguyễn Mộng Hùng, . . . là những sản phẩm tầm cỡ lớn có sức sống vĩnh cửu và là tài sản vô giá của dân tộc VN và của Thế giới. Tiếc rằng VN ta có quá ít những sản phẩm tầm cỡ để tự hào. Ta vẫn đinh ninh rằng: dân ta thông minh sáng tạo, vậy mà chỉ có ít sản phẩm tầm cỡ?          Chữ TÂM trong NCKH hãy hiểu là tuân theo những chuẩn mực Quốc tế. Chữ TÂM nhắc nhở người lãnh đạo quản lý KH  và người trực tiếp làm KH phải làm việc thực sự với nội dung của chữ TÂM để có sản phẩm tương xứng với đồng tiền của ngân sách, không nên quên:  “ Tiền nào của nấy”  Chúng ta không quên câu tục ngữ dân gian này khi giao nộp sản phẩm NCKH và hồi tưởng đến lao động lam lũ vất vả ở miền quê xa xôi, vùng lũ lụt nghèo khó.  GS. Phạm Lợi Vũ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân vật tiêu biểu của năm      Trong danh sách các ứng viên cho nhân vật  tiêu biểu trong năm 2011 của Time, có các gương mặt như hoạ sĩ Ngải Vị  Vị, công nương Anh Kate Middleton, dân biểu Mỹ Paul Ryan… nhưng tạp chí này  lựa chọn những người biểu tình làm nhân vật tiêu biểu vì “họ thay đổi  thế giới”.    Một năm nhìn lại, từ “biểu tình” đã xuất hiện trên báo chí theo cấp số nhân, nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào trong quá khứ. Người biểu tình đã chọn thể hiện sự dân chủ không phải ở các thùng phiếu mà ở đường phố. Hồi đầu năm, không ai có thể nghĩ là ngọn lửa tự thiêu của một anh bán hàng rong người Tunisia lại tạo nên làn sóng khởi nghĩa lan rộng, lật đổ các nhà độc tài và tạo nên phong trào biểu tình để bày tỏ sự bất đồng. Từ khu vực Arập, biểu tình lan sang châu Âu, châu Mỹ và ở Nga.  Nếu như người biểu tình ở Arập do chán ngán trước tình trạng chính trị độc đoán và kinh tế trì trệ trong nhiều thập niên, thì phong trào Chiếm phố Wall ở Mỹ thu hút nhiều người thuộc ngành nghề khác nhau, độ tuổi khác nhau và có chung cảm giác bị gạt ra bên lề từ sự thất bại kinh tế, hay bị đối đãi bất bình đẳng trong quá trình tái phân phối. Tại châu Âu, người Hy Lạp nổi loạn chống lại chính sách thắt lưng buộc bụng, trong khi các công chức ở Anh thì đổ ra đường đình công vì quyết định cắt giảm ngân sách khổng lồ. Trên khắp lục địa cũ, nhiều chính phủ đã sụp đổ khi kinh tế sa sút, trao lại cho những thành viên đối lập một cơ hội để làm điều tốt hơn.  Tại Ấn Độ, lo ngại viễn cảnh kinh tế giữa người dân tầng lớp trung lưu kết hợp với sự phổ biến của mạng internet đã châm ngòi cho một phong trào quần chúng chống tham nhũng. Ở Nam Phi diễn ra sự phân cực trong nội bộ quốc hội vì tỷ lệ thất nghiệp của thanh thiếu niên quá cao, kết quả là một lãnh đạo thanh niên chủ chốt bị lật đổ.  Trung Quốc, được kỳ vọng là đầu tàu kinh tế của khu vực châu Á trong tương lai, đã buộc phải quan tâm đến sự bất ổn trong nước, đặc biệt về tình hình biểu tình lan rộng của công nhân và nông dân địa phương. Đầu tháng này, quan chức an ninh cao cấp nhất Trung Quốc, ông Chu Vĩnh Khang, đã cảnh báo đảng cầm quyền phải quan tâm đặc biệt đến “quản trị xã hội”.  Tạp chí Time ước tính, nếu gom chung lại tất cả những người biểu tình trên toàn thế giới sẽ đạt con số 3 tỉ, gần bằng một nửa tổng số dân hiện tại trên toàn thế giới.  “Liệu có phải đó là bước ngoặt của thế giới sau khi đã quá chán chường?”, thư ký toà soạn tạp chí Time, ông Rick Stengel nói. “Người dân ở khắp nơi đều nói rằng họ đã chịu đựng quá đủ. Họ phản đối, họ đòi hỏi. Họ không tỏ ra lùi bước ngay cả khi câu trả lời là những viên đạn hoặc hơi cay. Họ mang đến ý tưởng rằng một hành động cá nhân có thể dẫn tới sự thay đổi tập thể khổng lồ. Mặc dù cách hiểu tư tưởng này ở mỗi nơi sẽ khác nhau, nhưng ý tưởng về nền dân chủ đều hiện hữu ở bất kỳ cuộc tụ tập nào hiện nay”.  Từ “Mùa xuân Arập” đến “Chiếm phố Wall”, những người tham gia biểu tình trong năm 2011 chia sẻ một niềm tin rằng thể chế chính trị và nền kinh tế tại đất nước họ đã phát triển bất thường, tạo kẽ hở cho tham nhũng và lạm quyền nảy nở.  Tại những quốc gia đã xảy ra các cuộc biểu tình lớn trong năm qua, có điểm chung là sự bất mãn đã tích tụ âm ỉ trong nhiều năm, chỉ cần một ngọn lửa để thổi bùng lên. Cuộc khủng hoảng tài chính và tình trạng trì trệ kinh tế giống như “giọt nước tràn ly”, khiến người dân không thể tiếp tục bàng quan trước thế sự.  Các cuộc biểu tình năm 2011 đã chứng tỏ, hiệu ứng domino của làn sóng biểu tình có thể đem lại sự thay đổi ngoạn mục tại những quốc gia mà chế độ cầm quyền đã có hơn 30 – 40 năm cai trị và chủ quan rằng chiếc ghế của họ “vững như bàn thạch”, mọi cuộc nổi dậy đều có thể bị dập tắt từ trong trứng nước.  Bá Nha – Cảnh Toàn (Theo Time, SFGate, CSM)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhập cuộc của trí thức      Chính sách thu hút nhân tài và vai trò của trí thức ngoài Đảng trong bộ máy quản trị quốc gia đang trở thành đề tài gây nhiều sự chú ý của công luận, đặc biệt sau khi Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 vừa thông qua nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức.    Tựu trung các ý kiến bàn luận đều cho rằng phải trọng dụng và đãi ngộ tương xứng với thành quả hoạt động sáng tạo của trí thức. (Cho đến nay sự đãi ngộ vật chất vẫn bị xem nhẹ và là một trong những nguyên nhân của tình trạng nhiều trí thức chuyển sang làm việc cho khu vực tư hoặc định cư nước ngoài).  Cùng cách nhìn như vậy, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 7 đã cho rằng: “Để xây dựng đội ngũ trí thức theo yêu cầu mới, cần tập trung hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức. Có chế độ, chính sách bảo đảm lợi ích vật chất tương xứng với giá trị sức lao động”.  Vậy cơ chế nào thực thi quyết sách này một cách hữu hiệu?  Phải thừa nhận một sự thật, từ năm 1945 đến nay, những trí thức dấn thân cho đất nước ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau chưa bao giờ sống dư dật bằng đồng lương của mình, thậm chí một số người còn bị bạc đãi vì nhân cách và lương tri của họ. (Tất nhiên, điều này không đúng với lớp người có bằng cấp và học vị, giữ vị trí cao trong bộ máy công quyền, các trường đại học và viện nghiên cứu, nhưng chưa bao giờ được xã hội kính trọng vì học thuật và bản lĩnh của họ). Và có lẽ phải mất ít nhất một thế hệ nữa may ra trí thức Việt Nam mới có thể sống bằng năng lực của chính mình để chuyên tâm nghiên cứu khoa học mà không lo lắng đến sinh kế. Đây thật sự là vấn đề lớn của xã hội Việt Nam hiện tại, bởi lẽ nó liên quan trực tiếp đến việc cải cách tận gốc chế độ lương bổng bất hợp lý vốn tạo nên nhiều vấn nạn nan giải như tham nhũng và quan liêu hành chính.  Dù vậy, trọng dụng trí thức không có nghĩa chỉ quan tâm đến nhu cầu vật chất. Trên thực tế nhiều người đã chấp nhận đời sống chật vật để có được cơ hội đóng góp. Thời kháng Pháp, các trí thức hàng đầu từng rời bỏ cơ hội phát triển tốt hơn ở xứ người để trở về nước tham gia kháng chiến, họ đã không quản ngại khó khăn và thiếu thốn, chỉ mong cống hiến nhiều tri thức hơn cho quê hương.  Hầu hết các ý kiến về việc thu hút nhân tài đều nhấn mạnh đến vai trò tư vấn và phản biện đối với các chính sách và dự án phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ như một chức năng đương nhiên của người trí thức trước diễn biến thời cuộc. Với năng lực phân tích khoa học, nhìn mọi vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau, ý kiến đề xuất và tranh luận của giới trí thức sẽ giúp nhà cầm quyền hiểu hơn về tác động kinh tế-chính trị-xã hội từ chính sách dự định ban hành.  Chính vì vậy, nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức của Hội nghị Trung ương 7 đã nhấn mạnh: “Cần nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể về vị trí, vai trò của trí thức; hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và xây dựng cơ chế để khuyến khích và bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm của trí thức khi tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện các dự án phát triển kinh tế-xã hội. Phê phán và xóa bỏ sự coi nhẹ, thành kiến và quy chụp đối với những ý kiến phản biện mang tính xây dựng.”  Nhưng với thực trạng hiện nay làm sao để những ý kiến phản biện, tư vấn của trí thức tránh bị quy chụp thành kiến như nghị quyết của Đảng yêu cầu?  Câu trả lời đến từ phía chính quyền, chứ không từ giới trí thức vì đã là phản biện thì phải gai góc và trái tai, chứ còn vuốt ve ngon ngọt để làm vui lòng một vài quan chức nào đó thì có lẽ không cần đến giới trí thức! Hiểu như vậy mới thấy rằng nếu thực hiện được yêu cầu “không quy chụp ý kiến phản biện” nói trên thì chắc chắn sẽ tạo ra thay đổi đáng kể trong tiến trình dân chủ hóa xã hội.  Nhưng chẳng lẽ trí thức chỉ đơn thuần thủ giữ vai trò tư vấn và phản biện? Nếu như thế thì quả tình người ta còn nhìn trí thức như những người ngoài cuộc, chứ không phải kẻ trong cuộc, trong khi giới trí thức ngày càng có nhiều người sẵn sàng dấn thân hơn nữa để nhập cuộc. Vì vậy cần phải mở rộng cửa đón nhận những nhà kỹ trị có tài đức ngoài Đảng vào bộ máy quản trị quốc gia, kể cả ở các vị trí lãnh đạo cấp cao. Đất nước và nền kinh tế đang ở giai đoạn cần sự điều hành chuyên nghiệp của những chuyên gia thực sự thông qua một quy trình sàng lọc dân chủ. Có như vậy thì lời tuyên bố trong Thông báo toàn văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát đi từ Hội nghị Trung ương 7 rằng “cần phấn đấu đến năm 2020 xây dựng được đội ngũ trí thức có chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, tiến tới ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới” mới thật sự có ý nghĩa.      Lê Công Định      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt      Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.      Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.  Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?  Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.  Bách Việt là ai và ở đâu?  Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.  Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).  Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.  Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.  Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.  Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.  Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán  Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国，còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.  Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.    Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.  Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).  Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán  Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…  Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.  Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.  Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.  Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347）người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.  Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.  Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.  Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.  Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.  Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?  Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:  * Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.  * Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.  * Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!  Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:  * Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.  * Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.  Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:  * Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.  * Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.  * Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.  (Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).  Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.  1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.  2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.  3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.  Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.  Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.  Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.  Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…  Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1    CHÚ DẪN  1为什么经历了一千多年的统治，中国始终不能同化越南？“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml  越南人（京族）为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html  2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.  3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里（西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。  #4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html   The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina  5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)  6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮，朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.  7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.  8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.  9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).  10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.  11《淮南子·人间训：“（秦皇）又以卒凿渠而通粮道，以与越人战，杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.  12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”：“且南方卑湿，蛮夷中间，其东闽越千人众号称王，其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).  13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》：“和之美者：阳朴之姜，招摇之桂，越骆之菌。”高诱注：“越骆，国名。菌，竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.  14 常璩（347）华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周，武王伐纣，蜀与焉。其地东接于巴，南接于越，北与秦分，西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).  #15“华阳国志·蜀志：“周慎王五年秋，秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀，蜀王自于葭萌拒之，败绩。王遁走，至武阳为秦军所害，其相、傅及太子退至逢乡，死于白鹿山。开明氏遂亡，凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.  16 叶榆水  17岱依人  18《越史略》卷一载：“周庄王时嘉宁部有异人焉，能以幻术服诸部落，自称碓王，都于文郎，号文郎国。以淳质为俗，结绳为政，传十八世，皆称碓王。越勾践尝遣使来谕，碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳，号安阳王，竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.  19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云：“交趾昔未有郡县之时，土地有雒田，其田从潮水上，民垦食其田，因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯，服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.  20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云：“交趾之地，最为膏腴，旧有君长曰雄王，其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王，灭之。蜀以其子为安阳王，治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.  21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!  22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.  23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通，下辅佐，为安阳王治神弩一张，一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.  24《太平御览》卷348:《日南傳》曰：一發萬人死，三發殺三萬人。佗退，遣太子始降安陽。安陽不知通神人，遇無道理，通去。始有姿容端美，安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩，亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫，浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).  25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.  #26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên  27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.  28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.    * Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.    Author                Trần Gia Ninh        
__label__tiasang Nhìn lại mạng xã hội toàn cầu năm 2020: Chấm dứt chủ nghĩa tân tự do công nghệ?      Năm 2020, “năm thứ nhất” của đại dịch Covid-19, là một năm đánh dấu không chỉ sự khủng hoảng sức khỏe cộng đồng mang tính lịch sử mà còn là một năm mà nhiều biến động trong việc quản lý mạng xã hội được diễn ra tại Mỹ. Từ việc chính quyền Trump yêu cầu TikTok cần được mua lại bởi một doanh nghiệp Mỹ để có thể được tiếp tục kinh doanh tại nước này, đến việc Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) khởi kiện chống độc quyền với Facebook, năm 2020 là một năm chứng kiến nhiều sự thay đổi quan trọng trong việc các đơn vị quản lý công nghệ nhìn nhận vai trò và vị trí của mạng xã hội.      Trump ký sắc lệnh yêu cầu ByteDance, công ty mẹ của TikTok bán lại toàn bộ việc kinh doanh của mình cho Mỹ trong 90 ngày vào 8/2020.​  Chủ quyền dữ liệu là nền tảng cho gọng kìm quản lý mạng xã hội trong thập niên mới  Xung đột địa-chính trị căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của chính quyền Trump mở rộng đến phân khúc công nghệ thông tin tiêu dùng khi Trump ký sắc lệnh yêu cầu ByteDance, công ty mẹ của mạng xã hội TikTok, bán lại toàn bộ việc kinh doanh của mình cho Mỹ trong vòng 90 ngày vào tháng 8/2020. Trước khi sắc lệnh này được ký một tháng, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã đánh tiếng cảnh báo người dân Mỹ trước việc dữ liệu cá nhân của họ có thể bị mang giao cho “Đảng Cộng sản Trung Quốc” trên kênh truyền hình Fox News. Trước khi chính quyền liên bang có những động thái kịch liệt như trên, từ tháng 10/2019, khi chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang đến giai đoạn cao trào, hai Thượng nghị sĩ là Chuck Schumer và Tom Cotton đã lên tiếng kêu gọi mở ra cuộc điều tra TikTok cùng với lý do rằng “với hơn 110 triệu lượt tải xuống chỉ riêng ở Mỹ, TikTok là một mối đe dọa phản tình báo tiềm tàng mà chúng ta không thể bỏ qua”.  Cần phải nói thêm rằng Mỹ không phải là quốc gia duy nhất có động thái cực đoan với TikTok, và nói rộng hơn là các công ty công nghệ thông tin và mạng xã hội của Trung Quốc. Từ tháng 6/2019, Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên cấm 59 ứng dụng do các công ty Trung Quốc phát triển vì lo ngại rằng các ứng dụng này đang tham gia vào các hoạt động đe dọa “an ninh quốc gia và quốc phòng của Ấn Độ, dẫn đến ảnh hưởng đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ấn Độ”. Chính phủ Ấn Độ cho biết Nhóm Ứng cứu Khẩn cấp Máy tính của nước này đã nhận được nhiều “thông tin từ công dân liên quan đến bảo mật dữ liệu và vi phạm quyền riêng tư ảnh hưởng đến các vấn đề trật tự công cộng”, và dùng đây làm lí do cho việc cấm các ứng dụng của Trung Quốc trên lãnh thổ Ấn Độ, bao gồm cả TikTok. Việc sắc lệnh cấm này xảy ra trong bối cảnh tinh thần bài trừ Trung Quốc ngày càng tăng cao ở Ấn Độ, sau khi hơn 20 binh sĩ Ấn Độ đã thiệt mạng trong một cuộc đụng độ quân sự với Trung Quốc trên dãy Himalaya trước đó không lâu.      Có thể nói, việc kiểm duyệt nội dung trên mạng xã hội tại Mỹ đã được chính trị hóa đậm nét, khiến việc phân định “giả, thật” trên mạng xã hội ngày càng mang tính tương đối.      Liệu có cơ sở thực tiễn nào cho những buộc tội phản tình báo mà Mỹ và Ấn Độ đưa ra với các ứng dụng công nghệ và mạng xã hội của Trung Quốc, hay liệu đây là những động thái thuần chính trị? Tại thời điểm của bài viết, những cáo buộc của Chính quyền Trump về việc TikTok làm rò rỉ thông tin người dùng Mỹ cho Chính phủ Trung Quốc đã bị Thẩm phán Carl Nichols bác bỏ tại Tòa án Quận (District Court) của Mỹ. TikTok giữ vững tuyên bố rằng toàn bộ dữ liệu người dùng tại thị trường Mỹ được lưu trữ trên các máy chủ đặt tại Mỹ, và được sao lưu tại máy chủ đặt ở Singapore. Chính quyền Trump đã lên tiếng sẽ đệ đơn kháng kiện cho quyết định này lên Toà Phúc thẩm, dù Tổng thống đắc cử Joe Biden sẽ sớm nhậm chức vào cuối tháng 1/2021. Liệu tân Tổng thống Biden có tiếp tục cuộc chiến pháp lý với TikTok và các công ty công nghệ Trung Quốc hay không sẽ là vấn đề được quan tâm lớn trong thời gian tới, nhất là khi ông Biden được bình luận rộng rãi là sẽ có chủ trương mềm dẻo hơn trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Tại thời điểm của bài viết, dù Oracle, một ông lớn trong ngành công nghệ thông tin Mỹ, đã đánh bại Microsoft trong việc đấu thầu mua lại TikTok tại Mỹ, cuộc chiến pháp lý lê thê ở các cấp và sự chuyển giao chính quyền tại Mỹ vào năm 2021 khiến tương lai của cuộc chuyển nhượng này trở nên khó đoán được kết quả. Mối quan hệ thân thiết giữa Larry Ellison, đồng sáng lập công ty Oracle, và Tổng thống Trump cũng là đề tài được giới báo chí Mỹ mổ xẻ song song với những phân tích từ các chuyên gia công nghệ cho rằng việc Oracle trở thành công ty “chủ nhà” cho những hoạt động kinh doanh của TikTok tại Mỹ sẽ không giải quyết được những vấn đề đáng lo ngại mà Trump đã đưa ra, khi mà các hoạt động cốt yếu như phát triển sản phẩm, xử lý thuật toán, và quản lý phần mềm vẫn còn hoàn toàn nằm trong quyền quyết định và bảo mật của ByteDance ở Trung Quốc. Nhiều chuyên gia còn nhận định rằng việc phê duyệt cho Oracle được trở thành đối tác của ByteDance tại Mỹ phần lớn là một giải pháp mang tính cứu vãn danh dự cho Tổng thống Trump, góp phần tô đậm hình ảnh chống Trung Quốc vốn đã làm nên thương hiệu chính trị cho ông.    Hai mạng xã hội lớn nhất của Mỹ là Facebook và Twitter đã có những động thái khác biệt khi đối phó với tin sai sự thật liên quan đến đại dịch Covid.  Kiểm duyệt nội dung trên mạng xã hội trở thành cuộc chiến chính trị  Năm 2020 cũng là một năm sóng gió cho các công ty mạng xã hội nội địa ngay tại trên lãnh thổ Mỹ. Cần lưu ý rằng, dù chính quyền Mỹ liên tục đưa ra những cáo buộc nghiêm trọng về xâm hại quyền bảo mật dữ liệu lên các công ty Trung Quốc, việc bảo vệ dữ liệu người dùng và yêu cầu minh bạch quản lý dữ liệu của mạng xã hội tại Mỹ không hề được quy định rõ ràng bởi một bộ luật liên bang nào (trái ngược với bộ luật GDPR của châu Âu). Tại Mỹ, việc quản lý bảo mật dữ liệu người dùng được quy định bằng cách chắp vá các luật dành riêng cho từng ngành cụ thể, bao gồm các luật và quy định liên quan đến viễn thông, thông tin y tế, thông tin tín dụng, tài chính, và tiếp thị. Hai mạng xã hội lớn nhất của Mỹ là Facebook và Twitter trong năm qua đã có những động thái hoàn toàn khác biệt khi đứng trước thách thức tin giả sức khỏe liên quan đến đại dịch Covid-19 và tin giả chính trị trong bầu cử tổng thống tại Mỹ.  Facebook chịu phê phán nặng nề từ nhiều phía khi công ty này từ chối kiểm chứng độ xác thực của các mẩu tin quảng cáo chính trị trên mạng xã hội của mình và lặng lẽ hủy bỏ chính sách cấm tuyên truyền tin sai sự thật trong việc quảng cáo trên trang mạng này. Tờ Guardian của Anh đã nhanh chóng đưa tin ngay sau khi Facebook lặng lẽ đưa ra một điều khoản miễn trừ cụ thể cho các quảng cáo chính trị chỉ hơn một tuần sau khi Mark Zuckerberg tổ chức một cuộc họp kín với Tổng thống Trump, góp phần tạo cơ sở cho Facebook “làm ngơ” trước những thông tin lệch lạc gây ngộ nhận trong chiến dịch tái tranh cử của Trump. Trước sức ép dư luận, Facebook đồng ý giới thiệu tính năng dán nhãn cho tin sai và tin thiếu kiểm chứng; ngược lại với Facebook, Twitter nhanh chóng dẫn đầu trong việc dán nhãn tin sai và tháo gỡ tin sai liên quan đến Covid-19 và bầu cử tổng thống tại Mỹ. Liên tục dán nhãn tin sai và tin thiếu kiểm chứng lên các tweet được Donald Trump gửi ra, Twitter lại gánh chịu nhiều đả kích bởi các thành viên Đảng Cộng hòa ở Mỹ với cáo buộc rằng trang mạng xã hội này thiên vị cho phe cánh tả. Có thể nói, việc kiểm duyệt nội dung trên mạng xã hội tại Mỹ đã được chính trị hóa đậm nét, khiến việc phân định “giả, thật” trên mạng xã hội ngày càng mang tính tương đối.      Nhiều chuyên gia đưa ra nhận xét rằng thời đại của chủ nghĩa tân tự do công nghệ đã thực sự chấm dứt khi chính quyền các nước, đặc biệt là chính quyền Mỹ với cơ sở pháp lý phát triển, ngày càng hướng mũi tấn công vào các tập đòan công nghệ với mục tiêu kìm hãm với động cơ chính trị rõ nét.      Khởi kiện chống độc quyền và tương lai của các mạng xã hội lớn  Năm 2020 cũng là năm mà sự kinh doanh đa phân khúc của các tập đoàn mạng xã hội lớn lần đầu tiên được mang ra soi xét dưới góc độ pháp luật một cách thực tế. Dù việc khởi kiện chống độc quyền các công ty công nghệ khổng lồ ở Mỹ không mới (Microsoft đã từng bị buộc tội độc quyền khi thu mua Netscape với mục đích và hệ quả là dập tắt cạnh tranh), việc bành trướng thu mua Instagram và Whatsapp của Facebook vào các năm 2012 và 2014 đã gây nên nhiều sự bất bình và lo lắng trong việc Facebook ngày càng trở thành “đại gia” dữ liệu và trở nên quá quyền lực trong việc theo dõi và kiếm tiền từ hành vi người dùng mà không phải chịu trách nhiệm giải trình với một thẩm quyền độc lập nào. Mãi đến năm 2020, sau khi trải qua hàng loạt các vụ bê bối trên mọi phương diện về quyền riêng tư người dùng, minh bạch quản lý dữ liệu, hay quản lý nội dung tin giả trên trang mạng của mình, Facebook mới thực sự đứng trước nguy cơ phải thay đổi cách vận hành của tập đoàn khi FTC chính thức khởi kiện Facebook dưới bộ luật chống độc quyền. Việc Facebook bị khởi kiện một cách có hệ thống dựa trên luật chống độc quyền, một trong những bộ luật có nền tảng vững chắc nhất tại Mỹ, dường như là một tiến triển bất khả kháng. Việc kìm hãm sự bành trướng quyền lực của Facebook từ phía chính quyền Mỹ nếu không diễn ra theo cách này thì sẽ là cách khác; việc bộ luật chống độc quyền là cơ sở cho “trận chiến” lần này là biểu hiện của những điều kiện phù hợp đặc trưng trong hệ thống pháp luật Mỹ trong việc hướng tới mục tiêu giảm thiểu tầm ảnh hưởng của Facebook lên các phương diện chính trị và xã hội.  Điều đáng lưu ý ở đây là sự thành bại của vụ kiện lần này lệ thuộc rất lớn vào những email mà Mark Zuckerberg đã gửi ra trong giai đoạn thu mua lại Instagram và Whatsapp. Trong cáo buộc mà FTC đưa ra, FTC đã dẫn chứng nội dung do chính Mark Zuckerberg soạn thảo trong những email nội bộ gửi ra cho nhân viên với nội dung thừa nhận mục tiêu mua lại Instagram hay Whatsapp nhằm loại trừ cạnh tranh và áp lực lên hoạt động của Facebook. Liệu những chứng cứ này có thành công trong việc buộc tội Facebook và khiến Facebook phải chia nhỏ các dịch vụ con của mình hay không còn phải trông chờ vào kết quả quyết định của toà án, bởi lẽ luật chống độc quyền được xây dựng dựa trên kết quả, chứ không phải ý định phá hoại cạnh tranh, của các hoạt động thương mại.  Thập niên mới của gọng kìm quản lý mạng xã hội?  Điểm trớ trêu nhất của những diễn biến gây tranh cãi về quản lý mạng xã hội tại Mỹ trong năm nay có lẽ là sự tương đồng trong cách Mỹ theo đuổi chủ trương “triệt hạ” các mạng xã hội ngoại bang như là một “tác dụng phụ” của các cuộc chiến thương mại chính trị và những chỉ trích của Mỹ dành cho Trung Quốc khi chính quyền Trung Quốc cấm các công ty công nghệ như Google, YouTube, hay Facebook hoạt động tại đất nước này. Nhiều chuyên gia đưa ra nhận xét, thời đại của chủ nghĩa tân tự do công nghệ đã thực sự chấm dứt khi chính quyền các nước, đặc biệt là chính quyền Mỹ với cơ sở pháp lý phát triển, ngày càng hướng mũi tấn công vào các tập đoàn công nghệ với mục tiêu kìm hãm mang động cơ chính trị rõ nét.       Liệu tân Tổng thống Biden có tiếp tục cuộc chiến pháp lý với TikTok và các công ty công nghệ Trung Quốc hay không sẽ là vấn đề được quan tâm lớn trong thời gian tới, nhất là khi ông Biden được bình luận rộng rãi là sẽ có chủ trương mềm dẻo hơn trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.      Việc tăng cường quản lý và siết chặt hoạt động của mạng xã hội toàn cầu sẽ là một xu hướng khó thay đổi trong thập niên mới. Liệu việc quản lý này có thể vượt ra ngoài những động cơ chính trị thuần tuý như những diễn biến đã xảy ra vào năm 2020 hay không là một câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ. Việc chính quyền tại Mỹ – cái nôi của chủ nghĩa tân tự do công nghệ và là nơi hình thành những mạng xã hội toàn cầu có quyền lực lớn nhất hành tinh hiện nay – có những động thái mang tính cực đoan trong quản lý mạng xã hội đã tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho việc chính quyền các nước nhập khẩu sản phẩm công nghệ mạng xã hội lạm dụng quyền xử phạt và cấm đoán dựa trên tinh thần tự tôn dân tộc được thổi phồng một cách thái quá.□       Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Nhìn nhận về Dự luật tiếp cận thông tin      &#8220;D&#226;n biết, d&#226;n b&#224;n, d&#226;n kiểm tra&#8221; l&#224; một chủ trương thường được nhắc tới trong nhiều văn kiện ch&#237;nh trị b&#224;n về d&#226;n quyền ở Việt Nam. Để gi&#250;p người d&#226;n biết ch&#237;nh quyền đ&#227; v&#224; đang l&#224;m g&#236;, một đạo luật về tự do th&#244;ng tin đang được Bộ Tư ph&#225;p chủ tr&#236; soạn thảo. Người ta đ&#227; cho dịch v&#224; xuất bản c&#225;c văn kiện ph&#225;p l&#253; quốc tế v&#224; c&#225;c đạo luật về tự do th&#244;ng tin từ nhiều quốc gia tr&#234;n thế giới, bước đầu x&#226;y dựng được một bản đề cương với 32 điều l&#224;m tư liệu thảo luận về dự luật n&#224;y. B&#224;i viết dưới đ&#226;y g&#243;p phần nh&#236;n nhận về nhu cầu, giới hạn v&#224; những t&#225;c động khả dĩ c&#243; được của dự luật n&#224;y từ g&#243;c độ bảo vệ d&#226;n quyền.     Một đạo luật cần cho người dân, báo chí và chính quyền  Báo giới Việt Nam thường ráng né nhiều vấn đề được cho là nhạy cảm, song trên thực tế những vấn đề đó nếu được bàn luận tự do chưa chắc đã được số đông người dân quan tâm. Bình dân quan tâm đến việc an sinh thường ngày. Công việc, thu nhập, học hành, sức khoẻ và mọi sự tiện lợi trong giao lưu xã hội là những ưu tiên hàng đầu. Trong giao tiếp với chính quyền, người ta mong được đối xử công bằng và rõ ràng. Sự bất bình của dân chúng thường khởi nguồn từ những đối xử của chính quyền mà họ cảm thấy bất công. Thu hồi và sử dụng đất không đúng mục đích, đền bù không thoả đáng cho đất bị thu hồi, không được tạo việc làm và cơ hội chuyển nghề, sự bất lực của chính quyền trước ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và các bất an khác trong xã hội… thường là những mồi lửa tạo nên bất bình. Tích tụ lâu ngày, mồi lửa nhỏ cũng tạo nên đám cháy. Động loạn lớn đôi khi có nguyên căn từ vô cảm của chính quyền trước những lo toan nho nhỏ của người dân.   Tự do thông tin tốt cho người dân, báo giới và chính quyền: Một đạo luật bảo đảm quyền tự do thông tin của người dân nếu được ban hành sẽ giúp báo giới tự tin hơn khi khai thác quyền được biết, quyền được nói của người dân. Có biết, có dám tranh luận, rồi một ngày người dân mới học cách tập hợp lực lượng để phản biện lại, một cách hoà bình và văn minh, các chính sách của chính quyền khi cần thiết. Đạo luật này cũng giúp quan chức hành chính tự tin hơn khi tiết lộ thông tin cho dân chúng mà không sợ vi phạm các nghĩa vụ bảo mật. Thêm nữa, có được sự hiểu biết và thông cảm từ phía người dân các chính sách của Nhà nước cũng dễ thực hiện hơn. Tăng tự do thông tin cho người dân cũng nghĩa là tăng sức đề kháng, tăng cường ổn định, làm trong sạch, giúp bảo vệ chính quyền.  Tương quan giữa Luật tiếp cận thông tin và Luật báo chí  Từ đưa tin tới tự do khám phá sự thật: Được hậu thuẫn từ quyền tự do thông tin của người dân, có thể trên thực tế, báo chí sẽ có những lợi ích, động cơ, tính chuyên nghiệp, bộ máy và năng lực để “thừa ủy quyền” của người dân mà truy tìm thông tin, khám phá ra những sự thật mà cơ quan Nhà nước có thể chưa muốn công bố cho công chúng (trừ những thông tin cần bảo mật vì lợi ích quốc gia). Không chỉ ở vị trí thụ động, phát ngôn cho các cơ quan của Đảng và cơ quan hành chính, dựa trên luật về tự do thông tin, báo chí chuyển sang một vị thế chủ động hơn, khai thác, điều tra, truy đuổi các thông tin đáng ra cơ quan Nhà nước phải công bố. Triết lý này phải được ghi nhận bởi luật báo chí, nói cách khác, ban hành luật về tự do thông tin sẽ làm một cú hích để tu chỉnh luật báo chí nhằm xác định trách nhiệm xã hội của báo chí trước nhân dân và dân tộc.  Chủ đề nhạy cảm: Ngoại lệ đối với tự do thông tin của người dân cũng nên là ngoại lệ đối với tự do báo chí. Ngoài bí mật Nhà nước, bí mật của doanh nghiệp, quyền riêng tư của người dân cũng nên là một chủ đề cần thận trọng khi công bố trên báo chí. Những nguyên tắc này cần được ấn định rõ ràng. Cần tìm cách giới hạn quyền lực của cơ quan Nhà nước trong quản lý báo chí, không cho họ tự tiện tuyên bố những vấn đề nhạy cảm cấm đưa tin dựa theo quan niệm của một số quan chức có quyền. Ở những vấn đề này báo chí cũng phải có tố quyền, phải được tranh luận vì sao một chủ đề nhất định lại được xem là nhạy cảm, và vì sao họ không được phép đưa tin. Một cơ chế tranh luận, xét xử bảo mật, hoặc một phiên điều trần không công khai trước các ủy ban của cơ quan dân cử có thể giúp thẩm định và giới hạn những vấn đề được xem là nhạy cảm vào những tiêu chí khách quan hơn.  Tương quan giữa Luật tiếp cận thông tin và Pháp lệnh về bí mật Nhà nước            Làm việc với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) và Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) ngày 13/3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Quyền được thông tin của nhân dân thì nhân dân phải biết Chính phủ đang làm gì và sắp làm gì”.          Bí mật Nhà nước? Trong cơn khát, luật về tự do thông tin ví như một bầu nước, song Pháp lệnh về bí mật Nhà nước năm 2000 lại chính là cái nút thắt chặt lấy bầu nước ấy. Một bản kết luận nước tương hay sữa kém phẩm của một sở y tế địa phương, bản danh mục điện thoại của các đại biểu Quốc hội có là bí mật Nhà nước, nếu phóng viên tiệm cận và công bố những tin ấy, liệu có được xem là vi phạm các quy định về bí mật Nhà nước hay không? Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 về bí mật Nhà nước định nghĩa rất rộng, cho rằng bí mật là tất cả những gì có trong danh sách được xem là bí mật, danh sách này do người đứng đầu cơ quan tổ chức Nhà nước hoặc người được ủy quyền đề nghị và tuỳ theo loại tối mật, tuyệt mật hoặc mật mà do Thủ tướng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an quyết định. Tóm lại bí mật là những gì cơ quan hành chính Nhà nước trình và được Bộ Công an thẩm định đồng ý cho là mật.   Thẩm định danh mục bí mật: Theo Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ban hành ngày 28/03/2002 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về bí mật Nhà nước năm 2000, trên thực tế các thông tin được xem là bí mật Nhà nước thực ra rộng hơn cả khái niệm thông tin Nhà nước. Bởi lẽ, người đứng đầu các tổ chức chính trị, chính trị xã hội cũng có thể lập danh sách các thông tin được xem là bí mật Nhà nước. Điều này áp dụng đối với các thông tin của Đảng, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các thông tin được cho là bí mật Nhà nước do các tổ chức chính trị xã hội khác đề xuất. Nghị định tuy có nhắc đến việc thẩm định các danh sách đề xuất này, song không cụ thể hoá việc thẩm định được diễn ra như thế nào, với những tiêu chí gì. Cũng như vậy bản thân các danh sách những gì được xem là mật này cũng có thể được công bố hoặc không, tuỳ thuộc vào Bộ Công an xem xét quyết định. Trên trang thông tin điện tử của Chính phủ người ta có thể theo dõi vô số các danh sách bí mật đã được công bố, từ danh sách bí mật của Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, cho tới bí mật của ngành xây dựng, ngành công thương.   Rà soát lại pháp luật về bí mật Nhà nước: Điểm lại thông tin báo chí Việt Nam trong các năm gần đây, xuất hiện nhiều vụ việc có thể liên quan đến vấn đề bảo vệ bí mật Nhà nước có thể cần được thảo luận thêm, ví dụ về vụ việc phóng viên Lan Anh của báo Tuổi trẻ bị khởi tố liên quan đến tài liệu được cho là bí mật của Bộ Y tế. Theo pháp luật hiện hành, một thông tin nằm trong danh sách bí mật do Bộ Y tế đề xuất đã được Bộ Công an quyết định, đã được đóng dấu mật, thì được xem là bí mật. Nếu không giải thích được rành rọt cách thức lấy được thông tin đó, cô phóng viên gặp phải rủi ro có thể được xem là vi phạm bí mật Nhà nước. Tương tự như vậy, việc đưa tin về các đề án xây dựng quy hoạch vùng có thể vi phạm bí mật thuộc phạm vi do Bộ Xây dựng phụ trách, xem § 1 Quyết định số 2039/2008/QĐ-BCA (A11) ngày 03/12/2008. Đáng lưu ý rằng quy hoạch là một thông tin tối nhạy cảm trong lĩnh vực đất đai, ảnh hưởng đáng kể đến dân cư. Cũng như vậy, nếu quá say sưa đưa tin về vụ khai thác Bauxite ở Đắc-Nông (Tây Nguyên), báo chí có thể gặp phải nguy cơ vi phạm những thông tin được xem là tuyệt mật liên quan đến chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về khai thác khoáng sản, xem § 2.4 Quyết định số 106/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/07/2008 về danh sách thông tin độ tối mật, tuyệt mật trong ngành Công thương.  Phạm vi và quy trình thẩm định danh sách bí mật: Cuộc thảo luận về luật về tự do thông tin không trực tiếp thay đổi được các quy định về bảo mật, song như một mắt xích hướng tới sự minh bạch hơn trong quản trị quốc gia, đạo luật này hối thúc việc sửa Pháp lệnh về bí mật Nhà nước, nhất là xác định những nội dung nào được xem là bí mật và từng bước hướng tới một quy trình thẩm định, tương đối khách quan và có thể giám sát được, các tiêu chí đánh giá một thông tin có cần được xem là bí mật Nhà nước hay không.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn và Thấy      Đời là một cuộc thám hiểm bất tận, mà hành trang cho cuộc thám hiểm đó ở mỗi con người luôn luôn phải là một đôi mắt mới. Hãy để cho mỗi người tự chăm lo cho đôi mắt mình luôn được đổi mới, và được tự nhìn thế giới bằng chính đôi mắt luôn đổi mới đó.        Tôi nhớ vào những năm đầu của thời Đổi mới, ta thường được nghe khắp nơi hô hào “nhìn thẳng vào sự thật” và ta nhiệt tình làm theo lời hô hào đó, cũng hăng hái nhìn, nhìn thẳng, nhìn sâu, nhìn lui, nhìn tới, nhìn gần, nhìn xa, nhìn cả vào sự thật và sự không thật, bởi vì đã biết đâu là thật, là không thật; có mắt thì cứ nhìn, cứ giương mắt ra mà nhìn, còn cái sự nhìn vào đâu thì đã có ai cắm bảng đề cho biết đâu là thật, đâu là không thật để mà lựa chọn? Lúc đầu ta hăm hở và háo hức cứ đụng vào bất cứ chuyện gì cũng cứ cố “nhìn thẳng vào”, nhưng rồi dần dà ta tự nhận ra rằng không phải cứ hễ “nhìn thẳng vào” là ta thấy được sự thật, cái “thật” không phải khi nào cũng dễ dãi phơi bày cho ta nhìn thấy mỗi khi cứ cố tình sấn sổ “nhìn thẳng vào”. Ta bắt đầu nghi ngờ chính đôi mắt ta, đôi mắt vẫn là của ta đó mà nhiều lúc ta ngỡ như đã quen được nhìn bằng mắt của ai khác, nên cái mà ta thấy cũng không phải là cái mà ta cần thấy, muốn thấy, mà thay vào đó là cái mà “ai khác đó” muốn thấy, muốn ta thấy.  Nhìn và thấy vốn là hai việc khác nhau, tuy có liên hệ mật thiết với nhau. Nhìn là hành động của đôi mắt,          Trong cuộc sống, nhiều khi cái cần thiết lại là ở sự không thống nhất chứ không phải ở sự thống nhất. Mỗi người yêu một vẻ, mỗi người thích một cách thì mới đỡ tranh chấp, mới dễ hòa thuận, và do đó mới có cuộc sống phong phú, đa dạng trong hòa bình được.        cụ thể là đưa mắt về một hướng đối tượng nào đó để có được một hình ảnh về đối tượng đó; còn thấy là sự nhận biết về đối tượng qua hình ảnh nhìn được bằng mắt, thấy còn có nghĩa rộng hơn là sự nhận biết được bằng các giác quan nói chung, chứ không riêng thị giác. Người ta nói nhìn thấy, và cũng nói nghe thấy, ngửi thấy, thậm chí nếm thấy, sờ thấy. Nhìn là hoạt động thu nhận thông tin tự nhiên của đôi mắt “trời cho”, còn thấy là một hoạt động nhận thức của chủ thể con người, thông qua sự tham gia hoặc ít hoặc nhiều của tâm thức và trí tuệ. Tất nhiên, hễ có nhìn thì có thấy, nhiều người khác nhau nhìn vào cùng một hiện tượng tuy nhận được hình ảnh như nhau, nhưng lại có thể thấy những điều khác nhau. Điều thấy nào là thật, là không thật, không dễ mà phán xét được. Cho nên, đưa ra khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật” thoạt đầu tưởng có thể nhanh chóng xác lập được một tiêu chuẩn thật thà, trung thực trong sinh hoạt xã hội, nhưng hóa ra không phải đơn giản như vậy.  Có thực có một “sự thật” chung trong mỗi hiện tượng để mọi người cùng nhìn cùng thấy không? Tôi e rằng khó mà có một trả lời dứt khoát. Bảo rằng bông hoa này vàng, bông hoa kia tím thì hẳn mọi người có thể cùng nhìn cùng thấy như nhau, nhưng nếu bảo bông hoa này đẹp, bông hoa kia không đẹp, hay hơn nữa bông hoa này đáng yêu, bông hoa kia không đáng yêu thì chắc là khó có ý kiến thống nhất. Có nhất thiết cần có ý kiến chung thống nhất không? Ai cần cái thống nhất đó? Trong cuộc sống, nhiều khi cái cần thiết lại là ở sự không thống nhất chứ không phải ở sự thống nhất. Mỗi người yêu một vẻ, mỗi người thích một cách thì mới đỡ tranh chấp, mới dễ hòa thuận, và do đó mới có cuộc sống phong phú, đa dạng trong hòa bình được chứ. Cái “sự thật” chung mà ta mong muốn mọi người cùng thấy khi cùng “nhìn thẳng vào” theo tôi hiểu không phải là hiếm có, nhưng đó là những sự thật nào?   Thiên nhiên, đất trời, cuộc sống con người và xã hội có biết bao nhiêu sự thật, có những sự thật hiển nhiên và còn vô vàn những sự thật được ẩn giấu, dẫu là ta có cùng nhìn thì chắc cũng không bao giờ có thể cùng thấy như nhau. Cái việc không thấy như nhau cần phải được xem là bình thường, và cũng không nên áp đặt cái thấy của một người này cho một người khác. Từ nhìn đến thấy là cảm thụ và suy nghĩ, điều này phụ thuộc vào năng lực cảm và nghĩ, hay năng lực tư duy thị giác, của từng người. Tư duy thị giác, khác với tư duy nói chung, có thể không cần qua những bộ máy phức tạp của suy luận duy lý và lập luận lô gích, mà được thực hiện trực tiếp bằng cơ chế của những trực cảm thị giác, thường khi cho con người những phản ứng nhanh nhậy tức thời trước đòi hỏi của hoàn cảnh. Tư duy thị giác là một loại năng lực nhìn và thấy đặc biệt của con người, kết hợp các khả năng trực cảm và trí tuệ, một trực cảm đầy chất trí tuệ và một trí tuệ đầy tính nhạy bén của trực cảm tâm linh. Một cái thấy chung không thể có được bằng áp đặt mà chủ yếu là có được bằng cách cùng rèn luyện một năng lực chung của tư duy thị giác. Có thể chăng, chính nhờ cái năng lực tư duy thị giác sắc bén này mà các nhà vật lý tài ba của thời đại chúng ta nhìn thấu được nhiều “sự thật” kỳ ảo trong thế giới vi mô của vật chất; và cùng với các nhà vật lý, nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau bắt đầu nhìn thấy những bất định và hỗn độn khởi nguồn từ trong thế giới tất định, để rồi nhìn thấy nhiều trật tự mới, nhiều tổ chức mới của sự sống nẩy sinh từ trong vô vàn những tương tác “ở bên bờ hỗn độn” trong quá trình phức tạp của tiến hóa. Và trong thời đại chúng ta, hy vọng sẽ gần đến lúc mà cánh cửa bí ẩn để đi vào đời sống tâm linh cũng sẽ hé mở trước năng lực của tư duy thị giác đó…  Ta cần nhìn gì và ta muốn thấy những gì, sẽ còn là câu hỏi muôn đời của cuộc sống. Đời là một cuộc thám hiểm bất tận, mà hành trang cho cuộc thám hiểm đó ở mỗi con người luôn luôn phải là một đôi mắt mới. Hãy để cho mỗi người tự chăm lo cho đôi mắt mình luôn được đổi mới, và được tự nhìn thế giới bằng chính đôi mắt luôn đổi mới đó. Và tất nhiên, hãy để cho những điều thú vị nhìn thấy được từ những đôi mắt đó tự do trao đổi với nhau, góp phần tạo nên vẻ đẹp giàu có chung của cuộc đời.      Phan Đình Diệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhỏ mà đẹp      Bài này nằm trong loạt bài về xã hội dân sự đã đăng hai kỳ trên tạp chí Tia Sáng. Thông qua kinh nghiệm hoạt động của một tổ chức phi chính phủ trong các cộng đồng dân cư, tác giả đưa ra ví dụ về cách thức các nhóm cộng đồng và các tổ chức xã hội liên kết mạng lưới để tạo ra thay đổi và nâng cao chất lượng môi trường sống.    Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị (ACCD) là một tổ chức phi chính phủ Việt Nam được đăng ký thành lập vào năm 2006 tại Liên hiệp các tổ chức KH&CN Việt Nam. ACCD hoạt động trong các mảng cải thiện không gian công cộng, phát triển nông nghiệp hữu cơ, và thúc đẩy phong trào Sống xanh trong các cộng đồng dân cư. Các sáng lập viên của ACCD là các nhà hoạt động xã hội quan tâm đến chất lượng sống trong đô thị và mong muốn tạo sự thay đổi từ các phong trào của cộng đồng dân cư.    Từ nhóm đến Câu lạc bộ  Từ tháng 1/2009, ACCD bắt đầu thực hiện dự án Nâng cao năng lực các cộng đồng dân cư tại bốn phường ở Hà Nội1 được bắt đầu từ những nhóm Sống xanh sinh hoạt tại các cụm dân cư. Mỗi nhóm có từ 8 đến 10 thành viên, gặp gỡ thường xuyên để trao đổi và giúp nhau tiết kiệm điện, gas, nước, tái sử dụng rác thải và chăm sóc sức khỏe. Các nhóm sau đó tập hợp nhau lại và thành lập CLB Sống xanh của phường, nơi khởi xướng các sáng kiến nhỏ tại địa phương như nâng cấp nhà văn hóa, sử dụng các khu đất trống làm vườn rau, cải thiện sân chơi cho trẻ em, lát gạch sân tập thể dục của người già, thu gom rác tái chế để bán lấy tiền quỹ… Những bài học rút ra được ghi chép lại và chuyển tới chính quyền và doanh nghiệp ở địa phương cũng như các tổ chức khác để vận động sự hỗ trợ của họ2.  Sau 5 năm hoạt động, tính đến đầu năm 2014 trên địa bàn Hà Nội đã có bảy CLB Sống xanh. Phong trào Sống xanh cũng đã lan tỏa đến Huế, Đà Nẵng, Hội An và TP. Hồ Chí Minh với hơn 10 nghìn hộ gia đình tham gia. Cách thức hoạt động của các nhóm Sống xanh rất linh hoạt, các thành viên gặp nhau vào thời gian rảnh rỗi, tại nhà văn hóa khu dân cư hay tại nhà chính các thành viên. Trong mỗi cuộc họp, cả nhóm cùng tìm hiểu cách thức Sống xanh từ các tài liệu hướng dẫn và lập danh sách những hành động cụ thể cho gia đình mình. Đến kỳ họp sau, cả nhóm cùng tổng kết, chia sẻ kinh nghiệm, và thảo luận các hành động mới. Các hướng dẫn viên cộng đồng sẽ theo dõi kết quả và công bố cho các thành viên những con số cụ thể như lượng điện, nước và gas đã tiết kiệm được, lượng rác thải hữu cơ đã được ủ, lượng túi ni-lông đã giảm được, lượng các sản phẩm sạch được tiêu thụ… Nhiều hành động không chỉ dừng lại ở từng hộ gia đình mà cần được thực hiện ở cấp độ cộng đồng, và các thành viên nhận ra nhu cầu hợp tác (cùng đóng góp tiền bạc và công sức để thực hiện), thậm chí huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài. Khi đó, ACCD có thể hỗ trợ một số vốn nhỏ mang tính đối ứng. Khác với các phong trào có chỉ đạo từ trên xuống, các hoạt động Sống xanh xuất phát từ nhu cầu và sáng kiến của cộng đồng. Có những nơi chính quyền địa phương ủng hộ các hoạt động của CLB Sống xanh một cách tích cực và phối hợp nguồn lực. Có những nơi chính quyền địa phương không vào cuộc, thậm chí gây khó khăn cho hoạt động của các thành viên CLB. Tuy nhiên các thành viên Sống xanh thường linh hoạt tìm cách thực hiện được mong muốn của mình.  Nguyên tắc hợp tác  Tùy vào địa bàn khác nhau mà ACCD chọn làm việc với đối tác khác nhau. Có nơi đối tác là Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, có nơi là đại diện khu dân cư. Quan hệ đối tác này rất quan trọng, làm cơ sở cho việc chính thức hóa các hoạt động của CLB Sống xanh trong cộng đồng. Các CLB được sử dụng cơ sở vật chất của phường là địa điểm hội họp hoặc thực hiện hoạt động, và trong một số trường hợp đã huy động được tiền từ nguồn ngân sách địa phương. Khi làm việc với đối tác ở địa phương, ACCD áp dụng quy trình gồm bốn bước.  – Bước 1: Áp dụng mô hình Sống xanh ngay tại tổ chức. Ở bước này, đối tác sẽ thực hiện thử chương trình ngay tại nơi làm việc. Ví dụ Hội Phụ nữ phường sẽ áp dụng các hoạt động Sống xanh ngay tại công sở, như tiết kiệm điện, nước, giấy và mực in; phân loại rác thải tại nơi làm việc; giảm thiểu sử dụng văn phòng phẩm… Bước này rất quan trọng, vì ACCD có thể đánh giá được năng lực và cam kết của đối tác.   – Bước 2: Đánh giá nhu cầu cộng đồng: ACCD cùng đối tác đánh giá nhu cầu cộng đồng. Tùy từng nơi, người dân quan tâm nhiều đến vấn đề rác thải, không gian công cộng ở khu dân cư, chất lượng nước sinh hoạt, hay ô nhiễm môi trường…  – Bước 3: Áp dụng mô hình tại cộng đồng. Sau khi xác định nhu cầu và mối quan tâm chính của cộng đồng, ACCD hỗ trợ đối tác cải biến mô hình cho phù hợp với nhu cầu của người dân. Ví dụ, nếu người dân quan tâm đến vấn đề rác thải thì các buổi sinh hoạt của các nhóm Sống xanh sẽ ưu tiên cho chủ đề này. ACCD cung cấp cho đối tác các tài liệu, tư liệu phục vụ cho các buổi sinh hoạt, đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ của đối tác địa phương.  – Bước 4: Triển khai rộng tại cộng đồng. Trong giai đoạn này, khi các nhóm Sống xanh đầu tiên ra đời và cộng đồng hưởng ứng, ACCD sẽ đào tạo các hướng dẫn viên tại cộng đồng để hỗ trợ các nhóm. Ngoài ra, ACCD hỗ trợ đối tác các kỹ năng vận động nguồn lực từ người dân, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp địa phương, và các quỹ tài trợ.    Kinh nghiệm xây dựng các mạng lưới bền vững  Dự án nâng cao năng lực cộng đồng dân cư cho thấy, ngay trong những bối cảnh khó khăn như ở Hà Nội thì người dân vẫn có thể tập hợp để cùng nhau hành động và một tổ chức nhỏ như ACCD vẫn có thể tạo ra sự thay đổi khi hợp tác với các bên khác. Bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong hộ gia đình, sau đó là những thay đổi ở khu dân cư, và cuối cùng là kết nối những sáng kiến nhỏ để tác động đến chính sách. Một tổ chức nhỏ làm việc tại cộng đồng có thế mạnh là bám sát thực tiễn, thu thập thông tin, sát cánh cùng người dân để hành động.   Khi làm việc tại các cộng đồng dân cư, yếu tố quan trọng nhất là xây dựng lòng tin của người dân, chính quyền địa phương và các bên liên quan khác. ACCD đã trở thành người đồng hành với người dân, chia sẻ các kinh nghiệm về Sống xanh, hướng dẫn và giúp họ huy động nguồn lực cho các sáng kiến của cộng đồng. Trong con mắt của chính quyền địa phương, tuy là tổ chức nhỏ nhưng ACCD có khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau và mang lại hiệu quả thiết thực. Quá trình xây dựng niềm tin này đã nới rộng không gian chính trị cho các nhóm tự quản của người dân để hoạt động vì lợi ích chung.   Yếu tố quyết định khi xây dựng một phong trào xã hội là phải bắt đầu từ những hành vi tích cực của mỗi cá nhân. Nếu chỉ tác động đến cấp chính quyền để thay đổi chính sách thì vẫn là sự áp đặt từ trên xuống. Quá trình nâng cao năng lực của cộng đồng thường lâu dài và phức tạp hơn nhưng cũng bền vững hơn. Ví dụ có những tổ chức đã thành công trong việc thay đổi chính sách của thành phố đối với việc phân loại rác thải, tuy nhiên cộng đồng vẫn chưa hình thành thói quen này, và vì vậy chính sách không áp dụng được vào thực tiễn. Thuật ngữ chuyên môn gọi là mô hình hướng vào chủ thể hành động: thay vì chú trọng đến các yếu tố bên ngoài tác động đến cá nhân, thì trọng tâm ở đây là làm thế nào để mỗi cá nhân có thể tác động đến hoàn cảnh bên ngoài3. Mỗi thay đổi nhỏ đều tạo ra trong mỗi người sự tự tin để dẫn đến đến những hành động tiếp theo, ở quy mô lớn hơn.  Cách tiếp cận này không có nghĩa là bỏ qua các cải thiện về cơ sở hạ tầng. Người dân có thói quen phân loại rác thải, thì thành phố cần xây dựng các cơ sở xử lý và tái chế rác. Tuy nhiên những đầu tư về hạ tầng đòi hỏi ngân sách lớn và quyết định ở cấp cao. ACCD chọn chiến lược tập trung vào những hành động nhỏ cấp địa phương, để người dân trực tiếp nhận ra những thay đổi và có niềm tin để tiếp tục hành động.   Hoạt động của ACCD có tính đến kinh nghiệm vận động quần chúng của các tổ chức đoàn thể. Khi bắt đầu làm việc tại một cộng đồng dân cư mới, ACCD đã phối hợp với các đoàn thể địa phương, tuy nhiên ACCD chỉ đưa ra các hướng dẫn chung và tạo điều kiện để các nhóm khác nhau thiết kế các hoạt động đa dạng, phù hợp nhất với nhu cầu và điều kiện của mình. Phần lớn người dân trong các cộng đồng dân cư đã từng tham gia phong trào do các tổ chức đoàn thể thực hiện. Điều này vừa có lợi vừa là thách thức. Điều có lợi là người dân không còn xa lạ với các hành động tập thể như làm vệ sinh khu dân cư, góp tiền ủng hộ các phong trào địa phương… Tuy nhiên kinh nghiệm tham gia vào các phong trào này làm người dân trở nên hoài nghi hơn, và đặc biệt khi nghe đến nhóm Sống xanh họ nghĩ ngay đến các phong trào công thức, dập khuôn và mang nặng tính tuyên truyền mà ít tính thực tiễn. Tuy nhiên khi đã tham gia vào sáng kiến nhỏ ở khu dân cư, với nguyên tắc tự nguyện và làm từ việc nhỏ đến việc lớn, người dân nhận ra rằng các hoạt động này thật sự đem lại hiệu quả đối với các hộ gia đình và cộng đồng.  Nếu xây dựng niềm tin là yếu tố quan trọng nhất khi làm việc ở cấp cộng đồng thì xây dựng mạng lưới là yếu tố quan trọng nhất để nhân rộng tác động. Mạng lưới Sống xanh bao gồm các nhóm và các CLB ở cộng đồng thuộc nhiều thành phố khác nhau, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, và cá nhân đến từ các ngành chuyên môn khác nhau. Sự đa dạng về thành phần của mạng lưới tạo cơ hội cho sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm. Tại Huế và TP Hồ Chí Minh, ACCD phối hợp với các tổ chức phi chính phủ. Tại Hội An và Đà Nẵng đối tác chính của mạng lưới Sống xanh là Hội Phụ nữ. Tại Hà Nội, đối tác bao gồm cả các cơ quan trung ương và các nhóm sinh viên tình nguyện. Các đối tác khác nhau có các cách thức khác nhau để lan tỏa phong trào, và ACCD hỗ trợ họ về chuyên môn và tài liệu. Kinh nghiệm hoạt động của ACCD cho thấy trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể tìm ra cơ hội để cùng cộng đồng hành động, thay vì thụ động chờ đợi Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và thay đổi chính sách.  Trong mạng lưới Sống xanh, ngoài các nhóm và tổ chức cộng đồng còn có nhiều nhà chuyên môn về quy hoạch, quản lý đô thị và môi trường, các cá nhân có uy tín thường xuất hiện trên các diễn đàn xã hội, và các cá nhân có mối liên hệ với chính quyền và giới truyền thông. Mặc dù trọng tâm của phong trào Sống xanh là các hành động nhỏ trong từng hộ gia đình và từng khu dân cư, nhưng sự hợp tác với giới chuyên môn cũng có nhiều tác động tích cực. Mạng lưới tuy có liên kết lỏng lẻo, nhưng các thành viên có thể đóng góp các thế mạnh và các mối quan hệ có lợi cho phong trào. Mạng lưới không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ với một vài cá nhân quyền lực, mà ngược lại đã xây dựng được nhiều mối quan hệ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn khác nhau. Đây là nền tảng để mạng lưới hoạt động bền vững4.  Truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về Sống xanh. Việc báo đài đưa tin giúp chương trình được chính quyền địa phương tin tưởng hơn và giúp cho quá trình lan tỏa đến các địa phương mới dễ dàng hơn.   Mô hình hoạt động cấp cộng đồng và liên kết mạng lưới của ACCD sẽ được mở rộng nhanh chóng nếu có sự hỗ trợ của chính quyền. Tuy nhiên việc mở rộng nhanh chóng cũng chứa đựng nhiều thách thức. Nhiều dự án triệu đô với nguồn nhân lực là các chuyên gia cao cấp và đại diện từ các cơ quan nhà nước vẫn thất bại vì thiếu quá trình nâng cao năng lực và kết nối cộng đồng. Có những yếu tố tưởng chừng không quan trọng, như mối quan hệ giữa các cá nhân chủ chốt ở cộng đồng, lại quyết định sự thành bại của dự án. Một đối tác đã chia sẻ: “Chúng tôi có thể hoạt động dù không có kinh phí và không có hỗ trợ từ bên ngoài. Nhưng nếu mâu thuẫn và mất đoàn kết giữa các thành viên thì không thể làm được việc gì”.  Kinh nghiệm của ACCD cho thấy luôn luôn tồn tại các cơ hội và không gian cho các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực xã hội cũng như môi trường. Thay vì chờ đợi sự thay đổi từ phía Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ có thể và cần phải nới rộng các không gian hoạt động cho chính mình. Ở Việt Nam cũng như ở bất cứ nơi nào trên thế giới, các thách thức về môi trường và xã hội sẽ ngày càng lớn. Tùy chúng ta chọn cách hành động, hoặc là thụ động hoặc là chủ động hợp tác với các bên và thử nghiệm các giải pháp từ nhỏ đến lớn.   Đọc thêm:  * Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7654  * Những người mở đường hợp tác  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7659     —-  * Giám đốc Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị  1 Bốn phường ở Hà Nội bao gồm phường Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm), Giáp Bát (quận Hoàng Mai), Hạ Đình và Thượng Đình (quận Thanh Xuân). Chương trình Sống xanh ở Việt Nam được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của tổ chức Global Action Plan International – một mạng lưới quốc tế hoạt động vì môi trường và có trụ sở tại Thụy Điển. ACCD đã nhận được tiền tài trợ từ Cơ quan Viện trợ Ireland (Irish Aid) để thực hiện dự án tại Hà Nội.  2 Nội dung của bài báo được trích dẫn từ bài “Phong cách sống bền vững ở các thành phố của Việt Nam” của Đặng Hương Giang và Andrew Wells-Dang (2014) xuất bản trong cuốn “Xây dựng những cộng đồng bền vững: nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn: Sách hướng dẫn dành cho khu vực Đông Nam Á” do Lianda Brennan và cộng sự biên tập, NXB ĐH Tilde ấn hành.  3 B. Fay, Tư tưởng đương đại trong khoa học xã hội: cách tiếp cận đa văn hóa. (1996). Cambridge, MA: Blackwell, trang 242.  4 Đặng Hương Giang, “Hành động cộng đồng dân cư Hà Nội nhằm bảo vệ môi trường”, tham luận đọc tại hội thảo Vietnam Update tháng 11/2011 tại Đại học Quốc gia Úc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bãi đá nam châm: Đánh giá các chiến lược pháp lý của Trung Quốc tại Biển Đông Nam Á*      Trong bài viết đánh giá chiến lược pháp lý  của các nước tuyên bố chủ quyền tại vùng biển Đông Nam Á, tác giả Sean  Mirski xem xét chiến lược của Trung Quốc đã được thúc đẩy như thế nào  bởi những nguyện vọng đầy mâu thuẫn là vừa giữ gìn ổn định khu vực lại  vừa củng cố quyền kiểm soát trên toàn bộ Biển Đông Nam Á.       Từ nhiều thế kỷ trước, ngư dân Trung Quốc (TQ) đã gọi các hòn đảo ở vùng Biển Đông Nam Á Nam là “những bãi đá nam châm” – một tên gọi ám chỉ những lực lượng kỳ lạ luôn lôi kéo những tàu có số phận không may mắn đến những bãi cát ngầm ở đây. Tuy nhiên, ngày nay thì vùng Biển Đông Nam Á lại lôi kéo sự chú ý mọi người vào một vấn đề khác. Trong sáu thập kỷ qua, vùng biển này đã trở thành trung tâm của một tình trạng rối loạn về địa chính trị bị thúc đẩy bởi quan hệ chính trị giữa các siêu cường, chủ nghĩa dân tộc độc hại, và trữ lượng dầu khí dồi dào. Sáu bên khác nhau – Brunei, TQ, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam – đã liên tục tranh chấp lãnh thổ với nhau trên các hòn đảo nằm trên Biển Đông Nam Á và cả vùng biển xung quanh các hòn đảo này nữa.   Trong sáu nước tranh chấp lãnh thổ nói trên, TQ đã trở thành đối thủ nặng ký nhất. Đây là quốc gia rộng lớn và hùng mạnh nhất, và nó cũng đưa ra những yêu sách mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, hành vi của Bắc Kinh không phải lúc nào cũng phản ánh sức mạnh và tham vọng phát triển của nó. Thay vào đó, chiến lược của TQ phức tạp hơn, được hình thành chủ yếu bởi mong muốn duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực trong khi vẫn tiếp tục thúc đẩy những yêu sách có tính chất bành trướng của Bắc Kinh.  Tình thế lưỡng nan này đã khiến TQ nhấn mạnh việc trì hoãn đối với giải quyết xung đột, và điều này được chứng minh một cách rõ ràng nhất trong chiến lược pháp lý của nó. Nhưng chiến lược này gần đây ngày càng trở nên không còn phù hợp trong những năm gần đây khi TQ trở thành nạn nhân của sự thành công của chính mình. Các bên cùng tranh chấp đã nhận ra sự nguy hiểm của việc chơi theo các quy tắc của TQ, vì vậy họ đã đáp lại chiến lược trì hoãn của TQ bằng một tư thế chủ động hơn nhằm thúc đẩy Bắc Kinh phải ngưng cách ứng xử lòng vòng để đối mặt trực tiếp với tình thế lưỡng nan của nó. TQ cố gắng đáp ứng, và phản ứng của nó đã gây căng thẳng trong khắp khu vực khi nó không lường trước những tính toán của các đối thủ. Khi cuộc tranh chấp leo thang, TQ có thể sẽ cảm thấy áp lực phải từ bỏ chiến lược trì hoãn của mình và tìm kiếm một cách giải pháp nhanh chóng hơn cho cuộc xung đột này, như các sự kiện đang diễn ra bắt đầu bộc lộ.    Các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn của TQ   Trỗi dậy hòa bình     Để hiểu rõ tình trạng khó khăn của Bắc Kinh, hãy xem xét các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn của nó. Một mặt, TQ tìm cách kéo dài chuỗi tăng trưởng nhiều thập kỷ của mình. Các số liệu thống kê quen thuộc: nền kinh tế quốc gia phát triển với tốc độ trung bình hàng năm gần 10% trong ba mươi lăm năm vừa qua, và trong thời gian đó kích thước của nền kinh tế của nó đã có 5 lần tăng trưởng gấp đôi. Ngay cả khi tăng trưởng chậm phần nào trong thời gian tới, thì nền kinh tế TQ vẫn có khả năng – và gần như là chắc chắn – sẽ vượt qua nền kinh tế của Mỹ trong một tương lai không xa nữa.   Nhưng, xét về địa chính trị, sự tăng trưởng của TQ là tương đối khác thường. Thay vì tuân theo quy luật biện chứng của Charles Tilly là “tạo nhà nước” Charles Tilly và “tạo chiến tranh,” Bắc Kinh lại tham dự vào cái trật tự kinh tế tự do quốc tế. Khi nhìn lại, quyết định này đã chứng minh lời tiên tri: TQ bắt đầu khởi sắc kể từ khi nó kết nối vào nền kinh tế toàn cầu hóa do Mỹ đứng đầu.  Tuy nhiên, sự phụ thuộc lẫn nhau trong kinh tế quốc tế chẳng phải đã xảy ra trong một khoảng chân không. Để có thể tạo ra những kết quả thần kỳ về thương mại, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế đòi hỏi phải có một môi trường bên ngoài tương đối yên bình. Các cuộc xung đột có thể phá vỡ các mối quan hệ kinh tế vốn là trung tâm của một hệ thống thương mại mở và tách TQ ra khỏi các đối tác thương mại quan trọng, ngay cả khi bản thân Bắc Kinh đã tránh không dính líu. Tồi tệ hơn cả là bất kỳ một cuộc xung đột nào trong khu vực cũng có thể mở ra cho Mỹ thêm nhiều quyền lực chính trị và quân sự trong khu vực – là mối đe dọa đối với tham vọng chiếm ưu thế lâu dài trong khu vực (nếu không phải là sự thống trị ).  Để tiếp tục phát triển, TQ cần có một châu Á ổn định và hòa bình. Đó là lý do tại sao các nhà lãnh đạo TQ đã nhiều lần tuyên bố chính sách của họ về một “sự trỗi dậy hòa bình” hoặc “phát triển hòa bình”. Đây không chỉ là lời nói suông: Trong ba thập kỷ qua, Bắc Kinh đã giải quyết nhiều cuộc tranh chấp biên giới; tham gia vào các hoạt động ngoại giao khéo léo trong khu vực; tích cực tham gia vào các tổ chức chính phủ trong khu vực và quốc tế; và ký kết hiệp định thương mại các bên cùng có lợi trên toàn thế giới. Quả thật, chẳng có gì ngạc nhiên khi TQ cũng đã hành xử khá ổn trong lĩnh vực quân sự: cuộc chiến tranh cuối cùng mà nó tham gia là từ năm 1979, kể từ đó nó chỉ tham gia vào một cuộc giao tranh nhỏ ở Biển Đông Nam Á (đảo Gạc Ma năm 1988). Nói vắn tắt, TQ đã cố gắng trở thành một công dân tốt của khu vực, tất cả nhằm phục vụ cho tham vọng kinh tế của nó.  Kiểm soát Biển Đông     Nhưng trong khi tham vọng lâu dài của Bắc Kinh khiến nó phải kiềm chế, thì mục tiêu gần hơn của nước này – trong đó có mục tiêu dành chủ quyền trên Biển Đông Nam Á – lại lôi kéo quốc gia này đi về hướng khác. Trong thế giới lý tưởng mà Bắc Kinh mong muốn, TQ bây giờ phải là chủ thể không tranh cãi của Biển Đông Nam Á.   Bắc Kinh tìm cách kiểm soát Biển Đông Nam Á để quản lý các mối đe dọa về an ninh quốc gia và thúc đẩy các mục tiêu kinh tế của nó. Biển đảo là đại diện cho một lỗ hổng chiến lược đối với TQ, vì đó là con đường xâm lăng trong lịch sử và là một mối đe dọa hiện nay về an ninh năng lượng và một nền kinh tế định hướng xuất khẩu. Kiểm soát Biển Đông Nam Á còn cung cấp nhiều lợi ích hữu hình. Vùng biển có trữ lượng cá dồi dào, là trụ cột của nhiều nền kinh tế trong khu vực. Dưới đáy đại dương, thậm chí còn có những tài sản có giá trị hơn đang chờ đợi. Mặc dù các chuyên gia có ý kiến khác nhau về độ lớn của những của cải tiềm tàng dưới đáy biển, tất cả đều đồng ý rằng ở đó có đủ dầu mỏ và khí tự nhiên để khiến cho bất kỳ quốc gia nào có biên giới sát bên đều mong muốn chiếm hữu.   Những yêu cầu chiến lược này được củng cố bởi tình hình chính trị trong nước của TQ. Tranh chấp hàng hải đã trở nên gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa dân tộc của TQ. Kết quả là, Biển Đông Nam Á không chỉ có ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ, mà còn xác định căn tính của TQ với tư cách là một quốc gia. Và vấn đề còn phức tạp hơn nữa, khi hành động rút lui khỏi bất kỳ tuyên bố nào của TQ cũng có thể gợi lại hình ảnh bất lợi về sự yếu kém của TQ dưới bàn tay của các đế quốc hung hãn trong “thế kỷ sỉ nhục” của đất nước này. Vì vậy, ngay cả khi các nhà lãnh đạo TQ thiên về việc rút lui các tuyên bố của TQ ở Biển Đông Nam Á, họ vẫn sẽ không thể làm như vậy do các phản ứng dữ dội không thể tránh khỏi trong nước. Thay cho sự thỏa hiệp, Bắc Kinh cảm thấy ngày càng bị áp lực bởi một công chúng đầy tinh thần của chủ nghĩa dân tộc để phải hành động quả quyết trong quan hệ với các bên tranh chấp khác.  Tình thế lưỡng nan của TQ  Như vậy, các lợi ích chiến lược của TQ thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Một mặt, Bắc Kinh muốn giải quyết cuộc tranh chấp trên Biển Đông Nam Á một cách nhanh chóng và hòa bình nhất có thể. Cuộc tranh chấp đã cản trở việc hội nhập khu vực sâu rộng hơn, và trong những năm gần đây, TQ đã nổi tiếng vì các hành vi hiếu chiến làm nguội lạnh đi các mối quan hệ trong khu vực. Tuy nhiên, mặt khác thì TQ cũng không hề muốn bỏ mất quyền kiểm soát một khu vực chiến lược quan trọng như vậy. Vả lại, TQ cũng chẳng thể làm gì khác trước một công chúng đầy tinh thần dân tộc chủ nghĩa và đầy hiếu chiến luôn nghi ngờ bất kỳ hành vi nhượng bộ hoặc yếu đuối nào từ phía nhà cầm quyền của họ. Nói ngắn gọn, TQ có thể cố gắng giải quyết tranh chấp thông qua việc hoặc thỏa hiệp hoặc xâm lược, nhưng chẳng có lựa chọn nào là hấp dẫn cả.  Vì vậy, thay vì cố gắng giải quyết xung đột, Bắc Kinh đã né tránh và áp dụng chiến lược trì hoãn. Bị kẹt giữa các lợi ích chiến lược trái ngược nhau, TQ đã tìm cách duy trì một mức độ kiểm soát vừa đủ sao cho có thể bảo vệ yêu sách của mình mà không tạo ra sự khống chế quá lớn khiến những người cùng tranh chấp trở nên lo ngại. Vì vậy, trong khi TQ sẽ luôn bảo vệ yêu sách của mình đối với sự “xâm lược” của các quốc gia khác, nước này thường cố giữ không làm thay đổi tình trạng hiện tại. Tất nhiên, chiến lược trì hoãn cũng nhằm tận dụng sức mạnh lớn nhất của TQ: một siêu cường đang mở rộng và một quỹ đạo tăng trưởng lâu dài. TQ cần gì phải cố gắng giải quyết xung đột vào lúc này, khi vị thế trong cuộc đàm phán của họ luôn được cải thiện cứ sau mỗi quý trong năm tài chính?  Chiến lược pháp lý của TQ trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông Nam Á  Nếu cần tìm một ví dụ tốt nhất của chiến lược trì hoãn để hiểu cách hoạt động của nó, chỉ cần nhìn vào chiến lược pháp lý của TQ. Chiến lược này là sự kết hợp một cách cẩn thận giữa một bên là nội dung pháp lý của các tuyên bố và bên kia là các chiến thuật đàm phán, tất cả đều nhằm mục đích bảo tồn nguyên trạng trong khi vẫn duy trì sự diễn giải linh hoạt tối đa trong tương lai.  TQ đã bám chặt lấy cách diễn giải mơ hồ như một trụ cột quan trọng của chiến lược pháp lý của mình. Ngay cả cho đến nay, sau nhiều thập kỷ tranh cãi, phạm vi các yêu sách của TQ vẫn chưa rõ ràng. Trong thực tế, TQ chỉ mới khuấy động vùng biển trong những năm gần đây khi nó chính thức đưa ra “đường chín đoạn” đầy tai tiếng. Trong năm 2009, Malaysia và Việt Nam đã nộp bộ hồ sơ chung đến cơ quan của Liên Hợp Quốc nhằm xác định ranh giới bên ngoài của các tuyên bố thềm lục địa của mình. Ngay ngày hôm sau TQ đã đáp trả bằng với một văn bản phản đối tuyên bố của hai nước nói trên. Bản lưu ý của phía TQ khẳng định, một cách khá mập mờ, rằng ” TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông Nam Á và các vùng biển lân cận, và được hưởng chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như thềm lục địa và cả lòng đất ở dưới đáy (xem bản đồ đính kèm).” Tấm bản đồ đính kèm cho thấy một đường chín đoạn bắt đầu từ bờ biển của TQ và bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông Nam Á. Kể từ đó, các quốc gia và các nhà bình luận cũng như đã tự hỏi, nếu quả thật đường chín đoạn có ý nghĩa gì đó, thì thực ra nó chỉ cái gì vậy? Có vẻ như đã khá rõ ràng rằng TQ tuyên bố chủ quyền với tất cả mọi quần đảo nằm trong ranh giới mênh mông của đường chín đoạn. Tuy nhiên, điều vẫn chưa được làm rõ là phải chăng đường chín đoạn ấy cũng đồng thời tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ vùng biển được bao quanh bởi đường chín đoạn ấy.  Đòi hỏi điều này sẽ là một sự vi phạm trắng trợn các nghĩa vụ quốc tế của phía TQ. Theo luật pháp quốc tế, các quốc gia bị ràng buộc bởi nguyên tắc “la terre domine la mer” (đất thống trị biển), tức nguyên tắc chủ quyền đối với vùng biển phải xuất phát từ chủ quyền đối với gần đất, chứ không phải là ngược lại. Phù hợp với nguyên tắc này, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cho phép các quốc gia kiểm soát vùng biển quốc nội chỉ trong một khoảng cách nhất định tính từ lãnh thổ có chủ quyền của họ. Ngay cả dưới cách diễn giải rộng rãi nhất đối với UNCLOS, thì Bắc Kinh cũng không thể đòi hỏi chủ quyền hợp pháp nhằm kiểm soát phần lớn vùng biển được bao bọc bởi đường chín đoạn.  Thay vào đó, nhà cầm quyền TQ đã cố tình áp dụng chính sách luật pháp mơ hồ có chủ ý về phạm vi tuyên bố của mình. Sự “mơ hồ chiến lược” chỉ là một khía cạnh của chiến lược lớn hơn của TQ – chiến lược trì hoãn. Đường chín đoạn tạo ra các không gian pháp lý cho cách giải thích mở rộng hơn các yêu sách của TQ trong tương lai, nhưng nó không đòi hỏi phải diễn giải rõ ràng ngay lúc này. Kết quả là, TQ duy trì tính linh hoạt trong thời gian dài trong khi vẫn tránh được các chi phí ngắn hạn của việc thúc đẩy các yêu sách không thực tế. Tất nhiên, ngay cả với chính sách áp dụng sự mơ hồ chiến lược cũng có chi phí của nó –TQ đã bị chỉ trích khắp nơi vì dựa vào đường chín đoạn, mà gần đây là sự chỉ trích của Hoa Kỳ. Nhưng sự sẵn sàng chấp nhận các chi phí này của TQ là bằng chứng mạnh mẽ nhất cho sự miễn cưỡng của quốc gia này trong việc lựa chọn dứt khoát một chính sách hoặc là thỏa hiệp hoặc là xâm lược.     (Còn tiếp một kỳ)    Vũ Thị Phương Anh dịch  Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/magnetic-rocks-assessing-chinas-legal-strategy-the-south-10481?page=2  * Bản gốc tiếng Anh sử dụng từ South China Sea, tiếng Việt dịch là Biển Đông, nhưng chúng tôi chọn cách dịch ra là Biển Đông Nam Á, một cách gọi đã từng được đề nghị bởi một số tổ chức, để cổ vũ cho sự hợp tác của Đông Nam Á chống lại một Trung Quốc hung hãn xâm lăng. Ví dụ về cách gọi này có thể tìm thấy ở các trang sau đây: http://www.nippon-foundation.or.jp/en/what/projects/protecting_the_asean_sea/; http://koreanewsonline.blogspot.com/2012/05/southeast-asian-sea-asean-sea-to.html#.U3r4A9J_t9U      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bãi đá nam châm: Đánh giá các chiến lược pháp lý của Trung Quốc tại Biển Đông Nam Á* (Tiếp theo và hết)      Nhà cầm quyền TQ đã cố tình áp dụng chính  sách luật pháp mơ hồ có chủ ý về phạm vi tuyên bố của mình. Sự “mơ hồ  chiến lược” chỉ là một khía cạnh của chiến lược lớn hơn – chiến lược trì  hoãn. Chiến lược trì hoãn của TQ cũng ảnh hưởng đến cách thức TQ thương  lượng các yêu sách về pháp lý.     Trước hết, TQ đã cố gắng hết sức mình để tránh không chịu giải quyết xung đột. Trong khi đã chính thức cam kết tiến trình giải quyết một cách hòa bình, trên thực tế Bắc Kinh lại không ngừng cổ vũ cho chính sách “cùng phát triển”, theo đó các bên tranh chấp nên trì hoãn việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền cho đến khi các điều kiện “chín muồi”. Trong khi chờ đến lúc đó, tất cả các bên nên làm việc cùng nhau để phát triển các nguồn tài nguyên trên Biển Đông Nam Á. Mặc dù phương pháp này hầu như chẳng dụ dỗ được ai, nó vẫn cho phép TQ tránh được tình trạng lưỡng nan của mình khi được áp dụng: Bắc Kinh có thể thúc đẩy hòa bình trong khu vực trong khi không ngừng khai thác nguồn tài nguyên biển và duy trì tuyên bố chủ quyền của mình.  Một chiến thuật đàm phán khác là việc Bắc Kinh luôn đòi hỏi giải quyết tranh chấp trên Biển Đông Nam Á bằng con đường song phương. Theo sự khôn ngoan thông thường, TQ muốn thương lượng tay đôi chứ không muốn đàm phán đa phương bởi vì TQ có thể dễ dàng dùng sức mạnh của mình để chiếm ưu thế khi chỉ có một đối tác đàm phán duy nhất. Nhưng đàm phán song phương cũng đem lại một lợi ích khác mà có lẽ còn quan trọng hơn: chúng cho phép Bắc Kinh kiểm soát tốc độ đàm phán. Ngược lại, các cuộc đàm phán đa phương khiến các bên tranh chấp khác dễ thỏa thuận với nhau để buộc TQ phải hành động. Ngay cả khi đã không thể ngăn chặn các bên khác có thỏa thuận riêng, thì TQ cũng đã cản trở tiến trình thương lượng bằng cách thu phục từng quốc gia riêng lẻ và lợi dụng sự chia rẽ nội bộ.    Chiến lược pháp lý của TQ ngày càng tỏ ra không còn phù hợp  Trong nhiều năm, cách phản ứng của TQ tỏ ra rất hiệu quả. Từ giữa thập niên 1990 đến đầu thập niên 2000, TQ và các bên tranh chấp khác ưu tiên tôn trọng luật pháp quốc tế và ngoại giao trong cả lời nói và hành động. Tuy nhiên, vào giữa những năm 2000, các bên tranh chấp khác – đặc biệt là Việt Nam và Philippines – đã nhận ra rằng họ đang thua cuộc trong chiến lược trì hoãn của TQ. Nếu họ chơi theo các điều kiện của TQ, họ sẽ tiếp tục thua. Vì vậy, họ đã thay đổi các quy tắc của trò chơi.  Các bên đã tiếp tục sử dụng những lời lẽ như trước đây, nhưng những hành vi bên dưới những lời lẽ này đã bắt đầu thay đổi. Thay vì nhấn mạnh nội dung của luật, các bên tranh chấp nhỏ hơn – đặc biệt là Philippines và Việt Nam – đã hoàn thiện một chiến lược mới nhưng vô cùng nguy hiểm: Buộc TQ phải đối đầu với tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chính mình. Manila và Hà Nội đều biết rằng họ không thể hy vọng buộc được phía TQ phải từ bỏ các yêu sách của mình, nhưng họ tính toán rằng họ có thể ép TQ có những nhượng bộ đáng kể, miễn là Bắc Kinh vẫn tiếp tục dao động giữa hai chủ trương xâm lược và thỏa hiệp. Vì thế, trong thập kỷ vừa qua, Philippines và Việt Nam đã cố gắng gây áp lực lên phía TQ bằng cách thay đổi thực tế tại hiện trường và quốc tế hóa cuộc xung đột. Bằng cách áp dụng một tư thế chủ động hơn, hai nước này hy vọng rằng TQ sẽ bị buộc phải đưa ra một quyết định rõ ràng – hoặc phản ứng cứng rắn – và sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chiến lược tăng trưởng về dài hạn của nước này – hoặc chấp nhận nhượng bộ một số điểm trong tranh chấp. Philippines và Việt Nam đang hy vọng TQ sẽ thực hiện lựa chọn sau.  Thoạt đầu, TQ hơi mất cảnh giác trước chiến lược mới của Manila và Hà Nội, nhưng sau đó nước này nhanh chóng phục hồi và đưa ra một chiến lược hai gọng kìm mới. Như Peter Dutton đã chỉ ra, gọng đầu tiên của TQ là nhấn mạnh sự cưỡng ép phi quân sự. Một phần của chiến lược này là việc TQ đã tràn ngập Biển Đông Nam Á với một loạt các chiếc tàu “vỏ trắng”, tức các tàu thuộc sở hữu của các cơ quan hàng hải dân sự của TQ. Những tàu này sau đó được sử dụng để đẩy lùi đối với các bên tranh chấp khác, ví dụ, bắt giữ ngư dân nước ngoài hoặc cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí. Gần đây nhất, Bắc Kinh đã kéo một giàn khoan dầu ngoài khơi bờ biển Việt Nam, tất nhiên là cũng có sự che chở của một hạm đội tàu màu trắng. Một khía cạnh khác của chiến lược này là việc TQ sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để “gây trở ngại” khiến các nhà đầu tư quốc tế không dám mạo hiểm vào vào vùng biển đang bị tranh chấp này của khu vực.  Để triển khai gọng kìm thứ hai, Bắc Kinh tiếp tục mở rộng và tăng cường trang bị cho hải quân của mình. Sự trang bị này sau đó được sử dụng hầu hết với mục đích răn đe; TQ không muốn tham gia vào cuộc xung đột trực tiếp, mà tìm cách đặt ra một giới hạn cho việc cưỡng chế phi quân sự của gọng kìm thứ nhất và ngăn chặn để nó không vượt khỏi tầm kiểm soát. Kết quả là, khi tàu Philippines gặp tàu hàng hải dân sự TQ thì họ luôn biết rằng chắc chắn Hải quân của Quân đội nhân dân TQ (PLAN) cũng đang ẩn nấp đâu đó.   Kết hợp lại, hai gọng kìm này cho phép TQ phản ứng mạnh mẽ với các hành động khiêu khích của các bên tranh chấp khác trong khi vẫn kiềm chế khả năng leo thang chiến tranh. Một lần nữa, mục tiêu là để dung hòa lợi ích của các chiến lược đầy mâu thuẫn của TQ: Bắc Kinh bảo vệ các yêu sách của mình thông qua các biện pháp dân sự mà đôi khi khá hung hăng, nhưng lại ngăn chặn không cho phép cuộc tranh chấp làm ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của mình bằng cách đảm bảo rằng các vũ khí vẫn nằm yên ở trong bao.  Trong việc thực hiện chiến lược mới này, TQ đôi khi phản ứng với hành động của các bên tranh chấp khác với chỉ đơn thuần bằng một hành động tương ứng theo chiều ngược lại; tuy nhiên, gần đây hơn, TQ đã bắt đầu không chỉ đáp lại mà còn leo thang, đặt thêm áp lực lên các bên tranh chấp khác để buộc họ lùi bước. Ví dụ, sau khi một tàu hải quân Philippines bắt giữ ngư dân TQ gần bãi cạn Scarborough vào tháng Tư năm 2012, TQ đã đưa vào vùng biển nhiều tàu biển dân sự của mình. Bế tắc kéo dài trong hai tháng cho đến khi Hoa Kỳ làm trung gian cho việc rút quân của hai bên. Trong khi Philippines nghiêm chỉnh rút lui, TQ không giữ lời hứa về thỏa thuận này và vẫn để lại tàu của mình. Một tháng sau, Quân đội nhân dân TQ đã chặn lối vào bãi cạn này, và các con tàu của TQ đã liên tục tuần tra ở vùng biển này từ đó đến nay.  Sự bế tắc tại bãi cạn Scarborough là kết quả của sự leo thang rất hiếm thấy trong lịch sử về phía TQ: Trên thực tế, Bắc Kinh đã phải giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough như một phản ứng với việc Philippines xua đuổi ngư dân TQ. Nhưng ở khía cạnh khác, phản ứng của TQ không có gì là bất ngờ. Trong việc phản ứng với các hành động khiêu khích của các bên tranh chấp khác, Bắc Kinh phải đi dây giữa ứng xử không đủ mạnh mẽ (khiến các quốc gia khác trở nên mạnh dạn hơn) và ứng xử quá mạnh (và tạo ra bộ mặt của một kẻ côn đồ trong khu vực). Xét về tổng thể, TQ đã không thể duy trì sự cân bằng này, hẳn là vì một phản ứng được hiệu chỉnh một cách hoàn hảo là điều không thể có được. Kết quả là, dư luận trong khu vực đã lên án TQ một cách mạnh mẽ.  Dù trong trường hợp nào thì điều đã làm cho câu chuyện về Scarborough được bộ lộ rõ ràng nhất cũng chỉ đã xảy ra nhiều tháng sau khi TQ củng cố quyền kiểm soát ở bãi cạn này. Ngày 22 tháng 1 năm 2013, Philippines bắt đầu thực hiện hồ sơ đưa ra trọng tài quốc tế về yêu sách của TQ theo Công ước về luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS). Ở một khía cạnh nào đó, vụ kiện này có vẻ ít quan trọng. TQ đã từ chối tham gia vụ kiện, do đó, vụ kiện này có thể dễ dàng bị gạt qua một bên vì thiếu thẩm quyền. Nhưng ngay cả khi vụ kiện này thực hiện được, và thậm chí nếu kết quả là Manila thắng kiện, thì sau đó Bắc Kinh cũng chỉ cần lờ đi quyết định của tòa và chờ cho làn sóng chỉ trích của quốc tế qua đi. Bất kỳ kết quả nào của vụ kiện cũng sẽ không thể được thực hiện một cách có hiệu quả.  Tuy nhiên, mặc dù vụ kiện này không có ý nghĩa thực tế nào, nhưng TQ đã điên cuồng ngăn chặn không cho nó tiếp tục – dù không thành công. Vào tháng Giêng năm 2014, Bắc Kinh cho thấy mức độ tuyệt vọng cao hơn, và được cho là đã đề nghị cho rút lui các con tàu của mình từ bãi cạn Scarborough nếu Philippines đồng ý trì hoãn việc nộp chứng cứ của mình vào hồ sơ vụ kiện này. Mặc dù đề nghị đó cũng chỉ nên được xem với sự nghi ngờ, vì rõ ràng là Bắc Kinh đã không giữ lời hứa của mình trong những giao dịch liên quan đến bãi cạn này trước đó – thì đây vẫn là một đề nghị bất thường nếu quả thật thông tin này là đúng: TQ sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát lãnh thổ mà họ tuyên bố chủ quyền chỉ để tránh một chút tiếng xấu. Vì vậy, mặc dù đã thắng trong việc chiếm bãi cạn Scarborough, TQ vẫn có thể bị xem là người bại trận vì Manila đã có được cái mà Bắc Kinh đánh giá cao hơn cả chủ quyền lãnh thổ: danh tiếng là một quốc gia biết tuân thủ luật pháp quốc tế. Đối với TQ, danh tiếng này có liên quan mật thiết đến chiến lược phát triển dài hạn của nó, và quốc gia này không thể dám trưng ra cho thế giới biết tình trạng không tuân thủ luật pháp quốc tế của mình.  Biến cố mới nhất trong bế tắc tại bãi cạn Scarborough đã làm rõ những giới hạn trong chiến lược mới của TQ. Những chiến thuật thẳng thừng của TQ đã có một số thành công, và trong tương lai, Manila có thể sẽ phải suy nghĩ kỹ trước khi bắt đầu một cuộc thách trên một hòn đảo tranh chấp. Nhưng chiến lược của TQ đã không thể vĩnh viễn làm thay đổi các tính toán tổng thể của các bên tranh chấp khác. Mỗi khi thành công trong việc ngăn cản một hành động khiêu khích thì TQ cũng đồng thời kích thích sự leo thang của các bên khác. Kết quả là, cả hai lựa chọn trong tình thế lưỡng nan của TQ đều đang bị đe dọa: chiến lược phát triển lâu dài của TQ đang ngày càng bị hủy hoại trong khi quốc gia này ngày càng phải đối mặt với những mối đe dọa đối với các yêu sách lãnh thổ của mình.  Tồi tệ nhất là tình hình của TQ trong tương lai có vẻ sẽ không được cải thiện. Động lực mà TQ có được do chiến lược tương tác của nước này với các bên tranh chấp khác vốn không ổn định; việc chống lại một hành động khiêu khích chỉ dẫn đến một hành động khiêu khích lớn hơn ở một nơi khác. Sẽ đến lúc Bắc Kinh thấy rằng họ phải ngậm bồ hòn làm ngọt và đưa ra một lựa chọn cực kỳ khó khăn: hoặc leo thang tranh chấp thành một cuộc xung đột hải quân và xem xét những gì sẽ xảy ra trong khu vực, hoặc phải nhượng bộ những vùng lãnh thổ có giá trị chiến lược lãnh thổ – như Bắc Kinh có thể đã thực hiện cách đây bốn tháng trước, và sẽ phải đối mặt với tình trạng bất ổn tiềm năng ở trong nước. TQ sẽ làm tất cả những gì có thể để trì hoãn sự lựa chọn này, nhưng sớm muộn gì, TQ cũng phải đi đến quyết định.  ——  Sean Mirski là sinh viên năm thứ hai tại Trường Luật Harvard, nơi ông làm Trưởng nhóm phụ trách mục Tòa án tối cao của tờ Harvard Law Review. Ông cũng là đồng biên tập của cuốn sách: Trọng tâm của Châu Á : Trung Quốc, Ấn Độ và trật tự mới đang lên của thế giới.  Vũ Thị Phương Anh dịch  Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/magnetic-rocks-assessing-chinas-legal-strategy-the-south-10481?page=2  * Bản gốc tiếng Anh sử dụng từ South China Sea, tiếng Việt dịch là Biển Đông, nhưng chúng tôi chọn cách dịch ra là Biển Đông Nam Á, một cách gọi đã từng được đề nghị bởi một số tổ chức, để cổ vũ cho sự hợp tác của Đông Nam Á chống lại một Trung Quốc hung hãn xâm lăng. Ví dụ về cách gọi này có thể tìm thấy ở các trang sau đây: http://www.nippon-foundation.or.jp/en/what/projects/protecting_the_asean_sea/; http://koreanewsonline.blogspot.com/2012/05/southeast-asian-sea-asean-sea-to.html#.U3r4A9J_t9U    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những băn khoăn ban đầu của một cuộc thay đổi lớn      Việc triển khai Nghị định 115 tạo nên một biến chuyển sâu sắc trong hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN). Công cuộc đổi mới này bắt nguồn từ nhu cầu chấm dứt những tình trạng bất hợp lý như: phần lớn giống vật nuôi, cây trồng, mẫu máy móc, thiết bị, giải pháp KHCN áp dụng trong sản xuất nông nghiệp phải nhập từ nước ngoài; nhiều nông dân phải tự mày mò chế tạo công cụ, tự chọn lọc giống, nhân giống; báo cáo nghiên cứu nghiệm thu xong chỉ để vào ngăn kéo; nhiều luận án trên đại học sau khi bảo vệ trước hội đồng chỉ để nộp vào thư viện…        Mặt khác, việc áp dụng Nghị định mới sẽ đụng chạm đến quyền lợi, cuộc sống vật chất và tinh thần của hơn 5000 cán bộ nghiên cứu khoa học ở hàng chục Viện và Trung tâm nghiên cứu trong cả nước. Có những cán bộ xưa nay chuyên tâm nghiên cứu công nghệ thì nay phải tìm hiểu về thị trường, về khách hàng, giá cả. Có nhiều cán bộ đã cống hiến tuổi trẻ và phần lớn sức lực xây dựng các cơ quan nghiên cứu, cho chỉ đạo sản xuất trong hoàn cảnh khó khăn trước đây, nay phải đối mặt với kỹ năng mới về tin học, ngoại ngữ… Nhiều cán bộ lãnh đạo trăn trở trước bài toán khó là phải chịu trách nhiệm về mọi thành công, thất bại của đơn vị và cả của cá nhân cán bộ, trong khi về pháp lý và tình cảm thì không có cơ chế để đưa người tài vào đơn vị, loại bỏ những người không đáp ứng yêu cầu ra khỏi cơ quan…                                     Những đòi hỏi thiết thân và quyết liệt của thực tế đó đã dấy lên trong cán bộ khoa học và quản lý ngành nông nghiệp nhiều cuộc thảo luận sôi nổi và thẳng thắn xung quanh chuyện làm thế nào để việc triển khai Nghị định 115 thực sự tạo ra bước đột phá cho hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp?   Điều băn khoăn lớn của cán bộ quản lý và nghiên cứu nông nghiệp là Nghị định 115 mới nhấn mạnh đến tính chất đặc thù của các cơ quan nghiên cứu chiến lược, chính sách và các cơ quan nghiên cứu cơ bản trong khi chưa đề cập đến tính chất quan trọng và đặc biệt của loại hình nghiên cứu dịch vụ công như nghiên cứu khoa học nông nghiệp.  Nếu như công tác nghiên cứu khoa học của phần lớn các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ có thể đưa ra các giải pháp công nghệ và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của những khách hàng cần mua công nghệ và có khả năng thanh toán (các doanh nghiệp, nhà máy, địa phương…), các công nghệ này thường có thể đăng ký được hoặc bảo vệ được dưới dạng các bí quyết, know-how, patent… thì công tác nghiên cứu KHCN nông nghiệp (trừ một số công nghệ đặc biệt như ưu thế lai hoặc một số máy móc cao cấp) chủ yếu đưa ra các sản phẩm KHCN nhằm cho không, phục vụ mọi người.   Các giống cây trồng, vật nuôi dễ dàng được người dùng tự nhân giống, các mẫu máy móc thiết bị dễ dàng bắt chước và sản xuất hàng loạt, các giải pháp kỹ thuật thì đơn giản và được tuyên truyền rộng rãi cho mọi người. Mặt khác, hầu hết khách hàng của các công nghệ này là nông dân nhỏ chưa có khả năng mua mà ngược lại phải hỗ trợ cho họ tiếp nhận và áp dụng KHCN.  Do tính chất đặc thù này, thị trường KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn về lâu dài khó có thể vận hành như trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị, đây là thực tế diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới. Khi tỷ lệ đóng góp của GDP nông nghiệp trong tổng GDP chung của nền kinh tế giảm xuống dưới 15 % thì hầu hết các nước trên thế giới bắt đầu chuyển sang trợ cấp cho nông nghiệp và một trong những giải pháp trợ cấp quan trọng được WTO cho phép trong “hộp xanh” là trợ cấp trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và khuyến nông. Câu hỏi đặt ra là phải thị trường hóa hoạt động KHCN như thế nào trong điều kiện cơ chế thị trường vận hành không hoàn chỉnh trong lĩnh vực nông nghiệp?  Bài toán khó giải đối với lãnh đạo các Viện lớn trong ngành nông nghiệp như Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Viện Khoa học Thủy lợi, Viện Khoa học Lâm nghiệp… làm thế nào tạo ra khoản tiền thay thế cho kinh phí được nhà nước cấp hàng năm để trang trải cho hoạt động thường xuyên (bao gồm quỹ lương, chi phí quản lý hành chính sự nghiệp…) khi nguồn thu này bị cắt theo Nghị định 115? Muốn có được một khoản “lời” từ các hoạt động nghiên cứu và dịch vụ để bù đắp cho các khoản chi trung bình từ 7-9 tỷ đồng/năm/viện, thì ít nhất tổng giá trị các hoạt động này của Viện phải đạt mức trên 100 tỷ đồng. Đây là mức hoạt động mà ngay cả nhiều doanh nghiệp lớn cũng khó đạt được.  Muốn xử lý bài toán tăng hiệu quả cho đơn vị, các doanh nghiệp thông thường áp dụng giải pháp giảm số lượng cán bộ dôi dư, cắt bỏ các bộ phận không cần thiết, giảm quy mô nhân lực của đơn vị xuống còn 50% -70%, thậm chí thấp hơn, thay vào đó là số nhỏ cán bộ khoa học có năng lực và năng suất lao động cao, áp dụng công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, một số nội dung trong Nghị định 115 và Thông tư liên tịch số 12 hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 vẫn hạn chế lãnh đạo các Viện thực hiện giải pháp trên như “Đối với cán bộ, viên chức đã được tuyển dụng vào biên chế của các tổ chức hành chính sự nghiệp Nhà nước trước ngày 01 tháng 07 năm 2003 hiện đang làm việc tại tổ chức KH&CN thì thủ trưởng tổ chức KH&CN thực hiện ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn…”; “Tổ chức KH&CN phải đảm bảo chi trả tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động tối thiểu bằng mức quy định của Nhà nước về ngạch lương, bậc lương và phụ cấp chức vụ…”; “Thủ trưởng tổ chức KH&CN có trách nhiệm… giữ gìn đoàn kết nội bộ…” mà không có quy định cụ thể cho phép sắp xếp lại cán bộ và trả thù lao theo hiệu quả và khả năng đóng góp của cán bộ, chưa có quyết định rõ rệt về chính sách bồi hoàn đối với cán bộ phải nghỉ việc hoặc chuyển sang công tác khác.   Vừa qua, có viện nghiên cứu nông nghiệp đã xảy ra hiện tượng công nhân tự tử trong phòng làm việc của thủ trưởng vì không đồng ý sắp xếp lại công việc, một loạt trường hợp kiện cáo kéo dài của một số cán bộ cấp phòng chỉ vì không được đề bạt hoặc bị cách chức. Trong hoàn cảnh đó, với những quy định hiện hành trong Nghị định 115, khó có thủ trưởng nào dám cắt giảm biên chế, thay đổi lãnh đạo để thu hút nhân tài. Mà không làm được điều này, trong các Viện không thể xảy ra quá trình “lột xác” vươn lên như các hợp tác xã trong “Khoán 10” trước đây.  Một băn khoăn nữa của các nhà khoa học là làm thế nào tạo ra một sân chơi công bằng cho mọi đối tượng nghiên cứu tham gia đấu thầu nhiệm vụ KHCN. Cơ chế mới vẫn duy trì sự khác biệt giữa các đơn vị nghiên cứu (cơ quan tư nhân không được Nhà nước trợ giúp, đơn vị KHCN tự chủ được hỗ trợ một phần, các trường đại học, cơ quan nghiên cứu cơ bản được trợ cấp nhiều hơn…). Vậy khi cùng tham gia đấu thầu, giá thành của các đơn vị sẽ khác nhau, liệu có thể cạnh tranh công bằng nếu chủ đầu tư chỉ chú ý về tiêu chí giá?  Những băn khoăn xung quanh việc triển khai Nghị định 115 ở Bộ NN&PTNT cho thấy quá trình đổi mới trong quản lý KHCN không hề dễ dàng. Đó cũng là điều tất nhiên. Trước đây, khi công cuộc đổi mới bắt đầu từ nông nghiệp thì từ “Chỉ thị 100” đến “Khoán 10” phải trải qua 9 năm trăn trở, định hướng. Nhưng chỉ có mạnh dạn bắt tay vào thực hiện thì những giải pháp thực tế sẽ xuất hiện trả lời thiết thực cho mọi băn khoăn, thắc mắc ban đầu. Một số Viện và Trung tâm của Bộ NN&PTNT đã cam kết chuyển đổi ngay theo Nghị định 115, tiên phong đi trước làm thí điểm. Các cơ quan quản lý của Bộ cũng đồng lòng ủng hộ cho tiến trình này. Chắc chắn nông dân và những người tiếp thu tiến bộ kỹ thuật sẽ là những người ủng hộ nhiệt tình nhất và là những người được hưởng lợi cuối cùng từ công cuộc đổi mới quản lý KH&CN.    TUYÊN TRUYỀN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHỆ?    Trong Hội nghị triển khai công tác tuyên truyền và triển lãm về tổng kết các chương trình KH&CN cấp Nhà nước giai đoạn 2001 – 2005, Thứ trưởng Bùi Mạnh Hải kể trường hợp lãnh đạo ở Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long đã kiến nghị lên Bộ KH&CN về việc nghiên cứu hiện tượng hạn hán, sa mạc hóa. Trên thực tế đã có những đề tài giải quyết vấn đề này (như đề tài KC.08.24: Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên của trường Đại học Lâm nghiệp), song từ lãnh đạo cho đến nhân dân địa phương đều không có thông tin.   Nhưng còn một thực tế khác: nhiều nhà khoa học trong các chương trình trọng điểm cấp nhà nước (và ngay cả một số chủ nhiệm chương trình), một mặt muốn kết quả nghiên cứu của mình “đến đúng địa chỉ”, một mặt họ lại khá… ngại báo chí. Sự “e ngại” này thường gây thắc mắc từ phía báo chí, và chịu thiệt thòi cuối cùng lại  là những người cần thông tin KHCN. Thứ trưởng Bùi Mạnh Hải cho biết, tới đây Bộ KH&CN sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền cho hoạt động KHCN, theo đúng tinh thần “dân chủ hơn, công khai hơn, minh bạch hơn”. Xin hoan nghênh! Bởi chỉ có “công khai, minh bạch” thì khoa học, và nhiều lĩnh vực khác nữa, mới có thể thực sự phát triển!  Đặng Kim Sơn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chuyến ly hương của người già Đồng bằng Sông Cửu Long      Những biến đổi về môi trường, khí hậu đã đẩy người lớn tuổi ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) phải rời quê tìm đường mưu sinh.      Bà Nguyễn Thị Áp (63 tuổi) tại chỗ ngủ của mình – một tầng hầm để xe ở chung cư nơi bà làm nhân viên vệ sinh. Ảnh: Thành Nguyễn  Chuyến rời quê đầu tiên trong đời bà Nguyễn Thị Áp* là khi bà đã bước qua tuổi 63. Sáng sớm một ngày tháng Bảy, người phụ nữ tóc bạc trắng xách giỏ quần áo, một mình ra lộ bắt xe đi khỏi quê nhà Chợ Mới, An Giang, tỉnh thượng nguồn ĐBSCL đến Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Không chỉ mưu sinh, với bà, đó còn là một cuộc chạy trốn.  Khoản nợ hơn 100 triệu đồng tích tụ “từ ngày còn mần lúa”, lãi chồng lãi, cùng bệnh tim của người chồng đã đẩy bà Áp – gần như cả đời chỉ quen ruộng vườn – đến đô thị xa lạ tìm kiếm việc làm. Đích đến ban đầu trong kế hoạch của bà là Bình Dương, khu công nghiệp lớn nhất nước, nhưng những hàng xóm đi trước rỉ tai rằng nơi ấy chỉ có việc cho người trẻ. Cuối cùng, theo lời họ hàng chỉ, bà đặt cược vào TPHCM, nơi sẵn công việc làm thuê qua ngày.  “Ruộng đã bán. Con cái có gia đình riêng, và cũng khổ. Dì ở lại [quê] hết đời cũng không thể trả hết nợ”, bà Áp nói, không quên dặn người phỏng vấn giấu danh tính vì sợ chủ nợ nhận ra.  Cùng những đồng hương miền Tây, bà Áp chỉ là một gương mặt trong luồng di cư một chiều, kéo dài hơn một thập kỷ qua và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Vùng đất trù phú nhất cả nước đang không thể nuôi sống và làm giàu cho cư dân của chính nó. Từ năm 2009, ĐBSCL đã chứng kiến gần 1,1 triệu người – tương đương dân số của một tỉnh – rời đi. So với các khu vực khác, đồng bằng này có tỷ lệ nhập cư thấp nhất, tỷ lệ xuất cư cao nhất, và là vùng duy nhất có tỷ lệ tăng dân số gần như bằng 0.  Đây là một hiện thực trái ngược so với năng lực của khu vực này. Trong những năm đầu của Đổi Mới, nền nông nghiệp do ĐBSCL nuôi dưỡng chính là một trong những đòn bẩy cho tiến trình thoát nghèo và cú bứt phá của kinh tế đất nước. Đến nay, đây vẫn là trụ cột vững chắc cho phát triển. Không chỉ là kho lương thực chính nuôi sống cả nước, mỗi năm ĐBSCL còn đóng góp khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản quốc gia.  Tuy nhiên vùng đất này vẫn đang phải đối mặt với nghịch lý khi sự thịnh vượng không được phân bổ đồng đều và thích đáng đến chính những nông dân tạo ra nó. Báo cáo thường niên 2020 và 2022 của VCCI Cần Thơ và Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright chỉ ra, dù giáp ranh với đầu tàu kinh tế Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long vẫn mắc kẹt ở phía sau, giữa các thách thức của đói nghèo, mức sống chênh lệch và thiếu hụt việc làm. Thu nhập bình quân của người dân nơi đây vẫn thấp hơn cả nước và tỷ lệ thiếu việc làm cao thứ hai toàn quốc.    Nước biển dâng do Trái đất nóng lên, lún do khai thác nước ngầm không chỉ làm xâm nhập mặn và xói mòn trầm trọng hơn, mà còn đẩy nhanh sự hao mòn của mảnh đất cuối nguồn. Các nhà khoa học dự đoán, người dân chỉ có thể tiếp tục sinh sống được ở Đồng bằng này  không quá 80 năm nữa.    Báo cáo kết luận rằng những cú sốc liên tiếp từ suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, tác động của các con đập thượng nguồn ken đặc trên sông Mekong đã lấy đi nguồn sinh kế của hàng triệu người dân ĐBSCL, khiến di cư trở thành một chiến lược ứng phó. Trong dòng người bỏ thôn ấp, hơn một nửa ở độ tuổi 20-39, để lại phía sau một đồng bằng có tốc độ già hoá nhanh nhất nước.  Nhưng áp lực nghèo đói và môi trường không chừa độ tuổi, ngay cả thế hệ cư dân lớn tuổi của đồng bằng giờ đây cũng khó có thể trụ lại đồng quê kiệt quệ. Những nông dân lâu năm như bà Áp bị đẩy vào dòng di cư, không phải đi kiếm tìm tương lai như người trẻ, mà là cuộc vật lộn tồn tại ở điểm cuối cuộc đời. Đó cũng không phải là một cuộc ra đi có chuẩn bị, thời gian và sức khỏe đủ để thích ứng với một môi trường khác biệt hoàn toàn với quãng đời trước đó. Thiệt thòi hơn nhóm di cư sức dài vai rộng chiếm đa số, các con số thống kê về họ mờ nhạt trong các báo cáo, họ bị lọt giữa các chính sách đón lao động nhập cư vốn đầy lỗ hổng của đô thị. Không có cuộc đời mới nào sau chuyến đi, chỉ có bước từ tương lai vô định nơi quê nhà sang một thực tại bấp bênh ở thành phố.  Khi dòng sông đổi khác  Khởi điểm của món nợ dẫn đến cuộc ra đi của bà Áp nằm ở hơn hai thập niên trước, lúc gia đình bà còn những mảnh ruộng. Hệ thống đê bao và kênh thoát lũ được khẩn trương hoàn thiện khi ấy đã chuyển nước lũ ra ngoài nội đồng, cho phép các hộ xuống giống ngay trong mùa nước về, tăng từ một năm một lên hai vụ lúa, thậm chí về sau một số nơi lên ba vụ. Công trình đã giúp Đồng bằng sông Cửu Long tăng sản lượng lúa đưa Việt Nam từ một đất nước thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thế nhưng nhiều nông dân chưa kịp phất đã “sụm”. Cái giá phải trả cho chính sách chống lũ là chặn luôn cả phù sa có trong lũ vào ruộng đồng.  Một con kênh cạn trơ đáy ở huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, ngày 2/5/2020. Ảnh: Thành Nguyễn.  “Nước không vào được, thì không có phù sa, đất bị kém dần, lúa bị thất, phải bỏ tiền mua phân bón nhiều hơn. Mấy mùa lúa rớt giá, không có lời để bù vô”, bà Áp nhớ lại những năm sau đó. “Cứ vậy mà nợ lậm mỗi năm mỗi ít”.  Không sống được với cây lúa, bên sông Vàm Nao, nhánh sông nối liền hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang, vợ chồng bà quyết định bán ruộng, bắt đầu mưu sinh bằng nghề xe ôm, chở hàng thuê cho các tiểu thương chợ gần nhà.  Nhắc đến mảnh ruộng năm xưa, đến giờ bà Áp vẫn còn trăn trở “nếu giữ được nó, biết đâu mình đã không đi”. Nhưng người trồng lúa ĐBSCL đâu chỉ kẹt trong đê bao ngăn lũ mà còn đang nghèo đi bởi mạng lưới đập thuỷ điện dày kịt bên kia biên giới.  Mekong đã không còn là dòng chảy tự nhiên khi bị hơn 300 thủy điện đã hoặc sắp được xây trên thượng nguồn băm cắt; trong đó có 6 “siêu đập” do Trung Quốc vận hành. Không chỉ hạ thấp lưu lượng nước, các hồ chứa của đập thuỷ điện đã ngáng đường phù sa, trầm tích đổ về hạ nguồn. Ủy hội sông Mekong xác định, kể từ năm 1994, lượng phù sa hằng năm đổ về hạ lưu đã giảm mạnh từ 147 triệu tấn xuống chỉ còn 66 triệu tấn vào năm 2013. Dự kiến con số này sẽ tiếp tục giảm xuống chỉ khoảng 42 triệu tấn một năm.    Để tăng cơ hội việc làm và đảm bảo công bằng trả lương cho người cao tuổi khi tham gia thị trường lao động, bà Trần Bích Thủy, Help Age International, cũng đề xuất TPHCM và các tỉnh ĐBSCL thành lập các trung tâm đào tạo lại nghề, giới thiệu việc làm chuyên hỗ trợ nhóm dân số này.    Đất nghèo sinh nợ vẫn chưa phải là rủi ro lớn nhất với nông dân. Khi con sông bị đói phù sa và trầm tích, đồng nghĩa với bị thiếu đi lượng vật chất cần thiết bồi đắp, kiến tạo nên Đồng bằng; cùng với hậu quả của hoạt động khai thác cát ở hạ nguồn, nó đã gây ra những trận sạt lở kinh hoàng, đe doạ tính mạng cư dân hai bên bờ. Ký ức của bà Áp đến giờ vẫn không nguôi ám ảnh về người phụ nữ đang mang thai chết trong trận sạt lở hơn mười năm trước. Đấy là lúc mảnh đất thôn ấp dưới chân bà bỗng dưng rơi tọt xuống lòng Vàm Nao, buộc cả xóm phải dời nhà vào sâu bên trong.  Ở đầu kia thành phố, cách chung cư bà Áp đang dọn dẹp chừng 5 km, một khu đô thị mới đang dần mọc lên. Tròn một năm nay, vợ chồng Lê Thị Chinh, 54 tuổi và Lương Văn Thơ, 59 tuổi rời quê Bạc Liêu đến đây làm công nhân cốp pha cho các công trình về sau là những toà nhà được đặt tên bằng tiếng Anh khiến cả hai không thể gọi thành tên chính xác.  Họ đã quyết định giã từ đồng ruộng sau khi đi qua hai đợt hạn mặn năm 2016 và 2020 làm chết hàng chục ngàn hecta ngàn lúa, thiệt hại hàng trăm tỷ đồng trên cả hạ lưu Đồng bằng. Những kinh nghiệm cấy trồng dày dặn được vợ chồng Chinh đúc kết từ nhiều thế hệ hoàn toàn bị vô hiệu hoá trước dòng nước mặn đột ngột đổ về kênh ngòi.  “Lúa đang trổ, nước mặn lấn vô làm lúa bị dựng cờ, chết trắng. Không có lúa ăn, lại mất tiền phân bón, phải đi vay nợ. Từ từ nợ đẻ thêm mỗi năm, đành phải sang đất trả”, trên tay giờ cầm nón công trường, người nông dân nhớ lại lý do bán đất của mình.  Chính quyền địa phương đánh giá đây là lần hạn mặn “khốc liệt nhất lịch sử trong vòng 100 năm qua”. Nguyên nhân được xác định do thuỷ điện giữ nước ở thượng nguồn khiến hạ nguồn không đủ nước đẩy mặn đang bò sâu vào trong nội đồng. Hiện tượng El Niño và La Niña cũng được cho là thủ phạm tiếp tay khiến mùa khô ở đây nắng nóng hơn, kéo dài hơn, dẫn đến hạn mặn cực đoan.  Một ruộng lúa ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre nứt nẻ, bỏ hoang vì ảnh hưởng của hạn mặn, hồi tháng 3/2020. Ảnh: Thành Nguyễn  Nhưng đấy vẫn chưa phải là đòn đánh cuối cùng vào vùng châu thổ rộng hơn 40.000 km2, ngôi nhà chung của 18 triệu cư dân. Dưới tác động của con người và tự nhiên, đồng bằng có tuổi đời hơn 4.000 năm đang ngày càng mong manh, dễ thương tổn. Nước biển dâng do Trái đất nóng lên, lún do khai thác nước ngầm không chỉ làm xâm nhập mặn và xói mòn trầm trọng hơn, mà còn đẩy nhanh sự hao mòn của mảnh đất cuối nguồn. Các nhà khoa học dự đoán, người dân chỉ có thể tiếp tục sinh sống được ở Đồng bằng này  không quá 80 năm nữa.  Không đợi đến thời điểm ấy, bà Chinh và bà Áp kể, làng quê của cả hai từ nhiều năm nay đã không còn mấy người trẻ ở lại. Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), hầu hết những người rời đi đã chọn Đông Nam Bộ – nơi có hàng loạt các nhà máy đang cần một lực lượng nhân công trẻ, khoẻ – là điểm đến.  Chuyên gia sinh thái học chính trị Kimberley Thomas, Đại học Temple (Hoa Kỳ) thừa nhận di cư đem lại cho người dân Đồng bằng một lối ra khỏi những bất trắc đang xảy ra ở quê nhà thông qua những cơ hội việc làm và nguồn thu nhập mới. Nhưng bà nhấn mạnh “không phải cuộc ra đi nào cũng là tự nguyện”.  “Đó là những quyết định được đưa trong hoàn cảnh bị ép buộc, khi bị đặt vào tình thế thiếu các lựa chọn khả dĩ khác”, TS. Thomas, người đang nghiên cứu về các rủi ro môi trường và tính dễ bị tổn thương của ĐBSCL, nói.  Trong dòng di cư trẻ tuổi, có con trai của vợ chồng Chinh. Nhưng mức lương anh nhận được chỉ vừa đủ chạm tới mức sống tối thiểu, không đủ để gửi tiền về quê phụ đỡ cha mẹ. Theo một nghiên cứu sắp được công bố của Viện nghiên cứu Đời sống xã hội (Social Life), gần 78% công nhân ở TPHCM, Bình Dương và Đồng Nai khó đảm bảo các chi phí sinh hoạt hằng tháng như tiền thuê nhà, ăn uống,… Những người di cư trẻ lại càng không đủ sức giúp cho gia đình ở quê về tài chính.  “Người già ở quê không muốn phiền con cháu, họ tự tìm cách “xoay””, Chinh giải thích.  Và vì vậy, họ chọn cách rời quê.  Họ sẽ đi đâu?  Không phải nơi nào cũng sẵn lòng đón nhận nhóm di cư này. Các khu công nghiệp ở hầu hết Đông Nam Bộ chỉ rộng cửa với di dân trẻ tuổi, những người lớn tuổi như Áp và vợ chồng Chinh gần như bị loại khỏi thị trường lao động này. TS. Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Social Life cho biết, ngay cả các nhà máy mới mọc lên ở ĐBSCL cũng chỉ tuyển nhân công trẻ dưới 35 tuổi, người lớn tuổi không có cơ hội ngay tại quê nhà.  Phát triển nhiều loại hình kinh tế với nhu cầu lớn nguồn lao động phi chính thức, TPHCM trở thành điểm dừng chân của những lao động già. Nhờ họ hàng đi trước dẫn dắt, bà Áp nhanh chóng có việc làm. Tháng đầu ở Thành phố, bà bán vé số dạo. Nhưng giò cẳng đau mỏi, cũng không rành đường xá, bà ít khi dám đi bộ quá xa khỏi khu nhà bà thuê chỗ tắm, ngủ giá 10 ngàn mỗi đêm chung với nhiều người lao động khác; xấp vé cuối ngày vẫn thường đầy trong tay. Theo chân người chị dâu còn lớn tuổi hơn cả mình, bà chuyển sang làm nhân viên vệ sinh cho một chung cư ở quận trung tâm.  Viện trưởng Viện Social Life nhận xét với vốn liếng kinh tế lẫn kỹ năng hạn hẹp, những người cao tuổi khi đến Thành phố Hồ Chí Minh thường phải làm các công việc có tính chất “nguy hiểm – dơ bẩn – khó nhọc”.  “Nếu [họ-pv] muốn quay lại quê làm nông, cũng không còn đất canh tác”, ông nói thêm.  Đô thị lớn nhất nước mở cánh cửa cho nguồn nhân công không còn sức khoẻ dồi dào nhưng đặt họ bên lề trong hầu hết chính sách phát triển của thành phố, càng khoét sâu hơn khoảng cách giữa điểm đến và người đi.  Các công trường tại TPHCM chỉ có việc làm và trả lương cho vợ chồng bà Chinh vào ngày nắng ráo, ở mức 350 ngàn đồng/ngày cho đàn ông và 330 ngàn đồng/ngày cho phụ nữ. “Họ nghĩ đàn bà làm kém hơn đàn ông”, bà Chinh giọng bực bội kể, tay đang cởi đôi giày lấm tấm xi măng.  Vợ chồng Lê Thị Chinh, 54 tuổi và Lương Văn Thơ tại nhà trọ ở Q.2, TPHCM Ảnh: Cương Trần  Vợ chồng bà cũng nhận tiền công ngang vậy trong hơn một năm làm thợ hồ ở một khu công nghiệp ở Bà Rịa-Vũng Tàu trước khi kịp bắt chuyến xe đò cuối cùng chạy về quê trong đợt phong toả mùa hè năm ngoái. Tuy nhiên, bà Chinh tính mức lương đó vẫn “ngon” hơn ở quê làm lúa, nghề vợ chồng bà gắn bó từ ngày trẻ, thế nên thành phố vừa mở cửa, cả hai đã gấp gáp lên đường.  Bà Chinh và chồng bà, ông Thơ không biết đi xe máy, cũng không dám đạp xe vì sợ xe cộ cuồn cuộn trên đường, bèn tìm thuê chỗ trọ gần nơi làm để lội bộ. Chuyến đi xa đầu tiên ra khỏi tuyến đường mấp mô gạch đá, cỏ dại mọc qua gối nối nhà trọ đến công trường của hai vợ chồng diễn ra vào đêm ông Thơ gục xuống do bệnh sỏi thận. Cả hai không biết số điện thoại đường dây nóng cấp cứu nào trong thành phố, đành bấm bụng thuê taxi chở đến một bệnh viện theo lời khuyên của tài xế. Ông Thơ không có bảo hiểm y tế, viện phí đã ngốn gần hết tháng lương của hai người. Ông cũng không thể gấp rút mua bảo hiểm ngay sau đó do không có hộ khẩu ở đây, cũng không có đăng ký tạm trú như bao người di cư khác.  “Chính sách quản lý dân số theo hộ khẩu đã khiến người di cư lớn tuổi không tiếp cận được các phúc lợi xã hội”, Lộc đánh giá. “Họ không được lãnh các trợ cấp của hộ nghèo, cho người cao tuổi ở nơi đến, mà phải về tận quê xa xôi.”  Chuẩn bị cho tương lai  Đại dịch Covid-19 càng làm lộ rõ sự mong manh của của tấm lưới an sinh xã hội đối với người di cư, nhất là người di cư lớn tuổi và ở nhóm lao động phi chính thức. Nhiều người đã phải chịu cảnh đói ăn, bị mắc kẹt trong những căn nhà trọ ẩm thấp, đông đúc, đối mặt với nguy cơ lây nhiễm cao. Các gói hỗ trợ tài chính của Chính phủ và Thành phố đã bỏ lọt hoặc đến chậm với người lao động di cư khi chính quyền địa phương nắm danh sách cư dân theo hộ khẩu và giấy tạm trú.  Theo Trần Bích Thuỷ, Giám đốc Quốc gia tổ chức HelpAge International tại Việt Nam, người lao động di cư cao tuổi luôn là nhóm dễ bị tổn thương, gặp nhiều rủi ro khi chuyển đến các đô thị nơi mà cơ sở hạ tầng và môi trường xã hội vốn đã không thân thiện với độ tuổi của họ.  “Ngoài giao thông đi lại, thử tưởng tượng một người già di chuyển chậm, có bệnh nền sẽ khó khăn như thế nào khi phải sống trong một phòng trọ chật chội, khép kín, thậm chí không có nhà vệ sinh riêng”, Thuỷ nêu vấn đề. “Hầu hết nhà trọ không có thiết kế riêng cho những khách thuê này.”  Giám đốc Quốc gia tổ chức HelpAge International tại Việt Nam nhận định, già hóa di cư ở các thành phố lớn diễn ra ngày càng nhiều, và hiện tượng này có thể sẽ phát triển trong những năm tới trong bối cảnh Việt Nam “chưa giàu đã già”. Ngân hàng Thế giới ước tính, 25% dân số trong nước dự kiến ​​sẽ trên 60 tuổi vào năm 2049, Việt Nam là một trong số quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới.  “Nếu họ đã không còn lựa chọn nào, ngoài đến thành phố, thì cần một chính sách đặc thù riêng cho những người di cư này để hành trình đi của họ không đơn độc, và cũng để hỗ trợ họ kịp thời nếu có dịch bệnh, thiên tai xảy ra trong tương lai”, Thuỷ nói thêm.  Để tăng cơ hội việc làm và đảm bảo công bằng trả lương cho người cao tuổi khi tham gia thị trường lao động, bà cũng đề xuất TPHCM và các tỉnh ĐBSCL thành lập các trung tâm đào tạo lại nghề, giới thiệu việc làm chuyên hỗ trợ nhóm dân số này.  Theo Nguyễn Đức Lộc, điều quan trọng là phải thừa nhận người lao động di cư lớn tuổi đã và đang đóng góp vào sự phát triển của Thành phố, cần có một cái nhìn và chính sách công bằng hơn với họ.  “Đó cũng là cách chuẩn bị cho tương lai khi thế hệ người di cư trẻ bấy giờ già đi”, ông nhấn mạnh.  Ông Thơ không có lương trong những ngày nằm viện nên dù chưa khỏi bệnh hoàn toàn, đã chóng quay lại công trường. Trong căn phòng trọ 12 m2, bên kia là những cao ốc rực rỡ ánh đèn, bữa cơm tối của hai người thường chỉ có trứng, bởi họ không đủ sức đi bộ xa đến chợ cách đó gần 4km. Sức khoẻ dần hao hụt nhưng cả hai không tính ngày về. Mảnh ruộng của một người con còn ở quê bị ngập úng do năm nay mưa, lũ về nhiều bất thường càng củng cố hơn quyết tâm trụ lại Thành phố của ông bà.  Với bà Áp, hơn ba tháng xa quê, giờ đây bà cảm thấy nhớ nhà, bắt đầu thấy “oải” những bậc thang trong chung cư bà lau chùi mỗi ngày. Nhưng người phụ nữ ĐBSCL này cũng chưa bao giờ có ý định quay về.  “Giờ mình còn khỏe thì bám ở đây, về quê có còn gì để sống”, bà nói, tay vỗ vỗ tấm lưng hay đau của mình.□  ————  * Tên nhân vật  đã thay đổi.  Bài viết nhận được sự tài trợ của Mạng lưới Báo chí Trái đất của Internews    Author                Võ Kiều Bảo Uyên, Nhung Nguyễn        
__label__tiasang Những cuộc thi sắc đẹp: Áp lực của người phụ nữ ?      Cuộc thi sắc đẹp không phải là nguyên nhân mà chỉ là một dấu hiệu nhắc chúng ta rằng, xã hội vẫn còn nặng nề phán xét và coi trọng người phụ nữ qua vẻ bề ngoài.    Việt Nam tổ chức hơn 30 cuộc thi sắc đẹp quốc gia, chưa kể các cuộc thi cấp địa phương. Chúng ta ngạc nhiên vì đó là một con số lớn. Nhưng điều ta ngạc nhiên hơn cả, đó là tại sao sau bao nhiêu năm người ta công kích các cuộc thi sắc đẹp, sau một loạt những thay đổi quan niệm về vẻ đẹp đa dạng đang diễn ra ở khắp mọi nơi, giữa thời điểm phong trào nữ quyền đang dâng cao mạnh mẽ, trong đời sống hằng ngày, chỉ riêng việc đánh giá sắc đẹp của người khác đã khó chấp nhận; Thế mà, các cuộc thi sắc đẹp không chỉ vẫn còn “hợp thời”, phổ biến mà còn đang nở rộ, ngày một tăng về số lượng.  Sắc đẹp đại diện  Các cuộc thi sắc đẹp được cổ vũ, ủng hộ bởi nhà nước: hoa hậu có “trọng trách” đại diện, truyền bá văn hóa, hình ảnh Việt Nam đến với thế giới. Khi cần đại diện cho hình ảnh đất nước, người ta thường sẽ chọn phụ nữ mà không cần nhiều lí do. Miss Việt Nam chứ không phải là Mister Vietnam (dù cũng có cuộc thi sắc đẹp cho nam giới, nhưng lép vế hẳn về số lượng và tần suất tổ chức), mới khơi gợi được cảm xúc. Vẻ đẹp của hoa hậu, không đơn giản chỉ là vẻ đẹp của một cá nhân, mà gắn liền với danh tính quốc gia, là thông điệp mà Việt Nam muốn giao tiếp, muốn định vị mình với quốc tế: đó có thể là, vừa hiện đại vừa truyền thống, hòa nhập nhưng không hòa tan, thân thiện, dễ mến, muốn làm bạn với tất cả các nước…  Nhưng kể cả các cuộc thi hoa hậu không tồn tại, phụ nữ vẫn vô thức mang một áp lực về vẻ ngoài của mình phải đại diện cho một điều gì đó lớn hơn chính bản thân họ. Cuốn sách nghiên cứu gần đây của GS. Tu Thuy Linh, Đại học New York, “Thử nghiệm trên da: Vẻ đẹp và Chủng tộc trong những mảng tối của Việt Nam”, cho thấy, vẻ ngoài của những người phụ nữ Việt Nam gắn liền với da thịt hiện đại hóa của thành phố. Có một lực đẩy trong lòng các thành phố đang phát triển phải mang dáng vẻ của các siêu đô thị quốc tế (cosmopolitan), trẻ và sôi động như Tokyo hay Hong Kong. Không chỉ cơ sở vật chất của thành phố với các tòa nhà cao tầng, những trung tâm thương mại mọc lên hào nhoáng cần thể hiện được thông điệp đó, mà cư dân của nó – chính là phụ nữ thành thị cũng phải toát lên một vẻ ngoài thời thượng cho xứng với bối cảnh này. Các chiến dịch của nhà nước và các phương tiện thông tin đại chúng đều chung một thông điệp giục người phụ nữ ngay lập tức phải trở thành một đối tượng hiện đại, biết tiêu dùng các sản phẩm nước ngoài. Họ phải biết trang điểm, mặc đẹp để “hấp dẫn”, “quyến rũ”, “trẻ và đẹp”. Cuốn sách chỉ ra không phải ngẫu nhiên hay vô tình mà thông điệp mà các spa và mỹ phẩm chăm sóc da của người phụ nữ lại trùng với các khẩu hiệu của một loạt dự án phát triển đang mọc lên trong thành phố. Một bên là “sạch, sáng, đẹp”. Bên kia là “xanh, sạch, đẹp”. Hai khẩu hiệu đó đều là nội hàm của từ “hiện đại”, “hiện đại hóa”.  Thêm nữa, dù hiện đại, người phụ nữ vẫn phải giữ được truyền thống, cũng như thành phố vẫn phải còn “bản sắc”. Truyền thông và nhà nước khuyến khích họ dùng sản phẩm nước ngoài nhưng không được nổi loạn. Họ quyến rũ, xinh đẹp nhưng đó là một phần nghĩa vụ để phục vụ “người chồng” để duy trì “gia đình hạnh phúc”. Vẻ ngoài của người phụ nữ trong thời phong kiến bị gò trong khung của chữ dung (một trong tứ đức) thì bây giờ chỉ là chuyển sang một cái khung khác. Phụ nữ vô thức mang áp lực phải đại diện cho một hình ảnh mơ ước của một nơi chốn nào đó, đặc biệt là nếu nơi đó nằm trong một quốc gia đang phát triển với rất nhiều khao khát và mơ ước thay đổi. Nhưng hình ảnh mơ ước là thứ chưa thực hiện được, hay thậm chí là siêu thực, chẳng hạn vừa hiện đại, vừa quốc tế và vừa truyền thống. Dù là hoa hậu hay không, thì phụ nữ vẫn được trông đợi để thể hiện những lý tưởng bất khả.  Sắc đẹp khuôn mẫu  Các cuộc thi hoa hậu càng nở rộ thì càng tô đậm những vẻ đẹp phi thực tế để các hãng mỹ phẩm tóm lấy và quảng bá đến cho những người phụ nữ “bình thường”. Thị trường mỹ phẩm Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, vượt qua cả Trung Quốc. 95% các sản phẩm mỹ phẩm đều là sản phẩm nhập ngoại, chủ yếu tới từ Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Trong năm 2011, Việt Nam nhập khẩu khoảng 500 triệu USD mỹ phẩm, con số này tăng lên thành 1,2 tỉ USD vào năm 2016 và đến năm 2020 tăng gấp đôi là 2,2 tỉ USD.  Cuộc thi hoa hậu không phải là nơi đầu tiên và duy nhất tạo ra những vẻ đẹp phi thực tế. Dù không tham gia, không xem các cuộc thi hoa hậu, phụ nữ vẫn bị bủa vây hằng ngày bởi “định nghĩa thế nào là đẹp”, qua vô vàn hình thức marketing. Hầu như toàn bộ mỹ phẩm, quảng cáo trên ti vi, tạp chí, đều hướng đến một dáng hình đậm tính phương Đông nhưng vẫn phảng phất sắc màu phương Tây: da trắng, sáng, sạch, tóc tối màu huyền bí, người gầy… Thị trường sắc đẹp khuyến khích người phụ nữ nhìn cơ thể mình như một nơi đầy rủi ro và bấp bênh, thúc giục họ kiểm soát điều đó bằng cách tiêu thụ mỹ phẩm ngày càng nhiều. Những tiêu chí của cuộc thi hoa hậu chỉ là sản xuất lại những vẻ đẹp được kiến tạo bởi truyền thông. Hay nói cách khác, cuộc thi hoa hậu chỉ là một trong muôn ngàn đại lộ để vẻ đẹp duy nhất đó tìm đường tiếp cận người phụ nữ.  Thậm chí mỗi chính chúng ta cũng sản xuất lại vẻ đẹp lí tưởng đó trong cuộc sống hằng ngày: ở cách chúng ta khen ai đó xinh đẹp trong gia đình, trong khu phố, trong nơi làm việc, cách chúng ta lựa chọn bạn đời, cách chúng ta chăm sóc cơ thể mình. Chẳng phải nhiều người trong chúng ta tránh ra nắng, che chắn từ chân đến đầu để giữ làn da trắng hay sao?  Kể cả ở Mỹ, khi các cuộc thi hoa hậu không còn nổi tiếng như cách đây 100 năm về trước, khi các phong trào tôn trọng cơ thể của mình đang lớn mạnh, khi đang có sự thúc đẩy xã hội phải đa văn hóa, tăng tính đại diện cho những sắc tộc và cộng đồng người thiểu số khác, khi công chúng bắt đầu được chứng kiến những quảng cáo với các diễn viên gốc Phi, và các quảng cáo không ngại quay lông trên cơ thể, thì tiêu chuẩn đẹp đơn nhất vẫn cứ thắng thế. Hãy nhìn vào tất cả các ngôi sao Hollywood, mọi cơ thể đều có dáng vẻ giống nhau, hầu hết đều trắng, gầy, quyến rũ và trẻ trung vĩnh cửu.  Sắc đẹp = quyền lực  Sắc đẹp và chăm sóc duy trì sắc đẹp theo một hình mẫu lí tưởng là một trong những cách để người phụ nữ thể hiện quyền lực, thể hiện sức ảnh hưởng của mình với xã hội. Từ đâu mà vẻ đẹp của phụ nữ lại có áp lực phải mang tính đại diện nhiều hơn so với nam giới? Có thể là do từ “thiên chức”, “trách nhiệm” mặc định của họ là sinh con đẻ cái, sản sinh ra thế hệ kế tiếp, nên họ được trông đợi phải mang dáng vẻ và khao khát của tương lai. Có thể là do từ xã hội phụ hệ và bất bình đẳng giới đã bén rễ quá chắc chắn trong xã hội loài người, nam giới phô trương quyền lực và tầm ảnh hưởng chính trong rất nhiều địa hạt (spheres) quan trọng và rộng lớn như kinh tế, chính trị. Còn lại, phụ nữ bị giới hạn trong những địa hạt nhỏ, chẳng hạn như gia đình. Họ chỉ có một vài con đường để phô trương tầm ảnh hưởng của bản thân, mà chăm chút vẻ bề ngoài là một ví dụ: người ta ngưỡng vọng phụ nữ đẹp, phụ nữ sinh những đứa con xinh đẹp và khỏe khoắn, phụ nữ trông sáng sủa, phụ nữ trông nề nếp, gia giáo…Dù không biết những suy nghĩ đó xuất phát chính xác từ bao giờ, nhưng dường như nó là cách xã hội được cấu trúc và vận hành từ xưa đến nay. Không chỉ ở Việt Nam. Mà cả những nơi tiến bộ và phát triển như Mỹ và châu Âu, dù họ cố che giấu điều đó dưới những lớp vỏ bọc tinh vi, phức tạp hơn. Đã có nhiều nghiên cứu ở phương Tây cùng chứng minh một kết quả, rằng trung bình, phụ nữ có vẻ ngoài “ưa nhìn hơn” sẽ có lương và thu nhập cao hơn.        Và dù ở Mỹ, cuộc thi hoa hậu không còn nổi tiếng với đại chúng, nhưng vẫn có những ảnh hưởng mạnh mẽ trong một vài cộng đồng. Sự ảnh hưởng của các cuộc thi này thậm chí còn sâu sắc hơn với họ, số cuộc thi vẫn tăng lên, mở rộng từ cả nước đến bang, từ bang đến từng khu phố, biến hóa thành nhiều hình thức, dành cho nhiều lứa tuổi mà sự xuất hiện của cuộc thi sắc đẹp cho trẻ em gái là một trong những chỉ dấu cho sự lớn mạnh của nó. Các gia đình thậm chí sẵn sàng đầu tư rất nhiều tiền để tham gia và chiến thắng những cuộc thi này. Người đăng quang khiến gia đình, dòng họ, khu phố xung quanh tự hào và hãnh diện. Ở Việt Nam, điều đó cũng không ngoại lệ.  Cuộc thi hoa hậu là một con đường để người phụ nữ gây dựng quyền lực của mình. Sự tồn tại của nó như một lời nhắc chúng ta rằng, trong suốt lịch sử, phụ nữ đã từng đánh Đông dẹp Bắc, giao thương sôi động, đóng góp vào dòng chảy kinh tế, nhưng ảnh hưởng về mặt tinh thần của họ vẫn hạn chế so với nam giới. Trong khi đó, con đường tạo ảnh hưởng xã hội thông qua vẻ bề ngoài lại mở ra với người phụ nữ, và nhiều người đã nắm lấy cơ hội đó. Nhưng nên nhớ rằng, cơ hội đó và ảnh hưởng mà nó mang lại rất mong manh và giới hạn. □  —–  Viết từ cuộc phỏng vấn với GS. Tu Thuy Linh, Đại học New York, Mỹ và cuốn sách của bà “Experiments in Skin: Race and Beauty in the Shadows of Vietnam”.        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Những điểm “xung yếu” trong chiến lược phát triển bền vững      Nền kinh tế Việt Nam hiện nay chứa đựng nhiều điểm “xung yếu” chiến lược: hạ tầng giao thông vận tải và năng lượng; nguồn nhân lực; các ngành công nghiệp phụ trợ; cấu trúc thị trường và bộ máy hành chính… Vì vậy ngoài một loạt biện pháp để kiềm chế lạm phát mà Chính phủ đã đưa ra tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội, để có thể phát triển nhanh, bền vững cần thực thi một cuộc cải cách căn bản về nguyên lý và triệt để về cấu trúc.    “Nút” giao thông vận tải và năng lượng  Thời gian qua, hệ thống kết cấu hạ tầng đã có những bước tiến, tuy nhiên các lĩnh vực hạ tầng cụ thể phát triển không đều, phản ánh sự yếu kém tổng thể của hệ thống hạ tầng. Các nhà đầu tư nước ngoài đều khuyến cáo rằng để nâng cao khả năng cạnh tranh và tăng sức hấp dẫn đầu tư nước ngoài, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nên là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh hiện nay. Nhưng việc giải quyết nhiệm vụ này đòi hỏi một lượng vốn lớn đến mức nền kinh tế không thể tự mình đáp ứng, kể cả khi có sự yểm trợ tích cực của nguồn ODA. Nhận định này hàm ý rằng việc cải tạo nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng ở nước ta trong thời gian tới phải đi theo một lộ trình nhất định.  Hệ thống hạ tầng giao thông vận tải: Hạ tầng giao thông chủ yếu của Việt Nam hiện nay là hệ thống đường bộ. Trên thực tế, hệ thống giao thông chưa gắn kết thông suốt trong và ngoài nước. Chúng ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống đường cao tốc theo đúng nghĩa. Ngoài ra còn một điểm cốt yếu khác là hệ thống giao thông đô thị nhiều ách tắc.        Trong khi một số thị trường bị kiềm chế phát triển bởi các thiên kiến và nhận thức cũ (thị trường đất đai, lao động) thì một số thị trường “bậc cao” lại được hỗ trợ phát triển thiên lệch (thị trường chứng khoán) hoặc ít được chú ý (thị trường KH&CN). Kết cục là một hệ thống thị trường yếu tố “khấp khểnh”, thiếu đồng bộ hình thành.          Điểm xung yếu về năng lượng: Mức tiêu thụ điện thấp của Việt Nam gắn với tình trạng thiếu điện nghiêm trọng. Thiên tai, bão lụt làm gia tăng tính bất ổn của tình trạng này. Mức độ bảo đảm an ninh năng lượng thấp thể hiện rõ ở biên độ dao động mạnh của mức thiếu hụt sản lượng điện cả năm, từ 150 triệu kWh lên 1,5 tỷ kWh. Hiệu quả sử dụng năng lượng thấp làm cho an ninh năng lượng trở nên nghiêm trọng hơn.  Thừa lao động, thiếu việc làm  Nguồn nhân lực Việt Nam bị yếu kém ở một số mặt quan trọng, trong đó, nổi bật là:  thừa lao động và thiếu việc làm gay gắt. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm thực tế còn nghiêm trọng hơn nhiều so với mô tả của các số liệu thống kê chính thức. Cơ cấu lao động dịch chuyển chậm dù cơ cấu ngành (sản lượng) biến đổi khá nhanh. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm chậm nhưng số lượng tuyệt đối vẫn tăng. Thừa lao động nói chung nhưng lại thiếu nghiêm trọng lao động chuyên môn, lao động có kỹ năng và trình độ cao là một đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực Việt Nam.  Công nghiệp hỗ trợ yếu kém  Trong cơ cấu công nghiệp hiện nay, sự thiếu vắng hay kém phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ là một đặc điểm nổi bật. Điều báo chí thường nêu gần đây “nền công nghiệp không đủ năng lực sản xuất đến cả chiếc…đinh vít” hay “ngành công nghiệp điện tử 30 năm chưa thoát kiếp làm thuê”.v.v… mô tả khá chính xác thực trạng công nghiệp. Những nguyên nhân có thể được nhận diện đó là: Từ trước đến nay, lực lượng chủ đạo trong lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước, chủ yếu hoạt động theo nguyên tắc khép kín, ít cần các doanh nghiệp phụ trợ. Khu vực tư nhân trong nước non yếu và chậm phát triển không được khuyến khích, không có điều kiện và thiếu khả năng định hướng để phát triển ngành phụ trợ. Công nghiệp phụ trợ nội địa phát triển không tương xứng khiến sản xuất của các doanh nghiệp FDI bị lệ thuộc nhiều các sản phẩm phụ trợ nhập khẩu. Từ đó gây những hậu quả tiêu cực. Và ở khía cạnh dài hạn sẽ  hạn chế sức lan tỏa phát triển từ khu vực FDI đến khu vực trong nước, khu vực tư nhân.  Hệ thống thị trường không đồng bộ        Nhiệm vụ cải cách Nhà nước và cải cách hành chính hiện nay không phải ở vấn đề “biên chế” thuần túy mà là ở chỗ tái cấu trúc cơ cấu và chức năng của bộ máy cho cân đối với đòi hỏi của nền kinh tế và xã hội chuyển đổi.         Hai mươi năm phát triển thể chế thị trường là quãng thời gian không dài. Song với một nền kinh tế đi sau, phải thừa nhận rằng quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam trong thời gian qua diễn ra khá chậm chạp. Nhìn từ góc độ “có vấn đề”, có thể thấy quá trình này mang hai đặc trưng căn bản: Đầu tiên là tính “tự phát” cao, nặng tính kinh nghiệm, dựa vào sự phát triển “tùy hứng”. Tiếp đến là thiếu tính tổng thể, không được dẫn dắt bởi một quy hoạch phát triển bao quát có tầm nhìn xa, theo một lộ trình phù hợp và đủ rõ ràng.  Trong khi một số thị trường bị kiềm chế phát triển bởi các thiên kiến và nhận thức cũ (thị trường đất đai, lao động) thì một số thị trường “bậc cao” lại được hỗ trợ phát triển thiên lệch (thị trường chứng khoán) hoặc ít được chú ý (thị trường KH&CN). Kết cục là một hệ thống thị trường yếu tố “khấp khểnh”, thiếu đồng bộ hình thành. Trong một hệ thống tổng thể không đồng bộ, không thể có một thị trường riêng biệt cụ thể nào có thể phát triển vững chắc và vận hành tốt.  Cơ chế và năng lực quản lý Nhà nước  Cải cách hành chính được định là một “khâu then chốt” của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, sau hàng chục năm triển khai, bước tiến đạt được là khiêm tốn. Sự tụt hậu của “cải cách bộ máy Nhà nước”, bao gồm “cải cách nền hành chính Nhà nước”, so với đổi mới kinh tế, là thực trạng được ghi nhận trong thời gian gần đây.           Cơ chế lương hiện nay vẫn dựa vào 2 trụ cột là “chủ nghĩa bình quân” và chế độ “biên chế suốt đời”. Tiền lương ít được coi là yếu tố “đầu vào” mà chủ yếu được coi là “đầu ra” (phân phối thu nhập). Lương hầu như cũng không gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ cá nhân. Vì lương không đủ sống , cán bộ Nhà nước “được phép” làm thêm, kiếm thêm các khoản ngoài lương. Đối với nhiều người, đây mới là khoản thu nhập chính.        Về cơ cấu và chức năng của bộ máy, thực tế cho thấy công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước đang mắc vào một nghịch lý: công việc ùn tắc trong khi đòi hỏi phải giảm biên chế lại rất gay gắt. Tình trạng 70% hồ sơ hành chính không được giải quyết đúng  hẹn là phổ biến ở tất cả các địa phương và ở mọi cấp.  Nhiệm vụ cải cách Nhà nước và cải cách hành chính hiện nay không phải ở vấn đề “biên chế” thuần túy mà là ở chỗ tái cấu trúc cơ cấu và chức năng của bộ máy cho cân đối với đòi hỏi của nền kinh tế và xã hội chuyển đổi.  Về cơ chế vận hành bộ máy quản lý Nhà nước: Sau 20 năm, Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn vượt qua được cơ chế “xin-cho”; “bộ chủ quản”,v.v… Chúng ta cũng chưa khắc phục được hậu quả phát sinh như bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả; nạn tham nhũng, gánh nặng chi phí cho bộ máy hành chính.  Quan hệ xã hội ngày càng nhiều, nhu cầu kiểm tra và quản lý các mối quan hệ ngày càng lớn buộc bộ máy hành chính ngày càng phình to, bất chấp các chương trình tinh giản biên chế. Việc thực thi nguyên lý “xin-cho” và “quản lý tuyệt đối” còn tạo ra sức ỳ trong xã hội. Trước cái mới, người ta thụ động chờ “lệnh”. Điều này hủy hoại sức sáng tạo, cản trở  tính năng động – phẩm chất quan trọng nhất của thời đại cạnh tranh.  Nguyên lý tổ chức của bộ máy còn bất cập: Lâu nay, hoạt động thu chi ngân sách căn cứ chủ yếu vào “thu” (“thu đủ-chi đủ”; “lấy  thu bù chi”). Cơ chế này làm cho các nguyên tắc chi tiêu ngân sách thiếu chặt chẽ, rõ ràng. Từ đó dẫn tới chi tràn lan, chi bình quân, không kiểm soát được chi. Đây là một “lỗi hệ thống” nghiêm trọng, gây ra hai bất cập lớn.  Tình trạng không phân định rõ chức năng Nhà nước và thị trường trong vai trò tổ chức và điều chỉnh nền kinh tế vẫn chưa được cải thiện. Cơ chế lương hiện nay vẫn dựa vào 2 trụ cột là “chủ nghĩa bình quân” và chế độ “biên chế suốt đời”. Tiền lương ít được coi là yếu tố “đầu vào” mà chủ yếu được coi là “đầu ra” (phân phối thu nhập). Lương hầu như cũng không gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ cá nhân. Vì lương không đủ sống, cán bộ Nhà nước “được phép” làm thêm, kiếm thêm các khoản ngoài lương. Đối với nhiều người, đây mới là khoản thu nhập chính. Theo logic đó, sự mất cân đối giữa công việc – tiền lương ngày càng nghiêm trọng.  Bên cạnh đó, lại tồn tại một hệ thống “trợ cấp chính sách” theo chức vụ: nhà ở, phương tiện đi lại và nhiều ưu quyền phân phối không chính thức khác. Cán bộ càng cao thì “phần lợi ích chính sách” này càng lớn, thu nhập thực tế càng cao. Vì thế, họ khó thấy sự bức bách của việc phải thay đổi căn bản chế độ tiền lương.  Do vậy, để cải cách hành chính thành công, cần tập trung vào khâu then chốt là cải cách chế độ tiền lương trongkhu vực Nhà nước theo nguyên lý “lương là đầu vào, chỉ trả theo công việc”, minh bạch hóa và cắt giảm, tiến tới cắt bỏ phần “trợ cấp chính sách”, tách tiền lương ra khỏi các khoản trợ cấp xã hội.  ***  Tất cả những điều nói trên cho thấy chúng ta còn nhiều vấn đề, nhiều điểm yếu cốt tử trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển nhanh, bền vững. Và khắc phục thực trạng đó không thể chỉ dừng lại ở việc chỉnh sửa, nâng cấp một vài yếu tố, công đoạn cụ thể, riêng biệt của hệ thống. Mà cần một cuộc cải cách toàn diện, căn bản về nguyên lý và triệt để về cấu trúc, trong đó cải cách hành chính dù chỉ là một khâu trong toàn bộ dây chuyền cải cách Nhà nước, song trong tổng thể, nó là khâu khởi động, là điểm đột phá bảo đảm cho công cuộc cải cách thành công.    Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều cần bàn về lời nói đầu Hiến pháp 1992      Lời nói đầu của Hiến pháp Việt Nam hiện hành dài kỷ lục – chín câu, 538 từ – và kiêm nhiệm nhiều chức năng không phải của một bản hiến pháp thông thường. Lời nói đầu của một bản hiến pháp thông thường cần thể hiện những nội dung gì?  &#160;    Tất cả trong một  Hiến pháp là sự thể hiện ý chí đồng thuận về việc thành lập nên một nhà nước và trao quyền cho bộ máy nhà nước. Sự thỏa thuận này được luật tư gọi là hợp đồng. Và một nhân tố của hợp đồng cần được thể hiện là mục đích của hợp đồng. Mục đích của hợp đồng hay mục đích của hiến pháp là lý do để các bên của hợp đồng đến với nhau, là lý do của nhân dân ủng hộ nhà nước.   Mục đích của hợp đồng hay mục đích của hiến pháp cũng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề giải thích hợp đồng. Khi ngôn từ trong từng điều khoản của hợp đồng có chỗ nào không rõ thì mục đích hợp đồng là ngọn hải đăng dẫn đường cho việc giải thích. Mục đích hợp đồng cũng đòi hỏi việc giải thích hợp đồng hay hiến pháp phải mang tính hệ thống, các điều khoản không được tách rời nhau; khi hai điều khoản của hiến pháp cùng liên quan một vụ việc nhưng có nội dung mâu thuẫn nhau thì không thể nói rằng điều A có hiệu lực cao hơn điều B mà chỉ có thể nói rằng điều A phù hợp với mục đích của hiến pháp, còn điều B thì không.  Chính vì vai trò quan trọng như vậy của mục đích hiến pháp, nên lời nói đầu của các bản hiến pháp văn minh thường thể hiện rất rõ nét.   Lời nói đầu Hiến pháp Liên bang Hòa Kỳ năm 1787 vỏn vẹn một câu như sau:  “Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc, với mục đích xây dựng một Liên bang hoàn hảo hơn, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước và sự phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong liên minh, giữ vững nền tự do cho bản thân và các thế hệ mai sau, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này cho Hợp chúng quốc Mỹ châu.”  Hoàn toàn tương tự, lời nói đầu của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức, cũng tóm gọn mục đích và chủ thể của hiến pháp trong một câu:  “Ý thức về trách nhiệm trước Thượng đế và loài người, với mong muốn gìn giữ hòa bình thế giới với tư cách là một thành viên bình đẳng trong một liên minh châu Âu, thông qua cơ quan lập hiến của mình, nhân dân Đức đã tự ban hành nên bản hiến pháp này.”  Hiến pháp cũng như hợp đồng đều thể hiện sự thống nhất ý chí giữa các bên liên quan. Và vì vậy trong hiến pháp cũng như trong hợp đồng không thể nào thiếu thông tin về các chủ thể liên quan. Trong hợp đồng theo luật tư thì thông tin về bên A, bên B được ghi rất chi tiết, nhưng trong hiến pháp thì thông tin về bên A rất ngắn gọn: nhân dân; có thể trực tiếp như Lời nói đầu Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Đức: “chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, “nhân dân Đức” hoặc gián tiếp như Lời nói đầu Hiến pháp 1946: “Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên”.   Việc thể hiện thông tin về chủ thể của hợp đồng liên quan chặt chẽ tới hiệu lực hợp đồng. Theo Điều 127 Khoản 1 điểm a và Điều 410 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, thì một hợp đồng dân sự khi không rõ chủ thể, nhầm lẫn chủ thể, chủ thể không đủ năng lực đều có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu. Đối với hiến pháp cũng vậy, những khiếm khuyết liên quan chủ thể lập hiến có thể dẫn đến một bản hiến pháp không còn giá trị.   Bằng ngôn ngữ gián tiếp, nhưng lời nói đầu của Hiến pháp 1946 đã thể hiện thành công cả chủ thể và mục đích của hiến pháp.   Chủ thể quyền lập hiến theo Hiến pháp 1946 là “quốc dân” (nhân dân), và được thể hiện như sau:   “Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.  Còn mục đích của hiến pháp là:   “độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại”.  Tiếp tục truyền thống dùng ngôn ngữ gián tiếp, lời nói đầu của các bản hiến pháp 1959, 1980 khá tản mạn. Mục đích của hiến pháp không được lời nói đầu hiến pháp 1992 đề cập và mãi đến năm 2001 mới được bổ sung như sau:  “Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,nhân dân Việt Nam nguyện phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”  Đổi ngôi chủ thể  Nếu như mục đích của hiến pháp không có sự thay đổi lớn, thì chủ thể của hiến pháp có sự “đổi ngôi” kể từ lời nói đầu Hiến pháp 1959. Nhân dân không còn là bên A mà trở thành bên B của khế ước trao quyền, nhân dân không còn quyền lập hiến như lời nói đầu Hiến pháp 1946 nữa. Kể từ Hiến pháp 1959, thì nhân dân không phải là chủ thể đứng ra giao quyền và nghĩa vụ cho nhà nước nữa, mà ngược lại: nhà nước đặt ra hiến pháp, và thông qua hiến pháp đặt ra quyền và nghĩa vụ của công dân. Còn nhân dân có một bổn phận hoàn toàn mới:   “Toàn thể nhân dân Việt Nam đoàn kết chặt chẽ dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Đảng cộng sản Việt Nam, ra sức thi hành Hiến pháp“ (Đoạn 18 Lời nói đầu Hiến pháp 1980).   Sự “đổi ngôi” này đã nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của các cơ sở đào tạo luật học, và khẩu hiệu: “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đã trở thành tinh túy của nền luật học Việt Nam sau 1959.   Hiến pháp như một tấm bia ghi công?  Lời nói đầu của các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều liệt kê khá chi tiết các thành công của cách mạng.   Tôi không muốn bàn về “lịch sử hư, lịch sử ngoan”(1), tôi chỉ muốn cùng độc giả bàn về việc các luật gia Việt Nam bắt hiến pháp phải kiêm nhiệm thêm những chức năng không vốn có của nó: bia công đức và biên niên sử.  Liệu có phải việc đưa các thành công, chiến thắng vào Lời nói đầu của Hiến pháp sẽ giúp cho công dân Việt Nam không bao giờ quên các chiến thắng của cha ông mình?  Về tính khoa học của việc tiếp tục để Hiến pháp Việt Nam kiêm nhiệm thêm nhiều chức năng nữa hay không thì còn phải tranh luận thêm. Nhưng việc kiêm nhiệm chức năng là câu trả lời cho câu hỏi tại sao lời nói đầu của hiến pháp Việt Nam lại có độ dài kỷ lục như vậy.        LỜI NÓI ĐẦU HIẾN PHÁP 1992   Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.   Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tiếp đó, suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự giúp đỡ quý báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.   Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.   Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.   Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.   Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.           —  (1) Xem thêm Phạm Anh Tuấn, Lịch sử Ngoan, lịch sử Hư…, ngày 11/8/2011 http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-10-lich-su-ngoan-lich-su-hu-             Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều có thể học từ hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ      Bài viết này tập trung trình bày những cái tinh túy nhất mà tôi quan sát được ở những trường học có chất lượng cao tại Mỹ – những điều có thể áp dụng trực tiếp cho đổi mới giáo dục tại Việt Nam. Vì thế, xin bạn đọc đừng cho rằng rằng tôi quá khen hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ. Bài này gồm bốn phần: Đào tạo là để làm việc; Sinh viên; Giáo viên; Các vấn đề khác.    Đào tạo là để làm việc  Đào tạo tại Mỹ, nhìn chung, không nhằm vào việc tạo ra những con người hoàn hảo, những trí thức chung chung; mà nhằm đào tạo người để làm việc chuyên môn trong những ngành cụ thể, với những kỹ năng cụ thể, mục đích cụ thể. Để làm điều này, giáo dục đại học của Mỹ chú trọng ít nhất hai điều sau: (1) nó linh động thay đổi việc đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động; và (2) nó khuyến khích sinh viên học theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa.  Để làm điều thứ nhất, nó có thể co dãn lượng tiền đầu tư và số lượng sinh viên lấy vào cho mỗi ngành lớn và chuyên ngành hẹp trong đó, tùy theo xu hướng phát triển của xã hội. Ví dụ như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, y tế và vật liệu là những ngành mũi nhọn cho phát triển thì các trường sẽ tăng lượng người nhận cho các ngành này, lấy nhu cầu cao hơn, cấp nhiều học bổng hơn; trong khi đó, nó thu hẹp dần những ngành không còn mấy khả năng ứng dụng như nhân chủng học, sử học, thần học. Hoặc ngành công nghiệp giải trí (phim ảnh, báo chí, thể thao, giải trí nói chung), ngành chăm sóc sức khoẻ tinh thần đang ngày càng bành trướng và là một trong những ngành vẫn tăng trưởng lợi nhuận so với các ngành công nghiệp cũ đang chết dần; thì các trường nói riêng và toàn nền giáo dục nói chung tăng đầu tư cho các ngành đó. Cũng phải nói thêm, điều này thực hiện được là vì các trường học của Mỹ, nhất là trường tư, khá độc lập về tài chính và vận hành không chịu các kiểm soát về khung chương trình bắt buộc hay sử dụng tài chính từ một thứ Bộ hay Sở giáo dục nào; tuy rằng họ cũng có hội đồng kiểm soát riêng.  Để làm điều thứ hai, khi nhận sinh viên vào trường, giáo dục Mỹ áp dụng một mô hình chuyên môn hóa đối với việc học. Thay vì việc dựng một khung chương trình bắt buộc mà tất cả các sinh viên của một ngành học phải theo học giống hệt nhau, các trường Đại học tại Mỹ chỉ yêu cầu sinh viên mỗi ngành học một số lớp cơ bản, có tính nền tảng cho ngành; còn lại, họ được tự do chọn lớp học bổ trợ theo ý họ; sao cho họ có thể củng cố kỹ nhất kiến thức trong chuyên ngành hẹp của mình và trở thành chuyên gia ở lĩnh vực của họ. Lấy ví dụ như trong ngành công tác xã hội; sinh viên sẽ phải học bắt buộc một số lớp về các lý thuyết đưa đến đói nghèo và bất bình đẳng xã hội, về phương pháp nghiên cứu, về phát triển con người, và phải thực tập bắt buộc 2 năm. Nhưng ngoài những đòi hỏi trên, sinh viên sẽ được tự do chọn lớp để học và chọn nơi thực tập sao cho phù hợp nhất. Nếu bạn muốn tập trung vào nhóm đối tượng trẻ em chẳng hạn, bạn có thể học thêm các lớp về sự phát triển sinh lý của trẻ em, về tâm lý trẻ em, về quá trình hình thành nhận thức ở trẻ, về cách mà đứa trẻ học, vân vân… Trong mỗi một lĩnh vực nhỏ này, bạn có thể tự chọn thêm các lớp chuyên sâu; lấy ví dụ như đối với quá trình phát triển tâm lý, bạn lại rẽ nhánh tập trung vào phát triển tâm lý của trẻ bình thường, hay là trẻ bị khuyết tật, hay trẻ nghèo, trẻ sinh trong gia đình mà bố mẹ li dị hoặc liên tục có xung đột. Nói tóm lại là bạn sẽ học tập trung vào một lĩnh vực nhỏ mà bạn có thể ứng dụng để làm việc khi tốt nghiệp.  Sẽ có một vấn đề nảy sinh cho hướng giáo dục này là đôi khi nhà trường không có đủ lớp học và giáo viên cho tất cả các lĩnh vực hẹp trong một ngành. Giả sử như tôi muốn học về thời kỳ thuộc địa tại Việt Nam, tôi sẽ không tìm được lớp học hoặc giáo viên trực tiếp làm về vấn đề này vì, giả sử, khoa sử của trường tôi chỉ tập trung vào mảng lịch sử Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và một phần Châu Á (Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ) chứ không có Đông Nam Á. Để giải quyết vấn đề này, các trường học khuyến khích sinh viên đăng ký các lớp học độc lập (independent study hoặc independent reading). Theo cách này, sinh viên sẽ tìm một giáo sư gần nhất với lĩnh vực mà mình quan tâm (ví dụ như tôi tìm giáo sư về chính sách thuộc địa của Pháp); sau đó, sinh viên và giáo sư sẽ tự xây dựng danh sách các sách nên đọc, tự xây dựng lịch đọc, lịch gặp gỡ và nói chuyện về chủ đề, vv… Thậm chí, cho một lớp độc lập như thế, sinh viên có thể cùng lúc học với hai, ba thầy để bổ sung kiến thức cho nhau. Theo cách đó, tôi phải tự đọc và học rất nhiều. Nói tóm lại, sẽ không có chuyện sinh viên tốt nghiệp ra giống hệt nhau về các lớp học và chỉ có kiến thức chung chung; mà thường họ có kiến thức định hướng để áp dụng làm việc.  Nhìn lại giáo dục đại học ở Việt Nam mà tôi biết: hãy lấy ví dụ cụ thể là trường Ngoại thương mà tôi theo học từ năm 1995 đến năm 2000. Trong 5 năm, tất cả sinh viên học các lớp giống hệt nhau: một lớp thanh toán quốc tế, một lớp luật trong ngoại thương, một lớp bảo hiểm, một lớp vận tải; một lớp kế toán – tài chính; thậm chí học cả những lớp như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv… Tốt nghiệp ra, nhìn chung sinh viên đều chỉ có kiến thức chung chung giống nhau, một tí về bảo hiểm, một tí về thanh toán quốc tế, một tí về luật, một tí kế toán, một tí về kỹ năng giao tiếp trong đàm phán, vv… Khi đi làm cụ thể, sinh viên rất lúng túng và hầu như sẽ phải tự đào tạo lại. Lẽ ra, chỉ nên có một số lớp bắt buộc; còn lại, sinh viên nếu muốn chuyên sâu vào bảo hiểm hàng hoá trong ngoại thương thì nên chỉ chọn học các lớp chuyên sâu; sinh viên muốn làm về thanh toán quốc tế nên học chuyên sâu vào lĩnh vực đó. Những môn như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv… nên coi là môn tự chọn, ai thích thì học, ai không thích thì mạnh dạn bỏ hẳn; không nên đào tạo ra những người biết chung chung, hoàn hảo chung chung. Như thế, vừa đào tạo được một đội ngũ có chuyên môn chắc ở các lĩnh vực khác nhau, vừa khiến sinh viên tập trung học vào những gì mình thích và không bị phân tán vào những thứ khác. Đây sẽ là một cách hiệu quả để tạo cho sinh viên sự hứng thú trong học tập; đồng thời tập cho họ suy nghĩ về công việc, định hướng sống của mình; cũng như suy nghĩ một cách thực tế, có mục đích với những kiến thức của mình và biết cách tước bỏ những thứ rườm rà.   Ưu việt rõ ràng của mô hình đào tạo để làm việc là nó sẽ liên tục có người khai phá những con đường mới trong lý thuyết và ứng dụng. Ví dụ như trong lúc sinh viên học chuyên sâu một ngành nào đó mà phải dùng tới kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau, họ sẽ nảy ra những câu hỏi về những vấn đề mới, đưa đến những phát minh mới. Nói cách khác, sự mở đường có thể liên tục được manh nha trong quá trình học và nghiên cứu.  Sinh viên           1. Nâng cao tính tự chủ và quyền của sinh viên:  Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập, biết điều mình muốn làm, biết cách suy nghĩ và ra quyết định, biết các quyền và nghĩa vụ của mình; cũng như biết cách thực hành các quyền ấy trong đời sống hàng ngày (ít nhất là tôi thấy biểu hiện của những điều này nhiều hơn rất nhiều so với Việt Nam). Trong giáo dục đại dục, để nâng cao tính tự chủ và quyền sinh viên, các nhà trường xây dựng một quy chế trong đó:      Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập.  – Mỗi sinh viên được tự chọn lĩnh vực học, tự chọn lớp học và tự xây dựng lịch học cho mình. Họ không nhất thiết phải tốt nghiệp trong 4 năm, mà chỉ cần hoàn thành một số lượng học trình nhất định; họ có thể hoàn thành nhanh hoặc chậm tùy ý; tuỳ điều kiện; có người học 2 năm, rồi bảo lưu kết quả để đi làm, rồi lại quay lại trường học tiếp.  – Đầu mỗi kỳ học, giáo viên công bố lịch học cụ thể cho cả kỳ học (gọi là syllabus), trong đó ghi rõ các sách phải có cho học kỳ, các nội dung sẽ học với từng ngày lên lớp, và các bài sẽ đọc trong mỗi giờ lên lớp. Giáo viên có thể tải lịch học này lên mạng từ trước học kỳ, để sinh viên biết nội dung lớp học mà quyết định có chọn học hay không (thường sinh viên được khuyến khích đến gặp giáo viên để nói chuyện trước khi kỳ học bắt đầu, để có thể quyết định tốt hơn). Sinh viên thường phải đọc bài trước khi đến lớp và lớp học sẽ mang tính thảo luận, chứ không theo hướng thầy giảng – trò ghi bài.  – Sinh viên được khuyến khích tự học, tự đọc, tự tìm hiểu rất nhiều bên ngoài những gì giảng trên trường. Các bài tập hàng tuần hướng nhiều vào thực hành và kỹ năng phân tích vấn đề, chứ không phải hướng vào việc “thuộc bài”. Ví dụ như bài tập có thể yêu cầu sinh viên phải trực tiếp đi phỏng vấn bên ngoài, đi lấy số liệu để phân tích vấn đề hoặc đọc thêm rất nhiều để viết bài phân tích. Cũng trên khía cạnh này, hầu hết sinh viên Mỹ đều đi làm thêm, trong hoặc ngoài trường. Rất nhiều người làm các công việc bình dân như hầu bàn, đưa báo, lái taxi, khuân vác, bán hàng, vv… và họ thấy rất thoải mái, không có gì phải xấu hổ.  – Sinh viên có thể vay tiền của chính phủ, của trường hoặc các tổ chức tài chính thông qua trường để trả học phí; sau này đi làm, sinh viên sẽ trả lại tiền. Có những sinh viên vay nợ toàn bộ học phí để có thể đi học, tập trung học giỏi; sau khi tốt nghiệp, họ dùng lương trả nợ trong vòng vài năm. Ví dụ, một giáo sư mà tôi quen, mặc dù năm nay đã hơn 40 tuổi, vẫn đang tiếp tục trả nợ tiền học phí từ thời đi học đại học theo kiểu trả từng khoản nhỏ hàng tháng.  – Sinh viên có quyền sử dụng tất cả các cơ sở vật chất trong trường học như thư viện, nhà thể thao, phòng máy tính, lấy giấy chứng nhận điểm học, vân vân… Ví dụ như ở trường tôi (Đại học Chicago – University of Chicago ), mỗi lần vào thư viện, sinh viên tự tra sách, tìm sách trong kho, rồi mượn thoải mái về nhà; sinh viên có thể lấy điểm học bất cứ lúc nào, không mất lệ phí và không cần chữ ký mà có hệ thống chuẩn về việc này.  – Sinh viên được có tổ chức và đại diện để tham gia vào các quyết định của trường học hoặc của khoa, như quyết định về thay đổi chương trình học, quyết định về việc thay hiệu trưởng, quyết định về học phí, về bảo hiểm, về việc xây dựng trường, về các hoạt động xã hội, vân vân…  – Sinh viên có quyền và được khuyến khích trao đổi thẳng thắn với giáo viên; kiến nghị khi có các biểu hiện không lành mạnh ở giáo viên; yêu cầu thay đổi giáo viên không có trình độ chuyên môn, vv…  – Sinh viên có quyền được truy cập hồ sơ về bản thân mình, có quyền xem các nhận xét của giáo viên về bản thân (trừ khi họ ký giấy từ bỏ quyền này) và có quyền kiện khi giáo viên có nhận xét sai hoặc có biểu hiện phân biệt đối xử với mình.  – Cuối mỗi kỳ, sinh viên phải làm một bản đánh giá giáo sư của mình (bảng này không đề tên sinh viên) và điểm đánh giá của các giáo sư được công khai trong trường cho sinh viên xem. Thường trước mỗi học kỳ, khi chọn lớp học, sinh viên hay xem điểm đánh giá giáo viên các năm trước để quyết định.  – Sinh viên có quyền đề cử và bầu các giáo viên giỏi, có tâm huyết vào các chức danh; thay vì để cho nhà trường xét duyệt giáo viên giỏi. Thường cuối mỗi năm học, hiệu trưởng trường hoặc trưởng một khoa gửi thư cho sinh viên toàn trường yêu cầu đề cử giáo viên giỏi. Các sinh viên sẽ viết thư đề cử và ký tên gửi lên hiệu trưởng. Họ công khai các thư này và còn công khai viết thư để vận động trong trường cho giáo viên mà họ kính trọng.  2. Giảm sự coi trọng bằng cấp, điểm, và các thứ hình thức; chú trọng vào con người:  Đây có lẽ là điều mà tôi tâm đắc nhất với hệ thống giáo dục Mỹ nói riêng và hệ thống vận hành của nước Mỹ nói chung: nó chú trọng vào bạn, chính con người bạn – như một cá thể riêng biệt và trọn vẹn; chứ không phải dựa trên những thước đo hình thức chung chung. Điều này được thực hiện thông qua các hoạt động như:  – Việc chọn vào học đại học không thông qua một kỳ thi đại học mà thông qua xét hồ sơ cá nhân, bao gồm học bạ trung học, điểm thi các kỳ thi trắc nghiệm trình độ được chuẩn hoá bởi cơ quan độc lập (SAT), thư giới thiệu của giáo sư hoặc người quản lý, bài tự viết của thí sinh về mục đích và kế hoạch học tập, các tài liệu bổ trợ khác về kinh nghiệm cá nhân, hoạt động ngoại khoá, vv… Hình thức này có thể chưa thực tế ở Việt Nam; tuy nhiên, về lâu về dài, chúng ta nên nghĩ đến việc đánh giá con người dựa trên khả năng và tiềm năng tổng thể thay vì các biểu hiện hình thức và có tính rủi ro cao như thi đại học.  – Không công bố điểm của sinh viên một cách công khai với các sinh viên khác hoặc với giáo viên khác, trừ khi có lí do chính đáng. Nên coi chuyện điểm học là chuyện riêng tư, sinh viên có quyền giữ kín. Điều này để sinh viên có thể có một môi trường bình đẳng với nhau và với giáo viên; tạo cho sinh viên sự tự trọng. Đồng thời, sinh viên phải làm bài liên tục trong kỳ, giữa kỳ và một bài lớn cuối kỳ để tính điểm cho cả học kỳ chứ không theo phương thức “cái chết bất ngờ” như ở Việt Nam (tức là cả kỳ chỉ có một bài thi ở cuối kỳ).  – Không có chính sách ưu tiên với lớp trưởng, cán bộ hoặc con giáo viên. Nếu ai thích làm lớp trưởng hoặc chủ tịch hội sinh viên thì tự ứng cử và sau này sẽ có lợi trong hồ sơ xin làm việc hoặc học bổng; nhưng không đánh đồng hoạt động này với trình độ học hành; do đó không có chuyện cộng điểm cho người hoạt động.  – Sinh viên có quyền chọn học lấy điểm thông thường (A, B, C, D), hoặc chỉ nghe giảng mà không lấy điểm nhưng vẫn có tên môn học trong bảng điểm, hoặc lấy điểm theo chế độ Qua/Trượt (Pass/Fail); như vậy, sinh viên có thể tập trung sức vào những môn mình muốn học   Giáo dục đại học tại Mỹ tạo cho sinh viên môi trường để thực hành quyền làm chủ, nuôi dưỡng cảm giác mình là một người lớn, một công dân ngang bằng với những người khác, có tiếng nói, có sự tự tôn, có các quyền và nghĩa vụ mà mình phải làm. Nó cũng tập cho sinh viên cách tự suy nghĩ, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm với các quyết định của mình. Nó tập cho họ sự trung thực, biết rằng sự thực được tôn trọng và do đó mà sống thẳng thắn hơn trong cuộc sống.  và không phải quá lo lắng về điểm ở những môn mình không quan tâm nhiều.  – Nếu sinh viên gặp khó khăn với một môn học dù đã hết sức cố gắng thì có thể nói chuyện với giáo viên để tìm sự giúp đỡ riêng; và miễn là bạn cố gắng, bạn sẽ được đánh giá về cố gắng của bạn. Ví dụ như trong lớp học về phân tích số liệu mà tôi là trợ giảng, có một số sinh viên đã lớn tuổi (trên 50 tuổi), cho nên họ rất chật vật với tính toán và các phần mềm phân tích số liệu mặc dù đã rất cố gắng. Trong trường hợp này, họ sẽ gặp gỡ với giáo sư và trợ giảng hàng tuần để học thêm. Khi xem xét bài làm của họ, chúng tôi thường châm chước các lỗi vì biết họ cố gắng rất nhiều.  – Không quá coi trọng điểm số trong quá trình xét học bổng, xin việc của sinh viên; mà xem xét mỗi người trong hoàn cảnh riêng của họ, xem xét nỗ lực, khả năng và tiềm năng của họ.      Phan Việt     Nguồn tin: Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều kiện cần cho phản biện xã hội      V&#224;i năm gần đ&#226;y, vấn đề phản biện x&#227; hội đ&#227; được n&#234;u l&#234;n kh&#225; nhiều trong c&#225;c cuộc thảo ch&#237;nh thức hoặc kh&#244;ng ch&#237;nh thức trong giới tr&#237; thức Việt Nam. Đa số đều cho rằng hoạt động n&#224;y l&#224; cần thiết v&#224; cần được tạo điều kiện để ph&#225;t triển, tuy nhi&#234;n c&#226;u hỏi v&#236; sao hoạt động phản biện x&#227; hội tại Việt Nam c&#242;n yếu… vẫn chưa được trả lời một c&#225;ch thấu đ&#225;o. B&#224;i viết n&#224;y l&#224; một cố gắng đi t&#236;m c&#226;u trả lời cho c&#226;u hỏi tr&#234;n.    1.                  Phản biện xã hội yếu vì thiếu văn hóa tranh luận  Theo chúng tôi vấn đề mấu chốt của phản biện xã hội không hệ tại ở việc có hay không có những hành lang pháp lý cho vấn đề này, mà vấn đề cơ bản hơn đó là vì trong xã hội chưa hình thành được một nền văn hóa tranh luận, tức là xã hội hiện nay chưa tạo ra được những cá nhân – tức các thành viên cơ bản của xã hội – những nền tảng cần thiết để thực hiện các cuộc tranh luận, cũng như chưa có một cấu trúc xã hội tạo cơ hội cho sự tranh luận và phản biện được diễn ra.  Trước hết chúng ta hãy cùng nhìn vào thiết chế gia đình. Xét về mặt xã hội học, gia đình là thiết chế quan trọng đầu tiên trong quá trình xã hội hóa (socialization) cá nhân hiểu theo nghĩa xã hội học của khái niệm này. Theo nghĩa xã hội học thì xã hội hóa là quá trình cá nhân được đào luyện để có thể sống và trở thành một thành viên hợp chuẩn trong xã hội, đứa “trẻ sói” là đứa trẻ không thể sống được trong xã hội loài người vì nó không được trải qua quá trình học làm con người để sống trong xã hội loài người. Cũng vì vậy mà văn hóa tranh luận của mỗi cá nhân trước hết cũng phải được đào luyện, được học từ trong bối cảnh gia đình, thế nhưng kiểu giáo dục con cái của đa số gia đình Việt Nam hiện nay lại gần như không trang bị cho cá nhân những phẩm chất cần thiết cho nền văn hóa này. Thật vậy trong bối cảnh gia đình Việt Nam hiện nay, mối quan hệ giữa cha mẹ-con cái là mối quan hệ giữa kẻ “thống trị” (dominant), tức cha mẹ và kẻ “bị trị” (dominé), tức con cái chứ không phải mối quan hệ giữa những chủ thể (actors) có sự độc lập và tự chủ cá nhân. Chính vì là mối quan hệ thống trị-bị trị nên cha mẹ thường chỉ giáo dục cho con cái những phẩm chất của kẻ tiếp nhận mệnh lệnh, kẻ chỉ biết vâng lời và thực hiện chứ hoàn toàn không phải là người có chủ kiến riêng nên họ cũng không bao giờ hé lộ những khả năng cho sự đối thoại hay sự tranh luận của con cái.  Rời gia đình, đứa trẻ gia nhập vào trong môi trường học đường và nơi đây đứa trẻ lại tiếp tục phải sống trong thân phận của kẻ bị trị, và người thống trị ở môi trường này chính là những thầy cô giáo của các em. Thật vậy trong nhiều năm qua, trường học gần như chỉ là nơi truyền thụ kiến thức một chiều mà trong đó thầy cô là những người nắm giữ chân lý và ban phát chân lý trong khi học sinh chỉ là kẻ tiếp nhận thụ động. Trường học Việt Nam gần như không trang bị bất cứ kỹ năng tranh luận nào cho người học cả, đồng thời cũng không mở ra các cơ hội tranh luận cho người học vì sách giáo khoa được xem là “pháp lệnh”, mà đã là pháp lệnh thì không còn gì để tranh luận nữa mà chỉ cần học thuộc mà thôi. Mặc dù chúng ta đã nói tới lối giáo dục “lấy người học làm trung tâm” nhưng gần như đó chỉ là lý thuyết còn trên thực tế thì người thầy vẫn là trung tâm nên sự tranh luận giữa thầy và trò gần như là không hiện diện.  Khi gia đình và nhà trường không hề trang bị cho cá nhân những phẩm chất cần thiết để tranh luận nên chỉ có thể tạo ra được những cá nhân chỉ biết tuân lệnh trong quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan công quyền. Mặc dù chúng ta nói dân làm chủ nhưng thực tế trong mối quan hệ dân-quan hiện nay, người làm chủ là quan chứ không phải là dân, bởi khi đến với các cơ quan công quyền người dân không có quyền “yêu cầu” mà chỉ được quyền “xin” mà thôi. Xin như thế nào cũng phải theo đúng khuôn mẫu do người cho (quan) qui định và quan cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu chứ hoàn toàn không được tranh luận tại sao với quan.  Như vậy có thể thấy là vì một thời gian dài chúng ta không hề đào tạo cho các cá nhân trong xã hội những phẩm chất để tranh luận, những cơ hội để tranh luận thì làm sao hình thành và phát triển được sự phản biện xã hội. Tuy nhiên nếu chúng ta tạo ra được những cá nhân biết tranh luận thì điều kiện thứ hai để phản biện xã hội có thể xảy ra đó là phải có mô hình xã hội phù hợp.  2.                  Phản biện xã hội và mô hình xã hội  Để phản biện xã hội có thể xảy ra thì phải có mô hình xã hội phù hợp, tức là mô hình xã hội mà ở đó quyền lực xã hội được phân tán cho nhiều thực thể khác biệt nhau chứ không chỉ tập trung duy nhất vào trong tay một thực thể nào. Trong mô hình xã hội có quyền lực phân tán, sẽ có nhiều thực thể cùng nắm quyền lực vừa độc lập nhưng cũng vừa chế định lẫn nhau để không một thực thể nào có thể tự mình quyết định mọi chuyện trong xã hội. Đồng thời các thực thể này đều phải chịu sự chi phối của thiết chế cao nhất đó là thiết chế pháp luật. Như vậy mô hình xã hội với quyền lực phân tán chỉ có thể có trong một Nhà nước pháp quyền thực sự, và vì vậy, chỉ trong Nhà nước pháp quyền thì sự phản biện mới có thể diễn ra. Ở đây cũng cần lưu ý là với mô hình Nhà nước pháp quyền “danh nghĩa” thì sẽ không thể có phản biện xã hội bởi trong mô hình Nhà nước pháp quyền danh nghĩa, quyền lực tối thượng, xét cho cùng, cũng chỉ tập trung trong tay một thực thể “ưu tuyển” (elite) nào đó mà thôi và do đó, sự phản biện xã hội nếu có diễn ra thì cũng hết sức hạn chế bởi điều này phụ thuộc vào mức độ “cởi mở” của thực thể ưu tuyển trong xã hội.  Như vậy để văn hóa tranh luận và sự phản biện xã hội thì bên cạnh những phẩm chất cần thiết của cá nhân thì còn phải có mô hình tổ chức xã hội phù hợp để cho tranh luận và phản biện được diễn ra nữa. Và cái mô hình xã hội đó đã từng được nhà chính trị học, tư tưởng gia người Pháp là Charles de Montesqieu phát họa.  3.                  Phản biện xã hội và xã hội dân sự  Có thể nói ngay rằng tại nước ta hiện nay chưa có xã hội dân sự đúng nghĩa của từ này và đây là nguyên nhân thứ ba làm cho văn hóa tranh luận hay sự phản biện xã hội không được hình thành. Theo cách hiểu được khá nhiều người đồng thuận thì xã hội dân sự là một không gian độc lập tồn tại bên cạnh Nhà nước và thị trường và vì vậy muốn có được nền văn hóa tranh luận hay sự tranh luận thì xã hội dân sự cần phải có sự độc lập của nó. Ở nước ta hiện nay có rất nhiều đoàn thể, hiệp hội mà xét về tính chất thì thuộc xã hội dân sự nhưng thực tế thì lại cũng thuộc về Nhà nước và tùy phụ vào Nhà nước, tức chúng ta chưa có một không gian xã hội dân sự đúng nghĩa. Nói như vậy là bởi gần như mọi tổ chức hiệp hội, đoàn thể hiện nay đều phải có một cơ quan chủ quản thuộc Nhà nước quản lý và bổ nhiệm nhân sự và vì vậy, những đoàn thể hay hiệp hội ấy thực chất là những “cánh tay nối dài” của Nhà nước chứ không phải thuộc xã hội dân sự. Khi không có xã hội dân sự đúng nghĩa thì thật khó mà có tranh luận hay phản biện bởi thực chất của phản biện xã là sự đối thoại giữa các thành phần có sự độc lập của riêng mình chứ không thể là sự đối thoại giữa những thành phần “cùng ruột” với nhau.  Như vậy có thể thấy vấn đề của phản biện xã hội không chỉ nằm ở hành lang pháp lý (cho phản biện hay không) hay ở vấn đề kỹ thuật (có lắng nghe hay không) mà nằm ở cấu trúc của xã hội và nền giáo dục xã hội có thúc đẩy cho sự phản biện, văn hóa tranh luận hay không mà thôi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những “góc khuất” của dự án      Một quốc lộ, một tỉnh lộ thậm chí một đường quốc phòng ven biển bị “bửa ra” (cắt) để thông luồng tàu biển cho tàu trọng tải lớn vào sông Hậu, không qua luồng tự nhiên Định An, vì “luồng này bị bồi lắng ở cửa sông, rất tốn kém để nạo vét hàng năm”.  Trên thực tế vấn đề này như thế nào? Nhiều “góc khuất” trong dự án cần được nói rõ.      Ở nước ta, có những dòng sông rất rộng như sông Hồng, sông Tiền, sông Hậu, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên… đôi bờ được nối với nhau bằng những cây cầu, có những dòng sông trỗ ra biển được đấp cống đập để ngăn mặn. Tất cả để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho địa phương, cho vùng và cho đất nước.  Hy hữu là trường hợp một quốc lộ, một tỉnh lộ thậm chí một đường quốc phòng ven biển bị “bửa ra” (cắt) để thông một đường nước. Rất tiếc là có! Đó là trường hợp của cả ba quốc lộ 53, tỉnh lộ 913 và đường quốc phòng ven biển ở tỉnh Trà Vinh, tại huyện Duyên Hải, xã Dân Thành.  Lợi ích của việc làm này là gì? Câu trả lời của Cục Hàng hải, Bộ Giao thông vận tải từ những năm 2005 khi đề xuất dự án là để thông luồng tàu biển cho tàu trọng tải lớn vào sông Hậu, không qua luồng tự nhiên Định An, vì “luồng này bị bồi lắng ở cửa sông, rất tốn kém để nạo vét hàng năm”. Luồng mới không phải nạo vét hàng năm sẽ mở ra cho tàu trọng tải 20.000 tấn ra vào sông Hậu thông suốt, dễ dàng, Cục Hàng hải khẳng định như thế.  Trên thực tế vấn đề này như thế nào?  Nhiều “khúc khuỷu” trong dự án cần được nói rõ.  Thứ nhất, ngay từ đầu của dự án, đã có rất nhiều phản biện về tính không khả thi và  bền vững, tác động xấu đến môi trường và đến đời sống của người dân nơi đây, và nhất là  vẫn phải nạo vét luồng này. Vì dè dặt về những nội dung trên, World Bank đã từ chối cho vay vốn để thực hiện. Bộ Kế hoạch và Đầu tư1 và Bộ Tài nguyên và Môi trường2 cũng đã có ý kiến bằng văn bản đối với dự án.  Có lẽ vì ý kiến của hai Bộ KH&ĐT và TN&MT về dự án quá rõ và khó qua, nên Báo cáo tác động môi trường (ĐTM) đã được tỉnh Trà Vinh trình để Bộ GTVT phê duyệt, mà đáng lý ra, theo điều 21, khoản 7a) của Luật Bảo vệ môi trường, phải do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức việc thẩm định, phê duyệt vì là một dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định liên quan đến cả đồng bằng3.    Ngoài việc nói không rồi có, cần biết thêm là trong 23 năm, từ năm 1991 đến 2013, chưa năm nào khối lượng bùn cát ở cửa Định An được Cục Hàng hải duyệt cho nạo vét vượt quá 600.000 mét khối! Các năm khi dự án được hình thành và trình để được phê duyệt, khối lượng nạo vét hầu như không có gì! Xem bảng nạo vét luồng qua cửa Định An dưới đây.    Thứ hai, điều cần nhấn mạnh là dự án dự trù bổ sung một khoản kinh phí hàng năm để nạo vét luồng khoảng 1,1 triệu mét khối, trái với khẳng định ban đầu là không cần nạo vét. Xem sơ đồ luồng chính thức hiện nay và các đoạn phải nạo vét.  Khẳng định không phải nạo vét bằng một mô phỏng số ngụy tạo4, làm cơ sở “khoa học” để dự án được duyệt, rồi khi đã được duyệt lại đưa vào khối lượng phải nạo vét hàng năm, là một thủ thuật không minh bạch!   Nạo vét không đến nơi đến chốn cửa Định An về khối lượng và độ sâu để cho rằng luồng qua cửa này là không thể tiếp nhận tàu có trọng tải lớn là một thủ thuật khác không trung thực.   Thứ ba, tổng dự toán của dự án trình để được duyệt là 3.148,5 tỳ đồng năm 2007, được đội lên 10.319,2 tỷ đồng năm 2013 khi Chính phủ trình Quốc hội cho sử dụng trái phiếu chính phủ. Chính vì thủ thuật tính tổng dự toán thấp để dự án được duyệt và khi “ván đã đóng thuyền” thì nâng dần lên, đã tiêu pha ngân sách nhà nước, lãng phí đầu tư công.   Về các vấn đề nêu lên trên đây, tôi đã có thư gửi đến các đại biểu Quốc hội khóa XIII, qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 14/11/2013. Tôi được biết Quốc hội đã duyệt cho dự án khoảng 9700 tỷ đồng từ trái phiếu chính phủ.   Còn nhiều yếu tố chưa được dự án tính tới: ảnh hưởng của triều cường cộng hưởng với gió chướng, và  biến đổi khí hậu nước biển dâng mặc dù đã được nêu lên trong các phản biện.   Tôi vừa đi khảo sát hiện trường ngày 23/12/2015. Công việc được xúc tiến khẩn trương và đường QL 53, đường tỉnh lộ 913 và đường quốc phòng ven biển đang chờ được “bửa ra”. Khi nào? Có ý chỉ đạo của một vị thứ trưởng Bộ GTVT, trước đây là Cục trưởng Cục Hàng hải, phải làm để thông luồng trước ngày 31/12/2015 bằng mọi giá. Có ý cho rằng không thể kịp vì phà thay QL 53 chưa xong. Có ý cho là phải chờ đến sau Đại hội Đảng lần thứ XII.   Người dân ở địa phương thì rất băn khoăn, bởi lẽ lợi đâu chưa thấy, chỉ biết là đi lại sẽ khó khăn, sẽ phải mất thời gian qua phà, và còn có thể phải trả phí.   Tôi được biết là từ một năm nay, đã phải nạo vét luồng cho tàu chở than vào cảng của nhà nhiệt điện, ở cạnh luồng vào sông Hậu, và có đoạn chung với luồng này, khoảng 2,5 triệu mét khối bùn cát, thậm chí còn hơn. Mặt khác, mặc dù chưa thông luồng, đã có hiện tượng sạt lở bờ kênh.   Về những vấn đề này, vị Thứ trưởng cho rằng là vì “luồng chưa ổn định” và  sẽ có biện pháp giải quyết. Không biết chẩn đoán có đúng không và biện pháp nào, nhưng chắc chắn sẽ xin bổ sung thêm kinh phí.   Giờ G cắt QL 53, tỉnh lộ 913 và đường quốc phòng ven biển chắc chắn một lúc nào đó, gần đây thôi, sẽ đến vì đã đầu tư gần mười ngàn tỷ đồng rồi.  Nhưng chắc chắn không kém là những bất cập mang tính quy luật mà luồng vào sông Hậu qua kênh Tắt và Kênh Quan Chánh Bố sẽ gặp phải, và sẽ vô hiệu hóa nó sau một thời gian đi vào hoạt động.   Vấn đề là giá của bài học phải trả là quá cao. Không phải cần để nhận ra các quy luật mà phải trả vì không cản nổi sự chi phối của lợi ích nhóm!  Ngoài việc nói không rồi có, cần biết thêm là trong 23 năm, từ năm 1991 đến 2013, chưa năm nào khối lượng bùn cát ở cửa Định An được Cục Hàng hải duyệt cho nạo vét vượt quá 600.000 mét khối! Các năm khi dự án được hình thành và trình để được phê duyệt, khối lượng nạo vét hầu như không có gì! Xem bảng nạo vét luồng qua cửa Định An dưới đây.  ——————————————————  * Gs. TSKH   Chú thích:  1. Ý kiến của Bộ KH&ĐT: “Sự ổn định của luồng quyết định tính khả thi của dự án. (…) Bộ KH&ĐT đã có ý kiến tại văn bản số 2021/BKH-TĐ&GSĐT ngày 28/3/2006, theo đó đề nghị Bộ GTVT chỉ đạo tư vấn cần có kết luận về những vấn đề như sự ổn định của luồng trên kênh, cửa biển, và đánh giá mức độ bồi lắng, khối lượng nạo vét hàng năm, sự xói lở bờ kênh, …”.   Tại văn bản số 8465/BKH-TĐ&GSĐT ngày 15/11/2006: “Kết luận cuối cùng của cơ quan thẩm tra độc lập chưa khẳng định rõ tính khả thi của dự án về những giải pháp kỹ thuật. Đề nghị Bộ GTVT lưu ý, chỉ đạo tiếp tục bổ sung hoàn thiện.”   2. Ý kiến của Bộ TN&MT: Tại công văn số 4443/BTNMT-TĐ, ngày 11/11/2005: “Bộ TN&MT… đã lưu ý về độ tin cậy của các số liệu, đặc biệt về khí tượng, thủy văn và hải văn được sử dụng trong báo cáo. Ngoài ra cũng đề xuất việc cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá khả năng bồi lắp trở lại đối với luồng tàu qua cửa Định An để xác định hiệu quả kinh tế của dự án”.   Tại công văn số 4157/BTNMT-TĐ, ngày 27/9/2006: “Bộ TN&MT tiếp tục yêu cầu dự án phải làm rõ khối lượng bùn cát cần nạo vét hàng năm, đánh giá cụ thể các tác động lên hoạt động cấp nước và thoát lũ trong khu vực khi hình thành kênh đào mới.” “Cho đến nay chủ dự án chưa trình báo cáo ĐTM chi tiết”.   3. Điều 21 của luật này, tại khoản 7 quy định:   a) Bộ TN&MT tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;  b) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh.  4. Tác giả đã thảo luận với PORTCOAST về mô phỏng này tháng 10/2005.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lựa chọn chiến lược của Việt Nam trên Biển Đông trong thời gian tới      Năm 2017, thế giới đã trải qua nhiều biến động, trong đó có những thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của Mỹ như rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Thỏa thuận chung Paris về biến đổi khí hậu. Một câu hỏi đặt ra là những thay đổi mạnh mẽ đó sẽ có ảnh hưởng thế nào tới tranh chấp Biển Đông, và Việt Nam sẽ có những lựa chọn chiến lược nào để giải quyết tranh chấp Biển Đông?      Các nước ASEAN và Trung Quốc đã chính thức thông qua dự thảo khung Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) vào 6/8/2017. Ảnh: Các Ngoại trưởng tại lễ khai mạc Hội nghị bộ trưởng ngoại giao lần thứ 50 ở Manila (Philippines). Nguồn: Asean.org.  Tình hình Biển Đông năm 2017  Từ quan điểm của Việt Nam, cần phân tích ba nhân tố chính có tính quyết định ở Biển Đông.  Đầu tiên là Mỹ, nước công khai tuyên bố ủng hộ tự do hàng hải trên Biển Đông và giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Trong năm 2017, Mỹ có sự thay đổi quan trọng trong chương trình nghị sự Châu Á – Thái Bình Dương: chấm dứt thời kỳ “xoay trục” dưới thời Obama và rút lui khỏi TPP. Ở mặt này, Mỹ dự kiến sẽ tăng cường các hoạt động quốc phòng, ngoại giao và kinh tế trong khu vực để làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Phản ứng của Mỹ đối với các tranh chấp trên Biển Đông chủ yếu là các hoạt động mang tính “danh nghĩa”: Ngày 23 tháng 1 năm 2017, phát ngôn viên nhà trắng Sean Spicer đã tuyên bố trước báo chí rằng “sẽ đảm bảo rằng [nước Mỹ] bảo vệ các lãnh thổ quốc tế khỏi bị kiểm soát bởi bất kỳ một quốc gia nào”. Vào tháng 5/ 2017 Hải quân Mỹ đã bắt đầu tiến hành các hoạt động duy trì tự do hàng hải (Freedom of Navigation Operations – FONOP) ở Biển Đông và cho đến tháng 10/2017 đã thực hiện bốn hoạt động tự do hàng hải. Gần đây nhất, trong tháng 11, khi gặp gỡ với Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cho biết rằng ông có thể làm “trung gian” giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.  Nhân tố quan trọng thứ hai là Trung Quốc. Đối với nước này, tranh chấp trên Biển Đông sẽ vẫn là một trong những mối quan ngại hàng đầu, đặc biệt là với việc thực hiện “Sáng kiến vành đai, con đường” (BRI) ​​đầy tham vọng. Vì dự án này bao gồm một “con đường tơ lụa” trên biển kết nối châu Á, châu Âu và châu Phi từ vùng Biển Đông và phía nam Trung Quốc đến Địa Trung Hải, Trung Quốc có quyền lợi rất lớn trong việc đảm bảo an ninh và điều hướng trong vùng Biển Đông. Đối với Trung Quốc, khẳng định chủ quyền trên Biển Đông không chỉ có ý nghĩa về mặt quyền lợi kinh tế mà còn cả ý nghĩa về mặt chính trị – lịch sử. Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố có chủ quyền lịch sử với một số khu vực ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 2014 đến 2017, Trung Quốc tăng cường cải tạo các bãi đá ở Trường Sa và phản đối phán quyết của Toà trọng tài thường trực (PCA). Tháng 8 năm 2017 Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ khi Việt Nam và công ty dầu khí Repsol của Tây Ban Nha tiến hành khoan thăm dò ở Biển Đông, dẫn tới việc phải ngừng khoan thăm dò. Đó là những dấu hiệu rõ ràng cho thấy Trung Quốc có khả năng và sẵn sàng phản ứng rất mạnh mẽ với những hành động của các quốc gia khác mà Trung Quốc tin rằng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ trên Biển Đông. Trung Quốc cũng phản đối sự can thiệp của các nước bên ngoài vào tình hình Biển Đông.  Về mặt chiến lược, việc nước Mỹ rút lui khỏi liên minh với các nước trong khu vực trong giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông sẽ tạo ra một khoảng trống quyền lực thuận lợi cho Trung Quốc. Những cam kết rõ ràng của chính quyền Trump về chủ nghĩa bảo hộ trong nước đã khiến cho Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu mới trong hợp tác dự do thương mại như với hiệp định tự do thương mại ba bên Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc. Những hành động đó của chính quyền Trump khiến nhiều đồng minh của Mỹ ở trong khu vực bị sốc, đe dọa phá vỡ thế cân bằng quyền lực ở khu vực. Và kết quả là Trung Quốc có thể chiếm ưu thế và gia tăng yêu sách của mình trên Biển Đông.  Nhân tố quan trọng thứ ba là ASEAN. ASEAN và Trung Quốc đã đạt được một mốc quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông vào năm 2017, đó là thông qua dự thảo về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), kế thừa Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Mặc dù đây là bước đi đúng hướng, nhưng khung dự thảo đã không đề cập đến tính pháp lý của COC, phạm vi áp dụng và cơ chế để đảm bảo tính tuân thủ bộ quy tắc trên. Một vấn đề khác liên quan đến Philippines, kể từ khi Duterte lên làm Tổng thống thì quốc gia đã giành chiến thắng sau phán quyết của Tòa trọng tài thường trực năm 2016 này lại chuyển hướng ngày càng gia tăng mối quan hệ thân Trung Quốc.  Các lựa chọn giải pháp chiến lược cho Việt Nam  Trước những thay đổi đang diễn ra ở Biển Đông, Việt Nam nên cân nhắc kỹ lưỡng các lựa chọn của mình, đặc biệt là trong mối quan hệ với các cường quốc có quyền lợi từ những tranh chấp trên Biển Đông. Có ba chiến lược mà Việt Nam có thể áp dụng: đối trọng (balancing), nhượng bộ (bandwagoning), và phòng ngừa rủi ro (hedging).  Đối trọng (tính khả thi thấp)  Trong chính trị thế giới, đối trọng là trạng thái khi quyền lực của một nước cân bằng với một nước khác. Tuy Việt Nam quá yếu để trực tiếp thách thức với quốc gia lớn nào trong khu vực thì Việt Nam vẫn có thể gián tiếp tạo thế cân bằng bằng việc liên kết với Mỹ và các đồng minh khác trong khu vực đồng thời dần tách khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, có hai lý do chính khiến Việt Nam khó thực hiện chiến lược này, đầu tiên là do có mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc. Từ sau năm 1991 tới nay, Việt Nam vẫn duy trì chính sách “ba không”, tránh các mối liên minh có thể khiến Trung Quốc phản đối. Trong bối cảnh như vậy, một chiến lược đối trọng có thể khiến Trung Quốc nghĩ rằng phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc đang giảm ở Việt Nam và gia tăng các hoạt động mạnh mẽ hơn ở Biển Đông. Lý do thứ hai là Việt Nam thiếu một đồng minh đáng tin cậy. Trong trường hợp Việt Nam muốn liên kết với một đồng minh để đối trọng với Trung Quốc, chỉ có Mỹ và Nhật Bản là các lựa chọn phù hợp. Tuy nhiên, nước Mỹ dưới thời Trump ít quan tâm tới các vấn đề quốc tế, và nhiều khả năng sẽ tập trung vào giải quyết những vấn đề như khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên hơn là tới mối quan hệ với các nước Đông Nam Á. Nhật Bản tuy là một đồng minh phù hợp bởi vì cũng có những xung đột với Trung Quốc trên biển, song lại không có đủ sức mạnh để tham gia vào các tranh chấp quân sự. Mặt khác, việc theo đuổi một chiến lược “đối trọng” với Trung Quốc cũng sẽ đi ngược lại với tuyên bố của Việt Nam về chủ trương giải quyết các xung đột trên Biển Đông bằng con đường hòa bình dựa trên các quy tắc và luật pháp quốc tế. Do đó, Việt Nam không nên từ bỏ chủ trương này để theo đuổi một chiến lược “đối trọng” mà tính khả thi không cao.  Nhượng bộ (tính khả thi thấp)  Lựa chọn thứ hai, hoàn toàn đối lập với “đối trọng”, là giảm quan hệ với Mỹ và xích lại gần với Trung Quốc hơn nữa và nhượng bộ Trung Quốc nhiều hơn trong các tranh chấp trên Biển Đông. Tuy nhiên lựa chọn này không khả thi cho Việt Nam vì, thứ nhất, chủ quyền trên Biển Đông được cả Việt Nam và Trung Quốc coi là vấn đề cốt lõi. Từ bỏ vị trí của mình tại khu vực này sẽ đe dọa nghiêm trọng tới vấn đề an ninh của Việt Nam, đồng thời, sự nhượng bộ sẽ đem lại cơ hội để khiến Trung Quốc có những hành động mạnh hơn ở Biển Đông. Thứ hai, tinh thần phản đối Trung Quốc ở Việt Nam rất mạnh mẽ, nếu Việt Nam ngả về phía Trung Quốc để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thì sẽ nhận được sự phản đối rất dữ dội từ dư luận trong nước. Và cuối cùng, nếu đi theo hướng này, Việt Nam sẽ bị các nước như Mỹ, Nhật Bản xa lánh và mối quan hệ với các nước ASEAN bị rạn nứt. Do đó, hầu như Việt Nam sẽ không có cơ hội với lựa chọn thứ hai này.  Phòng ngừa rủi ro (tính khả thi cao)  Hai lựa chọn trước đều có nhiều điểm bất lợi, có thể đẩy Việt Nam và các nước vào những cực khác xa nhau, vì vậy, giới học giả quốc tế đã đề cập đến một lựa chọn thứ ba có tính khả thi hơn. Nhà nghiên cứu ngoại giao và Trung Quốc Cheng-Chwee Kiuk ở ĐH Malaysia đã định nghĩa “phòng ngừa rủi ro” là “một quốc gia tìm cách phòng tránh rủi ro bằng cách theo đuổi nhiều lựa chọn chính sách mà sẽ tạo ra các hiệu ứng khác nhau”. Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp thuộc Viên Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, bốn thành tố trong chiến lược phòng ngừa rủi ro của Việt Nam với Trung Quốc gồm thực dụng kinh tế (duy trì hợp tác dựa trên lợi ích kinh tế), đối thoại trực tiếp (trao đổi thông tin song phương và xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau), cân bằng mềm (tăng cường quan hệ với các cường quốc khác và tham gia hiệu quả hơn vào các thỏa thuận đa phương để theo đuổi các chương trình nghị sự cụ thể), và cân bằng cứng (tăng khả năng quân sự của mình nhằm phòng ngừa nguy cơ).  Trong ba chiến lược trên, giải pháp thứ ba này cho phép Việt Nam thu được lợi ích kinh tế cũng như đảm bảo được an ninh, tránh kích động Trung Quốc đồng thời vẫn kiên định trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Thứ hai, nó phù hợp với đường lối đối ngoại đa phương của Việt Nam, trong đó từ những năm 1990 đã nhấn mạnh rằng Việt Nam “sẵn sàng làm bạn” với tất cả các nước. Thứ ba, nó cho phép Việt Nam tránh xáo trộn mối quan hệ với bất kỳ cường quốc nào (như đã từng xảy ra trong những năm 1970 dẫn đến hàng chục thập kỷ xung đột).  Việt Nam đã làm gì?  Những hoạt động ngoại giao của Việt Nam vào năm 2017 đã cho thấy chúng ta đang theo đuổi chiến lược phòng ngừa rủi ro, bao gồm việc tăng cường quan hệ kinh tế với nhiều đối tác, tham gia đối thoại trực tiếp, tập trung vào xây dựng năng lực và tiếp cận với các đồng minh tiềm năng. Về thực dụng kinh tế, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại với Trung Quốc, đến tháng 9 năm 2017 đã đạt kim ngạch xuất nhập khẩu 63,98 tỷ USD, tăng 25,1% so với năm 2016. Về đối thoại trực tiếp, Việt Nam đã tiếp cận các nước khác thông qua Hội nghị APEC vào tháng 11 – lần đầu tiên có mặt lãnh đạo của tất cả các nền kinh tế lớn trên thế giới kể từ năm 2006. Song song với đó, Việt Nam cũng tăng cường tiếp cận với Mỹ và các đồng minh khác trong khu vực. Vào tháng 7/2017, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành hoạt động hải quân lần thứ 8, là một biểu hiện tăng cường hợp tác quân sự. Đồng thời, Thủ tướng Việt Nam là nhà lãnh đạo Đông Nam Á đầu tiên được Trump mời đến nhà Trắng sau khi thắng cử. Tại hội nghị thượng đỉnh APEC vào tháng 11/ 2017, Việt Nam cũng là nước Đông Nam Á đầu tiên được Tổng thống Mỹ đến thăm ngay sau Trung Quốc. Song song với đó, Việt Nam có quan hệ mật thiết với các cường quốc khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ cũng như các cơ chế đa phương như ASEAN, cho phép đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ hợp tác. Đó là những điều kiện thuận lợi để áp dụng chiến lược phòng ngừa rủi ro trong thời gian tới.    Author                Phạm Quang Minh        
__label__tiasang Những mảng trống được điền đầy      Tia Sáng, nơi mà cộng đồng khoa học có thể chia sẻ tư tưởng và trải nghiệm để điền đầy một mảng trống về các vấn đề văn hóa và xã hội của khoa học và công nghệ.      Tôi nhớ, hồi thập niên 1980, khi còn là viện trưởng Viện Quản lý Khoa học, một viện nghiên cứu về chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tôi lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền để xin ra một tạp chí chuyên đi sâu những vấn đề kinh tế và xã hội của chính sách KH&CN có tên là “Đổi mới và Phát triển”. Tôi đã nhận được công văn từ chối do một vị lãnh đạo có hàm Bộ trưởng ký, trong đó có một đoạn rất ấn tượng mà tôi nhớ suốt đời: “Hiện nay đã có rất nhiều tạp chí khoa học và kỹ thuật, như Toán học, Vật lý học, Triết học, v.v… Đề nghị cần tận dụng hết các tạp chí này, không ra thêm các tạp chí khoa học khác”. Đọc xong tờ công văn, tôi sững sờ vì cách trả lời thể hiện sự hiểu biết rất lạ về khoa học của người đứng đầu một cơ quan có trách nhiệm.  Tôi dẫn dắt câu chuyện dài dòng về một kỷ niệm “nhớ đời” này để nói rằng, những người sáng lập Tạp chí Tia Sáng đã có cách nào đó thật “tài tình” để cho ra đời một tạp chí, mà tên gọi của nó – “Tia Sáng” nghe còn xa vời với khoa học, hơn cái tên “Đổi mới và Phát triển” mà chúng tôi đề xuất trước đó. Và chỉ sau một thời gian ngắn, Tạp chí Tia Sáng đã ghi được dấu ấn riêng của mình trong cộng đồng khoa học. Đó là, tờ tạp chí đóng vai người phát quang một mảng rừng những vấn đề rất thiết thân với khoa học, là những khía cạnh văn hóa và xã hội của khoa học, một lĩnh vực đặc biệt hấp dẫn, mà theo nghiên cứu của tôi, có lẽ công lao khai sáng phải dành cho John Bernal, nhà vật lý chất rắn người Anh, với cuốn sách rất nổi tiếng của ông “Social Functions of Science”, ra mắt cộng đồng khoa học vào năm 1939.  Muộn hơn Bernal hơn nửa thế kỷ, ở nước ta đã xuất hiện Tia Sáng, nơi mà cộng đồng khoa học có thể chia sẻ tư tưởng và trải nghiệm để điền đầy một mảng trống về các vấn đề văn hóa và xã hội của khoa học và công nghệ.  Về trực giác, nhiều người nghĩ rằng, trong lĩnh vực khoa học “cao siêu”, bản thân nó đã “ngời ngời văn hóa”. Đâu phải vậy. Trong khoa học, không chỉ ở nước ta, mà cả trong cộng đồng khoa học quốc tế, đầy rẫy những vết hằn vô văn hóa: đạo văn (một cách tệ hại), chủ nghĩa học phiệt (scholar-tyrant) trong khoa học, hành chính hóa khoa học, quan phương hóa khoa học, chủ nghĩa sô-vanh trong khoa học,… và rất nhiều các biểu hiện thiếu văn hóa khác. Trong giới khoa học, các biểu hiện đó tinh vi hơn nhiều và cũng “cao cấp” hơn nhiều so với giới bình dân “hàng thịt hàng cá” ở ngoài chợ. Tất cả các hành vi mà tôi gọi là “thiếu văn hóa đó” đang đóng vai trò kéo lùi sự phát triển khoa học.  Chính vì thế mà tôi đánh giá cao Tia Sáng, một tạp chí đã thâm nhập cộng đồng khoa học, mở ra những con đường mòn đầu tiên, đề cập các khía cạnh xã hội của khoa học, khía cạnh văn hóa, đạo đức của khoa học, thậm chí có lúc đã bị đâu đó “bật đèn”… Nhưng cộng đồng khoa học không buồn phiền với Tia Sáng về sự “bật đèn” đó. Ngược lại, trong trường hợp này, sự “bật đèn” lại là một minh chứng cho sự trong sáng của Tia Sáng, lại thu hút thêm sự mến mộ và cổ vũ của độc giả trong và ngoài cộng đồng khoa học.  Là một độc giả và cộng tác viên của Tia Sáng, nhìn lại chặng đường phát triển, tôi rất mừng về những bước đi vững vàng của Tia Sáng và hy vọng Tia Sáng sẽ tiếp nối truyền thống để đáp ứng sự tin tưởng và mến mộ của độc giả.  GS.TS Vũ Cao Đàm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người mở đường hợp tác      Trong phần đầu tiên của loạt bài về xã hội dân sự ở Việt Nam, TS Andrew Wells-Dang đã đưa ra khái niệm mạng lưới xã hội dân sự. Trong bài viết lần này, tác giả minh họa cho khái niệm trên bằng ví dụ về một mạng lưới phi chính thức của các chuyên gia, nhà báo và các tổ chức phi chính phủ, những người đã hợp tác để bảo vệ công viên Thống Nhất ở Hà Nội vào năm 2007 và 2009.     Đầu năm 2007, chính quyền thành phố Hà Nội phê duyệt kế hoạch cho phép hai công ty tư nhân đầu tư công viên Thống Nhất theo hướng biến thành mô hình “Disneyland thu nhỏ”.1 Hơn 15 bài báo trên báo giấy và báo mạng đã cung cấp cho độc giả các chi tiết về kế hoạch này cùng các bài phỏng vấn giám đốc của hai công ty. Mặc dù phía công ty khẳng định dự án sẽ bảo đảm quyền lợi của người dân, nhưng dư luận không đồng tình vì công ty dự định xây hầm để xe năm tầng, khu thương mại, rạp chiếu phim 3D và câu lạc bộ giải trí, với khoản đầu tư dự tính khoảng 1.500 tỷ đồng.2 Nhiều người dân đăng ý kiến phản đối dự án trên Internet. Theo họ, dự án có dấu hiệu tham nhũng và không mang lại lợi ích cho người nghèo. Các chuyên gia và lãnh đạo về hưu cũng viết bài thể hiện quan điểm không đồng tình với dự án này.     Vào khoảng giữa năm 2007, những nỗ lực riêng lẻ phản đối dự án đã bắt đầu được tập hợp lại, làm cơ sở cho sự ra đời của một mạng lưới xã hội dân sự. Đầu tháng 8/2007, tổ chức phi chính phủ Canada có tên Nhịp cầu Sức khỏe (HealthBridge) đã phối hợp với Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, một tổ chức nửa phi chính phủ nửa nhà nước, tổ chức hội thảo “Hệ thống không gian xanh công cộng của thủ đô Hà Nội”.3 Các nhà khoa học, các chuyên gia, các kiến trúc sư tham gia hội thảo đã ra tuyên bố “cứu không gian xanh ở Hà Nội” và đăng trên Internet. Trước sức ép từ công luận, chính quyền thành phố Hà Nội đã quyết định dừng dự án vào tháng 8/2007.     Chưa đầy một năm sau, Hà Nội lại công bố kế hoạch xây dựng khách sạn bốn sao “Novotel on the Park” trên đất công viên Thống Nhất.4 Đầu năm 2009, khi dư luận xã hội đồng loạt phản đối dự án xây dựng khách sạn, các thành viên của mạng lưới đã sẵn sàng hành động.5 Cũng giống như lần trước, một loạt các bài báo, ý kiến trên mạng và thư ngỏ gửi đến lãnh đạo đã xuất hiện dồn dập. Lần này, Nhịp cầu Sức khỏe chỉ còn đóng vai trò thứ yếu. Họ hỗ trợ tổ chức một hội thảo về không gian xanh của Hà Nội vào tháng 3/2009. Một tuần sau khi hội thảo kết thúc, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã thay đổi quyết định ban đầu và đình chỉ dự án xây dựng khách sạn trên đất công viên.      Cơ cấu và thành viên của mạng lưới     Những người tham gia mạng lưới bảo vệ công viên Thống Nhất có thể chia thành ba nhóm dựa vào mức độ liên hệ của họ với chính quyền thành phố Hà Nội và các cơ quan nhà nước khác. Nhóm đầu tiên, cũng là nhóm lớn nhất, bao gồm lãnh đạo và thành viên của các hội nghề nghiệp, như Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam. Lãnh đạo các hội này thường là quan chức cấp vụ cục hoặc cấp bộ đã về hưu, còn thành viên của hội thường là các nhà khoa học, các giáo sư đại học hoặc người làm chuyên môn ở độ tuổi trung niên.      Nhóm thứ hai là các nhà báo. Sau một thời gian viết bài về trường hợp công viên Thống Nhất, nhiều người đã trở nên quan tâm thực sự đến vấn đề này, vượt ra ngoài phạm vi nghề nghiệp.   Nhóm thứ ba, và cũng là nhóm nhỏ nhất, bao gồm các tổ chức, ví dụ như Nhịp cầu Sức khỏe. Nhân viên của các tổ chức này được trả lương để làm việc về các vấn đề liên quan đến không gian công cộng và do đó cũng tham gia vận động chính sách.      Đến thời điểm chiến dịch phản đối xây dựng khách sạn trong công viên vào năm 2009, mạng lưới đã có cơ cấu khá bình đẳng. Có một nhóm nhỏ làm trung tâm, còn lại các thành viên hoạt động ở vòng ngoài. Tổ chức Nhịp cầu Sức khỏe vẫn nắm vai trò điều phối tuy không chính thức, thông qua một cán bộ phụ trách vận động chính sách liên quan đến không gian công cộng. Dù có sự điều phối chung nhưng các đầu mối khác trong mạng lưới chủ động đưa ra các sáng kiến. Các thành viên tuyên bố một cách không chính thức về sự ra đời của mạng lưới. Một số cá nhân và tổ chức cho rằng họ là thành viên của mạng lưới, còn những người khác lại không cho rằng họ hoạt động trong một mạng lưới.     Ngoài hai cuộc hội thảo do Nhịp cầu Sức khỏe tổ chức vào năm 2007 và 2009, các thành viên của mạng lưới chưa lần nào tụ họp đầy đủ mà thường gặp nhau theo nhóm nhỏ khi có nhu cầu chia sẻ thông tin và thảo luận công việc.      Chiến lược vận động chính sách     Trước thời điểm năm 2007, nhiều cá nhân đã tham gia vận động chính sách liên quan đến không gian công cộng ở Hà Nội, tuy nhiên họ rất ít hợp tác với nhau. Năm 1993, năm nhà khoa học có uy tín lần lượt từng người viết thư gửi Thủ tướng và UBND thành phố Hà Nội phản đối dự án sử dụng một phần đất của công viên Thủ Lệ để xây khách sạn năm sao Daewoo. Lúc đó báo chí không hề đưa tin về quyết định xây khách sạn cũng như ý kiến của các nhà khoa học. Với trường hợp khách sạn Hà Nội Vàng bên Hồ Hoàn Kiếm, các nhà hoạt động đã thành công hơn. Kế hoạch xây dựng khách sạn 11 tầng này rõ ràng đã vi phạm quy định không xây nhà quá năm tầng ở khu vực này. Năm 1996 Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Hội Sử học Việt Nam đã gửi công văn chính thức phản đối dự án xây dựng khách sạn.6 Tuy không có làn sóng dư luận phản đối dự án một cách công khai, nhưng việc vận động chính sách của các hội nghề nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi quyết định dừng dự án của lãnh đạo thành phố. Trong trường hợp này cũng như một vài trường hợp khác, các nhà hoạt động đã sử dụng chiến lược vận động từ bên trong hệ thống nhà nước. Một số cá nhân có mối quan hệ với quan chức nhà nước đã tìm cách gây ảnh hưởng bằng cách viết thư, tổ chức hội thảo và gặp gỡ trực tiếp. Tuy nhiên những nỗ lực này không dẫn đến sự ra đời của mạng lưới xã hội dân sự.     Tỷ lệ thành công của việc vận động chính sách bằng cách tác động vào các cá nhân thường không cao. Khi nội dung của các bức thư thỉnh cầu không được công khai thì lãnh đạo không chịu áp lực để trả lời. Các khuyến nghị của chuyên gia thường bị bỏ qua. Tuy nhiên khác với các trường hợp trên, chiến dịch bảo vệ công viên Thống Nhất là một nỗ lực tập thể, và nhiều người cùng đóng góp cho thành công chung. Đặc biệt trong chiến dịch năm 2007, Nhịp cầu Sức khỏe đã đóng vai tập hợp các thành viên mạng lưới. Họ đã chia sẻ kinh nghiệm của tổ chức trong việc vận động chính sách vì “thành phố sống tốt” ở các nước châu Á và thông tin về bối cảnh toàn cầu. Là một tổ chức quốc tế, họ có nhiều ưu thế hơn so với chuyên gia Việt Nam khi tác động đến quan chức chính phủ, ngay cả khi truyền tải cùng một thông điệp. Họ không can thiệp quá sâu vào hoạt động của mạng lưới, không tranh giành sự chú ý và không dùng tiền tài trợ để chi phối mạng lưới. Trong chiến dịch năm 2009, họ chỉ đóng vai trò thứ yếu và hỗ trợ.     Mạng lưới sử dụng cả chiến lược vận động từ bên trong (gặp gỡ và tổ chức hội thảo với các đối tác nhà nước) và vận động từ bên ngoài (sử dụng truyền thông và Internet để tác động đến dư luận xã hội trong và ngoài nước). Sự phản hồi dồn dập của người dân sau khi báo chí đăng bài làm cho tất cả những người trong cuộc ngạc nhiên. Một nhà báo đã chia sẻ: “Chúng tôi không có ý định từ trước về loạt bài liên quan đến vấn đề này. Sự việc tự nó diễn ra. Một người đầu tiên lên tiếng, và rất nhanh những người khác hưởng ứng. Chúng tôi không khởi xướng chiến dịch này, chúng tôi chỉ ghi lại diễn biến sự việc”.     Rất nhiều thông tin và phản hồi trên mạng về trường hợp công viên Thống Nhất đến từ các địa phương trên cả nước và người Việt sống ở nước ngoài. Nhờ có Internet, chiến dịch bảo vệ công viên Thống Nhất đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia.      Những người bảo vệ công viên Thống Nhất không công khai chống đối hoặc chỉ trích chính quyền. Họ biết rằng một số quan chức đã thông đồng với nhà đầu tư, nhưng cũng có những quan chức khác không tham gia và thậm chí không ủng hộ vụ việc này. Sự phân tán giữa các cấp, các ngành và các mối quan tâm khác nhau trong bộ máy nhà nước giúp cho mạng lưới dân sự có cơ hội lên tiếng và tập hợp các đồng minh để nghiêng cán cân lực lượng.      Thành viên của mạng lưới cho rằng thành công của họ phần nhiều nhờ có sự tham gia của truyền thông. Một kiến trúc sư cảnh quan đã nói: “Vai trò của truyền thông rất quan trọng. Nếu báo chí sợ chính quyền thì chúng tôi không có diễn đàn để vận động chính sách. Nhiều người nói Việt Nam không có tự do báo chí. Tôi nghĩ điều này phụ thuộc vào chúng ta thôi. Nếu nói đúng lúc đúng chỗ, báo chí sẽ tham gia.”     Một trong những thay đổi quan trọng nhất của làng báo chí Việt Nam những năm gần đây là sự xuất hiện của các trang tin trên mạng.7 Ngay từ năm 2007, các báo mạng như VietNamNet và Dân Trí đã đăng nhiều tin bài về trường hợp công viên Thống Nhất hơn hẳn các báo giấy. Năm 2009, sự chênh lệch còn rõ rệt hơn vì các bài phỏng vấn và bài viết quan trọng đều xuất hiện trên VietNamNet và Tuần Việt Nam trước khi được các báo khác đăng lại.8 Nếu không có không gian chính trị do Internet đem lại thì công tác tổ chức của các thành viên mạng lưới sẽ gặp nhiều khó khăn.       Liên kết quốc tế      Sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, người nước ngoài ở Hà Nội và người Việt Nam sống ở nước ngoài đã góp phần vào sự thành công của chiến dịch bảo vệ công viên Thống Nhất, trong đó tổ chức Nhịp cầu Sức khỏe có vai trò quan trọng nhất. Tổ chức này đóng vai trò cầu nối giữa những người nước ngoài và các nhà hoạt động trong nước. Sự tham gia của họ cung cấp các góc nhìn từ bên ngoài, giúp các nhà hoạt động Việt Nam cảm thấy không đơn độc và tạo vỏ bọc an toàn cho những người lúc đầu còn e ngại lên tiếng. Với cách làm việc mang tính hỗ trợ chứ không áp đặt và sử dụng nguồn ngân sách nhỏ, họ đã không mắc sai lầm trong việc tạo ra mạng lưới phụ thuộc vào nhà tài trợ. Mô hình hoạt động của họ xứng đáng để các tổ chức quốc tế khác học tập.      Theo dõi sự trưởng thành của mạng lưới từ năm 2007 tới năm 2009, chúng ta nhận thấy có bốn yếu tố dẫn đến thành công của họ: tiếp cận thông tin đúng lúc và có đủ thông tin, có mối quan hệ cá nhân với lãnh đạo thuộc các cấp ban ngành có thẩm quyền quyết định, dư luận đồng tình, và truyền thông vào cuộc để đưa tin bài về quan điểm của mạng lưới cũng như của người dân.     Nếu có đủ các yếu tố trên thì không cần có mạng lưới lớn mà chỉ cần có một nhóm nhỏ. Trong trường hợp công viên Thống Nhất, mạng lưới có chưa đến 20 thành viên.      Có thể hy vọng mô hình vận động chính sách của họ được áp dụng cho nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng hội tụ cả bốn yếu tố dẫn đến thành công như đã phân tích ở trên. Trong khi một vài vụ việc lớn đã được vận động thành công thì có rất nhiều trường hợp nhỏ hơn đã thất bại. “Hằng ngày ở Hà Nội có hàng trăm trường hợp lấn chiếm và lạm dụng không gian công cộng, không gian xanh. Chúng ta cần đấu tranh chống lại tất cả vi phạm này chứ không chỉ là trường hợp công viên Thống Nhất” – một nhà hoạt động nói.       Tính bền vững của mạng lưới     Năm 2009 sau khi kết thúc chiến dịch phản đối dự án xây khách sạn trên đất công viên, tổ chức Nhịp cầu Sức khỏe cân nhắc việc chính thức hóa mạng lưới. Tuy nhiên cán bộ người Việt của họ muốn duy trì một mạng lưới lỏng lẻo trong đó các nhóm nhỏ đóng các vai trò khác nhau. Các thành viên khác của mạng lưới cũng ủng hộ lựa chọn này. Một người chia sẻ “vận động chính sách thông qua truyền thông trên mạng tốt hơn là thành lập một tổ chức chính thức”. Một nhà hoạt động khác nhận xét: “Tốt nhất là không nên thành lập tổ chức, để khỏi phải lo lắng về cơ cấu, về ngân sách và không lo bị đóng cửa khi lên tiếng về vấn đề nhạy cảm. Cứ như thế này lại hay. Mạng lưới sẽ hoạt động khi có nhu cầu. Tùy vấn đề mà chúng tôi có người thích hợp để khởi xướng.”     Những nguyên nhân trên đã dẫn đến lập luận là mạng lưới phi chính thức sẽ hiệu quả hơn một mạng lưới chính thức mang tính lâu dài.     Nếu các thành viên mong muốn thì không có lý do gì để mạng lưới chính thức về không gian công cộng thất bại. Họ có thể tiến hành từng bước như họp mặt thường xuyên, xây dựng website riêng về không gian công cộng, thuê một điều phối viên và đặt văn phòng ở một tổ chức thành viên nào đó. Tuy nhiên khi các thành viên chưa sẵn sàng thì chưa thể có mạng lưới chính thức.  ***  Năm 2007 và 2009, các nhà hoạt động đã bảo vệ thành công một không gian xanh quý giá của Hà Nội khỏi bị tư nhân hóa. Điều quan trọng hơn là họ đã chứng minh rằng công dân có không gian chính trị để tác động chính sách, rằng đầu tư của tư nhân không được làm mất đi những giá trị tích cực của các công trình thời xã hội chủ nghĩa. Hành động của họ góp phần tạo ra “không gian xã hội”, trong đó người dân chia sẻ quan điểm và thông tin. Theo Jürgen Habermas, không gian xã hội để mọi người tranh luận công khai là bước đầu tiên dẫn đến xã hội dân sự.9         Đặng Hương Giang dịch  Đọc thêm:     Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7654  ————   1 Phùng Sưởng, “Sẽ có một Walt Disney giữa lòng Hà Nội?” Tiền Phong, 02/02/2007; Trang An Nguyễn, “Cải tạo Công viên Thống nhất – long đong mãi chưa xong”, VietNamNet, 27/01/2007.    2 Báo Dân Trí, “Công viên Thống Nhất sẽ sánh tầm khu vực”, 11/03/2007.     3 Báo Tiền Phong, “Sẽ khởi kiện nếu các công viên Hà Nội còn bị lợi dụng vì lợi nhuận”, 04/08/2007.    4 Hoàng Huy, “Hà Nội: Khởi công khách sạn lớn sát công viên Thống Nhất”, VietNamNet, 06/08/2008.    5 Matt Steinglass, “Quan trọng hơn cả tòa nhà cao tầng: giữ lại một phần lịch sử của Hà Nội,” Global Post, 20/04/2009.    6 William Logan (2000) Hà Nội: Lịch sử của một thành phố.  Sydney: Nhà xuất bản Đại học New South Wales, trang 238-9.   7 Ngọc Vân, “Báo chí điện tử sẽ trở thành kênh thông tin đối nội, đối ngoại hàng đầu”, Tiền Phong, 07/10/2005.   8 Linh Thủy, “Báo chí quanh vụ xây khách sạn tại CV Thống Nhất”, Tuần Việt Nam, 19/02/2009.    9 Jürgen Habermas (1962) Strukturwandel der Öffentlichkeit [Biến đổi cơ cấu của Không gian Công cộng]. Neuwied am Rhein: Luchterhand.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người Mỹ phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam ? (Kỳ 1)      Bao nhiêu lần những viên đạn pháo lao xé đi?  Trước khi chúng vĩnh viễn bị vứt bỏ?  Câu trả lời, bạn tôi ơi, thổi trong ngọn gió  Câu trả lời vẫn thổi trong ngọn gió  Bob Dylan    Jan Rose Kasmir, một thiếu niên 17 tuổi trong đoàn diễu hành phản đối Chiến tranh Việt Nam vào năm 1967. Đó là thời điểm phong trào Sinh viên vì Xã hội Dân chủ ở Mỹ đang dâng cao. Ảnh: Marc Riboud/Magnum Photos  Dù nhiệm kỳ Tổng thống của ông Trump để lại hình ảnh đáng buồn về nước Mỹ, chúng ta không nên lãng quên nhiều điều tốt đẹp về đất nước này. Bức tường biên giới phía Nam và thi hài năm mươi người nhập cư bị bỏ lại trên chiếc xe tải ở Texas không nên khiến ta quên rằng đây từng là miền đất hứa, nơi hàng triệu người di cư tìm đến tự do. Phán quyết cấm phá thai của Tòa án Tối cao Mỹ không nên khiến ta quên hội nghị đầu tiên về nữ quyền từng được tổ chức tại Seneca Falls, bang New York năm 1848. Những kẻ theo thuyết sáng thế và âm mưu không nên khiến ta quên rằng nước Mỹ là quê hương của năm trăm chủ nhân của các giải Nobel. Và chúng ta, người Việt, không nên quên phong trào phản chiến mạnh mẽ chống lại Chiến tranh Việt Nam đã góp phần quan trọng chấm dứt nó. Gần đây, tôi xem lại danh sách1 250 nhà hoạt động người Mỹ, và cảm thấy hứng thú tìm hiểu về họ để nhớ lại một thời kỳ lịch sử.     Bối cảnh  Các giá trị nhân bản về công bằng, bình đẳng, đoàn kết, nhân phẩm và tự do là nền tảng để con người mơ ước xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Nhưng quan điểm về cách thực hiện lý tưởng ấy thay đổi đáng kể tùy vào bối cảnh thời cuộc. Giữa thế kỷ 19, khi Marx và Engels viết Bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, châu Âu đang chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang công nghiệp, với những mối nguy hiện hữu đe dọa lợi ích cộng đồng xã hội. Giống nhiều người cùng thời, họ muốn bảo vệ xã hội trước những mối nguy ấy, bằng cách tạo ra các nhóm cộng đồng cộng sản và phong trào Icarias với hình thái quản lý nhà nước mới mẻ, nhằm tạo ra những tiến bộ nhằm tiến gần hơn đến hình thái xã hội lý tưởng. Tuy nhiên cách tiếp cận của họ quá cấp tiến: hướng tới một xã hội phi giai cấp với các quốc gia chung sống hạnh phúc: Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại! Nó đòi hỏi một cuộc cách mạng chuyên chính vô sản. Một số quốc gia đang sẵn trong tiến trình công nghiệp hóa không tiến hành những ý tưởng cấp tiến như vậy, tuy nhiên họ cũng phát triển theo xu hướng cải tổ. Các quốc gia với cấu trúc kiểu phong kiến, nơi cách mạng có thể là tiền đề cho tiến trình hiện đại hóa, có cơ hội tốt hơn để ứng dụng các ý tưởng cấp tiến. Đó là trường hợp của Đế quốc Nga, nơi chế độ nông nô vẫn tồn tại ở các dạng thức cho tới cuối thế kỷ 19. Đó cũng là trường hợp Trung Quốc, nơi nhà Thanh tới trước Thế chiến thứ I mới bị lật đổ. Nhưng tới giữa thế kỷ 20, hai cuộc đại chiến thế giới là căn cứ rõ ràng cho thấy giấc mơ các quốc gia chung sống hạnh phúc vẫn còn xa vời. Những trại cải tạo và cuộc đại thanh trừng trong lịch sử ở Liên Xô cho thấy con đường đi tới xã hội phi giai cấp và chuyên chính vô sản gập ghềnh chông gai ra sao.  Trong khi đó, luồng văn hóa chủ lưu ở nước Mỹ là Giấc mơ Mỹ, bắt nguồn từ lời nói nổi tiếng của Thomas Jefferson, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại trong Bản Tuyên ngôn Độc lập tháng 9/1945: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Quả thực, từ khoảng giữa thế kỷ 19 tới giữa thế kỷ 20, bằng việc mở cửa biên giới chào đón những người tiên phong nhập cư, nước Mỹ có thể tự hào vì đã biến Giấc mơ Mỹ thành hiện thực cho rất nhiều người: ước mơ một nơi với cơ hội rộng mở cho mỗi người tùy thuộc vào năng lực, một ước mơ về trật tự xã hội nơi cá nhân được nhìn nhận đúng với bản chất của mình, không phụ thuộc vào nơi sinh ra hay vị thế xã hội; không chỉ là ước mơ về của cải vật chất mà còn là sự tiến bộ, không còn bị trói buộc bởi những trật tự xã hội của các nền văn minh trước đây nơi chỉ phục vụ cho lợi ích của tầng lớp thống trị thay vì cho từng cá thể.         Hành động chống chiến tranh Việt Nam vì lương tâm khiến Ali trở thành một biểu tượng cho các nhà hoạt động phản chiến trong thập kỷ 60.    Tuy nhiên, tới giữa thế kỷ 20, đã có những dấu hiệu rõ rệt cho thấy Giấc mơ Mỹ vẫn chỉ dừng lại là giấc mơ. Chủ nghĩa tiêu dùng bao trùm: thời kỳ Đại khủng hoảng và thập kỷ trước Thế chiến thứ II cùng những năm khó khăn trong chiến tranh, ước mơ của đa số người Mỹ đơn giản là sở hữu nhà của mình, mua được xe hơi, TV, tủ lạnh, máy giặt và máy hút bụi. Những bất công trắng trợn, từng bị xem nhẹ hay thậm chí bỏ qua trong quá khứ, nay trở nên không thể chấp nhận được, với tệ phân biệt chủng tộc, đặc biệt đáng lên án ở miền Nam. Cuộc chiến tranh lạnh và nguy cơ chiến tranh hạt nhân đẩy căng thẳng lên cao. Xã hội bảo thủ Mỹ không sẵn sàng đối diện với những thử thách này và phía cánh tả cũng như vậy: sự bất lực trở nên rõ ràng khi các bên vẫn ngưỡng vọng hào quang cũ của Liên Xô, chỉ mải mê vào những vấn đề xa xôi lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin.  Mâu thuẫn thế hệ phát sinh, trải dài suốt nửa còn lại của thế kỷ. Sự bảo thủ của thế hệ đi trước khiến họ không nhận ra mức độ nghiêm trọng đằng sau những triệu chứng của các vấn đề mà thế hệ trẻ đang lên án, trong khi thế hệ trẻ thiếu sự trưởng thành để đối diện giải quyết những vấn đề đó. Điều này minh họa rõ nhất qua tuyên bố2 của sinh viên trường Berkeley thập niên 60: “Chúng tôi chối bỏ tư duy rằng mình cần kiên nhẫn và cố gắng đạt được sự thay đổi chậm rãi. Đó là quan niệm xưa cũ. Chúng tôi không cần phe Cánh tả cũ. Chúng tôi không cần đến lý tưởng của họ cũng như không tin rằng tầng lớp lao động, đám đông huyền hoặc được cho là sẽ vùng lên bẻ gẫy xiềng xích. Tầng lớp lao động ở đất nước này giờ đã chuyển phe sang cánh hữu. Chỉ còn lại sinh viên đóng vai trò là lực lượng cách mạng ở đất nước này. Sinh viên sẽ làm được cách mạng bởi chúng ta có ý chí”.  Những phong trào khởi phát ở nước Mỹ đã nhanh chóng đạt tới quy mô toàn cầu và ảnh hưởng tới trật tự mới ở phương Tây, chi phối suốt nửa sau thế kỷ 20. Chúng là báo hiệu cho những cuộc khủng hoảng mà thế kỷ 21 phải đối diện. Các phong trào giải thực dân, quyền công dân, gia tăng toàn cầu hóa và sự phát triển văn hóa phản kháng là những chỉ dấu của giai đoạn này. Chính trong bối cảnh đó, phong trào phản chiến chống lại Chiến tranh Việt Nam phát triển ở nước Mỹ.  Phản đối nhập ngũ  Cách phản chiến trực tiếp nhất là khi các thanh niên từ chối nhập ngũ sang Việt Nam, khoảng ba mươi tới bốn mươi nghìn người trốn sang Canada. Từ 1964 tới 1973, quân đội Mỹ tuyển 2,2 triệu tân binh trong tổng số 27 triệu thanh niên nam giới. Do không tuyên chiến, chế độ nhập ngũ bắt buộc được tổ chức theo một hệ thống chọn lọc của thời bình, vốn hình thành từ những năm trước Thế chiến thứ II. Một tiêu chí quan trọng để miễn nhập ngũ là thành tích học tập ở trường đại học hoặc cao đẳng. Hệ quả là thanh niên da trắng tầng lớp trung lưu dễ rơi vào diện được miễn nhập ngũ hơn. Để sửa sai, năm 1969 người ta thiết lập một hệ thống xổ số. Trước đó, các cuộc biểu tình phản chiến chống nhập ngũ bắt đầu từ Berkeley vào 5/5/1965. Sinh viên tuần hành tới Văn phòng Nhập ngũ, bốn mươi người đốt thẻ gọi nhập ngũ, một năm sau khi mười hai thanh niên New York làm điều tương tự trước đó; tới ngày 22/5 có thêm mười chín thẻ bị đốt trong cuộc biểu tình.  Cuộc biểu tình của quân nhân Mỹ chống Chiến tranh Việt Nam vào năm 1967. Ảnh: Bettman/Getty Images  Từ năm 1966, một số người lính coi Chiến tranh Việt Nam là vô đạo đức và trái pháp luật, đã từ chối đến Việt Nam, họ bị tòa án binh kết án vài năm lao động khổ sai mà không hề được cho cơ hội tự bảo vệ công bằng trước tòa. Trong số đó có nhóm Fort Hood Three, gồm một người da đen, một người Puerto Rico và một người là con trai có cha mẹ là người Italia và Lithuania, họ phản đối tệ phân biệt chủng tộc trong quân đội nói riêng và trong cả nước nói chung. Một trường hợp khác khiến cả thế giới chú ý là Dale Edwin Noyd, một đại úy từng được vinh danh chiến tích, là phi công chiến đấu của Không quân Mỹ, tuyên bố rằng những giá trị nhân bản khiến anh không thể tham chiến trong một cuộc chiến tranh phi nghĩa và vô đạo đức. Một ví dụ điển hình nữa là Andy Stapp, từng là chủ tịch hội Sinh viên vì hòa bình, đã cùng ba sinh viên khác đốt thẻ gọi nhập ngũ ngay trong trường; sau khi nhập ngũ đã bất tuân phục và khiến dư luận quan tâm khi bị đưa ra xét xử. Những trường hợp đó nhận được sự ủng hộ đáng kể từ các phong trào dân sự phản chiến, làm định hình mối liên minh bền vững giữa những công dân và người lính phản chiến, khuyến khích thêm hàng nghìn lính Mỹ khác tham gia chống đối.  Cũng vào năm 1966, Muhamed Ali, từng là nhà vô địch quyền anh hạng nặng thế giới năm trước đó, từ chối đi lính đến Việt Nam vì lý do tôn giáo và đạo đức, bị tuyên án chống nhập ngũ và tước danh hiệu vô địch, bị cấm thi đấu trong gần bốn năm, đúng vào giai đoạn đỉnh cao của một vận động viên.  Các cuộc biểu tình chống đối của sinh viên, thanh niên bị gọi nhập ngũ và những người lính đốt thẻ đăng lính liên tục diễn ra trong những năm tiếp theo. Nhiều người, sau những năm bị tù đày đã trở thành những gương mặt quan trọng của phong trào phản chiến. Một số cuộc hành động tập thể hủy hồ sơ nhập ngũ gây tiếng vang, như Catonsville Nine, một nhóm hoạt động Thiên chúa giáo đốt cháy các chồng hồ sơ, hay nhóm Baltimore Four và Silver Spring Three phun máu trộn với sơn lên chúng. Hai vụ đặc biệt đáng nhắc đến là Fort Levis Six năm 1970 và Camden Twenty-eight năm 1971.    Những phong trào khởi phát ở nước Mỹ đã nhanh chóng đạt tới quy mô toàn cầu và ảnh hưởng tới trật tự mới ở phương Tây, chi phối suốt nửa sau thế kỷ 20. Chúng là báo hiệu cho những cuộc khủng hoảng mà thế kỷ 21 phải đối diện.    Đồn Fort Lewis là một trung tâm huấn luyện tân binh trước khi gửi đến vùng chiến, từ 1966 tới 1972 đã tiếp nhận tới 2,3 triệu lính. Mùa thu năm 1968, nhiều sinh viên, nhà hoạt động và những người lính chống đối đã cùng hợp tác; họ mở quán cà phê Shelter Half gần đồn làm nơi gặp gỡ: có vai trò như đầu não phong trào phản chiến, xuất bản tờ rơi lậu, tổ chức các cuộc đình công, kết nối các nhà hoạt động dân sự với những người lính chống chiến tranh, lãnh đạo các cuộc tuần hành. Tháng 12/1969, các cơ quan quân đội liệt Shelter Half “vào sổ đen”, không cho phép quân nhân lai vãng. Quyết định này lập tức bị trường đại học gần đó phản đối, khiến nó cuối cùng bị bãi bỏ. Tuy nhiên, Lầu Năm góc không đồng ý, ra lệnh đưa sáu nam thanh niên về huấn luyện trong đồn. Họ từ chối và tổ chức một cuộc đình công trong tù, đòi hỏi được đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tụ tập, tự do báo chí, đưa tất cả tù nhân chính trị ra khỏi khu vực biệt giam, quyền cho các tù nhân được tổ chức ủy ban đại diện đàm phán với nhà chức trách, và quyền được tiến hành họp báo hằng tuần. Cuối cùng mỗi người bị kết án từ một tới ba năm tù. Shelter Half đóng cửa vào mùa hè 1974.  Nhóm Camden Twenty-eight gồm 28 nhà hoạt động cánh tả và Thiên chúa giáo, thực hiện phá hủy hồ sơ nhập ngũ ở Camden, một thị trấn nhỏ ngoại ô thành phố Philadephia. Một trong số họ là Bob Hardy phản bội nhóm, đồng ý làm chỉ điểm cho FBI với điều kiện không ai trong số 28 người bị tống giam. FBI bí mật dàn xếp để nhóm đột nhập văn phòng nhập ngũ địa phương vào tảng sáng một ngày Chủ nhật. Hơn bốn mươi đặc vụ FBI theo dõi nhóm lẻn vào văn phòng, bắt đầu phá hủy và nhét vào túi hàng nghìn hồ sơ tài liệu nhập ngũ, rồi bất thình lình vây bắt tất cả mọi người liên quan. Bob Hardy, cảm thấy bị FBI lừa dối, quay lại trở thành người bảo vệ hiệu quả nhất cho nhóm, cung cấp thông tin cho thấy FBI đã khuyến khích, cấp kinh phí và tạo điều kiện để cuộc đột nhập diễn ra. Dựa vào lời làm chứng của Hardy, bên bị cáo đã có thể chứng minh rằng thông qua FBI, chính phủ đã thao túng để bắt bớ và xét xử các nhà hoạt động phản chiến. Ngày 20/5/1973, bồi thẩm đoàn kết luận cả 28 bị cáo vô tội và được thả tự do.  Phong trào sinh viên  Bắt đầu từ 1960, hội Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ (gọi tắt là SDS) nhanh chóng phát triển trong hơn một thập kỷ, trở thành một tổ chức các nhà hoạt động sinh viên ở tầm quốc gia, với hơn 300 chi hội trong các trường đại học và trong hội nghị quốc gia lần cuối năm 1969 có tới ba mươi nghìn người ủng hộ trên cả nước đăng ký tham gia. Hội nghị lần đầu của họ diễn ra vào tháng 6/1962 tại Port Huron, nơi bản tuyên bố Fort Huron của họ trở thành Tuyên ngôn của hội, thảo bởi Tom Hayden, sau này trở thành chủ tịch hội. Đó là lời phê phán toàn diện dành cho hệ thống chính trị và xã hội nước Mỹ vì đã không mang lại cho thế giới hòa bình và công bằng kinh tế, lời lên án phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng kinh tế, các tập đoàn lớn, công đoàn, đảng phái chính trị, coi các hoạt động phản kháng dân sự bất bạo động là con đường để sinh viên hiện thực hóa khái niệm tham gia dân chủ. Lý tưởng của hội và kiến nghị đòi hỏi một xã hội bình đẳng hơn đã định hình các vấn đề trọng tâm, thôi thúc dâng cao phong trào phản chiến và văn hóa phản kháng của thập kỷ 70. Trong vai trò là một văn kiện nền tảng cho sự phát triển của Cánh tả mới, nó không mang tính Marxist hay cộng sản, nhưng nó chống lại hội chứng cực đoan chống cộng và bài Soviet mà đỉnh điểm là chủ nghĩa McCarthy trong suốt thập kỷ 50. Nó khẳng định rằng các trường đại học, “hệ thống tổ chức chính thống duy nhất mở cửa cho sự tham gia của các cá nhân thuộc hầu như mọi luồng quan điểm” chính là nơi để bảo vệ hòa bình và quyền công dân, đòi hỏi liên minh sinh viên và giáo viên giành quyền kiểm soát từ tay hệ thống công quyền quan liêu.  Andy Stapp, chủ tịch hội Sinh viên vì Hòa bình đã kêu gọi các sinh viên đốt thẻ nhập ngũ trong trường. Ảnh: Meyer Liebowitz/The New York Times, năm 1971  Trong những năm tiếp theo, mục tiêu ban đầu là chống phân biệt chủng tộc và đói nghèo từ 1965 dần chuyển sang chống chiến tranh Việt Nam, sau khi Tổng thống Johnson ra lệnh ném bom miền Bắc Việt Nam vào tháng hai. Tháng ba, SDS tổ chức chuỗi hoạt động “teach-in” đầu tiên ở Đại học Michigan. Khoảng 3500 người tham dự, bao gồm các cuộc tranh luận, diễn giảng, các sự kiện chiếu phim và âm nhạc phản chiến. Ngay lập tức có 35 cuộc teach-in tiếp theo khác ở các trường đại học trên khắp cả nước, cuộc lớn nhất diễn ra ở Berkeley: kéo dài 36 tiếng, với khoảng ba mươi nghìn người tham gia, bao gồm các học giả, nhà báo, chính trị gia, diễn viên hài và giáo viên. Khi đó, Berkeley đã nổi tiếng là nơi nuôi dưỡng Phong trào Tự do Ngôn luận bắt đầu từ ít tháng trước như sự phản kháng lệnh của nhà trường cấm tổ chức các cuộc tụ tập thảo luận chính trị. Sau cuộc bắt bớ hàng loạt với 800 sinh viên trong vài tiếng ở một nhà giam cách trường 25 dặm và những cuộc biểu tình chống đối sau đó, trường đại học cuối cùng phải thỏa hiệp và cho phép tổ chức một số cuộc thảo luận chính trị trong trường. Phong trào Tự do Ngôn luận có ảnh hưởng lâu dài ở trường Berkeley và là thời điểm bản lề cho phong trào dân sự thập kỷ 60. Tháng tư và 11/1965, SDS tổ chức các cuộc tuần hành ở Washington có sự tham gia của hàng vạn sinh viên. Trong cuộc tuần hành thứ hai, Carl Oglesby, vị chủ tịch 30 tuổi của SDS, có bài diễn văn xuất sắc3 được đám đông nồng nhiệt hưởng ứng: “Thay vì giúp người Mỹ đối diện với sự thật, việc đề cao lý tưởng chống cộng chỉ là cách che giấu để mọi thứ duy trì theo hiện trạng. Cho nên, nó diễn giải sự hiện diện của nước ta ở nước khác không phải là một sự cưỡng ép, mà nhằm bảo vệ. Nó thậm chí cho phép nói rằng bom napalm ở Việt Nam là phương diện khác của tình yêu nhân loại – giống như các cuộc trừ tà của thời Trung Cổ thường làm chết bệnh nhân. Vậy là chúng ta đi nói với người nông dân Việt Nam, hay người trí thức Cuba, người công nhân Peru, rằng: tốt hơn là chết đi, chứ đừng theo cộng sản”.     Mùa đông 1966 và mùa xuân 1967 chứng kiến các cuộc biểu tình trong trường gia tăng. Biểu tình chống các nhà thầu quân sự khắp nơi, như cuộc chống Dow Chemical tại Đại học Wisconsin, nơi một cuộc sit-in (biểu tình ngồi) bị cảnh sát giải tán một cách bạo lực, khiến nhiều người bị thương và bắt bớ. Tuần lễ “Chấm dứt Nhập ngũ” ở Oakland kết thúc với cuộc đối đầu giữa đám đông và cảnh sát. Những cuộc đột kích buổi đêm vào các văn phòng đăng ký nhập ngũ lan rộng. Mùa xuân 1968, các nhà hoạt động SDS lãnh đạo chuỗi sự kiện “Mười ngày phản kháng” trong các trường, với các cuộc tụ tập, tuần hành, sit-in và teach-in, riêng ngày 18/4 có khoảng một triệu sinh viên không đến lớp.  Liên quan đến phong trào sinh viên, cần nhắc đến Ủy ban Điều phối Sinh viên Bất bạo động (SNCC), mặc dù phong trào này quan tâm đến tệ phân biệt chủng tộc hơn là Chiến tranh Việt Nam. SNCC là kênh dẫn dắt sinh viên tới Phong trào Quyền Dân sự, từ 1954 tới 1968 nhắm tới xóa bỏ các chính sách cách ly, phân biệt chủng tộc và hạn chế quyền bỏ phiếu. Nó được thành lập năm 1960 giữa các cuộc biểu tình ngồi ở các trường đại học miền Nam chống lại tệ cách ly chủng tộc trong các căng tin nhà trường. Đầu thập kỷ 60, cùng các tổ chức khác như Đại hội Bình đẳng Chủng tộc (CORE), họ tổ chức hoặc tham gia nhiều hành động, như cuộc Tuần hành tới Washington năm 1963, nơi Martin Luther King có bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ”. Năm 1966, nhân các cuộc biểu tình liên quan tới việc giết hại các sinh viên da đen, nó lên án Chiến tranh Việt Nam, tuyên bố rằng không thể tiếp tục ủng hộ “sự đạo đức giả khi kêu gọi người da đen chống lại cuộc giải phóng Việt Nam, và bảo vệ một ‘nền dân chủ’ vốn chẳng hề tồn tại với họ ngay tại quê nhà”.□  (Còn tiếp)  Thanh Xuân dịch  —–  1 https://en.wikipedia.org/wiki/Category:American_anti%E2%80%93Vietnam_War_activists    2https://en.wikipedia.org/wiki/Students_for_a_Democratic_Society#:~:text=Students%20for%20a%20Democratic%20Society%20(SDS)%20was%20a%20national%20student,representations%20of%20the%20New%20Left.  3https://michiganintheworld.historylsa.umich.edu/antivietnamwar/files original/21a2b01 aa6527ba01cdf738bf1 c9e0ef.pdf    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Những người Mỹ phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam (kỳ cuối)      Tóm tắt kỳ trước: Làn sóng phản đối Chiến tranh Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thế hệ trẻ nước Mỹ giữa thế kỉ 20 nhận ra Giấc mơ Mỹ – “tất cả mọi người được sinh ra đều bình đẳng”, chỉ là hão huyền. Những bất công trắng trợn như phân biệt chủng tộc, Chiến tranh Lạnh và nguy cơ chiến tranh hạt nhân, từng bị xem nhẹ, giờ đẩy căng thẳng lên cao. Kỳ 1 nói về phong trào phản đối nhập ngũ và phong trào sinh viên. Tới kỳ này, ta sẽ chứng kiến sự lớn mạnh của chủ nghĩa chống chiến tranh lan rộng ra toàn quốc với những hình thức khác nhau như thế nào.      Daniel Ellsberg, ở bên ngoài tòa án Liên bang vào năm 1971, phải đối diện với 12 cáo trạng vì làm rò rỉ Hồ sơ Lầu Năm góc. Tuy nhiên, những cáo buộc này bị xóa bỏ vào năm 1973. Ảnh: Donal F. Holway/The New York Times.  Tới năm1967, phong trào phản chiến mở rộng trong dân chúng và ngày càng nhiều người Mỹ coi cuộc can thiệp quân sự ở Việt Nam là một sai lầm1. Hình ảnh bi thảm của các nhà hoạt động tiến hành tự thiêu để phản đối chiến tranh Việt Nam là những minh họa mang tính biểu tượng cho thấy người dân cảm thấy cuộc chiến là phi nghĩa. Truyền thông đóng vai trò quan trọng cho thấy hiện thực của cuộc chiến, tường thuật cuộc tranh luận giữa phe Bồ câu, những người coi cuộc chiến là sai lầm thảm họa, với phe Diều hâu, những người coi cuộc chiến là phù hợp và có thể thắng được. Những bức ảnh vụ ông Nguyễn Văn Lém bị bắn chết2, “Cô bé Napalm”3, bức poster “Và những em bé”4 (“And Babies” dùng hình ảnh những trẻ em và phụ nữ bị thảm sát ở Mỹ Lai) gây tác động đặc biệt sâu sắc. Một sự kiện cũng có ảnh hưởng đáng kể là vụ Daniel Ellsberg, một chuyên gia làm việc cho một tổ chức nghiên cứu cho quân đội, tiết lộ các tài liệu tuyệt mật, Hồ sơ Lầu Năm Góc, là một nghiên cứu của cơ quan này về quá trình ra quyết định của chính phủ liên quan tới Chiến tranh Việt Nam. Hồ sơ Lầu Năm góc cho thấy nước Mỹ bí mật mở rộng quy mô hành động trong các cuộc đột kích bờ biển miền Bắc Việt Nam và những cuộc tấn công của Thủy quân Lục chiến, vốn không hề được đăng tải trên truyền thông chính thống. Chúng thể hiện Chính quyền Johnson đã nói dối một cách hệ thống, không chỉ với công chúng mà cả với Quốc hội.  Ủy ban Vận động Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam (Mobilization Committee to End the War in Vietnam) được gọi là “Mobe”, được thành lập vào tháng 11/1966, nhằm tổ chức các cuộc biểu tình lớn chống Chiến tranh Việt Nam, nhanh chóng có sự tham gia của các nhà hoạt động phản chiến. Ngày 15/4/1967, họ tổ chức một cuộc tuần hành khổng lồ ở New York, từ Công viên Trung tâm tới Liên Hợp Quốc, đốt cháy nhiều thẻ nhập ngũ. Sự kiện thu hút bốn trăm nghìn người, trong đó có Martin Luther King, Harry Belafonte, James Bevel, Chủ tịch của Mobe, và Benjamin Spock, tham gia tuần hành và diễn thuyết. Cùng ngày, ở San Francisco, một cuộc tuần hành tương tự với quy mô một trăm nghìn người. Trong không khí đó, ngày 20-21/5, một hội nghị của Mobe với 700 nhà hoạt động phản chiến cùng Mobe đã tổ chức cuộc Tuần hành tới Lầu Năm góc vào tháng mười một, bắt đầu với cuộc tụ tập ở đài tưởng niệm Lincoln, với khoảng bảy mươi nghìn người tham gia. Khoảng 650 người, bao gồm Norman Mailer, bị bắt tại bậc thềm tòa Lầu Năm góc vì tội chống đối dân sự. Ngay sau đó Mobe bắt đầu lên kế hoạch cho các cuộc biểu tình tại Hội nghị Toàn quốc Đảng Dân chủ, được tổ chức ở Chicago, nơi Tổng thống Johnson lẽ ra được đề cử cho nhiệm kỳ thứ hai. Chỉ có khoảng mười nghìn người tham dự vì nhiều người cho rằng Thị trưởng Chicago sẽ huy động cảnh sát. Năm 1968, cuộc tổng tấn công Mậu Thân, việc Johnson tự rút lui và vụ ám sát Martin Luther King và Robert Kennedy mang đến bầu không khí đặc biệt căng thẳng trong những tháng tiếp theo. Trong khi đó, trào lưu Hippies, biểu tượng cho văn hóa phản kháng của thập kỷ 60 và 70 đã tổ chức những sự kiện lớn như Human-Be-in và Mùa hè của Tình yêu ở California. Nhóm Yippies (Đảng Thanh niên Quốc tế) quyết định tham gia cuộc biểu tình ở Chicago để đề cử một con lợn, “Lyndon Pigasus Pig”, ra tranh cử Tổng thống. Sau nhiều cuộc đối đầu bạo lực với cảnh sát, bảy nhà hoạt động phản chiến, được gọi là “Chicago Seven” bị bắt và truy tố, trong đó có Tom Hayden và các nhà sáng lập phong trào Yippies.    Daniel Ellsberg, ở bên ngoài tòa án Liên bang vào năm 1971, phải đối diện với 12 cáo trạng vì làm rò rỉ Hồ sơ Lầu Năm góc. Tuy nhiên, những cáo buộc này bị xóa bỏ vào năm 1973. Ảnh: Donal F. Holway/The New York Times.     Chủ nghĩa chống chiến tranh của các năm 1967 và 1972 không tách rời khỏi các hình thái chủ nghĩa khác, chủ nghĩa hòa bình, chủ nghĩa nữ quyền, và những cuộc đấu tranh chống bất bình đẳng chủng tộc, đòi hỏi quyền công dân và quyền con người, tất cả đều cùng nở rộ trong giai đoạn này.  Phụ nữ thành lập một số tổ chức nhằm chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, như Một người mẹ nữa vì Hòa bình và Phụ nữ Biểu tình vì Hòa bình. Tổ chức sau thực hiện những cuộc biểu tình quan trọng trong năm 1967: một cuộc tuần hành tới Lầu Năm góc vào tháng hai, một cuộc tụ tập vài nghìn thành viên tại Nhà Trắng vào tháng chín, “Tuần lễ Chấm dứt Chiến tranh” vào tháng mười, trong đó hơn một nghìn thẻ nhập ngũ bị trả lại, cũng tại đó Joan Baez bị bắt. Tháng 1/1968, họ tổ chức ở Washinton cuộc tập hợp toàn phụ nữ chống chiến tranh đầu tiên, có tên là Jeannette Rankin Brigade với sự tham gia của hơn năm nghìn phụ nữ. Họ được sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động trong các phong trào giải phóng phụ nữ và nữ quyền, bao gồm các ngôi sao như Angela Davis, Joan Baez và Jane Fonda, các họa sĩ, nhà báo, tăng lữ và phụ nữ là lãnh đạo trong các tổ chức chính trị và hoạt động vì quyền công dân.  Tháng hai 1966, một nhóm vài trăm cựu chiến binh tìm cách trả lại các huân huy chương cho Nhà Trắng để phản đối chiến tranh, nhưng bị chặn lại. Tháng 5/1967, Jan Barry Crumb và mười cựu chiến binh khác tham dự một cuộc biểu tình vì hòa bình ở Washington, và ngày 1/6, họ sáng lập Hội Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam Phản đối Chiến tranh (VVAW), tổ chức vài cuộc biểu tình phản chiến, trong đó có cuộc ngăn chặn Thượng nghị sĩ J.W.Fulbright phát biểu tại một hội nghị vào tháng 3/1969. Ngày 23/4/1971, các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam vứt bỏ khoảng 700 huân huy chương trên bậc thềm tòa nhà Quốc hội, ngày hôm sau nửa triệu người trên cả nước tham gia các cuộc tuần hành phản chiến. Tháng 12/1971, mười lăm cựu chiến binh chiếm giữ Tượng thần Tự do ở New York trong khi tám mươi người khác đụng độ với cảnh sát và bị bắt khi tìm cách chiếm giữ đài tưởng niệm Lincoln ở Washington. Tháng 1/1971, VVAW tài trợ “Cuộc điều tra Quân đội Mùa đông”, một sự kiện truyền thông nhằm công bố các tội ác chiến tranh và sự tàn bạo gây ra bởi quân đội Mỹ ở Việt Nam. Năm 1972 họ lên kế hoạch các cuộc biểu tình nhằm gây rối Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, FBI biết về kế hoạch này, tám cựu chiến binh bị bắt và truy tố tội âm mưu chống phá. Cả tám người đều được thả tự do. Các nhà hoạt động phản chiến là cựu chiến binh nhận được sự ủng hộ rộng rãi, trong số họ có những nhân vật triển vọng, như John Kerry, sau này là Ngoại trưởng Mỹ dưới thời Tổng thống Obama, Robert M. Ockene (nhà sáng lập Yippies), Jeff Sharlet (nhà sáng lập Vietnam GI, một bản tin phản chiến giàu ảnh hưởng) và Andy Stapp (nhà sáng lập Công đoàn của Quân nhân Mỹ). Họ không chỉ theo đuổi các giá trị nhân văn mà còn quan tâm tới những đau đớn mà các cựu chiến binh gánh chịu, liên quan tới rối loạn chấn thương căng thẳng hậu chiến và phơi nhiễm Chất độc Da cam.  Cuộc tập hợp toàn phụ nữ chống chiến tranh đầu tiên, có tên là Jeannette Rankin Brigade ở Washington với hàng nghìn phụ nữ tham dự năm 1968. Ảnh: Bettmann Archive/Getty Images.  Nhiều người trong giới tăng lữ, cả Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo, tích cực ủng hộ phong trào phản chiến. Tháng 2/1967, các nhóm Thiên chúa giáo phản đối chiến tranh tổ chức cuộc “Tuyệt thực vì Hòa bình”. Năm 1971, Philip Berrigan, một thầy tu Công giáo từng bị tù vì đốt thẻ nhập ngũ trong vụ Catonsville Nine, bị bắt vì trao đổi thư từ với sáu nhà hoạt động phản chiến khác ám chỉ việc bắt cóc Henry Kissinger. Bảy người họ, được gọi là Harrisburg Seven, bị 23 cáo buộc về tội âm mưu. Để phản đối phiên tòa, 166 người, nhiều trong số đó là học viên tu viện, treo một sợi dây xích quanh Tòa án Liên bang và bị bắt. Nhóm Harrisburg Seven cuối cùng được thả tự do. Ngày 6/7/1972, bốn nữ tu trong một chuyến tham quan Nhà Trắng đã dừng lại và cầu nguyện phản đối chiến tranh. Trong sáu tuần tiếp theo, hoạt động quỳ xuống (“kneel-ins”) trở thành một hình thức phản đối phổ biến và dẫn tới 160 vụ bắt giữ. Một nhân vật kiệt xuất trong giới tăng lữ phản đối Chiến tranh Việt Nam chính là Martin Luther King Jr, một mục sư Baptist trở thành người phát ngôn và lãnh đạo nổi tiếng nhất của phong trào đòi quyền công dân năm 1955, cho tới khi bị ám sát năm 1968. Là một lãnh đạo trong giáo hội của người da đen gốc Phi, con trai của Martin Luther King Sr vốn là một nhà hoạt động vì quyền công dân thời kỳ đầu, ông thúc đẩy quyền công dân cho người da màu bằng những hoạt động bất bạo động và phản kháng dân sự.  Một số nghệ sĩ, nhà văn, ca sĩ và diễn viên hài kịch rất tích cực phản đối Chiến tranh Việt Nam. Các diễn viên như Robert Vaugh và Donna Reed là các thành viên tích cực của hội Một người mẹ nữa vì Hòa bình. Nhà thơ Allen Ginsberg cùng các thành viên khác của hội trí thức cấp tiếp RESIST như Noam Chomsky và Norman Mailer ký bản tuyên ngôn phản chiến “Một tiếng gọi chống cường quyền”, lan truyền giữa những người phản đối nhập ngũ năm 1967. Năm 1968, ông vận động ủng hộ và sau này bảo trợ cho dự án Phản đối Thuế Chiến tranh. Những nhân vật biểu tượng nhất hẳn là Joan Baez và Jane Fonda. Joan Baez là ca sĩ, nhạc sĩ, tác giả các bài hát, biết đến nhiều nhất với các bản nhạc dân ca, trong đó có những bài hát về phản kháng và bình đẳng xã hội. Năm 1964, bà sáng lập Viện Nghiên cứu Phi bạo lực và khuyến khích những người phản đối nhập ngũ tham dự các buổi hòa nhạc của mình. Bà bị bắt hai lần năm 1967 vì chặn lối ra vào Trung tâm Tuyển quân ở Oakland và bị giam hơn một tháng. Bà thường xuyên tham gia các cuộc tuần hành và tụ họp phản chiến, trong đó có nhiều cuộc phản đối ở thành phố New York, bắt đầu với cuộc Diễu hành Hòa bình Đại lộ số Năm vào Tháng 3/1966; buổi hòa nhạc miễn phí năm 1967 tại đài tưởng niệm Washington ở thủ đô Washington D.C., thu hút đám đông ba mươi nghìn người tới nghe các thông điệp phản chiến; các cuộc biểu tình Đình chỉ để chấm dứt Chiến tranh ở Việt Nam (Moratorium to End the War in Vietnam) năm 1969, một chuỗi sự kiện biểu tình khổng lồ trên khắp các trường đại học ở Mỹ diễn ra vào 15/10/1969, và tiếp nối vào tháng mười một là cuộc Tuần hành đòi đình chiến ở Washington nơi ca sĩ dân gian Pete Seeger dẫn đầu đoàn biểu tình cùng hát bài “Hãy cho Hòa bình một cơ hội” của John Lennon. Trong mùa Giáng sinh năm 1972, Joan Baez tham gia đoàn đại biểu hòa bình tới miền Bắc Việt Nam, tìm hiểu về nhân quyền và gửi thư Giáng Sinh cho các tù binh chiến tranh người Mỹ. Trong thời gian bà ở đây, Mỹ tiến hành chiến dịch “Ném bom Giáng sinh” lên Hà Nội kéo dài liên tục mười một ngày.  Các cựu chiến binh từng tham dự chiến tranh ở Việt nam vứt bỏ các huân chương, ghi nhận… ở Washington năm 1971.  Từ giữa thập kỷ 60, Jane Fonda đã là một diễn viên điện ảnh đầy triển vọng (bà giành giải Oscar đầu tiên từ năm 1971). Tháng 4/1970, cùng Fred Gardner và Donald Sutherland, bà lập nhóm lưu diễn “Thả tự do cho Quân đội” (“Free the Army”) phản đối chiến tranh, tìm đến các thị trấn có căn cứ quân sự ở bờ biển phía Tây, nhằm đối thoại với những người lính về cuộc thực hiện nhiệm vụ sắp tới của họ ở Việt Nam. Người ta nhớ đến bà trong cuộc phản chiến vì tình nhân ái, chân thành, nhưng cũng có lúc vụng về. Tháng 5/1970, bà xuất hiện trong một sự kiện tại Đại học New Mexico để nói về quyền và những vấn đề của binh sĩ lục quân. Bà không hề biết về vụ vệ binh quốc gia bắn bốn sinh viên ở Ohio vừa xảy ra, và bài nói chuyện của bà gặp phải sự im lặng đầy sượng sùng. Cùng ngày đó, bà tham gia cuộc tuần hành phản đối diễn ra ở quê nhà vị chủ tịch trường. Đám tuần hành tự gọi mình là “Họ bắn sinh viên, phải thế không?” – nhằm liên hệ với bộ phim vừa ra mắt của Jane Fonda, “Họ bắn lũ ngựa, phải thế không?”, cũng vừa công chiếu ở thành phố Albuquerque của bang. Cùng năm đó, bà phát biểu chống chiến tranh ở một cuộc tụ họp của VVAW và đề nghị giúp gây quỹ, và thực hiện điều đó vào tháng mười một bằng cách lưu diễn ở các trường đại học. Giữa năm 1965 và 1972, gần ba trăm người Mỹ – đa số là các nhà hoạt động, giáo viên và mục sư – đến thăm miền Bắc Việt Nam để chứng kiến hiện thực chiến tranh bằng chính mắt mình. Jane Fonda thăm miền Bắc vào tháng 7/1972, chứng kiến dấu bom ném xuống các con đê. Bức ảnh bà ngồi trên pháo cao xạ của miền Bắc Việt Nam khiến một số người Mỹ tức giận. Bà không ý thức về thông điệp mà bức ảnh mang lại và sau này xin lỗi về sự kiện. Jane Fonda lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội trong suốt hai tuần lưu diễn, nói về những chuyến thăm các ngôi làng, bệnh viện, trường học và nhà máy bị ném bom, lên án chính sách quân sự của Mỹ. Bà thăm các tù nhân chiến tranh người Mỹ và chuyển thư về cho gia đình của họ. Khi người ta công bố những câu chuyện về tra tấn từ các tù nhân trở về nhà, Jane Fonda khẳng định đó là những lời dối trá dàn dựng bởi chính quyền Nixon. Năm 1972, bà gây quỹ và tổ chức Chiến dịch Hòa bình Đông dương. Các diễn viên nổi tiếng khác như Charlton Elston, Burt Lancaster và Gregory Peck cũng cùng tham gia phong trào phản chiến.  Rất nhiều các học giả, giáo sư đại học, trí thức cũng nỗ lực lên tiếng phản đối Chiến tranh Việt Nam, nhìn chung hơn họ ủng hộ các quyền công dân, nữ quyền và bình đẳng chủng tộc. Về chính trị, đa số thiên về cánh tả. Một số ít là những người giáo điều nhưng ảnh hưởng hạn chế: khi nói lên tiếng nói của trái tim, chúng tôi chẳng cần đến các nhà lý thuyết dựng lên những giáo lý về điều cần phải nói. Một số người nổi tiếng, như George Wald, người giành giải Nobel Y học năm 1967 với nghiên cứu về truyền ảnh từ mắt tới não, Noam Chomsky, người xuất bản nghị luận nổi tiếng “Trách nhiệm của trí thức” trong cùng năm, Benjamin Spock, bác sỹ nhi với cuốn sách Trẻ em và chăm sóc trẻ là một trong những cuốn sách bán chạy hàng đầu của thế kỷ 20.  Trong số họ, Angela Davis sinh ra từ một gia đình trung lưu, bố mẹ là người da đen, bà tích cực tham gia các phong trào thanh niên gần với Đảng Cộng sản. Bà tốt nghiệp đại học năm 21 tuổi vào năm 1965, cử nhân về tiếng Pháp và triết học. Khi đó, bà đã gặp Herbert Marcuse và là sinh viên của ông, dành một năm ở Pháp trong một chương trình trao đổi sinh viên, tham gia Festival Thanh niên và Sinh viên Thế giới ở Helsinki do những người cộng sản tài trợ. Bà chuyển tới Frankfurt, nơi Marcuse dạy học, dành hai năm gần gũi với một liên đoàn cấp tiến của các sinh viên theo chủ nghĩa xã hội, tham dự một hội nghị ở London về Biện chứng của Khai phóng và theo sát các hoạt động ở Mỹ. Sau đó bà theo Marcuse về San Diego nơi ông được mời một vị trí giảng dạy và gia nhập một chi hội toàn người da đen của Đảng Cộng sản. Bà có bằng thạc sĩ năm 1968, tiếp theo là bằng tiến sĩ từ Đại học Humboldt ở Đông Đức. Năm 1969, khi giữ vị trí phó giáo sư ở khoa triết học đại học UCLA, bà đã được biết đến là một nhà nữ quyền và nhà hoạt động cấp tiến, thành viên Đảng Cộng sản và nhóm Báo Đen, điều đó khiến bà bị ban giám hiệu trường đại học sớm sa thải. Năm 1970, bà giúp một thanh niên da đen 17 tuổi, Jonathan Jackson, giải thoát anh trai George, người bị giam cùng hai người khác vì giết một lính gác nhà tù. Angela mua súng cho Jonathan. Ngày 7/8, giữa phiên tòa xét xử ba bị cáo da đen, cậu ta bắt làm con tin thẩm phán và ba người trong bồi thẩm đoàn; một bị cáo bắn vào cảnh sát và bị bắn trả: vị thẩm phán và ba người đàn ông da đen bị giết. Tháng 1/1971, bị cảnh sát xác định là chủ sở hữu khẩu súng và buộc tội “bắt cóc với tình tiết tăng nặng và giết người độ một làm chết thẩm phán”, Angela tuyên bố mình vô tội và bị tống giam. Khắp cả nước, hàng nghìn người tổ chức các phong trào đòi thả tự do cho bà; năm 1972 sau 16 tháng bị giam giữ, bà được thả tự do với một bảo lãnh do những người ủng hộ trả tiền. Ngày 4/6, sau 13 tiếng đồng hồ tranh cãi, một đoàn bồi thẩm toàn người da trắng kết luận bà vô tội. Bà trở thành một trong những nhân vật biểu tượng của thời kỳ này.  Nhóm Thời tiết Ngầm (còn gọi là nhóm Dự báo thời tiết) là một tổ chức vũ trang cực tả bắt đầu hoạt động từ năm 1969, được tạo ra trong lòng SDS. Khác với SDS coi trọng các cuộc biểu tình bất bạo động, nhóm Dự báo thời tiết có mục tiêu trở thành đảng cách mạng lật đổ chủ nghĩa đế quốc Mỹ, với quan điểm ủng hộ Quyền của người da đen và chống Chiến tranh Việt Nam. Tháng 10/1969, đồng thời với phiên tòa xét xử nhóm Chicago Seven, họ tổ chức “Những ngày Phẫn nộ” ở Chicago, một chuỗi những cuộc đung độ bạo lực với cảnh sát, theo khẩu hiệu “Mang chiến tranh về quê nhà”, cổ suy việc dùng bạo lực để lật đổ chính quyền. Sự kiện không được tổ chức đầy đủ và thu hút ít người tham gia hơn dự kiến, kết quả là 287 thành viên bị bắt, đa số các thủ lĩnh bị giam. Từ đó, họ tách khỏi SDS và hoạt động ngầm, nhiều người bỏ trốn và ẩn nấp trong vài năm để tránh bị bắt vào tù. Trong thập kỷ 70, họ thực hiện một chiến dịch đặt bom các tòa nhà chính quyền và vài ngân hàng. Nổi tiếng là vụ Đặt bom tòa Sterling và Cướp Ngân hàng Brighton. Tòa Sterling là một tòa nhà trong trường Đại học Wisconsin-Madison nơi có Trung tâm Nghiên cứu Toán học Quân đội là mục tiêu nổ bom. Trái bom là một chiếc xe tải bị đánh cắp chứa gần một tấn chất nổ. Vụ nổ làm chết một người làm postdoc 33 tuổi đang nghiên cứu về siêu dẫn trong một phòng thí nghiệm vật lý gần đó, và làm bị thương ba người khác. Vụ cướp ngân hàng Brighton ở ngoại ô Boston, do năm người, đa số có tiền án, thực hiện nhằm kiếm tiền cho các hoạt động phản chiến. Họ chỉ cướp được 26 nghìn USD nhưng một người bắn vào lưng và giết chết một cảnh sát. Sau này, họ còn nổ bom một tòa nhà của Bộ Ngoại giao ở Washington nhằm “phản ứng với sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam”.  Ngày 27/1/1973, Hiệp định Hòa bình Paris được ký, không lâu sau toàn bộ quân đội Mỹ rời khỏi Việt Nam.  Thanh Xuân dịch  ——  1 https://en.wikipedia.org/wiki/Opposition_to_United_States_involvement_in_the_Vietnam_War  2 https://en.wikipedia.org/wiki/Execution_of_Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_L%C3%A9m  3 https://www.qdnd.vn/ban-doc/nguoi-trong-anh/50-nam-buc-anh-em-be-napalm-cua-nick-ut-690864  4 https://www.qdnd.vn/ban-doc/nguoi-trong-anh/50-nam-buc-anh-em-be-napalm-cua-nick-ut-690864    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Những nhà dân tộc học hàng hải người Pháp tại Việt Nam      Ngày nay, mỗi khi lên mạng tra cứu về thuyền bè truyền thống trên thế giới, bạn đọc lại gặp những tác giả người Pháp như đô đốc Pâris, Poujade, Claeys, Paris, Piétri… Chính họ là người từ rất sớm đã nghiên cứu sâu về hàng hải truyền thống của dân tộc ta, đã đưa những ghe bầu, ghe lưới rùng… vào hàng ngũ các con thuyền truyền thống, đứng cạnh drakkar của người Viking, koleh pengayer của người Mã Lai, những dân tộc hàng hải thời xa xưa…  Bài viết này điểm qua vài nét về cuộc đời và một vài câu chuyện về sự đóng góp to lớn của họ.      Đô đốc Pâris, (1806 – 1893 ).  Người đầu tiên được các nhà nghiên cứu thường trích dẫn đó là đô đốc Pâris1, với cuốn “Phác thảo việc đóng tàu thuyền của các dân tộc ngoài châu Âu” được giới dân tộc học hàng hải coi là kinh điển. Cái “ngoài châu Âu” tức extra-européens này là các dân tộc như Á, Phi, Mỹ, châu Đại Dương mà Pâris đã thực hiện những chuyến đi khảo sát ròng rã nhiều ngày trên các con tàu Astrolabe, Favorite, Artémise… nằm trong chương trình nhà nước Pháp đẩy mạnh nghiên cứu đại dương, phục vụ cho việc bành trướng thực dân trong công cuộc mà ngày nay chúng ta có thể gọi là cuộc “toàn cầu hóa lần thứ 1”. Với những ghi chép tỉ mỉ, những bức vẽ công phu, Pâris đã là nhà nghiên cứu chuyên sâu về hàng hải lần đầu tiên đưa ra cho thế giới biết những con thuyền tại Huế, Đà Nẵng mà trước đây chỉ có những ghi chép sơ sài của các nhà du lịch. Sau này, khi không tham gia trực tiếp trong lực lượng hải quân, Pâris trở thành người quản thủ của Bảo tàng Hàng hải Pháp, một bảo tàng nằm không xa tháp Eiffel, biểu tượng của thủ đô Paris. Với kinh nghiệm và kiến thức tích lũy của hơn 20 năm hoạt động trên biển, Pâris đã xây dựng bảo tàng này thêm phong phú, với nhiều mô hình thuyền bè từ Việt Nam.  Nếu Pâris được thực hiện một chương trình nghiên cứu có tổ chức thì phần lớn các nhà dân tộc học hàng hải khác lại làm việc có tính “nghiệp dư” như: Cadière2 là một vị cha xứ đáng kính phụ trách mục vụ vài tỉnh miền Trung nhưng được biết tới như một nhà Việt học nổi tiếng, trong đó có nhiều ý kiến, ghi chép, nhiều bài báo khảo cứu tàu thuyền khu vực này. Chẳng hạn chúng ta có thấy hình vẽ do Cadière thực hiện để mô tả tỉ mỉ việc ghép nối giữa đáy thuyền bằng nan tre và phần gỗ phía trên một loại thuyền đặc biệt có kết cấu hỗn hợp dưới là tre trên là gỗ, chú ý tới chiếc đinh gỗ được chêm để tăng độ căng, độ kín (hình 1); Poujade3 khi thực hiện chức phận như một nhà hàng hải tại Đông Dương được thế giới biết tới qua cuốn sách “Thuyền bè Đông Dương” với nhiều bức tranh màu nước vẽ theo phong cách marinist – một phong cách mỹ thuật hàng hài khởi nguồn từ Hà Lan; Piétri, viên hoa tiêu với chức danh “chánh kiểm ngư” đã có dịp ngang dọc khắp ven bờ Đông Dương thời ấy, bao trùm từ Quảng Châu Văn, tức Trạm Giang Trung Quốc ngày nay, vòng qua bán đảo Lôi Châu tới vịnh Bắc Bộ, kéo dọc đường cong chữ S sang tới Koh Tang, Campuchia, giúp cho ông có cái nhìn tổng quan về thuyền bè Việt Nam, đối chiếu với các nước lân cận để hoàn thành cuốn sách “Thuyền buồm Đông Dương”4. Cuốn sách được nhiều tác giả trên thế giới trích dẫn vì ngoài những phân tích tỉ mỉ dựa trên khoa học đóng tàu, những lý giải trên cơ sở thủy khí động học, cuốn sách lại kèm theo những hình minh họa do chính tác giả thực hiện bằng cả niềm say mê của người nghệ sĩ khoác áo kiểm ngư.    Bản đồ phân vùng tàu thuyền Việt Nam do Paris thực hiện trong tác phẩm “Phác thảo”.  Trong những nhà nghiên cứu nghiệp dư đó, đáng kể nhất là Pierre Paris, người đã khái quát hóa những hiểu biết lúc đó về hàng hải Việt Nam. Với tác phẩm “Phác thảo về dân tộc hàng hải Việt Nam” xuất hiện lần đầu vào năm 1939 trên tạp chí của Viễn đông Bác cổ BFEO, ông đưa ra giả thiết chính tổ tiên xa xưa của những ngư dân Sầm Sơn, những chủ nhân của trống đồng Đông Sơn với những hình thuyền mãi mãi đi vào lịch sử là những người đã đóng bè vượt đại dương cách đây vài nghìn năm! Để viết cuốn “Phác thảo”, Pierre đã vận dụng toàn bộ những kiến thức và kinh nghiệm kỹ thuật hàng hải mà mình có, mặc dù chức danh của ông ghi trên các công trình chỉ là “nguyên là sinh viên Đại học Bách khoa Paris”5 và “thành viên Viễn đông Bác cổ”, ngoài ra không có học hàm, học vị gì! Đúng như vậy. Vào học ở Đại học Bách khoa danh tiếng này với số điểm xuất sắc, học dở dang thì Thế chiến I bùng nổ, Pierre đi lính, chiến đấu với nhiều huân huy chương rồi trở về và tình nguyện sang Đông Dương gắn bó cuộc đời với nghiệp đo vẽ bản đồ. Công việc đã đưa ông đi nhiều nơi trong xứ Đông Dương thuộc địa Pháp, sang cả Maroc, Trung Quốc, Nhật Bản và biển cả nhiệt đới khiến ông say mê ghi chép, phân tích. Đầu tiên là phân tích các con thuyền cụ thể, trong công trình so sánh mối quan hệ họ hàng giữa bốn loại thuyền Việt Nam để rút ra những cái giống nhau và khác nhau6. Sau đó là tác phẩm “Phác thảo”7 có tính tổng kết với hai tấm bản đồ, một là bản đồ về các tàu thuyền Việt Nam, hai là bản đồ toàn cảnh hàng hải Ấn Độ và Trung Hoa, Nhật, Úc và châu Đại Dương. Với bản đồ thứ nhất, tác giả muốn nhấn mạnh vị trí địa lý của Việt Nam dẫn tới những ảnh hưởng Ấn – Âu và Trung Hoa, các nước Đông Nam Á… tới thuyền Việt Nam, chỉ ra đâu là những thuyền mang tính “thuần Việt”. Với bản đồ thứ hai, những con thuyền Việt Nam như thuyền mành, ghe bầu… được đặt cạnh các con thuyền trong khu vực từ kalla dhonis Ấn Độ tới majang Indonesia, để minh họa cho bảng tổng kết cuốn sách, nhằm so sánh những cái giống nhau và khác nhau của một số chi tiết quan trọng của con thuyền như bánh lái, cách treo buồm… so với Trung Hoa và các dân tộc khác. Gần 100 trang in bài viết và hơn 200 ảnh chụp cùng hơn 200 ghi chú, các trích dẫn từ các tác giả chuyên nghiên cứu hàng hải trong vùng như ông Hornell chuyên về thuyền Ấn Độ, Donnely chuyên về thuyền Trung Hoa, Nooteboom chuyên về thuyền Indonesia…, Pierre còn sử dụng nhiều tài liệu của các bạn Pháp cùng sở thích, đặc biệt là Pietri với mối thâm giao lâu năm để xây dựng nên một toàn cảnh đầu tiên về hàng hải của dân tộc Việt, dù mới là “phác thảo”. Khác với các nhà nghiên cứu khác, chỉ trọng tài liệu và quan sát, trong một ghi chú, Pierre không giấu niềm tự hào, có vẻ mang dáng dấp “tự kiêu” khi cho là các nhà nghiên cứu Anh và Hà Lan – những con người thuộc hai dân tộc hàng hải hàng đầu thế giới – chỉ chuyên lo mô tả thì các nhà nghiên cứu Pháp “dấn thân” hơn, tự mình đi học người Việt Nam để thử nghiệm lái bè Sầm Sơn, căng buồm ghe bầu, ghe nang. Trong các trang “Phác thảo”, ta thấy Pierre mô tả khá tỉ mỉ các thúng chai và thử phân tích trên các nguyên lý quán tính động lực học nhằm giải thích tại sao thúng chai có thể chuyển động về bờ được chỉ bằng những động tác nhún nhảy của chú bé con dân chài mà không cần khua dầm chèo.  Tuy không có những chuyên khảo sâu về văn hóa như bài báo “Những khúc hát của dân chài Việt Nam” như Claeys8 đã thực hiện nhưng qua những nghiên cứu của Pierre và Pietri toát lên niềm cảm thông sâu sắc với chủ nhân của những chiếc ghe bầu, ghe nang, thêm phần khâm phục những con người sống cùng thiên nhiên với những phương tiện thô sơ nhưng có những cách xử trí rất mau lẹ, thông minh cùng những phê phán thẳng thắn những điều chưa hay của người Việt trong công nghệ hàng hải. Đó cũng là một vài nhận xét như Claeys đã trình bày trong bài báo “Người Việt và Biển”9 mà nhiều người hay trích dẫn.            Cha Cadiere ghi lại chi tiết mối nối giữa nan tre và gỗ trên ghe thuyền miền Trung.        Nick Burningham, nhà nghiên cứu thuyền cổ nổi tiếng người Úc đứng cạnh cột buồm còn Tim Severin đứng dưới (đầu tiên từ trái) trong khi đang lắp buồm tại Hạ Long trước chuyến vượt biển.             Nếu trước năm 1949, thuyền bè Trung Hoa chỉ được một vài người nước ngoài nghiên cứu trong đó nổi bật là Donnely, một người Anh sinh tại bán đảo Sơn Đông, nhiều năm làm đại lý tàu biển tại Thượng Hải, thì sau ngày giải phóng, nước này đã tổ chức có hệ thống việc nghiên cứu sắp xếp các thuyền dân gian của mình từ các con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử tới suốt dọc ven biển từ vịnh Liêu Đông phía Bắc tới đảo Hải Nam, với những ghi chép, các bản vẽ kỹ thuật của khoa đóng tàu như đường hình dáng, đường cong ổn định… Chính trên nền nghiên cứu có hệ thống đó mà các nhà bảo tàng học đã cùng các kỹ sư xây dựng nên Bảo tàng Thuyền tại thành phố Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến, cũng như Bảo tàng thuyền Nam Hải khá hiện đại tại đảo Hailing, Yangjiang tỉnh Quảng Đông gần đây. Cũng chính từ những nghiên cứu hệ thống đó mà họ đã thực hiện một cuộc chuyển đổi căn bản của ngư nghiệp, từ sử dụng thuyền gỗ sang tàu thuyền sắt thép với các mẫu mã chuẩn hóa theo vùng miền và đối tượng đánh bắt. Và đi xa hơn, những kết quả này phục vụ việc tranh chấp chủ quyền với các nước láng giềng. Trong khi đó, những kết quả nghiên cứu dân tộc học hàng hải của người Pháp để lại rõ ràng hơn hẳn những gì mà người nước ngoài làm tại Trung Quốc nhưng lại không được chúng ta tiếp nối bằng những nghiên cứu dài hơi, có cả sự tham gia của các khoa  xã hội học lẫn kỹ sư đóng tàu, để làm rõ từng chủng loại thuyền, thói quen làm ăn, sự khác nhau giữa các nghề cào vây…, tính ổn định và kết cấu của người Việt làm cơ sở để hướng dẫn ngư dân chuyển dần sang dùng tàu thép một khi đóng cửa rừng, cũng là cơ sở cho một Quy chuẩn đóng tàu có căn cứ thực tiễn, là căn cứ cho những mô hình tàu thuyền trong Bảo tàng Hàng hải trong tương lai…  Điều đó cứ ray rứt tôi vào một buổi chiều tháng chín năm ngoái khi lặng nhìn khối di cảo của Pierre Paris tại Bảo tàng Hàng hải Rotterdam Hà Lan. Tác giả “Phác thảo về dân tộc học hàng hải Việt Nam” cuối cùng đã chết trong đói nghèo và bệnh tật.  Vào đầu thế kỷ 20 , nhiều nhà nhân học phát hiện thấy những điều giống nhau tới kỳ lạ giữa hai bờ Thái Bình Dương qua các phát hiện khi nghiên cứu văn hóa so sánh, khảo cổ và Heine Robert Geldern – cháu nội của nhà thơ nổi tiếng Henrich Heine – người tiên phong đưa ra giả thuyết về một sự di dân từ miền Nam châu Á sang Trung và Nam Mỹ từ thời tiền sử. Nhiều ý kiến tán đồng cũng như phản bác giả thuyết này, trong đó nổi bật là Needham10, một chuyên gia sinh hóa người Anh, lấy vợ Trung Hoa, bản thân ông cũng có tên tiếng Hoa là Lý Ước Sắt. Bằng tác phẩm đồ sộ về nền văn minh Trung Hoa cổ xưa, Needham đã cho là người Hoa, có thể là từ đời Tần, đã vượt Thái Bình Dương. Chính vì được khích lệ bởi Needham mà Tim Severin đã sang Việt Nam đóng bè Sầm Sơn vượt đại dương vào năm 199311, một chuyến khảo cổ thực nghiệm nhằm minh họa cho quan điểm của Needham nhưng trên thực tế lại chứng minh cho giả thuyết của các nhà dân tộc Pháp tại Việt Nam mà Pierre là người đi đầu.  ——  Chú thích:  1 Pâris François-Edmond (1806  – 1893) với tác phẩm “Essai sur la construction navale des peuples extra-européens”.  2 Lépold Michel Cadière (1869-1955).  3 Poujade Jean –Viện sĩ Viện Hàng hải Pháp, tác giả “Bateaux d’Indochine”.   4 Bản dịch tiếng Việt cuốn “Voiliers d’Indochine” , nhà xuất bản Trẻ 2015.  5 Pierre Paris -Ancien élève de l’École polytechnique, Membre correspondant de l’École française d’Extrême-Orient  6 Recherches de parentés à quatre embarcations d’Indochine, đó là độc mộc Campuchia, độc mộc miền trung lưu sông Mekong , bè Sầm Sơn và thuyền có đáy nan tre và có xiếm vùng Đà Nẵng.  7 Esquisse d’une ethnographie navale des pays Annamites.  8 J. Y. Claeys : Les chants de pêcheurs en Annam, đăng trong Bulletin de l’Institut indochinois pour l’Étude de l’Homme, 1939.  9 L’Annamite et la Mer, đăng trong  Cahiers de l’École française d’E. O.,  10 Needham Noel Joseph Terence Montgomery (1900-1995).  11 Bản dịch tiếng Việt cuốn  du ký của Tim Severin “China Voyage” với đầu đề “Bè tre vượt Thái Bình Dương”, nhà xuất bản Trẻ 2014.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học nữ bị lãng quên      Trong quá khứ, có vô vàn các nhà khoa học nữ  không được tưởng thưởng xứng đáng cho những gì họ đã cống hiến, và tên  tuổi họ dần biến mất khỏi nhận thức của công chúng.     Tại Hội  nghị Nhà báo khoa học quốc tế lần thứ 9 tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc, vào  đầu tháng Sáu năm nay, một sự cố bên lề đã làm dấy lên một cuộc tranh  luận sôi nổi về vấn đề bình đẳng giới trong khoa học.  Trong bài phát biểu trước hội nghị này, nhà hóa sinh 72 tuổi người Anh Tim Hunt, giải thưởng Nobel Y học năm 2001 với công trình nghiên cứu chu kỳ phân chia của tế bào, bình luận: “Xin chia sẻ với các bạn cái rắc rối mà tôi gặp phải với phụ nữ. Khi phụ nữ xuất hiện trong phòng thí nghiệm thì sẽ có ba điều xảy ra: một là anh yêu họ, hai là họ yêu anh, và ba là khi anh phê bình họ thì họ òa lên khóc.”    Lời nhận xét này ngay lập tức được lan truyền trên Internet và Tim Hunt nhận được vô số lời chỉ trích gay gắt vì quan điểm phân biệt giới tính. Connie St Louis, giảng viên chuyên ngành phóng viên khoa học tại City London University, cũng có mặt trong hội nghị trên, kể lại: “Khi nghe ông ấy nói thế, không ai cười được cả. Nét mặt ai cũng như hóa đá. Thật không thể hiểu nổi. Lời nhận xét này vừa thiếu nhạy cảm về văn hóa lại vừa mang tính phân biệt. Lúc ấy tôi nghĩ: ‘Ông nghĩ mình đang ở đâu mà lại có thể nói những lời này vào năm 2015 kia chứ?’.”    Mặc dù sau đó Tim Hunt đã lên tiếng xin lỗi và Hiệp hội Khoa học Hoàng gia, nơi Tim Hunt là thành viên, cũng chính thức công bố rằng phát biểu của ông không phản ảnh quan điểm của Hiệp hội, song đối với một số người, sự cố này đã làm khơi dậy một vấn đề không mới: vị trí của phụ nữ trong cộng đồng khoa học.  Những số phận nữ trong lịch sử khoa học    Khi nhắc đến các nhà khoa học nữ thì có lẽ đối với nhiều người, cái tên Marie Curie sẽ xuất hiện đầu tiên. Người phụ nữ từng giành hai giải Nobel Vật lý và Hóa học này đã bị Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ chối tư cách thành viên vào năm 1911, cũng là năm bà được trao giải Nobel thứ hai.    Một trường hợp khác là Dorothy Hodgkin, nhà nghiên cứu tinh thể học xuất sắc đã vẽ được cấu trúc của penicillin và giành giải Nobel Hóa học năm 1964. Hodgkin là người phụ nữ đầu tiên giành Huy chương Copley danh giá của Hiệp hội Khoa học Hoàng gia, và tính tới nay, bà vẫn là phụ nữ Anh duy nhất được trao giải thưởng Nobel trong khoa học. Tuy vậy, vào thời điểm bà nhận giải, báo giới đưa tin này với những hàng tít như: “Bà nội trợ ở Oxford giành giải Nobel”.     Nhưng trong quá khứ, có vô vàn các nhà khoa học nữ không được tưởng thưởng xứng đáng cho những gì họ đã cống hiến, và tên tuổi họ dần biến mất khỏi nhận thức của công chúng. Dưới đây là một số trường hợp như vậy.    Esther Lederberg (1922-2006), nhà vi sinh vật học người Mỹ, tác giả của nghiên cứu mang tính đột phá trong lĩnh vực di truyền học. Bà đã phát triển những kỹ thuật cơ bản giúp các nhà khoa học tìm hiểu cơ chế hoạt động của gene. Công trình của bà đã giúp chồng bà là nhà sinh học phân tử Joshua Lederberg giành giải Nobel Y học năm 1958, song tên của bà lại hoàn toàn không được nhắc đến trong giải thưởng đó.    Rosalind Franklin (1920-1958), nhà lý sinh học kiêm nhà tinh thể học tia X người Anh. Ảnh chụp phân tử DNA của bà đóng vai trò then chốt trong việc giải mã cấu trúc DNA, một trong những bước đột phá khoa học lớn nhất và quan trọng nhất trong thế kỷ XX. Thế nhưng, người nhận giải Nobel lại không phải là Franklin mà là James Watson, Francis Crick và Maurice Wilkins.    Ida Tacke (1896-1978), nữ khoa học gia người Đức từng mang đến những bước tiến lớn trong cả lĩnh vực hóa học và vật lý nguyên tử. Bà chính là người đã tìm ra hai nguyên tố hóa học mới là rhenium và masurium từng được Dmitri Mendeleev dự đoán trong bảng tuần hoàn. Tacke được công nhận là người phát hiện ra rhenium nhưng các bằng chứng của bà về sự tồn tại của masurium (hiện nay gọi là technetium) lại bị giới khoa học hồ nghi. Về sau, công phát hiện ra nguyên tố này được dành cho hai nhà khoa học người Ý là Carlo Perrier và Emilio Segre khi họ nghiên cứu tạo ra nguyên tố này trong phòng thí nghiệm. Tacke cũng là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về phản ứng phân hạch.    Lise Meitner (1878-1968), nhà vật lý người Australia. Những công trình nghiên cứu của bà trong lĩnh vực vật lý nguyên tử đã giúp phát hiện ra phản ứng phân hạch, cơ sở để chế tạo bom nguyên tử. Sau khi chuyển tới Berlin năm 1907, Meitner hợp tác với nhà hóa học Otto Hahn trong nhiều thập kỷ. Nhưng Hahn đã công bố rất nhiều phát hiện chung của hai người mà không hề đề cập tới việc Meitner là đồng tác giả. Về sau, năm 1944, Hahn được trao giải Nobel Hóa học vì những đóng góp trong việc tách nhân nguyên tử.    Ngô Kiện Hùng (1912-1997), một trong những nhà vật lý quan trọng nhất của thế kỷ XX. Bà từng tham gia vào dự án phát triển bom nguyên tử, song ngày nay rất ít người còn biết đến tên bà. Vào thập niên 1950, nhận lời mời của hai nhà vật lý lý thuyết Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh, bà đã thực hiện những thí nghiệm để bác bỏ luật chẵn lẻ trong vật lý. Thành tựu này đã giúp Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh giành được giải Nobel Vật lý năm 1957, nhưng vai trò chủ đạo của Ngô Kiện Hùng đã không được nhắc đến.    Henrietta Leavitt (1868-1921), nhà thiên văn học người Mỹ, người đã làm thay đổi quan điểm của chúng ta về vũ trụ. Ban đầu, bà đo và ghi lại vị trí các ngôi sao tại Đài Quan sát Harvard – một trong những công việc từng bị coi là không phù hợp với phụ nữ. Leavitt nhận thấy có sự tương đồng giữa độ sáng của một ngôi sao và khoảng cách của nó đối với Trái đất. Từ quan sát này, bà phát hiện ra chu kỳ độ trưng, giúp các nhà khoa học tính toán được khoảng cách của một ngôi sao so với Trái đất dựa vào độ sáng của nó.  Phụ nữ làm khoa học: lịch sử chưa từng thôi khắc nghiệt    Bản thân Hiệp hội Khoa học Hoàng gia Anh, vốn rất lanh lẹ trong việc lên tiếng phê phán những nhận xét của Tim Hunt, được thành lập từ năm 1660, nhưng chưa từng bầu một nữ khoa học gia nào làm Chủ tịch Hiệp hội. Thực ra, đến tận năm 1945, tức gần 300 năm sau khi thành lập, hiệp hội này mới chấp nhận thành viên nữ. Hiện nay cũng chỉ có 6% viện sĩ ở đây là nữ giới. Con số thống kê này tuy đơn lẻ nhưng cũng đủ cho chúng ta thấy những khó khăn mà phụ nữ đã và đang phải đối mặt trong thế giới khoa học.  Trang Bùi tổng hợp    Nguồn:   http://www.bbc.com/news/uk-33077107  http://www.bbc.com/news/science-environment-33157396    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những phiền phức tự ta chuốc lấy      Ở từng khía cạnh của đời sống, trong bữa  cơm, buổi họp, trong lúc làm việc, nghỉ ngơi, trong khi kiếm sống lẫn  rong chơi,… không lúc nào người Việt không phải gánh chịu phiền phức  do những thói hư tật xấu của chính mình gây ra, nhưng thường chúng ta tự  kỷ ám thị rằng, cái phiền phức ấy là do người khác mang tới – TS Trần  Trọng Dương trả lời phỏng vấn quanh sự việc tiếp viên VNA bị bắt tại  Nhật vì nghi ăn cắp.    * Ông nghĩ thế nào về việc cộng đồng mạng đang lên án thói xấu của người Việt qua việc tiếp viên VNA bị bắt tại Nhật vì nghi ăn cắp?    Việc lên án cái xấu là chuyện nên làm. Ở thời nào cũng vậy, cái bất lương, bất thiện luôn bị lên án. Thế nhưng thời nào cũng có, lúc nào cũng có, ở đâu cũng có. Với thời đại thông tin như hiện nay, việc lên án các hành vi xấu đó lại càng dễ được hưởng ứng, bởi tốc độ truyền tin và khả năng phản ứng của người đọc trực tiếp qua internet.   Thói xấu của người Việt trong những năm qua ai cũng đã quá hiểu rồi, ai cũng biết quá nhiều rồi, ai cũng phải chịu đựng nó hàng ngày hàng giờ, ở từng khía cạnh của đời sống, trong bữa cơm, buổi họp, trong lúc làm việc, nghỉ ngơi, trong khi kiếm sống lẫn rong chơi,… không lúc nào người Việt không phải gánh chịu một thứ phiền phức do những thói hư tật xấu của chính mình gây ra. Nhưng thường chúng ta tự kỷ ám thị rằng, cái phiền phức ấy là do người khác mang tới. Giống như, chúng ta thả rác ở phố này, nhưng giẫm phải vỏ chuối ở phố khác, rồi đổ lỗi đó cho một ai đó, mà không biết ai đó là ai, nhưng nhất định đó không phải là mình. Cho nên, vụ nữ tiếp viên Bích Ngọc, theo tôi, ngoài việc chỉ trích, chúng ta thử nhìn lại xem có bóng dáng cô Bích Ngọc nào trong chính chúng ta hay không.   * Theo ông ngành giáo dục có trách nhiệm gì trong việc bồi dưỡng văn hóa và xây dựng nhân cách con người từ trên ghế nhà trường?  Trước tiên, tôi muốn nói rằng, để xây dựng nhân cách con người, thì đó là công việc không phải chỉ riêng của ngành giáo dục. Nhưng với tư cách là cơ quan chuyên trách về lĩnh vực này, thì ngành giáo dục của ta hiện giờ chỉ là nơi đào tạo con người có tri thức, có học vị, có bằng cấp, có tay nghề. Còn những sản phẩm giáo dục (con người), họ có đạo đức hay không thì chúng ta chưa có một giải pháp nào để cải thiện. Đó là một khoảng trống, một lỗi rất lớn của ngành giáo dục hiện nay. Chúng ta có thể đào tạo ra hàng nghìn tiến sĩ bác sĩ giỏi, nhưng nếu có trình độ chuyên môn mà không có trái tim, không có y đức thì mỗi bác sĩ tiến sĩ đó đều có tiềm năng để trở thành một “bác sĩ Cát Tường”. Có đức mà không có tài đã là nguy rồi (vì sẽ chậm phát triển), có tài mà không có đức thì chỉ có mà phá hoại! Phá hoại mà lại phá một cách có tri thức và vô lương tâm thì tai hại không biết bao nhiêu mà kể!     * Ông có nghĩ: Việc chỉ trích một cá nhân (né tránh trách nhiệm) khi sự việc xảy ra là nỗi hổ thẹn thứ hai của chúng ta.  Tôi là một người quan sát ở bên ngoài. Không biết nội tình bên trong của vụ cô Bích Ngọc như thế nào. Nếu cô làm việc đó một mình thì to gan quá, mà dại quá. Cô làm việc đó với nhiều đồng nghiệp khác thì mức độ lại trầm trọng hơn nhiều, tức là phạm pháp có tổ chức! Nhưng nếu tổ chức thoát nạn một cách hợp pháp để dồn hết lỗi lầm cho một cá nhân thì đó là bất nhân đó. Mà cái kiểu làm ăn tập thể còn trách nhiệm thì để dành cho con tốt thí, tôi thấy đó là một thủ pháp phổ biến trong xã hội ta hiện nay. Tôi không ngạc nhiên về điều này!   Còn hổ thẹn ư? Chúng ta đã/ đang/ sẽ có nhiều nỗi hổ thẹn còn lớn hơn nhiều. Nỗi hổ thẹn không chỉ với người Nhật!  * Môi trường xã hội hiện nay cũng đầy rẫy những sự việc tương tự, theo ông cần những yếu tố nào để cải thiện?    Với tình hình chúng ta thấy hiện nay, chẳng có một biện pháp nào để ngăn chặn những việc tương tự như vậy. Xã hội chúng ta đang vận hành theo những nguyên tắc không minh bạch. Ai cũng chỉ vì cái lợi riêng của mình. Cái gì cũng có thể mua được. Bất cứ hàng gì cũng có khả năng là hàng giả, bất cứ thông tin gì cũng có thể là thông tin giả, bất cứ ai cũng có thể là người hại mình. Không ai dám tin tưởng ai. Không ai có ý định làm gì. Nếu có thì họ không biết ai sẽ là người bảo vệ mình để làm được một việc tốt. Ai cũng sợ mình trở thành nạn nhân mặc dù chủ trương của chúng ta là “xây dựng nhà nước pháp quyền”. Vốn xã hội của chúng ta đang “đáo hạn” và “đáo đáy”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những sai lầm của Trung Quốc từ vụ kiện về Biển Đông      Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế (PCA) được Zheng Wang, một học giả người Hoa tại Mỹ, gọi là một thất bại lớn về ngoại giao, trong bài viết của ông đăng trên trang Diplomat hôm 14/7 vừa qua.    Học giả Zheng Wang. Nguồn: wilsoncenter.org  Wang khẳng định cho dù mọi người có đánh giá về chất lượng và sự công bằng của phán quyết này như thế nào, thì kết quả của phiên tòa vẫn làm tổn hại hình ảnh và sức mạnh mềm của phía Trung Quốc, gây trở ngại lớn cho các yêu sách về lãnh thổ và quyền hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông, và hậu quả của điều này với Trung Quốc sẽ rất lâu dài.  Theo Wang, việc Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện là một suy xét thiếu cẩn trọng, cho thấy nước này đã không nhận được lời tư vấn pháp lý tốt từ các chuyên gia luật quốc tế hàng đầu. Wang nhận định, với tư cách là một thế lực lớn trong cộng đồng quốc tế, lẽ ra Trung Quốc ít nhất có tham gia tố tụng, qua đó vừa có thể trực tiếp tham gia tranh luận, đồng thời cho thấy sự tôn trọng cần thiết đối với luật pháp quốc tế cũng như các tổ chức pháp lý quốc tế.  Bên cạnh đó, vụ kiện cũng chứng minh những nhược điểm nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc – đó là việc nghiên cứu chính sách. Wang cho rằng thật đáng ngạc nhiên khi bản thân Trung Quốc lại thiếu sự nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề Biển Đông, bao gồm việc nghiên cứu về các yêu sách của chính mình, cũng như các vấn đề liên quan đến “quyền lịch sử”. Đây là một trong những lý do quan trọng khiến Trung Quốc quyết định không tham gia vào vụ kiện, bởi thực sự họ vẫn chưa sẵn sàng. Thái độ mơ hồ của Trung Quốc về Biển Đông phần nào cũng là do sự thiếu nghiên cứu này. Ví dụ, yêu sách của Trung Quốc chủ yếu dựa trên lịch sử, nhưng cho đến nay vẫn chưa hề thấy một cuốn sách nào xuất bản ở Trung Quốc cung cấp được một phân tích toàn diện và khách quan về các sự kiện và lịch sử của Biển Đông cũng như các quá trình liên quan đến việc Trung Quốc đưa ra các bản đồ với những đường đứt đoạn và ý nghĩa thực tế của tấm bản đồ này. Trung Quốc đưa ra một số căn cứ lịch sử rời rạc để củng cố yêu sách của mình, nhưng đa số các bằng chứng này chỉ là nói với nhau trong nước từ nhiều năm qua. Tóm lại, họ không hề trình được bằng chứng nào có tính pháp lý.  Thái độ và nhận thức  Sai lầm cơ bản của Trung Quốc, theo Wang, chính là vấn đề về thái độ và nhận thức. Về thái độ, Chính phủ Trung Quốc vẫn coi luật pháp quốc tế như một cái gì đó mà họ có thể lựa chọn theo ý thích của họ. Họ không quen thuộc với các hệ thống và cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là việc sử dụng trọng tài như một phương pháp giải quyết tranh chấp. Một số người đã có thái độ kẻ cả xem việc tham gia vào vụ kiện tại tòa trọng tài do một quốc gia nhỏ hơn khởi xướng và được tổ chức bởi một tòa án tạm thời là điều mất mặt đối với một quốc gia hùng mạnh như Trung Quốc.  Về nhận thức, khi tham gia đàm phán Công ước về Luật Biển của Liên hiệp quốc (UNCLOS) trong khoảng thời gian 1973-1982, Trung Quốc đã quyết định đứng với các nước thuộc thế giới thứ ba và ủng hộ yêu cầu về Vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý. Khi đó, các nhà ngoại giao Trung Quốc hoàn toàn chẳng nhắc gì đến Biển Đông và đường chín vạch. Đó là điểm mâu thuẫn đến mức khó thể tưởng tượng được, bởi vùng EEZ của các nước láng giềng nằm chồng lên đường chín gạch mà ngày nay Trung Quốc đặt ra yêu sách.  Wang cho rằng đã hơn 40 năm đã trôi qua tính từ lúc Trung Quốc tham gia đàm phán UNCLOS trong thập niên 1970 đến khi nước này quyết định không tham gia vào vụ kiện tại Tòa Trọng tài vào năm 2013, và trong thời gian này nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng từ chỗ là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới đến chỗ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, thế nhưng thái độ và nhận thức của Trung Quốc đối với luật pháp quốc tế đã không thể hiện một sự tăng trưởng và phát triển tương xứng.  Truyền thông  Wang nhìn nhận Trung Quốc hầu như bị cô lập về các vấn đề liên quan đến Biển Đông, những ý kiến và tranh luận của quốc gia này hầu như không được những người bên ngoài Trung Quốc lắng nghe. Theo Wang, nguyên nhân của sự cô lập này một phần do cách Trung Quốc truyền thông về yêu sách của mình và lập luận đằng sau đó với phần còn lại của thế giới chưa hiệu quả.  Trước khi có phán quyết của Tòa Trọng tài, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch truyền thông và đã tổ chức cho các nhà ngoại giao viết bài trên các phương tiện truyền thông quốc tế, nhưng hầu hết họ chỉ lặp đi lặp lại lập trường chính thức của Trung Quốc mà không cung cấp các bằng chứng thuyết phục cũng như các lập luận logic để củng cố các yêu sách của Trung Quốc.  Wang cho rằng thật đáng lo ngại nếu một đất-nước-đang-trở thành-siêu-cường lại không thể truyền thông một cách hiệu quả với phần còn lại của thế giới. Hiện đang tồn tại một khoảng cách về nhận thức rất lớn liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Phần lớn các tranh chấp hiện nay đã được xây dựng dựa trên những nhận thức sai lầm dựa trên các phương tiện truyền thông, giáo dục, và dư luận xã hội cả bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc.  Trong thời gian tới, Wang tin rằng nhiều khả năng phán quyết PCA có nguy cơ làm tăng thêm những bất ổn và mối nguy hiểm mới cho tình hình hiện nay, ví dụ như khả năng kích thích hơn nữa chủ nghĩa dân tộc cũng như ký ức tập thể của người Trung Quốc về các chấn thương lịch sử của đất nước này dưới bàn tay của các cường quốc nước ngoài. Hậu quả có thể là không gian dành cho mối ngoại giao lý tính lại càng giảm hơn nữa. Tuy nhiên, Wang nhấn mạnh Bắc Kinh cần tránh phản ứng thái quá, vì điều đó sẽ chỉ làm cho đất nước này phải trả giá nhiều hơn sau phán quyết mới đây của tòa án mà thôi.  Zheng Wang là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Hòa bình và Xung đột tại Trường Ngoại giao và Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Seton Hall ở New Jersey. Ông cũng đang là học giả được nhận tài trợ từ Quỹ Carnegie của Viện New America, đồng thời là học giả toàn cầu tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc và Hoa Kỳ Kissinger thuộc Trung tâm Học giả Quốc tế Woodrow Wilson.  Vũ Thị Phương Anh tóm lược từ The Diplomat  http://thediplomat.com/2016/07/what-china-can-learn-from-the-south-china-sea-case/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thế giới song song và Cách mạng Công nghiệp 4.0      Chúng ta sống trong những thế giới tồn tại song song. Vốn luôn là như vậy. Nhưng gần đây có chút thay đổi: những thế giới song song này bỗng gặp gỡ nhau.      Người công nhân này dùng phễu nhôm để hứng chiếc đinh nóng đỏ do đồng nghiệp của anh tung cho, rồi đưa vào đóng xuống đúng vị trí trong khi tham gia bảo dưỡng cầu Long Biên năm 2015 – các công nghệ tân tiến vẫn chưa hề chạm đến thế giới của họ. Ảnh: dantri.com.vn  John Doe là một nông dân ở Nebraska (Mỹ). Ông trồng ngô. Ông đồng thời cũng là một cư dân mạng. Công việc canh tác ngày nay phần lớn được tự động hóa nên John có rất nhiều thời gian rảnh để chơi game online. Ông gia nhập một mạng lưới người chơi trên toàn nước Mỹ. John chơi rất giỏi những game nhập vai siêu anh hùng kiểu như Iron Man hay Spiderman, tham gia vào những trận đánh trên các thiên hà xa xôi. Captain America là vai ưa thích của ông. Giả thử Captain America có tham gia tranh cử ở Mỹ thì hẳn là John đã bầu cho chàng ta một phiếu. Nhưng Captain America không tranh cử, nên John quyết định bầu cho Donald Trump. Ông không hối tiếc điều này bởi giờ đây ông có thể hằng ngày đọc những dòng tweet từ Trump với nội dung đơn giản mà ông có thể hiểu, ví dụ: Obama thật ti tiện khi nghe trộm điện thoại của tôi […] ông ta thật xấu xa [hoặc bệnh hoạn]! John Doe thực sự vui thích lên mạng vì những chuyện như vậy.  Người ta nói rằng các đường song song không bao giờ giao cắt, nhưng các thế giới song song đôi lúc vẫn gặp nhau một cách hiếm hoi và ngắn ngủi, chỉ đủ để trao nhau một cái bắt tay hay một nụ cười. Một thế giới của người giàu và một thế giới của người nghèo. Gần đây, nhà kinh tế người Pháp, Thomas Piketty, xuất bản một cuốn best-seller, Tư bản trong thế kỷ 21, trong đó ông dùng toán học để chỉ ra khoảng cách giữa hai thế giới ngày càng gia tăng sâu sắc. Nhưng chẳng cần đến những con số minh họa thì từ lâu chúng ta đã biết điều này. Trong nửa sau thế kỷ 19, một triết gia người Đức từng viết một cuốn sách về cùng chủ đề, đó cũng là một best-seller. Ông nổi tiếng với lời kêu gọi công nhân trên toàn thế giới đoàn kết lại. Các bạn chẳng có gì để mất ngoài những xiềng xích, ông bảo họ. Tuy nhiên, những người công nhân Pháp và công nhân Đức sống trong những thế giới song song, mỗi bên tin rằng thế giới bên mình là tốt, bên kia là xấu. Vài thập kỷ sau, họ ném bom vào nhau, giành giật nhau từng tấc đất chiến hào lầy lội, và kết quả là gần hai mươi triệu người chết, một nửa là dân thường, một nửa là quân nhân.  Trái ngược với thế giới của người nghèo, thế giới của người giàu không hề chia cắt thành những không gian song song phân định bởi ranh giới các quốc gia. Đó là thế giới của toàn cầu hóa, những tập đoàn đa quốc gia. 54 người giàu nhất nắm trong tay 1,4 nghìn tỷ USD, bằng tổng của cải của một nửa dân số thế giới, những người nghèo ở tầng lớp dưới.  Gần hai năm trước, cầu Long Biên được bảo dưỡng. Nhiều đinh ốc rỉ sét được thay thế. Phải nói rằng những người công nhân thực hiện công việc này là những nghệ sỹ xiếc; một đoạn phim chiếu trên internet1 cho thấy họ khéo léo thế nào, một người tung những chiếc đinh nóng đỏ, một người khác dùng phễu nhôm để hứng lấy từ xa rồi đưa vào đóng xuống đúng vị trí. Tôi đã chiếu đoạn phim này tại một tọa đàm bàn tròn về an toàn hạt nhân trong một hội thảo ở Đà Nẵng mà tôi được mời. Những người công nhân trên cầu Long Biên và những đại biểu họp tại Đà Nẵng sống trong những thế giới giao cắt nhau, điểm giao cắt chính là khi các vị quan khách đại biểu được xem đoạn phim nói trên; tuy nhiên thế giới của họ vẫn là những thế giới song song, bởi đoạn phim mà tôi cho trình chiếu tại hội thảo không hề mang lại thay đổi gì cho những người công nhân cũng như chẳng ảnh hưởng gì tới các vị đại biểu.  Sống trong cùng thế giới của những người công nhân làm việc trên cầu Long Biên là rất nhiều những người công nhân Việt Nam khác mà tôi được thấy. Những người phụ nữ cắt cỏ trên dải phân cách đường Hoàng Quốc Việt, ngay trước mặt viện nghiên cứu nơi tôi làm việc, ít năm trước họ còn dùng kéo, nay họ cải tiến hơn: sử dụng liềm. Những phụ nữ đẩy những chiếc xe rác đầy ứ qua các ngõ ngách, dùng hai thanh sắt gõ vào nhau để báo hiệu cho cư dân về sự có mặt của mình. Và những người gác thanh chắn đường tàu đoạn đi qua Điện Biên Phủ. Các công nghệ tân tiến vẫn chưa hề chạm đến thế giới của họ, ngoại trừ việc mỗi người đều sở hữu một chiếc điện thoại di động để tự chụp selfies hay chụp ảnh con cháu mình và chia sẻ trên Facebook. Họ cũng là những cư dân mạng.  Gần đây, thế giới của người giàu bị xâm lấn bởi những phần tử lạ. Đó không phải là người thực như bạn và tôi mà là những robot được lập trình bởi những công ty đa quốc gia, như Siemens, Google hay Samsung. Các chuyên gia nói về Dữ liệu lớn, Điện toán đám mây, Internet của vạn vật, hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, và họ viết tắt là IoT và Công nghiệp 4.0. Họ rất thích nói tắt, nào là mạng 5G, in 3D, rồi CPS (viết tắt của Cyber-Physical Systems). Họ vẽ ra một viễn cảnh tương lai theo kiểu tiểu thuyết Aldous Huxley: robot tự học hỏi, máy móc tự tái định dạng, môi trường nhận dạng thông minh, phần cứng kèm cảm ứng nối mạng, và toàn bộ Trái đất biến thành một bộ não khổng lồ.  Với bạn và tôi, đây dường như là những khái niệm đến từ hành tinh khác; nhưng may mắn là một số người hiểu được và lý giải chúng theo cách chúng ta tiếp thu được; ví dụ khi ông Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam trả lời phỏng vấn báo Hải quan2: bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là việc tạo ra các hệ thống ảo được thiết lập từ môi trường thông tin, giúp kết nối và tương tác giữa con người, máy móc và thế giới thực thông qua cả năm giác quan. Điển hình nhất cho sự liên kết thực và ảo hiện nay là sự ra đời IoT (Internet of Things – Internet kết nối vạn vật). Có thể lấy ví dụ về trò chơi Pokemon Go được phát triển gần đây, thế giới trong game là thế giới ảo nhưng đã có sự tương tác với con người, nếu được phát triển thành những mối quan hệ thông minh hơn, có độ tương tác mạnh hơn như hiểu được cảm xúc con người… thì sẽ càng tác động lớn đến đời sống xã hội.  Tôi không biết nhiều về Pokemon, ngoài từng nghe các cháu mình hồi bé có nhắc đến tên nhân vật hoạt hình này, và tôi phải thừa nhận là mình đã quá già để có thể hiểu vì sao nó có thể tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội… Trong một bài phỏng vấn khác, chủ tịch Express/Asia-Pacific giải đáp mối lo ngại của tôi rằng Công nghiệp 4.0 sẽ chỉ làm lợi cho những tập đoàn đa quốc gia: không hề nhé, bà ta khẳng định, Markor, công ty bán lẻ đồ nội thất Trung Quốc, nhận ra họ có thể đổi mới chuỗi cung ứng của mình để nhận diện các xu hướng trong hành vi người tiêu dùng. Công ty tạo ra một ứng dụng trên điện thoại di động, dùng dữ liệu lớn để nhận biết các xu hướng này, từ đó đưa ra những gợi ý phù hợp cho khách hàng về kiểu dáng sản phẩm. Sử dụng các thiết bị di động, nhân viên bán hàng có thể cho khách xem trước các bản demo sản phẩm và hình ảnh 3D của đồ nội thất được tùy chỉnh theo ý khách. Khi việc mua bán thành công, sở thích của khách và các chi tiết giao dịch được tự động lưu trữ và công ty dùng những thông tin này để định hướng cho hoạt động kinh doanh tiếp theo. Bạn nghe có tuyệt vời không? Chẳng phải tôi đã nói rồi sao, đúng kiểu Aldous Huxley.  Hẳn là tôi cần bỏ nhiều công sức hơn để có thể hiểu đầy đủ về tất cả những điều này. Tuy nhiên, [không quá khó để thấy rằng] xe tự lái sẽ chẳng giúp ích gì cho người Hà Nội khi mỗi ngày đều đối diện với nạn kẹt xe. Công nghiệp 4.0, dường như chỉ phục vụ lợi ích của người giàu. Liệu những người thợ mỏ ở Trung Quốc (1.043 người chết vì tai nạn hầm mỏ năm 2013, năm cuối cùng có số liệu thống kê về vấn nạn này) có quan tâm đến Internet của vạn vật hay Lưu trữ Dữ liệu Điện toán đám mây? Công nghiệp 4.0 vẫn cần đến điện để chạy, trong đó điện than vẫn chiếm phần lớn, nhưng các chuyên gia lại thích nói về năng lượng tái tạo bởi nghe có vẻ hợp mốt và hợp tai công chúng.  Liệu một cô thợ may làm việc trong một xưởng may của Việt Nam có quan tâm đến đóng góp của Công nghiệp 4.0 tới sự phát triển của “thời trang ăn liền” (fast-fashion)? Không, điều cô ta nên quan tâm là nguy cơ mất việc: hàng triệu công nhân dệt may nên lo ngại về điều này. Theo một báo cáo gần đây của Tổ chức Lao động Thế giới, công nhân trong hai ngành công nghiệp lớn và đang tăng trưởng mạnh ở Việt Nam – dệt may và điện tử – đang nằm trong diện rủi ro: 86% công nhân dệt may có thể bị thay thế bởi các dây chuyền tự động hóa và robot trong các thập kỷ tới. Năng suất và ứng dụng công nghệ ở Việt Nam hiện thấp hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á khác: ngành dệt may Việt Nam có năng suất chỉ bằng 20% của Thái Lan. Sản xuất dệt may ở Việt Nam hiện chủ yếu dựa vào số lượng lao động hơn là tay nghề kỹ thuật cao. Tổng số lao động Việt Nam dự kiến đạt 62 triệu vào 2025, đặt ra một thách thức lớn cho quốc gia, đòi hỏi hơn bảy triệu việc làm mới được tạo ra hằng năm.  Vậy ai sẽ hưởng lợi từ Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư? Gần đây tôi đọc một bài báo thú vị bởi những người được coi là các nhà tư vấn chiến lược ở Đức3; họ đưa ra câu trả lời, không phải dưới giác độ Việt Nam, mà của châu Âu. Về cơ bản, họ quan ngại rằng các nước đang phát triển đã tăng gấp đôi thị phần thế giới trong các ngành sản xuất chế tạo, khiến thị phần của châu Âu giảm từ 35% xuống còn 24%. Từ năm 1991 tới năm 2011, thị phần sản xuất chế tạo trên thế giới của các nước đang phát triển tăng từ 21% lên 40%, trong đó châu Á (không tính Nhật Bản) thị phần tăng từ 8% lên 31%. Xu hướng thuê khoán từ những nước lao động giá rẻ khiến châu Âu lâm vào tình trạng giải công nghiệp, kỹ năng lao động bị mai một, và buộc những nước công nghiệp yếu phải dựng lên các rào cản để tự bảo vệ. Theo các tác giả của bài báo, hiện nay chính là thời điểm châu Âu tận dụng cơ hội từ Công nghiệp 4.0 để phản kích. Tuy nhiên, bài báo không thuyết phục được độc giả rằng cơ hội phản kích này có nhiều triển vọng sẽ thành công.  Với Việt Nam thì sao? Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gần đây yêu cầu các cơ quan trung ương và địa phương phải có kế hoạch tận dụng tối đa những cơ hội từ Cách mạng Công nghiệp 4.0. Cụ thể, các bộ, ngành sẽ cung cấp dịch vụ công chất lượng cao hơn cho người dân và doanh nghiệp bằng cách đơn giản hóa và hiện đại hóa các quy trình thủ tục hành chính. Bộ Thông tin và Truyền thông phụ trách sự phát triển an toàn và vận hành hợp lý mạng lưới di động 4G từ nay tới 2018. Bộ KH&CN thực hiện các chương trình KH&CN quốc gia về toán, vật lý, và các ngành khoa học cơ bản khác. Bộ GD&ĐT thúc đẩy giáo dục STEM ở các trường phổ thông. Bộ Tài chính xây dựng cơ chế, chính sách thuế và tài chính nhằm khuyến khích các công ty đầu tư cho công nghệ mới và R&D.  Đây là những điều thiết thực mà chúng ta có thể hiểu. Chúng phù hợp với tình hình hiện nay của Việt Nam, với những lợi thế và nhược điểm của đất nước cũng như bức tranh chung của thế giới xung quanh. Ít ra, chúng ta không coi Công nghiệp 4.0 như một thách thức để tự bào chữa [cho sự tụt hậu của mình], mà coi đó như một động lực cho đổi mới (mặc dù đổi mới là yêu cầu tất yếu, dù có Công nghiệp 4.0 hay không). Chúng ta thừa hiểu những nguy cơ cho đất nước nếu cứ kéo dài mãi tình trạng bị bóc lột, là điểm cung cấp lao động giá rẻ cho các nước giàu. Chúng ta hiểu rõ một trong những ưu tiên hàng đầu của quốc gia là chuẩn bị cho thế hệ trẻ khả năng sẵn sàng đáp ứng những công việc của ngày mai, rằng giáo dục và đào tạo là chìa khóa cho tương lai của Việt Nam.  Việt Nam có lợi thế gì? Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, khoảng 6% trong năm ngoái; có đánh giá cho rằng Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ tám trên thế giới, tính từ nay tới năm 2050. Đội ngũ lao động tăng trưởng mỗi năm trên một triệu người, trong khi tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 2,5%. Giới trung lưu có tốc độ phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á, đạt 33 triệu người vào năm 2020. Độ tuổi trung vị chỉ trên 29. Gần 70% dân số trong độ tuổi 15 tới 64. Một phần tư dân số dưới độ tuổi 15. So với các nước có mức thu nhập tương đương, Việt Nam có mức đổi mới sáng tạo cao hơn; so với các nước có trình độ phát triển kinh tế tương đương, Việt Nam liên tục có thành tựu vượt trội.  Nhưng theo cách nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài, lợi thế chủ yếu của Việt Nam là ở đội ngũ lao động giá rẻ. Mức lương tối thiểu theo quy định quốc gia là 110 USD/tháng, trong khi của Trung Quốc là 160 USD, của Thái Lan là 230 USD. Rõ ràng Việt Nam không thể tự bằng lòng với mức thu nhập thấp như vậy; chỉ nên coi đây như một bước phát triển quá độ trên con đường tiến tới tương lai thịnh vượng hơn. Khi Việt Nam ngày càng mở cửa đón đầu tư nước ngoài, dòng chảy FDI tăng một cách vững chắc, đạt 24,4 tỷ USD trong năm 2016, tăng 9% so với năm trước đó; 78% dòng vốn này là từ châu Á, trong đó riêng Hàn Quốc có 7 tỷ USD.  Trong nhiều năm, các nhà quan sát nền kinh tế Việt Nam đều có chung một quan điểm. Một bài báo gần đây của Dung Phan đăng trên ASEAN Today4 tổng kết khá đầy đủ quan điểm này, tôi chỉ xin trích dẫn một vài luận điểm nổi bật nhất: Kể từ khi ngành công nghiệp chế tạo của Trung Quốc suy giảm, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm thị trường nóng tiếp theo. Trong năm năm qua, xuất khẩu của quốc gia này tăng hơn gấp đôi, lao động giá rẻ và hạ tầng chi phí thấp thu hút FDI đổ vào ngành công nghiệp chế tạo. Tuy nhiên, những thành tựu này mặc dù là dấu hiệu thành công đáng kể về kinh tế, cũng đồng thời tiềm ẩn sâu trong đó nguy cơ mất cân bằng. Hãy nhìn vào mối quan hệ giữa sự thiếu vắng đội ngũ nhân lực trình độ cao và sự dư thừa nhân lực trình độ thấp, thường được gọi là “lao động giá rẻ”, trong ngành chế tạo. Sự chú trọng vào tăng trưởng kinh tế có thể che đậy tình trạng lao động trình độ thấp, với cách nhìn coi “lao động giá rẻ” là “nguồn lực dồi dào thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩy nền kinh tế”. Năng suất và chất lượng lao động của Việt Nam thấp và tụt hậu xa so với khu vực. Việt Nam nay đối diện với sự khan hiếm lao động trình độ cao do giáo dục cấp ba không đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Lạm phát khiến lương tăng nhanh trong khi trình độ lao động không tăng nhanh tương ứng, gây hạn chế tăng trưởng và tăng thêm các thách thức cho các nhà hoạch định chính sách. Đất nước không thể cứ mãi dựa vào mức lương thấp. Cạnh tranh dựa vào lương thấp là rất rủi ro, chỉ nên được coi như giải pháp tạm thời trước mắt với một nước đang phát triển như Việt Nam. Nếu Việt Nam tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ thì sẽ không có động lực đổi mới công nghệ để chuyển sang những kỹ thuật tiên tiến hơn.  Chúng ta hãy đừng quá mơ mộng, hãy tạm quên đi những thế giới ảo song song nơi Donald Trump giao thoa với Captain America, nơi Pokemon gây bão trong đời sống xã hội, hay robot tư duy giống như người. Việc nối mạng có ích lợi là cho phép chúng ta dễ dàng khám phá những thế giới song song, những thế giới có thực trong đời sống, nơi những đứa trẻ chết đói ở Hạ Sahara, những cậu bé Iraq kẹt dưới bom đạn ở Mosul, những bé gái Nigeria bị Boko Haram bắt cóc. Có thể điều đó sẽ giúp chúng ta tỉnh thức, điều mà thế giới đang rất cần. Bên cạnh đó, việc nối mạng cũng giúp chúng ta khám phá về những thế giới hạnh phúc hơn, là cơ sở cho hi vọng, điều mà thế giới cũng đang rất cần. Một ví dụ điển hình chính là tiến trình ngoạn mục của Việt Nam trong cải thiện mặt bằng sức khỏe của người dân, đạt mức tuổi thọ trung bình cao hơn đáng kể so với những nước khác có mức GDP đầu người tương đương; và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm tới ba lần trong vòng hai thập kỷ qua. Những thông tin như vậy giúp chúng ta hiểu sâu hơn về thực tế đất nước mình và xác định rõ đâu là mục tiêu ưu tiên cần tiếp tục phấn đấu trên con đường phát triển tới đây. Mong rằng chúng cũng giúp chúng ta nhận thức đúng hơn về tài sản vô giá, không thể thay thế của đất nước, đó chính là thế hệ trẻ; rằng chúng ta có trách nhiệm đào tạo các em một cách bài bản, cung cấp những hỗ trợ và khuyến khích cần thiết để các em có thể đối diện với nhiều khó khăn đang chờ đón phía trước.  Thanh Xuân dịch  —————–  1https://www.youtube.com/watch?v=wHO1B2jKBps  2 http://www.baohaiquan.vn/Pages/ Cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-Co-hoi-mo-hon-cho-nguoi-Viet-Nam.aspx  3 Roland Berger Strategy Consultants, www. Think-act.com, 2014.  4 https://www.aseantoday.com/2016/ 06/vietnam-time-to-stop-the-delusion-of-cheap-labour/  Chúng ta hãy đừng quá mơ mộng, hãy tạm quên đi những thế giới ảo song song nơi Donald Trump giao thoa với Captain America, nơi Pokemon gây bão trong đời sống xã hội, hay robot tư duy giống như người. Việc nối mạng có ích lợi là cho phép chúng ta dễ dàng khám phá những thế giới song song, những thế giới có thực trong đời sống, nơi những đứa trẻ chết đói ở Hạ Sahara, những cậu bé Iraq kẹt dưới bom đạn ở Mosul, những bé gái Nigeria bị Boko Haram bắt cóc. Có thể điều đó sẽ giúp chúng ta tỉnh thức, điều mà thế giới đang rất cần. Bên cạnh đó, việc nối mạng cũng giúp chúng ta khám phá về những thế giới hạnh phúc hơn, là cơ sở cho hi vọng, điều mà thế giới cũng đang rất cần.       Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Những thiên tài dũng cảm      Khoảng một năm trước, nhà sinh vật học Sean  B. Carroll xuất bản cuốn “Thiên tài dũng cảm” với phụ đề “Một nhà khoa  học, một triết gia, và hành trình can đảm của họ từ phong trào kháng  chiến Pháp tới giải thưởng Nobel”1. Nhà khoa học được đề cập trong tựa  đề cuốn sách là Jacques Monod, một trong những cha đẻ của ngành sinh học  phân tử, còn vị triết gia chính là Albert Camus.      Sự đối chiếu song hành hai con người này quả là một ý tưởng tuyệt vời, không chỉ vì hai người từng quen biết và kính trọng nhau, cùng chia sẻ những lý tưởng và cùng can đảm chiến đấu cho chúng, mà còn vì họ là những nhân vật điển hình, biểu tượng cho cuộc cách mạng khoa học trong nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt trong tư duy tiếp cận triết học siêu hình và bản thể học. Cụ thể như sau.  Là một trong những người đi tiên phong của ngành sinh học hiện đại dưới ánh sáng của thuyết tiến hóa, Monod đã giúp truyền bá thông điệp chủ đạo của ngành này– thông điệp mà Francis Crick năm 1994 gọi là “Giả thuyết đầy kinh ngạc” (“the Astonishing Hypothesis” 2) và ngày nay chúng ta đã có thể mệnh danh lại là “Bằng chứng đầy kinh ngạc”, tư tưởng của giả thuyết này là: tất cả, thể xác và tinh thần, cảm xúc và ý thức của chúng ta đều được vận hành bởi những cơ chế vật lý và hóa học của các tế bào. Trên cơ sở đó, việc tìm kiếm vị trí của linh hồn đã không còn được coi là một vấn đề khoa học. Bên cạnh đó, những tiến bộ gần đây của ngành thiên văn học, với việc khám phá ra các hành tinh ngoài hệ Mặt trời, với số lượng lớn trong số đó tồn tại một vùng lân cận gọi là vùng “có thể định cư”, tiềm ẩn khả năng có sự sống, điều này gợi ý rằng sự sống có thể hiện hữu ở nhiều nơi, và có thể đang hoặc đã tồn tại ở nơi nào đó trong Vũ trụ những nền văn minh khác như chúng ta, hoặc thậm chí phát triển cao hơn.  Việc hiểu (không có nghĩa là đồng tình) với những nhận định trên đòi hỏi một cơ sở văn hóa khoa học vững chắc với các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học sự sống hiện đại, thiếu nền tảng này sẽ dẫn đến những hiểu lầm một cách sâu sắc, hoặc mất hoàn toàn khả năng đối thoại giữa “hai nền văn hóa” là nhân văn học và khoa học3. Đây là tình trạng đang xảy ra phổ biến hiện nay với rất nhiều người bị giới hạn kiến thứctrong phạm vi lý luận của một triết gia. Dù rất sâu sắc và thông tuệ nhưng họ đều có chung một nhược điểm cơ bản, đó là: không được tiếp cận tới ánh sáng khoa học hiện đại về Siêu hình và Bản thể luận. Đơn cử như trường hợp của Jean-Paul Sartre, người dành tới 700 trang sách trong cuốn Thể tính và Hư vô (“L’Être et le Néant”) để bàn về những vấn đề 4 mà ngày này đã trở nên hoàn toàn phù phiếm dưới góc nhìn hiện đại. Tương tự như vậy là trường hợp của những nhà khoa học mà kiến thức của họ chỉ giới hạn trong các lĩnh vực toán học hay khoa học tự nhiên, hoặc do họ sống ở thời kỳ trước (ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20), hoặc do họ không hiểu về những thành tựu gần đây của ngành sinh học hiện đại, đặc biệt là thần kinh học. Chính vì vậy, nhóm thứ nhất quan sát thế giới từ góc nhìn của kẻ đứng ngoài, hay còn gọi là góc nhìn của đấng sáng tạo; trong khi nhóm thứ hai lại mang quan điểm sùng bái khoa học một cách kiêu ngạo, như quan điểm của Stephen Hawking trình bày trong cuốn The Grand Design rằng khoa học có thể tự thân lý giải vì sao thế giới tồn tại thay vì hư không: sự kiêu ngạo đó hoàn toàn không giúp ích gì cho khoa học.  Những tiến bộ gần đây của khoa học cho phép chúng ta vẽ nên một bức tranh chính xác, chân thực, hoàn thiện và xác tín hơn về thế giới, bao gồm cả nhân loại, vốn dĩ chỉ là một phần trong đó. Tuy nhiên, chắc chắn khoa học không thể lý giải tại sao thế giới tồn tại thay vì hư không. Thế giới tự quan sát mình – và chúng ta đóng vai trò quan trọng trong sự quan sát này – rồi tự viết nên câu chuyện về những gì được thấy, một câu chuyện kể lại sự lý giải khoa học về câu chuyện kể lại sự lý giải khoa học về câu chuyện kể lại… Đó là một chuỗi vòng lặp tự dẫn giải vô tận mà chúng ta không cách nào thoát khỏi. Wittgenstein có cái nhìn thật sáng tỏ về vòng luẩn quẩn này, khi ông viết5: “Thế giới như thế nào không phải là điều bí ẩn, bản thể của nó mới thực là điều bí ẩn. […] Phương pháp thích hợp trong triết học là không nói gì thuộc về lý tính, chẳng hạn các mệnh đề khoa học tự nhiên, những thứ không liên quan gì tới triết học […] Với những gì ta không thể luận bàn, tốt nhất hãy im lặng.” Khoa học đương đại ngày nay đang đứng trước khoảng trống bí ẩn có vẻ sâu thẳm hơn chúng ta hình dung trước đây, khi những câu hỏi về bản chất của thế giới bị pha trộn mơ hồ với câu hỏi cơ bản mà Wittgenstein ám chỉ, vì sao có còn hơn không6?  Điều đặc biệt về Camus là mặc dù không được tiếp cận nhiều với văn hóa khoa học, nhưng ông đã hiểu sâu sắc về tính không thể lý giải của bí ẩn trên đây. Khác với Sartre, ông bỏ qua những lý luận vòng vo về nó, coi đây là thực tế phải chấp nhận, dù muốn hay không. Đối với ông, điều quan trọng là chúng ta phải sống ra sao trong một bối cảnh “phi lý”, nơi không có bất kỳ cơ sở siêu hình nào cho đạo đức. Mặc dù các nhà triết học lâu nay vẫn quan tâm tới Siêu hình và Bản thể luận, với hi vọng từ đó tìm ra nguồn gốc ý nghĩa, hay một cứu cánh nào đó cho cuộc sống của mình, nhưng họ không bỏ qua quá trình khám phá siêu hình [về bản thể] như Camus, thậm chí họ còn coi Camus là nhà triết học tầm thấp vì sự bỏ qua này của ông. Còn về phía Camus, ông không tự coi mình là nhà triết học, và xem những lý luận dông dài của họ là phù phiếm. Đây chính là điều khiến cặp đôi Monod-Camus có thể được coi là biểu tượng cho vai trò của khoa học và triết học để cùng tác động một cách đồng bộ cho tiến trình xây dựng nền văn hóa mới của nhân loại trong kỷ nguyên hiện nay.  Điều khiến Camus gần gũi với chúng ta là tính nhân văn, sự độ lượng và nhạy cảm trước tình cảnh chung của đồng loại. Ông nói, “Sự phi lý và hạnh phúc đều là những đứa con của cùng người mẹ Đất. Cuộc vật lộn hướng tới đỉnh cao cũng đủ để lấp đầy trái tim một con người”. Và ông so sánh thân phận con người với hình tượng Sisyphus, kẻ bị lời nguyền vĩnh viễn phải lăn đá lên đỉnh núi hết lần này tới lần khác: “chúng ta phải nghĩ rằng bản thân Sisyphus đang cảm thấy hạnh phúc.”  Tôi nghĩ rằng độc giả Việt Nam sẽ hứng thú đọc cuốn sách của Carroll để biết nhiều hơn về nhân cách của hai thiên tài. Cả hai đều gia nhập Đảng Cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhưng điều ấy không có nghĩa là họ đồng tình với mọi chủ trương, chính sách của Liên Xô. Camus bày tỏ sự phản đối khi Liên Xô đưa quân đội vào Budapest năm 1956, còn Monod phản đối khi sự kiện ngụy tạo khoa học Lysenko được công luận biết đến. Cả hai đều phản kháng chủ nghĩa thực dân của Pháp, cùng chiến đấu cho công lý và tự do, và không chấp nhận những điều trái ngược với niềm tin của họ.     Thanh Xuân dịch  Phạm Ngọc Điệp hiệu đính  ——————————————————–  Chú thích:   1. Sean B. Carroll, Brave Genius: “A Scientist, a Philosopher, and their Daring Adventures from the French Resistance to the Nobel Prize”, Broadway Books, New York, 2013.  2. Francis Crick, The Astonishing Hypothesis, Touchstone, New York, 1995.  3. Charles P. Snow, The Two Cultures, The Rede Lecture 1059, Cambridge University Press, New York, 1961.  4. Jean-Paul Sartre, L’Être et le Néant,   5. Ludwig Wittgenstein, Tractacus Logico-Philosophicus, Gallimard, Collection Tel, 1993.  6. Thái Kim Lan dịch từ nguyên gốc của tác giả: why something rather than nothing       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những từ khóa thời thượng      Khoảng hai mươi năm trước, người ta thường nhắc đến bền vững; mọi thứ phải sao cho bền vững. Năm ngoái, ta thường nghe Cách mạng 4.0 và Internet of things (Vạn vật kết nối Internet). Năm nay chúng ta cũng có nhiều từ khóa mới: sáng tạo, đổi mới, và khởi nghiệp… Thói quen sử dụng những ngôn từ có tính thời thượng dĩ nhiên là mốt thôi chứ chúng chẳng có tác động gì đến ý nghĩa sâu xa của từ ngữ, thậm chí thuần túy là cơ hội cho một vài người nào đó làm kinh doanh.      Với đổi mới và sáng tạo cũng vậy. Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới đổi mới và sáng tạo, loài người vốn không ngừng đổi mới và sáng tạo một cách ngoạn mục từ hàng triệu năm nay đấy thôi.  Thế mà gần đây ở các đại học, cả công và tư, người ta tạo ra nhiều chương trình học mới: trước đây là những chương trình thạc sĩ về quản lý và tiếp thị, ngày nay lại đang nở rộ thạc sĩ về đổi mới và sáng tạo trong quản lý. Chúng ta thừa hiểu những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt không phải là những thứ có thể học được ở trường lớp; đó là năng lực và sự chính trực trong nhân cách và hành xử, ở mức độ khiến những người mà bạn quản lý hoặc lãnh đạo nể phục và kính trọng. Điều ấy có được vì sự công tâm, phẩm chất đạo đức và tri thức, tính nhân văn và tinh thần cống hiến của bạn cho sự nghiệp mà bạn đang phụng sự, chứ không phải bởi bạn đã từng tham gia khóa học thạc sĩ về quản lý, lãnh đạo, sáng tạo và đổi mới nào đó. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu cần phải tham gia những khóa học kiểu như vậy. Nhưng ngày nay, khoa học chính trị cũng không tránh khỏi chạy theo xu hướng thời thượng, với một số tài liệu1 mới xuất bản gần đây như Hồ Chí Minh: sáng tạo, đổi mới do Bùi Đình Phong hoặc Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo thông minh” do Nguyễn Hữu Đông xuất bản.  Tôi lướt trên mạng để xem người ta dạy gì trong những khóa học về sáng tạo và đổi mới. Đây là một ví dụ, được lựa chọn ngẫu nhiên, mà bạn có thể đọc được: Chúng tôi đã học nhiều kỹ năng sáng tạo qua những bài tập thú vị. Tôi đặc biệt thích hai bài tập. Với bài thứ nhất, hai người chơi bị buộc chặt tay bằng một sợi dây thừng. Nhiệm vụ của hai người chơi là tháo dây thừng ra. Đó là nhiệm vụ rất khó cho đến khi bạn tìm ra lời giải. Bài tập này ép người chơi đối diện trực tiếp với những nút thắt trong suy nghĩ của mình và làm rõ tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi. Bài tập thứ hai là xếp một toà tháp, càng cao càng tốt, sử dụng những thanh mì spaghetti và một cuộn băng dính. Điều kiện của bài tập là phải gắn một miếng kẹo dẻo trên đỉnh tháp. Chỉ hơn một nửa đội chơi có thể giữ tháp trụ vững. Bài tập này đem lại cho tôi một nguyên lý ưa thích, đó là “Làm thí nghiệm cuối cùng trước”. Bỏ qua chi phí của những thanh mì spaghetti và chiếc kẹo dẻo (chúng có thể được tái sử dụng nhiều lần), tôi ước tính quý bà chạy khóa học ba ngày này có thể kiếm hàng chục nghìn đô la mỗi tháng. Đây là số tiền gấp đến năm mươi lần lương những đồng nghiệp trẻ của tôi, những người có bằng tiến sĩ về vật lý thiên văn. Thật đáng sợ khi nghĩ rằng kỹ năng của những lãnh đạo tương lai sẽ là gắn một chiếc kẹo dẻo trên đỉnh một cái tháp mì spaghetti.  Chúng ta có thể không quá băn khoăn về chuyện này, nhưng đó là những dấu hiệu đi ngược lại xu thế văn minh tiến bộ. Sáng tạo, đổi mới và lãnh đạo là những thuộc tính cao quý của phẩm chất con người. Tuy nhiên, cách mà chúng ta đang làm hiện nay khiến cho chúng trở nên sáo rỗng. Và nhiều người lợi dụng những điều này để kiếm tiền hoặc thăng tiến. Không những sự yếu kém đang tràn ngập mọi nơi mà năng lực cũng không được tôn trọng, hơn nữa nó còn đang được thay thế bởi ảo vọng có thể trở nên thành công và giàu có một cách dễ dãi.  Mẹ tôi thường nói rằng, quá giàu để có thể trung thực. Bà ấy nói thật đúng. Làm thế nào để trở nên giàu? Mua một sản phẩm hôm nay với giá một trăm đô la và hôm sau bán lại với giá một trăm năm mươi đô. Dĩ nhiên, năm mươi đô bạn cho vào túi chỉ đơn giản là đã được lấy từ đâu đó phải không? Bạn đã không làm gì, không tạo nên giá trị gì mới cho sản phẩm bạn bán và tiền thì bảo toàn. Ai đó đã bị móc túi trong cuộc chơi này. Một nhân viên ngân hàng làm gì cho ngân hàng của mình khi anh ta chuyển hàng triệu đô la từ một thiên đường tài chính này tới một thiên đường tài chính khác với một vài cái nhấn chuột? Cách đây gần hai thế kỷ, những người như Proudhon và Marx đã coi những hiện tượng như vậy như là nguồn gốc dẫn tới bất công xã hội; đồng thời những người khác như Engels lên án về điều kiện làm việc của giai cấp công nhân. Tôi sợ rằng chúng ta đã quên những điều này. Chúng ta đề cao tiền bạc hơn tri thức và năng lực, trên cả đạo đức và liêm chính, trên sự chăm chỉ và chuyên nghiệp. Chúng ta đề cao việc kiếm tiền trên tất cả.  Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính −cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ; […] chúng ta cần học tập để cải thiện kỹ năng, liên tục thay đổi bản thân để không ngừng tiến bộ. Nếu không cố gắng hết mình chúng ta sẽ bị tụt hậu và để lại phía sau. […] Chúng ta phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần tập thể, tôn trọng tổ chức và quy định. Chúng ta cần thực tế, gần với dân, kính trọng dân và làm cho dân nhận thức được quyền của mình.  Hồ Chí Minh, Chống tham nhũng, Lãng phí và Chống bệnh quan liêu (1952), Về Đạo đức Cách mạng (1958), Nâng cao Đạo đức Cách mạng và Chống Chủ nghĩa Cá nhân (3/2/1969).  Gần đây Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam đã công bố một báo cáo2 Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ. Đọc phần Những thông điệp chính của báo cáo cho ta thấy thách thức lớn lao mà đất nước đang phải đối mặt “Tốc độ đó sẽ giúp Việt Nam có cơ hội trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 như Malaysia hiện nay và Hàn Quốc vào giữa thập niên đầu của thế kỷ 21. Song mục tiêu này là hết sức tham vọng vì nó vượt xa mức tăng trưởng trước đây của Việt Nam và chỉ có rất ít quốc gia trên thế giới đạt được.” Tôi không muốn liệt kê hết những đề xuất của báo cáo nhưng sẽ đề cập đến một vài trong số chúng để minh họa đòi hỏi thay đổi phong cách để có thể thành công. Sau khi phát biểu rằng “Cải cách hệ thống chính trị và thể chế phải song hành với quá trình phát triển ở Việt Nam.”, báo cáo tiếp tục với phát biểu rằng “Năng suất trì trệ hiện nay và môi trường yếu kém cho phát triển khu vực tư nhân là do nhà nước còn thiếu hiệu quả, cụ thể khả năng đặt và đạt mục tiêu.” Báo cáo chỉ ra “thiếu rõ ràng trong phân cấp, phân công quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan Trung ương với nhau và giữa Trung ương với địa phương, do vậy tạo nên tính trì trệ và thiếu hiệu quả trong hoạch định và thực thi chính sách. Sự cát cứ, manh mún quyền lực theo chiều ngang và chiều dọc dẫn đến chồng chéo nhiệm vụ và gây mâu thuẫn giữa các quy định và quyết định. […]Việc quản lý công chức không dựa trên năng lực làm trầm trọng thêm các tác động bất lợi của tình trạng thương mại hóa và cát cứ, manh mún của nhà nước đối với chất lượng hành chính công ở Việt Nam.”.    Cải cách hệ thống chính trị và thể chế phải song hành với quá trình phát triển ở Việt Nam. Ảnh: Thành phố Đà Nẵng, nơi có cải cách thể chế và tốc độ phát triển tốt trong những năm gần đây. Nguồn: Internet.  Sau khi nêu lên khoảng cách giữa những phát biểu như “Chính phủ của dân, do dân và vì dân” và quyền ra quyết định của công dân, báo cáo đề xuất tăng cường sự tham gia của người dân vào những hoạt động xã hội của đất nước “Quy trình bầu cử và cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức xã hội chưa thực sự bảo đảm tính đại diện đích thực của người dân. Việt Nam cũng thiếu một hệ thống kiểm soát và cân bằng hữu hiệu giữa ba nhánh của nhà nước pháp quyền. Vẫn còn hạn chế trong tiếp cận thông tin, đây là chìa khóa để người dân thể hiện tiếng nói của họ đối với việc giải trình của nhà nước. Kết quả là Chính phủ thường gặp khó khăn trong việc phối hợp chính sách kinh tế, dẫn đến sự thỏa hiệp giữa các cơ quan nhà nước với nhau và sự mặc cả giữa nhà nước với khu vực tư nhân, đồng thời cản trở sự giám sát đối với các quyết định chính sách cũng như sự phản hồi của công chúng về hệ quả của các chính sách kinh tế.”.  Trong những đề xuất để vượt qua khó khăn, ta thấy có: “Phải phân định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Trung ương nhằm đạt được hiệu quả và trách nhiệm giải trình tốt hơn. Hệ thống quản trị công cũng cần cải cách theo hướng đảm bảo trọng dụng tài năng trong bố trí nguồn nhân lực. […] Các cơ quan chính quyền tham gia vào các quyết định kinh tế sẽ không được tham gia vào bất cứ hoạt động kinh doanh nào nhằm tránh xung đột lợi ích. […] Nhà nước cần được tổ chức theo cách đảm bảo sự kiểm soát và cân bằng thực sự giữa các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp. Quốc hội phải trở thành cơ quan chuyên nghiệp (bao gồm các đại biểu chuyên trách và có đội ngũ chuyên gia hỗ trợ) và giám sát toàn bộ các hoạt động của nhà nước. Hệ thống tư pháp cũng cần được tăng cường một cách tương xứng, tập trung vào tính độc lập với cơ quan hành pháp và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của mình. Cần có nhiều tổ chức xã hội đa dạng tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và giám sát trách nhiệm giải trình của nhà nước. Nhà nước cần đưa ra một khung khổ pháp lý thúc đẩy quyền công dân. Cũng cần có khung khổ pháp lý yêu cầu các các cơ quan công quyền phải minh bạch và tạo cơ chế cho người dân tương tác hiệu quả với nhà nước thông qua việc tăng cường tiếp cận thông tin chính xác và kịp thời và nâng cao vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng”.  Để giành được chiến thắng, chúng ta không thể chỉ biết sử dụng những từ khóa thời thượng và đào tạo ra những người buôn gió. Chúng ta phải đổi phong cách, chống tại sự bảo thủ và quan liêu ngăn cản phát triển, chống lại sự xơ cứng và thờ ơ ngăn cản chúng ta thích nghi với thế giới đang không ngừng thay đổi và tạo cơ hội cho giới trẻ bày tỏ suy nghĩ và đưa cho họ phương tiện để tạo nên sự thay đổi mà đất nước cần để phát triển.  Phạm Ngọc Điệp dịch  —-  1. Do Yen Ngoc Trung trích dẫn, Triết học hành động của Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ 2017, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.  2. Báo cáo có thể được tải từ https://openknowledge.worldbank.org/handle/10986/23724.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Những vấn đề dân số Việt Nam phải đối mặt từ nay đến năm 2030      Bản thân dân số mang trong nó những chiều cạnh liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường.    Xem xét mối quan hệ Dân số và Phát triển có thể thấy, bản thân dân số mang trong nó những chiều cạnh liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số – kinh tế, dân số – xã hội và dân số – môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững. Thay vào những vấn đề dân số – KHHGĐ trong những năm trước đây, những vấn đề dân số quan trọng liên quan tới phát triển mà Việt Nam hiện đang phải đối mặt trong hiện tại cho tới năm 2030 có thể kể đến:  1 – Quá độ dân số ở Việt Nam sẽ đi vào giai đoạn kết thúc, biến đổi mức sinh và chết trong quá khứ đã tạo nên “cơ cấu dân số vàng” trong hiện tại với dư lợi dân số mang lại nguồn lợi về mặt số lượng lao động cho phát triển song cũng chứa đựng thách thức rất lớn về chất lượng lao động.  2 – Mức sinh đã giảm thấp trong thời gian qua và xu hướng giảm sinh được dự báo là sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới. Vẫn còn có sự khác biệt mức sinh giữa các vùng, miền, nhóm xã hội đặt ra thách thức cho công tác DS-KHHGĐ thời gian tới trong việc đảm bảo tiếp cận một cách đầy đủ tới các sản phẩm, dịch vụ và thông tin về KHHGĐ có chất lượng cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người dân ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, những nhóm dân số yếu thế. Mức sinh giảm cũng đặt ra yêu cầu phải thúc đẩy các chính sách về giải quyết bất bình đẳng giới, gia đình và trẻ em.  3 – Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu phát ra những hệ quả về mặt xã hội cho thế hệ tương lai trong 10 năm tới, khi thế hệ sinh trong những năm 2000 đã bước vào độ tuổi thanh niên. Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh là hệ quả của những định kiến giới, của bất bình đẳng giới… và đây là vấn đề gốc rễ cần phải giải quyết cùng với việc nâng cao quyền năng của phụ nữ và trẻ em gái.  4 – Già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ là thành tựu đạt được nhờ sức khỏe và chất lượng cuộc sống được cải thiện. Quá trình già hóa dân số có tác động sâu rộng tới tất cả các khía cạnh trong xã hội và các nhóm dân số chứ không chỉ riêng người cao tuổi. Xu hướng già hóa dân số cũng mang lại các cơ hội phát triển các sản phẩm, dịch vụ cho nhóm dân số cao tuổi ngày càng tăng cao; phát huy vai trò, kỹ năng, kinh nghiệm và sự tham gia của người cao tuổi. Tuy nhiên, một số thách thức đặt ra bao gồm đảm bảo an sinh xã hội toàn dân, đặc biệt là bảo hiểm y tế và bảo hiếm hưu trí, đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của dân số cao tuổi như nhu cầu chăm sóc, làm việc, học tập, tinh thần.  5 – Những nguy cơ trong sức khỏe sinh sản/tình dục như vô sinh, mang thai vị thành niên, mang thai và nạo phá thai ngoài ý muốn và các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong bối cảnh xã hội biến đổi nhanh, mạnh và có “độ mở” lớn và tác động rất mạnh tới đời sống sinh sản/tình dục và đời sống kinh tế – xã hội của thanh niên. Đẩy mạnh và phổ biến giáo dục giới tính và giáo dục tình dục toàn diện cho vị thành niên và thanh niên hiện hiện vẫn rất cấp thiết.  6 – Xu hướng di cư nông thôn – đô thị, tích tụ dân số vào một số vùng công nghiệp hoá, đô thị hoá, với người di cư chủ yếu là lực lượng thanh niên, tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong 10 năm tới. Bên cạnh nguồn nhân lực được điều tiết lại phục vụ cho các mục tiêu phát triển, do thiếu những ứng phó thích hợp trong quản lý nhà nước, di cư cũng đi liền với những tác động tiêu cực đến xã hội như áp lực cơ sở hạ tầng xã hội, gia tăng đói nghèo đô thị, chất lượng cuộc sống của người di cư chưa đảm bảo hay suy thoái môi trường tự nhiên…  7 – Di cư và dịch chuyển lao động quốc tế, đặc biệt lao động ở độ tuổi trẻ sẽ gia tăng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và khi các rào chắn về xuất nhập cảnh qua biên giới các quốc gia được tháo cởi. Thực tế, di cư theo quy định pháp luật và có tổ chức mang lại tác động kinh tế – xã hội rất tích cực song di cư tự do khó kiểm soát tiếp tục gây hệ luỵ, thậm chí nghiêm trọng (lao động bất hợp pháp ở nước ngoài, nạn buôn bán người…).  8 – Với quy mô dân số gần 100 triệu dân, áp lực dân số lên tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên sẽ tiếp tục gia tăng trong 10 năm tới!  Lưu Bích Ngọc (VP HĐQG Giáo dục và Phát triển nhân lực)  Nguồn: KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề nóng của hành tinh: Thách thức cho cả khoa học và chính trị      Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với  nhiều vấn đề cấp bách, ngày càng trở nên trầm trọng hơn do toàn cầu hóa  và sự tăng tốc của nhiều quá trình khiến nhân loại tiến đến giới hạn của  sự phát triển bền vững. Để đối mặt với những thách thức như vậy, khoa  học và chính trị phải cùng chung lưng đấu sức. Nhưng thực tế lại chưa được như vậy. Năng lượng hạt nhân và biến đổi khí hậu là những thí dụ điển hình minh chứng cho thực tế đó.     Năng lượng hạt nhân đòi hỏi sự quản lý nhịp nhàng và chặt chẽ với tầm nhìn dài hạn để luôn cải thiện hiệu quả hoạt động và mức độ an toàn của các nhà máy. Nó đòi hỏi phải liên tục đào tạo ra các nhà khoa học và kỹ sư chuyên về thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì và ngừng hoạt động nhà máy có trình độ cao. Nó đòi hỏi một chương trình Nghiên cứu và Phát triển (R&D) mạnh để giải quyết những vấn đề lớn còn chưa có lời giải thỏa đáng, chẳng hạn như vấn đề lưu trữ rác thải, vấn đề phát triển các lò phản ứng tái sinh, và vấn đề khai thác quặng uranium từ nước biển. Nó đòi hỏi thái độ trách nhiệm cao đối với vấn đề an toàn. Thế nhưng, những quyết định nhất thời lại đang chiếm ưu thế, như việc Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố, chỉ vài ngày sau sự cố Fukushima, rằng Đức sẽ đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân trước năm 2022. Hơn nữa, lợi ích tài chính thường được đặt lên trước đòi hỏi về an toàn.    Trong trường hợp biến đổi khí hậu, chính quyền Bush đã không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, từ chối thừa nhận đòi hỏi chính đáng của các nước đang phát triển rằng các quốc gia phát triển nên gánh phần hơn trong việc hạn chế phát thải khí nhà kính. Được thành lập vào năm 1988, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), một cơ quan khoa học được Liên hợp quốc bảo trợ, đã đưa ra năm báo cáo quan trọng nhằm cung cấp những thông tin khoa học khách quan và thận trọng tới các nhà hoạch định chính sách. Thật không may, bản thân Ủy ban cũng không tránh khỏi các ảnh hưởng của chính trị và môi trường làm việc của nó ngày càng xấu đi, tiến đến trạng thái căng thẳng chưa từng có. Nhân cơ hội tình trạng nóng lên toàn cầu đang chững lại, người ta lẽ ra có thể bình tĩnh tìm sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ, nhưng thay vào đó, hàng tỉ USD lại đang được đầu tư vào các sáng kiến mạo hiểm.          [Trong lĩnh vực năng lương hạt nhân,] những  quyết định nhất thời lại đang chiếm ưu thế, như việc Thủ tướng Đức  Angela Merkel tuyên bố, chỉ vài ngày sau sự cố Fukushima, rằng Đức sẽ  đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân trước năm 2022.         Trong cả hai ví dụ nêu trên, các nhà khoa học đã thất bại trong việc truyền tải một thông điệp khoa học đúng mực tới công chúng. Đứng trước những tuyên bố thiếu căn cứ và gây hoang mang từ các nhà hoạt động môi trường, họ đã không thể đưa ra đánh giá khách quan về những vấn đề đang gây tranh cãi. Đồng thời, nhận thức được trách nhiệm của mình với tư cách nhà khoa học trước cộng đồng, họ nép mình đằng sau nguyên tắc cẩn trọng. Trong hoàn cảnh mà chỉ các ý kiến cực đoan mới có cơ hội được lắng nghe, họ thà đứng ngoài cuộc tranh luận mà họ cảm thấy không có chỗ cho mình ở đó.  Về phía các nhà hoạch định chính sách, chủ nghĩa thực dụng đang chiếm ưu thế. Họ đã được bầu hoặc bổ nhiệm để phục vụ lợi ích của người dân. Rất ít người dám hành động ngược với những gì mà người dân xem là lợi ích trước mắt của họ; rất ít người dám áp đặt tầm nhìn dài hạn cho quốc gia khi nó không được sự đồng tình của người dân.  Kết quả là các quyết định thường được đưa ra một cách vội vàng, thiếu những phân tích chính xác về hậu quả, và một lượng tiền khổng lồ đang bị lãng phí. Giải quyết các vấn đề đầy thách thức như năng lượng hạt nhân và biến đổi khí hậu lại đòi hỏi tư duy chặt chẽ của một cái đầu lạnh. Một cách lý tưởng, những vấn đề này cần được giải quyết ở quy mô hành tinh để có khả năng được xử lý thỏa đáng. Thật không may, hy vọng này trở nên hoàn toàn không tưởng do tình hình địa chính trị hiện nay, sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa các nước giàu và nghèo, sự thiếu kiểm soát về tài chính toàn cầu và xung đột vũ trang liên miên. Các lợi ích tài chính và lợi ích riêng thường không vì lợi ích chung. Do đó mỗi quốc gia phải đối mặt với những vấn đề thách thức này một cách đơn độc.          Trong bài phát biểu chào mừng tại phiên họp  lần thứ 46 của Hội thảo Quốc tế về Các vấn đề cấp bách của Hành tinh,  Chủ tịch Thượng viện Cộng hòa Ý Pietro Grasso kêu gọi cho cái ông gọi là  “liên minh lớn giữa chính trị và khoa học”. Ông nói, đạo đức phải là  điểm khởi đầu để từ đó khoa học và chính trị hoạch định con đường đi tới  tương lai…        Tháng tám năm nay tôi đã tham dự phiên họp lần thứ 46 của Hội thảo Quốc tế về Các vấn đề cấp bách của Hành tinh, ở đó các vấn đề như đã nêu trên được thảo luận. Trong bài phát biểu chào mừng của mình, Chủ tịch Thượng viện Cộng hòa Ý Pietro Grasso kêu gọi cho cái ông gọi là “liên minh lớn giữa chính trị và khoa học”. Ông nói, đạo đức phải là điểm khởi đầu để từ đó khoa học và chính trị hoạch định con đường đi tới tương lai – khoa học được dẫn dắt bởi công cuộc tìm kiếm tri thức, trong khi chính trị là con đường đầy biến động, nơi người ta liên tục phải đưa ra những lựa chọn khó khăn, nhưng cả hai đều hướng tới hạnh phúc, trong sự tôn trọng quyền cơ bản của các công dân trên hành tinh. Là đồng minh tốt không có nghĩa là nhập nhằng vai trò mà đúng hơn là chia sẻ các nguồn lực và kỹ năng để theo đuổi các dự án chung với sức mạnh và lòng quyết tâm. Các chính trị gia, ông nói thêm, cần nhìn xa trông rộng tới tương lai để có kế hoạch cải cách thể chế và tạo ra nền tảng cấu trúc mà sự phát triển đòi hỏi. Những vấn đề cấp bách của hành tinh phải trở thành một cấu phần thiết yếu và hàng đầu trong chương trình nghị sự chính trị của liên minh này. “Cả chính trị và khoa học đều phục vụ nhu cầu xã hội và nhằm mục đích bảo vệ chất lượng cuộc sống. Để giải quyết các vấn đề cấp bách đe dọa hành tinh, các chính trị gia phải tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có với sự chính xác của phương pháp khoa học, không chịu ảnh hưởng bởi các định kiến và xung đột lợi ích. Chúng ta cần sự hỗ trợ của một nền khoa học minh bạch để có thể tự do ra quyết định khi đối mặt với những mối nguy hiểm mới tăng theo cấp số nhân, và chống lại xu hướng bè phái trong quản lý, chống lại điều mà các xã hội dân chủ hiện nay vẫn chưa thể đưa ra biện pháp khắc phục hiệu quả. Các chính trị gia có nhiệm vụ đưa cộng đồng khoa học tới gần thực tế của chính quyền dân sự để cùng nhau xây dựng chính sách cho tương lai. Một khi giải pháp của vấn đề đã được xác định, khoa học và chính trị phải phối hợp để vận động người dân tham gia vào quá trình ra quyết định và thực thi các hành động đã được quyết định cũng như việc áp dụng các công nghệ đã lựa chọn. Đối phó với những vấn đề cấp bách của hành tinh và lựa chọn các vấn đề ưu tiên đòi hỏi phải có đầu óc thực tế, tránh ý thức hệ và mị dân, và phải đặt cảm xúc tình cảm cùng những tín điều vô căn cứ sang một bên. Đã đến lúc phải chuyển từ những tuyên bố chính thức về việc chia gánh nặng hậu quả của những vấn đề cấp bách của hành tinh sang phân bổ nguồn nhân lực và vật lực để ứng phó với chúng thì mới hy vọng giải quyết được chúng. Nhưng không được lãng phí những nguồn lực chỉ bởi vì chạy theo tâm trạng, cảm xúc nhất thời hoặc bởi phải đầu hàng trước các lợi ích kinh tế hoặc cá nhân.”   Cuối cùng, sau khi nhận xét rằng thành công trước thách thức này đòi hỏi sự chú trọng khoa học và tri thức như những ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự của chính phủ, ông kêu gọi sự tham gia vào một mặt trận văn hóa, bao gồm các trường học, cơ sở đào tạo và các phương tiện truyền thông, bao gồm Internet, để ủng hộ cho văn hóa khoa học với mục đích tạo ra trong thế hệ trẻ một “cảm thức chung dựa trên các giá trị khoa học cần có để đối mặt với các vấn đề hiện tại và kiểm soát các mối đe dọa hành tinh trong tương lai một cách quyết tâm và kịp thời.”  Tôi không thể nói thay các chính trị gia, nhưng với tôi cộng đồng khoa học nên lắng nghe một thông điệp như vậy. Đưa ra các quyết định đúng đắn không bao giờ dễ dàng, nhưng việc đó còn trở nên bất khả nếu chúng ta không nắm được thông tin đầy đủ. Là nhà khoa học, đồng thời là công dân của thế giới, chúng ta nên coi nhiệm vụ của mình là tìm hiểu đầy đủ về những vấn đề cấp bách của hành tinh, đặc biệt là các luận cứ khoa học đi kèm mà chúng ta và con cháu chúng ta sẽ phải đối mặt.        Dân số thế giới vượt qua ngưỡng 7 tỉ và  dự báo sẽ vượt ngưỡng 9 tỉ vào năm 2050. Tỉ lệ đô thị hóa trên thế giới  tăng từ 13% năm 1900 lên hơn 50% như hiện nay và dự kiến sẽ lên tới 70%  vào năm 2050. Sẽ có 27 thành phố trên 10 triệu dân vào năm 2020, và phần  lớn các thành phố mới xuất hiện trong số đó đều ở châu Á.   *  Hai tỉ người thiếu nước sạch để sinh hoạt hằng ngày, và đến năm 2025 sẽ  lên ba tỉ người. Trong 20 năm tới, lượng nước sinh hoạt có thể cung cấp  cho mọi người sẽ giảm 30%.   *  Đến năm 2050, sản lượng ngũ cốc và thịt hằng năm phải tăng tương ứng từ  2.100 và 200 triệu tấn như hiện nay lên 3.000 và 470 triệu tấn mới đủ  đáp ứng nhu cầu của con người. Tăng sản lượng chưa đủ mà còn phải có  những chính sách chống nghèo đói ở nông thôn đi kèm, đồng nghĩa với việc  đầu tư hằng năm cho sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển  phải tăng 50%.    * Lượng nhiên  liệu sinh học được sản xuất từ cây trồng trên đất nông nghiệp đã tăng  gấp ba lần trong giai đoạn 2000−2008. Tiếp tục tăng mạnh việc sản xuất  nhiên liệu sinh học từ cây trồng trên đất nông nghiệp sẽ khiến thêm 5  triệu trẻ em ở châu Phi và Nam Á bị suy dinh dưỡng trước tuổi đến trường  vào năm 2050.   * Hiện nay 80%  năng lượng mà thế giới tiêu thụ dựa vào nhiên liệu hóa thạch nhưng trữ  lượng của nguồn tài nguyên này sẽ cạn kiệt trong vòng chưa đầy một thế  kỷ nữa.    * Nồng độ CO2 trong  khí quyển đã tăng đều khoảng 0,5% mỗi năm – cao hơn 40% so với thời điểm  nổ ra cách mạng công nghiệp – hậu quả của việc đốt cháy nhiên liệu hóa  thạch và phá rừng. Đây được cho là nguyên nhân chính gây ra sự gia tăng  nhiệt độ bề mặt Trái đất thêm 0.8o C so với đầu thế kỷ trước. Song hành  với sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển trung bình gần đây cũng tăng mỗi  năm khoảng 3 mm, đe dọa những cộng đồng sống ở miền duyên hải.   Ô  nhiễm không khí, đất và nước vẫn tiếp tục gia tăng một cách đáng ngại  trong nửa thế kỷ qua. Bao gồm các loại ô nhiễm hóa chất, vi khuẩn và  phóng xạ, xảy ra trên một diện rộng các vụ việc khác nhau, từ thảm họa  [rò rỉ ở nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu ở] Bhopal [Ấn Độ] năm 1984 khiến  nửa triệu người có nguy cơ phơi nhiễm khí methyl isocyanate cực độc đến  sự cố tàu Amoco Cadiz [bị đắm và] làm tràn 200.000 tấn dầu thô ra bờ  biển Brittany [Pháp] năm 1978, hay mới đây, người ta phát hiện một đám  rác khổng lồ các loại nhựa tổng hợp và bùn hóa chất được dòng hải lưu  Bắc Thái Bình Dương gom lại. Ô nhiễm nước sinh hoạt không được qua xử  lý, lấy đi sinh mạng của 14.000 người mỗi ngày. Ở Trung Quốc, ước tính  mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người chết sớm do ô nhiễm không khí.   *  Từ năm 1990 đến 2011, tuổi thọ trung bình trên thế giới đã tăng từ 64  lên 70. Nhưng, cứ hai phút, ở đâu đó trên thế giới, lại có một phụ nữ tử  vong trong quá trình mang thai hoặc sinh nở. Trong ba thập kỷ qua, HIV  đã giết chết hơn 25 triệu người và hiện nay tại vùng Hạ Sahara của châu  Phi, cứ 20 người trưởng thành thì có một người nhiễm HIV.   *  Năm 2012, khoảng 100.000 người đã chết bởi chiến tranh và xung đột vũ  trang. Việc phổ biến các loại vũ khí hủy diệt (hạt nhân, sinh học, hóa  học hoặc thậm chí cả vũ khí thông thường) là mối đe dọa thường xuyên với  sinh mạng của chúng ta. Thêm vào danh sách này mới đây còn có khủng bố  tôn giáo và chiến tranh mạng.          Phạm Ngọc Điệp và Nguyễn Thị Thảo dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm tin và nhu cầu sống với cái thật      Có mấy trường hợp liên quan đến đạo văn khiến cho tôi phải suy nghĩ.        Trường hợp thứ nhất là một nhà nghiên cứu nghệ thuật. Ông là người có năng lực chuyên môn. Và năng lực đó được giới nghiên cứu công nhận. Ông cũng là người có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của khoa học. Điều đó cũng đã được khẳng định. Thế nhưng trong hơn một công trình nghiên cứu của mình, ông vẫn đạo văn. Và điều đáng tiếc là hiện tượng này tiếp tục tái diễn ngay cả khi hành vi của ông đã bị phát giác.   Trường hợp thứ hai là một vị chức sắc của một Viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật. Chỉ trong một thời gian ngắn gần đây, người ta đã phát giác ra rằng trong nhiều công trình nghiên cứu, ông có đạo và đạo một cách có hệ thống.   Trường hợp thứ ba liên quan đến lĩnh vực đào tạo. Một sinh viên viết khóa luận tốt nghiệp của mình bằng cách sử dụng lại cấu trúc luận điểm của một khóa luận khác được thực hiện trước đó vài năm, thay đổi hệ thống dẫn chứng và thay tên gọi của một số khái niệm. Điều đáng chú ý là cả hai khóa luận này đều được hướng dẫn bởi cùng một giảng viên và giảng viên này vẫn chấp nhận cho khóa luận viết sau được đem trình trước hội đồng. Ở một khóa luận khác, sinh viên sử dụng lại toàn bộ hệ thống luận điểm, giả thuyết khoa học và cách lí giải trong một bài viết của giáo viên hướng dẫn chỉ thay thế và mở rộng thêm hệ thống dẫn chứng. Hiện tượng này là rất phổ biến trong những chuyên ngành nghiên cứu nghệ thuật  và giáo viên hướng dẫn thường là các chức sắc tại các phân khoa, bộ môn.    Những trường hợp liên quan đến đạo văn nói trên đặt ra một số vấn đề.   Trước hết, đâu là động cơ của hành vi đạo văn?   Vì thiếu trí tuệ và thừa tham vọng. Đây là cách lí giải đơn giản nhất. Nó đúng với trường hợp thứ hai. Dẫu không đủ năng lực, người ta vẫn đạo văn để được thăng tiến và trong cái vòng luẩn quẩn của nó, vị trí công tác đảm bảo sự an toàn cho hành vi đạo văn và điều đó hình thành nên một vòng luẩn quẩn: đạo văn để thăng tiến và sau khi thăng tiến lại tiếp tục đạo văn để thăng tiến hơn nữa. Tuy vậy, nó lại chưa chắc đã đúng với trường hợp thứ nhất. Nhà nghiên cứu nọ đạo văn khi có thừa năng lực và nếu bỏ đi tất cả những phần “cầm nhầm”, công trình của ông vẫn có giá trị. Vậy, phải chăng ở đây câu trả lời khó có thể quy về phạm trù đạo đức mà thuộc về phạm trù bệnh lí. Điều này có thể có người không tán thành nhưng chắc chắn đứng về mặt bệnh lí học, lôgích này là hoàn toàn có thể. Ngay cả với trường hợp cuối cùng thì những sinh viên nói trên chưa chắc đã ý thức được đầy đủ về hành vi của mình như những nhà nghiên cứu đã trưởng thành và họ đạo văn chưa chắc là vì tham vọng, mà đôi khi, đơn giản chỉ là để “xong một việc” để “có cái mà đưa ra bảo vệ” và cuối cùng lấy một tấm bằng.   Những phân tích nói trên cho thấy sự không đơn giản về động cơ của hành vi đạo văn. Dẫu đạo văn là một cái gì “xưa như trái đất” và sẽ còn tồn tại “như trái đất” nhưng cũng không thể không đặt ra vấn đề về việc ngăn chặn hành vi này. Cổ nhân nói: “Dân không ở yên trong chỗ nhân nghĩa không phải là lỗi ở họ. Vì thiên hạ không có một nền đại chính”. Có người hỏi Khổng Tử về trị nước và luật hình, ông trả lời đại ý đối với kẻ có tội ông cũng dùng luật hình như những ông quan khác, cái khác của ông là làm thế nào để dân không phạm tội. Nhân trị là thế. Trong trường hợp đạo văn, không thể chỉ quy trách nhiệm cho một cá nhân. Ở đây, có cái lỗi của một hệ thống bao gồm mấy khâu:   – Khâu kiểm soát đánh giá. Khi khâu này có vấn đề hoặc bị thao túng, hoặc vận hành lệch lạc, chuyện đạo văn là đương nhiên.  – Tính mục đích của sự vận hành của hệ thống. Khi một hệ thống nghiên cứu mà tính mục đích không rõ ràng, hệ chuẩn mực đánh giá mơ hồ, khi đó, việc đạo văn cũng là đương nhiên. Khi đó, nghiên cứu chỉ là cái cớ, là hình thức, “lệ bộ” để đạt được một mục đích khác ngoài khoa học, và thế thì, “tội gì không đạo”.   – Khả năng tự ý thức của hệ thống. Khi nào khả năng đó yếu, khi đó có “đạo”.  – Cấu trúc của hệ thống. Khi những cá nhân có trách nhiệm dẫn dắt sự vận hành của hệ thống hoặc cũng “đạo”, hoặc chấp nhận cho hành vi “đạo”, khi đó, không cần nói cũng biết hệ quả ra sao. Khi một giáo viên hướng dẫn không nghiên cứu khoa học, không có những tìm tòi về đối tượng và phương pháp nghiên cứu khi đó anh ta khó có thể tìm ra những đề tài mới để sinh viên thực hiện và tất yếu sẽ là…   Chỉ ra cội rễ, âu cũng là một cách trị căn bệnh đã làm tổn thương một thứ vô hình nhưng lại quyết định ý nghĩa của tất cả những thứ hữu hình khác niềm tin vào những giá trị thật, khả năng và nhu cầu sống với cái thật.        Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm vui trọ ở nơi đâu      Cô bạn hôm trước viết thư nhắn tôi rằng “bây  giờ chuyện ảm đạm thì sẵn quá, anh có câu chuyện gì thắp niềm vui lên  chút ít được không?” Cô ấy có lý thật. “Đời là bể khổ”, đi tìm khổ thì dễ quá à. Rất nên cố đi tìm được niềm vui. Niềm vui trọ ở nơi đâu?    Trong một dịp gặp gỡ bạn bè, tôi làm quen với Cécile, đọc ra tiếng mình thì là “Xê-xil”. Cô đang làm chuyến du lịch xuyên Việt.  Con người cô Cécile thật là dịu dàng, nhưng cái dịu dàng này lại làm cho người bắt chuyện phải bị dịu dàng theo. Rõ ràng đây là thứ dịu dàng có ma lực… Cuối buổi chuyện trò tôi mới biết ra rằng Cécile là cô giáo dạy nhạc lý, thú vị thế đấy. Cô rất thích tìm được những bài nhạc dân ca Việt xưa cho bộ sưu tầm của mình để dạy cho học viên, mở rộng miền thẩm mỹ. Tôi thì rất tò mò việc cô dạy các lớp nhạc lý như thế nào. Trước khi chia tay Cécile bảo “nếu anh có điều kiện qua Paris ít ngày, em mời anh vào dự lớp nhạc lý của em. Đây, em gửi lại email, chúng mình viết cho nhau nhé.”  Cuộc sống bận rộn đủ đường, những mẩu chuyện nhân khi gặp nhau thoáng qua như thế thông thường thì rồi cũng thành những chuyện đâu đâu.  Cuộc sống lại còn rất ngắn nữa.   Ấy thế mà tôi đã gặp lại Cécile! Ở đâu? Trong lớp học của cô!  —    Đúng dịp lưu lại ở Paris ít ngày, tôi báo cho Cécile, gọi là báo “vậy thôi”. Cécile nối lại ngay, và không quên lời mời dự lớp ngày nào. Cécile dặn “anh vào dự lớp, dù chỉ một lần, hay nhiều lần, anh không phải là khách, mà là học sinh của em. Như thế là thật chân nhất, là tự nhiên nhất, là vui nhã nhất.” “Tuyệt vời ý tưởng của Cécile! Tôi sẽ đến, và làm học trò trọn vẹn của Cécile!”   Đúng hẹn tôi đến cổng nhạc viện nọ, trước nửa giờ. Cécile ôm hôn chào đón tôi, hỏi thăm ríu rít đủ chuyện. Vào đến sảnh phòng thường trực, Cécile chỉ cho tôi hộp đàn guitar điện cùng một ampli “em mượn của nhạc viện, anh dùng trong giờ giảng của em.” Tôi trố mắt ngạc nhiên. “Lần trước gặp nhau anh chả chơi vui mấy bài với guitar là gì? Đến giờ rồi, chúng mình vào lớp nhé.” Tôi được chứng nghiệm trở lại sự dịu dàng đầy quyền năng của Cécile.  Sau thủ tục giới thiệu, cả lớp sắp xếp nhạc cụ, sách vở. Nom lớp học thật vui! Quá nửa các bạn đều còn là học sinh phổ thông, lớn bé lệch nhau. Một bạn gái bé bỏng đánh vật với cái contrebasse ngật ngưỡng, một bạn trai cũng bỏng bé bê bê xếp xếp bộ trống cồng kềnh, cả hai đều rất tự lập. Còn lại thì sáo, kèn, violon, piano, accordéon, guitar… đủ cả. Một số bạn là sinh viên đại học. Vài bạn nữa thì là người đã đi làm, đứng tuổi, tham gia lớp như hoạt động ngoại khóa của mình.  Phần đầu buổi học dành cho ôn tập kiểm tra lại nhạc lý. Sự thể hiện tùy học viên chọn, bằng giọng hát, hoặc bằng nhạc cụ tự chọn, thể hiện cá nhân, và thể hiện cùng với một nhóm nhỏ, hoặc có khi có sự tham gia của tất cả mọi người. Các thể hiện này được mỗi học viên đề xuất cách thức. Cô Cécile phê duyệt nhanh nhẹn và chính xác các quyết định.  Có vẻ vì sự có mặt của tôi, phần thứ hai của lớp học chuyển sang chơi một bài nhạc mới dài mươi trang nhạc được cô đã chụp sẵn cho cả lớp. Mỗi người nhận bài đều nhận mươi cái tem bản quyền để dán lên các trang nhạc vừa được chụp. Nhà trường phát tem này cho các giảng viên, và về sau thì tôi được Cécile cho biết rằng trong học phí của các học viên có mục tiền đóng cho tem bản quyền.   Cécile phân tích một lượt toàn bộ bản nhạc, diễn giải qua giọng, rồi qua piano, lưu ý những đoạn khó và dễ nhầm. Tất cả chúng tôi xướng âm theo. Rồi Cécile cắt chia phần các đoạn bản nhạc cho từng nhóm chơi. Tôi được cắt cho nửa trang nhạc, đoạn không khó lắm với các motif lặp đi lặp lại. Hú vía! Lần lượt các khó khăn được thảo luận gọn gàng, được giải đáp, được thể hiện thử. Và chúng tôi nhích lên, nhích lên. Chúng tôi đã đi được một vòng đầy bất trắc. Rồi vòng hai. Vòng ba đã suôn sẻ hơn… Giờ học kết thúc thật là sáng tạo và vui vẻ bằng lượt chơi tự do lại bản nhạc đó tùy theo hứng thú diễn tả của các cá nhân, miễn là cấu trúc căn bản được tôn trọng.   —    Tan lớp Cécile mời tôi ra hàng càfé ở phố chếch bên cạnh.  – “Lớp học của Cécile thật là vui, thật là thiết thực. Tôi không nghĩ là giờ học nhạc lý lại dùng đủ các nhạc cụ như vậy.”  – “Nhạc lý là để chơi tốt được nhạc, chơi được một cách chính xác, nhanh nhất, hiệu quả nhất, vui thích nhất, và rồi chơi sáng tạo, chứ không phải là môn học chỉ để xóa mù chữ nốt nhạc và lấy cái tấm bằng. Song song với nhạc lý là các môn dạy nhạc cụ, thanh nhạc.”  – “Chương trình cơ sở của nhạc lý gồm bao nhiêu năm?”  – “Tám năm ạ.”  – “Tức là nếu trẻ em cắp sách đến trường học chính quy, rồi cũng cắp sách đến trường nhạc, thì cuối cấp ba mới xong phần cơ sở nhạc lý à?”  – “Vâng, nếu không bị trượt năm nào ạ.”  – “Trường mình có bao nhiêu học sinh?”  – “Khoảng năm trăm, cho cụm năm mươi ngàn dân.”  – “Khắp vùng Paris này đều có các trường nhạc cho các cụm dân cư à?”  – “Vâng, rộng khắp, như một hệ thống trường song song với hệ thống trường phổ thông. Em cũng giảng dạy ở vài trường nhạc nữa ở gần đây. Số giờ dạy nhạc trong các trường phổ thông thì hạn chế, nên nếu các học sinh muốn phát triển xa hơn về âm nhạc thì chúng phải đến học ở những trường nhạc này. Thế mà luôn luôn thiếu chỗ anh à.”   – “Chơi nhạc ở đây thì sao?”  – “Các học viên bắt buộc phải tham gia một nhóm nào đó trong trường, như dàn cổ điển, hoặc các nhóm nhạc cụ, hoặc dàn jazz, hoặc các nhóm đồng ca, hoặc nhóm sáng tác rock, nhóm chơi ngẫu hứng, v.v. Các trường của các cụm dân cư gần nhau thường nối nhau thành một nhóm trường, học viên có thể lấy các môn phù hợp ở mỗi trường khác nhau mà chỉ cần trả một lần lệ phí hồ sơ chung. Chơi nhạc thì là khái niệm rộng hơn, có rất nhiều ‘nhà văn hóa’ ở các cụm dân cư, ở đó có các chương trình để chơi nhạc, ca hát, sáng tác, dựng sân khấu… có các giảng viên âm nhạc hướng dẫn, nhưng phần đào tạo thì bị hạn chế. Các ‘nhà văn hóa’ có đủ mọi loại hình hoạt động nghệ thuật khác nữa, như các nhóm viết văn, dựng kịch, hội họa, chụp ảnh, làm phim, diễn thuyết, nhảy, múa,… Đăng kí chỗ thì tự do, và có sẵn chỗ hơn.”  – “Thế còn thể thao?”  – “Dạ, đó lại là một thế giới mênh mông khác nữa, có lẽ còn được đầu tư và phát triển hơn cả văn hóa nghệ thuật.”  – “Vậy thì trẻ em ở đây, đi học phổ thông, rồi đi học nghệ thuật, rồi lại đi học thể thao, thời giờ đâu mà thực hành tất cả những cái đó?”  – “Không chỉ trẻ em ạ, người lớn cũng vậy thôi, anh vừa thấy trong lớp đó, mà chính anh cũng vừa là một người như thế mà! Đi học phổ thông, đi làm, ấy là hoạt động ‘nghề nghiệp’. Sau giờ nghề nghiệp đó thì văn hóa nghệ thuật, thể thao là hoạt động ngoại khóa, hầu như ai cũng phải có, để gây dựng niềm vui, để hài hòa đời sống, để an lành xã hội, để mở mang tâm hồn. Các trường học phổ thông, trường đại học, hay các doanh nghiệp đều phải có lịch hoạt động sao cho hài hòa được với hệ thống hoạt động và đào tạo ngoại khóa. Lịch của nhà trường phổ thông là lịch chính, toàn bộ lịch của hoạt động xã hội căn cứ trên đó mà được xây dựng tiếp. Chương trình ở các trường phổ thông thì phải nhẹ nhàng, vì trẻ em đang ở tuổi có nhiều năng lực phải được mở mang một cách phong phú nhất, hiệu quả nhất.”  – “Ôi, đời sống được tổ chức vui quá nhỉ!”  – “Tháng năm tháng sáu ở đây bọn em siêu bận rộn, vì là mùa gặt của các hoạt động ngoại khóa. Đó là lúc thi cử ngoại khóa, hội diễn ngoại khóa, triển lãm ngoại khóa. Lịch này đã đồng bộ hóa được trên toàn châu Âu, dịp đó các hội diễn, triển lãm được tổ chức mời chéo nhau giữa các nước.  Em nghĩ đời sống cần được tổ chức để tạo nên được các năng lực nhằm ươm trồng niềm vui, và gặt hái được các niềm vui. Đến ngày nào đó chắc cần thiết phải đồng bộ hóa được ở khắp muôn nơi các nhịp điệu hoạt động của con người, để rồi mọi người trao đổi được các hoạt động rộng khắp với nhau.”  – “Thế Cécile làm nghề nghệ thuật rồi, khỏi phải hoạt động ngoại khóa à?”  – “Anh coi thường em thế, em là võ sĩ judo đấy!”  Tôi ngắm nhìn lại mãi Cécile.   – “Tôi cứ bị ám ảnh mãi về cái dịu dàng quyền năng của Cécile! Bây giờ thì tôi thấy rõ hơn rồi. Đúng hơn, nó là cái quyền năng dịu dàng ở Cécile à!”    Cécile khẽ lắc đầu, nụ cười tươi tắn nở trên môi.   —    Chia tay Cécile ra về, tôi lơ mơ thấy ra niềm vui trọ ở nơi đâu.   Ở ươm trồng niềm vui, ở gặt hái niềm vui.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel kinh tế năm 2020: Có thể ứng dụng gì ở Việt Nam?      Lý thuyết kinh tế được giải Nobel năm nay đã thiết kế ra luật chơi mang lại giá trị cao nhất cho người đấu giá, người bán và cho xã hội và có tính ứng dụng rộng rãi trong đời sống.      Paul Milgrom (trái) và Robert Wilson. Nguồn: Elena Zhukova/ The Stanford Graduate School of Business.   Tôi và tiến sĩ Lê Thanh Loan cùng các đồng sự khác, từ trung tâm Môi trường cho Phát triển Việt Nam, trường Đại học Kinh tế TP. HCM đang thực hiện nghiên cứu đo lường nhu cầu của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đối với một công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp: dùng tia laser san phẳng mặt ruộng. Công nghệ này giúp giảm nước tưới, giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác và tăng năng suất lúa.   Nông dân sẽ thuê máy san phẳng mặt ruộng bằng tia laser. Nhưng có một vấn đề là nhà đầu tư máy không biết nông dân sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho dịch vụ san phẳng mặt ruộng này. Sẽ ra sao nếu chi phí đầu tư máy quá cao trong khi nông dân chỉ có khả năng trả thấp hơn nhiều? Khi đó thì nhà nước nên can thiệp trợ giá cho công nghệ này bao nhiêu – vì công nghệ giúp giảm phát thải khí nhà kính đem lại lợi ích cho cả xã hội? Một vấn đề khác đặt ra là có thể nông dân rất quan tâm đến công nghệ mới này, họ có thể nghĩ rằng máy sẽ đem lại lợi ích lớn, nhưng lại trả giá thấp khi thuê máy vì sợ bị doanh nghiệp lừa đưa ra giá trị cao và bị mất một khoản tiền vô ích. Làm thế nào để người mua thực sự bộc lộ giá sẵn lòng trả cho dịch vụ? Nhóm nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đấu giá Becker – DeGroote – Marschak để biết được nông dân sẵn lòng trả cao nhất bao nhiêu tiền.     Một ví dụ khác, chẳng hạn như các tổ chức từ thiện, hoặc nhà nước bán một số sản phẩm, như tranh, ô tô để thu tiền để phục vụ lợi ích công cộng. Làm thế nào nhà nước có thể thu được nhiều tiền nhất từ việc bán một chiếc xe đẹp, một bức tranh đẹp? Nên tổ chức đấu giá theo kiểu giá khởi điểm thấp sau đó tăng dần lên và sau một thời gian ai trả cao nhất sẽ là người được mua, hay đấu giá theo kiểu đặt giá khởi điểm thật cao sau đó người mua trả giảm dần đến khi người đầu tiên tuyên bố chấp nhận mức giá nào đó. Cách đấu giá nào thu được nhiều tiền hơn cho ngân sách nhà nước?      Paul Milgrom và Robert Wilson sáng tạo ra hình thức đấu giá mới, gọi là Đấu giá đa phiên đồng thời (Simultaneous Multiple Round Auction – SMRA) để giải quyết một vấn đề thực tiễn – giá trị của một vật tại phiên đấu giá này phụ thuộc vào giá trị vật cùng loại ở nơi khác hoặc ở tương lai. Thống kê cho thấy ở mức độ toàn cầu, trong vòng 20 năm từ 1994 – 2014, chính phủ các nước đã thu được trên 200 tỷ USD từ đấu giá sóng viễn thông theo thể thức Đấu giá đa phiên đồng thời.      Ví dụ khác tiếp theo là nhà nước quyết định bán quyền khai thác đường sắt Bắc Nam cho các công ty vận tải đường sắt. Nhà nước cho đấu giá khai thác từng đoạn để tăng cạnh tranh và thu được giá tốt nhất. Tuy nhiên với một công ty vận tải, giá trị của đoạn đường đang đấu giá hiện tại, ví dụ Hà Nội – Vinh, phụ thuộc vào việc có mua được quyền khai thác đoạn đường Vinh – Đà Nẵng sẽ đấu giá trong tương lai. Công ty này sẽ tính toán như thế nào? Nhiều khả năng họ sẽ trả giá thấp hoặc rút lui chờ cơ hội. Như vậy phiên đấu giá không đạt được mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách và chọn được đơn vị hoạt động hiệu quả.  Lý thuyết đấu giá cũng sẽ giúp giải quyết các câu hỏi kiểu này. Nó hỏi và trả lời những câu hỏi cơ bản nhất trong kinh tế học: Ai nên nhận hàng hóa và với giá nào để đảm bảo giá đó đúng với giá trị của hàng hóa đó nhất?  Đấu giá phức tạp hơn vẻ bề ngoài mà mọi người thường nghe mô tả về nó. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu giá:  Đầu tiên là việc người tham gia đấu giá nhìn nhận giá trị của vật phẩm được đấu giá ra sao. Nhận thức về giá trị quyết định hành vi mua sản phẩm. Kinh tế học quan niệm giá trị là phần phúc lợi thay đổi khi sử dụng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Giá trị của chiếc xe ô tô đối với một cá nhân là những lợi ích cả về sử dụng và tinh thần mà chiếc xe mang lại cho cá nhân đó. Giá trị này thường được đo bằng giá sẵn lòng trả của cá nhân và trong ngôn ngữ của lý thuyết đấu giá được gọi là giá trị tư nhân.   Mặt khác, chiếc xe có giá trị chung, như nhau với tất cả mọi người. Giá trị cá nhân ẩn trong đầu người mua. Giá trị chung bộc lộ ra ngoài và phụ thuộc vào thông tin có được từ hành vi đấu giá, kinh nghiệm cá nhân của những người mua trong phiên đấu giá. Đấu giá được thiết kế tốt có thể làm người mua bộc lộ ra giá trị cá nhân – giá sẵn lòng trả cao nhất cho hàng hóa đấu giá.     Gần đây Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện (tần số 4G, 5G) nhưng gặp khó khăn trong xác định giá khởi điểm. Nguồn ảnh minh họa: Báo Đầu tư.   Yếu tố quan trọng thứ ba tác động đến kết quả đấu giá là luật chơi – đấu giá theo kiểu nào, giá tăng dần hay giảm dần, người tham gia biết giá nêu của nhau hay không biết, giá thắng cuộc là giá cao nhất hay cao thứ nhì.   Tiếp theo, kết quả đấu giá cũng có thể bị thông tin tác động. Thông tin về giá trị chung của vật đấu giá thường không rõ và không chắc chắn. Mỗi người tham gia sẽ có sở thích khác nhau, lượng thông tin khác nhau và toan tính khác nhau. Khi bước vào cuộc đấu giá, người mua quan sát, giải mã tín hiệu từ mức giá nêu của những người khác và ra quyết định cho mức giá của mình.   Như vậy là để thiết kế được một phiên đấu giá tốt, người ta phải căn cứ vào rất nhiều biến số trên và không đơn giản để thiết kế ra luật chơi mang lại giá trị cao nhất cho người bán và cho xã hội. Nhưng trong trường hợp này, đấu giá cũng gặp vấn đề “lời nguyền của người chiến thắng”. Đó là, người thắng cuộc là người trả cao nhất nhưng có thể lại trả quá cao so với giá trị chung của vật đấu giá. Tuy nhiên do mọi người đều trả thấp hơn, nên về nguyên tắc vật đấu giá đó khó có thể được bán lại để kiếm lời. Người đấu giá biết được điều này nên sẽ có xu hướng đưa ra mức giá thấp.      Hình thức đấu giá ở Việt Nam không giúp vượt qua được các thách thức đến từ bản chất phức tạp của khái niệm giá trị và hành vi người tham gia, chẳng hạn như sự thông đồng giữa những người tham gia đấu giá, thông tin bất cân xứng, sự bất định trong đánh giá giá trị.      Các nhà kinh tế học, mà tiêu biểu là Wilson và Milgrom, đã ứng dụng lý thuyết trò chơi, kết hợp vai trò của thông tin và hệ thống khuyến khích để hoàn thiện các cơ chế đấu giá khác nhau nhằm đạt kết quả phúc lợi tối ưu. Paul Milgrom và Robert Wilson đã cải tiến lý thuyết đấu giá và sáng tạo các hình thức đấu giá mới, đưa lý thuyết đấu giá ứng dụng vào thực tiễn, giúp phân bổ nguồn lực khan hiếm tốt hơn, giúp tăng phúc lợi xã hội. Và hai ông đã được trao tặng giải Nobel Kinh tế năm nay cho những thành quả đó.   Paul Milgrom và Robert Wilson sáng tạo ra hình thức đấu giá mới, gọi là Đấu giá đa phiên đồng thời (Simultaneous Multiple Round Auction – SMRA) để giải quyết một vấn đề thực tiễn – giá trị của một vật tại phiên đấu giá này phụ thuộc vào giá trị vật cùng loại ở nơi khác hoặc ở tương lai.   Phương thức Đấu giá đa phiên đồng thời, như tên gọi, cho phép các phiên đấu giá ở những địa điểm khác nhau diễn ra đồng thời với mức giá khởi điểm thấp để cho phép các bên tham gia vào đấu giá đều có thể quan sát hành vi đấu giá của nhau, giảm bớt đi tính không chắc chắn thông tin và do đó giải quyết được lời nguyền của người chiến thắng. Thống kê cho thấy ở mức độ toàn cầu, trong vòng 20 năm từ 1994 – 2014, chính phủ các nước đã thu được trên 200 tỷ USD từ đấu giá sóng viễn thông theo thể thức Đấu giá đa phiên đồng thời.  Lý thuyết đấu giá chính là câu trả lời cho những vấn đề mà chúng ta vừa thảo luận ở trên. Đó là, nếu  thiết kế đấu giá phù hợp hoặc đấu giá đa phiên đồng thời thì cả người mua bán xe, các doanh nghiệp vận tải tham gia đấu giá đều có thể quan sát được và hưởng một mức giá phù hợp nhất.   Còn thực tế ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung đấu giá ở Việt Nam được áp dụng trong phạm vi hẹp, với hình thức đơn giản. Hiện nay phổ biến nhất là đấu giá tài sản và đấu giá quyền sử dụng đất được sử dụng phổ biến. Chẳng hạn, trong năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức đấu giá quyền khai thác cho trên 300 khu vực khoáng sản. Gần đây Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện (tần số 4G, 5G) nhưng gặp khó khăn trong xác định giá khởi điểm.   Hình thức đấu giá ở Việt Nam thường theo kiểu đơn giản nhất là xác định giá khởi điểm, bước giá tăng dần và dừng lại ở người trả giá cao nhất. Đấu giá được quy định chặt chẽ bằng Luật đấu giá tài sản ban hành năm 2016 và các văn bản hành chính khác. Thiết kế đấu giá đơn điệu hiện nay không giúp vượt qua được các thách thức đến từ bản chất phức tạp của khái niệm giá trị và hành vi người tham gia, chẳng hạn như sự thông đồng giữa những người tham gia đấu giá, thông tin bất cân xứng, sự bất định trong đánh giá giá trị. Không giải quyết được các khó khăn này bằng thiết kế cơ chế đấu giá thông minh, xã hội có khả năng mất nhiều lợi ích tiềm năng.  Nghiên cứu và đào tạo chuyên gia thiết kế đấu giá ở Việt Nam hầu như là vùng trắng. Ở Việt Nam có đào tạo nghề đấu giá. Tuy nhiên đây chỉ là người tham gia điều hành cuộc đấu giá. Việc phân tích lý thuyết đấu giá này mới chỉ dừng lại ở trong cánh cửa một số trường đại học lớn. Một số chương trình đào tạo cử nhân Kinh tế học tại một số đại học lớn có dạy về thiết kế đấu giá trong môn học Lý thuyết trò chơi. Một số giảng viên thực hiện nghiên cứu ứng dụng đấu giá để đo lường nhu cầu. Lý thuyết trò chơi, kinh tế học tổ chức ngành, thiết kế thị trường, thiết kế đấu giá là những lĩnh vực có tiềm năng ứng dụng thực tế rất cao đang chờ các trường đại học trong nước đẩy mạnh giảng dạy và nghiên cứu.   Quay trở lại với chủ nhân giải Nobel Kinh tế học năm nay, cả hai giáo sư Robert Wilson và Paul Milgrom đều đang làm việc tại Đại học Stanford. GS. Wilson thực sự là cây đại thụ trong làng kinh tế học thế giới. Ông không những là thầy của GS. Milgrom, mà còn hướng dẫn luận án tiến sĩ cho hai khôi nguyên Nobel Kinh tế khác, GS. Alvin Roth và GS. Bengt Holmstrom. GS. Roth nói đùa “Bob (Wilson) là tộc trưởng của bộ lạc Nobel”.  Vị tộc trưởng và học trò Milgrom của mình còn tạo ra điểm đặc biệt cho giải Nobel Kinh tế học năm nay: họ là người phát triển lý thuyết, và cũng chính là người thiết kế các ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn. Giải Nobel năm nay không phải cho một lý thuyết kinh tế học buồn tẻ với các phương trình tính toán, mà giải vinh danh sự đóng góp toàn diện cả lý thuyết lẫn thực tế, làm cho xã hội thực sự tốt hơn cho hiện tại và tương lai.   Chúng ta mong chờ trong thời gian ngắn lý thuyết đấu giá được nghiên cứu và ứng dụng thực sự ở Việt Nam, góp phần nâng cao phúc lợi cho xã hội.   —  * TS, Trung tâm Môi trường cho Phát triển Việt Nam (EfD-Vietnam), Trường Đại học Kinh tế TP. HCM          Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Nội bộ      Bao năm rồi chúng ta vẫn thường quen với những lời dặn dò và tuân thủ những chỉ huấn thành văn hay bất thành văn: đây là thông tin nội bộ nhé, tài liệu nội bộ nhé, không được phổ biến ra ngoài… nội bộ. Nội bộ có nghĩa là không công khai, và không công khai nhiều khi dẫn đến không minh bạch.    Tài liệu nội bộ, thông tin nội bộ không còn chỉ là câu chuyện của “nội bộ” một doanh nghiệp, một cơ quan hay một tổ chức mà rộng hơn thì đây là câu chuyện của cả một nền quản trị quốc gia. Đành rằng, việc quy định một số loại văn bản, tài liệu là mật là cần thiết, nhất là khi những thông tin chứa đựng trong đó có thể làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, lợi ích của đa số cộng đồng, đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục… Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng chúng ta còn có quá nhiều văn bản mang tính “nội bộ.” Dù mức độ “nội bộ” có thể khác nhau: từ việc giới hạn chỉ phổ biến trong nội bộ, cho đến việc coi là tài liệu mật, tối mật, tuyệt mật… nhưng chúng đều có chung một bản chất là các văn bản loại đó không được công khai với công chúng.  Nhìn từ góc độ làm chính sách và pháp luật, công khai và minh bạch cần phải được thực hiện ngay từ khi manh nha ý tưởng lớn cho một chính sách hoặc một đạo luật tương lai. Người dân và công chúng cần được biết và phản biện về những ý tưởng đó ngay từ đầu để bảo đảm một chính sách hoặc luật pháp sẽ được xây dựng hợp với lòng dân. Để pháp luật mang tính khả thi và thể hiện ý nguyện của dân chứ không phải là công cụ cai trị thì tất cả các dự thảo các văn bản pháp luật cần được công khai để dân chúng có thể tiếp cận được chứ không phải vẫn được coi là tài liệu nội bộ trong rất nhiều trường hợp hiện nay.  Minh bạch và công khai cũng là điều cần thiết đối với nền hành pháp. Đề án 112 liệu có phải chịu hậu quả như giờ nếu như bức thư của một vị Giáo sư, Nhà Khoa học đầu ngành gửi Thủ tướng thời đó được công khai để giới khoa học và những người có trách nhiệm bàn thảo kỹ lưỡng hơn đề án đó trước khi quyết định? Việc thực thi quyền chấp pháp của từng cơ quan, bộ máy của công quyền sẽ đỡ tham nhũng, hiệu quả và vì dân hơn khi người dân có cơ hội tiếp cận thông tin về hoạt động của họ để có thể giám sát kịp thời. Yêu cầu kê khai tài sản của một bộ phận quan chức mà được kèm theo yêu cầu về công khai và minh bạch những thông tin đó cho công chúng chắc sẽ góp phần cho công cuộc phòng ngừa quan tham.   Công khai và minh bạch cho công chúng về việc thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp sẽ làm cho việc áp dụng luật pháp được thống nhất và công bằng. Những bản báo cáo tổng kết công tác xét xử hằng năm của Tòa án vẫn còn đóng dấu “lưu hành nội bộ” thì báo chí, giới luật sư và công chúng khó có thể góp tiếng nói xây dựng ngành tòa án. Những phán quyết của Tòa án còn chưa được công bố rộng rãi thì làm sao dân chúng có thể tiên lượng được việc hành xử sẽ ra sao, để điều chỉnh hành vi ứng xử của mình, cũng như việc thực hiện quyền giám sát của dân để góp phần làm cho Tòa án thực sự xứng đáng với tên gọi “nhân dân” và là người bảo vệ công lý.  Công khai minh bạch hơn nữa nền quản trị doanh nghiệp, nhất là về tài chính, kế toán và kiểm toán, chắc chắc sẽ làm cho môi trường kinh doanh lành mạnh và có sức cạnh tranh hơn. Và khi đó, người dân sẽ cảm thấy yên tâm và sáng suốt hơn khi ra quyết định đầu tư những đồng tiền tích lũy bằng mồ hôi nước mắt của mình để không phải lo âu rằng một ngày nào đó cơ quan pháp luật mới công khai thông báo việc phát hiện ra sự làm ăn gian dối ở đâu đó khi mà sự đã rồi.  Công khai, minh bạch là một trong những thước đo của nền quản trị quốc gia và của một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.     Tiến Lưu     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói chuyện “tham”, và “nhũng”      Ông Pháp Đàn qua chơi với Cụ Hinh, nhâm nhi tuần trà. Chợt lại có tiếng chuông. Ông Pháp Đàn xung phong ra mở cổng hộ, liền tóm được cô nhà báo Ti Tiêu đang mải miết bấm riết chuông. Rước cô Ti Tiêu vào nhà trò chuyện huyện loanh quanh một hồi, rồi đến vụ “đổi mới” của xứ sở.      Ti Tiêu bảo.  “Chuyện này, dễ hiểu. Thời đó, các bác quan chức nghèo gần như người thường. Cho nên cuộc đổi mới ấy, đổi mới lần một có được cái động lực đồng thuận rất tự nhiên của toàn xã hội lúc đó”.  Ông Pháp Đàn ướm hỏi      Họ không có tiền thật à?”     “Vâng, thực quả là như thế, nhà thị trưởng thành phố Hà Nội cũng nuôi lợn chui ạ, thậm chí còn nuôi lợn trước cả dân thường trong phố. Quan chức họ cũng sạch tiền.”     Cụ Hinh gật gù.     “‘Túng’, thì đến ‘tính’. Một liều, ba bảy cũng liều”.     Ti Tiêu phân trần.     “Điểm sáng, là quan chức hồi đó khá trong sạch, ít tham nhũng.”     Ông Pháp Đàn đề nghị cụng ly.     “Ti Tiêu dùng chữ ‘tham nhũng’ như thế nào?”     “Dạ, tức là lấy trộm tiền, hoặc làm tiền ạ.”     Ông Pháp Đàn lắc đầu.     “Chữ tham nhũng là nói tắt, gộp hai khái niệm lại. Thực chất thì phức tạp hơn như thế”.     “Là thế nào ạ” – Ti Tiêu ngạc nhiên.     “Tham nhũng là tham ô, ở một bên, và nhũng nhiễu, ở bên kia. Tham ô là ăn tiền, ăn cắp. Nhũng nhiễu là làm ruỗng mọt một cấu trúc để thủ lợi. Tham ô đã nguy hại. Nhưng cái nhũng nhiễu mới là cái thứ làm đổ nát, ruỗng nát trật tự, về lâu dài”     “Chết, bác Pháp Đàn cũng biết cả chữ Hoa à?”     “Cũng có chút ít. Quan trọng hơn, đây là vấn đề khái niệm”.     “Vâng… “     “Cái tham ô, hay ăn cắp, là cái dễ làm, dễ lộ, dễ thấy. Cái đó nhẹ hay nặng, ít hay phổ biến, tuỳ từng mức độ mà ở đâu cũng có.     Cái nhũng nhiễu khó thấy, nó mờ mịt, nó tinh vi, nhưng mới là cái gây di căn ung nát. Nó có cả căn rễ tập tục, văn hoá rất xa xôi”.     “Ý bác Pháp Đàn là như thế nào, trong chuyện liên quan đến cuộc đổi mới lần một?”     “Thời đó tham ô, ăn cắp có thể còn rất hạn chế. Nhưng nếu người trong cuộc không nhìn thấy ra cái nền tảng của sự nhũng nhiễu đã thắng thế ngấm ngầm, thì đó là sự thất bại không phải của mỗi người, mà của toàn thể nền văn hóa toàn xã hội”     Cụ Hinh mời thêm tuần rượu “bác Pháp Đàn cứ tự nhiên nhé, mở tỏ câu chuyện cho chúng tôi”     “Các rường cột của một thiết chế xã hội là những nguyên lí không thể bị mặc cả. Từ những nguyên tắc độc lập tương tác của lập pháp, hành pháp, toà án, thông tin, cho đến việc tổ chức, hoạt động của bộ máy công quyền, rồi thi tuyển công chức, giáo dục, đào tạo… vân vân và vân vân, những thứ đó không thể bị nhũng nhiễu, nếu không thì trước sau toàn bộ thiết chế rường cột ấy sẽ bị rối loạn, bị sụp gãy. Một khi các tiêu chuẩn nước đôi, nước ba, nước gì cũng xong, được đưa thành ‘quy chế’, sự nhũng nhiễu đã lên ngôi. Điều này ứng cho mọi tổ chức xã hội.     Điều đó giải thích tại sao có những nơi trên thế giới có những xã hội khá là trong sạch về mặt tiền nong, nhưng rồi vẫn suy sụp, hỗn loạn, rồi đổ vỡ. Là vì sự nhũng nhiễu đã xói mòn sâu nặng vào cơ thể công quyền. Sự nhũng nhiễu có muôn dạng, nhưng chung quy là toàn bộ trật tự xã hội bị can thiệp vô nguyên tắc bởi những nhóm có thế lực riêng, dù là trong những xã hội sạch sẽ nhất về tiền nong nhất đi chăng nữa. Sạch sẽ về tiền nong không có nghĩa là sạch sẽ về tổ chức, vận hành”.     Cô Ti Tiêu cảm khái nâng cốc với ông Pháp Đàn, quên béng cả Cụ Hinh ngồi bên cạnh.     “Ôi, thú vị quá. Em chỉ quen nhìn thấy mỗi mặt tiền nong của chữ tham nhũng. Đúng thế nhỉ, tham thì ai mà chả có tí ti hay nhiều.      Ừ nhỉ, cái nền nếp qui củ của đời sống cộng đồng có duy dưỡng bảo trì được, hay là không, thì là ở chỗ cộng đồng con người ta có ý thức được, và bảo dưỡng được hay không các hệ thống thiết chế của đời sống, để chặn được chúng khỏi bị ăn ruỗng, bị sụp tàn, bị vô dụng hoá, bị vờ vịt hoá vì tập thói thờ sự nhũng nhiễu…      A, giờ thì em mới cảm hiểu thật rõ thêm, cái thói tập tục ngàn xưa ăn ruỗng vào văn hoá, cái ‘một người làm quan cả họ được nhờ’ ấy. Ồ, nó mới thật khủng khiếp ra làm sao”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói chuyện với dân      Nói chuyện với dân là việc người cầm quyền xuất hiện trên một diễn đàn công cộng bày tỏ trực tiếp với người dân ý kiến chính thức của mình về vấn đề nào đó đang nổi cộm trong khuôn khổ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, và thu hút sự quan tâm đặc biệt của dân chúng.         Trong hình thức cổ xưa của loại giao tiếp này, người cầm quyền đứng giữa quảng trường phát biểu trước đám đông các công dân tự do. Xã hội hiện đại có các thiết bị, phương tiện trợ giúp cho phép thực hiện các cuộc nói chuyện chính thức với dân trên quy mô toàn lãnh thổ quốc gia. Phổ biến nhất là nói chuyện thông qua báo viết, đài phát thanh, đài truyền hình; người nói chuyện thường là nguyên thủ quốc gia hoặc một người chịu trách nhiệm cao nhất trong bộ máy điều hành hoặc, thậm chí, trong một lĩnh vực đặc thù nào đó của hệ thống hành pháp.  Vấn đề nêu ra có thể có tính chất, tầm quan trọng rất khác biệt, từ chuyện gia nhập một liên minh giữa các quốc gia, cho đến kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng đang tăng nhanh hoặc thả nổi đồng nội tệ. Các vấn đề có điểm chung là mang ý nghĩa thời sự,  gây bức xúc và nhất là đang được bàn cãi sôi nổi, thậm chí gay gắt trong dư luận xã hội. Vả lại, đó phải là vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết trọn vẹn của người nói chuyện với dân.    Thông qua cuộc nói chuyện, người cầm quyền bộc bạch về quá trình đấu tranh nội tâm, cân nhắc giữa các phương án giải quyết vấn đề, giải thích và biện minh cho sự lựa chọn của mình. Được giới thiệu qua kênh giao tiếp chính thức, quan điểm riêng của người cầm quyền trở thành quan điểm chính thức của Nhà nước; được trình bày rõ ràng và được lý giải một cách thấu tình, đạt lý, quan điểm ấy có thể được người nghe đồng thuận và lấy làm quan điểm của mình. Nếu được đa số người dân chấp nhận, quan điếm của người cầm quyền sẽ trở thành quan điểm chung của dân tộc, quốc gia.  Bởi vậy, người ta nói rằng bằng cách nói chuyện với dân, người cầm quyền định hướng suy nghĩ, ứng xử của toàn dân, từ đó tạo ra một lực lượng vật chất cho phép thực hiện thành công những dự án, kế hoạch to lớn, cần có sự hợp tác hành động nhất quán của nhà nước và nhân dân.    Ở Việt Nam, nói chuyện với dân đã từng được sử dụng. Một trong những ví dụ sinh động, điển hình, là lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đưa ra vào cuối năm 1946. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhân dân Việt Nam đã cầm súng chiến đấu và đã chiến thắng. Nhưng từ sau khi đất nước thống nhất, loại hình giao tiếp này chỉ mang tính nghi thức xã giao.   Đáng chú ý là hầu hết những điều người cầm quyền nói với nhau đều tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân; thế mà người dân chỉ có quyền theo dõi diễn tiến các cuộc sinh hoạt và lắng nghe các phát biểu ấy, với tư cách “chủ thể ngôi thứ ba” của quan hệ giao tiếp và theo cung cách của một người cam phận, trong nhờ đục chịu. Không ít chủ trương, chính sách, biện pháp của người cầm quyền, được quyết định trong các cuộc sinh hoạt ấy, đã không bao giờ đi vào cuộc sống, hoặc đã đi vào như những nhân tố lạ lẫm, gây xáo trộn, rối ren, chứ không có tác dụng thúc đẩy sự phát triển.        Thời gian gần đây, các cuộc đối thoại, nhất là đối thoại trực tuyến, cho thấy cung cách giao tiếp giữa người cầm quyền và người dân đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực dưới tác động của các tiến trình dân chủ hóa và hội nhập. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa thấy xuất hiện (đúng ra là chưa thấy xuất hiện trở lại) các hoạt động nói chuyện với dân theo đúng nghĩa, có mang các yếu tố đặc trưng về chủ thể, về nội dung của quan hệ, cũng như về thể thức giao tiếp.         Trong hoạt động nói chuyện với dân, các chủ thể giao tiếp bao gồm, một bên, là người cầm quyền và, bên kia, là toàn dân, tức là tập thể các công dân của một nước; người cầm quyền xưng hô với người cùng giao tiếp bằng các đại từ đặc biệt: đồng bào, quốc dân, công dân… Trong khi đó, các cuộc đối thoại hiện nay giữa những người lãnh đạo và người dân chỉ là những cuộc giao tiếp giữa người lãnh đạo và những người dân cụ thể, những cá thể trong cộng đồng dân tộc.     Về nội dung, việc giao tiếp chính thức giữa người cầm quyền và người dân phải xoay quanh các vấn đề do chính người cầm quyền chủ động đặt ra. Tất nhiên, đó cũng là vấn đề đang làm bận tâm toàn xã hội; nhưng việc người cầm quyền tự mình khơi dậy câu chuyện khiến người nghe hiểu rằng người cầm quyền cũng coi vấn đề đó là của mình. Điều này có tác dụng đặc biệt tích cực một khi vấn đề được đặt ra trong khung cảnh nhạy cảm do chiến tranh, thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế-xã hội: người nghe sẽ cảm thấy nhân dân và Nhà nước đều là người trong cuộc, đồng cảm, cùng đứng về một phía, để đương đầu với thách thức chung.      Trong các cuộc đối thoại diễn ra gần đây, người cầm quyền chỉ xác định các chủ đề chính, ví dụ, cải cách hành chính, chống tham nhũng, chính sách đất đai…; trong khuôn khổ các chủ đề đó, người dân, khi tham gia đối thoại, đặt ra những vấn đề cụ thể để người cầm quyền giải quyết. Người cầm quyền nói về những vấn đề của người dân trong mối quan hệ với nhà chức trách, chứ không phải về những vấn đề chung của chính người cầm quyền và của dân, liên quan đến vận mệnh của đất nước.   Về thể thức, trong các cuộc giao tiếp chính thức với toàn dân, người cầm quyền lên tiếng và người dân chỉ lắng nghe. Người cầm quyền giãi bày những trăn trở, suy tư của riêng mình xoay quanh vấn đề được đặt ra; giới thiệu, lý giải, bảo vệ phương án ứng xử được lựa chọn và kêu gọi người dân ủng hộ quyết định của mình. Về phần mình, người dân phản ứng bằng các hành động cụ thể, tuỳ trường hợp, thuận hoặc không thuận theo lời kêu gọi trong thông điệp của người cầm quyền    Trong các cuộc đối thoại hiện nay, người dân hỏi và người cầm quyền trả lời. Hoạt động đối thoại trực tuyến được hình dung giống như một cuộc tiếp dân quy mô lớn nhằm giải quyết những trăn trở, bức xúc của người dân trước chính sách của nhà nước và cung cách, thái độ lãnh đạo, phục vụ nhân dân của người cầm quyền. Trong chừng mực đó, việc đối thoại có thể được coi như một công tác hành chính mang ý nghĩa chính trị chứ không phải là một sinh hoạt chính trị đích thực.            Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi đau từ điều không ai tin!      Đến thời điểm này, tức là 10 ngày kể từ khi xảy ra sự cố sập cầu Cần Thơ làm 50 người chết, trên 80 người bị thương, là khoảng thời gian tạm đủ để nhìn nhận lại thảm họa mà không ai tin có thể xảy ra ở một công trình trọng điểm quốc gia được thi công bởi các nhà thầu có trình độ thi công hàng đầu thế giới.     Cách đây 2 năm, nhà máy nước Cầu Đỏ (Đà Nẵng) cũng đang thi công thì bị sập dàn giáo, 3 công nhân bị gãy xương. Trước đó, cuối năm 2001, tại trạm thu phí phía Nam đèo Hải Vân một dàn giáo cũng sập đột ngột làm chết 3 người. Gần đây nhất chúng ta gặp sự cố sập sàn bê tông tại khu Dung Quất cũng vì lý do đó. Những vụ việc như thế có thể kể ra không bao giờ hết. Sở dĩ nó ít gây chấn động dư luận có lẽ vì quy mô công trình cũng như mức độ thiệt hại chưa đủ “ép phê”.  Chúng ta đã được cảnh tỉnh chưa về tình trạng không bảo đảm an toàn lao động hoặc chất lượng kỹ thuật thi công? Chắc chắn là rồi, và đã rất nhiều rồi. Luật cũng đã quy định rõ rằng các giải pháp, biện pháp thi công phải được phê duyệt và trong quá trình giám sát phải được kiểm soát liên tục.Vậy mà sự cố vẫn cứ xảy ra, mà lại xảy ra ở một công trình trọng điểm quốc gia, một công trình kỹ thuật cao do những đơn vị phụ trách và giám sát thi công thuộc quốc gia có trình độ kỹ thuật tiên tiến hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Thụy Sĩ…, nghĩa là một nơi không thể dễ dàng phát sinh sai lầm nhất.                         Cấp cứu nạn nhân. Ảnh VNN          Nhịp số 13, 14 thuộc cầu dẫn nối với phần cầu chính của cầu Cần Thơ dài mỗi nhịp 40 mét, chiều cao 2,2 mét. Hai nhịp này có kết cấu dầm hộp liên tục và chia thành 12 đốt để thi công. Cứ thử hình dung một khối bê tông có chiều dài một nhịp như thế xấp xỉ 2.000 mét khối, cứ một mét khối nặng khoảng 2,5 tấn, thì sẽ thấy được hệ thống dàn giáo đồ sộ cỡ nào, gồm cả chục nghìn thanh sắt tròn, sắt chữ U, sắt chữ H liên kết lại. Và nếu tai họa xảy ra do công đoạn kiểm tra đã bỏ sót một trong số hàng nghìn thanh sắt đó thì là một sai lầm khả dĩ có thể chấp nhận được. Còn với những giả thuyết hệ thống dàn trượt đã được di chuyển trước khi các khối bê tông có đủ thời gian liên kết, hoặc dàn giáo bị lún do khâu khảo sát xử lý nền không tốt, chất lượng bê tông trải trên dầm cầu không đúng tiêu chuẩn…, nhất là việc đã bỏ qua lời cảnh báo của giám sát viên Hiroshi Kudo (Nhật) trong thư gửi cho người có trách nhiệm của dự án xây dựng cầu Cần Thơ trước thảm họa đúng ba tháng, thì đó lại là câu chuyện khác, thuộc phạm vi những sai lầm không bao giờ được phép xảy ra.            Đại diện nhà thầu xin lỗi nạn nhân    và nhân dân cả nước. Ảnh: VNN          Chắc chắn khi nhận gói thầu số 2, ba nhà thầu Taisei, Kajima và Nippon Steel không bao giờ nghĩ rằng định mệnh đã dành cho họ một kết cục nặng nề như thế. Những nhà thầu phụ “hai phẩy” như Thăng Long, Vĩnh Thịnh cũng không nghĩ như thế. Nếu nghĩ được về khả năng sẽ xảy ra những tai nạn thảm khốc đến như thế, chắc chắn họ sẽ không bao giờ dám tuyển những công nhân không lành nghề, hoặc không tiến hành những khóa huấn luyện ngắn về kỹ năng phòng tránh tai nạn.  Ông Nguyễn Tuấn Anh, chuyên gia đầu ngành xây dựng của VN, trả lời báo chí ngày 28.9 nói rằng cho đến thời điểm đó ông vẫn chưa tin đã xảy ra một sự cố như thế, ở một công trình như cầu Cần Thơ. Không ai tin hết, nhưng nó đã xảy ra. Bởi vì không ai tin cho nên khi sự cố xảy ra, hậu quả mới nặng nề như thế, đau đớn như thế.   Bàn đến chuyện này có thể tiếp tục gây đau đớn cho gia đình những công nhân đã thiệt mạng, những người phải mang thương tật suốt đời vì sự cố sập cầu Cần Thơ. Nhưng không thể tránh né, vì nó liên quan đến sự an toàn trong thi công những công trình sau này.           Một người nhà nạn nhân. Ảnh: VNN        Một câu hỏi được đặt ra: liệu chúng ta có thể vĩnh viễn tránh được những thảm họa kiểu như thế ở những công trình tương tự hoặc lớn hơn thế nữa, sau này? Chắc chắn là không. Không bao giờ có thể tránh được, bởi vì nó xuất phát từ sai lầm của con người. Con người vẫn sẽ mãi mãi phạm sai lầm, bởi vì đó là thuộc tính của con người. Nhưng có thể hạn chế tổn thất từ sai lầm và thậm chí có thể kiểm soát một phần nào đó thiệt hại do sai lầm gây ra, nếu chúng ta làm việc với một tinh thần cảnh giác cao độ, với một trách nhiệm cao độ, với sự tiên lượng bao giờ cũng ở khả năng xấu nhất.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói đi đôi với làm – một giá trị hằng hữu      Trong nền minh triết Việt nhiều nguồn, có minh triết “lục giáo”, có minh triết đạo thờ cúng tổ tiên…, có minh triết văn hóa các dân tộc anh em… Trong thời đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ Chí Minh với sức thấm sâu, lan tỏa rộng trong lòng dân là một nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt.      Minh triết bao giờ cũng gắn với những giá trị. Chúng tôi dành phần kết luận của bài này để nhấn mạnh một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi thời: “nói đi đối với làm”. Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác khó mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu, dễ trở thành “nói suông”, tức là số không. “Nói đi đôi với làm” là một giá trị hằng hữu của minh triết Hồ Chí Minh.  Từ năm 1927, trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, trong 23 điều phải có về tư cách của người cách mệnh thì điều thứ 10 là “Nói thì phải làm”. Điều thứ 10 này đã được nhấn mạnh bằng mệnh lệnh thức. Trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (1947) quan hệ phải có giữa “nói và làm” được khẳng định thông qua quan hệ phải có giữa “lý luận và thực hành”:  Lý luận phải đem ra thực hành…  Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành, cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên.  Lý luận cốt áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận áy cũng vô ích.  Giữa nói và làm, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào “làm”:  … miệng nói, tay làm… Phải thật thà nhúng tay vào việc.  Nói ít, làm nhiều.  Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.  Nói miệng, ai cũng làm được. Ta cần phải thực hành.  Trong Đảng ta, có một số người… chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế…  Bác đã nói thì làm. Và làm thực sự.  Ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, nạn đói vẫn đe dọa. “Với cương vị Chủ tịch nước, Bác kêu gọi: … “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi thực hành trước: cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo…”. Chuyện kể rằng có một lần Tiêu Văn – Trung tướng trong quân đội Tưởng Giới Thạch – mời chiêu đãi Bác đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn để cứu đói. Khi bác dự tiệc về, anh em báo cáo với Bác rằng phần gạo của Bác đã cho vào hũ gạo cứu đói rồi. Vậy mà Bác vẫn quyết định “nhịn bù” một bữa vào ngày hôm sau”.  Hồ Chí Minh đặt cao yêu cầu làm gương mẫu cho mọi người noi theo: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chúng ta đều biết chỉ qua hành động, qua “nhúng tay vào việc”, qua lăn lưng ra làm mới trở thành gương mẫu. Xưa nay chưa có ai chỉ bằng “lời nói” mà trở thành gương mẫu. Có một mối liên hệ sâu sắc giữa tư tưởng phát huy sức cảm hóa của những “tấm gương sống” và tư tưởng biểu dương “người tốt, việc tốt” của Hồ Chí Minh. Những “tấm gương sống”, những “người tốt” có sức thuyết phục hồn nhiên và sâu sắc vì họ là hiện thân của công việc, của lao động, của thực hành, của “miệng nói tay làm”, của “nói ít làm nhiều”, họ là sự hiện thân của minh triết Hồ Chí Minh. Mục “Chân dung Người đương thời” trên VTV1 có sức hấp dẫn mạnh mẽ vì qua đây, khán giả tiếp xúc với những con người sống động, mỗi người một vẻ, một cảnh ngộ nhưng tất cả đều bị cuốn hút bởi công việc mình làm, đều mải mê tìm tòi, sáng tạo, đều kiên trì chí hướng, “có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được”. Minh triết Hồ Chí Minh được sáng tỏ trong mục Truyền hình này hơn đâu hết: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Để học tập tư tưởng, đạo đức của Bác, trước hết cần tìm hiểu con người, cuộc đời và những câu nói của Bác.; Nhưng không thể quên minh triết Hồ Chí Minh đương biểu hiện ngời sáng ở ngàn vạn “tấm gương sống” và “người tốt, việc tốt” đương xuất hiện khắp nơi trên đất nước, không kể trước đây họ từng ở phía nào của chiến tuyến. Số đông trưởng thành và được tôi luyện trong thực tiễn của cuộc Cách mạng mà Hồ Chí Minh là người thiết kế và người đôn đốc gây dựng, họ phải giải quyết những nhiệm vụ mà lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chưa từng đặt ra, những hậu quả của nữhng tai họa mà lịch sử (hay số phận?) giáng xuống đầu họ, những nhiệm vụ mà họ phải chèo chống giữa phong ba bão táp của lịch sử trong khi Người thuyền trưởng lão luyện không còn nữa… Họ giống như những Sisyphus phải vần lên đỉnh núi những tảng đá nặng gấp ngàn lần sức lực của họ. Hòn đá to. Hòn đá nặng. Một người không vần nổi thì ba người…, ba trăm người…, ba vạn người…, ba triệu người… Cuối cùng, khác với nhân vật huyền thoại, họ đã hoàn thành nhiệm vụ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nội hàm “nhà nước kiến tạo phát triển” (Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển có thể là  sự lựa chọn phù hợp cho Việt Nam)      “Cải cách thể chế, cải cách thể chế và cải cách thể chế” đang là khẩu hiệu hành động được nhiều nhà lãnh đạo đưa ra. Quả thực, về mặt nhận thức, đây là một thành tựu rất đáng được ghi nhận. Không có được nhận thức như vậy, không thể có đủ quyết tâm chính trị để thúc đẩy những cải cách về cơ bản là khó khăn và cũng đầy rủi ro.  Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức về sự cần thiết phải cải cách thể chế, mà còn nằm ở sự hiểu biết về việc phải cải cách như thế nào và xử lý những rủi ro đi kèm ra làm sao.      Thủ tướng làm việc với các doanh nghiệp CNC đang đầu tư tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Ảnh: VGP.  Thể chế và văn hóa  Để trả lời câu hỏi cải cách thể chế như thế nào thì quan trọng nhất là lựa chọn mô hình thể chế. Các mô hình thể chế đưa lại thành công và thịnh vượng không thiếu ở trên thế giới. Vấn đề là phải lựa chọn cho được mô hình phù hợp với Việt Nam.  Các nước Mỹ, Úc, Canada, New Zealand đều đã từng là thuộc địa của nước Anh và đều đã rất thành công khi áp dụng mô hình thể chế của Anh cho đất nước mình. (Mỹ có mô hình tổ chức nhà nước hơi khác, nhưng về cơ bản, các mô hình thể chế khác đều chịu ảnh hưởng của Anh). Nhiều người cho rằng di sản lớn nhất của Anh là mô hình thể chế của nước này. Các nước cựu thuộc địa của Anh đã được tận hưởng mô hình thể chế của Anh nên đều rất phát triển. Tuy nhiên, nếu nhận xét nói trên đúng cho nước Mỹ, Úc, Canada, New Zealand, thì có vẻ lại không hoàn toàn đúng cho Ấn Độ, Pakistan và nhiều nước châu Á-Phi từng là thuộc địa của Anh khác.  Tại sao mô hình thể chế của nước Anh lại chỉ phát huy tác dụng ở một số nước, còn ở một số nước khác thì không? Câu trả lời nằm ở nền tảng văn hóa của các nước. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, các nước Mỹ, Úc, Canada, New Zealand có nền tảng văn hóa tương đồng với nước Anh. Người Anh đã không chỉ xuất khẩu thể chế, mà còn di dân và xuất khẩu văn hóa tới những nước trên. Trong lúc đó, nước Anh đã không thể xuất khẩu văn hóa của mình sang Ấn Độ, Pakistan và các nước cựu thuộc địa khác. Chính vì thế mô hình thể chế của nước Anh ít phát huy tác dụng ở các nước nói trên. Điều dễ nhận thấy ở đây là: một mô hình thể chế chỉ phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa tương đồng và ít phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa khác biệt.  Tương tự cũng là điều chúng ta có thể nói về mô hình thể chế của nhà nước phúc lợi. Các nhà nước phúc lợi Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy…) là mô hình thể chế có thể được coi là thịnh vượng và tốt đẹp nhất đang tồn tại trên thế giới hiện nay. Ở các nước này, người dân sinh ra đã được nhà nước chăm lo đầy đủ về mọi mặt. Cuộc sống của họ hết sức an toàn và hạnh phúc. Thế nhưng tại sao một mô hình thể chế tốt đẹp (có người còn coi là mô hình thể chế chủ nghĩa xã hội nhất) lại không thể nhân rộng ra được ngoài vùng Bắc Âu? Lý do là vì thiếu nền tảng văn hóa của Bắc Âu không thể vận hành được một mô hình như vậy. “Biết thế nào là đủ” là một nét văn hóa rất đặc biệt của những người dân Bắc Âu. Những người dân này sẵn sàng đóng thuế cho nhà nước đến 70-75% thu nhập của mình mà không hề tâm tư, suy bì. Bất cứ ở một nơi nào khác trên thế giới, mức thuế như trên sẽ triệt tiêu động lực làm việc, còn ở các nước Bắc Âu thì lại không. Ví dụ từ các nước Bắc Âu một lần nữa khẳng định nền tảng văn hóa là rất quan trọng để một mô hình thể chế có thể thành công.  Nền tảng văn hóa của Việt Nam phù hợp với mô hình thể chế nào?  Về mặt vị trí địa lý, Việt Nam thuộc về nhóm các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, về mặt văn hóa, chúng ta lại thuộc về các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên). Ăn cơm bằng đũa, viết chữ tượng hình (Việt Nam đã từng có chữ Nôm là chữa tượng hình) chỉ là một vài biểu hiện ra bên ngoài của văn hóa Đông Bắc Á. Cái nằm sâu bên trong ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách hành xử của cư dân ở vùng này là tinh thần và tư tưởng Nho giáo. Một trong những đặc điểm nổi bật của các nước này là truyền thống khoa bảng. Học hành, thi cử để làm quan là con đường phấn đấu được coi trọng nhất. Đây cũng là nền tảng văn hóa để nhà nước có thể tuyển dụng được những người tài giỏi nhất cho nền quản trị công.      Một mô hình thể chế chỉ phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa tương đồng và ít phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa khác biệt.      Mô hình thể chế được hầu hết các nước Đông Bắc Á lựa chọn là nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state). Mô hình thể chế này đã đưa lại sự phát triển kỳ diệu cho cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây là cả Trung Quốc. Sự thành công của các nước này cho thấy mô hình nhà nước kiến tạo phát triển rất phù hợp với nền tảng văn hóa của các nước Đông Bắc Á. Mà như vậy thì mô hình này có nhiều khả năng sẽ phù hợp với Việt Nam hơn cả.  Điều đáng nói ở đây là rất nhiều nước ở các vùng miền khác trên thế giới đã cố gắng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng đều đã không thành công. Trường hợp ngoại lệ , có lẽ, chỉ là Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất.  Nội hàm của khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển”  Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” được nhà nghiên cứu Chalmers Johnson đưa ra từ những năm tám mươi của thế kỷ trước khi ông nghiên cứu về sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Ông nhận thấy rằng trong sự phát triển thần kỳ ấy có vai trò rất quan trọng của nhà nước. Nhà nước Nhật Bản đã không chỉ tạo ra khuôn khổ cho sự phát triển, mà còn định hướng và thúc đẩy sự phát triển đó. Sau này, ngoài Nhật Bản ra, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… đều được xem là những nhà nước kiến tạo phát triển. Đặc trưng hết sức cơ bản của mô hình nhà nước kiến tạo là nhà nước trực tiếp đề ra một kế hoạch phát triển công nghiệp (với những tham vọng lớn) và đầu tư mạnh mẽ về cơ chế, chính sách và nhiều khuyến khích khác để thúc đẩy công nghiệp phát triển. Theo các nhà nghiên cứu, đây là mô hình nhà nước nằm ở giữa nhà nước điều chỉnh Anh-Mỹ (theo chủ thuyết thị trường tự do) và nhà nước kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống). Nhà nước kiến tạo phát triển không đứng ngoài thị trường, nhưng cũng không làm thay thị trường. Mà nhà nước kiến tạo phát triển chủ động can thiệp mạnh mẽ vào thị trường để thúc đẩy phát triển và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được đề ra. Để đạt được mức tăng trưởng GDP gấp đôi, một nhà nước điều chỉnh (như Mỹ) sẽ phải mất đến 50 năm, trong lúc đó một nhà nước kiến tạo phát triển (như Trung Quốc) chỉ mất 10 năm.  Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là tối ưu cho Việt Nam  Do là một nước có nền tảng văn hóa của Đông Bắc Á, mô hình nhà nước kiến tạo phát triển có thể là tối ưu cho Việt Nam.  Thật ra, kể từ Đại hội VI của Đảng, chúng ta đã thật sự từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung, mà đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Đảng và Nhà nước đã đề ra đường lối công nghiệp hóa đất nước, đã công nhận cơ chế thị trường, nhưng vẫn coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước. Như vậy tất cả các phần cấu thành quan trọng của một nhà nước kiến tạo phát triển đều đã được khẳng định trong đường lối phát triển của chúng ta. Có lẽ, chính vì thế, kinh tế nước ta đã có sự phát triển khá ngoạn mục trong thời gian vừa qua. Sau 30 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế, cũng như thu nhập bình quân đầu người ở nước ta đã tăng đến hàng chục lần. Rất nhiều nước cộng hòa Xô viết (thuộc Liên Xô trước đây) từ bỏ mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung đã không có được một sự phát triển ngoạn mục như vậy.  Tuy nhiên, vấn đề là đất nước ta vẫn chưa trở thành “hổ”, thành “rồng’ như các nước Đông Bắc Á.  Nguyên nhân có nhiều, nhưng cơ bản nhất là chúng ta đã không thúc đẩy phát triển công nghiệp thông qua các công ty, các tập đoàn tư nhân như ở Nhật Bản và Hàn Quốc, mà lại thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Một nguyên nhân cơ bản khác nữa là chúng ta cũng đã không có được một bộ máy hành chính, công vụ chuyên nghiệp và tài giỏi để hiện thực hóa chương trình công nghiệp hóa. Có lẽ đây là những khiếm khuyết mà chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực để khắc phục. Đồng thời phải kiên trì mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.  Công bằng mà nói, một khuôn khổ khái niệm sáng rõ và mạch lạc về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển chưa thật sự hình thành ở nước ta. Sự lựa chọn của chúng ta trong quá trình đổi mới nếu không phải do may mà đúng, thì cũng chủ yếu là đi theo sự đòi hỏi khách quan của tình hình hơn là trên một nền tảng lý thuyết vững chắc. Tuy nhiên, điều đáng băn khoăn là những cố gắng của chúng ta trong thời gian gần đây lại có vẻ đang đi chệch khỏi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển sang mô hình nhà nước điều chỉnh. Khi Chính phủ kiến tạo phát triển được hiểu là: “Chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển”; “Nhà nước không làm thay thị trường”; “Chính phủ phải kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi”… Đây quả thực là mô thức hành động của nhà nước điều chỉnh (trong đó có Chính phủ điều chỉnh) theo mô hình Anh, Mỹ. Cách làm này đã đưa lại sự phát triển và thịnh vượng cho hai quốc gia nói trên là điều không thể chối cãi. Và trong điều kiện các doanh nghiệp của nước ta làm ăn khó khăn như hiện nay, có lẽ đây cũng là cách làm rất cần thiết. Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất ở đây là các điều kiện kinh doanh thuận lợi có thể được tạo ra, nhưng tận dụng chúng lại là các doanh nghiệp nước ngoài chứ không phải là doanh nghiệp Việt. Thành công của mô hình nhà nước điều chỉnh vì vậy còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các doanh nghiệp trong nước. Sự lựa chọn đúng đắn hơn cho đất nước ta vì vậy có vẻ vẫn là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (theo mô hình các quốc gia Đông Bắc Á) chứ không hẳn là mô hình nhà nước điều chỉnh (theo kiểu Anh-Mỹ).  Những rủi ro phải vượt qua của lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển  Lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là tối ưu cho đất nước ta, tuy nhiên rủi ro của lựa chọn này là hoàn toàn không nhỏ.  Trước hết, là rủi ro về năng lực. Chúng ta có khả năng hoạch định chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn hay không? Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thì chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam phải là gì? Đây quả thực là những câu hỏi không dễ trả lời. Thiếu một đội ngũ lãnh đạo tinh hoa khó lòng hoạch định chính sách phát triển đúng đắn được. Để có được một đội ngũ lãnh đạo như vậy, việc thu hút người tài vào trong Đảng là rất quan trọng. Đây phải được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của Đảng ta trong thời gian sắp tới. Ngoài ra, tận dụng tri thức của giới Việt kiều tinh hoa để hoạch định chính sách phát triển công nghiệp cũng rất quan trọng.  Rủi ro thứ 2, do đã hội nhập sâu rộng với thế giới và tham gia rất nhiều các hiệp định về tự do thương mại song phương và đa phương, nên không gian chính sách còn lại của Nhà nước ta cho việc hoạch định và triển khai chương trình công nghiệp hóa một cách độc lập và tự chủ là rất nhỏ hẹp. Bị ràng buộc bởi vô vàn những cam kết quốc tế, Nhà nước rất khó can thiệp vào thị trường để thúc đẩy phát triển những ngành công nghiệp mà chúng ta lựa chọn. Để vượt qua rủi ro này, quan trọng là phải nâng cao năng lực thiết kế các hàng rào kỹ thuật, các hàng rào về thủ tục. Điều này có vẻ như đang đi ngược với những cố gắng cắt giảm thủ tục hành chính của Chính phủ hiện nay. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam, thì hàng rào kỹ thuật là rất cần thiết để ngành công nghiệp non trẻ này của đất nước không bị cạnh tranh quốc tế bóp chết từ trong trứng nước. Tận dụng các khoảng trống chính sách cũng rất quan trọng ở đây. Không hiệp định tự do thương mại nào có thể ngăn cản chúng ta đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng cả. Tại sao chúng ta không đầu tư vào đây, khi cần thiết thì vẫn có thể chuyển giao các thành tựu nghiên cứu cho các lĩnh vực dân sự?  Rủi ro thứ 3, bộ máy hành chính và đội ngũ công chức của chúng ta khá yếu kém. Bộ máy này đang bị chính trị hóa rất nặng nề. Nhiều quan chức hành chính chỉ giỏi nói chính trị, nói nghị quyết, nhưng lại không tài giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, không giỏi điều hành. Không có đội ngũ công chức hành chính tinh hoa, không thể vận hành hiệu quả mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Chủ trương cắt giảm bộ máy hiện nay là cơ hội để chúng ta loại bỏ bớt những công chức năng lực hạn chế ra khỏi bộ máy hành chính. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là phải lựa chọn cho được những người tài giỏi nhất vào bộ máy hành chính. Truyền thống khoa bảng là điều kiện rất thuận lợi để chúng ta tuyển chọn người tài ở đây. Ngoài ra, tâm lý thích học để làm quan cũng là động lực quan trọng để thu hút người tài vào bộ máy nhà nước. Vấn đề là phải học thật và thi thật. Phải kiên quyết áp đặt một chế độ khoa bảng và thi tuyển nghiêm khắc nhất vào bộ máy hành chính nhà nước.  Rủi ro thứ 4, quỹ thời gian để xây dựng thành công mô hình nhà nước kiến tạo phát triển còn lại không nhiều. Với áp lực của hội nhập và dân chủ hóa, mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trong đó mục tiêu phát triển kinh tế được tạm thời chú trọng nhiều chưa chắc đã có được sự chấp nhận của tất cả mọi thành phần xã hội. Để vượt qua thách thức này, truyền thông đóng một vai trò hết sức quan trọng. Không có một nền tảng kinh tế-xã hội phù hợp (với đa số dân chúng là tầng lớp trung lưu) và một nền tảng văn hóa chính trị trưởng thành, những cải cách dân chủ manh động không khéo lại chỉ dẫn đến đổ vỡ và bất ổn xã hội mà thôi.  Những nét đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển được tác giả Chalmers Johnson đưa ra là:   1. Một bộ máy hành chính gọn nhẹ, nhưng tinh hoa và hiệu quả.  2. Bộ máy hành chính được trao quyền đầy đủ để đưa ra những sáng kiến và vận hành hiệu quả.  3. Nhà nước thông qua các thiết chế tài chính và các hướng dẫn hành chính để can thiệp vào thị trường.  4. Có Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp như một thiết chế mạnh điều phối chính sách phát triển công nghiệp. Cũng nghiên cứu về nhà nước kiến tạo phát triển, tác giả Adrian Leftwith lại đưa ra những đặc điểm sau đây: Một tầng lớp công chức hành chính tinh hoa hộ trợ cho nhà nước. Các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp công chức ưu tú này.  5. Nhà nước có tính độc lập, tự chủ cao trước các nhóm lợi ích và luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết.  6. Nhà nước điều phối kinh tế thông qua một số thiết chế chuyên biệt (ví dụ như Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp) có thực quyền.  7. Xã hội dân sự yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát xã hội dân sự rất chặt chẽ, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.  8. Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.  9. Các quyền dân sự bị hạn chế, đặc biệt là trong thời kỳ đầu. Nhà nước mang tính chuyên chế cao, nhưng lại có được sự chính danh và sự ủng hộ của dân chúng cao nhờ tạo được sự tăng trưởng kinh tế cao và sự phân phối thu nhập tương đối công bằng. Nhiều người cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước kế hoạch hóa tập trung.    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Nói không với bệnh thành tích của chính mình      Cỗ xe giáo dục thay người cầm lái đúng vào lúc những tiêu cực trong nhà trường lên đến đỉnh điểm. Phải chăng đây là một thời cơ, hay tình hình mới để chấn hưng giáo dục? (Tia Sáng số 15, 2006). Thời cơ thì có thể. Còn chấn hưng lại là câu chuyện khác.        Những tiêu cực gần đây trong giáo dục chẳng phải mới lạ và cá biệt. Chúng chỉ là phần nhô lên khỏi mặt nước của tảng băng chìm. Hôm nay, một thí sinh chép nguyên xi bài văn mẫu được điểm mười, hôm trước thầy giáo gạ nữ sinh đổi tình lấy điểm, vài hôm nữa là chuyện phân ban, sách giáo khoa. Là hệ thống con trong hệ thống lớn, giáo dục không nằm ngoài những quy luật chi phối chiều hướng suy thoái dường như đang gia tăng về đạo đức, văn hóa cho đến khoa học, nghệ thuật. Bởi vậy “nói không với tiêu cực và bệnh thành tích” là bước đột phá rất đáng hoan nghênh của ngành giáo dục, nhưng thành công hay không còn do sự đồng lòng chuyển mình của cả guồng máy xã hội. Có lý do để hy vọng. Vì nếu không chuyển mình, đất nước sẽ luẩn quẩn trong tình trạng kém phát triển.     Điều được công luận mong đợi – mà lại nằm trong tay vị tân Bộ trưởng – chính là những bất cập về tác nghiệp trong ngành giáo dục. Nội dung giảng dạy ở bậc phổ thông quá ôm đồm, càng cải cách càng nhồi nhét mà vẫn không theo kịp cuộc sống. Không thể đòi hỏi học sinh bỏ lối học vẹt để tư duy sáng tạo khi sách hướng dẫn giáo viên lại được yêu cầu phải viết tỷ mỷ từng chi tiết. Đại học và trên đại học đang mở rộng, trong khi chất lượng tụt hậu quá xa do thiếu đội ngũ nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp. Trách nhiệm ở bộ máy hành chính nắm giữ 20% ngân sách nhà nước và hàng trăm triệu đô la vay nước ngoài, nhưng chỉ riêng việc thay đổi liên hồi sách giáo khoa phổ thông đã gây ra quá nhiều lãng phí cho công quỹ và các gia đình. Còn có cả vai trò của những giáo lý về giáo dục học và giáo học pháp, phần hồn của mọi cải cách bất thành bấy lâu nay.   Khốn nỗi, những bất cập về tác nghiệp nói trên luôn là dề tài tranh cãi bất phân thắng bại ngay trong giới chuyên môn, bởi nó không ngộ nghĩnh như Xuân Diệu là “bà”, Xuân Quỳnh là “ông” trong bài thi văn mới đây (Tuổi trẻ, 26/07/2006). Chính vì thế, tiếng nói khẩn thiết “chấn hưng giáo dục là mệnh lệnh từ cuộc sống” không át được những con số thành tích do Bộ Giáo dục và Đào tạo trưng ra trong những phiên điều trần trước Quốc Hội. Thành ra cứ phải đối phó với công luận, luôn vá víu một tấm áo đã sờn, việc giảng dạy, thi cử cứ đổi  liên tục mà chưa bao giờ mới.      Thiết nghĩ, trước hết những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục hãy nói không với bệnh thành tích của chính mình để chịu khó lắng nghe và dũng cảm nhìn thẳng vào những bất cập trong tác nghiệp, xác định mẫu số chung của chúng, từ đó tìm ra những điểm nhấn, đánh dấu một thời cơ chấn hưng giáo dục đích thực mà cả nước đang mong đợi.   Thời cơ không có nghĩa là xóa bàn cờ đánh lại. Điểm nhấn không phải là thần dược chữa khỏi bệnh qua đêm, hoặc mỳ ăn liền. Chính lúc này lại rất cần tầm nhìn để còn nhận rõ giáo dục sẽ đưa đất nước này về đâu trong cuộc hội nhập với thế giới hôm nay và ngày mai. Lại rất cần những “nhạc trưởng” thật sự am hiểu giáo dục và khoa học có khả năng hướng các véc-tơ chụm vào nhau, làm cho nội dung và phương pháp đào tạo sớm thoát khỏi vòng luẩn quẩn bấy lâu nay và nâng lên trình độ tiên tiến ở mọi cấp học. Có tầm nhìn, “nhạc trưởng” và quyết tâm, ắt sẽ tìm ra điểm nhấn và lộ trình chấn hưng giáo dục.      Có lẽ phải “hy sinh” một thế hệ nữa để đưa cỗ xe giáo dục về đúng quỹ đạo. Bởi chỉ riêng tân trang đội ngũ thầy giáo cũng phải mất ít nhất vài thập kỷ. Mà việc này lại phải khởi động bằng đột phá trong chất lượng đại học và trên đại học.     Chú thích ảnh: Ảnh Phạm Bá Thịnh    Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi lòng Mỵ Châu      Mọi câu chuyện truyền miệng bao giờ cũng có những nét thật thú vị. Chúng chứa nhiều tình cảm, nhưng chúng lại ngây ngô. Chúng chứa đầy phi lý, nhưng chúng lại được rất nhiều người thuộc lòng, cả tin. Chúng chính là những chìa khóa để mở ra cái thế giới tâm thức sâu kín của quảng đại dân sinh.    “Những điều được lặp đi lặp lại trong đời sống thường tẻ nhạt, hơn thế nữa, có khi thành khó chịu, hoặc thành hết chịu được… trừ vẻ đẹp, nhất là vẻ đẹp của thiên nhiên, mà vẻ đẹp thục nữ cũng nằm trong đó…”, các ý nghĩ cứ tha hồ lan man trong khi Cụ Hinh ngồi taxi ngắm phố phường thức dậy. Hôm nay Cụ Hinh tự thưởng cho mình một cuốc taxi thả hồn, tuy đã định bụng “lúc về mình sẽ đi bộ, để bù trừ lại cái tiền xe đã tiêu, sự lười vận động, và để giữ gìn sinh thái”.  Đây rồi, bên hồ sen, Mỵ Châu đã tủm tỉm đây rồi. Rõ ràng là như vậy nhé, ai mà chán được vẻ đẹp của thiên nhiên, của thục nữ?  —-  Sau một hồi “điểm báo giao ban”, Mỵ Châu gọi hai ly rượu ngọt nhẹ, rồi mời Cụ Hinh nâng cốc.  – “Ái chà, chuyện gì đây thế này?”  – “Hôm nay là sinh nhật của Mỵ Châu, Cụ Hinh chả nhớ cái gì cả!”  – “Ôi hay quá, ta chúc Mỵ Châu trẻ như năm ngoái!”  – “Vâng, em cảm ơn, em chúc Cụ Hinh trẻ hơn sang năm!”  Ngọn gió lay giục đóa sen dưới hồ đung đưa tán thưởng, hạt nước trên cánh sen suýt rớt xuống mặt hồ.  Rồi Mỵ Châu hắng giọng.  – “À có thêm chuyện này nhé. Trước đây thì em ít để ý, tự nhiên nhân dịp ngày sinh lần này thì em lại để ý đến hơn”.  – “Nghe điệp viên 007 quá!”.  – “Trật tự! Thế này. Cũng là tình cờ, mà em có cái tên Mỵ Châu.  Mà sử thoại xứ mình thì lại cũng có nàng Mỵ Châu.  Nhưng nàng Mỵ Châu của ngày xưa thì được hầu như tất cả mọi người xem như là người nối giáo làm nên sự sụp đổ của cả vương quốc Âu Lạc. Đôi khi em cũng cứ bị cái cảm giác như thể mình bị liên quan đến cái chuyện xưa đó. Có vẻ buồn cười không đâu nhỉ! Thế Cụ Hinh nghĩ thế nào về chuyện ấy?”.  Nghiễm nhiên coi như mình ắt phải được Cụ Hinh hầu chuyện, Mỵ Châu ngả người trên ghế mây lim dim hóng hức.  —-  Mọi câu chuyện truyền miệng bao giờ cũng có những nét thật thú vị. Chúng chứa nhiều tình cảm, nhưng chúng lại ngây ngô. Chúng chứa đầy phi lý, nhưng chúng lại được rất nhiều người thuộc lòng, cả tin. Chúng chính là những chìa khóa để mở ra cái thế giới tâm thức sâu kín của quảng đại dân sinh.  Chuyện rằng An Dương Vương luôn luôn có sự liên lạc và sự phù hộ đắc lực của Thần Rùa Vàng. Có lẽ xứ Âu Lạc xưa kia ắt phải có rất nhiều rùa.   Cả thành Cổ Loa huyền thoại chỉ có đúng một chiếc nỏ thần, được làm ra theo cách Rùa Vàng dạy cho, và cái nỏ này có cái lẫy là móng của Rùa Vàng. Cái nỏ thần luôn luôn được treo cạnh chỗ nằm của An Dương Vương. Như thế nghĩa là “công nghệ” chế nỏ này được dừng ở sản phẩm độc chiếc, không có khả năng nhân lên. An Dương Vương chỉ cậy có vậy, mà đã hoàn toàn tự tin. Ông không biết lo gì đến việc khác, tỉ như chiếc nỏ này có thể bị hỏng hóc, hay có thể bị mất mát, và tất nhiên là không lo làm nên chiếc nỏ thứ hai cũng được như thế, hoặc được gần gần như thế… Nếu chiếc lẫy là móng thần, An Dương Vương cũng không lo cất riêng chiếc móng thần đi ở một chỗ nào khác.  Sau khi Nam Việt giao tranh mãi mà không thắng được Âu Lạc vì cái nỏ thần, chàng Trọng Thủy, con vua Nam Việt Triệu Đà, liền sang cầu thân. Rồi chàng được An Dương Vương gả cho cô con gái rượu là nàng Mỵ Châu. Nhưng chàng Trọng Thủy lại phải ở rể, đây là điều thật kì lạ, vì chế độ mẫu quyền đã kết thúc ở cả hai cái xứ này, với việc hai ông Triệu Đà và An Dương Vương đều làm vua. Và Triệu Đà là vua nước Nam Việt lớn mạnh hơn rất nhiều so với Âu Lạc, lại chịu cho con ở rể.  Chúng ta sang giả thiết khác, Trọng Thủy xin ở rể. Và cũng thật ngạc nhiên là chàng được An Dương Vương chấp nhận cho ở rể không phân vân.  Có chàng rể ngoại Trọng Thủy của nước Nam Việt hùng mạnh vừa đánh chiếm Âu Việt mới đây, nay sống ở ngay trong thành nhà, An Dương Vương không hề lo thay đổi gì về an ninh, về bảo mật, vẫn treo cái nỏ thần ở đầu giường, và cô con gái có thể vào lấy nó ra chơi lúc nào cũng được, chuyện càng nghe càng vui.   Rồi Trọng Thủy xin phép về thăm bố. Thế mà Mỵ Châu không phải đi cùng về thăm bố vợ, vua nước lớn. Lại tiếp tục ly kì hơn.  Đến lúc trở lại Âu Lạc, An Dương Vương cũng chẳng cần hỏi chuyện “Nam Việt hôm nay có gì mới”. An Dương Vương cũng không có hoạt động gì về thám báo bên xứ Nam Việt. Ông chỉ lo việc mở tiệc để uống rượu cùng con gái và con rể, hơn thế nữa lại còn tranh thủ uống say hơn cả con rể, để rồi con rể lẻn vào hý hoáy nỏ thần. Chuyện này nghe càng nôm na.  Và đến hôm sau, thì Trọng Thủy bảo có tin gấp phải về nước ngay, và không cần hỏi An Dương Vương, mà chỉ chia tay với Mỵ Châu. Ai là sứ giả đến thành Cổ Loa để báo cái tin “phải về ngay” cho Trọng Thủy? An Dương Vương phải biết chứ, thời đó làm gì đã có điện thoại vệ tinh cầm tay hay email!  Trọng Thủy tâm tình rõ với Mỵ Châu rằng chuyến này một đi không biết rồi có cơ gặp lại nhau nữa không đây. Mỵ Châu khóc lóc, nhưng lại cũng không đòi đi về theo Trọng Thủy! Cưới xin kiểu rất lạ, lạ hơn cả cưới xin hậu hiện đại hôm nay. Nàng đành dặn Trọng Thủy rằng mình sẽ thả lông ngỗng rứt từ áo mình ra mà làm dấu, để Trọng Thủy tìm ra mình, nếu như chẳng may phải chạy loạn lạc do chiến tranh. Nàng cũng không cần thưa lại chuyện này với vua cha? Không có phép tắc của An Dương Vương, Trọng Thủy vẫn ra khỏi thành được như không, chế độ an ninh của thành này thế nào? Mà cho dù Trọng Thủy có trốn về được mà không xin phép An Dương Vương, An Dương Vương còn có biết bao nhiêu thời gian sau đó để nghi ngờ, để đặt lại các câu hỏi, để kiểm tra lại an ninh, để kiểm tra lại khí tài, để luyện tập đề phòng tình huống xấu… Không, tịnh không. Ta tự hỏi ông An Dương Vương làm cái việc gì ở thành Cổ Loa?  Thế rồi quân Nam Việt ít lâu sau kéo đến, “nỏ thần” lúc ấy mới được mang ra, không hiệu nghiệm nữa vì lẫy móng thần đã bị thay. Vậy là từ bao lâu nay không bao giờ có tập luyện gì với nỏ thần cả!  Thành vỡ, An Dương Vương đưa Mỵ Châu lên ngựa chạy trốn. Mỵ Châu rải lông ngỗng suốt đường để làm dấu. Cùng đường, An Dương Vương cầu khấn, Thần Rùa Vàng lại hiện lên, mách An Dương Vương rằng Mỵ Châu là giặc. Rùa vàng tỏ ra thông hiểu mọi chuyện, sao không mách báo sự hý hoáy của Trọng Thủy từ xưa cho An Dương Vương? Thần Rùa Vàng vô cảm, hay kiêu căng?   An Dương Vương liền đó chém chết Mỵ Châu. Ông vừa nhẫn tâm, vừa không chịu nhận tội ở chính mình, người cai quản đất nước. Ông cố tìm mọi cách đổ tội cho người khác. Lúc này còn có hai người, Mỵ Châu chỉ là sự đại diện cho cái “không phải ta” của An Dương Vương, dù đó chính là người con gái yêu của mình.  An Dương Vương trèo lên lưng Thần Rùa Vàng và trốn thoát, tuy nhiên thoát về đâu thì không ai biết. Nhà vua chỉ biết lo cho thân mình? Còn Thần Rùa Vàng thì chỉ biết lo cứu rỗi nhà vua?  Trọng Thủy tìm được xác vợ, đem về thành Cổ Loa chôn cất tử tế, rồi đâm đầu xuống giếng tự tử để tỏ lòng thủy chung yêu vợ… Chàng Trọng Thủy mưu cao, mẹo sâu, trường kì hành sự, mà yếu đuối đến như vậy ư? Nếu đã chết vì yêu, sao chàng lại phải bỏ Mỵ Châu để quay về Nam Việt, rồi lại tiến sang gây chiến với Âu Lạc, để rồi nắm phần chắc sẽ đẩy nàng đến chỗ chết, để rồi lại đẩy mình cũng đến chỗ chết (vì yêu)?  Đem nước giếng Trọng Thủy rửa ngọc của loại trai ăn phải máu Mỵ Châu, thì ngọc sẽ trong sáng vô cùng. Câu chuyện thành ra thế nào? Tuổi trẻ ngu ngơ, phải chết vì tình yêu trong sáng?  —-  Mỵ Châu nhổm người, hất mái tóc, nheo mắt.  – “Vậy thì câu chuyện này định nói cái gì, để đi đến đâu ạ?”  – “Câu chuyện này là một thứ kể lể, vá chữa tội cho An Dương Vương, cầu xin may cho ông ta, và đổ hết mọi tội lỗi của một quốc gia lên vai một người con gái mới lớn, kết án duy nhất nàng, và ra tay giết hại nàng. Sau khi đã làm nhục nàng, giết hại nàng, thì trả lại cho nàng chút lòng cảm thông riêng tư với tình yêu của nàng, như chút khói hương được nhen lên.”  – “Ôi, câu chuyện thật buồn, và cũng đáng sợ.”   – “Ồ, đấy là chuyện về nàng Mỵ Châu ngày xưa, đâu phải nàng Mỵ Châu hôm nay.   Mà đó cũng là câu chuyện kể miệng vậy thôi, để diễn tả tâm thức của những người kể câu chuyện đó, và của những người nghe tâm đắc với nó.  Vui vẻ lên Mỵ Châu của hôm nay, ta cạn chén rượu nhỏ ngọt ngào này nhé!”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi niềm Biển Đông      Chính bằng việc đi về Nam, trên con đường đi ngày càng xa về Nam mà trong tâm tình Việt đã có được nỗi niềm biển, nỗi niềm Biển Đông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, với nỗi niềm biển ngày càng thấm sâu trong máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các hải đảo và thềm lục địa của chúng ta.                          Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai”. Thật ngắn gọn, thật súc tích, vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai– những suy nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng bỏng, cấp thiết hơn.  Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật hẹp phía Bắc và Tây Bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, “thảm đảm kinh dinh để giành quyền sống với vạn vật” – mấy chữ mới thống thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm  này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác, khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa, một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho từng con người, từng đôi lứa, từng gia đình, rồi từng cộng đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện,… cho đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại còn phải cộng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt, không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế lực hung hãn, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả…  Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.  Chặng thứ hai, như cụ Đào Duy Anh đã đúc kết cũng thật ngắn gọn và chính xác, “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”.  Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy nhất: Về Nam.  Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà Tiên thì không thể nào Bắc cự. Ở bước đường chiến lược này của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh, Lê, Lý, Trần và cả cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1.000 năm Bắc thuộc bằng trận đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về phương Nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, Nam sông Thu Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương Bắc như thế nào.  Khía cạnh thứ hai vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa là một “bước tiến thủ” mới “mở rộng hy vọng cho tương lai”, như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về Nam là phát triển. Là mở.  Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm đảm kinh dinh để giành giật sự sống với vạn vật còn quá vật vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống đất, giành thêm được một một mẩu đất là thêm được một mẩu sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đãng để không chỉ nhìn xa mãi về Nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian sinh tồn và phát triển mới mênh mông của mình.  Đi về Nam, chúng ta có một may mắn lịch sử rất lớn: tiếp nhận không gian Champa, chúng ta đã tiếp nhận được rất nhiều của truyền thống và văn hóa Chàm, và cả trước đó nữa, truyền thống và văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí cũng có thể nói, tiếp nhận Champa – sau này cả vùng sông nước Cửu Long rộng giàu – người Việt, Quốc gia Việt, đã tự nhân đôi được mình lên, không chỉ về lãnh thổ, mà cả về tính cách, về bản lĩnh, về sức sống và sức phát triển.  Champa là một quốc gia biển. Thế giới của chúng ta đã được tạo hóa “thu xếp” một cách tuyệt vời: Biển ngăn cách, nhưng biển cũng là nối liền và chủ yếu là nối liền. Từ rất xa xưa, qua biển lớn, những đoàn thuyền buôn Champa đã từng giong buồm đến những vùng rất xa xôi, không chỉ ở Đông Nam Á, Nam Á, mà cả Trung Đông, Địa Trung Hải, tới cả thế giới Ả Rập; và cũng đã tiếp nhận thuyền bè đến từ khắp thế giới rộng mở ấy. Hẳn Champa đã tiếp nối và phát triển một truyền thống xa hơn của cư dân văn hóa Sa Huỳnh. Và người Việt đi vào Nam đã nối tiếp truyền thống này. Nếu ở miền Bắc, người đi ra biển trước đây chỉ biết biết dùng những chiếc mảng thô sơ ghép bằng nhiều cây tre, thì đi vào Nam người Việt đã rất nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật đóng và sử dụng ghe bầu lớn của người Chàm để đi biển xa (thậm chí, như chúng ta biết, trong trận đánh Thăng Long năm 1789, Nguyễn Huệ đã sử dụng tượng binh gồm voi Bình Định và Gia Lai được chở ra bằng ghe bầu lớn). Nếu ở phía Bắc, ẩm thực nước chấm chủ yếu dùng tương, thì đi vào Nam người Việt đã học được văn hóa nước mắm của người Chàm, là cách chế biến cá hay nhất, hiệu quả nhất …  Chính trên cơ sở tư duy mới rộng mở ấy, đặc biệt trong thời các chúa Nguyễn, tầm nhìn ra biển đã đưa đến một chuyển biến vô cùng quan trọng, thậm chí có thể coi là một bước ngoặt có tính quyết định  trong lịch sử Việt Nam: biết nhìn ra biển lớn, tức cũng là biết nhìn ra toàn thế giới – điều mà ngày nay ta gọi là một “tư duy về toàn cầu hóa” – Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tức miền Nam đất nước, đã tạo ra được một thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển từ kinh tế thuần nông truyền thống sang cơ cầu kinh tế lấy thương nghiệp làm chính, trong đó ngoại thương giữ vai trò trọng yếu. Nhà nghiên cứu lịch sử Cao Tự Thanh đã có nhận định chính xác và sắc sảo: chính cơ cấu kinh tế mới này đã tạo nên điều mà ông gọi là một “động lực lịch sử” kỳ lạ và kỳ diệu, khiến nếu từ Đèo Ngang đến đèo Ải Vân cha ông ta đã phải đi mất 600 năm, thì từ đèo Ải Vân đến Hà Tiên ta chỉ phải mất có 200 năm, mà lại chỉ đi bằng lưỡi phạng chứ không phải lưỡi kiếm …  Vậy quả thật nỗi niềm biển là nỗi niềm lớn của dân tộc, của mỗi người Việt, nó liên quan mật thiết đến số phận dân tộc, sự tồn vong và phát triển của dân tộc.  Cũng không thể không nói rằng, khi thời các chúa Nguyễn suy tàn, đến thời các vua Nguyễn, thì chính sự phai nhạt tư duy mạnh mẽ về biển, chính sách đóng cửa, là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến mất nước.  ***        Không có tư duy biển, không có tư duy rõ ràng, mạnh mẽ về Biển Đông trực tiếp của ta, là nguy cơ dân tộc.        Như chúng ta biết, năm 1949 Ấn Độ thoát khỏi ách thuộc địa của đế quốc Anh. Có độc lập rồi, chọn con đường phát triển nào đây?  Mâhâtma Gandhi, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Ấn, cũng là bậc hiền triết lớn của nhân loại, lúc bấy giờ có đặt ra một câu hỏi, hóa ra sẽ là câu hỏi lớn và lâu dài của thế giới và của từng dân tộc. Ông nói: Nước Anh chỉ là một đảo quốc nhỏ, dân số ít, vì sao đã trở thành một đế quốc giàu có, lớn mạnh đến vậy? Ấy là vì nước Anh đã tiêu xài hết một nửa tài nguyên của Trái đất. Vậy bây giờ nếu Ấn Độ với quy mô và dân số khổng lồ như thế này, cũng chọn con đường phát triển như nước Anh, thì liệu phải có bao nhiêu Trái đất mới đủ? …  Đúng 60 năm qua từ câu hỏi hiền minh mà cháy bỏng của thánh Gandhi, ngày nay các khoa học đã có thể tính toán và trả lời chính xác: Ấn Độ sẽ cần có 5 Trái đất chỉ để riêng cho mình nếu đi theo con đường phát triển mà nước Anh đã đi.  Chúng ta chỉ có một Trái đất. Tiêu xài tài nguyên của tạo hóa ban cho trên trái đất duy nhất này như thế nào đây là vấn đề sống còn của nhân loại.  Chắc chắn mỗi chúng ta đều biết có một đất nước còn khổng lồ hơn cả Ấn Độ đang lao vào cuộc chạy đua ghê gớm để tiến lên đoạt vị trí hàng đầu thế giới. Và đang đi theo con đường của Anh, ráo riết làm chủ tài nguyên khắp thế giới cho tham vọng của mình, thậm chí, như chúng ta có thể thấy, đang và sẽ tiêu xài tặng vật của tạo hóa một cách dữ dội, hoang dã hơn nhiều so với các đế quốc trước. Tôi nghĩ cần nói rõ rằng quả thật có một hiểm họa toàn cầu đang hình thành.  Nói về nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông, tất không thể không suy nghĩ về điều đó. Biển là tài nguyên, biển cũng là giao thông huyết mạch để vận chuyển tài nguyên. Biển Đông, trong đó có phần chủ quyền thiêng liêng của chúng ta, được truyền lại từ bao nghìn năm “thảm đạm kinh dinh” và “gian nan tiến thủ” của cha ông, đang đứng trước thách thức về cả mặt tài nguyên lẫn đường giao thương tài nguyên ấy. Nỗi niềm Biển Đông của chúng ta, mỗi chúng ta, trước hết là nhận thức cho rõ ràng, thống thiết, quyết liệt về thách thức đó.  Và từ đó, hành động.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi niềm tâm sự      Qua b&#224;i viết &#8220;Sao để họ đứng ngo&#224;i cuộc?&#8221; của GS. Phạm Duy Hiển tr&#234;n Tia S&#225;ng (số 7 ng&#224;y 5.4), t&#244;i ho&#224;n to&#224;n th&#244;ng cảm với niềm trăn trở của một người đ&#227; c&#243; t&#237;ch lũy kinh nghiệm nhiều năm về năng lượng nguy&#234;n tử, nhưng đến dịp c&#243; điều kiện c&#243; thể cống hiến cho đất nước th&#236; kh&#244;ng ai hỏi đến! Một khi đề &#225;n x&#226;y dựng nh&#224; m&#225;y điện hạt nh&#226;n đ&#227; được giao v&#224;o tay EVN th&#236; họ c&#243; đủ quyền, đủ điều kiện v&#224; đủ phương tiện để tiếp x&#250;c với c&#225;c chuy&#234;n gia giỏi tr&#234;n thế giới. Dưới con mắt của họ v&#224; nhiều người kh&#225;c, c&#225;i l&#242; phản ứng hạt nh&#226;n t&#253; hon ở Đ&#224; Lạt chỉ l&#224; một vật trang tr&#237;. Họ kh&#244;ng cần biết n&#243; cũng l&#224; một nh&#224; m&#225;y điện hạt nh&#226;n nhỏ theo đ&#250;ng nghĩa của n&#243;. V&#224; họ cũng kh&#244;ng cần biết rằng hơn ai hết chỉ những chuy&#234;n gia Việt Nam mới am hiểu x&#227; hội Việt Nam v&#224; đất nước Việt Nam.    Tâm trạng của GS. Phạm Duy Hiển khiến tôi có cảm giác rằng một số chương trình khoa học khá tốn kém của Nhà nước rốt cuộc biến thành những vật trang trí! Cụ thể như chương trình điều tra tổng hợp lãnh thổ Tây Nguyên do bản thân tôi làm chủ nhiệm. Trong thời gian 4 năm từ 1977 đến 1981, chương trình đó huy động lực lượng của 18 tiến sĩ và phó giáo sư thuộc đủ các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội trong đó kể cả nhân chủng học, dân tộc học. Hơn nữa, chương trình đã xây dựng một trạm nghiên cứu xói mòn trên đất dốc. Thế nhưng, chỉ sau vài năm tiến hành, những người có trách nhiệm trong việc hoạch định chính sách phát triển Tây Nguyên đã thông qua một văn bản trái với nhận định ban đầu của chúng tôi như: Tây Nguyên có thể mạnh về lương thực, đi tới bắt Tây Nguyên tự túc về lương thực (điều mà chúng tôi đã không đồng tình ở Hội nghị phát triển nông nghiệp tại Đắk Lắk năm 1981); nhất là chính sách đối với cư dân bản địa, chúng tôi kiến nghị chỉ đưa lên Tây Nguyên những nông dân có ý thức chính trị tốt với số lượng dăm trăm nghìn thì chúng ta lại đã đưa lên Tây Nguyên vài triệu người… Hầu như trong việc triển khai những dự án phát triển Tây Nguyên, các nhà quản lý không hề quan tâm đến những kiến nghị trong công trình khoa học về Tây Nguyên dày tới 500 trang của chúng tôi. Bản báo cáo tóm tắt với các kiến nghị của chúng tôi chỉ dày có 50 trang cũng không được công khai phổ biến. Cũng rất may là năm 1985 nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật còn kịp in 5.100 bản cuốn “Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên của Tây Nguyên”, an ủi phần nào công lao động của các tác giả!  Khác với chương trình khoa học Tây Nguyên, chương trình xây dựng Tập bản đồ Quốc gia (còn gọi là chương trình 48-03) được ghi vào Nghị quyết 37NQ của Bộ Chính trị hẳn hoi, thế mà sau khi xuất bản vào năm 1996, nó không được sử dụng để bố trí các dự án sản xuất một cách hợp lý nhất. Thậm chí Viện Nghiên cứu Địa chính đề nghị điện tử hóa Tập Bản đồ Quốc gia để bố trí các dự án sản xuất công nông nghiệp và giao thông vận tải hợp lý nhất cũng không được xét duyệt. Tập Bản đồ Quốc gia được giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005 hiện nay chỉ là một vật trang trí nằm trong các thư viện. Các nhà hoạch định chính sách, nhất là quyết định phân bố lực lượng sản xuất một cách hợp lý nhất trên lãnh thổ, cũng chẳng mấy ai quan tâm đến tập Atlat quốc gia! Hiển nhiên nó lại biến thành một vật trang trí tương tự cái lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.  Hy vọng trong thời gian tới, các dự án phát triển, nhất là các dự án trọng điểm của đất nước, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học không còn bị trở thành vật trang trí.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi sợ corona virus làm tăng nhanh những lo ngại về kinh tế      Nghiên cứu mới “Perceptions of coronavirus Mortality and Contagiousness Weaken Economic Sentiment” (Nhận thức về tỷ lệ tử vong và lây nhiễm của corona virus làm sụt giảm niềm tin kinh tế) của ĐH Warwick (Mỹ) cho thấy sự lây lan nhanh chóng của corona virus vài tháng qua trên thế giới đang đe dọa nền kinh tế toàn cầu.      Biểu đồ (A)và (B) thể hiện phân phối niềm tin về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ truyền nhiễm của corona virus, được đo trong mẫu đại diện (N = 915) dân cư Mỹ vào ngày 4/3/2020. Nguồn: Đại học Warwick  Dù việc bảo vệ tính mạng người dân và ngăn chặn lây lan dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu, các nhà hoạch định chính sách cũng cần phải nhanh chóng xem xét các hành động cần thiết để ngăn chặn nền kinh tế khỏi sụp đổ.  Nhóm tác giả phát hiện ra sự xuất hiện của corona virus ở mỗi quốc gia đều có liên hệ với sự gia tăng mạnh các tìm kiếm  trên Google biểu thị sự căng thẳng và lo sợ về tình trạng kinh tế. TS kinh tế Thiemo Fetzer, ĐH Warwick cho biết: “Kết quả của chúng tôi cho thấy khi corona virus xuất hiện, bất chợt một loạt các hoạt động tìm kiếm trên Google đã diễn ra. Lịch sử tìm kiếm cho thấy chúng có mối liên hệ với những đợt giảm đáng kể về nhu cầu tiêu dùng và tăng trưởng thực. Cầu giảm làm tăng gián đoạn đã có của chuỗi cung ứng toàn cầu và khiến suy thoái kinh tế càng xảy ra hơn.”  Sử dụng dữ liệu tìm kiếm của Google hàng ngày trên 190 nước, nhóm nghiên cứu cũng thấy lượng tìm kiếm từ “suy thoái” và những chủ đề liên quan đến “sinh tồn” và “thuyết âm mưu” tăng đáng kể. Ở mỗi quốc gia, cứ sau khi trường hợp nhiễm corona virus đầu tiên xuất hiện thì những tìm kiếm như vậy tăng 20-50% so với giai đoạn trước.  TS.Lukas Hensel thuộc Trường Quản lý nhà nước Blavatnik, ĐH Oxford, cho biết: “Chúng tôi lo ngại việc xói mòn niềm tin vào thể chế, đặc biệt là phương tiện truyền thông ở phương Tây những năm gần đây, có thể đã làm trầm trong thêm những phản ứng hoảng loạn ngày càng rõ ràng này”  Thông qua một thí nghiệm khảo sát trực tuyến được thực hiện với công ty Luc.id để lấy mẫu đại diện cho cư dân Mỹ, các nhà nghiên cứu thấy độ lệch phân phối khi nói đến niềm tin về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ truyền nhiễm của corona virus là khá lớn. Điều này nghĩa là công chúng Mỹ “có niềm tin khá bất đồng” về cả hai đặc điểm này, TS. Thiemo Fetzer cho biết.  TS.Lukas Hensel cũng nhận xét: “Theo các tài liệu y khoa ghi nhận từ trước đến nay thì có rất ít bằng chứng thực nghiệm ủng hộ số liệu là trong các dịch cúm, tỷ lệ tử vong vào mức trên 5%. Tuy nhiên, hơn 50% số người được hỏi nghĩ rằng tỷ lệ tử vong còn cao hơn thế. Tương tự, hơn 50% số người được hỏi nghĩ rằng mức độ lây nhiễm của coronavirus này cao hơn so với ước tính hiện có. Suy nghĩ này có thể có lợi trong một số trường hợp vì đánh giá quá cao nguy cơ có thể khiến mọi người thực hiện những biện pháp giảm lây bệnh nhưng mặt khác, nó cũng có thể khiến người ta hoảng loạn hơn.”  Câu hỏi đặt ra cho chính phủ và những người ra quyết định trên toàn cầu là làm thế nào để ngăn chặn sự sụp đổ kinh tế từ dịch corona virus này. “Các phương tiện truyền thông có lẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức rủi ro tiềm ẩn của mọi người. Chẳng hạn, việc báo chí thường so sánh tỷ lệ tử vong của corona virus với cúm mùa thay vì với SARS dường như có ảnh hưởng quan trọng đến việc cá nhân có thể hiện lo lắng về mặt kinh tế hay không” TS. Christopher Roth, ĐH Warwick nói.  Thông tin từ nguồn tin cậy cùng với truyền thông minh bạch để giải thích động thái của chính phủ là điều quan trọng. Tuy nhiên, trước sự suy giảm niềm tin vào thể chế và truyền thông trong thập kỷ qua, chưa thể biết rõ điều này có tác dụng đến đâu. Cần phải có những động thái tích cực để đối phó với những đợt lan truyền tiếp theo. Đây là thời điểm cho những công cụ tài khóa phối hợp táo bạo, cùng một chiến lược ngăn chặn được điều phối trên quy mô quốc tế.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-coronavirus-economic-anxieties.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói về môt cái thói đọc văn ở xứ ta      Nhân việc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau đề nghị Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh nghiêm khắc kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư, tác giả truyện Cánh đồng bất tận, rồi ông Dương Việt Thắng, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ về vụ việc này, và các ngày tiếp theo sau đó, một loạt ý kiến phản hồi của bạn đọc đã được báo Tuổi Trẻ trích đăng, cần phải ngẫm lại cái thói đọc văn của người xứ ta.    1. “Đàn ông chớ kể Phan Trần        Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”  Cuối thế kỷ 17 (1663), Trịnh Tạc đã ban “47 điều giáo hóa” khuyến cáo dân chúng không nên phổ biến loại truyện thơ hoa tình rằng: “Chớ cho in bán hại nay thói thuần”. Rồi đến đời nhà Nguyễn cũng khuyến cáo cấm đọc Phan Trần và Truyện Kiều.  Mấy trăm năm sau, nay chuyện Cánh đồng bất tận cũng được soi xét cứ y như lịch sử là cái “cục bất di bất dịch”! Người thì bảo nó làm mất niềm tin lạc quan vào cuộc sống, kẻ thì bảo hổng có chức năng giáo dục và định hướng: “Không nên cho học sinh coi”; lại có ngài mạnh mẽ hơn, đòi trục xuất nhà văn ra khỏi địa bàn; và rồi có ngài cho rằng đây là thứ văn chương phản động, thậm chí là chống Cộng, tục tĩu, dâm ô, chống lại chủ trương của Đảng và Nhà nước…  Nhắm mắt lại một giây mà nghĩ thì truyện Kiều dù bị chê, bị cấm thì cứ y như rằng nó vẫn được thế nhân đón đọc và rồi được coi là kiệt tác văn chương của dân tộc. Phật dạy rằng: Chúng sinh hiểu kinh Phật tùy theo căn duyên của từng người, thì quả đúng lắm vậy. Nói cách khác, cái nỗi lo của chúng ta chính là ở những cái căn duyên ấy.  Đối với tôi, đọc Cánh đồng bất tận, tôi thấy rằng mình không nên như lão chăn vịt nọ, cứ chấp vào một mối thù hận tự mình dựng đứng lên để rồi dìm cuộc sống của mình trong mỗi một việc là phục thù… đàn bà. Bài học rút ra là sống phải biết khoan dung và chia sẻ, hay nói theo nhà Phật là hỉ xả. Cũng cần nói thêm là người vợ của lão chăn vịt ấy, khi lầm lỗi đã biết “từ chức”, tức từ bỏ cái chức năng làm vợ chung thủy, để ra đi biền biệt vào cõi ngoài. Đó là một con người biết phải trái, có nhân cách – đáng thương đáng quý hơn là căm thù. Ấy thế mà lão chăn vịt cố chấp nên đã tự mình đánh đắm vào vô minh.  2. Cái thói đọc văn xứ ta tệ hại là ở chỗ chăm bẵm vào cây mà chẳng cần thấy rừng; do vậy mà cái thông điệp xã hội hay triết lý của tác phẩm bị cây cỏ khuất lấp. Đọc Truyện Kiều thì thấy đó là truyện của một con điếm, thấy thanh lâu/ hồng lâu, thấy tú bà, thấy “7 chữ tám nghề”… mà chẳng cần thấy cái đại ý của tác phẩm và la toáng lên rằng phải cấm, phải khuyến cáo chúng dân không nên đọc. Như kẻ bị bệnh “tự kỷ ám thị” khi đọc tác phẩm đề cập loại nhân vật này, sự việc kia thì cứ vận lấy vào mình và la toáng lên rằng tác giả nói việc đó, người đó là ám chỉ việc này của ta, của chúng ta. Thế là tác giả ấy đương nhiên là “có vấn đề”.  Cứ thử xem, ở xứ ta có một tác giả nào đó viết cuốn Tây Du Ký thì ắt không ít người đại diện cho Phật tử phê phán là nói xấu đạo Phật, bôi bác tăng già. Họ sẽ đem các dữ liệu lịch sử của Đại Đường Tây vực ký của Trần Huyền Trang ra làm cơ sở để so sánh, đối chiếu và rằng thì là làm gì có lão tăng Trư Bát Giới, làm gì có chuyện Đường Tam Tạng lọt vào ổ Bạch Cốt Tinh… Lại nữa, nếu xứ ta có tác giả nào viết truyện như tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai thì ắt sẽ bị coi là có ý nói xấu đạo, các linh mục… Do không coi văn chương là loại thể khác với lịch sử nên có khi tiểu thuyết/ truyện ngắn nói về Quang Trung là cứ y như  rằng ối người đọc nhao nhao lên là viết như thế là sai lịch sử, là bôi bác người anh hùng áo vải kiệt hiệt! Truyện ngắn, tiểu thuyết mà cứ bị đánh đồng với “diễn ca lịch sử”, nên khi đọc thì nhất nhất đều lấy dữ liệu lịch sử ra mà đối chiếu để xét đúng sai, trong khi cái cần xét là sự hay dở của cách thể hiện, là cái cảm xúc, cái chủ ý của tác giả thì lại không cần bàn đến. Quả là “ẩm thực bất tri kỳ vị”.  3. Hệ quả dây dưa từ cái thói đọc văn vụ vào lịch sử là sau này một số người đọc tiểu thuyết viết về đề tài đương đại thì cũng luôn đem qui chiếu cái hiện thực của tác phẩm với thực tế cụ thể ở xóm ta, làng ta, tỉnh ta, đất nước ta. So sánh xong thì bảo chuyện A, chuyện B trong tác phẩm đó làm gì có; hoặc có thì cũng không đến nỗi như tác giả viết. Nói cách khác, từ cách “tiếp cận” như vậy, họ cho là tác giả đã đơm đặt chuyện không nói có, chuyện ít xít ra nhiều và qui kết là có động cơ xấu, là bôi bác xã hội! Thói đọc văn rất chướng này, như trên đã nói, di truyền lâu đời và nhiều thời đoạn lịch sử trở thành kiểu thức quan phương.  Cơ khổ là, hồi nào thì không nói, chứ bây giờ mà phê bình theo cách so sánh những gì viết trong sách với những gì ở ngoài đời thì rõ là khó quá. Bởi lẽ, cứ theo những gì “báo chí đã ghi, ti vi đã chiếu” thì có nhiều “hiện thực vượt quá hư cấu”. Nói cách khác, cái thói đọc văn theo cách “truyền thống” thì: một là, chẳng biết văn chương là gì; và hai là, các nỗ lực đối chiếu hiện thực trong văn và thực tế là “sứ mệnh bất khả thi”. Bó tay!    Huỳnh Ngọc Trảng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp CNC là con đường tất yếu để tăng khả năng cạnh tranh?      Người ta tin rằng, áp dụng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) vào sản xuất là con đường tất yếu để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới, là “quả đấm thép” của tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Nhưng nội hàm của khái niệm NNCNC là gì? NNCNC của Việt Nam có nhất thiết phải xây dựng các “cánh đồng” nhà kính nhà lưới với các thiết bị tự động hóa cao độ – hiện thân của công nghiệp 4.0? Mời bạn đọc đọc tiếp phần II của bài viết “Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở” của tác giả Trần Đức Viên.      NNCNC của VN có nhất thiết phải xây dựng các “cánh đồng” nhà kính nhà lưới?  Nội hàm khái niệm NNCNC  Người ta tin rằng, áp dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất là con đường tất yếu để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới, là ‘quả đấm thép’ của tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Cũng nên lưu ý là, những người cổ súy cho NNCNC lại vẫn thích ăn thịt gà ri thả vườn, thích ăn thịt lợn ỉ nuôi bằng cám gạo và thân chuối, thích ăn gạo và rau được canh tác theo cách mà cha ông ta đã làm, thích ăn sushi từ cá biển tự nhiên trong đại dương hơn là thưởng thức các sản phẩm này từ các trang trại NNCNC.  Vậy thế nào là CNC? Hiện chưa có ai làm rõ nội hàm của CNC trong nông nghiệp là những gì? Cao với ai và cao như thế nào? Với người nông dân một buôn của đồng bào Ê đê cách TP. Buôn Mê Thuột không xa vốn quen canh tác bằng cây gậy chọc lỗ bỏ hạt, cái rìu hay con dao chặt cây, cái cuốc vun cà phê, cùng lắm là biết đến cái máy phun thuốc trừ sâu của một doanh nghiệp (DN) khi DN này phun thuốc trừ bệnh hại mù mịt bầu trời mỗi khi những khu vườn sầu riêng của họ bị bệnh, thì cái bình thủy tinh tam giác dùng nuôi cấy mô, sản xuất ra hàng trăm hàng ngàn cây giống đều nhau tăp tắp là công nghệ cao hay công nghệ thấp? Còn ở Đồng bằng sông Hồng thì công nghệ nuôi cấy mô tế bào đã là công nghệ “thường ngày ở huyện”, vì nó dã được du nhập vào Việt Nam (VN) từ cuối những năm 70 của thế kỉ trước.  Ở VN, khi nói đến NNCNC là người ta thường nghĩ ngay đến những“cánh đồng” nhà kính nhà lưới với thiết bị điều khiển tự động hiện đại kiểu Israel, Hà Lan hay Hoa Kỳ. Công nghệ nông nghiệp trên sa mạc bỏng rẫy của Israel có thể nói là một trong những công nghệ tiên tiến nhất hành tinh. Ở đấy, họ đã tạo ra những khu nông nghiệp khép kín, với giá trị lên tới 120.000-150.000 USD/ hecta/năm, phổ biến ở khắp mọi nơi trên xứ sở này. Các nhà quản lý và các nhà khoa học khuyến khích phát triển NNCNC của chúng ta thường lấy đó làm mô hình khi “thuyết khách”; và họ tin là, đấy chính là “ngày mai” của nông nghiệp nhiệt đới VN, nền nông nghiệp của các công nhân nông nghiệp cổ cồn, có tri thức, chấm dứt hình ảnh nền nông nghiệp “chân lấm tay bùn”. Ở các hệ thống canh tác khép kín này, mọi thông số kỹ thuật, từ tưới tiêu đến bón phân, đo nhiệt độ, độ ẩm, PH, phát hiện sâu bệnh, quyết định ngày giờ thu hái… cho từng đối tượng cây trồng được cập nhật trên máy vi tính. Trong nhà kính họ bố trí hàng loạt máy cảm biến thu nhận các thông số trên và truyền thông tin về máy chủ, máy chủ sẽ làm hàng triệu, hàng tỉ phép tính để đưa ra một quyết định tối ưu nhất như tự động phun nước từ trần nhà kính để tăng độ ẩm, hệ thống quạt mát sẽ khởi động nếu quá nóng, hệ thống bạt sẽ tự động che nhà kính hoặc kéo lên nếu thừa hoặc thiếu ánh sáng, v.v… Cây được trồng vào hệ thống giá thể (có thể gồm đất và các chất hữu cơ, có thể chỉ là giá thể hữu cơ, có thể chỉ là dung dịch hay thậm chí chỉ là ‘không khí’ với đầy đủ dinh dưỡng theo yêu cầu của cây), phân theo từng dàn nâng gắn liền với hệ thống bón, tưới, nâng, hạ… tự động.  NNCNC của VN có nhất thiết phải xây dựng các ‘cánh đồng’ nhà kính nhà lưới với các thiết bị tự động hóa cao độ của nông nghiệp thông minh như thế không?  Một số mô hình NNCNC ở Việt Nam  Từ đầu những năm 2000, sau khi đi thăm các mô hình NNCNC ở Hà lan, Israel, Hoa kỳ… một số nhà quản lý nông nghiệp đã quyết tâm đầu tư xây dựng các khu NNCNC bằng tiền của nhà nước, bắt đầu bằng khu NNCNC của Hadico ở Từ Liêm, Hà Nội (năm 2004, vốn đầu tư 24 tỷ đồng, xây dựng trên diện tích 7,5 hecta với 5.500 m2 trồng dưa chuột, cà chua, ớt ngọt; 2.000 m2 trồng hoa, các giống đều nhập từ Israel), sau đó là Đồ Sơn, Hải Phòng (năm 2007, vốn đầu tư trên 22,5 tỉ đồng cho 8.000 m2 nhà kính canh tác NNCNC, 5.000m2 nhà lưới giản đơn và 12.000 m2 canh tác ngoài trời), Củ Chi, Tp. HCM (diện tích 88 hecta), v.v… Người ta tin rằng, đây là những khu NNCNC tiên phong, tiếp cận khoa học kỹ thuật – công nghệ và quản lý mới của thế giới áp dụng vào ngành nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp nước ta hội nhập với nông nghiệp các nước tiên tiến.  Theo một nguồn tin, từ những ngày khởi đầu ấy (năm 2004) đến tháng 12/2015 cả nước đã có 34 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC) đã và đang được xây dựng tại 19 tỉnh thuộc 7 vùng kinh tế. Ngoài ra, một số địa phương cũng phát triển các khu/cụm NNCNC mà chưa kịp đăng ký hoặc chưa công bố chính thức (ví dụ như Bình Định).  Đánh giá về hiệu quả hoạt động, người ta thấy có một khu NNCNC có lãi rõ (mô hình rau, hoa ở Đà Lạt), 3 khu NNCNC hoạt động có hiệu quả (có thể tự tồn tại được, là Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh, An Thái, Bình Dương và Suối Dầu, Khánh Hòa); còn lại là các khu chưa hiệu quả hoặc không hiệu quả.  Về quy mô: 7 khu có quy mô nhỏ hơn100 hecta (chiếm 21%) gồm Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hòa, TP.HCM, Bình Dương và Cần Thơ; 16 khu có quy mô từ 100 – 200 ha (chiếm 45,5%, gồm Sơn La, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Tiền Giang và Cần Thơ 3; 5 Khu có quy mô 200 – 400 ha, chiếm 15,2%, gồm: Yên Bình (Thái Nguyên), Giang Biên (Hà Nội), Lạc Dương (Lâm Đồng), Cần Thơ 2; 6 Khu quy mô lớn hơn400 hecta, chiếm 18,2% gồm: Hoài Đức (Hà Nội), Thống Nhất (Thanh Hóa), Phú Yên, An Thái và Phước Sang (Bình Dương), Hậu Giang.  Về vốn đầu tư: 18 khu được xây dựng và quy hoạch bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của các tỉnh/thành phố sau đó kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư, chiếm 51,5%; 10 khu sử dụng nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ các doanh nghiệp (công ty cổ phần và công ty TNHH) làm chủ đầu tư, chiếm 30,3%; 6 khu sử dụng nguồn vốn đầu tư do ngân sách nhà nước ở các tỉnh/thành phố kết hợp với vốn của các doanh nghiệp.  Về sản phẩm: bao gồm giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao, rau, hoa, quả an toàn, chất lượng cao, cây cảnh, cá cảnh, cây dược liệu, gia súc, gia cầm, bò sữa, bò thịt chất lượng cao, an toàn…  Về công nghệ cao áp dụng: khá đa dạng và phong phú, như các công nghệ thủy canh, khí canh, màng dinh dưỡng, cấy mô, chế phẩm sinh học, tưới nước khoa học, CNTT, sản xuất nấm và chế phẩm vi sinh, chất điều tiết sinh trưởng và vật liệu mới phục vụ sản xuất NNƯDCNC, công nghệ chuyển gen và phương pháp chỉ thị phân tử; phương pháp cắt phôi và thụ tinh trong ống nghiệm; công nghệ tinh, phôi đông lạnh, ứng dụng quy trình chăn nuôi hiện đại, theo dây chuyền, có các hệ thống điều khiển tự động, công nghệ sinh học để sản xuất cá đơn tính; nuôi siêu thâm canh bằng hệ thống tuần hoàn; gây đa bội thể để sản xuất cá chất lượng cao; kỹ thuật tạo màu cá cảnh và nuôi cấy mô tế bào để nhân giống các loài thực vật thủy sinh, v.v…  Lựa chọn công nghệ phù hợp  Rõ ràng là, phát triển NNCNC là cần thiết, là nhu cầu của cuộc sống. Để nhanh chóng chuyển đổi một nền nông nghiệp truyền thống, manh mún, trọng năng suất sang một nền NNCNC định hướng thị trường, chủ động với sự thất thường của thời tiết và biến đổi khí hậu, cần một sự đổi mới căn bản hay nói cách khác là một cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 trong đó NNCNC là chìa khóa. Vậy cụ thể trong điều kiện kinh tế – xã hội của VN thì những công nghệ nào được cho là “cao”?      Với công nghệ nhập khẩu, vẫn cần đầu tư nghiên cứu để nhanh chóng làm chủ công nghệ, Việt Nam hóa công nghệ của nước ngoài. Nếu không có công nghệ hay không làm chủ được công nghệ thì “khô áo ráo tiền”, chúng ta sẽ chỉ đi làm thuê cho DN nước ngoài trên chính đồng đất của mình.      Ở các nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến thì mục tiêu của họ là nông nghiệp thông minh, các công nghệ mà họ áp dụng là các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. NNCNC của VN ưu tiên áp dụng nông nghiệp thông minh ở các nơi có điều kiện (và thực tế đã có nhiều khu nông nghiệp thông minh trên đất nước ta), nhưng không loại trừ các hình thái sản xuất nông nghiệp khác. Vấn đề là, lựa chọn các công nghệ phù hợp, phù hợp với trình độ dân trí và trình độ kinh tế-xã hội của từng vùng, miền cụ thể, định hướng thị trường, vì suy cho cùng mọi công nghệ đều hướng tới có hiệu quả đầu tư, năng suất lao động cao hơn. Ví dụ, ở vùng hạn hán, nhiễm mặn thì cần ứng dụng công nghệ sinh học để chọn tạo ra giống chịu hạn, chịu mặn, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao thì có thể xem đó là NNCNC. Những vùng có khả năng đầu tư, có thị trường, có thương hiệu thì có thể áp dụng các mô hình nông nghiệp hiện đại, khép kín, chất lượng cao kiểu Israel, Hà lan hay Hoa kỳ lại là các công nghệ phù hợp.  Công nghệ có thể giải quyết được nhiều hạn chế của môi trường sản xuất, các công nghệ này có thể tự nghiên cứu hay nhập khẩu. Để tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia thì rất cần phải đầu tư để có công nghệ “Made by Vietnam” (chứ không chỉ “Made in Vietnam”); với công nghệ nhập khẩu, vẫn cần đầu tư nghiên cứu để nhanh chóng làm chủ công nghệ, Việt Nam hóa công nghệ của nước ngoài. Nếu không có công nghệ hay không làm chủ được công nghệ thì “khô áo ráo tiền”, chúng ta sẽ chỉ đi làm thuê cho DN nước ngoài trên chính đồng đất của mình. Sự không thành công của ngành sản xuất ô tô, ngành đóng tầu…. là các bài học đắt giá về sáng tạo công nghệ và làm chủ công nghệ. Hơn nữa, nếu không đầu tư cho nghiên cứu sáng tạo công nghệ, tạo ra các công nghệ và thiết bị phù hợp với điều kiện VN, ưu tiên cho “nhập khẩu nguyên chiếc” công nghệ và thiết bị từ các nước có nền NNCNC phát triển nhất thế giới như một số “ông lớn” đã làm vừa qua, biến những cánh đồng lúa thu nhập thấp qua một đêm thành các khu NNCNC hiện đại, thì vô hình trung, NNCNC sẽ trở thành “vùng trời riêng” của các DN vốn lớn, quan hệ rộng, các DN nhỏ và vừa, HTX và các tổ/nhóm nông dân bị gạt ra bên lề “cuộc chơi” này[1].  NNCNC là một hình thức canh tác rất mới ở VN, để phát triển NNCNC, chúng ta cần chuyên gia giỏi, nếu trong nước không có thì tìm chuyên gia quốc tế hỗ trợ VN trong các lĩnh vực sau: (1) Chuyên gia quy hoạch và xác định phân khúc thị trường gắn với lợi thế cạnh tranh sản xuất NNCNC của Việt Nam trên thị trường toàn cầu; (2) Chuyên gia tư vấn từ các nước có nền NNCNC và có thị trường lớn để có thể giúp VN định hướng lĩnh vực/mặt hàng NNCNC chúng ta có lợi thế so sánh, từ đó giúp VN tìm kiếm thị trường và làm chủ thị trường bền vững.  Các nước Hà Lan, Isreal mặc dù có nền NNCNC rất phát triển, nhưng chúng ta khó học hỏi, vì xuất phát điểm của chúng ta rất khác họ, đồng thời thị trường của họ vừa nhỏ vừa ‘khó tính’ nên cũng khó học hỏi về phát triển thị trường. Những nước này có thể hợp tác trong đào tạo hàn lâm, đào tạo định hướng nghề nghiệp, nên chăng chúng ta nên hợp tác NNCNC với các nước có tiềm năng thị trường lớn như Nga, Hoa kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật bản; Không có thị trường, thì NNCNC nào cũng thất bại.  Nhà nước cần giữ vai trò quy hoạch, định hướng tổng thể cho NNCNC trên quy mô cả nước, không nên giao quy hoạch cho các tỉnh theo địa giới hành chính, dễ dẫn đến quy hoạch manh mún, chồng chéo, đầu tư kém hiệu quả. Do đó, phát triển NNCNC ở nước ta hiện nay cần lưu ý một số điểm then chốt sau:  – NNCNC phải tận dụng được lợi thế so sánh của từng địa phương, vùng miền (khí hậu, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học…) để tạo ra các nông sản hàng hóa mang tính đặc trưng của từng vùng sinh thái.  – NNCNC nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, trên đơn vị đầu tư và trên đơn vị ngày công, nhờ hạ giá thành sản phẩm, chứ không phải làm NNCNC để trình diễn, để thu hút đầu tư hay để chiếm dụng đất đai, chờ thời cơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất. NNCNC phải tạo ra được các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng, giá cả, mẫu mã với các sản phẩm cùng loại trên thị trường trong nước và thế giới, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá khi có yêu cầu của thị trường.  – NNCNC tạo ra sản phẩm theo một chu trình khép kín theo chuỗi ngành hàng, để khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị trường, thì việc thương mại hóa sản phẩm (tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm) và công nghệ chế biến phải được ưu tiên hàng đầu, chứ không phải ưu tiên tích tụ ruộng đất cho các tập đoàn lớn.  – Công nghệ áp dụng cho NNCNC phải là các công nghệ thân thiện với môi trường, để tạo ra các hệ sinh thái đa dạng, bền vững, tạo tiền đề cho phát triển du lịch nông nghiệp trong tương lai.  (Đón đọc Phần III: Khuyến nghị chính sách)  ——–  Chú thích:  [1] Các “ông lớn” hiện nay không cho công bố giá nhập thiết bị và công nghệ; theo tìm hiểu của chúng tôi, giá các thiết bị và công nghệ này khá cao, các DN nhỏ và vừa, các HTX không thể “với” tới. Ví dụ, giá nhập trọn gói hệ thống nhà trồng cà chua của Israel là khoảng 1 triệu USD/hecta, hệ thống thủy canh tính riêng – giá còn cao hơn nhiều. Theo thông tin từ một nhà thầu trong nước đang cung cấp hạng mục khung nhà kính thì giá là 3,4 tỉ/hecta, tương ứng 340.000đồng/m2 (thông số kỹ thuật, chiều cao tương đương Israel). Giá của Israel riêng nhà không là khoảng 14 tỉ/ hecta, tương ứng 1,4triệu/m2. Nhà do Nhật lắp ghép là nhà khung thấp (nhà Israel là nhà khung cao 7,2-8,5m) chỉ tính riêng khung nhà là 800.000đồng/m2, chưa kể hệ thống làm mát cưỡng bức…    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Nông nghiệp sinh thái: Một triết lý sống      Gần đây, nông nghiệp sinh thái trở thành từ khóa quan trọng trong các chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam. Đó không đơn giản chỉ là một phương thức canh tác tiến bộ, thuận thiên, mà hơn thế, nó còn là một triết lý sống nhân bản và nhân văn của xã hội loài người.      Cách mạng xanh  Sau thế chiến II, có một thời gian dài, loài người lâm vào nạn thiếu lương thực trầm trọng trên qui mô toàn cầu. Trong những năm 1960, đói ăn là một trong những nguyên nhân khiến tuổi thọ trung bình của loài người thấp. Chẳng hạn, ở Ấn Độ là 39 tuổi còn ở Việt Nam là 59 tuổi ở thời điểm bấy giờ.  Lúc đó, giải quyết nhu cầu tối thiểu về cái ăn cho dân số đang gia tăng nhanh chóng là mối quan tâm của nhiều quốc gia. Gánh nặng của trọng trách này được dồn lên vai các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học nông nghiệp. Họ đã tạo ra các giống mới năng suất cao, chịu thâm canh, tưới tiêu chủ động, sử dụng phân bón hóa học và hóa chất phòng trừ dịch hại. Những thành tựu to lớn về công nghệ và kỹ thuật của thời kỳ lịch sử ấy được gọi là cuộc “cách mạng xanh”, một thuật ngữ được William Gaud, cựu giám đốc USAID, sử dụng lần đầu tiên vào năm 1968. Cách mạng xanh đã có ảnh hưởng sâu sắc về sinh thái và xã hội của loài người, giúp nhân loại thoát khỏi nạn đói, một số nước từ chỗ thiếu ăn liên miên đã trở thành các ‘cường quốc’ xuất khẩu lương thực mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.  Sự phát triển một cách thái quá của cách mạng xanh đã tạo ra các hệ sinh thái nông nghiệp thâm canh phục vụ mục đích tối thượng là kinh tế, lợi nhuận. Chỉ đến khi “Mùa xuân im lặng” (của Rachel Carson, do Houghton Mifflin xuất bản năm 1962) ra đời, người ta mới giật mình nhận ra rằng, thiên nhiên (nature) là mẹ đẻ của con người, nhưng trong đa số các hoạt động, con người đã quên mất thiên nhiên là mẹ đẻ của mình.  Một ‘chuyện thường ngày ở huyện’ mà bất kỳ người làm nông nghiệp nào cũng đều có thể nhận thấy: Trong cuộc ‘chiến tranh’ giữa loài người với các loài ‘gây hại’ (cho lợi ích kinh tế của con người), để bảo vệ lợi ích cực đoan của mình, con người đã dùng hóa chất để tiêu diệt các loài ‘gây hại’; nhưng dường như trong cuộc ‘chiến tranh’ này, buồn là, loài người dù tự cho là có đầy đủ sức mạnh vật chất, lại luôn là kẻ ‘chạy sau’ các loài gây hại: chưa diệt xong loại dịch hại này thì đã xuất hiện loại dịch hại khác; con người lại dồn tâm lực nghiên cứu các loại thuốc và biện pháp phòng chống mới, và cứ thế và cứ thế, con người đã bị các giống loài gây hại điều khiển và chi phối! Con người đã quá tự tin đến mức quên đi một nguyên lý sinh thái học sơ đẳng về dây chuyền thức ăn và mạng lưới thức ăn của sinh giới.     Các hệ sinh thái tự nhiên thường đa dạng, trong đó các loài gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau qua là dây chuyền thức ăn (food chain) và mạng lưới thức ăn (food web). Chính hai yếu tố này tạo nên sự bền vững của một hệ sinh thái. Trong khi đó, các hệ sinh thái chủ yếu của cách mạng xanh thường đơn giản về thành phần loài (đơn canh), tương đối đồng nhất và nghèo nàn về cấu trúc, luôn phải nhận ‘đầu vào’ nhân tạo để có ‘đầu ra’ theo thiết kế và theo mong muốn của con người. Các hệ sinh thái này luôn ở trạng thái không cân bằng, kém bền vững, dễ bị đảo lộn, thậm chí là bị phá vỡ, không bao giờ đạt tới trạng thái cao đỉnh bền vững (climax) như các hệ sinh thái tự nhiên.     Việc lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp đã làm hỏng cấu tượng đất, làm phương hại đến tập đoàn vi sinh vật – phần “sống” của đất, làm ô nhiễm nguồn nước, làm xói mòn đa dạng sinh học… Việc công nghiệp hóa nông nghiệp theo mục đích săn tìm lợi nhuận tối đa đã làm phá sản hàng triệu nông dân nghèo, đẩy họ ra thành phổ bổ sung vào đội quan thất nghiệp vốn đã đông đảo ở nơi đây, và làm trầm trọng thêm các tệ nạn xã hội và nạn ô nhiễm môi trường đô thị.  Cách mạng xanh và dư âm của nó kéo dài đến tận bây giờ đã tạo ra hàng triệu nông dân suốt ngày đầu tắt mặt tối với chống suy thoái đất, diệt trừ sâu bệnh hại, diệt cỏ, bón phân hóa học, lo mua giống mới… nhưng đa số họ vẫn là người có thu nhập thấp, vẫn còn đó những nông dân có thu nhập chỉ 0,3USD/ngày, và chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội. Rất ít nông dân trở nên giàu có nhờ cách mạng xanh hiện giờ, trừ những nguoi nông dân đã ‘chuyển nghề’ sang làm đại lý phân phối cho các công ty siêu quốc gia về cung ứng giống và vật tư nông nghiệp.  Khủng hoảng do cuộc cách mạng xanh trong xã hội chính là sự khủng khoảng do con người có quá nhiều tham vọng. Tham vọng muốn biến đổi tự nhiên theo ý mình đã ngày càng ngăn cách con người với tự nhiên, tách dần con người khỏi tự nhiên, dù tự nhiên chính là mẹ để của loài người. Điều đó chính là một thảm họa: Thảm họa sinh thái, có vai trò quyết định đến sự tồn vong và hưng thịnh của xã hội loài người.  Cách mạng xanh ở vùng nhiệt đới  Các hệ sinh thái nông nghiệp thâm canh vốn dễ làm bùng nổ địch hại, suy thoái đất, nhưng điều đó càng tệ hại hơn ở vùng nhiệt đới.  So với vùng ôn đới, việc phục hồi và thoái hóa ở vùng nhiệt đới đều xảy ra rất nhanh. Nông dân bắt đầu dùng phân hóa học cách đây đã gần một thế kỷ ở Nhật và một số vùng ôn đới khác. Sau 30 năm thực hiện điều đó, các phản ứng bất lợi và các vấn đề nghiêm trọng khác về môi trường và tài nguyên bắt đầu xuất hiện. Ở vùng nhiệt đới chỉ cần sau 10-15 năm, ở vùng đất cao nhiệt đới, các vấn đề bất lợi nhanh chóng xuất hiện sau 5-7 năm. Nói cách khác hệ sinh thái nhiệt đới cân bằng một cách mỏng manh và dễ bị phá hủy hoàn toàn bởi cách canh tác phản tự nhiên.  Hình thức canh tác lên liếp của người nông dân vùng Nam Bộ. Ảnh: tintuctiengiang.com  Khí hậu cực đoan và sự phân hủy nhanh chóng chất hữu cơ diễn ra một cách tích cực trong rừng không hoạt động cùng kiểu như trong nông nghiệp. Canh tác nông nghiệp “quy ước” bắt đầu băng việc chặt và khai hoang rừng. Bằng cách đó khoảng 90% tổng chất dinh dưỡng bị lấy đi khỏi đất, và đất trở nên thiếu chất hữu cơ, mất dần độ phì, khả năng giữ nước và các phẩm chất tốt khác. Hơn nữa ánh sáng gay gắt và nhiệt độ cao tác động trực tiếp vào mặt đất, làm thoái hóa cấu trúc đất. Mưa dữ dội làm xói mòn lớp đất mặt vốn màu mỡ…  Thế nào là nông nghiệp sinh thái?    Vào cuối những năm 20 của thế kỷ trước, nhiều nhà khoa học đã nhận ra sự khủng hoảng tất yếu do nền nông nghiệp thâm canh ‘hóa học’ nói riêng, của nền “kinh tế nâu” nói chung mang đến cho con người; nên họ đã cố gắng áp dụng các nguyên lý của sinh thái học vào sản xuất nông nghiệp, nghĩa là kết hợp một cách hữu cơ và biện chứng giữa các nguyên lý của sinh thái học, các nguyên lý của sản xuất nông nghiệp và các nguyên lý của kinh tế học; từ đó, thuật ngữ ‘sinh thái học nông nghiệp’ ra đời. Người đầu tiên dùng đến khái niệm này là K. H. Klages trong cuốn sách có tựa đề “Crop ecology and ecological crop geography in the agronomic curriculum” xuất bản năm 1928 tại Oklahoma.  Trong sản xuất nông nghiệp sinh thái (NNST), người ta không chỉ quan tâm đến năng suất trên một đơn vị diện tích như thời ‘sản xuất lương thực là mặt trận hàng đầu’, mà còn quan tâm đến năng suất trên một đơn vị đầu tư, năng suất trên một đơn vị lao động, nghĩa là quan tâm đến hiệu quả sản xuất. Đồng thời phương thức sản xuất này tập trung vào tính bền vững của các hệ sản xuất nông nghiệp, ở đó sản xuất nông nghiệp không chỉ hướng tới cung cấp nông sản an toàn, bổ dưỡng, chất lượng cao, mà còn vươn tới việc gìn giữ và hoàn thiện môi trường sống của con người.    Con người đã quá tự tin đến mức quên đi một nguyên lý sinh thái học sơ đẳng về dây chuyền thức ăn và mạng lưới thức ăn của sinh giới.    Hệ sinh thái nhiệt đới rất cực đoan, sự cân bằng lại cũng rất mỏng manh. Vì lẽ đó, vùng nhiệt đới lại càng cần thực hiện NNST. Điều đó đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho các nhà nông học và các nhà sinh thái học là phải xây dựng được những hệ canh tác thích hợp, có khả năng sử dụng cao các ưu thế của vùng nhiệt đới và giảm thiểu tới mức tối đa các tác động tiêu cực của khí hậu nhiệt đới, sử dụng hợp lý các nguôn lợi. Nếu chúng ta có được những hệ sinh thái nông nghiệp thích ứng với điêu kiện ở đây, thì các hệ sinh thái này cho năng suất và sản lượng cao hơn nhiêu so với các hệ sinh thái nông nghiệp ôn đới.  Nông nghiệp sinh thái: Một triết lí sống  Như vậy, NNST không đơn giản chỉ là một phương thức canh tác tiến bộ, thuận thiên, mà hơn thế, nó còn là một triết lý sống nhân bản và nhân văn của xã hội loài người; trên thực tế, đó là một quan niệm, một cách tiếp cận làm nông nghiệp hơn là một phương thức canh tác cụ thể mà chúng ta đang nghe, đang thấy hằng ngày như nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp chính xác, nông nghiệp số, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, v.v… NNST cũng không loại trừ phân hóa học và các hóa chất phòng chống các loài ‘gây hại’ mà sử dụng chúng một cách hợp lý, có chọn lọc, được thiên nhiên, được sức khỏe của người tiêu dùng và sự an bình của cộng đồng chấp nhận.  NNST là một “cuộc cách mạng’’, nó chạm đến vấn đề lớn nhất và sâu xa nhất của con người từ khi biết sống thành xã hội, đó là mối quan hệ của con người với tự nhiên. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là con người cần nhìn nhận đúng về vai trò của con người trong tự nhiên, trong sinh giới; nó đòi hỏi chúng ta không chỉ làm nông nghiệp một cách khác, ăn uống một cách khác, tiêu dùng một cách khác, mà quan trọng hơn là phải sống một cách khác bằng cách đặt ra các câu hỏi về cõi nhân sinh, đại loại như: thế nào là tiến bộ, thế nào là hiện đại, và căn bản hơn nữa: thế nào là hạnh phúc? Từ đó thay đổi cách suy nghĩ, cách sống, cách ‘đối xử’ với tự nhiên, cách ‘đối xử’ với đồng loại, cách làm nông nghiệp nói riêng cách làm kinh tế nói chung, cách hiểu về ý nghĩa thực sự của cuộc đời và hạnh phúc làm người…  Mặc dù nông nghiệp là nhân tạo nhưng nó vẫn nằm trong tự nhiên và vì vậy chịu sự điều khiển và tác động của tự nhiên. Lịch sử loài người đã cho thấy, nhiều nền văn minh phát triển đến đỉnh cao nhưng rồi đã mất đi vì ‘chủ nhân’ của các nền văn minh ấy đã ngộ nhận về sức mạnh của họ nên đã sai lầm khi tác động thiếu kiểm soát vào tự thiên. Có thể kể ra các nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia) của Tây Á thuộc hệ thống châu thổ sông Tigris và Euphrates, bị tàn lụi do sử dụng tài nguyên nước không hợp lý; nền văn minh Maya ở Trung Mỹ sụp đổ chủ yếu là do con người đã tàn phá các cánh rừng làm hạn hán xảy ra nghiêm trọng; Nền văn minh Angkor của đế chế Khmer ở Đông Nam Á bị suy tàn phần lớn là do người ta đã hủy hoại các cánh rừng nhiệt đới, v.v… Những câu chuyện quá khứ đó có liên hệ mật thiết với bối cảnh hiện tại.  NNST chủ trương kết hợp giữa khảo sát để học hỏi từ các hệ sinh thái tự nhiên để vận dụng vào các hệ sinh thái nông nghiệp, kế thừa kho tàng kiến thức cổ truyền, kiến thức bản địa phong phú trong quản lý và sử dụng tài nguyên của người dân địa phương, và kết hợp kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện và nguồn lực của cộng đồng, của nông hộ. Và như vậy, NNST không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị hủy diệt hay đang bị suy thoái.  NNST khuyến khích con người phát huy lòng tự tin, sự sáng tạo để cùng nhau giải quyết những vấn đề đang đặt ra ở từng địa phương cũng như các vấn đề chung: cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái, đói nghèo…  NNST góp phần tìm ra giải pháp cho vấn đề khủng hoảng môi trường, nó có khả năng tác động đến và cải thiện những vấn đề môi trường và sinh thái. Những khái niệm về NNST đã được phát triển trên nền tảng đạo đức và nguyên lý sinh thái học dẫn đến những chuẩn mực chỉ đạo đúng đắn cho người thực hành.  Triết lý của NNST là phải hợp tác và học hỏi thiên nhiên, tuân thủ những quy luật của tự nhiên, có cái nhìn tổng thể và hệ thống trong quan điểm phát triển. Như vậy, NNST không chỉ thu hẹp trong phạm vi nông nghiệp mà còn tham gia vào việc  giải quyết nhiều vấn đề mang tính toàn cục và mở rộng ra cả lĩnh vực kinh tế, thị trường, văn hóa, xã hội, đạo đức và lối sống.  Canh tác nông nghiệp sinh thái dựa trên tri thức bản địa nên có thể kết hợp hình thức du lịch canh nông,du lịch sinh thái. Trong ảnh làng hoa Sa Đéc, Đồng Tháp. Ảnh: Vinh Gấu/baovanhoa.vn.  Truyền thống canh tác sinh thái ở Việt Nam  Từ lâu đời, người nông dân Việt Nam đã biết áp dụng các hệ canh tác luân canh, xen canh, gối vụ, né lụt, tránh bão, canh tác kết hợp nhiều loại cây trồng, canh tác kết hợp trồng trọt-chăn nuôi-thủy sản-ngành nghề, canh tác nhiều tầng,…  Hệ thống kênh mương thuỷ lợi đã có từ thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, nhưng chỉ thực sự được chú ý mở mang vào thế kỷ 10-11 ở phía Bắc và thế kỷ 16 ở phía Nam, không chỉ là các hệ thống ‘chống lại tự nhiên’ mà về bản chất, đó là các hệ thống thuận thiên, nương tựa vào thiên nhiên.  Ngay ở đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, các hệ thống định canh không phải chỉ hoàn toàn là độc canh lúa. Đâu đâu cũng thấy các hệ canh tác là một tổ hợp cây trồng và vật nuôi phong phú: lúa và hoa màu trên đồng ruộng; cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây vật liệu ở trong vườn, ở hàng rào; chăn nuôi trong vườn nhà; thả cá trong ao, thả cá ngoài đồng, trong hồ đập, trong mương máng; thủ công nghiệp dùng nguyên liệu sẵn có từ nông nghiệp. Có nhiều cách kết hợp như nuôi cá ngoài ruộng lúa, thả vịt sau mùa gặt hái, làm chuồng lợn gần (hay trên) ao thả cá… Mỗi cây dùng vào nhiều mục đích: cây tre bảo vệ xóm làng, cung cấp nguyên liệu cho xây dựng, đan lát; cây mít cây nhãn cho quả và gỗ, lại là cây che bóng, chắn gió hại; cây dâu lấy lá nuôi tằm lấy tơ dệt áo quần, nhộng là một món ăn giàu đạm, sản phẩm phụ của nghề tằm tang làm phân bón cho ruộng, cho vườn.  Còn hệ thống định canh ở vùng Đông Nam Bộ được hình thành trên những “giồng” đất có nước ngọt, những vùng đất cao ven sông, đất cù lao giữa sông. Đặc biệt, người dân ở đây có kỹ thuật lên liếp làm vườn: giữa hai mương là liếp đất cao, trên liếp trồng cây, thường là nhiều tầng. Khi nước vào, phù sa lắng xuống đáy mương, khi nước xuống, phù sa được lấy lên đắp vào gốc cây làm phân bón. Kỹ thuật lên liếp này cũng thấy xuất hiện ở Mexico, Hà Lan. Miệt vườn Nam Bộ là quê hương của nhiều giống cây ăn trái nổi tiếng, là môi trường sống tốt lành cho người dân.  Hệ thống nông nghiệp “định canh” ở vùng đồi núi đặc trưng bởi các loại ruộng, vườn bậc thang: để lại chỏm cây trên đỉnh đồi, san ruộng bậc thang theo đường đồng mức, trồng cây theo bờ ruộng bậc thang (cốt khí, dứa…) ngăn đất rửa trôi, đắp ngăn các chỗ trũng làm nơi chứa nước tưới lúa, nuôi cá. Người ta cho rằng, ruộng bậc thang đã xuất hiện từ thế kỷ 16-17 ở vùng đồi núi Nam Trung Bộ.  Từ lâu, người ta đã biết lợi dụng nguồn nước tự chảy để đưa nước từ suối về nhà làm nước sinh hoạt và nước sản xuất (nước lấn), lợi dụng để giã gạo, chế tạo cọn (guồng) để đưa nước lên nhiều bậc để tưới với hệ thống ‘mương phai nái nín’ nổi tiếng. Cũng chính nông dân miền núi đã sáng tạo ra vụ lúa như vụ sau này thành vụ lúa xuân ở đồng bằng. Họ cũng tạo ra nhiều loại cây, con quý nổi tiếng trong cả nước (nếp Tú Lệ, quế Trà My, hồi Lạng Sơn, trâu Yên Bái, lợn Mường Khương, v.v…). Họ cũng sáng tạo ra nhiều công thức nông lâm kết hợp, nuôi cá lồng ở suối, sau này thành nuôi cá lồng, cá bè ở nhiều vùng đồng bằng; và hệ thống thổ canh hốc đá nổi tiếng…  Ở vùng ven biển, người ta khắc phục hiện tượng cát đụn, cát bay bằng cách trồng các hàng cây chắn gió; trồng rừng ngập mặn để lấn biển. Người ta dùng trâu cày nơi ruộng thấp, dùng dao, cuốc loại bỏ lau lách, cỏ lác cào đắp thành bờ nơi ruộng sâu (“khai sơn trảm thảo”), đào kênh mương để tưới tiêu, thau chua rửa mặn, đắp bờ giữ nước mưa, dưới mương thả cá, trên bờ trồng cây…  Truyền thống định canh được đúc kết không chỉ trong rất nhiều dân ca, tục ngữ như “nước, phân, cần, giống”, “nhất thì nhì thục”, “chiêm ba giá mùa ba mưa”, “chiêm bóc vỏ mùa xỏ tay”, v.v… mà còn thể hiện bằng những kỹ thuật dùng bèo hoa dâu trong thâm canh lúa (từ thế kỷ 11), cày ải, phơi ải đất lúa “hòn đất nỏ bằng giỏ phân”, cày vặn rạ, dùng phân chuồng, phân xanh, phân bắc, sáng tạo những giống cây quý về lương thực, thực phẩm thích ứng với từng điều kiện sinh thái, kể cả với những loại đất khắc nghiệt, còn lưu giữ đến tận ngày nay, tạo ra các loại cây, con đặc sản cho từng vùng miền, của mỗi làng xã; có những hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ truyền thống: hai vụ lúa-một vụ đậu tương, xen đậu với ngô, với dâu tằm, v.v… vô cùng phong phú.  Đã có lúc, các hình thức canh tác “xưa cũ” đó bị coi là lạc hậu, bị cấm đoán. Chẳng hạn từng có chính sách “khuyến nông” để người H’Mông ở Hà Giang ngừng trồng các giống ngô bản địa mà chuyển sang giống mới năng suất cao hơn. Tuy nhiên thực chất giống ngô mới dù năng suất cao nhưng lại khó bảo quản lâu, dễ đổ khi có gió lớn. Những tri thức và hình thức canh tác bản địa, có tính bền vững từ xưa truyền lại cần phải được nâng niu, giữ gìn và cải tiến. Hơn nữa, NNST cần và nên kết hợp với du lịch, chẳng hạn du lịch sinh thái, du lịch canh nông (hình thức cho phép khách du lịch vừa tham quan, vừa cùng người dân canh tác). Ở nhiều nơi đã tổ chức thành công các làng sinh thái (ecovillage), nay có nơi gọi là làng thuận thiên (harmonious to nature village), các mẫu hình cho các điểm định cư sinh thái ở nông thôn. □  —-  Người ta đã đề ra các khái niệm như đạo đức của NNST, nguyên lý của NNST, nguyên tắc của NNST từ lâu, ví dụ như:  (1) Đạo đức của NNST: (i) Chăm sóc và bảo vệ Trái đất-ngôi nhà chung của sinh giới; (ii) Chăm sóc con người; (iii) Tiết kiệm và giảm bớt tiêu thụ; và (iv) Phân phối dư thừa (dành thời gian dư thừa, tiền của dư thừa, năng lượng dư thừa để chăm sóc Trái đất, chăm sóc đồng loại…);  (2) Nguyên lý của NNST: Việc thỏa mãn các nhu cầu và các khát vọng của con người là mục tiêu chủ yếu của sự phát triển; NNST là nền nông nghiệp có khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không tổn thương đến khả năng thỏa mãn các nhu cầu ấy của các thế hệ mai sau.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Nông thôn Nam Bộ – Những vấn đề của hôm nay      Là vùng đất được khai phá sau cùng nhưng mau chóng trở thành vùng sản xuất lương thực hàng hóa lớn nhất cả nước, Nam Bộ đang bước vào một quỹ đạo phát triển hoàn toàn khác trước ở đó các đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường… vốn có liên tục được bổ sung thêm nhiều yếu tố mới đồng thời không ngừng được tái tạo trong những kết hợp mới. Nhưng những yếu tố ấy không phải lúc nào cũng tích cực cũng như những kết hợp ấy không phải lúc nào cũng hoàn thiện, nên có thể nghĩ tới một số vấn đề kinh tế – xã hội đang đặt ra trước sự phát triển nông thôn Nam Bộ hiện nay.      Từ 1986 rồi 1992, sự phát triển của nông thôn Nam Bộ đã từng bước được đặt trở lại vào dòng chảy truyền thống của nó, tức trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa đã định hình từ trước 1945. Nhưng những hậu quả của ba mươi năm chiến tranh từ 1945 rồi mười năm bao cấp sau 1975 chỉ mới được khắc phục một cách tạm thời và chưa triệt để. Những xáo trộn về quyền sở hữu ruộng đất trong quá khứ còn chưa được điều chỉnh và giải quyết thỏa đáng, thì vùng đất này lại mau chóng bị hút vào một quá trình phân bố lại ruộng đất – thay đổi quyền sở hữu mới gây ra những mâu thuẫn và bi kịch có khi trong từng gia đình, gia tộc, làm nứt rạn những cột trụ lâu đời và thiêng liêng nhất trong quan hệ xã hội truyền thống ở nông thôn. Trong khi đó kinh tế thị trường được từng bước phục hồi cũng không ngừng từng bước phát huy tác dụng một cách từ từ mà chắc chắn của nó trên phương diện này: đến khoảng 1996, 1997 nông thôn nhiều địa phương vùng Tây Nam Bộ đã xuất hiện tình trạng các hộ nông dân nghèo mất ruộng hàng loạt. Nhưng đó chỉ mới là khúc dạo đầu, vì đến nay tình hình đã trở nên căng thẳng hơn: ngoài nhu cầu sử dụng đất vào mục đích mới của chính quyền (mở mang đường sá, xây dựng cơ sở công ích…) và nhu cầu đất của các nhà đầu tư góp phần làm giảm diện tích canh tác, ở đây đã thực sự xuất hiện quá trình tích tụ – tập trung ruộng đất, một quá trình xem ra sẽ phủ định cả khả năng thực thi lẫn hiệu quả thực tế của chính sách hạn điền. Tuy nhiên ở đây có một vấn đề về quan điểm phát triển nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng cần được đặt ra.          Có thể nói việc nông dân bỏ ruộng phổ biến từ nam ra bắc hiện nay là dấu hiệu của quá trình tập trung ruộng đất theo quy luật, tức sức ép của kinh tế hàng hóa – cơ chế thị trường sẽ buộc một bộ phận nông dân phải chuyển qua làm nghề khác.        Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hóa nền sản xuất vật chất trong đó nổi bật là chuyển đổi – tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, và là ngành sản xuất thu hút nhiều lao động nhất trong quốc gia, nông nghiệp Việt Nam dĩ nhiên phải chịu tác động to lớn và toàn diện của quá trình chuyển đổi ấy, trong đó có việc chiếm hữu – sử dụng ruộng đất. Nhìn chung ở đây tất yếu phải diễn ra một quá trình tập trung ruộng đất tức hình thành cơ cấu kinh tế mới làm tiền đề cho việc phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp. Quá trình ấy luôn có hai kiểu thức là tập trung ruộng đất theo quy luật và tập trung ruộng đất không theo quy luật, tức tập trung ruộng đất phi kinh tế. Những hiện tượng như đám quan chức tiêu cực biến thành địa chủ mới ở Cà Mau trước đây hay lối quy hoạch bừa bãi, đền bù bậy bạ mà thực chất là mua rẻ bán đắt ruộng đất của nông dân ở nhiều địa phương vài năm nay chính là biểu hiện của quá trình tập trung ruộng đất phi kinh tế, chuyện đó dĩ nhiên phải kiên quyết ngăn chặn. Nhưng trong không ít trường hợp có thể nói việc nông dân bỏ ruộng phổ biến từ Nam ra Bắc hiện nay là dấu hiệu của quá trình tập trung ruộng đất theo quy luật, tức sức ép của kinh tế hàng hóa – cơ chế thị trường sẽ buộc một bộ phận nông dân phải chuyển qua làm nghề khác, việc chiếm hữu và sử dụng ruộng đất sẽ phải chuyển về tay một bộ phận nông dân có vốn liếng và giàu kinh nghiệm sản xuất, biết tổ chức sản xuất và thích ứng tốt với thị trường. Những biểu hiện trên bề mặt của quá trình ấy dĩ nhiên rất tàn nhẫn, chẳng hạn một bộ phận nông dân sẽ bị bần cùng hóa về mặt kinh tế, trở thành tầng lớp vô sản nông thôn (nhiều nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ năm 2007 là thuộc loại này), nhưng đó là điều tất yếu. Cho nên điều cần suy nghĩ về vấn đề này không phải là làm sao cho nông dân không bỏ ruộng, mà là làm sao để một mặt thúc đẩy quá trình ấy thật nhanh nhằm sớm ổn định kinh tế nông nghiệp, một mặt giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực về mặt xã hội của quá trình ấy để bảo đảm đời sống của bộ phận nông dân không còn ruộng và giữ gìn trật tự xã hội ở khu vực nông thôn, vì trên bình diện xã hội thì bần cùng hóa luôn dẫn người ta tới chỗ lưu manh hóa. Ở đây ngoài chiến lược đúng đắn phải có chính sách nhất quán đi kèm hệ thống các biện pháp kinh tế – xã hội phù hợp, chứ không thể hô hào lương tâm chay hay nhân đạo suông.          Trong nông nghiệp thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất – người nông dân chỉ lao động để tác động chứ không làm chủ được quá trình sinh học của cây trồng và vật nuôi, đây là chưa nói tới những bất trắc như dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán.        Từ góc độ pháp lý, còn một điểm cần nói thêm về quyền sở hữu ruộng đất . Trên bình diện chính trị thì dĩ nhiên đất đai cũng như sông biển rừng núi ở Việt Nam đều là sở hữu toàn dân, nhưng trên bình diện kinh tế thì một phần các tài nguyên ấy lại phải thuộc quyền sở hữu của những pháp nhân cụ thể. Nhưng quyền sở hữu gồm ba nội dung tức quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền chuyển nhượng, nên trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, nội dung quyền định đoạt trong quyền sở hữu đất đai là đối tượng cần được pháp luật quan tâm chế tài nhất chứ không phải là quyền chuyển nhượng như tập quán trước nay. Bởi nhìn từ một khía cạnh khác thì đất đai còn là một bộ phận hữu cơ của môi trường sống ở nông thôn, không phải cứ sở hữu là có toàn quyền định đoạt theo kiểu đào đất để bán hay đào ao nuôi cá, lấy rễ cây cổ thụ, lấy đá… tùy ý. Dĩ nhiên trong phần lớn các trường hợp nói trên những kẻ thực sự hưởng lợi không phải là người chủ sở hữu, nhưng cần nhấn mạnh rằng những kẻ trực tiếp phá hoại môi trường kiểu này luôn luôn đông hơn và thường chính là những chủ sở hữu nghèo.  Bên cạnh đó, tình hình thực tế cũng như số liệu thống kê đều cho thấy mặc dù là vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn nhất Việt Nam, hơn hai mươi năm qua nông thôn Nam Bộ vẫn chưa được đầu tư phát triển một cách tương xứng. Các chỉ tiêu y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng… ở đây đều thấp nhất so với toàn quốc, nếu tình hình này tiếp tục kéo dài sẽ có những ảnh hưởng vô cùng bất lợi tới việc nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn. Nhưng còn có một vấn đề đáng lưu ý hơn tức sự phân chia lợi nhuận giữa khâu sản xuất (nông dân) với khâu phân phối (các doanh nghiệp và tư thương thu mua nông sản hàng hóa), vì nó tác động trực tiếp tới mức sống, quyết định mức độ tích lũy để tái đầu tư của từng gia đình nông dân – đơn vị cơ sở và do đó cũng chi phối tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội lâu dài của nông thôn Nam Bộ. Đây cũng là tình hình chung trong cả nước, chẳng hạn năm trước ở miền Bắc nông dân trồng vải bị ép giá tới mức chỉ bán được 500 – 300 đồng/kg! Ở đây có thể nhắc lại một tổng kết rất đáng suy ngẫm về quan hệ lợi ích giữa nhà nông và người buôn của Kế Nhiên nước Việt thời Xuân thu “… Sáu năm được mùa thì sáu năm mất mùa, cứ mười hai năm thì có một lần đói lớn. Phàm giá gạo mua hai bán mười thì có hại cho nhà nông, mua chín bán mười thì có hại cho người buôn. Người buôn bị hại thì của cải không có, nông dân bị hại thì cỏ dại không trừ. Lên không quá mua tám bán mười, xuống không dưới mua ba bán mười thì nghề nông nghề buôn đều được lợi, giá gạo ổn định vật dùng đầy đủ, chợ không thiếu hàng, đó là cái đạo trị nước” (Sử ký, Việt vương Câu Tiễn thế gia, phần Chính nghĩa, dẫn lại từ Việt tuyệt thư). Dĩ nhiên biên độ từ “mua ba bán mười” đến “mua tám bán mười” nói trên được tổng kết trên cơ sở một thực tiễn kinh tế – xã hội xa xưa, nhưng rõ ràng việc xác định những biên độ tương tự như thế là điều cần thiết cho việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Nam Bộ trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại. Cần nhắc lại rằng, trong nông nghiệp thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất – người nông dân chỉ lao động để tác động chứ không làm chủ được quá trình sinh học của cây trồng và vật nuôi, đây là chưa nói tới những bất trắc như dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán. Người nông dân do đó phải thường xuyên đối diện với mâu thuẫn giữa tiêu dùng và tích lũy, và nếu không có một hệ thống chính sách kinh tế cũng như xã hội được xây dựng trên cơ sở các tính toán khoa học có thể giảm thiểu đồng thời từng bước tiến tới triệt tiêu mâu thuẫn mà nói cho cùng cũng là một bất công xã hội ấy, thì không thể nói tới việc xây dựng một nông thôn Nam Bộ hiện đại và phồn vinh.  Sau cùng, một vấn đề cần quan tâm trong việc xây dựng nông thôn Nam Bộ hiện nay là phương thức sống. Bởi vì bước vào thời kỳ đổi mới từ 1986 trở đi, Việt Nam nói chung và nông thôn Nam Bộ nói riêng cũng bước vào một quá trình tái cấu trúc xã hội với những mục tiêu, động lực và điều kiện hoàn toàn khác trước. Một trong những kết quả của quá trình đang tiếp diễn ấy là cuộc đấu tranh, thỏa hiệp và đan xen giữa nhiều phương thức sống, một cuộc đấu tranh phức tạp không thể tóm tắt trong một mệnh đề. Nhưng dù sao thì Việt Nam cũng phải tiến tới xây dựng một phương thức sống chính thống phù hợp mới có thể khẳng định và bảo vệ được những thành tựu kinh tế xã hội đã, đang và sẽ đạt được trên con đường đổi mới, nên có thể nghĩ tới vấn đề phương thức sống như một yếu tố cấu thành của đời sống văn hóa – xã hội ở nông thôn Nam Bộ hiện nay.          Tập tính kinh tế thiên về tiêu dùng hơn là tiết kiệm của con người Nam Bộ nói chung và nông dân Nam Bộ nói riêng đang chống lại họ trong bối cảnh xã hội tiêu thụ, điều này đã được chứng minh qua rất nhiều trường hợp nông dân nhận được tiền đền bù, giải tỏa đất đai…        Cần minh định khái niệm phương thức sống. Nó có chỗ giống với khái niệm lối sống tức có sự độc lập tương đối với mức sống, nhưng cũng có chỗ khác. Nếu lối sống là thái độ lựa chọn mang tính chất chủ động của con người đối với hiện thực xã hội, thì phương thức sống là quy trình tái sản xuất mở rộng hoạt động và chất lượng sống của con người trên cơ sở các phương thức tồn tại vật chất, phương thức sinh hoạt tinh thần, phương thức giao tiếp xã hội và phương thức quản lý xã hội cụ thể xác định. Được quy định bởi nhiều yếu tố như vậy, phương thức sống một mặt phản ảnh các quan hệ xã hội chính xác hơn, một mặt thể hiện các khuynh hướng xã hội rõ ràng hơn. Dĩ nhiên ở đây cũng tồn tại một không gian cho sự lựa chọn mang tính chất chủ động của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, nhưng sự lựa chọn ấy không hàm chứa ý nghĩa đạo đức và cá nhân như trong lối sống mà mang tính liên thông xã hội rất lớn, chẳng hạn nó hạn chế tối đa những sáng kiến lập dị cũng như những biểu hiện cực đoan có thể ảnh hưởng bất lợi tới các lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên việc xây dựng một phương thức sống phù hợp ở nông thôn Nam Bộ hiện nay đang gặp nhiều trở ngại, mà ở đây chỉ đề cập tới khía cạnh phương thức tồn tại vật chất của một bộ phận nông dân nghèo.  Nếu trở lại với những nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ năm 2007, có thể thấy hầu như họ đều không có hay không còn ruộng đất. Không có cái tư liệu sản xuất cơ bản mà cũng là cuối cùng này, toàn bộ kinh nghiệm hoạt động kinh tế trước đó của họ cũng trở thành vô nghĩa, đồng thời toàn bộ quan hệ xã hội phục vụ hoạt động kinh tế vốn có của họ cũng trở thành thừa thãi. Bị vô sản hóa về mặt tư liệu sản xuất, họ cũng đồng thời bị cô lập hóa về mặt quan hệ xã hội. Gần như hoàn toàn bị gạt ra khỏi mọi quy trình tái sản xuất mở rộng, họ đã đi tới một phương thức sống chỉ co cụm lại ở mục tiêu Kiếm ăn, hay nói cho ít tàn nhẫn hơn là Kiếm sống. Nhiều thiếu nữ nông thôn nhà nghèo ít học ở nông thôn Nam Bộ nhắm mắt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc chính đã hành xử trên căn bản phương thức sống ấy. Nhiều người khác không xuất ngoại mà tới các đô thị làm đủ mọi nghề từ bán vé số tới gái mại dâm cũng hành xử trên căn bản phương thức sống ấy. Mất đi quá khứ, họ cũng không cần có tương lai! Mà trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay thì bị gạt ra khỏi các quy trình tái sản xuất mở rộng cũng đồng nghĩa với việc bị gạt ra khỏi nền sản xuất xã hội, và đó là cách thức tốt nhất để người ta đánh mất mối liên hệ với truyền thống cũng như đứng ngoài những lợi ích của cộng đồng. Không cần chứng minh nhiều hơn là phương thức sống ấy đã tạo ra rất nhiều nạn nhân, đưa tới rất nhiều thảm kịch, nhưng có rất nhiều người như thế, và hơn thế nữa, chưa có bằng chứng nào để nói rằng số người ấy đang không tiếp tục gia tăng. Kinh tế thị trường đã rút ngắn đáng kể khoảng cách về trình độ tiêu dùng giữa các nhóm xã hội và vùng miền có năng lực tiêu dùng khác nhau trên toàn quốc, nhưng chính vì vậy mà xã hội tiêu thụ đang tạo ra nhiều bất ổn trong phương thức tồn tại vật chất của phần lớn cư dân ở nông thôn Nam Bộ, vì như đã nói ở trên, hoạt động sản xuất của nông dân bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vốn tiềm ẩn rất nhiều bất trắc, nên họ không thể giữ được mức tăng trưởng thu nhập ngoạn mục liên tục trong nhiều năm. Tập tính kinh tế thiên về tiêu dùng hơn là tiết kiệm của con người Nam Bộ nói chung và nông dân Nam Bộ nói riêng đang chống lại họ trong bối cảnh xã hội tiêu thụ, điều này đã được chứng minh qua rất nhiều trường hợp nông dân nhận được tiền đền bù, giải tỏa đất đai…  ***  Là vùng đất có ưu thế toàn diện nhất cả nước về kinh tế nông nghiệp, có truyền thống sản xuất lương thực hàng hóa rồi nông sản hàng hóa lâu đời, nông thôn Nam Bộ với những vấn đề đang đặt ra trước sự phát triển của nó hôm nay cần được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm toàn diện và kịp thời hơn nữa. Bởi vì như người ta đã thấy, nhờ Nam Bộ mà nhà Nguyễn của Gia Long mới đặt được dấu chấm hết cho gần ba trăm năm phân tranh và nội chiến ở Việt Nam trước thế kỷ XIX, và cũng nhờ Nam Bộ, Việt Nam mới trở thành quốc gia có số lượng lúa gạo xuất khẩu loại nhất nhì thế giới từ 1990 trở đi…  Cao Tự Thanh      Author                Quản trị        
0.3617021276595745
__label__tiasang      Phạm Duy Nghĩa       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nữ quyền loại trừ chuyển giới: Một phong trào nguy hiểm      Trong bối cảnh toàn cầu ngày nay, sự kỳ thị chuyển giới không chỉ đến từ các cá nhân bảo thủ, dễ buông lời khinh miệt mà còn cả từ một số người thường được gọi là nhà nữ quyền cấp tiến loại trừ chuyển giới (trans-exclusionary radical feminist, viết tắt là TERF). Trong những năm gần đây, lực lượng của họ đang lớn mạnh ở một số nước như Anh, Mỹ, v.v., đe dọa đến chính những bước tiến vẫn còn mới chớm của cộng đồng chuyển giới nói chung.     Người biểu tình ở thành phố New York giơ biểu ngữ: “Quyền chuyển giới là quyền con người”. Ảnh: Yana Paskova/The New York Times/Redux]  Nền tảng là ngộ nhận và định kiến  Về cơ bản, chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến loại trừ chuyển giới (từ đây gọi là “nữ quyền loại trừ chuyển giới”, hay NQLTCG) cho rằng chuyển giới là một khái niệm ngụy tạo của những cá nhân mà theo lời tác giả J.K. Rowling thì đang “phủ nhận rằng giới tính là có thật”. Khác với đa số các cơ quan y tế và các nhà khoa học xã hội ngày nay, NQLTCG đánh đồng giới tính sinh học với bản dạng giới, cho rằng khi một người sinh ra, bản dạng giới mà họ cảm nhận được về mặt tâm lý nghiễm nhiên sẽ trùng khớp với giới tính dựa trên nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục, v.v. Trên nền tảng này, NQLTCG cho rằng những phụ nữ chuyển giới thực chất chỉ là “đàn ông chầu chực thời cơ lạm dụng phụ nữ”, đàn ông chuyển giới chỉ là “những người đồng tính nữ bị bối rối”, còn phi nhị nguyên giới (non-binary) – khi các cá nhân không quan niệm bản thân là nam hay nữ – thì bị coi là một sự ảo tưởng, một xu thế vô căn cứ.  Ngay từ những định nghĩa cơ bản này, có thể thấy một số ngộ nhận nghiêm trọng của NQLTCG. Thứ nhất, người chuyển giới không hề cố “phủ nhận rằng giới tính là có thật.” Trên thực tế, giới tính sinh học là một chủ đề thường trực trong tâm trí người chuyển giới, nhiều khi thúc đẩy họ trải qua các cuộc phẫu thuật để cơ thể ăn khớp hơn với nhận thức giới. Khi một người phụ nữ chuyển giới mặc váy, để tóc dài hay đi giày cao gót, người này không hề tin rằng cái váy, cái tóc hay cái giày sẽ “biến” mình thành phụ nữ; bản thân họ đã là phụ nữ rồi, và những thứ trang phục kia thường có ý nghĩa như các dấu hiệu hướng ngoại để người khác biết bản dạng giới của họ là phụ nữ, chứ không nhìn vào các đặc điểm sinh học để rồi dẫn đến sự nhầm lẫn.    Nữ quyền loại trừ chuyển giới (NQLTCG) là một tư tưởng vẫn còn gây tranh cãi, được xây dựng dựa trên định kiến và các nỗi hoang mang ngụy tạo. Các phát ngôn, các hành động và các khối đồng minh được nhiều nhà NQLTCG tạo lập đã buộc những người trong và ngoài cuộc phải tự chất vấn lẫn nhau về tính “nữ quyền” trong phong trào này.    Một sai lầm cơ bản khác của NQLTCG là việc nó ngộ nhận về tính dục của người khác. Khi chủ nghĩa này coi phụ nữ chuyển giới là “đàn ông đóng giả làm phụ nữ để lợi dụng phụ nữ”, nó không những giới hạn rằng đã là phụ nữ chuyển giới thì chỉ ham muốn phụ nữ, mà còn vay mướn các định kiến từ văn hóa đại chúng của thế kỷ XX, nơi đầy rẫy những tội phạm cưỡng hiếp, những kẻ sát nhân hàng loạt được miêu tả là “đàn ông đóng giả làm phụ nữ”, tiêu biểu là nhân vật Buffalo Bill trong Sự im lặng của bầy cừu (Silence of the Lambs), hoặc là Norman Bates trong phim Psycho của Alfred Hitchcock. Chính những khuôn mẫu tiêu cực như vậy đã bóp méo hiểu biết của đại chúng về phụ nữ chuyển giới, dẫn đến sự tồn tại của các diễn ngôn không đáng có. Một ví dụ tiêu biểu là vấn đề nhà vệ sinh công cộng, nơi các nhà NQLTCG cho rằng nếu để phụ nữ chuyển giới sử dụng chung nhà vệ sinh với phụ nữ hợp giới (cisgender) thì sẽ dẫn đến xâm hại tình dục phụ nữ trên diện rộng. Dù nhiều nghiên cứu như Hasenbush và cộng sự (2018) đã chỉ ra rằng các báo cáo về tội phạm xảy ra trong nhà vệ sinh công cộng vốn dĩ “vô cùng hiếm”, các nhà NQLTCG vẫn quả quyết rằng đây là một mối nguy hại có thật, và đề xuất rằng nhà vệ sinh công cộng phải được chia theo cơ quan sinh dục của người sử dụng, thậm chí có cả nhân viên an ninh kiểm tra giới tính ghi trên giấy tờ tùy thân của mỗi ai bước vào. Đây là một ý tưởng gây nguy hại, thứ nhất là bởi theo các khảo sát của Jones và Slater (2020), các yêu cầu thắt chặt an ninh như vậy khiến người chuyển giới cảm thấy bị cô lập, bị đàn áp và mất quyền riêng tư. Thứ hai, như một số đàn ông chuyển giới đã chỉ ra, việc chia nhà vệ sinh công cộng theo cơ quan sinh dục thậm chí có thể tác động ngược đến chính những phụ nữ hợp giới mà NQLTCG có ý bảo vệ. Cụ thể hơn, phụ nữ hợp giới sẽ phải dùng chung nhà vệ sinh công cộng với những người đàn ông chuyển giới đã trải qua các cuộc phẫu thuật và tiêm testosterone để có cơ thể nam tính, tức là cả hai bên sẽ đều không thoải mái khi bước vào cùng nhà vệ sinh với nhau.  Nước Anh: một “ổ dịch” TERF  Ngày nay, nữ quyền loại trừ chuyển giới (NQLTCG) đang lớn mạnh ở một số nước Âu-Mỹ, trong đó nổi trội nhất là Anh. Một nhân vật tiêu biểu trong NQLTCG ở Anh là bà J.K. Rowling, tác giả của bộ truyện Harry Potter, người không những đã phát ngôn trên mạng xã hội Twitter về hiểm họa từ phụ nữ chuyển giới, mà còn xuất bản một tiểu thuyết trinh thám trong đó vai phản diện là một kẻ giết người hàng loạt vốn là “đàn ông đóng giả phụ nữ” – một minh chứng rõ ràng cho nguồn gốc phim ảnh của các định kiến trong phong trào này. Năm 2020, khi Rowling viết một tiểu luận thể hiện sự quan ngại rằng mở cửa nhà vệ sinh nữ cho phụ nữ chuyển giới cũng sẽ là “mở cửa cho bất kỳ gã đàn ông nào muốn vào trong”, bà đã bị chỉ trích là thiếu kiến thức và cố tình tạo dựng sự hoang mang, song thay vì lắng nghe người khác chỉ ra các thiếu sót của mình, J.K. Rowling và những nhà NQLTCG khác lại phô diễn chính mình như những người dám nói sự thật. Phải thừa nhận, tương tự như bất kỳ trường hợp tranh cãi nào khác trên mạng xã hội, một bộ phận rất nhỏ trong số những người chỉ trích J.K. Rowling đã gửi các lời đe dọa đến tài khoản Twitter của tác giả này, song trong mắt Rowling và đồng minh, bất cứ ai không đồng tình với họ thì đều là những kẻ bạo hành, những cá nhân độc hại với âm mưu riêng.  J.K. Rowling chụp ảnh năm 2011 cùng ba diễn viên chính của chuỗi phim Harry Potter. Cả ba diễn viên này đều đã lên tiếng phản đối Rowling và các phát ngôn kỳ thị người chuyển giới của bà. Ảnh: AP/Joel Ryan  Nữ quyền loại trừ chuyển giới ở Anh không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân. Ngày 26/10/2021, BBC đã đăng tải một bài báo có tựa đề “Chúng tôi đang bị một số phụ nữ chuyển giới ép phải quan hệ tình dục”, trong đó tác giả Caroline Lowbridge viết là đã phỏng vấn một số người đồng tính nữ giấu tên và được họ kể rằng “một số” phụ nữ chuyển giới đã “ép buộc” họ phải quan hệ với mình, bởi nếu không thì những người đồng tính nữ này sẽ bị coi là kỳ thị chuyển giới. Sau khi bài báo này được xuất bản, công chúng không thể kiểm chứng lời khai của những người trong cuộc bởi họ đều đã đề nghị được giấu tên, song một lời khẳng định của tác giả trong bài báo đã bị chỉ trích là sai sự thật. Cụ thể hơn, Lowbridge nói rằng khi được tiếp cận về chủ đề bài báo, tất cả các “phụ nữ chuyển giới trứ danh đã viết hoặc nói về tình dục và các mối quan hệ” đều đã từ chối phỏng vấn, song bằng chứng trao đổi trên Twitter cho thấy rằng vào ngày 2/9/2020, Lowbridge có phỏng vấn nhà hoạt động Chelsea Poe, một người phụ nữ chuyển giới đã trả lời phỏng vấn về chủ đề các mối quan hệ trên nhiều tạp chí như Slate, Cosmopolitan, v.v. Không những thế, trong bài báo của mình, Lowbridge trích dẫn bình luận của một nữ diễn viên vừa đã phải xin lỗi vì xâm hại tình dục phụ nữ, vừa gây tranh cãi do viết một bản tuyên ngôn kêu gọi xử tử người chuyển giới. Tận từ tháng 9/2020, khi Lowbridge cho biết sẽ lấy ý kiến của nữ diễn viên này, chính Chelsea Poe đã tỏ ra quan ngại về việc Lowbridge chọn một kẻ quấy rối có tư tưởng bạo lực như vậy để hỏi về chủ đề quan hệ cá nhân. Tháng 11/2021, khi được tạp chí PinkNews tiếp cận, BBC thừa nhận rằng đúng là Poe đã cảnh báo Lowbridge về nữ diễn viên kia, và đúng là Lowbridge đã phỏng vấn Poe mà không trích lời nhưng lại nói dối rằng không một người phụ nữ chuyển giới nào chịu trả lời phỏng vấn. Bất chấp các sự vi phạm liêm chính báo chí như vậy, BBC chỉ đổi tên chứ quyết không gỡ bài báo của Lowbridge bởi họ muốn tôn trọng “quyền tự do ngôn luận.” Theo Poe và nhiều người chuyển giới khác, quyết định này là bởi BBC đang cố gắng thúc đẩy tư tưởng kỳ thị chuyển giới của riêng họ – một kết luận vốn dĩ cũng không đáng ngạc nhiên, bởi chính BBC cũng đã đề cử trao giải cho tiểu luận đầy định kiến và thông tin sai lệch của J.K. Rowling.  Có thể nói, nữ quyền loại trừ chuyển giới đã trở thành một tư tưởng vừa phổ biến, vừa được truyền thông ủng hộ ở Anh, khiến cho cộng đồng LGBTQ+ ở nhiều nước khác gọi nơi này là “đảo NQLTCG” (TERF island). Trong báo cáo vào tháng 1/2022 của Ủy hội châu Âu, Anh là nước Tây Âu duy nhất bị xếp vào hàng “quốc gia đáng quan ngại” (country of concern) về vấn đề quyền LGBTQ+, với lý do là các luận điệu NQLTCG của truyền thông và chính phủ nước này “phủ nhận bản dạng của người chuyển giới”, và “đang bị sử dụng để đảo ngược quyền lợi của người chuyển giới”. Tuy nhiên, một sự thật cần phải nhắc đến là NQLTCG cũng đang bắt đầu nổi lên ở các quốc gia khác như Pháp, Hoa Kỳ, Canada, và thậm chí là đã lan truyền sang Việt Nam – một quốc gia vốn dĩ còn thiếu các kênh thông tin truyền tải nhận thức chính xác về người chuyển giới.  Cụ thể hơn, vào tháng 12/2021, cảnh sát Scotland thông báo rằng họ sẽ khai giới của mỗi tội phạm hoàn toàn dựa theo nhận thức giới của tội phạm đó, bất kể người này đã phạm tội gì. Ngay lập tức, tác giả J.K. Rowling tỏ sự phẫn nộ trên Twitter, cho rằng ý tưởng nêu trên của Scotland sẽ tạo điều kiện pháp lý cho những tội phạm hiếp dâm phụ nữ “tự gọi mình là phụ nữ.” Thái độ của Rowling được miêu tả trên tờ The Times – một tạp chí thiên hữu (right-leaning) ở Anh chuyên đưa tin theo hướng giật gân và kích thích sự tranh cãi. Đến ngày 19/12/2021, trang mạng vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam đã dịch lại bài viết này, trong đó dịch giả đặt lại tiêu đề cho bài viết là: “Nữ văn sỹ JK. Rowling: Đừng gọi những kẻ hiếp dâm bởi “cậu nhỏ” là phụ nữ!”. Ngoài ra, dịch giả còn chuyển ngữ cả các bình luận bên dưới bài viết gốc, đặc biệt là các bình luận ca ngợi Rowling là một “phụ nữ tỉnh táo” và chỉ trích quyết định của cảnh sát Scotland là “điên rồ”, “ác mộng”, “khủng khiếp”, và khiến cho “thế giới trở nên điên loạn”. Nếu việc giật tít bản dịch thể hiện rõ sự ủng hộ Rowling, thì việc dịch thêm các bình luận như trên còn cho thấy rõ một nỗ lực từ phía dịch giả nhằm tạo dựng cảm tưởng rằng đã là người sáng suốt thì sẽ quan ngại như Rowling, để rồi từ đó gợi đến tư tưởng rằng các nỗ lực tôn trọng người chuyển giới nói chung đều “điên rồ”, “khủng khiếp” và gây hại cho phụ nữ – một dấu chỉ của chủ nghĩa nữ quyền loại trừ chuyển giới.  Người biểu tình ở London vào ngày 6/7/2019 với biểu ngữ: “Người chuyển giới không cố nhìn bà đi tiểu đâu, Sharon!” Ảnh: Tristan Fewings/Getty Images for Pride in London]  Có phải nữ quyền hay không?  Trong bài nghiên cứu xuất bản năm 2020 trên tạp chí xã hội học The Sociological Review, nhóm tác giả Ruth Pearce, Sonja Erikainen và Ben Vincent đã chỉ ra rằng cho dù NQLTCG mới nổi lên những năm gần đây, cảm hứng của chủ nghĩa này thực chất đã tồn tại ít nhất là từ cuối thập kỷ 1970, khi một số nhà nữ quyền cấp tiến (radical feminist) miêu tả phụ nữ chuyển giới là những cá nhân “thâm nhập” vào các không gian của phụ nữ và “chiếm dụng” cơ thể phụ nữ. Theo phân tích của Pearce và đồng tác giả, các nhà nữ quyền cấp tiến nêu trên đã bỏ ngoài tai các đóng góp lớn ở thập niên 1990 của những nhà lý thuyết về giới như Judith Butler, để rồi tiếp tục một phong trào hoàn toàn dựa trên các khái niệm sinh học về “tính phụ nữ chung” (shared womanhood). Nếu như Judith Butler và các thế hệ nữ quyền sau này đồng ý rằng giới được tạo nên từ việc đánh dấu một người là “đàn ông” hoặc “đàn bà” dựa trên các hành vi, cách ăn mặc, v.v. có tính lặp lại, thì NQLTCG vẫn quả quyết rằng bản chất sinh học quyết định tất cả, nghĩa là một người sinh ra đã được cơ thể quyết định là “đàn ông” hoặc “đàn bà”, và lớn lên thì “đàn ông” nghiễm nhiên phải có các hành vi, cách ăn mặc thế này, trong khi “đàn bà” thì nghiễm nhiên phải có các hành vi, cách ăn mặc thế kia.  Với một phân tích như vậy, thật dễ vạch ra được một hướng giải quyết vấn nạn NQLTCG: tích cực giáo dục về giới nhằm nâng cao nhận thức chung của mọi người. Tuy nhiên, những năm gần đây, nhiều nhà NQLTCG đã bắt đầu vay mượn cả từ vựng của phe bảo thủ mà bản thân nữ quyền đã chống lại từ bấy lâu nay; theo họ, quan niệm rằng giới không hoàn toàn phụ thuộc vào sinh học chính là một “ý thức hệ” (ideology) độc hại, “không tự nhiên” (unnatural). Trên mặt trận pháp lý ở Hoa Kỳ, để chống lại các dự thảo luật bảo vệ quyền lợi của người chuyển giới nói chung, các nhà NQLTCG còn liên kết với các tổ chức cánh hữu Thiên Chúa giáo, vốn dĩ nổi tiếng với các luận điệu bài Do Thái, phân biệt chủng tộc, thậm chí là kỳ thị phụ nữ. Chính vì lý do này, nhiều nhà hoạt động, bao gồm cả người chuyển giới, đã yêu cầu ngừng gọi nữ quyền loại trừ chuyển giới là “nữ quyền”, mà thay vào đó là một phong trào kỳ thị khác, một dạng kiến chấp (bigotry) góp phần đe dọa đến sự tồn tại và cuộc sống thường ngày của cộng đồng LGBTQ+ đã và đang ở ngoài lề của xã hội. Tuy nhiên, những học giả như nhóm của Ruth Pearce thì lại cho rằng chữ “nữ quyền” hoàn toàn phù hợp cho tên gọi của chủ nghĩa này, bởi xét cho cùng, chủ nghĩa này lấy cảm hứng từ các nhà nữ quyền cấp tiến ở nửa sau thế kỷ XX. Việc để lại chữ “nữ quyền” buộc những nhà nữ quyền ngày nay phải thừa nhận di sản phức tạp của một bộ phận những nhà nữ quyền đi trước, tương tự như việc một số nhà nữ quyền tiên phong ở Hoa Kỳ đầu thế kỷ XX đã tham gia vào chủ nghĩa da trắng thượng đẳng và giết hại người da đen. Sự thừa nhận như vậy không phải là để làm các nhà nữ quyền ăn năn hối lỗi, mà là để họ nắm được quá khứ và hướng tới một phong trào đấu tranh có tính bình đẳng hơn trong tương lai.  Nói tóm lại, nữ quyền loại trừ chuyển giới (NQLTCG) là một tư tưởng vẫn còn gây tranh cãi, được xây dựng dựa trên định kiến và các nỗi hoang mang ngụy tạo. Các phát ngôn, các hành động và các khối đồng minh được nhiều nhà NQLTCG tạo lập đã buộc những người trong và ngoài cuộc phải tự chất vấn lẫn nhau về tính “nữ quyền” trong phong trào này. Tuy nhiên, một sự thật không cần phải đặt câu hỏi chính là tác động của chủ nghĩa này đối với người chuyển giới nói riêng và cả cộng đồng LGBTQ+ nói chung. Trong bối cảnh sự trỗi dậy của các chính quyền cánh hữu kỳ thị người LGBTQ+ tại các nước Anh, Hoa Kỳ, Ba Lan, Hungary, v.v., các nhà nữ quyền loại trừ chuyển giới không những tiếp tay, mà còn trực tiếp vào cuộc cùng với những kẻ kỳ thị khác, đe dọa đến cuộc sống, thậm chí là mạng sống của những người chuyển giới trong xã hội hiện nay.□  —–  Committee on Equality and Non-Discrimination of the Parliamentary Assembly of the Council of Europe (2021), Combating rising hate against LGBTI people in Europe. assembly.coe.int/LifeRay/EGA/Pdf/TextesProvisoires/2021/20210921-RisingHateLGBTI-EN.pdf  Hasenbush, A., Flores, A., Herman, J. (2018), “Gender identity nondiscrimination laws in public accommodations: A review of evidence regarding safety and privacy in public restrooms, locker rooms, and changing rooms”, Sexuality Research and Social Policy 16(1), pp. 70–83.  Jones, C. & Slater, J. (2020), “The toilet debate: Stalling trans possibilities and defending ‘women’s protected spaces’”, The Sociological Review 68(4), pp. 834-851.  Pearce, R., Erikainen, S., & Vincent, B. (2020), “TERF wars: An introduction”, The Sociological Review 68(4), pp. 677-698.  Wakefield, L. (2021), “Trans sex worker went unpublished by BBC because she didn’t ‘fit their narrative’”, PinkNews. pinknews.co.uk/2021/11/04/bbc-trans-chelsea-poe-lily-cade/    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Nước biển dâng nhấn chìm năm hòn đảo ở Thái Bình Dương      Năm hòn đảo thuộc Quần đảo Solomon đã bị “nuốt chửng” bởi mực nước biển dâng cao, hiện tượng này đã hé lộ một tương lai không mấy tươi sáng cho những quốc gia nằm ở các vùng đất thấp.        Trong hai thập kỷ qua, dưới tác động kép của hiện tượng ấm lên toàn cầu và cường độ gió mậu dịch tăng mạnh hơn, mực nước biển ở Quần đảo Solomon đều đặn dâng cao ở mức trung bình là 7mm/năm. Tiến sĩ Simon Albert của trường Đại học Queensland cho biết: “Sự kết hợp “hoàn hảo” giữa sự gia tăng của mực nước biển trên toàn cầu cộng với áp lực từ chu kỳ gió mậu dịch tự nhiên đã và đang đẩy thêm nước vào khu vực Tây Thái Bình Dương.” Ông cũng cho hay, hiện nay, tỉ lệ mực nước biển dâng cao trên toàn cầu là 3mm/năm, nhưng tới cuối thế kỷ 21, con số này rất có thể sẽ tăng lên mức 7mm/năm tương tự như Quần đảo Solomon ngày nay do nhiệt độ tăng làm băng tan chảy và gây ra hiện tượng dãn nở nhiệt ở các đại dương.     Do những chênh lệch về khí hậu và các tác nhân khác, mực nước biển ở các nơi trên thế giới tăng không đồng đều nhau. Ở khu vực Thái Bình Dương, mực nước biển dâng cao ở mức 3-5mm/năm. Theo một nghiên cứu từ năm 2010, một số đảo san hô ở đây đã kịp thời phát triển và mọc cao để thích nghi với sự biến đổi khí hậu. Đồng thời, sóng và các dòng hải lưu ở đây cũng giúp đẩy thêm cặn vào bờ, từ đó làm giảm bớt tác động của mực nước biển dâng cao. Nhưng Quần đảo Solomon lại chịu tác động trầm trọng hơn cả bởi sự biến đổi khí hậu đã làm áp lực gió mạnh hơn, càng đẩy thêm nước vào khu vực này.      Để tìm hiểu về các tác động của mực nước biển dâng cao đối với các vùng bờ biển của 33 đảo san hô thuộc Quần đảo Solomon, tiến sĩ Albert và các đồng nghiệp đã phân tích những hình ảnh chụp từ vệ tinh và ăng-ten thực hiện từ năm 1947 đến năm 2014. Kết quả cho thấy, năm hòn đảo xuất hiện trong các bức ảnh chụp từ năm 1947 có diện tích dao động từ 1 – 5 ha đã hoàn toàn biến mất vào năm 2014. Cũng trong thời gian này, sáu hòn đảo khác đã bị thu hẹp diện tích từ 20 – 60% – kết quả này cũng trùng khớp với những lời kể của người dân sinh sống tại quần đảo. Đảo Nuatambu, hòn đảo đông dân nhất trong số 33 hòn đảo với tổng số 25 hộ gia đình, đã chứng kiến 11 ngôi nhà bị nước biển cuốn trôi kể từ năm 2011 tới nay.     Theo tiến sĩ Matt King của trường Đại học Tasmania, dẫu nhiệt độ toàn cầu có duy trì ở mức hiện tại thì trong những thế kỷ tới đây mực nước biển vẫn tiếp tục dâng cao, bởi: “Các con sông băng vốn đã bị mất cân bằng với môi trường xung quanh rồi, nên băng sẽ tiếp tục tan chảy. Với tỉ lệ nước biển dâng cao như hiện nay thì tình huống khả dĩ nhất có thể xảy ra là nó sẽ đều đặn tăng và có thể đạt mức tăng vài chục cm mỗi năm.” Và nhiều viễn cảnh tồi tệ hơn có thể xảy ra nếu chúng ta không có hành động nào để kiểm soát lượng phát thải khí carbon dioxide.     Những gì đã xảy ra đối với Quần đảo Solomon là một cánh cửa giúp chúng ta nhìn vào tương lai – và trong tương lai, không phải một vài hòn đảo riêng lẻ mà toàn bộ một quốc gia cũng có thể bị xóa tên trên bản đồ thế giới”, tiến sĩ King nói.       Đăng Quang dịch  https://www.newscientist.com/article/2087356-five-pacific-islands-vanish-from-sight-as-sea-levels-rise/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước chủ nhà đã sẵn sàng đón khách APEC      Sẽ có khoảng 10 ngàn người tham dự Tuần lễ cấp cao APEC, gồm hơn 7.500 khách quốc tế trong đó có trên 5.000 đại biểu chính thức và tuỳ tùng, gần 1.000 đại biểu doanh nghiệp và 2000 phóng viên. Thông tin trên được Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Lê Công Phụng cho biết chiều 9/11.    Tuần lễ Cấp cao APEC diễn ra từ 12-19/11 gồm 17 sự kiện chính trong đó có các Hội nghị quan trọng như Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 14, Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế lần thứ 18; Hội nghị các Quan chức Cao cấp phiên tổng kết; Hội nghị Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC và Hội nghị Thượng đỉnh các Tổng Giám đốc Doanh nghiệp.   Trong khuôn khổ Tuần lễ cấp cao còn có nhiều hoạt động quan trọng khác như Diễn đàn xúc tiến thương mại và đầu tư với Việt Nam với quy mô lớn chưa từng có khi có tới sự tham gia của hơn 700 doanh nghiệp hàng đầu châu Á-Thái Bình Dương…   Tuần lễ Cấp cao là sự kiện quốc tế quan trọng và quy mô nhất mà Việt Nam từng tổ chức.Thứ trưởng Lê Công Phụng khẳng định, tính đến thời điểm này, tất cả công tác chuẩn bị của Việt Nam cho hội nghị cấp cao đã sẵn sàng kể cả về nội dung, công tác lễ tân, hậu cần…   Về nội dung, sau gần một năm, VN đã điều hành và chuẩn bị tốt về mặt nội dung cho các hội nghị trong khuôn khổ APEC 2006 đặc biệt là hội nghị bộ trưởng, hội nghị SOM. Hiện nay, phía Việt Nam nói chung và Ban thư ký APEC Việt Nam nói riêng đang liên hệ với đối tác thành viên để hoàn thiện các văn kiện cho hội nghị cấp cao.   Về công tác lễ tân, hậu cần và an ninh, các tiểu ban đã xây dựng và trình Chủ tịch uỷ ban quốc gia APEC 2006 đề án về các vấn đề liên quan như đề án tổ chức tuyên truyền, đề án lễ tân, đề án vật chất hậu cần, kịch bản chi tiết cho từng hoạt động…   Ngoài ra, ban tổ chức đã có kế hoạch chi tiết về bảo vệ an ninh cho các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nguyên thủ các nền kinh tế thành viên, các địa điểm họp, sân bay khách sạn, đảm bảo y tế, an ninh thực phẩm, an toàn giao thông trong suốt thời gian diễn ra Tuần lễ cấp cao APEC.   Công tác chuẩn bị cho hoạt động báo chí trong thời gian hội nghị cấp cao cũng đã hoàn tất. Cho tới nay đã có 500 phóng viên Việt Nam và 1.500 phóng viên nước ngoài đăng ký tham gia đưa tin về hội nghị cấp cao.   Trả lời câu hỏi về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Bush, Thứ trưởng Lê Công Phụng cho biết: ”Cả Mỹ và Việt Nam đều đang tích cực chuẩn bị cho chuyến thăm này, hai nước rất coi trọng và đánh giá cao các cuộc  trao đổi sắp tới giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam với Tổng thống Mỹ Bush. Ông Bush sẽ có các cuộc hội đàm với các vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và  Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.   Hai bên sẽ cùng nhau nhìn lại những bước phát triển trong quan hệ hai nước trong thời gian qua. Đồng thời bàn thảo thương lượng về các mục tiêu trong tương lai quan hệ hai nước, các bước đi cần thiết  để thúc đẩy quan hệ Việt Mỹ trên nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vực an ninh, kinh tế, đầu tư, thương mại”…   Thứ trưởng Lê Công Phụng cũng khẳng định, dù Quốc hội Mỹ có hay không thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam trước khi Tổng thống Mỹ Bush thăm Việt Nam, phía Việt Nam cũng làm hết sức mình để chuyến thăm của Tổng thống Mỹ thành công tốt đẹp.    (Theo VietNamNet)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Mỹ trong mắt người Trung Quốc      Người Trung Quốc nhìn nước Mỹ với con mắt như thế nào? Đây quả là một câu hỏi không dễ trả lời. Không chỉ giới lãnh đạo Trung Quốc, để có được chính sách đối với Mỹ hợp lòng dân, rất muốn biết 1,3 tỷ đồng bào mình nghĩ gì về nước Mỹ, mà rất nhiều người trên thế giới cũng muốn biết người Trung Quốc nghĩ gì về nước Mỹ.    Một số cơ quan truyền thông Trung Quốc đã  tiến hành những cuộc thăm dò ý kiến về vấn đề đó, kết quả cho thấy có  nhiều ý kiến trái ngược.   Là nước duy nhất trên thế giới gọi quốc gia Bắc châu Mỹ này là “Mỹ Quốc”, tức “Quốc gia tốt đẹp” nhưng người Trung Quốc vẫn hết lời chê nước Mỹ có lắm cái xấu. Chê bai đấy, nhưng lại say sưa hướng ánh mắt sang bên kia Thái Bình Dương, mong có ngày được đặt chân lên đất nước kỳ diệu ấy: Ngày 8/5/1995, sứ quán Trung Quốc tại Nam Tư bị trúng tên lửa Mỹ, hai cán bộ Trung Quốc chết. Lập tức học sinh sinh viên Trung Quốc xông tới các cửa hiệu McDonald’s, Kentuky biểu tình phản đối. Nhưng hôm sau họ lại kéo nhau đến sứ quán Mỹ xếp hàng rồng rắn xin visa đi Mỹ du học. Năm 2011 có gần 158 nghìn học sinh Trung Quốc đang học ở Mỹ, đông hơn bất cứ nước nào và tăng 23% so năm trước.  Trung Quốc rất mong nước mình được giàu mạnh giỏi giang như Mỹ – siêu cường bá chủ toàn cầu, mạnh nhất trong lịch sử loài người sau đế quốc La Mã, là “đại ca” của tất cả các nước khác. Chả thế mà Hollywood từng làm một bộ phim giả tưởng Trái đất bị người ngoài hành tinh xâm lăng, một mình đại ca Mỹ đứng ra cứu cả nhân loại. Bởi vậy không có gì lạ khi thấy người Trung Quốc nghĩ về nước Mỹ nhiều hơn về bất kỳ nước nào khác, kể cả về anh hàng xóm Ấn Độ mấy nghìn năm trước Đường Tăng từng đến thỉnh kinh và ở lại 15 năm.   Gần đây, Nhật báo Trung Quốc kết hợp một tập đoàn Tư vấn lần đầu tiến hành cuộc điều tra “Nước Mỹ trong mắt người Trung Quốc” với quy mô lớn chưa từng thấy. Sau đây là tóm tắt kết quả cuộc điều tra ấy.  Hầu hết người Trung Quốc (90,9%) cho rằng mối quan hệ Trung Quốc-Mỹ vô cùng quan trọng cho việc phát triển ổn định. Trong khi coi Mỹ là mối đe dọa đối với an ninh chiến lược của Trung Quốc, nhưng đa số vẫn nói nên giữ quan hệ tốt với Mỹ (54,3%) và cho rằng có ba vấn đề lớn nhất hai nước nên bàn bạc giải quyết là tình hình bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan và mất cân đối thương mại Trung Quốc – Mỹ. Hơn 80% cho rằng Mỹ có lỗi trong việc làm quan hệ hai nước xấu đi, chỉ 16,2% nói cả hai bên đều có trách nhiệm. Nhìn chung giới trẻ Trung Quốc lạc quan về tương lai mối quan hệ với Mỹ. Họ quan tâm nhất vấn đề hợp tác kinh tế và giáo dục thanh niên. Gần 70% người nhận định 20 năm tới Trung Quốc sẽ vượt Mỹ về GDP.   Gần 53% công chúng Trung Quốc cho rằng nên khuyến khích doanh nghiệp hoặc cá nhân nước này sang Mỹ đầu tư, trong khi 34% nói nên tìm cách giảm đầu tư của Mỹ tại Trung Quốc.  Nhìn tổng thể về mức độ tình cảm tốt của người Trung Quốc đối với Mỹ tăng ổn định trong thập niên đầu tiên thế kỷ XXI và đạt đỉnh cao vào năm 2009, khi Tổng thống Obama mới nhậm chức. Sau các cọ xát căng thẳng trong năm 2010, mức độ này giảm dần nhưng vẫn cao hơn thời gian 2001-2005. So với giới trung niên và cao tuổi, lớp trẻ Trung Quốc có tình cảm tốt hơn với Mỹ.  Trả lời câu hỏi nhân tố nào ảnh hưởng tới tình cảm đối với nước Mỹ, 53% người Trung Quốc nói đó là những hành động về chính trị (đối với Trung Quốc) của Mỹ ; 47% nói đó là những hành động về kinh tế; 30% – những hành động đối với các quốc gia hoặc tổ chức khác; 22% – văn hóa đại chúng Mỹ; 8,5% – ảnh hưởng của giới nhà giàu Mỹ; 7,4% – ảnh hưởng của các ngôi sao văn hóa Mỹ.  Rõ ràng đa số người Trung Quốc không ưa thái độ chính trị của Mỹ: 86,7% và 81,7% phản đối Mỹ có hành động quân sự đối với bán đảo Triều Tiên và đóng quân ở Đông Nam Á, bán vũ khí cho Đài Loan, can thiệp vào tình hình Biển Đông.  Nhưng họ ngày càng tỏ ra có lý trí hơn trước khi nhận định về các xung đột với Mỹ trên mặt kinh tế: trong khi 50,8% phản đối chế độ thuế có tính trừng phạt Trung Quốc của Mỹ thì 39,8% nói có thể chấp nhận chế độ đó.  Kết quả điều tra cho thấy phần lớn người Trung Quốc có ấn tượng tốt về người Mỹ. Thí dụ 20% đánh giá người Mỹ “có tinh thần độc lập tự chủ” ; 13,4% đánh giá “có khả năng sáng tạo”; 6,9% đánh giá người Mỹ “tự tin”; 15% đánh giá “có chủ nghĩa cá nhân”. Nhưng trong số những người đã thăm Mỹ về, có tới 21,8% đánh giá người Mỹ “tự tin”, cao hơn hẳn con số 6,9%.  Nhưng cũng có 22,7% người cho rằng người Mỹ “tự cao tự đại”; “chủ nghĩa cường quyền” (21%); “hiếu chiến” (8,6%).  Điều tra cho thấy chính khách Mỹ được người Trung Quốc có ấn tượng sâu sắc nhất là ông Clinton (20,3%), thứ nhì là Lincoln (17,3%). Tổng thống Nixon đứng thứ ba (11,4%), đương kim Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Hillary xếp thứ 7 và 10 trong số những chính khách Mỹ được nhiều người Trung Quốc có ấn tượng sâu sắc.  Qua cuộc điều tra cho thấy, phần lớn những người có học, dân thành thị, giới nhà giàu, giới trí thức và quan chức nhìn nước Mỹ với ánh mắt khâm phục một cách kín đáo. Điều đó thể hiện ở số lượng người xin sang Mỹ định cư ngày một tăng, nhất là giới nhà giàu. Hội các tổ chức môi giới xuất cảnh vì việc riêng ở Bắc Kinh cho biết: năm 2009 số người Bắc Kinh khai báo có visa loại EB-5[1] sang Mỹ làm dân di cư đầu tư từ 500 người năm 2008 tăng lên tới hơn 1000 người. Số chuyên gia kỹ thuật xin sang Mỹ nhiều gấp 20 lần số dân di cư đầu tư. Chính phủ Mỹ cho biết trong năm 2010 lượng người Trung Quốc được duyệt cấp visa EB-5 tăng mạnh, chiếm khoảng 70% tổng số visa loại này đã cấp. Hiện nay giới nhà giàu Trung Quốc vẫn tiếp tục mua bất động sản ở Mỹ rồi đưa cả gia đình sang định cư. Thời gian 2005-2010, tỷ lệ giới đầu tư nước này nhập cư Mỹ tăng 73%.  Bài viết Tại sao người giàu Trung Quốc muốn di cư tới Mỹ đăng trên tạp chí Forbes số ra ngày 11/9/2011 đã liệt kê các ưu thế làm cho nước Mỹ trở thành cục nam châm thu hút giới nhà giàu của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Họ đều biết cái có sức hút mạnh nhất là tự do dân chủ và không quên câu nói tại Australia của Tổng thống Obama nhưng dường như nhằm vào Trung Quốc: Thịnh vượng mà không có tự do thì chỉ là một hình thức khác của nghèo khó (Prosperity without freedom is just another of poverty).   Trung tướng-giáo sư Lưu Á Châu Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc từng phát biểu một nhận xét tổng quát như sau, có thể đại diện cho quan điểm chung của những người có hiểu biết ở Trung Quốc: Nước Mỹ có một sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức, là quốc gia do nhiều triệu con người không yêu tổ quốc mình họp thành nhưng đều rất yêu nước Mỹ.[2].  —  Ghi chú  [1] Là loại visa do Chính phủ Mỹ đặt ra nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Mỗi năm Mỹ chỉ nhận 10.000 người nhập cư theo diện visa EB-5. Muốn có visa này, người nhập cư phải đầu tư vào Mỹ ít nhất 1 triệu USD (hoặc 0,5 triệu nếu đầu tư vào khu vực tạo việc làm); phải lập công ty mới; phải tạo ra việc làm cho ít nhất 10 người Mỹ trong ít nhất 2 năm.  [2] Xem: http://tuanvietnam.net/2010-08-15-niem-tin-va-dao-duc.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Mỹ từng chia rẽ vì nữ quyền      Những nhà hoạt động vì nữ quyền rất lo lắng cho tương lai của phong trào này khi tổng thống Donald Trump phát ngôn gây sốc, tỏ ra khinh miệt phụ nữ và không ủng hộ phong trào nữ quyền. Sự lo lắng ấy rõ ràng là có cơ sở, bởi vì trong lịch sử, đã có những chính trị gia kéo lùi phong trào nữ quyền. Việc Tu chính án về Quyền bình đẳng ở Mỹ bị bác bỏ gắn liền với sự phản đối nữ quyền của chính trị gia bảo thủ Phyllis Schlafly là một ví dụ điển hình.      Schlafly cùng những người phản đối Tu chính án về Quyền bình đẳng với khẩu hiệu “stop era”. Nguồn: bloomberg.  Vào những năm 1970, phong trào phụ nữ đang dâng lên thành một làn sóng. Đại hội lần thứ 92 của ngành lập pháp Mỹ, diễn ra trong 2 năm 1971 – 1972, thông qua một dự luật trao nhiều quyền cho nữ giới hơn so với tất cả các phiên đại hội của ngành lập pháp trước đó, trong đó có điều 9 của Tu chính án giáo dục (cấm phân biệt, kỳ thị giới trên mọi khía cạnh trong các chương trình giáo dục nhận hỗ trợ của liên bang). Vào năm 1972, tòa án tối cao đưa ra phán quyết “Eisenstadt v. Baird” đã trao quyền hợp pháp cho những phụ nữ chưa kết hôn có thể sinh con, và vào năm 1973, phán quyết “Roe chống lại Wade” đã cho phép phá thai hợp pháp trong toàn nước Mỹ. Mặc dù trào lưu chống nữ quyền luôn hiện hữu, nhưng tổng thống Nixon đã ủng hộ cho chương trình của Đảng cộng hòa vào năm 1972, trong đó có những mục tiêu về nữ quyền và các chương trình chăm sóc trẻ trên toàn liên bang.  Chủ nghĩa nữ quyền cơ sở đã đạt được bước tiến quan trọng. Phụ nữ trên toàn nước Mỹ đã tập hợp lại để xây dựng các trung tâm hỗ trợ nạn nhân gặp khủng hoảng khi bị hiếp dâm và những nơi trú ẩn cho nạn nhân bị lạm dụng tình dục trong cả nước. Cuốn sách Cơ thể chúng ta, bản thân chúng ta được in. Các dự án nhằm xóa bỏ phân biệt giới tính bắt đầu lan tỏa trên truyền thông đại chúng.  Tâm điểm được dư luận chú ý là Tu chính án về quyền bình đẳng (ERA), có mục đích nhằm đem đến cho nam giới và nữ giới quyền bình đẳng trong tất cả các khía cạnh của đời sống. Dường như phong trào đòi nữ quyền đã thành công nhanh chóng sau khi cả Hạ viện và Thượng viện ủng hộ tu chính án này trong năm 1972 (sau đó còn cần khoảng ¾ cơ quan lập pháp ở các bang trong toàn nước Mỹ phê chuẩn để được thông qua).  “Cho đến giữa năm 1970, cả hai đảng ở Mỹ đều nhận thấy rằng họ nên hỗ trợ cho phong trào đòi nữ quyền”, Marjorie Spruill, người đã viết về chủ đề này trong cuốn sách mới Divided We Stand: The Battle Over Women’s Rights and Family Values That Polarized American Politics [Chia rẽ lập trường: Cuộc chiến chống lại nữ quyền và các giá trị gia đình đã làm phân cực chính trị Mỹ].   Nhưng sự ủng hộ của hai đảng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn ngủi. Vào năm 1972, Phyllis Schlafly, nữ lãnh đạo phe bảo thủ đã vận động một phong trào với mục tiêu duy trì vai trò nội trợ của người phụ nữ, chống phá thai, hạn chế phúc lợi của chính phủ và xã hội – đã đưa đến các cuộc tranh luận về các quyền của phụ nữ và vai trò của chính phủ trong việc thực thi chúng. Chiến dịch đầy nỗ lực của Schlafly để hủy ERA (và đã thành công, khi cuối cùng ERA không nhận được sự ủng hộ cần thiết của cơ quan lập pháp ở ¾ tổng số bang ở Mỹ) và những người ủng hộ bà cũng đã thành công trong việc làm suy yếu phong trào nữ quyền bằng việc biến nó trở thành những vấn đề mang tính đảng phái.  Sự khác biệt giữa hai nhóm nữ quyền và bảo thủ lên đến đỉnh điểm vào năm 1977, tại Houston. Nhân sự kiện do Liên hợp quốc bảo trợ từ hai năm trước, tổng thống Gerald Ford đã thành lập một ủy ban điều tra các vấn đề của phụ nữ, sau đó Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua năm triệu USD để tài trợ cho việc tổ chức các hội nghị khu vực và một hội nghị toàn quốc. Kết quả của những hoạt động này là một Hội nghị Phụ nữ toàn quốc. Đáng lẽ hội nghị là nơi để đoàn kết tất cả phụ nữ và mang tới cho họ cơ hội để cất lên tiếng nói hi vọng vào chính phủ trong tương lai. Thay vào đó, Hội nghị này đã trở thành một chiến trường, với một bên là Schlafly tuyên bố “tài chính liên bang dành cho một hội nghị ngớ ngẩn về phong trào nữ quyền đầy thất bại”. Schlafly đã dẫn đầu một đoàn 15000 người “ủng hộ gia đình”, những người tự hào tuyên bố rằng họ tự chi trả cho chính mình chứ không ỷ lại vào nguồn tài trợ của Quốc hội. Các cuộc biểu tình diễn ra ngay cách Hội nghị Phụ nữ toàn quốc chỉ năm dặm, đã tuyên bố chống lại việc phá thai, quyền của đồng tính nữ và ERA. Phong trào biểu tình của Schlafly và những người ủng hộ bà đã dẫn đến sự chia rẽ trong việc hỗ trợ chính trị cho phong trào đòi quyền của phụ nữ và vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay.  Bảo Như lược dịch.  Nguồn: http://www.smithsonianmag.com/history/1977-conference-womens-rights-split-america-two-180962174/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Nhật là một xã hội thiền      Đối diện với thế gian “vô thường” bằng cảnh giới “thường”, người Nhật đã vượt qua chính mình từ đó.    Sau trận động đất kinh hoàng kéo theo sóng thần xảy ra ngày 11/3 tại vùng đông bắc nước Nhật, cư dân trên địa cầu lại bị “chấn động” bởi tinh thần quật cường, ý chí bền bỉ, dẻo dai, phẩm chất khắc kỷ, tự trọng và tâm thái cam chịu, bình thản tuyệt vời của người dân Nhật. Những dấu hiệu ban đầu càng cho thấy sức mạnh hồi sinh tiềm ẩn đằng sau một dân tộc từ lâu đã hứng chịu nhiều thiên tai. Và điều đáng nói nhất ở đây đó là tâm thái của người Nhật – một tâm thái “thường” trước những diễn biến “vô thường” trên thế gian.   Cách ứng xử văn hóa của người Nhật trong thời khắc sinh tử, khi con người phải đối diện với vấn đề hiện sinh càng khiến cho nhiều người bàng hoàng. Tinh thần Nhật không đi từ chiều rộng hoành tráng của chiến dịch “chống thiên tai”, mà thấm xuống tầng sâu, bằng những chi tiết nhỏ đi vào tâm hồn và lòng trắc ẩn của con người. Trong cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh”, tác giả Samuel Huntington từng chỉ ra sự lúng túng của nhiều nhà nghiên cứu trong việc sắp xếp nền văn minh Nhật. Từng chịu ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa, Châu Âu, nhưng rốt cuộc, “Nhật Bản về mặt văn hóa là một nước đơn độc”, hiểu theo ngôn ngữ đương đại, đó là quốc gia có bản sắc văn hóa.  Rất nhiều bài báo mô tả quang cảnh trật tự xếp hàng nhận thực phẩm cứu trợ của người Nhật nhằm ngợi ca tính kỷ luật của người dân nơi đây. Thực tế, thói quen xếp hàng phổ biến ở nhiều quốc gia công nghiệp, người dân nước ta vào thời kỳ bao cấp cũng từng xếp hàng “rồng rắn” để hứng nước hay mua nhu yếu phẩm… Song, chúng ta cần khu biệt giữa xếp hàng trong điều kiện “thường” và “vô thường”. Tính kỷ luật của người Việt nói chung phổ biến bằng hành vi chịu sự ràng buộc bởi thuộc tính ngoại tại, khi thiếu giám sát, nó sẽ tự giải cấu (giải thể cơ cấu). Giống như việc tham gia giao thông, có cảnh sát, người ta dừng trước đèn đỏ, còn không có công an, đèn xanh, đèn đỏ hay đèn vàng đều “vô phân biệt”. Nói thế nhằm tránh lối tư duy suy diễn giản đơn theo kiểu “nhân rộng”, “sinh sản vô tính” một cách hồn nhiên tinh thần, văn hóa Nhật. Vì, dù rằng chúng ta có thượng tôn pháp luật hay thực thi nghiêm khắc, chắc sẽ chỉ có tác dụng trong điều kiện “thường” mà thôi! Cái “giới” bên ngoài và “giới” bên trong vốn khác nhau, giữa một đằng là hành vi “tự lập pháp” còn một bên là “luật pháp”.  Công dân Nhật là những người được giáo dục bằng lòng tự trọng, tự kỷ, tự lập pháp, nên giá trị văn hóa mà họ thủ đắc có tác dụng điều tiết hành vi một cách đơn độc như chính nền văn hóa “độc nhất vô nhị” này phơi bày ra trước nhiều niền văn minh khác. Chúng ta đã biết về tinh thần thượng võ của giới Samurai. Tinh thần ấy cũng phủ lấp cả giới nhân sĩ, trí sĩ, cùng nhiều công dân đất nước Nhật. Chính vì thế, việc xếp hàng trật tự như nhiều báo chí mô tả không chỉ đơn thuần nằm ở khía cạnh đạo đức, hay pháp luật. Tính kỷ luật của hệ giá trị Pháp luật chủ yếu phát huy tác dụng trong điều kiện “thường”, còn trong tình trạng “vô thường”, hay vô chính phủ, thiếu người giám sát, Pháp luật sẽ giảm tác dụng đáng kể, thậm chí mất đi chức năng điều tiết hành vi vốn có. Vì thế, những biểu hiện của tinh thần Nhật không thể lý giải bằng tư duy “luật” thường. Qua những dẫn chứng hiển hiện trên bề nổi, tảng băng chìm sâu dưới lòng văn hóa ấy cho thấy nước Nhật chính là một xã hội Thiền!   Mặc dù Thiền tông du nhập Nhật Bản khá muộn (thế kỷ XII), nhưng có ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa Nhật Bản, thậm chí trở thành hình thái ý thức của xã hội Nhật. Và hình thái ý thức ở đây cần được hiểu theo nghĩa của Louis Althusser, nhà triết học người Pháp nổi tiếng thế kỷ XX là hình thái ý thức đã được vô thức hóa, tiềm ẩn, không hiện hữu, nhưng chi phối đời sống xã hội. Để tìm hiểu nó, người ta không chỉ dựa vào ngôn ngữ, hệ thống tái hiện, mà còn phải tham chiếu hình thức vật chất, hiểu là những sản phẩm văn hóa được sản sinh qua lăng kính của Thiền tông.   Thiền có nhiều cách hiểu khác nhau, ban đầu chỉ đơn giản là tinh thần coi cái chết như là sự trở về, “sinh tử như một” phổ biến trong giới võ sĩ đạo, sau triển khai thành quan niệm sống bình dị, giản đơn, coi trọng hiện tại, từ khoảnh khắc tĩnh lặng, tịch mịch, bình thản cho đến tâm thái hồn nhiên như mây trời, gió nước… Thiền là phương thuốc diệu dụng chữa trị căn bệnh sốc nổi của tâm hồn con người. Đối diện với thế gian “vô thường” bằng cảnh giới “thường”, người Nhật đã vượt qua chính mình từ đó. Lòng Thiền (lòng tin, lòng yêu thương, lòng thành tâm) đủ sức gánh chịu tất cả, kể cả động đất và sóng thần như vừa xảy ra.   Thiền không chỉ là hình thái ý thức, một khung tư tưởng khuôn con người vào những quy phạm hành vi hay đạo đức mà còn là hệ giá trị thuộc về bản thể của nền văn hóa Nhật. Chúng ta biết, người Nhật từ nhỏ đã quen với cách ngồi Du già (tư thế Vajrâsana), một kiểu ngồi Thiền trong Yoga nhằm rèn luyện sức bền bỉ, dẻo dai và quan trọng là tĩnh tâm. Nhạc Nhật là một ví dụ điển hình về sự lĩnh hội đi vào chiều sâu tĩnh lặng, cộng hưởng với nhịp đập bên trong. Tác phẩm âm nhạc truyền thống nổi tiếng thế giới của Nhật là bản Sakura minh chứng rất rõ cho điều này. Những người chơi nhạc đều biết, cái khó của Sakura không nằm ở nốt đàn, mà nằm trong sự thể hiện chiều sâu nội tại, đặc biệt là sự ổn định về tiết nhịp. Người vội vàng, hấp tấp, tính khí nóng nảy, khó thể đàn hay được tác phẩm phẩm này. Vì, Sakura cần sự ổn định từ bên trong, một sự thẩm thấu nội tại, không phải chu kỳ đều đặn của chiếc máy đập nhịp.   Tôi có dịp tiếp xúc với trẻ Nhật nhờ dạy chúng học nhạc. Điều dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa trẻ em Nhật và các dân tộc khác là chúng rất “tĩnh”, ít hiếu động hơn hẳn so với con nít ở ta. Bởi vậy, tính chuyên chú của trẻ em Nhật Bản đặc biệt cao. Chúng ta không nên vội vàng đưa ra kết luận cho hai cách giáo dục ở hai nền văn hóa khác biệt. Nhưng, qua đó nhằm lý giải cho tình hình hiện nay của nước Nhật. Nhờ vào tu Thiền, dù ý thức hay vô thức giúp cho người Nhật cực kỳ tinh tế, tinh xảo, chuyên chú cao độ để làm ra những sản phẩm tuy phổ biến, nhưng độc đáo, từ Trà đạo, Bonsai cho đến võ thuật, nghệ thuật, tư tưởng… Thiền của người Nhật là thứ tham Thiền trong cuộc sống, một tinh thần dấn thân, tiến lên “núi có hổ” nhằm hướng dẫn cuộc sống. Và đặc biệt, nhờ vào trí tuệ Thiền, người Nhật mới giữ được tâm thái thường trong điều kiện bất thường, “định” ngay cả khi “vô thường”. Phẩm chất ấy thuộc về điểm cực hạn trong giới hạn thường, nhưng nó cũng chính là “thường” trong pháp Thiền bao la.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước sạch có phải là hàng hóa công?      Sự cố nguồn nước do Nhà máy nước Sông Đà cung cấp bị ô nhiễm đã ảnh hưởng tiêu cực tới hàng triệu người dân tại Hà Nội. Người dân không chỉ đã phải dùng nước bị ô nhiễm, mà còn bị cắt nước trong nhiều ngày. Tuy nhiên, sự cố nói trên đã được xử lý rất chậm. Công ty Sông Đà thậm chí còn phủ nhận trách nhiệm và từ chối xin lỗi.      Nguồn nước cấp cho nhà máy nước sạch sông Đà bị nhiễm dầu. Ảnh: Mạnh Thắng/VTC  Tình hình trên cho thấy, trong quá trình tư nhân hóa việc cung cấp nước sạch có vẻ ngày càng rầm rộ hơn như hiện nay, một quy chế pháp lý xác định rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp cung cấp nước và người tiêu dùng (người dân) là rất cần thiết.   Để xây dựng được một quy chế pháp lý phù hợp, một khuôn khổ khái niệm rõ ràng, mạch lạc là điều đầu tiên chúng ta cần có.  Khuôn khổ này bắt đầu từ việc xác định cho rõ nước sạch có phải là hàng hóa công hay không (cung cấp nước sạch có phải là dịch vụ công hay không)?  Theo kinh tế học, hàng hóa công là loại hàng hóa có hai tính chất cơ bản sau đây:   1. Người tiêu dùng này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác. Người này được hưởng thụ an ninh- trật tự không loại trừ người khác cũng được hưởng thụ an ninh- trật tự.  2. Hàng hóa không bị tiêu hao sau khi được tiêu dùng. Sau khi một người hưởng thụ an ninh- trật tự, thì an ninh- trật tự vẫn còn đó.  Với các tính chất như vậy, thì công lý, quốc phòng, điện chiếu sáng… đều là những hàng hóa công.  Tuy nhiên, cũng với các tính chất như vậy, thật sự rất khó kiếm tiền bằng cách kinh doanh các hàng hóa công. Chính vì vậy, hàng hóa công phải do Nhà nước cung cấp.  Vấn đề đặt ra là nước sạch có phải là hàng hóa công hay không? Xét từ góc độ kinh tế học, tuy hành tinh của chúng ta có đến 3/4 là nước, nhưng nước ngọt quả thực là đang ngày càng trở nên khan hiếm. Ở rất nhiều nơi, người này dùng nước ngọt sẽ không còn phần cho người khác. Và cũng khác với an ninh – trật tự, mỗi người tiêu dùng đều làm cho nước ngọt bị tiêu hao. Chính vì vậy, xét từ góc độ kinh tế học, nước ngọt khó lòng được coi là hàng hóa công.  Tuy nhiên, từ năm 2010 Liên Hiệp Quốc đã coi quyền sử dụng nước sạch là một quyền con người. Đã là một quyền con người, thì Nhà nước phải đứng ra bảo đảm. Cung cấp nước sạch để bảo đảm quyền con người vì vậy là trách nhiệm của Nhà nước. Nước sạch cũng vì vậy là một loại hàng hóa công. Vấn đề là quyền con người được sử dụng nước sạch phải được định nghĩa một cách rõ ràng. Dùng nước sạch để rửa xe ô tô, để tưới cây, để đổ đầy bể bơi… có phải là quyền con người hay không?  Như vậy, nước sạch chỉ là hàng hóa công trong trường hợp phục vụ đời sống hằng ngày như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh… thôi. Và trong trường hợp này, Nhà nước phải đứng ra cung cấp hoặc hợp tác với tư nhân để cung cấp (PPP).  Nước còn có thể được coi là hàng hóa bán công. Ví dụ, nước trong bể bơi công cộng là hàng hóa bán công. Mặc dù, một người xuống bơi sẽ không làm tiêu hao bớt nước, nhưng đến một mức độ nhất định, một người xuống bơi sẽ loại trừ một người khác được bơi.   Nước để tưới tiêu nông nghiệp cũng có thể được coi là hàng hóa bán công. Mặc dùng một người tưới nước không loại trừ người khác cũng được tưới nước, nhưng lại làm tiêu hao nước. Trong hai trường hợp, nước ngọt là hàng hóa bán công nói trên, thì Nhà nước có thể không đứng ra cung cấp, nhưng cần can thiệp để chất lượng và đặc biệt là giá cả được xác lập hợp lý.  Nước sạch như hàng hóa tư rõ nhất là nước đóng chai. Trong trường hợp này, người này uống rõ ràng sẽ loại trừng người khác và đã uống là tiêu hao nước. Trong trường hợp nước sạch là hàng hóa tư thì Nhà nước không nhất thiết phải can thiệp. Có chăng chỉ là áp đặt các tiêu chuẩn về chất lượng nước. □    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Obama không còn thân thiện với môi trường?      Kinh tế Mỹ tiếp tục trì trệ đã khiến Nhà Trắng phải thay đổi quan điểm chính sách. Môi trường đã không còn là vấn đề ưu tiên hàng đầu.      Trong vài tuần qua, đã có hai nỗ lực vận động hành lang đối lập nhau nhằm vào chính sách về môi trường và năng lượng của Tổng thống Barack Obama. Một đã được tiến hành công khai – hơn 1000 nhà hoạt động, từ những người nổi tiếng và các nhà khoa học cho tới những người từng tổ chức chiến dịch tranh cử giúp ông Obama – đã bị bắt bên ngoài Nhà Trắng khi phản đối đề xuất xây dựng Keystone XL, ống dẫn dầu có khả năng vận chuyển nửa triệu thùng dầu thô giàu carbon từ các nhà máy lọc cát dầu ở miền Tây Canada. Nỗ lực thứ hai thì âm thầm hơn một chút: đại diện của các tổ chức như Phòng Thương mại Hoa Kỳ hay Hội Dầu khí Hoa Kỳ (API) đã vận động hành lang mạnh mẽ nhằm thuyết phục Nhà Trắng hủy bỏ động thái tăng cường quản lý khí thải của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) trong việc hạn chế xả khói.        Người đưa ra quyết định là Obama và ông đã lựa chọn quay lưng với EPA, bỏ ngoài tai ý kiến của giới khoa học vì mục tiêu chính trị – trong trường hợp này, đó là giúp đỡ doanh nghiệp trong bối cảnh cả nền kinh tế đang trầy trật còn các đối thủ trên chính trường thì đang cố tô vẽ Tổng thống đương nhiệm như một lãnh đạo chuyên cắt giảm công ăn việc làm.         Vậy, chiến dịch nào đã thắng? Có lẽ không phải là chiến dịch mà bạn kỳ vọng ở một vị Tổng thống nhậm chức hai năm rưỡi trước với những cam kết “xanh” nhất trong số các cam kết của các Tổng thống Mỹ gần đây. Ngày 2 tháng 9 vừa qua, Tổng thống Obama đã làm các đồng minh là các nhà hoạt động vì môi trường phải choáng váng khi rút lại dự luật quy định tiêu chuẩn xả khói khắt khe hơn, mặc dù từ nhiều tháng nay EPA đã hứa hẹn là sẽ được thông qua các quy định chặt tay hơn. Cùng lúc, ống dẫn dầu Keystone XL – công trình cần được Nhà Trắng phê chuẩn – dường như chắc chắn sẽ được triển khai với những đánh giá có tính chất ưu ái rõ ràng của Bộ Ngoại giao cùng với tín hiệu ủng hộ từ các quan chức Chính phủ. Các doanh nghiệp lớn đã thắng, còn các nhà hoạt động bảo vệ môi trường đã thua.  Các nhóm hoạt động môi trường, từ cực đoan cho tới chính thống, đáp lại tuyên bố về [tiêu chuẩn xả] khói của ông Obama bằng sự giận dữ của những người bị phản bội. Điều này càng đổ thêm dầu vào lửa trong bối cảnh uy tín của Tổng thống với các nhà hoạt động môi trường vốn đã giảm từ sau khi ông không thông qua được đạo luật quy định về mua bán tiêu chuẩn xả thải (cap-and-trade) khí carbon, và vấn đề ấm lên toàn cầu thì đang dần biến mất khỏi danh sách các chính sách ưu tiên của Nhà Trắng. Các nhà hoạt động bàn tán xôn xao vì sao mà vị Tổng thống mà họ đã mất bao công sức mới bầu lên được nay đã phản bội họ – và họ tự hỏi, không biết ông Tổng thống ấy có đáng để họ nỗ lực [bầu lại] vào năm 2012 hay không. “Giờ đây, nhiều thành viên MoveOn đang tự hỏi không biết họ có thể vận động cho ông Obama tái đắc cử hoặc giải thích vấn đề của ông cho hàng xóm của họ được không, khi mà ông đã làm những việc như thế này”, Giám đốc điều hành MoveOn, Justin Ruben nói trong một thông báo. “Đây là một quyết định mà chúng tôi nghĩ rằng chỉ có thể là của George W. Bush.”   Thật khó có thể tệ hơn khi người ta so sánh Obama với người thường được coi như vị Tổng thống ít thân thiện với môi trường nhất lịch sử nước Mỹ. Trong khi đó, nếu như đúng là ông Obama đã thực sự từ bỏ lời hứa về môi trường, còn các ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa vẫn thường trực tỏ ra thù địch với các chính sách môi trường hay khí hậu dưới bất kỳ dạng nào, thì liệu các nhà hoạt động vì môi trường còn có thể làm được gì?           Giám đốc EPA, bà Lisa Jackson, bị buộc phải thoái dự luật quy định thắt chặt tiêu chuẩn ozone mặt đất, một thành phần chủ yếu trong khói thải công nghiệp.           Trước hết, để hiểu rõ tình hình chúng ta hãy xem lại một chút về bối cảnh. Theo Đạo luật Không khí sạch, chính quyền phải xem xét lại các qui định về ô nhiễm không khí năm năm một lần và dựa trên các kiến thức khoa học mới nhất để quyết định có cần phải thắt chặt luật lệ nhằm đảm bảo sức khỏe cộng đồng hay không. Hồi năm 2008, chính quyền Bush và EPA đã áp đặt giới hạn mới cho ozone mặt đất – vốn là thành phần chính của khói và được coi là gây hại cho sức khỏe – xuống còn 75 phần tỷ (75ppb). Đây là mức thấp hơn quy định hiện hành nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với mức đề xuất của các nhà khoa học ở EPA đưa ra, từ 60 đến 70 ppb.  Các nhóm vận động như Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ đã đệ đơn kiện để buộc Chính phủ phải thay đổi quy định về ozone của ông Bush mà theo họ thì có thể dẫn tới nhiều ngàn cái chết không cần thiết; nhưng khi ông Obama lên nắm quyền thì tổ chức này tuyên bố “đình chiến”. Lãnh đạo EPA, Lisa Jackson – người từng nói các đạo luật của ông Bush là “không thể bảo vệ được về mặt pháp lý” – hứa hẹn rằng Chính phủ mới sẽ đưa ra các quy định chặt hơn về khí ozone, cụ thể là vào khoảng 60 tới 70 ppb như các nhà khoa học đề xuất hiện nay.   Nhưng các tập đoàn công nghiệp thì than vãn thảm thiết trước viễn cảnh có thể phải chịu những quy định chặt hơn. Họ lập luật rằng luật ô nhiễm không khí khắt khe sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ khoảng 90 tỷ USD mỗi năm, kể từ năm 2020. EPA thì cho rằng dự luật vẫn có tác động tích cực tới kinh tế vì nó làm giảm tỷ lệ chết yểu, số người phải nhập viện hay mất sức lao động vì không khí ô nhiễm. Nhưng khi mà tình hình kinh tế xấu đi theo từng tháng còn Nhà Trắng càng ngày càng bị coi là kém thân thiện với doanh nghiệp thì nhận định của EPA ngày càng khó hợp lòng người, và họ phải trì hoãn dự luật hết lần này đến lần khác dù luôn cam kết là luật mới rồi sẽ ra đời.           Người biểu tình phản đối đường ống Keystone XL tụ tập bên ngoài hàng rào Nhà Trắng          Cuối cùng, ngày 2 tháng 9 – chỉ ngay trước Ngày Lao động – Trưởng ban pháp chế của Nhà Trắng, Cass Sunstein, gửi thư cho Jackson khuyên bà cân nhắc lại những quy định về ozone và nói thêm rằng luật mới có thể tạo ra “bất ổn không cần thiết” – về cơ bản, cuộc tranh luận đến đây là kết thúc.  Từ khi ra tuyên bố, Nhà Trắng đã cố gắng biện minh rằng việc đưa ra quy định mới về ozone trong năm 2011 là không cần thiết và sẽ gây thêm rắc rối vì luật sẽ tự động được xem xét lại vào năm 2013, theo Đạo luật Không khí sạch. Nhưng EPA, vốn được pháp luật trao quyền tự do ban hành quy định khi thấy cần, lại hoãn việc xem xét đó tới tận năm 2016. Theo cách nào thì cũng nhiều khả năng những quy định mới sẽ chỉ được đưa vào thực hiện khá lâu sau năm 2013 – dù sao thì EPA cũng đã trễ hạn chót mà lần cuối họ đề ra (trong việc đưa ra dự luật) tới vài năm.   Trong một hội thảo qua điện thoại sau khi tuyên bố được đưa ra, một quan chức Nhà Trắng đã cố gắng trấn an các phóng viên rằng quyết định ấy “không liên quan gì tới chính trị”, nhưng [lời ông này] rõ ràng là quá khôi hài. Người đưa ra quyết định là Obama và ông đã lựa chọn quay lưng với EPA, bỏ ngoài tai ý kiến của giới khoa học vì mục tiêu chính trị – trong trường hợp này, đó là giúp đỡ doanh nghiệp trong bối cảnh cả nền kinh tế đang trầy trật còn các đối thủ trên chính trường thì đang cố tô vẽ Tổng thống đương nhiệm như một lãnh đạo chuyên cắt giảm công ăn việc làm. Các nhà hoạt động môi trường – cùng với 4300 người mà những quy định cứng rắn hơn có thể sẽ cứu được mỗi năm – đã bị ông bỏ rơi. “Tổng thống Obama đã về phe những kẻ gây ô nhiễm và những thế lực hùng mạnh luôn bác bỏ các giá trị của Chính phủ trong việc bảo vệ người dân” Chủ tịch Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên Hoa Kỳ, Frances Beinecke, nói sau tuyên bố của ông Obama.   Tất nhiên, những “thế lực hùng mạnh” ấy thực chất là gồm toàn bộ Đảng Cộng hòa với những ứng cử viên Tổng thống quan trọng mà nhiều người trong số đó sẽ rất vui mừng nếu xóa sổ được EPA. Và điều đó đặt các nhà hoạt động môi trường trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan – họ có thể cực kỳ không vui với ông Obama, nhưng nếu để cho Đảng Cộng hòa thắng trong cuộc bầu cử 2012 thì đó sẽ là thảm họa môi trường. Không ủng hộ ông Obama nữa cũng có nghĩa là họ tự bắn vào chân mình.   Hầu như chưa có nhóm môi trường nào thực sự có chương trình vận động chống việc tái cử ông Obama ngay cả sau những nỗi thất vọng mang tên ozone và cát dầu, mặc dù chúng bắt đầu có tác động tiêu cực tới việc gây quỹ hay làm giảm sự ủng hộ ở cấp địa phương. Trong thực tế, ông Obama cũng đã làm được rất nhiều cho môi trường, từ tiêu chuẩn tiêu thụ nhiên liệu mới đầy tham vọng cho tới ngân sách cao một cách bất ngờ dành cho năng lượng thay thế – đó là chưa kể tới việc ông Tổng thống này, không giống các đối thủ ở Đảng Cộng hòa, thật sự chấp nhận thực tế về biến đổi khí hậu. Nhưng những sự kiện trong mấy tuần gần đây chỉ ra một hiện thực đáng buồn: trong bối cảnh kinh tế bất ổn và cuộc chiến [để] tái đắc cử khốc liệt thì môi trường sẽ không còn là ưu tiên hàng đầu ở Nhà Trắng.  Và tệ nhất, dường như các nhà hoạt động môi trường không thể làm được gì nhiều để cải thiện tình hình. Hơn một nghìn người đã bị bắt sau cuộc biểu tình dài hai tuần để phản đối đường ống dẫn cát dầu Keystoen XL, tạo ra cái mà ký giả kiêm nhà hoạt động Bill McKibben gọi là “hành động chống đối mang tính dân sự lớn nhất trong cả một thế hệ tham gia phong trào vận động vì môi trường.” Trong lúc những cuộc tuần hành đang diễn ra, các phóng viên đã hỏi người phụ trách báo chí của Nhà Trắng, Jay Carney, rằng liệu ông Obama có biết gì về cuộc biểu tình ngay bên ngoài nhà mình hay không. Carney đã trả lời là ông Obama không hề biết. Tổng thống hẳn còn phải lưu tâm tới những vấn đề khác.   HOÀNG MINH dịch theo bài viết của Bryan Walsh, đăng online trên Time ngày 06/09/2011  Nguồn: http://www.time.com/ time/health/article/0,8599,2091814-2,00.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Obama, Romney, và…      Năm 2008, tôi bầu cho Obama. Tôi nghĩ biểu tượng của một người da đen làm Tổng Thống Mỹ là một thông điệp quan trọng cho thế giới về những thay đổi lớn lao trong cảm nhận của xã hội Mỹ. Nó xác nhận lại niềm tin ngây thơ nhưng bền vững là bất cứ một đứa bé nào lớn lên nơi đây, không kể nghèo giàu, không kể mầu da sắc tộc, đều có cơ hội để nắm giữ chiếc ghế lãnh đạo quyền lực nhất của “đế chế Mỹ”.        Năm 2012, tôi bầu cho Romney. Thực ra, tôi cũng chẳng mong đợi gì nhiều ở Romney. Bản chất ông cũng chỉ là một chính trị gia, dù biết nhiều hơn Obama về cách kiếm tiền trong một nền kinh tế thực, vẫn là một “con rối” ham danh tham quyền.  Kể từ năm 1980 khi tôi chánh thức trở thành công dân Mỹ, tính ra tôi đã đi bầu 16 lần hay nhiều hơn, nếu tính luôn các cuộc bầu cử sơ bộ và địa phương. Phần lớn, tôi đều hối tiếc cho sự lựa chọn của mình. Vì những kẻ được tôi bầu dù có thêm chữ Ngài Tổng Thống, Ngài Nghị Sĩ, Ngài Đô Thị Trưởng, Ngài Nghị Viên… vẫn hiện nguyên hình là những kẻ lạm quyền … và luôn luôn sử dụng OPM (tiền người khác) với một phong cách rất… yêu nước thương dân.  Cũng may là tôi sống ở xứ Mỹ, những ông, những ngài này bị quyền tự do ngôn luận và cơ chế phân quyền soi mói 24/7, nên những thói hư tật xấu bị kiềm chế tối đa. Nếu thả lỏng, với một ngân sách 4 ngàn tỷ đô la, một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới và một thói quen in tiền bừa bãi, thì hẳn là họ sẽ thành những con quỷ mà các chuyện cổ tích cũng không hình dung nổi.  Thú thực tôi chưa bao giờ có quyền lực gì trong 67 năm qua. Cho nên có thể tôi không đồng cảm hay “ghen tị” với các bạn đầy tớ. Một anh không hút, không nhậu…không thể biết cái “phê” của rượu thuốc. Một anh sư (tùy loại) không thể hiểu được cái tuyệt vời của sex. Chưa làm quan và chưa biết cái sung sướng của việc…hành hay hiếp dân, thì đừng nói vớ vẩn.  Nhưng với kinh nghiệm cá nhân qua nhiều tiếp xúc giao thiệp, tôi đã thấy “quyền lực” biến thái cá tính và hành xử của con người “thực”như thế nào. Khi công việc làm ăn phất lên vào thập niên 90’s và 00’s, tôi có quen nhiều chính trị gia Mỹ cũng như ngoại quốc. Quen vì bắt buộc của nghề nghiệp (nhất là khi đi bán máy bay cho GE Capital) hay vì xã giao cần cho networking (làm fund raiser cho các tổ chức hội đoàn). Nhưng thâm tâm, tôi cũng say mê và bị hấp dẫn bởi những nhà “lãnh đạo” đang “làm lịch sử” và “tạo tương lai”. Tôi lắng nghe từng chữ từng lời về những kế hoạch vĩ đại, những toan tính thần kỳ, những ích quốc lợi dân…và để tưởng tượng bay cao với những “chân thành của con tim nhiệt tình”. Tôi lăn xả làm rất nhiều việc chùa để giúp các bạn lãnh đạo của tôi hoàn thành sứ mệnh cao cả. Chỉ sau vài năm, tôi mới nhận rõ  nhiều cô gái đứng đường còn lương thiện hơn không ít các bác”lãnh đạo” đó.  Trong các chánh trị gia Mỹ tôi khá thân với 2 người. Một là Jack Kemp, từng làm thủ quân đội bóng bầu dục của Buffalo, rồi dân biểu, bộ trưởng và sau ra tranh cử chức Phó Tổng Thống Mỹ trong liên danh Bob Dole. Jack nghiêm túc, nhưng chí tình và trung thành với bạn bè. Tôi bỏ suốt 3 tháng theo anh mỗi ngày khi anh tranh cử chống Clinton-Gore (và thua). Tôi luôn nhăn mặt và tránh không nghe các diễn văn và phát biểu mỗi ngày trên bước đường vận động; vì anh chỉ nói những gì đám đông muốn nghe theo những khảo sát “thị trường” của các tư vấn. Muốn biết Jack, phải lè phè thư giãn cùng anh vào những đêm khuya, cạnh vài lon bia và miếng pizza nguội lạnh. Anh sâu đậm, sống nhiều hiểu rộng, có tính khôi hài đen và nhiều nghị lực khủng khiếp. Nhưng khi mặt trời mọc mỗi ngày, con người Jack biến mất, nhường chỗ cho chính trị gia Kemp, nói và làm như một diễn viên Holywood đại tài.  Joe Biden cũng là một khuôn đúc tương tự. Xuất thân là một luật sư, ông đã là chính trị gia gần như suốt đời, trong đó, 40 năm làm Thượng Nghị Sĩ. Tôi quen ông qua người bạn tỷ phú James DeRosa và đã làm cổ động viên cũng như fund raiser suốt 20 năm vừa qua. Như Jack, Joe là một người tử tế, lương thiện và vô cùng thông thái về chuyện chánh trị cũng như liên hệ trên thế giới. Ông có thể kể răm rắp hiện tình của Ukraine hay Nepal mà không cần hồ sơ bên cạnh. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ ghé văn phòng hay dự bất cứ cuộc vận động nào của ông vì không muốn nhìn chính trị gia và diễn viên Biden. Cách đây vài năm, trước khi ông thành Phó Tổng Thống, tôi cùng ông chạy bộ qua khu rừng cạnh nhà ông ở Delaware. Mệt và khát nước, ngài Nghị Sĩ chạy vào một nhà lạ, uống nước qua vòi tưới vườn thật thư thái bình dân.  Dĩ nhiên, các quan chức ở Trung Quốc và Đông Nam Á nơi tôi làm ăn cũng có rất nhiều chất “người” khi thả lỏng và không bị ràng buộc bởi những lễ nghi phong cách của quyền lực. Với gia đình và bạn bè, tôi chắc chắn họ cởi mở và thân tình như có thể. Thực ra, tôi đã từng được một ông cựu bộ trưởng quyền lực nhất của Việt Nam đọc cho nghe vài bài thơ tình thật tuyệt. Nếu ông làm một thi sĩ như bản ngã, chắc chắn sự đóng góp của ông cho đất nước sẽ nhiều gấp bội.  Tôi chưa bao giờ theo dõi kết quả của các cuộc bầu cử, ngay cả lần với Jack. Bởi vì nó chẳng thay đổi được gì ngoài ảnh hưởng đến cá nhân và gia đình của ứng cử viên. Jack là một cận thần khá thân của Tổng Thống Reagan và Bush (cha) nên anh rất rõ về những giới hạn của quyền lực. Ngoại trừ những vấn đề mà dân Mỹ hoàn toàn không quan tâm, vị Tổng Thống Mỹ thường phải quyết định theo đúng những đường lối, chánh sách mà phe nhóm ông đã thương thảo, thỏa hiệp với các phe đối lập, đôi khi ngược hẳn lại những gì ông mong muốn hay hứa hẹn. Với bao nhiêu thỏa hiệp mỗi ngày, riết rồi vị Tổng Thống không còn nhận ra chương trình nào là của mình nữa. Một Tổng Thống giỏi là khi mãn nhiệm kỳ, ông vẫn còn là ông.  Cho nên Obama hay Romney…, tôi vẫn là tôi. Mỗi ngày vẫn cần một viên Carvedilol cho trái tim, một viên Viagra cho trái thận và một viên Glucosamine cho xương khớp. Chỉ mong rằng vào 2016, Beyonce Knowles sẽ tranh cử với Megan Fox để thế giới có chút tươi mát. Và chúng ta sẽ tự hào biết bao nhiêu nếu lãnh đạo của chúng ta được tạp chí Cosmo bầu chọn là con người sexy nhất hành tinh?      Author                Quản trị        
__label__tiasang OLYMPIC thời chiến tranh lạnh      Olympic Helsinki 1952 là kỳ Thế vận hội đáng nhớ với sự tham gia lần đầu tiên của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, CHND Trung Hoa, và cả Việt Nam. Sự tham gia của Liên Xô đánh dấu sự bắt đầu cuộc chạy đua trong lĩnh vực thể thao giữa các siêu cường của thời kỳ Chiến tranh Lạnh.      Các chính khách nhìn chung thường thấu hiểu sức mạnh chính trị của thể thao và tìm cách khai thác nó khi có cơ hội. Vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhân danh quyền lợi quốc gia, các chính phủ đã có những động thái và hành xử lạ thường, đôi khi kỳ khôi một cách trẻ con. Các kỳ Olympic trong giai đoạn này là những ví dụ hoàn hảo cho sự lợi dụng thể thao vì mục đích chính trị.    Tuy nhiên, Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) về cơ bản luôn coi nhiệm vụ hàng đầu của mình là bảo tồn lý tưởng của thể thao, và cố gắng duy trì tư cách của IOC là một vị trọng tài tối cao trong thế giới thể thao. (Không một liên đoàn thể thao quốc tế nào được tham gia vào các bộ môn Olympic quốc tế mà không có sự cho phép từ IOC). Những người lãnh đạo hàng đầu của phong trào Olympic thường dễ hòa đồng với môi trường chính trị quốc tế. Từ xưa đến nay, họ thường là những nhân vật thượng lưu thông tuệ, và không thiếu các mối quan hệ quyền lực. Ở một số nước, đặc biệt là ở các nước phương Tây, các Ủy ban Olympic quốc gia tự coi mình như một chính phủ độc lập.   Tuy nhiên, sau khi Liên Xô tham gia phong trào Olympic vào năm 1952, tính cạnh tranh giữa Mỹ và Liên Xô đã làm chính trị hóa các kỳ Thế vận hội. Sự quan tâm nồng nhiệt dành cho các bảng thành tích huy chương một phần vì sự hấp dẫn của các bộ môn thể thao, nhưng một phần khác cũng nhiều không kém chính là tâm lý ganh đua mà Chiến tranh Lạnh mang lại.  Chính trong giai đoạn này, IOC đã phải trổ hết các kỹ năng trên chính trường quốc tế để giải quyết hai trường hợp nhức đầu. Một là vấn đề giữa Trung Quốc đại lục và Trung Quốc Đài Loan, hai là vấn đề giữa Tây Đức và Đông Đức. Khi đó, Đông Đức nỗ lực để Ủy ban Olympic quốc gia của họ được công nhận, coi đó là bước tiến cho sự công nhận tư cách của nhà nước Đông Đức. Ở hoàn cảnh ngược lại, Đài Loan sợ rằng nếu Ủy ban Olympic quốc gia của mình bị mất sự công nhận thì tính chính danh của nhà nước phía Trung Quốc đại lục sẽ tiến thêm được một bước.   Vấn đề Đông – Tây Đức  Sau sự ra đời của Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) năm 1949, IOC đã chính thức công nhận tư cách Ủy ban Olympic quốc gia của Tây Đức vào năm 1951. Khi đó, đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi về việc liệu có công nhận đồng thời cả Ủy ban Olympic của Đông Đức, dù khi ấy Đông Đức vẫn chưa phải là một nhà nước độc lập. Vấn đề cốt lõi là, Liên Xô mong muốn vệ tinh1 của mình được công nhận tư cách một Ủy ban Olympic quốc gia độc lập, trong khi các thành viên IOC lại cảm thấy rằng việc công nhận này sẽ tạo ra hai Ủy ban Olympic độc lập của cùng một quốc gia, và sẽ càng khiến nước Đức bị chia rẽ sâu sắc thêm.                Các vận động viên Đông Đức và Tây Đức cùng hòa chung một đoàn đại diện cho nước Đức tại lễ khai mạc Olympic Melbourne (Úc) năm 1956          Năm 1955, tức là một năm sau khi Liên Xô công nhận chủ quyền nhà nước độc lập của Đông Đức, Ủy ban Olympic Quốc gia Đông Đức đã được tạm thời công nhận, ‘với sự ngầm hiểu rằng sau khi nước Đức thống nhất, IOC sẽ chỉ công nhận một Ủy ban Olympic Đức có tư cách đại diện cho toàn bộ nước Đức’.   Hai đoàn vận động viên Đức đã hòa thành một trong hai kỳ Olympic mùa đông và mùa hè năm 1956. Avery Brundage, Chủ tịch IOC phấn khởi phát biểu ‘Trong thế giới thể thao chúng ta đã làm được điều mà các nhà chính trị đến nay vẫn chưa làm được’. Đông Đức vẫn đề nghị được công nhận độc lập, mặc dù vẫn cam kết sẽ tiếp tục tham gia trong điều kiện hiện có nếu như đề nghị này không được chấp thuận. NATO thì muốn tiếp tục duy trì hình thức một đoàn vận động viên Olympic chung cho cả hai nước Đức, nhưng Tây Đức lại bắt đầu muốn được tham gia với tư cách riêng.   Khi vấn đề này được thảo luận lần nữa vào năm 1965, IOC đã đi đến thống nhất theo quan điểm của số đông, rằng vì Đông Đức không còn chấp nhận tham gia vào một đoàn vận động viên thống nhất nên ‘Ủy ban Olympic Tây Đức sẽ đại diện cho nước Đức như cũ, còn Ủy ban Olympic Đông Đức sẽ được coi là đại diện đầy đủ cho vùng địa lý Đông Đức’. Việc dùng khái niệm ‘vùng địa lý’ – đôi khi còn được gọi theo cách khác là ‘lãnh thổ’ – đã khéo léo tránh được việc phải gọi một cái tên chính danh cho Đông Đức.  Đây là lúc IOC nhận thức đầy đủ hơn về thực trạng tình hình chính trị. Trước kia, họ bị ảnh hưởng nhiều bởi lòng tin phổ biến khi ấy rằng nước Đức sẽ sớm thống nhất. Nhưng sau đó, Đông Đức đã dần khẳng định được vị thế riêng của mình, trong đó có cả sự đóng góp của các hoạt động thể thao. Bên cạnh đó, Chính phủ Tây Đức cuối cùng đã từ bỏ Học thuyết Hallstein, vốn có chủ trương không quan hệ với bất kỳ nước nào công nhận Đông Đức. Vì vậy, IOC cũng không còn tìm cách vận động cho một đoàn vận động viên Đức thống nhất tại các kỳ Olympic.  Vấn đề Trung Quốc  Ủy ban Olympic quốc gia của Trung Quốc đã được công nhận từ năm 1922. Nhưng sau cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Cộng sản Đảng, ủy ban này đã chạy ra Đài Loan cùng Quốc dân Đảng vào năm 1951 và vẫn tiếp tục được công nhận. Trong khi đó, nước Mỹ, đồng minh của Đài Loan, và Liên Hợp Quốc khi ấy đã công nhận Đài Loan là ‘Trung Quốc’ và ủng hộ luận điệu của Đài Loan về chủ quyền đối với đại lục. Ở phía ngược lại, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa công nhận rằng nhà nước của Đảng Cộng sản đã kiểm soát đại lục, với tên gọi là ‘Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa’ (CHND Trung Hoa).            Vận động viên bơi lội Wu Chuanyu, đại diện đầu tiên của Trung Quốc tới thi đấu chính thức tại Olympic. Do được mời quá muộn (đêm trước lễ khai mạc) nên trong số 40 người được Trung Quốc cử đi, Wu Chuanyu là người duy nhất tới kịp để thi đấu tại Olympic Helsinki 1952.           Năm 1952, cả Đài Loan lẫn Trung Quốc đại lục đều khẳng định sẽ cử các vận động viên đến tham dự Olympic Helsinki. Đa số các thành viên IOC bỏ phiếu tán thành việc mời cả hai, qua đó tự phá bỏ một điều luật của IOC rằng tất cả mọi đoàn vận động viên đều phải được cử đi bởi một Ủy ban Olympic quốc gia do IOC công nhận. Cuối cùng, chỉ có một vận động viên của Trung Quốc đại lục tới tranh tài chính thức tại Helsinki, còn Đài Loan không cử vận động viên nào nhằm phản đối quyết định của IOC cho phép Trung Quốc đại lục tham gia.  Năm 1954, IOC chính thức công nhận Ủy ban Olympic quốc gia của Trung Quốc đại lục, nhưng mặt khác vẫn công nhận cả Ủy ban Olympic của Đài Loan. Vậy là Trung Quốc đại lục quyết định rút lui khỏi Olympic 1956 tổ chức tại Melbourne, nhằm phản đối IOC vẫn tiếp tục công nhận tư cách thành viên của Đài Loan. Không những thế, họ rút lui khỏi toàn bộ phong trào Olympic và các liên đoàn thể thao quốc tế khác vào năm 1958. Một thành viên Trung Quốc trong IOC từ chức với một lá thư kết tội Brundage là ‘tên đầy tớ trung thành của đế quốc Mỹ’.    Dưới sức ép từ các thành viên IOC của các nước xã hội chủ nghĩa muốn Đài Loan bị bãi trừ và CHND Trung Hoa được tái nhập trở lại vào phong trào Olympic, năm 1959 IOC đã nhất trí rằng Ủy ban Olympic của Đài Loan sẽ không được tiếp tục mang danh Trung Quốc, với lý do ủy ban này không điều hành các hoạt động thể thao ở đại lục. IOC cũng tuyên bố rõ rằng nếu ủy ban này đăng ký lại với tên gọi khác thì đơn đăng ký sẽ được xét duyệt. Quyết định này đã gây ra sự hiểu lầm từ báo giới, cho rằng Đài Loan đã bị bãi trừ, và điều này khiến Mỹ phản ứng quyết liệt. Hệ quả là, IOC quyết định công nhận Ủy ban Olympic Đài Loan là Ủy ban Olympic của Cộng hòa Trung Quốc.   Năm 1971, Liên Hợp Quốc công nhận tư cách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bãi trừ Đài Loan. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Trung Quốc sau thủ thuật ngoại giao ‘bóng bàn’. IOC cũng ngay lập tức có động thái tương ứng. Năm 1971, IOC kết luận rằng CHND Trung Hoa sẽ được chào đón trở lại nếu tôn trọng các quy định Olympic. Tuy nhiên, IOC vẫn khẳng định rằng Đài Loan sẽ không bị bãi trừ.   Tuy nhiên, khi CHND Trung Hoa đăng ký tái tham gia vào IOC, họ đặt điều kiện là Đài Loan phải bị bãi trừ. Chính phủ Canada, nước chủ nhà của Olympic 1976 tổ chức tại Montreal, càng làm tình hình thêm kịch tính – vốn từ năm 1970 họ đã nhất trí với chủ trương một nước Trung Quốc, và công nhận CHND Trung Hoa là đại diện duy nhất của Trung Quốc – với quyết định không cho phép đoàn vận động viên Đài Loan nhập cảnh nếu cái tên ‘Trung Quốc’ vẫn xuất hiện trong tên gọi của họ. Một số thành viên IOC kêu gọi hủy kỳ Olympic lần này, nhưng cuối cùng IOC quyết định vẫn tiếp tục theo lịch trình. Chính phủ Canada duy trì quan điểm của mình bất chấp sự kinh ngạc của Mỹ cũng như sự phản đối rộng rãi trong phong trào Olympic. Cuối cùng, đoàn Đài Loan đã tự giải quyết bế tắc bằng cách đóng gói đồ đạc về nước đúng một ngày trước lễ khai mạc.  Vụ rắc rối này đã khiến IOC phải tốn nhiều thời gian xử lý hơn so với lần tẩy chay đồng loạt từ các nước châu Phi sau khi IOC từ chối lên án Nam Phi vào dịp nước này tổ chức sự kiện quốc tế cho bộ môn bóng bầu dục. Mặc dù bóng bầu dục không được xếp vào trong số các bộ môn Olympic, các nước châu Phi vẫn cho rằng IOC đã lảng tránh trách nhiệm, và lẽ ra IOC phải lên tiếng với sức mạnh mang tính biểu tượng của mình.  Những lùm xùm xoay quanh vấn đề Trung Quốc vẫn tiếp tục, nhưng cuối cùng cả hai phía cũng đạt được thỏa hiệp nhất trí rằng Ủy ban Olympic của Trung Quốc đại lục sẽ có tên gọi là Ủy ban Olympic Trung Quốc, còn Ủy ban của Đài Loan có tên gọi là Ủy ban Olympic Trung Quốc Đài Bắc.  Olympic Moscow 1980  Không chỉ là nơi diễn ra những cuộc đấu đá liên quan tới mâu thuẫn chủ quyền, Olympic còn được coi là sân khấu của chính trường quốc tế, khi hết bên này tới bên kia trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh vận động những cuộc tẩy chay nhằm vào nhau. Việc Mỹ tẩy chay Olympic Moscow năm 1980 (mặc dù Mỹ không trực tiếp sử dụng từ ‘tẩy chay’) có thể coi là nguyên nhân trực tiếp khiến Liên Xô trả đũa bằng việc tẩy chay Olympic Los Angeles năm 1984 (Liên Xô cũng không dùng từ ‘tẩy chay’, mà gọi là ‘không tham gia’).           Linh vật chú gấu Misha và hình vẽ biểu tượng Olympic Moscow 1980          Tất cả bắt nguồn từ sự kiện cuối tháng 12, 1979, khi Liên Xô đưa quân vào Afghanistan, và tới tháng 1 năm 1980, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter cảnh báo rằng Mỹ sẽ rút lui khỏi Olympic Moscow, dự kiến sẽ bắt đầu vào cuối tháng 7. Tháng 2, Carter thông báo với Ủy ban Olympic Mỹ (USOC) rằng ông ta dự kiến sẽ cho rút đoàn vận động viên Mỹ. USOC cuối cùng đã đồng ý, một phần vì truyền thống tôn trọng các chính sách đối ngoại từ Tổng thống Mỹ.  Tuy nhiên, đã có rất nhiều sức ép tác động lên USOC từ các đảng phái chính trị lẫn Thượng viện, Hạ viện, cũng như từ Nhà Trắng. USOC đưa ra lý lẽ rằng ‘nếu cứ bị gián đoạn mỗi khi có sự vi phạm quyền con người, hay khi có những cuộc xâm lược trên thế giới, thì Thế vận hội chẳng thể nào được tổ chức trong vòng 25-30 năm qua’, nhưng lời phản biện này rơi vào vô vọng.     USOC khó lòng cưỡng lại sự đe dọa từ Chính phủ Mỹ về việc cắt nguồn ngân sách. Tại cuộc họp mang tính quyết định do Phó Tổng thống Walter Mondale chủ trì, phe theo quan điểm tẩy chay đã dễ dàng thắng thế, với chênh lệch phiếu bầu là 1604 so với 797. Tinh thần ái quốc theo tâm lý số đông cũng gây ảnh hưởng nhất định. Bruce Jenner, cựu huy chương vàng bộ môn điền kinh mười môn, nhận được những lá thư từ những người đe dọa sẽ ngừng ăn đồ ăn sáng ngũ cốc hiệu Wheaties, thương hiệu mà hình ảnh anh này được dùng để quảng bá.  Tổng thống Carter luôn tuyên bố rằng ông ta chủ trương việc tẩy chay nhằm bảo vệ quyền con người, luật pháp quốc tế, và an ninh cho nước Mỹ cùng các nước khác trong thế giới tự do. Ông nói rằng việc tẩy chay nằm không làm suy giảm sự tận tâm cống hiến của nước Mỹ đối với phong trào Olympic. Ông còn hô hào rằng thể thao nên được điều hành bởi các tổ chức tư nhân thay vì các chính phủ.  Ở phía bên kia, Liên Xô lại đưa ra cách lý giải khác, cho rằng việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan không phải là nguyên nhân khiến Mỹ tẩy chay, mà nguyên nhân ‘thật sự’ là do Liên Xô là một nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời Carter muốn gây căng thẳng nhằm cứu vãn độ tín nhiệm đang xuống dốc của mình trong con mắt người dân Mỹ. Một tạp chí về trượt tuyết của Liên Xô ra ngày 20/1/1990 ghi lại những lời tuyên truyền trước đây của Liên Xô như sau:   Chúng ta hiểu rõ vì sao tất cả những người bạn chân chính của thể thao và tinh thần Olympic đã dứt khoát phản đối những hành xử gây hấn từ những kẻ ủng hộ Chiến tranh Lạnh ở Mỹ, Anh, và một số nước đế quốc khác, những kẻ lợi dụng thể thao như một công cụ cho chính sách của họ và ngăn cản dịp giao lưu cho thanh niên trên toàn thế giới tại những sân vận động của Olympic Moscow… Chính sách đối ngoại của Liên Xô là rất rõ ràng đối với nhân dân toàn thế giới, dựa trên những quyền lợi cơ bản nhất của họ… và phụng sự như một nguồn cổ vũ đáng tin cậy cho mọi lực lượng đang nỗ lực vì hòa bình và ổn định. Cổ vũ chính nghĩa bảo vệ tình đoàn kết của phong trào Olympic, nỗ lực ngăn chặn sự can thiệp của chính trị đối với thể thao và sự tham dự của thanh niên trong dịp lễ tại Moscow – bất chấp những đe dọa, thủ đoạn vu cáo, và sức ép chính trị – đây chính là tinh thần của thế giới thể thao và công chúng của những quốc gia tham gia phong trào Olympic tại một Thế vận hội Olympic được tổ chức tại đất nước quê hương của chủ nghĩa xã hội.          Sebastian Coe và Steve Ovett, hai vận động viên điền kinh người Anh đoạt huy chương vàng tại Olympic Moscow 1980. Đoàn vận động viên Anh đến tranh tài bất chấp ý muốn tẩy chay kỳ Thế vận hội lần này từ phía Chính phủ Anh. Vì vậy, họ thi đấu thuần túy dưới lá cờ Olympic, và bài hát chính thức của Olympic được cử lên thay cho quốc ca Anh mỗi khi có vận động viên của đoàn giành huy chương.          Sau khi Moscow cảm thấy không thể làm tăng hơn được số quốc gia đến dự Thế vận hội của mình, họ bắt đầu thay đổi sắc thái ngôn ngữ tuyên truyền. Từ gay gắt chuyển sang vô tư như không có gì nghiêm trọng xảy ra. Họ úp mở đe dọa sẽ tẩy chay Olympic Los Angeles, và phê phán các chính trị gia Mỹ đã gây ra thất bại cho chính các vận động viên của mình. Cái tên Afghanistan hầu như không được nhắc đến, và chỉ xuất hiện trong lập luận quy kết rằng đây là sự biện hộ của Carter cho một kế hoạch mà ông ta đã xây dựng từ lâu.  Trong Thế giới thứ Ba, các nước vệ tinh của các siêu cường thường đi theo đường lối của phe mình, trong khi những nước trung lập bị chia rẽ. Đa số các nước châu Mỹ Latinh đều tới tham dự Thế vận hội.   Chính phủ Mỹ tìm mọi cách thuyết phục các đồng minh cùng tham gia vào phong trào tẩy chay trong khi Tây Âu dao động. Tây Đức muốn giữ quan hệ hòa hiếu với Mỹ, nhưng lại e rằng việc tham gia tẩy chay sẽ làm hỏng tiến trình bình thường hóa quan hệ với Đông Âu, đặc biệt là Đông Đức. Đa số các Chính phủ Tây Âu không muốn tạo ra hình ảnh tiêu cực qua việc gây sức ép lên Ủy ban Olympic quốc gia của mình. Tuy nhiên, cuối cùng một số nước vẫn quyết định theo chân Mỹ, trong đó đáng kể có Tây Đức, Nhật Bản, và Anh – nhưng nước Anh lại gặp một tình huống kịch tính đặc biệt, khi Liên hiệp Olympic Anh quyết định không nghe lời chính phủ và vẫn cử đoàn vận động viên tới Moscow.      Chính phủ Anh, dưới sự dẫn dắt của Thủ tướng Margaret Thatcher, đã rất nỗ lực để thực hiện chính sách của Mỹ, nhưng cuối cùng không thành công. Vấn đề này đã gây chia rẽ sâu sắc trong Quốc hội, công chúng cả nước, và giới truyền thông. Bên ngoài Quốc hội, đã có những sức ép đối với Liên hiệp Olympic Anh, dù mức độ gay gắt ít hơn nhiều so với tình hình ở Mỹ. Tại Hạ viện Anh đã nổ ra những cuộc tranh cãi dài chưa từng có trong lĩnh vực thể thao, phản ánh sự chia rẽ trên toàn đất nước. Chính phủ Anh đã không thể hiện thái độ độc đoán và cứng nhắc như Mỹ, nhưng điều khiến công chúng bất mãn là luận điệu của chính phủ cho rằng các vận động viên đang hành xử vô trách nhiệm nếu như họ vẫn quyết định tới tham dự Thế vận hội. Đây được coi là luận điệu mang tính áp đặt, vì trong thực tế, ngoài lĩnh vực thể thao ra, quan hệ thương mại và các mối quan hệ chính thức khác của nước Anh vẫn được duy trì trạng thái bình thường.    Cuối cùng, đã có 81 Ủy ban Olympic quốc gia của các nước trên thế giới đã tới tham dự Thế vận hội tại Moscow năm 1980, so với 88 tại Montreal (1976), 122 tại Munich (1972), và 113 tại Mexico City (1968). Kỳ Thế vận hội lần này đã bị chính trị hóa rõ rệt khi số lượng nhà báo phụ trách mảng chính trị có mặt đông hơn cả lượng nhà báo chuyên mục thể thao, và nhiều tờ báo đưa tin về sự kiện trên cả hai chuyên mục với góc nhìn rất khác nhau.  Trong hồi ký của mình, Carter vẫn bảo vệ quan điểm của mình, nhưng cũng thừa nhận rằng: ‘Tôi biết quyết định của mình gây tranh cãi, nhưng vào thời kỳ đó tôi không hình dung được mức độ khó khăn của việc thực thi quyết định ấy, cũng như khó khăn trong việc thuyết phục các quốc gia khác cùng nhất trí với chúng ta’, và ‘Chúng ta quả là đã vất vả trong suốt quá trình đó; và người ta vẫn luôn nghi ngờ về kết quả đạt được. Đa số các Ủy ban Olympic của các nước là những cơ quan độc lập, và đều rất bất mãn mỗi khi chính phủ tìm cách can thiệp vào việc của họ’.  Đến lượt Olympic Los Angeles 1984  Olympic Los Angeles 1984 chắc chắn sẽ được nhớ đến như một cuộc đấu đá giữa các siêu cường: nếu không có sự tẩy chay từ Liên Xô thì chắc chắn nó đã không được công chúng quan tâm nhiều đến thế, tới mức trở thành một cơn sốt sô vanh ở nước Mỹ.  Ngày 8/5/1984, Liên Xô tuyên bố dự định ‘không tham gia’ vào Thế vận hội tại Los Angeles, vốn dự kiến sẽ bắt đầu ngày 28/7. Có nhiều yếu tố phức tạp liên quan tới quyết định này, nhưng cách lý giải đơn giản nhất cho việc tẩy chay có lẽ cũng là lý giải chính xác nhất: ăn miếng trả miếng.  Liên Xô tuyên bố dự định tẩy chay Thế vận hội 1984 không lâu trước khi hết hạn xác nhận tham gia, nhưng trước đó người ta đã ngờ vực rằng đoàn vận động viên của Liên Xô sẽ không có mặt sau những gì xảy ra vào năm 1980. Việc Liên Xô bắn hạ một máy bay chở khách của Hàn Quốc tại khu vực Kamchatka vào cuối tháng 8 năm 1983 đã gây phản ứng từ Mỹ, qua đó tạo thành một cái cớ cho việc không tham gia của Liên Xô. Sau vụ bắn hạ máy bay, bang California của Mỹ đã thông qua một nghị quyết lên án Liên Xô và đề xuất rằng các vận động viên Liên Xô bị cấm tới Los Angeles. Một số người còn thành lập cái gọi là Liên minh Cấm cửa Soviet, một tổ chức vốn chẳng mấy quan trọng, nhưng Liên Xô coi đây là bằng chứng về sự thù địch của Mỹ.          Trang bìa tạp chí Time ngày 21/5/1984 với câu hỏi: vì sao người Soviet nói không          Có bốn vấn đề chính khác [mà các bên liên quan không đạt được đồng thuận]: chi phí cho các vận động viên trong làng Olympic; Chính phủ Mỹ phải công nhận thẻ bài Olympic thay cho visa; Mỹ phải cho phép hãng hàng không Aeroflot đưa vận động viên tới Los Angeles; Mỹ phải cho phép tàu thủy của Liên Xô đậu tại hải cảng Los Angeles. Bên cạnh đó là nghi vấn về tùy viên Olympic của Liên Xô gây ra nhiều ồn ào trong công chúng Mỹ, bị trầm trọng thêm bởi sai sót của Bộ Ngoại giao Mỹ, cho rằng ông này là người của KGB và từ chối cấp visa vào phút chót.  IOC và Ủy ban Olympic Liên Xô đã cố hết sức trong các nỗ lực đối thoại, nhưng thông cáo chung của hai bên chỉ dừng lại ở những tuyên bố thể hiện niềm hi vọng theo tinh thần Olympic, còn các mục tiêu đạt được hay không là tùy vào sự chủ động nhất trí từ Chính phủ Mỹ. Khi thông báo không tham gia Thế vận hội, Liên Xô hi vọng rằng điều này không gây ra sự bất hòa không thể cứu vãn trong nội bộ phong trào Olympic, vì vậy họ tập trung vào phê phán vào Chính phủ Mỹ và sự đồng lõa với các phong trào chống Liên Xô bởi các phần tử thù địch ở Mỹ. Khối thân Liên Xô, ngoại trừ Rumani, nhanh chóng tuyên bố không tham gia Thế vận hội mặc dù dường như không có lời kêu gọi từ trước nào được phát động tới các nước vệ tinh cũng như các cơ quan thể thao ở Liên Xô. Bộ Ngoại giao Mỹ không có vẻ gì là ngạc nhiên trước vụ tẩy chay và ngay lập tức có phản ứng. Một người phát ngôn tuyên bố rằng Chính phủ Mỹ đã ‘làm tất cả’ để thỏa hiệp theo các yêu cầu của Liên Xô.   Trong khi IOC đã nỗ lực tối đa để hạn chế những tổn thất, Ủy ban tổ chức Thế vận hội của nước chủ nhà cũng không ngồi yên. Những cuộc gọi điện thoại thuyết phục gay cấn, kết hợp với những chuyến công cán sang các nước chủ chốt trong khối xã hội chủ nghĩa, như Rumani, Trung Quốc, Đông Đức, và Cuba, đã đem lại con số kỷ lục là 140 đoàn vận động viên tới tham dự một kỳ Thế vận hội. Có tất cả 17 nước tẩy chay Olympic Los Angeles, trong đó có 6 nước từng trong nhóm top 10 trên bảng huy chương tại Olympic Montreal: Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Bulgaria, Cuba, và Hungary. Mario Vazquez Raña (vị chủ tịch đầy quyền lực của Hiệp hội các Ủy ban Olympic Quốc gia) và Peter Ueberroth (chủ tịch Ủy ban Tổ chức Thế vận hội Los Angeles) đã trực tiếp đến Cuba, nơi cả hai người được tiếp đón trọng thị; nhưng chủ tịch Castro khẳng định sẽ không từ bỏ việc tẩy chay, bởi vì trong thời gian nước Mỹ tẩy chay thể thao Cuba hồi thập kỷ 1960, Cuba đã không được thi đấu với bất kỳ đối thủ nào trừ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa, do đó ông cảm thấy có nghĩa vụ trung thành với Liên Xô.   Số lượng các nước tham gia Olympic Los Angeles thực ra bị thối phồng hơn thực tế, vì một số vùng lãnh thổ tham dự chưa đủ tiêu chuẩn để được coi là quốc gia theo quy định Olympic. Ví dụ như Tonga được đến dự dù chưa có đủ danh chính ngôn thuận với các liên đoàn quốc tế.  Kể từ Thế vận hội Los Angeles, phong trào Olympic cũng giống như tình hình toàn cảnh chung của thế giới, đã bỏ lại Chiến tranh Lạnh ở phía sau, và nhìn chung người ta cho rằng những vụ tẩy chay chỉ có thể tồn tại trong quá khứ. Chúng chỉ còn là một trong những ví dụ cho sự lãng phí to lớn về thời gian và tâm sức trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cách hành xử của các chính phủ cho thấy thực chất họ cũng không mấy quan tâm tới những giá trị lý tưởng mang tính biểu tượng của Olympic nói riêng và thể thao nói chung.     * Christopher R. Hill là tác giả cuốn sách Chính trị Olympic.   Thanh Xuân lược dịch theo History Today, các tiêu đề phụ do người dịch thêm vào  http://www.historytoday.com/christopher-r-hill/cold-war-and-olympic-movement  ——————————-  1 Đông Đức lúc này chưa được coi là một nhà nước có chủ quyền độc lập mà vẫn được coi là nằm trong lãnh thổ Soviet của Liên Xô.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Oman – Câu chuyện cổ tích không hồi kết      Cái kiểu đi thăng bằng giữa truyền thống (thật ra là&#160; cực kỳ truyền thống) và hiện đại (cũng vô cùng hiện đại), mà vẫn chân chất hồn nhiên, cộng với cái túi rủng rỉnh tiền của nhà giàu khiến Oman như một câu chuyện cổ tích sau bao nhiêu thăng trầm chiến trận đã đến hồi kết thúc có hậu.    Xứ Ả Rập thần tiên   Sau gần một tháng ở Dubai mà chạm mặt với chỉ vài người bản xứ (95% dân số Dubai là người nước ngoài), đặt chân đến Oman, tôi sung sướng thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình được trở lại địa vị làm du khách, nghĩa là lại được nhìn ngó, được chào Hê-lô, được mời ăn chà là và bị tra hỏi tại sao đến giờ vẫn chưa lấy chồng (!) Tôi bất chợt nhận ra điều cốt lõi làm nên một nền văn hóa không phải là những đền đài thành quách hay công trình kỳ vĩ hoặc thiên nhiên tạo hóa đặc sắc. Du khách cảm nhận một đất nước từ chính những người dân bản xứ. Đứng cạnh một Dubai vàng son nhưng xa lạ như một thành phố nhân tạo, Oman thân ái đón khách vào nhà, vỗ về an ủi những kẻ du hành đường xa với tấm lòng hiếu khách chân thành và cái chân chất nông dân của một vị chủ nhà giàu có.   Oman là một vương quốc cực kỳ đặc biệt so với các nước vùng Vịnh. Dưới quyền cai trị của Sultan Qaboos, Oman chuyển dịch từ một thời kỳ hà khắc đến nỗi muốn đeo kính cũng phải có giấy phép (!) để bước chân hòa mình vào dòng chảy của thế giới. Chính sách đối ngoại của Oman phải nói là có một không hai trong cộng đồng các quốc gia Hồi giáo. Trong khi các quốc gia Ả Rập động tý là cắt đứt quan hệ, Oman chủ trương đường lối ôn hòa, làm bạn, thậm chí với cả Iran là một nước theo dòng Hồi giáo Shia chứ không phải Sunni như phần lớn các nước ở Trung Đông. Táo bạo hơn, khi quốc gia Do Thái Israel bị coi là “kẻ thù của toàn khối Ả Rập” thì Oman lại nhiệt thành bắt tay hợp tác.   Tuy nhiên, điều khiến Oman khác hẳn các quốc gia lềnh bềnh trong biển dầu là chính sách có tên gọi Oman hóa nền kinh tế (Omanization). Trong khi láng giềng Dubai và Saudi dựa dẫm phần lớn vào chất xám ngoại nhập, Oman dù bơi trong vũng dầu vẫn đầu tư mạnh vào giáo dục, quyết tâm không làm hư con dân. Vào năm 2000, số người nước ngoài ở Oman chiếm tới gần 85% lực lượng lao động trong các ban ngành. Không chậm trễ như các đế chế dầu mỏ khác, Sultan Qaboos lập tức đề ra một loạt các tiêu chuẩn bắt buộc các công ty và ban bệ phải Oman hóa, dần dần từ 10%, nơi nào càng Oman hóa nhanh và tốt thì càng được hưởng nhiều lợi tức của chính phủ. Quá trình này đẩy mạnh bình đẳng giới ở tốc độ quỷ khốc thần sầu. Oman từ một quốc gia phụ nữ chỉ ngồi nhà, sau hơn chục năm, phụ nữ chiếm hơn 30% lực lượng kiếm tiền; trong ngành kế toán ngân hàng, thậm chí phụ nữ còn lấn át cả đàn ông.   Vào một ngày đẹp trời, trong bữa trưa thân mật với viện trưởng Viện Khoa học Trung Đông Abdullah Al Sabahy, ông giáo sư đáng kính vừa sửa lại cái khăn đội đầu, nhìn trước ngó sau, rồi thì thầm với tôi, giọng vừa hài hước, vừa rất tủi thân: “Đàn ông Oman toàn bị bắt nạt thôi, trước chỉ có ở nhà mới cần gọi dạ bảo vâng, bây giờ ra đường cũng phải rón rén.” Tôi bật cười, nhớ tới Laila, cô bạn mới quen hiện là sếp hạng trung ở một công ty dầu mỏ. Đưa tôi về nhà chơi, bước qua bậu cửa là cô cởi phắt khăn trùm đầu và áo chùng đen, một bộ ngực phì nhiêu đập vào mắt tôi, căng mọng sau làn áo thun mỏng dính với hàng chữ gào lên đanh thép: “No man! No cry”1   Hiếm có thành phố hiện đại nào ở Trung Đông khiến tôi mềm lòng như Muscat. Hàng chục địa danh trên thế giới được cả người bản xứ lẫn du khách đặt cho biệt hiệu “Thành phố trắng”. Kể sơ sơ thì có Belgrade (Serbia), Ostuni (Italy), Arequipa (Peru), Lisbon (Bồ Đào Nha), hay Popayan (Colombia). Muscat – thủ phủ của Oman chưa bao giờ tự nhận là thành phố trắng nhưng có lẽ đây lại là thành phố duy nhất trên thế giới xứng đáng với tên gọi này. Chính quyền Oman rất quan tâm đến việc phát triển đất nước trong thế hòa hợp với thiên nhiên, quan tâm đến mức gần như quân phiệt, ra cả đạo luật chỉ cho phép người dân sơn nhà màu (be) trắng. Cách đây không lâu, tất cả các cửa sổ còn bị buộc phải có một cái mái vòm theo kiểu Oman truyền thống. Các tòa nhà chỉ được phép cao dưới chín tầng. Những thành phố của Oman nép vào lòng núi, trắng phau phau, xinh xắn thơm tho giữa bạt ngàn hoa lá như những ngôi nhà trong chuyện cổ tích. Thành phố vùng Vịnh nóng như thiêu như đốt tới 55 độ C trong bóng râm nhưng hoa nở tràn tung vỉa hè. Bọn trẻ con từ lúc bé tý đã hằng tuần được tổ chức đi dọn rác bãi biển. Cơ sở vật chất hiện đại hơn hẳn châu Âu nhưng người dân chất phác như nông dân, hầu như ai cũng mặc đồ truyền thống, khen cái gì đẹp là … cho luôn không tiếc. Đường xá của Oman mượt mà như dải lụa xuyên núi cắt sông.  Đọc Wikipedia thấy bảo tỷ lệ chết do tai nạn giao thông ở Oman đứng thứ nhì thế giới, tôi hết hồn tưởng các bác tài ở đây lạng lách giống Việt Nam. Tìm hiểu kỹ mới biết phần lớn tai nạn gây ra do tài xế… ngủ quên trên tay lái vì đường thênh thang quá (!) Đi vào quán ăn thấy dân Hồi Giáo áo dài quấn khăn gọi bia rượu cụng ly uống vô tư. Đi vào quán bar thấy các anh Hồi giáo cũng dài áo quấn khăn vừa cầm chai cồn vừa nhún nhảy theo Bon Jovi một cách nhiệt tình. Cái kiểu đi thăng bằng giữa truyền thống (thật ra là  cực kỳ truyền thống) và hiện đại (cũng vô cùng hiện đại), mà vẫn chân chất hồn nhiên, cộng với cái túi rủng rỉnh tiền của nhà giàu khiến Oman như một câu chuyện cổ tích sau bao nhiêu thăng trầm chiến trận đã đến hồi kết thúc có hậu. Mụ phụ thủy gian ác đã phải đền tội còn các công chúa hoàng tử thì đang sống bên nhau đời đời hạnh phúc.   Nhà vua đức độ muôn năm  Ngày đầu tiên nghỉ lại thủ phủ Muscat, anh bạn mới quen Hilal quyết định cho tôi làm quen ngay với thần tượng số 1 của người dân Oman. Ảnh của ông có ở khắp mọi nơi. Ông cười rạng rỡ trên tường nhà, cửa sổ và kính chắn gió. Đi vào bất kỳ một văn phòng, khách sạn hoặc nhà hàng nào, nhìn quanh bạn cũng sẽ thấy hình ảnh ông hoặc là hoành tráng long lanh ở chính giữa đại sảnh, hoặc đôi khi chỉ là một bức ảnh nhỏ bằng bàn tay dán vội lên tường nhà bằng một miếng băng dính. Ông là vị Sultan quyền lực tối thượng của vương quốc: Sultan Qaboos. Sự yêu kính vô bờ bến của con dân đối với ông có lẽ còn hơn cả người Thái yêu vua Bhumibol Adulyadej, đơn giản vì vua Thái chỉ lãnh đạo về tinh thần còn Sultan Qaboos thì dám cả gan truất ngôi vua cha, cải cách đất nước. Vào năm 1970, Oman chỉ có ba trường học, 1.000 học sinh, hai bệnh viện và 10km đường quốc lộ. 40 năm sau, Oman có hơn 1.000 trường học, xếp thứ tám trên thế giới về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.   Sự trân trọng đối với Sultan lây lan nhiệt tình sang cả cộng đồng người nước ngoài. Tôi chưa thấy bất kỳ một ai nói gì xấu về Sultan, thậm chí những quán ăn ngoại quốc cũng tự nguyện treo hình ông. Bữa tối của tôi và anh bạn Hilal diễn ra tại một nhà hàng mà ông chủ đã thành kính biến toàn bộ sảnh ăn chính thành viện bảo tàng với gần 500 bức ảnh của Sultan Qaboos. Trong lúc chúng tôi hí húi ăn uống, một đoàn các bô lão ở quê ra thăm thành phố lọm khọm chống gậy ghé sát vào từng tấm ảnh, mắt rưng rưng sùng kính. Khi tôi hỏi tại sao không phải dân Oman mà cũng sùng bái Qaboos vậy, vị chủ nhà hàng không nói gì, chỉ đặt tay lên ngực. Đúng là sến, nhưng mà cũng thật ơi là thật!  Năm 2012 khi mùa xuân Ả Rập cao trào, một nhóm biểu tình đã khuấy động Oman nhưng không mảy may động chạm đến vị Sultan cha già dân tộc. Thậm chí ít lâu sau đó, một bức thư dài được đăng trên Thời báo New York giãi bày cho cả thế giới biết rằng: Chúng tôi ở Oman hối hận lắm, rằng đã phụ lòng thương mến của Sultan mà mấy đứa láo lếu kia cả gan xúc phạm Người, rằng ở đâu mùa xuân Ả Rập muốn đánh đổ độc tài chứ ở Oman chúng tôi chỉ muốn nhà độc tài của mình sống lâu đời đời. Nếu mà không tận mắt nhìn thấy cuộc sống ở Oman và tình cảm người dân dành cho ông thì hẳn tôi đã phì cười. Nhưng mà đó là sự thật, một người bạn tôi thậm chí hưng phấn về điều này đến mức đang lái xe đưa tôi đi chơi mà anh bỏ cả vô-lăng, hai tay chém không khí phần phật: “Chúng tôi không cần dân chủ! Chúng tôi chỉ cần một nhà độc tài tốt bụng.”  Sự thực là những cuộc biểu tình đòi dân chủ ở Oman luôn đi kèm các khẩu hiệu đại loại: “Sultan! Chúng tôi nguyện hy sinh máu, thể xác và linh hồn để phục vụ Người”. Trong cả một dải Trung Đông bị làm cho be bét bởi các nhà độc tài, chỉ có hai quốc gia người dân tuyệt đối trung thành với nhà vua nhưng vẫn yêu cầu một thể chế dân chủ hơn, đó là Oman và Jordan. Ở thủ phủ Amman của Jordan, tôi đã chứng kiến cuộc tuần hành dân chủ đòi cải cách nhà nước với cả ngàn người được dẫn đầu bởi một một lá cờ mỗi chiều hơn 10m in hình ảnh nhà vua. Những cuộc nói chuyện với bạn bè khắp Trung Đông luôn xuất hiện số ít vài nhân vật với quan điểm cho rằng người dân ở đây sống theo thói quen bộ lạc nên luôn cần người dẫn dắt. Vả lại, họ đã quá quen với chế độ độc tài và hoàn toàn chưa có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ dân chủ. Một người bạn ở Libya khi được hỏi “Gaddafi chết rồi chắc đất nước sẽ có hy vọng hơn” đã trả lời thẳng thắn: “Thật ra tôi đang chờ một nhà độc tài mới có tâm với đất nước hơn.”  Trở lại chuyện của Sultan, tôi đã kể với các bạn chi tiết ông hoàng Qaboos bị đồn là đồng tính chưa nhỉ?   Vào những năm đầu tiên tại vị, chàng trai trẻ tuổi Qaboos chia sẻ quyền điều hành một đất nước vẫn còn khá hỗn loạn sau những năm tháng chiến tranh với ông bác ruột tên là Tariq Ibn Taymur. Tuy nhiên, sự cộng tác không được dài lâu vì Taymur ngày càng nắm nhiều quyền lực. Không lâu sau, hai người dàn hòa, và theo đúng truyền thống bộ lạc của thế giới Ả Rập, sự dàn hòa này được xác lập bằng một đám cưới, cụ thể là vị Sultan 36 tuổi chính thức lấy con gái của Taymur, em họ của mình, khi đó vẫn còn là cô bé Kamila 14 tuổi về làm hoàng hậu. Cuộc hôn nhân kéo dài được vài năm thì hai người chia tay. Và vị Suntal giàu có, đẹp trai, tài năng của chúng ta đã sống hơn 30 năm qua đơn độc một mình.   Đấy là phiên bản chính thức, còn phiên bản lê la của quán sá thì Qaboos có một đội ngũ cảnh vệ gồm 700 thanh niên đẹp trai lung linh. Trong harem của ông có cả phụ nữ, nhưng dân tình đồn rằng những cô gái này chỉ được thuê để che mắt thiên hạ. Bản thân vị Sultan lúc nào trông cũng nhân từ và đẹp trai ngời ngời dù đã gần 70 cái xuân xanh. Hàm râu quai nón trắng như tuyết, nhưng tôi “bắt quả tang” lông mày của ông trăm bức ảnh như một đều được nhuộm xanh rì. Bạn bè người nước ngoài ở Oman thì bán tín bán nghi, nhưng lũ bạn người bản xứ khi được hỏi thì một mực cho rằng Qaboos không thể nào là gay được, ông ấy tốt thế cơ mà, giỏi thế cơ mà, đáng phục thế cơ mà (!) Kết luận: Sultan rất có thể đang chọc ngoáy đám trai đẹp tý chút, nhưng điều đó được coi như một thú vui cá nhân hơn là sự “lệch lạc” về giới tính.   Hilal tất nhiên là không mặn mà lắm với câu hỏi tế nhị của tôi về cái việc ai ở Oman cũng băn khoăn lo lắng nhưng không ai dám nói ra, cứ như thể có một con voi trong phòng khách2, to lớn khổng lồ nhưng ai cũng giả vờ như không nhìn thấy. Sultan thì già rồi, hoàng hậu thì ly dị lâu rồi, con cái thì không có, ai sẽ là người kế nghiệp đây? Cái sự thành công nhanh chóng, rực rỡ mà vẫn rất bình hòa của Oman đều do một tay Sultan sắp đặt. Nhiều người lo Oman sẽ loạn to khi Sultan về chầu giời, Hilal thì đặt tay lên ngực nói đơn giản: “Chúng tôi yêu và tin Sultan. Chúng tôi tin rằng ông sẽ sắp đặt mọi việc đâu vào đấy. Việc Sultan là gay hay không thì nói thực là tôi chẳng quan tâm”.  Hậu duệ của “những kẻ bỏ ra đi”  Tôi cười xòa khi Hilal nói là anh ấy “không quan tâm”. Vấn đề là bản thân tôi thì lại rất quan tâm. Tại sao? Bởi câu hỏi ai kế vị luôn là đầu mối của phần lớn các cuộc binh đao, và một trong những cuộc binh đao lớn nhất, tàn khốc nhất, lâu đời nhất thế giới, cho đến tận bây giờ vẫn tiếp tục đổ cả biển máu bắt nguồn từ chính câu hỏi không có lời giải đáp này.   Trở lại gần 1.400 năm trước, từ sau khi người vợ yêu Khadija hơn ông tới 15 tuổi qua đời, Muhammad đã cưới thêm hơn một chục bà vợ khác, hầu như tất cả đều là quả phụ hoặc li dị chồng, ngoại trừ một người vợ còn rất trẻ, được gia đình đính hôn từ khi mới lên 6 tuổi tên là Aisha, được Muhammad đặc biệt yêu quý. Thời xa xưa, những cuộc hôn nhân diễn ra không chỉ vì những tiếng gọi ngắn dài từ trái tim, mà phần lớn còn bởi các lý do chính trị, đoàn kết bộ lạc. Muhammad với sứ mạng thống nhất các bộ lạc Ả Rập dưới ngôi tôn giáo mới thậm chí tự cho mình quyền được phá luật, không giới hạn số vợ được cưới. Tuy nhiên, không một ai trong số hơn chục bà vợ này, kể cả Aisha từ lúc chính thức dậy thì và về ở cùng với Muhammad, đẻ cho ông thêm một đứa con nào. Fatimah trở thành cô con gái duy nhất mang dòng máu của vị thiên sứ với người vợ đầu tiên đã khuất Khadija3.  Năm 62 tuổi, Muhammad nhắm mắt xuôi tay, để lại một di sản khổng lồ gồm cả vùng bán đảo Ả Rập thống nhất dưới một tôn giáo có tên là Islam. Truyền thuyết kể rằng trong phút cuối đời, ông yêu cầu đem giấy bút đến bên giường bệnh để viết di chúc, nhưng các bà vợ và kẻ thân cận bị cuốn theo những ý đồ quyền lực ngấm ngầm đã không làm như lời yêu cầu. Muhammad trút hơi thở cuối cùng mà không hoàn toàn nói rõ ai sẽ là người kế vị.  Nếu Muhammad có một cậu con trai, hẳn là bộ mặt thế giới của chúng ta bây giờ đã khác.   Người đàn ông có quan hệ dòng tộc gần gũi nhất với Muhammad là một cậu bé tên Ali, cháu bên đằng họ nội và cũng là con nuôi của Muhammad. Ali là một chiến binh nổi tiếng oai dũng và là một nhà thơ tài năng. Anh đại diện cho mẫu đàn ông Ả Rập toàn tài với trí óc sáng trong, trái tim nhân văn và bàn tay sắt thép. Khi anh kết hôn với Fatimah, trở thành con rể của Muhammad và đem lại cho ông năm đứa cháu ngoại thì ai cũng cho rằng chính anh sẽ là người kế vị. Tuy nhiên, khi thiên sứ qua đời, trong khi Ali còn đang than khóc và chuẩn bị lễ mai táng thì những cận thần thân tín của Muhammad họp nhau lại và chỉ định người kế vị là Abu Bakr, chính là bố đẻ của cô vợ trẻ Aisha. Vị caliph này trước khi băng hà lại tự chỉ định Umar – cũng là một trong rất nhiều bố vợ của Muhammad – kế ngôi. Khi Umar bị ám sát, vị caliph thứ ba được chọn vẫn không phải là Ali mà là Uthman. Bị liên tục đẩy ra ngoài, không những một lần mà đến tận ba lần liên tiếp, trong suốt 24 năm sau ngày Muhammad qua đời, Ali ngậm đắng nuốt cay, kiên quyết không bạo loạn vì sự bình yên và thống nhất của đế chế. Chỉ đến khi Uthman bị quân nổi dậy xông vào tận hoàng cung giết chết vì sự xa hoa và nhu nhược thì Ali mới được tôn vinh lên làm người lãnh đạo của Islam.   Tuy nhiên, Ali lên cầm quyền thừa hưởng một thế giới Hồi giáo chia cắt với những kẻ lãnh đạo đầy mưu mô và phản phúc. Một trong số đó là thống đốc vùng Syria tên là Muawiyah, kẻ nhất định không công nhận ngôi caliph của Ali nhưng cũng là kẻ hèn nhát khi không dám nhận lời thách đấu trực tiếp của Ali nhằm tránh tổn thương cho quân lính. Tại trận Siffin, khi đã ở bên bờ vực của đại bại, quân lính Muawiyah được lệnh không đầu hàng mà giắt lên đầu ngọn giáo những cuốn kinh Quran và kêu gọi hãy để cho Thượng Đế nói lời phán quyết. Lần đầu tiên trong lịch sử, cuốn thánh kinh tôn giáo đóng vai trò quyền năng chính trị.   Dù đã nhìn thấu mưu chước của Muawiyah nhưng dưới sức ép của chính quân đội mình, Ali buộc phải chấp nhận cử đại diện vào hội đồng phân xử, và sau đó bị phe của chính mình phản bội. Với nhận định cho rằng tôn giáo đã trở nên vấy bẩn bởi ý chí của con người, khoảng hơn 10.000 quân lính tách khỏi cộng đồng, lập nên tổ chức Hồi giáo Khawarij, trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “Những kẻ bỏ ra đi”.   Sự tàn khốc và khát máu của Khawarij khiến cả vùng bán đảo Ả Rập phải ghê sợ. Bất kỳ ai trên sa mạc cũng đều có thể bị chặn đường và buộc phải trả lời một câu hỏi bất kỳ về Islam và lòng trung thành. Chỉ cần một câu ủng hộ Ali, hay một lời đáp sai giáo án là kẻ du hành xấu số bị tuyên bố là  kafir4  và bị giết không thương tiếc. Chẳng bao lâu sau, đến chính cả caliph Ali cũng bị Khawarij ám sát. Sau cái chết của Ali, không phải là những kẻ cực đoan Khawarij mà lại là những người cầm quyền chính thống của Hồi giáo đẩy gia đình ông phải chịu nhiều cảnh vô cùng thảm thương. Chỉ chưa đầy 50 năm sau khi Muhammad băng hà, cháu ngoại của vị thiên sứ người thì bị đồn là đầu độc mà chết, người thì bị chặt đầu cắm vào ngọn giáo bêu riếu trong kinh thành, những cháu gái của ông chân đeo gông xiềng lê lết trên cát bỏng sa mạc bước theo sau ngọn giáo xuyên qua đầu cha còn rỏ máu, chịu nhục hình trước mặt những caliph mới. Trên danh nghĩa Hồi giáo thiêng liêng, trớ trêu thay, gia đình máu mủ của chính người khai sinh ra Hồi giáo lại bị tàn sát vô cùng man rợ.   Nếu không có những giọt máu và sự tàn khốc này, hẳn Hồi giáo đã không bị chia cắt đến gần như đứt lìa suốt gần 1.400 năm qua. Nhóm người Hồi ủng hộ Ali và cho rằng lãnh đạo tôn giáo phải là những người thuộc dòng tộc của thiên sứ Muhammad dần dần hình thành nên nhánh Shia, tiếng Ả Rập có nghĩa là những người đi theo Ali. Nhóm còn lại cho rằng dòng tộc máu mủ không quan trọng mà cách sống và phẩm chất đạo đức mới quyết định ai là người lãnh đạo. Họ hình thành nên nhánh Hồi giáo Sunni, tiếng Ả Rập có nghĩa là những người tuân theo lời dạy (sunnah) của thiên sứ Muhammad.  Thế còn những kẻ đã ám hại Ali, những tín đồ Hồi giáo nhân danh thánh kinh Quran sẵn sàng hạ sát bất kỳ ai không cùng chính kiến?  Họ dạt xuống Oman.  Hồi sinh   Khó có thể tin rằng những hậu duệ cuối cùng của Khawarij lại chính là vị Sultan nhìn hiền như ông Bụt, là một vương quốc Hồi giáo đầy khoan dung với những ông chồng lúc nào cũng tay bồng tay bế trẻ con để cho vợ đi tay không, là những quán bar rượu bia xả phanh và các cậu choai choai miệng cười bẽn lẽn. Ngày cuối cùng trước khi rời Oman, tôi gặp Khalid, người đầu tiên cắm cờ Oman trên đỉnh Everest, hiện là cố vấn cao cấp của Bộ Giáo dục Oman. Khi tôi ngỏ ý ca ngợi sự khác nhau một trời một vực giữa Hồi giáo của tổ tiên Khawarij và Hồi giáo dòng Ibadi hiện tại ở Oman, Khalid liếc xéo tôi một cái rồi nhướng mày hỏi: “Thật ư?”   Khi ấy, chúng tôi đang lái xe xuyên qua khuôn viên thênh thang như một thành phố của Sultan Qaboos University – trường đại học đầu tiên của Oman mới hơn 20 năm tuổi. Khalid dừng xe, bảo tôi nhìn về ngã tư phía trước nơi hàng trăm nữ sinh đang túa ra khỏi giảng đường, xôn xao đen kịt cả một vùng. Anh chùng giọng hỏi tôi: “Mai đã đến Nizwa, Shalalah và rất nhiều nơi khác của Oman, Mai có chú ý đến những trang phục của phụ nữ nơi đó không?”   Tôi chợt hiểu ý của Khalid. Quả thật những phụ nữ Oman miền quê có cách ăn bận vô cùng độc đáo. Và không chỉ có phụ nữ Oman, mỗi bộ lạc của Trung Đông đều có một kho báu về vô số chủng loại phục trang, quần áo đầy màu sắc và cá tính. Tuy nhiên, chỉ cần vươn ra đến gần thành phố là mắt người đi đường tối sầm lại vì những bộ áo chùng đen abaya mà ở đâu cũng hệt như nhau: Dubai, Oman, Ai Cập, Jordan, Yemen… Khắp cả Trung Đông, phụ nữ trút bỏ dần xiêm y lộng lẫy của thời ông bà cha mẹ và khoác lên vai “tấm vải liệm” (từ của Khalid) đen xì vô danh tính. Không hẹn mà cùng nhịp, cả tôi và Khalid thốt nhiên lẩm bẩm trong miệng: “Wahhabi”.  Sự thật đã quá rõ ràng. Mặc dù hậu duệ sinh học của Khawarij tồn tại ở Oman, nhưng kẻ nối ngôi “xứng đáng” nhất của tinh thần Khawarij lại chính là dòng Hồi giáo Wahhabi ở Saudi. Sự cực đoan của Wahhabism được phát tán ra khắp Trung Đông và thế giới phương Tây, viền bằng hào quang và uy lực thần bí của một thứ Hồi giáo nhân danh sự chân chính của tín ngưỡng và tính chính thống của vùng đất khai sáng. Khi những người phụ nữ Saudi dưới ảnh hưởng của Wahhabism từ bỏ quần áo truyền thống và quấn quanh mình chiếc áo chùng đen che kín mặt, hình ảnh đen thui rũ bỏ sạch sành sanh mọi dấu vết văn hóa truyền thống ấy được tôn sùng lên thành sự tinh khiết đến tận cùng của tôn giáo. Vượt qua biên giới, chiếc áo đen với sức mạnh của đồng đô-la dầu mỏ từng bước Wahhabi-hóa những thánh đường Hồi giáo cổ truyền, xóa bỏ dần dần từng lớp văn hóa quốc gia, biến mỗi phụ nữ thành một câu khẩu hiệu tôn giáo chói tai khi cô ấy cùng hàng triệu, chục triệu phụ nữ khác tự nguyện khoác lên mình bộ đồng phục đen như một dấu hiệu thần phục sức mạnh tôn giáo của nhà Saud.   “Mặc áo đen thì suy nghĩ cũng sẽ có màu u ám tiêu cực” – Khalid thở dài thườn thượt. Anh kể cho tôi nghe về cô vợ yêu của mình, năn nỉ cách nào cũng vẫn chui vào cái “khăn liệm” màu tang tóc. Cứ như một cơn dịch tràn lan không thuốc chữa. Những dải áo kim sa lộng lẫy chỉ còn là ký ức trong các lễ hội xa xôi.   Rồi dường như muốn để tôi chạm sàn thực tế thêm một chút nữa, Khalid nhắc tôi nhớ cho rằng Oman từng là một quốc gia giàu có bậc nhất thế giới tiên phong trong nghề hàng hải. Có một thời điểm trong quá khứ, Oman đã vượt biển đô hộ và thống trị hơn 10% diện tích châu Phi. Cách Muscat không xa là Sohar, quê hương của chàng thủy thủ Sinbad lừng danh trong Nghìn lẻ một đêm với những cuộc phiên lưu mạo hiểm khắp chân trời góc bể. Vậy mà bây giờ với đống tiền dầu lửa, đám trẻ ai cũng chỉ mong kiếm được việc làm trong cơ quan nhà nước.  “Chán!” – Khalid buông một câu.   “Chán!” – tôi cũng thầm nghĩ trong đầu, liên tưởng đến một vài người quen biết ở nhà.  Tôi từng tủi thân nghĩ đất nước dài rộng quấn quanh biển Đông mà sao lịch sử Việt Nam không thấy có trang sử hàng hải huy hoàng. Mỗi lần về nhà bảo bạn bè tao tiêu hết tiền vào đi du lịch thì bị chê là khùng. Tục ngữ có câu Đi một ngày đàng học một sàng khôn nhưng mấy nghìn năm chẳng đi qua nổi mấy lũy tre làng. Hay là tại chiến trận liên miên? Hay là tại tâm tính dân tộc không khát khao thách thức, ưa việc làm nông quanh con trâu cái cày hơn là đóng thuyền vượt trùng khơi, bất chấp thế đất thế nước thiên thời địa lợi, bất chấp thiên nhiên mời gọi giục giã?  “Thôi mà!”- Khalid phì cười an ủi – “Đến một đất nước tiên phong về hàng hải với huyền thoại Sinbad còn như thế này nữa là… Cái gì cũng phải từ từ. Mình cứ phải làm tốt những gì mình được dạy thôi. Cô là người cầm bút thì sao không viết lấy một bài. Biết đâu mấy bạn trẻ ở Việt Nam sẽ rút kinh nghiệm được điều gì đó từ đất nước chúng tôi?”  Tôi vẫn nghĩ về Oman như một Trung Đông thần tiên, nhưng là kiểu thần tiên cổ tích của Andersen: đẹp, khắc khoải, và hình như không bao giờ kết thúc. Tôi cũng không còn thích cái kết đời đời hạnh phúc nữa. Phải có một tý phù thủy bạn ạ. Phải có một tý phù thủy để chân tay còn biết động đậy, trí óc còn biết đấu tranh, trái tim còn biết phân biệt tốt xấu.  Và chương này viết theo yêu cầu của Khalid, người đang mải miết chinh phục những đỉnh núi mới.  —-  Năm 2012, tác giả Nguyễn Phương Mai đã thực hiện một hành trình dọc Trung Đông để nghiên cứu về Hồi giáo. Loạt bài bắt đầu khởi đăng từ số tháng 11. Độc giả có thể trao đổi với tác giả tại www.facebook.com/dr.nguyenphuongmai   Kỳ sau: Li-băng  –—  1 Không có đàn ông thì cũng chẳng có nước mắt.   2 Elephant in the room – Ngạn ngữ Anh  3 Xem thêm chú thích số 1 kỳ 1: Trung Đông cấm cung   4 Kẻ vô đạo, phản đạo    Author                Nguyễn Phương Mai        
__label__tiasang Ông nói gà, bà nói vịt. Vì sao?      Mấy năm qua đã có rất nhiều ý kiến khác nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự cần thiết phải xây dựng đại học có chất lượng cao (thường được gọi là “có đẳng cấp quốc tế”) và cùng với chuyện này là yêu cầu nghiên cứu khoa học đối với các giảng viên đại học. Những ý kiến này, phản ánh tâm tư của những nhóm người trong xã hội có lợi ích khác nhau. Mỗi nhóm ý kiến đều chứa đựng “sự thật” nào đó, nhưng vì lợi ích riêng mà không muốn nhìn nhận những khía cạnh khác của “sự thật”. Đối thoại như thế thật khó đi đến đồng thuận cho một giải pháp nào đó.    Các lập luận nêu ra đều dựa trên sự so sánh với các đại học của nước ngoài, nhưng chỉ là những so sánh hiện tượng. Đại loại như là các giáo sư nước ngoài được trả lương thế nào, được cung cấp các thiết bị thí nghiệm ra sao, các chuẩn mực khách quan đánh giá nghiên cứu khoa học là dựa trên số lượng các công trình được công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín… Việc so sánh như thế là rất cần thiết vì tạo nên bức tranh tương phản đập ngay vào mắt mọi người và do đó có tính thuyết phục cao. Tuy nhiên, những thảo luận như vậy vẫn để ra ngoài một vấn đề cực kỳ quan trọng: đại học của mỗi nước đã được hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể của nước đó để đáp ứng một nhu cầu phát triển văn hóa nhất định nào đó của họ; bản thân đại học ấy cũng biến đổi cùng với các biến đổi xã hội của họ. Lẽ dĩ nhiên các nước có chung một nền văn minh (như Bắc Mỹ và Tây Âu) có rất nhiều đặc điểm chung và không nhất thiết phải để ý đến các nét độc đáo riêng của từng đại học khi so sánh họ với ta. Nhưng ta lại là một nước có văn hóa khác phương Tây và chưa có sự hiểu biết sâu về văn hóa phương Tây (sự hiểu biết thông qua công việc nghiên cứu nghiêm túc của các chuyên gia chứ không phải những ấn tượng thu thập được qua những chuyến tham quan du lịch).   Tôi chắc rằng những người tham gia thảo luận đều có những minh định ngầm ẩn nào đấy, nhưng tôi e rằng chính những minh định ngầm ẩn ấy lại rất khác biệt nhau ở những nhóm người khác nhau. Vì vậy mà cuộc thảo luận về cùng một chủ đề lại có thể biến thành chuyện “ông nói gà bà nói vịt”. Để minh họa cho ý đó tôi xin tạm chia các ý kiến tham gia thảo luận thành các nhóm như sau:  1) Nhóm I – Đại học của ta thời gian qua đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt được những thành tựu đáng kể; tuy nhiên đứng trước nhiệm vụ hiện đại hóa của đất nước thì còn nhiều bất cập cần phải khắc phục. Những bất cập ấy là: phương pháp giảng dạy lạc hậu, trình độ cán bộ giảng dạy còn thấp, thiết bị thí nghiệm thiếu thốn; đời sống cán bộ khó khăn, thời gian đứng lớp nhiều nên thiếu thời gian dành cho nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ giảng dạy… Giải pháp là tăng cường đầu tư cho giáo dục kết hợp với xã hội hóa giáo dục, động viên cán bộ giảng dạy nâng cao trình độ chuyên môn và tham gia nghiên cứu khoa học. Một số phân vân mang tính kỹ thuật: trả lương cho giáo sư bao nhiêu thì đủ để có người tài, những tiêu chí nào cần đưa ra để xác định người tài…  2) Nhóm II – Nêu ra những bức xúc của xã hội trước thực trạng giáo dục: mua bán bằng cấp, gian lận trong thi cử, phương pháp giảng dạy nhồi nhét, chi phí cho việc học mỗi lúc mỗi tăng, ra trường không kiếm được việc làm, kiến thức thu nhận được ở trường không áp dụng được vào nghề nghiệp. Bày tỏ sự thất vọng với chất lượng của đại học và nghiên cứu khoa học một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc ca ngợi những thành tích khoa học của giới “phi hàn lâm”: các “Hai Lúa” làm máy bay, một người không qua đào tạo khoa học vật lý phá đổ lý thuyết của Einstein…             Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động tiên tiến, đội ngũ cán bộ khoa học mạnh cùng với chính sách ưu tiên đầu tư về cơ sở vật chất – kỹ thuật là những yếu tố then chốt đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo và NCKH của ĐHQGHN. (Phát biểu của GS. Đào Trọng Thi trong buổi làm việc với Chủ tịch nước Nguyễn Minh triết tại ĐH QG Hà Nội).            3) Nhóm III – Phê phán triệt để cung cách quản lý giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học như nguyên nhân chính của tình trạng kém chất lượng trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học: người có tài không được trọng dụng, giảng viên đại học có nghiên cứu khoa học hay không cũng được trả lương như nhau, nghiệm thu các đề tài khoa học một cách tù mù, không có tiêu chí khách quan, người kém hiểu biết ngồi phán xét người hiểu biết…  Để khắc phục tình trạng này tôi thấy cần lưu ý đến một đề nghị rất quan trọng của Giáo sư vật lý Pierre Darriulat trong bản góp ý của ông đối với giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học của Việt Nam (Tia Sáng số 13- 5.7.2007) như sau:  “Có một số câu hỏi cơ bản cần được trả lời nhằm định ra một cơ cấu cho đại học và nghiên cứu có thể phát triển. Những câu hỏi đó là: “Vì sao Việt Nam cần trường đại học?” và “Vì sao Việt Nam cần nghiên cứu khoa học?”. Đó không phải là những câu hỏi tầm thường; các nước khác nhau có những câu trả lời khác nhau, thậm chí một nước cũng có những câu trả lời khác nhau tùy theo các giai đoạn lịch sử. Chỉ khi nào trả lời được những câu hỏi đó mới có hy vọng trả lời được các hệ quả: “Việt Nam cần những trường đại học kiểu gì?” và “Việt Nam cần nghiên cứu khoa học kiểu gì?”. Những câu trả lời phản ánh hình thái xã hội mà người ta muốn đất nước sẽ có, chúng là những lựa chọn mà nhà nước cần làm cho nhân dân mình”.             Thực trạng khoa học của đất nước không được sáng sủa lắm. Chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở các trường đại học là đáng báo động. (GS. Ngô Bảo Châu-Đại học Paris Sud).            Như vậy, để trả lời những câu hỏi trên cần phải nhìn lại quá trình lịch sử hình thành đại học Việt Nam và đại học của nước nào đó mà ta muốn học tập, để biết được những ý tưởng gì đã được đưa ra, các biện pháp gì đã được thi hành và những kết quả gì đã thu được.     Nguyễn Văn Trọng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông Tân có phạm pháp?      Vụ việc nuôi hổ ở Bình Dương thực tế đã trở thành cuộc chiến pháp lý giữa 3 chủ thể là người dân nuôi hổ mà đại diện là ông Ngô Duy Tân, Bộ NN&amp; PTNT đại diện cho Nhà nước và đại diện 6 Tổ chức quốc tế về Bảo tồn Động vật hoang dã.        Hiện nay cuộc chiến pháp lý dường như đã lên đến cực điểm khi ông Ngô Duy Tân liên tục đưa ra “tối hậu thư” yêu cầu Cục kiểm lâm phải chính thức xin lỗi công dân và rút lại lời buộc tội người nuôi hổ “vi phạm pháp luật”. Ngày 26/3 vừa qua ông Tân lại gửi thư chính thức cho đại diện 6 Tổ chức quốc tế tại Việt Nam, phản bác những lời buộc tội của các tổ chức này trong thư gửi Thủ tướng chính phủ Việt Nam và cho biết có thể kiện lên Tòa án quốc tế nếu các tổ chức này không có những hành động thích hợp.     Về khái niệm và các phương pháp bảo tồn sinh học  Là một người đang nghiên cứu trong lĩnh vực đa dạng và bảo tồn sinh học, tôi thực sự ngạc nhiên về kiến thức bảo tồn và càng ngạc nhiên hơn về thái độ ứng xử một cách thái quá của những người đang nhân danh các Tổ chức quốc tế trong thư gửi Thủ tướng Việt Nam.  Trong lá thư gửi Thủ tướng và cả trong bài trả lời phỏng vấn trên đài BBC đại diện Tổ chức quốc tế đều nhiều lần khẳng định rằng: Nuôi hổ ở Bình Dương là không hề có giá trị bảo tồn. Đây rõ ràng là khẳng định sai.   Ai cũng biết rằng khái niệm Bảo tồn sinh học (Biological Conservation) là biện pháp đặc biệt để duy trì và bảo vệ động thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng. Hiện có hai phương pháp bảo tồn sinh học đang được sử dụng là: Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation) là khoanh vùng bảo tồn động thực vật tại nơi gốc mà chúng sống. Đây được coi là phương pháp ưu tiên và tốt nhất để bảo tồn động thực vật quý hiếm; Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) là biện pháp di chuyển động thực vật từ nơi nguyên gốc mà chúng đã và đang sống đến nơi khác để gìn giữ bảo vệ, kể cả gìn giữ hay bảo quản toàn bộ hoặc một phần động thực vật trong điều kiện đông lạnh (cryo-reservation) ở trong phòng thí nghiệm. Biện pháp này được áp dụng khá phổ biến, đặc biệt, trong trường hợp nơi ở nguyên gốc của động thực vật bị thu hẹp hoặc bị đe dọa khác cần phải di chuyển động thực vật để bảo vệ, nhân nuôi và thả lại tự nhiên hoặc phục vụ nghiên cứu, đào tạo, du lịch…  Còn cứu hộ động vật là các biện pháp cần thiết tức thời để nuôi dưỡng và chăm sóc động vật khỏe mạnh bình thường trước khi thả chúng về với tự nhiên nơi chúng bị bắt. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp động vật nào đó bị săn bắt, bị thương ngoài thiên nhiên hoặc đang bị nuôi nhốt buôn bán bất hợp pháp.   Bảo vệ động vật là khái niệm chung, rất rộng từ quy định pháp luật đến các biện pháp thực thi trong thực tiễn để duy trì và bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm. Trong các biện pháp bảo vệ động thực vật quý hiếm có biện pháp bảo tồn động vật như trên.  Với quan niệm như trên, việc nuôi hổ của ông Tân ở Bình Dương đã làm được cả 3 việc là cứu hộ, bảo vệ và bảo tồn (ngoại vị) được những con hổ con yếu ốm đang bị rao bán ở chợ đen, trở thành đàn hổ khỏe mạnh. Về quy mô nuôi hổ của ông Tân có thể khẳng định đây là mô hình kết hợp giữa nuôi nhốt và nuôi thả, nghĩa là vừa có chuồng nuôi vừa có không gian chăn thả bán tự nhiên. Chính vì điều kiện nuôi nhốt và chăn thả mà đàn hổ mới sinh sản được. Hiệu quả của phương pháp này không những đáp ứng được việc bảo vệ và duy trì đàn hổ và còn tăng số lượng đàn một cách nhanh chóng và hiệu quả.  Việc làm của ông Tân có vi phạm pháp luật không?  Có lẽ đây là vấn đề gay cấn nhất khi xem xét việc nuôi hổ của ông Tân có vi phạm luật pháp hiện hành hay không. Để làm rõ điều này trước hết cần thấy rằng tất cả 3 văn bản pháp luật ở Việt Nam liên quan đến quản lý, buôn bán động, thực vật quý hiếm nói riêng và Tài nguyên rừng nói chung đều mới được xác lập sau việc nuôi hổ của ông Tân từ 5-6 năm. Cụ thể, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, ban hành ngày 3/12/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2005; Nghị định 32 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm, ban hành ngày 30/3/2006; Nghị định 82 của Chính phủ về Quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu… động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm, ban hành ngày 10/8/2006. Như vậy không thể dẫn những điều luật có hiệu lực từ năm 2005, 2006 để buộc tội việc làm xảy ra từ năm 2002. Càng không thể khẳng định ông Tân cố tình vi phạm pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự nếu biết rằng ngay từ đầu (năm 2000) khi mua những hổ con trên thị trường trôi nổi ông Tân đã báo cáo và xin phép Bí thư tỉnh ủy Bình Dương, Cơ quan Kiểm lâm Bình Dương thực tế đã giám sát và cấp chứng sinh cho hổ; năm 2002 ông Tân đã gửi đơn cho Bộ NN&PTNT xin thành lập cơ sở nuôi hổ nhưng không nhận được phản hồi. Do vậy, cũng không thể đổ cho người dân thiếu ý thức pháp luật, nếu có khuyết điểm trong vụ việc này thì chính các cơ quan chức năng chịu trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước đã không làm đúng bổn phận, hoặc không theo kịp thực tiễn cuộc sống. Trong suốt thời gian chờ đợi ý kiến chính thức của Cơ quan có thẩm quyền, ông Tân vẫn đầu tư công sức và tiền bạc để làm phận sự của người yêu quý động vật hoang dã và đàn hổ vẫn không ngừng sinh sôi, phát triển. Chính giấy phép trao đổi hổ giữa ông Tân và Vườn thú Hà Nội của Cục Kiểm lâm cũng gián tiếp xác nhận tính hợp pháp của đàn hổ.  Ngay cả vào thời điểm hiện nay, khi mà các Nghị định 32 và 82 đã có hiệu lực thì việc nuôi hổ của ông Tân cũng không có vấn đề gì về mặt luật pháp, bởi lẽ: i) Luật cấm khai thác, nuôi nhốt, buôn bán động vật quý hiếm (Danh lục 1B): Không thể coi phương thức nuôi của ông Tân là nuôi nhốt mà là nuôi thả như trên đã phân tích. Mô hình nuôi hổ của ông Tân thuộc Trại nuôi sinh trưởng và đồng thời là Trại nuôi sinh sản trong môi trường được kiểm soát (Khoản 12, 13, 14 điều 2 và khoản 1 điều 10, NĐ82); ii) Về điều khoản người nuôi phải chứng minh nguồn gốc động vật quý hiếm: tuy nguồn gốc những con hổ đang nuôi không rõ nhưng có thể khẳng định đó là hổ Đông Dương có nguồn gốc từ Campuchia (cùng loài phụ với hổ Việt Nam- Panthera tigris corbetti) loài này phân bố rộng từ Miến Điện, Thái Lan, 3 nước Đông Dương và Nam Trung Quốc. Thực tế đã được nuôi và sinh trưởng tốt ở Việt Nam nên không có vấn đề về mặt môi trường sinh thái bản địa; iii) những con hổ con được bán ngoài đường chắc không phải bắt từ tự nhiên (vì dễ có mấy người vào được hang bắt hổ con???) vì vậy nó đã thuộc ít nhất là F1. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ xem hổ nuôi ở Bình Dương thuộc loài phụ nào và thế hệ mấy không mấy khó khăn, ông Tân hoặc Cơ quan Kiểm lâm có thể đề nghị Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, cơ quan khoa học CITES Việt Nam có thể phân tích DNA và trả lời nhanh chóng.   Như vậy, không có cơ sở để khẳng định việc nuôi hổ ở Bình Dương là vi phạm pháp luật Việt Nam và các Công ước quốc tế, cũng không có cơ sở pháp lý để tịch thu đàn hổ đang nuôi ở Bình Dương. Vấn đề còn lại là: Cơ quan Kiểm lâm và CITES Việt Nam cần hướng dẫn giúp đỡ các hộ nuôi hổ về các quy định mới và thủ tục cần thiết để tiếp tục nhân nuôi và duy trì đàn hổ theo quy định hiện hành của pháp luật. Việc này chắc chắn vừa ích nước, lợi dân vừa góp phần bảo tồn hổ Đông Dương đang có nguy cơ tuyệt chủng.   * Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật  Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam      PGS.TS Nguyễn Ngọc Châu*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Paris rung chuyển bởi khủng bố      Tổng thống Pháp Hollande đã tuyên bố trước  quốc dân tình trạng khẩn cấp và đóng cửa biên giới&#160; trong bối cảnh nước  Pháp hứng chịu một loạt các vụ tấn công khủng bố. Riêng ở Paris, các vụ  khủng bố cuối ngày Thứ Sáu tại Paris khiến vài chục người chết và nhiều  người khác bị giữ làm con tin tại một buổi biểu diễn nhạc rock.&#160;      Truyền  thông Pháp cho biết số người chết ở Pháp đã lên tới ít nhất 150  người. Cảnh sát Pháp hiện yêu cầu mọi người dân không ra đường.  Một vụ khủng bố thậm chí còn gây nổ ngay phía ngoài sân vận động Stade de France, nơi đội tuyển bóng đá Pháp đang thi đấu với đội tuyển Đức. AFP cho biết Tổng thống Hollande khi đó có mặt chứng kiến trận đấu, người ta đã phải đưa ông lánh nạn sang Bộ Nội vụ.  BMF cho biết người ta nghe thấy những tiếng súng ở nhà hát Bataclan, quận 11, Paris, và dường như con tin đang bị giữ trong nhà hát. Ngoài ra còn có súng nổ bên ngoài một nhà hang ở quận 10, cũng theo tin của BMF.  “Những vụ tấn công khủng bố bất ngờ khác sẽ tiếp tục. Đã có hàng chục người chết. Trong những thời khắc khó khăn này, chúng ta phải thể hiện lòng trắc ẩn, sự đồng cảm, nhưng chúng ta cũng cần thể hiện cả sự đoàn kết và tỉnh táo”, Tổng thống Hollande tuyên bố từ Paris. Được biết ông Hollande sẽ hủy chuyến công du tới hội nghị G-20 tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ cuối tuần này.   Từ Washington, Mỹ, Tổng thống Mỹ Barack Obama khẳng định nước Mỹ sẵn sàng cung cấp mọi sự trợ giúp cho đồng minh Pháp. Hiện nay Pháp vẫn đang tham gia chiến dịch quân sự do Mỹ dẫn dắt chống lại IS ở Syria.  Thanh Xuân dịch theo nguồn Bloomberg      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải qua phẫu thuật mới được công nhận là người chuyển giới ?      Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý mới và phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính.      Giới trẻ xuống đường cảm ơn Quốc hội khi Luật Dân sự 2015 được ban hành cho phép công nhận quyền chuyển giới. Nguồn: Kenh14.vn  Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, quyền chuyển đổi giới tính đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015), ban hành ngày 24/11/2015. Với cộng đồng người chuyển giới Việt Nam, những ghi nhận của Bộ luật Dân sự 2015 có ý nghĩa thiêng liêng như những dòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, ghi nhận quyền trong BLDS 2015 mới chỉ là sự khởi đầu của một quá trình thực sự công nhận người chuyển giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung.  Trước hết, khi BLDS 2015 ghi nhận việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật thì đồng nghĩa với việc sẽ có một luật chuyên ngành về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Thực tế hiện nay Bộ Y tế đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính (Luật CĐGT), dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2018. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính. Liệu có bắt buộc phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính và được cấp chứng nhận y học thì mới được coi là đã chuyển giới hay không? Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính (thông thường là phẫu thuật triệt sản và có thể là phẫu thuật tạo hình) thì mới được coi là đã chuyển giới. Tuy nhiên, về bản chất, người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tính khi sinh ra và không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa1. Một khảo sát tại Việt Nam cũng đã chứng minh không phải tất cả người chuyển giới đều có nhu cầu phẫu thuật chuyển giới2. Sẽ là không thấu đáo nếu áp đặt suy nghĩ phải phẫu thuật (triệt sản hay tạo hình) thì mới được coi là người đã chuyển giới, chưa kể tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói chung và người chuyển giới nói riêng đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 và BLDS 2015.        Xét cho cùng, việc thừa nhận người chuyển giới trên cơ sở nhu cầu của mỗi cá nhân mà không cần có bất kỳ can thiệp hay xác nhận về mặt y học nào là sự tôn trọng cần thiết với quyền tự quyết định về giới tính và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi người. Hơn nữa, xét về khía cạnh hậu quả pháp lý, việc một người chuyển đổi giới tính từ nam sang nữ hay từ nữ sang nam hầu như không làm ảnh hưởng tới các quyền hay nghĩa vụ được pháp luật quy định.    Với dự thảo Luật CĐGT, dường như các nhà làm luật Việt Nam đang đi theo hướng sẽ có yêu cầu can thiệp về mặt y học với người chuyển giới, và có khả năng can thiệp sẽ dưới dạng yêu cầu phải thực hiện phẫu thuật. Tuy nhiên, đây sẽ là một quy định đi ngược lại với xu hướng tôn trọng quyền tự quyết định về giới tính và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi cá nhân mà những quốc gia phát triển đang hướng tới. Một hướng khác mà các nhà làm luật có thể cân nhắc là quy định theo hướng không bắt buộc phải thực hiện can thiệp về mặt y học dưới dạng phẫu thuật song vẫn cần thiết phải chẩn đoán và xác nhận về mặt tâm lý để khẳng định “đây là một người chuyển giới thật sự”. Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, xu hướng “chẩn đoán tâm lý” cũng không còn được áp dụng phổ biến tại những quốc gia công nhận người chuyển giới từ sớm như Đan Mạch, Na Uy hay Cộng hòa Ireland. Thêm vào đó, các nhà làm luật cũng cần cân nhắc khả năng thực thi của hướng quy định này tại Việt Nam với những yêu cầu về (i) mức độ tin cậy của chẩn đoán tâm lý; (ii) đội ngũ bác sĩ tâm lý; và (iii) quy trình giám sát xã hội để khẳng định một người có biểu hiện tâm lý đúng với giới tính mà họ mong muốn. Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của việc công nhận người chuyển giới, do đó những yêu cầu về mức độ tin cậy của chẩn đoán tâm lý hay đội ngũ bác sĩ tâm lý sẽ khó có thể đáp ứng được trong một thời gian ngắn. Thêm vào đó, để thực hiện quy trình giám sát xã hội, thông thường sẽ phải cần có sự tham gia của “social workers” (tạm dịch là “nhân viên xã hội”). Liệu văn hóa của người Việt có chấp nhận cho những nhân viên xã hội theo dõi cách ăn mặc, phát ngôn, cử chỉ, thậm chí cả đời sống tình dục của một người… để đưa ra kết luận người đó có phải là người chuyển giới hay không? Liệu hoạt động giám sát xã hội có khả năng xâm phạm bí mật đời tư của những người có mong muốn chuyển giới? Đó là chưa kể tới nguồn lực cho quá trình đào tạo và duy trì đội ngũ nhân viên xã hội này. Do đó, các nhà làm luật cần cân nhắc tới tính khả thi của hướng quy định chẩn đoán tâm lý trong việc công nhận người chuyển giới ở Việt Nam.              Hiện nay trên thế giới đã có xu hướng thừa nhận chuyển đổi giới tính không cần có sự can thiệp của phẫu thuật triệt sản hay bất kỳ can thiệp về mặt y học. Một vài năm trở lại đây, các nước châu Âu (điển hình là Thụy Điển)5 đã có xu hướng bỏ quy định về yêu cầu triệt sản, và tương tự với một số bang của Hoa Kỳ như California, Iowa, New York, and Washington. Đặc biệt, công dân Đan Mạch6 từ 1/9/2014 có quyền tự quyết định giới tính theo luật của mình mà không cần có sự chấp thuận về mặt y học dưới bất kỳ hình thức nào. Tương tự, mới đây nhất, vào ngày 6/6/2016, Quốc hội Na Uy đã thông qua đạo luật về thừa nhận giới tính, theo đó người đủ 16 tuổi có quyền thay đổi giới tính về mặt pháp lý mà không cần có bất kỳ chẩn đoán, can thiệp về mặt y học hay yêu cầu phẫu thuật hoặc triệt sản. Đây là một xu hướng rất nhân văn, thể hiện sự tôn trọng quyền của mỗi cá nhân trong việc tự quyết định giới tính của mình và đặc biệt là quyền bất khả xâm phạm về thân thể.    Xét cho cùng, việc thừa nhận người chuyển giới trên cơ sở nhu cầu của mỗi cá nhân mà không cần có bất kỳ can thiệp hay xác nhận về mặt y học nào là sự tôn trọng cần thiết với quyền tự quyết định về giới tính và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi người. Các quan điểm lo ngại nếu không quy định điều kiện chuyển giới tính một cách chặt chẽ sẽ dẫn tới tình trạng “chuyển giới ồ ạt” hay “chuyển giới đi chuyển giới lại” là không hợp lý bởi trong xã hội Việt Nam hiện nay, việc đưa ra quyết định chuyển đổi giới tính đòi hỏi mỗi cá nhân đã phải có sự suy xét kỹ lưỡng bởi những ảnh hưởng to lớn của quyết định này với đời sống gia đình, công việc và các mối quan hệ xã hội khác. Hơn nữa, xét về khía cạnh hậu quả pháp lý, việc một người chuyển đổi giới tính từ nam sang nữ hay từ nữ sang nam hầu như không làm ảnh hưởng tới các quyền hay nghĩa vụ được pháp luật quy định4.  Một thực tế khác liên quan tới người chuyển giới sẽ thách thức các nhà làm luật Việt Nam trong quá trình soạn thảo Luật CĐGT là vấn đề công nhận chuyển đổi giới tính với những người đã thực hiện chuyển đổi giới tính ở nước ngoài. Đây là một thực tế và khả năng sẽ là một xu hướng lựa chọn của người chuyển giới Việt Nam sau khi Luật CĐGT có hiệu lực. Vậy, những tiêu chí nào sẽ được xem là căn cứ cho việc công nhận? Một kinh nghiệm từ Cộng hòa Ireland là nước này yêu cầu người đã thực hiện chuyển giới tại quốc gia khác phải cung cấp quyết định/giấy xác nhận về công nhận giới tính do quốc gia đó ban hành và đặc biệt, phải chứng minh những điều kiện để một người được chuyển đổi giới tính tại quốc gia đó (ví dụ điều kiện về độ tuổi hay tình trạng độc thân) ít nhất phải tương đương với các điều kiện chuyển đổi giới tính theo quy định của Cộng hòa Ireland.  Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý mới và phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Để Luật CĐGT đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật, đặc biệt là tính khả thi và hợp lý, các nhà làm luật cần phải nỗ lực để hiểu về nhu cầu, nguyện vọng của người chuyển giới tại Việt Nam. Trong khi đó, cộng đồng người chuyển giới và những tổ chức hoạt động vì quyền của người chuyển giới cũng cần tích cực hỗ trợ các cơ quan soạn thảo trong vấn đề cung cấp thông tin về người chuyển giới tại Việt Nam và những bài học kinh nghiệm của cộng đồng người chuyển giới quốc tế. Có làm được như vậy thì Luật CĐGT mới thực sự là một đạo luật nhân văn và người chuyển giới mới có cơ hội được thực thi quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mình.  ————  1 iSEE, Phân tích chính sách Pháp luật về người chuyển giới – Câu chuyện tại Việt Nam, những lo ngại và kinh nghiệm quốc tế.  2 Một khảo sát của iSEE-UNDP-USAID năm 2014 đã chỉ ra chỉ có 78,1% người chuyển giới mong muốn phẫu thuật chuyển giới.  3 Hiến pháp 2013, Điều 20, khoản 1; BLDS 2015, Điều 33, khoản 1.  4 Các nhà làm luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật của một số nước đi trước trong vấn đề công nhận người chuyển giới, điển hình như Đạo luật về Công nhận giới tính 2015 (Gender Recognition Act 2015) của Cộng hòa Ireland. Đạo luật này có nhiều điểm trùng với những nội dung dự kiến sẽ được quy định trong Luật CĐGT của Việt Nam như quy định về trình tự, thủ tục công nhận giới tính hay những hệ quả của công nhận giới tính, trong đó khẳng định việc ban hành giấy công nhận giới tính không ảnh hưởng tới các quyền và nghĩa vụ của người chuyển giới xuất phát từ hành vi của người đó khi còn ở giới tính cũ, như quyền làm cha/mẹ hay quyền đối với tài sản…  5 Năm 2013, Thụy Điển đã ban hành quy định không cần triệt sản với người chuyển giới (iSEE, tlđd).  6 Tom Lawson, Denmark Becomes Second Country to Let Citizens Choose Their Gender Without Having Surgery, http://www.yesmagazine.org/people-power/no-surgery-required-denmark-becomes-second-country-to-let-citizens-choose-their-gender.          Author                Nguyễn Thùy Dương        
__label__tiasang Phải thực tâm tôn trọng tính cách độc lập      Có thể nói một cách không phóng đại rằng vấn đề trí thức đang là một trong những mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay. Liên quan đến vấn đề này, tựu chung lại, có hai câu hỏi được đặt ra. Thứ nhất, là xác định vai trò của trí thức trong sự phát triển của xã hội và thứ hai, liên quan đến vấn đề sử dụng trí thức. Vấn đề thứ hai chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở có được câu trả lời đúng cho vấn đề thứ nhất. Theo tôi, không phải bằng cấp mà chính sự hiểu biết mới làm nên trí thức. Trí thức phải là người nắm được những quy luật về tự nhiên và xã hội. Anh ta là kẻ đại diện cho trí tuệ của con người trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.    Tuy vậy, trí tuệ lại là cái luôn vận động cùng với lịch sử. Nói theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì nó là một hành trình tiệm cận không ngừng đến chân lí. Từ quan điểm đó, ta sẽ thấy là bình thường khi mà không ít điều tiên đoán trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cho đến giờ, vẫn chưa trở thành hiện thực. Bất cứ tri thức nào cũng có những giới hạn lịch sử và đây chính là điểm quyết định phẩm chất của một trí thức chân chính. Anh ta không chỉ lệ thuộc vào những tri thức một cách giáo điều mà còn phải là kẻ vượt lên quá khứ để sáng tạo nên những tri thức mới. Chính bản chất sáng tạo làm nên phẩm tính của một trí thức đích thực. Với hai điều nói trên, có thể cho phép hình dung về vai trò của trí thức đối với xã hội. Anh ta là người nắm giữ và sáng tạo nên những tri thức tiên tiến nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội con người. Và vậy thì việc trọng dụng trí thức thiết tưởng là điều không còn cần phải bàn cãi. Vấn đề là cần phải làm điều đó thế nào.  Gần đây, chúng ta nói rất nhiều đến việc thu hút chất xám, trọng dụng nhân tài. Điều này đồng nghĩa với việc từ lâu nay, chúng ta chưa giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Sự “chưa thỏa đáng” đó có lẽ bắt nguồn từ một giai đoạn lịch sử chưa xa khi mà sự hình dung một cách giáo điều những quan điểm về đấu tranh giai cấp đã dẫn đến những hành xử tai hại đối với đội ngũ trí thức. Mấu chốt của việc sử dụng đội ngũ trí thức, theo tôi, đó là việc người lãnh đạo phải thực sự cầu thị, phải có một tinh thần bao dung và một cái nhìn viễn kiến. Bản chất của trí thức là người sáng tạo ra cái mới mà cái mới, bản thân nó có thể có những điều trái với “lẽ phải thông thường” với cảm nghĩ thông thường của số đông, của một thời. Người trí thức là người có một tư duy độc lập và một trách nghiệm đối với xã hội. Chính vì vậy, tiếng nói của anh ta khách quan và có tính phản biện. Muốn sử dụng được trí thức phải thực tâm chấp nhận và tôn trọng tính cách độc lập đó. Cũng phải có một thái độ thực sự coi trọng trí tuệ, không bị hạn chế bởi những định kiến về quan điểm, lập trường, thành phần xuất thân… Bài học về người tù trưởng Lê Lợi chấp nhận và sử dụng Nho sĩ quý tộc Nguyễn Trãi trong kháng chiến chống Minh luôn là một bài học có tính thời sự. Tất nhiên ngay cả bài học về Lê Lợi và Nguyễn Trãi sau kháng chiến chống Minh cũng là một bài học lịch sử giá trị. Rút được kinh nghiệm từ những bài học lịch sử ấy, câu hỏi về việc sử dụng trí thức chắc chắn sẽ có lời giải đúng.  Điều cuối cùng là có đôi người vẫn nghi ngờ về tinh thần đoàn kết của giới trí thức ở Việt Nam. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng có những căn cứ cho sự nghi ngờ ấy chính là vì trong giới trí thức ở nước ta hiện nay vẫn còn tình trạng “thật giả lẫn lộn” và chính những thành phần tiêu cực ấy đã làm vẩn đục môi trường trí thức và vậy thì làm trong sạch giới trí thức, suy cho cùng cũng là một việc cấp bách.    NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải về thôi…      Tại sao sinh viên Việt Nam chúng ta học giỏi, làm  giỏi và thành công trong cống hiến khoa học về chuyên môn của mình sau  khi tốt nghiệp nếu tiếp tục ở lại. Trong khi đó nếu trở về Việt Nam thì hầu  hết sự nghiệp nghiên cứu khoa học chấm dứt và không tiếp tục được nữa.     Nhân  chuyến viếng thăm và làm việc với Bộ Giáo dục và khoa học Hàn Quốc về dự  án xây dựng Viện Khoa học và kỹ thuật cho VN (V-KIST) dưới sự hỗ trợ  của Chính phủ Hàn Quốc và Viện KIST đầu tháng 11-2012, Bộ trưởng Bộ Khoa  học và công nghệ VN Nguyễn Quân đã viếng thăm và làm việc với ban giám  hiệu Đại học Konkuk (nơi tôi đang làm việc).  Trường Konkuk đã chuẩn bị rất chu đáo để đón tiếp đoàn của bộ trưởng và tổ chức cho các em sinh viên VN đang học tập tại trường có buổi giao lưu trao đổi thân mật cùng bộ trưởng  Trong phần phát biểu của sinh viên VN, em Võ Tấn Việt, là nghiên cứu sinh và là một cựu hội trưởng hội sinh viên VN của Trường Konkuk, đã thay mặt bạn bè nói lên tâm tư nguyện vọng của các em khi đang du học tại nước ngoài. Việt nói: “Chúng em cố gắng học ngày học đêm, mỗi ngày chỉ ngủ 2-3 tiếng với mục đích duy nhất là trang bị kiến thức để trở về xây dựng quê hương như Bác Hồ đã căn dặn.  Dù đã cố gắng hết sức mình để đạt được những thành tích hơn cả sinh viên Hàn Quốc, nhưng khi về VN thì chúng em không thể phát triển chuyên môn khoa học của mình được để xây dựng đất nước. Trong khi các sinh viên Hàn Quốc khi học xong (thậm chí kết quả thấp hơn sinh viên VN) họ vẫn có thể phát triển chuyên môn được, và nếu chúng em ở lại nước ngoài thì cũng phát triển được chuyên môn nghiên cứu của mình. Vậy xin hỏi tại sao chúng em không thể phát triển được trên quê hương mình?”.  Khi nghe đến đây thì cô thông dịch viên (Hương, cũng là nghiên cứu sinh tại ĐH Konkuk) nghẹn ngào xúc động và không dịch tiếp được nữa. Tôi biết nhiều sinh viên của mình ngồi phía sau đã rơi nước mắt và tôi cũng không ngăn được sự xúc động đó.  Vâng, tôi hiểu tại sao các em đã xúc động đến chảy nước mắt khi nghe những lời đó. Tôi hiểu, các em hiểu, bạn Hương cũng thấu hiểu những điều đó và tất cả sinh viên đã trải qua thời gian gian khổ chỉ ngủ 2-3 tiếng mỗi ngày cho luận án tiến sĩ của mình trên đất khách quê người thật sự thấm thía điều đó. Tại sao sinh viên VN chúng ta học giỏi, làm giỏi và thành công trong cống hiến khoa học về chuyên môn của mình sau khi tốt nghiệp nếu tiếp tục ở lại. Trong khi đó nếu trở về VN thì hầu hết sự nghiệp nghiên cứu khoa học chấm dứt và không tiếp tục được nữa. Cuối cùng các em phải tìm cách ở lại, để phấn đấu ngày đêm xây dựng nhà hàng xóm giàu có, trong khi đất nước mình vẫn đang còn rất nghèo và khó khăn. Thật xót xa.  Cái nghịch cảnh đất nước đã bỏ tiền của ra cho các em ăn học thành tài, không lý gì mà không tạo điều kiện tối thiểu nhất để các em trở về xây dựng quê hương. Giây phút yên lặng cộng với giọng nói nghẹn ngào của cô thông dịch viên kéo dài trong vài phút.  Có lẽ đến đây các giáo sư ĐH Konkuk và ban giám hiệu mới hiểu ra (vì hầu hết họ là thế hệ đã trải qua những năm nghèo đói và phải đi làm thuê của Hàn Quốc 30 năm trước đây), họ đã đồng loạt vỗ tay thật lớn và kéo dài cả phút để tỏ lòng cảm kích cũng như cảm ơn các em sinh viên VN.  Vâng, tôi đã vỗ tay và nước mắt một lần nữa lại trào ra không ngăn được. Cảm ơn các em, cảm ơn các em sinh viên của tôi thật nhiều, các em đã làm thay đổi suy nghĩ của tôi. Phải về thôi, phải về để các em không phải lang thang xây dựng nhà hàng xóm giàu có trong khi nhà mình còn rất nghèo.  Chỉ có thế hệ chúng tôi và những thế hệ trước chúng tôi, những người đã trưởng thành về chuyên môn và tạm được thế giới công nhận, mới có thể tạo những nền tảng cơ bản trong nghiên cứu và học thuật tại quê hương để các em trở về có đất mà phát triển. Lòng tôi tự nhủ phải về thôi.  —    * Chủ tịch Hiệp hội Công nghệ sinh học sinh sản châu Á)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 1: Khái niệm người trí thức      Trí thức là một từ Hán Việt nhưng nguyên quán của nó là bối cảnh chính trị – văn hóa phương Tây vào cuối thế kỉ XIX.     Theo Trương Nhân Tuấn, danh từ intellectuel xuất hiện chưa lâu trong ngôn ngữ Pháp. Ban đầu, nó được dùng để chỉ những người kí tên trong bản kiến nghị “Manifeste Des Intellectuels” (bản Kiến nghị của những nhà Trí thức) đệ trình lên chính phủ Pháp do văn hào Emile Zola chấp bút, trong đó yêu cầu chính quyền xét lại một vụ oan sai nghiêm trọng trong quân đội nhằm trả lại công bằng cho một sĩ quan Pháp gốc Do Thái có tên là Dreyfus. Được sự ủng hộ của đông đảo giới trí thức Pháp danh vọng như: Léon Blum, Lucien Herr, Anatole France, Gustave Lanson, Marcel Proust …, bản Kiến nghị được đăng trên nhật báo Aurore ngày 14 tháng Giêng 1898 đã gây nên một dư luận rộng rãi trong đời sống nước Pháp hồi bấy giờ. Tầm mức văn hóa của Kiến nghị đã vượt ra khỏi ý nghĩa nhỏ hẹp ban đầu của nó, trở thành dấu hiệu xác định nên một trong những phẩm tính đặc thù nhất của người trí thức: dấn thân vào các biến diễn quan trọng của thời cuộc; “dám biết, dám sử dụng khả năng hiểu biết của chính mình” (Kant) để phê phán tất cả những trở lực ngăn cản quá trình khai sáng và tiến bộ của cộng đồng.  Từ khi được khai sinh để định danh một lớp người trong xã hội phương Tây, nhiều thảo luận học thuật đã diễn ra xoay quanh chủ đề trí thức. K. Marx xem trí thức là những người chuyên trách thứ công việc vừa nguy hiểm vừa sáng tạo là phê phán xã hội: Người trí thức là người có khả năng sáng tạo và dám phê phán thẳng thừng mọi thứ cần phê phán, không lùi bước trước mọi kết luận, mọi đụng chạm – dù là đụng chạm tới thứ quyền lực nào.   Theo Raymond Aron, một nhà tư tưởng lớn của Pháp, trí thức là những người có sáng kiến mới (sáng tạo tư tưởng) đồng thời cũng là những khán giả nhập cuộc.   Jean-Paul Sartre cho rằng trí thức là những người tham dự vào những việc không can dự đến mình. Ông cũng cho rằng trí thức là người thiên tả (trong ý nghĩa ham chuộng đạo đức của nền công lý chứ không hàm ý về chính trị hay phe phái).   Trong khi đó, F.A.Hayek quan niệm: Trí thức là những người buôn bán đồ cũ chuyên nghiệp về tư tưởng, tức là những kẻ truyền đạt tư tưởng của những người khác (như tư tưởng của Plato, Khổng tử, Đức Phật, Chúa Jesus, Adam Smith, Karl Marx, Einstein, v.v). Họ có quyền lực to lớn… họ nắm được quyền lực này bằng định hướng dư luận.   Dmitrii Likhachëv cũng đưa ra một nhận thức rất hệ thống về trí thức: Trí thức là bộ phận độc lập về trí tuệ của xã hội… Người trí thức sẽ mất sự tự do trí tuệ và thôi là trí thức khi buộc phải tuân thủ mù quáng các giáo điều của một học thuyết nào đó… Người không tôn trọng tự do trí tuệ của người khác, truy bức người khác về chính kiến, (cũng) không thể được coi là người trí thức, bởi vì tự do trí tuệ của riêng anh đòi hỏi sự tôn trọng đối với tự do này ở những người khác, bất luận nó được bộc lộ ra ở đâu và bằng cái gì… Yếu tố đạo đức đối với trí thức rất quan trọng, tự do trí tuệ trong chừng mực nhất định luôn là sự thể hiện của đạo đức. Mà đạo đức là quyền lực duy nhất có sức mạnh không chỉ tước đoạt của con người tự do, mà còn bảo đảm tự do cho con người… Sự bắt buộc của lương tâm là sự bảo đảm cho con người tự do đầy đủ, bởi vì lương tâm bắt buộc từ bên trong, còn tất cả những sự bắt buộc khác đều đến từ bên ngoài: đảng phái, giai cấp, và đủ loại khác… lương tâm là cái bảo đảm cho tự do của con người trí thức. Trí thức luôn là tấm bia công kích của nhà nước, và việc đầu tiên mà bất kỳ nhà nước nào cũng làm để củng cố quyền lực của mình là tìm cách hủy diệt giới trí thức và tất cả những gì thúc đẩy việc hình thành nên trí thức [1].   Tóm lại, có thể hiểu rằng, người trí thức là người: có kiến thức, có nhân cách và quan trọng nhất là có năng lực tư duy độc lập để phán xét các vấn đề xã hội dưới ánh sáng của tri thức, để từ đó chuẩn bị cho mình một thế đứng riêng và trong trường hợp cần thiết, sẵn sàng dấn thân nhằm bảo vệ các giá trị thuộc về chân lí và truyền thống nhân bản của cộng đồng.   Trong cộng đồng trí thức, bao giờ cũng có một nhóm trí thức tinh hoa, gồm những người tỏ ra đặc biệt xuất sắc hơn số còn lại. Trí thức tinh hoa có thể đến từ nhiều lĩnh vực, ngành nghề, chủ yếu là những lĩnh vực ngoài chính trị. Bởi lẽ, chỉ khi có một thế đứng độc lập nhất định đối với bộ máy công quyền, họ mới có thể thực hiện đúng chức năng nguyên thủy của mình. Đành rằng nhiều chính trị gia đồng thời là những trí thức lớn, nhưng cũng có một thực tế phổ biến khác là: khi đã nắm trong tay quyền lực, không ít người đã bị tha hóa và trở nên đối nghịch với giới trí thức. Theo Dmitrii Likhachëv, trong trường hợp này, những trí – thức – chính trị – hóa ấy đã tự tách mình ra khỏi cộng đồng trí thức: Người không tôn trọng tự do trí tuệ của người khác, truy bức người khác về chính kiến, (cũng) không thể được coi là người trí thức, bởi vì tự do trí tuệ của riêng anh đòi hỏi sự tôn trọng đối với tự do này ở những người khác, bất luận nó được bộc lộ ra ở đâu và bằng cái gì[2].   Trở lại vấn đề, vậy chức năng của giới trí thức tinh hoa là gì? Theo Phạm Trọng Luật, với tư cách là kẻ làm giao diện giữa nhân loại với đất nước của anh ta, người trí thức đóng một chức năng kép: một mặt, là kẻ nhân danh con người, nhân danh lương tri, để du nhập, bảo vệ và truyền bá những giá trị phổ quát cao quý nhất của loài người (chân lý, công lý, nhân quyền, tự do, bình đẳng), ngay trên quê hương và ngay trong lòng truyền thống văn hoá của mình. Mặt khác, nhân danh con người, nhân danh lương tri, để phổ biến và bênh vực các giá trị đặc thù cùng với những quyền lợi chính đáng nhất của dân tộc và quốc gia mình (độc lập, tự do, bình đẳng, an ninh, đối với láng giềng), nếu cần trước toàn thể thế giới [3]. Do vậy, có thể xem giới trí thức tinh hoa cũng đồng thời là những nhà văn hóa, là nguyên khí của dân tộc – quốc gia.   Đối với mọi xã hội, sự hình thành và phát triển của giới trí thức tinh hoa phụ thuộc trước hết vào chất lượng của thể chế đương tồn và nền tảng văn hóa của cộng đồng. Có những xã hội tuy nền tảng văn hóa chưa thực sự có “bề dày”, như trường hợp nước Mỹ giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, nhưng nhờ sự tác động qua lại giữa một thể chế dân chủ, tiến bộ với một cộng đồng văn hóa đa diện và năng động, đã cho phép xuất hiện một đội ngũ trí thức tinh hoa đích thực. Chính đội ngũ này đã góp phần tạo ra một sức bật mới cho nước Mỹ để vươn lên thành siêu cường thế giới [4]. Ngược lại, có những quốc gia tuy đứng trên một truyền thống văn hóa rực rỡ, lâu đời; nhưng không thể bứt phá vì những giới hạn nghiệt ngã của một thể chế khép kín, mà nước Trung Hoa phong kiến trước thế kỉ XX là một ví dụ điển hình. Dĩ nhiên, với những xã hội thiếu cả hai tiền đề trên thì khó lòng hình thành một tầng lớp trí thức tinh hoa, có chăng chỉ xuất hiện lác đác một vài cá nhân nào đó qua từng giai đoạn lịch sử mà thôi. Nhìn chung, khi một xã hội không đủ khả năng tạo ra một giới trí thức tinh hoa đích thực, thì nội tình xã hội đó cũng đồng thời tiềm ẩn các dấu hiệu trì trệ, khủng hoảng vì thiếu vắng những tiền đề và giải pháp cho phát triển dài hạn.   —  [*] Phạm Quang Tú – Đặng Hoàng Giang, Viện Tư vấn phát triển (CODE) – bài viết cho hội thảo Vai trò của nhân tài đối với thịnh suy của đất nước: Bài học lịch sử và khuyến nghị đối với Việt Nam (27/9/2011 – Hà Nội)  [1] Dẫn theo Trương Nhân Tuấn trong Thử bàn về trí thức và trí thức Việt Nam, http://primeproxy23.info/browse.php?u=Oi8vd3d3LnRhbGF3YXMub3JnLz9wPTIxMjYy&b=5  [2] Trương Nhân Tuấn, tlđd      [3] http://www.answers.com/topic/elitism  [4] http://amvc.free.fr/Damvc/Khoa/KHXH/HocThucTriThuc1.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 1: Vận hành sức mạnh mềm*      Ảnh hưởng của sức mạnh mềm phụ thuộc  chặt chẽ vào sự chấp nhận của các cộng đồng tiếp nhận sức  mạnh mềm. Các nguồn lực sức mạnh mềm thường tác  động một cách gián tiếp trong quá trình tạo môi trường để  thực hiện chính sách và đôi khi tác động của loại sức mạnh  này cần nhiều năm mới có kết quả mong muốn.    Lời bạt: Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền Tổ  quốc hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những thử thách to lớn không  chỉ liên quan chủ quyền biển đảo sau hai vụ Bình Minh 2 và Viking 2 mà  còn liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc kinh tế, chính trị, quân sự,  văn hóa. Những nhà làm chính sách của Việt Nam thường nhắc đến sức mạnh  tổng hợp của cả dân tộc trong xử lý các mối quan hệ, giải quyết các vấn  đề, vượt qua các thách thức và tận dụng các cơ hội.       Một trong những thành tố cấu thành sức mạnh tổng hợp mà tổ tiên chúng ta đã sử dụng thành công trong suốt chiều dài lịch sử chính là sự “khoan thư sức dân”, “chính nghĩa thắng gian tà”, “lấy nhu thắng cương”, “lấy ít địch nhiều” và trong chiến thắng luôn lấy đức hiếu sinh mà mở đường sống cho đối phương.    Sức mạnh mềm là những hình thái văn hóa, nghệ thuật, khoa học, tập quán, tôn giáo của một vùng hay một dân tộc có khả năng ảnh hưởng đến những vùng hay đất nước khác. Vậy có thể nói rằng người Việt đã sử dụng một dạng thức sức mạnh mềm trong dựng nước và giữ nước.     Sức mạnh mềm có ba trụ cột văn hóa, giá trị, định hướng (thể chế và phương hướng) ứng với lịch sử, các giá trị hiện tại và sự dấn bước đến tương lai của một dân tộc trong hình thành và phát triển, trong lao động và chiến đấu giữ nước. Chúng tôi xin trích dịch chương thứ tư của tác phẩm “Soft Power- The means to success in world politics” của Joseph S.Nye. Jr, bàn về sức mạnh mềm và giới thiệu đến độc giả như một góc nhìn tham chiếu.   Thực thi sức mạnh mềm  Các chính quyền sử dụng sức mạnh quân sự để phát động các động tác răn đe, phát động chiến tranh và phối hợp với kỹ năng cùng yếu tố ngẫu nhiên, và chính quyền sẽ đạt được những kết quả mong muốn trong một thời gian phù hợp nào đó. Sức mạnh kinh tế thường là một thực thể trực diện tương tự. Các chính phủ có thể ra lệnh đóng băng những ngân hàng nước ngoài trong vòng một đêm cũng như có thể phân chia các khoản hối lộ hay viện trợ nhanh chóng (dù rằng những cuộc cấm vận kinh tế nếu có, thường cần thời gian dài hơn để đạt kết quả mong muốn). Theo chương 1, thực thi sức mạnh mềm khó khăn hơn vì nhiều loại tài nguyên quan trọng nằm ngoài tầm với của các chính phủ, ngoài ra ảnh hưởng của sức mạnh mềm phụ thuộc chặt chẽ vào sự chấp nhận của các cộng đồng tiếp nhận sức mạnh mềm. Hơn nữa, các nguồn lực sức mạnh mềm thường tác động một cách gián tiếp trong quá trình tạo môi trường để thực hiện chính sách và đôi khi tác động của loại sức mạnh này cần nhiều năm mới có kết quả mong muốn.  Dĩ nhiên, các khác biệt này nằm ở nhiều mức độ. Các cuộc chiến tranh hay tranh chấp kinh tế sẽ không phát huy hiệu lực trong một sớm một chiều – chúng ta có thể nhìn vào độ dài và sự thất bại sau cùng của cuộc chiến Việt Nam, và chúng ta có thể thấy các cuộc cấm vận kinh tế thường mang lại các hệ lụy chỉ bằng một phần ba trong tổng số các cuộc cấm vận trước nay trong lịch sử. (1) Tại Iraq, Saddam Hussein đã sống sót qua các cuộc phong tỏa kinh tế hơn 10 năm và dù cho chiến dịch quân sự kéo dài bốn tuần của Mỹ đã thay đổi chế độ của ông ta, đó chẳng qua chỉ là những bước đầu tiên để Mỹ đạt được hết các mục tiêu của mình tại Iraq. Như một cựu quan chức quân sự đã nhận thấy, dấu ấn của một cuộc chinh phạt không phải nằm ở chỗ diệt trừ những ai mà ở chỗ xây dựng được những gì. Và câu hỏi của cuộc chiến Iraq vẫn còn bỏ ngỏ câu trả lời cho người phán xét sau khi cuộc chiến đã tàn nhiều năm sau. (2) Vả lại, đôi khi việc tung tin có thể tạo ra hay ngăn trở những hệ quả mong muốn. Tuy nhiên, nhìn chung thì nguồn lực của sức mạnh mềm thường là chậm chạp, phân tán và khó điều phối hơn là tài nguyên của sức mạnh cứng.      Những nỗ lực ban đầu  Khó khăn trong vận hành sức mạnh mềm ở khâu nguồn lực vẫn không ngăn nổi các chính phủ luôn nỗ lực gia tăng sức mạnh mềm. Vào thế kỷ 17 và 18, Pháp đã truyền bá văn hóa của mình khắp mảnh đất châu Âu. Tiếng Pháp không chỉ đã trở thành ngôn ngữ ngoại giao mà còn được sử dụng tại các tòa án nước ngoài như Phổ và Nga. Trong cuộc cách mạng Pháp, nước Pháp đã tìm cách vượt qua các chính phủ ngoại quốc và đưa lời kêu gọi của mình trực tiếp đến nhân dân các nước khác để quảng bá tư tưởng cách mạng của mình. Sau khi thất bại trong cuộc chiến Pháp Phổ, chính phủ Pháp đã tìm cách cứu vãn uy tín đã sứt mẻ của mình bằng cách truyền bá ngôn ngữ và văn chương của mình đến Liên Hiệp Pháp, được lập ra năm 1883. Như sử gia Richard Pells ghi lại: ”Việc đưa văn hóa Pháp ra ngoài nước do vậy đã trở thành một thành tố quan trọng trong nền ngoại giao Pháp.”(3)  Ý , Đức và các nước khác chẳng bao lâu cũng đã theo cách của Pháp bằng cách lập các viện quảng bá văn hóa của họ ra nước ngoài.   Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra với sự bùng phát nhanh chóng các nỗ lực triển khai quyền lực mềm ra khắp nơi và hầu như tất cả các chính phủ đã thiết lập cơ sở của mình để tuyên truyền cho sự nghiệp của mình. Hoa Kỳ không chỉ thiết lập văn phòng của mình mà còn – trong suốt những năm đầu chưa tham chiến – là một trung tâm cho các nước khác quảng bá hình ảnh, như Đức và Anh đã tranh giành hình ảnh và uy tín từ công luận Mỹ. Nhận ra các hiệu quả của việc phản tuyên truyền của Đức thông qua các kênh truyền thông đại chúng, Anh Quốc đã thành công hơn khi tập trung vào thành phần tinh hoa của nước Mỹ và dùng cách tiếp cận mềm mại hơn. Một khảo sát khoa học ngày đó về tuyên truyền trong chiến tranh đã nhận định:”Riêng sự phát xạ trong nhận thức của tầng lớp quý tộc đã đủ để làm ấm các góc cạnh của những tâm hồn Cộng Hòa trung kiên nhất, và sự phát tác đó sẽ thổi bùng nhiệt huyết của cả đất nước thành phẩm giá, sự đĩnh đạc và tình hữu nghị.”(4)  Hoa Kỳ là quốc gia khá chậm trong ý niệm sử dụng thông tin và văn hóa cho mục đích ngoại giao. Năm 1917,Tổng Thống Woodrow Wilson đã lập Ủy ban Thông tin Công cộng do bạn ông điều phối: ký giả George Creel. Theo Tổng Thống, công việc của Creel là công viêc của “một đại công ty chuyên làm công tác bán hàng, và tiến hành các cuộc phiêu lưu kỳ thú nhất của thế giới vào ngành nghề quảng cáo.” (5) Creel cho rằng các công việc của ông không kiến tạo các cuộc tuyên truyền mà chỉ mang tính cách giáo dục và cung cấp thông tin. Tuy nhiên thực tế rõ ràng ngược lại. Trong các hạng mục công việc, Creel đã tổ chức các chuyến đi, xen kẽ phát các tờ rơi nói về “học thuyết Mỹ”, ông thiết lập các dịch vụ do chính phủ quản lý , bảo đảm rằng các nhà làm phim nhận được đầy đủ những nguyên vật liệu quý hiếm của thời chiến và đoan chắc rằng các thước phim phải phản ánh tích cực về Hoa Kỳ.(6) Ủy ban thông tin công cộng đã gây nghi ngờ khá lớn tại Quốc hội và dân chúng Mỹ đến độ ngay khi hòa bình lập lại thì ủy ban này bị bãi bỏ ngay lập tức.   Sự ra đời của radio trong những năm 1920 đã khiến cho các chính phủ phải tiến vào mặt trận phát thanh tiếng nước ngoài, và trong những năm 1930, những người cộng sản ở Liên Xô và phe phát xít ở Đức Ý đã cạnh tranh nhau để quảng bá các hình ảnh tốt đẹp về đất nước và hệ tư tưởng của họ đến với công chúng bên ngoài. Tiếp theo chương trình phát sóng tiếng nước ngoài, chính phủ Đức Quốc xã còn hoàn thiện các loại phim ảnh tuyên truyền. Vào năm 1937, ngoại trưởng Anh Anthony Eden đã nhận xét các kênh truyền thông mới này: ”Dĩ nhiên, nói một cách chính xác các tuyên truyền văn hóa có hay đến đâu cũng không thể sửa chữa được các tổn hại của một chính sách ngoại giao yếu kém, tuy nhiên không phải nói quá rằng một chính sách ngoại giao hoàn hảo nhất cũng có thể thất bại nếu bỏ quên công tác giảng giải và thuyết phục mà thế giới hiện đại buộc phải thực hiện”.(7)  Vào cuối thập kỷ 1930, đài BBC –phát từ 1922, đã bắt đầu các chương trình bá âm bằng tất cả các ngôn ngữ châu Âu và Ả rập.   Vào cuối những năm 1930, nội các Roosevelt đã tin rằng ”nền an ninh của Mỹ tùy thuộc vào khả năng phát ngôn và thu phục sự ủng hộ của dân chúng tại các quốc gia khác.” (8) Tổng Thống Roosevelt đặc biệt quan tâm đến các tuyên truyền của Đức tại các nước Mỹ Latin. Vào năm 1938, Bộ Ngoại giao đã lập ra Vụ Quan hệ Văn hóa và hai năm sau đó bổ sung thêm với một Văn phòng Sự vụ Liên Mỹ Châu, dưới quyền Nelson Rockerfeller, người đã tích cực quảng bá thông tin và văn hóa Hoa Kỳ vào các nước Mỹ Latin. Vào năm 1939, Đức đã cho phát sóng 7 giờ một tuần, còn Mỹ phát 12 tiếng một tuần đến các nước Mỹ Latin. Vào năm 1941, Mỹ cho phát sóng 24 tiếng mỗi ngày.(9)  Sau khi Mỹ tham chiến, chương trình tiến công về văn hóa của Hoa Kỳ đã lan ra toàn cầu. Vào 1942, Roosevelt đã lập ra Phòng thông tin chiến tranh (OWI) để xử lý các thông tin được cho là chính xác, còn tổ chức tình báo OSS (Phòng Dịch vụ Chiến lược) bao gồm việc phân phối các thông tin bị cố tình bóp méo tại các phòng ban chức năng. Nhóm OWI thậm chí còn hoạt động để uốn nắn các tác phẩm của Hollywood cho trở thành các công cụ tuyên truyền hữu hiệu, đề nghị thêm vào hay lược bỏ đối với phim ảnh và từ chối cấp phép cho một số bộ phim.(10) Các nhà quản lý của Hollywood, tràn đầy tinh thần yêu nước và một phần do lợi ích cá nhân, cũng đã vui vẻ hợp tác. Theo Richard Pell, ngay trước Chiến Tranh Lạnh, ”giới quản lý các công ty cũng như ngành quảng cáo Mỹ và những người đứng đầu Hollywood đã bán không chỉ các sản phẩm của Mỹ mà còn phân phối các giá trị và văn hóa Mỹ cũng như bí quyết thành công của họ đến với thế giới.” (11) Các nguồn lực sức mạnh mềm thời chiến đã được tạo ra một phần nhờ chính phủ và một phần từ các cơ quan độc lập.   Radio cũng đóng góp một vai trò quan trọng. VOA cũng đã phát triển nhanh chóng trong thời gian Thế chiến thứ nhì. Theo BBC, năm 1943 VOA đã có 23 làn sóng phát 27 ngôn ngữ khác nhau. Sau chiến tranh, là cuộc Chiến tranh lạnh và mối đe dọa từ Liên Xô, VOA đã tiếp tục phát triển và đi theo sự phát triển ấy là những tranh luận ngày càng gia tăng rằng không rõ liệu VOA đã trở thành cổng thông tin bị khống chế bởi các nguồn tin chính phủ hay VOA là một đại diện độc lập của văn hóa Mỹ. Các trạm phát sóng đặc biệt đã được bổ sung vào như Đài phát thanh tự do (RL) hay Đài Châu Âu Tự do (FRE) đã sử dụng các kiều dân lưu vong nhằm phát thanh đến khối Đông Âu. Chung quy hơn, khi Chiến Tranh Lạnh ngày càng leo thang, có hai luồng ý kiến liên quan. Một luồng hoan nghênh các thông tin chậm về ngoại giao văn hóa như nghệ thuật, sách báo và những trao đổi văn nghệ, còn một luồng khác thì quan tâm hơn đến các thông tin nhanh chóng hơn như radio, phim ảnh, tin tức phát hình, vốn hứa hẹn sẽ mang lại các kết quả đáng đồng tiền bát gạo (bang for the buck) dễ thấy và trực diện hơn.(12)  Trong suốt cuộc Chiến tranh lạnh, những người ủng hộ hai phương cách trên đã tranh cãi qua câu hỏi liệu chính phủ có cần phải đầu tư vào sức mạnh mềm hay không. Những người cứng rắn luôn theo đuổi cách tuyên truyền trực tiếp còn những người mềm mỏng cho rằng để thay đổi thái độ của ngoại quốc thì sẽ cần định liệu trong nhiều năm.(13) Giữa hai phái cũng có những tranh luận về việc chính phủ nên cai quản các chương trình do chính phủ đài thọ chặt chẽ đến mức độ nào. Tựu trung, theo Reinhold Wagnleiter, các chương trình văn hóa đối ngoại của Mỹ đã bị cuốn theo con nước xoáy của chính sách đối ngoại chống cộng kịch liệt. ”Một ví dụ, có một đạo luật đã nêu rằng các thư viện hải ngoại của chúng ta nên ”khách quan”, nhưng mặt khác, các thư viện của chúng ta chính xác phải là các thư viện có công năng đặc biệt. Điều tối ưu mà chúng ta hy vọng sẽ đạt đến đó chính là duy trì ảo giác về tính khách quan của các thư viện ấy với mọi bên.” (14) Lằn ranh giữa thông tin và tuyên truyền vô cùng mong manh. Henry James Jr, một viên chức thuộc Bộ Ngoại giao đã lưu ý rằng hàng loạt tạp chí phê phán chính sách của nội các Truman và các trước tác liên quan đến vấn đề chủng tộc đã gây ấn tượng đối với độc giả ngoài nước về “độ đáng tin cậy của nguồn tư liệu.” Những công kích của Thượng nghị sĩ McCarthy đã tạo nên một làn sóng cuồng nhiệt và kiểm duyệt thông tin ngắn hạn, tuy nhiên các đạo luật ban hành năm 1953 đã tái lập sự quân bình.(15)  Những tranh biện này dai dẳng bất chấp các cải tổ của các thể chế Hoa Kỳ đối với mặt trận ngoại giao công cộng trong suốt nhiều năm. Cuộc tranh luận liệu nhà nước nên kiểm soát các công cụ sức mạnh mềm trực tiếp và gián tiếp đến đâu không thể nào được giải quyết rốt ráo vì cả hai bên đều có lý cứng của mình. 46 năm sau năm 1953, cơ quan trung tâm chuyên lo ngoại giao công cộng của Mỹ đã là USIA (United States Information Agency). Năm 1978, VOA được sáp nhập vào cơ quan này và vào những năm 1980, nội các Reagan đã cố gắng nâng cao khả năng phản ứng nhanh của hai cơ quan này đối với các mục tiêu trước mắt của chính phủ. (16) Vào năm 1999, USIA đã được giải tán và các phòng ban chức năng của nó đã được sáp nhập vào Bộ Ngoại giao. Tại đây, cơ quan này được tiếp xúc thân cận hơn với các trung tâm chính sách, còn VOA và các cơ quan chuyên biệt của họ thì được giao về cho một thực thể lưỡng đảng, đó là Ban phát sóng thuộc hành pháp (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay VOA đang phát 53 ngôn ngữ đến với khoảng 91 triệu thính giả trên thế giới.(17)  Quan trọng hơn những thay đổi trong việc tái tổ chức là thái độ thiếu quan tâm đến sức mạnh mềm thời hậu chiến. Thật vậy, Tổng Thống Eisenhower khi hết nhiệm kỳ đã cho biết lẽ ra ông đã phải rút phần ngân sách chi tiêu cho quân lực để củng cố USIA, tuy nhiên điều đó cũng không phải là tiêu biểu. Một người quan sát đã phát biểu: ”Có lẽ ngoại trừ Dwight Eisenhower, không có một Tổng thống nào coi trọng vị trí giám đốc USIA. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, [giám đốc USIA là Edward R.] Murrow đã không can dự. Ông đã phát biểu rằng ông thích tham dự từ đầu, không phải đến cờ tàn mới có mặt. (18) Ngay cả trong thời gian Chiến tranh lạnh vào thập kỷ 70, Pháp và Đức đã chi tiêu nhiều hơn cho các cơ quan chức năng chuyên về thông tin chính sách và giao lưu văn hóa hơn Mỹ – trên con số tuyệt đối – còn Anh và Nhật chi tiêu nhiều hơn trên tỷ lệ của nguồn ngân sách, số cụ thể là 0.23% (Anh) và 0.14% (Nhật) so với các khoản chi này của Mỹ chỉ là 0.11%. Vào năm 1975, “lãnh đạo thế giới tự do” đã xếp thứ năm trong hàng ngũ các đồng minh Phương Tây về khoản đầu tư cho các nguồn lực sức mạnh mềm.(19)  Với việc kết thúc Chiến tranh lạnh, người Mỹ đã quan tâm hơn đến tiết kiệm chi tiêu thay vì gia tăng đầu tư cho sức mạnh mềm. Từ 1963 đến 1993, ngân sách liên bang tăng gấp 15 lần, nhưng ngân sách dành cho USIA chỉ tăng 6.5 lần. USIA có hơn 12 ngàn nhân viên tại thời gian đỉnh điểm vào giữa những năm 60, nhưng sau đó chỉ còn 9000 vào 1994 và 6715 vào thời điểm sát nhập trở lại với Bộ Ngoại giao.(20)  Xem chừng sức mạnh mềm có vẻ không quan trọng gì cả. Giữa 1989 và 1999, ngân sách dành cho USIA, có tính trừ hao lạm phát, đã giảm 10%. Trong khi các chương trình phát sóng do chính phủ tài trợ hàng tuần đã vươn ra một nửa dân số Liên Xô và khoảng từ 70 đến 80% dân số của Đông Âu trong suốt cuộc Chiến tranh lạnh, vào đầu thế kỷ mới, chỉ có 2% dân Ả Rập nghe được đài VOA.(21) Các nguồn lực dành cho USIA ở Indonesia nước có dân số theo đạo Hồi lớn nhất thế giới, đã bị cắt xuống còn một nửa. Từ 1995 đến 2001, các trao đổi về văn hóa và khoa học đã giảm từ 45 ngàn lượt xuống còn 29 ngàn lượt hàng năm, và có nhiều trung tâm văn hóa cũng như thư viện đã bị đóng cửa. (22) Vào năm 2003, dịch vụ BBC World Service đã có 150 triệu người nghe hàng tuần trên toàn thế giới trong khi VOA chỉ có non 100 triệu thính giả.(23) Dường như quá hiếm người Mỹ nhận ra rằng với cuộc cách mạng thông tin đang diễn ra, tầm quan trọng của sức mạnh mềm đã tăng chứ không giảm thiểu. Chỉ sau tháng 9 năm 2001 thì người Mỹ mới tái khám phá tầm quan trọng của đầu tư vào sức mạnh mềm, và sự đầu tư ấy có phần chưa thích hợp; năm 2003 VOA đã giảm các chương trình phát thanh tiếng Anh xuống 25%.(24)                                                       Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) dịch       * Tiêu đề do Tia Sáng đặt  (1) “Quyền lực hạn chế của túi tiền” The Atlantic monthly, tháng 11/2003. Trg 54. Để nghiên cứu sâu, đọc Gary Hufbauer, Jeffrey J.Schott và Kimberley Elliott, Nhìn lại các cuộc cấm vận kinh tế. 2nd ed. (Washington, D.C.: Học viện Kinh tế Quốc tế, 1990)  (2) Tác giả cảm ơn Jane Holl Lute đã chia sẻ ý tưởng này trong buổi trình bày đến Nhóm Chiến Lược Aspen vào tháng 8/2003.  (3) Richard Pells, Không giống chúng ta (New York Basic books, 1997), trg.31-32.  (4) Harold Lasswell, cited in Philip M. Taylor, Tuyên truyền của Anh quốc trong thế kỷ 20 (Edinburg; Ban tu thư Đại Học Edinburg,1999), p.37   (5) Creel dẫn lời Emily Rosenberg, Lan tỏa ước mơ Mỹ (New York: Hill &Wang, 1982),p.79  (6) Sách đã dẫn. Trang 100  (7) Eden trích dẫn Reinhold Wagnleitner, Thực dân hóa coca và chiến tranh lạnh (Chapel Hill: Ban tu thư Đại học Bắc Carolina, 1994), trg 50.  (8) Pells, Không giống chúng ta, trg 33   (9) Rosenberg. Lan Tỏa Ước mơ Mỹ. Trg 208  (10) Sách đã dẫn., trg 209-11   (11) Pells, Không giống chúng ta, trg xiii  (12) Rosenberg, Lan tỏa ước mơ Mỹ. Trg 215-217  (13) Terry Deibel và Walter Roberts, Văn hóa và thông tin: hai nhiệm vụ của chính sách đối ngoại (Beverly Hills; Sage Publications, 1976) trg 14-15  (14) Wagnleitner, Thực dân hóa coca, Trg 58.  (15) Mary Niles Maack, “Sách và thư viện – những khí giới ngoại giao văn hóa tại Châu Phi nói tiếng Pháp thời Chiến tranh lạnh,” Trg 66  (16) Carnes Lord, “Quá khứ và tương lai của ngoại giao công chúng” Orbis, Mùa Đông 1998, Trg 49-72  (17) Rosaleen Smyth, “Lược khảo ngoại giao công chúng của Mỹ trong thế kỷ 21” Tạp chí Úc về quan hệ quốc tế 55, số 3 (2001) trg 429   (18) Leo Bogart, Chiến tranh mát, chiến tranh lạnh (Washington D.C.: Ban tu thư Đại học American, 1995)Trg xvii,xxix.  (19) Deibel and Roberts, Văn hóa và thông tin, trg 23  (20) Bogart, Chiến tranh mát, chiến tranh lạnh, trg xxiv, and Leo Bogart, “Lịch sử Bộ Ngoại Giao trong nhiệm kỳ Bill Clinton (1993-2001), Văn phòng Sử gia, Phòng Công vụ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, xem tại: http//www.state.gov/r/pa/ho/pubs/8518.htm.  (21) Anthony J. Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng,” trong Alexander T.J. Lennon, ed., Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc; Sử dụng sức mạnh mềm để triệt phá các mạng khủng bố (Cambridge, Mass.: MIT Press, 2003), trg 287.    (22) Stephen Johnson and Helle Dale,”Cách thức tái khởi động ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ,” Heritage Foundation Backgounder no 1645 (Washington D.C.:Heritage Foundation,2003) xem tại http://www.heritage.org/research/nationalsecurity/bg1645.cfm, trg 4   (23) BBC world service, Báo cáo thường niên 2002-2003, “Khảo lược dịch vụ quốc tế và tin tức toàn cầu” xem tại: http://www.bbc.co.uk/info/report2003/pdf/worldservice.pdf, trg 4  (24) Sanford J.Ungar, “Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, đã tắt” Washington Post, 10 tháng 11 năm 2003, trg A 25    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 2: Ngoại giao công chúng      Ngoại giao công chúng cũng không phải  là quan hệ công chúng (PR). Chuyển tải thông tin và truyền bá  những hình ảnh tích cực chỉ là một phần của ngoại giao công  chúng, tuy nhiên ngoại giao công chúng còn liên quan đến xây dựng  những quan hệ lâu dài nhằm kiến tạo môi trường khả dĩ cho  chính sách của nhà nước.    Ngoại giao công chúng trong thời đại thông tin  Quảng bá những hình ảnh tích cực của một quốc gia là một việc làm không mới lạ, song các điều kiện để xiển dương cho sức mạnh mềm đã thay đổi khá lớn trong những năm gần đây. Một lý do, gần một nửa các quốc gia trên thế giới hiện nay là các quốc gia dân chủ(25). Mô thức Chiến tranh lạnh trở nên quan trọng trong đó hai hệ thống quốc gia cạnh tranh nhau về chính trị xã hội đã không còn can hệ nhiều để bàn thảo cho chính sách ngoại giao công chúng. Trong khi vẫn còn nhu cầu cung cấp tin tức chính xác cho các giới dân chúng ở những nước như Miến Điện hay Syria, vốn vẫn bị lãnh đạo kiểm soát thông tin, vẫn còn đó những đòi hỏi mới làm sao tạo cho được hình ảnh tích cực cho công chúng tại các nước như Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico, những nước mà quốc hội có thể tạo sức nặng cho những quyết định ra đời. Khi Mỹ tìm kiếm sự ủng hộ của các nước ấy cho cuộc chiến Iraq, sự phí phạm sức mạnh mềm của chính phủ Mỹ đã hạn chế thay vì tạo điều kiện cho đất dụng võ ngoại giao của mình. Định hình ý tưởng công chúng trở nên quan trọng hơn tại các nước nào chính phủ toàn trị được thay thế bằng dân trị. Ngay cả khi giới lãnh đạo nước ngoài tỏ ra thân hữu với Mỹ, thì hành lang hành xử của họ cũng bị hạn chế nếu như công chúng và quốc hội có ấn tượng không thiện cảm đối với Mỹ và chính sách của Mỹ. Trong những trường hợp này, chính sách ngoại giao nhắm đến ý kiến công chúng trở nên quan trọng cho các kết cục sau cùng không thua kém hình thức giao thương trực tiếp truyền thống có chọn lọc dành cho các nhà lãnh đạo.  Thông tin là sức mạnh, và ngày nay một tỷ lệ lớn dân số thế giới đã có được khả năng tiếp cận với thông tin. Đã qua rồi thời kỳ “các nhóm nhỏ những viên chức ngoại giao Mỹ phải lái xe Jeep đi vào các vùng Mỹ Latin và các vùng xa xôi hẻo lánh khác để chiếu phim cho các khán giả ít tiếp xúc với thế giới.” (26) Những tiến bộ kỹ thuật đã làm giảm thiểu một tỷ lệ lớn các chi phí xử lý và truyền đạt thông tin. Kết quả là một sự bùng nổ thông tin kéo theo một “sự nghịch lý vì thông tin quá phong phú.”(27)  Thông tin nhiều thì lại dẫn đến việc ít chú tâm đến thông tin. Khi người ta cảm thấy choáng ngợp với lượng thông tin xung quanh họ thì họ sẽ gặp khó khăn không biết phải phân biệt và nên lưu ý đến thông tin gì hơn. Quan tâm của công chúng sẽ trở nên ít hơn bản thân các thông tin và những ai phân biệt được thông tin nào là giá trị trong cái nền hỗn độn ấy sẽ có sức mạnh hơn. Các nhà biên tập và những thông tín viên chuyên dò la tin tức sẽ có giá hơn, và những người này sẽ là những nguồn sức mạnh mềm cho những đơn vị thông tấn hướng ta nên quan tâm điều gì.   Thêm nữa, công chúng đã càng ngày càng thận trọng và nhạy cảm hơn đối với các nguồn tin tuyên truyền. Trong số các biên tập viên và giới lãnh đạo thông tấn, sự đáng tin cậy sẽ là một nguồn lực quan trọng, một nguồn lực quyết định cho sức mạnh mềm. Danh tiếng sẽ quan trọng hơn ngày trước và các cuộc tranh giành vị thế chính trị sẽ xoay quanh sự sáng tạo hay loại trừ uy tín của nhau. Các chính phủ không chỉ cạnh tranh với nhau về độ khả tín mà còn với một loạt các chủ thể khác như giới truyền thông, các công ty, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ và hệ thống các cộng đồng khoa học.   Chính trị đã trở thành một cuộc thi thố về độ khả tín. Thế giới chính trị quyền lực tiêu biểu trước nay là cuộc cạnh tranh ai thắng ai về kinh tế và quân sự. Chính trị trong thời đại thông tin sẽ “có thể là cuộc cạnh tranh xem ai kể chuyện thuyết phục hơn.” Theo lời hai chuyên gia của RAND về chính trị và thông tin.(28)  Các nhà nước sẽ cạnh tranh lẫn nhau và cạnh tranh với các tổ chức khác để gia tăng độ khả tín của mình và làm suy yếu mức độ tin cậy của các đối thủ. Chúng ta hãy xem lại cuộc chạy đua giữa Serbia và NATO trong định hình diễn giải các sự kiện ở Kosovo năm 1999 và các sự kiện ở Serbia một năm sau. Trước các cuộc biểu tình dẫn đến cuộc suy sụp của Slobodan Milosevic vào tháng 10 năm 2000, 45% người Serb trưởng thành đã bắt sóng RFE và VOA, chỉ có 31% nghe đài do nhà nước phát sóng, Radio Belgrade.(29) Vả lại, đài nội địa của Serbia, B92, đã cung cấp thông tin của Phương Tây cho thính giả, và sau khi nhà nước tìm cách ngưng phát sóng, thì đài này đã cung cấp các thông tin ấy trên mạng Internet.(30)  Danh tiếng luôn đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị quốc tế, nhưng vai trò của sự khả tín trở nên quan trọng hơn nhiều do ở “sự nghịch lý vì thông tin quá phong phú.” Nguồn thông tin nào xem ra có thể trở thành vũ khí tuyên truyền có khi không chỉ bị khán thính giả cười nhạo mà còn phản tác dụng nếu nguồn thông tin ấy làm hỏng đi hình ảnh đáng tin cậy của một đất nước. Những cáo buộc phóng đại về sự hiện hữu chắc chắn kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam cũng như các mối liên hệ của ông ta với Al Qaeda có thể đã giúp vận động ủng hộ cho cuộc chiến Iraq, song sự thật về mức thổi phồng ấy sau đó đã giáng một cú chí mạng vào mức độ khả tín của Anh và Mỹ. Trong điều kiện của thời buổi thông tin đến từ nhiều nguồn khác biệt hiện nay, gia tăng việc đưa thông tin một cách mềm mại có lẽ hiệu quả hơn là áp đặt.  Định hình ngoại giao công chúng  Vào năm 1963, Edward R. Morrow, nhà làm truyền thông nổi tiếng, Giám đốc USIA trong thời Kenedy, đã định nghĩa ngoại giao công chúng là những tương tác không nhằm đến các chính phủ nước ngoài mà chủ yếu hướng đến các cá nhân và tổ chức phi chính phủ, và thường xuyên thể hiện sự đa dạng trong quan điểm cá nhân bổ sung vào quan điểm của chính phủ.(31) Theo Mark Leonard, một chuyên gia người Anh chuyên về ngoại giao công chúng, những nhà hoài nghi xem chữ “ngoại giao công chúng” như là một uyển ngữ của công việc tuyên truyền đã đi lệch trọng tâm. Ngoại giao công chúng cũng không phải là quan hệ công chúng (PR). Chuyển tải thông tin và truyền bá những hình ảnh tích cực chỉ là một phần của ngoại giao công chúng, tuy nhiên ngoại giao công chúng còn liên quan đến xây dựng những quan hệ lâu dài nhằm kiến tạo môi trường khả dĩ cho chính sách của nhà nước.  Có ba chiều kích trong ngoại giao công chúng, cả ba đều quan trọng như nhau và chúng đòi hỏi sự phân bố khác nhau tương ứng trong việc thông tin của chính phủ, cũng như những giao lưu văn hóa dài hạn.(32) Chiều kích thứ nhất và cũng là trực diện nhất chính là sự giao tiếp hàng ngày, liên quan đến việc diễn giải bối cảnh của các quyết định đối ngoại và đối nội. Sau khi ra quyết định, các viên chức chính phủ tại các nền dân chủ hiện đại thường lưu ý rất nhiều về nội dung và cách thức thông đạt đến giới truyền thông. Họ thường tập trung vào báo chí quốc nội, tuy nhiên đội quân báo chí nước ngoài mới là mục tiêu quan trọng nhất cho chiều kích số một của ngoại giao công chúng. Leonard cảnh báo rằng có nhiều chính phủ đã mắc sai lầm khi giải thích các quyết định đối nội chỉ hướng đến các đối tượng trong nước mà không nhận ra tầm ảnh hưởng của hành động và lý giải hành động trên bình diện quốc tế của đất nước. Ví dụ, sau một loạt các tai nạn đường sắt, báo chí Anh Quốc đã mỉa mai nước Anh là”một nước thứ ba.” Một số báo chí các nước khác bỏ qua không diễn giải bối cảnh của câu tuyên bố ấy mà chỉ lặp lại những từ ngữ ấy trong các bài báo của mình, và do vậy đã góp phần mô tả Anh Quốc như một nước suy thoái.  Chiều kích hàng ngày này sẽ phải dính dáng đến việc chuẩn bị cho khủng hoảng và và phản ứng lại việc bị công kích. Một khả năng ứng phó nhanh chóng bao gồm bảo đảm sao cho các cáo buộc sai lệch hay thông tin méo mó phải có người trả lời nhanh. Ví dụ, khi Al Jazeera phát hình Osama bin Laden lần đầu tiên vào ngày 7/10/2001, các viên chức Mỹ đã tìm cách ngăn không cho Al Jazeera và hệ thống truyền thông Mỹ phát lại các thông điệp của bin Laden. Thế nhưng trong thời đại thông tin hiện đại, điều đó không chỉ vô lý như cố gắng ngăn thủy triều lên mà còn đi ngược lại giá trị mở mà Mỹ muốn đại diện. Cách đối phó tốt hơn là chuẩn bị để làm sao tràn ngập kênh Al Jazeera và các mạng lưới truyền thông khác bằng những phát biểu của Mỹ nhằm phản công thông điệp hận thù của bin Laden. Dù cho đài Al Jazeera đăt tại Qatar và các đài nước ngoài khác khó có thể không thiên vị, họ vẫn cần nội dung để đăng tải. Thật ra trưởng đại diện của đài này ở Washington đã mời người Mỹ “xin hãy đến trò chuyện với chúng tôi, hãy khai thác chúng tôi.”(33)  Chiều kích thứ hai là truyền đạt có chiến lược trong đó một loạt các chủ đề đơn giản phải triển khai, giống như những sự kiện của một chiến dịch chính trị hay quảng cáo. Chiến dịch sẽ vạch kế hoạch cho các sự kiện và cách tiếp xúc tiêu biểu trong giai đoạn cả năm để định vị nhãn hiệu cho các chủ đề chính hoặc hướng đến một chính sách cụ thể nào đó của chính phủ. Có khi hoạch định thì dễ chứ làm thì khác. Ví dụ, vào những năm 1990 khi Hội Đồng Anh quảng bá hình ảnh Anh Quốc như là một đảo quốc hiện đại, đa chủng tộc và sáng tạo, khi đó các giới chức ngành du lịch Anh Quốc thì bận rộn quảng bá truyền thống, lễ hội và lịch sử nước Anh. Ngoài ra các sự kiện cũng có thể làm cho việc định vị bị lệch hướng. Ví dụ, công sức nhiều năm nhấn mạnh chủ đề Anh Quốc là một thành viên trung thành của Cộng đồng Châu Âu đã bị xói mòn khi năm 2003 Anh tách khỏi Pháp và Đức để ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến với Iraq. Trong mắt của công chúng tại nhiều quốc gia, sự kiện này củng cố thêm hình ảnh khó coi: Anh chỉ là đàn em của Mỹ mà thôi.  Những chủ đề đặc biệt sẽ tập trung vào các sáng kiến về chính sách cụ thể. Xin đơn cử một trường hợp: khi chính phủ Reagan quyết định thực thi một nghị quyết của NATO nhằm theo đuổi một chính sách có hai phần là triển khai tên lửa trong khi vẫn đàm phán để di dời các tên lửa tầm trung của Liên Xô, Liên Xô đã đáp trả bằng một chiến dịch nhuần nhuyễn tác động đến công chúng Châu Âu và khiến cho việc triển khai tên lửa ấy không thể tiến hành. Các chủ đề của Hoa Kỳ nhấn mạnh tính chất đa phương của nghị quyết NATO, cổ võ các chính phủ Châu Âu nắm lấy quyền lãnh đạo khi có thể và sử dụng các thành viên phi chính phủ của Hoa Kỳ lên tiếng hiệu quả để chống lại các lập luận của Nga Xô. Dù cho các cuộc trưng cầu ở Đức cho thấy sự lưỡng lự của công chúng Đức về chính sách này, các kết quả trưng cầu cũng cho thấy hai phần ba người Đức ủng hộ Hoa Kỳ. Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ George Schultz sau này tổng kết:”tôi không nghĩ rằng chúng ta đã có thể rút lui nếu như không có chương trình ngoại giao công chúng mạnh mẽ như vậy. Người Nga rất năng động trong suốt năm 1983… trong vận động hòa bình và trong các nỗ lực thuyết phục các đồng minh Châu Âu của chúng ta không nên triển khai dự án.”(34)   Chiều kích thứ ba của ngoại giao công chúng là sự phát triển các mối quan hệ bền vững với yếu nhân thời gian dài thông qua học bổng, trao đổi học thuật, các khóa huấn luyện, các hội thảo, hội nghị và các tiếp cận với những kênh truyền thông.” Trong các thập kỷ hậu chiến, khoảng 700 ngàn người đã tham gia vào các cuộc trao đổi văn hóa và khoa học với Hoa Kỳ và những trao đổi này đã giúp đào tạo những lãnh đạo thế giới như Anwar Sadat, Helmut Schmidt va Magaret Thatcher. (35) Charlotte Beers, cựu thứ trưởng Ngoại Giao phụ trách ngoại giao công chúng, đã chỉ ra rằng những trao đổi ấy đã liên quan đến hơn 200 cựu nguyên thủ, và một nửa trong số các nhà lãnh đạo trong liên minh chống khủng bố đã từng là khách mời của các cuộc trao đổi học thuật này. “Đây chắc hẳn là cuộc trao đổi mang lại nhiều lợi ích nhất cho chính phủ,” bà cho biết. (36) “Các nước khác cũng có những chương trình tương tự. Ví dụ Nhật đã có một chương trình trao đổi đặc sắc mang về 6.000 thanh thiếu niên từ 40 nước khác đến Nhật mỗi năm để dạy tiếng của đất nước họ ở các trường học của Nhật, và chương trình học sẽ có các liên kết để duy trì tình hữu nghị mà các khóa học này đã gầy dựng.   Mỗi một chiều kích của ngoại giao công chúng đóng một vai trò quan trọng nhằm hỗ trợ tạo dựng hình ảnh tích cực của đất nước và để cải thiện kỳ vọng cho kết quả tốt hơn. Tuy nhiên biển quảng cáo tốt nhất cũng không thể bán được món hàng mà công chúng đã không ưa, và như chúng ta đã thấy trong chương 2, các chính sách trông có vẻ tự thị hay được phô diễn một cách cao ngạo thì sẽ chỉ tiêu hao chứ không phát huy được sức mạnh mềm. Tốt nhất, tình thân hữu bền vững sẽ làm cho các bên trong cuộc nhẹ nhàng hơn trong ứng phó. Đôi khi bạn bè sẽ có thể giúp ta do họ sẽ dễ nói ra các nghi ngờ của họ và bạn bè thì sẽ dễ dàng bỏ qua cho nhau hơn.  Một chiến lược truyền thông không thể phát huy hiệu quả được nếu như chiến lược ấy làm ảnh hưởng đến chính sách chung. Hành động sẽ trả lời mạnh mẽ hơn là lời nói suông, và ngoại giao công chúng nào có vẻ như bày biện khoe mẽ để phát động quyền lực cứng sẽ khó mà thành công. Sir Michael Butler, một nhà ngoại giao Anh ngưỡng mộ Hoa Kỳ đã giải thích: ”Nếu người ta cảm nhận chính phủ của bạn là tư lợi, phản động và không giúp ích gì cho cộng đồng, thì chính phủ ấy sẽ cản trở bước đường của bạn- như chính phủ Mỹ hiện nay.”(37) Vào năm 2003, Newt Gingrich, cựu phát ngôn nhân của Hạ Viện Mỹ, đã chỉ trích Bộ Ngoại giao vì đã thất bại trong quảng bá chính sách của Mỹ về Iraq.(38) Nhưng để quảng bá được một ý tưởng thì phải thâm nhập được vào những môi trường, và nếu xét về khía cạnh đó thì lỗi không phải chỉ quy kết cho chỉ Bộ Ngoại giao. Gingrich cũng đã phàn nàn về việc Mỹ rút ra khỏi Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc vào năm 2001. Mà đó lại là việc trả đũa cho việc Mỹ không trả hội phí cho Liên hợp quốc (chính sách này bắt nguồn từ Quốc Hội) và các chính sách đơn phương của chính phủ Bush vừa lên cầm quyền. Chính sách này vốn có gốc rễ từ các cơ quan hành pháp khác, thường bỏ ngoài tai những cảnh báo của Bộ Ngoại giao. Thượng nghị sĩ Charles Hagel, một người cộng hòa của Nebraska, đã ghi nhận rằng sau ngày 11/09 rất nhiều người ở Washington đã bất ngờ lên tiếng về việc cần phải cái tổ chính sách ngoại giao công chúng của Mỹ để có thể “đưa các thông điệp của chúng ta ra ngoài”. Thế nhưng cái cách đóng gói hàng hóa theo kiểu các hiệu buôn Madsison Avenue không thể chào hàngmột sản phẩm mâu thuẫn và rối rắm như vậy được… Chính sách và thuật ngoại giao phải ăn khớp với nhau, nếu không thì việc đưa các sản phẩm ra bàn dân thiên hạ sẽ trở thành một mớ loằng ngoằng và tênh hênh gồm toàn những thông điệp lộn xộn.”(39)   Chính sách ngoại giao công chúng hữu hiệu sẽ là một con đường hai chiều liên quan đến chiều lắng nghe và chiều phát biểu. Sức mạnh mềm đặt căn bản trên một hệ thống các giá trị mà các bên cùng chia sẻ. Đó là lý do tại sao việc hai bên trao đổi thì sẽ hiệu quả hơn là một bên phát biểu ý kiến. Định nghĩa đã xác định rằng sức mạnh mềm có nghĩa làm sao cho kẻ khác quý trọng những kết quả mà ta yêu quý. Và để làm được điều đó cần phải hiểu được kẻ khác diễn giải những thông điệp của ta như thế nào, từ đó người phát thông điệp sẽ có thể điều chỉnh tần số sao cho hợp lý. Hiểu được đối tượng truyền đạt cũng là một việc làm quan trọng. Tuy vậy công tác khảo sát ý kiến quần chúng của Mỹ tại các nước khác tiếc thay lại bị rút bớt ngân sách mỗi năm là 5 triệu đô la Mỹ và trong thập kỷ vừa qua thì ngân sách này đã ngày càng trượt dốc.(40)  Thuyết giảng cho người nước ngoài không phải là cách tốt nhất để thay đổi quan niệm của họ. Thường thì các nhà lãnh đạo chính trị luôn cho rằng vấn đề chỉ đơn thuần là do người khác nắm ít thông tin, và đơn giản nếu như người khác hiểu rõ vấn đề như ta thì họ sẽ có cách nhìn như chúng ta. Tuy nhiên tất cả các thông tin lại được nhìn nhận thông qua các lăng kính văn hóa và các phát biểu hoa lá cành (đại cà sa) sẽ chỉ được người ta nghe xong rồi bỏ ngoài tai mà thôi. Việc phát biểu sẽ ít có tác động hơn nhiều so với hành động và các biểu trưng thay cho lời nói. Đó là lý do tại sao các sáng kiến của của chính phủ Bush thúc đẩy gia tăng cho viện trợ phát triển hay gia tăng công tác chống HIV/AIDS lại có tác dụng quan trọng đến thế.  Quảng bá thông tin rộng rãi (broadcasting) là quan trọng nhưng việc truyền thông này cần phải có sự bổ sung của quảng bá hẹp (chơi chữ: narrow casting), có nghĩa là có các thông điệp mục tiêu cho các nhóm người cụ thể- thông qua Internet. Tuy Internet chỉ có thể đến với tầng lớp tinh hoa ở nhiều nơi trên thế giới vì hầu hết nhân loại chưa đủ khả năng có điện thoại, chưa nói đến máy tính, nhưng sự linh động và giá hạ của Internet hiện nay đã cho phép truyền bá đến những nhóm mục tiêu xác định. Internet cũng đã bày cách thông tin đến các nước phong tỏa các kênh tin tức truyền thống. Internet cũng có thể sử dụng một cách tương tác và kết hợp với các trao đổi khác. Việc truyền đạt mặt đối mặt vẫn là cách thức kiến hiệu nhất, song phương cách này vẫn có thể được Internet bổ sung và củng cố. Ví dụ, một phối thức gồm viếng thăm và dùng Internet có thể gây dựng cả hai mạng lưới thực và ảo bao gồm các công dân trẻ khao khát học hỏi từ những nên văn hóa khác. Hoa Kỳ cũng có thể học tập Nhật Bản trong việc đài thọ cho giới trẻ nước ngoài để họ dành một năm dạy ngôn ngữ và văn hóa của họ tại các trường của Mỹ. Những chương trình học tập này sẽ có thể tạo nên những hội đoàn liên kết nhau trên Internet.  Một số nước hoàn tất hầu hết các chính sách ngoại giao công chúng của họ thông qua hành động thay vì thông qua truyền sóng. Na Uy là một ví dụ điển hình. Na Uy chỉ bao gồm 5 triệu dân, không có ngôn ngữ quốc tế hay nền văn hóa xuyên quốc gia. Nước này cũng không nằm ở vị trí trung tâm, không phải là một đầu mối của các tổ chức hay của các thương hiệu doanh thương đa quốc gia và cũng không phải là thành viên của Liên hệp Châu Âu. Tuy nhiên như đã đề cập đến tại chương 1, đất nước này đã phát triển tiếng nói và sự có mặt của mình vượt ra ngoài kích thước và nguồn tài nguyên khiêm tốn của mình ”thông qua việc ưu tiên hóa quyết liệt hướng đến các nhóm khán thính giả mục tiêu và sự tập trung cao độ trên thông điệp duy nhất – Na Uy là một lực lượng vì hòa bình trên thế giới.” (41) Các hoạt động liên quan bao gồm việc hòa giải cho các xung đột tại Trung Đông, Sri Lanka và Colombia; việc phân bố các quỹ đáng kể cho các nước khác; và sự tham gia thường trực của nước này trong các lực lượng giữ gìn hòa bình trên toàn thế giới. Dĩ nhiên không phải tất cả các hoạt động của Na Uy đều được phát thành thông điệp. Cách hành xử của chính trị quốc nội Na Uy trong vấn đề đánh bắt cá voi đôi khi làm lạc điệu hình ảnh của Na Uy trong mắt các nhà bảo vệ môi trường. Tuy nhiên xét về tổng thể, Na Uy đã chứng tỏ nước nhỏ biết cách khai thác được góc khuất của thuật ngoại giao trong khuyếch trương hình ảnh và vai trò của mình.  Không chỉ cần phải có lời nói đi kèm hành động để làm gia tăng sức mạnh, mà quan trọng là cần phải nhớ rằng những lời nói và hình ảnh song hành thành công nhất dành cho khán thính giả đối nội có thể lại gây tác động tiêu cực lên những người thụ nhận bên ngoài. Khi Tổng thống Bush dùng cụm từ “trục ma quỷ” để chỉ Iraq, Iran và Bắc Hàn trong thông điệp liên bang 2002, cách diễn đạt ấy đã được tiếp nhận nồng nhiệt trong nước Mỹ, nhưng người nước ngoài đã phản ứng chống lại hành động phóng đại ấy của ông về những bối cảnh ngoại giao không tương xứng dưới một chiêu bài đạo đức. Tương tự như vậy khi tuyên chiến “chống khủng bố” giúp ông vận động được sự ủng hộ của công chúng và quốc hội, thì nhiều giới quốc tế đã cho rằng Mỹ đã có thể làm cho cuộc hợp tác chống khủng bố khó khăn hơn khi khái niệm chiến tranh trường kỳ có thể được Mỹ vận dụng để cầm tù những người nước ngoài.   Kể cả khi chính sách và thông tin đã phối hợp nhịp nhàng với nhau, việc sử dụng các nguồn lực sức mạnh mềm trong thời đại thông tin toàn cầu xem ra không đơn giản. Một ví dụ, như đã đề cập trước đây, các hoạt động thông tấn của chính phủ chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ truyền thông đối với các cộng đồng trong thời kỳ thông tin tràn khắp như hiện nay. Những thước phim Hollywoods chống lại các nhà tôn giáo chính thống tại các nước khác hay các hoạt động truyền giáo của Mỹ dường như hạ thấp vai trò Hồi giáo sẽ luôn nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Một số người theo chủ nghĩa nghi ngờ còn kết luận rằng người Mỹ nên chấp nhận những bất trắc tương lai và hãy cứ để cho các lực lượng thị trường chăm lo cho công tác quảng bá hình ảnh và văn hóa Mỹ ra nước ngoài. Tại sao lại phải đổ tiền vào VOA trong khi CNN, MSNBC hay Fox đã có thể thực hiện các công việc này miễn phí? Tuy nhiên kết luận dạng này xem ra không vững chắc. Các lực lượng thị trường chỉ mô tả những khía cạnh cho số đông có thể đẻ ra tiền, do vậy các lực lượng này chỉ có thể củng cố hình ảnh của Mỹ tại nước ngoài như một nước đơn giản trên phương diện văn hóa.   Những hỗ trợ của chính phủ đối với các trao đổi văn hóa tầm cao thường tạo những hiệu ứng quan trọng đối với giới tinh hoa quan trọng của các nước khác, như chương 2 đã mô tả. Phát triển các mối quan hệ lâu bền luôn không hái ra tiền trong ngắn hạn, do vậy nếu giao phó cho thị trường sẽ có thể dẫn đến một sự đầu tư dưới tầm. Khi nền học vấn cao cấp có thể tự túc, các tổ chức phi lợi nhuận khá hữu ích, thì nhiều chương trình trao đổi học thuật sẽ phải co lại vì thiếu hỗ trợ của chính phủ. Những công ty nhỏ sẽ phải ứng biến với thị trường để mà tồn tại. Nếu như không có thị trường để phát sóng tiếng Croat cho người Serbia và tiếng Pashtu, các công ty sẽ không cho nhà đài phát sóng các thứ tiếng ấy làm chi. Ngoài ra đôi khi các công ty sẽ nhượng bộ áp lực chính trị từ các chính phủ khác nếu như hành động ấy bảo đảm gia tăng lợi nhuận- hãy tham khảo cách của Rupert Murdoch đã tránh BBC như thế nào, khi nhà đài này phát sóng một vài chương trình chỉ trích Trung Quốc, thông qua chương trình phát sóng vệ tinh của ông ta vào Trung Quốc trong những năm 1990.  Cùng lúc, công chúng hậu hiện đại thường là nghi ngại giới chức, bất tín nhiệm các chính phủ. Do vậy sẽ phù hợp hơn nếu các chính phủ đứng đằng sau mà làm việc với các vai diễn tư nhân. Một số các NGO (Non-governmental organizations – tổ chức phi chính phủ) được tín nhiệm cao hơn nhà nước và dù cho khó kiểm soát, những NGO này có thể là những kênh thông tin hữu ích. Những quỹ của Hoa Kỳ như Ford Foundation, Soros Foundation hay Carnegie Endowment và hàng loạt các NGO khác đã đóng những vai trò quan trọng trong việc củng cố dân chủ tại Đông Âu sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh. Quỹ Bill và Melinda Gates đã làm nhiều việc hơn nhiều chính phủ trong việc chống các bệnh truyền nhiễm tại Châu Phi. Đối với các nước như Anh Mỹ là những nước có dân số nhập cư đáng kể, những người xa xứ sẽ có thể tạo những mối liên kết nhạy cảm về văn hóa và những kỹ năng cao về mặt ngôn ngữ. Xây dựng quan hệ giữa các chính đảng giữa các nước với nhau cũng đã được Đức đi đầu tác động. Tại đây, các đảng phái đã có những quỹ nhằm xây dựng và duy trì các quan hệ quốc tế do chính phủ hỗ trợ qua quỹ. Trong suốt thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Reagan, Hoa Kỳ cũng đã noi theo cách thức này và thiết lập quỹ National Endowment for Democracy (Quỹ Phát triển Dân chủ Quốc gia), là quỹ cung cấp tài chính cho National Democratic Institute (Viện Dân chủ Quốc gia) và International Republican Institute (Viện Cộng hòa Quốc tế) cũng như các công đoàn và phòng thương mại nhằm cổ vũ cho dân chủ và xã hội dân sự ngoài nước.   Các công ty Hoa Kỳ cũng có thể đóng những vai trò quan yếu. Các trưởng đại diện và các thương hiệu của các công ty này trực tiếp động chạm đến cuộc sống của nhiều người hơn là các đại diện của chính quyền. Một số các doanh nhân có tinh thần cộng đồng đã kiến nghị rằng các công ty nên phát triển và cung cấp các khóa học về truyền thông và tính nhạy cảm cho các đại diện công ty trước khi gởi họ ra ngoài nước. Các công ty cũng có thể đi đầu trong các dự án ngoại giao công chúng đặc biệt như” một công ty kỹ thuật làm việc với Hội thảo Seasame và một nhà truyền thông Li-băng để đồng sản xuất một chương trình Anh văn dành cho trẻ em tập trung vào kỹ thuật, một lĩnh vực thành công của Mỹ được ngưỡng mộ trên thế giới.”(42)  Một lợi điểm nữa của việc tiến hành ngoại giao công chúng gián tiếp là cách này có thể chịu nhiều gánh nặng hơn nữa từ việc trao đổi văn hóa. Thường là khó khăn cho chính phủ trong hỗ trợ cho các loại nghệ thuật cách tân có sức hút đối với giới tinh hoa nước ngoài mà làm phật lòng nhu cầu bình dân trong nước. Ví dụ khi Bộ Ngoại giao chủ trì một buổi công diễn về nghệ thuật hiện đại vào 1947, báo giới đã chế giễu nhà nước là hoang phí tiền thuế của nhân dân, và ngay cả Tổng thống Truman cũng đã chỉ trích buổi công diễn này là “sự phù phiếm của những người phát rồ nửa mùa.”(43)  Trong khi các chính phủ thường chống lại việc nới lỏng sự quản lý của mình bằng ngoại giao công chúng gián tiếp, những gì họ mất đi trong công tác quản lý có thể được đền đáp lại nhiều hơn về mặt uy tín nếu họ biết liên kết với các tổ chức tư nhân.   Một cách để cho chính phủ có thể duy trì sự kiểm soát trong khi vẫn ra vẻ không theo sát là cung cấp các nguồn tài chính kín đáo thông qua những cơ quan tình báo. Ví dụ, trong thời kỳ đầu của cuộc Chiến tranh lạnh, CIA đã bí mật ủng hộ cho các quỹ văn hóa như Đại Hội vì Tự do Văn hóa. Ngay lúc ấy cũng đã có những nghi hoặc. “Theo ý nghĩa sát thực nhất, vấn đề là làm sao sử dụng được sự tự do tri thức để tuyên truyền mà không làm cho nó biến thành khẩu hiệu suông (as propaganda without turning it into propaganda in the process)… Logic chính trị của tình huống mới này tiếp theo những xử lý kín đáo đối với các lý tưởng tự do và những người ủng hộ lý tưởng ấy.(44)  Tuy vậy bí mật chỉ có tác dụng khi chưa bị bật mí, mà việc này trong bối cảnh thông tin hiện nay khó mà bảo đảm, đặc biệt tại một nước dân trị như Mỹ với báo giới, Quốc hội đầy sức mạnh và chưa có một đạo luật chính thức nào về bảo mật như Anh Quốc. Một lúc nào đó khi bí mật được phanh phui (ví dụ như việc CIA liên can đến các trao đổi văn hóa loan ra báo giới và các điều trần của quốc hội vào những năm 1970), cái giá phải trả cho sự mất uy tín sẽ vô cùng. Nói chung, tốt nhất là minh bạch về việc góp tiền cho quỹ và thiết lập một quan hệ kính nhi viễn chi.  Nói vậy không có nghĩa là CIA không đóng vai trò gì trong xúc tiến sức mạnh mềm. Ngược lại, sự phát triển lòng tin và các mối quan hệ lâu bền với các cơ quan tình báo các nước bạn cũng như sự chia sẻ tin tức tình báo có thể có những tác động mạnh mẽ đối với cảm nhận của các nước khác của cả Mỹ và các sự kiện quốc tế khác. Nếu sức mạnh mềm bao gồm việc định dạng cho nhận thức của người khác, thì việc chia sẻ tin tức tình báo là một nguồn lực trọng yếu của sức mạnh mềm. Trong những bối cảnh như vậy, việc trao đổi các thông tin tình báo tinh lọc có thể tạo nên một hiệu ứng mạnh mẽ và trực diện đối với chính sách. Đôi khi chỉ thuần thông tin được trao đổi trên tinh thần tin cậy, thì nó có thể thay đổi chính sách của một chính phủ. Đó là lý do tại sao những thất bại về thông tin tình báo và sự phóng đại về vai trò của tình báo cho các mục đích chính trị tại giai đoạn đầu của cuộc chiến Iraq đã làm sứt mẻ sức mạnh mềm của Hoa kỳ. Không chỉ sự khả tín của chính phủ bị thương tổn mà một kênh thông tin hữu hiệu đáng kể đã bị suy yếu. Các nước khác sẽ bớt tín nhiệm hay tin tưởng vào các báo cáo tình báo của Hoa Kỳ trong tương lai.  Giới quân sự cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sức mạnh mềm. Bên cạnh uy lực vốn đã do sức mạnh cứng tạo ra, quân đội còn có một tầm quan hệ rộng lớn trong các trao đổi kinh nghiệm giữa các sĩ quan với nhau, các khóa huấn luyện liên hợp, các chương trình hỗ trợ giữa các quốc gia với nhau trong thời bình, các chương trình huấn luyện học vấn và quân sự quốc tế của Lầu Năm Góc bao gồm các học phần về dân chủ và nhân quyền song song với các huấn luyện quân sự khác. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Perry nhận xét, các giao tiếp giữa giới quân sự với nhau có thể tạo nên một mặt trận “quốc phòng ngăn ngừa”, thông qua cách phát triển những mối liên lạc và giúp định hình nhãn quan của các sĩ quan nước ngoài về các cách tiếp cận của người Mỹ nhiều hơn nữa. Ở nhiều thời điểm khác nhau, những mối liên lạc này đã cung cấp các kênh ảnh hưởng chưa đạt được thông qua các phương cách ngoại giao thông thường. Thật ra một số nhà quan sát e rằng năm vị tư lệnh vùng của Mỹ sở hữu và tiếp cận các nguồn lực ấy trong khu vực họ phụ trách nhiều hơn các đại sứ Mỹ có được tại các quốc gia ấy.(45)  Vào thời chiến, các hoạt động tâm lý chiến (“psy-ops”) là phương tiện quan trọng để tác động đến cách ứng xử của các nước khác và thậm chí có thể ngăn cản các hoạt động quân sự trực diện. Ví dụ, một tiền đồn của quân địch có thể bị tiêu diệt bằng một tên lửa hành trình hay bị vây bởi một lực lượng bộ binh-hoặc binh lính địch có thể bị binh vận rã ngũ hoặc bỏ phế tiền đồn ấy. Các hoạt động tâm lý chiến có liên quan đến đánh lừa và ngụy tạo thông tin thường có tác dụng trong chiến tranh nhưng phản tác dụng vào thời bình. Cũng quan trọng không kém trong các thủ thuật chiến tranh là việc quản lý thông tin để giảm những cảm nhận tiêu cực. Kiểm duyệt cứng nhắc sẽ không phải là câu trả lời tốt nhất. Một phương diện của sức mạnh mềm mà Lầu Năm Góc đã thực hiện chính xác trong chiến tranh vùng Vịnh lần hai đã được mệnh danh là “vũ trang cho các nhà báo”. Cắm các nhà báo cùng các đơn vị tiên phong đã hạn chế khả năng của Saddam trong việc gây phẫn nộ quốc tế rằng quân đội Mỹ cố tình giết dân thường. Khác với cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, khi CNN đưa ra các vấn đề thông tin, sự phát tán của kỹ thuật thông tin hiện đại và sự ra đời của các cửa sổ thông tin mới như Al Jazeera trong thập kỷ sau đã buộc phải cần đến một chiến lược mới tránh tổn thương cho sức mạnh mềm của Mỹ khi binh lửa dấy lên. Dù vấn đề nào phát sinh, việc cài cắm các phóng viên tại các đơn vị tiền phương tỏ ra là một chiến thuật hiệu quả trong điều kiện chiến tranh ở thời đại thông tin ngày nay.  Các vấn đề phát sinh trong vai trò của quân đội khi thực thi sức mạnh mềm là khi quân đội cố gắng áp dụng các cách thức của thời chiến trong những điều kiện chưa rõ ràng. Cách hành xử này lại càng có khuynh hướng gia tăng trong cuộc chiến chống khủng bố chưa định hình rõ ràng như hiện nay. Cuộc chiến này làm xóa nhòa sự phân ranh rõ ràng giữa các hoạt động dân sự bình thường và các hoạt động thời chiến. Vào năm 2002, cảm thấy bất ổn với ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ, Lầu Năm Góc đã triển khai kế hoạch cho Phòng Ảnh hưởng chiến lược (OSI) có nhiệm vụ cung cấp các hạng mục tin tức, kể cả những thông tin sai cho các tổ chức thông tin quốc tế trong một nỗ lực tác động đến các quốc gia thù địch và cả các quốc gia đồng minh.(46)  Sau khi gói kế hoạch này được tiết lộ trên báo chí, Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld đã phải lên tiếng bác bỏ dự án này. Tuy vậy các tổn hại đến uy tín và sức mạnh mềm của Hoa Kỳ đã phát tác.  Sau rốt, thật là sai lầm khi nhìn nhận ngoại giao công chúng với nhãn quan thù địch. Đôi khi có những cạnh tranh như “thông tin của tôi chống lại thông tin của bạn,” tuy nhiên thông thường thì thông tin thế nào cũng có cái lợi cho cả hai bên. Thuật ngoại giao công chúng của Đức trong Chiến tranh lạnh là một điển hình đáng học tập. Tương phản với ngoại giao công chúng của Pháp, vốn luôn tìm cách chứng minh sự độc lập với Mỹ, chủ đề quan trọng nhất trong thuật ngoại giao công chúng của Đức là làm sao cho thấy Đức là đồng minh đáng tin cậy của Mỹ. Do vậy các thông tin về chính sách của Đức và Mỹ đã củng cố sức mạnh cho nhau. (47) Các lãnh đạo chính trị có thể chia sẻ những mục tiêu tương tự và chung nhất- ví dụ như việc cổ vũ cho nhân quyền và dân chủ. Trong những trường hợp như vậy, có thể sẽ có được những lợi ích chung từ các chương trình ngoại giao công chúng. Ngoại giao công chúng với tinh thần hợp tác sẽ có thể giảm thiểu được những nghi ngờ của động cơ dân tộc hẹp hòi.(48)   Hơn nữa, cũng có lúc mà sự hợp tác, bao gồm cả việc thúc đẩy uy tín cộng đồng của các tổ chức đa Phương như UN và NATO, sẽ có thể tạo điều kiện cho các chính phủ sử dụng các công cụ đó để xử lý các khó khăn như gìn giữ hòa bình, xiển dương dân chủ, hay chiến đấu chống khủng bố. Ví dụ, trong suốt cuộc Chiến tranh lạnh, ngoại giao công chúng của Mỹ tại Tiệp Khắc đã được củng cố bởi các liên kết của Hoa Kỳ với các hội nghị quốc tế ươm mầm cho nhân quyền. 49) Vào năm 1975, Hội nghị đa Phương tại Helsinki về An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE) đã luật hóa thảo luận về nhân quyền bên kia Bức Màn Sắt và đã đạt đến những kết quả mà những người đặt bút ký không thể tưởng được, đó là Final Act (Điều luật Cuối cùng). Như Giám đốc CIA Robert Gates đã tổng kết, bất chấp sự phản đối giai đoạn đầu của Mỹ, “Nga Xô đã háo hức trông chờ CSCE, họ đã có CSCE và cuối cùng chính CSCE đã đặt những nền tảng chấm dứt đế chế của họ.”(50)                                                   Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) dịch  (25) Fareed Zakaria, “Sự trỗi dậy của dân chủ khép kín” Tạp chí Ngoại giao, Nov-Dec 1997, trg 22. Xin xem thêm tại Fareed Zakaria, “Tương lai của tự do: dân chủ khép kín quốc nội và quốc ngoại”(New York: Norton, 2003)   (26) Christopher Ross, “Ngoại giao công chúng, thời đại mới” trong Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc (Cambridge, Mass.: Ban tu thư MIT, 2003) trg 252  (27) Herbert A. Simon, “Thông tin 101: Không phải nội dung mà là cách thức hiểu biết” Tạp chí chất lượng và tham gia. Tháng 7 tháng 8, 1998 trg 30-33   (28)  John Arquilla and David Ronfeldt, Tính cấp thiết của Tân Chính Trị: hướng đến một chiến lược thông tin của Hoa Kỳ (Santa Monica, RAND Corporation, 1999) trg 53  (29) Edward Kaufman, “Một chiến lược phát sóng để chiến thắng những cuộc chiến truyền thông,” trong Cuộc chiến tranh giành trái tim và khối óc (Cambridge, Mass.: Ban tu thư MIT,2003), trg 303  (30) Matthew Collin, Chiến tranh du kích qua radio (New York: Nation books, 2001)   (31) Murrow trích Mark Leonard, Ngoại giao công chúng, (London:Trung tâm Chính sách đối ngoại, 20020 trg i  (32) Leonard, Ngoại giao công chúng, chương 3  (33) Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng” trg 291  (34) Hans N. Tuch, Giao tiếp với thế giới: ngoại giao công chúng của Mỹ ở nước ngoài (New Yorek: Ban tu thư St Maryins, 1990) chương 12   (35) Stephen Johnson and Helle Dale, ”Cách thức tái khởi động ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ” trg 2  (36) Beers trích Leonard, Ngoại giao công chúng, trg 19  (37) Butler dẫn tại sđd, trg 14  (38) Newt Gingrit, “Bộ tạp giao” (Rogue State Department), Chính sách đối ngoại, tháng 7 2003, trg 42  (39) Thượng nghị sĩ Chuck Hagel, “Những thách thức cho lãnh đạo thế giới” diễn văn đọc tại câu lạc bộ Tu thư Quốc gia, 19/06/2003  (40) Blinken, “Chiến thắng chiến tranh tư tưởng” trg 289  (41) Leonard, Ngoại giao công chúng, trg 53  (42) Keth Reinhard, “Khôi phục thương hiệu Hoa Kỳ,” Thời đại quảng cáo, 23/06/2003, trg 30  (43) Truman dẫn Rosenberg. Lan tỏa ước mơ Mỹ. Trg 216  (44) Frank A. Ninkovich, Ngoại giao của các ý tưởng: chính sách đối ngoại và các quan hệ văn hóa của Mỹ, 1938-1950 (Cambridge: Ban tu thư Đại học Cambridge, 1981), trg 176  (45) Dana Priest, “Chính sách đối ngoại bốn sao? Các tư lệnh Mỹ xử lý các thế lực, các lãnh chúa mới” Washington Post, 28/09/2000, trg Ai; đọc thêm Dana Priest, Sứ mệnh tuyên chiến và bảo an của quân đội Mỹ (New York: Norton, 2003)  (46) James Dao và Eric Schmitt, “Ngũ Giác Đài sẵn sàng cho đòn tình cảm ngoài nước Mỹ” New York Times, 19/02/2002, trg i; Erich Schmitt, “Rumsfeld tuyên bố có thể lập những cơ quan quyền lực” New York Times, 25/02/2002, trg 13  (47) Terry Deibel và Walter Roberts, Văn hóa và thông tin. Trg 51  (48) Leonard, Ngoại giao công chúng, chương 3  (49)  M Kohut, “Vai trò của sức mạnh mềm Hoa Kỳ trong việc dân chủ hóa Tiệp Khắc”, tài liệu không công bố, Trường hành chính Kenedy, tháng 4/2003  (50) Gates dẫn Daniel C.Thomas, “Hiệu ứng Helsinki: các quy tắc quốc tế, nhân quyền và những gì còn lại của chủ nghĩa cộng sản” (Princeton:Ban tu thư Đại học Princeton, 2001). Trg 257        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 2: Trí thức Việt Nam – Nền tảng lịch sử và các vấn đề đặt ra      Nhiều học giả cho rằng, nếu căn cứ vào nghĩa gốc của khái niệm trí thức, tức là sử dụng các tiêu chuẩn của bối cảnh chính trị – văn hóa phương Tây để nhìn vào điều kiện Việt Nam thì có thể nói rằng: trong lịch sử, ngoại trừ giai đoạn 1900 – 1945, Việt Nam chưa bao giờ có một tầng lớp trí thức đích thực. Vì thế, cái gọi là giới trí thức tinh hoa lại càng trở nên không tưởng.     Thực ra, trả lời câu hỏi có hay không một tầng lớp trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống là điều không đơn giản. Từ lí thuyết đến thực tiễn luôn tồn tại một khoảng cách, và nội dung thực tiễn luôn có khuynh hướng tràn ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của lí thuyết trừu tượng. Thay vì tham gia vào cuộc tranh luận phức tạp nói trên, chúng tôi tạm chấp nhận giả định rằng: đã có một tầng lớp trí thức Việt Nam trong lịch sử, từ đó cố gắng nhận diện gương mặt, bối cảnh hình thành và đặc điểm của họ. Nhưng đó chưa phải là trọng tâm của vấn đề. Điều quan trọng là từ những dữ kiện thực tế, bài viết này sẽ cố gắng đi đến một số gợi mở về các điều kiện để hình thành một đội ngũ trí thức đích thực trong bối cảnh mới của đất nước.  Theo PGS.TS Trần Ngọc Vương, trong lịch sử trung đại Việt Nam, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà Nho [1]. Đến thời Pháp thuộc (cuối XIX – nửa đầu XX), hệ thống giáo dục thuộc địa lại cho ra đời một loại hình trí thức mới, song hành và nối tiếp loại hình trí thức Nho học trước đó, mà sách vở vẫn quen gọi là trí thức Tây học.   Từ góc nhìn lịch đại, nhiều người vẫn xem lớp trí thức Tây học nửa đầu thế kỉ XX là thế hệ vàng trong lịch sử văn hóa Việt Nam. GS Hoàng Tụy nhận định: “Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức Việt Nam qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước” [2]. Tuy nhiên, sau 1945, những thành tựu của nền giáo dục thuộc địa đã không được kế thừa và phát triển. Lớp trí thức Tây học, do đó, chỉ hiện diện ngắn ngủi trên vũ đài lịch sử như một sản phẩm của cuộc tiếp xúc Đông – Tây trong buổi giao thời giữa hai thế kỉ XIX – XX. Vì vậy, khi nói đến trí thức Việt Nam truyền thống, chúng tôi chủ yếu đề cập đến loại hình trí thức nhà Nho.  Trí thức nhà Nho Việt Nam hình thành và phát triển trong một môi trường xã hội Nho giáo – tiểu nông, với một số biểu hiện mang tính đặc thù:  •    Về chính trị: Các triều đại phong kiến thay nhau xây dựng và hoàn thiện dần mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế bằng cách áp lên toàn quốc một bộ máy cai trị quan liêu theo thể thức cha truyền con nối. Nhà Vua đứng đầu bộ máy nhà nước, có quyền lực tuyệt đối trong tay nhờ sở hữu cả thế quyền lẫn thần quyền.  •    Về kinh tế: Nền nông nghiệp trồng lúa nước là sinh kế cơ bản của quốc gia. Thủ công nghiệp và thương nghiệp chỉ mang tính phụ trợ. Vì vậy, trong cơ cấu xã hội, người tiểu nông và nhà Nho trở thành rường cột của nước nhà. Trong khi, giới thương nhân và thợ thủ công không đủ sức vươn lên thành những lực lượng xã hội thuần thục, bị dạt ra khỏi dòng phát triển chủ lưu của cộng đồng.  •    Về tư tưởng, từ thế kỉ XIV trở về sau, Nho giáo dần trở thành quốc giáo, chi phối mọi mặt đời sống tư tưởng dân tộc, đặc biệt là trong thời Lê sơ và thời Nguyễn. Từ chỗ là công cụ đắc dụng góp phần tổ chức bộ máy nhà nước và ổn định xã hội trong thời kì đầu, về sau, Nho giáo bị chính trị hóa triệt để, chỉ còn trơ lại là một công cụ cai trị của nhà nước chuyên chế. Với sự độc tôn, áp chế tuyệt đối của Nho giáo, tình trạng đa nguyên về văn hóa thời Lí – Trần chấm dứt. Từ đây, đời sống sinh hoạt tư tưởng ngày một đơn điệu, sức sáng tạo của cộng đồng hao mòn, nội lực dân tộc suy yếu và trở thành nạn nhân trực tiếp của chủ nghĩa tư bản phương Tây.  •    Về giáo dục, từ thời Lê sơ, chế độ thi cử Nho giáo được xem là mô hình mẫu mực, duy nhất trong đào tạo và tuyển chọn đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước. Sứ mệnh tối hậu của hệ thống giáo dục Nho học là đào tạo nên những thần dân biết chấp nhận hệ thống cai trị đương tồn một cách vô điều kiện. Trong khi đó, lí tưởng cao đẹp nhất của người đi học là thi đỗ, làm quan – tức hóa thân thành một phần tử trong hệ thống nhà nước và ra sức bảo vệ cho sự tồn tại của hệ thống đó.  Sinh trưởng trong điều kiện như vậy, trí thức nhà Nho mang các đặc điểm sau đây [3]:  (i) Về hoàn cảnh xuất thân, đa phần trí thức nhà Nho đều xuất thân từ các gia đình tiểu nông. Đối với họ, cái đói và miếng ăn trở thành nỗi ám ảnh truyền hệ. Bởi vậy, mục đích trước hết của việc học là giải quyết các nhu cầu thiết thân của cuộc sống bằng cách nỗ lực đạt được một địa vị trong bộ máy nhà nước. Vì chức vụ đi đôi với quyền lợi “một người làm quan cả họ được nhờ”. Cái học (tri thức) chỉ là phương tiện khả dĩ để thay đổi thang bậc xã hội. Điều này khác hẳn với tầng lớp trí thức phương Tây thời trung đại khi phần lớn trong số họ đều xuất thân từ các gia đình trung lưu, quý tộc, do đó, có điều kiện theo đuổi việc học như một mục đích tự thân. Chính đội ngũ quí tộc có học này đã tạo nên những bước ngoặt quan trọng, giúp phương Tây sớm đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  (ii) Về mặt học thuật, không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học và các phát kiến khoa học tự nhiên – kĩ thuật (toán học, vật lí học, thiên văn học …). Loại hình chính là những nhà hoạt động yêu nước, những người làm văn học, học thuật (chủ yếu là sử học), và thông qua hoạt động chính trị, học thuật hay nghệ thuật của mình mà đề cập đến những vấn đề tư tưởng. Chính vì vậy, trong đội ngũ trí thức nhà Nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn đủ sức hướng đạo cho sự phát triển của toàn thể cộng đồng [4]. Hệ quả, trong quá trình lịch sử, đội ngũ trí thức bản địa vẫn phải dựa vào các luồng tư tưởng, tôn giáo bên ngoài rồi thêm, bớt, lấy, bỏ cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Phan Châu Trinh gọi đó là căn bệnh vọng ngoại, sính ngoại. Trong không ít trường hợp, tư tưởng vọng ngoại dẫn đến tư duy giáo điều, mù quáng, nô lệ và gây ra những hậu quả tai hại cho nền văn hóa dân tộc.   (iii) Trong quan hệ với chính quyền, chưa bao giờ tầng lớp nhà Nho Việt Nam thực sự có được vị trí độc lập tương đối về chính trị, để một mặt, sáng tạo nên những thành tựu độc lập trong lĩnh vực tri thức, mặt khác, trở thành một lực lượng có khả năng đối thoại trên tinh thần bình đẳng, dân chủ với triều đình nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng – quốc gia hay tạo áp lực xã hội để nhà nước tìm cách nâng cao chất lượng thể chế [5]. Lịch sử Việt Nam thưa vắng các nhà tri thức canh tân, và bi kịch của giới trí thức thường rơi vào những người có tư tưởng cấp tiến, khi khát vọng canh tân của họ không tìm được sự đồng cảm từ bộ máy cai trị và nhân dân, rơi vào bế tắc, tuyệt vọng.  Quá trình hiện đại hóa Việt Nam trong khuôn khổ của một xã hội thuộc địa cuối thế kỉ XIX – nửa đầu thế kỉ XX không phá vỡ triệt để cơ tầng kinh tế – xã hội cổ truyền. Nền giáo dục thuộc địa, tuy đã tạo ra một lớp trí thức Tây học tiến bộ, chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, không thể gây nên một sự chuyển hóa hoàn toàn về chất cho đội ngũ trí thức Việt Nam. Hơn nữa, lịch sử Việt Nam sau 1945 lại thiếu tiền đề để kế thừa và phát triển những thành tựu tích cực của nền giáo dục thuộc địa. Vì thế, những đặc điểm (cũng là yếu điểm) của lớp trí thức nhà Nho có điều kiện tái sinh trong tầng lớp trí thức Việt Nam đương đại. Không hề ngẫu nhiên khi GS. Hoàng Tụy nhận xét rằng: các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước… mà sao có vẻ như phẩm chất chưa được như ta kỳ vọng. Có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm [6].   Trong bối cảnh đó, theo chúng tôi, chiến lược xây dựng, phát triển, sử dụng trí thức và nhân tài của Đảng, nhà nước cần phải bắt đầu bằng việc xác lập các điều kiện khả hữu nhằm tạo đà để hình thành nên một đội ngũ trí thức hiện đại theo đúng nghĩa của khái niệm này. Bài học lịch sử Việt Nam và thế giới cho phép đi đến một số gợi mở sau đây:  (1) Chấn hưng nền giáo dục quốc gia theo hướng hiện đại hóa, dân chủ hóa toàn diện: Trong bất kì xã hội nào, trí thức là sản phẩm trực tiếp của một hệ thống giáo dục, do vậy, chất lượng của đội ngũ trí thức phụ thuộc vào bản chất và trình độ phát triển của chính hệ thống giáo dục đó. Ở Việt Nam, ngay từ đầu thế kỉ XX, Phan Châu Trinh và một số đồng chí của ông (Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng …) đã nhận ra và phê phán không thương tiếc những khuyết tật của nền giáo dục Nho học và chủ trương cải cách giáo dục, nâng cao dân trí để mở đường cho công cuộc hiện đại hóa dân tộc.   Mặt khác, kinh nghiệm ở các nước tiên tiến cho thấy rằng, để trở nên hiện đại, nền giáo dục cần có một không gian tự do nhất định để chuyên tâm vào công việc trồng người mà không bị can thiệp bởi bất cứ một thế lực nào. Hệ thống giáo dục phải trở nên độc lập với nhà thờ và nhà nước. Trong điều kiện ấy, nhà trường bắt tay vào thực hiện một triết lí giáo dục đậm đà tinh thần nhân văn và khai phóng: hướng đến việc đào tạo những thế hệ người đi học có đầy đủ tư cách công dân, gồm các đặc trưng cơ bản: tính độc lập trong tư duy, tính đối thoại, tính khoan dung, tính chịu trách nhiệm và tính vị cộng đồng. Bằng cách này, hệ thống giáo dục góp phần quan trọng để nâng cao mặt bằng dân trí, khai sáng cộng đồng, đảm bảo nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cho xã hội. Đây là nền tảng đầu tiên để xuất hiện người tài, cũng như một đội ngũ trí thức hiện đại trong tương lai.    (2) Tạo lập không gian sinh hoạt cho tầng lớp trí thức: Ở đây, chúng tôi muốn sử dụng khái niệm “không gian” theo một nghĩa rộng. Nó không đơn thuần là các trường học, thư viện, viện nghiên cứu … vốn trực tiếp gắn liền với công việc thường ngày của giới trí thức. Chúng tôi muốn nói đến một không gian lớn hơn, bao trùm hơn: xã hội dân sự. Tồn tại song hành và độc lập tương đối với chính trị và kinh tế thị trường như một “lực lượng thứ ba” (third sector), xã hội dân sự góp phần hoàn thiện cấu trúc của các xã hội hiện đại, dân chủ. Xã hội dân sự, nơi những người công dân biết tổ chức các đoàn thể, hiệp hội để bày tỏ nhận thức, trách nhiệm và thực hiện quyền tham gia của họ vào giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của cộng đồng, chính là môi trường khả hữu nhất để giới trí thức thực hiện các diễn đàn trao đổi học thuật hay ngoài học thuật và thực hiện sự nối kết giữa họ với xã hội rộng lớn. Quan trọng hơn, từ môi trường ấy, sẽ hình thành nên một nền văn hóa công luận (public culture), mà người chủ trì không ai khác chính là giới trí thức.   Theo Habermas, hiện đại hóa gắn liền với văn hóa công luận, mà đặc tính của văn hóa công luận là tự do tư tưởng và thực hiện phê phán xã hội, phản biện xã hội [7]. Phê phán xã hội hoàn toàn không phải là chống đối xã hội. Trái lại, phê phán xã hội thực chất là một hình thức đối thoại bình đẳng, dân chủ giữa xã hội với nhà nước trong đó tầng lớp trí thức giữ vai trò đại diện cho cộng đồng, nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện của bộ máy nhà nước và các thiết chế quản lí. Baran góp thêm một góc nhìn cho phương diện này: Người trí thức tự bản chất là kẻ phê phán xã hội, người mà ưu tư là nhận diện, phân tích sự vật, và bằng cách đó, góp phần vượt qua mọi trở ngại ngăn cản sự vươn tới một trật tự xã hội tốt đẹp, nhân đạo và hợp lý hơn. Do đó, anh ta trở thành lương tri của xã hội và là phát ngôn nhân của những lực lượng tiến bộ mà trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào xã hội cũng có… [Vì vậy], nêu rõ chức năng của người trí thức và nhấn mạnh trên tính cách dấn thân của họ là điều cực kỳ quan trọng và cấp thiết. Bởi vì chính trong loại điều kiện như thế mà người trí thức phải nhận lãnh số phận, cả như đặc quyền lẫn đặc nhiệm, là bảo toàn truyền thống nhân bản, lý trí và sự tiến bộ – gia sản quý báu nhất của nhân loại qua suốt toàn bộ quá trình lịch sử [8].   Theo Bùi Văn Nam Sơn, trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của phê phán xã hội càng trở nên quan trọng. Đối với các nước đang trong quá trình hiện đại hóa, thì phê phán hay phản biện xã hội đồng nghĩa với việc phê phán những khuyết tật của hiện đại hóa: Trong tinh thần ấy, hiện đại – phản tư một mặt chống lại việc tiếp tục tiến trình hiện đại hoá một cách mù quáng… Mặt khác, nó cũng phải tranh biện với các xu hướng hậu – hiện đại muốn vứt bỏ hết mọi giá trị của hiện đại. Hiện đại – phản tư không còn chạy theo sơ đồ ứng xử và tư duy đơn thuần mang tính phương tiện – mục đích của hiện đại thứ nhất, trái lại, bất chấp mọi sự đứt gãy, vẫn giữ vững và phát huy hằng số của các nguyên tắc hiện đại; đó là: sự bó buộc phải biện minh và lập luận, sự cạnh tranh của các lý lẽ và tôn trọng lý lẽ tốt hơn vì không ai nắm độc quyền chân lý, và, thứ ba, thừa nhận vị trí trung tâm của cá nhân với đầy đủ những quyền tự do chính trị, xã hội, văn hoá [9].  Ngoài ra, nền văn hóa công luận cũng là mảnh đất ươm mầm cho sự đa dạng về văn hóa – tư tưởng thông qua hoạt động tương tác, trao đổi giữa các nhóm xã hội. Điều này đảm bảo sức năng sản, sức sáng tạo của đời sống xã hội, giúp giảm thiểu và cân đối các rủi ro, hạn chế của bộ máy nhà nước. Trong ý nghĩa này, nền tảng văn hóa của cộng đồng, nói như Alexis de Tocqueville, thực sự là nguồn dưỡng sinh của thể chế chính trị.    Như vậy, chỉ trong điều kiện tồn tại môi trường xã hội dân sự và nền văn hóa công luận, tầng lớp trí thức mới có thể thực hiện một trong những chức năng cơ bản nhất của nó: phê phán/phản biện xã hội.  (3) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, định chế xã hội đảm bảo cho hoạt động phản biện của giới trí thức: Ngoài cơ chế đảm bảo đời sống vật chất (chính sách đãi ngộ nhân tài), cơ chế tuyển chọn người tài, nhà nước cần ban hành các định chế xã hội hoặc thể chế hóa một số thông tư – qui định – nghị định nhằm tạo điều kiện cho giới trí thức thực hiện các hoạt động đặc trưng của họ, mà điển hình nhất là hoạt động phản biện xã hội. Bằng cách này, nhà nước không những khai thác được nguồn chất xám của đội ngũ trí thức, nâng cao tính hiệu quả cho hệ thống chính sách của mình, mà còn tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền với nhân dân. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, các quyền cơ bản cần sớm được thể chế hóa là: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tiếp cận thông tin và quyền tự do lập hội. Việc hợp pháp hóa các quyền vừa nêu sẽ tạo nên một cú hích quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của giới trí thức nói riêng và xã hội dân sự nói chung.   Cần nhấn mạnh rằng, không có tự do ngôn luận và không có quyền lập hội thì mọi chủ trương xây dựng đội ngũ trí thức của chính quyền sẽ trở nên kém khả thi. Bàn về mối quan hệ giữa tự do và quá trình khai sáng cộng đồng, Kant viết: Khai sáng cho cả một cộng đồng, tất cả không cần gì khác ngoài tự do. Quyền tự do ngôn luận đó chính là dạng thức tự do nguyên sinh nhất để công khai trước cộng đồng lý trí của một cá nhân về mọi lĩnh vực [10].  Dĩ nhiên, trong trường hợp này, cần hiểu khái niệm tự do theo một ý nghĩa phù hợp với bối cảnh chính trị – văn hóa Việt Nam. Đó không phải là một thứ tự do chung chung, mơ hồ, trừu tượng hay tự do vô chính phủ; trái lại, nó là một thứ do vừa cụ thể vừa phổ quát, vừa thiết thực vừa nhân bản, đã được Hồ Chí Minh khẳng định là quyền bất khả xâm phạm của con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945 cũng như trong Hiến pháp lập quốc 1946.    (4) Ba gợi mở nói trên chủ yếu xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước đối với vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, trong “cuộc chơi” này, Nhà nước không phải là người độc hành. Bản thân đội ngũ trí thức và cộng đồng cũng cần chia sẻ, gánh vác một phần trách nhiệm đối với Nhà nước.  Đối với giới trí thức, có một thực tế cần phải thừa nhận ngay từ đầu là: ngày nay, người trí thức Việt Nam đứng trước rất nhiều thử thách: (i) nguy cơ tụt hậu so với các trào lưu học thuật – tư tưởng của nhân loại; (ii) nguy cơ vong bản vì sự mai một, băng hoại của nền tảng văn hóa dân tộc; (iii) nguy cơ tha hóa trước những cám dỗ phức tạp của đời sống thường nhật (quyền lực, kinh tế …); (iv) đảm đương sứ mệnh khai sáng cộng đồng trong điều kiện nền dân trí chưa cao và xã hội ngày một phân tầng sâu sắc; (v) thích ứng với những tác động ngược của một khung thể chế còn nhiều khiếm khuyết… Trong bối cảnh đó, người trí thức Việt Nam không còn con đường nào khác ngoài việc kết hợp giữa tiếp thu di sản văn hóa dân tộc và cập nhật, hệ thống hóa nguồn tri thức mới của nhân loại; đồng thời phát triển tư cách công dân để có một thái độ tham gia tích cực cho sự phát triển của xã hội. Sinh thời, GS. Hoàng Ngọc Hiến vẫn băn khoăn về một mẫu hình trí thức Việt Nam trong thời đại toàn cầu. Đó là người bắt buộc nắm vững ngoại ngữ và công nghệ để làm cầu nối giữa dân tộc và nhân loại. Phải chăng, đấy là một gợi ý về mô hình phát triển cho người trí thức Việt Nam hiện nay?    Về phía cộng đồng, trách nhiệm hàng đầu được đặt ra là: không ngừng khao khát hướng về quá trình khai sáng cộng đồng, nâng cao mặt bằng dân trí bằng cách tận dụng tối đa các công nghệ hiện đại để tích lũy và mở mang kiến thức; kế thừa – phát triển các giá trị nhân bản trong đạo lý truyền thống của dân tộc: ý thức cộng đồng, lòng vị tha. Trong bối cảnh mới, tinh thần cộng đồng của người tiểu nông truyền thống cần được chuyển hóa thành trách nhiệm xã hội của người công dân hiện đại bằng cách nhập thân tích cực vào môi trường xã hội bên ngoài thông qua các đoàn thể thuộc xã hội dân sự…  Nhân tài, trí thức là câu chuyện muôn thuở của mọi thể chế, quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, chưa bao giờ những vấn đề đặt ra từ công tác xây dựng – sử dụng – phát triển đội ngũ nhân tài nói riêng và tầng lớp trí thức nói chung lại trở nên thời sự, cấp bách và đòi hỏi được giải quyết một cách nghiêm túc, rốt ráo, triệt để như giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh đó, hi vọng cuộc thảo luận rộng rãi trở lại chủ đề này sẽ tạo thêm một động lực, một cú hích mới nhằm khích lệ tinh thần xây dựng và khát vọng đổi mới của tất cả các lực lượng xã hội, ngõ hầu đi đến những giải pháp khả dĩ cho một vấn đề liên quan đến sự tồn – sinh, hưng – vong của quốc gia – dân tộc tại một thời điểm mang tính bản lề của lịch sử.  —  [1] http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/977-gioi-tri-thuc-tinh-hoa-trong-lich-su-viet-nam.html  [2] http://primeproxy23.info/browse.php?u=Oi8vd3d3LnRhbGF3YXMub3JnLz9wPTIxMjY1&b=5  [3] Trong phần này, chúng tôi sử dụng nhiều tư liệu của PGS. Trần Đình Hượu và PGS.TS Trần Ngọc Vương – hai học giả chuyên nghiên cứu về Nho giáo và văn hóa Việt Nam cổ điển  [4] http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/977-gioi-tri-thuc-tinh-hoa-trong-lich-su-viet-nam.html   [5] http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/977-gioi-tri-thuc-tinh-hoa-trong-lich-su-viet-nam.html   [6] http://primeproxy23.info/browse.php?u=Oi8vd3d3LnRhbGF3YXMub3JnLz9wPTIxMjY1&b=5  [7] http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/HienDaiThuHaiVaNenVanHoaCongLuan-BVNS.htm  [8] Paul Alexandre Baran, tlđd  [9] http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/HienDaiThuHaiVaNenVanHoaCongLuan-BVNS.htm  [10] Bùi Quang Minh (2011), Chia sẻ về sứ mệnh xây dựng chungta.com, http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Chia_se_ve_su_menh_xay_dung_chungta/?cPage=2#comments)                                                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 3: Trung Đông – trường hợp đặc biệt      Trung Đông đưa ra một thách thức cụ thể cho quyền lực mềm của Mỹ và thuật ngoại giao công chúng. Nơi đây không chỉ là quê nhà của những chiến binh khủng bố đã tấn công Mỹ vào 11/09/2001, mà còn là khu vực chưa được thích nghi với công cuộc hiện đại hóa.     Một nửa các quốc gia trên thế giới là các nền dân chủ nhưng không một quốc gia nào trong khối Ả Rập là quốc gia dân chủ. Tăng trưởng kinh tế chậm, khoảng một nửa phụ nữ không biết chữ, và khu vực này không hòa nhập tốt với kinh tế thế giới. Vào năm 2003, Ngân hàng Thế giới báo cáo rằng tăng trưởng thu nhập hàng năm của khu vực chỉ bình quân 0.5% từ 1985 đến 2000, trong khi đó chi tiêu cho quân sự là cao nhất trên thế giới với 6% GDP.(51) Với dân số trên 300 triệu, các nước Ả Rập xuất khẩu cho thế giới, ngoại trừ dầu và hơi đốt, ít hơn Phần Lan.(52) Con số các khoa học gia làm việc tại các nước Ả Rập chỉ bằng 1/3 so với con số bình quân của thế giới.(53) Có một con số bùng nổ về “dân số trẻ tuổi” trong các bảng biểu kê khai dân số, tuy nhiên khu vực này đã có những cơ hội không tương xứng cho giới trẻ trong việc tìm kiếm những việc làm có ý nghĩa. 45% dân số thế giới Ả Rập ở dưới độ tuổi 14 và tổng dân số sẽ gia tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới. Tỷ lệ thất nghiệp chao đảo ở mức 20%.(54) Cùng lúc đó, Trung Đông tràn ngập những thông tin mà đa phần là thông tin có khuynh hướng chống Mỹ. Như chúng ta đã thấy tại các con số nơi chương 2, khu vực này đang cho thấy những thách thức đặc biệt đối với ngoại giao công chúng.   Trong suốt cuộc Chiến tranh lạnh, cách tiếp cận của Hoa Kỳ đối với khu vực này là duy trì sự ổn định vốn ngăn chận sự bành trướng của Nga, bảo đảm cung cấp dầu cho kinh tế thế giới và giữ gìn an ninh cho Israel, một trong những nền dân chủ hiếm hoi. Chiến lược của Mỹ là quản trị thông qua các nhà lãnh đạo độc đoán, và “đừng lắc con tàu.” Trong suốt thời gian Reagan nắm quyền, nước Mỹ thậm chí đã từng ủng hộ Saddam như một thế đối trọng với chính phủ Hồi giáo đã lật đổ đồng minh của mình, đó là quốc vương Iran. Theo Edward Walker, Giám đốc Học viện Trung Đông, người đã từng là đại sứ cho một số nước trong khu vực, “Khi chúng ta bàn về nhân quyền, phát triển kinh tế, dân chủ và pháp trị, các chính sách và những phân bổ sức lực của chúng ta không phản ánh những lời lẽ tốt đẹp của chúng ta. Chúng ta đã không yêu cầu các chính phủ trong khu vực thay đổi và cũng không đưa ra những sáng kiến để giúp thúc đẩy thay đổi.”(55)   Sau ngày 11/9, chính phủ Bush đã triển khai một cách tiếp cận mới và đầy tham vọng. Dựa vào bức tranh tương tự của cuộc Chiến tranh lạnh và vai trò của Mỹ trong việc tái thiết Châu Âu, chính phủ Bush quyết định Mỹ phải cam kết một sự thay đổi lâu dài ở Trung Đông. Thay thế chính phủ Saddam chỉ là bước đầu tiên. Cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice đã cho rằng, “có nhiều điểm tương đồng với nước Đức dân chủ ngày nay, một quốc gia trung tâm của châu Âu mới, thống nhất tự do và hòa bình, một nước Iraq được thay đổi sẽ có thể trở thành một nhạc trưởng trong một Trung Đông khác biệt, nơi đó sẽ không có chổ đứng cho các ý thực hệ thù địch”.(56) Tuy nhiên việc thực thi sức mạnh cứng để lật đổ Saddam qua một chiến dịch bốn tuần chỉ là phần dễ dàng nhất. Đức và Nhật là những câu chuyện thành công của thời hậu chiến, nhưng cả hai đều là những xã hội đồng nhất có các giai tầng trung lưu đáng kể và không hề có những sự chống đối có tổ chức với sự chiếm đóng của Mỹ. Hơn nữa, việc Iraq giàu dầu mỏ là một sự may mắn nhưng rối rắm, bởi ít có quốc gia nào mà nền kinh tế dựa trên dầu mỏ lại có cảm tình với nền dân chủ phóng khoáng. Và như chúng ta đã thấy trong chương 2, sự nghiệp dân chủ hóa sau thế chiến thứ hai đã cần nhiều năm và đã được hỗ trợ bởi sức mạnh mềm của Mỹ. Chiến lược dài hạn để thay đổi Trung Đông và Iraq sẽ bất thành nếu không có vai trò tương tự của Mỹ và sức mạnh mềm của các quốc gia khác.  Việc có nhiều tương đồng với Chiến tranh lạnh khiến cần thiết phải có một chiến lược dài hạn, tuy vậy cũng có lúc bị chệch hướng. Sức mạnh mềm tùy thuộc vào người thụ nhận biết hợp tác, ngoài ra những khác biệt về văn hóa giữa Mỹ và Châu Âu không lớn bằng những dị biệt của Mỹ và Trung Đông. Do vậy Châu Âu dễ ngả theo chiều của sức mạnh mềm của Mỹ. Ngược lại, các khác biệt về văn hóa không cản nổi tư tưởng dân chủ bắt rễ tại Nhật Bản hay Hàn Quốc, dù Hàn Quốc trễ hơn Nhật đến 4 thập kỷ. Tư tưởng dân chủ cũng có thể phát huy tác dụng tại những nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ và Bangladesh. Các rào chắn về văn hóa không phải là không vượt qua được.  Dân chủ không thể được áp đặt bằng sức mạnh. Chìa khóa thành công sẽ nằm ở các chính sách khai mở cho các nền kinh tế trong khu vực, giảm thiểu các kiểm soát quan liêu, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện hệ thống giáo dục, và khuyến khích các hình thức cải cách hành chính dần dần như đang diễn ra tại các nước nhỏ như Bahrain, Oman, Kuwait và Morocco. Sự phát triển của giới trí thức, các nhóm xã hội, và cuối cùng là các quốc gia cho thấy một thực tế là dân chủ cấp tiến có thể song hành với các nền văn hóa bản địa. Sự phát triển ấy có thể tác động hữu hiệu tương tự như Nhật và Hàn Quốc đã chứng minh rằng dân chủ có thể kết hợp với các giá trị địa phương tại châu Á. Tuy nhiên quá trình này cần thời gian, cũng như cần sự áp dụng khéo léo sức mạnh mềm của Mỹ.   Ngay sau ngày 11/09, nhiều người Mỹ đã chết điếng với câu hỏi “Tại sao họ thù hận chúng ta?” Câu trả lời là nhiều người Ả Rập sợ, hiểu lầm và phản kháng lại các chính sách của Hoa Kỳ, tuy vậy họ lại ngưỡng mộ một vài phương diện của văn hóa Hoa Kỳ. Hơn nữa, họ cũng chia sẻ nhiều giá trị khác như gia đình, niềm tin tôn giáo và khát vọng dân chủ. Nền tảng của sức mạnh mềm hiện hữu ở đó, nhưng quốc gia dẫn đầu thế giới về truyền thông đã cho thấy họ đã lúng túng một cách không ngờ trong việc khai thác các cơ hội này như thế nào. Lấy một ví dụ, đã có một nỗ lực to lớn nhằm quảng bá thông qua những sản phẩm truyền hình về việc người Mỹ Hồi giáo đã được đối xử tốt như thế nào trên nước Mỹ, tuy vậy nỗ lực này đã tỏ ra có rất ít tác dụng. Theo các nhà bình luận, ý tưởng này đã không được chuẩn bị chu đáo bởi các khảo sát và các nhóm mục tiêu, và nhiều người trong khu vực đã chỉ thấy những khiếm khuyết của chính sách Mỹ thay vì những điều kiện sống trong nước của Mỹ. Kết quả đáng tranh cãi này đã thành “một cú ngoại giao công chúng nhấn mạnh Danh quan trọng hơn Thực, Tiếng quan trọng hơn Miếng.” (57) Như Daniel Pletka thuộc Viện Nghiên cứu doanh nghiệp Hoa Kỳ nhận xét, “Họ nhận thấy chúng ta là những người dựng lên các chính thể xấu xa đó. Không có liều lượng Britneys Spears nào có thể chống lại những bài giảng chống Phương Tây mà giới trẻ của các xã hội khép kín ấy đang cùng sống và trưởng thành.”(58)   Vào năm 2003, một nhóm tư vấn lưỡng đảng về ngoại giao công chúng cho thế giới Hồi giáo và Ả Rập đã phát hiện Mỹ đã chi chỉ có 150 triệu đô la cho ngoại giao công chúng tại các nước có người Hồi giáo chiếm đa số, bao gồm cả 25 triệu đô la cho các chương trình đi kèm. Họ đã tóm tắt: “Nếu nói rằng các nguồn tài chính là chưa đủ cho công tác thì đó là nói mỉa mai”.(59)  Tiếp theo việc bổ nhiệm một giám đốc thuộc biên chế Tòa Bạch Ốc chuyên lo về ngoại giao công chúng, các giới chức đã đề xuất xây dựng các thư viện và các trung tâm thông tin, dịch thêm nhiều hơn nữa các sách Phương Tây ra tiếng Ả Rập, gia tăng các chương trình học bổng và các chương trình trao đổi học giả thỉnh giảng, nâng cao sự hiện diện Internet Mỹ và huấn luyện thêm nhiều người nói tiếng Ả Rập và chuyên gia quan hệ công chúng. Cũng giống như các dạng thức ngoại giao công chúng khác, công tác ngoại giao công chúng tại khu vực này cũng sẽ có ba góc độ. Hoa Kỳ sẽ phải linh hoạt hơn nữa ở góc độ thứ nhất, ứng phó và diễn giải nhanh chóng đối với các sự kiện xảy ra hàng ngày. Những đơn vị phát sóng mới thành lập như Radio Sawa chuyên phát thanh tiếng Ả Rập và xen kẽ giữa thông tin với các chương trình nhạc đồng quê là một bước đi đúng hướng, tuy vậy người Mỹ cũng phải làm việc hiệu quả hơn với các đài phát sóng địa phương như Al Jazeera và Al Arabiya. Góc độ thứ hai, phát triển một vài chủ đề chiến lược, sẽ cần phải bao gồm việc giải thích cặn kẽ hơn về chính sách của Mỹ cùng với việc giới thiệu Mỹ với tư cách một đất nước dân chủ. Ví dụ lời cáo buộc rằng chính sách của Mỹ là phó mặc đối với việc giết hại người Hồi giáo cần phải được bàn thẳng thắn và dẫn chứng việc can thiệp của Mỹ đã cứu nhiều sinh mạng Hồi giáo tại Bosnia và Kosovo, cũng như việc trợ giúp các quốc gia Hồi giáo trong vấn đề phát triển kinh tế và chống AIDS. Theo Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách Cận Đông Vụ William Burns, những thay đổi về mặt dân sự cần phải được cài đặt trong “một chương trình nghị sự tích cực và rộng lớn hơn cho khu vực này, song song với tái thiết Iraq,thực hiện thành công tầm nhìn của Tổng thống trong vấn đề hai nhà nước Israel và Palestine cũng như hiện đại hóa các nền kinh tế Ả Rập.”(60)  Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là phát triển một chiến lược lâu dài nhằm hướng đến các trao đổi văn hóa và giáo dục để phát triển một xã hội dân sự mở rộng hơn, giàu có hơn trong cộng đồng các quốc gia Trung Đông. Những phát ngôn nhân hiệu quả nhất cho Hoa Kỳ không phải là người Mỹ mà là những người bản địa hiểu các thuộc tính tốt và cả những thói xấu của người Mỹ. Một ví dụ cụ thể và thú vị cho việc này là việc một đài phát hình tư nhân do những ngoại kiều Iran cai quản, họ đã phát các thông tin giữa Los Angeles và Tehran cổ vũ cho việc cải cách tại đất nước họ.(61)  Phần nhiều các công việc nhằm phát triển một xã hội dân sự có thể tiến hành bởi các công ty, các hội đoàn, các trường đại học và các tổ chức phi chính phủ khác cũng như bản thân các nhà chức trách. Các công ty và các hội đoàn có thể cung cấp kỹ thuật để hiện đại hóa hệ thống giáo dục Ả Rập và đưa họ ra khỏi kiểu cách học vẹt. Các đại học Mỹ có thể thiết lập thêm các chương trình trao đổi cho các sinh viên và các phân khoa. Các hội đoàn có thể giúp đỡ phát triển các ngành Hoa Kỳ học tại các nước Ả Rập, hoặc có thể phát triển các chương trình chuyên môn cho báo giới. Chính phủ có thể hỗ trợ việc giảng dạy thêm về tiếng Anh và cung cấp tài chính cho việc trao đổi học sinh. Tóm lại, có rất nhiều sợi dây đan kết để hướng đến một chiến lược hiệu quả và dài hạn nhằm sáng tạo tài nguyên sức mạnh mềm và phát huy điều kiện cho xã hội dân sự. Tuy nhiên như tôi đã trao đổi trước đây, các công tác sẽ hữu hiệu chỉ khi các cách thức và nguyên vật liệu nằm trong chính sách của Hoa Kỳ đồng bộ với các thông điệp dân chủ rộng khắp hơn.                                                  Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông) dịch  —  (51) Roula Khalaf va Gareth Smyth, “Thế giới Ả Rập lạc hậu vì quản lý kém” Financial Times, ngay9/09/2003  (52) “Tiếng nói cải cách cho thế giới Ả Rập”, Washington Post, ngày 07/11/2003, trg A 30  (53) UNDP, “Báo cáo phát triển con người Ả Rập 2002” xem tại http://www.undp.org/rbas/ahdr/english.html  (54) William J Burns, “Thay đổi dân chủ và chính sách Mỹ tại Trung Đông”, bài nói tại trung tâm nghiên cứu Hồi giáo và dân chủ, Washington D.C., 16/05/2003.  (55) Đại sứ Edward Walker, “Chính sách cho các thập kỷ kế tiếp: Trung Đông”, bài viết cho Nhóm chiến lược Aspen, tháng 8/2003  (56) Condoleezza Rice, “Chuyển tiếp không đơn giản tại Trung Đông”, Washington Post, 16/08/2003, trg 20; xem thêm nhận xét của TT Bush vào ngày kỷ niệm sinh nhật 20 năm của National Endowment for Democracy, xem tại http://www.whitehouse.gov/releases/2003/ii/2003ii06-2.html  (57)  Robert Satloff, ”Tái can dự vào thế giới”, Baltimore Sun, 09/03/2002  (58) Danielle Pletka, trích dẫn Amy Cortese. “Mỹ vươn tay ra các độc giả trẻ, tiếng Ả Rập” New York Times, 17/02/2003, trg C7  (59)  Steven Weisman, “Mỹ cần tác động lại hình ảnh của chính mình trong thế giới Hồi giáo, Panel”, New York Times, 01/10/2010, trg i  (60) William J Burns, “Thay đổi dân chủ và chính sách Mỹ tại Trung Đông”, xem thêm Trung Tâm nghiên cứu Tổng thống chế, Củng cố các giao tiếp Mỹ-Hồi (Washington D.C. 2003. Trung Tâm nghiên cứu Tổng thống chế, 2003)  (61) James Stergold, “Cựu hoàng tử Iran tuyển mộ người lưu vong thúc đẩy thay đổi tại Iran”, New York Times, 03/12/2001, trg A12         Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần 4: Tương lai của ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ      Người Mỹ đã tái khám phá nhu cầu về ngoại giao công chúng sau ngày 11/09, nhưng chúng ta vẫn chưa tự thích ứng với việc vận dụng sức mạnh mềm trong thời đại thông tin toàn cầu.     Một số người hiện nay cho rằng việc giải tán USIA là một sai lầm, tuy vậy họ vẫn chưa thống nhất được với nhau có nên tái lập tổ chức này vì bất đồng trong việc tái tổ chức các cơ quan chức năng của nó, vốn nằm rải rác trong Bộ Ngoại giao.(62)  Ban phát sóng thuộc hành pháp (Broadcasting Board of Governors) trông coi VOA cùng với một số các trạm phát sóng đặc thù tập trung vào các quốc gia riêng biệt. Một số bước đắc dụng đã được tiến hành, ví dụ như việc thiết lập Radio Sawa và Radio Farda, chuyên trách Iran. Văn phòng Thông Tin Toàn Cầu (Office of Global Communication) đã được thiết lập tại Tòa Bạch Ốc. Tuy nhiên công việc cần làm vẫn còn nhiều.  Có lẽ ấn tượng nhất là mối quan tâm có ưu tiên thấp và sự thiếu vắng những nguồn lực toàn tâm toàn ý phục vụ cho sức mạnh mềm. Chi phí tổng hợp của các chương trình ngoại giao công chúng của Bộ Ngoại giao và của các nhà đài quốc tế thuộc Mỹ chỉ nhỉnh hơn 1 tỷ đô la một tí, khoảng 4% trong tổng số ngân sách quốc tế vận của nước Mỹ, chỉ bằng 3% ngân sách dành cho các hoạt động truy tìm thông tin, và chỉ bằng 0,29% so với ngân sách dành cho quốc phòng. Nếu chúng ta chi 1% ngân sách quốc phòng cho hoạt động ngoại giao công chúng- hay như Newton Minow, cựu chủ tịch FCC đã đánh giá, “mỗi một đô la để thúc đẩy ý tưởng trong số 100 đô la chúng ta đầu tư cho chế tạo bom”- thì chúng ta đã chi gần 4 lần ngân sách hiện hữu.(63)  Nước Mỹ vẫn đang đầu tư kém xa các quốc gia chủ yếu khác về mặt sức mạnh mềm như bảng 4.1 theo sau đây  Bảng 4.1 Các mức đầu tư so sánh giữa sức mạnh mềm và sức mạnh cứng        Quốc gia  Ngoại giao               công chúng    Quốc Phòng  Năm      Hoa Kỳ  $1,12 tỷ    $347,9 tỷ    2002      Pháp  $1,05 tỷ    $33,6 tỷ  2001      Anh   $1,00 tỷ    $347,9 tỷ  2002      Đức  $218 triệu  $27,5 tỷ  2001      Nhật  $210 triệu  $40,3 tỷ  2001                                     Cũng quan trọng không kém là việc thiết lập một kết nối mạch lạc hơn về chính sách trong các phương diện ngoại giao công chúng và kết nối chúng với các đề tài khác. Ví dụ, dù đang xuống dốc trong thị phần các sinh viên quốc tế đến Mỹ du học, “chính phủ Mỹ có vẻ như thiếu nhạy bén chiến lược tổng thể về việc tại sao các trao đổi giáo dục lại quan trọng như vậy… Một khi đã thiếu vắng tinh thần chiến lược này, thật khó mà đối phó với các trở lực hàng ngày mà sinh viên các nước gặp phải khi đến Mỹ du học.” (64) Có rất ít phối hợp giữa chính sách trao đổi giáo dục đào tạo và chính sách cấp visa. Sau ngày 11/09, người Mỹ trở nên lo ngại hơn. Như một người quan sát phát biểu, “Khi các hoạt động cảnh giác rộng khắp hiển nhiên là cần thiết, mẻ lưới rộng lớn này đã bắt mọi người, không chừa một ai kể cả họ không nguy hiểm gì cả.” (65) Việc làm nản lòng quá đáng đó đối với những người nước ngoài muốn đến Hoa Kỳ để có thể đóng góp quý giá cho hiểu biết quốc tế, sẽ phá hỏng các nỗ lực của sức mạnh mềm Hoa Kỳ.  Ngoại giao công chúng cần chính phủ Mỹ hỗ trợ nhiều hơn nữa. Một nhóm công tác chuyên biệt về ngoại giao công chúng thuộc Hội đồng Đối ngoại đã thúc đẩy thành lập một Cơ cấu Điều phối về Đối ngoại công chúng thuộc Tòa Bạch Ốc và được lãnh đạo bởi một nhân vật do Tổng thống chỉ định. Ngoài ra, các cơ quan mới này sẽ phải đảm nhận việc vận động khu vực tư nhân cùng tham gia. Có thể công việc này sẽ hoàn tất thông qua việc thiết lập một Tổng cục Ngoại giao Công chúng để trông coi các nỗ lực thuộc thành phần tư nhân.(66)  Một chiến lược thành công cần tập trung không chỉ vào phát sóng các thông điệp của Mỹ mà còn phải nhận được các thông tin hai chiều liên quan nhiều hơn đến các giới ngoài chính phủ trong xã hội.  Tuy nhiên, quan trọng hơn hết, người Mỹ cần phải biết đến các khác biệt về văn hóa nhiều hơn nữa. Để hiệu quả hơn, chúng ta cần giảm các cách nhìn thiển cận và cần nhạy cảm hơn với các nhận xét của cộng đồng các nước ngoài. Những bình luận của Tổng thống Bush tại cuộc họp báo vào 11/10/2001 đã chỉ ra bản chất vấn đề chúng ta đang mắc phải: ”Tôi ngỡ ngàng vì đã có một sự hiểu lầm về việc đất nước chúng ta đã làm sao để mà bị oán hận như vậy… Giống như bao người Mỹ khác, tôi không thể nào hiểu nổi. Bởi tôi luôn tin là chúng ta lương thiện, và hiện nay chúng ta phải làm việc nhiều hơn để giải quyết trường hợp này.” Mà bước đầu tiên để giải quyết trường hợp này là sự thấu hiểu sâu rộng hơn cách nhìn nhận của người ngoài đối với các chính sách của chúng ta và các lăng kính văn hóa đã ảnh hưởng đến việc họ nhận các thông điệp của chúng ta.  Truyền thông Hoa Kỳ bao phủ những khu vực khác của thế giới đã giảm xuống đáng kể từ sau Chiến tranh lạnh. Việc giảng dạy các thứ tiếng nước ngoài cũng dậm chân tại chỗ. Khi chúng ta bất bình với chính sách của Pháp trước sự kiện Iraq, các Nghị sĩ của chúng ta đã đổi tên món “French fries” thành món “freedom fries.” Có ít học giả tham gia các khóa đàm luận thỉnh giảng Fulbright. Một nhà sử học đã phát biểu: “Những nhà sử học Hoa Kỳ như chúng ta, lệch quá xa so với thời kỳ trước đây-khi mà chúng ta hăng hái tìm kiếm vươn ra ngoài thế giới thế giới, vươn ra ngoài nền học thuật và đất nước Hoa Kỳ-khi mà chúng ta có thể giao tiếp với công chúng thế giới về các vấn đề quốc nội và quốc tế; những vấn đề ấy đang ảnh hưởng thiết thân đến chúng ta.” (67) Để hoạt động hiệu quả hơn nữa trong công việc ngoại giao công chúng trong thời đại thông tin toàn cầu, chúng ta cần thay đổi thái độ kể cả trong nước và ngoài nước. Nói một cách thẳng thắn, để truyền đạt có hiệu năng hơn, người Mỹ phải biết lắng nghe. Vận dụng sức mạnh mềm cần ít đơn phương đơn lẻ hơn thực thi sức mạnh cứng, và chúng ta vẫn phải học mãi bài học này.                                                      Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) dịch  —  (62) Stephen Johnson and Helle Dale,”Cách thức tái khởi động ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ”   (63) Newton Minow, “Lời thì thầm Hoa Kỳ”, Báo cáo quốc hội 147, số 43 (17/04/2002)  (64) NAFSA: Hiệp hội các nhà giáo dục quốc tế, Quan tâm của Hoa Kỳ: thu hút du học sinh nước ngoài, báo cáo báo cáo của Ban công tác chiến lược về tiếp cận quốc tế, có thể xem tại:   http://nafsa.org/content/publicpolic/stf/inamericainterestwelcomingInternationalstudents.pdf, trg 8   (65) Victor Johnson, Hiệp hội các nhà giáo dục quốc tế, dẫn trong bài của Diana Jean Schemo, “Hệ thống tìm kiếm điện tử quản trị du học sinh nước ngoài”, New York Times, 17/02/2003, trg Aii  (66) Hội đồng Đối ngoại, “Chính sách ngoại giao công chúng:Chiến lược cải cách”, báo cáo của Ban nghiên cứu độc lập về ngoại giao công chúng, do Hội đồng Đối ngoại tài trợ (New York: Hội đồng Đối ngoại, tháng 09/2002) có thể xem tại http://cfr.org/pubs/tas-force_final2-19.pdf.  (67) Richard Pells, “Các nhà sử học Hoa Kỳ phải nỗ lực bước ra khỏi đất nước”, Tạp chí Cao Học, 20/06/2003, trg B9  Bảng 4.1 các số liệu chi tiêu cho ngoại giao công chúng từ các báo cáo của BNG Hoa Kỳ: “Vắn tắt ngân sách năm tài chính 2004” và “Quốc tế vụ- Đề nghị ngân sách năm tài chính 2004 (Function 150)” (http://www.state.gov/m/rm/).   Pháp và Nhật: Magaret Wyszomirski, Chreistopher Burgess, và Catherine Peila,”Quan hệ văn hóa quốc tế; đối chiếu đa quốc gia” (http://www.culturalpolicy.org/issuepages/arts&minds.cfm).   Anh Quốc: Wyszomirski (trích dẫn) và BBC World Service Báo cáo và các số liệu tài chính thường niên 2002-2003.” Đức: Viện Goeth, “Về chúng tôi” (http://goeth-institut.de/uun/enindex.htm). Các số liệu chi tiêu quốc phòng từ Viện quốc tế Nghiên cứu Chiến lược, Cân bằng quân sự 202-2003 (London:Ban Tu thư Đại học Oxford, 2002) trg 243-244, 252-255, 299.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện để phát triển      Một trong nhiều đức hạnh của khoa học là nuôi dưỡng tư duy phản biện. Đó có thể là lý do vì sao chúng ta phải truyền dạy khoa học cho con cháu mình.      Tôi luôn ngạc nhiên vì các sinh viên trẻ khi tới phòng thí nghiệm của tôi thường tỏ ra dễ dàng chấp nhận quan điểm của thầy cô giáo. Họ dễ tin vào những gì mà họ được dạy, thay vì tin vào những gì họ thật sự thấu hiểu. Họ không chất vấn những gì thầy chỉ bảo, và thường có xu hướng cho rằng các vấn đề luôn đi kèm sẵn theo giải pháp do các thầy cô giáo có trách nhiệm cung cấp. Như vậy, họ chỉ quen giải quyết những vấn đề đã được người khác giải quyết hàng nghìn lần, và lời giải thì sẵn có đâu đó trong ‘cẩm nang của giáo viên’.      Trong phòng thí nghiệm của tôi, các em sinh viên phải sử dụng nhiều thiết bị cũ kỹ có tuổi đời cao hơn cả tuổi đời của các em, là những thiết bị điện tử của thập kỷ 80 trước đây được viện trợ như quà tặng. Đôi khi những thiết bị này không hoạt động như mong muốn, và lẽ ra đó chính là cơ hội tuyệt vời để khám phá tìm ra những sai sót. Nhưng trong các trường hợp như vậy, các sinh viên trẻ của tôi hoàn toàn bị động mất phương hướng, trong nhận thức của họ chưa hề có tình huống phải xử lý những vấn đề mà bản thân thầy của họ không có câu trả lời.              Thái độ phi khoa học thậm chí tồn tại cả trong nền hành chính của các trường đại học: tôi được đề nghị cung cấp báo cáo chi tiết nội dung nghiên cứu của các nghiên cứu sinh của mình thậm chí từ trước khi họ bắt đầu bắt tay vào làm nghiên cứu. Các nhà quản lý giáo dục và đào tạo dường như không hiểu rằng không thể có được kết luận về một thí nghiệm hay một quan sát từ trước khi thực hiện chúng. Tôi có thể lý giải vì sao tôi đề nghị sinh viên của mình tiến hành nghiên cứu theo một đề tài nào đó, vì sao vấn đề nghiên cứu ấy là quan trọng cần được giải quyết, khả năng giải quyết thành công vấn đề ấy cao tới mức độ nào, và điều gì có thể thu được nếu nghiên cứu thất bại, bối cảnh tri thức và những điều còn chưa biết trong lĩnh vực nghiên cứu này, v.v. Nhưng tôi không thể nào cung cấp từ trước một tiêu đề bất di bất dịch, hay một danh sách chính xác các cấu phần khác nhau cùng nội dung tóm lược của chúng.          Tâm lý thụ động ở các sinh viên trẻ Việt Nam, khiến họ không dám chất vấn lời nói của thầy giáo, dường như xuất phát từ quan niệm rằng chân lý là sản phẩm của một vài nhân tài như Einstein hay Newton mà cứ lâu lâu nhân loại lại sinh ra một người, những bậc siêu phàm được các thần linh lựa chọn để hé lộ chân lý, và tất cả chúng ta chẳng cần làm gì khác ngoài học theo những chân lý này. Những quan niệm kiểu như vậy không những hoàn toàn sai lầm, mà còn gây một ảnh hưởng rất tiêu cực trong sự phát triển trí tuệ của thanh niên. Nó làm nản lòng mọi nỗ lực, khuyến khích tính thụ động và sự cam chịu.     Khi nhận xét thái độ ở những học trò của Pythagoras, những người nhắm mắt tin tưởng tuyệt đối mọi lời dạy của thầy giáo, Cicero1 đã đặt ra cụm từ “Ipse dixit” – có nghĩa là “Người đã nói vậy” – nhằm phê phán niềm tin mù quáng rằng hễ các bậc tiền bối bề trên nói gì cũng đều là sự thực. Ở phương Tây, trong suốt một giai đoạn kéo dài khoảng 17 thế kỷ, người ta coi mọi điều mà Aristotle và các học trò của ông nói là chân lý, đơn giản chỉ vì “Người đã nói vậy”, và tin rằng mọi lời nói của bề trên (“argumentum ad verecundiam”) là cơ sở đầy đủ chứng minh cho sự thật.     Mới chỉ trong ba thế kỷ trở lại đây, cùng với sự phát triển biến đổi căn bản về kinh tế và xã hội, các cộng đồng xã hội – thay vì chỉ một số ít cá nhân – đã bắt đầu biết đặt câu hỏi chất vấn về sự tồn tại của những thể chế đang hiện hữu, và áp dụng cách tiếp cận duy lý khi phân tích các tác nhân có tính định đoạt đối với tương lai của mình. Kể từ đó tư duy phản biện mới trở thành một phẩm chất được coi trọng, và sinh viên được giảng dạy một cách cởi mở rằng họ không nên nghe theo bất kỳ lời khẳng định nào khi chưa tự mình kiểm nghiệm, và không nên coi luận điểm nào là đúng khi chưa được xác minh bằng những biện pháp khoa học chặt chẽ nghiêm ngặt.      Khoa học dạy chúng ta luôn chất vấn những gì từng được coi là đúng trong ngày hôm qua nhưng chưa chắc sẽ đúng đắn trong ngày mai. Chất vấn là cách giúp Khoa học phát triển. Chúng ta phải chấp nhận rằng những chân lý của ngày hôm nay sẽ phải được điều chỉnh để phản ánh đúng hơn những thực tế mới mà con người quan sát được trong tự nhiên. Cái giá phải trả cho điều này là chúng ta phải từ bỏ quan niệm chấp nhận một chân lý tuyệt đối. Đây là khác biệt căn bản [giữa khoa học thực nghiệm] với toán học, nơi chân lý không bao giờ thay đổi. Newton từng đúng trong thời của ông ta, nhưng Einstein chứng minh rằng Newton đã sai: cơ học của Newton từng là chân lý của ngày hôm qua, nhưng thuyết tương đối là chân lý của ngày hôm nay. Và tới ngày mai, một chân lý mới sẽ mở ra, giúp phản ánh đồng thời cả trọng lực lẫn vật lý lượng tử ở quy mô vật chất Planck, những lĩnh vực vốn hiện nay còn chưa tương thích với nhau. Nhận thức được quy luật này buộc con người phải biết khiêm tốn, và khích lệ những nỗ lực tìm kiếm các chân lý tốt hơn, hay phá bỏ đi các tường rào cấm kỵ cản trở những nỗ lực tìm kiếm như vậy.      Không có tư duy phản biện là một điểm yếu nghiêm trọng; những người chỉ biết vâng lời tất yếu sẽ trở thành nô lệ, và không thể thích nghi với kỷ nguyên khó khăn mà thế hệ trẻ ngày nay đang bước vào, một thế giới nơi họ sẽ phải chiến đấu để tồn tại. Thách thức ngày nay cần họ giải quyết không phải là chiến tranh hay nạn đói giống như các thế hệ cha ông từng trải qua, mà là những biến động chóng mặt về kinh tế và địa chính trị mà hành tinh của chúng ta đang trải qua. Họ phải tìm cách thích nghi với toàn cầu hóa, với những thay đổi nhanh chóng về địa chính trị ở châu Á, với sự gia tăng dân số, và sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, lột xác từ một xã hội tiểu nông sang công nghiệp hóa, với những vấn đề về môi trường là hệ quả của nạn ô nhiễm và nóng ấm toàn cầu. Họ cần được chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ để đối diện với những thử thách này trong hiện tại và tương lai.      Bằng tư duy phản biện, thế hệ trẻ ngày nay cũng phải học cách nói “không” khi cần thiết. Cũng như trước đây khi Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chiến đấu vì độc lập tự do mà chẳng hề có trong tay những cuốn sách cẩm nang của giáo viên, họ đã biết nói “không” và tin rằng lý tưởng và quan điểm của mình là đúng đắn. Cũng như Galileo Galilei, Giordano Bruno, và Miguel Serveto từng nói “không” để giữ vững quan điểm riêng của mình sau khi chứng minh tính đúng đắn của chúng2.                Chúng ta cần chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối diện với tương lai với thái độ có trách nhiệm và chín chắn như vậy. Tư duy phản biện không có nghĩa là phê phán tất cả những gì ta không thích, mà có nghĩa là phân tích kỹ lưỡng chính xác và không đặt niềm tin của mình trên những cơ sở phi lý. Nói “không” không có nghĩa là tỏ ra tiêu cực hoặc tùy tiện, mà là sự không tuân phục khi ta thấy điều đó là cần thiết cho một tương lai tốt đẹp hơn.      Cách đây không lâu, một người đàn ông có tên là Stefan Hessel3 qua đời. Ông là người đã khích lệ lớp trẻ phẫn nộ một cách chính đáng trước sự vi phạm trắng trợn đạo đức và lẽ công bằng ở các phương thức và hoạt động tài chính hiện hành trên thế giới, phẫn nộ vì những bất bình đẳng rõ rệt giữa người và người, và phẫn nộ với thái độ vô trách nhiệm của số đông ngày nay trước những vấn đề cấp bách của hành tinh. Sách của Stefan Hessel có hàng triệu độc giả trẻ trên khắp thế giới, thông điệp của ông trở thành khẩu hiệu của những cuộc biểu tình lớn được tổ chức từ Madrid tới Phố Wall. Sức mạnh từ thông điệp ấy không chỉ từ việc vạch ra những mặt trái trong xã hội đương thời vốn đang tồn tại một cách quá hiển nhiên, mà còn ở tính xây dựng, thể hiện ở phương thức tiếp cận có tính kiến tạo giải pháp thay vì chỉ khuyến khích nổi loạn một cách thường tình – phá thì rất dễ, xây mới khó.     Khoa học phải là trường rèn luyện trí tuệ và ý thức đạo đức, giúp sinh viên mở rộng nhãn quan của họ, điều mà chúng ta cần khuyến khích để giúp họ đối diện với tương lai như những người trưởng thành. Chúng ta không nên sợ rằng như vậy sẽ khiến họ trở nên quá tự do, khó kiểm soát, và cũng không nên nghĩ rằng việc che mắt họ sẽ giúp họ tránh phải đối diện với những nghịch cảnh của thế giới xung quanh. Điều tốt nhất ta có thể làm là chuẩn bị tối đa cho họ đối diện với tương lai bằng trí tuệ và ý thức trách nhiệm. Những năm gần đây đã có nhiều người trong số họ bắt đầu mở rộng tầm nhìn trước thế giới xung quanh: họ đang đi đúng hướng, và thời gian sẽ giúp họ tiếp tục tiến bước xa hơn.             Thanh Xuân dịch  ——————————-   1 Cicero là triết gia, chính khách, và nhà ngôn ngữ của La Mã. Ông cũng được coi là nhà hùng biện tài ba nhất của La Mã.     2 Giordano Bruno và Miguel Serveto đều bị kết án hỏa thiêu vì nói “không” trước những quan điểm khoa học sai lầm. Bruno bị kết án vào năm 1600 ở Roma do ủng hộ quan điểm của Copernicus; Serveto bị kết án năm 1553 ở Geneva sau khi chứng minh rằng máu chảy trở về tim qua tâm thất trái.      3 Stéphane Frédéric Hessel (20/10/1917 – 26/2/2013) sinh ra ở Đức nhưng trở thành công dân Pháp từ năm 1939. Ông là một nhà ngoại giao, nhà văn, từng sống sót qua trại tập trung của Đức Quốc xã. Năm 2011, tạp chí Foreign Policy xếp ông vào danh sách những nhà tư tưởng hàng đầu của thế giới. Trong giai đoạn sau của cuộc đời, ông hoạt động tập trung vào vấn đề bất bình đẳng kinh tế, cuộc xung đột giữa Israel và Palestine, việc bảo vệ những quan điểm xã hội thời hậu Thế chiến thứ II. Cuốn sách Time for Outrage (Đã đến lúc phẫn nộ) của ông đã xuất bản được 4,5 triệu cuốn trên toàn thế giới.      Author                Quản trị        
__label__tiasang PHẢN BIỆN NHÀ PHẢN BIỆN GIÁO DỤC      Gần đây Giáo sư Nguyễn xuân Hãn – người vừa được một số nhà báo phong danh hiệu “người phản biện” ngành Giáo dục- đã có nhiều bài viết, bài trả lời phỏng vấn trên báo chí và trên vô tuyến truyền hình về các vấn đề giáo dục. Và trong một bài báo về “người phản biện” nói trên, người thực hiện phỏng vấn đã viết: “kể cả những người lãnh đạo ngành giáo dục, có thể khó chịu nhưng họ phải thừa nhận những căn cứ khoa học thuyết phục mà ông đưa ra”.  Là một thầy giáo bình thường của ngành giáo dục, tôi cảm thấy những căn cứ gọi là khoa học của GS Hãn đưa ra không hoàn toàn thuyết phục (thậm chí hoàn toàn không thuyết phục). Bởi vậy tôi viết bài này để mong góp thêm ý kiến, gọi là để phản biện “người phản biện” ngành giáo dục.         Trên chương trình truyền hình gần đây, ông Hãn nói rằng cuốn sách Hình học của Euclid giống như sách Kinh thánh rồi, chỉ việc mang ra mà dạy cho học sinh phổ thông. Chỉ cần một giáo sư và mấy người giúp việc là có thể chuyển tác phẩm của Euclid thành sách giáo khoa (SGK). Thế mà, ông nói tiếp, người ta phải tốn bao nhiêu tiền nhà nước và nhân dân để phân chia Hình học của Euclid thành 40 phần khác nhau(?), chia cho mỗi nhóm tác giả viết một phần…  Có lẽ là ông Hãn đang định nói về tập “Cơ bản” của Euclid  đã viết cách đây hơn 2000 năm, gồm 13 cuốn, chủ yếu nói về hình học. Tôi nói thế bởi vì ta không biết Euclid đã viết bao nhiêu cuốn sách, nhưng còn lưu lại đến nay chỉ có tập “Cơ bản” mà thôi, chứ không có cuốn Hình học nào của  Euclid như ông Hãn nói.   Thưa ông Hãn, một người lương tri bình thường nhất cũng phải biết rằng một cuốn sách viết cách đây 2000 năm, dầu có hay đến mấy, cũng không thể bê nguyên xi để làm thành SGK được, bởi vì “hay” cũng là “hay cho thời ấy” mà thôi. Tôi ngờ rằng GS Hãn chưa hề đọc tác phẩm ấy của Euclid, bởi vì nếu đã đọc qua loa ông sẽ thấy rằng nhiều chủ đề về hình học mà học sinh ngày nay cần học thì lại không được Euclid biết đến. Dĩ nhiên một tiến sĩ Vật lý như ông có thể không cần đọc cuốn “Cơ bản”, tuy vậy nếu chưa đọc nó thì không nên có những ý kiến vội vàng đến mức hàm hồ như vậy. Các sinh viên Khoa toán các trường ĐHSP tuy không được đọc trực tiếp cuốn Cơ bản, nhưng trong nhiều giáo trình khác (như lịch sử toán học chẳng hạn), họ được giới thiệu rất kỹ càng về nội dung của nó, và tôi cam đoan rằng không một giáo viên Toán nào ở nước ta và trên thế giới lại cho rằng nên dùng cuốn “Cơ bản” của Euclid làm SGK cho học sinh. Ý kiến của ông rõ ràng không mấy thuyết phục.  Ông cho rằng viết SGK mới để thay SGK cũ là một sự lãng phí, thậm chí nhằm mục đích kiếm tiền cho ngành giáo dục từ túi của cha mẹ học sinh. Ông nói rằng những cuốn SGK của ta viết cách đây 35 hay 40 năm vẫn còn dùng được tốt. Căn cứ rất “thuyết phục” là chính ông đã học những cuốn sách ấy và ông đã thành tài. Để thêm phần thuyết phục ông đưa ra mấy cuốn SGK của ta (nước Việt Nam) về Hóa học và Vật lý viết cách đây 35 năm và các cuốn SGK của Mỹ, Nga đang hiện hành (năm 2006) và tuyên bố rằng về cơ bản là giống nhau. Nếu đúng như ông nói thì SGK chúng ta đã đi trước Mỹ, Nga đến 35 năm, và chưa biết chừng mấy ông tác giả người Mỹ người Nga ấy đã “đạo” SGK của ta 35 năm trước để làm sách bây giờ cho học sinh họ cũng nên! Tôi thật sự hoài nghi cái thông tin mà GS Hãn vừa tung ra nên có đi hỏi một số thầy giáo môn Hóa và Lý vẫn thường xuyên tiếp xúc với SGK nước ngoài. Họ cười và nói: làm gì có chuyện như thế! Về môn Toán thì không thấy ông đưa ra cuốn sách nào của nước ngoài để so sánh mà chỉ nói rằng bộ SGK toán của ta cách đây 50 năm vẫn dùng được. Gần đây tôi có đọc bài của GS Hoàng Tụy (tác giả bộ SGK Toán 50 năm trước) thì thấy ông nói về bộ sách của mình: “Tất nhiên bộ sách giáo khoa ấy bây giờ không dùng được nữa vì tình hình đã khác” (An ninh thế giới- tháng 10-2006).  Ông Hãn tỏ ra rất bức xúc vì một số thay đổi trong chương trình. Ông đặt vấn đề tại sao phải đưa “vectơ” vào Hình học 10 và cả Vật lý 10 nữa. Ông bảo lên ĐH mới cần vectơ, nhưng cũng hạn chế vì không cần vectơ đôi khi lại giải thích các hiện tượng Vật lý một cách dễ hiểu hơn. Ông còn nói ở đơn vị nghiên cứu của ông, người ta cũng ít khi dùng vectơ.   Tôi thực sự ngạc nhiên khi ông nói như thế trên chương trình truyền hình, vì nếu các nhà Vật lý mà nghe được thì họ sẽ đánh giá trình độ chuyên môn của ông ra sao? Xin mạn phép hỏi giáo sư: Ông sẽ biểu thị các lực tác động vào một vật như thế nào, nếu không dùng vectơ? Chẳng lẽ ông nói đại loại như: ta kéo vật đó theo phương nằm ngang với một lực có cường độ 5N và đồng thời kéo nó lên phía trên bởi một lực có cường độ 7N! Ừ thì cứ cho rằng nói như thế là dễ hiểu, nhưng ông sẽ trả lời như thế nào với câu hỏi: Khi đó tổng hợp của hai lực nói trên sẽ có hướng như thế nào và có cường độ bao nhiêu? Học sinh lớp 10 dễ dàng trả lời câu hỏi trên vì họ biết rằng hợp của hai lực chính là tổng hai vectơ biểu thị cho hai lực đó, và tổng của hai vectơ được xác lập theo quy tắc hình bình hành. Lại xin hỏi thêm: Ông biểu thị các đại lượng có hướng như vận tốc, gia tốc… bằng cách gì nếu không phải bằng vectơ?  Tôi xin nói đôi lời về việc biên soạn SGK, mà tôi không may lại là người  trong cuộc. Thực ra tôi không xin để được viết SGK, cũng không tự ứng cử để được làm tác giả. Vì lí do nào đó người ta mời tôi viết, và thậm chí còn mời làm chủ biên (của bộ sách Hình học nâng cao các lớp 10, 11, 12). Cố nhiên tôi có quyền từ chối, nhưng tôi lại không từ chối vì tôi nghĩ rằng mình vẫn còn có hai khả năng cần thiết: một là biết nghe phản biện, hai là biết không nghe phản biện.  Tôi rất khó hiểu khi GS Hãn nói rằng các tác giả SGK của ta không được cung cấp và không hề đọc chương trình và SGK của nước ngoài, vì thế họ không cập nhật được trình độ của thế giới. Tôi khó hiểu vì ông Hãn lấy được ở đâu cái thông tin sai sự thật như thế, hay là chính ông bịa đặt ra? Như vậy là không khoa học và không trung thực. Sự thật là chúng tôi dễ dàng tham khảo chương trình và SGK của nhiều nước, hoặc là do chúng tôi có, hoặc là mượn của Viện Chiến lược Giáo dục.      Cần nói rằng biên soạn SGK là một nghề, nhưng ở nước ta không hề có trường lớp nào đào tạo ra những người làm nghề đó. Ở nhiều nước, trường Giáo dục (Colege of Education) không chỉ đào tạo giáo viên mà còn đào tạo các loại cán bộ làm công tác giáo dục như người soạn chương trình, người viết SGK, người ra đề thi, người quản lý giáo dục… Bởi vậy hầu như tất cả các tác giả SGK của ta đều phải vừa tự làm vừa tự nghiên cứu, và cố nhiên việc tham khảo và học tập nước ngoài cũng là điều quan trọng.  Người viết phải viết đúng chương trình quy định, phải lựa chọn sẽ trình bày những kiến thức gì, sâu nông ra sao, sắp xếp chúng như thế nào… và đó là những chuyện không dễ dàng. Phải tra cứu sách vở, phải tham khảo ý kiến đồng nghiệp, nếu cần lại phải dạy thử xem học sinh tiếp thụ như thế nào. Phải nhìn đằng sau (năm ngoái học sinh đã biết gì), nhìn đằng trước (sang năm học sinh còn được học gì), nhìn sang bên phải, bên trái (các môn học khác đã dạy cái gì)…, chứ không phải cứ đóng cửa lại mà viết.   Bản thảo xong rồi lại phải qua bao nhiêu người đọc góp ý, nhà khoa học có, nhà sư phạm có, các thầy giáo đứng lớp có. Rồi phải qua Hội đồng thẩm định lần 1, rồi sửa chữa theo ý kiến của Hội đồng, rồi thẩm định lần 2, rồi sửa chữa…  Cuối cùng, sau khi đã được một Hội đồng thẩm định xét duyệt và thông qua, bản thảo mới được đưa vào in ấn. Giai đoạn từ đây đến khi cuốn sách được sản xuất, các tác giả còn phải vật lộn vất vả với các biên tập viên của Nhà Xuất bản, với “bông” một , “bông” hai…, với bản “can”, bản sửa… Nhưng đó chưa phải là sách dùng cho đại trà, mà chỉ mới là sách thí điểm. Sau khi thí điểm, lại phải rất nhiều công việc mới có cuốn sách đại trà dùng cho toàn quốc…   Tôi hơi dài dòng một chút để nói rằng việc làm SGK không thể nhanh được, có thể vì các tác giả yếu kém, hoặc vì quy trình biên soạn quá lôi thôi. Gần đây GS Hãn đã phê phán kế hoạch thay sách theo kiểu cuốn chiếu (ông gọi là cách làm kiểu nông dân), tức là mỗi năm chỉ thay sách một lớp. Ông cho rằng cần thay sách một lúc từ lớp 1 đến lớp 12. Trả lời phỏng vấn, ông đã khẳng định rằng dứt khoát rằng: “Việc chuẩn bị và biên soạn lại Chương trình, SGK từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ được hoàn tất và có thể triển khai ngay trong năm học tới”. (Ý muốn nói rằng nếu ông làm thì sẽ như thế!). Cách đây không lâu ông nói với một nhà lãnh đạo cấp cao rằng cho ông ba tháng, ông có thể viết xong các cuốn SGK về các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa… của cấp PTTH. Ông bảo rằng không có gì khó khăn rắc rối vì Toán học thì chỉ có định lý mà thôi, Vật lý thì chỉ có định luật mà thôi… Tôi có cảm giác rằng hoặc là ông đã nói đùa không đúng chỗ, hoặc là ông không biết gì về việc biên soạn SGK. Thưa GS Hãn, tôi xin nói một cách thẳng thắn: nếu tôi làm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì tôi không mời ông viết SGK, còn nếu ông làm Bộ trưởng thì ngay lập tức tôi không viết SGK nữa.      Cuối cùng xin bàn đôi câu về tiền nong, lỗ, lãi… của nhà Xuất bản Giáo dục (NXBGD), bởi vì ngay cả các phép tính sơ cấp, ông cũng nhầm lẫn, do đó không có sức thuyết phục. Đối với vấn đề này tôi là người ngoài cuộc, nhưng thấy ông tính nhầm thì phản biện cho vui. Tôi không bênh gì NXBGD, vì họ độc quyền và trả nhuận bút cho tôi quá ít!   Ông viết: theo số liệu thống kê, có thể khẳng định rằng mỗi đầu sách khi thay mới, NXBGD có thể lãi cả triệu USD. Ông nêu ví dụ về việc in một cuốn sách lớp 1. Ông lấy số luợng học sinh lớp 1 (1,7 triệu) nhân với giá bìa cuốn sách là 9.000đ thì NXBGD thu được 15,3 tỉ đồng. Ông cho là tiền chi phí mất khoảng 1,3 tỉ đồng, vậy tiền lời là 14 tỉ đồng và thời giá lúc ấy là 1 triệu USD. Nếu quả như ông tính toán thì làm nghề xuất bản SGK lời to thật: không phải một vốn bốn lời, mà là một vốn mười một lời. Riêng cái tỉ lệ lời lỗ ấy đã khó tin, khó thuyết phục. Khi tổng hợp và thống kê ông quên mất một thứ chi phí là tiền phát hành sách: Các đơn vị nhận phát hành được hưởng từ 20 đến 25% giá in trên bìa sách, vậy thì NXB đã phải trả gần 4 tỉ cho việc phát hành, lấy đâu mà còn 14 tỉ.   Ông đưa tiếp các số liệu: năm 2001 NXBGD đã phát hành 200 triệu bản, kể từ đó đến nay mỗi năm tăng lên 10%. Dựa trên các số liệu ấy ta có thể tính toán tiếp mà không mấy khó khăn. Lượng phát hành năm 2006 sẽ là   triệu bản. Theo trên cứ 1,7 triệu bản thì lời được 1 triệu USD. Như vậy ta có thể tính được số tiền lãi của năm 2006 là: 322,1:1,7=189,5 triệu USD (với giả thiết một cuốn sách lớp 12 cũng có giá bán chỉ bằng cuốn sách lớp1).  Trước đó ông viết rằng theo thống kê của Cục xuất bản thì doanh số của NXBGD mỗi năm là 100 triệu USD.       Như vậy là: doanh thu mỗi năm là 100 triệu USD, mà tiền lời mỗi năm là 190 triệu USD. Thưa tiến sĩ Vật lý, ông có thấy đó có phải là một nghịch lý không? Và nếu đó đúng là nghịch lý thật thì ông sẽ giải thích như thế nào về các thống kê và tính toán của ông?     Tôi đang viết dở bài này thì được đọc một bài của GS Nguyễn khắc Phi trên báo Giáo dục và thời đại, cũng nói về những nghịch lý hết sức buồn cười trong lập luận của Tiến sĩ Hãn. Do đó tôi phải duyệt lại bài viết của mình để lược bỏ những phần mà GS Phi đã đề cập đến… Vậy xin được phép dừng tại đây.            Văn như Cương    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện xã hội      Không có “phản biện” sẽ không có phát triển. Trong khoa học thì điều đó quá rõ. Bởi lẽ, khoa học là một chuỗi sai lầm được sửa chữa. Mà sửa chữa được, là nhờ có phản biện. Tức là có sự tranh luận nhằm phê phán cái sai và chấp nhận cái đúng, cái sai bị loại bỏ để cho cái đúng được tiếp tục đúng. Nhưng, cũng không chỉ với khoa học. Những “sai lầm được sửa chữa” ấy không kiêng dè, loại trừ bất cứ một lĩnh vực nào trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của một đất nước. Quá trình dẫn đến “Đổi mới” là một sự “phản biện xã hội” lớn đối với mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp quan liêu đã từng đưa đất nước đến bên bờ vực.         Sự sống không bao giờ đứng yên một chỗ, trái lại, luôn luôn vận động và phát triển. Mà “trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong”1. Những ai đã có dịp được tiếp cận một cách nghiêm túc với triết học biện chứng thì có thể hiểu được rằng, “đối với triết học biện chứng thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả”2. Vì thế, sẽ là phản biện chứng với những ai tự dành cho mình cái quyền luôn luôn đúng, tuyệt đối dúng, thậm chí chỉ “đúng trở lên”! Họ chỉ quen độc thoại chứ không chấp nhận đối thoại. Cũng có nghĩa là không chấp nhận có sự phản biện  để tranh luận đúng sai.   Thói quen độc thoại, suy cho kỹ, là thói quen của người có quyền lực và là biểu hiện sự tha hóa của quyền lực. Chuyện ấy cũng không có gì khó hiểu. Khi đã yên vị trên cái ghế quyền lực rồi, nếu không thật sự có bản lĩnh, rất dễ ngại sự đổi thay, vì đổi thay có thể làm lung lay cái ghế quyền lực của mình. Bởi lẽ, “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hóa”3. Chính cái tập quán này là một sức trì kéo ghê gớm mà con mắt trực quan đôi khi không nhận ra. Cần phải có cái nhìn biện chứng để thấy được rằng, khi đã thực hiện được một cuộc lật đổ giành chính quyền về tay mình, thì thông thường, như C.Mác đã phân tích, “từ lúc đó trở đi, giai cấp trước kia là cách mạng nay lại trở thành bảo thủ”4.  Vì thật ra, ngẫm cho kỹ thì trong lịch trình phát triển, mỗi sự vật chỉ hiếm hoi một lần không bảo thủ, đó là lúc đang hình thành! Nền tảng bảo thủ ấy chính là cái mà ta hay gọi là truyền thống, “cái sự thật cứng đầu cứng cổ nhất” theo cách diễn đạt của Ph. Ăngghen, đó là“ một lực lượng bảo thủ rất lớn” mà xu hướng chung là muốn níu kéo lịch sử lại! Thế mà, “sự biến đổi chính là một hằng số trong thế giới mà chúng ta đang sống. Vì thế, mọi chủ trương, chính sách, mọi chương trình kế hoạch không thể luôn luôn đúng. Ngược lại, nếu không thường xuyên bám sát cuộc sống, nương theo sự vận động, biến đổi và phát triển của cuộc sống để kịp thời điều chỉnh, sửa sai thì không thể tránh khỏi những thất bại, thậm chí những thảm họa. Những thông tin phản hồi từ nhiều nguồn, chủ yếu là từ dưới lên, sẽ là tiền đề không thay thế được của sự điều chỉnh, sửa sai ấy.   Cho nên, dân chủ, mở rộng dân chủ, lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc tiếng nói từ bên dưới, tạo điều kiện cho “dân mở miệng ra” mới có thể nhận được những thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh và sửa sai nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối, chương trình, kế hoạch. Quá trình dân chủ hóa xã hội đã có những khởi sắc, nhưng lực cản vẫn còn đầy rẫy. Dễ thấy là thói quen chỉ muốn độc thoại chứ không thích đối thoại. Tự cho mình cái quyền độc thoại để chỉ ban phát ý kiến dẫn dắt, soi đường chỉ lối mà không quen lắng nghe và tiếp nhận thông tin từ cuộc sống, từ triệu triệu con người là một thói quen của quyền lực, xa lạ với bản chất của Đảng tiền phong gắn bó máu thịt với dân, lắng nghe cho được tiếng nói thật từ cuộc sống để thực hiện sứ mệnh đi trước dẫn đường. Thói quen độc thoại tự cho mình đã biết tất cả, chân lý là đã có sẵn, chỉ cần rao giảng và thuyết phục công chúng tiếp thu, là một biểu hiện sự tha hóa của quyền lực. Ngược lại, tác phong đối thoại được xác lập từ nhận thức rằng chân lý đến từ quá trình tìm tòi, suy ngẫm, phân tích và tiếp nhận trong dòng chảy miệt mài liên tục của cuộc sống..   Tác phong đối thoại còn là thành tựu của tư duy hiện đại về quá trình tiến hóa. Tiến hóa không chỉ là một quá trình chắt lọc cái này và loại bỏ cái kia để vì thế mà làm nghèo đi sự phong phú, đa dạng của cái toàn thể, mà tiến hóa thực chất là đồng tiến hóa. Tư duy hiện đại đã vượt qua sự cố chấp của “nguyên lý loại trừ” mà bước vào “nguyên lý bổ sung”. Độc thoại gắn liền với nguyên lý “loại trừ“ “ai không nghe ta tức là chống lại ta“. Còn nguyên lý bổ sung thì khuyến khích thái độ lắng nghe để tiếp nhận thông tin, nhằm làm cho tri thức của mình luôn luôn mới, theo kịp được với nhịp phát triển liên tục của cuộc sống. Phản biện xã hội gắn liền với nguyên lý bổ sung đó, nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội, tiền đề của phát triển.  Điều đó đòi hỏi một cách ứng xử phù hợp với bối cảnh mới. Xin gợi một hình ảnh: “Thế giới đã biến từ tròn thành phẳng. Ở mọi nơi bạn hướng về, các hệ thống thứ bậc bị thách thức từ bên dưới, hay tự biến đổi từ các cấu trúc trên xuống [top-down] sang các cấu trúc ngang và cộng tác hơn”5. Và “chúng ta đã đi từ chuỗi chỉ huy dọc để tạo giá trị sang một chuỗi chỉ huy ngang hơn nhiều để tạo giá trị”6.   Phản biện xã hội  đến từ các tổ chức thực hiện các liên kết ngang  là các tổ chức tạo nên cấu trúc của xã hội dân sự  đang hình thành gắn liền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền..      Chú thích :     1, 2,3. C.Mác và PH.Ang-ghen Toàn tập. Tập 21.HàNôi 1995, tr. 393, tr.395, tr.421   4.   C.Mác và Ph .Ang-ghen Toàn tập. Tập 4.Tr.202  5,6. Thomas L. Friedman. “The World Is  Flat . A brief history of the Twenty-First Century (Nguyễn Quang A dịch. Tr.45 và tr. 179)         Chú thích ảnh: Những quyết sách lớn trong phát triển KT-XH cần được phản biện        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện xã hội: khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành      Phản biện xã hội là sự phản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế… trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, từ đó giúp các cơ quan hữu quan điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Như vậy, về bản chất, phản biện xã hội là sự tương tác, giao thoa về quan điểm, tư tưởng giữa các lực lượng (chính trị, kinh tế, xã hội) trong một cộng đồng. Do đó, thực tiễn và chất lượng của hoạt động phản biện nói lên tính chất tiến bộ, trình độ dân chủ, văn minh của cộng đồng ấy.        Chức năng của phản biện xã hội trong đời sống thực tiễn  Phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội để tạo ra đồng thuận xã hội  Xã hội là một tập hợp của nhiều nhóm lợi ích. Trong quá trình phát triển, các nhóm có nguy cơ mâu thuẫn về quyền lợi, dẫn đến những ẩn ức, ức chế xã hội (trong trường hợp không được giải tỏa); cao hơn, có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng xã hội thường trực, thậm chí là tiền đề cho các cuộc khủng hoảng chính trị – xã hội trên diện rộng. Sở dĩ có tình trạng như vậy là bởi xã hội đã thiếu đi một cơ chế đối thoại, phản biện để điều hòa mâu thuẫn, cân đối lợi ích giữa các nhóm liên quan. Nếu chúng ta xem xã hội như một chỉnh thể toàn vẹn thì vận động xã hội là quá trình “trao đổi chất” giữa các lực lượng xã hội. Mâu thuẫn/xung đột xã hội sẽ làm gián đoạn phương thức trao đổi này cho đến khi cơ chế đối thoại, phản biện xã hội xuất hiện. Phản biện xã hội góp phần tái tạo, phục hồi trạng thái cân bằng vốn đã bị phá vỡ trước đó, mở đường cho trạng thái đồng thuận xã hội xuất hiện. Khi một xã hội trở nên đồng thuận, bản thân nó đã tự tạo cho mình những tiền đề phát triển mới. Vì đồng thuận xã hội là điều kiện cần để phát triển các nguồn vốn cộng đồng, mở rộng mạng lưới xã hội mà ở đó, các thành viên dễ dàng tương tác với nhau nhờ cùng chia sẻ những niềm tin và giá trị chung.  Phản biện xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách – thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước  Khi hoạt động phản biện diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó, đã tồn tại một số vấn đề nhất định trong sự kiến tạo chính sách của cơ quan nhà nước chuyên trách công việc này và khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, quyết định đó trở nên bất khả thi khi áp dụng vào điều kiện thực tế. Cho nên, phản biện xã hội thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng đối với chất lượng và triển vọng của chính sách vừa được ban hành – một cách nhìn mang tính ngoại thể so với cách nhìn mang tính nội thể của người trong cuộc.  Trong ý nghĩa tích cực của nó, phản biện xã hội không có mục đích phủ định sạch trơn hay tìm cách đánh đổ kiến tạo chính sách của cơ quan công quyền. Ngược lại, nó giúp cơ quan kiến tạo chính sách nhận ra những vết rạn hay lỗ hỏng của bản thân chính sách, kể cả việc đề xuất các hướng đi hay giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế ấy. Rõ ràng, việc bổ sung cách nhìn ngoại thể đưa đến một tác động kép: một mặt, nó trực tiếp nâng cao tính hiệu quả của quá trình lập định chính sách; mặt khác, từng bước thay đổi tư duy kiến tạo chính sách, kể cả tư duy quản lí của giới kĩ trị theo hướng bám sát thực tiễn hơn.  Phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước hình thành môi trường xã hội dân chủ, tiến bộ.  Do bản chất xã hội của nó, các hoạt động phản biện thường gây ảnh hưởng đáng kể lên đời sống cộng đồng. Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của cộng đồng truyền thông càng giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động phản biện. Thông qua quá trình này, cộng đồng dần nắm bắt được căn nguyên xuất hiện của hoạt động phản biện, từ đó dấy lên nhu cầu quan tâm, nhận thức vấn đề đang được đặt ra. Bằng cách này hay cách khác, hoạt động phản biện luôn ủ sẵn khả năng tạo ra một trường tương tác xã hội (social interaction sphere) giữa cộng đồng trí thức (phát hiện và lí giải vấn đề), cộng đồng truyền thông (phổ quát thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận). Quá trình tương tác ấy phá vỡ ốc đảo khép kín của đời sống cá thể, nối kết cá thể với cộng đồng rộng lớn bên ngoài, từ đó giúp họ hình thành nên tính năng động xã hội – một phẩm chất không thể thiếu của người công dân hiện đại.  Các điều kiện nền tảng để hình thành phản biện xã hội  Hệ thống thể chế minh bạch, dân chủ, tiến bộ  Kinh nghiệm quốc tế và trong nước ngày càng cho thấy rằng, hệ thống thể chế có vai trò đòn bẩy đối với tốc độ và chất lượng phát triển của toàn xã hội. Thể chế không chỉ tạo cơ sở pháp lý mà còn kích thích và định hình chiều hướng vận động của các nguồn lực xã hội. Ở các quốc gia phát triển, với sự tồn tại của một nhà nước pháp quyền dân chủ và một nền kinh tế thị trường lành mạnh, phản biện xã hội diễn ra như một hiện tượng tất yếu, tự nhiên của đời sống dân sự. Sự tương tác qua lại thường xuyên giữa nhà nước – thị trường – xã hội dân sự thông qua cơ chế phản biện xã hội đã giúp các quốc gia này giảm thiểu được xung đột, căng thẳng xã hội, điều chỉnh năng lực quản trị của bộ máy nhà nước, cũng như phát triển trách nhiệm xã hội, ý thức cộng đồng ở từng cá thể công dân lẫn các tập đoàn doanh nghiệp. Rõ ràng, trong điều kiện lí tưởng của trạng thái phát triển, phản biện xã hội trở thành cơ chế đảm bảo cho quá trình cộng thông liên tục giữa các lực lượng xã hội, nhờ vậy, đảm bảo tính bền vững cho lộ trình phát triển nói chung.   Sự hiện diện của xã hội dân sự  Giữa xã hội dân sự và phản biện xã hội tồn tại một mối quan hệ mang tính nhân quả. Nói cách khác, sự hiện diện của xã hội dân sự là một đảm bảo tiên quyết để hoạt động phản biện xã hội được diễn ra. Về bản chất, xã hội dân sự là lực lượng trung gian đứng giữa nhà nước và thị trường, được hình thành trên nền tảng của một môi trường xã hội dân chủ và tiến bộ. Chủ thể của nền tảng ấy là những người công dân đã biết tổ chức ra các đoàn thể, hiệp hội để thông qua các tổ chức đại diện ấy thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của họ dưới rất nhiều cách thức, mà phản biện xã hội là một trong số đó. Điều này nói lên rằng, phản biện xã hội chính là chức năng cơ bản nhất của xã hội dân sự: các lực lượng dân sự sử dụng cơ chế phản biện để bày tỏ quan điểm, thái độ của họ đối với các kiến tạo chính sách, thể chế, định chế … của nhà nước. Trong một chừng mực nhất định, có thể diễn đạt rằng, phản biện xã hội là sự cụ thể hóa năng lực và phẩm chất của xã hội dân sự trước những vấn đề mà thực tiễn đặt ra cho bản thân nó.  Năng lực và trách nhiệm xã hội của giới trí thức  Karl Marx từng nhấn mạnh đến một chức năng rất cơ bản của người trí thức: chức năng phê phán hay phản biện xã hội [1].  Thực ra, công tác phản biện xã hội thuộc về trách nhiệm của toàn cộng đồng. Tuy nhiên, với ưu thế đặc biệt về năng lực và do sự thôi thúc lương tâm, người trí thức luôn nhận lãnh trách nhiệm của người tiền phong. Họ thường nhạy cảm phát hiện ra các vấn đề mới của cuộc sống, đặt chúng trong một hệ qui chiếu rộng lớn của đời sống cộng đồng, từ đó đánh giá những tác động lợi – hại của chúng đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của xã hội. Trong điều kiện đã tồn tại xã hội dân sự, hoạt động phản biện do giới trí thức khởi xướng sẽ hình thành nên một không gian công cộng (public sphere) mà những sinh hoạt gắn liền với nó được qui về cái gọi là nền văn hóa công luận (public culture). Về mặt lịch sử, sự ra đời của không gian công cộng là một nỗ lực nhằm ngăn ngừa tính độc đoán, áp đặt của các hệ thống chính trị và các phong trào xã hội có nguy cơ bị chính trị hóa.  Trình độ dân trí của cộng đồng  Tác động của trình độ dân trí đối với phản biện xã hội được biểu hiện dưới  hai khía cạnh cụ thể sau đây: Thứ nhất, trong một xã hội có nền dân trí cao, người dân nhận thức rất rõ về quyền lợi và trách nhiệm công dân của họCon người tìm thấy hạnh phúc trong sự gắn nối tự nguyện với không gian bên ngoài: Không thể gọi là hạnh phúc, mà không tham gia vào công việc công cộng. Không thể gọi là tự do nếu không thể nghiệm thế nào là tự do công cộng. Không thể là tự do hay hạnh phúc mà không có chút quyền hành nào trong quyền lực công cộng [2]. Những người công dân năng động này rất quan tâm đến các vấn đề liên quan đến quyền lợi của cộng đồng, chẳng hạn việc ban hành một chính sách, quy định, nghị định … nào đó của các tổ chức/cơ quan nhà nước. Hệ quả, họ đủ khả năng tự nhận ra những hệ lụy mà mình đang hoặc chuẩn bị đối mặt, hoặc dễ dàng đồng cảm với những phát hiện và cảnh báo của giới trí thức – tầng lớp hoa tiêu của xã hội. Từ đây, dư luận xã hội sẽ hình thành để vừa trực tiếp tác động tới thái độ của cơ quan công quyền, vừa hậu thuẫn đắc lực cho tiếng nói của những người trực tiếp tham gia vào công tác phản biện. Thứ hai, nền dân trí cao là điều kiện nền tảng để hình thành nên một đội ngũ trí thức cho cộng đồng – đội ngũ mà về sau sẽ đảm nhận sứ mệnh tiền phong trong công tác phản biện xã hội. Một lô-gic mang tính phổ quát được vạch ra: trên một mặt bằng dân trí cao, tầng lớp trí thức phát triển thành một lực lượng xã hội độc lập, cầm trịch nền văn hóa công luận và không gian công cộng để đảm trách công việc khai sáng cộng đồng, phê phán/phản biện xã hội.  ***  Là sự phản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế… trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, phản biện xã hội đã trở thành một cơ chế động năng cho quá trình vận động, đổi mới của xã hội. Tuy nhiên, để hóa thân thành hiện thực, phản biện xã hội cần đến những điều kiện cơ bản, trong đó quan trọng nhất là tính chất dân chủ của hệ thống thể chế, sự hiện diện của xã hội dân sự, năng lực – trách nhiệm của giới trí thức và nền tảng dân trí của cộng đồng. Trong bối cảnh Việt Nam, để cụ thể hóa các nội dung của Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng về Công tác phản biện xã hội [3], việc xác lập và phát triển các điều kiện vừa nêu là những nhu cầu bức thiết đòi hỏi nỗ lực, trách nhiệm và lương tri của toàn thể các lực lượng xã hội.     Chú thích  [1] Dẫn theo Paul Alexandre Baran (1961), Thế nào là người trí thức (Phạm Trọng Luật dịch), http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/Baran/BARANTRITHUC.htm)  [2] Dẫn theo Bùi Văn Nam Sơn (2011), Văn hóa và văn hóa chính trị, http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/VanHoaVaVanHoaChinhTri-BVNS.htm  [3] http://laodong.com.vn/Home/Phan-bien-xa-hoi/20087/96868.laodong       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý trong khoa học      L&#227;nh đạo (leadership) v&#224; quản l&#253; (management) l&#224; hai kh&#225;i niệm kh&#225;c nhau, tuy vậy ở Việt Nam n&#243; hay được (bị) đổ đồng, lẫn lộn với nhau. Tức l&#224; c&#225;c chức năng quản l&#253; v&#224; l&#227;nh đạo nhiều khi bị đảo lộn, v&#224; với một bộ m&#225;y như vậy, tất yếu sẽ kh&#244;ng c&#243; hiệu quả cao.     Nếu ta ví một cấu trúc tổ chức (của một doanh nghiệp, một viện khoa học, một Bộ, v.v.) như là một sinh vật, thì phần lãnh đạo có thể ví như phần hồn (hay hệ thần kinh), còn phần quản lý như phần thân (hay các bộ phận còn lại) của sinh vật đó. Tất nhiên cả hai phần đều quan trọng: nếu chỉ có thân mà không có hồn thì là “cái xác không hồn”, còn nếu thân chết thì hồn cũng chết theo. Tuy nhiên, phần hồn, chứ không phải phần thân, là phần xác định “tư cách” của sinh vật: một người có thể thay gan, thay thận thì vẫn là người đó, nhưng nếu giả sử có cách thay não, lấy não người khác lắp vào, thì thành người khác.  Nói về chức năng công việc, thì lãnh đạo và quản lý là hai công việc khác nhau.  Những công việc chủ yếu của lãnh đạo là:  * Phân tích tình hình, định hướng, vạch chiến lược  * Đưa ra các quyết định quan trọng  * Làm điểm tựa về uy tín cho tổ chức, đối với cả người bên trong lẫn người bên ngoài.  * Những công việc chủ yếu của quản lý là:  * Thực hiện các quyết định của lãnh đạo  * Xử lý các công việc day-to-day  * Đảm bảo cho bộ máy hoạt động trơn tru  Ở các tổ chức nhỏ, các việc lãnh đạo và quản lý hay được qui làm một, do cùng một người (ví dụ như chủ một doanh nghiệp nhỏ) đảm nhiệm. Tuy nhiên, đối với các tổ chức lớn, thì sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý là cần thiết. Có những người có khả năng làm cả hai công việc lãnh đạo và quản lý, và trong các tổ chức lớn cũng có những vị trí đòi hỏi phải làm cả hai việc. Tuy nhiên, hai công việc này đòi hỏi những loại kỹ năng khác nhau.  Những điều mà một người lãnh đạo cần có (ngoài việc là một con người có tư cách tốt nói chung) là: Uy tín cá nhân cao (nếu người bên trong không phục thì khó lãnh đạo, nếu mất uy tín với bên ngoài thì toàn bộ tổ chức mất uy tín theo); có trình độ cao, tầm nhìn xa trông rộng, để có thể đưa ra những định hướng và quyết định đúng đắn; biết phối hợp hài hòa với bộ phận quản lý.  Người quản lý thì không nhất thiết cần có trình độ cao, uy tín cao hay tầm nhìn xa trông rộng như người lãnh đạo, nhưng ngược lại cần những đức tính như: Hiểu được và tuân theo các quyết định của lãnh đạo; có tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ, nắm sát các chi tiết (người lãnh đạo có thể không mạnh những điểm này). Và tùy lĩnh vực quản lý mà cần có trình độ chuyên môn tương ứng nhất định.        Những người mà trình độ thấp hoặc/và là làm khoa học kiểu vờ vịt không nghiêm chỉnh, thì không có cách gì lãnh đạo khoa học tốt được.  Nhưng không phải ai có trình độ và tầm nhìn trong khoa học đều tự động trở thành người lãnh đạo khoa học giỏi, mà còn cần có tư cách, có thời gian bỏ ra quan tâm đến việc chung và suy nghĩ làm sao để những người khác có thể phát huy khả năng khoa học của họ, v.v.         Ví dụ: Một người làm trưởng phòng nhân sự (một chức vụ quản lý) ở một chỗ này, thì dễ có thể chuyển sang làm trưởng phòng nhân sự ở chỗ khác, vì làm quản lý nhân sự ở đâu cũng gần giống nhau, đòi hỏi cùng một loại kỹ năng. Nhưng một người làm viện trưởng Viện Hóa (một chức vụ lãnh đạo) cần có uy tín trong ngành hóa học, và khó có thể chuyển thành làm viện trưởng Viện Cơ học.  Trong mô hình quản lý khoa học ở nước Pháp, ví dụ như các viện khoa học của CNRS, có phân biệt rõ ràng giữa lãnh đạo và quản lý. Một viện có có thể có Administrator (quản lý trưởng của viện). Người này có những trách nhiệm như đôn đốc và kiểm tra các công việc của các bộ phận như thư ký, kế toán, kỹ thuật và đảm bảo cho viện được hoạt động một cách trơn tru, hợp pháp. Nhưng người này không tham gia vào các quyết định trong việc tuyển các nhà khoa học, phân bổ ngân sách, hay định hướng khoa học của viện. Ban giám đốc của viện (bộ phận lãnh đạo của viện) gồm toàn những người có chuyên môn khoa học cao. Tôi viết điều này ở đây không phải là để khen hệ thống hành chính của Pháp (hệ thống của Pháp cũng có nhiều cái rất quan liêu và bất hợp lý). Tuy nhiên khoa học của Pháp phát triển tốt (theo một báo cáo mới đây, thì kết quả khoa học của Pháp đứng thứ 5 thế giới, tuy rằng tiền đầu tư cho khoa học thì thấp hơn cả chục nước khác), có lẽ một phần nhờ việc những người lãnh đạo khoa học chính là những nhà khoa học có uy tín cao.  Nói một cách hình thức, thì ở Việt Nam cũng có phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý, theo mô hình “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”. Nhưng không ít trường hợp các chức năng quản lý và lãnh đạo nhiều khi bị đảo lộn, những người đáng nhẽ phải là lãnh đạo (ví dụ viện trưởng một viện nghiên cứu) thì lại thành quản lý, còn người đáng nhẽ làm chức năng quản lý (ví dụ trưởng phòng tổ chức) thì có khi lại thành lãnh đạo.   Khi gần đây tôi lên tiếng về việc cẩn thận đừng để cho những người “học giả” lên làm hiệu trưởng các trường đại học lớn ở Việt Nam, thì bị không ít người chỉ trích, gièm pha. Để bênh vực các “học giả”, họ lý luận rằng, dù “không giỏi về chuyên môn”, nhưng có tài quản lý thì làm quản lý đại học cũng tốt chứ sao. Lý luận như vậy, nghe qua thì có vẻ hợp lý, nhưng sai ở hai điểm: điểm thứ nhất là chức hiệu trưởng về cơ bản là một chức lãnh đạo chứ không phải quản lý, và người lãnh đạo cần có trình độ cao, uy tín cao, hiểu biết rộng (mà những người chuyên môn đã quá kém thì khó có những thứ đó), và điểm thứ hai (quan trọng hơn) là những người vi phạm đạo đức nghề nghiệp, mua danh bán tước để “leo quan” thì họ có thể mua bán mọi thứ quyền lực, bản thân họ là mầm mống của tham nhũng, làm lãnh đạo hay quản lý công đều nguy hiểm cho xã hội. Trên thế giới, người ta đặc biệt coi trọng sự trung thực trong khoa học. Có nhiều ví dụ về những hiệu trưởng đại học, hay Bộ trưởng, dù có đang làm tốt đến đâu, nhưng bị thôi việc khi bị phát hiện có gian lận từ trước. Trong quá trình hội nhập thế giới của Việt Nam, chúng ta cũng cần học tập theo “chuẩn thế giới” về đạo đức nghề nghiệp trong khoa học.        Theo phản ánh của các đồng nghiệp đang làm tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), thì Ban Lãnh đạo của viện hiện tại (nơi thông qua các quyết định quan trọng nhất của Viện, khi mà bỏ phiếu thì mỗi người trong Ban được 1 phiếu) chỉ có khoảng 1/3 số người là những người lãnh đạo theo nghĩa tôi đưa ra trong bài này (tức là các viện trưởng của các phân viện, tạm công nhận là các nhà khoa học có uy tín), còn lại là những người quản lý (ví dụ trưởng phó phòng các ban bệ khác nhau, nhưng không phải là các chuyên gia về khoa học). Một Ban Lãnh đạo như vậy thì yếu về tầm nhìn và định hướng khoa học, và dễ đưa ra các quyết định nặng màu sắc chính trị hơn là các quyết định có lợi cho sự phát triển khoa học của Việt Nam. Cấu trúc lãnh đạo / quản lý bất hợp lý như vậy, theo tôi là một trong những trở ngại lớn cho sự phát triển khoa học ở Việt Nam.        Tất nhiên, trình độ khoa học cao không đồng nghĩa với lãnh đạo khoa học giỏi. Điều đó cũng tương tự như trình độ khoa học cao không đồng nghĩa với dạy học hay. Tôi biết có những người làm nghiên cứu rất giỏi, thậm chí được những giải thưởng cao nhất trong khoa học, nhưng khi giảng bài thì rất chán không ai hiểu. Nhưng đó là những ngoại lệ của một qui luật, là có một sự liên quan dương tính rất lớn giữa trình độ khoa học và khả năng giảng dạy. Một người trình độ khoa học cao, nếu chịu khó quan tâm đến việc dạy dỗ và quan tâm xem làm sao để người nghe mình giảng tiếp thu được nhiều nhất, thì có thể dạy hay dần lên. Nhưng một người mà nắm kiến thức đã không vững, thì khó mà dạy tốt được. Trong lãnh đạo khoa học cũng vậy. Không phải ai có trình độ và tầm nhìn trong khoa học đều tự động trở thành người lãnh đạo khoa học giỏi, mà còn cần có tư cách, có thời gian bỏ ra quan tâm đến việc chung và suy nghĩ làm sao để những người khác có thể phát huy khả năng khoa học của họ, v.v. (Ở Việt Nam có những trường hợp đáng tiếc, khi có nhà khoa học có trình độ và quyền lực cao nhưng lại “chia bè kéo cánh” cản bước tiến của nhiều nhà khoa học trẻ tâm huyết, hay có người cả về trình độ và tư cách đều tốt nhưng lại có lúc phát biểu những câu bất lợi cho khoa học như kiểu “làm toán không cần tiền”). Nhưng những người mà trình độ thấp hoặc/và là làm khoa học kiểu vờ vịt không nghiêm chỉnh, thì không có cách gì lãnh đạo khoa học tốt được. (Nơi đâu họ lãnh đạo, thì ở đó có xu hướng sản xuất ra những “nhà khoa học” giống họ).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân biệt rạch ròi đức tin với giáo dục và khoa học      LTS: Sau khi Tia sáng đăng tải bài “Ánh sáng của Đức tin”, TS. Nguyễn Trịnh Đôn – một cộng tác viên của Tia Sáng đã gửi phản hồi một ý kiến nêu quan điểm của anh về vấn đề bài viết đặt ta. Để rộng đường dư luận, Tia Sáng xin đăng tải bài viết của TS. Nguyễn Trịnh Đôn.      Nhà vật lý Richard Feynman đạt giải Nobel năm 1965 mà bài viết trước trích lời cũng chính là một kẻ vô thần tuy xuất thân từ gia đình theo truyền thống Do Thái giáo  Bài viết “Ánh sáng của đức tin” trên Tia Sáng ngày 24/12/2019 vừa qua đưa ra một quan điểm đáng chú ý rằng đức tin tôn giáo là một hệ giá trị cao cả, dường như có thể soi đường cả khoa học, và việc “tuyệt đối hóa thuyết vô thần trong giáo dục” mang lại những hệ quả rất tồi tệ. Tôi xin phép nêu ra một góc nhìn khác, có phần đi ngược lại với kết luận của tác giả.   Bằng lập luận cùng dẫn chứng những tên tuổi nổi tiếng trong khoa học và văn hoá, bài viết dường như đưa ra ba kết luận. Một là cho dù đấng sáng thế (chúa trời, thượng đế, hay tên gọi nào khác) có tồn tại hay không thì ta cũng nên có đức tin. Hai là sự tồn tại của tín ngưỡng là nền tảng đạo đức xã hội loài người mà nếu mất đi thì sẽ “trượt dốc đến mức nguy hiểm”. Và ba là nhiều nhà khoa học, chính trị, quân sự, văn hóa tài ba đã có đức tin tôn giáo mãnh liệt và nêu ra những lợi ích của nó, do đó chúng ta nên noi theo. Tôi cho rằng cả ba lập luận này đều không thuyết phục cho sự cần thiết phải có “ánh sáng của đức tin”.  Câu chuyện về lợi ích thiết thực của đức tin ở phần đầu bài viết qua cuộc đối thoại của một học giả vô thần và người phụ nữ ngoan đạo chính là một phiên bản của “lập luận đánh cược Pascal” (pari de Pascal), đặt theo nhà toán học Blaise Pascal nổi tiếng của Pháp sống vào thế kỷ XVII. Pascal cho rằng quyết định có tin theo chúa trời hay không cũng giống như quyết định đánh cược, tức ta nên suy xét “đặt cược” theo cái nào có lợi nhất (hay đỡ tệ hại nhất). Theo Pascal (cũng như người phụ nữ ngoan đạo trong câu chuyện ở bài viết trước) thì nếu chúa trời tồn tại thì người có đức tin sẽ được lên thiên đàng, kẻ vô thần sẽ xuống hoả ngục; còn nếu chúa trời không tồn tại thì cả người có đức tin lẫn kẻ vô thần đều không lợi, cũng chẳng thiệt hại gì. Tóm lại, ta nên “đặt cược” vào đức tin, vì kết cục tệ nhất của việc có đức tin là chẳng hại gì; còn nếu “đặt cược” theo vô thần thì kết cục tệ nhất là rất bi thảm.  Thực tế không đơn giản như giả thiết của Pascal. Đức tin không chỉ có lợi ích mà còn cả những hậu quả. Đêm trường trung cổ ở châu Âu là một trong nhiều ví dụ về hệ quả tiêu cực của tôn giáo ở mức vĩ mô. Ở từng cá nhân, đức tin giúp con người vượt qua nhiều khó khăn về tâm linh lẫn vật chất, song cũng có thể đưa đến những hành vi mê tín, cuồng tín, kỳ thị kẻ ngoại đạo. Cái logic của Pascal còn sơ hở ở chỗ là nếu hiểu kinh sách của Ki-tô giáo (tôn giáo của Pascal), Do Thái giáo, và Hồi giáo theo nghĩa đen thì không chỉ những kẻ vô thần mới xuống hoả ngục, mà những ai tin vào thánh thần khác cũng chung số phận (việc nên hiểu kinh sách theo nghĩa đen hay nghĩa bóng là một đề tài khác vượt quá phạm vi bài viết này). Như vậy thì không-vô-thần thôi chưa đủ, mà phải hữu-thần-cho-đúng. Và vấn đề chúa của ai mới là chân thượng đế là quá trình đã tốn biết bao giấy mực lẫn xương máu của nhân loại kể từ khi tôn giáo xuất hiện cho đến nay.  Tóm lại, ta không thể nói đức tin chỉ có lợi mà không bao giờ có hại, và logic “đánh cược” của Pascal không thể đem áp dụng trong thực tế.  Thậm chí cứ cho rằng phần tích cực của tôn giáo lấn át hoàn toàn những hệ quả tiêu cực. Vậy có đúng là đạo đức xã hội sẽ “trượt dốc đến mức nguy hiểm” nếu tín ngưỡng biến mất? Châu Âu một lần nữa là một khu vực đáng chú ý khi tìm hiểu vấn đề này. Những nước có tỷ lệ người trưởng thành sùng đạo cao nhất là Romania, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Italia; còn những nước có tỷ lệ này thấp nhất là Thụy Điển, Anh, Đức, Pháp (xem bản đồ đính kèm) 1. Khi so sánh các tỷ lệ này với tỷ lệ tội phạm giết người và cướp giật toàn châu Âu thì ta không thấy có sự tương quan rõ rệt cho thấy mức độ tín ngưỡng cao đem lại xã hội an toàn hơn 2. Nhìn rộng ra thế giới, những nơi có mức độ tín ngưỡng cao nhất hiện nay như các nước châu Phi vùng hạ Sahara hay Nam Á đều là những nơi còn nhiều vấn đề kinh tế lẫn an toàn xã hội nổi cộm. Ngay ở những nước phát triển, nhiều tổ chức tôn cũng phải đang giải quyết những vấn đề đạo đức của chính mình (lạm dụng trẻ em là một ví dụ nhức nhối). Do đó, bản thân đức tin không phải là một bảo chứng cho đạo đức cá nhân hay an sinh xã hội.  Nước Mỹ là nơi có tỷ lệ người dân theo tín ngưỡng cao nhất trong các nước phát triển; những người tuyên bố mình là vô thần chỉ chiếm hơn 3% dân số một chút. Nếu đúng là việc thiếu vắng đức tin khiến “phần ‘con’ trong mỗi cá nhân sẽ mặc sức hoành hành” thì tỷ lệ những người phạm pháp là vô thần phải cao hơn con số 3% rất nhiều. Trên thực tế, chỉ 0,1% số tù nhân Mỹ là người vô thần 3. Con số này chưa chắc khẳng định được vô thần thì ít phạm pháp; đó là vì điều kiện kinh tế, nguồn gốc xuất thân cùng trình độ giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phạm pháp của một con người. Nhưng chắc chắn con số này không chứng minh cho lập luận vô thần sẽ đưa đến hủy hoại đạo đức xã hội của bài viết trước.    Tỷ lệ người trưởng thành trả lời rằng mình rất sùng đạo hay có tín ngưỡng mạnh (“highly religious”) ở các nước châu Âu 1.  Một thực tế rõ ràng là tuy khoa học và tín ngưỡng thường trái nghịch nhau trên nhiều phương diện, nhưng vẫn có nhiều nhà khoa học, văn hoá, quân sự và chính khách lẫy lừng luôn tuyên xưng đức tin tôn giáo của mình như bài viết trước đã chỉ ra. Tuy nhiên, ta cần nhớ những tên tuổi lẫy lừng này đa số sinh trưởng trong điều kiện xã hội coi vô thần gần như là điều không tưởng (tuy vẫn có một vài trường hợp lẻ loi như Alfred Nobel, một người vô thần sống trong thế kỷ XIX). Ta không nghi ngờ đức tin của những người này cũng như ta không thể hoài nghi đức tin coi nhà vua là “thiên tử” đang thay trời mà cai trị của nhiều danh nhân lẫy lừng ở Á Đông vậy.  Nếu đức tin, tín ngưỡng thực sự là điểm chung của các bộ óc tài ba thì tỷ lệ vô thần trong giới khoa bảng phải thấp hơn trung bình. Trên thực tế thì từ thế kỷ 20 cho đến nay, con số các nhà khoa học vô thần càng ngày càng nhiều, nhanh hơn tốc độ “lan truyền” của tư duy vô thần trong xã hội. Có thể kể một vài tên tuổi vô thần nổi bật như Bertrand Russell, Linus Pauling, Francis Crick, James Watson, Erwin Schrödinger, Steven Weinberg, John Forbes Nash Jr, Peter Higgs, và Stephen Hawking. Nhà vật lý Richard Feynman đạt giải Nobel năm 1965 mà bài viết trước trích lời cũng chính là một kẻ vô thần tuy xuất thân từ gia đình theo truyền thống Do Thái giáo.  Cũng tại nước Mỹ của Feynman, một khảo sát vào thập niên 1990 cho thấy tỷ lệ các nhà khoa học nói chung không tin hoặc nghi ngờ sự tồn tại của thượng đế là đến 60%; riêng trong số các viện sĩ Viện hàn lâm khoa học quốc gia (National Academy of Sciences) thì con số này lên đến hơn 90% 4. Một khảo sát gần đây hơn (2013) trong số các hội viên Hội hoàng gia Luân Đôn (Royal Society of London: cơ quan tương đương viện hàn lâm khoa học quốc gia ở các nước khác) cũng cho thấy chỉ hơn 5% tin có Chúa trời 5.  Những nhà khoa học và tư tưởng này luôn cổ xúy cho việc thế tục hoá giáo dục, tức phát triển tư duy và phương pháp học tập không cần viện dẫn đến thánh thần. Sự “tuyệt đối hoá thuyết vô thần trong giáo dục” theo nghĩa “cười nhạo… những người hữu thần là những kẻ ngu ngốc” như trong bài “Ánh sáng của đức tin” có thể đúng là mang lại nhiều vấn đề rất tiêu cực, nhưng việc phân biệt rạch ròi giữa đức tin với giáo dục và khoa học vẫn là cần thiết.  Thay vì để khoa học và giáo dục tìm ra chân lý; đưa đức tin vào khoa học – giáo dục có thể dẫn đến việc dùng vế sau xác nhận một chân lý mà vế trước đã định. Một ví dụ điển hình trong những năm gần đây là việc trích dẫn lời của Alberta Einstein cho rằng “Phật giáo bao gồm cả khoa học” trước những hiện tượng dường như vật lý xác nhận những thứ Phật giáo đã biết.  Trên thực tế, không có nguồn tài liệu tin cậy nào cho thấy Einstein có nói “Phật giáo bao gồm cả khoa học” tuy ông có ca ngợi Phật giáo có “yếu tố vũ trụ” (cosmic element). Trong bài viết “Tôn giáo và khoa học” trên Thời báo New York năm 1930, Einstein nói đến các mức độ tôn giáo khác nhau. Mức thứ nhất là tôn giáo từ nỗi sợ hãi mà ra. Mức thứ hai là tôn giáo hướng thiện. Mức thứ ba là “ý nghĩa tôn giáo vũ trụ” (cosmic religious sense) mà theo đó người ta muốn cảm nghiệm “cái toàn thể của sự tồn tại như một khối thống nhất đầy ý nghĩa”. Einstein nêu ra một vài ví dụ ý nghĩa tôn giáo ở mức thứ ba này như các câu trong Thánh vịnh (“Psalms”) và Ngôn sứ (“Prophets”) của Kinh thánh Cựu ước, và một số triết gia có tín ngưỡng lẫn vô thần (như Democritus, Francesco xứ Assisi, hay Baruch Spinoza). Trong đó Phật giáo được đánh giá cao là có yếu tố vũ trụ này rất mạnh (“The cosmic element is much stronger in Buddhism…”) 6. Nhưng Einstein không nói rằng Phật giáo là tôn giáo của tương lai hay bao hàm cả khoa học.  Ngoài khát khao tìm kiếm một mục đích tối thượng nào đó (mà có thể không tồn tại) cho mọi thứ trong vũ trụ, thì có lẽ nhiều người lo ngại rường cột đạo đức xã hội hay “phần hồn” bị mất đi khi cổ xúy giá trị của đức tin trong khoa học bằng những câu chuyện dù là thật (như trường hợp Wernher von Braun mà bài trước nêu) hay không chính xác (như trường hợp phát biểu của Alberta Einstein). Sự thực là tuy có những lúc tư duy vô thần cực đoan gây ra tai họa, nhưng nhân loại đây đó đã chứng minh được khả năng sống cuộc đời tốt đẹp, chăm lo cho nhau mà không cần viện dẫn đến thần thánh hay hiện tượng siêu nhiên. Tư duy khoa học cùng những giá trị dân chủ thế tục (trong đó tôn trọng tín ngưỡng và không tín ngưỡng của cá nhân) có lẽ là loại ánh sáng bao trùm mà chúng ta cần.  NGUỒN THAM KHẢO:  [1] Jonathan Evans, Chris Baronavski (2018). How do European countries differ in religious commitment? https://www.pewresearch.org/fact-tank/2018/12/05/how-do-european-countries-differ-in-religious-commitment/  [Trung tâm nghiên cứu Pew (Pew Research Center) là cơ quan nghiên cứu chính sách phi đảng phái, có trụ sở ở thủ đô Washington (Mỹ). Pew chuyên tiến hành các nghiên cứu thăm dò ý kiến toàn cầu.]  [2] European Statistical Office (2019). Crime statistics. https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Crime_statistics  [3] Hemant Mehta (2015). Atheists now make up 0.1% of the federal prison population. https://friendlyatheist.patheos.com/2015/08/21/atheists-now-make-up-0-1-of-the-federal-prison-population/  [Hemant Mehta là một nhà hoạt động vì quyền lợi của người vô thần ở Mỹ. Số liệu của Mehta dựa theo con số công bố của Cục giam giữ (Federal Bureau of Prisons) thuộc Bộ tư pháp Hoa Kỳ. Số liệu này được công bố trong bài kèm với bản sao văn bản công bố số liệu chính thức.]  [4] Edward J Larson, Larry William (1998). Leading scientists still reject God. Nature 394:313. https://www.nature.com/articles/28478  [5] Michael Stirrat, R Elisabeth Cornwell (2013). Eminent scientists reject the supernatural: a survey of the fellows of the Royal Society. Evolution: Education and Outreach 6:33. https://evolution-outreach.biomedcentral.com/articles/10.1186/1936-6434-6-33  [6] Albert Einstein (1930). Religion and science. The New York Times. https://www.nytimes.com/1930/11/09/archives/religion-and-science.html       Author                Nguyễn Trịnh Đôn        
__label__tiasang Phân công, phân nhiệm      Bảo vệ và giải trình chính sách lập pháp  trước Quốc hội về cơ bản là một hành vi hành pháp. Hành vi này thông  thường do các thành viên của Chính phủ đảm nhiệm. Tuy nhiên, ở nước ta,  hành vi này chủ yếu lại do Ủy ban thường vụ Quốc hội – cơ quan thường  trực của Quốc hội, đảm nhiệm.&#160;    Chuyện đổi vai này đã xảy ra sau khi quy   trình lập pháp được sửa đổi và được thể chế hóa trong Luật ban hành văn   bản quy phạm pháp luật năm 2002.  Do ở ta không có sự phân quyền, mà cùng lắm chỉ có sự phân công,  phân nhiệm, nên một công việc của hành pháp được phân công cho lập pháp là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Và điều này không thể bị đánh giá là sai lý thuyết (Ít nhất là lý thuyết của chúng ta). Tuy nhiên, một sự lệch vai như vậy không phải là không để lại những hệ lụy to lớn.  Trước hết, động lực của quá trình lập pháp bị suy giảm nghiêm trọng. Nếu các thành viên của Chính phủ không có quyền bảo vệ các chính sách của mình trước Quốc hội, thì họ cũng ít có động lực để soạn thảo các văn bản pháp luật. Đây là lý do giải thích tại sao chất lượng của các dự thảo văn bản pháp luật ngày một sa sút. Các cơ quan giúp việc của Quốc hội phàn nàn là họ thường phải viết lại từ 70-75% nội dung và thể thức của các dự thảo luật. Đây có thể là thành tích cho một tình thế, nhưng không khéo vẫn chỉ là thất bại cho một quy trình. Bởi vì rằng, nếu một dự luật trước sau gì cũng sẽ bị sửa chữa đến 70-75%, thì việc gì các cơ quan của Chính phủ phải lao tâm khổ tứ trong quá trình soạn thảo?! Đằng nào thì Quốc hội cũng sẽ sửa gần hết, soạn thế nào mà chẳng xong. Tuy nhiên, rủi ro là các cơ quan giúp việc của Quốc hội có thể chưa chắc đã có đủ kiến thức chuyên môn cần thiết. Đó là chưa nói tới việc họ cũng lại bị lệch vai: đáng ra phải phát triển kỹ năng hỗ trợ công việc thẩm định, họ lại phải làm công việc hoạch định và soạn thảo.   Hai là, nếu chính sách lập pháp được đưa vào dự luật không phải là chính sách do Chính phủ trình xin phê chuẩn (mà là chính sách do các cơ quan của Quốc hội đưa vào), thì Chính phủ cũng ít có động lực để triển khai. Đó là chưa nói tới khả năng có những chính sách được bổ sung vào luật mà Chính phủ không biết phải hướng dẫn thi hành như thế nào. Phải chăng đây là một trong những lý do giải thích việc ban hành nghị định để triển khai thi hành luật nhiều khi bị chậm trễ.  Chúng ta đang tiến hành nghiên cứu để sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Xác định lại vai trò của Chính phủ và Quốc hội trong quy trình lập pháp là một nội dung cần được quan tâm xem xét. Vì phân công, phân nhiệm thì cũng nên có triết lý và nên góp phần tạo ra động lực.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân định ranh giới giữa luật công và luật tư ở Đức: Lịch sử, tranh luận và ý nghĩa thực tiễn      Việc phân chia hệ thống pháp luật thành luật  công và luật tư đã trở thành một  truyền thống pháp luật ở Đức cũng như những nước thuộc hệ thống pháp  luật Châu Âu lục địa.     Vấn đề tưởng như đã rõ ràng, đã trở thành kinh điển, nhưng hóa ra vẫn còn đó nhiều vấn đề bỏ ngỏ cần lời giải đáp như: Tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư có từ bao giờ, được kế thừa, phát triển ra sao ở Đức? Những lĩnh vực pháp luật cụ thể nào thuộc luật công, luật tư? và quan niệm của các nhà luật học Đức hiện nay về vấn đề này như thế nào, những vấn đề lý luận nào cần tiếp tục được giải đáp? Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên từ góc nhìn lịch sử pháp luật và thực tiễn lý luận ở CHLB Đức.  1.     Lịch sử phân chia luật công và luật tư  a.     Học thuyết lợi ích  Tư tưởng, học thuyết phân chia luật công và luật tư đã có rất sớm từ thời La Mã cổ đại. Nhà triết học Cicero từ thế kỷ I TCN đã đưa ra quan điểm rằng pháp luật gồm có hai bộ phận cấu thành gồm: những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân  và những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công.1   Đến thế kỷ II SCN, nhà luật học La Mã Ulpian (170–228 SCN) đã đưa ra học thuyết phân chia giữa luật tư và luật công (Ius publicum) dựa trên cơ sở lợi ích (hay còn gọi là học thuyết lợi ích). Học thuyết này phân biệt: Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích của cá nhân.2  b.     Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể   Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể (hay còn gọi là học thuyết quan hệ giữa các chủ thể). Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng thì đó là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh.3  c.     Học thuyết hành vi của chủ thể   Học thuyết đương đại hiện nay ở Đức về phân chia luật công và luật tư là học thuyết dựa trên cơ sở phân loại hành vi của chủ thể.  Theo học thuyết này, việc phân định luật công hay luật tư cần phải dựa trên tiêu chí hành vi của chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật, theo đó luật công là tổng thể những qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể được nhà nước trao quyền nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ công. Luật tư là tổng thể những qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể dựa trên các qui phạm của luật dân sự4.   Ví dụ đơn giản:  –    Một trường Đại học công là pháp nhân của luật công. Khi nhà trường ban hành qui chế và áp dụng đối với sinh viên đó là quan hệ luật công. Khi nhà trường mua văn phòng phẩm, bàn ghế với một cá nhân hoặc doanh nghiệp cụ thể, đó là quan hệ luật tư.  –    Tương tự như vậy, giáo sư ở Đức là một công chức. Khi giáo sư giảng bài, chấm bài cho sinh viên đó là quan hệ pháp luật của luật công. Trong giờ nghỉ, giáo sư đi ra ngoài mua bánh Pizza thì đó lại là quan hệ thuộc sự điều chỉnh của luật tư.     2.     Phê phán điểm hạn chế của các học thuyết  a.     Học thuyết dựa trên lợi ích   Nếu chỉ dựa vào yếu tố lợi ích để phân chia luật công và luật tư thì có nhiều vấn đề pháp lý chưa rõ ràng. Vấn đề nằm ở chỗ thế nào là lợi ích công và thế nào là lợi ích tư?   Thực tế nhiều vấn đề pháp lý thuộc luật công lại liên quan đến cả lợi ích tư và ngược lại.   Ví dụ chế định quyền cơ bản của công dân là một chế định của luật công, thuộc lĩnh vực Luật nhà nước. Tuy nhiên thực tế những quyền cơ bản được qui định trong Luật cơ bản của Đức có mục đích chính là bảo vệ lợi ích tư, lợi ích của công dân. Hoặc một bể bơi, một trường tư trong thành phố được thành lập mặc dù dưới tên gọi là công ty hoạt động theo luật tư nhưng mục đích chính của công ty lại là vì lợi ích công cộng.5    b.     Học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể  Học thuyết này cũng không làm rõ thế nào là “quan hệ bình đẳng”. Quan hệ giữa các bên bình đẳng “trước” hay cần cả “trong” và “sau” mỗi qui phạm pháp luật?   Hơn nữa, nếu thuật ngữ “quan hệ bình đẳng” được thừa nhận đi nữa thì thực tế không phải lúc nào trong quan hệ giữa các chủ thể của luật công cũng là bất bình đẳng. Ví dụ như: Các bên trong hợp đồng công vụ giữa các chủ thể của luật công là các cơ quan nhà nước.   Trong luật tư cũng vậy, không phải mọi quan hệ của luật tư cũng đều là bình đẳng. Thực tế trong luật tư cũng có những quan hệ ít nhiều mang tính thứ bậc do địa vị về kinh tế hoặc địa vị xã hội qui định như: quan hệ giữa cha mẹ và con cái dưới 18 tuổi trong Luật gia đình hoặc giữa người tuyển dụng lao động và người lao động trong Luật lao động.6    c.     Học thuyết dựa trên cơ sở phân loại hành vi của chủ thể   Học thuyết này cũng chưa làm rõ được nhiều vấn đề phát sinh hiện nay là thuộc chế định của luật tư hay luật công. Ví dụ các vấn đề liên quan đến công chứng tư, doanh nghiệp nhà nước đã được tư nhân hóa một phần, trách nhiệm bồi thường nhà nước do người thi hành công vụ gây ra v.v…  Chẳng hạn hiện nay ở Đức việc xác định vấn đề trách nhiệm bồi thường nhà nước là thuộc lĩnh vực luật công hay luật tư vẫn là đề tài có nhiều ý kiến tranh luận. Có người cho rằng đó là một chế định của luật công vì cho rằng bản chất đây là quan hệ giữa một bên là nhà nước và một bên là người bị thiệt hại do hành vi của người thi hành công vụ gây ra (Điều 34 Câu 1 Luật cơ bản).7 Có người cho rằng đây là một chế định của luật tư vì lý thuyết bồi thường nhà nước ra đời là do đòi hỏi nhà nước pháp quyền, bản chất quan hệ giữa nhà nước và người bị thiệt hại ở đây là quan hệ bình đẳng, bên nào gây ra thiệt hại thì bên đó phải bồi thường và Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo luật là Tòa dân sự, không phải là Tòa hành chính (Điều 839 Bộ luật dân sự, Điều 34 Câu 3 Luật cơ bản).8 Cụ thể hơn trong lĩnh vực này, nếu chỉ căn cứ vào yếu tố hành vi bên ngoài cũng rất khó để xác định ranh giới luật công và luật tư, chẳng hạn như trường hợp một cảnh sát gây thiệt hại cho một công dân trong quá trình thi hành công vụ, về hình thức đây là trường hợp thuộc trách nhiệm bồi thường nhà nước, nhưng nếu ẩn sau hành vi gây thiệt hại đó là một động cơ cá nhân thì nhà nước có bồi thường không và thuộc lĩnh vực luật công hay luật tư? Làm thế nào để xác định điều này? Hoặc trong trường hợp hành vi thực hiện chức năng hành chính của nhà nước, nhưng dưới hình thức tổ chức của luật tư trong lĩnh vực luật tư hành chính9 mà gây thiệt hại cho bên thứ ba, ví dụ cảnh sát thuê một công ty tư nhân vận chuyển một chiếc xe đỗ trái phép. Hành vi của công ty tư nhân có phải là hành vi nhân danh công quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước hay không? Khi thực hiện việc vận chuyển chiếc xe đỗ trái phép đó mà gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về ai? Vấn đề này hiện còn bỏ ngỏ và gây rất nhiều tranh cãi ở Đức.10  Như vậy, ngay cả với học thuyết phân loại hành vi, nếu chỉ dựa vào duy nhất một tiêu chí là căn cứ vào hành vi của chủ thể thì trong nhiều trường hợp cũng không làm rõ được vấn đề pháp lý thuộc lĩnh vực nào, luật công hay luật tư. Thực tế hiện nay ở Đức khi cần phải nhận diện một qui phạm pháp luật nào đó thuộc luật công hay luật tư, các nhà khoa học vận dụng đồng thời cách thức phân chia của cả ba học thuyết nói trên, dựa trên cả ba tiêu chí lợi ích, quan hệ giữa các chủ thể và hành vi của các chủ thể để xác định.11  Chính sự hạn chế của các học thuyết phân chia luật công và luật tư ở Đức nên việc xác định lĩnh vực pháp luật cụ thể nào thuộc luật công và những lĩnh vực pháp luật nào thuộc luật tư cũng còn có những ý kiến khác nhau.12  Theo từ điển pháp luật và các giáo trình luật ở Đức thì các lĩnh vực pháp luật được phân chia như sau:  Những lĩnh vực pháp luật thuộc luật tư gồm:  –    Luật dân sự,  –    Luật kinh doanh (bao gồm Luật thương mại, Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh,  –    Luật về séc và các giấy tờ có giá trị,  –    Luật lao động,  –    Luật bảo hiểm tư nhân13.   Những lĩnh vực pháp luật thuộc luật công được hiểu theo hai nghĩa:  –    Nghĩa hẹp, luật công chỉ bao gồm luật nhà nước và luật hành chính.   –    Nghĩa rộng, luật công còn bao gồm cả Luật hình sự, Luật tố tụng (bao gồm luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, Luật thuế, Luật quốc tế  và Luật liên minh Châu Âu.14   3.     Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tế  Phân định ranh giới giữa luật công và luật tư là việc làm cần thiết và có ý nghĩa nhiều mặt cả về mặt lý luận và thực tế ở Đức.   Về lý luận, việc phân chia này sẽ giúp xây dựng và đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ của cả hệ thống pháp luật.   Về thực tế, việc xác định ranh giới giữa luật công và luật tư đem lại hiệu quả thiết thực đối với cả ba hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử.   Đối với hoạt động xây dựng pháp luật, việc phân chia ranh giới giữa luật công và luật tư sẽ giúp các nhà làm luật xác định được vấn đề nào cần phải điều chỉnh, điều chỉnh bằng phương pháp gì, mức độ điều chỉnh ra sao thì phù hợp. Chẳng hạn, khi xác định vấn đề pháp luật cạnh tranh là lĩnh vực thuộc luật tư thì nhà làm luật sẽ không dùng những phương pháp hoặc công cụ có tính mệnh lệnh, hành chính để điều chỉnh hay áp đặt cho những quan hệ pháp luật của lĩnh vực này.   Đối với hoạt động áp dụng pháp luật, khi đã xác định được vấn đề nào thuộc luật công, vấn đề nào thuộc luật tư, việc vận dụng qui phạm pháp luật để giải quyết cho phù hợp cho từng trường hợp cũng như việc xác định hậu quả pháp lý sẽ trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn. Chủ thể áp dụng pháp luật có thể xác định được nguyên tắc, biện pháp hay công cụ nào được sử dụng. Tuy nhiên trên thực tế, một tình huống pháp luật thường liên quan đến cả các qui phạm của luật công và luật tư, do vậy việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính cần phải có am hiểu một cách đầy đủ các qui định pháp luật của cả luật công và luật tư.  Ví dụ một vụ tai nạn giao thông ở Đức, để giải quyết hậu quả pháp lý, có thể cần đến việc xem xét nhiều qui phạm pháp luật liên quan đồng thời đến cả luật công và luật tư, tùy tính chất, mức độ. Cụ thể:  – Liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại: Điều 7 Luật giao thông đường bộ, Điều 823 Bộ luật dân sự và Điều 1 Luật bảo hiểm trách nhiệm.  – Liên quan đến việc tước bằng lái xe: Nếu người điều khiển phương tiện mà nồng độ cồn trong máu hoặc trong khí thở vượt quá mức cho phép có thể bị tước bằng lái xe (Điều 3 Luật giao thông đường bộ).  – Liên quan đến truy cứu trách nhiệm hình sự: Nếu điều khiển phương tiện gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe hoặc tính mạng người khác thì căn cứ vào kết luận của cảnh sát hoặc cơ quan công tố, người điều khiển phương tiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 315c hoặc 316 Bộ luật hình sự.  – Liên quan đến trách nhiệm bồi thường nhà nước: Nếu người điều khiển phương tiện là cảnh sát đang trong quá trình thi hành công vụ mà gây tai nạn cho công dân một cách có lỗi thì trường hợp này lại liên quan đến trách nhiệm bồi thường của nhà nước do người thi hành công vụ gây ra (theo Điều 34 Luật cơ bản, Điều 839 Bộ luật dân sự).  Trong hoạt động xét xử, việc xác định vấn đề pháp lý nào thuộc lĩnh vực luật công hay luật tư cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Trước hết việc xác định tranh chấp thuộc lĩnh vực nào sẽ xác định được rõ vấn đề Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết, qui phạm pháp luật nào sẽ được thẩm phán vận dụng để xử lý tình huống pháp lý. Ngày nay đứng trước xu hướng tư nhân hóa, xã hội hóa các nhiệm vụ của nhà nước, ngày càng nhiều những chủ thể thực nhiện chức năng hành chính nhưng lại hoạt động dưới hình thức pháp lý của luật tư (thuộc lĩnh vực luật tư hành chính) ví dụ như hoạt động “công chứng tư”. Vấn đề pháp lý đặt ra là khi thực hiện những công việc thuộc chức năng hành chính như vậy mà gây thiệt hại cho một bên thứ ba thì đó là quan hệ pháp luật hành chính (thuộc luật công) hay quan hệ dân sự (thuộc luật tư), Tòa án nào sẽ có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc: Tòa hành chính hay Tòa dân sự? Ở Đức, đây là vấn đề cũng còn gây nhiều tranh cãi15, mặc dù, dưới góc độ luật thực định, trong những trường hợp như vậy, pháp luật vẫn qui định Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị xâm hại (Điều 34 Khoản 3 Luật cơ bản 1949, Điều 14 Khoản 3 Câu 4 Luật cơ bản 1949, Điều 839 Bộ luật dân sự Đức 1900).   Tóm lại, qua việc nghiên cứu dưới góc độ lý luận – lịch sử các học thuyết phân chia giữa luật công và luật tư, lấy ví dụ từ thực tiễn pháp luật của CHLB Đức như trên, có thể rút ra những nhận định khoa học như sau:  –    Tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư đã xuất hiện rất sớm từ thế kỷ thứ I TCN, ở La Mã cổ đại. Trong số những tư tưởng học thuyết về vấn đề này, đến nay về mặt lý thuyết ở Đức tồn tại ba học thuyết: Học thuyết dựa trên cơ sở lợi ích, học thuyết dựa trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể  và học thuyết dựa trên cơ sở phân loại hành vi của chủ thể. Quá trình hình thành và phát triển của những học thuyết này cho thấy sự đa dạng của các học thuyết, các cách thức phân chia và dòng chảy liên tục của lịch sử trong việc tìm lời giải xác định ranh giới giữa luật công và luật tư.  –    Các học thuyết nói trên đều có những ưu điểm, đều dựa trên những tiêu chí xác định cụ thể. Tuy vậy cả ba học thuyết cũng đều chứa đựng những hạn chế nhất định và chưa có học thuyết nào giải đáp các trường hợp trên thực tế phát sinh ngày càng đa dạng một cách rạch ròi, đầy đủ, toàn diện đâu là luật công, đâu là luật tư. Chính vì lý do đó, các nhà khoa học pháp lý ở Đức hiện nay vận dụng đồng thời những giá trị tích cực, cách thức phân chia của cả ba học thuyết này, trên cả ba tiêu chí lợi ích, quan hệ giữa các chủ thể và hành vi của các chủ thể.  –    Các nhà lý luận luôn muốn phân chia rõ ràng giữa luật công và luật tư, nhưng trên thực tế bản chất các tình huống pháp lý phát sinh lại không rạch ròi như vậy. Chính sự đa dạng và phát triển liên tục của các quan hệ pháp lý dẫn đến việc phân chia các lĩnh vực thuộc luật công và luật tư ở Đức về lý luận cũng chỉ có giá trị tương đối.   –    Quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật luôn đa dạng, đa chiều và phức tạp. Rắc rối chính nằm ở chỗ một tình huống pháp luật phát sinh, với tính chất, mức độ khác nhau, đều có thể đồng thời trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến các qui phạm pháp luật của cả luật công và luật tư. Đây mới thực sự là vấn đề gây đau đầu các nhà lý luận và là điều lý thú muôn đời trong quan hệ giữa lý luận pháp luật và thực tế cuộc sống.   –    Ngày nay xu hướng tư nhân hóa, xã hội hóa những nhiệm vụ của nhà nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia. Điều này cũng khiến cho vị trí, vai trò của nhà nước liên tục có sự thay đổi. Khi nhà nước không còn “đứng trên” hay “đứng ngoài”, mà “đứng trong” pháp luật, nhà nước là “một bên” trong các quan hệ pháp luật, bình đẳng như mọi công dân, tổ chức khác, thì vấn đề phân chia ranh giới giữa luật công và luật tư có lẽ cũng nên đặt ra nhu cầu mới phải nhận thức lại hoặc thay đổi.   —      1 Meder, Rechtsgeschichte, 2. Aufl. 2005, S. 84 f.  2 Nguyên bản Tiếng la tinh “Publicum ius est quod ad statum rei Romanae spectat, privatum quod ad singulorum utilitatem”. Dịch sang Tiếng Đức: “Öffentliches Recht ist das, was sich auf die Ordnung des römischen Staates bezieht, Privatrecht das, was sich auf die Interessen der Einzelnen bezieht”. (Nguồn: Schmoeckel/ Stolte, Examinatorium Rechtsgeschichte, 2008, S. 139). Dịch sang Tiếng Việt: Luật công là luật liên quan đến trật tự của nhà nước La Mã, luật tư là luật liên quan đến lợi ích của cá nhân (Tác giả).  3 Người đầu tiên xây dựng học thuyết quan hệ giữa các chủ thể này là nhà luật học người Đức Robert von Mohl (1799 – 1875). Mohl là nhà luật học nổi tiếng, là cha đẻ của học thuyết nhà nước pháp quyền. Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm nhà nước pháp quyền ở Đức (Rechtsstaat) và chỉ ra rằng nhà nước pháp quyền là nhà nước đối lập với nhà nước cảnh sát (Polizeistaat).  4 Schoch/Schmidt-Aßmann/Pietzner, Verwaltungsgerichts-ordnung, Kommentar, Stand: Juli 2009 (18. Ergänzungslieferung), 40, Rn. 235 ff.; Wolff/ Bachof/ Stober, Verwaltungsrecht, Bd. 1, 12. Aufl., 2007, 22, Rn. 28 ff.  5 Xem: Ipsen, Allgemeines Verwaltungsrecht, 2000, Rn 16ff.  6 Xem: Ipsen, Allgemeines Verwaltungsrecht, 2000, Rn 21 ff.; Hufen, Verwaltungsprozessrecht, 4. Aufl., 2000, S. 3 ff.  7 Baldus/Grzeszick/Wienhues, Staatshaftungsrecht, Das Recht der öffentlichen Ersatzleistungen, 3 Aufl., 2009, Rn. 6–10.  8 Detterbeck/ Windthorst/Sproll, Staatshaftungsrecht, 2000, S. 3.  9 Luật tư hành chính (Verwaltungsprivatrecht) ở Đức là lĩnh vực mà các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ hành chính thông qua hình thức của Luật tư (Privatrechtliches Handeln der öffentlichen Verwaltung). Những hành vi này được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ vì lợi ích công cộng (Daseinsvorsorge), phục vụ những nhu cầu thiết yếu như điện, nước, giáo dục, y tế v.v… Để phân biệt giữa luật tư hành chính và luật công hành chính, nhà luật học người Đức Hans Peter Ipsen đã xây dựng và phát triển học thuyết hai cấp độ – Zweistufentheorie. (Xem: Sodan/Ziekow, Grundkurs Öffentliches Recht, 4. Aufl., 2010, S. 450).  10 Peine, Allgemeines Verwaltungsrecht, 7. Aufl., 2004, Rn. 63 ff.  11 Sodan/Ziekow, Grundkurs Öffentliches Recht, 4. Aufl., 2010, S. 450 ff.  12 So sánh quan điểm của các tác giả khác nhau về vấn đề này: Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn.107f.; Giống: Sodan/Ziekow, Grundkurs Öffentliches Recht, 4. Aufl., 2010, S.450ff. Khác: Creifelds, Rechtswörterbuch, 19. Aufl., 2007, S. 931.  13 Creifelds, Rechtswörterbuch, 19. Aufl., 2007, S. 931.  14 Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn.107f.; Sodan/Ziekow, Grundkurs Öffentliches Recht, 4. Aufl., 2010, S.450ff.  15 Sodan/Ziekow, Grundkurs Öffentliches Recht, 4. Aufl., 2010, S. 450ff.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản hồi sau bài: Tôn vinh cái gì? Thói háo danh hay thành tích học thuật?      Đọc đến đoạn “Cách đây ít năm, đã có một nỗ lực cùng loại nhưng tầm cỡ nhỏ hơn: một nhóm nào đó đứng ra tổ chức tiếp cận những người có bằng tiến sĩ các loại, tập hợp tư liệu tiểu sử, ảnh chân dung và liệt kê công trình khoa học rồi in thành 2 tập“Tiến sĩ Việt Nam hiện đại” nghe nói bán rất chạy; rất chạy là vì mỗi vị có tên trong đó sẽ mua ít nhất 1 cuốn! Còn tác dụng của 2 tập sách mỗi cuốn trên dưới ngàn trang in đó thì không thấy ai nói là có hay không!” trong bài viết của Lại Nguyên Ân trên Tia Sáng về chuyện văn bia tiến sĩ hiện đại làm tôi nhớ đến một câu chuyện vui cũng lâu rồi.      Sáng hôm đó một nghiên cứu sinh trong lab tôi (nguyên là bác sĩ về ung thư) gõ cửa office tôi vui vẻ nói cô được Who is Who in Medicine chọn để đưa tiểu sử và công trình của cô vào sách. Cái Who is Who in Medicine này thậm chí còn gửi hẳn một mẫu giấy chứng chỉ rất đẹp (giấy cứng) in tên cô một cách trang trọng. Cô hỏi tôi có nên báo cho Viện biết là mình vừa nhận được một vinh dự? Tôi cũng có kinh nghiệm vụ này (vì hồi xưa tôi cũng nằm trong tình thế của cô ấy và được thầy giải thích), nên bảo cô ngồi xuống và giải thích câu chuyện đằng sau cái “vinh dự” này.   Nói một cách ngắn gọn đó chỉ là một mánh khóe làm tiền rất hay của một số công ty bên Mỹ. Họ hiểu được và khai thác triệt để tâm lí của giới trẻ mới vào khoa học (muốn lưu danh hậu thế) để làm tiền. Hằng năm, mấy công ty này truy tìm trong các tập san khoa học để tìm các tác giả mới xuất hiện. Họ thừa biết đây là những nghiên cứu sinh đang làm tiến sĩ hay thạc sĩ, và chưa có kinh nghiệm nên dễ bị gạt. Khi thấy có tên tác giả mới, họ bèn gửi một lá thư cho tác giả, thường có nội dung đại khái như “Chúng tôi hân hạnh báo tin cho bạn biết rằng bạn đã được một hội đồng khoa học bình chọn làm nhân vật xuất sắc trong năm qua đóng góp của bạn cho ngành XYZ. Chúng tôi xin thành thật chúc mừng bạn. Để vinh danh bạn, chúng tôi muốn đưa tiểu sử bạn vào kỉ yếu ABC. blah blah blah ….” Nếu đương sự ok, họ làm thủ tục gọn nhẹ. Xong xuôi đâu đó, họ không quên gửi một invoice. Thông thường, người có tên trong sách phải trả họ khoảng 300 hay 500 USD và họ gửi cho một cuốn sách dày cộm. Nhưng nếu năm sau không trả tiền cho họ thì họ sẽ loại tên ra khỏi sách.   Không phải chỉ Who is Who in Medicine mà còn cả hàng trăm công ty khác cũng làm tiền như thế. Có công ty còn lấy tên rất kêu như “Academy” để kết nạp hội viên. Trong thực tế, có nhiều nhà khoa học trong nước bị làm tiền vì cái trò này. Mấy năm trước khi về Hà Nội tôi còn nghe một câu chuyện vui mà có thật: một nhà khoa học nọ ở Hà Nội (sau này trở thành người tích phản kháng chính quyền) được New York Academy of Science kết nạp làm hội viên, và thế là ông mở tiệc ăn mừng suốt 3 ngày liền, rồi gắn danh hiệu viện sĩ trước tên mình. Chính vì câu chuyện này nên tôi có cảm hứng viết bài những ngộ nhận danh xưng tốn kém trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn.   Nay có nhóm trong nước muốn làm theo kiểu này. Thật ra, người chủ trương kinh doanh như thế chẳng có gì sai, vì chỉ là business thôi mà. Mà, business này cũng chẳng có gì bất chính. Chỉ có nhà khoa học hay các vị tiến sĩ bị làm con cờ và đơn vị cho họ làm tiền mới là đáng nói.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam      T&#243;m lược. Tr&#234;n b&#236;nh diện quốc gia, hai chỉ ti&#234;u thường được sử dụng để đ&#225;nh gi&#225; năng lực &nbsp;khoa học của một nước l&#224; số lượng ấn phẩm khoa học được c&#244;ng bố tr&#234;n c&#225;c tập san khoa học quốc tế c&#243; hệ thống b&#236;nh duyệt (peer reviewed journals), v&#224; số lần tr&#237;ch dẫn (citations) của những b&#224;i b&#225;o khoa học.&nbsp; B&#224;i viết n&#224;y ph&#226;n t&#237;ch c&#225;c ấn phẩm khoa học Việt Nam v&#224; c&#225;c nước trong v&#249;ng Đ&#244;ng Nam &#193; tr&#234;n c&#225;c tập san khoa học quốc tế từ năm 1996 đến 2005, v&#224; chỉ số tr&#237;ch dẫn của những ấn phẩm khoa học trong thời gian 2000-2001. Kết quả cho thấy trong thời gian 1996-2005, Việt Nam c&#244;ng bố được 3456 c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu khoa học, v&#224; số ấn phẩm khoa học n&#224;y đứng v&#224;o h&#224;ng thấp nhất trong v&#249;ng: bằng khoảng 1/5 số b&#224;i b&#225;o từ Th&#225;i Lan (n = 14.594), 1/3 Malaysia (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), v&#224; thấp hơn&nbsp;Indonesia (n = 4.389) v&#224; Philippines (n = 3901).&nbsp;&nbsp;       Nhưng về chất lượng, ấn phẩm khoa học Việt Nam có phần cao hơn các nước trong vùng, với số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo trong vòng 5 năm là 9,74 lần. Chất lượng ấn phẩm khoa học Việt Nam chủ yếu nhờ vào các công trình hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài.  Qua phân tích, một số đề nghị được đưa ra nhằm cải tiến tình hình: (a) hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế như là một tiêu chuẩn để đánh giá (hay “nghiệm thu”?) một dự án khoa học; (b) khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án; (c) cần có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế; và (d) khuyến khích các tập san khoa học Việt Nam vươn đến tầm quốc tế.      1.  Lượng và chất trong nghiên cứu khoa học  Bất cứ học thuyết xã hội nào cũng nhất trí một điều là nếu một quốc gia muốn trở thành một thành viên có uy tín trên trường quốc tế, ngoài vị trí kinh tế – chính trị, nghiên cứu và phát triển khoa học (R&D) đóng một vai trò then chốt. Bắt chước người khác, bán sản phẩm và công nghệ của người khác, hay gia công sản phẩm có thể đem lại vài thành quả ngắn hạn, nhưng không thể là nền móng cho phát triển về lâu dài. Khả năng bắt chước và khả năng sáng tạo có thể phân biệt qua các chỉ số phát triển công nghệ và các sản phẩm tri thức. Sản phẩm tri thức và sáng tạo được hình thành từ những nghiên cứu khoa học. Singapore, Đài Loan, và Hàn Quốc không thể phát triển như ngày nay nếu không có chiến lược đầu tư lâu dài cho nghiên cứu khoa học. Bài học từ các nước này là khả năng sáng tạo trong khoa học và công nghệ là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của một nước. Do đó, nghiên cứu khoa học đóng một vai trò cực kì quan trọng trong công cuộc đưa đất nước chuyển biến sang một nền kinh tế tiên tiến và góp phần tạo nên một vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế.    Đánh giá năng lực khoa học của một nước không đơn giản chút nào, vì thành tựu của nghiên cứu khoa học thường không thể cân đo đong đếm như sản phẩm kĩ nghệ. Không giống như hoạt động sản xuất kĩ nghệ với những sản phẩm vật chất cụ thể mà công chúng có thể sử dụng được cho cuộc sống hằng ngày, sản phẩm của nghiên cứu khoa học – nhất là nghiên cứu khoa học cơ bản – thường mang tính trừu tượng, rất ít khi nào gần gũi trực tiếp với người tiêu dùng. Trong nhiều trường hợp, thành tựu của nghiên cứu khoa học chỉ hiển nhiên sau vài ba chục năm sau khi công trình nghiên cứu hoàn tất. Chẳng hạn như các nghiên cứu về khả năng truyền dẫn hình ảnh qua fibre optics trong thập niên 1950, phải đợi đến 30 năm sau mới tìm được ứng dụng của thành tựu này qua việc phát triển các máy nội soi trong y khoa. Tương tự, khám phá về vai trò của testosterone (một hormone nội tiết nam) trong thập niên 1930, nhưng phải chờ đến 40 năm sau mới tìm thấy ứng dụng trong lâm sàng và chăn nuôi.    Mặc dù các phương pháp sử dụng để đánh giá khả năng khoa học vẫn còn trong vòng tranh cãi, nói chung cộng đồng quốc tế nhất trí rằng có thể sử dụng một số chỉ tiêu để xếp hạng khả năng khoa học giữa các nước. Chỉ tiêu quan trọng nhất là số lượng ấn phẩm khoa học và chất lượng nghiên cứu. Số lượng bài báo khoa học phản ảnh “sản lượng” của một nền khoa học, và mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu của một nước. Trên thế giới ngày nay có hơn 100.000 tập san khoa học đủ loại với chất lượng “thượng vàng hạ cám”; do đó, chỉ có một số tập san được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận là nghiêm chỉnh và đáng tin cậy, và các tập san này (chỉ khoảng trên dưới 4000) nằm trong danh mục của tổ chức Thomson Scientific Information (trước đây gọi là ISI hay Institute of Scientific Information).  Trung Quốc có 4497 tập san khoa học (số liệu năm 2003), nhưng chỉ có 67 tập san được công nhận và liệt kê trong danh bạ của ISI.  Hằng năm, tổ chức Thomson thu thập tất cả các bài báo trên thế giới, kể cả các chi tiết như tên và địa chỉ của tác giả, nước xuất phát, đề tài, lĩnh vực nghiên cứu, năm công bố, số lần trích dẫn, v.v… Dựa vào các số liệu này, chúng ta có thể đánh giá một phần tình trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta và so sánh với các nước trong vùng 1  Đánh giá chất lượng nghiên cứu là một việc làm rất khó, vì cộng đồng khoa học vẫn chưa nhất trí một chuẩn mực thống nhất cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu.  Tuy nhiên, hai chỉ số thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor), và số lần trích dẫn (citation index).  Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng là số lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước 2 Do đó, những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao cũng có thể đồng nghĩa với chất lượng cao của công trình nghiên cứu.  Chẳng hạn như một nghiên cứu được công bố trên các tạp chí như Science, Nature, Cell, PNAS, New England Journal of Medicine, Lancet, v.v… chắc chắn phải có chất lượng cao hơn các nghiên cứu công bố trên các tạp chí ở Á châu, Âu châu hay tạp chí chuyên ngành ở Mỹ. Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số tác dụng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học).   Nhưng hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tạp chí chứ không hẳn phản ảnh chất lượng của một bài báo cụ thể. Vì thế, một cách đánh giá chất lượng khác công bằng hơn là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo mà nhà khoa học đã công bố. Có thể nói ví von rằng số lần trích dẫn là âm vang của một công trình nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu có chất lượng có khả năng gây ảnh hưởng trong chuyên ngành, và được nhiều đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn. Do đó, chỉ số trích dẫn phản ảnh khá chính xác chất lượng một công trình nghiên cứu khoa học.  Chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn phản ảnh chất lượng khoa học. Thật vậy, một nghiên cứu trong thập niên 1970 về tần số trích dẫn các nghiên cứu công bố trước khi các nhà khoa học được trao giải Nobel cho thấy tính trung bình, số lần trích dẫn là 62 (so với tần số trung bình của tất cả các nhà khoa học là 6 lần). Do đó, dù có vài biệt lệ và khiếm khuyết, số lần trích dẫn và hệ số ảnh hưởng của tạp chí phản ảnh chất lượng nghiên cứu.  Liên quan đến Việt Nam, theo tôi biết vẫn chưa có một phân tích về chất lượng nghiên cứu khoa học qua số lần trích dẫn một cách chi tiết và so sánh với các nước khác trong vùng.  Vì thế, tôi tiến hành một phân tích về chất lượng các ấn phẩm khoa học trên các tập san khoa học quốc tế.  Phân tích này nhằm trả lời hai câu cụ thể: thứ nhất, chất lượng nghiên cứu khoa học đang ở vị trí nào; và thứ hai, có mối liên hệ nào giữa ấn phẩm khoa học và đầu tư cho khoa học.  Hi vọng qua kết quả trả lời hai câu hỏi trên, các nhà chức trách có thể tìm cách để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta.  Để trả lời hai câu hỏi trên, tôi sử dụng hệ thống “Web of Science” của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information) để thu thập số lượng ấn phẩm khoa học, và tần số trích dẫn cho từng bài báo từ Việt Nam.  Về số lượng ấn phẩm, tôi chọn thời gian khảo sát trong vòng 10 năm, từ 1996 đến 2005. Để phân tích chất lượng ấn phẩm nghiên cứu, tôi chọn các ấn phẩm trong thời gian 2000-2001.  Tôi chọn thời gian này vì hai lí do chính : (a) một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng khoa học thẩm định và tham khảo, và qua kinh nghiệm, chúng tôi chọn thời gian 5 năm sau công bố để tính số lần trích dẫn vì thời gian 5 năm có thể nói là “đủ” để một công trình nghiên cứu có khả năng gây tác động ; và (b) số lượng bài báo hàng năm từ Việt Nam còn thấp (dao động khoảng 330 đến 350 bài), cho nên nếu làm phân tích số bài báo trong vòng một năm e rằng không đủ số liệu để phân tích theo chuyên ngành, và vì thế chúng tôi quyết định chọn thời gian 2 năm để tăng số lượng bài báo và qua đó tăng độ tin cậy thống kê của các ước số.     2.  Ấn phẩm khoa học 1996-2005  Trong thời gian 1996 đến 2005, có tất cả 3.456 bài báo khoa học trên các tập san ISI có địa chỉ từ Việt Nam.  Con số bài báo từ Việt Nam nếu mới nhìn qua có thể gây “ấn tượng”, nhưng trên thực tế, chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, 1/3 của Malaysia , và 1/14 của Singapore.  Ngay cả so với Philippines (3901 bài) và Indonesia (4389 bài), số bài báo khoa học từ nước ta vẫn thấp hơn.   Lĩnh vực nghiên cứu.  Bảng 1 sau đây cho thấy một số xu hướng đáng chú ý giữa các nước.  Chẳng hạn như Thái Lan khá mạnh về lĩnh vực y sinh học (số bài báo trong lĩnh vực này chiếm gần 43% tổng số bài báo khoa học từ Thái Lan), trong khi đó Singapore thì mạnh về các lĩnh vực kĩ thuật (chiếm 40% tổng số bài báo khoa học).  Philippines là nước có nhiều bài báo về nông nghiệp (chiếm gần 29% tổng số bài báo khoa học), tức gần gấp hai hay ba lần Việt Nam, Indonesia , Malaysia  hay Thái Lan.  Số lượng bài báo khoa học liên quan đến ngành toán và vật lí từ Việt Nam chiếm gần một phần tư tổng số bài báo khoa học, nhưng ở các nước như Thái Lan, Malaysia , Indonesia và Philippines  con số này chỉ dao động từ 0,5% đến 4%.  Ngay cả ở Singapore, các bài báo toán  học và vật lí học cộng lại chỉ khoảng 11%, chưa bằng tỉ lệ của một ngành toán ở Việt Nam.  Các kết quả này cho thấy ngành toán và vật lí là hai ngành “mạnh” ở nước ta.  Tuy nhiên, khi so sánh với các lĩnh vực khác trong nước thì số lượng bài báo từ ngành y sinh học chiếm đến 24% (tức gấp hai lần số bài về toán hay vật lí)  tổng số bài báo khoa học.    Malaysia tuy rất khiêm tốn về toán, nhưng tỉ lệ bài báo liên quan đến ngành kĩ thuật và hóa học thì cao gần gấp hai tỉ lệ của Việt Nam và các nước trong vùng.  Điều đáng ngạc nhiên là công nghệ sinh học thuần túy còn rất khiêm tốn ở trong vùng, với số lượng bài báo khoa học chỉ dao động trong khoảng 1-4%.                Bảng 1.  Phần trăm các bài báo khoa học 1996-2005 tính cho từng nước và phân chia theo lĩnh vực nghiên cứu              Lĩnh vực nghiên cứu      Việt Nam      Thái Lan      Malaysia      Indonesia      Philippines      Singapore          Y sinh học      24,3      42,8      22,4      29,5      25,0      16,6          Toán       11,0      0,8      2,3      0,5      2,1      3,8          Vật lí      12,9      1,5      2,0      4,4      2,1      6,8          Kĩ thuật       10,5      16,4      22,2      14,8      9,3      40,4          NN      12,6      9,2      10,0      14,7      28,7      0,9          Hóa học      12,9      13,6      20,0      13,0      5,0      11,9          Vật liệu      5,8      5,1      10,9      3,6      2,8      11,4          MT      4,0      5,3      3,7      11,9      14,5      1,8          Kinh tế      2,5      1,2      2,5      4,0      3,5      3,4          CNSH      1,3      2,3      2,2      1,7      3,8      0,9          KHXH      1,6      1,3      1,4      1,3      2,7      1,7          Tổng cộng       100  (n=3456)      100  (n=14594)      100 (n=9742)      100 (n=4389)      100  (n=3901)      100 (n=45633)          Chú thích: Vì làm chẵn, cho nên khi cộng lại tổng số có thể trên hay dưới 100%; n là tổng số bài báo trong thời gian 1996-2005.                Nội lực và hợp tác.  Một điều đáng quan tâm hơn là phần lớn các nghiên cứu khoa học từ Việt Nam còn phụ thuộc vào các “ngoại lực” quá nhiều.  Theo một phân tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển 3, có đến 75% các công trình khoa học từ Việt Nam do đứng tên chung hoặc hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài.    Trong phân tích này, tôi ghi nhận khoảng 20% các bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 là do nội lực (tức không hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài).  Tuy nhiên tỉ lệ nội lực dao động rất lớn giữa các ngành (Biểu đồ 1).  Chẳng hạn như trong ngành y sinh học, một ngành tương đối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo được công bố trên các tập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng các ngành có tỉ lệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học (41%).  Riêng 11 bài báo liên quan đến ngành công nghệ sinh học, 100% là do hợp tác với nước ngoài.  Chưa có dữ liệu về các công trình nội lực và hợp tác cho các nước trong vùng, nên chưa thể so sánh với nước ta.                 Biểu đồ 1.  Phần trăm bài báo hoàn toàn do nội lực.  Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.           Phân tích tăng trưởng cho tất cả các nước trong vùng đều có xu hướng tăng trưởng số lượng bài báo khoa học, nhưng mức độ tăng trưởng khác nhau giữa các nước (Biểu đồ 2).  Tính trung bình, ấn phẩm khoa học Việt Nam tăng khoảng 26% mỗi năm (41 bài/năm); tỉ lệ tăng trưởng này tương đương với Singapore (khoảng 27% hay 480 bài/năm) và Malaysia (24% hay 114 bài/năm), cao hơn Indonesia (tăng 9% hay 29 bài/năm) và Philippines (8% hay 23 bài/năm), nhưng thấp hơn Thái Lan (45% hay 222 bài/năm).                  Biểu đồ 2. Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên các tập san khoa học quốc tế tính từ 1996 đến 2005 (biểu đồ bên trái), và cụ thể cho 3 nước Việt Nam, Indonesia và Philippines với số lượng bài báo dưới 1000 (biểu đồ phía phải).          Phân tích tốc độ tăng trưởng số bài báo khoa học từng ngành trong hai thời kì 1996-2000 và 2001-2005 (Biểu đồ 3) cho thấy các ngành “khiêm tốn” (tức có ít bài báo khoa học so với tổng thể) thường có tỉ lệ tăng trưởng cao hơn những ngành được xem là “mạnh” của nước ta như toán học.  Chẳng hạn như ngành môi trường học, số bài báo trong thời kì 2001-2005 tăng gấp 2,74 lần so với thời kì 1996-2000 (từ 51 tăng lên 140 bài), nông nghiệp tăng 2,67% (từ 92 lên 246 bài), công nghệ sinh học tăng 2,62 lần (từ 16 tăng lên 42 bài).  Đáng chú ý là ngành y sinh học vẫn duy trì tốc độc tăng trường gần 2 lần trong thời kì 2001-2005 so với 1996-2000.  Tuy nhiên, ngành toán có tỉ lệ tăng trưởng dưới trung bình (20%).                    Biểu đồ 3.  Phần trăm tăng trưởng số bài báo khoa học từ Việt Nam trong hai thời kì 1996-2000 và 2001-2005.  Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.              3.  “Chất lượng” nghiên cứu khoa học  Một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng khoa học thẩm định và tham khảo.  Nói chung, một bài báo có ảnh hưởng lớn là một bài báo được nhiều đồng nghiệp trích dẫn và tham khảo trong những năm sau đó.  Để đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, tôi xem xét những bài báo công bố trong năm 2000-2001 và thu thập số lần trích dẫn những bài báo này trong 5 năm sau.  Tính trung bình, mỗi bài báo từ Việt Nam công bố trong thời kì 2000-2001 được trích dẫn 9,7 lần trong 5 năm sau.  Tỉ lệ trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so với các nước trong vùng (xem Bảng 2).  Các nước khác tuy có số lượng bài báo cao hơn nước ta, nhưng số lần trích dẫn trung bình thấp hơn nước ta.                    Bảng 2.  Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên các tập san khoa học quốc tế trong thời gian 2000-2001, và số lần trích dẫn từ 2001 đến 2006             Nước      Số lượng bài báo 2000-2001      Tổng số lần trích dẫn 2001-2006      Số lần trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo      Hệ số h (1)          Việt Nam      675      6576      9,74      33          Thái Lan      2.590      23.550      9,09      50          Malaysia      1.810      11.681      6,45      37          Indonesia      954      9036      9,47      36          Philippines      717      6.688      9,33      32          Singapore      7.605      70.393      9,26      75             Chú thích: Tổng số bài báo tính từ cơ sở dữ liệu của SCI-Expanded, SSCI, A&HCI.  (1) Hệ số h có nghĩa là có h bài báo với số lần trích dẫn h hay cao hơn.  Ví dụ: hệ số h = 33 của Việt Nam có nghĩa là có 33 bài báo từ Việt Nam công bố trong thời gian 2000-2001 được trích dẫn ít nhất là 33 lần trong những năm sau đó.               Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao?  Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố 4.  Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%.  Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm).  Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”.  Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.   Nếu tính theo số lần trích dẫn trên 5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan.  Tính trung bình, khoảng 42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là cao hơn số trung bình trên thế giới.  Các ngành khoa học Việt Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học.     Tuy nhiên chỉ số này không phản ánh đúng thực tế vì có hai bài báo y học từ Việt Nam có số lần trích dẫn rất cao (995 lần và 230 lần), do đó chi phối đến cách tính toán.  Do đó, một hệ số khác khách quan hơn là hệ số h [5].  Việt Nam có hệ số h thuộc vào hàng thấp nhất (h = 33, tương đương với Phi Luật Tân) so với các nước trong vùng Singapore và Thái Lan có nhiều bài báo có ảnh hưởng hơn nước ta.    Một cách khác để gián tiếp đánh giá chất lượng là xem xét tỉ lệ các bài báo chưa bao giờ được trích dẫn.  Có khoảng 1/5 các bài báo khoa học từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau 5 năm công bố.  Đây cũng là tình trạng chung ở các nước trong vùng, với tỉ lệ chưa bao giờ trích dẫn (trong vòng 5 năm) được ghi nhận tại Thái Lan (15%), Malaysia (19%), Indonesia (19%), Philippines (13%), và Singapore (17%).  Phân tích chi tiết tần số trích dẫn tất cả các bài báo từ Việt Nam công bố trong thời gian 1996-2005 cho từng lĩnh vực nghiên cứu (Bảng 3) cho thấy một vài xu hướng đáng chú ý.  Tính chung, gần 1/4 (23%) các công trình nghiên cứu từ Việt Nam chưa hề được trích dẫn trong thời gian 10 năm.  Những ngành có tỉ lệ chưa trích dẫn thấp là y sinh học và hóa học (khoảng 17 đến 18%), tiếp đến là các ngành như khoa học xã hội, môi trường học, công nghệ sinh học, nông nghiệp, kinh tế học, và vật lí (dao động trong khoảng 22% đến 32%).  Riêng hai ngành toán và kĩ thuật, có đến 44% bài báo chưa được trích dẫn lần nào trong vòng 1996-2005.                Bảng 3.  Số lần trích dẫn (hay không trích dẫn) của các bài báo khoa học từ Việt Nam phân tích theo lĩnh vực nghiên cứu           Lĩnh vực nghiên cứu      Số bài báo trong thời gian 1996-2005      Số lần trích dẫn (% tổng số bài báo)          Chưa trích dẫn lần nào      1 đến 5 lần      6 lần trở lên          Y sinh học      1149      17,8      39,9      42,2          Toán       452      43,8      43,8      12,4          Vật lí      450      30,9      46,7      22,4          Kĩ thuật       406      43,8      38,4      17,7          NN      406      31,3      43,6      25,1          Hóa học      385      17,4      43,9      38,7          Vật liệu      288      28,8      50,7      20,5          MT      228      25,9      50,4      23,7          Kinh tế      141      31,9      52,5      15,6          CNSH      67      26,9      38,8      34,3          KHXH      69      21,7      58,0      20,3          Tổng số      3456      23,1      44,5      32,4               Một cách so sánh có ý nghĩa hơn là ước tính chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI) [6], vì chỉ số này phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu khoa học của một nước và mức độ ảnh hưởng trên thế giới.  Tính theo chỉ số này, chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học Việt Nam thuộc vào hàng cao nhất trong vùng, với RCI = 0,59.  Malaysia là nước tuy có nhiều bài báo khoa học hơn nước ta, nhưng số lần trích dẫn không cao và cũng chẳng gây ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế, do đó chỉ số RCI chỉ 0,39.  Ngay cả các nước khác có sản lượng khoa học cao như Singapore và Thái Lan cũng có hệ số RCI thấp hơn Việt Nam.  Sở dĩ có kết quả này là vì trong năm 2000-2001, có hai công trình y sinh học từ Việt Nam với hơn 200 lần trích dẫn, và làm tăng số lần trích dẫn trung bình cho nước ta.  Tuy nhiên, nếu chúng tôi loại bỏ hai bài báo này ra khỏi phương trình tính toán thì hệ số RCI của Việt Nam vẫn thuộc vào hạng cao nhất trong vùng (Bảng 4).               Bảng 4.  Chỉ số trích dẫn tương đối của một số nước trên thế giới.              Nước      Chỉ số RCI          Mỹ      1,42          Anh      1,14          Nhật      0,78          Đức      0,86          Pháp      0,87          Canada      1,00          Úc      0,97          Ý      0,75          Hà Lan      1,10          Thụy Điển      1,24          Thụy Sĩ      1,16          Trung Quốc       0,27             Chất lượng của công trình hợp tác và nội lực.  Tính trung bình, các công trình nội lực có chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác với nước ngoài.  Mỗi công trình nội lực được trích dẫn trung bình là 3,2 lần, trong khi đó công trình hợp tác có chỉ số trích dẫn trung bình là 11,6 lần.  Xu hướng này thể hiện gần như trong tất cả các ngành khoa học (Biểu đồ 4).  Như đề cập trên, ngành y sinh học có số lần trích dẫn cao nhất, kế đến là ngành vật lí, hóa học và môi trường học.  Nhưng phân tích theo nội lực và hợp tác cho chúng ta một “bức tranh” hoàn toàn khác: các công trình y học được trích dẫn nhiều là những công trình hợp tác với nước ngoài (chỉ số trích dẫn trung bình là 16) chứ không phải công trình nội lực (chỉ số trích dẫn chỉ 3,6 lần).  Sự chênh lệch thiên về các công trình hợp tác như thế cũng thấy trong các ngành như vật lí (12 so với 4,5), hóa học (10,8 so với 3,4), và kĩ thuật (9,3 so với 1,5).                  Biểu đồ 4.  Số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 phân tích theo hợp tác (ô đặc) và nội lực (ô chéo).  Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.             4.  Đầu tư cho khoa học và công nghệ   Trong năm 2006, Việt Nam đầu tư 428 triệu USD cho khoa học và công nghệ (KH&CN), chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc. Theo số liệu của UNESCO, Singapore là nước (trong vùng) có đầu tư cho KHCN cao nhất với 2,2% GDP (tương đương với 3,01 tỉ USD), kế đến là Malaysia (0,5% GDP hay 1,54 tỉ USD), Thái Lan (0,3% GDP hay 1,79 tỉ USD).  Tuy nhiên, tính trên GDP, đầu tư cho KHCN ở nước ta vẫn còn cao hơn Indonesia (0,05% GDP) và Philippines (0,12% GDP) (Bảng 5).   Đầu tư cho KHCN ở nước ta có hiệu suất cỡ nào?  Một cách [có lẽ quá đơn giản] để trả lời câu hỏi này là tính số bài báo khoa học trên mỗi triệu USD đầu tư.  Tính trung bình, có 8 bài báo khoa học cho mỗi triệu USD đầu tư cho KHCN ở nước ta, và con số này tương đương với Thái Lan và Indonesia, nhưng cao hơn Malaysia và Philippines. Singapore là nước có hiệu suất cao nhất, với 13 bài báo cho mỗi triệu USD đầu tư cho KHCN.                   Bảng 5.  Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng quốc gia (GDP), và mức độ đầu tư vào khoa học và công nghệ              Nước      Dân số trung bình (1000)      GDP (tỉ  USD)      Đầu tư vào khoa học và công nghệ (triệu USD)      Số bài báo trên 100.000 dân      Số bài báo trên 1 triệu USD đầu tư vào KH&CN          Việt Nam      87.375      251,8      428,1        4      8          Thái Lan      62.828      596,5      1789,5      23      8          Malaysia      27.122      308,8      1544,0      36      6          Indonesia      234.694      1.038,0      519,0      2      8          Philippines      88.706      508,0      609,6      4      6          Singapore      4.680      137,8      3031,6      8338      13          Nguồn: Số liệu về dân số và GDP được trích từ website sau đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Southeast_Asia (ngày truy nhập 9/10/2007).  Số liệu về đầu tư cho khoa học và công nghệ được trích từ báo cáo “UNESCO Science Report 2005” (trang 225) của Liên Hiệp Quốc.                    5.  Vài nhận xét   Những số liệu về số lượng bài báo khoa học và so sánh với các nước trong vùng cho thấy rõ ràng rằng mức độ đóng góp cho tri thức toàn cầu từ các nhà khoa học nước ta nói chung vẫn còn khá lu mờ.  Sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế, và ngay cả trong vùng, còn rất khiêm tốn. So với Thái Lan, Malaysia và Singapore, số lượng bài báo khoa học từ nước ta có thể nói là “không đáng kể”. So với hai nước này, tốc độ tăng trưởng về sản lượng khoa học của nước ta vẫn chưa theo đuổi kịp họ. Có thể thấy sự tụt hậu của ta qua một tính toán [có thể quá đơn giản] như sau: nếu mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt Nam là 41 bài / năm (như ước tính từ phân tích này) và theo hàm số đường thẳng, và chúng ta bắt đầu với 202 bài năm 1996, thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005!  Nói cách khác, nếu chúng ta muốn bắt kịp nước bạn, các nhà khoa học nước ta phải phấn đấu gấp hai, thậm chí gấp ba lần, so với năng suất hiện nay.   Trái lại với nhiều cảm nhận thông thường cho rằng ngành toán và vật lí nước ta ở vị trí “mạnh”, phân tích của chúng tôi cho thấy cảm nhận này không có cơ sở.  Thật vậy, ngành y sinh học (chứ không phải toán học và vật lí) mới là ngành có nhiều đóng góp cho khoa học nước ta.  Hai ngành toán học và vật lí mỗi ngành chỉ đóng góp khoảng 10% cho tổng số ấn phẩm khoa học Việt Nam, tương đương với nông nghiệp, kĩ thuật và hóa học.  Một điều đáng chú ý là đóng góp của ngành toán cho tổng sản lượng khoa học đang có xu hướng giảm, vì tỉ lệ tăng trưởng dưới trung bình. Ngược lại, sự tăng trưởng nhanh của các ngành như nông nghiệp, công nghệ sinh học, và môi trường học là một tín hiệu đáng mừng, vì nó cho thấy các bộ môn khoa học thực nghiệm quan trọng này đang có chuyển biến theo chiều hướng tích cực.    Về chất lượng nghiên cứu khoa học, nói chung, dù số lượng bài báo từ Việt Nam không cao, số lần trích dẫn trung bình có phần cao hơn các nước trong vùng.  Thật vậy, nếu dựa vào chỉ số RCI để đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ số RCI (0,59) cao nhất trong vùng.  Ngay cả Trung Quốc hàng năm “sản xuất” trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27 7.  Tại sao số lượng bài báo khoa học từ nước ta thấp hơn, nhưng chỉ số RCI cao hơn, các nước trong vùng Đông Nam Á và vài nơi trên thế giới?  Tôi nghĩ đến hai giả thuyết để giải thích cho tình trạng vừa nêu.  Thứ nhất, các nước như Singapore và Thái Lan có một số tập san nội địa xuất bản bằng tiếng Anh được công nhận và nằm trong danh bạ của ISI, nhưng các tập san này thường công bố những công trình nghiên cứu có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa ít người quan tâm và ít trích dẫn).  Có khả năng là các nhà khoa học địa phương không thành công đăng bài ở các tập san quốc tế họ đăng ở các tập san địa phương, và do đó chỉ số trích dẫn cũng như RCI của họ không cao.  Trong khi đó, các nhà khoa học Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là công bố nghiên cứu của họ trên các tập san bên Mỹ hay Âu châu, thường có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao hơn các tập san Singapore hay Thái Lan, nên hệ quả là chỉ số RCI của Việt Nam khá cao.  Thứ hai, các nghiên cứu từ Việt Nam phần lớn dựa vào hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài (như chúng tôi vừa trình bày) và các tác giả này có xu hướng công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao, và do đó chỉ số trích dẫn các bài báo từ Việt Nam cũng có thể tăng cao.  Điều này có thể đúng vì những nghiên cứu về các bệnh nhiệt đới từ Việt Nam (và chỉ có thể thực hiện ở các nước như Việt Nam) rất được đồng nghiệp thế giới chú ý, và qua đó gia tăng hệ số ảnh hưởng trung bình của các công trình nghiên cứu từ Việt Nam.  Tôi nghĩ cả hai giả thuyết trên đây đều có cơ sở.  Gần 80% các bài báo khoa học từ Việt Nam trong thời gian 2000-2001 là do hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài.  (Con số này, tỉ lệ hợp tác với nước ngoài, ở Anh và Úc là khoảng 25%).  Nhìn chung, các công trình hợp tác với nước ngoài có chất lượng tương đối cao hơn các công trình do nội lực.  Có đến gần 1/3 các công trình do nội lực chưa bao giờ được trích dẫn trong vòng 5 năm, trong khi đó con số này là 16% cho các công trình hợp tác.  Trong thực tế, có vài công trình nghiên cứu từ Việt Nam (chẳng hạn như công trình giải mã gene vi khuẩn SARS và nghiên cứu về dịch cúm gà) có ảnh hưởng cực kì lớn trên trường quốc tế, với số lần trích dẫn trong vòng 5 năm lên đến gần con số 1000!  Nhưng chỉ có ngành y sinh học là có gây chút ảnh hưởng và tiếng vang, còn các ngành khác thì dưới trung bình.  Điều này cho thấy hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài có thể nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học.     Gần 44% các công trình nghiên cứu về toán và kĩ thuật không/chưa được trích dẫn trong thời gian 10 năm.  Tuy nhiên, con số này có thể không phản ảnh chất lượng nghiên cứu ngành toán và kĩ thuật thấp, mà có thể phản ảnh “văn hóa” hai ngành này với những nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực hẹp mà số người theo đuổi trên thế giới không nhiều như các ngành khác.  Ngoài ra, các công trình toán học thường trừu tượng và tiềm năng ứng dụng chỉ hiển nhiên sau vài mươi năm, cho nên số lần trích dẫn không thể cao như các ngành khoa học thực nghiệm.  Trong ngành y sinh học, một ngành tương đối thế mạnh và ổn định ở nước ta, tôi đã chỉ ra trước đây rằng chỉ có 2% trong số các công trình được công bố trên các tập san quốc tế là do nội lực!   Nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế đòi hỏi các phương tiện khoa học tương đối đắt tiền.  Vì hoàn cảnh kinh tế, nước ta còn thiếu những phương tiện như thế, và có lẽ đó cũng chính là lời giải thích tại sao các nhà khoa học trong nước phải hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài.  Thật ra, hợp tác trong nghiên cứu là một điều tốt trong hoạt động khoa học hiện đại, nhưng hợp tác như thế nào để thành quả và tri thức khoa học dựa trên chất liệu của Việt Nam vẫn là của người Việt Nam thì mới là vấn đề mà tôi đã nêu ra gần đây, nhất là hiện tượng “hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù”8, mà trong đó các tác giả Việt Nam chỉ là “lính đánh bộ” và sở hữu tri thức vẫn là tác giả nước ngoài, dù chất liệu nghiên cứu là từ Việt Nam và của người Việt Nam!  Kinh nghiệm từ các nước đang phát triển cho thấy tình trạng “khoa học nhảy dù” 8 mà trong đó các đồng nghiệp từ nước ngoài thường có xu hướng “dành công” cho mình dù công trình nghiên cứu được thực hiện ở nội địa và sử dụng chất liệu từ nước đang phát triển.  Theo một nghiên cứu chưa đầy đủ cho thấy tính từ 1993 đến 1998, tập san British Medical Journal công bố 59 bài báo với sự hợp tác giữa các nhà khoa học các nước Tây phương và các nước đang phát triển; trong số này, 58% bài báo mà tác giả đứng đầu là các nhà khoa học Tây phương.  Tỉ lệ khoa học nhảy dù ở tập san Lancet là 57% (trong số 82 bài báo).  Trong thời gian trên, tập san Science công bố 6 bài báo hợp tác, và tất cả đều do các nhà khoa học Tây phương đứng tên tác giả đầu.  Tập san có ảnh hưởng càng cao, tỉ lệ khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa càng cao.  Nói cách khác, các nhà khoa học Tây phương chỉ “tử tế” với các nhà khoa học địa phương chỉ khi nào các bài báo đăng trên các tập san có ảnh hưởng thấp, nhưng với các bài báo trên các tập san ảnh hưởng lớn thì họ dành quyền đứng tên tác giả đầu.  Trong phân tích này, chúng tôi thấy trong số 17 công trình từ Việt Nam có số lần trích dẫn cao hơn 50 lần, tất cả đều do các tác giả nước ngoài đứng tên hay chủ trì.  Tại sao các công trình nghiên cứu do nội lực có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa chỉ số trích dẫn thấp) hơn các công trình nghiên cứu do hợp tác ?  Những công trình nghiên cứu có chỉ số trích dẫn thấp thường do một hay cả hai yếu tố : thiếu cái mới trong ý tưởng, phương pháp nghiên cứu hạn chế, và thiếu kĩ năng trong hoạt động khoa học.  Tôi sẽ giải thích các ý kiến đó như sau :   Ý tưởng thiếu cái mới dẫn đến những công trình nghiên cứu lặp lại những gì người khác đã làm, và do đó không có cơ hội được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng cao.  Nguyên nhân chính của thiếu cái mới trong ý tưởng là do thiếu thông tin và trình độ của nhà khoa học.  Ở Việt Nam, tình trạng thiếu thông tin cực kì trầm trọng.  Nhiều thư viện trường đại học chẳng khác gì một thư viện trung học ở nước ngoài ; chẳng những thế, không có đủ sách, và ngay cả có sách thì phần lớn đều lạc hậu.  Thư viện trường cũng thiếu các tập san khoa học nghiêm trọng, dẫn đến vấn đề thiếu cập nhật hóa thông tin, và nhà khoa học chẳng khác gì người mù đi trong đêm tối, vì không biết được những gì đã, đang hay sắp xảy ra trong lĩnh vực chuyên môn.  Một giảng viên trẻ bức xúc nói: “Những người muốn làm nghiên cứu như tôi phải bỏ tiền ra mua.  Tôi chi một số tiền tương đối lớn để làm thành viên của các tổ chức cung cấp tài liệu, để được đọc các tài liệu.  Đáng lẽ những việc như vậy trường có thể hỗ trợ bằng cách mua.”  Trong bối cảnh thiếu thốn thông tin như mô tả trên đây, thật là không công bằng nếu ta đòi hỏi các nhà khoa học trong nước phải có những công trình nghiên cứu chất lượng cao, nghiên cứu tiền phong.  Với tình trạng thiếu thông tin như thế, làm sao chúng ta có thể kì vọng các nhà khoa học nước ta sánh vai cùng các đồng nghiệp ở các trường lớn trên thế giới. Ngoài ra, nước ta thiếu các chuyên gia đầu ngành có tầm cỡ quốc tế, cho nên thiếu những công trình nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế, mà chỉ loay hoay giải quyết các vấn đề đơn giản, địa phương.    Phương pháp nghiên cứu, kể cả thiết bị, còn hạn chế và lạc hậu.  Tình trạng này bắt buộc các nhà khoa học ta chỉ làm những nghiên cứu đơn giản, không thể đột phá, và cũng không có giá trị khoa học cao.  Thật vậy, khi chúng tôi xem qua các công trình nghiên cứu y sinh học, một lĩnh vực mà chúng tôi quen thuộc, phần lớn các nghiên cứu y học nước ta chỉ tập trung vào các vấn đề y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm và y học nhiệt đới; chỉ có 7% là các công trình liên quan đến sinh học phân tử.  Trong 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu không có các nghiên cứu về gien và di truyền học hay nghiên cứu về nội khoa và y học lâm sàng.  Tuy nhiên, tình trạng này cũng là tình trạng chung ở các nước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia.  Riêng Singapore thì gần như ở một “đẳng cấp” khác, vì phần lớn nghiên cứu ở đây tập trung vào các công trình mang tính “công nghệ cao” như sinh học phân tử, sinh hóa, công nghệ sinh học, di truyền học, thần kinh học, ung thư học và y học lâm sàng.  Tại sao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn khiêm tốn và chưa gây được ảnh hưởng lớn?  Có lẽ câu trả lời mà nhiều người muốn nói ngay là đầu tư thấp.  Nếu dựa vào mối liên hệ giữa đầu tư cho khoa học và công nghệ, có thể giải thích rằng sự đóng góp khiêm tốn của Việt Nam là do đầu tư của Nhà nước cho hoạt động này còn quá thấp, và nếu tăng đầu tư thì sản lượng khoa học sẽ tăng (như Biểu đồ 5 hàm ý). Có lẽ suy luận này quá đơn giản với giả định sản lượng khoa học liên hệ nhân quả với đầu tư, nhưng trong thực tế thì còn nhiều yếu tố khác.  Thật vậy, đầu tư thấp chỉ là một lí do nhỏ, vì ngay cả số đầu tư khiêm tốn năm nay (428 triệu USD) mà Bộ Khoa học và Công nghệ còn phải hoàn trả cho ngân sách 125 tỉ đồng (khoảng 7,9 triệu USD) cho ngân sách Nhà nước vì không thể phân phối hết số tiền đó cho nghiên cứu khoa học (Thời báo kinh tế Sài Gòn 4/10/2007).  Năm ngoái, số tiền hoàn trả cho ngân sách Nhà nước thậm chí còn cao hơn (321 tỉ đồng, hay ~20 triệu USD).  Do đó, vấn đề không phải là tăng đầu tư, mà là đầu tư và phân phối ngân sách sao cho có hiệu suất cao.               Biểu đồ 5. Mối tương quan giữa mức độ đầu tư cho KHCN và sản phẩm nghiên cứu khoa học ở các nước Đông Nam Á, chu kỳ 1996-2001. Liên quan giữa mức độ đầu tư cho khoa học và công nghệ (triệu USD) và số bài báo khoa học (Biểu đồ A) và số lần trích dẫn (Biểu đồ B).  Mối liên hệ giữa bài báo khoa học (y), số lần trích dẫn (z) và đầu tư (X) có thể mô tả bằng phương trình   và     .          Hiệu suất khoa học tùy thuộc vào hệ thống tổ chức hoạt động khoa học, nhân sự, chuẩn mực về nghiên cứu khoa học.  Có thể nhìn cách phân phối kinh phí hiện nay ở nước ta như là một cuộc đấu thầu xây dựng.  Cơ quan chủ quản (Bộ Y tế và Bộ KH&CN) ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu đệ đơn, và các cơ quan chủ quản xét duyệt.  Nhưng nhu cầu nghiên cứu y sinh học phải xuất phát từ thực tế lâm sàng và cộng đồng, chứ không thể xuất phát từ cơ quan quản lí hành chính, và do đó nhiều đề tài nghiên cứu mà các bộ đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu y tế thực tế trong nước.    Một nguyên nhân “nội tại” đáng quan tâm hơn là vấn đề nhân lực.  Nước ta vẫn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các nhà khoa học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế.  Cho nên dù có phương tiện hiện đại và kinh phí, chưa chắc Việt Nam đã có chuyên gia sử dụng thiết bị và có khả năng thực hiện những nghiên cứu chuyên sâu.  Vấn đề này dẫn đến một hệ quả khác là các nghiên cứu khoa học từ Việt Nam thiếu “cái mới” (phần lớn chỉ lặp lại những nghiên cứu từ nửa thế kỉ trước) và thiếu phương pháp khoa học (do thiết kế không thích hợp, hay thậm chí sai) 9. Đây chính là lí do tại sao các nghiên cứu y học từ Việt Nam ít có khả năng xuất hiện trên các tập san khoa học quốc tế.   Một trong những lí do cho tình trạng khoa học Việt Nam còn quá khiêm tốn trên trường quốc tế và trong vùng là các đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học nước ta chưa có những qui định về chuẩn mực nghiên cứu khoa học phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.  Hệ thống đề bạt giáo sư ở nước ta vẫn dựa vào các tiêu chuẩn “nội địa”, mà không mấy quan tâm đúng mức đến mức độ đóng góp vào khoa học có công trình đăng trên các tập san khoa học quốc tế.  Đại đa số các tiến sĩ được đào tạo từ trong nước cũng không hay chưa bao giờ có các bài báo trên các tập san khoa học quốc tế.  Ngoài ra, chúng ta có quá nhiều nhà khoa học với chức danh giáo sư và tiến sĩ nhưng họ không làm nghiên cứu mà chỉ đảm nhận các chức vụ hành chính (gần 70% các tiến sĩ giữ chức vụ quản lí và không làm nghiên cứu khoa học).  Thật ra, ngay cả những người làm khoa học, số người “làm thật” chắc cũng không bao nhiêu.  Hệ quả là qua con số thống kê Việt Nam có 30 ngàn nhà khoa học, nhưng năng suất khoa học thì quá thấp để có thể so sánh với các nước trong vùng, chứ chưa nói đến so sánh với các nước tiên tiến.     6.     Vài đề nghị   Nếu các phân tích trên đây gợi lên một số ý cho chính sách khoa học, chúng tôi nghĩ đến một số ý sau đây:  Thứ nhất, cần phải hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế (sẽ gọi tắt là “công bố quốc tế”) hay đăng kí bằng sáng chế (patent) như là một tiêu chuẩn để đánh giá (hay “nghiệm thu”?)các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ.  Ở các nước tiên tiến, đây cũng chính là tiêu chuẩn số 1 để các cơ quan tài trợ xem xét để cung cấp kinh phí nghiên cứu.  Ở các đại học Tây phương và ngay cả đại học của các nước trong vùng, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư 10.  Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một “đơn vị tiền tệ”, là viên gạch xây dựng sự nghiệp khoa bảng.  Chính vì thế mà trong các đại học tồn tại một văn hóa gọi là “publish or perish” (xuất bản hay là biến mất).  Ngay tại viện của chúng tôi đang công tác, nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa học hay nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ không có một bài báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, thì sự nghiệp của họ xem như “có vấn đề”.  Còn ở nước ta, trong thời gian nhiều năm qua, tiêu chuẩn công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế vẫn chưa được công nhận đúng mức.  Hệ quả là đến nay chúng ta có một lực lượng giáo sư, kể cả một số “giáo sư hàng đầu”, chưa có công trình nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế.  Như một giáo sư nhận xét gần đây : “Chín vị giáo sư tiến sĩ khoa học là thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố quốc tế ISI trong 10 năm vừa qua.” 11. Một điều đáng buồn ở nước ta là những nhà khoa học có công trình đăng trên các tập san quốc tế nhiều khi phải bị thiệt thòi so với các đồng nghiệp chưa bao giờ có bài báo đăng trên các tập san khoa học.  Chẳng hạn như trường hợp một tiến sĩ ở Qui Nhơn với hơn 10 công trình đăng trên các tập san uy tín ở Âu châu và Mỹ, với thành tích như thế anh ấy đáng lẽ là một phó giáo sư ở nước ngoài, nhưng khi xét đề bạt giảng viên ở trong nước thì anh ta lại bị đánh giá là chưa đủ điểm !   Ngoài lí do mang liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, không có lí do gì để biện minh rằng công bố quốc tế chỉ áp dụng cho nghiên cứu khoa học cơ bản hay cho các nước đã phát triển.  Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu rất xứng đáng được chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà.    Có người viện dẫn lí do rằng chỉ có khoa học cơ bản mới công bố quốc tế, còn họ làm nghiên cứu ứng dụng nên không cần.  Thật mà khó chấp nhận cách giải trình này.  Ngoài lí do mang liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, không có lí do gì để biện minh rằng công bố quốc tế chỉ áp dụng cho nghiên cứu khoa học cơ bản hay cho các nước đã phát triển.  Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu rất xứng đáng được chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà.  Thứ hai, khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án.  Đây cũng chẳng phải là một đòi hỏi gì cao siêu hay khắt khe, mà chỉ là một tiêu chuẩn, một yêu cầu phổ biến ở các đại học trong vùng và phương Tây 12.  Dự thảo về đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây cũng có qui định một nghiên cứu sinh tiến sĩ nên có công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên các tập san quốc tế (có bình duyệt nghiêm chỉnh) trước khi bảo về luận án.  Nếu tiêu chuẩn hay qui định này được thực hiện tốt, có thể kì vọng rằng sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế sẽ được nâng cao trong vài năm tới.   Một vấn đề khác tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa quốc gia, cần phải đề cập đến ở đây là một số (nếu không muốn nói là nhiều) nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang nghiên cứu hay làm luận án ở nước ngoài và khi công bố ấn phẩm khoa học thường không ghi địa chỉ từ Việt Nam, mà chỉ ghi địa chỉ nơi họ đang theo học.  Tình trạng này chẳng những không hợp lí (vì cá nhân nghiên cứu sinh xuất phát từ Việt Nam) mà còn làm ảnh hưởng đến năng suất khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế.  Vấn đề này thoạt đầu mới nghe qua như là chuyện nhỏ, nhưng các đại học Tây phương xem là chuyện quan trọng đến nỗi lãnh đạo trường có hẳn những văn bản và điều lệ chính thức yêu cầu các nhà nghiên cứu phải ghi rõ địa chỉ đại học hay viện nghiên cứu mà họ đang công tác hay đang giữ những chức vụ kiêm nhiệm.  Do đó, các đại học Việt Nam cần phải khuyến khích, hay nói đúng hơn là yêu cầu, các nghiên cứu sinh của trường ở nước ngoài khi công bố bài báo trên các tập san quốc tế, ngoài địa chỉ của trường họ đang theo học, cần phải đề tên trường Việt Nam vào phần địa chỉ tác giả của bài báo.   Thứ ba, cần có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế.  Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nghiên cứu y sinh học tầm quốc tế, các đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải tuyển dụng các chuyên gia, giáo sư, hay giảng viên trẻ có tài năng thật sự, và tạo điều kiện cho họ (như thời gian và phương tiện nghiên cứu) và trao cho họ quyền tự do theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu mà họ thích và có khả năng thực hiện.  Cần phải có những hình thức khuyến khích tài chính cho các nhà khoa học có công trình trên các tập san quốc tế.  Ở một số đại học tại các nước như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, v.v… người ta thưởng khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao.  Ngay cả tại Úc, một số trường sẵn sàng tặng hàng ngàn đô-la cho các nhà nghiên cứu có công trình đăng trên các tập san với hệ số ảnh hưởng trên 10.   Thứ tư, cần phải khuyến khích các tập san khoa học Việt Nam vươn đến tầm quốc tế.  Một trong những lí do mà Thái Lan và Singapore có nhiều bài báo khoa học hơn Việt Nam là hai nước này có các tập san khoa học, kể cả tập san y sinh học địa phương, được viết bằng tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt và được ISI công nhận.  Chẳng hạn như Thái Lan có tập san Journal of the Medical Association of Thailand (tập san y học của hội y học Thái Lan), tập san ScienceAsia, và Singapore có tập san Annals Academy of Medicine Singapore là diễn đàn của các bác sĩ và nhà khoa học địa phương.  Vì các tập san này được ISI công nhận, cho nên các bài báo ở đây được tính trong hệ thống của PubMed.  Ngược lại, ở nước ta, con số các tập san được quốc tế công nhận chỉ “đếm đầu ngón tay”, và hệ quả là con số bài báo công bố trên các tập san Việt Nam không hề được công nhận.  Ở đây, chúng tôi chưa nói đến vấn đề chất lượng, nhưng chỉ bàn đến vấn đề chấn chỉnh các tập san sao cho phù hợp với qui trình làm việc của các tập san quốc tế.   Trong thời gian gần đây, kinh tế nước ta đã và đang phát triển nhanh chóng, nhưng hoạt động khoa học vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Thật ra, hoạt động khoa học Việt Nam cần một cuộc cải cách lớn. Nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục tụt hậu và thua kém các nước trong vùng. Xin nhắc lại: nếu tốc độ hiện hành, chúng ta đã đi sau Thái Lan đến hơn nửa thế kỉ.  Với Singapore, chúng tôi không dám so sánh trực tiếp vì e rằng sẽ mất ý nghĩa của thống kê. Trong khi chúng ta đang loay hoay bàn về những vấn đề to tát (như triết lí giáo dục) và đặt ra những chuẩn mực cứng nhắc và có phần không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, thì các nước trong vùng đang phát triển nhanh.  Đã đến lúc chúng ta cần phải mạnh dạn nhìn thật kĩ những thiếu sót, những bất cập, những hủ tục và “văn hóa khoa học” đang tồn tại trong hoạt động khoa học để xóa bỏ chúng trước khi đi tiến đến một cuộc cải cách lớn. Do đó, để nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế, thiết nghĩ Nhà nước ngoài việc nâng cao hiệu suất đầu tư cho khoa học và công nghệ và cải cách hệ thống hoạt động nghiên cứu khoa học, cần phải bắt đầu phát triển các chuẩn mực cho các nhà khoa học, kể cả tiêu chuẩn giáo sư, sao cho phù phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và không quá xa rời thực tế ở nước ta.  Xin nhắc lại một phát biểu trước đây như là lời kết của bài viết ngắn này : Cần phải khẳng định một thực tế rằng, Việt Nam không thể cạnh tranh với các cường quốc khoa học như Mỹ, Nhật hay một cường quốc khoa học đang trên đường hình thành như Trung Quốc, nhưng điều mà chúng ta có thể làm được là đảm bảo chất lượng nghiên cứu khoa học ở những lĩnh vực thuộc vào thế mạnh để nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Thiết nghĩ Nhà nước ngoài việc nâng cao hiệu suất đầu tư cho khoa học và công nghệ và cải cách hệ thống hoạt động nghiên cứu khoa học, cần phải bắt đầu phát triển các chuẩn mực cho các nhà khoa học, kể cả tiêu chuẩn giáo sư, sao cho phù phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và không quá xa rời thực tế ở nước ta.  Chú thích:   [1] Tôi sử dụng cơ sở dữ liệu (database) của công ty Thomson Scientific Information (trước đây có tên là Institute of Scientific Information hay ISI).   Cơ sở dữ liệu của ISI bao gồm SCI-Expanded, SSCI, và A&HCI.  Công cụ để thu thập thông tin là phần mềm Web of Science thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khoá mã nước là “Vietnam” OR “Viet Nam”, “Indonesia”, “Malaysia”, “Philippines”, “Singapore”. “Thailand”.  Trong phân tích này chúng tôi chỉ giới hạn các bài báo nguyên thủy (original contribution), không tính các bài tổng quan (review) và các bản tóm tắt (abstracts) hay bài báo trong hội nghị (conference papers).  Ngôn ngữ là tiếng Anh.  Thông tin từ tất cả các bài báo khoa học được thu thập từ 1996 đến 2005 (10 năm).  Tôi phân nhóm các bài báo khoa học vào 12 lĩnh vực nghiên cứu như sau: y sinh học (kể cả thú y, tâm lí học lâm sàng, dinh dưỡng học, di truyền, sinh hóa), toán học, vật lí học, kĩ thuật, nông nghiệp (kể cả thủy sản, thực phẩm, thực vật học), hóa học, khoa học vật liệu, khoa học môi trường, kinh tế học (kể cả quản lí kinh doanh, kế hoạch và phát triển), công nghệ sinh học, khoa học xã hội, và khoa học đa ngành.    [2]  Garfield E.  The impact factor [internet] Current Contents 1994 20;3-7 (cited 16 August 2002).  Cách tính hệ số ảnh hưởng của ISI rất đơn giản, và có thể minh họa bằng một ví dụ cụ thể như sau: Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học gốc (original papers); trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số ảnh hưởng là: 10.011 / 470 = 21,3.  Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo gốc trên tạp chí Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn.  Hệ số ảnh hưởng cũng không phải là một chỉ số hoàn hảo phản ảnh chất lượng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có chỉ số nào tốt hơn, cho nên giới khoa học vẫn phải sử dụng hệ số ảnh hưởng cho việc đề bạt giáo sư, tài trợ nghiên cứu, và đánh giá uy tín của một nhà khoa học.  Ở Úc, khi ứng viên xin được đề bạt, ngoài danh sách bài báo khoa học, ứng viên còn phải cung cấp hệ số ảnh hưởng của tạp và số lần trích dẫn cho mỗi bài báo.   [3] Xem bài “Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học Việt Nam: các nhà khoa học nghĩ gì qua những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế?” của Phạm Duy Hiển, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 1 năm 2006, web: www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033.  [4] Phelan TJ. A compendium of issues for citation analysis. Scientometrics 1999; 45:117-36.  Theo một nghiên cứu khác, có đến 90% các bài báo khoa học công bố không bao giờ được trích dẫn hay tham khảo (xem L. I. Meho, The rise and rise of citation analysis, Physics World).  Tuy nhiên, tôi nghĩ con số 90% này được tính cả những bản tóm tắt (abstract) trong các hội nghị và các conference papers.  Do đó, con số 55% chính xác hơn.  [5] Xem bài viết về chỉ số H trên Tia Sáng của tôi: “Đánh giá ảnh hưởng trong nghiên cứu khoa học qua chỉ số H” (Tia Sáng 3/6/2008).  Chỉ số h do một nhà vật lí học đề nghị, và tài liệu tham khảo là: Hirsch, Jorge E., (2005), “An index to quantify an individual’s scientific research output,” Proc Natl Acad Sci USA 2005;102(46):16569-16572.  Bài báo này có thể download hoàn toàn miễn phí từ địa chỉ sau đây: http://www.pnas.org/cgi/content/abstract/102/46/16569.    [6] Chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index – RCI) phản ảnh mức độ ảnh hưởng trung bình của một nước.  Gọi n_i là số bài báo xuất phát từ nước i, và c_i là số lần trích dẫn (citations) từ những bài báo đó.  Gọi N là tổng số bài báo của tất cả các nước trên thế giới, C là tổng số trích dẫn của tất cả các bài báo trên thế giới.  Chúng ta có thể ước tính tỉ số bài báo cho từng nước p_i (so với tổng số trên thế giới): p_i = n_i / N, và tỉ số lần trích dẫn cho từng nước q_i như sau: q_i / c_i / C.  Chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI) được ước tính như sau: RCI_i = p_i / q_i.  Như có thể thấy qua công thức này, chỉ số RCI_i = 1 có nghĩa là chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học của nước đó tương đương với chất lượng trung bình trên thế giới ; nếu RCI_i > 1 hay RCI_i < 1 có nghĩa là chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học nước đo cao hơn hay thấp hơn trung bình thế giới.  Một nước có thể công bố nhiều bài báo khoa học (như Trung Quốc chẳng hạn), nhưng ít ai trích dẫn hay quan tâm, và do đó chỉ số RCI rất thấp (0,27).   [7] May RM. The scientific wealth of nations. Science 1997; 275:793-796.  [8] Xem bài “Làm khoa học kiểu nhảy dù” của Nguyễn Văn Tuấn, Tia Sáng, số tháng 6 năm 2007.   [9] Xem bài “Nghiên cứu y học ở Việt Nam: đặc điểm, thiếu sót và sai sót” của Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Thời sự Y học của Hội Y học Thành phố Hồ Chí Minh, số tháng 1, 2 và 3 năm 2007.   [10]  Trong ngành y khoa, để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số 1 là số lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên.  Theo một qui định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học;  một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 15 bài báo khoa học trở lên (trong số này 5 bài phải là tác giả đầu); và một professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên (và trong số này phải là tác giả đầu của 20 bài).  Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu.  Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.   [11]  Xem bài “Nhân và Quả” của giáo sư Phạm Lợi Vũ, Tia Sáng : www.tiasang.com.vn/news?id=2076.  [12] Chẳng hạn như Đại học Lund (Thụy Điển), Khoa kinh tế, viết rõ luận án tiến sĩ thường được soạn thảo như là một tập hợp các bài báo riêng lẻ cùng với phần dẫn nhập. Các bài báo này hoặc đã được công bố trên một tập san quốc tế có bình duyệt, hoặc ở một dạng có thể công bố được.  Đại học Công nghệ Queensland (QUT) viết : Yêu cầu cơ bản cho một luận án tiến sĩ là nghiên cứu sinh phải có tối thiểu 3 bài báo khoa học, trong số này, tối thiểu 1 bài d0ã được công bố hay chấp nhận cho công bố hay đang biên tập trước khi công bố.  Đại học y khoa Albert Einstein (Albert Einstein College of Medicine) còn qui định cụ thể hơn : nghiên cứu sinh phải công bố ít nhất một bài báo khoa học đứng tên tác giả đầu, hoặc nếu chưa có, thì phải có kèm theo bản thảo của bài báo trong luận án và phải ghi rõ bài báo đang ở trong tình trạng nào (đã nộp cho tập san nào, hay còn trong vòng biên tập). Đại học Penn State, Bộ môn sinh hóa và sinh học phân tử, có qui định rằng nghiên cứu sinh cần có ít nhất là một bài báo khoa học đã được chấp nhận cho công bố trên một tập san khoa học quốc tế có bình duyệt trước khi bảo vệ luận án.  Taiwan International Graduate Program (Đài Loan), Đại học Khoa học và Công nghệ (Pakistan), Đại học Chicago (Bộ môn vật lí), Đại học Vanderbilt (Bộ môn sinh vật lí), Đại học Oklahama (Bộ môn khoa học máy tính), Đại học Washington (Bộ môn vi sinh học), v.v… (không thể kể hết ra đây) cũng có một qui định tương tự.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân tích nguyên nhân hiện tượng cá chết hàng loạt tại một số tỉnh duyên hải miền Trung      Tại cuộc họp báo ngày 27/4, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố 2 nhóm nguyên nhân gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt: Thứ nhất, do tác động của các độc tố hóa học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển; Thứ hai, do hiện tượng dị thường tự nhiên.  Trên cơ sở khoa học chung, chúng tôi đồng tình với hai nguyên nhân này. Ở đây, xin có một số nhận định về nguyên nhân có khả năng xảy ra cao hơn.          Trước tiên, xin được nêu vắn tắt tiến trình xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt. Ngày 4/4/2016, phát hiện cá chết hàng loạt tại Hà Tĩnh, mà khởi đầu là khu vực cảng Vũng Áng, Kỳ Anh. Tới ngày 14/4, cá chết lan sang các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị; ngày 15/4, tới Thừa Thiên – Huế. Hiện tượng này kéo dài hơn 200 km bờ biển, làm chết gần 100 tấn cá tự nhiên, gần 70 tấn thủy sản nuôi của người dân, gây thiệt hại lớn về kinh tế [1].  Như vậy, hiện tượng cá chết có xu hướng lan xuống phía Nam của Hà Tĩnh, trong khi khu vực phía Bắc như Nghệ An lại chưa được ghi nhận. Điều này phải có sự liên quan tới đặc điểm của bờ biển duyên hải miền Trung. Quan sát lược đồ dòng hải lưu tại Biển Đông [2], có thể thấy rằng, vào mùa đông, dòng hải lưu ven biển di chuyển theo hướng từ Bắc vào Nam, trùng với hướng lan của hiện tượng cá chết. Để thấy rõ hơn vai trò của dòng hải lưu, ta hãy thử làm một phép tính đơn giản. Giả sử như, nguyên nhân làm chết cá là tác nhân gây độc, chẳng hạn thủy ngân (một trong những kim loại nặng độc nhất), với nồng độ tối đa cho phép là 1 ppb (1 phần tỉ, tức là 0,001 mg/L). Nếu tính trung bình trên 200 km bờ biển, khoảng cách bờ chỉ là 1 km và độ sâu 20 m thì thể tích nước biển vào khoảng 4 tỉ m3. Như vậy khối lượng thủy ngân cần để đạt đến ngưỡng gây độc trên là 4 tấn! Đây là con số rất lớn, có phần không thực tế. Điều này chỉ có thể giải thích rằng, do tác động của dòng hải lưu Bắc – Nam đưa tác nhân gây độc đi từ Hà Tĩnh qua Quảng Bình, Quãng Ngãi vào Thừa Thiên – Huế. Do đó, lượng chất độc có thể nhỏ hơn rất nhiều trong khi vẫn gây ra thảm họa như đã thấy. Từ suy luận này, chúng tôi đồng tình với nhận định trước đó của một số nhà khoa học khác khi cho rằng, nguyên nhân của hiện tượng này cũng chính là điểm khởi đầu, tức cảng Vũng Áng!                    Hình 1. Sơ đồ hướng di chuyển của các dòng hải lưu tại biển Đông          Tại cuộc họp báo ngày 27/4, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố 2 nhóm nguyên nhân gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt:     – Thứ nhất, do tác động của các độc tố hóa học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển.  – Thứ hai, do hiện tượng dị thường tự nhiên kết hợp với tác động của con người tạo nên hiện tượng tảo nở hoa, mà trên thế giới gọi là hiện tượng thủy triều đỏ.  Trên cơ sở khoa học chung, chúng tôi đồng tình với hai nguyên nhân này. Ở đây, xin có một số nhận định về nguyên nhân có khả năng xảy ra cao hơn.  Nhận định về nguyên nhân  1. Câu hỏi đặt ra là, vậy tảo nở hoa có phải là thủ phạm gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt tại miền Trung không? Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi thấy nguyên nhân này là có thể nhưng ít khả năng xảy ra. Điều kiện để tảo nở hoa là vùng nước vận động chậm, điều này không thật sự phù hợp với điều kiện duyên hải miền trung nước ta. Tảo nở hoa thường làm chết các loài thủy sinh ở tầng mặt, trong khi các loài cá chết ở miền Trung đa phần là loài sống tại tầng đáy [1]. Ngoài ra, tảo nở hoa xảy ra trong môi trường nước ấm, thường vào mùa hè (ở Bình Thuận là vào tháng 7). Mặt khác, sự bùng nổ của tảo sẽ làm cạn kiệt oxi trong nước nhưng chỉ số oxi hòa tan (DO) đo được tại các địa phương có cá chết hàng loạt hiện nay vẫn ở mức bình thường. Hiện tượng này cũng rất dễ nhận ra, có thể quan sát bằng mắt thường hoặc ảnh vệ tinh, trong khi tới nay chưa có hình ảnh nào về việc nước biển đổi màu. Tảo sau khi chết sẽ gây ra mùi hôi thối, điều này cũng chưa được ghi nhận.             Hình 2. Các loại cá chết và tầng sinh sống               Để kiểm chứng giả thiết trên, ta cần tập trung thực hiện song song hai công việc sau:    –  Lấy mẫu, phân lập và định danh xem có loài tảo nào trong nước biển tại khu vực cá chết.  –  Từ kết quả trên, ta sẽ tập trung vào phân tích các độc tố sinh ra từ các loài tảo trên.  2. Nguyên nhân thứ hai được đưa ra là do các độc tố hóa học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển. Các độc tố mà chúng tôi khoanh vùng bao gồm: kim loại nặng, xyanua (cyanide, CN-) và độc tố hữu cơ.  a. Kim loại nặng  Sau khi xem xét, chúng tôi nhận định khả năng này rất có thể xảy ra, nhất là khu vực Vũng Áng được định hướng phát triển gắn liền với khai khoáng và công nghiệp luyện kim. Kết quả quan trắc tại Huế cho thấy, nồng độ Cr cao gấp 9 lần quy chuẩn cho phép, ngoài ra Mn cũng rất cao. Điều này khẳng định rằng nguồn nước ở bị ô nhiễm bởi kim loại nặng, đặc biệt Huế là vùng cuối của thảm họa này, nồng độ các chất phải nhỏ hơn so với đầu nguồn là Hà Tĩnh. Tuy vậy, cần có các nghiên cứu thêm, đặc biệt là hàm lượng của các kim loại nặng  tại Hà Tĩnh, nhất là khu vực Vũng Áng. Cũng cần lưu ý thêm rằng, các kim loại nặng thường là chất độc mãn tính, trong khi cá chết hàng loạt rất nhiều và rất nhanh.  Để xác định nguyên nhân do kim loại nặng, cần phân tích mẫu nước, mẫu cá và đặc biệt là mẫu trầm tích, do khả năng tan trong nước của các hợp chất chứa kim loại nặng không cao.  b. Xianua  Độc chất xianua (CN-) thường được sử dụng trong khai thác vàng. Nhiễm độc xianua gây hiện tượng cá chết hàng loạt đã từng bị nghi ngờ ở khu vực sông Bồng Miêu, Quảng Nam vào năm 2008 khi các công ty khai thác vàng xả nước thải chưa qua xử lí (có hàm lượng xianua tới 67,8 mg/L) trực tiếp ra môi trường [3].  Mặc dù xianua là chất độc cấp tính, tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, khả năng xảy ra nguyên nhân này không cao.  c. Độc tố hữu cơ  Từ thực tế việc cá chết chủ yếu sống ở tầng đáy, quá trình diễn biến lan xuống phía nam trong một thời gian dài khá dài, chúng tôi nhận định rằng chất độc này phải tương đối ít tan và bền vững. Như vậy, chất độc có nguồn gốc hữu cơ có khả năng cao hơn là các hợp chất vô cơ như kim loại nặng hay xianua. Sự có mặt của các độc tố hữu cơ này có thể đến từ hai nguồn:  – Nước thải chưa qua xử lí sau khi sử dụng các hóa chất tẩy rửa công nghiệp.  Trong ngành luyện kim, các thiết bị vận hành cần được làm mát. Tuy vậy, để bảo vệ thiết bị, cần có các hóa chất hoạt động bề mặt nhằm chống rỉ, chống cặn. Các hóa chất này có thể chứa các chất độc như PCBs, PAHs, nonylphenol,… và còn có thể có các độc chất khác nữa.   – Nước thải chưa qua xử lí từ lò luyện cốc.  Than cốc chứa chủ yếu là cacbon (%C > 80%), có thể dùng làm nhiên liệu hoặc chất khử trong ngành luyện kim. Luyện thép thường đi kèm với luyện cốc. Nước thải lò cốc có chứa nhiều chất độc như phenol, xianua hay amoniac. Ngoài ra còn có thể có nhiều chất hữu cơ khác như fluorene, pyrene, acenaphthalen,…là nhóm các hợp chất hữu cơ đa vòng ngưng tụ có độc tính rất cao [4].  Về cơ chế gây độc, chúng tôi giả thiết có hai cơ chế sau:  – Cạnh tranh tạo phức với oxi trong hồng cầu, làm hồng cầu mất chức năng vận chuyển oxi, tương tự như ngộ độc CO.  – Tạo lớp màng bao phủ gây tắc mang cá. Theo cơ chế này, các chất hữu cơ phải là các chất hoạt động bề mặt với một đầu ưa nước và một đầu kị nước, có khả năng tạo huyền phù hoặc nhũ tương.  Để xác định giả thiết này, cần phân tích mẫu cá, đặc biệt là mang, cùng với mẫu nước và mẫu trầm tích.  3. Kiến nghị  Xây dựng các trạm quan trắc tự động, liên tục tại các nhà máy, khu công nghiệp để quản lí nguồn phát thải. Trạm quan trắc này phải hoạt động on-line, tức là có khả năng truyền số liệu về các trung tâm quan trắc, các cơ quan quản lí qua đường vô tuyến (qua mạng internet). Ngoài các chỉ tiêu phân tích cơ bản như pH, DO, hàm lượng các ion vô cơ cơ bản (NH4+, NO2–, NO3–,…), trạm quan trắc này còn phải có khả năng phân tích các độc chất như các kim loại nặng hay xianua, phenol,… Việc này có thể được thực hiện bằng cách ứng dụng các phương pháp phân tích mới như sensor điện hóa [5], thiết bị điện di mao quản [6],… Công việc này cần có sự hỗ trợ của các nhà khoa học trong và ngoài nước, không chỉ về Hóa học phân tích, Hóa học môi trường mà còn cả về Độc chất học sinh thái và Độc chất học môi trường. Một trong những cơ quan nước ngoài mà theo ý kiến riêng của chúng tôi là có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này là Trung tâm nghiên cứu môi trường biển (CMES), thuộc Đại học Ehime, Nhật Bản do GS. Shinsuke Tanabe điều hành. Trung tâm này được chính phủ Nhật Bản đầu tư và phong là một trong những trung tâm nghiên cứu xuất sắc (Centre of Excellence, COE) của Nhật Bản về nghiên cứu môi trường biển, có nhiều thành tựu khoa học và là cơ quan tư vấn quan trọng trên lĩnh vực môi trường biển và đại dương có uy tín rất cao trong giới khoa học và cộng đồng quốc tế.  Trích bài viết: Hiện tượng cá chết hàng loạt tại một số tỉnh duyên hải miền Trung và những hệ luỵ tới môi trường và sinh thái biển.  * PTN trọng điểm ĐHQGHN về Công nghệ phân tích phục vụ cho kiểm định Môi trường và An toàn thực phẩm  ——-  Tài liệu tham khảo  [1] Nhóm phóng viên báo VnExpress, 26/4/2016, Cá chết lan rộng ở miền Trung như thế nào, http://vnexpress.net/infographics/thoi-su/ca-chet-lan-rong-o-mien-trung-nhu-the-nao-3393340.html.  [2] Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam, http://www.vawr.org.vn/images/Image/IMAGE575.jpg.  [3] Nhóm phóng viên báo Người lao động, 16/12/2008, Cá chết do cyanua trong khai thác vàng?,http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ca-chet-do-cyanua-trong-khai-thac-vang-249348.htm.  [4] Byung-ran Lim, Hong-ying Hu, Koichi Fujie (2003), Biological degradation and chemical oxidation characteristics of coke-oven wastewater, Water, Air, and Soil Pollution, 146, pp.23–33.  [5] Đỗ Phúc Quân, Trịnh Hải Thái (2016), Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống quan trắc ô nhiễm nước tự động, Kỷ yếu hội nghị Tổng kết giai đoạn 2010 – 2015 Đề án Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025, Bộ Công thương.  [6] Phạm Hùng Việt, Dương Hồng Anh, Mai Thanh Đức, Nguyễn Thanh Đàm, Lê Minh Đức, Nguyễn Duy Chiến, Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Mạnh Huy (2016), Hệ thiết bị diện di mao quản hai kênh loại xách tay và ứng dụng trong kiểm soát chất lượng môi trường nước, Kỷ yếu hội nghị Tổng kết giai đoạn 2010 – 2015 Đề án Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025, Bộ Công thương.       Author                Phạm Hùng Việt        
__label__tiasang Phân tích tổng quan nguồn sử liệu Trung Hoa liên quan đến biển Đông Việt Nam      Dẫn nhập  Sử liệu Trung Hoa vốn là một phương diện trong việc nghiên cứu lịch sử Biển Đông, nguồn sử liệu này có điểm khá đặc biệt là cả Trung Quốc và Việt Nam đều cần phải dựa vào để lý giải nó theo chiều hướng có lợi cho mỗi nơi, có khi cùng một mẩu thông tin mà được lý giải theo hai hướng khác nhau.    Một bộ phận học giới Trung Quốc thường đưa các trích đoạn từ sách này sách kia vào các luận văn bàn về vấn đề chủ quyền lịch sử Nam Hải với tính chất là một cứ liệu có lợi cho Trung Quốc, trong khi, cũng dựa vào những đoạn văn tương tự hoặc những sách tương tự, học giới Việt Nam lại thấy ở nó có lợi cho vấn đề chủ quyền lịch sử của Việt Nam trên biển Đông. Như vậy, cuối cùng thì phải hiểu như thế nào về tập hợp các sử liệu này, phải dựa vào tiêu chí nào? Đó là những lý do cần phải có một cái nhìn tổng quan về các loại sử liệu Trung Hoa, như một bước khởi đầu cần thiết trước khi dịch giải, phân loại và phân tích nhằm ứng dụng các loại sử liệu này một cách hiệu quả. Sau một thời gian khá dài tiếp cận nhiều loại sử liệu Trung Hoa, chúng tôi thấy rằng, những sử liệu phía Trung Quốc đã đưa ra cùng với những sử liệu khác nữa mà họ chưa đưa ra hoặc cố ý không đưa ra hầu hết đều rất có lợi cho Việt Nam nếu những sử liệu này được hiểu một cách đúng đắn.  Bài viết này gồm 3 phần:  1/ Nêu và phân tích vấn đề theo hướng khái quát, đưa ra những đặc trưng, phân loại, nói về tính chất chung của nguồn sử liệu.  2/ Nêu một số sử liệu tiêu biểu nhằm minh họa cho vấn đề.   3/ Đề đạt ý kiến xây dựng một tổng tập sử liệu để phục vụ các công trình nghiên cứu.  Đây là một lĩnh vực khá rộng lớn, nhận định của cá nhân cùng những ý kiến của chúng tôi chắc chắn còn nhiều điểm hạn chế, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp thảo luận.   I/ Đặc trưng của sử liệu Trung Hoa liên quan đến Biển Đông  Sử liệu Trung Hoa nói chung có phạm vi rất rộng lớn, nhằm tiện lợi cho việc lý luận trong đấu tranh chủ quyền và cả trong nghiên cứu, chúng tôi dựa vào đặc trưng thể loại sử liệu, phân làm 5 nhóm, gồm: chính sử, phương chí, địa đồ, du ký và các loại khác.  1/ Chính sử / 正史   Chính sử (Standard Histories) là những bộ Lịch sử chính thức của những triều đại chính thống trong lịch sử Trung Quốc, nói cách khác, đây là những bộ sử chính thống (legitimate succession).  Sử liệu liên quan đến cương giới biển phần nhiều nằm trong mục Địa lý chí và Ngoại quốc truyện, một số ít rải rác trong phần Bản kỷ và tiểu sử các nhân vật.  Thuộc loại sách lịch sử chính thống nhưng không nằm trong chính sử, là các sách được xếp vào nhóm Chính thư (Zhengshu/政書) và Thực lục (Shilu/實錄).   Chính thư (works relating to government) gồm các sách/ văn bản về chính sách pháp lệnh, điển chương chế độ, quy ước luật lệ quản lý xã hội. Nhóm sách/ văn bản chính thư bao gồm các sách Hội yếu (Huiyao/會要 / collection of important documents), Thông khảo, Thông chí, Thông điển, Hội điển, các văn bản tấu nghị, chiếu lệnh. Tài liệu thuộc nhóm này được xem là quan phương chính thống.  Sử liệu liên quan đến cương giới biển phần nhiều nằm trong mục Dư địa (輿地 / Yudi / Administrative geography) và Tứ duệ (四裔/ Siyi / The neighbouring regions).  Thực lục (veritable records / a type of annalistic history) thuộc loại sử biên niên, tập hợp các ghi chép hằng ngày về những sự việc lớn nhỏ trong triều đình và các quan hệ giữa trung ương với địa phương, giữa Trung Hoa với các nước khác. Thực lục là nguồn tư liệu chủ yếu để biên soạn chính sử. Có rất nhiều sử liệu liên quan đến Đông Nam Á trong Thực lục nhà Minh và Thực lục nhà Thanh.  2/ Phương chí /方志  Phương chí, hoặc gọi Địa phương chí (local gazettteers), về đại thể, có thể chia làm 3 loại: 1/ tổng chí 總 志, còn gọi nhất thống chí 一統志 (comprehensive gazetteers/ chép về cả nước); 2/ thông chí 通志, còn gọi tỉnh chí (gazetteers of provinces/chép về một tỉnh); 3/ địa phương chí 地方志 (chép về phủ, sảnh, châu, huyện, hương, trấn…).   Sử liệu liên quan đến cương giới biển nằm trong các mục dư đồ, cương vực, quan ải, thủy đạo, binh sự, hải phòng (phòng vệ bờ biển); sử liệu liên quan đến các nước xung quanh khu vực nằm trong mục ngoại chí hoặc tạp lục. Vài trường hợp nằm rải rác trong các mục khác.   3/ Địa đồ/地圖   Địa đồ (map/ atlas) là bức vẽ xác định vị trí địa lý, hình thế. Trong nghĩa tiếng Trung Quốc xưa và nay, địa đồ khác với bản đồ (版圖  domain; household registers and maps), bản đồ được hiểu là sổ bộ hộ tịch có kèm theo bức vẽ đất đai tương ứng (lưu ý, khác với cách dùng từ bản đồ ở Việt Nam)   Về nội dung hoặc chủ đề có thể phân thành 4 nhóm: A/ địa đồ hành chánh; B/ địa đồ giao thông; C/ địa đồ quân sự; D/ các loại địa đồ khác.  Đa số địa đồ thuộc loại hành chính và quân sự mang tính chính thống.  Rất nhiều địa đồ có nội dung giống nhau hoặc tương tự nhau, do tình trạng sao chép nhiều lần dẫn đến mặt chữ địa danh bị sai lạc, nhất là đối với tên phiên âm các địa danh ngoài Trung Hoa trên những địa đồ khu vực và địa đồ hàng hải.   Sử liệu liên quan đến cương giới biển phần nhiều nằm trong địa đồ thuộc các loại Hành chính, địa lý, quân sự, hàng hải.   4/ Du ký/遊記  Du ký (travel abroad) được nói đến ở đây là những ghi chép thực tế về địa lý phong thổ các nơi ngoài Trung Hoa. Loại ghi chép này xuất hiện rất sớm, từ thời Tam Quốc (220-280).   Tuy được xếp vào loại sách du ký, nhưng trên thực tế có nhiều tác giả không trải qua thực địa mà ghi chép theo lời thuật lại, hoặc tổng hợp từ nhiều sách có trước, loại này chiếm hơn nửa phần.  Một số du ký mang tính quan phương nhưng đa số du ký là ghi chép tư nhân, trong cả hai loại này, có nhiều trường hợp đã trở thành tài liệu nguồn cho các sách chính thống.  Ngày nay, nhiều tác phẩm du ký giữ địa vị quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế.  Du ký là loại sách được các học giả Trung Quốc ngày nay khai thác sử liệu nhiều nhất đối với các vấn đề liên quan đến chủ quyền lịch sử Nam Hải (biển Đông Nam Á).  5/ Các loại khác  Ngoài bốn nhóm chính nêu trên, sử liệu liên quan cũng nằm trong các loại sách Võ bị, Hàng hải, Loại thư, Kinh điển, Ngôn ngữ, Thi văn tập…  Võ bị (武備), là loại bách khoa quân sự (military technology/ military equipment),  Hàng hải (航海), tức các loại sách chỉ nam hàng hải, thường được gắn các tiêu đề Châm lộ, Châm kinh, Châm thư (needle guides), một số được đính kèm hải đồ, một số chỉ là bản viết mô tả.  Loại thư (類書), là loại sách biên chép theo cách phân loại sự vật (classified matters / classified books), gần với tính chất bách khoa thư (encyclopaedia) ngày nay.  Ngoài ra còn có một số sử liệu nằm trong vài sách thuộc Kinh bộ (Sách kinh điển khoa giáo chính thống như tứ thư, ngũ kinh, ngôn ngữ học), và vài thi văn tập v.v. Số này tuy không nhiều và không liên quan trực tiếp đến vấn đề nhưng có giá trị bổ túc hoặc so sánh, đối chứng.  Nhìn chung, 5 nhóm sử liệu nêu trên có ba đặc điểm:  a/ được ghi chép lâu đời và khá đều đặn  b/ chép rộng hơn thực trạng đất đai quốc gia  c/ dễ gây nhầm lẫn về hiện trạng địa lý cương vực         II/ Tổng quan về thực trạng, số lượng sử liệu và sử liệu tiêu biểu  1/ Thực trạng và số lượng sử liệu:  Về nội dung  Thông tin từ sử liệu được sao chép rộng trên nhiều thể loại, thí dụ như chính sử do mang tính tổng hợp nên phải lấy thông tin chi tiết từ các bộ địa phương chí, địa phương chí lại đã từng thu thập thông tin bên ngoài từ các sách du ký. Mặt khác, các tác giả du ký khi viết về đối tượng địa lý trước mắt nhiều khi cũng nói rộng hơn về lịch sử đối tượng, lúc này buộc họ phải sao chép phần lịch sử từ các du ký trước đó hoặc các địa phương chí hoặc chính sử v.v. Thực trạng này dẫn đến rất nhiều sử liệu mang thông tin có nội dung giống nhau hoặc gần giống nhau.   Về văn bản.  Được bảo tồn khá tốt, còn giữ được một số bản in sớm trong thời Tống, nhiều nhất là các bản in thời Thanh. Các bản in cổ này được lưu giữ ở nhiều nơi, trong và ngoài Trung Quốc, khoảng 5 phần 10 đã được số hóa theo cách ảnh ấn, giữ nguyên trạng thái bản gốc.  Trong lịch sử, nhiều sách được nhân bản thường xuyên qua các đời, ngoài nhân bản riêng lẻ còn nhân bản theo cách nhập vào các tùng thư (series of books), cho nên nhiều sử liệu mang thông tin trùng lặp.  Từ thời Thanh trở về trước, văn bản sai biệt do những người sao chép đối với bản chép tay và do thợ khắc bản đối với bản in, các trường hợp này hầu hết là do sơ ý hoặc sơ suất không cố ý.   Thời đương đại lại có thêm sự sai biệt văn bản do sự chuyển hóa nội dung từ bản in cổ sang bản gõ chữ điện tử, chấm và ngắt câu sai, nhiều trường hợp sai lệch là do sự cố ý của một số học giả khi trích dẫn sử liệu.  Về số lượng  Tổng số sách khoảng hơn 200 tựa thuộc năm nhóm có chứa các sử liệu liên quan đến việc nghiên cứu lịch sử biển Đông.   Số địa đồ có khoảng 180 bức lớn nhỏ các loại, trong đó, địa đồ độc lập in khổ lớn khoảng hon 50 bức, số còn lại là các địa đồ khổ nhỏ in thành tập hoặc in phụ lục trong các sách thuộc 5 nhóm.  2/ Sử liệu tiêu biểu.  Một vài sử liệu tiêu biểu như các Địa đồ trong sách Gia Khánh trùng tu nhất thống chí; [bỏ] Chỉ dụ của hoàng đế Đạo Quang vào năm 1830 chép trong Thanh Thực lục, Chỉ dụ đề ngày Nhâm Dần, tháng 11 năm Đạo Quang thứ 12, nhằm ngày 20 tháng 1 năm 1833. Nguyên Chỉ dụ này do Đạo Quang gửi cho Nội Các về việc chỉ đạo phòng chống cướp biển, lời văn trong tờ dụ có đoạn xác định rõ hải giới phía nam Trung Hoa; Lời dẫn cho phần Địa lý chí trong Thanh sử cảo vv. là những bằng chứng cụ thể và nhất quán, chúng đều mang tính chính thống nên chúng ta có thể phối hợp để làm sáng tỏ vấn đề phạm vi hải giới Trung Hoa thời nhà Thanh.  III/ Kết luận   Sử liệu Trung Hoa có số lượng nhiều và phong phú đa dạng, chúng nằm tản mát trong nhiều nhóm/loại thư tịch. Hầu hết sử liệu đều có giá trị trong nghiên cứu, ở góc độ liên quan đến địa lý khu vực, chúng ta có thể khai thác được rất nhiều trong những vấn đề giao thông, thương mại, quan hệ quốc tế vùng Đông Nam Á.   Ở góc độ liên quan đến lịch sử Biển Đông, dựa vào tính chất và nội dung chân xác của sử liệu, chúng ta có thể khai thác các sử liệu này vào ba mục tiêu:  1/ Chứng minh rằng trong lịch sử từ Hán đến Thanh các quân chủ đại diện cho nhà nước Trung Hoa chưa từng xác lập chủ quyền đối với vùng biển Nam Hải, và xác định hải giới ở cực nam đảo Quỳnh Châu.  2/ Dùng các loại sử liệu liên quan để phản biện các lập luận cho rằng: “qua các nguồn sử liệu lâu đời, Trung Quốc rõ ràng đã xác lập chủ quyền toàn bộ vùng Nam Hải”.  3/ Chứng minh rằng sử liệu Trung Hoa đã thừa nhận các quần đảo trên Biển Đông xưa kia thuộc vùng biển Giao Chỉ hoặc Chiêm Thành.  Để đạt được ba mục tiêu này, buộc chúng ta phải phân tích thật kỹ nội dung từng mẩu sử liệu. Nhằm tránh việc hiểu sai ý nghĩa sử liệu hoặc hiểu phiến diện đối với thông tin từ sử liệu. Trong việc này có vài điểm lưu ý:   + Nhất thiết phải tìm văn bản có độ tin cậy tức là các bản in xưa nhất, tránh sử dụng các văn bản sử liệu đã gõ lại bản chữ điện tử.   + Hiệu khám, tức so sánh, đối chiếu nhiều bản in của một tựa sách, để khảo chứng và đính chính các sai sót.  + Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và lai lịch thân thế tác giả.  + Trích lục đoạn văn hoàn chỉnh, mở rộng thông tin, xem xét mối liên đới của đoạn văn với toàn bộ tác phẩm.  + Chú giải cẩn thận   + So sánh với các trứ tác cùng thời kỳ, cùng đề tài.  Trong vài mươi năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đã từng tổ chức thu thập sử liệu rộng khắp các vấn đề liên quan đến biển Nam Hải, nhiều công trình tổng hợp sử liệu Nam Hải với các chú giải phiến diện đã gây khó khăn, gây hiểu lầm không nhỏ trong học giới.   Để có một tổng tập sử liệu Trung Hoa về Biển Đông mang tính khách quan, chúng ta nhất thiết phải thực hiện. Đối với công việc này, chúng ta gặp khó khăn hơn so với học giới Trung Quốc, bởi vì họ chỉ tìm sử liệu tập hợp và phân loại, còn chúng ta vừa phải tìm sử liệu để tập hợp phân loại vừa phải dịch ra tiếng Việt và chú giải cho sáng tỏ, rồi lại cần phải chuyển sang tiếng Anh thật trung thực và dễ hiểu. Nhưng không thể vì khó khăn mà chúng ta không thực hiện hoặc thực hiện chậm chạp.  Trong việc sử dụng sử liệu Trung Quốc từ trước tới nay, mặc dù chưa khai thác đầy đủ nhưng phần nào đã thấy rõ các sử liệu này rất có lợi cho chúng ta trong việc chứng minh rằng trong lịch sử Trung Quốc chưa từng xác lập chủ quyền đối với vùng Biển Đông.   Tuy nhiên, khi chỉ dựa vào một phần ít sử liệu, việc lý luận sẽ thiếu sự linh hoạt, sẽ khó khăn trong việc lý giải những mâu thuẫn của sử liệu, từ đó việc kết luận cũng khó thể mạnh mẽ, các khiếm khuyết này sẽ được khắc phục một khi sử liệu các loại được khai thác toàn diện.   (Bản tóm tắt tham luận tại hội thảo “Chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Khía cạnh lịch sử và pháp lý” do Trường Đại học Phạm Văn Đồng tổ chức tại TP Quảng Ngãi ngày 27/04) .    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp – dân tộc “khó chịu” nhất thế giới      Bạn tôi làm điều phối cho một tổ chức tình nguyện ở Việt  Nam khăng khăng quả quyết rằng “Pháp là một trong những dân tộc khó chịu  nhất thế giới”! Tôi ở Hà Nội, ít khi gặp và tiếp xúc với người Pháp và  do sự quả quyết tuyệt đối của cô bạn, tôi đã… rất đồng tình về điều mà  tôi còn chưa từng mắt thấy tai nghe.      May mắn giành được suất học bổng tình nguyện qua Pháp, để chuẩn bị cho chuyến đi, tôi cũng “google” về Pháp, về đi lại, về ăn uống, mua sắm, con người, văn hóa, tất tần tật… Tôi cũng đọc cả những kinh nghiệm của những người từng du lịch Pháp, rằng ở Paris bạn phải thật cẩn thận với nạn móc túi, gây gổ, cướp giật…, phần lớn liên quan đến người da màu…  Cảm xúc đầu tiên của tôi khi đặt chân tới Paris là… chuếnh choáng như vừa uống phải rượu. Từng con đường, từng căn nhà ở nơi đây sao mà đẹp và thơ mộng tới vậy. Những căn nhà với ban-công treo đầy giọ hoa lãng mạn theo một lối rất cổ điển. Mặc dù va-li hành lý lỉnh kỉnh nhưng tôi sống chết vẫn phải mở túi, lấy máy ảnh ra chụp vài kiểu mở hàng. Đang mải mê chụp choẹt, tôi bỗng nghe có tiếng người như nói với mình “Shut your bag” (Khóa túi đồ của bạn lại), tôi nhìn xuống túi thì đúng là tôi vẫn chưa kéo khóa lại vì nghĩ để trước bụng rồi, ai lấy được nữa, tính chụp vài kiểu ảnh rồi lại cất đi, mở ra đóng vào phiền chết. Tôi quay lại nhìn người vừa nói với mình thì đó là một phụ nữ da màu. Trong lúc tôi còn mải nghĩ tới lời nhận xét của những người bạn về người da màu ở Paris thì người phụ nữ kia đã quay lưng bỏ đi. Chợt nhận ra mình chưa nói lời cám ơn, tôi vội rối rít nói với theo “merci, merci”.   Paris có hệ thống tàu điện ngầm chằng chịt với tổng số bến tàu nhiều thứ 3 thế giới, chỉ sau hệ thống tàu điện ngầm ở New York và Seoul. Metro Paris phục vụ đi lại cho khoảng 4,5 triệu lượt người mỗi ngày và do đó đường phố trên mặt đất ở Paris khá thông thoáng bởi mọi người đều… chui hết xuống lòng đất rồi! Một điều rất ngạc nhiên và thú vị ở Paris là dù tín hiệu báo người đi bộ phải dừng lại, nhưng các phương tiện như ô tô, xe máy đều dừng lại nhường cho người đi bộ qua hết họ mới đi. Tôi nói chuyện với một người bạn Pháp về điều này, anh kể tôi nghe rằng dân Thụy Sĩ còn “khủng khiếp” hơn thế. Dù cho bạn chả buồn sang đường và cứ muốn đứng ì một chỗ thì ô tô cũng “thi gan” đứng lì một chỗ cho tới khi bạn băng qua đường mới chịu đi. Tôi tưởng tượng nếu người Pháp hay Thụy Sĩ sang Việt Nam, họ buộc phải học cách… cướp đường, giành đường hoặc không thì công an sẽ hỏi thăm bạn bởi bạn đang là nguyên nhân gây ra tắc đường cục bộ…   Người Pháp nổi tiếng thế giới về lòng tự tôn ngôn ngữ của mình và do vậy không thèm học, không thèm nói, không chịu nói tiếng Anh, hoặc nếu có nói thì “như một người Pháp nói tiếng Anh”. Trước chuyến đi tôi lại chẳng chịu update mấy câu tiếng Pháp vì cứ nghĩ, ôi dào, chẳng nhẽ dân Pháp không một ai biết nói tiếng Anh, mà đâu phải khách du lịch nào cũng nói được tiếng Pháp. Vâng, đúng là tôi đã có những trải nghiệm vô cùng thú vị khi tôi hỏi một người Pháp một câu bằng tiếng Anh, họ trả lời tôi một tràng bằng tiếng Pháp. Tôi ngẩn người vì… có hiểu gì đâu, họ thấy tôi vậy thì nói bằng tiếng Anh rằng “I don’t speak English, sorry”. Rõ ràng họ phải hiểu được câu nói của con bé tội nghiệp như tôi đang lớ ngớ tìm đường thì mới nói được một tràng dài bất tận như thế chứ. Nhưng sau khi thấy bộ mặt quá ư tội nghiệp của tôi thì họ chỉ tôi ra một quầy thông tin ở gần đó và nói rằng “you go there for information”. Vâng, người Pháp “khó chịu” một cách đáng yêu như thế đấy ạ! Tôi lại luống cuống “merci, merci beaucoup”.     Vâng, còn đàn ông Pháp thì lãng mạn đến mức “khó chịu” ạ! Nhưng đó lại là câu chuyện của cá nhân tôi rồi. Nếu các bạn vẫn còn hoài nghi về những điều tôi kể, hãy tới Pháp để cảm nhận và trải nghiệm sự “khó chịu” đáng yêu đó của người Pháp!      Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp luật bảo vệ đạo đức và các giá trị cộng đồng      Pháp luật định ra các chuẩn mực tối thiểu để yêu cầu các thành viên trong cộng đồng phải tuân thủ. Nếu vi phạm, các chế tài thường được áp dụng. Trong khi đó, đạo đức thường được đưa ra với tiêu chuẩn cao hơn pháp luật, và đối với từng chủ thể thì chuẩn mực đạo đức lại đặt ra khác nhau. Do vậy luật pháp cần có các quy định mở, linh hoạt để dễ dàng vận dụng vào thực tiễn.  &#160;    Pháp luật được sinh ra với mục đích bảo vệ các giá trị về đạo đức và chuẩn mực của cộng đồng. Nếu không có pháp luật bảo vệ hoặc pháp luật không đủ sức mạnh để bảo vệ, các giá trị đạo đức sẽ bị xói mòn. Trong quốc gia có nền pháp lý tiên tiến, pháp luật sẽ được phân loại và bảo vệ được các giá trị đạo đức đối với từng đối tượng. Chẳng hạn như, đối với bác sỹ, luật sư, thẩm phán… nếu vi phạm các quy định về nghề nghiệp, họ sẽ bị trừng phạt bằng pháp luật với những chế tài khắt khe hơn so với người bệnh, thân chủ hay đương sự… Và trong một xã hội hoàn hảo, các quy định của pháp luật sẽ trùng với các quy tắc đạo đức, chuẩn mực của xã hội. Khi đó, các quy tắc đạo đức được luật hóa bằng các quy định cụ thể và có hiệu quả thực thi trên thực tế.  Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, luật pháp giúp hình thành nên các hành xử chuẩn mực cho cộng đồng, từ từ tạo ra các quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận nếu các quy định của luật pháp là hợp tình, hợp lẽ. Nếu pháp luật không hợp lý, điều này có thể xung đột và làm hại tới các giá trị của đạo đức, và cũng có thể đẩy cả cộng đồng đến với những thói quen xấu bởi việc chấp hành các quy định pháp luật đó.  Hiện nay, tại nhiều quốc gia vẫn đang áp dụng mô hình dựa vào ý chí của số đông và bảo vệ các giá trị mà số đông đó định ra để thông qua luật, mà chưa có cơ chế để bảo vệ lợi ích cho thiểu số, thế yếu, hay đi xa hơn đó là sự công bằng, bình đẳng giữa những con người với nhau trong giá trị đạo đức. Theo quy trình này, luật pháp được ban hành bởi đa số tán thành ở Quốc hội (Nghị viện), cơ quan lập pháp gồm các dân biểu đại diện cho ý chí đa số người dân. Sau đó, luật pháp có hiệu lực.  Một số quốc gia, đặc biệt là Mỹ, đã áp dụng mô hình kiềm chế và kiểm soát quyền lực nhằm hạn chế sức mạnh số đông của Nghị viện và bảo vệ lợi ích của thế yếu, thông qua việc trao quyền cho Tổng thống (người đứng đầu nhánh hành pháp) quyền phủ quyết luật, hay trao cho Tòa án quyền bảo vệ các giá trị căn bản (các giá trị đạo đức được ghi nhận) được quy định trong Hiến pháp (vai trò bảo Hiến). Từ đó, giả sử có một đạo luật được thông qua bởi Nghị viện yêu cầu trục xuất toàn bộ người da màu ra khỏi nước Mỹ, thì bất kỳ một người nào cũng có thể viện dẫn Hiến pháp để đệ đơn lên Tòa án tối cao yêu cầu tuyên đạo luật đó vi Hiến. Những cơ chế như vậy giúp người dân mạnh dạn đứng ra bảo vệ sự công bằng, lẽ phải hay các giá trị đạo đức, chuẩn mực cho cộng đồng.  Ở nước ta, liệu rằng một người tàn tật ngồi xe lăn hay một người nào đó có thể khởi kiện, yêu cầu làm đèn tín hiệu giao thông, thay vì các cầu đi bộ dành cho người đi bộ hay không, khi họ viện dẫn nguyên tắc mọi công dân đều có quyền bình đẳng theo quy định của Hiến pháp?   Một trong những nguyên nhân dẫn đến đạo đức của người Việt hiện nay đang xuống cấp là luật pháp chưa đóng vai trò hiệu quả trong việc bảo vệ các giá trị đạo đức.   Có thể viện dẫn một số ví dụ như: Căn cứ Nghị định 167/2013, chỉ áp dụng chế tài hành chính là phạt tiền đối với người có hành vi bạo lực gia đình. Đặc biệt, việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng như đối với người khác (thương tích 11%). Trên thực tế, chế tài này tỏ ra bất lực, bạo lực gia đình vẫn xảy ra thường xuyên. Thiết nghĩ, việc bổ sung các biện pháp khác như “lao động công ích” hay “hình sự hóa” một số hành vi trái đạo đức, luân lý trong mối quan hệ gia đình là cần thiết.  Hay một ví dụ khác, người thầy nhận phong bì của một sinh viên, đổi lại, sinh viên sẽ được cho điểm cao. Khi bị phát hiện, người thầy ấy sẽ bị kiểm điểm hoặc kỷ luật. Nhưng nếu vụ việc này xảy ra ở một số nước khác, người thầy ấy sẽ bị truy tố và có thể ngồi tù một vài năm bởi mối quan hệ đạo lý thầy trò là đặc biệt và cần được bảo vệ bằng những hình phạt đủ tính răn đe. Ở nhiều nước, chế tài hình sự cũng được áp dụng đối với các mối quan hệ như bác sỹ và bệnh nhân, luật sư và thân chủ,…  Có thể nói, trong phần lớn các trường hợp khi các giá trị đạo đức bị xâm phạm thì chưa có chế tài mang tính pháp lý thích đáng để xử lý, răn đe, cũng như thông qua đó để giáo dục người xâm phạm. Chính vì vậy, nên chăng cần ban hành các bộ quy tắc về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành xử đối với một số nghề nghiệp, chẳng hạn như đối với luật sư, bác sỹ, thương nhân… Và điều quan trọng là một khi vi phạm những đòi hỏi chuẩn mực này, họ sẽ bị xử lý bằng các chế tài hành chính, hình sự một cách thích đáng. Những khẩu hiệu như “lương y như từ mẫu” , “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” không có chế tài thì dần dần cũng bị lãng quên.  Ở phạm vi rộng hơn, đối với người dân nói chung, luật pháp cần có các quy định mở, linh hoạt để dễ dàng vận dụng vào thực tiễn bởi không thể liệt kê được tất cả các quy tắc về chuẩn mực đạo đức của xã hội muôn hình vạn dạng vào trong các điều luật. Và để áp dụng có hiệu quả, các cơ quan công quyền, đặc biệt là các quan tòa, cần công tâm giải thích các quy định đó để đưa vào từng trường hợp cụ thể, từ đó bảo vệ các giá trị đạo đức, các chuẩn mực của cộng đồng.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp luật quốc tế trong bối cảnh đương đại: Có phải để gió cuốn đi? (Kì I)      Giữa tháng ba vừa qua, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã yêu cầu Nga chấm dứt mọi hành động quân sự trên lãnh thổ Ukraine. Tuy nhiên, kết cục không có gì thay đổi, cuộc chiến giữa hai quốc gia đến nay vẫn chưa kết thúc. Vậy vai trò của luật pháp quốc tế ở đâu?     Pericles, chính trị gia người Athens trước Quốc hội Hy Lạp trong cuộc chiến Peloponnese mà Melos phải chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.  Vào năm 416 trước Công nguyên, Melos là một hòn đảo nhỏ ở phía Nam Aegean, khá gần Sparta. Đế chế Athens, vốn từng chiến đấu với Sparta trong cuộc chiến tranh Peloponnesian lần thứ hai (431-404 trước Công nguyên), cho rằng Melos không giữ cam kết trung lập với Sparta và trở thành một nguy cơ trong mắt Athens; còn các lãnh đạo người Melos hoàn toàn phủ nhận cáo buộc này của đối phương. Trước sự phản bác đó, Athens đã từ chối bất kỳ cuộc đàm phán hay thảo luận nào về quyền và lợi ích của các bên với lý do: “Các ngươi biết thừa rằng những gì chúng ta nói và làm đều là công chính, hiển nhiên như cách thế giới này vận hành, rằng vấn đề cốt lõi chỉ là sự tương quan quyền lực, kẻ mạnh có quyền làm bất cứ điều gì có thể trong khi kẻ yếu phải biết điều chịu đựng.” Đáp lại, dân Melos lý luận rằng: “Thật là thủ đoạn – khi các ngài chỉ cho chúng tôi lên tiếng khi chúng tôi bị các ngài buộc phải lên tiếng, và các ngài chỉ cho chúng tôi thụ hưởng quyền được lên tiếng chỉ khi bàn về lợi ích của riêng các ngài, trong khi các ngài không nên phá huỷ cái mà chúng ta cùng cố gắng bảo vệ – đó là đặc quyền được dấn thân để làm rõ cái gì là công chính và lẽ phải, cũng như để được hưởng những gì mà ngay cả lý luận cũng không đủ để phản ánh.” Trước những lời hăm dọa của người Melos về sự sụp đổ tất yếu của Athens, cái Athens lo lắng không phải là ngày tàn của đế chế trong một tương lai xa xôi, mà là việc để cho Melos duy trì tính trung lập của mình hiện tại sẽ là dấu hiệu của sự suy yếu trong mắt của các quốc gia đồng minh lẫn thù địch. Do đó, Athens đã không ngần ngại phát động cuộc chiến với hòn đảo nhỏ này bằng sức mạnh áp đảo của bộ binh và hải quân, trong khi đối phương không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào về mặt ngoại giao lẫn quân sự, và tất nhiên cũng chẳng có thiết chế thứ ba nào phân định ai đúng ai sai. Hiển nhiên, Melos đã đại bại trước Athens. Đây là câu chuyện thảm khốc được ghi chép lại tại phần “Đối thoại của Melos” thuộc quyển “Lịch sử chiến tranh Peloponnese” của sử gia Hy Lạp Thucydides – cha đẻ của khoa học lịch sử. Câu hỏi đặt ra rằng, liệu thế giới này sẽ chỉ còn hai vai diễn Athens và Melos cho các quốc gia lựa chọn, nếu không có các nền tảng về pháp luật quốc tế và các thiết chế quốc tế như hiện nay?  Chủ nghĩa hiện thực – một góc nhìn cực đoan  Câu chuyện giữa Athens và Melos có thể chỉ được tóm tắt vỏn vẹn qua bốn chữ “Mạnh được, Yếu thua” – vốn thể hiện cái mà Thucydides, người khởi xướng trường phái chính trị thực dụng, muốn phản ánh. Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, quan hệ quốc tế được xây dựng dựa trên quyền lực và cái gọi là công lý hay luật lệ chỉ là ảo tưởng. Ngay cả khi một hệ thống pháp luật được ban hành, hệ thống này cũng chỉ dựa trên cơ sở quan hệ quyền lực và vì vậy không thể là dây cương hữu hiệu để kìm hãm các nước lớn. Các cường quốc hoàn toàn có thể tham gia và chiếm ưu thế trong quá trình tạo ra luật lệ, và hệ thống luật này cũng chỉ phản ánh một cách tinh tế hơn lợi ích của các nước mạnh hoặc khéo léo phân bố quyền lực, che đậy lợi ích của họ. Dựa trên tư tưởng này, thuyết bá quyền cho rằng việc sáng lập, duy trì, thực thi, đảm bảo sự bền vững của thể chế phụ thuộc vào cường quốc thống trị.     Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, quan hệ quốc tế được xây dựng dựa trên quyền lực và cái gọi là công lý hay luật lệ chỉ là ảo tưởng.    Tuy vậy, tính “hiện thực” của chủ nghĩa này vốn có nhiều ý nghĩa hơn là việc chỉ bám vào câu chuyện “mạnh được yếu thua” hay sự theo đuổi lợi ích bất chấp luật lệ của các cường quốc. Chủ nghĩa hiện thực, theo giáo sư James Crawford, nên được hiểu theo nghĩa rộng khi cần phải nhìn nhận thế giới ‘theo cách mà nó đang thật sự diễn ra”. Điều này phụ thuộc lớn vào góc nhìn chủ quan của mỗi người, vốn bị chi phối bởi giới hạn hiểu biết và cảm xúc. Cụ thể, con người dễ ghi nhớ và phản ánh lại các thực tiễn được đơn giản hóa để ngầm thể hiện một ý nghĩa đằng sau câu chuyện mà họ đang kể lại. Ngoài ra, con người khó mà có một cái nhìn “hiện thực” toàn diện – vốn yêu cầu nhìn xuyên qua những ảo tưởng và vỏ bọc bên ngoài một thực tiễn, cũng như phải đủ can đảm nhìn trực diện vào một thực tế “xấu xí” hoặc ít ra là khác với niềm tin nội tâm của chính họ. Vì vậy, những người theo chủ nghĩa hiện thực sẽ dễ dàng mắc phải các lỗi ngụy biện khi suy từ một hay vài hiện tượng có cùng điểm chung ra thành chân lý, cũng như chỉ công nhận những “hiện thực” mà họ quan sát được mà bỏ qua tính năng động của môi trường quốc tế.   Cụ thể, những người ủng hộ thuyết hiện thực với lý lẽ “mạnh được yếu thua” sẽ khó giải thích, về mặt quân sự, vì sao một quốc gia nhỏ vẫn có cơ hội khẳng định độc lập chủ quyền trước một nước lớn, điển hình như trường hợp Đại Việt ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, hay Việt Nam luôn giữ vững nền độc lập trước các cường quốc quân sự như Pháp, Nhật và Hoa Kỳ. Hoặc, về mặt thể chế, nếu cho rằng luật lệ quốc tế là vô nghĩa và vô dụng trong việc ngăn chặn các cuộc chiến phi nghĩa từ những nước lớn, báo cáo của Human Security Report Project năm 2011 cho thấy dù các điều khoản cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được đặt ra từ năm 1945 không dễ dàng được các quốc gia chấp nhận ngay lập tức, việc thành lập và hoàn thiện các vấn đề thể chế pháp luật quốc tế theo thời gian đi kèm với xu hướng giảm đáng kể các xung đột vũ trang và số người chết vì các cuộc nội chiến hay chiến tranh giữa các quốc gia.  Tòa án Công lý Quốc tế cũng phản đối Mỹ xâm phạm chủ quyền của Nicaragua vào năm 1986. Trong ảnh là Thủy quân Mỹ đang cầm cờ chiếm đoạt từ quân đội phía Nicaragua.  Bên cạnh đó, nếu cho rằng các thiết chế quốc tế tỏ ra phi thực tế so với việc sử dụng quyền lực, tại sao chúng ta vẫn thấy sự thành lập và tồn tại qua nhiều thập kỷ của hàng loạt thiết chế tiêu biểu như Liên Hiệp Quốc (UN) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngay cả khi tiền thân của chúng là Hội Quốc Liên (League of Nations) và hệ thống Hiệp định chung về Thuế quan và mậu dịch (GATT) sụp đổ. Ngoài ra, lập luận này cũng dễ dàng bị phản bác bởi các số liệu khi tính đến năm 2016, có ít nhất 7.757 tổ chức liên chính phủ và 60.272 tổ chức phi chính phủ ra đời và tích cực góp phần thúc đẩy các nhà nước thực thi các cam kết quốc tế, cũng như hỗ trợ phát triển, giải thích và áp dụng luật quốc tế trong nhiều khía cạnh đời sống.   Hơn nữa, nếu cho rằng các thiết chế giải quyết tranh chấp quốc tế thực sự bị chi phối bởi một hay nhiều nước có quyền lực, tại sao Tòa án Công lý Quốc tế vẫn rất nhất quán trọng việc lên tiếng các hành vi “vi phạm nghĩa vụ theo tập quán pháp luật quốc tế về việc không được sử dụng vũ lực chống lại quốc gia khác”, “không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác”, “không xâm phạm chủ quyền quốc gia khác” trong vụ The Republic of Nicaragua v. The United States of America năm 1986, và mới đây nhất kêu gọi Nga ngừng ngay việc sử dụng các biện pháp quân sự trong vụ Ukraine v. Russian Federation. Ngoài các vấn đề về lãnh thổ, các thiết chế thương mại quốc tế vẫn là một cơ chế bảo vệ hiệu quả dành cho các nước nhỏ trước sức ép cạnh tranh đa phươnng, điển hình như Việt Nam đã hai lần thắng kiện Mỹ trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp của WTO đối với vụ kiện  DS404 (năm 2011) và DS429 (năm 2014) về các biện pháp chống bán phá giá bất hợp lý của Mỹ mặt hàng tôm nước ấm, buộc Mỹ phải tính toán lại mức thuế phòng vệ thương mại phù hợp và sửa đổi biện pháp của mình cho phù hợp với thông lệ chung. Tương tự, Mỹ cũng đã thua kiện trước một nhóm các quốc gia đang phát triển khác trong vụ DS58 về các biện pháp cấm nhập khẩu tôm mang tính phân biệt đối xử gây ra hạn chế thương mại trá hình nhân danh mục đích bảo vệ môi trường.   Quá trình trỗi dậy của những luồng tư tưởng mới  Rõ ràng là các lý lẽ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển không phải là một câu trả lời toàn diện cho thực tiễn phát triển của cộng đồng quốc tế. Câu hỏi đặt ra là các quốc gia hiện nay đang thiết lập trật tự quốc tế thế nào nếu không sử dụng các biện pháp võ biền? Quan sát sự ra đời và thành công của Hội Quốc Liên trong nỗ lực giải quyết tranh chấp về lãnh thổ và thất bại của tổ chức này trong quá trình giải trừ quân bị của các thành viên, học giả David Mitrany nhận thấy rằng chủ quyền quốc gia và lãnh thổ là động cơ chính để các quốc gia có thiện chí hợp tác để giải quyết những vấn đề chung hay không, nhưng vẫn còn cơ hội để tập trung sự chú ý của các quốc gia nhằm thực hiện một hành động tập thể ở các khía cạnh khác. Hay nói cách khác, trong khi những vấn đề chính trị chia rẽ các quốc gia, nhiệm vụ thực hiện chức năng của nhà nước như tự do hóa thương mại quốc tế, an ninh quốc tế, môi trường quốc tế sẽ kết nối họ lại với nhau.     Những người theo chủ nghĩa hiện thực sẽ dễ dàng mắc phải các lỗi ngụy biện khi suy từ một hay vài hiện tượng có cùng điểm chung ra thành chân lý, cũng như chỉ công nhận những “hiện thực” mà họ quan sát được mà bỏ qua tính năng động của môi trường quốc tế.    Từ đây, sự cần thiết của việc thiết lập luật chơi chung dần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Năm 1979, Kenneth Waltz trong tác phẩm “Theory of International Politics” đã đề ra một lý thuyết mới giải thích sự ra đời của “một hệ thống các chủ thể tác động lẫn nhau dựa trên các quy tắc về ứng xử và xác lập danh tính của mình theo thời gian”, còn được gọi là chủ nghĩa tân hiện thực. Không lâu sau, lý thuyết về tính ổn định đồng nhất được rút ra từ các nghiên cứu của Modelski và Gilpin vào thập niên 80 chú trọng đến các quy định, thể chế và quy tắc ứng xử trong hệ thống quốc tế như là nền tảng để thực hiện các mục tiêu, ưu tiên và lợi ích của các quốc gia. Thập niên 90 chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các thuyết thể chế và thuyết tự do công nhận các diễn đàn quốc tế và cơ chế hợp tác quốc tế ngoài biện pháp ngoại giao truyền thống đã định hình lại chính trị quốc tế cũng như cấu trúc quyền lực của các quốc gia. Nói chung, nếu chủ nghĩa hiện thực sử dụng quyền lực thông qua chiến tranh hoặc vị thế thương lượng áp đảo để xây dựng trật tự, thuyết thể chế và tự do coi trọng luật pháp quốc tế và các thiết chế quốc tế như các công cụ bảo đảm sự cân bằng trật tự quốc tế. □   (Còn tiếp)    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Pháp luật quốc tế trong bối cảnh đương đại: Có phải để gió cuốn đi? (Kỳ 2)      Mặc dù bức tranh thế giới hiện tại bị phân mảnh bởi những hành động đơn phương của một số quốc gia, nhưng không vì thế mà chúng ta đánh mất niềm tin vào hệ thống pháp luật quốc tế.     Hội đồng thành phố ở Munster, Đức, nơi diễn ra lễ ký kết Hiệp ước hòa bình Westphalia.  Pháp luật quốc tế – hoa tiêu cho một trật tự bình ổn  Có thể thấy luật quốc tế đóng vai trò trọng tâm của các thuyết thể chế và thuyết tự do. Tuy nhiên, một vấn đề đầy tranh cãi nổ ra: luật pháp quốc tế thực sự là gì? Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng luật pháp quốc tế là một thuật ngữ luật “giả tưởng”. Lí do là bởi, đã là luật thì phải có ba trụ cột chính: cơ quan lập pháp ở tầm quốc tế, tòa án với thẩm quyền bắt buộc các bên phải tuân thủ, đặc biệt là với hệ thống chế tài tập trung và khả thi. Trong khi đó, luật quốc tế không có cơ quan lập pháp và lại càng không có chế tài.  Nhiều người nghi ngờ các thiết chế pháp luật quốc tế không chỉ liệu có hiệu quả, mà còn có thực sự công bằng. Bởi, không thể phủ nhận nhiều trường hợp chúng được đặt ra bởi các cường quốc và không thể hiện ý chí chung của các nước nhỏ. Ví dụ điển hình nhất là Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân 1986 (Nuclear Non-Proliferation Treaty – NPT). Theo hiệp ước này, các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân cùng thống nhất không cung cấp hay tiếp nhận bất cứ vũ khí hạt nhân hay cho bất cứ bên nào. Tuy nhiên, trước khi hiệp ước này thông qua, Hoa Kỳ đã bí mật cung cấp vũ khí hạt nhân cho các nước trong khối NATO dù đã “bao biện” rằng vũ khí vẫn thuộc sở hữu và kiểm soát của lực lượng vũ trang Mỹ. Chưa hết, năm 2005, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cung cấp khoảng 180 quả bom hạt nhân chiến thuật B61 cho Bỉ, Đức, Ý, Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ theo thỏa thuận của NATO.  Một trong những cây đại thụ trong lĩnh vực pháp luật quốc tế – Hans Morgenthau cũng công nhận sự bất công, vốn bắt nguồn từ sự chênh lệch quyền lực giữa các quốc gia sẽ không thể tránh khỏi khi ban hành và áp dụng các quy định pháp luật quốc tế. Do đó, luật lệ đặt ra chỉ giúp những cường quốc dễ dự đoán được hành vi của các nước khác, trong khi chính bản thân họ không chịu sự ràng buộc. Học giả John Austin còn chỉ coi pháp luật quốc tế như một bộ quy tắc đạo đức và nguyên tắc ứng xử chung, vì chúng dựa trên sự tuân thủ tự nguyện của các nước thành viên là chính chứ không có biện pháp chế tài hữu thiệu cũng như cơ quan giám sát thực thi chặt chẽ kèm theo.  Trong khi đó, luồng quan điểm còn lại xem pháp luật quốc tế là khái niệm luật thật sự vì bắt nguồn từ các tập quán và tiền lệ xét xử. Học giả Frederick Pollock cho rằng một thứ là luật miễn là nó thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất là sự tồn tại của một cộng đồng chính trị, thứ hai là các thành viên trong cộng đồng đều công nhận và thừa nhận bị ràng buộc bởi các quy định này. Luật quốc tế hoàn toàn thỏa mãn hai điều kiện này. Nhằm kiện toàn thêm lập luận ủng hộ giá trị của pháp luật quốc tế, học giả Hersch Lauterpacht nhấn mạnh “pháp luật quốc tế nên được nhìn nhận là một hệ thống chưa hoàn chỉnh […], là kết quả của khao khát hướng đến một hệ thống luật có tính thẩm quyền chính thức, hơn là việc xem đây là một loại đối tượng hoàn hảo và bất biến trong một hệ thống đa phương”.  Lịch sử đã cho thấy rằng các quốc gia trên thế giới vẫn luôn khao khát tìm kiếm một tiếng nói chung, một cách giải quyết chung bình đẳng và hiệu quả cho những tranh chấp, xung đột và khác biệt. Dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời của luật pháp quốc tế truyền thống dựa trên nguyên tắc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia là Hiệp ước Westphelia do các quốc gia châu Âu ký vào năm 1648. Hiệp ước này đã chấm dứt những cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm vì xung đột tôn giáo ở châu lục này. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, năm 1945, bắt đầu với sự hội nhập trên quy mô toàn cầu, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã trở thành khuôn khổ quốc tế đến nay đã được hơn 190 quốc gia công nhận về các vấn đề chủ quyền và nguyên tắc không can thiệp bằng vũ lực và vào công việc nội bộ.  Bên cạnh đó, quá trình ra quyết định trong các thiết chế quốc tế luôn được cải tiến liên tục để giảm bớt các can thiệp chính trị và bảo vệ lợi ích đa phương. Cụ thể, nguyên tắc thông qua phán quyết dựa trên cơ sở đồng thuận (consensus) của các thành viên GATT (Hiệp định về Thuế quan và Mậu dịch) thời kỳ 1947 – 1993 gây ra sự tắc nghẽn của cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ này, khi chỉ cần một thành viên phủ quyết thì mọi nỗ lực giải quyết tranh chấp của Ban Hội thẩm sẽ lập tức thất bại. Cho đến khi WTO ra đời và thay thế cơ chế GATT vốn đã tỏ ra quá lỗi thời, nguyên tắc thông qua phán quyết dựa trên cơ sở đồng thuận nghịch (negative consensus) tạo nên sự thành công vang dội cho cơ chế giải quyết tranh chấp WTO. Theo đó, phán quyết được tự động thông qua trong hầu hết các trường hợp, trừ khi có yêu cầu kháng cáo của một bên tranh chấp, bỏ qua các ảnh hưởng chính trị đơn phương một cách hữu hiệu. Các nguyên tắc về việc xem xét tới hoàn cảnh và lợi ích đặc biệt của những quốc gia đang và kém phát triển cũng được thừa nhận thành văn trong các hiệp định thương mại, đầu tư quốc tế. Tới nay, như là kết quả của công nghệ hiện đại, truyền thông, và các khía cạnh khác của quá trình toàn cầu hóa, luật pháp quốc tế và các chuẩn mực quốc tế không chỉ được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới mà còn được nội luật hóa vào trong pháp luật của mỗi quốc gia.    ICJ đồng thời còn giúp luật pháp quốc tế trở thành “công thức ngữ pháp chung”, đặc biệt là trong các khái niệm quan trọng, mang tính “sống còn” trong việc duy trì mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia như “quyền tự quyết” và “toàn vẹn lãnh thổ”.    Đáng lưu ý rằng, dù hiếm khi bị cưỡng chế thực thi, “gần như tất cả các quốc gia đều tuân thủ các nguyên tắc của luật quốc tế và nghĩa vụ quốc tế của họ”, theo học giả Louis Henkin. Điều này thể hiện qua việc giảm mạnh các xung đột vũ trang theo thời gian và các quốc gia càng thường xuyên tận dụng các thiết chế giải quyết tranh chấp quốc tế.  Có nhiều lý do để giải thích cho hiện tượng này. Theo lý thuyết về hành vi, với giả định rằng các quốc gia hành động một cách có chủ đích và duy lý, họ sẽ thấy nỗ lực tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế về cơ bản là cách hiệu quả và tiết kiệm nhất để hòa giải các khác biệt. Sau Thế chiến thứ hai, bình diện quốc tế có nhiều chuyển biến lớn, ngoài sự phổ biến của các thể chế quốc tế, chủ thể phi nhà nước, ranh giới phân biệt chủ thể công và tư bị xóa nhòa, các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn thay vì ủng hộ chủ quyền tuyệt đối. Nhờ vậy, các quy tắc pháp lý quốc tế ngày càng trở nên hoàn thiện, phản ánh được mối quan tâm chung toàn cầu thay vì tập trung vào lợi ích riêng rẽ của từng quốc gia. Các quốc gia đều cảm thấy lợi ích rõ rệt khi trở thành thành viên hoặc tuân thủ luật pháp quốc tế. Từ đây, Ủy ban Luật pháp Quốc tế đã nêu rõ nguyên tắc thượng tôn pháp luật tại Điều 14 của Tuyên bố về Quyền và Nghĩa vụ của các quốc gia năm 1949: “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tiến hành quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác phù hợp với luật pháp quốc tế và với nguyên tắc rằng chủ quyền của mỗi quốc gia phải tuân theo thẩm quyền tối cao của luật pháp quốc tế”.  Eric Wyndham (giữa), tổng thư ký đầu tiên của Hiệp định Thuế quan và Mậu dịch Quốc tế, tiền thân của WTO. Ảnh: WTO.  Đối với các cường quốc, Thomas Franck lý giải hành vi tuân thủ pháp luật quốc tế của họ là nhằm đạt được tính chính danh đối với biện pháp mong muốn thực hiện. Nếu các quốc gia khác liên minh chống đối mạnh mẽ vì họ cố tình phá luật chơi, không chỉ biện pháp đó của họ gặp trở ngại lớn mà những lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa lâu dài cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu bị gạt khỏi các tổ chức quốc tế hay sụt giảm thu hút đầu tư nước ngoài. Căn cứ theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Ysof Ishak năm 2022, tỷ lệ tin tưởng của các nước ASEAN dành cho các cường quốc hành xử dựa trên luật lệ phản ánh các hứa hẹn hợp tác chính sách kinh tế – thương mại dành cho những đối tác ngoài khu vực, trong đó Nhật Bản đứng đầu với tỷ lệ tin cậy lên đến 68,2% – cao hơn đáng kể so với Hoa Kỳ xếp vị trí thứ hai là 47%, và thấp nhất là Ấn Độ với chỉ 18%.  Vào năm 2005, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Kết quả của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới, theo đó các quốc gia “công nhận sự cần thiết phải tuân thủ và thực hiện nguyên tắc thượng tôn pháp luật ở cả cấp quốc gia và quốc tế”, cũng như tái khẳng định cam kết của họ đối với “một trật tự quốc tế dựa trên sự thượng tôn pháp luật và luật pháp quốc tế, điều cần thiết cho sự chung sống và hợp tác hòa bình giữa các quốc gia”. Trên tinh thần này, luật pháp được xây dựng không chỉ nhằm tập trung xử lý, ngăn chặn hành vi vi phạm và cưỡng chế thực thi, mà còn tạo điều kiện cho sự hợp tác. Chính sự hợp tác này cũng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn nếu có một cơ quan tài phán quốc tế trung lập, khách quan phân định các quyền lợi, nghĩa vụ giữa các quốc gia dựa trên cơ sở luật lệ vững chắc để hóa giải hoặc ngăn chặn bất đồng leo thang.  Cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế – người gác đền công lý  Không chỉ luật quốc tế có khả năng thay đổi cách ứng xử của một quốc gia, các cơ quan tư pháp quốc tế cũng được thiết kế theo cách hỗ trợ các chủ thể công này tuân thủ luật chơi chung. Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) là một trong sáu cơ quan chính của Liên Hợp Quốc, có trụ sở tại The Hague, Hà Lan. Vai trò chính của ICJ trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc là giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia khi có đệ trình được nộp lên một cách hòa bình và phù hợp với luật pháp quốc tế. Nói cách khác, sự tồn tại của ICJ thể hiện ý chí của Liên Hợp Quốc trong việc khuyến khích sử dụng các kỹ thuật pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc tế và để đảm bảo mục đích cuối cùng của tổ chức này là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế dựa trên luật lệ.    “Khi một nhóm các cường quốc nhận ra rằng họ có thể tự do lẩn tránh khỏi các ràng buộc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và sử dụng vũ lực một cách không ngần ngại, chiếc hộp Pandora sẽ bị mở ra” – Antonio Cassese.    ICJ được thiết kế để chỉ tiến hành điều tra và giải quyết tranh chấp được quy định bởi Hiến chương Liên Hiệp Quốc dựa trên ý chí các quốc gia theo Điều 36 Đạo luật của ICJ hoặc được trao quyền theo các điều ước quốc tế được ký kết, do vậy làm tăng sự ủng hộ của công chúng vì thể hiện tính hợp pháp của cơ quan này và đảm bảo không bị lợi dụng là công cụ trá hình để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Do đó, việc tích hợp hoàn toàn ICJ vào hệ thống Liên Hợp Quốc thay vì tách rời như thiết chế Toà án Công lý Quốc tế Thường trực (PCIJ) được thành lập vào năm 1922 trước đó dẫn đến hai hiệu ứng. Thứ nhất, Tòa án được định hướng bởi các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc khi thực hiện các chức năng tư pháp. Cụ thể, các vụ tranh chấp được giải quyết bởi ICJ sau này cũng viện dận đến nhiều cơ sở pháp lý trong Hiến chương Liên Hợp Quốc. Khả năng giải thích pháp luật của ICJ cũng được trọng dụng khi vào năm 1994, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc nhờ ICJ đưa ý kiến tư vấn về trường hợp sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân theo pháp luật quốc tế, và tòa này cũng đã căn cứ vào chính Điều 2 và Điều 51 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc để đưa ra nhận định của mình. Thứ hai, dù các phán quyết của tòa chỉ ràng buộc trực tiếp các bên tranh chấp, chúng cũng có giá trị được tôn trọng như nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc theo Hiến chương. Do đó, tính độc lập và khách quan của tòa án là điểm mấu chốt để thực hiện sứ mạng “người gác đền công lý” của mình, cũng như giữ vững niềm tin của các quốc gia thành viên vào cơ chế mà họ đang tham gia.  Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega vào năm 2011 cho biết nước này sẽ yêu cầu Mỹ bồi thường 17 tỉ USD sau phán quyết của ICJ. Vụ kiện Nicaragua và Hoa Kỳ đánh dấu lần đầu tiên một quốc gia nhỏ thắng kiện trước một cường quốc lớn. Ảnh: cnn.com  Quá trình hoạt động của ICJ cũng trải qua nhiều thăng trầm. Ngay sau khi được thành lập vào năm 1945, công việc giải quyết tranh chấp của tòa này trở nên khá bận rộn từ giữa năm 1946 đến năm 1966, khi hàng loạt các vụ kiện về phân định biên giới quốc gia, sử dụng vũ lực để giải quyết bất đồng và quyền tài sản được đệ trình. Tiêu biểu như vụ Kênh đào Corfu (1947-1949) khi Chính phủ Anh đệ đơn kiện đòi Chính phủ Albania bồi thường thiệt hại vì không xử lý bom mìn làm đắm tàu chiến của nước này, và vụ Đền Preah Vihear (1962) theo đó Chính phủ Cambodia kiện Chính phủ Thái Lan đã có hành vi xâm lược bất hợp pháp vùng lãnh thổ thuộc khu đền này. Kể từ năm 1970, công việc của tòa trở nên trầm lắng hơn khi các bất đồng về hệ tư tưởng của các nước theo chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản đặt ra câu hỏi về tính trung lập của tòa. Tuy nhiên, vụ kiện Nicaragua v. Hoa Kỳ (1986) khi Nicaragua cáo buộc Hoa Kỳ thực hiện các hoạt động quân sự trái phép trên lãnh thổ của mình đã tạo ra một bước ngoặt. Vụ kiện được giải quyết với phần thắng nghiêng về phía Nicaragua – một quốc gia yếu thế hơn hẳn trước một cường quốc quân sự như Hoa Kỳ, làm tăng niềm tin của các quốc gia vào sự công bằng của ICJ. Từ đây, thời kỳ 1992-1994 ghi nhận khoảng 12 tranh chấp được đệ trình lên ICJ mỗi năm. Trong đó, thành tựu đáng lưu ý của tòa này là nỗ lực trong suốt sáu năm liền (từ 1986 đến 1992) để giải quyết được tranh chấp kéo dài hơn 90 năm về biên giới lãnh thổ trên đất liền, đảo và hàng hải giữa El Salvador và Honduras. Đặc biệt, quyết định của tòa án trong vụ kiện liên quan đến phân định đường biên giới trên biển ở Biển Đen giữa Romania và Ukraine năm 2004 là phán quyết duy nhất trong lịch sử của tòa án đã được thông qua mà không có bất kỳ ý kiến bất đồng nào của các thẩm phán được ghi nhận lại.  Có thể thấy theo thời gian, tòa án đã tạo nên uy tín vững chắc trong việc xét xử các tranh chấp biên giới đất liền và phân định đường biên giới trên biển. Chỉ riêng các vấn đề phân định đường biên giới trên biển, khoảng 28 vụ kiện đã được đệ trình lên tòa án để xét xử liên quan đến các khu vực hàng hải nằm ở Tây và Đông Âu, Bắc và Nam Mỹ, bao gồm Caribbean, Trung Đông và châu Phi. Bên cạnh đó, nội dung các tranh chấp được ICJ thụ lý cũng khá phong phú với các vấn đề về sử dụng vũ lực, quan hệ ngoại giao, hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, bắt giữ con tin, quyền của người tị nạn chính trị, các quyền về di chuyển qua biên giới và quyền kinh tế.  Trong vụ tranh chấp kênh đào Suez, Israel và Ai Cập nhất quyết từ chối không đưa vụ việc lên ICJ. Ảnh: Business Insider  Cách giải quyết tranh chấp của ICJ cũng đảm bảo sự nhất quán để tránh các hành vi can thiệp bằng chính trị vào quá trình xét xử, khả năng lạm quyền của tòa án, rủi ro đưa ra phán quyết mang tính “tiêu chuẩn kép” trong khi đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật. Cụ thể, mặc dù các phán quyết trước không ràng buộc nhận định của ICJ trong các vụ kiện sau, tòa án sẽ áp dụng cách giải thích pháp luật của mình “một cách thống nhất trừ khi có lý do đặc biệt để làm khác đi”. Do đó, thông qua hoạt động xét xử của mình, ICJ đồng thời còn giúp luật pháp quốc tế trở thành “công thức ngữ pháp chung”, đặc biệt là trong các khái niệm quan trọng, mang tính “sống còn” trong việc duy trì mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia như “quyền tự quyết” và “toàn vẹn lãnh thổ”.  Dù vậy, thiết chế này cũng không hoàn toàn vạn năng trong việc giải quyết bất đồng giữa các quốc gia khi một nước có thể quyết định sử dụng hay không sử dụng chức năng tài phán của ICJ để giành lợi thế cho mình, Cụ thể, vào giữa những năm 1970, Chính phủ Úc đã khởi xướng vụ kiện trước ICJ nhằm chống lại hành vi thử nghiệm hạt nhân của Chính phủ Pháp tại khu vực Nam Thái Bình Dương. Đáng ngạc nhiên là vào năm 2002, chính nước này lại tuyên bố không chấp nhận thẩm quyền của ICJ về giải quyết tranh chấp biên giới trên biển, nhằm ngăn ngừa khả năng Đông Timor khởi kiện mình tại tòa này đối với vấn đề trên. Bên cạnh đó, các bên tranh chấp cũng e ngại cơ chế này sẽ “làm rõ trắng đen”, khiến chính họ trở thành bên thua kiện trên bàn cờ công lý quốc tế. Đó là lý do vì sao trong vụ tranh cãi về Kênh đào Suez vào những năm 1950 giữa Ai Cập và Israel, dù được Hoa Kỳ khuyến khích mang ra giải quyết bởi ICJ, các bên tranh chấp đã một mực từ chối.  Tuy vậy, điều này cũng ngầm cho thấy rằng phán quyết của ICJ có giá trị nhất định trong việc làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia, biến các hành vi còn đang tranh cãi trong bối cảnh “tranh tối tranh sáng” trở nên tỏ bày hơn bao giờ hết và không còn chỗ cho các can thiệp mang tính chính trị, bá quyền, từ đó thúc đẩy sự hợp tác thiện chí giữa những quốc gia tranh chấp. Minh chứng là trong vụ Iran v. Hoa Kỳ (1980), dù Iran không tuân thủ phán quyết của tòa vào năm 1980 yêu cầu thả ngay lập tức các con tin mà nước này bắt giữ, các bên tranh chấp dựa vào phán quyết của ICJ để đạt được thỏa thuận với nhau một năm sau đó. Tương tự, Hiệp định Green Tree được ký kết giữa Cameroun và Nigeria vào năm 2006 khẳng định thiện chí của các bên trong việc thực thi phán quyết của ICJ được ban hành trước đó trong hòa bình.  Các nguyên tắc pháp luật quốc tế chúng ta đang có là thứ quan trọng mà thế hệ trước qua hai cuộc Thế Chiến 1914 và 1939 đã không có được. Trong ảnh là bức tranh Người mù ở Belsen, Alan Moore, 1947 khắc họa họa khung cảnh rung rợn của trại tập trung trong Thế chiến thứ 2. Ảnh: Bảo tàng kỷ niệm chiến tranh Úc/Dự án Nghệ thuật và Văn hóa của Google.  Câu hỏi đặt ra tiếp theo là dù phán quyết của tòa đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các vấn đề bất đồng ý kiến, việc thiếu vắng cơ chế cưỡng chế thực thi ở tầm quốc tế có khiến cho nỗ lực giải quyết tranh chấp của ICJ trở nên vô nghĩa? Trên thực tế, các quốc gia vẫn có thể tận dụng cơ chế ban hành biện pháp khẩn cấp tạm thời của ICJ để chống lại các vi phạm và duy trì hòa bình trong khi chờ một phán quyết chính thức. Ví dụ tiêu biểu như quyết định của tòa này vào năm 2018 yêu cầu Nicaragua dừng hành vi xâm lược kênh đào Cano và bồi thường đối với hành vi bất tuân quyết định trước đó của tòa và khắc phục vi phạm tổng cộng đến 378.890 USD cho Costa Rica, cũng như yêu cầu Hoa Kỳ dừng các biện pháp cấm vận kinh tế đối với Cộng hòa Iran trong vụ kiện diễn ra cùng năm. Điều này nhấn mạnh vị thế của ICJ trong việc đặt ra các biện pháp tạm thời như nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với những bên tranh chấp, tạo cơ sở để xét thấy rõ thiện chí tuân thủ luật chơi của một bên – vốn có ảnh hưởng lớn đến “hình ảnh quốc gia” và khả năng kêu gọi hợp tác, đầu tư với các đối tác khác sau này.  Theo thời gian, ICJ không còn là tòa án quốc tế duy nhất tồn tại, mà còn có thêm các thiết chế tòa án và trọng tài khác ở tầm quốc tế và khu vực như Tòa Hình sự Quốc tế, Tòa Trọng tài về Luật Biển, Tòa án Công lý châu Âu, các tòa trọng tài về nhân quyền trong khu vực và các tòa trọng tài hình sự quốc tế theo vụ việc khác. Các cơ quan này đã đóng góp rất lớn vào việc củng cố nguyên tắc thượng tôn pháp luật ở tầm quốc tế cũng như phát triển pháp luật quốc tế thông qua các phán quyết của mình.  Thách thức hiện tại và tương lai nhiều ẩn số  Dù vậy, trong những thời kỳ trật tự quốc tế có sự phân mảnh bởi các hành vi đơn phương của một số quốc gia, với tranh cãi gần đây nhất là hành vi quân sự của Nga đối với Ukraine vẫn tiếp diễn sau khi có quyết định tạm thời của ICJ được ban hành vào ngày 16/3/2022 yêu cầu Nga đình chỉ các hoạt động quân sự, nền tảng pháp luật quốc tế và nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong hệ thống này gặp phải những rung chấn. Dù đã có những quy định pháp lý rất rõ ràng về việc cấm sử dụng vũ lực để giải quyết xung đột và không thiếu những phán quyết làm rõ vấn đề này, thực tế cho thấy chiến tranh vẫn là điều không thể tránh khỏi. Thậm chí, để tránh việc phán quyết của một cơ chế trung lập như ICJ trở nên bất lợi cho mình, các nước lớn mà tiêu biểu là Hoa Kỳ đã cố tình xây dựng điều khoản loại trừ thẩm quyền của tòa này trong những điều ước quốc tế được ký kết gần đây. Học giả Cassese đã lên tiếng cảnh báo rằng: “Khi một nhóm các cường quốc nhận ra rằng họ có thể tự do lẩn tránh khỏi các ràng buộc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và sử dụng vũ lực một cách không ngần ngại, chiếc hộp Pandora sẽ bị mở ra”. Đến đây, có thể nhiều người bi quan cảm thấy rằng các thiết chế pháp lý quốc tế hiện tại không đủ vững chãi để kiềm chế hành động không mong muốn của một quốc gia. Tuy nhiên, liệu các sự kiện hiện tại có hoàn toàn phủ định vai trò của luật quốc tế và các cơ quan tư pháp quốc tế hiện hữu?    Nếu không có những thiết chế luật lệ, các cuộc chiến tranh giành quyền lực sẽ dẫn đến sự tàn lụi của cộng đồng quốc tế và nền văn minh mà chúng ta đang cố gắng xây dựng.    Sự tồn tại của pháp luật quốc tế và các thiết chế giải quyết tranh chấp quốc tế quả thật đã không ngăn chặn được chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên, cơ chế này đã vạch ra một hướng đi rõ ràng dần theo thời gian trong việc ngăn chặm hoặc khắc phục các tình huống bất đồng leo thang và những cuộc chiến đổ máu, với đa dạng các vấn đề từ việc sử dụng vũ lực, quyền tự quyết, tội ác diệt chủng… để đảm bảo một thế giới mới an toàn và hòa bình hơn. Trong những thời khắc chúng ta cảm thấy mất niềm tin nhất, cần nhận thức rõ ràng rằng thứ đáng giá nhất mà chúng ta đang có trong tay chính là những gì mà thế hệ trước qua hai cuộc Thế chiến 1914 và 1939 không có được – các nguyên tắc pháp luật quốc tế được phát triển qua thời gian và một cơ quan trung lập để phân định đúng sai. Làm sao chúng ta có thể lên án một hành vi là sai trái nếu như không được dẫn dắt bởi một khuôn khổ luật lệ chung? Làm sao chúng ta phòng tránh các quốc gia khác đi vào vết xe đổ của nhau nếu không có một phán quyết rõ ràng và được áp dụng thống nhất? Và nếu ngay cả hệ thống pháp luật quốc tế hiện tại cũng chưa đủ để thuyết phục sự tuân thủ thiện chí của các quốc gia, liệu các biện pháp khác có thực sự hữu hiệu cho các quốc gia kiềm chế lẫn nhau?  Với tư cách là các công dân của một quốc gia từng trải qua nhiều cuộc chiến được khởi xướng bởi những cường quốc quân sự, chúng ta hiểu được cái gọi là “chính trị cường quyền”, “tham vọng thống trị” và “áp đặt, sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp”– như Đại sứ Đặng Hoàng Giang đã phát biểu trước cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 2/2022 vừa qua. Nếu không có những thiết chế luật lệ, các cuộc chiến tranh giành quyền lực sẽ dẫn đến sự tàn lụi của cộng đồng quốc tế và nền văn minh mà chúng ta đang cố gắng xây dựng. Các quốc gia nhỏ bé sẽ tiếp tục số phận bi thảm của một Melos trong lịch sử – đầy lý lẽ và mưu cầu công chính, nhưng không có gì để bấu víu kêu gọi sự hỗ trợ của các quốc gia khác chống lại tham vọng bá quyền. Cái chúng ta cần không phải là chọn phe, mà là đưa ra quyết định và kêu gọi sự hợp tác thiện chí dựa trên một hệ thống luật lệ công bằng và minh bạch.  Con người vốn là sinh vật không hoàn hảo, và pháp luật – một sản phẩm do con người tạo ra, vì thế cũng cùng một số phận. Phán quyết cuối cùng của ICJ trong vụ Ukraine và Nga và khả năng thực thi của nó trên thực tế được trông đợi là tiếng chuông thức tỉnh cộng đồng quốc tế và vực dậy sức sống của một hệ thống pháp luật hiện đang phải chịu nhiều sự chỉ trích và nghi ngờ. Ngay cả khi thiết chế này bộc lộ nhiều điểm yếu, vấn đề chúng ta cần làm không phải là hủy bỏ nó, mà là phân định đúng sai để tiếp tục kiện toàn cơ chế này phục vụ cho lợi ích đa phương. Việc áp dụng luật quốc tế không thể khiến cho những người đã ngã xuống trong chiến tranh sống lại, nhưng có thể phòng tránh nhiều cái chết thảm khốc hơn có thể xảy ra trong tương lai.□  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Koh, Hongju (1997) “Why Do Nations Obey International Law?”, The Yale Law Journal 106(8).  2. Christopher J. Borgen (2015), Law, Rhetoric, Strategy:  Russia and Self-Determination Before and After Crimea, 91 INT’L L. STUD. 216.  3. Gregory Shaffer (2018), Legal Realism and International Law, Legal Studies Research Paper Series No. 2018-55.  4. James Crawford (2014), Chance, Order, Change: The Course of International Law, The Hague : Hague Academy of International Law.  5. Legality of the Threat or Use of Nuclear Weapons (General List No. 95) [1996] ICJ Rep., đoạn 105.  6. Herbert Eti (2020), The role of the international court of justice in actualising global peace,  Indian Journal of International Law 59 (10).  7. Keith Suter (2004), The Successes and Limitations of International Law and the International Court of Justice, Medicine, Conflict and Survival, 20(4).    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Pháp quyền hay pháp trị ?      Nếu chúng ta quan niệm pháp quyền là “rule of law” và pháp trị là “rule by law”, thì pháp quyền là sự cai trị của pháp luật và pháp trị là sự cai trị bằng pháp luật.      Pháp quyền là sáng tạo của người Anh, bắt nguồn từ Đại hiến chương “Magna Carta” năm 1215. Đây cũng là một trong những đóng góp lớn nhất của người Anh cho nhân loại. Bằng chứng là hầu như những nước theo pháp quyền đều là những nước giàu có, thịnh vượng.  Pháp trị là sáng tạo của người Trung Hoa. Nhà tư tưởng của pháp trị được cho là Hàn Phi (281-233 TCN). Và đây cũng là một đóng góp rất lớn người Trung Hoa cho nhân loại. Ban hành pháp luật để cai trị thì tạo ra được sự bình đẳng (ít nhất là giữa các thần dân), đồng thời tất cả mọi người đều có thể chủ động hành xử khi biết rõ pháp luật cho phép làm việc gì, còn việc gì thì không. Bằng chứng là trong thời kỳ cổ đại, Trung Hoa là một trong những quốc gia giàu có và phát triển vào bậc nhất trên thế giới.  Tuy nhiên, lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, pháp trị đã không đưa lại được một sự phát triển vượt bậc và bền lâu như pháp quyền. Bằng chứng là đất nước Trung Hoa đã tụt hậu rất xa so với các nước theo pháp quyền trong suốt nhiều thế kỷ. Chỉ đến ngày nay khi trong quá trình cải cách, nhiều yếu tố của pháp quyền (đặc biệt là Luật về quyền tài sản) được tiếp nhận, đất nước Trung Hoa mới lại vươn lên trở thành một trong những cường quốc hàng đầu của thế giới hiện đại.  Thế pháp quyền khác với pháp trị chỗ nào? Pháp trị là việc vua (hoặc giới cầm quyền) có quyền ban hành pháp luật để cai trị (hay nói bằng ngôn từ hiện đại là để quản lý). Mặc dù pháp luật được tuân thủ tuyệt đối, nhưng ban hành pháp luật như thế nào lại là quyền độc đoán của vua (hoặc của giới cầm quyền). Pháp quyền lại không hoàn toàn như vậy.  Trước hết, pháp quyền là việc pháp luật đứng trên tất cả, trên cả nhà nước (trên cả vua). Và quan trọng hơn nữa người dân cũng như nhà nước đều bình đẳng trước pháp luật. Đối với người Anh, vua có quyền của vua, quí tộc có quyền của quí tộc, thứ dân có quyền của thứ dân. Nếu vua hành xử trong khuôn khổ các quyền của mình, thì thậm chí người Pháp làm vua Anh cũng chẳng sao. (Thực tế, đã có thời kỳ người Pháp làm vua Anh). Thế nhưng, nếu vua xâm phạm đến quyền của quí tộc hoặc của thứ dân thì vua đã vi phạm pháp luật và sẽ bị xét xử bởi pháp luật một cách bình đẳng như thứ dân.  Thứ hai, pháp quyền công nhận nhiều quy phạm của pháp luật tự nhiên. “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. (Lời của Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ được Hồ Chủ tịch trích dẫn trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Các quyền mà tạo hóa ban cho con người (các quyền tự nhiên của con người) được coi là phần cấu thành của Luật Hiến pháp – đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất.  Thứ ba, việc ban hành pháp luật bị điều chỉnh rất chặt chẽ. Bất cứ luật gì mà nhà cầm quyền muốn có để dễ bề cai trị đều phải được cơ quan đại diện cho dân (quốc hội) thông qua. Pháp luật còn được đòi hỏi phải tiếp cận được công lý.  Thứ tư, các cơ quan nhà nước nắm giữ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được thiết kế theo nguyên tắc kiểm soát và cân bằng lẫn nhau để không một cơ quan nào có thể lạm quyền. Đặc biệt, một hệ thống tư pháp độc lập được xây dựng để không chỉ nhà nước mới có quyền truy tố người dân, mà người dân cũng có quyền khởi kiện nhà nước ra trước pháp luật. Hệ thống tư pháp này còn có thẩm quyền kiểm tra lại các văn bản lập pháp (judicial review) để chống lại lạm quyền và bảo vệ công lý.  Thứ năm, tòa án hiến pháp hoặc các thiết chế bảo hiến khác được thành lập và vận hành trên thực tế để bảo đảm việc tuân thủ hiến pháp và bảo vệ các quyền của con người khỏi sự xâm hại của quyền lực lập pháp, hành pháp cũng như tư pháp.  Việt Nam chúng ta đang theo đuổi pháp quyền hay pháp trị? Tất nhiên, cái chúng ta đang theo đuổi là pháp quyền. Hiến pháp năm 2013 đã chính thức ghi nhận Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền. Một loạt các nguyên tắc của pháp quyền như bảo vệ quyền con người, các cơ quan nhà nước kiểm soát lẫn nhau, tòa án phải bảo vệ công lý… được Hiến pháp ghi nhận và cũng từng được thực thi. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị thì vẫn còn rất đáng kể. Ví dụ, thói quen không quản được thì cấm vẫn còn rất thịnh hành hay các thiết chế bảo hiến vẫn còn rất yếu và kém hiệu quả. Có lẽ, để có được pháp quyền, chúng ta sẽ còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Pháp quyền hay Pháp trị      Trong các văn bản chính thức, cái mà chúng ta đã lựa chọn là nhà nước pháp quyền. Còn một số học giả lại cho rằng nên lựa chọn mô hình nhà nước pháp trị. Vậy chúng ta nên xây dựng nhà nước pháp quyền hay nhà nước pháp trị?        Thực ra, nhà nước pháp quyền hay nhà nước pháp trị thì đều là những thứ do người nước ngoài nghĩ ra. Nhà nước pháp quyền có nguồn gốc tư tưởng từ Châu Âu. (Trong tiếng Pháp, đó là “Etat de droit”; trong tiếng Đức, đó là “Rechsstaat”). Nhà nước pháp trị có nguồn gốc tư tưởng từ Trung Quốc cổ đại. Ngoài ra, lại còn có khái niệm pháp trị (Rule of law) theo cách hiểu của người Anh-Mỹ.  Khái niệm pháp trị theo cách hiểu của người Anh-Mỹ rất gần với khái niệm nhà nước pháp quyền của người Châu Âu. Thế nhưng, khái niệm nhà nước pháp trị (hay cũng được gọi tắt là pháp trị) theo cách hiểu của người Trung Quốc cổ đại (tiêu biểu là của Hàn Phi Tử) thì lại hoàn toàn khác hẳn.    Khái niệm pháp trị trong cách hiểu của người Trung Quốc cổ đại đối lập với khái niệm đức trị. Pháp trị là dùng pháp luật để cai trị (Rule by law), chứ không phải dùng đạo đức để cai trị (Rule by moral). Trong trường hợp này, pháp luật chỉ là công cụ của nhà nước, và nhà nước đứng trên pháp luật. Mà như vậy thì “may nhờ, rủi chịu”, một nhà nước chuyên quyền, độc đoán có thể ban hành mọi thứ pháp luật, kể cả những thứ xâm phạm các quyền cơ bản của con người để cai trị.  Còn khái niệm pháp trị trong cách hiểu của người Anh-Mỹ thì đối lập với khái niệm nhân trị. Pháp trị là pháp luật cai trị (Rule of law), chứ không phải con người cai trị (Rule of person). Trong trường hợp này, không ai có thể đứng trên pháp luật, kể cả nhà nước.              Với tư cách là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, nhà nước pháp quyền là không mang tính chất giai cấp. Bất cứ giai cấp nào muốn phụng sự nhân dân, muốn các quyền của mình không bị một nhóm những kẻ cầm quyền thật sự tước bỏ thì đều cần tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền. Xây dựng đất nước theo mô hình nhà nước pháp trị (theo cách hiểu của người Trung Quốc cổ đại) không thể đưa chúng ta đi được đâu xa, ngoài việc trở về với thời quá khứ.            Theo cách hiểu như trên, pháp trị là một trật tự pháp lý độc lập (với chính trị, tôn giáo…). Nó bao gồm ba ý nghĩa cơ bản. Pháp trị là công cụ để điều chỉnh nhà nước (điều chỉnh quyền lực); Pháp trị có nghĩa là tất cả mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật; Pháp trị có nghĩa là bảo đảm công lý về thủ tục và về hình thức.   Với tư cách là công cụ điều chỉnh quyền lực, pháp trị có hai chức năng: một là hạn chế sự độc đoán của nhà nước và hạn chế sự lạm quyền; hai là làm cho nhà nước hành xử hợp lý, làm cho chính sách của nhà nước được anh minh. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hạn chế được sự độc đoán và sự lạm quyền của nhà nước?   Pháp trị trả lời câu hỏi này bằng cách đề ra những nguyên tắc cơ bản sau đây: Bảo đảm tính tối thượng của pháp luật. Pháp luật phải được đặt trên nhà nước và đảng phái; Nhà nước phải tuân thủ một hệ thống thủ tục được xác lập từ trước và được công bố công khai; Bảo đảm nguyên tắc người dân được làm mọi điều pháp luật không cấm, nhưng nhà nước chỉ được làm những điều mà pháp luật cho phép.  Mặc dù những nguyên tắc nói trên hạn chế khả năng hành xử tùy tiện của nhà nước, nhưng chúng lại làm cho việc hành xử của nhà nước được dẫn dắt nên thường hợp lý và anh minh.   Với ý nghĩa bình đẳng trước pháp luật, tất cả các công dân đều ngang quyền với nhà nước. Không thể có chuyện, mọi vi phạm của người dân đều bị trừng trị, còn mọi vi phạm của nhà nước (hoặc của các quan chức nhà nước) đều được cho qua. Không thể có chuyện, cấm người dân đi xe máy để những người đi ô tô có đường đi thông thoáng hơn. Ngoài ra, khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự (mua hàng của các công ty chẳng hạn), nhà nước chỉ là một bên của quan hệ hợp đồng bình đẳng như các bên khác.  Công lý về thủ tục và về hình thức là thứ tương đối trừu tượng. Đại loại, công lý thì có công lý về nội dung và công lý về hình thức. Ví dụ, người phạm tội ác phải bị trừng trị là công lý về nội dung; còn, mọi bị cáo đều có quyền đòi hỏi được xét xử bởi một phiên tòa mà các thẩm phán là hoàn toàn độc lập và với những thủ tục tranh tụng công khai là công lý về hình thức. Người Anh-Mỹ rất coi trọng công lý về hình thức vì họ cho rằng khi các thủ tục được tuân thủ nghiêm ngặt thì công lý nội dung bao giờ cũng đạt được.   Với tư cách là công cụ bảo đảm công lý về thủ tục và về hình thức, pháp trị đòi hỏi: Hệ thống pháp luật phải có đầy đủ các quy định công bằng về việc ban hành quyết định và về thủ tục (không thể thích thế nào thì quyết thế ấy); Các quy định về việc ban hành quyết định và về thủ tục phải được xác định từ trước và phải được công bố từ trước (không thể sửa luật chơi trong lúc đang chơi); Các quy định về việc ban hành quyết định và thủ tục phải được áp dụng một cách công khai, minh bạch (không thể áp dụng các quy định mà không dẫn chiếu được, không lý giải được); Các quy định về việc ban hành quyết định và thủ tục phải được áp dụng một cách nhất quán (không thể nay áp dụng thế này, mai áp dụng thế khác).  Khái niệm nhà nước pháp quyền của người Châu Âu rộng hơn khái niệm pháp trị của người Anh-Mỹ: về cơ bản nó bao gồm khái niệm pháp trị nói trên kết hợp với những tư tưởng và nguyên tắc của chủ nghĩa lập hiến tự do. Dưới đây là một vài tư tưởng và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa lập hiến nói trên:  Một là, quyền lực giữa nhà nước và các công dân được phân chia theo kế ước xã hội (nhà nước không đương nhiên có quyền). Bản kế ước đó chính là bản hiến pháp. Hiến pháp vì vậy phải do quốc hội lập hiến soạn thảo và phải được toàn dân phê chuẩn. Việc sửa đổi hiến pháp phải do toàn dân phúc quyết.  Hai là, quyền con người là những quyền hiến định. Các quyền này là không thể bị xâm phạm. Hơn thế nữa, trách nhiệm của nhà nước là phải bảo đảm các điều kiện để người dân có thể thực thi được các quyền của mình.  Ba là, quyền lực của nhà nước phải bị phân chia để trách lạm quyền và lộng quyền.  Bốn là, các quyền lực nhà nước phải được tổ chức theo quyền tắc kiểm tra và cân bằng lẫn nhau (check and balance). Điều này vừa giúp cho việc tránh lạm quyền, vừa làm cho việc thực thi quyền lực được minh bạch và hợp lý…  Với những thông tin được trình bày trên đây, thiết nghĩ, việc lựa chọn mô hình nhà nước pháp quyền là điều chúng ta nên khẳng định.     Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
0.3902439024390244
__label__tiasang   Vũ Đình Hòe      Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp quyền và Hiến pháp      Trong một xã hội pháp quyền, nguyên tắc pháp  quyền cơ bản là quyền lực của chính quyền phải chịu ràng buộc trong  khuôn khổ các nguyên tắc pháp lý bền vững, được bảo vệ bởi một bản hiến  pháp khó thay đổi. Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án  cần được đào tạo về chuyên môn, trung thành với pháp luật, và đặc biệt  phải được đảm bảo tính độc lập cao.    Quyền lực chính quyền phải chịu ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý bền vững  Ở một số quốc gia, chính quyền hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mà họ muốn mà không phải chịu bất cứ ràng buộc nào từ bên ngoài. Ở những nơi này, chính quyền nắm quyền lực tối cao. Họ dùng luật để cai trị người dân, nhưng chính họ lại không phải là đối tượng chịu điều chỉnh bởi bất cứ một hệ thống những nguyên tắc pháp lý tối thượng nào đứng trên những mong muốn của họ. Những quốc gia như thế được gọi là những quốc gia pháp trị (rule by law): luật pháp chỉ là công cụ của những người có quyền lực dùng để thống trị người khác. Kinh nghiệm thế giới cho thấy những chính quyền như thế là rất nguy hiểm cho người dân. Những chính quyền này có thể vi phạm quyền của công dân, như tước đoạt đất đai tùy tiện hay nhũng nhiễu hối lộ. Dù có thể họ được bầu lên một cách dân chủ nhưng sau đó họ có thể toan tính cầm quyền mãi mãi và giao những vai trò quan trọng trong chính quyền cho thân bằng quyến thuộc của họ. Sau một cuộc bầu cử, phe thắng cử có thể dùng quyền lực mới giành được để đàn áp đối lập, như bằng cách đặt các đảng chính trị khác ra ngoài vòng pháp luật và bỏ tù lãnh đạo của các đảng đó, hoặc chỉ dành những quyền lợi tài chính cho những người đã ủng hộ họ mà không dành cho ai khác.           Nếu được cho phép có quyền hạn tối thượng,  một chính quyền có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn mà không chịu trách  nhiệm trước người dân. Một chính quyền như thế sớm muộn cũng sẽ trở nên  một chính quyền áp bức.        Nếu được cho phép có quyền hạn tối thượng, một chính quyền có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn mà không chịu trách nhiệm trước người dân. Một chính quyền như thế sớm muộn cũng sẽ trở nên một chính quyền áp bức. Khi quyền lực không bị kiềm chế và kiểm soát, người đức hạnh cũng có khuynh hướng trở nên bạo ngược.  Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người dân, không thể để chính quyền có thể tự do làm bất cứ điều gì họ muốn. Thay vào đó, chính quyền phải bị ràng buộc bởi những nguyên tắc pháp lý bền vững. Những nguyên tắc này, bên cạnh những ràng buộc khác, là nhằm bảo vệ quyền cá nhân, định ra những cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng, và giới hạn những gì những người thắng cử có thể làm với những người thất cử. Những quốc gia có chính quyền như thế được gọi là những quốc gia pháp quyền (rule of law): luật pháp, chứ không phải chính quyền, mới là thực thể có quyền lực cuối cùng. Ngày nay hầu như mọi người đều tin rằng pháp quyền là yếu tố quan trọng cho một chính quyền hợp thức và công minh.    Pháp quyền được bảo vệ hữu hiệu nhất bởi một bản hiến pháp khó thay đổi   Nhiều quốc gia pháp trị muốn trở thành pháp quyền. Trong quá trình chuyển đổi, họ phải tìm cách thiết lập và bảo vệ các nguyên tắc pháp lý bền vững nhằm hạn chế quyền hạn của chính quyền. Nếu người dân không thực sự coi trọng nguyên tắc pháp quyền, thì nền pháp quyền đó sẽ không phát triển. Vì vậy, để bảo vệ nền pháp quyền, đầu tiên có thể tính đến yếu tố văn hóa: một xã hội coi trọng pháp quyền là điều kiện cần để tạo nền tảng cho một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa không đủ, vì chính quyền không phải lúc nào cũng tôn trọng ý chí của nhân dân. Do đó, minh định các nguyên tắc pháp quyền trong một hiến pháp được viết ra và tồn tại lâu dài là cần thiết.  Hiến pháp bảo vệ pháp quyền bằng nhiều cách.          …xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân  tham gia làm ra hiến pháp giúp họ trực tiếp xây dựng và xác lập các  “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả lập hiến đại chúng sẽ bảo  vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản hiến pháp áp đặt bởi  các cơ quan quyền lực… hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần  cải thiện cuộc sống của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn  bó và muốn bảo vệ hiến pháp.        •    Thứ nhất, bởi vì hiến pháp được soạn thảo với những điều khoản cụ thể và bất kỳ ai quan tâm cũng có thể nắm bắt ngay nội dung của pháp quyền, cũng như những quy tắc pháp lý nhằm bảo vệ người dân mà pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng. Điều đó cũng có nghĩa là giới hạn quyền lực của các quan chức chính quyền cũng được đề ra cụ thể. Nếu họ không tôn trọng những giới hạn đó, các quan chức khác và công dân sẽ có cơ sở pháp lý, vốn đã được viết ra một cách rõ ràng, để áp dụng nhằm bảo vệ hiến pháp và kiểm soát những quan chức vi phạm.  •    Thứ hai, xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân tham gia làm ra hiến pháp giúp họ trực tiếp xây dựng và xác lập các “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả lập hiến đại chúng sẽ bảo vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản hiến pháp áp đặt bởi các cơ quan quyền lực. Bởi vì, khi quần chúng tham gia thiết lập nền pháp quyền cho chính quốc gia của họ, họ sẽ có cơ hội đề ra những nguyên tắc pháp quyền đáp ứng được nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của họ. Qua đó giúp các cơ quan quyền lực được giới hạn bởi những nguyên tắc pháp quyền phù hợp để vận hành tốt hơn, và sinh hoạt chính trị của đất nước cũng sẽ lành mạnh hơn. Chính trị lành mạnh hơn sẽ tạo ra những điều kiện sống tốt hơn: kinh tế phát triển hơn, trường học và y tế tốt hơn, bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, v.v… Nói một cách khác, hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần cải thiện cuộc sống của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn bó và muốn bảo vệ hiến pháp: nếu hiến pháp đã được làm ra để bảo vệ người dân, người dân cũng sẽ muốn bảo vệ nó.   •    Thứ ba, một bản hiến pháp tốt sẽ phân chia quyền lực cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, do đó sẽ rất khó cho một cá nhân hoặc một cơ quan nhà nước thâu tóm hết tất cả quyền lực. Kết quả là, nếu một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước tìm cách vi phạm hiến pháp, những cá nhân hoặc cơ quan nhà nước khác có thể ngăn chặn các vi phạm đó. Ví dụ rõ ràng nhất là một cơ chế bảo vệ hiến pháp, dù đó là một tòa án hoặc một cơ quan bảo hiến nào khác, sẽ xem xét kỹ lưỡng văn bản và hành động của các quan chức để xác định xem họ có hành xử phù hợp với hiến pháp hay không. Tất nhiên, cơ quan bảo hiến không phải là định chế duy nhất có thể bảo vệ pháp quyền. Nếu một quan chức, ở bất kể cương vị nào, hành xử một cách vi hiến, các thành phần khác của hệ thống chính trị có thể có khả năng kiểm soát và ngăn chặn quan chức đó – các thành phần khác ở đây có thể là cơ quan lập pháp, các cơ quan hành chính, chính quyền địa phương, công dân, hoặc thậm chí là thành viên nội các. Như vậy, một bản hiến pháp tốt không chỉ xác định các nguyên tắc pháp quyền, nó còn cần đặt ra một cơ cấu chính quyền để bảo vệ các nguyên tắc pháp quyền đó.   •    Cuối cùng, một hiến pháp tốt phải là một hiến pháp khó sửa đổi và không cần phải sửa đổi thường xuyên. Tốt nhất là những sửa đổi hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết phê chuẩn. Sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua bởi đa số hoặc thậm chí siêu đa số phiếu thuận. Điều quan trọng nhất là chính quyền không được phép tự sửa đổi hiến pháp. Khi bản hiến pháp được bảo vệ bằng cách này, nền pháp quyền sẽ bền vững, vì một hiến pháp tốt chính là hiện thân của pháp quyền.   Những nguyên tắc pháp lý bền vững cốt lõi  Các quốc gia khác nhau có thể chọn những nguyên tắc pháp lý khác nhau, phù hợp đối với hoàn cảnh của quốc gia đó. Nhưng nền pháp quyền đòi hỏi một số nguyên tắc pháp lý cốt lõi mà mọi quốc gia pháp quyền cần tuân thủ.           …khi muốn xác định ý nghĩa của “pháp quyền”  cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta đang muốn  đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với chính  quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính  quyền tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và  chỉ hành xử theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch.        Có nhiều cách hiểu khác nhau về “pháp quyền”, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về một định nghĩa phổ quát cho khái niệm này. Các chính trị gia hoặc các nhà bình luận đôi khi sử dụng cụm từ này một cách mơ hồ mà không xác định ý nghĩa của nó. Các học giả tuy chưa đạt đồng thuận về một định nghĩa nhất quán, nhưng ít ra họ cũng đề xuất những định nghĩa cụ thể hơn. Đến nay, tất cả học giả đều đồng ý rằng, trong một quốc gia pháp quyền, quyền lực nhà nước nhất thiết phải bị giới hạn bởi một số nguyên tắc pháp lý bền vững. Nhưng các nguyên tắc pháp lý này cụ thể là những gì thì họ chưa thống nhất. Một số học giả cho rằng nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi những quy chuẩn pháp lý minh bạch. Một số học giả khác tin rằng pháp quyền đòi hỏi dân chủ và quyền con người.  •    Quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi khi các nhà lập pháp phải soạn ra những điều luật rõ ràng, sao cho người dân dễ dàng nắm bắt các quy định có liên quan đến đời sống của họ, nhằm hoạch định cuộc sống của họ cho phù hợp. Chẳng hạn, luật hình sự không được mập mờ khi quy định những hành vi nào là bất hợp pháp, để người dân biết và tránh các hành vi đó. Luật hợp đồng cần rõ ràng về những biện pháp thi hành, dù đối với giao kèo mua đất hay thỏa thuận thành lập hiệp hội kinh doanh, để người dân có thể quyết định một cách sáng suốt trước khi đặt bút ký và chấp nhận những nghĩa vụ pháp lý đi kèm. Tương tự, trong tất cả các lĩnh vực khác của pháp luật, người dân cần có điều kiện hợp lý để nắm bắt luật pháp. Nếu không, nhà nước luôn có thể tùy tiện can thiệp và xâm phạm vào cuộc sống của công dân mà họ không lường trước được – điều này cũng đồng nghĩa với việc để cho chính quyền hành xử độc đoán. Để đảm bảo rằng mọi công dân hiểu biết luật và điều chỉnh cuộc sống của họ cho phù hợp, quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi luật pháp phải được phổ biến công khai (không bí mật), không hồi tố (không áp dụng đối với các hành vi trước khi luật được thông qua), rõ ràng (để ai cũng có thể hiểu cụ thể các quy định pháp luật), và phổ quát (áp dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, yếu mạnh, quan chức hay dân thường v.v…).  •    Dân chủ về cơ bản là một chế độ chính trị trong đó người dân tự cai trị. Chế độ dân chủ đại diện là phổ biến nhất: người dân tham gia vào những cuộc bầu cử có tính tự do, công bằng, và thật sự có tính đại diện cao cho những quyền lợi và nhu cầu thực tiễn phong phú, đa dạng của người dân, từ đó bầu ra những dân biểu thực sự có năng lực để thay mặt họ quản lý nhà nước. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi chế độ dân chủ để pháp quyền được thực thi, nhưng nó không chỉ định một hình thức dân chủ cụ thể nào, miễn là người dân thực sự kiểm soát chính quyền chứ không phải là chính quyền cai trị họ. Vì có nhiều chế độ dân chủ khác nhau, mỗi quốc gia có thể lựa chọn chế độ mà họ cho là phù hợp. Một số nước theo tổng thống chế, một số khác theo chế độ nghị viện. Một số nước chọn chế độ lập pháp lưỡng viện, trong khi đó một số khác lại chọn lập pháp đơn viện. Một số nước chọn nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ, một số khác theo hệ thống đa số đại diện. Và còn nhiều ví dụ khác.   •    Quyền cá nhân thuộc phạm vi tự chủ, là quyền đòi hỏi có được những điều kiện cần thiết cho những lĩnh vực đời sống quan trọng nhất của cá nhân, trước hết là với tư cách công dân, như quyền bầu cử, hay với tư cách cá nhân riêng tư, như quyền thành hôn. Chính  quyền không thể xâm phạm các quyền này, trừ những trường hợp đặc biệt cần thiết, như khi an ninh quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng, hay trong nỗ lực ngăn chặn một âm mưu khủng bố nơi công cộng. Tuy nhiên, chính quyền không thể hạn chế quyền của các cá nhân chỉ đơn giản với lý do chung chung, ví dụ như “trật tự công cộng”. Hầu hết những người cổ vũ pháp quyền đều tin rằng mọi quốc gia phải tôn trọng một số quyền căn bản, vốn thường được gọi là “nhân quyền” trong luật quốc tế. Bên cạnh những quyền căn bản đó, quốc gia có thể lựa chọn bảo vệ những quyền cá nhân khác, tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Ví dụ, hiến pháp Hoa Kỳ công nhận quyền sở hữu súng tư nhân, nhưng không bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng; ngược lại, hiến pháp của Đức lại bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng mà không cho phép cá nhân sở hữu súng.   Như vậy, rõ ràng định nghĩa khái niệm “pháp quyền” chỉ là một quy ước, có thể mang bất kỳ ý nghĩa gì mà một xã hội quyết định. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, để bảo vệ quyền lợi của người dân, một nền pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải bị giới hạn bằng những nguyên tắc pháp lý bền vững. Vì vậy, khi muốn xác định ý nghĩa của “pháp quyền” cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta đang muốn đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với chính quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính quyền tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và chỉ hành xử theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch.  Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần đảm bảo tính độc lập, được đào tạo chuyên môn, và trung thành với pháp luật  Pháp quyền là các nguyên tắc pháp lý được soạn thảo trong hiến pháp nhằm giới hạn quyền lực của chính quyền. Chính quyền không thể coi nhẹ các nguyên tắc này, vì quyền lực chính quyền bị giới hạn bằng pháp luật là đòi hỏi tiên quyết của pháp quyền. Tuy vậy, chỉ đề ra các nguyên tắc pháp quyền là chưa đủ, còn cần có cơ quan áp dụng và giám sát việc thi hành các nguyên tắc này.            Để làm tốt vai trò của mình, tòa án không  cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên tòa án cần là sự  độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền, để tòa án có thể đảm bảo  tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền mà không có sự  thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè.        Toà án, hoặc các định chế tương tự, không có nhiều quyền lực để thực thi quyết định họ thông qua – như ngạn ngữ thường nói, tòa án “không có tiền mà cũng chẳng có vũ khí.” Chiếu theo các tiêu chuẩn đánh giá quyền lực thông thường, tòa án là một trong những định chế nhà nước yếu nhất. Nếu một bộ phận chính quyền cố ý vi phạm pháp luật, chỉ có nhân dân (qua cơ chế chính trị dân chủ – bầu cử) hoặc các bộ phận khác của chính quyền (qua kiểm soát và cân bằng quyền lực) mới có sức mạnh ngăn chặn các vi phạm đó. Dù vậy, tòa án, hoặc các định chế bảo hiến, giữ một vai trò khác nhưng không kém phần quan trọng: họ có thể giải thích luật, giúp nhân dân và các cơ quan khác của chính quyền biết một người hoặc một cơ quan chính quyền đang tìm cách vi phạm pháp luật. Với căn cứ chính tắc là kết luận của toà án, nhân dân và các cơ quan công quyền có quyền lực mạnh hơn tòa án, sẽ hợp lực để bảo đảm pháp quyền được thực thi.  Để làm tốt vai trò của mình, tòa án không cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên tòa án cần là sự độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền, để tòa án có thể đảm bảo tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền mà không có sự thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè. Trong công việc của mình, các thẩm phán đôi khi sẽ cần phải đưa ra những quyết định gây tranh cãi, có thể làm một số quan chức chính quyền khó chịu, và đôi khi có thể làm đa số người dân phật ý. Để có thể thực hiện bổn phận, các thẩm phán cần phải được bảo vệ để tránh bị trả thù: an ninh thân thể của họ phải được bảo vệ, và nhiệm kỳ của họ phải được bảo đảm, cùng với mức lương cố định.   Ngoài ra, bản thân các thẩm phán không được coi họ là chính trị gia. Vai trò chính trị gia đòi hỏi nhà chính trị phải trung thành với cử tri hoặc với các chính trị gia khác. Trong khi đó, các thẩm phán phải tâm niệm bản thân mình làm việc theo chuyên môn và trung thành với pháp luật. Để làm được điều đó, các thẩm phán phải là những người được đào tạo chuyên sâu về luật. Các thẩm phán cũng cần phải trung dung: họ không được dính líu hay phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực khác của chính quyền, các tổ chức chính trị, hoặc các nhóm lợi ích kinh tế. Với tư cách công dân, họ có quyền đi bầu cử. Thậm chí, họ có thể là một thành viên của một tổ chức chính trị, nhưng không được tham gia vào các hoạt động đảng chính trị, hay nắm giữ chức vụ trong các đảng chính trị, nếu những điều này ảnh hưởng tới tính trung dung mà vai trò của một người thẩm phán đòi hỏi.     Nguyễn Thị Hường và đồng nghiệp dịch    —  * Giám đốc Trung tâm Hiến pháp Dân Chủ , Đại học Indiana, Hoa Kỳ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp tuyển chọn GS, PGS không biên giới      Tôi đặc biệt lưu ý đến những bình luận của các GS Phạm Duy Hiển, GS Ngô Việt Trung và PGS Phạm Đức Chính và đánh giá cao những việc làm của Nafosted đã góp phần tích cực vào phát triển nghiên cứu cơ bản của Việt Nam trong những năm gần đây. Sau đây tôi xin góp chút ý kiến.      Giáo sư Phạm Xuân Yêm  1. Ở Pháp, có 48.000  Professeur (PR, tạm hiểu là giáo sư) và Maître de Conférence (MC, tạm hiểu là phó giáo sư) ở đại học, gọi chung là Enseignant-Chercheur. Bên cạnh đó còn 11.000 Directeur de recherche DR, Chargé de recherche CR, tạm hiểu là chức vụ dành cho những người chỉ làm nghiên cứu ở các viện thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) và đại học (luật-kinh tế, quản lý; nhân văn – xã hội;  khoa học tự nhiên; y, dược…). Tất cả gộp thành hơn mười nhóm tổng quan rồi chia nhỏ lại thành 52 chuyên ngành hẹp (section). Họ là công chức, được trả lương từ ngân sách nhà nước. Số sinh viên ghi tên ở các đại học công khoảng 1,6 triệu (trên 2,55 triệu toàn thể), trong đó khoảng 20% là sinh viên ngoại quốc du học.  2. Hằng năm chính quyền Pháp (chủ yếu Bộ Giáo dục-Đại học-Nghiên cứu và Bộ Tài chính-Ngân sách) quy hoạch một số khoảng vài ngàn chức vụ GS, PGS cho toàn thể các trường đại học để các trường đó vận hành trong nghiệp vụ giảng dạy nghiên cứu. Gần đây, trung bình hằng năm có khoảng 3.700 chức vụ GS và PGS. Trường tuyển chọn công khai hai chức vụ đó trên internet để toàn thể ứng viên trên khắp năm châu lục biết, không có vấn đề quốc tịch. Hội đồng khoa học chuyên ngành của trường mời các nhân sự quốc tế cùng tham gia tuyển chọn và xếp hạng 1,2,3 các ứng viên cho chức vụ. Sau đó trường gửi danh sách và xếp hạng những người được tuyển chọn cho Hội đồng các trường đại học quốc gia (CNU) để họ kiểm soát và chính thức hóa chức vụ. Trừ vài trường hợp quá đặc biệt, khâu CNU chấp nhận kết luận tuyển chọn của truờng.  Muốn làm ứng viên, các thí sinh MC phải có bằng tiến sĩ và thường qua vài ba năm làm post-doc ở các cơ quan nghiên cứu trong ngoài nước và một số công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành có peer review, thực tế ra trong mỗi ngành ai trong chúng ta cũng biết phẩm chất các tạp chí này. Còn ứng viên PR, nếu họ đã là MC thì trước đó họ phải qua một khảo sát hậu-tiến-sĩ gọi là HDR (habilitation à diriger des recherches) và dĩ nhiên phải có thêm nhiều công trình độc đáo hơn.  Tóm lại, ở Pháp,  một người được phong chức danh GS, PGS trước rồi sau đó mới đi tìm việc làm trong các đại học; trái lại, theo tôi hiểu, ở Việt Nam các nhân viên đã giảng huấn nhiều năm ở các đại học rồi sau đó làm ứng viên học hàm GS, PGS.    3. Không có chuyện một Bộ trưởng nào đó, đặc biệt Bộ Giáo dục, tham gia vào các hoạt động của CNU, nhất là lại làm chủ tịch CNU. 2/3 nhân sự của hội đồng này được trực tiếp bầu ra bởi các giáo sư, phó giáo sư đại học.  Như GS Hoàng Tụy đã có câu sau đây, trích trong Kỷ yếu sĩ phu thời nay (NXB Tri thức 2007): “Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức ‘không giống ai’ và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh.”    Author                Phạm Xuân Yêm        
__label__tiasang Phát hiện chất gây ung thư trong sữa Trung Quốc      Công ty trách nhiệm hữu hạn Sữa Mengniu  Trung Quốc – công ty sữa có doanh số lớn nhất nước này – cho biết họ đã  hủy các sản phẩm sữa bị phát hiện nhiễm chất gây ung thư, làm dấy lên sự  lo ngại gần đây nhất với ngành công nghiệp sữa nhiều bê bối của nước  này.    Nhà sản xuất sữa có trụ sở tại Nội Mông cho biết trong một tuyên bố trên trang web của mình hôm 25/12 rằng công ty này đã hủy các sản phẩm độc hại ở một nhà máy ở vùng Tây Nam tỉnh Tứ Xuyên, sau khi các thanh tra an toàn của Chính phủ phát hiện ra một lô sữa chứa hóa chất aflatoxin, một chất gây ung thư.  “Mengniu muốn gửi lời xin lỗi chân thành tới các khách hàng”, công ty này ra tuyên bố, và cho biết đã hủy tất cả lô sữa trước khi chúng được tung ra thị trường.  Hiện không thể tiếp cận với phát ngôn viên của Mengniu để có được lời bình luận.  Sự việc xảy ra khi ngành công nghiệp sữa của Trung Quốc đang tự tái thiết sau khi niềm tin của người tiêu dùng đã bị tan vỡ vào năm 2008 – khi hóa chất công nghiệp melamine được sử dụng trong các sản phẩm sữa và gây ra cái chết của 6 trẻ sơ sinh và khiến 300.000 trẻ em khác phát bệnh.  Mengniu là một trong số những công ty bị phát hiện có sai phạm trong vụ bê bối năm 2008. Thanh tra Chính phủ đã phát hiện ra những dấu vết của melamine độc hại trong gần 10% mẫu sữa được thử nghiệm từ Mengniu và từ đối thủ là Tập đoàn công nghiệp Nội Mông Yili. Hai công ty này nằm trong số 22 nhà sản xuất có sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh bị phát hiện có chứa hóa chất melamine.  Yili không bị các nhà chức trách nêu tên trong thông báo vào cuối tuần qua. Tuy nhiên, sự lo ngại tiếp tục bao trùm toàn bộ ngành công nghiệp này, và cổ phiếu niêm yết của Yili tại Thượng Hải hôm 26/12 đã giảm 5,4% xuống còn 19,79 nhân dân tệ (3,13 USD). Một phát ngôn viên của công ty từ chối đưa ra bình luận.  Cổ phiếu của Mengniu được giao dịch hôm 23/12 ở mức 26,50 đô-la Hồng Kông (tương đương 3,41 USD). Thị trường chứng khoán Hồng Kông đóng cửa trong 2 ngày lễ 26 và 27/12.  Mengniu đã từng lấy lại được niềm tin của người tiêu dùng Trung Quốc sau vụ bê bối năm 2008, theo một báo cáo gần đây được công bố bởi cơ quan nghiên cứu Millward Brown và công ty truyền thông WPP về 50 nhãn hiệu giá trị nhất Trung Quốc. Mengniu đứng thứ 18 trong năm nay và có giá trị thương hiệu là 3,4 tỷ USD, tăng 66% so với năm 2010.  Năm nay, Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên làm sạch ngành công nghiệp sữa của nước này với nỗ lực mở ra một kỷ nguyên mới cho sự an toàn của người tiêu dùng. Trung Quốc đã yêu cầu một nửa số nhà sản xuất sữa đóng cửa vào đầu năm nay, thu hồi giấy phép hoạt động của hơn 400 nhà sản xuất sữa và đình chỉ hoạt động của các nhà sản xuất khác sau  một đợt kiểm tra của Tổng cục Giám sát chất lượng, Thanh tra và Kiểm dịch – cơ quan cao nhất chuyên trách về kiểm soát chất lượng ở Trung Quốc – được tiến hành trên quy mô toàn quốc.   Nguyễn Thảo dịch từ   http://online.wsj.com/article/SB10001424052970203391104577121743497761720.html?mod=WSJASIA_hpp_LEFTTopWhatNews       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát huy dân chủ để làm giàu nguồn Vốn xã hội      Nền kinh tế nói riêng, và đất nước ta nói chung, đang đứng trước những triển vọng và thách thức của một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi chúng ta phải biết huy động và phát huy mọi nguồn lực trong đó có vốn xã hội đã hiện hữu cũng như đang tiềm tàng của đất nước.    Về nguồn vốn vật chất, hay vốn tài chính, nhiều ít bao nhiêu, cần và có thể huy động từ đâu, thì chắc ta đã có nhiều kinh nghiệm để khai thác và quản lý; có thể ở đây điều ta cần là phải có các giải pháp phân phối và sử dụng có hiệu quả hơn, tránh được các mất mát do các tệ nạn tham nhũng lãng phí (đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội) gây nên. Từ mấy năm nay ta đã nhìn thấy các nhược điểm trong nguồn vốn con người của ta,  đã và đang cố tìm nhiều giải pháp để phát triển và nâng cao cả số lượng và chất lượng của nguồn vốn đó. Các giải pháp cải cách giáo dục và đào tạo nói chung, nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói riêng, hiện đang được bàn thảo ráo riết, và ta hy vọng là sẽ sớm được thực hiện để góp phần cải thiện nguồn vốn con người của nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại. Cùng với vốn con người là vốn xã hội. Có thể đây là một nguồn vốn mà lâu nay ta chưa quan tâm đến nhiều, có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác, phát huy, và phải chăng đã đến lúc ta cần “đánh thức” nó dậy để nó cùng góp phần tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội nước ta?  Nhiều người đã nhắc đến các truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, như yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, thông minh, cần cù trong lao động, có tình thương yêu đối với đồng bào, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, có một nền tảng đạo đức vững chắc… Đó là những yếu tố tốt đẹp đã gắn kết dân tộc ta trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, đã bảo đảm cho đất nước ta tồn tại và độc lập qua bao giông bão của lịch sử. Và đó cũng là những yếu tố quan trọng để ngày nay ta có thể nói đến việc xây dựng và phát huy một nguồn “vốn xã hội” nào đó cho sự phát triển đất nước1. Đúng, những yếu tố tạo nên sự liên kết đó, những chất liệu kết dính đáng quí đó là những tài sản vô cùng quí giá, những tiềm năng để phát triển một nguồn vốn xã hội, nhưng có lẽ còn là hơi sớm nếu xem chúng là những thành phần của một “vốn xã hội” đích thực. Bởi vì như trình bày ở trên, vốn xã hội được xem là hiện hữu dưới dạng một mạng lưới các tổ chức xã hội dựa trên các quan hệ tin cẩn, các lề thói tác động qua lại,… có thể giúp cải thiện tính hiệu quả của các hoạt động xã hội bằng cách thúc đẩy các hành động hợp tác2. Theo cách hiểu đó, trong một công trình nghiên cứu phối hợp gần đây giữa Viện Những vấn đề phát triển Việt Nam (VIDS) và các cơ quan quốc tế UNDP, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), thì “xã hội dân sự ở Việt Nam còn chập chững”, tuy “Việt Nam hiện có một số lượng lớn các tổ chức xã hội rất khác nhau về nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, cơ                  sở pháp lý, mục đích hoạt động, cơ chế tài chính, nhưng quan hệ hợp tác và sự kết nối của các tổ chức này vẫn còn yếu” và “môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự vẫn còn chưa thực sự đầy đủ, làm hạn chế tác động nhiều mặt của các tổ chức đó”3. Xã hội dân sự vốn là một sản phẩm của các chế độ pháp quyền dân chủ, có một Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, và được bổ sung bởi một xã hội dân sự ngoài Nhà nước để điều hòa các loại quan hệ dân sự nằm ngoài phạm vi điều hành của pháp luật. Nước ta, trải qua nhiều thế kỷ dưới chế độ phong kiến, rồi thuộc địa, sau khi giành được độc lập lại liên tiếp trải qua các cuộc chiến tranh ác liệt, rồi tiếp đó trong mấy thập niên vừa qua lại sống dưới một chế độ “xã hội chủ nghĩa” theo mô hình chuyên chính vô sản dưới quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của một Đảng Cộng sản, nên “chưa có môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự” cũng là điều dễ hiểu. Và xã hội dân sự chưa được phát triển thì nguồn vốn xã hội còn nghèo nàn và chưa có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển kinh tế, thậm chí chưa được tính đến như một nhân tố cho phát triển, là điều tất nhiên.  Ngày nay, sau hai mươi năm thực hiện công cuộc “đổi mới”, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường phát triển kinh tế thị trường và hội nhập vào kinh tế toàn cầu hóa đã được khẳng định và trên thực tế đã đi được một chặng đường khá dài, một mục tiêu chung cho sự phát triển đất nước đã được xác định là “xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng dân chủ văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp, có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, có Nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân, vì dân; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”4, thì vấn đề xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ cùng với việc phát triển một xã hội dân sự phong phú và lành mạnh đã trở thành yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Tôi không dám nghĩ là các nhiệm vụ đó sẽ được thực hiện tức thời và nhanh chóng, nhưng hy vọng là với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước, ta sẽ tìm được con đường từng bước thực hiện các yêu cầu đó trong đoàn kết và đồng thuận dân tộc. Trong khi nhiệm vụ xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ có thể tiến dần từng bước thì có lẽ việc phát triển các tổ chức, cơ cấu của một xã hội dân sự – cũng tức là phát triển một nguồn vốn xã hội cho đất nước – có thể và cần được thực hiện nhanh hơn. Trong xã hội nước ta hiện nay cũng đã có một hệ thống khá đông đảo các hội đoàn quần chúng tập hợp thành “hệ thống chính trị”, trong một tổ chức bao trùm là Mặt trận Tổ quốc, tuy nhiên hệ thống đó chủ yếu là hệ thống ngoại vi có nhiệm vụ tổ chức và tập hợp quần chúng của Đảng cầm quyền, được tổ chức trong một hệ thống các liên kết dọc như ta đã nói đến trong một phần trên. Để phát triển được nhanh chóng các tổ chức thực hiện các liên kết ngang là các tổ chức tạo nên cấu trúc mạng của một xã hội dân sự, của một vốn xã hội cho đất nước, cần phải căn cứ vào Hiến pháp hiện hành, tôn trọng và khuyến khích các quyền tự do hội họp và lập hội của người dân, đặc biệt là các tổ chức hội độc lập với nhà nước, không chịu sự điều hành của nhà nước. Ta cần thừa nhận rằng ngày nay xã hội càng ngày càng phức tạp, không một bộ máy nhà nước nào dù to lớn cồng kềnh đến đâu có thể có đủ khả năng xử lý hết mọi vấn đề quan hệ nảy sinh từ trong xã hội đó; vì vậy cùng với việc quản lý bằng pháp luật là chức năng của nhà nước, cần phải tôn trọng và phát triển các cơ chế tự quản lý, tự xử lý của xã hội thông qua các mối liên kết đa dạng và biến hóa khôn lường tồn tại bên trong xã hội đó. Các giải pháp tự quản này bên trong mạng lưới các tổ chức xã hội của một xã hội dân sự không nhất thiết phải tuân theo những lề luật được thể chế hóa, mà thường nảy sinh một cách tức thời và linh hoạt tùy theo niềm tin cậy, sự thân thuộc quen biết, và cả những lề thói qua lại giữa các bên đối tác trong từng tình huống cụ thể. Khoa học về các hệ thống phức tạp cũng cho ta biết là trong quá trình phát triển tiến hóa của các hệ thống phức tạp, các thuộc tính hợp trội (emergent) tạo ra những chất lượng mới của hệ thống thường được sáng tạo nên từ sự tương tác không dự đoán trước được của các mối liên kết ngang giữa các thành phần của hệ thống. Hợp trội cũng là một đặc điểm quan trọng trong sự tiến hóa của các hệ thống kinh tế xã hội hiện nay, thể hiện ở khả năng xuất hiện ngày càng nhiều các tình huống hiệp tác để đi đến các giải pháp thắng/thắng bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt vốn có của kinh tế thị trường.  Xây dựng vốn xã hội là một vấn đề còn mới đối với chúng ta, ngay cả vấn đề về những lợi ích tiềm năng mà vốn xã hội có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế xã hội, ta cũng còn cần nghiên cứu tìm hiểu thêm nhiều. Tuy nhiên, việc khai thác mọi tiềm năng truyền thống về con người và xã hội, về đạo đức, văn hóa của dân tộc để bồi đắp dần một nguồn vốn xã hội là hết sức cần thiết. Và, cùng với tiến trình dân chủ hóa đất nước, cần tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển một xã hội dân sự thực sự, cũng là cho việc làm giàu thêm vốn xã hội của đất nước, chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong hiện tại và tương lai.  ———–  [1] Xem bài Lời giải cho bài toán phát huy vốn xã hội của Phan Chánh Dưỡng, Tia Sáng, số 10, 20/5/2006, trg 14-16.  2  Xem thêm bài  The network structure of  social capital của Ronald Burt, đã dẫn ở trên.  3 Trích dẫn theo bài Xã hội dân sự ở Việt nam còn chập chững, BBC tiếng Việt, ngày 15/5/2006.  4  Trích Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, tháng 4 năm 2006.      GS. Phan Đình Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát huy dân chủ để làm giàu nguồn Vốn xã hội      Sau gần hai chục năm thực hiện công cuộc “đổi mới”, mà chủ yếu là đổi mới về kinh tế, đất nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện và triền miên của những thập niên trước đó, nền kinh tế thị trường về cơ bản đã được thiết lập và liên tục có tốc độ tăng trưởng bền vững, tạo cơ sở cho việc đi vào một giai đoạn mới của sự phát triển.                Mặc dầu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng cho đến nay, về cơ bản, nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển, con đường tiến lên trước mắt còn dài, và trong giai đoạn vài ba thập niên tới, chúng ta đã tự đặt cho mình nhiệm vụ phấn đấu là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại[1]. Thực hiện một nhiệm vụ phát triển kinh tế với mục tiêu như vừa được trích dẫn đó trong một khoảng thời gian không dài lắm quả là một tham vọng lớn, đòi hỏi một sự phấn đấu hết sức to lớn của cả dân tộc. Mục tiêu và nhiệm vụ đã được xác định rõ ràng, nhưng sẽ được thực hiện với vốn liếng nào đây? Tất nhiên ta phải huy động và phát huy tối đa mọi nguồn vốn đã có, hiện có và sẽ có trong đất nước ta, nhưng cụ thể đó là những nguồn vốn nào? Bài toán quan trọng này chắc là khó có thể có lời giải ngay một lúc, ta hy vọng là lời giải cho bài toán quan trọng đó sẽ được tìm kiếm và bổ sung dần trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.              Nền kinh tế nước ta, so với nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới thì còn là kém phát triển, nhưng trong môi trường của “toàn cầu hoá” hiện nay, sự phát triển của nó cũng cần được xem xét trong bối cảnh chung của sự phát triển của toàn thể nền kinh tế toàn cầu đó. Chúng ta biết rằng từ các thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay, nền kinh tế thế giới đã liên tục có nhiều biến chuyển to lớn,  mà đặc điểm chủ yếu là sự chuyển biến từ thời đại của kinh tế công nghiệp truyền thống sang thời đại của kinh tế thông tin, kinh tế tri thức trong phạm vi toàn cầu. Trong thời đại mới này, nguồn lực để phát triển kinh tế cũng có nhiều biến chuyển, nếu như trước đây nguồn vốn chủ yếu được tính đến gần như duy nhất là vốn vật chất, bao gồm tất cả các tài sản hữu hình như đất đai, tài nguyên, nhà cửa, công xưởng, máy móc, thiết bị, v.v…, những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền, cho nên đôi khi còn được gọi là vốn tài chính của nền kinh tế, thì đối với nền kinh tế mới, người ta thấy cần thiết phải tính đến và bổ sung hai nguồn vốn khác nữa là vốn con người và vốn xã hội. Vốn con người ở mỗi cá nhân là bao gồm tất cả các kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được cũng như mọi tiềm năng trí tuệ của cá nhân đó, giúp cho các hoạt động kinh tế của cá nhân đạt được kết quả. Vốn con người là tài sản cá nhân của từng con người, nên thuộc sở hữu cá nhân của con người đó. Khác với vốn con người thuộc quyền sở hữu của riêng từng cá nhân, vốn xã hội[2] bao gồm toàn bộ nguồn lực (hiện hữu hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới xã hội liên kết con người với nhau, nẩy sinh trong các mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, giữa những cá nhân thông qua các mối liên hệ đã được thể chế hoá hoặc chưa được thể chế hóa như các mối quan hệ bạn bè, quen biết, cùng quê quán, đồng học đồng môn, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, cùng một sở thích văn hóa, có sự chia sẻ, thông cảm tin cậy lẫn nhau,v.v… Như vậy, vốn xã hội không thuộc sỡ hữu cá nhân, mà thuộc sở hữu công, một tài sản của xã hội nói chung. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể khai thác một số vốn xã hội, khôn khéo sử dụng nó để đem lại những lợi ích kinh tế cho riêng mình. Cho đến nay, chưa có một định nghĩa hoàn thiện nào được mọi người thừa nhận chung cho khái niệm vốn xã hội, lại càng chưa có một cách thức nào đo lường, đong đếm một cách định lượng nguồn vốn đó để có thể đưa “đại lượng” vốn xã hội vào các mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội đều thừa nhận vai trò ngày càng tăng của khái niệm đó trong các khoa học kinh tế, chính trị, xã hội và trong thực tiễn kinh doanh[3].            Theo R.D.Putnam, một trong những tác giả hàng đầu về vốn xã hội, có những lý do sau đây có thể giải thích ý nghĩa quan trọng của vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế và xã hội:[4] Thứ nhất, vốn xã hội cho phép người dân giải quyết các bài toán tập thể một cách dễ dàng hơn. Con người thường cảm thấy mình mạnh và khỏe hơn khi có sự hợp tác với những người mà mình chia sẻ. Thứ hai, vốn xã hội có tác dụng bôi dầu cho các bánh xe tiến lên của cộng đồng vận hành một cách trơn tru hơn. Ở đâu mà con người tin cậy và tín nhiệm nhau, và những tương tác thân thiện được lặp đi lặp lại, thì công việc kinh doanh hàng ngày và các giao dịch xã hội cũng được thuận tiện hơn. Thứ ba, vốn xã hội giúp con người mở rộng tầm hiểu biết về nhiều con đường có thể có liên kết với số phận của mình, do đó có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của mình. Một con người có nhiều mối quan hệ tích cực và tin cậy với nhiều người khác sẽ dễ phát triển và gìn giữ những ấn tượng tốt đẹp về phần còn lại của xã hội, dễ trở thành ôn hòa hơn, ít thô bạo hơn, dễ thông cảm hơn với những bất hạnh của người khác. Thiếu những cơ hội đó, con người dễ bị tổn thương hơn trước những tác động xấu. Tóm lại, các mạng lưới liên kết tạo nên nguồn vốn xã hội có tác dụng truyền đưa các dòng thông tin hữu ích giúp con người nhanh chóng hơn trong việc đạt đến các mục tiêu cuộc sống của mình.               Mạng lưới liên kết tạo nên vốn xã hội trong một quốc gia bao gồm tất cả các tổ chức, các nhóm, hội liên kết các thành viên cá nhân trong những mối liên hệ hết sức đa dạng trong xã hội, từ các câu lạc bộ thể thao, các nhóm bạn văn thơ, các hội đoàn nghệ thuật, các tổ chức nghề nghiệp,… cho đến các tổ chức tôn giáo, chính trị, văn hóa, các thành phần này luôn biến đổi theo thời gian và ở những địa bàn địa lý khác nhau. Theo cách hiểu đó, Putnam cũng đã thử đưa ra một đại lượng chung như là tổng số tính theo các nhóm, hội, trong mỗi nhóm, hội có tính đến số lượng các thành viên, một hệ số liên kết đặc trưng cho “chất lượng liên kết” và một “bán kính tín nhiệm” đặc trưng cho độ rộng hẹp của từng nhóm, hội, hy vọng góp phần vào việc đo lường định lượng các vốn xã hội, nhưng rồi ý đồ nghiên cứu định lượng này về vốn xã hội cũng chưa tiến xa được bao nhiêu. Vì vậy cho đến nay ta đành tạm (?) gác lại ý đồ đó và bằng lòng với một số các khảo sát định tính về vốn xã hội mà thôi. Ta nhận thấy rằng không phải mối liên kết nào trong các tổ chức cũng mang lại giá trị tích cực cho vốn xã hội ngang nhau, có những mối liên kết đóng góp giá trị lớn cho vốn xã hội, nhưng cũng có những mối liên kết mang đến giá trị bé, thậm chí giá trị âm, như mối liên kết của các tổ chức tội phạm, mafia chẳng hạn. Nói chung, xã hội càng phát triển thì càng có môi trường cho vốn xã hội tăng trưởng, nhưng đó cũng không hẳn là qui luật. Chẳng hạn, công nghệ thông tin và truyền thông cùng với Internet càng phát triển, con người càng có điều kiện thu hẹp mọi hoạt động giao dịch, giải trí,… của mình bên chiếc máy vi tính cá nhân, thì càng có nguy cơ giảm bớt các liên kết xã hội, và do đó góp phần làm cho vốn xã hội suy giảm[5]. Trong các mối liên kết trong xã hội, có những liên kết dọc và những liên kết ngang, liên kết dọc thường nẩy sinh trong các quan hệ từ trên xuống dưới, đặc biệt là các quan hệ thứ bậc trong trật tự tổ chức hành chính, các quan hệ giữa nhà nước và công dân. Liên kết ngang thường là liên kết tự nguyện và bình đẳng giữa những cá nhân không có quan hệ tùy thuộc, trên dưới, không bị ràng buộc bởi một thứ thể chế nào cả. Xét theo quan điểm vốn xã hội, thì loại liên kết dọc ít có đóng góp mới, ít tạo thêm giá trị mới cho các hoạt động kinh tế và xã hội, và do đó phần đóng góp vào vốn xã hội không lớn. Loại liên kết thứ hai – liên kết ngang – vốn rất phong phú, đa dạng, đi vào nhiều ngõ ngách tinh tế và bất ngờ của cuộc sống con người và xã hội, cho nên rất có nhiều khả năng đóng góp những ý tưởng, những lý giải phi hình thức, phi chính thống cho việc tìm kiếm những giải pháp thiết thực, có hiệu quả cho những bài toán phức tạp của cuộc sống muôn mặt muôn vẻ khó lường trước được. Loại liên kết ngang này chủ yếu là các liên kết trong các tổ chức của xã hội dân sự[6], một mảng rộng lớn và quan trọng của tổ chức đời sống xã hội, độc lập với và bổ khuyết cho Nhà nước pháp quyền trong một chế độ xã hội dân chủ. Như vậy, nguồn vốn xã hội chỉ có thể được phát triển, phong phú thêm và tăng trưởng nhanh trong điều kiện xã hội dân sự được phát triển, và điều đó lại dẫn đến điều kiện nền dân chủ xã hội được phát huy đầy đủ tác dụng của nó.              Nền kinh tế nói riêng, và đất nước ta nói chung, đang đứng trước những triển vọng và thách thức của một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi chúng ta phải biết huy động và phát huy mọi nguồn lực đã hiện hữu cũng như đang tiềm tàng của đất nước. Về nguồn vốn vật chất, hay vốn tài chính, nhiều ít bao nhiêu, cần và có thể huy động từ đâu, thì chắc ta đã có nhiều kinh nghiệm để khai thác và quản lý; có thể ở đây điều ta cần là phải có các giải pháp phân phối và sử dụng có hiệu quả hơn, tránh được các mất mát do các tệ nạn tham nhũng lãng phí gây nên đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội. Từ mấy năm nay ta đã nhìn thấy các nhược điểm trong nguồn vốn con người của ta,  đã và đang cố tìm nhiều giải pháp để phát triển và nâng cao cả số lượng và chất lượng của nguồn vốn đó. Các giải pháp cải cách giáo dục và đào tạo nói chung, nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói riêng, hiện đang được bàn thảo ráo riết, và ta hy vọng là sẽ sớm được thực hiện để góp phần cải thiện nguồn vốn con người của nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại. Cùng với vốn con người là vốn xã hội. Có thể đây là một nguồn vốn mà lâu nay ta chưa quan tâm đến nhiều, có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác, phát huy, và phải chăng đã đến lúc ta cần “đánh thức” nó dậy để nó cùng góp phần tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội nước ta?              Nhiều người đã nhắc đến các truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, như yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, thông minh, cần cù trong lao động, có tình thương yêu đối với đồng bào, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, có một nền tảng đạo đức vững chắc, vân vân. Đó là những yếu tố tốt đẹp đã gắn kết dân tộc ta trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, đã bảo đảm cho đất nước ta tồn tại và độc lập qua bao giông bão của lịch sử. Và đó cũng là những yếu tố quan trọng để ngày nay ta có thể nói đến việc xây dựng và phát huy một nguồn “vốn xã hội” nào đó cho sự phát triển đất nước[7]. Đúng, những yếu tố tạo nên sự liên kết đó, những chất liệu kết dính đáng quí đó là những tài sản vô cùng quí giá, những tiềm năng để phát triển một nguồn vốn xã hội, nhưng có lẽ còn là hơi sớm nếu xem chúng là những thành phần của một “vốn xã hội” đích thực. Bởi vì như trình bày ở trên, vốn xã hội được xem là hiện hữu dưới dạng một mạng lưới các tổ chức xã hội dựa trên các quan hệ tin cẩn, các lề thói tác động qua lại,… có thể giúp cải thiện tính hiệu quả của các hoạt động xã hội bằng cách thúc đẩy các hành động hợp tác[8]. Theo cách hiểu đó, trong một công trình nghiên cứu phối hợp gần đây giữa Viện Những vấn đề phát triển Việt nam (VIDS) và các cơ quan quốc tế UNDP, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), thì “xã hội dân sự ở Việt Nam còn chập chững”, tuy “Việt Nam hiện có một số lượng lớn các tổ chức xã hội rất khác nhau về nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý, mục đích hoạt động, cơ chế tài chính, nhưng quan hệ hợp tác và sự kết nối của các tổ chức này vẫn còn yếu” và “môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự vẫn còn chưa thực sự đầy đủ, làm hạn chế tác động nhiều mặt của các tổ chức đó”[9]. Xã hội dân sự vốn là một sản phẩm của các chế độ pháp quyền dân chủ, có một Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, và được bổ sung bởi một xã hội dân sự ngoài Nhà nước để điều hòa các loại quan hệ dân sự nằm ngoài phạm vi điều hành của pháp luật. Nước ta, trải qua nhiều thế kỷ dưới chế độ phong kiến, rồi thuộc địa, sau khi giành được độc lập lại liên tiếp trải qua các cuộc chiến tranh ác liệt, rồi tiếp đó trong mấy thập niên vừa qua lại sống dưới một chế độ “xã hội chủ nghĩa” theo mô hình chuyên chính vô sản dưới quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của một Đảng Cộng sản, nên “chưa có môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự” cũng là điều dễ hiểu. Và xã hội dân sự chưa được phát triển thì nguồn vốn xã hội còn nghèo nàn và chưa có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển kinh tế, thậm chí chưa được tính đến như một nhân tố cho phát triển, là điều tất nhiên.              Ngày nay, sau hai mươi năm thực hiện công cuộc “đổi mới”, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường phát triển kinh tế thị trường và hội nhập vào kinh tế toàn cầu hóa đã được khẳng định và trên thực tế đã đi được một chặng đường khá dài, một mục tiêu chung cho sự phát triển đất nước đã được xác định là “xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng dân chủ văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp, có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, có Nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân, vì dân; có quan hệ  hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”[10], thì vấn đề xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ cùng với việc phát triển một xã hội dân sự phong phú và lành mạnh đã trở thành yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Tôi không dám nghĩ là các nhiệm vụ đó sẽ được thực hiện tức thời và nhanh chóng, nhưng hy vọng là với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước, ta sẽ tìm được con đường từng bước thực hiện các yêu cầu đó trong đoàn kết và đồng thuận dân tộc. Trong khi nhiệm vụ xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ có thể tiến dần từng bước thì có lẽ việc phát triển các tổ chức, cơ cấu của một xã hội dân sự – cũng tức là phát triển một nguồn vốn xã hội cho đất nước – có thể và cần được thực hiện nhanh hơn. Trong xã hội nước ta hiện nay cũng đã có một hệ thống khá đông đảo các hội đoàn quần chúng tập hợp thành “hệ thống chính trị”, trong một tổ chức bao trùm là Mặt trận Tổ quốc, tuy nhiên hệ thống đó chủ yếu là hệ thống ngoại vi có nhiệm vụ tổ chức và tập hợp quần chúng của Đảng cầm quyền, được tổ chức trong một hệ thống các liên kết dọc như ta đã nói đến trong một phần trên. Để phát triển được nhanh chóng các tổ chức thực hiện các liên kết ngang là các tổ chức tạo nên cấu trúc mạng của một xã hội dân sự, của một vốn xã hội cho đất nước, cần phải căn cứ vào Hiến pháp hiện hành, tôn trọng và khuyến khích các quyền tự do hội họp và lập hội của người dân, đặc biệt là các tổ chức hội độc lập với nhà nước, không chịu sự điều hành của nhà nước. Ta cần thừa nhận rằng ngày nay xã hội càng ngày càng phức tạp, không một bộ máy nhà nước nào dù to lớn cồng kềnh đến đâu có thể có đủ khả năng xử lý hết mọi vấn đề quan hệ nẩy sinh từ trong xã hội đó; vì vậy cùng với việc quản lý bằng pháp luật là chức năng của nhà nước, cần phải tôn trọng và phát triển các cơ chế tự quản lý, tự xử lý của xã hội thông qua các mối liên kết đa dạng và biến hóa khôn lường tồn tại bên trong xã hội đó. Các giải pháp tự quản này bên trong mạng lưới các tổ chức xã hội của một xã hội dân sự không nhất thiết phải tuân theo những lề luật được thể chế hóa, mà thường nẩy sinh một cách tức thời và linh hoạt tùy theo niềm tin cậy, sự thân thuộc quen biết, và cả những lề thói qua lại giữa các bên đối tác trong từng tình huống cụ thể. Khoa học về các hệ thống phức tạp cũng cho ta biết là trong quá trình phát triển tiến hóa của các hệ thống phức tạp, các thuộc tính hợp trội (emergent) tạo ra những chất lượng mới của hệ thống thường được sáng tạo nên từ sự tương tác không dự đoán trước được của các mối liên kết ngang giữa các thành phần của hệ thống. Hợp trội cũng là một đặc điểm quan trọng trong sự tiến hóa của các hệ thống kinh tế xã hội hiện nay, thể hiện ở khả năng xuất hiện ngày càng nhiều các tình huống hiệp tác để đi đến các giải pháp thắng/thắng bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt vốn có của kinh tế thị trường.              Xây dựng vốn xã hội là một vấn đề còn mới đối với chúng ta, ngay cả vấn đề về những lợi ích tiềm năng mà vốn xã hội có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế xã hội, ta cũng còn cần nghiên cứu tìm hiểu thêm nhiều. Tuy nhiên, việc khai thác mọi tiềm năng truyền thống về con người và xã hội, về đạo đức, văn hóa của dân tộc để bồi đắp dần một nguồn vốn xã hội là hết sức cần thiết. Và, cùng với tiến trình dân chủ hóa đất nước, cần tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển một xã hội dân sự thực sự, cũng là cho việc làm giàu thêm vốn xã hội của đất nước, chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong hiện tại và tương lai.  [1] Trích Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ  X Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, tháng 4 năm 2006.  [2] Theo Trần Hữu Dũng, trích dẫn nhà kinh tế học Bourdieu, trong bài Vốn xã hội và kinh tế, Tạp chí Thời Đại, số 8, năm 2003, trang 82-102.  [3] Xem R.S.Burt,  The network structure of social capital, trong  Research in Organizational Behavior, vol.22, ed. by  R.I.Sutton and B.M.Staw. Greenwich, CT: JAI Press,  2000.  [4] Robert Putnam. Bowling alone: The collapse and revival of American community. New York: Simon and Schuster, 2000, 288-290.  [5] Xem Putnam trong trích dẫn nói trên.  [6] Thuật ngữ  “civil society” có thể được dịch sang tiếng Việt là “xã hội công dân” hoặc “xã hội dân sự”, trong bài này theo thói quen tác giả xin được dùng thuật ngữ “xã hội dân sự”. Về vấn đề này, bạn đọc có thể tham khảo bài Thế nào là “xã hội công dân”? của tác giả Quý Đỗ trên Tia Sáng, số 9,5/5/2006, trg 14-16.  [7] Xem bài Lời giải cho bài toán phát huy vốn xã hội của Phan Chánh Dưỡng, Tia Sáng, số 10, 20/5/2006, trg 14-16.  [8]  Xem thêm bài  The network structure of  social capital của Ronald Burt, đã dẫn ở trên.  [9]  Trích dẫn theo bài Xã hội dân sự ở Việt nam còn chập chững, BBC tiếng Việt, ngày 15/5/2006.  [10]  Trích Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, tháng 4 năm 2006.      Phan Đình Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát huy dân chủ để làm giàu nguồn Vốn xã hội cho sự nghiệp phát triển đất nước      Sau gần hai chục năm thực hiện công cuộc “đổi mới”, mà chủ yếu là đổi mới về kinh tế, đất nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện và triền miên của những thập niên trước đó, nền kinh tế thị trường về cơ bản đã được thiết lập và liên tục có tốc độ tăng trưởng bền vững, tạo cơ sở cho việc đi vào một giai đoạn mới của sự phát triển.    Mặc dầu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng cho đến nay, về cơ bản, nước ta vẫn còn là một nước kém phát triển, con đường tiến lên trước mắt còn dài, và trong giai đoạn vài ba thập niên tới, chúng ta đã tự đặt cho mình nhiệm vụ phấn đấu là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thực hiện một nhiệm vụ phát triển kinh tế với mục tiêu như vừa được trích dẫn đó trong một khoảng thời gian không dài lắm quả là một tham vọng lớn, đòi hỏi một sự phấn đấu hết sức to lớn của cả dân tộc. Mục tiêu và nhiệm vụ đã được xác định rõ ràng, nhưng sẽ được thực hiện với vốn liếng nào đây? Tất nhiên ta phải huy động và phát huy tối đa mọi nguồn vốn đã có, hiện có và sẽ có trong đất nước ta, nhưng cụ thể đó là những nguồn vốn nào? Bài toán quan trọng này chắc là khó có thể có lời giải ngay một lúc, ta hy vọng là lời giải cho bài toán quan trọng đó sẽ được tìm kiếm và bổ sung dần trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.  Nền kinh tế nước ta, so với nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới thì còn là kém phát triển, nhưng trong môi trường của “toàn cầu hoá” hiện nay, sự phát triển của nó cũng cần được xem xét trong bối cảnh chung của sự phát triển của toàn thể nền kinh tế toàn cầu đó. Chúng ta biết rằng từ các thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay, nền kinh tế thế giới đã liên tục có nhiều biến chuyển to lớn,  mà đặc điểm chủ yếu là sự chuyển biến từ thời đại của kinh tế công nghiệp truyền thống sang thời đại của kinh tế thông tin, kinh tế tri thức trong phạm vi toàn cầu. Trong thời đại mới này, nguồn lực để phát triển kinh tế cũng có nhiều biến chuyển, nếu như trước đây nguồn vốn chủ yếu được tính đến gần như duy nhất là vốn vật chất, bao gồm tất cả các tài sản hữu hình như đất đai, tài nguyên, nhà cửa, công xưởng, máy móc, thiết bị, v.v…, những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền, cho nên đôi khi còn được gọi là vốn tài chính của nền kinh tế, thì đối với nền kinh tế mới, người ta thấy cần thiết phải tính đến và bổ sung hai nguồn vốn khác nữa là vốn con người và vốn xã hội. Vốn con người ở mỗi cá nhân là bao gồm tất cả các kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được cũng như mọi tiềm năng trí tuệ của cá nhân đó, giúp cho các hoạt động kinh tế của cá nhân đạt được kết quả. Vốn con người là tài sản cá nhân của từng con người, nên thuộc sở hữu cá nhân của con người đó. Khác với vốn con người thuộc quyền sở hữu của riêng từng cá nhân, vốn xã hội bao gồm toàn bộ nguồn lực (hiện hữu hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới xã hội liên kết con người với nhau, nẩy sinh trong các mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, giữa những cá nhân thông qua các mối liên hệ đã được thể chế hoá hoặc chưa  được thể chế hóa như các mối quan hệ bạn bè, quen biết, cùng quê quán, đồng học đồng môn, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, cùng một sở thích văn hóa, có sự chia sẻ, thông cảm tin cậy lẫn nhau,v.v… Như vậy, vốn xã hội không thuộc sỡ hữu cá nhân, mà thuộc sở hữu công, một tài sản của xã hội nói chung. Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể khai thác một số vốn xã hội, khôn khéo sử dụng nó để đem lại những lợi ích kinh tế cho riêng mình. Cho đến nay, chưa có một định nghĩa hoàn thiện nào được mọi người thừa nhận chung cho khái niệm vốn xã hội, lại càng chưa có một cách thức nào đo lường, đong đếm một cách định lượng nguồn vốn đó để có thể đưa “đại lượng” vốn xã hội vào các mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội đều thừa nhận vai trò ngày càng tăng của khái niệm đó trong các khoa học kinh tế, chính trị, xã hội và trong thực tiễn kinh doanh.  Theo R.D.Putnam, một trong những tác giả hàng đầu về vốn xã hội, có những lý do sau đây có thể giải thích ý nghĩa quan trọng của vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế và xã hội: Thứ nhất, vốn xã hội cho phép người dân giải quyết các bài toán tập thể một cách dễ dàng hơn. Con người thường cảm thấy mình mạnh và khỏe hơn khi có sự hợp tác với những người mà mình chia sẻ. Thứ hai, vốn xã hội có tác dụng bôi dầu cho các bánh xe tiến lên của cộng đồng vận hành một cách trơn tru hơn. Ở đâu mà con người tin cậy và tín nhiệm nhau, và những tương tác thân thiện được lặp đi lặp lại, thì công việc kinh doanh hàng ngày và các giao dịch xã hội cũng được thuận tiện hơn. Thứ ba, vốn xã hội giúp con người mở rộng tầm hiểu biết về nhiều con đường có thể có liên kết với số phận của mình, do đó có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của mình. Một con người có nhiều mối quan hệ tích cực và tin cậy với nhiều người khác sẽ dễ phát triển và gìn giữ những ấn tượng tốt đẹp về phần còn lại của xã hội, dễ trở thành ôn hòa hơn, ít thô bạo hơn, dễ thông cảm hơn với những bất hạnh của người khác. Thiếu những cơ hội đó, con người dễ bị tổn thương hơn trước những tác động xấu. Tóm lại, các mạng lưới liên kết tạo nên nguồn vốn xã hội có tác dụng truyền đưa các dòng thông tin hữu ích giúp con người nhanh chóng hơn trong việc đạt đến các mục tiêu cuộc sống của mình.    Mạng lưới liên kết tạo nên vốn xã hội trong một quốc gia bao gồm tất cả các tổ chức, các nhóm, hội liên kết các thành viên cá nhân trong những mối liên hệ hết sức đa dạng trong xã hội, từ các câu lạc bộ thể thao, các nhóm bạn văn thơ, các hội đoàn nghệ thuật, các tổ chức nghề nghiệp,… cho đến các tổ chức tôn giáo, chính trị, văn hóa, các thành phần này luôn biến đổi theo thời gian và ở những địa bàn địa lý khác nhau. Theo cách hiểu đó, Putnam cũng đã thử đưa ra một đại lượng chung như là tổng số tính theo các nhóm, hội, trong mỗi nhóm, hội có tính đến số lượng các thành viên, một hệ số liên kết đặc trưng cho “chất lượng liên kết” và một “bán kính tín nhiệm” đặc trưng cho độ rộng hẹp của từng nhóm, hội, hy vọng góp phần vào việc đo lường định lượng các vốn xã hội, nhưng rồi ý đồ nghiên cứu định lượng này về vốn xã hội cũng chưa tiến xa được bao nhiêu. Vì vậy cho đến nay ta đành tạm (?) gác lại ý đồ đó và bằng lòng với một số các khảo sát định tính về vốn xã hội mà thôi. Ta nhận thấy rằng không phải mối liên kết nào trong các tổ chức cũng mang lại giá trị tích cực cho vốn xã hội ngang nhau, có những mối liên kết đóng góp giá trị lớn cho vốn xã hội, nhưng cũng có những mối  liên kết mang đến giá trị bé, thậm chí giá trị âm, như mối liên kết của các tổ chức tội phạm, mafia chẳng hạn. Nói chung, xã hội càng phát triển thì càng có môi trường cho vốn xã hội tăng trưởng, nhưng đó cũng không hẳn là qui luật. Chẳng hạn, công nghệ thông tin và truyền thông cùng với Internet càng phát triển, con người càng có điều kiện thu hẹp mọi hoạt động giao dịch, giải trí,… của mình bên chiếc máy vi tính cá nhân, thì càng có nguy cơ giảm bớt các liên kết xã hội, và do đó góp phần làm cho vốn xã hội suy giảm[1]. Trong các mối liên kết trong xã hội, có những liên kết dọc và những liên kết ngang, liên kết dọc thường nẩy sinh trong các quan hệ từ trên xuống dưới, đặc biệt là các quan hệ thứ bậc trong trật tự tổ chức hành chính, các quan hệ giữa nhà nước và công dân. Liên kết ngang thường là liên kết tự nguyện và bình đẳng giữa những cá nhân không có quan hệ tùy thuộc, trên dưới, không bị ràng buộc bởi một thứ thể chế nào cả. Xét theo quan điểm vốn xã hội, thì loại liên kết dọc ít có đóng góp mới, ít tạo thêm giá trị mới cho các hoạt động kinh tế và xã hội, và do đó phần đóng góp vào vốn xã hội không lớn. Loại liên kết thứ hai – liên kết ngang – vốn rất phong phú, đa dạng, đi vào nhiều ngõ ngách tinh tế và bất ngờ của cuộc sống con người và xã hội, cho nên rất có nhiều khả năng đóng góp những ý tưởng, những lý giải phi hình thức, phi chính thống cho việc tìm kiếm những giải pháp thiết thực, có hiệu quả cho những bài toán phức tạp của cuộc sống muôn mặt muôn vẻ khó lường trước được. Loại liên kết ngang này chủ yếu là các liên kết trong các tổ chức của xã hội dân sự[2], một mảng rộng lớn và quan trọng của tổ chức đời sống xã hội, độc lập với và bổ khuyết cho Nhà nước pháp quyền trong một chế độ xã hội dân chủ. Như vậy, nguồn vốn xã hội chỉ có thể được phát triển, phong phú thêm và tăng trưởng nhanh trong điều kiện xã hội dân sự được phát triển, và điều đó lại dẫn đến điều kiện nền dân chủ xã hội được phát huy đầy đủ tác dụng của nó.  Nền kinh tế nói riêng, và đất nước ta nói chung, đang đứng trước những triển vọng và thách thức của một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi chúng ta phải biết huy động và phát huy mọi nguồn lực đã hiện hữu cũng như đang tiềm tàng của đất nước. Về nguồn vốn vật chất, hay vốn tài chính, nhiều ít bao nhiêu, cần và có thể huy động từ đâu, thì chắc ta đã có nhiều kinh nghiệm để khai thác và quản lý; có thể ở đây điều ta cần là phải có các giải pháp phân phối và sử dụng có hiệu quả hơn, tránh được các mất mát do các tệ nạn tham nhũng lãng phí gây nên đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội. Từ mấy năm nay ta đã nhìn thấy các nhược điểm trong nguồn vốn con người của ta,  đã và đang cố tìm nhiều giải pháp để phát triển và nâng cao cả số lượng và chất lượng của nguồn vốn đó. Các giải pháp cải cách giáo dục và đào tạo nói chung, nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói riêng, hiện đang được bàn thảo ráo riết, và ta hy vọng là sẽ sớm được thực hiện để góp phần cải thiện nguồn vốn con người của nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại. Cùng với vốn con người là vốn xã hội. Có thể đây là một nguồn vốn mà lâu nay ta chưa quan tâm đến nhiều, có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác, phát huy, và phải chăng đã đến lúc ta cần “đánh thức” nó dậy để nó cùng góp phần tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội nước ta?  Nhiều người đã nhắc đến các truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, như yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, thông minh, cần cù trong lao động, có tình thương yêu đối với đồng bào, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, có một nền tảng đạo đức vững chắc, vân vân. Đó là những yếu tố tốt đẹp đã gắn kết dân tộc ta trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, đã bảo đảm cho đất nước ta tồn tại và độc lập qua bao giông bão của lịch sử. Và đó cũng là những yếu tố quan trọng để ngày nay ta có thể nói đến việc xây dựng và phát huy một nguồn “vốn xã hội” nào đó cho sự phát triển đất nước[3]. Đúng, những yếu tố tạo nên sự liên kết đó, những chất liệu kết dính đáng quí đó là những tài sản vô cùng quí giá, những tiềm năng để phát triển một nguồn vốn xã hội, nhưng có lẽ còn là hơi sớm nếu xem chúng là những thành phần của một “vốn xã hội” đích thực. Bởi vì như trình bày ở trên, vốn xã hội được xem là hiện hữu dưới dạng một mạng lưới các tổ chức xã hội dựa trên các quan hệ tin cẩn, các lề thói tác động qua lại,… có thể giúp cải thiện tính hiệu quả của các hoạt động xã hội bằng cách thúc đẩy các hành động hợp tác[4]. Theo cách hiểu đó, trong một công trình nghiên cứu phối hợp gần đây giữa Viện Những vấn đề phát triển Việt nam (VIDS) và các cơ quan quốc tế UNDP, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), thì “xã hội dân sự ở Việt Nam còn chập chững”, tuy “Việt Nam hiện có một số lượng lớn các tổ chức xã hội rất khác nhau về nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý, mục đích hoạt động, cơ chế tài chính, nhưng quan hệ hợp tác và sự kết nối của các tổ chức này vẫn còn yếu” và “môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự vẫn còn chưa thực sự đầy đủ, làm hạn chế tác động nhiều mặt của các tổ chức đó”[5]. Xã hội dân sự vốn là một sản phẩm của các chế độ pháp quyền dân chủ, có một Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, và được bổ sung bởi một xã hội dân sự ngoài Nhà nước để điều hòa các loại quan hệ dân sự nằm ngoài phạm vi điều hành của pháp luật. Nước ta, trải qua nhiều thế kỷ dưới chế độ phong kiến, rồi thuộc địa, sau khi giành được độc lập lại liên tiếp trải qua các cuộc chiến tranh ác liệt, rồi tiếp đó trong mấy thập niên vừa qua lại sống dưới một chế độ “xã hội chủ nghĩa” theo mô hình chuyên chính vô sản dưới quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của một Đảng Cộng sản, nên “chưa có môi trường xã hội – chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự” cũng là điều dễ hiểu. Và xã hội dân sự chưa được phát triển thì nguồn vốn xã hội còn nghèo nàn và chưa có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển kinh tế, thậm chí chưa được tính đến như một nhân tố cho phát triển, là điều tất nhiên.  Ngày nay, sau hai mươi năm thực hiện công cuộc “đổi mới”, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường phát triển kinh tế thị trường và hội nhập vào kinh tế toàn cầu hóa đã được khẳng định và trên thực tế đã đi được một chặng đường khá dài, một mục tiêu chung cho sự phát triển đất nước đã được xác định là “xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng dân chủ văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp, có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, có Nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân, vì dân; có quan hệ  hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”, thì vấn đề xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ cùng với việc phát triển một xã hội dân sự phong phú và lành mạnh đã trở thành yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Tôi không dám nghĩ là các nhiệm vụ đó sẽ được thực hiện tức thời và nhanh chóng, nhưng hy vọng là với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước, ta sẽ tìm được con đường từng bước thực hiện các yêu cầu đó trong đoàn kết và đồng thuận dân tộc. Trong khi nhiệm vụ xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ có thể tiến dần từng bước thì có lẽ việc phát triển các tổ chức, cơ cấu của một xã hội dân sự – cũng tức là phát triển một nguồn vốn xã hội cho đất nước – có thể và cần được thực hiện nhanh hơn. Trong xã hội nước ta hiện nay cũng đã có một hệ thống khá đông đảo các hội đoàn quần chúng tập hợp thành “hệ thống chính trị”, trong một tổ chức bao trùm là Mặt trận Tổ quốc, tuy nhiên hệ thống đó chủ yếu là hệ thống ngoại vi có nhiệm vụ tổ chức và tập hợp quần chúng của Đảng cầm quyền, được tổ chức trong một hệ thống các liên kết dọc như ta đã nói đến trong một phần trên. Để phát triển được nhanh chóng các tổ chức thực hiện các liên kết ngang là các tổ chức tạo nên cấu trúc mạng của một xã hội dân sự, của một vốn xã hội cho đất nước, cần phải căn cứ vào Hiến pháp hiện hành, tôn trọng và khuyến khích các quyền tự do hội họp và lập hội của người dân, đặc biệt là các tổ chức hội độc lập với nhà nước, không chịu sự điều hành của nhà nước. Ta cần thừa nhận rằng ngày nay xã hội càng ngày càng phức tạp, không một bộ máy nhà nước nào dù to lớn cồng kềnh đến đâu có thể có đủ khả năng xử lý hết mọi vấn đề quan hệ nẩy sinh từ trong xã hội đó; vì vậy cùng với việc quản lý bằng pháp luật là chức năng của nhà nước, cần phải tôn trọng và phát triển các cơ chế tự quản lý, tự xử lý của xã hội thông qua các mối liên kết đa dạng và biến hóa khôn lường tồn tại bên trong xã hội đó. Các giải pháp tự quản này bên trong mạng lưới các tổ chức xã hội của một xã hội dân sự không nhất thiết phải tuân theo những lề luật được thể chế hóa, mà thường nẩy sinh một cách tức thời và linh hoạt tùy theo niềm tin cậy, sự thân thuộc quen biết, và cả những lề thói qua lại giữa các bên đối tác trong từng tình huống cụ thể. Khoa học về các hệ thống phức tạp cũng cho ta biết là trong quá trình phát triển tiến hóa của các hệ thống phức tạp, các thuộc tính hợp trội (emergent) tạo ra những chất lượng mới của hệ thống thường được sáng tạo nên từ sự tương tác không dự đoán trước được của các mối liên kết ngang giữa các thành phần của hệ thống. Hợp trội cũng là một đặc điểm quan trọng trong sự tiến hóa của các hệ thống kinh tế xã hội hiện nay, thể hiện ở khả năng xuất hiện ngày càng nhiều các tình huống hiệp tác để đi đến các giải pháp thắng/thắng bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt vốn có của kinh tế thị trường.  Xây dựng vốn xã hội là một vấn đề còn mới đối với chúng ta, ngay cả vấn đề về những lợi ích tiềm năng mà vốn xã hội có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế xã hội, ta cũng còn cần nghiên cứu tìm hiểu thêm nhiều. Tuy nhiên, việc khai thác mọi tiềm năng truyền thống về con người và xã hội, về đạo đức, văn hóa của dân tộc để bồi đắp dần một nguồn vốn xã hội là hết sức cần thiết. Và, cùng với tiến trình dân chủ hóa đất nước, cần tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển một xã hội dân sự thực sự, cũng là cho việc làm giàu thêm vốn xã hội của đất nước, chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong hiện tại và tương lai.  Phan Đình Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển Chính phủ điện tử: Những vấn đề lưu ý      Sau hơn ba năm thực hiện Nghị quyết 36a/NĐ-CP về Chính phủ điện tử, quá trình phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã có những thành tựu đầu tiên rất đáng mừng. Nhưng làm thế nào để có thể ‘lượng hóa’ bức tranh phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam để từ đó tạo ra được động lực lẫn áp lực khiến các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương phải thay đổi, phải tăng tốc tiến độ ‘số hóa’ hoạt động công quyền?      Với mục đích trả lời câu hỏi đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành xây dựng bộ chỉ số phát triển chính quyền điện tử. Báo cáo cho năm đầu tiên đã bước đầu thể hiện một bức tranh toàn diện về phát triển Chính phủ điện tử năm 2017.  Báo cáo phát triển Chính phủ điện tử Việt Nam 2017, những phát hiện chính  Nhóm nghiên xác định triết lý chính làm nền tảng cho đánh giá, đó là ‘chính phủ1 điện tử nhằm tạo thuận lợi tối đa cho giao dịch hành chính giữa chính phủ và người dân, doanh nghiệp’. Do đó, hiệu quả của giao dịch hành chính công điện tử là nhóm chỉ số đánh giá có ý nghĩa nhất. Báo cáo chỉ ra những cơ quan, đơn vị, địa phương nào đang làm tốt nhất, cũng như còn hạn chế nhất trong phục vụ người dân qua hệ thống giao dịch điện tử.    Cụ thể, ở nhóm Bộ và cơ quan ngang Bộ, Bộ Tài chính là đơn vị đi đầu trong năm 2017 về phát triển Chính phủ điện tử. Số hồ sơ giải quyết trực tuyến – một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá kết quả của việc phát triển Chính phủ điện tử – của Bộ Tài chính trong năm là hơn 20 triệu hồ sơ, chiếm đại đa số hồ sơ giải quyết. Ở nhóm cơ quan thuộc Chính phủ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là đơn vị đạt điểm số cao nhất trong việc ứng dụng Chính phủ điện tử. Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cung cấp là 15 dịch vụ nhưng số lượng hồ sơ giải quyết trong năm luôn đạt mức cao. Đặc biệt, dịch vụ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế mới cung cấp năm 2017 đã đạt được hơn 166 triệu hồ sơ trực tuyến. Trong khi đó, ở nhóm tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương, Huế là địa phương đứng đầu cả nước, tiếp ngay sau là Đà Nẵng, Lâm Đồng, Quảng Ninh và TP. Hồ Chí Minh.  Tuy nhiên, phân tích từ các số liệu thu thập được cho thấy hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến để thuận lợi nhất cho các giao dịch hành chính – mục đích cao nhất Chính phủ điện tử cần đạt tới – lại chưa đạt được kết quả như mong đợi, dù ở cấp bộ, ngành hay từng địa phương.  Nhìn vào Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 hiện tại của các bộ, ngành, địa phương năm 2017 có thể thấy, rất nhiều dịch vụ công thiết yếu được quy định phải cung cấp ở mức độ 3 hoặc 4 nhưng các địa phương vẫn chưa triển khai toàn bộ, điển hình như nhóm dịch vụ cho doanh nghiệp, bao gồm các thủ tục đăng ký thành lập mới các loại hình doanh nghiệp, hoặc dịch vụ cho người dân như nhóm dịch vụ về hộ tịch, cấp các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu với các loại tài sản như quyền sử dụng đất, nhà ở, phương tiện đi lại, các thủ tục về thuế, lao động…  Chất lượng của phát triển Chính phủ điện tử còn thể hiện ngay ở giao diện các cổng thông tin điện tử của các địa phương, các bộ, ban, ngành. Mặc dù đã có rất nhiều văn bản quy định về thể thức, giao diện của các cổng thông tin điện tử, nhưng hiện nay, có nhiều tỉnh mà địa chỉ thực hiện dịch vụ không thống nhất cả về tên gọi lẫn quy trình thực hiện trên thông tin điện tử, cổng giao dịch một cửa; cổng dịch vụ công cấp tỉnh… Điều này gây khó khăn trước hết cho chính các đối tượng thụ hưởng và sử dụng dịch vụ công, đó là người dân và doanh nghiệp.  Cần một lộ trình linh hoạt và phù hợp ở từng địa phương  Phát triển Chính phủ điện tử, cũng như nhìn rộng ra là ‘Đô thị Thông minh’ là yêu cầu chung, nhưng đang có nhiều dấu hiệu chạy theo ‘phong trào’ và tạo ra rủi ro đầu tư thiếu hiệu quả ở nhiều địa phương. Do đó, chúng tôi nhận thấy, phát triển các hệ thống giao dịch điện tử nào trong từng giai đoạn để hỗ trợ, đẩy mạnh sự phát triển của Chính phủ điện tử là bài toán cần được giải quyết một cách thận trọng và kĩ lưỡng.  Quảng Ninh – một ví dụ được nhắc đến rất nhiều trong thời gian vừa qua về xây dựng chính quyền điện tử – đã chuẩn bị kế hoạch theo từng giai đoạn 5 năm. Mỗi giai đoạn có những mục tiêu riêng cần phải đạt được. Tương tự như vậy, Chính phủ cần có những bước đi rõ ràng theo từng giai đoạn. Đầu tư về cơ sở hạ tầng, về trình độ nhân lực, chuẩn bị các điều kiện đầu vào cần thiết khác là những bước đi cần thực hiện trước tiên.  Gỡ rối các rào cản thể chế cũng là một vấn đề đáng quan tâm trước nhất. Trước đây, với cách thức quy định nộp hồ sơ giấy, thời hạn giải quyết, hình thức, thành phần hồ sơ đều là những yếu tố gây khó khăn rất lớn cho người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính. Dần dần, thủ tục hành chính trở thành câu chuyện xin – cho giữa cơ quan nhà nước và người dân, doanh nghiệp. Trong khi đó, về bản chất, các thủ tục hành chính phải là các dịch vụ mà Nhà nước cung cấp cho người dân. Phát triển Chính phủ điện tử sẽ đưa các dịch vụ hành chính công về đúng bản chất dịch vụ của nó. Tuy nhiên, chính các quy định về các thủ tục hành chính, dịch vụ hành chính công phải có sự thay đổi trước để mở đường cho các hoạt động thay đổi trong thực tiễn. Một ví dụ cụ thể, Báo cáo đánh giá và xếp hạng phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam năm 2017 đưa ra một danh mục 15 dịch vụ hành chính công thiết yếu mà theo nhóm tác giả cần được cung cấp ở mức độ 3 và 4. Hiện nay, Danh mục dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 cung cấp tại các bộ, ngành, địa phương vẫn chưa được ban hành. Đây có thể là một gợi ý cho các cơ quan nhà nước khi cân nhắc xây dựng Danh mục.  Mỗi địa phương sẽ có những đặc điểm kinh tế – xã hội riêng biệt nên UBND các tỉnh cần nghiên cứu kĩ các mô hình phù hợp với địa phương mình để hoạt động xây dựng chính quyền điện tử thực sự hiệu quả, tránh tình trạng chạy theo xu hướng nhưng không cải thiện chất lượng quản lý hành chính. Trong giai đoạn trung hạn 5 năm tới, triết lý ‘chính phủ điện tử là nhằm tạo thuận lợi nhất cho giao dịch hành chính giữa chính phủ với người dân, doanh nghiệp’, theo chúng tôi, cần được đặt ra như nguyên tắc dẫn dắt cho xây dựng Chính phủ điện tử. Và theo đó, người dân, địa phương mình cần gì trong giao dịch hành chính – sẽ là câu hỏi nền tảng cho tiến trình xây dựng thành công Chính phủ điện tử ở mỗi địa phương.  ———-  * Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS)  1 Chúng tôi dùng ‘chính phủ’ với nghĩa rộng – tức bao gồm toàn bộ các cơ quan công quyền.       Author                Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Quang Đồng*        
__label__tiasang Phát triển công nghệ cao ở Việt Nam: nên “mở” hơn là “đóng”      Chiến lược phát triển công nghệ cao (CNC) ở Việt Nam; Chuẩn bị gì để phát triển CNC; Thu hút đầu tư CNC vào Việt Nam… đó là những chủ đề chính của cuộc trò chuyện dưới đây giữa phóng viên Tia Sáng với Giáo sư Nguyễn Quang A, người từng là Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam và hiện là Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng cổ phần ngoài quốc doanh-VP Bank.         PV: Việt Nam đang chuẩn bị một chiến lược phát triển công nghệ cao (CNC) và việc này cụ thể được giao cho Bộ KH&CN soạn thảo, ông có biết chuyện này và ý kiến của ông là như thế nào?  Ông Nguyễn Quang A: Chúng ta rất cần những chiến lược như vậy để hướng những ưu tiên của chính phủ trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ nước nhà. Tôi không rõ lắm chiến lược phát triển công nghệ cao hiện đang được Bộ KH&CN chuẩn bị. Tuy nhiên, điều tôi biết rõ là từ trước tới nay, các chiến lược khoa học tổng thể nhiều khi mang tính chất phong trào, kiểu: Me too! (tức là các nước xung quanh làm thì mình cũng làm).       Có quá muộn hay không khi tới giờ chúng ta mới bắt tay soạn thảo các chiến lược phát triển CNC?  Trả lời muộn hay không quả là khó. Theo tôi, điều cần thiết với một chiến lược là không nên bất di, bất dịch mà nó phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí định hướng lại hoàn toàn hoặc dẹp bỏ để thay bằng một chiến lược hoàn toàn khác. Đây là một câu chuyện bình thường và không nên làm cho nó quá to tát. Vấn đề là chiến lược này phải thực tiễn và hợp với sức của mình, nên “mở”, hơn là “đóng”. Xây dựng một chiến lược, đặc biệt trong lĩnh vực CNC thì cần phải lượng sức mình xem có thể làm được đến đâu. Không nên quá viển vông.  Thế nào thì được coi là không quá viển vông?  Một chiến lược được coi là sáng suốt khi huy động được sự tham gia của nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội để cũng xây dựng. Những ý kiến góp ý, phản biện một cách công khai của nhiều người sẽ giúp tiết kiệm nguồn lực của nhà nước, của xã hội, tránh được các phí tổn không cần thiết khi thực hiện chiến lược. Càng nhiều ý kiến, câu hỏi, càng nhiều cách lật ngược vấn đề thì càng tốt. Vấn đề là những người có trách nhiệm xây dựng chiến lược đừng ngại người ta nói ngược.     Cho đến nay, định nghĩa như thế nào là CNC vẫn là câu chuyện còn bàn cãi ở Việt Nam. Hướng CNC nào theo ông là phù hợp với Việt Nam và điều gì chúng ta phải làm trước nhất?  Công nghệ sinh học, nano, vật liệu mới, điện tử, viễn thông, tự động hóa… tất cả những thứ đó ở Việt Nam đều cần phải phát triển. Mình không thể bỏ qua cái này mà đi vào cái kia. Tuy nhiên, cũng có thể đi bằng nhiều cách. Trước mắt phải tạo dựng được một đội ngũ những người trước hết hiểu được thế giới đang đi tới đâu và mình có thể áp dụng được gì. Theo tôi nghĩ, mình chưa thể sáng tạo nếu chưa hiểu để có thể nắm bắt. Không hiểu được thì làm sao có thể nói tới áp dụng hoặc xa hơn nữa là sáng tạo hay đón đầu? Tạo dựng được một đội ngũ con người làm việc trong CNC là công việc của các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, và rộng ra là toàn xã hội.  Như vậy Việt Nam vẫn thiếu nguồn lực để phát triển CNC?  Nói như vậy không hoàn toàn đúng. Thí dụ như giờ nói tới công nghệ cao trong sinh học, người ta có thể nghĩ ngay tới di truyền, cấy gien, nhân bản… Điều đó đúng nhưng tại sao không tư duy theo kiểu là áp dụng CNC trong sinh học để biến một quá trình lên men truyền thống của Việt Nam (như làm tương, làm mắm tôm, ủ phân chẳng hạn) thành phổ thông, rộng rãi hơn, nhân nó lên thành nhiều lần để phục vụ thị trường, giúp cải thiện kinh tế cho những người nông dân. Làm như vậy còn giải quyết được thêm nhiều vấn đề khác như bảo vệ môi trường, xử lí nước thải và chất thải. Cũng như vậy, có thể nghiên cứu cách làm sao để đất khỏi bạc màu, tăng độ phì và tăng khả năng kháng sâu bệnh chẳng hạn…  Tức là công nghệ cao ở nước ta không những cần phù hợp với sức mình mà trước hết phải phục vụ chính mình, làm lợi cho mình?  Đúng vậy, phải hướng tới mấy chục triệu người nông dân hiện nay. Nói công nghệ cao nhưng cũng phải hướng tới việc giúp nông dân, ngư dân cải thiện quá trình nuôi trồng, bảo vệ môi sinh thì sẽ tốt hơn.  Để tiến tới những vấn đề thực sự cao siêu như lập bản đồ gien (genomics) thì có lẽ trước hết mình phải bắt đầu từ những cái đơn giản nhất. Tôi cũng đã thấy có những ví dụ thực tế ở Việt Nam rất thú vị như trong lĩnh vực công nghệ nano, đã có nhà khoa học người Việt (Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, TP HCM-PV) có những phát minh đột phá liên quan tới mực in nano. Từ đó tạo ra các sản phẩm rất có lợi cho xã hội.  Có lẽ chính các cơ sở này sẽ đào tạo ra những con người làm việc cụ thể hay hơn nhiều so với các viện nghiên cứu của ta hiện hữu. Phải gắn kết đào tạo với khoa học và thị trường hay nói một cách khác tạo mối quan hệ hữu cơ giữa trường đại học, viện nghiên cứu và các công ty.  Đây cũng là điều đang được bàn luận rất nhiều ở Việt Nam nhưng dường như… vẫn chưa có giải pháp để thực hiện một cách hiệu quả?  Theo tôi việc này có thể được thực hiện rất đơn giản. Đầu tiên là phải cho các trường đại học, các viện nghiên cứu quyền được tự trị. Đừng cột các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu vào chức năng đơn thuần của một viên chức nhà nước. Cần cởi mở hơn với họ. Thí dụ một người dạy ở đại học thì có thể làm một lúc 2-3 chân ở những nơi khác: vừa dạy đại học, vừa làm ở một nơi khác và đồng thời có thể có một công ty spin-off (công ty nghiên cứu công nghệ theo hướng đưa sản phẩm ra thị trường, phục vụ đời sống-PV) của riêng mình. Họ cần phải có một mối quan hệ chằng chịt và cần nuôi dưỡng mối quan hệ đó.   Hiện nay theo tôi biết công chức bị “trói” vào qui chế công chức và điều này ngăn cản họ phát triển. Chỉ vài câu trong qui chế mà làm hại rất nhiều người. Chỉ cần sửa cái đó là sẽ cởi mở được ngay. Vả lại chuyện sửa đổi này đâu có khó khăn gì. Điều quan trọng là khi có người chỉ ra những chỗ cần sửa thì các cơ quan chức năng cần xem xét để giải quyết. Các cơ quan bộ chính là nơi phải làm việc này. Nhưng thực tế đáng tiếc là dường như họ lại đang cố tìm cách giữ cho mình càng nhiều quyền càng tốt, quản lý các trường và các viện càng chặt càng tốt, còn việc chính là rà soát chính sách, sửa chính sách, thì làm chẳng được mấy hoặc ra chính sách không khuyến khích phát triển.  Có lẽ chúng ta đi hơi xa chủ đề chính, quay lại chuyện công nghệ cao, mới đây công ty Intel của Mỹ đã đầu tư 300 triệu đô la để xây dựng một nhà máy thử chip điện tử tại Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về sự kiện này?  Intel mới quyết định đầu tư chứ chưa đầu tư mà sẽ đầu tư, nên nói đã đầu tư thì hơi quá. Việc Intel quyết định đầu tư vào Việt Nam là vô cùng quan trọng theo nhiều nghĩa khác nhau. Khâu test (kiểm tra, thử nghiệm) mà Intel chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư là một khâu tốn kém nhân lực, trí tuệ và công sức. Có thể mình đặt câu hỏi tại sao họ không đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi các “công đoạn” cao cấp hơn như thiết kế (design) chẳng hạn? Chắc còn phải đợi thêm thời gian. Nhưng trước hết, một công ty đang thực sự bẻ cánh lái con tàu công nghệ thông tin của thế giới vào đầu tư ở Việt Nam đã là một thành công lớn đối với nước mình. Vấn đề còn lại của chúng ta là làm sao tạo các điều kiện, từ cơ sở hạ tầng, hậu cần tới thủ tục hải quan…,  đừng nên gây bất cứ phiền hà gì để họ thực hiện thành công dự án và chuyển sang pha đầu tư tiếp theo. Nếu được như thế thì đầu tư của Intel sẽ là một cú hích, tạo một tác động dây chuyền đối với các hãng, công ty công nghệ cao lớn khác không chỉ của Mỹ mà cả của thế giới vào Việt Nam.   Ngược lại, phi vụ đầu tư này của Intel cũng tiềm ẩn một rủi ro lớn là nếu mình gây phiền hà khiến cuối cùng họ rút đầu tư thì chúng ta sẽ “xôi hỏng, bỏng không”, còn lâu mới có thể thu hút được các đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNC.  Nói tới vấn đề tạo điều kiện, ông có đánh giá như thế nào về tiến độ các khu CNC, nhất là khu CNC Hòa Lạc?…  Điều đầu tiên phải nói là chính sách phát triển CNC của chúng ta không rõ ràng. Nhiều chương trình, đề án đưa ra nhưng không được ráo riết thực hiện như qui hoạch khu CNC Hòa Lạc đã từ lâu mà quá trình triển khai lại kéo dài lê thê với cách làm hoàn toàn không bài bản, chuyên nghiệp, thậm chí tùy tiện từ khâu giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án cho tới quảng bá, khuyếch trương các khu công nghệ. Tôi nhớ tới một câu chuyện nhỏ. Cách đây đã lâu, Bộ Khoa học và Công nghệ có mời tôi tư vấn cho một dự án nhỏ, cỡ 5 tỉ đồng để mua server (máy chủ cho hệ thống máy tính) cho nhà điều hành khu CNC Hòa Lạc. Thế nhưng lúc đó ở đó điện chưa có, mặt bằng thì chưa san. Tôi có nói thẳng với một lãnh đạo của Bộ: “Các anh mua server về để cắm vào bụi chuối à?”. Ấy thế mà sau họ vẫn cứ mua. Như vậy, tôi biết chắc chắn là mua xong là đắp chiếu để đấy, sử dụng làm sao được? (Hình như họ đã dùng vào văn phòng ở Hà Nội!)  Vậy theo ông cách thực hiện nào sẽ hiệu quả?  Trước hết, phải giao chuyện này cho những người thực sự có quyền, có ảnh hưởng và có khả năng thực sự. Bên cạnh đó, cũng có thể làm theo một cách khác. Giả sử như Việt Nam bỏ ra khoảng vài triệu đô la, thuê hẳn một công ty nước ngoài chuyên hoạt động trong lĩnh vực này để họ làm chắc mọi việc sẽ nhanh hơn. Chúng ta thường hay tạo ra nhiều rào cản cho chính mình hay nói cách khác kiểu “mua dây buộc mình”.  Theo đánh giá của một nghiên cứu mới đây của một cơ quan thuộc Liên hiệp quốc, Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D). Phải làm gì để thực sự thu hút được các nguồn đầu tư quan trọng này?  Muốn thu hút được đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực R&D thì Việt Nam phải có cái quan trọng nhất: con người; hai thứ khác: trang bị cho nghiên cứu (cơ sở hạ tầng) và thị trường cho các sản phẩm nghiên cứu (đầu ra) thì các công ti họ sẽ lo, mình phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ làm. Chi phí cho loại hình đầu tư này khá đặc thù bởi phần lớn tiền đầu tư dùng để mua thiết bị và trả lương cho các nhà nghiên cứu (một đối tượng lao động đặc biệt). Để các doanh nghiệp Việt Nam tự đầu tư trong lĩnh vực R&D trong điều kiện hiện nay rất khó vì năng lực của họ còn hạn chế. Nhưng thu hút được đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này lại càng khó hơn. Nếu thực sự mình thu hút được loại hình đầu tư này thì tức là đồng nghĩa với mình đạt top đỉnh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Quay trở lại vấn đề ban đầu là muốn làm được thì chúng ta phải có cơ sở hạ tầng, có người có trình độ, nói cách khác có nguồn nhân lực phù hợp cho việc nghiên cứu của họ. Mà muốn có người thì điều hết sức cấp thiết là phải nâng cao chất lượng giáo dục đại học.  Ông có lạc quan cho rằng Việt Nam trong tương lai liệu có trở thành một trung tâm công nghệ cao trong khu vực?  Có thể nhưng không dễ. Để làm được điều này cần rất nhiều công phu, tiền bạc, thời gian và cả sự hy sinh nữa. Đừng ảo tưởng là dân ta thông minh, tài giỏi khác người. Tôi biết người Việt có nhiều điểm hay nhưng nói là thông minh, rất giỏi thì chưa phải. Hãy giở một số tạp chí công nghệ cao của thế giới ra xem: số người Việt có tên công bố các công trình, sáng chế trong đó còn quá ít, đặc biệt là khi tính tỉ lệ với số dân của Việt Nam. Thêm nữa, Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo ra một môi trường và điều kiện thuận lợi cho sáng tạo. Cải thiện được tình hình này thì chắc chắn tương lai sẽ sáng sủa. Theo tôi, chừng nào trong lĩnh vực nghiên cứu có nhiều người nước ngoài tới Việt Nam lập nghiệp, làm ăn, sinh sống thì chắc chắn nền công nghệ cao của chúng ta sẽ sớm phát triển. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là nhà nước và các nhà chính trị chính là những người có khả năng làm ra rất nhiều giá trị cho một đất nước. Trước hết bằng chính những chính sách, chiến lược đúng, khôn ngoan…  Xin cám ơn ông.       Thanh Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển ĐBSCL: Cần định hướng mang tính khu vực      Để phát triển ĐBSCL cần có sự thay đổi cơ bản về mô hình – từ cách nhìn bó hẹp trong phạm vi đồng ruộng, địa phương sang tầm nhìn bao quát được nhiều địa phương, toàn khu vực, vượt qua ranh giới địa lý; từ cách làm ngắn hạn, hạn chế trong ngành nghề sang mô hình dài hạn, đa ngành, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.      Hạn hán ở Kiên Giang tháng 3 năm 2016. Ảnh: Đinh Tuấn/Vietnamnet.  Từ bỏ cái nhìn “địa phương”  Để phát triển ĐBSCL cần có sự thay đổi cơ bản về mô hình – từ cách nhìn bó hẹp trong phạm vi đồng ruộng, địa phương sang tầm nhìn bao quát được nhiều địa phương, toàn khu vực, vượt qua ranh giới địa lý; từ cách làm ngắn hạn, hạn chế trong ngành nghề sang mô hình dài hạn, đa ngành, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Để thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực, thích ứng với biến đổi khí hậu và đầu tư hạ tầng cho khu vực cần áp dụng cách tiếp cận “Chính phủ quy về một mối”. Có nghĩa là phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương tại vùng ĐBSCL, trung ương và kinh tế tư nhân để sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài chính, tài nguyên thiên nhiên có được. Để tiếp tục củng cố nền tảng cho chương trình phát triển lâu dài, bền vững vùng ĐBSCL, theo tôi, sẽ cần áp dụng bốn nguyên tắc sau:  Một là phải tính đến các yếu tố nguy cơ, bất định: Do ĐBSCL nằm ở cao độ thấp nên biến đổi khí hậu cùng các ảnh hưởng của nó (thừa nước, thiếu nước, nước không bảo đảm vệ sinh và các hậu quả đi kèm) sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm những vấn đề về sử dụng nguồn nước và đất đai. Tính đến các yếu tố bất định – từ các ảnh hưởng ở thượng nguồn và hạ nguồn, cũng như yếu tố bất định do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu giờ đây sẽ không chỉ là cần thiết nữa, mà là một đòi hỏi bắt buộc. Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề, địa phương cũng cần được lên mô hình theo các tình huống cụ thể để phục vụ công tác quy hoạch dài hạn, xây dựng lộ trình ứng phó, đưa ra các phương án đầu tư.  Hai là cần nâng cao hiệu quả, hiệu suất: Tình trạng phân tán ngân sách, đầu tư hiện nay cũng như sự thiếu hiệu quả trong việc xây dựng những môi trường thuận lợi đang cản trở tiềm năng tăng trưởng chung của ĐBSCL. Vì vậy cần phải có những giải pháp táo bạo để tận dụng hợp lý các nguồn tài nguyên khan hiếm, ban hành những chính sách để định hướng mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, chiến lược định vị nơi cần đầu tư hạ tầng, và đưa ra được những phương án đầu tư tối ưu. Đối với ĐBSCL, có được định hướng toàn khu vực về đầu tư và chính sách sẽ góp phần nâng cao năng suất, tăng cường hiệu quả phân phối, phân bổ nguồn lực. Đề án An ninh Nguồn nước khu vực ĐBSCL của Bộ Xây dựng, trong đó đề xuất tập hợp một số địa phương lại để xây dựng nguồn nước bền vững, chống ngập mặn và khắc phục khan hiếm nguồn nước, cũng như Đề án Vận tải Đường thủy khu vực miền Nam của Bộ Giao thông Vận tải là những bước đi đúng hướng sẽ tạo tiền đề để tăng cường hợp tác hiệu quả nhằm tìm ra giải pháp cho những thách thức chung. Tất cả những đề án này đều đang được xây dựng theo mô hình bao quát, lồng ghép, trên phạm vi toàn vùng.  Ba là cần coi trọng liên kết vùng: Để tận dụng đầy đủ tiềm năng phát triển của khu vực ĐBSCL, tối ưu hóa mối liên kết giữa các địa phương rõ ràng là cần thiết, đặc biệt trong quản lý đất đai, sử dụng nguồn nước, kết nối hạ tầng. Nếu không có sự phối hợp tốt, các quyết định, phương án đầu tư của địa phương này có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực ngoài dự tính đối với tiềm năng phát triển của các địa phương khác. Tìm ra những phương án cùng có lợi và phối hợp trong đầu tư có thể mang lại những lợi ích lan tỏa vượt ngoài ranh giới địa lý. Một mô hình có thể học tập là những chương trình gần đây của Đồng Tháp Mười hợp tác với các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang trong xây dựng quy hoạch chung, thực hiện đầu tư chiến lược về cơ sở hạ tầng.  Bốn là tận dụng tốt các lợi thế so sánh: Với nhiều tiểu vùng thủy sinh và được thiên nhiên ưu đãi những vốn tự nhiên đa dạng, các khu vực tiểu vùng của ĐBSCL đang đứng trước những thách thức đặc thù, phát sinh từ các yếu tố không gian, lịch sử, nguy cơ riêng. Phần phía trên của khu vực dịch chuyển theo hướng thâm canh lúa nhưng đổi lại là thiệt thòi khi mất đi nguồn lợi do diện tích cánh đồng thu hẹp, trong khi đó, các khu vực ở ven biển lại đang đối mặt với tình trạng ngập mặn, sạt lở ngày càng tăng. Để tạo chuyển biến về sinh kế và đáp ứng nhu cầu về hạ tầng ở vùng thượng ĐBSCL cần phải chú trọng vào phát triển nông nghiệp lúa nước và hạn chế ngập úng. Mặt khác, các khu vực ven biển cần phát triển sản xuất, kinh doanh ở những địa bàn nước lợ để thích ứng với tình hình ngập mặn ngày càng tăng. Nếu tận dụng được yếu tố lợi thế nhờ quy mô, các tiểu vùng của khu vực sẽ nâng cao được sức cạnh tranh, tham gia được vào các chuỗi giá trị toàn cầu, để từ đó tăng thu nhập, tìm được cơ hội phát triển các nguồn sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Dự án Tăng cường Thích ứng Biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL đang triển khai hiện cũng đã có những hoạt động hỗ trợ theo hướng này.  Thích ứng với biến đổi khí hậu  Để tạo sự chuyển biến nhằm giúp thích ứng được với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, có các vấn đề cần chú trọng: Thể chế, Thông tin và Đầu tư.  Thể chế: Tôi đề nghị chính phủ, trong chương trình cải cách của mình, cân nhắc chuyển đổi mô hình quản lý hiện nay sang cơ chế mới hiệu quả hơn, có nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí đầy đủ để nắm vai trò lãnh đạo quá trình phát triển của khu vực ĐBSCL. Tôi cũng xin nhân đây được điểm qua một số ví dụ điển hình về mô hình thể chế toàn vùng của một số quốc gia khác, như Văn phòng Ủy viên Quản lý Đồng bằng Hà Lan, là cơ quan được giao quyền hạn, nhiệm vụ, kinh phí quy hoạch, đầu tư của Hà Lan; Cục quản lý vùng Thung lũng Tennessee của Mỹ, bằng các hoạt động của mình đã chuyển hóa được một trong những khu vực lạc hậu của nước này thành một mô hình phát triển lồng ghép; và một ví dụ nữa từ chính quê hương Xênêgan của tôi là “Tổ chức Quản lý vùng Lưu vực sông Xênêgan” – OMVS, một tổ chức siêu quốc gia được giao trách nhiệm thực hiện quy hoạch chung, đầu tư chung, triển khai chung, quản lý chung toàn bộ các chương trình phát triển liên quan đến nguồn nước của bốn quốc gia có sông nằm trong khu vực Châu thổ sông Xênêgan, trên nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng.  Hệ thống thông tin – một yêu cầu tiên quyết: Là một trong những khu vực đồng bằng được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới, ĐBSCL phải có một cơ sở dữ liệu tổng hợp, đáng tin cậy, với những quy trình chia sẻ hiệu quả, thống nhất. Những thông tin này cần được tích hợp vào trong quá trình quy hoạch, trong đó chú trọng vào phát triển không gian, lồng ghép, liên địa phương. Tôi xin nhấn mạnh rằng ta cần áp dụng cách tiếp cận dựa trên bằng chứng trong thiết kế, lựa chọn địa điểm, quy mô ưu tiên đầu tư, để thông tin hiệu quả cho chính phủ ra quyết định, cũng như điều chỉnh công tác quy hoạch từ bối cảnh khu vực sang phạm vi địa phương. Luật Quy hoạch sắp ban hành sẽ tạo thuận lợi để xử lý những hạn chế, những sự chồng chéo trong quy hoạch phát triển tổng thể ở các cấp, giữa các lĩnh vực. Ngân hàng Thế giới sẵn sàng hỗ trợ quá trình lập Quy hoạch tổng thể lồng ghép, nhằm phối hợp công tác đầu tư, kết nối hạ tầng, tập trung nguồn lực cho quản lý sử dụng đất, chính sách phát triển ngành, thống nhất hài hòa chiến lược phát triển sản xuất, chuỗi giá trị, huy động kinh tế tư nhân.  Đầu tư: Do nhu cầu đầu tư lớn để phát triển ĐBSCL, vì thế câu hỏi căn bản ở đây là lấy nguồn tiền ở đâu. Từ bài học của các nước khác, Việt Nam có thể cân nhắc thành lập một Quỹ Phát triển ĐBSCL, có cơ chế quản lý hoạt động rõ ràng, để huy động những nguồn vốn cấp bách, dành riêng cho từng mục đích, phù hợp với các nguyên tắc chung về quản lý bền vững, thích ứng khu vực. Các điều khoản, phương thức tuy cần áp dụng sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam nhưng mô hình quỹ này có thể có 4 nguồn huy động vốn sau: 1) Huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng – dành riêng cho các dự án liên địa phương, có sự liên hệ tương tác hiệu quả, đem lại các lợi ích chung. Trong Cơ chế này sẽ có ngân sách ưu đãi của trung ương cấp bổ sung. 2) Huy động vốn tư nhân – nhằm khuyến khích tư nhân tham gia, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến nông sản, ươm trồng, đưa các doanh nghiệp mới khởi nghiệp ra thị trường, cũng như huy động nguồn lực cho các chương trình đầu tư không để lại hậu quả xấu thông qua đối tác công-tư. 3) Huy động vốn thông qua đổi mới, nghiên cứu – nhằm tạo chuyển biến về sinh kế, thay đổi các tập quán sử dụng tiết kiệm nguồn nước, có lợi cho môi trường, tăng cường quản lý khu vực ven biển nhờ công nghệ mới, các kết quả nghiên cứu chắc chắn. Thông qua Trung tâm Đổi mới sáng tạo Ứng phó với biến đổi khí hậu Việt Nam (VCIC), cơ chế này có thể là chất xúc tác để thúc đẩy những giải pháp mới cho sự phát triển của vùng ĐBSCL. 4) Cơ chế giảm nghèo, hỗ trợ các cộng đồng yếu thế – cơ chế này sẽ xác định đối tượng mục tiêu là các cộng đồng nghèo, yếu thế, trong đó sẽ nghiên cứu các mô hình bảo trợ xã hội, chương trình bảo hiểm v.v.  ***  ĐBSCL của Việt Nam đang trong giai đoạn đã đi tới điểm cực hạn. Các quyết định, phương án đầu tư hạ tầng, đầu tư sinh kế ta thực hiện hôm nay có thể sẽ để lại những ảnh hưởng không thể đảo ngược về lâu dài. Chúng ta cần hợp tác để củng cố các nền tảng cần thiết giữa nghiên cứu khoa học và quy trình ra quyết định để điều chỉnh, áp dụng phù hợp các khái niệm mới nhằm bảo đảm lợi ích toàn cầu và bảo tồn được di sản chung.  ——-  Chú thích: Bài viết này là phát biểu tại Hội nghị Phát triển Bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với Biến đổi Khí hậu 2017, đã được Tia Sáng biên tập, đặt tít chính và các tít phụ trong bài.    Author                Ousmane Dione        
__label__tiasang Phát triển kinh doanh đại học chăng?      Vừa qua do có công việc tiếp xúc với ngành giáo dục, tôi mới được biết có quy định như thế này, từ lâu rồi và của Nhà nước hẳn hoi: khi lập một trường đại hoc tư, những người trong Ban sáng lập nhất thiết phải là những người góp vốn, ai không có tiền góp vốn thì không được phép tham gia Ban sáng lập.         Như vậy, các nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà giáo dục có uy tín, có tâm huyết, mà không có đủ tiền để góp vốn, đều không thể vì lợi ích xã hội, cùng với những người có tiền và có tâm huyết khác, sáng lập trường. Họ đã chính thức bị loại ra từ đầu… Thì ra vậy đó, lâu nay dư luận xã hội lo lắng về chuyện rất nhiều trường tư chạy theo xu hướng buôn bán giáo dục, và người ta vẫn coi việc lập trường đại học tư là một thứ kinh doanh “siêu lợi nhuận”, rồi bao nhiêu lục đục trong các trường đại học tư phần lớn đều có nguyên nhân từ chuyện vụ lợi…, tưởng là do tư nhân sinh chuyện, hóa ra không phải. Theo tôi, chính những qui định như thế của Nhà nước dường như đã thể hiện quan điểm: mở trường tư là để kinh doanh, ai có tiền thì bỏ ra đây mà kinh doanh, tha hồ làm giàu. Chả trách!  Mới đây lại thấy đang bàn việc cổ phần hóa các trường đại học. Nghĩa là quan niệm và chủ trương trên kia lại được đẩy mạnh thêm một bước nữa, quyết liệt hơn. Ai sẽ là người mua cổ phần của các trường đại học, mua để làm gì? Tất nhiên là người có nhiều tiền, và đã bỏ tiền ra mua cổ phần đương nhiên là để kinh doanh làm giàu. Ôi, nền đại học mà chúng ta đang ồn ào mong rằng nó sẽ có “đẳng cấp quốc tế” sẽ đi về đâu đây? Ở rất nhiều nước tiên tiến, và cả những nước đang mong muốn tiến lên tiên tiến, người ta đều chủ trương nghiêm khắc đại học phi lợi nhuận, với nghĩa là các trường đại học có tự làm ra lợi nhuận là để đầu tư trở lại phát triển trường, chứ tuyệt đối không được chia nhau bỏ túi. Ta định tiến lên đại học “đẳng cấp quốc tế” bằng cách khác, ngược lại chăng?  Xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa đại học không phải là mở cửa đại học cho tha hồ kinh doanh làm giàu, mà là làm cho đại học có thể đến được với mọi người, làm cho mọi người trong xã hội được bình đẳng về cơ hội có giáo dục đại học. Chẳng hạn như có một hệ thống đại học mềm dẻo, có trường đại học bình thường bốn năm, có trường đại học cộng đồng hai năm, thực hiện hệ thống tín chỉ để có thể liên thông giữa các trường và các loại trường khác nhau, tạo cho người muốn học có nhiều lựa chọn linh hoạt để có thể học được…  Giáo sư Hoàng Tụy có lần nói: chúng ta không chỉ lạc hậu, chúng ta đang lạc hướng. Có lẽ chuyện vừa nói trên đây, đã diễn ra và sắp diễn ra nữa, là một minh chứng cho nhận định nghiêm khắc và nghiêm túc đó.        Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định      Gần đây, có nhiều kiến nghị về chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác.      Tập đoàn Lộc Trời là đơn vị đã triển khai tiêu chuẩn Sản xuất lúa gạo bền vững (Sustainable Rice Platform-SRP) với các tiêu chí đảm bảo sức khỏe, an toàn thực phẩm, môi trường… cho tới các yếu tố bình đẳng như nữ quyền, quyền trẻ em. Nguồn ảnh: TBKTSG.  Vài năm gần đây, những mô hình sản xuất lớn như “Cánh đồng (lúa) mẫu lớn” do tập đoàn Lộc Trời hợp tác với nông dân, làm lúa giống kết hợp trồng cỏ nuôi bò trên quy mô lớn của ông Sáu Đức, nuôi heo theo mô hình hiện đại của ông Huỳnh Chánh Huy ở An Giang… hay những chủ trang trại nuôi cá tra với sản lượng hàng ngàn, thậm chí cả vạn tấn/năm/hộ đang xuất hiện nhiều hơn. Các doanh nghiệp này có mô hình khép kín, tự cung cấp từ con giống, thức ăn, tự nuôi thương phẩm và được ưu đãi hoàn thuế VAT. Tuy nhiên, nhiều hộ sản xuất và cả các doanh nghiệp có qui mô lớn đó… lại đang rất “bí” đầu ra, đang chờ… khó khăn mới.  Hiện nay, hầu như không có doanh nghiệp nào kêu bí “hạn điền” cả. Mặc dù về lâu dài, cũng có tâm lý chưa an tâm về “quyền tài sản” đối với đất, nhưng trước mắt Điều 129 và 130 Luật đất đai 2013 đã cho phép sang nhượng, nhận quyền sử dụng đất cao hơn 10 lần hạn điền cũ, tức là tối đa 30 ha đất sản xuất cây hằng năm, 100 ha đất cây ăn quả và 300 ha đất trồng rừng. Thiết nghĩ, một hộ sản xuất lớn sở hữu quy mô chừng đó là cũng có phần quá sức so với thực tế; còn nếu muốn sản xuất ở quy mô lớn hơn thì các hộ sản xuất phải đăng ký thành doanh nghiệp, lúc đó thì đâu có hạn điền nào bó buộc. Vì vậy việc nông sản các nước ồ ạt vào Việt Nam, thị trường nông sản của Việt Nam ở các nước khác đang bị teo tóp hoặc bị mất chủ yếu do thiếu chữ tín, chất lượng hàng hóa không ổn định và thường là thấp kém… chứ không thể “đổ tội” cho hạn điền. Thậm chí, sản xuất lớn, đưa sản lượng tăng vọt mà sản phẩm chưa khẳng định được chỗ đứng trên thị trường mới càng khiến giá rơi thảm hại, người sản xuất lao đao. Bài học gạo, cá… và mới đây là chuối, heo cho thấy rõ điều này.  Theo tôi thì cái “bí” của sản xuất nông nghiệp vừa qua và hiện nay nằm ở tầm vĩ mô thuộc quản lý Nhà nước đã không bảo đảm các cân đối lớn chủ yếu về sản xuất – thị trường, sự an lòng của người dân về quyền tài sản đối với đất đai; và, về một nền giáo dục phổ thông lành mạnh – vì con người – do con người chưa được đáp ứng vv…  Trong bài trả lời phỏng vấn trên báo An Ninh điện tử ngày 10/5/2017, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PT Nông thôn Lê Huy Ngọ kể: Khi nông dân hỏi Bộ trưởng là nên nuôi trồng cây con gì thì ông trả lời: “Ra chợ hỏi”. Ông lấy ví dụ những chủ trang trại ở Mexico phải bỏ hoang hàng vạn ha đất vì chưa ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dẫn chứng về việc là sản xuất phải xuất phát từ thị trường chớ không phải từ Nghị quyết, kế hoạch trong phòng họp. Tôi cũng có thông tin rất mới về “Tích tụ đất ở tỉnh Thái Bình” qua lá thư của ông bạn tôi (A) nhận ngày 12/5/2017 như sau:  “Kính gửi: Anh (A).  Tôi đang ở Thái bình (cũng là quê của Anh), tiếp xúc với người nhà và được biết tình hình chính quyền thuê đất của dân như sau:  1. Lựa chọn vùng bờ xôi ruộng mật, gần đường và đất tốt để quy hoạch mời doanh nghiệp vào. Vùng xa, đi lại khó khăn và đất xấu thì không quy hoạch và không thuê.  2. Đất được thuê với giá 140 kg thóc/sào /năm nhưng chi trả bằng giá thóc nhà nước tính thuế (470.000-480.000 đồng/tạ) trong khi giá thị trường là 800.000 đồng/tạ và chi trả từ hai đến năm năm một lần.  3. Trên 95% nông dân không đồng tình cho thuê đất vì các lý do sau: (1) giá thấp gần như chỉ bằng 50% giá thị trường, nên nông dân cho rằng sẽ không đủ tiền để mua thóc cho an ninh lương thực của gia đình; (2) đưa đất cho doanh nghiệp thì mình lấy gì làm kế sinh nhai, tiền sẽ tiêu hết nhưng đất vẫn có thể tạo ra thu nhập. Doanh nghiệp chỉ thuê lao động trẻ 18 – 35 tuổi trong khi trên 70% lao động đang làm việc ở quê là lao động già và không có doanh nghiệp nào thuê, hiện có một lực lượng lao động trên 35 tuổi đang bị “thải” về và quay trở lại làm nông nghiệp; (3) Mức thuê 140 kg thóc/ sào/ năm lúc này có vẻ hợp lý, nhưng 5-10 năm nữa có sự thay đổi về công nghệ thì mức đó sẽ bị thấp, (4) Diện tích thuê chỉ tính ruộng mà không tính bờ nên diện tích bờ sẽ được chính quyền tính riêng với doanh nghiệp.  Chỉ có khoảng 2-3% hộ đồng ý vì không làm ruộng và bỏ hoang vì nhiều lý do.  Vì thế ở quê tôi, xã Phúc thành, huyện Vũ thư thì dân không đồng ý.  Kính thư!  Giáo sư  Đ K C”  Vì vậy, làm nông nghiệp bây giờ là phải: chuyển từ số lượng – diện tích, năng suất, sản lượng sang chất lượng – ngon, bổ, sạch, đẹp, cung cấp ổn định; từ cao trào – phong trào dịu xuống còn bình thường và ổn định; tránh tình trạng “dư cung” trong sản xuất và phải biết tạo ra sự khác biệt. Khác biệt chính là sự hấp dẫn cho thị trường. Đó là quan điểm chỉ đạo nhưng chính quyền, đoàn thể không triển khai, tuyên truyền như xưa nay mà hãy để cho doanh nhân và nông dân làm việc cùng nhau. Chính quyền hãy trở về vai trọng tài và chế tài mà từ lâu quên lãng. Các đoàn thể chính trị trở về với công việc của hội đoàn của mình. Các cấp ủy Đảng với vai trò lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, điều chuyển những cán bộ không thích hợp. Nếu cả hệ thống chính trị cùng quan tâm thì sẽ đi vào vết xe “huy động sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh phong trào sản xuất” như lâu nay.  Kiến nghị  – Không thay đổi hạn điền, giữ như Luật Đất đai năm 2013 (điều 129, 130) nhưng thời hạn sử dụng đất được giao nên thay đổi. Bởi vì, tại sao thời hạn chỉ là 50 năm? Điều này đã gây lo lắng, hoài nghi trong dân nhưng không ai nói ra. Đó cũng có thể là nguyên nhân sâu xa vì sao dân không mạnh dạn, hứng thú đầu tư vào nông nghiệp như chính phủ kỳ vọng! Đề nghị đất trong hạn điền không ghi thời hạn sử dụng, không thu thuế trực canh hoặc thuế cho thuê lại; không dùng khái niệm “thu hồi đất” mà dùng từ “mua lại”, “trưng mua”, “trưng dụng có thời hạn”, “trưng thu”… Hạn điền là “chiếc giày” do chế độ này đóng cho nông dân đó, đừng tháo nó ra!  – Nên có văn bản quy định rõ việc doanh nghiệp muốn sản xuất lớn ở quy mô nông trại, đồn điền với hàng ngàn ha, ngoài điều 129, 130 Luật Đất đai 2013 thì không hạn chế, doanh nghiệp chỉ cần lập dự án, có phương án và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu thuê lại đất công thì ký trực tiếp với chính quyền thuê đất; nếu thuê/ mua lại của dân thì do doanh nghiệp và nông dân tự thỏa thuận, chính quyền chỉ làm trung gian, hòa giải. Nếu chính quyền thay doanh nghiệp thỏa thuận và ký với nông dân hoặc ngược lại là tạo sơ hở cho tham nhũng như cách làm nôn nóng vừa qua thì sẽ làm mất lòng dân, xã hội không ổn định. Cần chú ý nói rõ: Doanh nghiệp có dự án phải sản xuất, kinh doanh đúng mục đích của dự án, nếu chuyển mục đích dự án phải có điều kiện ràng buộc hoặc chế tài nghiêm khắc. Chống đầu cơ đất, “ghim đất” giữ giá, “phát canh thu tô” trá hình. Có quy định thuế lũy tiến với đất cho thuê vượt hạn điền (3ha, 10 ha, 30 ha… theo từng loại đất).  – Cần bổ sung quy định “đa sở hữu”, thừa nhận quyền tài sản cá nhân về đất nằm trong sở hữu toàn dân. Trong sở hữu toàn dân có phần sở hữu do chính quyền trực tiếp quản lý chứ không đồng nghĩa hai chủ thể (Toàn dân – Nhà nước với Chính quyền) là một. Có chế tài nghiêm trị bất cứ ai vi phạm quy định thu hồi đất trái luật như vừa qua.  – Mở rộng quy mô đất đai, thay đổi phương thức canh tác, thị trường… nhưng trên hết là cơ chế-thể chế quản lý kinh tế-xã hội phải đồng thời, đồng bộ. Nếu đất sản xuất rộng, thị trường hẹp ắt sẽ sinh phương thức phát canh thu tô, nếu mọi thứ đều ổn mà lòng người chưa yên thì sản xuất cũng không bền vững. Cần cảnh giác sự biến thái của thị trường đất do “nhóm lợi ích” chi phối, sinh ra tư bản hoang dã mà “nới hạn điền” cũng là một cơ hội lớn cho các nhóm lợi ích!  – Nhà nước “làm thị trường” theo kiểu nhà nước – bằng kinh tế đối ngoại, làm trọng tài và có chế tài luật pháp, đặc biệt là phải bảo vệ chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường, chống cạnh tranh không lành mạnh. Còn các đơn vị sản xuất kinh doanh phải “tự lực”, như doanh nhân tự phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; tiểu thương biết bán lẻ đến từng hộ gia đình; nông dân phải biết sản xuất ra con gà, hạt gạo… sạch, ngon và tìm nơi bán… chứ không thể cứ kêu Nhà nước “cứu” như đã quen được bảo hộ trong thời bao cấp.  – Cuối cùng là niềm tin xã hội đang bị tổn thương, nếu không nói là bị mất quá nhiều với khẩu ngữ: “Nói vậy không phải vậy”,“Thấy vậy không phải vậy” đang phổ biến. Ta không tin thực phẩm ta sạch thì ai tin? Và làm sao cho ta tin ? Có lần PGS VTK thốt lên: “Sản phẩm nông nghiệp của ta bẩn như thế chỉ có bán cho Trung Quốc”. Nhưng nay thì ngược lại rồi, họ bán thực phẩm của họ mà dán nhãn Việt Nam, đúng là “quả báo một giây nhãn tiền”! Còn với cung cách làm ăn kiểu “ăn xổi ở thì” của ta thì khách hàng nào thành khách hàng “truyền thống” với ta?  ——–  Tác giả nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang.       Author                Nguyễn Minh Nhị        
__label__tiasang Phát triển nhanh và bền vững và năng lực quản lý đất nước      Phát triển nhanh và bền vững”, một chủ trương ngắn gọn, súc tích trong nhiều nghị quyết của Đảng, là mong ước không chỉ riêng của Việt Nam. Liên hiệp quốc, sau khi kết thúc 15 năm triển khai Chương trình Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ (Millenum Development Goals) cuối năm 2015, đã quyết định thực hiện tiếp theo Chương trình Mục tiêu Phát triển Bền vững (Sustainable Development Goals).    Phát triển kinh tế cần đi kèm với bảo vệ môi trường. Ảnh: ashui.com  Ghép hai tĩnh từ nhanh và  bền vững hàm chứa một thách thức lớn đối với năng lực quản lý đất nước, bởi lẽ, phát triển nhanh và phát triển bền vững đối với các nước, đặc biệt các nước đang phát triển thường không song hành cùng chiều.  Một nền kinh tế, bất kỳ, nếu vì tăng trưởng nhanh trước mắt mà liên tục bội chi ngân sách, cán cân thanh toán bị thâm hụt, nợ công liên tục tăng, ngấp nghé giới hạn của nguy cơ phá sản, thì không thể tồn tại lâu bền, nói gì đến phát triển.  “Không thể hy sinh môi trường để đánh đổi phát triển” là một sự lựa chọn đúng nhưng sẽ chỉ là khẩu hiệu nếu phát triển nhanh mà vẫn tiếp tục mô hình phát triển dựa vào khai thác tài nguyên. Lạm thác tài nguyên, hủy hoại môi trường tất yếu sẽ xảy ra.  Phát triển kinh tế không thể bền vững nếu sự phân hóa giàu nghèo ngày càng doãng ra. Chính sự phân hóa này giữa các quốc gia và trong lòng mỗi quốc gia tạo ra vòng xoáy bạo lực đang quét qua Trái đất và khiến cho các mục tiêu phát triển bền vững mà Liên hiệp quốc đưa ra khó khả thi.  Để đất nước phát triển bền vững, mọi quy hoạch, kế hoạch, dự án công trình đều phải đảm bảo đồng thời ba điều kiện tiên quyết: kinh tế tăng trưởng, công bằng và tiến bộ xã hội, và môi trường được bảo vệ.     Quản lý nhà nước trước tiên phải đảm bảo “đầu ra” của mọi quy hoạch, kế hoạch, dự án công trình phải nằm trong phần giao của ba điều kiện tiên quyết đó. Chẳng những trong khâu duyệt mà còn theo dõi, giám sát việc thực hiện các cam kết trong quy hoạch, dự án đầu tư, nhất là trong khâu xử lý các chất thải ra môi trường.  Các báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) đối với các quy hoạch, chính sách, và các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các dự án công trình phải được xây dựng nghiêm túc, nghiêm thu đúng luật định là những tài liệu bắt buộc khi trình dự án để được duyệt. Đây là những điều kiện cần dẫn đến phần giao “bền vững”.   Ở Việt Nam, luật pháp hiện hành có những quy định đối với các ĐMC, và ĐTM. Cho dù còn chưa hoàn thiện nhưng môi trường pháp lý tồn tại và ngày càng hoàn chỉnh.   Thế tại sao tình hình môi trường trên khắp đất nước có quá nhiều vấn đề?   Thử hỏi bao nhiêu quy hoạch, tổng thể, ngành ở phạm vị cả nước, vùng và điạ phương, bao nhiêu dự án đầu tư đã có báo cáo ĐMC và ĐTM nghiêm túc? Formosa, các nhà máy thủy điện trên các sông Đồng Nai, Sesan, Srepok, Vu Gia, sông Tranh, …, phát triển cà phê, cao su, ở Tây Nguyên, khai thác vàng, titan, …?  Trung Quốc, Malaysia, và nhiều nước khác… đã dừng khai thác bô-xít vì vấn đề môi trường trong lúc ở ta vẫn cứ tiếp tục mặc cho các khó khăn thêm về khan hiếm nguồn nước, điện năng và bị thua lỗ.  Dự án luồng cho tàu biển vào sông Hậu qua Kênh Quan Chánh Bố, mặc cho nhiều can ngăn và phản biện, vẫn được triển khai, vẫn nhận được kinh phí bổ sung cao hơn gấp ba lần dự toán ban đầu. Luật Bảo vệ môi trường đã bị lách một cách trắng trợn. Ảnh vệ tinh gần đây cho thấy nạo vét luồng mới là không tránh khỏi!  Ảnh vệ tinh ngày 10.04.2016. Luồng vào sông Hậu được đào mới thay thế Luồng Định An để tránh nạo vét hàng năm. Với màu phù sa trong ảnh, e rằng nạo vét sẽ còn bức bách hơn.  Không khó để giải mã đằng sau những câu chuyện trên đây, nguyên nhân chủ yếu là do năng lực quản lý đất nước, và lợi ích nhóm gắn liền với tham nhũng thao túng.  Thủ tướng Chính phủ vừa mới ra lệnh “đóng cửa rừng” và phải ngăn chận “lợi ích nhóm” chen vào trong khâu xây dựng luật và chính sách. Rất cần và rất đúng. Nhưng ai thực hiện và liệu sẽ thành công lần này?   Năng lực quản lý nhà nước có thể được nâng lên, cho dù “học phí” quá đắt. Nhưng nếu lợi ích nhóm chi phối ở khâu con người quản lý thì e rằng mục tiêu phát trển nhanh và bền vững sẽ rất xa vời.  Ở các nước tư bản, người ta gọi sự chi phối không lành mạnh của nhóm lợi ích là “tư bản lũng đoạn nhà nước”. Còn ở nước ta, liệu có tránh được vết xe này? Cử tri tự hỏi và chờ đợi thực tế trả lời.     Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Phát triển nông nghiệp Việt Nam: Kiến nghị một số giải pháp      Để cuộc cách mạng về tổ chức sản xuất nông nghiệp thành công thì những phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp nêu ra phải hướng vào việc hóa giải cho được những mâu thuẫn, những ‘nút thắt’ đã nêu (xem kỳ trước ‘Nông nghiệp Việt Nam: Những vấn đề tồn tại’, Tia Sáng số 21 năm 2020), sát hợp với tình hình cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế, đặt phát triển nông nghiệp trong dòng chảy của đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.      Trong cuộc cách mạng về tổ chức sản xuất nông nghiệp cần tập trung vào việc tái cơ cấu nông nghiệp cần tập trung mạnh vào tạo môi trường thuận lợi cho hình thành các chuỗi giá trị nông sản có hiệu quả và bền vững. Trong ảnh: Mô hình “cây xoài nhà tôi”, cho phép người mua xoài có thể đặt mua và theo dõi cây xoài mình mua tại tỉnh Đồng Tháp.  Nền tảng của nông nghiệp Việt Nam hôm nay là gần 10 triệu hộ tiểu nông riêng rẽ, với quan hệ chính là liên kết nhỏ. Trong tổng số gần 10 triệu hộ nông thôn, chỉ có 619 ngàn hộ tham gia mô hình liên kết ‘cánh đồng lớn’ có diện tích 579 ngàn ha. Diện tích sản xuất được ký hợp đồng bao tiêu chỉ có 169 ngàn ha, gần 90% là hợp đồng sản xuất lúa. Nông dân phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống thương lái và các đại lý trong việc mua bán đầu vào và đầu ra. Do đó, trong cuộc cách mạng về tổ chức sản xuất nông nghiệp cần tập trung mạnh vào tạo môi trường thuận lợi cho hình thành các chuỗi giá trị nông sản có hiệu quả và bền vững dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng miền, từng địa phương; tiếp tục tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng; nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ chế biến và chế biến sâu nông sản, tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh và có thị trường tiêu thụ; đa dạng hóa thị trường, trong nước và xuất khẩu; trong đó hỗ trợ và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị với ba nhóm sản phẩm OCOP chủ lực (nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, nhóm sản phẩm cấp tỉnh và nhóm sản phẩm cấp huyện).  Để làm được điều đó, nên chú trọng đến một số giải pháp cụ thể sau:     Gắn kết hữu cơ giữa phát triển đô thị và phát triển nông thôn. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là tất yếu, nhưng dường như thời gian qua mô hình tăng trưởng dựa vào các cực phát triển chưa gắn kết chặt chẽ giữa nông thôn và thành thị, khoảng cách nông thôn-thành thị, nông dân-thị dân, giàu-nghèo, miền xuôi-miền ngược đang doãng ra. Để thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị hóa từ 38,4% năm 2019, dự kiến vượt mốc 40% vào năm 2020 lên trên 50% vào năm 2035 mà không vướng phải các bất ổn xã hội mà các nước khác đã và đang vấp phải có lẽ chúng ta nên học tập mô hình đô thị hóa nông thôn của một số nước và vùng lãnh thổ, điển hình là Đài Loan, đã khôn khéo lựa chọn mô hình phát triển bao trùm, với đặc điểm là gắn kết đô thị lớn với phát triển nông thôn, hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh trong các vùng ‘lõi’ nông nghiệp, đẩy mạnh và ưu tiên quá trình đô thị hóa nông thôn (đô thị địa phương), phân cấp chức năng cho đô thị nhỏ, hình thành hệ thống đô thị – nông thị trên cả nước, ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Điều đó đã tạo ra ‘thị trường cả nước, sức mua toàn dân’. Hệ thống các đô thị này thực sự trở thành động lực để phân công nguồn lực, thu hút công nghiệp về nông thôn, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp để tái cơ cấu nông nghiệp, tạo ra các loại hình sinh kế phi nông nghiệp, hình thành thị trường lao động chính thức ở khu vực nông thôn.      Thực hiện quy hoạch nông nghiệp “thông minh” hướng tới thị trường mở, không nên cố định diện tích lúa, nhưng cần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phải bảo tồn được diện tích đất nông nghiệp. Cần thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp cho cả mục tiêu ngắn hạn (10-20 năm), trung hạn (20-30 năm) và dài hạn (50 hay 100 năm), để có chiến lược bảo tồn và sử dụng đất nông nghiệp thiết thực và hiệu quả trước khi thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Đối với các loại đất nông nghiệp, cần tạo điều kiện cho người sử dụng đất quyết định phương thức sử dụng từng loại đất phù hợp theo tín hiệu thị trường hơn là cố định phương thức sử dụng cho từng loại đất.      Đổi mới chất lượng lao động nông nghiệp. Nông nghiệp thời hội nhập cần phải có những người nông dân mới, do đó nhất thiết phải đầu tư phát triển nhân lực trong nông nghiệp để nông dân Việt Nam thực sự là những người lao động nông nghiệp chuyên nghiệp, sản xuất nông nghiệp theo tư duy công nghiệp, làm kinh doanh nông nghiệp và làm nông nghiệp là một nghề bình đẳng và cao quý như tất cả các nghề khác. Nhà nước có kế hoạch và chương trình hành động thiết thực để đổi mới về chất lượng lao động nông thôn, nhất là trong trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng.      Nhà nước thực sự đóng vai trò kiến tạo trong quá trình chuyển đổi sâu rộng của nông nghiệp và nông thôn. Nhà nước tập trung vào các hoạt động quản lý vĩ mô như xây dựng chiến lược, ban hành chính sách, đàm phán pháp lý, hỗ trợ phát triển thị trường, tập trung vào cung cấp các dịch vụ công mà hộ nông dân chưa thể tự đảm đương được (nghiên cứu cơ bản, khuyến nông cho địa bàn khó khăn, cung cấp thông tin thị trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, quản lý thị trường, chất lượng nông sản. v.v…). Không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ tìm kiếm lợi nhuận mà sẽ giao các hoạt động này cho tư nhân và nông dân, thông qua các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp và liên minh hợp tác xã (thực chất) và Hội Nông dân.     Cần cải thiện đầu tư công và cải thiện dịch vụ công trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn thông qua các chính sách hạn chế việc quy hoạch sử dụng đất cố định dài hạn. Giải quyết dứt điểm các tồn tại và khuyết tật của mô hình nông lâm trường quốc doanh để các đơn vị kinh tế này thể hiện rõ vai trò kinh tế nhà nước trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các quy định hỗ trợ phát triển thị trường đất đai, nhất là những cơ chế chính sách để tích tụ, tập trung ruộng đất nhằm thúc đẩy quy mô sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn. Tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư vào logistics nông nghiệp, hỗ trợ kết nối giữa nông dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn, nhất là công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Nhà nước cũng cần có chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, trong đó có việc xây dựng cơ chế quản lý rủi ro thông qua Quỹ Bảo hiểm nông nghiệp, quỹ tự nguyện hỗ trợ sản xuất của hợp tác xã; cung cấp thông tin thị trường; thực hiện vai trò đồng quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng quản lý an toàn thực phẩm.     Cần có một hệ thống chính sách đột phá để hợp tác xã phát triển vượt trội, tổ chức lại sản xuất nông nghiệp. Bằng các hình thức hợp tác, tổ chức liên kết, có sự tham gia sâu rộng của các doanh nghiệp. Xây dựng hợp tác xã kiểu mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã 2012 nhằm phát triển hợp tác xã theo hướng hình thành chuỗi giá trị nông sản hàng hóa, trong đó hợp tác xã là một tác nhân trong chuỗi, giữ vai trò quy tụ nhiều nông dân nhỏ để ‘làm bạn’ với doanh nghiệp lớn vươn tới thị trường toàn cầu trên ‘đôi chân’ nhỏ bé của nông hộ. Liên minh hợp tác xã phải được phân cấp để có năng lực tham gia cung cấp vốn, vật tư, thiết bị cho nông dân và kinh doanh tiêu thụ nông sản, trở thành chỗ dựa chính, hỗ trợ nông dân trên thị trường, chứ không phải là chỉ một tổ chức trung gian, ‘ăn ké’ nhà nông; trên cơ sở đó, tham gia các hoạt động bảo vệ sản xuất, đời sống và nâng cao phúc lợi cho cư dân nông thôn. Có như vậy thì các nông hộ nhỏ lẻ mới có thể sản xuất hướng tới thị trường, chấm dứt vận hành sản xuất theo ‘chủ nghĩa trọng cung’ và vấp phải tình trạng ‘giải cứu’ hết dưa hấu đến lợn trong nhiều năm nay để chuyển sang sản xuất theo ‘chủ nghĩa trọng cầu’.     Hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh các rào cản về điều kiện kinh doanh nông nghiệp, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, cũng như các cơ chế chính sách hỗ trợ để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Tập trung thúc đẩy hoạt động liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị với vai trò dẫn dắt kinh tế nông thôn thuộc về doanh nghiệp.     Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ làm cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng. Lưu ý là các chuỗi cung ứng toàn cầu đang ngày càng mang tính thâm dụng tri thức (knowledge-intensive) hơn là phụ thuộc vào lao động kỹ năng cao. Trong khi các công ty về máy móc và thiết bị dành 36% doanh thu cho R&D và tài sản vô hình, các công ty dược phẩm và thiết bị y tế dành trung bình 80% doanh thu cho R&D nhưng ngành nông nghiệp toàn cầu chỉ dành 5% doanh thu cho điều này, thấp hơn mức trung bình của tất cả các ngành. Vì vậy Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn vào lĩnh vực này.     Nâng cao năng lực ứng phó và quản lý rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu, dịch bệnh và tăng cường quản lý môi trường. Tăng cường đầu tư công vào các công trình phòng, chống thiên tai, giảm tác động bất lợi về môi trường, dự báo, giám sát và phòng ngừa dịch bệnh; tăng cường quản lý chất thải nông nghiệp, áp dụng các biện pháp giảm khí thải nhà kính. Cải thiện hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và gắn kết hệ thống này với dịch vụ tư vấn nông nghiệp. Thay đổi phương pháp canh tác và lựa chọn giống phù hợp với các vùng đất chịu tác động của biến đổi về khí hậu. Xây dựng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) để có thể giải quyết được những thách thức mới nảy sinh của quá trình biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và sự bùng phát của các loại dịch bệnh cũ và mới. Cần đặc biệt quan tâm tới quản lý môi trường thông qua kiểm soát chặt chẽ các chỉ số môi trường.      Xây dựng và thực thi chiến lược quốc gia về an ninh chuỗi cung ứng. Đại dịch Covid-19 đã tạo ra một cú sốc đối với hoạt động sản xuất của toàn cầu, nhưng cũng mở ra cơ hội đối với nền kinh tế kĩ thuật số trong đó việc tìm kiếm nguồn cung, tổ chức sản xuất và phân phối đều được ‘số hóa’ với tốc độ và quy mô lớn chưa từng thấy. Chuỗi cung ứng đang trải qua một quá trình chuyển đổi nhanh chóng với nhiều đặc điểm khác trước, sẽ khiến một số quốc gia đánh mất lợi thế trước đây với tư cách một mắt xích trong chuỗi. Để thúc đẩy nền kinh tế cho năng suất cao hơn, chất lượng hơn, bền vững hơn (cả trên khía cạnh chính trị, kinh tế và môi trường) Việt Nam cần tăng cường kết nối sản xuất trong nước vào các chuỗi cung ứng mới ở khu vực và toàn cầu nhưng cần đặc biệt chủ động tổ chức lại chuỗi cung ứng các ngành hàng nông sản nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng để đối phó với dịch bệnh, các thảm họa tự nhiên và các bất ổn về địa chính trị hay các rủi ro về tài chính, giá cả… để đảm bảo cho việc trở thành một quốc gia tự chủ, tự cường.      Kết luận     Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và thương mại hóa với qui mô lớn, với yêu cầu phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và bền vững, đứng trước xu hướng hội nhập quốc tế đang mở ra nhiều cơ hội song cũng tạo ra nhiều thách thức, đòi hỏi cần phải nhanh chóng tháo gỡ các nút thắt thể chế và công nghệ; để xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam tiên tiến, kế thừa các truyền thống vẻ vang của nền nông nghiệp đã qua, đồng thời đưa nền nông nghiệp nước ta phát triển lên tầm cao mới. Ở đó, mỗi nông dân đồng thời là một doanh nhân, đồng thời là một chuyên gia trên đồng ruộng, trong trang trại của họ như các đồng nghiệp ở Hà Lan, Israel, Úc hay Nhật Bản; họ thực sự giàu có trên quê hương yên bình được đô thị hóa mạnh mẽ nhưng vẫn giữ nguyên được các giá trị cốt lõi của văn hóa Việt, của tâm hồn Việt. □  Về cơ bản, chúng ta phải chuyển từ tái cơ cấu sản xuất chỉ dựa trên thay đổi kết cấu ngành hàng và sản phẩm hiện nay sang tái cơ cấu thực sự theo chiều sâu về ba lĩnh vực: một là giải quyết vấn đề thị trường cho nông sản; hai là áp dụng được khoa học và công nghệ; ba là đổi mới thể chế tổ chức sản xuất nông nghiệp, cụ thể là phát triển kinh tế hợp tác và xây dựng chuỗi giá trị. Đây mới chính là các điểm đột phá để thay đổi về cơ bản khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Phát triển thị trường  để bảo vệ chủ quyền biển      Lịch sử cho thấy các đặc thù phát triển thị trường là yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp tới vận mệnh các quốc gia ven biển. Những khu vực có tính tương tác đa cực cao  và thuận tiện cho giao thương sẽ có ưu thế vượt trội để phát triển đi  trước. Ngược lại, những khu vực bị cô lập và thị trường kém phát triển  thường xuyên đối diện với nguy cơ tụt hậu và mất an ninh chủ quyền.    Xuyên suốt lịch sử, bài học về sự hưng thịnh của các quốc gia thường gắn liền với khả năng duy trì giao thương trên biển. Biển cả không chỉ là cầu nối trao đổi hàng hóa, mà còn kết nối giúp lưu thông tri thức khoa học và văn hóa. Tuy nhiên, trong lịch sử của mình, Việt Nam dường như chưa khai thác được nhiều các lợi thế từ biển, dù có một đường bờ biển dài, giáp với Thái Bình Dương và nằm cách không xa Ấn Độ Dương là bao. Điều này liên quan trực tiếp tới một thực tế là nước ta thiếu vắng một thị trường đủ mạnh giúp duy trì đều đặn các tuyến giao thương trên biển.   Thời kỳ cổ đại: thị trường lệ thuộc nhiều vào yếu tố địa lý  Thị trường mạnh sẽ tạo ra động cơ tài chính để tổ chức giao thương, và ngược lại, giao thương phải thuận tiện thì thị trường mới hình thành. Nhưng một điều kiện rất quan trọng khác để hình thành thị trường là giữa các địa phương phải có sự khác biệt tương đối về sản vật được đem đi buôn bán, trao đổi.   Ở đây, một câu hỏi cần đặt ra là: vì sao trong số rất nhiều quốc gia cổ đại nằm cạnh biển, chỉ có khu vực các nước lân cận Địa Trung Hải được chứng kiến những sự tương tác và giao lưu mạnh mẽ để có thể phát triển cùng một lúc vài ba nền văn minh rực rỡ? Câu trả lời là Địa Trung Hải rất khác với những vùng biển cổ đại khác, được vây bọc bởi những vùng thổ nhưỡng khác nhau với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Mỗi địa phương có một nguồn nguyên liệu và sản vật thiết yếu riêng, từ đồng, sắt, đá hoa cương, kim loại quý, tới dầu ôliu, lúa mạch, rượu nho, v.v. Điều kiện tự nhiên như vậy kết hợp với đặc thù khí hậu ôn hòa, thời tiết, tạo thuận lợi rất lớn cho các hoạt động buôn bán trao đổi bằng đường biển. Nhờ đó, các thị trường và các nền văn minh cổ như Ai Cập, Lưỡng Hà, và Hy Lạp có thể dễ dàng kết nối nhau, kích thích nhau phát triển.   So với khu vực Địa Trung Hải thì khu vực Đông Nam Á cũng là một quần thể các quốc gia ven biển, nhưng điều kiện tự nhiên hạn chế và khắc nghiệt hơn nhiều. Từng quốc gia riêng lẻ thường bị rừng nhiệt đới che phủ một phần đáng kể diện tích. Điều kiện thổ nhưỡng giữa các vùng không khác biệt nhau đáng kể. Những nền văn minh cổ phát triển trong điều kiện như vậy nhìn chung đều dễ bị giới hạn trong phát triển, và khó hình thành nên những thị trường kinh tế lớn.  Do trình độ đóng tàu và đi biển của con người thời kỳ cổ đại chưa cao nên việc di chuyển gặp nhiều khó khăn, không thể đi quá xa bờ. Trong khi người Địa Trung Hải có thể men theo bờ để buôn bán tự do giữa những trung tâm kinh tế lớn, từ Hy Lạp sang Lưỡng Hà và Ai Cập, thì các cộng đồng cổ ở Đông Nam Á chỉ có thể đi loanh quanh trong phạm vi hẹp, giao thương một cách hạn chế giữa những nền kinh tế nhỏ. Thị trường hạn chế khiến họ càng không thể đủ tài lực tổ chức nhiều những chuyến viễn dương xa xôi.  Trung đại và cận đại: đơn cực và thiếu giao lưu dẫn đến tụt hậu  Tính chất đa cực trong khu vực và khả năng lưu thông thuận tiện giữa các quốc gia châu Âu trong một giai đoạn dài trong lịch sử, đặc biệt là từ thời kỳ Phục hưng, đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật. Nếu mỗi quốc gia khép kín tự lực tìm tòi thì thành quả khoa học sẽ bị hạn chế, nhưng nếu giữa các quốc gia có sự cọ xát, tương tác, thì khoa học sẽ được thường xuyên bồi đắp và dễ dàng cất cánh hơn.   Nếu đối chiếu với phần còn lại của thế giới, đơn cử lấy Trung Quốc làm đại diện nổi bật nhất, chúng ta cũng thấy rằng Trung Quốc phát triển tiến bộ nhanh nhất là vào thời kỳ cổ đại, khi quốc gia này duy trì được tính đa cực khi vẫn còn phân chia thành các nước nhỏ hơn. Còn sau khi Trung Quốc đã thống nhất thì phát triển mạnh nhất là vào thời nhà Đường, khi giao thương với phương Tây được duy trì tích cực qua con đường tơ lụa.            Tình trạng bị cô lập và những điều kiện không thuận lợi về địa lý, đã khiến Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác bị tụt hậu với phương Tây.         Nhưng kể từ khi Trung Quốc thống nhất thì tính cạnh tranh và tính tương tác đa cực giữa các cộng đồng độc lập không còn nữa. Tính đồng nhất trong một xã hội khép kín gây trì trệ cho khoa học kỹ thuật. Xu hướng này càng gia tăng khi con đường tơ lụa rơi vào suy thoái kể từ khi người Hồi giáo nổi lên kiểm soát Trung Đông, khiến sự giao thương và lưu thông tri thức giữa Trung Quốc với phương Tây bị chặn lại. Hệ quả là châu Âu đạt được sự vượt trội về trình độ khoa học kỹ thuật so với Trung Quốc cũng như toàn bộ phần còn lại của thế giới.  Tiến bộ về trình độ công nghệ của châu Âu khiến người châu Âu đủ sức thường xuyên tổ chức những chuyến vượt đại dương, qua đó bắt đầu triển khai được một mạng lưới thị trường toàn cầu. Trong khi đó ở Trung Quốc, triều đình nhà Minh cũng tổ chức được một số chuyến viễn du hồi đầu thế kỷ 15 do đô đốc Trịnh Hòa thực hiện, nhưng những chuyến đi này mang tính chất chính trị và ngoại giao, chứ không đem lại giá trị gia tăng về kinh tế để tạo ra động lực cho những chuyến viễn du tiếp theo. Hay nói theo cách khác, công nghệ chinh phục biển của Trung Quốc vào thời kỳ ấy chưa đạt tới tầm thị trường hóa.  Sự tụt hậu của Trung Quốc so với phương Tây là điển hình chung cho một châu Á thua thiệt do điều kiện địa lý hạn chế và sự đơn điệu về địa chính trị tạo ra những khu vực trì trệ, kém phát triển. Do bối cảnh ấy, trong một giai đoạn dài sau này châu Á từng bước bị biến thành thuộc địa để phương Tây khai thác.    Như vậy, tình trạng bị cô lập và những điều kiện không thuận lợi về địa lý đã khiến Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác bị tụt hậu với phương Tây trong phát triển khoa học và kinh tế nói chung, cũng như về giao thương trên biển nói riêng. Không thể nói rằng cha ông chúng ta thiếu tham vọng chinh phục biển. Tới cuối thế kỷ 15, khi Đại Việt hoàn tất chinh phục Champa để kết thúc một thời kỳ dài những cuộc chiến tranh qua lại, chưa kịp ổn định khai phá thì tới đầu thế kỷ 16, xảy ra sự kiện người Bồ Đào Nha chiếm eo biển Malacca. Kể từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á và Đông Á đứng trước nguy cơ bị thực dân hóa. Trong bối cảnh ấy, tâm lý ngờ vực, thu mình cố thủ của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, là điều có thể hiểu được.   Vận mệnh người đi sau: tùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường  Lợi ích kinh tế là động lực chính đằng sau các hoạt động chiếm thuộc địa và mở rộng thị trường của phương Tây. Tự thân việc chiếm thuộc địa cũng là một cách để mở rộng thị trường, nhưng không phải là cách duy nhất. Đối với những nơi đã sẵn có một thị trường ổn định phù hợp để khai thác đem lại nguồn lợi cho các nhà buôn thì việc chiếm thuộc địa đôi khi trở nên không cần thiết, thậm chí còn gây hại cho chính quốc gia đi xâm chiếm thuộc địa.   Trường hợp của Bồ Đào Nha tại eo biển Malacca là một ví dụ. Với tham vọng độc chiếm cửa ngõ thương mại của Đông Nam Á và Đông Á, vào năm 1511 Bồ Đào Nha tập trung một lực lượng lớn chiến thuyền và quân đội xâm lược Malacca. Nhưng điều này hóa ra lại tai hại, biến khu vực này từ một khu vực thương mại thuận tiện trở thành bất ổn định, gây khó khăn cho giao thương, và hệ quả là sau một thời gian sa lầy, người Bồ Đào Nha bị Hà Lan hất cẳng khỏi Malacca vào thế kỷ 17.  Trường hợp của Thái Lan và Nhật Bản là ví dụ điển hình cho những nước thoát khỏi số phận thuộc địa nhờ đã có được thị trường ổn định, thuận tiện cho việc phát triển giao thương để đem lại lợi nhuận cho phương Tây. Đa phần những khu vực ven biển kém phát triển khác ở châu Á không có được may mắn này. Trong số đó, Ấn Độ và Indonesia là những nơi chưa có nền hành chính đủ mạnh (Ấn Độ trong giai đoạn này thậm chí chưa thể coi là một quốc gia), khiến thị trường bị phân tán rời rạc. Ngược lại, Việt Nam và Trung Quốc đã có một nền hành chính có tính kiểm soát tương đối mạnh, các thị trường trong nước đã khá phát triển, nhưng lại bị hạn chế do chính quyền phong kiến thi hành chính sách bế quan tỏa cảng.    Những quốc gia nói trên đều chưa kịp phát triển một thị trường ổn định và đều đã bị phương Tây chiếm toàn bộ hoặc một phần ven biển làm thuộc địa. Những vùng thuộc địa này trở thành điểm đặt chân để phương Tây khai thác tài nguyên, hoặc làm bàn đạp mở rộng thị trường vào sâu trong nội địa. Ví dụ như trường hợp thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, có lẽ động cơ ngay từ ban đầu không chỉ dừng lại ở Việt Nam, mà cái đích chiến lược nhắm tới là toàn bộ Đông Dương.  Vấn đề của Việt Nam trong bối cảnh hiện đại    Trong thế giới hiện đại, sau khi các cuộc chiến tranh lớn và Chiến tranh Lạnh qua đi, thị trường toàn cầu đã đi vào ổn định. Các quốc gia tập trung vào phát triển kinh tế, hướng tới giao thương ngày một tự do hơn, và đặc biệt tránh các cuộc xung đột. Những cuộc xung đột lớn dẫn đến xảy ra chiến tranh trên diện rộng như ở Iraq, hay như ở Libya vừa qua là không phổ biến.            Chủ quyền của Việt Nam vẫn có thể bị ăn mòn dần dần qua các xung đột quy mô nhỏ.          Tại châu Á, sau khi Trung Quốc mở cửa giao thương với Mỹ và phương Tây, tiềm lực và địa vị cường quốc của họ từng bước hồi phục và ưu thế ấy nhanh chóng được chuyển hóa thành đòi hỏi chủ quyền trên biển Đông. Trong khi đó, suốt một giai đoạn dài thị trường của Việt Nam bị cô lập, giao thương bị hạn chế. Trong thế yếu đó, chúng ta bị mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa mà không được ai can thiệp, hỗ trợ.   Tuy nhiên, cùng với xu hướng chung của thế giới, khả năng trong thời gian tới xảy ra xung đột lớn dẫn đến mất chủ quyền của Việt Nam trên diện rộng ở biển Đông là điều khó xảy ra. Hơn nữa, cộng đồng thế giới khó lòng làm ngơ để xảy ra bất ổn trên diện rộng ở biển Đông, vì điều này sẽ ảnh hưởng tới nhiều bên liên quan, đặc biệt là gây gián đoạn các tuyến giao thương quốc tế.   Tuy nhiên, chủ quyền của Việt Nam vẫn có nguy cơ bị ăn mòn dần dần qua các xung đột quy mô nhỏ. Thực tế thì điều này đã xảy ra trong quá khứ, và vẫn có thể tiếp tục lặp lại trong tương lai. Ví dụ, kịch bản trong tương lai có thể xảy ra là một quốc gia thăm dò dầu khí, và triển khai xây dựng dàn khoan trong khu vực tranh chấp. Một diễn biến như vậy không đủ lớn để gây ra xung đột trên diện rộng, càng khó thu hút sự quan tâm và can thiệp của cộng đồng quốc tế.   Tiềm lực hải quân của Việt Nam hiện nay chưa phù hợp với các kịch bản xung đột quy mô nhỏ như trên, do chưa có những chiến hạm lớn. Những con tàu tuần tiễu loại nhỏ không giúp được gì trong các kịch bản này, trong khi các loại vũ khí hiện có như hỏa tiễn, và tàu ngầm chỉ phù hợp cho việc xuất kích chớp nhoáng, tuy là những loại vũ khí rất cần thiết cho việc phòng thủ và tấn công khi nổ ra chiến tranh, nhưng trong thời bình thì không thể dùng được do điều này đồng nghĩa với việc tuyên chiến. Các phi cơ chiến đấu mà chúng ta đang sắm về là công cụ có chức năng vừa công, vừa thủ, nhưng lại không thể được duy trì thường trực cố định trên mặt biển tại vị trí tranh chấp.   Với những tranh chấp quy mô nhỏ như trong bối cảnh thời bình hiện nay, các chiến hạm lớn có vai trò đáng kể. Chúng có thể được triển khai thường trực ngay tại những điểm tranh chấp, với mục tiêu thực chất không phải là để chiến đấu, mà là để thị uy. Có thể hiểu hoạt động mua các chiến hạm lớn gần đây của Philippines là nhằm mục tiêu này. Thực tế cho thấy việc thị uy trực tiếp như vậy đôi khi là cách hữu hiệu để bảo tồn chủ quyền. Chẳng hạn như gần đây, Nhật Bản không hề thua kém Nga về trình độ công nghệ, nhưng vẫn phải chịu lép vế trước Nga do thiếu sự hiện diện về quân sự tại khu vực tranh chấp chủ quyền.   Cần chú trọng cho phát triển thị trường  Bài học lịch sử lớn nhất về an ninh biển mà chúng ta có thể rút ra cho Việt Nam là cần đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế. Những giai đoạn thị trường của chúng ta bị cô lập do nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì đều kéo theo nguy cơ cao bị tụt hậu và mất an ninh chủ quyền.   Sự đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, đặc biệt là các cường quốc, trong thời gian qua là đúng đắn, nhưng chưa đủ. Chúng cần được bảo chứng bằng những lợi ích kinh tế, đặc biệt là các hoạt động thương mại trên biển. Các hoạt động giao thương quốc tế nếu được tích cực đẩy mạnh trong vòng chủ quyền của Việt Nam sẽ biến quyền lợi về an ninh biển của Việt Nam thành vấn đề an ninh của đối tác quốc tế. Những dàn khoan dầu ngoài khơi của chủ đầu tư từ các cường quốc khác nhau liên doanh với Việt Nam sẽ làm tăng cam kết đảm bảo an ninh giữa các bên liên quan. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các tuyến đường giao thông kết nối thị trường của Lào với các cảng biển chiến lược của Việt Nam cũng sẽ làm nâng tầm quan trọng của tuyến đường biển quốc tế qua các hải cảng của Việt Nam.  Nhưng giải pháp cơ bản nhất là Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện năng lực thị trường của mình nhằm tạo sự gắn bó lâu dài với thị trường quốc tế. Một thị trường yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu, thì việc xây dựng nhiều cảng biển, nhiều dàn khoan dầu ngoài khơi, sẽ không làm tăng tính kết nối quốc tế trong lâu dài mà chỉ tạo điều kiện để nước ngoài rút kiệt tài nguyên tự nhiên hiện có của quốc gia.            Sự phát triển đúng hướng về tiềm lực quân sự cũng sẽ làm tăng vị thế của quốc gia trên các bàn đàm phán, tức là giúp tăng triển vọng cho hòa bình và ổn định.          Việc phát triển thị trường cần song hành đồng bộ với khả năng bảo vệ thị trường. Sự phát triển đúng hướng về tiềm lực quân sự cũng sẽ làm tăng vị thế của quốc gia trên các bàn đàm phán, tức là giúp tăng triển vọng cho hòa bình và ổn định. Trong đó, về lâu dài khi khả năng kinh tế đáp ứng được thì việc mua các chiến hạm lớn là cần thiết. Chúng có thể được triển khai tại các điểm tranh chấp, buộc đối phương phải rút lui khỏi các hoạt động xâm phạm chủ quyền, ví dụ như thăm dò hay xây dựng cơ sở khai thác dầu khí, hoặc đe dọa phong tỏa các tuyến giao thương huyết mạch trên biển của quốc gia.     Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Phát triển và nuôi dưỡng tố chất lãnh đạo      Tiềm năng của Việt Nam, của cả nước v&#224; trong từng con người l&#224; rất lớn; thế nhưng n&#243; dường như đang thiếu một yếu tố then chốt để bật dậy v&#224; ph&#225;t huy mạnh mẽ. Cả nước cũng như rất nhiều c&#225; nh&#226;n đang ph&#225;t triển thấp xa so vơi tiềm năng hiện c&#243; của m&#236;nh.  Ch&#236;a kh&#243;a để khắc phục hiện trạng n&#224;y l&#224; bồi dưỡng v&#224; ph&#225;t triển &#8220;tố chất l&#227;nh đạo&#8221; trong mỗi con người Việt Nam v&#224; đ&#226;y cần được coi l&#224; một nội dung trọng yếu của Cải c&#225;ch Gi&#225;o dục(CCGD) n&#243;i chung v&#224; Cải c&#225;ch Gi&#225;o dục Đại học(CCGDĐH) n&#243;i ri&#234;ng.      Tố chất lãnh đạo là gì?  Mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức, cộng đồng, và dân tộc tại mỗi thời điểm có những tiềm năng nhất định cho phát triển của mình. Tiềm năng này được đặc trưng bởi các định tố về thể chất, trí tuệ, văn hóa, trải nghiệm, nguồn lực vật chất, quan hệ xã hội, và các cơ may hay vận hội.           Tố chất lãnh đạo có thể coi là sự tổng hòa của ba yếu tố nền tảng Lòng khát khao học hỏi, Tư duy, và Tầm vóc.        Tố chất lãnh đạo là khả năng và phẩm chất giúp con người trong nỗ lực tạo nên giá trị mới cho xã hội, thông qua khai thác và phát triển tiềm năng của chính bản thân mình và của tổ chức mà họ lãnh đạo. Tố chất lãnh đạo cũng giúp mỗi cá nhân có tác động tích cực đến các cá nhân khác thông qua các quan hệ tương tác.   Thiếu tố chất lãnh đạo sẽ làm cho cá nhân không chỉ không phát huy hết tiềm năng của bản thân và của tổ chức mà mình lãnh đạo mà còn làm nó thui chột theo thời gian. Một con người, một gia đình, một tổ chức, hay một quốc gia, qua thời gian sẽ chỉ có tiến lên hoặc đi xuống. Các đối tượng này sẽ đi lên hay đi xuống?; nếu đi lên thì đi lên được bao xa? Nếu đi xuống, thì đi xuống đến mức nào? Tất cả những điều này tùy thuộc một phần quyết định vào tố chất lãnh đạo trong từng cá nhân, từng gia đình, từng tổ chức, và cả xã hội.  Tố chất lãnh đạo có thể coi là sự tổng hòa của ba yếu tố nền tảng Lòng khát khao học hỏi, Tư duy, và Tầm vóc.   + Lòng khát khao học hỏi hàm chứa khả năng và tính cầu thị trong học hỏi cái mới của tri thức khoa học, cái tinh hoa của nhân loại. Phẩm chất này thể hiện khả năng và nỗ lực vươn lên của cá nhân. Người Việt Nam ta có thế mạnh tiềm tang về yếu tố này.  + Tư duy bao hàm khả năng nhận thức thấu đáo cơ hội, thách thức, và qui luật phát triển; ý thức học hỏi và kiểm nghiệm chân lý từ thực tiễn cuộc sống; và khả năng nhận ra cái hay, cái tốt đẹp của đồng đội và đối tác. Người Việt Nam ta còn nhiều hạn chế về yếu tố này. Dân tộc Việt Nam ta với lịch sử lâu dài bị chà đạp và áp bức để rồi phải vùng lên giành độc lập với sự hy sinh vô bờ bến nên có tính xúc cảm rất cao; do đó ảnh hưởng đến tính sáng suốt của nhận thức, và tính chiến lược trong quyết định, và tính thực tiễn trong hành động.             5 điều kiện cần để GDĐH thành công  1.    Cả xã hội phải bước vào một thời kỳ cải cách sống động, với tầm nhìn sáng rõ về tương lai và công cuộc phát triển được thực hiện trên nền tảng của tri thức khoa học và lòng nhân bản. Nếu xã hội còn mơ hồ về tầm nhìn, hạn hẹp về tư duy, và không ngăn chặn được tham nhũng và tệ nạn thì cải cách giáo dục GDĐH chắc chắn sẽ gặp phải những trở ngại khó vượt qua.  2.    Cải cách giáo dục cần được tiến hành đồng bộ và mạnh mẽ ở cấp phổ thông để đảm bảo cho GDĐH nguồn đầu vào phong phú, chất lượng, và được đánh giá chính xác.  3.    Các cơ quan tuyển dụng, đặc biệt là khu vực Nhà nước, thực sự phải cạnh tranh trong tìm kiếm,  sử dụng hiệu quả, và nuôi dưỡng phát triển nguồn nhân lực có giá trị cao trên cả bốn mặt, phẩm chất, tư duy, kiến thức, và kỹ năng. Nếu bộ máy công quyền, thông qua thực tế tuyển dụng, truyền đi những thông điệp rằng tài năng không thể thay thế cho chạy chọt, phẩm chất là thứ yếu so với quyền lực và vị thế gia đình thì cải cách GDĐH sẽ bị yếu đi rất nhiều vì về lâu dài, sự tinh tế và lành mạnh của nhu cầu luôn là yếu tố quyết định đến chất lượng cung.  4.    Nhà nước và các doanh nghiệp có nhu cầu gia tăng thực sự hàm lượng trí tuệ trong các quyết định quan trọng của mình.   5.    Môi trường tự do sáng tạo và dân chủ chân chính được kiến tạo, dung dưỡng, và trân trọng, trước hết ở các trường đại học, và từng bước mở rộng ra toàn xã hội. Thông tin cung cấp cho xa hội và các nhà nghiên cứu minh bạch, khách quan, và ngày càng phong phú.           + Tầm vóc thể hiện ở khả năng học hỏi và lớn lên từ mỗi thất bại hay thách thức mà chính mình gặp phải. Người ta chỉ có thể lớn lên nếu thấy mình còn quá nhiều khiếm khuyết và trăn trở vì sinh ra trên đời mà chưa đóng góp gì được cho cộng đồng. Người Việt Nam ta còn rất yếu về điểm này. Bị đọa đày nhiều bởi ách ngoại xâm, chúng ta thường thiên về đổ lỗi cho khách quan, hơn là xem lại lỗi của chính mình một cách sâu sắc khi gặp phải một thất bại hay thách thức. Đã từng làm nên nhiều chiến thắng oanh liệt nhờ khát vọng độc lập vô song của cả dân tộc, chúng ta vô hình trung ngộ nhận về mình và có nguy cơ trở thành những người hiếu thắng, sợ thất bại. Vì đã chịu nhiều đau thương trong chiến tranh, cộng với vị trí địa lý lý tưởng, nên chúng ta đang được ưu ái rất nhiều bởi cộng đồng thế giới, từ viện trợ ODA đến đầu tư FDI. Vì vậy chúng ta hiện đang thiên về “nhận” và “trách móc” nhiều hơn là “đóng góp” và “trăn trở” cho sự phát triển của nhân loại.  Cơ chế nội sinh để nuôi dưỡng và rèn luyện tố chất lãnh đạo   Nhu cầu của mỗi con người ta phát triển theo năm thứ bậc chính. Thang bậc thấp nhất là Nhu cầu Vật chất để sinh tồn (như ăn, ở); thang bậc thứ hai là Nhu cầu An sinh (an ninh, lo lúc ốm đau, già yếu); thang bậc thứ ba là Nhu cầu Thấu cảm (tình bè bạn, cộng đồng); thang bậc thứ tư là Nhu cầu Huân dự (được sự trân trọng, ghi nhận bởi cộng đồng, Nhà nước, và xã hội), và thang bậc thứ năm, cao nhất, đó là Nhu cầu Lý tưởng, thường chỉ đạt được khi làm được một sứ mệnh cao cả (theo đuổi khát vọng, sáng tạo, chân lý, hay hiến dâng cho cộng đồng).   Theo mô hình này, với đại đa số, trong điều kiện thông thường, con người ta sẽ bước lên nhu cầu ở thang bậc cao hơn khi và chỉ khi các nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được thỏa mãn. Vì thế thỏa mãn nhu cầu ở mỗi mức tạo động lực đẩy nhu cầu của con người cao lên.  Một mặt khác, nếu con người ta được dung dưỡng trong một môi trường phát triển lành mạnh, có khát vọng lớn lao, khích lệ lòng cao thượng và trân trọng phẩm chất hiến dâng, nhu cầu của con người sẽ chuyển từ bậc thấp đến bậc cao hơn hanh thông hơn vì họ có cơ hội được thỏa mãn nhiều hơn ở nhu cầu cao hơn; đặc biệt là các nhu cầu thấu cảm, huân dự, và sứ mệnh cao cả. Vĩ vậy, tạo ra một môi trường phát triển phấn khích trong khát vọng chung tạo nên động lực kéo rất mạnh mẽ để cả xã hội phấn chấn và ngày càng hạnh phúc trên con đường đi đến phồn vinh.  Thế nhưng, trong thực trạng nước ta hiện nay, tính quan liêu và vô cảm của bộ máy Nhà nước làm nhu cầu thấu cảm của người dân bị tổn thương. Tình trạng mua bán huân dự phổ biến làm nhu cầu huân dự bị bôi nhọ. Đất nước thiếu tầm nhìn và khát vọng phát triển làm nhu cầu hiến dâng bị tê liệt. Vì vậy, cả xã hội bị luẩn quẩn trong xoay sở thỏa mãn các nhu cầu vật chất và an sinh, với sự biến dạng ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh nay, tố chất lãnh đạo trong người Việt Nam đang bị bào mòn và có nguy cơ bị thui chột. Buôn lậu, dối trá, vi phạm luật pháp, thiếu lòng vị tha và phẩm chất hiến dâng đang ngày càng trở lên phổ biến trong xã hội.  CCGD, đặc biệt là CCGD ĐH cần hình thành và gia cường cơ chế nội sinh để phát triển và rèn luyện tố chất lãnh đạo theo mô hình 5-R sau đây:  1. Respect: Đó là sự trân trọng mọi người dù họ có trái ý kiến với mình hoặc thua kém mình rất nhiều. Tố chất lãnh đạo giúp mọi người thấu hiểu sâu sắc rằng họ cần phải và có thể học được rất nhiều điều giá trị từ người phản đối mình và từ người thua kém mình.   2. Research: Đó là sự nghiên cứu thấu đáo mỗi vấn đề mà mình bàn luận, đánh giá, hoặc đưa ra quyết định. Rèn luyện phẩm chất này giúp mỗi người sâu sắc trong suy xét, thông tuệ hơn trong khai thác túi khôn tri thức của nhân loại, và quyết định tối ưu hơn về cả tính hiệu quả và tầm chiến lược cho bản thân và tổ chức mà mình lãnh đạo.    3. Review: Đó là phẩm chất tự xem lại mình, đặc biệt trước mỗi khó khăn hay thất bại. Phẩm chất này loại bỏ tính đổ cho khách quan, kiêu căng tự mãn, thích nghe phỉnh nịnh.  4. Resiliance: Đây là tính kiên cường và quyết chí theo đuổi mục tiêu, dù phải vượt qua những thách thức và thất bại ghê gớm.  5. Reform: Đây là khả năng tạo nên những đổi thay căn bản trong cục diện phát triển của cá nhân và tổ chức mình lãnh đạo trên cơ sở dũng cảm nhận thức lại căn bản tính đúng đắn của chặng đường đã qua, những thách thức và cơ hội đang và sẽ đến, với tầm nhìn và trách nhiệm sâu sắc với tương lai.     ***  CCGDĐH ở Việt Nam không thể thành công bằng một số nỗ lực đầu tư cơ sở vật chất hay cải tiến giáo trình mà nó chỉ có thể thành công khi cả nước bước vào một cao trào cải cách duy tân mạnh mẽ. Khát vọng vươn lên của cả dân tộc giúp giáo viên và học sinh làm nỗ lực hết sức mình trong điều kiện vật chất còn hạn hẹp; tầm nhìn và sự giải phóng về tư tưởng giúp việc nghiên cứu và giảng dạy đạt mức cao nhất về sáng tạo và hiệu quả chiến lược trong điều kiện kiến thức và trình độ khởi đầu còn thấp; sự sống động và minh bạch của thiết chế xã hội trên nền tảng của dân chủ và tôn trọng tự do cá nhân giúp con người thấy phấn chấn và hạnh phúc được đóng góp cho dù mức đãi ngộ còn khiêm tốn.  Trong các nỗ lực CCGD, đặc biệt là CCGDĐH, phát triển, nuôi dưỡng, và rèn luyện tố chất lãnh đạo cần là một nội dung trọng tâm, có vai trong nền tảng cho sự thành công của công cuộc cải cách. Tố chất lãnh đạo cần trở thành một lợi thế ưu tú của người Việt Nam trong tương lai, giúp họ phát huy hết khả năng tiềm tàng của mình không chỉ trong công cuộc xây dựng đất nước mà cả trong nỗ lực đóng góp vào tiến trình phát triển chung của nhân loại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vì hạnh phúc của con người      Kể từ tuyên bố Thiên niên kỷ phát triển bền vững của Liên hợp quốc với một nội hàm rất rộng và phạm vi ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – chính trị, văn hóa, xã hội, phát triển bền vững (sustainable development) đã trở thành vấn đề nóng không chỉ của riêng một quốc gia hay một châu lục nào. Vì thế, cuộc tọa đàm Phát triển bền vững do Tia Sáng tổ chức vào những ngày đầu xuân 2008 đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, khoa học, giáo dục…      Bản chất của phát triển bền vững ở Việt Nam?   Đó là vấn đề không dễ lý giải bởi theo GS Hồ Ngọc Đại, trong thế kỷ 20, vai trò quyết định của kinh tế đã được thể hiện rõ nét nhưng bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tế trí thức, cái gốc của phát triển bền vững phải là giáo dục. Trên thế giới, khi nói đến “phát triển bền vững” người ta thường nhấn mạnh đến nhân tố bảo vệ môi trường. Đó thực sự là vấn đề cấp thiết vào thời điểm hiện nay, khi trái đất phải “gồng mình” gánh trên 6 tỷ dân và những hậu quả của đại nạn ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động mà hội nghị ở Bali (Indonesia) vừa qua vẫn chưa thể đưa ra giải pháp tối ưu nào. Nhưng bảo vệ môi trường chỉ là giải pháp để giữ gìn chứ không tạo ra cái mới, để sáng tạo ra cái mới nhất định phải bằng giáo dục. Trước câu hỏi phản biện của TS Nguyễn Quang A: Vậy chúng ta cần thay đổi giáo dục hiện nay như thế nào? GS Hồ Ngọc Đại giải đáp: Giáo dục cần được xuất phát từ phương pháp dạy để học sinh tự mình phát hiện và làm ra sản phẩm. Sự thay đổi trong phương pháp sẽ dẫn đến sự thay đổi về tổ chức, cơ cấu của nền giáo dục. Ba nhân vật trong nền giáo dục hiện đại phải là học sinh, thầy giáo và tất cả những gì còn lại mà nhân vật chủ chốt là cha mẹ.        Thập niên phát triển bền vững do Liên hợp quốc phát động bắt đầu từ năm 2005 đến năm 2014. Kế hoạch này đã được Liên hợp quốc chuẩn bị từ năm 2003 nhưng đến năm 2005 mới chính thức phát động và được mở rộng ở tất cả các lĩnh vực. Ngành giáo dục Việt Nam cũng hưởng ứng với dự án “Thập niên giáo dục vì sự phát triển bền vững”. Chúng tôi lấy giáo dục làm nòng cốt để phát triển bền vững vì bản chất của phát triển phải là tạo ra cái mới. Đất nước phải tiến lên bằng cái có chứ không đất nước nào tiến lên bởi cái không và để tạo ra cái mới ấy phải là giáo dục. Ý tưởng ấy đã được Liên hợp quốc hoan nghênh bởi trong thế kỷ 21, một thế hệ mới đã ra đời với việc lấy lao động trí óc làm nòng cốt.   GS. Hồ Ngọc Đại    Điều tra về tham nhũng của ban Nội chính trung ương năm 2005 là 63% doanh nghiệp là thường xuyên phải chi. Còn điều tra của Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam năm 2007 lại nói là 66,5% doanh nghiệp là chi. Giả sử có sai số nào đấy giữa hai thống kê này nhưng cũng không thể nào khẳng định được có tiến bộ gì về chống tham nhũng, mặc dù trong giai đoạn này, chúng ta đã chi vài chục tỷ đồng về xây dựng luật, thành lập ủy ban chống tham nhũng… Ngoài ra, có một vấn đề xuất hiện là sự phân chia bất bình đẳng trong thu nhập, khiến nhiều bộ phận dân cư, đặc biệt là người nông dân bắt đầu lên tiếng phản đối. Để giải quyết rốt ráo vấn đề này cần sửa đổi luật và điều chỉnh vấn đề bất bình đẳng trong thu nhập.   TS Lê Đăng Doanh        Phát triển bền vững là quá trình lâu dài của mọi quốc gia. Xây dựng được đã khó nhưng duy trì nó còn phức tạp bội phần. Và theo GS Hoàng Tụy, yếu tố hàng đầu là phải có biện pháp hữu hiệu chống tham nhũng. “Trong khu vực Đông Nam Á, tất cả những nước nào ngày nay đạt được đến trình độ phát triển tương đối bền vững đều qua một quá trình xây dựng bộ máy hành chính trong sạch và đấu tranh chống tham nhũng ngày càng hiệu quả. Còn những nước có dấu hiệu suy sụp tuy có thời gian phát triển khá mạnh như Indonesia hay Philippines thì nạn tham nhũng ngày càng gia tăng. Thực tế cho thấy, căn bệnh tham nhũng hoặc bị đẩy lùi, hoặc tiến tới chứ không bao giờ dừng lại. Nếu chống tham nhũng không hiệu quả thì tất cả những mục tiêu và kế hoạch đặt ra để xây dựng sự phát triển bền vững sẽ không thành hiện thực. Vì thế, ở Việt Nam, yếu tố chống tham nhũng phải là vấn đề then chốt đảm bảo cho sự phát triển bền vững”. Và để chống tham nhũng có hiệu quả, theo GS cần phải quan tâm đến chế độ phân phối của cải làm ra. Bộ máy hành chính của đất nước cần quản lý chặt chẽ chế độ lương, thu nhập đến từng cá nhân… Đồng thuận với ý kiến đó nhưng ông Nguyễn Trung đặc biệt nhấn mạnh đến việc chống lũng đoạn của quyền lực. Chỉ có như vậy mới có thể xây dựng được một xã hội lành mạnh.  Trong mạch xác định những mục tiêu của phát triển bền vững, nhà thơ Việt Phương nêu rõ 10 nhân tố làm nên chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng suất lao động được tính toán bằng hiệu quả của đầu tư; chất lượng sản phẩm làm ra; hiệu quả kinh tế và hiệu ứng bên ngoài; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của một quốc gia; các loại hình doanh nghiệp; tính chuẩn xác và hiệu quả của các công trình lớn; tính chất hiện đại của các doanh nghiệp; độ sâu rộng và hiệu quả của doanh nghiệp quốc tế; chất lượng con người và nguồn nhân lực bằng giáo dục đào tạo; văn hóa kinh doanh. Tất cả các nhân tố đó đều hướng tới mục tiêu vì con người, để con người được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  Với nhãn quan của một nhà sử học, ông Dương Trung Quốc đã đánh giá một trong những vấn đề của phát triển bền vững là tính liên tục và tầm nhìn xa của các kế sách, chiến lược xây dựng đất nước ở tầm vĩ mô. Chống tư duy “nhiệm kỳ” và chạy theo thành tích “ảo”.  Như để minh họa cho ý kiến của ông Dương Trung Quốc, TS Lê Đăng Doanh cho rằng cần xác định được giá trị thực, vị thế thực của đất nước. Phải lưu ý đến thuyết tam đoạn luận về phát triển: “kỳ diệu– ác mộng– khủng hoảng” qua thực tế ở khu vực Đông Nam Á. Tại giai đoạn kỳ diệu, nhiều mỹ từ được các tổ chức quốc tế, ngân hàng thế giới… tung ra ca ngợi sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế. Đến giai đoạn ác mộng, các nhà lãnh đạo trở nên kiêu căng, hợm hĩnh và xơ cứng với nhiều quyết định sai lầm trong chính sách điều hành quốc gia, gây ra hàng loạt quốc nạn như tham nhũng, vơ vét tài sản quốc gia, mất dân chủ… Khi ấy, bất bình xã hội tăng lên và tăng trưởng giảm đi và dẫn đến giai đoạn khủng hoảng. Đây là tình hình thực tế của nền kinh tế Indonesia, ở mức độ nhất định với Thái Lan và thường xuyên ở Philippines… Vậy một vấn đề đặt ra là Việt Nam đã miễn nhiễm với thuyết tam đoạn luận này và khỏi cái bẫy thu nhập trung bình chưa?  Ông Nguyễn Trung bày tỏ ý kiến về vấn đề dân chủ và tôn trọng giá trị của con người trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh- yếu tố hàng đầu của phát triển bền vững. Khi tiếng nói của người dân được tôn trọng, những chính sách phát triển kinh tế- xã hội sẽ được thực hiện triệt để hơn và những vấn đề hậu quả ngoài mong muốn của những chính sách này sẽ được giảm thiểu. Còn theo GS Phan Đình Diệu, chúng ta cần hướng đến giáo dục con người gìn giữ và phát huy mối quan hệ tốt đẹp, lòng tin giữa con người với con người đã được hình thành trong lịch sử phát triển của dân tộc, qua đó xây dựng vững chắc nền tảng đạo đức xã hội mới. Đây sẽ là cơ sở để con người phát huy các nhân tố trí tuệ, trí lực để xây dựng và duy trì sự phát triển bền vững.  Có một vấn đề đặt ra là trong xã hội, lực lượng nào sẽ đảm nhận vai trò chính để xây dựng sự phát triển bền vững. Nhà văn Nguyên Ngọc đặt nhiều niềm tin vào lớp trẻ, những người tiếp thu được những giá trị tiến bộ của nhân loại và xác định được vị thế của chính mình trong xã hội. Trong quá trình hội nhập quốc tế, những giá trị của văn hóa nhân loại vẫn chảy vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận có chọn lọc. Quá trình toàn cầu hóa đã đem lại một “thế giới phẳng” không chỉ ở sự liên thông tư duy mà còn là phương pháp tư duy. Chính sự năng động, tiếp nhận tri thức mới và ý thức chính trị xã hội mạnh mẽ của phần lớn giới trẻ hiện nay đã đem lại niềm tin vào khả năng quyết định tương lai của đất nước.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển xã hội tự quản      Trật tự xã hội, được coi là mục tiêu khách quan của pháp luật, được bảo đảm không chỉ bằng cách áp dụng pháp luật, mà còn có thể dựa vào các chuẩn mực khác.  Chẳng hạn, cả mua vé và xếp hàng để mua vé nghe ca nhạc đều là những hành vi cần được thực hiện trong khuôn khổ trật tự xã hội. Nhưng mua vé là một giao tiếp được pháp luật ràng buộc; còn xếp hàng lại là một giao tiếp thuần tuý xã hội, chỉ chịu sự chi phối của những quy ước mặc nhiên hình thành trong cuộc sống dân sự.         Luật và quy ước mặc nhiên đều là các chuẩn mực xử sự khách quan mà mọi thành viên xã hội đều phải biết và phải tuân theo; nhưng luật do nhà nước đặt ra, còn quy ước mặc nhiên là tác phẩm trực tiếp của nhân dân.         Sự tồn tại của các chuẩn mực xử sự không mang tính pháp lý cho phép thừa nhận rằng có một phần của đời sống xã hội không chịu (đúng hơn, không cần) sự can thiệp của nhà nước bằng các công cụ đặc trưng cho quyền lực công. Trong khuôn khổ phần đời sống ấy, xã hội tự quản bằng cách dựa vào các công cụ của mình, đặc biệt là các thiết chế tập thể (gia đình, hội, đoàn) và nhất là ý thức xã hội đúng đắn của cá nhân thành viên.    Xã hội tự quản, một hình thức thể hiện của xã hội dân sự, không cần đến vai trò của các thiết chế công, nhất là các cơ quan trấn áp; do đó, sự phát triển của nó có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng quản lý của nhà nước đối với xã hội, đồng thời cũng là dấu hiệu của một xã hội được tổ chức tốt. Suy cho cùng, kích thích và tạo điều kiện cho xã hội tự quản phát triển là một phần trong sứ mạng của nhà nước.      Tế bào của xã hội tự quản chính là cá nhân công dân. Được trao tư cách chủ thể đầy đủ của quyền và nghĩa vụ, công dân, trong quá trình thực hiện những điều mà bản thân mong muốn hoặc đòi hỏi, chủ động xác định cách ứng xử trong giao tiếp nhân văn.   Sự xung đột giữa những đòi hỏi trái ngược có tác dụng tạo ra khoảng sai biệt giữa điều được dự tính và điều có thể được thực hiện. Nó giúp cá nhân tỉnh táo nhận biết những đòi hỏi, toan tính ngông cuồng cần phải từ bỏ, cũng như sự cần thiết của việc thực hiện các điều chỉnh thích hợp để những đòi hỏi của cá nhân, từ chỗ quá đáng, trở nên hợp lý, có chừng mực và có tính hiện thực. Người bán hàng luôn mong muốn bán được hàng với giá cao, trong khi người mua chỉ muốn mua với giá thấp; quá trình mặc cả giúp đi đến chỗ thống nhất về giá hợp lý đối với cả hai bên.  Sự va đập giữa những cung cách giao tiếp khác biệt làm bật ra yêu cầu xây dựng các chuẩn mực xử sự chung mà mỗi cá nhân phải theo, để có thể thoả mãn mong muốn của mình. Chắc chắn, trước khi các thành viên biết xếp hàng mua vé, xã hội đã trải qua thời kỳ xô bồ xô bộn và các thành viên đã từng chen lấn, xô đẩy, thậm chí đánh đập nhau, để giành lượt, trước quầy bán vé, tiệm bánh mì…, nhất là khi cung không đủ cầu. Chính các quá trình tự điều chỉnh để hợp lý hóa các nhu cầu cá nhân và hoàn thiện ứng xử của cá nhân trong giao tiếp đã giúp cho các thành viên xã hội từng bước xây dựng nền nếp của cuộc sống dân sự.    Xã hội Việt Nam được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của nhà chức trách. Nhắm tới một mục tiêu xác định, người cầm quyền mong muốn xây dựng các khuôn mẫu ứng xử thống nhất để có thể huy động tối đa lực lượng xã hội cho mục tiêu đó. Chủ thể ứng xử, tức là cá nhân công dân, được gắn với một nhóm, một tổ chức con người được thừa nhận (gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, hội, đoàn).   Nếu các thiết chế tập thể trong xã hội tự quản được cá nhân chủ động tạo ra để phục vụ cho mình, thì trong xã hội theo khuôn mẫu ứng xử thống nhất, xây dựng các tập thể là biện pháp Nhà nước chủ động thực hiện nhằm phục vụ cho việc quản lý xã hội, đặc biệt là quản lý hành vi ứng xử của cá nhân. Cơ chế quản lý phải vận hành thế nào để tất cả những giao tiếp, những hiện tượng xã hội thu hút sự chú ý, tò mò của công chúng đều phải được đặt dưới sự kiểm soát, giám sát nghiêm ngặt của nhà chức trách. Các ví dụ rất đa dạng: từ chuyện công diễn một chương trình ca nhạc, tổ chức một buổi thuyết giảng trước công chúng, mở một lễ hội dân gian, cho đến vận hành thử chiếc trực thăng tự chế; nhạy cảm hơn, đó có thể là việc vận động thu thập chữ ký vào một lá đơn tập thể của các thành viên một cơ quan, xin giảm nhẹ hình phạt cho một đồng nghiệp phạm tội trong hoàn cảnh ngặt nghèo.    Nguyên tắc chủ đạo của xã hội theo khuôn mẫu ứng xử thống nhất là: tập thể phải tạo ra cá nhân theo các tiêu chí do người cầm quyền ấn định. Khuôn mẫu ứng xử được định hình bởi thiết chế quyền lực cao nhất và được quảng bá, phổ cập thông qua các cuộc sinh hoạt tập thể của các nhóm, các tổ chức, theo lộ trình đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Dưới ánh sáng của khuôn mẫu, các ứng xử của cá nhân chịu sự thẩm định, đánh giá của tập thể. Về phần mình, bất kỳ tập thể nào cũng được đặt dưới sự giám hộ của một cơ quan nào đó đại diện cho quyền lực công.      Dẫu sao, cá nhân trước hết là những cá thể, nghĩa là có cuộc sống riêng và lợi ích riêng gắn với cuộc sống đó. Dù xã hội chủ trương ứng xử rập khuôn, các lợi ích trái ngược vẫn tồn tại và vẫn xung đột. Các ứng xử nằm ngoài dự kiến của người tạo ra khuôn mẫu vẫn cứ xuất hiện như hệ quả tất nhiên của những nỗ lực mưu cầu các lợi ích khác biệt. Thế là, nhà chức trách phải can thiệp phải dùng pháp luật để chấn chỉnh các ứng xử bị coi là không tương thích với khuôn mẫu chung. Và cứ mỗi lần như vậy thì lại có một thiết chế công xuất hiện với tư cách người đảm nhận chức năng quản lý, nhân danh nhà chức trách, đối với các ứng xử đó. Chẳng hạn, trước tình trạng các hoạt động quyên góp vì mục đích từ thiện có dấu hiệu lộn xộn, Mặt trận tổ quốc và Hội chữ thập đỏ được chọn để đảm nhận sứ mạng lập lại trật tự. Trước sự rộ lên một cách tự phát của hoạt động viết hồi ký, tự truyện của cán bộ, công chức về hưu, cơ quan quản lý văn hóa được dự kiến sẽ vào cuộc với tư cách người có nhiệm vụ ngăn chặn việc tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật công tác thông qua các câu chuyện kể trong tự truyện, hồi ký…  Cần phải nhìn nhận rằng sáng tạo và chủ động tổ chức việc vận hành xã hội tự quản là thiên hướng tự nhiên của công dân trong xã hội có tổ chức. Không tôn trọng và tạo điều kiện phát triển thiên hướng đó, nhà nước có nguy cơ phải gồng gánh một khối lượng công việc quản lý vượt quá sức mình. Mà một khi nhà nước quản lý không nổi mọi thứ ôm đồm, thì trong điều kiện xã hội tự quản không phát triển, không thể có trật tự xã hội ổn định, bền vững.         Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phép thử  của Trung Quốc tại biển Đông      Qua những diễn biến trên biển Đông trong thời gian gần đây có thể thấy rằng Trung Quốc đang lần lượt tiến hành các phép thử khác nhau.  &#160;    Vụ căng thẳng tại bãi cạn Scarborough của  Philippines, cũng như tuyên bố mời thầu trong vùng đặc quyền kinh tế 200  hải lý của Việt Nam đều là những phép thử giúp Trung Quốc đánh giá đúng  hơn phản ứng của các nước trực tiếp liên quan – ở đây là Philippines và  Việt Nam – cũng như phản ứng của dư luận quốc tế, đặc biệt là phản ứng  của các cường quốc.   Mức độ phản ứng và cách thức hành xử của  từng đối tượng qua hai vụ việc này là cơ sở để Trung Quốc có thể cân  nhắc cho chiến lược của họ tại biển Đông.    Thất bại qua phép thử tại Scarborough  Vụ căng thẳng tại bãi cạn Scarborough đã cho Trung Quốc thấy rằng bất chấp sức ép về sự hiện hữu áp đảo về số tượng tàu Trung Quốc có mặt tại bãi cạn cũng như lời đe dọa ngầm về trừng phạt kinh tế, Philippines vẫn duy trì cách phản ứng nhất quán, đó là kiên quyết không nhượng bộ trong những tuyên bố về khẳng định chủ quyền của họ, mặc dù vẫn tích cực tìm kiếm các giải pháp ngoại giao nhằm giảm bớt căng thẳng.   Cách hành xử trên đây của Philippines có thể coi là khôn khéo, kết hợp cả nhu cả cương, nhưng có lẽ điều làm Trung Quốc phải suy nghĩ nhiều nhất là quan hệ đồng minh của Philippines với Mỹ. Xuyên suốt vụ việc tại bãi cạn Scarborough, Mỹ luôn chú trọng thể hiện sự khăng khít với Philippines, thông qua những tuyên bố và hành động cử tàu chiến tới hiện diện trong khu vực. Không chỉ Mỹ, cả Nhật cũng thường xuyên cử tàu chiến tới thăm Philippines. Một số nước khác tuy không hành động, nhưng ít nhiều cũng lên tiếng bày tỏ quan điểm, trong đó không có tiếng nói nào công khai ủng hộ cho lợi ích của Trung Quốc.   Diễn biến dư luận quốc tế trên đây đối với Trung Quốc là đáng lo ngại. Nó thể hiện rằng nếu Trung Quốc cứ tiếp tục gia tăng sức ép lên Philippines thì sự ủng hộ quốc tế dành cho Philippines càng tăng theo, đồng nghĩa với việc quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác càng xấu đi. Một mình Philippines khó lòng đối đầu với Trung Quốc, nhưng nếu các nước trong khu vực kết hợp với một vài cường quốc khác sẽ dư sức phong tỏa các cửa ngõ trên biển, trong đó có eo Malacca. Nền kinh tế và an ninh của Trung Quốc sẽ bị tác động nghiêm trọng nếu yết hầu này bị chặn lại. Việc Mỹ tuyên bố gia tăng hiện diện quân sự tại châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là động thái mở rộng hoạt động hợp tác quân sự tại khu vực Đông Nam Á đối với Trung Quốc là vấn đề khá nhạy cảm, thể hiện Mỹ sẵn sàng khai thác vào yếu huyệt của Trung Quốc nếu Trung Quốc hành xử vượt ra ngoài quỹ đạo thông thường làm ảnh hưởng tới lợi ích và vị thế của Mỹ.   Về phía Nhật, sự nhiệt tình ủng hộ Philippines cho thấy họ cũng như Mỹ, hiểu rõ vai trò yếu huyệt trên biển ở Đông Nam Á trong việc kiềm chế Trung Quốc. Một khi Trung Quốc bị kiềm chế thì sẽ tăng sự ổn định cho tuyến đường biển trong khu vực, vốn trực tiếp liên quan tới lợi ích kinh tế của Nhật. Mặt khác, nó cũng khiến Trung Quốc phải phân tâm, không thể dồn toàn lực vào việc đối đầu với Nhật tại những hòn đảo mà giữa hai bên đang có tranh chấp.  Tóm lại, phản ứng cứng rắn của Philippines và quốc tế đối với vụ việc tại Scarborough đã cho Trung Quốc thấy họ càng gia tăng căng thẳng thì lại càng lợi bất cập hại cho chính mình. Có thể trước đây Trung Quốc tin rằng các quốc gia sẽ vì mối quan hệ làm ăn kinh tế mà nhượng bộ cho tham vọng của Trung Quốc tại biển Đông. Nhưng thực tế đã diễn ra hoàn toàn khác. Phép thử Philippines đối với Trung Quốc như vậy là thất bại. Việc Philippines tạm thời rút tàu của họ khỏi bãi cạn có thể coi là giải pháp giúp giữ thể diện cho Trung Quốc và hạ nhiệt căng thẳng.   Phép thử với Việt Nam  Phép thử tiếp theo của Trung Quốc là Việt Nam. Bằng việc tuyên bố chủ quyền thông qua hình thức mời thầu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, Trung Quốc sẽ thấy được Việt Nam và cộng đồng quốc tế có phản ứng như thế nào.   Việt Nam đã nhanh chóng tái khẳng định chủ quyền của mình, và điều này hoàn toàn nằm trong dự liệu của Trung Quốc. Nhưng điều có lẽ Trung Quốc vẫn chưa biết, và rất muốn biết ở đây là mức độ phản ứng của dư luận quốc tế như thế nào? Trên cơ sở đó để Trung Quốc đánh giá: liệu trong trường hợp xảy ra xung đột với Việt Nam trên biển Đông, cộng đồng quốc tế có đứng về phía Việt Nam hay không, và liệu có phản ứng tới mức phong tỏa các tuyến đường vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc tại Đông Nam Á hay không?  Nếu cộng đồng quốc tế không tỏ thái độ quá quan tâm thì đó sẽ là cơ sở để Trung Quốc thấy rằng Việt Nam đang đơn độc, và Trung Quốc có thể tiếp tục mạnh bạo gia tăng thêm sức ép. Chẳng hạn như đưa tàu vào thăm dò tại những lô trong vùng thềm lục địa Việt Nam mà họ đã tuyên bố mời thầu, kết hợp với sự tăng cường sự hiện diện của các tàu hải giám, hay thậm chí đưa cả tàu chiến vào hộ tống. Với ưu thế trội hơn về tiềm lực quân sự trên biển, Trung Quốc có thể sẽ cứ tiếp tục gia tăng sức ép lên Việt Nam, và kỳ vọng tới lúc nào đó Việt Nam vì yếu thế mà phải nhượng bộ, không nhiều thì ít.  Tuy nhiên, nếu đây đúng là xu hướng mà Trung Quốc muốn theo đuổi thì nó khá phiêu lưu, nếu không muốn nói là phản tác dụng. Nếu họ làm quá trớn, quan hệ giữa hai nước sẽ xấu đi và thúc đẩy Việt Nam tìm kiếm sự liên kết, ủng hộ từ các nước khác, vô hình chung càng tạo thêm sức kiềm tỏa vô hình tại cửa ngõ Đông Nam Á. Qua một số lời phát biểu của dư luận quốc tế thể hiện sự ủng hộ chủ quyền của Việt Nam, hay qua sự kiện cuộc tập trận RIMPAC 2012 được tổ chức mà Việt Nam được mời quan sát còn Trung Quốc thì không được mời tham gia cũng không được mời quan sát, hẳn Trung Quốc đang dần cảm thấy sự cô độc của mình.  Nhưng Việt Nam chắc chắn là không thể bị động ngồi yên, mà cần tranh thủ hơn nữa tiếng nói và hành động của cộng đồng quốc tế. Một khi càng có nhiều tiếng nói từ dư luận quốc tế thì Trung Quốc sẽ càng nhận diện rõ hơn thế bế tắc của họ, và sẽ chấm dứt hoặc ít ra là giảm bớt đi những phép thử tiêu cực tương tự trong tương lai.   Lâu nay Trung Quốc vẫn phản đối đa phương hóa vấn đề tranh chấp ở biển Đông, nhưng với việc mời thầu gần đây thì chính họ đã phá vỡ chủ trương này. Đây là một sự vi phạm nghiêm trọng công ước Liên Hợp quốc về luật biển. Mọi quốc gia trên thế giới đều cần lên tiếng ủng hộ cho Việt Nam, đồng thời khuyến cáo công ty của nước mình không tham gia vào những gói thầu phi pháp này. Một số quốc gia, trong đó có thể có cả một vài nước ASEAN, có thể không dám làm mất lòng Trung Quốc, chủ yếu vì sợ mất đi một mối quan hệ giao thương kinh tế quan trọng, nên không dám lên tiếng phản đối hành động của Trung Quốc. Việt Nam cần thuyết phục để họ thấy rằng việc lên tiếng kịp thời là rất cần thiết, tạo tín hiệu để Trung Quốc biết tự kiềm chế hơn. Một nước Trung Quốc biết tự kiềm chế tham vọng sẽ giúp đem lại ổn định cho tuyến đường biển huyết mạch tại Đông Nam Á, duy trì được lợi ích kinh tế cho cả khu vực và thế giới, trong đó có cả bản thân Trung Quốc.  Ngược lại, dư luận quốc tế càng im lặng sẽ càng tạo cơ sở cho Trung Quốc tiếp tục có những hành động làm gia tăng thêm căng thẳng trong khu vực. Một tình thế căng thẳng ở thế đối đầu như vậy sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới an ninh vận tải biển ở khu vực Đông Nam Á, mà một khi vận tải biển bị gián đoạn thì hầu hết mọi lợi ích của các nước trong giao thương kinh tế với Trung Quốc sẽ không còn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phiếu tín nhiệm của cộng đồng khoa học, chuyên gia chỉ nên coi là nguồn tham khảo      Giáo sư Phạm Hùng Việt cho rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm của cộng đồng khoa học, chuyên gia cũng là việc cần thiết nhưng chỉ nên là một nguồn tham khảo chứ không mang tính quyết định. Để tránh tái diễn trường hợp này, chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của Quỹ Nafosted trong việc lựa chọn hội đồng khoa học chuyên ngành.      GS.TS. Phạm Hùng Việt, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích và kiểm định môi trường, thực phẩm, ĐHQGHN.  Lựa chọn thành viên Hội đồng CDGSNN  Trong lựa chọn thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (CDGSNN), theo GS Ngô Việt Trung, cần căn cứ vào thành tựu mà nhà khoa học đã có trong cả cuộc đời nghiên cứu, không nhất thiết phải dựa vào công bố quốc tế trong năm năm gần nhất, tiêu chí này không sai nhưng có thể chỉ phù hợp với một số ngành nghiên cứu thiên về lý thuyết, khi sức sáng tạo của các nhà khoa học được phát huy từ rất trẻ, còn với các ngành nghiên cứu thực nghiệm, thực hiện đề tài thường đòi hỏi kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm. Trên thế giới cũng từng có nhiều nhà khoa học không có công bố ISI nhưng vẫn có công trình nghiên cứu có giá trị, nhưng đó là vào những năm 1950, khi yêu cầu về công bố ISI vẫn chưa được đặt ra. Ngày nay, việc một nhà khoa học không có thêm một sản phẩm nghiên cứu nào trong vòng năm năm sẽ dẫn đến dấu hỏi về năng lực nghiên cứu của nhà khoa học đó. Ở đây, chúng ta nên xét những tiêu chí mang tính phổ quát để có được một mẫu số chung có thể áp dụng với nhiều lĩnh vực ngành nghề nghiên cứu.  Lấy phiếu tín nhiệm của cộng đồng khoa học, chuyên gia cũng là việc cần thiết nhưng chỉ nên là một nguồn tham khảo chứ không mang tính quyết định, tránh trường hợp phiếu tín nhiệm thiếu khách quan – giới thiệu người mới chưa phải là tốt nhất mà có thể là quan hệ cá nhân thân thiết. Để tránh tái diễn trường hợp này, chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của Quỹ Nafosted trong việc lựa chọn hội đồng khoa học chuyên ngành: lấy ý kiến của những người từng chủ trì đề tài do Quỹ tài trợ và được mời tham gia phản biện hồ sơ tài trợ. Theo cách này, chúng ta không cần hỏi ý kiến của tất cả các nhà khoa học trong từng lĩnh vực nghiên cứu mà hỏi những người đã là giáo sư, phó giáo sư hoặc là chủ trì các đề tài Nafosted – ý kiến của cộng đồng này sẽ chuẩn xác hơn.  Tựu trung lại, mục tiêu của chúng ta là dựa vào nhiều tiêu chí “cứng” đã được cộng đồng khoa học thừa nhận để chọn ra những thành viên xứng đáng vào Hội đồng Chức danh hơn là chỉ dựa vào phiếu tín nhiệm. Khi làm tốt, quy cách lựa chọn thành viên hội đồng cũng sẽ là gợi ý để chúng ta tiếp tục chuẩn hóa cách phong học hàm giáo sư, phó giáo sư, nhất là việc giảm bớt được sự lệ thuộc vào việc bỏ phiếu tín nhiệm, trước là 3/4 thì nay chỉ cần 2/3 là đủ.  Tiêu chí “bổ nhiệm mở”  Để nâng cao giá trị của học hàm giáo sư, phó giáo sư, tôi cho rằng có thể áp dụng tiêu chí “bổ nhiệm mở”, tức là bổ nhiệm có thời hạn với thời gian xét là năm năm. Sau năm năm, các hội đồng chức danh có thể kiểm tra: sau khi được bổ nhiệm, các nhà khoa học này có tiến hành nghiên cứu không? Nếu có công bố, công trình hoặc patent sau năm năm thì dĩ nhiên là họ xứng đáng với danh hiệu được phong, còn ngược lại, nếu không còn động lực nghiên cứu thì họ không còn xứng đáng nữa. Việc bổ nhiệm có thời hạn sẽ đem lại động lực phấn đấu liên tục cho những người làm nghiên cứu. Đây cũng là cách nhiều trường ở Australia, Singapore, Mỹ… đã áp dụng hiệu quả.  Chúng ta cần công khai và minh bạch các thông tin về ứng viên học hàm giáo sư và phó giáo sư cũng như quá trình xét duyệt. Tôi xin đơn cử trường hợp hội đồng ngành Hóa – Công nghệ thực phẩm. Cách đây gần 15 năm, khi GS Ngô Thị Thuận là chủ tịch hội đồng đã có thông lệ: trong các buổi thuyết trình của ứng viên, hội đồng thường mở cửa cho tất cả những người trong và ngoài ngành cũng như những ai quan tâm đều có thể tham dự. Đây là một biện pháp để mọi người có thể đánh giá chất lượng ứng viên, tránh được chuyện có một vài thành viên hội đồng muốn “rộng tay” nâng đỡ hay “trù úm” ứng viên cũng không thể thực hiện được. Thông lệ “bất thành văn” này đã được hội đồng ngành Hóa – Công nghệ thực phẩm thực hiện rất hiệu quả.    Giáo sư nghiên cứu và giáo sư giảng dạy  Tại nhiều quốc gia như Đức, Australia… thường có hai loại giáo sư: giáo sư giảng dạy (professor with chair) làm việc trong các trường đại học và giáo sư nghiên cứu (research professor) là các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu. Tùy theo yêu cầu phát triển mà có thể một trường đại học sẽ có thêm một số giáo sư nghiên cứu và ngược lại, viện nghiên cứu cũng có giáo sư giảng dạy. Những đề xuất về chỉ tiêu dạy học và viết sách đối với ứng viên giáo sư, phó giáo sư mà GS Ngô Việt Trung nêu là đúng đắn, tuy nhiên có phần phù hợp hơn với danh hiệu giáo sư làm việc ở viện nghiên cứu, nếu dùng tiêu chuẩn về giáo sư nghiên cứu áp dụng cho các nhà khoa học tham gia giảng dạy tại các trường đại học chưa hẳn đã đúng. Tuy nhiên để tránh làm “loãng chất lượng”, không nên phong ồ ạt học hàm giáo sư giảng dạy mà chỉ thực hiện khi các trường đại học khuyết người ở vị trí cần bổ nhiệm (cho đúng tinh thần professor with chair). Mỗi trường chỉ có một số “ghế” nhất định, tương đương với số lượng bài giảng, số lượng sinh viên. Bổ nhiệm hay không bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư ở trường này hay trường khác cũng là cách làm đa dạng môi trường học thuật.  Việc phong học hàm giáo sư, phó giáo sư cho hai đối tượng, giảng viên trong trường đại học và nhà khoa học trong viện nghiên cứu cần tuân theo những tiêu chuẩn chặt chẽ, tránh tình trạng đã từng xảy ra như trong giai đoạn trước là mở rộng xét và phong cho cả những người làm công tác quản lý như một thứ mốt, làm ảnh hưởng đến môi trường học thuật.    Theo tôi vì nhiều lựa chọn thành viên Hội đồng CDGSNN có thể tham khảo cách làm của Quỹ Nafosted trong việc lựa chọn thành viên các hội đồng nghiên cứu cơ bản. Trong đợt chọn Hội đồng nghiên cứu cơ bản ngành Cơ học gần đây nhất, Quỹ Nafosted có gửi một mẫu phiếu tín nhiệm/không tín nhiệm online với danh sách hơn 80 TS ngành Cơ học đạt tiêu chuẩn có công bố quốc tế ISI trong năm năm gần đây nhất. Với cách làm này, những người có trong danh sách được phép tiếp cận lý lịch khoa học của nhau trong thời gian bình chọn. Họ không chỉ có quyền đánh dấu tín nhiệm chọn chín thành viên hội đồng, mà còn có thể cả dấu không tín nhiệm nữa cho các cá nhân cụ thể có vấn đề. Kết quả là ở hai nhiệm kỳ đầu, nhiều TS trẻ có thành tích công bố ISI tốt đã được chọn vào hội đồng nghiên cứu cơ bản ngành Cơ học, và tới nhiệm kỳ hiện nay thì tất cả các thành viên hội đồng ngành Cơ học đều là các PGS, GS. Việc bỏ phiếu tín nhiệm/không tín nhiệm như vậy cũng giúp các thành viên hội đồng ngành nâng cao ý thức phục vụ cộng đồng và chịu trách nhiệm về các hoạt động đã qua của mình. Chúng tôi tin rằng các hội đồng CDGS ngành được lựa chọn như cách làm trong việc lựa chọn thành viên hội đồng ngành của Quỹ Nafosted sẽ thực sự có năng lực thẩm định chuyên môn, có uy tín với cộng đồng, và tư vấn sát thực cho các lãnh đạo trong điều chỉnh chính sách. PGS. TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam).      Author                Phạm Hùng Việt        
__label__tiasang Phổ cập Luật An ninh mạng ở bậc phổ thông: Dạy gì, tránh gì?      Chương trình môn Giáo dục quốc phòng và an ninh cấp trung học phổ thông ban hành kèm Thông tư 46/2020/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ 11/1/2021, quy định rằng, từ lớp 10, học sinh phổ thông tại Việt Nam được học về Luật An ninh mạng. Đây là một động thái hết sức đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, câu hỏi cần được đặt ra là việc giáo dục phổ cập Luật An ninh mạng cho học sinh phổ thông nên được thiết kế  thế nào cho hiệu quả không chỉ về mặt tuyên truyền, mà còn cả về mặt tư duy biện luận pháp lý.       96.6% thiếu niên độ tuổi từ 11 đến 16 ở Việt Nam đã sử dụng internet, bao gồm cả thành thị và nông thôn.  Phổ cập Luật An ninh mạng trong chương trình giáo dục quốc phòng: nhiều bất cập  Theo nội dung Thông tư 46/2020/TT-BGDĐT thì hiểu biết về an ninh mạng được xếp vào một trong mười lăm hiểu biết chung về quốc phòng và an ninh được thiết kế song song với việc giáo dục hiểu biết về “quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”, “bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sau năm 1975”, “một số hiểu biết về chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam”. Tuy nhiên, khi nhìn vào cụ thể nội dung của việc phổ cập Luật An ninh mạng được đề ra trong thông tư, yêu cầu hiểu biết của học sinh sau khi tham gia chương trình về an ninh mạng chủ yếu mang tính thiết thực thường ngày. Cụ thể, hai yêu cầu về kĩ năng chính cho học sinh sau khi được phổ cập Luật An ninh mạng là:  1. Nêu được một số khái niệm cơ bản về mạng, an ninh mạng, bảo mật thông tin cá nhân trên môi trường không gian mạng; nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng;  2. Bảo mật được thông tin cá nhân, cảnh giác trước những thủ đoạn xâm nhập, phát tán mã độc, thông tin giả trên mạng…  Các khái niệm cơ bản về mạng và an ninh mạng hay bảo mật thông tin cá nhân trên mạng hoàn toàn có thể được tích hợp vào chương trình Tin học phổ thông. Theo chương trình phổ thông hiện hành, từ lớp 10, học sinh phổ thông đã được làm quen với những khái niệm cơ bản về mạng internet. Đến lớp 11, học sinh được tiếp cận với ngôn ngữ lập trình và đến lớp 12 thì được học về cơ sở dữ liệu và bảo mật cơ sở dữ liệu. Đây là cấu trúc có sẵn phù hợp cho việc lồng ghép và phát triển các khái niệm về mạng, an ninh mạng, và bảo mật thông tin cá nhân trên mạng ở cấp độ phổ thông. Đối với nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng, yêu cầu giáo dục học sinh phổ thông về quyền và nghĩa vụ công dân thông qua giáo dục pháp luật vốn từ lâu đã được thực hiện thông qua chương trình bộ môn Giáo dục công dân. Đây cũng chính là bộ môn phù hợp cho việc rèn giũa và phát triển ý thức cũng như hành vi công dân của học sinh – từ yêu cầu giáo dục đề cao cảnh giác đến việc truyền tải ý thức bảo vệ thông tin cá nhân. Những bàn luận về tính xã hội của mạng internet cũng có thể thường xuyên được đan xen vào chương trình môn Ngữ văn trong các chủ đề văn nghị luận.       Điều bất cập lớn nhất của việc phổ cập Luật An ninh mạng trong khuôn khổ giáo dục an ninh quốc phòng là cách định hình tư duy về an ninh mạng mang tính phiến diện cho học sinh.      Cho dù những yêu cầu kĩ năng liên quan đến phổ cập Luật An ninh mạng theo thông tư có thể được tích hợp theo dọc chiều dài chương trình giáo dục phổ thông như đã đề cập ở trên, điều bất cập lớn nhất của việc phổ cập Luật An ninh mạng trong khuôn khổ giáo dục an ninh quốc phòng là cách định hình tư duy về an ninh mạng mang tính phiến diện cho học sinh. Trên thực tế, thiếu niên Việt Nam sử dụng mạng internet từ rất sớm và dành rất nhiều thời gian trong một ngày để tham gia các hoạt động trên mạng. Theo khảo sát năm của Viện nghiên cứu Quản lý phát triển bền vững (MSD) và Tổ chức Cứu trợ trẻ em quốc tế (Save the Children) tại Việt Nam vào năm 2020, đến 96.6% thiếu niên độ tuổi từ 11 đến 16 đã sử dụng internet, bao gồm cả thành thị và nông thôn. Trong đó, 43.4% sử dụng internet từ 1 đến 3 giờ đồng hồ mỗi ngày, hầu hết mục đích dành cho việc học (83.1%), giải trí (70.9%), mạng xã hội (71.2%) và chơi game online (58.7%). Mạng internet là một phần quan trọng trong cách thanh thiếu niên Việt Nam sinh hoạt học tập, giải trí, tìm kiếm thông tin, kết bạn, giữ liên lạc với gia đình và người thân. Việc đặt để công tác giáo dục rèn luyện kĩ năng mạng cho học sinh trong khuôn khổ giáo dục an ninh quốc phòng – một phạm trù giáo dục mang tính địa-chính trị quân đội – vô hình trung tạo nên khái niệm sai lệch rằng thông tin cá nhân hay việc giữ gìn an toàn cá nhân mỗi khi sử dụng mạng internet chỉ được hiểu trong bối cảnh an ninh tổ quốc. Điều này vừa đi ngược lại với chính mục đích phổ cập đề ra trong thông tư, vừa tạo nên sự méo mó trong cách khái niệm an ninh mạng được hiểu và cắt nghĩa trong dư luận xã hội.   Vị trí của việc phổ cập Luật An ninh mạng trong giáo dục phổ thông tại Việt Nam  Vậy, chúng ta cần mong mỏi gì ở việc phổ cập Luật An ninh mạng cho công dân ở cấp độ phổ thông? Khái niệm an ninh cần được cắt nghĩa rõ ràng hơn và hoàn chỉnh hơn. An ninh, hiểu rộng là trạng thái chung sống bình ổn của con người và môi trường của họ (bao gồm cả thiên nhiên, công nghệ, và các yếu tố phi nhân loại khác), là khái niệm bao trùm các khía cạnh xã hội, chính trị, và thể chế. Tuy an ninh xã hội không thể tách rời khỏi an ninh chính trị hay thể chế, các khía cạnh an ninh này không phải là một khối chung nhất. Khía cạnh xã hội của an ninh mạng là sự an toàn, cởi mở, và hợp pháp của các hoạt động diễn ra có liên quan đến mạng internet. Tính xã hội của an ninh mạng là việc bảo vệ người dùng internet, kể cả người lớn và trẻ em, khỏi những tác hại về tinh thần, sức khỏe, tiền bạc – và khỏi những hệ lụy vô hình hơn về những tổn thương đến sự tin cậy và tính đoàn kết xã hội. Tính quốc phòng của an ninh mạng là việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật an ninh vững chắc cho hệ thống mạng quốc gia tránh khỏi những vụ tấn công có tổ chức của các quốc gia và thế lực ngoại bang, cũng như nâng cao kiến thức địa-chính trị và kĩ năng cảnh giác trước những nguồn thông tin không rõ xuất xứ trên internet. Sự giao nhau giữa hai phạm trù này là một phạm vi nhỏ không mang tính bổ trợ cho nhau; việc hoán đổi phạm trù trong công tác lên phương án phổ cập Luật An ninh mạng sẽ dẫn đến sự hiểu sai về sự cần thiết của các kỹ năng và sự hiểu biết và bảo vệ an ninh xã hội trên mạng.     Dạy về an ninh mạng là rèn luyện ý thức và tư duy để học sinh có thể ứng phó với nhiều tình huống xã hội – công nghệ phức tạp trên internet.  Cần nói thêm rằng, sự mập mờ trong việc phân định các phạm trù khác nhau trong an ninh mạng không phải là vấn đề chỉ diễn ra ở Việt Nam. Truyền thông các quốc gia nói tiếng Anh cũng đã và đang trải qua nhiều thập niên đưa tin thiếu phân định rạch ròi và thiếu biện luận chặt chẽ về việc truyền tải đến dư luận cách hiểu vị trí và tầm ảnh hưởng của môi trường mạng – một môi trường không nằm tách biệt ra khỏi cuộc sống vật lý của chúng ta – mà bao trùm và thẩm thấu vào từng ngóc ngách của tổ chức xã hội hiện đại. Chính nhờ vào quá trình trao đổi mở giữa chuyên gia, truyền thông, và công chúng mà những hiểu biết của chúng ta về sự chung sống với công nghệ được hoàn thiện hơn. Khi đưa tin về việc phổ cập Luật An ninh mạng ở cấp phổ thông, trang ‘Thông tin Chính phủ’ trên Facebook có dẫn ảnh minh họa hoạt động ngoại khóa của học sinh ở Hà Nội học về an ninh mạng với các Luật sư của Đoàn Luật sư Hà Nội, kèm lời dẫn rằng mục đích của giáo dục Luật An ninh mạng nhằm giúp học sinh “ý thức khi sử dụng internet và mạng xã hội, tỉnh táo, không tham gia vào bất cứ nhóm nào mang tính kích động; không tự tiện đăng ảnh của người khác lên mạng kèm những thông tin không đúng sự thật và ảnh hưởng tới nhân phẩm, danh dự của người khác”. Tuy ảnh minh họa  như trên là góp phần giúp bài viết thêm tính sinh động, cách trình bày việc giáo dục pháp luật theo định hướng “luật sư tư vấn” là thiếu chính xác cho tinh thần phổ cập pháp luật. Việc tư vấn pháp luật cho công dân bởi các luật sư chuyên nghiệp diễn ra ở một phương diện hoàn toàn độc lập với việc giáo dục luật pháp. Phổ cập kiến thức pháp luật cần hướng đến việc chỉ ra tinh thần, mục đích, và phương thức của luật bên cạnh việc giáo dục những điều luật sẵn có, hoặc đơn thuần chỉ ra các hành vi bị cấm hoặc được cho phép bởi luật pháp. Cách tiếp cận này đặc biệt hữu ích cho một văn bản luật mới mẻ như Luật An ninh mạng – vốn có hiệu lực từ năm 2019 – và đặc biệt cần thiết khi tại Việt Nam, những hiểu biết mang tính có hệ thống về ảnh hưởng xã hội của công nghệ số vẫn còn hết sức hạn hẹp.      Việc giáo dục pháp luật cần hướng đến việc phổ cập chính tinh thần mở của luật pháp đến với học sinh và truyền đạt tinh thần xây dựng xã hội đến với thế hệ sau.      Cởi mở hơn trong tư duy phổ cập và triển vọng hoàn thiện Luật An ninh mạng  Để đạt được mục tiêu giáo dục này, việc phổ cập kiến thức công nghệ cơ bản và những khái niệm xã hội liên quan đến ảnh hưởng của công nghệ cần được tích hợp chặt chẽ vào chương trình giáo dục với phương hướng mở. Đặc tính và thực tiễn phát triển không ngừng của công nghệ và xã hội đòi hỏi giáo dục phổ thông cần nghiêm túc xem xét cách tiếp cận của mình để không chỉ ‘rao giảng’ các điều luật một cách máy móc, mà còn tận dụng cấu trúc pháp luật để rèn giũa tư duy cho học sinh. Cần tránh việc tiếp cận giáo dục pháp luật theo hướng học thuộc quy định và hướng tới truyền tải những thành quả xã hội tích cực mà tinh thần luật được tạo ra để bảo tồn và phát triển. Điều này khiến luật pháp có thể đến gần hơn với đại bộ phận học sinh, và thúc đẩy sự rèn luyện ý thức và tư duy để học sinh có thể ứng phó với nhiều tình huống xã hội – công nghệ phức tạp thường nhật mà phạm trù an ninh quốc phòng là lĩnh vực không phù hợp để làm “mảnh đất” truyền tải. Mạng internet có lẽ là một trong những hiện tượng công nghệ – xã hội hiếm hoi mà hầu hết đại bộ phận học sinh Việt Nam đều sở hữu một lượng kiến thức sẵn có đáng kể, dù đúng hay sai, dù bổ ích hay vô ích. Các em mang theo lượng kiến thức này vào ghế nhà trường; nếu các nhà giáo dục có thể tìm cách kết hợp lượng kiến thức sẵn có này vào các cuộc thảo luận tại lớp học, việc đẩy mạnh phổ cập và tư duy pháp luật đến nhà trường phổ thông sẽ được tối ưu hóa nhanh chóng.   Nhưng quan trọng hơn hết, việc giáo dục pháp luật cần hướng đến việc phổ cập chính tinh thần mở của luật pháp đến với học sinh và truyền đạt tinh thần xây dựng xã hội đến với thế hệ sau. Dù tinh thần và nguyên tắc của luật pháp là bất di bất dịch, các điều luật luôn được cập nhật, thay đổi để phù hợp với phát triển xã hội dựa trên chính những tinh thần và nguyên tắc này. Sự hoàn thiện liên tục của các văn bản luật phụ thuộc không nhỏ vào tư duy và hiểu biết của các công dân trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Cởi mở hơn trong việc tiếp cận giáo dục pháp luật là một phương án mang lại lợi ích cũng như tính bền vững và an ninh cho toàn xã hội. □    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Phó tổng thống Mỹ Joseph Biden – vị khách đi tàu nổi tiếng      Là một trong những người quyền lực nhất nước Mỹ nhưng Phó tổng thống Joseph Biden vẫn “khoái” đi tàu để có dịp tiếp xúc, trò chuyện nhiều hơn với người dân.    Với tư cách Phó Tổng thống, ông Biden có quyền sử dụng đủ loại phương tiện giao thông hiện đại, nhanh nhất, từ máy bay phản lực, trực thăng cho tới đoàn xe có hộ tống…  Thế nhưng, chính trị gia này vẫn không thích những “chiếc hòm” trên bởi nó ngăn cách ông với thế giới bên ngoài, với cuộc sống thường nhật. Do đó, ông tranh thủ mọi dịp thuận lợi là đi tàu điện, để được gặp gỡ, trò chuyện càng nhiều người dân càng tốt.  Sở thích “lạ kỳ”, giản dị của Phó Tổng thống Mỹ không phải bây giờ mới có. Trước khi vào Nhà Trắng, hầu như ngày nào ông Biden cũng đi làm và về nhà bằng tàu điện. Trong 36 năm làm việc ở Thượng viện, ông đi hơn 7.000 chuyến từ nhà ở Delaware tới công sở ở Washington D.C và ngược lại. Thời gian ở trên tàu là khoảng 10.000 giờ, với quãng đường 1,4 triệu km.  Ông Biden vất vả đi tàu như vậy, ngoài sở thích trò chuyện với người dân, còn là vì ông luôn muốn được ăn tối với gia đình, chăm sóc hai con trai nhỏ (nhất là từ khi vợ ông mất trong một tai nạn ô tô năm 1972).  Trong 6 năm làm “gà trống nuôi con” (Biden lấy vợ mới năm 1977), ông càng chăm sóc cẩn thận hai cậu con nhỏ, luôn sẵn sàng dừng mọi việc để nhận điện thoại của con, cho dù lúc đó ông đang ở xa, xử lý những công việc hệ trọng. Và dù có bận mấy, làm việc khuya thế nào, ông vẫn bắt tàu về nhà với các con ở Delaware.  Ngoài tình yêu dành cho con, cứ tới ngày 18/12 là “người đàn ông của gia đình” lại nghỉ việc, không phải để du lịch, nghỉ dưỡng mà để tưởng nhớ người vợ và con gái bị tai nạn năm nào.  Tổng thống Obama từng thừa nhận: “Tôi may mắn được làm việc với một trong những chính trị gia giỏi nhất trong thời đại này, người có lối sống dễ chịu với mọi người, từ các lãnh đạo thế giới cho tới những người lái tàu”.  Trong khi đó, để vinh danh hành khách đi tàu “vĩ đại”, nhà ga Wilmington (đông khách thứ 12 ở Mỹ) sau khi được nâng cấp cũng được đổi tên thành Joseph R. Biden vào năm ngoái.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng chống tự sát: Một nỗ lực liên ngành      LTS: Một vài trường hợp tự sát được lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội và báo chí gần đây đã lên cuộc thảo luận gay gắt về việc làm thế nào để ngăn ngừa và hạn chế tối đa những sự việc tương tự. Ví dụ dưới đây của Đài Loan chứng minh rằng phòng tránh tự sát không chỉ dựa vào hành động ở từng chuyên ngành đơn lẻ, mà là nỗ lực liên ngành từ nhiều cơ quan các cấp chính phủ, bệnh viện, truyền thông, cộng đồng bền bỉ trong gần hai thập kỉ.       Trung tâm Phòng chống tự sát của Đài Loan trong một cuộc họp với các bộ, ban ngành của nước này. Ảnh: Phạm Thị Thu Hường.  Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) luôn nhấn mạnh thông điệp rằng, tự sát có thể ngăn ngừa được bằng các biện pháp hiệu quả dựa trên bằng chứng với chi phí không quá cao. Tuy nhiên, để hiệu quả, việc phòng chống tự sát phải mang tính toàn diện, tích hợp đa ngành, đa diện giữa nhiều lĩnh vực trong xã hội vì không có một cách tiếp cận đơn lẻ nào có thể tác động đủ đến một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều yếu tố từ sinh lý – tâm lý – xã hội – văn hóa và môi trường sống như tự sát.  Kinh nghiệm từ chiến lược phòng chống tự sát của Đài Loan  Tự sát từng là một trong 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Đài Loan. Tỉ lệ tử vong do tự sát tăng gần gấp đôi từ 10/100.000 dân vào năm 1997 đến 18.8/100.000 dân trong năm 2005. Tuy nhiên, hiện nay, bằng những biện pháp mạnh mẽ, Đài Loan đã giảm được con số này trở lại gần bằng thời điểm năm 1997 với 11.8/100.000 dân (2020).  Câu chuyện phòng chống tự sát của Đài Loan xuất phát từ tháng 9/2005, khi nhận thấy tỉ lệ tử vong vì tự sát của nước này đang trên đà tăng quá nhanh, Bộ Y tế và Phúc lợi đã thiết lập dự án Phòng chống tự sát Quốc gia và Trung tâm phòng chống tự sát (Taiwan Suicide Prevention Center) với đường dây nóng tư vấn tâm lý. Đây chính là tiền đề tạo lập những nghiên cứu khoa học vững chắc, xác lập bức tranh tương đối rõ ràng về tình hình tự sát ở Đài Loan. Qua 16 năm dưới sự lãnh đạo của giáo sư Ming-Been Lee và cộng sự, Trung tâm phòng chống tự sát đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao các bằng chứng khoa học về tự sát thành các chính sách sức khỏe cộng đồng quốc gia và là cầu nối quan trọng giữa các nguồn lực từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Những đóng góp của Trung tâm phòng chống tự sát thể hiện rõ rệt trên chiến lược phòng chống tự sát theo mô hình ba tầng (cũng là mô hình mà Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo) của Đài Loan. Ba tầng này bao gồm: Tầng 1 – Tiếp cận bao quát toàn bộ người dân, Tầng 2 – Tiếp cận chọn lọc tới những người có nguy cơ tự sát cao và Tầng cuối cùng là tiếp cận tập trung hướng đến chăm sóc, theo dõi những người đã từng tự sát không thành và gia đình họ.  Tầng 1: Tiếp cận bao quát toàn bộ  Tầng này các chiến lược tập trung vào giáo dục kiến thức về tự sát và phòng tự sát, kiểm soát các phương tiện và hóa chất sử dụng trong tự sát (như than củi, thuốc trừ sâu), quản lý thông tin trong thông cáo báo chí và phim ảnh, truyền thông về sức khỏe tâm thần cho cộng đồng và đường dây nóng miễn phí tư vấn phòng tự sát.    Hạn chế của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam bao gồm thiếu chính sách và quy định pháp luật về sức khỏe tâm thần; tổ chức và lập kế hoạch dịch vụ không phù hợp; nguồn nhân lực thiếu hụt; và thiếu các can thiệp dựa trên bằng chứng.    Việc tư vấn tâm lý được tiến hành qua mạng lưới dày đặc các phòng sức khỏe tâm thần đặt ở mỗi quận/hạt (có quy mô gần giống như quận/huyện ở Việt Nam) do Cục Y tế ở đó thành lập và quản lý. Ngoài ra, việc truyền thông này còn thực hiện qua các trường học. Trung tâm phòng chống tự sát phối hợp với Bộ Giáo dục để triển khai các chương trình truyền thông về sức khỏe tâm thần ở trường học để đào tạo cho giáo viên và học sinh/ sinh viên. Các nhà tư vấn tâm lý ở trường cũng được đào tạo để liên kết và chuyển tuyến các trường hợp có nguy cơ tự sát tới bệnh viện tâm thần khi cần thiết. Việc tiếp cận các dịch vụ tâm lý ở Đài Loan cũng thuận tiện và dễ dàng khi có gần 200 bệnh viện chuyên khoa tâm thần và khoa tâm thần thuộc bệnh viện đa khoa, với 264 phòng khám tâm thần tư nhân trên gần 23.5 triệu dân trên toàn quốc. Trung tâm phòng chống tự sát cũng thường xuyên phát hành tạp chí, ấn phẩm hướng tới cả giới chuyên môn và cộng đồng để nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng tránh tự sát. Ngoài ra, không thể không kể đến đường dây nóng tư vấn tâm lý túc trực 24/7 từ năm 2005. Trong đó các ca tư vấn được báo ngay đến cảnh sát để xác định vị trí của người đang trong cơn khủng hoảng. Mỗi năm có khoảng trên 70 nghìn cuộc gọi tới đường dây nóng và khoảng 600 trường hợp trong số đó được giải cứu ngay lập tức và đưa đến bệnh viện để điều trị.  Truyền thông cũng có một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa tự sát. Bộ Y tế và Trung tâm Phòng chống tự sát thường xuyên tổ chức đào tạo với các cơ quan truyền thông về tầm quan trọng trên sản phẩm đại chúng liên quan đến tự sát, và tổ chức họp báo về phòng chống tự sát hằng năm. Từ năm 2006, các cơ quan truyền thông tại Đài Loan bắt đầu được khuyến cáo để áp dụng sáu nguyên tắc NÊN LÀM và sáu nguyên tắc KHÔNG NÊN LÀM do Tổ chức y tế thế giới hướng dẫn khi báo cáo về tự sát.    Nếu kiểm soát được, nhà nước sẽ bằng mọi cách tác động để hạn chế hoặc ngăn cản người dân sử dụng các phương tiện tự sát. Theo số liệu tự sát ở Đài Loan, năm phương thức tự sát phổ biến nhất là: treo cổ, ngộ độc khí CO từ đốt than củi, ngộ độc thuốc trừ sâu, nhảy lầu, và chết đuối. Tỉ lệ tự sát do ngộ độc khí CO từ đốt than củi đang chiếm tỉ lệ lớn và gia tăng gần đây (33.8% vào năm 2006 và 23.9% vào năm 2013). Để giảm tỉ lệ tự sát do than củi, Bộ Y tế đã mời quản lý của tất cả các siêu thị lớn và nhờ họ không chỉ sắp xếp than củi ở trên giá có khóa trong siêu thị mà còn dán số đường dây nóng tư vấn tự sát lên các túi than củi, dán bảng sàng lọc mức độ căng thẳng tâm lý, tờ rơi về những câu nói truyền cảm hứng về sự sống ở quầy thanh toán ở tất cả siêu thị/ cửa hàng tiện lợi trên toàn quốc. Đài Loan cũng nỗ lực ngăn chặn việc tự tử bằng thuốc trừ sâu, mà đặc biệt là thuốc diệt cỏ paraquat. Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp thảo luận về hậu quả nặng nề của paraquat trong những ca tự sát và tới 1/2/2018 Bộ Nông nghiệp đã thông báo dừng nhập khẩu paraquat trên toàn quốc và dừng sử dụng từ 1/2/2019. Theo báo cáo mới nhất, sau lệnh cấm paraquat, tỉ lệ tự sát bằng paraquat giảm khoảng 58% năm 2019 và giảm tới 74% năm 2020. Cũng theo nghiên cứu của Trung tâm phòng chống tự sát Đài Loan, không có bằng chứng của việc chuyển sang phương pháp tự sát khác hay thay đổi sản lượng nông nghiệp sau luật cấm sử dụng paraquat.  Tầng 2: Tiếp cận chọn lọc   Tầng này bao gồm các chiến lược nhận biết sớm, phòng chống, và can thiệp những cá nhân có nguy cơ tự sát cao; sử dụng Nhiệt kế đo tâm trạng (5-item Brief Symptom Rating Scale, BSRS-5) để sàng lọc mức độ căng thẳng tâm lý và ý tưởng tự sát rồi khuyến cáo nhu cầu can thiệp ở từng mức độ để nâng cao tiếp cận về chăm sóc sức khỏe tâm thần.  Nổi bật là chương trình đào tạo người “giữ cửa” (gatekeeper training) – tức là đào tạo những người dễ tiếp xúc và can thiệp nhất đối với những người gặp khủng hoảng tâm thần. Những người này không chỉ bao gồm các nhân viên y tế trong chuyên ngành tâm thần mà cho tất cả các bác sĩ, điều dưỡng và còn mở rộng ra cả giáo viên, công an, chủ kinh doanh thuốc trừ sâu trên toàn quốc. Họ được trang bị kiến thức cơ bản về tự sát, nhận biết và đánh giá nguy cơ tự sát và phối hợp chuyển các trường hợp tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp.  Tác giả Phạm Thị Thu Hường đang giáo dục tâm lý cho bệnh nhân. Ảnh: Nhân vật cung cấp.  Người cao tuổi là một trong những đối tượng có nguy cơ tự sát cao. Bởi vậy, người cao tuổi trong các trung tâm y tế, viện dưỡng lão và những người cao tuổi cô đơn đều được khám sàng lọc tại cộng đồng thường xuyên. Các ca nghi ngờ sẽ được chuyển đến bệnh viện để được khám và chẩn đoán chuyên sâu hơn.  Bên cạnh đó, các bác sĩ đa khoa ở các tuyến bệnh viện đều được đào tạo về chẩn đoán và điều trị trầm cảm. Các bệnh viện tâm thần đều có chương trình phòng chống tự sát từ nội trú tới ngoại trú đối với các ca nhập viện có ý tưởng và hành vi tự sát.  Tầng 3: tiếp cận tập trung  Nhiệm vụ của tầng này chăm sóc những người đã từng tự sát không thành và người thân của họ. Để theo sát họ, Chính phủ Đài Loan thiết lập Hệ thống giám sát tự sát quốc gia (National Suicide Surveillance System – NSSS). Hệ thống này kết nối chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và bệnh viện, cũng như các bộ ban ngành khác trong chính phủ để lưu trữ và cập nhật chính xác các ca tự sát trên toàn quốc. Từ đó, họ có thể cung cấp dịch vụ theo dõi phù hợp cho những người sống sót bao gồm tư vấn, giáo dục tâm lý hay chăm sóc sức khỏe tâm thần và phúc lợi xã hội. Tới năm 2016, cả nước có 126 người quản lý ca tự sát với hơn 200 nghìn ca/năm. Những người này là bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên tâm lý, có nhiệm vụ theo sát và hỗ trợ những người có hành vi tự sát.  Hiện nay mỗi quận/hạt của Đài Loan đều có hệ thống chương trình riêng về phòng tự sát và được Trung tâm phòng chống tự sát phối hợp, hỗ trợ, và đánh giá phù hợp với tiêu chí riêng của vùng. Tự sát đã không còn trong nhóm 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Đài Loan từ năm 2010. Để quản lý các chiến lược phòng tự sát hiệu quả hơn, Trung tâm phòng chống tự sát đã được chính phủ thông qua Luật Phòng chống tự sát và bắt đầu có hiệu lực từ  ngày 19/6/2019. Luật này thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa các bộ, ngành, tổ chức khác nhau trong việc phòng chống tự sát. Cụ thể, Từ năm 2010 tới nay, các Bộ trưởng và Thứ trưởng các Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, Bộ Phúc lợi xã hội, Bộ lao động, Bộ tư pháp, Bộ Văn hóa, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp đều có các buổi họp hai – ba lần một năm để thảo luận về vai trò của từng Bộ trong việc nâng cao sức khỏe tâm thần và phòng chống tự sát. Chẳng hạn, Bộ Văn hóa sẽ xây dựng các hoạt động hướng tới cộng đồng và truyền thông nói chung, Bộ Giáo dục phụ trách truyền thông và hướng dẫn về phòng chống tự sát cho giáo viên, học sinh, sinh viên. Bộ Y tế và Phúc lợi tập trung hỗ trợ những người có ý tưởng và hành vi tự sát và sức khỏe tâm thần cộng đồng. Bộ Nông nghiệp tập trung quản lý mua bán thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ qua chủ cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật.  Nhìn về Việt Nam  Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2019, tỉ lệ tự sát ở Việt Nam là 7.3/100.000 dân. Con số này thấp hơn trung bình toàn cầu là 9.0/100.000 dân. Phương pháp tự sát phổ biến nhất là treo cổ và ngộ độc hóa chất như thuốc trừ sâu. Một nghiên cứu trên bệnh nhân nhập viện do tự sát tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, 67% số ca được chẩn đoán khẳng định có ít nhất một loại rối loạn tâm thần, trong đó rối loạn trầm cảm có tỉ lệ cao nhất, chiếm tới 23.3%. Theo nghiên cứu, ở các nước phát triển có tới 80% ca tự sát được xác định là có một chẩn đoán trầm cảm chủ yếu, nhưng tỉ lệ này ở các nước đang phát triển chỉ là 45%. Cũng theo WHO, sự chênh lệch này phản ánh một thực tế rõ ràng về sự kì thị liên quan tới bệnh tâm thần và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn những ca tự sát đều diễn ra tại nhà hoặc cộng đồng (57-85%) và chỉ một tỉ lệ nhỏ chưa đến 5% là xảy ra ở bệnh viện tâm thần.  Ở Việt Nam, hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần tập trung điều trị nội trú chủ yếu ở bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, còn lại rất hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, theo dõi người bệnh tại cộng đồng. Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc khám sàng lọc, kê đơn và theo dõi thuốc hằng tháng cho người bệnh tâm thần phân liệt và động kinh mạn tính từ năm 1999. Hơn nữa, người bị các chứng rối loạn tâm thần và gia đình còn lo sợ xã hội kì thị. Các gia đình thường tự chăm sóc, hỗ trợ người bệnh tâm thần tại nhà và hạn chế sử dụng các dịch vụ từ hệ thống nhà nước. Họ chỉ đưa người bệnh tới bệnh viện tâm thần khi tình trạng rất nặng.    Để cải thiện dịch vụ chăm sóc người bệnh có nguy cơ tự sát cần có những thay đổi chính sách phù hợp để thích nghi với những xu hướng phát triển của y tế thế giới và đảm bảo an toàn cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.    Theo nhiều nghiên cứu chỉ ra, hạn chế của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam bao gồm thiếu chính sách và quy định pháp luật về sức khỏe tâm thần; tổ chức và lập kế hoạch dịch vụ không phù hợp; nguồn nhân lực thiếu hụt; và thiếu các can thiệp dựa trên bằng chứng.  Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi quốc gia cần phát triển và thiết lập chương trình phòng chống tự sát quốc gia với phương châm “phòng chống tự sát là trách nhiệm của mỗi người”. Tỷ lệ tự sát đã được đưa vào tiêu chí đánh giá quốc gia về tiêu chuẩn an toàn cho người bệnh trong đánh giá chất lượng bệnh viện ở Mỹ, đồng thời chính phủ cũng yêu cầu các bệnh viện phải tiến hành đánh giá nguy cơ tự sát đối với tất cả những người bệnh có ý tưởng tự sát. Những đánh giá bao gồm phỏng vấn trực tiếp về ý tưởng tự sát, kế hoạch, dự định, hành vi tự sát hay hủy hoại bản thân, các yếu tố nguy cơ, và yếu tố bảo vệ. Đồng thời phải có chính sách quốc gia về theo dõi và cung cấp dịch vụ chăm sóc sau khi ra viện đối với những người bệnh ngoại trú có nguy cơ tự sát cao. Tuy nhiên, tiêu chí về tỉ lệ tự sát và sàng lọc tự sát vẫn chưa được đưa vào trong Bộ 83 tiêu chí đáng giá chất lượng bệnh viện ở Việt Nam phiên bản mới nhất năm 2016. Do vậy, để cải thiện dịch vụ chăm sóc người bệnh có nguy cơ tự sát cần có những thay đổi chính sách phù hợp để thích nghi với những xu hướng phát triển của y tế thế giới và đảm bảo an toàn cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.  Những kinh nghiệm của Đài Loan có thể hữu ích đối với Việt Nam, đặc biệt là trong việc thúc đẩy nhận thức và xóa bỏ sự kì thị của cộng đồng đối với các rối loạn tâm thần, đồng thời mở rộng, phát triển mạnh hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần hiện nay để có thể hỗ trợ kịp thời và hợp lí. Cũng như Đài Loan, Việt Nam có thể sử dụng cách tiếp cận ba tầng trong việc phòng chống tự sát.  Với tầng thứ nhất tiếp cận bao quát toàn bộ: Không chỉ Bộ Y tế, các bộ, ban ngành khác cũng cần thiết phải tham gia vào việc hạn chế các phương tiện có thể gây tự sát và thay đổi nhận thức người dân trong việc phòng chống tự sát. Theo đó, Bộ Y tế có thể theo dõi quản lý để giảm tác hại và tác động lâu dài do rượu bia gây ra (theo Luật Phòng chống tác hại của rượu bia có hiệu lực từ 1/1/2020). Nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nguy cơ tự sát ở những người nghiện rượu cao gấp 60-120 lần so với những người không sử dụng rượu. Bộ cũng cần quản lý chặt chẽ thuốc bán theo đơn như nhóm thuốc hướng tâm thần, nhóm thuốc độc bảng A, B, thuốc gây nghiện. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần quản lý chặt chẽ việc mua bán thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Mặc dù đã bị loại khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng từ năm 2017, và cấm buốn bán từ 2019 nhưng thuốc diệt cỏ chứa hoạt chất paraquat 2. 4D vẫn được mua bán khá dễ dàng. Theo Bệnh viện Bạch Mai, mỗi năm trên cả nước có hàng nghìn ca nhập viện do ngộ độc, tử vong do paraquat. Các cơ quan truyền thông, các tổ chức phi chính phủ có thể giúp nâng cao nhật thức và giảm kì thị của cộng đồng về sức khỏe tâm thần, đặc biệt đối với những người đang tìm kiếm sự trợ giúp về mặt tâm lý. Báo chí và những người làm nghệ thuật cần tham khảo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới khi đưa tin về tự sát hoặc sáng tác liên quan đến chủ đề tự sát và tự hại để giảm thiểu tác động có hại tiềm ẩn đối với những người dễ bị tổn thương hoặc có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Bộ Giáo dục cần duy trì và đẩy mạnh chương trình tâm lý học đường, bồi dưỡng kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết vấn đề và quản lý cảm xúc ở lứa tuổi thanh thiếu niên.  Với tầng thứ hai tiếp cận có chọn lọc: Việt Nam đã thành lập Chương trình quốc gia cho Rối loạn trầm cảm kể từ năm 2015 nhưng gặp nhiều khó khăn vì thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn về sức khỏe tâm thần ở các tuyến cơ sở. Do vậy, chuyên ngành tâm thần  cần phối hợp đào tạo cho cán bộ y tế các cấp nhận diện sớm, đánh giá, quản lý và theo dõi người có rối loạn tâm thần, rối loạn sử dụng chất gây nghiện, đau mạn tính và căng thẳng tâm lý cấp tính. Từ đó, các bệnh viện có thể tham gia đào tạo cho những nhóm tình nguyện viên ở cộng đồng cách đánh giá và hỗ trợ, quản lý những người có ý tưởng và hành vi tự sát ở cộng đồng. Hơn nữa, học hỏi từ phía Đài Loan, Bộ Y tế nên chuẩn hóa và phổ biến rộng rãi chương trình “gatekeeper training”. Đây là chương trình dành cho những người thường xuyên tiếp xúc và có tiếng nói đối một số cộng đồng trong xã hội, chẳng hạn như nhân viên y tế, giáo viên, công an. Nếu có kiến thức và thái độ, kĩ năng đúng đắn về sức khỏe tâm thần, họ có thể giúp nhận biết những người có nguy cơ, xác định mức độ nguy cơ tự sát và chuyển tuyến phù hợp. Các chương trình hỗ trợ tâm lý cần đặc biệt tập trung vào những nhóm dễ bị tổn thương như nạn nhân bị bạo hành, trải qua thảm họa, có người thân ra đi do tự sát.  Với tầng thứ ba tiếp cận tập trung, Bộ Y tế cần hỗ trợ chính sách để các bệnh viện tâm thần các cấp thiết lập chương trình theo dõi chăm sóc, hỗ trợ định kì đối với những người đã có hành vi tự sát sau khi ra viện. Bên cạnh đó, các bệnh viện tâm thần đều có thể cung cấp đường dây nóng tư vấn về tự sát.  Những gợi ý trên cần được đánh giá và áp dụng phù hợp trong bối cảnh các nghiên cứu chuyên sâu và chất lượng về các biện pháp can thiệp tự sát ở Việt Nam còn hạn chế. Để có các chương trình và chính sách phòng chống tự sát phù hợp với hệ thống, văn hóa, xã hội và thực sự có tác động lâu dài, các cơ quan ban ngành và các cấp chính quyền ở Việt Nam cần phải đầu tư và khuyến khích các nghiên cứu triển khai về vấn đề này để chính phủ và cộng đồng cùng chung tay trong phòng chống tự sát.□  —-  Tác giả: Nghiên cứu sinh, trường Đại hoc Quốc gia Đài Loan; Trợ lý nghiên cứu, Trung tâm Phòng chống tự sát Đài Loan; Giảng viên Khoa Điều dưỡng – Hộ sinh, trường Đại học Y Hà Nội; Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai.  —-  Tác giả xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ và góp ý về thông tin cho bài viết này từ Hội phòng chống tự sát Đài Loan và đặc biệt là:  GS. Ming-Been Lee, Chủ tịch Hội Phòng chống tự sát Đài Loan, GS danh dự trường Đại học Quốc gia Đài Loan.  GS. Jenny Chia-Yi Wu, Phó chủ tịch Hội phòng chống tự sát Đài Loan, Chủ tịch Hội Trầm cảm Đài Loan, GS Khoa Điều dưỡng – trường Đại học Quốc gia Đài Loan.  TS. Happy Tan, nguyên Cục trưởng Cục Sức khỏe Tâm thần và Nha khoa, Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan.  Tài liệu tham khảo:   2021https://www.mohw.gov.tw/dl-70945-f9e765cd-2149-43ac-ba8e-5ceceb8b315c.html  https://sites.google.com/a/tsos.org.tw/english/achievement?authuser=0  WHO, Suicide fact. 2021. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/suicide  Chang, S. S., Lin, C. Y., Lee, M. B., Shen, L. J., Gunnell, D., & Eddleston, M. (2022). The early impact of paraquat ban on suicide in Taiwan. Clinical toxicology (Philadelphia, Pa.), 60(1), 131–135. https://doi.org/10.1080/15563650.2021.1937642  World Health Organization & International Association for Suicide Prevention. (‎2017)‎. Preventing suicide: a resource for media professionals, 2017 update. World Health Organization. https://apps.who.int/iris/handle/10665/258814.  http://bachmai.gov.vn/tin-tuc-va-su-kien/y-hoc-thuong-thuc-menuleft-32/4564-ngo-doc-thuoc-diet-co-paraquat-nhung-cai-chet-am-anh.html  Grumet, J. G., Hogan, M. F., Chu, A., Covington, D. W., & Johnson, K. E. (2019). Compliance Standards Pave the Way for Reducing Suicide in Health Care Systems. Journal of Health Care Compliance, 21(1), 10.  Preventing suicide: a resource for filmmakers and others working on stage and screen. Geneva: World Health Organization; 2019. https://apps.who.int/iris/bitstream/handle/10665/328774/WHO-MSD-MER-19.4-eng.pdf  Pompili, M., Serafini, G., Innamorati, M., Dominici, G., Ferracuti, S., Kotzalidis, G. D., Serra, G., Girardi, P., Janiri, L., Tatarelli, R., Sher, L., & Lester, D. (2010). Suicidal behavior and alcohol abuse. International journal of environmental research and public health, 7(4), 1392–1431. https://doi.org/10.3390/ijerph7041392  Tuan, N. V., Dalman, C., Thiem, N. V., Nghi, T. V., & Allebeck, P. (2009). Suicide Attempts by Poisoning in Hanoi, Vietnam: Methods Used, Mental Problems, and History of Mental Health Care. Archives of Suicide Research, 13(4), 368-377. doi:10.1080/13811110903266657  Nguyen, T. V., Dalman, C., Le, T. C., Nguyen, T. V., Tran, N. V., & Allebeck, P. (2010). Suicide attempt in a rural area of Vietnam: Incidence, methods used and access to mental health care. International Journal of Mental Health Systems, 4(1), 3. doi:10.1186/1752-4458-4-3  Cuong, T. V. (2017). Mental Health Care in Vietnam. Taiwanese Journal of Psychiatry, 31 (4), 13.  Dang, D. D. (2010). Đánh giá ý tưởng và hành vi tự sát trên người bệnh rối loạn trầm cảm nặng. Luận án chuyên khoa 2, Đại học Y Hà Nội.  Dang, H. M., Lam, T. T., Dao, A., & Weiss, B. (2021). Mental health literacy at the public health level in low and middle income countries: An exploratory mixed methods study in Vietnam. PLoS ONE, 15(12), e0244573. doi:10.1371/journal.pone.0244573  Van der Ham, L., Wright, P., Van, T. V., Doan, V. D. K., & Broerse, J. E. W. (2011). Perceptions of Mental Health and Help-Seeking Behavior in an Urban Community in Vietnam: An Explorative Study. Community Mental Health Journal, 47(5), 574-582. doi:10.1007/s10597-011-9393-x  Vuong, D. A., Van Ginneken, E., Morris, J., Ha, S. T., & Busse, R. (2011). Mental health in Vietnam: Burden of disease and availability of services. Asian Journal of Psychiatry, 4(1), 65-70. doi:https://doi.org/10.1016/j.ajp.2011.01.005  Nguyen, T., Tran, T., Tran, H., Tran, T., & Fisher, J. (2019). Challenges in Integrating Mental Health into Primary Care in Vietnam. In S. Okpaku (Ed.), Innovations in Global Mental Health (pp. 1-21). Cham: Springer International Publishing.    Author                Phạm Thị Thu Hường        
__label__tiasang Phòng dịch và quản lý rủi ro trong nhà máy, khu công nghiệp      Để giảm rủi ro lây nhiễm và kịp thời chăm sóc các F0, khu công nghiệp, các nhà máy cần có quy trình chăm sóc y tế và quản lý rủi ro ngay tại chỗ, đồng thời bố trí tăng thông khí tại các khu vực văn phòng.      Xét nghiệm tại khu chế xuất Tân Thuận, TP HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Để tiếp tục sản xuất trong các khu công nghiệp đang có nguy cơ lây nhiễm hoặc đã xuất hiện F0 thì các nhà máy phải lên phương án quản lý rủi ro và xây dựng quy trình: Quản lý rủi ro để không lây lan sang các ca kíp, dây chuyền, nhà máy khác; Quản lý rủi ro để kịp thời chăm sóc các F0 cần chăm sóc y tế bằng cách thành lập tổ y tế cộng đồng, trang bị các thiết bị chăm sóc tại chỗ, phát hiện và chuyển các ca cần chăm sóc lên tuyến y tế trên khi cần thiết; Trao đổi và tạo sự đồng thuận với công nhân về các điều kiện làm việc tại nhà máy trong tình hình dịch bệnh cũng như khả năng dịch bệnh còn diễn biến lâu dài cần đảm bảo sản xuất.  Cụ thể, các nhà máy cần lên kế hoạch bố trí sản xuất theo các hạng mục:  1. Sắp xếp để các bộ phận văn phòng làm việc tại nhà (nếu có thể).  2. Ngăn thành từng block sản xuất riêng để đảm bảo khi có các ca lây nhiễm không dẫn đến bị đứt gãy hoặc ảnh hưởng nhiều đến toàn bộ các dây chuyền sản xuất khác. Nếu có điều kiện thì trong một block nên chia thành nhiều block nhỏ.   3. Mở các cửa thông gió trên mái, trên tường, cửa ra vào, cửa sổ. Lắp đặt quạt hút gió công nghiệp tại khu vực sản xuất.   Vệ sinh khu vực sản xuất: Làm sạch định kỳ và mở toàn bộ cửa và bật quạt thông gió khu vực sản xuất sau mỗi lần thay ca kíp và khi phát hiện F0. Nhà vệ sinh cần được hút gió và làm sạch liên tục. yêu cầu người lao động làm sạch vị trí làm trước khi rời đi.  Giảm mật độ tiếp xúc của người lao động, lý tưởng là 2-4m2/người. Chia công nhân làm theo ca kíp. Ưu tiên trao đổi nội bộ qua điện thoại thay vì gặp mặt trao đổi trực tiếp. Dán các ký hiệu vị trí đứng, ngồi, hướng đi. Tạo khoảng cách bằng cách lắp vách ngăn giữa các khu vực/bộ phận để làm giảm nguy cơ lây lan.   Yêu cầu, tập huấn và thiết lập hệ thống loa nhắc nhở công nhân, cán bộ nhân viên định kỳ về đeo khẩu trang đúng, rửa tay đúng, không nói chuyện khi đứng gần (cả trong giờ làm việc và giờ nghỉ). Đặt khay khẩu trang và nước rửa tay rải rác nhiều nơi trong khu làm việc và trong nhà vệ sinh. Cử cán bộ giám sát việc thực hiện.  Sắp xếp một khu vực y tế riêng gồm các phòng cách ly người có triệu chứng, F1 và F0.   4. Giám sát người lao động hằng ngày xem họ có triệu chứng nghi mắc COVID không và nhắc họ báo cho cán bộ quản lý ngay lập tức để được cách ly. Xét nghiệm định kỳ để phát hiện sớm và tách F0 để duy trì được đội sản xuất.   5. Tách nhóm nhân viên phục vụ (bếp, vệ sinh, hành chính) thành một khối riêng không tiếp xúc trực tiếp với tất cả các block sản xuất. Lên kế hoạch thay thế nhân sự khi có F0, F1 cần được cách ly.   6. Lập tổ y tế trong nhà máy để xử trí ca nhẹ và phát hiện sớm ca nặng.  7. Trang bị nhiều máy đo độ bão hòa oxy (SpO2) cho công nhân tự theo dõi. Trong trường hợp SpO2 giảm mà chưa có kết quả xét nghiệm COVID cũng coi là một ca nghi nhiễm và cần xét nghiệm ngay, và điều trị khi kết quả xét nghiệm COVID dương tính trong lúc chờ chuyển viện.   8. Trong trường hợp có nhiều F0 mắc bệnh nhẹ thì vẫn có thể phân riêng khu cho F0 để họ tiếp tục sản xuất.  Các vaccine hiện nay đã được phê duyệt, kể cả không có hiệu lực chống lây nhiễm cao bằng vaccine mRNA thì đều giúp chống tăng nặng, chống tử vong và an toàn trên người được tiêm. Các nhà máy, khu công nghiệp nên thảo luận với công nhân về việc tiêm ngay vaccine nào có sẵn, đều đạt hiệu quả bảo vệ sức khỏe.  Tăng thông khí trong các khu vực văn phòng  Bên cạnh các biện pháp 5K, cần sửa đổi và lắp đặt trang thiết bị (nếu có điều kiện) để tăng thông gió, thoáng khí; do đó làm giảm nồng độ vi rút trong không khí và trên bề mặt. Nếu không có điều kiện lắp đặt trang thiết bị mới thì những thay đổi cơ bản dưới đây có thể làm tăng đáng kể mức độ thông khí tại các khu vực kín. Các biện pháp này không loại trừ hoàn toàn nguy cơ lây nhiễm nhưng có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ này.  – Mở cửa ra vào, các cửa sổ, bật quạt để đuổi không khí trong phòng ra ngoài (không để luồng gió đi từ người này qua người khác) hoặc quạt hút gió đặt tại cửa sổ.  – Quạt hút trong nhà vệ sinh luôn bật và hoạt động hiệu quả với tốc độ cao nhất.  – Sử dụng máy hút mùi trong khu bếp khi có người sử dụng khu vực này.  – Sử dụng hệ thống lọc không khí di động có màng lọc HEPA để tăng cường làm sạch không khí (đặc biệt ở những khu vực có nguy cơ cao).   – Lắp đặt hệ thống hút gió trên trần nhà (nếu có điều kiện).  – Lắp đặt bộ lọc khí trung tâm và đặt chế độ lọc cao nhất có thể. Đảm bảo bộ lọc không khí có kích thước phù hợp và sử dụng trong thời gian được khuyến nghị. Kiểm tra vỏ và giá đỡ của bộ lọc để đảm bảo bộ lọc vừa khít và giảm thiểu không khí lưu thông xung quanh thay vì đi qua bộ lọc.  – Sử dụng hệ thống chiếu tia cực tím (UVGI) ở những khu vực thông gió, thoáng khí kém.  – Khởi động hệ thống tăng thông khí 2 tiếng trước và sau khi có người sử dụng.  – Hạn chế tối đa việc sử dụng điều hòa khi có hơn 1 người sử dụng chung 1 phòng.     Do vẫn không loại trừ được nguy cơ lây nhiễm hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế nên các nhà máy, khu công nghiệp cần thử nghiệm và đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho từng khu vực có đặc điểm, mục đích sử dụng và thời tiết khác nhau. Đồng thời, xây dựng hệ thống checklist để người lao động và cán bộ chịu trách nhiệm giám sát/thanh tra có thể tự đánh giá và đưa ra các giải pháp cải thiện. Tham khảo checklist kiểm tra nơi làm việc của các ngành nghề khác nhau của Australia (https://www.safeworkaustralia.gov.au/collection/workplace-checklists-covid-19).    Author                Nguyễn Thu Anh        
__label__tiasang Phỏng vấn cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ Mỹ      Cơ quan Đạo đức Chính phủ Mỹ (US Office Of Government Ethics, OGE) chỉ là một cơ quan nhỏ trong bộ máy Chính phủ Mỹ nhưng lại lập thành tích nổi bật trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước này. Có người gọi nó là “Thanh gươm Damocles ngăn chặn tham nhũng”. Tôi may mắn được đến thăm OGE, dưới đây xin kể lại chuyến thăm ấy.      Giải thích quy phạm đạo đức bằng biếm họa  OGE tọa lạc tại số nhà 1201 đại lộ New York vùng tây bắc thủ đô Washington. Đây là một tòa nhà văn phòng cho thuê. Lên đến tầng 5, ra khỏi thang máy tôi đã thấy tấm biển logo của OGE đập vào mắt: đầu một chú chim ưng trắng mắt sắc như dao nằm giữa hàng chữ “Cơ quan Đạo đức Chính phủ Mỹ” ôm vòng xung quanh, khiến người ta có cảm giác con mắt ấy đang săm soi từng vị công chức, ngăn chặn họ có những hành vi phi đạo đức.    Đúng giờ hẹn, một phụ nữ ở phòng đối ngoại ra đón tôi. Trong câu chuyện xã giao, bà nói, phiên dịch cái tên OGE thành “Cơ quan Đạo đức” không thích hợp lắm, vì trong tiếng Anh, “đạo đức” (morals) và “luân lý” (ethics) là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Đạo đức chủ yếu nói giá trị quan và tín ngưỡng của một người, mà OGE lại không quản lý chuyện ấy. Nhưng trước đó, tôi đã tìm hiểu thấy là trong tiếng Trung Quốc hai từ này thường dùng lẫn lộn, vì thế tuy dịch OGE là “Cơ quan Đạo đức” thì không chính xác song từ này lại được dùng rất phổ biến, hãy tạm thời công nhận như vậy trước khi tìm được từ khác chính xác hơn.                Robert I. Cusick          Sau vài câu xã giao, tôi được dẫn tới phòng làm việc của Giám đốc OGE – ông Robert I. Cusick. Chủ nhân nhiệt tình dẫn khách đi xem các phòng làm việc thuộc OGE.  Trên tường phòng của ông Cusick treo nhiềuHãy để cuộc đời của bạn nói thay bạn” (Let Your Life Speak) – có lẽ đây là câu châm ngôn tự răn mình của chủ nhân. Trên tường còn treo ảnh Sir Thomas More tác giả cuốn Utopia, nhà không tưởng chủ nghĩa nổi tiếng người Anh thời Văn nghệ phục hưng. Vì sao ngài Giám đốc OGE lại quan tâm đến More nhỉ? chứng chỉ và các huy chương. Tôi để ý tới tấm biển có viết câu ““Hãy để cuộc đời của bạn nói thay bạn” (Let Your Life Speak) – có lẽ đây là câu châm ngôn tự răn mình của chủ nhân. Trên tường còn treo ảnh Sir Thomas More tác giả cuốn Utopia, nhà không tưởng chủ nghĩa nổi tiếng người Anh thời Văn nghệ phục hưng. Vì sao ngài Giám đốc OGE lại quan tâm đến More nhỉ?    Cusick giải thích: Thomas More từng làm luật sư, nghị sĩ, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Hạ viện và Chánh Tòa Tối cao Anh Quốc, có thời là nhân vật số hai chỉ sau Vua Anh. Nhưng do trongkhông chịu nhẫn nhịn nên Vua Henry VIII rất bực mình. Năm 1532, khi xử lý việc hôn nhân của Vua Anh với cung nữ Anna Paulin, ông không chịu đi ngược niềm tin của mình mà từ chức Chánh Tòa Tối cao, điều đó đã chọc tức Henry VIII. Hậu quả là năm 1535 ông bị xử tử với tội “phản quốc”. Trên đoạn đầu đài, ông tỏ ra vô cùng dũng cảm, trước khi lưỡi dao của đao phủ hạ xuống đầu, ông còn cẩn thận vuốt bộ râu đồ sộ của mình ra khỏi cái thớt chặt đầu. Có người nghe thấy ông châm biếm nói: “Bộ râu này mà cũng bị chặt thì tiếc quá nhỉ, nó chưa bao giờ phạm tội phản quốc mà!”     Cusick nói, trước cường quyền, More không tiếc hy sinh tính mạng mình để giữ được lương tâm và tiết tháo, “Trên thế giới hiện nay có rất nhiều người, nhất là các luật sư, đều coi More là tấm gương của đạo đức và lương tâm”.    Nói rồi Cusick đi vào câu chuyện chính, giới thiệu về Cơ quan OGE của mình. Ông cho biết tất cả các phòng làm việc đều thuê, toàn bộ tầng 5 rộng thênh thang này là của OGE, tiền thuê hàng năm khoảng 1,3 triệu USD. Cusick dẫn tôi đi thăm các phòng mất mấy tiếng đồng hồ.    Tại một phòng tôi thấy các tủ đựng hồ sơ mở toang cửa. Ông bảo, đây là những bản khai báo tài sản của các quan chức cấp cao Chính phủ Mỹ nộp lên, trong đó dĩ nhiên có cả bản khai của Tổng thống và Phó Tổng thống.     Tại phòng họp tôi thấy dán đầy biếm họa. Cusick nói, đây là một dự án giáo dục đạo đức cho cán bộ chính quyền; để tăng sức thu hút, các nhân viên OGE làm một loạt tranh cartoon (hoạt hình), dùng hình thức chuyện cartoon để giải thích quy phạm đạo đức một cách hình ảnh.     Cấp bậc tương đương FBI nhưng chỉ có 70 nhân viên  Trở lại phòng làm việc, ông Cusick giới thiệu sơ qua lịch sử của OGE. Nó được thành lập theo “Luật Đạo đức Chính quyền Mỹ năm 1978”, mới đầu thuộc về Tổng cục Quản lý Nhân sự Chính phủ Liên bang, năm 1989 tách ra thành cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ Liên bang.   OGE có chức trách chính là: – Soạn thảo Quy phạm hành vi đạo đức của nhân viên làm thuê trong các cơ quan hành chính; – Xét duyệt các quy tắc phụ về hành vi đạo đức do các ban ngành hành chính đặt ra; – Giám sát tình hình thi hành khai báo tài sản công khai và bí mật của các quan chức chính quyền; – Thẩm xét lý lịch những quan chức được Tổng thống bổ nhiệm (cuối cùng phải được Quốc hội phê duyệt) xem họ có va chạm lợi ích kinh tế (với chính quyền) hay không.    Cusick cho biết Giám đốc OGE do Tổng thống bổ nhiệm, nhiệm kỳ 5 năm, cũng phải đượckhông đượckhông có quyền bãi miễn. Cho tới nay chưa một Giám đốc nào của OGE bị Tổng thống miễn chức. “Tôi từng đi lính, đã làm ở văn phòng luật hơn 30 năm, được Tổng thống Bush đề cử, tháng 5-2006 được Thượng viện phê chuẩn. Về cấp bậc, OGE thấp hơn Bộ nhưng tôi ngang cấp với Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang FBI (thuộc Bộ Tư pháp) và Chủ tịch Ủy ban Thương mại Liên bang,” ông nói. Quốc hội phê chuẩn. Giám đốc OGE chịu trách nhiệm trước Tổng thống; nếu Quốc hội đồng ý thì Tổng thống không có quyền bãi miễn. Cho tới nay chưa một Giám đốc nào của OGE bị Tổng thống miễn chức. “Tôi từng đi lính, đã làm ở văn phòng luật hơn 30 năm, được Tổng thống Bush đề cử, tháng 5-2006 được Thượng viện phê chuẩn. Về cấp bậc, OGE thấp hơn Bộ nhưng tôi ngang cấp với Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang FBI (thuộc Bộ Tư pháp) và Chủ tịch Ủy ban Thương mại Liên bang,” ông nói.    Giám đốc Cusick cho biết toàn bộ OGE chỉ có 70 nhân viên, trong đó có 15 luật sư; ngân sách hàng năm là 12 triệu USD. Chính phủ Mỹ có rất nhiều cơ quan lớn. Cơ quan lớn thứ hai trong Chính phủ Liên bang là Bộ Cựu chiến binh (Department of Veterans Affairs) có 250 nghìn nhân viên. “So với họ, chúng tôi đúng là bé quá!” ông nói.    Cusick nhấn mạnh, các bộ ngành trong Chính phủ đều có Văn phòng Đạo đức công chức, Giám đốc Văn phòng đó do bộ trưởng bổ nhiệm. OGE dùng phương thức thẩm duyệt định kỳ để giám sát sự vận hành của các chương trình đạo đức của các bộ ngành. Theo cơ chế tam quyền phân lập, OGE chỉ có quyền quản lý các cơ quan hành chính. Quốc hội và Tòa Tối cao có riêng cơ quan quản lý đạo đức của họ. Các bang và phần nhiều các đô thị đều có cơ quan tương tự, không chịu sự quản lý của OGE.    Giáo dục đạo đức liêm chính một thầy một trò  Tuy OGE có cấp bậc không cao, số nhân viên không nhiều, cũng không quản lý Quốc hội, Tòa Tối cao, chính quyền các bang và chính quyền các cấp, nhưng OGE có quyền lực thực tế rất lớn. Theo thống kê, số công chức Chính phủ Liên bang do OGE quản lý là 3,6 triệu người, kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, các bộ trưởng.    Cusick cho biết, cứ 4 năm một lần, OGE lại cử cán bộ thẩm tra đến các cơ quan Chính phủ tiến hành kiểm tra tình hình thi hành quy phạm đạo đức. OGE có nhiều cán bộ thẩm tra, mỗi người phụ trách 3-4 cơ quan chính phủ. Thẩm tra xong, họ gửi báo cáo thẩm tra tới Ủy ban Đạo đức của đơn vị sở tại. Nếu phát hiện vấn đề gì trong thẩm tra thì Giám đốc OGE có quyền ra lệnh cho đơn vị đó sửa chữa khuyết điểm trong một thời hạn nhất định, và trongngày phải báo cáo tình hình sửa chữa. Trong vòng 6 tháng sau khi gửi báo cáo thẩm tra, OGE phải tiến hành tái thẩm tra tình hình chỉnh sửa của đơn vị đó. Nếu đơn vị nào có vấn đề gì nghiêm trọng về đạo đức thì OGE có thể tiến hành thẩm tra bất cứ lúc nào, không cần chờ 4 năm một lần. 60 ngày phải báo cáo tình hình sửa chữa. Trong vòng 6 tháng sau khi gửi báo cáo thẩm tra, OGE phải tiến hành tái thẩm tra tình hình chỉnh sửa của đơn vị đó. Nếu đơn vị nào có vấn đề gì nghiêm trọng về đạo đức thì OGE có thể tiến hành thẩm tra bất cứ lúc nào, không cần chờ 4 năm một lần.    Cusick cho biết, ngoài Văn phòng Đạo đức ra, các bộ còn có Văn phòng Chánh Thanh tra, phụ trách xử lý các vụ vi phạm trong bộ. Nếu phát hiện quan chức nào phạm luật, OGE có quyền thông báo cho Chánh Thanh tra của đơn vị có quan chức đó và yêu cầu điều tra. Nếu yêu cầu này bị từ chối thì OGE có thể báo cáo thẳng lên Nhà Trắng. “Cho tới nay chưa Chánh Thanh tra nào từ chối yêu cầu của chúng tôi,” Cusick nói.    Trường hợp vấn đề nghiêm trọng liên quan tới phạm tội hình sự thì OGE giải quyết ra sao? Cusick cho biết khi ấy OGE sẽ chuyển hồ sơ tới Vụ Liêm khiết công cộng thuộc Cục Hình sự Bộ Tư pháp hoặc FBI để họ điều tra và khởi tố.    Là một cơ quan phòng chống tham nhũng, OGE còn có chức năng giáo dục và đào tạo. Thí dụ các viên chức mới tuyển dụng dù ở cấp bậc cao thấp thế nào đều phải tiếp thu đào tạo huấn luyện; cương vị khác nhau thì thời gian đào tạo khác nhau, nhưng ít nhất không được dưới một giờ. Những quan chức cần khai báo tài sản công khai hoặc bí mật hàng năm còn phải tiếp thu đào tạo thêm ngoài quy định. Bình thường OGE còn tiến hành đào tạo trên mạng cho các công chức phổ thông. Ngoài ra hơn 1.200 quan chức cấp cao của Chính phủ còn phải tiếp thu đào tạo đối diện trực tiếp một thầy một trò.      Việc giáo dục đạo đức liêm chính trên mạng tiến hành mỗi năm ít nhất một lần, thông thường chủ yếu giáo dục về các chuẩn mực và quy tắc luật pháp hành vi đạo đức. Nói chung đều dùng cách trả lời trên mạng để kiểm tra kết quả học tập. Ai chưa tiếp thu sát hạch trên mạng thì sẽ tiếp thu phụ đạo một thầy một trò, đối diện trực tiếp, cho tới khi đạt yêu cầu sát hạch mới thôi. Để tăng cường hiệu quả đào tạo, sau mỗi điều văn luật pháp đạo đức đều có thí dụ vụ án điển hình được lựa chọn công phu, như vậy học viên hiểu sâu hơn điều văn đó. Cusick nói cứ cách 12 đến 18 tháng, OGE lại tổ chức một đại hội toàn quốc, hơn 600 người phụ trách công tác đạo đức trên cả nước về dự.    Qua phần trình bầy ở trên có thể thấy công việc chủ yếu của OGE là giám sát hướng dẫn, đào tạo và thẩm tra. Nó không can thiệp quá nhiều vào vụ án cụ thể, song cũng hợp tác với các ban ngành khác trong việc phạt các quan chức có vi phạm nặng.    Thí dụ John Frederick là quan chức phụ trách các công trình xây dựng của Hải quân Mỹ, có nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành hợp đồng một dự án xây dựng của chính phủ do công ty DMI thầu. Vị quan chức này đã nhiều lần ngỏ ý với lãnh đạo DMI muốn kiếm một ít bổng lộc. Thế là DMI bèn chia một phần công trình mình thầu cho công ty do Frederick lập ra. Frederick không báo cáo việc này lên trên. Trong vòng chưa đầy một năm, công ty của ông kiếm được thu nhập 26 nghìn USD, Frederick trích một phần thu nhập này “lại quả” cho lãnh đạo DMI. Như vậy John Frederick đã vị phạm quy định đạo đức cấm nhân viên nhà nước lợi dụng chức quyền để giúp cho cá nhân hoặc tổ chức khác giành được lợi ích kinh tế. Kết quả Frederick bị kỷ luật 6 năm theo dõi, 6 tháng giam lỏng quản chế, lao động phục vụ cộng đồng 100 giờ và nộp phạt 12.000 USD.     Hầu hết các hành vi tham nhũng “đều nằm trong dự đoán”  OGE có mối liên hệ khăng khít với cơ quan tương đương của các nước khác tới mức tôi rất ngạc nhiên. Ông Cusick cho biết hầu như tuần nào cũng có phái đoàn nước ngoài tới thăm OGE. Mấy năm trước OGE đã giúp Argentina lập Cơ quan Đạo đức của chính phủ nước họ. OGE còn giữ liên lạc mật thiết với các nước thành viên “Công ước Chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc” và Cơ quan Liêm chính của EU.    Cusick nói, tuy các nước khác nhau về văn hóa và tình hình nội bộ nhưng vấn đề luân lý đạo đức của quan chức thì lại “giống nhau kinh khủng”, có thể nói hầu hết các vấn đề đó đều “nằm trong dự đoán”.    Ông cho biết, tuy thỉnh thoảng có các quan chức tham nhũng sa lưới luật pháp, nhưng may sao nước Mỹ chưa xảy ra nạn tham nhũng có hệ thống, quy mô lớn. Số lượng vụ án quan chức phạm luật phải chuyển sang Bộ Tư pháp khởi tố mấy năm nay giữ ở mức độ ổn định, không tăng. Nhiều cuộc điều tra theo thư nặc danh cho thấy phần lớn quan chức đều tự giác tuân theo quy phạm đạo đức, “Điều đó khiến chúng tôi rất tự hào” – ông nói.    Dĩ nhiên nói thế không có nghĩa là OGE có thể yên tâm. “Làm thế nào để các quan chức cấp cao có thể ghi lòng tạc dạ các chuẩn tắc đạo đức – đây là thách thức lớn nhất của chúng tôi!” Cusick giải thích: đó là do các quan chức cấp cao bận nhiều việc nên sự quan tâm đến chuẩn mực đạo đức rất dễ bị các công việc khác can nhiễu. Khi tôi nhắc tới một số vụ bê bối gần đây bị báo chí làm ầm ỹ, Cusick nói: “Thế là tốt! Báo đài càng vạch trần đầy đủ sự việc thì mọi người càng thận trọng suy nghĩ, các quan chức càng nhạy cảm hơn đối với vấn đề đạo đức!”     Đường Dũng  (Phóng viên thường trú tại Mỹ của people.com.cn)   Nguyễn Hải Hoành lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phụ nữ Nhật Bản: Giữa hai lựa chọn      Nhật lâm vào cuộc khủng hoảng dân số vì nhiều năm liền chỉ có mức sinh 1.3-1.4, cách xa mức sinh thay thế cần thiết là một phụ nữ sinh hai con. Các nhà nghiên cứu kỳ vọng bình đẳng giới hơn – cả ở môi trường làm việc và chăm sóc con cái sẽ giúp Nhật thoát khỏi cuộc khủng hoảng này.      Một người mẹ chở con đi gửi trẻ và đi làm trên đường phố Tokyo. Nguồn: japantimes.  Các phân tích và số liệu gần đây cho thấy, áp lực, sự phân biệt giới trong thị trường lao động và trong việc nuôi dạy con cái đã khiến phụ nữ Nhật Bản không thể tìm được điểm cân bằng giữa công việc với nuôi dạy con cái và không muốn chọn lựa sinh con.  Khoảng cách giữa tỉ lệ đi làm của nam giới và nữ giới trưởng thành ở Nhật Bản rất cao – lên tới 24%. Không phải vì phụ nữ Nhật Bản không muốn đi làm, mà là bởi vì thị trường lao động Nhật Bản có nhiều rào cản với phụ nữ hơn nam giới, nhất là với phụ nữ có gia đình và sinh con. Đơn cử là phụ nữ có con đi làm ở Nhật Bản có thu nhập ít hơn 61% so với nam giới.  Trong gia đình, phụ nữ Nhật chịu gánh nặng lớn về việc nuôi dạy con cái. Các ông bố Nhật Bản dành ít thời gian cho con cái hơn so với các ông bố ở các nước phát triển khác và ít thời gian hơn nhiều so với người mẹ. Suốt một thời gian dài, tỉ lệ nam giới Nhật nghỉ để chăm sóc con sau sinh nhích từ 0.56% vào năm 2004 lên 1.73% vào 2009, 1,9% vào năm 2012 và mới lên tới mức 7,48% vào gần đây, năm 2019.   Một cuộc khảo sát năm 2018 của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Mitsubishi UFJ cho thấy hơn 20% nam giới được hỏi cho rằng văn hóa doanh nghiệp không khuyến khích việc người bố nghỉ phép để chăm con khi vợ mới sinh.   Theo một cuộc khảo sát của Văn phòng Nội các Nhật vào năm 2014, 55% đàn ông Nhật Bản và 37% phụ nữ chọn không kết hôn do nghĩ rằng mình không có đủ tiền để có một cuộc hôn nhân tốt. Các cuộc khảo sát khác gần đây cũng cho thấy những điều tương tự, Trong Sách trắng về tỷ lệ sinh vào năm 2018, 45,3% nam giới và 51,2% phụ nữ trả lời chưa thể kết hôn do “Không thể gặp bạn đời phù hợp”. Và cũng có tới 29% đàn ông trả lời “Không có đủ tiền để kết hôn” và 31% phụ nữ trả lời “Không muốn mất tự do hoặc muốn sống thoải mái”.   Những con số trên đã phần nào giúp giải thích tại sao cuộc khủng hoảng mức sinh của Nhật Bản lại đặc biệt nghiêm trọng. Còn ở các nước phát triển có tỷ lệ sinh cao hơn thì có xu hướng phân bổ công việc ở nhà bình đẳng hơn. Phân tích của các nhà kinh tế học đã cho thấy có tương quan giữa sự san sẻ công việc chăm sóc con cái với mức sinh. Trong khi Nhật Bản và Tây Ban Nha có tỉ lệ nam giới làm việc nhà thấp nhất thì cũng có tỷ lệ sinh thấp nhất. Ngược lại,các quốc gia có mức sinh cao như Hoa Kỳ, New Zealand, Đan Mạch và Na Uy – cũng là những quốc gia có sự phân công lao động bình đẳng nhất giữa các giới khi làm công việc nội trợ/chăm sóc con cái.   Nhìn chung mức sinh tăng lên khi thị trường lao động thân thiện hơn với phụ nữ. Không chỉ Nhật Bản mà phụ nữ ở các nước đều sẽ sẵn sàng nuôi con hơn khi họ có môi trường làm việc và chăm sóc con thuận lợi hơn. Còn nếu phải buộc lựa chọn giữa công việc và việc nuôi dạy con cái, thì nhiều người đã chọn công việc.   Như vậy, cải thiện môi trường làm việc và môi trường xã hội hướng tới bình đẳng giới hơn sẽ là chìa khóa để giải quyết cuộc khủng hoảng tỷ lệ sinh, nhưng nó sẽ đòi hỏi những thay đổi lớn về văn hóa đối với quốc gia này.  Trước thực trạng đó, chỉ đưa ra các chính sách thưởng, trợ cấp và phúc lợi sinh con là chưa đủ, Nhật đang nỗ lực thay đổi văn hóa làm việc để nam giới chia sẻ công việc chăm sóc con cái bằng việc sửa luật Chăm sóc trẻ em. Luật Chăm sóc trẻ em sửa đổi sẽ có hiệu lực từ tháng 4/2022, đưa ra các quy định để các công ty sử dụng lao động phải có chính sách hướng dẫn, khuyến khích nam giới nghỉ việc sau khi vợ sinh con, tối đa lên tới 8 tuần; kể từ tháng 4/2023 các công ty có hơn 1000 nhân viên buộc phải công bố tỉ lệ lao động nam nghỉ chăm sóc con cái sau sinh.□  Bảo Như tổng hợp   từ VOX, Asahi, Independent.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phụ nữ trong khoa học: Những góc nhìn      Gần như tất cả các nền văn hóa trên thế giới đều có những nữ khoa học, nữ bác sĩ và nhà phát minh nữ nhưng vì nhiều lí do, tên tuổi của những người phụ nữ này vẫn bị khuất lấp hoặc không được ghi nhận. Đến thời kì “làn sóng nữ quyền lần thứ hai” trỗi dậy vào giữa những năm 1960 đến cuối những năm 1980, những nhà sử học theo chủ nghĩa nữ quyền đã khôi phục lại tên của vô vàn những người phụ nữ vĩ đại trong quá khứ, bao gồm các nhà khoa học và phát minh nữ. Những học giả này đã thách thức các định kiến giới trong những trang sử của hàng thế kỉ đã xóa đi những đóng góp của người phụ nữ trong rất nhiều lĩnh vực bởi các nhà sử học nam.    Trước những năm 1960, hầu hết các nhà sử học là nam giới, ở tầng lớp trung lưu với thái độ vô cùng bảo thủ, thấm nhuần tư tưởng của thời kì Victoria hướng đến phụ nữ. Họ áp đặt những giá trị tính dục của bản thân lên tất cả các nền văn hóa, trong tất cả các giai đoạn lịch sử và nhận định rằng phụ nữ không bao giờ có vai trò gì khác trong xã hội ngoài việc làm nội trợ và làm mẹ. Do đó, họ có xu hướng gạt bỏ bất kì những bằng chứng nào về sự góp mặt của phụ nữ trong khoa học, công nghệ, y học (STM – Science, Technology, Medicine) mà họ tình cờ phát hiện thấy. Chẳng hạn, những nhà sử học về khoa học cho rằng, các ghi chép y học của Trota of Salerno, một nữ bác sĩ sống vào thế kỉ 12 thực ra là của một người đàn ông tên là Trotus nhưng vì tam sao thất bản trong nhiều thế kỉ không có công nghệ in ấn nên người ta ghi nhầm tên. Và khi nghiên cứu về nhà toán học nữ Sofia Kovalevskaia (mà chúng tôi dựa trên tên bà để đặt tên cho quỹ Kovalevskaia), tôi thường xuyên gặp những con người tuyên bố rất tự tin và chắc chắn nhưng đầy sai lầm rằng Kovalevskaia không phải là một nhà toán học thực sự mà là chồng hay một nhà toán học nam nào đó đã làm những nghiên cứu mà cô ấy đứng tên.    Nhà toán học Sofia Kovalevskaia. Tên của bà được lấy tên để đặt cho quỹ Kovalevskaia trao hằng năm cho những nhà khoa học nữ xuất sắc ở các nước đang phát triển.  Đưa ra những nhận định xác đáng về một chủ đề rộng và phức tạp như lịch sử phụ nữ trong lĩnh vực STM chung cho các nền văn hóa và giai đoạn lịch sử khác nhau thật sự rất khó. Tuy nhiên, có một vài nhận định mà tôi khá tự tin đưa ra sau bốn mươi năm nghiên cứu về vấn đề này.  Lịch sử về sự đóng góp của phụ nữ trong các dự án khoa học và cộng đồng khoa học không đơn giản là một đường thẳng đi từ tăm tối ra ánh sáng mà là một quãng đường nhiều biến động. Có rất nhiều trường hợp mà trong đó phụ nữ thể hiện mình trong một lĩnh vực chuyên biệt nào đó ở thế kỉ 19 mạnh mẽ hơn so với thế kỉ 20 hoặc thế kỉ 20 so với thế kỉ 21. Ví dụ, tỉ lệ nữ giới theo đuổi lĩnh vực y học tại Mỹ trong năm 1900 cao hơn năm 1960; và phần lớn những chương trình khoa học máy tính nâng cao ở Bắc Mỹ và Tây Âu hiện nay chỉ có 20% số người tốt nghiệp là nữ giới trong khi con số này là gần 30% trong năm 1990.  Vị thế của người phụ nữ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ không thể dự đoán dựa vào trình độ phát triển kinh tế, tôn giáo, hệ thống chính trị hay các chỉ số xã hội nào của một quốc gia. Các quốc gia gần gũi về địa lý, có lịch sử và văn hóa tương tự cũng không có nghĩa họ sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển nghề nghiệp tương tự nhau. Chẳng hạn, rất ít nữ giới trong hầu hết các ngành STM ở Nhật Bản và Singapore trong khi tỉ lệ đó ở Malaysia và Philipines là 30%; Cuba, Mexico và Columbia có một lực lượng đông đảo những người phụ nữ làm khoa học trong khi đó Paraguay và Cộng hòa Dominican thì không. Cuba có tỉ lệ thành viên nữ trong Viện Hàn lâm Khoa học cao nhất thế giới 27% và con số này là khoảng 20% ở Mexico. Ngược lại, ở đa số các viện hàn lâm khoa học ở Mỹ và châu Âu, tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều, dao động từ 4-15%.  Xuất thân của những nhà khoa học nữ vô cùng đa dạng tùy vào các nền văn hóa khác nhau và thời điểm lịch sử khác nhau. Chẳng hạn, trong thế kỷ 20, dưới thời cách mạng Kemalist, Thổ Nhĩ Kỳ, đông đảo phụ nữ ở tầng lớp tinh hoa tham gia làm khoa học; thế kỉ 19 ở Nga cũng vậy, thế hệ những nhà nữ khoa học đầu tiên đều có xuất thân từ tầng lớp hoàng gia và quý tộc, mặc dù vị trí xã hội này không hề mang đến cho họ sự giàu sang. Ở thời điểm hiện tại, một vài nơi tại châu Phi, phụ nữ xuất thân từ tầng lớp tinh hoa chiếm chủ yếu trong cộng đồng những nhà khoa học nữ. Sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học tự nhiên của người phụ nữ mang lại danh giá cho người chồng của họ. Bởi vậy, những doanh nhân giàu có ở châu Phi vô cùng tự hào về những người vợ của mình, những người làm việc với một mức lương thấp nhưng trong bộ phận nghiên cứu khoa học của các đại học quốc gia. Chức danh của một nhà khoa học nữ khẳng định vị thế xã hội của họ mặc dù mức lương khiêm tốn. Thoạt nhiên, ai đó có thể sẽ nói rằng, những nhà khoa học luôn có một xuất thân cao quý, nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Ở Peru, rất nhiều nhà khoa học và sinh viên theo học các lĩnh vực khoa học đến từ những gia đình nông thôn và dân tộc thiểu số. Chẳng hạn, những người trẻ từ dân tộc Quechua (Nam Mỹ) luôn quan niệm nghiên cứu khoa học là con đường tạo ra sự thay đổi và tiến bộ xã hội. Tương tự, ở Mexico, khi học phí giáo dục đại học và sau đại học ở Đại học Quốc gia là miễn phí, rất nhiều người trẻ có xuất phát điểm khiêm tốn về kinh tế đều có điều kiện vươn tới bậc học và các thành tựu bậc cao trong khoa học.    Nhà toán học Miryam Mirakhani. Ở Iran, quê hương cô, nghiên cứu toán học được coi là một nghề nữ tính. Trong ảnh là bìa của một tờ báo ngày tại Iran vinh danh Mirakhani sau khi cô qua đời.  Các nước khác nhau và các nền văn hóa khác nhau có những thiên kiến khác nhau về sự phù hợp của phụ nữ đối với việc nghiên cứu khoa học. Ở Ý, chẳng hạn, phụ nữ được cho rằng chỉ đặc biệt phù hợp với khoa học lý thuyết chứ không phải là các ngành kĩ thuật (nơi đặt túi tiền!). Và ở Iran, toán học được coi là một nghề nghiệp nữ tính. Trong một số ít những học sinh nữ từng đoạt huy chương vàng trong kỳ thi Olympic Toán học quốc tế, rất nhiều là học sinh Iran, bao gồm Miryam Mirakhani, người đạt số điểm tuyệt đối trong kì thi này. Giáo sư Mirzakhani (người mới mất gần đây) về sau trở thành người phụ nữ duy nhất từng được Huy chương Fields cao quý.  Một phần nỗ lực của Chính phủ Mỹ trong việc biện hộ cho chiến tranh họ gây ra trong hiện tại và trước đây ở Trung Đông bao hàm cả việc tuyên truyền về sự phân biệt đối xử với phụ nữ ở các quốc gia này. Những báo cáo đầy tính phóng đại đã đóng góp vào việc tạo ra nhiều định kiến ở Mỹ đối với người Arab và Hồi giáo, một dạng phân biệt chủng tộc ngày càng được tô đậm, là kết quả của các phát ngôn đầy tính thù địch lặp đi lặp lại của Tổng thống Trump về người Hồi giáo. Vì lí do này, khi tôi nói với người Mỹ về sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực khoa học trên thế giới, họ vô cùng bất ngờ khi biết được rằng, chẳng hạn, Thổ Nhĩ Kỳ và Kuwait có tỉ lệ phụ nữ trong các ngành khoa học và kỹ thuật cao nhất trên thế giới, trong khi các nước như Hà Lan, Anh Quốc và các quốc gia Bắc Âu là những nước có tỉ lệ này thấp nhất. Bên cạnh đó, cách tuyển dụng và đãi ngộ trong các công ty kĩ thuật hoặc công nghệ cao ở một số nước Hồi giáo còn thuận lợi với phụ nữ hơn nhiều so với ở Mỹ. Vào năm 2015, khi đến thăm Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, tôi thực hiện một loạt phỏng vấn với những phụ nữ giữ những chức vụ cao cấp trong lĩnh vực công nghệ tại các quốc gia vùng Vịnh. Họ rất hào hứng với những trải nghiệm của mình và các cơ hội nghề nghiệp ở các quốc gia này. Ngược lại, trong những năm gần đây, một loạt các báo lớn của Mỹ đã phơi bày những vụ việc kinh hoàng liên quan đến quấy rối và đối xử tệ bạc với phụ nữ ở “Thung lũng Silicon”, Mỹ. Định kiến về giới trong lĩnh vực công nghệ cao được thừa nhận rộng rãi là một vấn đề rất lớn ở Mỹ.    Trang bìa gây tranh cãi của tạp chí Newsweek về phân biệt đối xử với phụ nữ ở Silicon Valley.    Một trong những yếu tố sẽ dẫn đến sự bất công cho phụ nữ đó là người ta quá ưu ái bằng cấp từ nước ngoài, đặc biệt là bằng cấp từ Mỹ. Rất nhiều người đến từ các nước kém phát triển hơn đánh giá cao quá mức bằng cấp từ các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Mỹ, kể cả của các chương trình online, các chương trình của những “đại học” vì lợi nhuận, cao đẳng cộng đồng và đại học chất lượng thấp. Đó còn chưa kể, có người còn đặt những bằng cấp đó ngang hàng hoặc thậm chí là cao hơn những bằng cấp đến từ các trường đại học quốc gia, các viện công nghệ trong nước họ. Do phụ nữ thường phải chịu những áp lực gia đình, hạn chế họ học tập ở nước ngoài, những định kiến coi thường bằng cấp trong nước sẽ càng dẫn đến sự phân biệt đối xử với phụ nữ.                 Một xu hướng khác ở Mỹ lại càng khoét sâu sự đối xử bất công với nhà khoa học nữ, đó là việc lạm dụng đánh giá của học sinh về các giáo sư. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sinh viên có xu hướng đánh giá nam giới cao hơn phụ nữ dù họ có cùng trình độ và năng lực và thường đặc biệt tỏ ra tiêu cực với những phụ nữ có kì vọng cao đối với việc học tập của sinh viên. Rất nhiều sinh viên có quan niệm rằng phụ nữ phải dịu dàng và cho họ điểm cao hơn là nam giới. Ở các trường đại học của Mỹ, một giáo sư trẻ bị sinh viên xếp hạng thấp sẽ thường mất việc.  Những chương trình chuyên biệt được thiết kế để thúc đẩy những học sinh nữ và phụ nữ tham gia làm việc trong các lĩnh vực khoa học đã đem đến những ảnh hưởng rất tích cực. Chẳng hạn, trong Hiệp hội phụ nữ Toán học, được thành lập năm 1975, đã góp phần tăng cường tỉ lệ nghiên cứu sinh nữ trong lĩnh vực Toán học ở Mỹ – từ 5% cách đây 50 năm đến khoảng 25%-30% trong những năm gần đây.  ***  Vào năm 1983, trong khi thăm Đại học Bách Khoa Hà Nội, chồng tôi Neal và tôi cảm thấy khá thất vọng khi biết rằng chỉ có 8% sinh viên trường là nữ. Chúng tôi hỏi hai người bạn của mình, nhà toán học Hoàng Xuân Sính và Nguyễn Đình Ngọc xem cách nào là hiệu quả nhất để khuyến khích nữ giới tham gia nhiều hơn vào các ngành STM, và những cuộc thảo luận đó đã dẫn đến sự ra đời của Giải thưởng Kovalevskaia cho những nhà khoa học nữ. Các giải thưởng Kovalevskaia đầu tiên được trao vào Hội nghị Đông Nam Á về Phụ nữ trong Khoa học ở các nước đang phát triển năm 1987 và Quỹ Kovalevskaia đồng tài trợ với Hội phụ nữ Việt Nam (HPNVN). Cũng trong hội nghị đó, HPNVN tuyên bố kế hoạch xây dựng một bảo tàng phụ nữ, một trong những bảo tàng về phụ nữ đầu tiên trên thế giới. HPNVN đã điều phối giải thưởng Kovalevskaia ở Việt Nam trong suốt 30 năm tồn tại của nó. Vào năm 2011, HPNVN cũng bắt đầu ủng hộ cho Hội Nữ Trí thức Việt Nam mà người sáng lập là Giáo sư hóa sinh Phạm Thị Trân Châu, chủ nhân giải thưởng Kovalevskaia năm 1988.  Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có những khu trưng bày xuất sắc về kĩ năng, sự cống hiến và sự anh dũng của người phụ nữ trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tuy nhiên, tầng bốn, được dành cho phụ nữ Việt Nam sau 1975, chỉ tập trung vào những chủ đề như đồ thủ công, trang phục, thời trang và các cuộc thi sắc đẹp. Những khách ngoại quốc tới bảo tàng chia sẻ với chúng tôi rằng bảo tàng đưa đến một ấn tượng rằng những phụ nữ Việt Nam đương đại dường như chỉ hứng thú với những thứ “nữ tính” được định nghĩa một cách hẹp hòi và với tư tưởng Khổng giáo về phụ nữ với vai trò làm mẹ và làm vợ đầy cam chịu. Chúng tôi đã biết nhiều phụ nữ Việt Nam – những chủ nhân của giải thưởng Kovalevskaia và một số lãnh đạo của Hội phụ nữ – cũng rất xuất sắc trong những lĩnh vực phi truyền thống. Chúng tôi hi vọng rằng Bảo tàng phụ nữ Việt Nam sẽ thay thế phần lớn những trưng bày ở tầng bốn bằng những hình ảnh, hiện vật thể hiện vai trò của phụ nữ ngày nay trong khoa học, công nghệ, chính trị, quân đội và những lĩnh vực “phi truyền thống” khác.  Hảo Linh dịch  ———-  *Giám đốc quỹ Kovalevskaia và Nguyên giáo sư ngành Nghiên cứu về Phụ nữ và Giới, Đại học bang Arizona, Mỹ.        Author                Ann Hibner Koblitz*        
__label__tiasang Phương án A B C      Phòng “Những vấn đề nữ quyền” của Viện Trừu tượng học mở hội thảo. Ông Tình tuy đã vào tuổi về hưu, song vẫn được lưu lại đảm nhiệm chức trưởng phòng này, do chưa tìm ra phương án kế nhiệm. Trong số đại biểu tham dự hội thảo có ông Đô Viện trưởng,&#160; và Anh La mới làm “cố vấn khoa học của phòng”.      Đề tài hội thảo lần này hơi dài, nguyên văn là “Tìm hiểu và ứng dụng bộ ba khái niệm lãnh đạo, quản lý và làm chủ trong lĩnh vực nữ quyền”. Các khán thính giả nam giới đặc biệt đông, ai cũng hy vọng hiểu ra phái yếu, người thì mong để sẽ chế ngự được họ, kẻ thì chỉ cốt học ra cách để phòng thân.  Kế hoạch cho ngày đầu tiên hôm nay sẽ dành cho các tham luận để tìm hiểu bộ ba khái niệm này trong lĩnh vực nữ quyền.  Theo giới thiệu của ông Tình trưởng phòng, thì việc phân biệt ba khái niệm này trong mối liên hệ hữu cơ của nhau là tưởng dễ mà không. Đây là cái tam giác mời gọi tất cả các anh chị em góp sức để nhận thức rõ ràng được chúng. Ông Tình nhận xét rằng ông đã đọc mờ mắt các bản tham luận được gửi đến, nhưng bản thân ông vẫn thấy vấn đề còn rất lung linh. Rất bất ngờ, ông Tình mời Anh La lên phát biểu đầu tiên để “tạo không khí” cho các anh chị em.  Anh La ngẩng cao đầu bước lên diễn đàn, tự nhắc nhở mình nhớ không được đưa lên tay gãi đầu, kẻo mà hỏng việc, lại phụ lòng ông Tình.  – “Thưa các anh chị,  Nghiên cứu thì có thể xuất phát từ các tiền đề giả thiết khác nhau. Ta có thể chấp nhận cái tiền đề này, và sẽ xem xét các hệ quả của nó. Tiền đề là ba khái niệm này không bị lẫn lộn hay quy giản về nhau, nhưng lại ước chế và ràng buộc lẫn nhau.  Ta kí hiệu lãnh đạo là LĐ, quản lý là QL, làm chủ là LC.   LĐ lãnh đạo, vậy thì QL bị lãnh đạo, LC bị lãnh đạo. Tương tự, QL quản lý, vậy LĐ bị quản lý, LC bị quản lý. Cũng vậy ta có LC làm chủ, nên LĐ bị làm chủ, QL bị làm chủ.  Do đó : LĐ bị quản lý, bị làm chủ. QL bị lãnh đạo, bị làm chủ. LC bị lãnh đạo, bị quản lý.  Vì LĐ bị QL, mà QL lại bị LĐ, vậy LĐ bị LĐ. Tương tự QL bị QL, LC bị LC.  Các anh chị thấy đó, vấn đề khá phức hợp, và đây là những chỗ chốt của vấn đề. Bây giờ mời các anh chị đi sâu làm rõ hơn các cấu trúc này.   Xin cảm ơn trước các anh chị!”  —-  Hội trường im ắng rụt rè hơi lâu.   Ông Tình đầy kinh nghiệm đã vui vẻ đứng lên.  “Xin mời các anh chị em sang giải lao bên sảnh  lớn. Bên đó càfê, trà nóng  và bánh kẹo đã sẵn sàng cho quí vị. Đừng quên thảo luận khoa học ở hành lang không kém quan trọng đâu nhé!”.  Cả hội trường vui vẻ.  Ra đến hành lang, ông Tình rủ rỉ với ông Đô “cái này tôi đã nhìn trước phương án B ạ”.  Ông Đô mỉm cười “sau giải lao, nếu anh chị em chưa sôi nổi thảo luận được, thì phương án C là thế này,  ta chuyển sang luôn phần thảo luận ứng dụng bộ ba khái niệm lãnh đạo, quản lý và làm chủ trong lĩnh vực nữ quyền. Môn ứng dụng thì anh chị em ta giỏi lắm”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương cách tư duy: Hệ thống tri thức mở      Xã hội Việtnam đã đi được một bước khổng lồ đầu tiên trên thực tiễn: từ phương cách tư duy ý thức hệ chuyển sang các hệ thống tri thức mở. Con đường đã mở ra đó mời gọi xã hội tiếp bước, một cách bình thản, sáng tạo, từ tốn, bao dung, nhưng dứt khoát.    Kể từ khi bước vào quá trình Đổi mới, rồi hội nhập toàn cầu hóa, xã hội Việtnam đã đi được một chặng đường rất quan trọng, dẫu còn bao nhiêu việc phải làm trước mặt. Huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá Việt nam không phải là đảng viên, không có quốc tịch Việtnam, không phải người thuộc một “đất nước anh em” truyền thống, không phải là một nhà huấn luyện phong trào: ông ta là một huấn luyện viên Tây Âu nhà nghề. Cái gì đã xảy ra vậy?   Có quan trọng không?  Cực kì quan trọng!  Xã hội Việtnam đã đi được một bước khổng lồ đầu tiên trên thực tiễn: từ phương cách tư duy ý thức hệ chuyển sang các hệ thống tri thức mở. Con đường đã mở ra đó mời gọi xã hội tiếp bước, một cách bình thản, sáng tạo, từ tốn, bao dung, nhưng dứt khoát.  Đêm dài trung cổ  Tất cả các xã hội trên thế giới đều đã từng được ninh nhừ trong các nồi hầm “đêm dài trung cổ”. Không cần phải giải thích dài dòng, nguyên tắc lớn nhất là mỗi con người của các xã hội đó không cần và không có quyền được có các suy nghĩ riêng về các cư xử tổ chức xã hội: hãy làm theo cái mà bề trên yêu cầu. Bề trên là tập tục, là giáo lý tôn giáo, là giáo chủ. Trong xã hội Á Đông xưa thì vua chúa thường đóng luôn vai giáo chủ này. Chỉ có một hệ ý thức đơn giản đóng vai trò uốn nắn cách nghĩ cho muôn dân.    Chuyển đoạn ý thức hệ  Với các tiến bộ về tinh thần, khoa học, công nghệ, các xã hội dần dà cựa mình. Con người hiểu dần ra giới tự nhiên và tìm cách khai thác, “chinh phục” các sức mạnh của tự nhiên. Nhưng con người chậm hiểu được nhất về chính bản thân mình, về tổ chức xã hội và tinh thần của mình, để rồi hẵng nói đến chuyện cải tiến chúng. Con người thường phải đi qua một giai đoạn đặc biệt như một hình thái khác chưa kết thúc của đêm dài trung cổ, giai đoạn chuyển mình mang tính ý thức hệ: người ta bắt đầu ý thức về hệ thống ý thức chính thống, nghi ngờ mặc cả với nó, nhưng chưa biết làm sao để vượt lên khỏi chính nó. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào sức thức tỉnh, khả năng học hỏi, và năng lực tự tái tổ chức tiến hóa của các cộng đồng. Giai đoạn ý thức hệ này thường mang những đặc điểm như sau trong các ý thức cộng đồng.  Một hệ thống cắt nghĩa giữ vai trò độc tôn. Hệ thống này hình thành tùy theo các điều kiện tôn giáo, văn hóa, lịch sử… mà có các hình hài khác nhau ở các cộng đồng khác nhau. Điểm chung là hệ thống này mang tính độc tôn, không dung dưỡng các hệ thống lý giải khác cùng tồn tại.  Đức tin được đặt lên trên sự nghi ngờ. Các tư duy, các phán xét đặt lại các vấn đề đều bị xã hội coi như lạc đàn, phản xây dựng, làm hao mòn đức tin.  Vùng cấm địa. Ngay cả những tư duy chấp nhận hệ thống chính thống cũng bị cấm động chạm đến những vấn đề thuộc về những vùng cấm địa.  Đóng kín. Ngay cả những suy tư theo hệ thống chính thống cũng không được phép mở rộng các quan sát ra những hiện thực “bên ngoài kia”. Ví như hệ thống chính thống cho rằng “đạo Hồi phải là nền tảng của pháp luật» thì không ai có thể đặt vấn đề một nền pháp luật tồn tại bên ngoài đạo Hồi.  Chân lý tuyệt đối. Một phức hợp các chân lý tuyệt đối thường được đăng quang, mọi suy nghĩ và thảo luận chỉ được phép đóng vai trò thuyết trình cho những chân lý ấy.  Phi thời gian. “Tri thức” của hệ thống chủ đạo có tinh thần “một lần cho mãi mãi”, hướng dẫn mọi tìm hiểu, giải thích toàn bộ lịch sử, hôm qua, hôm nay, hôm mai, một cách bất chấp thời gian.  Chống sợ hãi. Loại bỏ một cách mơ hồ sự sợ hãi trước mọi vùng chưa hiểu biết được. Hệ thống này đặt vấn đề bào chữa cho các quan sát của mình về thế giới trước khi tìm hiểu nó. Nó làm như mình có sẵn mọi câu trả lời cho những nỗi lo sợ triền miên của con người, từ như cái chết, sự mờ mịt về tương lai, cho đến sự lo lắng về thế giới rộng mở xung quanh, về những phiêu lưu mới sẽ phải trải qua trên đường đời…  Quyền lực tuyệt đối. Thực chất quyền lợi của nhóm lợi ích thắng thế được trình bày thành lợi ích chung bất khả thương nghị.  Bất chấp mâu thuẫn. Mọi mâu thuẫn, bất kể thuộc lĩnh vực nào, đều được dung nạp và tái giải thích gắng gượng trong hệ thống này. Khi đời sống phức tạp lên, hệ thống này tích nạp mọi điều vô lý và thúc đẩy sự rối loạn suy tư trong xã hội.  Vô chính phủ. Như một hệ quả cực đoan, xã hội hình thành song song trong nó tính vô trật tự, “vô chính phủ” trong nhận thức, ngay cả trong giới cầm chịch.  Tính thủ pháp. Tính chất này ngày càng được đề cao trong thực tế để giải quyết các công việc theo tính vụ việc cần kíp tức thì, do bản thân hệ thống này khó lòng giải quyết được việc lý giải ổn thỏa.  Tuyên truyền lấn át thông tin. Nhiều khi người ta phải thông qua các tuyên truyền để đoán ra các thông tin, đoán ra cái gì đó mới xảy ra. Xã hội đồn đoán phát triển thay thế cho xã hội được thông tin, mê tín thay thế sự phân tích lý tính.  Ngôn ngữ chết cứng là điều thường nhận thấy. Khi hệ thống không đảm đương được tính thuyết phục nữa, nó đành chỉ quan tâm đến mục đích ngắn nhất theo cách khiên cưỡng bất chấp. Phép ngụy biện khi này được lạm dụng dễ dãi.   Khoa học luận trở nên sáo ngữ hàn lâm, và được sử dụng khắp nơi để trang trí cho sự thiếu hiểu biết, mang tính lấn lướt, lạm niệm.  Thái độ thù địch với các thay đổi thường được thể hiện thường trực, thay vì tinh thần sẵn sàng vươn tới tìm hiểu những cơ hội mới. Tính phải đạo và sự vâng lời được đề lên thành chuẩn mực.  Yếu tố lý trí tập thể được đẩy lên thành phản xạ. Xúc cảm được đặt ở vị trí thống trị đối với phân tích lý tính.   Tính nhận thức cắt rời lịch sử được kích hoạt, làm như người ta đang sống và suy nghĩ, hành động trong một cuộc đảo lộn tẩy não vĩ đại về nhận thức. Các yếu tố của giáo lý vừa được đánh bóng, vừa được hiển nhiên hóa, nhàm hóa, phổ thông hóa.  Cuối cùng sự tôn thờ giả-đồng-thuận được đẩy lên thành thiêng liêng.  Hội nhập toàn cầu: các hệ thống hiểu biết mở, phi độc đoán  Xã hội phát triển, cởi mở, hội nhập toàn cầu, tự do hóa các lưu chuyển vốn, công nghệ, nhân lực… đưa con người đến một thực tế mới. Đời sống trở nên năng động, phong phú, đa dạng, phức hợp.   Con người dần từ bỏ ảo ảnh rằng mình luôn luôn đã là người biết hết mọi chuyện, đã nhận rõ tương lai rốt cùng, và luôn luôn thắng cuộc.  Con người học chung sống, học hợp tác, giữa mọi cá nhân và các tổ chức, ở phạm vi trong nước và toàn cầu. Khối tri thức của nhân loại chui vào trong từng máy tính, trong từng điện thoại thông minh của từng con người, và mỗi con người đó lại có thể đang dịch chuyển trong các không gian công việc hay đời sống của nền chính trị-kinh tế-xã hội của toàn cầu len lỏi khắp ngóc ngách mọi nơi.  Con người cùng xã hội của anh ta buộc phải trở nên dũng cảm hơn, và khiêm tốn hơn. Anh ta cùng xã hội phải học cởi mở, học suy nghĩ phi độc đoán, học tích hợp các hệ thống hiểu biết cần thiết, để thành công công việc trong các cộng đồng phức hợp, và để có được hạnh phúc của đời sống cá nhân và hạnh phúc của đời sống cộng đồng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp chống dịch cũ với cách nhìn mới      Sự xuất hiện của biến chủng Delta đã làm đảo lộn cách chúng ta nhìn về phương pháp chống dịch cũ từng rất hiệu quả của mình.      Đường phố Melbourne vắng vẻ trong những ngày lockdown. Ảnh: The guardian.  Biến chủng Delta buộc tất cả chúng ta phải khiêm nhường. Ở New South Wales (Úc), chúng tôi từng có một niềm tin sắt đá rằng chúng tôi có thể kiềm chế được sự lây lan của biến chủng Delta bằng cách lặp lại y hệt chiến lược đã hiệu quả vào năm ngoái, nhưng thực tế không được như vậy” – GS. Ben Marais, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu về Truyền nhiễm và An toàn sinh học Marie Bashir, Đại học Sydney, nói trong buổi hội thảo online “Con đường thoát khỏi COVID-19: Bài học của Úc và Việt Nam”, được tổ chức bởi Sáng kiến Úc – Việt Nam.   Chia sẻ của GS. Marais không khỏi khiến ta nghĩ đến trường hợp của Việt Nam. Cho đến đầu tháng năm năm nay, chiến lược phòng chống COVID-19 của Việt Nam vẫn được cho là hiệu quả hàng đầu thế giới, nhưng ở thời điểm hiện tại, giống như Úc, dù “nỗ lực hết sức để kiểm soát dịch bệnh” số ca tại Việt Nam vẫn ở mức khoảng 8000/ngày.  Làn sóng Delta có lẽ là trận bùng phát dịch có ảnh hưởng tồi tệ nhất đến Việt Nam từ năm 2020 đến nay, theo lời TS. Nguyễn Thu Anh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock ở Việt Nam. Dù áp dụng y hệt những cách làm ở thời kì trước, thì hiện nay kết quả thu về không được như cũ. Vậy cốt lõi của chiến dịch phòng chống dịch COVID-19 của chúng ta: xét nghiệm, phong tỏa, tiêm vaccine liệu có còn ý nghĩa?   Câu trả lời là còn. Chỉ là chúng ta sẽ phải nhìn các phương pháp này dưới một hướng khác.   Khi xét nghiệm không phải là để truy vết    Năng lực và tốc độ xét nghiệm của Việt Nam tăng lên rõ rệt theo thời gian, đặc biệt là trong những đợt bùng phát dịch mạnh mẽ tại Đà Nẵng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang và gần đây nhất là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Khi dịch bùng phát ở Bắc Ninh và Bắc Giang vào tháng năm vừa qua, năng lực xét nghiệm của cả nước là khoảng vài chục nghìn mẫu/ngày, tuy nhiên nay con số đó đã tăng lên gấp 10 lần.      Xét nghiệm ở TP. HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Chiến lược phổ biến của Việt Nam hiện nay, và cho đến cuối tháng Bảy ở các tỉnh phía Nam, nơi đang chịu ảnh hưởng lớn nhất của làn sóng thứ tư là “xét nghiệm nhiều người nhất có thể để truy vết tiếp xúc và để cách li nhanh nhất có thể” – theo lời của TS. Nguyễn Thu Anh. Đây là cách mà Việt Nam duy trì từ thời điểm dịch bắt đầu xuất hiện vào đầu năm 2020. Tuy nhiên, cũng theo chị Thu Anh, giờ đây “xét nghiệm, truy vết tiếp xúc và cách li vẫn chưa thể đuổi kịp tốc độ lây lan của virus”. Không chỉ Việt Nam, mà theo GS. Ben Marais, cốt lõi chiến lược chống dịch của Úc cũng là: xét nghiệm, xét nghiệm và xét nghiệm. Xét nghiệm nhiều người nhất có thể, gỡ bỏ các rào cản để người dân có thể xét nghiệm tiện lợi hơn và cuối cùng là dựa trên kết quả xét nghiệm để đề xuất và áp dụng các biện pháp kiểm soát dịch bệnh.   Tuy nhiên, “Đó là chiến lược rất hiệu quả, nhưng chỉ khi số ca nhiễm ở mức rất thấp” – Ông nói. GS. Marais cho rằng, khi số ca nhiễm vượt quá một trăm ca mỗi ngày, cũng là lúc xu hướng lây lan trong cộng đồng trở nên khó dự đoán, việc xét nghiệm trên diện rộng không còn khả năng chỉ dẫn trực tiếp cho các quyết định về y tế công cộng. Nói cách khác, xét nghiệm không còn có ý nghĩa truy vết, cách li từng trường hợp F1, F2, F3… Lúc đó, giải pháp duy nhất để kiểm soát dịch bệnh là giãn cách hoặc phong tỏa một khu vực địa lý, một cộng đồng dân cư lớn.      Vaccine vẫn là công cụ hữu hiệu “cầm chân” sự biến chủng của virus.      Xét nghiệm lúc đó vẫn quan trọng, nhưng nó mang một ý nghĩa khái quát hơn. Theo GS. Marais, mục đích của xét nghiệm là để cơ quan quản lý y tế có thể cập nhật tình hình dịch bệnh đang hoành hành trong cộng đồng. Nó giúp đánh giá mức độ hiệu quả của các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội và khi nào thì nên nới lỏng hay gỡ bỏ những biện pháp này.   Phong tỏa để “câu giờ”, nhưng đừng vội gỡ bỏ  Hiện tại Việt Nam đang thực hiện giãn cách xã hội ở mức cao nhất (chỉ thị 16) tại hơn 20 tỉnh thành phố trên cả nước. Nhưng theo TS. Nguyễn Thu Anh, đảm bảo thực hiện điều này một cách nghiêm ngặt là một thách thức lớn vì phụ thuộc vào sự chấp thuận của mỗi người dân, nhất là khi giãn cách xã hội có tác động lớn tới sinh kế của nhiều người trong số họ. Dù vậy, đây vẫn là giải pháp duy nhất.  Từ kinh nghiệm của Úc, GS. Marais chia sẻ rằng, nước này đã từng theo đuổi chính sách “kiềm chế” COVID-19, nghĩa là sẽ “chịu đựng” các ca nhiễm trong cộng đồng ở một mức độ nào đó, để không ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội. Nhưng sau 18 tháng qua và nhất là trước tốc độ lây lan của biến chủng Delta, nước này đã nhận ra rằng chính sách trên không tối ưu về mặt chi phí. Thà rằng phong tỏa và giãn cách xã hội từ sớm, đưa số ca nhiễm về 0, và mở cửa lại xã hội sau đó. “Cách tốt nhất để sống chung với COVID-19, khi độ phủ vaccine thấp, là sống mà không có ca nhiễm nào” – ông nhấn mạnh.   Đó là lí do mà mặc dù số ca nhiễm hiện nay ở Úc nhỏ hơn nhiều so với các đợt dịch trước, chỉ có khoảng 200 ca nhiễm/ngày (chưa bằng một nửa so với thời điểm tháng sáu năm ngoái) nhưng hiện nay hầu hết cư dân Úc đều đang sống trong tình trạng phong tỏa. Theo GS. Marais, với tình hình hiện tại, ít nhất là bang New South Wales, sẽ duy trì tình trạng phong tỏa cho đến khi nào số ca nhiễm ở mức từ 5-10 ca/ngày và những ca ít ỏi này chỉ nằm trong khu cách li tập trung. (Hiện nay bang này đang có 100 ca nhiễm mỗi ngày).           Người dân xếp hàng chờ tiêm ở TP.HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Dĩ nhiên, GS. Marais cũng biết rằng cả nước không thể chịu sự phong tỏa hoàn toàn trong thời gian quá dài, đây chỉ là giải pháp tình thế, giải pháp “câu giờ” để dần tăng tỉ lệ tiêm chủng – cách duy nhất để xã hội trở về bình thường. Nhưng đẩy nhanh tốc độ tiêm chủng không có nghĩa là vội vàng gỡ bỏ giãn cách. Theo PGS. James Trauer, chuyên gia phân tích dữ liệu y tế và kinh tế học sức khỏe, Đại học Monash, nói trong buổi hội thảo, khi nhóm nghiên cứu của ông mô hình hóa dữ liệu dịch bệnh của Philippines và Malaysia, thì họ thấy rằng, nếu tiến hành tiêm vaccine mà không thực hiện phong hỏa và giãn cách xã hội thì số ca sẽ tăng vọt lên hàng chục nghìn mỗi ngày ở giai đoạn giữa tháng tám. Số lượng người được tiêm vaccine hai liều ở thời điểm hiện tại không đủ để kiềm chế đáng kể sự lây lan của virus, đặc biệt là với biến chủng Delta. Nên nhớ rằng Philippines và Malaysia có tốc độ tiêm chủng nhanh hơn Việt Nam, lần lượt là 12 triệu liều và khoảng 15 triệu liều trong vòng nửa năm qua.   GS. Marais cho rằng càng sống lâu trong tình trạng giãn cách xã hội, càng phải cẩn trọng khi gỡ bỏ nó, nếu không, những thành quả đạt được nhờ nó sẽ là vô nghĩa. Ông cảnh báo rằng các quốc gia có lẽ sẽ phải duy trì tinh thần cảnh giác cao độ, ít nhất là cho đến khi 80% dân số được tiêm phòng đầy đủ, nếu không, “kết cục sẽ cực kì tồi tệ, phí hoài 3-4 tháng phong tỏa”.     Đừng quá đặt nặng miễn dịch cộng đồng  “Miễn dịch cộng đồng” là một khái niệm quá đỗi hấp dẫn từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát. Trước đây, với chủng cũ bắt nguồn từ Vũ Hán, các chuyên gia ước tính rằng nếu 60-70% người có miễn dịch với Sars-CoV-2 thông qua việc nhiễm tự nhiên hoặc tiêm chủng thì sẽ đạt được miễn dịch cộng đồng, dịch bệnh sẽ được đẩy lùi. Giờ đây, ý tưởng đó trở nên ngày càng xa vời, không chỉ vì vaccine khan hiếm mà còn vì tốc độ tiêm chủng không đuổi kịp tốc độ lây lan của virus vì nhiều lí do liên quan đến nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ tiêm chủng và tâm lí trì hoãn của người dân.   “Chúng tôi luôn cố gắng né tránh truyền thông về miễn dịch cộng đồng như một con đường duy nhất [để thoát khỏi đại dịch]. Bởi nếu không, người ta sẽ cảm thấy đó là điều không tưởng, cảm thấy rằng việc tiêm chủng rồi sẽ không đi đến đâu cả” – PGS. James Trauner nói. Giờ đây với biến chủng Delta, “ngưỡng miễn dịch” có thể phải đến 80-90% dân số hoặc cao hơn, trong khi hiện nay chưa có vaccine cho trẻ em và thanh niên được phổ biến và chấp nhận rộng rãi.   Nhưng kể cả miễn dịch cộng đồng là một cái đích khó, điều đó không đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò và ý nghĩa của vaccine. Theo PGS. Trauner, hiện nay chưa có một biến chủng nào có thể vừa lây lan nhanh và vừa có khả năng “né tránh” vaccine. Vaccine vẫn là công cụ hữu hiệu “cầm chân” sự biến chủng của virus. Hãy nhìn sang trường hợp của Anh, một nước đã đạt tỉ lệ tiêm chủng khoảng 60% dân số trong đó 95% người già trên 60 tuổi đã tiêm vaccine. Hiện nay, mặc dù số ca mỗi ngày ở nước này là 15 – 16 ngàn người cao tương đương với mùa hè đầy căng thẳng năm 2020, số ca tử vong chỉ bằng 1/20 so với thời điểm đó.   Mục tiêu tối thượng của vaccine hiện nay, là để bảo vệ nhanh nhất có thể những người dễ tổn thương nhất không bị trở nặng và tử vong. “Vấn đề giờ đây của chúng ta là kiểm soát virus: ai là người sẽ đạt miễn dịch tự nhiên, ai là người có miễn dịch bắt buộc thông qua tiêm chủng chứ không phải là tìm cách loại bỏ hoàn toàn virus bởi nó quá khó” – GS. Kristine Marcartney, Giám đốc Trung tâm quốc gia về Nghiên cứu và Tầm soát Tiêm chủng Úc, cho biết trong buổi hội thảo. Và điều đó càng phải được tối ưu trong trường hợp vaccine ở nhiều quốc gia mới có khả năng phủ khoảng 10% dân số.   Vậy nhóm nào là nhóm dễ bị tổn thương nhất? Theo dữ liệu bệnh nhân nhiễm Sars-CoV-2, không có gì phải bàn cãi, tuổi tác là yếu tố lớn nhất và rõ ràng nhất dẫn đến những trường hợp trở nặng và bị tử vong. Điều này cũng đúng với Việt Nam khi đại đa số các ca tử vong đều ở độ tuổi trên 55. GS. Marcartney nhấn mạnh những người cao tuổi cần là đối tượng ưu tiên trước hết trong việc tiếp cận vaccine. Kể cả trong hướng dẫn của nhóm tư vấn SAGE của WHO về ưu tiên tiêm chủng vaccine COVID-19 trong trường hợp vaccine hạn chế cũng nhấn mạnh rằng, nấc thang ưu tiên tiêm chủng đầu tiên là những nhân viên y tế và người cao tuổi. Và phải tiêm hết cho những người thuộc nấc thang đầu tiên mới chuyển sang nấc thang thứ hai (những đối tượng xã hội khác cũng có rủi ro cao bị chuyển biến nặng hoặc tử vong nếu bị nhiễm COVID-19, chẳng hạn những người có bệnh nền).   GS. Marcartney cũng thừa nhận rằng, biến chủng Delta “thách thức chúng ta phải tiêm hiệu quả hơn bao giờ hết”. Và để tiêm hiệu quả, để tiếp cận lần lượt các đối tượng ưu tiên, để các đối tượng này sẵn sàng tiêm khi đến lượt và tin tưởng vào vaccine, còn nhiều việc phải làm mà nguy cơ nhiễm bệnh vẫn chưa đủ thôi thúc họ: Phải làm họ tự tin vào tính hiệu quả và an toàn của vaccine; Phải gây dựng niềm tin vào quá trình R&D của vaccine nhờ vào tiếng nói của những nhà lãnh đạo đáng tin cậy và những người tạo ảnh hưởng trong công chúng; Quan trọng hơn, việc thiết kế chiến lược tiêm chủng phải luôn nhấn mạnh sự công bằng (equity) trong việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội; Phải có những mẫu hình hăng hái đi tiêm để mọi người dõi theo; Người dân phải có niềm tin vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của nhà nước; Những y bác sĩ phải khuyến khích người dân tiêm chủng và cuối cùng là việc tiếp cận các địa điểm tiêm phải dễ dàng. □    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Phương pháp “duy-lý tưởng” qua câu chuyện “trí thức là gì”      Những ngày qua chúng ta đã được chứng kiến  nhiều bài báo bàn về “trí thức là gì”. Nhiều bài trong số này rất tâm  huyết và có chất lượng cao, mang tiếng gọi về trách nhiệm và sự đóng góp  xã hội.    Không bàn về các nội dung của câu chuyện “trí thức là gì”, ở đây tôi muốn nhận dạng về phương pháp, phương thức tiếp cận vấn đề.  Phương pháp duy-lý tưởng  Phương pháp duy-lý tưởng là một cách thức tư duy phổ biến từ ngàn xưa về nhận thức xã hội cùng con người. Đây là một lựa chọn. Và nó vẫn có giá trị trong những phóng tưởng trực giác, gợi mở.  Lưu ý là ở xứ Việt người ta cũng dùng cả chữ “phương pháp duy tâm” cho trường hợp này. Tôi muốn dùng chữ “phương pháp duy-lý tưởng” vì nó rõ nghĩa hơn, và tránh bị rơi vào cái bẫy việt vị của thói quen vội quy kết ý thức hệ.  Con người ai chả có lý tưởng. Người có học, càng có. Còn lý tưởng gì, thì lại là chuyện khác.  Nhưng lấy lý tưởng làm phương pháp, thì lại càng là một câu chuyện khác nữa.  Đặc trưng của phương pháp duy-lý tưởng là cách đặt vấn đề “xã hội, con người phải như thế nào?”          Phương pháp duy-lý tưởng này phổ biến trong khắp các tôn giáo, cũng như trong khắp các chế độ xã hội thần quyền thời xưa. Người ta đưa ra một cái tiêu chí duy-lý tưởng, và đem con người và xã hội ra so ép vào đó. Một khi nhất nhất phải làm bằng được như thế, nó đẻ ra phương cách mục đích luận.          Lấy ví dụ ở phương Đông, “thánh nhân” là một lý tưởng. Sau khi mô tả lý tưởng này như một mô hình, người ta đem chiếu các nhân vật cuộc đời vào lý tưởng ấy, đó là cách thức tư duy “duy-lý tưởng”.  Và khi đó người ta bắt đầu nhận thấy những khó khăn mới. Đó là nếu “thánh nhân” bắt buộc phải là “mười phân vẹn mười”, thì người trần “ai mà được cả mười phân». Từ đó tất thảy các nhân sĩ đều được đem ra thử lửa “thánh nhân”, xem còn được bao nhiêu phần trăm. Chưa nói đến ai (được) làm người thử lửa, làm người phán xử xếp hạng thánh nhân? Dân thường thì không cần đem thử làm gì, mất công, phí giờ. Theo tinh thần cao nhất, ở phương Đông có hai ông Nghiêu và Thuấn được coi như đạt đủ tiêu chuẩn “thánh nhân”, cũng vì lý lịch của hai ông rất xa xưa này vô cùng mờ nhạt, và dù sao thì cũng phải có ai chứ… Tiếp đến thì Khổng tử và Lão tử (nhân vật Lão tử chưa chắc đã có thật) có thể được tạm xét là “phó-thánh nhân”, tất nhiên hai dòng thuyết của hai ông này thì hạ bệ nhau chan chát, không kiêng nể gì nhau.  Phương pháp duy-lý tưởng này phổ biến trong khắp các tôn giáo, cũng như trong khắp các chế độ xã hội thần quyền thời xưa. Người ta đưa ra một cái tiêu chí duy-lý tưởng, và đem con người và xã hội ra so ép vào đó. Một khi nhất nhất phải làm bằng được như thế, nó đẻ ra phương cách mục đích luận.  Bản thân phương pháp duy-lý tưởng không quyết định vấn đề chân lý có đạt được, hay không đạt được. Đó là hai vấn đề khác nhau.  Với các động cơ rất tốt đẹp, các ông Marx và Engels thời trẻ cũng đã sử dụng chủ yếu phương pháp duy-lý tưởng. Các ông Marx và Engels đã bắt đầu các nghiên cứu riêng của mình về phân tích xã hội và con người, nhưng các nghiên cứu riêng thời trẻ đó của các ông chưa phải là các nghiên cứu thống kê so sánh tỉ mỉ có tính chất xã hội học. Tác phẩm “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”, được viết vào các năm 1847-1848 khi ông Marx 29-30 tuổi (sinh năm 1818), và ông Engles 27-28 tuổi (sinh năm 1820), là một dự phóng duy-lý tưởng : các ông đề xuất ra một mô hình xã hội của ngày mai dưới dạng một xã hội lý tưởng. Càng về cuối đời mình, các ông tỏ ra càng dè dặt hơn, và nghiêng dần về các biến đổi tiệm tiến với nhiều khả năng khác nhau.  Phương pháp “phi-duy-lý tưởng”, hay “tích cực”  Tách ra khỏi xu hướng duy-lý tưởng, các nghiên cứu xã hội học ra đời, khoảng từ những năm 1830 ở châu Âu. Thay vì cố tranh biện đơn thuần về việc “xã hội, con người phải như thế nào?”, các nghiên cứu này lấy trọng tâm tìm hiểu “xã hội, con người đang như thế nào?”.          Một xã hội cũng như bất kì một thực thể nào đều mang trong nó nhiều khả năng phát triển khác nhau – ở những thời điểm khác nhau và trong những môi trường khác nhau. Cách nhìn xã hội, con người chỉ đi theo một con đường sẵn có định mệnh đã tỏ ra thiếu thực tế, và thiếu sức sống.        Sự ra đời của xã hội học là sự trưởng thành của xã hội hậu-thần quyền, của xã hội thế tục. Các xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn, phong phú hơn bội phần. Nhà nghiên cứu cũng trở nên bớt hùng biện, bớt suy diễn tư biện hơn. Thay vào đó là các nghiên cứu có tính tập thể hơn, liên ngành hơn, tỉ mẩn và dài lâu, với các công cụ phong phú hơn. Một xã hội cũng như bất kì một thực thể nào đều mang trong nó nhiều khả năng phát triển khác nhau – ở những thời điểm khác nhau và trong những môi trường khác nhau. Cách nhìn xã hội, con người chỉ đi theo một con đường sẵn có định mệnh đã tỏ ra thiếu thực tế, và thiếu sức sống. Hôm nay chúng ta thừa biết rằng trong khung cảnh toàn cầu hóa này, nếu một quốc gia nhỏ bé lạc hậu phút chốc phát hiện ra cái kho dầu mỏ vĩ đại ở dưới nền nhà mình, thì nó sẽ đi một con đường mới tinh, bất chấp các nghị luận dự đoán trước đó về nó có chất đầy đến đâu trên giá sách.   Hơn thế nữa, con người và xã hội không phải là một thực thể “tự nhiên”, nằm yên đấy để cho ta đi vòng quanh đó quan sát và nghiên cứu thỏa thích như thời trung cổ nữa. Cùng với sự hiểu biết thay đổi nâng lên, chính con người và xã hội cũng thay đổi cùng lên theo cấp số! Chúng ta biết rằng ở nhiều nơi vào ngày bầu cử tự do người ta cấm các tổ chức điều tra thống kê dự báo về xu hướng và kết quả bầu cử được đưa ra thông tin, vì chính những thông tin tức thời này sẽ lại ảnh hưởng lập tức ngược trở lại luôn cuộc bầu cử, tạo nên một vòng xoáy điên đảo trong ngày!  Các thảo luận về “trí thức”…    Đa phần những thảo luận về “trí thức” gần đây trên các media trong nước thuộc về phương thức “duy-lý tưởng”. Các tác giả đưa ra những định nghĩa có tính lý tưởng khác nhau về “trí thức phải là…”, sau đó xem ai đạt tiêu chuẩn của những định nghĩa này. Đó là một lựa chọn, lựa chọn duy-lý tưởng.   Chắc rằng rất nhiều người làm việc trí óc khi đọc những bài luận như thế khắc phải sờ lên gáy mình nghĩ, không biết mình có đạt các tiêu chuẩn duy-lý tưởng đó không. Trong trường hợp nếu các định nghĩa mà quá khắt khe, thì có cơ lại rơi vào trường hợp chỉ có ông Nghiêu và ông Thuấn đắc địa.  Cách tiếp cận này có cái thú vị của nó. Nhưng nếu nó tự cho mình là duy nhất, thì sẽ gạt bỏ chính tinh thần đa nguyên trong nhận thức.  Ngoài cách tiếp cận duy-lý tưởng, tất nhiên các nhà xã hội học vẫn cứ phải an tâm nghiên cứu tiếp, xem mấy triệu trí thức “phi-duy-lý tưởng” kia ở ta, họ làm việc mấy giờ một ngày, mấy ngày một tuần, họ thờ cúng mê tín ra sao, bao nhiêu phần trăm trong họ đã có lần lên tiếng cho công lý xã hội, bao nhiêu phần trăm trong họ trùm chăn ngủ kỹ mãi mãi, thu nhập trong bọn họ khác nhau ra sao, bằng cấp của họ có được bằng các cách thức gì, v.v.  Cũng phải để ý rằng các nghiên cứu phi-duy-lý tưởng ở xứ ta thì đang rất yếu kém, cần được xây dựng và đẩy mạnh. Đơn giản nhất như vấn đề dân số, di dân và phố xá tắc nghẽn liên quan nhau như thế nào? Giải pháp trước mắt và dài lâu? Tại sao nước Đức có dân số và diện tích tương tự nước Việt mà họ ăn ở rộng rãi đàng hoàng được đến như thế?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Postef 61 Trần Phú và kho di sản không được gọi tên      Đầu tháng tư vừa qua, tòa nhà Postef nằm ở 61 Trần Phú, Hà Nội chuẩn bị được tháo dỡ để thay bằng một khu trung tâm thương mại 11 tầng. Mặc dù Bí thư Thành ủy Hà Nội ngay sau đó đã yêu cầu tạm dừng thi công để kiểm tra, nhưng bên trong tòa nhà đã gần như bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn chút mặt tiền ở phố Hùng Vương là nguyên vẹn.        Khu tổ hợp Postef 61 Trần Phú trước khi bị phá dỡ. Ảnh: dangcongsan.vn  Di sản bị lãng quên  Câu chuyện về tòa nhà này đã kéo theo những tranh luận khá gay gắt xoay quanh giá trị của nó. Trong mắt của những người dân xung quanh, cơ quan chủ quản và các cơ quan liên quan, công trình này chỉ là “ứ tồn” đợi thanh lý nên việc đập bỏ xây mới là cách tốt nhất. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại một lần nữa đánh mất một di sản, xóa bỏ một phần kí ức của Hà Nội. Công trình Postef 61 Trần Phú là một quần thể kiến trúc từ thời Pháp thuộc, có chức năng là một cơ sở công nghiệp bao gồm nhà kho, xưởng máy và nhà ở (của người quản lý) của Sở Bưu điện và Điện báo Đông Dương. Việc xây dưng quần thể này là một phần của kế hoạch mở rộng chương trình khai thác thuộc địa và giao thương buôn bán của Pháp tại Đông Dương. Theo Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I – nơi còn lưu trữ tài liệu và hồ sơ về công trình này, thì nó được thiết kế năm 1922, xây dựng năm 1923 và hoàn thiện năm 1927, là phần chức năng kho xưởng được mở rộng để hỗ trợ Bưu điện chính ở vị trí hồ Hoàn Kiếm. Theo đánh giá của các chuyên gia lịch sử kiến trúc, cho đến trước khi bị phá vài tuần trước, thì công trình này không chỉ giá trị bởi tuổi đời gần một thế kỉ, là một phần của lịch sử Hà Nội thời Pháp thuộc mà nó còn có những điểm độc đáo khác về kiến trúc và cảnh quan.  Là một quần thể công trình công nghiệp với khối nhà xưởng nằm giữa, Postef đại diện cho cho loại hình kiến trúc nhà công nghiệp hiện đại đầu thế kỉ 20 ở Đông Dương với điểm đặc biệt chính là hệ mái hình răng cưa sử dụng loại kết cấu giàn bê tông cốt thép có góc bo tròn – đặc trưng của nhà nhịp lớn thời đó (khác với sau này dùng giàn thép). Lối xử lý hệ mái này là cách xử lý rất thông minh, thích ứng với khí hậu của địa phương: cho phép chiếu sáng và thông gió tự nhiên. Về điểm này, người Pháp đã đi tiên phong cả trăm năm trong phong trào ‘Kiến trúc sinh khí hậu’ – hiện đang được thúc đẩy trên phạm vi toàn cầu- khi tìm tòi và xử lý kiến trúc thích ứng với môi trường khí hậu rất khác với khí hậu ở châu Âu. Công trình này cũng có tính nguyên gốc, là đại diện cho loại hình công nghiệp duy nhất còn giữ được gần như nguyên trạng không thay đổi so với thời kì mới xây dựng, trong khi những công trình khác cùng loại cùng thời đã không còn nữa hoặc bị biến dạng quá lớn. Hơn thế, tổng mặt bằng và quy mô, kết cấu, chi tiết mái và các chi tiết kiến trúc của các công trình trong quần thể 61 Trần Phú là một phần hữu cơ, hài hòa với quần thể công trình Bệnh viện Saint Paul, tạo nên một tổng thể không gian kiến trúc đô thị đậm màu thời gian, góp phần tạo nên làm nên nét cổ kính, tôn nghiêm quý báu cho khu trung tâm chính trị Ba Đình;    Theo đánh giá của các chuyên gia lịch sử kiến trúc, cho đến trước khi bị phá vài tuần trước, thì công trình này không chỉ giá trị bởi tuổi đời gần một thế kỉ, là một phần của lịch sử Hà Nội thời Pháp thuộc mà nó còn có những điểm độc đáo khác về kiến trúc và cảnh quan.    Postef chỉ là một trong số hàng chục, có thể là hàng trăm các công trình kiến trúc lịch sử ở Hà Nội vốn đang có số phận mong manh, không nằm trong bất cứ danh mục xếp hạng hay bảo tồn nào của nhà nước. Phần lớn công chúng cũng không kịp nhận ra giá trị của những tòa nhà thuộc về kí ức đã quá xa, giờ phần nhiều đã xuống cấp, nằm im lìm hoặc hoạt động một cách cầm chứng. Điều này đáng buồn, nhưng không bất ngờ. Các cơ quan chuyên môn và quản lý nhà nước về di sản và kiến trúc cấp trung ương và tại Hà Nội vốn đã chậm trễ trong nhận thức, và hành động đối với di sản nói chung và di sản công nghiệp nói riêng. Khi thông tin và kiến thức liên quan đến những “di sản ngoài vùng xếp hạng” này quá thiếu, không được tập hợp, không được hệ thống hóa, và không được chia sẻ rộng rãi, thì sự tranh cãi về giá trị công trình và việc đập bỏ di sản không thương tiếc cũng là thực tế dễ hiểu.  Cứu vãn di sản công nghiệp  Tất nhiên, không phải mọi nhà máy, xí nghiệp cũ đều là di sản công nghiệp. Theo Ủy ban quốc tế về Bảo tồn Di sản Công nghiệp (The International Committee for the Conservation of the Industrial Heritage), Di sản công nghiệp là những phần còn lại được đánh giá là chứa đựng nhiều giá trị của nền ‘văn minh công nghiệp’ (gắn với quá trình sản xuất, chế tạo, khai thác, vận chuyển bằng máy móc). Các giá trị ở đây được nhìn nhận trên các khía cạnh lịch sử, công nghệ, xã hội, kiến trúc hay khoa học…và những giá trị khác. Di sản công nghiệp có thể bao gồm các tòa nhà, máy móc, xưởng, nhà máy, mỏ, địa điểm chế biến, kho và cửa hàng, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, và cả như những địa điểm dùng cho các hoạt động xã hội liên quan đến ngành công nghiệp như nhà ở, nơi thờ phụng, thực hành nghi lễ tôn giáo, cơ sở đào tạo…cho công nhân – lực lượng lao động trong các cơ sở công nghiệp đó.  Di sản công nghiệp gắn với hoạt động sản xuất theo lối công nghiệp; nó hoàn toàn có thể chứa đựng các giá trị lịch sử, chính trị. Như trong lịch sử nước ta, các nhà máy như Ba Son, Nhà máy Dệt Nam Định, luôn là nơi nuôi dưỡng các phong trào cách mạng của công nhân, người lao động, đấu tranh giành độc lập. UNESCO cũng khẳng định Di sản công nghiệp là một phần không thể tách rời của di sản văn hóa nói chung, phản ánh một sự tiến bộ vượt bậc (mang tính cách mạng) trong lịch sử văn minh nhân loại, một sự thông thái được kế thừa; một tiến trình phát triển của xã hội hiện đại.  So với các đối tượng khác, Di sản công nghiệp được nhìn nhận và công nhận muộn hơn, nhưng đến nay UNESCO đã xác nhận 26 di sản công nghiệp với tư cách là di sản văn hóa thế giới. Các quốc gia cũng đã nhanh chóng bắt tay vào việc xác định và bảo tồn các Di sản công nghiệp của quốc gia mình. Phong trào bảo tồn di sản công nghiệp hiện đang phát triển rất mạnh mẽ ở châu Á với ANIH (Asian network of Industrial Heritages) là Mạng lưới nghiên cứu bảo tồn di sản công nghiệp châu Á có sự tham gia của 10 quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam.  Khái niệm di sản công nghiệp đã được giới thiệu vào Việt Nam năm 2020 bởi các kiến trúc sư và các chuyên gia đô thị thuộc mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống (VMHNĐS) và liên tục được chia sẻ, lan tỏa trong xã hội trong hai năm qua. Tuy nhiên cho đến nay khái niệm này chưa được chính thức khẳng định trong bất cứ văn bản pháp lý hay được thừa nhận bởi các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước về di sản hay các hội nghề nghiệp.  Năm 2020, cuộc khảo sát không chính thức đầu tiên về di sản công nghiệp đã được thực hiện bởi nhóm các chuyên gia thuộc mạng lưới VMHNĐS, đã rà soát khoảng 100 cơ sở công nghiệp trong diện di dời theo quy hoạch tại Hà Nội. Qua đó, có thể thấy Hà Nội có rất ít các di sản công nghiệp còn lại, tuy nhiên, một số nhà máy có giá trị khá nổi trội, cụ thể, tôi đánh giá đứng đầu là Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, kế đến là Nhà máy Bia rượu và Nước giải khát Hà Nội. Các nhà máy khác như Nhà máy Thuốc lá Thăng Long (trên đường Nguyễn Trãi), hay Xưởng Cơ khí Điện Thông (trên đường Bạch Mai) cũng có giá trị ở một mức độ nhất định và có thể xem xét giữ gìn một phần trong tổng thể.          Các nhà máy  Diện tích  Chất lượng CSVC  Tình trạng hoạt động  Giá trị Kiến trúc  Giá trị lịch sử      1  Thuốc lá Thăng Long  lớn  TB  đã chuyển  giá trị  giá trị      2  Cao Su Sao vàng  lớn  TB  hiệu quả  giá trị  giá trị      3  Bóng đèn phích nước Rạng Đông  lớn  Tốt  hiệu quả  trung bình  giá trị      4  Giày Thượng Đình  TB  xuống cấp  cầm chừng  trung bình  giá trị      5  Bia – rượu – nước giải khát Hà Nội  lớn  Tốt  hiệu quả  xuất sắc  giá trị cao      6  Bánh kẹp Hải Hà  TB  TB  cầm chừng  trung bình  giá trị      7  Bánh kẹo Hải Châu  lớn  xuống cấp  đã chuyển  trung bình  giá trị      8  Kỹ thuật Điện thông  nhỏ  xuống cấp  đã chuyển  giá trị  giá trị      9  Dệt công nghiệp Hà Nội  lớn  Tốt  hiệu quả  trung bình  giá trị      10  Xe lửa Gia Lâm  Rất lớn  Tốt  cầm chừng  xuất sắc  giá trị cao        Kết quả đánh giá nhanh 10 nhà máy tại Hà Nội (nguồn: tác giả)    Vì sự chậm trễ trong nhận thức và hành động của các cơ quan tổ chức, chúng ta đã chứng kiến sự biến mất của khá nhiều các di sản công nghiệp quan trọng của Việt Nam khi chúng còn chưa kịp được gọi tên như trường hợp Nhà máy Dệt Nam Định, Nhà máy Đóng tàu Ba Son ở TP.HCM, nhà máy Thuốc lá Yên Phụ.    Cần phải nhấn mạnh đây là cuộc khảo sát nhanh và chưa đầy đủ. Hiện nay chưa có một cuộc khảo sát đánh giá chính thức nào nên chưa thể có bất kì một kết luận nào về quỹ di sản công nghiệp ở Hà Nội và Việt Nam. Nói cách khác, chúng ta vẫn chưa có một cái nhìn tổng thể về những giá trị chúng ta đang có và có thể làm gì để giữ gìn chúng. Dù nhóm VMHNĐS chúng tôi đã vận động và truyền thông về di sản công nghiệp trong suốt hai năm nay, tình trạng phá bỏ các nhà máy trước khi đánh giá giá trị di sản vẫn diễn ra, vẫn được xem là “đúng quy trình”, một quy trình rất chậm chuyển hóa và cập nhật tri thức mới…Vì sự chậm trễ trong nhận thức và hành động của các cơ quan tổ chức, chúng ta đã chứng kiến sự biến mất của khá nhiều các di sản công nghiệp quan trọng của Việt Nam khi chúng còn chưa kịp được gọi tên như trường hợp Nhà máy Dệt Nam Định, Nhà máy Đóng tàu Ba Son ở TP.HCM, nhà máy Thuốc lá Yên Phụ. Thành phố Hà Nội cần khẩn trương giao cho các cơ quan chuyên môn như Viện Quy hoạch Hà Nội hay Sở Quy hoạch Kiến trúc tổ chức rà soát, đánh giá, công khai, lấy ý kiến đầy đủ về các Di sản Công nghiệp của Hà Nội.  Quay trở lại câu chuyện của Postef 61 Trần Phú, tất nhiên giá trị về kiến trúc, thẩm mỹ và vai trò lịch sử của tổ hợp này không thể bằng các công trình thuộc địa đỉnh cao, có chức năng công cộng như Nhà hát lớn, bảo tàng lịch sử. Vì vậy càng cần có sự phân loại về giá trị và ý nghĩa để có cách ứng xử hợp lý. Có thể công trình như Postef không đòi hỏi phải trùng tu bảo tồn nguyên trạng mà nó là sự lồng ghép và cân bằng giữa việc giữ lại các giá trị của công trình cũ với cải tạo, xây dựng một công trình mới.  Phương án “tái sử dụng thích nghi” cũng là cách khai thác phổ biến đối với các di sản công nghiệp – tức là chuyển đổi sang các chức năng mới cho phép cơ sở vật chất nhà xưởng đó vẫn “sống” và phát huy trong điều kiện và hoàn cảnh mới; việc này có thể đòi hỏi các can thiệp, sửa chữa, cấy ghép thêm, hoặc dỡ bỏ một phần, ở các mức độ khác nhau, nhưng nguyên tắc chung tà giữ gìn tối đa các giá trị đã được xác định của công trình, ví dụ: giữ các kết cấu hoặc chi tiết kiến trúc đẹp, độc đáo, đặc thù của công trình, tránh việc đưa các vật liệu – kết cấu mới che lấp các kết cấu gốc; giữ gìn tối đa ‘tinh thần’ hoặc ‘không khí’ công nghiệp của công trình khi lựa chọn yếu tố mới  nào được đưa vào, và đưa vào như thế nào; một phần công trình có thể được giữ lại nguyên vẹn và trở thành bảo tàng – hay phòng truyền thống lịch sử của ngành sản xuất công nghiệp trong quá khứ v.v… Nhìn chung, các di sản công nghiệp hay các công trình công nghiệp có giá trị lịch sử trên thế giới thường được chuyển đổi thành các trung tâm văn hóa, sáng tạo, trung tâm nghệ thuật kết hợp thương mại dịch vụ, Không gian công cộng và trở thành điểm thu hút các hoạt động, các sự kiện văn hóa của các thành phố. Các nghệ sĩ đặc biệt thích các không gian công nghiệp cũ để biến chúng trở thành các môi trường sáng tạo của mình.                  Nhà máy xe lửa Gia Lâm là một trong những cơ sở đường sắt lớn nhất Đông Nam Á với 100 năm lịch sử. Đây là chứng nhân lịch sử của Hà Nội và Việt Nam với giá trị kiến trúc xuất sắc và cơ sở vật chất còn tốt nhưng giờ chỉ còn hoạt động cầm chứng. Không gian này có thể giữ lại 1/3 diện tích để hoạt động sản xuất, còn lại chuyển đổi thành khu tổ hợp văn hóa sáng tạo công cộng nhưng vẫn giữ lại những kết cấu có giá trị kiến trúc – lịch sử.  Nguồn kinh tế to lớn từ di sản  Câu chuyện đáng tiếc về Postef 61 Trần Phú nguyên nhân sâu xa chỉ là vì chúng ta chưa hiểu đủ, chưa biết đúng về nó, và về tiềm năng của di sản nói chung. Di sản là ngành kinh tế không khói mang lại nguồn lợi to lớn, lâu dài bền vững trong xu hướng kinh tế thiên về du lịch, dịch vụ, văn hóa sáng tạo trên toàn cầu như hiện nay.     Nhà máy Bia Hà Nội đang dẫn đầu giá trị trên mọi khía cạnh theo khảo sát của chúng tôi. Chúng tôi đề xuất vẫn duy trì không gian làm việc của bộ máy tổ chức công ty và một số không gian sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, phần nhà xưởng cũ, biệt thự cũ hiện đang không hoặc ít sử dụng có thể chuyển đổi thành không gian văn hóa ẩm thực sang trọng.  Đối với riêng Hà Nội, việc bảo tồn giá trị của các di sản công nghiệp là lưu giữ dáng vẻ ẩn chứa những thăng trầm lịch sử của thành phố, là duy trì một dòng chảy kí ức liền lạc của đô thị từ quá khứ đến hiện tại. Điều này sẽ mang lại giá trị lâu dài cho việc phát triển thành phố một cách bền vững trong tương lai. Nhưng kể cả khi nhìn vào giá trị ngắn hạn, bảo tồn các di sản công nghiệp này bằng cách chuyển đổi chúng thành các không gian văn hóa – sáng tạo – công cộng, Hà Nội sẽ giải quyết được những vấn đề đang nhức nhối vẫn chưa có lời giải: giảm ô nhiễm, tăng diện tích cây xanh, thêm không gian thư giãn, giải trí, vui chơi lành mạnh cho người dân, trở thành một đô thị sôi động – thu hút cộng đồng doanh nhân khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và nghệ sĩ.  Để làm được như vậy, thành phố cần có những công cụ mạnh mẽ và liên ngành trong việc nhận diện và khai thác quỹ di sản công nghiệp. Trong đó, các chính sách không chỉ dừng lại ở khía cạnh quy hoạch mà còn giải quyết cả khía cạnh kinh tế nhằm tìm ra phương thức hợp tác công tư hiệu quả để chuyển đổi mục đích và khai thác các cơ sở công nghiệp cũ và khía cạnh văn hóa để công chúng và cộng đồng những người khởi nghiệp, nghệ sĩ có thể thực sự hưởng lợi từ các không gian sáng tạo này.    Với sự tập trung dân số và mật độ xây dựng rất cao tại các quận nội thành Hà Nội, thì các nhà máy cũ này là những cơ hội cuối cùng để dành lại quỹ không gian cho các mục tiêu xã hội, trong đó có không gian văn hóa – sáng tạo và không gian công cộng.    Tháng hai vừa qua, Hà Nội vừa ban hành Nghị quyết phát triển nền công nghiệp văn hóa thủ đô giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Văn bản này nhấn mạnh, công nghiệp văn hóa là một “nền kinh tế mũi nhọn”. Nhân cơ hội này, thành phố cần xác định việc phát triển hạ tầng văn hóa sáng tạo là nhiệm vụ trọng tâm thực hiện nghị quyết này. Từ đó, việc tiếp theo sẽ là quy hoạch mạng lưới không gian văn hóa – sáng tạo của thành phố bao gồm các địa điểm từ cấp thành phố đến cấp phường, cụm dân cư với đa dạng về chức năng, mô hình hoạt động và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trước khi hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới, cần có sự hợp tác liên ngành giữa Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Văn hóa, cùng các cơ quan chuyên môn như Viện Bảo tồn di tích, Viện Kiến trúc Quốc gia để khảo sát, kiểm kê, đánh giá các cơ sở công nghiệp cũ Hà Nội dưới góc độ “Di sản” và “Kiến trúc có giá trị” theo Luật Kiến trúc. Từ đó, Hà Nội mới có được “Danh mục các công trình kiến trúc công nghiệp có giá trị” để lựa chọn các nhà máy tiến hành chuyển đổi và mô hình chuyển đổi phù hợp. Các địa điểm được lựa chọn chuyển đổi phải được lồng ghép vào các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, cập nhật một cách hệ thống vào quy hoạch chung khi tiến hành điều chỉnh Quy hoạch chung của Hà Nội. Chúng ta cần lưu ý rằng, với sự tập trung dân số và mật độ xây dựng rất cao tại các quận nội thành Hà Nội, thì các nhà máy cũ này là những cơ hội cuối cùng để dành lại quỹ không gian cho các mục tiêu xã hội, trong đó có không gian văn hóa – sáng tạo và không gian công cộng.    Đối với riêng Hà Nội, việc bảo tồn giá trị của các di sản công nghiệp là lưu giữ dáng vẻ ẩn chứa những thăng trầm lịch sử của thành phố, là duy trì một dòng chảy kí ức liền lạc của đô thị từ quá khứ đến hiện tại. Điều này sẽ mang lại giá trị lâu dài cho việc phát triển thành phố một cách bền vững trong tương lai.    Sau khi có cơ sở pháp lí về mặt quy hoạch, thành phố cần xây dựng chính sách để tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư các không gian văn hóa – sáng tạo từ khối tư nhân. Trước hết, cần định nghĩa chức năng sử dụng đất với các không gian kiểu này là một dạng hỗn hợp, vừa mang ý nghĩa xã hội, vừa mang ý nghĩa kinh tế. Nó nằm giữa các chức năng sinh lời (như nhà ở thương mại, trung tâm thương mại, và các chức năng xã hội phi lợi nhuận thuần túy (như trường học công, thư viện). Chúng tôi đề xuất gọi đất này là “hạ tầng xã hội hỗn hợp” trong đó sẽ giới hạn một tỉ lệ quỹ đất nhất định dùng cho mục đích thương mại sinh lợi nhuận. Điều này là để tránh việc các thế lực tư nhân tận dụng quỹ đất này cho các mục đích sinh lời thuần túy nhưng vẫn cho phép các cơ hội vận hành theo cơ chế tự chủ. Thành phố có thể công bố danh mục các không gian tiềm năng này và đóng vai trò kết nối chủ quản lý đất với các nhà đầu tư không gian văn hóa sáng tạo tiềm năng để thực hiện hợp đồng thuê không gian 5-10 năm dưới sự bảo trợ của nhà nước.  Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần xây dựng cả cơ chế cho việc hình thành các doanh nghiệp bất động sản vì mục đích xã hội. Các doanh nghiệp này sẽ được tạo điều kiện khai thác trên đất hạ tầng xã hội hỗn hợp, được đảm bảo hợp đồng thuê đất ổn định và được hưởng các ưu đãi khác trong một khoảng thời gian đủ dài để thu hồi vốn đầu tư. Thực chất mô hình doanh nghiệp này đã xuất hiện ở Hà Nội, hoạt động khá hiệu quả và năng động với các dự án như Hanoi Creative City, hay dự án Complex 01, hoặc dự án 282 Factory. Xu hướng hiện nay có rất nhiều các startup trẻ quan tâm và mong muốn thực hiện các dự án như thế này, vừa để có chỗ thực hành sáng tạo cho chính mình, vừa cung cấp không gian cho các đối tác, đồng nghiệp, cùng phường, hội. Trong khi Complex 01 và Hanoi Creative City gợi nhớ đến khu tổ hợp văn hóa – giải trí cho giới trẻ Zone 9 trước đây đều được xây dựng trên nền nhà máy cũ, trường hợp 282 Design có phần đặc biệt hơn. Không gian này là một trong những ý tưởng tham dự Cuộc thi Thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội năm 2020-2021, được Kiến trúc sư Phạm Thanh Huy cải tạo từ một xưởng gỗ cũ thành một không gian đa năng, vừa là trụ sở công ty nội thất của anh mà cũng vừa là nơi tổ chức các sự kiện liên quan đến thiết kế – kiến trúc, trong đó có “Tuần lễ thiết kế Việt Nam” – Việt Nam Design Week hay triển lãm We play của nhóm Kiến trúc sư trẻ Hà Nội. Ba trường hợp trên đều là các ví dụ truyền cảm hứng cho việc chuyển đổi những kho xưởng cũ thành các không gian mới độc đáo, hấp dẫn, giàu sức sống và chứng minh hiệu quả đầu tư tốt.  *PGS.TS Phạm Thuý Loan là Thành viên Vì một Hà Nội Đáng sống, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia.    Author                Phạm Thuý Loan        
__label__tiasang Quan điểm của Lênin về trí thức      Lênin, nhà lý luận thiên tài, người lãnh đạo vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã có những đóng góp to lớn vào kho tàng tư tưởng của nhân loại. Một trong những nội dung của tư tưởng ấy là quan điểm về trí thức.        Như nhiều nhà cách mạng chân chính, Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ. Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Nhưng những kiến thức khoa học nếu bị những kẻ có đặc quyền, những lực lượng thống trị phản động kiềm chế và sử dụng, thì sẽ trở thành vũ khí để nô dịch quần chúng, Cách mạng vô sản phải có nhiệm vụ giành lại vũ khí đó vì sự nghiệp giải phóng con người: “Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng, tri thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lượng sản xuất lên một chất lượng mới. Do vậy “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi đến một năng suất lao động lớn hơn năng suất chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”.  Thực tiễn cách mạng thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn của Lênin về vai trò của trí thức, Bác Hồ thấm nhuần tư tưởng này. Người nói những câu nổi tiếng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”.  ***  Cùng với việc nhận thức đúng đắn vai trò của trí thức, Lênin chỉ ra rằng: “Cũng như bất cứ giai cấp nào khác của xã hội hiện đại, giai cấp vô sản không những chỉ tạo ra tầng lớp trí thức riêng của mình, mà còn thu nạp cả những người ủng hộ mình trong tất cả mọi người có học thức”. Dó chính là con đường của quá trình hình thành đội ngũ tri thức mới, nhất là trong giai đoạn đầu khi giai cấp công nhân mới giành được chính quyền: một mặt, khôn khéo sử dụng và cải tạo trí thức cũ; mặt khác, tích cực đào tạo trí thức mới từ công-nông. Với điều kiện cụ thể của nước Nga Xô Viết sau cách mạng tháng Mười, Lênin rất chú trọng đến việc sử dụng chuyên gia tư sản vì xã hội mới của nhân dân lao động.  Từ góc độ cơ cấu xã hội- giai cấp, Lênin lưu ý: trí thức không phải là giai cấp, mà “là một tầng lớp đặc biệt” trong xã hội. Từ vị trí của mình trong phân công lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất- cái dấu hiệu quan trọng nhất để xác định giai cấp, do đó không có khả năng đại biểu cho phương thức sản xuất nào cả, cũng không có hệ tư tưởng độc lập… Cho nên, trí thức luôn phải gắn với những giai cấp nhất định. Với tư cách là một tầng lớp, và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của giai cấp thống trị do chính hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của nhà nước của giai cấp thống trị ấy tạo ra. Tầng lớp này, tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị. Quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho tầng lớp trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau. Những bộ phân khác nhau đó sẽ ngả theo lực lượng này hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác. Lênin luôn phê phán những ai coi trí thức là “siêu giai cấp” hoặc đứng trên giai cấp. Người nói: “Nếu không nhập cuộc với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”.  Ngày nay, đứng trước những thành tựu to lớn của khoa học-kỹ thuật, những tư tưởng của chủ nghĩa kỹ trị đang tồn tại và phát triển dưới nhiều màu sắc khác nhau. Nhưng tựu chung và đỉnh cao về mặt chính trị- xã hội của họ là đi đến thổi phồng vai trò của trí thức, mà dẫn đến coi nhẹ hoặc phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại. Vì vậy, những quan điểm của Lênin về trí thức trong cơ cấu xã hội- giai cấp vẫn là cơ sở để chúng ta nhận rõ bản chất phi khoa học, mơ hồ hoặc phản chính trị của những tư tưởng này.  ***           Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chiến hạm              Rạng Đông lịch sử trong chuyến thăm              chính thức LB Nga tháng 9/2007          Lênin không chỉ chú ý đến tính xã hội-giai cấp của trí thức mà còn quan tâm đến cả đặc điểm lao động của họ. Lao động nói chung đã là sáng tạo. Nhưng từ sự phân công lao động xã hội mà tính sáng tạo trội lên thuộc về lao động trí óc của người trí thức. Kiểu lao động ấy, theo Lênin, nó đòi hỏi cao tính độc lập của người trí thức trong vận động khả năng tư duy và năng lực kinh nghiệm để tìm ra biện pháp tối ưu giải quyết công việc. Người nhắc chúng ta rằng đối với trí thức “… chỉ nhờ vào những phẩm chất cá nhân của họ nên mới có thể đóng được một vai trò nào đó. Vì vậy đối với họ, quyền được hoàn toàn tự do biểu hiện bản chất cá nhân của mình là điều kiện đầu tiên để công tác được kết quả”. Điều này lại càng rõ đối với trí thức khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt ở lĩnh vực sáng tạo văn học- nghệ thuật của giới văn nghệ sĩ: “Đương nhiên, trong sự nghiệp đó tuyệt đối phải bảo đảm phạm vi hết sức rộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho khuynh hướng cá nhân, cho tư tưởng và sức tưởng tượng, cho hình thức và nội dung. Tất cả những điều đó là hiển nhiên và chỉ chứng tỏ rằng: bộ phận văn học trong sự nghiệp Đảng của giai cấp vô sản không thể cùng với những bộ phận khác trong sự nghiệp Đảng của giai cấp vô sản rập khuôn như nhau”.  Như vậy, Lênin đã gợi ý cho chúng ta rằng lao động sáng tạo khoa học của trí thức có những khác biệt nhiều so với lao động chân tay, hoặc lao động trí óc đơn giản.  Nghiên cứu đặc điểm lao động của trí thức không phải vì mục đích tự thân mà chính để làm cơ sở cho công tác lãnh đạo và quản lý trí thức. Đảng bộ, chính quyền các cấp, và các cơ quan chủ quản phải lưu ý đến đặc điểm lao động của trí thức riêng từng ngành, từng đơn vị để có tác động phù hợp phát huy được những mặt mạnh, hạn chế những mặt còn thiếu sót của người trí thức.  ***  Khi bàn về trí thức, Lênin đã gợi cho chúng ta suy nghĩ về tầm trí tuệ của người cán bộ lãnh đạo.  Lênin nhắc nhở những người cộng sản khi đã có chính quyền và thực hiện xây dựng xã hội mới thì thật sai lầm nếu cho rằng muốn thoát khỏi dốt nát thì chỉ cần có giáo dục chủ nghĩa Mác mà không chú ý giáo dục các tri thức khác nữa. Lênin khuyên những người cộng sản phải biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những tri thức mà nhân loại đã tạo ra. Hơn nữa khi trở thành cán bộ lãnh đạo thì càng cần phải có một tầm trí tuệ. Người nói: “Người lãnh đạo cơ quan nhà nước cần phải có ở mức độ cao khả năng lôi cuốn mọi người và có đủ trình độ kiến thức khoa học kỹ thuật vững vàng kiểm tra công tác của họ. Đó là điều cơ bản. Không như thế thì công tác không thể tiến hành đúng đắn được. Mặc khác, một điều rất quan trọng là người lãnh đạo ấy phải biết quản lý về mặt hành chính và có được người giúp việc hoặc những người giúp việc xứng đáng trong công việc đó. Sự kết hợp hai phẩm chất ấy trong một con người vị tất sẽ có được và vị tất là cần thiết”.  Ý của Lênin thật rõ ràng. Không phải tất cả những người có bằng cấp cao, những trí thức đều có thể trở thành người lãnh đạo. Nhưng người lãnh đạo, nhất là ở những cương vị cao, phải có tầm tri thức cao và rộng (điều này người trí thức nói chung, những người chỉ hoạt động chuyên môn khoa học không hẳn đã có và cần có). Người cán bộ lãnh đạo thực thụ về mặt trí tuệ phải có được những kiến thức về nhân sinh quan và thế giới quan mác xít, về khoa học quản lý- dùng người, về khoa học kỹ thuật chuyên môn thuộc phạm vi ngành, đơn vị mình lãnh đạo… Nếu không như vậy sẽ không xứng đáng với danh hiệu người lãnh đạo.  Từ những quan điểm của Lênin về tri thức chúng ta có thể rút ra được những bài học cho việc xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức nước nhà, một yếu tố quan trọng để nâng cao tầm trí tuệ hoạt động của Đảng, Nhà nước cũng như của toàn xã hội.                     Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm Châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.                          Hồ Chí Minh  –    Phan Thanh Khôi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ lao động trong bối cảnh hội nhập: Vấn đề kinh tế hơn là xã hội      Vừa qua, dự thảo Luật Lao động sửa đổi đã đưa ra nhiều điều chỉnh mới, trong đó chủ yếu xoay xung quanh khía cạnh “truyền thống” như lương, giờ làm, tuổi lao động, ngày nghỉ lễ trong năm… Tuy nhiên một số vấn đề mới trong bối cảnh Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại mới như quan hệ lao động, tổ chức đại diện cho người lao động/ sử dụng lao động, bạch hóa thông tin… chưa được bàn bạc thấu đáo. Đây không chỉ là vấn đề có ý nghĩa xã hội mà thực chất có tác động đến chi phí kinh tế, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích người lao động và sự phát triển của doanh nghiệp, theo chị Đặng Thị Hải Hà, chuyên gia kinh tế lao động độc lập.      Công nhân công ty Shilla Bags đình công. Ảnh: Laodong.   Thực thi những điều chưa có tiền lệ  Lao động là một trong những vấn đề chính trong vòng đàm phán cuối cùng trước khi ký kết của CPTPP cũng như EVFTA với châu Âu vừa qua. Bối cảnh ký kết những hiệp định thương mại mới đó sẽ đặt ra những yêu cầu mới gì khiến Việt Nam phải điều chỉnh chính sách lao động?  Các hiệp định thương mại đều yêu cầu có yếu tố phát triển bền vững với mong muốn là thương mại và đầu tư phải cân đối hài hòa với mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường. Riêng trong vấn đề lao động thì các yếu tố trọng tâm được đặt lên hàng đầu là các công ước cơ bản, bao gồm các nội dung về: quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động; xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp…  Mới nhìn thì nghĩ rằng những vấn đề này đơn giản, nhưng đảm bảo tính thực thi một cách hiệu quả của từng khía cạnh lại không hề dễ dàng, bởi thậm chí có những nội dung ở Việt Nam chưa có tiền lệ. Ví dụ, hiện Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến tự do liên kết lập hội, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức. Hơn nữa cách hiểu của thế giới và cách hiểu của Việt Nam có độ chênh. Thế giới người ta hiểu về hiệp hội là cứ vài cá nhân thích lập hội và đăng ký là được thế nhưng đặt ở một quốc gia như Việt Nam thì phải điều chỉnh thế nào cho phù hợp? Việc điều chỉnh là cần thiết, bởi ngay cả Mỹ sau việc tấn công 11/9 thì họ cũng phải điều chỉnh, thắt chặt việc tự do lập hội hơn nhằm bảo vệ quyền được sống của con người.   Vừa rồi vấn đề “tổ chức đại diện cho người lao động” và “đại diện cho người sử dụng lao động” cấp cơ sở, cũng bắt đầu thấy được đề cập là một bước tiến lớn. Nhưng cũng chưa làm rõ được về tiêu chí hoạt động, tiêu chí đánh giá chất lượng, tính ràng buộc trách nhiệm, khả năng minh bạch thông tin hoạt động của hai tổ chức và hệ thống trên cấp cơ sở ấy.  Vấn đề tiếp theo là thương lượng đối thoại tập thể. Dường như ta đã có đầy đủ quy định trong luật Lao động rồi, chẳng hạn như cứ ba tháng một lần doanh nghiệp phải đứng ra đối thoại với người lao động thì cần gì đến vấn đề này. Nhưng doanh nghiệp có khoảng 50.000 nhân viên thì đối thoại kiểu gì? Và thông tin nội bộ có đầy đủ để đàm phán không? Cơ chế thông tin nội bộ là gì? Cho nên cần phải quy định rõ ràng trong Luật về vai trò của công đoàn đại diện, tổ chức đại diện người lao động, đại diện sử dụng lao động trong việc đàm phán thương lượng cũng như đặt ra một cơ chế đảm bảo thông tin nội bộ.     Dường như những điều chị vừa nói đang được hiểu rằng chỉ mang tính “xã hội” – đảm bảo cho sự công bằng, bình đẳng trong mối quan hệ lao động và không làm thì cũng chẳng “chết về mặt kinh tế”. Có cách nào đong đếm những điều đó ảnh hưởng như thế nào tới nền kinh tế? Doanh nghiệp và giới làm luật cần nhìn thấy được những ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp và chi phí chung cho nền kinh tế.     Việc tranh chấp xung đột có thể làm ảnh hưởng tới 25% trị giá hiệu quả sản xuất thì lại ít được bàn để điều chỉnh.    Đây hoàn toàn không chỉ là chuyện nhân quyền và xã hội mà là vấn đề kinh tế. Hãy nhìn vào các con số: với 6700 cuộc thanh tra trong năm ngoái, thì có 187.086 tỉ đồng số tiền mà thanh tra lao động kiến nghị phải thu hồi do vi phạm (lưu ý là vi phạm các điều khoản đang có ở luật Lao động hiện nay mà chưa sửa). Sai phạm tăng rất nhanh, chỉ trong một năm 2017, số sai phạm tăng 335% so với năm trước đó. Vừa rồi, trong một dự án điều tra khảo sát các tranh chấp của khoảng 100 doanh nghiệp, chúng tôi đếm số lượng xung đột hằng ngày, tính thời gian xung đột, chi phí tổn thất của thời gian đó từ đó đo được là các sai phạm, tranh chấp có thể ảnh hưởng từ 25-50% trị giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thử hỏi đặt trong bối cảnh mới, có nhiều quy định mới không được làm rõ, thì những con số này sẽ như thế nào? Tất cả các xung đột trong mối quan hệ lao động đều phải tính thành chi phí. Tất cả các vấn đề mà luật Lao động đang điều chỉnh đều tác động tới chất lượng công việc và kinh doanh.  Tuy nhiên, các thảo luận hiện nay xoay xung quanh vấn đề lao động dường đang tập trung vào bề nổi, hình thức và kém hiệu quả, vẫn đang cho người ta thấy màu sắc của vấn đề lao động như một vấn đề xã hội, cảm giác như tác động vào tâm lý số đông xã hội nhiều hơn là tính toán chi phí về kinh tế. Năm nào chúng ta cũng chỉ cãi nhau về tăng lương hay bỏ lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội trả kiểu gì, rồi kỷ luật lao động thế nào… mà chưa bàn tới những vấn đề cốt lõi là xử trí các mối quan hệ lao động, giảm chi phí xung đột quan hệ lao động.  Hãy nhìn vào chi phí sản xuất một chiếc áo ở Việt Nam (xem hình 1): Một cái áo ví dụ có giá là 29 USD, thì chỉ có 0,25 cent là chi phí trả cho người lao động Việt Nam. Nó quá nhỏ mà mọi người cứ chỉ tập trung vào đây để nâng cái 0.25 cent này lên nhằm tăng thu nhập cho người lao động theo cách cổ điển, truyền thống. Còn việc tranh chấp xung đột có thể làm ảnh hưởng tới ít nhất 25% trị giá hiệu quả sản xuất thì lại ít được bàn để điều chỉnh. Việc đặt ra các quy định, tiêu chí rõ ràng để điều chỉnh rất quan trọng. Ở Mỹ, người ta tính ra các công ty mất khoảng 2 giờ mỗi tuần để xử lý các tranh chấp, xung đột khác nhau phát sinh liên quan tới việc phân tích, hiểu các giấy tờ luật pháp. Ở Việt Nam thì chúng tôi tính toán là các công ty mất khoảng 2 giờ một ngày. Thậm chí ngay cả khi chúng ta không đưa ra được các quy định rõ ràng về lao động thì phải tính được chi phí của độ trễ chính sách này sẽ ảnh hưởng tới kinh tế là bao nhiêu, ảnh hưởng tới xã hội là bao nhiêu.     Năng lực khảo sát     Để đánh giá và làm rõ được tất cả những điều chị vừa nói từ đó đưa ra những khung quy định phù hợp với tình hình mới tới đây, thì phải bắt đầu từ đâu?   Chúng ta phải nghiên cứu đánh giá từ bao nhiêu vụ việc trong thực tế từ đó mới có đầu vào cho việc sửa đổi chính sách. Việc thảo luận góp ý chính sách hiện nay hầu như chỉ cảm tính rằng người lao động khổ thế này, người lao động khổ thế kia nhưng thực ra cần phải hiểu rất hài hòa tổng thể quyền lợi của các bên và tính toán được các chi phí liên quan đến quan hệ lao động.       Hình 1: Chi phí cho người lao động (Labor cost) chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong giá trị sản phẩm. Vấn đề quan hệ lao động vốn ảnh hưởng nhiều tới chi phí sản xuất thì lại chưa được quan tâm.   Ví dụ như để tính lương tối thiểu thì cũng phải nghiên cứu nó có tác động thực tế đến người lao động hay không, doanh nghiệp có lợi dụng điều đó không? Doanh nghiệp tuân thủ việc tăng lương tối thiểu rồi có đẩy định mức lao động lên cao hơn, giảm các khoản khác như thưởng không? Cái đó là phải thanh tra quỹ lương thì mới biết được, giả sử nếu doanh nghiệp làm ăn tốt, đóng thuế bình thường, số lượng lao động tăng lên thì quỹ lương phải tăng lên chứ, đằng này không kiểm soát được thì quỹ lương vẫn như cũ. Còn hiện nay mới chỉ liệt kê ra được [lương tối thiểu] tăng lên hay giảm xuống thôi, rất mờ nhạt và không tính được tác động của nó đến người lao động.   Ngoài tính toán những chi phí giải quyết xung đột trong quan hệ lao động, còn phải nghiên cứu tiêu chí hoạt động của các tổ chức đại diện để làm đầu vào cho dự thảo các quy định mới. Mà để làm việc này, chúng ta cũng không thể đi học Mỹ để bê nguyên xi mô hình của họ hay bất kỳ nước nào khác được. (Xem thêm hình 2: các yếu tố cốt lõi cần lưu tâm được đặt trung tâm vòng tròn, các vấn đề chung thể hiện các chương của Luật Lao động đang được thảo luận nhiều ở vòng tròn lớn).  Tuy nhiên hiện nay đội ngũ chuyên gia kinh tế lao động ở Việt Nam để làm những điều trên còn rất hiếm hoi. Ta phải tự phát triển được đội ngũ chuyên gia có thể “phiên dịch” được vấn đề này trên thế giới sang “ngôn ngữ của Việt Nam” một cách đơn giản, phù hợp với bối cảnh chúng ta đang đi chậm hơn quốc tế trong việc nghiên cứu về quan hệ lao động.      Tăng cường năng lực đánh giá và cung cấp dữ liệu đầu vào là yêu cầu rõ ràng, vậy còn năng lực giám sát thực thi thì sao?  Giám sát thực thi luật nằm ở thanh tra lao động. Nhưng thanh tra thì lúc nào cũng mỏng, yếu và phải ôm quá nhiều việc. Chính thanh tra lao động đã tính toán là một doanh nghiệp được các thanh tra lao động tới thì khoảng vài chục, thậm chí trăm năm sau mới có thể quay lại thanh tra được. Và họ như hổ giấy khi chỉ được xử phạt hành chính sai phạm và không thể “trừng phạt” được doanh nghiệp nếu sai phạm. Trước đây, có tổ chức tư vấn thấy thanh tra lao động mỏng và yếu quá thì đã đưa ra mô hình form biểu mẫu để doanh nghiệp tự đánh giá lấy, thanh tra sẽ đi lấy biểu mẫu đó để nhận định tình hình. Nhưng đưa công cụ như vậy cũng không ổn. Làm sao mà biết được mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động nếu không nhìn vào kết quả kinh doanh, không nhìn vào các quy định trong nội bộ có được tuân thủ không, không khảo sát sâu. Thanh tra tư nhân làm cực kỳ đắt tiền, một lần đi thanh tra là mấy nghìn đô, phải mấy ngày thế mà vẫn có rủi ro, sai sót, và chỉ đảm bảo được 50% vấn đề tại doanh nghiệp đấy thôi.              Hình 2    Do vậy, tôi nghĩ rằng cần phải tăng cường năng lực của thanh tra công, cung cấp cho họ các phương tiện công nghệ, công cụ đánh giá toàn diện và có cơ chế đảm bảo minh bạch thông tin, cập nhật thông tin thường xuyên. Mặt khác, nên giảm các đầu việc của thanh tra công và nên xã hội hóa. Để tư vấn, giải quyết tranh chấp nên có tư vấn tư nhân, hòa giải viên tư nhân, thanh tra tư nhân chứ không nên đặt nặng gánh lên nhà nước mãi.   Những nội dung này phải được thảo luận để đưa vào Luật lao động sửa đổi tới đây. Còn nếu như không đưa vào thì các đối tác quốc tế sẽ không thể biết được những vấn đề này đang được Việt Nam tính toán, xử lý như thế nào, có tìm mọi cách để giảm các chi phí xung đột này xuống hay không.      Cảm ơn chị về cuộc trao đổi!.  Bảo Như thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ thân hữu đang ‘bóp chết’ làm ăn chân chính      “Đây là một nhận định rất xác đáng và rất đáng mừng từ Thủ tướng. Ông đã nhìn thấy rõ thực trạng” – TS Lê Đăng Doanh.      Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu phải xóa bỏ ngay tình trạng quan hệ thân hữu đang “bóp chết” việc làm ăn chân chính. Báo điện tử Chính phủ trao đổi với TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương về vấn đề này.  Ông nhìn nhận như thế nào về tình trạng quan hệ thân hữu trong nền kinh tế hiện nay?  Trong nền kinh tế thị trường, xuất hiện một hiện tượng trong kinh tế học gọi là quan hệ thân hữu, chủ nghĩa thân hữu. Tức là các doanh nghiệp và những người có quyền lực kết hợp với nhau, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong tiếp cận các dự án của nhà nước, tiếp cận các điều kiện ưu đãi.  Điều này không chỉ dừng lại ở từng vụ việc, từng dự án, mà có thể lan rộng hơn, ảnh hưởng tới cả quá trình ban hành chính sách, quyết định, như cho phép doanh nghiệp nào đó được xuất nhập khẩu một mặt hàng cụ thể.  Quan hệ thân hữu tồn tại ở nhiều nền kinh tế, nhưng ở các nước có sự giám sát chặt chẽ, đặc biệt là với vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan dân cử, thì quan hệ thân hữu có thể bị phát hiện và hạn chế tối đa.  Chẳng hạn như ở Hàn Quốc, hiện đang có bê bối rất lớn liên quan đến việc các tập đoàn lớn đóng góp hàng chục triệu USD cho các quỹ phi lợi nhuận của một người bạn Tổng thống. Quan hệ thân hữu chỉ có thể đẩy lùi từng bước.    Nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp có quan hệ thân hữu vẫn có thể lớn mạnh, thậm chí rất nhanh. Ông nghĩ sao về điều này?  Một số doanh nghiệp có thể lớn mạnh, nhưng quan hệ thân hữu dẫn tới cạnh tranh không bình đẳng, không lành mạnh, bóp mép động lực của các doanh nghiệp khác. Thay vì tập trung đầu tư cho khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, thì doanh nghiệp thân hữu lại đầu tư nhiều cho các mối quan hệ với các quan chức, cho “đút lót”. Một doanh nghiệp dựa trên quan hệ thân hữu trong nước không thể cạnh tranh quốc tế được.  Thực tế, ta thấy có những “đại gia” ở Việt Nam không hề đột phá gì về khoa học, công nghệ, không có phát minh hay sáng chế gì nhưng lại có thể “tay không bắt giặc”. Họ cũng không có năng lực kinh doanh gì đặc biệt, nhưng lại được, ví dụ, cho phép xây dựng một con đường cao tốc, họ cũng không làm gì cả mà bán lại ngay cho người khác và ăn chêch lệch ngay hàng nghìn tỷ đồng.  Nếu phân tích rộng hơn, đây chính là nguyên nhân làm cho chi phí vận tải, logistics của Việt Nam trở nên đắt đỏ, tạo thành gánh nặng cho doanh nghiệp rất khó cạnh tranh với khu vực và quốc tế.  Quan hệ thân hữu cũng có thể len lỏi vào những điều luật, thông tư, quy định và gây ra bất bình đẳng với các doanh nghiệp nhỏ khác. Nên nhiều doanh nghiệp của Việt Nam cứ nhỏ mãi, không lớn lên được, một số thậm chí không muốn lớn lên.  Ông có thể phân tích kỹ hơn về điều này?  Hiện số  hộ kinh doanh ở Việt Nam rất lớn, tới hàng triệu. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, sử dụng trên 10 lao động phải đăng ký doanh nghiệp, nhưng trên thực tế, có nhiều hộ sử dụng hàng trăm lao động, có tới vài ba khách sạn nhưng nhờ quan hệ với các quan chức địa phương nên họ vẫn không chịu đăng ký doanh nghiệp.  Chừng nào còn là hộ kinh doanh thì họ vẫn không phải tuân thủ theo pháp luật kế toán một cách nghiêm túc, không phải nộp thuế theo hóa đơn mà nộp thuế khoán, họ và cán bộ thuế có thể thương lượng với nhau để cả hai bên đều có lợi, chỉ có ngân sách nhà nước chịu thiệt.  Nói cách khác, tác động của quan hệ thân hữu là rất tai hại, bóp méo động lực kinh doanh, động lực phát triển kinh tế thị trường.  Trong Báo cáo Việt Nam 2035, các tác giả đã cảnh báo trình trạng thương mại hóa quan hệ giữa cơ quan nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, tức là quan hệ thân hữu. Quan hệ thân hữu có rất nhiều màu sắc, có khi là quan hệ tiền bạc trực tiếp, có khi núp bóng dưới cái gọi là tình nghĩa quê hương, quen biết, rồi con ông cháu cha.  Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng quan hệ thân hữu đang bóp chết việc làm ăn chân chính. Ông đánh giá như thế nào về thông điệp này?  Đây là một nhận định rất xác đáng, và rất đáng mừng từ Thủ tướng. Ông đã nhìn thấy rõ thực trạng. Tôi từng nghe một người bán bún kể rằng ông này, ông kia thường xuyên ăn bún và nhờ đó bà ấy mới được bán, nếu không sẽ bị đuổi. Lẽ ra phải dành nhiều thời gian, công sức để làm ra một bát bún ngon thì người bán hàng lại phải chăm lo cho việc làm vừa lòng một ai đó. Đây chính là điều mà Thủ tướng đã nói, đã lo ngại.    Để có thể xóa bỏ được quan hệ thân hữu, theo tôi trước hết cần tăng cường công khai, minh bạch, mọi quyết định của các cơ quan nhà nước phải được đưa ra lấy ý kiến. Đồng thời xác định trách nhiệm cá nhân, tăng cường trách nhiệm giải trình.  Bất kỳ ai quyết định điều gì dù là dựa trên ý kiến tập thể cũng phải chịu trách nhiệm cao nhất nếu quyết định đó sai trái và phải bị trừng phạt, dù là trách nhiệm tài chính, hành chính hay hình sự.  Như ở Hà Nội, vừa qua Chủ tịch UBND Thành phố đã phát hiện vấn đề riêng tiền cắt cỏ đã lên tới 886 tỷ đồng, sau khi rà soát lại thì giảm được tới hơn 700 tỷ, chỉ còn 178 tỷ. Ở đây liệu có chuyện “sân sau” hay không, cần làm rõ.  Thủ tướng Chính phủ đã có tuyên bố rất cương quyết về việc đấu tranh, đẩy lùi quan hệ đó. Rất mong tuyên bố của Thủ tướng sẽ đi kèm với những quy định cụ thể để hạn chế và tiến tới xóa bỏ quan hệ thân hữu, trừng phạt những người vi phạm pháp luật khi sử dụng quyền lực để đem lại lợi ích cho thân hữu.  Như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói là nếu có vi phạm thì dù về hưu rồi cũng không thể hạ cánh an toàn. Tôi mong với quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ, của Quốc hội, điều đó sẽ không thể diễn ra.  Xin trân trọng cám ơn ông!  Hà Chính (thực hiện)  Nguồn: http://canhtranhquocgia.vn/Box-canh-tranh/Quan-he-than-huu-dang-bop-chet-lam-an-chan-chinh/293499.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ Việt – Triều: Từ góc độ lịch sử – văn hóa      Quan hệ ngoại giao Việt – Hàn bắt đầu từ năm 1992, trong khi quan hệ ngoại giao Việt – Triều có trước đó 42 năm (1950). Đây là những quan hệ song phương giữa các nhà nước. Tuy nhiên, từ góc độ lịch sử – văn hóa, mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Triều đã có từ thời Trung đại, dài hơn rất nhiều so với mối quan hệ ngoại giao giữa các nhà nước hiện nay. Bài viết này chủ yếu mang tính chất giới thiệu những thành quả mới nhất trong nhiều năm qua về mối quan hệ đặc biệt này.    Việt – Triều trong đối ứng Trung Hoa  Vị trí địa lý hẳn nhiên là một yếu tố tiên quyết cho mối quan hệ Việt- Triều. Việt Nam nằm ở phía Đông Nam, Triều Tiên nằm ở phía Đông Bắc Trung Hoa. Và cái làm nên hằng số văn hóa cho cả hai dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử không gì khác chính là vị trí “sát nách” cận kề với một đại quốc đầy tinh thần bành trướng. Và chính hằng số này đã kéo gần hai dân tộc lại với nhau.    Thử điểm lại vài mốc lịch sử quan trọng. Năm 207 TCN, An Dương Vương và nước Âu Lạc bị Triệu Đà tiêu diệt, sự kiện này mở đầu cho 10 thế kỷ đấu tranh chống đô hộ phương Bắc tại Việt Nam. Tương đương với thời kỳ đó, vào năm 108 TCN, nhà Hán đem đại quân xâm lược bán đảo phía Đông Bắc, nhà nước cổ Chosun của Wi Man (Vệ Mãn) bị thôn tính. Ở Việt Nam xảy ra các cuộc khởi nghĩa của hàng loạt thủ lĩnh người Việt như Triệu Thị Trinh, Trưng Trắc, Lý Bí, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng… chống lại các lực lượng quân sự đô hộ. Ở Triều Tiên là các cuộc chiến tranh của các tiểu quốc Koguryo (Cao Cú Lệ), PecChê (Bách Tế) và Shilla (Tân La) chống lại các nhà Hán, Tùy, Đường. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa ở Việt Nam nhanh chóng bị dập tắt, và phải đến thế kỷ X với hàng loạt các nỗ lực của các họ Khúc, Dương, Ngô, Lê thì Việt Nam mới giành được độc lập. Trong khi đó, ở bán đảo Triều Tiên nhà Tùy từng hai lần thất bại trước Koguruo. Và sau đó, nhà Đường bị đẩy lui khỏi bán đảo này bởi nhà nước Shilla vào năm 676. Nhưng những cái tên An Nam đô hộ phủ và An Đông đô hộ phủ mà người Hán đặt đã đi vào lịch sử hai dân tộc như những lời cảnh báo.   Trong giai đoạn Trung đại, cả hai nước Việt – Triều đều tồn tại thiết chế trung ương tập quyền và cũng đã nhiều lần tiến hành các cuộc chiến tranh vệ quốc vỹ đại. Nếu như triều Trần 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, thì Koryo (trong vòng 30 năm từ năm 1231 đến năm 1259) cũng có 6 cuộc chiến tranh chống trả đế quốc này, trong đó có những chiến thắng vang dội tại thành Chơ-In năm 1232. Nếu như triều Tây Sơn làm nên đại thắng quân Thanh vào thời thịnh trị bậc nhất của triều đại này vào năm 1789, thì Triều Tiên cũng hai lần chiến thắng quân xâm lược từ Mãn Châu vào các năm 1627 và 1636.    Nếu so sánh với hàng loạt các quốc gia cổ bị thôn tính, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Hoa như Đại Lý, Liêu, Kim, Thổ Phồn… ta sẽ phải đặt ra câu hỏi rằng, điều gì đã khiến cho Việt Nam- Triều Tiên có thể vượt qua những thử thách lịch sử liên quan đến sự tồn vong của dân tộc? Tinh thần quật cường hẳn là một đáp số chung. Nhưng cũng cần phải tính đến ở đây chính là vị trí địa lý đủ xa để các triều đại phong kiến Trung Hoa dù đầy tham vọng nhưng qua nhiều lần cố gắng thì vẫn phải công nhận rằng đây là những mảnh đất “gân gà”- đánh cũng khó mà giữ càng không phải dễ.    Cơ tầng bản địa và yếu tố văn hóa Hán hay phương thức sinh tồn   Trước một thế lực Trung Hoa mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần, hai dân tộc Việt- Triều (cũng phải kể thêm cả Nhật Bản vào đây nữa) đã lựa chọn chính sách song ngữ – song văn hóa trong suốt quãng một ngàn năm: tiếng bản địa được dùng trong đời sống thường nhật, trong các tầng lớp bình dân, và tiếng Hán được sử dụng trong hành chính, thi cử và ngoại giao. Đây chính là yếu tố quan trọng nhất để Việt – Triều được coi như là những nước đồng văn.    Cũng từ chữ Hán, hai dân tộc Việt – Triều đã xây dựng và phát huy thêm các yếu tố văn hóa bản địa của riêng mình. Vào thời Lý, chữ Nôm đã được người Việt sáng tạo ra trên cơ sở tự hình chữ Hán dùng để ghi chép lại tiếng Việt, và thứ văn tự này cho đến nay vẫn là hệ thống chữ viết duy nhất do chính người Việt sáng tạo trong lịch sử 1. Trong khi đó, ở Triều Tiên là chữ Hangưl – một loại văn tự do vua Thế Tông (Sejong) và các triều thần sáng tạo và đưa vào sử dụng từ năm 1446 qua tác phẩm Huấn dân chính âm. Cũng từ đó, văn chương truyền thống của Việt Nam và Triều Tiên chia làm hai dòng chính là văn chương Hán văn và văn học bản ngữ (ở Việt Nam là văn học chữ Nôm, ở Triều Tiên là văn học chữ Hangưl). Việc sử dụng chung chữ Hán đã khiến cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Có thể thấy điều này qua các đánh giá của sứ thần hai bên, cũng như lời nhận định của Minh Mệnh năm 1840 coi Triều Tiên cũng là một nước văn hiến2 giống như Việt Nam. Như thế, văn tự Hán và văn hiến được coi như là một công cụ của chính trị của ngoại giao, nó là công cụ để hiểu rõ người Hán và chống lại mọi mưu đồ của người Hán.               Tác phẩm Phật thuyết (tk XII) đan xen Hán và Nôm.                    Văn bản Huấn dân chính âm (tk XV) đan xen Hán và Hangưl.            Những mốc son trong quan hệ dân tộc Việt – Triều   Có thể nói rằng, trong suốt dọc dài lịch sử, các triều đại phong kiến của cả hai nước Việt – Triều gần như không có mối quan hệ bang giao, thương mại chính thức nào bởi khoảng cách địa lý cùng với hạn chế của điều kiện giao thông. Thế nhưng, từ những đoạn sử rời, chúng ta có thể lần ra được những mốc son trong quan hệ giữa hai dân tộc Việt – Triều.    Năm 1958, Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm miền Nam Việt Nam. Trong dịp này ông đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Thông tin này khiến cho các nhà sử học giật mình. Liền ngay sau đó, các nghiên cứu được đào sâu để vén lộ bức màn huyền bí của lịch sử.    Nhân vật thủy tổ của dòng họ Lý trên đất Triều Tiên lạ lùng thay lại chính là Kiến Bình Vương Lý Long Tường một vị hoàng thân triều Lý của đất Việt, con thứ sáu của vua Lý Anh Tông (1138-1175). Vào đầu thế kỷ XIII, Lý Long Tường cùng thuộc tướng và những người trong họ tộc đã di cư sang Cao Ly để thoát khỏi sự truy sát của nhà Trần. Hiện nay, con cháu các chi họ Lý vẫn đang định cư tại Hoàng Hải, Hán Thành và Đông Hỏa, ở cả hai nước Triều Tiên và Hàn Quốc. Tại đây, dòng họ Lý vẫn còn bảo lưu được các địa danh cổ của tổ tiên như cửa sông Phú Lương (huyện Bồn Tân) – nơi Kiến Bình Vương cập bến, địa danh Ung Tân – nơi họ Lý định cư cắm đất dựng nhà, đồi Julhang nơi có lăng của Kiến Bình Vương, Vọng Quốc đài tại Quảng Đại sơn- nơi vương đứng ngóng mỗi khi nhớ về quê hương. Theo các tư liệu Hán văn hiện còn như Hoa Sơn Quân bản truyện, Hoa Sơn Lý thị tộc phả, Cao Ly sử còn có nhiều thông tin về nhân vật này. Văn bia Thụ Hàng môn kỷ tích bi ghi: “Năm Bính Tuất niên hiệu Bảo Khánh (đời Tống), trong nước có loạn, việc thờ cúng tổ tiên ở nhà tông miếu bị hủy bỏ. Ông là chú vua, khóc ở miếu Nam Bình rồi đem các đồ thờ ở bàn thờ tổ tiên chạy về phía Đông… Ông vượt biển đến sông Phú Lương huyện Bồn Tân nước Cao Ly, ẩn ở Trấn Sơn tại phía Nam phủ thành, đặt hiệu là Vi Tử động”. Văn bia này cũng ghi, Lý Long Tường được coi là anh hùng của nước Cao Ly trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông vào năm 1253, ông được vua Cao Ly phong làm Hoa Sơn Quân, ban 30 dặm đất, lập biển ghi công trạng, cho làm thái ấp để phụng thờ tổ tiên và con cháu đời đời được nhập tịch ở Hoa Sơn. Con cháu Kiến Bình Vương Lý Long Tường hiện nay sống ở cả Triều Tiên và Hàn Quốc, riêng ở Hàn Quốc có khoảng 200 hộ với trên 600 người. Gia phả dòng họ ghi chép 32 đời kể từ đời Lý Thái Tổ, trong đó 6 đời ở Việt Nam và 26 đời ở Hàn Quốc 3.   Theo nghiên cứu của giáo sư Pyon Hong Kee (Phiến Hoàng Cơ) cho biết: dựa trên gia phả dòng họ mang tên Tinh Thiện Lý thị tộc phả được tàng trữ tại thư viện Quốc gia Seoul, ông đã phát hiện thêm một dòng họ Lý gốc Việt thứ hai thường gọi là Lý Tinh Thiện mà ông tổ của dòng họ này là Kiến Hải Vương Lý Dương Côn- hoàng tử (con nuôi) 4 của vua Lý Nhân Tông đã sang Cao Ly từ đầu thế kỷ XII. Theo Cao Ly sử, cháu đời thứ 6 của Lý Tinh Thiện là Lý Nghĩa Mân (Lee Ui Min) được vua Cao Ly là Nghị Tông (Ui Jong, 1146- 1170) phong làm Biệt tướng, sau đó khi làm phụ tá cho Lý Trọng Phu, ông còn được phong làm Trung lang tướng, Tướng quân, Đại tướng quân (1173), Thượng tướng quân (1174), Tây Bắc lộ binh mã sứ (1178). Đến đời vua Minh Tông, ông được phong làm Tư không tả bộc xạ, rồi Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự nắm quyền như Tể tướng Cao Ly trong 6 năm (1190- 1196). Sau đó, ông và ba con trai bị phái Thôi Chung Hiến (Choi Chung Heon) sát hại để đoạt quyền. Dòng họ Lý tại Tinh Thiện (thuộc đạo Giang Nguyễn, Hàn Quốc ngày nay) sau đó được nối kế bởi một người chú của Lý Nghĩa Mân5.             Ông Lý Xương Căn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh TT&VH    Sách Cao Ly sử           Còn theo con số thống kê tổng thể, thì hiện nay có khoảng 3600 người là hậu duệ của hai nhánh nhà Lý đang sinh sống tại Hàn Quốc6. Con cháu họ Lý, từ năm 1994 đến nay, đã nhiều lần về thắp hương cho tổ tiên tại Bắc Ninh, và họ là những thành viên chủ chốt của Hội giao lưu văn hóa Hàn- Việt. Đặc biệt, năm 2010, nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long, ông Lý Xương Căn và gia đình, đã chính thức được nhập tịch trở thành công dân Việt Nam7. Cũng nhân dịp này, cuốn tiểu thuyết lịch sử “Hoàng thúc Lý Long Tường” của tác giả Khương Vũ Hạc (xuất bản năm 1967 tại Hàn Quốc) đã được tái bản lần thứ hai tại Việt Nam. Ước nguyện hồi hương sau 800 năm lưu lạc đã trở thành hiện thực. Ông Căn cùng với những người con dòng họ Lý đang viết tiếp những trang sử hữu nghị giữa hai dân tộc.  Ngoài hai dòng họ Lý trên, giới nghiên cứu còn đề cập đến dòng họ Mạc – hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi (1293-1324) ở Cao Ly. Có một số nguồn thông tin cho biết, Mạc Đĩnh Chi từng được vua Trần Anh Tông cử đi sứ sang nhà Nguyên, trong thời gian này ông gặp được một vị chánh sứ của Cao Ly và trở thành đôi bạn tâm giao, nhiều lần cùng nhau xướng họa thơ văn. Sau đó, Mạc Đĩnh Chi được mời sang thăm kinh đô Hán Thành của Cao Ly, ở đây ông đã lấy một người cháu gái của sứ thần Cao Ly nọ và sinh được một trai một gái. Đây chính là thủy tổ của họ Mạc ở Cao Ly. Rất tiếc cho đến nay, chúng tôi chưa từng được tiếp cận sử liệu gốc của những thông tin trên. Tuy nhiên, theo Lê Khắc Hòe, năm 1926, ông đã từng gặp một hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi- đang trên đường hồi hương về Hưng Yên tìm lại nguồn gốc họ tộc. Theo như lời kể của hậu duệ 20 đời của họ Mạc Cao Ly, người con trai của Mạc Đĩnh Chi làm quan võ, sinh được 12 người con: 8 trai, 4 gái… Ngành trưởng phần đông đều là thương nhân giàu có. Ngành thứ, sau này sinh ra nhiều nhân tài có những đóng góp nhất định cho lịch sử văn hóa Cao Ly. Ông cũng khoe rằng, ông thuộc thế hệ ngành trưởng, thân ở Cao Ly mà hồn ở Việt Nam. Cao Ly là nơi chôn rau cắt rốn nhưng đất Việt mới là quê cha đất tổ. Hồn thiêng sông núi đất Việt luôn luôn gọi ông trở về 8.  Mặc dù, những thông tin trên chưa thực sự được kiểm định bằng các sử liệu khả tín. Song nó có ý nghĩa gợi mở lớn cho những hợp tác khoa học giữa hai dân tộc trong thời gian tới.    Danh nhân Việt – Triều: tình anh em bốn bể   Các triều đại phong kiến Việt- Triều chưa từng có quan hệ bang giao chính thức, song qua các đợt ngoại giao với các triều đại Trung Hoa tại Yên Kinh, các sứ thần hai nước đã nhiều lần gặp gỡ, xướng họa với nhau trên đất Trung Hoa khiến chúng ta có thể đi đến nhận định rằng tình hữu nghị dân tộc Việt- Triều là một mối quan hệ hữu nghị thuần khiết và thanh tao. Theo thống kê hiện nay, tổng cộng số thơ văn xướng họa giữa sứ thần hai nước (từ đợt tiếp xúc Phùng Khắc Khoan- Lý Túy Quang năm 1597 đến chuyến đi sứ của Nguyễn Tư Giản- Nam Đình Thuận năm 1868 tính ra là 371 năm) đã có trên dưới 10 lần hai đoàn sứ bộ Việt Nam – Hàn Quốc gặp nhau xướng họa ở Yên Kinh với 33 sứ thần – tác gia, (Việt Nam: 12 người, Hàn Quốc: 21 người) và 92 bài thơ, văn (thơ: 81 bài, văn: 11 bài) 9. Nếu tính cả đợt đi sứ của Mạc Đĩnh Chi thì các con số có lẽ còn khác nữa. Các tác phẩm này được chép trong hàng chục tập thơ hiện còn lưu trữ được tại Việt Nam (chủ yếu tại Viện NC Hán Nôm) và Hàn Quốc, Triều Tiên.   Như ta biết, sứ giả thời xưa đều phải là những người tài năng lỗi lạc, khoa bảng đứng đầu, họ giữ những chức vị trọng yếu trong triều đình, và khi đi sứ họ cần phải có đủ cả tài năng, chí khí, để thể hiện “phương diện quốc gia”, trong đó “đặc biệt phải làu thông kinh sử, uyên thâm Hán học, cái vốn tri thức cần thiết trong bối cảnh quan hệ bang giao giữa các nước đồng văn” 10. Chúng ta có thể liệt kê ra đây một số danh nhân tiêu biểu của Việt Nam như: Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Tông Quai, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đề, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tư Giản,… và các danh nhân của Triều Tiên như Lý Toái Quang, Du Tập Nhất, Hồng Khải Hy, Lý Hiệu Lý, Từ Hữu Phòng, Nam Đình Thuận,… Những sứ giả- nhà thơ này đã viết nên những trang sử hữu nghị thấm đẫm chất văn chương và tinh thần học thuật giữa hai dân tộc Việt – Triều, trong đó điểm nổi bất nhất được thể hiện qua từng câu thơ ấy chính là tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”:  古云四海皆兄弟   相濟同舟出共車  Xưa rằng: bốn bể anh em,  Chung thuyền cùng giúp, chung xe cùng ngồi  Câu thơ trên của Phùng Khắc Khoan dành tặng cho Kim Tiêu Dật sĩ (Triều Tiên). Trong cuộc gặp gỡ năm 1597 này, Phùng Khắc Khoan cùng với các sử thần Triều Tiên đã có đến trên 30 tác phẩm bút đàm, trao đổi học thuật. Theo đánh giá của GS Bùi Duy Tân, cuộc gặp gỡ này được coi như là mốc son mở đầu trong lịch sử hữu nghị Việt – Triều.   彼 此 雖 殊 山 海 域   淵 源 同 一 聖 賢 書  Núi sông tuy đó đây có khác,  Nguồn sâu cùng một sách thánh hiền. (Phùng Khắc Khoan)  Hoặc như:           我 居 東 國 子 南 鄉   文 軌 由 來 共 百 王  Tôi ở nước Đông, ông nước Nam,  Lịch triều văn hiến vốn sánh ngang. (Lý Toái Quang)  Các trạng nguyên- thi sĩ này cũng tỏ rõ sự hữu hảo cũng như hiểu biết về đất nước của nhau qua những áng thơ văn. Sứ giả Cao Ly Lý Túy Quang từng có những ghi chép như sau về con người và đất nước Đại Việt: “Chuyến đi có 23 người đều vấn búi tóc. Người cao quý thì nhuộm răng, người thấp kém thì mặc áo ngắn đi chân không… Nơi nằm thì phải ở trên giường không có hầm sưởi, ăn uống giống như người Trung Hoa…, ăn mặc phần nhiều là the lụa, không mặc gấm vóc và áo bông. Dáng người đại để sâu mắt, thấp bé… tính nết hiền lành, có biết chữ biết viết, thích tập múa kiếm…”, hay “tôi nghe nói Giao Châu là nơi cực Nam, có nhiều của lạ châu báu, vàng, ngọc lâm lang, đồi mồi, ngà voi, tê giác. Thế cho nên cái khí tinh anh trong lành đặc biệt chung đúc ở đó, có người tài sinh ra ở đấy, há chỉ những của lạ mà thôi đâu”.             Biểu diễn trống cơm Việt Nam và Hàn Quốc trong Tuần lễ Văn hóa Việt Nam –Hàn Quốc tại Hà Nội.          Vào thời Lê trung hưng, Lê Quý Đôn sau khi có tiếp xúc với sứ Cao Ly đã viết mấy lời trong sách Kiến văn tiểu lục như sau: “Nước Cao Ly về thời Đường thuộc An Đông đô hộ phủ… Người dân hiền lành cẩn thận, ham đọc sách, thạo văn học, trọng nghi lễ. Sứ thần nước Việt ta trong thời gian đi sứ Bắc Kinh, cùng với sứ nước họ có qua lại, tặng thơ xướng họa cho nhau… bày tiệc bút đàm, càng tăng thêm tình hữu hảo, sau khi về quán, lại sai 2 vị thiếu khanh mang thổ sản đến tặng”. Sau đó, các sứ giả Triều Tiên có thư lại cảm ơn và biếu tặng sản phẩm đặc biệt của Cao Ly là quạt giấy11. Sách Đồng văn vựng khảo bổ biên có phần chép của Chánh sứ Hồng Khải Hi và Phó sứ Triệu Vinh Tiến về phong tục tập quán nước ta như sau: “Nước An Nam, Nam Chưởng (quan lại nước Nam) đã có chế độ về mũ áo. Người An Nam lấy lụa mỏng làm mũ áo, hơi giống với nước ta. Chỉ có điều họ búi tóc. Nam Chưởng vốn là đất cũ của họ Việt Thường, họ lấy tơ vàng làm mũ áo, chế độ rất khác thường. Mũ làm bằng gấm vàng như Thác Tử (đeo thêm một đoạn đuôi), trang điểm thêm vàng để rủ ra phía sau, tóc buông như người An Nam. Cách ăn mặc của người phương Nam đại thể khác xa như thế.”   Có thể nói, thơ văn xướng họa xung quanh những chuyến tao ngộ giữa các sứ giả Việt- Triều đều là các tác phẩm ngôn từ có sức lay động mạnh mẽ. Các tác phẩm ấy đều được viết bằng tiếng Hán- quốc tế ngữ vào thời bấy giờ, nhưng vẫn đậm đà phong vị dân tộc Việt – Triều. Quả đúng như lời thơ của Nam Đình Thuận (Triều Tiên) đã viết: “Núi sông tuy có khác, bút mực cũng như nhau” (san hà ưng hữu dị, hàn mặc tư tương đồng). Đường đi sứ của những danh nhân đồng thời cũng là con đường thơ ca- con đường của mối quan hệ hòa hiếu. Và các sứ giả- các thi nhân tài hoa đồng thời cũng là sứ giả bang giao hữu nghị ngàn đời giữa hai dân tộc 12.   —  1  Trần Trọng Dương. Phật thuyết có phải là bản dịch ở thế kỷ XII?. Tạp chí Ngôn ngữ. 4 (2011), 31-48.  2  Murasova G.Ph. Quan hệ Việt Nam- Triều Tiên trong các thế kỷ XVII-XIX. M. 1973. tr.126 [Chuyển dẫn. N. Niculin. Quan hệ văn học Việt Nam- Triều Tiên cuối thế kỷ XVI- giữa thế kỷ XVIII. Lưu Liên dịch. TC Văn học. 2-1987. tr. 78.  3  Phan Huy Lê. tb 2011. Họ Lý Hoa Sơn- Một họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc. Trong “Tìm về cội nguồn”. NXB. Thế giới. H. tr.1023-1029.  4  Ông là con đẻ của Sùng Hiền Hầu- một tông thất của nhà Lý.  5  Chuyển dẫn theo Phan Huy Lê. tb 2011. Họ Lý Tinh Thiện- một họ Lý gốc Việt mới phát hiện ở Hàn Quốc. Trong “Tìm về cội nguồn”. NXB. Thế giới. H. tr.1030-1034.  6  Phan Hiển. Thêm một chi thuộc dòng họ Lý ở Hàn Quốc tìm về Việt Nam. http://dantri.com.vn  7  Kate Jellema. 2007. Returning home: Ancestor Veneration and the Nationalism of Đổi Mới Vietnam. Modernity and Re-Enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam (Philip Taylor edited). Institute of Southeast Asian Studies. Singapore. P. 80- 89.  8  Lê Khắc Hòe. An Nam tạp chí số 4, tháng 8/ 1926, trang 14 -17. Chuyển dẫn theo Vũ Hiệp. Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi có hậu duệ ở Cao Ly từ thế kỷ XIV đến nay? Nghiên cứu Lịch sử số 2 (285)- 1996, tr. 76-81). Xem thêm Người Việt Nam ở Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt – Triều trong lịch sử. Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Hà Nội. 1997, tr.75- 82.  9  Lý Xuân Chung. Nghiên cứu, đánh giá thơ văn xướng họa của các sứ thần hai nước Việt Nam – Hàn Quốc (Luận án Tiến sĩ). Viện NCHán Nôm. Hà Nội. 2009.  10  Bùi Duy Tân. 2005. Theo dòng khắc luận văn học Trung đại Việt Nam, NXB ĐHQG HN. Tr.250.  11  Shimizu Taro. Cuộc gặp gỡ của sứ thần Việt Nam và Triều Tiên ở Trung Quốc trọng tâm là chuyện xảy ra trong thế kỷ XVIII. Lương Thị Thu dịch, Nguyễn Thị Oanh hiệu đính, TC Hán Nôm, 3/2001.  12  Lời của cố GS. Bùi Duy Tân. 2005. sđd. Tr. 279.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lí dự án nghiên cứu khoa học: Kinh nghiệm từ Úc      Albert Szent-Gyorgyi (giải Nobel năm 1937 cho khám phá vitamin C) từng nói: nghiên cứu khoa học gồm có 4 điều: não suy nghĩ, mắt quan sát, thiết bị đo lường, và tiền. Làm khoa học cần tri thức, khả năng quan sát, và thiết bị, nhưng có lẽ quan trọng nhất là tiền. Không có tiền không thể nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm. Mỗi năm, Nhà nước Úc chi ra khoảng 5-6 tỉ đô-la Úc cho các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ngân sách này chiếm khoảng 5% tổng sản lượng quốc gia (GDP), tức cao hơn các nước trong khối OECD (trung bình 3.5%). Phần lớn ngân sách nghiên cứu khoa học được phân phối đến các đại học hàng đầu và các viện nghiên cứu trên toàn nước Úc. Với một số tiền lớn như thế, hệ thống phân phối và quản lí ngân sách đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đầu tư cho khoa học đem lại lợi ích cho kinh tế và xã hội Úc. Bài viết này chỉ mô tả vài điểm chính của hệ thống đó với hi vọng các nhà quản lí trong nước có thêm thông tin để tham khảo.         Hai cơ quan chính chịu trách nhiệm quản lí dự án và phân phối ngân sách nghiên cứu khoa học là NHMRC (National Health and Medical Research Council – Hội đồng y tế và y khoa quốc gia) và ARC (Australian Research Council – Hội đồng nghiên cứu khoa học quốc gia).  NHMRC chủ yếu quản lí các dự án nghiên cứu liên quan đến các ngành y sinh học, còn ARC chủ yếu quản lí các dự án liên quan đến khoa học tựu nhiên và khoa học thực nghiệm.  Hai cơ quan này có tên là “Council” (Hội đồng) vì cơ cấu tổ chức không giống như cơ cấu của một cơ quan Nhà nước.  Chủ tịch và các thành viên trong hội đồng là các nhà khoa học làm việc bán thời gian và không lương.  Điều hành công việc hàng ngày là một nhóm cán bộ hành chính (những người này có lương) do Nhà nước tuyển dụng.  Các quan chức Nhà nước từ các bộ hầu như không dính dáng và không can thiệp vào việc quản lí và phân phối tài trợ của ARC và NHMRC.    Tổ chức quản lí và phân phối tài trợ cho các dự án nghiên cứu khoa học của hai hội đồng ARC và NHMRC rất giống với các tổ chức tương trự ở Mĩ (như NIH), ở Anh (như Medical Research Council hay Research Council), ở Hồng Kông, Âu châu, v.v… Bài này chỉ trình bày qui trình làm việc của NHMRC vì người viết có kinh nghiệm thực tế qua những đóng góp cho hội đồng này trong thời gian trên dưới 10 năm qua.  Nói một cách ngắn gọn, việc phân phối và quản lí dự án nghiên cứu của NHMRC được tiến hành theo 3 bước như sau: đệ trình đề cương, bình duyệt, và quản lí tiến trình.    Đệ trình đề cương nghiên cứu                  Ở Úc, cũng như ở Mĩ và Âu châu, Nhà nước không “đấu thầu” những dự án nghiên cứu khoa học ở nước ta.  Định hướng nghiên cứu là do cộng đồng khoa học và “thị trường khoa học” chi phối, chứ không phải do Nhà nước đề ra.  Điều này có nghĩa là nhà khoa học hoàn toàn tự do chọn đề tài nghiên cứu mà họ cho rằng mình có khả năng chuyên môn để thực hiện.  Đường lối quản lí này xuất phát từ suy nghĩ cho rằng nghiên cứu khoa học là một hoạt động mang tính quốc tế, và nhà khoa học phải chấp nhận cạnh tranh trên trường quốc tế với những ý tưởng mới và khả thi nhất.    Tuy nhiên, thỉnh thoảng Nhà nước đề ra một định hướng nghiên cứu nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể (như cải thiện sức khỏe người thổ dân chẳng hạn) họ ra thông cáo và kêu gọi các nhà nghiên cứu đệ trình dự án trong định hướng này, nhưng đây là những nghiên cứu mang tính địa phương.  Một dự án nghiên cứu bắt đầu với một đề cương nghiên cứu (project proposal).  Đề cương thường được soạn thảo theo một cấu trúc gần như máy móc, với những nội dung như: dẫn nhập, mục tiêu cụ thể, phương pháp, kết quả kì vọng, ý nghĩa thực tế, ngân sách, và nhân sự.  Phần khoa học (mục tiêu cụ thể, phương pháp, kết quả kì vọng, ý nghĩa thực tế) của dự án chỉ chiếm 10 đến 30 trang giấy, nhưng phần hành chính (ngân sách và nhân sự) thường chiếm đến 100 trang giấy A4.  Sở dĩ phần hành chính chiếm một nội dung lớn như thế là vì hội đồng xét duyệt muốn đảm bảo rằng các nhà nghiên cứu hội đủ tư cách khoa học, có kĩ năng chuyên môn cần thiết, và có cơ sở và thiết bị để thực hiện đề án thành công.    Trong phần khoa học, nhà nghiên cứu phải trình bày rõ ràng và cụ thể vấn đề là gì, tình hình hiện nay ra sao, khoảng trống tri thức nào vẫn còn tồn tại, và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là gì.  Trong phần phương pháp (phần dài nhất) nhà nghiên cứu phải trình bày chi tiết cụ thể cách thực hiện, và nếu cần hợp tác với người khác thì phải nói rõ hợp tác với ai và quyền sở hữu tri thức thuộc về ai.  Ngoài các phần vừa đề cập, nhà nghiên cứu còn phải lí giải kết quả mà họ kì vọng là gì (có nơi thậm chí còn đòi nhà nghiên cứu phải trình bày một biểu đồ hay một bảng số liệu tưởng tượng mà họ nghĩ là sẽ thu thập được) và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu này giúp ích gì cho kinh tế hay xã hội của nước Úc.  Cụm từ then chốt ở đây là “cụ thể”; bất cứ một phát biểu nào cũng phải cụ thể, chi tiết với số liệu và hình ảnh (thậm chí phải chụp hình nơi làm việc và cơ sở thí nghiệm kèm theo đề cương), vì các chuyên gia bình duyệt không bao giờ chấp nhận những phát biểu chung chung.   Trong phần hành chính của đề cương, nhà nghiên cứu phải trình bày danh sách các thành viên trong nhóm nghiên cứu.  Các thành viên được chia làm hai nhóm: nhóm phụ trách nghiên cứu (còn gọi là Chief Investigators) giới hạn 6 người, nhóm hỗ trợ (như chuyên gia kĩ thuật và phụ tá xét nghiệm, kể cả nghiên cứu sinh), và nhóm cố vấn nghiên cứu.  Nhiệm vụ của từng thành viên trong dự án (ai làm gì) phải được mô tả cụ thể.  Lí lịch của từng thành viên trong nhóm phụ trách nghiên cứu phải được trình bày trong một có hệ thống.  Ngoài các thông tin nền (như trình độ học vấn,và các chức vụ đã trải qua), nhà nghiên cứu phải cung cấp các thông tin liên quan đến những bài báo khoa học đã công bố trong vòng 5 năm qua, kèm theo hệ số ảnh hưởng (impact factor) của từng tập san, và số lần trích dẫn (citations) cho từng bài báo khoa học.  Nhà nghiên cứu cũng phải cung cấp thông tin về các công trình đã thực hiện trong quá khứ như đề tài gì, nhận tài trợ từ đâu, bao nhiêu tiền, thành công hay thất bại ra sao, số bài báo công bố từ từng đề án nghiên cứu, v.v…   Phần ngân sách cũng phải được giải trình rõ ràng và cụ thể.  Nhà nghiên cứu phải trình bày kế hoạch chi tiêu cho nhân sự và thiết bị cho từng năm một cách cụ thể.  Tất cả các chi phí để đi dự hội nghị không được nằm trong ngân sách nghiên cứu.  Đây là phần làm nhiều nhà nghiên cứu nhức đầu nhất và khó nhất, vì có khi hội đồng xét duyệt đòi hỏi phải viết rõ tên họ và bằng cấp của người mà nhà nghiên cứu muốn nhận hay mời tham gia nghiên cứu!  Các chi phí này còn phải tính toán dựa vào khả năng lạm phát hàng năm.    Dù đề cương chỉ có trên dưới 100 trang, nhưng các nhà khoa học phải tiêu ra nhiều tháng trời để soạn thảo.  Vấn đề không chỉ là cách diễn đạt bằng một loại văn chương tuyệt đối minh bạch, hay thể hiện ý tưởng một cách logic, mà còn phải làm nghiên cứu sơ bộ (pilot study) để có dữ liệu làm cơ sở cho đề cương nghiên cứu.  Số liệu sơ bộ đóng vai trò rất quan trọng, vì các số liệu nói lên tính khả thi của đề án nghiên cứu và chứng tỏ nhà nghiên cứu có khả năng thực hiện.  Phần lớn các hội đồng xét duyệt không bao giờ chấp nhận (chứ không phải không tin) những lời hứa của các nhà khoa học; họ không chấp nhận cách nói kiểu “hãy cho chúng tôi tiền, chúng tôi sẽ làm …”, nhưng họ kì vọng cách phát biểu theo kiểu “chúng tôi đã làm sơ bộ đến đây, chúng tôi cần tiền để tiếp tục…”.  Nói cách khác, thái độ và suy nghĩ của các hội đồng xét duyệt là: làm cho chúng tôi thấy rồi mới ngồi xuống nói chuyện tiền bạc với chúng tôi; còn nếu các anh chị hứa sẽ làm, thì hãy về làm đi rồi chúng ta sẽ bàn tiếp.   Về tính minh bạch, tất cả những qui định về đề cương và tiêu chuẩn bình duyệt đều được công bố trên mạng, kèm theo những chỉ dẫn rất chi tiết.  Thậm chí, NHMRC còn có những khóa huấn luyện chỉ dẫn các nhà khoa học cách soạn thảo một đề cương nghiên cứu và cách phản hồi những phê bình của các chuyên gia bình duyệt.  Bình duyệt    Sau khi nhận được các đề cương nghiên cứu, NHMRC gửi thư mời các nhà khoa học (trong và ngoài nước) tham gia vào công tác bình duyệt.  Khi nhận được phản hồi và tuyển chọn, NHMRC thành lập các tiểu ban bình duyệt (Expert Review Panel) để xét duyệt.  Số lượng các tiểu ban này thường dao động từ 20 đến 30 mỗi năm, tùy theo nhu cầu và đề tài của các đề cương nghiên cứu trong năm.  Mỗi tiểu ban bình duyệt phụ trách một đề tài khoa học hẹp, thường có 10 đến 15 thành viên, và các thành viên này bầu ra một chủ tịch, phó chủ tịch, và người phát ngôn.  Danh sách các thành viên trong tiểu ban bình duyệt thay đổi hàng năm, và được công bố trên internet.   Các thành viên trong tiểu ban bình duyệt là các nhà khoa học đến từ khắp nước Úc, và phần lớn họ cũng chính là những người đang nộp đề cương xin tài trợ.  Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan, nếu đề cương của chính họ hay của một nhà khoa học mà họ từng hoặc đang cộng tác được tiểu ban xét duyệt, thì họ phải rời phòng họp và không được phát biểu trong khi bình duyệt.  Họ là những người làm việc bán thời gian, hoàn toàn không lương bổng.  Tuy nhiên, NHMRC trả tiền đi lại và ăn ở cho họ trong suốt thời gian họp để bình duyệt các đề cương nghiên cứu.    Nhiệm vụ chính của tiêu ban bình duyệt là thẩm định các đề cương nghiên cứu.  Cách thẩm định được tiến hành qua hai bước.  Bước 1, sau khi đọc qua đề cương nghiên cứu, họ có nhiệm vụ phải tuyển chọn và mời 3 chuyên gia bình duyệt (reviewer hay referee) phía ngoài bình duyệt đề cương.  Bước 2, sau khi đã nhận được 3 báo cáo của 3 chuyên gia bình duyệt, họ họp lại để bàn thảo và cho điểm đề cương nghiên cứu.   NHMRC yêu cầu các báo cáo của chuyên gia bình duyệt phải tập trung vào các khía cạnh như sau: đánh giá ý tưởng của đề cương nghiên cứu có gì mới (hay chỉ lặp lại những công trình trước), và nếu mới thì có xứng đáng để tài trợ hay không, phương pháp đề nghị có thích hợp hay không, cơ sở vật chất có đầy đủ để thực hiện công trình nghiên cứu hay không, ý nghĩa thực tế mà công trình nghiên cứu đem lại cho kinh tế và xã hội Úc, ngân sách đề nghị có thích hợp hay không, và quan trọng hơn hết là “track record” (thành tích) của các nhà nghiên cứu có đủ tư cách để thực hiện công trình này.  Phần thành tích khoa học, các chuyên gia bình duyệt xét đến năng suất khoa học (số lượng bài báo), chất lượng nghiên cứu qua hệ số ảnh hưởng của tập san khoa học, số lần trích dẫn của các bài báo khoa học, và uy tín cá nhân của nhà khoa học trên trường quốc tế.   Tiểu ban bình duyệt gửi 3 báo cáo bình duyệt này cho nhà khoa học chủ đề án nghiên cứu.  Trong vòng hai tuần, nhà khoa học chủ đề án và đồng nghiệp phải phản hồi (trả lời) tất cả các vấn đề hay phê bình nêu trong báo cáo.  Điều khó khăn là phần trả lời chỉ gói gọn trong vòng 2 trang A4 (tất cả các câu chữ ngoài 2 trang sẽ bị cắt bỏ và không xem xét), trong khi 3 bản báo cáo phê bình thường lên đến 10 trang.  Phần trả lời này rất quan trọng, vì đây là cơ hội sau cùng nhà nghiên cứu có thể thuyết phục tiểu ban bình duyệt về đề cương nghiên cứu của họ.   Dựa vào báo cáo của 3 chuyên gia bình duyệt và phản hồi của nhà khoa học chủ trì đề án, tiểu ban bình duyệt họp lại và cho điểm (tập thể nhất trí) đề cương nghiên cứu.  Điểm được cho 3 phần chủ yếu: ý tưởng, phương pháp, và thành tích của nhóm nghiên cứu.  Dựa vào số điểm, họ xếp hạng một đề cương vào một trong năm nhóm sau đây: outstanding (vượt trội), excellent (xuất sắc), very good (rất tốt), tốt (good), và fair (trung bình).  Tất cả các đề cương nằm trong nhóm “vượt trội” đều được tài trợ, nhưng chỉ có 50% các đề cương trong nhóm xuất sắc được tài trợ; phần còn lại không được tài trợ.  Qui định này gần như bất biến, và không có ngoại lệ, bất kể người đứng đơn là một nhà khoa học với giải Nobel hay một nhà nghiên cứu trẻ.  Ngay cả các thành viên trong tiểu ban bình duyệt vẫn thất bại (rất thường) trong việc xin tài trợ cho nghiên cứu khoa học.  Số đề cương được chọn để tài trợ (xem là thành công) chỉ chiếm khoảng 20-25% trên tổng số đề cương nộp.  Mỗi năm, NHMRC nhận được khoảng 1000 đề cương, và các tiểu ban bình duyệt phải loại bỏ từ 750 đến 800 đề cương!   NHMRC lập một danh sách các đề cương được thông qua và tài trợ và trình danh sách này cho Bộ trưởng y tế (hay Bộ trưởng khoa học trong trường hợp ARC) để ra thông báo chính thức cho nhà khoa học.  Thông báo được gửi kèm theo nhận xét của tiểu ban bình duyệt tại sao đề cương được (hay không được) tài trợ.  Số tiền tài trợ cũng được thông báo rõ ràng trong thư kèm theo một số điều kiện về đạo đức nghiên cứu và luật pháp.  Số tiền được tài trợ thường thấp hơn số tiền yêu cầu.    Nếu không được tài trợ và nếu nhà nghiên cứu cảm thấy nhận xét hay quyết định của tiểu ban bình duyệt không hợp lí, nhà nghiên cứu có quyền nộp đơn phản đối.  Tuy nhiên, thủ tục phản đối này chỉ mang tính … thủ tục, vì trong thực tế từ ngày thành lập đến nay (khoảng 70 năm), chưa bao giờ NHMRC thay đổi quyết định.   Quản lí tiến trình của dự án   Tiền tài trợ cho nghiên cứu trên danh nghĩa là cấp cho nhóm nghiên cứu, nhưng nhà khoa học không trực tiếp quản lí số tiền này.  Trong thực tế, NHMRC chuyển tiền tài trợ đến và ủy nhiệm cho trung tâm nghiên cứu (trường đại học hay viện nghiên cứu) trực tiếp quản lí số tiền này.  Thật ra, trung tâm nghiên cứu trả cho trung tâm nghiên cứu để quản lí ngân sách nghiên cứu.  Do đó, số tiền mà trung tâm nhận được thường cao hơn ngân sách của đề án khoảng 15 đến 20%, tùy theo trung tâm.  Chẳng hạn như nếu đề án được cấp 1 triệu đôla, thì trung tâm sẽ cộng thêm 150 đến 200 ngàn đôla, và NHMRC sẽ phải cho 1.15 đến 1.2 triệu đôla cho đề án.   Một đề án nghiên cứu thường kéo dài từ 3 năm đến 5 năm.  Mỗi năm, người chủ trì đế án nghiên cứu phải báo cáo cho NHMRC về tiến trình của nghiên cứu.  Báo cáo này chỉ vỏn vẹn 3 trang giấy, và chỉ liên quan đến khoa học, chứ không liên quan đến phần tài chính.  (NHMRC không trực tiếp kiểm tra xem nhà nghiên cứu chi số tiền tài trợ cho khoản nào).    Khi dự án kết thúc (năm thứ 3 hay thứ 5), người chủ trì đế án nghiên cứu phải soạn thảo một báo cáo sau cùng.  Bản báo cáo này chỉ dài khoảng 10 trang (tùy theo số lượng bài báo khoa học công bố), nhưng phải bao gồm các khía cạnh như sau: nhắc lại mục tiêu cụ thể của đề cương nghiên cứu, mô tả đề án có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, thay đổi nhân sự (nếu có), số lượng ấn phẩm khoa học công bố (như bài báo khoa học, sách, chương sách, v.v…), tập san công bố, số lần trích dẫn (nếu có), bằng sáng chế, số nghiên cứu sinh đào tạo được, số nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ đã huấn luyện, và hướng nghiên cứu kế tiếp.    Trong thực tế, đây là một báo cáo hành chính, vì không có chuyên gia nào bình duyệt bản báo cáo.  Ở Úc, cũng như ở Mĩ và Âu châu, không có “nghiệm thu” công trình như ở nước ta.  Bởi vì “sản phẩm” chính của công trình nghiên cứu là các bài báo khoa học công bố và bằng sáng chế, cho nên NHMRC rất đặt nặng vào hai chỉ tiêu này.  Chính vì thế mà các chỉ số ảnh hưởng của tập san và số lần trích dẫn phải được liệt kê rõ ràng.  Vì nghiên cứu mang tính kế thừa và liên tục, cho nên nếu nhà nghiên cứu không công bố được bài báo nào trong thời gian thực hiện dự án, thì chắc chắn sẽ không bao giờ được tài trợ lần sau và có thể nói là sự nghiệp của nhà nghiên cứu sẽ bị gián đoạn.  Vài nhận xét                  Hệ thống quản lí dự án nghiên cứu khoa học ở Úc như tôi vừa trình bày có những lợi thế nhưng chưa thể nói là hoàn hảo được, vì hệ thống này phụ thuộc vào cơ chế bình duyệt (peer review).  Về mặt lí thuyết đây là một cơ chế rất hay, bởi vì người đánh giá công trình nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyên môn liên quan đến công trình nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu.  Nhưng nhà khoa học cũng chỉ là những người có tình cảm và thiên kiến, cũng là những người chịu sự chi phối của các nhu cầu tất yếu, cũng cạnh tranh, cho nên kết quả bình duyệt công trình khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn khách quan.  Bởi vì những chuyên gia bình duyệt không được phần thưởng vật chất nào (hoàn toàn không lương và hoàn toàn tự nguyện) họ không có động cơ để làm việc tốt.  Bên cạnh đa số nhà khoa học nhận lấy trách nhiệm một cách nghiêm túc, cũng có người do ghanh tị nên sẵn sàng tìm mọi cách làm khó công trình nghiên cứu của đồng nghiệp.  Một số người khác thì ăn cắp ý tưởng từ đề cương mình duyệt và tìm cách “dìm” cho được đề cương để mình làm trước.  Có người thậm chí còn vi phạm điều lệ tín cẩn và chuyển giao số liệu và thông tin cho đồng nghiệp đang nghiên cứu cùng đề tài.  Do đó, rất nhiều người từng trải qua cái cơ chế này cho rằng đó là một hệ thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu công bằng.  Nhưng vấn đề thực tế là ngoài hệ thống bình duyệt đó, chưa có hệ thống nào tốt hơn!    Hệ quả là có nhiều đề cương chất lượng rất tốt nhưng không được tài trợ; ngược lại có nhiều đề cương đọc quan tựa đề là thấy “có vấn đề” (hay vô bổ) nhưng lại được tài trợ.  Đã có không ít trường hợp mà trong đó đề cương nghiên cứu được xếp hạng “xuất sắc” nhưng điểm đạt là 49 (trong mỗi hạng có điểm từ 0 đến 100), vì dưới 50 điểm nên không được tài trợ.  Nhưng năm sau vẫn đề cương đó lại được điểm 52 (có lẽ do một tiểu ban bình duyệt khác), và được tài trợ!  Đó là một cách đánh giá và cho điểm cực kì máy móc, làm cho không ít nhà nghiên cứu tức giận và bỏ nước ra đi.  Cũng chính vì cơ chế cứng nhắc này mà hàng năm NHMRC nhận được hàng trăm phàn nàn, phản đối (với đủ thứ lí do, có khi rất cá nhân) từ các nhà khoa học mà dự án của họ không được tài trợ.  Nhưng như đề cập trên, NHMRC không bao giờ thay đổi quyết định, dù họ chấp nhận rằng quyết định của họ có thể sai sót và gây tổn hại cho nhà nghiên cứu.    Cũng cần nói thêm rằng cơ chế xét duyện đề cương như trên không phải là một sáng kiến của Úc, mà là của Mĩ và đã được áp dụng khắp thế giới.  Cho đến nay, đó là cơ chế chuẩn để thẩm định một đề cương nghiên cứu.  Ngay cả các công ti kĩ nghệ cũng dựa vào hệ thống bình duyệt để phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học.  Đánh giá thành tựu của một công trình nghiên cứu khoa học là một vấn đề cực kì khó khăn.  Khoa học cơ bản được định nghĩa là những nghiên cứu nhằm phát triển tri thức mới hay tìm hiểu những khía cạnh cơ bản của hiện tượng tự nhiên có thể quan sát được nhưng có thể không có ứng dụng trong một tương lai gần.  Chẳng hạn như các nhà vật lí học nghiên cứu về khả năng truyền dẫn hình ảnh qua fibre optics trong thập niên 1950s, nhưng mãi đến 30 năm sau mới tìm được ứng dụng của thành tự này qua việc phát triển các máy nội soi trong y khoa.  Tương tự, khám phá về vai trò của testosterone (một hormone nội tiết) trong thập niên 1930s, nhưng phải chờ đến 40 năm sau mới tìm thấy ứng dụng trong lâm sàng và chăn nuôi.  Nói tóm lại, sản phẩm chính của nghiên cứu khoa học là tri thức, nhưng điều mà các cơ quan tài trợ cho nghiên cứu khoa học (hay trả tiền để có được tri thức) cần là ứng dụng.  Trong khi nhà khoa học đi tìm sự thật, thì các nhà quản lí đòi hỏi sự hữu dụng của thông tin.  Điều này có nghĩa là bất cứ một chỉ số nào để đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học cơ bản trong một thời gian ngắn đều không thể phản ảnh được sự đóng góp vào kinh tế và xã hội của nghiên cứu khoa học.                   Một cách đánh giá thành tựu ngắn hạn là dựa vào bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế.  Như trình bày trên, các nhà quản lí dự án khoa học ở Úc không có cơ chế “nghiệm thu” như ở nước ta, nhưng họ có cơ chế thực tế hơn để đánh giá sự thành bại một dự án nghiên cứu: đó là căn cứ vào các ấn phẩm khoa học xuất phát từ công trình nghiên cứu.  Chính vì thế mà trong các báo cáo hàng năm hay báo cáo sau cùng, người ta rất chú trọng danh sách những bài báo khoa học, tập san đã công bố, và hệ số ảnh hưởng của các bài báo khoa học.  Ở một khía cạnh khác, các nhà quản lí cũng xem xét đến thành tựu (outcome) mà nghiên cứu đã đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội: đó là bằng sáng chế đã hay đang được đăng kí trên thế giới.  Có thể nói hai chỉ tiêu này thuộc vào hàng số 1 để thẩm định sự thành công hay thất bại của công trình nghiên cứu.  Ở nước ta, có ý kiến cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam chưa thể lấy tiêu chuẩn công bố quốc tế để nghiệm thu một công trình nghiên cứu vì hoàn cảnh nước ta khác với các nước Tây phương.  Tuy nhiên, tôi thấy ý kiến đó không đúng và mang tính … ngụy biện.  Tôi không hiểu “hoàn cảnh” nào mà các nhà khoa học nước ta không công bố được, nếu những công trình của họ có giá trị và được thực hiện theo những tiêu chuẩn chung.  Thật ra, các tập san quốc tế có xu hướng tạo điều điệu thuận lợi như không lấy chi phí in bài, dành ưu tiên đăng bài, châm chước vấn đề ngôn ngữ … cho các nhà khoa học ở các nước đang phát triển như ở nước ta để công bố ấn phẩm khoa học.  Nhưng vấn đề đặt ra là thời gian từ lúc nộp bài báo đến khi được chấp nhận và công bố trên các tập san (gọi tắt là “thời gian công bố”) thường không ngắn, nhưng một công trình nghiên cứu thường chỉ kéo dài từ 3 đến 5 năm, vậy thì yêu cầu công bố bài báo khoa học có phi thực tế hay không.  Thời gian công bố dao động khá lớn giữa các tập san trong cùng một ngành khoa học và giữa các bộ môn khoa học và theo thời gian.  Trong thập niên 1990s, thời gian công bố thường kéo dài đến 1 năm (ngoại trừ ngành toán học có thời gian công bố trung bình đến 20 tháng – xem Bảng 1).  Nhưng trong thời gian gần đây, với sự phát triển của internet, thời gian công bố giảm đáng kể.  Một nghiên cứu gần đây cho thấy các tập san lớn trong tập đoàn Nature và BMC có thời gian công bố dao động từ 3 đến 5 tháng! (Bảng 2)  Theo kinh nghiệm của người viết bài này, các tập san y học hàng đầu trên thế giới như New England Journal of Medicine, JAMA, Annals of Internal Medicine, v.v… thời gian công bố tính trung bình khoảng 9 tháng.  Cần nói thêm rằng những tập san lớn (ra hàng tuần hay hàng tháng), chỉ công bố khoảng 5% tổng số bài nhận được hàng năm vì hệ thống bình duyệt rất khắc khe, và có ảnh hưởng rất lớn đến y học.  Do đó, yêu cầu công bố bài báo khoa học từ các dự án nghiên cứu, nhất là trong các bộ môn khoa học thực nghiệm như y sinh học và lí hóa học, không phải quá phi thực tế như có người quan tâm.  Vấn đề là nhà khoa học cần phát hiện vấn đề sớm, chịu khó làm việc, và chấp nhận cạnh tranh trên trường quốc tế.   Như có lần phát biểu trước, nước ta đang hội nhập quốc tế, và theo tôi hội nhập phải bắt đầu từ nghiên cứu hoạt động khoa học vì đây là lĩnh vực mang tính quốc tế cao nhất.  Câu hỏi đặt ra là có nên áp dụng mô hình quản lí của Úc vào nước ta không?  Để trả lời câu hỏi này, tôi xin nhắc lại rằng nước Pháp tự hào rằng Pháp đã, đang và sẽ không bao giờ trở thành một phiên bản của bất cứ nước nào trên thế giới, nhưng các hoạt động nghiên cứu khoa học của Pháp cũng dựa vào các chuẩn mực quốc tế. Chúng ta cần phải có một “con đường” riêng cho chính chúng ta, nhưng con đường đó phải phù hợp với trào lưu của thời đại, phải tuân thủ theo những chuẩn mực quốc tế mà chúng ta là một thành viên.  Chẳng hạn như chúng ta không thể biện minh rằng vì “hoàn cảnh” mà không công bố ấn phẩm nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế, trong khi đó chính là một chuẩn mực mà đại đa số các nước trên thế giới chấp nhận.  Tôi tin rằng cơ chế quản lí dự khoa học của Úc rất cần được tham khảo để đi đến một cơ chế hoàn chỉnh và thích hợp cho nước ta.    Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý rác thải nhựa: Mệnh lệnh kiểm soát, trợ giá hay tẩy chay?      Rác thải nhựa đại dương đã trở thành một dạng thiên tai. Người ta chống chọi lại nó với sự bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. Mùa hè vừa qua, bãi biển Mũi Né tràn ngập rác từ đại dương đưa vào. Người làm dịch vụ du lịch đã huy động toàn bộ nhân viên dọn rác nhưng cứ đến sáng hôm sau bãi biển đầy rác trở lại, và khách hủy đặt phòng1. Một ngành du lịch được đầu tư rất lớn từ lâu đứng trước nguy cơ sụp đổ từ rác nhựa đại dương. Rác thải nhựa không còn là sự khó chịu cá nhân khi thỉnh thoảng người ta thấy hay các ảnh hưởng lâu dài mà các nhà môi trường thường đề cập, rác thải nhựa đã là vấn đề chung của nhiều người và thường xuyên ở ngay trước mắt.      Hình ảnh bãi biển ở Thanh Hóa đầy rác trong bài báo trên tờ Reuters tháng tư vừa qua. Ảnh: Reuters.  Việt Nam là một nước nhỏ, diện tích đứng thứ 65, dân số xếp hạng 14, thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 128 trong tổng số 195 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Về khối lượng rác thải nhựa ra biển, Việt Nam lại là người khổng lồ – đứng thứ 4 trên thế giới2. Có phải người Việt Nam chúng ta tiêu dùng quá nhiều sản phẩm nhựa và có phải cách quản lý rác thải của chúng ta không hiệu quả? Để Việt Nam không còn nằm trong danh sách những quốc gia thải rác nhựa hàng đầu thế giới, chúng ta cần giải quyết hai vấn đề trên: giảm lượng rác thải nhựa và đối với lượng rác nhựa đã thải ra, cần xây dựng hệ thống quản lý rác thải hiệu quả hơn.  Văn hóa và thói quen tiêu dùng  Lượng rác thải nhựa của một quốc gia phụ thuộc vào dân số, lượng tiêu dùng trung bình của mỗi người và tỷ lệ rác nhựa trong tổng lượng rác thải ra từ tiêu dùng. Chiến lược giảm lượng rác thải nhựa của quốc gia sẽ phải tập trung vào hai yếu tố thứ hai và thứ ba, còn yếu tố dân số đã là nhân tố tiền định và ít biến đổi. Nghiên cứu của Jambeck và cộng sự đăng trên tạp chí Science số tháng 2 năm 2015 cung cấp những con số so sánh thú vị về chuyện rác thải của các quốc gia2. Một người Việt Nam thải ra trung bình 0.79 kg rác mỗi ngày, trong đó 13% là rác nhựa. Lượng rác thải này là không lớn, nếu so với mức 2.58 kg của Hoa Kỳ hay 1.52 kg của Malaysia. Lượng rác thải thường tỷ lệ thuận với lượng hàng hóa tiêu dùng, và do đó tỷ lệ thuận với mức thu nhập. Đây là điểm cần lưu ý trong chiến lược giảm rác thải khi tương lai Việt Nam giàu hơn, người dân tiêu dùng nhiều hơn, và thải ra nhiều hơn.  Để giảm lượng rác thải thông qua hành vi tiêu dùng, có hai cách, hoặc là giảm lượng tiêu dùng hàng hóa, hoặc tiêu dùng hàng hóa hiệu quả hơn. Giảm lượng hàng hóa tiêu dùng dường như là phương án bất khả thi. Sử dụng hàng hóa đem lại phúc lợi cho người tiêu dùng. Mục tiêu của mọi chính sách kinh tế xã hội là đem lại phúc lợi tối đa cho cá nhân và xã hội dựa trên nguồn lực sẵn có. Không thể vì mục tiêu giảm rác thải mà giảm phúc lợi của người dân. Do đó, làm thế nào để mọi người dân tiêu dùng hiệu quả hơn, thải ra ít rác hơn trong một lần dùng sản phẩm có thể là hướng thiết kế chính sách đúng đắn nên hướng tới. Thử nhớ lại lần dọn tủ lạnh gần đây nhất ở nhà bạn: bạn vứt đi bao nhiêu thực phẩm không dùng đến đã quá hạn, hoặc thức ăn nấu dư để dành lại? Làm thế nào để mua vừa đủ dùng, để nấu vừa đủ dùng? Đây là câu hỏi thực sự khó, không những cho nhà quản lý mà cho cả các nhà khoa học hành vi.  Tỷ lệ rác nhựa trong lượng rác thải của Việt Nam ở mức trung bình trong nhóm 20 nước thải rác nhiều nhất, bằng với Hoa Kỳ hay Malaysia, cao hơn mức trung bình 10% của thế giới. Giảm tỷ lệ rác nhựa trong rác thải là mục tiêu chính sách có thể thực hiện được. Việc sử dụng chất liệu nhựa trong hàng hóa tiêu dùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ khí hậu, văn hóa, tình trạng phát triển kinh tế và chính sách quản lý rác nhựa của quốc gia. Người dân ở các quốc gia có khí hậu nóng ẩm sẽ có xu hướng chọn dùng túi nylon đựng thực phẩm hơn là dùng túi giấy. Mang đi một ly nước giải khát có đá trong một túi nylon sẽ hợp lý hơn rất nhiều so với đựng ly nước có đá đó trong túi giấy, mặc dù túi giấy trông đẹp hơn và ít gây tác hại hơn cho môi trường. Tuy nhiên khá thú vị khi nhìn số liệu thống kê về tỷ lệ rác nhựa trong tổng lượng rác thải của các nước Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka – lần lượt là 3%, 8% và 7%, thấp hơn so với mức trung bình thế giới, và Việt Nam (13%) mặc dù có cùng trình độ phát triển và điều kiện khí hậu nóng ẩm như Việt Nam. Yếu tố văn hóa hay chính sách quản lý rác nhựa đã tạo ra tỷ lệ thấp này? Có lẽ văn hóa và thói quen tiêu dùng là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả như vậy. Câu hỏi chính sách thú vị và thách thức sẽ là làm thế nào để thay đổi thói quen tiêu dùng?  Lựa chọn công cụ chính sách nào?  Bây giờ chúng ta bàn về chính sách quản lý rác thải nhựa, các công cụ chính sách nào có thể làm giảm lượng phát thải rác nhựa và khi rác nhựa đã ra môi trường rồi thì quản lý như thế nào cho hiệu quả. Hiện nay trên thế giới có 75 nước có chính sách quản lý, từ cấm sử dụng túi nhựa, đến đánh thuế người tiêu dùng, đánh thuế nhà sản xuất, nhà bán lẻ hoặc phối hợp cùng lúc cấm (loại túi mỏng) và đánh thuế.  Lý thuyết về chính sách quản lý ô nhiễm môi trường thường chia các công cụ quản lý thành 3 nhóm (1) dùng quy định mang tính mệnh lệnh kiểm soát; (2) dùng công cụ kinh tế như thuế, trợ giá, giấy phép mua bán quyền phát thải; và (3) công cụ mang tính chất dân sự như tự nguyện, trách nhiệm xã hội, phong trào môi trường, hay tẩy chay. Tất cả các công cụ chính sách này đều nhằm điều chỉnh hành vi tiêu dùng của người dân.  Bảy mươi lăm quốc gia có chính sách quản lý rác nhựa đã sử dụng công cụ nhóm 1 và 2 một cách chính thống và khá bài bản. Công cụ nhóm 3 cũng được sử dụng, chủ yếu là ở các nước có thu nhập cao, và mang nhiều tính tự phát, riêng lẻ, chưa thể chế hóa thành chính sách. Điều thú vị là nhóm công cụ mang tính dân sự này đã được đề cập trong Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam, dưới thuật ngữ tiêu dùng xanh.  Mức độ thành công của các công cụ quản lý rác thải nhựa không nhất quán mà phụ thuộc vào tình hình và cách quản lý của từng nước. Ví dụ Ireland khá thành công khi thu 0.15 EUR (khoảng 4,000 đồng) cho một túi nhựa người mua muốn lấy ở siêu thị để đựng hàng. Dĩ nhiên để thành công thì không chỉ mức thu cao đủ để thay đổi hành vi mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như truyền thông, sự đồng bộ, sự ủng hộ chính trị của các thành phần xã hội. Công cụ mệnh lệnh kiểm soát cấm sử dụng túi nhựa thành công ở Anh, Úc, Trung Quốc và đảo Lý Sơn của Việt Nam, nhưng không có nhiều tác dụng ở Bangladesh và Rwanda do những nơi này không có hệ thống kiểm soát thực thi tốt. Nam Phi cấm sử dụng túi mỏng và đánh thuế lên túi nhựa dày nhưng không thành công. Thụy Điển đánh thuế, thành công trong giảm sử dụng túi nhựa và cả ở kết quả môi trường, nhờ có hệ thống phân loại rác tại nguồn quá tốt, túi nhựa thu gom được đem đốt để sản xuất điện.  Các nước thu nhập cao thường sử dụng công cụ quản lý rác thải nhựa thành công. Có 3 nguyên nhân chính cho sự thành công này: hệ thống phân phối hàng tiêu dùng tập trung, hệ thống quản lý tốt và cách thức tiêu dùng của người dân tốt.  Hệ thống phân phối tập trung nghĩa là hàng hóa được đưa đến tay người tiêu dùng chủ yếu qua hệ thống siêu thị được quản lý tập trung bởi một số ít tập đoàn kinh doanh. Cách tổ chức tiêu dùng này tạo rất nhiều thuận lợi cho việc thực thi chính sách. Chẳng hạn lệnh cấm sử dụng túi nhựa đựng thực phẩm được kiểm soát qua các siêu thị và các tập đoàn quản lý sẽ không giảm rủi ro vi phạm chính sách. Nguồn phát thải phân tán sẽ tạo ra thách thức cực kỳ to lớn khi thực thi chính sách. Ở các nước đang phát triển, dễ thấy nhất là Việt Nam, người dân có thể mua hàng hóa tiêu dùng hầu như ở mọi nơi, từ các siêu thị, chợ lớn nhỏ, đến các cửa hàng tạp hóa gần nhà. Kiểm soát thực thi chính sách cấm sử dụng túi nhựa chẳng hạn sẽ phải đối mặt với rất nhiều chủ cơ sở cung cấp hàng hóa khác nhau, do đó chi phí giao dịch của chính sách cũng sẽ rất cao.  Hệ thống quản lý hiệu quả sẽ góp phần nhiều vào thành công của thực thi chính sách quản lý rác nhựa. Đối với lệnh cấm sử dụng túi nhựa, nhà nước cần đảm bảo có được hệ thống kiểm soát thực thi hiệu quả – cần hiệu quả về chi phí và duy trì trong thời gian dài. Chính sách cấm sử dụng túi nhựa ở Bangladesh từ năm 2002 là một ví dụ điển hình về hệ thống quản lý. Đến nay Bangladesh đứng thứ 10 trên thế giới về lượng rác thải nhựa ra biển. Ban đầu chính sách cấm nhận được phản ứng tích cực từ công chúng. Tuy nhiên, việc kiểm soát thực thi quá lỏng lẻo và thiếu phương án sử dụng thay thế đã làm lệnh cấm mất hiệu lực. Với nhóm công cụ kinh tế như đánh thuế sử dụng túi nhựa, thách thức đầu tiên là xác định mức thuế hợp lý có thể điều chỉnh hành vi người tiêu dùng. Nam Phi đánh thuế túi nhựa khá thấp, một phần do áp lực vận động hành lang từ ngành sản xuất túi nhựa, nên đã thất bại trong việc giảm lượng rác nhựa thải ra môi trường. Đánh thuế quá cao cũng có thể có kết quả giống lệnh cấm: không hiệu lực do không kiểm soát thực thi hiệu quả và không có phương án sử dụng thay thế.      Chính sách giải quyết vấn đề rác thải nhựa cho Việt Nam sẽ phải đụng chạm đến những vấn đề sâu thẳm trong hành vi tiêu dùng của mỗi con người, và của tổng thể hơn 90 triệu người.      Cách thức tiêu dùng của người dân thực sự tác động rất nhiều đến khả năng thành công của chiến lược giảm chất thải nhựa. Cách thức mua hàng hóa của người Việt Nam là một ví dụ hay cho thiết kế chính sách. Người châu Âu và Hoa Kỳ chẳng hạn thường mua hàng hóa tiêu dùng trong gia đình 1 – 2 lần một tuần. Áp lực công việc và thói quen lập kế hoạch tiêu dùng giúp họ hạn chế số lần đi mua hàng. Giảm số lần mua hàng nghĩa là giảm số lần dùng túi nhựa đựng hàng hóa riêng lẻ. Người Việt có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn và thường dùng thời gian nhàn rỗi để đi chợ. Người Việt cũng không có thói quen lập kế hoạch, dù là cho bếp ăn gia đình. Đang nấu ăn mà hết mắm là có thể đi ngay ra cửa hàng tạp hóa gần nhà để mua một chai, đem về bằng cách đựng trong một túi nhựa để cầm cho dễ. Ngoài ra, người dân ở các nước đang phát triển thường không quan tâm nhiều đến việc túi nhựa có thể làm tổn hại môi trường. Họ quan tâm nhiều hơn đến sự tiện dụng tức thời của bản thân hơn là góc phố sạch đẹp không rác.  Làm thế nào để ngành du lịch Mũi Né không bị những cơn sóng rác ập đến xóa bỏ mọi nỗ lực đầu tư và cơ hội kinh tế cho cả một vùng? Rõ ràng từng người làm du lịch không thể giải quyết được vấn đề này, khi sóng mang rác từ những nơi khác đến. Làm thế nào để các con phố ở Hà Nội, TP. HCM trở nên sạch sẽ, không có rác thải tràn lan và túi nhựa bay khắp nơi. Giải quyết vấn đề rác thải nhựa cho Việt Nam như thế nào là bài toán không hề đơn giản. Không đơn giản vì chính sách sẽ phải đụng chạm đến những vấn đề sâu thẳm trong hành vi tiêu dùng của mỗi con người, và của tổng thể hơn 90 triệu người. Những vấn đề đó là cách thức tiêu dùng, là thói quen lập kế hoạch mua sắm, là ý thức về môi trường. Vấn đề còn nằm ở chiến lược và hệ thống quản lý rác thải của chúng ta. Kinh nghiệm cho thấy cải cách hệ thống, dùng kết hợp các công cụ chính sách từ mệnh lệnh kiểm soát, công cụ kinh tế đến điều chỉnh hành vi mang tính dân sự có thể đem lại kết quả tốt, góp phần kiến tạo ra một Việt Nam xanh và sạch hơn trong tương lai.     *TS. Giám đốc Trung tâm Môi trường cho Phát triển, trường Đại học Kinh tế TP. HCM  Tài liệu tham khảo  1 Báo Thanh Niên “Bãi biển Mũi né tràn ngập rác, khách hủy đặt phòng” ngày 8/8/2018. https://thanhnien.vn/doi-song/bien-mui-ne-tran-ngap-rac-khach-huy-dat-phong-990908.html  2 Jambeck JR, et al. Plastic waste inputs from land into the ocean. Science 347(6223):768–771 (2015); doi:10.1126/science.1260352    Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Quản trị nhà nước trong thời sống chung với COVID-19      Sống chung với COVID không còn là một sự lựa chọn. Đó là một thực tế khách quan. Loài virus COVID đang hiện hữu như mưa gió, bão lũ và vô vàn các hiện tượng tự nhiên khác.  Chắc sau vài ba năm nữa, khi các loại vaccine và thuốc điều trị được cung ứng đầy đủ trên thị trường, cách thức chữa trị được chuẩn hóa, thì COVID chỉ còn được xem là một loại dịch cúm mùa thông thường. Nó tồn tại đó, nhưng nó không còn nguy hiểm nữa. Vấn đề là chúng ta cần phải sống như thế nào trong khoảng thời gian từ đây đến đó. Dưới đây là một vài suy nghĩ về những vấn đề nóng bỏng nhất của quản trị nhà nước trong gian đoạn này.      Túi thuốc tới gia đình có F0 tại phường 1, quận Tân Bình, ngày 15/8. Ảnh: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM.  Thiết kế và vận hành mô hình sống chung an toàn với COVID  Có lẽ, đó là vấn đề đầu tiên Nhà nước cần quan tâm. Sống chung với COVID thì không có nghĩa là sống chung với đại dịch. Không ai có thể sống chung với tình trạng dịch bệnh bùng phát; các bệnh viện, các cơ sở y tế đều bị quả tải; các ca tử vong vì dịch bệnh tăng cao. Sống chung với COVID chỉ có nghĩa là giảm thiểu tác hại của nó và dần biến nó trở thành loại cúm mùa thông thường. Trên thực tế, mỗi năm vẫn có hàng trăm ngàn, nếu không muốn nói là hàng triệu người bị nhiễm cúm. Về cơ bản, mọi người đều tự chữa khỏi cho mình. Số người phải nhập viện là vô cùng ít. Số người tử vong lại còn ít hơn. Để làm được như vậy với COVID, quan trọng là phải nâng cao sức đề kháng cho người dân, đặc biệt là những người cao tuổi, những người có bệnh nền. Tăng cường sức khỏe về thể chất và tâm thần là một phần, phần quan trọng hơn tiêm chủng cho toàn dân. Ưu tiên số 1 phải là những người cao tuổi, những người có bệnh lý nền.  Để sống chung với COVID, thì chắc chắn phải giảm tải cho các bệnh viện và các cơ sở y tế. Theo số liệu thống kê của nhiều quốc gia, số người nhiễm COVID phát bệnh chỉ chiếm 20%. Số người tự nhiễm và tự khỏi chiếm đến 80%. Như vậy, tập trung tất cả những người dương tính (F0) vào các bệnh viện và các cơ sở y tế để điều trị là bất hợp lý. Với cách làm này, chắc chắn, các bệnh viện và cơ sở y tế đều sẽ bị quá tải nặng nề. Hậu quả là nhiều ca F0 phát bệnh nhưng không còn chỗ để được chữa trị. Trong lúc đó, nhiều ca F0 được đưa vào bệnh viện lại chưa chắc đã được chăm sóc đầy đủ và chữa trị kịp thời vì các y bác sĩ bị quá tải, trang thiết bị y tế bị thiếu hụt. Giải pháp chính sách ở đây là nên để các ca F0 không phát bệnh tự điều trị ở nhà. Quan trọng là cung cấp đầy đủ thuốc men và tư vấn kịp thời cho họ. Kinh nghiệm của thế giới và của TP. Hồ Chí Minh cho thấy hiệu quả rất cao của cách làm này.  Nếu các ca F0 không triệu chứng có thể tự điều trị tại nhà, thì các ca F1 cũng không cần phải cách ly tập trung. Cũng như đối với các F0, điều quan trọng là trang bị cho họ kiến thức, thuốc men và khả năng tiếp cận dịch vụ tư vấn để tự cách ly. Cách ly tập trung các ca F1 không chỉ gây ra những tốn kém vô kể cho Nhà nước, mà còn có thể để xảy ra lây nhiễm chéo. Đó là chưa nói tới việc sức khỏe về thể chất và tâm lý của những người bị cách ly cũng bị ảnh hưởng rất nặng nề.  Để sống chung với COVID, thì cũng cần phải trang bị cho người dân sự hiểu biết chính xác, khách quan và khoa học về COVID và cách thức phòng chống nó. Khi và chỉ khi mỗi người dân đều có thể tự bảo vệ mình thì dịch bệnh mới có thể bị đẩy lùi. Ngoài ra, hiểu biết cũng làm gia tăng sức đề kháng. Tâm lý hoảng loạn và tuyệt vọng không khéo là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ tử vong vì COVID tăng cao.  Hiện nay, Nhà nước đang đứng ra đảm nhận toàn bộ tất cả các khâu của công việc phòng chống dịch từ xét nghiệm, cung ứng vaccine, thuốc chữa bệnh, đến tiêm chủng, cách ly tập trung, tiếp nhận điều trị bệnh nhân COVID… Đây là một khối lượng công việc khổng lồ và vô cũng tốn kém. Không sớm thì muộn, chắc chắn Nhà nước sẽ hụt hơi. Như vậy, quan trọng là ngay từ bây giờ phải tìm cách xã hội hóa những phần có thể được từ khối lượng công việc khổng lồ nói trên. Nếu áp dụng cơ chế thị trường cho việc chăm sóc sức khỏe để phòng chống dịch bệnh, hoàn toàn có thể sẽ hình thành nên một ngành kinh tế thật sự ăn nên, làm ra. Khi thị trường đã đảm nhận bớt một phần công việc, Nhà nước sẽ có điều kiện hơn để tập trung lo cho những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội.  Nhà nước cần cân đối giữa phòng chống dịch, bảo tồn nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội  Để làm được như vậy, cần phải duy lý tối đa khi đề ra các giải pháp phòng chống dịch.  Một phản ứng chính sách cực đoan sẽ rất giống với sốc phản vệ. Những vấn đề mà nó gây ra thường bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với vấn đề mà nó hướng tới để giải quyết. Hậu quả là chúng ta phải đối mặt với rủi ro là chưa chết vì dịch bệnh đã chết vì thiếu đói và vì nền kinh tế bị đổ vỡ.  Tất cả các nước phương Tây đều thành công trong việc phục hồi và thúc đẩy kinh tế phát triển, mặc dù tỷ lệ lây nhiễm ở họ vẫn ở mức cao. Lý do là vì họ rất duy lý. Các giải pháp phòng chống dịch của họ không bao giờ vượt quá mức cần thiết. Chúng ta cũng chắc chắn phải làm như vậy. Những giải pháp phòng chống dịch làm đứt gãy chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất toàn cầu, chắc chắn cần phải sớm được sửa đổi. Những giải pháp tạo ra tình cảnh thất nghiệp, thiếu đói cho hàng triệu người dân chắc chắn cũng cần phải sớm được sửa đổi như vậy. Trước lúc các giải pháp như vậy được sửa đổi và phát huy tác dụng, thì Nhà nước cần thực hiện chương trình an sinh xã hội đã được đề ra một cách hiệu quả hơn. Và có lẽ, cần thiết phải bổ sung thêm kinh phí cho chương trình này.   Thực ra, phòng chống dịch COVID là một công việc rất mới và rất khó. Chúng ta cần phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, vừa điều chỉnh các giải pháp của mình cho kịp thời. Để làm được điều này, quan trọng là cần phải tổ chức thu thập dữ liệu cho đầy đủ, khách quan. Đồng thời, cần tiếp cận nhanh chóng thông tin, dữ liệu và tri thức của thế giới trong phòng chống dịch.  Nhà nước cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề lao động và phục hồi kinh tế  Nghịch lý lớn nhất của vấn đề lao động là chúng ta phải đối mặt với tình trạng lao động vừa thiếu lại vừa thừa.  Các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp đặc biệt tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam sẽ thiếu hụt lao động một cách nghiêm trọng. Sự thiếu hụt này là hệ quả của việc hàng trăm ngàn lao động đã tháo chạy về quê để tránh dịch. Thế nhưng, lao động nơi thiếu cứ thiếu, nơi thừa cứ thừa. Nơi thiếu thì làm cho sản xuất bị đình trệ, nơi thừa thì gây ra tình trạng thất nghiệp. Hình thành nên đội ngũ thất nghiệp là đông đảo những người chạy trốn dịch về quê, những người bị mất việc làm do các doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường hoặc cắt giảm quy mô để vượt qua khó khăn vì đại dịch. Một nguồn bổ sung to lớn khác là đội ngũ những người lao động tự do làm 1001 nghề để kiếm sống như bán hàng rong, kinh doanh nhỏ lẻ… Một khảo sát trực tuyến gần đây do VnExpress tiến hành và được hơn 69.000 người lao động trả lời cho thấy 62% trong số họ đang mất việc làm.  Với tình thế lưỡng nan như trên, một chương trình kích cầu kinh tế là rất cần thiết. Để kích cầu thì quan trọng là phải tăng cường đầu tư công. Đây là thời điểm Quốc hội nên nới trần nợ công để tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ số. Cách làm này vừa giúp đẩy nhanh quá trình phục hồi kinh tế, vừa tạo ra nhiều việc làm mới. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ số chắc chắn sẽ là nền tảng không thể thiếu để kinh tế nước ta có thể phát triển vượt bậc về lâu, về dài.□    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Quản trị nhân lực công      Nghị quyết số 26-NQ/TW của Đảng về công tác cán bộ thực chất là nghị quyết về việc quản trị nhân lực công. Cho dù khái niệm nhân lực công ở nước ta phải được hiểu rộng hơn so với thế giới, ví dụ nhân lực của Mặt trận Tổ quốc và một số tổ chức đoàn thể- quần chúng phải được xem là nhân lực công, thì khung khái niệm phổ quát trên thế giới vẫn rất cần thiết để hoạch định công tác cán bộ. Dưới đây xin được trình bày một số nét cơ bản nhất về khung khái niệm đó và khả năng áp dụng cho Việt Nam.       Nguồn nhân lực của một nước thường được chia thành nhân lực công và nhân lực tư. Nhân lực công phục vụ đời sống công; nhân lực tư phục vụ đời sống tư. Đã là một quốc gia-dân tộc, là một cộng đồng dân cư, thì đời sống công là rất quan trọng. Không có đời sống công, không thể có quốc gia-dân tộc, không thể có cộng đồng. Chính vì vậy nhân lực công là hết sức quan trọng.  Nhân lực công được chia thành bốn loại: loại thứ nhất là các chính khách (politicians); loại thứ hai là các công chức (civil servants); loại thứ ba là các viên chức (public servants); loại thứ tư là các thẩm phán (judges).  Các chính khách là nguồn nhân lực cao cấp nhất và, có lẽ, cũng quan trọng nhất. Đây là những người cung cấp cho đất nước tầm nhìn, chiến lược phát triển, chính sách và pháp luật. Đây là những người cảm nhận được thời đại, cảm nhận được lòng người và dẫn dắt được quần chúng. Họ thường là những nhà lãnh đạo của Đảng, của các tổ chức quần chúng-nhân dân. Được lựa chọn thông qua bầu cử, nên họ phải trong sạch, phải được mến mộ, phải có một hình ảnh công chúng hấp dẫn và lôi cuốn. Các chính khách là những người nắm giữ các chức vụ cao cấp của Nhà nước, bao gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước; Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng; các vị đại biểu dân cử; các Chủ tịch, phó chủ tịch UBND và các thành viên UBND. Thông thường, độ tuổi về hưu không được áp dụng cho các chính khách. Những ai còn muốn cống hiến và còn được cử tri tín nhiệm thì vẫn còn có thể giữ chức. Cơ chế để lựa chọn những chính khách tài giỏi là tranh cử.      Công chức phải được tuyển chọn từ giới tinh hoa của đất nước và phải được đào tạo rất cơ bản ở các trường hành chính      Các công chức là nguồn nhân lực không kém phần quan trọng. Đây là những người vận hành thể chế và thực thi pháp luật. Họ là những người bảo đảm cho quyền lực công được thực thi trên thực tế. Những người này không có quyền ban hành chính sách, pháp luật, nhưng sẽ bảo đảm cho chính sách, pháp luật được thực thi trung thực, khách quan và hiệu quả. Các công chức không chỉ nắm rất vững pháp luật trong lĩnh vực mình phụ trách, mà còn có khả năng áp dụng pháp luật rất nhanh chóng, hiệu quả để xử lý những vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Các công chức là nguồn nhân lực của cảnh sát, hải quan, thuế vụ… Một số công chức không trực tiếp thực thi quyền lực công, nhưng lại đảm trách việc vận hành thể chế. Ví dụ, công chức của Văn phòng Quốc hội mới là những người hiểu biết sâu sắc nhất về việc tổ chức một phiên họp toàn thể của Quốc hội thì phải như thế nào? Tổ chức một phiên điều trần của Ủy ban thì phải ra làm sao? Ở nghĩa này, công chức chính là bộ nhớ của thể chế. Đây cũng là lý do tại sao công chức được tuyển dụng theo biên chế, chứ không phải theo chế độ hợp đồng. Để bảo đảm chất lượng của nguồn nhân lực này, thì công chức phải được tuyển chọn từ giới tinh hoa của đất nước và phải được đào tạo rất cơ bản ở các trường hành chính.  Viên chức là những người cung cấp các dịch vụ công. Họ là những nhà chuyên môn, hiểu biết và có kỹ năng cung cấp dịch vụ công theo chuyên môn của mình. Số lượng viên chức nhiều hay ít phụ thuộc vào việc các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp lớn đến đâu. Ở các nước theo mô hình nhà nước phúc lợi (như Đan Mạch, Thụy Điển), thì các dịnh vụ công rất nhiều, nên đội ngũ viên chức cũng rất lớn. Ở các nước theo mô hình nhà nước điều chỉnh (như Anh, Mỹ), dịch vụ công ít hơn, nên đội ngũ viên chức cũng bé hơn. Tuy nhiên, theo chuẩn chung của thế giới, thì y tế và giáo dục là hai lĩnh dịch vụ công cơ bản nhất và quan trọng nhất. Chính vì vậy, số lượng viên chức trong hai ngành này là lớn nhất. Cơ chế tuyển chọn viên chức là thông qua hợp đồng.  Thẩm phán là nguồn nhân lực công được nhắc đến cuối cùng hoàn toàn không phải vì đây là nguồn nhân lực ít quan trọng hơn. Thực ra, đây là nguồn nhân lực quan trọng không kém gì các chính khách. Lý do là vì các thẩm phán cung cấp công lý cho người dân. Không có công lý cuộc sống không thể tốt đẹp, xã hội không thể ổn định và hài hòa. Đối với các thẩm phản, liêm chính và tinh thần phụng sự công lý đến cùng là những phẩm chất quan trọng nhất. Cơ chế để tuyển chọn các thẩm phản tài giỏi là lấy nguồn từ các luật sư danh tiếng không chỉ về chuyên môn, mà còn về sự trong sạch và đạo đức nghề nghiệp.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Quan trọng hơn cả là trình độ hội đồng xét duyệt      Nói về cuộc thảo luận các tiêu chuẩn GS,PGS thời gian gần đây, GS Hoàng Tụy cho rằng, kinh nghiệm quốc tế cũng như của chính chúng ta đều cho thấy không nên mất nhiều thì giờ thảo luận về tiêu chuẩn mà nên quan tâm nhiều hơn lựa chọn đúng đắn hội đồng xét duyệt bởi không có tiêu chuẩn định lượng nào có thể thay thế được sự đánh giá định tính của chuyên gia đủ thẩm quyền học thuật.      GS. Hoàng Tụy. Ảnh Xuân Trung/giaoduc.net.vn  Gần đây lại nổi lên vấn đề tiêu chuẩn Giáo sư, Phó giáo sư. Về nguyên tắc tôi đồng ý với phát biểu của GS Ngô Việt Trung trong số báo Tia Sáng vừa rồi. Từ nhiều năm nay các tiêu chuẩn đó đã không còn phù hợp yêu cầu hội nhập quốc tế. Một trong các điểm lạc hậu nhất của các tiêu chuẩn đó là không có yêu cầu gì về công bố quốc tế đối với các ngành khoa học tự nhiên. Hậu quả là từng có những GS, PGS của ta về khoa học tự nhiên không có công bố quốc tế nghiêm túc nào, ngược lại có những người chưa được công nhận GS hay PGS mặc dù rất xứng đáng nếu theo đúng chuẩn mực quốc tế. Điều đó dĩ nhiên là một trở ngại lớn cho sự hội nhập quốc tế, làm chậm sự phát triển khoa học, công nghệ của chúng ta. Cho nên, đúng như nhiều bạn đã lên tiếng, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải thay đổi quan niệm, từ đó cả tổ chức xét duyệt, công nhận các chức danh GS, PGS.  Trước hết, theo thông lệ quốc tế, GS, PGS là những chức vụ cụ thể, gắn với một đơn vị học thuật (đại học, trung tâm nghiên cứu) cụ thể. Không có cái loại phẩm hàm GS, PGS chung chung để vinh danh ai, giống như những phẩm hàm quan lại phong kiến thời xưa. Đã là chức vụ cụ thể thì dĩ nhiên chỉ trao cho những người có năng lực thực tế đảm đương chức vụ đó. Và vì chức vụ gắn với một đơn vị học thuật cụ thể nên về trình độ và năng lực, GS, PGS ở đại học này có thể khác, thậm chí rất khác, ở đại học khác. Tuy nhiên, thông thường ở các nước phát triển vẫn phải có một ngưỡng tối thiểu về trình độ và năng lực cho các chức danh đó, dù là ở đại học nào. Cái ngưỡng tối thiểu đó ta thường gọi là tiêu chuẩn, trừ yêu cầu hiển nhiên về bằng cấp, thường các nước không quy định cụ thể bằng văn bản, mà chỉ được hiểu ngầm trong giới học thuật tương ứng và tất nhiên phụ thuộc từng đại học. Chẳng hạn, đối với chức danh GS, thường người ta hiểu ngầm ứng viên phải có ít nhất khoảng 10-15 công bố quốc tế nghiêm túc, đối với PGS yêu cầu khoảng một nửa số đó. Song con số đó cũng chỉ có tính chất định hướng, còn thực tế thì chất lượng các công trình mới là căn cứ quan trọng để được bổ nhiệm GS, PGS.  Có dịp tham gia tuyển chọn GS ở vài đại học ở các nước phát triển, tôi không bao giờ hỏi mà cũng không cần được chobiết tiêu chuẩn GS như thế nào.Tại sao ư? Vì người ta mặc nhiên giả định hội đồng tuyển chọn có đủ năng lực phù hợp để hiểu đúng yêu cầu đối với đối tượng cần chọn mà không cần dựa vào những tiêu chuẩn tường minh nào cả.  Trong thực tế chỉ khi hội đồng tuyển chọn chưa đủ độ tin cậy về công tâm và/hoặc trình độ thì mới cần đưa ra tiêu chuẩn. Dù thế nào, trong mọi trường hợp, cái đáng quan tâm nhất là hội đồng tuyển chọn gồm những ai, có đáng tin cậy về trình độ và công tâm hay không, còn tiêu chuẩn đã hợp lý chưa hay cần sửa đổi như thế nào thì tuy cũng phải chú ý nhưng không quan trọng bằng. Tiêu chuẩn là điều kiện cần (ngưỡng tối thiểu) phải cụ thể, rành mạch, không thể hiểu nhập nhằng. Còn như đã đạt tiêu chuẩn rồi có được tuyển chọn chính thức hay không thì lại cuối cùng phải dựa vào đánh giá định tính của những chuyên gia thật sự am hiểu, thật sự có uy tín,đủ thẩm quyền học thuật để thẩm định chính xác.  Tôi còn nhớ cách đây khoảng 40 năm, khi Việt Nam bắt đầu xúc tiến phong các chức danh GS, PGS, có lần ông Tổng thư ký Hội đồng xét duyệt GS, PGS hãnh diện tuyên bố trước bàn dân thiên hạ rằng các GS, PGS vừa được xét phong đều ngang tầm quốc tế. Tưởng rằng một tuyên bố như thế được hoan nghênh chào đón, không ngờ nó làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt xung quanh trình độ của bản thân hội đồng xét duyệt. Nhiều người đặt câu hỏi thẳng thắn: Hội đồng xét duyệt đã chắc đâu ngang tầm quốc tế, ngay chính ông Tổng thư ký cũng chắc đâu xứng đáng GS theo chuẩn mực quốc tế nên cái tuyên bố nói trên chẳng có ý nghĩa gì hơn là biểu thị sự huênh hoang của người quản lý kém cỏi mà chủ quan.  Đó là tình hình cách đây đã lâu. Sau này, công việc được dần dần chỉnh đốn mới rõ ra một bộ phận khá đông thành viên Hội đồng xét duyệt trước đây chưa nắm được thế nào là GS theo chuẩn mực quốc tế thông thường. Thậm chí ngồi trong Hội đồng xét duyệt GS còn có cả một số người mới chỉ là ứng viên, mà cũng chưa phải ứng viên sáng giá gì, cho chức danh PGS! Sở dĩ có chuyện kỳ quặc như vậy một phần quan trọng là do thời ấy danh sách Hội đồng hoàn toàn do Ban Tổ chức TƯ quyết định. Oái ăm nhất là việc xét duyệt danh sách đề cử GS, PGS ở mấy cơ quan lớn như Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Viện Khoa học VN (ngày nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ), đều do phòng tổ chức ở đấy quyết định mà phụ trách phòng này ở cả ba cơ quan không may đều là cán bộ chính trị trình độ học vấn chỉ đến cấp hai phổ thông. Với tình hình ấy, dĩ nhiên cần có các tiêu chuẩn GS, PGS càng cụ thể càng tốt để hạn chế bớt những sai lầm. Khó khăn là thời ấy giao lưu quốc tế còn ít, chưa có mấy ai có khái niệm rõ về GS theo chuẩn mực quốc tế để nêu ra tiêu chuẩn đúng đắn. Phần đông vẫn giữ quan niệm cũ thời xưa coi GS, PGS là những phẩm hàm để vinh danh, ít ai nghĩ đó là những chức vụ cụ thể đòi hỏi phải có năng lực phù hợp để đảm đương. Ngay cả nhiều lãnh đạo cấp cao của hai ngành giáo dục, khoa học lúc bấy giờ khi được trao quyền xét duyệt thì cũng tự cho mình hiểu biết hơn người, cho nên đặt ra nhiều tiêu chuẩn định lượng có vẻ chặt chẽ chính xác mà thật ra máy móc đến ấu trĩ. Đã thế Hội đồng xét duyệt lại bị lãnh đạo bởi những người chẳng những yếu kém chuyên môn mà còn thiếu cả công tâm. Tôi nhớ có một trường hợp có bằng tiến sĩ ở Pháp, chuyên về tối ưu, đã giảng dạy mấy năm ở đại học Quy Nhơn, có nhiều công bố quốc tế được các chuyên gia tối ưu ở Viện Toán đánh giá cao, nên khi đưa ra xét để phong PGS thì toàn Hội đồng cơ sở nhất trí ủng hộ (khi ấy Hội đồng này là Hội đồng ở Viện Toán vì Đại học Quy Nhơn chưa đủ điều kiện thành lập Hội đồng riêng), thế mà đưa lên Hội đồng ngành thì bị bác chỉ vì một thành viên Hội đồng Chức danh Nhà nước nhất quyết chống lại, vì cho rằng chưa đạt một vài tiểu chuẩn vớ vẩn. Đó là xét PGS cho một trường hợp về tối ưu, mà ý kiến ủng hộ của cả một tập thể gồm những chuyên gia tối ưu hàng đầu cả nước vẫn không có giá trị gì trước ý kiến một cá nhân chẳng hiểu tí gì về tối ưu. Chuyện phi lý bất công như vậy nhưng hệ thống cứng nhắc đến mức dù nhiều nhà khoa học hàng đầu có ý kiến vẫn không sao thay đổi được.  Cho nên kinh nghiệm của các nước cũng như của chính chúng ta đều cho thấy không nên mất quá nhiều thì giờ thảo luận về tiêu chuẩn mà nên quan tâm nhiều hơn lựa chọn đúng đắn hội đồng xét duyệt. Thật ra không có tiêu chuẩn định lượng nào có thể thay thế được sự đánh giá định tính của chuyên gia đủ thẩm quyền học thuật.                 Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Quảng bá-tuyên truyền và thông tin      Quảng bá-tuyên truyền là một hoạt động phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày. Thương mại đã đành, nhưng cũng có y tế, có an toàn giao thông, có hoạt động văn hóa, có sự kiện thể thao, có du lịch hội hè, có vận động bầu cử, v.v Vậy thì cái gì làm ranh giới giữa quảng bá-tuyên truyền với thông tin?    Cửa vào nhà hàng siêu thị thường làm lóa mắt công chúng bằng cả một dãy các đồ dùng điện tử mỗi ngày một mới mẻ và hấp dẫn.   Một cụ già tần ngần đứng đó hồi lâu, rồi chợt vớ được một cô bán hàng trẻ trung hiện đại.  – “Chào cô, tôi muốn hỏi cô về cái máy tính tí chút ạ.”  – “Chào bác, em đang bận quá… Bác cứ xem máy đi đã nhé. Ôi máy tính bây giờ thì đơn giản lắm, như cái tivi thôi, bác cứ tha hồ chọn rồi mua về, bật lên là dùng được ngay ạ.” Cô gái vội vã bước đi với tờ hóa đơn của ai đó trong tay.  —-  Cụ già gãi đầu… May quá, lại có một anh nhân viên của cửa hàng đi qua.  – “Chào anh, tôi muốn hỏi anh về cái máy tính tí chút ạ.”  – “Chào bác, hết sức ngắn gọn nhé.”  – “Vâng, tuần trước tôi có mua ở đây một cái máy tính, về bật lên, nó chạy ngay. Nhưng từ mấy hôm nay nó cứ đứng trơ ra đó, không nhúc nhắc gì nữa…”  – “Khổ lắm, máy tính chứ có phải tivi đâu! Bác chờ cho tí nhé, tôi đang bận với ông khách hàng này.”  Đoạn anh nhân viên quay sang nói với ông khách hàng đang dở việc cùng mình “lại mấy bác cao tuổi, cứ mải mê ngắm mấy cô bé tươi rói của tổ bán hàng, rồi loay hoay thế nào cũng mua chơi mấy cái đồ máy tính này, cuối cùng là chết đám hậu sự chúng tôi!”  —-  Các chiến dịch quảng bá-tuyên truyền thương mại đứng đắn đều cố gắng làm cái công việc như sau: từ những sự thật về những ưu điểm của các hàng hóa của mình, họ tạo dựng nên các làn sóng truyền thông mạnh mẽ trên media, các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại. Để mê hoặc đám khách hàng phi truyền thống vốn ít cảm tình, nhằm củng cố niềm tin các khách hàng vốn có thiện cảm, và cố châm lửa vào bầu nhiệt huyết tiêu dùng của những khủng khách của mình.  Các chiến dịch đứng đắn này không nói dối, như thế thì tầm thường và gian lận quá, khỏi bàn ở đây.  Các chiến dịch đứng đắn này chỉ nói thật, bằng cách xoáy chí mạnh mẽ vào kho xúc cảm của các khách hàng, sao cho có lợi cho mình.  Sự thật không đầy đủ, sự thật được tuyển chọn vì mục tiêu sẵn có, sự thật không nhằm thúc đẩy sự phân tích so sánh về lý trí, sự thật không nhằm hướng tới sự thật hoàn chỉnh hơn, đó là sự thật chưa ra khỏi miền đất của quảng bá-tuyên truyền.  —-  Quảng bá-tuyên truyền là một hoạt động phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày.  Thương mại đã đành, nhưng cũng có y tế, có an toàn giao thông, có hoạt động văn hóa, có sự kiện thể thao, có du lịch hội hè, có vận động bầu cử, v.v  Vậy thì cái gì làm ranh giới giữa quảng bá-tuyên truyền với thông tin?  Thông tin nhằm đưa lại các sự thật phi hướng đích vụ lợi, tự cảnh báo phần thiếu sót về thông tin của chính bản thân lĩnh vực đang được đề cập đến, thúc đẩy tinh thần phân tích so sánh về lý trí, mở đường cho sự tìm hiểu và thảo luận cân nhắc, hướng tới sự thật toàn diện hơn.  Quảng bá-tuyên truyền đứng đắn nhắm sự thật không đầy đủ, sự thật được tuyển chọn vì mục tiêu sẵn có, sự thật nhằm khai thác cảm xúc của đối tượng, hạn chế sự so sánh phân tích, gắng sức để đối tượng có quyết định nhanh nhất có thể theo hướng đích quảng bá-tuyên truyền của mình.   —-  Cần làm gì với quảng bá-tuyên truyền và thông tin?  Xây dựng một xã hội văn minh là xây dựng một tinh thần sòng phẳng, tôn trọng mọi người trong đời sống.  Trên tivi, báo chí… bạn có mục quảng bá-tuyên truyền: bạn có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho việc bán sản phẩm, nhưng bản thân chúng được giới hạn trong trang mục này, và được ghi rõ là “quảng bá-tuyên truyền”. Điều đó cho phép cảnh tỉnh người tiêu dùng.  Các cuộc vận động y tế, an toàn giao thông, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao… cũng vậy, bạn có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho công việc, nhưng cần được ghi rõ ở đó rằng “đây là vận động quảng bá-tuyên truyền”.   Trong một chiến dịch bầu cử tại một cơ sở doanh nghiệp, một tổ chức xã hội, các ứng cử viên có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho việc để họ được bầu. Nhưng phải ghi rõ ở đó rằng rõ rằng “đây là vận động quảng bá-tuyên truyền” trong phạm vi chiến dịch bầu cử.  —-  Trong mọi trường hợp, không được đưa quảng bá-tuyên truyền nằm dưới dạng đưa thông tin đơn thuần.  Một bộ luật kĩ lưỡng về hoạt động quảng bá-tuyên truyền và thông tin sẽ là điều mà một xã hội văn minh đòi hỏi.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Qui chế tuyển chọn đề tài đã phát huy hiệu quả      Câu chuyện dưới đây của Tia Sáng với Giáo sư Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, xoay quanh các vấn đề nóng của khoa học Việt Nam hiện giờ: công tác quản lý khoa học, tuyển chọn đề tài, dùng người tài và cải cách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&amp;CN)…         PV: Giáo sư đánh giá thế nào về công tác quản lý khoa học trong vòng vài năm gần đây? Cái gì được, cái gì chưa được?     Giáo sư Đặng Vũ Minh: Cái làm được thời gian vừa qua, theo tôi trước hết là qui chế tuyển chọn đề tài. Qui chế này tương đối chặt chẽ với 3 bước: nhà khoa học đề xuất đề tài nghiên cứu; thành lập Hội đồng tuyển chọn với các chuyên gia am hiểu lĩnh vực nghiên cứu đó; Hội đồng tuyển chọn người có thể thực hiện tốt nhất. Qui chế này khi thực hiện ở Viện chúng tôi thì hầu như không ai “kêu”. Tất nhiên bên cạnh việc tuyển chọn đề tài theo qui chế đó, cũng có một số đề tài trọng điểm được giao trực tiếp, xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế. Thí dụ như đề tài chế tạo Tamiflu, khi Bộ KH&CN giao thì chúng tôi thực hiện (Viện Hóa học làm), lúc đầu anh em nói là phải tới 9 tháng mới xong nhưng thực tế 3 tháng đã xong, đề tài nghiên cứu vacxin cho gà, cũng được Bộ KH&CN giao, chúng tôi đã phối hợp với các cơ quan khác nghiên cứu thành công trong một thời gian ngắn.   Việc nới lỏng cơ chế sử dụng kinh phí, cho phép sử dụng một phần kinh phí của đề tài nghiên cứu để trả công đi thực địa, xử lý số liệu, tiến hành thí nghiệm, viết báo cáo…, chủ trương này theo tôi hoàn toàn là đúng, giúp cán bộ khoa học có thêm thu nhập để yên tâm tập trung sức lực cho việc thực hiện đề tài. Tuy vậy, cơ chế thanh toán tài chính đối với các đề tài khoa học vẫn còn là vấn đề vướng mắc nhất hiện nay. Khi nhận đầu đề tài thì không ai có thể biết chi tiết được cái này bao nhiêu tiền, cái kia là bao nhiêu. Nhưng khi quyết toán người ta lại phải hợp thức hóa những cái không biết rõ ràng từ lúc đầu nhưng nảy sinh trong quá trình nghiên cứu. Cơ chế này vô hình trung buộc chúng ta phải “nói dối” bởi nếu không làm như vậy thì không thể có tiền để nghiên cứu, không “tiêu” được số tiền được giao. Bản thân tôi đã đề nghị xem xét lại cơ chế này nhiều lần nhưng vẫn chưa có sự điều chỉnh.   Những chủ trương, chính sách trong dự thảo đề án thành lập Doanh nghiệp KHCN của Bộ KH&CN theo tôi rất hay, đáp ứng đúng nhu cầu các nhà khoa học mong muốn thương mại hóa được sản phẩm nghiên cứu của mình. Thí dụ trong trường hợp nghiên cứu Tamiflu, hiện ta mới chiết xuất được vài gam hoạt chất chính trong phòng thí nghiệm, còn muốn làm ra sản phẩm thương mại hóa thì không gì tốt hơn là chuyển bí quyết công nghệ cho một doanh nghiệp khoa học công nghệ.  Trong dự thảo Đề án sử dụng và trọng dụng người tài đang được Bộ KH&CN soạn thảo, có hai luồng ý kiến chưa đồng tình: một là việc lấy một phần tiền trong nghiên cứu chi lương cho cán bộ khoa học,  hai là việc cơ quan quản lý hoạch định các đề tài nghiên cứu chứ không do các nhà khoa học đề xuất. Trường hợp cụ thể ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là như thế nào?  Trong số các đề tài mà Viện chúng tôi đề xuất với Bộ KH&CN và đang thực hiện, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu thực tế. Đặc biệt là các đề tài trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng. Thí dụ như chuyện nghiên cứu vacxin cúm gà, nghiên cứu sóng thần để có thể dự báo được trước giúp nhân dân và nhà nước bớt được thiệt hại, nghiên cứu sơn chống bẩn để sơn các cửa cống, giám định ADN để tìm hài cốt liệt sĩ…. Tôi không thể biết hết tất cả các đề tài của Bộ hoạch định nhưng những đề tài mà tôi được biết thì đa số đều rất sát với thực tế. Khi đánh giá về vấn đề này cần có những khách quan nhất định. Tuy nhiên, đối với các đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản thì nên để các nhà khoa học có một tự do nhất định trong việc đề xuất, lựa chọn đề tài.   Gần đây rất nhiều ý kiến cho rằng cần phải cải tổ một cách mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học công nghệ thì khoa học công nghệ nước nhà mới có thể “cất cánh” được. Theo ông thì có những vấn đề gì cần tiếp tục cải tổ?  Trước hết là con người và nguyên nhân của mọi vấn đề là vấn đề cán bộ. Làm sao chọn được cán bộ tốt, giỏi về chuyên môn, có đạo đức tốt, gắn bó với đất nước. Đấy là vấn đề số 1, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay có nhiều tiêu cực. Ví dụ với số tiền đầu tư chưa đến 100 triệu, nhưng với tài năng, lương tâm, trách nhiệm với nhân dân và đất nước, chỉ trong vòng 3 tháng, nhóm nghiên cứu Tamiflu của Viện đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.   Bên cạnh đó cũng cần nhấn mạnh tới yếu tố trang thiết bị, máy móc. Có thiết bị, máy móc tốt thì anh em có điều kiện làm việc tốt hơn, dễ dàng hơn. Cuối cùng, trong điều kiện còn thiếu thốn nhiều mặt như hiện nay cần phải có những động viên tinh thần, vật chất của lãnh đạo đối với cán bộ khoa học công nghệ.  Thực tế hiện giờ ở Việt Nam là đội ngũ người làm khoa học rất đông nhưng số làm khoa học đích thực lại không nhiều…?  Đây là một thực tế xuất hiện trong một thời gian dài vừa qua. Nhưng ở mỗi cơ quan, người lãnh đạo nào cũng biết ai thực sự làm được việc, ai không. Vậy, nên tập trung giúp những người làm được việc thực sự, làm khoa học nghiêm túc…  Vậy đối với số người không thực sự làm việc thì nên xử lý thế nào?  Tôi cho rằng chính cơ chế tuyển chọn đề tài mà Bộ KH&CN đưa ra sẽ dẫn tới việc lựa chọn được những người làm việc thực sự. Vì thế ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng có không ít câu hỏi kiểu: “Sao Viện của chúng tôi chẳng được đề tài nào cả?”.   Với việc Hội đồng tuyển chọn được thành lập và bỏ phiếu kín thì phần lớn các đề tài theo tôi đều đã được tuyển chọn một cách chính xác. Khi bỏ phiếu kín dù anh có là Viện trưởng, Viện phó nhưng đề tài của anh không có tính khả thi, cách làm khoa học của anh không nghiêm túc thì khi ra Hội đồng người ta cũng chẳng bỏ phiếu cho anh. Tất nhiên là có thể có trường hợp chưa khách quan, chưa chính xác nhưng cứ lấy đúng 7-8 phần trên 10 thì đã tốt lắm rồi.  Xin cám ơn Giáo sư.    GS. Đặng Vũ Minh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc gia chung một niềm tin      Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ gồm nhiều dân tộc (nghe nói từ hơn 100 nước  khắp 5 châu đến) khác màu da, tiếng nói, truyền thống văn hóa và nhiều  thứ nữa, nhưng tất cả mọi người đều có chung một niềm tin, một khát  vọng: đó là mong muốn xây dựng thành công một xã hội tự do, bình đẳng,  công bằng.      Một ngày hạ tuần tháng 11 năm 1620, chiếc thuyền buồm Hoa Tháng Năm  (Mayflower) chở 102 người hành hương sau 66 ngày vượt Đại Tây Dương đã  cặp bến Cape Cod tại Bắc Mỹ. Đây là những người Anh theo đạo Tin Lành vì  không chịu nổi sự hãm hại của Anh Giáo mà liều mình bỏ Tổ quốc trốn  sang Tân lục địa để xây dựng một cuộc sống mới.   Trước khi lên bờ, khi tin rằng mình đã nằm ngoài phạm vi phán xử của bất  kỳ chính phủ nào, 41 đàn ông lớn tuổi trong số 102 người đó đã nhất trí  ký một thỏa thuận gọi là Công ước Hoa Tháng Năm (Mayflower Compact),  được soạn thảo bởi các nhà lãnh đạo họ lựa chọn, cam kết sẽ thiết lập  một cộng đồng tự quản trên nguyên tắc tự do, bình đẳng, công bằng của  đạo Tin Lành. 1   Như vậy là ngay từ ngày mở nước, người Mỹ đã xác định được những nguyên  tắc cơ bản phát triển quốc gia mình. Các nguyên tắc ấy mang đậm dấu ấn  tín điều tôn giáo, vì thế nó tồn tại vững bền trong lòng người.   Xem xét lịch sử nước Mỹ, có thể thấy quốc gia này được hình thành theo  cách khác hẳn phần còn lại của thế giới. Trong khi tất cả các quốc gia  đều được thiết lập trên cơ sở những người cùng dân tộc, cùng tiếng nói,  cùng truyền thống văn hóa, – gọi chung là quốc gia-dân tộc – thì nước Mỹ  được thiết lập trên một nền tảng hoàn toàn khác. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ  gồm nhiều dân tộc (nghe nói từ hơn 100 nước khắp 5 châu đến) khác màu  da, tiếng nói, truyền thống văn hóa và nhiều thứ nữa, nhưng tất cả mọi  người đều có chung một niềm tin, một khát vọng: đó là mong muốn xây dựng  thành công một xã hội tự do, bình đẳng, công bằng.   Niềm tin ấy tạo ra sự gắn kết xã hội, mối liên kết ràng buộc tất cả mọi  người lại cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Mối liên kết ấy ngày nay  được gọi là vốn xã hội (social capital). Nguồn vốn này có đặc điểm là  càng khai thác thì vốn càng tăng lên, nhờ thế người Mỹ đã làm nên vô số  điều kỳ diệu.   Trước hết, họ xây dựng nên một nhà nước hiện đại theo chính thể tiên  tiến chưa từng có trong lịch sử nhân loại: chính thể cộng hòa dân chủ.  Năm 1846 Karl Marx từng khen ngợi “Thí dụ hoàn hảo nhất về nhà nước hiện  đại là nước Mỹ. Những nước như Bắc Mỹ là những nước bắt đầu ngay bằng  một thời đại lịch sử đã phát triển thì sự phát triển diễn ra rất nhanh…”  2.  Đây là lý do giải thích tại sao nước Mỹ lập quốc mới được hơn 200 năm mà  đã có thể vượt qua các nước tiên tiến khác, trở thành cường quốc số một  và giữ vai trò dẫn đầu thế giới cho tới nay.   Ý tưởng-niềm tin ấy được xác định bởi cộng đồng những người định cư  (settlers) đầu tiên; theo sử gia Samuel Huntington, đó là những nhóm  người Anh theo đạo Tin Lành đến Bắc Mỹ để xây dựng một xã hội mới. Từ đó  tới nay tất cả những người di cư (immigrants) đến Mỹ đều phục tùng ý  tưởng cao cả này. Vì thế có người nói nước Mỹ là một quốc gia-ý tưởng  hoặc quốc gia-niềm tin.  Niềm tin đó thể hiện “các nguyên tắc tự do, bình đẳng, chủ nghĩa cá  nhân, chính quyền thay mặt cho nhân dân, và sở hữu tư nhân.”, “là sự  sáng tạo độc đáo của văn hóa Tin Lành”, như Hungtington viết trong cuốn  Who Are We? The Challenges to America’s National Identity.   Niềm tin đó trở thành ý thức hệ độc đáo của nước Mỹ; không thể gọi nó là  ý thức hệ chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa tư bản. 150 năm sau, nó được  nhắc tới trong Lời nói đầu (Preamble) Hiến pháp Mỹ. Năm 1917 nó lại được  Thư ký Quốc hội Mỹ William Tyler Page viết thành một văn bản chẵn 100  từ, gọi là Niềm tin của người Mỹ (The American’s Creed), và được Quốc  hội Mỹ thông qua ngày 3/4/1918 3.   Các ý tưởng tự do, bình đẳng, công bằng và nhân đạo nêu trong văn bản ấy  rất cao cả, là giá trị phổ quát của loài người, không bao giờ lỗi thời,  mãi mãi là ánh đuốc soi đường và vẫy gọi người Mỹ phấn đấu tiến lên,  biến các ý tưởng ấy thành hiện thực trên đất Mỹ cũng như trên toàn thế  giới.   Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 cho thấy người Mỹ tin rằng: – Mọi người  sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả  xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc; –  Để đảm bảo thực hiện các quyền lợi ấy, chính phủ được lập ra bởi nhân  dân và có những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân  dân; – Khi chính quyền phá vỡ những mục tiêu đó thì nhân dân có quyền  thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền và lập chính quyền mới, trên nền tảng  có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của dân….  Niềm tin ấy thật độc đáo, thậm chí từng bị chê là ngây thơ, vì khi đó cả  thế giới còn đang chìm đắm dưới chế độ phong kiến chuyên chế. Nên nhớ  là trong kho tàng Hán ngữ cực kỳ phong phú không hề có các từ tự do, dân  chủ, bình đẳng… vì họ làm gì có các khái niệm ấy. Mãi đến nửa cuối  thế kỷ XIX khi nước Nhật (dùng Hán tự) phiên dịch toàn bộ các trước tác  của các nhà Khai sáng Âu Mỹ, các nhà trí thức Nhật mới đặt ra những từ  Hán ngữ tương đương, và người Việt Nam ta cũng được thừa hưởng các khái  niệm này đúng từ đúng nghĩa.   Người Mỹ tin rằng một chính quyền được lập theo các nguyên tắc nêu trên  là chính quyền của dân, do dân, vì dân. Chủ ngân hàng và nhà từ thiện  David Rockefeller từng nói Tôi tin rằng Chính phủ Mỹ là đầy tớ của nhân  dân chứ không phải ông chủ của họ 4. Hiếm thấy người dân nước nào lại nói tốt như vậy về chính phủ mình.   Với niềm tin ấy, hầu hết dân di cư đến nước Mỹ đều ôm ấp Giấc mơ Mỹ, và  trong thực tế không ít người đã tay trắng làm nên, như Michael  Bloomberg, Steve Jobs hoặc chú bé da đen Farrah Gray 5. Trẻ  em Mỹ được dạy: Nước này là nơi đầy những cơ hội và sự khoan dung, ai  cũng có thể thành đạt và giàu có. Hai con gái của Barack Obama mới 7 và  10 tuổi đã được mẹ dạy phải phấn đấu trước 40 tuổi trở thành nghị sĩ  Quốc hội! Sau khi Obama đắc cử Tổng thống, hầu hết người Mỹ gốc Phi đều  nghĩ rằng nếu họ chịu khó phấn đấu thì đều có thể làm được như Obama.   Người Mỹ tin rằng nước họ không có phân biệt giai cấp; trong xã hội chỉ  có một loại người là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng không  bình đẳng về kết quả, và ai cũng có quyền sở hữu tài sản (trên thực tế  70% dân Mỹ có nhà riêng). Giàu nghèo chủ yếu là kết quả phấn đấu của mỗi  người. Phân biệt theo thu nhập thì xã hội Mỹ có hai thiểu số người  giàu, người nghèo và một đa số trung lưu chiếm khoảng 80% số dân. Nông  dân, công nhân hoặc nhà tư bản đều là công dân. Vì không có giai cấp vô  sản (“người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”) nên nước Mỹ chưa từng nảy  sinh phong trào cách mạng XHCN như châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ  XX.   Nước Mỹ có mức độ phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt, hiện nay tầng lớp trên  cùng (upper class) chiếm 1% số dân nhưng lại sở hữu 34,6% tổng tài sản  tư trong cả nước; 80% số dân sở hữu có 15%. Thế nhưng người nghèo lại  không ghen tị hoặc chống lại người giàu; cả đến hành khất và thất nghiệp  cũng tin rằng nếu chịu khó và biết cách phấn đấu thì sẽ giàu có. Tín đồ  đạo Tin Lành cho rằng nghèo do lười là tội lỗi.   Niềm tin của nước Mỹ là chất keo gắn kết nhiều triệu người của hàng chục  dân tộc khác nhau liên tục di cư đến nước Mỹ trong hơn 4 thế kỷ qua,  giúp họ vượt qua mọi khác biệt vốn có, dũng cảm phấn đấu hướng tới mục  tiêu định sẵn từ ngày mở nước. Nhờ toàn dân cùng có một niềm tin cao cả  và bất biến nên quốc gia này giữ được nền chính trị nhất quán và thành  công suốt từ ngày lập quốc tới nay, chưa bao giờ phải thay đổi Hiến pháp  hoặc lật đổ chính phủ, dù đã có 44 đời Tổng thống được bầu lên.   Niềm tin đó làm cho nước Mỹ có một dạng sức mạnh mềm quý giá hiếm thấy,  khiến nước này luôn đứng đầu danh sách quốc gia thu hút nhiều dân di cư  từ các nước khác đến. Một học giả Trung Quốc nhận xét: Nước Mỹ có một  sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức, là quốc gia do nhiều triệu con  người không yêu Tổ quốc mình họp thành nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ 6.  —————————-  Ghi chú  1 http://score.rims.k12.ca.us/score_lessons/symbols_freedom/pages/mayflower.html  2 Tuyển tập Mác-Ăng-ghen tiếng Việt, tập I, tr. 364  3 http://www.usflag.org/american.creed.html  4 http://www.brainyquote.com/quotes/authors/d/david_ rockefeller.html#ixzz1dMafNJNW  5 http://dantri.com.vn/c25/s135-319588/chu-be-tro-thanh-trieu-phu-bat-dau-tu-tinh-thuong-me.htm   6 http://tuanvietnam.net/2010-08-15-niem-tin-va-dao-duc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc hội của những tỷ phú      Đó là Quốc hội Trung Quốc, nơi có tới 86 đại  biểu có tài sản trị giá trên 1 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 119 triệu  Euro.    Còn Hội nghị Hiệp thương, một dạng cơ quan cố vấn, cũng tụ tập tới 69 vị có tài sản trị giá trên 1 tỷ Nhân dân tệ (NDT).    Như vậy nghĩa là trong tổng số 5.000 thành viên Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tức Quốc hội, cứ 30 vị thì có một vị thuộc tầng lớp đặc biệt giàu có. Có lẽ con số trên thực tế còn cao hơn nhiều vì danh sách các vị siêu giàu trong Quốc hội chỉ dựa vào số liệu do Viện Hurun ở Thượng Hải công bố công khai.  Theo tờ “Financial Times”, hai cơ quan nói trên có 56 tỷ phú NDT ít nhất từ năm năm nay. Tính từ năm 2007, sự giàu có của các vị này đã tăng gấp bốn lần.   Điều này cho phép kết luận một cách thận trọng rằng các chính kháchTrung Quốc làm giàu nhanh hơn quảng đại quần chúng. Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng thừa nhận trong số những chính khách giàu có nói trên, không ít kẻ làm giàu bằng tham nhũng và có lối sống khoe khoang, đồi truỵ. Do đó Chủ tịch Tập Cận Bình không chỉ đòi tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng mà còn đề ra chiến dịch xây dựng lối sống giản dị, lành mạnh.  Các quan chức nhà nước, các quan chức trong bộ máy Đảng và quân đội không được phép tặng và nhận những món quà đắt tiền. Không được sử dụng những chiếc xe ô tô quá sang trọng và đắt tiền, không được tiến hành các chuyến công du tốn kém. Thậm chí hạn chế tiệc tùng linh đình, sử dụng rượu đắt tiền và các món sơn hào hải vị v.v… Trong thực tế, bên cạnh các ngành dịch vụ ăn uống sang trọng, sản xuất hàng hoá xa xỉ còn xuất hiện một lĩnh vực vô cùng hoang phí, đó là lĩnh vực xe đòn đám ma.  Theo hãng tài chính Bloomberg, lợi nhuận của một số doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực nói trên năm vừa qua đã giảm tới 20%. Lý do, như doanh nhân Zhang Hongbao, chủ Công ty xe đòn đám ma Thượng Hải (Shanghai Funeral Service) từ mười năm nay, tiết lộ: “Các quan chức giờ không dám chi quá nhiều tiền cho dịch vụ tang lễ. Hiện đang là cao điểm của chiến dịch bài trừ tham nhũng nên các quan chức quyết định phải kiềm chế, tổ chức ma chay giản dị hơn, mời ít quan khách hơn và hạn chế mọi sự ồn ào, khoe khoang.”  Những điều kể trên không chỉ có ý nghĩa như giai thoại. Việc hạn chế lối sống xa hoa, hợm hĩnh của hàng triệu cán bộ đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều ngành nghề và tác động cả đến nền kinh tế. Ngân hàng Bank Credit Suisse lưu ý chiến dịch mà ông Tập Cận Bình phát động đã làm giảm tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng năm nay ở Trung Quốc.  Trong một bài phát biểu trước Đại hội Đại  biểu nhân dân toàn quốc, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã gián tiếp phê phán  các vị đại biểu giàu có và yêu cầu họ phải sống khiêm nhường hơn.   Người giàu nhất Trung Quốc trong Quốc hội  Nhà sáng lập đồng thời cũng là ông chủ của người khổng lồ Internet Tencent, Pony Ma Huateng, 42 tuổi, từ đầu năm đến nay đã kiếm được thêm 3,1 tỷ USD nhờ khối cổ phiếu của ông tăng 25% giá trị.   Riêng ngày 5/3 vừa qua, ông Ma đã gom được khoản lợi nhuận 245 triệu USD nhờ cổ phiếu của Tencent trên thị trường Hồng Công tăng mạnh.   Theo đánh giá của hãng Bloomberg, ông Ma đứng thứ 57 trong số những người giàu nhất thế giới và đứng số một ở Trung Hoa lục địa. Ông Ma có ghế trong Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc, tuy nhiên vì lý do sức khoẻ, đã vắng mặt tại kỳ họp đang diễn ra ở Bắc Kinh.   Một đồng nghiệp đồng thời là đối thủ cạnh tranh trên thị trường Internet của Ma là Robin Li, 45 tuổi, có mặt trong Hội nghị Hiệp thương. Ông là người sáng lập và lãnh đạo của công cụ tìm kiếm Baidu có giá tới 12,8 tỷ USD.   Ông Zong Qinghou người sáng lập và lãnh đạo tập đoàn nước giải khát Wahaha, một trong bốn người Trung Quốc có ví tiền dầy nhất, cũng có ghế trong Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc. Với khối tài sản 12 tỷ USD, ông chỉ đứng sau ông Ma và ông Li. Nhưng trong ngày 5/3, ông đã bị lõm 13 triệu USD, âu cũng là điều an ủi đối với đa số người Trung Quốc có mức thu nhập bình thường – nghĩa là các ông nghị tỷ phú không phải lúc nào cũng chỉ thắng đậm.  Xuân Hoài dịch theo FAZ (Frankfurt toàn cảnh)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc hội Nhật Bản cấm sử dụng ĐTDĐ trong giờ họp      Tại Hạ viện, các đảng phái đã nhất trí cấm  sử dụng ĐTDĐ trong thời gian họp; trong khi Thượng viện cũng dứt khoát  cấm mang ĐTDĐ vào phòng họp. Nếu xảy ra chuyện gì khẩn cấp thì chỉ được  truyền tin cho nhau bằng các mẩu giấy viết tay.     Điện thoại di động (ĐTDĐ) – sản phẩm công nghệ cao được loài người sử dụng với số lượng nhiều nhất trong lịch sử đã làm thay đổi cuộc sống của xã hội. Giờ đây rất nhiều người hầu như không thể xa rời vật bất ly thân này 24 giờ trong mỗi ngày; nó theo họ vào giường ngủ, phòng ăn, lên ô tô, máy bay, thậm chí vào nhà vệ sinh… để làm việc và để giết thời gian.   Bệnh lạm dụng ĐTDĐ đang lan tràn chính trường và hai viện quốc hội Nhật Bản. Năm 2012 từng xảy ra vụ Bộ trưởng Tư pháp nước này dùng ĐTDĐ lướt trang web đua ngựa trong khi đang làm việc bị phát hiện, chuốc lấy làn sóng la ó của phe đối lập trong quốc hội. Tháng 3/2014, sự kiện Vụ trưởng Vụ Pháp chế vừa xem ĐTDĐ vừa trả lời chất vấn tại cuộc họp tiểu ban Ngoại giao-Quốc phòng Thượng viện cũng gây ra ồn ào không kém. Hiện nay người ta vẫn đang tranh cãi kịch liệt vấn đề thành viên hai viện Quốc hội có được sử dụng ĐTDĐ trong thời gian họp hay không.   Tại Hạ viện, các đảng phái đã nhất trí thỏa thuận cấm sử dụng ĐTDĐ trong thời gian họp. Thượng viện dứt khoát cấm mang ĐTDĐ vào phòng họp. Nếu xảy ra chuyện gì khẩn cấp thì chỉ được truyền tin cho nhau bằng các mẩu giấy viết tay. Nhưng sau vụ đại họa động đất-sóng thần ngày 11 tháng 3/2011, một nghị sĩ đề xuất: khi xảy ra tai nạn thì có thể không có thời gian để viết nữa và viết như vậy rất dễ có sai sót. Vì thế gần đây hai viện lại bàn thảo vấn đề trên và quyết định khi xảy ra tình hình khẩn cấp thì ngoại lệ cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao … cả thảy tám vị được phép sử dụng ĐTDĐ. Thứ trưởng và Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng có thể trực tiếp dùng màn hình ĐTDĐ để thông báo sự việc nhưng tuyệt đối không được nói chuyện qua ĐTDĐ.  ĐTDĐ cũng gây ra lắm rắc rối trong hoạt động công ty xí nghiệp. Trong các cuộc họp, có người khi thấy vấn đề đang bàn không liên quan tới mình bèn móc ĐTDĐ ra lướt màn hình, khiến những người xung quanh phản cảm. Vì thế có dư luận đề nghị cấm dùng ĐTDĐ khi họp.   Tầng lớp trẻ ở Nhật Bản thường bị gọi là  thế hệ thổ dân ĐTDĐ thông minh, ngay từ tuổi đi học đã có thói quen dùng ĐTDĐ để giết thời gian khi đi đường, đi xe, lên lớp, vì thế họ không tán thành cấm sử dụng ĐTDĐ khi họp.   Một điều tra cho thấy phần lớn giới 20-35 tuổi tán thành cho phép dùng ĐTDĐ khi họp, nhưng phần lớn giới 50 tuổi trở lên thì phản đối. Một nữ nhân viên 38 tuổi nói dùng ĐTDĐ trong khi họp sẽ nâng cao hiệu suất công việc: “Có chỗ nào chưa rõ thì lập tức có thể tra tìm và đưa ra trả lời, không bắt người hỏi phải chờ đợi.” Một thầy giáo 44 tuổi nói: “Nếu trong cuộc họp mà tất cả mọi người đều cúi đầu chơi ĐTDĐ thì điều đó tốt chứ sao? Nó nói lên cuộc họp không có gì hấp dẫn!”  Một bà giáo 57 tuổi thuộc phái phản đối nói: “Chơi ĐTDĐ trong khi đang họp chứng tỏ người đó không chuyên tâm họp. Có trò ngoan nào chơi ĐTDĐ trong giờ học không?” Một nữ nhân viên văn phòng 38 tuổi nói: “Tốt nhất nên quy định ai chưa đủ 5 năm thâm niên công tác thì không được xem ĐTDĐ khi họp. Còn những người đã có kinh nghiệm công tác thì hãy để họ tự giác (không dùng ĐTDĐ).”   Tóm lại, ĐTDĐ đang làm thay đổi lối sống, quan niệm sống và cũng làm thay đổi chính trường Nhật Bản, thay đổi văn hóa công ty xí nghiệp và xã hội nước này.   Nguyễn Hải Hoành dịch    Nguồn:  http://www.jnocnews.jp/news/show.aspx?id74019 手机改变日本政坛以及企业和文化  作者:蒋丰 　来源:日本新华侨报 　发布时间:2014/05/29    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc hội với 4 thách thức của thời kỳ hội nhập      Nói đến rất nhiều cơ hội và không ít thách thức của Nhà nước trong tiến trình hội nhập và đặc biệt là khi nước ta trở thành thành viên của WTO, thì phải nói đến Quốc hội- một trong những thiết chế quan trọng hàng đầu của Nhà nước.  Muốn xây dựng một Quốc hội phù hợp với những nguyên tắc của pháp quyền và một cuộc chơi mới với luật chung của thế giới, có lẽ chúng ta cần nhận thức rõ những thách thức đang được đặt ra và tìm cách vượt qua các thách thức đó.    1. Về khái niệm.  Sự phát triển của chế định nghị viện trong lịch sử thế giới ra đời với việc đánh đổ chế độ phong kiến tập và xây dựng nhà nước pháp quyền. Trước khi có việc tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực, thì không có chế định nghị viện với quyền lập pháp. Nghĩa là khi chúng ta quan niệm Quốc hội như cơ quan lập pháp, thì chúng ta phải quan niệm nó với một thể chế phân quyền. Trong một thể chế tập quyền hay quyền lực thống nhất thì không thể tách quyền lực lập pháp riêng ra được.  Trong chế độ phong kiến tập quyền, quyền lực chỉ dồn vào một nơi, đó là ở nơi nhà vua. Ở một vài nhà nước phong kiến đã tồn tại một số hội đồng ít nhiều mang tính đại diện, nhưng các hội đồng này không có quyền lập pháp. Các hội đồng đó chỉ có chức năng tư vấn. Tóm lại, trong mô hình tập quyền của phong kiến thì không thể có chế định lập pháp, vì quyền lập pháp không thể nào tách khỏi nhà vua, mọi quyền lực đều nằm ở nơi nhà vua.  Nghị viện với quyền lập pháp hình thành trong cuộc đấu tranh quyết liệt để tách bớt quyền lực của nhà vua. Nó hình thành đầu tiên ở nước Anh, khi một hội đồng ban đầu làm chức năng tư vấn (Hội đồng cơ mật) từng bước giành quyền lập pháp từ tay nhà vua. Như vậy, quyền lập pháp được hình thành lên cùng với sự phân chia quyền lực. Tại các quốc gia văn minh hiện đại, chế định lập pháp luôn vận hành với triết lý của phân quyền.  Trở lại với mô hình của Quốc hội Việt Nam, về cơ bản, ở tầm hiến định chúng ta thiết kế Quốc hội của mình theo mô hình Xô viết. Trong quá trình cướp chính quyền, Lê-nin đã đưa ra khẩu hiệu “Tất cả quyền lực về tay Xô viết”. Tuy nhiên, trên thực tế, các Xô Viết ở địa phương, cũng như Xô Viết tối cao ở Trung ương chỉ làm một số chức năng nhất định, mà chủ yếu là bảo đảm tính chính đáng, tính hợp pháp cho các quyết định của Đảng và Nhà nước, bảo đảm sự ủng hộ của quần chúng nhân dân cho các quyết định nói trên…  Từ khi đổi mới đến nay, Quốc hội nước ta đang ngày càng khác hơn với chế định Xô Viết tối cao. Chúng ta đang nói đến quyền lập pháp của Quốc hội, đến việc Quốc hội phải giám sát Chính phủ hiệu quả hơn… Thậm chí, luật pháp nước ta còn thiết kế cả những công cụ để chế ước và cân bằng quyền lực. Ví dụ, Thủ tướng có quyền đề nghị bổ nhiệm các Bộ trưởng, Quốc hội có quyền phê chuẩn. Như vậy quyền về nhân sự một nửa nằm ở Thủ tướng, một nửa nằm ở Quốc hội. Hay việc Chủ tịch nước có quyền phủ quyết pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội là một ví dụ khác. Toàn bộ cách hiểu, cách làm như trên phản ánh những đổi mới theo mô hình nhà nước pháp quyền (mà về bản chất cũng là phân chia và chế ước quyền lực).  Tuy nhiên, một sự sáng tỏ về mặt khái niệm của một cơ quan lập pháp vẫn chưa đạt được. Sự đan xen giữa ảnh hưởng của mô hình Xô Viết và mô hình pháp quyền đang làm cho hoạt động của Quốc hội gặp không ít khó khăn, lúng túng.   2. Xung đột lợi ích.  Xung đột lợi ích là tình trạng lợi ích của cá nhận các vị đại biểu QH mâu thuẫn với việc thực thi các chức trách của họ ở Quốc hội. Khi bị xung đột lợi ích, Quốc hội sẽ rất khó thực hiện các chức năng của mình một cách hiệu quả. Cụ thể, các đại biểu không thể là cấp dưới của Chính phủ. Quốc hội của ta có rất nhiều các đại biểu là cán bộ của cơ quan hành chính. Hành chính là cấp dưới của hành pháp, nên không thể giám sát hành pháp được. Chính vì vậy xung đột lợi ích lớn nhất của rất nhiều đại biểu là không giám sát thì tốt hơn là giám sát. Vì giám sát cấp trên của mình quá sát sao thì chắc chắn sẽ bị bất lợi (không được cân nhắc đề bạt chẳng hạn). Nếu chúng ta thiết kế mô hình trong đó sự xung đột lợi ích xảy ra, thì mô hình đó cơ bản không thể vận hành suôn sẻ được.   3. Đại diện chồng chéo.  Chúng ta có các đoàn đại biểu Quốc hội, và tất cả các vị đại biểu Quốc hội đều là đại biểu của một tỉnh nào đấy. Do vậy, tính chất địa phương trong Quốc hội là rất nặng. Quốc hội trong nhiều trường hợp mang tính chất như một thượng viện hay một viện địa phương. Mặc dù, Hiến pháp đòi hỏi các vị đại biểu QH vừa phải đại diện cho cử tri đã bầu ra mình, vừa phải đại diện cho cử tri cả nước, điều này là rất khó khăn. Lý do là vì nền tảng bầu cử là của tỉnh, nên khuyến khích là đại diện cho tỉnh. Nếu chồng chéo về đại diện như thế này thì khó thực hiện được chức năng giám sát và tính đại diện cho cử tri theo mô hình của hạ viện ngày càng giảm. Đó là một thách thức rất lớn, nếu chúng ta muốn Quốc hội vận hành tốt thì chúng ta phải đi sâu vào cơ chế đại diện và học thuyết về đại diện phải được phát triển. Nếu muốn đại diện cho toàn quốc, đại diện cho cử tri thì hệ thống đơn vị bầu cử phải được phân chia theo nguyên tắc khác (không chia theo đơn vị hành chính tỉnh).   4. Khả năng bảo tồn năng lực thể chế.  Đó là một thách thức rất lớn của Quốc hội khi tỷ lệ đại biểu tái cử chiếm khoảng 27%. Trong lúc đó làm đại biểu là một nghề rất khó. Nhiều khi phải mất hai nhiệm kỳ một đại biểu mới có thể trở nên hiệu năng được. Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn tổ chức bầu cử theo cơ cấu thì khả năng tái cử của các vị đại biểu QH là rất thấp. Hiện nay, để hỗ trợ cho hoạt động của đại biểu, chúng ta đã thành lập Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử. Tuy nhiên, làm chính khách thì ngoài việc học còn cần đến năng khiếu của mỗi cá nhân.  Tóm lại, trên đây là một số thách thức lớn nhất, mặc dù không phải là duy nhất mà Quốc hội nước ta đang phải đối mặt trong quá trình hội nhập. Vượt qua các thách thức nói trên là rất quan trọng để chúng ta thiết kế được một hệ thống vận hành hiệu quả và đúng đắn. Vượt qua như thế nào và vào lúc nào chắc là phải có thời gian.    TS Nguyễn Sĩ Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc hội với việc phòng chống tham nhũng      Quốc hội có một vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Và dưới đây là một vài lý do cơ bản.  &#160;    Trước hết, Quốc hội là cơ quan đại diện cho dân. Mối quan hệ chặt chẽ và sự tương tác giữa các vị đại biểu Quốc hội với cử tri sẽ làm cho tiếng nói và ý nguyện của người dân về việc đấu tranh chống tham nhũng được vang lên mạnh mẽ tại diễn đàn của Quốc hội. Sự bức xúc của người dân nhờ vậy sẽ trở thành sự thôi thúc hành động cho cả hệ thống. Bên cạnh đó, tinh thần tích cực của các vị đại biểu Quốc hội cũng sẽ củng cố lòng tin của người dân vào quyết tâm chống tham nhũng của Nhà nước. Lòng tin là cơ sở không thể thiếu để người dân tham gia tích cực hơn vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Mà đây lại là tiền đề quan trọng nhất để đấu tranh chống tham nhũng thắng lợi.   Hai là, với vai trò là các nhà lập pháp, các vị đại biểu Quốc hội có thể xác lập một khuôn khổ pháp luật về phòng chống tham nhũng đủ mạnh cho cả hệ thống cùng vào cuộc. Điều này về cơ bản đã được các vị đại biểu Quốc hội nước ta hoàn thành. Vấn đề còn lại chỉ là việc bảo đảm thực thi những quy định của pháp luật trong cuộc sống. Ngoài ra, trong quá trình lập pháp và quyết định chính sách, điều quan trọng là không tạo ra các kẽ hở để những kẻ tham nhũng có thể lợi dụng. Các vị đại biểu Quốc hội có thể bảo đảm để các kẽ hở đó không bị bỏ qua. Không có cơ hội để tham nhũng thì không thể tham nhũng. Chất lượng của chính sách, pháp luật xét từ góc độ phòng chống tham nhũng là yếu tố tiên quyết để phòng chống tham nhũng. Hoạt động lập pháp của Quốc hội còn là một kênh thông tin hiệu quả bảo đảm sự minh bạch của chính sách và pháp luật.    Cuối cùng, hoạt động giám sát của Quốc hội là rất quan trọng trong việc phòng chống tham nhũng. Thông qua việc xem xét các báo cáo, việc chất vấn tại các kỳ họp, Quốc hội bảo đảm sự công khai minh bạch của chính sách, pháp luật và việc thực thi chính sách, pháp luật. Quốc hội còn bảo đảm trách nhiệm giải trình của các quan chức và bảo đảm sự vận hành của chế độ trách nhiệm chính trị (thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm). Những quan chức để xảy ra quá nhiều tham nhũng thì khó lòng có được sự tín nhiệm của Quốc hội.  Tuy nhiên, để chống được tham nhũng thì các đại biểu Quốc hội, cũng như đội ngũ công chức của Quốc hội phải có được nền tảng đạo đức cần thiết. Đó là sự công tâm, liêm chính, khách quan, trung thực và tinh thần trách nhiệm.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc tế hóa quá trình quản lý khoa học      Hiện nay nhiều nhà khoa học trẻ (trên dưới 40) trong và ngoài nước, hiện đang nghiên cứu khoa học rất tích cực ủng hộ đòi hỏi phải có yếu tố “công bố quốc tế” trong việc đánh giá các đề tài khoa học.    Theo ý kiến riêng của tôi vấn đề này cần phải đặt ra không chỉ trong nghiên cứu mà cả trong quản lý khoa học.  Việc giải quyết độc lập một trong bốn vấn đề trên chẳng hạn như đòi hỏi các nhà khoa học phải có công bố quốc tế sẽ không thể tháo gỡ được vòng luẩn quẩn này. Không có công bố quốc tế chỉ là phần ngọn của thực trạng nghiên cứu kém chất lượng. Nếu Nhà nước có tăng kinh phí nghiên cứu khoa học lên gấp hai gấp ba nhưng không có cải tiến trong quá trình phân bổ kinh phí khoa học thì cũng không thể tăng chất lượng nghiên cứu khoa học được. Vì một trong những lý do khiến chất lượng nghiên cứu kém là do không có động lực nghiên cứu (chỉ cần chạy chọt để có đề tài, rồi chạy chọt để nghiệm thu được). Vân vân và vân vân…  Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học nước nhà chúng ta phải giải quyết đồng thời cả bốn vấn đề nêu trên. Tuy nhiên, theo tôi, trong tình hình hiện nay việc đổi mới tư duy quản lý khoa học là quan trọng nhất. Có thể so sánh tư duy quản lý khoa học với cách ra đề thi tốt nghiệp cho học sinh phổ thông. Bộ ra đề thế nào học sinh sẽ học thế ấy, đề cơ bản – học cơ bản, đề tủ – học tủ, đề trắc nghiệm – học trắc nghiệm. (Câu cửa miệng về của mọi nhà khoa học về chuyện học là “phải học cơ bản”, vậy mà không hiểu sao chủ trương thi cơ bản của bộ mới được vài năm nay lại thay bằng thi trắc nghiệm). Theo tôi bao gồm những việc sau:  1. Quốc tế hóa quá trình quản lý khoa học. Cụ thể là trong việc phân bổ kinh phí, nghiệm thu đề tài. Thực trạng khoa học của chúng ta hiện nay là thấp và rải rác. Nếu ví khoa học thế giới như một cái cây thì khoa học của chúng ta không có cành, chỉ có một số những cái lá. Chúng ta không có những chuyên gia có hiểu biết rộng, tầm nhìn bao quát. Mỗi cán bộ nghiên cứu, hoặc một nhóm nhỏ các cán bộ nghiên cứu, thường nghiên cứu một chuyên ngành khá hẹp, độc lập với các nhà khoa học khác. Hệ quả là trong các hội thảo khoa học thường anh nói anh nghe, tôi nói tôi nghe.        Khoa học Việt Nam đang nằm trong vòng xoay luẩn quẩn quanh bốn vấn đề sau:   nghiên cứu khoa học -> công bố khoa học -> đánh giá khoa học -> kinh phí khoa học. Cụ thể hơn thực trạng hiện nay ở ta là: nghiên cứu kém chất lượng do không có động lực và kinh phí, dẫn đến công bố khoa học kém, do đó đánh giá khoa học phải giả tạo, dẫn đến phân bổ kinh phí khoa học không công bằng, hệ quả là không có động lực và kinh phí để nghiên cứu.   BOX: Để nâng cao chất lượng của các “hội đồng xét duyệt” không có cách nào khác là quốc tế hóa chúng, bước đầu là mời các phản biện nước ngoài và tiến tới là mời cả các chuyên gia nước ngoài tham gia hội đồng.        Chính vì thực trạng yếu kém và tản mạn của khoa học như vậy nên việc đánh giá chất lượng các đề tài nghiên cứu là hết sức khó khăn, thường chỉ dựa vào số lượng công trình, nếu có nâng lên một “tầm cao mới” thì cũng chỉ có thể là thêm vào yếu tố “công bố quốc tế”. Thông lệ trong nghiên cứu khoa học ngày nay, khi đánh giá một công trình hay tính khả thi một đề án người ta phải mời những chuyên gia với chuyên môn rất ngần với hướng của công trình, đề tài đó đánh giá. Thông thường những đánh giá của những chuyên gia đó mang tính chất quyết định, các hội đồng được lập ra phần nhiều mang tính hành chính. Đóng góp quan trọng của hội đồng chính là tìm được các chuyên gia thích hợp cho công trình hay đề án mà mình đang xét. Ngược với các hội đồng thường mang tính “địa phương”, khái niệm chuyên gia là “toàn cục”, trong đó không có yếu tố địa lý. Một chuyên gia giỏitrong một ngành nào đó có thể từ Mĩ hay từ Iran.  2. Quốc tế hóa nghiên cứu khoa học.  Nghiên cứu khoa học, trừ những hoạt động mang tình quân sự, quốc phòng, là những hoạt động không biên giới. Khoa học thế giới phát triển như vũ bão trong thế kỷ qua chính là nhờ tính mở của khoa học. Ngay cả trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ấn phẩm khoa học của Liên Xô vẫn được dịch ở Mĩ và ngược lại. Tôi không đồng tình với một số ý kiến thiên về tính nội lực của khoa học Việt Nam, phân biệt công trình nào là 100% nội lực, công trình nào có cả “ngoại lực”. Tại sao lại có thể khẳng định là đóng góp của tôi trong một bài báo cùng một tác giả khá là ít hơn chỉ vì tôi đến từ một nước lạc hậu hơn. Tôi cho rằng để có thể nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, không có cách nào khác là phải khuyến khích hợp tác quốc tế, thậm chí phải thưởng cho các công trình mang tính quốc tế.  “Yếu tố quốc tế”  trong nghiên cứu khoa học bao hàm một nội dung rộng hơn “hợp tác quốc tế”.  Một nghiên cứu khoa học sẽ không có ý nghĩa nếu nó không được cộng đồng khoa học quan tâm. Nói một cách đơn giản, nếu công trình của anh đăng lên không được ai quan tâm thì đó là một công trình không có ý nghĩa (cho khoa học). Giá trị thật sự một bài báo cuối cùng nằm ở sự quan tâm của cộng đồng khoa học tới nó chứ không phải nó được đăng ở tạp chí nào. Nói cách khác, chính các bài báo xác định chất lượng tạp chí. Yếu tố quốc tế trong một nghiên cứu khoa học nằm ở chỗ nghiên cứu đó có được quốc tế quan tâm không, quốc tế ở đây bao hàm cả trong nước và ngoài nước. Như vậy phải khuyến khích những đề tài khoa học thuộc những lĩnh vực được nhiều người trên thế giới  quan tâm. Cái giá phải trả đối với các nhà khoa học ở đây tất nhiên là tính cạnh tranh sẽ cao, số lượng bài báo, công trình sẽ ít. Như vậy để có thể tăng yếu tố quốc tế trong nghiên cứu khoa học, vai trò của quản lý khoa học là rất quan trọng. Hội đồng nghiệm thu, xét duyệt phải có khả năng thực sự trong viện nghiệm thu các đề tài dựa trên chất lượng chứ không phải chỉ dựa trên số lượng công trình được công bố xuất bản.  Một khi các “hội đồng xét duyệt” có đủ khả năng kiểm định chất lượng công trình chứ không phải chỉ làm công tác “thống kê” thì yếu tố quốc tế trong việc đăng công trình không phải là hết sức quan trọng nữa.  3. Quốc tế hóa các tạp chí trong nước. Một tiêu chí cho một nền khoa học mạnh chính là những tạp chí khoa học tốt. Liên Xô trong thời kỳ mới thành lập đẵ từng cấm các nhà khoa học gửi công trình ra nước ngoài. Ngày nay với xu hướng hội nhập, việc cấm như vậy đã lỗi thời. Tuy nhiên nếu chúng ta khuyến khích các nhà khoa học gửi công trình của mình ra nước ngoài vô hình trung chúng ta đã làm yếu đi chất lượng các tạp chí trong nước.  Một nhà khoa học đăng công trình của mình trên một tạp chí quốc tế có uy tín không phải chỉ để dùng nó đăng ký đề tài. Quan trọng hơn cả đối với một nhà khoa học là muốn khẳng định mình. Thứ nữa là nhu cầu “công bố quốc tế” để thông báo với các đồng nghiệp khác. Một tạp chí tốt là một tạp chí có nhiều người đọc, và vì thế có thể dễ dàng tìm đọc được (vì được nhiều nơi đặt mua). Tình trạng tạp chí của Việt Nam hiện nay không chỉ là không có ai đọc mà còn là nếu muốn đọc cũng không tìm ra được. Vì thế việc quốc tế hóa các tạp chí của Việt nam bao gồm những việc sau:  a) quốc tế hóa ban biên tập cũng như cách làm việc của ban biên tập để nâng cao chất lượng tạp chí.  b) quốc tế hóa tạp chí theo nghĩa đưa lên mạng, trao đổi với các cơ sở khoa học khác.  c) khuyến khích các nhà khoa học trong nước đăng bài ở các tạp chí trong nước (với ban biên tập quốc tế).  Hiện nay có nhiều nhà khoa học Việt kiều có tâm huyết, có thể đảm nhận vai trò biên tập viên quốc tế cho các tạp chí trong nước.  4. Chiến lược đầu tư hợp lý. Cùng với giải pháp quốc tế hóa trong các quá trình quản lý, nghiên cứu và công bố khoa học, vấn đề còn lại là kinh phí khoa học.  Các cụ nhà ta có câu “có thực mới vực được đạo”. Điều đó hoàn toàn đúng trong đối với nghiên cứu khoa học ngày nay. Không có kinh phí khoa học sẽ không hoạt động được, ngay cả trong những ngành cần ít kinh phí nhất như Toán học. Để có được một nền khoa học ngang tầm khu vực không có cách nào khác, chúng ta phải bỏ ra khoản kinh phí như các nước trong khu vực. Chúng ta thường hay nói với nhau rằng người Việt nam thông mình, cần cù…Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào trên thế giới chứng minh được rằng người Việt nam thông minh hơn các dân tộc khác trong khu vực. Thực tế khoa học Việt nam thì rõ ràng đang chứng minh điều ngược lại. Ngay cả trong “lĩnh vực” và chúng ta thường tự hào là “thi học sinh giỏi Toán quốc tế” thì Thái lan cũng đang bám sát chúng ta. (Nếu theo dõi trong mấy năm gần đây thì có thể thấy ngay cả trong “lĩnh vực” này chúng ta cũng đang đi xuống (không kể kết quả sân nhà năm 2007) còn Thái lan thì đang đi lên).  Tóm lại chúng ta không thể duy ý chí trong nghiên cứu khoa học được. Muốn có những công trình ở tầm quốc tế, bất kể là Toán hay Sinh vật, thì kinh phí cho nó cũng phải ở tầm quốc tế. Khi mà một GS ở một trường đại học hay một viện nghiên cứu nói chung chưa có phòng làm việc riêng, chưa kể tất cả các đòi hỏi khác cho công tác nghiên cứu, thì không thể đòi hỏi họ cho ra công trình chất lượng quốc tế được. Cái khó của chúng ta là nguồn kinh phí có hạn. Nhưng chúng ta cũng tự làm khó mình với cách đầu tư dàn trải và không hiệu quả, với tình trạng chạy chọt trong việc phân chia kinh phí. Như vậy song song với việc cải tổ quá trình xét duyệt và phân chia kinh phí, chọn ra được những đề tài được sự quan tâm cao của cộng đồng khoa học, được thực hiện bởi những nhà khoa học thực sự có khả năng, thì Nhà nước phải có chiến lược đầu tư hợp lý.  —————-  *Viện Toán học và ĐHTH Duisburg-Essen.  PGS.Phùng Hồ Hải*       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy chế pháp lý cho thành phố Thủ Đức?      TP. Hồ Chí Minh đang thúc đẩy việc thành lập thành phố Thủ Đức. Một trong những việc quan trọng hàng đầu là thiết kế cho được những ưu thế về mặt thể chế để thành phố Thủ Đức có thể phát huy tác dụng trong việc tạo động lực phát triển cho toàn TP. Hồ Chí Minh.      Một góc khu đô thị mới ở Thủ Đức.   Chủ trương nhập ba quận lại để thành lập thành phố Thủ Đức trực thuộc TP. Hồ Chí Minh đã được trưng cầu dân ý và được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua với 100% số phiếu tán thành. Tuy nhiên, có vẻ như một trong những vấn đề rất cơ bản cho đơn vị hành chính này thì vẫn còn chưa được làm sáng tỏ. Đó chính là vấn đề về quy chế pháp lý nào cho thành phố Thủ Đức sắp được thành lập.  Về mặt lý thuyết, nhập ba quận lại để thành lập thành phố Thủ Đức trực thuộc TP. Hồ Chí Minh, thì thành phố này phải có địa vị pháp lý cao hơn cấp quận (thấp hơn thành phố trực thuộc trung ương, nhưng cao hơn quận/huyện). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Hiến pháp không cho phép thành lập một đơn vị hành chính có địa vị pháp lý lơ lửng như vậy. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, thì “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương”. (Điều 110, Hiến pháp 2013). Như vậy, theo quy định của Hiến pháp, thành phố Thủ Đức chỉ có thể có địa vị pháp lý của cấp quận/ huyện mà thôi. Thậm chí, Hiến pháp còn không nói đến việc có thể thành lập một thành phố trong thành phố. Tuy nhiên, với địa vị pháp lý của một đơn vị hành chính cấp quận, thành phố Thủ Đức sẽ chỉ to hơn về mặt địa lý, nhưng không có gì mạnh hơn về mặt thể chế. Mà như vậy thì cũng khó hy vọng thành phố này có thể tạo ra sự phát triển mang tính đột phá.  Những phân tích trên cho thấy, tìm kiếm một căn cứ hiến định khác cho việc thành lập thành phố Thủ Đức là rất cần thiết. Và đây chính là lúc chúng ta cần tìm đến quy định của Hiến pháp về đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt. Theo quy đinh của Hiến pháp thì ngoài những đơn vị hành chính thuộc 4 cấp (Có thể tóm lược như sau: 1. Cấp trung ương; 2. Cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; 3. Cấp quận/ huyện; 4. Cấp xã/phường), ở nước ta còn có thể có “Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập” (Điều 110, Hiến pháp năm 2013). Quy định nói trên nên được coi là căn cứ hiến định để thành lập thành phố Thủ Đức. Nếu thành phố Thủ Đức được coi là đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, thì địa vị pháp lý cao hơn cấp quận chính là một biểu hiện của tính chất đặc biệt nói trên.  Ngoài ra, với địa vị pháp lý của một đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, mô hình thể chế của thành phố Thủ Đức cũng có thể được thiết kế khác biệt hơn. Ví dụ, thành phố có thể có thị trưởng với quyền lực hành pháp lớn hơn, nhờ đó việc ban hành quyết định có thể nhanh chóng hơn và mang tính kỹ trị nhiều hơn. Thành phố cũng có thể có hội đồng tư vấn cho thị trưởng. Tuy nhiên, hội đồng này không có quyền lập pháp như hội đồng nhân dân. Điều này cũng sẽ giúp cho việc ban hành quyết định được nhanh chóng hơn và tác động của các nhóm lợi ích khác nhau cũng khó khăn hơn. Tất nhiên, quan trọng là phải chọn được một thị trưởng thật sự tài giỏi.  Thiết kế cho được những ưu thế về mặt thể chế là rất quan trọng để thành phố Thủ Đức có thể phát huy tác dụng trong việc tạo động lực phát triển cho toàn TP. Hồ Chí Minh. Lý do là vì hiện nay mặc dù thành phố Thủ Đức vẫn chưa được thành lập, thì giá cả đất đai, bất động sản ở ba quận có liên quan đã bị đẩy lên rất cao. Điều này rõ ràng làm cho việc đầu tư vào thành phố Thủ Đức sẽ đắt đỏ hơn nhiều so với đầu tư vào các quận huyện khác trong thành phố. Nếu những ưu thế về mặt thể chế của thành phố Thủ Đức không bù đắp được và không mang lại lợi ích lớn hơn thì thu hút đầu tư để tạo ra sự phát triển đột phá cho thành phố này sẽ rất khó khăn. Rõ ràng không doanh nghiệp nào dại gì mà đầu tư vào nơi đắt đỏ hơn cả.   Nếu thành công trong việc xây dựng TP. Thủ Đức, thì đây là lần đầu tiên ở nước ta có một cách tổ chức các đơn vị hành chính mới: thành phố được thành lập ở trong thành phố.□    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Quỹ Giải hiếu học Ngô Bảo Châu, sao không?      Sau vinh quang sáng nhất trong lịch sử học hành xứ ta, Ngô Bảo Châu trở về và trao trọn món quà giải Fields toán học cho đất nước! Và anh xúc tiến việc lập ra quĩ khuyến học nhằm tri ân và cổ vũ tinh thần học hành đất Việt.  Việc này lớn lao hơn tiếng chuông nhất thời.  Giải thưởng anh mang về là một giải thưởng về tri thức có tầm vĩ đại cho tinh thần Việt, ngàn năm nay chưa bao giờ có.  Cũng có thể bốn năm sau, mà cũng có thể là cả 100 năm sau, xứ ta mới sẽ có một giải Fields khác.        Ở xứ ta việc một cá nhân đứng ra lập một quỹ khuyến học lấy tên của mình, sẽ là một điều lạ lùng. Không chỉ đối với nhà nước, mà trước hết đối với người dân.     Vì từ hàng ngàn năm nay tập tục chỉ quen thờ phép vua và thua lệ làng. Tập tục không ủng hộ sáng kiến và trách nhiệm cá nhân. Một sáng kiến cá nhân như vậy quen bị coi như một sự thách đố, hoặc bất lợi, hoặc đáng chê cười. Tinh thần tập tục là “mọi thần dân đều bình đẳng trước ngai vua”, và vua xử thần chết, không chịu chết là bất trung.  Sâu thẳm trong mỗi chúng ta, tập tục mách rằng Ngô Bảo Châu cũng chỉ là một thần dân như chính ta trước bề trên, với chút tài năng và may mắn hơn mà thôi.  …  Để xã hội, con người và đời sống xứ sở đi lên, chúng ta phải đủ can đảm vứt bỏ cái di căn tập tục này, và mở lòng đón nhận một đời sống mới.     |Một đời sống vui vẻ, thuận hòa, trong đó tự do cá nhân, sáng kiến cá nhân, trách nhiệm cá nhân, hạnh phúc cá nhân là nền tảng và hướng đích của toàn bộ nỗ lực của mỗi người và của cộng đồng.  …  Quĩ khuyến học, hiển nhiên là cần thiết và đáng trân trọng.     Nhiều quĩ khuyến học thêm nữa, hiển nhiên là càng cần thiết và đáng trân trọng.  Nhiều quĩ khuyến học, của nhà nước, của các đoàn thể, của các doanh nghiệp, của các cá nhân, hay của các hình thức liên kết phong phú giữa họ, càng hiển nhiên là cần thiết và đáng trân trọng.  Không một quĩ khuyến học nào lại không xứng đáng cả.  Tất nhiên nếu có những quỹ trá hình thì hãy để cho quan tòa làm việc với chúng.  ….  Vậy thì trong tương lai, tất cả các quỹ khuyến học đó, sớm hay muộn chúng sẽ được hình thành và phát triển, đó là điều chắc chắn!     Và mỗi quĩ phải khuyến học được một cách thiết thực nhất, hiệu quả nhất, say lòng người nhất theo cái bản sắc của riêng mình.  …  Hãy quay lại với cái quĩ do người mang giải Fields mong ước lập ra.     Cái tài sản lớn nhất của quỹ này, không phải là 15000 đôla canada.  Cái tài sản lớn nhất của quỹ này cũng không phụ thuộc trực tiếp ngay vào việc sẽ có bao nhiêu tiền sẽ được mỗi người và các tổ chức xã hội đóng góp vào sắp tới đây.  Cái tài sản lớn nhất của quỹ này là cái tinh thần đặc biệt của một con người Việt.  Ngô Bảo Châu sinh ra ở cái thời nghèo khó, trình độ chung của xã hội còn lạc hậu, ở mức chính mình không biết là mình lạc hậu.  Đạm bạc vươn lên, cùng sự vun đắp của gia đình, thày cô, anh em, bạn bè.  Bơ vơ khi vừa hết tuổi thiếu niên ở xứ người, học hành chăm lo, sống thực sự là nghèo khó, đâu đã được biết và được hưởng những sung sướng như bạn bè xứ bạn cùng học với mình.  Tài sản chỉ có sự thông minh và lòng hiếu học, lặn lội yên ả, thả bước, đi xa cho mãi tới đỉnh tít cao xa được toàn thể nhân loại công nhận.  Không chỉ lo học toán, người trẻ tuổi này phải tự tìm học và rèn luyện lấy tất cả những gì thuộc về văn minh làm người, bù đắp tất cả những tụt hẫng của cảnh ngộ mình, cũng là cảnh ngộ chung của đất nước.  Và cả tấm lòng anh vẫn đau đáu dành cho đất nước, con người ở quê hương xứ sở.  Đấy là tinh anh quí giá và rất hiếm hoi của cái tinh thần này.  …  Con ong muốn cất cánh, con chim muốn cất cánh, hay chiếc tàu vũ trụ muốn cất cánh, phải tạo lấy cái đà, và phải nhân được cái đà.     Giải thưởng Fields đến với Ngô Bảo Châu tạo ra một cái đà cho đời sống tinh thần xứ Việt.  “Quĩ vì tinh thần hiếu học”, món quà cảm động của Ngô Bảo Châu cùng những người đóng góp thật tuyệt vời. Trong đó muốn chứa cả cái tính giản dị của tên gọi.     Nhưng nó thiếu mất đi cái đà vận hội quí báu cho tinh thần Việt hôm nay.  Cái đà để các sáng kiến cá nhân được thắp lên.  Cái đà để các cá nhân từ nay dám kề vai đảm gánh trách nhiệm.  Cái đà để các công dân biết ngưỡng mộ lẫn nhau, thay vì chỉ biết ngoảnh mặt hướng đến “bề trên” vô hình.  Cái đà để nhà nước quí trọng và ủng hộ các cá nhân phát triển và làm phát triển xã hội.  Những người sáng lập quĩ, hãy đặt cho nó cái tên toát lên cái tinh thần này.  Cái tên không còn là tên riêng của một cá nhân nữa.  Những người sáng lập quĩ, hãy đặt cho nó cái tên của một sự cổ súy, không còn là cái tên của một sự khuyến lệ mờ nhạt đơn thuần.  Mọi người trong xã hội, hãy mở lòng, cổ súy cho cái tinh thần trách nhiệm cá nhân mới mẻ này, cả về nội dung và tên gọi.  Mọi người trong xã hội, hãy mở lòng, ai có thể được, hãy đóng góp tấm lòng cho cái quĩ sáng giá này. Một đồng, mươi đồng đều thật quí giá và đáng trân trọng. Đừng chờ đợi những “ông lớn”.  Và cái quĩ này sẽ là một cái giải thưởng bình dị nảy mầm từ trong những người dân bình thường, những người không còn chỉ biết ỷ lại vào nhà nước và ganh tị với người hàng xóm khác.  Hãy mở lòng mình, và mở quĩ “Giải Thưởng Hiếu Học Ngô Bảo Châu”.     P.S.  Tác giả rất biết ơn ông Trần Lương Sơn, tiến sĩ khoa học, người sáng lập doanh nghiệp Vietsoftware ở Vietnam, đã thúc giục mọi người mở lòng tư duy đột phá về câu chuyện này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy hoạch Đà Lạt: Cố trả lời cho một câu hỏi sai?      Chuyện công trình mới, cũ, rồi di sản nói mãi chẳng hết. Di sản không chỉ được định nghĩa là một công trình cũ, được xây dựng từ ngày xửa ngày xưa. Có những công trình cũ, đứng đó một hai trăm năm cũng chẳng thể gọi là di sản. Con người cũng vậy, có những người ‘‘càng già càng bé lại‘‘,ngược lại có những người càng già càng uyên thâm, càng đáng trọng. Nói vậy để thấy, công trình cũng như đời người, giá trị của nó cần được xác định bởi giá trị tự thân và mối quan hệ, ảnh hưởng của nó đến môi trường, bầu không khí đô thị.      Hình ảnh hiếm hoi mà chúng ta lưu giữ được về khu vực quảng trường Hòa Bình ở Đà Lạt, không biết rằng các nghiên cứu tiền khả thi đã được thực hiện hay chưa. Cho đến nay dư luận nên cần quan tâm về vấn đề này.​  Bảo tồn di sản phải là một khoản ‘’Đầu Tư’’ chứ không phải là một ‘’Chi Phí’’.     Dù chưa được làm nhiều dự án ở Việt Nam, nhưng tôi đã tham gia các đồ án cải tạo, tái định hướng các thành phố nhỏ hoặc thị trấn ở nước ngoài. Có đồ án thì tôi được chủ trì nghiên cứu và đề xuất (như là nghiên cứu cho Kriens, Thụy Sĩ), có đồ án thì tôi chỉ tham gia một phần nhỏ trong kế hoạch tổng mặt bằng (như là ở vùng Dornburg, Đức), có đồ án thì làm việc trực tiếp với chủ sở hữu của di sản (như ở Parras de la Fuente, ở tận bên Mexico), có đồ án thì chỉ làm việc với Sở ban ngành địa phương (như tại cảng Shina, Tongyeong, Hàn Quốc). Tôi nhận ra rằng, trong bất kì đồ án nào, Kiến trúc sư (KTS) luôn chỉ giữ một vai trò nhỏ.     Thông thường, trước khi KTS tham gia nghiên cứu phương án kiến trúc thì đã có một cuộc nghiên cứu tiền khả thi, được thực hiện một cách liên ngành bởi các nhà nghiên cứu xã hội, giới Chủ đầu tư, Thành phố, đại diện Hội đồng nhân dân, các chuyên gia về cảnh quan phức hợp đô thị, các chuyên gia về bảo tồn, đội ngũ tư vấn về địa kinh tế, địa chính trị, tư vấn về chuỗi chương trình (programming) … Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá tiềm năng “Phát triển” ở địa phương đó chứ không phải là chuyện giữ lại cái gì hay phá bỏ cái gì.         Tư tưởng đặc thù cố hữu của chúng ta sau chiến tranh là cái gì cũng phải mới, phải đàng hoàng, to đẹp, đã là “cũ” thì chỉ là tàn dư.        Ở Việt Nam sự “Phát triển” thường gắn liền với việc đập đi xây mới và dễ có liên tưởng đến văn hóa tiêu dùng. Có lẽ, nguyên nhân là do tư tưởng đặc thù cố hữu của chúng ta sau chiến tranh, cái gì cũng phải mới, phải đàng hoàng, to đẹp, đã là “cũ” thì chỉ là tàn dư, cần loại bỏ đề bước vào một thời đại mới (theo những đánh giá có phần chủ quan). Đối với những nhà nghiên cứu tiền khả thi của đồ án, sự “Phát triển” được hiểu theo một hướng rất khác, họ sẽ chỉ tập trung vào chứng minh bảo tồn di sản văn hóa là một khoản “Đầu tư” chứ không phải là một “Chi phí”. Các vấn đề không thể tách rời khỏi kinh tế chính trị. Từ những năm 1950, các thành phố châu Âu đã gánh chịu hậu quả nặng nề bởi sự tăng trưởng kinh tế theo lý thuyết truyền thống đã làm mờ đi bản sắc đô thị lâu đời và trầm tích của chúng. Sự cạnh tranh kinh tế cũng làm tăng mối quan hệ thống trị và phụ thuộc giữa các lãnh thổ. Chính vì thế, sự phát triển mà chỉ coi trọng tăng trưởng kinh tế là không đủ trong thời đại này, nó cũng cần phải tập trung vào các vấn đề môi trường và xã hội nữa. Điều này có nghĩa là sự “Phát triển” thực sự phải là một quy trình nhằm đạt được sự cải thiện về môi trường, kinh tế và xã hội từ cấp địa phương cho đến toàn cầu. Hoạt động này phải sinh lợi, hơn thế nữa nó phải là một trạng thái được duy trì ở một mức độ ổn định vô thời hạn và hạn chế các mất mát không thể phục hồi có thể xảy ra ở mọi khía cạnh. Do vậy, nếu không chứng minh được cho khả năng “Đầu tư” thì người ta sẽ không coi đối tượng nghiên cứu là di sản. Thêm vào đó, trong nghiên cứu tiền khả thi, các đơn vị tham gia phải thảo luận với nhau để đảm bảo rằng, phương án đưa ra không chỉ đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn không ảnh hưởng đến khả năng các thế hệ tương lai đạt được chúng (trách nhiệm liên thế hệ trong sử dụng tài nguyên – mà trong đó, di sản được coi là một dạng tài nguyên).    Chuồng bò ở Đức và Rạp Hòa Bình ở Đà Lạt    Sự nghiên cứu trên nghe qua thì có vẻ như rất phức tạp nhưng trên thực tế nó chỉ là mục tiêu để hướng đến cho tất cả các tình huống, bối cảnh. Nghiên cứu ấy không chỉ được thực hiện ở quy mô lớn như cả một đô thị, mà có thể chỉ thực hiện ở quy mô rất nhỏ như một ngôi làng, một nhóm công trình hoặc một công trình.     Trên lý thuyết, thì sự phát triển của một đô thị nên là một quá trình tăng trưởng chậm và kéo dài, bất kì một công trình nào phát sinh cũng có lí do và là thai nghén tử những đòi hỏi cụ thể. Chính vì vậy khi một công trình tồn tại đủ lâu thì nó cũng là minh chứng rằng công trình đó đã đáp ứng được các yêu cầu của một thời đại và được thời đại đó chấp nhận, bất kể đó là công trình gì. Tựa đề Chuồng bò ở Đức và Rạp Hòa Bình ở Đà Lạt không hề có ý hạ thấp giá trị của các công trình ở Đà Lạt hay nâng tầm một chuồng bò vô danh bên châu Âu. Đó là một câu chuyện ám chỉ rằng các công trình cũ cần được đánh giá, xem xét cẩn trọng để xem rằng nó là một di sản hay không phải là một di sản. Sau đây là một ví dụ thực tế có thể kể ra:     Khi tham gia vào một đồ tái định hướng cho một làng nhỏ ở miền trung nước Đức, tôi cũng băn khoăn không biết có nên giữ lại một cấu trúc trên mặt bằng tổng thể hay là loại bỏ nó. Sau khi làm việc với nhóm nghiên cứu tiền khả thi thì được biết đó là một cái Chuồng bò cũ được xây cách đây 120 năm. Nhà rất cũ, sàn mục ruỗng, cột kèo xiêu vẹo tới mức nhiều người có lẽ chỉ muốn phá banh nó ra mà xây vào đấy cái quán rượu cho xong (làng này xưa truyền thống nấu rượu và chăn nuôi gia súc).    Sau nhiều cuộc thảo luận, nhóm nghiên cứu tiền khả thi đã đi đến kết luận sau: “Phải giữ lại cái Chuồng bò đấy như một phần di sản của làng”. Tài liệu nghiên cứu hàng trăm trang bao gồm bản vẽ, thống kê, phiếu phỏng vấn, các bảng tính toán về độ hiệu quả kinh tế, đầu tư, khả năng tạo ra lợi nhuận… được gửi cho tôi và qua đó nêu bật lên các ý sau:    1- Nó được coi là cấu trúc nhân tạo văn hóa xuất hiện qua hơn một thế kỷ. Đó là di sản (ký ức văn hóa) của các thế hệ trong quá khứ cần được đề lại cho thế hệ tương lai (được coi như trung tâm lịch sử) như một yếu tố cơ bản của bản sắc.     2- Nó được coi là cảnh quan xã hội nằm trong các mạng xã hội/ dân sự. Sự đóng góp của nó vào tổng mặt bằng nhằm làm chặt chẽ cơ cấu và quy mô của tổng mặt bằng, từ đó tạo ra yếu tố mật độ xây dựng và quyết định đến bầu không khí (density & atmostphere) của cảnh quan xã hội ( không phải cứ thoáng đãng, to đẹp, khang trang đã là hay, nhiều khi phải bé, vì dân ở đấy họ quen với những công trình nhỏ bé rồi, không chịu được những công trình to lớn bề thế kiên cố. Người dân mỗi nơi lại có nhận thức về không gian khá đặc thù, không thể so sánh người dân ở làng quê với người dân ở đô thị lớn được ).     3- Nó là cấu trúc phản ánh chuyên môn, kiến thức địa phương, tinh thần kinh doanh địa phương, sự sáng tạo của người dân địa phương trong một thời điểm của quá khứ. Nó giúp cho con người ở đó khác với con người ở chỗ khác. (cấu trúc cũ trên thực tế, dù cũ nhưng đẹp, phản ánh tinh hoa kinh nghiệm xây dựng một thời – xem ảnh)     4- Nó đóng góp vào cảnh quan tài chính – kinh tế lâu năm của địa phương bao gồm các tổ chức tín dụng địa phương, hợp tác xã, kho thóc, xưởng làm việc được thúc đẩy bởi dân địa phương và có khả năng kích thích du lịch nếu được tôn tạo với chức năng mới.      5- Các đánh giá và bản vẽ ghi lại nguyên trạng của công trình, chứng minh tính khả thi của nó khi được tái tạo trong một chức năng mới trên tổng mặt bằng ( phần này là rất quan trọng đối với bất cứ công trình cũ nào bởi phấn đánh giá này sẽ giúp nhóm nghiên cứu có thể dự tính được độ khả thi của hoạt động tôn tạo)    Dựa vào 5 ý chính trên, nhóm nghiên cứu và KTS thống nhất rằng cái Chuồng bò là một thành phần không nên tách rời khỏi “phức hợp cảnh quan di sản” của ngôi làng đó (“complex urban landscape of historic urban”) và nó phải được đối xử như một Di sản. Tuy nhiên, mặc dù giữ lại Chuồng bò nhưng nhóm nghiên cứu không tìm cách giữ lại tất cả mọi thứ. Trên mặt bằng tổng thể, nhiều công trình khác, mặc dù rất lâu đời như Kho thóc, Chuồng cừu, Tháp chuông nhưng vẫn bị dỡ bỏ do không đảm bảo được các yếu tố tạo nên di sản như trên. Bao giờ cũng vậy, có một số công trình được giữ lại và một số thì không. Khi nhìn bao quát có thể ta sẽ nhận ra rằng, nhiều khi, một công trình đơn lẻ thì không phải là một di sản, di sản có thể được tạo nên bởi một tập hợp nhiều công trình đơn lẻ trong một bối cảnh văn hóa – chính trị đặc thù với tên gọi: “phức hợp cảnh quan di sản nhân tạo”. Giống như khi ta nói “cây đa, giếng nước, sân đình” thì nó gợi lên một bầu không khí, một ấn tượng cụ thể, còn nếu ta chỉ nói “giếng nước” thì nó không gây ra ấn tượng đặc thù nào cả. Bàn về di sản thì cần phải quan sát từ nhiều quy mô, tỷ lệ như vậy.     Trích đoạn một bản vẽ ghi lại cấu trúc nguyên trạng của Chuồng bò, thành phần các cấu kiện, Ở bên phải là nghiên cứu điển hình cho việc tôn tạo với minh họa mặt cắt tỷ lệ 1/100. (nguồn lequang-architect)    Kiến trúc Sư không phải là người duy nhất quyết định đến quy hoạch đô thị.     Trong giai đoạn KTS nghiên cứu giải pháp về kiến trúc, khi gặp các vấn đề cần hỗ trợ, KTS có quyền khởi động một cuộc thảo luận như phía trên hoặc anh ta sẽ được yêu cầu giải đáp các vấn đề từ phía các bộ môn khác khi cần thiết. Quá trình này cần phải lặp đi lặp lại và tạo nên sự dân chủ trong định hướng phát triển đô thị và loại bỏ yếu tố “lợi ích nhóm” mà chúng ta thường nhắc đến như một kẻ thù vô định.    Từ chuyện cái Chuồng bò di sản ở ngôi làng nọ, ta thấy rằng việc đánh giá tính khả thi trong bảo tồn di sản cần được lập nghiên cứu nghiêm túc và phải rất thực tế, công bằng, không đặt “ân oán cá nhân” vào đó (nếu đem ân oán cá nhân vào thì người ta đã chẳng giữ lại đấu trường La Mã làm gì). Việc giữ lại hay phá dỡ một công trình cũng không được phép duy ý chí mà phải liên tục kiểm chứng các nhận định thông qua các tình huống nghiên cứu điển hình. KTS tham gia vào đồ án cũng nên thường xuyên đặt câu hỏi, thắc mắc để được lắng nghe và giải thích về định hướng phát triển của nhóm tiền dự án (bởi có rất nhiều vấn đề nằm ngoài chuyên môn của KTS).          Chúng ta có thể có nhiều Kiến trúc sư giỏi, có cá tính thiết kế nhưng nếu ta đặt họ vào một bộ máy, một cách vận hành sai lầm thì sản phẩm ta thu lại vẫn có thể tồi.        Một đô thị, vì thế nó được tạo ra bởi tổng hòa nhiều yếu tố, nó liên quan đến kiểu hình, định hướng, chính sách chứ không chỉ đơn thuần là lớp vỏ cấu trúc vật lý hiện hữu có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Ẩn phía dưới lớp da thịt đó, nó còn là những học thuyết, những hạt giống mà người ta vun trồng ở thời điểm này để thỏa mãn một loạt những nhu cầu cụ thể trong tương lai. Có những thiết kế làm việc được ở địa phương này, nhưng sẽ hoàn toàn thiếu khả thi ở địa phương khác bởi mỗi một địa phương có một “bầu không khí” và lịch sử hoàn toàn khác nhau. Việc áp đặt một “kiểu hình” (typology) của địa phương này vào địa phương khác sẽ dẫn đến những đô thị vô hồn, trống rỗng.        Người dân xem bản đồ quy hoạch khu vực trung tâm Đà Lạt. Ảnh: Zing    Thời đi học, có những lúc thực hành các “biện pháp can thiệp” trong các đô thị cổ, tôi thường sa vào lạm dụng kĩ năng thiết kế mà không làm đánh giá khả thi. Thầy giáo tôi thường bảo “Người ta mất 500 năm mới có được một thành phố, sờ vào cái 500 năm đấy, mày nghĩ mày thiết kế được gì hả con?”. Thầy này thì nức tiếng Thế giới, đạt giải Pritzker (tương đương giải Nobel trong lĩnh vực kiến trúc), chuyên môn rất giỏi, nhưng cũng phải đến sau này khi thực hành thực tế rồi tôi mới nhận ra là thầy dạy phải lắm. Chúng ta có thể có nhiều Kiến trúc sư giỏi, có cá tính thiết kế nhưng nếu ta đặt họ vào một bộ máy, một cách vận hành sai lầm thì sản phẩm ta thu lại vẫn có thể tồi. Kiến trúc sư không phải là Chúa trời mặc dù cái công việc mà họ làm dễ khiến người ta liên tưởng đến hình dung đó. Ở nhiều nước đang phát triển, Kiến trúc sư thường rất giỏi trong khi đưa ra các giải pháp nhưng đôi khi họ chưa nghĩ đến việc đặt ra các câu hỏi hoặc nghi ngờ các câu hỏi. Và trong nhiều trường hợp, người ta vận dụng tất cả những kĩ năng tốt nhất mà họ có để đi tìm lời giải cho một câu hỏi sai.     Ở trường hợp khu Hòa Bình của Đà Lạt, mặc dù chưa có điều kiện để xem bộ nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khi nhìn sản phẩm cuối thì cá nhân tôi đoán rằng nghiên cứu tiền khả thi có thể còn sơ sài và có lẽ người ta phải cẩn trọng hơn. Chúng ta có thể đánh cược vào sự phát triển của cơ sở hạ tầng kích thước lớn, nhưng chiến lược thiên về chức năng đô thị này có thể sẽ không bao giờ đặt thành phố Đà Lạt vào một thứ hạng mà nó xứng đáng, mà chỉ có thể biến nó thành một nơi bạn “ghé qua” chứ không phải là một đích đến thực sự. Nó có thể xóa bỏ vĩnh viễn một Đà Lạt đầy hoài niệm trong quá khứ và một thập niên sau, rất có thể, du lịch cũng không còn là lợi thế như người ta mong ước ở thành phố này.     Các công trình cũ của đô thị đã ở đó và chứng kiến nhiều đổi thay của xã hội, chứng kiến nhiều thế hệ sinh ra và lớn lên. Phần xác của chúng đã từng nuôi dưỡng con người bằng các chức năng của nó, còn phần hồn, nó hiện ra sống động trong tâm tưởng của mỗi người. Đấy chính là lí do vì sao người ta lại hoài niệm, điều đó cần được tôn trọng. Sự phát triển là yếu tố tất yếu, tuy vậy nó chỉ có thể có nếu như các hoạt động chuyên môn định hướng tầm nhìn được diễn ra minh bạch và dân chủ. Một đô thị được phép lột xác nhưng nó không nên bỏ rơi lại phía sau những con người đô thị, những người đã góp phần tạo nên chính nó.    Các KTS quan sát viên, các KTS trực tiếp tham gia vào đề tài và cả các đơn vị nghiên cứu tiền khả thi, do đó cũng cần có những thảo luận dân chủ hơn để rộng đường dư luận. Việc công bố một phần của bộ tài liệu nghiên cứu là hoàn toàn có thể chấp nhận được, nhất là khi nó được cho là đã hoàn thành. Đối với việc tu sửa hay dỡ bỏ các công trình cũ, để giải đáp nỗi hoang mang của quần chúng thì nhóm nghiên cứu có thể giải trình các bản nghiên cứu và bản vẽ ghi hiện trạng. Suy cho cùng các công trình lâu năm thì đáng quý nhưng cũng chính là do con người tạo nên chứ không phải ở trên trời rơi xuống.          Để phá hủy một thành phố, người ta chỉ cần có một quyết định sai lầm trong một khoảnh khắc mà thôi.        Ông Thầy già hay nặng lời rằng phải mất 500 năm mới có được một thành phố, đấy là vì ông ấy không muốn nói rằng để phá hủy một thành phố, người ta chỉ cần có một quyết định sai lầm trong một khoảnh khắc mà thôi.     Author                Lê Quang        
__label__tiasang Quy hoạch điện 8: Ưu tiên gì để không phải chịu hệ quả đắt giá?      Tháng 2/2021 vừa qua, các cơ quan quản lý đã công bố Dự thảo Đề án Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn tới năm 2045 (Quy hoạch điện VIII, hay gọi tắt là QHĐ 8) nhằm đưa ra lộ trình sản xuất điện trong 10 năm tới. Nhân đây, tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ về việc làm sao để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng nhưng không phải trả giá quá đắt cho những vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường.      Bảng 1. Nguồn: Dự thảo 3 QHĐ 8  Nhìn vào dự thảo QHD 8, có thể thấy logic lập quy hoạch như sau:    Các nhà đầu tư (cả công và tư) đề xuất các dự án sản xuất điện lên chính phủ. Hiện nay, tổng công suất của các dự án đã đăng ký khoảng 162 GW, tập trung nhiều một cách “bất thường” ở ở khu vực miền Trung.  Các nhà kinh tế học đưa ra dự báo về nhu cầu điện. Con số này tăng lên 9% mỗi năm cho đến năm 2025, trong đó khu vực miền Bắc tăng trưởng nhanh hơn khu vực miền Trung và miền Nam.  Chính phủ sẽ phê duyệt nhiều dự án nhất có thể trong phạm vi nhu cầu và ưu tiên của mình   Xác định được có bao nhiêu lượng điện và nguồn điện sẽ được mở rộng ở mỗi tỉnh, nhà nước sẽ có lộ trình cho các kĩ sư điện lưới phát triển mạng lưới truyền tải.  Quy hoạch này cũng tiết lộ số tiền cần phải đầu tư: cực lớn. Trong 10 năm tới, mỗi năm ngành điện cần 9.5 tỉ USD để sản xuất điện và 3,3 tỷ USD cho việc truyền tải.    Tổng số tiền đầu tư mỗi năm cho điện như vậy là nhiều hơn một nửa thặng dư thương mại của Việt Nam năm 2020, là 20 tỉ USD. Con số đó tương đương với 300 nghìn tỉ đồng Việt Nam mỗi năm, trên cả đầu tư của Việt Nam cho ngành giáo dục và đào tạo, là 245 nghìn tỉ trong năm 2019. Những công ty do nhà nước sở hữu không đủ tiềm lực tài chính để duy trì mức đầu tư như vậy. Tổng giá trị của EVN chỉ là 706 nghìn tỉ đồng Việt Nam vào năm 2018. Quy hoạch điện cần hàng tỉ USD mỗi năm đến từ khu vực tư nhân.    Dự thảo QHD8 được xây dựng dựa trên Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị, cụ thể là hai định hướng chính: “Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hoá các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới và năng lượng sạch” và “ưu tiên phát triển điện khí, có lộ trình giảm tỉ trọng điện than một cách hợp lý”. Việc tập trung vào các nguồn năng lượng tái tạo và khí đốt tự nhiên cho thấy dự thảo mới có sự thay đổi so với Quy hoạch điện 7 vốn tập trung vào phát triển một loạt các nhà máy nhiệt điện than để chạy đua với nhu cầu tăng trưởng điện năng trong nước.  Do nghị quyết 55 xác định sẽ ưu tiên phát triển cả điện khí và năng lượng tái tạo, quy hoạch điện lực cần phải tìm ra được điểm cân bằng trong phát triển hai nguồn năng lượng này. Có một số người cho rằng, dự thảo đề án mới chú trọng quá mức vào năng lượng tái tạo, trong khí năng lượng gió và mặt trời sẽ không bao giờ có thể đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của Việt Nam, đồng thời dạng năng lượng này cũng cần đến nguồn vốn lớn. Song ngược lại, một số người ủng hộ việc chuyển đổi cơ cấu điện năng3 nhận định, dự thảo Quy hoạch điện 8 tập trung quá nhiều vào điện than và khí vốn chưa bao giờ kịp tiến độ trong những quy hoạch trước. Thỏa hiệp nào cũng nhận sự chỉ trích ở cả hai phe, nhưng bị cả hai chỉ trích không phải là bằng chứng cho thấy quy hoạch đã đạt được sự cân bằng. Hay là nó đã đạt sự cân bằng rồi? Chúng ta sẽ đi tìm câu trả lời trong bảng 1 về sự chênh lệch giữa những mục tiêu đến năm 2030 của Quy hoạch điện 8 và tình hình thực tế và xu hướng hiện nay.  “Người tính không bằng trời tính”  Các cột “Quá khứ” và “Hiện tại” trong bảng 1 là những dữ liệu diễn ra trong thực tế và tôi sẽ đối chiếu nó với các số liệu dự báo trong các bản quy hoạch trước đây (Quy hoạch điện 7A, bản sửa đổi năm 2016 của Quy hoạch điện 7). Từ đó, ta có một cái nhìn rõ hơn bản chất của quy hoạch.   QHD 7A dự báo rằng sản lượng điện thương phẩm quốc gia năm 2020 sẽ rơi vào khoảng từ 228 TWh đến 245 TWh. Trong thực tế, mức sản lượng này trong năm 2020 là 216,8 TWh, và tốc độ tăng trưởng sản lượng điện trước COVID là 9,7%/năm. Với tốc độ ấy, sản lượng điện thực tế nhẽ ra sẽ nằm trong phạm vi dự báo. Dù chênh lệch không quá nhiều, số liệu về nhu cầu đã bị ước tính cao hơn mức thực tế. Nguyên nhân của điều này có thể là bởi các dự báo đã đánh giá quá cao tốc độ tăng trưởng kinh tế – dữ liệu sau đó được sử dụng để xây dựng QHD 7A.  QHD 7A dự kiến sẽ có 26 GW công suất phát điện từ nhiệt điện than, 9 GW công suất từ điện khí, 18 GW từ thủy điện, 0,85 GW điện mặt trời và 0,8 GW điện gió vào năm 2020. Trong thực tế, công suất phát nhiệt điện than chỉ đạt 20,4 GW trong năm 2020. Trong khi EVN thực hiện được hầu hết các dự án theo quy hoạch, các dự án khác do các doanh nghiệp nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm lại bị chậm tiến độ. Đối với điện khí, các dự án ngoài khơi Việt Nam chưa được đưa vào sản xuất theo dự kiến, công suất phát điện khí cũng chỉ đạt 7,2 GW trong năm 2020.  Trước nguy cơ thiếu điện ngay từ năm 2020-2021, chính phủ đã có chính sách tăng giá điện mặt trời và gió mà EVN mua vào (feed-in-tariff), khuyến khích tư nhân đầu tư mạnh vào hai nguồn năng lượng này. Trong khi cần ít nhất năm năm để xây xong một nhà máy nhiệt điện than thì một hệ thống điện mặt trời lại chỉ cần duy nhất một năm để hoàn thiện. Từ năm 2018 đến 2020, điện mặt trời đã chiếm 25% tổng công suất điện của cả nước, trong đó 7,9 GW đến từ điện mặt trời áp mái và 8,6 GW đến từ điện mặt trời dưới mặt đất. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có nhiều điện mặt trời hơn cả Anh và Hàn Quốc. Không chỉ vậy, 11 GW công suất điện gió cũng đang trong quá trình xây dựng và dự kiến sẽ được “khai trương’ vào năm 2021.  Mạng lưới truyền tải điện đã không lường trước được sự chênh lệch lớn như thế giữa quy hoạch và thực tế. Hệ quả là trong năm 2020 và 2021, chúng ta đã và đang lãng phí một phần lớn điện năng từ hệ thống điện gió và điện mặt trời, bởi vì lượng điện này không thể được truyền tải đến cho người sử dụng. Xét cả đến yếu tố độ trễ trong việc đầu tư thì chúng ta sẽ cần khoảng hai đến ba năm nữa mới có thể giải quyết được vấn đề này, đó là chưa kể đến những khó khăn trong việc xin giấy phép sử dụng đất cho các trạm biến áp và đường dây truyền tải.  Là một nhà khoa học, tôi luôn thấy thật tiếc khi chứng kiến những khoảng cách giữa một bản quy hoạch hợp lý, được chuẩn bị kỹ càng, với những gì diễn ra trong thực tế. Tuy nhiên những nhà hoạch định chính sách nên lường trước rằng thực tế sẽ luôn luôn đi chệch khỏi kế hoạch, giống như câu nói “người tính không bằng trời tính”. Điều đó không phải là vấn đề, kết quả cuối cùng mới quan trọng. Tôi rất vui mừng khi thấy chính phủ đã có những thay đổi về chính sách để tăng sản lượng điện, giảm bớt nỗi lo về an ninh năng lượng.  Sự phát triển bùng nổ của năng lượng tái tạo đã chứng minh rằng chu kỳ lập kế hoạch năm năm không còn phù hợp về mặt thời gian so với những thay đổi trong hệ thống năng lượng hiện nay. Chỉ trong vòng hai năm, điện mặt trời đã chiếm đến 25% thị phần trong cơ cấu công suất điện Việt Nam, và có thể sẽ còn có những thay đổi nhanh chóng hơn nữa đối với hệ thống sản xuất năng lượng phi tập trung (hệ thống phát điện phân tán). Dự thảo Quy Hoạch điện 8 đề xuất thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực để thực hiện đề án Quy hoạch điện 8 (xem mục 19.11 trong dự thảo) và cho phép lập quy hoạch điện theo chu kỳ hằng năm hoặc hai năm/lần, từ đó tạo cơ sở để các cơ quan chức năng tổ chức đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư các công trình điện (xem mục 19.12). Tôi cho rằng, các khuyến nghị về việc thay đổi quy định này có ý nghĩa quan trọng hơn những dự báo dài hạn không thiết thực.    Bản đồ điện gió Việt Nam tính đến năm 2019. Lúc đó Việt Nam chỉ có 10 dự án điện gió, nhưng đến nay, đang có gần 100 dự án được phê duyệt. Điện gió nói riêng và điện tái tạo nói chung có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt ngoài dự đoán của những người lập quy hoạch. Nguồn ảnh: GIZEnergy Việt Nam  Nhận xét về cách các kịch bản trong QHD 8 được xây dựng  Trước khi chúng ta quay lại bảng 1 để tìm hiểu xem dự thảo QHD 8 cân bằng giữa việc “ưu tiên năng lượng tái tạo” và “ưu tiên điện khí” như thế nào, hãy cùng thảo luận về cách để đạt được những con số này.  Các quyết định khó khăn nhất trong quá trình lập quy hoach chính là việc lựa chọn các dự án đáp ứng được nhu cầu và phù hợp nhất với các mục tiêu chính sách. Dự thảo lần 3 của đề án Quy hoạch điện 8 đã thực hiện một nghiên cứu rất toàn diện để giải quyết vấn đề này. Theo đó, nghiên cứu đã phân tích nhóm 11 kịch bản phát triển nguồn điện thông qua việc sử dụng các mô hình tính toán chi tiết cả về công nghệ, thời gian và không gian. Sau đó, nghiên cứu đã thực hiện việc xếp hạng đa tiêu chí đối với các kịch bản, áp dụng năm tiêu chí: phù hợp với mục tiêu chính sách hiện nay, chi phí hệ thống, mức phát thải CO2, nhu cầu lưới điện mới và sự đa dạng hóa. Kết quả phân tích cho thấy, kịch bản được đánh giá cao và hài hòa nhất trong các kịch bản là KB1B_CLNLTT. Kịch bản này được trình bày như sau (trang 383-384):  “Kịch bản này được đưa thêm ràng buộc về mục tiêu năng lượng tái tạo theo Chiến lược phát triển nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam giai đoạn đến 2030 định hướng đến 20504 (Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015). Theo đó, tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện lớn) trong tổng điện năng sản xuất điện toàn quốc sẽ đạt 38% năm 2020, đạt 32% năm 2030 và 43% năm 2050 […] Chiến lược này cũng phù hợp với nghị quyết 552, trong đó quy định tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15-20% năm 2030 và 25-30% năm 2045, tương ứng tỷ lệ điện năng của năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc là khoảng 30% năm 2030 và 40% năm 2045 […] Chi phí phát thải ngoại sinh cũng được tính toán trong việc tối ưu chi phí.  Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành phân tích độ nhạy đối với kịch bản đã lựa chọn để đánh giá xem kịch bản này sẽ diễn ra như thế nào trong những điều kiện không lý tưởng, ví dụ: phụ tải khác nhau, năm nước khô hạn, mức giá nhiên liệu sơ cấp khác nhau, sự thay đổi mức chi phí công nghệ gió ngoài khơi, và mức giá CO2 khác nhau. Chúng tôi muốn đưa ra một số nhận xét mang tính học thuật về cách các kịch bản này đã được lựa chọn và phân tích:  – Việc dự thảo đề án chỉ có duy nhất một “tầm nhìn tới năm 2045” sẽ là một thiết sót về mặt khoa học. Thay vào đó, một quy hoạch chuẩn nên hướng đến việc tìm ra “các giải pháp mà tương lai sẽ không hối tiếc”, có nghĩa là kể cả  các đầu tư trong ngắn hạn cũng cần có giá trị lâu dài, cũng như trong rất nhiều tình huống khác nhau có thể xảy ra trong tương lai. Thực sự không cần thiết phải thảo luận về các mục tiêu đặt ra sau năm 2030 của quy hoạch. Những con số này có rất ít giá trị dự báo bởi các cơ quan quản lý sẽ điều chỉnh đề án quy hoạch rất nhiều lần trước năm 2030.  – Nghiên cứu phân tích độ nhạy đã đánh giá quá thấp mức độ biến động của giá nhiên liệu hóa thạch trong tương lai. Dự thảo lần 3 của đề án QHD8 chỉ xem xét mức độ biến động của của giá khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trong năm 2025 ở khoảng 10,6 – 11,0 USD/MMBTU và than ở khoảng 81 – 88 USD/tấn (trang 402). Tuy nhiên, giá của nhiên liệu hóa thạch biến động mạnh hơn thế nhiều. Chẳng hạn, giá giao ngay của LNG tại châu Á (Platts Japan-Korea Marker) là khoảng 2 USD/MMBTU vào giữa mùa hè 2020, nhưng nó đã đạt mức cao kỷ lục khoảng 20 USD/MMBTU vào tháng 1/2021. Mặc dù, mức giá nguồn cung dài hạn không biến động nhiều như giá giao ngay (là các giá được niêm yết) nhưng nó cũng rất bấp bênh. Dự thảo 3 của QHD3 đã phân tích thiếu thấu đáo về mức độ rủi ro của giá nhiên liệu hóa thạch.  – Nghiên cứu phân tích các kịch bản trong dự thảo 3 của PDP8 mới chỉ đánh giá được một khía cạnh rất khiêm tốn của những kịch bản khả thi (xem trang 387). Đề án quy hoạch là một tài liệu chính thức, do vậy theo luật nó phải được dựa trên những dự án đã được phê duyệt. Tuy nhiên, kế thừa những tài liệu chính sách cũ không phải là một rào cản. Ngược lại, quy hoạch mới có trách nhiệm phải tính đến những phát triển gần đây và đưa ra một tầm nhìn mới. Không ai ngăn cản những tác giả quy hoạch nhìn xa hơn chiến lược phát triển năng lượng tái tạo ban hành từ năm 2015. Với kịch bản carbon thấp KB4_CO2, cần phải nhắc lại rằng Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có thể chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, đã chính thức và công khai cam kết với mục tiêu trung hòa khí thải carbon vào năm 2050 (tức là lượng carbon thải ra phải bằng lượng carbon giảm xuống từ các hoạt động kinh tế, xã hội).  – Năm khía cạnh được sử dụng để đánh giá các kịch bản đã bỏ qua những điểm quan trọng nhất liên quan đến chất lượng của cả hệ thống điện: tính linh hoạt và sự sẵn có về mặt tài chính. Sự sẵn sàng về tài chính có thể hiểu là khẩu vị các nhà đầu tư đối với các công nghệ sản xuất điện. Điều này rất quan trọng khi khu vực tư nhân sẽ được kêu gọi tài trợ cho hầu hết các cơ sở hạ tầng mới. Còn tính linh hoạt là tốc độ mà hệ thống điện phản ứng với những tình huống vận hành khác nhau nhằm duy trì sự cân bằng cung-cầu. Đây là điều rất quan trọng để đảm bảo sự vận hành ổn định và an toàn của một hệ thống điện vốn tích hợp với nhiều nguồn năng lượng không liên tục. Bởi vậy, việc có thêm các nghiên cứu chi tiết hơn về vai trò của hệ thống lưu trữ điện là vô cùng cấp thiết.  – Quy hoạch điện 8 được thiết kế để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo chiều ngang. Vì vậy, nó cũng nên liên kết theo chiều ngang với quy hoạch giao thông nữa. Quy hoạch điện 8 là một cơ hội để dự báo năng lượng điện sử dụng từ các phương tiện giao thông sẽ ảnh hưởng đến đường cong phụ tải điện và cơ sở hạ tầng của ngành điện. Quy hoạch điện 8 cũng cần thiết phải kết nối với cả quy hoạch biển để vị trí và năng lực của những cảng biển trong tương lai cũng phải tương thích với việc nhập khẩu dầu và thiết bị cho ngành năng lượng gió.  Trong giới hạn nhất định, chúng tôi ngưỡng mộ chất lượng và tính toàn diện của nghiên cứu này, đây là một nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với luật và logic quy hoạch. Sẽ là một bước tiến lớn nếu chúng ta đưa thêm cả các chi phí môi trường ngoại sinh vào trong các phân tích, tính toán. Việc công khai chi tiết các dữ liệu đầu vào cho các mô hình tính toán5, cũng như có các cuộc đối thoại mở với cộng đồng các chuyên gia và các bên liên quan, chắc chắn sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và chất lượng của kết quả nghiên cứu.  Nhìn lại các mục tiêu của năm 2025 và năm 2030  Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét các mục tiêu của năm 2025 và 2030 trên Bảng 1.  Quy mô của hệ thống điện, lượng khí nhà kính và ô nhiễm bụi đều tăng từ 200% đến 250% trong mười năm tới. Những con số đáng buồn này nhắc nhở chúng ta rằng nếu muốn đưa ngành điện phát triển theo hướng bền vững thì cần phải thay đổi nhiều hơn nữa. Khi bàn đến việc giảm phát thải CO2, dự thảo 3 của QHD 8 đã chỉ ra rằng nó có thể giảm mức phát thải CO2 dưới mức thấp nhất theo mục tiêu quốc gia hiện nay. Nhưng một lúc nào đó điều này sẽ trở nên quá tham vọng và được chuyển thành duy trì phát thải ở mức hiện nay và cuối cùng là trung hòa carbon (số carbon tạo ra bằng với số carbon giảm đi). Sự chuyển đổi này khả năng cao là sẽ diễn ra trước năm 2045, trong tầm nhìn của Quy hoạch điện 8. Vậy nên, thay vì sử dụng mỹ từ “giảm phát thải dưới mức thấp nhất đã cam kết” thiếu tính thực tế, tốt hơn hết là công khai các con số thiệt hại thực tế về môi trường để thúc đẩy người dùng cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng.  Thủy điện và điện sinh khối có tiềm năng hạn chế, chúng không có vị trí quan trọng đáng kể nào so với khí đốt và các loại hình năng lượng tái tạo khác. Chỉ riêng trường hợp điện sinh khối đã minh họa cho thấy một điểm quan trọng liên quan đến quyền sở hữu của nhà nước và tư nhân đối với các nhà máy điện. Trong Chiến lược Phát triển Năng lượng Tái tạo, chính phủ dự kiến sẽ thiết lập tiêu chuẩn tỷ lệ năng lượng tái tạo (Renewable Portfolio Standard – RPS). RPS yêu cầu các đơn vị phát điện phải có một phần tỉ lệ sản xuất điện đến từ năng lượng tái tạo – bằng cách tự sản xuất hoặc mua lượng điện dư thừa từ các nhà phát điện tái tạo khác. Ở rất nhiều quốc gia, để đáp ứng quy định của RPS, các nhà máy phát điện đốt sinh khối song song với than trong nhà máy phát điện của họ. Tuy nhiên, điều này rất khó ép buộc các nhà phát điện tư nhân, vốn được bảo vệ bởi hợp đồng mua bán điện từ trước khi họ đầu tư vào quá trình Xây dựng – Vận hành – Nối điện.     Đối với nhiệt điện than, QHD 8 không quy hoạch xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện than mới ngoài những nhà máy nhiệt điện đã và đang được xây dựng, tuy nhiên, đường truyền (pipeline) của các dự án cũng đủ để tăng thêm 9 GW từ năm 2020 đến năm 2025. Con số này làm dấy lên lo ngại về việc chúng ta đang quá phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu gốc, trong khi mà sản lượng than và khí đốt trong nước vẫn giữ nguyên, thậm chí là suy giảm. Theo Tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập khẩu khoảng 55 triệu tấn than vào năm 2020, chủ yếu dùng để phát điện. Trong 5 năm qua, nhiều dự án điện than đã gặp phải khó khăn, chậm tiến độ. Khi đọc Dự thảo này, chúng tôi vẫn không rõ rằng liệu những vấn đề này có được giải quyết hay không, và làm thế nào để giải quyết chúng, vì nguồn tài chính dành cho nhiệt điện than đang gặp phải vướng mắc do hầu hết các tổ chức tài chính, ngân hàng và công ty bảo hiểm trên thế giới đã ngừng cấp vốn cho các dự án mới kiểu này nhằm thể hiện cam kết của họ đối với Thỏa thuận Paris 2015 về chống biến đổi khí hậu. Kế hoạch phát triển điện 5 năm tới của Trung Quốc, sẽ được công bố vào cuối năm 2021, có thể sẽ tạo rabước ngoặt đối với nguồn năng lượng này.  Dự thảo 3 của QHD 8 hướng đến đầu tư phát triển 18 GW công suất truyền tải điện khí hóa lỏng (LNG) nhập khẩu trong vòng 10 năm tới. Công nghệ này góp phần bổ sung cho nguồn năng lượng tái tạo không liên tục – vì sản lượng có thể trồi sụt nhanh chóng. Kế hoạch linh hoạt lâu dài cũng khả thi – có thể thuê thay vì xây mới: vì các hệ thống vận chuyển,lưu trữ LNG theo đường biển, các tổ máy phát điện đều có thể di chuyển, thậm chí có thể trả lại khi cần thiết. Những lựa chọn đúng đắn này đáng lý phải được xem xét nhiều hơn trong quy hoạch: LNG không chỉ dành cho các nhà máy nhiệt điện sẵn có hiện nay; Dự thảo cũng không xem xét các phân tích đa tiêu chí về rủi ro chi phí trong nền kinh tế vĩ mô và an ninh năng lượng khi nhập khẩu một lượng lớn LNG, vốn là những yếu tố quan trọng để đưa ra chính sách. Cuối cùng, QHD 8 còn thừa hưởng từ quy hoạch trước đó một đường ống dẫn gồm các dự án đã bị trì hoãn, phần lớn là các dự án sử dụng khí đốt trong nước. Không rõ là họ đã giải quyết các vấn đề này hay chưa.  Nội dung về điện mặt trời của dự thảo quy hoạch đã lỗi thời nghiêm trọng. Nội dung này được xây dựng dựa trên chiếc lược phát triển năng lượng tái tạo từ cách đây… 6 năm, trong đó áp đặt con số tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo được sử dụng để sản xuất điện giảm từ 38% xuống 32% trong giai đoạn năm 2020 đến 2030. Trong khi nước ta đã có bước tiến xa khi lắp đặt 16GW trong hai năm, thì kế hoạch này lại chỉ yêu cầu thêm 120MW mỗi năm cho đến 2025. Các công nghệ nguồn điện mặt trời nổi vẫn chưa phát huy được tiềm năng của nó. Có thể dựa vào đấu giá để chọn được giá thấp nhất và giải quyết được vấn đề về phân bố địa lý hiện nay – các tỉnh phía Bắc đang tụt lại trong cuộc trong quá trình phát trình phát triển năng lượng mặt trời.  Tương tự với điện mặt trời, những nội dung về điện gió cũng sẽ trở nên lạc hậu, sớm thôi. Công suất điện gió mà dự thảo quy hoạch 8 đặt ra là đạt 11,3GW vào năm 2025, trong khi thực tế là vào năm 2020 công suất điện gió được lắp đặt vào khoảng 630 MW Mục tiêu đến năm 2025 là xây dựng tất cả các dự án đã được bổ sung trong quy hoạch tổng thể trước đó, và thời hạn là cuối tháng 10 năm 2021. Vào cuối năm nay, chúng ta có thể sẽ rơi vào tình cảnh tương tự điện mặt trời: mục tiêu đã đạt được, tiếp theo phải làm gì? Rồi sau đó chúng ta có mục tiêu năm 2030 là bổ sung các dự án điện gió trên bờ (hiện đã đăng ký nhưng chưa được phê duyệt), tăng thêm 2 GW điện gió bên cạnh số 44,6 GW các dự án đã xác định.  Chúng tôi kết thúc bài góp ý này sau khi việc đề cập đến nhập khẩu và lưu trữ điện. Hai năng lực này đều quan trọng nếu chúng ta muốn tính trường sức đường dài. Công suất của mạng lưới truyền tải được xác định bằng quyết tâm chính trị, chứ chưa phải là một biến được tính toán và kiểm soát được trong QHD 8. Kinh doanh điện không chỉ là mua bán từng kWh mà còn góp phần ổn định lưới điện. Việc kết nối với lưới điện giàu thủy điện như của Lào sẽ là vốn quý làm giàu cho lưới điện năng lượng tái tạo vẫn còn trồi sụt chưa ổn định mà phải vận hành liên tục của Việt Nam. Vấn đề lưu trữ cũng phải được phân tích kỹ để đảm bảo  yêu cầu để tích hợp và phân phối điện mặt trời và gió. Quy hoạch Điện cần phải xem xét lại chiến lược lưu trữ tương ứng với các mục tiêu năng lượng mặt trời và gió.  Thay lời kết  Trong phần đầu, chúng tôi đã hỏi liệu Quy hoạch điện 8 đã tìm được điểm cân bằng giữa hai ưu tiên của mình chưa? Câu trả lời là chưa. Quy hoạch này xác định năng lượng khí đốt là xương sống của sự phát triển hệ thống điện trong vòng 10 năm tới. Về cơ bản, nó hoàn toàn lờ đi điện gió xa bờ vốn có thể là nhân tố tạo ra đột phá.  Có một vấn đề với mục tiêu dành cho điện mặt trời và gió, đã hoàn toàn lạc hậu so với những sự phát triển gần đây. Từ năm 1975, hệ thống năng lượng của Việt Nam đã theo đuổi một mục tiêu nhất quán: phát triển các nguồn điện trong nước. 20 năm đầu mục tiêu tập trung vào thủy điện, và 10 năm sau là khí đốt tự nhiên, tiếp đó là than khai thác trong nước trong 10 thập kỉ sau. Điện mặt trời và gió bùng nổ từ năm 2018 cùng với nhu cầu bức thiết là phải đảm bảo tính tự chủ điện năng. Bởi vậy, việc dựa vào nhập khẩu nguyên liệu hóa thạch là đi ngược lại xu hướng của lịch sử cũng như là những phát triển ngắn hạn gần đây.  Điều này là vấn đề của hệ thống quy hoạch chưa tốt chứ không phải là hệ quả của những lựa chọn chính trị sáng suốt. Quy trình quy hoạch đã không đủ linh hoạt để theo kịp với sự bùng nổ của điện tái tạo trong ba năm gần đây.  Quy hoạch luôn là một bài toán đầy thách thức, những yếu tố ngoại cảnh giờ đây còn vô cùng hỗn độn. Luật quy hoạch đã thay đổi trong quá trình dự thảo Quy hoạch điện 8. Giá công nghệ đang giảm mạnh, thay đổi thứ tự ưu tiên của một loạt các lựa chọn khác nhau. Bản chất của lưới điện chuyển từ tập trung sang phi tập trung hóa. Sự phát triển của năng lượng đang trở nên ngày càng mạnh mẽ. Những điều này dẫn lối cho hàng trăm dự án nhỏ, bên cạnh các dự án điện có quy mô hàng GW trong những năm tới. Vị thế của nhà nước ngày càng khó nắm bắt vậy mà trong một nền kinh tế theo hướng thị trường, hệ thống năng lượng vẫn duy trì là tài sản an ninh quốc gia với rất nhiều hình thái độc quyền. Thay vì ra lệnh và kiểm soát, nhà nước phải dựa vào những công cụ gián tiếp, khu vực tư nhân linh hoạt hơn và họ sẽ hành động nhanh hơn khi nhìn thấy các ưu đãi. Đó là còn chưa nói đến những khủng hoảng về sức khỏe và kinh tế cùng với biến đổi khí hậu đang tái định nghĩa chính sách năng lượng.  —  *Tác giả: TS Hà Dương Minh, Nghiên cứu năng lượng sạch và phát triển bền vững, Nghiên cứu viên cao cấp, Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp; người sáng lập Phòng thí nghiệm về năng lượng sạch và phát triển bền vững (CleanED), trường Đại học KH&CN Hà Nội (USTH).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy hoạch điện năng quốc gia: Cơ cấu điện năng tối ưu?      Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện 8) với mục tiêu có được một bản quy hoạch kết hợp  phát triển điện lực với phát triển tổng thể quốc gia, kết hợp giữa phát triển điện lực và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. TS. Nguyễn Thành Sơn (Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam) đã nêu quan điểm của mình về vấn đề làm thế nào để có được một quy hoạch tốt cũng như có được một cơ cấu điện năng tối ưu.          TS. Nguyễn Thành Sơn.  Quy hoạch điện năng quốc gia cần được hình thành dựa trên những yếu tố nào? Chúng ta có thể học hỏi được gì từ cách làm của quốc tế?    Khi nói đến công tác quy hoạch ngành điện, chúng ta thường nhắc đến câu ngành điện cần “đi trước một bước”. Điều đó có nghĩa là quy hoạch điện phải dựa trên các kết quả dự báo về phát triển của nền kinh tế – xã hội Việt Nam. Trước đây, và cả ngày nay, ở Việt Nam, công tác dự báo thường “định tính”, “cảm tính”, dựa trên các số liệu thống kê không đáng tin cậy, không có cơ sở khoa học. Đây là khó khăn lớn nhất trong quy hoạch.  Bên cạnh đó, tôi thấy còn có một vấn đề khác là việc soạn thảo các quy hoạch phát triển của các ngành kinh tế-kỹ thuật ở Việt Nam thường thiếu yếu tố khách quan, và chịu ảnh hưởng rất cơ bản vào “quyết tâm chính trị” của các cấp quản lý. Ví dụ, các tổ chức tư vấn như viện nghiên cứu hoặc công ty điện lực được giao soạn thảo quy hoạch theo chỉ định, không qua đấu thầu và thường là các đơn vị trực thuộc của các cơ quan quản lý ngành, ở đây là Bộ Công thương. Do đó, các quy hoạch đều phải “tiếp thu ý kiến chỉ đạo” từ trên xuống và thực tế đã chứng minh, sự phát triển của ngành điện Việt Nam thường rơi vào cảnh “khập khiễng”: có giai đoạn rất “nóng” về nhiệt điện than, có giai đoạn rất “nóng” về thủy điện vừa và nhỏ (sau đó đã phải “cắt” bớt), có giai đoạn lại rất “nguội”, không mấy quan tâm về đường dây truyền tải điện và trạm nên phải bổ sung nhiều tuyến 500kV… Trong thời gian gần đây, chúng ta lại rất “nóng” về điện Mặt trời v.v.    Với tình trạng sử dụng năng lượng, trong đó có điện năng, như hiện nay thì Việt Nam còn ở cách rất xa một nền kinh tế “sạch”, “xanh” về phát thải, xa hơn là có đủ nguồn năng lượng bền vững và đạt tới trình độ năng lượng có thể bắt nhịp được với Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0.    Trong khi đó, nhìn sang một quốc gia mà chúng ta rất quen thuộc là Nga, trước đây và hiện nay họ có cách làm rất khác ta. Các quy hoạch ngành điện trước đây do họ giúp chúng ta soạn thảo như tổng sơ đồ/quy hoạch phát triển ngành điện giai đoạn 1, 2 đều có chất lượng cao, rất ít trường hợp “vỡ quy hoạch”. Còn chúng ta không học được ở họ nhiều, các qui hoạch điện sau do chúng ta tự soạn thảo, và vì những lý do trên, nên đều bị “vỡ”, thậm chí có quy hoạch đã bị “vỡ”, mất cân đối ngay khi còn trên giấy.     Trong bối cảnh nhu cầu điện năng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, đời sống… của Việt Nam ngày càng gia tăng, mặt khác phải đáp ứng các cam kết về cắt giảm khí thải, theo ông cơ cấu điện năng nào là tối ưu và chúng ta cần làm những gì, nếu triển khai cơ cấu điện năng đó?  Tôi cho rằng ở Việt Nam hiện nay, chúng ta không nên nhấn mạnh đến việc “cắt giảm khí thải” và càng không thể nói đến “cơ cấu điện năng tối ưu” bởi việc sử dụng năng lượng từ điện, than, xăng, dầu, khí đốt… trong các ngành kinh tế và cả người dân còn đang rất không hiệu quả và rất lãng phí. Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam cần phải tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực năng lượng, cụ thể là trong sản xuất năng lượng như có nguồn cung dồi dào, đa dạng hơn và việc tiêu dùng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả hơn. Chỉ khi đạt được điều này, chúng ta mới có thể nói đến chuyện “cắt giảm khí thải”.      Nhiệm vụ Quy hoạch điện 8 có đề cập đến ưu tiên phát triển hợp lý nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, trong đó điện gió và điện Mặt trời. Đó có phải là sẽ là một giải pháp tốt để giải quyết nhu cầu điện năng của Việt Nam?  Chúng ta nên nhìn nhận vấn đề rộng ra. Đối với các nước trên thế giới, hai nguồn điện gió và điện Mặt trời chưa bao giờ, thậm chí có thể là sau 30 đến 50 năm nữa, vẫn chưa thể được công nhận là một giải pháp tốt để giải quyết nhu cầu điện năng.   Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trước hết, việc phát triển điện Mặt trời, đặc biệt là điện Mặt trời áp mái không phải là “dễ ăn”. Hãy nhìn nhận một cách trực quan là vào giờ cao điểm, mọi người cần dùng điện cho sinh hoạt thì không có Mặt trời còn lúc có Mặt trời chiếu sáng thì mọi người không ở nhà. Muốn vận hành máy giặt, máy bơm hay nồi cơm điện tự động thì mọi người cần đầu tư vào “ngôi nhà thông minh” để có thể điều khiển được chúng từ nơi làm việc. Với điện Mặt trời áp mái, muốn bán được điện lên lưới thì phải đầu tư bộ nạp (ắc qui) và bộ đảo lưu để chuyển đổi điện từ một chiều sang điện xoay chiều. Bình quân trên thế giới, chủ đầu tư điện Mặt trời áp mái chỉ sử dụng được 27% lượng điện do mình làm ra, số còn lại phải bán được lên lưới (dĩ nhiên phải đầu tư công tơ đo đếm để bù trừ). Ngoài ra, trong giá thành điện Mặt trời áp mái, chi phí vận hành (OPEX) cũng “ngang ngửa” với chi phí đầu tư (CAPEX) vì hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các bộ module PV (Photovoltaics) khi được “áp mái” sẽ thấp hơn nhiều so với các PV đặt ngoài trời trong các trang trại điện Mặt trời lớn.     Việc phát triển các cánh đồng điện Mặt trời sẽ có được các vấn đề này?  Việc triển khai các dự án điện Mặt trời qui mô lớn ở Việt Nam cũng không đơn giản. Nếu cứ “tính cua trong lỗ” thì thua lỗ là điều chắc chắn vì nhiều lý do, trong đó lý do đơn giản nhất là toàn bộ các PV đều được thiết kế và tính toán để phát điện trong vòng 25 năm và ở nhiệt độ môi trường không khí bình quân khoảng 25oC. Trên thực tế thì những ngày có nắng, ở Ninh Thuận hay Bình Thuận, nhiệt độ cao hơn nhiều so với 25oC. Nhiệt độ càng cao (nắng càng nhiều) thì hiệu suất chuyển đổi quang năng thành điện năng của các tấm PV càng giảm. Ngoài ra, chúng ta cần tính đến các loại tổn thất khác như tổn thất do chuyển đổi dòng điện một chiều thành xoay chiều, do bóng mây, trong các cáp điện một chiều và xoay chiều, bức xạ yếu, bụi… và phải tính đến hệ số suy giảm hiệu suất của các PV khoảng 0,7%/năm. Với giá bán điện lên lưới thấp hơn 10 cents/kWh thì dự án PV phải sau 15-20 năm mới hoàn vốn.       Lắp đặt điện Mặt trời áp mái tại Quảng Trị. Nguồn: Báo Quảng Trị.   Vì vậy, giải pháp căn cơ và triệt để nhất nhằm giải quyết nhu cầu điện của Việt Nam là sử dụng hiệu quả và tiết kiệm điện. Tôi cho rằng chúng ta không nên trông chờ vào bất cứ giải pháp nào khác, nhất là khi chúng ta vẫn còn phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước ngoài nguồn cung các module năng lượng Mặt trời và các turbine gió.     Vậy chúng ta vẫn phải phụ thuộc vào nhiệt điện than trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đã tuyên bố sẽ từ bỏ nhiệt điện than, còn tại Việt Nam, một số địa phương từ chối quy hoạch các nhà máy nhiệt điện than?   Theo quan sát của tôi thì các nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức… hiện vẫn phải phụ thuộc vào điện than và những nguồn năng lượng hóa thạch khác.   Việt Nam cũng khó bước ra ngoài dòng chảy này. Nếu có trường hợp một số địa phương nào đó “từ chối quy hoạch các nhà máy nhiệt điện than”, tôi nghĩ rằng họ chưa thực sự hiểu rõ vấn đề. Hệ thống điện của Việt Nam hiện nay là hệ thống điện hợp nhất và quy hoạch ngành điện là quy hoạch quốc gia. Do đó, việc phân bổ nguồn lực của ngành điện phải dựa trên lợi ích chung của nền kinh tế. Các địa phương không có quyền từ chối nếu không có lý do chính đáng.     Nếu tiếp tục phát triển các nhà máy nhiệt điện than như quy hoạch của chính phủ, chúng ta có cách nào giảm thiểu được những vấn đề gây lo lắng về môi trường như phát thải? Khoa học có thể đem lại những giải pháp hiệu quả gì?     Việc tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa các nguồn nhiệt điện than đang ngày càng khả thi về kỹ thuật và kinh tế. Xét về kinh tế, chúng ta đang được tiệm cận với các nguồn than nhập khẩu có giá CIF (giá của bên bán hàng, bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm) thấp hơn giá FOB (giá trả cước phí xếp hàng) của than trong nước (qui ra nhiệt năng); xét về mặt công nghệ, hiện nay các nhà máy nhiệt điện than có thể giảm thiểu được tới 99,6% lượng bụi trong khí thải ra môi trường bằng các công nghệ tiên tiến hiện có; xét về chất thải, các nhà máy nhiệt điện than thì hầu như không có các chất thải lỏng độc hại mà chỉ thải nước sau chu trình làm mát tuần hoàn, nhiệt độ của nước thải ra có tăng lên 6 đến 8oC, trong phạm vi cho phép còn chất lượng của nước thì không có gì thay đổi. Các nhà máy nhiệt điện than gây lo ngại nhất về chất thải rắn, lượng tro bay và xỉ đáy lò thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than có khối lượng lớn nhưng có thể xử lý được và trở thành một nguồn tài nguyên “khoáng sản thứ sinh” sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Hiện nay, một số nhà máy nhiệt điện than của Than khoáng sản Việt Nam đã bán được loại “khoáng sản thứ sinh” này.     Cảm ơn ông! □     Thanh Nhàn thực hiện     Quyết định số 1264/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) với quan điểm:  – Điện lực phải phát triển trước một bước để đảm bảo cung ứng điện phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước; – Đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế trong phát triển điện lực, đặc biệt là các thành phần kinh tế tư nhân;  – Quy hoạch có tính mở, xác định danh mục những nguồn điện lớn, quan trọng cấp quốc gia, danh mục lưới điện truyền tải quan trọng ở cấp điện áp từ 220 kV trở lên và các dự án ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2021 – 2030; định hướng phát triển nguồn điện theo miền, theo vùng và theo cơ cấu công suất các nguồn điện trong giai đoạn 2031 – 2045, định hướng phát triển lưới điện truyền tải ở cấp điện áp từ 220 kV trở lên trong giai đoạn 2031 – 2045. Nguyên tắc lập quy hoạch là đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng, miền, cân đối giữa nguồn và phụ tải; ưu tiên phát triển hợp lý nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo; sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả; phát triển lưới điện hiện đại, thông minh và lưới điện liên kết với các quốc gia láng giềng; phát triển thị trường điện và khuyến khích các thành phần kỉnh tế tham gia đầu tư phát triển điện lực; phát triển điện lực thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo sự phát triển bền vững và phù hợp với chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy hoạch tầm nhìn      Nhâm nhi ly cà phê ở một góc phố nhỏ Hà Nội cùng với một người bạn nước ngoài mà hằng năm đều đến Hà Nội vào thu. Chợt hỏi người bạn: Hàng chục năm nay rồi sao năm nào anh cũng sang Việt Nam và nhận được câu trả lời: Việt Nam đẹp lắm, Hà Nội đẹp lắm và tôi muốn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đất nước bạn trước khi “công nghiệp hóa – hiện đại hóa” làm chúng bớt đẹp đi. Tự hào xen lẫn nỗi đau làm cho ly cà phê trở nên đắng ngắt.    Vâng, quy hoạch phát triển đô thị không còn là vấn đề mới nhưng vẫn mang tính thời sự khi hàng ngày chúng ta vẫn được biết qua báo chí về những dự án bán được những lô đất “vàng” với giá “kim cương” ở trung tâm những đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội… cho những nhà đầu tư để xây dựng những văn phòng cho thuê, những chung cư cao cấp. Rồi những dự án dọc hai bờ sông Hồng, biến công viên Thống Nhất của Thủ đô trở thành điểm vui chơi kiểu Disney Land, Disney World của Hoa Kỳ mà ở đó dù đất rộng mà họ cũng “đặt” những công viên giải trí đó cách xa khu dân cư dễ chừng trăm dặm, những dự kiến nâng chiều cao cho phép những công trình trung tâm Thủ đô…  Và cứ một thời gian trở lại một đô thị nào đó của đất nước là một lần nhìn thấy những tòa nhà cao tầng mới lại mọc lên ở ngay trung tâm của đô thị. Dòng người lại đổ vào thành phố vốn đã chặt chội lại càng chặt chội hơn để rồi lại đau đầu nghĩ đến bài toán xử lý như việc sử dụng những khoản tiền thu thuế hầu bao chặt hẹp của dân để giải phóng mặt bằng làm những con đường đắt nhất thế giới hoặc xây những cầu vượt hoặc làm đường bất luận ở chỗ nào có thể: trên không hoặc dưới lòng đất làm xé đau đô thị. Đó là chưa kể đến cả những việc người dân đau yếu bệnh tật sẽ phải ra ngoại ô cấp cứu, chữa bệnh khi kế hoạch di rời các bệnh viện ra ngoại ô sẽ được thực hiện nhường không gian trung tâm đô thị cho những khu thương mại, văn phòng xa xỉ, đắt tiền…  Quanh quẩn vòng vo với bài toán kinh tế, tăng trưởng và lợi ích cục bộ sẽ không có tầm nhìn chiến lược vài chục năm cho quy hoạch phát triển đô thị. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang trả giá cho những tầm nhìn như vậy. Không chỉ dân ta mà cả người nước ngoài cũng không muốn Hà Nội sẽ trở nên tương tự như Băngcốc của Thái Lan, Jacácta của Inđônêxia… và nhiều thủ đô khác trong khu vực. Nha Trang đẹp mê hồn ngày nào với bãi biển không bị che khuất tầm mắt mà giờ đây những công trình xây dựng bên bờ biển tưởng chừng đáp ứng nhu cầu quý khách du lịch hoặc những cáp treo qua biển đang lạ lẫm với dân ta đã và đang làm cản trở tầm nhìn của chúng ta về tương lai đô thị. Một người khách du lịch nước ngoài đã chọn Quy Nhơn thay vì đến Nha Trang trong lịch trình du lịch Việt Nam của mình cũng không nằm ngoài nguyên nhân đó.  Những dự án khu đô thị mới được quy hoạch trên những cánh đồng thẳng cánh cò bay mà chúng ta vẫn không thể vẽ được một bản đồ cho ra hồn trên một tờ giấy trắng để rồi những lợi ích về giá căn hộ, giá đất biệt thự… quá cao làm che mất tầm nhìn của chúng ta về việc hãy dành lại quỹ đất xây những con đường trong khu đô thị rộng rãi đủ để mươi mười lăm năm sau con cháu chúng ta có xe hơi đi lại, có chỗ đậu xe được và cả việc xây những công viên cây xanh cho con trẻ có chỗ chơi khỏi phải giam lỏng sau bốn bức tường của khu đô thị…  Vâng, ai cũng biết rồi và cũng chẳng ai muốn phải khổ sở để nói mãi bài toán quy hoạch đô thị nếu như những câu chuyện trên chỉ thuộc về quá khứ và những bài học đắt giá của thủ đô, của đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh đang không bị lặp lại ở những đô thị khác trong cả nước.  Quy hoạch một đô thị không phải là chuyện không làm được nhưng dường như chúng ta còn thiếu một quy hoạch khác quan trọng hơn để không chỉ làm việc quy hoạch đô thị mà còn làm những việc phát triển khác của đời sống xã hội: đó là quy hoạch tầm nhìn.     Lưu Tiến Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy trình ra chính sách: Cần mở và minh bạch      Một chính sách tốt, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn sẽ tự nó nhận được sự ủng hộ và thi hành từ người dân mà không cần vận động hay ép buộc. Nhưng để làm được điều đó, cần có một quy trình tham vấn cởi mở, minh bạch và chặt chẽ. Đó là ý kiến của anh Lê Quang Bình, Giám đốc doanh nghiệp xã hội ECUE đồng thời là thành viên hội đồng của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế, và Môi trường (iSEE), một đơn vị đã có quá trình vận động nhiều chính sách vì quyền của các nhóm thiểu số như LGBT, các dân tộc thiểu số, quyền bình đẳng giới…      Anh Lê Quang Bình cùng với những người ủng hộ bảo vệ 6700 cây xanh tại Hà Nội năm 2015.  Thời gian gần đây, một số đề xuất chính sách như cấm xe máy, xây dựng tiêu chuẩn nước mắm hay điều chỉnh để đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp…  đang nhận được sự thảo luận sôi nổi của các nhà nghiên cứu chính sách cũng như người dân. Vấn đề đặt ra ở đây là, làm thế nào để đánh giá đây là các chính sách tốt?   Để đạt được chính sách công tốt, thì các các cơ quan soạn thảo cũng như những bên liên quan, người dân và các tổ chức dân sự phải đặt ra ba tiêu chí cốt lõi gồm: chính sách này có phục vụ cho lợi ích công không? nó có phục vụ cho đại đa số bộ phận dân chúng hay không? và ai là người bị ảnh hưởng tiêu cực hoặc bị bỏ lại phía sau trong chính sách này? Tiêu chí thứ ba rất quan trọng nhưng hay bị bỏ quên vì tư duy sai lầm “phát triển là phải có hy sinh”. Trên thực tế những người “bị hy sinh” thường là những người yếu thế, thiểu số hoặc không có quyền lực trong xã hội. Chính vì vậy, một người lập chính sách tốt phải hỏi là ai bị thiệt hại do chính sách công này, để từ đó cân bằng giữa lợi ích và tác hại cũng như đưa ra công cụ khác để đền bù cho họ.   Bên cạnh đó, nhà nước chỉ nên đưa ra những chính sách mang tính cưỡng chế, bắt buộc phải thực thi chứ không nên can thiệp vào những địa hạt mà người dân có thể tự thỏa thuận, điều chỉnh hành vi của mình. Bất cứ việc xây dựng và thực thi một chính sách nào đều tốn nguồn lực, chính vì vậy nhà nước chỉ nên làm những điều mà các tổ chức xã hội khác không thể làm được. Ví dụ, các bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của ngành y hay nghề luật sư thì nên để các Hội tự đưa ra cho thành viên của họ thay vì nhà nước áp đặt. Khi tự đưa ra họ sẽ tự nguyện tuân thủ do sức ép về mặt chuẩn mực xã hội (social norms) để đảm bảo uy tín của họ, uy tín của ngành họ.   Gần đây có sự tranh luận về việc xây dựng tiêu chuẩn nước mắm, một vị quản lý đã tuyên bố bộ tiêu chuẩn này chỉ tham khảo, không mang tính bắt buộc. Nếu chỉ mang tính tham khảo thì tôi nghĩ nhà nước không nên tham gia vào, hãy để Hiệp hội nước mắm xây dựng và thống nhất với nhau. Như vậy, khi xem một chính sách tốt hay không thì câu hỏi đầu tiên cần hỏi là nó có cần tồn tại hay không và nhà nước có cần phải can thiệp hay không.   Trong xã hội Việt Nam hiện nay rất đa dạng, có những lợi ích rất khác nhau, thậm chí nhiều khi là lợi ích đối kháng, và các bên đều có nhu cầu được vận động chính sách, thảo luận chính sách. Thì làm thế nào để đánh giá được rằng các chính sách đang cân bằng giữa các lợi ích, từ đó tạo được ảnh hưởng tốt nhất cho công chúng?  Đây là một câu hỏi rất quan trọng vì chính sách công để phân bổ nguồn lực công vào giải quyết vấn đề này hay thúc đẩy vấn đề kia, cho nhóm đối tượng này hay cho nhóm đối tượng kia. Chính vì vậy, chính sách công  ảnh hưởng khác nhau đến các nhóm khác nhau. Để cân bằng, nhà nước khi ra chính sách công cần phải xác định phương án ảnh hưởng tối ưu (optimal) của chính sách lên xã hội. Để đạt được sự cân bằng này thì tiến trình ra chính sách đó phải rất bao trùm, đa chiều và  mở để mọi đối tượng có thể tham gia. Trong tiến trình này, sự thảo luận của các chuyên gia độc lập đóng vai trò rất quan trọng để giúp cân bằng các nhóm lợi ích khác nhau.      Trong việc thảo luận về các dự thảo chính sách, thì ai được tham gia, ai được mời, ai không được mời đã là cả vấn đề liên quan đến việc ai có quyền, ai có mối quan hệ để được mời. Có khi một nhóm được mời là do những người làm chính sách chỉ biết tới nhóm đó thôi, không biết những người khác thì đó là do giới hạn của họ. Nhưng khi họ cố tình lựa chọn nhóm này, từ chối nhóm kia vì tư lợi cá nhân thì đó là vấn đề nghiêm trọng, cần có cơ chế giám sát và xử lý nghiêm ngặt vì nó sẽ gây ra bất công và bất ổn xã hội.      Một tiến trình xây dựng chính sách công thường bắt đầu từ một vấn đề phát sinh trong xã hội được ghi nhận bởi các cơ quan quản lý nhà nước thông qua thống kê, thông qua quan sát hoặc thông qua sự vận động của một số nhóm xã hội nào đó. Trong vô vàn vấn đề của cuộc sống, một câu hỏi được đặt ra là tại sao vấn đề này được đưa vào chương trình nghị sự còn vấn đề khác thì không? Đây là mấu chốt vì nó thể hiện quan hệ quyền lực trong xã hội. Rất cần lưu ý vì trên thực tế các nhóm có nhiều nguồn lực hơn, có nhiều quan hệ với các nhà hoạch định chính sách hơn, hoặc có nhiều ảnh hưởng với truyền thông hơn thì vấn đề của họ được ưu tiên đưa vào nghị trình hơn.  Một ví dụ rất thời sự mà viện iSEE đang vận động đó là Luật Chuyển giới. Mặc dù Quốc hội đã thông qua Bộ Luật dân sự, trong đó thừa nhận quyền của người chuyển giới và Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế xây dựng Luật Chuyển giới. Tuy nhiên, sau gần 3 năm Bộ Y tế vẫn chưa trình Luật Chuyển giới vì họ có những ưu tiên khác. Rõ ràng cộng đồng chuyển giới là nhóm thiệt thòi và yếu thế trong xã hội, ưu tiên của họ bị Bộ Y tế xếp sau ưu tiên của các nhóm đối tượng khác. Do vậy các lực lượng hoạt động vì lợi ích công như báo chí, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội độc lập phải đại diện và ủng hộ cho các tiếng nói yếu thế như nhóm người chuyển giới để vấn đề của họ cũng được xem xét kịp thời và công bằng như vấn đề của các nhóm khác.   Đó là việc đưa vấn đề của mình vào trong chương trình nghị sự, thế còn tiến trình xây dựng chính sách sau đó thì sao?  Cũng cần có sự tham gia của các nhóm lợi ích khác nhau. Sau khi vấn đề được ghi nhận, thì nhà nước sẽ bắt đầu một tiến trình nghiên cứu tìm hiểu. Lúc này, câu hỏi cần phải được tiếp tục đặt ra: tại sao nó lại là nghiên cứu này chứ không phải nghiên cứu kia? ai là người được tham gia vào tiến trình nghiên cứu đánh giá đó, ai là người cung cấp thông tin, bằng chứng? Bởi vì tất cả quá trình đó sẽ  giúp định hình chính sách – là quan điểm này được nhìn qua góc nhìn của ai, như thế nào.   Sau nghiên cứu là việc thảo luận về các dự thảo, thì câu hỏi lúc đó là ai được tham gia, ai được mời, ai không được mời. Đây là vấn đề liên quan đến việc ai có quyền, ai có mối quan hệ để được mời. Có khi một nhóm được mời là do giới hạn của những người làm chính sách chỉ biết tới nhóm đó thôi, không biết những người khác; nhưng cũng có thể các nhà xây dựng chính sách chỉ lựa chọn mời những nhóm mà họ có chia sẻ lợi ích, hoặc thậm chí là bị thao túng để chỉ ghi nhận quan điểm của nhóm đó.     Các tiêu chuẩn có tính chất tham khảo mà không bắt buộc như nước mắm thì nên được ra đời bởi các hội nghề nghiệp. Trong ảnh: Sản xuất mắm tại công ty Lê Gia, Thanh Hóa. Ảnh: Lê Gia.  Tôi vẫn tin rằng, để biết một tiến trình làm chính sách có tốt hay không thì hãy xem các nhà hoạch định chính sách có lắng nghe và ghi nhận các ý kiến của các nhóm thiểu số, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chính sách hay không.   Nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi lớn hơn là đa số quần chúng – từng cá nhân bị ảnh hưởng không thể làm các nghiên cứu, điều tra có thể tham gia vào thảo luận chính sách?  Chính vì thế nó liên quan tới vai trò của các hiệp hội và các tổ chức dân sự. Chẳng hạn như các hộ sản xuất nước mắm truyền thống nhỏ lẻ thì không thể nào có đủ nguồn lực để làm các điều tra nghiên cứu hay suốt ngày đi họp với các cơ quan nhà nước nên họ cần một hiệp hội, nghiên cứu, vận động đại diện cho họ. Đó là một tiến trình giúp cho các nhóm yếu thế có thể tham gia được vào quá trình thảo luận chính sách. Nếu không có hiệp hội mang tính đại diện đó hoặc các tổ chức phi chính phủ hoạt động vì lợi ích công đấy thì các tiếng nói yếu thế sẽ không bao giờ được lắng nghe hoặc cất lên được. [khi đó] Giả định là nhà nước sẵn sàng lắng nghe, nhưng không có ai đủ năng lực đại diện thì cũng không có được đầu vào [chính sách], góp ý có ý nghĩa cho nhà nước.   Khi iSEE  làm về quyền của người LGBT cũng vậy, có hàng triệu người LGBT nhưng cũng chỉ là triệu cá nhân đơn lẻ thôi. Nếu không có iSEE, không có ICS, không có các tổ chức phi chính phủ khác đại diện cho họ thì phong trào đấy có thể không làm được như bây giờ;  nhà nước có muốn tham vấn cũng không biết tham vấn ai, như thế nào. Bây giờ ECUE chúng tôi đang nghiên cứu về người tiêu dùng, tất cả chúng ta đều là người tiêu dùng, nhưng một mình ai đó thì không thể nào đứng ra bảo vệ quyền của mình, không thể lobby chính sách được. Chính vì vậy rất cần hội người tiêu dùng, nó thực sự là đại diện. Còn khi nó không thực sự đại diện thì người ta sẽ không tin, mất uy tín luôn. Đó là “cơ sở hạ tầng cần thiết” để nhà nước có thể tham vấn khi xây dựng chính sách.   Không chỉ các hiệp hội – đại diện cho các cá nhân đơn lẻ lên tiếng, mà các bên liên quan như các doanh nghiệp cũng có nhu cầu được vận động (lobby) chính sách. Làm thế nào để đảm bảo không bên nào có thể thao túng chính sách?  Tiến trình tham vấn đó phải minh bạch. Tôi nhớ là ở Mỹ và nhiều nước châu Âu các hoạt động vận động phải được công khai. Ví dụ, thượng nghĩ sỹ khi gặp các cá nhân hoặc công ty lobby đều phải công khai nhằm đảm bảo cho công chúng biết rõ rằng ông ta đã tiếp xúc với nhóm lợi ích nào, để biết rằng ông ấy đã có thông tin từ các nhóm nào cho quá trình hình thành quan điểm chính sách của ông ấy. Khi mà ông ấy soạn thảo hoặc bỏ phiếu cho chính sách đó, thì mọi người có thể soi lại được để biết ông ta thực sự đang đại diện cho quyền lợi của nhóm nào.   Trong quá trình soạn thảo chính sách hiện nay ở Việt Nam, các hội thảo chính thức thì công khai nhưng các cuộc gặp khác thì chưa. Thực ra nên phải công khai để công chúng giám sát được các nhà hoạch định chính sách đã gặp ai, mục đích để làm gì. Cái đó mới đảm bảo việc lobby được minh bạch. Nhưng quan trọng hơn, chúng ta cần các cơ quan báo chí và các tổ chức dân sự giám sát các hoạt động lobby cũng như xây dựng chính sách để đảm bảo nó cân bằng và không thiên vị.   Tôi không phản đối các doanh nghiệp được vận động chính sách, vì họ là một phần của đối tượng bị ảnh hưởng bởi chính sách, nhưng phải quay lại lợi ích công, khi doanh nghiệp có quyền vận động chính sách thì các nhóm khác cũng phải có quyền đó. Doanh nghiệp thường có nguồn lực tài chính và kỹ thuật mạnh – và ngày càng mạnh, nên để xã hội phát triển một cách lành mạnh và cân bằng thì nhà nước phải tạo ra cơ chế, để người dân – thông qua các hiệp hội của mình tạo ra được nguồn lực tài chính và tri thức đủ để có sức mạnh đối trọng. Trước khi nói tới thực hành dân chủ trong xã hội, thì họ cần học được cách hoạt động dân chủ ngay trong chính hội của mình. Đây là tiến trình học lắng nghe, học phản biện, học thảo luận đi đến sự đồng thuận. Hơn nữa, khi đó hội cũng mới đại diện cho các nhóm đang yếu thế trong xã hội.   Việc thảo luận cũng liên quan rất nhiều đến năng lực của các nhóm được chính phủ giao xây dựng chính sách. Nếu ban soạn thảo có năng lực không tốt thì sẽ “ngại” nghe góp ý.  Khi họ có năng lực thì họ sẵn sàng lắng nghe thảo luận và tích hợp được nhiều ý tưởng hay, còn những người, đơn vị không có năng lực sẽ rất sợ phơi bày ra, vì sẽ không biết xử lý các luồng tranh luận như thế nào. Khi chúng tôi vận động cho quyền của người LGBT trong Luật hôn nhân và gia đình, thì cán bộ bên Bộ Tư pháp nắm rất vững các vấn đề và rất thích có các ý kiến trái chiều phản biện lại từ phía iSEE và các bộ ban ngành khác, họ nói rằng đó là cơ hội để suy ngẫm và giải thích lại. Ngược lại, những người yếu năng lực sẽ né tránh thảo luận. Như vậy nó sẽ liên quan đến vấn đề khác, vấn đề tuyển dụng trong khu vực công, anh ưu tiên người có năng lực hay vì các tiêu chí khác.  Nhưng dù ban soạn thảo đó có năng lực hay không thì cũng cần có cơ chế buộc phải mở ra để thảo luận, lắng nghe để tìm ra điểm tối ưu. Khi anh chưa có năng lực thì phải lắng nghe ý kiến các bên, đặc biệt các chuyên gia độc lập không có lợi ích gắn với các nhóm vận động chính sách sẽ giúp nhà nước cân bằng được các lợi ích xung quanh.   Cho đến nay các tổ chức nước ngoài cũng vẫn hỗ trợ kỹ thuật để giúp các cơ quan xây dựng chính sách ở Việt Nam ra các chính sách với quy trình phù hợp với thực tiễn. Nhưng tôi thì vẫn nghĩ là Việt Nam cần phải làm sao để có được các think tank, chuyên gia nội địa, thấu hiểu Việt Nam cũng như tình hình toàn cầu thì mới có được các góp ý tốt.  Bên cạnh việc thảo luận góp ý với các cơ quan xây dựng văn bản pháp luật, thì thảo luận trong công chúng rất quan trọng. Bởi ngay cả khi các cơ quan làm chính chưa lắng nghe hoặc không đồng ý thì xã hội có thêm tri thức. Xã hội rất cần vận động và lớn lên. Và khi đó hệ thống cũng sẽ phải thay đổi để tương thích với xã hội.   Cảm ơn anh về cuộc chia sẻ!□  Bảo Như thực hiện  Mọi người hay nói có những chính sách tốt nhưng khi triển khai lại không tốt. Nhưng theo tôi không có chính sách nào tốt lại không triển khai được hết vì phía thực thi chính sách là người dân và doanh nghiệp chứ không phải nhà nước, cho nên chính sách nào có lợi cho họ thì họ sẽ đưa ngay vào cuộc sống. Còn khi họ phản ứng, đối phó thì cần xem tại sao để điều chỉnh. Ví dụ như Luật Doanh nghiệp đầu tiên ra đời, chẳng cần nhà nước phải hô hào, thì người dân tự lập doanh nghiệp theo luật và đi kinh doanh, vì chính sách đó hợp với nhu cầu thực tế của họ. Còn chính sách nào đấy không hợp với thực tiễn, ví dụ như hợp tác xã trước đây, cho dù có cưỡng bức triển khai thì người dân sẽ tìm mọi cách để né tránh. Khi đó, việc cưỡng chế thực thi sẽ rất tốn kém nguồn lực, và về lâu dài sẽ thất bại vì chi phí cho việc thực thi chính sách lớn hơn lợi ích nó mang lại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy trình xét GS/PGS: Nên nhất quán học tập một trong hai mô hình của Pháp hoặc Mỹ      Theo PGS.TS Đặng Hoàng Minh (Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, hiện là học giả Fulbright tại ĐH Illinois, Urbana-Champaign, Hoa Kì), Dự thảo tiêu chuẩn chức danh GS/PGS (Dự thảo) đã tiếp cận được với chuẩn mực quốc tế nhưng chỉ nên nhất quán “học hỏi” một mô hình của Pháp hoặc Mỹ thay vì cố gắng “phối hợp” cả hai.      Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne. Nguồn ảnh: univ-paris1.fr    Nhiều thủ tục không cần thiết  Với kinh nghiệm ở những nước mà tôi đã học tập và làm việc, thì theo tôi, tiếp cận xét chuẩn quốc gia GS, PGS mà chúng ta đang làm giống mô hình của Pháp. Pháp cũng có hội đồng quốc gia xét chuẩn GS (HDR), PGS với các tiêu chí, gọi là Hội đồng quốc gia các trường đại học1 có lịch trình và quy trình như cách chúng ta đang làm2. Sau khi ứng viên được xét đạt chuẩn, các trường ĐH sẽ tuyển dụng (bổ nhiệm) những người này. Như vậy, có một chuẩn chung (cơ bản) toàn quốc cho vị trí PGS.GS. Hệ thống ĐH của Mỹ, Úc (khối nói tiếng Anh) không làm theo cách này, việc bổ nhiệm cũng như tiêu chí cho vị trí GS, PGS hoàn toàn phụ thuộc vào trường ĐH, và không có một tiêu chuẩn chung toàn quốc. Do đó, ở Mỹ, tiêu chuẩn bổ nhiệm PGS, GS mà những trường danh tiếng đặt ra cho trường mình là cao (nhiều bài báo, nhiều đề tài, v.v) nhưng ở những trường nhỏ, không có danh tiếng thì tiêu chí có thể thấp. Và một người có thể ở vị trí GS ở trường ĐH này, nhưng có thể chuyển sang trường khác (danh tiếng hơn) để xin tuyển vị trí PGS.  Tuy nhiên, quy trình, cách thức xét phong hàm GS/PGS của Việt Nam (VN) lại là sự “phối hợp” của cách thức theo kiểu Mỹ (có hội đồng cơ sở của trường để xét, tuyển vị trí PGS, GS cho trường) và của Pháp (hội đồng ngành, quốc gia độc lập với cơ sở giáo dục đại học). Do đó, cách của VN có vẻ rườm ra, nhiều thủ tục và không cần thiết. Chẳng hạn, chức năng/nhiệm vụ của hội đồng cơ sở (HĐCS) cũng không khác biệt nhiều với hội đồng ngành/liên ngành (HĐN/LN) (HĐCS: Xét hồ sơ của ứng viên đăng ký xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS/PGS; Tổ chức xét tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư tại cơ sở; HĐN/LN: xác định năng lực chuyên môn, kết quả nghiên cứu và năng lực ngoại ngữ của ứng viên theo từng chuyên ngành, Thẩm định kết quả xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư). Có khác chăng là hội đồng cơ sở xét, thẩm định hồ sơ hợp lệ, đúng tiêu chuẩn. Tuy nhiên đến hội đồng ngành/liên ngành cũng làm lại việc này, và tập trung hơn vào chuyên môn. Như vậy, ở HĐCS, để xét được tiêu chuẩn của ứng viên thì hội đồng/thành viên HĐ cũng phải am hiểu chuyên môn, lĩnh vực của ứng viên, cũng phải đánh giá năng lực ngoại ngữ (vì đó là tiêu chí xét). Ở HĐN/LN lại xét lại năng lực chuyên môn, ngoại ngữ. Trên thực tế, từng công trình khoa học cũng đã được thẩm định về mặt chất lượng thông qua các ban biên tập của tạp chí, hoặc hội đồng thẩm định sách hoặc nhà xuất bản. Các hội đồng cũng không nên tham vọng đánh giá lại từng công trình đó, và thực tế thì điều đó cũng bất khả thi, ví dụ ứng viên GS có 20 sách chuyên khảo, giáo trình (mỗi sách ví dụ 400 trang) thì hội đồng cũng không thể thẩm định lại, đọc kĩ được chừng đó sách. Do đó, nên chăng chỉ cần 1 HĐN/LN, ứng viên của ngành nào gửi đến đúng hội đồng của ngành đó, đánh giá chuyên sâu về mặt học thuật và định hướng nghiên cứu tổng quát của ứng viên, sau đó hội đồng nhà nước công nhận. Hơn nữa, về mặt logic, khi xét đạt chuẩn, cần sự đánh giá khách quan từ bên ngoài, nhiều hơn là ở cơ sở của mình, đến khâu tuyển dụng và bổ nhiệm cho chính trường mình, mới cần vai trò của cơ sở đào tạo, để các cơ sở đưa thêm những yêu cầu phù hợp với sứ mệnh của đơn vị mìnhvà lựa chọn những người đã đạt chuẩn chuyên môn phù hợp nhất với cơ sở của mình.  Cách thức bỏ phiếu tín nhiệm (kín) cũng không hợp lý và thực sự không cần thiết, khi các tiêu chí đã rõ ràng như vậy. Ứng viên không  nhận được phản hồi, nhận xét của hội đồng về năng lực chuyên môn của mình (kể cả người đạt hay không đạt). Việc này là quan trọng để ứng viên biết điểm mạnh, điểm yếu của mình, những gì mình cần phải làm tốt hơn.  Nếu chúng ta thấy cần đặt một tiêu chuẩn chung toàn quốc cho vị trí PGS, GS để đảm bảo chất lượng thì có thể làm theo cách của Pháp một cách nhất quán. Cách này cũng giống với tiếp cận thi đại học hiện nay, nếu Bộ GD-ĐT đặt điểm sàn (chuẩn chung), các trường tự quyết định điểm chuẩn xét tuyển thì với vị trí PGS, GS, Bộ GD ĐT đưa ra chuẩn của vị trí đó, và xét đạt chuẩn (và không cần làm từ cấp cơ sở), sau đó, để các trường tự bổ nhiệm, lựa chọn những người đạt chuẩn theo các tính chất, đặc điểm của từng cơ sở. Theo cách đó, hội đồng cơ sở là bước cuối cùng để tuyển dụng người đã đạt chuẩn, chứ không phải là bước đầu tiên trong quy trình xét chuẩn.      Quy trình, cách thức xét phong hàm GS/PGS của Việt Nam (VN) lại là sự “phối hợp” của cách thức theo kiểu Mỹ (có hội đồng cơ sở của trường để xét, tuyển vị trí PGS, GS cho trường) và của Pháp (hội đồng ngành, quốc gia độc lập với cơ sở giáo dục đại học). Do đó, cách của VN có vẻ rườm ra, nhiều thủ tục và không cần thiết.      Tiêu chuẩn phong GS/PGS:   Không nên ràng buộc về thời gian với tiêu chí đào tạo  Ở bất cứ nước nào, để xét vị trí PGS, GS, các nước đều xét trên 3 mặt, là 3 nhiệm vụ chính của giảng viên đại học: giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng với tỉ lệ khoảng cho giảng dạy là 30%-50%, nghiên cứu 30%-50% và phục vụ cộng đồng là 20%. Tỉ lệ giảng dạy-nghiên cứu phụ thuộc vào định hướng của trường là ĐH tập trung nghiên cứu (40-50%) hay ĐH tập trung đào tạo. Nhìn chung, tỉ lệ này nên là 40,40, 20, nhưng không phải ràng buộc về thời gian như điểm d, điều 6. Theo điểm này, giảng viên sau 10 năm tham gia đào tạo mới đủ điều kiện xét tuyển PGS, GS là không hợp lý, vì (a) gộp cả GS và PGS  vào một tiêu chí; (b) chỉ nói đến số năm tham gia đào tạo (6 năm, 10 năm, v.v) nhưng không nói đến số giờ tham gia đào tạo cần thiết cho 1 năm; (c) không khuyến khích được những người trẻ được tu nghiệp, đào tạo từ nước ngoài. Ngoài ra, khoản này cũng mâu thuẫn với điềm 3 khoản 9 (ứng viên PGS có ít nhất 6 năm tham gia đào tạo trình độ đại học). Có điểm tiến bộ là đưa tiêu chí xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, như một trong những nhiệm vụ phục vụ cộng đồng, nhưng ở tiêu chuẩn PGS thì lại không có nhiệm vụ này.  Không nên tính điểm quá cao cho sách phục vụ đào tạo  Khoản 8, điều 8 và khoản 5 điều 9: Số điểm cho sách phục vụ đào tạo quá nhiều (ví dụ với điều kiện GS, 4 điểm với ngành KHTN và 6 điểm với ngành KHXH, tức là nếu viết một mình và sách đạt chất lượng tối đa, ứng viên cần có ít nhất 2 giáo trình hoặc 1 chuyên khảo+ 1 tham khảo với KHTN, 3 giáo trình hoặc 2 chuyên khảo với KHXH). Có thể những người soạn dự thảo nghĩ rằng đây là điểm để nhấn mạnh đến vai trò giảng dạy, đào tạo. Nếu vậy thì quan niệm lẫn lộn giữa nghiên cứu và đào tạo. Thứ nhất, công trình khoa học nào (sách, bài báo) cũng đều có thể phục vụ đào tạo (ở bậc sau đại học, các bài báo được dùng làm tham khảo giảng dạy nhiều hơn sách vì các bài báo cập nhật hơn); thứ hai, sách phục vụ đào tạo đi chăng nữa là tác phẩm, công trình nghiên cứu, và thường là sự đúc kết của rất nhiều năm kinh nghiệm, nghiên cứu. Ở vị trí GS rồi, các giảng viên nên viết sách nhiều hơn, và sách cũng sẽ có chất lượng hơn, chứ không nên là đưa tiêu chuẩn viết nhiều sách là tiêu chuẩn xét chức danh GS/PGS.  Không nên đặt điều kiện đào tạo nhiều nghiên cứu sinh   Khoản 7, Điều 8, chức danh GS, hướng dẫn chính (độc lập) ít nhất 3 NCS đã có bằng TS. GS là vị trí cao nhất liên quan đến giảng dạy và nghiên cứu, nhiều trách nhiệm giảng dạy và nghiên cứu hơn. Như vậy, sau khi vào vị trí GS, giảng viên có trách nhiệm hướng dẫn độc lập nhiều NCS. Do đó việc hướng dẫn chính nhiều NCS không nên đặt ra là điều kiện đạt chuẩn. Do vậy tiêu chí này nên bỏ hoặc là thay bằng việc đồng hướng dẫn với GS khác từ 1 đến 2 NCS.  Tính đến chương sách (xuất bản quốc tế) cho PGS về KHXH  Khoản 4, điều 9: điều kiện cần của PGS và GS ngành KHXH là tương đương: tác giả chính ít nhất 1 bài báo quốc tế ISI, Scopus. (Điều kiện với PGS cho thêm 2 lựa chọn: sách nước ngoài, bằng sáng chế), và như vậy là bất hợp lý. Nếu giữ điều kiện cần của GS là tác giả chính 1 bài báo quốc tế ISI và Scopus thì điều kiện cần của PGS chỉ nên ở mức sách (chương sách) nước ngoài hoặc bằng sáng chế.  Tiêu chuẩn tạp chí quốc tế: không chỉ giới hạn trong danh mục ISI/Scopus  Hiện nay dự thảo yêu cầu ngành KHXH&NV, ứng cử viên cần ít nhất một công bố ISI/Scopus. Với ngành KHXH &NV, điều kiện này không ít so với mặt bằng chung về số lượng công bố quốc tế của ngành KHXH &NV. Tuy nhiên, nên xem lại điều kiện cần về công bố quốc tế với chức danh GS và PGS vì hiện nay số lượng là như nhau (1 bài báo ISI/Scopus). Có thể đối với chức danh PGS, điều kiện cần là 1 bài báo của tạp chí quốc tế có uy tín nhưng không nhất thiết trong ISI, Scopus (như Nafosted quy định), chương sách/sách quốc tế hoặc bằng sáng chế. Mặt khác, với ngành KHXH &NV, có những ngành đặc thù, như khu vực học, văn học nước ngoài (Trung quốc học, Nhật bản học, Ngôn ngữ v.v.), ngoại ngữ (tiếng Pháp, Hàn quốc, v.v), việc hoàn toàn sử dụng tạp chí ISI/Scopus bất hợp lý vì ISI/Scopus hầu như là tạp chí tiếng Anh. Do đó, nên mở rộng các tạp chí quốc tế không phải tiếng Anh, ví dụ tạp chí tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Nhật có uy tín trong cộng đồng chuyên môn quốc tế. Việc lựa chọn các tạp chí quốc tế uy tín (không phải Tiếng Anh) nên dựa vào đề xuất của Hiệp hội nghề nghiệp hoặc của các trường ĐH có uy tín.  Cách thức quy đổi công trình khoa học chưa hợp lý  – Nếu chúng ta khuyến khích có bài trong tạp chí ISI/Scopus thì số điểm quy đổi cho bài báo ISI/Scopus cần tăng lên (2.5 hoặc 3 điểm) cao hơn bài tạp chí trong nước, bởi vì yêu cầu và chất lượng của bài ISI cao hơn nhiều so với tạp chí trong nước.  – Việc quy định điểm các công trình cũng không hợp lý vì chênh lệch giữa điểm tối đa và tối thiểu quá lớn, ví dụ một bài báo trong tạp chí trong nước tối đa 1 điểm, có nghĩa là một thành viên hội đồng có thể cho 0.1 và có thành viên khác cho 0.9. Điều này không hợp lý vì chất lượng của bài báo đã được chính ban biên tập/phản biện của tạp chí thẩm định nên không thể để có sự chênh lệch như vậy.  – Việc phân loại sách cũng rất khó: Dù có định nghĩa ở điều 2, nhưng trên thực tế, tiêu chí để phân loại một cuốn sách là sách tham khảo hay chuyên khảo là không rõ ràng. Trong định nghĩa thuật ngữ, giáo trình và sách tham khảo, hướng dẫn đều nói đến mục đích đào tạo, còn sách chuyên khảo thì không. Sách chuyên khảo cũng là tài liệu tham khảo cho đào tạo. Do đó, việc cho điểm chênh lệch giữa 2 loại sách này là không phù hợp (3 đ và 1.5đ).   – Việc chia điểm cho tập thể biên soạn (chủ biên tính 1/5 điểm công trình quy đổi, những người khác chia điểm theo đóng góp) không phù hợp. Chẳng hạn 1 cuốn sách chuyên khảo có 3 tác giả, với điểm tối đa là 3. Chủ biên sẽ được 1/5 của tối đa 3 là 0.6; 2 người còn lại được 3-0.6=2.4 (và như vậy một tác giả còn lại được điểm có thể nhiều hơn chủ biên). Cách tính này vừa bất hợp lý, vừa không khuyến khích được sự cộng tác, hợp tác trong viết sách. Trên thế giới, chỉ có trường hợp sách giáo trình mới có 1 tác giả, các sách khác đều là tập hợp của nhiều tác giả.  Quy trình lựa chọn thành viên hội đồng ngành/liên ngành, nhà nước chưa rõ ràng  Các tiêu chí lựa chọn thành viên HĐN/LN, nhà nước khó định lượng (trong khi tiêu chí của ứng viên lại rất định lượng), quy trình xét chọn thành viên cũng không được nêu (như do ai đề cử, tiêu chí gì quy định “có uy tín chuyên môn và khoa học cao”, lựa chọn như thế nào, v.v). Các hội đồng xét chuẩn có vai trò quan trọng nếu chúng ta muốn nâng cao chất lượng chuẩn PGS, GS.  Dù tiếp cận nào thì PGS, GS đều là vị trí công việc, không phải chức danh. Trong trường đại học (viện nghiên cứu), nếu nhìn vị trí hành chính có trưởng khoa, hiệu trưởng, chủ nhiệm bộ môn với các nhiệm vụ trách nhiệm hành chính, quản lý thì PGS, GS là vị trí khoa học, do đó, đi theo trách nhiệm, nhiệm vụ về mặt nghiên cứu, giảng dạy. Người được bổ nhiệm vào vị trí PGS, GS để có thêm nhiều trách nhiệm, nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy hơn, có nhiều cống hiến về mặt học thuật hơn, chứ không phải là đã có nhiều cống hiến thì được “phong” chức danh PGS, GS.  Bảo Như ghi lại.  ——-  Chú thích:   1 Conseil National des Universités –http://www.cpcnu.fr/accueil/-/asset_publisher/IqRbn1tS8UeH/article/id/58249  2https://www.legifrance.gouv.fr/affichTexte.do?cidTexte=JORFTEXT000020913603&fastPos=1&fastReqId=1295914499&categorieLien=cid&oldAction=rechTexte    Author                Đặng Hoàng Minh        
__label__tiasang Quyền biểu tình: Nên quy định thế nào      Hiến pháp là nền tảng tạo nên sự an toàn  pháp lý cho cả một hệ thống pháp luật. An toàn pháp lý trong Hiến pháp  chỉ tồn tại khi người dân thấy được mình ở trong đó, thấy mình được bảo  vệ thông qua sự minh bạch, rạch ròi, và có thể tiên liệu trước ở ngay  chính trong từng Điều luật. Biểu tình là một quyền căn bản trong số rất nhiều những quyền cơ bản khác cần thiết phải có một sự an toàn pháp lý như thế.    Biểu tình không xa lạ ở Việt Nam. Xét từ góc độ thực tế lịch sử, không phải đến giờ Việt Nam mới có biểu tình. Lịch sử Việt nam chứng kiến rất nhiều cuộc biểu tình của những người dân yêu nước. Trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm, chúng ta có những cuộc biểu tình lớn, điển hình như biểu tình Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930, biểu tình ngày 19/8/1945 và rất nhiều cuộc biểu tình những năm chống Mỹ v.v…  Điều 69 Hiến pháp 1992 qui định: “Công dân […] có quyền […] biểu tình theo quy định của pháp luật.” Như vậy, theo pháp luật hiện hành, biểu tình là một quyền hợp hiến ở Việt Nam. Cụm từ “theo quy định của pháp luật” có nghĩa là tuân theo những quy định thuộc về pháp luật khi đã có hiệu lực, chứ không phải tuân theo những gì chưa có. Bởi thế cho nên đương nhiên công dân có quyền biểu tình ngay cả khi chưa có luật hay không có luật về biểu tình.           Cách ứng xử với quyền biểu tình của công dân từ phía công quyền phản ánh mức độ tôn trọng nhân dân, tôn trọng Hiến pháp.        Điều 26 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung Điều 69 nêu trên) qui định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Dự thảo đã bỏ hai từ “có quyền” trong Điều 69 Hiến pháp 1992 và thay vào đó bằng chữ “được”. Cách qui định này có thể dễ dàng dẫn đến cách hiểu rằng: Biểu tình là do nhà nước ban phát (lưu ý từ “được”) và nếu như chưa có “quy định của pháp luật”, tức là nhà nước “chưa cho”, thì người dân không được biểu tình. Nếu hiểu như vậy, thì rõ ràng cách qui định trong dự thảo là không phù hợp, đi ngược với tư duy tiến bộ về nhân quyền trên thế giới hiện nay.   Thay vì qui định như trong dự thảo, tôi đề xuất Điều 26 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nên tách riêng các quyền, trong đó có quyền biểu tình ra thành một Điều riêng, và nên qui định quyền biểu tình cụ thể như sau: “1. Công dân có quyền biểu tình ôn hòa và không vũ khí, không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không của chính quyền. 2. Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thực hiện quyền biểu tình. Mọi hành vi đe dọa, chia rẽ, gây cản trở hoặc ngăn cản cuộc biểu tình hợp pháp sẽ bị xử lý hình sự hoặc xử phạt hành chính tùy theo tính chất, mức độ. 3. Quyền biểu tình của công dân chỉ có thể bị giới hạn bởi một đạo luật của Quốc hội. Việc giới hạn cũng không làm mất đi bản chất của quyền này.”   Qui định như vậy theo tôi sẽ có hai ưu điểm: Thứ nhất, điều khoản này xác định rõ công dân biểu tình không có nghĩa vụ phải xin phép, mà chỉ cần thông báo cho chính quyền. Đây là cách qui định phổ biến của các bản Hiến pháp trên thế giới hiện nay; Thứ hai, qui định người tham gia biểu tình không được sử dụng vũ khí hay công cụ có tính bạo lực sẽ làm rõ cơ sở đảm bảo cho một cuộc biểu tình ôn hòa. Tất cả những vấn đề cụ thể, có tính kĩ thuật khác như cần phải thông báo trước trong thời gian bao lâu, những dụng cụ nào được hiểu là vũ khí, trách nhiệm của người trưởng đoàn biểu tình, những người tham gia biểu tình thế nào, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền ra sao…nên được qui định ở trong một đạo luật do Quốc hội ban hành.   Trên cơ sở hiến định quyền biểu tình như trên, Luật biểu tình trong tương lai nếu có nên tiếp tục làm rõ những vấn đề pháp lý căn bản sau:   Thứ nhất, cần làm rõ trách nhiệm của Trưởng đoàn tổ chức biểu tình. Khi thông báo về việc biểu tình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cần khai báo rõ ai là Trưởng đoàn, nội dung, mục đích của biểu tình là gì. Tôi cho rằng nên qui định rõ: Trưởng đoàn biểu tình sẽ chịu trách nhiệm theo dõi diễn tiến của việc biểu tình, chịu trách nhiệm về việc biểu tình phải diễn ra một cách ôn hòa, không vũ khí, có quyền dừng hoặc chấm dứt biểu tình bất cứ lúc nào. Trong quá trình biểu tình, cả trưởng đoàn và cảnh sát có thể tước quyền biểu tình của bất cứ ai sử dụng vũ khí hay có hành động gây rối, vi phạm pháp luật hoặc không tuân theo chỉ đạo của trưởng đoàn. Việc sử dụng các biểu ngữ nội dung gì phải được thông báo trước cho cảnh sát khi tiến hành thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc biểu tình.   Thứ hai, làm rõ hàng loạt các khái niệm pháp lý căn bản về biểu tình, chẳng hạn như vấn đề “không vũ khí”, “nghĩa vụ thông báo”, “mục đích biểu tình” là như thế nào. Việc mang theo các dụng cụ như trống, kèn, đuốc, vợt đánh bóng… có được coi là “vũ khí” hay không? Cần phải thông báo trước về việc biểu tình với chính quyền trong thời gian bao lâu? Thế nào là có chung một mục đích trong một cuộc biểu tình? Chính quyền có thể cấm biểu tình khi cho rằng nội dung biểu tình là không phù hợp hoặc lo ngại rằng người biểu tình sẽ tham gia với số lượng quá lớn hoặc lo ngại rằng sẽ có một đoàn biểu tình khác chống đối lại không?…  Thứ ba, nên xác định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc đảm bảo cho việc biểu tình được diễn ra một cách an toàn, đúng luật, chẳng hạn như trách nhiệm phải tổ chức các phương tiện giao thông ra sao, rồi trong trường hợp nào thì cảnh sát có thể yêu cầu người không tuân thủ các qui định về luật biểu tình ra khỏi đoàn biểu tình, trường hợp nào thì có thể yêu cầu chấm dứt biểu tình v.v…   Thứ tư, cần qui định cụ thể trách nhiệm pháp lý đối với hành vi đe dọa, chia rẽ, gây trở ngại hoặc ngăn cản cuộc biểu tình hợp pháp bằng các hành động bạo lực. Chế tài này nên được áp dụng chung, cho bất kỳ ai, kể cả người thi hành công vụ nếu xâm phạm quyền tự do biểu tình hiến định của người dân.   Thứ năm, để hoạt động biểu tình được đi vào nề nếp, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trong Luật biểu tình cũng nên qui định rõ hình thức biểu tình nào thì được chấp nhận? việc xếp hàng dài và ngồi án ngữ trước cửa ra vào một địa điểm nào đó có phải là hành vi biểu tình một cách ôn hòa hay không? Việc biểu tình ở bên ngoài trụ sở Quốc hội có bị ngăn cấm không? Người biểu tình có được mặc đồng phục, sử dụng cờ hoặc biểu tượng không? Nếu có, thì có hạn chế gì không?   ***  Thực chất, biểu tình không có gì đáng sợ, quan trọng là cách tư duy về quyền này như thế nào, tiếp đó là kế hoạch, cách thức quản lý, tổ chức biểu tình ra sao. Chính quyền nên tận dụng hoạt động biểu tình, nên coi đó như một cầu nối, một kênh đối thoại quan trọng giữa chính quyền với nhân dân, từ đó một mặt kiểm soát và đưa hoạt động này trở nên có nề nếp, trật tự, mặt khác thông qua việc lắng nghe dân, cân nhắc, điều chỉnh và hoạch định các chính sách liên quan sao cho hợp với lòng dân hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền cơ bản của con người, Quốc hội, và chính đảng      “Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.     5. Thiên hoàng     […]  6. Từ bỏ chiến tranh  […]    7. Các quyền cơ bản của con người  Hãy thử đến những nơi bị cháy bởi không kích. Từ mặt đất bị cháy những mầm cỏ xanh đang bật lên. Sự sống đang nảy mầm. Cả cỏ cũng sống vươn lên mạnh mẽ. Nữa là các bạn là con người. Các bạn chắc chắn có sức sống mạnh mẽ. Đó là sức mạnh tự nhiên mà trời ban cho. Không ai được cản trở con người sống bằng sức mạnh như thế trong thế giới này. Tuy nhiên con người khác với cây cỏ, con người không chỉ có sống không thôi, con người còn phải sống cuộc sống thật sự là người. Để có cuộc sống thật sự là người thì cần đến hai thứ. Đó là “Tự do” và “Bình đẳng”.   Con người một khi sống trên thế giới này thì cần được sống ở nơi mình thích, được đi đến nơi mình thích, được nói những điều mình nghĩ, được tuân theo những điều dạy bảo mình thích. Những điều này là tự do của con người, tự do này nhất quyết không thể bị tước đoạt. Thêm nữa, không thể tùy tiện dùng sức mạnh của nhà nước để tước bỏ tự do và thi hành hình phạt bừa bãi. Vì vậy Hiến pháp quy định rõ nhất quyết không được xâm phạm tự do.      Thêm nữa chúng ta một khi đã là con người thì đều như nhau. Một khi đã là con người thì chắc chắn sẽ không có người vĩ đại và cũng không có người thấp kém dưới con người. Không thể có chuyện nam tốt hơn nữ hay nữ tốt hơn nam. Nếu các bạn đều là con người thì khi sống trong thế giới này không có lý do gì phải gánh chịu sự phân biệt. Việc không có sự phân biệt đó được gọi là “Bình đẳng”. Vì vậy trong hiến pháp cùng với tự do còn quy định cả bình đẳng.   Thứ được công nhận một cách rõ ràng trong quy tắc của quốc gia được gọi là “quyền lợi”. Nếu như tự do và bình đẳng được công nhận một cách rõ ràng và không bị xâm phạm thì tự do và bình đẳng này là quyền lợi của các bạn. Đây được gọi là “quyền tự do”. Thêm nữa, đây là quyền lợi quan trọng nhất của con người. Những quyền lợi quan trọng nhất của con người được gọi là “quyền con người cơ bản”. Hiến pháp mới ghi rằng các quyền con người cơ bản này vĩnh viễn không được xâm phạm. Đây được gọi là “bảo đảm” các quyền con người cơ bản.   Tuy nhiên các quyền cơ bản của con người không phải chỉ có quyền tự do nói tới ở đây. Vẫn còn có nhiều quyền khác. Chỉ có quyền tự do thôi thì con người không thể sống được. Ví dụ như các bạn phải học để trở thành quốc dân tốt. Nhà nước cần phải làm cho tất cả quốc dân học tập. Vì vậy, mọi người có quyền tiếp nhận giáo dục quy định trong Hiến pháp. Trong trường hợp này, từ phía các bạn sẽ đưa ra yêu cầu tiếp nhận giáo dục đối với nhà nước. Đây cũng là quyền con người cơ bản rất quan trọng và được gọi là “quyền đưa ra yêu cầu”. Khi xảy ra tranh chấp thì sẽ nhận được sự xét xử một cách công bằng ở tòa án của đất nước, nó được gọi là quyền yêu cầu xét xử-quyền cơ bản của con người và  đây cũng là quyền đưa ra yêu cầu.   Rồi nữa, trong việc quốc dân trị nước sẽ có rất nhiều thứ có quan hệ và nó là quyền con người cơ bản quan trọng được gọi là “quyền tham gia chính trị”. Việc bầu cử lựa chọn ra nghị viên của quốc hội, thống đốc, thị trưởng, trưởng thôn,… bản thân mình trở thành những người đó được gọi  là quyền tham gia chính trị. Các bạn thân mến quyền con người cơ bản tôi đã nói cho đến lúc này là thứ rất quan trọng vì vậy chúng ta hãy cùng ôn lại nào. Các bạn được Hiến pháp bảo hộ những quyền rất quan trọng gọi là quyền con người cơ bản. Quyền này được chia làm ba. Thứ nhất là tự do. Thứ hai là quyền yêu cầu. Thứ ba là quyền tham gia chính trị.   Khi được trao những quyền tuyệt vời như thế các bạn phải tự mình bảo vệ lấy nó và không được để mất. Thêm nữa không được dùng nó một cách ám muội để làm phiền người khác. Không được quên rằng những người khác cũng có các quyền như các bạn. Hiến pháp viết rằng toàn thể đất nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền con người cơ bản quan trọng này để làm cho toàn thể quốc dân hạnh phúc.   8. Quốc hội  Dân chủ là quốc dân  tự mình trị nước  và vì mình trị nước. Tuy nhiên số lượng quốc dân thật là lớn vì vậy chẳng có cách nào khác là phải có người thay mặt toàn thể quốc dân làm việc nước. Người thay mặt cho quốc dân là “Quốc hội”. Như trước đó đã nói, quốc dân có trong tay sức mạnh trị nước tức là có chủ quyền. Vì quốc hội là người thay mặt quốc dân nắm chủ quyền này vì thế quốc hội có vị trí cao nhất nước và được gọi là “cơ quan tối cao”. “Cơ quan”, cũng giống như con người thì có tay chân, là thứ có chức năng phân theo công việc khác nhau của đất nước. Đất nước có rất nhiều các cơ quan làm việc. Cả nội các và tòa án tôi trình bày ở phần sau cũng là các cơ quan của nhà nước. Tuy nhiên quốc hội là cơ quan có vị trí cao nhất. Đó là vì nó đại diện cho toàn thể quốc dân.   Việc nước rất nhiều nhưng có thể phân chia đại thể làm ba. Thứ nhất là công việc tạo ra các quy tắc của đất nước được gọi là “lập pháp”. Thứ hai là công việc  phân xử các tranh chấp xem xét xem có tội hay không có tội được gọi là “tư pháp”. Thông thường hay nói đến tòa án chính là nói đến công việc này. Thứ ba là công việc nằm ngoài “tư pháp” và “lập pháp” được gọi chung là “hành chính”. Nếu xem xét xem quốc hội làm gì trong ba công việc này thì quốc hội chính là cơ quan lập pháp. Tư pháp thuộc về tòa án. Hành chính thuộc về chính phủ và vô số các cơ quan cấp dưới.   Quốc hội do làm công việc lập pháp cho nên tất cả các quy tắc của đất nước đều được tạo ra ở quốc hội. Quy tắc do quốc hội tạo ra được gọi là “pháp luật”. Các bạn thường xuyên nghe thấy từ “Pháp luật” phải không nào. Tuy nhiên để tạo ra được pháp luật ở quốc hội thì phải trải qua rất nhiều thủ tục vì vậy không thể tạo ra cả các quy tắc chi tiết. Vì vậy hiến pháp cũng trao quyền tạo ra các quy tắc của đất nước cho các cơ quan khác ngoài quốc hội như nội các. Những quy tắc này gọi là “mệnh lệnh”.   Tuy nhiên quy tắc của đất nước càng được tạo ra bởi quốc hội thì càng tốt. Bởi vì quốc hội là nơi tập hợp của những nghị viên do quốc dân bầu ra và đó là những người lắng nghe ý kiến của quốc dân nhiều nhất. Vì vậy hiến pháp mới quy định rằng quy tắc của đất nước chỉ quốc hội mới có quyền tạo ra. Điều này có nghĩa là quốc hội là “cơ quan lập pháp duy nhất”. “Duy nhất” tức là chỉ có một không có cái thứ hai.   Cơ quan lập pháp là cơ quan có vai trò tạo ra quy tắc của đất nước.  Vì vậy trường hợp  cơ quan ngoài quốc hội  có thể tạo ra quy tắc của đất nước cũng được quy định bởi hiến pháp. Thêm nữa ở trong quy tắc của đất nước do quốc hội tạo ra tức là pháp luật thì việc quyết định bằng mệnh lệnh cũng được phép. Việc những đại biểu do quốc dân lựa chọn tạo ra quy tắc trị quốc dân ở quốc hội là tiền đề của dân chủ.   Tuy nhiên quốc hội ngoài tạo ra quy tắc của đất nước còn có một vai trò quan trọng nữa. Đó là giám sát công việc của nội các và các cơ quan công cấp dưới. Công việc của các cơ quan công này được gọi là hành chính như trước đó đã nói vì thế quốc hội giám sát hành chính và đóng vai trò làm cho công việc của các cơ quan không sai sót. Như thế đại biểu của nhân dân đã giám sát công việc của nhà nước. Đây cũng là cách trị nước dân chủ. Quốc hội của Nhật Bản được tạo thành từ hai viện là “Chúng nghị viện” và “Tham nghị viện”. Mỗi viện đó được gọi là “Nghị viện”. Và như thế việc quốc hội được tạo thành từ hai nghị viện được gọi là “Chế độ lưỡng viện”. Có nước chỉ có một nghị viện duy nhất và đó là “Chế độ nhất viện”. Tuy nhiên quốc hội ở phần lớn các nước  được tạo thành từ hai viện. Việc nước do hai viện này cùng quyết định. Tại sao lại phải có hai viện?   Các bạn có biết cái gọi là “back-up” trong các môn thể thao như bóng chày hay không? Khi một tuyển thủ lấy bóng một cầu thủ khác chạy quanh ở phía sau để dõi theo đề phòng sai sót – đó gọi là “back-up”. Quốc hội do tiến hành việc nước cho nên chỉ một mình Chúng nghị viện sẽ xảy ra sai sót cho nên mới có Tham nghị viện để đề phòng sai sót.   Tuy nhiên trong thể thao thì các tuyển thủ  cùng nhau tiến hành “back-up” nhưng ở quốc hội thì công việc chủ yếu được tiến hành bởi Chúng nghị viện còn Tham nghị viện thì chủ yếu làm công việc “back-up” Chúng nghị viện. Do đó Chúng nghị viện được trao quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chúng nghị viện với quyền lực lớn như vậy được gọi là “Đệ nhất viện” và Tham nghị viện được gọi là “Đệ nhị viện”. Tại sao Chúng nghị viện lại có quyền lực lớn hơn? Đó là do như sau:  Cuộc bầu cử ra Chúng nghị viện diễn ra bốn năm một lần. Nghị viên của Chúng nghị viện có nhiệm kì bốn năm một. Tuy nhiên khi mà nội các cho rằng suy nghĩ của Chúng nghị viện không phản ánh đúng đắn suy nghĩ của quốc dân thì nội các, để biết được ý kiến của quốc dân, có thể nói với Thiên hoàng và tiến hành bầu cử lại Chúng nghị viện. Đây được gọi là sự “giải tán” Chúng nghị viện. Bằng cuộc bầu cử sau khi giải tán, quốc dân lại lựa chọn ra Chúng nghị viện mới.   Ở phía Tham nghị viện thì nghị viên có nhiệm kỳ 6 năm  và cứ 3 năm thì bầu cử thay một nửa nghị viên nhưng không có chuyện giải tán giống như Chúng nghị viện. Và như vậy thì thấy Chúng nghị viện phản ánh tốt hơn Tham nghị viện ý kiến của quốc dân ở thời điểm nhất định nào đó. Do đó Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chuyện Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn như thế nào được hiến pháp quy định nhưng nói gọn lại là khi Chúng nghị viện và Tham nghị viện có ý kiến khác nhau thì ý kiến của Chúng nghị viện sẽ được thông qua.   Tuy nhiên cả Chúng nghị viện và Tham nghị viện đều là đại biểu của toàn thể quốc dân vì thế nghị viên đều được lựa chọn từ trong quốc dân. Chúng nghị viên có số nghị viên là 466 người, Tham nghị viện có 250 người. Để lựa chọn được các nghị viên này, đất nước được chia thành các “khu vực bầu cử” ở khu vực bầu cử này tùy theo dân số mà phân ra số nghị viên. Do đó bầu cử được diễn ra theo từng khu vực bầu cử và số nghị viên được lựa chọn ra phù hợp với số nghị viên được phân chia.   Để bầu cử ra nghị viên, vào ngày bầu cử người dân phải đi đến nơi bỏ phiếu, lấy phiếu bầu và viết tên người mình nghĩ là tốt vào phiếu. Sau đó gấp tờ phiếu lại bỏ vào hòm đã khóa kín. Bỏ phiếu là quyền vô cùng quan trọng. Người bầu cử phải tự mình quyết định xem mình bỏ phiếu cho ai. Tuyệt đối không được bị thuyết phục bởi cam kết vật chất hay lợi ích. Sự bỏ phiếu này là bỏ phiếu kín vì thế không có nghĩa vụ nói bỏ phiếu cho ai và cho dù có bị hỏi tại sao lại lựa chọn người đó cũng không cần thiết phải trả lời.   Quốc dân Nhật Bản người từ 20 tuổi trở lên ai cũng có thể tham gia bầu cử ra nghị viên quốc hội, thống đốc, thị trưởng… Đây gọi là “Quyền bầu cử”. Ở nước ta trong một thời gian dài, chỉ có nam giới có quyền bầu cử. Thêm nữa chỉ có những người có tài sản và nộp thuế mới có quyền bầu cử.   Hiện tại do trị nước bằng phương thức dân chủ cho nên những người trên 20 tuổi dù là nam hay nữ đều có quyền bầu cử. Và như thế việc tất cả quốc dân có trong tay quyền bầu cử này được gọi là “bầu cử phổ thông”. Hiến pháp lần này công nhận bầu cử phổ thông là quyền con người cơ bản của quốc dân. Tuy nhiên cho dù nói là bầu cử phổ thông đi nữa thì cũng không phải là cả trẻ em và người điên cũng có quyền bầu cử nhưng ít nhất thì cũng không có sự phân biệt nhân chủng, nam nữ, tôn giáo, tài sản, tất cả mọi người đều có quyền bầu cử một cách bình đẳng.   Thêm nữa, quốc dân Nhật Bản ai cũng có thể trở thành nghị viên quốc hội. Cả nam và nữ đều có thể trở thành nghị viên. Đây gọi là “quyền được bầu cử”. Tuy nhiên về tuổi có sự khác biệt so với quyền bầu cử. Để trở thành nghị viên của Chúng nghị viện thì phải trên 25 tuổi và trở thành nghị viên Tham nghị viện phải trên 30 tuổi. Trong trường hợp quyền được bầu cử này cũng giống như quyền bầu cử đối với những người mà cho dù là ai đi nữa cũng nghĩ là không ổn thì người đó  sẽ không có quyền được bầu cử. Những người muốn trở thành nghị viên quốc hội và tự mình đăng ký thì đó là các “ứng cử viên”. Cũng có thể đăng ký ứng cử cho người khác khi mình nghĩ đó là người tốt. Đây được gọi là “tiến cử”.   Việc đăng ký ứng cử viên này được tiến hành trước ngày bầu cử. Người bỏ phiếu sẽ phải lựa chọn trong số các ứng cử viên này người mà bản thân cho là tốt. Không được viết tên người khác. Và những ứng cử viên có số phiếu cao sẽ trở thành nghị viên. Đó là “trúng cử”.   Các bạn thân mến, dân chủ là toàn thể quốc dân trị nước. Và quốc hội là đại biểu của toàn thể quốc dân. Vì vậy việc bầu cử nghị viên  quốc hội là quyền quan trọng của quốc dân đồng thời là trách nhiệm quan trọng. Quốc dân nhất định phải đi bầu cử. Việc không đi bầu cử là đánh mất quyền lợi quan trọng đồng thời cũng là lãng quên trách nhiệm quan trọng. Việc không đi bầu cử thông thường gọi là “khi quyền”. Có nghĩa là từ bỏ quyền lợi. Quốc dân không được ném bỏ quyền lợi. Các bạn giờ đây có quyền này trong tay vì vậy việc bầu cử tôi đã viết rất kĩ.   Quốc hội tập trung các nghị viên được quốc dân lựa chọn và là nơi quyết định việc nước vì thế khác với các cơ quan công khác là  quốc dân có thể biết tình hình các nghị viên tiến hành công việc của đất nước ở quốc hội. Quốc dân bất cứ khi nào cũng có thể đến quốc hội và xem xét hay nghe ngóng. Thêm nữa có thể xem và nghe qua đài báo.   Tóm lại, công việc của quốc hội được diễn ra trước mắt của quốc dân. Đó là do hiến pháp quy định rằng công việc của quốc hội phải được diễn ra sao cho lúc nào người dân cũng có thể chứng kiến. Đó là công việc rất vất vả. Cho dù hiếm hoi nhưng giả sử như có hội nghị bí mật mở ra thì cần phải có các thủ tục đầy khó khăn. Và nhờ thế quốc dân sẽ hiểu được việc trị nước được tiến hành như thế nào, nhà nước đang tiến hành việc gì, các nghị viên được dân chọn ra đưa ra ý kiến gì trước quốc hội. Sự sáng sủa  và đúng đắn của việc nước sẽ sinh ra từ đây. Nếu như quốc hội mất đi thì đất nước sẽ trở nên tăm tối. Đó là cách làm hay của dân chủ. Quốc hội là thứ không thể thiếu được trong dân chủ.   Quốc hội của Nhật Bản không phải là mở ra suốt cả năm. Tuy nhiên mỗi năm nhất thiết phải mở một lần. Đây gọi là “Họp thường kì”. Họp thường kì được quy định là 150 ngày. Đây được gọi là “Kì họp” của quốc hội. Bên cạnh đó thì khi cần thiết cũng tiến hành họp lâm thời. Đây được gọi là “Họp lâm thời”.   Thêm nữa, khi Chúng nghị viện bị giải tán, trong vòng 40 ngày kể từ ngày giải tán thì bầu cử diễn ra và trong vòng 30 ngày kể từ ngày bầu cử quốc hội mới sẽ họp. Đây được gọi là “Kì họp đặc biệt”. Kì họp lâm thời và Kì họp đặc biệt là do quốc hội tự quyết định. Thêm nữa, kì họp  thường kì của quốc hội cũng có thể kéo dài khi cần thiết. Và điều này cũng là do quốc hội tự quyết định. Khi quốc hội họp thì các nghị viên sẽ bị gọi đến. Cái này quốc hội gọi là “triệu tập”. Quốc hội được triệu tập sẽ tự họp và tiến hành công việc, nếu như kì họp kết thúc thì tự bế mạc và quốc hội có kì nghỉ tạm thời.   Các bạn có biết tòa nhà quốc hội không? Hãy nhìn tòa nhà trắng đẹp đẽ phản chiếu ánh sáng mặt trời kia. Đó là nơi thể hiện quyền lực của quốc dân Nhật Bản. Đó là nơi quốc dân Nhật Bản có trong tay chủ quyền tiến hành trị nước.   9. Chính đảng   “Chính đảng” là chỉ đoàn thể tập trung những người có cùng ý kiến về việc trị nước. Các bạn đã từng nghe đến những cái tên “Đảng xã hội, đảng dân chủ, đảng tự do, Đảng quốc dân hiệp đồng, Đảng cộng sản phải không nào? Tất cả đều là các chính đảng. Các nghị viên xuất thân từ chính đảng có một bộ phận là người tạo ra chính đảng. Vì vậy, khi nói có một chính đảng có nghĩa rằng ở trong nước có rất nhiều người có ý kiến giống với đảng đó.      Trong chính đảng có ý kiến quyết định về việc trị nước và họ thông báo điều này cho quốc dân biết. Ý kiến của quốc dân thì thay đổi theo từng người nhưng nếu phân chia đại thể thì nó sẽ phân chia theo các đảng này. Tóm lại, có thể nói chính đảng là thứ thể hiện sự phân chia phong phú ý kiến của toàn thể quốc dân về việc trị nước. Để trị nước bằng dân chủ toàn thể quốc dân cần phải thảo luận ý kiến và đi đến quyết định. Các chính đảng cùng nhau thảo luận về việc nước chính là vì thế.   Ở  Nhật Bản liên quan đến chính đảng có những suy nghĩ sai lầm. Đó là sự nhìn nhận cho rằng các chính đảng trong nước không nên khăng khăng ý kiến của bản thân mình. Đây là sự sai lầm lớn. Bởi vì cách làm dân chủ liên quan đến việc nước là quốc dân phải quyết định sau khi đã thảo luận rất nhiều ý kiến vì vậy sự cạnh tranh giữa các chính đảng không phải là sự cãi nhau. Nếu tiến hành dân chủ thì chắc chắn sẽ có các chính đảng.   Thêm nữa, cần phải có các chính đảng. Có bao nhiêu chính đảng đi nữa cũng tốt. Có thể nghĩ rằng chỉ bằng con số chính đảng thì ý kiến của quốc dân đã phân chia ở mức độ tổng quát. Ở Đức hay Ý đã từng có chuyện chỉ có một chính đảng và ở Nhật cũng có chuyện từ bỏ chính đảng. Kết quả thế nào đây? Chẳng phải là ý kiến của quốc dân đã không còn được nghe nữa thay vào đó là quyền lợi của cá nhân và rồi chiến tranh bắt đầu sao?  Mỗi lần có bầu cử quốc hội các chính đảng lại đưa ra các ứng cử viên từ chính đoàn thể của mình và cho quốc dân biết về ý kiến của bản thân và cố gắng có được càng nhiều nghị viên trong quốc hội càng tốt. Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện cho nên từng chính đảng đều muốn người của mình chiếm số đông nhất trong Chúng nghị viện. Vì vậy đối với các chính đảng thì cuộc bầu cử Chúng nghị viện là việc quan trọng nhất. Quốc dân xem xét ý kiến của các chính đảng này và nếu bỏ phiếu cho ứng cử viên của đảng mà mình cho là tốt nhất thì ý kiến của bản thân thông qua chính đảng sẽ đến được quốc hội.   Người không vào đảng nào cũng có thể trở thành ứng cử viên. Quốc dân tất nhiên cũng tự do bỏ phiếu cho các ứng cử viên này. Tuy nhiên ở trong đảng thì có ý kiến quyết định sẵn và điều đó được thông báo tới quốc dân do đó nếu như bỏ phiếu cho ứng cử viên của chính đảng thì  khi người đó ra quốc hội việc người đó đưa ra ý kiến như thế nào, làm việc như thế nào đã được quyết định rõ ràng. Và cứ thế qua từng cuộc bầu cử công việc của đất nước được  tiến hành bằng ý kiến của chính đảng có số nghị viên đông đảo trong Chúng nghị viện. Điều này nói một cách khác là trong toàn thể quốc dân việc trị nước được tiến hành theo ý kiến của phe đa số.   Các bạn quốc dân cần phải biết cặn kẽ về các chính đảng. Hãy vào đảng mà mình yêu thích, thêm nữa việc tự mình tạo ra các chính đảng là tự do của quốc dân và hiến pháp công nhận đây là “quyền con người cơ bản”. Không ai có thể cản trở điều này.   Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền cơ bản, Hiến pháp cho mới có?      Quyền cơ bản được coi  là đặc trưng của một nhà nước dân  chủ. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 có  44 điều về “quyền và nghĩa vụ cơ bản  của công dân”. Dự thảo sửa đổi  Hiến pháp Việt Nam năm 1992 hiện nay  (DTHP) có 38 điều về “quyền con  người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công  dân”. Hiến pháp Trung Quốc 1982,  sửa lần cuối 2004 có 33 điều.       Quyền cơ bản là một phạm trù chính  trị luật học, nội hàm bao gồm quyền công dân và quyền con người được  phân thành 26 quyền: quyền được bảo vệ nhân phẩm, quyền được toà án  tuyên phán, quyền bình đẳng trước pháp luật, tự do tín ngưỡng nhận thức,  tự do biểu đạt ý kiến, được bảo vệ hôn nhân gia đình, bí mật thư tín,  khiếu nại, chỗ ở không bị xâm phạm, sở hữu không bị chiếm đoạt, chuyển  quyền sở hữu theo văn bản lập pháp, học hành được nhà nước bảo hộ, quyền  cha mẹ, quyền tỵ nạn, quyền được trình bày trước toà, được pháp luật  bảo vệ, được toà tuyên phán khi tước bỏ quyền cơ bản nào đó, bảo đảm  trình tự pháp lý khi bị tước quyền tự do, quyền tự do lưu trú, tự do  nghề nghiệp, bình đẳng tham gia vai trò lãnh đạo quản lý trong bộ máy  chính quyền, tự quyết định quốc tịch, tự do lập hội, tự do hội họp biểu  tình, chống lại các hành vi vi hiến, bầu và ứng cử. Quyền công dân cũng  là quyền con người, khác mỗi chỗ có hiệu lực chỉ riêng công dân nước đó,  trong khi quyền con người có hiệu lực đối với cả mọi công dân từ các  nước khác tới. Trong số hơn 3 triệu người Việt sống khắp thế giới, hơn  nửa mang quốc tịch Việt Nam chỉ hưởng quyền con người, không hưởng quyền  công dân nước họ.  Quyền cơ bản trước hết là quyền tự thân, phân biệt con  người với động vật, “tạo hoá cho họ”, tức nằm sẵn trong chính con người.  Nhưng không phải tất cả mọi quyền tự thân; bởi liệt kê trên không hề đề  cập tới những quyền tự nhiên, như sinh lý, ăn, ngủ, thở… hay quyền kinh  tế mua bán, vay mượn, đổi chác, hoặc tình cảm yêu đương, hiếu, hỷ… vốn  mang tính tuyệt đối hiểu theo nghĩa luôn tồn tại trong bất cứ xã hội nhà  nước nào dù dân chủ hay không, mà chỉ những quyền được nhà nước do  người dân sinh ra phải chịu trách nhiệm pháp lý bảo đảm cho họ: 1- chắc  chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án bảo vệ, mới được gọi là quyền  cơ bản. Hiến định quyền cơ bản vì vậy đồng nghĩa với hiến định trách  nhiệm pháp lý nhà nước phải bảo đảm quyền con người đã được hiến định.  Nguyên lý đó được hiến pháp Đức quy định ngay tại điều 1, “Quyền cơ bản  có hiệu lực trực tiếp, ràng buộc lập pháp, hành pháp và tư pháp phải bảo  đảm”.   Như vậy quyền cơ bản không phải cứ ghi vào hiến pháp  là có, mà chỉ khi chế tài được nhà nước chịu trách nhiệm bảo đảm nó mới  có. Chức năng soạn thảo hiến pháp, do vậy, một khi đã hiến định  quyền cơ bản nào, thì phải xác định được ở các khoản mục tiếp theo các  quy phạm chế tài nhà nước thích ứng. Hiến pháp Mỹ còn không đưa ra điều  khoản quyền cơ bản, như tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí, biểu tình,  hội họp chẳng hạn, mà hiến định trực tiếp trách nhiệm nhà nước: “Quốc  hội không được phép ban hành luật quy định tôn giáo nhà nước, cấm tự do  tín ngưỡng, tự do ngôn luận báo chí, hoặc hạn chế quyền biểu tình hội  họp…” (Tu chính số I). Hay Hiến pháp Nga, điều 29 về “quyền tự do truyền  thông báo chí”, quy định “cấm (nhà nước) kiểm duyệt”.  Còn Dự thảo Hiến pháp (DTHP) nước ta? Có thể phân tích  trường hợp điển hình, Điều 21: “Mọi người có quyền sống”. Tuyên ngôn độc  lập Hoa Kỳ và Việt Nam đều chung câu: “tất cả mọi người sinh ra đều có  quyền bình đẳng… trong những quyền ấy, có quyền được sống”. Quyền được  sống ở đây hiểu là quyền sống bình đẳng ngang nhau, chứ không phải sống  nô lệ thuộc địa (Hoa Kỳ và Việt Nam trước đó đều thuộc địa), không mang  nghĩa sự sống sinh lý. Vậy quyền sống ở điều 21 DTHP hiểu theo 1- cuộc  sống bình đẳng, hay 2- sự sống? Nếu hiểu theo 1 thì phải ghi rõ “có  quyền sống bình đẳng” để không nhầm lẫn với sự sống, nhưng lại trùng với  điều 17 DTHP. Nếu hiểu theo 2, thì liệu nhà nước ta đã chuẩn bị đủ tiền  đề bảo đảm nó được thực thi, một khi được coi là quyền cơ bản, nếu  không sẽ bị viện tới toà án bảo vệ? Hiến pháp Nga, điều 20 ghi: “1. Mỗi  người có quyền quyết định đối với sự sống của họ. 2- Cho tới khi hủy bỏ  án tử hình, một văn bản lập pháp cấp Liên bang có thể quyết định hình  phạt tử hình …”. Như vậy điều 20 Hiến pháp Nga chỉ nhằm quá độ để nhà  nước đi tới bỏ án tử hình. Hiến pháp Đức điều 2 ghi: “(2) mỗi người có  quyền quyết định sự sống và toàn vẹn cơ thể”. Từ đó bộ Luật Hình sự Đức  không có hình phạt tử hình và cấm mọi hình thức tra tấn, khủng bố tinh  thần. Nhưng vấn đề không đơn giản vậy, để thực thi điều 2 chỉ gọn 13 từ,  nhà nước phải đối mặt với vô vàn câu hỏi nảy sinh trong thực tế: Liệu  bác sỹ giúp người sống thực vật được chết hay nạo thai có vi phạm quyền  quyết định sự sống? Sự sống tính từ thai nhi hay từ khi ra đời? Hiến  tạng có vi phạm quyền được toàn vẹn cơ thể, và lúc nào thì được gọi là  chết để hiến nó? Bắn máy bay đang chở khách bị bọn khủng bố cướp có vi  phạm điều 2…?           Lẽ dĩ nhiên, nước nào quyết định hiến pháp nước  đó, có  thể tùy ý đưa mọi quyền con người vào hiến pháp mà không cần chế  tài  trách nhiệm nhà nước; nhưng trong thời đại hội nhập toàn cầu ngày  nay  không thể bất chấp những nguyên lý khoa học mang tính phổ quát; một  khi  đã đưa vào hiến pháp mà không hoặc không thể thực hiện, thì bản  hiến  pháp đó sẽ vĩnh viễn mất uy danh tối thượng và nhà nước đó luôn bị  coi  vi hiến trong con mắt thế giới!        Còn nếu quyền sống, điều 21 DTHP đưa ra tương tự quyền sinh lý, ăn,  uống, thở, nhìn, nghe… là những quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn không  thuộc nội hàm quyền cơ bản, thì không thể đưa vào hiến pháp. Nhầm lẫn về  quyền tự nhiên tuyệt đối với quyền cơ bản lặp lại tương tự tại điều 35:  “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh”. Trách nhiệm này, chỉ các nước  hiện đại mới chế tài được nhà nước bảo đảm cho người dân, như Đức hiện  bất kỳ người dân nào, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức không có  thu nhập đều được cấp 374 Euro/tháng/người cộng tiền thuê nhà, điện  nước, các chi phí đột xuất, cưới xin, tang lễ, sinh nở, tai nạn; chữa  bệnh, học hành đều miễn phí; được gọi tiêu chuẩn Hartz IV; cấp qúa muộn  hoặc thiếu họ kiện ra toà. Còn nếu coi điều khoản trên theo nghĩa, công  dân đóng phí hưu trí được hưởng hưu trí, đóng bảo hiểm sức khoẻ được  chữa bệnh miễn phí, tức thuộc quan hệ mua bán bảo hiểm, thì đó là quyền  tự nhiên, tuyệt đối, bất cứ nhà nước nào, thời đại nào cũng vậy cả,  không thuộc quyền cơ bản. Tương tự điều 36: “Công dân có quyền có nơi ở  hợp pháp”. Chắc chắn nhà nước Việt Nam không thể cấp Hartz IV như Đức.  Vậy có nghĩa người dân tự tìm lấy nơi ở, là quyền tự nhiên tuyệt đối  không thuộc nội hàm quyền cơ bản. Điều 38: “Công dân có quyền làm việc”,  đồng nghĩa hiến định nhà nước có trách nhiệm bảo đảm việc làm cho họ.  Chưa nước hiện đại nào làm nổi điều đó. Còn nếu hiểu làm việc là quyền  tự nhiên, tuyệt đối, chẳng nhẽ sinh ra chỉ nằm, ăn chơi, thì không thuộc  nội hàm quyền cơ bản. Ở họ điều khoản trên được thay bằng: “Quyền tự do  nghề nghiệp việc làm”, nghĩa là nhà nước không được phép can thiệp và  không để ai cưỡng bức họ. Điều 39 quy định “Nam nữ có quyền kết hôn và  ly hôn”; dù có không hiến định cũng chẳng nhà nước nào cấm nổi, tức  quyền tự nhiên tuyệt đối, không thuộc quyền cơ bản. Thực ra có thể hiến  định: quyền tự do kết hôn và ly hôn, để chống cưỡng ép hôn nhân. Tương  tự, điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”; điều 41 “có quyền  được bảo vệ sức khoẻ”; điều 43 “quyền nghiên cứu khoa học”; điều 44  “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá; điều 46 “quyền được sống trong môi  trường trong lành” (đến các nước hiện đại nhất cũng không thể, chỉ hạn  chế ô nhiễm!). Đặc biệt điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học  tập”; đã là quyền và nghĩa vụ thì giống như nghĩa vụ quân sự mang tính  bắt buộc, nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực thi; liệu nhà nước ta  có đủ tài chính phổ cập phổ thông miễn phí, cấp học bổng cho đại học,  học nghề, hay trẻ em bị án tù phải bố trí giáo viên dạy phổ thông trong  tù cho chúng như ở Đức? Còn nếu coi đó là quyền tự nhiên tuyệt đối thì  không cần đưa vào hiến pháp, bởi chẳng nhà nước nào có thể cấm hay bắt  họ học được.   Lẽ dĩ nhiên, nước nào quyết định hiến pháp nước đó, có  thể tùy ý đưa mọi quyền con người vào hiến pháp mà không cần chế tài  trách nhiệm nhà nước; nhưng trong thời đại hội nhập toàn cầu ngày nay  không thể bất chấp những nguyên lý khoa học mang tính phổ quát; một khi  đã đưa vào hiến pháp mà không hoặc không thể thực hiện, thì bản hiến  pháp đó sẽ vĩnh viễn mất uy danh tối thượng và nhà nước đó luôn bị coi  vi hiến trong con mắt thế giới!  Không chỉ nhiều điều khoản quyền cơ bản không đưa ra được  quy phạm chế tài nhà nước bảo đảm quyền đó, mà còn trao cho nhà nước  quyền hạn chế nó thiếu chuẩn mực thước đo, tất nảy sinh lạm quyền, phủ  định lại quyền hiến định, đã được chứng minh bởi thực tế mọi bê bối bức  xúc bất bình ở nước ta hiện nay đều bắt nguồn từ sự lạm dụng chức quyền,  vụ lợi.   Điều 15 DTHP, điểm 1, mệnh đề đầu: “Quyền con người,  quyền công dân được nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng bảo vệ”, tức  xác định rõ trách nhiệm nhà nước, có thể tìm thấy ở hầu hết hiến pháp  trên thế giới hiện nay. Nhưng mệnh đề tiếp theo: “THEO hiến pháp và pháp  luật” vốn được hiểu gồm tất cả các văn bản lập pháp, lập quy, chỉ thị,  do bất kỳ cơ quan nào trong bộ máy nhà nước ban hành. Điểm 2 còn nhấn  mạnh tiếp, các quyền trên bị giới hạn “trong trường hợp cần thiết vì lý  do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức, sức  khoẻ cộng đồng”, mà không hề định lượng cần thiết ở mức nào, giới hạn ra  sao, nghĩa là bỏ mặc cho quan chức hành xử tự đo lường. Nếu nhà nước  vừa chịu trách nhiệm lại vừa tự quyết định mà bảo đảm được quyền cơ bản,  thì bất cứ nhà nước nào trong lịch sử nhân loại từ nô lệ tới nay đều  bảo đảm được cả, không cần đến hiến pháp dân chủ phải chế tài nhà nước  mới bảo đảm được quyền cơ bản cho người dân.   Không hiếm quyền cơ bản không thể tránh được những tình  huống giới hạn; nhưng như ở Nga, để giới hạn quyền tự do và nhân phẩm,  điều 22 Hiến pháp quy định bắt người phải có trát toà cấp trong vòng 48  tiếng kể từ lúc bắt; hay điều 23 quy định quyền bí mật thư tín điện  thoại, nếu giới hạn phải có quyết định toà án. Hiến pháp Đức, quyền cơ  bản nào bị giới hạn đều có câu thông qua “một văn bản lập pháp”, nghĩa  là quyết định bởi cơ quan quyền lực cao nhất và có hiệu lực đối với mọi  người chứ không phải một cá nhân để cưỡng bức họ. Chưa đủ, để tránh  chính văn bản lập pháp vi hiến, điều 19 quy định khi giới hạn quyền cơ  bản: “Trong bất luận trường hợp nào, đều không được phép đụng tới bản  chất quyền cơ bản vốn bất khả xâm phạm… Bảo đảm cho người bị giới hạn  quyền cơ bản được quyền pháp lý chống lại (viện tới toà án)”. Còn để  tránh người dân lạm dụng quyền cơ bản phạm luật, điều 18 quy định tước  bỏ quyền cơ bản mà người đó lạm dụng, nhưng bằng “án quyết của Toà Hiến  pháp”.   Mệnh đề “theo Hiến pháp và pháp luật” được DTHP lặp lại  nhiều lần, tại điều 22 quy định “quyền thư tín…”, nhưng “việc bóc mở… do  pháp luật quy định”. Điều 24 “công dân có quyền tự do đi lại và cư  trú…”, nhưng theo “quy định của pháp luật”; hậu qủa Hà Nội hay bất cứ  thành tỉnh nào hạn chế nhập hộ khẩu vẫn đúng Hiến pháp; trong khi cùng  hiến định quyền tự do đi lại cư trú như ta, nhưng không điạ phương nào  thuộc EU dám cấm dân các nước EU khác đến cư trú nhập khẩu. Điều 26,  “công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí…” như bất kỳ hiến pháp Âu Mỹ  nào, nhưng khác họ ở chỗ “theo quy định pháp luật”. Tương tự điều 31,  “người bị thiệt hại có quyền được bồi thường… theo quy định của pháp  luật”; điều 32, người làm trái luật trong việc bắt giữ phải bị xử lý  theo pháp luật”.   Theo đúng nguyên lý “logic học hình thức”, tất cả điều  khoản “Mọi người có quyền…”, kèm theo mệnh đề “… theo pháp luật” đều  được phép chuyển đổi thành: “Mọi người có quyền … do nhà nước quy định”,  vô hình trung phủ nhận luôn chức năng hiến pháp sinh ra để chế tài nhà  nước – cái giá phải trả do kỹ thuật lập hiến một khi không tuân thủ khoa  học logic hình thức.  Ngoài lỗi về giới hạn quyền cơ bản có thể phủ định toàn  bộ quyền đó, nhiều câu chữ thay vì sử dụng thuật ngữ pháp lý đưa ra  những quy tắc xử sự, thước đo chuẩn mực, cân đong đo đếm được, lại sử  dụng ngôn từ nghị quyết đại hội, mang tính kêu gọi định hướng, gây nguy  cơ lạm quyền hoặc vô trách nhiệm hoặc không thể áp dụng, hoặc áp dụng  tùy thuộc nhận thức, động cơ của cá nhân, cơ quan hành xử. Điều 19 DTHP  về quyền của Việt kiều: “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng  dân tộc Việt Nam”, trích y nguyên nghị quyết Đảng vốn mang tính kêu gọi  đoàn kết; trong khi đó, mối quan hệ giữa Việt kiều với trong nước chủ  yếu thuộc lĩnh vực tình cảm không phải đối tượng điều chỉnh của pháp  luật, đặc biệt khi họ có quốc tịch nước khác. Trong khi Pháp, để hiến  định quyền ngoại kiều điều 24 Hiến pháp họ ghi: “Pháp kiều có đại diện  trong Thượng viện”. Tương tự, điều 16: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng  quyền của người khác”; khái niệm “tôn trọng” thuộc ý thức tình cảm không  phải đối tượng điều chỉnh của pháp luật, đến bố mẹ cũng không buộc được  con cái chứ chưa nói nhà nước Việt Nam đối với 80 triệu công dân họ. Lẽ  ra điều 16 có thể diễn đạt như điều 2 Hiến pháp Đức: “Mỗi người có  quyền phát triển tự do nhân cách, chừng nào không vi phạm (khác với tôn  trọng) quyền của người khác…”. Điều 17, “Không ai bị phân biệt đối xử  trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Vậy giải  thích thế nào về việc hầu hết lãnh đạo trung cao cấp phải đảng viên?  Trong khi ở Đức, nhà nước hiện đang kêu gọi tuyển dụng người gốc ngoại  quốc vào nhiệm sở công chức; hay đảng nào được dân bầu thì cầm quyền,  nhưng bộ trưởng không phải đảng viên họ là chuyện bình thường, và bộ máy  hành chính được bố trí mà theo luật tuyển dụng công chức. Đó chính là  nội hàm của khái niệm “không phân biệt đối xử”.  Sở dĩ các điều khoản về “quyền con người, quyền và nghĩa  vụ cơ bản của công dân”, được biên soạn không theo thông lệ hiến pháp  thế giới như phân tích ở trên, mặc dù Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia  nào đều nhằm “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh”, là  do như ý kiến cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, “theo khuôn mẫu của  Cộng hòa Xô Viết, nó không gần với những khuôn mẫu chung của thế giới và  có một số quy định cốt lõi lại xa rời với Hiến pháp 1946”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền cơ bản trong vương quốc dân chủ hàng đầu thế giới      Đan Mạch là một vương quốc, tức có Vua. Với tổng số dân non năm triệu  rưỡi chỉ chừng 1/16 Việt Nam, nhưng GDP gấp gần ba lần Việt Nam; tính  ra mỗi người Đan Mạch làm bằng 43 người Việt Nam cộng lại. Được xếp thứ  hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới, nhưng thiết chế nhà nước họ không thuộc  mô hình dân chủ mà là quân chủ “đặc biệt”.      Vai trò nhà Vua vừa mang tính biểu tượng tinh thần như Thái Lan, “thiêng  liêng bất khả xâm phạm” (điều §13 Hiến pháp 1953), vừa thực quyền nắm  cả lập pháp “cùng với Quốc hội”, lẫn trọn “ hành pháp”, được quy định  tại điều §3. Nhưng khác Vua trong chế độ phong kiến ở chỗ: 1- “Toà án  thực hiện quyền tư pháp độc lập (điều §3 câu 3) nghĩa là Vua không thể  ra lệnh cho Toà, mà còn phải thừa nhận án quyết; 2- Quốc hội gồm Vua và  tới 12 Đảng phái đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia, bình đẳng ý  kiến với vua chứ không phải dưới quyền vua; 3- “Các bộ trưởng phải tự  chịu trách nhiệm trong công việc điều hành của chính phủ”, (điều §13,  câu 2) thường do Liên minh các đảng phái thắng cử nắm, do dân bầu chứ  không phải Vua ban, nên không thể lấy uy hoặc đổ trách nhiệm cho Vua, 4-  Đặc biệt, Vua không đứng trên Hiến pháp như trong chế độ phong kiến mà  “phải tuyên thệ không được vi phạm Hiến pháp” (điều §8). Vậy quyền cơ  bản được Hiến pháp họ đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự chặt  chẽ như thế nào để chế tài được nhà Vua, bộ máy nhà nước, các đảng  phái, bảo đảm cho dân họ đúng chủ nhân đất nước, chứ không phải Vua, nhà  nước hay đảng phái?  Về quyền tự do cá nhân  Như đa số các quốc gia, điều §71 điểm (1)  Hiến pháp Đan Mạch quy định quyền “tự do cá nhân” là “bất khả xâm phạm”.  Tuy nhiên để quyền đó không bị quyền lực nhà nước xâm hại, hiến định  trên được kèm theo chế tài trách nhiệm nhà nước: “Không một công dân nào  vì lý do chính trị hay tôn giáo, hay nguồn gốc xuất thân, có thể bị  tước quyền tự do dưới bất kỳ hình thức nào”. Khi hạn chế quyền tự do đó,  nhà nước cũng phải tuân thủ quy phạm, thước đo, chuẩn mực, được hiến  định ở điểm (2): “Chỉ có thể tước quyền tự do theo một đạo luật”. Và  ngay cả khi ban hành đạo luật cũng không có nghĩa Vua, quốc hội được  quyền tùy ý, đạo luật đó phải tuân theo quy tắc xử sự: 1- “(3) Ai bị bắt  giữ, trong vòng 24 tiếng phải giao cho chánh án câu lưu quyết định. Nếu  không thể thả bổng họ, chánh án phải nhanh như có thể trong vòng 3  ngày, ra án trát có nêu lý do, quyết định tiếp tục tạm giam giữ hay cho  tại ngoại với điều kiện nộp tiền thế chân ở mức nào và dạng nào”. 2-  “(4) Đương sự được quyền lập tức chống lại án trát bắt giữ lên toà cao  hơn”.   Về quyền nơi ở  Khác Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ở ta (DTHP) chỉ nêu quyền tự nhiên  đó của công dân, Hiến pháp họ, điều §72 chế tài trách nhiệm nhà nước  phải bảo đảm “nơi ở bất khả xâm phạm”. Khi xảy ra tình huống phải hạn  chế quyền đó, như “lục soát, thu giữ đồ đạc, tìm kiếm thư từ văn bản,  khám xét các bí mật giao dịch bưu điện, điên thoại thư tín”, chỉ được  phép “khi có lệnh toà án, nhưng cũng chỉ trong trường hợp không có văn  bản lập pháp nào cấm lệnh đó”.   Về quyền sở hữu   Vừa là quyền cơ bản, vừa là nền tảng tồn tại của nền kinh tế thị trường  vốn theo đuổi mục đích lợi nhuận, còn nếu không người ta chẳng theo đuổi  lợi nhuận làm gì, một khi có tiền mà không thể sở hữu tài sản. Vì vậy  điều §73, điểm (1) Hiến pháp họ hiến định “Quyền sở hữu là bất khả xâm  phạm”. Để bảo đảm quyền đó, nhà nước bị chế tài “không một ai có thể bị  ép buộc phải nộp tài sản”, ngoại trừ tình huống “lợi ích cộng đồng đòi  hỏi”, nhưng phải tuân thủ điều kiện: 1- “phải thông qua một văn bản lập  pháp” nghĩa là áp dụng cho mọi đối tượng do đạo luật đó điểu chỉnh chứ  không phải cho một số con người cụ thể, nói cách khác công bằng đối với  mọi người trong cộng đồng. 2- “phải bồi thường hoàn toàn”.  Trong lúc ở ta đất đai vẫn hiến định sở hữu toàn dân, do nhà nước nắm  giữ – nguyên lý bất di bất dịch của nền kinh tế quản lý tập trung nhằm  mục đích hoàn thành kế hoạch nhà nước, phân biệt với bản chất nền kinh  tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận. Ở họ nhà nước bị chế tài bảo  đảm quyền sở hữu đất đai rất ngặt nghèo thậm chí hậu hoạ có thể giải  tán quốc hội, được hiến định tại điểm (2) “Trong trường hợp một dự luật  quốc hữu hoá đất đai nào đó được thông qua, trong vòng 3 ngày, Quốc hội  chỉ cần ít nhất 1/3 số phiếu đồng thuận, có quyền đòi nhà Vua phải tạm  ngừng ký lệnh ban hành cho tới khi một cuộc bầu cử Quốc hội mới được  thực hiện để thông qua dự thảo mới”. Khi tranh chấp xảy ra do quốc hữu  hoá, nhà nước phải tuân thủ quy tắc xử sự tại điểm (3) “Mọi vấn đề liên  quan tới tính chất pháp lý của qúa trình quốc hữu hoá cũng như trị giá  bồi thường, có thể được giải quyết thông qua toà án. Kiểm tra giá trị  bồi thường có thể thông qua 1 đạo luật giao cho toà án phán quyết” không  hề liên quan tới Vua hay cơ quan hành chính, hành pháp, bởi những đối  tượng này chính là một bên trong tranh chấp. Ở ta tranh chấp đất đai sở  dĩ liên tục xảy ra và ngày càng gia tăng, trước hết do thiếu những chuẩn  mực thước đo quy tắc xử sự chế tài trách nhiệm nhà nước lẽ ra phải được  hiến định, để thu hồi đất như ở họ không bị phụ thuộc vào động cơ và  nhận thức của cơ quan hay người hành xử, lại giao cho nhà nước toàn  quyền hành xử; nghĩa là đặt số phận tài sản đất đai do người dân sở hữu  (dù sở hữu quyền sử dụng) vào tay nhà nước; nay vẫn được DTHP giữ nguyên  tại điều 58, điểm 3: “Nhà nước thu hồi đất… có bồi thường theo quy định  của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an  ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển  kinh tế – xã hội”. Luật thu hồi là do nhà nước định, thu hồi có thực sự  vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và  các dự án hay không và vì ở mức độ nào đều do nhà nước quyết định, chứ  không phải chủ sở hữu. Quyền sở hữu của người dân lại do nhà nước tự  định đoạt như vậy không đúng với khái niệm sở hữu hiểu theo nghĩa phổ  quát trên thế giới, chỉ hữu danh vô thực. Một khi nhà nước được trao  quyền lực thu hồi đất đai, mà không bị chế tài trách nhiệm bằng những  quy phạm bảo đảm đúng nội hàm quyền sở hữu cho người dân, thì tranh chấp  đất đai vẫn luôn tiềm ẩn bùng nổ.  Về quyền lao động và an sinh  DTHP ở ta cũng chỉ nêu chung chung, không hề có chuẩn mực thước đo nào  chế tài trách nhiệm nhà nước, ở Hiến pháp họ, điều §75 điểm (1)  quy định: “Bảo đảm cho bất kỳ công dân nào có khả năng lao động đều có  thể làm việc trang trải đủ cuộc sống tối thiểu”. “Ai không thể tự nuôi  sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm  trợ cấp đủ, với điều kiện họ phải thực hiện các trách nhiệm do một đạo  luật quy định”. Như vậy quyền lao động và an sinh không còn dừng lại ở  quyền tự nhiên như ăn uống, thức ngủ, xin cho, yêu ghét, vốn do người  dân tự lo lấy dù ở nhà nước, thời đại nào, đưa vào hiến pháp hay không,  mà trở thành quyền cơ bản – loại quyền, nhà nước bị chế tài phải bảo đảm  theo đúng những chuẩn mực thước đo đã hiến định, không thể làm khác.  Về quyền học tập     Điều §76 hiến pháp nước họ quy định: “Tất cả trẻ em ở lứa tuổi đi học, nhà nước phải đảm bảo miễn học phí tại trường công lập. Cha  mẹ hoặc người giám hộ phải tự lo cho chúng tới các trường học theo  chuẩn công lập, nhưng không có trách nhiệm buộc chúng phải học trường  công lập”. Nghĩa là Hiến pháp họ vừa chế tài được trách  nhiệm nhà nước bảo đảm chắc chắn quyền cơ bản học tập cho bất kỳ trẻ em  nào, vừa bảo đảm quyền cha mẹ tự do chọn nơi học tập cho con cái họ nhà  nước không được phép can thiệp vì con họ đẻ ra chứ không phải nhà nước  đẻ ra.    Về quyền tự do ngôn luận   Điều §77 của Hiến pháp Đan Mạch quy định: “Kiểm duyệt hay sử dụng bất cứ biện pháp nào ngăn cấm đều không bao giờ được phép”. “Ai không bị toà án cấm đều có quyền thể hiện công khai mọi suy nghĩ của mình dưới dạng ngôn ngữ hình ảnh và chữ viết”. Như  vậy hạn chế quyền tự do ngôn luận chỉ được thực hiện nếu trực tiếp gây  thiệt hại bị khiếu kiện và trong trường hợp đó hoàn toàn do toà án phán  quyết, chứ không phải Vua hay cơ quan lập pháp, hành pháp, thấy đụng tới  mình là cấm. Nói cách khác hạn chế quyền tự do ngôn luận cũng tương tự  như quyền cầm dụng cụ, gậy gộc, động thủ chân tay; nhà nước không được  phép kiểm soát thân thể để xem có gậy gộc hay chân tay hung bạo hay  không (kiểm duyệt) và càng không thể cấm khi họ chưa có hành vi gây  thiệt hại, và nếu có chăng nữa cũng phải do toà phán xét.  Về quyền tự do tụ tập, biểu tình, lập hội   Ở hầu hết các nước trên thế giới, đó là sinh hoạt thường nhật hiển nhiên  giống như quyền ăn ở đi lại làm việc… Về quyền lập hội, Hiến pháp Đan  Mạch, điều §78 quy định thước đo chuẩn mực giới hạn quyền này và chế  tài trách nhiệm nhà nước rất chặt chẽ, người dân khó có thể làm sai và  nhà nước không thể tự quyền: “(1)  Công dân có quyền không cần xin phép trước, thành lập hội đoàn theo  những mục đích mà luật pháp không cấm”. “(2) Những hội đoàn sử dụng bạo  lực hoặc tìm cách đạt tới tư tưởng khác bằng con đường bạo lực, kích  động bạo lực hoặc những biện pháp hình sự tương tự sẽ bị toà ra án trát  giải tán”, tức hội đoàn được coi như con người chỉ bị cấm khi có hành vi  phạm pháp chứ không thể cấm đẻ ra nó. “(3) Không hội đoàn nào có thể bị  chính phủ giải tán. Có thể tạm thời cấm nhưng ngay lập tức phải đệ đơn  ra toà đòi giải tán”. “(4) Cáo buộc đòi giải tán các hội đoàn chính trị  có thể được xét xử tại toà án tối cao”. “(5) Thủ tục pháp lý giải tán  hội đoàn được quyết định bởi một đạo luật”.   Cũng chặt chẽ như điều §78, quyền biểu tình được hiến định tại điều §79: “Công dân  có quyền không cần giấy phép cấp trước, tụ tập biểu tình không có vũ  khí. Cảnh sát có quyền tham dự các cuộc tụ tập biểu tình đó. Tụ tập biểu  tình ngoài trời có thể bị cấm, nếu có khả năng thực tế gây mất an toàn  xã hội”. Chế tài trách nhiệm nhà nước đối với quyền biểu tình được hiến định tại điều §80: “Các  cuộc đụng độ khi biểu tình, nếu không bị tấn công, các lực lượng giữ  gìn an ninh được trang bị vũ khí chỉ được quyền can thiệp sau 3 lần đòi  giải tán với nhân danh nhà Vua và công lý”.   ***  Chế độ nào cũng vậy, dù quân chủ hay dân chủ, thần quyền hay đảng quyền,  quyền lực cũng được trao cho bộ máy nhà nước thực thi. Bộ máy đó không  phải siêu tự nhiên từ trên trời rơi xuống toàn tâm toàn ý vì dân mà cũng  chỉ do một bộ phận từ nhân dân đảm đương, với mục đích mưu sinh, hiếm  ai tránh khỏi tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố đời thường. Hiến pháp vì vậy  chỉ có giá trị sử dụng, một khi nó đưa ra được những chuẩn mực thước đo  quy tắc xử sự đủ sức chế tài trách nhiệm nhà nước, tức những người được  dân trao quyền lực, phải bảo đảm quyền cơ bản cho người dân, bằng không  nó chỉ có giá trị trên văn bản !    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền công dân, quyền con người trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp 1992      Phần lớn những ý kiến đóng góp gần đây cho  Dự thảo Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp 1992 (Dự thảo) tập trung vào việc xác lập một  chính quyền mạnh mà dường như quên mất nội dung về quyền con người,  quyền công dân. Vì vậy xin trình bày dưới đây những kiến nghị về một số  nội dung liên quan đến Chương II của Dự thảo về Quyền con người, Quyền  công dân.     Sự giới hạn của quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp  Điều 15.2 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 50 Hiến pháp 1992 ghi nhận:  “… 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.”  Đây là một nội dung mới của Dự thảo so với Hiến pháp 1992. Giới hạn Quyền con người, quyền công dân (Giới hạn Quyền) trong những trường hợp đặc biệt không phải là không phổ biến trong lịch sử Lập hiến thế giới. Tuy nhiên, vì đây là một nội dung mới và ảnh hưởng trực tiếp đến công dân, những nhà lập hiến cần phải hết sức thận trọng trong cách quy định.        Cách đây hơn ba thế kỷ, trong khí thế sục sôi của cuộc  Cách mạng Mỹ, Thomas Paine, một người Anh và là nhà cách mạng lỗi lạc  của Mỹ đã viết cuốn sách Lương tri (Common Sense) kêu gọi người Mỹ đứng  lên đấu tranh giành độc lập và xây dựng chính quyền cho riêng mình. Tuy  nhiên, bất chấp sự sục sôi của một nhà cách mạng, Thomas Paine vẫn đủ  tỉnh táo để nhắc nhở người dân Mỹ rằng mục tiêu của cuộc Cách mạng là  tạo dựng một Nhà nước mà trong đó người dân thực sự làm chủ và chính  quyền phải tôn trọng những Quyền cơ bản của người dân. Đó là một Nhà  nước với quyền lực bị hạn chế để không tạo ra áp bức và vi phạm nhân  quyền. Đã có người chụp mũ cho rằng ông không tin tưởng vào bản chất tốt  đẹp của Nhà nước mới. Tuy nhiên, để đáp lại những lời chỉ trích, Paine  đã viết “Khi chúng ta xây dựng cho hậu thế, cần phải nhớ rằng, đức hạnh  không có tính di truyền”. Hạn chế quyền lực Nhà nước không phải là vì  nhân dân không tin vào Nhà nước do họ đổ máu xây dựng nên mà là để không  biến Nhà nước thành một công cụ cho một ai đó lợi dụng thanh danh và  công lao của cha ông để chiếm quyền và đàn áp lại nhân dân. Chính vì  thế, người Mỹ đã đưa vào Hiến pháp của họ Tuyên ngôn các Quyền (Bill of  Rights) và từ đó, Quyền công dân, quyền con người trở thành một nội dung  cơ bản của Hiến pháp.         Dự thảo đưa ra năm lý do cho việc Quyền con người, quyền công dân bị giới hạn đó là “quốc phòng”, “an ninh quốc gia”, “trật tự, an toàn xã hội”, “đạo đức”, “sức khỏe cộng đồng”. Tuy nhiên, Điều 15.2 không quy định rõ việc giới hạn này sẽ được thực hiện như thế nào và biện pháp ra sao. Thiết nghĩ việc quy định rõ biện pháp, cách thức và quy trình giới hạn của Quyền con người, quyền công dân là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, tuy cả năm lý do được đề cập đến trong Điều 15.2 đều rất quan trọng và thỏa đáng cho việc hạn chế Quyền của công dân, nhưng sự giải nghĩa của năm lý do này là rất rộng, dễ dẫn đến tình trạng Nhà nước áp đặt sự giải thích rộng khiến cho mọi trường hợp có thể dẫn đến việc giới hạn Quyền. Lấy ví dụ như lý do “quốc phòng” thoạt nhìn là rất thỏa đáng và hợp lý trong trường hợp chiến tranh hay địch họa, nhưng lý do “quốc phòng” về nghĩa là rất rộng và có thể bao gồm cả những trường hợp giới hạn không thỏa đáng trên thực tế như việc giới hạn quyền tự do ngôn luận của người dân đối với các vấn đề an ninh, đối ngoại của quốc gia vì lý do “quốc phòng”. Hay “trật tự, an toàn xã hội” cũng là một khái niệm rộng dễ dẫn đến việc quyền biểu tình của người dân bị ngăn chặn nhân danh “trật tự xã hội”. Việc đưa vào Dự thảo những lý do mà Nhà nước có thể giới hạn Quyền là một sáng kiến táo bạo của các nhà lập hiến trong việc buộc Nhà nước hạn chế quyền lực của mình, nhưng việc quy định không rõ ràng như phân tích ở trên có thể gây tác dụng ngược lại, khiến cho Nhà nước được một quyền rất lớn theo Hiến pháp để giới hạn Quyền. Đây là điều mà các nhà lập hiến cần suy nghĩ và điều chỉnh để phát huy hết mức tác dụng và ý nghĩa của Điều 15.2.  Trong nội dung giới hạn Quyền này, thiết nghĩ nên quy định thật rõ và cụ thể những trường hợp nào (thay vì lý do nào) để Nhà nước có thể giới hạn Quyền. Một giải pháp có thể được đưa ra đó là giới hạn Quyền chỉ được phép áp dụng trong “tình trạng khẩn cấp quốc gia” (national emergency) theo Điều 101 Dự thảo. Có nghĩa là khi và chỉ khi Nhà nước ban bố “tình trạng khẩn cấp quốc gia” thì việc giới hạn Quyền mới được áp dụng. Quy định như thế có thể giải quyết được về mặt thủ tục, quy trình và cũng giới hạn được trường hợp cụ thể nào đó mà Nhà nước được giới hạn Quyền. Một số ý kiến có thể cho rằng quy định như thế là hẹp và gây khó khăn cho Nhà nước trong những trường hợp cần thiết phải giới hạn Quyền nhưng chưa đến mức phải ban bố “tình trạng khẩn cấp quốc gia”. Tuy nhiên, những nhà lập hiến cần quan niệm rằng Quyền con người, quyền công dân là thiêng liêng tối cao và giới hạn Quyền là một biện pháp hết sức nguy hiểm chỉ được áp dụng khi thật sự cần thiết và khi việc không giới hạn Quyền có thể dẫn ảnh hưởng một cách trực tiếp, rõ ràng và hiện hữu đến sự tồn vong của Tổ quốc. Nếu các nhà lập hiến cho rằng Quyền nên bị giới hạn ngay cả khi quyền lợi nhà nước hay an ninh quốc gia có thể bị xâm phạm một cách chung chung và mơ hồ thì vô hình trung Quyền con người, quyền công dân trở thành một khái niệm được ban phát bởi Nhà nước và có thể bị tước đoạt trong những trường hợp mơ hồ nhất. Quy định như Điều 15.2 Dự thảo rất dễ dẫn đến tình trạng ban – cho Quyền như đã mô tả ở trên. Vì lẽ đó, tác giả tha thiết đề nghị các nhà lập hiến cần xem xét lại Điều 15.2 và quy định nó một cách rõ ràng, cụ thể hơn.  Bên cạnh nội dung liên quan đến khi nào thì giới hạn Quyền được phép áp dụng như phân tích ở trên, tác giả đề nghị các nhà lập hiến cần đưa vào Hiến pháp một nội dung quan trọng mà bản Dự thảo hiện hành không đề cập: một số Quyền công dân, quyền con người là đặc biệt thiêng liêng, quan trọng và không thể bị giới hạn trong bất cứ trường hợp nào, ngay cả là trường hợp “tình trạng khẩn cấp quốc gia” hay vì lý do nào đi chăng nữa. Ví dụ, quyền được bình đẳng trước pháp luật (Điều 17), quyền được sống (Điều 21), quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, nhân phẩm (Điều 22), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 25), quyền suy đoán vô tội và không bị kết án hai lần bởi cùng một tội danh (Điều 32)… Như đã phân tích ở trên, giới hạn Quyền chỉ nên và chỉ được phép áp dụng khi và chỉ khi việc không giới hạn Quyền có thể ảnh hưởng một cách trực tiếp, rõ ràng và hiện hữu đến sự tồn vong của Tổ quốc. Việc giới hạn những Quyền như đã liệt kê ở trên không có ý nghĩa sống còn đến việc tồn vong của Tổ quốc, vì thế bất cứ việc giới hạn Quyền nào trong các Quyền nêu trên sẽ dẫn đến tình trạng tước đoạt Quyền của công dân. Điều này cần đặc biệt tránh vì lịch sử đã chứng minh đây là công cụ được các nhà độc tài sử dụng rất thường xuyên. Ví dụ như kể từ sau khi ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia và thông qua Đạo luật Trao quyền (Ermächtigungsgesetz 1933), Adolf Hitler, nhà độc tài Quốc xã Đức, đã lợi dụng nó để tước đoạt tất cả các Quyền cơ bản của người dân Đức bao gồm cả Quyền suy đoán vô tội hay Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng và nhân phẩm, tạo điều kiện cho Mật vụ Đức Gestapo tiến hành tra tấn các nghi phạm để buộc họ nhận tội và tổ chức cái gọi là Tòa án Nhân dân Quốc xã để xử tử những nhà cách mạng yêu nước thông qua các phiên tòa bỏ túi (kangaroo court). Lịch sử câu chuyện này là của người Đức nhưng bài học của nó thuộc về toàn thể nhân loại, và các nhà lập hiến Việt Nam không được phép quên và lơ là khi soạn thảo bản Hiến pháp mới cho Tổ quốc.  Tóm lại, liên quan đến nội dung giới hạn Quyền con người, quyền công dân, tác giả có hai kiến nghị:  1.    Nên hạn chế và quy định thật rõ lại những trường hợp, cách thức, quy mô để Nhà nước được phép giới hạn Quyền con người, quyền công dân. Tác giả đặc biệt đề nghị các nhà lập hiến nghiên cứu phương án chỉ cho phép việc giới hạn Quyền con người, quyền công dân thông qua việc Ủy ban thường vụ Quốc hội ban bố “tình trạng khẩn cấp quốc gia” như theo Điều 101 Dự thảo.  2.    Một số Quyền là không thể bị hạn chế bởi vì việc giới hạn Quyền chỉ được áp dụng khi việc không giới hạn có thể ảnh hưởng một cách trực tiếp, rõ ràng và hiện hữu đến sự tồn vong của Tổ quốc. Các nhà lập hiến nên đưa cụ thể vào Hiến pháp những Quyền nào không được phép giới hạn vì bất kỳ lý do nào.  Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định  Điều 20.2 Dự thảo quy định:   “… 2. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.”  Điều 23.2:  “… 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.  Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định.”  Điều 26 Dự thảo:  “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”  Điều 37.2   “… 2. Không ai được tự ý vào chỗ ở hợp pháp của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định.”  Điểm chung của các quy định được trích dẫn ở trên đó chính là các nhà lập hiến chỉ đưa vào Hiến pháp tên gọi của các Quyền, còn việc diễn giải, định nghĩa, nội dung, quy trình thực hiện, cách thức thực hiện được giao lại cho những nhà làm luật. Đây là cách quy định không mới đã xuất hiện khá thường xuyên trong các bản Hiến pháp trước. Một số quốc gia trên thế giới cũng giao việc quy định cụ thể nội dung các Quyền cho các luật chuyên ngành như Hiến pháp Nga giao việc định nghĩa một số quyền cho luật liên bang, Đạo luật cơ bản Đức cũng quy định tương tự, Hiến pháp Đan Mạch trao quyền quy định cụ thể cho Quốc hội… Cách quy định như trong Dự thảo thoạt nhìn có thể không phải là xa lạ. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ có thể nhận ra quy định như thế tiềm ẩn những rủi ro về sự lạm quyền của Nhà nước.   Câu chữ của bản Dự thảo rất lạm dụng việc nội dung các Quyền sẽ do “pháp luật quy định” hoặc “theo luật định”. Tuy nhiên, khái niệm “pháp luật” như Dự thảo nêu là rất rộng lớn. Riêng ở Việt Nam, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 năm 2008 đã liệt kê tại Điều 2 mười hai loại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau do mười cơ quan khác nhau ban hành. Nếu như Hiến pháp mới quy định nội dung các Quyền có thể do “pháp luật quy định” có nghĩa rằng Quyền tự do ngôn luận có thể được một thông tư của một Bộ nào đó quy định, hay Quyền biểu tình được Ủy ban nhân dân một tỉnh đưa ra. Điều này sẽ không là đáng nói trong trường hợp Quốc hội đã có những Luật cụ thể liên quan đến các Quyền này vì trong trường hợp đó, Luật của Quốc hội sẽ có giá trị cao hơn và bãi bỏ được những quy định trái Luật. Tuy nhiên, trong trường hợp các Quyền chưa được Luật của Quốc hội quy định cụ thể, quy định như Dự thảo có thể dẫn đến tình trạng các cơ quan khác ngoài Quốc hội tùy tiện đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật làm hạn chế việc thực hiện Quyền trên thực tế.   Xét về mặt lý luận, cho phép các cơ quan khác ngoài Quốc hội trực tiếp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến Quyền cũng phần nào mâu thuẫn với nguyên tắc hạn chế quyền lực Nhà nước mà nội dung Quyền con người, quyền công dân hướng tới. Nguyên tắc của một bản Hiến pháp dân chủ là đảm bảo Quyền cho công dân và Quyền đó phải được chính công dân, thông qua Hiến pháp, hay do một cơ quan đại diện, dân cử là Quốc hội quy định cụ thể. Để cho một cơ quan khác quy định cụ thể trong khi những Quyền của người dân có thể có mâu thuẫn lợi ích với chính cơ quan đó là trái với các nguyên tắc pháp chế thông thường.   Trên cơ sở đã phân tích ở trên, tác giả kiến nghị các nhà lập hiến cần loại bỏ việc sử dụng quy định nội dung của các Quyền được thể hiện cụ thể “theo quy định pháp luật”. Tác giả đề nghị làm rõ cơ quan nào có trách nhiệm phải quy định cụ thể các Quyền và đó chỉ có thể là Quốc hội, là cơ quan dân cử. Điều này không loại bỏ quyền được tham gia của các cơ quan khác nhưng cần giới hạn việc tham gia đó chỉ dừng ở mức hướng dẫn thi hành các Luật cụ thể của Quốc hội. Đây là cách làm khá phổ biến trên thế giới được ghi nhận trong Hiến pháp Nga (Quyền được quy định trong luật liên bang), Đạo luật Cơ bản Đức (Quyền được quy định trong luật liên bang), hay Hiến pháp Đan Mạch (Quốc hội quy định cụ thể nội dung Quyền) v.v…  Bên cạnh đó, việc quy định rõ Quốc hội phải là cơ quan đưa ra Luật về nội dung các Quyền còn là cách để chấm dứt tình trạng hơn 20 năm không có quy định của một số Quyền cơ bản của công dân như hiện nay. Đồng thời chấm dứt tình trạng trốn tránh trách nhiệm của một số đại biểu Quốc hội khi vin vào cớ “dân trí thấp” để không thảo luận Luật. Trách nhiệm của Quốc hội đối với các Quyền của người dân đó là tạo hành lang pháp lý để bảo vệ người dân chứ không phải là quyết định khi nào thì người dân được phép thực hiện quyền của mình. Bởi vì trên thực tế, nếu đã được ghi nhận trong Hiến pháp, thì cho dù có Luật hay không thì người dân vẫn sẽ thi hành Quyền của mình trong trường hợp cần thiết.   Điều này cũng sẽ mở đường cho việc đưa vào luật hiến pháp Việt Nam khái niệm “vi phạm hiến pháp không hành động” (legislative omission). Theo Đạo luật Cơ bản Đức hay Hiến pháp Ba Lan, Cộng Hòa Séc, nếu như Quốc hội được Hiến pháp minh thị trao một nghĩa vụ phải thông qua Luật cụ thể nào đó mà không thực hiện, Tòa án Hiến pháp hay cơ quan bảo vệ Hiến pháp có quyền ra quyết định bắt buộc đưa vào chương trình làm luật nội dung Luật bị “bỏ quên” đó, tránh trường hợp 20 năm không có Luật như Việt Nam.  Như vậy, ở nội dung này, tác giả đề nghị các nhà lập hiến xem xét hai vấn đề sau:  1.    Loại bỏ vĩnh viễn quy định nội dung các Quyền do “pháp luật quy định”. Thay vào đó, các nhà lập hiến nên quy định rõ cơ quan nào được phép quy định cụ thể nội dung các Quyền và hình thức của quy định đó phải là Luật.  2.    Quốc hội sẽ là cơ quan có nghĩa vụ ra Luật quy định nội dung các Quyền và đó là nghĩa vụ chứ không phải là một lựa chọn của Quốc hội.  Quyền được sống  Điều 21 Dự thảo:  “Mọi người có quyền sống.”  Đây là đề xuất rất mới của bản Dự thảo, chưa từng xuất hiện trong các bản Hiến pháp trước đây. Điều 21 chỉ gói gọn trong năm từ nhưng chứa đứng rất nhiều vấn đề pháp lý mà các nhà lập hiến cần xem xét và làm rõ.  Thứ nhất, Quyền sống theo Điều 21 có bao gồm cả việc tội phạm không thể bị xử tử hình? Vấn đề này được đặt ra bởi lẽ quy định tại Điều 21 Dự thảo hoàn toàn giống với quy định tại Điều 20 Hiến pháp Nga hiện hành. Tuy nhiên, tại Điều 20 Hiến pháp Nga, các nhà lập hiến Nga đã dự liệu mâu thuẫn giữa Quyền sống và Án tử hình bằng quy định tại khoản 2, trong đó:   “2. Hình phạt tử hình cho đến khi được bãi bỏ hoàn toàn có thể được thiết lập bởi luật liên bang như là một hình thức hình phạt duy nhất đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm tính mạng con người, và bị cáo có quyền được xử bởi tòa án với sự tham gia của một bồi thẩm đoàn.”  Như vậy, học tập kinh nghiệm của Liên bang Nga, các nhà lập hiến nên làm rõ nội dung của Quyền sống theo Điều 21 có mâu thuẫn với việc thi hành án tử hình ở Việt Nam hay không để tránh những xung đột pháp ý không cần thiết trong việc thi hành án tử hình tại Việt Nam.  Thứ hai, Quyền sống theo Điều 21 có bất hợp pháp hóa việc phá thai của người phụ nữ hay không? Ở một số quốc gia như Mỹ, việc phá thai trong một giai đoạn nào đó của thai kỳ có thể coi là tội phạm vì nó ảnh hưởng đến quyền sống của thai nhi. Thực tế thì ở Mỹ, việc phá thai chỉ được hợp pháp hóa thông qua án lệ Roe v. Wade của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ và phá thai chỉ được tiến hành trong hai giai đoạn đầu của thai kỳ với những điều kiện ngặt nghèo. Điều này chứng tỏ, có một luồng quan điểm pháp lý cho rằng thai nhi cũng là một hình hài con người và do đó có quyền được sống. Vậy Điều 21 có dọn đường cho việc bất hợp pháp hóa việc phá thai của người phụ nữ hay không. Các nhà lập hiến cần làm rõ.  Tóm lại, đối với Điều 21, tác giả có kiến nghị rằng các nhà lập hiến cần quy định rõ Quyền sống có mâu thuẫn với án tử hình và việc phá thai hay không. Đây là vấn đề mang tính quan điểm pháp lý và chính trị, tác giả xin không lạm bàn ở đây.  Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm  Điều 32 Dự thảo:  “2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.”  Đây là một kiến nghị nhỏ cuối cùng và thuần túy câu chữ. Việc quy định “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” có thể bị hiểu sai rằng nếu một can phạm đã có bản án tù hoặc các biện pháp hình sự của Tòa án thông qua xét xử thì sẽ không bị kết án lần hai bởi cùng một tội danh. Trong khi đó, Quyền này cần hiểu đúng đó là nếu như bị can, bị cáo đã được Tòa tuyên trắng án, hoặc Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự thì cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát nhân dân không được tiếp tục truy tố họ vì tội danh đó thêm một lần nữa. Điều này nhằm tránh tình trạng trù dập bị can, bị cáo, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của họ. Vì thế, tác giả kiến nghị điều chỉnh câu chữ của Điều 32 Dự thảo từ “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” thành “không ai bị kết án hoặc truy tố hai lần vì một tội phạm”.  ***  Khi nói về Quyền công dân, quyền con người, người ta hay nhắc đến việc hạn chế quyền lực của Nhà nước. Điều này dễ bị quy chụp rằng quan điểm đó là thiếu sự tin tưởng vào Nhà nước. Tuy nhiên, những ai hiểu biết về lịch sử đều nhớ rằng một bản Hiến pháp với những quy định thiếu cân nhắc và không hữu hiệu trong việc hạn chế quyền lực nhà nước rất có thể trở thành công cụ cho những nhà độc tài.   —  * Nghiên cứu sinh Thạc sỹ Luật – Viện Pháp luật và Tài chính, Đại học Goethe, Frankfurt am Main, CHLB Đức      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền của dân      Cái quán tính “xin–cho” của một thời bao cấp để một dấu ấn quá đậm trên gương mặt xã hội cho nên nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều cơ quan công quyền và cán bộ quản lý nhà nước các cấp, có khi ở cấp rất cao, đã quên mất “quyền của dân”.         Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đại hội X vừa rồi khẳng định “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân” đòi hỏi chúng ta phải nghĩ sâu về quyền của dân. Từ “chuyên chính vô sản” đến “nhà nước pháp quyền” là một bước tiến dài trên hành trình dân chủ hóa đời sống xã hội và thể chế hóa quyền dân chủ ấy trong nội dung hoạt động của nhà nước và luật pháp do nhà nước ấy tạo dựng.  “Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi, con người lại bị cùm kẹp”. Câu nói bất hủ ấy mở đầu cho “Khế ước xã hội” của J.J Rousseau, ra đời vào năm 1762, một trong những tác phẩm đặt nền móng cho dân chủ pháp quyền và luật pháp phục vụ cho nền dân chủ đó, xem ra vẫn còn có sức lay động tư duy của những người đang muộn mằn xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” hôm nay! E rằng, tư duy của không ít người cầm quyền, kể cả của người đang soạn thảo, đang xem xét ban hành Luật, vẫn còn lướng vướng chuyện quản lý cái quyền “không ai có thể xâm phạm được” của dân. Hình như người ta quên mất rằng,“quyền thiêng liêng không ai xâm phạm được” ấy đã được xác lập hơn 60 năm nay với Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 và Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chuyện Nhà nước phải có nghĩa vụ tổ chức thực hiện bằng được những quyền đó! Để thực hiện nghĩa vụ đó, người ta phải soạn Luật, xem xét thông qua Luật, ban hành Luật, thực thi Luật. Quyền của dân và quản lý  cái quyền ấy đang bị giằng kéo của quán tính một thời.  Hãy chỉ dừng lại chuyện soạn thảo Luật cũng thấy rõ sự lướng vướng đó. Chỉ xin dẫn ra một ví dụ về Luật Cư trú: trong 4 chương, 47 điều dự luật chỉ có 2 là nói đến quyền công dân, còn 45 điều là nói về quản lý chính cái quyền công dân đó. Chính vì thế, vấn đề “bỏ” hay “giữ” sổ hộ khẩu” đang là một cuộc chơi “kéo co” không cân sức. Đây là sự giằng kéo giữa quyền tự do công dân được quy định trong Hiến pháp với nhu cầu quản lý Nhà nước trong vận hành guồng máy xã hội. Có lẽ nên làm một chuyện “ôn cố tri tân” để điểm xuyết vào câu chuyện kéo co không cân sức rất ngoạn mục này bằng hình ảnh hai loại “sổ” đã từng ám ảnh con người thời bao cấp, thậm chí là “ác mộng” mà khi tỉnh ra còn toát mồ hôi. Đó là “sổ gạo” và tiếp đó là “sổ hộ khẩu”: “Làm sao mà thất sắc như mất sổ gạo thế kia?”, “thằng cha mặt đần như mất hộ khẩu”. “Sổ gạo” thì đã “mồ yên mả đẹp”, nhưng “sổ hộ khẩu” thì xem ra đang “nhả chẳng ra cho, nuốt chẳng vào”.   Có tình hình này là vì quán tính của quyền lực đang tạo ra một lực hút, dồn thuận lợi về cho người nắm quyền, cho “Nhà nước”, đẩy những bất lợi về cho dân. Chẳng riêng gì hộ khẩu và Luật Cư trú, cuộc “kéo co” không cân sức bởi lực hút của quyền lực này diễn ra phổ biến trong nhiều dự thảo Luật khác. Bóng ma bao cấp vẫn ám ảnh không ít trong tư duy về “quản lý”, và dấu ấn ấy vẫn hằn rõ lên trong các dự thảo Luật quản lý là phải giữ thật chặt, gói thật kỹ, nếu buộc phải mở thì mở he hé, mở từ từ, mở nhỏ giọt để thực hiện cái phương châm “quản lý được đến đâu thì mở ra đến đó” như thời thảo luận về Luật doanh nghiệp. Đó là một quan điểm lỗi thời về quản lý. Tư duy về quản lý cần được xác lập trên nguyên lý: “Quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi”, theo cách nói của Hồ Chí Minh thì “Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. Quản lý tốt nghĩa là phải tạo điều kiện và mở đường cho dân thực hiện quyền của mình những “quyền không ai có thể xâm phạm được”!  Vả chăng, thời cơ không chờ đợi. Cuộc sống đang diễn ra không hề là một dãy các sự kiện có liên kết với nhau theo trình tự cái này sau cái kia, mà là một chuỗi những sự đụng độ, va đập làm biến đổi những sự kiện tiếp theo mà kiểu tư duy tuyến tính tỏ ra bất cập. Gia tốc của cái mới dồn dập khó có thể hình dung nổi với cách suy nghĩ và nắm bắt hiện thực kiểu cũ. Vì vậy nếu không đổi mới tư duy về quản lý, không nhanh nhạy và táo bạo tháo gỡ mọi trói buộc vô lý để mở đường cho sự bứt phá vươn lên của mọi hoạt động, sẽ phải trả giá cho sự lạc hậu, thậm chí lạc điệu trước tốc độ chuyển đổi quá nhanh của cuộc sống.        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền của dân nên đặt ở vị trí nào trong hiến pháp?      Việc quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không được đặt lên hàng đầu mà là hàng thứ năm trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 là không tuân theo kỹ thuật trình bày, thể hiện hiến pháp của các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động như “Nhà nước tạo điều kiện” dễ tạo cảm giác Nhà nước đang ban ơn cho công dân.     Thông lệ chung: Bắt đầu bằng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân   Thông lệ quốc tế chỉ ra rằng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được đặt ở vị trí đầu tiên như Hiến pháp Đức, Pháp, hoặc vị trí thứ hai sau phần các quy định chung như Hiến pháp Nga, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Thông lệ này không chỉ đơn thuần phản ánh việc tôn vinh quyền lợi của nhân dân, mà nó còn phản ánh logic của kỹ thuật lập hiến mà một bản hiến pháp hiện đại cần tuân theo.  Nếu nhân dân là người chủ của đất nước, là chủ thể thông qua hiến pháp đứng ra trao quyền cho nhà nước, thì trong quan hệ ủy quyền nhân dân chính là bên A còn nhà nước là bên B của hợp đồng ủy quyền(1). Và một logic xuyên suốt từ luật tư sang luật công là trong hợp đồng thì thông tin, quyền và nghĩa vụ của bên A bao giờ cũng được đề cập trước bên B.   Trong một số trường hợp thì hai bên của hợp đồng còn đưa ra các nguyên tắc chung của hợp đồng. Phần các nguyên tắc chung này có thể mang các tên gọi khác nhau như “quy định chung” (general provisions) (2) như trong Hiến pháp Hàn Quốc, hoặc “những vấn đề cốt lõi của hệ thống hiến pháp” (fundermentals of constitutional system)(3) nhưng nó đều có chung chức năng: là các nguyên tắc mà dựa vào đó nhân dân trao quyền cho nhà nước. Việc tách các nguyên tắc chung của hiến pháp thành một chương riêng dẫn đến trong một số trường hợp quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định ở chương thứ hai thay vì ở chương thứ nhất.   Việc Hiến pháp 1992 của Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở chương thứ năm làm cho Hiến pháp của chúng ta khác biệt không chỉ với các nước tiên tiến như Nga, Đức, Nhật, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc. Ngay Trung Quốc (4), Cuba  (5) cũng quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở chương II (sau chương “Các quy định chung”).   Việc quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không được đặt lên hàng đầu mà là hàng thứ năm trong Hiến pháp 1992 là không tuân theo logic chung của kỹ thuật trình bày, thể hiện hiến pháp.   Tư duy bao cấp pha trộn với Nho giáo   Mặc dù chế độ bao cấp đã bị bãi bỏ, “nhà nước chuyên chính vô sản” trong Hiến pháp 1980 được thay bằng “nhà nước của dân do dân vì dân” trong Hiến pháp 1992, nhưng tư duy bao cấp trộn lẫn với tâm lý “quan phụ mẫu” theo nếp nghĩ Nho giáo vẫn còn xuất hiện nhiều trong Hiến pháp 1992, đặc biệt ngôn ngữ ban ơn vẫn được sử dụng trong nhiều đoạn của hiến pháp.  Tư duy này thể hiện rõ nét nhất ở chương III (Văn hóa, giáo dục khoa học, công nghệ) và chương V (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Chỉ đếm riêng trong hai chương này thôi thì cụm từ “nhà nước tạo điều kiện” được sử dụng tới tám lần.  Điều 31 quy định “Nhà nước tạo điều kiện (1) để công dân phát triển toàn diện”. Điều 34 quy định “Nhà nước… tạo điều kiện (2) để mọi người được chăm sóc sức khỏe”. Điều 41 quy định “Nhà nước… tạo các điều kiện (3) để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quyền chúng”. Điều 59 quy định “Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (4) học tập để phát triển tài năng” và “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (5) cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phụ hợp”. Điều 63 quy định “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (6) để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Điều 66 quy định Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (7) học tập, lao động và giải trí”. Điều 75 quy định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện (8) để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam…”.   Thay vì sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động theo công thức “Nhà nước tạo điều kiện cho công dân…”, nên chăng sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức bị động theo công thức “Công dân được hưởng các điều kiện…”. Và quan trọng hơn, đằng sau công thức này là nghĩa vụ của Nhà nước. Nếu các điều kiện sống cần thiết không được tạo ra trên thực tế cho công dân thì Nhà nước đã vi phạm nghĩa vụ hiến pháp.   Hiện nay, việc sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động như trong hiến pháp hiện nay làm cho người đọc có cảm giác Nhà nước đang ban ơn cho công dân. Và việc sử dụng ngôn ngữ thiếu chính xác này còn làm cho trách nhiệm của Nhà nước thiếu rõ ràng, vì nếu các điều kiện sống cần thiết không được tạo ra cho công dân, thì công dân biết kiện ai. Vì Nhà nước chỉ “tạo điều kiện” khi Nhà nước thấy thuận cho mình, còn Nhà nước không có nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện này sẽ tồn tại.     —  (1) Hiến pháp là khế ước xã hội giữa nhân dân với nhau, nhưng sau khi nhân dân đã cùng nhau thỏa thuận trao quyền cho nhà nước thì nhân dân trở thành một khối thống nhất đại diện cho bên trao quyền, còn nhà nước trong quan hệ mới này sẽ đóng vai trò là người được ủy quyền.  (2) Xem Hiến pháp Hàn Quốc http://www.servat.unibe.ch/icl/ks00000_.html   (3) Xem Hiến pháp Nga http://www.constitution.ru/en/10003000-01.htm  (4) Xem Hiến pháp CHND Trung Hoa tại http://english.peopledaily.com.cn/constitution/constitution.html   (5) Xem Hiến pháp Cuba tại http://www.cubaverdad.net/cuban_constitution_english.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền im lặng – nguyên lý và công nghệ thực thi      Vừa qua, Dự thảo Luật Tổ chức Viện KSND và Tòa án ND đã gây tranh cãi trong dư luận xã hội khi bác bỏ quyền im lặng, phủ định một quyền cơ bản mang tính phổ quát thế giới!    Những vấn đề đặt ra     Tháng trước, UBTV Quốc hội họp cho ý kiến về Dự Luật Tổ chức Viện KSND và TAND. Gây tranh cãi thu hút truyền thông nhất là bốn quyền trong lĩnh vực tố tụng, tư pháp, 1- quyền im lặng, 2- quyền có luật sư, 3- quyền tranh tụng bình đẳng và 4- quyền được xét xử độc lập. Trong đó, điểm mấu chốt của cả bốn quyền trên đều ít nhiều liên quan tới vai trò luật sư. Luật Tố tụng Hình sự (TTHS) ở nước ta và trên thế giới ngày nay đều quy định “Quyền nhờ (có) luật sư”. Lý do không có gì cao siêu cả, cực kỳ đơn giản, bệnh nhân cần bác sỹ, sinh nở cần bà đỡ, học hành cần thầy cô… thì vướng quan sự cần luật sư là lẽ đương nhiên, thuộc về quyền cơ bản. Nhưng ở ta thực tế bất khả thi, bởi thiếu chế tài buộc nhà chức trách phải bảo đảm quyền đó cho họ lẫn điều kiện thực hiện, nghi phạm bị cách ly hoàn toàn, quá trễ để gặp được luật sư, vốn chỉ được chấp thuận khi người nhà mời, phải được cấp giấy chứng nhận bào chữa, phải chờ tới lịch hỏi cung. Nếu hình dung nghi phạm như bệnh nhân cấp cứu, luật sư là bác sỹ sẽ thấy hậu hoạ bất khả kháng. Chưa nói, người nghèo thiếu tiền mời luật sư và khó tìm được luật sư thiện nguyện, con “bệnh“ chỉ nằm chờ chết. Mặt khác, cơ quan điều tra tố tụng vốn chẳng thích gì luật sư nên họ khó được ủng hộ, thậm chí còn bị cản trở một khi thiếu chế tài đối với cơ quan này, như phát biểu của VKS và TA Triệu Sơn thách thức “để xem luật sư làm được gì“ trong vụ  án ông Nguyễn Bá Qúy mới đây là một điển hình. Vì vậy, tranh cãi nảy lửa về Dự luật trên là đương nhiên, không chỉ liên quan tới số phận bất kỳ ai, từ thường dân đến quan chức cao cấp mỗi khi gặp rủi ro quan sự, mà còn là bằng chứng không thể bác bỏ để khẳng định một nhà nước thực tế có tính pháp quyền hay không?  Phát biểu tại cuộc họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, “về quyền tranh tụng phải căn cứ Hiến pháp 2013 để xác định quyền của luật sư bào chữa ngay từ đầu. Người ta mới thu thập được chứng cứ, mới tìm hiểu được sự việc, nghe thân chủ, đi chứng minh, rồi đứng ra bào chữa được. Nguyên tắc xưa nay, luật sư chỉ bào chữa, bác luận cứ buộc tội của viện kiểm sát. Tòa tuyên án. Trước công lý, tất cả bình đẳng. Thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, không chịu bất kỳ chỉ đạo nào. Nghị quyết Bộ Chính trị viết rất rõ: Căn cứ chủ yếu vào tranh tụng tại phiên tòa để quyết định bản án. Đó là nhiệm vụ của tòa án“.        Bản chất quyền im lặng     Quan điểm của Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng chính xuất phát từ bản chất của quyền im lặng, quyền có luật sư, quyền tranh tụng bình đẳng, quyền được xét xử độc lập, trong  thời đại ngày nay vốn thuộc QUYỀN CƠ BẢN có nội hàm bao gồm 4 dấu hiệu: a- quyền đặc trưng của con người trước nhà nước (chính vì vậy nó còn được gọi là quyền tự vệ chống lại nhà nước xâm phạm. Như ở Đức được hiến định ngay tại Điều 1 “những quyền cơ bản sau đây là những chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự, trực tiếp ràng buộc cơ quan lập pháp hành pháp và tư pháp phải tuân thủ“), b- không thể tách rời, chuyển nhượng (như không ai được quyền thay ai đi tù hay bỏ phiếu cơ quan dân cử), c- lâu dài, và d- nếu vi phạm kiện lên toà án Hiến pháp. Thiếu một trong 4 dấu hiệu trên, nó sẽ không được bảo đảm trên thực tế. (Chính vì thế, quốc gia nào cũng hiến định hoặc mặc định quyền cơ bản, nhưng thực tế xếp hạng quốc gia dân chủ thứ bậc cách nhau cả trời vực).  Có thể tham khảo ở Đức, Chương Quyền cơ bản được hiến định 22 Điều. Sắp tới có thể bổ sung thêm quyền có tài khoản ở ngân hàng do EU đề xuất, quyền tự do truy cập Internet đang được UNO bàn thảo (khi đó nhà nước bị buộc phải bảo đảm cho người không có thu nhập, lập tài khoản và truy cập Internet miễn phí, nếu không không thể gọi quyền cơ bản). Còn ở ta, Hiến pháp 2013 hiến định tới 36 Điều (gấp rưỡi Đức), liệu có bao hàm đủ 4 dấu hiệu nội hàm quyền cơ bản hay không hiện còn tùy thuộc kết quả thể chế hoá nó.   Khác với 22 quyền cơ bản tập hợp trong Chương Quyền cơ bản vốn được áp dụng trong mọi trường hợp; tương tự hầu hết các quốc gia hiện đại, 4 quyền cơ bản trên Hiến pháp Đức xếp vào Chương Tư pháp, nên thường gọi là “quyền tương tự quyền cơ bản“ hay “quyền cơ bản trong lĩnh vực tư pháp“. Quyền im lặng được hiến định ẩn chứa tại điểm (1), Điều 103: “Bất cứ ai bị xét xử đều phải lắng nghe ý kiến họ“. Được hiểu họ trả lời, phát biểu, hay không, như thế nào, là quyền của họ. Từ quyền “ẩn chưá“ được hiến định đó, quyền im lặng được thể chế hoá bằng Luật tố tụng hình sự StPO.   Còn ở Mỹ, quyền im lặng được hiến định trực tiếp tại điều 5 Tu chính Hiến pháp, “trong tố tụng hình sự, không được phép buộc bất cứ ai phải khai báo tự chống lại mình“.  Ở ta, những quyền cơ bản trong tố tụng tư pháp cũng được Hiến pháp 2013 quy định tại Chương Quyền cơ bản, Điều 31, điểm 4, người bị quan sự “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”… Và cả tại Chương Toà án, Viện Kiểm sát, Điều 103, “Thẩm phán, Hội thẩm, xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm“. “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm“. Mặc dù không có điều khoản nào ẩn chưá trực tiếp quyền im lặng nhưng các quyền cơ bản khác trong tố tụng hiến định ở trên, tự nó đã đặt ra điều kiện “cần” hay “tiền đề” về quyền im lặng có được bảo đảm, thì các quyền còn lại mới có thể thực thi. Nói cách khác quyền im lặng được mặc định, giống như quyền ăn, uống, thở, nghe, nhìn, vận động, yêu, ghét…, mặc dù không hiến định, nhưng thiếu nó thì không thể thực thi bất kỳ quyền gì khác liên quan!      Công nghệ thực thi – cốt tử của quyền im lặng trên thực tế     Dù hiến định hay mặc định, quyền cơ bản chỉ có thể bảo đảm khi chế tài được mọi cơ quan công quyền phải tuân thủ những chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự hệ dẫn từ chính những quyền đó. Nói cách khác, hiến định hay mặc định chỉ mới bảo đảm được quyền cơ bản về mặt nguyên lý, để trở thành hiện thực phải có công nghệ pháp lý thực thi, tức các quy phạm đong đo đếm được quy định nghiêm ngặt trình tự thao tác của các cơ quan nhà nước phải thực hiện, ở dạng văn bản lập pháp (giống như năng lượng nguyên tử có thể nắm được dễ dàng về mặt nguyên lý, nhưng để sản xuất được nó phải có công nghệ).  Có thể tham khảo công nghệ pháp lý, qua quy phạm 2012/13/EU về “trách nhiệm giải thích truyền đạt“ trong các vụ án hình sự. Điều 3, đoạn 1 quy định “không cho phép ngoại lệ, mọi nghi can phải được cơ quan điều tra thông báo về quyền im lặng một cách nhanh chóng bằng miệng hoặc giấy với ngôn ngữ đơn giản nhất có thể hiểu được. Thông báo đó phải lưu giữ để sau này chứng minh được trách nhiệm đó đã hoàn thành. Vì vậy thông báo phải được thực hiện vào thời điểm mà quyền này nghi can có thể áp dụng (tức trước khi khai báo). Quy phạm trên, các nước EU phải đưa vào luật quốc gia trước ngày 02.06.2014“.   Còn ở Đức, Điều 136, 136 a Luật tố tụng StPO và Điều 55 Luật vi phạm hành chính OWiG quy định, “trước khi lấy lời của nghi can hoặc người vi phạm hành chính phải thông báo cho họ, theo luật họ được hoàn toàn tự do chọn khai báo hoặc không đối với cáo buộc, nhất là khi nhận thấy nói ra sự thật sẽ phải tự chịu hậu quả xấu; và bất kỳ lúc nào ngay cả trước khi chưa thẩm vấn, được quyền tham vấn luật sư mà người đó lựa chọn“. Quyền im lặng và tham vấn theo Điều 163 đoạn 4 Câu 2 Luật StPO, nghi can hay người vi phạm hành chính được quyền áp dụng “ngay từ công đoạn đầu tiên bị cảnh sát thẩm vấn“. Tiếp theo, nghi can phải được thông báo, “họ có quyền yêu cầu cấp các bằng chứng cáo buộc để họ bác bỏ“. Ngoài ra nếu Viện Kiểm sát thẩm vấn, “thì trước đó phải cho bị can biết đã bị cáo buộc vi phạm điều khoản nào của luật nào“. Trong xét xử, Điều 243, đoạn 4, câu 1 Luật StP0 quy định, “khi mở đầu phiên toà phải thông báo cho bị cáo quyền im lặng, dù trước đó họ đã được cảnh sát hay Viện kiểm sát thông báo“. “Nếu nhà chức tranh vi phạm các điều khoản trên, các bằng chứng đưa ra từ lời khai của nghi can, bị cấm sử dụng làm bằng chứng xét xử“. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc cơ bản trong xét xử tội phạm: “không một ai buộc phải tự tố cáo mình“. Từ đó, Điều § 55 StPO còn quy định quyền im lặng của cả nhân chứng để tránh qua khai báo, họ hoặc gia đình họ bị điều tra. Đối với người nước ngoài, Hiệp định quyền lãnh sự ký ở Viên (Áo), Điều 36, đoạn 1, câu 3 còn quy định thêm, phải thông báo không chậm trễ cho người đó biết họ có quyền thông tin cho cơ quan đại diện nước họ, và thông tin đó phải được chuyển đi không chậm trễ.   Ở Thụy Sỹ, Điều 31 Hiến pháp quy định, khi bị bắt mọi người đều có quyền được thông báo không chậm trễ về lý do và quyền của mình ở dạng dễ dàng hiểu được. Thuộc quyền này gồm quyền im lặng, quyền được toà án kiểm tra xem có cho phép nhà chức trách bắt giữ họ trong thời hạn thích ứng hay không, và quyền thông báo cho người nhà. Từ nền tảng Hiến pháp đó, Luật tố tụng hình sự, Điều 158, đoạn 1, quy định, “nghi can trước khi bị thẩm vấn có quyền nhận được thông báo về quyết định điều tra hay khởi  tố mình, quyền từ chối khai báo và hợp tác (quyền im lặng), quyền được mời luật sư hoặc xin luật sư công, quyền mời phiên dịch (nếu là người nước ngoài)“. Nếu bị bắt giữ, quyền đó phải được thông báo trực tiếp cho đương sự ngay sau khi bị bắt (Điểu 219, đoạn 1, Luật StPO). Nếu quyền trên không được thực hiện, thì mọi khai báo hoàn toàn không được phép sử dụng phục vụ cho xét xử (Điều 158, đoạn 2, và Điều 141, đoạn 1 Luật StPO).     Còn Dự Luật Tổ chức Viện KSND và TAND ở ta ?     Quyền im lặng cùng các quyền cơ bản khác trong tố tụng tư pháp mặc dù đã được hiến định hoặc mặc định, cũng như tư tưởng chỉ đạo công nghệ thực thi thể hiện trong phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đều không khác mấy các nước hiện đại, nhưng đã bị vô hiệu hóa bởi công nghệ thực thi do chính những người soạn thảo Dự luật đề xuất. Chánh án Toà án Tối cao Trương Hòa Bình đưa ra quan điểm, Dự luật phải „bảo đảm nguyên tắc hiến định“, “tuy nhiên cũng có nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong xét xử”. Còn Viện trưởng VKSND tối cao Nguyễn Hòa Bình cho rằng, “ban soạn thảo không đồng tình với phương án hai bên giữa luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng ngang bằng“, thể hiện từ việc bố trí chỗ ngồi trong xét xử. Lý do: “đã có báo cáo Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp và Bộ Chính trị kết luận, mô hình tố tụng chúng ta là mô hình thẩm vấn, có kế thừa tinh hoa của tranh tụng“. Về góc độ khoa học, đưa ra 2 mô hình, “thẩm vấn“ với “tranh tụng“, và “hiến định“ với “đảng lãnh đạo“ đặt ra yêu cầu cùng thoả mãn, để rồi chọn tùy ý một trong hai là phi logic, kết quả là quyền cơ bản trong tố tụng bị phủ định dễ dàng.   Đối với quyền im lặng, Viện trưởng Nguyễn Hoà Bình mặc dù thừa nhận: “Quyền im lặng của bị can, bị cáo đã được thế giới áp dụng “, nhưng do ở ta “cơ quan điều tra hoàn toàn không muốn quy định quyền im lặng, trong khi phía luật sư thì rất muốn“, “nên chúng tôi không dám đưa quy định này vào”. Rồi kết luận “chúng tôi cũng còn lúng túng, cần có định hướng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội“. Kết luận trên cho thấy quy trình làm luật này ở ta ngược với thế giới hiện đại, là nguyên nhân trực tiếp gây ra thực trạng trì trệ thể chế hầu khắp mọi lĩnh vực xưa nay. Khác với công chức luôn có trách nhiệm xin ý kiến và tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, nghị sỹ các nước hiện đại là chính khách hoàn toàn độc lập, phải tự quyết định theo nhận thức của mình, và được quyền miễn trừ đối với quyết định đó, không chịu bất kỳ chỉ đạo của ai, không được đẩy bất kỳ vấn đề gì cho ai hay cấp nào khác mà không đưa ra chính kiến của mình. Chủ tịch hay Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ là nơi tập hợp, tổ chức, đưa ra khuyến nghị, hoàn toàn không phải cấp trên định hướng nghị sỹ; kỳ họp quốc hội cũng chỉ là nơi thông qua Dự luật, thực hiện “phép cộng“ tất cả nghị sỹ. Thử hình dung sự kiện Hạ viện Đức trước kỳ nghỉ 2 tháng dịp hè thu năm ngoái, với 631 nghị sỹ trong vòng 2 phiên họp 27 và 28.7.2013 đã thông qua tới 143 Dự thảo Luật và nghị quyết. Liệu năng suất ban hành văn bản lập pháp đó có đạt nổi, nếu nghị sỹ hễ cứ vướng là phải chờ ý kiến của UBTV Quốc hội, không thể quyết định như ở ta trường hợp trên. Một khi văn bản lập pháp thiếu và yếu, thì lẽ dĩ nhiên, nhà chức trách sẽ không thể hành xử khác, cứ như cũ mà làm, hoặc hành xử theo nhận thức chủ quan, chưa nói đến động cơ vụ lợi – đó chính là bản chất của trì trệ thể chế.  Công nghệ làm luật ở nước nào cũng do từng nghị sỹ tham gia, sản phẩm hiện đại hay không tùy thuộc chính họ. Sở dĩ quyền im lặng bị Dự luật từ chối thể chế hoá, bởi như đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương, thành viên Tổ biên tập, trả lời trên VTV khẳng định sai cả khoa học pháp lý, “Quyền im lặng không phải quyền con người“. Và dẫn liệu “ở các nước nếu quy định thì cũng khuyến cáo người bị bắt nên thành khẩn khai báo”, cũng lại hoàn toàn sai thực tế nốt, bởi khuyến cáo đó mâu thuẫn với bản chất quyền im lặng nên họ có muốn cũng không thể thực hiện cùng lúc vô nghĩa như vậy. Do hiểu sai bản chất về quyền im lặng, nên đại biểu Đỗ Văn Đương đã hy sinh quyền cơ bản vốn cấu thành con người được coi là mục đích, để nhằm thực hiện công việc điều tra truy tìm tội phạm có kết qủa vốn chỉ là phương tiện phục vụ lại quyền và lợi ích người dân: “việc quy định quyền im lặng của bị can (mục đích) sẽ cản trở hoạt động điều tra trong việc truy tìm xử lý tội phạm (phương tiện)“. Để lý giải việc hoán đổi vị trí giữa mục đích và phương tiện, đại biểu Đỗ Văn Đương đưa ra tình huống bất bình thường thay cho bình thường: “nếu quá chú trọng vào lợi ích của nhà nước thì quyền của người dân sẽ bị vi phạm, ngược lại nếu mở rộng quá nhiều quyền dẫn tới tùy tiện thì lại gây ra nhiều khó khăn, trở ngại cho công tác điều tra, giải quyết vụ án“. Luật sinh ra được áp dụng đại trà trong điều kiện bình thường nên không thể xây dựng dựa trên các tình huống bất bình thường “quá chú trọng“ hay “mở rộng quá nhiều quyền dẫn tới tùy tiện“ vốn một khi xảy ra sẽ được điều chỉnh bởi luật áp dụng cho tình huống khẩn cấp đó; như khi thiết quân luật, một số quyền cơ bản có thể bị bãi bỏ, nhưng không vì thế mà người ta không hiến định những quyền đó. Cách phản biện sai tiêu thức trên thường thấy trong trao đổi học thuật ở ta làm cho những vấn đề tranh cãi dẫm chân tại chỗ, trầm trọng thêm tình trạng trì trệ thể chế.  Quốc hội Đức từng thông qua luật cho phép bắn hạ máy bay chở khách bị khủng bố cướp, nhưng may tới rào cản Toà án Hiến pháp thì bị chặn lại với lý do, Hiến pháp quy định mọi người đều bình đẳng, nên không thể hy sinh tính mạng người này để cứu người khác. Còn Dự thảo bác bỏ quyền im lặng ở ta liệu những rào cản nào có thể chặn lại? Khi mà nó phủ định một quyền cơ bản mang tính phổ quát thế giới, và vụ án oan điển hình phạt tù chung thân Nguyễn Thanh Chấn tội giết người chỉ bởi thiếu quyền im lặng, vẫn đang nhức nhối dư luận bấy nay!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền kiểm sát chung Chính phủ, nên giao lại cho Viện Kiểm sát?      Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, Quốc  hội có chức năng giám sát các hoạt động của chính phủ. Mặc dù, Quốc hội  là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền bầu, bãi, miễn nhiệm các thành  viên chính phủ nhưng hiệu quả của việc giám sát của Quốc hội đối với  chính phủ vẫn còn hạn chế.     Thứ nhất, đa số các thành viên của Quốc hội là không chuyên trách, việc giám sát của Quốc hội chủ yếu thông qua các báo cáo của Chính phủ và các thành viên. Do vậy, đối với việc giám sát cụ thể các vụ việc thì Quốc hội vẫn còn hạn chế. Thứ hai, nhiều đại biểu Quốc hội là thành viên của Chính phủ hoặc là cấp dưới của các thành viên báo cáo, do vậy vẫn còn việc “nể nả”, mà đôi khi không truy trách nhiệm đến cùng. Thứ ba, việc am hiểu chuyên sâu về pháp luật của các Đại biểu Quốc hội cũng chưa cao, số lượng các đại biểu từ các cơ quan chuyên trách về pháp luật không nhiều. Thứ tư, Quốc hội “quá nhiều việc”. “Xuân thu nhị kỳ”, thời gian của 2 phiên họp của Quốc Hội kéo dài chỉ khoảng 4 tháng. Trong khi đó, Quốc hội phải dành thời gian thông qua luật, nghe báo cáo của các cơ quan Chính phủ, Viện Kiểm sát, Tòa án, bầu các chức danh, quyết định các vấn đề lớn của đất nước…    Do vậy, cần trao cho một cơ quan độc lập để giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Chính phủ và các Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, đặc biệt đối với việc giám sát hoạt động, các văn bản liên quan đến việc điều hành các doanh nghiệp nhà nước (kiểm sát chung).    Trước đây, theo quy định của Hiến pháp năm 1992, chức năng kiểm sát chung được giao cho Viện Kiểm sát. Theo đó, Viện Kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan từ cấp Bộ trở xuống. Tính đến năm 2001, Viện Kiểm sát đã nghiên cứu hàng trăm nghìn văn bản, pháp hiện, kháng nghị gần 10 nghìn văn bản vi phạm pháp luật, trong đó có không ít là văn bản của các cơ quan cấp bộ, còn lại là của chính quyền địa phương. Ngoài ra, các cơ quan hành chính cũng tự ra văn bản bãi bỏ, sửa đổi sau khi có ý kiến của Viện Kiểm sát.    Tuy nhiên đến Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 thì Viện kiểm sát không thực hiện chức năng kiểm sát chung nữa. Có nhiều ý kiển cho rằng, Viện Kiểm sát chỉ nên tập trung thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hay chức năng kiểm sát chung làm cho Viện kiểm sát trở thành người “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, nhưng Tòa án mới là “người cầm còi”.     Do vậy, để phù hợp với hệ thống các cơ quan nhà nước ta, chức năng kiểm sát chung nên được trao lại cho ngành Kiểm sát với những cơ sở sau:     Một là, Viện Kiểm sát là cơ quan bảo vệ pháp luật, đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên chuyên sâu, am hiểu về pháp luật. Hơn nữa, trong hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát, có các Vụ, phòng chuyên trách, chẳng hạn như Vụ thực hành quyền công tố về án hình sự, dân sự, kinh tế… Nếu được giao chức năng kiểm sát chung, ví dụ đối với việc giám sát các hoạt động điều hành các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ, có thể giao cho Vụ kiểm sát các vụ việc dân sự, kinh tế của Viện Kiểm sát Tối cao…     Hai là, Viện Kiểm sát độc lập với Chính phủ. Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Các Kiểm sát viên của VKSTC do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề nghị của Viện trưởng VKSTC. Có ý kiến cho rằng, chức năng kiểm sát chung nên giao cho Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, nếu việc giao chức năng này cho Bộ tư pháp thì cũng giống như việc ví “con giám sát cha mẹ”. Hiện nay, các cơ quan thuộc chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì cũng đã có sự kiểm định tính hợp hiến, hợp pháp của Bộ Tư pháp, việc này được xem như “con giúp cha mẹ”, nên rất có hiệu quả nhưng việc “con giám sát cha mẹ” thì hiệu quả không cao. Ngoài ra, việc “xem xét lại hoạt động của mình” (kiểm sát các văn bản của chính phủ) dường như sẽ khó độc lập. Hay ý kiến khác cho rằng, nên giao cho Tòa Hành chính, Kinh tế… tuy nhiên, nếu như vậy thì cũng sẽ đặt ra vấn đề là quan tòa “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Tòa án phải là “trọng tài” độc lập để xét xử và do đó cơ quan này không thể là một bên trong tranh chấp…    Ba là, việc tăng thêm quyền, sẽ tăng thêm trách nhiệm. Việc Viện Kiểm sát có chức năng kiểm sát chung không có nghĩa là Quốc hội sẽ không còn chức năng giám sát. Mà việc giám sát Chính phủ sẽ do 2 cơ quan cùng thực hiện. Theo đó, Viện Kiểm sát cũng sẽ tăng trách nhiệm đối với việc thực thi quyền kiểm sát chung. Có lẽ, Viện Kiểm sát sẽ chịu trách nhiệm đối với việc thực thi quyền kiểm sát chung trước cả Quốc Hội và Chủ tịch nước là hợp lý. Điều này cũng giúp cả Quốc hội và Chủ tịch nước thực thi tốt quyền “bãi, miễn nhiệm” của mình đối với các chức danh của ngành Kiểm sát.     Giả sử như chức năng này của Viện Kiểm sát không được thực hiện tốt, nhưng các cơ quan thuộc Chính phủ cũng phải “e ngại” khi có thêm một cơ quan giám sát độc lập. Thêm vào nữa, đây cũng là một “kênh” phát hiện tội phạm của Viện Kiểm sát để dễ dàng hơn trong việc khởi tố, truy tố các vụ án hình sự, đặc biệt đối với các tội tham nhũng trong các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước.    Tuy nhiên, hiện nay Viện kiểm sát cấp huyện, tỉnh vẫn còn chưa thực sự độc lập để có thể kiểm sát Ủy ban nhân dân các cấp tương ứng. Có lẽ, việc điều chỉnh theo hướng cấp ủy đảng của Viện kiểm sát chỉ trực thuộc theo ngành dọc. Điều này có nghĩa là về mặt đảng, Viện trưởng và các các thành viên cấp huyện, tỉnh chỉ trực thuộc cấp trên là tỉnh, tối cao.    Với những kiến nghị nêu trên, việc nghiên cứu, bổ sung chức năng kiểm sát chung của Viện Kiểm sát vào Hiến pháp sửa đổi sắp tới sẽ góp phần giúp Quốc hội giám sát Chính phủ tốt hơn, nâng cao hoạt động điều hành của Chính phủ, cũng như góp phần xây dựng nhà nước thượng tôn pháp luật.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền lực công nên tổ chức thế nào ?      Dự luật về đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt đã được trình Quốc hội cho ý kiến và dự kiến sẽ được thông qua tại kỳ họp tháng 5 năm 2018. Vấn đề là thời gian thông qua thì đã được xác định, thế nhưng không ít các vấn đề cơ bản nhất thì vẫn còn quá nhiều những ý kiến khác nhau. Việc thống nhất ý kiến quả thực là rất khó khăn, nếu chúng ta không có được một khuôn khổ lý thuyết phù hợp.      Vân Đồn là một trong ba đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt. Ảnh: Nguồn: Báo Quảng Ninh.  Trước hết là vấn đề có nên tổ chức hội đồng nhân dân (HĐND) ở các đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt hay không. Theo tờ trình của Chính phủ, ở các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt chỉ có cơ quan hành pháp mà không có cơ quan lập pháp (HĐND). Cơ quan hành pháp sẽ do một quan chức đứng đầu gọi là trưởng đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Tuy nhiên, có vẻ như ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã chia đôi 50/50 ở đây. Các đại biểu ủng hộ phương án thành lập HĐND cho rằng cần phải có cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; cần phải có cơ quan giám sát trưởng đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt; HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, không có HĐND không thể phát sinh quyền lực… Các ý kiến trên là hoàn toàn có lý khi chúng ta nói về các đơn vị chính quyền địa phương. Tuy nhiên, đây lại chỉ là các đơn vị hành chính-kinh tế.  HĐND và bầu cử HĐND là những thiết chế chính trị được sinh ra trước hết để xác lập ưu tiên của địa phương. Định hướng phát triển của địa phương sắp tới sẽ như thế nào; định hướng đó có phù hợp với ý nguyện của cư dân địa phương không là một số trong những vấn đề cơ bản mà hai thiết chế nói trên phải giải quyết. Thế nhưng, đối với các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt thì định hướng phát triển và các ưu tiên đã được xác định ngay trong dự Luật thành lập ra chúng. Trong dự Luật thậm chí ưu tiên đã được xác lập cho từng đơn vị hành chính- kinh tế cụ thể. Ví dụ, các ngành nghề đối với đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn là: “công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa; dịch vụ hàng không và hậu cần hàng không; dịch vụ thương mại và mua sắm”. Như vậy, các thiết chế để xác lập ưu tiên và định hướng các chính sách phát triển như HĐND và bầu cử HĐND là không còn cần thiết. Hơn thế nữa, nếu thành lập các thiết chế này, thì rủi ro của việc xung đột giữa các ưu tiên do Trung ương xác lập và các ưu tiên do địa phương xác lập là không thể loại trừ. Còn về vấn đề giám sát, các đơn vị này chỉ là những đơn vị hành chính, thì giám sát chúng sẽ phải là giám sát hành chính. Thủ tướng Chính phủ nên có một tổ hay một nhóm các chuyên gia giúp Thủ tướng giám sát xem những nhiệm vụ do Trung ương đề ra đang được các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt thực thi như thế nào. Chúng ta đang đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Thế thì điều đầu tiên một nhà nước kiến tạo quan tâm là phát triển kinh tế. Chưa phải là những thứ khác!      Để các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt có thể vận hành trôi chảy thì nhất thể hóa giữa Đảng và Nhà nước vào người đứng đầu đơn vị là rất cần thiết.        Vấn đề thứ hai là các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt trực thuộc Trung ương hay địa phương. Những phân tích ở phần trên đã cho thấy, các ưu tiên được xác lập cho các đơn vị này là các ưu tiên của Trung ương và do Trung ương đề ra. Vậy thì câu trả lời đã rõ là các đơn vị này nên trực thuộc ai. Không thể trực thuộc địa phương, báo cáo với địa phương mà lại phải triển khai các nhiệm vụ do Trung ương đề ra. Nếu các đơn vị này đã trực thuộc Trung ương thì người đứng đầu đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt phải do Trung ương bổ nhiệm. Trung ương phải chọn cho được người có đủ năng lực để triển khai thực hiện những nhiệm vụ do mình đề ra. Phương án địa phương giới thiệu, Trung ương bổ nhiệm trưởng đơn vị như dự thảo Luật đề ra là không phù hợp. Không nên có sự cân bằng và kiểm soát quyền lực giữa Trung ương và địa phương ở đây. Hơn thế nữa, trên thực tế, quyền giới thiệu sẽ quan trọng hơn quyền phê chuẩn. Mà như vậy thì khuyến khích về việc làm sao cho vừa lòng địa phương bao giờ cũng sẽ lớn hơn. Các nhiệm vụ do Trung ương đề ra vì vậy chưa chắc đã được toàn tâm, toàn ý triển khai thực hiện.  Cuối cùng, trong hệ thống của chúng ta, Đảng tham gia trực tiếp vào quá trình quản trị quốc gia. Để các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt có thể vận hành trôi chảy thì nhất thể hóa giữa Đảng và Nhà nước vào người đứng đầu đơn vị là rất cần thiết.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Quyền lực của khảo thí      Quyền khảo thí là một trong năm quyền lực nhà nước ở Đài Loan (Trung Quốc). Sứ mệnh của quyền lực khảo thí là sát hạch và tuyển dụng những người tài giỏi nhất, liêm chính nhất cho nền công vụ của quốc gia.      Chính nhờ có quyền khảo thí vận hành trên thực tế mà đội ngũ công chức của Đài Loan rất có năng lực, đồng thời cũng rất liêm chính.  Có lẽ, Đài Loan là nơi duy nhất trên thế giới mà quyền lực nhà nước được chia thành năm nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát và khảo thí (chứ không phải chỉ ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp như ở nhiều nước khác). Đây là mô hình nhà nước được xây dựng theo tư tưởng của Tôn Trung Sơn, người có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào dân chủ ở phương Đông. (Thực ra, trong quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” của nước ta tư tưởng của Tôn Trung Sơn cũng được thể hiện. Đó là tư tưởng tam dân: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc).  Quyền khảo thí là một trong những quyền lực nhà nước được Tôn Trung Sơn hết sức coi trọng. Ông cho rằng chính sách, pháp luật chỉ thật sự đi vào cuộc sống nếu chúng được triển khai bởi một đội ngũ công chức tài giỏi, liêm chính. Chính vì vậy sứ mệnh của quyền lực khảo thí là sát hạch và tuyển dụng những người tài giỏi nhất, liêm chính nhất cho nền công vụ của quốc gia.  Cơ quan cao nhất của nhánh quyền lực khảo thí là Viện khảo thí. Các cơ quan trực thuộc Viện khảo thí là Bộ Khảo thí; Bộ nhân sự (Bộ lại); Ban giám sát quỹ hưu của công chức; Ủy ban bảo trợ và đào tạo công vụ. Trách nhiệm của Viện khảo thí ngoài việc sát hạnh, còn là tuyển dụng và điều hành đội ngũ công chức trong cả nước.  Chính nhờ có quyền khảo thí vận hành trên thực tế mà đội ngũ công chức của Đài Loan rất có năng lực, đồng thời cũng rất liêm chính. Đây cũng là lý do giải thích tại sao Đài Loan đã trở thành một trong những nơi phát triển và thịnh vượng nhất của châu Á.  Cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển để xây dựng kinh tế. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nhà nước kiến tạo phát triển là một đội ngũ công chức tinh hoa và độc lập. Chính nhờ khảo thí được coi trọng như một quyền lực nhà nước, nên Đài Loan đã có điều kiện để sát hạch và lựa chọn được những người tài giỏi nhất cho công vụ. Cũng chính nhờ tính độc lập của quyền khảo thí, nên đội ngũ công chức đã không bị phụ thuộc vào các ảnh hưởng của đảng phái, phe nhóm, của các quyền lực chính trị như lập pháp và hành pháp. Điều này làm cho chính sách pháp luật luôn luôn được thực thi khách quan, hiệu quả. Mà nhờ vậy mà độ tin cậy của chính sách pháp luật cũng cao hơn. Một điểm rất đặc biệt của Đài Loan là các doanh nghiệp nhà nước vận hành rất hiệu quả. Có thể, cách thức tuyển chọn nhân sự và tính độc lập của đội ngũ này là sự giải thích cho hiện tượng nói trên.  Kinh nghiệm cho thấy, các nước Đông Bắc Á với mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã thành công là nhờ vào đội ngũ công chức tinh hoa. Ở Nhật Bản, việc thi tuyển công chức cũng rất được coi trọng và mang tính cạnh tranh rất cao. Ví dụ, năm 2009 có 22.186 người tham gia thi tuyển công chức, thì chỉ có 1.494 (6,7%) người trúng tuyển. Trong số những người trúng tuyển này, chỉ có chưa đầy một nửa (660 người) được tuyển dụng.  Trở lại với Việt Nam chúng ta, thách thức lớn nhất trong việc thúc đẩy mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở ta là tình trạng đội ngũ công chức khó có thể được coi là tinh hoa và chuyên nghiệp. Thêm vào đó sự thiếu hụt về liêm chính và phẩm hạnh cũng là một vấn đề rất lớn. Để có được một đội ngũ công chức như các nước Đông Bắc Á có lẽ chúng ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước này trong việc thi tuyển để lựa chọn các công chức tài giỏi. Và xây dựng một thiết chế đảm nhận công việc này có vị thế độc lập và quyền năng như Viên khảo thí của Đài Loan có lẽ cũng cần được nghiên cứu, xem xét.  Thực ra, truyền thống khoa bảng ở nước ta đã có tự ngàn xưa. Rất không may là sau nhiều biến động của lịch sử, truyền thống này đã bị đứt gãy. Vấn đề là chúng ta phải có ý thức khôi phục lại truyền thống này để chuyện thi tuyển công chức được tổ chức thực sự nghiêm minh và chất lượng. Suy cho cùng, thiếu một đội ngũ công chức tài giỏi, đất nước sẽ khó có thể phát triển một cách vượt bậc.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Quyền lực phải song hành hài hòa với tri thức      Khái niệm “nền kinh tế tri thức” được  nhắc đến nhiều trong các năm qua dưới những cách diễn đạt khác  nhau, nhưng quan điểm thông thường cho rằng nền kinh tế tri thức là nền  kinh tế trong đó “sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức” trở thành  yếu tố quyết định nhất giúp phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao  chất lượng cuộc sống.  &#160;    Nền kinh tế tri thức1, theo Ngân hàng thế giới “là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng”; còn theo Tổ chức OECD, nền kinh tế tri thức “Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin.” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD).       Các cách hiểu trên có thể dẫn đến một kết luận rằng muốn xây dựng một nền kinh tế tri thức thì cần phải có nhiều tri thức, nhiều người sáng tạo, sở hữu và truyền bá tri thức, hoặc đơn giản phải có nhiều người lao động trí óc, trong đó có nhiều nhà trí thức2.  Tích và tản tri thức  Chắc chắn rằng không phải chờ đến khi hình thành nền kinh tế tri thức thì các nhà trí thức mới có vai trò phục vụ cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Ngay trong lịch sử nước ta, từ xa xưa đã có những nhà trí thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.  Đơn cử ngay như Nguyễn Trãi, một vị anh hùng dân tộc, cũng đồng thời là một nhà trí thức sáng ngời nhân cách. Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng. Ông cùng cha thi đỗ tiến sỹ năm đầu triều Hồ. Khi giặc  Minh xâm chiếm nước ta, thành Thăng Long thất thủ, Nguyễn Trãi lưu lạc trong dân gian 10 năm trước khi vào Lam Sơn tham nhập cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi. Ông được Lê Lợi tin dùng, bày mưu tính kế trong tổng hành dinh đầu não của cuộc khởi nghĩa. Chiến lược của ông là không đánh thành mà đánh vào lòng người, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, thu phục được sự đoàn kết nhất trí của nhân dân, lung lay ý chí của kẻ thù, đem lại cho Lê Lợi hiệu quả sánh ngang trăm vạn hùng binh.   Một nhà trí thức nổi tiếng khác là Đào Duy Từ, lúc nhỏ cực kỳ thông minh, học đâu nhớ đấy, vô cùng sáng dạ. Nhưng lớn lên ông không được đi thi vì vấn đề lý lịch3. Do đó, ông bỏ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài để theo chúa Nguyễn, trở thành người bày mưu tính kế ở cơ quan quyền lực cao nhất ở Đàng Trong. Ông được chúa Nguyễn coi là Thầy. Chiến lũy ở Quảng Bình do ông chỉ huy xây đắp được gọi là lũy Thầy. Nhờ kế sách của ông mà vương quyền họ Nguyễn đứng vững trước những cuộc công phá liên tục của chúa Trịnh, không những thế còn vươn xa về phương Nam, làm cho nước Việt có diện mạo hình chữ S như hiện nay.   Như vậy, cuộc đời của hai nhà trí thức Nguyễn Trãi và Đào Duy Từ, dưới góc nhìn trí thức, đều có những nét tương đồng. Đó là họ đều tích luỹ đến mức cao nhất và rộng nhất những tri thức đương thời, cả trong sách vở, cả trong cuộc sống thực tiễn. Khi tích đã đủ họ đều tản những tri thức ấy dưới dạng các tư tưởng và chiến lược từ các trung tâm quyền lực cao nhất.    Xem xét hai ví dụ trên chúng ta thấy người trí thức chỉ thành hình khi có đủ hai quá trình:  – Quá trình thứ nhất – Quá trình tích: Một nhà trí thức cần phải tích luỹ tri thức liên tục, tích lũy trong mọi hoàn cảnh, trước hết phải tích lũy thật sâu tri thức thuộc một lĩnh vực chuyên biệt nào đó. Khi đã đạt đến một mức nào đó, nhà trí thức tương lai có thể thi lấy một tấm bằng (tiến sỹ chẳng hạn), hoặc chẳng cần mảnh bằng nào hết. Sau khi đã tích khá khá, anh ta dần dần phải tìm hiểu được các quy luật phổ biến và vĩnh hằng đang chi phối cuộc sống nhân loại tại thời điểm anh ta đang sống. Nhờ việc hiểu rõ một số quy luật, anh ta bắt đầu có thể mở rộng sự hiểu biết của mình sang các lĩnh vực khác ngoài chuyên môn. Quá trình đào sâu và mở rộng tri thức cũng vẫn là quá trình tích lũy, những ở trình độ cao hơn, nhiều sáng tạo hơn. Quá trình này đối với một nhà trí thức là không có điểm kết. Anh ta không được phép dừng lại sau khi đã đạt đến một học vị, một bằng cấp nào đó. Nếu dừng lại anh ta sẽ được gọi là một vị “cựu trí thức”. Nhưng khác với với các “cựu quan chức”, các “cựu trí thức” có thể quay lại “sở nhiệm” của mình bất cứ lúc nào, chỉ cần anh ta khởi động lại quá trình tích luỹ.          Trong một cộng đồng cụ thể, khi có sự kết  hợp hài hoà giữa hai trung tâm quyền lực và trí tuệ thì sẽ tạo nên một  sức mạnh cực kỳ to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả cộng đồng.        – Quá trình thứ hai – quá trình tản: Một trí thức phải tản kiến thức của mình đã tích luỹ theo nghĩa đóng góp nhiều hơn và tốt hơn cho cuộc sống hiện tại. Nhiệm vụ của anh ta không đơn thuần là nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và dòng họ, mà hơn hết, thước đo nhân cách của nhà trí thức là anh ta có nghĩa vụ mang lại hạnh phúc cho một cộng đồng xã hội to lớn hơn cái nhóm nhỏ được tạo nên từ gia đình, bạn bè, cạ cụm,… xung quanh anh ta. Ví dụ, các nhà phát minh sáng chế, họ đã tản kiến thức thu được dưới dạng các sản phẩm hữu ích (vật thể hoặc phi vật thể) để tạo ra năng suất lao động cao hơn, biến lao động trở thành niềm vui sáng tạo, chứ không phải là các công việc khổ sai.   Tuy nhiên, quá trình tản của trí thức có nhiều cấp độ. Cấp độ một là ở bục giảng, trên sàn diễn hay trong các phòng thí nghiệm. Ở cấp độ này, nhà trí thức làm việc gần giống các nhà chuyên môn. Cấp độ hai là nhà trí thức đã thức nhận được các luật vĩnh hằng và phổ quát. Họ có thể viết sách để truyền bá các tư tưởng ấy. Sách của họ có thể là các tác phẩm bằng chữ, bằng hình ảnh, bằng âm thanh, v.v. Cấp độ ba là nhà trí thức hoá thân thành trung tâm trí tuệ để tích thu tri thức cộng đồng. Nhà trí thức lúc đó không còn là một cái tôi bé nhỏ. Họ trở thành các trung tâm trí tuệ không ngừng mở rộng, không ngừng thu nạp thêm tri thức mới, không ngừng toả sáng truyền bá hiểu biết đến những góc khuất của cuộc sống.  Khi trí thức song hành hài hòa cùng quyền lực  Có thể tạm hình dung sự kết hợp giữa quyền lực và trí thức theo nguyên lý âm-dương. Trung tâm trí tuệ mang đặc tính âm, luôn có tiềm năng kết hợp một cách hài hoà với trung tâm quyền lực mang đặc tính dương. Trong một cộng đồng cụ thể, khi có sự kết hợp hài hoà giữa hai trung tâm quyền lực và trí tuệ thì sẽ tạo nên một sức mạnh cực kỳ to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả cộng đồng.  Cái may của Nguyễn Trãi, cũng là phúc lớn của dân tộc Việt nam là tài năng của Ông đã lọt vào mắt xanh của Lê Lợi. Sự kết hợp ấy được thể hiện trong câu “Nguyễn Trãi vi thần, Lê Lợi vi quân”. Sự kết hợp hài hòa giữa hai trung tâm, Lê Lợi- trung tâm quyền lực, Nguyễn Trãi – trung tâm trí tuệ, đã tạo nên sức mạnh to lớn, đưa đến chiến thắng vang dội quét sạch giặc Minh khỏi bờ cõi, làm cho nước Việt không phải làm quận huyện của nước Tầu một lần ngàn năm nữa.  Ở tầm mức cao nhất, trí thức là phần âm, giúp bổ khuyết những phần còn thiếu của quyền lực để tạo ra sự hài hòa âm dương của sự phát triển. Vì vậy, quyền lực, với tư cách một vương quyền hay một thể chế, không nên coi trí thức là kẻ thù để đến nỗi phải nêu khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ”, mà ngược lại phải coi trí thức như là nỗi khao khát tìm kiếm suốt đời của mình. Thiếu sự hỗ trợ của tri thức, quyền lực có thể bị tha hóa, biến nhà chính trị thành kẻ quái dị đáng thương vây quanh bởi những kẻ xu nịnh rẻ tiền. Không chỉ ở quy mô quốc gia, ở những quy mô hẹp hơn, đối với bất cứ cá nhân, tổ chức nào mà sự kết hợp giữa trí tuệ và quyền lực không hài hoà thì đều tất yếu dẫn đến sự tan rã, suy kiệt và sụp đổ.  Tri thức thúc đẩy tiến bộ như thế nào?  Nhìn lại quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ nhất của nhân loại, chúng ta thấy rằng đây là thời điểm loài người chuyển từ kinh tế săn bắn hái lượm sang kinh tế nuôi trồng. Lúc đó, loài người đã tích lũy được một khối lượng tri thức rất lớn về vật nuôi, cây trồng, về giống cây, giống con, về thời tiết, phân tro, về sâu bệnh, dinh dưỡng, về chế biến, bảo quản,… Rõ ràng rằng lúc đó các bộ lạc còn sống bấp bênh nhờ hái lượm đã từng thèm khát và khâm phục gọi các bộ lạc có nền kinh tế nuôi trồng là các nền kinh tế uyên bác. Thực vậy họ gọi những người nuôi trồng là những kẻ “cultiver” (những người có văn hoá). Sự khâm phục ấy đã biến đổi động từ “trồng trọt” thành danh từ “văn hóa”. Tại thời điểm đó, khối lượng tri thức của nhân loại đã tăng lên một cách đột biến. Quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ nhất này dẫn đến sự hình thành nhiều trung tâm văn minh nhân loại từ Ai Cập, Lưỡng Hà, đến Ấn Độ, Trung Hoa, v.v.  Lịch sử lại thêm một lần chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ hai, mới chỉ xảy ra cách đây vài trăm năm, là quá trình thay thế sức sản xuất từ cơ bắp sang sức máy. Lúc đó, công suất của những cỗ máy hơi nước, của các động cơ điện thường hay được so sánh với sức ngựa kéo (HP hay CV). Cách so sánh này vẫn được ghi trên nhãn mác của những cỗ máy hiện đại nhất tại thế kỷ 21 này. Tại lần chuyển đổi thứ hai này, tri thức của loài người về các quá trình lý hoá, cơ điện, nhiệt động, kết cấu, lắp ghép, v.v, cũng tăng lên đột biến. Quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ hai gắn liền với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, sự bành trướng toàn cầu của chủ nghĩa thực dân.   Hiện nay, chúng ta bắt đầu đi vào quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ ba, có bản chất là sự tối ưu hóa sản suất bằng các con chíp điện tử. Trong công cuộc chuyển đổi này, mọi hoạt động sản xuất, văn hóa, thể thao, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, v.v, đều thấp thoáng bóng dáng sự hỗ trợ của các con chíp điện tử. Tốc độ chuyển đổi phương thức sản xuất lần thứ ba rất nhanh, phạm vi rất rộng, không trừ một góc khuất nào trên khắp hoàn cầu.   Nhiều hiện tượng mới, cả tích cực và tiêu cực đều đồng thời diễn ra. Hơn nữa, nhận thức của chúng ta về quá trình chuyển đổi mày có lẽ đã, đang và sẽ còn rất nhiều khiếm khuyết. Bởi vì, đơn giản là chúng ta đang sống trong chính quá trình chuyển đổi đó. Đứng bên cạnh con voi đã rất khó khăn để mô tả về Con voi, thế thì đứng trong bụng con voi lại càng khó nói về nó hơn. Cái gọi là “nền kinh tế tri thức”, thực chất chính là một cuộc chuyển đổi lớn lao, mạnh mẽ và vô cùng dồn dập về phương thức sản xuất, trong đó hiểu biết của loài người về mọi phương diện đang tăng lên theo cấp số nhân giống như hai lần chuyển đổi trước đây.  Nguy cơ tụt hậu   Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng trong lần chuyển đổi phương thức sản xuất thứ nhất, những bộ lạc khư khư giữ phương thức hái lượm nhanh chóng bị thôn tính và xoá sổ, mất đất, mất tên. Tương tự như vậy, tới lần chuyển đổi thứ hai, nhiều quốc gia chậm tiến đã bị các nước phát triển hơn thôn tính làm thuộc địa. Nhật Bản là một trong những dân tộc hiếm hoi, do đã nhanh chóng tăng cường tri thức về máy móc, nên mới thoát hiểm không bị nhấn chìm bởi làn sóng thuộc địa hoá.           Nếu như người lãnh đạo các nước này nhận  thức sai về nền kinh tế trí thức, nếu họ chỉ ưa các mỹ từ, không nhìn  sâu vào quá trình chuyển đổi, không biết ứng dụng nguyên lý lớn (nguyên  lý tích tản) để mổ xẻ các vấn đề thời cuộc, nhất định họ đã và sẽ còn  chìm lâu trong sự trì trệ.         Điều này dẫn đến một suy đoán là, trong lần chuyển đổi phương thức sản xuất thứ ba này vốn đang diễn ra với tốc độ vô cùng khẩn trương, các dân tộc và quốc gia không nỗ lực thay đổi, thích nghi, thì tất yếu bị tụt hậu xa hơn. Nếu như người lãnh đạo các nước này nhận thức sai về nền kinh tế trí thức, nếu họ chỉ ưa các mỹ từ, không nhìn sâu vào quá trình chuyển đổi, không biết ứng dụng nguyên lý lớn (nguyên lý tích tản) để mổ xẻ các vấn đề thời cuộc, nhất định họ đã và sẽ còn chìm lâu trong sự trì trệ.   Vậy vấn đề thời cuộc lớn nhất hiện nay là gì? Đó chính là vấn đề nhận thức cho đúng hạt nhân phát triển, bao gồm quyền lực (Power – P) và trí tuệ (Intellectual – I), hay có thể gọi là hạt nhân (P,I). Nhận thức về hạt nhân (P,I) cho phép chúng ta từ bỏ cách xài cụm từ “sử dụng chất xám”. Chất xám với tư cách là một con người không thể bị sử dụng thông qua một hợp đồng lao động với đồng lương rẻ mạt. Quan niệm như vậy sẽ giết chết sự sáng tạo. Chất xám, hay nhà trí thức, phải được trân trọng ở tầm mức cao nhất. Bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào tạo ra được một hạt nhân (P,I) đều có thể xác lập một cơ hội phát triển mạnh mẽ. Hạt nhân (P,I) luôn luôn có trách nhiệm, và về nguyên lý nhất định phải lãnh trách nhiệm, trong việc tìm ra cách thức mới để sáng tạo ra sản phẩm phục vụ cuộc sống theo cách tốt đẹp hơn, nhân văn hơn. Cũng là sản phẩm lúa gạo, nhưng trong nền kinh tế tri thức một tổ chức có hạt nhân (P,I) sẽ sản xuất ra lúa gạo với năng suất cao hơn, hiệu quả hơn, hủy hoại môi trường ít hơn. Ngược lại, một tổ chức độc quyền không có hạt nhân (P,I), sẽ sản xuất xăng dầu, xi măng, điện năng, gỗ giấy, v.v, với chi phí ngày càng tăng, làm cạn kiệt tài nguyên, và hủy hoại môi trường ngày càng nhiều.   Cuối cùng, chúng tôi đề xuất một định nghĩa: “Nền kinh tế tri thức” là nền kinh tế sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống con người bằng các qui trình ngày càng trí tuệ hơn, nhờ vào việc nền kinh tế ấy đang xây dựng và mở rộng ngày càng nhiều các hạt nhân phát triển (P,I). Ngược lại, những quốc gia hoặc khu vực nào chưa có ý thức tạo dựng các hạt nhân phát triển (P,I) thì nhất quyết chưa thể xếp vào hạng các nền kinh tế tri thức.  —  1. Tri thức: Những hiểu biết mà người ta phải học mới có, học cả trong sách vở lẫn trong thực tế. Tri thức giúp một con người hoặc một cộng đồng hành động đúng trong một bối cảnh nào đó. Khi bối cảnh thay đổi tri thức ấy cũng thay đổi theo. Vậy tri thức la các luật nhỏ (local laws).  2. Trí thức là người thức nhận được các luật lớn (permanent and universal laws) bằng một trong hai cách:  – Cách tuần tự: học tập dần dần để tích lũy các luật nhỏ  – Cách đốn ngộ: suy ngẫm để đi đến việc xé bỏ màng vô minh  Nói chung trí thức là người thức tỉnh khỏi vô minh nhờ rèn luyện tâm trí. Rất nhiều người có bằng cấp cao nhưng chưa thức tỉnh thì chưa là trí thức. Họ đang trên đường đi đến. Nhưng có thể vì tâm hẹp hòi, u xám, mà họ ngày càng rời xa quá trình thức tỉnh.  3. Cha mẹ Đào Duy Từ làm nghề ca xướng, thành ra theo quy định của chế độ cũ ông không được đi thi.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền phủ quyết luật của Tổng thống Mỹ: Vũ khí quan trọng để kiềm chế Nghị viện      Phủ quyết (veto) được hiểu theo nghĩa đơn  giản nhất là quyền ngăn cản cái gì đó xảy ra. Trong tiếng La tinh, từ  “phủ quyết (veto)” nghĩa là “I forbid” (Tôi cấm). Khi quyền phủ quyết  được trao cho người đứng đầu nhánh hành pháp (chính phủ) thì đó là quyền  ngăn cản các dự luật của nhánh lập pháp có hiệu lực.    Có thể phân loại quyền phủ quyết theo 4 loại sau đây:   1. Quyền phủ quyết tuyệt đối: là khả năng mà cơ quan hành pháp có thể ngăn cản một dự luật của nhánh lập pháp trở thành luật và dự luật sẽ không được xem xét lại bởi một cơ quan nào nữa. Ví dụ, Quốc vương Anh và Người đứng đầu South Carolina xưa có quyền phủ quyết tuyệt đối.  2. Quyền phủ quyết tương đối (giới hạn): Tuy nhánh hành pháp sử dụng nhưng nó có thể bị vô hiệu hóa bởi nhánh quyền lực khác. Tổng thống Mỹ hiện nay có quyền phủ quyết tương đối.   3. Phủ quyết bỏ túi (Pocket veto): Thực ra, phủ quyết bỏ túi là một hình thức của phủ quyết tuyệt đối. Ví dụ, Tổng thống Mỹ nhận được dự luật của Nghị viện và có 10 ngày để ký hoặc phủ quyết dự luật. Nếu Nghị viện nghỉ họp trước khi Tổng thống hành động thì Nghị viện sẽ không thể xem xét việc phủ quyết của Tổng thống.   4. Phủ quyết một phần: là khả năng mà người đứng đầu nhánh hành pháp có thể phủ quyết một phần (một số điều khoản) của dự luật. Ví dụ: Hiến pháp Arizona cho phép thống đốc tiểu bang phủ quyết một phần.  Ở các nước phương Tây, quyền phủ quyết trong lịch sử được thực thi dưới các hình thức khác nhau bởi các vị vua chúa hay quí tộc trong phạm vi quyền lực của nhánh hành pháp. Như ở Rôm, lãnh đạo của các bộ lạc có quyền phủ quyết các dự luật từ Thượng viện La Mã. Hay thời trung cổ, quốc vương Anh là người lập pháp tối cao nhưng bị chi phối bởi các cơ quan như các quan tòa hay các hội đồng như Hội đồng bí mật (Privy Council). Từ từ nhà vua bị mất quyền lập pháp; quyền chấp thuận hay từ chối các dự luật của Nghị viện cũng bị hạn chế. Quyền phủ quyết của nhà vua đối với các dự luật của Nghị viện là để từ chối sự tán thành của nhà vua, không có ý nghĩa đối với hiệu lực của các đạo luật.  Ở Mỹ, trong suốt kỉ nguyên thực dân của lịch sử nước Mỹ, các Hội đồng thuộc địa có quyền ban hành luật nhưng có thể bị phủ quyết bởi Hoàng gia Anh (thời điểm mà quyền phủ quyết có giá trị tuyệt đối). Mặc dù trên thực tế quyền phủ quyết ít được sử dụng đến nhưng theo thời gian, việc sử dụng quyền phủ quyết tuyệt đối này đã trở thành nỗi bất bình cho những người thuộc địa. Tổng thống Jefferson đã từng tuyên bố trong bản Tuyên ngôn độc lập rằng: “Nhà vua George III đã từ chối sự tán thành đối với các dự luật, cái mà sẽ mang lại những giá trị thiết yếu tới cộng đồng.”   Ảnh hưởng từ đó mà các bang đã không trao quyền phủ quyết cho những người đứng đầu nhánh hành pháp, ngoại trừ New York. Hiến pháp của New York cho phép Hội đồng Xét lại (Council of Revision) thẩm quyền phủ quyết. Hội đồng Xét lại bao gồm Thống đốc bang và các thẩm phán. Hội đồng có 10 ngày sau khi dự luật được thông qua bởi Nghị viện tiểu bang để xem xét và sửa đổi nó. Nếu đa số các thành viên của hội đồng phủ quyết dự luật thì dự luật đó sẽ quay trở lại với Nghị viện, kèm theo đó là những lý do của việc phản đối. Nhưng dự luật vẫn sẽ có hiệu lực nếu được 2/3 tán thành ở cả 2 viện (Thượng viện và Hạ viện).   Sử dụng khuôn mẫu của New York, các nhà lập Hiến Mỹ quyết định quyền phủ quyết sẽ được trao riêng cho Tổng thống (người đứng đầu nhánh hành pháp), nhưng không phải là phủ quyết tuyệt đối, mà là “quyền phủ quyết tương đối”. Theo đó, khi sử dụng quyền phủ quyết, Tổng thống phải giải lý do từ chối đạo luật của nhánh lập pháp. Cũng giống như New York, đạo luật sẽ có hiệu lực nếu dành được 2/3 tán thành đến từ cả 2 viện.   Có thể nói rằng việc người đứng đầu cơ quan hành pháp được trao quyền phủ quyết sẽ làm cho nhánh này có thêm sức mạnh như là vũ khí quan trọng để kiềm chế quyền lực nhánh lập pháp. Bởi theo Hiến pháp Mỹ, ba nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp độc lập, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, không có nhánh nào có quyền lực tuyệt đối. Với lý do, quyền lực tuyệt đối, tối cao sẽ sinh ra lạm quyền.   Ngoài ra, đó là cơ hội thương lượng của chính phủ và nghị viện cũng như là cơ hội để bày tỏ ý chí của nhánh hành pháp thông qua sự đồng ý hay phản đối của cơ quan này. Hơn nữa, mặc dù đôi khi vì lý do chính trị mà quyền phủ quyết bị lạm dụng, tuy nhiên điều này giúp cơ quan hành pháp (thực thi pháp luật) có thể ngăn cản các dự luật không thể được thực thi bởi những lý do như trái với Hiến pháp, xâm phạm quyền hành pháp hay không được soạn thảo một cách kỹ lưỡng,   Do đó, Nghị viện cũng sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trước khi thông qua các dự luật. Nhờ vậy, các đạo luật của Nghị viện sẽ có chất lượng hơn khi thể hiện cả ý chí của Chính phủ. Cũng như, trong trường hợp cần thiết, Nghị viện phải tổ chức trưng cầu dân ý để xem lợi ích, mong muốn của nhân dân là gì… Như vậy quyền thực sự mới thuộc về người chủ là nhân dân, chứ không phải là người được ủy quyền.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền riêng tư: Một phả hệ tư tưởng. Kỳ 2: Những trào lưu phê phán      Lời tòa soạn: Trong kỳ trước chúng ta đã cùng nhìn lại lịch sử ra đời và các xu hướng thảo luận xung quanh quyền riêng tư cũng như những yếu tố xâm  phạm tới quyền riêng tư. Trong đó, lịch sử cuộc thảo luận về quyền riêng tư ở châu Âu gắn với quyền về phẩm giá con người như là tư tưởng “trực hệ”, còn cách hiểu quyền riêng tư như là bảo vệ sự tự do kiểu Mỹ là “chi phái”. Sự trỗi dậy của những trào lưu phê phán từ bên kia đại dương rồi đây sẽ đánh dấu nỗ lực đáng kể của trường phái Mỹ để giành lấy ngôi vị “trực hệ” về tư tưởng quyền riêng tư.     Phim Social Dilemma (Song đề xã hội) đề cập tới việc từng cá nhân tham gia mạng xã hội và bị các công ty công nghệ giám sát, theo dõi, thu thập dữ liệu người dùng.  Chi phí và lợi ích  Trong kỳ 1, chúng ta đã thấy Westin và Fried đặt viên đá tảng đầu tiên cho các nhà lý thuyết Mỹ về sau: Quyền riêng tư là sự bảo toàn giá trị tự thân, là nỗ lực thường trực nhằm chống lại những thực thể có quyền lực giám sát bằng cách giành quyền kiểm soát những thông tin về mình. Thật ra, cho rằng Westin và Fried là hai người đặt nền tảng đầu tiên cho luật riêng tư ở Mỹ là không chính xác. Trước Westin, GS. William Prosser, cho rằng không có một khái niệm chung nhất về quyền riêng tư, đã đưa ra bốn phương diện của quyền riêng tư trong khoa học pháp lý, tổng hợp từ những vụ án về quyền riêng tư được đưa ra trước tòa án, lần lượt là: (1) sự chiếm dụng thông tin (2) sự công khai thông tin (3) việc bóp méo sự thật (4) sự xâm nhập vào các sản phẩm chứa thông tin đời tư.1 Cách phân chia này đã để lại những tác động sâu sắc đến diện mạo lý thuyết về quyền riêng tư về sau.  Năm 1977, GS. Richard A. Posner đã công bố bài viết có tựa đề là “Quyền riêng tư” (The Right of Privacy).2 Bài viết này được biên tập lại và đưa vào quyển Kinh tế học công lý sau này. Bắt đầu từ khẳng định khái niệm “riêng tư” rất mông lung và đã không được định nghĩa một cách đàng hoàng, Posner áp dụng phép phân tích chi phí – lợi ích của kinh tế học vào bốn phương diện của pháp luật về quyền riêng tư mà Prosser đã đưa ra, và đi đến hai kết luận: thứ nhất, mặc cho những tranh cãi thừa thãi về lý thuyết, trên thực tế, khi giải quyết những vụ án liên quan đến quyền riêng tư, tòa án luôn được dẫn lối bởi những cân nhắc về hiệu quả và chi phí – hai phạm trù thường trực của kinh tế học; thứ hai, lập pháp về quyền riêng tư ở Mỹ luôn có xu hướng mở rộng tối đa việc bảo vệ lợi ích riêng tư của cá nhân, và ngó lơ những lợi ích khác trong xã hội, đi ngược với những cân nhắc về mặt kinh tế trong công cuộc lập pháp.    Rất ít ai muốn được để yên một mình. Họ muốn thao túng thế giới xung quanh họ bằng việc tiết lộ có chọn lọc những sự thật về chính họ. Richard A. Posner    Để đi đến kết luận nổi bật trên, Richard A. Posner đã phải tra vấn những tiền đề ngốn giấy mực của nhiều lý thuyết gia đi trước. Trước hết ông khẳng định: “Rất ít ai muốn được để yên một mình. Họ muốn thao túng thế giới xung quanh họ bằng việc tiết lộ có chọn lọc những sự thật về chính họ”. Ông cho rằng không phải người ta muốn được ở riêng, mà là người ta muốn giữ kín những thông tin cá nhân có khả năng gây thất tín cho họ. Những thông tin nào mà khi tiết lộ có thể đem lại lợi ích thì họ sẽ không ngần ngại gì đem tiết lộ chúng. Hãy hình dung những cuộc “tâm sự cùng người lạ” – khi dốc bầu tâm sự với một người hoàn toàn xa lạ, người ta không sợ bị đánh mất uy tín vì người nghe có quen biết gì với họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp của mình đâu!  Cũng một logic như trên, ông khẳng định việc giữ kín những cuộc hội thoại, trao đổi lại là cần thiết, vì việc tiết lộ chúng sẽ tạo nên chi phí xã hội lớn hơn cho cả hai phía tham gia vào đối thoại, đặc biệt khi cuộc đối thoại ấy có quan hệ trực tiếp đến chuyện làm ăn kinh doanh, tạo ra lợi ích kinh tế. Như vậy, cho phép tiết lộ nội dung trao đổi riêng hay không sẽ phụ thuộc vào người trao đổi, nội dung trao đổi, và hoàn cảnh trao đổi. Ví dụ, trao đổi liên quan đến thông tin khách hàng giữa trưởng phòng và nhân viên rất cần được giữ kín, vì việc tiết lộ nó có khả năng làm thông tin rơi vào tay đối thủ cạnh tranh, gây tổn thất đến doanh thu của doanh nghiệp. Song đoạn trao đổi về tỉ số trận bóng tối qua giữa trưởng phòng và nhân viên thì không cần được bảo vệ vì xã hội sẽ tiêu tốn một khoản chi phí không cần thiết để giữ kín một đoạn đối thoại vô thưởng vô phạt.  Sau khi Christian Eriksen bị đột quỵ và được cấp cứu trên sân, để bảo vệ quyền riêng tư cho anh, các cầu thủ Đan Mạch đã lập hàng rào che chắn. Ảnh: AFP.  Phân tích kinh tế của Posner đã rọi sáng nhiều vấn đề quan trọng để trả lời câu hỏi luật nên bảo vệ quyền riêng tư như thế nào. Mặc dù quan điểm của Posner sau này đã được phản biện là còn phiến diện, quy giản khái niệm quyền riêng tư quá mức nhưng tư tưởng về phân tích chi phí – lợi ích đối với luật bảo vệ quyền riêng tư của ông đã xác lập một chỗ đứng chói lọi trong phả hệ tư tưởng về quyền riêng tư. Nhưng phân tích quyền riêng tư dưới góc độ pháp lý thì vẫn chưa đủ…  Giới hạn của luật pháp  Ba năm sau công trình của Posner, Ruth Gavison, phó giáo sư Luật ở Yale, học trò của H.L.A. Hart, đã công bố bài viết “Riêng tư và những giới hạn của luật pháp” (Privacy and the Limits of Law) trên The Yale Law Journal để phê phán cách tiếp cận mà ông gọi là “chủ nghĩa quy giản”3.   Theo Gavison, quyền riêng tư không phải là một sản phẩm quy giản, xơ cứng; nó là một tập hợp những giá trị có khả năng bị tổn thất, và nó là một giá trị không thể bị quy giản hay phân rã thành những giá trị kề cận như danh tiếng, tự do hay tự quyết trong thế giới pháp lý. Thay vì vậy, bản thân khái niệm “sự riêng tư” phải có nội dung, và nội dung này phải là nhất quán khi được xem xét trong ba hoàn cảnh khác nhau: thứ nhất, khái niệm riêng tư phải thật sự trung lập để khi xảy ra tổn thất, mọi người có thể cùng tư duy về nó để có thể thảo luận về nó; thứ hai, sự riêng tư phải có tính nhất quán về giá trị, những mất mát về giá trị gây ra từ hành vi xâm phạm phải được đưa ra trên cùng một bộ lý lẽ như nhau trong mọi tình huống. Thứ ba, sự riêng tư phải là một khái niệm có giá trị trong thế giới pháp lý, vì ta sẽ phải dựa vào khái niệm này để mường tượng ra những trường hợp mà luật sẽ phát huy tác dụng bảo vệ nó. Những “giới hạn của luật pháp”, cụ thể hơn là cách mà thế giới pháp luật định nghĩa quyền riêng tư qua mỗi lần xét xử, giải thích, đã tạo ra một thứ chủ nghĩa quy giản tùy tiện, không quan tâm đến bản chất của quyền riêng tư mà chỉ tìm cách định nghĩa nó qua thực tiễn xét xử.    Tư tưởng về phân tích chi phí – lợi ích đối với luật bảo vệ quyền riêng tư của Posner đã xác lập một chỗ đứng chói lọi trong phả hệ tư tưởng về quyền riêng tư.    Từ những phân tích sâu sắc trên, Gavison đã đi đến kết luận rằng: “Điều làm ta quan tâm về sự riêng tư, theo tôi, có liên quan đến mối bận tâm của ta về khả năng tiếp cận giữa ta và người khác: mức độ mà ta bị người khác biết, mức độ mà người khác tiếp cận được ta về mặt thể chất, và mức độ mà ta trở thành đối tượng của sự chú ý từ người khác”. Theo ông, sự riêng tư là một phạm trù xã hội rộng hơn khái niệm pháp lý, và không thể cho rằng những công cụ pháp luật bảo vệ quyền riêng tư đã đủ phản ánh khái niệm quyền riêng tư là gì. Thực chất, quyền riêng tư đã luôn và sẽ luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng ta không nên rút ra định nghĩa về quyền riêng tư từ những kết quả giải thích pháp lý. Định nghĩa pháp lý về quyền riêng tư đã có từ lâu, và nó sẽ luôn đứng trước nguy cơ bất toàn, không phải do điều kiện thực tế thay đổi làm sự riêng tư trở nên mong manh hơn, mà bởi những kì vọng của con người về sự riêng tư đã thay đổi khi công nghệ xâm lấn trở nên thịnh hành hơn.  Mặc dù không đưa ra bất kì khái niệm nào về quyền riêng tư song đóng góp lớn nhất của Gavison là đã xác lập phương pháp luận phân tích phê phán đối với khái niệm quyền riêng tư, và đưa ra tiền đề về “những giới hạn của pháp luật” khi luận giải một vấn đề xã hội học. Sau ông, người ta không còn có thể nhìn quyền riêng tư như một khái niệm “tĩnh” trong luật nữa, mà luôn phải phân tích quyền riêng tư như một phạm trù văn hóa – xã hội học.  Phương pháp luận phê phán theo kiểu triết học ngôn ngữ đã mang lại những thể nghiệm mới về lý thuyết quyền riêng tư. Nó là công cụ đắc lực trong tay các nhà tư tưởng Mỹ: họ đập tan những ảo mộng về quyền riêng tư như một phạm trù luật học vững chắc, như một quyền tự do phổ quát cho mọi người; họ hé mở cánh cửa để nhìn vào cách mà một khái niệm pháp lý “chạy” trong xã hội thực, và chấp nhận thái độ hoài nghi đối với tính nhất thể của khái niệm quyền riêng tư. Trong bối cảnh trào lưu giải-định nghĩa đang được đón nhận mạnh mẽ trong thế giới học thuật, chính những suy tư bước đầu của Gavison sẽ mở đường cho làn sóng lý thuyết thứ tư về quyền riêng tư: quyền riêng tư trong thế giới điện toán.  Nỗi bất an của người số   Những năm cuối thế kỉ XX đánh dấu sự phổ cập rộng khắp của mạng internet. Những công ty cung cấp dịch vụ mạng (ISP) đầu tiên trên thế giới được thành lập vào đầu thập niên 1990, thương mại hóa tiện ích truy cập internet đến từng hộ gia đình. Nhà nhà lên số: gia đình nào cũng có thể mua một chiếc máy tính cá nhân, cắm dây hòa vào mạng internet, và chia sẻ thông tin ở mức độ ngày một nhiều. Các hãng dần đổi sang dùng thư điện tử trong công việc thường ngày. Amazon và eBay ra đời. Blog và website dần quen thuộc với mọi tầng lớp dân chúng. Từ những năm 2005, thế hệ Internet 2.0 đã kéo thế giới mạng xích lại gần hơn với thế giới thực. Các trang web được lấp đầy bởi nội dung tạo nên bởi người dùng, tốc độ đường truyền nhanh hơn, khả năng xử lý của phần cứng tốt hơn, khả năng duyệt web và đồng bộ hóa được cải tiến, cuộc cách mạng của điện thoại cầm tay, sự ra đời của những thiết bị gia dụng sử dụng mạng viễn thông – từng lĩnh vực một, công nghệ đổ bộ và chiếm cứ đời sống riêng của người dùng.    Định nghĩa pháp lý về quyền riêng tư đã có từ lâu, và nó sẽ luôn đứng trước nguy cơ bất toàn, không phải do điều kiện thực tế thay đổi làm sự riêng tư trở nên mong manh hơn, mà bởi những kì vọng của con người về sự riêng tư đã thay đổi khi công nghệ xâm lấn trở nên thịnh hành hơn.    Tự ngã về đâu? Daniel J. Solove, giáo sư luật học ở Trường Luật George Washington, người được mệnh danh là lý thuyết gia hàng đầu về quyền riêng tư trên thế giới hiện nay, là người nhạy cảm với những sự thay đổi mà công nghệ mang lại cho đời sống riêng tư. Trong cuốn Người số: Công nghệ và Riêng tư trong Thời đại Thông tin (2004),4 Solove khám phá bản chất của tự ngã trong thế giới điện toán. Theo ông, diện mạo “cái tôi” cá nhân trong thế giới số được hình thành từ những “tệp điện toán”, tức những thông tin mà những kẻ ẩn đằng sau màn hình máy tính đã thu thập và lưu trữ về ta. Con người hiện đại người ta không biết những “phiên bản số” của mình đang ở đâu, bị ai nắm bắt, bị nắm bắt thế nào, và mình sẽ phải đối diện với những gì. Sự đánh mất tự ngã như thế chính là cách mà quyền riêng tư bị tha hóa đi trong cõi số.  Nếu tôi là thầy giáo, nhưng tôi có sở thích đọc truyện tranh, thì tôi có nhu cầu “giấu” thói quen đọc truyện tranh đi vì nó sẽ ảnh hưởng đến hình tượng ông giáo của tôi. Nhưng khi tôi đọc truyện tranh trên một nền tảng online, thì việc tôi đọc gì, tôi đọc bao lâu, tôi ngừng lại ở khung ảnh ngớ ngẩn bao lâu, tôi gửi trang đọc truyện cho ai…, dường như sẽ có ai đó khác ngoài tôi nắm được những thông tin này. Sẽ có bao nhiêu người thấy được bộ mặt thích đọc truyện tranh của ông giáo là tôi?  Như vậy, cách duy nhất để cứu vãn cái tôi riêng tư chính là trả lại cho người số quyền tự quyết – kiểm soát cách mà thông tin của mình được thu thập, lưu trữ, và sử dụng. Hay nói cách khác, người số phải được quyết định những “vai diễn” mà mình muốn trở thành, chứ không phải thấp thỏm chờ những “vai diễn” mà mình không hề muốn.    Con người hiện đại người ta không biết những “phiên bản số” của mình đang ở đâu, bị ai nắm bắt, bị nắm bắt thế nào, và mình sẽ phải đối diện với những gì. Sự đánh mất tự ngã như thế chính là cách mà quyền riêng tư bị tha hóa đi trong cõi số.    Trong bài viết “Khái niệm hóa riêng tư” công bố năm 2002 trên California Law Review, ông nhắc lại sự bất nhất và hỗn loạn của khái niệm quyền riêng tư, và đưa ra hai đề xuất mới: một là, chỉ có thể hiểu quyền riêng tư nếu không tập trung vào phân tích vừa đủ các đặc tính “mấu chốt” hay “cốt lõi” của nó, mà xem xét nó như sự kết hợp giữa rất nhiều những yếu tố khác nhau. Đề xuất thứ hai của ông là hãy định nghĩa sự riêng tư theo một cách thực dụng, tức là hãy xem xét khái niệm riêng tư từ dưới lên, từ trong những bối cảnh cụ thể của đời sống, thay vì định nghĩa nó như một khái niệm trừu tượng từ trên xuống’.  Mặc dù phương pháp luận của Solove hứa hẹn sẽ mang lại những ánh sáng mới cho khái niệm quyền riêng tư trong thế giới pháp lý, lập luận của ông lại mắc phải một sai lầm rất kinh điển. Ông vẫn đặt cả hai chân trong trường phái Mỹ để nói về quyền riêng tư, và ông đã không so sánh hai phân loại của ông là “phẩm giá” và “nhân cách” với những nguyên tắc liên quan đến “phẩm giá” và “nhân cách” của trường phái châu Âu lục địa. Điều mà ông mắc phải chính là “gót chân Achilles” mà hàng thế hệ lý thuyết gia từ Westin, Fried cho đến Gavison đều cẩn trọng chú thích rõ: quyền riêng tư là một khái niệm gắn liền với môi trường văn hóa.  Rất may, công cuộc này đã được tiến hành nhanh chóng bởi Schwartz và Peifer trong một tiểu luận xuất bản năm 2010. Những khác biệt này chủ yếu xoay quanh hiệu lực của sự đồng ý chủ thể và ranh giới giữa quyền riêng tư với quyền được thông tin của truyền thông và công chúng mà ta sẽ xem xét ngay sau đây.5 □  (còn tiếp)  ———-  1 William L Prosser, ‘Privacy’ (1960) 48 California Law Review <https://lawcat.berkeley.edu/record/1109651> accessed 16 June 2022.  2 Richard A Posner, ‘The Right of Privacy’ (1977) 12 Georgia Law Review 393 <https://heinonline.org/HOL/Page?handle=hein.journals/geolr12&id=409&div=&collection=>.  3 Ruth Gavison, ‘Privacy and the Limits of Law’ (1980) 89 The Yale Law Journal 421 <https://www.jstor.org/stable/795891> accessed 28 May 2021.  4 Daniel J Solove, The Digital Person: Technology and Privacy in the Information Age (NYU Press 2006).  5 Paul M Schwartz and Karl-Nikolaus Peifer, ‘Prosser’s “Privacy” and the German Right of Personality: Are Four Privacy Torts Better than One Unitary Concept?’ (2010) 98 California Law Review 1925 <https://www.jstor.org/stable/25799959> accessed 16 June 2022.    Author                Huỳnh Thiên Tứ        
__label__tiasang Quyền riêng tư –  Một phả hệ tư tưởng. Kỳ cuối: Quyền riêng tư và  bảo vệ dữ liệu cá nhân      Lời tòa soạn: Trong kỳ trước, chúng ta đã phân tích, quyền riêng tư là một khái niệm gắn liền với môi trường văn hóa. Khái niệm này chủ yếu xoay quanh hiệu lực của sự đồng ý chủ thể, ranh giới giữa quyền riêng tư với quyền được thông tin của truyền thông và công chúng mà ta sẽ xem xét ngay sau đây.    Ảnh: Financial times.  Năm 1995, chỉ hai năm sau khi Liên minh châu Âu ra đời, Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 95/46/EC về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là một trong những đạo luật hoàn chỉnh đầu tiên ở cấp độ liên quốc gia về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tiền đề của chỉ thị này rất rõ ràng: quyền riêng tư của cá nhân trong thời buổi điện toán là quyền kiểm soát những thông tin về mình, và để làm được điều đó, cá nhân phải có quyền can thiệp và kiểm soát những dữ liệu phản ánh thông tin. Năm 2014, vụ Gonzalez đã lần đầu tiên đánh dấu việc thực thi quyền được lãng quên trên thực tế: Google bị yêu cầu phải xóa đi kết quả tìm kiếm có chứa thông tin không hay về Gonzalez trong quá khứ. Sự đồng ý, hay ý chí của chủ thể, được đặt lên hàng ưu tiên cao nhất.   Mặc dù quyền được lãng quên được nhìn nhận như thể một quyền bất khả xâm phạm, song nó làm dấy lên những quan ngại về việc mất cân bằng thông tin. Giả sử một người từng nhũng nhiễu tài chính công ty trong quá khứ, nhưng tin ấy đã bị xóa khỏi mọi cơ sở dữ liệu điện toán. Khi tìm kiếm lao động, hẳn người chủ sẽ muốn biết thông tin này: không phải để đánh giá, nhưng để có được lượng thông tin cần thiết và tiến hành đánh giá lợi ích – chi phí đầy đủ.   Quyền riêng tư của Chỉ thị 95/46/EC, và sau này là của Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân (GDPR) được phân tách thành những quyền khác nhau, trong đó có thể kể đến như quyền yêu cầu xóa dữ liệu, quyền rút lại sự đồng ý và không cho phép tiếp tục xử lý dữ liệu cá nhân, v.v. Đây đều là những quyền mang tính nhân thân, nhằm bảo toàn giá trị phẩm giá của nhân tính (personality). Không thể áp dụng cơ chế bảo vệ quyền sở hữu cho dữ liệu cá nhân bởi vì những thông tin mà dữ liệu cá nhân phản ánh chứa đựng giá trị cao quý, hay theo ngôn ngữ luật học là “không thể trở thành đối tượng điều chỉnh của quan hệ tài sản pháp lý”. Châu Âu vẫn mong muốn quyền riêng tư theo kiểu của họ là một thứ quyền riêng tư phổ quát, đơn nhất, cho tất cả mọi người theo tư tưởng công bằng, bình đẳng.  Mua bán quyền riêng tư?   Quyền được lãng quên, hay quyền riêng tư theo kiểu châu Âu lục địa, hẳn sẽ vấp phải sự phê bình của các lý thuyết gia Hoa Kỳ. Ở mức độ sơ đẳng nhất, các nhà luật học Hoa Kỳ sẽ tranh luận rằng việc bảo vệ quá mức quyền riêng tư như thế sẽ tiếm lấn quyền được thông tin của những người khác trong xã hội: Tu chính án I của Hiến pháp Mỹ đã tuyên xưng quyền tự do ngôn luận và báo chí của mọi người trong xã hội. Đối với người châu Âu, những tranh luận như thế chỉ kéo dài vô ích, vì luật thực định đã quy định thì phải làm theo.     Châu Âu vẫn mong muốn quyền riêng tư theo kiểu của họ là một thứ quyền riêng tư phổ quát, đơn nhất, cho tất cả mọi người theo tư tưởng công bằng, bình đẳng.    Nhưng người Mỹ, ít chịu ràng buộc từ những điều khoản pháp luật thành văn, có nhiều không gian hơn để bứt phá khỏi những khái niệm pháp lý truyền thống. Đi đầu trong phong trào đặt lại cách hiểu của thế giới pháp luật đối với không gian số là Lawrence Lessig, giáo sư luật học của Harvard, với trứ tác kinh điển Code and Other Laws of Cyberpsace (về sau được tái bản dưới tựa đề Code: Version 2.0). Lập trường tư tưởng của ông là “Code is law”, sử dụng phép chơi chữ “Code” với nghĩa nước đôi: vừa là mã máy tính, vừa là luật thành văn. Ông đã dự đoán, và dự đoán đúng, rằng code sẽ là công cụ để kiểm soát xã hội. Luật pháp, theo Lessig, sẽ cần được thiết kế bởi những người nói được cả ngôn ngữ pháp lý và ngôn ngữ điện toán. Lập trường đi trước thời đại đã xác lập cho ông chỗ đứng như là một trong những nhà tư tưởng cấp tiến và táo bạo nhất trong lĩnh vực luật học ngày nay. Ông cũng là người đã khởi xướng phong trào Creative Commons trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, hiện đã dần phổ biến trong cộng đồng chuyên gia giáo dục học tại Việt Nam.  Trong tiểu luận ngắn “Riêng tư như là tài sản”, Lessig đặt câu hỏi: sao ta không nói về quyền riêng tư như cách ta nói về tài sản?1 luật về quyền riêng tư ở Mỹ ra đời trong một cuộc tranh luận về quyền tài sản mà! Hãy nhớ lại, khởi đầu của thảo luận về quyền riêng tư từ thế kỷ 19, Warren và Brandeis (xem lại kỳ 1), đã liên hệ sự cần thiết phải có quyền riêng tư với sự thay đổi trong cách tài sản được phân phối. Lessig sử dụng cách thức mà quyền sở hữu trí tuệ, tức sở hữu một thứ “tài sản vô hình”, được bảo vệ bằng các công cụ pháp lý, và hỏi: quyền sở hữu tài sản truyền thống trong luật có được thiết kế cho tài sản không thể nhìn thấy đâu? Hơn nữa, và Lessig nhấn mạnh điều này, pháp luật về sở hữu là sản phẩm của chính trị và nhà nước. Nếu ta có thể dùng ngôn ngữ về tài sản để nói về một thứ vô hình, tại sao ta không thể nói về quyền riêng tư như cách ta nói về tài sản cần bảo vệ?   Hãy còn sớm để nói về hợp đồng mua bán sự riêng tư, nhưng nếu xét sâu về bản chất, khi nào, ở đâu được mua bán một “tài sản”, món ấy là gì, giá cả định đoạt thế nào, khi nào thì bị cấm mua bán, v.v đều được luật hóa bởi quá trình làm luật của con người. Ông tin rằng, bắt đầu từ việc thay đổi tư duy ngôn ngữ, ta có thể dần đi đến một cách thức bảo vệ quyền riêng tư tốt hơn trong thế giới luật pháp bằng cách đối xử với nó như thể một món tài sản. Đừng quên rằng, trong thế giới số, “tài sản” như tiền ảo hay bức tranh mà AI vẽ ra, đã không còn đúng với khái niệm “tài sản” trong thế giới pháp lý truyền thống. Trong môi trường mà từ người số, “home” (nhà) đến tiền số – mọi hiện tượng đều đòi hỏi một sự tái định nghĩa, thì những giới hạn hiện tại trong ngôn ngữ pháp lý trước sau gì cũng phải thay đổi để thích ứng.   Việc sử dụng các app truy vết phục vụ chính sách chống dịch đã làm dấy lên lo ngại rất lớn về quyền riêng tư. Ảnh: SCMP.  Sở dĩ Lessig có thể nói về những ý tưởng táo bạo như thế, là nhờ quan điểm cởi mở của ông về luật pháp và quyền pháp lý nói chung. Không thể yêu sách một cách nhìn nào khác về quyền riêng tư, nếu ta không giữ thái độ hoài nghi đối với tính bền vững của những khái niệm đang được mọi người chấp nhận, trong đó có khái niệm pháp lý.   Thái độ hoài nghi của Lessig, sự đa dạng của riêng tư trong đời sống điện toán, cách mà các nền văn hóa va chạm và phá vỡ nhau trong mạng thông tin toàn cầu, cùng những quy định “cứng” của EU về quyền riêng tư gắn với kiểm soát dữ liệu, đã đánh thức trào lưu có tuổi đời non trẻ, nhưng đã và đang được đón nhận nhiệt liệt trong vài năm trở lại đây: quyền riêng tư bối cảnh (privacy in-context).   Bẻ cong, lộn trái, chia đều? Hãy để bối cảnh quyết định riêng tư   Trưởng thành trong thời đại điện toán và internet, lớp lý thuyết gia Mỹ hiện đại đã có nhiều trải nghiệm khi sử dụng internet. Họ va chạm nhiều hơn: dù vẫn sử dụng tiếng Anh nhưng một số khái niệm đó đây trên mạng hình như đã trở nên nhiều nghĩa hơn. Hôm qua người Mỹ chỉ biết cái muỗng như là để ăn, nhưng sau một đêm, có thể họ sẽ biết rằng “cái muỗng” là hình ảnh tượng trưng mà giới trẻ ở một nước xa xôi chia sẻ hàng loạt, với mong muốn sẽ đỗ đạt trong kì thi sắp tới.   Đứng trước sự mong manh của các khái niệm, các lý thuyết gia về quyền riêng tư trở nên nhạy cảm hơn với những hiện tượng nghe quen trong sách vở. Họ bắt đầu xét lại: quyền riêng tư, với một người Mỹ, là được hỏi trước khi chụp ảnh và công bố ảnh đó. Nhưng với một người Hoa, quyền riêng tư lại gần với bộ mặt tập thể hơn: anh chụp thì chụp, anh đăng thì đăng đi, miễn sao tôi đẹp là được, đừng chụp trong nhà, để tôi dọn đã. Nếu ta không thể có một khái niệm đúng cho mọi người trên quả đất này, thì cần phải xem xét thật cẩn trọng khái niệm ấy trong thế giới pháp lý: mỗi hệ thống pháp luật tất phải gắn liền với một vùng đất, một nền văn hóa cụ thể. Ngay từ năm 1967, Westin đã nói rõ trong cuốn sách kinh điển Riêng tư và tự do rằng, quyền riêng tư được lý giải và thực thi tùy thuộc vào những đặc điểm cụ thể của những nền văn hóa cụ thể.     Quyền riêng tư chỉ nên là mặc định đối với những điều kiện, quy chuẩn bên ngoài của nền tảng số mà cá nhân đó đang tham gia.    Những lý thuyết gia trong trường phái riêng tư bối cảnh khước từ việc định nghĩa quyền riêng tư. Với họ, khái niệm chỉ là cái bẫy ngôn ngữ dễ làm người ta rối. Muốn hiểu quyền riêng tư, ta cần đặt nó trong những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh thực tế, kết hợp với nhận định của người trong cuộc. Khi tôi đăng tải bức ảnh con tôi lên trang cá nhân, sự riêng tư của đứa trẻ được định nghĩa bằng những người thấy, bình luận, và lưu ảnh đó, bằng chính sách lưu trữ dữ liệu và địa điểm lưu trữ dữ liệu của mạng xã hội ấy, nhưng cũng được định nghĩa qua cách mà dân tộc, tôn giáo, gia đình, văn hóa của đứa trẻ ấy cảm nhận về sự riêng tư. Phải kết hợp hết những yếu tố ấy lại để hình thành nên quyền riêng tư – và luật phải quan tâm đến việc dựng nên một bộ khung cho những yếu tố này.   Hiểu theo cách này, các nhà tư tưởng đương đại đã có thể kết hợp những yếu tố khác mà các lý thuyết gia đi trước chưa thể đưa vào khung phân tích, cụ thể là – cảm nhận chủ quan của người trong cuộc, quan hệ của người này với những người tiếp nhận sản phẩm, thông tin cá nhân của người này, dân tộc, màu da, tôn giáo, xu hướng tính dục của người này, nơi người này sống, hoàn cảnh vật chất của môi trường xung quanh, khả năng lên mạng, kĩ năng dùng mạng xã hội, chính sách bảo mật thông tin và chia sẻ dữ liệu của mạng xã hội, chính sách quản trị mạng của nhà nước nơi người này cư ngụ, v.v. Ai cũng sẽ định nghĩa quyền riêng tư theo cách của mình, và tư tưởng quyền riêng tư bối cảnh cổ súy điều đó.   Nissenbaum, người nổi tiếng vì phê phán cách tiếp cận riêng tư như kiểm soát, đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp luận phê phán kiểu Gavison (luôn phải phân tích quyền riêng tư như một phạm trù văn hóa – xã hội học, đã đề cập trong kỳ 2) trong việc đề xuất ra một cách nhìn khác về quyền riêng tư. Lập luận của bà rất đơn giản: không nên nhìn quyền riêng tư như một giá trị chung cho mọi người, mà hãy đặt câu hỏi về quyền riêng tư vào mỗi một hoàn cảnh mà chủ thể cần sự riêng tư. Bà phản đối các quy phạm pháp luật trao quyền cho cá nhân định đoạt mọi thứ liên quan đến dòng chảy dữ liệu, vì sẽ có những yếu tố khác nằm ngoài ý chí của cá nhân như bài toán kinh tế của bên xử lý dữ liệu, phúc lợi xã hội, v.v khi nói về quyền riêng tư trong bối cảnh ấy. Gần đây nhất, Neil Richards (2022) đã đề xuất cách thức “định nghĩa lâm thời” về quyền riêng tư, phụ thuộc vào mức độ mà thông tin về cá nhân sẽ không được biết đến và không được sử dụng. Cách định nghĩa quyền riêng tư như mức độ sẽ giúp những ai đang nói về quyền riêng tư của cá nhân ấy, trong vụ việc ấy, với mức độ ấy, có thể thảo luận về cùng một đối tượng.2  Tương tự, J. E. Cohen, người đã tiếp thu quan điểm của Lessig, đã phê phán nặng nề cách xây dựng quyền riêng tư một cách cứng nhắc, áp dụng được cho mọi tình huống. Trong bài tiểu luận năm 2019, sử dụng một cách tiếp cận khác, bà đi đến một kết luận là quyền riêng tư của cá nhân trên mạng sẽ phụ thuộc vào điều kiện thực tế phát sinh khi đòi hỏi quyền riêng tư: không phải lúc nào cá nhân cũng có quyền riêng tư mặc định. Trái lại, quyền riêng tư chỉ nên là mặc định đối với những điều kiện, quy chuẩn bên ngoài của nền tảng số mà cá nhân đó đang tham gia. Với nghĩa này, luật về quyền riêng tư phải là luật về những điều kiện tối thiểu mà các chủ thể can thiệp vào quyền riêng tư – chủ mạng xã hội, chủ sàn thương mại điện tử, người xử lý thông tin thẻ ngân hàng, người bảo quản cơ sở dữ liệu đám mây của Google, v.v – phải tuân thủ khi xây dựng hệ thống.   Đến đây, không thể bỏ qua sự ảnh hưởng của GS. Daniel J. Solove đối với trào lưu “lộn trái” quyền riêng tư. Solove đã cho rằng quyền riêng tư nên được mở rộng hơn ra khỏi nỗi ám ảnh một cá nhân có thể bị theo dõi giám sát, và tập trung nhiều hơn vào những thể chế xung quanh cái tôi cá nhân. Ông cũng là người đã gợi ý rằng quyền riêng tư “không phải là một thứ” mà là “sự chất chồng của nhiều thứ đặc thù những rất liên quan đến nhau”.3 Từ năm 2001 đến nay, Solove vẫn luôn bền bỉ trên con đường lay chuyển nhận thức của mọi người, nhằm thay đổi từ việc chỉ đặt câu hỏi “quyền riêng tư là gì?” sang câu hỏi “quyền riêng tư để làm gì?”.4 Solove đại diện cho những tiếng nói khác, đi ngược so với những đạo luật như GDPR, rằng: đừng trao quyền thêm cho chủ thể làm gì, luật sẽ rất nghiêng về phía chủ thể. Khi luật cứ trao quyền cho chủ thể, các chủ thể sẽ đòi hỏi rất nhiều quyền xung khắc với quyền của các công ty cung cấp dịch vụ internet. Trong trường hợp này, thay vì phản kháng lại, các công ty cung cấp dịch vụ sẽ chiểu theo luật song họ sẽ không chủ động làm theo những thực hành tốt để tạo ra môi trường thân thiện với quyền riêng tư (privacy-friendly) của chủ thể nữa.  Khi nhà làm luật và thẩm phán chấp nhận riêng tư như một khái niệm có cách hiểu khác nhau, thì mỗi một cách hiểu khác nhau ấy có thể được mang ra đối mặt với những nhu cầu có thực của con người, của các hội nhóm và các định chế một cách cụ thể, thay vì cứ phải triển khai một lý thuyết không vừa vặn vào trong những bối cảnh đa dạng5.  Khái niệm quyền riêng tư không thể được đem lại như một định nghĩa đơn nhất, phổ quát; trái lại, nó phải được xem xét thật cụ thể từ sự kết hợp của những điều kiện khách quan với cảm thức chủ quan của người đang yêu sách quyền này. Cũng vì thế, từ chỗ lấy cá nhân làm trung tâm để triển khai thành các quyền pháp lý, tư tưởng về pháp luật riêng tư đã trưởng thành, và dồn sự tập trung vào việc quy định những chuẩn mực pháp lý trong bối cảnh cụ thể. □  ——-  Chú thích  1 Lawrence Lessig, ‘Privacy as Property’ (2002) 69 Social Research 247 <https://www.jstor.org/stable/40971547> accessed 24 February 2021.  2 Neil Richards, Why Privacy Matters (Oxford University Press 2022).  3 Daniel J Solove, Understanding Privacy (Harvard University Press 2008).  4 Woodrow Hartzog, ‘What Is Privacy? That’s the Wrong Question’ (2021) 88 The University of Chicago Law Review 1677 <https://www.jstor.org/stable/27073959> accessed 19 June 2022.  5 Giáo sư Hartzog đã viết trong một bài tiểu luận tri ân GS Solove vào năm 2021 trên The University of Chicago Law Review.    Author                Huỳnh Thiên Tứ        
__label__tiasang Quyền riêng tư trên mạng      Nhân dịp Bộ Công an lấy ý kiến cho Dự thảo Nghị định quy định một số điều chi tiết của Luật An ninh mạng, Giáo sư ngành mật mã học, Đại học Limoges, Pháp, Phan Dương Hiệu đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về việc cân bằng giữa an ninh quốc gia và quyền riêng tư.                 Việc theo dõi hay truy cập dữ liệu của bất kì cá nhân nào, kể cả của đối tượng nghi phạm nguy hiểm nhất định phải được thông qua một quá trình tường minh, chặt chẽ ở mức rất cao. Nguồn: Reflex.cz    Trong một thế giới nhiều biến động, thì “lòng tin” là một yếu tố vô cùng quan trọng, là cơ sở thiết yếu cho sự phát triển. Việc trợ giúp bảo vệ thông tin cá nhân, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải đạt chuẩn bảo mật cao, cho phép người dùng được quyền quyết định xử lý dữ liệu liên quan đến cá nhân (như truy vết những nơi lưu trữ, hay yêu cầu xóa vĩnh viễn dữ liệu cá nhân) là những biện pháp Chính phủ có thể làm để  gây lòng tin cho người dân, cho doanh nghiệp, cho các đối tác nước ngoài để tạo một môi trường phát triển lành mạnh.     An ninh quốc gia (public safety) và quyền riêng tư (privacy)    Việc đảm bảo đồng thời an ninh quốc gia và quyền riêng tư cho công dân và cho các tổ chức, doanh nghiệp luôn là một thách thức không nhỏ đối với các chính phủ.  Trong những hoàn cảnh đặc biệt nguy cấp, như sau một cuộc khủng bố, các chính phủ thường có xu hướng đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm an ninh (public safety) bằng cách cho phép can thiệp phần nào quyền riêng tư (privacy) của công dân. Đó là khi dân chúng đang hoang mang nên một bộ phận không nhỏ có thể có xu hướng nhượng bộ giảm quyền riêng tư để đổi lấy sự an toàn. Tuy nhiên, ngay cả trong những tình huống đặc biệt nguy cấp như vậy, sự đối thoại vẫn rất cần thiết để có những dự luật hợp lý, mức độ can thiệp quyền riêng tư ở mức tối thiểu, chấp nhận được và với một quy trình tường minh, chặt chẽ.  Tại Mỹ, nơi nguy cơ khủng bố rình rập, điều này cũng được thực hiện một cách có quy trình nghiêm ngặt. Sau vụ khủng bố năm 2001, cơ quan an ninh quốc gia Mỹ (NSA) đã có quyền thu thập dữ liệu các cuộc điện đàm. Tuy nhiên, đến năm 2015, luật này đã bị bãi bỏ nhằm trả lại quyền riêng tư cho người dân, và mọi sự theo dõi cần được thực hiện dựa trên quyết định của toà án1.  Thực tế, NSA và các cơ quan phản gián của Mỹ cũng chẳng xa lạ gì với việc truy cập, theo dõi thông tin cá nhân với lý do nhằm bảo đảm an toàn an ninh quốc gia. Nếu không có sự giám sát của các chuyên gia và phản biện của công dân thì sự theo dõi này rất dễ bị lạm dụng.  Những phát giác về sự lạm dụng theo dõi diện rộng và cài những backdoor để phá các chuẩn bảo mật2 đã có tác dụng hạn chế đáng kể sự tuỳ tiện đó. Sự phản đối cũng đến từ các nhà chuyên môn khi các nhà khoa học về mật mã và an toàn thông tin ở Mỹ đã có thư ngỏ lên án những sự theo dõi diện rộng3. Tháng 3 năm nay, đạo luật Cloud Act (clarifying lawful overseas use of data act) của Mỹ cho phép chính phủ nước này tiếp cận dữ liệu lưu trữ cả trong và ngoài nước, đồng thời, các công ty từ những quốc gia đồng minh cũng được tiếp cận dữ liệu của các công ty Mỹ.  Đạo luật này ngay lập tức gây ra rất nhiều tranh cãi và phản đối ở Mỹ, cho rằng nó vi phạm tu chính án thứ Tư của Hiến Pháp Hoa Kỳ và bị phê phán ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các nước châu Âu. Sự lạm dụng theo dõi cần bị lên án và từ đó trả lại quyền riêng tư cho người dân. Tháng 6 năm nay, bang California, nơi tập trung trụ sở của hầu hết các công ty công nghệ lớn nhất thế giới,  đã có một  bước đi tiến bộ đáng kể trong việc bảo vệ quyền riêng tư cho người dân khi thông qua một luật cho phép người dùng được truy xuất dấu vết dữ liệu của họ4.  Theo đó người dùng có quyền được biết những công ty nào thu thập thông tin về họ, lý do tại sao và những thông tin đó được chia sẻ với ai. Họ cũng có quyền yêu cầu xóa thông tin cá nhân.  Ở Châu Âu, chúng ta hãy xem xét trường hợp nước Pháp, nơi cũng thường xuyên bị đe doạ bởi nguy cơ khủng bố. Sau vụ khủng bố tháng 1/2015, một dự luật cho phép an ninh tình báo can thiệp dữ liệu cá nhân đã được đề nghị. Nhưng sự can thiệp phải qua những thủ tục chính như sau:  i) Khi có tình huống nghi ngờ xảy ra, an ninh tình báo cần gửi cho Thủ tướng. Thủ tướng sau đó bắt buộc cần lấy ý kiến đồng ý của một Hội đồng quốc gia (Commission nationale de contrôle des techniques de renseignement – CNCTR) – gồm 13 thành viên: ba nghị sỹ hạ viện, ba nghị sỹ thượng viện, ba thành viên của hội đồng nhà nước (Conseil d’Etat), ba thành viên tư pháp và một chuyên gia về thông tin. Chỉ sau khi Hội đồng đồng ý thì Thủ tướng mới có thể quyết định cho phép dùng các biện pháp để theo dõi mạng với đối tượng nghi ngờ. Trong trường hợp tối khẩn (urgence absolue) thì Thủ tướng có thể quyết định trước khi trình bày cho Hội đồng.  ii) Trường hợp thực thi khẩn cấp: Trong trường hợp có đe doạ an ninh khẩn cấp (urgence opérationelle), Chính phủ đề nghị trong dự luật là an ninh có thể “tiền trảm hậu tấu” bằng cách can thiệp theo dõi gấp, vì nếu trì hoãn thì cơ hội sẽ qua đi, rồi sau đó trong 24h sẽ giải trình cho Thủ tướng và Hội đồng. Đây là trường hợp gây tranh cãi nhiều, vì quy trình không tường minh.  Sự can thiệp với quy trình như trên bị các hội đoàn, và dân phản đối, ngay trong hoàn cảnh bị khủng bố đe doạ. Nhiều ý kiến chuyên gia, ý kiến các hội đoàn đã được đưa ra, cùng các cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra để bảo vệ quyền riêng tư.  Kết cục cuối cùng là Hội đồng Bảo Hiến đã bác bỏ việc thực hiện mục ii) “trường hợp thực thi khẩn cấp” vì cho rằng nó vi hiến, trái với luật về quyền riêng tư cá nhân. Như vậy, sẽ không có thể có bất cứ trường hợp nào, dù trong bất cứ hoàn cảnh nguy cấp nào, mà sự theo dõi lại không cần thông qua sự phê chuẩn của Thủ tướng.  Tóm lại, trong một số trường hợp tối cần thiết, việc theo dõi hay truy cập dữ liệu của bất kì cá nhân nào, kể cả của đối tượng nghi phạm nguy hiểm nhất định phải được thông qua một quá trình tường minh, chặt chẽ ở mức rất cao như phải có quyết định của toà án hoặc có sự phê chuẩn của thủ tướng.     Các chuẩn bảo mật giúp bảo vệ quyền riêng tư     Tại châu Âu, đã có những chuẩn bảo mật mới được ban hành để đảm bảo tốt hơn quyền riêng tư của dân, thậm chí các công ty còn phải cam kết xoá bỏ mọi thông tin về người dùng nếu người dùng yêu cầu. Những quy định này nghiêm ngặt hơn Mỹ. Trong quan hệ xuyên lục địa Âu – Mỹ, uỷ ban Châu Âu từng đánh giá là “US Privacy Act” của Mỹ không đủ điều kiện để bảo vệ dữ liệu riêng của công dân châu Âu. Do đó, châu Âu và Mỹ đã thống nhất đưa ra “Privacy Shield”5 yêu cầu tất cả các doanh nghiệp cần tuân thủ các yêu cầu bảo mật ở mức độ rất cao để bảo vệ dữ liệu riêng tư của người dùng. Mới đây châu Âu cũng đưa ra các quy định bảo mật dữ liệu (GDPR)6 nhằm bảo vệ dữ liệu cho công dân. Quy định này thực sự nhằm hướng đến bảo vệ dữ liệu công dân, không yêu cầu dữ liệu phải đặt trên đất châu Âu mà có thể đặt tại bất kỳ quốc gia nào đạt chuẩn đảm bảo an toàn dữ liệu của họ. Đó là những bước đi mà các chính phủ châu Âu làm để bảo vệ dữ liệu riêng tư cho công dân, và từ đó tạo lòng tin cho dân.  Như vậy xu hướng của thế giới là cố gắng phát triển các biện pháp kỹ thuật, các chuẩn bảo mật để đảm bảo quyền riêng tư cá nhân cho công dân mình.      Các biện pháp đưa ra cần đồng bộ và phù hợp với chuẩn quốc tế    Điều cần chú trọng là các biện pháp chúng ta đưa ra cần phải đồng bộ, phù hợp với các quy chuẩn thế giới mà chúng ta đã cam kết, tránh việc làm doanh nghiệp trong nước và quốc tế gặp khó khăn và mâu thuẫn trong việc tuân thủ đồng thời các thủ tục trong nước và cam kết quốc tế.      Về mặt kỹ thuật, việc yêu cầu dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải được lưu trữ tại Việt Nam không có tính khả thi cao và cũng không có hiệu quả thật sự. Thường các công ty quốc tế lưu trữ nhiều bản sao dữ liệu tại nhiều địa điểm khác nhau nhằm đảm bảo an toàn. Để tránh bị mất dữ liệu khi một địa điểm bị tấn công thì dữ liệu có thể được lưu một cách phân tán sao cho chỉ khi tất cả các địa điểm bị tấn công thì dữ liệu mới bị mất. Việc yêu cầu tập trung dữ liệu về mặt kỹ thuật là đi ngược lại với việc đảm bảo an toàn dữ liệu. Ngoài ra, các công ty đạt chuẩn bảo mật đều chỉ lưu dữ liệu dạng mã hoá. Do vậy ngay cả khi chúng ta có dữ liệu thì cũng chỉ có dữ liệu dạng mã hoá, muốn giải mã cần phải có chìa khoá giải mã. Mật mã phân tán đang được áp dụng rộng rãi cho phép khoá giải mã được phân tán làm nhiều phần và có thể lưu tại nhiều địa điểm, chỉ khi tập hợp đủ các phần này thì mỡi giải mã được. Nếu tại các nước lưu các phần khoá mà luật không cho phép công ty làm lộ thông tin (khi không có yêu cầu của toà án) thì dù có ép dữ liệu lưu trữ tại Việt Nam cũng không giải mã được.      Về mặt thực tế vận hành các hệ thống, nhân bài viết này, tôi đã hỏi ý kiến và được anh Nguyễn Quốc Khánh đồng ý góp ý kiến. Anh hoàn thành tiến sỹ mật mã ở Úc, đã có kinh nghiệm làm bảo mật trong các tập đoàn lớn của thế giới như Gemalto, và nay về công tác trong nước tại trung tâm công nghệ thông tin của ngân hàng Vietcombank. Với những kinh nghiệm thực tế, anh chia sẻ : “Luật An ninh mạng quy định không gian mạng là mạng lưới kết nối con người sử dụng CNTT mọi lúc mọi nơi. Phạm vi điều chỉnh của luật như vậy là rất rộng. Đối với dịch vụ liên quan tới ngành ngân hàng, có 2 lĩnh vực luật sẽ ảnh hưởng trực tiếp là dịch vụ thanh toán và thương mại điện tử. Với dịch vụ thanh toán, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và trên thế giới đều sử dụng SWIFT, VISA và Mastercard là trung gian thanh toán cho các giao dịch quốc tế và thẻ quốc tế. Các trung gian thanh toán này hoạt động rất tập trung. Swift chỉ có 3 trung tâm dữ liệu trên thế giới (tại Mỹ, Thuỵ Sỹ và tại 1 địa điểm bí mật). Trường hợp các tổ chức trung gian thanh toán này không thể đáp ứng yêu cầu tại Điều 24 (lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam) của dự thảo nghị định có thể ảnh hưởng tới khả năng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Đối với thương mại điện tử, hiện tại rất nhiều đơn vị trên thế giới cung cấp các dịch vụ trực tuyến trong nhiều lĩnh vực (giáo dục, y tế, sức khoẻ , khoa học, công nghệ, bán lẻ… ) trên không gian mạng. Rất nhiều các đơn vị sẽ không thể đặt văn phòng tại Việt Nam (do quy mô kinh doanh và các lý do khác), trường hợp áp dụng Luật với các đơn vị này sẽ ảnh hưởng to lớn tới khả năng tiếp cận các dịch vụ này với người sử dụng tại Việt Nam.”      Xử lý khối lượng dữ liệu lớn nhưng không truy xuất đến thông tin cá nhân       Chúng ta biết rằng, sự phát triển của điện toán đám mây cho phép việc các phương pháp học máy, trí tuệ nhân tạo được áp dụng rộng rãi nhằm đưa đến nhiều ứng dụng tiện lợi cho người dùng. Tuy nhiên, việc thực hiện phương pháp này hiện nay đang nằm trong tay của những nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây lớn và sở hữu chủ yếu dữ liệu của chúng ta, và họ hoàn toàn có thể khai thác dữ liệu riêng của ta hoặc làm lộ nó dù là theo cách bị động hay chủ động. Trong bài phát biểu mới tại hội nghị CRYPTO 2018 vừa qua, Shafi Goldwasser – người đoạt giải Turing (được coi như giải Nobel của Tin học) và hai giải Godel (giải thưởng cho bài báo xuất sắc nhất trong lĩnh vực lý thuyết khoa học máy tính) – cho rằng: “thách thức lớn nhất tiếp theo của mật mã là đảm bảo tính bảo mật thông tin trong việc thực hiện các phương pháp học máy”. Nhiệm vụ của mật mã trong tương lai là làm sao vẫn sử dụng công nghệ điện toán đám mây nhưng vẫn đảm bảo được dữ liệu, mà không phụ thuộc vào đạo đức của những nhà cung cấp dịch vụ. Rất nhiều nghiên cứu nằm trong hướng đi này, và một trong các nghiên cứu mà tác giả tham gia, trong một dự án của châu Âu, là nhằm đảm bảo quyền bảo mật dữ liệu riêng trong những ứng dụng liên kết giữa nhiều người mà không cần đặt sự tin tưởng vào bất cứ nhà cung cấp trung gian nào sao cho ngay cả khi nhà cung cấp bị lộ dữ liệu thì người dùng vẫn có thể đảm bảo thông tin riêng7. Đảm bảo an toàn dữ liệu ngay cả khi các nhà cung cấp dịch vụ bị tấn công hay tự ý lộ thông tin là yêu cầu tương lai của bảo mật.     Lời kết         Trong thời đại kỹ thuật số với dữ liệu cá nhân được lưu trữ và khai thác khắp nơi, chúng ta cần tập trung nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật và các chuẩn bảo mật phù hợp với các chuẩn quốc tế nhằm bảo vệ dữ liệu cho người dân.     Quyền riêng tư là một trong các quyền con người cơ bản và ta cần nhất thiết bảo vệ nó. Trong thời đại kỹ thuật số với dữ liệu cá nhân được lưu trữ và khai thác khắp nơi, chúng ta cần tập trung nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật và các chuẩn bảo mật phù hợp với các chuẩn quốc tế nhằm bảo vệ dữ liệu cho người dân. Trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, các cơ quan điều tra có thể được truy xuất dữ liệu cá nhân của nghi phạm, nhưng rất cần tránh sự lạm dụng và sự truy xuất đó cần phải được phê chuẩn bởi toà án hoặc bởi Thủ tướng theo một quy trình chặt chẽ, minh bạch.   Tuyên bố sau đây tại cuộc họp Eurocrypt 2014 ở Copenhagen (Đan Mạch) được toàn thể các thành viên của IACR (International Asscociation for Cryptologic Research – Hiệp hội nghiên cứu mật mã quốc tế) ủng hộ8: “Các thành viên của IACR phản đối việc theo dõi trên bình diện rộng và các quyết định làm suy yếu các giải pháp, tiêu chuẩn mật mã. Việc theo dõi người dân trên diện rộng đe dọa dân chủ và nhân phẩm con người. Chúng tôi kêu gọi đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các kỹ thuật hiệu quả để bảo vệ quyền riêng tư cá nhân trước những hành động thái quá của các chính phủ và doanh nghiệp.”  Việt Nam đã hội nhập cùng thế giới và tổ chức rất thành công hội nghị mật mã lớn nhất  tại châu Á của IACR (Asiacrypt 2016), chúng ta cần tiếp tục đi theo các xu hướng phát triển tiến bộ của thế giới.□     Nguồn dẫn:  1 https://eu.usatoday.com/story/news/politics/2015/06/02/patriot-act-usa-freedom-act-senate-vote/28345747/  2 https://en.wikipedia.org/wiki/PRISM_(surveillance_program  3 http://masssurveillance.info/)  4 https://www.nytimes.com/2018/06/28/technology/california-online-privacy-law.html  5 https://ec.europa.eu/info/law/law-topic/data-protection/data-transfers-outside-eu/eu-us-privacy-shield_en  6 https://ec.europa.eu/commission/priorities/justice-and-fundamental-rights/data-protection/2018-reform-eu-data-protection-rules_en   7 http://www.fentec.eu/content/paper-decentralized-multi-client-functional-encryption-inner-product   8 https://www.iacr.org/misc/statement-May2014.html    Author                Phan Dương Hiệu        
__label__tiasang Quyền riêng tư và văn hóa Việt      Người Việt Nam truyền thống được răn dạy phải giữ mình, khắc kỷ, để trở thành một phần tử có ích cho tập thể, cộng đồng. Tuy nhiên gần đây, khái niệm “quyền riêng tư”, bén rễ từ chủ nghĩa cá nhân phương Tây, đã bắt đầu bước chân vào Việt Nam. Giữa những khác biệt của quan niệm cũ và mới, pháp luật của Việt Nam quy định về quyền riêng tư và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân sẽ đi theo hướng như thế nào?     Quyền riêng tư của người phương Tây là tự mình bảo vệ, nhờ pháp luật bảo vệ, hoặc cấm kẻ khác không được xâm phạm đến những không gian, những vật thể, những thông tin mà mình muốn giữ kín. Ảnh: The Washington Post.  Từ cá nhân chủ nghĩa đến quyền riêng tư trong tư tưởng phương Tây  Không rõ thuật ngữ “riêng tư” (privacy) xuất hiện khi nào, nhưng nhiều khả năng nó có nguồn gốc từ phương Tây. Người phương Tây thường hình dung riêng tư dưới dạng thực hành khách quan, gắn với hình tượng cá thể một mình, khép kín, giữa bốn bề phong tỏa. Trong một tiểu luận nổi tiếng, Braindeis và Warrens cho rằng riêng tư là nguyên tắc nhằm bảo vệ những gì cá nhân viết ra, hoặc những gì là sản phẩm của trí tuệ và xúc cảm, khỏi sự công bố với bên ngoài. Theo họ, riêng tư là quyền của một người được “để yên” (to be let alone)1.  Sự riêng tư có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, vốn là một đặc trưng của nền văn hóa phương Tây. Bảo vệ sự toàn vẹn của nhân cách và bản thể cũng quan trọng như bảo vệ cơ thể vật lý bên ngoài 2.Trong trào lưu giải phóng con người, người phương Tây ngày càng mất niềm tin vào các định chế công. Họ đặc biệt sợ hãi về một xã hội nơi chính quyền biết hết mọi thứ về cá nhân qua các hồ sơ lưu trữ, qua hệ thống giám sát chặt chẽ và các cơ quan thực thi pháp luật mang tính kiểm soát tư tưởng như được mô tả trong các tác phẩm nghệ thuật giả tưởng từ Kafka, Zamyatin và Orwell. Trước nhu cầu đó, đối với người phương Tây, quyền riêng tư là quyền tự mình bảo vệ, nhờ pháp luật bảo vệ, hoặc cấm kẻ khác không được xâm phạm đến những không gian, những vật thể, những thông tin mà mình muốn giữ kín3. Đối tượng được bảo vệ của quyền riêng tư hoàn toàn được quyết định bởi ý chí cá nhân, thể hiện quyền tự chủ của cá nhân trong những vấn đề thuộc đời sống của mình. Như một hệ quả, quy phạm hóa quyền riêng tư thành luật là sản phẩm tất yếu của chủ nghĩa cá nhân phương Tây.   Văn hóa Việt có quyền riêng tư?   Không thể tìm thấy thuật ngữ “riêng tư” trong kinh điển phương Đông xưa. Trong bầu khí quyển Á Đông xưa, chữ “tư” có ý nghĩa gắn liền với chữ “tôi”4. Trong tiếng Việt, “tôi” vốn là một đại từ mang tính nhún nhường, khiêm cung, gắn liền với vị thế thấp hơn trong xã hội. Các tư tưởng chính trị, xã hội truyền thống ở khu vực Đông Á đều nhấn mạnh sự rút lui của cái tôi cá nhân khỏi cộng đồng, nhường bước trước những lợi ích lớn lao hơn của tập thể. Phật giáo, hướng tới một xã hội đại đồng, yêu sách mỗi cá nhân phải ẩn đi cái tự ngã, tu thân dưỡng tính, hướng về cõi không5. Các nhà nho học lỗi lạc nhất trong lịch sử Á Đông đều đề cao tinh thần “vô tư”, tu thân, giữ nghĩa, dùng đạo lý tự răn mình để làm tròn vai vế trong một xã hội tôn ti. Như vậy, bị đặt trong thế đối lập với chủ nghĩa tập thể, cá nhân không có vị trí gì đáng kể trong xã hội truyền thống phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Đi xa hơn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên thậm chí nhấn mạnh rằng, trong xã hội Việt Nam, “l’individu n’est rien” (tạm dịch: cá nhân không là gì cả) 6.    Người phương Tây thường hình dung riêng tư dưới dạng thực hành khách quan, gắn với hình tượng cá thể một mình, khép kín, giữa bốn bề phong tỏa.    Đơn vị cơ bản trong xã hội Việt Nam truyền thống không phải là cá nhân, mà là gia đình. Nhà văn hóa Đào Duy Anh từng khẳng định: “…địa vị gia đình ở trong xã hội là tối trọng, mà cá nhân chỉ là những phần tử vô danh ở trong gia đình thôi. Cái kết quả rõ ràng của chế độ ấy là khiến cá tính của người ta không thể nào phát triển ở trong phạm vi gia đình được”7. Đối với người Việt Nam trong xã hội phong kiến, “quyền” không phải là “tự do làm những gì luật không cấm” mà là “làm những gì được cho phép làm”. Chữ “quyền” có khi gần gũi với “quyền uy” hơn trong tâm thức người phương Đông8. Vua có quyền hơn tôi, cha có quyền hơn con, chồng có quyền hơn vợ. Mỗi cá nhân đều phục tùng trước sự sắp đặt của tôn ti, trật tư, nhún nhường trước quyền uy của người gia trưởng.  Đến lượt mình, bản thân mỗi gia đình cũng chủ động chôn vùi những tâm tư ý nhị của các thành viên, chỉ tiết lộ với người ngoài về những công trạng làm rạng danh gia tộc – “tốt khoe, xấu che”. Vị tôn phu tôn phu là cái “nóc” che đậy và đại diện cho bộ mặt của cả ngôi nhà và cũng là người đứng mũi chịu sào cho mọi hành vi của mọi người trong gia đình. Cửa nhà, một cách éo le, trở thành nơi chôn kín bí mật cá nhân. Chẳng cần vay mượn lý thuyết chế tài từ phương Tây, điều tiếng, tin đồn – thứ nghìn năm sau vẫn còn lưu giữ qua “bia miệng”, chính là sợi dây trói buộc hành vi người Việt hữu hiệu nhất. Trong văn hóa làng xã xưa, tiếng xấu đồn xa là điều cám cảnh tâm thức và ràng buộc hành vi người Việt. Trong không gian gò bó của mái đình cây đa, bên ngoài gia môn, người ta biết đi về đâu để thoát khỏi miệng lưỡi thiên hạ?  Nguyễn Đặng Khánh Linh, một người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội về thời trang, giải trí và lối sống sành điệu.  Người Việt Nam không thể hiểu được quy phạm về quyền riêng tư, thứ vốn gắn liền với chủ nghĩa cá nhân kiểu phương Tây. “Ẩn Tư”, thuật ngữ chỉ quyền riêng tư trong Hoa ngữ hiện đại, có gốc gác gần nghĩa với y phục, ám chỉ việc che đậy những bộ phận nhạy cảm để khỏi làm ô uế văn hóa xã hội9. Trong bầu khí quyển bao trùm của bổn phận, những khao khát manh mún tầm thường của cái tôi càng không hòa được vào tiếng nói chung về bổn phận với gia đình, với làng, với nước. Nam nữ tư tình, buồn vui ý nhị, “sầu riêng”, thì cũng đến lúc phải “hóa vui chung trăm nhà”10. Đó là sự lùi bước của riêng tư cá nhân trước những đại tự sự của tập thể.   Tiếp biến và chuyển hóa quy phạm xã hội về riêng tư   Với những thế hệ đi trước, quyền riêng tư vẫn là thứ gì đó xa xỉ và không đáng kể. Tuy nhiên, đến thế hệ trẻ, đặc biệt từ thế hệ sinh sau năm 1995, quan niệm về cá nhân và quyền riêng tư bắt đầu thay đổi. Tường ngăn, vách chắn, then cài… là những thứ dường như trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống thường ngày. Ngày nay, người Việt Nam (trẻ) đã có những cách hiểu rất khác về sự riêng tư. Họ chủ động phô bày hình ảnh đẹp của chính mình trên mạng xã hội vì họ hiểu được ranh giới giữa riêng tư và hình tượng bản thân trong mắt người khác11.Thế hệ trẻ cũng ngày càng ít chia sẻ tâm tư, bí mật với bố mẹ hơn, dù họ chẳng ngần ngại tiết lộ một vài bí mật trên các diễn đàn công khai12. Không cần tuyên truyền phổ biến, một hai thế hệ nay mai, con trẻ Việt sẽ biết chủ động giấu kín bí mật đời tư của mình vào cỗ máy thông minh trên tay và không cho bố mẹ động vào.   Từ chỗ giấu nhẹm như một nỗi hổ thẹn và là nỗi ám ảnh khi bí mật đời tư cá nhân bị soi mói, ngày nay người Việt dần biết chủ động chống lại sự nhòm ngó của người khác, thậm chí, người ta còn biết cách đánh bóng hình ảnh của mình trước công chúng qua việc tiết lộ những thông tin về đời tư với chủ đích xây dựng thương hiệu bản thân13. Từ cảm thức bổn phận, giờ đây người Việt hiểu riêng tư như là tự do, tự chủ làm (hoặc không làm) việc dựng rào, xây vách, cách trở mình ra khỏi mọi người xung quanh; đồng thời yêu sách bổn phận tôn trọng từ những người đứng ngoài bức vách ấy. Cách hiểu của người phương Tây về sự riêng tư gắn với quyền, khẳng định tính tự chủ và tính bản thể của chủ thể, đã loay hoay đâm chồi trong tâm thức người Việt Nam hiện đại.   Quyền riêng tư trong bối cảnh văn hóa pháp lý Việt Nam đương đại   Trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam, chưa thể tìm thấy một định nghĩa trực tiếp về quyền riêng tư. Cơ sở pháp lí gần nhất với quyền riêng tư là “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” ở điều 38, Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”, “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Có thể suy ra rằng thiệt hại đối với quyền riêng tư xảy ra khi thông tin riêng tư bị thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai trái với ý muốn của chủ thể thông tin đó. Tuy nhiên, trong một số bối cảnh, nếu việc tiết lộ các thông tin về cá nhân không gây điều tiếng xấu, mà ngược lại, mang lại thanh danh cho cá nhân, gia đình, thì người Việt Nam chưa chắc đã thấy có cái gì của mình bị xâm phạm.    Bị đặt trong thế đối lập với chủ nghĩa tập thể, cá nhân không có vị trí gì đáng kể trong xã hội truyền thống phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Đi xa hơn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên thậm chí nhấn mạnh rằng, trong xã hội Việt Nam, “l’individu n’est rien” (tạm dịch: cá nhân không là gì cả).    Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy rất khó để xác định thiệt hại gây ra đối với quyền riêng tư14. Nhìn từ góc độ quy phạm, dường như người Việt Nam vẫn chưa thể phân biệt rạch ròi giữa thông tin “tốt-xấu” liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân với thông tin “đời tư” và “bí mật” của cá nhân. Phó Giáo sư Nguyễn Ngọc Điện cho rằng:“nếu việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình dẫn đến những tổn thương đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín, thì có thể áp dụng các quy định liên quan để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nhưng nếu việc xâm phạm đời tư không làm tổn thương những giá trị đó, thì việc bảo vệ lại có vẻ mờ mịt”15. Suy cho cùng, người Việt Nam ngày nay, với nhiều nghìn năm văn hiến, vẫn chưa thể tách hẳn tri nhận về quyền riêng tư ra khỏi tri nhận về danh dự, về nỗi sợ điều tiếng, nỗi sợ đánh mất uy tín trong các quan hệ xã hội, nỗi sợ làm ô nhục cái danh gia đình.   Bước chân vào thế giới lạ lẫm của điện toán, quyền riêng tư một lần nữa đứng trước nhu cầu tái định nghĩa. Vài năm qua, dường như nhà làm luật Việt Nam có xu hướng cho rằng “bảo vệ dữ liệu trên môi trường mạng” chính là “bảo vệ đời sống riêng tư”. Quy định tại Điều 4, khoản 3 Luật an toàn thông tin mạng minh họa rõ rệt niềm tin này16.  Người Việt vẫn chưa thoát khỏi việc gắn liền những gì riêng tư, cá nhân với vinh-nhục của gia đình. Trong ảnh là tranh Gia đình nhỏ của Lê Phổ, đằng sau gia đình trông hạnh phúc là một cặp mắt soi mói của người khác.  Vì sao người làm luật ở Việt Nam bắt đầu bàn về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân như là bảo vệ quyền riêng tư? Một phần, người làm luật chịu sức ép từ việc hội nhập kinh tế và các cam kết về tạo dựng hành lang pháp lý an toàn xuyên quốc gia về chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong nước; mặt khác, lực lượng lao động trẻ trong xã hội đang khởi sự nhận thức về quyền riêng tư theo kiểu của phương Tây. Đứng trước sức ép đó, một số nhà nghiên cứu vội vã kết luận bảo vệ dữ liệu cá nhân là bảo vệ quyền riêng tư để hình thành diễn ngôn hợp thức hóa cho tiến trình lập pháp về quyền riêng tư.   Thiết nghĩ chưa nên vội vàng đến thế. Mặc dù Việt Nam đã và đang tiếp thu nhanh chóng những học thuyết về kinh tế – chính trị – xã hội của phương Tây và chuyển mình thích nghi với những hệ giá trị mới về quy phạm luân lý và luật pháp; song những tư tưởng mới từ trời Tây chưa bao giờ đủ mạnh để xóa sổ những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam17. Như Phó giáo sư Phạm Duy Nghĩa đã đúc kết: “… thuyết âm dương ngũ hành, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, triết lý nhân quả, tình thương yêu đồng loại của đạo Phật và triết lý sống của Nho giáo đã tạo nên nền móng cho văn minh pháp lý Việt Nam. Thứ nền móng đó đã ăn sâu trong tâm thức người Việt Nam. Luật pháp nếu xung đột với những giá trị nền tảng đó sẽ không được cộng đồng người Việt Nam chấp nhận; chúng sẽ tự tiêu vong”18.  Luật mới cũng như một loài cây: khi gieo một giống cây xa lạ vào thổ nhưỡng Việt, hấp thụ khí hậu và địa lý Việt, có khi nó không thể sống được. Luật hóa theo hướng cấy ghép luật pháp nước ngoài không chọn lọc, người Việt đôi khi vô tình được trao cho một số quyền mà họ không cần đến, hoặc chưa nhận thức đầy đủ để sử dụng làm sao cho đúng.  Hãy xem xét trường hợp quyền được lãng quên19. Đối với người phương Tây, quyền riêng tư chính là quyền được “rút lui” khỏi môi trường điện toán, được khoác một tấm áo tàng hình, không cho bất kỳ thông tin nào về mình lộ ra bên ngoài20. Vì vậy, cá nhân được phép quyết định thông tin nào về mình là thông tin cần được bảo vệ, thông tin nào có thể được tiết lộ, thậm chí đến mức không cần biết lý do cho quyết định đó21. Trong khi người phương Tây có thể yêu sách sự xóa bỏ toàn bộ thông tin về mình trong quá khứ khỏi kho lưu trữ của thế giới điện toán, người Việt Nam – quen thuộc với bổn phận gia đình và cộng đồng, làm sao có thể đòi hỏi một quyền riêng tư tuyệt đối đến thế. Nếu không có lộ trình làm luật khoa học, gắn liền với bối cảnh văn hóa – xã hội đặc thù, việc “cắm” quy phạm về riêng tư điện toán theo kiểu phương Tây vào môi trường văn hóa Việt Nam sẽ dẫn đến những rắc rối, phức tạp về mặt diễn giải và thực thi pháp luật.    Cần thúc đẩy nghiên cứu liên ngành văn hóa – sử học – luật học về quyền riêng tư kiểu Việt Nam, tiến đến xác định một số tiêu chí, đặc điểm của quyền riêng tư trong môi trường điện toán nước ta; sau đó mới có thể luật hóa quyền riêng tư và tiến đến xây dựng một đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam.    Muốn xây dựng quy định về bảo vệ dữ liệu, trước hết phải hiểu quyền riêng tư như một quyền gắn liền với bối cảnh Việt Nam; quyền này cần được liên tục diễn giải, thi hành, phê phán, rồi tái diễn giải22. Từ đó, cần nhận thức rằng quyền riêng tư trên môi trường điện toán ở Việt Nam sở hữu những tính chất rất đặc thù. Về mặt chính sách, cần thúc đẩy nghiên cứu liên ngành văn hóa – sử học – luật học về quyền riêng tư kiểu Việt Nam, tiến đến xác định một số tiêu chí, đặc điểm của quyền riêng tư trong môi trường điện toán nước ta; sau đó mới có thể luật hóa quyền riêng tư và tiến đến xây dựng một đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam.  Có nên xây dựng quy phạm về quyền riêng tư trên mạng hoàn toàn theo cách hiểu của phương Tây cho Việt Nam hay không là điều cần bàn thêm; cũng không nên quá hấp tấp đánh đồng giữa bảo vệ quyền riêng tư với bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường điện toán. Ở thời điểm hiện tại, có thể khẳng định một điều chắc chắn: hiểu đúng về tri nhận riêng tư trong văn hóa Việt truyền thống sẽ là trụ cột quan trọng để nghiên cứu về quyền riêng tư trong những chiều kích mới. □  ——-    Chú thích  1 Samuel D Warren and Louis D Brandeis, ‘The Right to Privacy’ (1890) 4 Harvard Law Review 193 <https://www.jstor.org/stable/1321160> accessed 13 April 2022.  2 Tiêu biểu, xin tham khảo tư tưởng cho rằng mỗi một cá nhân đều là một hiện hữu đơn lẻ, không có một bản tính người phổ quát. Vì vậy, sự tự do mà con người có được là sự tự do triệt để, tự do lựa chọn hiện hữu người mà mình muốn trở thành. J. P. Sartre, Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản, NXB Tri Thức, 2015.  3 Daniel J Solove, The Digital Person: Technology and Privacy in the Information Age (NYU Press 2006).  4 Một hiện tượng ngôn ngữ thú vị: tham khảo đại từ ngôi thứ nhất số ít 私 (Watashi – chữ Tư theo hệ Kanji) trong tiếng Nhật hiện đại.  5 Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (Nhã Nam, NXB Thế Giới 2014).  6 Nguyễn Văn Huyên, La civilisation annamite (Hanoi, 1944), tr. 68. Xem thêm David Marr, ‘Concepts of “Individual” and “Self” in Twentieth-Century Vietnam’ (2000) 34 Modern Asian Studies 769 <https://www.cambridge.org/core/product/identifier/S0026749X00003851/type/journal_article> accessed 13 April 2022.  7 Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (2010), Nhã Nam & NXB Thế Giới.  8 Lý thuyết luật học phương Tây phân biệt khá rõ giữa khái niệm quyền (rights) và quyền lực (power) trong quan hệ với luật học. Xem thêm quan điểm của Bentham, được Austin tiếp thu và phát triển, trong John Austin, Austin: The Province of Jurisprudence Determined (Wilfrid E Rumble ed, 1st edn, Cambridge University Press 1995).  9 Xem quan điểm giải thích tại link https://www.easyatm.com.tw/wiki/隱私. Trang web được thể hiện bằng tiếng Hoa.  10 Lấy ý thơ Phạm Hổ, trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 2, NXB Giáo dục, 2002.  11 Alicia Eler, The Selfie Generation: How Our Self-Images Are Changing Our Notions of Privacy, Sex, Consent, and Culture (Simon and Schuster 2017). Xem thêm: Leigh Doster, ‘Millennial Teens Design and Redesign Themselves in Online Social Networks’ (2013) 12 Journal of Consumer Behaviour 267, truy cập ngày  2 tháng tư 2022.  12 Sonia Livingstone, ‘Taking Risky Opportunities in Youthful Content Creation: Teenagers’ Use of Social Networking Sites for Intimacy, Privacy and Self-Expression’ (2008) 10 New Media & Society 393 <https://doi.org/10.1177/1461444808089415> accessed 2 April 2022.  13 Leigh Doster, ‘Millennial Teens Design and Redesign Themselves in Online Social Networks’ (2013) 12 Journal of Consumer Behaviour 267 <https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/cb.1407> accessed 2 April 2022.  14 Điều 361, khoản 3, BLDS 2015.  15Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự, tập 2 (4th edn, NXB Chính Trị Quốc gia 2016), tr.235 và tiếp.  16 Điều 4, khoản 3 Luật an toàn thông tin mạng (LATTTM): “Việc xử lý sự cố an toàn thông tin mạng phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, không xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân, thông tin riêng của tổ chức.”  17 Tham khảo một phân tích sâu sắc hơn về vấn đề này, xin xem Tạ Chí Đại Trường, Thần, Người và Đất Việt (NXB Tri Thức 2014). Xem thêm Phạm Duy Nghĩa, ‘Tiếp nhận pháp luật nước ngoài – thời cơ và thách thức mới cho nghiên cứu lập pháp’ (2002), truy cập tháng 11 năm 2020; và Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo (Luật Khoa Đại học, Sài Gòn, 1970).  18 Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh Tế (Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2004), tr.12.  19 Robert Walker, ‘The Right to Be Forgotten’ (Social Science Research Network 2012) SSRN Scholarly Paper ID 2017967 <https://papers.ssrn.com/abstract=2017967> accessed 6 November 2021. Đọc thêm: Bạch Thị Nhã Nam, ‘Quyền được lãng quên từ thực tiễn phán quyết trong phạm vi Liên minh Châu Âu’ (2020) 24 Tạp Chí Nghiên Cứu Lập Pháp <http://lapphap.vn:80/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210717> accessed 19 April 2022.  20 Một quyển sách xuất sắc bàn về quyền riêng tư trong quan hệ với cá nhân chủ nghĩa trong môi trường điện toán, xin xem Solove (n 3).  21 Tham khảo quyền được rút lại ý chí cho phép chủ thể kiểm soát dữ liệu được xử lý dữ liệu của chủ thể dữ liệu, tại Điều 7(3) của Bộ Quy định chung về Bảo vệ dữ liệu cá nhân châu Âu (GDPR).  22 Tham khảo lý thuyết về “Quyền riêng tư gắn liền với bối cảnh” (Contextual Privacy) của Nissenbaum, trong Helen Nissenbaum, ‘Excerpt from A Contextual Approach to Privacy Online *’, Ethics of Data and Analytics (Auerbach Publications 2022).”properties”:{“formattedCitation”:”Helen Nissenbaum, \\uc0\\u8216{}Excerpt from A Contextual Approach to Privacy Online *\\uc0\\u8217{}, {\\i{}Ethics of Data and Analytics} (Auerbach Publications 2022  23 tlđd.    Author                Huỳnh Thiên Tứ        
__label__tiasang Quyền sở hữu đất đai trong Hiến pháp 1992 sửa đổi ?      Việc hạn điền hết vào năm 2013 sau 20 năm sử dụng đất nông nghiệp hiện chưa có tiền lệ giải quyết, đang trở thành nan đề sừng sững trước mắt cả người dân lẫn chính quyền, liên quan trực tiếp tới 3 phạm trù luật học: Hiến pháp, Đất đai, Quyền sở hữu, trong 3 mối quan hệ, Hiến pháp – Đất đai, Hiến pháp – Quyền sở hữu, Quyền sở hữu – Đất đai.        I. Hiến định quyền sở hữu và đất đai trên cơ sở nào?  Trong luật học, quyền sở hữu, bất kỳ sở hữu gì, đều được cấu thành bởi 3 quyền: Quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng. Quyền chiếm hữu đất được thể hiện trên văn bản nhà nước xác định toạ độ, độ lớn mảnh đất đó, có tên điạ chỉ cá nhân hoặc pháp nhân sở hữu nó, cũng đồng nghĩa với xác lập trách nhiệm pháp lý chủ sở hữu  đó đối với nó, như ở Đức được đưa cả vào Hiến pháp, quy định tại Điều 14, khoản 2: “Sở hữu phải chịu trách nhiệm, và khi sử dụng nó phải đồng thời vì lợi ích chung“. Quyền định đoạt là hệ dẫn của quyền chiếm hữu, bao gồm: thừa kế, hiến tặng, thế chấp, mua bán, trao đổi, chuyển nhượng, cho thuê… Quyền sử dụng có thể được chủ sở hữu khai thác hoặc chuyển cho người hay pháp nhân khác, nhưng họ hoàn toàn không có quyền chiếm hữu và định đoạt. Nhờ 2 quyền trên, tài sản sở hữu mới có thể thoả mãn nhu cầu sử dụng của chủ sở hữu, hoặc sinh lợi, và luôn được bảo tồn.  Ở những quốc gia xây dựng trên nền tảng kinh tế thị trường, dưới góc độ nhân quyền, sở hữu được coi là quyền cơ bản của con người, nghĩa là “tạo hóa cho họ những quyền đó, không ai, (nhà nước gì), có thể bác bỏ được“. Về mặt kinh tế, không có quyền sở hữu, không thể mua bán, tài sản không thể sinh lợi, không còn cả khái niệm lợi nhuận lẫn nền kinh tế thị trường, bởi mua bán được định nghĩa là chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua. Về mặt xã hội, xuất phát từ sở hữu gắn với trách nhiệm, ở các quốc gia đã phát triển, tài sản cho tặng thừa kế đều bị đánh thuế, tỷ phú sở hữu hàng triệu thậm chí tỷ đô la lãi mỗi năm có thể phải đóng thuế thu nhập tới chừng nửa số đó, còn phải đóng tiếp mọi khoản bảo hiểm cho tài sản của mình, và có thể gánh tới nửa phí bảo hiểm cho người lao động của họ, để san sẻ bảo đảm cuộc sống của người làm thuê chỉ đủ khả năng đóng chừng 1 nửa bảo hiểm an sinh cho mình. Sở hữu đất, dù ai sử dụng hay bỏ hoang, hàng tháng còn phải đóng tiền thuế đất, phí thoát nước mưa, phí thuê cắt cỏ, dọn tuyết, phí bảo hiểm bồi thường thiệt hại khi ngộ nhỡ có người qua đó bị tai nạn…, nhiều tới mức tính ra như ở Đức chỉ cần sau dăm bảy chục năm bỏ hoang, tiền bán đất không bù đủ. Nghĩa là sở hữu không phải chỉ có mỗi lợi, mà có thể bị thiệt hại bởi trách nhiệm; nếu không đủ khả năng gánh chịu, không thể sở hữu. Nước Đức không thiếu chủ đất từ chối quyền sở hữu bằng cách bán 1 Euro hoặc giao lại nhà nước để khỏi đóng phí tổn theo trách nhiệm. Với tư cách là quyền cơ bản, sở hữu trong nền kinh tế thị trường, vì vậy, vừa là mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng, vừa là động lực, nền tảng kinh doanh sinh lợi, giàu có cá nhân, và thịnh vượng quốc gia, phải được luật pháp bảo đảm. Xuất phát từ đó, quyền sở hữu (bao gồm cả đất đai), được nhà nước họ mặc nhiên thừa nhận, như bất kỳ quyền cơ bản nào, vốn được họ coi là giá trị phổ quát của nhân loại, không thay đổi bởi đảng cầm quyền, nói cách khác không mang tính chính trị; Hiến pháp, vì vậy, không nhất thiết phải quy định chi tiết, có thể chỉ ở 1 câu, như Đức quy định tại Chương I Quyền cơ bản, Điều 14, khoản 1, câu 1: “Sở hữu và quyền thừa kế được bảo đảm“. Thậm chí có Hiến pháp chỉ đưa ra tình huống ngoại trừ nhà nước được phép can thiệp, còn người dân được hoàn toàn tự do thực hiện quyền sở hữu của mình, như Hiến pháp Mỹ quy định tại Tu Chính án V, câu cuối cùng: “Sở hữu tư nhân không được phép chiếm đoạt vì mục đích công, nếu không được bồi thường thoả đáng“, mà không cần hiến định trực tiếp nó như Đức.  Đối lập với nền kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận, nền kinh tế quản lý tập trung được thiết lập ở khối các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây, hay ở những nước như Liby, hoặc “nhị nguyên“ như Nam Tư cũ, nhằm mục đích hoàn thành kế hoạch nhà nước,  đều phủ nhận sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, đất đai, và thay thế nó bằng 2 hình thức sở hữu cơ bản, gồm sở hữu của nhà nước được gọi là sở hữu toàn dân, và sở hữu của hợp tác xã hay các tổ chức xã hội liên kết kinh doanh được gọi là sở hữu tập thể; trong đó, đất đai nhất thiết thuộc sở hữu toàn dân, do  nhà nước quản lý cấp phát như ngân sách, theo hệ thống cấp chính quyền. Hai hình thức sở hữu cơ bản trên, ở khối các nước Xã hội Chủ nghĩa được gọi chung là Sở hữu Xã hội Chủ nghĩa. Cụ thể, ở CHDC Đức, chúng được hiến định tại chương 2, từ điều 9 tới điều 13, Hiến pháp 1973. Hiến pháp Liên xô 1977, chúng được quy định chi tiết tại chương 2, rất cụ thể: Điều 10 hiến định: Sở hữu Xã hội Chủ nghĩa về tư liệu sản xuất bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể hợp tác xã hình thành nền tảng kinh tế quốc dân. Điều 11: Sở hữu nhà nước là của chung toàn dân. Đất đai thuộc sở hữu nhà nước. Điều 12: Đất đai được giao cho các tổ chức kinh tế sử dụng miễn phí lâu dài. Điều 13: Cho phép công dân sử dụng đất đai để làm kinh tế phụ, vườn tược, hay làm nhà riêng theo luật định. Tài sản do cá nhân sở hữu hay được quyền sử dụng, không được phép đem lại thu nhập mà không do lao động của mình làm ra (tức không được kinh doanh), hay sử dụng nó làm thiệt hại lợi ích của tập thể, nhà nước.  Như vậy, khái niệm quyền sở hữu đất đai ở các nước quản lý kinh tế tập trung, đối với cá nhân, doanh nghiệp, hay bất cứ tổ chức nào sử dụng nó, đều bị phủ định đã đành, nhưng đối với nhà nước cũng không cùng nội hàm với khái niệm đó trong nền kinh tế thị trường, bởi không thể tranh chấp, kiện tụng về nó, không ai chịu trách nhiệm pháp lý trước phán xét của toà án khi gây thiệt hại hay bị thiệt hại, không được mua bán, không sinh lợi, không thừa kế… và chỉ áp dụng riêng cho những quốc gia đó, nên không còn là một khái niệm pháp lý, trở thành một phạm trù chính trị. Cũng chính vì vậy, nó hoàn toàn phù hợp với nền kinh tế theo đuổi mục đích chính trị, nhằm xoá bỏ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất được Mác cho là nguồn gốc bóc lột giá trị thặng dư, gây bất công, phân chia giai cấp, tư sản và vô sản, với kỳ vọng tạo dựng mới một nền kinh tế phát triển nhất, một xã hội xây dựng trên đó, hoàn toàn ưu việt, tự do, bình đẳng, bác ái, không kẻ giàu người nghèo vốn luôn là lý tưởng, khát vọng muôn đời của nhân loại.   II. Sửa Hiến pháp về quyền sở hữu và đất đai?  Năm 1990, Liên Xô sửa Hiến pháp. Điều 10 cũ quy định quyền sở hữu Xã hội Chủ nghĩa vốn mang tính chính trị, được thay thế bằng quyền sở hữu pháp lý: Sở hữu công dân, sở hữu của doanh nghiệp, tổ chức, và sở hữu nhà nước, được nhà nước bảo đảm, tương tự điều 14 Hiến pháp CHLB Đức. Bản thân sở hữu nhà nước được pháp lý hoá bằng Điều 13 mới, chia thành sở hữu các cấp chính quyền từ trung ương tới điạ phương. Để hình thành sở hữu doanh nghiệp, Điều 12 mới cho phép chuyển đổi từ sở hữu nhà nước, nghĩa là tư nhân hoá ngược với quá trình quốc hữu hoá và tập thể hoá thời khởi đầu chính quyền Xô Viết. Riêng đất đai vẫn giữ nguyên của toàn dân, nhưng cụ thể hơn trước, có cơ quan chịu trách nhiệm (chứ không phải cá nhân đại diện pháp lý, như trong nền kinh tế thị trường): Quyền định đoạt được giao cho cơ quan lập pháp tối cao Liên bang lúc đó (gồm 750 đại biểu quốc hội, 750 đại biểu cho các nước thành viên và 750 đại diện cho Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên), quyền sử dụng được giao cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Để có thể mua bán nó, điều 11 mới, xác lập quyền công dân sử dụng đất đai suốt đời và được thừa kế, nghĩa là chuyển một phần nội hàm khái niệm quyền định đoạt sang khái niệm quyền sử dụng, mâu thuẫn với 2 khái niệm đó vốn đã được định nghĩa chặt chẽ trong hệ thống khoa học pháp lý hiện có. Hệ lụy, khó tránh khỏi thực thi pháp luật trong thực tế và áp dụng luật trong xét xử không thể nhất quán, tùy thuộc nhận thức và lợi ích.  Với các điều khoản Hiến pháp thay đổi trên, Liên Xô hy vọng có thể phát triển nền kinh tế thị trường trong khuôn khổ mô hình quản lý kinh tế tập trung, để cứu vãn nền kinh tế đã đứng bên bờ vực phá sản với khủng hoảng thiếu trầm trọng toàn khối Xã hội Chủ nghĩa lúc đó.  So với Hiến pháp CHLB Đức hay Mỹ, cải cách Hiến pháp Liên Xô nói trên mới chỉ tạo dựng được 1 nửa nền tảng kinh tế thị trường, nhờ đó vượt qua được khủng hoảng thiếu, nhưng nhà nước vẫn giữ nguyên vai trò điều hành kinh tế theo kế hoạch, kiêm chủ đất, tạo nên mâu thuẫn bất khả kháng giữa mô hình quản lý kinh tế tập trung điều hành trực tiếp bởi nhà nước với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chạy theo lợi nhuận nhưng không thể chế tài trách nhiệm sở hữu thích ứng. Nhiều học giả cho cải cách đó là nhảy 2 bước qua một cái hố, nếu sâu chắc chắn rớt không lên nổi. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ, do vậy Hiến pháp Liên Xô sửa đổi 1990 chưa kịp chứng minh liệu cứu được bất ổn quyền sở hữu lẫn đất đai đã bùng phát dữ dội trong thời gian đó hay không.  Hiến pháp Nga 1993, đã bù đắp được tiếp một nửa nền tảng thiếu hụt trong Hiến pháp Liên xô 1990, khoản 2 của điều 8 và điều 9, điều 35, thừa nhận mọi hình thức sở hữu, cả đất đai, và nhà nước bảo đảm quyền đó. Điều 36 quy định quyền sở hữu tư nhân đất đai kèm theo trách nhiệm chủ sở hữu. Đất đai đi dần vào quỹ đaọ của nền kinh tế thị trường, lẽ dĩ nhiên không tránh khỏi nhiều vấn đề nảy sinh bất khả kháng của chính quá trình tư nhân hoá công sản.  Còn Đông Đức sát nhập vào Tây Đức tuân thủ Hiến pháp CHLB Đức, chấm dứt 40 năm nền kinh tế quản lý tập trung, không bị bất ổn đất đai tác động kéo dài như Liên Xô, Trung Quốc. Trong 5 năm, từ 1990-1994, các doanh nghiệp nhà nước Đông Đức, kèm tài sản lẫn đất đai nó sử dụng, hoặc được tư nhân hoá, hoặc được cổ phần hoá, hoặc được cơ cấu lại, hoặc đóng cửa, thông qua Cơ quan ủy thác tài sản Treuhandanstalt (THA) do chính phủ thành lập, nhưng hoàn toàn độc lập, thực hiện chức năng quy định chi tiết tại Luật Ủy thác, và Luật chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước Đông Đức thành doanh nghiệp cổ phần, trách nhiệm hữu hạn… THA ra đời quản lý tổng số vốn chừng 600 tỷ DM, (tương đương 300 tỷ Euro hiện nay), của chừng 8000 doanh nghiệp với 4 triệu lao động, chưa kể 1,4 triệu hekta đất nông lâm nghiệp.  Cũng với cách của Liên Xô, Trung Quốc sửa đổi Hiến pháp khởi đầu còn sớm hơn từ những năm 1982 và sửa tiếp thêm 4 lượt vào năm1988, 1993, 1999 và 2004,  để đạt tới đích hiện nay ít nhiều tương tự Liên Xô, thừa nhận các hình thức sở hữu; đất đai được quyền sử dụng kinh doanh lâu dài, được quyền thừa kế, nhưng vẫn trên “nền tảng sở hữu Xã hội Chủ nghĩa, do nhà nước điều hành“. Đất đai Trung Quốc hiện bất ổn và xung đột ngày một dữ dội, tới mức đã vượt ra khỏi phạm vi đất đai, dân chúng từ bỏ bộ máy chính quyền điạ phương cũ, bầu chủ tịch mới cho mình như ở Ô Khảm vừa qua.  Hiến pháp Việt Nam năm 1992, nếu đối chiếu với Hiến pháp Liên Xô năm 1990, Trung Quốc năm 1982 sau sửa đổi, trên tinh thần cũng có thể coi như họ, tạo lập được một nửa tiền đề của nền kinh tế thị trường: Điều 15 thừa nhận sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế đó như  điều 10 của Liên Xô, điều 6 sửa đổi của Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, khi ở ta điều 17 quy định, đất đai… đều thuộc sở hữu toàn dân, điều 19 quy định  kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, điều 18, tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng đất ổn định lâu dài và chuyển nhượng nó. Nửa tiền đề còn lại của nền kinh tế thị trường tách nhà nước ra khỏi hoạt động kinh doanh, ra khỏi chủ sở hữu đất đai toàn dân, cũng tương tự như họ, không được đưa vào hiến pháp, vẫn giữ nguyên mô hình cơ bản của nền kinh tế quản lý tập trung. Hệ quả, mâu thuẫn bất khả kháng giữa mô hình quản lý kinh tế tập trung điều hành trực tiếp bởi nhà nước, với mục đích thực tế của nó chạy theo lợi nhuận không được chế tài trách nhiệm sở hữu thích ứng, đặc biệt là sở hữu đất đai, diễn ra ở Liên Xô, Trung Quốc, đang lặp lại với Hiến pháp nước ta năm 1992, chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân tạo nên bất ổn lẫn xung đột đất đai trầm trọng lâu nay, sẽ không bao giờ giải quyết nổi, nếu không bắt đầu từ Hiến pháp. Nhưng bắt đầu như thế  nào ?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền sở hữu súng tại Hoa Kỳ. Kỳ 1: Câu chuyện lập quốc, tiểu văn hóa cao bồi và quyền tự do      Vào ngày 25/6 vừa qua, Tổng thống Joe Biden đã ký vào đạo luật kiểm soát súng và hỗ trợ sức khỏe tinh thần đầu tiên của liên bang trong ba thập kỷ trở lại đây (Bipartisan Safer Communities Act of 2022), đánh dấu bước đột phá đáng kể của lưỡng đảng Hoa Kỳ về một trong những vấn đề chính sách gây tranh cãi nhất trên cả nước. Nhưng liệu Đạo luật này có đủ là viên đạn bạc giải tỏa các nhức nhối của xã hội liên quan đến vấn đề sở hữu và sử dụng súng?     Khảo sát cho thấy tỉ lệ sở hữu súng tại Hoa Kỳ là một con số lớn kinh ngạc: cứ mỗi 100 người thì có 88,8 đến 101,05 khẩu súng được sở hữu. Nói cách khác, trung bình gần như mỗi người dân Hoa Kỳ đều sở hữu một khẩu súng. Nhìn sang Canada, một đất nước cũng cho phép người dân mang súng (nhưng phải đăng ký giấy phép), con số chỉ bằng 1/5 (23.8 khẩu súng trên mỗi 100 người). Thực tế này bắt nguồn từ lịch sử, văn hóa và chính trị phức tạp của Hoa Kỳ.  Vào thời kỳ đầu sau 12 năm thành lập thuộc địa, Hoa Kỳ đã có những động thái kiểm soát việc sở hữu súng đạn, tuy nhiên lại chỉ nhắm đến người bản địa, chứ không phải là những người da trắng. Cơ quan lập pháp chính thức của người da trắng được lập nên ở Virginia với cuộc họp Hội đồng đầu tiên tại Jamestown đã đưa ra luật quản lý súng như sau: “Không một người nào được bán hay trao cho người Anh-điêng bất kỳ khẩu súng, lượt bắn, bột súng, hoặc bất kỳ vũ khí tự vệ hay tấn công nào khác, nếu không sẽ bị xem là hành vi phản bội chính quyền thuộc địa và bị treo cổ ngay khi chứng minh được có hành vi này mà không được chuộc bằng tiền.” Dù quy định này có tính chất hà khắc và phân biệt đối xử theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng cho thấy được sự căng thẳng và đối đầu giữa nhóm người bản địa và thực dân vào thời điểm đó.  Trong giai đoạn thuộc địa tiền Hiến pháp sau đó (1607–1789), súng vẫn luôn là một công cụ cần thiết để bảo vệ chính quyền và là biểu tượng của quyền công dân được thừa nhận đặc biệt cho người da trắng. Sau Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ vào năm 1776, các bang cũng ghi nhận quyền sở hữu vũ khí trong hiến pháp của mình. Một trong các mục tiêu quan trọng của quy định về quyền này trong Hiến pháp bang và liên bang được cho là nhằm ngăn chính quyền giải giáp quân đội, không chỉ đơn thuần phản ánh quyền tự do cá nhân. Cụ thể, Pennsylvania là bang đầu tiên công nhận quyền này trong Tuyên ngôn về các Quyền trong Hiến pháp bang ban hành cũng vào năm 1776, cụ thể: “Mọi người có quyền được mang vũ khí để bảo vệ họ (“defense of themselves”) và chính quyền bang, và hành động như những quân nhân trong thời bình cũng như những khi nền tự do bị đe dọa.” Ngoài ra, “mỗi thành viên trong xã hội buộc phải đóng góp vào việc gìn giữ an ninh chung, và sẵn sàng phục vụ khi cần thiết”, nhưng không bị ép buộc phải mang súng. Điều khoản này được James Madison tham khảo để đưa vào Hiến pháp Liên bang sau đó: “Một lực lượng quân sự được quản lý tốt, bao gồm cả bộ phận nhân dân, là đảm bảo an ninh tốt nhất của một nhà nước tự do, (theo đó) quyền của người dân được giữ và mang vũ khí sẽ không bị xâm phạm, nhưng không ai bị buộc phải mang vũ khí dựa trên nhận thức về tôn giáo.”  Phần lớn phán quyết của toà án trong thời kỳ này chung quan điểm rằng quyền được mang vũ khí, bao gồm súng, là quyền tự do cá nhân. Vào năm 1822, Phán quyết của Tòa án Tối cao Kentucky trong vụ Bliss v. Commonwealth phản ánh sự chuyển đổi tư tưởng xây dựng lực lượng dân quân trong Thời đại Cách mạng sang quyền tự vệ cá nhân trong thời kỳ Andrew Jackson (Tổng thống thứ bảy của Hoa Kỳ). Trong vụ việc này, một người đàn ông tên Bliss bị chính phủ bang Kentucky phạt 100 USD vì mang theo kiếm giấu trong gậy chống. Tòa án Kentucky đã tuyên bố việc xử phạt này trái với quy định được mang vũ khí giấu kín của tiểu bang, trái với sự công nhận của Hiến pháp tiểu bang năm 1799 về “quyền công dân được mang vũ khí để bảo vệ bản thân và chính quyền bang.” Trong phán quyết phúc thẩm của mình, tòa án đã lập luận, “bất cứ điều gì hạn chế việc thực hiện đầy đủ và đầy đủ quyền công dân đó … sẽ bị cấm bởi quy định cụ thể của Hiến pháp”.    Yếu tố lịch sử – văn hóa khiến việc sở hữu súng trở thành một phản ứng hợp lý đối với bối cảnh bất ổn của xã hội theo từng thời kỳ.    Vụ Bliss v. Commonwealth đã khiến người ta bắt đầu suy nghĩ về việc kiểm soát vũ khí giấu kín. Điều đó mãi mới được thực hiện khi chính quyền Kentucky sửa đổi Hiến pháp vào năm 1950. Theo đó, “quyền của công dân được mang vũ khí để tự bảo vệ bản thân và nhà nước sẽ không bị chất vấn; nhưng Đại hội đồng có thể thông qua luật để ngăn chặn những người mang vũ khí giấu kín.” Trong vụ State of Alabama v. Reid (1840), một người đàn ông bị phạt 50 USD và giam giữ trong nhà tù cho đến khi tiền phạt được trả đủ, lý do là vì giấu súng trong người khi bị một viên cảnh sách có hành vi theo dõi, đe dọa thường xuyên. Tòa Alabama đã trích dẫn phán quyết trong vụ Bliss v. Commonwealth, từ đó cho rằng việc “ngăn chặn những hành vi độc ác từ việc bí mật mang theo vũ khí” không có gì xung đột với quyền của công dân trong việc “mang vũ khí để bảo vệ bản thân và chính quyền liên bang” cả. Tuy nhiên, tòa án không xét thấy hành vi mang súng của người đàn ông trong vụ việc này là cần thiết để tự vệ, vì vũ khí của viên cảnh sát chỉ là một tấm khiên che kín người và công việc của người này là nhằm đảm bảo an ninh công cộng, vì vậy vẫn ra quyết định tuyên phạt. Do đó, phán quyết trong thời kỳ này thừa nhận quyền mang theo vũ khí tự vệ giấu kín của người dân, nhưng có xem xét đến các yếu tố cần thiết và cân bằng hợp lý với mối đe dọa để tránh những hành vi lạm dụng gây mất an toàn xã hội.  Tiếp theo, từ giữa những năm 1800, cùng với mối quan ngại về bất ổn xã hội ngày càng dâng cao, các quy định về hạn chế quyền tự do mang theo vũ khí, bao gồm súng, ngày càng được quan tâm hơn. Giai đoạn hậu nội chiến (1868–1899) chứng kiến sự huy động dân quân chưa từng có trong việc thành lập các đơn vị dân quân người da đen. Khu vực miền Nam (Antebellum South) bị tàn phá với tỷ lệ bạo lực vũ trang thuộc hàng cao nhất của đất nước. Khi những lực lượng dân quân này phải đối mặt với sự trả thù và giải trừ quân bị từ nhóm theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng Ku Klux Klan, quyền mang vũ khí đã được đem ra thảo luận trước Tòa án Tối cao trong vụ Hoa Kỳ v. Cruikshank (1875). Vụ án liên quan đến cuộc thảm sát Colfax khét tiếng trong lịch sử, khi ước tính có tới 153 dân quân da đen và người da đen tự do bị sát hại trong khi đang đầu hàng trước nhóm cựu binh sĩ Liên minh miền Nam và các thành viên của Ku Klux Klan. Thời điểm diễn ra sự kiện này là khi cuộc bầu cử chính quyền bang Louisiana đang diễn ra căng thẳng. Tòa sơ thẩm đã kết án những người bạo loạn da trắng theo mục 6 của Đạo luật Thực thi năm 1870 vốn quy định cấm âm mưu “đe dọa bất kỳ công dân nào với ý định ngăn chặn hoặc cản trở việc thực hiện quyền tự do của người đó và hưởng bất kỳ quyền hoặc đặc quyền nào được Hiến pháp trao ban hoặc bảo đảm cho người đó.” Với ý kiến đa số, Tòa án tối cao đã bác bỏ ý kiến cho rằng Hiến pháp bảo vệ quyền tự do mang vũ khí. Theo đó, các bang được tự do thông qua bất kỳ luật nào liên quan đến lực lượng dân quân và súng mà họ thấy phù hợp.  Đây là phán quyết quan trọng trong bối cảnh bấy giờ, khi tỷ lệ những người bị sát hại bằng vũ khí tại Hoa Kỳ thuộc hàng cao trên thế giới, một phần do súng được bày bán rộng rãi với giá rẻ. Trong những thập niên 1920, khảo sát của Randolph Roth chỉ ra rằng cứ mỗi 100.000 người dân Mỹ thì có khoảng từ 8 đến 9 người từng thực hiện hành vi sát hại người khác. Điều này khắc họa bối cảnh “loạn lạc’ và vai trò, cũng như mối nguy hại của súng. Các bang có mối nguy bạo lực cao, đặc biệt là bạo lực bằng súng đạn, đã ban hành luật kiểm soát súng chặt chẽ hơn như một biện pháp khắc phục. Trọng tâm của hoạt động lập pháp là ban hành chủ yếu những điều luật cấm mang theo vũ khí giấu kín.  Quốc hội lập pháp của thuộc địa mới tại Virginia gồm 12 người đàn ông giàu có và ảnh hưởng nhất tại đây. Ảnh: encyclopediavirginia.org  Tuy nhiên, người dân vẫn luôn thường trực nỗi bất an về sự an toàn của mình. Các doanh nghiệp vũ khí nhân đó tìm cách khuyến khích người dân sử dụng súng bằng cách khơi dậy nỗi sợ bị đe dọa khi lái xe trên đường. Trong đó, phải kể đến quảng cáo “An toàn đường cao tốc” của công ty sản xuất vũ khí Colt. Dù vậy, nhu cầu bảo vệ cá nhân khi lái xe vẫn là một vấn đề nóng bỏng trong bối cảnh bất ổn hiện tại, thậm chí được nhấn mạnh trong quảng cáo “An toàn đường cao tốc” của công ty sản xuất vũ khí Colt. Tờ áp-phích vẽ một người phụ nữ ngồi trên ghế lái của chiếc ô tô đang đậu sát lề, bên cạnh là một sĩ quan cảnh sát cưỡi mô tô tay rút súng ra như đang kiểm tra tình trạng của cô. Đằng sau là hai kẻ trộm cướp đang bỏ chạy. Dòng đầu tiên của quảng cáo ghi to hàng chữ “Giả sử anh ta không đến mà xem”, ngầm ý rằng, nếu mà cô gái không có súng để bảo vệ mình thì làm sao mà đối phó được với đám trộm cướp kia?  Đặc biệt, súng và hình tượng cao bồi ở biên giới phía Tây Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX được khai thác triệt để như một hình ảnh tiếp thị lý tưởng của các doanh nghiệp sản xuất, buôn bán súng. Các bức tranh người anh hùng miền Tây cưỡi ngựa dã chiến, đơn độc cầm súng đối đầu với gấu dữ hoặc trâu rừng, hay thậm chí là kẻ thù trong quảng cáo súng trường trứ danh Winchester được xem là biểu tượng bình định các hiểm nguy tiềm tàng tại vùng đất này. Bên cạnh đó, súng cũng được xem là vật khẳng định nam tính, biến chúng trở thành một biểu tượng và mang đậm bản sắc cá nhân chứ không phải là một công cụ thuần túy. Áp phích của Winchester vào năm 1918 vẽ cảnh một người cha dạy con mình cầm súng trường đi săn, với chú thích: “Bất kỳ cậu bé nào cũng trở thành một người đàn ông trưởng thành”. Tuy nhiên, một số học giả cho rằng nhiều người đã lãng mạn hóa và phóng đại quá mức tầm quan trọng của súng qua hình tượng cao bồi trong những bộ phim điện ảnh nổi tiếng, trong khi thứ chủ yếu đóng góp cho sự bình ổn của khu vực này là phong trào nông nghiệp và thương mại, với các chủ trang trại và nông dân là lực lượng chính. Hầu hết các vụ giết người diễn ra ở biên giới chỉ liên quan đến các cuộc chiến giữa kỵ binh Hoa Kỳ và những người Mỹ bản địa đã nổi dậy chống lại sự đối xử khắc nghiệt dưới bàn tay của người da trắng.  Từ đó, có thể thấy dù có sự thay đổi về tư duy quyền tự do mang súng thông qua các hoạt động tư pháp và lập pháp theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn, những doanh nghiệp và nhà buôn vũ khí vẫn cố gắng để mặt hàng của họ được lưu thông bằng việc đánh vào tâm lý của người dân và xây dựng hình ảnh chính thống của việc sử dụng súng về mặt văn hóa. Sự kiện quan trọng nhất trong giai đoạn này là việc thành lập Hiệp hội Súng trường Quốc gia (National Riffle Association – NRA) vào năm 1871 bởi hai cựu binh, với mục tiêu “phát huy và khuyến khích việc sử dụng súng trường dựa trên cơ sở khoa học” và hành động như một tổ chức vận động cho quyền sử dụng súng. Ngày nay, tổ chức này được xem là một lực lượng chính trị mạnh mẽ và bảo vệ hàng đầu đối với các quyền của Tu chính án thứ hai, đặc biệt là quyền sử dụng súng.  Vào đầu những năm 1930, cuộc Đại Suy thoái bắt đầu với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đánh dấu một thập kỷ kéo dài với tỷ lệ thất nghiệp cao, kèm theo vấn đề đói nghèo, giảm phát, mất niềm tin vào tương lai kinh tế. Các bất ổn xã hội tiềm tàng khiến Quốc hội Hoa Kỳ nhanh chóng đẩy mạnh hệ thống đăng ký súng đầu tiên của quốc gia vào năm 1935 và cấm một số loại súng có tỷ lệ và phạm vi gây sát thương cao như súng máy, thông qua các quy định nghiêm ngặt hơn về cấp giấy phép sử dụng súng song song với việc ban hành các tiêu chuẩn tối thiểu bắt buộc để được sử dụng súng. Xu hướng ban hành những quy định chặt chẽ trong bối cảnh có nhiều bất ổn xã hội cũng một lần nữa lặp lại vào thập niên 60, khi những cuộc diễu hành phản đối chiến tranh với Việt Nam diễn ra cũng như phong trào yêu cầu quyền bình đẳng sắc tộc của người Mỹ gốc Phi. Các quy định pháp lý đặt ra các định nghĩa thuật ngữ về “súng cầm tay”, “vũ khí bị hạn chế” và “vũ khí bị cấm”, đi kèm với những thay đổi trong yêu cầu đăng ký sở hữu súng.    Câu chuyện mua bán và sở hữu súng tư nhân ở Mỹ là một hệ quả, chứ không phải là nguyên nhân, của hiện tượng xã hội.    Tính đến năm 1934 khi Đạo luật Toàn quốc về Súng cầm tay đầu tiên ra đời với mục tiêu kiểm soát hoạt động sản xuất, mua bán và vận chuyển súng cầm tay, khảo sát cho thấy có gần một nghìn quy định về súng ở Hoa Kỳ với nhiều nội dung khác nhau, chưa kể đến các quy định về tổ chức quân đội, săn bắn và lưu trữ thuốc súng. Có đến tám đạo luật liên bang quy định về súng cầm tay được thông qua từ năm 1934 đến năm 2005, đặc biệt là nhiều quy định được ban hành hơn từ những năm 1980 sau sự kiện thư ký của Tổng thống Ronald Reagan bị bắn vào đầu khi kẻ tội phạm đang cố gắng ám sát Tổng thống. Nhưng các quy định kiểm soát súng nghiêm ngặt cũng không ngăn được làn sóng đi mua súng mỗi khi người dân cảm thấy lo lắng, bất định về cuộc sống. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 kết hợp với các cuộc biểu tình và bạo loạn của George Floyd, cùng với các mối đe dọa xảy ra “nội chiến lần hai” sau cuộc bầu cử Tổng thống nhiều tranh cãi, một làn sóng mua súng chưa từng có diễn ra vào năm 2020. Thậm chí, tạp chí Forbes dẫn lời các chủ cửa hàng súng đạn tại Hoa Kỳ cho biết số lượng người gốc Á lần đầu tiên đi mua súng trong thời gian đại dịch Covid-19 đã tăng lên đến 20% so với năm 2019, do lo ngại các hành vi bạo lực do kỳ thị chủng tộc.  Tấm áp phích của Colt. Ảnh: gunculture.  ——-  Những dấu mốc lịch sử trên cho thấy các quan niệm và quy định pháp luật về súng cũng lâu đời như lịch sử lập quốc Hoa Kỳ. Điều này cũng chứng minh được rằng yếu tố văn hóa trong vấn đề sở hữu và sử dụng súng tại Hoa Kỳ gắn liền với những ý chí tự vệ, dù là cho bản thân hay thể chế, trước những mối đe dọa tiềm tàng. Yếu tố lịch sử – văn hóa khiến việc sở hữu súng trở thành một phản ứng hợp lý đối với bối cảnh bất ổn của xã hội theo từng thời kỳ. Các quy định siết chặt kiểm soát súng thường là những biện pháp tạm thời phản ứng với bối cảnh xã hội. Những doanh nghiệp buôn bán vũ khí đã tìm cách khơi dậy lại thị trường vũ khí sôi động trước đó thông qua các chính trị gia, thậm chí còn sử dụng chính hình ảnh cao bồi miễn viễn Tây được thi vị hóa để quảng bá việc sử dụng súng. Cụ thể, Wayne LaPierre, giám đốc điều hành của NRA, đã khai thác hình ảnh cao bồi và văn hóa súng của Mỹ sau vụ thảm sát Sandy Hook vào năm 2012 để lời kêu gọi trang bị vũ khí cho các nhân viên và giáo viên của nhà trường. LaPierre đã sử dụng hình ảnh từ một bộ phim cao bồi viễn Tây kinh điển bằng câu nói: “Điều duy nhất ngăn chặn được một kẻ xấu cầm súng là một người tốt cầm súng.” Ông cũng được nhìn thấy trò chuyện vui vẻ trong cuộc gặp với Rene Carlos Vos, một thương nhân buôn vũ khí và là người vận động chính sách cho NRA đang mang đôi giày cao bồi và áo khoác phong cách miền Tây. Ý niệm về một người hùng đơn độc cầm lấy vũ khí để đứng lên chiến đấu vì một ngày mai tươi sáng là thông điệp mà ông muốn truyền tải về vai trò của súng, ngay cả trong các vụ xả súng hàng loạt: Súng không phải là vấn đề – chúng là giải pháp.  Do đó, câu chuyện mua bán và sở hữu súng tư nhân ở Mỹ là một hệ quả, chứ không phải là nguyên nhân, của hiện tượng xã hội. Người dân sẵn sàng chấp nhận bạo lực bằng súng đạn như một tác dụng phụ không thể tránh khỏi của một xã hội tự do và có quyền vũ trang bạo lực. Sự phản đối của họ đối với các cải cách luật về kiểm soát súng mới chỉ là một biểu hiện của văn hóa súng đạn từ thời kỳ tự vệ lập quốc, và những ai làm trái với truyền thống này giống như bắn một viên đạn vào lịch sử lâu đời của thể chế tự do 300 năm. Tuy nhiên, các phân tích trên cho thấy quyền sở hữu súng và những quy định về kiểm soát, hạn chế súng luôn luôn song hành chứ không mang tính đối đầu, loại trừ lẫn nhau, như những gì mà một số cách hiểu hay phong trào phản đối gần đây khắc họa. Dù vậy, những sửa đổi thu hẹp hay mở rộng quyền sở hữu và các quy tắc kiểm soát súng đều phải đối mặt với những thách thức nan giải, đặc biệt là về khía cạnh luật pháp và chính trị. □  (còn tiếp)    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Quyền sở hữu súng tại Hoa Kỳ. Kỳ 2: Những nút thắt khó gỡ về chính trị      LTS: Kỳ trước đã bàn về khó khăn trong kiểm soát sở hữu súng dưới góc nhìn lịch sử – xã hội của Hoa Kỳ. Theo đó, sở hữu súng gắn liền với quyền tự do được Hiến định, cũng như giống như một “liều thuốc an thần” đối với người dân nước này trước các bất ổn xã hội trong từng thời kỳ. Bài viết kỳ này sẽ xoay quanh những quan điểm đối lập nhau trong chính trường và pháp luật Hoa Kỳ, giải thích lý do vì sao việc ban hành quy định kiểm soát súng gặp nhiều trở ngại.     Biểu tình đòi công lý cho cậu bé 17 tuổi Trayvon Martin, bị bắn khi trong tay không một tấc sắc. Người bắn cậu được tha bổng dựa trên quy định “không khoan nhượng”. Ảnh: AP  Tranh cãi giữa các học thuyết pháp lý – Từ giữ thành trì cho đến tử chiến  Các phong trào luật về súng ở Hoa Kỳ trong ba thập kỷ vừa qua thường xuyên tranh luận về việc liệu có nên tạo điều kiện cho việc mang vũ khí giấu kín hay công khai dễ dàng hơn, và các hệ quả của việc nới lỏng các hạn chế về sở hữu súng. Những chủ đề cụ thể được nêu như giảm bớt hay thắt chặt quy trình kiểm tra đối với hoạt động mua bán súng, bảo hộ các nhà sản xuất và đại lý khỏi trách nhiệm hình sự và dân sự, cũng như sự gia tăng của việc bán súng đạn trên internet không qua kiểm soát.  Từ năm 2000 đến 2010, hơn 20 tiểu bang đã thông qua luật mới hoặc sửa đổi luật dựa trên phán quyết trong vụ Heller v. District of Columbia năm 2008. Vụ kiện này khởi đầu từ việc quận Columbia, bang Washington D.C đã ra lệnh cấm toàn bộ việc sở hữu cũng như đăng ký mua súng cầm tay. Dựa trên Tu chính án thứ hai của Hiến pháp Hoa Kỳ, một cảnh sát đặc nhiệm có tên là Anthony Heller đã phản đối quy định của bang này, vì anh ta chỉ được giữ súng trong phạm vi văn phòng cảnh sát mà không được đem về nhà, dù khu dân cư nơi anh ta sống xảy ra tệ nạn ma túy và bạo lực. Tòa án liên bang cuối cùng đã đứng về phía Heller. Cụ thể, thẩm phán đã tuyên rằng: “Quyền tự vệ cố hữu là trọng tâm của Tu chính án thứ hai. Lệnh cấm sử dụng súng cầm tay tương đương với việc cấm toàn bộ một loại “vũ khí” được xã hội Mỹ phần lớn lựa chọn để thực hiện các mục tiêu hợp pháp. Hơn nữa, lệnh cấm còn mở rộng đến nhà ở, nơi mà nhu cầu bảo vệ bản thân, gia đình và tài sản là mạnh mẽ nhất. Theo bất kỳ tiêu chuẩn giám sát nào mà chúng tôi áp dụng để xem xét các quyền hiến pháp được liệt kê, việc cấm loại súng được người dân toàn quốc ưa thích lưu giữ và sử dụng nhất để bảo vệ gia cư và gia đình của họ là vi hiến”.  Phán quyết này của tòa án dựa trên nền tảng lâu đời trong thông luật được gọi là Học thuyết Lâu đài (Castle doctrine). Học thuyết này bảo vệ một người khỏi bị truy tố hình sự và trách nhiệm dân sự trong trường hợp họ có hành vi sử dụng vũ lực để bảo vệ bản thân hoặc nhà ở và các tài sản của mình khi bị xâm nhập, vì những nơi này được xem như chốn thành trì lâu đài của họ. Một trong số những phán quyết đầu tiên đề cập đến học thuyết lâu đài và quyền được sử dụng vũ lực gây chết người là State v. Castle vào năm 1903. Tòa án Bắc Carolina cho rằng một quản đốc đã bắn chết hai đồng nghiệp nhưng không có nghĩa vụ phải rút lui vì anh ta đang ở trong căn nhà nơi anh ta có quyền tự vệ. Tòa án cũng tuyên rằng khi một người phải đưa ra quyết định sử dụng bạo lực, bồi thẩm đoàn phải xác định được tính chất thực sự của xung đột, nhằm xem xét liệu có khả năng cuộc tấn công đã được lên kế hoạch nhằm tước đi tính mạng hoặc khiến người đó bị trọng thương hay không. Nếu câu trả lời là có, thì việc giết kẻ tấn công có thể không bị xem là phạm tội. Dù vậy, lưu ý rằng phạm vi được xem là “lâu đài” của một người theo học thuyết này có sự giới hạn về không gian là khu vực nhà ở hoặc nơi người này có tài sản, cũng như chỉ áp dụng khi có bằng chứng cho thấy có nguồn nguy hiểm cao độ.  Quang cảnh hỗn loạn ở trường tiểu học Sandy Hook vào năm 2012 sau một vụ xả súng làm tử vong 26 người.  Theo thời gian, học thuyết lâu đài được mở rộng với phiên bản mới là học thuyết không nhượng bộ (“Stand Your Ground”), cho phép mỗi người được quyền sử dụng vũ khí để tự vệ ở bất kỳ không gian công cộng hay riêng tư nào, mà không có trách nhiệm phải tìm cách rút lui trước khỏi nguồn đe dọa. Vào năm 2005, Florida đã thông qua một đạo luật dựa trên học thuyết không nhượng bộ khi ban hành quy định thành văn, theo đó một người “không có nghĩa vụ phải rút lui và có quyền tự vệ, có quyền sử dụng vũ lực để đối đầu bao gồm cả vũ khí gây chết người, nếu người đó tin tưởng dựa trên cơ sở hợp lý rằng cần phải làm như vậy để ngăn chặn cái chết hoặc tổn hại thể chất lớn cho chính mình hoặc người khác…”.  Ngoài những tranh cãi về mặt pháp lý đơn thuần, những bất ổn xã hội diễn ra sau đó làm dấy lên phong trào phản đối xu hướng tiếp nhận học thuyết không nhượng bộ vào trong pháp luật của bang, từ đó gây chia rẽ sâu sắc giữa những nhóm người không cùng quan điểm. Vào năm 2012, một người da trắng đang đi kiểm tra an ninh ở Florida đã bắn chết một thanh niên da màu 17 tuổi tên Trayvon Martin dù trong tay cậu bé không có một tấc sắc. Ngay sau khi thủ phạm được tha bổng do hiệu lực của điều khoản không nhượng bộ, Tổng thống Barack Obama lên tiếng rằng đã đến lúc các bang phải đánh giá lại hướng tiếp cận này: “Tôi chỉ yêu cầu mọi người suy nghĩ rằng: nếu Trayvon Martin  đủ 18 tuổi và có vũ trang, liệu anh ta có quyền không nhượng bộ khi đang đi trên vỉa hè đó không? Và chúng ta có thực sự nghĩ rằng anh ta sẽ được miễn trách nhiệm khi bắn ông Zimmerman, người đã theo dõi anh ta trong một chiếc xe hơi, bởi vì anh ta cảm thấy bị đe dọa? Và nếu câu trả lời vẫn còn mơ hồ, theo tôi, chúng ta nên cân nhắc đến việc xem xét lại các quy định này.” Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Eric Holder thậm chí còn chỉ trích mạnh mẽ hơn khi cho rằng: “Những điều luật này cố gắng sửa chữa một thứ chưa bao giờ là một vấn đề gây khúc mắc”, và “đã đến lúc đặt câu hỏi về các điều luật mở rộng một cách vô nghĩa khái niệm tự vệ và gieo rắc mầm mống xung đột nguy hiểm”, “các quy định như vậy làm tổn hại an ninh công cộng, góp phần gây ra nhiều vấn nạn bạo lực hơn là ngăn chặn chúng”.    Một trong những nguyên nhân khiến các đề xuất kiểm soát súng của đa số bị chặn lại là bởi một quy tắc của Thượng viện – filibuster.    Tuy nhiên, một số học giả ủng hộ thuyết không nhượng bộ cho rằng các điều khoản này có khả năng tự cân bằng. Các công tố viên không tự dưng đứng về phía người sử dụng vũ lực mà họ phải xem xét tính cần thiết và hợp lí trong hành vi của người đó và chứng minh sử dụng vũ khí là biện pháp cuối cùng để người đó tự vệ. Từ phân tích của công tố viên, các thẩm phán, bồi thẩm đoàn và luật sư sẽ tự xác định khi nào nên áp dụng điều khoản không nhượng bộ và áp dụng như thế nào là hợp lí. Các học giả này phê phán những cuộc thảo luận phản đối thuyết không nhượng bộ và cho rằng điều đó chỉ cố biến một vấn đề pháp lí đơn thuần trở thành chủ đề mang tính phe phái và chia rẽ.  Sức mạnh của nhóm lợi ích và những cuộc “thảo luận đến chết”  Xu hướng lưỡng đảng đối đầu ở Hoa Kỳ ngày càng gia tăng trong vài thập kỷ qua đã khiến các nhà lập pháp khó thỏa hiệp với nhau để ban hành các đạo luật quan trọng, trong đó có kiểm soát súng. Một trong những nguyên nhân khiến các đề xuất kiểm soát súng của đa số bị chặn lại là bởi một quy tắc của Thượng viện – filibuster.  Thông thường, một đạo luật sẽ được thông qua nếu có 51 phiếu/100 phiếu ủng hộ trong Thượng viện. Tuy nhiên, để đến được vòng bỏ phiếu này, các đạo luật sẽ trải qua một vòng thảo luận. Vòng thảo luận này sẽ kéo dài bất tận nếu như không có 60 phiếu/100 phiếu nhất trí kết thúc nó. Nói cách khác, nếu một ai đó muốn đạo luật không được thông qua, họ chỉ cần lôi kéo đủ 41 người trong Thượng viện quyết không đồng ý tiến đến vòng bỏ phiếu.  Nhà hoạt động Medea Benjamin biểu tình phản đối giữa bài phát biểu của phó chủ tịch NRA (National Rifle Association). Biểu ngữ của cô ghi là: NRA: Bàn tay các anh vấy máu!  Quy tắc này trao cơ hội phủ quyết đối với một chính sách quốc gia cho phe thiểu số, nhằm mục đích tạo vị thế cân bằng, kiểm soát quyền lực giữa đảng đang nắm quyền điều hành Thượng viện với đảng đối lập còn lại, phòng tránh các hành vi lũng đoạn đơn phương mà vẫn không ngăn chặn phe đa số điều hành Thượng viện. Tuy nhiên, nó cũng được xem là một quy tắc “câu giờ” hoặc cho phép “thảo luận đến chết” nhằm làm nản lòng đối thủ, tránh thông qua một vấn đề phức tạp.  Chẳng hạn như vào năm 2016, bang Missouri đưa ra dự luật dựa trên học thuyết không nhượng bộ, cho phép vũ khí gây chết người ở nơi công cộng dù không đang đối mặt với một mối đe dọa nguy hiểm tức thì. Thượng nghị sĩ Jason Holsman đã khởi xướng quá trình filibuster chống lại đề xuất thông qua dự luật này. Tuy nhiên, cuối cùng đã có 60 phiếu chấm dứt thảo luận và dự luật tiếp tục được đưa đến vòng bỏ phiếu. Sau đó, Nghị viện bang Missouri đã thông qua dự luật này với kết quả 114 phiếu thuận và 36 phiếu chống. Các nghiên cứu thực hiện sau này cho rằng, đạo luật không nhượng bộ này đã làm tăng 8% vụ giết người bằng súng so với trước đó ở bang Missouri.  Một ví dụ khác cho thấy người ta còn dùng filibuster để phủ quyết các đạo luật kiểm soát súng, kể cả khi các đạo luật đó được ủng hộ bởi đa số người dân. Cụ thể, pháp luật liên bang quy định cơ chế kiểm tra lý lịch tư pháp trong tất cả các giao dịch súng do người bán được cấp phép thực hiện. Tuy nhiên, cơ chế này lại không áp dụng đối với người bán súng cho tiêu thụ cá nhân, bán trực tuyến hay tại triển lãm súng và những giao dịch không được kiểm soát này sẽ dẫn đến nguy cơ bất ổn xã hội cao. Nhiều thượng nghị sĩ đã đề xuất mở rộng kiểm tra lý lịch tư pháp của đối tượng bán súng, bao gồm cả các đối tượng không dựa vào việc bán súng làm nguồn thu nhập chính.  Thượng nghị sĩ Chris Murphy đã nỗ lực vận động các quy định kiểm soát súng nhưng đều thất bại vì nguyên tắc filibuster trong Thượng viện.  Đại đa số người dân đều ủng hộ đề xuất này. Theo một cuộc khảo sát thăm dò chính sách vào năm 2012, 83% chủ sở hữu súng ủng hộ việc mở rộng kiểm tra lý lịch về doanh số bán tất cả các loại súng như một giải pháp để hạn chế bạo lực súng đạn ở Hoa Kỳ. 79% chủ sở hữu súng trên toàn quốc muốn các chính trị gia của họ hành động về vấn đề này và yêu cầu thêm nhiều người bán súng tiến hành kiểm tra lý lịch trước khi bán. Tuy nhiên, các đề xuất mở rộng kiểm tra lý lịch đều không đến được vòng bỏ phiếu vì nguyên tắc filibuster.  Sau vụ xả súng ở trường tiểu học Sandy Hook ở Connecticut, Thượng viện vào năm 2013 đã bỏ phiếu về một biện pháp được Tổng thống Barack Obama ủng hộ để áp đặt kiểm tra lý lịch đối với tất cả các giao dịch mua bán súng. Kết quả bỏ phiếu cho thấy có 54 thượng nghị sĩ ủng hộ dự luật, đại diện cho ý chí của 194 triệu người Mỹ. Nhưng vì quy tắc filibuster của Thượng viện yêu cầu sự ủng hộ của 60 thượng nghị sĩ để chuyển sang vòng bỏ phiếu, đề xuất này đã không thể thực hiện được.  Thậm chí, dù có đủ phiếu để kết thúc phiên thảo luận, việc có thành công trong vòng thông qua dự luật tiếp theo hay không lại là một vấn đề hóc búa khác. Vào ngày 15/6/2016, sau vụ xả súng hàng loạt ở Orlando, Florida, Thượng nghị sĩ Chris Murphy là đảng viên Đảng Dân chủ của bang Connecticut, đã phát động một vấn đề thảo luận tại Thượng viện Hoa Kỳ, hứa hẹn sẽ “giữ sàn” càng lâu càng tốt cho đến khi Quốc hội hành động theo hướng ủng hộ luật kiểm soát súng. Phần thảo luận của ông kéo dài đến 14 tiếng và 50 phút, sau khi nhận được cam kết từ lãnh đạo Thượng viện về việc tổ chức bỏ phiếu cho hai đề xuất của Đảng Dân chủ. Hai đề xuất này gồm đề xuất Feinstein cấm những người trong danh sách theo dõi khủng bố sở hữu súng, và đề xuất Murphy-Booker-Schumer về việc mở rộng kiểm tra lý lịch tư pháp cho các buổi triển lãm súng và bán hàng trên Internet. Dù là phiên filibuster dài thứ 10 trong lịch sử Hoa Kỳ kể từ năm 1900, nhưng vẫn không mang đến kết quả khả quan khi cả hai đề xuất đều không được thông qua trong vòng sau vì chỉ nhận được lần lượt 47 và 44 phiếu thuận.  Ngoài nguyên nhân là các quy định và nguyên tắc trong bầu cử hay bỏ phiếu chính trị, không thể không nhắc tới Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA) là một trong những nhóm lợi ích mạnh mẽ nhất trong nền chính trị Hoa Kỳ. Dù số lượng thành viên của hiệp hội này chỉ bao gồm 5 triệu người trong tổng số 105 triệu người sở hữu súng ở nước này nhưng vẫn vượt trội nếu so với số lượng thành viên của các tổ chức ủng hộ kiểm soát súng. Bên cạnh đó, NRA sẵn sàng chi hàng triệu USD cho các khoản đóng góp trong chiến dịch tranh cử, vì vậy có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đối các chính trị gia. NRA thậm chí chi nhiều tiền hơn để vận động hành lang so với các đối thủ của mình theo quan điểm trái chiều về kiểm soát súng, tiêu biểu như như Trung tâm Brady về Ngăn chặn Bạo lực Súng đạn. Liên quan đến vấn đề kiểm tra lý lịch, trong suốt những thập niên 90, NRA liên tục có động thái ngăn chặn và sửa đổi dự luật theo ý muốn của mình.  Năm 1991, NRA đã có một động thái “tưởng chừng” như thỏa hiệp. Tổ chức này đồng ý kiểm tra lí lịch của tất cả những người muốn sở hữu súng. Vấn đề là, họ đòi hỏi quy trình này phải được thực thi thông qua một hệ thống quốc gia có thể kiểm tra lý lịch tức thì chứ không phải là một quy trình kéo dài bảy ngày theo dự luật Phòng chống Bạo lực Súng ngắn Brandy (dự luật Brandy). Tuy nhiên, lúc bấy giờ chưa có công nghệ nào có thể đáp ứng cho yêu cầu kiểm tra lý lịch tức thì như NRA muốn.  Cuối cùng, để “dung hòa” quan điểm giữa NRA và dự luật Brandy, luật mới Brandy được hình thành, tuyên bố rằng, cho đến một ngày hệ thống kiểm tra lý lịch tức thì ra đời, thì việc kiểm tra lý lịch sẽ là năm ngày thay vì bảy ngày, đồng thời không áp dụng kiểm tra lý lịch với mọi người bán súng mà chỉ giới hạn cho các đại lý súng được cấp phép liên bang mà thôi – đúng như ý mà NRA mong muốn.  Vào năm 1998, khi FBI vừa ra mắt hệ thống kiểm tra lý lịch tức thì, NRA dĩ nhiên khó chấp nhận thực tế. Tổ chức này đã gây khó dễ cho FBI bằng việc khởi kiện cơ quan này do lưu trữ thông tin nhận dạng người mua súng trong tận 90 ngày. NRA cho rằng các thông tin về giao dịch thực tế với thời gian lưu trữ ngắn hơn là đã đủ để cấp phép mua súng. Mặc dù NRA thua kiện, Quốc hội Hoa Kỳ sau đó yêu cầu FBI xóa hồ sơ về thông tin nhận dạng người mua súng trong vòng 24 giờ kể từ khi giao dịch bán súng được phê duyệt.  Năm 1999, sau vụ thảm sát tại trường trung học Columbine, Quốc hội xem xét mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục kiểm tra lý lịch. NRA ủng hộ vấn đề này nhưng cố tình đưa ra những quy định pháp luật để thủ tục được thực hiện trong một phạm vi hẹp hơn, đến mức bản dự luật sau đó do Hạ viện trình ra đã bị Tổng thống Clinton chỉ trích là “như được NRA soạn thảo ẩn danh”. Vào năm 2015, trong một cuộc khảo sát chính sách công cho thấy có tới 72% thành viên NRA thể hiện quan điểm ủng hộ quy định về kiểm tra lý lịch tư pháp đối với tất cả giao dịch về súng. Tuy nhiên, đó chỉ là “bề ngoài”, ở “bên trong”,  họ vẫn tác động để các quy định trở nên mang tính thỏa hiệp, thậm chí đảm bảo hiệu quả lợi ích của họ hơn.  Từ đó, các học giả đã lên tiếng rằng những cuộc đối đầu mang nặng màu sắc chính trị khiến công chúng Mỹ không chỉ quên đi thực tế rằng mình đang cần một tiêu chuẩn pháp lí tốt hơn, mà còn hạ thấp giá trị của pháp luật, cho rằng pháp luật chỉ là công cụ của tầng lớp xã hội hay đảng phái chiếm ưu thế. Các thực tiễn nêu trên cũng giải thích được lý do vì sao những quy định về kiểm soát súng của Hoa Kỳ tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại có rất nhiều thử thách trong quá trình vận động chính sách và lập pháp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là pháp luật hoàn toàn có thể bị thao túng vì các lợi ích và mối quan tâm chính trị, mà vẫn luôn có sức sống để tiến hóa phù hợp hơn với bối cảnh xã hội từng thời kỳ, tiêu biểu là sự ra đời của đạo luật kiểm soát súng đạn và hỗ trợ sức khỏe tinh thần đầu tiên của liên bang vào ngày 25/6 vừa qua (Bipartisan Safer Communities Act of 2022). □ (Còn tiếp)    Author                Ngô Nguyễn Thảo Vy        
__label__tiasang Quyền sống: những vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ      Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên đề cập đến quyền sống (right to life) với tính chất là một quyền riêng biệt tại Điều 19: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Nhưng nội dung, phạm vi của quyền sống và trách nhiệm của nhà nước đến đâu trong việc bảo vệ quyền sống của con người đến nay vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận.       Bảo vệ quyền sống  từ thời điểm nào?  Quyền sống qui định trong Hiến pháp đặt ra nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ sự sống của con người trong mọi trường hợp. Lời nói đầu của Công ước về quyền trẻ em năm 1989 nêu rõ “Trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.” Vậy “trước khi ra đời” tính từ khi nào? Hiện nay có ba luồng quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền sống bắt đầu từ thời điểm quá trình thụ tinh thành công (không phân biệt tự nhiên hay nhân tạo). Quan điểm thứ hai cho rằng quyền sống bắt đầu khi đã hình thành phôi thai (embryo). Quan điểm thứ ba cho rằng quyền sống bắt đầu từ khi đứa trẻ sinh ra và còn sống. Sở dĩ có nhiều quan điểm như vậy vì vấn đề này liên quan đến bài toán pháp lý: có cho phép hay không việc nạo phá thai (abortion). Pháp luật nhiều nước qui định người mẹ không có quyền loại bỏ quyền sống của thai nhi, việc nạo phá thai là bất hợp pháp, trừ một số trường hợp đặc biệt liên quan đến việc bảo vệ tính mạng người mẹ. Ở Việt Nam, vấn đề này hiện đang có rất nhiều ý kiến tranh luận. Chúng tôi cho rằng nếu ủng hộ quyền sống, ủng hộ quan điểm cho rằng phôi thai cũng có quyền được sống, thì chắc chắn cần phải có những ràng buộc pháp lý chặt chẽ hơn để hạn chế việc nạo phá thai một cách tùy tiện như hiện nay ở Việt Nam.   Quyền được chết?  Có quan điểm cho rằng quyền sống không bao gồm quyền được chết. Nếu một cá nhân tự nguyện tước bỏ mạng sống của mình, nhà nước sẽ không can thiệp. Nghĩa vụ của nhà nước là bảo vệ quyền sống chứ không bảo vệ việc tự tước bỏ quyền sống. Nhưng vấn đề đặt ra là tự sát có nhiều loại. Trách nhiệm của nhà nước đến đâu trong trường hợp như: (1) cá nhân tự sát trước hoặc cùng thời điểm giết chết một hoặc nhiều người khác (tự sát giết người) hoặc tự sát nhằm tấn công các mục tiêu quân sự, chính trị (tự sát khủng bố); (2) khi thanh thiếu niên tự tử hàng loạt (tự sát tập thể); (3) tự sát để phản đối (tự thiêu, tuyệt thực); (4) tự sát để thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật; (5) tự sát để thoát khỏi bệnh hiểm nghèo…? Ở Việt Nam, những vấn đề pháp lý như thế cũng chưa được qui định thực sự rõ ràng trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật.  Về quyền được chết một cách nhẹ nhàng (hay còn gọi là quyền an tử – euthanasia), trên thế giới có nhiều nước đã hợp pháp hóa quyền này như Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Thụy Sĩ và cũng nhiều nước hợp pháp hóa hành vi hỗ trợ an tử với những bệnh nan y như Đức, Albania, Colombia, Nhật bản, Đan Mạch, Thụy Điển, Vương quốc Anh, và một số bang của Mỹ. Ở Việt Nam, đây vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi và chưa được qui định trong bất kỳ văn bản pháp lý quan trọng nào. Thiết nghĩ, trong dịp sửa đổi Bộ luật dân sự sắp tới vấn đề này cần được nghiên cứu, trao đổi kĩ lưỡng để tạo cơ hội cho nhiều người đang chịu sự đau đớn kéo dài do bệnh tật hoặc tai nạn có thêm sự lựa chọn.   Duy trì hay bỏ hình phạt tử hình?  Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị nêu rõ chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện. Như vậy luật pháp quốc tế không cấm các quốc gia sử dụng hình phạt tử hình (death penalty), nhưng khuyến khích hạn chế và hướng tới bãi bỏ hình phạt này.   Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành qui định hình phạt tử hình với 22/272 tội danh. Phạm vi áp dụng hình phạt này theo luật Việt Nam còn khá rộng so với các qui định của pháp luật quốc tế. Chúng tôi cho rằng không nên duy trì hình phạt tử hình vì những lý do sau: (1) Các cơ quan tư pháp sẽ không có khả năng khắc phục sai lầm, nếu người bị tử hình bị kết án oan; (2) Duy trì hình phạt tử hình sẽ không tạo ra điều kiện để giáo dục hay cải tạo người phạm tội. Hình phạt tử hình hướng tới ý nghĩa “trả thù” hơn là mong muốn thực thi công lý và bảo vệ con người thực sự; (3) Áp dụng hình phạt tử hình sẽ hạn chế việc mở rộng tìm kiếm chứng cứ xác định sự thật đích thực của vụ việc; (4) Tử hình không chỉ là việc tước đoạt mạng sống của người phạm tội, mà còn gây tổn thương cho người thân của họ; (5) Những người trực tiếp thực hiện lệnh thi hành án tử hình bị stress và ám ảnh trong thời gian dài; (6) Tử hình cũng không làm giảm những bất ổn trong xã hội mà có thể còn là mầm mống tạo ra sự chống đối và bất ổn xã hội; (7) Bỏ tử hình là một xu hướng chung. Trên thế giới hiện nay đã có 99 nước bãi bỏ hình phạt tử hình.  Có thể “nhân danh” lợi ích công cộng để tước đoạt quyền sống của người vô tội?   Giả sử máy bay dân sự đang có nhiều hành khách lại được kẻ khủng bố sử dụng là công cụ tấn công vào các mục tiêu quân sự, chính trị hay kinh tế. Liệu chính quyền có thể bắn thẳng vào máy bay đó để tự vệ không?   Ở CHLB Đức, cũng đã từng có những ý kiến khác nhau về vấn đề này. Điều 14 Khoản 3 Luật an toàn hàng không CHLB Đức năm 2005 cho phép công quyền được tấn công vào máy bay được sử dụng làm công cụ khủng bố. Qui định này đã gây ra sự phản đối mạnh mẽ từ công chúng. Vào ngày 15/2/2006, Tòa án Hiến pháp liên bang đã tuyên bố rằng điều khoản này trong Luật an toàn hàng không là vi hiến, vì vi phạm Câu 1 Khoản 2 Điều 2 về quyền sống và Điều 1 Khoản 1 Luật cơ bản Đức về bảo vệ phẩm giá con người (BverfG, NJW 2006, 751 ff.). Phán quyết của Tòa án hiến pháp liên bang Đức được sự ủng hộ của nhân dân Đức và cộng đồng quốc tế vì đã vượt ra khỏi cách quan niệm thông thường công quyền có thể nhân danh “lợi ích công cộng” để tước đoạt mạng sống của những con người vô tội, và phán quyết này cũng chứng tỏ vấn đề quyền con người đã thực sự được tôn trọng. Ở Việt Nam, vấn đề này cũng nên được thảo luận, trao đổi kĩ trong các văn bản pháp luật cụ thể hóa quyền sống trong Hiến pháp.   ***        Trong thời gian tới, ở Việt Nam cần tiếp tục cụ thể hóa vấn đề quyền  sống trong các văn bản pháp luật cụ thể, sao cho những qui định đó tương  thích hơn với các chuẩn mực quốc tế, thể hiện xu thế bảo vệ con người  và những giá trị cao nhất của con người.        Quyền sống là quyền thiêng liêng, là đòi hỏi chính đáng của con người mà nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ. Quyền sống không giản đơn là bảo đảm sự tồn tại của con người, mà còn là đòi hỏi nhà nước phải chủ động bảo đảm cuộc sống an toàn và chất lượng cho con người. Tuy vậy, quyền sống không phải là quyền tuyệt đối (absolute right), một số trường hợp quyền này cũng có thể bị giới hạn, nhưng giới hạn nào cũng có những nguyên tắc, ràng buộc để không làm mất đi bản chất của quyền này. Trong thời gian tới, ở Việt Nam cần tiếp tục cụ thể hóa vấn đề quyền sống trong các văn bản pháp luật cụ thể, sao cho những qui định đó tương thích hơn với các chuẩn mực quốc tế, thể hiện xu thế bảo vệ con người và những giá trị cao nhất của con người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền thiểu số và đa số trong trưng cầu dân ý      Trưng cầu dân ý thuộc phạm trù Dân chủ Trực  tiếp. Các nước được xếp thứ hạng chỉ số dân chủ mức trung bình trở lên  trên thế giới đều hiến định hoặc mặc định Trưng cầu dân ý và luật hóa nó.       Theo Điều 70, Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Quốc hội của ta có nhiệm vụ và quyền hạn, “Quyết định Trưng cầu ý dân“. Và một khi đã được hiến định, thì Nhà nước bị chế tài thực hiện, chứ không phải muốn hay không, mà chỉ còn nằm ở chỗ luật hóa nó như thế nào để thể hiện đúng chuẩn mực đã hiến định. Các Đại biểu Quốc hội thảo luận bàn cãi Dự thảo Luật Trưng cầu dân ý chính nhằm mục đích đó.   Luật hóa điều khoản hiến định Trưng cầu dân ý, thực chất là nhằm bảo đảm bốn dấu hiệu nội hàm của nó. Đó là: (1) người dân có quyền, (2) tự do bỏ phiếu đối với những quyết định chính sách, (3) do chính quyền dự thảo,  hoặc (4) người dân tự đề xuất. Vì vậy, ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm, và  Đỗ Ngọc Niễn hoàn toàn đúng khi đề nghị “Quốc hội cần biết người dân muốn tham gia và quyết định những vấn đề gì (dấu hiệu (3) và (4))”. “Dự thảo cần làm rõ người dân có những quyền cơ bản khi thực hiện trưng cầu ý dân, (dấu hiệu (1) và (2)), đưa ra sáng kiến về nội dung và phạm vi trưng cầu ý dân (dấu hiệu 4); có quyền nhận được đầy đủ thông tin về việc sáng kiến của mình có được đưa ra trưng cầu ý dân hay không (dấu hiệu (2))“.  Đối với Điều 12 quy định bốn nhóm hành vi bị nghiêm cấm: Tuyên truyền xuyên tạc làm sai lệch nội dung, ý nghĩa của vấn đề trưng cầu ý dân, được Đại biểu Đồng Hữu Mạo phản biện: “Chúng ta có cho phép báo chí, các học giả và nhân dân phân tích về nội dung lấy ý kiến dân không? Bên cạnh những ý kiến đồng tình thì có ý kiến không đồng tình. Và nếu không đồng tình thì có bị coi là tuyên truyền xuyên tạc không (Điều 12)?“. Phản biện này hoàn toàn đúng với dấu hiệu (1) và (2). Và đã được lịch sử thế giới chứng minh, khi năm 1933, Luật Trưng cầu Dân ý Đức được ban hành. Nhưng luật này nội dung chỉ gói gọn trong 1/ 4 tờ giấy A4, do không có dấu hiệu (2), nên bằng cách áp dụng luật này, ngày 24.3.1933 Hitler ban hành “Luật áp dụng tình huống khẩn cấp bảo vệ nhân dân và nhà nước“, hoàn toàn vi phạm Hiến pháp lúc đó, để biến Đức thành thể chế độc tài.   Quyền thiểu số  Tương tự như bầu cử qua hai giai đoạn gồm chọn ứng viên (đề cử, tự ứng cử) và cử tri bỏ phiếu, công nghệ trưng cầu dân ý cũng vậy qua 2 công đoạn, (a) đề xuất nội dung cần trưng cầu dân ý, (b) cử tri bỏ phiếu. Công đoạn đề cử ứng cử,  hay đề xuất (a), tự nó đã hàm nghĩa quyền cá nhân và quyền thiểu số. Không bao giờ đa số cả. Có thể tham khảo án lệ Đức, chỉ cần 10% hội viên gửi bản kiến nghị thì bất kỳ hội đoàn nào cũng phải tổ chức Đại hội, nếu điều lệ không đưa ra quy định ngưỡng thiểu số. Nghĩa là quyền thiểu số về mặt pháp lý được thừa nhận. Ngay nghị quyết hay dự thảo luật cũng phải bắt đầu từ người chấp bút. Chính vì vậy, ở Đức các chính sách lớn được ban hành thường mang tên người đề xuất. Như chính sách an sinh xã hội hiện nay mang tên Hartz IV ra đời từ thời đảng SPD cầm quyền, quy định nhà nước phải trợ cấp đủ mức sống bình thường cho bất cứ ai không hoặc thiếu thu nhập, do chính ông Hartz, Bộ trưởng Lao động đệ trình. Trong khi đó Schröder là Chủ tịch Đảng, Thủ tướng, thì không được mang tên, mặc dù đảng ông, chính phủ ông do ông đại diện, thông qua.              Trong phạm vi một tổ chức, đề xuất là quyền  thiểu số, còn thông qua là quyền đa số. Bỏ phiếu trong bầu cử hay trưng  cầu dân ý chính là quyền đa số, bao giờ ít nhất cũng phải quá bán trên  tổng số người tham gia. Vì vậy Dự thảo quy định trưng cầu dân ý cần số  phiếu thuận quá 50%, là hoàn toàn đúng với quyền đa số.            Nếu lấy quyền cá nhân, thiểu số làm thước đo, thì ý kiến các Đại biểu đề xuất cá nhân đại biểu Quốc hội hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị trưng cầu ý dân là đúng; chưa nói, mỗi đại biểu quốc hội đều đại biểu cho toàn dân, có quyền đề xuất dự luật thì lẽ dĩ nhiên có quyền đề xuất trưng cầu dân ý.   Quyền đa số  Và như vậy, dự thảo dự định cần 1/3 tổng số đại biểu quốc hội đệ trình là hoàn toàn không đúng với quyền cá nhân, quyền thiểu số khi đề xuất. Nó chỉ đúng với quyền đa số vốn có chức năng thông qua đề xuất. Nói cách khác trong phạm vi một tổ chức, đề xuất là quyền thiểu số, còn thông qua là quyền đa số. Bỏ phiếu trong bầu cử hay trưng cầu dân ý chính là quyền đa số, bao giờ ít nhất cũng phải quá bán trên tổng số người tham gia. Vì vậy Dự thảo quy định trưng cầu dân ý cần số phiếu thuận quá 50%, là hoàn toàn đúng với quyền đa số. Tuy nhiên như Đại biểu Nguyễn Anh Sơn lập luận, với hơn 50% người đi bầu, và hơn 50% người tán thành thì cũng chỉ được 1/4 dân số quyết định vận mệnh của dân tộc, là không đúng với nội hàm quyền đa số. Bởi đa số ở đây tính trên tổng số người tham gia bỏ phiếu, chứ không phải trong tổng số người có quyền đó. Một khi họ không tham gia đã được coi là bỏ phiếu trắng. Chưa nói bầu cử là quyền chứ không phải trách nhiệm dân sự hay hình sự vi phạm sẽ bị xử lý. Không thiếu gì nước bầu Quốc hội chỉ dưới 50% cử tri đi bầu, nhỉnh quá bán là may, tới 2/3 là “có vấn đề“ do người dân bức xúc gì đó!  Qua công nghệ trưng cầu dân ý ở Đức có thể giúp ta hiểu vấn đề quyền thiểu số và đa số như thế nào. Công đoạn đề xuất, có thể do (a) các cấp chính quyền đề xuất, thường xảy ra khi dự thảo có nhiều ý kiến tranh cãi nội bộ, buộc phải lấy dân làm thước đo, hoặc (b) người dân hay tổ chức hội đoàn có sáng kiến (sáng kiến viên) đưa ra đề xuất chính sách gửi cho chính quyền, cơ quan dân cử hoặc cơ quan hành pháp, hành chính các cấp, nếu không được thì đòi trưng cầu dân ý.   Đối với trường hợp (b) phải qua hai bước, bước một tập hợp chữ ký ủng hộ một đề xuất nào đó được gọi là thỉnh nguyện thư, tính chất như khiếu nại, kiến nghị nhà nước. Phải đạt được ngưỡng tối thiểu số chữ ký theo luật định, tùy từng tiểu bang, trong thời hạn ba tháng phải đạt được thường từ 2,5 % tới 33 % mới có giá trị pháp lý. Bước hai, nếu không được chính quyền chấp thuận, thì thỉnh nguyện thư được đưa trưng cầu dân ý.   Công đoạn cử tri bỏ phiếu, chỉ cần số phiếu thuận quá bán. Đối với thay đổi điều khoản hiến pháp, ngưỡng đó phải đạt 2/3.          Năm 2014, nước Đức có 300 lần đề xuất sáng  kiến đưa ra trưng cầu dân ý, bình quân mỗi ngày làm việc nước Đức có 1  sáng kiến – thể hiện  người dân họ rất có ý thức trách nhiệm thường nhật  tham gia vào công việc nhà nước. Kết qủa có 85 lần thỉnh nguyện thư  được pháp luật thừa nhận (gần 1/3), trong đó có 22 lần được đưa trưng  cầu dân ý (bình quân 1 tháng 2 lần).           * TS,CHLB Đức              Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyết sách nhìn xa và những bước đi gần      Cần ph&#225; thế bị động trong quản trị văn h&#243;a nghệ thuật  Sau giai đoạn chủ động đưa ra đường lối, quan điểm v&#224; những việc l&#224;m cụ thể trong cao tr&#224;o đổi mới giai đoạn 1984 – 1994 với những th&#224;nh tựu kh&#244;ng thể phủ nhận trong mỹ thuật, s&#226;n khấu, văn học, điện ảnh&#8230; đ&#227; tạo th&#224;nh cơ sở tốt cho giai đoạn hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dần h&#236;nh th&#224;nh đầy đủ, th&#236; giới quản trị Văn h&#243;a nghệ thuật (VHNT) Việt Nam c&#243; vẻ như trở n&#234;n bảo thủ, d&#232; dặt hơn. Hệ quả tất yếu l&#224; ch&#250;ng ta đang rơi v&#224;o thế bị động trong quản trị văn h&#243;a nghệ thuật. Hiện nay, quản trị VHNT gần như đồng nghĩa với việc chữa ch&#225;y c&#225;c vụ việc đ&#227; xảy ra, xử l&#253; c&#225;c hiện tượng mới nảy sinh, giải quyết c&#243; t&#237;nh t&#225;c nghiệp c&#225;c c&#226;u hỏi do thực tế thị trường h&#243;a, hội nhập, quốc tế h&#243;a v&#224; đương đại h&#243;a chứ kh&#244;ng hề c&#243; những quyết s&#225;ch chiến lược (như thời chiến tranh hay thời đổi mới).     Không thể thanh minh cho sự lúng túng của các cấp từ Trung ương, Bộ, hội, địa phương… trong xử lý và điều hành từng việc từ báo chí, xuất bản tới nhạc trẻ, các nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, truyền hình, internet cho đến các lĩnh vực giải trí khác… Ngoài khẩu hiệu “dân tộc hiện đại” mà ai cũng tán thành, dân tộc, quốc gia nào cũng nhất trí thì cho đến nay, như bản thân tôi, một người nghiên cứu, giảng dạy và sáng tác vẫn không thấy một văn bản nào của các nhà quản lý đưa ra được hình ảnh nền văn hóa, nghệ thuật mà chúng ta muốn có, muốn xây dựng đại lược như thế nào, đi về đâu, có vị thế nào trong xã hội Việt Nam, ở ASEAN hay châu Á… và quan trọng hơn nó sẽ mang lại cái gì cho người tiêu dùng VHNT là mỗi công dân Việt Nam? Đó là một nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta hoàn toàn không dự đoán được sự phát triển của văn học mạng, văn học nữ quyền, giới tính,… không tiên liệu được sự bùng nổ của sách dịch hay sân khấu xã hội hóa. Mỹ thuật đương đại với những hướng đi mới như Installation, Performace, Video art… lẽ ra có thể là một thế mạnh, một mũi nhọn hội nhập sau hội họa đổi mới thì sau 15 năm tràn ngập, chúng mới được giới quản lý “công nhận” một cách bán công khai qua một festival trẻ!  Có thể nói rằng lãnh đạo, quản lý (ở đây có lẽ nên dùng từ quản trị) VHNT ở Việt Nam đang đi sau những đổi mới về lãnh đạo quản trị điều hành kinh tế, xã hội. Ta chưa tìm được mô hình mới nên vẫn dùng mô hình quản lý và lãnh đạo cũ từ thời trước đổi mới: Ban-bộ-hội-sở và an ninh văn hóa. Và khi những vấn đề thực tế nảy sinh thì cán bộ quản lý chỉ chạy theo xử lý chứ không thể lãnh đạo hay điều hành theo đúng nghĩa.  Thực thể VHNT Việt Nam hiện đang tồn tại 3 thành phần VHNT tồn tại song song và tách rời nhau: (1) bao cấp, dùng kinh phí công; (2) thị trường hoạt động theo luật buôn bán và (3) liên doanh có yếu tố ngoại cả về tài chính, nghệ thuật lẫn nhân sự nghệ sĩ. Mô hình quản lý lãnh đạo của ta thực chất chỉ quản lý được thành phần (1). Đây cũng là phần bảo thủ, ít sáng tạo, an toàn nhưng lạc hậu nhất. Nó tiêu tốn quá nhiều tiền thuế mà hiệu quả chính trị lại không cao. Với hai phần còn lại tác động của hệ thống quản trị chỉ dừng lại ở mức độ ứng phó, ngăn chặn hay phòng ngừa chứ không phải là vạch chiến lược, can thiệp và hợp tác trên thế chủ động.          Về kinh phí nên hướng tới mô hình cấp kinh phí qua các quỹ theo dự án với các hội đồng độc lập xét và cấp kinh phí (của Nhà nước) cho các dự án.           Để khắc phục tình trạng trên, thiển nghĩ: Về trung hạn nên xây dựng mô hình quản trị VHNT mới theo hướng luật hóa trên diện rộng. Ai cũng được sống và làm việc theo pháp luật thì văn nghệ sĩ cũng cần được như vậy. Chỉ có quản trị theo luật thì mới đảm bảo tự do sáng tạo của văn nghệ sỹ (như đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu tại một hội nghị về VHNT mới đây). Luật hóa cũng sẽ tạo thế chủ động cho hai thành phần Việt Nam thị trường và Việt Nam liên doanh phát triển lành mạnh, thúc đẩy hội nhập và nâng cao vị thế của Việt Nam. Về công tác tư tưởng cho văn nghệ sĩ nên tập trung vào các cơ sở Đảng, các chi bộ và đoàn thể quần chúng. Về kinh phí nên hướng tới mô hình cấp kinh phí qua các quỹ theo dự án với các hội đồng độc lập xét và cấp kinh phí (của Nhà nước) cho các dự án. Đồng thời khuyến khích khối doanh nghiệp hình thành các quỹ văn hóa để tài trợ cho VHNT. Ở đây, doanh nghiệp phải trở thành trụ cột hỗ trợ VHNT chứ không chỉ là từ thiện và khuyến mại. Song song với hình thành các quỹ cũng cần hạn chế chi và duyệt các dự án qua đường bao cấp hành chính như hiện nay thì sẽ tránh được các hiện tượng quan liêu, tham nhũng. Bên cạnh đó cần tăng cường sự sâu sát chuyên môn của an ninh văn hóa để có thể hợp tác tốt với văn nghệ sĩ, đảm bảo an toàn tự do sáng tác cho họ đồng thời không gây ngộ nhận về mất tự do hay nhân quyền. Cải cách mô hình quản trị của VHNT sẽ giúp chúng ta dần thống nhất ba thành phần rời rạc hiện nay thành một chỉnh thể thống nhất vững, lành và mạnh.  Một vấn đề nữa là cần đưa mức sống văn hóa của người dân trở thành tiêu chí cho chiến lược phát triển VHNT.   Câu hỏi tại sao chúng ta không có tác phẩm hiện đại-dân tộc và khi nào sẽ có các tác phẩm “ngang tầm thời đại” lâu nay sẽ không có kế hoạch hay quyết tâm nào có thể trả lời được (giống như câu hỏi bao giờ sẽ lại xuất hiện một Nguyễn Du hay bao giờ hội họa lại có một Nguyễn Phan Chánh, một Nguyễn Sáng mới). Điều chúng ta cần là các quyết sách và chính sách với nội dung, nhân sự và kinh phí (mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được) về mức sống VHNT của người Việt sẽ tăng như thế nào. Có thể định lượng được sự gia tăng đó theo tỷ lệ trong GDP, tỷ lệ chi tiêu trong ngân sách doanh nghiệp, cá nhân và gia đình. Chương trình này hoàn toàn có thể chủ động đưa ra tiêu chí hưởng thụ VHNT dân tộc và quốc tế cho người dân, thí dụ những thành tựu di sản VHNT mà người dân có văn hóa phải biến thành của mình hay quyền được tiếp cận với các thành tựu mới nhất của VHNT thế giới của họ qua mọi hình thức tài trợ và khuyến khích của Nhà nước. Trình độ văn hóa của một dân tộc không chỉ đo bằng mật độ xuất hiện của các vĩ nhân mà trước hết ở mức hưởng thụ VHNT của người dân. Và khi mức độ hưởng thụ VHNT cao thì đó sẽ là mảnh đất tốt, nơi các thiên tài ưa xuất hiện. Từ chiến lược về mức sống VHNT chúng ta mới có thể đi tới quy hoạch cụ thể các thiết chế VHNT. Các thiết chế VHNT nhẽ ra là nơi sáng tạo và hưởng thụ VHNT thì ở ta lại đang chủ yếu là các cơ quan quản lý hành chính.  Về tính dân tộc và hiện đại  Với cả người sáng tạo và người tiêu dùng VHNT công thức tính: Gạn lọc, kiểm duyệt những “món ăn tinh thần ngoại nhập” khó có thể thực hiện trong bối cảnh Việt Nam và thế giới ngày nay.  Về vế “hiện đại”, trong tôn chỉ của chúng ta tôi nghĩ, cách hiệu quả nhất là chủ động quảng bá VHNT Việt Nam trong và nhất là ra ngoài nước. Chúng ta cần có những quyết sách chiến lược về nội dung, kinh phí, nhân sự trong việc làm cho thế giới biết đến VHNT Việt Nam. Một hệ thống nhà văn hóa Việt Nam ở nước ngoài cũng là một quyết sách cần làm sớm. Hiện nay việc này gần như bỏ trống, có chăng cũng chủ yếu là do hai bộ phận Việt Nam thị trường và Việt Nam liên doanh làm.   Mặt khác phải biến Việt Nam thành một điểm đến văn hóa trong khu vực ASEAN. Ta có nền văn hóa lớn, có vị thế văn hóa cao và không thiếu tiền nhưng chưa có một hệ thống các hoạt động, sự kiện VHNT quốc tế trên đất Việt Nam. Vì sao Bộ không có quyết sách triển khai một hệ thống các sự kiện quốc tế hay khu vực trên lãnh thổ Việt Nam từ hội chợ sách, liên hoan điện ảnh, sân khấu, đến triển lãm mỹ thuật mang thương hiệu Việt…? Qua các sự kiện này ta sẽ chủ động mang nghệ thuật hiện đại thế giới vào và chủ động mang nghệ thuật Việt Nam hội nhập với thế giới. Nếu chúng ta biết chủ động hợp tác với các cơ sở văn hóa nước ngoài ở Việt Nam cũng như các cơ sở Việt Nam ở nước ngoài thì việc này hoàn toàn không khó.   Ngày nay các nghệ sĩ chỉ trở thành hiện đại, dân tộc khi họ được sống chung trong môi trường nghệ thuật quốc tế, vì thế cần có chiến lược phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có tính quốc tế, có tầm quốc tế, hỗ trợ, giúp đỡ họ hội nhập quốc tế sâu hơn. Chính các nghệ sĩ tài năng và hội nhập sâu sẽ mang đặc sắc dân tộc của nghệ thuật Việt Nam góp vào nền nghệ thuật thế giới. Ngăn ngừa, nghi ngại chỉ thể hiện một thái độ bị động. Có xâm lăng văn hóa rõ ràng khi chúng ta để cái xấu của VHNT bên ngoài tràn lan vào nước ta (ở chính quốc gia nơi nó nảy sinh, người ta cũng phải chống các thứ độc hại đó). Chống xâm lăng văn hóa chỉ bằng cách chủ động quảng bá cái tốt, cái hay của thế giới để công chúng Việt Nam có thể tiếp thu và hưởng thụ. Nói cách khác, chủ động giao lưu là cách chống xâm lăng văn hóa hiệu quả nhất. (Ở đây tôi không nói tới các hoạt động gián điệp hay lật đổ mà hạn hữu lắm cũng có văn nghệ sĩ mắc vào. Tôi dám tin rằng những nghệ sĩ lớn thực sự cả ở Việt Nam lẫn thế giới hầu như không mấy ai làm chính trị kiểu ấu trĩ ấy).           Ngày nay các nghệ sĩ chỉ trở thành hiện đại, dân tộc khi họ được sống chung trong môi trường nghệ thuật quốc tế, vì thế cần có chiến lược phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có tính quốc tế, có tầm quốc tế, hỗ trợ, giúp đỡ họ hội nhập quốc tế sâu hơn. Chính các nghệ sĩ tài năng và hội nhập sâu sẽ mang đặc sắc dân tộc của nghệ thuật Việt Nam góp vào nền nghệ thuật thế giới.          Một lỗ hổng lớn trong chống xâm lăng văn hóa (những ảnh hưởng xấu, độc hại) là đào tạo văn nghệ sĩ và VHNT ở Việt Nam chúng ta không dạy và giới thiệu đầy đủ VHNT hiện đại, đương đại thế giới. Các sinh viên và nghệ sĩ trẻ rất bơ vơ, lúng túng khi bước vào sáng tạo và hội nhập. Một chương trình bổ túc hay được một họa sĩ nước ngoài làm ở Đại học Mỹ thuật Hà Nội là mời sinh viên tập vẽ lại, sáng tác lại theo các thứ “ism” hiện đại Tây phương (vốn không được dạy trong chương trình chính khóa) để họ hiểu chúng rõ hơn và họ bớt bắt chước vô bổ hay lai căng khi sáng tác. Như vậy muốn có VHNT hiện đại thì phải hiện đại hóa đào tạo VHNT. Mặt này có lẽ chúng ta thuộc loại chậm tiến nhất trong khu vực.  Về vế “dân tộc” tôi xin nêu hai ý: Thứ nhất, cần nghiên cứu, quảng bá, giảng dạy sâu rộng hơn bản chất Đông Nam Á của VHNT Việt Nam từ nguồn gốc, chủng tộc, những đặc trưng và những thành tựu to lớn. Văn hóa Việt Nam đặc sắc nhất vì nó có hai gốc rễ, có bản sắc kép, vừa Đông Á vừa Đông Nam Á. Chúng ta quá nhấn mạnh nguồn gốc phương Bắc mà làm mờ nhạt tính phương Nam, quá cổ súy cho thuyết đồng chủng, đồng văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) mà lơ là sự gắn bó gần gũi về chủng tộc, văn hóa, lối sống Đông Nam Á của người Việt từ hàng ngàn năm nay. Việc khai quật Hoàng thành Thăng Long cho ta thấy yếu tố Đông Nam Á mạnh như thế nào trong VHNT Việt từ thời Lý. Các sinh viên Huế hỏi tôi vì sao chúng em không được học gì về mỹ thuật Chăm, sử Chăm, nghệ thuật Khmer Nam Bộ và nghệ thuật Tây Nguyên dù ai cũng biết rất to lớn, đáng tự hào? Có thể nói, nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá bản sắc kép này sẽ cho ta vị thế văn hóa cao hơn, mở đường để VHNT Việt Nam hội nhập đường hoàng hơn vào ASEAN và châu Á.  Hiện nay, ai cũng lo lắng về thái độ của giới trẻ với nghệ thuật truyền thống. Họ thờ ơ, thiếu hiểu biết, không hứng thú và không muốn tiếp nối. Một lý do căn bản là trong xã hội hiện đại Việt Nam là dân ta hoàn toàn không được giáo dục về nghệ thuật. Từ mẫu giáo đến hết đại học, từ nông thôn đến thành thị không ai được giáo dục về nghệ thuật truyền thống (NTTT). Có thế nói NTTT còn xa lạ với họ hơn nhạc Hip-hop hay Người dơi! Đề xuất của tôi từ 30 năm nay là thay môn Nhạc họa dạy kỹ năng làm khổ học sinh (mà báo chí đã nói nhiều) bằng môn Giáo  dục nghệ thuật và di sản. Cung cấp kiến thức cơ bản và tạo điều kiện tiếp cận, tạo thói quen hưởng thụ tất cả các môn nghệ thuật và NTTT (từ sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, tới kiến trúc, mỹ thuật…). Các địa phương tùy theo di sản của mình có thể có những bổ sung cụ thể vào phần giáo dục di sản. Việc dạy kĩ năng và phát hiện năng khiếu nên chuyển sang hoạt động ở các câu lạc bộ trong trường và địa phương. Việc này không khó làm, ít tốn kém hơn mô hình đào tạo như hiện nay.  Mặt khác các thiết chế VHNT ở bất kỳ đâu từ bảo tàng tới nhà văn hóa, các sở, phòng văn hóa đều phải có chương trình giáo dục nghệ thuật mở thường xuyên trong chương trình hoạt động của mình. Ở các nước tiên tiến họ đều làm như vậy thì tại sao chúng ta vẫn còn giữ mô hình đào tạo nhạc họa của 2 thế kỷ trước. Các sáng kiến kiểu sân khấu học đường là hay nhưng không thể thay thế sự nghiệp mỹ dục trong nhà trường.  Thí dụ lớn về phản dân tộc-hiện đại  Làn sóng xây dựng tượng đài hiện nay đang diễn ra dường như không gì ngăn cản nổi. Có anh bạn đùa với tôi rằng: Nước ta ra ngõ gặp anh hùng. Không nhẽ mỗi ngõ ta làm một tượng đài giá từ 3 tỷ tới 200 tỷ. Hiện nay chúng ta đã là nước nhiều tượng đài nhất thế giới rồi!  Về chính trị, tượng đài là hình thức tuyên truyền giáo dục của Liên Xô cũ, thịnh hành nhất từ 1930-1980. Ta học theo lối này nhưng lại làm kém hơn họ nhiều. Và đến nay chúng ta vẫn tiếp tục mặc dù ở Nga, người ta đã cấm không làm tượng đài nữa, ở Trung Quốc cũng vậy. Các cấp quản lý của chúng ta cho rằng tượng đài là cách duy nhất để làm nghệ thuật tuyên truyền nhưng không phải như vậy. Thời chiến chúng ta tuyên truyền cực giỏi mà không cần tượng đài.   Không ai, kể cả các tác giả, hội đồng xét duyệt cho đến chủ đầu tư có thể chỉ ra một tượng đài có tính hiện đại trong hàng ngàn cái mà chúng ta đã và đang xây. Cũng không ai có thể chỉ ra được một tượng đài nào có tính dân tộc, kể cả pho tượng Lý Công Uẩn ở Hà Nội (nhiều người thậm chí còn cho rằng bức tượng này giống Tần Thủy Hoàng trong phim cổ trang Trung Quốc). Trong mỹ thuật truyền thống chúng ta hoàn toàn không có tượng đài nhưng có rất nhiều cách tôn vinh và tưởng niệm khác. Làn sóng xây dựng tượng đài của chúng ta phản lại tính dân tộc mà chúng ta đang theo đuổi.  Về kinh tế, đó là một sự lãng phí lớn, là cơ hội cho những hiện tượng tham nhũng xuất hiện, bằng chứng là đã có người đi tù vì tượng đài. Một người bình thường cũng có thể nghĩ rằng, nếu những chục tỷ, trăm tỷ đó được chuyển tới gia đình người có công – hy sinh, giúp cho con cháu họ được học hành… hoặc xây các công trình văn hóa công cộng để dân được hưởng thụ văn hóa thì có nhân nghĩa hơn rất nhiều.  Tại một hội thảo khoa học về tượng ngoài trời của Viện Mỹ thuật, trừ các tác giả đang làm tượng đài, mọi người đều phản đối chất lượng cách thức làm tượng đài, cho đó là một thứ “nghệ thuật xấu” một “thảm họa nghệ thuật” ở Việt Nam. Tôi đã đưa ra đề nghị tạm dừng tượng đài đến năm 2020 vì thực trạng như đã nêu trên. Có cố làm đến đâu cũng không thể hay và đẹp được. Nếu không dừng được toàn bộ ngay lập tức thì cần có những quy định hạn chế. Thí dụ như:  – Chỉ các công trình trọng điểm quốc gia do Thủ tướng duyệt mới làm tượng đài.  – Các cấp khác hạn chế tài chính dưới x tỷ đồng, quy mô không quá x mét…  – Những quan chức mỹ thuật không được tham gia sáng tác, thi công, xét duyệt…  Tất nhiên các biện pháp đó cũng chỉ là chữa chạy tình thế. Tính quyết định vẫn là ở nhận thức chính trị-nghệ thuật và kinh tế – đúng của lãnh đạo về tính dân tộc hiện đại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt sách “Việt Nam, tình yêu của tôi”      Sáng 6/6, cuốn sách về cuộc đời của một  chiến sĩ Do Thái từng phục vụ cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam  đã có buổi ra mắt tại Dinh thự Đại sứ Áo, tại Hà Nội.     “Việt Nam, tình yêu của tôi. Một người Do Thái thành Vienna phục vụ Hồ Chí Minh”* là cuốn sách mang tính chất tiểu sử tự biên của Ernst Frey (1915-1994), một chiến sĩ cộng sản người Do Thái sinh ra tại Áo và qua nhiều con đường vòng vèo đã gia nhập hàng ngũ Việt Minh.   Sinh năm 1915 tại Vienna, đến những năm 1930, Ernst Frey bị xua đuổi vì vừa là người Do Thái, vừa là đảng viên đảng cộng sản. Năm 1938, sau khi đã bị Quốc xã bỏ tù đôi lần, ông bỏ trốn rồi phiêu bạt qua Pháp, Thụy Sĩ, Algeria và cuối cùng dừng chân ở Đông Dương, nơi ông gia nhập hàng ngũ Việt Minh, góp phần đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam.    “Việt Nam, tình yêu của tôi” ghi lại lịch sử cá nhân của Ernst Frey nhưng gắn liền với hàng loạt những sự kiện chính trị thế giới những năm 1930-1950. Cuốn sách được dịch từ nguyên tác tiếng Đức (Vietnam, mon amour. Ein Wiener Jude im Dienst von Ho Chi Minh, NXB Czernin Verlags, Áo) và xuất bản với sự tài trợ của Đại sứ Áo tại Việt Nam Thomas Loidl.   Chia sẻ cảm nghĩ riêng về tác phẩm, hai dịch giả Ngụy Hữu Tâm và Trần Vinh đều đồng ý rằng sức cuốn hút của câu chuyện mang tính lịch sử này nằm ở tính thành thực, không giấu giếm của nó. Là một câu chuyện về chiến tranh và chính trị nhưng những chi tiết kể về những trải nghiệm của người chiến sĩ Ernst Frey không hề đao to búa lớn mà trái lại rất bình dị, đời thường. Ví dụ, trong cuốn sách có đoạn kể về một lần trong một trận chiến, Ernst Frey, lúc đó đã là đại tá chỉ huy nhiều sĩ quan chuyên nghiệp, ném năm quả lựu đạn nhưng đều không nổ. Sau trận đánh đó, ông tự nhận ra rằng mình đã quên rút chốt các quả lựu đạn do tâm lý lúc đó quá hoảng sợ. Tính thành thực này của Ernst Frey khiến cuốn sách dễ đồng cảm hơn.  Cuốn sách cũng bày tỏ tình cảm đặc biệt của một người cộng sản châu Âu đối với đất nước Việt Nam và thực sự là một một nguồn tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu thêm lịch sử đấu tranh giành độc lập của Việt Nam dưới con mắt và cách nhìn nhận của một cá nhân nước ngoài.  * NXB Tri thức, 399 trang, giá bìa 100.000 đồng     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt sách “Võ Nguyên Giáp” của Georges Boudarel      Nhân ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12 sắp tới, Thaihabooks sẽ phát hành cuốn sách “Võ Nguyên Giáp” của Georges Boudarel được giới sử học Pháp đánh giá là một  trong những tác phẩm giá trị nhất viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.    Ngoài những chi tiết nói về chiến tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, còn có những chi tiết rất thú vị cho người đọc biết về năm sinh của Đại tướng, những đoạn nói rõ âm mưu hiểm độc của thực dân Pháp có ý định mua chuộc cậu học sinh trung học Võ Nguyên Giáp, nhưng Võ Nguyên Giáp đã trở thành học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có những hiểu lầm về vị Đại tướng huyền thoại đã được tác giả làm rõ và tìm ra sự thật bằng những tài liệu phong phú và xác thực.  Tác giả Georges Boudarel, sinh ngày 21/12/1926 tại Saint-Estienne, Loire (Pháp), là một thành viên của nhóm trí thức Mác-xít hoạt động công khai tại Sài Gòn năm 1947, sau này ông ra Bắc xin vào hàng ngũ Việt Minh và tham gia kháng chiến chống Pháp.  Năm 1964, ông trở về Pháp, bảo vệ luận án tiến sĩ sử học về đề tài Việt Nam, sau đó làm giáo sư trường Đại học Paris VII, giảng dạy về lịch sử hiện đại Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu và bài báo viết về Việt Nam có giá trị, là dịch giả đã giới thiệu nhiều tác phẩm Việt Nam ra tiếng Pháp, như “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài, “Đại thắng mùa xuân” của Văn Tiến Dũng…  Cuốn “Võ Nguyên Giáp” (nguyên bản tiếng Pháp là “Giap”) là một phần trong luận án tiến sĩ của ông. Ông sử dụng tiếng Việt thành thạo, tham khảo nhiều tư liệu chính thống của Việt Nam, kết hợp với nhiều nguồn sách báo nước ngoài nên trong cuốn sách của ông có nhiều tài liệu và nhiều quan điểm, đánh giá mới mẻ.  Sách dày 252 trang, giá 101.000 đồng (bìa mềm) và 202.000 đồng (bìa cứng), được phát hành trên toàn quốc ngày 12.12.2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra sân dự cuộc bóng đá ở Pháp      Sân bóng bây giờ như là một sàn diễn âm nhạc, đủ các màn hình lớn và rock music khi cần.. 😉 Nhưng khán giả thường cũng rất biết im lặng ngạt thở khi những đường bóng thăm dò khai phá đang được triển khai. Nhưng khi bóng áp đến gần thì các bạn bè dậm chân nhanh dần có gia tốc, và hò hét thật là vui hớn hết tả.    Bất chấp cơn mưa đá ở hiệp 1 trận Bắc Ireland – Ukraine, cổ động viên Bắc Ireland vẫn sát cánh cùng đội nhàNói chuyện đi xem bóng đá bây giờ không đơn giản như thời xưa.  Ví dụ với một trận đấu rất căng thẳng trong nước, nếu bạn định vào cửa dành cho các cổ động viên của đội khách, bạn phải có giấy tờ để chứng minh được rằng bạn đang sống ở thành phố của đội khách, ví dụ như hóa đơn trả tiền điện nước gần đây (dưới ba tháng). Cảnh sát tịch thu các chai nước từ vòng xa bên ngoài, sau đó tạo hành lang riêng cho đường đi vào cửa của các cổ động viên đội khách.  Trong sân bạn ngồi ở cửa đó như ngồi trong một chuồng riêng ở sở thú, bị cả đám các cửa xung quanh hừng hực ngó vào như khách vào thăm sở thú vậy.  Khi ra về, bạn phải nán lại gần cả tiếng đồng hồ..  để chờ cho đám cổ động viên hung hăng của đội chủ nhà đã tản đi, rồi thì cảnh sát mới mở hành lang cho đám cổ động viên đội khách khẽ khàng ra về, phần nhiều trên những chiếc xe ca du lịch!  **  Thể thao là hình thức hòa bình của chiến tranh.  Các “chiến binh” luôn lợi dụng hình thức này để được “thể hiện”.  **  Thế nhưng về căn bản thì thể thao vẫn là niềm vui chung thật là rộng lớn.  Bạn vào trong sân bóng thì sẽ lên thẳng ngay tầng giữa theo thiết kế, ở đó có đủ các loại hàng quán rất rộng rãi, tha hồ đồ uống các loại, có cả “bia không cồn”, vị rất giống bia nhưng mà.. bạn không đỏ được mặt nghen! Ở đây bạn ngắm cảnh rộng khắp vùng xung quanh, và bạn không có cảm giác là mình đang ở trong sân vận động.  Từ tầng giữa này khi chui ra khán đài thì bạn hoặc là sẽ leo lên, hoặc là sẽ đi xuống các hàng ghế ngồi.  Sân bóng bây giờ như là một sàn diễn âm nhạc, đủ các màn hình lớn và rock music khi cần.. 😉 Nhưng khán giả thường cũng rất biết im lặng ngạt thở khi những đường bóng thăm dò khai phá đang được triển khai. Nhưng khi bóng áp đến gần thì các bạn bè dậm chân nhanh dần có gia tốc, và hò hét thật là vui hớn hết tả.  Đám cổ động viên hiếu chiến thường không phải là đa số, và họ thường hay cụm nhau ở phía sau khung thành.  Trò chơi “làm sóng” trên sân rất hấp dẫn, con người cảm ở trong phút giây cảm thấy mình là hạt nước hòa cảm cùng con sóng đại đồng nổi trôi dạt dào xúc cảm.  Thường có vài câu hát ngắn, sau một vài hồi thì ai ai cũng sẽ hát theo được, dù như bạn không biết tiếng!! 😉 Lời lẽ thì đôi khi có vẻ “chủ nghĩa dân tộc” thật, như khi đội Pháp lên bóng người người hát vang “ki nơ sột tớ pa – nê pá a – fran ớ xe !” (“qui ne saute pas n’est pas français !”, “ai không nhảy lên ắt không phải người Pháp !”). Cờ quạt tưng bừng !!!  Thế nhưng, ngắm nhìn những khuôn mặt, những ánh mắt, lắng nghe những giọng nói của các bạn trẻ thì biết ngay rằng đó chỉ là thứ niềm vui quết gia vị “quân ta quân mình” cho thêm vui ngày hội mà thôi, chứ không có thứ vị kiểu “cay cú giết người” ;-).    Author                Hoàng Hồng Minh        
__label__tiasang Riêng tư là thiêng liêng      Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.  &#160;    Nếu lần đầu tiên bạn đi học tại một trường đại học ở Balê, hẳn bạn sẽ có nhiều bỡ ngỡ. Cả năm trời, không ai biết điểm các bài kiểm tra của bạn cả, trừ vài giáo viên trực tiếp liên quan. Và ngược lại, bạn cũng chẳng hề biết điểm của các bạn học khác. Không có biểu dương học sinh này, hay chê bai học sinh kia sồn sồn trong lớp học.  Kì lạ hơn, một số bài tập được giao về nhà để làm trong kì nghỉ. Hết kì nghỉ, bạn nộp bài, và được chấm điểm. Mà hầu như cũng chẳng ai hỏi nhờ ai làm bài hộ cả.  Bạn đá bóng trong một công viên nhỏ, chẳng may quả bóng rơi vào vườn nhà ai cạnh đó.   Bạn bấm chuông, không ai ra cả. Bạn không bao giờ tự trèo vào vườn đó để lấy lại quả bóng.  Rồi bạn đi làm. Chẳng ai biết lương của bạn là bao nhiêu, ngoài phòng tài chính, và có thể là ông chủ của hãng nhỏ. Và bạn cũng chẳng biết lương của ai khác. Phải xem báo nghe đài thống kê, hay qua nơi tư vấn công việc, để rồi ước đoán xem lương của mình như vậy đã hợp lý với khung lương chung chưa, để mà mặc cả.  Bạn ra tòa thị chính làm giấy tờ. Tờ cảnh báo lớn treo trên tường nhắc nhở mọi người: “dù có ai mặc đồ cảnh sát đến bấm chuông nhà bạn, chớ có mở cửa”. Nếu bạn là thủ phạm nguy hiểm, người ta khắc có công lệnh và phương tiện mở cửa nhà bạn, khỏi lo hộ!   Rồi bạn lập gia đình. Thư của nửa bên kia của bạn nằm trong thùng thư, bạn không có quyền bóc xem đâu nhé. Và dĩ nhiên không ai có quyền bóc thư gửi cho bạn, ngoài chính bạn.  —-  Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền.  Sở hữu chỉ là một phần của sự riêng tư này, và do vậy sở hữu hợp pháp cũng thiêng liêng. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.  Một khi cái riêng tư trở nên thiêng liêng, cá nhân công dân ra đời, và tiếp đó, cái cộng đồng, public, cũng được trở thành một riêng tư đặc thù.  Và mọi tài sản đều thành thiêng liêng, bất kể của riêng hay của công, vật chất hay tinh thần.  Nếu bạn đâm ôtô vào một cột đèn công cộng, bạn phải đền bù cho cái tài sản cột đèn đó bị hư hại. Việc đền bù văn minh hôm nay thường được thực hiện thông qua các giao dịch của các hãng bảo hiểm mà bạn tham gia, và trong trường hợp sử dụng ôtô thì bảo hiểm tối thiểu là bắt buộc. Và cái thùng rác công cộng cũng vậy, là thiêng liêng, ai táy máy chúng sẽ phải bị trả giá đắt.  Và bạn sẽ thấy, mọi lĩnh vực đều trở thành thiêng liêng, vì nó có chủ quyền của nó.  Cái nền tảng riêng tư thiêng liêng này đưa đến sự tôn trọng lẫn nhau bắt buộc giữa các cá nhân cùng các tổ chức xã hội. Sự tôn trọng này đơn giản là được luật pháp bảo đảm, và trên đó nữa, đã thành ra lẽ sống của các thành viên của xã hội văn minh.  —-  Sự riêng tư là thiêng liêng, chính vì vậy nó không được làm thua thiệt sự riêng tư của các cá nhân khác, cùng của cộng đồng.  Trên cái nền tảng riêng tư thiêng liêng này, người ta phải xây dựng nên tòa lâu đài thiết chế để gìn giữ bảo hành và phát triển được chính sự thiêng liêng đó, đó là công việc điều hòa các lợi ích của các cá nhân và của toàn bộ cộng đồng, về vật chất và về tinh thần.  Cái đó gọi là nhà nước.   Nhà nước là một thiết chế được thiết kế và được duy hành để các công dân thực hiện được đời sống thiêng liêng của mình. Vì lẽ đời sống luôn vận động phát triển, nhà nước cũng phải được tiến hóa theo cùng. Nhà nước được dựng nên một cách có ý thức thì không phải là một thứ từ trên trời rơi xuống. Nó là một công cụ được bồi đắp nên của chính các cá nhân thành viên cộng đồng.  Công cụ nhà nước làm được những công việc mà mỗi cá nhân loay hoay không xong được.  Xây dựng một tháp nước sạch cho một cụm làng dân cư, cái đó vì sự riêng tư của mỗi cá nhân, và vượt lên trên sự loay hoay của mỗi cá nhân. Các công trình của cộng đồng, quốc gia có ý nghĩa tương tự như thế, trong cơ man các lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần.  Chưa hết.   Một nhà máy điện nguyên tử gặp nạn có thể làm cho cư dân nhiều quốc gia cùng lâm nguy.   Một dòng sông có thể là nguồn sống của nhiều đất nước.   Một hành lang bay buộc phải đi qua vùng trời nhiều lãnh thổ, sử dụng nhiều dịch vụ quốc tế.  Một đường hàng hải phải xuyên qua các vùng biển thế giới.  Một bác sĩ đã có thể phải phẫu thuật trực tiếp cho một bệnh nhân… ở  nửa bên kia trái đất, thông qua hệ thống máy móc kết nối với đường  truyền viễn thông dành riêng an toàn  … Và như thế hôm nay con người đã phải sẵn sàng chung tay bắt đầu cho những công việc nền tảng của một nhà nước thế giới đang thầm lặng thai nghén.  Tất cả phải đóng trụ trên một nền tảng: riêng tư là thiêng liêng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản phẩm nghiên cứu và mối quan hệ với học hàm học vị      Làm thế nào để sản phẩm khoa học Việt Nam bao gồm: bài báo NCCB, học vị Tiến sĩ và học hàm giáo sư, phó giáo sư sẽ tiến đến gần chuẩn mực Quốc tế? Bài viết này đề xuất một số giải pháp trả lời cho câu hỏi đó.        A. CÔNG BỐ BÀI BÁO KHOA HỌC  1. Thừa kế kết quả khoa học  Khi nghiên cứu một đề tài khoa học thì việc trước hết người nghiên cứu phải thừa kế những kết quả đã công bố. Phần mở đầu của một bài báo công bố trong một Tạp chí Khoa học Quốc tế phải so sánh kết quả thu được của tác giả với những kết quả của các tác giả khác, phải chỉ rõ tác giả bằng cách nào đã vượt qua được những khó khăn để giải quyết những hạn chế mà các tác giả khác trước đó không làm được. Nội dung cập nhật thông tin khoa học để thừa kế tôi hiểu có 3 mức: Hiểu được ý nghĩa, tác dụng của bài báo khoa học là mức sơ bộ; Hiểu cặn kẽ để áp dụng cho trường hợp cụ thể là mức độ cần thiết cho kỹ sư; Cảm giác và thấu hiểu những khó khăn của tác giả bài báo làm cho kết quả khoa học còn hạn chế và sau đó tìm cách khắc phục khó khăn và phát triển là mức độ cần thiết cho người nghiên cứu.    2. Tiêu chuẩn  của bài báo khoa học                     Tranh vui nước ngoài: “Hẳn là ông đã hiểu khi nhận vị trí này, thưa giáo sư, là công bố hay là chết”.  Danh sách các Tạp chí khoa học Quốc tế khách quan nhất và đã được chấp thuận rộng rãi trên thế giới, là theo Institute for Scientific Information (ISI), website: www.isinet.com. Các Tạp chí uy tín nhất từ tất cả các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật có trong danh sách đã được lựa chọn bởi ISI (gọi tắt Danh sách ISI). Theo Danh sách này: Science Citation Index bao gồm 3772 Tạp chí tốt nhất và Science Citation Index Expanded bao gồm 6592 Tạp chí. Có thể theo các góc nhìn khác nhau thì Danh sách ISI chưa hoàn toàn công bằng, tuy nhiên ISI là cơ quan có uy tín và duy nhất hiện nay đánh giá bao quát tất cả các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và có phân loại. Liên Hợp Quốc, các Chính phủ và các Tổ chức Quốc tế thường sử dụng thống kê của ISI trong quản lý và hoạch định các chính sách khoa học kỹ thuật. Thống kê của Việt Nam về khoa học kỹ thuật nếu không theo ISI thì bị lệch so với thống kê của các Tổ chức Quốc tế.  Số lượng các Tạp chí được các Hội khoa học chuyên ngành xem xét ( Review) rộng rãi hơn và do đó nhiều hơn nhiều so với số lượng Tạp chí do ISI lựa chọn. Có đến vài chục các Hội khoa học chuyên ngành Quốc tế lập ra Review cho ngành của mình. Ví dụ: Mathematical Review, Applied Mechanics Review, Chemical Abstracts…  Hiện nay chưa có Tạp chí Khoa học Việt Nam nào được đưa vào Danh sách Tạp chí của ISI, mà chỉ có một số rất ít Tạp chí khoa học Việt Nam đạt mức được Review của Hội chuyên ngành Quốc tế.  Định nghĩa tiêu chuẩn Quốc tế của bài báo NCCB có 2 mức:  Mức 1: Science Citation Index hoặc Science Citation Index Expanded theo ISI là mức chuẩn.  Mức 2: Review theo Hội chuyên ngành Quốc tế là mức chuẩn mở rộng.  3. Cần và nên công bố bài báo NCCB trong Tạp chí khoa học Quốc tế  Khi nhà khoa học giải quyết xong một vấn đề được đặt ra trong kế hoạch nghiên cứu thì công trình cần được kiểm tra. Nội dung chủ yếu của kiểm tra như sau:  Nhà khoa học cần tự nghi ngờ kết quả của mình, cần một thời gian bình tâm xem xét và tự phản bác lại kết quả của mình. Nếu có bạn đồng nghiệp đang nghiên cứu cùng một hướng thì cùng nhau thảo luận và đánh giá kết quả thu được. Viết chi tiết tất cả những chứng minh kết quả, kể cả những chứng minh được coi là “tương tự” với ý thức vừa viết vừa suy ngẫm kiểm tra lại những gì làm được.Trên cơ sở bản viết chi tiết tác giả viết súc tích lại theo văn phong (style) quy định của Tạp  chí mà tác giả cần gửi đăng.  Tác giả có thể theo dõi quá trình thẩm định bài báo được thông báo ở mục Automated status enquiry ở website của Tạp chí Quốc tế mà tác giả gửi đăng.  Bình thường thì mỗi bài báo được 2 phản biện không nêu danh kiểm tra và đánh giá. Nếu ý kiến nhận xét trái ngược nhau thì Ban Biên tập Tạp chí mời phản biện thứ 3 ( adjudicator).   Một bài báo nghiêm túc gửi đăng ở Tạp chí có uy tín thường thường dẫn đến tình huống sau đây. Ban Biên tập Tạp chí viết thư trả lời tác giả kèm theo những báo cáo của phản biện. Tác giả nhận được những ý kiến phê phán của những chuyên gia hàng đầu đang nghiên cứu thành công trong lĩnh vực của tác giả. Đó là những nhận xét xác đáng về đặt vấn đề, giải quyết vấn đề của tác giả, về sửa chữa những chỗ chứng minh sai, yêu cầu trích dẫn và so sánh kết quả của mình với các kết quả khác… Ban Biên tập đồng ý sẽ xem xét lại bài báo được sửa chữa theo ý kiến của phản biện. Nếu tác giả gửi đăng Tạp chí trong nước thì hầu như không thể nhận được những ý kiến xác đáng có chất lượng cao.  Như vậy bài báo công bố trong Tạp chí thuộc Danh sách ISI được Science Citation Index hoặc Science Citation Index Expanded là kết quả khoa học đích thực và có bản quyền.   B. MỐI QUAN HỆ VỚI HỌC HÀM VÀ HỌC VỊ  1. Ở Hàn Quốc một luận án Tiến sĩ tối thiểu phải có 2 bài báo công bố đạt mức 1, ở Philippines yêu cầu luận án Tiến sĩ phải có 1 bài báo công bố đạt mức 1.  Định nghĩa Tiêu chuẩn chất lượng của luận án tiến sĩ viết ở trên chưa được chấp nhận ở Việt Nam, cho nên hệ quả là:  Sau nhiều năm nhiều thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS) không có bài báo công bố trong Tạp chí Quốc tế và nhiều luận án Tiến sĩ (TS) của học trò của thầy đã được bảo vệ “thành công” không có bài báo công bố trong Tạp chí thuộc hai mức nêu trên.  Sau nhiều năm nhiều Giáo sư Tiến sĩ khoa học (GS TSKH) ở trong Ban biên tập Tạp chí khoa học chuyên ngành Quốc gia Việt Nam không có báo công bố Quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn của mình.  Nhiều GS TSKH được cấp trên và ban Tổ chức – Cán bộ tín nhiệm giao cho những chức vị lãnh đạo quản lý khoa học, xin gọi tắt các GS này là các quyền chức khoa học (QCKH). Những QCKH đã có hoặc đang có chức vụ hành chính và hiện đang có ảnh hưởng lớn hoặc có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong cơ quan của mình. Các QCKH  hiện đang đóng vai trò lãnh đạo hoặc chi phối các hội đồng khoa học. Ở nhiều nơi kinh phí của các đề tài của các QCKH nhận nhiều tiền hơn nhiều lần so với các đề tài khác vì có nhiều sản phẩm thuộc loại: báo cáo hội nghị và bài báo đăng trong nước, đa số những sản phẩm này công bố không có phản biện, hoặc phản biện “hình thức”. Đề tài NCCB, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ do các QCKH làm chủ nhiệm được nghiệm thu thành công và được đánh giá từ loại Khá đến loại Xuất sắc. Đa số những đề tài nghiệm thu thành công không có hoặc có rất ít bài báo công bố Quốc tế.    NCS tìm đến QCKH để xin được hướng dẫn là hiện tượng phổ biến. NCS có nhiều thuận lợi rõ ràng khi được các QCKH hướng dẫn.   2. Theo chỉ tiêu kế hoạch trong 10 năm tới sẽ đào tạo 20.000 TS. Nếu mỗi luận án TS chứa đựng một kết quả mới (1 bài báo công bố ở mức 1 hoặc mức 2) thì riêng trong lĩnh vực đào tạo Việt Nam sẽ đóng góp cho sự phát triển khoa học Quốc tế với 20.000 bài báo Quốc tế, còn nếu không làm được điều đó thì để đạt chỉ tiêu, luận án TS sẽ vẫn như hiện nay, nghĩa là không yêu cầu bắt buộc phải có bài báo công bố Quốc tế.   Tính điểm cho các công trình khoa học để xét phong GS và PGS của Việt Nam là cách đánh giá độc đáo, cần có đủ tổng số điểm là được xét phong GS hoặc PGS mà không yêu cầu bắt buộc phải có bài báo công bố Quốc tế.  3. Giải pháp  Trong việc tính điểm để phong GS và PGS, nếu tác giả có bài báo công bố Quốc tế thì được cộng thêm điểm so với bài báo đăng trong nước.Việc so sánh 2 đại lượng không cùng một thứ nguyên, nghĩa là so sánh một sản phẩm khoa học đích thực với một sản phẩm chưa biết chất lượng là thế nào là việc làm vô nghĩa. Tuy nhiên, không có cách nào khác vẫn phải so sánh, hiện nay cách so sánh 2 loại sản phẩm này ở Trung Quốc và ở nhiều nước cách biệt rất xa với cách so sánh ở Việt Nam.  Đối với người thực sự muốn làm khoa học thì những quan niệm và định nghĩa trình bày trong các mục 1,2,3 của phần A là hiển nhiên và đương nhiên. Tuy nhiên điều hiển nhiên và đương nhiên này không dễ dàng được xã hội Việt Nam chấp nhận.Tôi hy vọng nội dung những quan niệm và định nghĩa viết ở phần A sẽ được các Bộ và các cơ quan chức năng có liên quan tham khảo và chấp nhận trong khi xây dựng các văn bản quản lý NCCB và phong học hàm, học vị. Nếu điều này được chấp nhận thì sẽ hạn chế được tư duy ích kỷ có cách làm“vòng vo”của nhiều QCKH. Tôi đề nghị cụ thể:  Yêu cầu luận án TS tối thiểu phải có1 bài báo công bố Quốc tế đạt mức 2. Yêu cầu tối thiểu này còn thấp hơn so với các nước khác và yêu cầu trong 5 năm gần đây người hướng dẫn NCS phải có ít nhất có1 bài báo công bố đạt mức 1. Trong danh mục công trình nghiên cứu của tác giả được xét phong học hàm giáo sư và phó giáo sư trong 5 năm gần đây ít nhất có 1 bài báo công bố đạt mức 1.   Các ủy viên trong ban biên tập Tạp chí khoa học chuyên ngành Quốc gia và các chủ nhiệm các đề tài NCCB phải có ít nhất trong 5 năm gần đây 1 bài báo đạt mức1.  Danh mục các bài báo công bố của thầy giáo hướng dẫn NCS, của các thành viên tham gia đề tài NCCB cần được công khai thông báo cho sinh viên được biết để tìm thầy hướng dẫn phù hợp với luận án và để cơ quan chức năng biết để quản lý.                    Phạm Lợi Vũ             Author                Quản trị        
__label__tiasang “Sân sau” của đô thị      Nhạc sĩ Lê Minh Sơn có một bài hát tuyệt đẹp về nông thôn. Có lẽ là về chính làng quê của anh. “Bên cạnh làng tôi đất bán hết rồi, chỉ còn nho nhỏ nghĩa địa xa xa. Bên cạnh làng tôi yếm thắm lụa đào, ngực cau nhu nhú đã vội đi xa”.        Anh hồi tưởng về cái cảnh “ngày xưa lũ chim về đây, những bông cỏ may lay động bờ đê. Ngày xưa tiếng ru mẹ ru, tiếng ru mỏng manh lay động nhà tranh”. Anh day dứt vì “đàn trâu lững thững qua cầu, đất bán hết rồi, đàn trâu về đâu?”. Rồi anh mơ. Mơ “về đi, đàn chim trắng, trắng giấc mơ tôi. Về đi, nhà ngói mới, ấm giấc mơ tôi. Về đi, vụ xuân hè, cơm nếp thơm thơm”. Bài hát của anh là một bài hát cảm động. Cảm động vì nó có trách nhiệm. Nó chạm đến một phần mà hình như mỗi con nguời đô thị trong lòng: một mặc cảm với nông thôn. Nó làm ta liên tưởng đến cuốn phim được chuyển thể vào hàng tuyệt tác của đạo diễn Đặng Nhật Minh: Thương nhớ đồng quê. Thương và nhớ. Một day dứt về một cái gì tội nghiệp. Một món nợ. Món nợ với nông thôn nghèo khổ, nông thôn thua thiệt, nông thôn cũ kĩ.   Hãy thử so sánh nông thôn của chúng ta, một nông thôn mà chỉ cần bước chân khoảng ba mươi phút đi xe gắn máy ra khỏi Hà Nội là đã có thể bắt gặp với cái nông thôn mà Ngô Tất Tố đã miêu tả trong Việc làng, mà Hoàng Đạo đã miêu tả trong những bài viết trong mục Bùn lầy nước đọng? Nông thôn ấy đã thay đổi bao nhiêu? Có những điều là rất nhiều mà có những điều là không bao nhiêu? Có những điều còn tệ hại hơn. Giờ đây không còn những làng mà cả làng toét mắt. Nhưng giờ đây có những làng mà cả làng bị ung thư.  Xem cuốn phim của Đặng Nhật Minh tôi vẫn bị ám ảnh bởi cậu thiếu niên nông thôn mới lớn– nhân vật chính. Hình như đó chính là biểu tượng của nông thôn. Một nông thôn ngơ ngác trước thế giới mênh mông đang mở ra. Một nông thôn bị giằng xé giữa cái lam lũ tội nghiệp không thể quay mặt đi và cái quyến rũ của thế giới bên ngoài (như cậu thiếu niên giữa hai người chị). Một nông thôn khốn khổ lao động để làm ra hạt lúa và khi Tổ quốc ra trận, lại là những nguời thanh niên nông thôn.                  Tôi không có cái may mắn của anh Lê Minh Sơn. Tôi là một loại người “thiếu quê hương” là đứa con của thành thị. Tôi không có cái kí ức về những bầy chim trắng, về những đàn trâu, những vụ chiêm mùa. Hình ảnh của nông thôn trong tôi khác. Đó là hình ảnh của những người lao động ngoại tỉnh ở những cái “chợ người” (tôi căm thù danh từ này – nó vô nhân đạo). Đó là những cái lớp học (nó là những cái lớp học?) của trẻ em của huyện Sóc Sơn. Nó là những đoàn người đầy ắp trong những bệnh viện lớn ở Hà Nội, những bộ quần áo mà họ mặc, những bữa cơm của họ trong những quán “cơm bụi” (tôi cũng căm ghét nốt cả cái danh từ này).   Cha tôi là một người nông dân, còn tôi lại là người thành thị. Tôi không phải là cậu thanh niên “sinh ra ở nông thôn” như nhân vật truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng cội rễ của tôi ở nông thôn. Và cuối cùng thì tôi đã làm được gì cho cái cội rễ ấy?  Theo tôi, có lẽ nông thôn sẽ là vấn đề lớn nhất của xã hội chúng ta, khi mà nó đang bị biến thành cái “sân sau” của đô thị. Sân sau để hứng chịu đủ mọi thứ “rác” của đô thị. Rác nghĩa đen và rác nghĩa bóng. Rác lối sống (những thứ văn hóa tệ hại nhất đang được tống về nông thôn), rác văn minh (những công nghệ tệ hại nhất vẫn đang được sử dụng ở nông thôn), rác tiêu dùng (những gì lạc hậu nhất của đô thị cũng được tống về nông thôn). Và ở giữa “sân sau” và “sân trước” là một khoảng cách trời vực của sự phát triển.   Những bạn bè thành đạt của tôi đang bắt đầu xây dựng những trang trại. Trong những lúc hoài cổ, họ nói về nông thôn. Cũng như anh Sơn, họ mơ về một nông thôn làng xã. Một nông thôn đủ cả gạo mới, trâu bò, hội làng và những bầy gà lợn chạy trong vườn nhà. Hình như là một nông thôn của cách đây mấy thế kỉ. Họ tiếc tất cả những thứ ấy. Và họ có tiền. Họ sẽ mua những trang trại mênh mông để khôi phục tất cả những thứ ấy như một hình mẫu lí tưởng của nông thôn. Để hàng tuần đánh xe từ thành phố, như một anh tư sản trong truyện ngắn của Thạch Lam, về hít thở, thư giãn, đánh chén, ngủ, rồi lại đi. Vậy thì cuối cùng nông thôn sẽ là gì trong những người thành phố chúng ta? Hình như trong sâu thẳm không ít người, chúng ta mơ ước rằng nông thôn cứ là như thế, như cách đây vài thế kỉ, điền viên như thế, cũ kĩ như thế, ngưng đọng như thế. Chúng ta sống cuộc sống tiện nghi của chúng ta ở thành phố và chúng ta mong nông thôn vẫn cứ là như thế để mỗi cuối tuần chúng ta sẽ như những ông tư sản trở về nông thôn để đóng vai điền chủ. Phải chăng, xét về mặt tâm lí xã hội, một thứ quan hệ kiểu thuộc địa – thực dân kiểu mới với một nông thôn – thuộc địa và những tay thực dân – người đô thị đang được hình thành?   Thực ra suy nghĩ của tôi không giống như anh Sơn (dù tôi rất trân trọng những suy nghĩ của anh). Tôi không tiếc nhiều lắm những vụ chiêm vụ mùa, những bông cỏ lau và những con trâu. Hay đúng ra, có thể, tôi cũng tiếc nhưng tôi cũng hiểu luôn rằng có những thứ sẽ phải biến mất, biến mất không bao giờ quay trở lại. Tôi không băn khoăn về cái nông thôn của thế kỉ XIX có thể biến mất. Hãy để việc đó cho những nhà bảo tồn. Tôi chỉ nghĩ rằng điều quan trọng là hãy làm thế nào để nông thôn thực sự là nơi sống của con người, để người nông thôn không phải bán sức lao động trong những cái “chợ người” và đừng phải lê lết như những người hành khất trong những bệnh viện lớn ở các đô thị.  Hình như đã đến một lúc chúng ta, những người đô thị phải tự vấn về sự bàng quan trước mênh mông lạc hậu bao quanh mình. Và chúng ta sẽ phải làm gì để nông thôn đừng trở thành “sân sau” của đô thị.         Lương Xuân Hà    Author                Quản trị        
__label__tiasang San sẻ phúc lợi từ đất đai      Lý thuyết màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh  tươi, đấy là lời của Goethe, đại thi hào người Đức. Đất đai thuộc sở hữu  của ai, gọi quyền ấy là gì, chuyện cao siêu ấy thuộc về thế giới của  những người ưa lý luận. Với dân tộc, vẹn toàn lãnh thổ là niềm đau đáu  khôn nguôi, thì cũng thế với hàng triệu nông dân, ruộng vườn là tài sản  thân thương tựa máu thịt của họ.     Một thời chưa xa, giao khoán ruộng đất cho các nông hộ đã cởi trói cho nông nghiệp, từ thiếu đói nước ta có gạo để xuất khẩu. Quyền của chủ nhân các ô thửa đất tăng lên từ 5 quyền, 8 quyền đến hàng chục quyền đã làm sôi động thị trường nhà đất. Từng ô thửa phải rõ chủ, việc đăng ký chủ quyền ấy phải thuận tiện, đó chính là phép màu nhiệm làm cho đất đai trở thành nguồn tư bản lưu chuyển không ngừng trong thế giới hiện đại này.  Từ hai mươi năm nay Hiến pháp nước ta luôn tuyên bố nhà nước thực hiện nguyên tắc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Điều ấy đã đúng với đất ở, đất khu công nghiệp, song còn rất chênh vênh đối với ruộng đất của từng hộ nông dân. Đất nông nghiệp dễ bị nhà nước thu hồi với giá do nhà nước ấn định. Bất công bằng xã hội cũng từ đó mà lan nhanh.          Điều khẩn thiết cần làm là phải chặn đứng  việc thu hồi đất trồng lúa với giá rẻ rồi trao món hời này cho các ông  chủ doanh nghiệp.        Vì lẽ ấy, Luật đất đai 2003 cần được sửa để nếu vẫn cố giữ thuộc sở hữu toàn dân thì phúc lợi từ đất đai cần được san sẻ công bằng cho toàn thể nhân dân. Những khu công nghiệp, sân golf, đô thị mới, nếu phần lớn lợi tức chỉ dành cho một nhóm nhỏ những người giàu và trải đều sự bần cùng cho nông dân mất đất, nhân danh công nghiệp hóa-hiện đại hóa một nhóm người đã khai thác tài nguyên quốc gia vì những lợi tư.  Có lẽ đó cũng là điều mà Karl Marx vĩ nhân đã tiên đoán khi ông cho rằng sở hữu tư nhân, nhất là về đất đai, là nguồn gốc của mọi bất công. Ông mong ước về một chế độ “sở hữu xã hội –gesellschaftliches Eigentum” về tư liệu sản xuất. Những người theo Lenin sau này phát triển luận điểm ấy thành sở hữu toàn dân. Phần còn lại của thế giới này cũng lo hạn chế bất công. Nhà nước nào cũng phải có chức năng ngăn cản, kìm chế những thèm khát tư túi tài nguyên công cộng. Vì vậy, ở hầu hết các quốc gia ngày nay, dù đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, song quyền của người chủ đất luôn bị giới hạn bởi những chính sách phân bổ phúc lợi của nhà nước.   Điều khẩn thiết cần làm là phải chặn đứng việc thu hồi đất trồng lúa với giá rẻ rồi trao món hời này cho các ông chủ doanh nghiệp. Nếu cần đất vì mục đích an ninh-quốc phòng, nhà nước phải trưng mua quyền sử dụng đất của nông dân với giá thị trường. Tuyên bố ấy cũng đã được ghi nhận rõ ràng trong Điều 22 Hiến pháp Việt Nam từ hai mươi năm nay.  Tôn trọng Hiến pháp, sửa Luật đất đai, đảm bảo quyền tham gia của người dân trong toàn bộ quá trình từ quy hoạch tới sử dụng đất đai như một nguồn tài nguyên khan hiếm của quốc gia, đó chính là những điều cần phải làm để lý thuyết cũng như cây đời mãi mãi tươi xanh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất lương thực Việt Nam trong giai đoạn cận suy thoái kinh tế thế giới      Giá gạo bỗng nhiên tăng cao khiến người ta vừa lo vừa mừng. Mừng là vì suốt một thời gian quá dài, người nông dân trồng lúa vô cùng cực khổ, nhưng luôn luôn bị thua thiệt, lợi tức tuy có tăng nhưng so mặt bằng giá cả trong xã hội thì mức tăng đó không đáng kể, vì giá lúa luôn luôn bị kiềm chế ở mức thấp. Ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đa số người dân sống nhờ cây lúa phải chịu bán lúa giá thấp cho số ít người không trồng lúa. Lo là vì giá gạo tăng cao sẽ “góp phần cho lạm phát” trong nước. Nhưng có thật thế không?    Nhìn lại những diễn biến về thị trường lúa gạo trong mấy tháng nay, chúng ta thấy rằng sau khi Việt Nam trúng thầu vào đầu tháng 2/2008 cung cấp 300.000 tấn gạo cho Philippines với giá 320 USD/tấn loại 25% tấm và 340 USD/tấn loại 5% tấm, thì giá gạo Philippines bỗng nhiên tăng từ 18 P/kg (tương đương 7.020 đồng) lên 12.400 đồng/kg, và giữa tháng 4/2008 lên đến 14.820 đồng/kg (tương đương 775 USD/tấn). Chính phủ Philippines dự báo vụ lúa tới sẽ trúng mùa, nhưng thấy vật giá leo thang, những nhà giàu lo mua gạo dự trữ khiến cho bọn đầu cơ không đưa gạo ra thị trường. Cơ quan Lương thực của Nhà nước phải xuất kho dự trữ để bán phân phối với giá bù lỗ 7.020 đồng/kg cho dân nghèo. Đồng thời cảnh sát Philippines đang truy lùng bọn đầu cơ gạo, và cho đến ngày 14/4 đã bắt 16 nhà đầu cơ (phần lớn là người Philippines gốc Hoa). Vì lúa của Philippines chưa gặt, mà kho dự trữ sắp cạn, Tổng thống Philippines, Gloria Arroyo đã điện thoại cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xin mua gạo khẩn cấp với giá 700 USD mỗi tấn. Giá gạo tăng đột biến lại xuất phát từ chính Philippines, nước có Viện Quốc tế nghiên cứu lúa (IRRI) từ gần 40 năm nay. Các chuyên gia đã phân tích tình trạng thiếu gạo của Philippines là vì trong khi dân số tăng rất nhanh (nay đã gần 100 triệu vì không có chính sách kế hoạch hóa gia đình), Nhà nước đã vội vã chuyển đất lúa cho các công trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trong khi nông dân mất đất không có việc làm lại rất đông. Trong khi đó, tình hình sản xuất lúa của một số quốc gia Đông Nam Á cũng không suôn sẻ: Indonesia, Bangladesh và miền Trung Việt Nam bị ngập lũ, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam bị rét kéo dài đã làm thiệt hại một số diện tích cây lương thực; miền Nam Việt Nam lại bị rầy nâu và bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá phá hại đôi chút. Tất cả đã khiến nguồn cung cấp gạo cho thị trường quốc tế bị giảm đáng kể.  Giá gạo tăng đột biến lại xuất phát từ chính Philippines, nước có Viện Quốc tế nghiên cứu lúa (IRRI) từ gần 40 năm nay. Các chuyên gia đã phân tích tình trạng thiếu gạo của Philippines là vì trong khi dân số tăng rất nhanh (nay đã gần 100 triệu vì không có chính sách kế hoạch hóa gia đình), Nhà nước đã vội vã chuyển đất lúa cho các công trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trong khi nông dân mất đất không có việc làm.   Trong khi đó, nhu cầu về gạo lại tăng nhanh từ đầu năm 2008, mà nguồn gốc sâu xa có thể qui về chính sách năng lượng mới khuyến khích sử dụng ngũ cốc (bắp, lúa mì) để lên men tạo rượu cồn ethanol thay thế xăng của Mỹ. Năm 2005, Tổng thống Mỹ G. Bush ký ban hành luật “An toàn năng lượng thế kỷ 21” buộc giảm sử dụng xăng dầu bằng cách pha nguyên liệu sinh học (cồn ethanol, dầu biodiesel) vào xăng dầu (năm 2006 pha 3%; 2009 pha 5%; 2012 pha 10% và tới năm 2017 là 15% ethanol). Từ đó, nông dân trồng bắp của Mỹ đã đua nhau xây nhà máy chưng cất cồn ethanol, khiến giá bắp từ 1,6 USD/bushel (36 lít) lên 3,27 USD/bushel. Lượng ethanol sản xuất vượt qua khả năng chuyên chở nên bị ứ đọng và rớt giá từ 2 USD/gal (3,8 lít) xuống còn 1,55 USD/gal. Thêm vào đó, sản lượng lúa mì của châu Úc sản xuất cũng bị giảm do hạn hán, nên giá bột mì tăng gần gấp 3 lần trong vòng 2 năm qua, khiến cho những quốc gia từng lệ thuộc vào bột mì và bắp không mua nổi giá cao đó, họ chuyển sang sử dụng gạo, đẩy nhu cầu gạo tăng lên.  Một lý do khác khiến thiếu hụt ngũ cốc là sự thay đổi tập quán ăn của những người dân khá giả. Họ thích ăn nhiều thịt và cá hơn là ăn nhiều cơm như trước. Lượng hạt lương thực cho người đã được các công ty chế biến thức ăn gia súc và cá tôm sử dụng ngày càng tăng.  Không thể nói “vì để kiềm chế lạm phát” và “để bảo đảm an toàn lương thực quốc gia” mà không cho xuất khẩu gạo. Trước hết, tình trạng lạm phát của Việt Nam là do điều hành vĩ mô chưa hiệu quả. Và “bảo đảm an toàn lương thực” lại là một lý do khó chấp nhận vì vụ đông xuân 2007-2008 của ĐBSCL vẫn trúng mùa.   Tóm lại, khối lượng ngũ cốc (gạo, bắp, lúa mì) bị giảm trong khi nhu cầu tăng quá nhanh, kết hợp tình trạng con buôn đầu cơ đã khiến cho giá các hạt lương thực tăng nhanh, đúng theo qui luật cung cầu của nền kinh tế thị trường.  Ngày 15/4/2008, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan đã lên đến 1.000 USD/tấn loại 25% tấm. Trong giai đoạn này chỉ có Thái Lan hưởng lợi, trong khi nông dân Việt Nam phải bó tay, ngậm ngùi nhìn gạo của mình chỉ được các công ty quốc doanh của nhà nước mua dễ dàng với giá quá rẻ so với giá của nông dân đồng nghiệp ở Thái Lan. Tôi nghĩ đây là một sự thiệt thòi lớn cho nông dân ĐBSCL. Chúng ta không thể nói “vì để kiềm chế lạm phát” và “để bảo đảm an toàn lương thực quốc gia” mà không cho xuất khẩu gạo. Trước hết, tình trạng lạm phát của Việt Nam, trầm trọng hơn các nước láng giềng, không phải do gạo lên giá mà là do điều hành vĩ mô chưa hiệu quả (bắt đầu cội rễ từ quyết định cho lên giá xăng dầu, đến những đầu tư công kém hữu hiệu). Và “bảo đảm an toàn lương thực” lại là một lý do khó chấp nhận vì vụ đông xuân 2007-2008 của ĐBSCL vẫn trúng mùa, theo đánh giá của Bộ trưởng Cao Đức Phát và qua quan sát đồng ruộng các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang, Tiền Giang. Và vụ hè thu 2008 đã bắt đầu mạnh. Chúng ta có thể thu hoạch mùa lúa mới chỉ trong vòng 80-90 ngày với những giống lúa cao sản, kháng rầy nâu. Nói cách khác, lý do không xuất khẩu gạo để “bảo đảm an toàn lương thực” là khó được bà con nông dân của ĐBSCL chấp nhận. Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước ưu tiên ủng hộ người nông dân nghèo ở ĐBSCL hơn là quá ưu tiên cho những tầng lớp khác.  Việt Nam chúng ta có thể làm gì?  Đề nghị các tỉnh không nên khuyến khích nông dân trồng giống lúa chất lượng cao, mà chỉ nên trồng giống lúa cao sản kháng rầy nâu. Đây là thời buổi thế giới cần có nhiều gạo để ăn, không nhất thiết phải có gạo ngon.   Vừa qua, Bộ NN&PTNT đã có họp với các tỉnh ĐBSCL, và cho phép nông dân làm vụ 3. Đó là một hướng đi hợp lý. Thêm vào đó, chúng tôi đề nghị các tỉnh không nên khuyến khích nông dân trồng giống lúa chất lượng cao, mà chỉ nên trồng giống lúa cao sản kháng rầy nâu. Chúng ta nên thấy rằng Việt Nam không có khả năng cạnh tranh với Thái Lan để xuất khẩu gạo cao cấp, vì giống lúa thơm của Thái Lan thật sự rất thơm, nhưng dài ngày và năng suất thấp (khoảng 3 tấn/ha). Họ có nhiều gạo để xuất khẩu vì diện tích lúa của họ trên 10 triệu ha (ta thì chỉ còn dưới 4 triệu ha) mà dân của họ chưa đến 70 triệu. Thái Lan thì không có nơi nào sản xuất đại trà 7 tấn/ha như của Việt Nam vì chúng ta trồng giống cao sản ngắn ngày kháng rầy nâu, 3 vụ/năm đến 7 vụ/2 năm. Đây là thời buổi thế giới cần có nhiều gạo để ăn, không nhất thiết phải có gạo ngon. Vì vậy, nếu ta trồng giống kháng rầy năng suất cao, Việt Nam sẽ liên tục sản xuất nhiều gạo hơn mà không phải lo chống diệt rầy nâu, bệnh lúa rất tốn kém như trong vài năm qua.  Vấn đề đầu cơ tích trữ gạo như ở Philippines từ hai tháng qua, như đã nói ở trên, nay có hiện tượng lan rộng khắp nơi trên thế giới, ngay tại các nước đang có đầy đủ gạo như Hoa Kỳ, Thái Lan, và Việt Nam. Dấu hiệu tích trữ để đầu cơ có thể được quan sát trên các tỉnh ĐBSCL hiện nay: nhiều doanh nghiệp và thương lái thu mua và giữ lúa gạo, nông dân mới gặt lúa đông xuân muộn cũng muốn giữ lúa lại chờ giá, hoặc đòi bán giá cao theo hướng giá của Thái Lan, nơi mà giá gạo liên tục tăng từ đầu tháng 4-2008 đến nay. TCT Lương thực Việt Nam cũng sẽ bán cho Philippines với giá 1.200 USD/tấn gạo. Lịch sử khan hiếm gạo luôn lặp lại vì bọn đầu cơ lương thực gây ra. Nếu Nhà nước không mạnh tay với bọn đầu cơ tích trữ thì họ sẽ lũng đoạn nền kinh tế. Tôi nghe kể lại trong lịch sử miền Nam Việt Nam, khoảng năm 1966 khi Ông Nguyễn Cao Kỳ còn là Thủ tướng, gạo trở nên hiếm, giá gạo bị đẩy lên gấp 3 lần. Ông Kỳ cho mời 12 người đầu nậu mua bán lúa gạo vào Dinh Độc lập, viết tên họ trong 12 tấm phiếu rồi nói với họ rằng nếu trong vòng 24 tiếng đồng hồ mà giá gạo không xuống thì Ông bốc ra phiếu tên ai thì sẽ xử bắn người đó. Ngày hôm sau giá gạo trở lại bình thường.  Song song với lúa, Nhà nước và các tỉnh nên xem lại qui hoạch để tìm ra các vùng sản xuất cây trồng khác lúa. Chúng ta nên khuyến khích nông dân tăng gia trồng khoai lang, khoai mì và bắp ở các vùng khó khăn vì đất và nước tưới. Quy hoạch cơ cấu, diện tích cây trồng phải hài hoà và rất thận trọng, không nên xoá diện tích cây công nghiệp vội. Vì sao? Vì rút kinh nghiệm khủng hoảng gạo của Nhật Bản -Trung Quốc năm 1995. Sau năm đó, Việt Nam và Trung Quốc đều tập trung gia tăng trồng lúa. Nhưng mùa lúa 1996 của Nhật lại bình thường, họ không nhập của Trung Quốc nữa, và do đó Trung Quốc không nhập gạo của Việt Nam. Giá gạo trở lại bình thường, phá tan hy vọng bán giá cao của Việt Nam.  Bây giờ, cả nông dân Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ đều đang tập trung trồng lúa cao sản, ở Philippines và Indonesia cũng vậy. Liệu giá gạo sẽ tiếp tục tăng cao hay không? Câu trả lời có thể là “sẽ tiếp tục tăng, nhưng không quá cao như hiện nay.” Giá 1.000 USD/tấn chỉ là nhất thời khi lượng cung còn ít như hiện nay mà thôi. Thái Lan bán được giá cao một phần nhờ Chính phủ Việt Nam giúp – cấm xuất khẩu gạo Việt Nam.     Võ Tòng Xuân       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất vaccine Việt Nam: Tình huống trớ trêu      Sau khi mất gần hai năm phát triển và sản xuất vaccine COVID, dồn tâm huyết và cả nguồn lực để chạy đua với đại dịch, các nhà sản xuất Việt Nam vẫn chưa thể về đích khi sản phẩm của họ mới chỉ tồn tại với cái mũ vaccine dự tuyển. Trước mắt điều gì chờ đón họ?    Chỉ có sự bất định, dẫu đại dịch vẫn đang tiếp diễn và virus SARS-CoV-2 đã tự “hoán cải” qua bao lần đột biến…  Vì sao vậy? Đó là câu hỏi mà cả Nanogen và IVAC – hai công ty phát triển và sản xuất vaccine COVID-19 là Nanocovax và COVIVAC, còn ngơ ngác chưa thể trả lời ngay được, dẫu là người nhập cuộc với quyết tâm làm bằng được một vaccine “make in Vietnam” để có thể giúp chủ động ngăn chặn đại dịch trong nước bởi họ cảm thấy trách nhiệm của mình ở đó.  Vào đầu tháng 3/2020, cú điện thoại của giáo sư Nguyễn Thanh Long, người sau đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế, tới IVAC “Corona thành đại dịch rồi, IVAC tính sao? Đã bắt đầu nghiên cứu vaccine này chưa? Nếu cần thì công nghệ nào?” càng khiến những người làm vaccine ở IVAC cảm thấy thêm phần nỗ lực.       Nghiên cứu và phát triển vaccine COVID. Nguồn: Báo Chính phủ       Thế nhưng ở thời điểm này, có những điều diễn ra không thể ngờ, đó là việc hồ sơ xin cấp phép khẩn cấp Nanocovax của Nanogen vẫn còn được cân nhắc trên bàn xét duyệt và đáng buồn hơn là COVIVAC, dù được đại diện Bộ Y tế và các chuyên gia đánh giá có chất lượng rất tốt, giá thành dự kiến rất rẻ (sơ bộ đánh giá bằng ½ giá vaccine trên thị trường) trong cuộc họp chiều ngày 22/3/2021 của Thường trực Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19, đã không còn cơ hội thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba. Cả ê kíp thử nghiệm lâm sàng giai đoạn một và hai, do giáo sư Đặng Đức Anh và phó giáo sư Vũ Đình Thiểm (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương) dẫn dắt, lẫn IVAC đều cho biết, không thể triển khai giai đoạn ba như dự kiến do không tìm được nơi đáp ứng hai yêu cầu là chưa nhiễm COVID và chưa tiêm vaccine.  Không thể triển khai giai đoạn ba có phải là điểm kết thúc cho một vaccine? Có còn cơ hội cho họ? Không ai dám chắc được câu trả lời…  Nỗ lực bỏ lửng  Giữa cả trăm nhà sản xuất vaccine trên thế giới tham gia phát triển vaccine COVID, cả Nanogen lẫn IVAC đều là những nhà vô địch “hạng ruồi” (hạng cân nhỏ nhất của quyền Anh). Ở thời điểm đó, ước mơ làm ra một vaccine COVID có vẻ nằm ngoài tiềm lực của họ, ví dụ như Nanogen chỉ là tay ngang, chưa sản xuất vaccine bao giờ còn IVAC là tên tuổi vô danh trong ngành vaccine thế giới. Thế nhưng cuối năm 2020, họ đã có câu trả lời cho mình, đó là việc làm ra được một vaccine dự tuyển.  Kết quả ban đầu thật mĩ mãn. Trong phiên họp vào ngày 22/3/2021, Bộ Y tế báo cáo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam rằng với Nanocovax, sau khi kết thúc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1, 100% người được tiêm đều an toàn, sinh kháng thể với nồng độ cao, có tác dụng bảo vệ tốt và được thử nghiệm hiệu quả trên các biến thể mới của virus SARS-CoV-2 như chủng phát hiện ở Anh. Còn với COVIVAC, theo thông tin mà họ công khai trên trang web của mình sau khi có kết quả phê duyệt của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Quốc gia (Bộ Y tế) vào ngày 7/8/2021: về an toàn, tất cả bốn nhóm liều an toàn, dung nạp tốt; về đáp ứng miễn dịch: tất cả bốn nhóm mức liều khác nhau đều có đáp ứng miễn dịch kháng thể trung hòa SARS-CoV-2 và kháng thể IgG kháng protein gai ở các mức độ khác nhau.  Không thể kể hết niềm vui của những người làm vaccine, cũng như không thể kể hết niềm vui của những người ở Việt Nam, vốn đang chờ đợi một sản phẩm vaccine, khi biết thông tin này. Có lẽ, họ chỉ biết rằng vậy là Việt Nam cũng có thể có vaccine chứ không biết đằng sau đó là cả cố gắng không thể kể hết để làm ra một vaccine đại dịch với giá thành chấp nhận được ở một quốc gia còn yếu về tiềm lực như Việt Nam. “Tôi nghĩ rằng Nanogen phải có một ‘mẹo’ gì đấy, một cú twist (thay đổi) gì đấy trong lúc sản xuất vacine bởi họ đã đạt được năng suất rất cao nhằm hạ giá thành chứ bình thường vaccine theo công nghệ này (protein tái tổ hợp) khá đắt”, một nhà quan sát diễn biến phát triển vaccine ở Việt Nam trong suốt hai năm đã nhận xét như vậy.  Đó cũng là điều nằm lòng với IVAC, những người sẵn sàng trả lời câu hỏi của giáo sư Nguyễn Thanh Long, ngay cả ở thời điểm ông vẫn còn chưa nắm chức Bộ trưởng Bộ Y tế “IVAC đã có công nghệ, có nhà máy sản xuất, có sẵn nguyên vật liệu, nhân lực, IVAC cũng cập nhật tình hình phát triển vaccine cùng WHO, PATH…. Nếu có cơ hội và điều kiện phù hợp thì IVAC sẽ sản xuất ngay”. Sau hơn cả thập kỷ, việc làm chủ được công nghệ, dây chuyền sản xuất và nguyên vật liệu trong tay đã góp phần làm nên thành công bước đầu này.  Nanogen và IVAC đã thành công ở chỗ người khác chưa làm được. VABIOTECH và Polyvac cũng tuyên bố theo đuổi vaccine nhưng sau đó đã nhận thấy một cách làm khác để có thể có vaccine tại Việt Nam: gia công đóng ống Spunik V để tham gia sản xuất một vaccine COVID-19 cho khu vực và thế giới. Tuy nhiên, Polyvac đã dừng ngay ý định này và vai trò chuyển sang VABIOTECH một cách trọn vẹn. Vào ngày 26/8/2021, lô vaccine Sputnik V mã số SV-030721M sản xuất tại VABIOTECH đã được Viện nghiên cứu quốc gia về dịch tễ học và vi sinh vật Gamalaya (Nga) đánh giá đáp ứng yêu cầu và gần một tháng sau đó VABIOTECH công bố sản xuất thành công lô vaccine COVID-19 Sputnik V đầu tiên tại Việt Nam (quy mô sản xuất của VABIOTECH là 5 triệu liều/tháng).       VABIOTECH đóng ống vaccine Sputnik V. Nguồn: VABIOTECH     Nhưng rút cục thì những gì người ta chứng kiến lại quá trái ngược: vaccine COVIVAC không thể thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba, Nanocovax chưa được phê duyệt khẩn cấp giữa kỳ và một triệu liều Sputnik V vẫn “cất kho” mấy tháng chờ quyết định (dự kiến trong tháng 12 có thể xuất xưởng).  Tất cả những nỗ lực đó dường như vẫn chưa đủ để đưa họ về đích. Có lẽ, chỉ có Polyvac không phải chịu cảnh này vì họ đã lần lượt rút chân khỏi dự án COVID.  Khi mở quyền sử dụng sáng chế về vaccine NDV-HXP-S cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Thái Lan và Brazil – vốn được đánh giá là “vaccine đạt tiêu chuẩn thế giới”, hai nhà khoa học Jason McLellan (ĐH Công nghệ Texas ở Austin) và Peter Palese (trường Y khoa Icahn tại Mount Sinai) đều không thể ngờ trước được tình huống này…    Như vậy liệu đã đủ tuyệt vọng?  Rủi ro trong rủi ro  Nếu nói việc sản xuất vaccine COVID ẩn chứa quá nhiều rủi ro bởi ngay cả ông lớn như GlaxoSmithKline, Sanofi đều nếm mùi thất bại thì với các nhà sản xuất ở Việt Nam, rủi ro ấy còn tăng gấp đôi. Nguyên nhân nằm ở chính quá trình vận hành phát triển của nền sản xuất vaccine, trên các loại vaccine khác.  Như nhiều lần trao đổi với Tia Sáng, giáo sư Nguyễn Thu Vân, một chuyên gia kỳ cựu về vaccine ở Việt Nam, cho rằng, một trong những điều bà cảm thấy buồn là việc Việt Nam còn thiếu một chiến lược về sản xuất và sử dụng vaccine cho người trong khi lại dựa nhiều vào nguồn vaccine được viện trợ không hoàn lại của quốc tế. “Điều này làm giảm rất lớn nhu cầu đặt hàng của Nhà nước đối với các nhà sản xuất vaccine trong nước, khiến chúng tôi không thể đẩy mạnh quy mô sản xuất dù đã được Nhà nước đầu tư đáng kể (một số cơ sở sản xuất vaccine đã được đầu tư tới trên 30 triệu USD)”, bà cho biết. Do không được đặt hàng đúng với khả năng cung ứng của nhà sản xuất và lượng vaccine viện trợ vẫn được ưu tiên sử dụng (dù nguồn cung này không phải khi nào cũng ổn định) nên mới xảy ra nghịch lý: các nhà máy hoạt động với công suất rất thấp trong khi vẫn có thời điểm trong nước thiếu vaccine.      Câu chuyện của quốc tế và câu chuyện của Việt Nam quanh việc sản xuất vaccine thông thường và vaccine COVID khiến người ta nhận ra, sản xuất được vaccine không chỉ để làm ra một sản phẩm kiểm soát dịch bệnh mà còn là tiềm lực công nghệ của một quốc gia. Và chính sách là để các nhà sản xuất có thể có đủ năng lực vượt qua rủi ro.      Nhìn sâu vào bản chất vấn đề, người ta sẽ thấy nghịch lý tồn tại trong nghịch lý, đó là nó làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành vaccine. Vì phải hoạt động với công suất thấp so với công suất thực của dây chuyền sản xuất nên chi phí vận hành, sản xuất của vaccine nội cao hơn so với vaccine ngoại. Mặt khác, việc Nhà nước đặt hàng các cơ sở sản xuất cho Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia với mức giá “10 năm nay không thay đổi”, theo tiết lộ của một nhà sản xuất vaccine, cũng khiến họ vốn đã bán được ít hàng, lại còn phải chịu mức giá quá lạc hậu, trong khi bản thân họ vẫn phải liên tục vận hành, bảo trì trang thiết bị, trả lương cho đội ngũ cán bộ nhân viên…  Không được đặt hàng phù hợp đủ năng lực, nếu được đặt hàng thì mức giá lạc hậu, nguồn thu hạn hẹp…, tất cả như cái vòng lẩn quẩn. Điều này dẫn đến hệ quả là các nhà sản xuất vaccine Việt Nam không có điều kiện nâng cao năng lực đội ngũ, không có tiềm lực để có thể tham gia vào các liên minh lớn, không có cơ hội phát triển những sản phẩm mới và lại càng không có điều kiện xuất khẩu vaccine. Từ trước đến nay, một số sản phẩm của một vài nhà sản xuất được xuất đi nước ngoài là ở dưới dạng trao đổi chứ chưa có sản phẩm nào của Việt Nam được WHO đặt hàng. Theo lý giải của một nhà sản xuất, muốn được WHO đặt hàng, họ phải đạt tiêu chuẩn tiền thẩm định (Prequalification of Medical Products) của WHO với những tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng, con người hết sức ngặt nghèo và phức tạp mà chỉ người trong nghề mới hiểu rõ. Với nguồn lực hiện nay, không nhà sản xuất vaccine của Việt Nam nào có thể được WHO cấp phép.  Do vậy, nếu ai hỏi “nhu cầu trong nước thấp, tại sao không bán sản phẩm ra nước ngoài?” thì có lẽ là họ không hiểu được cái khó của nhà sản xuất vaccine. Không cần lao tâm khổ tứ vì COVID, bản thân công việc của các nhà sản xuất đã sẵn có rủi ro rồi.  Đường xa nghĩ nỗi sau này…  Vào tháng 10/2021, khi dịch bệnh vẫn còn chưa có dấu hiệu bớt thì Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia “Nghiên cứu sản xuất vaccine sử dụng cho người đến năm 2030” được phê duyệt. Ai cũng mừng vì đây là một chính sách quá hợp lý và kịp thời để thúc đẩy nền sản xuất vaccine trong nước làm ra được nhiều sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế, không chỉ để phòng ngừa dịch bệnh mà còn có thể cứu chữa người mắc một số bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, nếu nhìn lại thực trạng nền sản xuất vaccine trong nước và những gì đến với các nhà sản xuất trong quá trình phát triển vaccine COVID-19, mới thấy một trong số những mục tiêu của chương trình là “từng bước đưa vaccine Việt Nam tham gia thị trường quốc tế” khó trở thành hiện thực, dẫu dè dặt nêu là “từng bước”.  Ở một quốc gia nhiệt đới ẩm gió mùa như Việt Nam, hằng năm phải đối diện với rất nhiều bệnh truyền nhiễm thì vô cùng cần thiết có một nguồn cung vaccine ổn định và năng lực sẵn sàng cung cấp vaccine. Tuy nhiên nếu quan sát đại dịch này, người dân vẫn được tiêm vaccine COVID qua hai nguồn viện trợ và đặt hàng thì có phải sẽ không cần đến các nhà sản xuất nữa? Trong một cuộc trao đổi vào năm 2012, giáo sư Nguyễn Thu Vân đã cho rằng “Đúng là viện trợ không hoàn lại giúp giảm bớt nguồn chi từ ngân sách dành cho sản xuất vaccine trong nước, đồng thời giúp người dân được sử dụng những sản phẩm vaccine tiên tiến của nước ngoài nhưng việc lệ thuộc nguồn cung cấp vaccine quốc tế sẽ khiến chúng ta trả giá khi quốc tế ngừng viện trợ”. Điều gì sẽ xảy ra khi nguồn cung từ nước ngoài trục trặc? Bà dẫn một bài học đau xót trong lịch sử vaccine: khi Liên Xô mới sụp đổ, nền sản xuất vaccine bị ảnh hưởng. Do đó khi ấy, nước Nga không tiêm chủng đủ cho trẻ em và dịch bạch hầu bùng phát, mặc dù từ trước đó rất lâu bệnh bạch hầu đã không còn xuất hiện. “Hy vọng rằng câu chuyện này sẽ không xảy ra ở Việt Nam”, bà nói.  Trong những ngày dịch bệnh bùng phát, nhóm nghiên cứu Một sức khỏe ở Quito, Ecuador và Barcelona, Tây Ban Nha, đã có công bố đáng chú ý “Vaccine market and production capabilities in the Americas” (Thị trường vaccine và những năng lực sản xuất ở châu Mỹ) xuất bản trên tạp chí Tropical Diseases, Travel Medicine and Vaccines, trong đó đề cập đến một vấn đề: “Chúng tôi nhận ra rằng các quốc gia đầu tư lớn vào R&D đều có những năng lực sản xuất vaccine với giá trị gia tăng cao. Do đó, chúng tôi nhấn mạnh đến sự cần thiết cho các quốc gia có ít hoặc không có nhu cầu sản xuất vaccine vẫn cần tự đầu tư và cải thiện năng lực công nghệ sản xuất vaccine. Sự phát triển của công nghệ sinh học sẽ giúp đất nước đó thoát khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế và chuyển một nền kinh tế chuyên xuất khẩu vật liệu thô sang xuất khẩu sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế”.  Câu chuyện của quốc tế và câu chuyện của Việt Nam quanh việc sản xuất vaccine thông thường và vaccine COVID khiến người ta nhận ra, sản xuất được vaccine không chỉ để làm ra một sản phẩm kiểm soát dịch bệnh mà còn là tiềm lực công nghệ của một quốc gia. Và chính sách là để các nhà sản xuất có thể có đủ năng lực vượt qua rủi ro.  Bởi xét cho đến cùng, việc làm ra sản phẩm như vậy không thể chỉ dựa vào nhiệt huyết như lời chia sẻ của PGS. TS Lê Văn Bé vào tháng 5/2021 “Dĩ nhiên là chúng tôi dự đoán được tất cả những khó khăn đó nhưng cái tâm của những người làm vaccine không cho phép mình trì hoãn đắn đo. Khi mình có sẵn công nghệ, có nhà máy thì tại sao mình không làm?”.     Theo khoahocphattrien.vn        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo và thịnh vượng trí tuệ      “Sáng tạo là điều VN đang rất cần”. Tôi rất thích ý kiến này của tân Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải trên báo Tuổi trẻ 3/8/2007.        Khi qua ngưỡng nghèo vào năm 2010-15 thì sự sáng tạo sẽ là chìa khóa để quốc gia tiến vào khu vực các nước công nghiệp hóa. Chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định sự thịnh vượng. Nền tảng của thịnh vượng lại chính là thịnh vượng trí tuệ. Như vậy tố chất sáng tạo sẽ là “cái đũa thần” giúp hóa rồng? Ông Lý Quang Diệu, một tác giả của con rồng Singapore cũng nhấn mạnh sự sáng tạo”nếu không muốn quay lại là một làng chài như 42 năm trước”.  Kỳ IMO vừa qua các mầm toán học của ta đứng thứ 3 thế giới. Còn toán học thật của ta đứng thứ mấy? Ông Lương Thế Vinh tương truyền biết đổ nước lấy quả bưởi khi còn bé và lớn lên có soạn Tập thành toán pháp, đã thất lạc. Nếu không thất lạc ông có đóng góp cho toán học điều gì mới không? Các vị tiến sĩ trên bia Văn Miếu đóng góp gì cho sự thịnh vượng trí tuệ của dân tộc và  nhân loại? Điều chắc chắn là họ đã làm quan và phần lớn là quan quan liêu. Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh hoan hỷ thông báo năm nay giáo dục phổ thông của TP vọt lên thứ nhất cả nước và với đà này “10-15 năm tới sẽ đuổi kịp các nước trong khu vực”. Một tác giả phương Tây viết về thi và học đại học ở Việt Nam như một tranh hoạt kê: Cứ tưởng có bạo động, cảnh sát dăng hàng, mọi sinh viên bị lục soát, hóa ra thi đại học. Thí sinh thường ăn đậu xanh trước khi đi thi, cầu đỗ. Nhà nào muốn hiệu quả hơn đậu xanh thì thuê thi hộ. Tỷ lệ học sinh được vào đại học chỉ 10%, chưa bằng 1/4 ở Thái Lan. Chương trình đại học do Bộ quy định nặng học tư tưởng, đạo đức… Sinh viên thông minh nhưng không học được gì nhiều. Ra trường thường không được tuyển dụng. Ông này thành tâm cấp báo về việc cấp tốc phải cải tổ đào tạo đại học nếu Việt Nam không muốn tự lừa dối mình. (Kay Johnson, Stresses of Vietnam’s Exam Season. Time in Partnership with CNN, 12/7/2007, Phan Tường Vi lược dịch).  Không thể không tự hào về Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm… và các nhà thơ cổ điển tiếng Việt. Cũng nên vô cùng tự hào về các tổ làng nghề, những nhà công nghệ thành đạt và các thương gia đã tạo nên các trung tâm thương mại mạnh thời Trịnh – Nguyễn, các ông Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Công Trứ… khai mở đất đai canh tác. Nên rất tự hào về các bậc thầy điêu khắc, kiến trúc, làng gốm Việt, Chăm và K’me từng đóng góp những di sản tầm quốc tế. (Có lẽ là những gì tốt nhất mà dân ta đã góp vào sự thịnh vượng trí tuệ của nhân loại). Song dù tự hào hết cỡ chúng ta vẫn không thể nói đất nước ta thịnh vượng về trí tuệ được.  Người Việt chỉ thông minh vừa đủ để là học trò sáng dạ và thầy giáo cần mẫn. Ông giáo sư sử học trên VTV ề à quanh một ngôi đền nhỏ xíu giới thiệu một “Danh nhân đất Việt” xưa: “Cụ… học rất giỏi, thi đỗ năm… làm quan ở… Rất thanh liêm, sau về trí sĩ mở trường dạy học, học trò rất đông. Khi mất được lập ban thờ tại đây”.  Chấm hết. Không một trước tác, phát minh, sáng tạo hay tác phẩm nào của cụ và các học trò được nêu ra, vì không có! Từ khi đổi mới nhiều người muốn mổ xẻ các thói hư tật xấu của người Việt để  cảnh tỉnh. Không thích, ngại, sợ cái mới là một “tật xấu” được nêu ra. (Xem các bài của Vương Trí Nhàn trên TH&VH các số tháng 6 và 7/2007). Ngại cái mới tất là kém – không sáng tạo, một lý do dẫn tới việc hầu hết các nhà cải cách, duy tân của ta từ 6 thế kỷ nay luôn thất bại.  Cần xóa bỏ sự tự huyễn hoặc về mình, rằng người Việt thông minh sáng tạo giống như ta đã bỏ sự ảo tưởng rằng đất nước ta “rừng vàng biển bạc”. Cần giáo dục để  20 triệu HS-SV thấm thía rằng người Việt chưa giỏi, chưa sáng tạo và không thịnh vượng về trí tuệ. Vì thế cần cắn răng mà học cho tới nơi tới chốn và “xả thân” mà sáng tạo trong mọi công việc của mình như cha ông từng xả thân trong kháng chiến gìanh độc lập.  Lãnh đạo và trí thức cần dũng cảm nhìn nhận thực trạng của mọi lĩnh vực đời sống kinh tế- xã hội để từ đó xây dựng một chiến lược giáo dục đào tạo, một môi trường luật pháp, cộng đồng sao cho tính sáng tạo có thể nảy nở.  Chính phủ nhiệm kỳ mới “có màu sắc kỹ trị” đã đặt một trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực sáng tạo, ưu tiên cải cách triệt để giáo dục đào tạo và phát triển khoa học công nghệ. Thật đáng mừng.      Nguyễn Bỉnh Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao cho được lòng dân?      …  Muốn cho d&#226;n y&#234;u, muốn được l&#242;ng d&#226;n, việc g&#236; c&#243; lợi cho d&#226;n phải hết sức l&#224;m, việc g&#236; c&#243; hại cho d&#226;n phải hết sức tr&#225;nh. Phải ch&#250; &#253; giải quyết hết c&#225;c vấn đề dầu kh&#243; đến đ&#226;u mặc l&#242;ng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của d&#226;n. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho d&#226;n mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nh&#226;n cho chu đ&#225;o, phải ch&#250; &#253; trừ nạn m&#249; chữ cho d&#226;n. N&#243;i t&#243;m lại, hết thảy những việc c&#243; thể n&#226;ng cao đời sống vật chất v&#224; tinh thần của d&#226;n phải được ta đặc biệt ch&#250; &#253;.    Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được.  Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư.           Chiến Thắng           Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12-10-1945    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao cứ bàn mãi về những điều hiển nhiên      Mỗi năm, Nh&#224; nước chi ra khoảng 400 triệu USD cho nghi&#234;n cứu khoa học.&nbsp;Phần lớn ng&#226;n s&#225;ch n&#224;y d&#224;nh cho x&#226;y dựng cơ sở vật chất, hơn l&#224; t&#224;i trợ trực tiếp cho c&#225;c c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu.&nbsp;Tuy nhi&#234;n, năng lực khoa học của nước ta vẫn c&#242;n qu&#225; thấp so với c&#225;c nước trong v&#249;ng.&nbsp;Trong năm 2008 (t&#237;nh đến th&#225;ng 10), c&#225;c nh&#224; khoa học Việt Nam chỉ c&#244;ng bố được 910 b&#224;i b&#225;o khoa học tr&#234;n 512 tập san khoa học quốc tế (so với 5553 b&#224;i của Singapore v&#224; 3310 của Th&#225;i Lan, hay 2194 b&#224;i của M&#227; Lai).&nbsp;Trong khi đ&#243;, nhiều nh&#224; khoa học trẻ ph&#224;n n&#224;n rằng t&#236;nh trạng k&#233;m cỏi của khoa học Việt Nam l&#224; hệ quả của vấn đề quản l&#237; ng&#226;n s&#225;ch, v&#224; &#8220;lực cản&#8221; từ những &#8220;c&#226;y đa, c&#226;y đề&#8221; đang cầm chịch nền khoa học nước nh&#224; nhưng kh&#244;ng c&#243; khả năng hội nhập quốc tế, v&#224; b&#225;m theo tư duy v&#224; lề lối l&#224;m việc thời bao cấp.          Cuối tháng 12/2008, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố thành lập Quĩ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (gọi tắt là NAFOSTED) với mục tiêu nâng cao khả năng lực nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, và tăng số lượng công trình khoa học trên các tập san quốc tế. Một tiến bộ trong Quĩ NAFOSTED là tính minh bạch và qui định người chủ nhiệm đề tài nghiên cứu phải có công trình công bố trên các tập san quốc tế trong vòng 5 năm qua. Cụm từ “tạp san quốc tế” ở đây đề cập đến những tập san khoa học được liệt kê trong danh sách của Viện thông tin khoa học ISI (Institute for Scientific Information, chứ không phải “Thomson Institute of Information”) [1]. Qui định này thể hiện một bước tiến mới trong chiều hướng tích cực, nhằm từng bước đưa các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động khoa học ở nước ta.   Nhưng mới đây, có ý kiến phản bác qui định trên của NAFOSTED. Trong một lá thư gửi cho Bộ KH&CN, nhân danh một hiệp hội khoa học, một vị giáo sư cho rằng qui định trên không hợp lí, vì:   “ (a) Đánh giá của ISI không phải là đánh giá chuyên gia mà thiên về tính thống kê.  (b) Có nhiều nước có trình độ nghiên cứu cơ bản vào hàng đầu thế giới nhưng không được tổ chức này đánh giá cao như Nga, Pháp, Đức, … thể hiện ở chỗ nhiều Tạp chí có tiếng của các nước này không được kể đến.”  Lí do đầu đưa ra vừa tối nghĩa vừa có phần đánh tráo vấn đề. Tối nghĩa là vì không ai biết “tính thống kê” là gì. Đánh tráo vấn đề ở chỗ đánh giá thành tựu một chuyên gia cần đến các con số thống kê. Viện thông tin khoa học không đánh giá một chuyên gia nào; họ chỉ cung cấp sản phẩm dưới hình thức thống kê về số lượng bài báo và chỉ số trích dẫn để nhà quản lí đánh giá thành tựu của một nhà khoa học hay một trung tâm nghiên cứu. Giới quản lí đặc biệt quan tâm đến các chỉ số trích dẫn mà công trình của chuyên gia đó được đồng nghiệp quan tâm (mà tôi đã giải thích trong một bài trước). Chỉ số trích dẫn chính là con số thống kê. Chỉ số trích dẫn có thể trích ra từ cơ sở dữ liệu của ISI.   Cho rằng các nước như Nga, Pháp Đức, v.v… không được đánh giá cao để xem thường ISI là hoàn toàn sai. Đánh giá nền khoa học của một nước không phải dựa vào con số tập san khoa học nước đó có trong ISI, mà là dựa vào năng lực và tầm ảnh hưởng của khoa học nước đó. Năng lực được phản ảnh qua số lượng công trình khoa học, bằng sáng chế, giải thưởng quốc tế, và đội ngũ nhà khoa học. Tầm ảnh hưởng thể hiện qua chỉ số trích dẫn.   Bảng sau đây (trích từ bài phân tích trên tập san Nature) cho thấy Nga nằm trong các nước hàng đầu về khoa học, nhưng không thể đứng chung với các nước Bắc Mĩ hay Tây và Bắc Âu được. Trong thời gian 1997-2001, Nga công bố 123.629 bài báo khoa học (so với 342.535 từ Anh, 318.286 từ Đức, 336.858 từ Nhật, và 232.058 từ Pháp). Mỗi bài báo của Nga được trích dẫn chỉ 2,5 lần, so với 5-9 lần của các bài báo từ các nước Bắc Mĩ và Tây Âu. Tính theo chỉ số ảnh hưởng, khoa học Nga đứng hàng 16, còn sau cả Do Thái. Do đó, cố tình “nhét” Nga vào danh sách tương đương với Pháp và Đức (tại sao thiếu Anh) theo tôi là không hợp lí.  Nói tóm lại, cáo buộc rằng ISI không đánh giá cao Nga là hoàn toàn không có cơ sở.               Số lượng bài báo khoa học và chỉ số trích dẫn của một số quốc gia trên thế giới             Nước (hạng)      Số bài báo khoa học      Chỉ số trích dẫn tính trên mỗi bài báo 1997-2001          1993-1997      1997-2001      Tăng trưởng (%)          Mĩ (1)      1.248.733      1.265.808      1,4      8,6          Anh (2)      309.683      342.535      10,6      7,3          Đức (3)      268.393      316.286      17,8      7,0          Nhật (4)      289.751      336.858      16,3      5,5          Pháp (5)      203.814      232.058      13,9      6,5          Canada (6)       168.331      166.216      -1,3      7,0          Ý (7)       122.398      147.023      20,1      6,6          Thụy Sĩ (8)      57.664      66.761      15,8      9,7          Hà Lan (9)       83.600      95.526      14,3      7,9          Úc (10)      89.557      103.300      15,3      6,0          Thụy Điển (11)      63.757      75.927      19,1      7,2          Nga (16)      121.505      123.629      1,7      2,5          Trung Quốc (19)      68.661      115.339      68,0      2,9          Hàn Quốc (20)      26.838      55.739      107,7      3,5          Đài Loan (24)      32.620      45.325      38,9      3,3          Singapore (27)      9.030      15.306      69,5      3,7          Toàn thế giới      3333464      3631368      8,9      6,0           Chú thích: Hạng của từng quốc gia được xếp dựa vào số công trình được trích dẫn nhiều nhất (top 1%). Nguồn: DA King. The scientific impact of nations. Nature 15/7/2004, trang 311-316.             Nói tóm lại, những nhận xét của vị giáo sư đầu ngành không đúng với thực tế và cũng chẳng hợp lí. Không có lí do gì Bộ KH&CN nghe theo những tư vấn thiếu cơ sở khoa học như thế.  Trong thời gian qua, chúng ta đã tiêu quá nhiều thời gian và công sức để thảo luận những điều quá hiển nhiên. Đã làm nghiên cứu khoa học, bất kể là khoa học cơ bản hay ứng dụng (thực ra sự phân chia này hoàn toàn không cần thiết), thì phải có “sản phẩm”. Sản phẩm phải thể hiện qua các bài báo khoa học công bố trên các tập san được giới khoa học quốc tế công nhận, qua bằng sáng chế, hay qua thành tựu được đưa vào ứng dụng thực tế. Đó là điều hiển nhiên. Ngân sách của nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học là một sự đầu tư, và không có nhà nước nào muốn bỏ đồng tiền ra mà không thu được lợi phẩm.   Nước ta hiện nay có 38.217 giảng viên dạy đại học; trong số này có 303 giáo sư, 1805 phó giáo sư, 5643 tiến sĩ. Thế nhưng năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp so với các nước trong vùng Đông Nam Á (chứ chưa dám so với các nước như Hàn Quốc hay Đài Loan). Hiện nay, con số ấn phẩm khoa học ở nước ta (khoảng 900 bài / năm) chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 1/5 của Singapore. Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, 20 năm nữa, con số bài báo khoa học nước ta có thể chỉ 2500 bài, tức chỉ bằng phân nửa con số của Singapore hay 20% thấp hơn Thái Lan của năm 2008. Thiết tưởng, những “cây đa, cây đề” từng cầm chịch và chi phối nền khoa học nước nhà trong một thời gian dài nên nhận lãnh một phần trách nhiệm của thực trạng tụt hậu này.   Để nâng cao thực lực khoa học, yếu tố quan trọng số 1 là con người. Cho dù Việt Nam có nhập những thiết bị khoa học hiện đại, nhưng nếu không có các nhà khoa học có kinh nghiệm sử dụng thì những thiết bị đó vẫn là một đống kim loại vô dụng. Do đó, Quĩ NAFOSTED, dù vẫn còn vài hạn chế về qui chế, là một chương trình có tiềm năng nâng cao năng lực khoa học và góp phần từng bước đưa nền khoa học nước ta hội nhập quốc tế. Nhìn qua bảng số liệu trên, chúng ta dễ dàng thấy các nước chung quanh ta tiến nhanh như vũ bảo: ấn phẩm khoa học của Hàn Quốc tăng gấp 2 lần, Trung Quốc và Singapore tăng gần 70%, Đài Loan tăng gần 40%. Trong khi các nước khác tiến nhanh như thế, ta chỉ loay hoay bàn chuyện có nên công bố quốc tế hay không!? Đã đến lúc khoa học và quản lí khoa học cần đổi mới, và những “cây đa, cây đề” nên tạo điều kiện để những nhà khoa học “muốn làm thật” có cơ hội phát huy tài năng.      Ghi thêm:  [1] Trong thư, tác giả viết “Thomson Institute of Information”, nhưng có lẽ đây là một hiểu lầm, vì không có viện nào với tên đó. Xin nhắc lại ISI là viết tắt của “Institute for Scientific Information”, do Eugene Garfield sáng lập vào năm 1960 chuyên đo lường năng lực khoa học. Sau này viện được công ti Thomson mua lại và nay được biết đến như là Thomson Scientific, một bộ phận thương mại của tập đoàn Reuters.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao để họ đứng ngoài cuộc ?      25 năm qua, L&#242; phản ứng hạt nh&#226;n Đ&#224; Lạt đ&#227; hoạt động li&#234;n tục, trung b&#236;nh 1300 giờ/năm – một chỉ ti&#234;u nổi bật trong số c&#225;c l&#242; phản ứng c&#249;ng loại tr&#234;n thế giới, được IAEA nh&#236;n nhận.  Gần đ&#226;y, nh&#243;m chuy&#234;n gia tại Đ&#224; Lạt đ&#227; bắt tay t&#237;nh to&#225;n thiết kế l&#242; phản ứng nghi&#234;n cứu mới, c&#244;ng suất gấp 20 lần l&#242; hiện nay. Tuy chưa phải l&#224; l&#242; năng lượng trong nh&#224; m&#225;y điện hạt nh&#226;n, song thử hỏi ở nước ta mấy ai c&#243; bề d&#224;y kinh nghiệm hơn họ về ng&#224;nh c&#244;ng nghệ n&#224;y? Thế m&#224; trong đề &#225;n d&#224;y ng&#243;t 1000 trang về điện hạt nh&#226;n sắp đem ra tr&#236;nh Quốc hội, họ lại đứng ngo&#224;i cuộc – chẳng những kh&#244;ng được tham gia dựng n&#234;n bản đề &#225;n m&#224; cũng chẳng được mời tham vấn trước khi tr&#236;nh l&#234;n Ch&#237;nh phủ.      Ba mươi năm trước, nhân đi công tác qua Matxcơva, tôi nhận được lệnh trực tiếp từ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh yêu cầu ghé lại Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (UBNLNT) Liên Xô ký duyệt “Nhiệm vụ thiết kế” cho công trình cải tạo và nâng cấp lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Nói là cải tạo và nâng cấp, song thật ra, cơ sở hạt nhân cũ với lò TRIGA MARK II do hãng General  Atomic (Mỹ) chế tạo chỉ còn lại khối bê tông bao bọc thùng lò và vòm nhà tròn xinh xắn do KTS Ngô Việt Thụ thiết kế. Trong ruột không còn gì đáng kể. Nhiên liệu đã kịp rút đi trước ngày giải phóng, những thứ lỉnh kỉnh khác trở nên vô dụng, được chúng tôi tháo gỡ cất kỹ trong kho thải phóng xạ.   Sau chưa đầy mười phút tiến hành các thủ tục ký kết (bởi mọi chi tiết kỹ thuật đã được hai bên bàn thảo từ trước), tôi rời khỏi trụ sở được canh gác hết sức nghiêm ngặt của UBNLNT Liên Xô mà lòng nặng trĩu. Lững thững một mình trên đại lộ Lênin đến đoạn vắt ngang qua sông Matxcơva óng ánh dưới nắng chiều và tòa tháp Đại học Lômônôxốp hiện lên trên nền trời (nơi đây khoa học hạt nhân đã đón nhận tôi gần 20 năm về trước), tôi chợt nhận ra gánh nợ nặng nề trên vai mình và các đồng nghiệp – một ngành khoa học công nghệ hạt nhân của đất nước đang ở phía trước.           Giới thiệu kết quả nâng cấp hệ thống điều khiển lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt        Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt (LPUHN ĐL) được chính thức đưa vào hoạt động đúng 25 năm trước đây. Lúc này có người chê nó bé quá, công suất 500 kW, nhưng từng ấy mà khai thác có hiệu quả cũng quá đủ để đất nước tiếp cận với khoa học công nghệ hạt nhân. Việt Nam nằm trong số 56 nước có LPUHN trên thế giới.   Tuy công suất thấp nhưng bảo đảm vận hành an toàn lại không hề đơn giản. Không thể để bề mặt thanh nhiên liệu bị sôi, hoặc bị nước ăn mòn, khiến chất phóng xạ có thể thoát ra ngoài vỏ bọc. Nơtron dẫn ra theo các kênh thí nghiệm và chất phóng xạ do lò tạo nên phải bảo đảm không gây hại đến con người. Trên hết, phải luôn cảnh giác với hàng triệu cu ri phóng xạ từ mảnh vỡ phân hạch nằm bên trong các thanh nhiên liệu.   Khi nhận nhiệm vụ chỉ huy xây dựng, vận hành và khai thác LPUHN ĐL, bên cạnh tôi là những đồng nghiệp thuộc loại ưu tú và sung sức nhất lúc bấy giờ, về chuyên môn lẫn phẩm chất, được đào tạo nhiều năm ở Liên Xô và Pháp. Có điều, không ai trong chúng tôi từng chuyên sâu về lò phản ứng. Không dễ gì học sâu vào công nghệ hết sức nhạy cảm này, cho dù ngày ấy ta với Liên Xô là anh em chí cốt.                 Buổi trao đổi giữa GS. Phạm Duy Hiển và các chuyên gia Liên Xô (cũ) về thiết kế lò phản ứng               hạt nhân Đà Lạt cách đây 27 năm          Lại thêm một khó khăn cực lớn nữa là Liên Xô chỉ nhận giúp ta xây lò phản ứng, trong khi rất nhiều phương tiện thiết bị và phòng thí nghiệm để khai thác lò phục vụ quốc kế dân sinh luôn bị gạt ra khỏi bàn đàm phán. Trưởng đoàn Liên Xô thường chỉ vào bản Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ với dòng chữ cộc lốc “khôi phục lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt” trong số hàng loạt hạng mục công trình ưu tiên khác lúc bấy giờ như thủy điện, dầu khí v.v… Thành ra, khi lò chạy, nơtron sinh ra để rồi tự nó chết đi mà không sử dụng được để điều chế chất phóng xạ, không thể rút chúng ra khỏi bốn kênh dẫn luôn được bịt kín.  Đất nước lúc này lại đang trải qua thời kỳ khốn khó nhất. Cơn bão “giá, lương, tiền” ập vào hai bữa ăn hằng ngày, thiết bị linh kiện nghiên cứu khoa học không sao mua được do chính sách cấm vận của Hoa Kỳ. Cho nên sau những tiếng u ra và sâm banh nổ giòn trong ngày khánh thành là những đêm dài trằn trọc. Chả lẽ, tốn ngần ấy tiền của và công sức chỉ để hằng ngày thắp lên và chiêm ngưỡng ngọn lửa xanh óng ánh qua sáu mét nước trong suốt dưới đáy lò thôi ư?               Một đất nước nếu mong muốn khai thác điện hạt nhân phải sớm đào tạo được một đội ngũ chuyên gia trình độ cao. Không chỉ gồm các kỹ thuật viên (tương đối dễ) mà còn phải đào tạo được một đội ngũ các nhà vật lý, kỹ sư trình độ cao có kiến thức, khả năng làm chủ về các vấn đề an toàn, xử lý chất thải, hiểu sâu vật lý và kỹ thuật lò phản ứng hạt nhân; phải có một đội ngũ có thể ra những lựa chọn, quyết định tốt và chính xác; phải có những người có đủ năng lực điều khiển, phụ trách liên lạc với công chúng, cung cấp các thông tin phù hợp. Để đào tạo được những đội ngũ như thế phải mất hàng năm, nếu không muốn nói là hàng chục năm; điều đó yêu cầu phải tích lũy kinh nghiệm về lò phản ứng ở nước ngoài và phải tạo ra trong nước một trung tâm mạnh để có thể mời các chuyên gia nước ngoài đến, giảng dạy và truyền đạt cho nhau kinh nghiệm của mỗi người. Việt Nam may mắn có một lò phản ứng hạt nhân nhỏ ở Đà Lạt, nhưng đang hoạt động có hiệu quả và có thể dùng làm hạt nhân để xây dựng một trung tâm như vậy. Nếu không thực hiện được điều này có nghĩa Việt Nam sẽ để cho các quốc gia khác quản lý vận hành nhà máy, sẽ không tránh khỏi việc mất tự chủ.                           GS. Pierre Darriulat        Không! Mục tiêu đặt ra trước mắt chúng tôi là trong một thời gian ngắn nhất phải thử nghiệm tất cả những gì mà một lò phản ứng hạt nhân công suất tương đối thấp có thể làm được, qua đó xây dựng đội ngũ, nâng cao trình độ để hướng đến những mục tiêu lâu dài hơn là điện hạt nhân. Muốn thế, và trên hết, lò phản ứng lai ghép công nghệ giữa hai siêu cường hạt nhân độc nhất vô nhị này trên thế giới phải được vận hành an toàn, không thể chủ quan sơ sẩy để xảy ra bất cứ sự cố nhỏ nào.  Nhưng lấy đâu ra thiết bị để khai thác luồng nơtron cực mạnh từ lò phản ứng? Lúc này Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA là nguồn cung cấp thiết bị duy nhất mà ta không thể mua được do chính sách cấm vận của Hoa Kỳ. Phần còn lại phải tự thiết kế, lắp ráp, chẳng những để khai thác lò tại chỗ mà còn cho những cơ sở sử dụng chất phóng xạ do lò cung cấp. Có lần đi dự hội nghị khoa học quốc tế, các đồng nghiệp nước ngoài ngạc nhiên thấy tôi đi mua linh kiện ở chợ mang về cho phòng điện tử hạt nhân lắp máy đo phổ phóng xạ. Ở nước họ, người ta cứ gọi điện thẳng đến hãng, mua hẳn các thiết bị hoặc các bloc, rồi lắp các bloc ấy lại thành thiết bị.   Mục tiêu đặt ra trên đây quả là quá lớn đối với một đội ngũ gồm phần lớn sinh viên mới tốt nghiệp đại học. May mắn, họ có một số đầu đàn đầy trách nhiệm, quyết tâm và đam mê. Tất cả đều lao vào học, học để làm, thông qua công việc (làm) để nâng cao trình độ (học). Đây chính là phương châm làm khoa học công nghệ “learning by doing” phổ biến ở các nước đi sau.    Thực hiện mục tiêu đề ra, trong vòng 10 năm đầu, chúng tôi đã dựng nên nhiều phòng thí nghiệm để thử nghiệm mọi ứng dụng của lò phản ứng công suất thấp mà những nước đi trước từng tiến hành, trong đó một số ứng dụng đã được triển khai trên quy mô rộng phục vụ quốc kế dân sinh. Chỉ còn độc nhất kỹ thuật điều trị u não bằng phản ứng bắt nơtron trên hạt nhân bo (boron neutron capture therapy) là chưa thử nghiệm do đầu tư quá lớn và thiếu đội ngũ bác sỹ có trình độ cao. Hiện nay tuy mới chỉ thỏa mãn chưa đầy 50% nhu cầu dược chất phóng xạ nội địa, nhưng con số này cũng đã gấp hàng trăm lần mức sử dụng trước ngày lò Đà Lạt hoạt động. Hàng trăm nghìn người đã được chẩn đoán và điều trị khỏi bệnh, đặc biệt là tuyến giáp dùng I-131 và u máu dùng P-32.   Nhưng cái được lớn nhất là một đội ngũ biết làm chủ lò phản ứng hạt nhân và các công nghệ liên quan. Gần đây, nhóm chuyên gia tại Đà Lạt đã bắt tay tính toán thiết kế lò phản ứng nghiên cứu mới, công suất gấp 20 lần lò hiện nay. Tuy chưa phải là lò năng lượng trong nhà máy điện hạt nhân, song thử hỏi ở nước ta mấy ai có bề dày kinh nghiệm hơn họ về ngành công nghệ này?   Thế mà trong cái chương trình to lớn về điện hạt nhân sắp đem ra trình Quốc hội, họ lại đứng ngoài cuộc. Chẳng những không tham gia dựng nên bản đề án dày ngót 1000 trang, họ cũng không được mời tham vấn trước khi trình lên Chính phủ. Theo bản đề án này, từ năm 2020 đến 2024 Việt Nam sẽ đưa vào vận hành 8 tổ máy điện hạt nhân, mỗi tổ có công suất nhiệt 3000 MW, gấp 6000 lần công suất lò phản ứng Đà Lạt. Như vậy, rồi đây trong vòng bán kính 20 km quanh thị xã Phan Rang sẽ có tám lò phản ứng, mỗi lò sẽ chứa một lượng phóng xạ gấp hơn 6000 lần những gì đang có và được canh phòng rất cẩn trọng hiện nay ở Đà Lạt. (Sẽ có một dịp khác để bình luận về sự phi lý và phiêu lưu của đề án này).   Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Nhà nước đã ra sức tạo dựng nên một đội ngũ có bề dày kinh nghiệm xung quanh lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, được nước ngoài nhìn nhận và đánh giá cao qua những thành tích khoa học của họ, để rồi lại loại họ ra ngay trước khi về đến đích – điện hạt nhân?  Trong dịp kỷ niệm 25 năm lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt mới đây, tôi đã gặp lại những người cùng đồng cam cộng khổ đầy duyên nợ và nghĩa tình với mình từ 30 năm về trước và nói với mọi người rằng chúng ta chẳng những chưa trả xong gánh nợ với đất nước mà còn mang nặng trong lòng nỗi lo âu về tương lai của ngành hạt nhân. Trong buổi lễ long trọng ấy, tôi đã đọc hai câu quan họ:        Nợ tiền càng trả càng vơi,        Nợ tình càng trả, người ơi, càng đầy.  rồi thêm câu thứ ba:        Nợ đời biết trả sao đây?  với dấu hỏi còn lơ lửng mà không sao trả lời được.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáu mươi tám năm      Nước Việt hiện đại ghi dấu nền độc lập từ 02/09/1945, 68 năm đã trải qua, tính đến hôm nay.    68 năm ấy, trong bối cảnh của sự đối đầu trong một thế giới phân cực ý thức hệ, các cuộc chiến tranh, các xung đột, các chính thể, các đảo lộn đời sống, các bế tắc, tất cả những cái đó đã cản phá công việc xây dựng vật chất một quốc gia Việt thống nhất. Chỉ từ 1975 đất nước mới thực thụ liền một dải.  Nhưng sáu mươi tám năm ấy là một thời gian hoàn toàn thật, rất dài, và hoàn toàn liền mạch, cho công cuộc suy tư. Suy tư về việc tổ chức đời sống tương lai cho con người, xây dựng nền cộng hòa pháp quyền, thực thi các quyền làm người, thiết kế nền tảng nhân hậu cho toàn bộ đời sống xã hội, và bảo dưỡng hành trình đi đến tự do cho mỗi con người xứ Việt.   68 năm ấy, quá đủ dài để phải thay đổi được triệt để lối suy nghĩ, để kiến tạo nên sự đồng thuận cho xã hội Việt hiện đại, vượt qua những ấu trĩ thuở mới thoát thai từ nền độc tài phong kiến cực quyền Khổng giáo – lại bị quàng thêm nền đô hộ thực dân, để đứng lên chỉnh đốn lại đời sống cho đàng hoàng, đĩnh đạc, ấm no, hiện đại.  ***  Và ngày hôm nay, con người Việt đã sẵn sàng cho việc cải dựng cuộc đời mới.  Con người Việt hôm nay đã được mở rộng học hành, mở mang kinh doanh, được thông tin rộng khắp trên lĩnh vực toàn cầu trong thời gian thực. Các cơ hội và nguy cơ của đời sống được mở ra ngồn ngộn, trong nước, ngoài nước, thế giới. Xã hội cần sự quản trị, và hơn như thế, sự tự-quản trị. Khi một thực thể tăng gia tốc, cũng là lúc nó đòi hỏi phải có được nền vận hành qui củ rộng khắp với các năng lực tự-quản trị được mở rộng hoàn toàn ở mọi cấp độ, để xã hội luôn luôn đủ khả năng tự điều chỉnh được nhạy bén. Trình độ của tự-quản trị cũng chính là năng lực của tự do.  Năng lượng tích tụ bao giờ cũng mang kèm theo nguy cơ, nguy cơ không điều khiển được năng lượng, gây bùng nổ tan vỡ. Nguy cơ ấy phải được hóa giải bằng trình độ hiểu biết, năng lực tổ chức và các thiết chế thích ứng. Xã hội công dân cũng chính là một đặc trưng của một xã hội bắt đầu đi vào giai đoạn phải biết tự-quản trị.  68 năm, thời gian đã quá dài cho suy ngẫm. Các bài học thành và bại đã đủ để làm cho xứ Việt khôn lớn, và để quyết đoán.  68 năm, chào xã hội sang trang cải cách, dứt khoát, cất cánh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau Xayaburi là gì?      Đó là câu hỏi được các chuyên gia, nhà khoa  học và nhà quản lý tìm cách trả lời tại hội thảo “Khía cạnh pháp lý  trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong” do Liên hiệp các hội khoa học  và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức tại Cần  Thơ mới đây.    TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC) cho biết đập Xayaburi, một trong 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong đã được Lào khởi công vào tháng 11-2012 dù trước đó Lào đã chia sẻ đề nghị của Việt Nam và nhiều nước khác nên hoãn lại trong vòng 10 năm để có đánh giá tác động môi trường hoàn chỉnh.  Ông Tứ nói: “12 đập này là đập dâng, dung tích từ 200 triệu đến 2 tỉ mét khối nước/đập, sẽ tác động rất lớn đến an ninh lượng thực, an ninh nguồn nước và an ninh xã hội của 18 triệu dân vùng ĐBSCL”. Ông Tứ đề nghị: “Bạn Lào đã xây đập Xayaburi và đã coi đây là chuyện bình thường rồi thì nhà nước ta cần phải có chính sách thông suốt để các nhà khoa học tham gia thực hiện Hiệp định về Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong (Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan ký năm 1995) và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích không phải giao thông thủy năm 1997”.        Ông Tứ cho biết ở thượng nguồn sông Mekong, đến năm 2040, Trung Quốc sẽ xây dựng 15 đập thủy điện lớn và nay đã đưa vào hoạt động bốn đập trong khi Trung Quốc không tham gia Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC). “Có thể nói Trung Quốc hoàn toàn chủ động sử dụng và chi phối đối với các bậc thang thủy điện ở hạ lưu vực”. TS Đào Trọng Tứ nhấn mạnh và kiến nghị: “Là quốc gia cuối nguồn, chịu tác động mạnh từ thượng lưu, Việt Nam cần có đối sách hợp lý và kiên định mới bảo đảm cho sự phát triển của ĐBSCL trong tương lai”.        Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ, Mekong là một trong 10 con sông lớn nhất; nơi cung cấp gạo nhiều nhất; có nguồn cá và đa dạng sinh học xếp thứ hai; có tải lượng phù sa thứ sáu (160 triệu tấn/năm) và là vùng đất có đa dạng văn hóa nhất trên thế giới. Ông Tuấn cho rằng “Việt Nam, đặc biệt là ĐBSCL, không hưởng lợi gì từ các đập thủy điện trên sông Mekong” trong khi “các tổn thất sẽ đánh ngay vào hai trụ cột kinh tế lớn nhất vùng là nông nghiệp và thủy sản”. Ngoài ra, theo nghiên cứu của ông Tuấn, “sự suy giảm hệ sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học hoàn toàn không khôi phục được; người nghèo bị tổn thương nặng nhất, hiện tượng di cư sẽ diễn ra trên diện rộng và sẽ làm cho các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu khó thực hiện”.        Tiến sĩ Dương Văn Ni (Đại học Cần Thơ), đề nghị “phải xác định lại lưu vực ĐBSCL”. Ông nói: “Lưu vực ĐBSCL không chấm dứt ở bờ biển mà bao gồm cả thềm lục địa. Thiệt hại do 12 đập thủy điện chưa tính tới lượng cá lớn biến mất ngoài biển ĐBSCL vì lượng phù sa hạ lưu sông Mekong ra đây đã giảm”. Ông cho biết: “Malaysia ở xa phía Nam chúng ta nhưng khi nghe 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong sẽ được xây dựng, họ đã lo mất nguồn cá của ngư dân Malaysia”.|    Là chuyên gia độc lập, trưởng nhóm Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐTM) đối với dự án Xayaburi, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho biết nhóm của ông đã thực hiện quy trình PNPCA (thông báo – tham vấn – thỏa thuận) theo đúng tinh thần Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên tới thời điểm tham vấn thì “Chính phủ Lào đã nộp đề xuất dự án cho MRC vào năm 2010, nhưng báo cáo ĐTM không được phổ biến cho đến tháng 3-2011 nên các chính phủ láng giềng không có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc tham vấn”.        Theo TS. Lê Đức Trung, Chánh văn phòng Ủy ban sông Mekong Việt Nam, “Việt Nam làm PNPCA cực kỳ gương mẫu” nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Khía cạnh pháp lý trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong là các nước thành viên “phải dựa trên cơ sở pháp lý và khoa học thật sự và phải áp dụng PNPCA làm công cụ quốc tế để có thể xử lý những vấn đề tiếp sau Xayaburi”. Ông Trung nhấn mạnh và cho biết sẽ mời Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tham gia vào ủy ban này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Saudi – Trung Đông cấm cung      Saudi bây giờ đã khác với bán đảo Ả Rập ngày xưa. 1400 năm trước, nơi đây con người phá biên giới nối liền các bộ lạc, Saudi bây giờ đóng cửa biên giới không cho cả khách du lịch vào thăm.     1400 năm trước xứ này chỉ có cát với cát,  Saudi bây giờ ngụp trong vũng dầu, nhiều tiền đến mức có thể xây một bức  tường thành toàn bằng vàng cao 1 mét quanh quốc gia làm đường biên.  1400 năm trước ở Mecca, phụ nữ góa bụa vẫn lấy trai tân, lại còn chủ  động đòi cưới; Saudi bây giờ bất kể phụ nữ nào cũng phải có đàn ông giám  hộ.  Từ đa thần đến độc thần  Vào năm 570 sau Công nguyên ở miền Tây bán đảo Ả Rập (Saudi ngày nay), một cậu bé tên là Muhammad chào đời. Cậu không may mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được một ông bác nuôi nấng. Năm 25 tuổi, Muhammad và bà chủ giàu có của chàng phải lòng nhau. Bà chủ động cầu hôn. Họ nên duyên và sống hạnh phúc trong suốt 25 năm cho đến khi Khadija qua đời ở tuổi 65. Làm thử một phép tính nhẩm, bạn sẽ thấy Muhammad 25 xuân xanh cưới Khadija khi bà đã 40 tuổi, góa chồng với ba cô con gái từ cuộc hôn nhân trước1.   Ngày ấy, bán đảo Ả Rập nằm kẹp giữa hai vùng lãnh thổ lớn mạnh và luôn kình địch nhau là đế chế La Mã theo Thiên Chúa giáo ở bên trái và đế chế Ba Tư theo giáo phái Zoroastrianism ở bên phải. Cả hai giáo phái này đều là dòng tôn giáo độc thần, thờ một đấng Thượng Đế tối cao duy nhất, tiếng Latin gọi là Deus, tiếng Avestan thời cổ Ba Tư gọi là Ahura Mazda.             Tác giả Nguyễn Phương Mai                 Năm 2012, tác giả Nguyễn Phương Mai đã thực hiện một hành trình dọc Trung Đông để nghiên cứu về Hồi giáo. Chuyến đi bắt đầu ở Saudi, nơi Hồi giáo khởi phát, sau đó theo dòng phát triển của lịch sử tỏa sang châu Phi đến địa đầu Morocco. Đây là dải đất hùng vĩ của nền văn minh Hồi giáo thời kỳ cực thịnh, nhưng cũng là điểm nóng của hơn 80% các bản tin thế giới ngày nay. Trong loạt bài bắt đầu khởi đăng từ số này, tác giả sẽ chia sẻ những vấn đề nhức nhối nhất, những câu hỏi còn đang gây tranh cãi, và những trải nghiệm cá nhân của chị với người dân Trung Đông.    Nguyễn Phương Mai hiện là Tiến sỹ, giảng dạy bộ môn Giao tiếp đa văn hóa tại ĐH Khoa học ứng dụng Amsterdam (Hà Lan). Độc giả có thể trao đổi với tác giả tại www.facebook.com/dr.nguyenphuongmai hùng         Lọt thỏm giữa hai người hùng của thế giới là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc Ả Rập lớn nhỏ. Một chút tương tự như cuộc sống tôn giáo ở Việt Nam và châu Á, họ đi theo nhiều tín ngưỡng khác nhau (paganism), thờ nhiều linh tượng và thần thánh khác nhau (idolatry), trong số đó có một vị thần tôn quý, tiếng Ả Rập phát âm là Allah, cùng nguồn gốc với tiếng Hebrew của Do Thái giáo chỉ Thượng Đế (Elohim), hay tiếng Sankrit của Hindu giáo Ấn Độ (Allah – Thánh Mẫu Mặt Trăng). Như một viên xúc xắc với nhiều mặt khác nhau, Thượng Đế với những tên gọi khác nhau được tôn thờ song song bên cạnh những thần thánh khác. Nơi thờ cúng thường là những khối đá vuông to lớn (kaaba) với hàng trăm bức linh tượng lớn nhỏ của nhiều bộ lạc xếp san sát kề vai thích cánh. Khắp vùng bán đảo Ả Rập có rất nhiều kaaba như vậy cho người dân của tất cả các đạo, kể cả paganism lẫn Thiên Chúa giáo cùng thờ cúng2. Thành Mecca cũng có một kaaba, với 360 linh tượng, mỗi năm thu hút cơ man người hành hương từ vô số các bộ lạc xung quanh. Bất kể tôn giáo nào, khi đến một kaaba, các tín đồ đều đi vòng quanh khối đá thiêng bảy vòng. Họ đặt đồ thờ cúng, cầu nguyện và nghỉ lại Mecca, biến nơi đây trở thành một trong những trung tâm tôn giáo lớn.  Hẳn nhiên, Muhammad chắc chắn cũng từng thờ cúng Thượng Đế cạnh những linh tượng như thế trong suốt hơn ba chục năm đầu của cuộc đời mình, cho đến một hôm, khi đang cầu nguyện và ngồi thiền tại một hang đá nhỏ tên là Hiraa, chàng Muhammad trẻ tuổi bỗng bị một vòng hào quang rực rỡ quấn thắt lấy người. Thiên thần Gabriel của đạo Thiên Chúa hiện ra, ra lệnh cho chàng chép lại lời truyền của Người. Và thế là một Muhammad không biết chữ nhưng dưới quyền năng của đấng Tối cao, những dòng đầu tiên của kinh thánh được viết ra. “Iqra” tiếng Ả Rập có nghĩa là chép lại, từ đó mà kinh thánh của đạo Hồi có tên là Quran.   Khadija đã không thể sống lâu để có thể thấy chồng mình làm nên một điều kỳ diệu, thống nhất các bộ lạc vùng bán đảo Ả Rập dưới một tôn giáo mới tên là Islam (người tuân lệnh). Tôn giáo ấy nhanh chóng tràn ngập vùng Trung Đông, cải đạo cả đế chế Ba Tư hùng mạnh và đẩy lui siêu đế chế La Mã về phía châu Âu. Trong vòng sáu thế kỷ, Hồi giáo tỏa ra khắp ba châu lục, đạt đến đỉnh điểm của văn minh và kỹ nghệ trong khi châu Âu còn vùi trong mông muội của đêm trường Trung Cổ. Ngày nay, Hồi giáo có số tín đồ lớn thứ hai thế giới (21%), chỉ sau Thiên Chúa Giáo (33%).   Lịch sử được viết lại  Tuy nhiên, Mecca của thế kỷ 21 ngoài hình ảnh huyền thoại của hàng trăm ngàn tín đồ xoay vòng quanh Kaaba mỗi mùa hành hương cũng là nơi mộ mẹ đẻ của Muhammad bị xe ủi xóa không còn dấu vết, là nơi ngôi nhà hạnh phúc của Muhammad và Khadija được tìm ra, lấp đi, rồi xây bên cạnh là một hàng… nhà xí công cộng, là nơi đến bản thân phần mộ của Muhammad cũng từng bị đe dọa san phẳng. Mấy năm trước, một thánh đường cổ mang tên cháu ngoại của Muhammad bị đặt bom phá cho tan tành. Những tấm ảnh chụp vụ đặt bom này được bí mật truyền ra ngoài, rõ cả mặt các thầy tu và cảnh sát tôn giáo của Saudi vừa hả hê nhìn gạch ngói bay tung trời, vừa reo hò hoan hỉ chia vui.  Gượm đã! Ai đang hoan hỉ reo hò? Các thầy tu? Các cảnh sát tôn giáo? Thế tức là thế nào? Tại sao giữa vùng đất là trái tim của thế giới Hồi giáo mà vị thiên sứ của nó và gia quyến của ông lại bị các tín đồ nổi tiếng sùng đạo của mình đối xử bạc bẽo đến nhường kia?  Năm 630, sau một thời gian dài phải lánh nạn ở Medina và nhiều trận giao tranh giữa đạo quân của hai thành phố, phe của Muhammad giành thế áp đảo và cuối cùng ông cũng có thể hiên ngang tiến vào quê hương Mecca với tư cách của người chiến thắng. Điều đầu tiên Muhammad thực hiện là đập phá toàn bộ 360 linh tượng trong Kaaba, tuyên bố khối đá vuông linh thiêng giờ đã trở thành nơi thờ đức Thượng Đế cao cả chỉ một và duy nhất. Ngoài Thượng Đế, tín đồ Hồi giáo (Muslim) không được phép cúng bái bất kỳ một ai, người thường, linh tượng cũng như thánh thần.  Gần 1400 năm sau, những tín đồ cuồng tín nhất của Muhhamad đã thể hiện sự trung thành tuyệt đối với giáo lý độc thần tới mức liệt kê cả ngôi mộ của chính ông vào danh sách những linh tượng cần phá bỏ. Tất cả di sản như đền đài, thành quách, miếu thờ, mồ mả… có tiềm năng khiến tín đồ nảy ra niềm thành kính đều đáng bị triệt hạ, kể cả việc phải biến nó thành một cái nhà vệ sinh công cộng (!)  Đầu thế kỷ thứ 19, nhà Saud bắt tay với một nhánh Hồi giáo khá cực đoan là Wahhabi dần dần đánh chiếm và làm chủ gần như toàn bộ vùng bán đảo Ả Rập, bao gồm cả địa phận Mecca và Medina. Cam kết của nhà Saud và Wahhabi có thể được coi là một trong những cuộc hôn nhân thực dụng nhất giữa quyền lực chính trị và tôn giáo mà trong đó nhà Saud sẽ mang danh lãnh đạo còn giáo lý Hồi dòng Wahhabism sẽ là kim chỉ nam của vương quốc.   Vấn đề nằm ở chỗ giáo lý này vốn đã khe khắt lại ngày càng trở nên cực đoan. Dưới con mắt của các thầy tu dòng Wahhabi, kinh Quran được hiểu theo những ý nghĩa khắc nghiệt nhất. Chỉ có Thượng Đế mới xứng đáng được tôn vinh. Và bởi vì chỉ có Thượng Đế mới đáng tôn vinh nên kể cả Liên Hợp Quốc có muốn công nhận và cứu các di sản văn minh cổ ở Saudi cũng là điều không tưởng. Trong danh sách ba di sản mà Saudi cho phép Liên Hợp Quốc tiến hành đánh giá, chẳng có nơi nào liên quan đến Hồi giáo. Hơn 20 năm qua, 95% trong tổng số hơn 1000 khu kiến trúc cổ của Saudi đã bị tàn phá. Những tàn tích cuối cùng của một nền văn minh đa sắc màu cũng như những bằng chứng cuối cùng của một nền văn hóa Hồi giáo cổ gần như cố tình bị triệt tiêu và xóa sổ, đặt vào tay những thầy tu Wahhabi quyền năng tối thượng trong việc viết lại lịch sử tôn giáo và diễn giải triết lý Hồi giáo theo lý lẽ của riêng mình3.  Hẳn nhiên Muhammad không thể ngờ rằng việc ông đập 360 bức linh tượng trong Kaaba khiến nếu ông có sống dậy cũng khó có thể thanh minh cho việc Wahhabism trở thành niềm cảm hứng cho vô số các tổ chức Hồi giáo cực đoan như Al-Qaeda và Taliban. Chưa hết, việc 360 bức linh tượng tan thành tro bụi từ 1400 năm trước được coi là câu trả lời cho việc bức tượng Phật huyền thoại Bamiwam ở Afghanistan cao hơn 50m tồn tại từ trước khi Hồi giáo ra đời bị Taliban đục lỗ vào đầu để nhồi thuốc pháo cho nổ tan tành. Những di sản cuối cùng của một trung tâm Phật giáo cực thịnh từ thế kỷ thứ hai sau Công nguyên nằm trên con đường tơ lụa chỉ trong tích tắc tan thành mây khói.     Quyền lực tôn giáo   Câu trả lời cho quyền năng tối thượng của Saudi một phần nằm ở Hajj (hành hương). Hành hương về thánh địa là lệnh của Thượng Đế. Ngài bảo đi là đi, nhưng đi được hay không thì lại là Saudi quyết định. Mỗi năm, các quốc gia Hồi giáo được phân chỉ tiêu không quá 1.000 tín đồ hành hương/triệu dân, vậy nên ai cũng nơm nớp lo việc mình sẽ trở thành một Muslim kém phần chân chính nếu như Saudi nổi hứng thắt chặt vòng kiểm soát. Năm 2012, ba chiếc máy bay chở Muslim hành hương từ Nigeria bị buộc quay đầu về nước. Nếu bạn kính sợ Thượng Đế, tốt nhất là hãy biết kính sợ quyền lực của nhà Saud trước nhất.   Trên danh nghĩa kẻ trị vì Mecca và Medina, Saudi nghiễm nhiên trở thành thủ lĩnh tôn giáo của hơn một tỷ tín đồ sùng đạo, có toàn quyền quyết định và rao giảng thế nào là triết lý Hồi theo ý nghĩa thuần khiết nhất, trong sạch nhất, cao quý nhất. Sự khiếp nhược trước quyền năng lớn lao này khiến cho rất nhiều người Hồi trở nên dao động, bối rối, thậm chí đánh rơi cả khả năng tự phán xét theo lý lẽ thường tình. Thế nên mới xảy ra những chuyện trái khoáy như khi một họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh châm biếm Muhhamad hay một gã trời ơi đất hỡi làm một bộ phim hạng bét về cuộc đời ông thì hàng triệu tín đồ nổi cơn cuồng nộ, nhưng việc phần mộ của ông bị dọa san phẳng hay căn nhà của ông bị biến thành nhà xí công cộng thì hầu như chẳng ai buồn hoặc dám đoái hoài.   Trên danh nghĩa chịu trách nhiệm đón tiếp các tín đồ hành hương, Saudi dường như có thêm một cái lý do rất chính đáng để tiếp tục san phẳng các di tích Hồi giáo cổ và thay thế bằng các công trình kiến trúc ngày càng to hơn, cao hơn, đắt tiền hơn, trong đó có cả dự án mở rộng hành lang cầu nguyện xung quanh Kaaba để đạt được sức chứa 25 triệu người. Tiền tuôn chảy về Saudi từ túi những kẻ hành hương giàu sụ muốn ngả lưng trong những căn phòng giá 500 đô la một đêm với cửa sổ nhìn xuống Kaaba. Và để đạt được điều đó thì việc san phẳng căn nhà của Abu Bakr– vị lãnh tụ tôn giáo kế nhiệm Muhammad – để thay bằng một khách sạn siêu sang Hilton là điều hợp lý. Rốt cuộc là, ai cho phép Muslim tôn thờ một cái nhà?   Nhưng rõ ràng là hình như ai đó đang ngấm ngầm cho phép Saudi tôn thờ đồng tiền. Có lẽ Saudi đang âm thầm chuẩn bị cho tương lai của vương quốc khi mà nguồn dầu lửa đem lại 86% ngân sách quốc gia sẽ bắt đầu hạ sản lượng từ sau năm 2030. Dầu nhiều đến đâu rồi cũng đến ngày sẽ hết, chỉ có Hajj là không bao giờ ngưng nghỉ. Đó chính là năng lượng không bao giờ cạn cho Saudi.   Cực đoan và Tư bản  Sinh ra trong một gia đình khốn khó, là trẻ mồ côi và mù chữ, phải sống nhờ vào sự chở che của họ hàng và sự chăm sóc của một phụ nữ nô lệ da đen khiến chàng trai trẻ Muhammad sớm có trái tim đồng cảm vô hạn với người nghèo, tầng lớp nô bộc, trẻ em mồ côi, và đặc biệt là phụ nữ. Trước mắt Muhammad là hố phân cách giàu nghèo khủng khiếp giữa những gia tộc nắm giữ nguồn thu nhập khổng lồ từ khách hành hương và những gia tộc không chen chân được vào cuồn cuộn chảy của xã hội thương mại hóa tôn giáo. Sự suy đồi đạo đức bởi sức mạnh của đồng tiền chỉ có thể được cứu rỗi bằng một lý tưởng trong sạch và thuần khiết: thờ phụng đức Thượng Đế chỉ một và duy nhất. Trong mắt của Thượng Đế, loài người thảy đều là con cháu của Adam và Eva, đều có quyền được tôn trọng, quyền bình đẳng, quyền học hành, quyền ăn no mặc ấm, và quyền được mưu cầu hạnh phúc.   Đối với Muhammad, việc đập tan 360 bức linh tượng trong Kaaba có thể được coi như việc triệt bỏ tận gốc một xã hội thương mại hóa tôn giáo, nơi đồng tiền là kẻ thống trị và đạo đức chỉ biết quỵ gối cúi đầu. Những chế tài luật pháp cơ bản nhất của Hồi giáo được ông gây dựng dựa trên nền tảng về quyền bình đẳng, điển hình là zakat – một trong năm điều răn quan trọng của Islam: mỗi tín đồ đều có trách nhiệm trích một phần tài sản của mình để chia cho người nghèo.   Tôi luôn tự hỏi liệu Muhammad ở dưới tấc đất sâu kia nghĩ gì nếu ông biết rằng Mecca của gần1400 năm sau đang dần dần trở thành Mecca của hơn 1400 năm trước, khi tôn giáo gián tiếp được coi là cỗ máy in tiền? Trả 500 đô la cho một ngày trong khách sạn siêu sang để đêm nằm qua cửa sổ nhìn được xuống Kaaba – nơi được coi là trung tâm của vũ trụ, nơi giàu nghèo sang hèn không phân biệt, mới thấy được sự hão huyền của những giấc mơ. 1400 năm trước, Muhhamad đập tan cuộc hôn nhân giữa sức mạnh của đồng tiền và tự do tín ngưỡng. Mỹ mãn và đầy quyền năng, trên danh Thượng Đế tối cao và thiên sứ cuối cùng của Người, 1400 năm sau, Mecca là hiện thân của một cuộc hôn nhân vô tiền khoáng hậu giữa hai kẻ phối ngẫu hầu như không ai có thể ngờ tới: Chủ nghĩa tư bản và Hồi giáo cực đoan.  Bình đẳng giới thụt lùi  Nếu Muhammad sống lại, hẳn ông sẽ vô cùng bàng hoàng trước sự méo mó của di sản mà ông đã đổ tâm dốc sức gây dựng. Vào thời kỳ ông còn sống, chính nhờ Hồi giáo và các chế tài sharia mà lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo, phụ nữ được chính thức đứng ngang hàng với nam giới về quyền con người. Lần đầu tiên có một tôn giáo quy định đàn ông bị giới hạn số vợ họ có thể lấy (bốn vợ), không phải vì họ siêu việt hơn đàn bà mà do quyền lợi của những phụ nữ có chồng chết trận phải được chăm sóc. Sharia cũng quy định đàn ông chỉ được quyền lấy thêm vợ khi họ có thể đảm bảo việc đối xử công bằng và khả năng lo toan tài chính cho đại gia đình. Lần đầu tiên tôn giáo quy định phụ nữ có quyền thừa kế, quyền sở hữu tài sản, quyền ly hôn, thậm chí quyền yêu cầu chồng phải có trách nhiệm không lơ là cuộc sống tình dục với mình. Lần đầu tiên trẻ em gái được chính thức bảo vệ bằng tuyên ngôn tôn giáo, các bậc cha mẹ được yêu cầu phải bảo vệ trẻ gái, cho trẻ gái được học hành thì mới được lên thiên đàng. Lần đầu tiên người mẹ được tôn vinh ở vị trí đỉnh cao. Muhammad từng nhấn mạnh “chúng ta phải yêu thương mẹ mình nhất, nhì cũng là mẹ, ba cũng là mẹ, sau đó mới đến người cha”. Bằng tất cả những gì ông làm được vào cái thời mà phụ nữ còn bị coi như của cải trong nhà, đàn ông lấy vợ đuổi vợ vô tội vạ, và những hài nhi nữ bị vùi vào cát sa mạc, thì Muhammad xứng đáng là nhà cải cách xã hội kiệt xuất và là người tiên phong trong phong trào giải phóng phụ nữ.   Nhưng Saudi bây giờ đã khác với bán đảo Ả Rập ngày xưa. 1400 năm trước, nơi đây con người phá biên giới nối liền các bộ lạc, Saudi bây giờ đóng cửa biên giới không cho cả khách du lịch vào thăm. Người nước ngoài đến Saudi chỉ có mục đích công việc, hành hương hoặc thăm người thân. Saudi không có khách du lịch và bản thân tôi đã xin visa hai năm rồi mà chưa được. 1400 năm trước xứ này chỉ có cát với cát, Saudi bây giờ ngụp trong vũng dầu, nhiều tiền đến mức có thể xây một bức tường thành toàn bằng vàng cao 1 mét quanh quốc gia làm đường biên. 1400 năm trước ở Mecca, phụ nữ góa bụa vẫn lấy trai tân, lại còn chủ động đòi cưới. Saudi bây giờ bất kể phụ nữ nào cũng phải có đàn ông giám hộ, mấy năm trước họ còn chỉ là một cái tên trên chứng minh thư của đàn ông. Họ cần giấy phép của đàn ông để đi học, đi làm, đi bệnh viện, mở tài khoản, đi du lịch, thậm chí đi ra ngoài đường là phải có đàn ông trong gia đình đi theo. Saudi là quốc gia cuối cùng phụ nữ vẫn chưa có quyền đi bầu cử và không được lái xe hơi, thậm chí đến xe đạp cũng mới được cho phép gần đây trong phạm vi công viên. Phụ nữ ở Saudi, kể cả người nước ngoài, đều phải thuê lái xe riêng. Hẳn nhiên, không phải gia đình nào cũng có chồng, cha, anh rảnh việc đưa đón hoặc tài xế riêng. Phụ nữ Saudi nhiều khi bị dồn vào thế bắt buộc phải dùng các lái xe quen biết từ các công ty taxi có uy tín hoặc các taxi công cộng trên đường. Nếu có biến cố như lạm dụng tình dục xảy ra thì phụ nữ luôn là người cùng chịu tội. Năm 2009, một phụ nữ 23 tuổi đã bị hãm hiếp tập thể và có thai. Cô bị phạt một năm tù và chịu đánh 100 roi sau khi sinh con. Khủng khiếp nhất là mấy năm trước, một vụ cháy nổ xảy ra nhưng các cô gái trong nhà bị một số thầy tu ngăn không được phép chạy ra ngoài vì không kịp… lấy khăn trùm đầu. Kết quả là 15 nữ sinh chết thảm thương. Nói ví von một cách cay đắng, vị thế của họ còn kém cả vị thế của một phụ nữ Mecca 1400 năm trước4.   Bí mật của Saudi  Hồi tôi còn bé tý, ba tôi – một đại tá trong quân đội miền Bắc Việt Nam – từng giữ trong nhà một ngăn tủ khóa kín. Tôi luôn băn khoăn tự hỏi ba giấu cái gì trong đó mà lúc nào cửa tủ cũng phải đóng chặt: Súng? Thuốc độc? Hay là một con quái vật cũng nên. Tưởng tượng nào cũng xấu xí, vì tất nhiên là nếu nó đẹp đẽ thì chắc chắn ba đã dành nó cho con gái cưng. Nhiều năm sau, ba tôi mắc bệnh ung thư. Vào một ngày rất gần khi ông qua đời, ba gọi tôi đến và đưa cho tôi bí mật ông cất giữ từ bao năm qua.  Đó là một cuốn Kinh thánh. Một cuốn Kinh thánh nhỏ xíu có bìa da thuộc màu đỏ thẫm.   Tôi không bao giờ hỏi tại sao ba tôi lại giữ một cuốn Kinh thánh nhỏ xíu bao nhiêu năm trong tủ như thế, nhưng tôi đoán đó là một kỷ vật buồn trong đời chinh chiến của ông, góc sách nham nhở vết xém cháy và cái bìa da có chỗ đã thẫm đen lại bởi mồ hôi và cát bụi. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại tuổi thơ với những phút ngồi khoanh chân chống cằm chăm chăm nhìn vào cái tủ khóa chặt và để trí tưởng tượng mặc sức tung hoàng, tôi không khỏi bật cười. Chẳng có hình dung nào có thể xa rời sự thật hơn là con quái vật trong khi thực tế lại là một cuốn Thánh kinh.   Và vì thế, cho đến giờ tôi vẫn băn khoăn tự hỏi liệu những hiểu biết và ấn tượng về Saudi của mình sẽ có thể xa rời thực tế đến chừng nào? Thực lòng mà nói, tôi cầu mong sao mình sẽ sai toàn tập. Saudi đóng cửa đã bao năm và thế giới này đã có quá đủ thời gian để trí tưởng tượng tung hoành về những gì đang diễn ra trong lòng vương quốc. Tôi thường nghĩ về Saudi với lời nhắn nhủ: “Saudi ơi! Đã đến lúc cánh cửa tủ phải mở ra rồi!”   (Kỳ sau: Dubai – Bước đi trên hai sợi dây)  —-  1 Phái Hồi giáo Sunni cho rằng Ruqayyah và Zainab là con chung của Khadija và Muhammad. Phái Shia thì quả quyết chỉ có Fatima là con chung duy nhất của hai người.   2 Trích dẫn từ Islam a short history, (Modern Library, 2002) của Karen Armstrong. Tác giả xuất thân từ một sơ dòng Thiên Chúa Cơ đốc giáo. Bà được biết đến như một nhà nghiên cứu có nhiều thiện cảm với Hồi giáo. Những cuốn sách chính của bà: Muhammad – A biography of the prophet; A History of God, The Great Transformation: The Beginning of Our Religious Traditions; Jerusalem: One City, Three Faiths.  3 Một trong những cuốn sách đáng được lưu tâm về Wahhabism ở Saudi được viết bởi David Commins, The Wahhabi Mission and Saudi Arabia (Tauris, 2009)   4 Một trong những cuốn sách có cái nhìn tương đối khách quan về Saudi được viết bởi Karen Elliot House, On Saudi Arabia: Its People, Past, Religion, Fault Lines and Future,(Vintage, 2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ kiến nghị với các Bộ, ngành về các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí dành cho KH&CN      Ngay sau khi được Quốc hội bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XII, GS.TSKH Đặng Vũ Minh- Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có cuộc trả lời phỏng vấn của Tia Sáng.        Với kinh nghiệm của một nhà khoa học nhiều năm quản lý Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, theo ông để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, KH&CN cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ gì?  Trong những năm sắp tới, đất nước ta sẽ phải đối đầu với nhiều thử thách từ việc biến đổi khí hậu toàn cầu đến khủng hoảng năng lượng, từ các loại bệnh dịch mới cho đến ô nhiễm môi trường, từ việc chống nạn khủng bố cho đến việc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Ngay từ bây giờ, KH&CN ở Việt Nam phải tập trung nghiên cứu để giải quyết những vấn đề nói trên.  Để thực hiện nhiệm vụ này, tôi cho rằng phải tập trung vào 3 việc chính: Đầu tư thỏa đáng cho KH&CN; đào tạo một thế hệ cán bộ khoa học giỏi về chuyên môn, có tài, có đức; xây dựng một cơ chế quản lý khoa học và công nghệ phù hợp. Trong 3 việc nói trên, cần đặc biệt chú ý đến việc xây dựng đội ngũ những nhà khoa học vừa có tài năng vừa dám dấn thân vì sự phát triển của đất nước – đây là yếu tố quyết định.    Những năm gần đây, Bộ KH&CN cũng đã trình Chính phủ ban hành nhiều cơ chế, chính sách đối với xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, trong đó có những cơ chế, chính sách được coi là mang tính đột phá, nhưng dường như tiềm lực KHCN của đất nước ngày càng tụt hậu so với các nước trong khu vực. Theo GS, cần phải có thêm giải pháp gì nữa?  Tôi đồng tình với nhiều giải pháp của các nhà khoa học đã đề ra trên diễn đàn của Tia Sáng. Ở đây, tôi chỉ xin được nêu lại ý kiến của GS. Pierre Darriulat-một nhà vật lý nổi tiếng. Theo ông, để đại học và nghiên cứu ở Việt Nam phát triển ngoài việc cần tăng lương cho cán bộ giảng dạy và khoa học, “Việt Nam cần tự tin hơn vào thế hệ trẻ và mở hơn ra thế giới. Đôi lúc Việt Nam dường như thiếu sự tin tưởng vào thế hệ trẻ và không sẵn sàng trao cho họ trách nhiệm mà họ có thể đảm nhiệm được. Trong lịch sử, các mạng và chiến tranh đã đem lại cơ hội cho người Việt Nam trẻ tuổi, thông minh đảm trách những trọng trách quan trọng của đất nước, và chúng ta đã thấy họ thành công như thế nào”. Đó là ý kiến rất đáng để chúng ta suy nghĩ một cách nghiêm túc.  Để tạo điều kiện cho Bộ KH&CN và các Bộ, ngành khác có liên quan thực hiện tốt các nhiệm vụ ông vừa nêu, theo ông về mặt lập pháp và giám sát, Ủy ban Khoa học, công nghệ và Môi trường Quốc hội sẽ tập trung vào những nội dung gì?  Sắp tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ họp và dự kiến Chương trình hoạt động toàn khóa trình Quốc hội xem xét và phê duyệt. Theo ý kiến tôi, trong lĩnh vực KH, CN&MT trong nhiệm kỳ tới, về mặt lập pháp cần quan tâm đến việc soạn thảo các luật và pháp lệnh làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến an toàn năng lượng kể cả việc sử dụng năng lượng hạt nhân với mục đích hòa bình. Về mặt giám sát, cần đặc biệt chú ý đến việc thực hiện các luật và pháp lệnh bảo vệ môi trường, trước hết là vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và không khí… Chúng tôi sẽ kiến nghị với các Bộ, các ngành hữu quan về các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng kinh phí dành cho KH&CN, đặc biệt là việc phát huy tác dụng của các phòng thí nghiệm trọng điểm.  Tôi rất mong muốn được sự hợp tác của tạp chí Tia Sáng với Ủy ban KHCN&MT trong việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, xin ý kiến của các nhà khoa học trong việc soạn thảo luật, pháp lệnh; và trong việc giám sát hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý và nghiên cứu triển khai KH, CN&MT.  Xin cảm ơn GS!    P.V    Author                Quản trị        
__label__tiasang Selfie – Ẩn chứa nhiều rủi ro      Người ta có thể nghĩ gì về việc chụp ảnh selfie, khi trong nhiều năm gần đây, hành động tưởng chừng vô hại này lại gắn liền với cái chết thảm khốc của nhiều người đến vậy.    Vận động viên trò chơi mạo hiểm Parkour Ervin Punkar selfie từ một tháp truyền hình ở Tartu, Estonia.  Ảnh selfie (ảnh tự chụp, hoặc ‘dân dã’ hơn là ảnh tự sướng), có lẽ, là một trong những phương thức nhanh gọn nhất để con người ghi lại tức thời khoảnh khắc tồn tại “có một không hai” của mình giữa sự chảy trôi của thời gian. Không ai còn bàn cãi đến điều đó, nhất là khi vào năm 2013, từ “selfie” đã trở nên đủ phổ biến để được đưa vào phiên bản online của Từ điển Oxford. Chỉ một năm sau khi selfie có mặt trong từ điển, năm 2014 trở thành “năm của selfie” thì có đến 33.000 người bị thương trong khi lái xe hoặc làm những việc khác, theo ước tính của Bộ Giao thông Mỹ.  Có lẽ, nếu con người chỉ bị chấn thương thì việc chụp ảnh selfie vẫn còn được coi là một hành vi rủi ro  trong cuộc sống hơn là tự hủy. Tuy nhiên trên thực tế, hành động này đã dẫn đến những bi kịch thực sự. TS. Agam Bansal ở Viện Các ngành Khoa học Y học, Ấn Độ, trong bài báo xuất bản trên tạp chí Journal of Family Medicine and Primary Care đã thử nêu câu hỏi “Selfie: A boon or bane?” (Các bức ảnh selfie: Tốt hay xấu?) để đánh giá về những cái chết liên quan đến selfie khắp toàn cầu. Ông và cộng sự đã phát hiện ra từ tháng 10/2011 đến tháng 11/2017, 137 vụ tai nạn khi đang chụp ảnh selfie đã dẫn tới 259 cái chết của những người ở độ tuổi trung bình 22,94. Số tai nạn selfie cao nhất xảy ra ở Ấn Độ, Nga, Mỹ, Pakistan. Tờ NY Post vào năm 2020 đã so sánh “selfie còn nguy hiểm hơn cá mập tấn công” bởi số người chết vì cá mập thấp hơn nhiều. Gần đây nhất, tháng 8/2022, buổi dã ngoại của một gia đình Ấn Độ ở thác Ramdaha, Chhattisgarh đã trở thành một thảm kịch khi sáu người chết đuối vì cứu một thiếu nữ 14 tuổi trượt chân trong khi selfie.  Dẫu không quá đen tối như những gì diễn ra ở nhiều nước trên thế giới nhưng tại Việt Nam đã tồn tại tai nạn vì selfie. Tháng 7/2016, hai công nhân làm việc tại một khu công nghiệp ở huyện Văn Lâm, Hưng Yên khi đi trên đường dân sinh cắt qua đường sắt ở thị trấn Như Quỳnh đã dừng lại selfie trên đường ray bằng điện thoại mà không để ý là đoàn tàu đã tới quá gần. Cái chết ở độ tuổi ngoài đôi mươi của họ, không chỉ thêm vào danh sách những trường hợp gặp nạn vì selfie mà còn cho thấy sự vô lý của rủi ro chực chờ trong hành vi này.    Selfie là hành vi ‘tự tôn’ của những người bình thường trong xã hội. Mỗi bức ảnh là một khía cạnh về bản sắc cá nhân, của cái tôi nhỏ bé, khác với những bức ảnh thông thường mà chúng ta vẫn chụp. Nó nói cho chúng ta nhiều điều về sự tức thời, tính vô nghĩa và cả sự vô thường của thời gian, bên cạnh việc là một trải nghiệm, một cơ hội để người chụp bộc lộ bản thân, đặc biệt với phụ nữ và người yếu thế trong xã hội.    Nhưng tại sao, giữa vô vàn các tình huống đột sinh trong cuộc sống, con người lại chủ động đặt thêm mình vào rủi ro, trong nhiều trường hợp là toàn bộ cuộc đời mình, với một cú chạm trên điện thoại để mong có một bức ảnh hoàn hảo?  Phác họa chân dung của chính… selfie  Nếu đặt câu hỏi “Bạn mong đợi gì ở selfie?” thì ắt hẳn nhiều người sẽ cho là không khó trả lời. Ai mà chẳng thấy sức quyến rũ của việc hiển thị chính mình và bạn bè, người thân… trong sự hấp dẫn của cảnh quan, của thời khắc “một đi không trở lại”, hoặc đơn giản vì cảm thấy vui sướng và hạnh phúc. Có lẽ rồi ai cũng trả lời như vậy khi được hỏi. Tuy nhiên, đằng sau cú chạm nhẹ trên điện thoại còn ẩn chứa nhiều điều hơn chúng ta cảm nhận.  Để đi tìm nguyên nhân sâu xa đằng sau hành vi chụp ảnh selfie, chúng ta hãy thử vẽ chân dung phổ biến của những người thích chụp ảnh selfie. Các nhà nghiên cứu quốc tế đã “khoanh vùng” được những đặc điểm của họ: những người ở độ tuổi 20 – 30 (theo một khảo sát ở Mỹ chỉ 30% thế hệ trước năm 1945 biết selfie là gì); phụ nữ (ở độ tuổi 16 – 27) selfie nhiều hơn nam giới và trung bình 16 phút cho mỗi lần chụp, ba lần một ngày và năm giờ mỗi tuần, 10% lưu trong máy tính và điện thoại ít nhất 150 bức chụp từ phòng tắm, ô tô đến bàn làm việc…; số nam giới chịu đựng rủi ro so selfie lớn hơn nữ (61% dám chấp nhận chụp ảnh trên vách đá, mặc dù 11% đã từng bị thương ở tình thế tương tự, trong một khảo sát ở Mỹ); phần lớn là người cởi mở và tự tin vào tương lai (trong đó có thu nhập); 55% chia sẻ ảnh trên mạng xã hội từ điện thoại thông minh…  Cựu Tổng thống Barak Obama selfie cùng kỹ sư cơ khí William Sanford Nye, nổi tiếng qua chương trình khoa học cho trẻ em “Bill Nye the Science Guy” và nhà vật lý thiên văn Neil deGrasse Tyson tại Nhà Trắng vào tháng 2/2014.  Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về hành vi selfie của con người nhưng có một khảo sát quy mô nhỏ về xu hướng selfie ở phụ nữ do công ty nghiên cứu thị trường Q&Me thực hiện vào tháng 1/2017 với 300 người độ tuổi 16 – 34. Những thông số rút ra cho thấy, phụ nữ Việt Nam chia sẻ niềm vui tương tự với những người cùng giới quốc tế: chủ yếu ở nhóm 16-22 tuổi; 30% chụp hơn 16 bức mỗi tuần; 90% chụp bằng điện thoại thông minh; chủ yếu sử dụng phần mềm Camera 360; 76% đăng ảnh lên mạng xã hội, trên Facebook, Zalo, Instagram.  Vậy điều gì thôi thúc những người này, đặc biệt là phụ nữ, thực hiện hành vi selfie? Chắc hẳn phải có sự quyến rũ nào đó hơn cả một hành vi đóng băng khoảnh khắc? Giáo sư tâm lý truyền thông Pamela Rutledge, Tổng Biên tập tạp chí Media Psychology Review, tin selfie là hành vi ‘tự tôn’ của những người bình thường trong xã hội. Mỗi bức ảnh là một khía cạnh về bản sắc cá nhân, của cái tôi nhỏ bé, khác với những bức ảnh thông thường mà chúng ta vẫn chụp. Nó nói cho chúng ta nhiều điều về sự tức thời, tính vô nghĩa và cả sự vô thường của thời gian, bên cạnh việc là một trải nghiệm, một cơ hội để người chụp bộc lộ bản thân, đặc biệt với phụ nữ và người yếu thế trong xã hội. TS. Katrin Tiidenberg, Đại học Aarhus (Đan Mạch) – tác giả cuốn Selfies, why we love (and hate) them (Selfie, tại sao chúng ta yêu, và ghét, chúng) – cho rằng trước đây, quyền biểu lộ bản thân trước cộng đồng và xã hội, phần lớn thuộc về đàn ông và người có địa vị. Giờ đây, chiếc máy ảnh hoặc điện thoại thông minh trao quyền để họ tự do thể hiện chính mình trong một trạng thái cảm xúc mà mình mong muốn bộc lộ. Và họ đặt câu hỏi: vậy tại sao chúng ta, những người vô danh, lại không thể làm điều mà những người nổi tiếng như cựu Tổng thống Obama hay ngôi sao truyền hình thực tế Kim Kardashian vẫn làm?  Ở khía cạnh độ tuổi của số đông người thích selfie, các nhà nghiên cứu cho rằng, những người độ tuổi ngoài 20 và tuổi teen đang ở giai đoạn xây dựng bản sắc cá nhân và các bức ảnh này đem lại cho họ một sự nhận diện mới, một dấu ấn nào đó trong xã hội. Đơn giản, đó là hành trình tự khám phá bản thân và thế giới xung quanh. Đi sâu hơn về động cơ chụp hình sống ảo của giới trẻ, theo nhà tâm lý học Andrea Letamendi (Đại học California tại Los Angeles) là việc cho phép những người trẻ biểu đạt các trạng thái tâm lý và chia sẻ những trải nghiệm quan trọng đối với họ. Selfie thậm chí còn thúc đẩy lòng tự tin bằng việc cho người khác thấy (người khác ở đây chủ yếu là bạn bè đồng lứa) thấy cái “hay ho”, độc đáo mà chỉ riêng họ có và cách họ tương tác với môi trường xung quanh khác biệt như thế nào.  TS. Tiidenberg chia sẻ trên trang ScienceNordic, selfie là phương thức giao tiếp nối mạng trên nhiều nền tảng công nghệ, tương tự như những việc khác mà chúng ta vẫn làm trên mạng xã hội, một cách trải nghiệm, thể hiện bản thân cũng như xây dựng và duy trì các mối quan hệ trong thời đại số.  Nhưng có phải selfie chỉ là sản phẩm của thời đại số?  Selfie và tranh tự họa  Nếu nhìn vào xu hướng selfie hiện nay, người ta có thể đi đến kết luận đây là một hiện tượng văn hóa đại chúng của thế kỷ 21, liên quan trực tiếp đến sự phát triển và chiếm ưu thế của điện thoại thông minh tích hợp camera. Nhưng bằng việc truy dấu selfie như một phương thức thực hành của cái tôi cá nhân, GS. Claus-Christian Carbon, Viện Tâm lý học của ĐH Bamberg, Đức, đã kết nối selfie đương đại vào sự phát triển của văn hóa qua năm thế kỷ, từ bức tự họa nổi tiếng “Self-Portrait at 28” của danh họa Dürer đến những phòng trưng bày trên Instagram, Facebook… ngày nay.  Thoạt nhìn không có điểm chung giữa ảnh selfie và tranh tự họa của các họa sĩ trong lịch sử, chúng khác biệt về phương tiện, cách thức thực hành, nguyên liệu… Một bức chân dung tự họa đòi hỏi họa sĩ mất hàng tháng, thậm chí hằng năm còn ảnh selfie thì chỉ trong chớp mắt. Tuy nhiên, GS. Claus-Christian Carbon cho rằng về cơ bản, hai hình thức thể hiện bản sắc cá nhân này đều dựa trên ý tưởng hoặc mong muốn ghi lại một lát cắt đầy biến động nhưng quan trọng trong cuộc sống của mình và trưng bày cái tôi của mình. Do đó, thoạt thì tưởng báng bổ khi so sánh Dürer, Jan van Eyck, Rembant, van Gogh… với những người hay selfie hiện nay nhưng trong chừng mực nào đó thì họ giống nhau ở khoảng khắc cùng vĩnh cửu hóa cái tôi.  Bức tự họa nổi tiếng “Self-Portrait at 28” của danh họa Albrecht Dürer  Các bức tự họa, bất chấp trường hợp trước hết do sự thúc bách của tiền bạc, không đủ tiền thuê người mẫu trong khi mặt mình là miễn phí như van Gogh, đều có giá trị cốt lõi là chuyển tải những khát khao thầm kín về bản thân. Việc tạo dựng một bức chân dung của mình là gì nếu không phải để thể hiện bản thân? Một đặc điểm cá nhân, một trạng thái cảm xúc hay nhận thức mới… đều được các họa sĩ bí mật gửi gắm. Mặc dù không xuất hiện trên đời một cách ngẫu nhiên và vô số như ảnh selfie nhưng chân dung tự họa cũng là một cách thể hiện bản chất xã hội của con người nói chung và mong muốn chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ của riêng người sáng tạo: một mặt muốn mô tả hết sức cụ thể chính mình, mặt khác lại kích hoạt trí tưởng tượng của người xem, thôi thúc họ chạm vào suy tư và đồng cảm với mình.  Nhưng có người lập luận, dù cùng miêu tả cái tôi nhưng selfie, có lẽ, chỉ thuộc về thời đại công nghệ. Nếu vậy thì họ không biết rằng sự xuất hiện của các bức tự họa gần gũi với quá trình những phát minh và tiên tiến công nghệ xuất hiện ví dụ như kỹ thuật làm ra những tấm gương chất lượng cao đầu tiên – những tấm gương phủ lớp áo thủy tinh và hỗn hống thủy ngân – thiếc (tin-mercury amalgam) ở Đức trong giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng. GS. Claus-Christian Carbon cho rằng, đột phá này đem đến một thị trường rộng lớn hơn là việc thiết lập một trung tâm sản xuất gương hỗn hống thủy ngân thiếc ở Venice vào khoảng năm 1507, song song với quá trình bắt đầu hình thành rõ nét cái tôi trong đời sống văn hóa phương Tây. Một thiết bị phản chiếu tinh vi như gương đã đem lại một hình ảnh rõ ràng và ít bị biến dạng trước đây đã góp phần thúc đẩy các bức tự họa. Và thay vì treo tranh lên các trang mạng xã hội như hiện nay, các họa sĩ kín đáo hơn, treo trong xưởng họa hoặc trong một số triển lãm cá nhân.  Sự bắt rễ từ lịch sử này khiến chúng ta thấy hoang mang và tự hỏi: vậy selfie là tốt hay xấu?  Mặt trái của selfie  Có nhiều bàn cãi xung quanh hiện tượng này. Nhiều người cho rằng, những người quá đắm chìm vào thế giới ảo và selfie thường liên quan đến tính ái kỷ (Narcissism) nhưng cũng có người cho rằng không hẳn như vậy, đó chỉ là cách thức con người kết nối xã hội, ghi nhận sự kiện trong đời theo một cách khác trước đây, vì thế hành động selfie rộng hơn cả tính ái kỷ. Mặt khác, sống trong một xã hội mà tất cả những hình ảnh đều là những phần không thể thiếu về cách người ta giao tiếp, người ta dễ dàng chấp nhận selfie và chờ đợi người khác chia sẻ ảnh selfie hơn.  Nói gì thì nói, mặt trái của selfie không thể chối cãi. Trên phần bình luận của NY Post, có người còn bình luận đó là một đại dịch khác. Ngoài ý nghĩa tích cực, việc đưa các bức ảnh “sống ảo”, “tự sướng” trên mạng xã hội khiến con người dễ bị tổn thương hơn bởi những lời bình luận ác ý về hình thức, con người cũng dễ hoang mang và trở nên thiếu tự tin hơn. Một nghiên cứu thực hiện ở châu Âu cho thấy, thời gian dành cho việc xem ảnh selfie trên mạng xã hội có liên quan đến những suy nghĩ tiêu cực về hình ảnh cơ thể ở các cô gái. Đó là một hệ quả xấu khác của selfie, bên cạnh sự rủi ro tính mạng mà chúng ta đã thấy. Theo nghĩa này, càng đắm chìm vào ảnh selfie trên mạng xã hội thì người ta càng dễ có những suy nghĩ tiêu cực hơn.  Cội nguồn của việc lập các trang mạng xã hội là để người ta có thể kết nối nhiều hơn, bất chấp khoảng cách. Tuy nhiên trớ trêu thay, mạng xã hội là một môi trường gợi ý con người nghĩ về bản thân nhiều hơn, dẫn dụ con người chia sẻ những gì họ làm thường nhật. Do đó, con người càng tham gia mạng xã hội, càng có xu hướng chia sẻ ảnh selfie. Sự so sánh bản thân với người khác và khao khát có những bức ảnh đẹp hơn, thể hiện cái tôi độc đáo hơn đã đưa họ đến với những bức ảnh ở tư thế nguy hiểm hơn, rủi ro hơn.  Sự rủi ro liên quan đến selfie, giờ đây được hiển thị bằng việc chính quyền nhiều nơi đã phải đặt biển cảnh báo ở những nơi có nguy cơ dẫn đến tai nạn. Một số bảo tàng và phòng tranh, lo ngại về sức phá hoại của gậy selfie đã cấm không cho phép khách thưởng lãm được mang nó vào trong các gian trưng bày.  Vậy có cách nào để con người bớt “sống ảo”, bớt selfie? Về bản chất, con người là một sinh vật xã hội, sinh vật cần giao tiếp và trao đổi như cách thức giúp con người tồn tại hàng nghìn năm. Một cách vô thức, con người bị thu hút bởi những khuôn mặt và muốn thu hút những người khác. Có một hiệu ứng diễn tả vấn đề này, đó là hiệu ứng Mona Lisa liên quan đến ấn tượng mà đôi mắt của người được vẽ chân dung dường như theo sát những người xem như khi họ đi qua phía trước bức tranh. Năm 2019, GS. Gernot Horstmann ở Trung tâm xuất sắc Công nghệ tương tác nhận thức, ĐH Bielefeld, Đức, đã thực hiện một nghiên cứu về hiệu ứng Mona Lisa và phát hiện ra đôi mắt nàng thực ra không dõi theo những người say mê ngắm mình mà nhìn sang bên phải. Ông cho rằng, ý nghĩ về bức họa nổi tiếng bậc nhất thế giới đang ngắm nhìn mình chỉ là một phần của bản chất tự nhiên của con người, bởi “nó diễn tả khao khát mãnh liệt được nhìn ngắm và trở thành trung tâm chú ý của ai đó, có liên quan đến ai đó, ngay cả khi bạn không rõ người đó là ai”.  Không gian internet đơn giản phản ánh đúng tính chất đó của con người. Các nghiên cứu đo lường mức độ tương tác trên internet cho thấy, các bài chứa hình ảnh nhận được nhiều tương tác hơn các bài đăng chỉ thuần túy chữ viết, trong đó bài có ảnh selfie còn thu hút nhiều sự chú ý hơn, nhiều lượt thích hơn. Tài liệu trong Chương trình đào tạo chuyển đổi số báo chí Việt Nam năm 2022 do Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) mới đây cũng lưu ý đến đặc tính này.  ***  Ảnh selfie là một vấn đề hóc búa trong thời đại số. Nó là một phần trong số 3,2 tỷ bức ảnh và 720.000 giờ video được chúng ta chia sẻ hằng ngày (số liệu công bố năm 2020). Thật khó để dừng được một xu hướng, một hiện tượng được ủng hộ và cổ vũ bằng những công cụ số nhan nhản trên internet và đời thực (ví dụ như gậy selfie). Nhưng có lẽ, trong khi chịu sự thúc đẩy của bản tính thích được ngắm nhìn và giao tiếp thì chúng ta cũng nên tỉnh táo đôi chút trước khi giơ điện thoại lên làm một cú selfie: rất có thể chúng ta sẽ phải hứng chịu nhiều rủi ro – nếu chụp một bức ảnh đầy thách thức hay thể hiện lòng dũng cảm, sự độc đáo mới lạ, sau đó là khả năng bức ảnh bị nhồi vào một trung tâm dữ liệu nào đó và việc nó sẽ được dùng cho mục đích gì thì có trời mà biết.  Do đó, thận trọng với selfie không bao giờ thừa. □  ————–  Nghiên cứu “Classifying the narrated #selfie: genre typing human-branding activity” (tạm dịch: Phân loại thông điệp đằng sau #selfi: Hình thành các thể loại hoạt động xây dựng thương hiệu cá nhân) , xuất bản trên tạp chí The European Journal of Marketing, đã sử dụng phần mềm để lọc ngẫu nhiên 5.000 bức ảnh selfie được tải lên mạng trong 10 ngày. Thông qua phân tích bộ dữ liệu này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bảy loại selfie:  * Selfie tự sự chiếm 35%, sử dụng để ghi lại đời sống của một cá nhân, phản ánh những khoảnh khắc đáng nhớ như tốt nghiệp một khóa học, cưới hỏi đến những hoạt động thông thường như mua sắm, ăn uống hoặc đơn giản là buồn chán.   * Selfie lãng mạn chiếm 21%, sử dụng để kỷ niệm cùng với ai đó. Loại này cũng bao gồm các dạng selfie để ghi dấu ấn cá nhân, thông thường sau một mối quan hệ tan vỡ.   * Selfie hài hước chiếm 12%, dùng để biểu lộ sự hài hước, châm biếm, thông thường đem lại những trào lưu vui vẻ trên mạng xã hội hoặc các dòng sự kiện.   * Selfie mang tính quảng bá chiếm 11%, được sử dụng chỉ để thu hút người theo dõi, loại này gần với tính ái kỷ.   * Selfie sách, bàn cà phê – 9%, loại này có tính nghệ thuật cao hơn, tập trung vào việc thao túng hình ảnh với các thẻ gắn về loại camera và ống kính được sử dụng.  * Selfie tự lực 7%, sử dụng để chứng tỏ hiểu biết về một lĩnh vực cụ thể như ăn kiêng, tập thể thao hoặc làm đẹp, thông thường tập trung vào ý tưởng sự thành công cá nhân đã sẵn có để cho mọi người làm theo và đủ khó để đạt được.  * Selfie nhật ký du lịch 6%, thường được chụp tại nơi nổi tiếng đã từng lên ảnh, tranh.  ———  Tài liệu tham khảo:  1. https://journals.lww.com/jfmpc/Fulltext/2018/07040/Selfies__A_boon_or_bane_.31.aspx  2. https://timesofindia.indiatimes.com/city/raipur/one-dead-five-missing-in-water-falls-of-chhattisgarh/articleshow/93836095.cms  3. https://cand.com.vn/Giao-thong/Mai-me-chup-anh-2-thanh-nien-bi-tau-hoa-dam-tu-vong-i397027/  4. https://qandme.net/en/report/selfie-trend-among-vietnam-ladies.html  5. https://www.frontiersin.org/articles/10.3389/fpsyg.2017.00245/full  6. https://theconversation.com/amp/why-do-people-risk-their-lives-for-the-perfect-selfie-55937  https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0191886915004481    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Senkaku/Điếu Ngư: Quần đảo tranh chấp      Bài viết của Joyman Lee đăng trên tạp chí History Today từ năm 2011 đến nay vẫn còn giá trị thời sự, khi những diễn biến gần đây cho thấy sự căng thẳng trong mối quan hệ Trung – Nhật liên quan đến vấn đề chủ quyền tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngày càng gia tăng.    Ngày 7 tháng 9 năm 2010, một tàu cá Trung Quốc đã va chạm với hai tàu tuần duyên Nhật Bản tại quần đảo không người ở nhưng nhiều dầu mỏ ở vùng biển Đông Hải – Nhật Bản gọi đó là quần đảo Senkaku (Tiêm Các), còn Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Sau vụ va chạm, lực lượng tuần duyên [Nhật Bản] đã bắt giữ các thủy thủ và thuyền trưởng Chiêm Kỳ Hùng, người mà băng ghi hình cho thấy là đã cho tàu đánh cá lao thẳng vào tàu tuần duyên. Tiếp nối sự kiện đó là hàng loạt các cuộc biểu tình bài Nhật được tổ chức ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông và Thẩm Dương. Các tour du lịch Nhật Bản bị hủy, bốn nhân viên của công ty sản xuất phụ tùng xe hơi Nhật Bản Fujita bị bắt ở tỉnh Hà Bắc, và nghiêm trọng nhất là [Trung Quốc đã] quyết định ngừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản.   Ngày 1 tháng 11 Tổng thống Nga Dmitri Medvedev, trong một động thái đầy khiêu khích, đến thăm quần đảo Kuril ở phía Nam cũng đang trong tình trạng tranh chấp, nơi Liên Xô giành được từ tay Nhật Bản vào năm 1945.  Chuỗi sự kiện này đánh giá một bước lùi trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản, vốn đang sa lầy trong những bất đồng liên quan tới kế hoạch di dời căn cứ quân sự Futenma tại Okinawa mà quân đội Mỹ đã sử dụng từ nhiều thập kỷ nay. Và Nhật Bản dường như đang bị công kích từ mọi phía trong khi một Trung Quốc mới nổi lên dường như đang ngày càng mạnh mẽ và quyết đoán, đủ sức đe dọa những lợi ích quan trọng của Nhật Bản, trong đó có vấn đề chủ quyền lãnh thổ.  Quan niệm chủ quyền gắn với triều cống*   Để hiểu rõ cuộc tranh chấp hiện nay giữa Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta cần nhìn lại lịch sử đối ngoại của Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Trương Khải Hùng từ Viện Sinica của Đài Loan, cho rằng trật tự thế giới dưới góc nhìn của Trung Quốc thời cận đại dựa trên địa vị và sự ổn định (danh phận chi tự). Nghĩa là, chủ quyền hợp pháp ở đây [đối với một quốc gia] không nhất thiết dựa trên sự kiểm soát mang tính trực tiếp, mà là ở quyền [buộc người đứng đầu quốc gia ấy phải xin] thừa nhận và sắc phong chức danh cùng quyền hạn kèm theo. Theo logic đó, các hoàng đế mở rộng quyền lực của mình vượt khỏi biên giới Trung Quốc không phải bằng vũ lực mà bằng sự cai trị có tính “nhân đức”, điều mà các nhà Nho của Trung Quốc xưa kia tin rằng sẽ khiến các quốc gia khác phải thừa nhận quyền lãnh đạo của hoàng đế. Như vậy, nước Trung Quốc xưa kia cho rằng nó cai trị cả bên ngoài biên giới, kể cả nơi nó không có bộ máy chính quyền.   Việc công nhận địa vị thiên tử của hoàng đế Trung Quốc sẽ đem lại những lợi ích thực dụng: trao đổi quà tặng với triều đình Trung Quốc, một hình thức đem lại nhiều lợi lộc [cho các vị vua nước láng giềng, giúp họ] có được nhiều hàng hóa không dễ gì kiếm được ở nơi khác. Hơn nữa, quà tặng và sắc phong của các hoàng đế Trung Hoa còn giúp những vị vua các nước láng giềng củng cố vị thế cai trị của mình. Mặc dù Nhật Bản đứng ngoài hệ thống này trong suốt thời kỳ Tokugawa (1603-1868) nhưng phần lớn các quốc gia Đông Á, Trung Á, Đông Nam Á, kể cả Ryukyu (Lưu Cầu – Okinawa hiện nay), đều chấp nhận triều cống Trung Quốc.  Sự lúng túng của Trung Quốc trước luật pháp quốc tế từ phương Tây  Trật tự quốc tế với Trung Quốc là trung tâm đã suy yếu rất nhiều trong triều nhà Thanh (1644-1912). Việc Trung Quốc bại trận trước nước Anh trong các cuộc chiến tranh nha phiến (1839-42) và Hiệp ước Nam Kinh (1842) cũng như Hiệp ước Vọng Hạ với Mỹ năm 1844 đã giúp các siêu cường phương Tây áp đặt các đạo luật quốc tế có xuất xứ từ châu Âu lên những trật tự quan hệ quốc tế ở Đông Á.   Người Anh hợp pháp hóa quyền kiểm soát hệ thống cảng biển và hải quan hàng hải của Trung Quốc, thâu tóm được qua các hiệp ước, biến địa vị của Trung Quốc thành một nước bán thuộc địa. Mặc dù một số sử gia khi nhìn lại đã cho rằng nhà Thanh có phản ứng lại khá nhanh và đến năm 1862, các học giả ở trường Đồng Văn Quán do triều đình lập ra đã được nghiên cứu các tài liệu quan trọng, ví dụ như cuốn Các thành phần Luật quốc tế của Henry Wheaton (1836), nhưng trong thực tế nhà Thanh vẫn rất lúng túng, không biết phải áp dụng những hiểu biết đó như thế nào trong trật tự quan hệ với các nước láng giềng.  Trong khi đó, dưới triều Minh Trị (1868-1912), Nhật Bản tiến hành một chương trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước đầy tham vọng, bao gồm cả việc áp dụng các thuật ngữ phương Tây trong ngôn ngữ ngoại giao. Năm 1876, Nhật Bản buộc đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc là Triều Tiên phải ký hiệp ước Kanghwa, với cách thức giống hệt như cách đô đốc Perry của Mỹ đã buộc Nhật Bản mở cửa giao thương từ 22 năm trước đó.    Xung đột quanh những mối quan hệ của Trung Quốc và Nhật Bản với Triều Tiên lên đến đỉnh điểm vào cuộc họp ở Thiên Tân năm 1885, nơi Trung Quốc từ chối yêu sách của Nhật Bản đòi quan hệ Nhật – Hàn được thừa nhận căn cứ theo luật quốc tế. Thay vì biện hộ rằng không am hiểu tiêu chuẩn phương Tây như các nhà đàm phán Triều Tiên từng làm, quan đại thần Lý Hồng Chương của Trung Quốc nói với nhà ngoại giao Nhật Bản Ito Hirobumi rằng có một “khác biệt sâu sắc” giữa quan hệ triều cống Triều – Trung với hiệp ước thông thường mà Triều Tiên đã ký với Nhật Bản.  Trong nghiên cứu mang tên Nhật Bản đô hộ Triều Tiên: Đối thoại và Quyền lực (2005), Alexis Dudden lập luận rằng Nhật Bản đã phá vỡ được vị thế trung tâm quyền lực tại châu Á của Trung Quốc vào thế kỷ 19 bằng cách sử dụng ngôn ngữ và sức mạnh của luật pháp phương Tây để thay thế cho các quy ước của Trung Quốc vốn cho tới lúc đó vẫn còn được chấp nhận rộng rãi ở Đông Á. Nhật Bản đã áp dụng các thuật ngữ dịch ra từ tiếng Anh để đối thoại với Trung Quốc. Tại Thiên Tân, Ito thậm chí còn từ chối trao đổi với Lý Hồng Chương bằng tiếng Nhật hoặc Trung, thay vào đó chỉ nói tiếng Anh, khiến cho vị đại thần của Trung Quốc bị hoàn toàn bất ngờ.   Xung đột quan điểm về Đông Á giữa Trung Quốc và Nhật Bản sau đó được giải quyết trên chiến trường. Mặc dù hải quân được trang bị yếu hơn một cách cơ bản nhưng Nhật Bản đã tận dụng được một chuỗi những sai lầm vô cùng tai hại về chính trị và chiến lược của Lý Hồng Chương để đánh bại Trung Quốc hoàn toàn trong các năm 1894-95, giành quyền kiểm soát Triều Tiên và quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, chưa kể Nhật Bản còn tấn công cả Đài Loan.   Tại một cuộc gặp sau đó vào năm 1905, quan đại thần Viên Thế Khải của Trung Quốc bị đại diện phía Nhật Bản cười nhạo sau khi Viên phàn nàn rằng trong văn bản có một chữ Hán mà ông chưa từng nhìn thấy bao giờ. Vị đại diện Nhật Bản giải thích rằng chữ đó là kogi, có nghĩa là ‘phản đối’, được dịch từ chữ ‘protest’ trong tiếng Anh. Vậy là, trong thời kỳ này Nhật Bản chứ không phải Trung Quốc, mới là nơi cung cấp nguồn từ vựng chữ Hán hiện đại sử dụng trong luật pháp và các lĩnh vực khác, từ thực vật học cho tới kinh tế học.  Lịch sử quần đảo Senkaku/Điếu Ngư  Điều này liên quan như thế nào tới tranh chấp ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư? Từ thập niên 1970, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan và cả Nhật Bản đều khẳng định mạnh mẽ chủ quyền ở quần đảo này, nơi có cùng khoảng cách đến Đài Loan và cực Tây Nam quần đảo Ryukyu của Nhật Bản. Theo các nguồn từ Trung Quốc thì lần đầu tiên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư được nhắc đến là trong một tài liệu từ thế kỷ thứ 15 hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Bodleian, Oxford. Những nguồn tài liệu cổ nhất đều chỉ đề cập về vị trí của quần đảo này trên tuyến đường từ Trung Quốc đến Ryukyu, nhưng những tài liệu thế kỷ 17 của Trung Quốc đã khẳng định rõ biên giới trên biển giữa quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và quần đảo Ryukyus – họ gọi đó là Heishuigou (Hắc Thủy Câu – rãnh nước đen) – một khu vực bất ổn mà ngày nay chúng ta biết nó chính là rìa của thềm lục địa.  Năm 1720, Từ Bảo Quang, vị phó sứ Trung Quốc trong chuyến đi nhằm phong tước vương cho vua của nước Lưu Cầu (Ryukyu), đã cùng với các học giả địa phương đã biên dịch cuốn du ký Zhongshan Chuanxin lu (Trung Sơn truyền tín lục) – ghi chép về hành trình tới Trung Sơn (Chusan), trong đó xác định rõ biên giới cực Tây của vương quốc Lưu Cầu là tại đảo Kume, phía Nam của Hắc Thủy Câu. Một vị phó sứ khác là Châu Hoàng cũng xác định Hắc Thủy Câu là ranh giới vào năm 1756. Sau này, sứ thần Lý Định Nguyên có ghi chép lại về phong tục hiến tế sống một con dê hoặc lợn khi có đoàn tàu đi sứ qua vùng nước này.   Cuối thế kỷ 19, nhà cải cách Vương Đào, người từng có kinh nghiệm du hành tới châu Âu đã phản bác việc Nhật Bản sáp nhập Lưu Cầu (Ryukyu) bằng cách dẫn nguồn các tài liệu cổ Nhật Bản trong đó nói rằng Ryukyu là một quốc gia riêng biệt vào năm 1670. Ông lập luận rằng mặc dù quần đảo này là chư hầu của cả Trung Quốc và xứ Satsuma của Nhật Bản, nhưng mối quan hệ với Trung Quốc có tính chính thống hơn; việc một nước triều cống bên ngoài (tức Nhật Bản) xâm chiếm một nước triều cống bên trong Trung Quốc là một sự sỉ nhục [đối với Trung Quốc].  Ngược lại, lập luận từ phía Nhật Bản hầu như bỏ qua các sử liệu Trung Quốc. Với tuyên bố rằng quần đảo không có người ở và không bị quyền lực nào kiểm soát – hay gọi là terra nullius – Nhật Bản đã sáp nhập quần đảo này vào lãnh thổ của mình vào năm 1895 sau chiến thắng trong chiến tranh Trung – Nhật. Nhật Bản tuyên bố rằng quần đảo được một thương gia ở Fukuoka tên là Koga Tatsushiro “phát hiện” vào năm 1884, người sau đó đã đăng ký thuê lại các đảo này từ Chính phủ Nhật Bản. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Bộ Nội vụ thấy rằng vẫn chưa rõ đây có thuộc về lãnh thổ Nhật Bản hay không, nhất là khi đã có những tài liệu rất chi tiết viết bằng tiếng Trung Quốc và Lưu Cầu về quần đảo này khiến cho “khám phá” của Koga khó được chứng thực. Dù vậy, nội các [Nhật Bản] vào năm 1895 đã quyết định rằng quần đảo nên trở thành một phần của nước Nhật. Quyết định này tạo cơ sở cho việc Nhật Bản tuyên bố chủ quyền lãnh thổ theo Hiệp ước Hòa Bình San Francisco năm 1952 khi kết thúc Thế chiến thứ 2. Tuy nhiên, khi đó cả Trung Quốc và Đài Loan đều không tham gia.  Theo quan điểm của Trung Quốc, có rất ít cơ sở để Nhật Bản khẳng định rằng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trước đây là “vô chủ”, và cần có sự phân biệt giữa “không người ở” với “vô chủ”. Có những nguồn tài liệu nói rằng có một số mộ của ngư dân Đài Loan trên đảo. Tuy lực lượng chiếm đóng của Mỹ ở Okinawa đã quản lý quần đảo Senkaku/Điếu Ngư từ năm 1945 đến năm 1972 và dùng nơi này làm căn cứ huấn luyện nhưng Chính phủ Mỹ không hề cho rằng việc chuyển giao quyền quản lý quần đảo cho Nhật Bản đồng nghĩa với việc chuyển giao chủ quyền, và Mỹ khẳng định rõ rằng đây là vấn đề cần được các bên liên quan cùng giải quyết.  Nhận thấy sự mơ hồ đó, Hội đồng Lập pháp Okinawa, khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của Mỹ, đưa ra một tuyên bố vào tháng Tám năm 1970, nói rằng quần đảo là của Nhật Bản và tuyên bố này sau đó được ngoại trưởng Aichi Kiichi ủng hộ trước Quốc hội. Lúc đó, Đài Loan đưa ra một phản đối chính thức, và đến cuối năm đó thì truyền thông Trung Quốc cũng chính thức lên tiếng phản ứng với nội dung tương tự.  Trái bom nổ chậm  Sự tranh chấp chủ quyền tại quần đảo này sớm muộn sẽ xảy ra, giống như một trái bom nổ chậm, do nó gắn với những quyền lợi to lớn. Nhật Bản khẳng định rằng Trung Quốc và Đài Loan quan tâm đến quần đảo chủ yếu vì có khả năng nơi đây có nhiều mỏ dầu. Giữa các nước liên quan đến những tranh chấp gần đây về chủ quyền đối với quần đảo, có rất ít những cuộc đối thoại mang tính xây dựng. Vấn đề này vẫn là một trong những tâm điểm gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao Trung – Nhật, bên cạnh một điểm nóng khác là vụ Thảm sát Nam Kinh năm 1937. Quan điểm cứng nhắc [, không xoa dịu] của Nhật Bản về [trách nhiệm của họ đối với] những tội ác thời Đệ nhị Thế chiến càng đổ thêm dầu vào ngọn lửa bài Nhật và biến nước này dễ dàng trở thành một mục tiêu để những người Trung Quốc bất mãn trút giận.   Quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư có thể được so sánh với tình hình thời thập niên 1930, khi mà Trung Hoa Quốc dân Đảng từ chối chấp nhận hay thừa nhận quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với Mãn Châu Lý (mà Nhật Bản gọi là Mãn Châu Quốc) bất chấp mối lo ngại rằng thực lực quân sự Trung Quốc không thể chống lại Nhật Bản. Bằng cách không thừa nhận quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với phần lãnh thổ bị mất, Trung Quốc muốn gây ra tình hình bất ổn ở khu vực đó ngay cả khi Chính phủ Trung Hoa Quốc dân Đảng đóng tại Nam Kinh hoàn toàn không có khả năng vươn tầm kiểm soát tới khu vực tranh chấp. Đồng thời, thái độ thách thức của Chính phủ [Trung Hoa Quốc dân Đảng] đối với Nhật Bản còn giúp họ củng cố vị thế lãnh đạo duy nhất và hợp pháp ở Trung Quốc. Như vậy, việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở Mãn Châu Lý thời thập niên 1930 cũng như ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngày nay chủ yếu là nhằm phục vụ chính sách đối ngoại của họ chứ không thực sự phản ánh một khẳng định về sự kiểm soát thực chất đối với những vùng tranh chấp này theo quan niệm thông thường của phương Tây.   Dưới góc nhìn của Tokyo trong tình hình hiện nay, một nước Trung Quốc đầy kiên quyết đang khoe cơ bắp và cố bắt thế giới phải chấp nhận một logic thiếu căn cứ, hay ít nhất đó là một logic xa lạ đối với truyền thống luật pháp phương Tây, gây xâm phạm quyền kiểm soát lãnh thổ mà Nhật Bản thu được một cách hợp pháp vào thế kỷ 19, theo những luật lệ chính tắc đương thời.  Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu tranh chấp Trung – Nhật nếu không biết về sự phức tạp trong quá trình hình thành các quốc gia ở châu Á cuối thế kỷ 19. Bất chấp nền kinh tế khu vực Đông Á phát triển mạnh mẽ kể từ sau Thế chiến thứ II, tranh chấp biên giới vẫn tiếp tục tồn tại như một di sản từ thế kỷ 19, một giai đoạn khi mà có những chênh lệch rõ ràng về sức mạnh giữa các quốc gia liên quan, một bên là những nước am hiểu vận dụng các phương thức của phương Tây như Nhật Bản và Nga, và bên kia là những nước thích nghi và phản ứng chậm hơn như Trung Quốc. Việc Nhật Bản giành được quyền kiểm soát tạm thời đối với quần đảo không có nghĩa là nó hoàn toàn loại bỏ được một quan niệm cũ về chủ quyền hợp pháp [theo cách nhìn của Trung Quốc].         Ngày nay, Nhật Bản đang có những tranh chấp lãnh thổ không chỉ với Trung  Quốc mà với cả Nga và Hàn Quốc. Trong thời kỳ đỉnh cao phát triển kinh  tế hậu chiến của Nhật Bản thì những vấn đề này còn rất nhỏ, nhưng kể từ  khi cán cân quyền lực trong khu vực thay đổi thì những diễn biến vừa qua  đã làm lộ ra khả năng dễ bị tổn thương của Nhật Bản. Trong bối cảnh ấy,  khi xu hướng thay đổi cán cân quyền lực kinh tế – chính trị càng trở  nên rõ rệt hơn ở Đông Á thì nguy cơ xung đột sẽ ngày càng tăng thêm.          Hoàng Minh lược dịch theo   http://www.historytoday.com/joyman-lee/senkakudiaoyu-islands-conflict    * Các tít phụ do ban biên tập tạp chí bổ sung.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu đất đai và phát triển kinh tế      Khi ch&#237;nh s&#225;ch cải c&#225;ch kinh tế theo hướng thị trường được &#225;p dụng, yếu tố thị trường sẽ ng&#224;y c&#224;ng chi phối sự ph&#225;t triển, tư duy ph&#225;p l&#253; tất yếu trở n&#234;n thắng thế v&#224; đ&#242;i hỏi phải xem x&#233;t lại t&#237;nh ph&#249; hợp của kh&#225;i niệm sở hữu to&#224;n d&#226;n đối với đất đai. Cưỡng lại y&#234;u cầu n&#224;y sẽ khiến động lực ph&#225;t triển kinh tế bị triệt ti&#234;u v&#224; ổn định x&#227; hội bị đe dọa.    Đất đai luôn được xem là loại tài sản đặc biệt, hiện diện ở hầu hết các hoạt động đầu tư và sản xuất của xã hội, dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhà nước ở đâu và thời nào cũng xem trọng và đặt chính sách đất đai vào vị trí ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế và ổn định xã hội.  Không chỉ vậy, hầu hết các cuộc cách mạng có sự tham gia của đông đảo quần chúng hoặc giới cần lao đều định hướng vấn đề đất đai một cách rõ ràng và cụ thể. Những khẩu hiệu cách mạng như “người cày có ruộng” hoặc “ruộng đất cho dân cày”, tuy ngắn ngọn nhưng luôn điểm trúng tử huyệt của các chế độ tập trung quyền kiểm soát đất đai vào tay giai cấp thống trị và giới thượng lưu.   Trong lịch sử cận đại của Việt Nam, đất đai cũng là đề tài lớn. Các triều đại quân chủ thời hậu Lê và Nguyễn đều quan tâm đặc biệt đến chế độ sở hữu và cách thức quản lý điền địa khi san định luật lệ của họ. Những quy định về đất đai thời đó, đặc biệt của triều Lê, đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển cực thịnh của chế độ quân chủ ở nước ta.   Nhiều quy tắc luật pháp thời ấy đã được người dân đón nhận một cách trân trọng đến mức khi năm tháng qua đi, các triều đại lần lượt thay đổi, sự áp dụng không còn mang tính ràng buộc trên phương diện pháp lý nữa, song chúng vẫn tiếp tục “sống” dưới dạng tập quán xã hội, được người dân tuân thủ và tôn trọng một cách mặc nhiên, không cần cưỡng hành.  Dưới thời Pháp thuộc, tuy chính quyền thuộc địa chỉ chú trọng vào việc khai thác đất đai và tài nguyên của thuộc quốc hầu làm giàu cho mẫu quốc, hơn là thỏa mãn nhu cầu sinh sống của người dân bản xứ, nhưng họ vẫn tìm cách áp dụng nhiều giải pháp khoa học vào vấn đề quản lý điền địa. Chính điều ấy đã tạo nên sự ổn định xã hội trong một thời gian đủ dài để giúp phát triển kinh tế và bảo đảm điều kiện khai thác thuộc địa thuận lợi. Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học như vậy mà chính quyền thuộc địa đã dày công thực hiện.             Mọi chủ thể pháp luật đều bình đẳng mà không ai được hưởng bất kỳ ưu quyền nào hơn chủ thể kia. Khi tham gia vào những giao dịch tài sản, thông qua các tổ chức do mình sở hữu hoặc chi phối, Nhà nước cũng chỉ là chủ thể pháp luật ngang bằng với các cá nhân và tổ chức thuộc khu vực tư nhân mà thôi.           Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng cũng duy trì hiệu lực của Sắc lệnh điền thổ 1925 thêm một thời gian cho đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc vào năm 1954. Sau đó, một chính sách đất đai hoàn toàn mới dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế-chính trị Marx-Lénine dần hình thành, theo đó quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này thuộc về “toàn dân”, thông qua vai trò quản lý tập trung của Nhà nước với tư cách đại diện nhân dân.  Dưới chế độ quản lý đất đai theo mô hình xã hội chủ nghĩa được áp dụng từ năm 1955 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, chế độ tư hữu đất đai chấm dứt và thay vào đó là định chế “quyền sử dụng đất”, xuất phát từ khái niệm “sở hữu toàn dân”. Đây là một khái niệm đặc biệt về quyền tài sản chỉ có ở các quốc gia thuộc khối Liên Xô cũ, nay vẫn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam.  Theo định chế quyền sử dụng đất, người sử dụng đất được luật pháp công nhận đầy đủ các quyền gắn liền với nó tương tự đối với quyền sở hữu các tài sản thông thường khác, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, v.v…). Tuy nhiên, sự định đoạt trong khuôn khổ quyền sử dụng đất không phải là một quyền trọn vẹn theo đúng nghĩa, mà trái lại tùy thuộc vào quyết định tối hậu của Nhà nước, người quản lý luật định của toàn bộ đất đai trên lãnh thổ quốc gia.  Định chế quyền sử dụng đất sau hàng chục năm hiện hữu ở nước ta đã đóng trọn vai trò lịch sử của nó và phát huy tác dụng đáng kể trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển đổi theo hướng thị trường, định chế này đã và đang gây ra một số trở ngại cho sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế và đe dọa sự ổn định xã hội. Có thể liệt kê cụ thể như sau:  Toàn bộ hệ thống đăng bạ điền địa khoa học tồn tại hơn nửa thế kỷ (vốn dựa trên cơ sở quyền tư hữu đất đai) đã bị xóa bỏ hoàn toàn và thay bằng một hệ thống đăng ký phức tạp, rườm rà, không những không hiệu quả và thiếu ổn định mà còn gây nhiều tốn kém về tiền của và thời gian cho ngân sách quốc gia và những người có quyền lợi liên quan. Các loại sổ đỏ, sổ hồng và sổ trắng ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà thay nhau ra đời, song giá trị và công năng của từng loại vẫn đầy biến động và chưa định dạng rõ ràng. Việc hành xử các quyền gắn liền với quyền sử dụng đất, đặc biệt là quyền định đoạt, do vậy trở nên bấp bênh và khó khăn.  Do người sử dụng đất không có quyền sở hữu trên phương diện pháp lý nên mỗi khi muốn chuyển nhượng đất, trình tự thực hiện bị kéo dài vì người chuyển nhượng phải “hoàn trả” lại “đất không sử dụng” cho Nhà nước trước khi người thụ hưởng được trao quyền sử dụng thông qua hình thức giao hoặc thuê đất từ Nhà nước. Nếu quyền tư hữu đất được công nhận, thì chủ sở hữu đất sẽ chuyển nhượng trực tiếp quyền sở hữu của mình cho người thụ hưởng như trong trường hợp các tài sản thông thường khác. Lúc đó ắt hẳn thủ tục hành chính nhiêu khê xung quanh câu chuyện đất đai sẽ giảm thiểu, và phí tổn xã hội để phát triển kinh tế cũng giảm đi đáng kể.  Việc quy hoạch sử dụng đất tuy trên lý thuyết thuộc về Nhà nước, nhưng trên thực tế các quan chức địa chính địa phương toàn quyền quyết định, nên tình trạng lạm dụng quyền hành biến đất công thành đất tư, bồi thường di dời không thỏa đáng để trục lợi, nhận hối lộ để phê duyệt và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong những dự án kinh doanh bất động sản đã và sẽ tiếp tục xảy ra trầm trọng, tạo nên bất mãn xã hội ngày càng sâu rộng. Điều này là nguyên nhân chính của nạn khiếu kiện đông người tại những thành phố lớn.  Cốt lõi của tất cả những trở ngại nêu trên bắt nguồn từ sự kết hợp khiên cưỡng của hai khái niệm vốn dĩ khác biệt nhau để tạo nên định chế quyền sử dụng đất, đó là khái niệm “quyền sở hữu tài sản” theo tư duy pháp lý và khái niệm “sở hữu toàn dân” theo tư duy chính trị – ý thức hệ. Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung được xây dựng trên nền tảng lý luận Marx-Lénine, tư duy chính trị thắng thế nên sở hữu toàn dân đối với đất đai không tạo ra nhiều vấn đề nan giải cho xã hội, vì khi ấy nền kinh tế được hoạch định theo kế hoạch tập trung và mọi bất đồng có thể giải tỏa bằng mệnh lệnh hành chính từ Nhà nước. Tuy nhiên, khi chính sách cải cách kinh tế theo hướng thị trường được áp dụng, yếu tố thị trường sẽ ngày càng chi phối sự phát triển, tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của khái niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Cưỡng lại yêu cầu này sẽ khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa.  Do vậy, đã đến lúc cần nghiêm túc nghiên cứu một cách khoa học khả năng chấp nhận tư hữu hóa một phần các loại đất được sử dụng vào mục đích kinh doanh để phát triển kinh tế, hơn là tiếp tục duy trì tuyệt đối khái niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai như hiện nay. Đây thực sự là gốc của mọi vấn đề phát sinh trong lĩnh vực địa chính, kể cả tình trạng khiếu kiện đất đai đông người mà các chính quyền địa phương đang nỗ lực giải quyết.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu hay hiện hữu? (Phần 1)      Trong lời dẫn nhập tác phẩm TO HAVE OR TO  BE? (Sở hữu hay Hiện hữu?) xuất bản năm 1976, Erich Fromm đã chỉ ra một  cách đầy thuyết phục rằng những cơ sở của xã hội công nghiệp đương đại  đã dựa trên những tiền đề sai trái về bản tính con người.     Vì vậy, Lời hứa hẹn Vĩ đại (Great Promise) về tiến bộ không giới hạn – thống trị thiên nhiên, của cải vật chất ê hề, hạnh phúc lớn nhất cho số đông người nhất và tự do cá nhân không có cản trở – là một ảo tưởng. Ngày nay những người ý thức được sự thất bại rõ ràng của Lời hứa hẹn Vĩ đại ngày càng nhiều hơn. Loài người đang đối diện với nguy cơ chiến tranh hạt nhân và thảm họa môi trường.   Dưới đây là lược thuật một vài nội dung của tác phẩm TO HAVE OR TO BE do Nguyễn Văn Trọng thực hiện (các tiêu đề là của NVT).  Fromm nhận xét rằng nền văn minh của chúng ta đã khởi sự từ khi loài người kiểm soát thiên nhiên một cách tích cực, nhưng vào thời kỳ trước thời đại công nghiệp việc kiểm soát ấy là có giới hạn. Với tiến bộ mạnh mẽ của công nghiệp và khoa học kỹ thuật chúng ta cảm thấy dường như đã tìm được cách thức sản xuất vô giới hạn và do đó mà tiêu thụ vô giới hạn. Tưởng chừng như kỹ thuật đã biến chúng ta thành toàn năng, rằng khoa học đã biến chúng ta thành toàn trí. Chúng ta đang tiến tới trở thành các thần linh, những hữu thể thượng đẳng có thể tạo ra được một thế giới thứ hai bằng cách sử dụng thế giới tự nhiên như những khối vật liệu xây dựng phục vụ cho sáng tạo mới mẻ của chúng ta. Nhất thể ba ngôi của sản xuất vô giới hạn, tự do tuyệt đối và hạnh phúc vô bờ bến, tạo thành hạt nhân của một tôn giáo mới. Tiến bộ và Đô thành trần gian mới của Tiến bộ thay thế cho Thiên đường của Chúa. Không có gì ngạc nhiên khi tôn giáo mới ấy cung cấp cho các tín đồ của mình năng lượng, sức sống và hy vọng.  Fromm cho rằng cần phải hình dung được hết vẻ hoành tráng của Lời hứa hẹn Vĩ đại, cũng như những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của thời đại công nghiệp để thấu hiểu được cơn khủng hoảng tinh thần mà việc thức ngộ ra sự thất bại của nó gây nên cho ngày nay. Bởi vì thời đại công nghiệp quả thật đã thất bại trong việc thực hiện Lời hứa hẹn Vĩ đại của mình, nên ngày càng có nhiều người ý thức được rằng:  – Việc thỏa mãn vô giới hạn mọi ham muốn không dẫn đến an sinh, mà cũng chẳng đưa tới hạnh phúc hay ngay cả niềm vui cực đại nữa.  –    Giấc mơ được làm chủ nhân độc lập cuộc sống của chúng ta kết thúc, khi chúng ta đang bắt đầu nhận ra rằng tất cả chúng ta đều trở thành những bánh răng trong cỗ máy quan liêu, những suy tư, cảm xúc và sở thích của chúng ta đều bị thao túng bởi chính quyền và nền công nghiệp cũng như bởi các phương tiện truyền thông đại chúng mà họ kiểm soát.  –    Tiến bộ kinh tế vẫn chỉ giới hạn ở các quốc gia giàu có và khoảng cách giữa các quốc gia giàu và nghèo ngày càng rộng ra thêm.  –     Bản thân tiến bộ kỹ thuật lại tạo ra những nguy cơ cho môi trường sống và nguy cơ chiến tranh hạt nhân, bất cứ nguy cơ nào hoặc là cả hai nguy cơ đều có thể kết thúc toàn bộ nền văn minh và cũng có thể là toàn bộ cuộc sống.          Erich Fromm sinh năm 1900 tại Frankfurt/M (Đức), nghiên cứu phân tâm học và xã hội học. Khi Hitler lên cầm quyền, ông di tản sang Mỹ như một thành viên của Đại học Frankfurt. Năm 1950 sang sống ở Mehico. Từ 1974 đến lúc mất (1980) sống tại Thụy Sĩ.           Fromm đặt vấn đề: Vì sao Lời hứa hẹn Vĩ đại lại thất bại? Ông cho rằng ngoài những mâu thuẫn kinh tế mang tính bản chất của chủ nghĩa công nghiệp ra thì sự thất bại của Lời hứa hẹn Vĩ đại đã nằm sẵn trong hệ thống công nghiệp bởi hai tiền đề tâm lý chủ yếu: 1) mục đích cuộc sống là hạnh phúc, tức là niềm vui cực đại được định nghĩa như thỏa mãn mọi ham muốn hay nhu cầu chủ quan mà con người cảm nhận thấy (chủ nghĩa khoái lạc cực đoan); 2) thói vị kỷ, tư lợi và lòng tham mà hệ thống cần tạo ra trong nó để hoạt động, sẽ dẫn đến hài hòa và thanh bình.     Fromm nhận xét rằng những kẻ giàu sang đều đã thực hành chủ nghĩa khoái lạc cực đoan trong suốt lịch sử. Giới tinh hoa đặc quyền ở La Mã, ở các đô thị Ý thời kỳ Phục hưng, và ở Anh và Pháp vào những thế kỷ mười tám và mười chín đã thử sử dụng những phương tiện vô giới hạn ấy để tìm ý nghĩa cuộc sống trong niềm vui vô giới hạn.Trong khi đó các nhà hiền triết ở phương Đông cũng như phương Tây đều không xem nó là an sinh. Họ phân biệt rạch ròi những nhu cầu thuần túy chủ quan mà con người cảm nhận thấy với những nhu cầu có giá trị khách quan. Một số nhu cầu chủ quan gây tác hại cho sự phát triển con người, trong khi các nhu cầu có giá trị khách quan lại phù hợp với những đòi hỏi của bản chất con người.  Thời đại ngày nay, phần lớn là từ sau Thế chiến thứ nhất, đã quay trở về với thực hành và lý thuyết của chủ nghĩa khoái lạc cực đoan. Khái niệm niềm vui vô giới hạn tạo nên một mâu thuẫn kỳ quặc cho lý tưởng của công việc mang tính kỷ luật, tương tự như mâu thuẫn giữa đạo đức làm việc như điên và lý tưởng lười biếng hoàn toàn sau giờ làm việc và trong kỳ nghỉ. Chỉ có làm việc như điên không thôi có thể khiến cho người ta hóa rồ dại, hoàn toàn lười biếng cũng có thể dẫn đến kết quả ấy. Nhưng phối hợp với nhau thì chúng lại sống được. Hơn nữa, hai thái độ mâu thuẫn lại phù hợp với một tất yếu kinh tế: chủ nghĩa tư bản thế kỷ hai mươi dựa trên việc tiêu thụ cực đại các hàng hóa và dịch vụ, cũng như dựa trên công việc chung sức theo nề nếp.  Những xem xét lý thuyết chứng tỏ rằng chủ nghĩa khoái lạc cực đoan không thể dẫn đến hạnh phúc cũng như giải thích được tại sao lại như vậy với bản chất con người hiện có. Nhưng chẳng cần phân tích lý thuyết thì những dữ liệu quan sát được cũng cho thấy thật rõ ràng rằng cái kiểu cách của chúng ta “mưu cầu hạnh phúc” không tạo nên được an sinh. Chúng ta là một xã hội của những người khét tiếng bất hạnh: cô đơn, lo âu, trầm cảm, phá phách, phụ thuộc. Ông viết: “Chúng ta chính là một thí nghiệm xã hội vĩ đại nhất được thực hiện từ trước tới nay để giải đáp vấn đề liệu niềm vui (như một tác động thụ động khác biệt hẳn với tác động tích cực, an sinh và vui vẻ) có thể là một lời giải đáp thỏa đáng cho vấn đề hiện hữu nhân bản hay không. Lần đầu tiên trong lịch sử nỗ lực thỏa mãn niềm vui không còn chỉ là đặc quyền của một thiểu số, mà còn là khả dĩ cho hơn một nửa dân số.1 Thí nghiệm đã trả lời cho vấn đề ở dạng phủ định.”  Fromm viết tiếp: “Tiền đề tâm lý thứ hai của thời đại công nghiệp cho rằng mưu cầu vị kỷ cá nhân dẫn đến hài hòa và thanh bình, dẫn đến gia tăng phúc lợi của mỗi người, tiền đề này cũng vừa sai trái trên cơ sở lý thuyết và cũng bị chứng tỏ là lầm lẫn bởi các dữ liệu quan sát được. Là một kẻ vị kỷ không chỉ liên quan đến cung cách ứng xử của tôi mà còn liên quan đến tính cách của tôi nữa. Điều này có nghĩa: là tôi muốn mọi thứ cho bản thân mình; là sở hữu, chứ không phải chia sẻ, sẽ đem lại niềm vui cho tôi; là tôi phải trở nên tham lam vì rằng mục đích của tôi là sở hữu, nên càng sở hữu nhiều thì tôi càng hiện hữu; là tôi phải cảm thấy đối địch với tất cả những kẻ khác: ấy là những Người tiêu thụ của tôi mà tôi muốn dụ dỗ, những kẻ cạnh tranh với tôi mà tôi muốn hủy hoại, những công nhân của tôi mà tôi muốn bóc lột. Tôi không bao giờ có thể thỏa mãn, vì rằng ham muốn của tôi vô bờ; tôi phải đố kỵ với những kẻ sở hữu nhiều hơn tôi và tôi phải e ngại những kẻ sở hữu ít hơn tôi. Thế nhưng tôi lại phải kìm nén tất cả những cảm xúc ấy để trưng bản thân mình ra (trước những người khác cũng như trước bản thân tôi) như là người sẵn sàng giúp đỡ, yêu lẽ phải, chân thành, kiểu người mà ai cũng muốn hướng tới.”  Fromm cho rằng đam mê sở hữu ắt phải dẫn tới cuộc chiến tranh giai cấp không khi nào kết thúc. Kỳ vọng của những người cộng sản cho rằng hệ thống của họ sẽ chấm dứt được đấu tranh giai cấp là chuyện hư ảo, vì hệ thống của họ dựa trên nguyên tắc xem tiêu thụ vô giới hạn như mục đích cuộc đời. Chừng nào mỗi người đều muốn sở hữu nhiều hơn thì nhất định sẽ hình thành các giai cấp, nhất định sẽ có chiến tranh giai cấp, và trong điều kiện toàn cầu thì ắt phải có chiến tranh quốc tế. Tín điều của tôn giáo mới và nền hòa bình là loại trừ nhau.  Fromm nhận xét rằng chủ nghĩa hưởng lạc cực đoan và chủ nghĩa vị kỷ vô giới hạn đã nổi lên như những nguyên lý dẫn dắt hành xử kinh tế, chính là vì một biến chuyển nghiêm trọng đã xảy ra vào thế kỷ mười tám. Thông qua một số bước đi, chủ nghĩa tư bản thế kỷ mười tám đã trải qua một biến chuyển căn bản: hành xử kinh tế trở nên tách biệt khỏi đạo đức luận và những giá trị nhân bản (điều chưa từng có vào thời trung đại). Quả thực người ta đã giả định rằng cỗ máy kinh tế là một thực thể tự trị (autonomous entity), độc lập với những nhu cầu và ý chí của con người. Đây là một hệ thống tự nó vận động và thuận theo những định luật riêng của nó. Nỗi đau khổ của các công nhân cũng như sự hủy hoại những doanh nghiệp nhỏ (có số lượng vẫn tăng lên) phục vụ cho sự tăng trưởng của các tổ hợp rộng lớn hơn, là một tất yếu kinh tế mà người ta lấy làm tiếc, nhưng đành phải chấp nhận như là hệ quả của một định luật tự nhiên.  Sự phát triển của hệ thống kinh tế này không còn được xác định bởi câu hỏi: Điều gì là tốt cho Con người? mà được xác định bởi câu hỏi: Điều gì là tốt cho Hệ thống? Người ta đã cố giấu diếm sự gay gắt của xung đột này bằng cách tạo ra giả định rằng điều gì là tốt cho tăng trưởng của hệ thống (hay thậm chí cho riêng một tổ hợp lớn) cũng là tốt cho dân chúng. Cái tạo dựng (construction) này được củng cố bởi một tạo dựng bổ trợ: chính những phẩm tính mà hệ thống đòi hỏi ở con người – vị kỷ, tư lợi và tham lam – là bẩm sinh trong bản chất con người; vậy là không chỉ riêng hệ thống mà chính ngay bản chất con người cũng khuyến khích những phẩm tính ấy. Người ta không chịu thừa nhận rằng những đặc điểm ấy không phải là động lực khiến cho xã hội công nghiệp tồn tại và rằng chúng chỉ là sản phẩm của những hoàn cảnh xã hội.  Một nhân tố nữa cũng không kém phần quan trọng: mối quan hệ của con người đối với thiên nhiên đã trở nên thù địch sâu sắc. Vốn là những hữu thể dị dạng (“freaks of nature”), mà chính những điều kiện cho hiện hữu là ở trong thiên nhiên, chúng ta nhờ những điều kiện ấy và bằng năng khiếu lý trí đã vượt lên thiên nhiên, chúng ta đã cố giải quyết vấn đề hiện hữu của mình, nhưng lại chối bỏ cái nhìn của Chúa cứu thế về sự hài hòa của loài người và thiên nhiên, bằng cách chinh phục thiên nhiên, bằng cách biến cải thiên nhiên theo những mục tiêu của riêng chúng ta cho đến khi cuộc chinh phục ngày càng trở thành cuộc phá hủy. Tinh thần chinh phục và thù địch đã khiến chúng ta mù quáng không thấy được thực tế là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn và rốt cuộc sẽ cạn kiệt và rằng thiên nhiên rồi sẽ giáng trả lại thói tham tàn của con người.  Xã hội công nghiệp coi khinh thiên nhiên cũng như mọi thứ không do máy móc tạo nên và coi khinh tất cả những ai không phải là nhà chế tạo máy…Ngày nay người ta bị lôi cuốn bởi máy móc cơ giới hùng mạnh, vô sinh khí và ngày càng hướng nhiều hơn tới phá hủy.  Cho tới nay luận cứ đưa ra ở đây cho rằng những đặc điểm tính cách là do hệ thống kinh tế-xã hội gây nên, tức là lối sống của chúng ta là căn bệnh di truyền và rốt cuộc sản sinh ra con người bệnh hoạn và rồi là xã hội bệnh hoạn. Nhưng còn có một luận cứ thứ hai nhìn từ một quan điểm hoàn toàn khác cũng tán thành việc thay đổi sâu sắc về tâm lý trong Con người, như một lối thoát cho thảm họa kinh tế và môi trường. Luận cứ này được nêu ra trong hai bản tường trình được ủy nhiệm bởi Câu lạc bộ La Mã, một tường trình là của D.H. Meadows và các đồng tác giả, bản tường trình kia là của M.D. Mesarovic và E. Pestel. Cả hai bản tường trình đều đề cập đến các xu hướng kỹ thuật, kinh tế, và dân số trên quy mô toàn cầu. Mesarovic và Pestel kết luận rằng chỉ có những thay đổi quyết liệt về kinh tế và kỹ thuật ở mức độ toàn cầu theo một kế hoạch thành thạo mới có thể “tránh được một thảm họa to lớn và về cơ bản mang tính toàn cầu.”… Mesarovic và Pestel kết luận tiếp rằng những thay đổi kinh tế như vậy chỉ khả dĩ “nếu như có được những thay đổi trong các giá trị và thái độ của con người [Fromm muốn gọi nó là những thay đổi trong tính cách (định hướng) của con người], như là một đạo đức mới và một thái độ mới đối với thiên nhiên.”   Sự cần thiết phải có thay đổi sâu sắc ở con người không chỉ như một yêu cầu đạo đức hay tôn giáo, không chỉ như một yêu cầu tâm lý nảy sinh từ bản chất mắc bệnh di truyền của tính cách xã hội hiện nay của chúng ta, mà cũng còn là điều kiện sống sót được cho loài người. Quyền được sống không còn chỉ là hoàn tất một yêu cầu đạo đức và tôn giáo. Lần đầu tiên trong lịch sử việc sống sót thân xác của loài người tùy thuộc vào sự thay đổi căn bản của trái tim. Tuy nhiên, một thay đổi căn bản của trái tim con người lại chỉ khả dĩ trong chừng mực có được những thay đổi quyết liệt về kinh tế và xã hội đem lại cho trái tim con người cơ hội để thay đổi, lòng can đảm và tầm nhìn để đạt được điều đó.   Fromm đặt câu hỏi: Liệu có khả dĩ một lựa chọn khác để thoát khỏi thảm họa hay không? Ông nhận xét rằng tất cả những dữ liệu đề cập đến ở trên đều đã được công bố và mọi người đều được biết. Nhưng sự thực không thể tin nổi là chẳng có nỗ lực nghiêm chỉnh nào được làm để tránh khỏi cái điều có vẻ giống như một bản án chung thẩm của định mệnh. Trong lúc ở cuộc sống riêng tư chẳng một ai ngoại trừ kẻ điên rồ lại có thể thờ ơ trước mối đe dọa đối với toàn thể tồn tại của chúng ta, thì những kẻ có trách nhiệm công cộng trên thực tế lại chẳng làm gì hết, còn những người phó thác số phận của mình cho chúng lại cứ để cho chúng tiếp tục không làm gì hết.  Làm sao mà một bản năng mạnh mẽ nhất trong tất cả mọi bản năng là bản năng sống sót, lại khả dĩ thôi không còn thúc đẩy chúng ta nữa? Một trong những giải thích hiển nhiên nhất là các nhà lãnh đạo đã có nhiều hành động khiến cho họ có thể giả bộ như đang làm gì đó hữu hiệu để tránh khỏi thảm họa: những hội nghị hội thảo, những nghị quyết, những thảo luận giải trừ quân bị, liên miên không dứt, mọi thứ đều gây ra ấn tượng rằng các vấn đề đã được nhận biết và có điều gì đó đang được làm để giải quyết chúng. Những vẫn chẳng có gì thực sự quan trọng xảy ra hết; ngoại trừ cả những nhà lãnh đạo lẫn lương tâm dẫn dắt đã hết cảm giác của họ cũng như mong muốn sống sót của họ, đang làm ra vẻ như biết rõ con đường và đang tiến bước đúng hướng.  Một giải thích khác là tính tư lợi mà hệ thống sinh ra khiến cho các nhà lãnh đạo đánh giá thành đạt cá nhân cao hơn nhiều so với trách nhiệm xã hội. Chẳng còn là điều gây choáng nữa khi các nhà lãnh đạo chính trị và những người điều hành kinh tế đưa ra những quyết định có vẻ thiên về lợi thế cho họ, mà đồng thời lại gây hại và nguy hiểm cho cộng đồng. Thực vậy, nếu tư lợi là một trong những trụ cột của đạo đức thực hành đương thời, vậy thì tại sao họ lại phải hành động khác đi? Có vẻ như họ không biết rằng lòng tham (cũng giống như thói phục tùng) khiến cho người ta trở thành ngu xuẩn trong việc mưu cầu ngay cả lợi ích riêng thực sự của họ, như là lợi ích trong cuộc sống của chính họ và trong cuộc sống của vợ con họ. Đồng thời công chúng nói chung lại cũng rất tư lợi, chỉ lo đến công chuyện riêng mà ít chú ý tới mọi thứ vượt quá vương quốc cá nhân riêng tư.  Ngoài những giải thích đó về tính thụ động đầy định mệnh của con người liên quan đến chuyện sinh tử, vẫn còn một giải thích nữa vốn là lý do khiến Fromm viết cuốn sách này. Fromm có ý muốn nói tới định kiến cho rằng chúng ta chẳng có lựa chọn nào khác nữa ngoài những mô hình như chủ nghĩa tư bản hợp tác, chủ nghĩa xã hội dân chủ, hay chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô, hay “chủ nghĩa phát xít với khuôn mặt mỉm cười” mang tính kỹ trị. Ông cho rằng tính phổ biến của quan điểm này phần nhiều do sự kiện là có ít nỗ lực nghiên cứu tính khả thi của những mô hình xã hội hoàn toàn mới mẻ và thí nghiệm với chúng. Quả thực là chừng nào mà những vấn đề cải tạo xã hội còn chưa được những trí tuệ tốt nhất của loài người quan tâm tới với khoa học và kỹ thuật, thì sẽ thiếu trí tưởng tượng để hình dung ra những lựa chọn khác mới mẻ và hiện thực. Nội dung tác phẩm Sở hữu hay hiện hữu? khẳng định rằng chỉ có thể ngăn chặn được thảm họa cho loài người, nếu có được thay đổi căn bản trong trái tim con người để lựa chọn đúng đắn giữa hai kiểu mẫu sống: kiểu mẫu sở hữu hay kiểu mẫu hiện hữu.  —  1 Có lẽ E. Fromm định nói tới xã hội Tây Đức và Thụy Sĩ những năm 70-80 của thế kỷ XX. (ND)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu hay hiện hữu? (Phần 2)      Fromm đưa ra hai kiểu mẫu sống: kiểu mẫu sở  hữu (mối quan hệ của tôi với thế giới là sở hữu và chiếm hữu, là kiểu  mẫu sống muốn biến mọi người và mọi vật, bao gồm cả bản thân mình, thành  tài sản của mình) và kiểu mẫu hiện hữu (hoặc tương phản với sở hữu và  có nghĩa là đầy sinh động và liên hệ xác thực với thế giới; hoặc tương  phản với làm duyên làm dáng bề ngoài, có ý nói tới thái độ sống với bản  chất đích thực, chân hiện thực của một người hay một sự vật).      Fromm nhận xét rằng về phương diện ngôn ngữ, điều khẳng định “tôi có một chiếc xe” có ý nghĩa hiện thực; nhưng người ta cũng còn nói “tôi có một ý tưởng”, điều khẳng định này không có ý nghĩa hiện thực mà là trừu tượng hóa một hành động: suy nghĩ và quan niệm một điều gì đó. Hành động tư duy đầy sinh khí của con người bị trừu tượng hóa thành một đồ vật để sở hữu, cái vốn thuộc nội tâm bị ném ra bên ngoài trong quá trình khách thể hóa, trở thành một thứ xa lạ. Các triết gia như Parmenides, Plato xem ý tưởng (idea) là một hiện thực cơ bản, từ đó kết luận rằng tồn tại (being) là một thực chất (substance) vĩnh cửu và không biến đổi. Fromm bác bỏ điều này: “Nếu ý tưởng về tình yêu (trong ý nghĩa của Plato) lại hiện thực hơn trải nghiệm yêu thương, thì người ta có thể bảo tình yêu là một ý tưởng vĩnh cửu và không biến đổi. Nhưng nếu chúng ta khởi đầu từ hiện thực của những hữu thể con người đang hiện hữu, đang yêu thương, đang căm ghét, đang đau khổ, thì chẳng có tồn tại nào mà lại không đồng thời đang hình thành và đang biến đổi… Biến đổi và sinh trưởng là những phẩm tính cố hữu của quá trình sống.” (Sở hữu hay hiện hữu?). Fromm cũng đồng tình với khái niệm vô thường của Phật giáo, khẳng định không có gì là bền vững mãi mãi.  Fromm đưa ra hai kiểu mẫu sống: kiểu mẫu sở hữu và kiểu mẫu hiện hữu.   1)    Kiểu mẫu sống sở hữu là kiểu sống mà mối quan hệ của tôi với thế giới là sở hữu và chiếm hữu, là kiểu mẫu sống muốn biến mọi người và mọi vật, bao gồm cả bản thân mình, thành tài sản của mình.  2)    Trong kiểu mẫu sống hiện hữu có hai hình thức hiện hữu. Một hình thức là tương phản với sở hữu và có nghĩa là đầy sinh động và liên hệ xác thực với thế giới. Hình thức kia là tương phản với làm duyên làm dáng bề ngoài, có ý nói tới thái độ sống với bản chất đích thực, chân hiện thực của một người hay một sự vật.  Ý tưởng về kiểu mẫu sống sở hữu của Fromm cũng rất phù hợp với bàn luận của Berdyaev về mẫu hình “gã tư sản”. Berdyaev đã viết: “Gã tư sản trong ý nghĩa siêu hình học là con người chỉ tin chắc vào thế giới của những đồ vật khả dĩ nhìn thấy được, là những thứ buộc anh ta phải thừa nhận và anh ta muốn chiếm giữ địa vị vững chắc trong cái thế giới ấy. Anh ta là nô lệ cho cái thế giới nhìn thấy được và cho ngôi thứ của các địa vị được thiết lập trong thế giới ấy. Anh ta đánh giá những con người không căn cứ vào việc họ là những người thế nào, mà căn cứ vào những gì họ có được. Gã tư sản là công dân của cái thế giới ấy, anh ta là chúa tể của trần gian. Chính là gã tư sản đã nghĩ ra chuyện trở thành chúa tể của trần gian. Sứ mệnh của anh ta là ở trong chuyện này.” (Bàn về nô lệ và tự do của con người).  Fromm là nhà phân tâm học, ông nghiên cứu thể hiện khác biệt trong cuộc sống của hai kiểu mẫu tinh thần trong một số hành vi thường ngày của con người:  1)    Trò chuyện    Xem xét một cuộc tranh luận giữa hai người, một người (A) có ý kiến X, một người khác (B) giữ ý kiến Y. Mỗi người đều đồng nhất bản thân mình với ý kiến mà mình giữ. Mỗi người chỉ lo tìm những luận cứ hợp lý lẽ để bảo vệ cho được ý kiến của mình. Không thể nào kỳ vọng mỗi người thay đổi ý kiến của mình, bởi vì ý kiến là sở hữu của họ mà nếu mất đi thì có nghĩa là họ bị nghèo đi.  .  Tình hình có thể khác hơn, nếu cuộc trò chuyện không có nghĩa là một cuộc tranh luận. Liệu có ai còn chưa hề trải nghiệm một cuộc gặp gỡ với một nhân vật nổi tiếng, danh giá, hay thậm chí quả thực có những phẩm tính cao đẹp, hoặc giả với một người mà mình trông đợi sẽ giúp mình có được thứ gì đó: một công việc tốt, một sự quý mến hay ái mộ? Trong những trường hợp như thế người ta có xu hướng ít nhất cũng hơi lo âu, và thường lo “chuẩn bị” bản thân mình cho cuộc gặp quan trọng. Người ta suy nghĩ về những đề tài câu chuyện khả dĩ gây chú ý cho người kia; họ nghĩ trước xem nên mở đầu câu chuyện thế nào; vài người còn phác họa trước toàn bộ cuộc trò chuyện về phần mình. Họ cũng tự củng cố tinh thần cho mình bằng cách nghĩ về những gì họ đang có: những thành đạt trong quá khứ của họ, phong cách khả ái của họ (hoặc phong cách hù dọa của họ nếu vai diễn ấy hiệu quả hơn), địa vị xã hội của họ, những mối quan hệ của họ, vẻ bề ngoài cũng như trang phục của họ. Tóm lại là họ hình dung trong đầu một sự cân đo giá trị của họ và dựa trên sự định giá ấy mà họ phô bày các hàng hóa của mình ra trong cuộc trò chuyện. Nhiều người rất tài giỏi chuyện này và gây ấn tượng được cho khá nhiều người, dù cho ấn tượng mà họ tạo nên chỉ giúp ích phần nào thôi, còn thực ra phần lớn thành công của họ là do xét đoán của những người khác không được tinh tường cho lắm. Tuy nhiên, nếu người thực hiện không thật thông minh, cuộc trò chuyện sẽ thành gượng gạo, ngụy tạo, tẻ nhạt và không gây chú ý được bao nhiêu.  Tình hình sẽ hoàn toàn khác hẳn, khi những người tham dự cuộc trò chuyện không chuẩn bị trước gì hết, không lo củng cố bản thân mình bằng bất cứ kiểu gì. Thay cho những chuyện ấy họ ứng đáp tự phát và đầy bổ ích; họ quên đi bản thân mình, quên đi những tri thức và địa vị mà họ có. Cái “tôi” không cản đường họ, chính nhờ vậy mà họ có thể ứng đáp trọn vẹn đối với người khác cũng như những ý tưởng của người khác. Họ làm nảy sinh ra những ý tưởng mới, bởi vì họ không bám víu vào cái gì hết nên mới có thể tạo dựng và hiến tặng. Trong khi những người thuộc kiểu mẫu sở hữu chỉ trông cậy vào những gì họ sở hữu, thì những người thuộc kiểu mẫu hiện hữu lại dựa trên sự kiện là họ đang hiện hữu, là họ đang sống thật, là một thứ gì đó mới mẻ sẽ ra đời, chỉ cần họ có can đảm dám để cho nó sinh ra, dám ứng đáp. Họ hoàn toàn sống thật bước vào cuộc trò chuyện, bởi vì họ không bóp nghẹt bản thân họ bởi mối quan tâm lo lắng cho những gì họ sở hữu. Khí chất sống thật của họ có tính lây lan và thường hỗ trợ cho những người khác vượt lên trên khí chất vị kỷ của mình. Nhờ vậy mà cuộc trò chuyện không còn là cuộc trao đổi hàng hóa (thông tin, tri thức, danh phận) và trở thành cuộc đối thoại trong đó chuyện ai có lý hơn không còn là vấn đề nữa. Hai người so kiếm bắt đầu khiêu vũ cùng nhau và chia tay nhau mà không có chiến thắng hay buồn rầu, vốn là những thứ vô bổ, nhưng họ sẽ cùng có được niềm vui.     2)    Đọc sách   Cái gì đúng cho cuộc trò chuyện thì cũng đúng cho việc đọc sách vốn là – hay phải là – một cuộc trò chuyện giữa tác giả và độc giả. Lẽ dĩ nhiên trong đọc sách (cũng như trong cuộc trò chuyện) tôi đọc tác giả nào (hay trò chuyện với ai) là điều quan trọng. Đọc tiểu thuyết rẻ tiền là một hình thức ngủ ngày, nó không đem lại phản ứng bổ ích, văn bản được ngốn ngấu như xem phim truyền hình, hay giống như nhai “chip” khoai tây chiên trong lúc xem truyền hình. Tuy nhiên, một cuốn tiểu thuyết, thí dụ như của Balzac, thì có thể đọc một cách bổ ích với sự tham dự của nội tâm – tức là trong kiểu mẫu hiện hữu. Thế nhưng nó cũng rất thường hay được đọc trong kiểu mẫu sở hữu. Trí tò mò của họ được khơi gợi, các độc giả muốn biết được âm mưu: liệu nhân vật chính của họ có chết hay không, họ muốn biết câu trả lời. Trải nghiệm của họ đạt đỉnh điểm, khi họ biết được kết thúc, có hậu hay không có hậu, tức là họ sở hữu được toàn bộ câu chuyện, tựa hồ như thực sự sở hữu nó, khi họ lục lọi tìm trong trí nhớ của họ. Thế nhưng họ không hề nâng cao được tri thức của mình, họ không thấu hiểu được nhân vật trong tiểu thuyết nên không thể thấu hiểu nhiều hơn bản chất con người, hay thu nhận được tri giác về bản thân mình.  Các kiểu cách đọc sách triết học hay lịch sử cũng hệt như vậy. Cách thức một người đọc sách triết học hay lịch sử được hình thành – hay bị làm méo mó – bởi nền giáo dục. Nhà trường nhắm tới mục đích trao cho mỗi học viên một số lượng nhất định “tài sản văn hóa”, và cuối khóa học chứng nhận cho các học viên như ít nhất đã có được một lượng tối thiểu tài sản. Các học viên được dạy cho đọc một cuốn sách, sao cho họ có thể nhắc lại được những ý tưởng chính của tác giả. Đó là cách thức các học viên “hiểu biết” Plato, Aristotle, Descartes, Spinoza, Leibniz, Kant, Heidegger, Sartre. Sự khác biệt giữa các trình độ giáo dục khác nhau từ cao đẳng đến đại học chủ yếu là số lượng tài sản văn hóa được đòi hỏi; số lượng tài sản này cũng phù hợp đại khái với số lượng tài sản vật chất mà các học viên có thể kỳ vọng sẽ được sở hữu trong cuộc sống sau này. Cái được gọi là những học viên xuất sắc là những người có thể nhắc lại một cách chỉn chu nhất mỗi một người trong các triết gia khác nhau đã nói gì. Họ giống như những hướng dẫn viên được thông tin đầy đủ trong viện bảo tàng. Cái mà họ chưa được học chính là những gì vượt ra ngoài cái thứ tài sản tri thức ấy. Họ chưa học được việc tra vấn các triết gia, trò chuyện với họ; họ chưa học ý thức được những mâu thuẫn của chính các triết gia, ý thức được việc họ bỏ lại những vấn đề nhất định hoặc tránh né vấn đề; họ chưa học phân biệt được giữa những gì là mới mẻ và những gì mà các tác giả không đề cập đến vì đó là ý kiến thịnh hành vào thời của các triết gia ấy; họ chưa học lắng nghe được để có khả năng phân biệt khi nào các tác giả phát biểu từ bộ óc và khi nào thì bộ óc và trái tim của các tác giả cùng phát biểu; họ chưa học được để phát hiện ra liệu các tác giả là khả tín hay trá ngụy; và còn biết bao nhiêu điều khác nữa.  Các độc giả thuộc kiểu mẫu hiện hữu thường đi đến kết luận rằng ngay cả cuốn sách được ca ngợi nhiều, cũng có khi là cuốn sách chẳng có giá trị hay chỉ có giá trị hạn chế. Hoặc là họ có thể hiểu được cuốn sách thật đầy đủ, đôi khi còn hơn cả tác giả, vốn là người thường xem mọi thứ mình viết ra đều có tầm quan trọng như nhau.  3) Thực thi quyền uy  Theo Fromm, quyền uy (authority) là một từ ngữ mơ hồ với hai nghĩa khác nhau: quyền uy hợp lý (rational authority) và quyền uy phi lý (irrational authority). Quyền uy hợp lý đặt cơ sở trên năng lực và giúp người ta dựa vào để phát triển. Quyền uy phi lý dựa vào sức mạnh để bóc lột người bị thần phục.  Hầu như mọi người trong cuộc đời mình đều có thực thi quyền uy, ít nhất cũng trong việc nuôi dạy con cái.  Quyền uy trong kiểu mẫu hiện hữu không chỉ đặt cơ sở trên năng lực cá nhân để thực hiện một chức năng xã hội nhất định, mà còn đặt cơ sở ở ngay chính trong tư chất của nhân cách (essence of personality) đã phát triển ở trình độ cao. Những nhân vật như thế tỏa sáng quyền uy mà không ra lệnh, đe dọa, ăn hối lộ. Họ là những cá nhân đã phát triển cao, biểu thị ra bằng sự thể hiện bản chất họ là gì và con người có thể là gì, chứ không phải chủ yếu bằng những gì họ làm hay họ nói. Các bậc hiền triết đã từng là những quyền uy như thế. Những cá nhân như thế ở mức độ thấp hơn cũng có thể tìm thấy trong các trình độ giáo dục ở những nền văn hóa đa dạng rất khác biệt nhau.  Trong các xã hội thô lậu xưa kia quyền uy thường thuộc về người có năng lực thực hiện nhiệm vụ. Với các xã hội dựa trên ngôi thứ và quy mô rộng lớn hơn thì tình thế phức tạp hơn nhiều, quyền uy do khả năng bị thay thế bởi quyền uy do danh phận xã hội. Nhưng điều này không có nghĩa rằng quyền uy đang hiện tồn nhất thiết là không có năng lực. Năng lực không phải là yếu tố thiết yếu của quyền uy. Trên thực tế hầu như không có mối quan hệ nào giữa năng lực và quyền uy, tình trạng này hiện hữu trong các hình thức khác nhau của hệ thống xã hội được biết đến cho tới nay. Tuy nhiên, có những vấn đề rất nghiêm trọng trong các trường hợp quyền uy thiết lập trên nền tảng năng lực nào đó: một nhà lãnh đạo có thể có năng lực trong lĩnh vực này, nhưng lại không có năng lực trong lĩnh vực kia – thí dụ như một chính khách có thể có năng lực trong việc tiến hành cuộc chiến tranh, nhưng không có năng lực trong tình trạng hòa bình; hoặc là một nhà lãnh đạo trung thực và can đảm vào lúc khởi đầu sự nghiệp lại mất đi những phẩm tính ấy do bị quyền lực quyến rũ; hoặc là những rắc rối do tuổi tác và sức khỏe có thể dẫn đến hư hỏng. Cuối cùng, chúng ta thấy rằng các thành viên của một bộ lạc bé nhỏ xét đoán hành vi của một quyền uy sẽ dễ dàng hơn nhiều, so với hàng triệu người trong hệ thống của chúng ta bây giờ: chúng ta biết ứng viên cho quyền uy chỉ bằng một hình ảnh tạo ra bởi các chuyên gia về các quan hệ với công chúng.  Dẫu cho các phẩm tính năng lực bị mất đi vì nguyên nhân nào đi nữa trong các xã hội rộng lớn có tính ngôi thứ, thì kết quả cũng là xảy ra việc quyền uy bị làm cho thành xa lạ (alienation). Năng lực khởi thủy, có thực hay được cho là thế, nay được chuyển giao cho bộ đồng phục hay cho danh hiệu của quyền uy, cái ký hiệu bề ngoài ấy của quyền uy thay thế cho năng lực thực sự cùng những phẩm tính của nó. Nhà vua – đang sử dụng danh hiệu ấy như một biểu tượng cho loại quyền uy này – có thể ngu xuẩn, tội lỗi, độc ác, tức là hoàn toàn không có năng lực để là (to be) một quyền lực, nhưng vẫn có được (to have) quyền lực. Chừng nào hắn ta còn có danh hiệu, hắn vẫn được xem là có các phẩm tính của năng lực. Ngay cả khi nhà vua đang cởi truồng, thì mọi người vẫn tin là nhà vua đang mặc quần áo đẹp. Chuyện này không phải là thứ gì đó tự nhiên xảy ra. Những kẻ sở hữu những biểu tượng ấy của quyền uy và những kẻ được lợi từ chuyện này ắt phải làm cho tư duy phê phán hiện thực của các dân chúng-thần dân bị cùn nhụt, mờ tối đi, để khiến cho họ tin vào chuyện bịa đặt. Bất cứ ai suy nghĩ về chuyện này đều biết những mưu toan của tuyên truyền, những phương pháp làm cho xét đoán phê phán bị phá hủy, dùng cách nào để những lời sáo rỗng ru ngủ khiến cho trí óc bị quy phục, làm sao để dân chúng phải câm nín do bị phụ thuộc và mất đi khả năng tin vào những gì nhìn thấy sờ sờ trước mắt cũng như mất đi khả năng xét đoán. Dân chúng tin vào chuyện bịa đặt nên bị mù trước hiện thực.    3)    Có tri thức (having knowledge) và tri giác (knowing)    Sự khác biệt giữa kiểu mẫu sở hữu và kiểu mẫu hiện hữu trong lĩnh vực tri giác thể hiện qua hai cách diễn đạt: “tôi có tri thức” và “tôi tri giác”. Có tri thức hàm nghĩa chiếm đoạt và sở hữu một tri thức khả hữu; tri giác mang tính chức năng và chỉ là phương tiện trong một quá trình tư duy có hiệu quả.  Theo quan điểm của nhiều nhà hiền triết thì tri giác trong kiểu mẫu hiện hữu khởi sự với việc ý thức được tính trá ngụy của cảm nhận tri giác thông thường đang thịnh hành, tức là ý thức được rằng bức tranh hiện thực vật thể của chúng ta không tương ứng với cái “hiện thực đích thực”, chủ yếu hàm ý rằng đa số mọi người còn chưa ý thức được sự thực: điều mà họ cứ tưởng là chân lý và hiển nhiên, thực ra lại chỉ là ảo giác. Như vậy tri giác bắt đầu bằng việc đập tan ảo giác, rồi xuyên thấu qua bề mặt để đi tới gốc rễ, tức là đi tới những nguyên nhân. Các nhà hiền triết không cho rằng mục đích của tri giác là nhắm tới xác định “chân lý tuyệt đối”, tức là thứ gì đó khiến ta cảm thấy an toàn với nó, họ chỉ xem tri giác như một quá trình tự khẳng định của lý trí con người (the self-affirmation process of human reason). Tri thức tối ưu trong kiểu mẫu hiện hữu là tri giác sâu hơn; còn trong kiểu mẫu sở hữu là có nhiều tri thức hơn nữa.  Fromm nhận xét rằng nói chung nền giáo dục cố huấn luyện con người có được tri thức như một sở hữu. Học viên nhận được một lượng tri thức tối thiểu cần thiết để có thể thực hiện công việc trôi chảy. Nhà trường là những công xưởng sản xuất ra những kiện hàng tri thức tổng thể.   5) Niềm tin  Trong ý nghĩa tôn giáo, chính trị, hay trong ý nghĩa thông thường, khái niệm niềm tin có hai nghĩa hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc theo nó được sử dụng trong kiểu mẫu sở hữu hay kiểu mẫu hiện hữu.  Niềm tin trong kiểu mẫu sở hữu là sở hữu một lời giải đáp mà không có chứng minh duy lý nào cho nó. Nó bao gồm những diễn đạt do những người khác (thường là bộ máy quan liêu) tạo ra. Nó đem lại cảm nhận chắc chắn do sức mạnh (thực hay ảo) của bộ máy quan liêu. Đây là tấm vé gia nhập vào nhóm đông người. Nó làm giảm nhẹ đi trách nhiệm cá nhân trong tư duy và trong việc đưa ra những quyết định. (Như Đại pháp quan của Dostoevsky trong tiểu thuyết Anh em nhà Karamazov làm nhẹ gánh nặng tự do lựa chọn theo lương tâm cho đám đông yếu đuối). Niềm tin trong kiểu mẫu sở hữu tự cho nó là tri thức vững chắc tối hậu, nó là khả tín do sức mạnh của những người truyền bá và bảo hộ nó. Có ai mà lại không lựa chọn sự chắc chắn, nếu chỉ cần giao nộp độc lập của mình là đủ?  Niềm tin trong kiểu mẫu hiện hữu trước hết không phải là niềm tin vào một ý tưởng nhất định, mặc dù cũng có thể là như vậy. Nhưng chủ yếu đó là một định hướng nội tâm, một tâm thế (attitude). Thí dụ như tôi tự tin vào bản thân, tin vào người khác, tin vào nhân loại, tin vào khả năng con người có thể trở nên nhân bản đầy đủ. Niềm tin như thế cũng chứa đựng sự chắc chắn, nhưng đó là sự chắc chắn đặt cơ sở trên trải nghiệm của riêng tôi, chứ không phải phục tùng theo một quyền uy áp đặt cho tôi một niềm tin nhất định. Đây là sự chắc chắn về một sự thật không thể chứng minh được một cách duy lý với bằng chứng rõ ràng, đó vẫn chỉ là sự thật mà tôi cảm thấy chắc chắn do bằng chứng chủ quan qua trải nghiệm của riêng tôi mà thôi.   —  Đọc thêm  Phần 1: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6310      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơ lược lịch sử phát triển nền Luật học Việt Nam thời Pháp thuộc và miền Nam Việt Nam trước đây      Nền luật học Việt Nam ph&#225;t triển qua nhiều giai đoạn kh&#225;c nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử cận đại v&#224; hiện đại của d&#226;n tộc, khởi đầu dưới thời Ph&#225;p thuộc khi xuất hiện trường đ&#224;o tạo chuy&#234;n m&#244;n về luật ph&#225;p ở H&#224; Nội, đ&#243; l&#224; Trường Luật v&#224; Ph&#225;p ch&#237;nh (Ecole de Droit et d&#8217;Administration) được th&#224;nh lập theo Nghị định ng&#224;y 15/10/1917 của To&#224;n quyền Đ&#244;ng Dương.    Trong thời gian gần 38 năm hiện hữu từ 1917 đến 1955 nền luật học thời Pháp thuộc đã du nhập vào Việt Nam những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp phương Đông vốn tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến từ nhà Lý đến nhà Nguyễn.   Có thể nói Trường Luật và Pháp chính đã đặt viên đá đầu tiên cho một nền luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu bao gồm các hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật (Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật Xã hội Chủ nghĩa của khối Liên-Xô cũ.  Mục đích của Trường Luật và Pháp chính là hoàn thiện kiến thức phổ thông và khả năng nghề nghiệp cho những người bản xứ muốn được thu dụng vào ngạch hành chính Pháp hay ngạch quan lại Việt Nam. Trình độ của những người tốt nghiệp trường này chưa đạt bậc cao đẳng.  Khi số lượng người có bằng trung học phổ thông ngày càng gia tăng, thì Trường Luật và Pháp chính được thay thế bằng Trường Cao học Đông Dương (Ecole des Hautes Etudes Indochinoises) để tuyển vào những sinh viên có bằng Tú tài toàn phần cho chương trình đào tạo 4 năm.  Dù trình độ của trường này có cao hơn so với trường trước đó, nhưng Trường Cao học Đông Dương vẫn chưa phải là một Đại học Luật khoa theo đúng nghĩa mà nước Pháp thời bấy giờ đã có.  Chương trình luật bậc đại học của Pháp chỉ chính thức giảng dạy đầy đủ tại Việt Nam khi Trường Cao đẳng Luật khoa (Ecole Supérieure de Droit) được thành lập theo Sắc lệnh ngày 11/9/1931. Tuy nhiên, do tình hình suy thoái của cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu lúc đó, nên mãi 2 năm sau Trường Cao đẳng Luật khoa mới chính thức khai giảng vào ngày 15/2/1933 với 101 sinh viên và 3 giáo sư.  Chương trình đào tạo bậc Cử nhân của Trường Cao đẳng Luật khoa kéo dài trong 3 năm học liên tục. Kể từ năm 1935 trường mở thêm chương trình đào tạo năm thứ tư dành cho những sinh viên muốn thi lấy Chứng chỉ Luật học Đông Dương (Certificat d’Etudes Juridiques Indochinoises).    Năm 1941, Trường Cao đẳng Luật khoa được nâng cấp thành Đại học Luật khoa Đông Dương (Faculté de Droit de l’Indochine) để đào tạo thêm sinh viên bậc Tiến sĩ luật với hai chương trình Cao học Tư pháp và Cao học Kinh tế, và tiếp tục hoạt động cho đến khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9/3/1945 thì tạm ngưng.  Sau khi quân đội Nhật rời khỏi Đông Dương trường vẫn chưa hoạt động trở lại ngay vì ảnh hưởng của thời cuộc lúc đó, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trên toàn quốc. Đến tháng 1/1947 Đại học Luật khoa Đông Dương được tái lập tại Sài Gòn, thay vì Hà Nội do hoàn cảnh chiến tranh. Dù vậy, từ tháng 5/1948 một Trung tâm Luật học đã được mở tại Hà Nội để chuẩn bị cho sự tái lập hoạt động bình thường của Đại học Luật khoa Đông Dương ở Hà Nội vào tháng 1/1949 với sự tham gia giảng huấn của các giáo sư từ Pháp sang.  Như vậy, từ năm 1947 đã xuất hiện một trung tâm mới của nền luật học Việt Nam là Sài Gòn, tiếp sau Hà Nội, mặc dù miền đất phía Nam này là nơi nghề luật sư xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam từ năm 1867.    ***  Sự hình thành trung tâm luật học ở Sài Gòn đã tạo tiền đề và nền tảng cho sự bàn giao chương trình đào tạo luật học theo trường phái Pháp từ chính quyền thuộc địa sang cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiếp sau sự thất trận của quân đội Pháp ở Đông Dương và việc ký kết Hiệp định Genève chia cắt đất nước vào năm 1954.  Sau thời điểm bàn giao nói trên vào ngày 11/5/1955, nền luật học ở miền Nam Việt Nam chính thức thoát khỏi sự chi phối nặng nề của người Pháp và phát triển mạnh mẽ với công cuộc Việt hóa chương trình đào tạo và tăng cường các môn học về luật đối chiếu nhằm bảo đảm các sinh viên tốt nghiệp vừa thông thạo luật pháp Việt Nam vừa am hiểu luật pháp các nước.  Những trung tâm mới của nền luật học ở miền Nam Việt Nam cũng được chính quyền miền Nam thời đó chú trọng phát triển, đầu tiên tại Huế vào năm 1957 với việc thành lập Đại học Luật khoa Huế, và tiếp theo tại Cần Thơ vào năm 1966 với việc thành lập Đại học Luật khoa Cần Thơ.  Thành phần ban giảng huấn hầu hết là các giáo sư Thạc sĩ[1] và Tiến sĩ luật khoa tốt nghiệp từ các nước Pháp, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ, cùng các chuyên gia xuất sắc từ những lĩnh vực hành nghề luật pháp, như luật sư, thẩm phán và công tố viên. Chương trình giảng dạy đã đặc biệt chú trọng đến các môn như cổ luật và pháp chế sử Việt Nam nhằm nghiên cứu các định chế tư pháp và công pháp trong lịch sử dân tộc qua các thời đại, luật đối chiếu nhằm nghiên cứu các định chế pháp lý tương tự ở những quốc gia tiên tiến khác, kinh tế học và tài chính chuyên sâu nhằm trang bị kiến thức hỗ trợ cho sinh viên luật.  Điều đáng lưu ý là ngay từ buổi đầu hình thành nền luật học ở miền Nam, các giáo sư và giới chuyên gia pháp lý đã chú tâm gầy dựng nên các Học thuyết Pháp lý (Doctrines Juridiques) riêng cho Việt Nam dựa trên nền tảng án lệ mà các tòa án Việt Nam lúc đó phát triển thông qua việc xét xử những vụ án và vụ kiện phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam ở những thời kỳ khác nhau.    Công cụ xây dựng nên những học thuyết pháp lý đó chính là các tạp chí luật học chuyên ngành được ấn hành để cập nhật hóa sự phát triển của pháp luật và giới thiệu những công trình nghiên cứu của các giáo sư và chuyên gia pháp lý, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến Luật học Kinh tế Tạp chí của Đại học Luật khoa Sài Gòn, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1955 và lần cuối cùng vào tháng 4/1975.              Soi rọi lại lịch sử, đặc biệt là lịch sử pháp lý nước nhà, là điều nên làm để góp nhặt và bảo tồn những viên kim cương sáng chói mà nền văn minh học thuật Việt Nam từng đạt đến trong quá khứ nhằm hoàn thiện hiện tại và tạo đà phát triển cho nền luật học Việt Nam trong tương lai.          Bên cạnh những học thuyết pháp lý áp dụng riêng cho nền luật pháp Việt Nam lúc ấy, các giáo sư luật học tại miền Nam cũng đóng góp đáng kể cho kho tàng luật học thế giới trong lĩnh vực luật dân sự và luật thuơng mại. Nhiều học thuyết pháp lý do họ đề xuất vẫn tiếp tục được giới luật học ở các nước thuộc hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) dẫn chiếu và phân tích trong các công trình nghiên cứu luật pháp ngày nay.  Luật pháp phát triển theo thời đại. Những kiến thức trước đây tuy không còn áp dụng trong bối cảnh kinh tế-xã hội hoàn toàn khác biệt hiện nay, song phương pháp nghiên cứu và tư tưởng pháp lý của nhân loại vẫn trường tồn với thời gian. Đó là lý do tại sao các đại học luật trên thế giới vẫn tiếp tục giảng dạy môn Luật La Mã cho sinh viên hầu duy trì truyền thống tư duy và tiếp cận các vấn đề pháp lý mà nhân loại đã xây dựng và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử hiện hữu của mình.                   [1] Cần lưu ý rằng bằng Thạc sĩ (Agrégation) theo chương trình đào tạo luật của Pháp là bằng cấp tối cao trong ngành luật, chỉ trao cho những giáo sư luật chuyên tâm vào công việc giảng huấn tại các đại học luật, thông qua một kỳ thi tuyển quốc gia vô cùng khó khăn và chặt chẽ vốn chỉ dành riêng cho những thí sinh đã có bằng cấp Tiến sĩ luật. Do danh dự rất cao trong giới học thuật mà bằng Thạc sĩ luật mang lại, nên thậm chí các thí sinh thi trượt vẫn tự hào từng dự tuyển một kỳ thi Thạc sĩ. Trong lịch sử luật học Việt Nam cho đến nay chỉ 6 người đạt được bằng Thạc sĩ này bao gồm các giáo sư Nguyễn Quốc Định, Vũ Quốc Thúc, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Cao Hách và Trần Văn Minh. Công trình nghiên cứu và bài giảng của họ đều tạo nên những chuẩn mực mà giới nghiên cứu luật có thực học tại Việt Nam đều phải tham khảo.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sợ sai số dẫn đến sai lầm      Bão Chanchu chính thức hình thành ở Thái Bình Dương từ ngày 8/5, nó băng qua quần đảo Philipines và thẳng tiến vào lục địa theo hướng Tây Bắc. Cho đến ngày 12/5, khi Đài khí tượng Hong Kong (ĐKTHK) và các trung tâm dự báo trên thế giới đã bắt đầu “vạch mặt” được “âm mưu” của nó, cơn bão sẽ có khả năng chuyển lên hướng Bắc.        Họ đã lập tức phát đi các bản tin cảnh báo về nguy cơ này. Cho đến 20h ngày 13/5, một lần nữa ĐKTHK và các trung tâm dự báo khác trong khu vực lại xác nhận thêm rằng “con quái vật Chanchu” sẽ có nhiều khả năng ngoặt lên hướng Bắc và tấn công vào vùng biển giữa đảo Hải Nam và Đài Loan. Trên thực tế thì đến ngày 15/5 cơn bão mới thực sự đổi sang hướng Bắc theo dự đoán. Thật may cho người dân Trung Quốc, họ đã có ít nhất hai ngày để chuẩn bị tinh thần đối phó với sự quỷ quyệt của quái vật Chanchu. Tuy nhiên, dự báo của ĐKTHK và của thế giới được coi là “dự báo xa”, theo các chuyên gia của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam (tạm viết tắt là TDKTVN), “dự báo xa” (từ 48h đến 72h) như thế sẽ kém chính xác, sai số lớn, và như vậy “không những không có hiệu quả trong phòng chống mà có thể còn gây thiệt hại nhiều hơn”. Nếu đúng như vậy thì quả là ĐKTHK “liều lĩnh” thật! Dự báo của họ sớm tận ba ngày, và theo các chuyên gia của TDKTVN thì đối với dự báo như vậy, sai số tâm bão sẽ là 400km – 450km. Tại sao các trung tâm dự báo có uy tín trên thế giới lại chấp nhận được sai số lớn đến như vậy? Câu trả lời rất đơn giản, có lẽ họ nhận thức được trách nhiệm của mình đối với tính mạng người dân nên nếu có bất cứ nguy cơ nào họ cũng đều nỗ lực để cảnh báo kịp thời. TDKTVN đưa ra thông báo (“thông báo” khác với “dự báo”) về sự đổi sang hướng Bắc đột ngột của bão Chanchu, “dự báo gần” như thế đảm bảo được sai số nhỏ nhưng ngư dân Việt Nam thì trở tay không kịp. Giá như những ngư dân Việt Nam được báo trước ba ngày thì các tàu của họ có khi đã chạy tránh bão được quãng xa vào cỡ sai số 400km-450km rồi.           Đối với những hoạt động mang tính trách nhiệm lớn đối với cộng đồng, tất nhiên sự chính xác và nghiêm túc phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng trong việc dự báo bão thì sự chính xác và nghiêm túc ấy có mục tiêu cuối cùng là gì? Thành tích dự báo chính xác hay bảo vệ tính mạng và tài sản con người?         Bão cũng như phần lớn những hiện tượng thời tiết khác đều có bản chất là thất thường vì hành tung của chúng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Một cơn bão dù đã bảy ngày trời chỉ có di chuyển theo hướng Tây Bắc không có nghĩa rằng sang ngày thứ tám nó vẫn di chuyển theo hướng ấy mà không thể đổi sang hướng Bắc. Một trong những cái khó của dự báo bão có lẽ là ở chỗ, cần phải thoát khỏi sức ì của sự trực quan cũng như sự áp đặt của niềm tin đơn giản vào một hiện tượng thời tiết quá ư là phức tạp và nguy hiểm này.      Chống chọi với các thảm họa thiên nhiên vốn là cuộc chiến đấu lâu dài và đầy đau khổ của con người. Khi nền văn minh phát triển cao, khả năng chiến đấu của con người tăng lên. Nhưng còn một yếu tố mà thiếu nó thì mọi sự áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật đều gần như trở nên vô nghĩa. Yếu tố đó là tính cộng đồng, là trách nhiệm bảo vệ lẫn nhau, là tinh thần đặt đồng loại của mình lên trên hết. Tính cộng đồng nói chung và trong phòng chống thiên tai nói riêng nhất thiết cần phải được giáo dục một cách tự nhiên và căn bản từ phổ thông. Bởi vì, nếu không được như vậy, tính cộng đồng chỉ có thể bộc phát qua một nhóm người trực tiếp phải đương đầu với đau thương mất mát, còn đối với những người đang ăn no mặc ấm khác, họ chỉ có thể cảm nhận và hành động một cách phong trào mà thôi.            P.V    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống ở đâu, tử tế ở đó      Báo Tiền Phong đăng bài về người đàn ông lúi  húi nhặt rác mỗi sáng ngày chủ nhật từ cả một năm nay ở Hồ Gươm. Hoạt  động giản dị trong nửa tiếng đồng hồ, và hôm nay đã có khoảng mươi người  Nhật và năm người Trung Quốc cùng tham gia.     Ông tên là Ninomiya, Giám đốc Công ty ISHIGAKI RUBBER VN có trụ sở tại khu công nghiệp Hà Nội – Đài Tư thuộc quận Long Biên.    Thật tuyệt vời, ông Bụt Ninomiya!   Khi gửi lại tin này cho bạn bè, tuyệt vời hơn nữa, nhiều bạn đã gửi lời nhắn lại thật chân thành, thật sâu lắng.  “Thấy ngượng ngùng và sượng sùng.  Phần lớn chúng ta chỉ biết than phiền, chê bai và kêu ca, chứ chưa bao giờ thực sự làm gì để cải thiện. Tự hứa sẽ cố gắng thu xếp việc gia đình (là thứ vô tận và luôn là cái cớ để không làm những việc cần làm) và dẫn con gái đi tham gia một buổi.”     <Thanh>  “Về cái vụ nhặt rác, bạn Hiên mẹ của bạn Lim cũng từng bị ám ảnh khi đưa bạn Lim đi chơi công viên Thống Nhất. Khi thấy bạn Lim mải mê đuổi theo rác để nhặt,[…] mẹ gọi Lim lại, thở dài đánh thượt rồi bảo, thôi con ạ, có lẽ cần có một buổi nhặt rác riêng. Mẹ bạn Lim không đủ bản lĩnh để tự mình làm một cái gạch đầu dòng, nhưng vụ hưởng ứng ông Nhật Bản nhặt rác ở Hồ Gươm này mẹ bạn Lim làm được.[…]”    <Hiên>  “Ở công viên mới Dịch Vọng, Cầu Giấy sáng sáng cũng có một “ông Tây” tay túi tay kẹp vừa chạy quanh hồ vừa nhặt rác. Gặp tôi vài lần đạp xe quanh hồ, hình như quen mặt, ông “chào anh”, chưa kịp để mình “hello” trước.  Không thấy ai dân ta hưởng ứng. Tôi mấy lần đầu cũng ngượng với sự vô ý của mình, sau … quen dần. Sợ cái gì rồi cũng quen của mình thật!“  <Giang>  …  Ôi, tuyệt vời các bạn!  Lúc có mặt ở Hà Nội, tôi cũng xin sẽ gia nhập cùng bạn Thanh, cùng mẹ con bạn Hiên, và các bạn khác ở đây ra nhặt rác nơi Hồ Gươm!  Ai tham gia được việc này, dù chỉ một lần thôi, hay dù vài tháng một lần, đều là tuyệt diệu, không phải so sánh! Vì chính như thế, mình và người khác sẽ hỗ trợ công việc cho nhau khi ai bận vắng.  “Bụt”, gốc chữ Sanscrit, là “thức tỉnh”. Bụt ngủ sẵn, ở trong ta.  Và chúng ta, trong thẳm sâu, đều là những vị khách của vũ trụ ghé thăm nơi này, ở trọ nơi kia trên trần gian.  Công việc này bắt đầu được ở mỗi trung tâm văn hóa của các cụm dân cư mang một ý nghĩa mời gọi quan trọng, với tinh thần âm thầm tự nguyện. Để rồi nó sẽ thắp lên việc âm thầm tự nguyện thôi vứt rác. Khác với mọi cơn lũ ra quân ầm ào, cái tinh thần âm ỉ ấy một khi bén rễ được, tồn tại được, rồi thành nên ngọn lửa thờ không thể bị tắt ở bên trong mỗi người, thành “văn”, lúc ấy thì rồi mới có cơ “văn hóa” được.   Một hôm nào đó nếu chúng ta vào chơi quê bạn Nụ Cười ở mãi miền Quảng Trị gió Lào cát trắng, thì Nụ Cười cũng sẽ dẫn chúng ta đi dọn sạch sẽ khu trung tâm ở đó nhé. Nếu lúc đến nơi, chỗ đó đã luôn luôn sạch bong rồi, thì chúng ta cũng đành… càng vui vẻ hơn nữa, nha.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sòng phẳng với Bob Kerrey      Thời gian gần đây, dư luận chia rẽ mạnh mẽ về việc Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) bổ nhiệm ông Bob Kerrey vào vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường Đại học Fulbright (HĐQT FUV). Lý do là năm 1969, ông đã tham gia vụ thảm sát ở Thạnh Phong, giết hại 21 dân thường, trong đó có nhiều người già, phụ nữ và trẻ em.    TS. Giáp Văn Dương  Nhìn lại dư luận phản đối ông Bob Kerrey nhận chức Chủ tịch HĐQT FUV cho đến nay thì thấy luận điểm cơ bản của các phản đối này là: Người có quá khứ như vậy không xứng đáng làm chủ tịch trường FUV để dạy cho thế hệ trẻ Việt Nam.  Đây là kỳ vọng thân giáo, khi cho rằng nhà giáo phải dạy không chỉ bằng kiến thức, mà còn bằng cả đời sống của chính mình. Nếu đời sống của mình có vấn đề, bất kể là trong quá khứ hay hiện tại, thì anh không xứng để bước vào ngôi đền thiêng giáo dục để dạy người khác.  Tuy nhiên, nhớ lại, trước khi nhận lời làm Chủ tịch HĐQT Đại học FUV, ông Bob Kerrey cũng đã làm Chủ tịch của Đại học New School ở Mỹ từ 2001-2010 và thành viên chủ chốt của Đại học Minerva School, cũng ở Mỹ. Trong thời gian đó, thông tin về vụ Thạnh Phong đã được báo chí Mỹ loan tải rộng rãi và ông Kerrey đã thừa nhận. Tuy nhiên, ông vẫn là Chủ tịch của New School và là thành viên trụ cột của Minerva School. Điều đó cho thấy kỳ vọng thân giáo ở Mỹ khác với ở Việt Nam. Và đối với dư luận Việt Nam, giả sử vụ Thạnh Phong không xảy ra ở Việt Nam mà ở một nơi nào khác, thì hẳn sẽ không có sự phản đối mạnh mẽ như đang thấy.  Như vậy, kỳ vọng thân giáo chỉ có tính tương đối, phụ thuộc vào bối cảnh và văn hóa và không phải là lý do duy nhất để dư luận phản đối ông Bob Kerrey. Ẩn dấu phía sau kỳ vọng thân giáo này là tổn thương của cuộc chiến vẫn còn hiển hiện trên mảnh đất này, chỉ chờ có lý do là bị thổi bùng lên. Vậy nên, vấn đề cần phải xử lý phải là những tổn thương này, chứ không chỉ là một ông Bob Kerrey cụ thể nào đó.  Nếu xét về bản dạng sinh học thì chỉ có một Bob Kerrey. Điều này không thể phủ nhận. Ông Bob Kerrey ở Thạnh Phong năm nào cũng chính là ông Bob Kerrey ở FUV hôm nay.  Nhưng nếu xét về bản dạng văn hóa-xã hội thì có ít nhất hai ông Bob Kerrey khác nhau: Bob Kerrey của năm 1969 ở Thạnh Phong và Bob Kerrey ở FUV hôm nay.  Hai ông Bob Kerrey này tuy một mà hai, tuy hai nhưng lại là một. Khi nhìn ông Bob Kerrey ở FUV, chúng ta thấy ông Bob Kerrey ở Thạnh Phong, vì thế chúng ta phản đối. Còn nếu khi nhìn ông Bob Kerrey ở FUV đúng như ông Bob Kerrey  ở FUV hôm nay thì sự phản đối chắc hẳn không mạnh mẽ như vậy.  Đó là hai con người khác nhau, nhưng không tách rời nhau được. Và đó chính là nguyên do của mọi chia rẽ. Dư luận cũng đang ở vị trí tương tự, mắc kẹt vào vòng luẩn quẩn của hai Bob Kerrey này và không biết phải lựa chọn sao cho đúng.  Bản thân ông Bob Kerrey cũng luôn dằn vặt và mắc kẹt vào hai con người này: Bob Kerrey  ở Thạnh Phong thời chiến và Bob Kerrey thời hậu chiến, nên luôn bị ám ảnh bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ.  Nhiều người có thể đã chọn một số phận lụi tàn trong sự giam hãm của quá khứ như vậy, nhưng Bob Kerrey hậu chiến đã chọn cách vượt qua Bob Kerrey Thạnh Phong để chuyển hóa thành một Bob Kerrey mới. Thời kỳ hậu chiến, đặc biệt là từ những năm 1990, ông đã tham gia nhiều hoạt động để góp phần bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ, trong đó có Quỹ giáo dục Việt Nam, như một sự sám hối.  Câu hỏi đặt ra: Vậy người Việt Nam nên làm gì với hai ông Bob Kerrey này?  Việc đầu tiên cần làm là tách biệt hai ông này ra khỏi nhau. Ông Bob Kerrey ở Thạnh Phong và ông Bob Kerrey ở FUV.  Đối với ông Bob Kerrey Thạnh Phong, người ta có quyền khởi kiện và buộc ông ta đối mặt và trả giá bằng một phán quyết của tòa án cho những gì đã gây ra, ngoài việc ông ta sẽ vẫn phải tiếp tục chịu phán quyết từ chính lương tâm mình.  Còn đối với ông Bob Kerrey ở FUV, chúng ta nên tôn trọng quyết định bổ nhiệm ông ta của TUIV. Việc bổ nhiệm hay bãi nhiệm ông Bob Kerrey FUV hoàn toàn do TUIV quyết định, và tất nhiên phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành.  Chỉ khi làm được như thế, chúng ta mới thực sự sòng phẳng với cả hai Bob Kerrey, với lịch sử và với chính mình.  Những sinh viên của FUV khi đó sẽ có cơ hội học được những bài học vô giá mà không phải trường nào cũng có, đó là trực tiếp đối mặt với những vấn đề rất cơ bản của cuộc đời mà bất cứ một người trưởng thành nào cũng phải đối mặt, như: Ứng xử ra sao với quá khứ đã qua, làm gì với tương lai đang đến, sám hối thế nào với sai lầm đã xảy ra, làm sao để vơi bớt thù hận còn nén chặt trong lòng, làm gì để gây dựng lòng bao dung, giá trị ta đang theo đuổi là gì, giáo dục mà ta đang tham dự có ý nghĩa gì và được xây dựng trên những giá trị nào… Bất luận bạn lựa chọn ra sao thì đó cũng là những cơ hội vô giá để phản tư và trưởng thành mà không phải sinh viên trường nào cũng có được.  Trong bài phát biểu của Tổng thống Obama ngày 23/5/2016 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, có một câu đáng chú ý: “Tôi đến đây trong tỉnh giác về quá khứ, trong tỉnh giác về lịch sử khó khăn của chúng ta, nhưng tập trung vào tương lai, đó là an ninh, thịnh vượng và nhân phẩm mà chúng ta cùng hướng tới.”  Như thế, chúng ta cần thấu hiểu và ý thức được tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ để không mắc phải những sai lầm của quá khứ và sống tốt hơn, nhưng chúng ta không để quá khứ giam hãm trên những bước đường hướng đến tương lai. Tôi cho rằng, quan điểm của Tổng thống Obama trong lời phát biểu trên không chỉ là lời giải cho các vấn đề chính trị vĩ mô, mà còn là lời giải cho các tình huống thực chúng ta đang đối mặt như vấn đề của Đại học FUV và Bob Kerrey.  Lời tòa soạn    Tác giả bài viết đã có những nhận định sắc sảo hướng đến một cách tiếp cận “sòng phẳng” đối với việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT Trường ĐH Fulbright. Tuy nhiên, nếu coi Trường Đại học Fulbright là một trong những biểu tượng của quá trình hòa giải và hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ, thì việc bổ nhiệm Chủ tịch HĐGT của ngôi trường này cần được cân nhắc không chỉ dưới góc độ sòng phẳng với một cá nhân cụ thể, mà còn cần được suy xét về sự phù hợp của tính biểu tượng mà việc bổ nhiệm ấy mang lại. Trong bài viết, tác giả Giáp Văn Dương nhấn mạnh về việc cần phân biệt giữa con người Bob Kerrey mang tỳ vết trong quá khứ, và con người Bob Kerrey của hiện tại, nhưng tính đa nghĩa trong mỗi biểu tượng là điều không thể tránh khỏi nếu người ta không làm rõ.       Author                Giáp Văn Dương        
__label__tiasang Sóng thần, động loạn và suy nghĩ về lòng dân      Năm Tân Mão, mới chớm bắt đầu đã chứng kiến vô số cảnh báo đầy bất trắc. Tiền mất giá, động đất, sóng thần, những cuộc nổi dậy của nhân dân Ả-Rập, tuy xa mà thật gần, đều là những sức ép bắt buộc phải cải cách nền quản trị quốc gia ở bất cứ nơi đâu. Liệu những biến động lan nhanh và quá đỗi bất ngờ ấy có là dịp để suy nghĩ lại về các thiết chế quản trị quốc gia ở đất nước chúng ta?      Nhà kinh tế trẻ nổi danh Acemoglu cho rằng sự khác nhau về thể chế chính là một nguyên nhân giải thích vì sao các quốc gia trở nên giàu hay nghèo, dân chủ hay chuyên chế. Những nhóm lợi ích thâu tóm được quyền lực trong quốc gia thì cũng thâu tóm luôn các nguồn tài nguyên, và ngược lại. Vì lợi riêng, họ cản trở nhân dân, không cho dân biết, không cho dân bàn, không cho dân tham gia quyết định các chính sách quốc gia.   Câu chuyện ấy thật cũ, nhà cai trị nào từ cổ chí kim mà chẳng khoe rằng mình thấu hiểu lòng dân, thậm chí chiều theo lòng dân, lòng dân là ý trời (thiên ý, dân tâm). Chỉ có điều khác với trước đây, Internet và thời đại của điện thoại đi động đã làm cho tri thức, hiểu biết và đủ loại thông tin lan đi quá nhanh. Lỡ tay nhấn nút trên bàn phím, vô tận những điều tưởng như thâm cung bí sử có thể bị lật tẩy bẽ bàng và dễ dàng trở thành những chủ đề đàm tiếu trong dân gian. Hóa ra, đằng sau nhằng nhịt những lời hoa mỹ ấy, lợi ích kinh tế đã gắn kết những người cai trị lại với nhau. Thể chế đã ra đời như một thỏa hiệp giúp cho sự cai trị của họ.   Lòng dân cũng tựa như cái lò-xo hay cái nồi hơi, càng đè nén càng tăng tích tụ năng lực phản kháng. Người dân thường lo có cái ăn, cái mặc, có công ăn việc làm, con cái được học hành và cuộc sống được yên ổn, khi những giá trị tối thiểu ấy bị đe dọa thì sức ép phản kháng tăng nhanh. Bởi thế, “chăm lo cho nhân dân”, tuy là cách nói trịch thượng của vua chúa ngày xưa coi nhân dân như con trẻ, song thoảng khi vẫn được lặp lại trong cách nói của nhiều người cai trị ngày nay. Muốn cai trị, tránh động loạn, các nhà cai trị phải thỏa hiệp. Dân chủ đã ra đời như thế, có dáng dấp của những lựa chọn tập thể mang tính thỏa hiệp, hơn là quà tặng của giới cầm quyền và càng không thể được nhập cảnh dễ dàng vào một quốc gia chỉ với vài lời tuyên bố.  Làm cho người dân trở thành những công dân tích cực, không thờ ơ với chính trị, tích cực tham gia xây dựng và giám sát các chính sách điều hành quốc gia là cách hầu như duy nhất để cải thiện nền quản trị quốc gia. Muốn vậy, như người ta thường nói, người dân phải được biết, được tham gia bàn luận, được tham gia quyết định và được tham gia giám sát chính quyền, càng chặt chẽ, nghiêm khắc càng tránh được động loạn và những cuộc biểu tình.   Rất nhiều cố gắng minh bạch hóa nền hành chính và tăng sự tham gia của người dân đối với chính quyền, rõ nhất ở cấp địa phương (dân chủ cơ sở) đã được thực hiện ngày càng thành công ở Việt Nam. Cũng như sức ép của cái lò xo hay hơi nóng từ nồi hơi, yêu cầu của nhân dân đang hối thúc cải cách từ dưới lên, làm cho chính quyền địa phương ngày càng phải thân thiện với nhân dân, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, và hy vọng ngày càng trở thành thực sự của nhân dân.   Chúng ta mong sức ép ấy cũng ngày càng đeo bám dai dẳng và trở nên đủ mạnh để tiếp tục hối thúc cải cách trách nhiệm giải trình và cung cách làm việc của các cơ quan Trung ương cấp quốc gia, bắt họ phải chịu trách nhiệm trả lời trước quyền lực nhân dân. Năm nay, bản Hiến pháp 1992 đang được đem ra để bàn luận, hy vọng những cơn sóng thần, động đất và biến động dữ dội từ thế giới Ả-Rập có thể gợi thêm suy nghĩ cho người dân và những người cầm quyền trên đất nước chúng ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống và viết ở đảo quốc Sư Tử      Từ trong công việc thường gắn với dòng thời sự ở  Singapore hoặc Việt Nam, tác giả viết nên những câu chuyện liên quan tới  các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống… giữa hai đất nước.     41 câu chuyện trong tập bút ký Sống và viết ở  đảo quốc Sư Tử* của Lê Hữu Huy, như những nhịp cầu nối đôi bờ Việt Nam –  Singapore. Những câu chuyện này được viết dưới dạng “thư Singapore”  trong vòng mười năm qua, đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn và một số  tờ báo khác ở Việt Nam.  Tác giả từng làm trưởng đại diện của Vietcombank tại Singapore từ năm 1997; sau đó lấy bằng thạc sĩ về Đông Nam Á tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và hiện là giám đốc Công ty Tư vấn Vietnam Global Network, chuyên phục vụ nhu cầu giao lưu và tìm hiểu thị trường của doanh nghiệp Việt Nam tại đảo quốc này.     Từ trong công việc thường gắn với dòng thời sự ở Singapore hoặc Việt Nam, tác giả viết nên những câu chuyện liên quan tới các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống… giữa hai đất nước. Ở mỗi chuyện, tác giả hay có những bình luận nhẹ nhàng và sâu sắc, có thể làm cho người đọc, nhất là những ai đang tính sang Sing học tập hay làm ăn, phải ngẫm nghĩ để rút ra “bài học” cho mình.  Thí dụ trong bài “Chuẩn và không chuẩn”, tác giả kể: “Nhờ nói giọng miền Nam, nhiều lần tôi được mời đọc các chương trình quảng cáo bằng tiếng Việt sản xuất tại Singapore. Trong lúc đó, những “đối thủ” khác của tôi có giọng Bắc hay giọng Nam quá “chuẩn” thì lại quá nghiêm trang nên không thể thuyết phục khách hàng”. Từ trải nghiệm này, tác giả chia sẻ: “Đến Singapore, bạn phải làm quen với cách nói tiếng Anh của người Hoa, người Mã Lai, người Ấn, người Myanmar, người Indonesia và cũng chẳng có gì xấu hổ nếu mình nói tiếng Anh của người Việt, nghĩa là chưa “chuẩn””. Tiếp đó, tác giả bình luận: “Chính phủ Singapore vẫn luôn mời gọi tài năng nước ngoài đến đây sinh sống lập nghiệp và những người biết tiếng Anh và giỏi về ngôn ngữ sẽ có lợi thế. Tuy nhiên, những ai có tư duy xem nặng bằng cấp, quá đề cao cái “chuẩn” sẽ có ngày phải trả giá. Bởi lẽ, những tiến sĩ hay thạc sĩ Harvard hay Oxford một ngày nào đó không chứng tỏ được khả năng làm việc hay đóng góp vào phát triển kinh tế hay xã hội của Singapore thì cũng sẽ được mời đi chỗ khác. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chính phủ Singapore luôn muốn tạo ra những luật chơi sòng phẳng trên một sân chơi công bằng, chuẩn hay chưa chuẩn đều được, miễn là có tài năng và đóng góp”.  Ở một câu chuyện khác, “Khởi đầu nan, đừng vội!”, kể chuyện một nam sinh viên Việt Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân ở NUS, chỉ xin được việc làm đi bán hàng trong một siêu thị Sing và quyết định nghỉ việc sau bốn tháng vì cho rằng không thỏa đáng. Tư vấn cho bạn trẻ này, tác giả tâm sự: “Có lẽ tuổi thơ vất vả và nhận thức về giá trị giúp tôi xem bản thân mình, một tân thạc sĩ NUS và cũng từng làm trưởng đại diện của một ngân hàng lớn, coi việc đứng bán hàng trong siêu thị là một kinh nghiệm quý báu vì đó là cơ hội tiếp cận khách hàng một cách sinh động và cụ thể nhất”. Liền đó, tác giả viết: “Tôi tâm đắc với câu châm ngôn của đại văn hào Victor Hugo: “Quand on n’a pas ce qu’on aime, on aime ce qu’on a” (Khi không có cái mà ta thích, hãy thích cái mà ta có)”.  Hay như trong bài “Hội nhập để làm gì?”, tác giả kể chuyện một nữ sinh Việt Nam, sau 6 năm du học tại Sing bằng học bổng của chính phủ nước này, đã tự hào thấy “mình là người Singapore”. Đến nỗi, chính Thủ tướng Lý Hiển Long đã ca ngợi, nhân kỉ niệm quốc khánh nước này hồi tháng 8-2012, rằng: “Khi trở thành sinh viên Đại học Quản trị Singapore, cô đã được bản địa hóa đến mức nếu không biết tên, bạn có thể sẽ không biết cô ấy từ đâu đến”. Cuối câu chuyện này, tác giả liên hệ tới chính mình để trả lời cho câu hỏi ban đầu: “Cuộc sống khắc nghiệt ở Singapore buộc tôi mỗi sáng thức dậy phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền, nhưng những đồng tiền của tôi sẽ vô nghĩa nếu tôi không biết sử dụng chúng để làm những chuyện có ý nghĩa, để trở thành một người Việt Nam đàng hoàng, xứng đáng, vinh danh cho xứ sở quê hương mình cho dù đang ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.  Còn nhiều câu chuyện đáng đọc nữa ở tập sách dày gần 200 trang của một doanh nhân trẻ đang sống xa nhà. Đúng như ở lời giới thiệu, những người làm sách đã nhấn mạnh: “Thư Singapore của Lê Hữu Huy giúp chúng ta hiểu người và hiểu ta hơn. Hiểu người để cố gắng theo kịp người; hiểu ta để khỏi phải rơi vào hai thái cực: tự tôn hoặc tự ti, và để quý trọng hơn nữa tấm lòng cùng những nỗ lực vượt qua bao trở ngại để sống tử tế trên xứ lạ của nhiều người con xa xứ”.  —  * NXB Tổng hợp TP.HCM và Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tháng  3/2013      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống với xóm giềng      Hạnh phúc trong đời sống của mỗi người chúng ta phụ thuộc vào nhiều thứ, trong đó có câu chuyện hàng xóm.  Người thèm có hàng xóm nhất trên đời trong một thời gian rất dài, đó là chàng Robinson một thân một mình lưu lạc trên hòn đảo hoang. Nhưng số người mệt vì hàng xóm thì đông hơn rất nhiều. Đơn giản vì họ, và vì cả ta nữa, quên rằng chính mình là một vị hàng xóm như ai.  Ta mua được nhà, chắc gì mua được hàng xóm.   Hàng xóm ở thôn quê khác nhiều với hàng xóm ở thành phố. Hàng xóm thành phố có thể ở ngay trên đầu mình, hay ngược lại. Hiện nay chưa ai mở trường dạy phải học làm hàng xóm với nhau như thế nào, và luật pháp chưa bắt ai phải có bằng sơ cấp “làm hàng xóm” để làm vị chủ nhà tương lai.   Chủ động hơn cả là ta tự ý thức về chuyện nên học trở thành người hàng xóm.    Đến thăm Musée du quai Branly ở Paris vào dịp cuối năm 2010 này, bạn được chiêm ngưỡng toàn cảnh các nền văn hóa xưa của các dân tộc trên toàn thế giới. Bạn có cảm tưởng tuyệt vời như mình là một vị hàng xóm của Trái Đất đang ghé thăm các dân tộc trên Trái Đất.  Mấy cái thú thoạt tiên khi ngắm các cổ vật là gì?   —-  Hồn nhiên  Các cổ vật hầu hết đều rất hiền lành, chất phác. Trang phục nhiều khi được làm bằng các loại lá cỏ, rễ cây bện lại, dệt nên. Các dụng cụ, các bảo vật, phù điêu, tượng… cũng được chế từ những vật liệu tự nhiên phổ thông như đất, đá, gỗ, tre… Nhưng các dạng văn hoa, các hình khối khác nhau đã nói lên rất nhiều về ý tưởng của người xưa mong vươn lên, tìm ra cho mình một vũ trụ quan, một nhân sinh quan để mà đứng trong trời đất. Chỗ nào người ta bí về hiểu biết và khả năng chinh phục, thì họ gác chúng vào trong các biểu tượng về thần linh và ma quỉ. Nhưng họ dựng nên chúng, làm nên chúng, và gọi thẳng chúng là thần linh hay ma quỉ, như một bảo vật, một nhân vật trong đời sống của mình, chứ không che dấu chúng dưới dạng khẩu hiệu hay tranh hình cổ động.  Bạn cảm lòng, thấy mọi dân tộc trên mọi miền địa cầu, từ những hoang đảo mất tăm trên Thái Bình Dương cho đến những nhóm nhỏ nơi miền bắc cực với cái lạnh cắt gan ruột, từ những góc rừng Nam Châu Phi hút heo tới một bản làng người H’Mong ở xứ ta, tất cả đều gần gũi với mình, như chính thời thơ ấu non dại, vụng về, thơ mộng của mình.  Bạn chưa thấy những dấu vết đao to búa lớn muốn nhất nhất thống trị toàn thiên hạ của ai.  —-  Thông minh  Dù bị hạn chế đủ đường, đó đây bạn vẫn thấy sáng lên sự thông minh của con người.   Những cây gỗ rất lớn được người ta chọn lựa từ chủng loại gỗ thích hợp, rồi khoét bỏ ruột đi, sao cho hai thành gỗ hai bên có độ dày khác nhau nhưng lại cộng hưởng về âm, tạo nên thanh âm “chát bùng” rất say đậm. Thế là đủ cho bạn nhẩy disco cả buổi lễ hội rồi!   Nhiều cư dân đã phát triển được rất cao về văn hóa nhịp điệu! Đặc biệt là cư dân các vùng đảo hẻo lánh. Có lẽ các hòn đảo đó chính là những bảo tàng văn hóa tự nhiên, vì ở nơi đó đời sống không bị “nhất thể hóa” trong lịch sử do chính bởi một nền cai trị siêu cường nào đó thống trị. Một nền cai trị siêu cường nhiều khi làm mất đi cả những di sản văn hóa quí giá của chính dân tộc mình.  —-  Rộng mở  Chiêm ngưỡng các hệ vật cổ này, điều lý thú nữa là bạn thấy chúng không việc gì phải “loại trừ nhau” cả. Chính bởi vì tất cả chúng đều còn rất giản dị, được sáng tạo ra trên cái nền tảng rất thật của đời sống nguyên sơ. Ngay các biểu tượng mỹ thuật và tôn giáo vẫn còn đang rất gần gụi với con người, không có các vết cắt chia tư tưởng hệ. Tất cả gọi lên bên trong bạn lời mời gọi rộng mở tinh thần để yêu quí tôn trọng các thành quả của đời sống của tất thảy các tộc người, và làm giàu chính hiểu biết, thẩm mỹ của mình.  —-  Sinh thái    Các cổ vật nhắc nhở chúng ta điều hiển nhiên nhất, mà cũng vĩ đại nhất : đời sống chỉ là một khâu đoạn của môi trường thiên nhiên. Tất cả các sản phẩm hệ lụy của đời sống xưa đều không chống lại môi trường. Như thế là cách tốt đẹp nhất để mỗi thế hệ được hưởng đời sống thiên nhiên hoàn toàn trong lành, và để lại cho các thế hệ tiếp nối toàn bộ tài sản tuyệt vời của thiên nhiên.  —-  Rời khỏi khu bảo tàng này, bạn học được lòng quí trọng đời sống của loài người trên khắp trái đất. Cũng thật là mới mẻ : mới một vài trăm năm đây thôi, thậm chí cá biệt có nơi mới vài chục năm thôi, con người vẫn còn sống như thế. Với biết bao nhiêu những thành quả văn hóa giản dị chan chứa tình yêu đời sống.  Bạn cũng thấy cái vốn đóng góp vào hệ thống những di sản văn hóa trên trái đất của tộc người mình vừa thật đáng tự hào,.mà cũng chỉ rất khiêm tốn thôi.  Bạn thấy cái nhu cầu của tộc người mình hòa vào cộng đồng người trên trái đất là ngay lập tức, là không còn gì để bàn cãi bâng quơ.   Trở lại, ta phải gắng học làm một người hàng xóm tự trọng, biết chung sống ngăn nắp, biết chia sẻ, học hỏi cùng bạn bè xóm giềng, người thì ở sát nách nhà mình, và người thì ở nơi góc bể chân trời .    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống Xanh ở Đà Nẵng: Mỗi nhà một sáng kiến      Hơn 8.500 phụ nữ Đà Nẵng đang phát huy sáng  kiến sống xanh mỗi ngày để giúp tiết kiệm chi tiêu trong gia đình, đồng  thời góp phần cải thiện môi trường, cảnh quan ở cộng đồng.    Muôn nhà muôn vẻ  Phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu là nơi đầu tiên ở Đà Nẵng thí điểm chương trình Sống Xanh vào năm 2010. Chị Lê Thị Phương, một thành viên Sống Xanh ở đây, chia sẻ, “Trước tôi chỉ phân loại chai, lọ nhựa đem bán gây quỹ. Từ khi được hướng dẫn làm phân hữu cơ, tôi thử nghiệm ngay với rác thải nhà bếp, làm phân bón cho vườn nhà. Hiện bây giờ các chị em còn chỉ nhau đổ thêm mùn cưa, bã chè, bã cà phê… vào thùng phân ủ. Nói chung sáng tạo mỗi nhà một cách, nhưng kết quả là từng gia đình giảm ít nhất 2kg rác mỗi ngày.”  Còn chị Hoàng Tâm (ảnh dưới), nhóm trưởng nhóm Sống Xanh chi hội Phụ nữ số 3, phường Hoà Thuận Tây, quận Hải Châu, có sáng kiến tiết kiệm rất độc đáo: thấy những tấm bạt bị bỏ phí ở gần nhà, chị đã cầm về và may lại thành túi. “Vừa tránh được việc bỏ đi những tấm bạt còn rất mới, mà cũng tiết kiệm vài chục ngàn cho chị em đỡ phải mua giỏ đi chợ. Ai cũng thích!”. Từ gần ba tháng nay, chị Tâm đã ‘sản xuất’ được gần 100 chiếc túi tái chế cho các thành viên Sống Xanh trong tổ.      Với mong muốn bảo vệ sức khỏe cộng đồng, chị Trịnh Thị Hồng, Chi hội trưởng Chi hội Hòa Phú 5, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, đã cùng thử nghiệm với các chị em trong chi hội một chế phẩm hữu cơ dùng để lau nhà và chà rửa các đồ đạc trong gia đình có tên là “EM”: Hoa và lá cây, có thể là hoa và lá cúc, rửa sạch, ngâm nước nước đường và ủ trong bóng râm một tháng. “Tôi được một chuyên gia Nhật Bản chia sẻ công thức này trong hội nghị ‘Phát triển cộng đồng nghèo đô thị khu vực châu Á’. Chế phẩm này không mùi, không độc hại, rất thích hợp cho những hộ gia đình có trẻ nhỏ”, chị cho biết.  Chương trình Sống Xanh lan tỏa mạnh mẽ tại các cộng đồng dân cư trong trung tâm thành phố. Trên con đường Lê Đình Dương thuộc phường Nam Dương, quận Hải Châu, bao bọc quanh các gốc cây là những bông hoa chuỗi ngọc hay mào gà xinh xắn (ảnh dưới). Đây là thành quả của các chị em nhóm Sống Xanh chi hội Phước Hiệp. Chị Hà Thị Thanh Lực, một thành viên của chi hội, nói, “Chúng tôi phân công nhau chăm sóc cây và hoa hàng ngày. Khi nào đến phiên mình, cả hai vợ chồng tôi cùng ra tưới cây. Có gốc hoa đẹp, không ai nỡ vứt rác ra đó, và mọi người cũng thấy yêu khu phố nhà mình hơn.”    Tăng ngân sách gia đình nhờ sống xanh            Nhằm tôn vinh những nỗ lực của các thành  viên Sống Xanh Đà Nẵng, triển lãm “TÔI SỐNG XANH” được trưng bày tại  Nhà hát Trưng Vương trong ngày 6/3 với gần 80 bức ảnh kể về những sáng  kiến thú vị.                 Đây cũng là dịp để khách tham quan tìm hiểu kinh nghiệm thực hành một cách trực tiếp từ các thành viên Sống Xanh.        Tham gia mô hình Sống Xanh ngay từ những ngày đầu, gia đình chị Đặng Thị Tuyết, thôn An Trạch, xã Hòa Tiến, là một trong những hộ liên tục duy trì việc trồng chuối lấy lá để dùng thay túi nilông. Chị Tuyết kể, “Sau khi hiểu rõ được tác hại của túi nilông, tôi quyết tâm chặt tràm để trồng chuối lấy lá. Lá chuối gói thực phẩm như bánh, chả, nem để lâu không có mùi khó chịu. Dùng xong đem đổ vào hố rác trong vườn, đốt và lấy phân bón cho cây trồng. Số lá chuối không sử dụng hết đem ra chợ bán.” Sáng kiến của chị đã được 100 hộ gia đình tại ba thôn khác ở xã này học theo.  Còn tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang có một người phụ nữ đã biết cách tận dụng tất cả những sản phẩm dư thừa xung quanh để làm giàu: nhân giống cây từ những cành cắt tỉa bỏ đi, tận dụng phế phẩm nấm để làm chất màu cho đất, dùng những bãi đất bỏ hoang làm chỗ gây giống – đó là chị Nguyễn Thị Hồng Nhạn (ảnh dưới). “Tôi nghĩ nơi nào có cơ sở hạ tầng, nơi đó cần cây xanh nên tôi quyết tâm làm cây giống từ đó”, chị kể. Đến nay cơ sở do chị làm chủ đã đem lại việc làm cho 10 lao động nữ nghèo với thu nhập từ 2-3 triệu đồng/tháng.      Cách đây hai năm, tại khu dân cư số 2, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ rất nhiều khoảnh đất ven sông bị bỏ hoang, cỏ mọc quá nửa người. Các cô các chị ở đây đã tập hợp nhau trong nhóm Sống Xanh để cùng làm vườn trên các khoảnh đất trống đó. “Không chỉ có rau sạch dùng quanh năm mà còn tăng thu nhập cho chị em mỗi người từ 2,5-3 triệu đồng/tháng”, chị Ngô Thị Tuyết, thành viên của nhóm, cho biết.  Trước khi đến Đà Nẵng, Dự án Sống Xanh đã được Trung tâm Hành động vì Đô thị (ACCD) thử nghiệm tại Hà Nội cách đây bốn năm. Đây là dự án phỏng theo Mô hình Sống Xanh của cộng đồng Ballymun ở Dublin, Ireland và được Cơ quan hỗ trợ phát triển Ireland (Irish Aid) tài trợ. Không chỉ nỗ lực và phát huy nhiều sáng kiến nhằm tiết kiệm điện – nước, giảm thiểu rác thải, tận dụng các nguyên vật liệu thừa hoặc bỏ đi trong phạm vi gia đình, các thành viên Sống Xanh còn đóng góp tích cực cho việc cải thiện môi trường sống tại cộng đồng như dọn dẹp khu dân cư, làm đường, cải tạo các bãi rác tự phát thành vườn rau xanh…  Ảnh trong bài do ACCD cung cấp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự độc lập của thẩm phán Tòa án tối cao LB Mỹ      Mặc dù Tổng thống và Thượng viện cố gắng lựa chọn những người có cùng quan điểm với mình vào vị trí thẩm phán Tòa án Tối cao, nhưng trên thực tế, các thẩm phán Tòa án Tối cao đều thể hiện sự độc lập của họ đối với chính phủ và nghị viện như khi được bổ nhiệm họ đã trân trọng xin thề.     Xét trên góc độ phân quyền thì Hiến pháp Mỹ là một trong những bản Hiến pháp thể hiện rõ nét nhất. Lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập và chế ước lẫn nhau.   Đầu tiên, sự độc lập được thể hiện trong quy trình xây dựng bộ máy của các nhánh quyền lực. Chẳng hạn, ở hai nhánh lập pháp và hành pháp, các nghị sỹ (thành viên của nghị viện – Thượng viện và Hạ viện) và Tổng thống (người đứng đầu nhánh hành pháp – chính phủ) được chọn lựa từ các cuộc bầu cử riêng biệt. Còn đối với nhánh tư pháp (tòa án), các nhà lập hiến khởi thủy nước Mỹ đã không dùng phương thức bầu cử để lựa chọn ra các thẩm phán, có lẽ nhằm tạo ra một nhánh quyền lực hoàn toàn độc lập – độc lập ngay cả đối với dư luận, áp lực chính trị, giúp các thẩm phán trở thành những trọng tài nhân danh công lý, lẽ công bằng để phán xử các tranh chấp.  Hiến pháp Mỹ (Điều II, Mục 2) trao quyền bổ nhiệm thẩm phán cho Tổng thống nhưng theo sự khuyến cáo và sự chấp nhận của Thượng viện. Điều này thể hiện sự chế ước của nhánh lập pháp đối với hành pháp trong việc bổ nhiệm thành viên của nhánh tư pháp. Liệu việc trao quyền bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao cho Tổng thống và Thượng viện có làm mất đi tính độc lập của thẩm phán?   Tuy Tổng thống và Thượng viện cố gắng lựa chọn những người có cùng quan điểm với mình, nhưng trên thực tế, các thẩm phán Tòa án Ttối cao khi được bổ nhiệm đã trân trọng xin thề giữ vị thế độc lập đối với chính phủ và nghị viện. Nhờ vậy, các thẩm phán đã giành được sự tôn kính của người dân, cũng như mang lại uy tín, thẩm quyền to lớn cho Tòa án Tối cao trong chính trị và pháp luật nước Mỹ.   Hiến pháp cũng góp phần quan trọng không kém nhằm bảo đảm vị thế độc lập của thẩm phán, theo đó, “các thẩm phán Tòa án Liên bang sẽ có nhiệm kỳ suốt đời nếu làm việc tốt và đảm bảo rằng tiền lương của họ sẽ không bị cắt giảm trong suốt thời gian tại vị” (Điều III, Hiến pháp Mỹ).  Tiêu chuẩn để bổ nhiệm thẩm phán  Hiến pháp trao quyền bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao cho Tổng thống và Thượng viện mà không quy định bất kỳ điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể nào đối với thẩm phán. Tuy nhiên, trên thực tế, thông thường thẩm phán được bổ nhiệm từ các luật sư, hoặc từ các thẩm phán ở các tòa án cấp thấp hơn. Có thể hiểu rằng, trọng trách của thẩm phán là giải thích và áp dụng pháp luật do đó họ phải được đào tạo về luật và có năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Ngoài ra, nhờ sự để ngỏ của Hiến pháp mà các thượng nghị sỹ được tự do đưa ra các tiêu chuẩn để bỏ phiếu, như quan điểm chính trị (đảng phái), nhân thân và trình độ tư pháp.   Số lượng thẩm phán tòa án tối cao  Số lượng thẩm phán Tòa án Tối cao không được quy định trong Hiến pháp, mà do nghị viện quy định trong đạo luật của liên bang. Ngay sau khi Hiến pháp Mỹ ra đời vào năm 1789, Tòa án Tối cao được thành lập theo Luật Tư pháp cùng năm, với số lượng thẩm phán gồm sáu người (một chánh án và năm thẩm phán). Tuy nhiên, từ năm 1801 đến năm 1863, số lượng thẩm phán thay đổi một vài lần, từ năm đến mười người. Vào năm 1866, số lượng thẩm phán là chín người (một chánh án và tám thẩm phán) và con số này cố định từ đó đến nay. Chánh án điều hành Tòa án Tối cao nhưng khi biểu quyết thì chỉ có một phiếu như các thẩm phán khác.  Vượt qua sức ép chính trị  Tòa án Tối cao Mỹ được trao quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật do nghị viện ban hành, các hành vi, chương trình của Tổng thống… Thách thức để thẩm phán vượt qua sức ép chính trị từ người đã bổ nhiệm họ không phải là nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế, một khi thẩm phán được bổ nhiệm, họ luôn tỏ rõ sự độc lập của mình, chỉ ra quyết định dưới màu sắc công lý. Có thể kể ra một số ví dụ: Khi Tòa án Tối cao Mỹ xem xét tính hợp hiến của hành động tịch thu các nhà máy thép lớn ở Mỹ của Tổng thống Harry S. Truman, hai trong số bốn thẩm phán do Tổng thống Truman bổ nhiệm đã bỏ phiếu chống. Hay trong vụ án nước Mỹ kiện Tổng thống Nixon sau khi ông từ chối trao các cuốn băng của Nhà Trắng theo lệnh của tòa án và viện dẫn đó là đặc quyền của Tổng thống, ba trong số bốn thẩm phán do Nixon bổ nhiệm đã bỏ phiếu chống lại ông.   Một thí dụ khác, sau khi Tổng thống Roosevelt tái đắc cử, ông đưa ra kế hoạch trình nghị viện bổ nhiệm tối đa, một lúc thêm sáu thẩm phán, nhằm khống chế Tòa án Tối cao, cũng như để “trả đũa” việc Tòa án Tối cao đã tuyên bố vi hiến một số đạo luật trong chính sách Kinh tế mới (New Deal) của ông ở nhiệm kỳ trước. Mặc dù cả Thượng và Hạ viện Mỹ đều ủng hộ chính sách kinh tế mới của Tổng thống Roosevelt nhưng các nghị sỹ, trong đó có một số người cùng đảng với Tổng thống, đã bác kế hoạch bổ nhiệm này vì họ cho rằng sự độc lập của cơ quan tư pháp quan trọng hơn những bất đồng về chính sách. Có thể nói, nghị viện đã thể hiện tốt vai trò ngăn chặn sự thâu tóm của Tổng thống Roosevelt đối với nhánh tư pháp, không để các quan tòa phụ thuộc hay chịu các áp lực chính trị từ người đứng đầu nhánh hành pháp.  Mới đây, ngày 9/8/2014 tại TP Ferguson, Missouri, thanh niên da màu Michael Brown đã bị cảnh sát da trắng Darren Wilson bắn chết. Vụ việc làm dấy lên làn sóng biểu tình của người da màu suốt thời gian qua, đặc biệt sau ngày 24/11/2014, khi công tố viên hạt St. Louis tuyên bố rằng bồi thẩm đoàn quyết định không buộc tội Wilson.   Mặc dù Hiến pháp Mỹ trao toàn quyền tư pháp cho tòa án, nhưng các thẩm phán cũng phải tuân theo các quy trình tố tụng theo luật định. Trong các vụ án hình sự, bồi thẩm đoàn được trao quyền quyết định buộc tội hay không buộc tội, trong khi các thẩm phán được trao quyền áp dụng các quy định của pháp luật vào vụ án.  Chính vì vậy, khi bồi thẩm đoàn quyết định không buộc tội Wilson, thẩm phán không thể làm khác đi. Liên quan đến vụ án, thẩm phán Tòa án Liên bang chỉ ban trát về việc cảnh sát TP Ferguson vi phạm Hiến pháp vì đã đưa ra lệnh cấm “đứng yên” và cấm quay phim chụp ảnh khi biểu tình.   Có lẽ với vai trò “gác cổng” Hiến pháp, thẩm phán liên bang đã bảo đảm được rằng, nếu vụ án chưa được tiến hành một cách công bằng bởi các nhân viên công quyền thì người dân có quyền lên tiếng, bằng quyền tự do biểu đạt cảm xúc (quyền biểu tình), và thông qua báo chí để giám sát hành vi của các nhân viên công quyền. Điều đó cũng thể hiện, quan tòa liên bang đang nhân danh công lý bảo vệ thế yếu trong phạm vi quyền hạn cho phép bởi Hiến pháp.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự khốn cùng của khiêm tốn      Thoạt nhìn, tôi thấy rất nhiều người Việt quanh mình, chắc chắn là có cả chính tôi nữa, rất hăng kiêu.    Hăng kiêu là sao? Là nhìn chuyện gì cũng thấy “hết sức quan trọng”, “cực kì căng thẳng”. Là thấy xung quanh đang “điên”. Là thấy mình hễ hé môi là phải thật lớn tiếng. Là thấy muốn bỏ bê bằng hết mọi chuyện.  Rõ ràng là những người ấy và mình đã bị kích hoạt cực hăng. Tại sao như thế nhỉ?   Có lẽ cũng thật là đơn giản.  Đời sống cộng đồng, không biết tự bao giờ, đã chấp nhận hiển nhiên sự phi lý. Sự phi lý này được tóm tắt thành hai dạng thức. Tâm linh số má, và giải pháp cười trừ.  Khi người Việt quen giải thích gần như mọi chuyện bằng số má, nghĩa là sự phi lý đã ngự trị gần như hoàn toàn tinh thần, lấy sự không thể giải thích được làm minh triết. Chấp nhận sự phi lý trong hệ tiên đề của mình, tư duy không còn một sứ mệnh nào nữa. Gì cũng do số.  Đối mặt với thực tế hiện sinh ngổn ngang tính phi lý ấy, tinh thần chỉ còn biết giải tỏa mình bằng phép cười trừ. Cười trừ rốt cục là tâm linh tích cực khả dĩ còn lại cho trạng thái phi lý của tinh thần. Gì cũng cười trừ.  Sở hữu trong mình cả thiên tư số má, lẫn tâm linh cười trừ, mỗi người đều đã ngự ở trên đỉnh của tư duy và tâm linh, ngang bằng với mọi thần linh, và ở trên mọi thánh nhân.  Và khi ấy, khiêm tốn trở thành điều bất khả, dẫu lòng thành của ai vẫn khát mong có được nó.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự kiện Đoàn Văn Vươn và nan đề luật hình sự      Không một nhà nước nào, tự nó ban hành nổi một hệ thống văn bản luật đầy đủ công minh cả; mà chỉ có thể tạo ra một quy trình tự động hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, kịp thời, một khi nó tỏ ra bất lực trước những vấn đề xã hội nảy sinh. Tính tự động đó chỉ có ở một thể chế buộc được chính khách, dân biểu vốn đại diện cho lợi ích của người dân phải lên tiếng, mọi cơ quan nhà nước phải hành động, trước tiếng nói của đông đảo dân chúng, của các tổ chức dân sự, của công luận.      Giải thích tại sao ở Đức mỗi năm Quốc hội phải thông qua trên dưới 100 luật, tới 5000 lượt ý kiến phát biểu, cùng chừng đó câu hỏi chất vấn chính phủ, (cần biết quốc hội ta suốt 4 năm nhiệm kỳ trước chỉ ban hành được 68 luật và 12 nghị quyết, tương đương 20 văn bản lập pháp / năm, thua họ 5 lần). Từ vụ một người thanh niên dùng súng giả bắn vào cảnh sát, lập tức bị cảnh sát bắn trả làm người thanh niên chết oan uổng, công luận sôi sục trước tính mạng 1 con người; chỉ sau đó 3 tháng luật vũ khí bổ sung điều khoản cấm lưu hành súng giả trông như thật; tới vụ Tim K cuồng sát ở  Wendlingen, Thủ tướng Đức trên đường đi công tác cũng phải ra tuyên bố, các chính khách, nghị sỹ, đứng đầu các cơ quan công quyền liên quan đều ào ào lên mặt báo, chỉ vài tháng sau, luật đăng kiểm vũ khí được bổ sung. Ở họ bất cứ vụ việc gì, câu hỏi cốt tử bắt buộc phải đặt ra cho cơ quan lập pháp là liệu văn  bản luật hiện hành có lỗi gì trong đó không ? Thiếu câu hỏi này, luật pháp sẽ luôn đứng một chỗ, cả quan chức hành xử lẫn người dân sẽ chịu số phận may rủi, trở thành nạn nhân lẫn thủ phạm của luật pháp bất cứ lúc nào vướng, dù nhà nước đó có tuyên ngôn vì dân do dân của dân tới cỡ nào !  Dưới góc độ hình sự, thực tế bị can Đoàn Văn Vươn bị cơ quan điều tra tố tụng cáo buộc tội danh giết người, quy định tại văn bản luật hình sự Việt Nam 2009 (BLHS), Điều 93 Khoản 1 Điểm L, “phạm tội bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người”, với khung hình phạt tối thiểu 12 năm tù giam, không thể không đặt ra ngờ vực về tính công minh của điều khoản này, khi cả hai dấu hiệu cho tội danh này đều không có: 1- Không một ai chết, 2- Động cơ giết người không có, bởi súng hoa cải và mìn tự tạo tại hiện trường cho thấy không có chức năng công dụng đó. Cùng thời gian trên, ngày 22/2, TAND tối cao xử phúc thẩm, cũng áp dụng điều 93, Khoản 1, với điểm n, “giết ngườicó tính chất côn đồ“,  tuyên phạt bị cáo Hồ Minh Thừa, 19 tuổi, Vĩnh Long,  8 năm tù giam, tội danh Giết người, chỉ vì đâm bạn thương tật mức 4% (chứ không phải chết), do bạn đùa muốn hôn vợ mình. Liệu đã và sẽ còn xảy ra bao số phận tương tự, nếu điều luật này không được xem xét lại tính công minh của nó từ thực tế trên ?  Liên quan tới tính mạng con người, BLHS ta đưa ra 9 điều, quy định 9 tội danh, gồm điều 93 Tội giết người; Điều 94 Tội giết con mới đẻ; Điều 95 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 96 Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 97 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; Điều 98 Tội vô ý làm chết người; Điều 99 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 100 Tội bức tử; Điều 101 Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; Điều 102 Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; Điều 103 Tội đe dọa giết người.  Điều 93 Tội giết người, áp dụng cho 2 vụ án viện dẫn, quy định: 1) Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp (từ a – q) sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Giết nhiều người, phụ nữ có thai, trẻ em, người đang thi hành công vụ, ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình, giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, thực hiện tội phạm một cách man rợ, bằng cách lợi dụng nghề nghiệp, bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người, thuê giết người hoặc giết người thuê, có tính chất côn đồ, có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, vì động cơ đê hèn.  Điều 93 không hề định nghĩa khái niệm “giết người“, đây chính là điểm bất cập cơ bản nhất, cần phải bổ sung, nếu không tất dẫn đến bất định trong áp dụng luật tuỳ nhận thức chủ quan, mặc dù có thể suy từ nội dung 9 điều khoản viện dẫn, cho thấy Tội danh giết người phải bao gồm 2 dấu hiệu hành vi cấu thành, như ở mọi quốc gia tiên tiến khác: 1-Có người chết, 2-Có chủ đích chấm dứt cuộc sống của nạn nhân.  Có thể tham khảo BLHS Đức. Để tránh bất định, điều 211 Tội giết người, quy định: “(1) Bị phạt tù chung thân (hình phạt cao nhất, không có tử hình), (2) Kẻ giết người là kẻ làm nạn nhân chết, do thích giết người, hoặc để thoả mãn quan hệ xác thịt, hoặc nhằm chiếm đoạt tài sản, hoặc với những lý do nhỏ nhặt; mang tính chất dã man triệt hạ nạn nhân, hoặc bằng phương tiện nguy hiểm, hoặc để thực hiện hành vi phạm tội khác hay che đậy nó“.  Bị can Đoàn Văn Vươn và bị cáo Hồ Minh Thưà bị áp dụng tội danh Giết người, đều xuất phát từ tính bất định của Điều 93, khái niệm Giết người không được định nghĩa, nên được lập luận: Nạn nhân không chết chỉ do ngoài ý muốn, và trong trường hợp này được hiểu là Tội giết người chưa đạt.  Mỗi tội danh, bao gồm 1 hoặc nhiều hành vi phạm tội đã thực hiện cấu thành. Nghĩa là không đủ hành vi phạm tội cấu thành không được phép khép tội danh đó. Trong trường hợp tội danh đó chưa đạt, nghiã là chưa đủ hành vi phạm tội cấu thành, Điều 18 BLHS ta quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt“ – tức đồng nghĩa với tội danh khác, tên gọi của một tội trạng khác, khung hình phạt cũng khác.  9 điều khoản trên đều áp dụng cho tội đã hoàn thành, không hề có bất kỳ khoản hay điểm bí chú nào áp dụng cho trường hợp chưa đạt cả. Mặc dù vậy, các cơ quan điều tra tố tụng vẫn áp dụng điều 93 Tội giết người đã hoàn thành cho trường hợp chưa đạt, không có người chết, và xưa nay hiếm ai lật lại vấn đề , bởi dựa trên tư tưởng, thoạt nghe rất nhân bản: “Bởi tính mạng con người có giá trị cao hơn mọi thứ vật chất. Người ta cần ngăn chặn việc giết người ngay từ khi nó đang còn manh nha, chứ nếu để tội ác đã hoàn thành (bị hại đã bị chấm dứt sự sống) thì mọi việc đã muộn“. Từ đó đặt ra biệt lệ cho  tội danh giết người: chỉ quy định “hành vi” chứ không nhất thiết bắt buộc hành vi đó đã hoàn thành bằng hành động, như tội ăn cắp hay hiếp dâm quấy rối tình dục, bắt buộc phải có vật chứng mất cắp hay người bị hại. Lập luận trên đã ngộ nhận chức năng của văn bản luật vốn chỉ đưa ra các chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự, ở trên giấy, không hề có chức năng ngăn chặn vốn thuộc cơ quan công quyền hành xử hàng ngày. Xét xử là áp dụng luật cho cái đã xảy ra, nên có tăng hình phạt tới bao nhiêu thì vẫn không thay đổi được thời quá khứ. Mặt khác, bản chất của luật pháp là công minh, đúng người, đúng tội, không thể dùng hình phạt nặng hơn bản thân nó phải chịu (không nhân đạo), để răn đe theo kiểu “giết gà doạ khỉ“, “bóp chết từ trứng nước“, “nhầm còn hơn sót“, để loại bỏ nguy cơ tội phạm, nhằm tạo ra một xã hội hoàn hảo (nhân đạo). Nói cách khác không thể dùng mục đích nhân đạo biện hộ cho hành vi không nhân đạo. Điều đó có thể thấy rõ hơn qua phát biểu Hitler, được cổ vũ nhiệt liệt tại Đại hội Đảng NSDAP, năm 1929, nhằm xây dựng một dân tộc Đức thượng đẳng: “Nước Đức mỗi năm cần đẻ ra 1 triệu  trẻ em để thay thế chừng 700.000 đến 800.000 người Đức yếu kém phải giết đi, có thế mới đạt tới kết qủa thượng đẳng nhảy vọt“. Hậu qủa, chừng nửa triệu người Đức thiểu năng, tàn tật, đồng tính luyến ái, bị giết hại bằng hơi ngạt, những người cộng sản mới chỉ phản đối, chưa hành động gì, đều bị truy bức, giam cầm, hãm hại, tiêu diệt, do phạm tội lật đổ chế độ Phát xít “chưa đạt“, chưa kể cướp đi tính mạng 6 triệu người Do Thái và Zigeune do khác nòi giống họ.  Thực tế bị can Đoàn Văn Vươn, thiếu cả 2 dấu hiệu phạm tội, hoàn toàn không có động cơ hình sự, hậu qủa không ai chết, vẫn bị cáo buộc tội danh giết người, gây bất bình công luận, liệu đã đủ sức thuyết phục các chính khách, các dân biểu, cả hệ thống chính trị lẫn các nhà chuyên môn luật, nhận ra tính bất định của điều khoản 93 Tội danh giết người cần được sửa đổi, vì công minh vì vận mệnh từng con người, vì mục đích tạo dựng một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, hay phải đợi đến bao vụ án khác, bị oan trái hơn nữa, chỉ vì điều khoản này?    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Sự thật bên ngoài”, “sự thật bên trong”      Tôi cầm một chiếc đũa “thẳng”, đem nhúng nó vào cốc nước: tôi thấy nó “bị bẻ quặt” đi.  Tôi yên tâm nói: chiếc đũa này “thẳng”, khẳng định sự thông minh của mình.     ***  Cái gì đã xảy ra?  Hình ảnh chiếc đũa bị bẻ quặt qua cốc nước thực tế đã thách thức sự hiểu biết của tôi, làm tự ái và đe dọa cái “biết rồi” của tôi. Tôi tìm cách đốt cháy, thủ tiêu sự thách thức này đi, để bảo tồn lòng kiêu hãnh vô thức của mình, để yên tâm mà sống. Tôi đã phát biểu ra được phần nào cái “sự thật bên ngoài” qua kinh nghiệm của riêng mình, chiếc đũa này “thẳng”. Mặt khác, tôi đã cố gắng xóa sổ đi cái “sự thật bên trong” của tinh thần của mình, xóa sổ một vấn đề mà bản thân tôi chưa có giải pháp tường tận.   Thực ra, ngay cả ví như tôi đã có được “giải pháp tường tận” cho câu chuyện này đi chăng nữa, thì cái “sự thật bên trong” kia vẫn phải tồn tại. “Sự thật bên trong” ấy là, “tôi nhìn thấy chiếc đũa bị bẻ quặt trong cốc nước”. Tôi phải ghi nhận, phải phát biểu được tường minh sựt hật này, trước khi, cùng với, và ngay cả sau khi đã tìm cách lý giải nó.  ***  Câu chuyện trên đây có vẻ như đáng để thủ tiêu đi, vì ai cũng “biết rồi”. Nhưng nó chính là một đầu mối quan trọng về “sự thật bên trong” của tinh thần.  Cuộc sống của con người bị – được chìm nhúng trong một bể vữa hồ “tập tục trộn luận lý”.    Anh chàng thanh niên lớn lên ở Pháp từ lúc hai tuổi mới đây khoe với tôi tấm thẻ căn cước mới được làm ở xứ Việt. Tấm thẻ ghi “nguyên quán” của anh chàng ở một làng quê hẻo lánh miền trung. “Sao anh biết nguyên quán này?” “Nguyên quán này được ghi trong giấy tờ cũ của bố tôi.” “Bố anh đã có dịp về làng quê hẻo lánh ấy chưa?” “Dạ, chưa. Nhưng mà giấy tờ cũ của bố của bố tôi ghi làng quê ấy là nguyên quán ạ.” “Thế nguyên quán của bố của ông nội anh có ở đấy không?” “Dạ, chịu ạ”. “Bao nhiêu đời thì là nguyên quán ?” “Dạ, chịu ạ”. “Thế nguyên quán của mẹ của bố anh có ở đấy không?” “Dạ, chịu ạ”. “Thế nguyên quán của mẹ anh có ở đấy không?” “Dạ, chịu ạ”…“Thế ghi cái thông tin nửa chừng, không đầy đủ, và không chắc chắn ấy vào giấy căn cước để mà làm gì?” “Dạ, hỏi khó quá ạ.”… Nếu bỏ công đi tìm và vẽ lại con đường tổ tiên, vật chất và văn hóa, của anh chàng thanh niên này, cái làng nọ, nếu đúng, cũng sẽ chỉ là một ngọn suối nhỏ xíu, và chưa chắc đã là quan trọng nhất, dẫn đến anh ta, trong một số lớn hơn rất nhiều các ngọn suối khác. Nhưng như vậy đó, con người ta say sưa bấu bám vào tập tục luận lý hóa, khỏi phải suy nghĩ, đến mức coi điều đón hư một “chân lý tuyệt đối”, “quan trọng hết mực”, để mà nhất nhất phải in ép điều đó vào tấm thẻ căn cước của anh chàng kia. Và người ta đã yên tâm đốt cháy bao nhiêu là các “sự thật bên trong” khác đi,một cách ngây ngô đường bệ, để được tự yên tâm là thông thái.  Món vữa hồ “tập tục trộn luận lý” vừa là một của nả, vừa là một thứ thuốc mê ngự trị con người. Yên tâm đến mức nghiện, con người và cộng đồng mất dần khả năng nhìn ra, nhìn lại, kiểm kê các “sự thật bên trong” khác nữa của mình. Hơn thế nữa, con người và cộng đồng có xu thế phủ nhận nhiều “sự thật bên trong” khác như một cơ chế dị ứng, nhất quyết phải đốt đi các “sự thật bên trong” đó nếu như chúng thuộc diện gây khó, gây phiền phức cho cái sự thật bên ngoài đã yên vị nằm ườn trên tấm tranh lụa phẳng phiu của tâm khảm mình.  ***  Cuộc sống của mỗi người, của mỗi cộng đồng thường vẫn êm ả trên những đoạn đường đời… cho đến lúc gặp phải những ngã ba ngã bảy. Đấy là lúc người ta bị buộc phải tự vấn, tự kiểm, tự quyết, xem mình từ đâu đến, muốn đi về đâu, chọn con đường nào, thậm chí phải mở những con đường mới… hoặc, mặc kệ, đến đâu thì đến.  Đó là lúc mà các món vữa hồ “tập tục trộn luận lý” đã đóng cứng không đủ tính “vạn năng-tưởng như” cho người ta nữa. Phải rà lại, làm hiện hình tường minh lại những “chiếc đũa bị bẻ quặt”, phải đối diện lại với tất cả những “sự thật bên trong” của mình, vượt qua sự lười trây và lòng sợ hãi món vữa hồ tập tục luận lý hóa đáng phải bị – được vượt qua. Để tìm ra những sự thật trong – ngoài lớn lao hơn, đầy đủ hơn, căn bản hơn, để vững đi tiếp được trên đường đời… Hoặc, mặc kệ, đến đâu thì đến.  ***  Rốt cuộc, điều mà mỗi người, mỗi cộng đồng thờ phụng, mới là cái máy đẩy thực sự.  Tại sao lại cứ phải suy nghĩ phức tạp như thế này mà làm gì.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật nằm ở… dạ dày?      Khi nói dối, mũi người ta thường nở ra. Đó là điều chúng ta biết từ lâu nhưng đối với Pankai Pasricha và các cộng sự thuộc Đại học Texas thì chính dạ dày mới là nơi người ta có thể xác định chính xác lời nói thật, giả.    Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một chương trình đo xung điện ở dạ dày để theo dõi xem người tình nguyện có nói dối hay không. Họ nhận thấy trong các trường hợp nói dối, dạ dày thường phát xung điện mạnh hơn bình thường. “Dạ dày dường như có một “thần kinh” riêng của nó mà không bị ảnh hưởng của não bộ trung ương”, Pankai Pasricha nói trên tờ New Scientist.  P.V      Nguồn tin: www.hon.ch/News/HSN/528816.ht    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự tử tế của doanh nghiệp và óc tỉnh táo của người tiêu dùng      Khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) không còn xa lạ với cộng đồng doanh nhân. Tuy nhiên, khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến câu chuyện đạo đức của doanh nghiệp đằng sau sản phẩm, thì CSR càng bị lợi dụng một cách khéo léo để đánh vào tâm lý họ. Vậy làm thế nào để nhận diện khi nào doanh nghiệp “trung thực”, có trách nhiệm thực sự với xã hội và khi nào thì không?    “Nuôi dưỡng thế hệ Việt Nam năng động và khỏe mạnh” hay đóng góp cho tỉ lệ béo phì và rủi ro tiểu đường?  Mỗi ngày bật tivi lên là ta thấy quảng cáo Milo được phát liên tục, tới nỗi lời thuyết minh về sản phẩm này có chứa “dinh dưỡng từ sữa, năng lượng từ mầm lúa mạch, cùng 7 loại Vitamin và khoáng chất… nguồn năng lượng tạo nên nhà vô địch” và “Nuôi dưỡng thế hệ Việt Nam năng động và khỏe mạnh“ đã trở nên “thân thuộc”.  Cùng với bao bì mang hình ảnh thể thao, năng động, bắt mắt người tiêu dùng, Milo Nestlé cũng tích cực thực hiện nhiều hoạt động xã hội “đồng bộ” với tuyên bố “Nuôi dưỡng thế hệ Việt Nam năng động và khỏe mạnh” nói trên. Nhãn hàng này ủng hộ các phong trào thể dục thể thao ở địa phương, cung cấp trang thiết bị thể thao trong trường học, tài trợ các giải thể thao trong nước và khu vực (như SEA Games 30). Các hoạt động này được trang Brands Vietnam của cộng đồng những người làm Marketing tại Việt Nam hoan nghênh là “truyền tải cảm hứng và khuyến khích cộng đồng, đặc biệt là các bậc phụ huynh, trẻ em, hướng đến lối sống năng động, khỏe mạnh thông qua các hoạt động thể thao – dinh dưỡng”.    Đằng sau những thông điệp truyền cảm hứng đó, công ty mẹ của sản phẩm Milo, Nestlé – gã khổng lồ trong ngành bán lẻ – nằm trong nhóm 10 công ty phi đạo đức nhất theo danh sách của Ethical Consumer, tổ chức không vì lợi nhuận, đấu tranh cho việc kinh doanh có đạo đức được thành lập từ năm 1989 tại Anh. Với riêng sản phẩm thức uống dinh dưỡng Milo, công ty này nhận chỉ trích vì tiếp thị, quảng cáo sai sự thật, thao túng hành vi tiêu dùng, gây rủi ro đến sức khỏe người tiêu dùng1.  Lần tới bạn đi siêu thị, hãy thử nhìn bao bì của hộp Milo lúa mạch 115ml. Thành phần đường được liệt kê dưới ba tên gọi khác nhau: đường, siro glucose, chiết xuất từ mầm lúa mạch. Theo danh sách “50 sắc thái của đường” gồm các tên gọi khác của đường nhằm đánh lừa người tiêu dùng, do Quỹ Tim Mạch của Anh (British Heart Foundation), một quỹ tài trợ cho các nghiên cứu hướng đến việc điều trị và giảm rủi ro mắc các bệnh liên quan đến tim mạch, công bố siro glucose thực chất là đường2. Chiết xuất lúa mạch cũng chứa mạch nha, là một loại đường3. Tuy nhiên thông tin về tỉ lệ, khối lượng đường trong một hộp Milo 115ml không rõ chính xác là bao nhiêu mà chỉ “ẩn nấp” trong chất dinh dưỡng gọi là “carbonhydrat”, chiếm chủ yếu trong “thành phần dinh dưỡng” của thức uống này. Thay vào đó, các vitamin B1, B2, B6 và canxi được làm nổi bật mặc dù chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ của sản phẩm và chỉ đóng góp khoảng 1/20 lượng cần thiết của một người trong một ngày.  Nhưng ai đó đừng vội nghĩ rằng cứ uống thật nhiều Milo là sẽ bổ sung lượng dinh dưỡng cần thiết. Trang web của Nestlé Việt Nam (giadinhnestle) có công bố thêm với Milo dạng bột 3 trong 1 thì có hơn một nửa khối lượng thành phần là đường. Trong 22gr Milo 3 trong 1 có chứa 11.4gr đường. Liên Minh Phòng Chống các Bệnh Tim Mạch của Mỹ (American Heart Association)4 và dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS)5 đều khuyến khích trẻ em từ 2-18 tuổi chỉ tiêu thụ ít hơn 25gr đường/ngày nhằm giảm các rủi ro về tim mạch. Trong khi đó, trang giadinhnestle khuyến nghị sử dụng bột Milo cho trẻ từ 6 tuổi trở lên với 2-3 khẩu phần/ ngày, mỗi khẩu phần là 22gr. Như vậy, với 2-3 khẩu phần mỗi ngày như khuyến cáo, người dùng Milo đã nạp 34.2gr đường cho cơ thể, vượt khỏi khuyến cáo của các tổ chức này! Trang giadinhnestle cũng khuyến nghị sử dụng 3 hộp Milo 115ml mỗi ngày dù vỏ hộp không có thông tin cụ thể về tỉ lệ đường!  Phải chăng CSR được sử dụng một cách “thông minh” cùng với ngân sách tiếp thị khổng lồ, giúp Nestlé cung cấp 10.5 tỉ hộp Milo trong 25 năm có mặt tại Việt Nam (số liệu năm 2019) và dẫn đầu  thị trường “sữa năng lượng” với 60.4% thị phần (năm 2018) Những câu chuyện nhân văn hướng tới lối sống khỏe mạnh, dinh dưỡng, cùng với quảng cáo bắt mắt, sinh động về giá trị dinh dưỡng nhưng thiếu thông tin về thành phần của Milo (trên bao bì), đã và đang “xỏ mũi” người tiêu dùng?  “Quảng cáo xanh” – tẩy xanh doanh nghiệp  “Quảng cáo xanh” (Greenwashing) là một trong những “chiêu bài” lợi dụng CSR phổ biến. Thuật ngữ này được nhà môi trường học Jay Westerveld sử dụng vào năm 1986 nhằm nhằm gọi tên những hành động phóng đại lối kinh doanh “xanh”, “bền vững” của doanh nghiệp6.    Khuyến mãi ‘bay xanh’ của Vietjet Ảnh: VietjetAir.com  “Bảo vệ hành tinh Xanh. Bay nhanh cùng Vietjet” là chương trình khuyến mãi được áp dụng trong tháng 2-3 vừa qua, sau khi Vietjet công bố mở thêm ba đường bay thẳng từ Việt Nam đến Ấn Độ. Thoáng qua, mẫu quảng cáo có thể thu hút sự chú ý của hành khách quan tâm đến môi trường vì yếu tố “bay xanh”.  Vietjet gọi mình là “xanh” vì công ty này thực hiện một loạt các hoạt động ý nghĩa như làm sạch biển và nói không với rác thải nhựa song song với chiến dịch truyền thông này. Tuy nhiên, bản thân việc bay bằng máy bay đã là không “xanh”. Hàng không chiếm 2.5 lượng khí thải và đóng góp 3.5% vào hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong nỗ lực chung giảm khí thải, nhiều công ty quốc tế đã thực hiện các chính sách cắt giảm đi lại, nhất là đi lại bằng máy bay. Nhưng Vietjet lại làm ngược lại, dù có nhiều hoạt động mang tính bảo vệ môi trường đi nữa, công ty lại kích cầu bay, lồng ghép “bay xanh” cùng với khuyến mãi lên đến 70% trên toàn mạng lưới bay để kích thích nhu cầu vận chuyển bằng hàng không, khuyến khích người tiêu dùng đóng góp vào lượng khí thải ra môi trường.    Phó giáo sư chương trình giao thông đô thị của Đại học Khoa học Xã hội Singapore – Walter Edgar Theseira phát biểu trên trang Eco-Business, một tạp chí thúc đẩy việc kinh doanh thân thiện với môi trường ở Châu Á: “câu hỏi đặt ra là quảng cáo “bay xanh” này giúp doanh nghiệp chiếm thị phần từ những đối thủ ít thân thiện hơn với môi trường, hay nó chỉ thúc đẩy nhu cầu di chuyển bằng máy bay và gây hại đến môi trường?”.  Cơ sở “xanh” để mỗi hành khách lựa chọn bay cùng Vietjet không thuyết phục. Thay vào đó, mẫu quảng cáo này dễ khiến khách hàng hiểu lầm hoặc cảm thấy bớt “có lỗi” hơn với môi trường khi họ bay cùng Vietjet thay vì những đối thủ khác. Yếu tố “xanh” trong thông điệp của Vietjet thực chất cũng chỉ quảng cáo, nó không giải thích được logic Vietjet “bảo vệ hành tinh” như thế nào.  Tiêu dùng thông thái  Đứng trước những người khổng lồ như Nestlé, Vietjet (và bạn có thể tự bổ sung thêm một loạt các thương hiệu khác), người tiêu dùng thật sự có sức mạnh để “phán xét” và đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh tử tế hay không? Đâu là thước đo sự chân thật với hành động tử tế của doanh nghiệp? Tiếng nói, yêu cầu và lựa chọn của người tiêu dùng là câu trả lời.  Điều đó thật sự không đơn giản: Chúng ta có sẵn sàng hạn chế việc đi du lịch, công tác khi việc di chuyển bằng máy bay trở nên dễ dàng, ít tốn kém với hãng giá rẻ như Vietjet?  Khi viết bài này, tôi làm một khảo sát nhỏ với 24 người bạn của mình. Hơn một nửa nói rằng họ có dùng hoặc cho con họ dùng Milo; trong đó, hơn 60% không đọc thành phần dinh dưỡng, hoặc “đọc sơ qua” và “không hiểu”, hoặc “không mua vì thành phần” mà đơn giản “vì con thích”.  Chính tôi cũng nhận thấy mình đã “ngây thơ” với quyết định mua sắm thế nào. Tôi phát hiện mình “trung thành” với khoảng sáu trong hơn 8,000 thương hiệu của Nestlé. Tôi thường uống nước khoáng S. Pellegrino mà không để ý nó được Nestlé sản xuất từ đâu, thế nào. Năm 2016, hàng loạt các tờ báo quốc tế đưa tin Nestlé khai thác 36 triệu ga-lông (~163.6 triệu lít) nước bắt nguồn từ rừng quốc gia San Bernardino, California, Hoa Kỳ với mức phí thường niên 524USD bất kể người dân California được yêu cầu giảm tiêu thụ nước vì đối diện với hạn hán chưa có tiền lệ trong 1,200 năm7. Theo trang blog khoa học đời sống ZME Science của Mỹ, Chính quyền bang California không biết Nestlé đã sử dụng bao nhiêu nước vì không có cơ sở pháp lý yêu cầu Nestlé cung cấp thông tin; và Nestlé cũng không báo cáo gì về việc này.  Khi tìm thấy thông tin này, tôi tự nhủ mình phải tìm sản phẩm thay thế. Nhưng đâu là những lựa chọn khác giúp tôi tiêu dùng có trách nhiệm? Trong lúc chưa tìm ra một sản phẩm thay thế, tôi lựa chọn cắt giảm và không sử dụng sản phẩm nước khoáng của Nestlé nữa.  Dù khó, mỗi cá nhân chúng ta vẫn cần “thông thái” hơn trong quyết định sử dụng tiền của mình. Trước khi quyết định tiêu tiền, hãy tự hỏi “tôi có phải là người có trách nhiệm với thế hệ tiếp theo hay không?”. Trong “kỷ nguyên số” ngày nay, không quá khó để tìm kiếm thông tin, xác định một sản phẩm/ dịch vụ đang được “quảng cáo xanh”. Vài từ khóa với Google (ví dụ: tên doanh nghiệp đi cùng “scandal”, “greenwashing”, “ethics”) sẽ giúp bạn có câu trả lời và đánh giá xem:    Doanh nghiệp có minh bạch về thông tin sản phẩm/dịch vụ hay không?  Động cơ thật sự (phía sau mỗi thông điệp truyền thông của họ) là gì?  Hoạt động kinh doanh của họ có đang đóng góp giá trị cho xã hội, môi trường hay không? Hay họ đang khai thác triệt để hệ sinh thái và sự ngây thơ của người tiêu dùng vì mục tiêu lợi nhuận? Họ báo cáo về tác động kinh doanh của họ đến môi trường, xã hội ra sao?    Trả lời những câu hỏi này sẽ giúp bạn có lựa chọn “có trách nhiệm” với quyết định mua sắm và không bị đánh lừa bởi những “quảng cáo xanh”.  Chúng ta cũng có thể lên tiếng trên mạng xã hội phản đối các chiêu thức đánh lạc hướng người tiêu dùng bởi những lời quảng cáo “đầy tinh thần trách nhiệm xã hội”. Đầu năm 2018, video12 của một doanh nhân Malaysia, Vishen Lakhiani, đã được lan truyền qua Youtube và mạng xã hội, cảnh báo khối lượng đường trong sản phẩm Milo đến 40% dưới tên gọi sản phẩm dinh dưỡng. Cùng thời điểm, tờ Sydney Morning Herald đưa tin Nestlé Úc đã khuất phục trước áp lực của những người vận động cho sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng. Nestlé Úc trước đó đã tự xếp hạng sản phẩm bột Milo của mình ở mức 4.5/5 sao về tốt cho sức khỏe theo thang đo của chính phủ Úc và giờ phải đồng ý tháo bỏ nhãn hiệu xếp hạng này9.  Doanh nghiệp sẽ lờ đi trách nhiệm xã hội của mình nếu không có áp lực từ phía người dùng. Nhận xét về chiến dịch “bay xanh” của Vietjet, nhà chiến lược và sáng lập công ty The Outwit (đơn vị tiếp thị Coca-Cola trước đây), Aneek Ahmed, nói với Eco-Business tuyên bố thân thiện với môi trường khi thực hiện khuyến mãi là một sai lầm. Nhưng ông nghi ngờ nếu quảng cáo này gây ảnh hưởng xấu đến thương hiệu Vietjet tại thị trường Việt Nam “khi đòi hỏi của người tiêu dùng chưa đủ lớn đối với những vấn đề [về môi trường] như vậy.”  Nếu khách hàng/ người tiêu dùng mở rộng sự quan tâm đến những hành động kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định tiêu tiền không chỉ dựa trên giá cả của sản phẩm/dịch vụ, nếu chúng ta nói lên chính tiếng nói, yêu cầu của mình và mạnh dạn chia sẻ những thông tin này đến người thân, bạn bè, công chúng; tiếng nói đó không còn đơn lẻ. Nếu chỉ 10% người dân Việt Nam ý thức được những hành vi thiếu trách nhiệm của doanh nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi, liệu doanh nghiệp sẽ ngồi im?  ———-  1https://www.nytimes.com/2017/12/23/health/obesity-malaysia-nestle.html  2https://www.bhf.org.uk/informationsupport/heart-matters-magazine/nutrition/sugar-salt-and-fat/names-for-sugar-infographic  3https://draxe.com/nutrition/what-is-malt  4https://www.heart.org/en/healthy-living/healthy-eating/eat-smart/sugar/sugar-recommendation-healthy-kids-and-teens-infographic#:~:text=Kids%20are%202%2D18%20should,Cardiovascular%20Disease%20Risk%20in%20Children.  5https://www.theguardian.com/sustainable-business/2016/aug/20/greenwashing-environmentalism-lies-companies  6https://www.nhs.uk/live-well/eat-well/how-does-sugar-in-our-diet-affect-our-health/#:~:text=This%20means%3A,day%20(5%20sugar%20cubes).  7https://www.theguardian.com/environment/2019/oct/29/the-fight-over-water-how-nestle-dries-up-us-creeks-to-sell-water-in-plastic-bottles  8https://www.youtube.com/watch?v=NJyGNd50RXQ  9https://www.smh.com.au/healthcare/nestle-wipes-4-5-health-star-rating-off-flagship-milo-product-20180301-p4z295.html    Author                Trần Vũ Ngân Giang (Giang Trần)        
__label__tiasang Sửa chữa Facebook      Nếu Facebook không tự sửa chữa được, chính phủ sẽ phải kiểm soát mạng xã hội này ra sao?      Ảnh: Chris Matthews, Washington Monthly  Nếu đã xem The Social Network, bộ phim được đề cử Oscar cho phim xuất sắc nhất năm 2010, về những ngày đầu thành lập Facebook, người ta khó có thể quên được nhân vật Mark Zuckerberg – một sinh viên Harvard 19 tuổi không ngại xúc phạm bạn gái nhưng tạo ra Facebook để thu hút các sinh viên nữ; một người lạnh nhạt với các mối quan hệ xã hội, một người thực dụng tới mức đâm sau lưng người bạn thân để gọi thêm vốn, nhưng có một tầm nhìn đầy lãng mạn về nền tảng sẽ kết nối mọi người trên toàn cầu.  20 năm từ một trang web trong phòng ký túc xá, Facebook giờ đây đã trở thành một mạng xã hội ảnh hưởng nhất thế giới với gần ba tỉ người dùng thường xuyên. Facebook không chỉ là nơi kết nối bạn bè mà còn mang lại những cơ hội giao dịch giữa  người mua kẻ bán với nhau khiến thu nhập và đời sống của hàng triệu người đang phụ thuộc vào nền tảng này. Nhưng Facebook cũng là nơi tạo điều kiện cho những cá nhân, tổ chức cực đoan trỗi dậy,“chiêu mộ” các tín đồ, thao túng quan niệm chính trị và nhận thức khoa học của cộng đồng bằng các tin bịa đặt, tin sai lệch, tin chia rẽ đánh vào cảm xúc người dùng Facebook khác. Những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến chủ nghĩa dân túy dâng cao và sự nở rộ các phong trào bài khoa học như anti-vaccine, Trái đất phẳng, phủ định sự nóng lên toàn cầu, do Facebook “tiếp tay”, đe dọa các thành tựu mà mọi nền dân chủ đang cố gắng bảo vệ.  Mark Zuckerberg từ một sinh viên luộm thuộm mặc pyjama đến gặp nhà đầu tư, giờ trở thành một trong những người quyền lực nhất thế giới. Zuckerberg như chúng ta vẫn biết ngày nay, là một avatar giữa đời thực: một kiểu tóc, áo xám, quần bò không thay đổi, đang “gác lại” những vấn đề của Facebook để quảng bá cho Metaverse – một thế giới ảo mà tất cả mọi người đều là avatar, và họ còn chìm đắm vào đó hơn là lướt Facebook trên màn hình điện thoại.  Phải, Facebook khó lòng tự chữa trị từ bên trong. Mark Zuckerberg, như một kĩ sư Facebook từng nói “đã tạo ra một cỗ máy mà giờ (chính anh) cũng không thể điều khiển nổi”. Cách đây hai năm, người phụ trách đạo đức công nghệ của Google, Tristan Hassen đã giải thích cho đại chúng hiểu, cách mà các đại gia công nghệ, trong đó có Facebook, hack bộ não của chúng ta như thế nào. Về cơ bản, mọi hành động và thông tin trên Facebook của chúng ta ngày càng chi tiết từ tuổi, ngày sinh, sự kiện trong đời, mạng lưới bạn bè, người quen, người thân của chúng ta, địa điểm chúng ta ở, nơi chúng ta đi qua, nội dung chúng ta thích đọc cho đến thời gian mắt chúng ta dừng lại trên mỗi post tình cờ xuất hiện trên News Feed bao lâu. Nhờ thế mà thuật toán của Facebook sẽ cho hiện những nội dung dễ “lay động” cảm xúc của chúng ta nhất thay vì những nội dung có bằng chứng khoa học. Trong nội bộ Facebook, họ ưu ái phát tán những post nhận được nhiều cảm xúc giận dữ nhất, bởi nó càng dễ thu hút sự chú ý của người dùng, hứa hẹn nhiều bình luận. Khi người ta phán xét sự kiện dựa trên cảm xúc và bị chi phối bởi “không khí” phẫn nộ của đám đông, người ta càng dễ trở nên cực đoan, chia rẽ. Một khi đã rơi vào bẫy thuật toán này, người sử dụng Facebook càng khao khát đọc những thứ tương tự, “gắn kết” với những người cùng cảm xúc, cùng suy nghĩ, đồng thời càng từ chối lắng nghe và chấp nhận những gì thách thức quan điểm của mình.  Mức độ tương tác của người dùng là chỉ số đánh giá sự tăng trưởng của Facebook, theo quan điểm của tập đoàn này. Người dùng càng “nghiện” Facebook thì càng cung cấp nhiều thông tin để Facebook càng giúp các nhãn hàng quảng cáo trúng đích hơn. Nói cách khác, thuật toán này là cốt lõi trong mô hình kinh doanh của Facebook. Vì vậy, khó có lí do gì để tập đoàn này phải thay đổi để tự đâm vào tim mình.  Kêu gọi sự thức tỉnh về đạo đức trong lòng tập đoàn này là một ước mơ viển vông. Zuckeberg hiện nay đang nắm giữ 60% quyền bầu cử trong ban lãnh đạo Facebook. Nói cách khác, anh ta có quyền quyết định điều khiển nội dung mà ba tỉ người dùng trên thế giới đang đọc và theo dõi, bất luận những người khác có phủ quyết hay không. Mark Zuckeberg có thể là một người tốt, nhưng anh ta có quá nhiều quyền lực và khó tránh khỏi lạm dụng nó. Ở đây, Zuckerberg lựa chọn sự tăng trưởng của công ty lên trên sự an toàn của người dùng.      Mark Zuckerberg lựa chọn sự tăng trưởng của công ty lên trên sự an toàn của người dùng.      Frances Haugen không phải là người đầu tiên chỉ trích những tác hại xã hội của Facebook. Thậm chí, những gì mà Haugen chỉ ra cũng không phải là lần đầu tiên công chúng được nghe. Trước đó Chris Hughe – người đồng sáng lập Facebook với Zuckerberg từ khi còn ở giảng đường Đại học Harvard và Roger MacNamee – mentor của Zuckerberg đã lên tiếng về vấn đề của mạng xã hội này và vận động chính phủ liên tục trong nhiều năm trời để kiểm soát Facebook.  Mark Zuckerberg lựa chọn sự tăng trưởng của công ty lên trên sự an toàn của người dùng.  MacNamee từ năm 2018 đã yêu cầu chính quyền phải quy định Facebook minh bạch các thông tin với công chúng bao gồm: công khai cách hoạt động của thuật toán đằng sau mạng xã hội này; hiển thị thông tin cụ thể về những cá nhân, tổ chức đứng sau mọi quảng cáo, đặc biệt là các quảng cáo chính trị và các quảng cáo có tác động xã hội khác; giải thích rõ việc Facebook sẽ thu thập những thông tin gì và sẽ sử dụng thông tin đó như thế nào. Quan trọng hơn, người dùng sẽ sở hữu dữ liệu của họ và họ có quyền từ chối mọi thay đổi về giao diện, thuật toán, cách thức thu thập thông tin mà Facebook đưa ra.  Từ trước đến nay, Facebook có nhiều thay đổi “sau lưng” người dùng, mà nếu có thông báo thì “sự cũng đã rồi”. Một ví dụ điển hình là Facebook “lén lút” đưa chức năng nhận diện khuôn mặt vào nền tảng của mình, điều đó có nghĩa là, mọi bức ảnh có gương mặt của bạn, kể cả những bức ảnh bạn bị chụp một cách tình cờ, bị chụp trộm, bị lấy cắp, bị theo dõi, Facebook đều nhận ra và đều “gợi ý” người quen khẳng định sự có mặt của bạn. Đáng lẽ ra, người dùng không chỉ được biết mà còn được quyền “quay trở lại” sử dụng các phiên bản chưa có sự thay đổi của Facebook.  Mọi người dùng Facebook một cách miễn phí và hiểu rằng đổi lại, họ cho phép Facebook quyền khai thác dữ liệu của họ. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ biết thực sự Facebook khai thác dữ liệu đó như thế nào và nếu biết, rất có thể họ sẽ không chấp nhận điều đó. Trên thực tế, Facebook “bán” dữ liệu đó cho bên thứ ba để thao túng quan niệm chính trị của người dùng. Facebook biết rõ ràng rằng hàng trăm triệu người Mỹ đã chịu ảnh hưởng bởi những thông tin bịa đặt, các thuyết âm mưu về bầu cử từ các tổ chức ở Nga, nhưng họ không hề đưa ra một lời cảnh báo nào tới người dùng.  Không ai biết rằng, dữ liệu mà họ cung cấp cho Facebook có ngày quay trở lại làm hại họ. Facebook đã loại bỏ những người có thu nhập thấp, những người da màu,…trong việc tiếp cận các quảng cáo dịch vụ hỗ trợ tài chính. Cũng ít người biết rằng kể cả khi họ xóa tài khoản Facebook, dữ liệu họ đã tạo ra vẫn được Facebook lưu trữ mãi mãi và chân dung của họ vẫn tiếp tục được bồi đắp bởi những dữ liệu từ người thân quen khác.  Cả MacNamee và Hughe cũng kêu gọi phải xẻ Facebook ra thành nhiều công ty khác nhau. Hai người này đều gọi đây là một mạng xã hội độc quyền. Facebook đã dập tắt và đè bẹp các đối thủ bằng cách thâu tóm hoặc bắt chước họ từ khi còn ở giai đoạn “trứng nước”. Trên thực tế, ở Mỹ kể từ năm 2011, không có công ty nào còn có thể chen chân vào thị trường mạng xã hội bởi sức mạnh áp đảo của Facebook. Facebook có một tiếng nói “thống trị” trong thị trường này. Hughe nổi tiếng với bài xã luận trên tờ New York Times với tiêu đề: “Đã đến lúc phải phá vỡ Facebook”, kêu gọi chính phủ không chỉ tách Facebook ra thành ít nhất ba công ty nhỏ mà còn phải ngăn cản không cho phép tập đoàn này thực hiện bất cứ một vụ mua bán, sáp nhập nào nữa.  Sẽ có người tranh cãi là còn biết bao mạng xã hội khác như Tik Tok, Snapchat, Twitter, Youtube…nhưng trên thực tế, số lượng người dùng của tất cả các ứng dụng này còn xa mới đuổi kịp Facebook và các nền tảng của nó. Với lượng người dùng khổng lồ và nắm một loạt các sản phẩm ảnh hưởng khác như Instagram, Whatsapp, Messenger, sẽ rất khó để một ai đó dứt bỏ với Facebook hoàn toàn. Một người có thể “chạy trốn” Facebook nhưng rồi sau đó lại rơi vào các ứng dụng khác do nó sở hữu.□         Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Sửa hiến pháp để thúc đẩy dân chủ hóa nền quản trị quốc gia      Có lẽ lời nhận xét sau đây của Thomas Jefferson: “Một số người nhìn hiến pháp với một lòng sùng đạo quá mức, và tưởng rằng hiến pháp là một ánh hào quang của sự thỏa thuận, sợ không dám đụng vào chúng1” đang đúng ở Việt Nam.     Năm 1992, khi vấn đề sửa đổi Hiến pháp Việt Nam được đặt  ra, đâu đó người ta gán cho hiến pháp các mỹ từ như văn bản thiêng  liêng, và không nên tầm thường hóa việc sửa hiến pháp. Thậm chí có người  còn ví hiến pháp như một bàn thờ. Nhưng theo tôi, không nên thần thánh  hóa hiến pháp mà nên xem việc sửa đổi hiến pháp là cần thiết để dần dần  dân chủ hóa cách quản trị quốc gia và làm cho chính quyền có trách nhiệm  hơn và thích ứng với thay đổi của thời cuộc.  Sửa đổi hiến pháp ở các nước phát triển   Nói đến Hiến pháp Mỹ, lập tức người ta có ấn tượng là một bản hiến pháp ổn định, lâu đời, đã tồn tại 200 năm. Thực ra Hiến pháp Mỹ không quá ổn định như người ta tưởng. Nó được ban hành năm 1787 và hai năm sau nó đã phải được bổ sung bởi 10 tu chính án. Tính đến nay nó đã trải qua 27 lần sửa đổi. 27 lần sửa đổi trong hơn 200 năm có lẽ cũng không phải là nhiều, nhưng điều đáng nói hơn là sửa đổi hiến pháp ở Mỹ không chỉ được diễn ra chính thức qua 27 lần đó. Hiến pháp học nước Mỹ coi các phán quyết của Tòa án tối cao Mỹ về các vấn đề hiến pháp cũng là một hình thức sửa đổi (dù không chính thức).   Trong hơn 200 năm qua, Tòa án Tối cao đã ra hàng trăm phán quyết về Hiến pháp. Một điều sơ đẳng của luật hiến pháp ở Mỹ là các quy tắc hiến pháp không chỉ nằm vỏn vẹn trong 7 điều chính văn và 27 tu chính án mà còn năm trong hàng trăm phán quyết của Tòa án. Theo đó, Hiến pháp Mỹ thay đổi theo hàng trăm phán quyết của tòa án chứ không quá ổn định như người ta thường ngộ nhận. Thêm nữa, người Mỹ cũng không quá thần thánh hóa hiến pháp và những kêu gọi sửa đổi hiến pháp ngày càng nhiều lên. Văn phòng Lịch sử Thượng viện Mỹ ước tính hơn 11.200 đề nghị sửa đổi hiến pháp đã được đưa ra từ năm 1789 đến tháng 12 năm 20042. Các hiệu sách ở Mỹ đầy những cuốn sách kêu gọi sửa hiến pháp, kiểu như “Hiến pháp phi dân chủ của chúng ta”, “Một hiến pháp hoàn hảo hơn”…   Nhìn sang Châu Âu, người ta thấy Pháp, Đức sửa đổi hiến pháp rất thường xuyên. Tính từ ngày có hiệu lực (4/10/1958) cho đến ngày 21/6/2008, hiến pháp của nền cộng hòa thứ năm của Pháp đã trải qua 24 lần sửa đổi. Hiến pháp (Luật cơ bản) của Đức hiện hành được công bố ngày 23/5/1949 cũng đã trải qua 57 lần sửa đổi. Người ta dễ có cảm giác rằng việc sửa đổi hiến pháp được tiến hành một cách rất bình thường3.     Trường hợp của Việt Nam   Giáo sư Donald S.Lutz ở Đại học Houston trong một nghiên cứu về lý thuyết sửa đổi hiến pháp đã đưa ra những định đề liên quan đến tỉ lệ sửa đổi hiến pháp và sự ổn định của hiến pháp. Nhìn chung, các yếu tố tác động đến tỉ lệ sửa đổi hiến pháp, tính ổn định của hiến pháp là: độ dài của hiến pháp tính theo số từ trong hiến pháp, tính khó khăn của quy trình sửa đổi hiến pháp, chức năng của chính quyền được quy định trong hiến pháp, vai trò của tư pháp trong việc giải thích hiến pháp, mức độ phân biệt giữa hiến pháp và các đạo luật bình thường.  Ta cần xét xem Hiến pháp Việt Nam có những điều kiện để tồn tại lâu dài không. Xét về mặt lý thuyết, Hiến pháp Việt Nam không có những điều kiện cần thiết của một hiến pháp có sức sống lâu dài. Sự phân biệt giữa hiến pháp và các đạo luật bình thường không rõ ràng thể hiện ở việc Quốc hội lập pháp đồng thời có chức năng lập hiến. Sự không phân biệt giữa Quốc hội lập pháp và Quốc hội lập hiến dẫn đến khả năng Quốc hội dễ dàng sửa đổi hiến pháp. Thủ tục sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam không khó khăn. Hiến pháp chỉ quy định một yêu cầu duy nhất là việc sửa đổi hiến pháp phải có sự thông qua của 2/3 đại biểu Quốc hội, một tỉ lệ không khó để đạt được ở Việt Nam khi Quốc hội khá thống nhất. Những thủ tục gây khó khăn cho việc sửa đổi hiến pháp như bầu lại Quốc hội, thành lập ủy ban sửa đổi hiến pháp, Hội nghị hiến pháp, trưng cầu dân ý không có trong Hiến pháp Việt Nam. Hơn nữa, văn phong hiến pháp có khi trừu tượng nhưng nhiều khi rất cụ thể làm hiến pháp không thích ứng với sự thay đổi của xã hội.   Hiến pháp liệt kê quá chi tiết các quyền hạn của Chính phủ. Chính phủ là định chế nhạy cảm nhất đối với các thay đổi của xã hội. Chính vì vậy, quy định quá chi tiết quyền hạn của chính phủ trong hiến pháp sẽ làm cho Chính phủ thụ động, và hiến pháp phải thay đổi thường xuyên. Việc chi tiết đến cả cách thức tổ chức chính quyền địa phương cũng làm cho địa phương bị động và hiến pháp muốn tháo gỡ cho chính quyền địa phương cần phải sửa đổi.   Ngoài ra, hiến pháp Việt Nam khá dài, quy định quá nhiều các quan hệ xã hội: từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Chính vì vậy, theo nguyên lý, hiến pháp cần phải được sửa đổi để thích ứng với sự tiến triển của tình hình kinh tế, xã hội. Đặt biệt là Việt Nam không có hình thức sửa đổi hiến pháp không chính thức như sự giải thích hiến pháp của Tòa án nên về nguyên tắc tỉ lệ sửa đổi chính thức sẽ phải cao.   Điều nghịch lý là mặc dù Hiến pháp Việt Nam có đầy đủ đặc điểm của một hiến pháp có tỉ lệ sửa đổi cao, nhưng trên thực tế tỉ lệ sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam thấp. Hiến        Nếu gọi tỉ lệ sửa đổi hiến pháp là R; tổng số năm mà hiến pháp có hiệu lực là Y, số lần sửa đổi là A, ta có công thức tính tỉ lệ sửa đổi như sau: R = A/Y. Ví dụ, Hiến pháp Mỹ nguyên thủy có 4.300 từ, từ năm 1787 đến năm nay ( năm 2010),  trong 221 năm trải qua 27 lần sửa đổi chính thức, đạt tỉ lệ sửa đổi là:  27/221 = 0,12.        pháp 1946 không được sửa đổi lần nào; sau được thay thế bởi hiến pháp 1959. Hiến pháp 1959 cũng không sửa đổi lần nào sau được thay thế bằng Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1980 được sửa đổi hai lần tính đến năm 1992, đạt tỉ lệ sửa đổi 0.17. Hiến pháp hiện hành tính từ năm 1992 đến nay ( năm 2010), trong 18 năm tồn tại, đã được sửa đổi 1 lần vào năm 2001, đạt tỉ lệ sửa đổi là: 1/18 = 0, 05, thấp hơn tỉ lệ sửa đổi hiến pháp của Mỹ. Như vậy, xét về lý thuyết Hiến pháp Việt Nam hiện hành còn ổn định hơn Hiến pháp Mỹ.   Người ta sẽ phản biện lại rằng hiến pháp là luật cơ bản của quốc gia, nên sửa hiến pháp thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định chính trị. Thực ra nếu xét bản chất việc sửa đổi hiến pháp một cách kỹ lưỡng, đây không phải là một điều đáng lo ngại. Một nhà hiến pháp học người Đức, Carl Schmitt chỉ ra rằng, trong khi sửa đổi hiến pháp, bản sắc và tính chỉnh thể của hiến pháp phải được giữ lại. Điều này có nghĩa là quyền sửa đổi hiến pháp chỉ bao gồm quyền thay đổi, bổ sung, mở rộng, loại bỏ những điều khoản của hiến pháp nhưng vẫn giữ lại bản thân bản hiến pháp. Đó không phải là quyền thiết lập một hiến pháp mới, cũng không phải là quyền thay đổi nền tảng của quyền sửa đổi hiến pháp4. Như vậy, trong việc sửa đổi hiến pháp, cấu trúc tổng quát của chính quyền không thể thay đổi. Bởi lẽ, một khi người ta có nhu cầu thay đổi cấu trúc căn bản của chính quyền, như chuyển từ chế độ quân chủ sang chế độ cộng hòa chẳng hạn, người ta sẽ không dùng biện pháp sửa đổi hiến pháp mà là ban hành một hiến pháp mới. Sửa đổi hiến pháp chỉ là một động tác điều chỉnh các chi tiết của chính quyền làm cho nó thích ứng hơn với những biến chuyển của xã hội. Vì vậy, các sửa đổi hiến pháp thường là những điều chỉnh mang tính chất kỹ thuật về cách thức tổ chức và điều hành quyền lực, chứ không thay đổi bản chất của mô hình quyền lực. Khi bản chất của mô hình quyền lực không bị tác động bởi sửa đổi hiến pháp, người ta không phải lo ngại về sự xáo trộn chính trị do sửa đổi hiến pháp gây ra.   Với nghĩa đó, “sửa đổi toàn diện hiến pháp” là một định đề mâu thuẫn trong nội tại. Hiến pháp không bao giờ có thể được sửa đổi toàn diện. Dù có sửa nhiều điều khoản khác nhau của hiến pháp, nhưng những sửa đổi đó chỉ là những điều chỉnh, bổ sung các chi tiết mang tính chất kỹ thuật về tổ chức chính quyền, chứ không làm thay đổi tính toàn diện của hiến pháp. Một khi hiến pháp đã được xem xét lại một cách toàn diện, hành động tiếp theo sẽ không phải là sửa đổi hiến pháp mà là ban hành một hiến pháp mới.   Những vấn đề sửa đổi hiến pháp đang được đặt ra trên bàn nghị sự ở Việt Nam như điều chỉnh cách tổ chức chính quyền địa phương để mở đường cho việc bỏ cơ quan        Những mong muốn thần thánh hóa hiến pháp để níu kéo tốc độ phát triển hiến pháp sẽ làm chậm tiến trình dân chủ hóa. Vì vậy, cần phải coi việc sửa đổi hiến pháp là một điều bình thường để dần dần thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam.        đại diện địa phương ở cấp trung gian không cần thiết, trao thêm quyền cho Thủ tướng trong việc kiểm soát quan chức cấp tỉnh, sắp xếp lại hệ thống tòa án theo cấp xét xử, thành lập Viện công tố… là những vấn đề mang tính chất chi tiết về tổ chức chính quyền, không ảnh hưởng đến tính tổng thể của mô hình nhà nước. Đây là những cải cách cần thiết để dần dần dân chủ hóa hơn cách quản trị quốc gia và làm cho chính quyền có trách nhiệm hơn và thích ứng với thay đổi của thời cuộc. Nên coi sửa đổi hiến pháp liên quan đến những vấn đề này là việc làm bình thường. Không phải đợi dịp nọ dịp kia, mà khi xã hội đòi hỏi phải điều chỉnh những chi tiết của chính quyền, sửa đổi hiến pháp cần phải được tiếp hành kịp thời.  —    1Sanford Levinson. Our undemocratic Constitution ( New  York: Oxford University press, 2006), pp.IX.    2Guide to Congress, sixth Edition, Volume 1 (Washington DC: CQ press, 2008), p436.    3Donald S.Lutz. “Toward a theory of constitutional amendment.” American Political Science Review. Vol. 88, No. 2 June 1994, pp.357-358.    4Carl Schmitt. Constitutional theory (Durham and London: Duke University press, 2008), p.50    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sức chịu đựng của người dân ?      Mới đây, khi phát biểu về sự việc nhiều con đường BOT (Built-Operation-Transfer: Xây dựng – vận hành – chuyển giao) dường như đồng loạt tăng phí, một lãnh đạo của Bộ Giao thông Vận tải nói: việc tăng phí như vậy đúng lộ trình và vẫn nằm trong sức chịu đựng của nền kinh tế. Nếu như chuyện tăng phí đã gây sốc cho mọi người dân tham gia giao thông trên các con đường BOT thì có lẽ ý kiến của vị lãnh đạo kia còn gây sốc hơn nữa, không chỉ cho những người phải đi các con đường đó mà cho toàn xã hội, trong bối cảnh gánh nặng thuế phí nói chung tại Việt Nam có tỷ lệ huy động ngân sách bằng thuế, phí trên GDP cao nhất khu vực.      Từ câu chuyện thuế, phí trong lịch sử  Có một giai thoại trong ngành thu thuế từ xa xưa trước thời Cách mạng Pháp 1789 rằng có ông quan nọ do thiếu ngân sách chi tiêu ở địa hạt mình cai quản nên cho tăng mức thuế, phí đối với những thương nhân bán hàng ở chợ. Ông ta cứ tăng dần mức thu cho tới khi chỉ còn lác đác vài người trụ lại còn số đông xin đóng cửa hàng thì dừng lại, bởi cho rằng còn có thể thu cho tới khi người dân còn chịu đựng được; hay nói cách khác, chỉ dừng thu khi người dân không còn chịu đựng được nữa!  Theo tôi, cách nghĩ và hành xử của ông quan có lý bởi thời đó, trong chế độ phong kiến, nhà vua là thiên tử và tất cả của cải, thu nhập trong thiên hạ đều thuộc triều đình, thì nhà vua muốn thu bao nhiêu mà chẳng được; và bởi hơn thế nữa, người dân được cho rằng tồn tại chỉ là để tạo nguồn nuôi dưỡng cho triều đình mà thôi, xét từ góc độ thuế má. Nhưng quan điểm ấy thật khó chấp nhận với nền dân chủ ngày nay. Sau cuộc Đại cách mạng Pháp với sự thiết lập nền dân chủ và nhà nước từ nhân dân đầu tiên của xã hội loài người, một quan niệm mới đã ra đời, đó là “chủ quyền nhân dân” (popular sovereignity), theo đó chính quyền chỉ được làm những gì mà người dân cho phép, đồng nghĩa rằng chính quyền chỉ được đặt ra thuế, phí và tăng mức thu nếu người dân chấp nhận trên cơ sở giải trình minh bạch các lý do liên quan. Còn nhớ cũng thời đó, trong Cách mạng Mỹ, các chiến sỹ đấu tranh giành độc lập cho Hoa Kỳ đã nêu cao một khẩu hiệu:“Không có quyền đại diện thì không nộp thuế” (No taxation without representation). Họ đòi hỏi được có quyền đại diện trong Nghị Viện Anh thì mới nộp thuế, hay nói rộng ra, họ đòi hỏi các quyền tham gia quyết định chính trị của người dân thuộc địa. Các nguyên lý đó thật đơn giản và dễ hiểu một khi chế độ mà chúng ta đang sống hôm nay là dân chủ.  Đến việc mổ xẻ vấn đề phí đường cao tốc BOT  Không cần bàn thêm về sự cần thiết xây dựng các con đường cao tốc và triển khai nó bằng các dự án BOT trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang và càng ngày càng thiếu thốn. Tuy nhiên, nếu gọi các dự án BOT bằng cái tên mỹ miều là “dự án xã hội hoá” và coi đó là một cứu cánh cho phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế thì có lẽ rất cần thiết phải xem xét lại   Thứ nhất, nhìn từ góc độ kinh tế-tài chính, hạ tầng kỹ thuật cần được phát triển đồng bộ với sự phát triển các khu vực khác có tính chủ đạo gắn với sản xuất hàng hoá và của cải, vật chất. Ngay cả nhiều nước phát triển cũng đã từng mắc các sai lầm trong việc xây các sân bay không có máy bay nào đến, xây các cây cầu không có xe cộ nào đi, gây tổn thất, lãng phí lớn. Cho nên, phải chăng có thật cần thiết triển khai làm các con đường cao tốc một cách ồ ạt, tới mức như hiện nay, trong bối cảnh tiền vốn cho đầu tư nói chung đang rất khó khăn thì theo kế hoạch tiếp tục sẽ có 23 dự án BOT đường bộ được khởi công trong năm 2016 với số vốn lên tới 39,899 tỷ đồng. Đáng chú ý là mặc dù được gọi là huy động vốn tư nhân nhưng thực ra khoảng 90% các dự án BOT phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng, đồng thời suất đầu tư 1km đường cao tốc của Việt Nam đã lên tới 28 triệu USD, thuộc hàng cao nhất thế giới. Vậy, suy cho cùng có thể coi đó là các dự án kinh tế được chăng?  Thứ hai, từ góc độ pháp lý, BOT thực chất là hình thức nhượng quyền phát triển hạ tầng và thu thuế, phí của nhà nước cho tư nhân, và cho dù được triển khai ở bất kỳ đâu thì nó cũng thể hiện sự bất lực của nhà nước trong thực thi nhiệm vụ thiết yếu này. Tổng kết thực tiễn trên thế giới, chỉ có một lý do duy nhất biện minh tính hợp lý của các dự án BOT về hạ tầng, đó là tranh thủ công nghệ và kinh nghiệm quản lý của khu vực tư nhân, vốn là lĩnh vực mà muôn thuở khu vực nhà nước khó cạnh tranh được. Tại nước ta, thực tiễn lại đang diễn ra khác đi. Với các con đường BOT, chất lượng vẫn rất kém, chi phí triển khai rất cao và đặc biệt đáng lo ngại là tính minh bạch và sự tôn trọng các quyền công dân không được đảm bảo. Vấn đề pháp lý đặt ra là: Các cơ quan nhà nước liên quan đã và đang bán các thương quyền là tài sản công cho tư nhân, đồng thời cho phép họ thu phí cưỡng bức lên người dân như là một loại thuế bổ sung và cứ đơn giản tăng nó theo một “lộ trình” nào đó để hoàn vốn, trong khi lại không có một cơ chế thoả đáng nào cho người dân được giám sát, dù là gián tiếp thông qua các cơ quan dân cử. Nếu coi rằng đường cao tốc BOT thuộc tài sản của nhà đầu tư và ai sử dụng sẽ phải trả tiền theo nguyên tắc thị trường thì đó là một lý lẽ khó bác bỏ. Tuy nhiên, cũng có một câu hỏi phổ quát hơn, đó là liệu rằng người dân có quyền tự do lựa chọn đi hay không đi những con đường đó, với tư cách một người tiêu dùng? Trong trường hợp khả năng lựa chọn hợp lý cho người tiêu dùng không tồn tại và quyền tự do đi lại của công dân theo Hiến pháp không được bảo đảm, thì khó có thể nói khác hơn rằng bản thân các cơ quan nhà nước phê chuẩn các dự án BOT đã không tôn trọng các quyền cơ bản của công dân trong các giao dịch liên kết với khu vực tư nhân.   Việc tăng phí đường BOT với lý lẽ để bảo đảm cho chủ đầu tư thu hồi vốn mà thực chất là vốn trả nợ cho các ngân hàng theo cơ chế lãi suất thả nổi của các khoản vay dài hạn là không thuyết phục. Thiếu một cơ chế giám sát minh bạch đối với tài chính các dự án đường BOT sẽ đồng nghĩa với việc hợp thức các quyền thu thuế của tư nhân bên ngoài các luật thuế và luật ngân sách?  Cuối cùng, sức chịu đựng của nền kinh tế và người dân sẽ đến đâu ?  Trên thực tế đã xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của giới hạn đối với sức chịu đựng này. Tháng 12 năm 2015 những người dân nghèo huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình đã bao vây, phong toả một trạm thu phí đường BOT bởi không cho họ một con đường nào khác, dù xấu hơn, để đi lại hằng ngày mà không phải trả phí. Gần đây, tháng ba năm 2016, khi phí đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đột nhiên tăng cao, một số lái xe khách đã phản ứng bằng việc quay ngang xe chặn lưu thông qua trạm thu phí đường. Rồi biết đâu sẽ còn tiếp diễn các hành động phản ứng và phản đối khác từ phía người dân? Về bản chất, một khi người dân dù biết rằng đi con đường mới chất lượng tốt hơn thì có thể mất tiền mà không sẵn sàng trả, thì cần được hiểu rằng khả năng chi tiêu hằng ngày hay mức sống nói chung của họ đã đến giới hạn. Nếu họ không có lối thoát nào và vẫn phải đi, phải trả thêm tiền thì đồng nghĩa với việc các khoản chi khác hằng ngày sẽ phải cắt bỏ và đi kèm theo đó là đời sống xuống cấp một cách không tránh khỏi. Liệu rằng điều đó có đi ngược lại mục tiêu của nhà nước chúng ta, là “nhà nước phát triển”, “nhà nước kiến tạo” và “nhà nước vì dân” hay không ?  Đối với nền kinh tế, nếu tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào các dự án hạ tầng và giải ngân rộng rãi vốn tín dụng ngân hàng cho các dự án BOT như thời gian qua, hiệu quả tăng trưởng GDP ngắn hạn có thể đạt được. Tuy nhiên, đối với dài hạn, do thiếu nguồn vốn phân bổ cho các khu vực khác, đồng thời, bởi hiệu suất sử dụng các con đường cao tốc BOT, nếu có, chủ yếu gắn với tiêu dùng cá nhân hơn là sản xuất và dịch vụ, thì cho dù có thể không làm phát sinh thêm nợ xấu ngân hàng như đối với tín dụng bất động sản trước đây, tổng thể nền kinh tế vẫn sẽ phải trả giá do gánh nặng chi phí hạ tầng thông qua giá cả thương mại. Hệ quả là GDP sẽ đi xuống, các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ sẽ phá sản, đi kèm với thất nghiệp gia tăng. Khi ấy, sức chịu đựng của nền kinh tế sẽ tới hạn bằng việc ngân sách nhà nước phá sản do không còn thu đủ thuế để trả nợ và phải chăng sẽ là khởi đầu của một cuộc khủng hoảng ?  Từ góc độ lý thuyết phát triển, có một cách diễn đạt khác về câu chuyện này. Đó là một khi nỗi lo của các doanh nghiệp và người dân chủ yếu xoay quanh sự ứng phó với gánh nặng thuế, phí và toàn bộ sự sáng tạo của họ là loay hoay làm sao trả thuế, phí ít đi để tồn tại, người ta có thể nói đến trạng thái đặc thù của một “nền kinh tế ngân sách” hơn là “nền kinh tế quốc dân”, và đó là một trạng thái rất không bình thường.  ———–  * Luật sư, Văn phòng luật sư NHQuang & Cộng sự.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sức khỏe công cộng ở Việt Nam: Những ngộ nhận cơ bản      Ngành sức khỏe công cộng luôn có đóng góp quan trọng, nếu không muốn nói là hơn so với ngành y học lâm sàng trong việc bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của cả cộng đồng. Tuy nhiên, phải sau thời kì giải phóng, Việt Nam mới bắt đầu chú ý đến ngành khoa học này. Theo đó, các khoa chuyên ngành hoặc Đại học Y đều phải có bộ môn Y tế Công cộng. Chương trình học của sinh viên Y cũng phải có nội dung về Y tế Công cộng.     Tiêm cho từng người là việc của ngành y tế lâm sàng nhưng lên kế hoạch tiêm chủng trên diện rộng là nhiệm vụ của ngành sức khỏe công cộng. Ảnh: Trương Thanh Tùng  Nhờ đó, ngành sức khỏe công cộng của Việt Nam đã có những thành tựu nhất định, nhưng sự phát triển của ngành này trong những năm qua vẫn trì trệ mà phần lớn là do bộ máy hành chính quan liêu. Một trong những ví dụ mà tôi từng trải nghiệm đó là trong lĩnh vực giảng dạy. Theo đó, có quy định rằng: “70% chương trình học được quy định bởi Bộ Y tế và 30% là do các trường tự quyết định”. Đây thực sự là một điều nực cười bởi chẳng có cơ sở nào khả dĩ có thể phân định phần nào của Chương trình học thuộc về Bộ và phần nào thuộc về trường. Đó còn chưa kể là phần quy định của Bộ Y tế chi tiết quá mức cần thiết, với nhiều nội dung đã lạc hậu từ năm 2006. Thậm chí cả Bộ Giáo dục cũng muốn giành kiểm soát một phần (hoặc toàn bộ) miếng bánh chương trình học! Dĩ nhiên, sự quan liêu không chỉ ảnh hưởng đến chương trình học Y tế Công cộng mà còn cả ở việc tổ chức và sắp xếp các cơ quan liên quan đến lĩnh vực này. Chẳng hạn, Bộ Y tế không có một cơ quan chuyên trách nào phụ trách Y tế Công cộng. Tồi tệ hơn, mặc dù đã cố gắng nhiều lần nhưng tôi không thể kết nối với bất cứ ai ở Bộ Y tế về một cái nhìn toàn cảnh, mạch lạc về bức tranh Sức khỏe Công cộng ở Việt Nam.     Bài viết này xin chỉ ra những vấn đề chính của sức khỏe công cộng ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp hợp lý để giải quyết, dựa trên những gì tôi làm việc trong lĩnh vực này ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay. Đây là tóm tắt của báo cáo lớn “Chương trình Y tế Công cộng ở Việt Nam” của tôi, nhằm thúc đẩy một cuộc thảo luận cởi mở và rộng rãi giữa những người làm sức khỏe công cộng ở Việt Nam và cả những người đang coi nhẹ ngành này.  Thuật ngữ “Y tế Công cộng”  Thuật ngữ Tiếng Anh “Public Health” và cách dịch nguyên văn từ này sang các ngôn ngữ khác đã được sử dụng hàng thế kỉ ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Nếu dịch ra Tiếng Việt, “Public Health” phải là “Sức khỏe Công cộng” chứ không phải là “Y tế Công cộng” – từ mà Việt Nam đã dùng hàng chục năm nay. “Y tế” ở Việt Nam thường được hiểu là “Y học lâm sàng” hoặc “Bác sĩ”. Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới mắc sai lầm này.  Thế nào là “Sức khỏe Công cộng”?  Vì gọi tên sai thuật ngữ “Sức khỏe Công cộng” là “Y tế Công cộng”, không khó hiểu khi Việt Nam vẫn chưa thống nhất một định nghĩa cho ngành này.  Định nghĩa đầu tiên của khái niệm Sức khỏe Công cộng được đề xuất vào năm 1920 bởi Charles – Edward Amory Winslow, giáo sư tại Đại học Yale, Mỹ. Giám đốc cơ quan Y tế của Vương Quốc Anh và về sau Sir Donald Acheson, kế thừa và phát biểu súc tích hơn một chút. Theo hai người này, “Sức khỏe Công cộng là tập hợp những nỗ lực tổ chức cộng đồng nhằm nâng cao sức khỏe của họ”. Về sau này, các định nghĩa thường tùy ý liệt kê các hoạt động được cho là nằm trong những thành phần trong Sức khỏe Công cộng. Tuy nhiên, tất cả các định nghĩa theo kiểu liệt kê như vậy hoàn toàn vô ích.  Định nghĩa của tôi gần gũi với quan điểm của Winslow và Acheson và nhấn mạnh thêm vào sự khác biệt giữa Sức khỏe Công cộng và Y học lâm sàng: “Sức khỏe Công cộng là toàn bộ những hoạt động lý thuyết và thực hành liên quan tới sức khỏe con người và hướng tới toàn thể cộng đồng chứ không phải là những cá nhân cụ thể trong cộng đồng đó”. Để độc giả có thể hình dung rõ hơn, tôi xin nêu ra một ví dụ: tiêm chủng cho một người cụ thể là hoạt động Y học lâm sàng nhưng lên kế hoạch và tổ chức một chương trình tiêm chủng là thuộc về lĩnh vực Sức khỏe Công cộng.  Tài liệu cho giảng viên  Hiện tại, giảng viên của Việt Nam không được tiếp nhận một chương trình đủ sâu sắc và bao quát các vấn đề của bộ môn Sức khỏe Công cộng để về sau họ có đủ sự linh hoạt trong việc thiết kế chương trình dạy. Về cơ bản, bộ sách dùng để nâng cao chất lượng giảng viên cần có các nội dung: 1) Dịch tễ học (lĩnh vực nền tảng của sức khỏe công cộng), 2) Giáo dục sức khỏe, 3) Khoa học dân số và Y tế Công cộng, 4) Toán học và Thống kê trong khoa học y tế, 5) Sức khỏe môi trường – các nguyên lí cơ bản, 6) Dinh dưỡng – Quan điểm dịch tễ học, 7) Y học cổ truyền và Y học thay thế trong sức khỏe công cộng. Ở Việt Nam đã có hai bộ sách bao trùm các vấn đề này, trong đó có một bộ sách do tôi là tác giả, được xuất bản dưới dạng song ngữ Anh-Việt.  Ngoài ra, có một số nội dung quan trọng nhưng chưa được viết thành sách về các lĩnh vực như “Quy hoạch sức khỏe, Quản lý sức khỏe, Kinh tế sức khỏe” trong tình hình Việt Nam, “Sức khỏe Công cộng và Luật pháp” (đừng nhầm lẫn với “Y học và Luật pháp”), “Đạo đức trong Sức khỏe Công cộng” (hoàn toàn khác với “Y đức”).  Giáo trình cho sinh viên  Chương trình dạy chuyên môn cho sinh viên cần bốn nhóm mô-đun, xếp theo thứ tự quan trọng đến ít quan trọng hơn bao gồm:  Nhóm 1 là các công cụ khoa học nền tảng cho việc thực hành và nghiên cứu Sức khỏe công cộng bao gồm: Toán học (đặc biệt là Toán thống kê), Khoa học máy tính, Dịch tễ học, Vật lý, Hóa học, Sinh học  Nhóm 2 là những chủ đề gần gũi với Y học lâm sàng như: Di truyền quần thể (khác với di truyền vi sinh vật), Miễn dịch quần thể (không phải là miễn dịch vi sinh vật) và Y học cổ truyền  Nhóm 3 là những chủ đề bổ trợ trực tiếp cho việc thực hành y tế công cộng bao gồm: Nhân khẩu học (khoa học dân số), Giáo dục sức khỏe, Sức khỏe môi trường, Dinh dưỡng, Thử nghiệm lâm sàng, Các hoạt động Sức khỏe công cộng ở Việt Nam  Nhóm 4 là vấn đề của Sức khỏe Công cộng bao gồm: Quy hoạch sức khỏe và quản lý sức khỏe, Kinh tế sức khỏe, Sức khỏe công cộng và luật pháp, Đạo đức sức khỏe công cộng  Bằng cấp trong ngành Sức khỏe Công cộng  Tôi đã thấy sự lộn xộn với đủ loại chương trình giảng dạy Sức khỏe Công cộng dành cho các bằng cấp khác nhau tại các trường Đại học ở Việt Nam. Tôi nghĩ rằng chỉ nên có ba loại bằng Y tế Công cộng bao gồm:  1. Bằng Cử nhân về Sức khỏe Công cộng  2. Bằng Thạc sĩ về Sức khỏe Công cộng  3. Bằng Tiến sĩ (Ph.D.) về Sức khỏe Công cộng  Mỗi Khoa Sức khỏe Công cộng sẽ tập trung vào chương trình Cử nhân trước. Chương trình cho Thạc sĩ và Tiến sĩ sẽ được bổ sung ngay sau khi Khoa có đủ giảng viên để triển khai.  Tôi cho rằng, không nên xây dựng giáo trình của chương trình cả ba bậc Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ độc lập nhau. Sẽ không hợp lý nếu yêu cầu một sinh viên đã có bằng Cử nhân Sức khỏe Công cộng và quyết định tiếp tục học lên bậc Thạc sĩ phải “học lại từ đầu”. Thay vào đó, có thể chúng ta sẽ coi chương trình dành cho khóa Cử nhân như là một phần của chương trình học Thạc sĩ, với số mô-đun ít hơn.  Tiếp theo, tôi muốn nhấn mạnh, đó là Khoa Sức khỏe Công cộng trong một Đại học Y khoa không chỉ nhằm mục đích đào tạo ra các chuyên gia Sức khỏe công cộng mà đồng thời cũng chuyển tải những khái niệm quan trọng nhất của Sức khỏe Công cộng tới các bác sĩ tương lai. Mục đích của điều này là tạo ra một nền tảng để hai ngành này có thể hợp tác với nhau – điều hiện nay tôi hầu như không thấy ở Việt Nam. Khi khái niệm Sức khỏe Công cộng bắt đầu bén rễ ở Việt Nam, người ta từng thống nhất chung rằng giáo trình Y khoa trong sáu năm đầu phải có một phần dành cho lĩnh vực Sức khỏe Công cộng, và phần đó là do Khoa Sức khỏe công cộng đảm nhiệm và xây dựng dành cho các sinh viên y khoa. Tôi tin rằng nội dung giảng dạy cho sinh viên y nên bao gồm:  – Khái niệm và lịch sử của ngành Sức khỏe Công cộng  – Dịch tễ học, bao gồm Thử nghiệm lâm sàng  – Giáo dục sức khỏe, bao gồm Vệ sinh  – Sức khỏe môi trường  – Dinh dưỡng  Để đưa những nội dung giảng dạy này thành hiện thực, tôi nghĩ điều này là việc của tất cả các trường, khoa về Sức khỏe Công cộng trên cả nước. Tôi phải nhấn mạnh rằng giáo trình ở các nơi khác nhau phải có điểm tương đồng để cho phép một sinh viên có thể chuyển từ Đại học này sang Đại học khác hoặc về sau là từ nơi làm việc này sang nơi làm việc khác.  Từ vấn đề hành chính quan liêu phía trên, một cách thức hợp lý để có thể giải quyết được vấn đề về sự thống nhất này đó là:  Các trường, Khoa Sức khỏe Công cộng ở Việt Nam phải thành lập “Hội đồng giảng dạy Sức khỏe Y tế Công cộng”. Hội đồng này sẽ chịu trách nhiệm đề ra chi tiết những giải pháp cho những ý tưởng tôi đề xuất phía trên. Họ sẽ xem xét và đa phần các Khoa Y tế Công cộng ở Việt Nam sẽ sử dụng một giáo trình với các mô-đun có nội dung thống nhất. Họ cũng sẽ xây dựng một giáo trình có chất lượng khoa học cao, dựa vào ý kiến đầu vào của tất cả các trường đại học. Hội đồng này còn có một nhiệm vụ khác, đó là giúp các sinh viên hoàn thành các bậc học có thể tìm được địa chỉ làm việc phù hợp. Hội đồng này có thể đặt ở một Đại học và tập hợp thông tin từ những người có năng lực và uy tín với kinh nghiệm làm việc lâu năm và bao quát trong lĩnh vực Sức khỏe Công cộng ở Việt Nam.  Tuyển sinh  Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam có một quy định bất thành văn là sinh viên nào không đỗ Đại học ngành Y thì sẽ chuyển sang học Y tế Công cộng. Điều này thực sự có tác động vô cùng tiêu cực tới sức khỏe của cộng đồng. Chúng ta phải xác định quy chế tuyển sinh riêng cho ngành Y tế Công cộng và độc lập với quy chế tuyển sinh cho ngành Y, để có những sinh viên tốt nghiệp có chuyên môn cao. Điều này có nghĩa là, họ phải được lựa chọn dựa trên khả năng thực hành Sức khỏe Công cộng về sau. Và như vậy, tiêu chí tuyển sinh cho bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ ngành Sức khỏe công cộng sẽ không giống nhau!  Luôn luôn phải có một loạt các tiêu chí tuyển sinh đa dạng, chứ không phải chỉ một tiêu chí là đủ. Cho ba bậc học, ngoài phải hoàn thành bậc phổ thông, ứng viên còn cần có tri thức trong một vài lĩnh vực đời sống nhất định. Chẳng hạn, để đăng ký học Cử nhân Sức khỏe Công cộng, ứng viên cần có kinh nghiệm trong lĩnh vực phụ trợ ngành sức khỏe, chẳng hạn như làm Trợ lý kỹ thuật Y khoa hoặc là phụ tá cho một bác sĩ. Để được tuyển vào ngành Thạc sĩ Y tế Công cộng, một người phải có kinh nghiệm và trải nghiệm văn hóa nghiên cứu. Chẳng hạn như ứng viên đó nên trình bày những nghiên cứu trước của mình và nếu có thể thì cả những kinh nghiệm trước đây trong lĩnh vực giáo dục, tâm lý, y, thống kê hoặc khoa học máy tính. Cho bằng Tiến sĩ, ứng viên thậm chí phải có chuyên môn về Toán học, Nhân khẩu học, Địa lý hoặc một ngành khoa học tự nhiên nào đó như Vật lý chẳng hạn.  Vị thế của người làm Y tế công cộng  Ở Việt Nam, tôi thi thoảng có dịp nói chuyện với những người trẻ tốt nghiệp phổ thông và dự định nộp đơn học Y. Tôi hỏi họ tại sao họ không chọn ngành Sức khỏe Công cộng. Câu trả lời hầu như đều giống nhau: “Là bác sĩ thì tôi kiếm được nhiều tiền hơn”.  Tình hình này cũng hết sức đáng ngại cho sức khỏe của dân số. Tôi đề xuất nhìn lại các giải pháp giúp cho những cán bộ khoa học Sức khỏe Công cộng trong các Đại học, các giảng viên và Giáo sư, một “địa vị”, hay một “vị thế” tương đương với những cán bộ ngành Y.  Vị thế của giảng viên Sức khỏe Công cộng không chỉ được quyết định bởi lương của họ mà còn nhiều yếu tố khác. Đầu tiên, các y bác sĩ trong các Khoa Y và các phòng khám liên kết với nó thường có thể kiếm thêm thu nhập ngoài lương. Liệu các giảng viên Y tế Công cộng có thể có những cơ hội tương tự? Tôi không nghĩ điều đó khó. Tiếp theo là số giờ giảng: Một giảng viên ngành Y tế công cộng phải giảng dạy bao nhiêu giờ mỗi tuần? Họ có bao nhiêu thời gian để làm nghiên cứu, và họ có phải chia sẻ các việc công ích khác không? Liệu các Đại học có nỗ lực để mô tả công việc của giảng viên Sức khỏe Công cộng trên báo chí nhiều như họ ca ngợi những y bác sĩ?  Trong Đại học công lập, sẽ không có gì khó để thiết kế các chức danh của cán bộ khoa học trong Khoa Sức khỏe Công cộng tương ứng với các chức danh của các cơ sở Y khoa. Trong Đại học Tư nhân, để làm được điều đó có thể sẽ cần một quyết định đặc biệt.  Tạm kết  Tóm tắt trên đã giúp người đọc có một hình dung rõ ràng về mục tiêu và cấu trúc của chương trình của tôi. Tôi sẽ viết tiếp các vấn đề khác về Sức khỏe công cộng ở Việt Nam trong tương lai. Chẳng hạn như:  – Việc làm tương lai của những sinh viên tốt nghiệp các bậc học ngành Sức khỏe Công cộng.  – Sức khỏe Công cộng bên ngoài trường đại học: các cơ sở nghiên cứu, các công việc liên quan đến đào tạo và thực hành.  – Sự khác biệt giữa các bệnh nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn: Viện Vệ sinh Dịch tễ học (NIHE) là một đơn vị chuyên về các bệnh nhiễm khuẩn và việc cần phải có một cơ quan tương đương phụ trách các bệnh không nhiễm khuẩn là vô cùng cần thiết. Cũng cần nói rõ rằng, dù NIHE là một đơn vị lớn với mạng lưới các cơ sở trực thuộc phủ khắp cả nước nhưng cơ quan phụ trách các bệnh không nhiễm khuẩn này không thể trực thuộc NIHE.  – Một thư viện số các nghiên cứu khoa học liên quan đến Sức khỏe Công cộng ở Việt Nam và một “Nhà xuất bản Sức khỏe Công cộng”.  – Các vấn đề Sức khỏe Công cộng gây ra do quản lý các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân thiếu chặt chẽ.□  Hảo Linh dịch    Author                Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Sức mạnh nào sau tấm thảm chấn động chính trường?      Chỉ một tấm thảm của Bộ trưởng Hợp tác và  Phát triển LB Đức Dirk Niebel được chuyên chở theo đường công vụ trốn thuế đã  tạo nên sóng gió chính trường, bởi như bất kỳ hàng hoá nào, chúng mang  trong mình bản chất của một nhà nước và xã hội được thiết chế kiểm soát  tự động, không thể không vận hành trước bất kỳ tiếng nói nào của người  dân!     Ngày 20/5/2012, sân bay Schönerfeld, Đức, nhộn nhịp máy bay cất hạ cánh như thường nhật, chỉ khác trong số đó, tại khu vực được an ninh phong toả, đáp xuống phi trường một chiếc én bạc xám Dessault Falcon 900EX, biển hiệu D-AZEM chở Gerhard Schindler, Giám đốc Tình báo Đức BND biệt phái từ Afghanistan trở về – quan chức duy nhất ở Đức được sử dụng riêng một máy bay cho các chuyến đi bí mật. Từ khoang chứa đồ, bên cạnh hành lý của Giám đốc, cần vụ kéo xuống một khối hình trụ nặng 30 kg, bên cạnh đã đợi sẵn một xe chuyên dụng của Bộ Hợp tác và Phát triển Liên bang. Khối hình trụ trên không phải đồ đoàn gì bí mật của cơ quan tình báo mà là một tấm thảm rộng 9m2. Vụ giao nhận diễn ra như trong chớp mắt, tài xế nhanh chóng rời phi trường phóng thẳng hướng trung tâm, không hề qua bất cứ kiểm tra nào của cảnh sát hay hải quan. Trong khi đó, mọi hàng hoá xuất nhập cảnh theo đường hàng không bị giới hạn trọng lượng, nếu quá phải trả cước phí cao. Cước phí vận chuyển tấm thảm trên được Hãng vận tải DHL sau này cho biết biểu giá 3.840 Euro, thuế giá trị gia tăng theo biểu thuế Bộ Tài chính hết 200 Euro.   Tấm thảm 30 kg ngang nhiên qua mặt thuế vụ, lại được chuyên chở theo con đường công vụ, nhanh chóng, không tốn chi phí, vốn là những dấu hiệu vụ lợi chức quyền, trốn thuế, sao nhãng việc công, lập tức đánh vào ý thức chủ nhân đất nước của những nhân viên công vụ trực tiếp thực hiện các giao dịch trên, được họ chuyển thư nặc danh tới nghị sỹ đảng SPD Linken và tạp chí uy tín Focus, đồng nghĩa đưa nó ra ánh sáng chính trường và công luận; ngay lập tức trở thành tâm điểm truyền thông ra sức khai thác, vốn là động lực sống còn tự nhiên của nó.   Chủ nhân tấm thảm ngay sau khi được Focus công bố danh tính là ông Niebel, 49 tuổi, thuộc đảng FDP, đương kim Bộ trưởng Hợp tác và Phát triển Liên bang Đức, giới báo chí lập tức dồn dập liên hệ phỏng vấn và được Niebel thẳng thắn xác nhận – một đức tính hành xử trước truyền thông mà chính khách bắt buộc phải có, nếu không sẽ bị đào thải dù tài đức được cho là cao siêu tới mấy, điển hình là vụ Cựu Tổng thống Wulff phải từ chức ba tháng trước cũng vì lỗi này. Niebel giải trình: Hai tháng trước đó, trong một chuyến công vụ tại Kabul, ông đã tranh thủ ngoài giờ mua nó với giá 1.400 đô la. Do không thể mang theo tấm thảm lúc trở về Đức, nên ông gửi lại Đại sứ quán Đức và nhờ khi nào có máy bay Chính phủ qua gửi họ chuyển giùm. Tới giữa tháng 5, một nhân viên Đại sứ quán nhắn e-mail cho một cấp dưới của Niebel, thông báo đang sẵn chuyến bay của BND có thể mang theo tấm thảm được. Niebel coi đó là dịp may, nhờ mang hộ, không hề thoả thuận cước phí phải trả khi vận chuyển hàng hoá cho khách hạng VIP. Ông thừa nhận sai phạm, thậm chí mang cả chiếc thảm tới cuộc họp báo giải trình hiện vật, theo đuổi giải toả mọi cáo buộc, ngờ vực do truyền thông đặt ra, gửi tuyên bố tới TTX Đức DAPD: “Tôi rất đau buồn, đã khai báo và nộp thuế, phí hải quan trễ“ và “hưá bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình đối với vụ việc xảy ra, nộp thuế và cả tiền phạt theo quyết định của Hải quan“, “Sẽ không lặp lại lần hai, đồng thời gửi lời xin lỗi đã gây phiền lụy tới giám đốc BND, ông Schindler“.  Tới lượt Schindler cũng bị liên đới, bị báo chí gọi điện tới tấp phỏng vấn, trả lời tới nay ông mới biết đó là hành lý cá nhân; khi nhận lời mang giúp, ông chỉ nghĩ đó là quà tặng trong chuyến công vụ của Niebel, được luật pháp cho phép.   Các cuộc phỏng vấn cấp tập cả hai nhân vật, cộng hưởng nhau trở thành đề tài truyền thông nóng bỏng mang tên vụ Bê bối Tấm thảm, tạo sức ép khủng khiếp, gây hiệu ứng tức thì: Niebel ngay sau khi bị phỏng vấn đã phải tức tốc đệ đơn khai báo Hải quan xin nộp phí và thuế truy thu. Cái sẩy nảy cái ung, lẽ ra hàng Afghanistan vào Đức được ưu đãi miễn phí Hải quan, nhưng do hành vi trốn thuế, Niebel lại bị cắt ưu đãi. Không dừng ở đó, mục đích truyền thông không nhằm cá nhân hay vụ việc, mà xa hơn tìm kiếm sự thật có ý nghĩa cho toàn dân, đặt ra hàng loạt câu hỏi ngỏ cho công luận và chính quyền, Bộ trưởng không thể tự làm một mình, vậy những ai đã trực tiếp tham gia, diễn tiến thế nào? Chi phí vận tải bao nhiêu? Nộp thuế muộn bị phạt hình sự ra sao? Nhà nước vận hành như thế nào để xảy ra bê bối? Ai chịu trách nhiệm?   Cái gì phải đến tất sẽ đến; truyền thông tự do là hàn thử biểu xã hội, phản ảnh tập trung nhất ý kiến, đòi hỏi của dân chúng, lập tức chấn động dây chuyền sang chính trường, tới mọi đảng phái sinh ra chỉ vì lợi ích người dân buộc phải lên tiếng, tới mọi cơ quan công quyền vốn có chức năng công bộc phải giải quyết kịp thời, nếu không sẽ bị coi hoặc thiếu trách nhiệm trước dân, hoặc bất lực không thể đảm đương phận sự. Viện Kiểm sát Berlin là cơ quan liên đới đầu tiên, phải ra tuyên bố cho điều tra tạm thời xem liệu vụ bê bối có dấu hiệu hình sự hay không để ra quyết định điều tra chính thức. Còn phát ngôn viên Hải quan sân bay Frankfurt thì khẳng định về mặt nghiệp vụ: Nếu có trách nhiệm đóng thuế mà không khai báo Hải quan thì đó là một hành vi cấu thành tội danh tìm cách trốn thuế. Là người chịu trách nhiệm đề cử Bộ trưởng, Thủ tướng Merkel phản ứng nhanh chóng đòi Niebel: “Phải thực hiện ngay và đầy đủ trách nhiệm thuế Hải quan“, bởi nếu Thủ tướng không lên tiếng sẽ bị mặc nhiên coi là đồng tình.   Tại cuộc họp báo chí Chính phủ, liên quan tới vụ bê bối, Phát ngôn viên của Thủ tướng và Bộ trưởng Niebel phải dành tới 30 phút báo cáo vụ việc và trả lời chất vấn. Khi truyền thông cho biết tiếp, tấm thảm không phải mua ở chợ như Niebel giải thích ban đầu, mà được thương gia mang vào Đại sứ quán chào bán cho nhiều người. Lập tức, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao phải giải trình trước câu hỏi, chẳng nhẽ Đại sứ quán được biến thành cửa hàng tạp hoá?   Là cơ quan quyền lực cao nhất, đóng vai trò trung tâm chính trường, nơi phản ảnh tập trung nhất hoạt động mọi đảng phái, Quốc hội đương nhiên trở thành tâm điểm chấn động. Với tần suất họp chất vấn chính phủ liên tục cách một tuần một lần vào thứ 4, trước một lực lượng hùng hậu, chuyên nghiệp tới 622 nghị sỹ, được một lực lượng nhân viên giúp việc chuyên môn đông gấp ba lần thế (một nghị sỹ có ba giúp việc), buổi chất vấn Niebel diễn ra ngay trong tuần phát sinh bê bối, sôi sục nghị trường, đòi Niebel phải tường trình tỷ mỉ vụ việc, không được bỏ sót bất cứ tình tiết nào, từ mua tới cất đặt, vận chuyển, thời gian, những ai tham gia, liệu có dấu hiệu vi phạm hình sự hay không? Mở đầu buổi chất vấn, Niebel lên bục diễn đàn giải trình vụ bê bối 3 phút, thừa nhận sai phạm nhờ BND chở chiếc thảm tài sản riêng và tới Berlin không đóng thuế Hải quan; tiếp đó trả lời các ý kiến chất vấn. Với nghị sỹ phe đối lập có chức năng giám sát, phản biện các chính sách đảng cầm quyền, vụ bê bối được coi là một bằng chứng cầm quyền yếu kém của bộ trưởng, cần được làm rõ. Niebel bị chỉ trích từ nhiều góc độ, bị cáo buộc hành xử theo cung cách của một nền kinh tế “gia đình“ (lấy lợi ích gia đình làm mục tiêu), gây tổn hại cho BND, một cơ quan nhà nước độc lập. Nghị sỹ đảng SPD thẳng thừng: Trong lịch sử Đức, chưa có bộ trưởng nào lạm dụng điạ vị không biết xấu hổ như Niebel. Liệu chúng ta có đủ uy tín đòi hỏi chính phủ các nước đồng minh phải điều hành tốt, trong khi bộ trưởng chúng ta tới nước họ làm điều ngược lại. Quốc hội họp không phải để giải quyết chiếc thảm mà giải quyết chính vai trò của Bộ trưởng, ông ta phải từ chức. Còn nghị sỹ đảng Linken: Ngài vào một vùng bất ổn với mục đích cứu giúp, nhưng khi ra thì mang theo lợi lộc. Mua thảm không thuộc công vụ, nhất là trong một vùng người dân chết hàng ngày vì chiến tranh. Đảng Xanh: Vụ bê bối là một sự ngu xuẩn làm hỏng chính trị nước Đức. Tại sao ngài không nghĩ được hành vi đó là vụ lợi. Diễn ra ở nước ngoài, nên làm mất cả thể diện nước Đức trên trường quốc tế, chưa nói thảm đó sử dụng cả lao động trẻ em vốn ở Đức bị bài xích. Dưới sức ép nghị trường, trước đảng viên của mình, Chủ tịch gốc Việt Rösler và nghị sỹ đảng FDP chỉ có thể cố gắng cứu vãn cho Niebel tránh bị buộc từ chức, vớt vát với lý do, Niebel đã khai báo chịu truy thu thuế và giải trình rõ ràng. Lý giải cho việc Niebel mua thảm ở toà nhà Đại sứ quán và nhờ họ giúp đỡ chẳng qua do Niebel sau công việc vừa không có thời gian, vừa an ninh nguy hiểm không thể tới chợ được, và toà đại sứ cũng khuyên như vậy. Tới lượt một nghị sỹ đảng SPD từng làm Quốc vụ khanh của Bộ tài chính, trước lúc chất vấn đã xem lại các điều luật thuế và đặt câu hỏi điểm huyệt: Ngài đã thanh toán tiền chuyên chở chưa vậy? Còn nếu không, ngài phải nộp thuế khoản tư lợi đó. Ngài đã thực hiện chưa? Niebel lúng túng, ngắc ngứ, tới mức khi kết thúc buổi chất vấn, lên bục diễn đàn than thống thiết, cay đắng: “Tôi đã phạm sai lầm, đã chịu trách nhiệm với nó, và một lần nữa tôi khẳng định điều đó trước Quốc hội hôm nay. Và hỡi các đồng nghiệp thân yêu, cùng các ông các bà đáng kính, các ngài có thể yên tâm rằng, không ai tức giận đau đớn đối với vụ bê bối hơn chính bản thân tôi. Ngàn vạn lần xin cảm ơn các ngài!“  Họa vô đơn chí, dù đã thành thật xin lỗi trước Quốc hội, Niebel vẫn không thể thoát ra khỏi hệ luỵ bê bối. Quy trình điều tra công vụ Đức bao giờ cũng được tiến hành với tất cả mọi nhân vật liên quan dù ít, dù nhiều. Bức thư Schindler gửi tường trình Quốc hội gồm 16 điểm cho biết trước khi máy bay cất cánh, nhân viên BND đã ý thức được trách nhiệm gọi điện cho Bộ Hợp tác Phát triển, đòi phải tự lo các thủ tục hàng đi kèm nhập cảnh, nếu không sẽ không chở, đã không được Niebel giải trình càng làm cho Phe đối lập tức giận cáo buộc Niebel thêm tội lừa dối, tiếp tục đòi Thủ tướng phải thải hồi. Hệ lụy không dừng ở đó, khi truyền thông đang như lửa được đổ thêm dầu, chiếc máy bay BND không chỉ chở tấm thảm của Niebel mà cả tấm thảm của chính Schindler được tặng lúc tới thăm một cơ sở Afghanistan. Lập tức truyền thông đặt câu hỏi, liệu còn tấm thảm thứ ba? Schindler phải viết báo cáo tường trình cho Văn phòng Chính phủ cơ quan giám sát bộ máy hành chính: Tôi cũng chở một tấm thảm quà tặng, nhưng không giữ làm của riêng mà giao cho BND sử dụng, được một nhân viên trong đoàn đề xuất mang kèm về nước. Schindler bị cho là thủ phạm đề xuất chở thảm cho Niebel, và chở cả cho chính mình. Vụ bê bối tấm thảm rốt cuộc chuyển hướng sang cả Schindler, bị yêu cầu điều trần trước Ủy ban Quốc hội giám sát cơ quan tình báo BND triệu tập bất thường, thành phần bao gồm nghị sỹ các đảng phái, nhằm giải quyết một vấn đề mang tính pháp lý, liệu máy bay đặc dụng có được phép chở thảm?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sức mạnh Tòa Bảo hiến, nhìn từ trường hợp nước Đức với Hiệp định ESM      Sau khi dự luật tham gia Hiệp định ESM (Quỹ bình ổn  châu Âu) được cả Hạ viện lẫn Thượng viện Đức thông qua quá bán,  đơn kiện khẩn cấp dồn dập gửi tới Tòa Bảo hiến đòi ra án quyết tạm thời  yêu cầu Tổng thống dừng phê chuẩn chờ Tòa xét xử chính thức.     Bất ổn tài chính châu Âu kéo dài đã hai năm nay, và ESM (European Stability Mechanism), cũng cùng chung số phận bấp bênh không kém ngay từ khi khởi đầu thành lập với tên gọi EFSF (European Financial Stability Facility). Khi đó EFSF cam kết bảo lãnh tài chính cho Ireland 85 tỷ Euro, Bồ Đào Nha 78 tỷ, và tiếp theo Hy Lạp 110 tỷ. Dù vậy Hy Lạp vẫn bị đe doạ vỡ nợ, Ý và Tây Ban Nha rơi vào nguy cơ tương tự, buộc 17 quốc gia EU tham gia EFSF phải đưa ra dự luật mở rộng Quỹ lên 700 tỷ Euro, trong đó IWF đóng góp 250 tỷ, ngân sách EU chịu 60 tỷ, riêng nước Đức gánh cao nhất tới 211 tỷ. Với mức trên, chỉ cần 10 năm con nợ không trả nổi lãi vay, thì Đức phải gánh mức bảo lãnh lên tới 400 tỷ Euro, ngang ngửa thu ngân sách Đức trọn một năm; chính trường Đức lập tức sôi sục, lên đỉnh điểm khi thông qua nó với 523 phiếu thuận, 85 phiếu chống và 3 phiếu trắng tại phiên họp Quốc hội Đức tháng 9 năm ngoái sau hàng loạt ý kiến đăng đàn bác bỏ chỉ trích kịch liệt lẫn nhau giữa các nghị sỹ, các đảng phái vốn dựa trên những dữ liệu, nhìn nhận đánh giá riêng của từng người từng bên.   Đầu năm nay, nhằm bảo đảm sức mạnh lâu dài của liên minh tiền tệ và kinh tế EU, các bộ trưởng tài chính EU quyết định, từ 1/7/2012, đưa ESM vào hoạt động thay thế EFSF, đòi hỏi cả 17 nước thành viên phải ký kết. ESM với vốn điều lệ 700 tỷ Euro, trong đó 80 tỷ Euro đóng trực tiếp, có chức năng cấp tín dụng hoặc bảo lãnh tài chính hoặc mua trái phiếu cho những quốc gia khu vực đồng Euro có nguy cơ mất khả năng thanh toán, nếu họ cam kết thực hiện đầy đủ các điều kìện khắc phục nguy cơ đó. ESM được điều hành bởi một hội đồng gồm bộ trưởng các nước thành viên; quyết định cấp tín dụng khẩn cấp sẽ được thông qua theo nguyên tắc đạt tối thiểu 85% số phiếu biểu quyết tính theo tỷ lệ góp vốn.  Dự luật tham gia Hiệp định ESM, được Chính phủ Đức thông qua đầu tháng 3, với mức góp vốn 27,1 tỷ Euro và nhận bảo lãnh 168,3 tỷ Euro. Sau 3 tháng tranh cãi sôi sục chính trường, cuối tháng 6/2012, dự luật được cả Hạ viện lẫn Thượng viện Đức thông qua quá bán. Nhưng được thông qua, không có nghĩa luật tham gia ESM đúng100%, chắc chắn thành công, người dân chỉ việc an hưởng không cần phải suy nghĩ liệu có bị liên can gì hay không, mà chỉ là một phương án lựa chọn theo số đông, trong khi rủi ro tài chính khó nói chắc trước, hậu họa phải gánh rốt cuộc vẫn không ai khác ngoài người dân, nên họ không thể yên, ý kiến đối lập cứ sôi sục chính trường lo ngại hậu hoạ ESM sẽ mang tới cho nước Đức rủi ro tài chính không thể lường được và vi phạm quyền Quốc hội quyết định ngân sách.  Một khi lợi ích, thỉnh nguyện của một hoặc một bộ phận người dân không được cả chính phủ lẫn quốc hội đáp ứng, thì nguyên lý mọi công dân đều đồng chủ nhân đất nước và bình đằng trước pháp luật phải mở cho họ con đường giải quyết pháp lý, nếu không bất ổn xã hội và chính trị sẽ tích tụ, bằng cách viện tới Tòa Bảo hiến có chức năng ra phán quyết về các văn bản pháp lý do chính phủ và quốc hội thông qua có tuân thủ hay không Hiến pháp vốn được coi là thước đo, chuẩn mực, quy tắc xử sự, giới hạn pháp lý nhà nước được phép làm.   Chỉ trong 10 ngày, các đơn kiện khẩn cấp dồn dập gửi tới Tòa Bảo hiến đòi ra án quyết tạm thời yêu cầu Tổng thống dừng phê chuẩn chờ Tòa xét xử chính thức, gồm đơn của đoàn đảng Linke trong Quốc hội và của riêng một nghị sỹ đảng này, của một nghị sỹ đảng liên minh cầm quyền CSU, của Hiệp hội Tăng cường dân chủ (Mehr Demokratie) đã thu thập được tới 37.000 chữ ký công dân do một Cựu Bộ trưởng Tư pháp Liên bang đảm trách, của năm giáo sư kinh tế Đức nổi tiếng, và của các công dân, đòi Đức không ký Hiệp định ESM. Nghị trường nóng bỏng tới mức, dù Quốc hội Đức được một tháng ngừng hoạt động để nghị sỹ nghỉ phép năm trong một tháng hè, họ cũng bị yêu cầu chọn chỗ nghỉ gần nhất để có thể triệu tập họp bất thường; Chủ tịch Quốc hội Đức lưu ý nửa hài hước: Xin các ngài đừng tắm biển quá xa và hành lý phải luôn túc trực sẵn sàng. Cả nước Đức thấp thỏm, uy tín chính trị đảng cầm quyền bấp bênh cho tới ngày 12/9 vừa qua mới được khẳng định khi Tòa Bảo hiến công bố án quyết.   Bản án dài tới 26.637 chữ, (trong khi Hiến pháp Đức chỉ dài 21.898 chữ), tới 317 lần xuống dòng, do 8 thẩm phán ký, sau chừng 80 ngày nghiên cứu, để lập luận đi đến 2 quyết định: 1- Bác bỏ các đơn kiện khẩn cấp của các nguyên đơn. 2- Tuy nhiên, Đức chỉ được phép ký Hiệp định ESM, khi về mặt luật pháp quốc tế phải thoả mãn được hai điều kiện cho nước Đức: – Chỉ tham gia ở giới hạn 190 tỷ Euro, (trong khi điều §25 Hiệp định ESM đòi tự động nâng giới hạn đóng góp của mỗi nước một khi những nước khác không thể đóng góp nổi chẳng hạn). Ràng buộc trên nhằm cho phép nước Đức rút lại trách nhiệm, trong trường hợp Quỹ ESM rơi vào tình huống đổ thêm vào bao nhiêu tiền cũng không đủ. Tuy nhiên nước Đức vẫn có thể tham gia ESM vượt quá giới hạn trên, với điều kiện được Quốc hội Đức thông qua qúa bán, tức Quốc hội phải giám sát được hoạt động nhân sự phía Đức nằm trong ESM. – Để bảo đảm quyền giám sát đó, các quy định về quyền miễn trừ và trách nhiệm giữ bí mật nghề nghiệp của nhân sự ESM (phía Đức) không được cản trở trách nhiệm họ phải báo cáo đầy đủ với Thượng và Hạ viện Đức.   Đức là nước duy nhất trong số 17 nước tham gia, chưa ký Hiệp định ESM, nên phán quyết của Tòa Bảo hiến được Chủ tịch đảng CDU, Thủ tướng Đức, bà Merkel, đón nhận hồ hởi, coi đây là “một ngày sáng sủa của nước Đức và của châu Âu“. Chủ tịch đảng FDP, Phó Thủ tướng Đức gốc Việt Rösler cho đó là “một bước đi quan trọng bình ổn đồng Euro“, Chủ tịch đảng SPD đối lập đánh giá là “một tin tốt đẹp cho hàng triệu người lao động“. Đảng đối lập Linke, nguyên đơn trong vụ kiện, tỏ rõ thất vọng, coi phán quyết Tòa là “giờ phút chào đời của đứa con chung nợ nần“. Còn Nghị viện châu Âu tiếp nhận án quyết đúng lúc đang phiên họp ở Straßburg, tất cả vỗ tay nhiệt liệt.   Hiến pháp là thước đo các văn bản luật, tuy nhiên nó không có khả năng tự đo, phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức của đoàn thẩm phán Tòa Bảo hiến; mức độ họ cầm thước đúng sai được phản ảnh ở tỷ lệ ủng hộ của dân chúng, bởi suy cho cùng, Tòa Bảo hiến cũng chỉ là công cụ phục vụ cho lợi ích của người dân, lợi ích đó chính là thước đo cao nhất đối với bất cứ quyết sách nào dù của toà án, hay quốc hội, chính phủ.   Theo kết qủa thăm dò dư luận N24-Emnid-Umfrage, án quyết được 46% người trả lời đánh giá đúng, 35% sai. Tuy nhiên chỉ có 35% cho rằng Tòa phán quyết thuần túy trên góc độ pháp lý, tức dựa vào chuẩn mực Hiến pháp, tới 42% cho rằng Tòa không muốn bác bỏ ESM chỉ vì lo ngại khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nghĩa là bị ảnh hưởng chính trị, vi phạm chức năng độc lập của Tòa án.  Còn nhà luật học nổi tiếng Đức, Herbert von Arnim thì đặt câu hỏi cảm thán, “cuối cùng mọi vấn đề được Tòa đặt vào tay nghị sỹ, nhưng liệu những bàn tay đó có bảo đảm tốt ?“. Rốt cuộc dù sức mạnh Tòa án Bảo hiến tới đâu, Quốc hội, Chính phủ có mạnh tới cỡ nào, thì nó cũng chỉ là phương tiện, không thể để phó mặc, người dân vẫn phải đóng vai trò chủ nhân bằng chính kiến và tiếng nói của mình; thời đại này, không một cơ quan nhà nước, toà án nào thay được vai trò đó của họ!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy dinh dưỡng làm giảm khả năng đọc và viết ở trẻ      Thiếu chế độ dinh  dưỡng hợp lý có thể làm suy giảm trầm trọng khả năng đoc và viết một câu  đơn giản và trả lời chính xác những bài toán cơ bản, báo cáo mới đây  của Save the Children cho biết.    Báo cáo Food for Thought  của Save the Children khảo sát hàng nghìn trẻ em tại bốn nước là Etiopia, Ấn Độ, Peru và Việt Nam. Theo đó, tỷ lệ biết đọc biết viết ở trẻ bị suy dinh dưỡng mãn tính thấp hơn ở trẻ được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ trung bình khoảng 20%. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu trong tương lai, số tiền mà trẻ suy dinh dưỡng kiếm được sẽ giảm tương đương với tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng, thiệt hại có thể lên tới 125 tỷ đô la.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ suy sinh dưỡng mãn tính là do sự thiếu hụt trong thức ăn dinh dưỡng tới việc phát triển nhận thức của trẻ em. Nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu chế độ dinh dưỡng hợp lý có thể làm suy giảm trầm trọng khả năng đọc và viết một câu đơn giản và trả lời chính xác những bài toán cơ bản – chưa kể đến khối lượng và chất lượng giáo dục ở trường mà các em đang được học.  Cụ thể là đến năm 8 tuổi khoảng 19% trẻ thấp còi do suy dinh dưỡng mãn tính có thể bị nhầm lẫn khi đọc một câu đơn giản như: “cháu thích chó” hay “mặt trời nóng” hơn là trẻ em bình thường. Ở trẻ thấp còi do bị suy dinh dưỡng mãn tính, các em có nguy cơ nhầm lẫn khi viết một câu đơn giản là 12.5% và làm sai những bài toán đơn giàn như: “Tám trừ 3 bằng mấy?” là 7%. Trong khi đó nếu các em được đảm bảo chế độ dinh dưỡng sẽ có thể trả lời tốt hơn  Save the Children cho biết hiện nay một phần tư trẻ em trên thế giới đang phải chịu ảnh hưởng của suy dinh dưỡng mãn tính và trẻ em là một trong những đối tượng được hỗ trợ phát triển có hiệu quả thấp nhất, với chi phí đầu tư vào các chương trình dinh dưỡng chỉ chiếm 0,3 % chi phí phát triển toàn cầu.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy ngẫm về chữ “Trí”      Đó là chữ “trí” trong “phi trí bất hưng”, một đúc kết mang tính quy luật về sự hưng thịnh của một quốc gia. Nhưng liệu có đúng thế không nhỉ?    Sự khẳng định “phi nông bất ổn”, “phi công bất phú”, “phi thương bất hoạt” thì quá rõ rồi. Và nội hàm của chữ “ổn”, chữ “phú” và chữ “hoạt” trong sự đúc kết ấy của nhà bác học Lê Quý Đôn xem ra cũng đã đủ để nói về mục tiêu chúng ta đang hướng tới: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cần gì phải có chữ “trí” nữa? Vả chăng, “có thực mới vực được đạo” từng là một đúc kết thường đi kèm với câu vè dân gian “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Còn nếu nói chữ nghĩa ra thì người ta hay nhắc đến câu của Mạnh tử: “có hằng sản mới hằng tâm”!  Vả chăng, cái tạng của anh “trí’ này thì thường rắc rối và “bất kham” vì hắn là người, theo ý của cụ Mác, “nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”.*  Chẳng những thế, các anh “trí” này lại cứ hay vơ việc vào mình mà không hề sợ “ôm rơm nặng bụng”. Quả là có chuyện đó, hãy cứ nhắc lại lời J.P Sartre, triết gia người Pháp thế kỷ XX thì rõ: “Trí thức là người làm những việc chẳng ăn nhập gì đến họ, (s’occupe de ce qui ne le regarde pas). Kỹ sư thì không lo xây cầu, thầy thuốc thì không lo khám bệnh, kinh tế gia thì không lo cộng trừ nhân chia với cái thống kê. Tại sao họ lại xớ rớ vào những chuyện không liên quan gì đến họ vậy, tại vì họ cho đó chính là chuyện của họ. Chuyện không phải là của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức*.”   Rắc rối là ở chỗ này đây. Mà nào chỉ ông triết gia phương Tây nọ, cụ Nguyễn Công Trứ của ta, người từng đưa ra lời nguyền thật bi tráng “Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thong đứng giữa trời mà reo”, vào thời trai trẻ đã ra tuyên ngôn về kẻ sĩ phải là người “vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình! Thế cơ đấy. Vì vậy mà “kẻ sĩ’ này đã từng “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hưng trung”, cách sắp xếp việc nước đã định sẵn trong lòng, đồ binh giáp để đánh giặc (tức là tri thức quân sự) đã định sẵn trong bụng. Con người ấy từng là bậc kinh bang tế thế, là danh tướng cầm quân dẹp cường khấu ở Lạng Sơn, bắt Phiên tặc ở thành Trấn Tây, trừ Hải tặc ở ngoài Đông Hải… cũng là người chỉ huy công cuộc lấn biển mở đất ở Kim Sơn Tiền Hải, đắp đê ngăn mặn ở Hải Dương vùng châu thổ Sông Hồng, rồi khơi dòng Mê kông ở Long Xuyên vùng đồng bằng sông Cửu Long… Cũng là người “lầy chính đạo” để chống tham nhũng ngay giữa triều đình.  Quả thật con người này đã tỏ rõ bản lĩnh của một trí thức đích thực “trong lăng miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi can tương”. Chẳng những thế, trên văn đàn, con người ấy cũng chiếm riêng một góc độc đáo trong lịch sử văn hóa nước nhà. Thế rồi, vì ông giỏi quá, bản lĩnh quá, “trí thức” quá nên luôn lấy chuyện không phải là của mình mà vẫn thấy là của mình để ứng xử với đời, lại cả gan “nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu”, mà tệ nhất lại là “không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào” cho nên trách gì chẳng rước họa vào thân! Kết quả là, Nguyễn Công Trứ đã năm lần bị cách chức, giáng chức, trong đó có lần bị án “trảm giam hậu”, có lần cách tuột làm lính trơn đày đi xa.  Con người “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hưng trung” ấy về hưu lúc bảy mươi tuổi với hai bàn tay trắng. Trước khi chết, cụ để lại di chúc từ chối mọi nghi lễ chính sách của triều đình, dặn chôn ngay tại huyệt đã đào sẵn dưới chõng tre, rồi trồng bên mộ một cây thông với lời bi phẫn đã dẫn ở trên!   Đâu chỉ một Nguyễn Công Trứ! Không ít những “kẻ sĩ”, như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Chu Văn An, Cao Bá Quát cũng có thân phận bi tráng như vậy! Chẳng thế mà không ít những trí thức trong lịch sử thường lấy triết lý Lão Trang để di dưỡng phẩm tính làm người, “Ôi nhân sinh là thế ấy. Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao…” Bi phẫn mà thốt lên như vậy, nhưng phần lớn trong số họ “nói vậy mà không phải vậy”, họ vẫn đã vượt lên chính mình bằng nhiều chiêu thức khác nhau để “trong vũ trụ đã đành phận sự, phải có danh mà đối với núi sông”.   Cái chữ danh ở đây ẩn chứa một hàm lượng ngữ nghĩa khá rộng, cũng có thể là công danh đi liền với phú quý, nhưng có lẽ lớn hơn là danh dự, danh phận, là sự nghiệp để lại cho đời, trong đó sâu đậm hơn cả là danh dự của người trí thức đích thực. Chính vì thế mà người đời nhớ đến họ, lịch sử ghi nhận họ. Xưa đã thế, nay cũng vẫn phải như thế.   Cho dù phải cay đắng với những giọt nước mắt   … khóc những chân trời   không có  người bay  Lại khóc  những người bay   không có chân trời [ Trần Dần ]  thì vẫn phải thừa nhận rằng, với bản lĩnh trí thức, tự họ, họ đã tạo ra những chân trời cho chính mình để xứng đáng với nhân cách và phẩm tính trí thức của họ. Chẳng thế sao? Khi viết những dòng thơ trên, thì chính nhà thơ đã tự tìm lấy “chân trời” cho mình đấy thôi. Vả chăng, người trí thức đích thực trước hết phải là một nhà văn hóa. Mà “văn hóa là không thỏa mãn cái đã có, là đi tìm chân trời”. Thế nhưng lại “không tìm thấy đâu, vì đi tới thì nó lại lùi xa…”**    Không thể có một bản chỉ đường đã được vạch sẵn, cứ thế mà ngoan ngoãn, cung cúc bước theo, mà phải biết tự mình tìm tòi. Chính vì “không thỏa mãn cái đã có” nên phải “đi tìm chân trời ”, cách đặt vấn đề như vậy đã là một sự bứt phá.   Xin trích một đoạn văn viết về cha mình của đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh để nói về điều ấy:   “Cách đây 6 năm có dịp sang Nhật, tôi đã lần tìm lại dấu vết của cha tôi trong những ngày du hoc tại đây. Tôi được nghe kể rất nhiều mẩu chuyện cảm động về cha mình. Cuối cùng tôi được giới thiệu đến gặp Giáo sư Tomio Takeuch , Viện trưởng Viện Hoá vi sinh Tokyo. Ở Nhật bản này ông được xếp vào hạng người bất tử, nghĩa là được làm việc cho đến hết đời không phải về hưu.   Giáo sư Takeuchi ân cần tiếp tôi trong phòng khách của Viện. Ông cho biết đã từng làm việc với cha tôi tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong 3 năm trước khi Nhật đầu hàng đồng minh. Rồi ông nói: Nhưng tôi chỉ là đàn em của cha anh thôi. Hồi đó cha anh đã có nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao trong giới Y học. Có một số công trình tôi viết chung với cha anh, nhưng tên ông bao giờ cũng để trên tên tôi. Ông là bậc đàn anh của tôi. Công việc nghiên cứu của ông đang tiến triển rất thuận lợi, không hiểu sao ông lại bỏ dở tất cả để về nước. Sau này nghe tin ông mất chúng tôi rất thương tiếc… Mà cũng lạ. Hồi ấy người Mỹ cũng đã bất đầu biết đến cha anh, mời cha anh cộng tác với họ. Nhưng rồi cha anh cũng từ chối. Tôi nghĩ ông có điều gì thôi thúc lắm ở bên trong. Tôi nghĩ thầm: Giáo sư không hiểu tại sao cha tôi lại bỏ tất cả để về nước ư? Thưa Giáo sư, là vì cha tôi không muốn làm nguời đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc mình. Nhân cách của cha tôi không cho phép ông làm như vậy. Ông cũng biết rằng nếu ông tiếp tục ở lại Nhật Bản làm việc cùng giáo sư, con đường khoa học của ông hẳn cũng rực rỡ như của giáo sư bây giờ. Nhưng ông đã chọn cho mình con đường khác, và đó có lẽ là một đặc điểm nổi bật nhất của người trí thức Việt Nam.”  Với “đặc điểm nổi bật” đó, giáo sư Đặng Văn Ngữ đã có một quyết định không gì lay chuyển được: phải vào chiến trường Trị Thiên, mặt trận nóng bỏng nhất lúc bấy giờ, để nghiên cứu một thứ vắc xin miễn dịch sốt rét rồi ứng dụng ngay tại chỗ cho bộ đội, nhằm thực hiện mục tiêu giảm tử vong vì sốt rét cho họ. Sau nhiều lần đề đạt nguyện vọng, cuối cùng ông được toại nguyện để rồi chưa kịp tìm được vaccine miễn dịch sốt rét, thì ông đã chia sẻ với họ cái chết ngay tại chiến trường bởi bom B52!  Dẫn ra một trường hợp “không muốn làm nguời đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc mình” rất tiêu biểu nói trên cũng chỉ để nói rằng: với đặc điểm nổi bật ấy của người trí thức, trong bất cứ hoàn cảnh nào, bộ phận tinh hoa của dân tộc vẫn in đậm dấu ấn của mình trong sự nghiệp của đất nước. Lật từng trang lịch sử dựng nước và giữ nước đều nhận ra được dấu ấn ấy khi bàn về sự hưng vong của một triều đại, một chính thể.   Sự hưng vong ấy tùy thuộc vào việc có chiêu tập, quy tụ được bộ phận tinh hoa của đất nước, những người biết hấp thu vào mình trí tuệ của thời đại, đồng thời cũng góp phần của dân tộc mình vào trí tuệ của thời đại, hay không. Mà nói đến “tinh hoa” chính là nói đến những phẩm chất cơ bản làm nên bản lĩnh, phẩm giá và danh dự của dân tộc, góp phần vào sức mạnh của đất nước, góp phần quyết định chuyện “hưng” hay “bất hưng” của một quốc gia.   Quả đúng là cái chữ “trí” trong mệnh đề “phi trí bất hưng” giữ một vị trí không thể thay thế, hoặc nói như Phạm Văn Đồng: “Có nó thì sẽ có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá”! **  —    * Dẫn lại theo Cao Huy Thuần  ** Phạm Văn Đồng “Văn hóa và Đổi mới. Tác phẩm và Bình luận” – Bộ Văn hóa Thông tin, 1997. Câu nói trên nằm trong cách giải thích của tác giả về câu nói của Nguyễn Trãi “Nước ta là một nước văn hiến”, điều đó có nghĩa là trọng học vấn, trọng nhân tài, vì đó là những của quý không gì thay thế được của một nước, một dân tộc. Có nó thì sẽ có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá.”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy nghĩ về giả định của Tonnesson      Trong thực tế, Trung Quốc chưa bao giờ công bố tọa độ chính xác và nói rõ ý định của đường chữ U là gì mà chỉ nói chung chung họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử về chủ quyền vùng biển bên trong chữ U. Tất nhiên Trung Quốc có chủ ý của họ khi cố tình mập mờ như vậy để mọi người tự hiểu. Sự mập mờ này đã dẫn tới tranh luận giữa một số nhà nghiên cứu những năm gần đây.     Giả định của Tonnesson về đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc   Tại một hội thảo về Biển Đông tại Hà Nội tháng 11/2011, nhà nghiên cứu Stein Tonnesson cho rằng đường chữ U chỉ có thể hiểu theo nghĩa Trung Quốc muốn tuyên bố tất cả các đảo và bãi đá trong vùng biển bên trong chữ U này thuộc về Trung Quốc, còn cách hiểu của đa số mọi người rằng Trung Quốc khẳng định chủ quyền với toàn bộ vùng biển giới hạn bởi đường chữ U là sai.   Giả định trên của Tonnesson được nhiều học giả đồng tình, bao gồm cả các học giả “nghiêm túc” người Trung Quốc như GS Zhiguo Gao. Đơn giản vì theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS), ranh giới trên biển không phụ thuộc vào các quyền lịch sử mà Trung Quốc vẫn rêu rao.   Với giả định này, Tonnesson đã thẳng thừng bác bỏ khả năng Trung Quốc có chủ quyền trên toàn bộ vùng biển bên trong chữ U, và đây là quan điểm có lợi cho Việt Nam. Trong bài viết cho hội thảo tại Hà Nội năm 2011, Tonnesson khẳng định vị trí tàu Bình Minh bị phía Trung Quốc cắt cáp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam cũng là hệ quả của giả định nói trên. Tương tự như vậy, vị trí giàn khoan HD-981 hoàn toàn nằm trong EEZ của Việt Nam bất kể đảo Tri Tôn thuộc về ai nếu đảo này không có thềm lục địa và EEZ (nhiều khả năng như vậy).  Tonnesson cho rằng trong khi Trung Quốc chưa chính thức công bố đòi hỏi chủ quyền toàn bộ Biển Đông (gồm cả đảo và biển bên trong chữ U) mà Việt Nam và các nước khác vội vã kết luận như vậy thì sẽ có lợi cho Trung Quốc vì lái dư luận quốc tế theo hướng ngầm hiểu toàn bộ Biển Đông đang bị tranh chấp. Thay vì tập trung vào việc giải quyết chủ quyền đảo Hoàng Sa-Trường Sa và các khu vực EEZ bị chồng lấn, các học giả Việt Nam bị cuốn vào cuộc tranh luận về đường chữ U mà chắc chắn sẽ không đi đến đâu.   Có nên vội vàng phản bác giả định của Tonnesson?  Một số người như GS Phạm Quang Tuấn cho rằng lập luận của Tonnesson “chạy tội” cho Trung Quốc, với dẫn chứng là quan điểm của một học giả Trung Quốc (GS Su Hao) cũng trong hội thảo về Biển Đông tại Hà Nội tháng 11/2011 cho thấy cách hiểu của Trung Quốc vẫn là nước này đòi hỏi chủ quyền cho toàn bộ Biển Đông chứ không phải chỉ có các đảo. Tuy nhiên, chúng ta cần thấy rằng khi phân tích các tranh chấp và giải pháp cho Biển Đông-Hoàng Sa-Trường Sa, các học giả buộc phải giả định cơ sở pháp lý của đường chữ U thì mới đánh giá được Trung Quốc và các nước khác đúng hay sai, và việc đưa ra những giả định không có nghĩa họ ủng hộ hay phản đối tuyên bố của Trung Quốc về đường chữ U.  Một lập luận khác mà GS Phạm Quang Tuấn đưa ra là Việt Nam và các nước trong khu vực không thể bỏ qua vấn đề đường chữ U vì như vậy là ngầm chấp nhận nó, nhưng lập luận này cũng không có cơ sở. Một khi Trung Quốc chưa công bố rõ ràng đường chữ U là gì (tuyên bố chủ quyền kèm theo các tọa độ chính xác) thì nó hoàn toàn không có cơ sở pháp lý trong các phiên tòa quốc tế. Cơ sở pháp lý cũng không thể được tuyên bố từ các bài nghiên cứu và phát biểu của các học giả Trung Quốc như GS Su Hao, vì mặc dù những người như Su Hao là “loa phát thanh” của chính phủ Trung Quốc, nhưng đó vẫn chỉ là những quan điểm cá nhân, một dạng tuyên truyền phi chính thức không có giá trị pháp lý.   Cho đến thời điểm này (7/2014), Trung Quốc vẫn chưa đưa ra tuyên bố chính thức về chủ quyền với vùng biển trong đường chữ U. Bức thư gửi Liên Hiệp Quốc ngày 8/6/2014 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc vẫn chỉ khẳng định giàn khoan HD-981 nằm ngoài vùng EEZ của Việt Nam còn các bài báo của các đại sứ Trung Quốc ở một số nước cũng chỉ tuyên bố địa điểm này nằm trong vùng lãnh hải tiếp giáp (continguous zone) của đảo Tri Tôn. Trung Quốc không hề dựa vào đường chữ U để phản đối Việt Nam. Vậy nên ngay từ năm 2012, Tonnesson đã khuyên một việc Việt Nam cần làm là yêu cầu các tòa quốc tế- Tòa án công lý quốc tế (ICJ)/ Tòa trọng tài thường trực (PCA) – xác định các đảo ở Hoàng Sa-Trường Sa có được thềm lục địa và EEZ hay không, giống như khuyến cáo gần đây của TS Tạ Văn Tài.  Vì sao Trung Quốc cố tình mập mờ về đường chữ U?   Theo Tonnesson, có thể có mấy cách giải thích sau: (a) Trung Quốc biết tuyên bố chủ quyền bên trong toàn bộ đường chữ U là quá vô lý nhưng vì đã lỡ tuyên truyền ở trong nước nên không thể rút lại đường chữ U và đành phải để nó mập mờ; (b) các cơ quan quản lý và lãnh đạo Trung Quốc chưa thống nhất được phương án tuyên bố chủ quyền chính thức; (c) các lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc không hiểu rõ luật quốc tế và bỏ qua lời khuyên của giới học giả; (d) vấn đề Biển Đông dính dáng đến Đài Loan và Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề Đài Loan trước; (e) dọa các nước láng giềng về ý đồ bành trướng toàn bộ Biển Đông để các nước phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán khác; (f) chờ thời đến khi Trung Quốc đủ mạnh sẽ thực sự chiếm toàn bộ Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế.   Từ những vụ việc như sự kiện tàu Bình Minh bị cắt cáp năm 2011, rồi qui định đánh bắt cá của chính quyền đảo Hải Nam năm 2013 và các cuộc bắt bớ, đâm tàu cá Việt Nam, gần đây nhất là vụ giàn khoan HD-981 cho thấy phương án (f) có vẻ có lý.   Theo nhận định của Tonnesson, Trung Quốc có động cơ và có lợi để giữ gìn hòa bình/ổn định lâu dài trong khu vực theo tinh thần Tôn Tử. Nhưng những sự kiện gần đây cho thấy quan điểm này của ông là quá lạc quan. Trung Quốc rất có thể có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và có khả năng sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể.  Việc Trung Quốc tiếp tục lấn tới trong thời gian qua cho thấy họ đang theo chiến thuật “tằm ăn rỗi” bất chấp luật pháp quốc tế chứ không phải vì sĩ diện.         Hiện nay có ba nhóm học giả quốc tế chính  nghiên cứu về Biển Đông-Hoàng Sa-Trường Sa: nhóm các chuyên gia về khoa  học chính trị và quan hệ quốc tế (như Greg Austin, John Collins, Ang  Cheng Guan, Jeanette Greenfield, Sam Bateman, Ralf Emmers) trong đó bao  gồm cả các nhà Việt Nam học (Carl Thayer, Jonathan London); nhóm các  chuyên gia luật quốc tế (Robert Beckman, Monique Chemillier-Gendreau,  Christopher Joyner, Erik Franckx, Choon Ho Park); và nhóm các nhà sử học  (David Marr, Marwyn Samuels, Philippe Devillers, Stein Tonnesson). Còn  nhóm thứ tư là các chuyên gia quân sự nhưng họ ít khi xuất đầu lộ diện.               Nhóm  đầu tiên có số lượng học giả đông nhất và nhiều bài viết nhất, nhưng họ  phải thường xuyên trích dẫn và dựa vào công trình của các học giả thuộc  hai nhóm sau (luật và sử) là những người tiếp xúc và phân tích trực  tiếp các bằng chứng cơ bản (luật, án luật, tư liệu lịch sử, phỏng vấn  nhân chứng, v.v).               Trong số các nhà sử học, Stein Tonnesson – giáo sư  nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế (International Peace  Research Institute), Oslo – là một cái tên được trích dẫn khá nhiều  trong các bài nghiên cứu về Biển Đông-Hoàng Sa-Trường Sa gần đây. Ông là  tác giả của hai quyển sách về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn  1944-1946, là những công trình nghiên cứu công phu hàng chục năm (từ khi  ông làm luận án thạc sĩ năm 1981), và hàng loạt bài viết về tranh chấp  Biển Đông-Hoàng Sa-Trường Sa. Dù Tonnesson còn viết về Thái Lan và một  số đề tài khác, có thể nói học giả này là một nhà sử học và Việt Nam  học.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy nghĩ về những chính sách mới trong cải cách quản lý khoa học      Khác với các chính sách đổi mới trong nông nghiệp trước đây, các chính sách đổi mới trong KHCN bên cạnh những cơ hội to lớn cũng đem lại nhiều thách thức.    Các chính sách hợp lòng đân, hợp quy luật của Nhà nước đóng vai trò quyết định đổi mới thành công nông nghiệp nông thôn. Nhưng yếu tố vật chất tạo nên sức bật mạnh mẽ trong sản xuất chính là lao động, nội lực của nhân dân cộng với tiềm năng về tài nguyên và khoa học công nghệ được chính sách khơi nguồn. Chính sách đúng và công nghệ tốt gắn với nhau. Năm 1959, năng suất lúa Việt Nam vào loại cao nhất Đông Nam á, sau khi hợp tác hóa hoàn thành năm 1960, năng suất tụt nhanh. Từ cuối thập kỷ 60, khi giống lúa IR8 ra đời, cuộc “cách mạng xanh” tăng năng suất lúa khắp Châu á thì năng suất lúa Bắc Việt Nam dậm chân tại chỗ và đến năm 1980, tụt xuống gần 1,9 tấn/ha, đứng hạng cuối Đông Nam á. Chỉ đến sau khoán 10 và Chỉ thị 100, năng suất lúa của miền Bắc  và toàn quốc mới tăng trở lại, phát huy tiềm năng kỹ thuật chậm 20 năm. Sự cởi trói về chính sách cộng với đổi mới khoa học công nghệ (KHCN) đã đóng góp phần lớn vào sự tăng trưởng đột biến của sản xuất lương thực trong giai đoạn đầu đổi mới. Đáng tiếc là, sau khi khai thác mạnh hiệu quả của KHCN giai đoạn đầu đổi mới, đúng góp của KHCN               Để giúp nhà khoa học và người quản lý vượt ra khỏi sự trăn trở của quá trình tự lột xác này, vươn tới một thể chế mới, phù hợp quy luật, cần phải có sự kiên quyết chỉ đạo của các cán bộ lãnh đạo, trước hết là trong các ngành Tài chính, Nội vụ, Khoa học công nghệ và các cơ quan hữu quan.                cho tăng trưởng sản xuất nông nghiệp giảm dần (trong tăng trưởng sản xuất lúa, giai đoạn 1991-1995 so với 1985- 1990 đóng góp của KHCN giảm đi một nửa, đến 1996-2000 chỉ còn 1/3 so với giai đoạn đầu1). Nguyên nhân làm giảm vai trò của KHCN trong sản xuất nông nghiệp trước hết là do đầu tư ít ỏi cho lĩnh vực này. Bên cạnh đó là các bất cập trong tổ chức và quản lý. Thu nhập của cán bộ khoa học được gắn với chức vụ, thứ bậc về mặt hành chính mà không gắn với khối lượng và chất lượng công trình nghiên cứu. Việc cất nhắc, đề bạt cán bộ dựa theo các tiêu chí về bằng cấp, học vị mà không dựa vào các tiêu chí năng lực, kiến thức chuyên môn thực sự. Chế độ biên chế cứng làm nản lòng cán bộ trẻ có năng lực tham gia đội ngũ nghiên cứu, nhưng lại trở thành chỗ dựa cho những người không học hỏi, không sáng tạo, sống bám vào trợ cấp. Cách quản lý cán bộ tập trung vừa hạn chế vai trò chủ động của đơn vị vừa làm công tác của cấp Bộ quá tải.   Thêm vào đó, tình trạng phân chia vốn cho các đơn vị nghiên cứu theo kiểu “bốc thuốc”, “rải mành mành” chỉ để nuôi các đơn vị không thể tạo ra các công trình KHCN đột phá trong sản xuất. Hoạt động nghiên cứu, đào tạo và khuyến nông chưa phối hợp chặt chẽ. Các đề tài cấp Quốc gia, cấp Bộ, cấp địa phương và của quốc tế nhiều khi trùng lắp hoặc bỏ trống nhiều lĩnh vực quan trọng…  Các bất cập kể trên đang tạo ra trong các cơ quan khoa học những tình cảnh giống như ở các hợp tác xã trước đổi mới. (Cán bộ không yên tâm công tác, người giỏi bỏ đi, người ở lại lo làm thêm kiếm tiền, không quan tâm đến uy tín, tài sản đơn vị…)     ***  Ba năm nay, vốn đầu tư trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp tăng vọt, số Viện nghiên cứu trực thuộc Bộ giảm xuống một nửa, 60 triệu USD vốn vay nước ngoài sẽ được dành để đầu tư cơ sở vật chất cho các Viện nghiên cứu. Tăng đầu tư cho công tác khoa học là một việc khó, sắp xếp lại tổ chức hệ thống Viện lại càng khó hơn. Tuy vậy việc khó nhất vẫn ở trước mắt đó là thay đổi cơ chế quản lý, cụ thể là cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tổ chức cán bộ và hoạt động bộ máy, cơ chế quản lý khoa học. Mặc dù đề án Đổi mới cơ chế quản lý KHCN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 9/2004, đề án Phát triển thị trường KHCN và Nghị định quy định cơ chế tự chủ tự chịu             Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước gần đây về đổi mới khoa học công nghệ đang thổi lên một làn gió mới, tạo điều kiện để cơ chế thị trường phát huy tác dụng trên hai lĩnh vực chính, một là thị trường lao động của trí thức, hai là thị trường của sản phẩm khoa học công nghệ. Các chính sách này một mặt trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức khoa học công lập, mặt khác tạo ra những khuyến khích về vật chất và tinh thần cho người lao động trí óc, nhất là người tài. ở đầu ra, chính sách mới tạo điều kiện hình thành thị trường công nghệ và tạo điều kiện để thị trường đó phát triển.              Xét về thời điểm, các chính sách này ra đời tuy chậm so với yêu cầu của cuộc sống nhưng đã mở ra cơ hội lớn giống như cách đây 20 năm các chính sách đổi mới trao quyền tự chủ cho người sản xuất ở nông thôn và tự do hóa thị trường nông sản trong và ngoài nước.            trách nhiệm của các tổ chức KHCN đã thông qua từ tháng 8-9/2005, nhưng cho đến nay, nghị định phát triển doanh nghiệp KHCN và thông tư hướng dẫn Nghị định 115 vẫn chưa được ban hành. Có lẽ khâu chính sách chậm chễ nhất vẫn lại là tài chính. Khác với các chính sách đổi mới trong nông nghiệp trước đây, các chính sách đổi mới trong KHCN bên cạnh những cơ hội to lớn cũng đem lại nhiều thách thức. Với cán bộ nghiên cứu, điều lo ngại chính là việc cắt quỹ lương biên chế thường xuyên. Những người không có khả năng học tập, phấn đấu sợ bị mất nguồn trợ cấp ổn định, nhưng những người chấp nhận cạnh tranh, muốn vươn lên cũng e ngại về khả năng hình thành một thị trường khoa học công bằng. Nhiều câu hỏi hợp lý được nêu lên như: Liệu các đề tài đấu thầu có được xét duyệt một cách cạnh tranh công bằng hay không ? Trình độ và đức độ của những người cầm cân nảy mực trong việc lựa chọn, đánh giá các cơ quan nghiên cứu có công minh, vô tư hay không? Có chấm dứt được tình trạng nể nang, chạy trọt, “quân xanh, quân đỏ” đã từng xẩy ra trong khoa học và trong xây dựng cơ bản? Trong điều kiện giao quyền quản lý cao cho các cấp lãnh đạo, có cách nào gắn giữa trách nhiệm với quyền hạn, có cách nào phát huy dân chủ, đảm bảo chế tài của pháp luật để ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lạm quyền được hay không?   Đối với lãnh đạo các cơ quan nghiên cứu khoa học, nhiều băn khoăn vướng mắc cũng được nêu ra như: Có nên nhẫn tâm và có thể quyết tâm đưa ra khỏi công tác nghiên cứu một số lớn cán bộ không đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn mới nhưng lại là những người đã đóng góp công sức cho cơ quan, cho lĩnh vực nghiên cứu qua nhiều năm gian khổ? Làm thế nào thu hút được đội ngũ các cán bộ trẻ, có năng lực, được đào tạo tốt nhưng đòi hỏi đãi ngộ cao và thiếu nhiều kinh nghiệm về thực tiễn? Làm thế nào chuyển từ một cơ chế chủ yếu dựa vào đầu tư của Nhà nước, dựa vào khách hàng Nhà nước, sang cơ chế đa dạng về nguồn thu, cạnh tranh trên thị trường trong khi các văn bản, luật lệ nhất là về tài chính chuyển đổi rất chậm? Làm thế nào chuyển đổi từ cơ chế quản lý dựa vào tập thể các quyết định, thông qua sự đồng thuận của”bộ tam, bộ tứ”, sang một cơ chế rõ ràng trách nhiệm cá nhân?  Để giúp người lao động và người quản lý vượt ra khỏi sự trăn trở của quá trình tự lột xác này, vươn tới một thể chế mới, phù hợp quy luật, cần phải có sự kiên quyết chỉ đạo của các cán bộ lãnh đạo, trước hết là trong các ngành Tài chính, Nội vụ, Khoa học công nghệ và các cơ quan hữu quan. Trước hết ban hành ngay các nghị định, thông tư và các văn bản hướng dẫn chính sách mới; hình thành quĩ giải quyết chế độ cho cán bộ sắp xếp lại như trường hợp các doanh nghiệp cổ phần hoá và công chức trong cải cách hành chính; tiến hành các cải cách tiếp theo ở cấp quản lý khoa học bộ, ngành; triển khai một số mô hình thực hiện sớm các chính sách mới để rút kinh nghiệm; nghiên cứu chỉnh sửa các văn bản pháp lý khác đã lỗi thời so với chính sách mới; tăng đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu và triển khai KHCN; kiên quyết sắp xếp lại tổ chức các cơ quan nghiên cứu, triển khai KHCN.   Trong tương lai, ngành nông nghiệp phải tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, trong hoàn cảnh nguồn đất và nguồn nước ngày càng thu hẹp, giá lao động tăng dần, mức độ cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt. Động lực phát triển chính trong tương lai phải là KHCN. Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy hiệu quả đầu tư cho KHCN nông nghiệp Việt Nam cao gấp 4 lần đầu tư giao thông nông thôn, 6 lần giáo dục cơ sở, 10 lần thủy lợi. Không phải đợi đến một nền kinh tế tri thức, nếu quyết tâm ngay từ hôm nay, chất xám sẽ tạo ra sự thần kỳ trước đây đã từng diễn ra nhờ máu, nước mắt và mồ hôi Việt Nam.     Viện Chính sách Lương thực Quốc tế       TS. Đặng Kim Sơn    Author                Quản trị        
0.0372168284789644
__label__tiasang Suy nghĩ về thuế thu nhập      I. Nghĩa vụ  Về người dân  Trong xã hội văn minh, mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế – vì hai lẽ cơ bản: (1) phải trả tiền cho những tiện ích và dịch vụ mình được hưởng cho cuộc sống và mọi hoạt động khác của bản thân; (2) phải góp phần mình vào công cuộc phát triển của xã hội, của đất nước.         Không đóng thuế theo đúng nghĩa vụ được quy định hoặc trốn hay ăn bớt thuế đồng nghĩa với ăn bám, ăn cắp công quả của những người khác trong xã hội. Hành động này ở mức độ nhất định nếu bị gán cho cái tội “bóc lột” cũng không có gì là oan uổng, cần lên án.  Trong các loại thuế đang tồn tại, thuế thu nhập được coi là một trong những sắc thuế hợp lý nhất, cũng có thể hiểu là công bằng nhất1 – với lẽ: có thu nhập thì có nghĩa vụ đóng thuế.  Về nhà nước  Nói một cách thô thiển, ngoại trừ những phần đầu tư và chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho duy trì và phát triển kinh tế – xã hội, dân đóng thuế là để nuôi nhà nước, với mục đích thuê làm các dịch vụ cần thiết cho đời sống mọi mặt của xã hội và đất nước. Quan hệ giữa dân và nhà nước qua việc đóng thuế là quan hệ giữa người đi thuê các dịch vụ và người bán các dịch vụ. Nói ngắn gọn với ý nghĩa triệt để của vấn đề: Quan hệ giữa dân và nhà nước qua việc dân đóng thuế là quan hệ “chủ – tớ”. Trong nội hàm này, đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: cán bộ là đầy tớ của dân.  Bàn về thuế, khi nói đến nghĩa vụ, phải nói đầy đủ cả hai phía: phía dân, phía nhà nước. Không thể chỉ nói đến nghĩa vụ dân đóng thuế, mà không gắn với nghĩa vụ “đầy tớ” của nhà nước.  Nói riêng về nhà nước: Nghĩa vụ của nhà nước là phải bán những dịch vụ tốt nhất mà người dân đóng thuế đòi hỏi. Điều nay cũng đồng nghĩa người dân có quyền từ chối những dịch vụ rởm, từ chối hay đòi hỏi phải thay những người “đầy tớ” rởm.  Trên phương diện thuế, một quốc gia lý tưởng là một quốc gia trong đó “chủ” – người dân – hết lòng đóng thuế đúng với nghĩa vụ pháp luật, “tớ” – nhà nước – tận tuỵ  phục vụ “chủ” – người dân – với tất cả sự thao lược và phẩm chất của nó.    II. Cơ sở để tính thuế  Làm rõ cơ sở để tính thuế thu nhập, lẽ tự nhiên nảy ra vấn đề: Thế nào là thu nhập?  Thu nhập thường có những hình thức sau đây:   · Lương, hay tiền công lao động,  · Lãi ròng (net profit) trong kinh doanh sau khi trừ các khoản thuế phải nộp,  · Các khoản thu nhập khác (quà biếu có giá trị lớn, tiền thưởng, lợi tức…),  · Thừa kế tài sản.  Tuy nhiên, ở vào giai đoạn phát triển hiện tại của nước ta – có tính đến những bước phát triển trong tương lai, thu nhập được xem xét với tính chất là cơ sở để tính thuế thu nhập, còn phải làm rõ nhiều điều khác, chí ít là 2 vấn đề:  · Đưa những khoản thu nhập nào và cách đưa như thế nào (ví dụ: lộ trình) vào phần tính thuế?  · Định  mức để tính thuế, thuế suất và cách thu thuế như thế nào là thực thi được tối ưu nhất?  Dưới đây xin nêu lên những nhóm vấn đề xoay quanh hai câu hỏi nói trên nằm trong những mặt khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội sẽ phải giải quyết khi tiến hành thực hiện thuế thu nhập.  Nhóm vấn đề 1: Trong tình hình hệ thống lương chính thức chưa bao hàm được nhiều nội dung cốt yếu khác cho những người sống bằng lương trong toàn bộ hệ thống biên chế của nhà nước, có nhiều khoản cấp cho người hưởng lương dưới dạng “chế độ”– ví dụ: xe cộ, nhà cửa, các biệt đãi khác… – có nhiều vấn đề phải đặt ra để xem xét; “chế độ” đến mức nào và ai được hưởng “chế độ” gì là hợp lý trong điều kiện có thể kham nổi của nền kinh tế của nước ta? Hợp lý trên phương diện công bằng dù là tương đối, và hợp lý trên phương diện khuyến khích sự phát triển của đất nước.   Xin lưu ý, nếu quy đổi các phần thuộc về “chế độ” ra lương để tính toán, phải nói hệ thống lương nước ta thuộc loại có độ chênh lệch rất lớn giữa bậc lương thấp nhất và bậc lương cao nhất. Độ chênh lệch này trong hệ thống lương của nước ta lớn hơn rất nhiều so với hệ thống lương tại các nước phát triển, đã thế lại có quá nhiều loại “chế độ”, diện người được hưởng “chế độ” quá rộng – không thể duy trì tình trạng này khi áp dụng thuế thu nhập. Trong khi đó độ chênh lệch giữa các thang, ngạch trong hệ thống lương của nước ta lại quá nhiều nấc và nhỏ.    Nhóm vấn đề 2: Lãi suất tiết kiệm gửi ngân hàng. Thông thường, có thu nhập là có nghĩa vụ đóng thuế. Tuy nhiên, tiết kiệm là một quốc sách lớn – trong những trường hợp cụ thể còn quan trọng hơn việc đưa phần thu nhập từ lãi suất ngân hàng vào phần tính toán để thu thuế; tiết kiệm trong hệ thống ngân hàng lại càng quan trọng đối với cả nền kinh tế. Nếu nhìn nhận trên phương diện nào đó chống lãng phí còn quan trọng hơn cả chống tham nhũng, việc khuyến khích quốc sách tiết kiệm lại càng quan trọng hơn nữa. Do đó thu thuế thu nhập tính từ lãi suất tiền gửi tiết kiệm phải được thiết kế như thế nào để một mặt đáp ứng nghĩa vụ đóng thuế theo luật, mặt khác lại đảm bảo thực hiện tốt nhất quốc sách khuyến khích tiết kiệm.    Trong nền kinh tế còn ở giai đoạn phát triển thấp như ở nước ta hiện nay còn nhiều nguồn thu nhập của người dân mang những đặc thù như thế gắn với những quốc sách lớn, đòi hỏi phải được xử lý thoả đáng trong khi xây dựng thuế thu nhập.  Nhóm vấn đề 3: Hệ thống ngân hàng, hệ thống kế toán, hệ thống kiểm toán của nước ta còn nhiều khiếm khuyết và kẽ hở cho gian lận ở cả hai phía: người nộp thuế, người hoặc cơ quan thu thuế.   Hơn thế nữa, thực trạng hay “thói quen”2 dùng tiền mặt (cash) trong buôn bán, kinh doanh rất phổ biến. Trong những điều kiện như vậy việc xác định đúng thu nhập để tính thuế gặp nhiều khó khăn. Khả năng kỹ thuật của bộ máy thu thuế còn rất nhiều hạn chế, dễ gây những ách tắc mới trong kinh tế nói chung hoặc trong hoạt động kinh doanh của những người có nghĩa vụ đóng thuế. Trên thực tế đã xảy ra nhiều chuyện dân trốn thuế, người thu thuế ăn cắp hay chiếm dụng thuế và nhiều ách tắc khác.    Thực trạng này đặt ra vấn đề: đưa gì vào tính thuế thu nhập, mức thuế thế nào là khả thi và hợp lý nhất, cách tính thuế và thu thuế như thế nào là hiệu quả nhất, với mục đích: chi phí thấp nhất của toàn xã hội cho việc thu thuế, thu được thuế ở mức tối ưu đối với toàn bộ nền kinh tế.  Nhóm vấn đề 4: Sẽ là không đúng, nếu nghĩ rằng thu thuế chỉ đơn thuần là việc tính thuế để thu. Làm như vậy, người đóng thuế sẽ chỉ thấy phải làm một việc bị áp đặt; người sử dụng thuế – cụ thể ở đây là nhà nước -sẽ không ý thức được hết trách nhiệm phải có đối với đồng tiền thuế của dân đặt vào tay mình.  Giả thử việc tiến hành thực hiện thuế thu nhập sẽ diễn ra song song với những tiến bộ đạt được trong cải thiện các dịch vụ của nhà nước cung cấp cho dân như giáo dục, y tế…, cung cấp những dịch vụ công khác trong cải cách hành chính, trong nhiều vấn đề văn hoá xã hội khác.., các vấn nạn khác của xã hội như quan liêu, tham nhũng được đẩy lùi rõ rệt…, ý thức đóng thuế của người dân sẽ được cổ vũ.    Nhóm vấn đề 5: Để thực hiện tối ưu thuế thu nhập, vấn đề công khai minh bạch trong đời sống kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Nhìn về lâu dài và trong phạm vi toàn xã hội, công khai minh bạch ngày càng trở nên thiết yếu cho sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia văn minh. Vậy ngay tức khắc, chí ít là song song với việc chuẩn bị và thực thi thuế thu nhập, phải làm những gì, tiến hành những cải cách nào để từng bước công khai minh bạch có thể ngự trị toàn bộ đời sống mọi mặt của đất nước? Hơn nữa công khai minh bạch còn là một yêu cầu của phát triển kinh tế, của thực hiện công bằng xã hội…  Còn phải làm gì, để thông qua việc thực hiện thuế thu nhập có thể tạo dựng nên một bản đồ tuần hoàn của cơ thể nền kinh tế, nhà nước với tính cách là người điều hành kinh tế vĩ mô có thể dựa vào phân tích bản đồ tuần hoàn này mà đề ra các quyết sách – hoặc là “chữa bệnh” cho những sản phẩm, ngành hoặc miền vùng nào yếu kém; hoặc là để “bồi bổ, phát huy” cho những sản phẩm, ngành, miền vùng cần phát huy thế mạnh; cá nhân và doanh nghiệp có thể dựa vào bản đồ tuần hoàn này lựa chọn cách ứng xử tối ưu cho bản thân họ và cho kinh tế của đất nước; nhà đầu tư nước ngoài có thể dựa vào đó lựa chọn quyết định của mình…  Nhóm vấn đề thứ 6: Ngay từ bây giờ, trong lúc Luật thuế thu nhập chưa được thông qua, đã có rất nhiều việc phải làm cho việc chuẩn bị kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật, hệ thống ngân hàng và các dịch vụ khác, nguồn nhân lực kỹ thuật mà việc thực hiện thuế thu nhập đòi hỏi phải có, các phương thức kỹ thuật khác cần áp dụng (tuỳ theo yêu cầu từng loại thu nhập phải tính thuế: loại thu ngay khi có thu nhập– ví dụ tiền nhuận bút, tiền hoa hồng.., loại thu hàng tháng, loại thu hàng năm; một loạt vấn đề khác thuộc nội dung chính sách thuế, chính sách xã hội, hoặc những vấn đề kỹ thuật khác thuộc các phạm vi kế toán, kiểm toán…). Các cơ quan nhà nước đã ý thức hết và đã bắt tay vào những công việc chuẩn bị này?  Những nhóm vấn đề vừa nêu trên cho thấy trong khi soạn thảo Luật Thuế thu nhập, nhất thiết ngay từ bây giờ phải đồng bộ xúc tiến những việc khác phải làm. Khi áp dụng thuế thu nhập, bằng mọi giá cần tránh để xảy ra tình trạng thời gian rối loạn ban đầu kéo quá dài và có quá nhiều vướng mắc như trong những năm đầu tiên khi áp dụng thuế VAT.  III. Vẫn còn những vấn đề khác cần bàn tiếp  Giới nghiên cứu kinh tế nhìn chung thừa nhận 3 tiêu chí công bằng, dễ thực hiện, tính thuyết phục cao  do Athur Betz Laffer3 đề ra cho việc hoạch định chính sách thuế. Xoay quanh 3 tiêu chí này trong việc áp dụng thuế thu nhập ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề khác phải tìm lời giải.    Dưới đây xin đặt lên bàn nghị sự một số vấn đề nổi cộm:  Xác định thu nhập và khởi điểm để tính thuế:   Theo giải thích của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Vũ Văn Ninh, có 6 loại thu nhập được kể vào nguồn thu nhập cá nhân để tính thuế, dự luật thuế đang cân nhắc mức khởi điểm 4 hoặc 5 triệu đồng sau khi chiết trừ các khoản theo quy định của Luật4.   Bên cạnh vấn đề mức thu nhập cá nhân (đã chiết trừ mọi khoản theo Luật) 4 – 5 triệu VNĐ để tính thuế là hợp lý hay chưa, còn phải tiếp tục thảo luận nhiều vấn đề kỹ thuật khá phức tạp thuộc phạm vi thực hiện.   Riêng về kỹ thuật thực hiện, nếu không lường hết mọi tình huống, không chuẩn bị đầy đủ phương tiện và những kỹ năng cần thiết, sẽ gây nhiều phản tác dụng hoặc những ách tắc lớn, phát sinh nhiều vấn đề mới – từ gian lận, trốn thuế, đình đốn kinh doanh… đến những bất bình xã hội khác.  Giả thử thiết kế thuế trên những dòng thu nhập dễ xác định nhất, áp dụng cách tính thuế đơn giản và dễ thực hiện, sẽ có thể thực hiện tốt thuế thu nhập. Song nếu quá thiên về đơn giản, về khả năng thực hiện dễ dàng, rất có thể sẽ lại bỏ sót nhiều phần thu nhập trong xã hội phải chịu thuế – không thực hiện được công bằng, thiệt cho ngân sách quốc gia.  Như vậy còn nhiều điều phải bàn tiếp chung quanh vấn đề này.  Thuế suất lũy tiến (progressive rate) hay thuế suất đồng loạt (flat rate)?  Trong giới nghiên cứu kinh tế liên quan đến vấn đề thuế thu nhập, trường phái luỹ tiến hay trường phái đồng loạt vẫn tranh luận với nhau không phân thắng bại. Song trong thực tiễn mỗi quốc gia đều dựa vào hoàn cảnh, tình hình phát triển và những điều kiện riêng của mình để lựa chọn, quyết định. Hiện nay đa số các nước phát triển đều vận dụng phương thức thuế suất luỹ tiễn.  Tuy nhiên, một hiện tượng phải xem xét: Nền kinh tế Hongkong phát triển cao nhưng lại lựa chọn phương thức thuế suất đồng loạt cho thuế thu nhập:  – thu nhập từ lợi nhuận: thuế suất 14%,  – lương: thuế suất 8%,  – bất động sản: thuế suất 5%.  Đi liền với thuế suất nêu trên, một thời gian dài Hongkong quy định ngân sách của chính quyền (ngân sách nhà nước) chỉ được thu theo một tỷ lệ cố định là n% GDP của kinh tế Hongkong.    Sự phát triển năng động của kinh tế Hongkong là câu trả lời cho sự lựa chọn phương thức thực hiện thuế thu nhập đơn giản Hongkong đang vận dụng.  Nhờ hệ thống thuế thu nhập đơn giản, rõ ràng, mức thuế thấp, nhờ những hiệp định hoặc thoả thuận tránh đánh thuế 2 lần ký kết giữa Hongkong và các nước đối tác, Hongkong tạo ra sức hấp dẫn đáng kể FDI, các dịch vụ (đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng) và chất xám. Thực tế này đã góp phần quan trọng tạo ra sự phát triển năng động của Hongkong – nổi bật nhất là Hongkong trở thành một trung tâm tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á.  Kinh nghiệm của Hongkong có đáng cho Việt Nam tham khảo không? Là nước đi sau và còn ở mức phát triển thấp, nước ta nên lựa chọn gì?  Khai thác nguồn “vốn chết”, “tư bản chết” cho phát triển kinh tế  Là nền kinh tế còn nghèo, thiếu vốn, song ở nước ta có thể nói lượng vốn “chết” (tư bản chết) dưới các dạng cất trữ khác nhau hoặc vì những lý do nào đó không được đưa vào vận hành trong nền kinh tế là rất lớn. Chỉ riêng lượng vàng, ngoại tệ mạnh được cất trữ trong các hộ gia đình, khối lượng tài sản bất động sản dưới dạng “vốn chết” – vì nhiều lý do không đưa được vào dòng vốn đang vận động trong nền kinh tế và trong hệ thống thị trường tài chính tiền tệ của quốc gia – có thể lớn tới nhiều lần GDP5. Có nhiều vướng mắc gây nên tình trạng này, song vướng mắc cốt yếu nhất là: quyền sở hữu chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.  Thực hiện thuế thu nhập có thể là một cơ hội đưa lượng “tư bản chết” này vào vận động trong nền kinh tế, hoặc là một thách thức chôn sâu hơn nữa lượng “tư bản chết” này – tất cả tuỳ thuộc rất đáng kể vào hệ thống thuế thu nhập đang được thiết kế như thế nào và lựa chọn phương thức, lộ trình thực hiện ra sao?  Có thể nói ngay: Luật thuế thu nhập đang được soạn thảo chưa tiếp cận vấn đề quan trọng này.  IV. Kiến nghị  1. Nên kiên trì dựa vào 3 tiêu chí công bằng, dễ thực hiện, tính thuyết phục cao rà xoát lại dự thảo luật đang bàn, tổ chức nghiên cứu, lấy ý kiến rộng rãi để cân nhắc.  2. Làm ngay những việc thuộc khâu chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, kỹ năng và đào tạo nguồn nhân lực cần thiết cho thực hiện thuế thu nhập; chú ý xúc tiến việc thực hiện thu thuế qua hệ thống tin học và hệ thống ngân hàng, giảm nhanh việc thu thuế qua hệ thống sổ sách và tiền mặt. Về lâu dài cần tiến tới phương thức người nộp thuế tự tính thuế như đang làm tại nhiều nước phát triển.  3. Đồng thời ban hành các chính sách kinh tế khác, cải cách luật pháp, cải cách hành chính và các cơ chế quản lý theo hướng ngày càng tạo ra công khai minh bạch cho việc đóng thuế và thu thuế, tạo ra công khai minh bạch khuyến khích đưa lượng vốn “chết” vào sự vận động của nền kinh tế.  Thực hiện thuế thu nhập là một nhiệm vụ kinh tế mang ý nghĩa chính trị rất trọng đại, đòi hỏi phải tiến hành công tác vận động và giáo dục chính trị sâu rộng trên hai vế:   · Người dân có nghĩa vụ đóng đủ thuế.   · Nhà nước có nghĩa vụ làm tròn sứ mệnh phụng sự dân đúng với nghĩa đen của câu chữ: Tiêu tiền của dân phải đúng mục đích và có hiệu quả, cán bộ phải là người đầy tớ tốt của dân.    Cải cách hành chính và các cơ chế quản lý để nâng cao tính nhà nước pháp quyền của thể chế chính trị, tính xã hội dân sự của cộng đồng dân cư, tính thị trường của nền kinh tế là điều kiện, là nền tảng để thực hiện thuế thu nhập – đồng thời đây cũng là đòi hỏi tất yếu để đất nước có sức mạnh, có bản lĩnh hội nhập thắng lợi vào nền kinh tế toàn cầu hóa trên thế giới./.  ————-  1 Nghĩa là chưa hoàn toàn công bằng, mà chỉ công bằng hơn mọi loại sắc thuế khác.  2 Thật ra thói quen này có nhiều lý do xác đáng của nó trong tình trạng hiện tại ở nước ta.  3 Nổi tiếng với đường cong Laffer; đại ý mức thuế tối ưu có thể thu được nằm ở giao điểm của đường biểu diễn khả năng thực thi tối ưu của thuế và đường biểu diễn mức thuế muốn áp dụng.  4 Tham khảo giải thích của Bộ trưởng Vũ Văn Ninh ngày 5-09-2006, đăng trên báo Người Lao động ngày 6-09-2006.  5 Tham khảo thêm cuốn “Sự bí ẩn của tư bản”, Hernando de Soto, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006.      Nguyễn Trung    Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy thoái 2023 nếu xảy ra thì sao?      Cách đây một tháng, công ty tư vấn KPMG thăm dò ý 400 giám đốc về triển vọng kinh tế Mỹ – 90% nghĩ kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái trong năm tới và hai phần ba nghĩ suy thoái sẽ “dài” và “nặng.” Phù hợp với khảo sát này, một số công ty lớn như Amazon, Facebook, Wal-Mart đã bắt đầu sa thải mấy chục ngàn nhân viên.  Với thế giới toàn cầu hóa, suy thoái nếu có xảy ra, sẽ lan tỏa đến châu Âu, châu Á, các nước đã và đang phát triển, trong đó có Việt Nam.      Chu kỳ kinh doanh và chính sách tiền tệ  Để hiểu sự bi quan của một số đông nhà kinh doanh, đầu tư, lãnh đạo, chúng ta nên nói sơ qua về thuyết chu kỳ kinh doanh. Trong thời thịnh vượng, tổng cầu có thể quá cao, vượt mức sản lượng toàn dụng. Trong trường hợp này, nhân lực hoặc tài nguyên không đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất gây áp lực tiền lương và mức giá leo thang, tình trạng này được gọi là lạm phát. Nhận ra tình trạng đó, thị trường kỳ vọng lạm phát có thể leo thang. Kỳ vọng đó kéo theo tiền lương và giá leo thang – lạm phát gia tăng vì kỳ vọng lạm phát gia tăng.  Để tránh tình trạng lạm phát gia tăng, ngân hàng trung ương khi thấy tổng cầu quá cao, thường tăng lãi suất để khuyến khích xí nghiệp giảm đầu tư, bớt mướn lao động, tạo áp lực giảm tổng cầu hầu giảm áp lực tiền lương và áp lực giá đưa tổng cầu cân bằng với mức sản lượng toàn dụng. Hành động chính sách này được công bố sớm một cách rõ rệt và rộng rãi để ổn định kỳ vọng lạm phát trên thị trường.  Ngược lại, nếu tổng cầu quá thấp so với mức sản lượng toàn dụng, sẽ có tình trạng thất nghiệp, áp lực tiền lương giảm, giá giảm. Để giảm thất nghiệp, ngân hàng trung ương khi thấy tổng cầu quá thấp, thường giảm lãi suất để khuyến khích xí nghiệp đầu tư tạo việc làm, chính sách kích cầu đưa tổng cầu cân bằng vớ mức sản lượng toàn dụng.  Suy thoái khởi sự từ phía “Cầu”  Trong những năm sau đệ nhị thế chiến, kinh tế Mỹ đã rơi vào tình trạng suy thoái khoảng 12 lần. Hầu hết các trường hợp này tiến diễn theo một mẫu, chúng ta tạm gọi là suy thoái “bình thường”. Trong kịch bản này, như đã mô tả trên, khởi điểm là tổng cầu quá cao nhưng tổng cầu cao có thể vì thị trường quá lạc quan kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng. Dân chúng tiêu xài thoải mái, xí nghiệp bành trướng tạo thêm việc làm, các nhà đầu tư tăng đầu cơ bất động sản và chứng khoán. Tổng cầu và mức giá tiếp tục tăng trưởng nhưng gần đến đỉnh, càng nhiều thành phần tham gia thị trường kỳ vọng giá sắp phải giảm. Khi đó, một biến cố ngẫu nhiên nào đó xảy đến khiến thị trường trở nên bi quan, giá giảm nhanh và nhiều, tiêu thụ giảm, đầu tư giảm, tổng cầu giảm, thu nhập giảm và thất nghiệp tăng. Kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái khởi đầu từ một cú sốc đến bên phía cầu. Khi suy thoái đến từ cú sốc giảm tổng cầu, ngân hàng trung ương thường dùng chính sách hạ lãi suất để tăng tín dụng khuyến khích đầu tư và tiêu thụ và đồng thời, chính phủ cũng có thể dùng chính sách ngân sách nhằm tăng tổng cầu giúp mau chóng mang lại cân bằng với mức sản lượng toàn dụng.  Các tấm biển thông báo đóng cửa hiệu vào năm 2009 ở Mỹ. Ảnh: AP/Paul Sakuma  Ví dụ điển hình là “suy thoái lớn” 2008-2009. Trước khi xảy ra khủng hoảng và suy thoái là những năm thịnh vượng – thu nhập tăng trưởng cao và đều, thất nghiệp thấp, tiêu thụ cao, đầu tư cao, tổng cầu quá cao, mức giá leo thang. Đến hè 2007, giá nguyên liệu và đặc biệt giá bất động sản đến đỉnh rồi giảm mạnh, một số cơ quan tài chính phá sản, và khủng hoảng tài chính lan tỏa đến những lãnh vực khác trong kinh tế. Tại Mỹ và các nước châu Âu, ngân hàng trung ương hạ lãi suất đến gần mức zero và chính phủ đưa ra những gói “kích cầu” giúp tăng tổng cầu. Cuộc suy thoái lớn kéo dài từ tháng 12/2007 đến giữa 2009.     Suy thoái bắt nguồn từ phía ™Cung∫  Vào năm 1973, cuộc chiến Ả Rập-Do Thái khiến khối OPEC giảm sản xuất nhằm nâng giá dầu tăng 400%. Cũng cùng thời điểm này sản xuất nông nghiệp mất mùa tại một số nước lớn làm tăng giá lương thực. Khi giá sinh hoạt tăng, lao động đòi hỏi tiền lương tăng theo tạo tình trạng lạm phát xoắn ốc.  Lạm phát có thể đưa đến suy thoái vì giá cao giảm giá trị thu nhập làm giảm tiêu thụ, đầu tư, và sản lượng. Từ năm 1973-1975, GDP thực Mỹ giảm 3,1% và thất nghiệp leo thang đến 9%.  Khác với 2008, khi suy thoái đi đôi với lạm phát vì phát nguồn từ cú sốc cung, chính sách tiền tệ cũng như chính sách ngân sách đều bị giới hạn – giảm lạm phát thường phải giảm tổng cầu hoặc muốn giảm suy thoái bằng cách kích cầu thì tăng lạm phát. Nếu phải lựa chọn, chính sách tiền tệ thường phải ưu tiên đương đầu với lạm phát. Lý do là “uy tín” và “kỳ vọng”.    Dù suy thoái có đến trong năm 2023, lịch sử cho thấy đây có thể là cơ hội chuẩn bị cho cuộc phục hồi và thịnh vượng tiếp theo.    Để ổn định kinh tế, ngân hàng trung ương thường công bố một mức lạm phát mục tiêu. Mức mục tiêu làm neo cho kỳ vọng lạm phát của thị trường giúp ổn định giá. (Trong mấy chục năm qua, Cục Dự trữ liên bang Mỹ Federal Reserve giữ mục tiêu lạm phát khoảng 2%). Khi lạm phát tăng vượt mức này, ngân hàng trung ương phải hành động mạnh mẽ và nhanh chóng để giữ uy tín. Nếu mất uy tín, ngân hàng trung ương không thể ảnh hưởng kỳ vọng của thị trường và những chính sách tiền tệ sẽ không hiệu lực. Vào năm 1979, sau cuộc cách mạng Iran, giá dầu tăng gấp đôi, tái diễn lạm phát do cú sốc dầu hỏa. Tuy lạm phát tăng vì các cú sốc xảy đến bên phía cung, chính sách tiền tệ để giảm lạm phát cũng chỉ là tăng lãi suất để giảm tổng cầu.  Để đưa lạm phát từ 11% xuống đến 4%, Federal Reserve đã phải gây ra cuộc suy thoái 1981-1982 kéo dài 16 tháng khi đó thất nghiệp lên đến 11%.  Khả năng suy thoái 2023  Hai biến cố lớn, chiến tranh Nga-Ukraine và đại dịch Covid-19, ảnh hưởng khả năng kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái.  Vì hai biến cố này là những tác động bên phía cung, suy thoái 2023, nếu có, sẽ giống hai suy thoái 1973-1975, 1981-1982 hơn là giống suy thoái lớn 2008-2009.  Covid-19 vẫn còn để lại một số ảnh hưởng quan trọng đến thị trường lao động Mỹ. (1) Tỷ lệ tham gia lao động đã không trở lại mức trước Covid. Đây là số người tuổi đi làm nhưng không đi kiếm việc. Đây là hiện tượng khó giải thích nhưng một lý giải là một số người vẫn còn lo ngại về dịch Covid-19 và đồng thời chính sách trợ cấp chính phủ rộng rãi nên số người này không muốn đi làm. (2) Khi kinh tế đóng cửa vào năm 2020, số đông người di dân đã trở về nước. Tuy kinh tế Mỹ đã mở cửa nhưng trở lại Mỹ có nhiều rủi ro nên nguồn lao động di dân dưới mức trước Covid. Báo cáo mới nhất từ Cục Thống kê lao động Mỹ cho biết tỷ lệ thất nghiệp là 3,7% ngang với tỷ lệ trước Covid nhưng thất nghiệp thấp phần lớn vì người kiếm việc ít hơn. (3) Lao động khan hiếm, nhiều cuộc đình công đòi hỏi tiền lương tăng.  Đồng thời, Covid-19 vẫn còn gây xáo trộn đến chuỗi cung quốc tế và chiến tranh Nga – Ukraine giảm nguồn nhiên liệu và thực phẩm. Tất cả các yếu tố trên đều là những cú sốc cung gây áp lực lạm phát. Nếu lạm phát tiếp tục cao so với mức mục tiêu 2%, Federal Reserve sẽ phải tăng lãi suất để giảm tổng cầu và nếu giảm quá sẽ đưa đến suy thoái.  Các nhân viên y tế biểu tình đòi tăng lương sau dịch Covid-19 khi số người làm việc giảm nên khối lượng công việc ngày càng tăng và điều kiện làm việc không có gì cải thiện. Ảnh: Reuters/Lindsay DeDario  Suy thoái thế giới ảnh hưởng Việt Nam ra sao?  Nếu suy thoái cùng lạm phát xảy ra tại nước Mỹ khả năng lớn sẽ lan tỏa đến nước khác. Khi Federal Reserve tăng lãi suất, đồng USD sẽ tăng giá trị. Giá hàng nhập từ Mỹ sẽ tăng. Nếu đây là những nước châu Âu, lạm phát từ nguồn cung sẽ tạo áp lực suy thoái tương tự như tại Mỹ. Suy thoái tại Mỹ và châu Âu ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam chính là qua kênh xuất khẩu. Khi thu nhập các nước này giảm, nhu cầu hàng hóa từ Việt Nam sẽ giảm theo. Trong cuộc suy thoái lớn 2008-2009, xuất khẩu Việt Nam đã giảm và tăng trưởng GDP Việt Nam giảm từ 7,1% năm 2007, xuống 5,7% 2008, rồi 5,4% năm 2009. So với thời điểm đó, Việt Nam hiện giờ xuất khẩu gấp nhiều lần; điển hình, Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ hiện tại gấp 7 lần giá trị năm 2008. Vì thế, ảnh hưởng suy thoái 2023 sẽ phải nặng hơn năm suy thoái 2008-09. Để so sánh, giá trị xuất khẩu Trung Quốc tính đến tháng 9/2008 tăng trưởng 20% mỗi năm; từ tháng 10/2008 đến tháng 8/2009 xuất khẩu giảm 20%; GDP tăng trưởng 11% sáu tháng đầu 2008 và dưới 5% sáu tháng cuối.  Vì suy thoái 2023, nếu có, sẽ đi cùng với lạm phát, để giảm lạm phát, các ngân hàng trung ương sẽ phải tăng lãi suất, giảm tổng cầu và nếu lạm phát tiếp tục ngoan cố giữ mức cao, cuộc suy thoái có khả năng sâu và kéo dài.  Tuy nhiên, đây không phải là kịch bản duy nhất. Thứ nhất, lạm phát đang tương đối cao nhưng suy thoái chưa đến và không nhất thiết phải xảy ra. Có một số chính sách có khả năng giảm áp lực giá ngoài chính sách lãi suất. Tỷ lệ tham gia lao động tại Mỹ có thể tăng nếu chính phủ giảm trợ cấp Covid và lo ngại về dịch ngày càng giảm. Chính sách di dân Mỹ có khả năng dễ dàng hơn trong năm tới. Nguồn lao động tăng sẽ giảm áp lực tiền lương và giá và gỉam nhu cầu tăng lãi suất.  Trên thị trường dầu hỏa, OPEC có dấu hiệu tăng sản xuất và sẽ có thêm nguồn dầu từ Venezuela. Giá xăng tại Mỹ nay đã trở lại mức trước chiến tranh Nga – Ukraine. Lạm phát vẫn cao nhưng, trong tháng qua, có hướng giảm. Do đó, Federal Reserve ra dấu hiệu không tăng lãi suất với tốc độ nhanh như trước.  Thứ nhì, dù có đến, suy thoái có thêm tác động thanh lọc (“cleansing effect”). Khi kinh tế giảm tăng trưởng, những đơn vị ngưng hoạt động thường kém hiệu lực hơn các đơn vị tồn tại. Sau suy thoái, nền kinh tế có thể hiệu quả hơn và tăng trưởng mạnh mẽ hơn trước.  Thứ ba, khi suy thoái đi đôi với lạm phát (như 1973-1975, 1981-1982), ngân hàng trung ương sẽ giải quyết lạm phát trước qua chính sách tăng lãi suất. Một khi lạm phát đã được mang xuống mức chấp nhận, lãi suất sẽ ở mức tương đối cao so với mức lãi suất khi suy thoái phát nguồn từ sốc từ phía cầu (như 2008-2009). Sau suy thoái lớn 2008-2009 cuộc phục hồi rất chậm so với những suy thoái trước vì lãi suất có đáy ở mức zero (từ 2009-2015 lãi suất nằm ở mức gần zero) và không còn dư địa cho việc kích cầu bằng cách giảm lãi suất.  Để so sánh, GDP phục hồi sau suy thoái 1981-1982 xảy ra rất nhanh. Lãi suất giảm từ 19% đầu năm 1981 đến 13% cuối năm và đến 9% một năm sau. Do Federal Reserve đã chứng tỏ sự cam kết giữ lạm phát thấp, kỳ vọng lạm phát sau đó giữ khoảng 2%. Kinh tế Mỹ phát triển trong suốt 20 năm sau, thời kỳ được gọi là “The Long Boom” (tạm dịch là một cuộc nổ dài). Nếu không tính suy thoái 2001, một cuộc rất ngắn và nhẹ, sự phát triển đó kéo dài đến 2008. Những năm đó, nhiều kinh tế, trong đó các nước châu Á dẫn đầu, đã theo làn sóng toàn cầu hóa, phát triển mạnh mẽ, hiện đại hóa và công nghiệp hóa, giảm đói xóa nghèo, nâng cao mức sống của hàng tỷ người. Dù suy thoái có đến trong năm 2023, lịch sử cho thấy đây có thể là cơ hội chuẩn bị cho cuộc phục hồi và thịnh vượng tiếp theo.□  —–  Tác giả hiện đang là GS tại Đại học Baylor, Mỹ    Author                Phạm Hoàng Văn        
__label__tiasang Tác dụng của khí cầu tầm cao trong nghiên cứu khoa học      Khí cầu tầm cao thường được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như để nhìn rõ không gian hoặc để kiểm tra dụng cụ.      Sau khi bắn hạ một khí cầu tầm cao bị nghi là của Trung Quốc ở ngoài khơi bờ biển Nam Carolina vào ngày 4/2, Mỹ tiếp tục thắt chặt việc tìm kiếm các vật thể bay tầm cao không xác định khác bằng radar, và bắn hạ thêm 3 vật thể nữa. Đến nay có vẻ như các vật thể đều không phải là khí cầu do thám.    Khí cầu bị bắn hạ đầu tiên cao 60 mét, mang theo trọng tải khoảng một tấn, gồm các thiết bị để chặn các thông tin nhạy cảm. Trung Quốc thì nói rằng đó là một khí cầu nghiên cứu dân sự đi lạc.    3 khí cầu còn lại nhỏ hơn và không được Mỹ mô tả rõ ràng. Khí cầu ở Alaska có kích thước bằng một chiếc ô tô nhỏ; khí cầu ở Yukon, Canada, có hình trụ nhỏ; và khí cầu ở Michigan có cấu trúc hình bát giác. Cả 3 đều bay trong không phận thương mại ở độ cao khoảng 6–12 km. Chính phủ Mỹ hiện cho biết “lời giải thích khả dĩ nhất” là “những khí cầu này gắn liền với mục đích thương mại hoặc ôn hòa nào đó”.    Có bao nhiêu khí cầu tầm cao trên bầu trời? Chúng được sử dụng để làm gì và những sự cố gần đây có ý nghĩa gì đối với những người sử dụng khí cầu?          Khí cầu tầm cao là một công cụ có giá trị để có được tầm nhìn cao hơn tầm nhìn mà máy bay không người lái hoặc máy bay có người lái có thể đạt tới, với chi phí thấp hơn so với vệ tinh. Hầu hết là khí cầu thời tiết, được phóng đồng thời từ gần 900 địa điểm trên toàn thế giới, 2 lần mỗi ngày. Các khí cầu này truyền dữ liệu về nhiệt độ, độ ẩm, áp suất và vị trí, và chỉ dùng một lần. Chúng thường được làm bằng mủ cao su phân hủy sinh học, đường kính có thể đến 6 mét khi mở rộng, bay lên độ cao khoảng 30 km và chỉ tồn tại trong vài giờ.    Một số nhà khoa học sử dụng những khí cầu lớn hơn, bền hơn để quan sát không gian hoặc thử nghiệm các dụng cụ được thiết kế để sử dụng trên cao. Cơ sở bay Wallops của NASA ở Virginia quản lý việc phóng khoảng 10–15 khinh khí cầu khoa học mỗi năm trên toàn thế giới. Chúng có thể mang khoảng 3.000 kg lên độ cao 37 km, nhờ kích thước khi mở ra lớn hơn một sân vận động bóng đá.    Những người sử dụng khí cầu khác gồm sinh viên khoa học, công ty và những người đam mê nghiệp dư. Jason Krueger cho biết, từ năm 2006, công ty StratoStar của anh ở Fishers, Indiana, đã giúp sinh viên và các công ty thực hiện hơn 1.000 nhiệm vụ khí cầu tầm cao. Các dự án này đa dạng, từ thử nghiệm xem giấy giao việc (post-it-note) còn dính khi lên đến độ cao gần không gian hay không, đến thử nghiệm tác động của bức xạ độ cao đối với các mẫu máu.    Một số công ty thì sử dụng khí cầu để cung cấp Wi-Fi cho các vùng sâu vùng xa. Những người đam mê nghiệp dư thì dùng những khí cầu có đường kính dưới 1 mét, mang theo những chiếc radio nghiệp dư hoặc những tải trọng chỉ nặng vài gam.    Nhiều khí cầu trong số này không bị đưa vào danh sách nghi ngờ và bị bắn hạ. “Mỗi ngày đều có nhiều chuyến bay khí cầu của giới nghiên cứu, doanh nghiệp và người dùng giải trí, tôi cho rằng những gì bị bắn hạ không nằm trong những hạng mục đó”, Robert Rohde, nhà khoa học tại tổ chức phi lợi nhuận về môi trường Berkeley Earth, sống ở Zurich, Thụy Sĩ, cho biết.    Cục Hàng không Liên bang Mỹ không yêu cầu khai báo hay gắn định vị với các thiết bị bay tải trọng dưới 5,4 kg. Nếu giờ đây những vật thể bay như vậy bắt đầu thu hút sự chú ý của quân đội, thì chúng nên được định vị và khai báo, Rohde nói. “Tôi không cảm thấy điều này là cần thiết từ quan điểm an toàn, nhưng nếu có lo ngại về các khí cầu di chuyển giữa các quốc gia, thì nên tìm cách xác định chúng là gì.”      Gần đây, Mỹ bắt đầu xem xét các “hiện tượng dị thường không xác định” (UAP), bao gồm cả vật thể bay, một cách nghiêm túc hơn. Năm ngoái, NASA thành lập một nhóm gồm các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, chuyên gia chuyến bay và vũ trụ để điều tra UAP, với lý do an ninh quốc gia và an toàn hàng không.    Và vào tháng 1/2023, Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ (ODNI) đã tiết lộ số lần phát hiện UAP tăng đáng kể. Trong 17 năm tính đến tháng 3/2021, ODNI đã lập danh mục 263 báo cáo UAP. Nhưng chỉ từ tháng 3/2021 đến nay, đã có 247 báo cáo. Trong số 366 báo cáo được phân tích kỹ, ODNI xác định 163 khí cầu, 26 máy bay không người lái và 6 sự kiện thời tiết không rõ ràng.      Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Tái cấu trúc tiến trình xây dựng quyết sách      Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó. Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 4 (nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán)… Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết sách tương ứng với nó- đó là quy trình từ dưới lên, quy trình dân chủ với sự tham gia của mọi thành phần xã hội, có khả năng hoạch định được những quyết sách có chất lượng cao.&#160;&#160;                       Chúng ta xuất phát từ đâu?   Trong hội thảo đi tìm mô hình tăng trưởng cho Việt Nam do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 23/6/2010, Gs. Kenichi Ohno phân chia 5 đẳng cấp quốc gia như sau:   – Đẳng cấp hạng 5, thấp nhất: nông nghiệp tự cung tự cấp, phụ thuộc vào viện trợ. Đây là đẳng cấp của Việt Nam năm 1986, năm Đổi mới.   – Đẳng cấp hạng 4: sản xuất giản đơn: Nuôi tôm, bóc vỏ, xuất khẩu. Nhập nguyên liệu dệt, sản xuất vải, may áo, đem bán. Khai thác tài nguyên, sơ chế, bán cho Trung Quốc… Đẳng cấp của Việt Nam hiện nay.   – Đẳng cấp hạng 3: có các ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành này được nuôi dưỡng bởi các công ty đầu tư nước ngoài. Đây là trình độ hiện nay của Thái Lan, Malaysia, một phần lực lượng kinh tế của Trung Quốc.    – Đẳng cấp hạng 2: Làm chủ công nghệ, quản lý, sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Đây là đẳng cấp của Hàn Quốc, Đài Loan, và một số thành phố phía Đông của Trung Quốc.   – Đẳng cấp hạng nhất: Sáng tạo (trong đó có cải tiến) trong sản xuất như là kẻ dẫn đầu. Đây là đẳng cấp của Mỹ, Nhật, EU.   Nhiệm vụ của Việt Nam là trong vòng khoảng 2 thế hệ, phải từ tiến hóa thành quốc gia “hạng nhất”, sáng tạo với tư cách là kẻ dẫn đầu. Để thực hiện được mục tiêu này chúng ta cần đến tính khoa học và dân chủ trong cấu trúc của tiến trình ra quyết sách, và cách sắp xếp thế trận hợp lý để thực thi các quyết sách đó.     Khuyếm khuyết của tiến trình hoạch định quyết sách nhìn từ những siêu dự án   Thời gian qua, Việt Nam chứng kiến sự nợ rộ của những siêu dự án: “quy hoạch Hà Nội”, “thành phố ven sông Hồng”, “đường sắt cao tốc”… Những dự án này đều do các nhóm tư vấn nước ngoài thực hiện.   Những tổ chức tư vấn này đề xuất những hạng mục đòi hỏi một khả năng tài chính và kỹ thuật mà Việt Nam hiện chưa làm nổi. Nếu phê duyệt dự án, cách duy nhất để thực hiện là vay ODA và trao thị phần cho nước mình vay.    Các Nhóm tư vấn nước ngoài này không hề độc lập mà chỉ là một mắt xích trong “binh pháp ODA” của các nước phát triển hơn ta. Các nhà khoa học Việt Nam chỉ được biết đến các dự án đó khi cơ quan chủ trì đem ra “lấy ý kiến” và “xin phê duyệt”. Vì thế hầu như họ phải phản biện trong tình trạng chạy theo đuôi tình thế.   Kết quả tất yếu của cách vận hành chính sách như trên là, những khoản “béo bở” nhất của đại dự án thì thuộc về nước ngoài. Người Việt Nam, do ràng buộc của tài chính, kỹ thuật và điều khoản hợp đồng ODA, chỉ có thể làm thuê bên lề. Trong một “thế trận” như vậy, cả một khoản đầu tư khổng lồ được tung ra, nhưng không trở thành động lực vật chất, không trở thành cơ hội cho sự phát triển của các công ty, viện nghiên cứu của Việt Nam.   Bên cạnh đó, ngay cả ở nhiều quyết sách do Việt Nam hoàn toàn chủ động thực hiện, chất lượng cũng thấp. Cách đây chưa lâu, Đề án 112, cải cách hành chính theo hướng xây dựng “chính phủ điện tử” là một ví dụ.   Qua các siêu dự án trên cho thấy chất lượng nhiều quyết sách của Việt Nam còn thấp. Nguyên nhân của điều này là tính bất hợp lý trong cấu trúc của tiến trình hoạch định quyết sách.   – Trong các Bộ Trung ương cũng không có các cơ quan hoạch định quyết sách chuyên nghiệp, tập hợp những tài năng thực sự và được đãi ngộ xứng đáng. Các cán bộ ở các Bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc một lúc và không được đãi ngộ để thoát khỏi nỗi lo cơm áo. Họ gần như bỏ rơi quản lý chiến lược, sa vào quản lý các dự án cụ thể. Khi họ viết nghiên cứu chiến lược thì hầu như chỉ biết đến Bộ mình mà không thảo luận với chuyên gia ở các Bộ, Ngành liên quan, không tham khảo ý kiến các Viện nghiên cứu, các trường đại học.   Mặt khác, khi tư duy quyết sách, không thể không tham khảo ý kiến các Nhóm xã hội liên quan, đặc biệt là các Hội nghề nghiệp của xã hội dân sự. Nhưng ở nước ta, các Nhóm xã hội này đang gặp vấn đề. Hoặc là bị nước ngoài thao túng như Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô (VAMA), hoặc không được cấu trúc một cách hợp lý như Hiệp hội lương thực (VFA), hoặc còn chưa trưởng thành để có tiếng nói với chính sách như Hội Nông dân… Và hơn hết, các Hội này, chẳng hạn Hội nông dân và Hội lương thực, không có cơ chế nào để đối thoại với nhau mỗi khi xung đột lợi ích. Mạnh được, yếu thua. Ta sống, mày chết.     Bên cạnh đó, khi mỗi “chiến lược” được viết xong, không có bất kỳ một think tank(s) nào được đặt hàng thẩm định, phản biện. Đơn giản chỉ vì chúng ta không có một think tank nào để làm việc đó.   Tái  cấu trúc tiến trình ra quyết định                  1. Chính phủ cần xây dựng tầng lớp tư duy chiến lược chuyên nghiệp thông qua hình thức các think tank(s). Ở Trung Quốc, thời đại của những quân sư phe phẩy quạt mo như Gia Cát Lượng của Lưu Bị, đã qua từ lâu. Học tập mô hình ra quyết sách của các nước tiền tiến, Trung Quốc đã xây dựng khoảng hơn 700 think tanks, tức các cơ sở nghiên cứu chiến lược và chính sách, cả ở cấp chính phủ lẫn địa phương, nhà nước lẫn dân sự, và cả những cơ sở nửa nhà nước nửa dân sự.     2. Việt Nam cần tái cấu trúc các Hiệp hội nghề nghiệp, theo 2 nguyên tắc “Dân chủ” và “Tất cả cùng thắng”. Dân chủ để giải quyết mọi vấn đề thông qua đối thoại và tư duy chiến lược, để không ai bị loại bỏ tiếng nói vì bất cứ lý do gì. “Tất cả cùng thắng” để mọi thành phần dân tộc đều có cơ hội tìm kiếm miếng cơm manh áo trên quê hương mình, không phải theo nguyên tắc “ta sống, mày chết” của chủ nghĩa tư bản thời hoang dã. Một ví dụ. Việt Nam có hiệp hội các nhà sản xuất ô tô xe máy, nhưng lại không có Hiệp hội các nhà nhập khẩu ô tô xe máy. Hậu quả của thế trận này là, trong lĩnh vực ô tô, Việt Nam chỉ tồn tại một nhóm lợi ích duy nhất, do nước ngoài thao túng, có khả năng tác động tới bộ phận hoạch định chính sách của Nhà nước, làm cho chính sách thuế nhập khẩu ô tô bất hợp lý một cách dai dẳng, bóp chết mọi hi vọng nội địa hóa ngành công nghiệp này, dù các nhà nghiên cứu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lên tiếng từ hơn 10 năm nay.     3. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần được loại bỏ cấu trúc tương tự như các cơ quan hành chính hiện nay, tái cấu trúc theo một “thế trận” mà các chức năng nghiên cứu và đào tạo có thể được vận hành thông suốt. Đẳng cấp của trường đại học được tính bằng đẳng cấp của người thầy đại học, và đẳng cấp của viện nghiên cứu được đo bằng đẳng cấp của nhà nghiên cứu mà nó có. Do đó, xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế” là xây dựng những người thầy đẳng cấp “quốc tế”, thay đổi số phận của đại học Việt Nam là thay đổi số phận của người thầy đại học của Việt Nam, tái cấu trúc đại học là tái cấu trúc quá trình phát triển trí tuệ và các năng lực của người thầy. Đối với các viện nghiên cứu cũng vậy. Lấy “người thầy” và “nhà nghiên cứu” làm điểm xuất phát để hoạch định chiến lược, con đường phát triển nền đại học và khoa học Việt Nam.   Lực lượng này cần trường thành vì đây là một trong những môi trường tạo tiền đề về tổ chức và tri thức để nuôi dưỡng và sinh thành những nhà tư duy chiến lược trong các lĩnh vực khác nhau, không chỉ cho hôm nay mà còn cho các thế hệ kế cận.   Khi nào xây dựng lại và tái sắp xếp tất các các thành tố xã hội nêu trên, thì Việt Nam sẽ có điều kiện tương đối đầy đủ để xây dựng quyết sách theo quy trình dân chủ như thường thấy ở các quốc gia hạng nhất, quy trình “từ dưới lên”, quy trình có khả năng kiến thiết những chính sách chất lượng cao.   Quy trình này sẽ làm cho quá trình hoạch định chính sách thực sự là một cuộc thử thách trí tuệ, khi mà mọi thành phần xã hội đều được tham gia tiếng nói hoàn toàn khác với sự dễ dàng ra một quyết sách theo lề thói quan liêu. Khi bắt đầu nghiên cứu chính sách, việc tham khảo tư vấn nước ngoài, cũng như việc tham vấn ý kiến của tất cả các Nhóm xã hội, là hết sức cần thiết, nhưng tuyệt đối không thể để rơi vào tình thế lệ thuộc. Việt Nam cần có một lực lượng hoạch định chính sách chuyên nghiệp, với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội khác nhau. Các nhóm lợi ích và các cơ quan tư vấn nước ngoài như World Bank, Ngân hàng ADB, JICA của Nhật… không được phép tư vấn trực tiếp cho các Bộ, các cơ quan ra quyết định, mà chỉ được phép làm việc với các Nhóm nghiên cứu chính sách chuyên trách của Chính phủ. Điều này sẽ giúp Việt Nam nắm bắt chính xác các vấn đề thực tiễn của đất nước theo quy trình “từ dưới lên”, và tiếp cận một cách chủ động các kinh nghiệm quốc tế, song không để cho các nhóm tư vấn nước ngoài và các nhóm lợi ích thao túng chính sách.  Quá trình tranh luận và đối thoại, cùng tất cả các dạng thức của nó như “đề xuất” và “bác bỏ”, “chứng minh” và “phản bác”, “biện hộ” và “phê phán”… cần phải được tiến hành triệt để trước khi quyết sách được hoàn tất để trình Quốc hội. Chỉ có như thế, các chính sách lớn khi trình lên Quốc hội mới có thể đến trạng thái “chuẩn không cần chỉnh” ở khâu phân tích chiến lược. Và từ đây, niềm hi vọng thúc đẩy Việt Nam tiến hóa từ quốc gia hạng 4 lên những đẳng cấp cao hơn mới bắt đầu không còn là một ảo vọng.  Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để tái cấu tái cấu trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó. Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 5 và hạng 4. Nếu chỉ bằng lòng với việc “nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán” thì cũng không cần lắm đến tính dân chủ của tiến trình ra quyết định. Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo thì phải có một quy trình ra quyết định tương ứng với nó. Dùng mô hình ra quyết định của nền kinh tế đẳng cấp hạng 4 thì không thể xây dựng được những chính sách có khả năng đi tới nền kinh tế hạng 1.    Công việc “sắp xếp lại giang sơn” này, nếu không phải là những nhà lãnh đạo đang đứng ở những “đỉnh cao chỉ huy” (hay là “những cao điểm chiến lược”) của đất nước, với đầy đủ quyền lực trong tay, thì không ai làm được.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống      Mấy năm nay trong xã hội ta thường nghe nói  đến các lỗi hệ thống. Và trong năm 2011 cụm từ tái cấu trúc được nhắc đi  nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó khăn kinh  tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở thành những từ  khoá trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý kinh tế xã hội trong cả  năm 2011. Cho nên có lẽ cũng là tự nhiên nếu câu chuyện đầu năm xoay  quanh tái cấu trúc và lỗi hệ thống.    Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi các thành phần, cơ chế hoạt động và cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài.   Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu của nó, một hệ thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu thì phải nghĩ ngay cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết tật cơ bản, nếu chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó, thì không những không giảm bớt được trục trặc, mà có khi còn làm phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, làm bất ổn gia tăng, đến mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình huống đó chỉ có thể là dựa trên phân tích cấu trúc hệ thống, xét lại toàn bộ tổ chức, cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách sửa chữa những khuyết tật cấu trúc của hệ thống, tức là các lỗi hệ thống, theo cách nói quen thuộc gần đây.   Đó là ý nghĩa các phạm trù “lỗi hệ thống” và “tái cấu trúc” mà gần đây đã được sử dụng khá phổ biến trong các câu chuyện chính trị và kinh tế, xã hội.     Thực tế xây dựng đất nước hơn ba mươi năm qua đã dạy chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng mười năm sau ngày thống nhất Tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại gây nên do những lỗi lầm hệ thống tich luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có công cuộc đổi mới mà nhờ đó đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi sinh kỳ diệu trong thập kỷ 90.  Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian 5-7 năm gần đây đã xuất hiện nhiều sai lầm, thất bại đưa đất nước đến những khó khăn hết sức nghiêm trọng. Những gì tích cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã đạt tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy cơ trì trệ, thậm chí khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực, hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh mất mát to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.  Về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng, kéo dài trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới những khuyết tật hệ thống của thể chế, cho nên sẽ khó có hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.   Điều nguy hiểm đáng lo, như Hội nghị TƯ 4 đã nhận định, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian: nhà dột từ nóc. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung quá đáng mà không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, tiếng là thể chế dân chủ nhưng nặng về dân chủ hình thức, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính được cải cách nhiều lần, nhưng ngày càng đồ sộ, hiện tượng quan liêu, xa dân, hành dân là chính chậm được khắc phục. Nhiều người trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra lối sống đồi truỵ, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh thân phì gia. Với một nền quốc trị như thế, trách sao văn hoá, đạo đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hàng ngày dày đặc những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người. Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, thiếu tự trọng dân tộc. Cho nên sửa đổi Hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.  Về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao đông giá rẻ, lấy doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của Nhà nước chứ không dựa trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hoá, giáo dục, khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng – nay đã  rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển kinh tế thiển cận đó được thực thi trên nền một thể chế lỏng lẻo bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ đã trở thành hiện tượng phổ biến của xã hội Viêt Nam hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn bệnh này ăn sâu vào xương tuỷ xã hội thì không mong gì những kế hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện có hiệu quả.   Về đời sống văn hoá, giáo dục, xã hội. Đây là vấn đề sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất. Không phải không có cơ sở mà ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan Chu Trinh đã khởi xướng cứu nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe liên tiếp xảy ra), bệnh viện quá tải thê thảm, thực phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh, đành rằng tất cả đều có phần hệ quả  trực tiếp của những sai lầm hệ thống nói trên về chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhận rõ những sai lầm hệ thống ngay trong văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế, xã hội nữa.    Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, đã được cuộc sống cảm nhận bức thiết và TƯ Đảng, Chính phủ cũng đã có những nghị quyết trịnh trọng khởi xướng từ 6-7 năm nay. Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc lên án nó là nguyên nhân khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi” (“Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, trang 463). Trong đó cái chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương nhiên chủ yếu phải chịu vòng cương toả của chính sách chung về lương công chức của Nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ quặc này, không giống bất cứ ai trên thế giới nên mới có tình trạng cũng không giống ai trên thế giới là thầy giáo không tập trung vào công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là không đâu người thầy bị rẻ rúng, coi thường như ở xứ này, nơi mà từ xa xưa đã có truyền thống tôn kính thầy và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ tôn sư trọng đạo. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn.   Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới, vào cuối thập kỷ 80, đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu hiểu biết, khái niệm hộp đen trong khoa học hệ thống đã được vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ hộp đen dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao, cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tuỳ nghi, ai muốn hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời.  Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải toả bớt tâm lý bế tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hàng ngày. Mong rằng lần này chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao giá điện cần phải tăng?      Giá bán lẻ điện bình quân ở Việt Nam chính thức tăng 8,36% từ ngày 20/3/2019, gặp phải sự phản đối không nhỏ từ một bộ phận công chúng. Nhưng bài viết này sẽ giải thích tại sao, việc tăng giá điện là cần thiết.      Bộ Công thương vừa ban hành quyết định thành lập 3 đoàn kiểm tra về thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 về việc điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và quy định giá bán điện. Đoàn sẽ kiểm tra việc thực hiện Quyết định 648, công tác kinh doanh dịch vụ, giải đáp thắc mắc của khách hàng sử dụng điện, kiểm tra việc thực hiện công tác tuyên truyền về giá điện và sử dụng điện cho khách hàng. Trong ảnh: Nhân viên EVN giải thích về thực hành tiết kiệm điện cho người dân.   Nhóm công nghiệp dùng nhiều nhưng trả ít?  Bảng 1 cho chúng ta một sự so sánh về biểu giá bán điện ở Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN, tính đến trước thời điểm của đợt tăng giá gần đây. Có thể thấy rằng giá điện kinh doanh tại Việt Nam đã khá cao, tuy nhiên giá điện công nghiệp còn ở mức rất thấp và giá điện sinh hoạt ở mức tương đối thấp so với các nước trong khu vực. Điều này vẫn đúng ngay cả sau khi tính đến giá điện đã được điều chỉnh tăng.  Đáng nói là theo nhiều thống kê về tiêu thụ điện thời gian qua ở Việt Nam, thì khối sản xuất công nghiệp tiêu thụ đến gần 55% lượng điện năng của cả nước, trong khi điện sinh hoạt chỉ chiếm khoảng 35% và điện cho kinh doanh chỉ chiếm khoảng 10%. Với số liệu thống kê này, một số người cho rằng thật phi lý khi mà người tiêu thụ ít điện hơn lại phải trả mức giá cao hơn để hỗ trợ cho người tiêu thụ nhiều điện hơn. Tuy nhiên dựa theo số liệu như Bảng 1, chúng ta có thể thấy ở hầu hết các quốc gia trong khu vực bao gồm cả các nước cùng nhóm thu nhập trung bình thấp với Việt Nam, giá điện thường cao nhất cho đối tượng người tiêu dùng dân cư do chi phí phát sinh thêm liên quan đến việc giảm điện áp phân phối. Trong khi đó, giá điện cho khách hàng công nghiệp luôn ở mức thấp nhất trong các nhóm đối tượng khách hàng, và gần bằng giá bán buôn điện, vì họ tiêu thụ nhiều điện hơn ở điện áp cao hơn. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khách hàng công nghiệp có thể sử dụng quy mô và ảnh hưởng của họ với nền kinh tế để tác động đến thị trường. Thêm vào đó, cung cấp điện ở điện áp cao (như cho nhóm đối tượng khách hàng công nghiệp) truyền tải hiệu quả hơn, và do đó ít tốn kém hơn. Như vậy, có thể nói việc giá điện trung bình cho nhóm tiêu dùng dân cư cao hơn so với mức giá của nhóm công nghiệp là hợp lý.          Giá điện  (US cent/kWh)      Việt Nam      Indonesia      Malaysia      Thái Lan      Singapore      Philippines          Giá điện sinh hoạt      9,67      11,00      9,34      12,70      16,73      15,61          Giá điện kinh doanh – vừa      12,07      11,00      12,68      9,60      11,88      9,44          Giá điện kinh doanh – lớn      11,10      8,36      8,96      9,29      11,62      9,19          Giá điện công nghiệp – vừa      7,17      8,36      7,75      8,36      10,82      9,02          Giá điện công nghiệp – lớn      6,82      7,47      7,24      8,36      10,53      8,96          Bảng 1: So sánh giá điện ở Việt Nam với một số nước trong khu vực (tính đến tháng 1/2018 – trước thời điểm tăng gần nhất của giá điện). Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn thống kê giá điện trong nước và khu vực.  Tăng giá điện hợp lý sẽ có lợi về lâu dài  Hình 1 cho thấy, từ năm 2005 đến 2019 (đã tính đợt tăng giá điện gần nhất vào tháng 3/2019), giá điện danh nghĩa tính theo VNĐ đã tăng đều đặn và tăng hơn gấp đôi. Tuy nhiên, vì VNĐ đã trải qua sự tăng trưởng đáng kể về mức giá trong giai đoạn này do lạm phát, sự thay đổi giá có thể là khá khác nhau về mặt thực tế. Xét về mức giá theo US cent, giá điện trung bình ở Việt Nam tương đối ổn định trong giai đoạn 2005 đến 2010 và trong 10 năm trở lại đây, xu hướng đã tăng dần, tuy có phần hơi chững lại trong vòng 3-4 năm nay.    Hình 1: Giá điện bán lẻ bình quân ở Việt Nam: giai đoạn 2005-2019. Nguồn: Tổng hợp từ các số liệu thống kê của EVN.  Theo số liệu thống kê từ Ngân hàng thế giới, tính ở mức bình quân đầu người, Việt Nam là một trong những nước tiêu thụ nhiều điện nhất so với các nước cùng nhóm thu nhập trong khu vực (như Ấn Độ, Campuchia, Myanmar, Indonesia, Philippines). Do kinh tế phát triển nhanh cùng quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và tăng trưởng dân số, nhu cầu về sử dụng điện tại Việt Nam đã, đang và được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh.Trong giai đoạn 2011-2015, mức tiêu thụ điện quốc gia tăng trưởng ở mức trung bình 10,6%/năm, thấp hơn mức tăng trưởng trung bình của giai đoạn 2006-2010 là 13,4%/năm. Theo Đề án Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia VII, nhu cầu về điện ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức 11,15% hằng năm từ 2016 đến 2020; và sau đó ở mức 7,4 đến 8,4% mỗi năm từ 2021 đến 2030.   Đảm bảo nguồn cung năng lượng là một vấn đề thiết yếu với mọi nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện tiếp tục tăng nhưng tiềm lực để phát triển nguồn cung cấp điện của Việt Nam còn gặp rất nhiều hạn chế, để tránh mất cân bằng cung-cầu về điện thì việc tăng giá điện sẽ góp phần tăng cường tiết kiệm sử dụng điện, giảm mức tiêu hao (nhu cầu sử dụng) năng lượng (trong đó có điện năng). Nói cách khác, việc tăng giá điện sẽ khiến người tiêu dùng cần tìm cách tối ưu hóa việc sử dụng điện của mình và về lâu dài, họ sẽ hưởng lợi từ đó. Đó cũng là cách ít tốn kém nhất để tránh phải nâng cao công suất phát điện nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày một tăng cao.  Nhìn chung, mức giá điện ở Việt Nam mà hầu hết khách hàng của EVN phải trả không đủ bù đắp cho chi phí sản xuất điện thực tế. Giá điện bán lẻ tại Việt Nam được tính dựa trên chi phí sản xuất (chiếm 75% đến 80% giá bán lẻ), chi phí truyền tải (7%), chi phí phân phối (10%) và các phụ phí (3-8%). Giá điện hiện tại thường được cho là thấp hơn chi phí sản xuất, truyền tải, phân phối điện và phụ phí. Thực tế là giá điện của Việt Nam thấp hơn các nước khác cũng là lý do khiến các dự án điện ở nước ta chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các nhà đầu tư nước ngoài, tương xứng với tiềm năng phát triển.  Tăng giá điện gần đây là hợp lý vì góp phần đưa mức giá phản ánh đúng hơn chi phí, nhờ đó đưa giá điện ở Việt Nam tiến gần hơn đến cơ chế thị trường – điều cần thiết để cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều hướng tới việc sử dụng năng lượng điện hợp lý, hiệu quả. Cụ thể là khách hàng khối sản xuất công nghiệp – nhóm tiêu thụ hơn một nửa sản lượng điện năng của cả nước (đặc biệt là khối doanh nghiệp sản xuất thép và xi măng) là lĩnh vực có nhiều tiềm năng tiết kiệm điện nhất. Thêm vào đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng – nhóm mà đa phần chưa được trang bị công nghệ tiên tiến để tiết kiệm nhiều năng lượng. Nhờ vậy, mà thay vì phải dùng để “bù lỗ” bất hợp lý, các nguồn lực cũng sẽ được tập trung đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng hơn, hay phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng điện gió và điện mặt trời – mà Việt Nam được cho là có nhiều tiềm năng.1  Khuyến khích người tiêu dùng sử dụng điện hợp lý còn mang lại những lợi ích lâu dài cho môi trường sống vì đầu vào của sản xuất điện ở nước ta phần lớn là nhiên liệu hóa thạch– nguồn nhiên liệu ngày càng hạn chế và điện đốt than – rất có hại cho môi trường (xem Hình 2).  Tăng giá điện không tác động tiêu cực đến nền kinh tế  Dựa vào các lý giải trên, tác giả tin rằng việc tăng giá điện ở Việt Nam vào thời điểm này là cần thiết. Về các tác động có thể xảy ra với nền kinh tế vĩ mô, một số người lo ngại rằng do điện là một mặt hàng thiết yếu của đời sống và sản xuất, việc tăng giá điện có thể dẫn đến tăng lạm phát và giảm mức tăng GDP của quốc gia. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tế từ nhiều quốc gia trên thế giới thì tác động của tăng giá điện lên tỉ lệ lạm phát là khá thấp do chi phí cho tiền điện chỉ chiếm khoảng 2-3% giỏ hàng tiêu dùng (theo số liệu Ngân hàng Thế giới).   Đương nhiên, tác động của đợt tăng giá điện này sẽ lan truyền đến phần lớn các loại hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế có tiêu thụ điện trong sản xuất, vì vậy có thể làm cho giá cả tăng mạnh hơn xu thế lạm phát thông thường. Tuy nhiên, tác động này, theo dự đoán của tác giả là chỉ mang tính nhất thời và không đáng kể, nhất là khi việc tăng giá điện được áp dụng từ từ. Ngoài ra, lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang được kiềm chế ở mức khá thấp, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng giá điện.    Hình 2: Sản xuất điện và lắp đặt công suất ở Việt Nam. Nguồn: Viện Năng lượng Việt Nam (IoE) (2016).  Về tác động lên tăng trưởng GDP thì có thể bao gồm cả hai chiều. Một mặt giá điện tăng sẽ gia tăng lợi nhuận của các công ty sản xuất điện. Một nghiên cứu gần đây của UNDP cho rằng ở Việt Nam, chính phủ có những khoản trợ cấp một cách gián tiếp, thông qua những ưu đãi với các nhà sản xuất và phân phối năng lượng. Chẳng hạn, EVN và các công ty con của mình nhận được tín dụng lãi suất thấp để đầu tư, cùng với trợ cấp giá cho các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất điện như than và khí đốt. Việc cải thiện tình hình tài chính do tăng giá điện sẽ giúp chính phủ cắt giảm các hỗ trợ “bù lỗ” cho các doanh nghiệp này, và số kinh phí này thay vào đó có thể dùng để đầu tư vào nâng cao năng lực sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Về khía cạnh này, tăng giá điện sẽ góp phần thúc đẩy tăng GDP.   Mặt khác, giá điện tăng sẽ làm chi phí sản xuất kinh doanh tăng theo, nhất là đối với những ngành tiêu thụ nhiều điện năng. Chỉ tính riêng hai ngành xi măng và thép đã tiêu thụ đến 20% tổng điện năng của toàn ngành công nghiệp Việt Nam. Chi phí đầu vào tăng khiến các ngành này sẽ chịu một số tác động tiêu cực lên lợi nhuận trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài, tăng giá điện sẽ tạo động lực buộc các nhóm khách hàng này phải thay đổi cách sử dụng điện của mình một cách hợp lý và hiệu quả hơn. Nếu họ thành công, năng suất lao động sẽ được cải thiện, góp phần gia tăng lợi nhuận cho công ty về lâu dài.  Các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội có lượng điện sử dụng không quá 50 kWh/tháng (tương đương 50.340 đồng/tháng), tiếp tục nhận được mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hằng tháng tương đương số lượng điện sử dụng 30kWh/hộ/tháng. Do đó tác động của việc tăng giá điện với nhóm này được dự đoán là không đáng kể.  EVN cần có phương thức truyền thông phù hợp   EVN gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ một bộ phận công chúng khi quyết định tăng giá bán lẻ. Có nhiều lý do cho sự phản đối này. Một vài trong số đó chúng ta hay nói nôm na là do… hoàn cảnh. Thời điểm tăng giá điện xảy ra vào giai đoạn những ngày nóng nực mà người tiêu dùng có xu hướng sử dụng điện nhiều hơn mức bình thường, đặc biệt là điều hòa, quạt, tủ lạnh, … Thêm vào đó, giá điện tăng cao gần như cùng lúc với giá xăng dầu và dịch vụ y tế, đều là những mặt hàng thiết yếu của cuộc sống, tăng áp lực chi phí không nhỏ lên cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân.  Tuy nhiên, lý do lớn hơn cả đằng sau sự phản đối của người dân về việc tăng giá điện được lý giải từ sự thiếu minh bạch trong việc tính toán chi phí sản xuất. Bộ Công thương (MOIT), giải thích về quyết định tăng giá bán lẻ, cho biết chi phí sản xuất đã tăng lên và EVN đang phải chịu khoản lỗ lũy kế 9,8 nghìn tỷ đồng do biến động tỷ giá. Tuy các hoạt động tài chính của EVN được công bố công khai, một bộ phận công chúng vẫn bày tỏ rằng mức tăng giá này không thuyết phục vì họ không thể kiểm chứng chi phí đầu vào của sản xuất điện như sản xuất, truyền tải điện, phân phối và bán lẻ, chi phí quản lý và dịch vụ hỗ trợ. Trong khi đó, giá bán lẻ điện được xác định dựa trên các chi phí này.  Do đó, một bộ phận công chúng có thể mang tâm lý không hài lòng vì cho rằng họ phải trả mức giá điện cao hơn không phải do những nguyên nhân liên quan đến tăng giá nguyên liệu đầu vào hay phát triển công nghệ, mà là để gánh những thất thoát, tổn thất từ công tác quản lý. Vì vậy, EVN cần có phương thức truyền thông phù hợp để làm rõ các vấn đề người dân quan tâm, giảm trừ đi những kênh không chính thống đưa thông tin thiếu chính xác, khiến cứ mỗi lần tăng giá là gây nên những phản ứng với tác động cộng hưởng thiếu tích cực trong xã hội, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của một bộ phận công chúng cũng như các nhà sản xuất và đầu tư.          TT      Nhóm đối tượng khách hàng      Giá bán điện  (đồng/kWh)              1      Giá bán lẻ điện sinh hoạt                    Bậc 1: Cho kWh từ 0 – 50      1.678                 Bậc 2: Cho kWh từ 51 – 100      1.734                 Bậc 3: Cho kWh từ 101 – 200      2.014                 Bậc 4: Cho kWh từ 201 – 300      2.536                 Bậc 5: Cho kWh từ 301 – 400      2.834                 Bậc 6: Cho kWh từ 401 trở lên      2.927          2      Giá bán lẻ điện sinh hoạt dùng công tơ thẻ trả trước      2.461          Bảng 2: Giá bán lẻ điện sinh hoạt của EVN. Nguồn dữ liệu: EVN.  Một vấn đề nữa đáng bàn là sự phù hợp của các mức giá điện được chia ra như hiện tại cho từng nhóm đối tượng. Đồng ý rằng chúng ta cần phát triển một hệ thống giá điện sinh hoạt bậc thang theo hướng lũy tiến để tính giá điện – đó cũng là xu hướng chung của thế giới. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xem xét về tính hợp lý của các mức giá bậc thang này với mỗi nhóm đối tượng khách hàng để phù hợp với mức giá bán lẻ trung bình mà Chính phủ đã quyết định. Lấy ví dụ là mức giá điện sinh hoạt cho nhóm đối tượng khách hàng hộ gia đình (xem Bảng 2). Biểu giá bán lẻ điện cho nhóm này hiện được chia làm 6 bậc. Các vấn đề chính nhận được sự quan tâm từ biểu giá này là: Tốc độ tăng lũy tiến như hiện nay đã hợp lý chưa? Số lượng bậc phù hợp nên là tăng thêm hay giảm đi? Và mức giá này có phù hợp với bình quân tiêu thụ điện trong xã hội chưa? Cũng như mức giá này có phù hợp với nhóm đối tượng phục vụ chính của ngành điện không? Người dân có thể dựa vào biểu giá này mà tự tính toán chính xác được chi phí sử dụng điện thực tế của họ không?  Thiết nghĩ có lẽ EVN nên đưa thêm những lời giải thích xác đáng dựa vào các kết quả nghiên cứu cụ thể của mình để làm rõ hơn về những vấn đề này, tạo nên sự tin tưởng nơi công chúng đối với những quyết định của ngành điện.□  ——-  Chú thích:   * TS, Đại học RMIT Việt Nam.  1 Tác giả và cộng sự có bàn luận về tiềm năng sử dụng Hệ thống điện năng lượng mặt trời hộ gia đình (Solar home systems – SHS) ở thành phố Hồ Chí Minh trong 1 công bố gần đây (2018) trên tạp chí Renewable Energy (xếp hạng Scopus Q1), link ở đây: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0960148117310765?via%3Dihub    Author                Lê Thái Hà        
__label__tiasang Tại sao Syria vẫn là siêu cường về vũ khí hóa học?      Mỹ đã tạm hoãn tấn công quân sự vào Syria.  Nhưng ví thử Hạ viện bật đèn xanh cho cuộc tấn công thì theo các chuyên  gia, kho vũ khí hóa học của Assad vẫn tiếp tục tồn tại. Kho vũ khí này  quá lớn nên việc hủy diệt hoàn toàn là vô cùng phức tạp.  &#160;    Một số sự kiện   •    Ngày 21/8, địa phương Ghuta gần Damascus là nơi diễn ra thảm họa khí độc hóa học. Phe nổi dậy thì đổ tội cho chính quyền Bashar al-Assad về vụ việc này. Chính quyền Assad bác bỏ mọi lời cáo buộc.  •    Thanh tra Liên hiệp quốc điều tra vụ việc khí độc. Phải chờ khoảng ba tuần nữa mới có kết quả thanh tra.  •    Một cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Syria chí ít đã bị đình hoãn. Tổng thống Obama muốn tham khảo ý kiến Quốc hội. Phải chờ đến ngày 9/9 tới mới có quyết định cuối cùng.  Trong cuộc nội chiến ở Syria [bắt đầu từ tháng 3/2011 đến nay] đã có khoảng hơn một trăm nghìn người bị thiệt mạng, một phần tư dân số phải sơ tán. Nhưng mãi đến khi khí độc hóa học được đưa vào sử dụng, mà khả năng lớn là do lực lượng quân đội của Tổng thống Assad tiến hành, thì phương Tây mới quyết định về việc can thiệp bằng quân sự. Chính vì sự tồn tại của những kho vũ khí hóa học khổng lồ ở Syria nên chủ trương tấn công quân sự của phương Tây vào nước này sẽ không thay đổi. Theo tình báo Pháp, “Syria có nhiều nghìn tấn khí mù tạt (Senfgas), nhiều chục nghìn tấn khí VX và hàng trăm nghìn tấn khí độc Sarin”.   Cơ quan Tình báo đối ngoại (DGSE) và Tình báo quân sự của Pháp (DRM) đã điều tra, nghiên cứu hơn 30 năm để có danh sách các loại khí độc này. Với tổng trọng lượng khí độc hơn 1.000 tấn thì có thể nói kho vũ khí hóa học của Syria thuộc hàng những kho vũ khí hóa học lớn nhất thế giới. Loại chất độc này có thể bắn xa tới 500 km bằng các loại tên lửa SS-21, Scud-B và Scud-D.  Chỉ có thể triệt tiêu kho vũ khí khổng lồ của Syria bằng một cuộc tấn công ồ ạt trên bộ. Theo ước tính của Lầu Năm góc, phải huy động khoảng 75.000 binh sỹ và chuyên gia mới có thể thực hiện nhiệm vụ này, điều mà các chính phủ phương Tây quyết không thể chấp nhận.  Việc thủ tiêu một phần kho vũ khí hóa học của Syria trên thực tế là bất khả. Vấn đề ở chỗ, không ai biết các kho vũ khí hiện được cất giấu ở đâu. Trong những tháng vừa qua, quân đội của Assad đã chuyển vũ khí hóa học từ các trung tâm sơ tán đi nhiều nơi trong nước.  Ngay cả khi biết rõ địa điểm cất giữ, vấn đề tiêu diệt cũng không dễ. Hãng thông tấn AP trích dẫn ý kiến của năm chuyên gia và cả năm chuyên gia này đều thống nhất ở một điểm, nếu đánh bom các kho vũ khí hóa học, khí độc hại sẽ phát tán với khối lượng lớn và dân thường và môi trường sẽ phải gánh chịu các hậu quả nghiêm trọng.   Để hủy diệt vũ khí hóa học cần có nhiệt độ lên tới 650 độ C. Một số yếu tố khác cũng có vai trò nhất định như thời tiết, hướng gió, nhiệt độ; ngoài ra còn phụ thuộc vào chủng loại chất độc, và cấu trúc nhà kho v.v…   Hơn nữa loại tên lửa hành trình Tomahawk mà Mỹ dự kiến sẽ sử dụng chủ yếu vào cuộc tấn công quân sự sắp tới lại không phải là lựa chọn tối ưu để thủ tiêu vũ khí hóa học, nhất là khi vũ khí nằm trong hầm sâu. Với Tomahawk sẽ hình thành các đám mây độc hại gây nguy hiểm cho người dân ở gần kề các khu vực đó.   Một nỗi lo ngại nữa của phương Tây là trong hàng ngũ lực lượng nổi dậy có cả lực lượng Hồi giáo cực đoan, khi kho vũ khí hóa học bị tấn công rất có thể diễn ra hiện tượng “hôi của”. Các chuyên gia cũng cho rằng, khi một kho vũ khí hóa học bị tấn công thì khoảng 20 đến 30% vũ khí vẫn tồn tại và có thể phát huy tác dụng.   Để hủy hoại chương trình vũ khí hóa học của Syria, người ta có thể tấn công các nhà máy sản xuất các tiền chất. Tuy nhiên điều này không thay đổi được gì nhiều vì dù sao hiện tại Syria đã có một lượng lớn khí độc hại thần kinh, cho dù các nhà máy có bị phá hủy thì Syria vẫn là “siêu cường về vũ khí hóa học”.   Nguyễn Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao tin giả thao túng xã hội?      Lan truyền thông tin sai lệch thường hiệu quả nhất bằng cách sử dụng một phần của sự thật.       Ảnh chế của Tổng thống Trump bị lan truyền trên mạng.    Giữa thế kỷ 19, loài sâu sừng cà chua có kích thước bằng ngón tay lan rộng khắp vùng đông bắc Hoa Kỳ. Sau đó bắt đầu xuất hiện các báo cáo đáng sợ về khả năng loài này có thể gây độc cho con người tới mức tử vong. Vào tháng 7/ 1869, các tờ báo còn đăng tin về một cô gái ở Red Creek, New York đã “rơi vào tình trạng co cứng, cuối cùng tử vong’’ sau khi nhiễm độc từ sinh vật này. Mùa thu năm đó, tờ Syracuse còn đăng một bản báo cáo từ bác sĩ Fuller, cảnh báo rằng sâu sừng ”độc như  rắn chuông” và nói rằng đã có 3 ca tử vong liên quan tới nọc độc của nó.   Thực tế, sâu sừng cà chua là một loài phàm ăn có thể tước sạch cây cà chua trong vài ngày, nhưng vô hại với con người. Các nhà côn trùng học đã biết điều này trong nhiều thập kỷ trước khi BS Fuller công bố bản báo cáo của mình, và tuyên bố của ông đã bị các chuyên gia chế giễu. Vậy tại sao những tin đồn vẫn tồn tại bất chấp sự thật? Con người là những sinh vật học tập xã hội. Chúng ta phát triển hầu hết niềm tin của mình từ thông tin, kiến thức của những người đáng tin cậy khác như giáo viên, phụ huynh và bạn bè. Việc truyền tải kiến thức xã hội này là trái tim của văn hóa và khoa học. Thế nhưng như câu chuyện về sâu sừng cà chua cho chúng ta thấy, một lỗ hổng lớn: đôi khi những tri thức chúng ta lan truyền là sai.  Cơ chế “truyền nhiễm” niềm tin  Tương tự sâu sừng cà chua, tin đồn rằng vaccine không an toàn đã từng lan truyền phổ biến gây ra sự chia rẽ, ngờ vực sâu sắc trong xã hội. Hậu quả là dịch sởi bùng phát mạnh nhất trong một thế hệ do sự ngờ vực về tính an toàn của vaccine.  Trong thời đại ngày nay, mạng xã hội đã khiến cho những thông tin bị bóp méo lan truyền chóng mặt, có khi còn vì mục đích lừa đảo, gây tổn hại một cách cố tình.   Nhiều nhà nghiên cứu lý thuyết truyền thông và các nhà khoa học xã hội đã cố gắng tìm hiểu cách niềm tin sai lệch tồn tại bằng việc mô hình hóa sự lan truyền thông tin giống như cách thức bệnh dịch lây lan. Các tương tác xã hội được mô phỏng bằng thuật toán máy tính và sau đó nghiên cứu để tìm hiểu và lý giải thế giới thực. Trong mô hình truyền nhiễm này, các ý tưởng giống như virus lây nhiễm từ tâm trí người này sang tâm trí người khác, trong đó, các cá nhân được biểu diễn bởi các nút, kết nối thành một mạng lưới.      Việc trưng ra sự thật không có ích gì nếu không ai bận tâm tìm kiếm chúng.      Mặc dù các mô hình truyền nhiễm niềm tin cực kỳ đơn giản nhưng đã có thể giải thích được các mô tuýp hành vi một cách đáng kinh ngạc, chẳng hạn như nạn tự sát đã càn quét châu Âu sau khi cuốn “The Sarrows of Young Werther” [Nỗi đau khổ của chàng Werther] của Goethe được xuất bản năm 1774, hoặc khi hàng chục công nhân dệt may Hoa Kỳ vào năm 1962 báo cáo bị buồn nôn và tê liệt sau khi bị một con côn trùng tưởng tượng cắn. Chúng cũng có thể giải thích cách một số niềm tin sai lệch lan truyền trên Internet. Trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua, hình ảnh Donald Trump thời còn trẻ đã xuất hiện trên Facebook kèm theo đoạn trích dẫn lời Trump trong cuộc phỏng vấn năm 1998 trên tạp chí People, nói rằng nếu ông ấy Trump tranh cử tổng thống, thì đó sẽ là Đảng Cộng hòa bởi vì đảng này gồm “nhóm những cử tri rác rưởi nhất’’. Mặc dù không rõ khởi phát từ đâu nhưng chúng ta biết rằng ảnh chế này đã nhanh chóng lây lan từ trang cá nhân này sang trang cá nhân khác.   Trang web kiểm tra sự thật Snopes đã chỉ ra rằng trích dẫn đó được ngụy tạo vào đầu tháng 10 năm 2015. Nhưng cũng như câu chuyện về sâu sừng cà chua, những nỗ lực phổ biến sự thật không có tác động đáng kể để ngăn chặn tin đồn lan truyền. Chỉ một bản sao của ảnh chế đã được chia sẻ hơn nửa triệu lần. Khi các cá nhân chia sẻ bức ảnh chế, đồng nghĩa với việc niềm tin sai lạc của họ được “truyền nhiễm” tới những người bạn của họ, và những người này lại tiếp tục lây truyền tới những nhóm người mới trên mạng xã hội.  Đây là lý do tại sao nhiều ảnh chế được chia sẻ rộng rãi dường như “miễn dịch” với việc kiểm tra sự thật và lật tẩy. Mỗi người chia sẻ ảnh chế Trump chỉ đơn giản là tin tưởng vào người bạn đã chia sẻ nó thay vì tự mình kiểm tra tính trung thực của bức ảnh. Việc trưng ra sự thật không có ích gì nếu không ai bận tâm tìm kiếm chúng.   Dường như vấn đề ở đây là sự lười nhác hoặc tính cả tin, và do đó, giải pháp chỉ đơn thuần là giáo dục nhiều hơn hoặc phát triển kỹ năng tư duy phản biện tốt hơn. Nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Đôi khi niềm tin sai lầm vẫn tồn tại và lan rộng ngay cả trong những cộng đồng nơi mọi người luôn nỗ lực tìm ra sự thật bằng cách thu thập và chia sẻ bằng chứng. Trong những trường hợp này, vấn đề không phải là niềm tin mù quáng hay cảm tính. Nó sâu xa hơn thế nhiều.  Cơ chế gây niềm tin dựa trên bằng chứng  Trang Facebook “Stop Mandatory Vaccination” (Dừng tiêm vaccine bắt buộc) có hơn 140.000 người theo dõi. Người điều hành của nó thường đăng các tài liệu được sắp xếp để làm bằng chứng cho thấy rằng vaccine là có hại hoặc không hiệu quả, bao gồm các câu chuyện tin tức, bài báo khoa học và các cuộc phỏng vấn với những người hoài nghi về vaccine. Những người tham gia nhóm này quan tâm rất nhiều về việc liệu vaccine có hại hay không và hăng hái tìm hiểu sự thật. Tuy nhiên, điều gì khiến họ vẫn đi đến kết luận sai lầm nghiêm trọng?     Tấm ảnh về phòng thí nghiệm sinh học Vũ Hán lan truyền trên mạng cùng với tin giả về thuyết âm mưu virus Corona do Trung Quốc chế tạo và phát tán.  Chỉ dựa vào mô hình truyền nhiễm niềm tin ở trên sẽ không đủ để trả lời câu hỏi này. Thay vào đó, chúng ta cần một mô hình có thể nắm bắt các trường hợp mà mọi người hình thành niềm tin trên cơ sở bằng chứng mà họ thu thập và chia sẻ. Nó cũng phải nắm bắt được lý do tại sao những cá nhân này được thúc đẩy để tìm kiếm sự thật trước tiên. Đối với chủ đề sức khỏe, động lực khiến người ta tìm kiếm sự thật là bởi có thể phải trả giá đắt khi hành động dựa trên niềm tin sai lệch. Nếu vaccine an toàn và hiệu quả (thực tế là như vậy) và cha mẹ không tiêm chủng, họ đẩy con cái họ vào những rủi ro vô cớ. Nếu vaccine không an toàn, như những người này kết luận, thì rủi ro sẽ đi theo hướng khác. Điều này có nghĩa tìm ra điều gì là đúng và hành động phù hợp là rất quan trọng.  Để hiểu rõ hơn về hành vi này, chúng tôi sử dụng mô hình mạng lưới nhận thức được các nhà kinh tế phát triển cách đây 20 năm để nghiên cứu sự lan truyền niềm tin trong xã hội. Các mô hình loại này có thể coi là một bài toán, bao gồm một mạng lưới các cá thể cùng vấn đề mà họ phải đưa ra lựa chọn. Ví dụ trong một cộng đồng các cá thể bị phân hóa ra hai nhóm: nhóm tin vaccine tốt và nhóm tin vaccine có hại và gây ra chứng tự kỷ. Niềm tin của các cá thể hình thành nên hành vi của họ, những người cho rằng tiêm chủng là an toàn sẽ chọn cách thực hiện tiêm chủng. Hành vi của họ, ngược lại, định hình niềm tin của họ. Khi các cá thể thực hiện việc tiêm chủng và thấy rằng không có gì xấu xảy ra, họ càng được thuyết phục rằng tiêm chủng thực sự an toàn.  Phần thứ hai mà mô hình xem xét là một mạng lưới các kết nối xã hội. Các cá thể có thể học hỏi không chỉ từ kinh nghiệm của chính họ về tiêm chủng mà còn từ kinh nghiệm của những người xung quanh họ. Do đó, cộng đồng của một cá thể rất quan trọng trong việc xác định niềm tin nào đứng vững sau cùng.   Mô hình mạng lưới nhận thức phân tích thêm một số đặc điểm thiết yếu mà các mô hình truyền nhiễm niềm tin không có: các cá nhân có ý thức thu thập dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và sau đó nếm trải hậu quả bởi những niềm tin sai lạc. Những phát hiện này dạy chúng ta một số bài học quan trọng về sự lan truyền kiến thức xã hội. Điều đầu tiên chúng ta học được là làm việc cùng nhau tốt hơn là làm việc một mình, bởi vì một cá nhân đối mặt với vấn đề kiểu này thường dễ có xu hướng tin vào những thuyết tiêu cực hơn. Chẳng hạn, anh ta/cô ta có thể quan sát thấy một đứa trẻ trở nên tự kỷ sau khi tiêm vaccine và căn cứ vào đó kết luận rằng vaccine không an toàn. Nhưng trong một cộng đồng, mọi người hình thành niềm tin của mình dựa trên những căn cứ thực chứng khác nhau. Theo đó, những niềm tin đúng đắn thông thường sẽ thắng thế do tập hợp được nhiều căn cứ hơn cả.&nb      Để phân định về một sự thật khoa học – kiểu như các loại vaccine có an toàn và hiệu quả không? – hẳn không nên dựa trên kết quả bỏ phiếu của một cộng đồng những người không phải chuyên gia về vấn đề này, đặc biệt khi họ phải chịu tác động của các chiến dịch thao túng bằng thông tin sai lệch.      Tuy nhiên, trong các nhóm này cũng không đảm bảo rằng mọi người sẽ nhận ra sự thật. Các căn cứ khoa học thực tiễn vẫn thường tuân theo xác suất. Ví dụ, một số người không hút thuốc bị ung thư phổi còn một số khác hút thuốc lại không bị ung thư phổi. Điều này có nghĩa là một số nghiên cứu về người hút thuốc sẽ không tìm thấy mối liên hệ với bệnh ung thư. Cũng theo đó, mặc dù không có mối liên hệ thống kê thực tế giữa vaccine và bệnh tự kỷ, một số trẻ được tiêm chủng sau đó mắc chứng tự kỷ. Do đó, một số cha mẹ nhận thấy con mình phát triển các biểu hiện tự kỷ sau khi tiêm vaccine. Một chuỗi bằng chứng sai lệch như thế đủ để lèo lái cả một cộng đồng sai hướng.  Với phiên bản cơ bản nhất của mô hình này, các cộng đồng đều đi đến kết cục là sự đồng thuận. Họ có thể đồng thuận rằng việc tiêm chủng vaccine là an toàn hoặc nguy hiểm. Nhưng điều này không phù hợp với những gì chúng ta nhìn nhận thấy ở thế giới thật. Trong các cộng đồng hiện nay, chúng ta thấy có sự phân cực hoá – bất đồng về việc có nên hay không nên tiêm phòng. Vì vậy, có thể nói rằng mô hình cơ bản còn chưa tính đến hai thành phần quan trọng: niềm tin vào người cùng cộng đồng và xu thế tuân theo tập thể.  Niềm tin vào người cùng cộng đồng có ảnh hưởng đối với niềm tin cá nhân khi một số cá nhân có thiên hướng tin tưởng vào bằng chứng từ những người trong cùng cộng đồng của mình hơn so với các nguồn căn cứ khác. Ví dụ như những người phản đối vaccine thường tin vào bằng chứng được chia sẻ bởi những người khác trong cộng đồng của họ, hơn là bằng chứng chính thống từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh hoặc các nhóm nghiên cứu y tế khác đưa ra. Sự thiếu tin tưởng này có thể xuất phát từ nhiều lý do, bao gồm cả những trải nghiệm tiêu cực trước đây với bác sĩ hoặc lo ngại rằng các trung tâm chăm sóc sức khỏe hoặc tổ chức chính phủ không quan tâm đến lợi ích của họ.   Khi các cá nhân không tin tưởng vào bằng chứng từ phía những người mang niềm tin khác biệt, chúng ta thấy các cộng đồng bị phân cực và những người có niềm tin sai lệch không thể tiếp nhận những niềm tin đúng đắn hơn.  Trong khi đó, xu thế tuân theo tập thể là nguyên nhân khiến người ta hành xử giống những thành viên khác trong cùng một cộng đồng. Nó có động lực từ một phần sâu xa trong tâm lý con người và là một yếu tố có thể khiến chúng ta thực hiện những hành động mà chúng ta biết là có hại. Các thành viên trong một cộng đồng sẽ tự bài trừ mọi thông tin mâu thuẫn với niềm tin của cả nhóm, và điều này có thể khiến một số thông tin chân thật không bao giờ được chia sẻ trong một cộng đồng.   Xu thế tuân theo tập thể có thể giúp giải thích tại sao những người hoài nghi vaccine có xu hướng co cụm trong một số cộng đồng nhất định. Có thể nhìn thấy điều này trong một số trường tư và trường đặc cách ở miền nam California có tỷ lệ tiêm chủng thấp, tỷ lệ tiêm chủng trong số những người Somalia nhập cư ở Minneapolis và người Do Thái chính thống ở Brooklyn cũng thấp một cách đáng kinh ngạc. Các cộng đồng này gần đây đã phải chịu sự bùng phát của dịch sởi.   Để thay đổi tâm lý nghi ngờ vaccine trong cộng đồng xã hội chúng ta cần phải hiểu biết cả cơ chế tin tưởng vào người cùng cộng đồng và thói tuân theo tập thể. Chỉ đơn giản chia sẻ bằng chứng mới với những người hoài nghi có thể sẽ không có tác dụng, vì họ chỉ tin vào người cùng cộng đồng. Và việc thuyết phục các thành viên uy tín trong cộng đồng lên tiếng về vấn đề tiêm phòng có thể khó khăn vì họ tuân theo tập thể. Cách tiếp cận tốt nhất là tìm những cá nhân có điểm chung với các thành viên của các cộng đồng liên quan để thiết lập niềm tin. Chẳng hạn một giáo sĩ có thể là một đại sứ tuyên truyền về vaccine hiệu quả ở Brooklyn, trong khi ở miền nam California, bạn có thể cần có sự tham gia của một diễn viên nổi tiếng như Gwyneth Paltrow.   Niềm tin vào người cùng cộng đồng và xu thế tuân theo tập thể có thể giúp giải thích tại sao những niềm tin trái ngược nhau có thể cùng xuất hiện trên các mạng xã hội. Nhưng trong một số trường hợp, bao gồm cả cộng đồng Somalia ở Minnesota và các cộng đồng Do Thái chính thống ở New York, những yếu tố đó chỉ là một phần của câu chuyện. Trên thực tế, cả hai nhóm này đều là mục tiêu của các chiến dịch thông tin sai lệch tinh vi do những người chống lại vaccine bày ra.  Các nhân tố gây tác động  Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các trường hợp thao túng trong quá khứ cho thấy có những chiến lược thao túng tinh vi hơn và hiệu quả mà các doanh nghiệp, quốc gia và các nhóm lợi ích sử dụng. Một ví dụ kinh điển đến từ ngành công nghiệp thuốc lá, họ từng phát triển các kỹ thuật mới vào những năm 1950 để chống lại quan điểm đang ngày càng được đồng thuận rằng thuốc lá gây tử vong. Trong những năm 1950- 1960, Viện Thuốc lá đã xuất bản một bản tin hai tháng một số có tên Thuốc lá và Sức khỏe, trong đó chỉ tập trung đưa ra những báo cáo nghiên cứu khoa học cho thấy thuốc lá không có hại hoặc nhấn mạnh sự không chắc chắn về ảnh hưởng đối với sức khỏe của thuốc lá.  Chiến thuật này chúng ta gọi là chia sẻ một cách có chọn lọc, trong đó đưa ra những kết quả nghiên cứu khoa học độc lập có thực, tuy nhiên chỉ đưa ra các bằng chứng và thông tin một chiều phù hợp với quan điểm mà một bên muốn cổ súy. Với những mô hình lan truyền thông tin như đã đề cập trên đây, chúng tôi cho rằng chia sẻ có chọn lọc có thể đem lại hiệu quả kinh ngạc trong việc định hình niềm tin của các đối tượng độc giả không phải nhà khoa học đối với các vấn đề khoa học. Nói cách khác, những người này sử dụng các mảnh của sự thật để tạo ấn tượng về sự thiếu căn cứ chắc chắn để khẳng định sự thật hoặc thậm chí thuyết phục mọi người tin vào những điều sai lầm.   Chỉ chia sẻ những thông tin có chọn lọc chính là một thủ pháp quan trọng mà các cuốn sách chống vaccine sử dụng. Trước khi dịch sởi bùng phát gần đây tại New York, một tổ chức tự xưng là Cha mẹ Giáo dục và Tuyên truyền cho Sức khỏe Trẻ em (PEACH) đã đưa ra cuốn sách 40 trang có tựa đề “Cẩm nang về An toàn Vaccine’’. Thông tin trong đó đã được lựa chọn kĩ lưỡng, tập trung vào một số ít các nghiên cứu khoa học cho thấy rủi ro liên quan đến vaccine, trong khi đề cập rất ít tới các nghiên cứu cho thấy vaccine an toàn.      Khi các cá nhân không tin tưởng vào bằng chứng từ phía những người mang niềm tin khác biệt, chúng ta thấy các cộng đồng bị phân cực và những người có niềm tin sai lệch không thể tiếp nhận những niềm tin đúng đắn hơn.      Cẩm nang của PEACH đặc biệt hiệu quả vì nó kết hợp chia sẻ có chọn lọc với các chiến lược khuếch trương. Nó tạo dựng niềm tin với người Do Thái chính thống bằng cách định hướng rằng một số tác giả của cẩm nang là người do Do Thái trong cộng đồng (mặc dù cẩm nang được xuất bản với bút danh) và nhấn mạnh vào những lo ngại mà các thành viên cộng đồng này dễ tán đồng. Cuốn cẩm nang chọn lọc các sự thật về vaccine có xu hướng gây ra ác cảm cho các độc giả mục tiêu của nó; ví dụ, cẩm nang nhấn mạnh rằng vaccine có chưa chất gelatin có từ lợn. Dù cố ý hay không, cuốn cẩm nang này được thiết kế theo cách thao túng niềm tin vào người cùng cộng đồng và cả thói tuân theo tập thể – cũng chính là những cơ chế quan trọng trong quá trình định hình tri thức của con người.  Sự tinh vi của nỗ lực truyền tải thông tin sai lệch (và các chiến dịch thông tin sai lệch có mục tiêu rõ ràng để khuếch trương chúng) gây ra vấn đề rắc rối cho nền dân chủ. Trở lại ví dụ về bệnh sởi, trẻ em ở nhiều tiểu bang có thể được miễn tiêm vaccine bắt buộc vì lý do “niềm tin cá nhân’’. Năm 2015 ở California sau khi dịch sởi bắt nguồn từ trẻ em chưa được tiêm chủng khi đến chơi Disneyland thì thống đốc Jerry Brown đã ký một đạo luật mới, SB277 không cho phép miễn tiêm vaccine. Ngay lập tức những người chống tiêm vaccine đã đệ đơn yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý để lật ngược luật đó.   Thật may rằng nỗ lực thu thập chữ ký đã thất bại nên một cuộc bỏ phiếu trực tiếp không diễn ra – để có một cuộc bỏ phiếu trực tiếp họ cần thu được 365.880 chữ ký, nhưng cuối cùng chỉ đạt 233.758 chữ ký. Nhưng thực tế là hàng trăm ngàn người dân California đã ủng hộ một cuộc bỏ phiếu trực tiếp về một vấn đề có tầm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, khi mà sự thật đã rõ ràng nhưng bị bóp méo bởi các nhóm vận động. Làm thế nào để chúng ta bảo vệ an toàn công cộng khi rất nhiều công dân bị thao túng niềm tin dẫn đến hiểu sai về các vấn đề thực tế? Giống như các cá nhân hành động dựa trên thông tin sai lệch thường không nhận được kết quả như mong muốn, các xã hội mà áp dụng chính sách dựa trên niềm tin sai lệch sẽ phải gánh chịu những hậu quả không như kỳ vọng.  Để phân định về một sự thật khoa học – kiểu như các loại vaccine có an toàn và hiệu quả không? – hẳn không nên dựa trên kết quả bỏ phiếu của một cộng đồng những người không phải chuyên gia về vấn đề này, đặc biệt khi họ phải chịu tác động của các chiến dịch thao túng bằng thông tin sai lệch.   Cần phân biệt rạch ròi giữa hai câu hỏi: i. Đâu là căn cứ thực tế? ii. Nên làm gì với căn cứ ấy? Một xã hội dân chủ đòi hỏi cả hai câu hỏi được trả lời trước công chúng một cách minh bạch và có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Tuy nhiên, chỉ với câu hỏi thứ hai lời giải đáp mới nên được định đoạt dựa trên hòm phiếu. □  Nguyễn Cường lược dịch  —–  *Bài viết này được xuất bản chính thức với tiêu đề “Tại sao chúng ta tin lời nói dối” trên Scientific American 321, 3, 54-61 (Tháng 9, 2019) www.scientificamerican.co    Author                Cailin O’Connor, James Owen Weatherall        
__label__tiasang Tại sao trẻ em không muốn đeo khẩu trang?      Một khảo sát được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu ở Trường Đại học Y Dược TPHCM và Đại học Queensland ngay trước thời điểm đại dịch COVID-19 bùng phát ở Việt Nam cho thấy, nhiều trẻ em không muốn đeo khẩu trang khi ra đường vì lo ngại bị người xung quanh cho là yếu ớt.    Các nhà nghiên cứu đã khảo sát hơn 15.000 học sinh từ 12-14 tuổi ở tất cả 24 quận, huyện tại TPHCM và phụ huynh để xem xét nhận thức của người dân về việc đeo khẩu trang nhằm tránh tiếp xúc với những tác nhân ô nhiễm không khí từ giao thông. Khảo sát được diễn ra ngay trước thời điểm đại dịch COVID-19 bùng phát ở Việt Nam.        Lý giải về mục đích của nghiên cứu, nhóm tác giả nói rằng mọi người đều biết những nguy cơ của việc tiếp xúc hằng ngày với ô nhiễm không khí, nhưng vì chất độc trong không khí luôn “vô hình” (ngoại trừ vào những ngày rất xấu) và sự quen thuộc của nó (xảy ra hằng ngày) có thể dẫn đến cảm giác an toàn giả tạo đối với những người bị phơi nhiễm.    “Một khi ô nhiễm không khí đã trở nên cụ thể đến mức “nhìn rõ” hoặc “cảm thấy” được thì chúng đã trở nên quá nguy hiểm”, Th.S Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng, nghiên cứu sinh Khoa học Sức khỏe tại Đại học Queensland và là một trong những tác giả chính của bài báo đăng trên tạp chí Public Health, nói.    “Đeo khẩu trang là một biện pháp tự bảo vệ mình hết sức đơn giản và rẻ tiền. Chúng tôi muốn xem xét điều gì đã ảnh hưởng đến niềm tin và hành vi đeo khẩu trang của phụ huynh và trẻ em liên quan đến ô nhiễm không khí từ giao thông”, chị cho biết thêm.    Từ khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu trẻ em tại TPHCM, các nhà khoa học khám phá ra một số điều.    Cụ thể, trẻ em có nhận thức sai lầm về bầu không khí xung quanh và tin rằng mình an toàn trong các chuyến đi hằng ngày thông thường, trong khi có thể gặp rủi ro cao hơn trong các chuyến đi xa hơn hoặc đến những địa điểm mới.    Nhiều trẻ em không đeo khẩu trang thường xuyên, chủ yếu là do chúng cảm thấy khó chịu hoặc khó thở khi đeo khẩu trang. Trẻ em sẽ có xu hướng chọn khẩu trang dựa trên sự tiện lợi hoặc độ dễ chịu hơn là tính hiệu quả.    Việc sử dụng khẩu trang của trẻ em bị ảnh hưởng bởi cha mẹ hoặc người lớn tuổi xung quanh. Nghĩa là trẻ em sẽ có thói quen đeo khẩu trang nhiều hơn nếu người lớn thường xuyên đeo khẩu trang làm gương.    Một điều quan trọng mà nghiên cứu chỉ ra là trẻ em có nhiều khả năng đeo khẩu trang hơn nếu các em có các triệu chứng hô hấp cá nhân. Điều này ngụ ý một vấn đề, là cha mẹ thường sẽ có ý thức đưa khẩu trang cho đứa trẻ hơn khi các em có các triệu chứng bệnh tật.    Nhóm tác giả cũng rất bất ngờ khi phát hiện ra rằng, khác với người lớn, trẻ em thường bị ảnh hưởng bởi sự nhìn nhận của bạn bè và người xung quanh. Nhiều trẻ em, đặc biệt là các bé trai, vẫn lo lắng về việc nhìn yếu ớt, bệnh tật hoặc khác biệt với bạn bè nếu dùng khẩu trang. Tuy nhiên, nếu nhìn thấy hầu hết bạn bè đều đeo khẩu trang khi ra ngoài trời thì trẻ em có nhiều khả năng sẽ thực hiện hành động bảo vệ sức khỏe tương tự.    Trong khi đó, người lớn thường đeo khẩu trang vì họ nhận thức được các mối nguy về sức khỏe và gần như không bị ảnh hưởng bởi đánh giá ngoại hình.    Các nhà khoa học nhấn mạnh cần có thêm các can thiệp y tế cộng đồng phù hợp với quan điểm của trẻ nhỏ để khuyến khích các em có ý thức bảo vệ bản thân hơn, đặc biệt là tại những khu vực đang phải đối mặt với tốc độ đô thị hóa cao và phơi nhiễm với ô nhiễm không khí từ giao thông. Chẳng hạn, có thể tăng tỷ lệ chấp nhận đeo khẩu trang của trẻ em bằng cách tăng cường sự tham gia của bạn bè đồng trang lứa cùng phụ huynh hoặc giáo viên trong các thực hành sức khỏe tốt, giúp việc đeo khẩu trang trở thành một phần bình thường hoặc phổ biến trong cộng đồng của đứa trẻ.    Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ dự án LASER PULSE “Giảm ô nhiễm không khí liên quan đến giao thông: Phối hợp đa ngành giữa y tế, giáo dục và môi trường nhằm giảm tác động của ô nhiễm không khí liên quan đến giao thông trên trẻ em tại TPHCM, Việt Nam, 2021-2022” do USAID tài trợ.    Khúc Liên     Author                .        
__label__tiasang Tại sao Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam? Tại sao lại vào lúc này, và tại sao lại là Việt Nam?      Những câu hỏi Ai, Cái gì, Ở đâu, Khi nào và  Như thế nào liên quan đến việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 thâm  nhập vào vùng biển Việt Nam đã được các nhà bình luận phân tích cặn kẽ,  ngay trên tờ The Diplomat cũng như ở các nơi khác. Nhưng vẫn còn  lại một câu hỏi liên quan đến hành động khiêu khích của Trung Quốc trong  khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đó là: Tại sao?     Sự thiếu minh bạch của quá trình ra quyết định nội bộ của Trung Quốc khiến cho câu hỏi này hơi khó trả lời dứt khoát, nhưng có khá nhiều bằng chứng cho thấy cuộc khủng hoảng liên quan đến giàn khoan của Trung Quốc tại vùng biển Việt Nam được tạo ra hòng kiểm tra dũng khí của các nước ASEAN và Hoa Kỳ. Nó cung cấp cho Bắc Kinh một cơ hội để đánh giá phản ứng quốc tế đối với việc Trung Quốc khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên biển.  Như Carl Thayer đã chỉ ra trong bài viết trên blog cũng như M. Taylor Fravel đã cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ The New York Times, quyết định di chuyển giàn khoan dầu HD-981 của Công ty China National Offshore Oil (CNOOC) là một bước đi có chủ ý của Trung Quốc nhằm mục đích khẳng định lãnh thổ. Mặc dù CNOOC là một doanh nghiệp nhà nước nhưng quyết định di chuyển khối tài sản trị giá 1 tỷ USD này đến một khu vực có trữ lượng dầu khí không chắc chắn mà lại kích động một cuộc khủng hoảng ngoại giao cho thấy đây là một bước đi có bản chất chính trị và được sắp đặt từ trước. Việc có khoảng chiếc 80 tàu bảo vệ bờ biển và tàu hải quân của Trung Quốc đi kèm với các giàn khoan đã củng cố cho quan điểm rằng Trung Quốc đang thực hiện một hành động chiến lược để đẩy mạnh khẳng định chủ quyền lãnh thổ của họ trong khu vực.  Câu hỏi tại sao Trung Quốc đã chọn đúng Việt Nam để leo thang có lẽ dễ trả lời hơn một chút. Một số nhà phân tích đã lưu ý rằng Trung Quốc đã làm cho cả thế giới bị bất ngờ khi chọn leo thang tranh chấp lãnh thổ với Việt Nam khi quan hệ giữa hai nước đang được cải thiện, gần đây nhất là vào mùa thu năm 2013. Ngoài ra, giữa Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTrung Quốc) còn có (một mức độ nhất định) của tình đồng chí.Việc Trung Quốc đột ngột đánh đổi một mối quan hệ song phương tương đối ổn định thông qua một sự cạnh tranh tiềm ẩn là một việc làm có vẻ trắng trợn và vô trách nhiệm.  Ngược lại, nếu Trung Quốc buộc phải đẩy mạnh bất kỳ tranh chấp nào trong khu vực Biển Đông để kiểm tra dũng khí của Hoa Kỳ và các nước ASEAN, thì Việt Nam có lẽ là ứng cử viên phù hợp nhất. Như Tường Vũ đã trả lời tờ New York Times, ở Việt Nam vẫn tồn tại một cuộc tranh luận chính trị về việc liệu nên tiếp tục gần gũi với Trung Quốc hay theo đuổi các mối quan hệ gần gũi hơn với phương Tây. Hiểu rõ điều này, Trung Quốc đang chơi một canh bạc với một mức độ tự tin khá cao rằng mặc dù Trung Quốc có hành động khiêu khích với giàn khoan dầu, Việt Nam vẫn sẽ chỉ đáp trả bằng lời nói và bằng sự kiềm chế – chứ không phải là vũ lực.  Với mục đích này, Trung Quốc chỉ cho tàu bảo vệ bờ biển đâm vào tàu Việt Nam và tấn công bằng vòi rồng – quân đội chỉ giữ chức năng hỗ trợ, đảm bảo rằng bất cứ hành động cưỡng bức nào được sử dụng đều không xuất phát từ một tàu quân sự (mặc dù Việt Nam không hoàn toàn đồng ý cách sự diễn giải này). Hơn nữa, trước khi Trung Quốc có thể bắt đầu thử vận may của mình với các đồng minh của Mỹ trong khu vực, chẳng hạn như Philippines, quốc gia mà gần đây đã ký một thỏa thuận mười năm về việc chia sẻ các cơ sở quốc phòng với Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng cần phải thử xem Hoa Kỳ có sẵn sàng thực hiện việc bảo vệ lợi ích của mình trong khu vực như đã từng tuyên bố hay không.  Cuối cùng, Trung Quốc đã tính toán để thời gian thực hiện việc di chuyển mang tính cưỡng chế này vào lúc Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa rời khỏi châu Á và ngay trước khi cuộc họp những người đứng đầu Chính phủ / Nhà nước của các nước ASEAN tại Naypyidaw, Myanmar vào cuối tuần qua. Làm như vậy, Trung Quốc đã chấp nhận một rủi ro: động thái này chắc chắn là sẽ làm cho quốc tế rất quan tâm và lên án. Tuy nhiên, như các phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN cho thấy, mặc dù các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN cũng đã đưa ra một tuyên bố riêng và điều này là có ý nghĩa, nhưng việc “quốc tế hóa” các tranh chấp ở Biển Đông mà Trung Quốc lo sợ vẫn chưa xảy ra (và rất có thể sẽ không xảy ra sớm).  Tương tự như vậy, đối với một Hoa Kỳ đang già đi, mệt mỏi và thiếu tiền trong vai trò cảnh sát toàn cầu, sự thất bại về giàn khoan này cũng tương tự các cuộc khủng hoảng toàn cầu là Syria và Ukraina – chỉ khác về mức độ khẩn cấp chính trị. Bằng cách tránh các đồng minh hiệp ước hoặc đối tác chính của Mỹ, Trung Quốc đã vẽ được hình ảnh của Mỹ như một quốc gia không thể khẳng định được lợi ích của mình trong khu vực. Một hệ quả tiêu cực của việc này là các quốc gia khác có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc sẽ tìm cách đơn phương thực hiện quân sự hóa để bù đắp cho sự phụ thuộc vào Mỹ trong việc đảm bảo an ninh, và điều này có khả năng sẽ làm cho Trung Quốc nhức đầu trong tương lai.  Quyết định di chuyển giàn khoan HD-981 vào vùng biển tranh chấp của Trung Quốc cũng phù hợp với quyết định áp đặt một khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông của Trung Quốc và là một tín hiệu cho thấy Trung Quốc quyết tâm đơn phương theo đuổi yêu sách về lãnh thổ trên biển của mình. Trung Quốc đã tuyên bố giàn khoan sẽ lưu lại ở vùng biển này đến tháng Tám năm nay. Điều khiến cho vụ giàn khoan này khác hẳn với những gì đã xảy ra, đó là: đây là lần đầu tiên Trung Quốc đã đặt một tài sản đắt tiền đến như vậy trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của một nước khác. Và Việt Nam cũng không phải là một quốc gia quá dễ bị bắt nạt – nó có khả năng không phải là quá khiêm tốn về hàng hải để có thể thực hiện một đụng độ có vũ trang với Trung Quốc. Nhìn chung, trong sáu tháng qua, chúng ta đã thấy Trung Quốc quyết đoán hơn bao giờ hết trong việc theo đuổi tuyên bố của mình, và ở thời điểm này, nó đang có được sự thành công.    Nguồn: The Diplomat ngày 13/5/2014 của Ankit Panda  (http://thediplomat.com/2014/05/why-did-china-set-up-an-oil-rig-within-vietnamese-waters/)  Bản tiếng Việt của Vũ Thị Phương Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tài trợ nghiên cứu cơ bản theo mô hình ba mức      Tài trợ cho nghiên cứu theo cách thức hiện nay của Quỹ Nafosted có thể đem lại hiệu quả tức thời cho khoa học Việt Nam nhưng về lâu dài, việc duy trì tài trợ mang tính dàn trải, ngắn hạn và chạy theo số lượng công bố sẽ không thể tạo ra sự phát triển đột phá cho nền khoa học. Vì vậy, Quỹ Nafosted cần có cách đầu tư mới, quyết liệt hơn để khoa học Việt Nam có được những cá nhân và nhóm nghiên cứu xuất sắc.      TS. Trần Đình Phong. Nguồn: USTH  Nhìn vào thực trạng tài trợ hiện nay của Quỹ Nafosted, chúng ta thấy nổi lên hai vấn đề: Thứ nhất, các đề tài được xét tài trợ có phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu ở tầm nhỏ và hẹp nên khó có thể mở rộng hay đào sâu tiếp tục để hình thành một “thương hiệu” cho nhóm nghiên cứu; Thứ hai, kinh phí tài trợ chủ yếu để chi trả tiền lương nghiên cứu, rất ít cho vật tư tiêu hao và không có kinh phí dành cho việc mua thiết bị. Nếu không khắc phục hai vấn đề này thì chúng ta chỉ có thể triển khai những ý tưởng khoa học rời rạc, những đề tài có thí nghiệm quan trọng chủ yếu được thực hiện ở nước ngoài, và hơn cả là chỉ tạo ra các nhóm nghiên cứu “đồng hàng thẳng tiến”, có thể liên tục “trúng” tài trợ của Nafosted và có bài báo ISI nhưng khó xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh có vị trí đáng kể trong cộng đồng khoa học quốc tế.  Quy chế sàng lọc người tài  Để có những giải pháp mang tính dài hạn, chúng ta cần đổi mới cách thức đầu tư cho khoa học trên cơ sở tham khảo cách làm mà các quỹ tài trợ quốc tế đã áp dụng thành công, một trong số đó là Quỹ của Hội đồng Khoa học châu Âu (European Research Council ERC), vốn thực hiện tài trợ cho các nhóm nghiên cứu theo những mức khác nhau: mức thứ nhất dành cho các tiến sĩ trẻ tài năng đã hoàn thành chương trình đào tạo nghiên cứu sinh từ bảy năm trở lại với khoản đầu tư tối đa là 1,5 triệu Euro cho năm năm (ERC starting grant); mức thứ hai – các tiến sĩ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm việc (từ bảy đến 12 năm sau tiến sĩ), đã chứng minh được tài năng với khoản đầu tư lên đến hai triệu Euro cho năm năm (ERC consolidator grant); mức thứ ba – các nhà nghiên cứu đã khẳng định được tài năng và dẫn đầu các phòng thí nghiệm lớn với kinh phí khoảng 2,5 triệu Euro cho năm năm (ERC advanced grant).  Nếu Quỹ Nafosted mạnh dạn áp dụng cách tài trợ theo mô hình nhiều mức này thì sau 10 đến 15 năm, khoa học Việt Nam sẽ có được những cá nhân xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh.  Cách đầu tư như hiện nay của Quỹ nên được coi là mức đầu tiên nhằm hình thành một cộng đồng khoa học đủ về số lượng và đặc biệt là giúp đỡ các nhà nghiên cứu trẻ gây dựng nhóm nghiên cứu của mình. Còn việc đầu tư tài trợ từ mức đầu lên mức hai và ba cần phải đảm bảo tính khoa học và chính xác. Ví dụ, các nhà khoa học sau năm, sáu năm nhận được tài trợ theo mức thứ nhất sẽ được đánh giá bởi hội đồng khoa học ngành. Trên cơ sở đánh giá đó, hội đồng khoa học chọn và giới thiệu lên Quỹ một số nhà nghiên cứu có thành tích vượt trội so với các đồng nghiệp về chất lượng, số lượng công bố và bắt đầu có một hướng đi rõ ràng trong nghiên cứu. Theo đó Quỹ có thể mời các nhà nghiên cứu được giới thiệu viết đề cương cho một chương trình nghiên cứu mà nhóm họ muốn thực hiện trong vòng từ năm đến 10 năm tới. Các chương trình nghiên cứu này nên có tính hệ thống, trình bày một hướng tiếp cận mà nếu thành công có thể đem lại những đóng góp quan trọng cho cộng đồng và cho xã hội. Để đánh giá khách quan và toàn diện, hội đồng khoa học ngành nên mời thêm những chuyên gia quốc tế có uy tín học thuật trong chuyên ngành hẹp mà chương trình nghiên cứu đề xuất. Ý kiến phản biện nên gồm cả nhận xét về nội dung khoa học của chương trình nghiên cứu và năng lực khoa học của người trưởng nhóm. Với khoảng ba ý kiến phản biện quốc tế độc lập, hội đồng ngành hoàn toàn có thể có một cái nhìn xác đáng về khả năng thành công khi chương trình và nhóm nghiên cứu được đầu tư. Bước cuối cùng của quá trình tuyển chọn, hội đồng khoa học cùng quỹ phỏng vấn trực tiếp các nhà khoa học. Thông qua các bước kiểm định chặt chẽ như vậy, chúng ta có thể tìm được đúng địa chỉ để đầu tư trong vòng năm năm. Quỹ có thể tham khảo cách lựa chọn chương trình nghiên cứu và nhà khoa học của Quỹ Nghiên cứu khoa học Singapore (National Research Foundation), nơi những năm qua đã thu hút được rất nhiều các tài năng khoa học trẻ quốc tế.  Nếu tiếp tục thực hiện theo cách này, sau khoảng 10 năm nữa, chúng ta có thể tiếp tục chọn ra được những nhà nghiên cứu xuất sắc và nhóm nghiên cứu xuất sắc để đầu tư trọng điểm ở mức thứ ba. Đây thực sự là những người đủ khả năng đứng đầu các lĩnh vực và đạt tầm quốc tế như quan điểm của GS Hoàng Tụy.  Sử dụng kinh phí đầu tư hiệu quả  Sẽ có nhiều người thắc mắc, việc đầu tư vào những nhà khoa học giỏi và nhóm nghiên cứu mạnh có đòi hỏi mất nhiều kinh phí không. Tôi nghĩ rằng, muốn đạt mục tiêu cao trong khoa học thì số tiền đầu tư cũng phải tương ứng. Nhưng thử nhìn lại, thay vì đầu tư dàn trải, Quỹ đầu tư vào những mũi nhọn một cách chọn lọc thì kinh phí sẽ không quá tốn kém như nhiều người e ngại. Hơn nữa, việc Quỹ nâng cao nguồn kinh phí đầu tư theo cách này không nhằm tăng thêm thu nhập cho nhà khoa học (hiện tại tiền công cho nhà khoa học đã ở mức tương đối hợp lý) mà để tạo điều kiện cho họ đầu tư vào trang thiết bị máy móc, vật tư phục vụ công tác nghiên cứu. Ví dụ, đầu tư cho các nhà khoa học ở mức hai sẽ là 10 tỷ nhưng điểm khác biệt so với việc đầu tư ở mức một chính là chín tỷ dành cho trang thiết bị máy móc và đội ngũ giúp việc triển khai các nghiên cứu (postdoc, nghiên cứu sinh, sinh viên cao học v.v). Nếu còn e ngại về việc số tiền này không được sử dụng đúng mục đích thì Quỹ có thể đề nghị nhà khoa học viết đề xuất để Quỹ có thể tự mua và giao trang thiết bị cho nhà khoa học. Những trang thiết bị như thế sẽ được dán nhãn Quỹ. Quỹ cũng hoàn toàn có thể xem xét đầu tư tập trung trang thiết bị khoa học cho một/một số chuyên ngành theo hướng tạo các trung tâm kĩ thuật (technical platform) hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp của Quỹ, nơi các nhà khoa học có thể đến sử dụng một cách thuận lợi (Đây là một ý kiến mà tôi xin được trình bày cụ thể hơn trong một dịp khác). Không chỉ có vậy, Quỹ có thể quản lý được cả những khoản kinh phí khác như chi trả lương cho nhà nghiên cứu và đội ngũ giúp việc triển khai nghiên cứu bằng cách trực tiếp trả qua tài khoản. Để làm được việc này, nhà khoa học cần phải tự ước tính sẽ cần bao nhiêu người (tiến sĩ, postdoc, nghiên cứu sinh, kỹ thuật viên), trong vòng bao nhiêu lâu trong quá trình thực hiện chương trình nghiên cứu. Thực tế, những người làm nghiên cứu khoa học thường rất ngại cầm tiền hay phải lo các thủ tục hành chính nên nếu Quỹ đóng vai trò là cơ quan chủ quản tích cực đối với chương trình nghiên cứu của họ thì rất tốt.  Trong một buổi làm việc tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đại diện Quỹ Nafosted cũng chia sẻ rất thật về lý do vì sao các nhà quản lý vẫn cứ phải tiến hành nghiệm thu đề tài, dù biết rằng nó có nhiều bất cập bởi đây là cách để họ tránh xảy ra tình trạng thất thoát kinh phí tài trợ mà đâu đó vẫn còn tồn tại. Nguyên nhân sâu xa của nó là các nhà quản lý sợ đầu tư sai nên phải tiến hành nghiệm thu đề tài để quản lý kinh phí. Có thể vì vậy mà Nafosted muốn duy trì cách thức đầu tư như hiện nay là đầu tư để có bài báo ISI.  Việc đầu tư cho nghiên cứu không nên là trách nhiệm của riêng Quỹ Nafosted. Với các nhà nghiên cứu và nhóm nghiên cứu đã được đánh giá để nhận đầu tư ở mức hai, Quỹ nên tài trợ theo hình thức vốn đối ứng giữa Quỹ và cơ quan chủ quản của nhà khoa học (tuy nhiên vấn đề này cũng còn phụ thuộc vào cơ quan chủ quản nữa). Ví dụ ở CEA (Cơ quan Năng lượng nguyên tử Pháp), một nhà nghiên cứu nhận được một triệu euro tài trợ từ Hội đồng Khoa học châu Âu, họ sẽ được CEA tài trợ thêm một triệu euro cho chương trình nghiên cứu của mình. Nếu Quỹ chỉ dừng lại ở việc tài trợ như hiện nay thì sẽ khó đòi hỏi cơ quan chủ quản đối ứng vốn đầu tư. Nhưng nếu đã đánh giá, sàng lọc để chọn ra các nhà nghiên cứu xứng đáng nhận đầu tư ở mức hai, thì các nhà quản lý sẽ có thêm trách nhiệm đầu tư bởi ở khía cạnh nào đó, các nhà khoa học được lựa chọn cũng là niềm vinh dự và thành tích của trường/viện. Nếu tiến hành một cách minh bạch và chính đáng, chọn được người tài thì tôi rất tin các cơ quan chủ quản có thế mạnh như hai ĐHQG, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam… sẽ ủng hộ và chấp thuận cùng đầu tư. Như vậy, đây sẽ là sự hợp tác ba bên cùng có lợi: Quỹ sử dụng đồng tiền đúng mục đích, hiệu quả; cơ quan chủ quản khẳng định được vị thế của mình so với những tổ chức khác thông qua việc thu hút và nuôi dưỡng cá nhân xuất sắc; nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu và có những đóng góp quan trọng đối với cộng đồng khoa học quốc tế, đóng góp vào sự phát triển của xã hội.  Hệ quả  Rõ ràng ai cũng nhìn thấy hệ quả tốt đẹp của một nền khoa học khi đầu tư thành công vào những cá nhân và nhóm nghiên cứu xuất sắc. Ở đây tôi muốn nhắc đến một vài khía cạnh khác, góp phần làm lành mạnh nền khoa học.  Thứ nhất, chất lượng nghiên cứu sẽ tăng lên, đi kèm với cạnh tranh lành mạnh. Nếu nhà nghiên cứu nào cũng thấy cơ hội được đánh giá đúng khả năng, được hỗ trợ hết sức cho đề xuất nghiên cứu khi được “thăng hạng” thì họ sẽ chỉ tập trung vào công việc nghiên cứu, chuẩn bị để đến một ngày nào đó được mời đề xuất ý tưởng, chương trình nghiên cứu và có hy vọng được tuyển chọn. Bởi ít ra họ biết rằng nếu cứ làm việc một cách bình bình, không tạo ra được sản phẩm có giá trị cao thì không thể lọt vào danh sách thăng hạng.  Thứ hai, nhà khoa học chỉ việc tập trung vào nghiên cứu sau khi được cấp kinh phí nghiên cứu, trang thiết bị, vật tư tiêu hao, hóa chất dành cho dự án, và có người hỗ trợ triển khai nghiên cứu (postdoc, nghiên cứu sinh, v.v do quỹ trả lương). Điều đó sẽ tạo ra sự thay đổi mà ít ra đến thời điểm này, nhiều thông tư hướng dẫn và những thủ tục hành chính chưa thể phát huy tác dụng như mong muốn của các nhà quản lý.  Thứ ba, việc áp dụng thành công cách đầu tư mới sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ ở nước ngoài về nước, đặc biệt với trường hợp những người đang còn băn khoăn giữa ở và về. Họ sẽ nhìn thấy cơ hội, con đường phát triển sự nghiệp ở trong nước và tự nguyện về mà các nhà quản lý không cần phải hô hào. Bởi với những người giỏi, tại sao lại không về nước nếu như có cơ hội được đầu tư ở mức hai, mức ba và như vậy không chắc là quá thua thiệt so với khi làm ở nước ngoài. Gần đây, Trung Quốc đang thu hút được rất nhiều các tài năng trẻ từ Mỹ, châu Âu về nước xây dựng và lãnh đạo các nhóm nghiên cứu thông qua các chương trình tài trợ lớn, chọn lọc như chương trình 1.000 tài năng (ngoài ra, các trường đại học lớn, các vùng cũng có riêng các chương trình thu hút tài năng của mình).  GS Hoàng Tụy đã nhận định, một trong những vấn đề quan trọng của khoa học Việt Nam là “đào tạo cả những nhà khoa học trẻ phát triển và thành danh quốc tế ngay từ quá trình làm việc trong nước – một điều không dễ nhưng không đến nỗi không làm được”1. Vì vậy nếu áp dụng cách thức đầu tư chọn lọc thì Quỹ Nafosted có thể thúc đẩy quá trình đào tạo nhà khoa học trẻ một cách minh bạch và hiệu quả.  ——–  *Khoa Khoa học vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano Trường Đại học KH&CN Hà Nội (USTH)  1 Hoàng Tụy: “Thiếu cơ hội tham gia sinh hoạt quốc tế, nền khoa học sẽ bị cô lập”  http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Thieu-co-hoi-tham-gia-sinh-hoat-quoc-te-nen-khoa-hoc-se-bi-co-lap-10247    Author                Trần Đình Phong        
__label__tiasang Tài xế và Grab: Mối quan hệ chưa thể gọi tên      Những ngày qua, các phương tiện truyền thông nóng lên với sự kiện hàng trăm tài xế Grab đã tắt ứng dụng, tập trung diễu hành phản đối tại một số thành phố lớn sau khi Grab lấy cớ vì bị tăng thuế VAT nên đã tăng tỉ lệ chiết khấu đối với tài xế từ khoảng 28% lên trên 32%. Giữa Grab và tài xế luôn là một mối quan hệ yêu ghét bất phân mà pháp luật hiện nay chưa thể điều chỉnh được.    Một quan hệ, ba luật điều chỉnh  Đây không phải lần đầu tiên các tài xế tắt ứng dụng và tập trung phản đối các thay đổi chính sách của Grab. Và Grab cũng không phải là hãng xe công nghệ duy nhất gặp vấn đề tài xế đình công. Các hãng khác như GO JEK, BE đều đã gặp phải vấn đề này từ vài năm trở lại đây, kể từ khi Quyết định 24 của Bộ Giao thông Vận tải mong muốn thí điểm ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng với nhiều ưu đãi về thuế cho các hãng taxi công nghệ này đã hết hạn. Giai đoạn “trăng mật” giữa các hãng này và nhà nước cũng như các tài xế sắp kết thúc.   Về bản chất hàng trăm tài xế diễu hành tập trung phản đối Công ty để đòi hỏi cơ chế chiết khấu công bằng hơn, minh bạch hơn, về căn bản không khác gì hàng ngàn công nhân đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm, yêu cầu Doanh nghiệp sản xuất đối thoại trong nhiều năm qua.       Tài xế và Grab Việt Nam, đáng tiếc, theo rất nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau dường như có thể đang được điều chỉnh bởi những ba luật: Luật Thương mại 2005, Luật Dân sự 2005 và Luật Lao động 2012/2019) – kể cả khi Grab có được coi là doanh nghiệp vận tải hay cung ứng dịch vụ môi giới công nghệ.      Tuy nhiên, về luật thì khác. Nếu với các hãng vận tải truyền thống, tài xế và doanh nghiệp là công nhân và doanh nghiệp – hai chủ thể được điều chỉnh duy nhất bởi Luật Lao động. Trong khi đó, tài xế và Grab Việt Nam, đáng tiếc, theo rất nhiều quan điểm và  ý kiến khác nhau dường như có thể đang được điều chỉnh bởi những ba luật: Luật Thương mại 2005, Luật Dân sự 2005 và Luật Lao động 2012/2019) – kể cả khi Grab có được coi là doanh nghiệp vận tải hay cung ứng dịch vụ môi giới công nghệ.  Về Luật Dân sự 2005, Điều 513 quy định “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.    Nền kinh tế gig giải phóng những ràng buộc của người lao động với tư duy và văn hóa doanh nghiệp cũ kĩ  Về Luật Thương mại 2005, Điều 3.1 xác định “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” – Nhưng cũng tại điều 2.5 Luật này, các hoạt động thương mại đều phải được thực hiện bởi thương nhân có đăng ký kinh doanh. Đây là định nghĩa khiến Grab luôn khẳng định hoạt động của tài xế Grab là dân sự, là “không sinh lợi” vì tài xế không phải là “thương nhân”.  Cũng tại điều này, tài xế Grab còn có thể được nằm trong nhóm trường hợp “các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh” như “đánh giày, bán vé số, sửa xe, chữa khóa, … và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định (Nghị định 39/2007/ND-CP).  Còn đối với pháp luật lao động, nếu Bộ luật năm 2012 chưa đề cập tới, thì năm 2019 khái niệm “người làm việc không có quan hệ lao động” đã được đưa vào Dự thảo được Quốc hội thông qua. Đây là nỗ lực mở rộng phạm vi bảo vệ người lao động làm việc trong khu vực việc làm phi chính thức của Nhà nước, bao gồm cả tài xế công nghệ.   Tuy nhiên, mặc dù được điều chỉnh bởi những ba luật, chưa có bộ luật nào có thể dùng để bảo vệ các tài xế Grab một cách rõ ràng. Hi vọng lớn nhất vào bộ luật Lao động 2012 nói trên thì bộ luật này mới chỉ đưa ra khái niệm còn sau đó thì chưa có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về đối tượng này. Động thái cụ thể nếu có, mới chỉ là Khoản 3a Điều 34 Nghị định 10/2020/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 1/4/2020) quy định: Đơn vị kinh doanh vận tải phải “Ký hợp đồng lao động, đóng các loại bảo hiểm, tổ chức khám sức khỏe định kỳ và thực hiện đầy đủ các quyền lợi của người lao động (bao gồm cả lái xe, nhân viên phục trên xe) theo quy định của pháp luật về lao động”, tức là chỉ áp dụng cho tài xế ô tô đang làm việc dưới cái ô của các hợp tác xã và được xác định là đơn vị kinh doanh vận tải, đối tác của các hãng gọi xe công nghệ. Còn các cá nhân sở hữu phương tiện xe máy, ô tô không thuộc đơn vị kinh doanh vận tải nào chẳng được coi là “doanh nhân” mà cũng chưa được gọi là “người lao động” theo hai luật Thương mại và Lao động. Chỉ còn lại quan hệ dân sự, tức là lái xe cung ứng dịch vụ cho bên thuê là Grab và nhận được tiền dịch vụ từ Grab.      Lái xe công nghệ từ nhiều năm nay đã nhìn thấy cái ưu việt của gig, trong đó quan trọng nhất phải kể đến sự công bằng trong quá trình thực hiện công việc và được trả công.      Mặt trái của nền kinh tế gig  Dù chưa biết quan hệ giữa các tài xế và Grab thực sự là gì, hai bên vẫn cứ phải… quan hệ.   Nếu theo dõi các hoạt động của Grab từ khi mới bước vào thị trường Việt Nam, chúng ta thấy chưa ngày nào và bất cứ bên nào ngừng mối quan hệ này cả. Đó là đặc trưng của hội nhập và phát triển kinh tế.   Ngay từ đầu, để đón đầu xu hướng mới của nền kinh tế gig, Chính phủ đã đồng ý thông qua đề án thí điểm 1850/TTg-KTN ngày 19/10/2015, để Grab và các hãng xe công nghệ được hưởng mức thuế suất chỉ là 3% so với taxi truyền thống là 10%. Lợi thế này thúc đẩy Grab mở rộng mạnh mẽ, từ một sang nhiều dịch vụ khác nhau trên cùng một ứng dụng. Trong vài năm, hàng trăm triệu lượt xe lưu thông trên đường, hàng trăm ngàn xe và việc làm được tạo ra.    Có báo dịch gig là nền kinh tế tạm bợ, tôi cho rằng cách dịch chưa chuẩn sẽ khiến người đọc chỉ hiểu phiến diện. Ảnh 2 đơn giản hóa sự so sánh giữa hai nền kinh tế. Nếu nền kinh tế chính thức bao gồm các mối quan hệ lao động, kinh doanh chính thức được quản lý một cách tinh gọn, bớt công kềnh với văn hóa nặng về giấy tờ hành chính, tư duy quan liêu cố hữu, hệ thống đồ sộ chồng chéo, thông tin thiếu minh bạch, kỹ năng quản trị cảm tính, chi phí quan hệ chính trị cao hơn chi phí vốn con người, … thì đây là lúc khái niệm gig xuất hiện, cởi bỏ những “xiềng xích” rào cản đó, để cá nhân, tập thể và cả cộng đồng kinh doanh được tự do phát triển, giảm chi phí của các “rào cản” và tăng tỉ lệ đầu tư vào chất xám và giải phóng năng lực vô hạn của con người.    Mọi quyết định về doanh thu và chi phí đều tác động lên thương hiệu, giá trị thương mại của một doanh nghiệp.  Ai cũng nhìn thấy điều đó và hằng ngày ta thấy nhà nhà người người chuyển đổi số, thậm chí Covid-19 còn khiến mọi doanh nghiệp nghĩ đến số hóa và tham gia tích cực hơn vào nền kinh tế gig. Lái xe công nghệ từ nhiều năm nay đã nhìn thấy cái ưu việt của gig, trong đó quan trọng nhất phải kể đến sự công bằng trong quá trình thực hiện công việc và được trả công. Đơn giản là càng làm nhiều thì thu nhập càng cao. Không phải lo nghĩ đến quan hệ, mâu thuẫn cao thấp, văn hóa doanh nghiệp phức tạp đa chiều vốn không bao giờ có khả năng thay đổi trong nền kinh tế chính thức.   Nền kinh tế gig có những đóng góp nhất định của nó cho sự phát triển toàn cầu, mặt trái của nó là do các bên không tôn trọng nguyên tắc của cuộc chơi.  Giai đoạn “trăng mật” tới nay giữa hàng triệu tài xế và các hãng xe công nghệ đã cho thấy những mặt trái của nền kinh tế này khá giống với mặt trái của kinh tế chính thức, đó là ưu thế đàm phán “mâm trên” của các hãng xe trước các thỏa thuận hợp tác mà các lái xe thường xuyên ký mà không đọc kỹ, bao gồm “tặng” hẳn quyền điều chỉnh thay đổi các điều khoản cơ bản trong thỏa thuận mà không cần trao đổi, thông báo trước cho các hãng xe. Tỉ lệ chiết khấu, tỉ lệ thưởng, thuế má, thậm chí cách vận hành ứng dụng để trao thưởng cho lái xe … cũng thuộc quyền tuyệt đối của các hãng xe.   Tới một giai đoạn nhất định, gig hay không gig là do thị trường quyết định, hàng triệu lái xe cũng như người lao động ở các khu vực kinh tế khác tại tiếp tục trải nghiệm và tự ra quyết định cho mình làm công việc nào. Tôi vẫn nhớ khi nói chuyện với một chị lái xe grab, chị bảo “ít nhất là mình được lựa chọn, có hơn một lựa chọn vẫn tốt hơn”.      Grab thay vì tìm cách “bỏ nhỏ” ra các quyết định vụn vặt như vài phần trăm chiết khấu, thu hộ thuế, v.v. cần phát triển đội ngũ liên kết thương hiệu và chiến lược kinh doanh chuyên nghiệp, nghiêm túc nhìn lại vấn đề thương hiệu trên mô hình kinh doanh tại một xã hội có văn hóa đặc trưng như việt Nam, để từ đó ra các mô hình thống nhất với mục tiêu tầm nhìn về bền vững và “không ngừng tốt hơn” như chính bản thân họ tuyên bố.      Lái xe cũng như hàng triệu người lao động trong khu vực phi chính thức, họ vẫn có lợi thế là được thể hiện quan điểm như ngừng việc đúng luật và đàm phán với các hãng xe bằng cách này hay cách khác. Không chỉ ở Việt Nam, lái xe ở Thái Lan, Indonesia vẫn thường xuyên tắt ứng dụng và yêu sách Grab về những vấn đề tương tự. Quan trọng là cách làm của họ, vì vài trăm người ngừng việc thì còn hàng ngàn người vẫn cần việc làm gig, một khi Grab chưa thấy được sức ép của việc thiếu lái xe cho thị phần mà mình đã mất hàng nghìn tỉ để mở rộng, thâu tóm, thì họ vẫn làm việc họ đang làm. Đó là lý do mà nhiều ý kiến cho rằng cần có các tổ chức đại diện quyền lợi của lái xe công nghệ để họ được bảo vệ tốt hơn.   Tuy nhiên thực tiễn về các tổ chức như vậy ở Việt Nam vẫn còn nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ. Sức ép đối với Grab và các hãng xe có thể lớn hơn khi các lái xe quyết tâm thành lập những tổ chức thực sự “biết cách đàm phán với người khổng lồ” và biết tận dụng các yêu cầu quốc tế đối với nghĩa vụ tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về quyền lao động của Việt Nam khi gia nhập các Hiệp định thương mại lớn vừa qua (CPTPP, EVFTA, RCEP, v.v.). Thậm chí không ngoại trừ khả năng các tổ chức bảo vệ lái xe giữa các nước liên hiệp lại để tìm ra câu trả lời đối với việc đối phó như thế nào với Grab, Gojek. v.v. Lúc đó các hãng này sẽ phải nhìn nhận nghiêm túc hơn việc nghiên cứu văn hóa cộng đồng ở Việt Nam.    Liệu Grab có thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình?  Còn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của Grab?  Trong khi chờ đợi luật pháp hoàn thiện, thị trường quyết định mối quan hệ giữa lái xe và các hãng xe như Grab, thì điều mà xã hội mong đợi là “trách nhiệm xã hội” của Grab đối với đời sống, thu nhập và việc làm của hàng triệu lái xe – các đối tác của họ, bên cạnh quyền lợi cho người tiêu dùng, cho một cộng đồng tốt đẹp hơn.   Đây chính là những tuyên bố rất rõ ràng của Đại diện Grab trong các phiên tòa trong năm 2018 về vụ kiện giữa Grab và các hãng xe taxi truyền thống, khi được hỏi về việc tại sao Grab lỗ hàng nghìn tỉ nhưng vẫn tiếp tục mở rộng, phát triển, chiết khấu thấp, tặng thưởng cao, v.v. Vụ kiện được đồng ý hoãn lại nhưng những câu trả lời của lãnh đạo Grab tại Việt Nam rằng về việc họ sẽ đảm bảo cho người lao động thế nào vẫn còn song hành với những quyết định lớn liên quan đến đối tác, người tiêu dùng mà lần nào cũng nhận được sự quan tâm của dư luận.   Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) hoặc Kinh doanh có trách nhiệm (RBC) ngày càng là xu thế của toàn cầu, trong đó ở Việt Nam biểu hiện rõ nhất là các nghĩa vụ mà Việt Nam sớm muộn phải thực hiện khi muốn hái trái ngọt từ các Hiệp định thương mại tự do với các nền kinh tế phát triển trên thế giới.  Trách nhiệm xã hội, theo nghiên cứu của chính bản thân tôi trong 10 năm qua, có ba cấp độ. Đó là CSR trong chính sách của doanh nghiệp, trong chiến lược kinh doanh và cao nhất, trong mô hình kinh doanh của công ty, tập đoàn đó.   Grab đã có những cam kết công khai bằng chính sách toàn cầu, khu vực về CSR. Ai lên mạng cũng có thể tải về xem được. Ngay cả chiến lược kinh doanh như giai đoạn đầu tại Việt Nam, CSR cũng đã ít nhiều được quảng bá qua những lời tuyên bố của lãnh đạo, những lần “đốt tiền” hàng nghìn tỉ để giữ mức giá cạnh tranh cho người đi xe, duy trì mức thu nhập cao cho đối tác lái xe. Những ai không tin CSR thì chỉ cho rằng đây là chiến lược bành trướng thị phần để gia tăng giá trị thương mại toàn cầu, gọi vốn kỳ lân nhiều lần thành công hơn nữa. Như thế nào thì bốn năm vừa qua Grab cũng đã thể hiện những chiến lược khó hiểu “hack não” với số đông có ít hiểu biết về kinh doanh toàn cầu.  Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ mô hình kinh doanh, mối liên hệ giữa Chi phí, Doanh thu, Giá trị của Grab có thể lý giải một cách đơn giản các quyết định của Grab cũng như khả năng ra quyết định trong tương lai với một thị trương như Viêt Nam.  Hãy coi Giá trị là Thương hiệu toàn cầu mà Grab hay mọi tập đoàn kinh doanh phải phát triển và gìn giữ (trong đó có một phần rất lớn trong thời đại kinh doanh ngày nay là CSR). Dù Doanh thu, Chi phí có được thể hiện như thế nào trên chiến lược kinh doanh, ví dụ chịu lỗ vài năm để phát triển sản phẩm và mở rộng thị phần (doanh thu ít, chi phí ít, lãi ít) thì mọi quyết định về Doanh thu và Chi phí đều tác động lên Thương hiệu, Giá trị thương mại.  Trong thời buổi kinh doanh ngày nay, mỗi một tin tức bất lợi về mặt xã hội, con người, cộng đồng như Grab Thái Lan “phũ phàng” cắt giảm thu nhập của những lái xe đứng ở tuyến đầu ship hàng trong giai doạn giãn cách Covid, hay Grab Indonesia hay Việt Nam tùy tiện tăng chiết khấu điều chỉnh ứng dụng và gây ảnh hưởng lên bát cơm của lái xe, đều là những vấn đề ảnh hưởng thương hiệu, mà nếu không xử lý khôn ngoan sẽ có thể gây phản ứng dây chuyền lên mọi thị phần kinh doanh như người tiêu dùng tẩy chay, lái xe đình công, bỏ việc hàng loạt, đặc biệt khi họ được lãnh đạo và hướng dẫn có tổ chức.   Cuối cùng có thể là phản ứng của toàn xã hội và cộng đồng, có thể tác động lên quyết định đầu tư của các nhà đầu tư có tầm nhìn và hiểu biết về sức mạnh cộng đồng. Khi đó, như rất nhiều câu chuyện thất bại thương hiệu và CSR khác, những ông chủ như Ngân hàng Nhật đang muốn rót vốn “vô thời hạn” cho Grab chắc chắn cũng sẽ phải nghĩ lại.□  ——–  *Sáng lập và cố vấn chiến lược của Respect Vietnam    Author                Đặng Thị Hải Hà        
__label__tiasang Tạm biệt IDA nhưng không luyến tiếc      Kể từ tháng 7/2017, Việt Nam sẽ không được tiếp tục nhận tín dụng bao cấp qua chương trình IDA của World Bank (WB). Sự kiện này là điều được dự kiến trước và nằm trong xu hướng giảm tiếp nhận ODA ở Việt Nam đã diễn ra từ vài năm qua, nhưng nó vẫn có ý nghĩa nhắc nhở chúng ta hai thực tế: (1) Việt Nam phải chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa trên hỗ trợ nước ngoài sang một kinh tế cạnh tranh trên thị trường quốc tế; (2) Cộng đồng quốc tế nay đã thay đổi một cách mạnh mẽ và để thích ứng, những nước đang phát triển như Việt Nam càng cần bớt lệ thuộc vào sự tài trợ từ bên ngoài.        Tốt nghiệp IDA cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam mất đi một động lực khuyến khích hỗ trợ cho các nỗ lực giảm nghèo và bất bình đẳng. Ảnh: Người dân ở vùng núi phía Bắc, Việt Nam. Simone D. McCourtie / World Bank.  Xu hướng giảm ODA vào Việt Nam  Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam từ mấy năm nay đã vượt ngưỡng trần nhận ưu đãi tín dụng IDA (khoảng 1.200 USD/đầu người), hiện nay đã đạt mức 2.000 USD một đầu người. Tuy nhiên, tín dụng IDA chỉ là một trong những nguồn ODA và ngoài WB còn có những quốc gia (Đan Mạch, Thụy Điển) giúp vốn ODA cho những nước thu nhập trung bình. Để có thể nhận nguồn vốn ODA, một nước phải có thu nhập dưới 12.000 USD một đầu người – gấp sáu lần thu nhập Việt Nam hiện nay. Vì vậy, những nước thu nhập cao hơn Việt Nam như Trung Quốc, Brazil, Mexico… hiện vẫn nhận vốn ODA.  Khi hội đồng hỗ trợ phát triển (Development Assistance Committee, DAC) thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) họp mặt năm 2017 để tái xét các quốc gia có thể nhận ODA, Việt Nam sẽ tiếp tục nằm trong danh sách.  Trong quá khứ, nguồn IDA của WB chiếm phần lớn trong vốn ODA đến Việt Nam. Nhưng trong mấy năm gần đây, tín dụng IDA đã giảm tầm quan trọng so với những nguồn ODA khác (xem Hình 1). Năm 2012, WB dành cho Việt Nam 1,9 tỷ USD tín dụng IDA, chiếm 46% nguồn vốn ODA đến Việt Nam, nhưng đến năm 2015 IDA cho Việt Nam chỉ còn 590 triệu USD, chiếm 19% ODA.      Hình 1: IDA đã giảm mức quan trọng trong nguồn vốn ODA ở Việt Nam.  Nguồn: WB.  Bên cạnh xu hướng đó, bản thân nguồn vốn ODA cũng giảm tầm quan trọng trong ngân sách và kinh tế Việt Nam nói chung. Vốn ODA chiếm 5% GDP trong năm 2000 nhưng chỉ còn 1,7% năm 2015. Năm 2007, ODA chiếm 17% tổng số chi trong ngân sách Nhà nước, năm 2013 chỉ còn 11% (Xem hình 2). Đây là một dấu hiệu cho thấy kinh tế Việt Nam có xu hướng đa dạng hoá nguồn lực hơn, ít nhất trong lĩnh vực tài chính công. Tuy nhiên, tỷ lệ ODA giảm cũng vì lượng ODA vào Việt Nam giảm. Năm 2013, 4 tỷ USD tiền ODA vào Việt Nam; hai năm sau, con số đó giảm 25% còn 3 tỷ. ODA vào Việt Nam giảm vì hai lý do: 1. Việt Nam, nay là một nước thu nhập trung bình, không cần nhiều trợ cấp như trước; 2. về phía nguồn cung, các nước phát triển hiện đang có hướng cô lập hoá trong định hướng đối ngoại, điều này gây ảnh hưởng đến các chính sách trợ cấp nước ngoài, cũng như di dân và thương mại.    Hình 2: Vốn ODA ngày càng ít quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.  Nguồn: WB.  Không nên trông chờ vào ODA từ các nước phát triển  Tháng trước, Tổng thống Mỹ đề xuất một ngân sách cho năm tới của Mỹ, trong đó số tiền dành cho Bộ Ngoại giao giảm một phần ba, tiền dành cho những tổ chức đa phương giảm 50% – phần tài trợ của nước Mỹ góp 22% của quỹ Liên Hiệp Quốc và vốn Mỹ trong Ngân hàng Thế giới là 20%. Cũng cách đây ít tuần, Tổng thống Mỹ tuyên bố sẽ rút khỏi Thoả thuận chung Paris. Những quyết sách của Tổng thống Trump phần nào liên quan đến thực trạng 20 năm qua, xu hướng tự động hoá và toàn cầu hoá đã khiến một bộ phận đáng kể người lao động ở các nước phát triển, trong đó có Mỹ, bị mất việc làm, dẫn tới không ít những hệ lụy xã hội. Nghiên cứu gần đây của hai nhà kinh tế Anne Case và Angus Deaton1 cho thấy tỷ lệ tử vong người Mỹ da trắng không có bằng đại học tuổi trung niên 45-54 đã tăng đáng kể trong thời gian 1999-2013, nguyên nhân do tự tử, nghiện ngập, và bệnh gan liên quan đến nghiện cồn. Cũng nên lưu ý, người đàn ông da trắng ít học là nhóm người ủng hộ Tổng thống Mỹ đương nhiệm mãnh liệt nhất trong cuộc bầu cử vừa qua. Chi phí y tế và những gánh nặng tài chính để giải quyết các vấn đề xã hội khiến nợ công Mỹ tăng cao, hiện gần mức 100% GDP – riêng chi phí trợ cấp y tế hiện chiếm 25% ngân sách chính phủ và 5% GDP. Để giảm nợ, Mỹ nhiều khả năng sẽ cắt giảm các chương trình trợ cấp nước ngoài.  Cộng đồng châu Âu cũng đã và đang phải đối đầu với những thực trạng tương tự như Mỹ. Bên cạnh đó, biến cố Brexit, vấn đề di dân, những cam kết cần thiết để hỗ trợ các nước nhỏ trong khu vực như Hy Lạp hay Bồ Đào Nha nhằm giữ vững đồng tiền Euro, càng khiến Cộng đồng châu Âu phải tập trung nguồn lực cho công việc nội bộ và cắt giảm trợ cấp cho các nước đang phát triển.  Mặc dù sau vài năm, chính phủ các nước phát triển có thể sẽ thay đổi định hướng chính sách nhưng môi trường đưa đến các thay đổi hiện nay sẽ không tự dưng mất đi. Chúng sẽ tiếp tục là gánh nặng khiến các nước phát triển không thể có nguồn lực dư dả như trước đây để dành cho việc trợ cấp các nước đang phát triển. Bởi vậy, có thể hình dung trong những năm tới, nguồn vốn ODA sẽ tiếp tục suy giảm hơn nữa.  Thách thức sau khi tốt nghiệp IDA?  Mặc dù vai trò của ODA ở Việt Nam đã giảm dần và việc tốt nghiệp IDA là điều đã được dự kiến như đề cập trên đây nhưng sự kiện này vẫn để lại một khoảng trống nhất định trong ngân sách nhà nước. Lãi suất các nguồn vốn hỗ trợ cho Việt Nam trước mắt tuy vẫn tốt hơn điều kiện thị trường, nhưng lãi suất sẽ tăng từ mức ưu đãi khoảng 0,75% một năm lên gấp 3-4 lần và thời hạn trả nợ rút ngắn một nửa từ khoảng 40 năm xuống 20 năm. Chi phí của một số công trình sẽ gia tăng ảnh hưởng đến cơ cấu ngân sách chính phủ.  Sứ mệnh cụ thể của chương trình IDA chính là giảm nghèo và bất bình đẳng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong mấy năm gần đây, vốn IDA đặc biệt dành cho các chương trình giảm bất bình đẳng giới, thay đổi khí hậu và bảo vệ môi trường nói chung, những ưu tiên đó đã trở thành ưu tiên của Việt Nam qua các dự án IDA. Vì vậy, khi tốt nghiệp IDA, nguồn lực Việt Nam dành cho các ưu tiên này chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Do nguồn vốn vay phải trả lãi suất cao hơn và gần hơn với lãi suất thị trường, những dự án của Chính phủ Việt Nam sử dụng vốn vay nước ngoài nhiều khả năng sẽ thiên về những hoạt động có khả năng thu hồi vốn cao. Các dự án phục vụ mục tiêu xã hội thường không nằm trong diện này.  Mặt khác, quá trình tốt nghiệp IDA và ODA gắn liền với mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường, mà song hành với đó thường là sự gia tăng bất bình đẳng trong xã hội, vấn đề mà cơ chế thị trường không dễ tự thân giải quyết. Bởi vậy, tồn tại một nghịch lý là tốt nghiệp IDA cũng đồng nghĩa với mất đi một động lực khuyến khích hỗ trợ cho các nỗ lực giảm nghèo và bất bình đẳng, trong khi thời kỳ sau tốt nghiệp IDA chính là giai đoạn mà các lĩnh vực này càng cần nhiều sự ưu tiên. Trên thực tế, các nước thu nhập trung bình như Thailand và Philippines đã và đang phải đối phó với tình trạng chênh lệch giàu nghèo mà hơn hai thập niên sau tốt nghiệp IDA còn sâu đậm hơn.  Để bù đắp vào khoảng trống ODA cùng phần dư nợ để lại, chính phủ phải tạo những nguồn thu mới, hoặc phải chuyển tài nguyên từ các lĩnh vực khác trong ngân sách nếu muốn duy trì nguồn lực giải quyết các vấn đề xã hội mà cơ chế thị trường không/khó tự giải quyết. Nguồn thu mới thay thế cho ODA thường là nguồn thuế tăng theo sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi còn là một nước thu nhập thấp, kinh tế có thể tăng trưởng nhanh mà không đòi hỏi cao về trình độ quản lý và năng lực sản xuất kinh doanh do sẵn có nguồn vốn (có trợ cấp ODA) rẻ, lao động rẻ, đất đai rẻ. Khi trở thành nước thu nhập trung bình, những lợi thế này sẽ mất đi, có thể làm hiệu quả sử dụng vốn suy giảm, khiến không ít quốc gia rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” mà người ta thường nhắc đến. Với Việt Nam, thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2008-2015 – thời điểm Việt Nam đã bước sang mức thu nhập đầu người 1000 USD – nền kinh tế của chúng ta hoạt động hiệu quả ngang với các nước thu nhập thấp và hiệu quả hơn so với các nước thu nhập trung bình. Chỉ số ICOR (một chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn) của Việt Nam giai đoạn này là 4,58, trong khi ICOR bình quân của các nước thu nhập thấp là 4,57, ICOR bình quân các nước thu nhập trung bình là 6,20).  Sự hiệu quả của nền kinh tế còn thể hiện trên phương diện thanh toán nợ. Để trả số dư nợ ODA để lại mà không gây áp lực giảm giá trị đồng tiền thì cần ngoai tệ từ hoạt động xuất khẩu. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Với những doanh nghiệp nhà nước vay lại từ nguồn vay ODA của Chính phủ, nếu họ không sản xuất hiệu quả và không đủ sức cạnh tranh thì sẽ không giúp giải quyết số dư nợ hiện có, thậm chí có thể còn tăng thêm nợ cho quốc gia.  Như vậy, thách thức lớn nhất cho các nước thu nhập trung bình, trong đó có Việt Nam, sau khi tốt nghiệp IDA là phải tăng cường chú trọng tính hiệu quả trong phân bổ vốn vay của Nhà nước nhưng mặt khác vẫn phải ưu tiên dành nguồn lực thích đáng cho các mục tiêu xã hội cho dù không còn sự hỗ trợ từ nguồn vốn IDA.  Dù sao, trong lịch sử phát triển kinh tế, sự tăng trưởng bền vững của một quốc gia không bao giờ do sự lệ thuộc vào tài trợ nước ngoài. Việt Nam còn phải vượt qua một chặng đường dài với rất nhiều thách thức trước khi có được một nền kinh tế tăng trưởng bền vững nhờ hiệu quả gia tăng và phân phối bình đẳng, nhưng tốt nghiệp IDA là bước đi đáng mừng đầu tiên vì nó nhắc rằng Việt Nam đang trên con đường đó.  ———-  1 Anne Case và Angus Deaton (2015) “Rising morbidity and mortality in midlife among white non-Hispanic Americans in the 21st century,’’ Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA,    Author                Phạm Hoàng Văn        
__label__tiasang Tâm lí tham nhũng      Chúng ta đánh ngã một nhà độc tài và nghĩ rằng chúng ta đã tiêu diệt những tay chân của y.&#160; Thế mà với 4 Chính phủ sau đó, vấn đề tham nhũng và hối lộ tiếp tục gây tác hại cho đất nước chúng ta. Trong viễn cảnh lịch sử tự lặp lại, một số người bắt đầu hỏi thay đổi Tổng thống có thật sự xóa bỏ tham nhũng?&#160; Có lẽ không, nếu như chúng ta không hiểu lí do tại sao tham nhũng tiếp tục tồn tại ở nước ta và chúng ta phải làm một cái gì đó về tham nhũng.  Một công trình nghiên cứu gần đây về thái độ của người Philippines liên quan đến vấn đề tham nhũng và hối lộ đã soi sáng cho chúng ta hiện tượng tiêu cực trong xã hội này.                        Ba nghiên cứu sinh Tanya Gisbert, Therese Posas và Karla Santos phỏng vấn 12 người và thăm dò ý kiến của 380 người từ 3 thành phần xã hội có thu nhập cao, trung bình, và thấp, tất cả đều là cư dân ở thủ đô Manila. Họ hỏi về định nghĩa thế nào là tham nhũng, hành động nào được xem là tham những, tại sao tham nhũng tồn tại, và có muốn dính dáng vào tham nhũng hay không. Những kết quả của nghiên cứu này có thể tóm lược qua các điểm sau đây:         Tham nhũng là một hình thức ăn cắp      Công trình nghiên cứu phát hiện rằng người dân định nghĩa tham nhũng là một hình thức ăn cắp. Tham nhũng được chia thành 2 loại theo qui mô: tham nhũng nhỏ và tham nhũng lớn. Tham nhũng nhỏ thường liên quan đến thường dân và thương gia cấp nhỏ.  Tham nhũng lớn thường xảy ra ở cấp Nhà nước và các “đại gia” trong thương trường.  Tham nhũng nhỏ bao gồm những hành động như đút lót cảnh sát để tránh bị phạt, bôi trơn các quan chức Chính phủ để công việc được trôi chảy. Trong môi trường kinh doanh, tham nhũng cũng bao gồm việc bòn rút tiền công ty bằng cách làm hóa đơn với số tiền chi nhiều hơn số tiền chi trong thực tế.         Phổ biến      Khi được hỏi tại sao tham nhũng tồn tại, thì nhiều người chỉ ra những “tấm gương” tiêu cực của quan chức Nhà nước. Một số người mô tả tình trạng tham nhũng ở Phi lippines như đã thấm vào máu.  Khi được hỏi tại sao lại can dự vào tham nhũng và đút lót, những người có thu nhập thấp cho biết đó chỉ là một cách để duy trì sự sống còn của gia đình. Nhưng những người có thu nhập cao thì cho rằng phải hối lộ cho quan chức Nhà nước để công việc được trôi chảy, tức là một cách vượt rào hay “đi tắt đón đầu”. Một người nói thẳng rằng: tại sao lại chuốc lấy phiền phức cho mình khi mà chỉ cần một một số tiền nhỏ là có thể giải quyết xong vấn đề.  Một phát hiện thú vị của công trình nghiên cứu là các đối tượng giàu có (thu nhập cao) thường chấp nhận tham nhũng và sẵn sàng đút lót, nhưng những đối tượng có thu nhập thấp và trung bình thì thường không chấp nhận tham nhũng. Giai cấp có mức thu nhập trung bình là giai cấp chống tham nhũng nhiều nhất. Nhiều người phàn nàn rằng tiền thuế họ đóng góp cho Nhà nước bị tiêu phí cho những dịch vụ vô hình và kém chất lượng. Một người phản ảnh rằng có lần một quan chức tuyên bố sẽ có dịch vụ khám sức khỏe và phát thuốc miễn phí, nhưng thật ra chẳng có gì miễn phí, mà sau đó người ta thấy vị quan chức đó có xe hơi mới và nhà của ông ta được xây dựng khang trang hơn.  Nên hiểu những phát hiện này như thế nào?  Dù tham nhũng có thể nhìn với nhiều quan điểm, nhưng nó có thể xem là một hiện tượng xã hội có nguồn gốc từ nhiều quan niệm tâm lí. Những yếu tố tâm lí đó có thể tóm lược như sau:      Thiếu tấm gương tốt. Chúng ta học từ hành động của người khác, và người dân “đến” với tham nhũng qua những tương tác với chính quyền. Chúng ta thấy quá nhiều tham nhũng trên báo chí, quá nhiều hành động tham nhũng của các quan chức Nhà nước, nhưng có rất ít người có tấm gương sáng để đối chọi lại tham nhũng. Hệ quả là giới trẻ và những quan chức tương lai xem hành động tham nhũng là điều có thể chấp nhận được.      Vô cảm. Mặc dù người dân chỉ trích tham nhũng trong chính quyền, nhưng người dân lại thấy những hành động đút lót và “bôi trơn” để đạt được mục tiêu của mình là một điều có thể chấp nhận được!  Vấn đề ở đây là làm sao có thể có một đường ranh để phân biệt đâu là tham nhũng nhỏ và đâu là tham nhũng lớn. Tham nhũng lớn ắt phải bắt đầu bằng tham nhũng nhỏ.      Hợp lí hóa. Những người hành xử tiêu cực sẽ tìm cách biện minh cho hành vi xấu của họ để tự cảm thấy họ không có mâu thuẫn.  Họ từ chối trách nhiệm, và biện minh rằng họ tham nhũng vì tình thế bắt buộc chứ không còn lựa chọn nào khác. Kiểu giải thích “gặp thời thế, thế thời phải thế”. Một biện minh khác là phủ nhận tai hại của tham nhũng, cho rằng tham nhũng chẳng làm hại ai, tức là một cách lí giải kiểu cứu cánh biện minh cho phương tiện!      Củng cố vị trí xã hội. Sự khác biệt về thái độ đối với tham nhũng giữa các thành phần kinh tế có thể giải thích bằng khái niệm củng cố quyền lực. Đối với những người có thu nhập cao, chi phí cho tham nhũng chẳng là bao nhiêu so với lợi ích mà họ đạt được. Đối với người có thu nhập trung bình hay thấp, họ thấy tham nhũng là bòn rút đồng tiền mà họ làm làm lụn rất vất vả mới có được, và chi phí cho tham nhũng có khi còn nhiều hơn thu nhập của họ. Do đó, người giàu dễ dàng chấp nhận tham nhũng hơn là người nghèo.      Bất lực. Mặc dù người dân nói chung bực tức trước tình trạng tham nhũng, nhưng người dân cũng cảm thấy bất lực, không làm gì được để cải tiến tình hình. Người dân thấy rằng khó mà diệt được tham nhũng, bởi vì chính những người có quyền lực cao nhất cũng chính là những kẻ tham nhũng.  Với những yếu tố tạo nên văn hóa tham nhũng mà chúng ta đã biết qua nghiên cứu này, câu hỏi đặt ra là chúng ta có thể làm gì?  Tham nhũng, như trình bày trong nghiên cứu này, là một hiện tượng phức tạp bắt nguồn từ tâm lí và văn hóa.  Nghiên cứu này cho thấy ngoài những hành động của giới lãnh đạo và cơ chế xã hội, chúng ta cần có niềm tin rằng có thể tiêu diệt tham nhũng. Một sự thay đổi về nhận thức như thế đòi hỏi nhiều thế hệ và cần một nỗ lực của nhiều thành phần – từ gia đình, trường học và các định chế xã hội.    Nguyễn Văn Tuấn  Lược dịch từ bài “Psychology of corruption” của Regina M. Hechanova, đăng trên báo Philippine Daily Inquirer số ra ngày 3/15/2008.  http://opinion.inquirer.net/inquireropinion/talkofthetown/view/20080315-124939/Psychology-of-corruption       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tám nguyên tắc thiết kế hiến pháp      Trong khi Việt Nam đang xem xét sửa đổi Hiến  pháp, chúng tôi xin trích dịch tám nguyên tắc thiết kế hiến pháp do GS  Donald S. Lutz ở ĐH Houston (Mỹ) đã nghiên cứu và khái quát trong cuốn  “Principles of Constitutional Design” (New York, Cambridge University  Press, 2006) để các nhà thảo hiến và các hiến gia Việt Nam  suy ngẫm.     Donald S. Lutz lưu ý rằng: “những nguyên tắc chung này là những hướng dẫn cho việc suy nghĩ về một dự án hiến pháp nói chung chứ không phải là những lời quả quyết hay tuyến bố chính thức mà những người thiết kế hiến pháp phải tuân theo.” (tr.218).   1.    Gắn Chính quyền với Nhân dân: Tất cả các chính quyền, hợp pháp hay không, đều phải gắn với “đức hạnh” của Nhân dân.  •    Phân tích những đặc tính của nhân dân – sử dụng những dữ liệu của lịch sử để đánh giá những mục đích chung, những mong muốn chung, các giá trị chung, cũng như sự đa dạng của những điều này – hãy nhớ tầm quan trọng của văn hóa chính trị nói chung và thái độ đối với “pháp quyền” nói riêng.  •    Phân tích bối cảnh và môi trường thực tế.  •    Nhận diện những “vấn đề chính trị trọng yếu” – đặc biệt là bản chất và sự căng thẳng của các phe phái – ví dụ chủ nghĩa địa phương và chủ nghĩa toàn cầu.   2.    Trên trái đất này, không có một hệ thống chính trị lý tưởng; vì vậy, hãy tìm kiếm những lựa chọn tốt nhất có thể trong những điều kiện nhất định.  •    Hãy hành động dựa trên lý thuyết thực tế về bản chất của con người.  •    Hãy xem xét sự khác biệt giữa phúc lợi chung và những lợi ích nhóm.   •    Phân biệt những liên kết dựa trên lý tính và những liên kết dựa trên ý thức hệ.  3.    Chỉ khi nào người ta nhận thức và đối phó được với một thực tế không thể tránh khỏi là quyền lực chính trị là nguy hiểm, việc thiết kế thể chế mới có thể thành công.  •    Quan niệm về chủ quyền nhân dân cần phải được phản ánh hoặc/và biểu đạt trong hiến pháp.  •    Trong việc đánh giá về sự đối lập giữa sự cai trị bởi giới tinh hoa và chế độ dân trị, hãy suy nghĩ thực tế về bình đẳng, về sự không thể tránh khỏi của sự cai trị của giới tinh hoa, và những phương thức để kiểm soát họ.  •    Đánh giá về sự đối lập giữa quy tắc đa số và quy tắc thiểu số, các quyền cá nhân, sự đối lập giữa đa số ổn định và đa số nhất thời; sự đối lập giữa sự thờ ơ và sự nồng nhiệt của đa số hay thiểu số.  4.    Ý tưởng về một hiến pháp là sự kết hợp giữa công lý và quyền lực.  •    Hiến pháp là gì? Chức năng và mục đích của nó là gì?  •    Điều gì cần đưa vào hiến pháp và điều gì không nên đưa vào hiến pháp?  •    Những ý nghĩa khác nhau của một chính phủ hữu hạn và chúng ta sử dụng nó như thế nào?  5.    Vấn đề cốt yếu trong thiết kế hiến pháp là sự phân phối quyền lực.  •    Tại sao chúng ta phải phân phối quyền lực? Chúng ta cần phải làm điều này như thế nào?  •    Xem xét học thuyết phân quyền, chế độ liên bang, sự phức tạp về mặt thể chế, và chế độ trách nhiệm.  •    Đánh giá những mô hình hiến pháp cơ bản: mô hình nghị viện (sự giới hạn quyền lực bằng truyền thống), mô hình phân quyền (sự giới hạn quyền lực bởi những thiết kế phức tạp về mặt thể chế); mô hình hỗn hợp, mô hình tổng thống…  6.    Quy trình ra các quyết định tập thể nên được quan niệm như là một hệ thống hoàn chỉnh của các định chế đan xen vào nhau.  •    Xem xét bản chất của các định chế.  •    Đánh giá hệ thống phân tích.  •    Đánh giá mục đích của việc đưa ra các quyết định tập thể và các bước của quá trình này.  7.    Một hệ thống của các thể chế phải được xây dựng trên một lý thuyết thống nhất.  •    Giới hạn hành vi của các nhân vật chính trị trong một phạm vi có thể dự đoán trước: tổ chức các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp, và tương quan giữa chúng.  •    Lựa chọn và giám sát các nhân vật chính trị thông qua hệ thống bầu cử, công luận, lý thuyết đại diện, lý thuyết về sự tham gia, và cơ chế chịu trách nhiệm.  •    Đánh giá sự đối nghịch giữa khoa học chính trị và nghệ thuật chính trị.  8.    Một hiến pháp không chỉ dựa vào bối cảnh lịch sử và hiện tại của nhân dân mà còn phải dựa vào khả năng phát triển trong tương lai.  •    Đưa ra những hình thức để sửa đổi và thay đổi hiến pháp.   Bùi Ngọc Sơn dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tâm và Tài      Cuối năm là thời điểm người ta nghĩ nhiều về tương lai. Vì năm mới thường mang theo những viễn tưởng về cuộc sống ở phía trước, về những gì mới mẻ và tốt đẹp. Tôi cũng không thoát khỏi tâm trạng chung đó. Và tôi thấy tương lai phụ thuộc vào hai chữ mà dường như Nguyễn Du đã đặt cạnh nhau trong thế đối lập : Tâm/Tài, trong câu thơ mà có lẽ tất cả những ai đã trải qua ghế nhà trường, và thậm chí không đến trường, cũng đều biết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tuy nhiên, hai chữ đó có thực sự là bị đặt vào thế đối lập không ?    Trước hết cần ý thức được rằng, trong một thế giới rất phát triển như thế giới của chúng ta ở thời điểm hiện nay, nếu chúng ta không có tài, tức là không có các năng lực trí tuệ, không có khả năng vươn tới sự bình đẳng với các nước khác, thì chắc chắn tương lai sẽ chẳng có gì đảm bảo. Vậy trong thế giới ngày nay cái tâm có ít quan trọng hơn cái tài không?   Trong câu thơ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài, ý tưởng của Nguyễn Du khá rõ ràng: cần phải hiểu rằng cái tâm quan trọng hơn cái tài.  Tôi lấy một ví dụ ở lĩnh vực giáo dục để nói rằng nếu thiếu cái tâm thì cái tài cũng chẳng thể giúp người giáo viên thực hiện được trách nhiệm giáo dục.  Làm sao người thầy còn thực hiện được chức năng giáo dục khi bản thân ông ta không hành động đúng theo các “mệnh lệnh”1 của đạo đức? Một giáo sư gây khó dễ để buộc sinh viên phải mang tiền đến nhà mình rồi mới chịu đọc luận án của người sinh viên, cái luận án do chính mình hướng dẫn, thật khó hình dung giáo sư đó sẽ thực hiện bổn phận giáo dục của người giáo viên như thế nào, cho dù rằng trên lớp hay thậm chí trong những đối thoại hằng ngày ông ấy có ý thức dùng bài giảng hay những câu chuyện với mục đích giáo dục sinh viên. Hay thậm chí cả khi ông ấy lên án các hiện tượng cần phê phán trong xã hội, thì đối với những sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh mà ông đã nhận tiền, những lời phê phán ấy có giá trị ra sao ? Thậm chí nữa, cả khi ông ấy ca ngợi những điều tốt đẹp thì liệu những điều tốt đẹp ấy có bị sinh viên phán xét lại qua cái lăng kính nơi phản chiếu hành vi nhận tiền của ông, hay là họ dẹp những điều tốt đẹp ấy sang một bên, hay họ xem đó như là những món đồ trang sức ? Hay họ không còn có phản ứng gì nữa ? Họ tiếp tục nghe những điều tốt đẹp và tiếp tục đem tiền đến nhà thầy để cảm ơn thầy đã nói với họ những điều tốt đẹp ấy, và hơn thế, còn cho họ những con điểm đẹp.  Rồi đến lượt họ, họ sẽ nhận phong bì của học trò để lại tiếp tục rao giảng những điều tốt đẹp và lên án những điều xấu xa. Đây chính là tình huống tệ nhất. Các hành vi phản giáo dục của người thầy đã lãnh trọn hậu quả của chúng, đã thực thi những hiệu lực tồi tệ của chúng, cho dù ông có nói giỏi bao nhiêu chăng nữa. Nói giỏi là cái tài của người giáo viên, nhưng cái tâm thể hiện ở hành động nhận hối lộ từ học trò của ông ấy.   Tuy nhiên, hai chữ Tâm và Tài của Nguyễn Du có thể được diễn giải theo một cách khác. Có lẽ cần phải hiểu rằng chính cái tâm quyết định cái tài có phát triển được hay không. Cái tài sẽ không phát huy hiệu lực của nó khi không có cái tâm.   Nếu hiểu cái tâm tách biệt khỏi cái tài và quan trọng hơn cái tài, thì có thể giả định tình huống: nghèo cũng được, khủng hoảng cũng được nhưng chỉ cần giữ cái tâm là được. Nếu hiểu cái tâm quyết định cái tài, thì có thể giả định tình huống: sự nghèo hèn trên diện rộng, sự khủng hoảng, tình trạng tồi tệ, bất công, tội ác là do thiếu cái tâm mà ra. Vì cái tâm quyết định sự lựa chọn và hành động. Cái tâm sẽ quyết định rằng các giải pháp hữu hiệu (vốn là kết quả của cái tài) được thực hiện hay bị chối từ. Hãy nhìn sự xuống cấp của nền kinh tế, của nền giáo dục, của văn hóa, sự xuống cấp và khủng hoảng không thể chối cãi được của xã hội chúng ta hiện nay, nguyên nhân, theo tôi, không phải vì người Việt Nam bất tài. Giáo dục suy vi không hẳn vì giáo viên bất tài, và nếu giáo viên trở nên bất tài thì không hẳn vốn dĩ từ đầu đã bất tài. Giáo dục suy vi vì có những điều ai cũng biết là đúng và cần phải thực hiện, nhưng lại từ chối không thực hiện. Động cơ thúc đẩy sự từ chối đó không phải là vì thiếu tài, và không phải là vì thiếu người tài.   Các vấn đề về kinh tế không được giải quyết, hay sản xuất (điện, than, khoáng sản) bị thua lỗ, không phải vì không có các giải pháp hiệu quả. Mà các giải pháp hiệu quả hoặc đã không được đề xuất (do nghĩ rằng có đề xuất cũng chẳng ai nghe), hoặc đã đề xuất mà không được sử dụng. Hoặc các giải pháp hiệu quả bị loại trừ, các giải pháp tồi tệ thì được lựa chọn một cách cương quyết. Thực tế cho thấy rằng không ít những giải pháp thua lỗ đã được lựa chọn với một quyết tâm cao độ, bất chấp mọi sự phân tích hợp lý. Như vậy không phải người Việt Nam không đủ tài để nhận ra hậu quả, không phải không đủ tài để đề xuất các giải pháp. Nhưng các giải pháp được lựa chọn, các quyết định được đưa ra, không phải xuất phát từ chữ Tâm. Do đó mà cái tài cũng bị triệt tiêu, bất chấp những nỗ lực tuyệt vọng của một số người.   Nguyên nhân khiến cho cái tài của chúng ta hoặc không được sử dụng, hoặc bị cùn mòn, bị lãng phí đi, một phần (một phần thôi, dĩ nhiên) nằm trong câu trả lời mà Nguyễn Du đã đưa ra từ hai trăm năm trước. Và tại sao ông hỏi “Không biết ba trăm năm lẻ nữa/Thiên hạ ai người khóc Tố Như?”? Nếu chúng ta tiếp tục duy trì tình trạng như hiện nay, nếu mỗi cá nhân đem cái tâm của mình bán dần như bán vàng (tôi mượn một ý thơ của Nguyễn Duy), hay là bán dần như bán đất, cốt chỉ để đảm bảo cho sự tồn tại mang tính vật chất, hay sự tồn tại của chính vật chất (bởi vì nhà cửa, ô tô, tiền bạc trong tài khoản dĩ nhiên tồn tại lâu hơn con người, chúng đâu có chết, rút cục khi thân xác trở lại thành hư không thì chỉ còn chúng tồn tại mà thôi), thì ba trăm năm lẻ nữa (tính từ thời điểm câu thơ Nguyễn Du ra đời) còn có cái tâm nào nữa để khóc Tố Như đây? Khóc thực sự chứ không phải khóc theo kiểu ông giáo nói giỏi nhưng nhận phong bì cũng giỏi ở ví dụ trên đây.  Năm tới là năm Rồng, có khả năng cho chúng ta cất cánh không? Có lẽ chẳng có vận may nào ngoại trừ những cố gắng thay đổi thực trạng của xã hội hiện nay được mỗi người thực hiện một cách có ý thức và ủng hộ ý thức của những người khác.  ————-  1. Hai khái niệm đạo đức của Kant: mệnh lệnh nhất quyết và mệnh lệnh giả thuyết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tâm-tài trong nền suy tư cổ truyền      Trong một đời sống giản đơn, nói chuyện  tâm-tài, thì cơ bản chỉ cần “tâm” là đủ, gần như không cần “tài”. Trong  cái công việc cùng bê hòn đá nặng, ai cũng có vai trò giống như ai, hơn  kém nhau chỉ là bê thật lòng hay bê vờ vĩnh. Cái xã hội cổ truyền giản  đơn ấy cho phép và xui khiến người ta suy tư về tâm-tài theo một cái thể  thức thường cô độc hóa được hai cái đó.    Nền suy tư cổ truyền có đặc điểm cố hữu là tật cô lập “chăn trâu thổi sáo”, cái được đặt lên trên, và lên trước năng lực hợp tác kiến tạo xã hội. Đời sống cổ truyền thực chất quá giản đơn, sự “hợp tác” về căn bản chỉ được hiểu là sự “góp sức”, “tụ bầy”, “kết đoàn”, tỉ như cùng xúm nhau lại để bê được hòn đá nặng lên, chứ chưa phải là năng lực suy tính, thiết kế, tạo dựng những mô hình hoạt động xã hội tổng thể với các chức năng phối hợp, trong không gian và thời gian, có hiệu năng dài lâu. Ngay cả khi “toàn dân ra đồng bắt sâu diệt cỏ cho lúa” thì dù qui mô kết đoàn này thật là vĩ đại, điều đó vẫn hoàn toàn khác xa về bản chất với những loại công việc như tổ chức công cuộc hợp tác để thiết kế, xây dựng và vận hành Trung tâm sản xuất siêu máy bay Airbus A380, hay Trạm vũ trụ quốc tế trên không gian.  Trong một đời sống giản đơn, nói chuyện tâm-tài, thì cơ bản chỉ cần “tâm” là đủ, gần như không cần “tài”. Trong cái công việc cùng bê hòn đá nặng, ai cũng có vai trò giống như ai, hơn kém nhau chỉ là bê thật lòng hay bê vờ vĩnh. Cái xã hội cổ truyền giản đơn ấy cho phép và xui khiến người ta suy tư về tâm-tài theo một cái thể thức thường cô độc hóa được hai cái đó.  Từ cái xã hội sơ giản tiến lên, người ta cũng nghĩ rằng chỉ cần vun các cái “tâm” riêng lại thành một “đại đồng tâm”, và khi ai cũng sẽ xúm lại lo chung, thì việc gì chả xong. Cũng có một số kết quả chóng vánh thật, chẳng hạn sáng chủ nhật vào năm giờ sáng mà réo loa phường cho mọi người dậy khua quét đường, thì một tiếng đồng hồ sau là ổn, rồi ai lại về nhà nấy đi ngủ tiếp. Quét rác thủ công thì cũng chỉ cần tâm là chính, không cần nhiều tài. Nhưng quét sạch được một buổi sáng chủ nhật thì sáu ngày còn lại bẩn vẫn hoàn bẩn.  Sự đuối sức của “tâm” trong cuộc sống đương thời  Con người cổ truyền sống chủ yếu trong nhà, trong họ, trong làng. Vì cái tập tục của nhà, của họ, của làng đã quản lý cực kì khắt khe mỗi người rồi, mỗi người chỉ còn cần có mỗi cái lòng tốt để hoàn thành cái bổn phận làm người nhà, làm người họ, làm người làng thôi. Mỗi con người đó căn bản không có trách nhiệm, mà cũng không có quyền có trách nhiệm, phải suy nghĩ để xây dựng, cải thiện sự hợp tác ở trong nhà, trong họ, trong làng, đừng nói đến chuyện quốc gia đại sự. Mà nếu họ định loay hoay suy nghĩ để xây dựng, cải thiện các hợp tác xã hội, coi chừng xã hội cổ truyền lại qui kết họ loạn tâm, và nghiêm trị lại họ!  Khi các làng mạc cổ truyền chảy vào dòng thác xã hội hóa, hiện đại hóa, nhiều “lòng tốt cổ truyền” tỏ ra bất lực trước những công việc mới đã đành, mà trong rất nhiều trường hợp chúng còn là lực phá hoại đời sống xã hội, là lực cản cho công cuộc cách tân.   Bạn cần ví dụ ư? Hai ví dụ thôi nhé.  Ví dụ thứ nhất, người nông dân tốt bụng, đủ tâm trong nhà, trong họ, trong làng mang rau vừa mới phun hóa chất cho thật đẹp óng ả đem đi bán cho người ngoài nhà, ngoài họ, ngoài làng. Họ nghĩ mình đã đủ bổn phận tốt bụng, đủ tâm truyền thống với trong nhà, trong họ, trong làng mình rồi. Hơn thế nữa, bằng cách đó họ còn làm giàu nhanh thêm cho nhà-họ-làng mình.  Ví dụ thứ hai, cái trách nhiệm của lòng tốt trong nhà, trong họ, trong làng đối với một con người cụ thể sẽ buộc con người đó phải lôi kéo người trong nhà, trong họ, trong làng mình ra lấp đầy vào bộ máy công quyền mà người đó vừa có cơ hội sờ nắm lấy.  Đi vào những công việc phức tạp trong những không gian lớn hơn, thời gian thường hằng hơn, lối nghĩ tâm-tài cô độc đưa đến tan công nát việc. Cho đến tận hôm nay, nhiều người vẫn cố nghĩ rằng những vấn nạn trong nền giáo dục, y tế, giao thông, hành chính, và nền vân vân của chúng ta chỉ vì thiếu “tâm”, và cứ việc lên lớp nhau thật dồn dập hơn nữa, thì rồi sẽ chữa chạy tai qua nạn khỏi được các nền này thôi. Sự ngây thơ mãn tính là một vườn ươm thuận lợi nhất để mà sự dối trá thừa cơ nảy mầm và trở nên bất trị.  Loay hoay tâm-tài trong xã hội phi pháp quyền  Con người cổ truyền mang một “giỏ tâm-tài” cổ truyền theo mình, đến khi thấy hoàn cảnh xung quanh không như mong muốn thì anh ta chán nản, hờn dỗi xã hội, và bỏ cuộc “về vườn” hay “đi ẩn”, quan trọng nhất là anh ta đã gìn giữ được cái “giỏ tâm-tài” thiêng liêng của mình khỏi bị làm hỏng. Vì anh ta quan niệm cái xã hội giống như cái làng con, anh ta chỉ cần “tốt mình”, làm tốt cái bổn phận tập tục của mình là đủ. Xã hội cổ truyền cũng khích lệ anh ta mang tâm hồn nô dịch như thế.  Nhưng hàng ngàn năm con người ta loay hoay với chuyện tâm-tài này còn vì một lý do căn bản hơn rất nhiều mà hay bị bỏ quên.  Đó là hàng ngàn năm nay con người phải sống trong một xã hội phi pháp quyền. Trong một cái xã hội mà luật pháp không được thượng tôn, không có sức mạnh, mỗi người không được bình đẳng trước bộ khung pháp luật tường minh thấu đáo, pháp luật chỉ là cái roi của kẻ có quyền thế, thì tai vạ có thể đến với bất kì ai một cách phi lý nhất, tùy theo chiều của cơn gió của sức mạnh, của bạo lực. Chuyện nhà ông Nguyễn Trãi, anh hùng và công lao đến như thế, mà bị giết sạch cả ba họ là một ví dụ điển hình. Con người khi này chỉ còn biết nhờ cậy vào cái may rủi cuối cùng là lòng tốt, là “tâm” của bề trên – cá nhân và đám đông. Trong bối cảnh như thế, hiển nhiên là “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.    “Tâm” không phải là cái gì tuyệt đối trong xã hội hiện đại  Quan sát những xã hội đã phát triển nền nếp khi họ tiếp nhận những người nhập cư thuộc đủ mọi nguồn gốc năm châu, và thuộc đủ mọi loại chất lượng, chúng ta không khỏi lo lắng cho họ. Trong số những người nhập cư đó, ngoài số khá đông “tốt bụng”, cũng có không biết bao nhiêu là con người từng quen dối trá, lợi dụng, dốt nát, méo mó nhân cách, thậm chí đã từng lừa lọc và phạm tội. Thế mà rồi đa phần chính những người nhập cư nằm trong cái phần từng quen dối trá, lợi dụng, dốt nát, méo mó nhân cách, thậm chí đã từng lừa lọc và phạm tội đó, đã tiến bộ lên, đàng hoàng lên, văn minh lên, khá giả lên! Để rồi họ, và đặc biệt là con cháu họ, đến lúc đã ngẩng cao đầu vui hạnh cùng mọi người trong xã hội.  Mở ngoặc là nếu các dòng nhập cư này cứ tiếp tục vĩ đại quá tải thì chắc họ cũng đến lúc lụt thôi.  Xây dựng nền cộng hòa pháp quyền  Các nỗ lực tâm-tài hôm nay cần căn bản được hướng tới trước hết vào việc học hỏi, suy nghĩ, đấu tranh để thiết kế, dựng xây và vận hành được các hệ thống sinh hoạt xã hội có được hiệu quả đời sống rộng lớn, nhân văn. Con người hiện đại tiến lên được không phải nhờ làm thơ dằn vặt lương tâm đơn thuần như hàng ngàn năm trước đây, mà chủ yếu là nhờ học hỏi, suy nghĩ để thiết kế, chế tạo, cách tân được những bộ máy thông minh, hiệu quả, linh hoạt, thân thiện, tiến hóa được, để phục vụ được mình. Bản thân các cấu trúc xã hội và chính nhà nước cũng chỉ là những bộ máy của con người , con người phải chịu trách nhiệm về chúng, và chúng sẽ phải là những bộ máy thông minh, hiệu quả, linh hoạt, thân thiện, tiến hóa được, để phục vụ được con người.  Một ví dụ rất đơn giản là khi một cộng đồng xã hội xây dựng được một qui củ sao cho người đứng đầu của thể chế quyền lực cộng đồng không thể được đảm nhiệm quá hai nhiệm kì, mỗi nhiệm kì là năm năm, thì bản thân cái sự hình thành và vận hành qui củ này đã vượt qua được câu chuyện ngàn năm tâm-tài về vua sáng tôi hiền vừa vô bổ và vừa bất khả kiểm soát rồi.  Tình hình sẽ hoàn toàn khác khi một cộng đồng hoạt động được trên một nền tảng pháp quyền. Một doanh nghiệp nền nếp trong một xã hội pháp quyền sẽ tuyển người dựa trên việc xem xét chủ yếu cái năng lực vào việc, năng lực hợp tác của anh ta ở trong cái vị trí cần tuyển, còn lại phần “tâm” của anh ta thì, xin anh cứ cất giữ riêng, miễn là anh đừng có phá phách, trộm cắp, vi phạm các qui tắc của luật pháp và nội quy của doanh nghiệp. Hợp đồng của anh ta với doanh nghiệp dựa trên luật lao động chung, và dựa thêm trên các khế ước lao động xã hội đặc thù mà doanh nghiệp đó thuộc về, và như thế một hợp đồng lao động cá nhân thực chất là một hợp đồng của toàn thể xã hội, được cụ thể hóa trong tương quan giữa anh ta và doanh nghiệp tuyển chọn.  Con người chúng ta hôm nay bước vào dựng xây đời sống hiện đại của mình bắt buộc phải học và tập để hiểu ra rằng mình không còn là con người nhà-họ-làng cổ truyền hôm xưa. Việc suy nghĩ, vận động, khích lệ, đấu tranh để kiến thiết, cải cách, để làm tiến hóa chính cái đời sống xã hội rộng lớn, đó là một bổn phận mới của mỗi người thần dân năm xưa nay đã và đang trở thành công dân.  Mọi khái niệm hôm xưa đã phải tiến hóa lên trong cuộc kiến tạo đời sống hôm nay. Dụ như khái niệm giản đơn “thống nhất đất nước” ngày xưa chỉ là làm qui tụ quyền hành cai trị của cả đất nước vào một trung tâm quyền lực, thì nay khái niệm “thống nhất đất nước” phải là một công việc to lớn, cụ thể, dài lâu để thống nhất được đời sống của hàng vạn cái họ, hàng vạn cái làng truyền thống vào một nền cộng hòa qui củ thống nhất, nơi mà các quyền tự do và sự bảo vệ các quyền tự do của mỗi công dân, của mỗi tổ chức xã hội phải được kết dựng vào nền pháp quyền độc lập, cái làm nên hạ tầng pháp lý cho toàn bộ cuộc sống của cộng đồng và của mỗi người trong cộng đồng.  Vậy nên lối nói chuyện tâm-tài cô lập kiểu ngày xưa trong bối cảnh hôm nay lại thành ra chuyện ngồi câu thời gian, làm cản trở công cuộc tiến hóa của xã hội. Ví dụ như hôm nay thay vì tranh đua dạy nhau mãi mãi về việc nhà giáo đừng dạy thêm, bác sĩ đừng vòi tiền, hay ông cảnh sát đừng phạt bỏ túi riêng, thì một công việc khẩn thiết của xã hội là việc tranh đấu để thiết kế và đưa vào vận hành cho bằng được một hệ thống tiền lương tổng thể hoàn chỉnh, minh bạch, sòng phẳng, công bằng, nhất quán cho toàn bộ những người lao động của các ngành nghề của xã hội. Có cái đó, rồi mới mở rộng qui củ sang những chuyện kia được một cách thiết thực.  Ngày hôm nay, thay cho chuyện lần trang than thở “tâm-tài” trước đèn, là sự nghiệp cùng nhau dựng cho được một nền pháp quyền minh, bạch độc lập, để cho đời sống cộng đồng có thể vận hành trơn tru và rộng đường tiến hóa, để cho mỗi con người thấy được những con đường quang quẻ, vững chãi trước mặt mà yên tâm bước lên đó. Sự dẫn dắt và điều hành các hoạt động trong xã hội sẽ phải thông qua nền pháp quyền đó, chứ không phải thông qua “tâm-tài” của yếu nhân nào. Sự cải tiến xã hội mặt khác cũng lại là công việc rộng khắp, chi tiết, cụ thể, đòi hỏi ai cũng phải động não, phải cố gắng, từ những ngóc ngách nhỏ nhất trong đời sống.  Còn lại trong mỗi công việc, trong mỗi hành xử đời sống của con người, sự tử tế, sự chu đáo luôn luôn là quí giá, để mà con người vẫn luôn tìm thấy được sự ấm áp đầy ý nghĩa trong cuộc làm người.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tân Đại sứ Mỹ “chạm thần kinh” quan chức TQ      Ông Gary Locke, tân Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc, đã tạo ra cơn sốt trong dư luận đất nước có 1,3 tỷ dân này ngay từ hôm ông tới sân bay Bắc Kinh về cách hành xử của ông. Họ ngạc nhiên rồi chân thành ca ngợi ông hết lời, và nhân dịp này họ so sánh ông với các quan chức nước mình khiến ông ngạc nhiên và giới quan chức Trung Quốc khó chịu.    Vì sao có chuyện như vậy?  Hôm 13/8, Gary Locke, một người gốc Hoa 100% đem theo vợ con đến Bắc Kinh nhậm chức. Trang mạng Chính Nghĩa hôm ấy đưa tin: Khi ông ra khỏi sân bay, người ta thấy vợ chồng ông cùng 3 người con, trừ cô út 6 tuổi ra, tất cả đều khệ nệ tay xách nách mang hành lý, chẳng thấy nhân viên nào xách giúp. Tới bãi đỗ xe, ông dẫn cả nhà lên chiếc xe 7 chỗ, chứ không lên chiếc xe con có cắm cờ Mỹ dành riêng cho Đại sứ.   Dăm ngày sau, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden chính thức đến thăm Trung Quốc. Trưa hôm 18/8, sau khi hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc xong, ông Biden cùng cô cháu gái được Đại sứ Gary Locke dẫn đến ăn trưa tại một cửa hàng ngoài phố. Ông Biden từ chối lời mời vào phòng ăn riêng mà ngồi lẫn với các thực khách Trung Quốc tại phòng lớn. 5 vị khách Mỹ gọi 5 bát mỳ (45 Nhân dân tệ, 1 NDT đổi hơn 0,15 USD hoặc hơn 3.000 VNĐ), 10 bánh bao (10 NDT), một đĩa dưa chuột (6 NDT), 1 đĩa sơn dược trộn đường (8 NDT), 1 đĩa khoai tây chiên (6 NDT) và 2 chai Coca-cola (4 NDT), tất cả hết 79 NDT. Họ vừa ăn vừa thoải mái trò chuyện với các thực khách người Trung Quốc ngồi gần. Ăn xong, ông Biden rút ví lấy tờ 100 NDT (300.000 VNĐ) trả ông chủ, và không lấy tiền thừa, coi đó là tiền thưởng theo thói quen của người Mỹ. Ông còn xin lỗi các thực khách Trung Quốc và xin lỗi chủ cửa hàng là đã làm phiền họ (vì khiến nhiều người qua đường tò mò xúm vào xem).             Gary Locke với diện mạo một người Hoa chính cống, da vàng, tóc đen, mắt đen đã trở thành vị Đại sứ Mỹ thành công nhất ở Trung Quốc. Hình ảnh Gary Locke vai đeo ba lô, tay xách túi laptop, điện thoại di động giắt ngoài quần, dùng phiếu mua hàng giảm giá xếp hàng mua cà phê đã làm dân Trung Quốc hả hê khoái chí ca ngợi, tạo ra cơn sốt dư luận chưa từng thấy.         Một số người Trung Quốc đã lấy điện thoại di động ra chụp ảnh cảnh bữa ăn và tung ảnh kèm thực đơn lên mạng. Lập tức hàng chục nghìn người truy cập tin này và tiếp tay truyền đi. Người ta đua nhau bình luận và không quên liên hệ với thói quan dạng, kênh kiệu, xa hoa lãng phí của các quan chức nước mình.   Phản ứng của giới chức Trung Quốc  Sự việc ngày càng có nhiều người Trung Quốc tham gia dàn hợp xướng ca ngợi tác phong “giản dị, liêm khiết, gần dân” của vị Đại sứ Mỹ, đồng thời chê trách giới quan chức bản xứ đã làm cho không ít vị khó chịu tới giận dữ. Và khi không chịu được nữa, giới quan chức đã lên tiếng trên hai tờ báo lớn.   Ba ngày sau khi Gary Locke đến Bắc Kinh, bản điện tử Quang Minh Nhật Báo (báo lớn thứ hai ở nước này) hôm 16/8 đăng bài Cảnh giác với chủ nghĩa thực dân mới do Gary Locke đem lại. Bài báo gọi tác phong thanh liêm của Locke là “chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ”, và tỏ ý e ngại quan chức Mỹ sẽ “cướp mất” lòng dân Trung Quốc, lên án Mỹ có dụng ý bỉ ổi “lấy người Hoa trị người Hoa”, kích động sự rối loạn chính trị ở Trung Quốc. Nhưng cuối cùng bài báo lại than thở: “Nếu Đảng CSTQ không thể chủ động tự giác diệt trừ vi-rút quan liêu để giữ cho mình khỏe mạnh, thế thì chẳng khác gì để Gary Locke cướp mất lòng dân ta!”  Thời báo Hoàn Cầu (phụ trương của Nhân dân Nhật báo) ngày 22/9 đăng xã luận dưới tít Mong Gary Locke làm tốt (nhiệm vụ) Đại sứ  ở Trung Quốc, cảnh cáo không chút khách sáo: “Sự quan tâm mà Gary Locke nhận được (từ dư luận Trung Quốc) đã vượt xa vai trò một Đại sứ nên có”, chỉ trích ông dùng cách trình diễn bộ mặt liêm khiết để can thiệp dư luận Trung Quốc, làm tăng sự hiểu lầm và nghi ngờ giữa hai nước. Tác giả nhắc nhở: cái giá bảo đảm an ninh cho Phó Tổng thống Mỹ Biden ăn bữa mỳ ở một quán ăn đầu đường xó chợ Bắc Kinh còn cao hơn nhiều lần khi ông chén các món sơn hào hải vị trong nhà khách chính phủ. Bài báo còn răn dạy các cơ quan truyền thông Trung Quốc “nên có thái độ tự trọng” khi đưa tin về sự liêm khiết của Gary Locke.  Dư luận xã hội  Có điều không ngờ là hai bài báo trên đã gây phản tác dụng tai hại. Dư luận nước này nhao nhao hỏi: Vì sao tác phong của quan chức Mỹ lại “chạm thần kinh” quan chức Trung Quốc?  Một nhà báo viết: Phó Tổng thống cùng Đại sứ người ta cả đoàn 5 người ăn bữa trưa hết có 79 NDT, trong lúc mấy vị “đày tớ dân” cỡ tép riu của Hội Hồng Thập Tự chúng ta nhậu một bữa trưa hết hơn chục nghìn NDT thì được coi là chuyện bình thường. Thử hỏi ai sai ai đúng mà Thời báo Hoàn Cầu đổi trắng thay đen viết bài như vậy? Khó lắm mới có một vị Đại sứ huyết thống Trung Quốc đến nước ta, lại có tác phong liêm khiết như thế, điều đó đáng quý lắm chứ, cớ sao chúng tôi không xúc động?   Một luật sư Bắc Kinh nói bài xã luận ấy phản ánh lối tư duy của quan trường Trung Quốc. Tác phong bình dân của Gary Locke vốn dĩ là chuyện cực kỳ bình thường ở nước Mỹ, nhưng ở Trung Quốc lại trở thành lạc loài (ling lei). “Quan chức chính phủ Mỹ hoặc Trung Quốc đều sống bằng tiền đóng thuế của dân, lẽ ra phải gần dân, phải bình dân hóa chứ” – ông này nói. Trong cuộc họp báo hôm 13/9 tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (họp ở Đại Liên, Trung Quốc), Gary Locke cũng nói đi máy bay hạng ghế phổ thông là quy chế chung từ năm 2010 của quan chức Mỹ, kể cả thành viên chính phủ.         Trước sức ép dư luận, bài viết trên mạng Quang Minh Nhật Báo đăng được vài hôm đã phải gỡ xuống.   Nhân dịp này truyền thông Trung Quốc moi móc ra lắm chuyện kỳ quặc về tác phong của quan chức nước này.   Tạp chí Tân Thế kỷ đưa tin một huyện nghèo ở tỉnh Hồ Bắc bỏ ra 800.000 NDT (120.000 USD hoặc 2,4 tỷ VNĐ) để thết đãi mấy quan chức cấp tỉnh về huyện làm việc 20 ngày. Một người kể: một quan chức cấp Sở tỉnh Tứ Xuyên đến thăm nơi xảy động đất ở huyện Vấn Xuyên, trước khi đến cảnh sát phải dọn sạch hiện trường!  Mạng Đông Phương cho biết mới đây Cục Kiểm toán thành phố Hải Môn cử 24 cán bộ tiếp 15 quan chức Tứ Xuyên đến công tác 2 ngày 2 đêm, thời gian làm việc hết có 4 tiếng đồng hồ, còn lại là ăn nhậu, chơi bời, quà cáp, tốn hơn 100.000 NDT (300 triệu VNĐ).  Báo chí nước ngoài cũng lấy làm lạ trước phản ứng của dân Trung Quốc đối với tác phong sinh hoạt của Gary Locke. Báo The Christian Science Monitor đăng bài dưới tít Vì sao người Trung Quốc say mê Đại sứ Mỹ Gary Locke như vậy? (Why China seems so fascinated by US Ambassador Gary Locke?) Bài báo cho biết Tuần báo Kinh tế Trung Quốc đưa tin ông Gary Locke cùng gia đình xếp hàng như mọi người khác, chờ hơn 1 giờ để lên xe cáp treo thăm Vạn Lý Trường Thành mà không đòi hỏi ưu đãi nào. Và nhà bình luận của báo này nói công chúng Trung Quốc say sưa bàn chuyện ấy chủ yếu vì vị Đại sứ này tuy có khuôn mặt người Trung Quốc nhưng cách hành xử lại rất “không Trung Quốc”. Bài báo viết: Tại Trung Quốc, nơi dân chúng bức xúc vì “quan chức tham nhũng thành bệnh kinh niên”, hành vi khiêm nhường giống hệt một người bình thường của Gary Locke như làn gió mát giúp ông khi vừa tới Bắc Kinh đã được công chúng khen ngợi.   Dù ai nói gì đi nữa, Gary Locke với diện mạo một người Hoa chính cống, da vàng, tóc đen, mắt đen đã trở thành vị Đại sứ Mỹ thành công nhất ở Trung Quốc. Hình ảnh Gary Locke vai đeo ba lô, tay xách túi laptop, điện thoại di động giắt ngoài quần, dùng phiếu mua hàng giảm giá xếp hàng mua cà phê đã làm dân Trung Quốc hả hê khoái chí ca ngợi, tạo ra cơn sốt dư luận chưa từng thấy.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về dự luật Sở hữu trí tuệ      Bảo hộ tác quyền và sở hữu kỹ nghệ đã trở thành một triết lí được tiêu chuẩn hóa bởi rất nhiều văn bản pháp lí quốc tế. Dựa trên những cam kết quốc tế đó, người soạn luật sở hữu trí tuệ nước ta đang gắng du nhập thứ âm nhạc thính phòng xa xôi ấy vào xã hội nông dân Việt Nam. Có thể đưa ra vài lời bàn dưới đây về con đường mà những một nước nghèo như Việt Nam thường phải lèo lái khi du nhập pháp luật sở hữu trí tuệ theo kiểu phương Tây    Một ngày theo dòng Dundee miền Đông Bắc nước Úc, nơi người ta nuôi nhiều cá sấu trong những bãi lầy hoang hóa, tôi vẫn thấy thấp thoáng những tộc người bản xứ, từng đám tụ tập dưới bóng cây tránh cái nóng oi nồng nhiệt đới. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, kể từ khi những gã phưu lưu người Anh giành lấy từng vùng đất ở đây làm của riêng cho mình, những người bản xứ đáng thương kia vẫn chưa hiểu tại sao đất trời lại có thể chia thành từng khoảnh làm của riêng cho người da trắng.   Ở đâu cũng vậy, từ mức độ hiểu biết về sở hữu tư nhân có thể đoán ra văn minh của các tộc người. Nơi nào sở hữu tư nhân được bảo hộ như những giá trị thiêng liêng, ở đó có động lực cho ganh đua, xã hội vì có cạnh tranh mà ngày càng văn minh. Ngược lại, nếu không bảo hộ sở hữu tư nhân, cha chung không ai khóc, các nguồn tài nguyên khan hiếm, kể cả năng lực con người, lãng phí theo thời gian, một xã hội như vậy sẽ tĩnh lặng và thường trở thành con mồi cho các xứ văn minh hơn thôn tính.  Việt Nam với thu nhập người dân bình quân một ngày không quá một đồng bạc Mỹ đang gắng quay trở lại với sở hữu tư nhân, tự do cạnh tranh và cơ chế thị trường. Gần 500 dân biểu đang suy tư trước khi ấn nút, biến vô vàn con chữ trên các dự luật thành các quy tắc dẫn lối cho 82 triệu đồng bào. Trong hàng chục đạo luật dự kiến được thông qua trong cuộc họp Quốc hội kỳ này, có dự Luật về Sở hữu trí tuệ. Hiểu biết, trí tuệ, danh tiếng.. của nhà kinh doanh đều được xem như quyền tài sản tư, cần được bảo hộ như vốn liếng của họ.  Bảo hộ tác quyền và sở hữu kỹ nghệ đã trở thành một triết lí được tiêu chuẩn hóa bởi rất nhiều văn bản pháp lí quốc tế. Sau Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại 1994 (TRIPS), khi kẻ giàu, nhất là người Mỹ, kí các hiệp định tự do thương mại với những nước nghèo, trong đó có Việt Nam, người ta đã đẩy cao hơn một số tiêu chuẩn, ví dụ như: (i) thời lượng bảo hộ quyền tác giả là 75 năm, dài hơn quy định chung của công ước Berne và lệ chung của thế giới thường là 50 năm; (ii) mở rộng đối tượng được bảo hộ nhãn hiệu thương mại đến nhãn hiệu chứng nhận và mở rộng bảo hộ đến cả các dữ liệu trắc nghiệm lâm sàng cho dược phẩm, và bảo hộ chúng ít nhất là 5 năm.   Dựa trên những cam kết quốc tế đó, người soạn luật sở hữu trí tuệ nước ta đang gắng du nhập thứ âm nhạc thính phòng xa xôi ấy vào xã hội nông dân Việt Nam. Có thể đưa ra vài lời bàn dưới đây về con đường mà những một nước nghèo như Việt Nam thường phải lèo lái khi du nhập pháp luật sở hữu trí tuệ theo kiểu phương Tây:  Thứ nhất, trong cuộc ganh đua của hàng trăm nước nghèo, chỉ có khoảng trên dưới 10 quốc gia, tập trung ở Đông Á, đã thành công trên đường tìm kiếm thịnh vượng chủ yếu thông qua chiến lược: cóp nhặt, đuổi theo và vượt công nghệ Phương Tây. Bảo hộ tác quyền quá dài tăng quyền cho chủ tài sản tư của nước giàu và hạn chế doanh nhân nước nghèo tiếp nhận tri thức đôi khi đã trở nên công cộng. Bởi vậy, một mặt chỉ nên đàm phán chấp nhận những chuẩn chung đã được thừa nhận tại TRIPS, mặt khác nên tìm mọi cách hạn chế sự bảo hộ quá thái tài sản trí tuệ của Phương Tây. Mở rộng thuyết khai thác hết quyền và cho phép nhập khẩu song song là những phương cách đó, tạo cơ hội hạn chế quyền của chủ tài sản trong những trường hợp vì lợi ích công cộng, ví dụ sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh vì sức khỏe nhân dân. Nói cách khác, giữa luật trên giấy, luật trong tư duy, luật trong cách hành xử phải nên khác nhau. Thoảng khi báo chí nhắc tới vài vụ người Tàu gom đốt đĩa CD vi phạm tác quyền, song nhìn toàn cục, nước Tàu đã rút nhanh khoảng cách công nghệ với Phương Tây, một phần rất lớn nhờ sao chép và nhái kĩ nghệ. Cái được xem là bất hợp pháp theo nhãn quan của người giàu không nhất thiết cần trở thành bất chính trong ánh mắt người nghèo.   Thứ hai, so với các dân tộc láng giềng, người Việt Nam dường như có cái tài cải biên, biến tấu, thêm thắt những sáng tạo nhỏ bé mà tạo ra cái của riêng mình. Luật pháp phải tạo cơ hội cho người nước ta tận dụng tri thức của các nước đi trước mà mau chóng biến thành cái của riêng mình. Nếu các dữ liệu trắc nghiệm lâm sàng được giữ kín và bảo hộ chặt chẽ tới 5 năm, thì các hãng dược Việt Nam khó mà có cơ hội phóng tác và cải biên để có được dược phẩm của riêng mình. Việc họ hầu như trở thành các đại lí bán thuốc cho các hãng nước ngoài, với giá rất đắt cho nhân dân trong nước, là điều chẳng đáng ngạc nhiên.   Thứ ba, một mặt với tài sản kĩ nghệ Phương Tây thì nên thiết kế một cơ chế khôn khéo, tạo cơ hội cho doanh nhân nước ta bám sát lấy công nghệ của họ, ngược lại với tác quyền của người trong nước cần phải tăng cường bảo hộ một cách nghiêm khắc nhất, nhất là trong lĩnh mực mà người Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Sự khéo tay của thợ thuyền, sự tinh tế của giới văn sĩ người Việt Nam phải được ban thưởng bởi bảo hộ độc quyền kiểu dáng, mẫu mã công nghiệp hay tác quyền, nhất là ghi nhận quyền tư hữu của người chủ và bảo hộ quyền quyền khai thác và hưởng dụng của họ về những tài sản đó. Nếu bất kì một chú học trò nào cũng có thể vô tư nhái Bùi Xuân Phái để bày bán kiếm tiền mà không bị trừng trị, thì nền hội họa, đồ gốm.. Việt Nam có thể cũng chỉ lóe lên một lần rồi tàn lụi.  Thế mới biết làm luật là khó, khó với người có tâm. Như chiến trận, ganh đua tìm lấy thịnh vượng cho quốc gia thời nay là những cuộc lừa gạt. Dân biểu, chí ít cũng như người làm tướng, dù là tướng không quân, khi bấm nút thông qua các đạo luật, hy vọng có đủ tâm và tài để hành xử một cách tốt hất vì lợi ích quốc dân.                                                                                                        * Đại học Quốc gia Hà Nội      Phạm Duy Nghĩa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về quan điểm, phương pháp và thái độ nghiên cứu sử học (1)      Tác giả bài viết bàn chung vấn đề quan điểm,  phương pháp và thái độ nghiên cứu sử học trên cơ sở cho rằng công việc  nghiên cứu lịch sử cũng như viết sử trước tiên đòi hỏi phải có tính độc  lập khách quan và tôn trọng sự thật lịch sử.       Những năm gần đây, nhiều vấn đề lịch sử nói chung hay nhân vật lịch sử nói riêng đã được giới nghiên cứu sử học xem xét lại, nhờ vậy vấn đề triều Nguyễn hay một vài nhân vật lịch sử nổi bật như vua Gia Long, các cụ Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh… cũng đã được đánh giá lại trong một tinh thần thông thoáng cởi mở hơn xưa rất nhiều, và việc làm này được nhiều người hoan nghênh tán đồng.   Có lẽ từ giờ trở đi, nhân dân Việt Nam khỏi phải mất công tranh cãi nhau dài dòng về tư cách tốt xấu của cụ Lê Văn Duyệt hay cụ Phan Thanh Giản nữa. Nghe tin cụ Lê Văn Duyệt được dựng tượng đồng, cụ Phan Thanh Giản được đánh giá tốt lại như thế, chắc không ai mừng gì riêng cho cá nhân các cụ, vì dù sao các cụ cũng đã ra người thiên cổ từ lâu, nhưng mừng cho nhân dân địa phương tại những nơi quê hương xứ sở của các cụ có được những tấm gương sáng rạch ròi để mà hãnh diện và noi theo. Và ở một đằng khác, mừng cho giới sử học ngày nay đã thoát ra được thời kỳ dài bị sự chi phối của chủ nghĩa giáo điều để có được những nhận thức sáng suốt đúng đắn hơn về một số vấn đề liên quan đến lịch sử và nhân vật lịch sử, nhờ thế đã xác nhận lại lần nữa cho chắc nịch những điều mà toàn dân thật ra đã có nhận thức từ lâu. Những sự đánh giá lại như thế mặc dù rất đáng hoan nghênh, nhưng nếu xem xét bằng thái độ khiêm tốn khách quan, người ta có lẽ không nên hào hứng hiểu theo nghĩa các cụ vừa được những kẻ hậu sinh “xá tội”, mà phải hiểu theo chiều khác là việc buộc tội hồ đồ của một số người đánh giá sai trước đây đã được bỏ qua, không cần nhắc lại để trách cứ, vì ở đây, với tinh thần sử học chân chính, không nên nhấn mạnh đến sự hơn thua, hay dở hoặc tìm cách phô trương uy tín cho phe nhóm trong những cuộc tranh luận liên quan vấn đề quan điểm nhận thức, mà cần nhất một thái độ trung thực và quảng đại hướng tới tương lai, bởi có cả một thời kỳ khá dài, vì những lý do cũng thuộc lịch sử, khái niệm về tự do trong nghiên cứu học thuật nói chung và sử học nói riêng là một điều nếu không xa lạ thì vẫn còn rất mù mờ. Trong một hoàn cảnh sinh hoạt như thế, tư duy về mọi vấn đề liên quan đến học thuật tư tưởng của các văn nhân-học giả tất nhiên đã phải chịu những hạn buộc khắt khe mà bây giờ lần lần họ mới nói ra, như trường hợp GS sử học Phan Huy Lê mãi mấy năm gần đây mới khai thật (trên tạp chí Xưa và Nay) nhân vật Lê Văn Tám chỉ là do người tiền bối bậc thầy ông là cố GS Trần Huy Liệu sáng tác ra để động viên phong trào kháng chiến…           Nếu vì một lý do quá đặc biệt và bất đắc dĩ  phải thêu dệt, vì quyền lợi công chúng, cũng thuộc vấn đề lịch sử, thì  sau khi giai đoạn lịch sử đặc biệt đó đã qua rồi, cũng phải trả cho sự  thật được trở về… Nếu vì lý do tuyên truyền giáo dục quần chúng, có thể  viết thêm các thể loại dã sử, giai thoại về nhân vật lịch sử (như kiểu  viết trong các tác phẩm Tang thương ngẫu lục, Lĩnh Nam dật sử, Tây Sơn  thuật lược, Việt sử giai thoại…), mà không cần đưa những nội dung có  tính huyền thoại vào sách giáo khoa dạy cho học trò vì yếu tính của sách  giáo khoa là sự thật khoa học.        Trong tinh thần sử học như thế, mặc nhiên chúng ta cũng chấp nhận mọi sự tranh luận tự do để tìm ra các sự thật truyền lại cho thế hệ sau. Sự thật là một lẽ, còn bao biếm khen chê là một lẽ, nhưng khi đánh giá một nhân vật hay sự kiện lịch sử thì cũng phải dựa trên sự thật. Không phải vì yêu thương cụ Phan Thanh Giản mà nói cụ cái gì cũng tốt, cũng như không phải vì ghét ông Hoàng Cao Khải vì lý do ông hợp tác với thực dân Pháp mà cho ông cái gì cũng xấu. Đã có thời gian, trong giới nghiên cứu văn-sử học, tức trong cái môi trường tiêu biểu nhất của nền văn hóa một dân tộc, phàm hễ ai bị đặt vào cái thế “phản diện” thì đều bị gọi bằng “y”, bằng “hắn”, như vua Gia Long khi chưa được nghiên cứu kỹ cũng bị nhà nghiên cứu văn-sử học nổi tiếng TC gọi là “hắn” trong một bài dẫn nhập cho tập thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tương tự như thế, về phương diện sự kiện lịch sử, cái cách viết sử “ta thắng, địch thua”, hoặc cho cuộc nổi dậy nào cũng là phong trào của nông dân mang tính cách mạng tiến bộ chống lại triều đình phong kiến, vốn được khuôn định trong quan điểm về đấu tranh giai cấp, cũng là một lối viết sử thiếu tinh thần khách quan cần được xem xét lại.   Quan điểm về đấu tranh giai cấp, đáng được coi là một phát hiện quan trọng của phương pháp luận sử học, và cho vài khoa học xã hội khác nữa, thay vì được sử dụng một cách hợp lý-có chọn lọc theo đúng giá trị thật của nó, và như ước vọng của những người phát hiện ra nó, góp phần vào việc soi sáng bức tranh lịch sử, đã có thời kỳ dài được coi là công cụ độc tôn duy nhất đúng để giải thích mọi hiện tượng lịch sử. Sự đề cao quan điểm độc tôn này rõ ràng là không phù hợp với phương pháp sử học đích thực, vì nếu như vậy mà cho là phù hợp thì tất cả những nhà sử học lỗi lạc thời xưa như Tư Mã Thiên và thời cận-hiện đại như Arnold Toynbee (1852-1883), Will Durant (1885-1981)… chắc là họ đã trình bày và diễn giải lịch sử trật lất hết, còn sách giáo khoa về môn lịch sử ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Ấn Độ… không theo quan điểm đấu tranh giai cấp có lẽ cũng đều lệch lạc và không xài được tất!  Chúng ta chấp nhận mọi sự tranh luận với nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cũng chỉ nhắm vào mục đích tôn trọng sự thật lịch sử. Nếu có kèm thêm mục đích giáo dục quần chúng thì cũng không nên để thoát khỏi cơ sở tôn trọng sự thật, bởi trong thực tế lịch sử của một dân tộc vốn đã có biết bao tấm gương tốt để noi, gương xấu để tránh, bài học lịch sử thành công hoặc thất bại để rút tỉa, thì không cần gì phải thêu dệt, như đã thêu dệt chuyện Mai Thúc Loan khởi nghĩa năm 722 vì “nạn cống vải” sang nhà Đường Trung Quốc (xem tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (67). 2008), chuyện Lê Văn Tám chống Pháp tẩm xăng làm đuốc nhảy vào kho xăng Thị Nghè năm 1946 (xem tạp chí Xưa và Nay, tháng 10/2009)… Nếu vì một lý do quá đặc biệt và bất đắc dĩ phải thêu dệt, vì quyền lợi công chúng, cũng thuộc vấn đề lịch sử, thì sau khi giai đoạn lịch sử đặc biệt đó đã qua rồi, cũng phải trả cho sự thật được trở về… Nếu vì lý do tuyên truyền giáo dục quần chúng, có thể viết thêm các thể loại dã sử, giai thoại về nhân vật lịch sử (như kiểu viết trong các tác phẩm Tang thương ngẫu lục, Lĩnh Nam dật sử, Tây Sơn thuật lược, Việt sử giai thoại…), mà không cần đưa những nội dung có tính huyền thoại vào sách giáo khoa dạy cho học trò vì yếu tính của sách giáo khoa là sự thật khoa học.          Cho đến nay chúng ta vẫn có thể tạm coi bộ  Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim là một bộ “tín sử” hay nhất trong  những bộ sử hiện có, bởi nó đã được cụ Trần căn cứ trên nhiều tài liệu  rồi viết ra theo kiểu thấy sao nói vậy bằng cách nghĩ cách diễn đạt thận  trọng của riêng mình với một lương tâm khá trong sáng, trong đó cụ  không hề có một lời khen ai hoặc mạt sát ai quá đáng, tuy rằng nó vẫn  chưa đạt tiêu chuẩn khoa học đầy đủ của một bộ thông sử có tính toàn  quốc.        Chỉ cần phán đoán theo lương tri thông thường không phải thông qua nghiên cứu sâu xa như Viện Sử học, ai cũng biết những người như cụ Lê Văn Duyệt được nhân dân trân trọng thờ phụng, như cụ Phan Thanh Giản từ bỏ cả mạng sống (cái quý nhất ở cá nhân con người) khi vì tình thế bức bách khách quan phải giao thành cho giặc để tránh cho sinh linh đỡ bị tàn sát, như học giả Trương Vĩnh Ký trong và ngoài nước đều kính trọng dựng tượng thờ… thì không thể là những người tồi tệ phản dân hại nước cho được. Do vậy, nếu có những sự đánh giá cẩu thả, sai lạc về các cụ trong một thời của một số người nào đó trong giới sử học hoặc chính quyền (chứ không phải của cả giới sử học hoặc của tất cả mọi người trong chính quyền) thì điều này gợi ý cần phải coi lại triệt để phương pháp và thái độ nghiên cứu lịch sử, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết trong tương lai khi cần áp dụng kiến thức và tư duy lịch sử soi xét, đánh giá những vấn đề hoặc nhân vật lịch sử khác. Điều quan trọng là những người đưa ra các đánh giá phải không được xuất phát từ bất kỳ một quan điểm giáo điều nào, cũng như ít nhất họ phải dựa trên cơ sở sử liệu đầy đủ đã được thẩm tra kỹ, và một mặt khác đôi khi họ cũng phải có tư cách-nhân cách tương đương hoặc cao hơn các đối tượng nhận sự đánh giá của họ. Một người viết được vài ba bài viết trên mặt báo hoặc tập tiểu luận nhỏ về sử học, khi nhận xét về cụ Phan Thanh Giản chẳng hạn, ít nhất cũng phải biết để cân nhắc cụ là một người ăn học đàng hoàng, văn hay chữ tốt, đỗ tiến sĩ đầu tiên ở Nam Bộ, và từng giữ chức Tổng tài Quốc Sử Quán, tổ chức biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (gồm 53 quyển) vốn được coi là một bộ sử Việt biên soạn cẩn thận và đồ sộ nhất từ trước đến giờ.  ***  Một vấn đề được nói nhiều nhất có lẽ trong các giới nghiên cứu văn học và lịch sử, nhưng lại luôn bị áp dụng một cách lúng túng sai lạc do ảnh hưởng nặng nề của tệ giáo điều, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử mà về mặt áp dụng để nghiên cứu văn học-sử học thì quen gọi bằng cụm từ “quan điểm lịch sử cụ thể”. Karl Marx nói rằng không ai được chọn thời để sinh ra cũng như không ai được quyền lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình, nói nôm na là khi người ta sinh ra thì nhiều cái đã có trước, không tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng của cái gọi là bối cảnh hay hoàn cảnh lịch sử mà con người hầu như không thể thoát ra được. Ở một chỗ khác, ông viết: “Quan điểm của tôi cho rằng sự phát triển của hình thái kinh tế của xã hội có thể coi như quá trình của tự nhiên và lịch sử của tự nhiên. Cho nên so với mọi quan điểm khác, quan điểm của tôi có thể ít quy trách nhiệm cho cá nhân hơn về những quan hệ mà xét theo nghĩa xã hội, cá nhân đó trước sau vẫn là sản vật, dù cho về mặt chủ quan cá nhân đó có thoát khỏi những quan hệ ấy như thế nào chăng nữa” (Về những quy luật kinh tế trong chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 12). Marx cũng nhận định thật tài tình “Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình” (C. Mác và Ph. Ăngghen, Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính chất phê phán, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 163).   Nếu xét theo quan điểm đại loại như trên thì triều Nguyễn được dựng nên ứng vào thời kỳ sung mãn nhất của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật thế kỷ 19. Việc phát minh ra chiếc máy hơi nước giải phóng sức sản xuất cùng với việc khám phá thêm các đường hàng hải mới đã dẫn đến sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân lúc đó đang cần rất nhiều nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ. Đây là sự diễn biến tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của lịch sử chủ nghĩa tư bản thế giới. Nếu Pháp không dòm ngó Việt Nam trong lúc này thì cũng sẽ có một nước Bồ Đào Nha hay Y Pha Nho nào khác. Rủi thay, thực dân Pháp đã đặt tầm ngắm một cách thuận tiện vào Việt Nam giữa lúc trong nước còn đang chiến loạn nhiễu nhương, hai thế lực Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn quần thảo nhau kịch liệt một mất một còn. Trong lúc núng thế, gặp được một số đoàn truyền giáo khi đó cũng đang muốn triển khai việc mở đạo ở Việt Nam hứa giúp, lẽ tất nhiên Nguyễn Ánh phải xem đây là một cơ hội, dù có thể là “một cái xấu cần thiết”. Những đoàn truyền giáo này ngược lại đang cần tranh thủ sự ủng hộ vừa của chính quốc vừa của những ông chúa tể bản xứ, trong khi chủ nghĩa tư bản phương Tây cũng cần dựa vào những thế lực này để mở rộng các thị trường thuộc địa, Nguyễn Ánh thì cần súng ống, tàu chiến đánh Tây Sơn, thế là một sự kết hợp nhuần nhuyễn trúng khía đã xảy ra một cách khách quan để thỏa mãn nhu cầu của tất cả các bên liên quan. Việc đầu tiên và cấp bách Nguyễn Ánh cần làm là diệt được quân Tây Sơn trước đã bằng bất kỳ phương tiện nào, bởi mối thù “chỉ non Tây thề chẳng đội trời chung”. Khía cạnh ngẫu nhiên của hoàn cảnh còn nằm ở chỗ ông là người theo tổ tiên vào lập nghiệp ở miền Nam trước nên có nhiều cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với các nhà truyền giáo lúc đó đang cần liên lạc, tranh thủ sự che chở của ông để truyền đạo. Diệt được Tây Sơn rồi mọi việc sẽ tính sau, đó là mục tiêu cấp thời mang tính sách lược tình huống của vị vua sáng lập triều Nguyễn, chứ hoàn toàn không cố ý muốn cầu thân với Pháp. Cũng như vậy, cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes hay Giám mục Bá Đa Lộc làm môi giới giữa Pháp với triều Nguyễn là những tên thực dân phản động lại càng sai lầm hơn về mặt quan điểm lịch sử. Bằng cớ là sang thời Minh Mạng (từ năm 1820), Thiệu Trị, các vị vua con, vua cháu này chẳng những không hợp tác với Tây mà còn thực hiện chính sách giết đạo tàn khốc (chứng tỏ không thân Pháp) để giải quyết cái di sản trớ trêu của lịch sử, và cũng chỉ trong khoảng thời gian đó các nhà vua mới có thể dám làm như vậy (dù không phải là việc làm đúng, tốt), do mối ân tình giữa vua cha (Nguyễn Ánh) với Bá Đa Lộc cùng một số tướng tá người Pháp coi như đã “sạch nợ giang hồ”.           Lịch sử  thành văn khá trung thực thường chỉ có thể có được trong hai điều kiện:  hoặc thời kỳ lịch sử đang nói phải ở thời gian cách xa với nhà cầm quyền  đương đại, hoặc việc viết sử là do tư nhân độc lập đảm trách một cách  tự nguyện như trường hợp của Tư Mã Thiên đối với bộ Sử ký có một không  hai trong lịch sử sử học của nhân loại.        Có thể mượn cách diễn đạt khá tinh tế về cách nhìn thực tế lịch sử của một dân tộc hay một cộng đồng xã hội của ông Trần Bạch Đằng trong Lời giới thiệu cuốn sách Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ (Bán nguyệt san Xưa & Nay và Nxb Trẻ, 2002): “Người viết sử có thể phân chia diễn biến của quá khứ thành nhiều chương, hồi, theo một chủ điểm yêu ghét nào đó, có khi còn được gọi là chính thống; nhưng bản thân lịch sử thì nó triển khai đan xen với vô số mâu thuẫn và cách xử lý mâu thuẫn, không từ trong một kịch bản có sẵn nào cả”.   Trong chiều hướng “giải hoặc” và “xét lại” phổ biến hiện nay để loại bỏ dần những cách đánh giá chính thống nhưng cực đoan và trái quan điểm lịch sử vì thiếu tính toàn diện, một số nhân vật cận đại ở Trung Quốc như Tăng Quốc Phiên, Tưởng Giới Thạch… có thời kỳ bị lên án cực độ ở lục địa, nay đã được người Trung Quốc nhìn nhận lại theo chiều hướng cởi mở hơn, và tư tưởng-tác phẩm của họ cũng đã được phổ biến khá nhiều trên các kệ sách ở mọi nơi.  Ngày nay, ở Trung Quốc không ai còn viết truyện hay làm phim để lên án Tần Thủy Hoàng là tàn bạo (mặc dù tàn bạo thật), Tào Tháo là gian hùng (mặc dù gian hùng thật)… làm gì nữa, vì như thế cũng vô ích. Ngược lại, một số đạo diễn có tài đã cố gắng dựng lên những bộ phim hay mô tả toàn diện tính cách của một số nhân vật, đặt họ đúng vào bối cảnh cụ thể của một thời kỳ lịch sử nhất định, tương ứng với những phong tục tập quán cùng lề lối tư duy-hành động phản ánh cách hành xử của con người trong cả một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, do vậy mà Tần Thủy Hoàng hoặc Tào Tháo cũng có được những nét dễ thương đầy nhân tính song song với tính cách tàn bạo hoặc gian hùng không ai chối cãi của họ. Bộ phim Công tử Bạc Liêu được dàn dựng ở Việt Nam khoảng hơn 10 năm trước sở dĩ không thành công là vì những người thực hiện mải lo phản ánh khía cạnh tiêu cực của vị công tử này nhắm vào chủ đề chống phong kiến nhiều hơn là nhìn “công tử” ở góc độ khách quan là một con người có gốc đại địa chủ thích ăn chơi nhưng tính tình hào sảng khả ái của vùng đất mới Nam Bộ.  Đánh giá nhân vật lịch sử vì thế rất cần có sự cân nhắc thận trọng về nhiều mặt trong tất cả mọi trường hợp. Ở Việt Nam, các nhân vật lịch sử lớn như Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh… có thời gian khá dài cũng bị kết án oan về một số mặt cơ bản, khiến cho những con đường hay trường học mang tên họ đều bị xóa bỏ đi hết, và học sinh hoặc không biết gì về họ hoặc phải học hai môn văn học và lịch sử với những quan điểm và cách trình bày cực kỳ phiến diện.   Việc viết sử nói chung phải thận trọng giống như đánh giá nhân vật lịch sử. Ngoài nguyên tắc phải tôn trọng sự thật lịch sử trên cơ sở thu thập-phân tích-khảo chứng tư liệu và tôn trọng phương pháp sử học thuần túy, không để bị chi phối bởi bất kỳ giáo điều chính trị nào, người viết sử còn phải vận dụng chính xác cái gọi là “quan điểm lịch sử cụ thể” như đoạn trên của bài viết này đã cố gắng diễn giải. Ngoài ra họ còn phải hiểu đời một cách sâu sắc, thông đạt chính trị và nhân tình, hiểu được lý do các hoạt động của loài người, có tầm nhìn bao quát về tâm lý cuộc sống v.v.., và tất cả những điều đó phải được thể hiện với một lương tri hay trực giác bén nhạy tối thiểu. Xét về các phương diện này, cho đến nay chúng ta vẫn có thể tạm coi bộ Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim là một bộ “tín sử” hay nhất trong những bộ sử hiện có, bởi nó đã được cụ Trần căn cứ trên nhiều tài liệu rồi viết ra theo kiểu thấy sao nói vậy bằng cách nghĩ cách diễn đạt thận trọng của riêng mình với một lương tâm khá trong sáng, trong đó cụ không hề có một lời khen ai hoặc mạt sát ai quá đáng, tuy rằng nó vẫn chưa đạt tiêu chuẩn khoa học đầy đủ của một bộ thông sử có tính toàn quốc. Như khi bình luận về tư cách của Phan Thanh Giản, tác giả nói rất gọn mà thấm thía: “Bấy giờ ông đã già, đã ngoài 74 tuổi, làm quan thật là thanh liêm, nhưng chẳng may gặp phải khi nước có biến, biết thế mình không làm gì được, đem tấm lòng son sắt mà báo đền ơn nước cho hết bổn phận người làm tôi”. Phải công tâm thừa nhận có một thời học sinh rất thích học môn lịch sử một phần là nhờ bộ Việt Nam sử lược, với cách trình bày các sự kiện lịch sử vừa ngắn gọn mạch lạc vừa hấp dẫn, lời lẽ ôn nhu khiêm tốn, bình phẩm có mức độ, đọc hay như một bộ tiểu thuyết trường thiên của dân tộc. Còn hiện nay, người ta than rằng học sinh không thích học môn lịch sử, dốt sử, thì cũng là một điều dễ hiểu và nên xem lại cách viết sử như là một hướng tiếp cận để nghiên cứu giải quyết vấn đề.   Tuy nhiên, lịch sử vốn thường là những diễn biến được mô tả lại bằng ngôn ngữ của kẻ chiến thắng, nên trong những cuộc “cải triều hoán đại”, nó rất khó giữ được tính trung thực khách quan hoàn toàn. Chẳng hạn, trong những bộ chính sử do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn khó thể tìm được chỗ nói tốt cho triều Tây Sơn Nguyễn Huệ, cũng tương tự như lịch sử do các cơ quan chính thức của nhà nước Trung Quốc viết ra thì hầu như việc gì của lực lượng Quốc Dân Đảng làm trong giai đoạn Tưởng Giới Thạch cầm quyền cũng đều tệ hại, phản động tất tần tật. Trong suốt thời kỳ Mao Trạch Đông cầm quyền, việc gì của Mao làm cũng được ca tụng, thành công gì trong các hoạt động khoa học, chính trị, văn hóa… cũng đều được quy công cho sự lãnh đạo anh minh của Mao. Các sách khoa học tự nhiên thời đó từ địa chất học cho đến thực vật học đều phải tôn Mao làm minh chủ. Phải đợi cho đến khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 nhiều sự thật lịch sử mới được phơi bày ra ánh sáng, hàng ngàn người bị kết án oan đưa đi lao động khổ sai trong thời kỳ Cách mạng văn hóa được trả tự do, phục hồi danh dự; bản thân Mao cũng được đánh giá lại. Thực tế khó chối cãi này đặt ra một vấn đề hết sức tế nhị, là liệu có thể có được những bộ sử trung thực ở đâu đó trong những nước có hoàn cảnh tương tự như Trung Quốc, trong khi cái gọi là “chính sử” đều do các nhà đương cuộc tổ chức biên soạn bằng kinh phí nhà nước, còn tư nhân thì hầu như chắc chắn không ai được tài trợ để làm công việc này cả? Trong chiều hướng thực tế nói chung như thế, chúng ta có thể khẳng định một cách tương đối rằng, lịch sử thành văn khá trung thực thường chỉ có thể có được trong hai điều kiện: hoặc thời kỳ lịch sử đang nói phải ở thời gian cách xa với nhà cầm quyền đương đại, hoặc việc viết sử là do tư nhân độc lập đảm trách một cách tự nguyện như trường hợp của Tư Mã Thiên đối với bộ Sử ký có một không hai trong lịch sử sử học của nhân loại.  —  * TP Hồ Chí Minh  (Còn tiếp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về quan điểm, phương pháp và thái độ nghiên cứu sử học (2)      Chủ nghĩa giáo điều trong hoạt động nghiên cứu các khoa học nhân văn nói chung và sử học nói riêng trong mấy chục năm nay đã từng chi phối dẫn đến những nhận thức cực đoan, sai lầm trong cách trình bày, đánh giá một số nhân vật và sự kiện lịch sử, cũng như đã có những sự hiểu sai về mục đích đích thực của bộ môn sử học.     Mặc dù những lý do nêu trên về các điều kiện nghiệt ngã để có được những bộ sử trung thực, về mặt lý thuyết chúng ta vẫn còn có thể nêu thêm những thực tế khác để xem xét vấn đề một cách tường tận thấu đáo thêm. Có một điều kiện lý tưởng vẫn còn nêu ra được, đó là nhà cầm quyền cũng phải trung thực nếu thật sự vì dân, nhận thức sự trung thực trong sử học như một điều quan trọng cần thiết có lợi ích lâu dài cho cả dân tộc, theo nghĩa lịch sử là tấm gương soi chung và là những bài học kinh nghiệm cần để rút tỉa cho công cuộc xây dựng tương lai đối với tất cả mọi thành viên công dân, và đối với đất nước, mà nếu trung thực thì tốt hơn là làm ngược lại. Để có sự trung thực, lẽ tất nhiên phải coi chân lý khoa học và lợi ích của nhân dân là luật pháp tối thượng, có tầm nhìn thần thông quảng đại, rộng mở, do đó sẽ không nhìn lịch sử hay nhân vật lịch sử bằng một tâm địa nhỏ nhen tầm thường.   Một thực tế có thể thấy nếu các nhà sử học phương Tây (chủ yếu Pháp, Mỹ) cận hiện đại mà viết sử với một tâm hồn nhỏ nhen, không tôn trọng sự thật lịch sử hoặc chỉ vì những cái danh hão hay quyền lợi dân tộc hẹp hòi, chắc chắn họ sẽ bôi nhọ một số nhân vật lịch sử Việt Nam vốn từng là nguyên nhân gây ra sự chiến bại của quốc gia họ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Trái lại, họ thường đã mô tả một số nhân vật lịch sử Việt Nam như Nguyễn Thái Học, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… với một lòng kính ái đặc biệt, đưa tên vào từ điển, một phần cũng nhờ vậy mà nước Việt Nam đến nay được rất nhiều quốc gia khác trên thế giới biết đến một cách trân trọng.   Trái lại với những thí dụ vừa kể trên đây là trường hợp một số sử gia Trung Quốc từ lâu và nhất là gần đây đã cố gắng bóp méo sự thật lịch sử, “tự viên kỳ thuyết” (vo tròn các sự kiện cho khớp với lý luận chủ quan của mình) để chứng minh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền Trung Quốc, tự đặt ra đường chữ U chín đoạn để chiếm hữu hầu hết diện tích biển Đông. Làm như vậy vì những lợi ích nhỏ thiển cận, dẫn đến hậu quả xấu lâu dài là làm cho nhân dân Trung Quốc tập nhiễm tư tưởng thực dụng thô thiển cùng thói quen nói láo, và như thế đã góp phần tiêu cực phá hoại cả nền văn hóa Trung Quốc vốn dĩ có rất nhiều nhân tố truyền thống tốt đẹp mà tổ tiên của họ với những Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Tuân Tử… đã dày công xây đắp trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Đây là một trường hợp lợi bất cập hại khá rõ ràng có thể đem ra dẫn chứng cho lối làm việc bằng tâm địa nhỏ nhen không tôn trọng chân lý khoa học và lịch sử.  Đến đây có thể thấy rõ, trong khá nhiều trường hợp, sự chi phối của những quyền lợi chính trị nhất thời mang tính phe nhóm đôi lúc có hại khi đặt toàn bộ vấn đề lợi ích ở mức độ dân tộc hay nhân loại trên một bình diện rộng lớn hơn, và có thể tạm rút ra một hệ luận: công việc nghiên cứu lịch sử, để có được tính trung thực cần thiết, đòi hỏi sự tôn trọng tính độc lập tự do của các sử gia, dù sử gia đó là tư nhân (như Trần Trọng Kim chẳng hạn) hay là người đang hoạt động trong những cơ quan chuyên trách về sử học, giáo dục của nhà nước cũng vậy.   Ngoài khía cạnh quan điểm ra, nhiều sự kiện thuộc về sự thật lịch sử thể hiện trong các sách giáo khoa cũng cần được xem xét lại để điều chỉnh. Phong cách viết sử theo lối tự hào dân tộc hẹp hòi quá đáng hay theo kiểu “tốt khoe, xấu che”, “ta thắng, địch thua” cũng cần phải loại bỏ. Trong một bài viết (tạp chí Tia sáng số 9, ra ngày 5/5/2008), GS-NGND Nguyễn Văn Chiển (đã quá cố), khi nói về tính dũng cảm, khiêm tốn và trung thực của người trí thức, đã nhắc lại câu chuyện của nhà sử học Trần Huy Liệu và nhân vật Lê Văn Tám. GS Chiển, trong ý tưởng đòi hỏi tính can đảm trung thực phải có của người trí thức, đã nhắc khen ông Nguyễn Mạnh Tường và ông Trần Đức Thảo, hai nhân vật trí thức Việt Nam lỗi lạc có thời gian vì trung thực đóng góp ý kiến xây dựng cho việc chung nhưng không hợp quan điểm “chính thống” mà bị “rút phép thông công”, phải chịu oan chịu khổ trong hầu như suốt quãng đời còn lại (riêng Trần Đức Thảo sau khi chết, vài năm trước đã được minh oan công khai).   Như vậy, để nối tiếp ý kiến GS-NGND Nguyễn Văn Chiển, thiết tưởng đến lúc này, sau khoảng nửa thế kỷ, một vài nhân vật khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cũng như toàn bộ vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm cũng nên được giới nghiên cứu văn-sử học đưa vào bàn hội nghị đánh giá lại một cách khách quan, công khai để rút ra thêm nhiều bài học quý báu khác. Làm được như vậy, giới văn học và sử học Việt Nam ghi thêm được một thành tích chói lọi mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và chắc chắn sẽ được mọi người mọi giới cả trong lẫn ngoài nước hoan nghênh nhiệt liệt vì đã góp phần làm thay đổi hẳn bầu không khí hoạt động văn hóa-tư tưởng theo chiều hướng tích cực nhất.  Một số sự kiện lịch sử hay cách đánh giá nhân vật lịch sử, nếu được điều chỉnh đúng, sẽ dẫn đến một số hệ quả thực tế tích cực tất nhiên trong đời sống người dân cũng như trong một phần của công tác giáo dục, như trường hợp tên ông Kim Ngọc đã được chọn để đặt tên đường và tên vài trường học ở Vĩnh Phú khoảng sáu năm trước, sau khi quan điểm về khoán sản phẩm trong nông nghiệp của ông Kim Ngọc có lúc bị kết án sai lầm đã được đánh giá lại tỏ rõ. Tương tự như thế, tượng Phan Thanh Giản và trường học mang tên ông đã được phục hồi tại Bến Tre, tượng Lê Văn Duyệt đã được an vị tại Lăng Ông-Bà Chiểu… Chúng ta ngày nay có thể cần những điều đó vì lý do chính trị này khác nhưng các vị được tôn vinh dường như cũng không mấy cần. Với cái đà này, nếu nghĩ một cách trung thực, rồi đây người ta cũng phải nghĩ đến việc đổi tên các công viên, rạp hát, trường học mang tên Lê Văn Tám thành công viên Lê Văn Duyệt, công viên Gia Long, rạp hát Đào Tấn, trường Trương Vĩnh Ký, trường Phạm Quỳnh… chẳng hạn.   Về mặt khách quan, cũng là sự thật lịch sử và chân lý cuộc đời, kẻ thù không phải lúc nào cũng xấu, còn “phe ta” thì luôn tuyệt vời. Hơn nữa cũng không có ai là kẻ thù thật sự hay vĩnh viễn, kể cả trong cùng một đất nước, một nòi giống hay giữa dân tộc này với dân tộc khác. Trong lịch sử Việt Nam, đã có trường hợp đánh tan xong giặc Minh còn cấp cho quân địch 500 chiếc thuyền với lương thực đầy đủ để chạy về cho tiện, một hành vi rất là “mã thượng” của người xưa.   Có một phong cách viết sử không cần bôi bác kẻ thù, mà cứ việc xảy ra thế nào kể lại thế ấy theo đúng những tài liệu chữ viết hoặc truyền khẩu đã thu thập được. Có thể kể trường hợp sách Bản triều bạn nghịch liệt truyện của học giả Giá Sơn Kiều Oánh Mậu, soạn năm Thành Thái thứ 13 (1901). Đây là cuốn sách của một ông quan triều Nguyễn viết về những kẻ phản nghịch chống lại “bản triều”, nhưng cách thuật chuyện và thể hiện các nhân vật phản diện lại khách quan sinh động, còn cho thấy được những nét ưu điểm, khả ái và khí phách cá nhân của những kẻ bị tác giả xếp vào thành phần phản loạn, như Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát và rất nhiều người khác…  Cuộc đời thực, tức cũng là lịch sử, luôn phải có kẻ vầy người khác. Có kẻ xấu kẻ phản dân hại nước thì tính cách của người tốt người yêu nước mới bộc lộ rõ và được tôn vinh. Anh hùng tạo thời thế nhưng thời thế cũng có thể làm nên anh hùng. Nếu không có những cuộc loạn lạc thời cuối Xuân thu đầu Chiến quốc thì cũng không có những học thuyết của Nho gia, Đạo gia, Pháp gia… nở rộ, để lại những tinh hoa di sản tư tưởng của phương Đông ngày hôm nay. Thời thế tức là cái hôm nay chúng ta gọi “bối cảnh lịch sử” mà khi nghiên cứu bất kỳ một biến cố, phong trào, học phái nào, người nghiên cứu cũng không thể không xét đến nơi đến chốn. Tương tự như vậy, nếu không có cái xấu của chủ nghĩa tư bản man rợ thế kỷ 19 thì cũng không có nhân vật Marx và chủ nghĩa Marx xuất sắc; không có thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam thì cũng không có một Phan Bội Châu hay một Hồ Chí Minh với sự nghiệp lẫy lừng… Trong lịch sử Việt Nam từng có những hạng trí thức lưu vong chạy theo quân giặc, như Trần Ích Tắc và Lê Tắc trong trận giao chiến với quân Nguyên đời Trần, chỉ mong “cẩu toàn tính mệnh ư loạn thế”. Riêng Lê Tắc khi trốn sang Tàu còn viết được bộ sử An Nam chí lược để đời, được một người đương thời viết lời tựa khen là “không thua gì sách của Tư Mã Thiên và Ban Cố hồi trước”, đã được cả Việt Nam và Trung Quốc in lại nhiều lần như một sử liệu có giá trị tham khảo tốt.   Bình luận về con người trong lịch sử vì thế không thể thiếu sự thông đạt chính trị nhân tình, và đức công bằng, luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cùng với những mối tương tác nhân quả của các sự kiện chi phối bên ngoài, trên cái nền chung những bi kịch và nỗi thống khổ của nhân sinh và trong cái trào lưu sinh hoạt bất tuyệt của cuộc đời, từ đó có được quan điểm phóng khoáng mang chất triết lý sâu hơn về cuộc sống để có thể tiếp cận với chân lý lịch sử một cách khách quan toàn diện hơn, góp phần xây dựng một nền văn hóa hòa bình không mang tính sát phạt vì các kiểu thái độ cực đoan, phiến diện, căm thù có tính nguyên thủy của loài người chưa văn minh. Đó có lẽ cũng là thế giới quan hình thành nên thái độ, cách nhìn cùng những ý kiến bình luận đánh giá thâm trầm sâu sắc của Tư Mã Thiên (trong các bài “Tán”, bài “Tự”) đối với một số nhân vật và sự kiện lịch sử tiêu biểu ở Trung Quốc cổ đại, làm cho bộ Sử ký của ông trở thành một bộ sách sử-triết-văn chương khuôn mẫu bất hủ.  Văn hóa là cái gì còn tồn lại bền lâu trong tâm trí, bàng bạc trong cách ứng xử hiện tại của con người sau khi mọi sự kiện, nhân vật, chế độ chính trị… đã qua đi. Mà bao nhiêu sự kiện, nhân vật, chế độ chính trị trong quá khứ đều đã phải tuần tự cứ qua đi như thế trong trường kỳ lịch sử, bất chấp cả không gian và thời gian. Nhân vật lịch sử không nhất thiết phải là danh nhân, họ đều là con người nên có mặt tốt mặt xấu, có những lúc yếu mềm lầm lỗi nhẹ dạ, rồi ai cũng ra người thiên cổ dù đi trong gió ngược hay xuôi, nhưng tất cả đều có vai trò riêng trong một bối cảnh lịch sử nhất định. Việc đánh giá lịch sử cũng như các nhân vật lịch sử nếu chính xác, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với lớp người đi sau chứ không phải cho lớp người trước, hiểu như là những bài học kinh nghiệm quý báu để rút tỉa áp dụng cho cuộc sống hiện tại và tương lai lâu dài, vì thế phải được thực hiện một cách khách quan và thận trọng, không nên để bị ảnh hưởng bởi bất kỳ định kiến hay loại quan điểm chính trị thực dụng nhất thời nào.  ***  Có thể học được những gì từ trong những bài học đã có sẵn trong lịch sử? Trước hết, muốn học được điều gì thì lịch sử phải là lịch sử của sự thật, của những sự kiện và biến cố có thật đúng như chúng đã diễn ra trong quá khứ. Lịch sử được viết nên một cách giả dối do sự thêm thắt, thêu dệt hoặc tưởng tượng, gán ghép đầy định kiến thì không thể dùng để tham khảo học hỏi gì được, nếu không muốn nói là có hại. Bài học lịch sử là cái có sẵn, bất di bất dịch, điều quan trọng thuộc về cách con người biết tham khảo nó sáng suốt ra sao để hướng dẫn cho những hành động trong hiện tại và hướng tới xây dựng tương lai. Có những kinh nghiệm thành công và những kinh nghiệm thất bại, y như lẽ thường tình thành bại của con người (không có gì xấu), trong cách làm, cách hành xử liên quan đến việc trị nước tổng quát cũng như với từng công việc cụ thể đã được áp dụng trong những tình huống khác nhau. Kinh nghiệm nào nếu biết áp dụng cũng đều tốt nhưng riêng những kinh nghiệm thất bại thì thường quý hơn, trước hết giúp tránh được vết xe đổ của những người đi trước (tiền xa chi giám). Chính vì lẽ đó công việc ghi lại lịch sử càng đòi hỏi gắt gao tính trung thực, phải nêu đủ cả những chuyện xấu và những việc thất bại, kể cả “những cuộc bại trận thê thảm của quân ta”… Trái lại, khuynh hướng cường điệu ca tụng khía cạnh những võ công oanh liệt, lặp đi lặp lại quá nhiều, thường ít có giá trị thực tế mà còn làm cho người ta trở nên kiêu mạn, mất ý thức, mất cảnh giác vô cùng tai hại. Chiến tranh là hành động bất đắc dĩ, gây nên cái cảnh “đống xương vô định đã cao bằng đầu”, hay “nhất tướng công thành vạn cốt khô”… của biết bao thế hệ con người. Ở Úc và New Zealand, người dân chọn ngày 25 tháng 4 hàng năm làm ngày Anzac, một lễ lớn mang tính dân tộc, với lễ hội tưng bừng (còn hơn cả Quốc khánh Úc 26/1, New Zealand 6/2), không phải để kỷ niệm chiến thắng mà để ghi nhớ chiến bại. Đó là một ngày vào năm 1915, trong Thế chiến lần thứ nhất, liên quân Úc-New Zealand đã đổ bộ vào Gallipoli của Thổ Nhĩ Kỳ với hơn 8.000 lính Úc và 2.700 lính New Zealand bị thiệt mạng, và từ đó đến nay nhân dân cả hai nước đều coi đó như một kinh nghiệm thất bại, tuy có bi hùng nhưng nếu tránh được càng tốt, vì dù sao cũng là một chuyện đau thương chung cho cả hai dân tộc.   Ở Hoa Kỳ, sau cuộc nội chiến Nam Bắc năm 1865, các sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của tướng Lee miền Nam thua trận đã không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Những binh sĩ chết trận của cả hai phe thắng bại đều được chôn xen kẽ trong cùng một khu mộ, nơi có tấm bia ghi rõ “Nơi đây là chỗ nằm xuống của tất cả những người vì nước Mỹ”. Hết chiến tranh thì không còn hận thù, mà bắt tay đoàn kết nhau ngay để cùng nhau xây dựng hướng đến tương lai, đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu giúp cho nước Mỹ mau trở thành một cường quốc thế giới.   Đọc lại câu chuyện cũ nước Mỹ sau khi tướng Lee thua trận, ai trong chúng ta mà không cảm động đến rơi nước mắt: Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham mưu của tướng Grant (phe miền Bắc thắng trận), bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp. Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hòa. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam. Tin đồn tướng Lee đầu hàng tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng… Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.  Câu chuyện lịch sử vừa kể lại trên đây đáng là một tấm gương tốt về hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù, và những bài học lịch sử như thế mới thật sự lợi ích trong ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần nhân bản cho các thế hệ mai sau.   Viết sử là loại công việc công phu tốn nhiều thời gian, ngoài tôn trọng sự thật trên cơ sở bám sát sử liệu còn đòi hỏi phải có sự nghiền ngẫm sâu xa, nêu lên được những bài học tham khảo cho các thế hệ hiện tại và tương lai, góp phần vun đắp nhân bản, nên không thể có sự tùy tiện, định kiến, gán ghép bóp méo sự thật, buồn vui yêu ghét thất thường, nay vầy mai khác, hay dựa dẫm quyền thế, xu phụ theo miệng nhà quan. Hai vợ chồng nhà sử học lừng danh người Mỹ Will và Ariel Durant (Will sinh năm 1885) bỏ ra đến 39 năm soạn bộ Câu chuyện của nền văn minh (bản tiếng Anh 10 cuốn, bản tiếng Pháp 33 cuốn với trên 14.000 trang), như vậy mà vẫn cứ nơm nớp lo sợ rằng mình chưa đủ tư liệu để tái hiện diện mục lịch sử một cách trung thực. Khi gần cuối đời, họ đã viết thêm một quyển nhỏ cuối cùng lấy nhan đề Bài học của lịch sử như để thay lời kết luận cho toàn bộ sách, đúc kết lại rằng thời nào, nước nào trước kia cũng có những kẻ loạn luân, độc ác; đâu đâu cũng có tình trạng độc tài, tham nhũng, lộng quyền, cùng những thứ khác như dịch bệnh, chiến tranh v.v.., song song với những hành vi có tính cách xây dựng tích cực của loài người. La Quán Trung mở đầu cuốn tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của mình bằng câu ngắn gọn “Thiên hạ hết loạn lại trị, hết trị lại loạn…”, dường như đã thu tóm hết được yếu tính phổ quát của lịch sử. Tuy nhiên con người vẫn chưa chịu bó tay phó thác cho định mệnh, nên lịch sử cũng còn ghi lại được biết bao suy ngẫm, nỗ lực, công trình văn hóa, vật chất của con người để nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực. Đã có một số nước, một số nơi nêu được những tấm gương thành công trong việc không ngừng cải tiến những phương pháp và định chế cai trị nhằm tạo lập sự ổn định khá hơn, ít nhất là trong phạm vi của nước họ để ổn định xã hội, cải thiện cuộc sống người dân, hạn chế nạn độc tài, độc quyền, bằng cách áp dụng khế ước xã hội dưới hình thức chấp hành chung bản hiến pháp cùng những định chế dân chủ chính trị khác.  Hiểu lịch sử, theo nghĩa tích cực nhất là để yêu thương con người hơn, tạo được mối đồng cảm, trên cơ sở thấy được những mối dị biệt và hoàn cảnh khác nhau giữa các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, màu da, trình độ phát triển, từ đó thúc đẩy sự đoàn kết hợp tác để cùng nhau chống chọi lại những thiên tai, bệnh tật, rủi ro đang đe dọa con người mỗi lúc một thêm hung hãn dồn dập trong điều kiện của cuộc khủng hoảng môi sinh toàn cầu hiện nay. Tấm lòng người viết sử vì thế cũng phải bao la, nhân đạo, mới có thể đảm đương được sứ mệnh, và mới đủ trùm lên được những gì mà kho lịch sử phong phú của quá khứ muốn khải thị lại cho con người.  ***  Muốn rút tỉa được những kinh nghiệm và bài học lịch sử như trên đã bàn để áp dụng cho cuộc sống hiện tại và tương lai thì không thể không nói đến hiệu quả của việc học sử-dạy sử trong các nhà trường từ tiểu học đến đại học. Đáng tiếc, tình trạng chán học môn lịch sử của học sinh, sinh viên Việt Nam đã và đang gia tăng và ngày càng thêm trầm trọng. Đây là một hiện tượng đã được phát giác và cảnh báo từ khá lâu, như kết quả một cuộc điều tra của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh hồi năm 1999 cho thấy, với 1.800 người được hỏi, có tới 39% không biết Hùng Vương là ai; 49% không biết Trần Quốc Toản là ai; hoặc như trong một báo cáo khác cho thấy 44% trên 468 sinh viên được hỏi không biết Chu Văn An là ai (Xem Phan Thành Nhơn, “Việc phổ cập kiến thức lịch sử hiện nay”, tạp chí Xưa và Nay, 6/1999, tr. 27).   Trước tình trạng có vẻ bi quan như trên, đã có biết bao nhà giáo, nhà sử học và các bậc thức giả cao minh tâm huyết tham gia bàn luận một cách tương đối rốt ráo, trên các diễn đàn báo chí, mà nếu tổng hợp lại, người ta sẽ có dư thừa ý kiến để biết được nguyên nhân và giải pháp khắc phục, không cần thiết phải tổ chức thêm những cuộc hội thảo rườm rà, tốn kém như ngành giáo dục đang có ý định làm. Trong số các nguyên nhân được nêu ra, có nguyên nhân liên quan đến vấn đề đang xét, đó là quan điểm, phương pháp và thái độ giáo điều trong hoạt động nghiên cứu sử học từ trước tới nay. Các nhà sử học vì thế càng bị động tâm nhiều hơn do họ thấy tận mắt hậu quả: điểm thi môn sử thấp không ngờ trong kỳ thi đại học-cao đẳng năm 2011 vừa qua, với kết quả hầu hết học sinh đều đạt điểm 0 hoặc gần với điểm 0, trên cả nước! Nhưng chính họ cũng thuộc thành phần tòng phạm, chịu một phần trách nhiệm của tình trạng bất như ý như thế, qua những cuốn sách giáo khoa biên soạn độc quyền, không đảm bảo được kiến thức trung thực về lịch sử, như mọi người đều đã biết.   Lý thuyết phân vân, giờ nói ra được một phần sự thật, coi như cũng đợi điều kiện chín muồi của lịch sử mới “tát nước theo mưa”, đã trễ nhưng chưa quá trễ, và còn đáng mừng, vì đã bắt đầu có những tín hiệu lạc quan hơn, như lời khẳng định chân thật của GS sử học Đinh Xuân Lâm, người cũng đã từng chủ trì các sách giáo khoa môn sử cho một số cấp lớp phổ thông trước đây nói rằng: “Từ lâu chúng tôi đã rất đau đầu để chứng minh một cách khoa học và giản dị với các nhà quản lý giáo dục là chúng ta đang hiểu sai về môn lịch sử. Đó không phải là một môn giáo dục, tuyên truyền chính trị thông qua các sự kiện và con số, mà là một môn khoa học với tất cả sự hấp dẫn và khó khăn của nó. Lịch sử cần được nghiên cứu và trình bày một cách khách quan, không thiên kiến thì mới tạo ra sự hấp dẫn được. Tôi dạy sử hơn nửa thế kỷ, tôi biết trẻ em đứa nào cũng yêu thích môn lịch sử. Chính người lớn làm cho nó hết yêu” (Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 1/8/2011).  Nhưng người lớn là ai? Ngoài các nhà quản lý giáo dục phải chịu trách nhiệm tương đối trực tiếp ra, còn có các nhà sử học đầu đàn như ông không, và rồi ai nữa, thì ông Đinh Xuân Lâm chỉ dừng lại chỗ đó mà không chịu nói rõ!     19/5/2008-10/8/2011            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về tranh luận      Vài năm gần đây nhiều công trình của các học giả nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh… đã được xuất bản trở lại sau thời gian dài không được phổ biến, kể cả trong môi trường học thuật. Những tác phẩm báo chí, khảo cứu văn hóa, tùy bút ghi chép của các nhà văn hóa này đã mang lại cho người đọc nhiều hiểu biết mới về xã hội Việt Nam từ khoảng đầu thế kỷ XX đến 1945, khoảng thời gian mà trước đây chúng ta chỉ thường được biết một phần nhỏ từ dòng văn học “hiện thực phê phán” được “chọn lọc” giảng dạy trong nhà trường (ở miền Bắc).      Xã hội Việt Nam trước 1945 qua những gì được học và đọc qua văn học, hiện ra khung cảnh nông thôn thì nghèo đói bần cùng tăm tối những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc, Chí Phèo…; thành thị thì đầy rẫy lưu manh đĩ điếm, thị dân tiểu tư sản những Xuân tóc đỏ, Năm Sài Gòn, cụ Cố Hồng, bà Phán, cô Kếu tân thời…  Đâu đó thấp thoáng bóng dáng thầy giáo nghèo, dân buôn gánh bán bưng, mấy cô tiểu thư lãng mạn, vài thanh niên sống với “lý tưởng” xa vời nào đó. Kiến thức môn lịch sử cho biết thêm về phong trào dân chủ 1936 – 1939 với tên mấy tờ báo, vài nhà báo… nhưng cũng chỉ vậy. Hầu như các tác phẩm báo chí hay những cuộc tranh luận mà tác giả không phải là người hoạt động trong phong trào cách mạng… thì không có trong chương trình giảng dạy. Vì vậy đã có những thế hệ học sinh, sinh viên không hề biết đến những học giả trên, hoặc chỉ biết về họ chưa dưới một cái lý lịch “phản động”.    Nay qua các tác phẩm của những học giả, những nhà văn hóa nổi tiếng trước 1945 hiện lên hoạt động tinh thần của tầng lớp trí thức và thị dân ở đô thị khá đa dạng. Ở đó, như trường hợp sưu tập tác phẩm của Phan Khôi do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm và chỉnh lý, ta thấy rõ một điều, thực sự đó là những tác giả và tác phẩm chống lại chế độ áp bức con người, đấu tranh cho tự do và nhân quyền.     Khi lý giải vì sao ông Phan Khôi có thể viết những bài báo phản biện, đấu tranh thậm chí chống đối nhà cầm quyết Pháp một cách mạnh mẽ, có thể lên tiếng về những vấn đề xã hội trên nhiều lĩnh vực như thế… nhiều người đã nêu ra những lý do như, mặc dù là thời thuộc Pháp nhưng chính quyền thực dân Pháp vẫn thực hiện tự do báo chí, dân chủ ở mức độ nhất định, do bản lĩnh, sự dũng cảm “dám nói” của Phan Khôi, kiến thức uyên bác và tri thức vững chắc của ông trên nhiều lĩnh vực…             Khi quan điểm, cách nhìn khác nhau  thì tôn trọng sự khác biệt, tranh luận vì mục đích tìm chân lý chứ không  hơn thua “lấy ngôn đè người”, không bao giờ cố có tiếng nói cuối để làm  “người thắng cuộc” trong sự hãnh tiến. Không nấp vào số đông để đàn áp ý  kiến thiểu số theo kiểu “ném đá”, cũng không dựa vào địa vị để “độc  quyền chân lý”.          Nhưng đồng thời không thể không nhận thấy không khí tranh luận trao đổi của ông và các bậc thức giả thời đó rất lành mạnh, nội dung có khi rất gay cấn, có thể đối lập, lời lẽ tranh biện rất sắc sảo nhưng giọng điệu ôn tồn, đúng mực, không gay gắt không ám chỉ hay phê phán cá nhân, không xúc phạm đời tư của nhau, không miệt thị kiểu như “ông biết gì về lĩnh vực này mà nói”, không đả kích kiểu “cái ông này chỗ nào cũng xía vô”…  Những vấn đề từ văn hóa đến chính trị, từ kinh tế đến xã hội… mà các học giả trong vai trò người trí thức lên tiếng trước thời cuộc, với trách nhiệm của công dân đối với đất nước. Qua những cuộc tranh luận hay trao đổi, không chỉ tầng lớp trí thức hiểu nhau hơn, có thể đi đến đồng thuận với nhau, mà quan trọng hơn xã hội được thêm những tri thức từ họ, dân trí được nâng cao cũng từ đó chứ không chỉ từ giáo dục trong trường học. Sự dân chủ được họ “thực hành” với đúng tinh thần dân chủ, đó là sự đối thoại trong tinh thần tôn trọng con người.    Tự do bày tỏ chính kiến còn là nhân cách người trí thức. Khi quan điểm, cách nhìn khác nhau thì tôn trọng sự khác biệt, tranh luận vì mục đích tìm chân lý chứ không hơn thua “lấy ngôn đè người”, không bao giờ cố có tiếng nói cuối để làm “người thắng cuộc” trong sự hãnh tiến. Không nấp vào số đông để đàn áp ý kiến thiểu số theo kiểu “ném đá”, cũng không dựa vào địa vị để “độc quyền chân lý”.    Trong cuộc sống cũng như trong học thuật, tranh luận, phản biện, đối thoại là chuyện cần làm và phải được coi là bình thường. Mỗi người có quyền tự do bày tỏ chủ kiến của mình và để người khác tự do “mở miệng”. Ai cũng vậy, có nói ra mới biết mình đúng sai thế nào. Có một môi trường “văn hoá tranh luận” có sự tôn trọng thì người ta có thể và dám nói. Bằng không, người ta ngại, sợ hoặc không muốn nói! Tệ hơn nữa, hễ “mở miệng” là chỉ xếch mé mỉa mai hay chửi bới nhục mạ lẫn nhau. Cứ thế sẽ không còn sự trao đổi, đối thoại, tranh luận… Khi không ai nói gì thì có vẻ như yên ổn, nhưng là sự yên ổn của mặt ao tù nước đọng.    Và chỉ khi bản thân giữ được một tinh thần tự do, con người mới biết tôn trọng những khác biệt, đối thoại bình tĩnh và khoan hòa, thừa nhận sai lầm của mình với sự cầu tiến. Đồng thời luôn xác định một chỗ đứng độc lập để bày tỏ chủ kiến chứ không ẩn mình trong một đám đông khi đối thoại hay tranh luận.     Sài Gòn 12.4.2016    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về từ thiện…      Nhìn những người như Tim vui sống bên những bạn trẻ kém may mắn, tôi thấy hơi… thèn thẹn. Cũng trạc tuổi tôi, có năng khiếu hội họa, có thể chọn cuộc sống thanh thản bên trời Âu, nhưng cô đã cống hiến hai mươi năm đẹp đẽ nhất của tuổi trẻ – cho những số phận xa lạ ở một đất nước xa lạ đối với cô ấy (nhưng thân quen đối với tôi).  &#160;    Câu chuyện bắt đầu vào khoảng năm 1992, một cô gái khoảng 20 tuổi xuất hiện tại TP HCM. Sau này – như cô kể lại – trước khi đến Việt Nam bằng xe lửa vì không có đủ tiền đi máy bay, cô đã trải qua một hành trình dài du lịch khắp châu Âu, rồi qua Trung Quốc, Mông Cổ…   Là sinh viên mỹ thuật, cô chỉ định đến Việt Nam du lịch. Thế rồi một buổi tối trên đường quay về nhà trọ, cô nghe thấy tiếng khóc của một đứa bé trong ngõ nhỏ. Hóa ra đó là một em bé vô gia cư, đang đói lả bên cạnh thùng rác… Chỉ bắt đầu bằng suy nghĩ tìm cách giúp em bé qua cơn đói, câu chuyện đã đi xa quá dự liệu ban đầu của cô, và khiến cô quyết tâm ở lại Việt Nam để tìm cách giúp đỡ một cách có hệ thống, có tổ chức cho những con người bất hạnh mà cô gặp trong đời…   Qua nhiều thăng trầm, Aline Rebeaud – cô gái sinh ra và lớn lên tại Geneva (Thụy Sĩ) đã khiến chúng ta không khỏi cảm phục… Trong khi không có tổ chức nào đứng ra giúp đỡ một cách bài bản, có phương pháp, thì cô – một mình đơn độc, vừa kiếm sống (thông qua vẽ, bán tranh và nhiều việc khác), vừa đứng ra tổ chức những cơ sở nuôi dưỡng, bảo trợ, dạy nghề và tiêu thụ sản phẩm, vừa đi vận động gây quỹ cho họ… Bố bỏ ba mẹ con cô từ rất sớm, mẹ đã nuôi cô ăn học, và cả hai mẹ con cô phải chăm sóc cậu em trai bị tật nguyền… phải chăng hoàn cảnh đó khiến cô nhạy cảm và dễ thấu hiểu hơn người khác? Trước những cảnh đời bất hạnh. Trung tâm mà cô gây dựng được cô đặt một cái tên dễ nhớ là Maison Chance (tiếng Pháp) – hay Nhà may mắn (tiếng Việt).   Và cô đã ở lại Việt Nam cho đến tận bây giờ, tự học tiếng Việt đến mức sành sỏi, và đứng ra tổ chức nuôi dưỡng bảo trợ cho hàng trăm con người Việt Nam… Khoảng năm 2008, cô bị tai nạn xe máy trên đường về nhà trong hẻm. Chấn thương lồng ngực, đụng dập ở chân.v,v. nhưng cô vẫn không bỏ cuộc. Tổ chức từ thiện do cô sáng lập đó đã thành công trong việc gây quỹ tại Mỹ, rồi sau đó là Canada,v.v. và có trụ sở ở một loạt nước tại Âu châu, Mỹ châu và Việt Nam,v.v.   Ở Nhà may mắn, ta có thể thấy vô số bạn trẻ là nạn nhân của chất độc da cam, những thân hình gầy guộc, dị dạng, nhưng họ vẽ tranh tuyệt đẹp, và dùng máy vi tính thành thạo. Ngoài ra còn có hàng trăm trẻ vô gia cư, trẻ mồ côi,v.v. được nuôi dưỡng, dạy vẽ, dạy nghề, dạy ngoại ngữ, v.v. để các em không những sống sót mà còn sống thực sự có ích…   Tôi nghĩ mãi về những con người như Aline – người mà các cháu bé tật nguyền tại Nhà may mắn và các đồng sự người Việt của cô đã đặt cho cái tên Việt là Tim (trái tim) với hàm nghĩa một người nhân hậu…   Nếu đọc/xem kỹ các cuộc phỏng vấn cô trên báo chí, truyền hình thì sẽ thấy nhiều chi tiết rất nhỏ, nhưng rất thực, rất đời. Chẳng hạn, khi phóng viên hỏi cô có mệt không, cô trả lời, rằng sao không mệt mỏi được, thử vào đó xem, bọn trẻ la hét, nghịch ngợm, ai mà không mệt… Nhưng khi phóng viên hỏi tiếp, mệt mỏi như thế, có khi nào cô tính bỏ cuộc không, thì cô cười rất tự nhiên và nói rằng không bao giờ, dù có nhiều lúc buồn chán, nhưng không khi nào nản lòng đến mức nghĩ tới việc bỏ đi cả… Khi nói về những con người, những mảnh đời mình cưu mang, cô rất khéo léo (bằng tiếng Việt chuẩn theo giọng Nam Bộ) dùng từ “những bạn trẻ kém may mắn” – từ “kém may mắn” của cô thật đáng chú ý. Nhiều người trong chúng ta hẳn sẽ không ngần ngại dùng từ “khuyết tật” hay “tàn tật”, “tàn phế”… Vậy mà cô gọi họ là kém may mắn, phải chăng, cách nói đó đã ẩn chứa sự tôn trọng, sự thương cảm, họ chỉ “kém may mắn” hơn những người như chúng ta, lành lặn và không mất mát người thân, không bị ruồng bỏ… Họ đâu có gì đáng khinh, đáng coi thường… Nếu có cơ hội, biết đâu họ cũng sẽ sống cuộc sống như bao người khác…   Lại nhớ đến chuyện vài năm trước chúng tôi được đón tiếp một nhân vật “VIP”. Ông là VIP theo nghĩa giàu có, và cũng là VIP theo nghĩa làm từ thiện. Xuất thân không dư dật gì, ông đã bước vào thương trường, và thực sự trúng lớn khi là người đi đầu trong chuỗi các dịch vụ bán hàng miễn thuế (duty free) trên phi cơ. Khi đã thành tỷ phú, ông quyết định làm từ thiện ở nhiều nơi, nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước chuyến đi của ông, một “đặc phái viên” được cử sang Việt Nam thị sát – hẳn là ông muốn biết chắc chúng tôi xứng đáng với sự giúp đỡ của ông. Chúng tôi phải dành nguyên cả một buổi chiều để trả lời các câu hỏi của “đặc phái viên”. Sau cuộc “thi vấn đáp” đó, ông ta đứng lên với vẻ mặt thỏa mãn, và tuyên bố rằng sơ bộ thì tổ chức từ thiện của ngài tỷ phú đó đã thấy có lý do để đầu tư cho chúng tôi…   Buổi đón ngài tỷ phú diễn ra mấy tháng sau đó, khỏi phải nói, chúng tôi chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Vậy mà, đến phút cuối, khi nhìn thấy phái đoàn từ ô tô bước xuống sân, tất cả chúng tôi đang đứng trên hành lang tầng hai đều không ai bảo ai, nhất loạt tháo hết cà vạt ra. Số là ông tỷ phú hóa ra vô cùng giản dị, không mặc vét hay lễ phục… Vậy thì chủ nhà chúng tôi cớ gì lại ăn mặc quá trịnh trọng để đón ông… Sau này, chúng tôi được biết thêm, ông vô cùng giản dị, đến mức bị coi là lập dị. Ông đi máy bay không bao giờ mua vé hạng thương gia, chỉ ngồi ghế phổ thông như phần lớn hành khách khác. Ông có một chiếc vali đã theo ông vài chục năm khắp địa cầu, nay những chỗ sờn rách được ông dán băng dính để xài tiếp(!). Khi đón tiếp ông, nguyên tắc bất thành văn là không họp báo, không quay phim chụp ảnh. Mãi gần đây tổ chức từ thiện do ông sáng lập mới mở trang web và công khai một chút thông tin, vì ông không muốn nhiều người để ý đến việc làm từ thiện của mình… Tổ chức của ông rất gọn nhẹ, ít người. Tôi đã được đến thăm một văn phòng chi nhánh của ông tại một hòn đảo nhỏ tuyệt đẹp ngoài khơi thành phố Seattle, và chứng kiến sự nhỏ gọn của văn phòng cả về mặt nhân sự và cơ sở vật chất, nhưng rất đẹp – một vẻ đẹp giản dị cao quý.   Nhìn những người như Tim vui sống bên những bạn trẻ kém may mắn, tôi thấy hơi… thèn thẹn. Cũng trạc tuổi tôi, có năng khiếu hội họa, có thể chọn cuộc sống thanh thản bên trời Âu, nhưng cô đã cống hiến hai mươi năm đẹp đẽ nhất của tuổi trẻ – cho những số phận xa lạ ở một đất nước xa lạ đối với cô ấy (nhưng thân quen đối với tôi).  Nếu phần nhiều người trong số chúng ta khi được biết về những con người như vậy, những câu chuyện như vậy mà ít nhiều cảm thấy phải động tâm suy nghĩ, thì tôi tin, chúng ta vẫn còn hy vọng trong việc xây dựng một xã hội với những con người có tâm hồn lành mạnh…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầng công nghệ và chiến lược phát triển công nghệ Việt Nam      Điều dễ nhận thấy là ở bất kỳ quốc gia nào, khoa học và công nghệ đều được xem là lĩnh vực tối quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Nhưng vấn đề cơ bản và luôn làm các nhà hoạch định chính sách đau đầu là phải chọn chiến lược phát triển thế nào để vừa hiệu quả, khả thi mà lại phát huy tốt nhất nguồn lực có giới hạn của quốc gia mình?        Một trong những bài học được chúng ta nhắc đến nhiều nhất khi nói về bí quyết thành công của các con Rồng công nghiệp trẻ Châu Á: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Malaisia chính là các nước này đã biết chú trọng, quyết tâm và không ngần ngại (tiếc tiền) đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trên cả ba phương diện: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển sử dụng kết quả nghiên cứu vào mục đích kinh doanh cũng như phục vụ lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên, có một điểm mấu chốt, giúp sự dũng cảm đầu tư của các nước này phát huy hết công năng, thì ít được nhắc đến. Đó chính là: lĩnh vực đầu tư. Các bạn có thấy, tất cả các nước này, trong một thời gian rất ngắn (10-15 năm) đã thăng Rồng từ cùng một bệ phóng: công nghệ thông tin. Đúng, chính công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp liên quan, chứ không phải là một ngành công nghiệp nào khác, đã tạo nên điều kỳ diệu thứ hai của Châu Á (sau Nhật Bản) vào những năm cuối thế kỷ 20. Đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay có qui luật? Nếu không chọn công nghệ thông tin để đầu tư các nước này có hóa Rồng được không? Giả sử bây giờ chúng ta cũng dồn sức cho công nghệ thông tin như họ đã từng làm cách đây 30 năm, liệu chúng ta có thành Rồng như họ? Thiết nghĩ, nếu tìm được câu trả lời, chúng ta sẽ có thêm được một cách giải cho bài toán đang đau đầu các nhà quản lý công nghiệp: Chú trọng đầu tư vào đâu? Ưu tiên phát triển ngành nào?      Tầng công nghệ và sự phát triển kinh tế xã hội   Ai cũng biết, những năm vừa qua, giá nhiên liệu trên thế giới có nhiều biến động. Trong hai thế kỷ gần đây, cứ khoảng 40-50 năm giá nhiên liệu lại đột biến một lần. Và lần gần đây nhất xảy vào giữa thập niên 70 của thế kỷ trước. Nguyên nhân hình thành các chu kỳ như thế có thể giải thích bằng qui luật phát triển kinh tế – kỹ thuật hiện đại. Sự phát triển kinh tế gắn liền với sự hình thành, phát triển và thay thế các thế hệ khoa học – công nghệ nối tiếp nhau, hay còn gọi là các tầng công nghệ. Khi tầng công nghệ cũ, không còn khả năng phát triển sẽ phải nhường chỗ cho tầng công nghệ mới với trình độ phát triển cao hơn (ví dụ, chúng ta đã trải qua các tầng công nghệ như: công nghệ cơ học thô sơ, công nghệ máy hơi nước, công nghệ sử dụng điện năng và công nghệ dùng điện nguyên tử). Điều đáng lưu ý là vào lúc giao thời giữa hai tầng công nghệ thường xảy ra một số hiện tượng đặc trưng. Trước hết, tổng giá trị sản lượng sản xuất theo công nghệ cũ sẽ đột ngột giảm, kéo theo sự thuyên giảm lợi nhuận. Một lượng vốn tự do lớn được giải phóng mà chưa biết đầu tư vào đâu (vì đầu tư vào sản xuất ở tầng công nghệ cũ không còn hiệu quả nữa). Lúc này, tốc độ phát triển nhìn chung sẽ chững lại và xuất hiện nhu cầu khách quan đòi hỏi phải tái cấu trúc lại nền kinh tế sao cho phù hợp với tầng công nghệ mới. Nền kinh tế dư thừa vốn tự do, sản xuất về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của tầng công nghệ cũ – không còn hiệu quả, tầng công nghệ mới đang hình thành, kinh tế tăng trưởng chậm, lợi nhuận thấp, thị trường đầu tư hỗn loạn, đầu cơ tài chính gia tăng… Đó chính là đặc điểm của nền kinh tế lúc giao thời giữa hai tầng công nghệ và có thể thấy đây chính là tiền đề của một cuộc khủng hoảng. Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới bạn sẽ thấy, quá trình chuyển giao giữa các tầng công nghệ đều được đánh dấu bằng những cuộc khủng hoảng trầm trọng. Gần đây nhất là vào những năm 30 và 70 của thế kỷ 20 và những cuộc khủng hoảng này đều bắt đầu với sự đột biến của giá nhiên liệu, như là tín hiệu thông báo về sự bất ổn trong cấu trúc của nền kinh tế.  Phân tích tình hình gần đây cho thấy, ngày hôm nay, rõ ràng nền kinh tế thế giới đang đứng trước bậc thềm của một chu kỳ chuyển giao tầng công nghệ mới. Tốc độ phát phát triển kinh tế ở các nước tiên tiến đang chững lại, giá dầu mỏ biến động thất thường, lợi nhuận trong sản xuất cũng như trong đầu tư liên tục giảm, trong khi nguồn vốn tự do ngày càng tăng, vì đầu tư vào các ngành công nghiệp truyền thống không còn hiệu quả… Phải chăng một tầng công nghệ mới đang dần dần định hình? Và nếu đúng vậy thì trong cuộc chiến cạnh tranh toàn cầu này, nước nào đến trước, làm chủ được tầng công nghệ mới, nước đó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối. Lịch sử cũng đã chứng minh, vào những lúc giao thời như thế, thường xảy ra sự thay đổi vị trí trong nền kinh tế thế giới. Các nước dẫn đầu về tổng thu nhập GDP sẽ gặp phải những khó khăn lớn gắn liền với sự mất giá tài sản cũng như khả năng khó phát triển sản xuất trên cơ sở tầng công nghệ cũ. Và ngược lại, các nước kém phát triển hơn, nhưng không phải chịu gánh nặng của tầng công nghệ cũ, biết nắm bắt thời cơ, đầu tư đúng hướng vào trọng tâm phát triển của tầng công nghệ mới, sẽ nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế thế giới.   Và đây cũng là lời giải thích cho “điều kỳ diệu” của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh và sự hình thành các con Rồng công nghiệp trẻ Châu Á vào những năm cuối của thế kỷ 20. Điều đó cũng cho chúng ta câu trả lời, nếu bây giờ chúng ta có dồn hết sức đầu tư cho công nghệ thông tin như các bậc “tiền bối” đã làm thì chúng ta cũng không thể có cơ hội hóa Rồng như họ được.  Vậy nội dung của tầng công nghệ mới này là gì?   Chúng ta biết, tầng công nghệ hiện nay, được hình thành vào những năm 70, với hàng loạt các ngành tiêu biểu như: công nghệ điện tử, công nghệ phần mềm, công nghệ xử lý thông tin, tự động hóa sản xuất, công nghệ viễn thông, công nghiệp hàng không, công nghiệp khai thác và chế biến khí đốt. Theo dự báo, tầng công nghệ này chỉ có thể phát triển ổn định trong vòng 20 năm nữa là tới điểm tới hạn*. Từ nay đến đó là khoảng thời gian giao thời để hình thành và phát triển một tầng công nghệ mới, mà trọng tâm của nó sẽ là: công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, công nghệ mạng thông tin toàn cầu, công nghệ giao thông vận tải siêu tốc toàn cầu, công nghệ siêu nhỏ. Ngoài ra, còn có thể bổ sung thêm một số ngành công nghiệp có tiềm năng khác như: hệ thống sản xuất tự động linh hoạt, công nghệ vũ trụ, điện nguyên tử, nhiên liệu mới.   Như vậy, có thể thấy lúc này là lúc “thời cơ vàng” thật sự của chúng ta. 30 năm trước, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaisia đã rất thành công khi nắm chắc cơ hội, đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin và các ngành liên quan – trọng tâm của tầng công nghệ hiện nay. Và họ đã làm nên điều kỳ diệu. Còn chúng ta, chúng ta sẽ tập trung nguồn lực ít ỏi của mình vào lĩnh vực nào của tầng công nghệ tương lai đây? Hay ta vẫn quyết tâm chia đều và chờ đợi, khoanh tay nhìn cơ hội đi qua? Mà cơ hội này, 30 năm mới có một lần!     **Ý kiến của Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Nga, S. Glazev. Bài học thị trường. NXB Kinh tế học, 2004. tr. 519.  ————–  Chú thích ảnh: Tập trung đầu tư cho công nghệ tương lai hay chia đều và chờ đợi?       Nguyễn Văn Minh    Author                Quản trị        
0.07913669064748201
__label__tiasang Tăng học phí- đẩy gánh nặng cho dân ?      Không sa vào tranh cãi lý thuyết, tôi chỉ suy nghĩ đơn giản thế này: tham nhũng, lãng phí, quan liêu từ hàng chục năm nay chưa giảm chút nào, thậm chí còn nhiều mặt trầm trọng hơn, đời sống người dân đang còn bao chuyện bất an như tai nạn giao thông luôn rình rập, thực phẩm thiếu an toàn, y tế lắm sự cố, vật giá leo thang hàng ngày, dịch bệnh lợn gà phát triển, mà chính lúc này lại tăng học phí, lấy cớ Nhà Nước không đủ tiền lo cho giáo dục, thì quả tình không ổn, lòng dân thêm bất an.         Lý do tăng học phí mà ngành giáo dục đưa ra là vì kinh phí nhà nước cấp cho giáo dục quá thấp, lương thầy cô giáo không đủ sống, nếu cứ giữ học phí ở mức hiện nay thì chất lượng giáo dục khó có thể cải thiện. Mới thoạt nghe tưởng có lý nhưng suy xét kỹ hơn, đó là cái lý thiếu trách nhiệm của cơ quan quản lý. Chưa vội đi sâu vào lý luận có nên xem giáo dục là hàng hóa không, và điều đó hàm nghĩa gì, có hệ lụy gì đến trách nhiệm của Nhà Nước đối với quốc sách hàng đầu này, tôi chỉ xin nêu lên mấy sự việc sau, mong tất cả chúng ta cùng suy nghĩ để có thái độ thận trọng trước một vấn đề mà ý nghĩa có thể vượt quá tác dụng trực tiếp của nó đến đời sống người dân.                                1. Phải chăng vì thiếu tiền nên chất lượng giáo dục sút kém, do đó cần tăng học phí để nâng cao chất lượng giáo dục? Rõ ràng tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích dỏm, làm láo báo cáo hay, học sinh ngồi nhầm lớp, giáo viên đứng nhầm lớp, vi phạm đạo đức nghề thầy, chương trình, sách giáo khoa sai sót nhiều, không ổn định, dạy thêm học thêm tràn lan, chạy trường, chạy lớp, học giả bằng thật… đều không phải do thiếu tiền. Vừa qua bệnh tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích đã được khắc phục một bước, đâu phải nhờ ngành giáo dục đã được cấp thêm kinh phí? Có ý kiến cho rằng Nhà Nước hiện chi cho giáo dục 20% ngân sách, nhưng giả dụ có tăng lên đến 25% thì cũng không chắc giải quyết nổi những vấn đề bức xúc của giáo dục. Đúng vậy, chỉ xin nói thêm: giả dụ có tăng lên 30-40% ngân sách và tăng học phí nhiều, nhiều lần nữa, cũng chẳng có tác dụng gì nhiều nếu không thay đổi phong cách làm giáo dục. Vì sao? vì chất lượng giáo dục kém hoàn toàn không phải do thiếu tiền. Từ 1998 đến 2007, đầu tư của Nhà Nước cho giáo dục tăng gấp 6 lần (từ 11.754 tỉ lên 67.000 tỉ), chưa kể tiền vay của nước ngoài 1,1 tỉ USD, trong khi đó số lượng học sinh, sinh viên không tăng bao nhiêu. Cho nên không thể viện cớ khung học phí 10 năm nay không thay đổi để biện minh cho đề nghị tăng học phí. Căn bệnh trầm kha của giáo dục không thể chữa trị nếu chỉ lo tăng đầu tư và phần đóng góp của người học.      2. Phải chăng cần tăng học phí để tăng lương cho giáo viên đủ sống? Chỉ cần phân tích số liệu thực tế một cách khách quan cũng đủ rút ra kết luận (xem chẳng hạn [1] và [2]): gộp cả phần ngân sách chi cho lương và các khoản thu nhập khác của giáo chức với tiền đóng góp của dân qua học phí đủ loại, thì lương trung bình thầy cô giáo phổ thông phải gấp 3-4 lần lương chính thức. Điều cực kỳ phi lý đó của cơ chế sử dụng tài chính công chính là thủ phạm số một của tệ nạn tham nhũng đang hoành hành trong bộ máy hành chính của chúng ta, và riêng trong ngành giáo dục, nó cũng là thủ phạm số một của mọi sự tiêu cực, khuất tất ở đây. Theo nhận định chung, trên cơ sở các kết quả điều tra thực tế, hiện nay thu nhập của phần đông giáo chức đã đủ sống tương đối, đã có không ít giáo viên ở thành phố có thu nhập trên dưới 10 triệu đồng/tháng, thậm chí cá biệt vài chục triệu đồng/tháng. Vậy vấn đề cấp bách không phải ở chỗ lương thấp mà ở chỗ: lương chỉ là một phần nhỏ thu nhập, mà thu nhập này thì không phụ thuộc nhiệm vụ chính, lại được phân phối khá tùy tiện, gây ra nhiều bất công, và hơn nữa, khiến quan chức ngày càng quan liêu, còn thầy cô giáo thì luôn đầu tắt mặt tối để làm những việc ngoài trách nhiệm trực tiếp. Sao không tìm cách xóa bỏ cái nghịch lý đó trên cơ sở chấn chỉnh cơ chế tài chính cho minh bạch, công bằng, và giảm thiểu tối đa những chi tiêu lãng phí đang làm thất thoát biết bao tài sản? Đó mới thật là giải pháp căn cơ để tiến đến đồng lương công bằng cho giáo viên, tuy giải pháp này khó thực hiện, song không khó vì bản chất bất khả thi mà chỉ khó vì đụng chạm tới lợi ích của những nhóm người đã quen được ưu đãi bởi cơ chế tài chính thiếu công bằng và thiếu minh bạch đã tồn tại lâu nay.                  3. Phải chăng chỉ cần có chính sách học bổng thích hợp thì tăng học phí vẫn bảo đảm cho người nghèo đi học được?Trước hết cấp học phổ cập phải hoàn toàn miễn phí, còn các cấp học khác, nếu bắt buộc phải tăng học phí thì tối thiểu cũng cần có chính sách học bổng cho người nghèo, đồng thời học phí không thể đồng loạt, mà cần có phân biệt theo vùng, miền. Lý thuyết thì vậy, song khi nhìn vào thực trạng bộ máy hành chính quan liêu, tham nhũng trầm trọng mà từ nhiều năm rồi vẫn chưa thay đổi, ai dám chắc sẽ không xảy ra điều trái ngược: người giàu hay có quyền chức lại chạy được học bổng, hoặc trả học phí thấp, còn người nghèo không trả nổi học phí, có khi đành bỏ học. Có thể những trường hợp oái ăm như thế không đến nỗi là đa số, nhưng ai dám bảo đảm không nhiều, không phổ biến, và dù cho chỉ là số ít thì Nhà Nước có thể dửng dưng được chăng?   Thật ra kinh nghiệm thực tế không cho phép hy vọng quá nhiều ở chính sách học bổng. Mặc dù chính sách ấy đã có từ lâu, song mấy năm gần đây số học sinh tiểu học giảm (từ 9,7 triệu năm 2000 còn 7,8 triệu năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng có thể là do có nhiều học sinh bỏ học. Học phí chưa tăng mà còn như thế thì tới đây nếu học phí tăng lên tình hình sẽ ra sao? Theo tính toán của TS Vũ Quang Việt [3] có thể dự đoán bức tranh rất ảm đạm nếu học phí đổ đồng tăng từ 66 nghìn lên 200 nghìn/tháng. Đến mức đó người dân sẽ tự hỏi mục tiêu của chính sách giáo dục là vì ai? Nếu chúng ta nhớ rằng ngoài học phí, còn có bao nhiêu khoản phí khác về sách vở, về học thêm, nếu không chi thì cơ hội học được trường tốt, và lọt được vào cấp học cao hơn rất mong manh, thì mới thấy hết sự bất công còn tồn tại trong nền giáo dục của chúng ta.   4.  Phải chăng do Nhà Nước không thể bao cấp hết cho giáo dục, nên phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tăng cường  huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục trong đó có việc tăng học phí?Ngay ở các nước giàu OECD, phần đóng góp của dân cho giáo dục cũng chỉ quanh quẩn 20%, trong khi ở nước ta tỉ lệ ấy đã vượt 40%, thế vẫn chưa đủ sao? Có người còn cho rằng quan niệm giáo dục là hàng hóa đã chiếm ưu thế trên thế giới, ta không nên né tránh thị trường giáo dục, mà phải trả giáo dục về cho xã hội. Trong thực tiễn quản lý giáo dục điều đó thường dẫn đến giảm thiểu trách nhiệm của Nhà Nước và trút hết gánh nặng tài chính về giáo dục cho dân. Thật là trớ trêu, trong lúc hàng trăm doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ gây nên những món nợ khổng lồ không biết bao giờ mới thanh toán nổi, mà các tổng giám đốc vẫn điềm nhiên hưởng lương mấy chục triệu đồng/tháng, thì ngành giáo dục lại đang bàn tính chuyện tăng học phí, cổ phần hóa đại học công, khuyến khích tư nhân góp vốn kinh doanh giáo dục lấy lãi, lấy cớ hội nhập xu thế quốc tế. Trong khi đó, ở các nước văn minh, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải đóng cửa, và tuyệt đại đa số đại học tư đều vô vị lợi, thảng hoặc có vài cái vị lợi thì chẳng có chút uy tín gì.        Nói cho cùng, một chính quyền vì dân nhiều hay ít chủ yếu phải thể hiện ở mấy mặt: 1) trong sạch, ít tham nhũng; 2) thân thiện với dân, không hành dân; 3) bảo đảm cho dân các quyền dân chủ trong đó có quyền được học hành. Xin kiến nghị Chính Phủ mới và Quốc hội mới cho tạm dừng đề án tăng học phí, để giảm bớt lo lắng cho các gia đình lao động./.    Tài liệu dẫn:  1. Vũ Quang Việt: Chi tiêu cho giáo duc: những con số giật mình,   www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/718033.  2. Vũ Quang Việt: Tăng học phí: bao nhiêu học sinh bỏ học ?   www.vietnamnet.vn/ giaoduc/vande/2007/07/718033.    Hoàng Tụy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng học phí gắn liền với minh bạch hóa chi tiêu      Đề &#225;n &#8220;Đổi mới cơ chế t&#224;i ch&#237;nh của gi&#225;o dục v&#224; đ&#224;o tạo giai đoạn 2009-2014&#8221; (dưới đ&#226;y gọi tắt l&#224; Đề &#225;n) đang được dư luận rất quan t&#226;m l&#224; điều dễ hiểu bởi n&#243; ảnh hưởng đến t&#250;i tiền của mỗi gia đ&#236;nh c&#243; con đi học, đồng thời n&#243; cũng ảnh hưởng đến hoạt động của c&#225;c cơ sở gi&#225;o dục &#8211; đ&#224;o tạo trong cả nước.     Nói cho đúng, người dân ít ai muốn có chuyện tăng học phí nhất là trong thời buổi khủng hoảng kinh tế này. Nhưng các trường không có đủ kinh phí bù đắp cho nguồn ngân sách eo hẹp, cũng khó đảm bảo cân đối thu – chi trong hoạt động. Ví dụ, với mức trần học phí bậc đại học hiện nay là 180.000 đồng/tháng thì ở nước ngoài chỉ đủ mua một cái áo phông loại thường, còn ở trong nước cũng chỉ mua được một chiếc sơ mi tàm tạm! Trước thực tế này, Đề án đã tìm ra giải pháp hợp lý hợp tình, đáp ứng được cả yêu cầu của các trường và các gia đình có con đi học: Mức học phí mới ở tất cả các bậc học đều cao hơn trước nhưng tăng dần theo lộ trình, mỗi năm khoảng 30%. Học phí tăng lên nhưng có phân biệt các mức khác nhau theo vùng, theo thu nhập của người dân và nhu cầu chi phí khác nhau của các bậc học, ngành học. Theo nguyên tắc do Đề án đưa ra, ở khu vực giáo dục mầm non và phổ thông, con những gia đình có thu nhập thấp sẽ được miễn, giảm học phí, thậm chí được hỗ trợ tiền đi học; còn ở khu vực giáo dục nghề nghiệp (đại học, cao đẳng, dạy nghề), học sinh, sinh viên nghèo được Nhà nước cho vay tiền đi học.   Tuy vậy, Đề án này còn một số điểm chưa hợp lý:  Mức học phí của khối trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề quá cao; có trường hợp cao hơn cả học phí đại học. Theo tôi hiểu, học nghề phải có trang thiết bị, do đó chi phí học tập cao là đúng, nhưng Nhà nước phải đứng ra gánh một phần, không nên để mức học phí quá chênh lệch với trung học phổ thông; có như vậy mới khuyến khích được thanh niên học nghề.   Không quy định khung học phí và cơ cấu chi từ học phí cho các trường ngoài công lập. Điều này dễ dẫn đến chỗ thu chi tuỳ tiện, biến giáo dục thành món hàng kinh doanh lợi nhuận cao vì vốn không cần bỏ ra nhiều mà “khách hàng” thì lúc nào cũng sẵn.   Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì việc bao cấp cho sinh viên khối các trường an ninh, quốc phòng, cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Khoản chi này chiếm tới 11,6% ngân sách giáo dục, trong khi kinh phí cho toàn bộ khối đại học, cao đẳng chỉ chiếm 8,91%, khối dạy nghề – 6,70%, TCCN là 2.62% và khối trung học phổ thông là 10,33% ngân sách giáo dục. Theo tôi, cán bộ, chiến sĩ được cử đi học để phục vụ lâu dài trong lực lượng vũ trang được chi sinh hoạt phí nhưng học sinh phổ thông vào học các trường này cần đóng học phí theo quy định chung. Còn cán bộ, công chức là những người có lương, nếu chưa đạt chuẩn, phải đi đào tạo, bồi dưỡng để đạt chuẩn thì cần đóng học phí, như vậy mới công bằng.     Điều đáng lưu ý là phải có sự chỉ đạo rất chu đáo trong việc xác định thu nhập bình quân của các hộ khi thực hiện việc tăng học phí và hỗ trợ học sinh ở khu vực giáo dục mầm non và phổ thông bắt đầu từ năm học 2010 – 2011, nếu không sẽ xảy ra tình trạng không công bằng, mất đoàn kết ở địa phương.   Ngoài ra, trong Đề án chưa nêu rõ cơ chế huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp cho giáo dục – đào tạo.      Một trong những nội dung quan trọng của Đề án đã được xác định khá rõ là trách nhiệm của cơ sở giáo dục- đào tạo “đảm bảo tương quan giữa chất lượng đào tạo và nguồn tài chính được sử dụng”. Chính vì vậy, kèm theo lộ trình tăng học phí phải là lộ trình nâng cao chất lượng đào tạo được xác nhận bằng kiểm định chất lượng thường xuyên. Do đó, ngoài cơ quan kiểm định chất lượng là Cục khảo thí, theo tôi, Nhà nước nên cho thành lập các tổ chức kiểm định ngoài công lập hoạt động theo pháp luật để tăng cường lực lượng làm nhiệm vụ kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo. Đó cũng là một cách thực hiện giám sát xã hội đối với hoạt động của ngành.     Minh bạch hoá chi tiêu là một vấn đề mà từ nhiều năm nay dư luận đòi hỏi ở ngành giáo dục. Đề án này đã yêu cầu các trường phải “công khai chi tiêu trong nhà trường hằng năm”. “Đại diện phụ huynh học sinh ở các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông, đại diện học sinh, sinh viên và đại diện giáo viên, giảng viên ở các cơ sở đào tạo có quyền và trách nhiệm giám sát sử dụng kinh phí của cơ sở giáo dục – đào tạo”. Ở mức độ một đề án trình Quốc hội, có thể nói một cách khái quát như thế, nhưng sau này phải có quy định cụ thể hơn về mức độ công khai và quyền tiếp cận thông tin của người dân và của báo chí. Không thể công khai chi tiêu của trường một cách hình thức theo kiểu trình chiếu trong hội nghị cán bộ viên chức, hội nghị phụ huynh học sinh hoặc hội nghị sinh viên mỗi năm một lần như trước kia.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng lương tối thiểu: Để có thể đủ sống      Dù trì hoãn hai năm do đại dịch COVID nhưng đề xuất tăng lương tối thiểu vùng cho người lao động đã làm dấy lên cuộc thảo luận: tăng lương tối thiểu có tác động tích cực nào lên thu nhập và đời sống người lao động? áp lực tăng lương tối thiểu có khiến cho các doanh nghiệp cắt giảm lao động? và cuối cùng, việc tăng lương tối thiểu có giúp bảo vệ người lao động như mục đích ban đầu?      Công nhân tan ca. Ảnh phóng sự “8 tiếng trọn vẹn” do iSEE thực hiện tại khu Công nghiệp Tân Tạo, Q. Bình Tân, khu Chế Xuất Linh Trung, Q. Thủ Đức.  Chị Minh*, 39 tuổi, đang làm việc tại một nhà máy chuyên sản xuất váy và áo khoác cho các thương hiệu thời trang toàn cầu. Sáu ngày mỗi tuần, mỗi ngày ít nhất chín giờ làm việc, chị may tay áo cho khoảng 500 chiếc áo khoác/ngày. Chị là một trong số gần ba triệu công nhân đang góp phần đem lại gần 40 tỉ USD xuất khẩu hằng năm cho ngành dệt may Việt Nam. Những nhà máy dệt may quanh năm sáng ánh đèn đang “ăn nên làm ra” ở Việt Nam nhưng những người như chị Minh chỉ kiếm được khoảng 21 nghìn đồng (gần 1 USD) mỗi giờ. Ngay cả khi mức lương của chị hay các công nhân may khác có chạm ngưỡng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu quốc gia, ví dụ ở vùng một như Hà Nội và các thành phố lớn thì còn xa mức này mới được coi là đủ sống.  Câu chuyện điển hình của ngành dệt may này, chúng ta gặp ở bất kỳ nhà máy hay khu chế xuất nào. Nó đã được đưa vào báo cáo “Tiền lương không đủ sống và hệ lụy: Nghiên cứu một số doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” do Viện Công nhân và Công đoàn, Oxfam thực hiện năm 2018. Trên cơ sở khảo sát sáu nhà máy ở bốn vùng lương từ trước thời điểm dịch bệnh COVID và lạm phát hậu COVID, họ đã phác thảo được một bức tranh tổng quan về thu nhập của những người công nhân: hầu hết công nhân được phỏng vấn đều có mức lương dưới mức đủ sống nên phải vật lộn làm thêm giờ để có thể nuôi sống bản thân và gia đình.  Tăng lương tối thiểu sẽ làm giảm việc làm?  Khái niệm “nhu cầu sống tối thiểu” lần đầu được đưa vào quy định pháp luật tại Điều 91 Bộ Luật lao động (năm 2012, hiệu lực 1/5/2013) mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Hằng năm, Chính phủ sẽ công bố lương tối thiểu vùng dựa trên sự tư vấn của Hội đồng Tiền lương Quốc gia.      Tăng lương tối thiểu không ảnh hưởng đến chi phí của chủ sử dụng lao động tuy nhiên điểm tích cực của lương tối thiểu là giúp tăng tiền lương cho người lao động có mức lương thấp. Mức lương tối thiểu tăng 1% sẽ làm tăng tiền lương tháng của người lao động có mức lương dưới mức lương tối thiểu lên 0,83%.      Tuy nhiên, sau gần 10 năm, đến nay mức lương tối thiểu vẫn chưa lần nào đuổi kịp mức sống tối thiểu của người lao động. Lần điều chỉnh gần đây nhất vào đầu năm 2020, mức lương tối thiểu vùng I là 4,42 triệu đồng (cao nhất trong bốn vùng lương hiện nay). Sau hai năm không tăng lương tối thiểu để giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp thì Hội đồng Tiền lương Quốc gia vừa có phiên họp thứ nhất bàn về vấn đề lương tối thiểu vùng. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đang dự kiến các phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2022 nhưng sẽ phải cân đối với khả năng chi trả của doanh nghiệp sau hai năm chống đỡ COVID và các yếu tố đủ bù trượt giá trong những năm chưa tăng, kèm theo các yếu tố về tăng năng suất lao động.  Theo một đại diện của Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và là Phó chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia, lo ngại trong bối cảnh COVID gây ra nhiều khó khăn, việc tăng lương tối thiểu giai đoạn này là “chưa khả thi”, sẽ làm tăng chi phí lao động. Có những quan điểm lo ngại rằng điều này dẫn tới việc doanh nghiệp cắt giảm lao động và sẽ làm giảm số việc làm của nhóm lao động yếu thế – nhóm cần được bảo vệ việc làm và thu nhập nhất. TS. Nguyễn Việt Cường, Trường Quốc tế (ĐHQGHN) cho biết, vào những năm 1980 đã có các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy khi lương tối thiểu tăng 10% thì có tương quan với tỷ lệ thất nghiệp tăng 1-3%. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây ở cả nước thu nhập thấp cũng như thu nhập cao cho thấy tăng lương tối thiểu không dẫn đến giảm việc làm cũng như gia tăng thất nghiệp.  Nghiên cứu gần đây của TS. Nguyễn Việt Cường đánh giá tác động của việc tăng lương tối thiểu trong giai đoạn 2012-2020 lên việc làm và năng suất lao động ở Việt Nam, sử dụng số liệu từ Điều tra Lao động việc làm hằng năm từ năm 2012 đến năm 2020 cho thấy tăng lương tối thiểu không làm giảm việc làm và thất nghiệp. Tăng lương tối thiểu không ảnh hưởng đến mức lương trung bình của người lao động nói chung. Điều này hàm ý, tăng lương tối thiểu không ảnh hưởng đến chi phí của chủ sử dụng lao động tuy nhiên điểm tích cực của lương tối thiểu là giúp tăng tiền lương cho người lao động có mức lương thấp. Mức lương tối thiểu tăng 1% sẽ làm tăng tiền lương tháng của người lao động có mức lương dưới mức lương tối thiểu lên 0,83%.  Trong những năm gần đây trước khi xảy ra đại dịch COVID thì tốc độ tăng lương tối thiểu thấp hơn tốc độ tăng của lương trung bình. Tuy nhiên năm 2020 do tác động của đại dịch thì lương trung bình thực tế không tăng, còn lương tối thiểu thực tế đã giảm do lạm phát. Do đó, theo TS. Nguyễn Việt Cường, việc tăng lương tối thiểu là cần thiết để đảm bảo mức sống cho người lao động có thu nhập thấp. Để giảm áp lực cho doanh nghiệp, chính phủ có thể tiếp tục sử dụng các công cụ hỗ trợ khác như hỗ trợ lãi suất và giảm thuế chứ không nên nghĩ tới việc tiếp tục “gia hạn”, lùi thời gian tăng lương tối thiểu.    Dòng slogan trên áo sếp: “Đừng xin anh về sớm. Đủ SAH em về” (SAH: định mức sản lượng mà công nhân phải hoàn thành, 1 SAH = 12 áo, có thể ít hay nhiều hơn tùy đơn hàng). Nguồn ảnh: Báo cáo Tiền lương không đủ sống và hệ lụy.  Lương tối thiểu có đủ sống tối thiểu?  Trên thực tế, tính toán mức tăng lương tối thiểu làm sao để người lao động có mức lương đủ sống là bài toán phức tạp. Mức lương tối thiểu theo quy định của Việt Nam thấp hơn nhiều so với mức lương một người cần để trang trải các chi phí cần thiết như thực phẩm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Tính toán của Oxfam vào năm 2018 cho thấy mức lương tối thiểu trung bình của cả bốn vùng tại Việt Nam chỉ bằng khoảng 37% mức lương của Sàn lương châu Á và 64% mức lương đủ sống mà Liên minh Lương đủ sống Toàn cầu tính toán cho Việt Nam. Với ngành may, 74% công nhân may có mức lương thấp hơn mức lương đủ sống của Liên minh Lương đủ sống Toàn cầu. Nếu tính cả tiền lương làm thêm giờ, vẫn có hơn 52% công nhân may đang được trả mức lương dưới mức của Liên minh Lương đủ sống Toàn cầu, 99% công nhân có mức lương thấp hơn mức Sàn lương châu Á.  Mức lương cơ bản không thể đủ sống ở tất cả các tỉnh, thậm chí mức lương tối thiểu cao nhất – của vùng 1 – cũng khó đảm bảo cuộc sống của một người lao động và một người phụ thuộc ở vùng 3 hoặc vùng 4 như Lào Cai, Yên Bái. Nên công nhân chỉ có thể tăng lương bằng cách sản xuất nhiều sản phẩm hơn – để sản xuất nhiều hơn, họ phải làm thêm giờ. Tất cả các công ty may mặc được khảo sát trong nghiên cứu của Oxfam đều có giờ làm việc từ 7:30 sáng đến 4:30 chiều, nhưng nếu công nhân không hoàn thành định mức lao động thì phải ở lại đến 5:30 hoặc 6:30 chiều. Báo cáo Việc làm tốt hơn (Better Work) vào năm 2017 cho thấy 82% trong tổng số 257 nhà máy sử dụng lao động làm thêm giờ vượt quá thời gian làm thêm giờ theo quy định.  Trên thực tế, các doanh nghiệp gần như chưa bao giờ nghĩ tới lương đủ sống khi xây dựng chính sách tiền lương của mình. Chính sách tiền lương của doanh nghiệp chỉ dựa trên mức lương tối thiểu theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tự tính toán và quyết định đơn giá tiền lương và định mức lao động. Doanh nghiệp chỉ điều chỉnh khi có sự phản ứng mạnh mẽ của người lao động, ví dụ như đình công tự phát.  Về phía các doanh nghiệp, lựa chọn tăng lương tối thiểu theo giờ cho công nhân chưa phải là chi phí làm doanh nghiệp nặng gánh nhất so với những chi phí khác. Trên thực tế, mức lương trả cho người lao động chiếm tỉ lệ nhỏ trong chi phí đầu vào cho sản xuất. Oxfam ước tính, trung bình chỉ 4% giá một sản phẩm quần áo được bán ở Úc là dành cho chi phí lương công nhân trong các nhà máy may ở châu Á. Tổ chức Deloitte Access Economics ước tính: ngay cả khi các nhà máy tăng lương cho người lao động đủ sống và chuyển toàn bộ chi phí này vào giá hàng thì cũng chỉ làm tăng giá áo lên 1%. Có nghĩa là chỉ mất thêm 10 xu cho một chiếc áo phông trị giá 10 USD.  Ngược lại, chi phí mà các doanh nghiệp đang phải tốn kém nhiều chính là để giải quyết các vấn đề xung đột về quan hệ lao động.Chị Đặng Thị Hải Hà đã nghiên cứu về các xung đột quan hệ lao động của khoảng 100 doanh nghiệp Việt Nam, đếm số lượng xung đột hằng ngày, tính thời gian xung đột, chi phí tổn thất của thời gian giải quyết xung đột cho thấy việc tranh chấp xung đột trong mối quan hệ lao động có thể làm ảnh hưởng tới ít nhất 25% trị giá hiệu quả sản xuất. “Chúng ta chỉ cãi nhau về tăng lương hay bỏ lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội trả kiểu gì… mà chưa bàn tới những vấn đề cốt lõi là xử trí các mối quan hệ lao động, giảm chi phí xung đột quan hệ lao động”.  Tiền lương thấp vẫn là nguyên nhân của phần lớn các tranh chấp, xung đột trong quan hệ lao động, làm cho quan hệ lao động trở nên phức tạp, dẫn tới đình công ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua. Một báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thống kê các cuộc đình công từ năm 1995 đến 2007 cho thấy, các nguyên nhân dẫn đến đình công đều liên quan đến tiền lương (33% người lao động cho biết mức lương thấp hoặc chủ sử dụng lao động không tăng lương như cam kết; 25% do làm thêm giờ quá nhiều, 20% do không được trả lương cho những giờ làm thêm…). Cho đến thời điểm 2018 Oxfam tiến hành khảo sát, thì tình trạng đó vẫn không có nhiều thay đổi, trong số 39,5% các cuộc đình công xảy ra tại Việt Nam kể từ năm 1995 đến nay diễn ra trong lĩnh vực may mặc thì một trong những lý do chính là tiền lương. Tất cả những tính toán trên đều dừng ở trước năm 2020, chưa cập nhật những khó khăn của đại dịch, theo sau đó là xu hướng lạm phát tăng giá trong hai năm qua.  Đánh giá tác động của lương tối thiểu  Việc tính toán tăng lương tối thiểu mới chỉ là điểm khởi đầu, vấn đề còn lại là giám sát sự tuân thủ của các doanh nghiệp thực thi quy định này. Bởi theo tính toán của TS. Nguyễn Việt Cường, vẫn có một tỉ lệ người lao động được nhận lương còn thấp hơn cả lương tối thiểu, vào năm 2020 là 7,8%, từ 2019 trở về mốc 2012 thì tỉ lệ này cũng dao động trong khoảng 5-10%.  Chuyên gia kinh tế lao động Đặng Thị Hải Hà, sáng lập tổ chức nghiên cứu lao động Respect lưu ý về tính khả thi của những quy định về lương tối thiểu, nó có “tác động thực tế đến người lao động hay không, doanh nghiệp có lợi dụng điều đó không”. Doanh nghiệp tuân thủ việc tăng lương tối thiểu rồi có đẩy định mức lao động lên cao hơn, giảm các khoản khác như thưởng, phụ cấp không? Để nắm được điều đó phải thanh tra quỹ lương thì mới biết được, giả sử nếu doanh nghiệp làm ăn tốt, đóng thuế bình thường, số lượng lao động tăng lên thì quỹ lương phải tăng lên. Còn hiện nay chúng ta mới chỉ thuần túy liệt kê ra được lương tối thiểu tăng lên hay giảm xuống thôi, không tính được tác động của nó đến người lao động.  Theo chị Hải Hà, giám sát thực thi luật nằm ở thanh tra lao động. Nhưng thanh tra thì lúc nào cũng mỏng, yếu và phải “ôm” quá nhiều việc. Chính thanh tra lao động đã tính toán, một doanh nghiệp được các thanh tra lao động tới thì khoảng vài chục, thậm chí trăm năm sau mới có thể quay lại thanh tra được. Báo cáo của Oxfam cũng cho thấy, tại một tỉnh được khảo sát, lực lượng thanh tra lao động tỉnh chỉ có 15 người, trong đó chỉ có 10 thanh tra viên có tư cách vào thanh tra tại doanh nghiệp. Dù có cố gắng hết sức, trong một năm, thanh tra lao động chỉ có thể thực hiện thanh tra được ở khoảng 200 doanh nghiệp trong số 29.100 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tại một doanh nghiệp được khảo sát trên địa bàn tỉnh này, lần thanh tra gần nhất là từ năm 2009 và từ đó đến nay chưa được thanh tra lại lần nào. Hơn nữa, thanh tra lao động, hòa giải và trọng tài lao động chủ yếu chỉ xử lý các vụ việc liên quan tới vi phạm pháp luật chứ ít có vai trò trong việc hỗ trợ các bên thương lượng nhằm cải thiện tiền lương và điều kiện làm việc của người lao động phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp.  Do vậy, “tôi nghĩ rằng cần phải tăng cường năng lực của thanh tra công, cung cấp cho họ các phương tiện công nghệ, có dữ liệu lớn về các công ty, có công cụ đánh giá toàn diện và có cơ chế đảm bảo minh bạch thông tin, cập nhật thông tin thường xuyên”, chị Hải Hà nói.□  —  * Tên nhân vật trong báo cáo đã được thay đổi    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Tăng thuế GTGT: Một lựa chọn khiên cưỡng      Chúng ta có thể tăng quy mô thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thay đổi tỷ trọng của nó trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước (NSNN) ngay cả khi giữ nguyên hay thậm chí giảm thuế suất thông qua hàng loạt các biện pháp, bởi vậy đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT nhằm bảo đảm an toàn tài chính trong bối cảnh nợ công tăng cao là điều chưa thuyết phục.      Tăng giá đồng loạt sản phẩm hàng hóa dịch vụ, đặc biệt là những hàng hóa dịch vụ thiết yếu do tăng thuế suất thuế GTGT, có thể ảnh hưởng rõ rệt đến nhóm dân cư có thu nhập từ mức trung bình thấp trở xuống. Một cửa hàng bán mắm ở chợ Bà Chiểu. Ảnh: Vũ Phượng/thanhnien.vn  Trung tuần tháng 8/2017, Bộ Tài chính công bố dự thảo Luật sửa đổi bổ sung năm luật thuế, bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế tài nguyên, để lấy ý kiến rộng rãi. Căn cứ quan trọng nhất cho lần sửa đổi chính sách thuế dự định trình Quốc hội tại kỳ họp đầu năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 là Nghị quyết số 25/2016 của Bộ Chính trị về cơ cấu lại NSNN và Nghị quyết số 35/2016 của Quốc hội về phát triển kinh tế – xã hội nói chung, phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng, giai đoạn đến năm 2020, theo đó cơ cấu thu NSNN sẽ dịch chuyển theo hướng tăng thu trong nước để bù đắp cho sự sụt giảm các nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu (do thực hiện cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan, tự do hóa thương mại) và dầu thô (do tác động của giá trên thị trường thế giới). Tỷ trọng thu trong nước trong tổng thu NSNN tăng lên được kỳ vọng sẽ góp phần tăng tính ổn định, bền vững của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiếc rằng, trong số các sửa đổi bổ sung, đề xuất tăng thuế suất phổ thông thuế GTGT từ 10% hiện nay lên 12% từ đầu năm 2019 (phương án 1) hay tiếp tục tăng lên 14% từ đầu năm 2021 (phương án 2) có nguy cơ không mang lại hiệu quả như những nhà làm luật mong đợi.  Làm méo mó chức năng phân phối lại thu nhập của thuế  Việc tăng thuế GTGT có xu hướng làm tăng giá cả hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng, khiến họ có thể thu hẹp tiêu dùng. Theo đó, sản phẩm hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp có thể chậm tiêu thụ, thậm chí ế thừa, khiến doanh nghiệp hoặc phải thu hẹp sản xuất, giảm nguồn cung, hoặc cố gắng không tăng giá bán mà chấp nhận giảm lợi nhuận, thậm chí thua lỗ. Trong cả hai trường hợp, doanh nghiệp đều yếu đi và đều tác động tiêu cực đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững cũng như ảnh hưởng xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng khác như lạm phát, thất nghiệp,…  Bên cạnh đó, tăng giá đồng loạt sản phẩm hàng hóa dịch vụ, đặc biệt là những hàng hóa dịch vụ thiết yếu, do tăng thuế suất thuế GTGT, có mức độ tác động khác nhau đối với mỗi nhóm dân cư theo thu nhập. Nếu những nhóm dân cư có mức thu nhập từ trung bình khá trở lên có thể chịu tác động tiêu cực ít hơn, thậm chí chẳng có vấn đề gì đối với nhóm dân cư khá giả hay giàu có thì ngược lại, nhóm dân cư có thu nhập từ mức trung bình thấp trở xuống, đặc biệt là nhóm người nghèo và cận nghèo, có thể sẽ chịu tác động nặng nề. Như vậy, bất bình đẳng trong xã hội sẽ gia tăng và hố ngăn cách giàu nghèo sẽ ngày càng bị khoét sâu, nhất là khi hệ thống an sinh xã hội của nước ta còn nhiều hạn chế. Như vậy, chức năng đầu tiên của thuế là phân phối lại thu nhập đã bị méo mó.  Có người lập luận rằng tăng thuế suất thuế GTGT nhằm điều tiết tiêu dùng, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư. Lý thuyết đúng là như vậy, song đó là lý thuyết đối với những nước phát triển, giàu có đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người hàng chục ngàn USD chứ không phải đối với những nước đang phát triển với GDP bình quân đầu người chưa tới 2.500 USD như Việt Nam, nơi phần lớn người dân vẫn phải dành phần lớn thu nhập của mình để tiêu dùng.  Qui mô thuế có tăng cũng không bền vững  Căn cứ hay lý do quan trọng hàng đầu để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT là đảm bảo nguồn thu cho NSNN, giảm bớt mức thâm hụt NSNN trong bối cảnh quy mô nợ công theo chuẩn Việt Nam đã áp sát trần cho phép1.  Tuy nhiên, có những cách khác để tăng quy mô và điều chỉnh cơ cấu thu NSNN nói chung, tăng quy mô thu thuế GTGT và thay đổi tỷ trọng của nó trong cơ cấu thu NSNN nói riêng ngay cả khi giữ nguyên hay thậm chí giảm thuế suất thông qua hàng loạt các biện pháp như tăng cường quản lý thuế, chống thất thu NSNN, mở rộng diện chịu thuế, giảm diện và mức độ ưu đãi miễn giảm thuế, giảm diện được hưởng thuế suất thuế GTGT ưu đãi ở mức 0% và 5%, kiểm soát chặt hoàn thuế và khấu trừ thuế GTGT, hoàn thiện quy trình và phương pháp tính toán cũng như thu nộp thuế GTGT, v.v.  Tương tự, muốn giảm thâm hụt NSNN thì có thể sử dụng nhiều biện pháp giảm bội chi như tinh giản bộ máy nhằm giảm chi thường xuyên, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, v.v. chứ không nhất thiết phải tăng thuế suất thuế GTGT hay đưa ra những sắc thuế bất hợp lý nhằm tăng nguồn thu.  Đối với nợ công, sẽ chỉ an toàn nếu chúng ta quản lý và sử dụng nợ công hiệu quả, chẳng hạn như gắn quyền hạn và trách nhiệm quản lý, sử dụng, vay và trả nợ công một cách chặt chẽ, thống nhất một đầu mối, đảm bảo khả năng trả nợ cả gốc và lãi đi đôi với tăng cường năng lực quản lý nợ công theo thông lệ quốc tế và nguyên tắc thị trường tài chính, thị trường nợ trong nước và toàn cầu, v.v. Khi đó, ngay cả quy mô nợ công có vượt trần hiện tại cũng không đáng lo ngại và không ảnh hưởng gì tới an ninh tài chính cả.  Tuy nhiên, thay vì triển khai quyết liệt những giải pháp thiết thực trên đây, đáng tiếc là người ta lại lựa chọn tăng thuế GTGT, biện pháp tiềm ẩn nhiều hệ lụy nhất. Thế nhưng tăng thuế suất thuế GTGT cũng không chắc chắn sẽ làm tăng quy mô thuế GTGT vốn đang chiếm vị trí dẫn đầu trong các khoản thu NSNN với tỷ trọng gần 30%, bởi thuế suất tăng cao là động lực thúc đẩy trốn lậu thuế, nhất là trong bối cảnh khả năng quản lý thuế của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập; tình trạng thất thu thuế, mua bán không hóa đơn, chứng từ còn rất phổ biến; quy trình và phương pháp thu thuế GTGT chưa hoàn thiện… Ngoài ra, quy mô tiêu dùng thực chất có thể giảm khiến doanh thu thực tế của doanh nghiệp giảm theo. Mặc dù do yếu tố giá cả và lạm phát tăng nên bề ngoài quy mô tiêu dùng và doanh thu danh nghĩa của doanh nghiệp vẫn tăng, nhưng sự tăng đó không thực chất và không bền vững, với cái giá bất ổn vĩ mô còn lớn hơn nhiều.  Tránh áp đặt kinh nghiệm quốc tế  Căn cứ trở thành cứu cánh của đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT, éo le thay, lại là kinh nghiệm quốc tế2. Một mặt, kinh nghiệm quốc tế không phải và không thể là căn cứ duy nhất và quan trọng nhất cho việc hoạch định một chính sách kinh tế vĩ mô nào đó, lại càng không phải là căn cứ phù hợp cho việc hoạch định chính sách thuế GTGT – một sắc thuế chỉ áp dụng ở vài chục trong số hàng trăm nước trên thế giới (trong đó không có những nước phát triển hàng đầu như Mỹ hay Nhật Bản – họ áp dụng thuế bán hàng hay thuế tiêu dùng với thuế suất dưới 10% và cơ chế thu hoàn toàn khác thay vì áp dụng thuế GTGT). Mặt khác, kinh nghiệm quốc tế chỉ có giá trị thật sự đối với Việt Nam khi xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể của quốc gia nào đó có mức độ tương đồng cao nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta tại thời điểm hoạch định chính sách cũng như tương đồng về mục tiêu định hướng phát triển kinh tế – xã hội. Việc lựa chọn thực tế thuế suất thuế GTGT những năm gần đây của EU hay OECD để so sánh rồi kết luận thuế suất thuế GTGT của nước ta còn thấp nên phải tăng lên là điều hết sức vô lý, vì điều kiện, hoàn cảnh và trình độ phát triển của các nước này rất khác so với nước ta, hầu như không thể so sánh. Hơn nữa, chính sách thuế GTGT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô rất nhạy cảm với diện tác động bao trùm tất cả mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức nên việc hoạch định chính sách thuế GTGT nói chung, điều chỉnh thuế suất thuế GTGT nói riêng cần được cân nhắc thận trọng, kỹ càng, phân tích đánh giá tác động toàn diện, sâu sắc trước khi quyết định và phải lưu ý tới không chỉ các yếu tố về chính trị, kinh tế, tài chính mà còn cả các yếu tố về văn hóa, xã hội, thậm chí cả tập quán, thói quen tiêu dùng, tâm lý xã hội…       Nếu Chính phủ vẫn nhất quyết tăng thuế suất thuế GTGT thì cần có nghiên cứu khoa học. Và theo tôi, chỉ tăng thuế GTGT đối với các hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu, hàng hóa được tiêu dùng bởi nhóm hộ khá và giàu như hàng xa xỉ, phi lương thực, thực phẩm… Ngoài ra, đối với các dịch vụ phục vụ ngành du lịch cũng không nên tăng thuế GTGT vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu dùng của khách du lịch và xuất khẩu tại chỗ các mặt hàng mà khách du lịch tiêu dùng do việc hoàn thuế GTGT của Việt Nam vẫn chưa tốt.  TS Phùng Đức Tùng (Viện Nghiên cứu phát triển Mekong)  * Tiến sĩ Vũ Đình Ánh hiện công tác tại Bộ Tài chính.  1 Tăng thuế VAT để đảm bảo an toàn tài chính (http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20170817/tang-thue-vat-de-dam-bao-an-toan-tai-chinh/1370575.html)  2 Như trên.    Author                Vũ Đình Ánh        
__label__tiasang Tăng trưởng GDP và FDI      Tăng trưởng GDP được hầu hết các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế đề cập và lấy đó như là một niềm vui nỗi buồn, là điểm sáng của nền kinh tế đất nước.      Lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty Samsung  Electronics Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải.  Có thể thấy trong những năm qua hầu như không năm nào tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu được đề ra từ đầu năm. Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua nhiều người dân dường như cảm thấy việc tăng trưởng GDP không có liên quan gì nhiều đến cuộc sống của mình. Vậy ai được hưởng lợi từ việc tăng trưởng này? Nhìn sâu vào số liệu tăng trưởng GDP theo thành phần kinh tế trong khoảng thời gian 2005 – 2016 có thể thấy khu vực FDI là khu vực “gánh” tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các thành phần kinh tế trong nước có mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 12 năm thấp hơn mức tăng trưởng GDP bình quân chung khá nhiều, chỉ có khu vực FDI tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung (7,5% so với 6,1% – Hình 1). Như vậy một loạt câu hỏi được đặt ra như tại sao trong năm thành phần kinh tế công bố trong niên giám thống kê gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và FDI chỉ có khu vực FDI là tăng trưởng tốt; phải chăng khu vực này được hưởng quá nhiều lợi thế so với khu vực kinh tế trong nước, từ được ưu đãi về chính sách thuế, tiếp cận đất đai, chủ động được về vốn? Đất nước này được gì từ tăng trưởng của khu vực này? Để ý rằng trong phần giá trị gia tăng của khu vực FDI bao gồm:  + Thu nhập của người lao động;  + Thặng dư sản xuất gộp (bao gồm khấu hao tài sản cố định);  + Thuế gián thu.  Về thu nhập, người lao động Việt Nam chỉ nhận được một phần từ lao động giá rẻ, các vị trí chủ chốt đều là người nước ngoài (vì thường trú ở Việt Nam trên một năm nên về nguyên tắc vẫn tính vào giá trị gia tăng của nền kinh tế), lương của 8 – 10 người Việt Nam mới bằng lương một người ngoại quốc.    Hình 1. Tăng trưởng bình quân GDP theo các thành phần kinh tế giai đoạn 2005 – 2016 (giá so sánh 2010). Nguồn TCTK.  Về thặng dư thì đấy là thặng dư của họ, họ có thể giữ lại để tái đầu tư mở rộng sản xuất nếu thấy lợi và cũng có thể chuyển về nước nếu thấy không thuận lợi hoặc không còn lời nữa. Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo cáo lỗ hoặc lãi một chút, như vậy thuế thu nhập doanh nghiệp phía Việt Nam thu được chẳng là bao. Năm 2016 tổng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp khối FDI được miễn giảm và ưu đãi ở mức 35.300 tỷ Việt Nam đồng. Nếu tính toán kỹ nhiều doanh nghiệp FDI thì tổng số thuế được ưu đãi từ khi đi vào hoạt động cũng tương đương số vốn họ bỏ ra đầu tư vào Việt Nam. Chẳng hạn như Samsung electronic nhận được miễn thuế 4 năm đầu, 9 năm tiếp theo được hưởng mức thuế TNDN 5% và 17 năm sau đó ở mức thuế 10%. Doanh nghiệp nội chỉ được ưu đãi gần 21% số thuế phải nộp trong khi doanh nghiệp FDI được hưởng gần 92%. Sự bất bình đẳng này khiến doanh nghiệp nội không thể cạnh tranh với doanh nghiệp FDI.  Về thuế gián thu có hai vấn đề. Thứ nhất thuế gián thu các doanh nghiệp FDI cũng được ưu đãi về chính sách thuế, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều làm gia công rồi xuất khẩu, các doanh nghiệp này do xuất khẩu trực tiếp nên đầu vào nhập khẩu được ưu đãi thuế, trong khi các doanh nghiệp nội không được ưu đãi thuế nếu bán hàng trong nước, có thể thấy việc kêu gọi về sản xuất sản phẩm phụ trợ trong cả chục năm qua chỉ là kêu gọi để đấy, chính sách về thuế xuất nhập khẩu không cho thấy có hành động gì chứng tỏ sự bằng phẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Và thứ hai là thuế này về bản chất là người dân Việt Nam phải trả khi sử dụng sản phẩm của họ. Sử dụng sản phẩm FDI trong trường hợp hầu hết là gia công thực chất là dùng hàng nhập khẩu dưới hình thức khác.  Như vậy, trong giá trị gia tăng của khu vực FDI được tính vào GDP của Việt Nam, phía Việt Nam từ Chính phủ đến người dân chẳng được bao nhiêu và do hầu hết là gia công nên gần như không có sự lan tỏa gì về công nghệ. Trong một nghiên cứu của một nhóm chuyên gia của trường Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy khu vực FDI thải ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính cao hơn khí thải từ các phương tiện tham gia giao thông khá nhiều. Vậy phải chăng Việt Nam cần có một chiến lược về thu hút FDI hiệu quả và hữu ích với đất nước hơn.  Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), một số người đã mặc nhiên xem GDP bình quân đầu người như là thu nhập bình quân đầu người. Khi nói đến GDP bình quân đầu người nhiều người lập tức so sánh đến thu nhập của dân cư. Thực chất về cơ bản GDP được nhìn dưới ba góc độ:  + Ở giác độ sử dụng cuối cùng: GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, tích lũy tài sản gộp và xuất khẩu thuần;  + Dưới giác độ sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất theo giá cơ bản – tổng chi phí trung gian  + thuế sản phẩm  – Trợ giá sản phẩm;  + Dưới giác độ thu nhập bao gồm mấy nhân tố cơ bản : Thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thuế sản xuất – trợ cấp sản phẩm.  Đối với mỗi Quốc gia thì GDP cũng chỉ là chỉ tiêu sơ khởi vì sau đó còn một số chỉ tiêu khác như GNI (Tổng thu nhập quốc dân), NDI (thu nhập quốc dân khả dụng), và để dành (saving, hay là tích lũy trong nền kinh tế)…  • GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần với nước ngoài;  • NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần với nước ngoài + thuế trực thu (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp);  • Để dành = NDI – tiêu dùng cuối cùng (bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và TDCC của NN).  Theo số liệu của ADB có thể thấy GNI chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ và luồng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài ngày càng lớn.    Author                Bùi Trinh        
__label__tiasang Tăng trưởng kinh tế có luôn đi kèm ô nhiễm không khí?      Kinh nghiệm phát triển của các nước đã cho thấy rằng, một số nước đã chấp nhận ô nhiễm môi trường vì lợi ích tăng trưởng kinh tế, nhưng một số nước khác thành công trong tăng trưởng kinh tế đồng thời vẫn bảo vệ được môi trường.      Ảnh: Báo Dân sinh.  Ô nhiễm không khí ở Việt Nam và thế giới  Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng đều đặn trong hàng chục năm nay đã giúp xóa đói giảm nghèo nhanh chóng, đưa Việt Nam từ một nước thu nhập thấp (low income) lên mức thu nhập trung bình thấp (lower middle income). Tuy nhiên, cùng với mức tăng trưởng kinh tế ngoạn mục đó, chỉ số đo bụi mịn PM 2.5 ô nhiễm không khí ở một số thành phố lớn ở Việt Nam đang ngày càng tăng cao.   Trong khoảng một vài tháng gần đây, có thời kỳ trời không mưa, thì trong một tuần có đến 4-5 ngày mức độ bụi mịn ở Hà Nội đã được báo lên tới mức có hại cho sức khỏe, phải hạn chế các hoạt động ở ngoài trời. Cũng theo trang dự báo chất lượng không khí Air Visual, đã có những ngày Hà Nội được xếp vào trong nhóm những thành phố ô nhiễm không khí bậc nhất trên thế giới.   Xu hướng ô nhiễm không khí gia tăng không chỉ có ở Việt Nam, mà còn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách khắp nơi trên thế giới. Quả thế, chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng và toàn cầu hóa. Ranh giới địa lý quốc gia không ngăn chặn được vấn đề ô nhiễm môi trường. Không khí, hay thậm chí cả nguồn nước, bị ô nhiễm ở một nước có thể ảnh hưởng rõ rệt đến những nước xung quanh. Đã có nghiên cứu gần đây chứng minh rằng ô nhiễm không khí ở Trung Quốc có thể làm tăng tỉ lệ tử vong do bệnh hô hấp và tim mạch ở nước láng giềng Hàn Quốc, đặc biệt đối với người già hoặc trẻ em dưới 5 tuổi (Jia and Ku, 2019).  Trong một nghiên cứu gần đây, chúng tôi so sánh mức tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm không khí trên toàn cầu (Dang and Serajuddin, 2020). Biểu đồ 1 vẽ GDP bình quân đầu người so với số lượng bụi mịn PM 2.5 đo bằng micrograms mỗi mét khối (µg/m3) trong không khí cho các nước trong giai đoạn 1990 đến 2016. Biểu đồ này cho thấy mức GDP bình quân đầu người trên thế giới (đường liền màu xanh) tăng từ khoảng 7.000 usd lên gần 11.000 usd trong giai đoạn này. Nhưng cùng với tin vui này, thì chất lượng không khí trên toàn thế giới cũng giảm một cách đáng kể: số lượng bụi mịn PM 2.5 (đường đứt đoạn màu đỏ) cũng tăng từ khoảng 39 µg/m3 lên tới gần 50 µg/m3. Trong khi đó, giới hạn an toàn cho bụi mịn PM 2.5 của Tổ chức y tế Thế giới là 10 µg/m3 hoặc thấp hơn.  Một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng tính đến cuối năm 2013, gần 90% dân số thế giới đang phải sống trong các khu vực có mức ô nhiễm không khí vượt quá hạn mức an toàn của Tổ chức y tế Thế giới (World Bank, 2016). Báo cáo này cũng ước tính rằng việc phơi nhiễm với không khí không đạt chuẩn đã làm rút ngắn tuổi thọ của con người, cụ thể là làm tăng tỉ lệ tử vong thêm 30% trong giai đoạn 1990 và 2013.   Có phải ô nhiễm không khí là điều tất yếu?   Kinh nghiệm phát triển của các nước đã cho thấy rằng, một số nước đã chấp nhận ô nhiễm môi trường vì lợi ích tăng trưởng kinh tế, nhưng một số nước khác thành công trong tăng trưởng kinh tế đồng thời vẫn bảo vệ được môi trường.      Biểu đồ 1: Chỉ số GDP và bụi mịn PM 2.5 trên toàn cầu giai đoạn 1990-2016. Nguồn: Dang and Serajuddin (2020).      Biểu đồ 2: Chỉ số GDP và bụi mịn PM 2.5 của Trung Quốc và Nauy giai đoạn 1990-2016. Nguồn: Dang and Serajuddin (2020).    Trước hết hãy nhìn vào một trường hợp điển hình là Trung Quốc. Sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc đã giúp đất nước này đạt tới vị trí thu nhập trung bình cao (upper-middle income). Tuy nhiên môi trường của Trung Quốc đã tồi tệ đi một cách đáng kể trong quá trình này. Biểu đồ 2 so sánh GDP bình quân đầu người và chỉ số bụi mịn PM 2.5 của Trung Quốc và một nước khác, Nauy, để so sánh. Biểu đồ này cho thấy chỉ số bụi mịn PM 2.5 của Trung Quốc còn tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-2016. Biểu đồ 2 cũng cho thấy Trung Quốc đã đạt tới mức 56 µg/m3 bụi mịn PM 2.5 ở mức GDP bình quân đầu người là 7.000 đ Mỹ năm 2016. Mức độ ô nhiễm này cao hơn khoảng 40% so với cùng mức thu nhập bình quân đầu người cho toàn thế giới theo Biểu đồ 1 (Figure 1).  Trong khi đó, Nauy là trường hợp trái ngược hoàn toàn, vừa đạt được tăng trưởng kinh tế lại vừa giảm được đều đặn chỉ số bụi mịn theo thời gian.  Kinh nghiệm giảm ô nhiễm không khí  Nếu chúng ta xem xét Biểu đồ 2 kỹ hơn, thì có thể thấy mức độ ô nhiễm không khí của Trung Quốc đạt mức cao nhất vào năm 2010, rồi sau đó dừng không tăng tiếp, và thậm chí còn giảm dần. Đó có thể là do các biện pháp tích cực mà Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện. Đầu tiên là Trung Quốc chính thức tuyên chiến với ô nhiễm không khí vào đầu năm 2014. Sau đó Trung Quốc đề ra một chính sách hành động để bảo vệ chất lượng không khí yêu cầu các khu vực đô thị phải giảm mức độ bụi mịn ít nhất là 10%. Thủ đô Bắc Kinh còn được yêu cầu phải giảm lượng bụi mịn nhiều hơn, ở mức 25%.  Trung Quốc cũng cấm xây dựng mới các nhà máy điện than hoạt động ở những khu vực bị ô nhiễm nhất. Các nhà máy điện than đang hoạt động thì được yêu cầu phải tìm cách giảm ô nhiễm. Nếu các nhà máy này không làm được như vậy, thì chúng sẽ bị thay thế bởi các nhà máy điện chạy bằng khí đốt gây ít ô nhiễm hơn. Các thành phố lớn bao gồm Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu hạn chế số lượng ô tô được phép chạy trên đường phố. Trung Quốc cũng giảm mức sản xuất sắt và thép và đóng cửa một số mỏ than.  Một số nghiên cứu gần đây đánh giá là các biện pháp trên có tác động tích cực và giúp cắt giảm ô nhiễm. Cụ thể là lượng bụi mịn ở các thành phố lớn như Bắc Kinh hay Bảo Định – thành phố được coi là ô nhiễm nhất Trung Quốc năm 2015- đã giảm gần 40%. Hơn thế nữa, do chất lượng không khí được cải thiện, dân số khoảng 20 triệu ở Bắc Kinh và hơn 10 triệu ở Bảo Định có thể kéo dài tuổi thọ từ 3.3 đến 4.5 năm nữa. Lợi ích này sẽ được thụ hưởng bởi toàn bộ các nhóm dân số, chứ không chỉ đối với những nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ em và người già (Greenstone, 2018).   Nhìn lại quá trình phát triển trên thế giới, thì không chỉ Trung Quốc, mà cả những quốc gia phát triển như Mỹ hay Anh cũng đã từng phải trải qua giai đoạn ô nhiễm trầm trọng trong quá trình phát triển. Một sự kiện bi thảm do ô nhiễm môi trường đã từng xảy ra ở thủ đô London của Anh vào tháng 12 năm 1952, được gọi là “London smog” hay là “sương mù do ô nhiễm ở London”, đã khiến cho 12,000 người chết. Trong năm 1952 ở London, chỉ số bụi mịn PM 2.5 được đo lên mức rất cao, tới 300 µg/m3, và thậm chí nhảy vọt gấp 10 lần lên tới mức 3000 µg/m3 trong tháng 12 của năm đó (Davis et al., 2002). Thành phố Los Angeles ở nước Mỹ trong những năm 1970 cũng bị coi là “thủ đô sương mù công nghiệp” của thế giới vì mức độ ô nhiễm không khí.   Nhưng cũng vì vậy, Anh và Mỹ đã phải ra các đạo luật để bảo vệ không khí sạch ngay sau đó để tạo ra các quy chuẩn giảm thiểu ô nhiễm. Một nghiên cứu cho thấy rằng, đạo luật Bảo vệ không khí sạch được ban hành năm 1970 ở Mỹ đã góp phần giảm lượng bụi mịn ở Los Angeles tới 50%. Đạo luật này đặc biệt có hiệu quả bảo vệ không khí sạch ở những thành phố ô nhiễm nhất ở Mỹ, giúp kéo dài tuổi thọ người dân Los Angeles, New York, và Chicago thêm gần 2 năm (Greenstone, 2015).   Tầm nhìn nào cho Việt Nam?   Trước hết chúng ta nên coi ô nhiễm không khí là một hệ quả không mong muốn của việc tăng trưởng, và là một vấn đề cần được giải quyết cũng như là chúng ta đã giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo. Nhưng có lẽ khác với đói nghèo là hiện tượng dễ nhận biết mà cả xã hội (và thế giới) muốn giải quyết, vấn đề ô nhiễm không khí có khả năng âm thầm gây ra những tác hại to lớn ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội, nhất là sức khỏe người dân. Nếu không có những giải pháp triệt để và toàn diện, vấn đề ô nhiễm không khí sẽ không tự mất đi, mà trái lại nó sẽ trở nên ngày càng trầm trọng.   Chúng ta cũng không nên coi việc giảm ô nhiễm nhất thiết sẽ khiến tăng trưởng kinh tế chậm hơn. Kinh nghiệm của Nauy vừa tăng trưởng kinh tế lại vẫn có thể giữ cho môi trường sạch hơn là một trường hợp đáng học hỏi. Ngoài ra, cũng có nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc giảm ô nhiễm không khí về lâu dài lại có thể giúp cho tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm mới hơn (Hanlon, forthcoming). Điều này nghe qua tưởng là nghịch lý nhưng thật ra lại hợp lý nếu chúng ta thấy rằng ô nhiễm không khí sẽ khiến một thành phố trở nên kém hấp dẫn và ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu (ví dụ, nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ không muốn đến sống và làm việc ở một nơi ô nhiễm, hay khách du lịch cũng không muốn đến thăm một thành phố ô nhiễm). Một nơi ô nhiễm cũng có thể làm giảm sức khỏe công nhân khiến họ làm việc kém hiệu quả hơn. Về lâu dài thì việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế gia tăng sử dụng những nguồn năng lượng sạch và bền vững sẽ giúp Việt Nam vừa tận dụng tốt hơn những lợi thế thiên nhiên ưu đãi, đồng thời bắt kịp xu thế tiến bộ của các nền kinh tế phát triển trên thế giới.  Việt Nam đã từng hai lần tuyên chiến với các vấn nạn xã hội và đạt được những thành công to lớn. Lần đầu là phong trào “diệt giặc dốt” những năm 1945 khi đất nước vừa giành được độc lập, lần thứ hai là “giặc đói” khi đất nước đổi mới năm 1986. Cuộc chiến thứ nhất góp phần xóa mù chữ góp phần tạo ra tiền đề vững chắc về giáo dục cho phần lớn dân số, nhất là xóa bỏ bất bình đẳng về học vấn cho học sinh nữ (Dang et al., forthcoming). Cuộc chiến thứ hai khiến Việt Nam được biết đến là một trong những nước có thể giảm đói nghèo trong một thời gian ngắn nhất. Có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta cần tuyên chiến như vậy với ô nhiễm không khí. □   ——–  Tài liệu tham khảo  Dang, Hai-Anh and Umar Serajuddin. (2020). “Tracking the Sustainable Development Goals: Emerging Measurement Challenges and Further Reflections”. World Development. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2019.05.024  Dang, Hai-Anh H., Trung X. Hoang, and Ha Nguyen. (forthcoming). “The long-run and gender-equalizing impacts of school access: evidence from the first Indochina war”. Economic Development and Cultural Change.  Dang, Hai-Anh, Haishan Fu, and Umar Serajuddin. (2020). “Does GDP Growth Necessitate Environmental Degradation?”. World Bank’s Data Blog.  Davis, Devra L., Michelle L. Belle, and Tony Fletcher. (2002). “A look back at the London smog of 1952 and the half century since.” Environmental Health Perspectives, 110(12): A734-A735.  Greenstone, Michael. (2015). “The Connection Between Cleaner Air and Longer Lives”. New York Times.  —. (2018). “Four Years After Declaring War on Pollution, China Is Winning”. New York Times.  Hanlon, Walker. (forthcoming). Coal Smoke, City Growth, and the Costs of the Industrial Revolution. Economic Journal.  Jia, Ruixue and Hyejin Ku. (2019). “Is China’s Pollution the Culprit for the Choking of South Korea? Evidence from the Asian Dust.” Economic Journal, 129(624): 3154–3188.  World Bank. (2016). The cost of air pollution: strengthening the economic case for action. Washington, D.C.: World Bank Group.    Author                Đặng Hoàng Hải Anh        
__label__tiasang Tăng trưởng kinh tế có mang lại hạnh phúc?      Câu trả lời không  chỉ liên quan đến kinh tế mà còn liên quan đến chính trị và chuyện cá  nhân mỗi người. Nhưng rõ ràng: tiền không phải là tất cả.      Chỉ mỗi tiền thì không thể mang lại hạnh phúc, nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong hạnh phúc của con người. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Bruno Frey trong nhiều thập kỷ cũng chỉ ra rằng: khi kiếm được nhiều tiền hơn, bạn sẽ hạnh phúc hơn.   Nhà kinh tế người Thụy Sĩ này hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Warwick (Anh) và là nhà khoa học đầu tiên gắn hạnh phúc với các mô hình kinh tế. Trong sự so sánh giữa các quốc gia khác nhau, ông cho rằng, kinh tế phát triển, cuộc sống tiện nghi sẽ đem lại hạnh phúc cho người dân hơn, người dân ở các nước giàu hạnh phúc hơn người dân các nước nghèo.  Mức độ hạnh phúc  Khi nói về hạnh phúc, người ta nghĩ đến ngay mức độ hài lòng với cuộc sống một cách chủ quan. Độ sung túc đóng một vai trò lớn trong phản ánh tác động của tiền lên sự cảm nhận hạnh phúc.   Tuy nhiên, một người nghèo cảm thấy hạnh phúc hơn một người giàu khi nhận được lương gấp đôi. Hay nói cách khác như Frey: “Người nhiều tiền không cảm thấy hạnh phúc hơn được vì họ có thể kiếm được tiền hơn thế nữa.”  Tất nhiên, tiền bạc không phải là tất cả. “Có nhiều yếu tố khác để xác định hạnh phúc” – nhà nghiên cứu hạnh phúc này nói. Ngoài yếu tố di truyền, mà trên tất cả là sức khỏe, còn có các yếu tố xã hội như bạn bè và gia đình quyết định mức độ hạnh phúc của con người.  Một nước phát triển thịnh vượng như Đức khác với các nước mới nổi như Trung Quốc hay Ấn Độ, tăng trưởng kinh tế không phải là mục tiêu trọng tâm. Thành viên trong hội đồng quản trị của Viện nghiên cứu kinh tế Đức (DIW) ở Berlin, Gerd Wagner nêu quan điểm: “Tỷ lệ thất nghiệp thấp, ngân sách nhà nước bền vững, hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt, tự do và dân chủ là những các mục tiêu còn cao hơn sự tăng trưởng kinh tế.”  Sự tăng trưởng kinh tế có thể giúp thực hiện những mục tiêu này nhưng không phải là nhất thiết. “Thất nghiệp có thể tránh được nếu giảm thời gian làm trong tuần, mọi người cũng sẵn sàng làm việc ít đi nếu như thu nhập vẫn đảm bảo. Nhà nước có thể chỉ tiêu bớt đi hay tăng thuế để giảm các khoản nợ chính phủ mà không nhất thiết là phải tăng trưởng kinh tế.”     Dân chủ mang lại hạnh phúc  Các yếu tố chính trị ảnh hưởng mạnh đến sự hài lòng của người dân với cuộc sống. “ Con người trong một xã hội dân chủ hạnh phúc hơn trong một xã hội độc tài” – Frey nhận định. Đặc biệt, người dân cảm thấy hạnh phúc khi những chính sách, hành động của nhà nước đi liền với nhu cầu của họ và mang lại điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống của họ.  Liên minh châu Âu chính là minh chứng cho “sự thiếu hụt dân chủ lớn”. Theo cuộc thăm dò thường xuyên của Trung tâm nghiên cứu Pew ở Washington thì người dân châu Âu tỏ ra ít tin tưởng vào thể chế chính trị của họ. Frey cho rằng: “Liên minh châu Âu nên tăng cường chỉ đạo trưng cầu dân ý về các vấn đề quan trọng của đất nước, cần thiết lập và ý thức tầm quan trọng mối quan hệ giữa các vấn đề châu Âu và sự ảnh hưởng của nó với người dân.”  Ít nhất 20 triệu người ở châu Âu hiện nay đang bức xúc trước vấn đề tìm việc làm.   Thất nghiệp gây buồn chán  Ai thất nghiệp cũng đều cảm thấy buồn chán hơn trước đây. Trợ cấp thất nghiệp không làm người thất nghiệp vui hơn, chỉ có công việc mới mang lại hạnh phúc cho họ. Frey cho hay: “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, nam giới thất nghiệp buồn chán sâu sắc hơn nữ giới, vì phụ nữ thường tìm được vai trò quan trọng của mình trong việc chăm sóc gia đình.” Nhưng khi nạn thất nghiệp ở châu Âu được giải quyết thì sự hài lòng với cuộc sống của người dân lại trở lại như trước.  Frey không tin rằng, có thể đo mức độ hạnh phúc của người dân bằng các mục tiêu của chính phủ, ngược lại, nó là thước đo đánh giá sự hài lòng, ủng hộ hay phản đối của người dân đối với chính phủ.      Diệu Hoa dịch  Nguồn: http://www.dw.de/        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng trưởng kinh tế và hạnh phúc nhân sinh.      Cứu cánh của kinh tế là góp phần tạo dựng hạnh phúc cho cõi nhân sinh thông qua sự tăng trưởng của xã hội, nhưng động lực thúc đẩy tăng trưởng ấy chỉ có thể thật sự lớn mạnh nếu bản thân tiến trình tạo dựng tài sản kinh tế được xây dựng trên cơ sở những cảm thụ có thật về hạnh phúc của con người. Nói cách khác, tăng trưởng là điều kiện cần cho hạnh phúc nhưng đồng thời tăng trưởng cũng lại cần có hạnh phúc để trở thành phát triển bền vững!    Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, với những biến động của những hệ thống chính trị, xã hội và  kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới, đồng thời với chiều hướng càng ngày càng lớn mạnh của các phương pháp tiếp cận khoa học liên ngành, kinh tế học “hiện đại” lại có khuynh hướng quay về cội nguồn của nó (điển hình là giải Nobel kinh tế 1998 đã được trao cho Amartya Sen với các công trình về “Bảo trợ kinh tế, lựa chọn công cộng và nghèo đói xã hội” thực hiện dưới giác độ “đưa chiều kích của đạo lý làm người về lại trong nội hàm của kinh tế học”).  Hiểu được diễn trình trên sẽ không còn “dị ứng” với việc các kinh tế gia ngày nay đặt vấn đề về “tính quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng và hạnh phúc”!   Nhưng điều đầu tiên gặp phải là: nếu định nghĩa về tăng trưởng có thể được tương đối dễ dàng thống nhất –dựa chủ yếu trên việc triển khai/bổ sung nội dung của “chỉ số thịnh vượng GDP”- thì ngược lại, hạnh phúc nhân sinh không có một định nghĩa phổ biến tiên thiên. Cách hay nhất là khởi sự xem xét những gì cản trở hạnh phúc, hay chính xác hơn, là những gì mang đến bất hạnh cho con người. Và câu trả lời gần như đương nhiên: cơ bản đó là tình trạng nghèo đói, thiếu kém… Thì quả đúng là rất khó có được hạnh phúc khi con người sống trong lầm than cơ cực. Nhưng thế nào lại là thiếu kém? Và nhất là thế nào mới đầy đủ?                 Ở các quốc gia có chỉ số tăng trưởng GDP tương đối thấp hoặc tiến độ gia tăng chậm nhưng chỉ số “an ninh kinh tế/an sinh xã hội” cao thì cảm nhận về “việc đến gần với hạnh phúc” lại phổ biến hơn trong dân chúng, ngược với những nước có chỉ số gia tăng GDP cao nhưng chỉ số “an ninh kinh tế/an sinh xã hội” lại thấp          Nhằm giải quyết vấn đề trên, giới chuyên ngành phân định như sau: nghèo đói là tình trạng vật chất, nhìn thấy một cách cụ thể và có thể định lượng rõ ràng. Thiếu kém hay đầy đủ lại là chủ yếu một thể dạng của “diễn dịch từ nhận thức”, nghĩa là nặng về so sánh giữa các hoàn cảnh xã hội khác nhau và chi phối bởi cách nhìn định tính. Và điều đáng luận bàn là: càng nặng về định lượng thì càng khó cảm nhận về hạnh phúc và ngược lại, với cái nhìn thiên về định tính, hạnh phúc dễ đến gần hơn! Những phân tích sau đây minh chứng cho điều vừa nói:              Nhiều cuộc điều tra liên quốc gia đã xác minh là tại các nước đang phát triển, cảm nhận về hạnh phúc đa phần và thoạt tiên được đồng hóa với việc tăng mức thu nhập. Nhưng ở các nước phát triển, việc tăng thu nhập không còn đồng nghĩa với việc tăng thêm niềm hạnh phúc. Đào sâu các cuộc điều tra, yếu tố quan trọng khác được phát hiện: mặc dù tại các nước nghèo, khuynh hướng đa số là mong muốn có thêm thu nhập để được thêm hạnh phúc (chính xác hơn là cho “đỡ cực”), nhưng điều bất hạnh lớn nhất được ghi nhận bởi dân chúng ở các nước ấy là tính bất ổn trong an sinh xã hội và sự chênh lệch thái quá về thu nhập, nhất là khi khoảng cách của sự mất thăng bằng ấy càng ngày càng lớn đến độ được nhìn nhận như một chứng cứ rõ ràng về bất công xã hội, nghĩa là thu nhập không còn tương xứng với thực tài và công sức lao động mà chỉ là kết quả có được từ những vị thế và quan hệ quyền lực.   Nói cách khác, đòi hỏi về tăng thu nhập cần phải được đối xứng với nhu cầu an sinh xã hội, ổn định tương lai và khát vọng công bằng: dù cho việc tăng thu nhập tổng cương được ghi nhận với sự tăng trưởng của chỉ số GDP có càng ngày càng cao thì diễn trình ấy cũng không mang đến cảm nhận về hạnh phúc cho dân chúng nếu xã hội vẫn còn nhiều cảnh sống bấp bênh, nghĩa là không có được sự bảo trợ ổn định tối thiểu về mặt an sinh cộng đồng và trong một bối cảnh mà khoảng cách giàu nghèo và phân hóa địa phương càng ngày càng lớn. Cũng cần nhận định rõ là trong hoàn cảnh ấy, ngay những người có mức thu nhập rất cao cũng không thể an tâm “hưởng lạc thú tinh thần”. Đơn giản: điều gì bảo đảm cho những người ấy là thu nhập ngày mai của họ sẽ khá hơn so với ngày hôm nay hay chí ít tương lai cũng được như hiện tại ?! Tóm gọn: trong một bối cảnh xã hội mà sự tăng vọt về kinh tế (tăng trưởng “nóng”) tạo ra thường xuyên những biến động bất ngờ, cảm nhận phổ biến là “gần gũi với bất ổn tinh thần” hơn là “cận kề với hạnh phúc”! Và đã bất định thì tâm lý phổ cập lại sinh ra dễ “chụp giật”, nghĩa là cơ sở của nhiều mối quan hệ xã hội và kinh tế hay thậm chí chính trị đều bị chi phối nặng nề bởi tính cách “ăn xổi ở thì”.  Chính vì thế mà ở các quốc gia có chỉ số tăng trưởng GDP tương đối thấp hoặc tiến độ gia tăng chậm nhưng chỉ số “an ninh kinh tế/an sinh xã hội” cao thì cảm nhận về “việc đến gần với hạnh phúc” lại phổ biến hơn trong dân chúng, ngược với những nước có chỉ số gia tăng GDP cao nhưng chỉ số “an ninh kinh tế/an sinh xã hội” lại thấp.  Từ hiện tình trên đã dần dần hiển lộ điều cơ bản: hạnh phúc là một thể trạng thuộc lĩnh vực của “hiện hữu”, trong khi việc tăng thu nhập –cũng như tiến trình tăng trưởng chỉ số GDP- lại chủ  yếu nằm ở diện “chiếm hữu”. Chính vì thế mà trong giai đoạn đầu, “cái có” khả dĩ mang đến cảm nhận về sự thoải mái trong đời sống, nhưng khi đã vượt qua ngưỡng của nghèo khổ, mong muốn thâm tâm lại hướng về “cái là”. Vì vậy mà điều oái ăm là càng đuổi theo “cái có”, con người càng cảm thấy mình bất hạnh, trái ngược với những ai chọn hướng thiên về “cái là”. Nói chính xác: “khối lượng vật chất” tự thân nó, không đủ để tạo dựng cảm nhận vững chắc về hạnh phúc, mà cần phải có thêm “định chất tinh thần”. Do vậy mà ngay tại các nước phát triển, chẳng hạn như ở Mỹ, tỷ lệ của những người mắc các chứng bệnh “phân liệt tâm thần khó điều trị” vì “ám ảnh không ngừng bởi việc tích lũy vật chất” cao không kém tỷ lệ của những người bị bệnh “khó chạy chữa” do điều kiện kinh tế eo hẹp (bệnh đầu được liệt vào loại “bệnh nhà giàu” và loại sau thuộc diện “bệnh nhà nghèo”, nhưng bệnh vẫn là bệnh và khi đã bị bệnh thì khó có thể nói là bệnh nào “hạnh phúc” hơn bệnh nào!).  Từ các thẩm định trên, nội hàm phổ cập của quan niệm về hạnh phúc cũng đã được định hình rõ. Đó là “thể trạng cảm thụ tinh thần liên quan mật thiết với chất lượng đời sống” được tích hợp từ bốn trạng thái sau: “thoải mái”, “hoan lạc”, “vui sống” và “an bình”.  Cách tiếp cận này làm hiện rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với việc tạo dựng hạnh phúc cho xã hội: của cải quốc gia được tính theo chỉ số GDP, tự thân nó, khả dĩ mang đến được “thoải mái” và “hoan lạc” chứ không có khả năng tạo dựng niềm “vui sống” và sự “an bình”.         Khi mà đại đa phần thành quả của tăng trưởng kinh tế được dồn vào cho chính việc tăng trưởng kinh tế mà không chú trọng đúng mức đến việc xây dựng và phát triển các cơ cấu xã hội, giáo dục và văn hóa nhằm hỗ trợ và trang bị thêm cho con người những chỗ dựa và hành trang cần thiết trong việc phát triển của chính bản thân nó thì mỗi một con người đều trở thành kẻ đối địch của nhau trong cuộc kiếm tìm hạnh phúc vị kỷ.         Dễ hiểu: với việc gia tăng thu nhập bình quân, khởi đầu con người cảm thấy được “thoải mái” hơn, nghĩa là ít bị dằn vặt bởi những lo âu về vật chất. Và khi những lo âu trên không còn là gánh nặng thì diễn trình tiếp liền là “hoan lạc” với nghĩa là con người có khuynh hướng muốn “hưởng thụ nhanh và nhiều” để bù đắp những “cơ khổ” trước đấy. Đó là hai trạng thái tâm lý xã hội thông thường vẫn phát sinh trong giai đoạn đầu của việc tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, mong muốn “hoan lạc” nói trên cuối cùng lại có chiều hướng không mang đến cho con người niềm “vui sống” mà ngược lại là tạo ra một vòng xoắn tiêu cực đưa con người rơi trở vào trạng thái lo âu: muốn được “hoan lạc” thông qua việc hưởng thụ càng ngày càng nhiều các tiện nghi vật chất thì con người phải xả thân cật lực cho việc mưu sinh để tăng thêm thu nhập bằng mọi cách. Mà đã cứ phải tất bật lăn xả vào quá trình ấy thì bản thân tâm lý con người lại không còn được “thoải mái”, nhất là trong bối cảnh quốc gia mà xu hướng nổi trội là “tất cả dồn cho việc đẩy nhanh tốc độ gia tăng chỉ số GDP” (mà không tính toán rạch ròi hiệu suất của tăng trưởng ấy, nghĩa là không cần biết rõ phải tiêu tốn tất cả bao nhiêu vật lực và công sức xã hội để đạt được tốc độ và mức độ tăng trưởng kinh tế mong muốn). Nói gọn: nếu việc tăng trưởng GDP chỉ đơn thuần là thúc đẩy việc tăng gia vô tội vạ một tiến trình tạo sinh và tích lũy thuần tuý vật chất thì rốt cuộc hạnh phúc con người vừa được manh nha rồi cũng sẽ tiêu tán4!                     Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là một tiền đề quan trọng để tạo dựng hạnh phúc nhân quần. Nhưng khi tăng trưởng kinh tế chỉ còn hướng về mục đích tự thân, nghĩa là tự nó và vì nó mà quên đi cứu cánh của nó, hạnh phúc nhân sinh không chỉ không còn mà tăng trưởng cũng sẽ bị lâm vào tình hình khủng hoảng: mải miết là cuộc rượt đuổi vật chất, tăng trưởng trở thành một cái bóng ám ảnh chính nó! Bởi vì “niềm vui” và sự “an bình” trong cộng đồng –vốn vừa là thành quả vừa là động cơ của “chất lượng đời sống”- chẳng đến được từ những lo toan tính toán so đo tị hiềm mà chỉ đến từ việc tinh thần của con người cảm thấy được che chở khi cần thiết! Cụ thể: khi mà đại đa phần thành quả của tăng trưởng kinh tế được dồn vào cho chính việc tăng trưởng kinh tế mà không chú trọng đúng mức đến việc xây dựng và phát triển các cơ cấu xã hội, giáo dục và văn hóa nhằm hỗ trợ và trang bị thêm cho con người những chỗ dựa và hành trang cần thiết trong việc phát triển của chính bản thân nó thì mỗi một con người đều trở thành kẻ đối địch của nhau trong cuộc kiếm tìm hạnh phúc vị kỷ. Và khi mà cuộc kiếm tìm ấy chỉ là một quá trình cạnh tranh giành giật lẫn nhau trong một bối cảnh mà thiết chế cơ bản là định luật “sống chết mặc bay/nhanh tay thì hái được nhiều” thì tăng trưởng kinh tế và hạnh phúc nhân sinh lại trở thành hai động thái vận hành thay vì tương hỗ lại sinh ra đối kháng mang tính triệt tiêu lẫn nhau.   Quả thế: làm thế nào để tăng trưởng kinh tế phát huy hết hiệu suất và tiềm năng của nó trong một bối cảnh xã hội mà đa số con người không còn tin là nó có thể tự tạo được hạnh phúc cho nó nhờ chính vào thực lực của nó?! Nói chính xác: khi điều mà con người cảm thụ không phải là hạnh phúc mà chính là sự bất hạnh và bất công đang đe dọa nó thì cái nhìn của nó khó có thể rộng lượng nghĩ về người khác và thêm nữa là nó còn mất đi tin tưởng vào tương lai. Vấn đề nảy sinh từ đấy: trong tình hình mà tương lai là đầy nghi ngại và hiện tại lại lắm xung đột quyền lợi ích kỷ thì làm sao có được sự đầu tư đúng đắn và lâu dài của cá nhân con người cho sự bền vững trong phát triển kinh tế cộng đồng? Vì thế, khi tăng trưởng kinh tế không mang đến được thật sự niềm “vui sống” và sự “an bình” cho xã hội mà chỉ là những toan tính vụ lợi hoàn toàn bè phái cục bộ và ngắn hạn thì tăng trưởng ấy khó mà biến thành phát triển bền vững6.   Tóm gọn: tăng trưởng không thể đơn thuần chỉ là một tiến trình tạo ra của cải vật chất mà còn nhất thiết phải mang đến một luân lý tinh thần bồi đắp các mối quan hệ giữa người với người trong công cuộc mưu cầu hạnh phúc của mỗi một cá nhân. Thiếu vắng chiều kích đó, tăng trưởng vật chất sẽ dẫn đến một khủng hoảng xã hội trầm kha gây rối loạn nghiêm trọng, cản trở việc khởi động một tiến trình phát triển thật sự!   Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rõ: đề cao “quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi một con người không có nghĩa là phân chia kiểu rải đều và cào bằng những thành quả mang lại bởi tiến trình tăng trưởng kinh tế mà chính là phải mở rộng những định chế xã hội và không gian công cộng mà cá nhân con người có thể dựa vào đấy để tránh việc bị đè bẹp bởi những quyền lực sản sinh từ sự liên kết giữa sức ép của thị trường với sức trì của các thành phần thuộc guồng máy công quyền nhưng lại bị tha hoá bởi hấp lực của vật chất!   Cuối cùng, một nhận định: “đạo lý kinh tế” rốt cuộc là một vấn đề không còn có thể né tránh, vì thế, điều cần thiết là vai trò của đạo lý ấy phải được phân định minh bạch bởi tất cả những ai vẫn luôn tôn vinh lý tưởng giải phóng con người để cho nó được càng ngày càng hạnh phúc. Hãy đừng để tầm nhìn bị giới hạn bởi cái tặc lưỡi: thì “có thực [rồi] mới vực được đạo”. Bởi vì rất lắm khi vì bỏ quên “đạo lý làm người” mà bất cứ cái gì cũng “thực” tất!   Tôn Thất Nguyễn Thiêm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo động lực và nghiêm túc thực hiện qui trình giám sát trong nghiên cứu khoa học      Mặc dầu được đầu tư ngày càng tăng từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ nước ngoài và có sự tham gia của một số nhà nghiên cứu trẻ, được đào tạo có hệ thống từ các trường Đại học có danh tiếng, nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nói chung và nghiên cứu khoa học kinh tế nói riêng, chưa có đóng góp tương xứng với yêu cầu của công cuộc phát triển và cải cách của đất nước, chưa tương xứng với chi phí bỏ ra và chậm có chuyển biến về chất lượng. Rất nhiều các viện nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam chưa có công bố ở các tạp chí quốc tế. Trên bản đồ khoa học thế giới, vị thế của khoa học Việt Nam thật nghèo nàn và ít có cải thiện.    I. ĐẶT VẤN ĐỀ  Điều đáng mừng là gần đây đã xuất hiện một số viện nghiên cứu năng động, gắn bó với thực tế, đã có những khảo sát, phát hiện có giá trị cho công cuộc cải cách và hội nhập như Viện chính sách và chiến lược do tiến sỹ Đặng Kim Sơn làm Viện trưởng. Một số nhà khoa học trẻ, được đào tạo có hệ thống, khi về nước đã góp phần phân tích, nghiên cứu, có công trình được công bố trên các tạp chí quốc tế. Song, tình hình chung, ở không ít viện, có xu thế phát triển xấu đi: các biểu hiện tiêu cực, thiếu trung thực, kết quả nghiên cứu chất lượng kém vẫn được thông qua v.v trở nên ngày càng phổ biến. Hiện tượng “cai đầu dài” khoa học đã không còn cá biệt và chẳng cần che dấu mà đã trở thành ngang nhiên và trắng trợn. Không ít người đội mũ lãnh đạo viện khoa học, viện nghiên cứu hòan tòan không tự nghiên cứu, không tự đọc sách, không tự viết một dòng nào nhưng vẫn đứng tên trên nhiều sách, nhiều công trình do cán bộ khoa học cấp dưới thực hiện. Thậm chí, hiện tượng dùng quyền lực hành chính bắt cán bộ chuẩn bị cho cá nhân mình hết bài phát biểu tại hội thảo này, hội nghị khác trong nước, ngoài nước, trình bày Power Point do người khác chuẩn bị mà người đứng tên không hề có đóng góp nào ngoài việc bắt ghi tên mình vào công trình.  Các cán bộ này đứng tên nhiều đề tài nghiên cứu cấp nhà nước đến mức, nếu cộng thời gian mà họ đăng ký cho tất cả các đề tài thì giờ làm việc của họ vượt quá 24 giờ/ngày và số ngày làm việc phải vượt 365 ngày/năm. Sự phi lý lộ liễu này vẫn đang trường diễn. Sự thiếu trung thực tối thiểu trong khoa học đã trở thành nếp thường ngày của cán bộ lãnh đạo không ít viện, nêu tấm gương xấu cho cán bộ trẻ đang tiếp tục trường diễn. Đối với cấp trên, các cán bộ đó không dám đưa ra thảo luận và có ý kiến khác dựa trên lập luận khoa học hay căn cứ thực tiễn mà thường chỉ tán dương.        Thời gian gần đây, một số viện nghiên cứu độc lập về tài chính, không trực thuộc bất kỳ cấp hành chính nào mới được thành lập là tín hiệu đáng mừng, song các viện đó mới bắt đầu đi vào họat động, chưa có kết quả nghiên cứu khoa học và chưa có điều kiện để đánh giá.        Thay cho uy tín khoa học, người ta thường tạo ra những quan hệ cá nhân như được “anh Tư, chị Bảy” đặc biệt tín nhiệm để lừa mỵ, tạo dựng một nhóm cơ hội để chia chác và tung hô. Kết quả là sinh hoạt học thuật thiếu cởi mở. Những cán bộ khoa học chân chính tìm cách ẩn náu hoặc xin đi nơi khác để tồn tại. Vì vậy mặc dù chi không ít tiền từ ngân sách, nhưng nhiều vấn đề cơ bản và cấp bách của sự phát triển đất nước chưa được đề cập và chưa đem lại lợi ích thiết thực trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước.  Sự phát triển của đất nước đang đòi hỏi sự đóng góp và nỗ lực to lớn, nghiêm túc của đội ngũ cán bộ khoa học.    II. NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH.  Một số nguyên nhân  Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân thuộc hệ thống lớn như không sử dụng các công trình nghiên cứu, các kết luận trái với ý mình, không muốn nghe ý kiến trái chiều, trọng dụng, đề bạt theo quan hệ “cánh hẩu”, thân quen thay cho tiêu chuẩn về đóng góp khoa học, năng lực và tư cách khoa học v.v.  Về hệ thống khoa học, nguyên nhân quan trọng nhất là chưa thực sự bảo đảm cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khoa học. Các viện khoa học đều trực thuộc hành chính với một bộ hay địa phương là cấp trên trực tiếp. Một số viện trực thuộc tập đoàn hay tổng công ty. Để giảm bớt đầu mối, nhiều viện được đưa về trực thuộc bộ, do bộ trưởng quyết định việc bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo của viện.  Từ rất nhiều năm nay, các viện nghiên cứu này không chịu bất kỳ sức ép cạnh tranh nào về chất lượng nghiên cứu khoa học, về số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu. Điều quan trọng nhất đối với viện trực thuộc là làm vừa lòng cấp trên, thực hiện đầy đủ các đơn đặt hàng, minh họa và thể hiện đầy đủ và đúng ý kiến chỉ đạo của cấp trên, ngoan ngoãn, dễ bảo, biết nghe lời, “biết điều” đối với cấp trên.  Trong điều kiện đó, có rất ít ý kiến cán bộ khoa học dám phát biểu ý kiến độc lập với ý kiến của lãnh đạo Bộ, ngành. Thực tế cho thấy, các ý kiến trái chiều đều bị hạn chế hoặc nghiêm cấm theo mệnh lệnh hành chính. Những người có ý kiến phát biểu độc lập đều được xếp vào loại “cán bộ có vấn đề”, tuy có thể chưa bị công khai xử lý nhưng bị vô hiệu hóa, bị tung dư luận là “có vấn đề về chính trị” và chịu nhiều thiệt thòi trong công tác.  Trong khi hệ thống động lực được thiết kế và hoạt động theo cơ chế hành chính thì cơ chế giám sát chất lượng nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu khoa học hoàn toàn bị thả nổi và không phát huy bất kỳ tác dụng nào.  Các cuộc kiểm toán về tài chính, thanh tra hành chính đều không thể phát hiện được những vấn đề tiêu cực trong tổ chức và nghiên cứu khoa học.  Cơ chế phản biện các công trình nghiên cứu không đủ hiệu lực, Bên cạnh một số phản biện trung thực, đa số các hội đồng nghiệm thu đều hoạt động theo kiểu “đưa trâu qua rào”, “dễ người dễ ta, khó người khó ta”. Chỉ cần xét giữa tỷ lệ các công trình được nghiệm thu là khá và xuất sắc với khả năng phát hiện vấn đề tồn tại của thực tế, phân tích bản chất của hiện tượng và đề xuất giải pháp có tính khả thi thì chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tính thỏa hiệp và hình thức của các Hội đồng nghiệm thu.  Chính sự buông lỏng này đã tạo ra miếng đất màu mỡ để chủ nghĩa cơ hội, trục lợi nảy nở và phát triển, nhân lên và làm trầm trọng hơn những khuyết tật của hệ thống lớn về công tác nhân sự cũng như của bản thân hệ thống khoa học. Chỉ có rất ít cán bộ lãnh đạo khoa học đã tự nghiêm túc với mình và với cộng sự như đã nêu trên. Có không ít người lúc mới đầu được bổ nhiệm còn dè dặt, thận trọng song đã nhanh chóng biến chất sau khi leo lên được vị trí nhất định và gây ra không ít kìm hãm và tác hại cho viện mà người ấy được bổ nhiệm lãnh đạo.  Những nguyên nhân khác liên quan đến tính hình thức của cơ chế nghiệm thu, của cơ chế đào tạo tiến sỹ và công nhận chức danh khoa học…, đã được phân tích, mổ xẻ ở những bài nghiên cứu khác, xin phép không tiếp tục đề cập đến ở đây.  Một số kiến nghị  1. Cần bảo đảm và đỏi hỏi tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mặt hành chính, về mặt tài chính, về khoa học đối với các viện nghiên cứu khoa học.  Các viện phải hoạt động theo cơ chế cạnh tranh, bình đẳng Đơn đặt hàng của nhà nước, doanh nghiệp cho các công trình nghiên cứu khảo sát cần được tiến hành theo cơ chế đấu thầu khoa học, công khai minh bạch. Ngoài khoản đầu tư ban đầu và một phần chi phí thường xuyên tối thiểu nhà nước có thể cấp theo kiến nghị của một hội đồng tư vấn độc lập. Toàn bộ chi phí về tiền lương, thu nhập của cán bộ nghiên cứu phải được tự trang trải qua hoạt động nghiên cứu theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật.  Tùy theo yêu cầu về nội dung hay thời hạn, nhà nước có thể chỉ định thầu, đặt hàng nghiên cứu khoa học trực tiếp đối với một số hạn chế các đề tài, song không nên lạm dụng, áp dụng quá tràn lan.  Các viện tự chịu trách nhiệm về mặt khoa học đối với các kết quả nghiên cứu, các kết luận, các kiến nghị. Những ý kiến của các cấp hành chính không dựa vào bất kỳ nghiên cứu khoa học nào, không nên có giá trị áp đặt, càng không nên có các hành động xử lý, cấm đoán đối với các ý kiến khác được biểu đạt một cách nghiêm túc, có trách nhiệm. Những ý kiến khác nhau về khoa học nên được trao đổi công khai qua tranh luận, trao đổi ý kiến bình đẳng để đi đến đồng thuận hay dung hòa, tránh mọi hình thức áp đặt, kết tội nhà khoa học một cách tùy tiện, thậm chí xử lý hành chính như vô hiệu hóa, phân biệt đối xử đối với cán bộ khoa học.   Cần hết sức khuyến khích không khí nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cởi mở, thẳng thắn, chấp nhận các ý kiến đa chiều để khuyến khích sáng tạo khoa học lành mạnh với mẫu số chung là lợi ích quốc gia, đại đoàn kết dân tộc.    Không nên phân biệt đối xử đối với các viện theo cấp hành chính như viện trung ương, viện của bộ, viện của tỉnh, thành phố, viện của tổng công ty hay viện nhà nước và viện dân lập và tư nhân. Việc đánh giá các viện nghiên cứu cần dựa trên số các công trình nghiên cứu được công bố, số lượng và trình độ cán bộ nghiên cứu v.v… và theo các tiêu chuẩn mà quốc tế hiện nay đang áp dụng.  Điều quan trọng là tạo nên hệ thống động lực mạnh mẽ, lành mạnh, công khai minh bạch để khuyến khích các viện nghiên cứu hoạt động trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh.  2. Bên cạnh động lực, cần áp dụng các biện pháp giám sát, kiểm tra, chế tài nghiêm ngặt đối với các viện nghiên cứu nói chung, nhất là đối với các viện được nhận tài trợ và đơn đặt hàng của nhà nước.  Các nước có hệ thống nghiên cứu khoa học có hiệu quả như Đức, các nước Bắc Âu đều áp dụng hệ thống đánh giá, giám sát độc lập theo một quy trình và tiêu chuẩn được quy định công khai, chi tiết. Ý tưởng cơ bản là kiểm tra chéo, sử dụng các nhà khoa học cùng chuyên môn, có trình độ tương đương từ các trường đại học để kiểm tra các viện nghiên cứu. Một đoàn kiểm tra như vậy được lập ra để kiểm tra từng viện, có các nhà khoa học phù hợp với từng viện, có thể hoạt động trong nhiều tuần tại một viện theo quyết định của bộ trưởng khoa học-công nghệ, gặp riêng từng cán bộ nghiên cứu, xem xét từng công trình nghiên cứu, phần đóng góp khoa học của từng người đứng tên trong từng cuốn sách, từng công trình nghiên cứu, tính mới, căn cứ khoa học-thực tiễn của các kết luận khoa học v.v. Bằng cách đó sẽ hạn chế, tiến tới loại trừ hiện tượng “cai đầu dài khoa học”, mạo danh khoa học, tiếm quyền sở hữu trí tuệ, ngụy tạo kết quả nghiên cứu. Đoàn giám sát công bố công khai kết luận, có thể kiến nghị đóng cửa viện nghiên cứu, cách chức viện trưởng, cắt giảm trợ cấp tài chính của nhà nước đối với viện, đơn đặt hàng của nhà nước, kiến nghị cải tiến cách điều hành, tổ chức nghiên cứu của viện nếu muốn được tiếp tục nhận tài trợ v.v… Các kết luận của đoàn là kết luận tối hậu, không cần sự thông qua của bất kỳ cấp hành chính nào. Kinh nghiệm ở các nước đều xác nhận các báo cáo như vậy rất có uy tín và được các cơ quan nhà nước rất coi trọng thực hiện.  Các đoàn kiểm tra, giám sát như vậy được tiến hành định kỳ ít nhất 4-5 năm một lần, gắn với chu kỳ bổ nhiệm viện trưởng.  Kinh nghiệm của các nước áp dụng mô hình trên là các biện pháp chế tài, răn đe rất cần thiết và đã góp phần duy trì chất lượng nghiên cứu khoa học của nước họ. Họ đã mạnh dạn thay thế các viện trưởng bị xác minh là chỉ đứng tên chứ không có cống hiến khoa học và đã giảm, thậm chí ngừng tài trợ cho một số viện bị phát hiện là kém hiệu quả về khoa học, chất lượng nghiên cứu không tương xứng với tiền tài trợ của nhà nước. Thực tế cho thấy các biện pháp răn đe trên đã góp phần quan trọng để tạo ra môi trường nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công khai, minh bạch, duy trì kỷ cương và tính nghiêm túc trong các viện nghiên cứu nói chung.  Nhiều đoàn nghiên cứu của Việt Nam đã được các nước bạn trao cho đầy đủ quy trình, phương pháp luận, kinh nghiệm kiểm tra về chất lượng nghiên cứu khoa học như trên nhưng rất tiếc cho đến nay chưa hề được vận dụng ở Việt Nam.  Cùng với các biện pháp cải cách khác, thiết nghĩ hai biện pháp trên sẽ góp phần cải cách mạnh mẽ tổ chức và quản lý khoa học của Việt Nam trong điều kiện khoa học Việt Nam cũng phải hội nhập, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế và phải đóng góp tích cực vào công cuộc cải cách và phát triển của đất nước. Tiền đề và điều kiện để thực hiện là phải có quyết tâm chính trị, thực sự tôn trọng pháp luật và các kết quả kiểm tra độc lập không có bất kỳ sự can thiệp hành chính áp đặt nào.  Lê Đăng Doanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạp chí khoa học ngụy tạo – mặt trái của Open-Access      Hôm 17/1 vừa qua, chuyên gia thư viện danh tiếng Jeffrey Beall (ĐH Colorado, Denver, Mỹ) đã chính thức xóa bỏ danh sách những tạp chí khoa học đáng ngờ mà ông dày công xây dựng từ năm 2010, đúng hai tuần sau lần cập nhật thường niên.  Beall từ chối bình luận, nhưng những nguồn tin thân cận cho biết ông đã phải chịu nhiều áp lực trong một thời gian dài từ phía trường đại học chủ quản, từ một số tạp chí/nhà xuất bản có tên trong danh sách của ông và cả từ những người ủng hộ mô hình tạp chí khoa học truy cập miễn phí, một mô hình tuy đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng còn không ít điểm tồn nghi.      Danh sách Beall bị chỉ trích khá nhiều với những lập luận rằng ông quá chú trọng việc đánh giá website của tạp chí/nhà xuất bản mà hầu như không liên lạc trực tiếp với họ. Một số tiêu chí đánh giá bị coi là không có căn cứ, hoặc khó kiểm chứng, hay không phù hợp với các tạp chí từ các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh đó, bản thân Beall bị cho là có định kiến với mô hình OA. Tuy nhiên, như chính Beall nhiều lần thừa nhận, danh sách này là một nỗ lực độc lập của cá nhân ông, và chủ yếu mang tính tham khảo. Trong ảnh: Jeffrey Beall – nguồn: The New York Times.  Bùng nổ ngoài dự đoán  Mô hình truy cập miễn phí (Open-Access, OA) đã xuất hiện từ thập niên 1990 và song hành với sự phát triển của mạng Internet tốc độ cao để trở thành một trào lưu mạnh mẽ, cạnh tranh với mô hình truyền thống nơi người đọc phải trả tiền (Toll-Access, TA).  Cho đến nay, những người ủng hộ OA vẫn lập luận rằng nó là sản phẩm của tiến bộ công nghệ và nỗ lực vì bình đẳng, nhưng trên thực tế, nó còn là hệ quả của nhiều vấn đề khác nhau trong một bối cảnh phức tạp hơn mà về sau thường được các chuyên gia thư viện gọi là “khủng hoảng dây chuyền” (serial crisis).  Đầu tiên, phải kể đến việc giá đặt mua các tạp chí khoa học đã tăng cao đến mức giới thư viện không đủ khả năng chi trả và phải giảm hoặc ngừng đặt mua. Quyết định này dẫn đến việc các nhà xuất bản đưa ra các lựa chọn đặt mua theo “gói” nhiều tạp chí một lúc cùng các chính sách giảm giá hấp dẫn khác để dần dần giải quyết khủng hoảng vào đầu thập niên 2000.  Cùng thời điểm đó, số lượng nghiên cứu tăng nhanh đến mức các tạp chí khoa học sẵn có không thể bình duyệt và xuất bản hết1. Công nghệ thông tin phát triển giúp cho các tổ chức (như viện nghiên cứu, trường đại học…) cỡ vừa và nhỏ cũng có thể xuất bản không mấy khó khăn và ở mức giá phải chăng. Có cầu thì ắt có cung, một loạt tạp chí khoa học mới ra đời trong khi nhiều tạp chí khác chuyển sang xuất bản trực tuyến để cắt giảm chi phí.  Tạp chí OA phát triển mạnh trong bối cảnh như vậy, nhưng cùng với đó là thay đổi về mục tiêu. Trong mô hình truyền thống, người đọc là khách hàng. Còn với rất nhiều tạp chí OA, tác giả bài báo mới là đối tượng phục vụ. Một thực tế mới xuất hiện – càng xuất bản nhiều bài thì tạp chí OA càng thu được nhiều tiền từ các tác giả (dưới dạng “phí xử lý bài báo”2), nhất là khi họ không hề bị giới hạn về khuôn khổ hay số trang như tạp chí in truyền thống.  Và dạng “tha hóa” của OA ra đời: predatory journal, tạm dịch là tạp chí ngụy tạo3, chuyên dụ dỗ các tác giả trả tiền để đăng bài nhưng không thực hiện quy trình phản biện độc lập, hoặc thực hiện vô cùng qua loa.  Nếu có điều gì nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia thư viện thì đó là mức độ nghiêm trọng: Năm 2014, khoảng 8.000 tạp chí ngụy tạo công bố 420.000 bài báo. Con số này mới chỉ là 53.000 bài và 1.800 tạp chí vào bốn năm trước đó. Để so sánh, toàn bộ hệ thống tạp chí “nghiêm túc” – với 28.100 tạp chí tiếng Anh và 6.450 tạp chí dùng ngôn ngữ khác – xuất bản được khoảng 2,5 triệu bài báo mỗi năm, theo báo cáo của Hiệp hội các nhà xuất bản về Khoa học, Công nghệ và Y tế năm 2015 (STMReport 2015).  Beall đưa ra một ví dụ đáng kinh ngạc hơn: “tạp chí” PLOS ONE thu 1.350 USD cho mỗi bài báo của các tác giả ở các quốc gia thu nhập trung bình và cao, năm 2006 mới xuất bản 138 “công trình” nhưng đến năm 20124 đã xuất bản tới 23.464 “công trình” và trở thành “tạp chí khoa học” lớn nhất thế giới.  “Thí nghiệm” vào hang bắt thỏ  Một ví dụ kinh điển về chất lượng tạp chí ngụy tạo là “thí nghiệm” của John Bohannon, được công bố trên tạp chí Science tháng10/2013. Trong 10 tháng liền (từ tháng 9/2012 đến tháng 7/2013), Bohannon đã gửi 304 phiên bản khác nhau của một nghiên cứu do ông ngụy tạo đến các tạp chí OA. Tất cả đều cùng một dạng: phân tử X có trong loài địa y Y ngăn cản tế bào ung thư Z phát triển. Bohannon ngụy trang bằng cách bịa ra một cơ sở dữ liệu, rồi dùng phần mềm máy tính để tạo ngẫu nhiên từ tên tác giả đến tên viện nghiên cứu và cả tên loài địa y thần kỳ nọ.  Bohannon đã cẩn thận đưa vào các bài báo nhiều chi tiết sai lộ liễu, trong mô tả thí nghiệm và bảng biểu; ông dùng phần mềm Google Translate để dịch các bài báo sang tiếng Pháp, rồi lại lấy kết quả đó dịch sang tiếng Anh để đảm bảo văn phong không giống người nói tiếng Anh.  Kết quả (tính đến thời điểm “thí nghiệm” được công bố): 157 tạp chí chấp nhận, 98 từ chối, 49 chưa kết luận (29 trong số đó không trả lời, 20 nói rằng vẫn đang phản biện). Chỉ có 36 tạp chí có nhận xét về nội dung học thuật của bài báo nhưng cuối cùng vẫn có 16 tạp chí trong số đó chấp nhận đăng.  “Thí nghiệm” Bohannon cũng chứng minh rằng danh sách tạp chí đáng ngờ của Beall là rất chính xác. 82% số các tạp chí có tên trong Danh sách Beall và có hoàn thành quy trình phản biện, đã chấp nhận bài báo. Trong lần cập nhật cuối cùng vào ngày 3/1/2017, danh sách này đã liệt kê 1.155 nhà xuất bản, 1.294 tạp chí độc lập, trong đó có gần 300 tạp chí dạng mega-journal như PLOS ONE.  Hai mặt của truy cập mở  Beall cho rằng về bản chất, OA là một phong trào chống nghiệp đoàn (anti-corporatism) và những người ủng hộ OA trên thực tế muốn biến mọi thứ thành “sở hữu tập thể” để tiêu diệt doanh nghiệp tư trong thị trường trị giá hàng chục tỷ USD này.  Trong suốt ba thế kỷ rưỡi kể từ khi tạp chí khoa học đầu tiên được phát hành5, các nhà xuất bản không ngừng vật lộn để làm hài lòng khách hàng của họ, những độc giả khó tính nhất trên thế giới, những nhà khoa học sẵn sàng ngừng đặt mua tạp chí ngay khi thấy chất lượng giảm sút. Họ, như cách nói của Beall, phải “sống chết vì lượng đặt mua, khuyến khích chất lượng và sự sáng tạo”.  Ngược lại, mô hình OA tạo cơ hội cho các tạp chí ngụy tạo bỏ qua hoàn toàn những chuẩn mực tối thiểu trong ngành.  Beall và các cộng sự của ông chỉ trích giới lãnh đạo các trường đại học Mỹ và một bộ phận các giáo sư “hàng đầu”, những người nhận mức lương “tăng chóng mặt trong hai thập kỷ qua”, là những người lớn tiếng nhất trong việc cổ vũ cho OA, dẫn đến tình trạng “tham nhũng quy mô lớn” và khiến vô số nhà khoa học trẻ, thiếu kinh nghiệm – chủ yếu từ các nước đang phát triển – trở thành mồi ngon cho các tạp chí ngụy tạo. Thêm vào đó, những kẻ cơ hội lại bắt tay với các tạp chí này để làm đẹp lý lịch khoa học nhằm mục tiêu thăng tiến.  Dù kịch liệt phản đối mô hình OA, giới chuyên môn mà Beall là một đại diện vẫn thừa nhận những lợi ích nhất định của mô hình này. Một trong những điều được nhắc đến nhiều nhất, thật mỉa mai, là OA hóa ra lại khiến những hành vi sai trái của tác giả dễ bị phát giác hơn. Những công trình “dỏm” như bài báo “mồi” của Bohannon có thể dễ dàng được truy cập từ bất kỳ đâu, và không cần phải có trình độ thật cao mới có thể phát hiện những sai sót trong đó.  Tương tự, OA có những kẽ hở cho đạo văn hay salami6 sinh sôi nhưng ở chừng mực nào đó, nó cũng giúp cộng đồng khoa học tiếp cận và phát hiện sai phạm thuận lợi hơn. Số lượng bài báo “rác” ngày càng tăng, nhưng những hệ thống cảnh báo và đánh giá độc lập cũng đang phát triển, đủ để giúp các nhà khoa học chân chính phân biệt vàng thau.  Những người lạc quan thì nói rằng, nhờ có tạp chí ngụy tạo mà tạp chí nghiêm túc lại càng “có giá”. Trong khi đó, dưới áp lực từ những chuyên gia như Beall, các hệ thống trích dẫn lớn như ISI hay Scopus sẽ rà soát thường xuyên hơn để phát hiện các tạp chí không còn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của họ.   “Kiểu phong trào nhằm thay thế thị trường tự do bằng thị trường giả tạo… như thế này hiếm khi thành công,” Beall viết trong một bài báo xuất bản năm 2013.  Ngay sau khi danh sách của ông bị gỡ bỏ, Lacey E. Earle, phó chủ tịch phụ trách phát triển kinh doanh của Cabell’s International – một công ty cung cấp giải pháp giúp các thư viện, nhà nghiên cứu và các đối tượng khác tìm kiếm tạp chí khoa học phù hợp với mình – đã chia sẻ trên mạng xã hội Twitter rằng Beall “bị buộc phải đóng blog vì lý do chính trị và bị đe dọa”. Bà cũng tuyên bố Cabell vẫn ủng hộ Beall trong khi nhiều nguồn tin khác nói họ đang hợp tác với Beall để xây dựng một danh sách tương tự như Beall’s List.      Hiện nay, các tác giả có công trình tốt và muốn công chúng tiếp cận dễ dàng hơn đã có thể tự bỏ tiền túi hoặc tìm một nguồn tài trợ để mua lại bản quyền bài báo từ nhà xuất bản kiểu truyền thống. Bằng cách này, nhà xuất bản sẽ vẫn duy trì tất cả các khâu kiểm soát chất lượng (vì họ sẽ vẫn thu được lợi nhuận) trong khi công trình khoa học vẫn mở để cộng đồng truy cập miễn phí (OA).        Trước đó, tháng 8/2016, Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) đã khởi kiện OMICS Group – một tập đoàn đóng tại Ấn Độ, có chi nhánh ở Nevada, sở hữu hơn 700 tạp chí mà họ quảng cáo là “hàng đầu và được phản biện độc lập” – về nhiều tội, trong đó có tội lừa đảo các nhà khoa học và không công khai ngay từ đầu các khoản phí xử lý bài báo vốn ở mức từ vài trăm cho đến hàng ngàn USD. Có lẽ không ai ngạc nhiên khi biết trước đó, vào năm 2013, chính OMICS đã đe dọa kiện Beall và đòi bồi thường tới 1 tỷ USD.  Việc kiện tụng sẽ còn lâu mới kết thúc, nhưng ít nhất nó cho thấy đã có những nỗ lực đáng kể nhằm bảo vệ một thị trường tự do và trong sạch. Trong khi chờ đợi, cộng đồng khoa học vẫn tiếp tục chia sẻ với nhau các phiên bản đã được lưu lại của Danh sách Beall.  Một số đặc điểm của tạp chí ngụy tạo:  – Chấp nhận bài rất nhanh, thường không có phản biện độc lập hay kiểm soát chất lượng, chấp nhận cả những bài có nội dung phi lý;  – Chỉ thông báo với tác giả về phí xử lý bài sau khi bài đã được chấp nhận;  – Tích cực mời chào gửi bài hoặc tham gia vào hội đồng biên tập;  – Đưa các nhà khoa học vào hội đồng biên tập khi chưa được phép, và không cho họ rời hội đồng biên tập;  – Đưa các nhà khoa học giả mạo vào hội đồng biên tập;  – Dùng tên hoặc thiết kế website gần giống với các tạp chí có uy tín;  – Thông tin sai lệch về hoạt động xuất bản, chẳng hạn như giả mạo thông tin về trụ sở;  – Hệ số ảnh hưởng (impact factor) giả, hoặc không có.    Nguồn tham khảo:  No more Beall’s List  https://www.insidehighered.com/news/2017/01/18/librarians-list-predatory-journals-reportedly-removed-due-threats-and-politics  Who’s Afraid of Peer Review? http://science.sciencemag.org/content/342/6154/60.full  Investigating journals: The dark side of publishing http://www.nature.com/news/investigating-journals-the-dark-side-of-publishing-1.12666  Controversial website that lists ‘predatory’ publishers shuts down http://www.nature.com/news/controversial-website-that-lists-predatory-publishers-shuts-down-1.21328  The FTC Is Cracking Down on Predatory Science Journals  https://www.wired.com/2016/09/ftc-cracking-predatory-science-journals/  Beall,Jeffrey (2013), The Open-Access Movement is Not Really about Open Access, tripleC 11(2): 589-597,  Beall,Jeffrey (2013), Predatory publishing is just one of the consequences of gold open access, Learned Publishing, 26: 79–84, doi:10.1087/20130203  International Association of Scientific, Technical and Medical Publishers (2015), The STM Report: An overview of scientific and scholarly journal publishing, The Netherlands  ———  1 Thông thường một bài báo khoa học cần tối thiểu sáu tháng để bình duyệt và xuất bản. Thời gian có thể kéo dài gấp đôi hoặc hơn nữa ở những tạp chí “khó tính”. Các tạp chí uy tín cũng thường chỉ xuất bản khoảng 10 bài trên mỗi số phát hành.  2 Article processing charge (APC), hoặc publication fee.  3 Nếu trực dịch thì phải là “tạp chí săn mồi” hoặc “tạp chí ăn cướp”. Giới chuyên môn đưa ra thuật ngữ này ám chỉ các tạp chí này chuyên “săn” các nhà khoa học thiếu kinh nghiệm và “ăn cướp” của các nhà xuất bản nghiêm túc.  4 Được coi là năm bùng nổ của tạp chí lừa đảo.  5 Năm 1665, hai chí khoa học đầu tiên công bố có hệ thống các kết quả nghiên cứu khoa học được xuất bản, một bằng tiếng Anh, một bằng tiếng Pháp.  6 Chỉ việc cắt nhỏ một công trình ra thành nhiều bài báo để đăng ở nhiều nơi, giống như cắt lát salami.             Author                Hoàng Minh        
__label__tiasang Tàu ngầm Kilo Hà Nội về tới Cam Ranh      Tối 31/12, tàu vận tải Rolldock Sea (quốc  tịch Hà Lan) chở tàu ngầm lớp kilo mang tên Hà Nội đã chính thức vào cửa  vịnh Cam Ranh neo đậu.    Trong sáng 1/1, các cán bộ Công ty TNHH MTV Hoa tiêu Khu vực III đã hoàn tất việc điều khiển con tàu vận tải hạng nặng Rolldock Sea, chở theo tàu ngầm kilo HQ 182 Hà Nội vào đến vị trí neo đậu an toàn trong vùng nước thuộc quân cảng Cam Ranh. Đúng 6 giờ 30 phút ngày 1/1, tàu Rolldock Sea đã vượt qua Cửa Hẹp để vào neo đậu trong vịnh Cam Ranh.  Từ nay đến ngày 3/1, việc bốc dỡ các thiết bị rời kèm theo của tàu ngầm Hà Nội trên tàu Rolldock Sea sẽ được tiến hành trước, sau đó là quá trình hạ chìm một phần tàu vận tải để tàu ngầm thoát ra ngoài.  Tàu Kilo Hà Nội thuộc loại tàu ngầm tấn công hiện đại (có khả năng tiêu diệt các loại tàu ngầm, tàu nổi cũng như các phương tiện thủy đối phương), chạy động cơ diesel – điện 5.900 mã lực thuộc loại êm nhất thế giới.  Thân tàu dài 73,8m, rộng 9,9m. Tốc độ tối đa 12 hải lý khi nổi và 19 hải lý khi lặn. Thủy thủ đoàn 52 người. Tàu có nhiều tính năng vượt trội so với các tàu ngầm hiện hữu của các nước trong khu vực như hiệu suất tác chiến cao, khả năng lặn sâu 300m, tầm hoạt động 7.500 hải lý, liên tục trong 45 ngày, hỏa lực mạnh (hệ thống tên lửa hành trình đối hạm Klub-S, sử dụng tên lửa 3M-54E1 với đầu đạn nổ 450kg, tầm bắn hiệu dụng 220km; hệ thống 8 tên lửa phòng không Strela-3, tầm bắn tối đa 6km và 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533mm), hệ thống thiết bị quản lý thông tin liên lạc tự động tối tân, có khả năng tìm diệt mục tiêu cực kỳ hiệu quả (xa gấp 3-4 lần khoảng cách có thể bị đối phương phát hiện) và đặc biệt là khả năng “tàng hình”.  Kilo Hà Nội là tàu ngầm đầu tiên được Việt Nam đặt Nga chế tạo tại Nhà máy Admiraltei Verfi từ tháng 12/2009, theo hợp đồng gói 6 chiếc (cùng lớp kilo), tổng trị giá xấp xỉ 2 tỷ USD. Dự kiến, khoảng 3 tháng nữa, tàu ngầm kilo thứ 2 mang tên HQ 183 TP.HCM sẽ về đến quân cảng Cam Ranh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thách thức của báo chí KH&CN dành cho đại chúng      Hầu hết những thách thức đặt ra trong mọi  lĩnh vực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đều rất  cần đến các giải pháp tối ưu có cơ sở KH&amp;CN vững chắc. Và một trong  những nhiệm vụ cơ bản của nền báo chí KH&amp;CN là phải tạo ra những  diễn đàn KH&amp;CN giàu chất lượng, nơi cung cấp cho các nhà quản lý và  công chúng những thông tin KH&amp;CN trung thực, khách quan, để giúp họ  kịp thời định hình và làm sáng tỏ những vấn đề trọng yếu mà xã hội cần  quan tâm.       Nhưng thực tế cho thấy nền truyền thông KH&CN Việt Nam từ nhiều năm nay chưa đáp ứng được đòi hỏi cấp bách này, trước hết là do tư duy cứng nhắc, sáo mòn, cho rằng truyền thông KH&CN chỉ bao hàm sự tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN, theo đó công chúng độc giả bị mặc định là đối tượng có trình độ nhận thức thấp hơn, chỉ được đóng vai trò thụ động là tiếp nhận thông tin, nhất là đối với những chủ trương, chính sách quan trọng, có sức ảnh hưởng xã hội sâu rộng, đơn cử như chương trình điện hạt nhân. Đồng thời, hầu hết báo chí KH&CN hiện nay ở Việt Nam thiếu chuyên nghiệp, không ít nội dung thông tin KH&CN dành cho đại chúng được khai thác một chiều, cảm tính, hời hợt, chiều theo tâm lý đám đông, thiếu sự tham vấn của các nhà khoa học, chuyên gia phản biện độc lập có uy tín, khiến nhiều thông tin thiếu cơ sở khoa học, không ít trường hợp thiếu trung thực, khách quan. Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nội dung truyền thông KH&CN thiếu tính thuyết phục, hấp dẫn, không thu hút được sự quan tâm của số đông công chúng.   Báo chí KH&CN cũng chưa tận dụng tốt những tiến bộ về công nghệ internet và kỹ thuật số để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của độc giả trong nền truyền thông hiện đại, đó là phải cho phép độc giả dễ dàng tương tác đa chiều, nhanh chóng tiếp cận bắc cầu từ nội dung này sang nội dung khác, và tức thời chia sẻ các nội dung họ quan tâm cũng như quan điểm cá nhân của họ với cộng đồng. Sự lạc hậu công nghệ so với xu thế thời đại không chỉ khiến báo chí KH&CN ngày càng mất đi độc giả, mà còn khiến họ bỏ lỡ cơ hội khai thác những thông tin thống kê giá trị, bởi nền tảng công nghệ mới cũng chính là công cụ lý tưởng để lưu trữ dữ liệu và nắm bắt kịp thời tâm lý, các mối quan tâm, quan điểm của các nhóm độc giả trong xã hội, giúp các nhà quản lý và giới khoa học nhanh chóng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người dân đối với chủ trương, chính sách, dự án phát triển của Nhà nước.  Việc khắc phục những nhược điểm cơ bản trên đây là nhiệm vụ vô cùng cấp bách, không chỉ giúp báo chí KH&CN khôi phục vị thế của mình, mà còn nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng dân chủ đang ngày càng gia tăng, tạo cơ hội đối thoại trung thực, khách quan giữa các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và cộng đồng, góp phần quan trọng tạo ra sự đồng thuận xã hội đối với mọi lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thảm họa động đất sóng thần năm 2011 tại Nhật bản      (Đôi điều về công việc của những chuyên gia phòng chống sạt trượt đất)  Kỉ niệm 1 năm ngày xảy ra thảm họa. Tri ân sự hi sinh của những cộng sự can đảm cùng gia quyến của họ. Cầu mong bình an sớm trở lại trên mảnh đất chịu nhiều thiên tai này.      Vào 14h46 ngày 11 tháng 3 năm 2011,một trong những trận động đất lớn nhất trong lịch sử nhân loại với chấn độ cấp 7, cấp cao nhất theo thang chấn độ Nhật Bản đã xảy ra tại miền đông bắc Nhật bản. Sau cơn chấn động khoảng 30 đến 50 phút các đợt sóng thần với chiều cao trung bình 9.3m tại vùng gần tâm chấn đã tàn phá vùng duyên hải(1) gây hư hại nghiêm trọng hai nhà máy phát điện hạt nhân nguyên tử tại tỉnh Fukushima. Theo số liệu của trung tâm dự báo thời tiết thì khi xảy ra động đất nhiệt độ ngoài trời khoảng 2 – 3oC, một số vùng vẫn còn tuyết phủ trắng xóa, tốc độ gió từ 3 đến 4 m theo hướng Tây Nam(1). Động đất, sóng thần, thời tiết giá lạnh khắc nghiệt và tiếp theo đó là ô nhiễm phóng xạ đã gây ra thiệt hại lớn về người (cả người chết và mất tích) ước tính khoảng 16,140 người thiệt mạng, 3,123 mất tích(1). Thiệt hại về vật chất từ 196.8 tới 307.5 tỷ USD(2).   Liên tục trong nhiều ngày kế tiếp TV truyền hình trực tiếp những hình ảnh khắc nghiệt thương tâm tại vùng thảm họa. Trong khi mọi con mắt đều hướng về vùng duyên hải Đông Bắc, với những hình ảnh thương tâm do thảm họa sóng thần gây ra thì ít ai biết tại vùng núi cách đó không xa cũng đã xảy ranhiều thảm họa sạt trượt đất vùi lấp nhà cửa ruộng vườn, phá hủy nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch. Trong khi hầu như tất cả các cảng biển, tuyết đường bộ, đương sắt duyên hải bị phá hủy hoàn toàn (hình 2) thì các tuyến đường giao thông từ vùng núi nối về duyên hải trở nên đặc biệt quan trọng. Ít ai biết đến những con người can đảm đã thay phiên nhau làm việc 24/24 giờ để nhanh chóng điều tra, đo đạc số liệu trên các trục giao thông miền núi, ra các quyết định, thông báo kịp thời nhằm vạch ra những tuyến đường an toàn cho các đoàn xe đưa nạn nhân ra khỏi khu vực nguy hiểm và cho những đoàn xe tiếp tế vào cứu trợ. Họ là những chuyên gia nền móng, địa kỹ thuật, sạt trượt đất đến từ Bộ giao thông du lịch và quản lý đất đai Nhật bản (MLIT), từ các ủy ban đặc biệt phòng chống thảm họa thiên nhiên của các hội nghề nghiệp, hội chuyên môn xây dựng. Họ là những người điểu khiển huyết mạch lưu thông của toàn bộ chiến dịch cứu trợ thảm họa.  Ngay khi thảm họa xảy ra, các quốc lộ ven biển số 45 và 6 bị cắt đứt thành nhiều đoạn, không thể thông hành. Việc tiếp ứng phụ thuộc vào quốc lộ số 4 và các tuyến đường nối đến vùng duyên hải (hình 1, 2). Theo báo cáo 3 ngày sau thảm họa 14/3/2011 của MLIT, nhiều tuyến đường tiếp ứng nối từ miền núi đến duyên hải cũng rơi vào tình trạng không thể thông hành do hậu quả của sạt đất (hình 4 và 6). Công tác cứu trợ vùng bị nạn và đưa người bị thương ra gặp nhiều khó khăn. Đường tắc, cầu cảng bị hư hại nặng và toàn bộ hệ thống sân bay bị phá hủy hoàn toàn (hình 2), xe thi công chở nguyên vật liệu vào khắc phục không được càng làm cho công việc khó khăn hơn.   Điều đáng bàn là tinh thần và trách nhiệm làm việc cao độ, bình tĩnh và chuyên nghiệp của các chuyên gia Nhật. Việc đầu tiên ngay sau khi xảy ra thảm họa là các chuyên gia trong các ủy hội, các ban ngànhlập tức liên hệ với trưởng ban và với nhau theo quy trình cấp bậc từ thấp đến cao để xác định sự an toàn của các thành viên. Sau khi các thông tin về sự an toàn của các thành viên và gia đình họ đã được cập nhật, các thành viên được phân công vào những vị trí thích hợp để triển khai công việc. Như đã định trước, trong lúc khẩn cấp các chuyên gia có toàn quyền quyết định cống hiến năng lực của mình cho một ủy hội chuyên môn, một hội nghề nghiệp, hội học thuật, ủy ban nhà nước… và chỉ cần báo lại cho cơ quan chủ quản của họ rằng họ đang tập trung làm gì, ở đâu, ví dụ như tại tổng hội xây dựng hay tại ủy ban tỉnh… Các ủy ban, ủy hội thường tự động được nhóm lại ngay sau khi xảy ra thảm họa.                                        Hình 1: Các tuyến đường ven biển bị cắt đứt gay khó khăn cho việc khắc phục hậu quả phóng xạ tại hai nhà máy điện nguyên tử Fukushima Daiichi và Daini (Thông cáo 3 ngày sau thảm họa, MLIT)                  Hình 2: phân bố các tuyến đường quốc lộ 4 miền núi và quốc lộ 6. Màu vàng là cảng chưa sử dụng được. (MLIT, thông cáo 1 tuần sau thảm họa)   Thường ngày các ủy ban này là tập hợp của những chuyên gia có cùng chuyên môn đến từ công ty, viện nghiên cứu, trường đại học thậm chí có người đã về hưu không làm ở đâu. Trong ngành sạt trượt đất tại Nhật bản có ủy hội sạt trượt đất, ủy ban sạt trượt đất thuộc tổng hội xây dựng, ủy hội xói mòn đất, ủy hội nghiên cứu đất đắp hội địa kỹ thuật. Các ủy ban này đã nhanh chóng thiết lập những đoàn khảo sát, thiết lập các bộ phận thu thập xử lý thông tin hay các ban phản ứng nhanh tham gia tư vấn cho chính phủ nhằm chọn ra các biện pháp khắc phục thông đường. Có không ít chuyên gia cùng lúc tham gia nhiều ủy ban, vừa trực tiếp cung cấp các bản vẽ tư liệu kỹ thuật quý giá có từ hàng chục năm trước, vừa tham gia phân tích số liệu hiện trường, chỉ đạo thi công thiết kế các tuyến đường. Có nhiều người trong số họ thậm chí còn chưa kịp về với gia đình gặp người thân kể từ khi xảy ra thảm họa.Tất cả đều đã có những quy trình chuẩn bị ứng phó sẵn và đều được tập dượt qua những lần thao diễn hay qua kinh nghiệm có được từ những lần chịu thảm họa xảy ra trước đó. Các hình ảnh thiệt hại về cầu và đường bộ theo thời gian, các thông báo hướng dẫn của MLIT về các tuyến giao thông tại vùng cứu trợ thảm họa liên tục được thay đổi hàng ngày hàng giờ, nhờ đó mà có thể đưa ra những chỉ đạo chính xác nhất giúp cho công việc cứu trợ đạt hiểu quả (hình 1, 2). Đồng thời các phân tích đánh giá về hiệu quả của các biện pháp ổn định mái đường giao thông, các biên pháp phục hồi các tuyến đường bộ, cầu, các tuyến đường sắt cũng được khẩn trương tiến hành. Qua hình 3 ta thấy các thông tin về tình trạng giao thông trên các tuyến đường liên tục thay đổi. Lượng thông xe giảm từ 80 đến 84% sau 3 ngày xảy ra động đất đã nhanh chóng phục hồi từ  được từ 40 đến 43 % sau một tuần và trở lại bình thường sau 3 tuần. Riêng một số tuyến đường huyết mạch phục vụcông tác cứu trợ phục hồi nằm song song với quốc lộ số 4 trên vùng núi thì sau 3 tuần lượng thông xe còn tăng vọt 34% so với trước khi xảy ra thảm họa. Sự thành công này có công góp phần không nhỏ của các chuyên gia sạt trượt đất đã giải quyết tình trạng giao thông khó khăn nhất trong nhưng giây phút đầu tiên ngay sau khi thảm họa xảy ra.              (a) Lượng thông xe tại đường cao tốc song song với trục quốc lộ 6 duyên hải                 (b) Lượng thông xe tại đường cao tốc song song với trục quốc lộ 4 miền núi               Hình 3. Lượng thông xe biến đổi so với thời điểm ngay trước khi động đất 2011/3/11. (Trích báo cáo của MLIT về tình trạng thông xe vào ngày 2011/04/06)            Hình 4. Quốc lộ số 4 bị phá hủy (ảnh do cục quản lý sông ngòi Fukushima cung cấp MLIT)          Một điều cần chú ý là trong công việc đề phòng thảm họa thiên nhiên và khắc phục hậu quả không thể lơ là công tác phòng tránh sạt trượt đất. Công việc này không những để đảm bảo an toàn lưu thông kịp thời trong công tác cứu trợ mà còn để bảo vệ các tuyến đường huyết mạch an toàn gần như tuyệt đối ngay cả khi chịu thảm họa phức hợp động đất và sóng thấn với mức độ cao.  Đồng thời với việc khắc phục hệ thống giao thông, các phân tích đánh giá về hiệu quả của các biện pháp ổn định mái đường giao thông, các biện pháp phục hồi các tuyến đường bộ, cầu cống, các tuyến đường sắt cũng được khẩn trương tiến hành.                          Hình 5. Quốc lộ 45 đoạn qua tỉnh Miyagi, Ishimaki, Narita bị phá hủy (ảnh do cục quản lý đường bộ tỉnh cung cấp, MLIT)                      Hình 6. Đường giao thông tỉnh lộ thuộc tỉnh Fukushima, Iwashi bị phá hủy (Ảnh do văn phòng tỉnh cung cấp, MLIT)  Sau một thời gian ngắn khi công tác cứu trợ và tình trạng an toàn tối thiểu tại vùng thảm họa cho phép, đến lượt các công ty xây dựng, các phòng nghiên cứu trường đại học, các đơn vị tư vấn… tổ chức các đoàn công tác điều tra tiếp cận hiện trường sớm nhất có thể. Họ điều tra tình trạng hư hại của các con đường, hiện trạng hư hại của các thể loại công trình ổn định mái đất. Thu thập số liệu để nghiên cứu phân tích hoàn thiện công nghệ đang áp dụng hay sáng chế ra các biện pháp mới thích ứng hơn với những cấp độ ngày càng khắc nghiệt của thảm họa thiên nhiên. Trong phạm vi bài viết tác giả chỉ xin trích dẫn một biện pháp phòng chống sạt trượt đất đã chứng tỏ được hiệu quả và sự an toàn sau trận động đất và sóng thần. Đó là phương pháp sử dụng cọc neo kết hợp rễ cây làm ổn định mái đất. Nó bao gồm một hệ thống cọc neo nối với nhau bằng dây thép. Cọc neo mô phỏng cấu tạo hệ rễ cây tự nhiên, gồm phần thân cọc và phần mũ. Các cọc neo này đóng vai trò như rễ cây nhân tạo, gắn chặt lớp đất không ổn định phía trên vào nền đá phía dưới. Phần mũ mô tả gốc cây tạo lực ép lên bề mặt các khối đất dễ trượt vào tầng đá gỗc ổn định và hệ dây thép nối các thân cọc neo với nhau để tạo sự ổn định toàn diện cho bề mặt mái dốc tránh sạt trượt cục bộ trên bề mặt mái (hình 8). Phương pháp này thi công nhanh, và cọc có thể sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau. Đặc biệt phương pháp này có đặc điểm là khi thi công có thể tránh được việc chặt bỏ hệ thảm phủ thực vật trên mái. Việc này cũng đồng nghĩa với khả năng tận dụng được sự gia cố làm ổn định mái đất của hệ rễ cây sẵn có trên mái (hình 7). Các hình ảnh tư liệu khảo sát trước và ngay sau khi động đất ở vùng đông bắc Nhật Bản nơi xảy ra thảm họa sạt trượt đất đã chứng tỏ hiệu quả của sự làm việc nghiêm túc luôn cải tiến, hoàn thiện phương pháp của các chuyên gia Nhật Bản. Theo số liệu thống kê của tác giả thì có hơn10,000m2 mái đất trong vùng chịu thảm họa gần tâm chấn được ứng dụng phương pháp này và không có nơi nào bị hư hại. Hình 9 cho thấy vị trí của một số mái đất gần tâm chấn được bảo vệ an toàn trong khi nhiều mái đất xa tâm chấn không được bảo vệ bị sụt lở nghiêm trọng.                         Hình 7. Cọc neo ổn định đất dốc.                                     Hình 8. Cấu tạo và cách sắp xếp cọc neo  Tại tỉnh Iwate, quận Ofunato nơi có tới 325 người chết, 127 người mất tích, khảo sát 5 ngày sau thảm họa đã cho thấy các vùng đất dốc được xử lý bằng phương pháp cọc neo hoàn toàn không bị ảnh hưởng trong khi nhiều nơi khác bị sạt trượt nghiêm trọng (hình 10).   Tỉnh Miyagi gần tâm chấn nhất và vì thế cũng bị phá hoại nặng nề nhất. Khảo sát tại thành phố Kurihama sát ven biển thuộc tỉnh này 5 ngày sau thảm họa cho thấy vị trí mái đất được bảo vệ bở cọc neo dù phải chịu tác động phá hoại kép của động đất, sóng thần và sau đó là những đợt động đất dư chấn rất mạnh (cấp 5, cấp 6) kéo dài hàng tuần lễ vẫn không bị hư hại.      Trong khi đó hình 9 cho ta thấy sự hư hại của mái đất được gia cố cứng hóa bằng bê tông, bằng vữa phủ xi măng tại nhiều vị trí.  Một trong các nguyên nhân chính là khi bị rung lắc mạnh, lực quán tính của lớp bê tông cứng hóa bề mặt mái đất đã phá vỡ sự liên kết liên tục giữa nó và lớp đất bề mặt mái. Các khe nứt giữa lớp cứng hóa và bề mặt đất càng lớn hơn dưới tác dụng của dòng nước sóng thần, và tiếp theo là của những loạt dư chấn rung lắc mạnh trong nhiều tuần kế tiếp. Nó làm mất tính nhất thể giữa lớp cứng hóa và mái đất dẫn đến sự phá hoại kết cấu bê tông, mất ổn định mái.   Điều này không xảy ra đối với phương pháp cọc neo. Khi hệ neo ngàm trong đất, nó chịu sự dung lắc và biến dạng mềm mại theo mái đất như một thể thống nhất, kết cấu này có thể chịu được sự rung lắc của động đất.                                 Hình 9. Một số hình ảnh của mái đất được làm ổn định bằng biện pháp bê tông hóa bề mặt dọc theo quốc lộ 45 (3)                   Hình 10. Phương pháp cọc neo chứng tỏ hiệu quả chống sạt trượt sau động đất  Song song với các hoạt động của những nhà khoa học là sự đánh giá tình hình chính xác, kịp thời cùng với các quyết định khen thưởng những cá nhân tập thể ngay trong thời gian xảy ra thảm họa của giới chức lãnh đạo quản lý vĩ mô cũng như những chuyên gia đầu ngành chịu trách nhiệm quản lý công tác nghiên cứu. Điều này thể hiện ngay qua việc khen thưởng kịp thời tập thể những nhà khoa học nghiên cứu biện pháp neo đất nói trên. Vào tháng 11 và tháng 12 năm 2011, khoảng 8 tháng sau khi xảy ra thảm họa, tập thể các nhà khoa học nghiên cứu phương pháp cọc neo đất đã liên tiếp nhận được 4 giải thưởng khoa học cao quý tại Nhật Bản. Đó là giải thưởng công trình nghiên cứu khoa học ưu tú của hội bảo vệ môi trường núi đầu nguồn, giải thưởng thiết kế đẹp trong năm, giải thưởng cho việc phát triển môi trường bền vững do Bộ trưởng Bộ môi trường trao tặng và giải thưởng Biện pháp an toàn, kinh tế do Bộ trưởng Bộ giao thông du lịch đất đai trao tặng. Những giải thưởng này ngoài ý nghĩa động viên còn mang ý nghĩa phổ biến thông tin rộng rãi về các kết quả nghiên cứu phương pháp cọc neo trong việc bảo vệ mái đất.    Điểm cuối cùng cần bàn là tính khả thi của việc ứng dụng các bài học kinh nghiệm trên tại Nhật Bản vào Việt Nam. Về địa lý địa hình, Việt nam có vùng duyên hải phía đông kéo dài song song với các dãy núi rất giống Nhật Bản. Tuy không có nhiều động đất lớn nhưng trong thời kỳ biến đổi khí hậu, hàng năm Việt nam phải chịu nhiều trận mưa lớn và đó chính là nguyên nhân phát sinh nhưng vụ sạt lở đất liên tục xảy ra gần đây. Một trong những ví dụ là thảm họa sạt trượt đất thương tâm mới xảy ra vào sáng 16/2, tại Km 138+500 Quốc lộ 6 hướng Hà Nội – Sơn La, thuộc địa phận xóm Phương Sa, xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, Hòa Bình đã cướp đi sinh mạng của đôi vợ chồng trong đó có người mẹ trẻ 23 tuổi đang mang thai được hai tháng(4). Vụ sạt trượt cũng làm gián đoạn giao thông hoàn toàn trong 1 tuần lễ và gây ra ách tắc giao thông trong nhiều ngày sau đó(5). Rõ ràng chúng ta cần phải có chính sách ứng phó, chiến lược nghiên cứu, điều tra đo đạc để có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, nhằm sẵn sàng ứng phó không chỉ với một hai vụ sạt trượt đất đơn lẻ mà còn đáp ứng được với tình huống có nhiều vụ sạt trượt đồng thời xảy ra trên diện rộng do bão lũ, do động đất và các yếu tố khác gây ra.Từ kinh nghiệm phòng chống thiên tai đồng bộ chuyên nghiệp của các bạn Nhật Bản, dễ dàng nhận thấy trước hết ta cần thiết lập các ủy ban đặc biệt với những chuyên gia xử lý nền móng, địa kỹ thuật và sạt trượt đất kết hợp với những chuyên gia cứu trợ trực tiếp ứng cứu trong vùng thảm họa nhằm đối ứng kịp thời khi có thiên tai kép động đất, sóng thần bão lũ xảy ra. Đặc biệt qua sự kiện thảm họa động đất ngày 11 tháng 3 tại Nhật Bản ta thấy việc kiểm soát thông tin, điều tra liên tục về sạt trượt đất trong ngành giao thông đã trở thành một trong những yếu tố quyết định của công tác phòng chống cứu trợ.  Với bờ biển dài có nhiều đồi núi chạy dọc theo, địa thế vùng duyên hải nước ta rất giống với Nhật Bản. Việc phòng chống sạt trượt đất, giữ các tuyến giao thông tiếp ứng vùng duyên hải được thông suốt khi xảy ra thiên tai là hết sức cần thiết, không những chỉ cần thiết cho sự an toàn của người dân mà còn đảm bảo an ninh quốc phòng.   ————-  * Hội hỗ trợ học thuật Nhật bản (JVAST)  + Ủy hội sạt trượt đất, tổng hội xây dựng Nhật bản  Tư liệu tham khảo  (1) Số liệu của tổng cục khí tượng thủy văn Nhật bản. http://www.seisvol.kishou.go.jp  (2) Thông cáo nội các chính phủ ngày 23 tháng 3 năm 2011. http://www5.cao.go.jp/keizai3/getsurei-s/1103.pdf  (3) Báo cáo điều tra về hư hại cơ sở hạ tầng sau thảm họa động đất sóng thần ngày 2011/3/11  Viện cơ sở hạ tầng (NILIM), No. 646 và Viện nghiên cứu xây dựng (PWRI), No.4202   (4)Theo tin tực VOV, http://vov.vn/Home/Nguoi-me-tre-mang-bau-2-thang-chet-tham-vi-dat-da-vui-lap/20122/200242.vov  (5) Theo Hà nội mới http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Xa-hoi/539851/%C4%91uong-tam-quoc-lo-6-ach-tac-nhieu-gio-moi-ngay.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham nhũng, ai chống và chống như thế nào? (Bài 1)      Bản chất tham nhũng hệt như cỏ dại, “trống  làng ai đánh thì thùng / của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng”, có thể  nảy nở bất cứ lúc nào trên mảnh đất gì, miễn nơi đó vừa có tài sản  chung, lẫn tài sản riêng – trong toán học gọi là điều kiện “cần” tức là  khả năng.     Tham nhũng từ đâu?  Năm 2010, Việt Nam được đánh giá 2,7/10 điểm theo mức thang đo lường tham nhũng của tổ chức Minh bạch quốc tế (TI), xếp hạng thứ 116 trong tổng số 178 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sang năm 2012, chỉ số trên lên 2,9, xếp thứ 112/182 nước được thăm dò ý kiến. Lùi lại các năm trước đó, Việt Nam còn rớt xuống tận 2,6, nghĩa là xưa nay luôn dưới điểm 3, thang bậc những quốc gia tham nhũng nghiêm trọng nhất.    Nếu biết tiền tham nhũng bắt nguồn từ mồ hôi nước mắt, sức lao động của mỗi người dân chắt chiu đóng góp cho quốc gia, từ tài sản, tài nguyên đất nước, giá trị văn hoá tinh thần dân tộc, vai trò quốc gia trên trường quốc tế đem lại, chạy vào túi quan tham lợi dụng chức quyền lòng tin nhân dân, bấp chấp mọi hậu họa cho từng người dân và cả đất nước, thì tham nhũng không chỉ phạm tội hình sự, mà còn thuộc phạm trù đạo đức: bất lương nhằm vinh thân, phì gia; biến nhà nước thành công cụ làm giàu, làm méo mó mọi chủ trương chính sách nhà nước dù thần kỳ tới mấy; phạm trù dân tộc: chiếm đoạt nền tảng phát triển vì nòi giống, tương lai con em.           Một khi, đối với nhà tư bản “lợi nhuận tới  300%, thắt cổ, họ cũng sẵn sàng (Karl Marx)”, trong khi tham nhũng không  hề “mất vốn tốn lãi”, nghĩa là tỷ suất lợi nhuận vô cùng lớn, do vậy  các quan tham càng sẵn sàng thắt cổ; mọi giá trị tư tưởng, đạo lý, chính  trị đưa ra đối với họ chẳng nghĩa lý gì so với ham muốn tài sản tham  nhũng dễ dàng có được.        Không mặt mũi con dân nước nào muốn nhìn quốc gia mình đứng hạng chót bảng tham nhũng quốc tế, bị thế giới ấn tượng bởi hình ảnh “bầy sâu” như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hình tượng hoá; bất cứ ai trăn trở vì tiền đồ vận mệnh đất nước họ, không riêng Việt Nam, đều không thể bịt tai nhắm mắt cam chịu, mặc cho bầy sâu lũng đoạn làm “chết cái đất nước này”.   Nhưng ở ta ai chống và chống như thế nào? Khi tham nhũng không phải một vài quan chức thoái hoá biến thái thành sâu, dễ dàng diệt trừ, mà “đụng đâu cũng có”, “nhìn đâu cũng thấy”, đã trở thành quốc nạn “nghiêm trọng”. “Ban đầu là một bộ phận, sau đó là một bộ phận không nhỏ, và giờ thì… cả một tập đoàn”.  Bản chất tham nhũng hệt như cỏ dại, “trống làng ai đánh thì thùng / của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng”, có thể nảy nở bất cứ lúc nào trên mảnh đất gì, miễn nơi đó vừa có tài sản chung, lẫn tài sản riêng – trong toán học gọi là điều kiện “cần” tức là khả năng. Lý giải tại sao nền kinh tế quản lý tập trung trước đây không hề có vấn nạn tham nhũng, ngọai trừ hiện tượng cá biệt, và cũng chỉ giới hạn ở tài sản tiêu dùng, bởi thể chế không thừa nhận của riêng, phủ nhận sở hữu tư nhân doanh nghiệp, nhà máy, chứng khoán, đất đai…; có “cho” tham nhũng cũng không thể sở hữu nổi, nghĩa là triệt tiêu khả năng, điều kiện cần, gồm cả động cơ lẫn mảnh đất cho nó tồn tại. Ngược lại, bản chất nền kinh tế thị trường là tư hữu, theo đuổi mục đích lợi nhuận, vừa tạo mảnh đất mầu mỡ vừa kích thích động cơ tham nhũng. Một khi, đối với nhà tư bản “lợi nhuận tới 300%, thắt cổ, họ cũng sẵn sàng (Karl Marx)”, trong khi tham nhũng không hề “mất vốn tốn lãi”, nghĩa là tỷ suất lợi nhuận vô cùng lớn, thì các quan tham càng sẵn sàng thắt cổ; mọi giá trị tư tưởng, đạo lý, chính trị đưa ra đối với họ chẳng nghĩa lý gì so với ham muốn tài sản tham nhũng dễ dàng có được, dù họ là ai, kể cả tổng thống, lãnh tụ, chính khách, nếu không kèm chế tài hữu hiệu. Minh chứng điều đó có thể dẫn kỷ lục quan tham thế giới hai thập kỷ trước, Mobutu Sese Seko cựu Tổng thống Congo biển thủ tới 5-8 tỷ đô la, tương đương thu ngân sách Việt Nam trong những thập kỷ trước, láng giềng Việt Nam như Suharto cựu Tổng thống Indonesia tham nhũng tới một nửa tổng sản phẩm quốc nội GDP nước họ, Ferdinand Marcos cựu Tổng thống Philippines biển thủ tới 100 tỷ đô la ngang ngửa GDP Việt Nam một năm.           Thiết chế nhà nước, vì vậy, đóng vai trò  điều kiện đủ đẻ ra vấn nạn tham nhũng; sở hữu tài sản tư nhân chỉ mới  điều kiện cần tạo ra khả năng, chưa trực tiếp gây nên vấn nạn tham  nhũng.         Nhưng cùng nền tảng kinh tế thị trường, mức độ tham nhũng ở các quốc gia khác nhau hoàn toàn khác nhau, có nước trong sạch đứng đầu thế giới như Iceland, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển; có nước đứng cuối bảng như Bangladesh, Haiti, Myanmar. Cả nước đầu lẫn cuối bảng đều có tham nhũng, điều đó chứng tỏ, không phải bản chất dân tộc, hay quan chức các nước cuối bảng sinh ra đã sẵn gen tham nhũng, còn các nước đầu bảng thì không. Nhưng những nước đứng đầu bảng trong sạch, tham nhũng chỉ là hiện tượng thiểu số cá biệt, còn đại đa số trong sạch, còn các nước cuối bảng thì ngược lại. Đã là hiện tượng cá biệt thiểu số thì nguyên nhân do cá biệt thiểu số đó quyết định, đã là đa số, phổ biến, tức số đông thì do quy luật chi phối số đông đó quyết định, lẽ dĩ nhiên trong đó có cả lý do cá biệt cộng hưởng. Nói cách khác tham nhũng ở tầm mức hiện tượng do cá nhân quan chức hư hỏng biến chất mà ra, như ở các nước đầu bảng trong sạch, khác bản chất ở tầm mức vấn nạn gắn liền với thiết chế nhà nước đã không loại trừ được yếu tố tham nhũng, đẩy con người vào hành vi đó, như trường hợp các nước cuối bảng. Thiết chế nhà nước, vì vậy, đóng vai trò điều kiện đủ đẻ ra vấn nạn tham nhũng; sở hữu tài sản tư nhân chỉ mới điều kiện cần tạo ra khả năng, chưa trực tiếp gây nên vấn nạn tham nhũng.   Theo TI, điều kiện đủ về thiết chế nhà nước có tạo nên vấn nạn tham nhũng hay không, và tạo ở cấp độ nào, tùy thuộc công thức đo lường, bằng (=) mức độ độc quyền (Monopoly) cộng (+) mức độ bưng bít thông tin, thiếu minh bạch (Discretion) trừ (-) mức độ thiếu trách nhiệm giải trình (Accountability), cho kết qủa tự động quyết định thang bậc tham nhũng ở quốc gia đó trầm trọng, trung bình hay thấp. Ngược lại, từ thang bậc tham nhũng xếp hạng quốc gia, có thể suy ra độ lớn các đại lượng trong công thức đo lường liên quan tới thiết chế nhà nước nói trên.   Xem tiếp: Cải cách thiết chế như thế nào?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham nhũng, ai chống và chống như thế nào? (Bài 2)      Mô hình thiết chế nhà nước miễn dịch tham nhũng không có sẵn, và tham nhũng luôn sẵn điều kiện cần, tức khả năng sinh sôi nảy nở, nên nếu có cũng không thể bất biến. Vậy thiết chế các nước có chỉ số trong sạch cao nhất được hình thành như thế nào và vận hành ra sao?      Cải cách thiết chế như thế nào ?  Một khi thủ phạm là thiết chế nhà nước, dù đó là nhà nước gì, ý thức hệ ra sao, thì không một lực lượng nào, biện pháp gì có thể diệt trừ được nạn tham nhũng, ngoại trừ cải cách chính thiết chế đó. Kiểm điểm phê và tự phê cũng có thể coi là một bộ phận của cải cách, nhằm giải quyết về mặt tư tưởng, dựa trên kinh điển chủ nghĩa Marx: “Tư tưởng một khi thấm sâu vào quần chúng cũng có tác dụng như một lực lượng vật chất”, chứ không thể xoay chuyển được toàn bộ thiết chế, bởi “chỉ lực lượng vật chất mới đánh bại được lực lượng vật chất” (Karl Marx). Tư tưởng chỉ được coi “như” lực lượng vật chất, nghĩa là đóng vai trò mở đường, hoặc trong những tình huống nhất định, chứ không thể thay thế được hoàn toàn lực lượng vật chất. Thành lập các cơ quan phòng chống tham nhũng cũng vậy, nó chỉ là một bộ phận nằm trong thiết chế, không phải toàn bộ thiết chế, nên chỉ mỗi nó không chống được tham nhũng.  Mô hình thiết chế nhà nước miễn dịch tham nhũng không có sẵn, và tham nhũng luôn sẵn điều kiện cần, tức khả năng sinh sôi nảy nở, nên nếu có cũng không thể bất biến. Vậy thiết chế các nước có chỉ số trong sạch cao nhất được hình thành như thế nào và vận hành ra sao?            Thiết chế nhà nước họ vận hành bảo đảm nguyên lý, luật  pháp dứt khoát  phải xuất phát từ thực tế và trở lại giải quyết thực  tế, một khi thực tế  đó đặt ra đòi hỏi, chứ không phải từ một bộ óc thần  thánh cao siêu nào.  Nhờ đó thiết chế luôn được cải cách tự động. Ở họ  không có khái niệm  “nhạy cảm“ để né tránh mà chỉ có khái niệm điểm nóng  phải giải quyết.  Khi đã phát hiện tham nhũng do thiếu minh bạch thì  phải minh bạch hoá  bằng chế tài, không được phép chần chừ, nếu không  nhà nước đó bị coi bất  lực, người dân không thể tín nhiệm.        Chính trường Đức từ tháng qua bùng lên tranh cãi về luật làm thêm của nghị sỹ. Như bất cứ công dân nào, nghị sỹ Đức có quyền làm thêm không hạn chế, để tăng thu nhập, miễn không ảnh hưởng tới công việc chính Nghị sỹ (Luật Đức không có nghị sỹ bán chuyên nghiệp). Tuy nhiên, câu hỏi liệu điều đó có tác động tới vai trò độc lập của nghị sỹ hay không, nghĩa là nghị sỹ có dựa vào vai trò chức năng của mình để mưu lợi hay không, một dạng tham nhũng, luôn gây tranh cãi chính trường Đức. Bởi theo điều §38 Hiến pháp Đức, nghị sỹ thay mặt toàn dân, không bị ràng buộc bởi bất kỳ ủy quyền, hợp đồng hay chỉ thị nào, chỉ dựa trên nhận thức của mình. Nguyên tắc không bị ràng buộc trên, cũng được tòa án Hiến pháp Đức, ngày 4/6/2007 ra án quyết giải thích nhằm bảo đảm nghị sỹ độc lập với mọi nhóm lợi ích, nhất là khi họ định thông qua trả thu nhập thêm để chi phối (một dạng hối lộ chính sách). Vấn đề tưởng chỉ dừng trên lý thuyết, tranh cãi, không ảnh hưởng gì đến “hòa bình thế giới”, nhưng năm 2005, hàng loạt vụ bê bối thu nhập thêm của nghị sỹ với số tiền khủng do các hãng nổi tiếng Siemens, RWE, VW chi trả trong hai năm 2004-2005, được công luận phát hiện, buộc Quốc hội Đức ngay năm đó phải bổ sung luật nghị sỹ và ban hành nghị quyết quy định minh bạch hoá thu nhập thêm. Kết qủa đó do thiết chế nhà nước họ vận hành bảo đảm nguyên lý, luật pháp dứt khoát phải xuất phát từ thực tế và trở lại giải quyết thực tế, một khi thực tế đó đặt ra đòi hỏi, chứ không phải từ một bộ óc thần thánh cao siêu nào. Nhờ đó thiết chế luôn được cải cách tự động. Ở họ không có khái niệm “nhạy cảm“ để né tránh mà chỉ có khái niệm điểm nóng phải giải quyết. Khi đã phát hiện tham nhũng do thiếu minh bạch thì phải minh bạch hoá bằng chế tài, không được phép chần chừ, nếu không nhà nước đó bị coi bất lực, người dân không thể tín nhiệm.  Luật nghị sỹ Đức cho phép bên cạnh công việc chính, nghị sỹ được tiếp tục hành nghề của mình (làm thêm), nhưng phải trình báo với Đoàn Chủ tịch Quốc hội. Với mức thu nhập từ 1.000 Euro/năm trở lên phải kê khai vào sổ công báo và công khai trên trang web Quốc hội về thu nhập của mình nằm trong hạng bậc thu nhập nào trong ba hạng bậc quy định: bậc 1: từ 1.000-3.500 Euro, bậc 2: từ 3.50 -7.000 Euro, bậc 3: trên 7.000 Euro (sở dĩ không công bố con số chính xác, bởi phải bảo đảm nguyên tắc bí mật thu  nhập cá nhân). Nếu nghị sỹ vi phạm quy định trên, có thể bị Đoàn Chủ tịch Quốc hội phạt tiền vi phạm hành chính.   Luật trên vẫn không ngớt tranh cãi. Một cuộc điều tra của LobbyControl năm 2009 cho thấy nhiều lỗ hổng trong minh bạch thu nhập thêm, nhiều nghị sỹ không khai các thu nhập khi tham gia hội đồng của các tổ chức, nhóm lợi ích. Nhiều vi phạm không được Đoàn Chủ tịch Quốc hội xử lý. Vì vậy, tới tháng 4.2011, Ủy ban Luật pháp Quốc hội Đức lại phải đệ trình Quốc  hội quy định mới, chi tiết hoá kê khai đối với những nghị sỹ thu nhập thêm trên 10.000 Euro/năm, nhưng lại tạo lỗ hổng thiếu minh bạch, khi kèm theo đó, cho phép những nghị sỹ thu nhập dưới 10.000 Euro/năm được miễn công bố. Dự thảo trên lập tức gặp phải phản ứng quyết liệt của các tổ chức minh bạch LobbyControl, Transparency International, Campact và Mehr Demokratie, buộc phải hủy bỏ. Ở đây vai trò tổ chức quần chúng cực kỳ quan trọng, bởi chính họ là những nhóm nhân dân, luật pháp vì lợi ích mọi người dân, họ được quyền và có trách nhiệm lên tiếng muốn hay không.   Tới đầu tháng 10/2012, khi cựu Bộ trưởng Tài chính, nghị sỹ Peer Steinbrück, người được mệnh danh ông vua thu nhập thêm, được đảng SPD tín nhiệm tranh cử Thủ tướng kỳ bầu cử 2013, thì chủ đề minh bạch hoá thu nhập thêm của nghị sỹ, một lần nữa bị kích hoạt, sôi sục chính trường, trong đó, Steinbrück trở thành tâm điểm mổ xẻ, bởi ông có thể trở thành thủ tướng tương lai, rủi ro bậc nhất cho quốc gia nếu ông không minh bạch. Con số thống kê tại thời điểm tháng 10.2012, cho thấy, trong tổng số 620 nghị sỹ Đức có 193 người làm thêm, trong đó có 126 người nhận thù lao bậc 3, tức trên 7.000 Euro/năm. Riêng Steinbrück nhận hợp đồng diễn thuyết cho ngân hàng, hãng bảo hiểm, doanh nghiệp, dư luận ước tính được trả thù lao vô địch tới 700.000 Euro trong 3 năm qua, với đơn giá có thể tới 20.000 Euro / 1 lần, so với nghị sỹ thông thường chỉ 1.500 Euro, với các tài tử MC từ 5000 -10.000 Euro, dù so với quốc tế cũng chẳng thấm vào đâu khi Bill Clinton thu 230.000 Euro, hay Tony Blair 216.000 Euro cho 1 lần diễn thuyết (tuy nhiên họ đã hết nhiệm kỳ).   Đảng Liên minh cầm quyền CDU/CSU yêu cầu ứng viên thủ tướng Steinbrück cần hành xử phù hợp với vai trò mới đặc biệt của mình, nên tự nguyện công khai minh bạch khoản thu nhập thêm vô địch. Điều đó lại liên quan tới luật nghị sỹ phải cải cách. Kết qủa chỉ từ một trường hợp Steinbrück, các khoản thu nhập thêm của nghị sỹ được đưa ra tranh cãi tại 2 phiên họp Ủy ban Pháp luật Quốc hội trong tháng 10, tới nay vẫn chưa ngã ngũ. Nhóm nghị sỹ Liên minh cầm quyền đề xuất giữ nguyên 2 cấp độ minh bạch trước đây 1.000-3500 Euro, 3.500-7000 Euro; còn cấp độ trên 7.000 Euro trước đây được chia tiếp thành 8 cấp độ mới, gồm 7.000-15.000 Euro, 15.000-30.000 Euro, 30.000-50.000 Euro, 50.000-75.000 Euro, 75.000-100.000 Euro, 100.000-150.000 Euro, 150.000-250.000 Euro và trên 250.000 Euro. Nhóm này cho rằng họ đã đột phá trong vấn đề minh bạch hoá thu nhập thêm. Nhưng nhóm nghị sỹ đảng SPD, Grüne và Linke vẫn bác bỏ, cho rằng Liên minh cầm quyền dưới sức ép của họ đã có chuyển biến, nhưng chưa sẵn sàng minh bạch hoá thực chất. SPD trước đây cầm quyền từng bị CDU/CSU hồi đó với vai trò đối lập, chỉ trích ngăn cản cải cách minh bạch hoá, nay để chứng minh điều ngược lại, liền đề xuất đã minh bạch hoá thì minh bạch hoá tới cùng, nghị sỹ phải công bố thu nhập thêm tới từng Cent. Nhóm nghị sỹ Liên minh cầm quyền chống đỡ bằng lập luận, làm vậy không còn nghĩa minh bạch nữa. Vấn đề đặt ra nhằm phát hiện sự phụ thuộc có thể có giữa vai trò độc lập của nghị sỹ với thu nhập thêm, tức tham  nhũng, chứ không phải ngược lại hạn chế quyền tự do, riêng tư của nghị sỹ.   Tới ngày cuối cùng tháng 10, đảng SPD tiến thêm 1 bước nữa qua hành động, bằng cách thoả mãn ngay đòi hỏi của CDU/CSU, Steinbrück ủy quyền cho chuyên gia kiểm toán, kiểm tra và công bố thu nhập thêm của ông. Kết qủa cho thấy, trong vòng ba năm qua, Steinbrück diễn thuyết tổng cộng 326 buổi cho rất nhiều tổ chức cơ quan, bình quân 3 ngày có 1 ngày. Chỉ 89 buổi trong đó, ông nhận thù lao, thấp nhất 1000 Euro và nhiều nhất 25.000 Euro, bình quân 14.000 Euro. Các buổi còn lại dành cho các hiệp hội, qũy từ thiện, trường học, ông không nhận hoặc yêu cầu chuyển thù lao trực tiếp cho các cơ sở xã hội bất vụ lợi. Tổng thu nhập thêm 3 năm qua của ông lên tới 1,25 triệu Euro, và đóng thuế thu nhập tới 48,5%. Sau khi Steinbrück công khai thu nhập, Chủ tịch SPD tuyên bố với các đảng Liên minh cầm quyền: “Steinbrück đã hoàn toàn tự nguyện công khai thu nhập thêm tới từng Cent. Minh bạch như vậy phải được đưa vào luật nghị sỹ. Vấn đề đặt ra không phải thu nhập lớn bao nhiêu mà làm thêm có đúng luật hay không, thì phải minh bạch“. Tuy nhiên, minh bạch là một phần của thiết chế chống tham nhũng, không phải minh bạch để mà minh bạch. Oái oăm cho Steinbrück, sau khi công khai bị phát hiện món tiền kỷ lục 25.000 Euro thù lao cho Steinbrück diễn thuyết 1 buổi trong tháng 11.2011, được chi trả bởi công ty điện lực nhà nước do thành phố Bochum quản lý thuộc tiểu bang trước đây Steinbrück làm thủ hiến, trong lúc tài chính thành phố này đang khốn đốn; lập tức báo giới đồng loạt lên tiếng chỉ trích vô cảm và ngờ vực có mối quan hệ chức danh thủ hiến trước đây với món thù lao, đặt ra nhiều câu hỏi chất vấn các bên liên quan, tới mức công ty điện lực phải ra tuyên bố, “chúng tôi không thể trả lời bất cứ câu hỏi nào nữa“.   Chính những tranh cãi công khai giữa các nghị sỹ, đảng phái, và tiếng nói của người dân đã giúp họ thấy rõ thực chất vấn đề cần giải quyết, có thể coi như định hướng dư luận từ chính bản chất sự việc, và qua đó người dân đánh giá được chắc chắn, độ trong sạch, năng lực giải quyết mọi vấn đề của bộ máy nhà nước, đến từng chính khách, quan chức.   Chống tham nhũng ở Đức bắt đầu đầu từ chế tài đối với dân biểu như vậy! Chỉ khi đó, họ mới có đủ bản lĩnh của một người trong sạch để ban hành Luật chế tài tham nhũng đối với toàn bộ bộ máy nhà nước.   Xem tiếp: Minh bạch nhằm vào chu trình tham nhũng    Đọc thêm:     Bài 1: Tham nhũng, ai chống và chống như thế nào?   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5834       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham nhũng – tiếp cận từ phía hệ thống      Chống tham nhũng đang là vấn đề cả nước bức xúc, cả nước đều quyết tâm chống – trừ những kẻ có điều kiện thực hiện tham nhũng. Câu chuyện thời sự hơn là chống như thế nào?  Góp phần tìm câu trả lời, bài viết này xin đi vào hai vấn đề chính: Đánh giá tình trạng tham nhũng ở nước ta và chống như thế nào?         Đánh giá tình trạng tham nhũng ở nước ta  Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International – TI) đưa ra định nghĩa được thế giới thừa nhận: Tham nhũng là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ lợi ích cá nhân; nguồn gốc chính của tham nhũng là: lạm dụng quyền lực, bưng bít thông tin, giải trình xuyên tạc.   Nhận định về Việt Nam, các học giả quốc tịch khác nhau tham gia chương trình điều tra của TI cho rằng tham nhũng ở Việt Nam không đơn thuần là vấn đề đạo đức, mà là vấn đề nằm trong cơ cấu hệ thống. Theo cách sắp xếp chỉ số đánh giá tình trạng tham nhũng của TI, Việt Nam năm 2005 đứng thứ 107/159 – nghĩa là tụt hạng khá nhiều so với 2001. Trong 10 nước ASEAN, cũng theo chỉ số sắp xếp thứ tự năm 2005 của TI, tham nhũng ở Việt Nam chỉ đứng trên các nước Indonesia, Philippines, Campuchia và Myanma (159/159).  Không ít những báo cáo, bài nghiên cứu của các học giả trong nước cho rằng những tội trạng tham nhũng đã được bàn tay của pháp luật đụng chạm tới mới chỉ là cái mỏm băng nổi lên mặt nước của cả tảng băng (Lê Đăng Doanh), phần chìm dưới nước là rất lớn và khó đánh giá.    Cho đến nay thiếu hẳn những điều tra nghiên cứu xã hội học một cách khoa học về tình trạng tham nhũng ở nước ta, để nhìn nhận, đánh giá toàn diện vấn đề này và để làm căn cứ cho quốc sách, cho những biện pháp phòng, chống tham nhũng. Vì vậy còn nặng về chống, mà nhẹ về phòng. Trong thực tế do không phòng ngừa được, và chỉ chống được ở phần ngọn (Hoàng Tụy), nên những năm gần đây xuất hiện tình trạng càng chống, tham nhũng càng hoành hành, vụ sau nghiêm trọng hơn vụ trước. Đặc biệt nghiêm trọng là bàn tay pháp luật hầu như chỉ có khả năng đụng vào những vụ trọng án đã bị lộ; nhiều cán bộ và cơ quan khác nhau làm nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng bị tê liệt. Cho đến nay hầu như không có một vụ tham nhũng lớn nào mặc dù đã bị lộ mà không bị cán bộ và cơ quan thi hành luật pháp bóp méo, che chắn; hiện tượng chạy tội, xóa tội, che giấu hoặc giải trình xuyên tạc hành vi phạm tội trở thành phổ biến. Dư luận còn cho rằng tham nhũng tiêu cực lấn sang cả phần thi hành án.Nhìn vào các đơn vị kinh tế, ngày nay số các tổng công ty lớn của nhà nước không dính vào các vụ bê bối nghiêm trọng thật là hiếm, nhiều đơn vị có những vụ tham nhũng tiêu cực nặng nề, khó mà lường hết thiệt hại. David Dapice tại hội thảo 20 năm đổi mới được tổ chức ở Hà Nội ngày 15 và 16-06-2006  đưa ra con số ước lượng mỗi năm khu vực các doanh nghiệp nhà nước để lãng phí, thất thoát khoảng 1 tỷ USD. Trong xây dựng thường được ước lượng thất thoát khoảng 20% tổng đầu tư (cũng có con số ước lượng là 30%), chất lượng công trình thấp xa so với thiết kế và kém hiệu quả. Tham nhũng trong lĩnh vực thuế và tài chính thật khó tưởng tượng. Thực tế đang tồn tại luật không thành văn: Người làm thuế và người có nghĩa vụ nộp thuế “hiệp đồng” để lậu thuế, chia thuế; người sử dụng dịch vụ ngân hàng – đi vay hoặc được phân bổ vốn vay –  phải “lại quả” hoặc phải “cưa” một phần để lại cho bên cung cấp dịch vụ ngân hàng; hóa đơn khống và chứng từ khống là chuyện cơm bữa.  Đến nay chưa có cách gì phác họa được bức tranh mô phỏng loại tham nhũng thiên hình vạn trạng, hình thành do sự câu kết giữa những người có ảnh hưởng trong kinh tế hoặc trong quyền lực. Sự lũng đoạn của họ ở các cấp khác nhau nhắm vào “mua” hoặc “tạo ra” những quyết định, hay tìm cách tác động thiên lệch vào những quyết sách của nhà nước có lợi cho một nhóm hoặc những nhóm lợi ích nào đó  – ví dụ can thiệp sâu vào thị trường xe gắn máy, ô tô, thay đổi quy hoạch phát triển, bố trí đầu tư, đấu thầu. Những xí nghiệp mía đường, nhà máy xi-măng lò đứng và hàng loạt những công trình kinh tế khác đẻ ra từ quá trình này đang để lại bao nhiêu gánh nặng cho đất nước! Hãy nhìn lại những mối quan hệ “bồ bịch” giữa người  làm kinh tế và những người trong biên chế nhà nước, giữa những “công ty gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế đan xen nhau… Hãy thử mổ xẻ lại mẫu phẩm vụ mafia Năm Cam để từ cuộc giải phẫu sinh lý này dựng lên bức tranh mẫu cho khảo nghiệm!     Tham nhũng tiêu cực trong lĩnh vực đất đai tiềm ẩn nhiều nguy cơ lớn. Nhiều nông dân mất đất là nguồn sinh sống, phân hóa giàu nghèo nhiều vùng tăng đột biến. Có nơi đã xảy ra căng thẳng chính trị. Nhiều vùng nông thôn phát triển rất chậm, còn đô thị thì mọc lên manh mún, sẽ có lúc phải phá đi làm lại. Một số trường hợp cán bộ có chức có quyền chiếm hàng chục, hàng trăm ha đất trong rừng cấm quốc gia đã bị báo chí phanh phui. Thiếu tướng Trịnh Xuân Thu – phó Tổng cục trưởng Cục an ninh đã phải thốt lên: Nhiều nơi cán bộ địa phương ăn cắp đất và bán đất như bán mớ rau… (VnExpress 9/7/2006). Quy hoạch phát triển cả nước bị băm nát, xé lẻ tại nhiều nơi. Tham nhũng trong lĩnh vực này đang để lại những gánh nặng khó lường cho phát triển lâu dài và bền vững. Theo Hiến pháp, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, song Nhà nước thực chất còn nắm được bao nhiêu đất công? Báo chí đưa tin các vụ bán đất đai trên các đảo suốt từ Thuần Châu đến Phú Quốc… Còn nhiều điều chưa đến với công luận, song sự thật nhức nhối là không một địa phương nào trong cả nước không có chuyện tham nhũng đất đai.   Tham nhũng tiêu cực trong khu vực hành chính công thật khó kể xiết, dân gian đã tổng kết trong một câu: Nền hành chính nước nhà còn đậm nét “hành là chính”, còn quá ít tính chất nhà nước của dân, do dân và vì dân.   Trên hết cả, công luận ngày càng quan tâm đến loại tham nhũng nguy hiểm nhất: Tham nhũng quyền lực.   Biểu hiện dễ thấy ngay là những hiện tượng chạy ghế, chạy tội, mua bằng, mua chức… mà cả xã hội bàn tán như một chuyện bí mật công khai. Trong dân gian truyền miệng không hiếm những lời đồn nêu đích danh người này người nọ. Không có cách gì xua đi những lời đồn như vậy, song đến nay cũng chưa bắt được quả tang một vụ chạy ghế, mua chức, cho dù chỉ là một cái ghế thấp nhất, ít thưởng phạt nhất! Thực tế này cho thấy loại tham nhũng tiêu cực này được “bọc” rất kín; chỉ trong một vài trường hợp thật hiếm hoi như Bùi Tiến Dũng và Nguyễn Việt Tiến mới hé rọi ra đôi điều: Cả hai đang ở diện được cất nhắc lên cao nữa nếu không giữa đường đứt gánh vì lộ chuyện cá độ bóng đá, sự ngoan cố lúc đầu và đường dây chạy tội của họ làm cho công luận cả nước bàng hoàng.   Tệ hại nghiêm trọng mang tính phổ biến của tham nhũng quyền lực là tình trạng dùng người không đúng nơi đúng chỗ so với phẩm cách của cán bộ, loại bỏ người tài, quan liêu hóa và tha hóa bộ máy nhà nước, đảo lộn nhiều thang giá trị cao quý trong xã hội; hệ quả đau lòng là nuôi dưỡng một xã hội “phải tự nói dối với nhau mà sống” (Vũ Quốc Hùng).  Không hiếm nơi cán bộ được bố trí theo “ê-kíp”, mục đích là chỉ để thực hiện nhiệm vụ của “ê-kíp”, của đường dây. Nếu hãn hữu bố trí nhầm người có phẩm cách thích hợp với chức danh, thì tất yếu anh ta phải “bật đi” nơi khác, hoặc bị vô hiệu hóa, hoặc phải tự cùn đi. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho cải cách hành chính, cải cách hệ thống chính trị không theo kịp sự phát triển kinh tế, xã hội; hiền tài và người trung thực nếu không bị gạt sang một bên, thải loại, thì cũng khó có đất dụng võ.  Dư luận đang băn khoăn một cách chính đáng là tại sao bộ máy cai quản đất nước có khá đông những người không đủ phẩm cách so với chức danh của họ. Nếu so sánh với một số nước chung quanh trong ASEAN, với Trung Quốc, hình như khoảng cách chất lượng nền hành chính quốc gia của ta so với các nước bạn đang rộng ra? Điều đáng lo hơn nữa là mọi chuyện diễn ra trong tình hình nhiệm vụ xây dựng Đảng và củng cố bộ máy nhà nước vững mạnh không một phút sao nhãng, công sức bỏ ra cho nhiệm vụ trọng đại này không ít. Hay là chẩn bệnh sai nên thuốc không phù hợp?   Nhận định tham nhũng trở thành quốc nạn thách thức sự tồn vong của hệ thống chính trị đất nước như đã nêu trong những văn kiện quan trọng là chuẩn xác.     Chống tham nhũng như thế nào?  Chống tham nhũng là vấn đề khó đối với mọi quốc gia trên trái đất này, không chỉ riêng cho nước ta. Song kinh nghiệm của cả thế giới đã chứng minh, cái khó này tỷ lệ nghịch với sự thiếu vắng các yếu tố của một xã hội dân sự vận hành trong khuôn khổ nhà nước pháp quyền. Nói cách khác, một quốc gia dồi dào những yếu tố này thì càng phát triển, và chính nhờ vậy việc chống tham nhũng càng thuận lợi. Còn có thể nói: Tạo ra phát triển tốt nhất là tiền đề, là cách chủ động phòng và chống tham nhũng có hiệu quả nhất. Chỉ riêng kinh nghiệm này của cả thế giới đã chỉ ra: chống tham nhũng phải tiếp cận từ phía hệ thống.  Tình trạng tham nhũng ở nước ta hoành hành và bám rễ vào nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đủ cho thấy không thể tiếp cận việc chống tham nhũng qua việc chống phá từng vụ án riêng lẻ. Nhìn vào những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, nhất là muốn đụng chạm đến những nguyên nhân khả dĩ cho phép phòng ngừa được tham nhũng, càng phải tiếp cận vấn đề này từ phía hệ thống.  Truy tìm căn nguyên chính dẫn đến tham nhũng ở nước ta, phải chăng đấy là:  (1) tình trạng mất dân chủ, và sự thiếu công khai minh bạch trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước,  (2) có nhiều bất cập trong thể chế và chính sách,  (3) tình trạng tha hóa đang gia tăng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức của hệ thống  chính trị và bộ máy nhà nước,  (4) xã hội xuống cấp về nhiều mặt do chịu tác động của 3 nguyên nhân đầu.     Nói về nguyên nhân (1)  Đây là nguyên nhân gốc, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.   Có ý kiến cho rằng không thể khắc phục nguyên nhân này trong hệ thống chính trị một đảng. Có phải như thế không?  Trên thực tế, 20 năm đổi mới vừa qua, đất nước này, dân tộc này trong chế độ một đảng lãnh đạo đã khai phá, đã tìm thấy con đường đi lên của mình. Trên thực tế 20 năm qua, dân tộc này đã đi một chặng đầu tiên có ý nghĩa rất căn bản – con đường tiến tới nước giàu dân mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, cả thế giới đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam.   Có khả năng tiếp tục đổi mới không?  Hoàn toàn có khả năng này nếu có bản lĩnh nhìn nhận đổi mới là lẽ tồn tại của Đảng.  Sự thật của 20 năm qua là dân chủ và công khai minh bạch thực hiện được đến đâu thì cuộc sống mọi mặt của đất nước phát triển đến đấy.  Sự thật của 20 năm qua là trong bất cứ vấn đề gì hoặc lĩnh vực nào dân chủ và công khai minh bạch thiếu vắng hoặc bị vi phạm thì tỷ lệ thuận với phát sinh của tham nhũng tiêu cực.  Như vậy bài toán đúng sẽ là: Làm thế nào đi tiếp trên con đường đổi mới, để thực hiện tốt hơn nữa dân chủ và công khai minh bạch làm điều kiện, làm động lực phát huy sức mạnh dân tộc và dân chủ thúc đẩy công cuộc phát triển toàn diện đất nước.  Sự thật đanh thép đang đặt ra sự lựa chọn mất còn: Để cho dân chủ và công khai minh bạch chiến thắng tham nhũng tiêu cực, hay chịu để cho quốc nạn tham nhũng tiêu cực khuất phục?    Tầm nhìn và bản lĩnh chính trị đòi hỏi lãnh đạo thôi thúc toàn Đảng và cả nước phải nhìn thẳng vào sự thật để có ý chí lựa chọn chiến thắng.   Có ý chí chính trị quyết giành chiến thắng cho dân chủ và công khai minh bạch, sẽ có con mắt nhìn ra những thiếu sót của thể chế, của hệ thống, những yếu kém khác, và nhờ vậy sẽ có quyết tâm, sẽ có những giải pháp khắc phục. Trước Đại hội X đã có hàng nghìn ý kiến đóng góp rất tâm huyết, đưa ra những kiến nghị giải pháp hậu thuẫn cho Đảng giành chiến thắng cho dân chủ và công khai minh bạch, đổi mới hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước, mở đường phát huy sức mạnh dân tộc và dân chủ để đưa đất nước tới cường thịnh.    Một khi đã có ý chí chính trị của lãnh đạo quyết thực hiện dân chủ và công khai minh bạch để tạo điều kiện cho từng công dân tham gia thực sự vào mọi công việc của đất nước, sẽ tạo ra tình hình khó trăm bề dân liệu cũng xong (Hồ Chí Minh).       Về nguyên nhân (2)  Cần thừa nhận một thực tế khách quan là hệ thống chính trị – bao gồm cả hệ thống tổ chức của Đảng – và bộ máy nhà nước, hệ thống các thể chế, luật pháp, chính sách của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập so với thời kỳ phát triển mới của đất nước. Lẽ dễ hiểu là nước ta đang ở thời kỳ đầu của quá trình phát triển, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ cho một quốc gia trong quá trình chuyển đổi, nhiều vấn đề nan giải đang đặt ra cho một đất nước tìm đường đi lên trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay.   Và trên hết cả yếu kém lớn nhất, gốc rễ của những yếu kém khác, đó là: Tư duy chưa theo kịp sự vận động của tình hình – nếu không muốn nói là còn nhiều điểm rất lạc hậu, dẫn tới tầm nhìn hạn hẹp và có khi sai lệch, ảnh hưởng sâu sắc đến quyết sách và hành động.  Những yếu kém, bất cập này là mảnh đất mầu mỡ nuôi dưỡng tham nhũng tiêu cực. Những yếu kém lớn phải đặc biệt quan tâm khắc phục là:   – Chưa tiến được bao nhiêu trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền đúng với tinh thần của dân, do dân, vì dân.  – Đã chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nhưng thị trường còn bị nhiều yếu kém, bất cập, bị lũng đoạn nhiều mặt – nhất là còn những can thiệp duy ý chí từ phía nhà nước, còn những bao cấp được duy trì, hiệu quả thấp và gây ra nhiều gánh nặng của khu vực kinh tế quốc doanh, cơ chế chủ quản vẫn còn là một “lô cốt” kiên cố.  – Chưa nhận thức được đầy đủ quyền sở hữu của dân chính là nguồn gốc của giầu có cho dân và thịnh vượng cho đất nước để có những quyết sách khuyến khích thích hợp.  Đẩy mạnh cải cách hệ thống chính trị và bộ máy quản lý nhà nước chỉ có thể bắt đầu từ đổi mới xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng, là khởi sự để khắc phục nguyên nhân 2.  Chống từ gốc tham nhũng tiêu cực, bắt buộc phải xử lý những yếu kém bất cập này.  Về nguyên nhân (3)  Cần nhìn thẳng vào sự thật nguyên nhân cỗi rễ dẫn tới tình trạng tha hóa ngày nay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức trước hết nằm trong bệnh “đảng hóa” hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước. Căn bệnh này đã được nhiều ý kiến vạch ra thẳng thắn đóng góp với Đại hội X.   Bệnh “đảng hóa” là hữu khuynh nghiêm trọng về lập trường cách mạng, vứt bỏ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bệnh “đảng hóa” mang ảo tưởng là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và củng cố hệ thống chính trị, nhưng trong thực tế là đang làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xơ cứng và suy yếu hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.  Đây chính là căn nguyên của tình hình đất nước càng phát triển thì khoảng cách bất cập của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước có xu hướng rộng ra, sự đề kháng với dân chủ – kể cả ngay dân chủ trong Đảng, sự đề kháng với chân lý và với người hiền tài trở nên khó khắc phục. Chế độ chính trị có một đảng lãnh đạo cần dũng cảm tuyên chiến với kẻ thù nguy nhiểm nhất này của mình. Cuộc đấu tranh này thực chất là bảo vệ và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhìn lại quá khứ, thành công của Cách mạng Tháng Tám là bài học mẫu mực về vai trò lãnh đạo của Đảng, về quan điểm coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.  Đổi mới xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng cần bắt đầu từ khắc phục bệnh “đảng hóa”, công việc đầu tiên của mọi việc đầu tiên nhằm đẩy lùi tình trạng tha hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên viên chức nhà nước.     Về nguyên nhân (4)  Dậu đổ bìm leo, thượng bất chính hạ tắc loạn, nói nguyên nhân 4 là hệ quả của 3 nguyên nhân đầu trước hết là với lẽ như vậy.   Tuy nhiên, khi đề cập đến nguyên nhân 4 không thể bỏ qua tình trạng bất cập có ý nghĩa rất quan trọng, đó là có quá nhiều thiếu sót trong việc xây dựng ý thức công dân, xây dựng ý thức cộng đồng xã hội đúng với những tiêu chí của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có quá nhiều thiếu sót lấy việc xây này làm nền tảng, làm động lực thực hiện những việc chống.   Nói một cách khái quát: Có sự chăm lo chưa đúng tầm, thậm chí chệch hướng và nhiều lỗ hổng trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của vốn xã hội, trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị của khế ước xã hội. Tình trạng này thể hiện rõ nhất là trong tư duy thì ngộ nhận coi những giá trị này thuộc phạm trù hệ thống xã hội tư sản, trong hành động là đã “chính trị hóa” một cách tầm thường việc chăm lo vun đắp cộng đồng xã hội, trong việc vun đắp cộng đồng dân tộc, xa hơn nữa là không quan tâm củng cố và nâng cao sự đồng thuận dân tộc. Những yếu kém và lỗ hổng này bắt đầu ngay từ trong việc giáo dục lớp trẻ ngồi trên ghế nhà trường, kể từ tuổi mẫu giáo trở đi.  Phải nói xã hội dân sự chưa được nhìn nhận là một tiền đề không thể thiếu cho một đất nước phát triển năng động, nhất là trong những vấn đề liên quan đến quyền công dân, xã hội tự quản, nhà nước pháp quyền… Không thể khắc phục những yếu kém này bằng cách đề ra những chuẩn mực có cái mũ chung chung là “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng nội dung còn nhiều vấn đề phải làm rõ. Nghiêm khắc, còn phải nói những lệch lạc và lỗ hổng này có không ít những điều trái nội dung cốt lõi nhất của định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là giải phóng con người, tự do của mỗi người là điều kiện tự do của mọi người. Chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí quyết đẩy lùi nỗi nhục nước nghèo đang bị những yếu kém, những lỗ hổng này làm nhụt.   Sự thật sẽ nhức nhối hơn nhiều, nếu đặt ra những câu hỏi: Tại sao một dân tộc giàu truyền thống tốt đẹp như dân tộc ta mà cam chịu dung tha những tệ nạn tham nhũng tiêu cực và nhiều tệ nạn xã hội khác đang hoành hành trong đời sống hàng ngày. Tại sao dân tộc ngàn năm văn hiến này cứ cam chịu mãi nghèo hèn như vậy? Hay là dân tộc này chỉ yêu nước và biết đoàn kết khi đất nước có giặc ngoại xâm… Cái gì đã dấy nên chỗ này chỗ khác câu hỏi mỉa mai chua xót “Bao giờ cho đến ngày xưa!?..” Cái gì đang làm mai một truyền thống ngàn năm văn hiến?  Nguyên nhân 4 là hệ quả của 3 nguyên nhân đầu. Song khắc phục nguyên nhân 4 sẽ tạo ra sức sống mới của dân tộc  không thể thiếu cho thời kỳ chấn hưng đất nước và hội nhập quốc tế thắng lợi.  ***  Đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật sẽ cho phép tiếp cận từ phía hệ thống để phòng ngừa và chống tận gốc mọi tệ nạn tham nhũng tiêu cực. Trách nhiệm của Đảng lãnh đạo vô cùng nặng nề. Những quyết định mới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đẩy mạnh xử lý các vụ trọng án đang dấy lên một bầu không khí tin tưởng, gửi gắm. Không khí thôi thúc chống tham nhũng trong cả nước cho phép bắt tay vào làm ngay một số việc thực hiện công khai minh bạch trong mọi cơ quan và đơn vị kinh tế của nhà nước, đòi hỏi mỗi cơ quan và cá nhân phải làm đúng việc, đúng trách nhiệm. Cần tiến hành kiểm tra chéo để mỗi cơ quan, mỗi cán bộ nhân viên phải làm đúng luật, ngăn chặn ngay những vụ tham nhũng mới, quyết xử lý nghiêm khắc và tận gốc những vụ trọng án đã phát hiện để răn đe. Đồng thời sớm khắc phục, sửa đổi những sai lệch trong bộ máy hành chính, trong các thể chế, chính sách đang kìm hãm sự phát triển năng động của kinh tế. Nhất thiết phải tiến tới cải cách triệt để hệ thống lương để thực hiện “trách nhiệm theo lương và sống bằng lương” – một chế độ lương được thiết kế và được thi hành với một thiết chế sẽ làm cho tham nhũng trở thành thách thức sự tồn vong đối với chính người định nhúng tay vào tham nhũng.  Không thể mài lịch sử ra mà sống, mà phải sống vì hiện tại và tương lai, vì những cơ hội đang đến với đất nước này. Muốn thế phải coi chống tham nhũng là đại sự quốc gia, quyết không để cho tham nhũng trở thành lực cản kìm hãm con đường đi lên của dân tộc. Chống tham nhũng phải bắt đầu ngay từ đòi hỏi mỗi đảng viên, cán bộ viên chức trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước làm đúng nhiệm vụ được giao và phải giải trình được trách nhiệm của mình, mọi công dân phải được bình đẳng trước pháp luật. Chống tham nhũng phải làm cho cả nước coi tham nhũng là điều ô nhục, nhất thiết phải bài trừ, xử nghiêm khắc mọi hành vi phạm tội, có quốc sách thật bài bản, được lồng vào và thực hiện đồng bộ với những quốc sách chấn hưng đất nước.   Trên đây mới chỉ là những ý tưởng, còn rất sơ lược, phải xây dựng chiến lược, chính sách và thiết kế những bước đi trong hành động. Rất đáng dồn công sức cho nỗ lực này. Phải huy động trí tuệ và lương tri của cả nước.   Cần làm mọi việc để bầu không khí đang thôi thúc chống tham nhũng tiêu cực góp phần cổ vũ toàn Đảng toàn dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện Tổ quốc yêu quý của chúng ta.     Nguyễn Trung    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham vấn công chúng      Chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền là luật chưa vào được cuộc sống. Nhưng điều không kém phần quan trọng là theo chiều ngược lại, luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, hỏi xem, người dân, xã hội có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là đưa cuộc sống vào luật.      Đối với nhiều dự luật, pháp luật các nước đòi hỏi cơ quan soạn thảo phải đưa ra tham vấn công chúng (public consultation). Ở nhiều nước, quyền của công chúng tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, chính sách được quy định ở mức cao nhất trong hệ thống pháp luật, kể cả trong Hiến pháp, nhất là trong lĩnh vực môi trường. Ví dụ, Hiến pháp 1997 của Thái Lan quy định, “công dân có quyền tham gia vào quá trình hoạch định và xây dựng chính sách của Nhà nước, vào việc thực thi các hoạt động hành chính có thể ảnh hưởng đến quyền và tự do của công dân đó được pháp luật bảo đảm”. Không những thế, trong lĩnh vực môi trường, Điều 56 Hiến pháp nói trên cũng cấm tiến hành bất kỳ dự án hay hoạt động nào mà chưa nghiên cứu tác động về môi trường với sự tham gia của các tổ chức, các nhà khoa học về môi trường. Điều 59 quy định quyền được cung cấp thông tin về môi trường, quyền góp ý kiến về các tác động môi trường của các dự án tiềm năng. Hiện nay Hội đồng Nhà nước (HĐNN) Thái Lan đang soạn thảo dự án Luật tham vấn công chúng, tạo điều kiện cho công chúng tham gia vào quá trình ra quyết định. Trong quá trình soạn thảo dự án, HĐNN Thái Lan đã tham vấn với nhiều tổ chức, cơ quan về các phương thức thu hút ý kiến, các dạng hoạt động cần phải tổ chức tham vấn và cơ quan chịu trách nhiệm phản hồi về ý kiến công chúng.  Ở Mỹ, cơ quan ban hành văn bản pháp luật phải lấy ý kiến công chúng. Công báo (Federal Register) là công cụ đăng tải các luật, dự thảo luật, thông báo của các cơ quan liên bang, các văn bản của hành pháp, được cập nhật vào 6 giờ chiều hằng ngày, phát hành từ thứ hai đến thứ sáu. Còn Regulation.com là diễn đàn trên mạng để công chúng tham gia đóng góp ý kiến về các dự thảo luật đã được đăng công khai trên Federal Register. Trong một số trường hợp, bên cơ quan Chính phủ phải tổ chức những buổi gặp mặt công chúng (public hearings), trực tiếp đưa chứng cứ, trình bày lý lẽ, nghe và giải đáp thắc mắc. Theo Luật về thỏa ước trong ban hành văn bản pháp quy (Negotiated Rulemaking Act), cơ quan Chính phủ khi ban hành văn bản cũng phải đạt được thỏa thuận với các bên có liên quan thông qua một ủy ban điều đình do các bên liên quan cử ra.  Ở Canada, nguyên tắc xây dựng pháp luật là phải lấy ý kiến công chúng; để công chúng có cơ hội tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật; các đối tượng chịu sự tác động của dự thảo có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo cung cấp các thông tin cơ bản của dự luật. Công báo Canada (Canada Gazette) là công báo chính thức của Chính phủ Canada từ năm 1841, công cụ tham vấn giữa Chính phủ và người dân, công cụ cho phép người dân tham gia và đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật. Nội dung đăng tải gồm dự thảo cuối cùng của luật để lấy ý kiến công chúng, các nhóm đối tượng có liên quan và cá nhân có cơ hội được đọc và góp ý kiến về dự thảo tại giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng luật trước khi thông qua; các văn bản đã được ban hành; các thông báo chính thức, các bổ nhiệm chính thức. Việc đăng tải các thông tin trên là bắt buộc theo quy định của Statutory Instrument Act.        Lâu nay việc lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật diễn ra khá rầm rộ, nhưng ngay các chuyên gia pháp luật, những người trực tiếp tổ chức công việc này, cũng nhận xét về tính hình thức của nó.         Còn ở nước ta, chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền là luật chưa vào được cuộc sống. Nhưng điều không kém phần quan trọng là theo chiều ngược lại, luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, hỏi xem, người dân, xã hội có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là đưa cuộc sống vào luật.  Muốn vậy, sự tham gia của nhân dân góp phần rất lớn trong việc nhận ra các vấn đề trong xã hội, tạo cơ sở để phân tích chính sách trước khi xây dựng văn bản pháp luật. Những người chịu tác động của một quyết sách sắp ban hành cần có cơ hội khả thi tối đa để đóng góp ý kiến hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định. Sự tham gia này cũng chứng tỏ quyền được nghe và quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước phải công khai và có trách nhiệm. Công chúng hiểu rõ họ cần cái gì, nên có thể mách bảo nhiều giải pháp tốt mà các chuyên gia cũng không ngờ tới. Một nguyên nhân nữa để thu hút sự tham gia của công chúng là: khi được tham gia, công chúng thấy mình thực sự là một thành viên trong quá trình đó, có vai trò tích cực trong đó, nên các quyết định sẽ được tiếp nhận và ủng hộ nhiều hơn, tránh được những vướng mắc sau này trong khi thực thi.  Tuy nhiên, câu hỏi ở đây là nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật như thế nào? Lâu nay việc lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật diễn ra khá rầm rộ, nhưng ngay các chuyên gia pháp luật, những người trực tiếp tổ chức công việc này cũng nhận xét về tính hình thức của nó. Nguyên nhân có nhiều, mà một trong số đó là chưa xác định đúng mục đích: nếu vẫn kỳ vọng nhân dân sẽ đóng góp ý kiến có tính chất chuyên môn, đó sẽ là một sự kỳ vọng quá mức và lệch hướng. Để tham gia góp ý cho một dự thảo văn bản pháp luật, không chỉ cần đọc, nắm được nội dung của nó, mà còn phải biết các văn bản liên quan, từ Hiến pháp, Luật, thông tư cho đến Nghị định. Bởi vậy, ngay cả số người đọc dự thảo từ đầu đến cuối để hiểu đã rất ít, chứ chưa nói đến tham gia góp ý.  Như vậy, điều cần hỏi dân là văn bản luật sẽ tác động ra sao đến lợi ích của họ. Do đó, trong tập hợp các ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, các chuyên gia được trực tiếp cử ra làm công việc tổng kết, phân tích các ý kiến đó sẽ lọc ra những vấn đề có tính chất chính sách, liên quan đến những lợi ích điển hình của nhóm, giới hoặc lợi ích chung. Từ những vấn đề lợi ích này mà cơ quan có thẩm quyền sẽ giao lại cho các chuyên gia chuyên soạn thảo văn bản thể hiện thành câu chữ, quy phạm cụ thể. Có quan điểm cho rằng, đối với đông đảo nhân dân, khi đăng dự thảo, cần kèm theo thuyết minh rõ ràng về một số vấn đề lớn nhất, có nhiều ý kiến tranh cãi nhất, chứ lấy ý kiến của một bộ luật đồ sộ như Bộ luật dân sự 1995 trước đây có 836 điều mà kỳ vọng nhân dân sẽ góp ý từng điều cụ thể thì không khả thi và không thực chất. Đối với những vấn đề chuyên sâu, chuyên môn, cần lấy ý kiến giới chuyên gia, nhưng cũng tránh hình thức, đi vào từng lĩnh vực hẹp, đưa ra các vấn đề để chuyên gia tranh luận. Bên cạnh đó, cần có cái nhìn tổng thể từ các chuyên gia không phải trong lĩnh vực pháp luật, mà cả về kinh tế, lịch sử, xã hội học…  Trong thực tiễn nước ta, Luật Doanh nghiệp là một minh chứng rõ ràng rằng, muốn luật vào cuộc sống thì trước hết cần đưa cuộc sống vào luật. Dự thảo Luật Doanh nghiệp đã được đưa ra lấy ý kiến một cách thực chất trong giới doanh nhân, các ý kiến đóng góp được tiếp thu khá nghiêm túc, bởi vậy Luật đã và đang phát huy tác dụng thực tế rất lớn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham vấn công chúng và thúc đẩy dân chủ      Tham vấn công chúng là phương thức chủ yếu để thực thi nền dân chủ tham gia. Việc tham vấn công chúng được tiến hành thiết thực, hiệu quả sẽ nâng cao không chỉ chất lượng của các chính sách mới, mà còn cả năng lực thực hành dân chủ của người dân đất Việt.    Đợt tham vấn công chúng về Luật Đất đai (sửa đổi) lần này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do các chính sách mới về đất đai sẽ đụng chạm đến lợi ích của tất cả mọi người, nên tất cả mọi người cần phải được dự phần trong việc thông qua chúng. Nguồn ảnh: golftimes.vn  Ngày 13/12/2022, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự án Luật Đất đai (sửa đổi). Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân lần này sẽ được tiến hành hết sức công phu, bài bản từ ngày 30/1/2023 đến ngày 15/3/2023.  Thực ra, lấy ý kiến nhân dân là văn nói, văn viết thì phải gọi là tham vấn công chúng. Vậy tham vấn công chúng là gì? Tham vấn công chúng chính là một công đoạn bắt buộc trong quy trình lập pháp, khi các cơ quan nhà nước hữu quan chủ động tìm kiếm sự đóng góp ý kiến của công chúng về những chính sách lập pháp dự kiến sẽ được ban hành. Thực ra, đây không phải là điều gì quá mới mẻ. Các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước đây đều đã quy định về việc phải lấy ý kiến nhân dân. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thậm chí còn quy định phải lấy ý kiến, trong đó có ý kiến của đối tượng bị chính sách lập pháp điều chỉnh, trước khi dự luật được chấp nhận đưa vào chương trình xây dựng pháp luật (Điều 36, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).  Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nhiều khi các dự luật được thông qua, đối tượng bị điều chỉnh mới bắt đầu than phiền hoặc té ngửa ra vì sự bất ngờ của chính sách? Rõ ràng, đối tượng bị điều chỉnh đã không biết gì về chính sách lập pháp dự kiến được ban hành. Mà như vậy, thì chất lượng của hoạt động tham vấn chắc chắn là đang có vấn đề.  Trước hết, việc tham vấn bằng cách đăng toàn bộ dự thảo văn bản lên cổng thông tin điện tử hoặc trên báo chí có vẻ như không phải là cách làm thật hiệu quả. Người dân khó lòng tìm ra chính sách lập pháp đụng chạm đến mình nằm ở đâu trong hàng chục, hàng trăm điều khoản dài dòng của văn bản. Hơn thế nữa, có tìm ra thì người dân cũng khó hiểu hết các hệ lụy của một chính sách lập pháp đối với mình là như thế nào.  Hai là, xu hướng tổ chức tham vấn một cách hình thức cho đủ thủ tục không phải là không có. Luật đã quy định phải tham vấn thì tổ chức tham vấn cho xong, miễn sao có đầy đủ hồ sơ để trình ra Quốc hội là được.  Ba là, năng lực tổ chức tham vấn có thể vẫn còn hạn chế. Ở đây, có thể có cả vấn đề lựa chọn đối tượng tham vấn không phù hợp và cả vấn đề thông tin cho đối tượng tham vấn không đầy đủ…    Đợt tham vấn công chúng về Luật Đất đai (sửa đổi) lần này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do các chính sách mới về đất đai sẽ đụng chạm đến lợi ích của tất cả mọi người, nên tất cả mọi cần phải được dự phần trong việc thông qua chúng.    Trong khi đất nước ta đang hội nhập và đời sống dân chủ đang ngày càng được mở rộng, thì hoạt động tham vấn công chúng ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Trước hết, tham vấn công chúng về chính sách, pháp luật là chuẩn mực chung của thế giới văn minh. Hội nhập với thế giới nghĩa là chúng ta phải chấp nhận chuẩn mực chung này. Hai là, tham vấn công chúng làm cho chính sách pháp luật phản ánh đúng ý nguyện của dân hơn, nhờ vậy sẽ được người dân ủng hộ. Ba là, tham vấn công chúng làm cho chính sách, pháp luật khi được ban hành sẽ đi vào cuộc sống dễ dàng hơn.  Sâu xa hơn nữa, tham vấn công chúng là phương thức chủ yếu để thực thi nền dân chủ tham gia. (Dân chủ tham gia là dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “participative democracy”. Như thuật ngữ sức khỏe sinh sản “repreductive health”, thuật ngữ này nghe còn khá lạ tai. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại diễn tả rất chính xác nội hàm của khái niệm. Vì vậy, nếu thuật ngữ sức khỏe sinh sản được chấp nhận trong tiếng Việt, thì tại sao thuật ngữ dân chủ tham gia lại không?). Như vậy, chúng ta có ba hình thức dân chủ: dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia. Dân chủ trực tiếp là tốt đẹp nhất, nhưng khó thực thi nhất và tốn kém nhất về mặt kỹ thuật. Dân chủ trực tiếp chỉ khả thi về mặt kỹ thuật trong một cộng đồng dân cư tương đối nhỏ. Khi có hàng trăm ngàn người, hàng triệu người tham gia thì vấn đề hội trường, vấn đề cách thức tổ chức tranh luận sẽ gần như bất khả thi. Cách thức khả thi nhất ở đây là trưng cầu dân ý. Thế nhưng cách thức này rất tốn kém và nó cũng chỉ có ý nghĩa khi trước đó những tranh luận sâu rộng trong xã hội đã thật sự xảy ra. Dân chủ đại diện khả thi hơn nhiều về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, rủi ro của việc các quan chức nhà nước sau khi được bầu sẽ thúc đẩy lợi ích của mình nhiều hơn lợi ích của nhân dân là rất khó loại trừ. Dân chủ tham gia kết hợp được ưu điểm của hai hình thức dân chủ nói trên, đồng thời cũng khắc phục được khuyết điểm của chúng. Chính vì vậy, dân chủ tham gia là hình thức dân chủ thiết thực hơn và được tất cả các quốc gia văn minh, hiện đại trên thế giới coi trọng.  Tổ chức tham vấn công chúng một cách thiết thực và hiệu quả chính là chúng ta đang thúc đẩy nền dân chủ tham gia trên đất nước mình.  Đợt tham vấn công chúng về Luật Đất đai (sửa đổi) lần này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do các chính sách mới về đất đai sẽ đụng chạm đến lợi ích của tất cả mọi người, nên tất cả mọi cần phải được dự phần trong việc thông qua chúng. Ngoài ra, việc tham vấn công chúng được tiến hành thiết thực, hiệu quả sẽ nâng cao không chỉ chất lượng của các chính sách mới, mà còn cả năng lực thực hành dân chủ của người dân đất Việt. □    Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Thành lập các phức hợp nghiên cứu dùng chung thiết bị theo vùng địa lý      Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, kinh phí phân bổ cho khoa học còn thiếu và yếu. Chúng ta phải có chính sách sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí từ ngân sách, viện trợ và sự đóng góp trong lĩnh vực tư nhân.    Giải pháp:  1. Thay đổi tư duy trong việc quản lý thiết bị, sử dụng thiết bị  Về nghiên cứu khoa học để tiết kiệm kinh phí đầu tư và tập trung nguồn lực chất xám, chính phủ cần thành lập một số phức hợp nghiên cứu mà trong đó có rất nhiều thiết bị dung chung như máy SEM, TEM, phổ Raman, NMR… đây là những thiết bị đắt tiền được dung chung cho nhiều viện, trường, trung tâm nghiên cứu theo khu vực địa lý.  Đây là ý tưởng hay để tiết kiệm kinh phí đầu tư trang thiết bị, không đấu tư dàn trải, không kéo dãn nguồn nhân lực trong điều kiện thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.  2. Sử dụng hiệu quả trang thiết bị hiện có  Trang thiết bị là tài sản cố định có khấu hao và sẽ bị mất giá trị khi không sử dụng có hiệu quả trong thời gian khoảng 10 năm.  Có nhiều ý kiến cho rằng chúng ta đang thiếu những thiết bị nghiên cứu chuyên sâu để có thế tiến hành những đế tài nghiên cứu  lớn có khà năng đăng ở các tạp chí quốc tế. Đó lá thực tế (?!). Chính cách làm hiện nay đã dàn mỏng kinh phí đầu tư, đầu tư dàn trải  các thiết bị cùng chủng loại cho nhiều viện trường trong cùng một khu vực địa lý (trong khoảng không gian 20km) dẫn tới thiết bị thiếu động bộ, lập lại những thiết bị có giá trị từ 30,000-70,000 USD nhưng hầu như không chạy hết công suất khi thực hiện chức năng nghiên cứu cũng như đạo tạo. Trong khi những thiết bị chuyên sâu như như phổ Maldi –Tof, HPLC, FACS, NMR, Raman,… không có kinh phí để đầu tư và nếu có cũng không có kinh phí mua hoá chất để vận hành.  Tôi lấy ví dụ, hiện này hầu hết viện trường đều có máy Real-time PCR (giá trung bình ở Việt Nam thường từ 35,000-70,000, tuỳ hang sản xuất), nhưng hang năm có bao nhiêu phẩn trong một đề tài nghiên cứu có sử dụng thiết bị này và có bao nhiêu sinh viên đại học và sau đại học được sử dụng thiết bị này ?  Tính khoàng 30 máy Real Time trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng với công suất hiện nay chỉ cần 8 máy Real time PCR dùng cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm cà trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu nếu những mày này được đạt trong một phức hợp nghiên cứu (thiết bị dùng chung ) theo khu vực địa lý (như khu vực Đông Sài Gòn). Tiết kiệm hơn 1 triệu USD. Số tiền này sẽ dùng mua được một hệ Maldi-Tof, một hệ Raman, FACS… và hoá chất vận hành trong vòng 2 năm.  3. Thành lập phức hợp nghiên cứu trong lĩnh vực y sinh học (các thiết bị dùng chung) theo khu vực địa lý.  – Khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh – Các trường có khả năng đóng góp kinh phí để thành lập (Trường đại học khoa học tự nhiên- Đại học Y Dược- Đại học Bách Khoa- Trung tâm Công nghệ sinh học Tp.HCM và lĩnh vực đại học tư nhân)  – Khu vực Đông Sái Gòn – Đại học Nông Lâm- Viện Sinh học Nhiệt Đới- Đại học quốc tế (đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)- Khu Công Nghệ Cao TP.HCM  – Khu Tây Bắc Sài Gòn – Khu nông nghiệp công nghệ cao- Trung tâm kỹ nghệ Việt Kiều.  Như vậy khi tiến hành thành lập các khu phức hợp nghiên cứu theo khu vực địa lý sẽ có những thuận lợi sau:  – Giảm kinh phí nhà nươc và đơn vị để trang bị các thiết bị chuyên sâu  – Tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao vào một khu vực làm việc, tăng cường khả năng hợp tác triển khai các đề tài nghiên cứu.  – Tạo thành một vành đai các phức hợp nghiên cứu y sinh học từ đó phát triển các trung tâm dịch vụ kèm theo.  – Chi phí bào trì thiết bị được đóng góp từ các đơn vị thành viên.  ———–  * Viện nghiên cứu Y sinh Samsung  Nguyễn Hùng Anh *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành lập Hội đồng khoa học Ngành – một “sự kiện” trong giới khoa học      Việc ng&#224;y 7 th&#225;ng 7 vừa qua, Quỹ Ph&#225;t triển KH&amp;CN Quốc gia (NAFOSTED) tổ chức Hội nghị c&#244;ng bố quyết định th&#224;nh lập c&#225;c Hội đồng khoa học Ng&#224;nh trong khoa học tự nhi&#234;n, để c&#225;c Hội đồng n&#224;y c&#249;ng l&#227;nh đạo NAFOSTED x&#226;y dựng kế hoạch v&#224; thống nhất phương thức tổ chức đ&#225;nh gi&#225;, x&#233;t chọn đề t&#224;i nghi&#234;n cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhi&#234;n được Nh&#224; nước t&#224;i trợ trong năm 2009, chắc hẳn sẽ l&#224; một trong những ứng cử vi&#234;n h&#224;ng đầu trong cuộc b&#236;nh chọn sự kiện KH&amp;CN Việt Nam nổi bật trong năm 2009.    Với thành phần của Hội đồng khoa học Ngành gồm những nhà nghiên cứu thuộc hàng tốp đầu trong công bố quốc tế của ngành mình, chẳng hạn như Hội đồng Ngành Toán có 11 thành viên thì 5 thành viên là chủ trì đề tài có 9 bài ISI trở lên ở 5 năm cuối. Cũng vậy ở Hội đồng Ngành khoa học Sự sống có 13 người thì 6 thành viên có 10 bài ISI trở lên… Hầu hết các “cây đa cây đề” – những thành viên có thâm niên ở các Hội đồng khoa học Ngành trước đây đều vắng bóng ở các hội đồng ngành lần này. Thay vào đó là những nhà khoa học ở tuổi dưới 60, trong đó có tới hơn 20% là các tiến sĩ dưới 40 tuổi.  Lãnh đạo NAFOSTED đã vượt qua được những sức ép, lực cản về nhiều mặt từ cộng đồng khoa học và không ít những nhà quản lý các cấp, kiên trì tiếp tục con đường đổi mới quản lý hoạt động của Quỹ, từ đó đã tập hợp được trong các Hội đồng khoa học Ngành những nhà nghiên cứu thực sự có tài năng và tâm huyết với sự nghiệp phát triển khoa học của đất nước. Với các thành viên của Hội đồng khoa học Ngành, đây là lần đầu tiên cơ quan quản lý của Bộ KH&CN có được trong tay số đông những nhà nghiên cứu xuất sắc nhất trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, làm cơ sở cho việc hình thành các Trường phái khoa học, các Nhóm nghiên cứu, các Trung tâm nghiên cứu xuất sắc… để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu có tính định hướng, các nghiên cứu trọng điểm của quốc gia…  Hoạt động của Hội đồng khoa học Ngành thực hiện nghiêm túc theo các tiêu chí, chuẩn mực quốc tế sẽ có tính quyết định vào việc hạn chế từng bước, tiến tới chấm dứt những tù mù, thiếu minh bạch, tiêu cực, hệ lụy trong việc xét chọn, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản nhiều năm trước đây, góp phần làm trong sạch môi trường hoạt động khoa học, xây dựng văn hóa làm khoa học của Việt Nam, tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học nhất là các nhà khoa học trẻ phát huy hết tài năng sáng tạo. Và điều hết sức quan trọng là sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của Hội đồng khoa học Ngành sẽ góp phần tạo ra sự tin cậy lẫn nhau giữa các nhà khoa học và nhà quản lý, thành tâm cùng nhau hợp tác trong thực thi nhiệm vụ của mình.  Cộng đồng khoa học, nhất là những người hoạt động trong nghiên cứu cơ bản đặt niềm tin vào quyết tâm đổi mới của NAFOSTED và bản lĩnh, sự công tâm, tầm nhìn… của các thành viên Hội đồng khoa học Ngành, để lựa chọn được các đề tài nghiên cứu, các chủ nhiệm đề tài tốt nhất có thể, góp phần tạo ra những thay đổi về chất trong nghiên cứu cơ bản, có những thành tựu nghiên cứu xứng đáng với sự quan tâm tài trợ của Nhà nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố ma giữa đại dương      Từng có mật độ dân số cao nhất thế giới  nhưng giờ đây Hashima, hòn đảo tý hon giữa đại dương của Nhật Bản, lại  trở thành hoang đảo không một bóng người. Các thợ mỏ Nhật Bản khai  thác than đá trong hầm lò dưới đáy biển đã giã  từ mảnh đất này cách đây 35 năm. Ngày nay, Hashima trở thành thiên đường  của các nhà nhiếp ảnh.     Người Nhật gọi hòn đảo này một cách thành kính là “đảo-tầu chiến” bởi nó thực sự giống một tầu chiến cổ lỗ trôi nổi bồng bềnh giữa đại dương. Hòn đảo hầu như không có cây cối mà là một khối bê tông sắt thép khổng lồ với tường chắn bao bọc để ngăn sóng lớn, nhất là lúc có giông bão.   Trong nhiều thập niên, Hashima là minh chứng cho sự chiến đấu kiên cường của con người chống lại thiên tai và không gian chật chội vì chỉ có diện tích khoảng 7,2 ha (150m x 480m). Trữ lượng than khổng lồ ở đây trong nhiều thập kỷ đã thu hút hàng nghìn thợ mỏ và làm cho đảo trở thành nơi có mật độ dân số cao nhất thế giới.   Ngày nay hòn đảo trở nên cô độc, không một bóng người – trên đảo chỉ còn lại mấy chú mèo hoang. Từ biểu tượng của sự tiến bộ, hòn đảo trở thành biểu tượng cho quá khứ ngắn ngủi: trong các căn hộ vẫn còn bàn ăn với bát đĩa cốc chén, những chai lọ phủ đầy bụi và những cái tủ lạnh hoen gỉ. Từ một Hashima ồn ào, náo nhiệt được công nghiệp hoá cao độ nay nơi này trở thành một hòn đảo ma âm u và trở thành một nhân chứng thầm lặng của lịch sử kỷ nguyên công nghiệp Nhật Bản.   Một thành phổ kiểu mẫu của Nhật Bản       Than đá chất lượng cao là chiếc chìa khóa cho sự phát triển có một không hai của hòn đảo hoang vắng này. Ngay từ thế kỷ 19, người ta đã khai thác than đá trên đảo Takashima, láng giềng của Hashima, để làm chất đốt sản xuất muối. Với sự hỗ trợ của các kỹ sư Scotland vào năm 1869 đã hình thành những mỏ than đá đầu tiên, thời đó than đá nằm sâu 45 mét dưới đáy biển.  Nhu cầu về than đá tăng vọt nên năm 1980, Mitsubishi Nhật Bản đã mua đảo Hashima với giá 100.000 Yen. Hãng đã thiết lập một tuyến truyền tải than hiện đại dài khoảng 200 mét. Từng chuyên hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp vận tải biển, Mitsubishi quyết định xây dựng hòn đảo vốn rất khắc nghiệt với đời sống con người thành một thành phố kiểu mẫu – và nó đã trở thành một bản sao thu nhỏ của xã hội Nhật Bản.   Để ngăn những cơn sóng dữ, hãng đã xây dựng một bức tường bê tông kiên cố bao quanh toàn bộ hòn đảo. Số lượng thợ mỏ ra đảo ngày càng nhiều, sản lượng than đá khai thác hàng năm tăng nhanh – năm 1916 là 150.000 tấn, 1941 đã vọt lên 400.000 tấn. Biểu tượng cho một xã hội trọng tôn ti trật tự, viên quản lý mỏ là người duy nhất có một căn nhà riêng tọa lạc trên mũi hòn đảo trong khi tất cả những người thợ mỏ bình thường đều ở trong những căn phòng chật chội chỉ khoảng 10 mét vuông và đều sử dụng nhà vệ sinh chung. Những tòa nhà bê tông mặt tiền mầu xám là bộ mặt của đảo – vào thời điểm đó, những khu chung cư nhiều tầng được coi là biểu tượng kiến trúc trong tương lai. Tòa nhà bê tông cốt thép cao nhất Nhật Bản được xây dựng năm 1916 ngay trên đảo Hashima với chín tầng.  Không phải ai cũng tình nguyện đến đảo. “Khi trông thấy Hashima, tôi không còn một tia hy vọng nào”, ông Suh Jung-Woo kể lại trong một cuộc phỏng vấn. Ông thợ mỏ người Triều Tiên nhanh chóng phát hiện ra rằng, khó có thể trốn chạy khỏi hòn đảo này. Ông là một trong số hàng trăm lao động cưỡng bức đưa từ Trung Quốc và Triều Tiên tới trong Chiến tranh thế giới thứ hai để khai thác than đá. “Công việc ở đây hết sức nặng nhọc. Không khí trong hầm lò ngột ngạt, khó thở, trần và tường được xây bằng đá luôn có nguy cơ bị vỡ lở và sập. Hồi đó, tôi luôn nghĩ mình sẽ không bao giờ sống sót ra khỏi nơi này”.   Thực tế là rất nhiều lao động cưỡng bức đã chết vì điều kiện lao động vô cùng khắc nghiệt, hay vì kiệt sức và tai nạn. “Tháng nào cũng có từ bốn đến năm lao động bị chết”, ông Jung-Woo kể. Tất nhiên không phải chỉ có lao động cưỡng bức bị chết. Ông Brian Burke-Gaffney, là tác giả đồng thời là giáo sư tại đại học Nagasaki, đã viết về Hashima và ước tính đến cuối cuộc chiến tranh thế giới II, có khoảng 1.300 lao động bị chết trên đảo. Một số người vì quá tuyệt vọng đã tìm cách bơi vào đất liền và thất bại.  Ngược lại, ông Doutoku Sakamoto lại luôn thấy nhớ hòn đảo này. Ông lớn lên ở đây trong một thời kỳ hoàn toàn khác: sau chiến tranh thế giới II, đảo Hashima trải qua một thời kỳ hoàng kim, Công nhân làm được hưởng nhiều ưu đãi và có mức lương khá cao, có thể nói mức sống tại đảo cao hơn mọi nơi khác ở Nhật Bản, từ đó người ta thu hút được khá nhiều lao động đến làm việc. “Với chúng tôi, mọi cái đều tuyệt vời”, ông Sakamoto kể trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình. “Tất cả chúng tôi ai cũng có tivi, tủ lạnh và máy giặt, dù đó là thời điểm những năm 1960”.   Trừ nghĩa địa, ở đây không thiếu cái gì: trường phổ thông cơ sở, sân chơi, rạp chiếu phim, bệnh viện, tiệm cắt tóc, quán nhậu, nhà hàng – thậm chí còn có cả chùa thờ Phật… Nếu trong những thập niên đầu, người ta phải chở nước ngọt bằng tầu thủy ra đảo thì từ năm 1957 đã có ống dẫn nước dài hàng km từ đất liền ra đảo. Do xây dựng dày đặc nên trên đảo không có đất trống, dân đảo phải trồng cây và rau xanh trên mái nhà để phục vụ nhu cầu cuộc sống.  Trên đảo hầu như không có chỗ cho cuộc sống riêng tư. Như trong một thí nghiệm ngoài trời nhỏ tí xíu, cách đây nhiều thập niên, người Nhật trên đảo Hashima đã phải đứng trước những vấn nạn mà ngày nay cả nước Nhật đang phải đối mặt: đó là sự thiếu không gian của một xã hội có trình độ phát triển cao. Mọi vị trí trên đảo đều có thể tới chỉ trong vòng ít phút, tất cả các tòa nhà được kết nối bởi một mê cung hành lang hẹp và cầu thang. Vì thiếu mặt bằng nên nhà trẻ và bể bơi phải thiết kế trên mái tòa nhà chung cư – cách những cái đu quay chỉ vài mét là một cái chợ, họp một lần trong tuần.  Vào thời kỳ cao điểm, trên đảo có 5.259 người sinh sống. Trên mỗi ha có đến 835 người, cao gấp gần sáu lần so với Tokyo hiện nay. Ông Doutoku Sakamoto không cảm thấy phiền toái vì điều này – ngược lại, ông kể với đài truyền hình Đức ZDF trong một cuộc trả lời phỏng vấn: “Đây là một cộng đồng thật sự, mỗi người vì mọi người, ai cũng sẵn sàng giúp đỡ người hàng xóm của mình, những điều từ lâu đã bị lãng quên ở nước Nhật ngày nay.”  Chính vì sự lãng quên này mà ông luôn sẵn sàng trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài. Tận dụng sự chú ý của các phương tiện truyền thông, ông đã tìm mọi cách chống lại sự lãng quên của thời gian để có thể đưa Hashima vào danh sách di sản văn hoá thế giới của Unesco -không phải chỉ vì yếu tố kiến trúc mà vì hòn đảo chính là đài tưởng niệm chống lại sự khai thác thiên nhiên một chiều thái quá. Sự giàu có một thời của hòn đảo đã trở thành định mệnh của nó: việc khai thác than tại đây trở nên quá tốn kém, nhu cầu về than giảm, nền công nghiệp hiện đại của Nhật Bản đột ngột chuyển sang sử dụng dầu mỏ. Sau khi khai thác được trên 16 triệu tấn than, Mitsubishi tuyên bố đóng cửa hầm mỏ vào tháng giêng năm 1974.   Vì những công nhân đầu tiên đăng ký làm việc trên đất liền cho Mitsubishi tại Nagasaki đều được đảm bảo sẽ có việc làm nên rất nhiều thợ mỏ đã nhanh chóng rời đảo. Từ tháng 4-1974, trên đảo Hashima đã không còn một ai. Trong nhiều thập niên, “đảo tầu chiến” như đã ngủ yên, Hashima trở thành cấm địa do nguy cơ sập đổ. Chỉ có một số nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp được lên đảo để thu thập tư liệu về những lối đi như mê cung, về sự suy tàn của ngành công nghiệp khai thác than đầy tự hào một thời của Nhật Bản.    Giờ đây sau hơn một phần tư thế kỷ, Nhật Bản lại muốn kiếm tiền từ Hashima thông qua phát triển du lịch. Để được tham quan một phần của đảo, người ta phải trả khoảng 30 Euro. Ông Doutoku Sakamoto hy vọng, những di tích hoang phế tại đây sẽ kích thích trí tò mò của du khách. Riêng với ông, Hashima tượng trưng cho sự hữu hạn của tài nguyên. “Tương lai của chúng ta ở đâu?”, ông nêu câu hỏi. “Tôi sẽ rất vui khi con người nhìn vào Hashima và nêu câu hỏi này với chính mình”.     Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố tương lai: Những nhà cao tầng trồng tảo      Các nhà quy hoạch, kiến trúc sư và kỹ sư  thuộc doanh nghiệp PRIOR1 (Đức) giới thiệu thiết kế nhà cao tầng tự sản xuất  năng lượng từ nuôi trồng tảo, được coi là mô hình của tương lai, khi số  người sống ở đô thị ngày càng tăng.     Họ đặt tên cho dự án này là “Trung tâm máy tính trồng tảo”. Cốt lõi của tòa nhà đa năng đồ sộ gồm 16 tầng này là một trung tâm máy tính, tích hợp trong tòa nhà có kết cấu hiện đại và tự sản xuất năng lượng từ nuôi trồng tảo.  Nền kinh tế của chúng ta hầu như không thể thiếu các trung tâm máy tính. Nó cần có máy chủ và mạng lưới để xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ. Những loại trung tâm máy tính này thường tiêu hao tương đối nhiều năng lượng. Đây là điều mà PRIOR1 muốn thay đổi. Từ một trung tâm máy tính ngốn rất nhiều năng lượng, nó phải trở thành một tòa nhà cao tầng thông minh tự sản xuất ra năng lượng.   Tảo, cụ thể là tảo Chlorella và tảo Chlamydomonas, là nền tảng cho sản xuất điện. Các tấm tảo ở mặt ngoài tòa nhà được nuôi bằng khí CO2 và được ánh sáng mặt trời kích hoạt quá trình quang hợp. Trong quá trình này, tảo tạo ra sản phẩm trung gian là khí methane, có thể dùng để chạy nhà máy điện. Khí thải CO2 hình thành trong sản xuất điện được dùng để nuôi tảo, từ đó chu trình được khép kín.  Tảo được nuôi cả trong các bể lớn ở tầng dưới tòa nhà. Tại đây có trạm điện gió cố định cỡ nhỏ để cung cấp điện cho hệ thống đèn LED là nguồn ánh sáng bổ sung cho quá trình quang hợp. Sinh khối của tảo tuy là rác thải nhưng vẫn có thể được tận dụng để phát triển một số sản phẩm khác (như mỹ phẩm và nhựa).      Chưa hết: Nhiệt lượng từ nhà máy điện dùng để sưởi ấm bên trong hoặc ngoài tòa nhà. Trong trường hợp lý tưởng sẽ hình thành một chu trình khép kín về năng lượng và tòa nhà từ tư cách người tiêu dùng năng lượng trở thành nhà sản xuất năng lượng.  Bố trí sử dụng các tầng của tòa nhà hoàn toàn không có giới hạn: người ta có thể dùng để hội họp, làm công tác hành chính, trưng bầy, triển lãm và cũng có thể bố trí nhiều tầng để làm nông nghiệp giữa đô thị. Khi tận dụng mặt bằng một cách tối ưu, lại gần nơi tiêu thụ trong điều kiện tự tạo ra năng lượng thì có thể biến hàng nghìn mét vuông diện tích sàn của tòa nhà thành diện tích sản xuất.  Các siêu thị, nhà trẻ, văn phòng, nhà ở có thể bố trí cạnh nhau hoặc ở trên các tầng khác nhau. Thậm chí có thể tạo ra những vườn cây hoặc công viên mini. Những sinh cảnh cực nhỏ này sẽ là nơi trú ngụ của cây cối và động vật và sẽ trở thành một phần của quá trình tái tạo thiên nhiên cho các đô thị. Năng lượng từ tảo cũng có thể phục vụ các nhà tắm hơi, bể bơi và trung tâm thể dục thể thao.  Ý tưởng của PRIOR1 có hoàn toàn mới không? Thực ra đã có nhà cao tầng sử dụng rất ít hoặc không dùng đến năng lượng. Thí dụ tại thành phố Freiburg năm 2011 đã khai trương “tòa nhà thụ động” (passive house – tức loại nhà có các tiêu chuẩn cao về hiệu quả sử dụng năng lượng) cao 15 tầng. Hành lang tảo cũng đã có. Cụ thể là ở tòa nhà tảo BIQ (BIQ Algenhaus,) các tấm tảo cung cấp năng lượng cho tòa nhà. Tại Pháp cũng đang triển khai các tòa nhà tảo đầu tiên. Một công viên bên trên và bên trong một cao ốc cũng đã ra đời ở Italia.  Cái mới ở đây là ý tưởng tích hợp trung tâm máy tính với các căn hộ, địa điểm sinh hoạt và phòng làm việc, bổ sung chức năng của một xã hội hiện đại. Giờ đây người ta hồi hộp chờ xem bao giờ thì viễn cảnh này sẽ trở thành hiện thực.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tích NCKH đóng vai trò quyết định trong xét duyệt chức danh GS, PGS      Trong Dự thảo quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (Dự thảo) tuy đã có một số thay đổi nhằm nâng cao chất lượng các chức danh, nhưng những thay đổi này chưa triệt để và chưa thực sự là một cuộc “cách mạng” để tiến tới chuẩn mực quốc tế. Ngoài ra, Dự thảo phải tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho các nhà khoa học trẻ trong việc đạt được tiêu chuẩn các chức danh. Xin được phép nêu ra một số kiến nghị cụ thể có liên quan đến các vấn đề này.    1. Công trình khoa học quy đổi. Trong Khoản 1, Điều 9 có định nghĩa về “Công trình khoa học quy đổi” như sau: “Công trình khoa học quy đổi gồm: Bài báo khoa học, báo cáo khoa học công bố toàn văn tại hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế; sách phục vụ đào tạo, kết quả nghiên cứu đã đăng ký bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích.” Đây là một khái niệm cơ bản mà Hội đồng Giáo sư nhà nước sử dụng ít nhất trong gần 30 năm như tiêu chí định lượng quan trọng nhất trong tất cả các khâu xét duyệt. Cho đến một thời điểm nhất định tiêu chí này đóng vai trò tích cực trong việc đánh giá tiêu chuẩn “cứng”. Tuy nhiên khái niệm này tương đối mơ hồ, không hướng tới chuẩn mực quốc tế và trở nên lạc hậu. Ở đa số các nước trên thế giới, việc bổ nhiệm chức giáo sư và phó giáo sư, ngoài tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, dựa trên hai tiêu chí cơ bản được phân biệt rõ ràng: (a) thành tích nghiên cứu khoa học; (b) thành tích và kinh nghiệm đào tạo. Trong đó tiêu chí (a) đóng vai trò quyết định. Vì thế, tuy trong Dự thảo đã có nâng điểm tối thiểu đối với các bài báo khoa học cho từng chức danh (Điều 8, Khoản 7; Điều 9, Khoản 8) việc Dự thảo quy đổi hai tiêu chí này theo một mẫu số chung “Công trình khoa học quy đổi” là không khoa học, chưa đề cao tiêu chí (a). Điều này lại càng trở nên bất hợp lý hơn khi các giáo trình, sách tham khảo, sách hướng dẫn và sách chuyên khảo không chứa các kết quả nghiên cứu mới và thành tích hướng dẫn nghiên cứu sinh cũng được biến thành “Công trình khoa học quy đổi”.   Kiến nghị: Để nhấn mạnh tiêu chí (a) về thành tích khoa học của giáo sư và phó giáo sư cần loại bỏ cụm từ “Công trình khoa học quy đổi” khỏi các văn bản và thay bằng ba tiêu chí riêng biệt “công trình khoa học” (bao gồm bài báo khoa học và sách chuyên khảo có chứa các kết quả nghiên cứu mới), “thành tích và kinh nghiệm đào tạo” (hướng dẫn nghiên cứu sinh và học viên cao học, thâm niên giảng dạy), và “sách phục vụ đào tạo” (bao gồm giáo trình, sách tham khảo, sách hướng dẫn và sách chuyên khảo không chứa các kết quả nghiên cứu mới). Sau đó đặt tiêu chuẩn và cách đánh giá riêng cho từng tiêu chí để đánh giá. Chỉ cho điểm “công trình khoa học”. Không  cho điểm “thành tích và kinh nghiệm đào tạo” và “sách phục vụ đào tạo”, chỉ dừng lại ở các yêu cầu tối thiểu.  2. Thành tích nghiên cứu khoa học. Yêu cầu về thành tích nghiên cứu khoa học của các chức danh trong Dự thảo còn thấp so với chuẩn quốc tế và khu vực. Cần nâng yêu cầu về thành tích nghiên cứu khoa học (bao gồm bài báo khoa học và sách chuyên khảo có chứa các kết quả nghiên cứu mới) cả về số lượng lẫn chất lượng.  Về số lượng. Trước tiên phải lưu ý rằng ở nhiều nước trên thế giới, tiêu chuẩn thành tích nghiên cứu khoa học đối với các chức danh chủ yếu dựa vào chất lượng. Tuy nhiên trong hoàn cảnh  nước ta hiện nay cũng không thể xem nhẹ số lượng các bài báo khoa học. Cần tăng số điểm các công trình khoa học, cụ thể là: Ứng viên giáo sư (phó giáo sư) thuộc nhóm ngành KHTN, Kỹ thuật và Công nghệ phải có ít nhất 15,0 (7,0 đối với phó giáo sư) điểm tính từ các bài báo khoa học. Ứng viên thuộc nhóm ngành KHXH&NV phải có ít nhất 12,0 (5,0 đối với phó giáo sư) điểm tính từ các bài báo khoa học.      Muốn có một cuộc cách mạng trong quy trình xét duyêt chức danh giáo sư và phó giáo sư ở nước ta, hướng tới chuẩn mực quốc tế, thì phải làm cho thành tích nghiên cứu khoa học thật sự đóng vai trò quyết định trong việc xét duyệt      Về chất lượng. Không nên đồng nhất các bài báo trong danh sách ISI và danh sách Scopus làm một, vì hai danh sách này rất khác nhau. Do chất lượng các bài báo trong danh sách Scopus không thật sự đảm bảo và tin cậy, nên trong Dự thảo chỉ nên đề cập đến các tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh sách ISI và loại cụm từ “Scopus” ra khỏi Dự thảo. Yêu cầu công bố ISI của các ứng viên nên nâng cao như sau: Đến năm 2019, ứng viên giáo sư (phó giáo sư) thuộc nhóm ngành KHTN, Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: sáu (hai đối với phó giáo sư) bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI; hoặc ít nhất năm (một đối với phó giáo sư) bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI và một (một đối với phó giáo sư) quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới; hoặc ít nhất một bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI và một bằng độc quyền sáng chế. Ứng viên thuộc nhóm ngành KHXH&NV là tác giả chính và đã công bố được ít nhất bốn (một đối với phó giáo sư) bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI. Tuy việc dựa vào danh sách ISI để đánh giá chất lượng thành tích nghiên cứu khoa học chưa thực hoàn hảo, nhưng cũng giống như yêu cầu của Quỹ NAFOSTED, điều này phù hợp với hoàn cảnh nước ta hiện nay.  Những yêu cầu về số lượng và chất lượng nêu trên đối với thành tích nghiên cứu khoa học cho các chức danh là ở mức trung bình trong khu vực và mức dưới trung bình trên thế giới. Vì thế, ít nhất trong Dự thảo phải đạt được tiêu chuẩn này.  3.  Sách phục vụ đào tạo và thành tích đào tạo. Như trên đã đề cập, nên bỏ điểm “Công trình khoa học quy đổi” và không cho điểm nói chung đối với sách phục vụ đào tạo và  thành tích hướng dẫn nghiên cứu sinh, chỉ đặt ra các yêu cầu tối thiểu cho từng chức danh (sách chuyên khảo có chứa các kết quả nghiên cứu mới được xem như bài báo khoa học và được tính điểm theo hàm lượng kết quả nghiên cứu mới). Riêng đối với nhóm ngành KHTN, Kỹ thuật và Công nghệ, không nên yều cầu phải có sách phục vụ đào tạo.  4. Thâm niên đào tạo. Tiêu chuẩn chung về thâm niên đào tạo trong Điều 7c là chưa nhất quán và quá cao: Theo Điều 7c, thời gian làm nhiệm vụ đào tạo chung cho giáo sư và phó giáo sư là 10 năm. Tiêu chuẩn này quá cao, gây khó khăn cho các nhà khoa học trẻ có thành tích khoa học nổi bật. Tiêu chuẩn này mâu thuẫn với Điều 9 Khoản 3: (phó giáo sư) có ít nhất sáu năm, trong đó có 03 (ba) năm cuối liên tục tham gia đào tạo từ trình độ đại học trở lên tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ, và từ đây cũng mâu thuẫn với Điều 8 Khoản 2 về thâm niên đào tạo đối với giáo sư.   Kiến nghị: sửa Điều 9 Khoản 3 thành: Có ít nhất ba năm cuối liên tục tham gia đào tạo từ trình độ đại học trở lên tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ. Trong Điều 7c nêu riêng tiêu chuẩn cho giáo sư là sáu năm và phó giáo sư là ba năm.  5. Kết luận. Hiện nay có rất nhiều các nhà khoa học trẻ trong nhiều lĩnh vực đã đạt hoặc vượt tiêu chuẩn về bài báo khoa học đối với chức danh giáo sư và phó giáo sư, nhưng lại chưa đủ sách phục vụ đào tạo hoặc chưa đủ thành tích và thâm niên đào tạo. Những thay đổi ở các mục có liên quan nêu trên (nâng cao số lượng và chất lượng các bài báo khoa học, tách sách phục vụ đào tạo hoặc và thành tích đào tạo khỏi “công trình khoa học quy đổi”, giảm nhẹ tiêu chuẩn sách phục vụ đào tạo thành tích và thâm niên đào tạo,…) sẽ tạo nhiều cơ hội hơn cho họ trở thành giáo sư và phó giáo sư. Qua đó nâng cao cả số lượng lẫn chất lượng của đội ngũ giáo sư, phó giáo sư Việt Nam.  Cuối cùng nếu chúng ta muốn có một cuộc cách mạng trong quy trình xét duyêt chức danh giáo sư và phó giáo sư ở nước ta, hướng tới chuẩn mực quốc tế, thì phải làm cho thành tích nghiên cứu khoa học thật sự đóng vai trò quyết định trong việc xét duyệt.       Author                Đinh Dũng        
__label__tiasang Thành tích sạch      Việc hội nhập với thế giới càng đòi hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết những giá trị, những thành tích sạch.        Cơ sở của thị trường là tự do cạnh tranh và cũng như từ thị trường, từ tự do cạnh tranh trải nhiều đời đã bị một nỗi oan khó tả.Nhiều người quan niệm rằng tự do cạnh tranh là tự do cá lớn nuốt cá bé, là vô đạo đức.Quả thật đã có một thời gian dài vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản mới phát sinh, mà các nhà kinh tế học gọi là thời kỳ tư bản chủ nghĩa rừng (capitalisme sauvage) người ta đã sử dụng tự do cạnh tranh một cách khá man rợ.Nhưng đó không phải lỗi của tự do cạnh tranh, mà lỗi của những người sử dụng nó.               Các thế hệ cha chú qua hai cuộc chiến tranh dựng nước ác liệt đã để lại một di sản lớn cho lớp trẻ.               Nhưng lớp trẻ chỉ có thể phát triển đầy đủ di sản đó trên cơ sở một xã hội lành mạnh. Mà một xã hội thật sự lành mạnh nhất thiết phải được xây dựng trên những hệ giá trị trung thực rõ ràng và minh bạch.          Tự do cạnh tranh không tốt cũng không xấu (nhưng nhất định tốt hơn chế độ sản xuất tự cung tự cấp của nền kinh tế phong kiến).Tự do cạnh tranh chỉ là một phương tiện hay nói đúng hơn một phương thức, một cỗ máy. Không ai dở hơi mà nói chuyện đạo đức với một cỗ máy!Ruột của tự do cạnh tranh chính là thi đua. Thi đua có thể rất đạo đức.Nó giúp huy động tối đa khả năng vật chất cũng như tinh thần của những thành viên trong một cộng đồng vì lợi ích chung.Thành tích chính là những kết quả đặc biệt trong quá trình nỗ lực tự giác của một cộng đồng vươn lên.Do đó thành tích xét đến cùng có một hàm lượng nhân văn và đạo đức cao.Nhưng cuộc đời thường không đơn giản. Như nữ thần Janus hai mặt, một mặt chiến tranh, một mặt hòa bình, mọi biểu hiện của con người trong xã hội đều có hai mặt: mặt xấu/mặt tốt, mặt cao thượng/mặt hèn hạ.             Việc tuyên dương thành tích là một hành động vừa có giá trị thực dụng vừa có giá trị đạo đức, nó thúc đẩy con người vươn lên tự hoàn thiện đóng góp tối đa cho cộng đồng.               Điều đáng buồn là những thành tích sạch, có giá trị đạo đức cao luôn luôn bị làm vấy bẩn bởi những tính toán thấp kém của chủ nghĩa cá nhân.          Điều đáng buồn là những thành tích sạch, có giá trị đạo đức cao luôn luôn bị làm vấy bẩn bởi những tính toán thấp kém của chủ nghĩa cá nhân.Trong vận động của một cộng đồng, cái cao thượng luôn có nguy cơ trở thành cái xấu xa (hay ngược lại tùy theo định hướng và nỗ lực của cộng đồng này).Trong phong trào thi đua ta đã chứng kiến bao nhiêu thành tích đáng ca ngợi, những thành tích tuyệt vời dựa trên sự trung thực và đức hy sinh, mặt khác cũng không ít những thành tích bẩn xây dựng trên sự dối trá, ích kỷ của những thói xấu “làm láo, báo cáo hay, vẽ vời những thành tích ảo, chạy bằng, chạy chức vị… đủ các thứ “chạy” mà báo chí đã không ngừng tố cáo, lên án.Người ta bàn tán mất thời giờ về số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư như hiện nay là nhiều hay ít mà quên không bàn kỹ xem một tiến sĩ thứ thiệt giá trị gấp bao nhiêu lần một tiến sĩ giấy. Lẽ dĩ nhiên đó không phải là mặt chính của xã hội, nhưng chúng ta không được coi nhẹ vì đặc tính của cái xấu là nó lây lan rất nhanh và nguy hiểm như một thứ dịch cúm gà (!)Gần đây trong một cuộc thi mỹ thuật (địa hạt vẫn được coi là sang trọng của xã hội vì là địa hạt của sự sáng tạo của cái đẹp), đã xẩy ra một sự cố đáng buồn- Ban giám khảo đã trao giải cho một bức tranh cóp của người khác (điều càng đáng buồn hơn là bức nguyên mẫu xem ra cũng chẳng “ghê gớm” gì).Nó chứng tỏ hai việc: một là đạo đức kém của người dự thi. Thứ hai là trình độ thẩm mỹ đáng ngờ của một số ủy viên trong hội đồng chấm giải.   Chúng ta cần rút kinh nghiệm. Việc tổ chức các hội đồng thẩm định phải được tiến hành một cách nghiêm túc hơn trên cơ sở những tiêu chí khắt khe về chuyên môn cũng như về đạo đức thật sự chứ không phải dựa trên cơ sở những học hàm học vị chưa được phân tích.Trong quốc sách tiết kiệm chống lãng phí không nên coi quá nhẹ mảng tiết kiệm danh hiệu.Không nên quên rằng tiêu sài hoang phí những danh hiệu có nguy cơ dẫn đến nạn lạm phát cũng như sụt giá một số quy chiếu đạo đức của xã hội.Danh hiệu cũng là tài sản của nhân dân, tuyệt đối không được xem nó như tiền chùa mà vung tay quá trán một cách hoang phí.  ***  Chúng ta hay nhắc đến việc xây dựng một nhà nước pháp quyền- nhưng pháp quyền chỉ có thể vận hành tốt trong một môi trường sạch.  Pháp luật không phải là đạo đức, nhưng không thể tách rời đạo đức thậm chí đi ngược lại đạo đức, “nén bạc đâm toạc tờ giấy”.  Pháp luật để bảo đảm an toàn cho đạo đức, đạo đức để bảo đảm tính đúng đắn cho pháp luật. Tòa án tối cao thật sự chính là tòa án lương tâm.  Anh có thể lừa vợ lừa con                    lừa cả nước  Nhưng thế nào cũng có lần anh phải ra trước                   vành móng ngựa bản thân anh  Tạ tội nhân cúi đầu trước ta Thượng đế.  Khi lời phán xét cuối cùng.  ***  Các thế hệ cha chú qua hai cuộc chiến tranh dựng nước ác liệt đã để lại một di sản lớn cho lớp trẻ.  Nhưng lớp trẻ chỉ có thể phát triển đầy đủ di sản đó trên cơ sở một xã hội lành mạnh. Mà một xã hội thật sự lành mạnh nhất thiết phải được xây dựng trên những hệ giá trị trung thực rõ ràng và minh bạch.  Việc hội nhập với thế giới càng đòi hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết những giá trị, những thành tích sạch.  Chữ tín là chữ thiết yếu hàng đầu trong mọi cuộc giao lưu, trao đổi.  Cổ nhân dạy “lời nói đọi máu”.  Bao nhiêu những người con ưu tú của đất nước đã lấy máu mình để bảo đảm lời cam kết độc lập tự do. Hàng triệu liệt sĩ là kho trữ kim quý báu hơn bất kể một thứ trữ kim nào trên đời của đạo đức và nhân cách Việt Nam…  Các thế hệ cha chú vì tương lai của Tổ quốc có nghĩa vụ chi viện cho lớp trẻ trong nhiệm vụ thiêng liêng này.  Trong cuộc đấu tranh khó khăn và quyết liệt chống mọi tệ nạn để tạo dựng một không khí sạch, cao thượng cho tương lai, anh linh của triệu triệu liệt sĩ sẽ chứng giám và làm chỗ dựa hùng hậu cho chúng ta. Chỉ cần chúng ta quyết tâm nhất định chúng ta làm được.  Sống khác làng  Chết cùng quê liệt sĩ  Đọi máu thay lời  Trang nghĩa trăng soi.  Lê Đạt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tố của chính sách đối ngoại và chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển      Bài viết dưới đây tổng hợp các thành tố, tác nhân  có tác động đến chính sách đối ngoại của các nhà nước nói chung theo  tinh thần chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển (Neo classical realism). Đối với Việt Nam, các chính  sách đưa ra có liên quan ở mức độ nào dưới cách nhìn này? Vai trò của  các tầng lớp nhân dân là gì, trong cách nhìn của ngành học nghiên cứu  các tác động của các nhân tố trong cộng đồng?      Đối với các hành vi và ứng xử giữa các nước trong đối ngoại, hòa bình hay chiến tranh, có các cách tiếp cận khác nhau như chủ nghĩa thực tiễn (realism), tự do (liberalism), kiến thiết (constructivism) và mác xít… Cách hành xử thực tiễn xem môi trường quốc tế là luôn bất trắc và nhà nước là thực thể chịu trách nhiệm chính còn trường phái tự do đề cao giá trị của trật tự, tự do, công bằng và khoan dung.  Chính sách ngoại giao khi mới hình thành khác với khi thực hiện. Ngoại giao khác nhau giữa các chế độ xã hội, hoặc dù trong cùng thể chế nhưng ngoại giao khác do dấu ấn cá nhân, do tình hình thực tế.Chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển chú trọng các tác động đến chính sách như tình hình quốc tế và các chủ thể tác động1 bên trong một nước, cùng cơ quan làm chính sách, khác với chủ nghĩa thực tiễn cổ điển (realism) lấy nhà nước làm trung tâm trong môi trường quốc tế bất trắc (anarchy).         1-    Lượng định các mối nguy:  Nhà nước sẽ ước tính các mối nguy đến với mình từ sự cạnh tranh giữa các nhà nước với nhau. Theo những nhà tân thực tiễn (neo realism), nhà nước thường nhấn mạnh tính chất vô chính phủ của trật tự thế giới để gia tăng tính chính đáng của nhà nước trên chính trường toàn cầu nhằm bảo đảm an ninh cộng đồng. Ở thế giới đơn cực, nước mạnh như Hoa Kỳ sẽ cung cấp hàng hóa công cộng nhằm làm dịu đi các cạnh tranh hay xung đột khu vực hoặc lập cơ chế bảo đảm an ninh, xây dựng lòng tin hay giải quyết tranh chấp2. Tuy nhiên, những cơ chế này tỏ ra không bao giờ đủ.  Các chủ thể trong nước cũng thu hút quan tâm của nhà nước. Nhà nước phải làm cân bằng quyền lợi nhiều nhóm sắc tộc, tôn giáo, khu vực, nghề nghiệp như công, nông, thương mại, công chức, cảnh sát, quân đội… Đó là những nhóm có tiếng nói đối với quyền lợi từng nhóm và tổng thể. Harold Lasswell đúc kết mối quan tâm ở từng chủ thể thành câu hỏi và là nhan đề cho cuốn sách của ông: “Ai nhận gì, lúc nào, như thế nào?”. Những nhóm quan tâm sẽ tác động đến chính sách đối ngoại thông qua ước lượng các nguy cơ, quyền lợi. Họ bao gồm nhiều thành phần của cộng đồng và có ảnh hưởng tăng giảm cùng tình hình quốc tế cụ thể.3   Thông thường thì lãnh đạo nhà nước ở vị trí có tầm nhìn bao quát hơn công dân bình thường về an ninh quốc gia dài hạn4; và trên lý thuyết, chiến lược tổng thể về quân sự, tài chính, ngoại giao sẽ thỏa mãn mong muốn của cử tri, công dân, các FPE trong thời bình và trong thời chiến, phần nào.  Những FPE chủ thể hành động đánh giá các thách thức và cơ hội, từ đó có tác động đến nhà nước theo các cách của mình thông qua truyền thông, vận động, lá phiếu, biểu tình, quyết định đầu tư kinh doanh…   Từng lúc và từng mức độ, nhà nước phản ứng lại với các chủ thể hành động trong xã hội. Có khi các cơ quan hành chánh hành xử vì lợi ích cục bộ thay vì lợi ích quốc gia. Đó là khi có khả năng cao là nhà nước sẽ hoạt động vì sự tồn tại của thể chế thay vì của quốc gia. Động cơ của các nhóm từ lớn đến nhỏ gắn với quyền lợi cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các FPE5.    2-    Các tính toán chiến lược:     Những tác giả như Mark R.Brawley, Stephen Walt nhấn mạnh tính toán chiến lược để có chính sách đối ngoại sẽ dựa trên lý thuyết cán cân sức mạnh và mối nguy. Các tính toán chiến lược bao gồm đưa ra thông điệp rõ ràng với cả đồng minh, đối phương và các FPE trong nước. Sự thiếu vắng một liên minh chống Đức rõ ràng của thế chiến thứ nhất và một liên minh khá muộn vào 1940 đã làm gia tăng sức công phá của Đức. Do những cuộc chỉnh lý và tái cấu trúc kinh tế của Stalin và các khủng hoảng nội các của Pháp giai đoạn này khiến Anh phải giữ thế thủ và gần như phải chiến đấu cô độc trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.  Tính toán chiến lược bao hàm gia tăng sức mạnh nhờ vào liên kết đồng minh và chính sách đối ngoại tùy thuộc vào những liên kết này.  Yếu tố kinh tế đóng vai trò lớn nhưng không phải là duy nhất trong quan hệ đối ngoại, có nhiều trường hợp, sự thù địch lên đỉnh điểm dù thương mại giữa hai nước vẫn tăng đến cực cao. Chính quyền sẽ phải có những chiến lược để bảo đảm quyền lợi đối ngoại và thương mại. Trung Quốc phải ngồi lại với Nhật sau các làn sóng dân tộc chủ nghĩa gây thiệt hại cho các nhà đầu tư Nhật tại Trung Quốc vào tháng 9/2012. Chiến lược đối ngoại cũng bao gồm bảo đảm cân bằng lợi ích và nguyên tắc, sinh tồn và danh dự dân tộc.   3-    Bản sắc nhóm:  Các tập thể con người hình thành nên các nhóm một cách tự nhiên và kết nối với nhau thông qua các tập quán, thể chế, bản sắc chung. Các cá nhân tương tác với nhau để giữ bản sắc chung và tạo bản sắc riêng với các cộng đồng khác.   Những nhóm khác biệt sẽ đưa ra các tác động khác nhau tương ứng tới chính sách đối ngoại. Bản sắc dân tộc cũng chịu các tương tác khác để hình thành chính sách đối ngoại của chính mình. Tam giác Mỹ-Trung- Đài cho thấy nét đặc biệt của bản sắc nhóm (dân tộc) và lợi ích các FPE (kinh tế, công kỹ nghệ) đan xen mà không trùng hợp. Những nước, lãnh thổ có cộng đồng Hoa kiều đông đảo như Singapore, Hồng Kông, Đài Loan vẫn có chính sách đối ngoại riêng biệt do tác động của các FPE khác văn hóa song chia sẻ cộng đồng cư trú.   Trung tá Mỹ gốc Việt Lê Bá Hùng6 và Phó Thủ tướng Đức gốc Việt là những trường hợp mang bản sắc nhóm tương đồng về quyền lợi cao hơn nhóm chủng tộc.   Bản sắc nhóm FPE thắng thế ở hội nghị Diên Hồng 1284 cho thấy tiếng nói của nhóm quyết định- bô lão nhân dân- đến chính sách đối ngoại quan trọng, vốn trước đó chưa thể định được ở hội nghị Bình Than 1282 (nhóm hội nghị vương hầu).  Tác giả J.Sterling Folker xét sâu đến nền tảng sinh-chính trị học (bio-political) của các nhóm khác biệt, đối kháng trong cùng một cộng đồng, kể cả chủ nghĩa bộ lạc (tribalism), trong việc đưa ra những ý kiến góp phần định hình chính sách của cộng đồng. Bản sắc nhóm, thông lệ xã hội và các tương tác xuyên nhóm sẽ đóng vai trò quan trọng trong các thông điệp góp ý cho chính sách.   Chủ nghĩa bộ lạc ở các nước châu Phi như Kenya, Nam Phi vẫn đóng vai quan trọng và các nước này đã cố điều hòa lợi ích bằng pháp luật: tạo điều kiện cho bộ lạc nhỏ nhất có tiếng nói trong chính sách (đối ngoại) của cộng đồng.     4-    Các nhóm cùng quyền lợi (interest group) trong nước  Tác giả Colin Dueck lấy bối cảnh Mỹ để mô tả các tầng quan hệ, cho thấy có các tác nhân như các triều tổng thống, các tác động quốc tế, các nhóm dân sự trong nước để lý giải các quyết định can thiệp quân sự- đối ngoại nối dài. Các nhà lãnh đạo Mỹ trong suốt cuộc chiến Đông Dương đưa ra quyết sách chiến tranh ở mức độ nào tùy vào tác động quốc tế, các cuộc biểu tình chống và ủng hộ chiến tranh trong và ngoài nước. Quyết sách đó cũng tùy vào sự mong muốn thông suốt trong thi hành chính sách và kỳ vọng các cuộc bầu cử, tái cử trong đảng và trong nước của họ7. Những nhóm tôn giáo, hành pháp, lập pháp, ý kiến cộng đồng (các viện thống kê mẫu), các nhóm cùng quyền lợi, giới truyền thông, nghiệp đoàn, các cartel võ khí, những nhà vận động môi trường… đã có tiếng nói riêng biệt đến đối sách của Mỹ giai đoạn này. Ở các nước phương Tây, các nhóm tam giác sắt (iron triangle hay military-industrial-complex,MIC) có tiếng nói nặng ký trong chính sách đối ngoại.8  Cũng trong cùng một đảng Cộng hòa của Mỹ vẫn chia làm hai phái Boeing và phái cô lập (Boeing camp và containment camp) chủ trương Mỹ cần can dự sâu hoặc chủ trương bao vây Trung Quốc. Ở đây, không dễ xác định quyền lợi ích của nhóm nào tác động đến chủ trương chung (về đường lối đối ngoại) .  Theo N.M. Ripman, nhà nước thường cư xử duy lý trên trường quốc tế, trừ các nhà nước đế quốc, quân phiệt có thói quen lấn át ngôn luận trong nước. Chủ nghĩa tân thực tiễn (neo realism) thì xác định nhà nước luôn chiếm vị trí thắng thế và rằng những ý kiến nội địa như từ giới lập pháp, từ quần chúng, các nhóm cùng quyền lợi hoặc truyền thông vẫn không đủ mạnh trong việc góp ý về chính sách đối ngoại.  Chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển lại cho rằng chính sự không ổn định của quyền lực quốc tế khiến các nhà nước vừa tìm kiếm an ninh bên ngoài, vừa mưu tìm sự an dân bên trong. Nói khác hơn, theo trường phái này các thu xếp chính trị nội địa có vai trò như những biến số (variables) để giới cầm trịch sắp đặt chính sách đối ngoại. Cũng có những trường hợp giới làm chính trị bị áp lực trong nước về thất cử, mất uy tín hay đảo chính có thể khởi động một cuộc chiến để dương cao ngọn cờ (rally-around-the-flag) nhằm vừa làm im tiếng vừa mời gọi những người đối lập dân tộc chủ nghĩa ủng hộ nhà nước nhân danh lợi ích quốc gia.9  Trong lịch sử Việt Nam, nhóm có cùng quyền lợi (thân hào, võ tướng) được mô tả ở Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương (1284) và nhà Trần đã lắng nghe cũng như tác động các nhóm FPE khác trong giới bình dân để có được sức mạnh kháng Nguyên trong hai lần 1285 và 1288. Với Bình Ngô Đại Cáo, các FPE rộng khắp hơn, góp hình ảnh nhiều hơn và gần với cách thức của hội nghị Diên Hồng hơn Bình Than.  Khi có khác biệt, Trương Định và nghĩa quân chọn chính sách khác hẳn với triều đình vốn có quyền lợi nhóm khác với chọn lựa của nhân dân.   Ngoài ra, các tác nhân phi-nhà nước (non-state actor) và xuyên quốc gia (TNA) như các tập đoàn, công ty, các tổ chức phi chính phủ, các liên minh phòng vệ, Interpol, và thậm chí các nhóm cướp biển, các nhóm buôn ma túy, rửa tiền… cũng cần tính đến trong đối ngoại.10  Đôi lúc, chính quyền hoặc những nhóm thế lực như truyền thông, tài chính với năng lực tập hợp của mình có thể “vặn xả” các valve để hướng nhiệt lượng chủ nghĩa dân tộc sao cho phù hợp quyền lợi của họ bằng cái giá của những FPE khác- như giới kinh doanh và các quan hệ hợp tác của họ.   5-    Huy động và trích dùng nguồn lực    Quyền trích dùng nguồn lực cho đối ngoại bao gồm xây dựng nhà nước, dự phòng chiến tranh cũng có những khác biệt tại các xã hội-nhà nước khác nhau. Xã hội nhà Thanh, Trung Quốc và xã hội Minh Trị, Nhật Bản đã đối phó khác biệt với chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Các nước châu Âu dù có chế độ chính trị khá tương đồng cũng ứng phó khác nhau khi điều động quân đội và thi hành chính sách đối ngoại, ví dụ ở giai đoạn Cách mạng Pháp và các cuộc chiến Napoleon.   Người Nhật năm 2011 gởi ngân hàng với lãi suất 0%, người Việt Nam với “Tuần lễ vàng” 1946 có thể xem là những ví dụ của việc trích dùng nguồn lực thành công.  Các tác giả neoclassical realism phủ nhận nhà nước yếu sẽ có khuynh hướng độc tài và tập trung các nguồn lực trong nước hơn và nhà nước mạnh sẽ áp dụng các chế độ cởi mở và phân quyền hơn. Janice Thomson ghi nhận các lý do lịch sử của xung khắc giữa nhà nước và xã hội nói chung. Xã hội thường cưỡng lại nỗ lực của nhà nước trong trích dụng nguồn lực, trong độc quyền về hành chánh và luật pháp. Những căng thẳng này được thu xếp để có cuộc sống chung và các thể chế xã hội sẽ thay đổi khi có những chuyển biến để phù hợp việc trích dùng nguồn lực của các FPE.   Sẽ không có một “dây truyền động” hoàn hảo kết nối quyền lực được phân chia đó với chính sách ngoại giao của các nhà nước. Các nhà làm chính sách sẽ đưa ra các chọn lựa hành động theo cảm nhận và tính toán về môi trường trong ngoài, về quyền lực của mình và ý định của các nhà nước khác trong môi trường quốc tế rộng lớn. Dựa trên các tính toán đó, chính sách đối ngoại của các nhà nước vẫn sẽ không dễ đoán định và tùy từng trường hợp mà các mức sức mạnh khác nhau sẽ được thực thi. Ngay cả khi giới chính trị lượng định đúng nhu cầu sử dụng sức mạnh, họ cũng không hẳn tận dụng được hết những nguồn lực vật chất của xã hội họ đang nắm giữ.11  Có một sự mặc cả tự nhiên giữa nhà nước và các nhóm xã hội trong nước trong việc huy động nguồn lực và chuyển đổi chúng từ trạng thái kinh tế thời bình sang võ khí thời chiến và ngược lại để phục vụ chính sách đối ngoại. Tương quan này bao hàm cả ở các quốc gia có nhu cầu an ninh cao (nước nhỏ) và các nước có nhu cầu gây ảnh hưởng (nước lớn) đến mức bá quyền (hegemony).   Các nước có hình thức ý thức hệ đặc biệt như Đức Quốc xã, sau là Ý, Nhật trong thế chiến 2 đã có khả năng huy động nhanh chóng và hiệu quả cho giai đoạn đầu của chiến tranh.  Chủ nghĩa thực tiễn tích cực (offensive realism) cho rằng thế giới ngày nay là nơi các đại cường gia tăng sức mạnh và gây ảnh hưởng khu vực (seek regional hegemony) nhằm giữ an ninh. Song tình hình không có đại cường tại nhiều khu vực trên thế giới đầu thế kỷ 20 cũng đã từng kéo dài rất lâu.   6-    Kết luận  Theo chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển, chính sách đối ngoại của một quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều chủ thể hành động khác nhau trong môi trường quốc tế thay đổi. Chính sách đối ngoại lành mạnh và hiệu quả sẽ phải phù hợp với lợi ích của nhiều thành phần, dựa vào đóng góp ý kiến của toàn xã hội không giới hạn nhóm. Nhóm tuyển cử và người đại diện vẫn tuân theo ý kiến cộng đồng ở nhiều mức độ. Ở những quyết sách quan trọng, nếu bỏ qua các FPE, chủ thể nội địa, công việc đối ngoại sẽ khó phát huy hiệu năng. Nhà nước duy trì để bảo vệ các thiết chế, dân sinh quốc gia, các tộc thiểu số trong mối quan hệ với các đối tượng khác trên trường quốc tế.  Những thành viên khác của một cộng đồng xã hội như lập pháp, các nhóm cùng quyền lợi, giới truyền thông, các nhà môi trường, các tôn giáo, các nhóm dân sự, các sắc dân thiểu số và những tiếng nói khác biệt có nghĩa vụ góp tiếng nói để có một chính sách đối ngoại phù hợp nhất cho cộng đồng.  Từ cái nhìn tổng quát về các FPE riêng biệt, người làm đối ngoại Việt Nam cần hướng đến lợi ích xã hội, và quyết định phù hợp để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập cho Việt Nam.   Công việc đối ngoại của Việt Nam về vấn đề biển Đông liên quan người Việt Nam ở nhiều giới, không thể đóng khung trong một vài FPE nào. Chính sách đối ngoại Việt Nam là công việc có tác động đến nhiều giai tầng… liên quan các quyết định về sinh hoạt, học tập, kinh doanh của không chỉ người dân Việt trong và ngoài nước, của nhà đầu tư và người nước ngoài sống ở Việt Nam. Các tác nhân FPE dù lớn hay nhỏ đều góp tiếng nói, góp sức trong việc hình thành chính sách đối ngoại của đất nước Việt Nam. Cách tiếp cận của chủ nghĩa thực tiễn tân cổ điển trước nay là trên nhiều giới, nhiều ngành nghề đa dạng của một cộng đồng, có thể để chiêm nghiệm phần nào cho tính rộng khắp của công việc đối ngoại, trong đó đối ngoại (ngoại giao) nhân dân là một bộ phận.   —  1 Các tác nhân mang nhiều tên gọi ở các mức khác nhau như FPE-foreign policy executive, FPA-foreign policy actor, actor, executive…  2 William Curti Wohlforth,”The stability of a unipolar world,” International Security 24, No 1 (1999), trang 5-41; Benjamin Miller, States, Nations and the Great Powers: The Source of Regional War and Peace (Cambridge: Cambridge University Press, 2007)  3 Foreign policy executive-FPE  4 Thomas Christensen, Useful Adversaries, trang 18  5 On the effect of small group dynamics on foreign policy, Jeffrey W.Taliaferro, Balancing risks: Great Power intervention in the periphery (Icatha, NY: Cornell University Press, 2004); Steven E.Lobell, “The international Realm, Framing Effects, and security strategies: Britain in Peace and War,”International Interactions 32,no. 1(2006), trang 27-48)  6 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/11/091109_lebahung_interview.shtml    7 Steven E. Lobell, Norrin M.Ripsman, Jeffrey W. Taliaferro, Neo Classical Realism, the state, and foreign policy (Cambridge 2009); Colin Dueck, Neo Classical Realism and the national interest, trang 157  8 David Sanger,”Interview,” Frontline special: dangerous straits, exploring the US-China relations and the long simmering issue of Taiwan. First aired Oct 2001, available at: www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/shows/china/interviews/sanger.html  9 Levy, “The diversionary theory of war”; Alastair Smith, “Diversionary foreign Policy in democratic Systems,”International study Quarterly 40, no. 1(1996), trang 133-53   10 Michael K.Connors, Remy Davidson và Jorn Dosch, The new global politics of the Asia Pacific, Routledge, 2012, trang 225   11 J.W. Taliaferro, Neoclassical realism and resource extraction; Steven E. Lobell, Norrin M. Ripman, J.W. Taliaferro Neoclassical Realism, the state and foreign policy, trang 213           Author                Quản trị        
__label__tiasang Thao túng dư luận xã hội      Trước đây, trong một bài viết cho Tia Sáng của tôi về trách nhiệm của tri thức trong xã hội, cũng được truyền cảm hứng từ một trong những tiểu luận nổi tiếng nhất của Noam Chomsky về “tạo sự đồng thuận”3. Đến bài này, lí do tôi viết là vì nỗi lo về sự tiến hóa của truyền thông do internet và mạng xã hội đang đưa đến một chiều kích mới cho sự định hình dư luận.      Tạo dựng sự đồng thuận là tiêu đề tiểu luận của Noam Chomsky và Edward Herman được xuất bản ở Mỹ vào năm 19881. Các tác giả mô tả mô hình tuyên truyền để tạo dựng sự đồng thuận của công chúng bằng cách sử dụng các “bộ lọc” được biên tập bóp méo, là cách truyền thông đại chúng ứng dụng trong việc đưa tin. Cuốn sách đã có tác động mạnh tới các học giả Mỹ và khởi xướng một loạt các bình luận cả đồng tình lẫn tranh cãi, vẫn như với mỗi tiểu luận và sách ngắn của Noam Chomsky. Noam Chomsky là một trong số những trí thức có ảnh hưởng lớn nhất trong nửa cuối thế kỉ vừa qua, nhiều người biết đến ông với những hành động phản đối Chiến tranh Việt Nam2.    Tạo dựng sự đồng thuận là điều cần thiết cho bất kì ai lãnh đạo một quốc gia. Cách đây 25 thế kỉ, Plato trong cuốn Cộng hòa đã chỉ ra nhu cầu của một nền quản trị tốt là cần chuẩn bị sẵn những huyền thoại thích hợp để thống nhất quốc gia dân tộc, mà các dịch giả thường gọi là những “lời nói dối cao thượng”. Tạo dựng sự đồng thuận có thể hiện diện dưới vô vàn hình thức ở đủ loại mức độ khác nhau. Một cực là hình thái lí tưởng của xã hội dân chủ nơi mà những người điều hành đất nước nỗ lực giải thích lí lẽ với người dân về các chính sách của mình và từ đó đạt được sự đồng thuận. Tình huống lý tưởng đó đòi hỏi những người dân được giáo dục tốt, có khả năng hiểu và đánh giá lập luận của những người lãnh đạo. Nó cũng đòi hỏi những người lãnh đạo hết mực quan tâm tới giáo dục người dân, như Bác Hồ từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ở cực khác là trường hợp chính quyền độc tài mà dư luận xã hội được nhào nặn bởi các thông tin tuyên truyền sai lệch và những đe dọa cưỡng ép. Người dân ở các quốc gia đó càng ít được học hành, thì họ càng dễ bị sai khiến. Những người đứng đầu chính quyền độc tài đó mong muốn giữ cho người dân ở trạng thái vô minh, ngăn cản người dân đọc những gì ngoài sự rao giảng sự vĩ đại của những học thuyết mà họ tự khẳng định là luôn noi theo.    Lịch sử ghi lại nhiều ví dụ về việc tạo dựng sự đồng thuận một cách hiệu quả và cho ta nhiều bài học. Sự tuyên truyền của Đức Quốc xã là một trường hợp điển hình. Hitler, trong tác phẩm Mein Kampf đã chỉ rõ một yêu cầu cơ bản để đạt được sự tuyên truyền hiệu quả4: “Tuyên truyền phải luôn hướng đến đại đa số người dân. […] Tất cả các nội dung tuyên truyền phải được trình bày dưới hình thức phổ biến và hạn chế mức tri thức của nó sao cho không vượt quá tầm nhận thức của những người ít trí tuệ nhất trong số các độc giả mà nó hướng đến. […] Nghệ thuật tuyên truyền nằm chính xác ở khả năng kích thích trí tưởng tượng của công chúng thông qua việc lay động cảm xúc của họ, nằm ở việc tìm ra hình thức tác động tâm lý sẽ tóm gọn sự chú ý và nắm bắt trái tim của dân chúng cả nước. Đại đa số người dân không phải là nhà ngoại giao hay các giáo sư luật công hay đơn giản là những người có khả năng phản biện trước mỗi tình huống, mà là đám đông những người lớn trẻ dại dễ lung lạc, liên tục bị xao động từ ý tưởng này đến ý tưởng khác. […] Đại đa số người dân của một quốc gia có tính cách và quan điểm dễ dãi tới mức suy nghĩ và hành động của họ tuân theo cảm xúc chứ không phải lí trí tỉnh táo. Cảm xúc này, tuy nhiên, lại không phức tạp mà đơn giản và nhất quán. Nó cũng không quá đa dạng mà chỉ có hai sắc độ tiêu cực hoặc tích cực như giữa yêu và thù ghét, đúng và sai, sự thật và lừa dối.” Josheph Gobbel, Bộ trưởng Bộ Khai sáng công chúng và Tuyên truyền lúc đó đã tuân thủ những chỉ dẫn này ở mức cực đoan cao nhất, đóng vai trò chính cho những tội ác khiến cho đế chế này trở nên tàn bạo. Việc các sinh viên đại học đốt những sách vở5 không ủng hộ học thuyết phát xít đã chứng minh cho bình luận của tôi vừa rồi về tầm quan trọng của việc duy trì người dân trong vòng tròn vô minh.      Noam Chomsky tham gia biểu tình chống chiến tranh Việt Nam năm 1967. Nguồn ảnh: UMass Amherst Libraries.    Dưới thời Stalin, tuyên truyền trở thành một chương tối trong lịch sử của Liên bang Xô viết6. Bài viết này sẽ không đi sâu vào những nội dung dễ gây tranh cãi, tuy nhiên rõ ràng việc xử lý, cải tạo lao động và tra tấn tâm lý những người bất đồng với những tuyên truyền chính thống không giúp gì cho hình ảnh và ý nghĩa của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Ở đây, tôi không định tổng kết lại nhiều hình thức tuyên truyền diễn ra trong lịch sử gần đây: mặc dù thú vị, nhưng nhiệm vụ đó vượt quá phạm vi của bài viết. Tuy nhiên hãy cho phép tôi đề cập đến một công trình, mà tôi nghĩ người Việt Nam sẽ quan tâm. Đó là luận án tiến sĩ gần đây7 (2016) trong ngành lịch sử của Justin Simundson viết cho Đại học Công nghệ Texas, tiêu đề là “Tranh cổ động và Tạo dựng sự đồng thuận trong ‘Giải phóng’ Việt Nam, 1950-1963”. Nó chỉ ra việc tuyên truyền Chiến tranh lạnh diễn ra như thế nào ở Đông Dương và Việt Nam, cách thức đường lối tuyên truyền đó đã tạo ra không khí chính trị đã dẫn đến Chiến tranh Việt Nam ra sao. Công trình này lập luận rằng cả Mỹ và những người Việt chống cộng đã tạo ra thông tin tuyên truyền chủ yếu hướng tới việc tạo dựng sự đồng thuận ở Mỹ có tiền lệ. Chúng ta đã chứng kiến cả một tầng lớp chính trị học theo ông ta, xúc phạm lẫn nhau bằng lời lẽ thiếu tính lịch sự ở mức tối thiểu. Chúng ta cũng nhìn thấy sự độc hại của các thuyết âm mưu và sự lây nhiễm của Q-anon trong công chúng và khiến họ tin rằng có một “băng đảng quỷ Satan ăn thịt người và ấu dâm đang vận hành một đường dây toàn cầu bán dâm trẻ em” đang thêu dệt các tin chống lại Trump. Chúng ta đã chứng kiến những thông tin được đưa một cách khách quan trên truyền thông liên tục bị phủ nhận một cách hệ thống là “tin giả” bởi những người cho rằng những thông tin đó là đi ngược lại lợi ích của họ. Chúng ta đã chứng kiến một đảng phái chính trị lớn ủng hộ cho “Lời nói dối trắng trợn” rằng bầu cử tổng thống 2020 là gian lận. Đến giờ này, vẫn có 30% người dân Mỹ tin vào điều đó. Tất cả những thứ rác rưởi này là bằng chứng cho thấy rằng sự vô minh khủng khiếp của người dân vẫn tổn tại ở một quốc gia lớn và đáng lẽ là một quốc gia phát triển nhất. Nó vẫn là bằng chứng ủng hộ quan điểm của Hitler cho rằng đám đông không có khả năng đưa ra những nhận định và đánh giá có lí lẽ. Điều đáng lo là cách thức để nó nhiễm độc cả quốc gia, với dân số gấp ba lần Việt Nam, trong thời gian quá ngắn.      Rất nhiều người sử dụng các kết nối và nền tảng mạng xã hội của họ để chủ ý hoặc vô ý truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, các thuyết âm mưu và những thảo luận gây chia rẽ – mọi hình thức của tuyên truyền. Chúng ta giờ đây tất cả đều là những kẻ tuyên truyền”. GS. Jennifer Mercieca      Làm sao điều đó xảy ra? Dĩ nhiên, chúng ta đều hiểu là đám đông không thể hiểu được những vấn đề phức tạp có ý nghĩa quan trọng toàn cầu, vốn đòi hỏi tri thức sâu sắc về những yếu tố liên quan để phân tích một cách đúng đắn, chẳng hạn như năng lượng hạt nhân và nóng lên toàn cầu. Chúng ta đã chứng kiến sự vô minh như vậy đưa đến những hệ lụy thế nào, những quyết định sai lầm được thực hiện lúng túng trên quy mô toàn cầu, cảm xúc thay thế lí trí và gây ra sự chia rẽ người dân trên toàn cầu thành hai chiến tuyến. Với một chút phóng đại, chúng ta có thể nói rằng ở Mỹ, nếu bạn là người theo Đảng Dân chủ, bạn tin vào nóng lên toàn cầu, nếu là người theo Đảng Cộng hòa, thì bạn không. Đại dịch chỉ ra rằng sự phi lí này vẫn tiếp tục dâng cao với sự chia rẽ giữa hai phe ủng hộ đeo khẩu trang và không đeo khẩu trang và giữa phe ủng hộ và phe không tin vaccine. Có lẽ đã có một cảnh báo nào đó, nhưng chúng ta không hề nghĩ rằng tác hại của sự ngu dốt có thể có ảnh hưởng lớn như vậy trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Nó gây bất ngờ và vẫn là một chủ đề trao đổi chính giữa các học giả trên khắp thế giới.    Tôi muốn lấy ví dụ về một bài báo gần đây được đăng trên tờ The Conversation bởi Jennifer Mercieca8, giáo sư truyền thông ở Đại học Texas A&M. Quan điểm của bà đại diện tương đối cho số đông học giả. Bà cho rằng chúng ta đều là những kẻ đi tuyên truyền “Mô hình tuyên truyền dọc được kiểm soát bởi giới tinh hoa không thể nào địch lại sự thay đổi trong cách giao tiếp mà truyền thông tham dự mới mang đến – đầu tiên là đài phát thanh, rồi cáp quang, email, blog, chat, tin nhắn, video và mạng xã hội. Theo nghiên cứu của trung tâm Pew, 93% người Mỹ đang nối mạng internet và 82% đang dùng mạng xã hội. Rất nhiều người sử dụng các kết nối và nền tảng mạng xã hội của họ để chủ ý hoặc vô tình truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, các thuyết âm mưu và những thảo luận gây chia rẽ – mọi hình thức của tuyên truyền. Chúng ta giờ đây tất cả đều là những kẻ tuyên truyền”.      Những người ủng hộ Donald Trump xông lên đồi Capitol. Cuộc nổi loạn này xảy ra do Trump kích động bằng cách đăng trên mạng xã hội kêu gọi những người ủng hộ của mình tuần hành đến Điện Capitol để gây áp lực nhằm lật ngược kết quả cuộc bầu cử sau chiến thắng của Biden. Các mạng xã hội Facebook, Twitter đều khóa và sau đó đình chỉ vĩnh viễn tài khoản của Trump. Nguồn: NPR.  Kết cục, bà nói, nền dân chủ đang trong giai đoạn khủng hoảng, tạo dựng sự chia rẽ thay thế cho việc tạo dựng sự đồng thuận “Thông tin tuyên truyền mới có thể sinh ra từ bất kì ai, bất kì đâu – và điều này được thiết kế để tạo ra sự hỗn loạn khiến không ai biết rằng mình nên tin ai và điều gì mới là sự thật. Người dân bị lợi dụng và được huấn luyện bởi các đảng phái chính trị, truyền thông, các tổ chức vận động xã hội, các nền tảng, các tập đoàn – và còn nhiều nơi khác nữa – để trở thành những người tuyên truyền, kể cả khi họ không nhận ra điều đó”.    Khoảng 10 năm trước, tôi viết cho Tia Sáng một bài báo tên là “Internet, cái lưỡi của Aesop”, trong đó tôi có tranh luận rằng Internet cũng như cái lưỡi của Aesop là thứ tốt nhất và cũng là thứ tệ nhất của mọi thứ. Lúc đó tôi chỉ tập trung vào việc sử dụng và sử dụng sai nó trong giảng dạy và nghiên cứu học thuật, bình luận sâu về vấn đề đạo văn. Nhưng tôi chỉ đề cập một chút về việc sử dụng sai internet bởi những kẻ tấn công tình dục hoặc chính quyền độc tài dùng web để áp đặt quyền lực của mình lên người khác. Nhưng nếu tôi viết lại bài báo đấy ngày nay, tôi sẽ phải sử dụng giọng văn mạnh mẽ hơn và không thể đánh giá thấp mối đe dọa đối với nền dân chủ bởi cách nó được sử dụng ngày nay cho việc tạo dựng sự chia rẽ. Tôi không thể phớt lờ tác hại gây ra bởi sự lây lan của những thông tin sai sự thật trên các nền tảng như WhatsApp, khiến cho 20 người vô tội ở Ấn Độ phải chịu hành hình kiểu lynso vào khoảng giữa tháng năm và tháng bảy năm 2018 vì bị cáo buộc sai là hành hạ trẻ em9.    Khi tôi là giám đốc nghiên của của CERN, tôi thường tổ chức các cuộc họp hằng tuần với những người đứng đầu của bốn phòng ban mình phụ trách. Khoảng 30 năm trước, trong một cuộc họp như vậy, David Williams, người đứng đầu phòng ban Xử lý Dữ liệu và Máy tính mời chúng tôi tới gặp một kĩ sư trẻ tuổi là nhân viên của ông, Tim Berners-Lee*. Tim đang làm việc một mình trong một văn phòng nhỏ gần đấy và trình bày với chúng tôi về công trình của anh và những gì anh thành công trong việc liên kết các máy tính với nhau. Tôi nhớ rằng anh cho chúng tôi thấy cách anh có thể gần như ngay lập tức đưa ra một danh sách các khách sạn ở Tokyo. Tôi phải xấu hổ khi thú nhận rằng, lúc đó thôi không thấy ấn tượng lắm: Ai mà quan tâm đến những khách sạn ở Tokyo cơ chứ? Nhưng Tim trông có vẻ là một nhà nghiên cứu thông minh, tốt bụng và tôi hoàn toàn tin tưởng vào David: chúng tôi cho anh ấy toàn quyền quyết định trong việc ủng hộ và hỗ trợ công trình của Tim. Tuy nhiên, theo chính sách của CERN là cho phép truy cập mở tới mọi sản phẩm của nó, bởi vậy mọi dòng lệnh liên quan đến công trình này phải luôn mở và miễn phí bản quyền cho tất cả và mãi mãi.  Nhớ lại những điều trên có lẽ chỉ đơn giản cho thấy tôi có một tầm nhìn thật tệ. Nhưng cũng có thể dạy chúng ta một bài học sâu sắc hơn: những con robot chúng ta tạo ra có thể đưa thế giới đi rất xa so với dự định ban đầu, tới những nơi mà sự tồn tại của chúng là điều chúng ta không thể ngờ tới. □        Hảo Linh dịch  ——  *Người phát minh ra World Wide Web  1Herman, Edward and Noam Chomsky. Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media. NY: Pantheon, 2002.  See also Chomsky, Noam. Necessary Illusions: Thought Control in Democratic Societies. Boston, MA: South End Press, 1989.  2 Chomsky, Noam. Rethinking Camelot: JFK, the Vietnam War, and US Political Culture. Boston, MA: South End Press, 1993.  Chomsky, Noam. At War with Asia: Essays on Indochina. Oakland, CA: AK Press, 1969.  3 https://chomsky.info/19670223/  4 https://www.jstor.org/stable/20081463  https://en.wikipedia.org/wiki/Propaganda_in_Nazi_Germany  5 https://en.wikipedia.org/wiki/Nazi_book_burnings  6 https://en.wikipedia.org/wiki/Propaganda_in_the_Soviet_Union  https://www.history.com/news/josef-stalin-great-purge-photo-retouching  7 https://ttu-ir.tdl.org/bitstream/handle/2346/73202/SIMUNDSON-DISSERTATION-2017.pdf?sequence=1  8 https://theconversation.com/we-are-all-propagandists-now-164519  9https://fr.wikipedia.org/wiki/WhatsApp#Diffusion_de_fausses_informations_et_mod%C3%A9rations_des_contenus    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Thất bại của Rio+20      So với hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm  1992 cách đây 20 năm thì hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio+20 vừa bế mạc  hôm 22/6 tại Rio de Janeiro, Brazil, là một hội nghị thất bại.    Tham gia hội nghị do Liên hợp quốc tổ chức có đại diện từ hơn 150 nước nhưng tổng thống hay thủ tướng của nhiều nước, trong đó có các nước chủ chốt như Mỹ, Anh, Đức… không có mặt. Thiếu vắng những người có quyền lực cao nhất có thể tạo ra những quyết định có ý nghĩa, nhiều kết quả đáng lẽ có thể đạt được đã bị bỏ lỡ.   Thất bại cũng đến từ ứng xử tại hội nghị của nước chủ nhà Brazil. Trong khi hội nghị thượng đỉnh Trái đất năm 1992 cho ra đời những hiệp định giữ gìn khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học trên đất liền và các đại dương, thì Rio+20 không cho ra được hiệp định nào về gìn giữ môi trường. Brazil đã thu xếp mọi chuyện theo kiểu dĩ hòa vi quí, một văn bản ra đời sau khi đã được rà soát, những chi tiết có thể gây tranh cãi bị loại bỏ một cách đơn giản.   Nhưng Brazil cũng không một mình tạo ra kết cục này. Ở đây có sự tham gia của các chính trị gia và quan chức từ các nước muốn biến Rio+20 thành nơi phát đi những lời kêu gọi suông chứ không có hành động cụ thể nào thực sự được cam kết thực hiện. Bởi vậy, không có gì khó hiểu trong khi Rio+20 được nhiều người hy vọng sẽ là hội nghị đi sâu giải quyết các vấn đề của trái đất, thì bản báo cáo kết quả từ hội nghị lại mang một tiêu đề hết sức chủ quan và mơ hồ đến vậy – “Tương lai mà chúng ta muốn”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thất thoát hay trao đổi chất xám?      Ngày càng phổ biến tình trạng người ta tìm cách thuyết  phục sinh viên quốc tế, chủ yếu là những người đến từ các quốc gia đang  phát triển và các nước thu nhập trung bình, ở lại làm việc sau khi tốt  nghiệp. Nói một cách đơn giản, các nước giàu đang cướp đi chất xám của  các nước đang phát triển hay đúng hơn là chất xám của bất kỳ nước nào mà  họ có thể thu hút được.     Các nước giàu hiện đang lo ngại về tình  trạng thiếu hụt nhân lực có kỹ năng để phục vụ nền kinh tế của mình, đặc  biệt là ở trình độ cao. Có nhiều nguyên nhân, như “sụt giảm nhân khẩu” ở  Nhật Bản và các nước châu Âu, làm giảm đáng kể số thanh niên ở độ tuổi  học đại học, trong đó đáng lo ngại là thiếu sinh viên đăng ký vào các  ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, giảm số lượng người đi  học và tốt nghiệp. Vậy đâu là giải pháp cho tình trạng này?  Thực tế cho thấy ngày càng phổ biến tình trạng người ta tìm cách thuyết phục sinh viên quốc tế, chủ yếu là những người đến từ các quốc gia đang phát triển và các nước thu nhập trung bình, ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp. Nói một cách đơn giản, các nước giàu đang cướp đi chất xám của các nước đang phát triển hay đúng hơn là chất xám của bất kỳ nước nào mà họ có thể thu hút được. Mặc dù việc thất thoát chất xám luôn tồn tại trong giới học thuật trong vòng một thế kỷ nay, tình hình này ngày càng nghiêm trọng đối với tất cả các quốc gia.   Vì vậy, các nước đang phát triển cũng như các quốc gia mới nổi đang đứng trước nguy cơ bị tụt hậu trong nền kinh tế tri thức toàn cầu, và điều đó sẽ gây ra những thiệt hại dài hạn cho tương lai của họ.  Hiện trạng  Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nếu nói rằng đang có những quốc gia áp dụng các chính sách nhằm chủ ý gây ra sự thất thoát chất xám của các nước khác thì có lẽ cũng không phải là quá cường điệu. Thực tế hiện nay tỷ lệ ở lại không về nước của du học sinh đã khá cao.   Chẳng hạn, trong vòng gần nửa thế kỷ qua, có đến hơn 80% du học sinh Trung Quốc và Ấn Độ tốt nghiệp tại các đại học của Hoa Kỳ đã không trở về nước. Không hề quá lời nếu ta nói rằng phần lớn thung lũng Silicon Valley đã được xây dựng bằng chất xám của Ấn Độ. Kết quả khảo sát gần đây của Quỹ khoa học quốc gia Hoa Kỳ (National Science Foundation) cho thấy phần lớn người nhận bằng tiến sĩ từ các quốc gia đang phát triển đều có kế hoạch ở lại Mỹ và đóng góp vào nguồn nhân lực học thuật của nước này, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Tuy chúng ta không có nhiều dữ liệu, nhưng hầu như chắc chắn rằng các quốc gia châu Âu và Australia cũng đang có khuynh hướng tương tự. Tuy nhiên, xét trên phạm vi toàn cầu thì tỷ lệ trở về của các du học sinh đang tăng lên chút ít trong bối cảnh kinh tế của các quốc gia đang phát triển được cải thiện, trong khi một số các nước giàu vẫn còn sa lầy trong suy thoái kinh tế.  Trợ cấp của người nghèo cho người giàu  Các quốc gia đang phát triển và các nước mới nổi đang thực sự đóng góp đáng kể cho các hệ thống học thuật của các nước giàu. Sinh viên quốc tế đang đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của châu Âu, Bắc Mỹ và Úc ngay cả khi họ còn đang học và khi ở lại sau tốt nghiệp. Dữ liệu từ năm 2011 cho thấy số lượng 764.000 sinh viên quốc tế học tập tại Hoa Kỳ đã đóng góp hơn 22 tỉ USD hằng năm cho nền kinh tế nước này. Các quốc gia xuất khẩu giáo dục lớn khác cũng có số liệu tương tự. Quả thật, cả Australia, nơi thu được 17 tỷ USD hằng năm, và Vương quốc Anh, nơi thu được 21 tỷ USD hằng năm từ sinh viên quốc tế, đều có những chính sách được khẳng định rõ ràng nhằm gia tăng thu nhập từ sinh viên nước ngoài.  Nhưng điều đáng nói hơn chính là sự đóng góp của các nước mới nổi và các nước đang phát triển cho các nước giàu, thông qua việc các nghiên cứu sinh ở lại sau khi tốt nghiệp và tham gia vào nguồn nhân lực học thuật của các nước giàu. Dưới đây chúng tôi sẽ nêu những ví dụ từ Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia “xuất khẩu chất xám” lớn nhất thế giới. Cần lưu ý rằng các số thống kê chỉ có tính gợi ý vì số liệu chưa đầy đủ và được thu thập tại các thời điểm khác nhau.   Trong năm 2012, có đến 100.000 sinh viên Ấn Độ đến học tại Hoa Kỳ, chủ yếu ở trình độ sau cử nhân. Đại đa số những sinh viên này đều ở lại sau khi tốt nghiệp, trong đó nhiều người trở thành giảng viên tại nước họ theo học. Theo số liệu thống kê của UNESCO, có thể ước tính sơ khởi rằng để giáo dục một trẻ em từ tiểu học lên đến hết trình độ cử nhân thì mỗi người dân Ấn Độ phải đóng khoảng 7.600 USD tiền thuế – tính theo sức mua tương đương (PPP). Số tiền mỗi gia đình người Ấn phải bỏ ra cho việc giáo dục con cái cũng tốn khoảng tương đương như thế – đặc biệt là vì có khá nhiều học sinh theo học tại các trường tư nói tiếng Anh của nước ngoài hoạt động tại Ấn Độ, tức là số tiền tổng cộng ước tính lên đến 15.000 USD cho một thanh niên. Như vậy, số tiền đầu tư ước tính của Ấn Độ vào nước Mỹ, thông qua việc giáo dục 100.000 thanh niên đến trình độ cử nhân trước khi đi du học, là khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm.   Các số liệu tương tự từ Trung Quốc thậm chí có thể còn cao hơn. Mặc dù các số liệu về chi tiêu công cho giáo dục không sẵn có, nhưng các nghiên cứu cho thấy một gia đình Trung Quốc bình quân đầu tư khoảng 39,000 USD tính theo sức mua tương đương PPP cho việc giáo dục một học sinh từ tiểu học đến hết cử nhân. Riêng năm 2012 đã có đến 194.000 sinh viên Trung Quốc du học tại Hoa Kỳ. Như vậy có thể ước tính rằng người Trung Quốc đã đầu tư khoảng 7,6 tỷ USD vào tiềm năng chất xám tại nước Mỹ. Chưa kể còn có một nguồn kinh phí đáng kể khác từ nhà nước Trung Quốc cho người đi học ở nước ngoài, mặc dù không có số liệu chính xác.   Ngoài chi phí đóng góp trực tiếp của sinh viên quốc tế, các nước chủ nhà còn được hưởng một nguồn lợi khổng lồ từ nguồn vốn tri thức của những bộ óc xuất sắc nhất đến từ những nước đang phát triển. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển phải chịu thiệt hại nặng nề, đặc biệt là giới hàn lâm do không thu hút được người tài có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực, về làm nghiên cứu, giảng dạy và đóng góp các ý tưởng đổi mới sáng tạo cho đất nước.  Chiến lược của các nước giàu  Hai nhà nghiên cứu giáo dục đại học là Hans de Wit và Nannette Ripmeester đã cung cấp một bản tóm tắt tuyệt vời về một số chính sách nhằm tăng cường “tỷ lệ giữ chân” thông qua việc thay đổi những chính sách nhập cư, cung cấp học bổng, và liên kết chặt chẽ hơn giữa các trường đại học và người sử dụng lao động, và những chính sách khác (theo Bản tin giáo dục đại học thế giới, ngày 17 tháng 2 năm 2013). Ở cả châu Âu và Bắc Mỹ, đều có những sáng kiến nhằm lôi kéo các nhà chuyên môn xuất sắc nhất vốn là du học sinh từ các nước khác, ở lại và tham gia lực lượng lao động của mình. Các nước này đang thực hiện nhiều nỗ lực như nới rộng quy định thị thực, tạo điều kiện có việc làm, cho phép làm thêm trong thời gian học, công nhận bằng cấp dễ dàng hơn, cải thiện sự hợp tác giữa các trường đại học, chính phủ và các ngành công nghiệp, cùng nhiều sáng kiến khác.  Các quốc gia như Anh và Úc, trong những năm gần đây vốn áp dụng những quy định khá chặt chẽ về di trú, cũng đang xem xét lại các chính sách của mình. Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ cũng như các trường đại học đang chủ trương tự nới rộng chế độ thị thực để tạo điều kiện cho các du học sinh sau khi tốt nghiệp có thể ở lại và làm việc tại Hoa Kỳ. Trong khi đó, chẳng ai chỉ ra sự mâu thuẫn giữa một bên là Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển giáo dục tại các nước mới nổi, và bên kia là các chính sách nhằm thu hút nguồn chất xám tốt nhất từ các quốc gia đang phát triển của các nước giàu.  Một số nước châu Phi như Nam Phi và Botswana, vốn có hệ thống giáo dục đại học tương đối phát triển và mức lương khá hấp dẫn, cũng cố gắng thu hút tài năng từ các nước châu Phi khác. Không những thế, tình trạng thất thoát chất xám còn diễn ra giữa các cường quốc khoa học. Chẳng hạn, nước Đức đã phải rất nỗ lực để thu hút những nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) đang làm việc tại Hoa Kỳ trở về nước, nhưng không đạt được mấy thành công. Đối với những người này, một sự nghiệp khoa học ổn định và mức lương cao hơn đôi chút ở Mỹ vẫn hấp dẫn hơn.  Sự phức tạp của thế giới toàn cầu  Một khi vị trí địa lý vẫn còn quan trọng và thế giới vẫn chưa phẳng khi xét theo sức mạnh khoa học của các quốc gia, thì toàn cầu hóa rõ ràng là có tác động đáng kể vào các trường đại học và các hệ thống giáo dục trên toàn thế giới. Mạng Internet đã khiến việc giao tiếp và cộng tác dễ dàng hơn. Tỷ lệ nghiên cứu và công bố do các nhà khoa học từ nhiều quốc gia đồng thực hiện đã tăng lên đáng kể ở tầng trên cùng của hệ thống. Giáo dục từ xa, các chương trình đào tạo liên kết, và các chi nhánh trường quốc tế là một khía cạnh khác của thế giới học thuật toàn cầu hóa. Tuy nhiên, tất cả những ích lợi này vẫn không bù lại được những thiệt hại về thất thoát nhân lực.  Trung Quốc, một quốc gia với số lượng lớn các học giả làm việc ở nước ngoài, đã xây dựng một số chương trình để thu hút các nhà nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trở về nước. Việc cho phép bổ nhiệm song song tại hai quốc gia cũng đã được áp dụng trong một số lĩnh vực then chốt để các trường đại học Trung Quốc có thể thu hút được các học giả hàng đầu vẫn muốn ở lại nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển và thu nhập trung bình khác cũng tìm cách tận dụng cộng đồng khoa học kiều bào thông qua khuyến khích các dự án nghiên cứu hợp tác, thu hút đầu tư, tài trợ cho các tổ chức khoa học, và những công việc khác. Các chương trình thành công ít ra cũng đảm bảo được những tài năng ở trong nước có thể tận dụng được kinh nghiệm chuyên môn từ đồng bào sống ở nước ngoài. Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Scotland, đều đã có những chương trình như vậy.  Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp như vậy, phần lợi lớn vẫn thuộc về những trung tâm khoa học lớn của thế giới vì những lý do hiển nhiên. Hơn nữa, vị trí địa lý rõ ràng là rất quan trọng: dù sao thì việc sinh hoạt thường xuyên trong một cộng đồng khoa học ở nước sở tại vẫn chi phối nhà khoa học hơn so với sự liên lạc qua Internet hoặc những kỳ nghỉ phép hoặc nghỉ hè tại nước ngoài. Chưa kể đến những yếu tố khác, một sự nghiệp khoa học ổn định, mức lương hấp dẫn, tự do học thuật, khả năng tiếp cận không hạn chế đến những ý tưởng khoa học và các tư tưởng mới nhất ở các trung tâm khoa học lớn cũng đã đủ sức hấp dẫn lớn đối với các nhà khoa học từ nước ngoài. Sự thực là các chương trình thu hút các nhà khoa học trở về nước cũng như các nỗ lực hạn chế việc thất thoát chất xám của cộng đồng khoa học trong nước thường không mấy thành công. Vì chỉ khi nào các trường đại học tại một nước đang phát triển có được nền văn hóa học tập và cơ sở vật chất mà các học giả hàng đầu mong đợi, bao gồm cả tự do học thuật, tiếp cận thông tin không hạn chế, và phòng thí nghiệm tối tân, thì họ mới có thể hy vọng sẽ thu hút và giữ chân những tài năng khoa học hàng đầu trong nước.    Công lý trong học thuật?  Các quốc gia “siêu cường học thuật” liệu có trách nhiệm gì đối với các hệ thống học thuật của các nước đang phát triển hay không? Hiện nay chẳng có ai nhắc đến trách nhiệm của các nước giàu trong việc khuyến khích những người tốt nghiệp tiến sĩ từ các nước đang phát triển trở về nước để xây dựng các trường đại học, và cải thiện chất lượng của hệ thống khoa học còn non trẻ của các nước này. Ngược lại, người ta chỉ quan tâm đến việc làm sao cải thiện “tỷ lệ giữ chân” và nới rộng luật di trú để thu hút tối đa tài năng từ các nước đang phát triển sang các nước giàu. Trong bối cảnh Liên Hiệp Quốc đã đề ra Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ, chúng ta có nên đặt vấn đề các nước giàu cần ít nhất phải hoàn lại cho các nước nghèo những chi phí phát sinh do các du học sinh của nước họ không trở về nước hay không? Có nhiều cách để ít nhiều cải thiện tình hình hiện nay, ví dụ, như cung cấp các chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết nhằm tạo điều kiện cho các học giả trẻ của các nước đang phát triển có cơ hội học tập ở nước ngoài trong quá trình học tiến sĩ nhưng vẫn giữ mối liên kết với trường đại học của mình, đồng thời phát triển năng lực nghiên cứu. Ít ra, bằng cách này thì các nước đang phát triển cũng không còn phải trực tiếp tài trợ cho các hệ thống khoa học của những nước giàu như tình trạng hiện nay.  Anh Khôi lược dịch   Nguồn:  INTERNATIONAL HIGHER EDUCATION, Number 72. Summer 2013. Trang 2-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi chính sách ảnh hưởng đến an ninh năng lượng      Quyết định đóng cửa các nhà máy điện ở cấp quốc gia mà không có sự thảo luận rộng rãi với những quốc gia láng giềng có thể đặt hệ thống lưới điện châu Âu vào nguy cơ rủi ro, theo chủ tịch RTE (Pháp).      Hệ thống mạng lưới điện của châu Âu. Nguồn: www3.eurelectric.org  Có một thực tế là kể từ năm 2012, nhiều quốc gia châu Âu đã loan báo các kế hoạch đóng cửa nhà máy điện nhiệt than, điện hạt nhân, hay dầu mỏ để hạn chế phát thải carbon, giảm thiểu sự chia sẻ điện hạt nhân trong một cơ cấu điện năng hỗn hợp như ở Pháp, hoặc đã dẫn đến việc quay lưng với năng lượng hạt nhân như Đức và Bỉ. Ông Francois Brottes, chủ tịch nhà vận hành lưới điện lớn nhất châu Âu RTE (Pháp), nhận xét với Reuter, các quyết định ở tầm quốc gia về việc đóng cửa các nguồn cung điện mà không có sự phối hợp với các quốc gia EU khác có thể đặt hệ thống điện của châu lục này vào nguy cơ rủi ro.  Ông phân tích, dù chỉ ở tầm quốc gia nhưng chính sách năng lượng lại ẩn chứa tác động ở tầm châu lục vì các quốc gia phụ thuộc ngày một lớn vào nhập khẩu điện thông qua hệ thống lưới điện châu Âu, đặc biệt trong những giai đoạn cao điểm về nhu cầu điện năng. Trong khi đó, các quyết sách năng lượng như đóng cửa nhà máy than hay điện hạt nhân thường không thông qua bàn thảo với quốc gia khác: “Chúng tôi cảnh báo các nhà hoạch định chính sách là họ đang đưa ra quyết định về ‘cuộc cách mạng’ năng lượng mà không có sự tư vấn của các quốc gia liên quan”.  Quá phụ thuộc vào việc nhập khẩu điện từ các quốc gia khác sẽ không là giải pháp tốt, như trường hợp của Bỉ, quốc gia phải đối mặt với tình trạng thiếu điện mùa đông năm 2018 khi đóng cửa các lò phản ứng năng lượng. “Chúng tôi chỉ đảm bảo điều phối điện chứ không kiểm soát được nguồn cung điện,” ông đề cập đến gốc rễ của vấn đề.  15 nhà vận hành mạng lưới điện châu Âu đã ký một tuyên bố hợp tác để nhấn mạnh đến những nguy cơ rủi ro về an ninh năng lượng trước cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào ngày 23 và 26/5/2019. Trong một phiên trình bày trước nghị viện vào ngày 9/4/2019, ông Brottes đã nói với các nhà lập pháp rằng kế hoạch sản xuất điện của Pháp đã bị ảnh hưởng bởi sự lão hóa của các nhà máy điện và việc đóng cửa nguồn địa nhiệt 13 GW kể từ năm 2012, dẫn đến lãi suất điều động từ các nhà vận hành hệ thống truyền tải điện đã giảm bớt nhanh chóng.  Pháp có 11 GW điện năng hòa mạng với các quốc gia châu Âu khác nhưng chưa bao giờ đạt 100% nhu cầu của khách hàng bởi họ thường sử dụng nguồn điện do họ sản xuất để đáp ứng nhu cầu ở thời kỳ cao điểm. Điều đó có nghĩa là, sự ổn định của hệ thống năng lượng Pháp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhiều quốc gia châu Âu.  Trong khi đó, kế hoạch đóng cửa nhà máy điện hạt nhân lâu đời nhất Pháp tại Fessenheim và các nhà máy nhiệt điện than vào năm 2022 có nghĩa là từ thời điểm đó, Pháp sẽ mất 18 GW  điện năng trong khi không có nguồn phát điện mới được dự kiến thay thế. Không riêng gì Pháp “các quốc gia láng giềng cũng phải đối mặt với cùng vấn đề,” ông cho biết. Anh đã cắt nguồn cung 13GW điện năng kể từ năm 2012, đóng cửa các nhà máy điện than vào năm 2025, Đức có kế hoạch tương tự vào năm 2025, tương đương với việc mất 15 GW… “Việc đưa ra quyết định đóng cửa các nhà máy phát điện dễ dàng hơn là khởi động các nguồn cung điện mới,” ông Brottes cho biết thêm.  Hiện Pháp đã có kế hoạch cắt giảm việc chia sẻ nguồn điện từ các nhà máy hạt nhân trong nguồn điện hỗn hợp của mình xuống 50% vào năm 2035 thay vì 75% như hiện nay. Tuy nhiên họ đang phải đối mặt với nhiều trì hoãn trong các dự án điện gió ngoài khơi và nhà máy điện hạt nhân Flamanville của tập đoàn điện lực Pháp EDF. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng của EU trong tương lai.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.reuters.com/article/us-europe-electricity-france/frances-rte-urges-policymakers-to-talk-energy-mix-with-eu-peers-idUSKCN1S12ET?il=0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi môi trường biển đe doạ châu Âu      Một báo cáo mới đây cho thấy, người dân châu Âu đang phải đối mặt với với nguy cơ bệnh tật, thiên tai và thất nghiệp do tác động của việc thay đổi khí hậu trên các vùng biển của lục địa này.    Đứng trước những lo lắng của việc mực nước biển dâng lên và tình trạng xói mòn bờ biển, người dân châu Âu đã bắt đầu có những hành động cụ thể nhằm giảm thiểu lượng khí thải Carbon. Tuy nhiên, họ vẫn quy đẩy trách nhiệm chủ yếu cho các tổ chức, đoàn thể, cho quốc gia và Chính phủ, thậm chí là trách nhiệm của các ngành công nghiệp nhằm giải quyết vấn đề trên, mặc dù họ nhận thức được việc trông chờ vào Chính phủ và các ngành công nghiệp là không hiệu quả.  Những vấn đề trên được đưa ra sau khi các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu khoa học xuất bản từ năm 1998 về sự thay đổi khí hậu và môi trường biển tại châu Âu, cùng với đó là cuộc thăm dò ý kiến trên diện rộng về các vấn đề kể trên. Đó chính là kết quả của Dự án Biến đổi Khí hậu và Nghiên cứu Hệ sinh thái Biển châu Âu (CLAMER) – một dự án hợp tác nghiên cứu giữa 17 viện hải dương học trên toàn châu Âu.  Một bản tổng kết dài 200 trang, một cuộc điều tra công khai, một cuốn sách mới dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học và một bộ phim tài liệu được giới thiệu tại cuộc họp tổng kết CLAMER, kéo dài hai ngày từ 14 đến 15/9, tại Russels.  “Chúng tôi đã thu thập được những bằng chứng khoa học thuyết phục và đáng lo ngại”, ông Carlo Heip – giám đốc viện hải dương học hoàng gia Hà Lan nói, “Chúng ta cần phải tiếp cận, nghiên cứu và nhận thức được những hiểm họa khôn lường từ đại dương”.  Và kết quả của sự hợp tác giữa các hiệp hội nghiên cứu môi trường biển cũng như sự đóng góp của hơn 20 nhà khoa học châu Âu chính là sự ra đời của báo cáo tổng hợp CLAMER và cuốn sách liên quan. Cả hai được công bố tại website www.clamer.eu từ ngày 13/9, bao gồm Biển Bắc,Biển Baltic, Bắc Băng Dương, Đông Bắc Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Biển Đen.  Một điều đáng lưu ý trong bản báo cáo tổng hợp trên là những khó khăn trong việc dự đoán chính xác tác động của việc thay đổi khí hậu cũng như những chi phí phát sinh kèm theo. Không những thế, một số ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu có tác động chung đến cả châu Âu, trong khi một số khác lại thay đổi theo từng vùng miền khác nhau.  Từ những kết quả của bản báo cáo tổng hợp CLAMER, chúng ta có thể thấy được những tác động xã hội của việc thay đổi khí hậu bao gồm:  •    Tăng nguy cơ bệnh tật  Theo CLAMER, hàng triệu Euro chi phí y tế có thể là hậu quả của việc con người tiêu thụ thủy sản bị ô nhiễm hay nước uống không đảm bảo vệ sinh. Cụ thể hơn, một nhóm các nhà nghiên cứu đến từ Anh, Đức, Mỹ và Italya mới đây đã phát hiện ra rằng: nước biển ấm hơn đang gây ra sự gia tăng của một loại vi khuẩn mà họ gọi là Vibrio – một trong những tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất liên quan đến đường ruột và dạ dày (viêm ruột, nhiễm trùng huyết, dịch tả…).  Một bản báo cáo khoa học được đăng trên tạp chí của Hiệp hội quốc tế về sinh thái học vi sinh vật cho thấy sự gia tăng chưa từng có của các loại bệnh nhiễm trùng liên quan đến loài vi khuẩn Vibrio ở Tây Bắc châu Âu, và kèm theo đó là xu hướng lây lan ngày càng nhanh của các căn bệnh liên quan trên phạm vi toàn cầu.  Bài báo nói rằng: “Chúng tôi phát hiện bằng chứng cho thấy rằng các loài vi khuẩn Vibrio gia tăng không ngừng trong suốt 44 năm qua, và điều này có sự tương đồng đáng kể với hiện tượng ấm lên của nước biển trong thời gian qua…”.  •    Thiệt hại tài sản  Mực nước biển dâng lên kết hợp với sóng lớn chính là nguyên nhân khiến các cơn bão ở Bắc Đại Tây Dương xảy ra thường xuyên hơn và ngày càng nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến tài sản vật chất trị giá khoảng  một nghìn tỷ Euro trong bán kính 500m kể từ mép biển, và khoảng 35% GDP của toàn châu Âu trong phạm vi 50km, theo CLAMER.   Đồng thời, các cơn bão ở Bắc Âu cũng trở nên thường xuyên và dữ dội hơn, đặc biệt khi chúng chạy từ phía Nam nước Anh, qua miền Bắc Pháp, Đan Mạch, Đức và Đông Âu. Thiệt hại hàng năm dự kiến sẽ tăng 21% ở Anh, 37% ở Đức và 44% trên khắp châu Âu.  •    Ảnh hưởng đến ngành công nghiệp thủy sản  Số liệu ghi nhận bởi CLAMER cho thấy ngành công nghiệp thủy sản châu Âu chịu không ít tác động do nước biển nóng lên, axit hóa đại dương và độ mặn nước biển ngày càng tăng, ở nhiều nơi, sản lượng đánh bắt thủy hải sản giảm xuống rõ rệt.  Một cảnh báo được đưa rằng cá tuyết ở biển Baltic có nguy cơ bị tuyệt chủng, và hàng loạt những lời kêu gọi về “Kế hoạch đảm bảo sự tồn tại của cá tuyết biển Baltic vào thế kỷ 22” đã được đưa ra, thu hút sự quan tâm của cộng đồng.  Tại vùng biển Địa Trung Hải, ngành đánh bắt Aristeus, một loài tôm rất có giá trị, có thể gặp phải nguy cơ tụt giảm thực sự do tác động của thay đổi nhiệt độ nước biển, thậm chí là dừng hẳn quá trình lưu chuyển chất dinh dưỡng xuống các vùng nước sâu.  Đáng lo ngại hơn nữa, rất nhiều quần thể cá tại các vùng vĩ độ thấp được cảnh báo là sẽ suy giảm lớn nhất từ trước đến nay. Rất nhiều nông dân ở đây vốn đã nghèo khổ nay lại phải đối mặt với tình trạng mất mát nông nghiệp do hạn hán và bão lũ. Các nhà nghiên cứu nói rằng hiện tượng di cư lên phương Bắc của một số loài cá đã đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh lương thực cho các nước nghèo miền nhiệt đới, nơi mà thủy sản là nguồn cung cấp protein lớn bậc nhất tại đây.  •    Thái độ của người dân châu Âu đối với sự biến đổi khí hậu và môi trường biển    Một cuộc khảo sát trực tuyến với 10.000 cư dân của 10 quốc gia châu Âu (gồm Tây Ban Nha, Ý, Đức, Pháp, Cộng hòa Séc, Hà Lan, Ireland, Vương quốc Anh, Na-Uy và Estonia) cho thấy sự quan tâm rộng rãi của người dân đến biến đổi khí hậu, và những lo ngại của họ về việc mực nước biển dâng cũng như xói mòn bờ biển.  Cuộc khảo sát được bắt đầu thực hiện từ ngày 13/9 trên trang web www.clamer.eu. Đây là lần đầu tiên có một cuộc khảo sát tập trung vào nhận thức của quần chúng đối với tác động của biến đổi khí hậu trên biển. Kết quả cuộc thăm dò rút ra từ các nghiên cứu chuyên sâu với sự tham gia của Vương quốc Anh do UEA thực hiện.  •    Những điểm nổi bật rút ra từ cuộc khảo sát  Khi được hỏi để lựa chọn từ một danh sách các vấn đề nghiêm trọng nhất đối với thế giới, 18% số người được hỏi đã chọn biến đổi khí hậu; nghèo đói và thiếu lương thực, nước uống chiếm 31%, khủng bố quốc tế chiếm 16%, và suy thoái kinh tế toàn cầu là 12%.  Khoảng 86% số người được hỏi cho biết rằng: biến đổi khí hậu xảy ra hoàn toàn hoặc một phần bởi các hoạt động của con người. Chỉ có 8% nghĩ rằng nó hoàn toàn hoặc chủ yếu gây ra bởi quá trình tự nhiên, ở Hoa Kỳ, số người giữ quan điểm này rơi vào khoảng 32 – 36%.  Khi được yêu cầu nhận xét về danh sách 15 vấn đề môi trường liên quan đến biển và các vùng ven biển, hầu hết người dân từ cả 10 quốc gia đều bày tỏ sự quan tâm lớn nhất đến ô nhiễm vùng ven biển, đánh bắt quá mức hay băng tan. Ở vị trí cuối cùng, chỉ có 14% nói rằng họ được thông tin về axit hóa đại dương. Tuy nhiên, gần 60% bày tỏ sự lo ngại về vấn đề đó.  Không có gì đáng ngạc nhiên khi người dân sống vùng ven biển bày tỏ sự quan tâm và hiểu biết về cả 15 vấn đề trên hơn so với những người sống trong nội địa. Nhưng có một nghịch lý rõ ràng là Italia – đất nước nằm ở tận cùng phía Nam trong số 10 quốc gia lại bày tỏ sự quan tâm lớn nhất đến hiện tượng băng tan tại Bắc cực, trong khi Na-Uy – đất nước tận cùng phía Bắc lại ít quan tâm đến vấn đề này hơn cả.  Đáng ngạc nhiên hơn là những công dân của Hà Lan – quốc gia thấp nhất thế giới lại ít lo lắng về ngập lụt hơn mức trung bình của 10 quốc gia (61% số người tham gia khảo sát tại Hà Lan bày tỏ sự quan tâm về mực nước biển dân và lũ lụt ven biển so với 70% trung bình trên 10 quốc gia).   Cuộc thăm dò cũng cho thấy một mối tương quan cao giữa những người trả lời rằng họ “lo ngại” về tác động của biến đổi khí hậu và những người nói rằng họ nghĩ tác động của nó đến khá sớm. Những người tuyên bố “rất quan tâm” có xu hướng nghĩ rằng họ có thể nhìn thấy những tác động đang xảy ra. Phụ nữ có xu hướng cao hơn đàn ông trong việc khẳng định rằng những tác động đã trở nên rõ ràng. Trong khi những người dưới 24 hoặc trên 65 tuổi ít có khả năng nói rằng những tác động của biến đổi khí hậu đã trở nên rõ ràng nhất.  Những nhà khoa học làm việc cho các trường đại học hoặc các tổ chức phi chính phủ về môi trường được cho là nguồn thông tin đáng tin cậy về tác động của biến đổi khí hậu trên các vùng biển và đại dương hơn rất nhiều so với các nhà khoa học của Chính phủ hay những người làm việc cho ngành công nghiệp. Đàn ông không tin tưởng vào các tổ chức, cá nhân được liệt kê nhiều hơn phụ nữ, và ở hầu hết các trường hợp, những người trên 35 tuổi bày tỏ sự mất lòng tin hơn những người ở độ tuổi từ 18 đến 34.  Cuộc thăm dò được tiến hành như một phần của dự án CLAMER, thực hiện bởi Trung tâm thay đổi khí hậu biển (MC3) tại Cefas, Đại học Đông Anglia và Consejo Superior de Investigaciones Ciontificas (CSIC).       Author                Quản trị        
__label__tiasang THAY ĐỔI TƯ DUY PHÁT TRIỂN KH&CN:  Giải pháp của mọi giải pháp      Tr&#236;nh độ ph&#225;t triển khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ của đất nước c&#243; t&#225;c động trực tiếp v&#224; l&#226;u d&#224;i tới chất lượng đời sống nh&#226;n d&#226;n v&#224; tiềm lực của quốc gia. Nhưng việc đầu tư cho khoa học l&#224; một &#8220;cuộc chơi&#8221; d&#224;i hơi v&#224; kh&#225; tốn k&#233;m đối với mọi quốc gia. V&#236; vậy, cần định hướng đầu tư v&#224; lựa chọn giải ph&#225;p quản l&#253; thế n&#224;o để n&#226;ng cao hiệu quả đầu tư cũng như chất lượng sản phẩm nghi&#234;n cứu l&#224; vấn đề cấp thiết m&#224; Bộ KH&amp;CN đang cần nhận được những th&#244;ng tin, tư vấn của c&#225;c nh&#224; khoa học, c&#225;c nh&#224; quản l&#253;. Đ&#243; l&#224; mục ti&#234;u của cuộc Hội thảo Định hướng v&#224; Giải ph&#225;p ph&#225;t triển KH&amp;CN Việt Nam 2010 &#8211; 2020 do Tạp ch&#237; Tia S&#225;ng tổ chức ng&#224;y 8/5/2009 tại H&#224; Nội.    Đầu tư vào đâu: nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng?  Khoa học cơ bản là nền tảng tri thức cần thiết cho các nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ. Đây là cơ sở để các nhà khoa học cơ bản, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Pierre Darriulat, nhà vật lý hàng đầu thế giới, ủng hộ việc duy trì đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, và hạn chế đòi hỏi nghiên cứu khoa học phải nhanh chóng đem lại lợi ích tức thời. Đối với quan điểm cho rằng đầu tư cho một số lĩnh vực khoa học cơ bản, ví dụ như vật lý lý thuyết, đòi hỏi chi phí tốn kém cho thiết bị và cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu, hoàn toàn không khả thi cho một quốc gia đang phát triển, Giáo sư Pierre Darriulat lưu ý rằng nhiều nước trên thế giới có những phòng thí nghiệm tiên tiến, chẳng hạn như vật lý thiên văn, nhưng không thuộc quyền sở hữu của một quốc gia mà thuộc về cộng đồng khoa học quốc tế. Nếu các nhà khoa học Việt Nam có đủ tri thức thì hoàn toàn có thể tận dụng các cơ hội này mà không cần đến những khoản chi phí tốn kém cho đất nước. Mặt khác, nghiên cứu cơ bản đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục tri thức khoa học cho con người, và là nền tảng để làm tốt việc nghiên cứu ứng dụng, tiếp thu và đổi mới công nghệ từ bên ngoài.                        Phó Tổng biên tập phụ trách Tia Sáng Hoàng Thu Hà, GS. Trần Đức Viên – Hiệu trưởng ĐHNN I,   GS. Pierre Darriulat, PGS. Đào Tiến Khoa, GS. Hoàng Ngọc Long tại Hội thảo  Bên cạnh quan điểm mong muốn duy trì đầu tư cho khoa học cơ bản, có những ý kiến đòi hỏi chú trọng vào các nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ. Nhà kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, chúng ta cần đặc biệt quan tâm triển khai các đề tài nghiên cứu về mô hình phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới của đất nước. Các nghiên cứu đó cần có địa chỉ ứng dụng cụ thể. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng đặc biệt lưu tâm tới lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm các vấn đề như quyền lợi của nông dân, những người đã và sẽ vẫn là thành phần chiếm đa số trong các thập kỷ tới, an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, và đối phó với các vấn nạn môi trường/khí hậu. Giáo sư Phạm Hùng Việt, PGS Đào Tiến Khoa đề nghị ưu tiên các hướng nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững, như nghiên cứu về ô nhiễm, bảo tồn sinh thái, năng lượng sạch, tiết kiệm năng lượng, và xử lý chất thải.   Đầu tư bao nhiêu là đủ?              GS. Hoàng Tụy, GS. Phan Đình Diệu, GS.NGND Nguyễn Văn Chiển, nhà thơ Việt Phương, nhà nghiên cứu KT Phạm Chi Lan tại Hội thảo        Đâu là mức chi phí hợp lý cho KH&CN trong tổng chi phí quốc gia? Đâu là cơ sở để phân phối hợp lý cho các ngành cụ thể?    Bài tham luận của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết, trong năm 2006, Việt Nam đầu tư 428 triệu USD cho KH&CN, chiếm khoảng 0,17% GDP. So sánh với các nước trong khu vực Đông Nam Á, theo số liệu của UNESCO thì Singapore đầu tư 2,2% GDP, Malaysia đầu tư 0,5% GDP, Thái Lan đầu tư 0,3% GDP, Philippines đầu tư 0,12% GDP, Indonesia đầu tư 0,05% GDP. Tuy các quốc gia này gần gũi với Việt Nam về khoảng cách địa lý và có thể chia sẻ một số đặc thù chung, nhưng chắc chắn có những đặc thù riêng. Hẳn là những nước càng có trình độ phát triển cao về KH&CN thì lại càng đầu tư mạnh hơn để tận dụng triệt để lợi thế của mình. Vì vậy, cần có những phân tích định tính và định lượng nghiêm túc để xác định con số thích hợp cho Việt Nam.  Bài tham luận của Giáo sư Hồ Tú Bảo cho chúng ta cơ hội tham khảo tỉ lệ phân phối đầu tư KH&CN giữa các ngành ở Nhật. Kinh phí được phân bổ cho các đề án và chương trình KH&CN do nhiều Bộ và cơ quan quản lý, trong đó MEXT (Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, KH&CN) nhận 65%; MEIT (Bộ Kinh tế, Thương mại, Công nghiệp) nhận 14%, MOD (Bộ Quốc phòng) nhận 5%, MHLW (Bộ Y tế, Lao động, Phúc lợi xã hội) nhận 4%,… Bên cạnh đó, “chương trình COE toàn cầu” của Chính phủ Nhật cấp kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học thể hiện một tỉ lệ phân phối đồng đều giữa các lĩnh vực: khoa học về sự sống, hóa học và khoa học vật liệu, tin học – điện và điện tử, khoa học nhân văn, khoa học mới hoặc khoa học liên ngành.           Giải pháp của mọi giải pháp để phát triển KH&CN là:              * Đảng và Nhà nước phải tạo điều kiện cho các nhà khoa học: một môi trường dân chủ và tự do trong hoạt động sáng tạo; điều kiện và phương tiện làm việc để phát huy tài năng và tâm huyết cho sự phát triển của đất nước, trước hết là đãi ngộ vật chất (tiền lương thấp nhất gấp từ 5 đến 6 lần so với hiện nay) và có nhiều cơ hội thuận lợi trong giao lưu, hợp tác quốc tế từ khu vực đến toàn cầu.              * Người làm quản lý Nhà nước về KH&CN cũng là người trí thức, nhà khoa học. Để hoàn thành tốt trọng trách của mình, nhà quản lý phải có một ý thức, một tấm lòng “cùng hội cùng thuyền” với các nhà khoa học khác. Từ đó có sự thông cảm, hòa đồng, có quan hệ đối tác bình đẳng cùng với các nhà khoa học khác vì sự nghiệp phát triển của đất nước.                             Nhà nghiên cứu Việt Phương                  Khoa học từ số đông nhưng không bao giờ nảy sinh từ số đông. Ví dụ, vạn cây tre vẫn thấp hơn cây đa làng. Vì vậy khoa học đích thực phải xử lý tốt mối quan hệ giữa số đông và số ít. Do đó trong hoạt động khoa học cần có hội đồng, cần có nghiệm thu, có đa số nhưng phải có giải pháp như thế nào để không triệt tiêu những ý tưởng sáng tạo của thiểu số.                                        GS. Hồ Ngọc Đại       Tiến bộ KH&CN của ta hiện nay chậm hơn nhiều so với sự phát triển của kinh tế – xã hội, từ đó giá trị gia tăng của các sản phẩm xuất khẩu rất thấp. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết phải kể đến ở nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp độc quyền, sức hút của cám dỗ từ việc làm giàu nhanh chóng bằng các mối quan hệ, không cần đến đổi mới công nghệ. Vì vậy, cho đến hiện nay trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn rất lạc hậu, mặc dù không ít chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ của Nhà nước đã được ban hành.                                     TS. Lê Đăng Doanh          Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy rằng đặc thù Nhật khá khác biệt với Việt Nam, cả về trình độ phát triển kinh tế – xã hội và vị thế chiến lược (chẳng hạn như Nhật gần đây mới bắt đầu phải lưu tâm tới đầu tư chiến lược cho quốc phòng) nên những tỉ lệ này cần được phân tích kỹ trước khi chúng ta muốn đối chiếu, áp dụng ở Việt Nam.    Liên quan tới vấn đề đầu tư ở mức độ nào cho nghiên cứu cơ bản, giáo sư Hồ Tú Bảo đưa ra khuyến cáo của World Bank và UNESCO: “Không phải mọi đất nước đều cần tiến hành nghiên cứu cơ bản ở nhiều lĩnh vực, và mỗi quốc gia phải xem xét đâu là các loại nghiên cứu KH&CN có thể trực tiếp đóng góp vào sự phát triển của mình. Nhìn vào đòi hỏi chi phí lớn và những khó khăn, có lẽ câu hỏi cần hỏi nhất là: đâu là mức tối thiểu của khả năng KH&CN mỗi quốc gia cần phải có để đạt được các mục tiêu của mình?”.  Mức đầu tư tối thiểu cho nghiên cứu cơ bản nói riêng và KH&CN nói chung vẫn là ẩn số. Tuy nhiên, các nhà khoa học và quản lý đều đồng thuận với thực tế giản dị là cần đầu tư sao cho những người làm khoa học chân chính được đủ sống, các cơ sở nghiên cứu có đủ điều kiện tối thiểu để hoạt động. Giáo sư Nguyễn Lân Dũng nêu ra thực trạng là mức lương vài triệu đồng ở các viện nghiên cứu không thể cạnh tranh thu hút người tài được với mức lương 1.500 USD ở bên ngoài. Thiếu thốn về thu nhập và điều kiện nghiên cứu là nguyên nhân quan trọng gây ra nạn chảy máu chất xám. Giáo sư Pierre Darriulat bày tỏ sự trăn trở: “Do nhiều năm chiến tranh và hậu quả sau đó, Việt Nam đã mất gần ba thế hệ giảng viên và các nhà khoa học”, nếu không tạo đủ điều kiện để tồn tại giới khoa học đúng nghĩa, chúng ta hiển nhiên sẽ tiếp tục mất đi các thế hệ tiếp theo.  Quản lý vốn đầu tư như thế nào?  Một mặt nguồn kinh phí dành cho KH&CN có hạn, mặt khác phải đầu tư sao cho người làm khoa học không chỉ đủ sống mà còn không bị thiệt thòi về cơ hội thu nhập. Như vậy thì không thể đầu tư dàn trải, mà phải tập trung vào những nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là quan điểm nhiều nhà khoa học bày tỏ mong muốn được triển khai thực hiện.  Việc dành kinh phí cho các nhóm nghiên cứu mạnh không chỉ hạn chế lãng phí vào các nghiên cứu vô thưởng vô phạt, mà còn đảm bảo những người nghiên cứu thực thụ có điều kiện được đóng góp, đem lại sản phẩm đích thực cho xã hội.   Việc tập trung đầu tư vào các nhóm nghiên cứu mạnh thay vì đầu tư dàn trải cũng giúp giảm nhẹ gánh nặng cho công tác quản lý, và khiến công việc này minh bạch, rạch ròi hơn. Trong bài tham luận thứ hai viết cho Hội thảo, Giáo sư Hồ Tú Bảo có một số đề xuất cụ thể. Trong đó, ông đề nghị đối với các chương trình KH&CN của Nhà nước, “trước hết phải chọn và giao trọng trách cho những nhà khoa học đứng đầu các hướng này (research supervisor). Người đứng đầu cùng các trợ lý và cơ quan quản lý cần xây dựng được các mục tiêu cụ thể, và kêu gọi các nhóm nghiên cứu tìm ra nội dung nghiên cứu dưới dạng các đề tài để đạt được các mục tiêu này. Các đề tài nhiều triển vọng nhất sẽ được lựa chọn cùng với người đứng đầu (chủ nhiệm đề tài). Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu phải ký hợp đồng với Nhà nước và chịu trách nhiệm về công việc của mình”.  Hậu quả của việc đầu tư dàn trải và thiếu kiểm soát khiến cho thành quả không thật tương xứng với mức đầu tư. Theo Giáo sư Phạm Duy Hiển, trong khi một số nghiên cứu (chủ yếu là nghiên cứu cơ bản) chi không quá vài chục triệu một đề tài và cho công bố quốc tế đều đều, thì phần lớn đề tài dự án tiền tỷ, chục tỷ, lại công bố quốc tế rất ít, thậm chí hầu như không có.   Thực trạng trên cho thấy cần phải tiến tới việc ràng buộc các khoản đầu tư với yêu cầu công bố quốc tế, nhất là đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Đối với nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ, việc công bố quốc tế không phải lúc nào cũng cần thiết, và có khi không khả thi. Như vậy thì cần có những hội đồng khoa học thật nghiêm túc trong công tác xét duyệt và nghiệm thu đề tài.               GS Hoàng Văn Phong – Bộ trưởng bộ Khoa học và Công nghệ tham quan phòng thí nghiệm – nơi phân lập axit shikimic (từ quả hồi) – nguyên liệu để tổng hợp Oseltamivir photphat (Tamiflu).        Tham luận của TS. Đặng Hữu Chung có nhận xét “thành viên các hội đồng khoa học từ cấp cơ sở cho đến cấp cao hơn thường chỉ tập trung những nhà khoa học mà sự nghiệp nghiên cứu đã bị bỏ qua từ rất lâu, có khi đến vài thập kỷ, và dĩ nhiên họ không còn xứng đáng là đại diện cho các hướng nghiên cứu hiện nay. Việc lựa chọn các nhà khoa học thực sự có năng lực vào các hội đồng là vấn đề hệ trọng, mắt xích quyết định tính hiệu quả của đầu tư cho KH&CN. Người được lựa chọn không chỉ cần am tường nội tình phát triển khoa học trong nước mà còn luôn theo dõi được bước tiến của khoa học thế giới. Qua đó, khẩu hiệu “đứng trên vai người khổng lồ” không còn là sáo ngữ.   Có những nghiên cứu người Việt Nam cần phải tự lực, hoặc cùng đứng tên, nhưng cũng có những sáng chế phát minh chúng ta có thể mua thẳng từ nước ngoài để tận dụng nguồn lực hạn chế của mình một cách tối ưu hơn. Hội đồng khoa học cần có đủ năng lực để đánh giá được quyết định này. Ở đây, tiếng nói của các nhà kinh tế và quản lý có một trọng lượng nhất định. Tuy nhiên, liệu họ có nên trực tiếp tham gia vào Hội đồng, hay chỉ là công cụ để Hội đồng thực thi trách nhiệm của mình? Đây là vấn đề cần bàn kỹ hơn.  Huy động vốn từ đâu?  Kinh nghiệm từ mô hình quản lý KH&CN của Úc và New Zealand trong tham luận của TS. Đặng Kim Sơn cho thấy trong điều kiện nhất định, thị trường có thể tạo ra nguồn kinh phí thiết yếu để nuôi dưỡng khoa học. Tuy nhiên, đó là thị trường của các quốc gia đã phát triển. Khác biệt lớn nhất giữa các nước này và Việt Nam có lẽ nằm ở khía cạnh pháp lý. Để có một thị trường KH&CN đúng nghĩa thì nhất thiết quyền sở hữu trí tuệ của người làm khoa học phải được bảo vệ. Đáng tiếc là đề tài này chưa được đề cập trong Hội thảo lần này. Mong rằng qua các Hội thảo chuyên sâu tiếp theo nó sẽ được thảo luận thấu đáo và nhanh chóng được triển khai vào thực tiễn.        Xây dựng một môi trường làm việc tốt, ở đó nhà khoa học được tự do tư duy, được tôn trọng và có một đội ngũ nhà khoa học có tính chuyên nghiệp. Muốn vậy, phải chọn được người đứng đầu chỉ toàn tâm toàn ý làm khoa học, có khả năng thu hút, tập hợp những người giỏi quanh mình. Người đó phải có một tầm nhìn dài hơi về nghiên cứu, không chạy theo việc đấu thầu đề tài để từ đó xây dựng và hình thành một trường phái khoa học. PGS. TS Nguyễn Thị Trâm, người có những thành tựu nghiên cứu về giống lúa lai là người như vậy.               Ngân sách dành cho khoa học còn hạn chế nhưng nếu biết đầu tư đúng hướng và quản lý tốt thì vẫn đạt được hiệu quả cao. Chẳng hạn như nhóm nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Thị Trâm, đầu tư ban đầu chỉ hơn 100 triệu đồng, và cho đến nay sau 10 năm tổng đầu tư cũng chỉ khoảng 3 tỉ đồng nhưng mang lại hiệu quả rất lớn cả về kinh tế và đào tạo.  Việc đầu tư phòng thí nghiệm trọng điểm vừa qua là một ví dụ của việc đầu tư thiếu hiệu quả do chúng ta đã làm theo quy trình ngược: mua sắm thiết bị trước khi có nhà khoa học.               Việc ra đời các Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia thực sự mang đến cho các nhà khoa học những cơ hội tốt. Nhưng những cơ hội đó chỉ thành hiện thực nếu Quỹ do các nhà khoa học điều hành, không có sự can thiệp của các cơ quan hành chính.                              GS. Trần Đức Viên –                              Hiệu trưởng ĐH NN I        Tham luận của GS. Trần Xuân Hoài thể hiện tư duy sáng tạo trong việc huy động vốn phát triển KH&CN. Trong tham luận này, tác giả đề xuất xây dựng những lộ trình KHCN, là sự cưỡng bức có mục đích kinh tế – kỹ thuật cụ thể và thời hạn rõ ràng. Ví dụ, trong 3 năm giải quyết xong việc dùng nguồn mở trong các cơ sở sử dụng ngân sách, 7 năm phải giải quyết ở mức công nghiệp kháng sinh tổng hợp, hóa dược cơ bản,… Những lộ trình KHCN này tự thân mang lại giá trị kinh tế cho xã hội, và Nhà nước hoàn toàn có thể khai thác một phần lợi nhuận để bù đắp vào phần vốn đầu tư, trong đó có đầu tư cho KH&CN. Tuy nhiên, những lộ trình KHCN này của Giáo sư Trần Xuân Hoài trước mắt đòi hỏi hai điều kiện cần: một hội đồng đủ chuyên môn về khoa học – kinh tế – xã hội; các nhóm nghiên cứu mạnh. Tạo dựng được hai điều kiện cần này chúng ta mới có thể tính tới những dự án xa hơn.  Bên cạnh đó, mô hình Quỹ phát triển KH&CN như NAFOSTED của Việt Nam cũng là một động thái đáng mừng đối với việc quản lý đầu tư cho KH&CN. Nó giúp đa dạng hóa và làm tăng độ linh hoạt trong việc cấp kinh phí nghiên cứu, tạo ra một kênh đề tài nghiên cứu hữu ích xuất phát từ dưới lên, phù hợp với trình độ và nguyện vọng của người làm nghiên cứu. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu quả, Quỹ cần có một Hội đồng khoa học đích thực phục vụ việc xét duyệt và nghiệm thu. Lĩnh vực này chúng ta đã đề cập phía trên.       Tự chủ hóa của các cơ quan nghiên cứu khoa học  Đây là yếu tố sẽ gây tác động sâu sắc tới sự phát triển KH&CN, cụ thể là mục đích và cung cách quản lý đầu tư. Một số ý kiến cho rằng không nên, hoặc chưa nên cổ phần hóa các cơ quan nghiên cứu, vì thị trường sẽ chỉ chạy theo lợi ích cục bộ trước mắt mà bỏ rơi những lợi ích có tính công cộng. Tuy nhiên, Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, người không tham dự được cuộc Hội thảo, nhưng đã có một bài tham luận đáng để chúng ta suy nghĩ. Tham luận này nêu ra bài học quản lý KH&CN ở hai quốc gia phát triển, Úc và New Zealand. Như nhiều nước công nghiệp phát triển, cơ quan Bộ của họ có “quy mô rất nhỏ (làm việc tại trụ sở chính của Bộ KH&CN New Zealand chỉ có 80 cán bộ) do công tác quản lý Nhà nước chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là hoạch định chính sách”. Việc cấp vốn và quản lý vốn cho KH&CN được tiến hành thông qua tổ chức là Quỹ nghiên cứu KH&CN, không trực thuộc các Bộ. Các cơ quan nghiên cứu và đào tạo cũng hoạt động độc lập. Đối với nhiều dịch vụ công như khuyến nông, thú y,… các Bộ chuyển sang hỗ trợ cho các đơn vị tư nhân hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Bộ chỉ tập trung vào các dịch vụ công, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và không đem lại lợi nhuận như nghiên cứu thông tin thị trường, kiểm dịch động vật, thực vật, bảo vệ an toàn thực phẩm.               Bốn vấn đề thiết yếu cần được tiếp tục thảo luận, làm rõ trong các nghiên cứu và Hội thảo tiếp theo là:              * Mức đầu tư cho KH&CN và tỉ lệ phân phối giữa các ngành.              * Tiêu chí đánh giá kết quả các đề tài nghiên cứu triển khai.               * Hội đồng khoa học được tổ chức và  hoạt động như thế nào .              * Những bước cụ thể xây dựng thị trường sở hữu trí tuệ.              * Cơ chế pháp lý gắn với tiến trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp KH&CN.        Đối chiếu bức tranh trên với thực tế Việt Nam thì thấy rằng chủ trương tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan nghiên cứu là đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên của xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng ngay từ đầu cần vạch ra một ranh giới giữa nghiên cứu vì lợi nhuận và nghiên cứu vì lợi ích công. Loại hình thứ nhất nên dành cho các doanh nghiệp, hoặc các cơ quan nghiên cứu độc lập với quản lý Nhà nước  (nhưng vẫn chịu các ràng buộc pháp lý). Loại hình thứ hai thuộc phạm vi Nhà nước  phải trực tiếp quản lý. Với một ranh giới xác định rõ ràng như vậy, tiến trình tự chủ hóa sẽ giúp làm giảm gánh nặng quản lý Nhà nước, và khiến việc đầu tư KH&CN đạt hiệu quả cao hơn.  ***  Do thời lượng của Hội thảo có hạn nên còn nhiều vấn đề cụ thể trong định hướng và các giải pháp phát triển KH&CN trong thập kỷ tới chưa được bàn thảo một cách thấu đáo. Nhưng tinh thần chung trong tham luận của các đại biểu đều cho rằng, muốn sớm đưa KH&CN thực sự trở thành động lực của phát triển kinh tế – xã hội thì phải thay đổi tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm KH&CN.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay thế 6.700 cây xanh Hà Nội – vấn đề nhà nước với dân      Ở Việt Nam chưa hề có luật bảo vệ cây xanh, chỉ có các văn bản lập quy.     Năm 2013, để xây dựng toà nhà ở và kinh doanh tại phố Crellestraße ở Berlin-Schöneberg, chủ nhà được Sở Xây dựng cấp phép cho hạ đốn ba cây cổ thụ của họ trên địa điểm đó, dự kiến vào đầu tháng Bảy năm đó. Khi biết được quyết định trên, lập tức một hiệp hội bảo vệ thiên nhiên đâm đơn kiện khẩn cấp lên Tòa án Hành chính Berlin, đòi ra án quyết khẩn không cần mở phiên toà hủy bỏ giấy phép đó, bằng cách viện dẫn Luật bảo vệ thiên nhiên của Liên bang cấm đốn hạ cây (bất kỳ của tư nhân hay công cộng) vào thời kỳ thực vật sinh trưởng ở Đức từ 1/3-30/9 hằng năm. Với án quyết số VG 24 L 249.13 ngày 10/7/2013, Tòa bác bỏ đơn kiện với lập luận, một hiệp hội bảo vệ thiên nhiên không có thẩm quyền kiện ở Tiểu bang, mà lại dựa theo Luật bảo vệ thiên nhiên của Liên bang. Hiệp hội kháng án khẩn lên Tòa hành chính Tiểu bang Berlin-Brandenburg. Ngày 19/7/2013, Tòa này ra án quyết khẩn số OVG 11 S 26.13, đứng về phiá nguyên đơn, phán: Luật tiểu bang dù đứng trên góc độ phối hợp các luật hay đứng trên góc độ bảo vệ loài sinh vật trong luật bảo vệ thiên nhiên của Liên bang đều không được phép ngăn cản quyền tham gia của các hiệp hội bảo vệ thiên nhiên quy định trong Luật bảo vệ thiên nhiên của Liên bang. Luật Liên bang cho phép các hiệp hội bảo vệ thiên nhiên được phép kiện những vi phạm quyền bảo vệ thiên nhiên, nên không hề mâu thuẫn với luật tiểu bang. Luật Liên bang cũng không có ngoại lệ đối với quy định cấm chặt cây trong thời kỳ thực vật sinh trưởng. Công trình xây dựng cá nhân được cấp phép không có nghĩa bất chấp lợi ích công cộng, khi chọn thời gian xây dựng đúng vào thời kỳ sinh trưởng thực vật.   Vậy mối quan hệ giữa nhà nước (1- Cơ quan hành chính, 2- Tòa án) với nhân dân (3- Chủ tư nhân, 4- Hiệp hội) với đối tượng ba cây xanh ở họ như trên, có gì khác vụ chặt đồng loạt cây trên đường phố Hà Nội?   Tóm lược quy trình dẫn tới chặt đốn cây ở Hà Nội  Theo UBND Hà Nội, toàn thành phố có khoảng 120.000 cây xanh bóng mát, đa dạng với khoảng 70 loài. Trong đó, nhiều cây cổ thụ từ thời Pháp thuộc có dấu hiệu hỏng, dễ đổ gãy khi mưa bão. Nhiều cây không thuộc cây đô thị, hoặc cong, xấu… ảnh hưởng đến mỹ quan. Từ đó, Thành phố chỉ đạo tổng kiểm tra, lập đề án, huy động vốn, thay thế. Đề án cải tạo do Sở Xây dựng đề xuất và triển khai được phê duyệt bởi Quyết định số 6816/QĐ-UBND của TP Hà Nội ngày 11/11/2013, cho phép thay thế 6.700 cây (tỷ lệ 5,58%), trên 190 tuyến phố, trong ba năm 2015-2017. Dự toán kinh phí tới 60 tỷ đồng, và được hỗ trợ tài chính bởi các doanh nghiệp, tổ chức.   Quy trình hành chính trên được vận hành tự động, tuần tự từ Ủy ban, Sở ban ngành, tới doanh nghiệp thực hiện, được bảo đảm bằng các biện pháp nghiệp vụ “tại mỗi tuyến phố trồng thay thế cây gì, chủng loại ra sao đều được tư vấn, khảo sát nghiên cứu kỹ trước khi triển khai“ (trích lời Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Lê Văn Dục).  Hệ quả của việc Việt Nam không có luật bảo vệ cây xanh  Hai quy trình chặt cây hai nước đều trải qua các công đoạn hành chính tương tự nhau, đệ đơn, thẩm định, ra quyết định, thực hiện. Tuy nhiên ở quy trình họ, giấy phép chặt cây vi phạm Luật bảo vệ thiên nhiên chỉ mới trên giấy tờ, mức độ chỉ ba cây. Còn hệ lụy ở ta, không thể tái tạo bù đắp được ngay một phần môi trường sống cùng cảnh quan đô thị đã bị hủy hoại, với khoảng 2.000 cây bị đốn hạ đồng loạt, trong đó có 451 cây cổ thụ, cây có giá trị, cây không có dấu hiệu hỏng, thuộc 12 tuyến phố của bốn quận nội thành.   Sở dĩ giấy phép chặt ba cây ở Đức vi phạm luật được hủy trước khi thực hiện, bởi: 1- Do Luật Liên bang bảo vệ thiên nhiên điều chỉnh, và 2- Bị Tòa án chế tài bằng án trát. Luật đó có 41 chương với 74 điều, đưa ra chế tài phạt hành chính từ 25.000 Euro tới 50.000 Euro; ủy quyền cho các tiểu bang, điạ phương tự ra các văn bản luật riêng. Như Luật bảo vệ cây cối tiểu bang Hamburg, Điều 2 cấm phá bỏ, hay gây hại cho cây, vườn cây, hiện trạng (không phân biệt cây tư nhân hay công cộng). Đốn hạ, chặt cành, đào rễ đều phải xin giấy phép (như trong xây dựng). Điều 3 đưa ra các trường hợp ngoại trừ, không thuộc diện bảo vệ gồm những cây có đường kính dưới 25 cm cao 1,3 cm. Điều 4, giấy phép chặt cây chỉ được cấp vì lý do an toàn giao thông, dự án xây dựng được cấp phép, hay ảnh hưởng tới nhà cửa… Thủ tục cấp giấy phép chặt cây như luật tiểu bang Hannover quy định phải đệ đơn tại Sở bảo vệ môi trường và cây xanh. Sau khi thẩm định cây đó, Sở sẽ quyết định cấp giấy phép hay không, và hướng dẫn con đường pháp lý chống lại nếu không được chấp thuận.   Trong khi đó, ở ta không hề có luật bảo vệ cây xanh, chỉ có các văn bản lập quy. Văn bản lập quy cao nhất bảo vệ cây xanh ở ta là Nghị định 64/2010/NĐ-CP. Theo đó, 1- Chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị chỉ được tiến hành trong các trường hợp: a) Cây đã chết, bị đổ gãy hoặc có nguy cơ gãy đổ gây nguy hiểm; b) Cây xanh bị bệnh hoặc đến tuổi già cỗi không đảm bảo an toàn; c) Cây xanh trong các khu vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình. 2- Phải có giấy phép khi chặt hạ và dịch chuyển với một số loại cây xanh thuộc danh mục cây bảo tồn, cây bóng mát hè phố, cây bóng mát có chiều cao 10 m trở lên… Chuẩn mực văn bản trên sát với luật bảo vệ cây xanh ở Đức mặc dù chỉ giới hạn trong phạm vi cây công cộng.  Đáng tiếc, 6700 cây được Quyết định số 6816/QĐ-UBND Tp Hà Nội cho phép đốn hạ, không phải tất cả đều nằm trong điểm a), b) c), và không có giấy phép ở điểm 2, rõ ràng vi phạm Nghị định 64/2010/NĐ-CP. Nhưng ở ta lại không có toà án hành chính, hiến pháp, để hủy bỏ các văn bản lập quy mâu thuẫn với văn bản luật trên nó. Nên nó vẫn trở thành căn cứ pháp lý, chuẩn mực thước đo, để Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, Nguyễn Quốc Hùng khẳng định, “chủ trương (đề án) chặt, thay thế 6.700 cây xanh là đúng“, được hiểu đúng với Nghị định 6816/QĐ-UBND mặc dù vi phạm Nghị định 64, và gây ra hệ lụy to lớn như đã nếu ở trên.   Tiếng nói của người dân trong một nhà nước dân chủ  Nhà nước dân chủ được mặc định của dân do dân vì dân. Vì vậy, một khi văn bản luật hoặc bộ máy hành xử không bảo đảm, hoặc vi phạm lợi ích người dân, công cộng, mà vẫn được cho là đúng luật pháp, thì muốn thay đổi người dân buộc phải phản ứng, như trường hợp Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên kiện đòi hủy giấy phép chặt ba cây xanh ở Đức thành công. Hội này chỉ là một trong hơn nửa triệu hiệp hội hình thành nên xã hội dân sự Đức, được Luật Liên bang bảo vệ thiên nhiên, Điều 63 và 64 thừa nhận:1- Họ được tham khảo ý kiến khi nhà nước ban hành luật hay ra quyết định hành chính liên quan; 2- Có quyền đệ đơn kiện khi thấy luật bị vi phạm.   Trong khi đó, ở ta không hề có hiệp hội độc lập bảo vệ thiên nhiên, cây xanh nên ông Trần Đăng Tuấn, nguyên Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam, đã buộc phải gửi thư ngỏ tới Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội, Nguyễn Thế Thảo. Kiến nghị thiện chí của ông được dư luận hưởng ứng: – Tạm dừng việc hạ chặt cây để người dân tự kiểm tra. – Có đúng 6700 cây đó là thuộc diện cần loại, thay hay không? – Thông báo trên báo chí cho mọi người biết có bao nhiêu cây như vậy ở trên mỗi tuyến phố cụ thể… Tiếp đó là thư ngỏ của một tập thể gửi HĐND, CT Thành phố, GĐ Sở Xây dựng, bổ sung thêm: – Đề nghị Sở Xây dựng và cơ quan chủ trì dự án công bố toàn bộ thông tin chi tiết, kèm Tờ trình số 8452/TTr-SXD và các tài liệu liên quan… trên cổng thông tin điện tử thành phố. – Công bố danh sách các cây xanh bị đưa vào diện sẽ bị chặt hạ thay thế trên từng tuyến phố, theo mã số quản lý cây xanh đô thị.   Cùng với thư ngỏ, bao nhân sỹ trí thức ủng hộ lên tiếng, GS Ngô Bảo Châu, GS Nguyễn Lân Dũng, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Nghệ sỹ ưu tú Chiều Xuân, … Người dân cũng tụ tập căng biểu ngữ, hay viết lên cây, chụp ảnh, kêu gọi cứu chúng, bảo vệ môi trường sống.   Vai trò chính khách  Nếu nhân sỹ, trí thức, thiện nguyện đóng vai trò nòng cốt trong xã hội dân sự giúp nhà nước tự điều chỉnh, thì chính khách đóng vai trò cầu nối tác động tới cả hai phiá để cùng đi tới đồng thuận. Đáng tiếc trong vụ chặt đồng loạt 6.700 cây, vai trò đó thậm chí gây thêm bất bình dân chúng, làm giảm uy tín nhà nước, khi ông Phan Đăng Long trả lời báo chí về kiến nghị của ông Trần Đăng Tuấn, sai cả nguyên lý của một nhà nước dân chủ pháp quyền: “Chỉ có chuyện trồng cây mà phải hỏi ý kiến dân? Vậy tôi xin hỏi, đất nước bây giờ động đến cái gì cũng đi hỏi dân thì bầu ra chính quyền làm gì?“. Hay Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội chủ trì cuộc họp báo ngày 20/3, thay vì truyền tải ý kiến trả lời của mình qua báo giới tới công chúng thì cho kết thúc cuộc họp, bỏ ngỏ 21 câu phỏng vấn. Trong khi ở Đức bất kỳ đơn từ của ai gửi tới, cơ quan công quyền đều phải hồi âm thông báo mã số, trình tự thời hạn giải quyết và con đường pháp lý nếu không thoả mãn; riêng quốc hội còn phải lấy ý kiến của mọi bên liên quan, và trình Quốc hội thông qua.   Ở các nước hiện đại, chính khách được coi là gương mặt thước đo uy tín của đảng, nhà nước, luôn được chọn lọc, đào thải từ bề dày hoạt động chính trị của họ, chứ không thể đào tạo. Cựu Tổng thống Köhler cách hai nhiệm kỳ trước buộc phải từ chức chỉ vì phát biểu một câu trước quân đội Đức đồn trú tại Afghanistan sai hiến pháp: “Gửi quân đội sang Afghanistan để bảo vệ lợi ích kinh tế Đức“, bị chính trường phản đối dữ dội. Tới Tổng thống kế nhiệm Wulff rốt cuộc cũng phải từ chức, khởi đầu chỉ do báo chí phát hiện trước đây ông trả lời chất vấn trước quốc hội tiểu bang khẳng định không có quan hệ với một doanh nhân, sau này bị phạt hiện ông từng vay tiền doanh nhân này mua nhà. Văn hoá từ chức giúp người dân yên tâm với đội ngũ chính khách đương nhiệm vốn luôn được tinh lọc.   Tới sáng 20/3, kết luận của Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo tại cuộc họp Ủy ban, đã giải toả được bước đầu bức xúc đòi hỏi của người dân: – Yêu cầu các đơn vị liên quan tạm dừng chặt hạ. – Những cây đã hạ chuyển đi thì trồng ngay cây thay thế. – Phải thông tin kịp thời, đầy đủ, công khai minh bạch. – Sở Xây dựng Hà Nội và các đơn vị liên quan phải kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm.   Tuy nhiên, khác với vụ cấp giấy phép đốn ba cây xanh ở Đức sai luật đã được kịp hủy trước khi có thể gây hệ lụy, ở ta để Chủ tịch thành phố đi tới kết luận trên, thì thiệt hại đã xảy ra không thể làm lại, mà nguyên nhân sâu xa chính nằm ở nguyên lý mối quan hệ nhà nước với dân.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay Thư mời bằng Nghị định      Dù còn nhiều ý kiến khác nhau (thậm chí ông nói gà, bà nói vịt) về thực trạng khoa học công nghệ nước nhà, thì một sự thật hiển nhiên mà bất cứ ai tâm huyết với sự phát triển của KH&amp;CN đều trăn trở, băn khoăn, lo lắng, đó là, dù được coi là quốc sách hàng đầu nhưng hiệu quả hoạt động KHCN của ta thật mờ nhạt, chưa phát huy được vai trò động lực phát triển KT-XH trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu; tiềm lực khoa học thấp kém so với một số nước trong khu vực dù tiền đầu tư không ít.                      Một con số so sánh gần đây thường được đưa ra để dẫn chứng: “Năm 2006, ĐH Chulalongkorn Thái Lan công bố quốc tế 332 bài, trong khi mỗi đại học hàng đầu của chúng ta chỉ có 5-7 bài mà phần lớn là về toán và vật lý lý thuyết”.  (GS Phạm Duy Hiển- Tia Sáng 20.1.2007), và có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa ở sân chơi quốc tế.   Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều, trong đó có một nguyên nhân mà trên diễn đàn của Tia Sáng, nhiều nhà khoa học có uy tín đề cập đến, đó là từ nhiều năm nay, chúng ta không xây dựng và thực thi một tiêu chuẩn rõ ràng dựa trên chuẩn mực quốc tế để xét duyệt, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu.của những hội đồng mà phần lớn không đủ năng lực chuyên môn và thẩm quyền, khiến môi trường học thuật bị ô nhiễm với những bất thường, tiêu cực (mà công luận đã đề cập đến nhiều) và dung dưỡng những giá trị ảo. Có những vị một thời có được những thành tựu nghiên cứu khoa học nhất định, nhưng đã “rửa tay gác kiếm” từ lâu, được tôn vinh là cây đa, cây đề, được giao lãnh đạo, quản lý các cơ sở nghiên cứu, làm chủ nhiệm “nhiều đề tài nghiên cứu cấp nhà nước đến mức nếu cộng thời gian mà họ đăng ký cho tất cả đề tài thì giờ làm việc của họ vượt quá 24h/ngày và số ngày làm việc phải vượt 365 ngày/năm” (TS Lê Đăng Doanh- Tia Sáng 20.11). Thực chất họ chỉ là một dạng cai đầu dài trong nghiên cứu khoa học; thiếu trung thực, trách nhiệm trong công việc được giao. Có vị thậm chí còn là lực cản trong việc đổi mới cơ chế hoạt động KHCN. Ta có thể thấy rõ điều này qua việc gần như làm ngơ trước Nghị định 115 (được coi là khoán 10 trong hoạt động KHCN) ở các trung tâm nghiên cứu lớn như Viện KH&CN Việt Nam, Viện KHXH&NV Việt Nam, Bộ Giáo dục & đào tạo…  Để khắc phục nguyên nhân này, cùng với việc xây dựng và ban hành một số qui chế xét duyệt và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu, đầu năm 2007, Bộ KH&CN đã có “Thư mời đăng ký chuyên gia khoa học và công nghệ” nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực, trình độ, thành tựu và những đề tài đang triển khai của từng cán bộ khoa học. Làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng tiềm lực đội ngũ KH&CN, đề ra các chương trình, hướng nghiên cứu ưu tiên; biện pháp, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ khoa học… đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển KHCN của đất nước.   Nhưng theo Trung tâm hỗ trợ và đánh giá khoa học công nghệ của Bộ KH&CN (cơ quan được giao quản lý các phiếu đăng ký), thì cho đến nay mới chỉ thu được hơn 2000 mẫu đăng ký (bằng 1/10 lực lượng nghiên cứu). Phần lớn mẫu này là của thạc sĩ, tiến sĩ mới bảo vệ và đáng lưu ý là hầu như hoàn toàn vắng bóng các nhà lãnh đạo quản lý ở các viện nghiên cứu. Chúng ta có thể hiểu được vì sao cộng đồng khoa học Việt Nam không mặn mà với việc đăng ký chuyên gia, trong khi đó là việc làm tất yếu của nhà khoa học ở các nước.  Vì vậy, Bộ KH&CN nên nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một Nghị định về việc đăng ký chuyên gia KH&CN, trong đó có một điều khoản qui định mọi cán bộ khoa học nếu muốn nhận/tham gia đề tài nghiên cứu phải đăng ký chuyên gia với cơ quan quản lý.  Nghị định có tính pháp lý này sẽ góp phần giúp Bộ KH&CN đánh giá đúng thực trạng tiềm lực đội ngũ KHCN đồng thời loại trừ dần những giá trị ảo trong cộng đồng khoa học.  Tia Sáng Công việc hệ trọng này dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, cảm tính.  Tia sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thể chế hóa quyền được Thông tin      Tuyên bố của người đứng đầu Chính phủ trước kỳ họp thứ 8 của Quốc hội. Các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng quyền được thông tin của dân, bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của mình. Việc thực hiện điều này không thể tùy thích mà phải coi là một nghĩa vụ thể hiện tính chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Những quy định cụ thể về quyền được thông tin của dân cần được thể chế hóa” đánh dấu một bước phát triển mới đáng mừng trong việc Mở rộng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền” đúng như chủ đề của phần cuối bản Báo cáo của Chính phủ    Đây là một cách làm cho khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” không chỉ là lời kêu gọi suông mà phải biến thành sức mạnh hành động. Thể chế hóa quyền được thông tin là căn cứ pháp lý để mọi công dân thực thi nội dung của khẩu hiệu đã hàm chứa nội dung sức mạnh của xã hội dân sự hỗ trợ cho nhà nước pháp quyền vốn gắn với nhau như bóng với hình. Thật ra thì chuyện này không mới mà đã được thực hiện từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới vốn có bề dày hoạt động của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Vì “quyền được thông tin” là một thành tựu của văn minh mà loài người đã đạt được trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của con người, cho con người. Đó là một minh chứng của trình độ phát triển của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.  Vì nền tảng của nhà nước ấy là trình độ dân trí được nâng cao. Chẳng hạn như, ở Thụy Điển, quyền được thông tin của người dân là một quyền được Hiến pháp quy định. Trong “Quyền được tiếp cận với các văn bản chính thức ở Thụy Điển” do Bộ Tư pháp Thụy Điển xuất bản năm 1996 có ghi rõ điều này: “Nguyên tắc về việc công chúng được quyền tiếp cận với các văn bản chính thức được nói đến lần đầu tiên trong luật về tự do báo chí năm 1766. Luật đó giờ đây là một phần của Bộ luật tự do báo chí hiện tại, và là một đạo luật có tính hiến định của Thụy Điển”.  Trong xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức hiện nay thì thông tin cần cho con người hiện đại như cần không khí để thở vậy. Đành rằng thông tin chưa phải là tri thức. Chẳng thế mà có nhà khoa học đã than rằng chúng ta đang chết ngộp trong thông tin song vẫn đang đói tri thức đó sao! Song nếu không có thông tin thì không sao có tri thức. Cho nên, quyền được thông tin, quyền được tự do tiếp nhận thông tin, tự mình phân tích thông tin để chuyển thành tri thức là chỉ báo của trình độ phát triển của một quốc gia.   Khái niệm những nước “đã phát triển”, “đang phát triển” và “chậm phát triển” trong thế giới chúng ta đang sống tùy thuộc vào nhiều dữ kiện, trong đó các quyền nói trên giữ vị trí rất quan trọng và không kém phần quyết định. Và, bưng bít thông tin là một thảm hoạ cho con người trong thế giới hiện đại, cũng là thảm họa cho một dân tộc đang tìm đường phát triển cùng nhịp với thế giới. Chúng ta đã có bài học cay đắng về hệ lụy khủng khiếp của tệ bưng bít thông tin trong đại dịch SARS cách đây không lâu. Xuất phát từ một bệnh nhân là người bán gia cầm ở một thị trấn nhỏ của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, thông tin bị ém nhẹm.  Phải mất gần 4 tháng, tức là từ tháng 11.2002 đến tháng 2.2003, thông tin về hiểm họa SARS mới đến được với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), rồi mãi đến 2.4.2003, tức là phải mất gần 2 tháng, những chuyên gia của WHO mới đến được Quảng Đông để khởi đầu được cuộc điều tra về dịch bệnh này, để rồi đến 20 ngày sau đó dịch bệnh đã lan ra 25 nước. Hàng chục tỷ đôla thua thiệt từ ngành du lịch Trung Quốc hồi ấy, đi liền với những phản ứng dây chuyền khác là cái giá mà con người đang sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện bưng bít thông tin! Ấy thế mà câu chuyện bưng bít  thông tin vẫn lại đang gây hiểm họa cho con người trong cơn đại dịch cúm gia cầm hiện nay do “Indonesia giấu thông tin dịch cúm gia cầm từ hai năm nay”.  Virút cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Java năm 2003. Khi được hỏi về vấn đề này, Bộ trưởng Nông nghiệp nước này cho biết: “Vấn đề là chúng tôi không muốn công bố chuyện này quá nhiều vì nó sẽ ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi gia cầm của chúng tôi. Vì sợ “Giá gia cầm sẽ bị rớt thảm hại”…”(Tuổi Trẻ 21.10.05) mà người ta bưng bít thông tin. Nhưng cái giá mà tất cả những quốc gia sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện đó thì khó mà tính ra được! Vì cho đến khi ông Chairul Nidom, nhà vi sinh học đầu tiên phát hiện virus gây bệnh cúm gia cầm ở đảo Java có mã gen giống virus cúm gia cầm Trung Quốc, bất chấp sự “vận động” và ngăn cản, đã đưa thông tin cho báo chí vào cuối tháng 1.2004 thì dịch đã vượt khỏi ranh giới đảo Java sang Bali và Sumatra và đến nay thì đại dịch đó đang là mối đe doạ toàn hành tinh!                Quyền được thông tin, quyền được tự do tiếp nhận thông tin, tự mình phân tích thông tin để chuyển thành tri thức là chỉ báo của trình độ phát triển của một quốc gia. Khái niệm những nước “đã phát triển”, “đang phát triển” và “chậm phát triển” trong thế giới chúng ta đang sống tùy thuộc vào nhiều dữ kiện, trong đó các quyền nói trên giữ vị trí rất quan trọng và không kém phần quyết định.        Có lẽ đây cũng là bằng chứng hiển nhiên, dễ nhận biết về tính bất định và không dự đoán được của thế giới mà chúng ta đang sống đã trở nên phức tạp khó lường và phụ thuộc lẫn nhau quyết liệt đến thế nào! Chính trong bối cảnh đó mà người ta cảm nhận thật thấm thía cái giá phải trả cho những hệ lụy của một tập quán bưng bít thông tin trong nhịp sống của hành tinh này.     Chỉ bằng những kinh nghiệm cũ, cách tư duy cũ, nhất là với sức ép nặng nề của những tập quán cũ, chúng ta sẽ không thể đối phó được với tính bất định của thế giới mà chúng ta đang sống, ví như việc chim di trú mang bệnh cúm gia cầm đi khắp nơi trên hành tinh, vượt qua mọi biên giới lãnh thổ quốc gia! Dù có bị cầm tù bởi những tập quán đã ăn sâu vào tâm thức của cả một dân tộc, sự nghiệt ngã của thực tế cuộc sống buộc người ta phải quyết liệt thanh toán nó. Quả thật, tìm kiếm thông tin, thu nhận thông tin, phân tích và xử lý thông tin một cách nghiêm cẩn, độc lập và trung thực để rồi từ đó mà biết đưa ra những quyết định phù hợp là điều có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với con người sống trong thế giới hiện nay. Bởi vậy, “quyền được thông tin”, “thể chế hóa” quyền đó của người dân và bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của các cơ quan  nhà nước có ý nghĩa nhiều mặt cho sự phát triển đất nước, chứ không riêng đối với tác động trực tiếp của việc phòng chống tham nhũng mà Luật này sẽ được Quốc hội kỳ này xem xét thông qua.   Đương nhiên, với nạn tham nhũng đang được gọi là giặc nội xâm thì thể chế hóa hai vấn đề nói trên chính là một vũ khí tinh nhuệ. Chính ở trong “Văn bản của Thụy Điển” trích dẫn ở trên, tôi cũng đã đọc thấy nội dung đó: “Mọi công chức đều biết một nguyên tắc rằng mọi người đều có thể tiếp cận các hồ sơ và các tài liệu. Điều đó làm giảm nguy cơ có những hành động tùy tiện. Bên cạnh đó, người ta cũng thường nói rằng việc tiếp cận được với các thông tin chính thức cũng đóng góp vào việc làm cho hiện tượng tham nhũng trong chính quyền Thụy Điển trở thành một hiện tượng hiếm hoi”.  Càng ngẫm nghĩ, càng nhận rõ thông tin là một loại sản phẩm độc đáo. Độc đáo ở chỗ, nếu anh cung cấp cho người khác thì nó không mất đi mà lại tăng lên. Đây là lúc mà ý tưởng tuyệt vời được phát ra từ thế kỷ trước về sức mạnh của kiến thức và thông tin ngời ngợi tỏa sáng trước mắt chúng ta: “anh ta thắp sáng ngọn nến của tôi và nhận ánh sáng mà không hề làm cho tôi bị tối đi”. Hãy tự thắp sáng ngọn nến trí tuệ của chính mình bằng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được thu nhận và xử lý một cách thông minh, độc lập, trung thực, có chủ định và sáng tạo. Đó là cách tồn tại và phát triển thông minh trong một thế giới đầy biến động bất ngờ mà chúng ta đang sống. Đó cũng là đòi hỏi hàng đầu của quá trình hội nhập quốc tế.                                                                                                                     Tương Lai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới đang phẳng ra, cả ở nơi đây      Chính sự phẳng ra của thế giới, ngay ở ta, đã tác động tích cực cho sự trưởng thành của một lớp trẻ. Và nó sẽ nhanh chóng loang rộng, bỏ qua tất cả những cười riễu, chê bai, hoài nghi, cả lo lắng và bi quan, hoảng hốt, và cả chống đối nữa, của nhiều người, nhiều thế lực. Nó đang hướng tới tương lai. Một tương lai mà ta có thể hoàn toàn tin.  Rất có thể đó là tín hiệu mới của mùa Xuân này.     Tôi có một người bạn đã hơi luống tuổi, gần đây gặp nhau lần nào anh cũng nhếch mép cười, bảo: Các cậu cứ đi nghe hóng người ta mà nói chuyện thế giới phẳng, còn lâu, thế giới còn gập ghềnh chán ra đấy, đừng hòng nó phẳng, đừng ảo tưởng, hay cả mắc lừa nữa! Tôi cũng biết đấy không phải chỉ là ý kiên của riêng anh ấy, không ít lắm đâu những người đang nghĩ như anh, cũng nhếch mép cười “cái đám ngây thơ” này mỗi khi động đến đề tài đó.  Vâng, tôi biết chứ, thế giới chưa phẳng, còn khá lâu nữa, chắc thế, nó mới phẳng. Nhưng ở đời là vậy, vấn đề không phải là nó đang thế nào, nó đang thế nào thì ai mà chẳng thấy, vấn đề là nó sẽ thế nào, tất yếu sẽ thế nào. Tức xu thế tất sẽ đi về đâu. Muốn nói gì thì nói, muốn nhếch mép chế riễu hay thậm chí cả khinh miệt, cũng không thể chối cãi rằng có một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra: cách mạng thông tin. Và cũng như các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đây, nó tất làm cho thế giới thay đổi. Thay đổi theo hướng nào? Theo hướng tất yếu đã và đang phẳng dần ra, với tốc độ ngày càng nhanh, và sẽ nhanh hơn tất cả các biến đổi cách mạng trước đây, – đấy cũng là một quy luật, cuộc sống sẽ biến chuyển ngày càng nhanh hơn – bất chấp ai đó đứng bên đường bụm miệng lại mà cười diễu. Đương nhiên cũng như mọi cuộc biến chuyển lịch sử và cách mạng, nó đem đến hy vọng và cơ hội, cơ hội như xưa nay chưa từng có – đấy cũng lại là một quy luật nữa, cơ hội của cuộc cách mạng sau bao giờ cũng lớn hơn cuộc trước -; và cũng đem đến cả nguy cơ cùng thách thức nữa, cũng nghiêm trọng hơn, đòi hỏi ở xã hội và con người – lần này đặc biệt không phải con người nói chung, mà là từng con người – hoặc vượt lên được hoặc đổ sụp xuống. Xã hội, con người, từng con người, và từng quốc gia, thậm chí từng chế độ… Nhếch mép cười ruồi, theo cách nói dân gian, cũng được thôi, chẳng ai trách cả. Chỉ e rồi đến một lúc nào đó sẽ phải tự trách đã không chịu biết mà chuẩn bị cho mình trước để sống được trong một thế giới đổi thay. Cuộc sống vốn rất khắc nghiệt và dửng dưng, nó đào thải không thương tiếc những ai không biết, không chịu biết rõ về nó, để sống được với nó.        Đã xuất hiện và đang phát triển một dạng, một mạng lưới quan hệ giữa con người với con người, nghĩa là một mạng lưới xã hội xưa nay chưa từng có, chưa từng có thể có, mà nay lại đang có, đang phát triển nhanh, mạnh, chằng chịt, sâu và rộng đến nỗi những người sáng suốt nhất mới cách đây không lâu đã không thể ngờ. Đó là thế giới blog.        Thực ra thế giới phẳng không hề trừu tượng, xa xôi. Tôi muốn nói thế này: nó đang phẳng ra ngay ở đây, ở ta, ở chính chỗ ta đang đứng, đang sống đây, và vô cùng sinh động. Thậm chí, tinh tai một chút có thể nghe được những tiếng động khác lạ, mới mẻ của cái thế giới đang phẳng ra ngay bên ta, dưới chân ta, quanh ta, thậm chí có thể nhìn thấy được, ngửi được, sờ mó được. Đã xuất hiện và đang phát triển một dạng, một mạng lưới quan hệ giữa con người với con người, nghĩa là một mạng lưới xã hội xưa nay chưa từng có, chưa từng có thể có, mà nay lại đang có, đang phát triển nhanh, mạnh, chằng chịt, một thực tại mới loài người xưa nay chưa từng biết mà nay lại đang chi phối hết sức mạnh mẽ, vừa sâu vừa rộng, nhanh, mạnh, sâu và rộng đến nỗi những người sáng suốt nhất mới cách đây không lâu đã không thể ngờ. Và thực tại đó cũng đang trở thành một sức mạnh mới, chưa từng có, mà những sức mạnh cổ điển hình như đang rất lúng túng không biết cách nào đối phó với nó đây, nếu họ muốn đối phó…  Cũng không nên vòng vo làm gì, tôi đang muốn nói đến thế giới blog. Blog là một dạng phẳng của thế giới, mà thậm chí những người dự báo về thế giới phẳng cách đây mấy năm cũng không thể dự kiến hết, hoặc ít ra không thể ngờ tầm rộng, tầm sâu, sức mạnh liên kết, sức làm phẳng của nó. Nó xuất hiện chưa lâu, đang hình thành, đang phát triển, đang chiếm lĩnh không gian sống của con người, với một sức bành trướng phi thường. Một vài thống kê cho biết tốc độ phát triển Internet gần đây của Việt Nam đã vượt đến gấp đôi một số nước láng giềng, hình như kể cả Trung Quốc. Nghĩa là không thể đánh giá sự đổi mới của xã hội ta mà không tính đến cái thế giới ảo này, thoạt đầu cứ tưởng chỉ là một kiểu trò chơi nghịch của bọn trẻ. Có điều rất đáng để ý: chiếm lĩnh thế giới blog đương nhiên là lực lượng trẻ. Dù anh có đứng bên đường và cười ruồi, hoặc anh có hoảng hốt báo động về những nguy cơ tưởng tượng này nọ, như một số người đang báo động, thì trong thực tế đã hình thành một thế giới blog của lực lượng trẻ ở nước ta. Một thế giới rất lỳ lạ, chỉ cuộc cách mạng lần này mới tạo ra được, một thế giới ảo mà lại vô cùng thực, thực hơn cả thế giới thực, thực chất hơn, mạnh hơn, hiệu quả hơn. Nó đang kết nối những con người, những lực lượng, mà lại là lực lượng trẻ, sung sức và giàu năng lượng nhất của đất nước, thành một mạng lưới vừa vô hình, vừa hiển hiện, một thế lực xã hội ngày càng quan trọng. Đặc biệt, nó tạo nên sự liên thông không chỉ về tư tưởng, mà cả về cách thức tư duy, điều vô cùng quan trọng trong tổ chức lực lượng xã hội. Đương nhiên cũng như mọi sự khác ở đời, ở đây, nhất là trong thời kỳ mới ra đời, nó không thể tránh những hỗn loạn, rối rắm, kể cả không ít những chuyện bậy bạ trên đó nữa, nhưng lại cũng như mọi sự vật ở đời, tự nó sẽ biết thanh lọc, giữ gìn và phát triển cái cốt lõi, bởi những người đang hoạt động trong thế giới đó ngày càng hiểu rằng đây là một sức mạnh mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới trao cho họ để họ tham gia kiến tạo thế giới mới, cuộc sống mới, cho họ, và cho mọi người, cho đất nước và thế giới, họ sẽ biết cách nâng niu, vun đắp nó. Lại nữa, đấy cũng là một quy luật.        Lớp trẻ trưởng thành về ý thức xã hội chính trị, giàu lòng yêu nước, rất dũng cảm, và đầy đủ cả sự khôn ngoan nữa. Chẳng hề thua gì các thế hệ cha anh, nếu không hơn. Chính sự phẳng ra của thế giới, ngay ở ta, đã tác động tích cực cho sự trưởng thành đó.        Như ai cũng có thể biết, loài người phát triển bằng giao tiếp, mỗi con người cũng vậy, lớn lên bằng giao tiếp. Tư tưởng và cách thức tư duy của con người cũng qua giao tiếp mà phát triển. Cách mạng tin học tạo nên phương thức giao tiếp vừa cộng đồng rộng lớn chưa từng có, vừa sâu của từng con người cũng chưa từng có thể có. Gần đây nhiều vụ việc gây quan tâm lớn cho giới trẻ. Đây thực sự là một bằng chứng hùng hồn về thế giới hóa ra cũng đang phẳng ra, phẳng ra một cách thật tuyệt và nhanh, chẳng ở đâu xa, ở ngay chính ta. Rất nhiều người trẻ đã nối kết với nhau bằng blog, trao đổi, thảo luận, tranh luận, hỗ trợ tư duy cho nhau bằng blog, tổ chức nhau lại bằng blog, liên kết hành động qua blog. Và tôi đồng tình với một người bạn tôi là chuyên gia tin học đồng thời là một nhà hoạt động xã hội lâu năm khi anh nói rằng qua hiện tượng trên anh lạc quan về lớp trẻ hiện nay của đất nước: đấy là một lớp trẻ trưởng thành về ý thức xã hội chính trị, giàu lòng yêu nước, rất dũng cảm, và đầy đủ cả sự khôn ngoan nữa. Chẳng hề thua gì các thế hệ cha anh, nếu không hơn. Chính sự phẳng ra của thế giới, ngay ở ta, đã tác động tích cực cho sự trưởng thành đó. Và nó sẽ nhanh chóng loang rộng, bỏ qua tất cả những cười riễu, chê bai, hoài nghi, cả lo lắng và bi quan, hoảng hốt, và cả chống đối nữa, của nhiều người, nhiều thế lực. Nó đang hướng tới tương lai. Một tương lai mà ta có thể hoàn toàn tin.  Rất có thể đó là tín hiệu mới của mùa Xuân này.        Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới hội nhập trước những thách thức mới      Sự thắng thế của các trào lưu Brexit và Trumpism cho thấy trong thời đại ngày nay người trí thức cũng có lúc không dự báo được tương lai, và cho thấy tiếng nói của giới trí thức chưa hẳn là thước đo lòng dân.      Giới tinh hoa quyền lực (the elite1) là một phạm trù chính trị – xã hội chỉ một tập hợp những con người có sức ảnh hưởng chi phối tới sự vận hành và định hướng phát triển của cả cộng đồng xã hội. Sự tồn tại và vai trò lãnh đạo của giới tinh hoa quyền lực là một thực tế khách quan và tất yếu trong mọi thể chế chính trị. Năng lực và sự sáng suốt của giới tinh hoa quyền lực thường là yếu tố tiên quyết cho sự thành công hay thất bại trong sự vận hành và phát triển các cộng đồng xã hội.  Trong một thể chế chính trị đảm bảo sự minh bạch và cạnh tranh lành mạnh thì chất lượng giới tinh hoa quyền lực càng được đảm bảo, các cương vị quan trọng sẽ được giao cho những người tài – đức xứng đáng. Ngược lại, nếu thể chế càng nhiều khuyết tật để những kẻ không xứng đáng về năng lực và phẩm cách giành lấy quyền lực thì chất lượng giới tinh hoa quyền lực càng thấp, đồng thời những đối tượng này sẽ tìm mọi cách kết bè kéo cánh, duy trì những khuyết tật của thể chế ấy để bảo vệ cho đặc quyền, đặc lợi của mình.  Để chống lại nguy cơ giáo điều, chuyên chế và tệ thao túng, thu vén quyền lực cá nhân, ngoài việc đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và cơ chế kiểm soát lẫn nhau từ bên trong, giới tinh hoa quyền lực rất cần có văn hóa tiếp thu những phê phán từ bên ngoài. Một trong những bên cung cấp tiếng nói phản biện có giá trị hơn hết chính là những người trí thức.  Tiếng nói của giới trí thức  Người trí thức có ưu thế là sự hiểu biết sâu sắc và thái độ khách quan, tỉnh táo, là những phẩm chất hữu ích, tuy nhiên, bản chất công việc lãnh đạo cũng như quá trình cạnh tranh trên những nấc thang tiến tới các cương vị lãnh đạo còn đòi hỏi cả những phẩm chất và bản lĩnh khác mà không phải người trí thức nào cũng có.  Song dù hiện hữu ở trong hay ngoài giới tinh hoa quyền lực, người trí thức luôn có vai trò quan trọng. Khi có trong tay quyền lực, với vốn tri thức và những phẩm chất ưu tú của mình, họ có thể trực tiếp đưa ra những quyết sách sáng suốt. Còn khi ở ngoài giới tinh hoa quyền lực, với vị thế độc lập không chịu trói buộc, họ có thể cất lên tiếng nói phản biện để thẳng thắn chỉ ra những khuyết tật tồn tại trong hệ thống quyền lực, khuyến nghị những giải pháp cải thiện thể chế, chỉ ra con đường cải cách vì sự tiến bộ xã hội.  Như vậy, giới tinh hoa quyền lực và giới trí thức đều là những mắt xích quan trọng, mỗi bên đều có những thế mạnh mà bên còn lại cần tận dụng. Những trí thức lớn có tầm nhìn đi trước và thiết lập các giá trị chuẩn để định hướng, dẫn đường cho sự phát triển xã hội, đồng thời sẵn sàng cất lên tiếng nói phê phán và cảnh tỉnh khi cần thiết, trong khi giới tinh hoa quyền lực có vai trò tổ chức các nguồn lực triển khai những tư tưởng tiến bộ của giới trí thức. Thực tế thường cho thấy, khi những người trí thức đích thực và giới tinh hoa quyền lực có chung một tầm nhìn thì nhiều khả năng các quan điểm ấy là đúng đắn, phù hợp với các quy luật khách quan, và cũng thường phù hợp với ý nguyện của nhân dân.  Thế giới hội nhập: Một tầm nhìn chung của người trí thức và giới tinh hoa hiện đại?  Xu hướng thế giới hội nhập có lịch sử lâu đời, có từ những nền văn minh cổ xưa nhất – đa số các nền văn minh đều hình thành ở những tụ điểm giao thương tấp nập nhất. Tới cuối thế kỷ 20, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các quốc gia càng tích cực nỗ lực xích lại gần nhau. Mặc dù cuộc giằng co tranh giành địa bàn ảnh hưởng giữa Mỹ và các đồng minh với Nga và Trung Quốc vẫn chưa có hồi kết nhưng một mạng lưới hội nhập toàn cầu đang tiếp tục được định hình ngày một rõ rệt, song song với những liên minh, cộng đồng chung ở tầm khu vực.  Động cơ của sự hội nhập xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của các dân tộc và giới tinh hoa quyền lực ở mỗi quốc gia, mong muốn tạo dựng một môi trường ổn định với những hệ thống luật chơi chung tạo thuận lợi cho sự phát triển, cho phép tăng cường sự tập trung các nguồn lực phong phú, đa dạng, xóa bỏ các rào cản gây phí tổn, mở rộng các cơ hội và quy mô sản xuất – kinh doanh. Ngược lại, xu thế hội nhập còn là động lực để những giới tinh hoa quyền lực của các nước kém phát triển tiếp cận với những thông lệ, luật chơi quốc tế chặt chẽ, minh bạch, tạo cơ hội cho sự đổi mới, cải cách chất lượng thể chế của quốc gia mình.  Còn với giới trí thức, thế giới hội nhập phần lớn đồng nghĩa với những giá trị tiến bộ khai phóng cho nhân loại và các cộng đồng xã hội, cụ thể là sự giải phóng con người khỏi những định kiến phân biệt đối xử, tạo cơ hội cho sự chung sống hòa bình trong sự tự do và đa dạng văn hóa của các nhóm cộng đồng đặc thù. Bên cạnh đó, hội nhập cũng đồng thời thúc đẩy sự giao lưu và tập trung hóa các nguồn vốn tri thức.  Giá trị chung giữa giới trí thức và giới tinh hoa quyền lực là cùng mong muốn hòa bình, trật tự, ổn định, và dung hòa những mặt đối lập, xóa bỏ các nguy cơ gây mâu thuẫn, xung đột để tạo nền tảng cho sự phát triển chung. Mặc dù thỉnh thoảng đâu đó vẫn có những tiếng nói phản đối toàn cầu hóa, cảnh tỉnh về những mặt trái như sự hòa tan bản sắc các địa phương và nhóm thiểu số, các vấn nạn môi trường và tình trạng bất bình đẳng gia tăng, v.v, nhưng nhìn chung xu thế hội nhập vẫn luôn nhận được sự ủng hộ của đa số trong giới tinh hoa cũng như giới trí thức. Phần lớn cả hai phía đều coi hội nhập là xu thế tất yếu, rằng hội nhập hoàn toàn có thể được thiết kế, tổ chức theo cách có lợi cho sự tiến bộ của xã hội và những mặt trái của hội nhập chỉ được coi là vấn đề cần khắc phục, giải quyết, chứ không thể là lý do để quay ngược bánh xe lịch sử.  Những bài học mới rút ra từ sự thắng thế của Brexit và Trumpism  Khác với nhận thức xưa nay cho rằng ý kiến của các nhà trí thức là một trong những căn cứ đáng tham khảo để xem xét tính đúng đắn và mức độ hợp lòng dân của một chủ trương, đường lối nào đó của giới tinh hoa quyền lực, sự thắng thế của Brexit và Trumpism là một minh chứng sinh động cho thấy, ngay cả khi giới tinh hoa quyền lực và giới trí thức cùng chung một lựa chọn, thì chưa chắc đó là lựa chọn đại diện nhất cho tiếng nói của nhân dân. Điều đó có thể cho thấy giới trí thức ngày nay phần nào quá say mê những lý tưởng khai phóng mà trở nên bất cập nhân tình, không cảm thấy được sự chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội; điều này cũng có thể cho thấy hình ảnh của thế giới ngày nay bị giới truyền thông bóp méo hoàn toàn, rất khó để nhận biết chân tướng sự vật, và có lẽ không ai nói thay lòng dân tốt hơn những lá phiếu bầu trực tiếp.  Thế giới hội nhập cùng những giá trị khai phóng xét về tổng quan là một tầm nhìn, một con đường tiến bộ, lâu nay vẫn nhận được sự ủng hộ của đa số giới tinh hoa quyền lực cũng như giới trí thức ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng con đường tiến bộ đó đòi hỏi sự kiên trì, không thể nóng vội. Mức độ hội nhập càng cao thì thách thức sẽ càng lớn, gây nguy cơ đứt gãy ở những mắt xích yếu nhất, cụ thể là những nhân tố năng lực chưa đủ đáp ứng, ở tầm quốc gia là những nước chậm phát triển, thiếu kỷ luật tài khóa như Hy Lạp, còn xét về phân tầng xã hội chính là tầng lớp trung lưu lao động phổ thông.  Tâm lý bất mãn và thế bế tắc của tầng lớp trung lưu có thể là một trong những yếu huyệt của xã hội phương Tây. Thực tế cho thấy, những người lao động ở tầng thu nhập thấp lại không bức xúc nhiều với giới tinh hoa quyền lực như những người ở tầng lớp trung lưu – hơn 50% những người thu nhập thấp vẫn bỏ phiếu bầu cho bà Clinton2, ứng cử viên đại diện cho những giá trị tinh hoa truyền thống. Như vậy, rõ ràng hố sâu chia rẽ nước Mỹ hiện nay không chỉ liên quan đến vấn đề đói nghèo hay bất bình đẳng trong xã hội do sự bóc lột theo quan hệ chủ – tớ như quan điểm của các nhà Marxist truyền thống trước đây. Tôi dám chắc rằng nếu người ta hỏi những người lao công làm việc cho Microsoft về việc so sánh mức độ bức xúc của họ với sự bóc lột của ông chủ Bill Gates và với anh hàng xóm nhà bên thất nghiệp nhưng vẫn hưởng trợ cấp đủ để thoải mái đeo ba lô đi du lịch khắp nơi, thì đa phần câu trả lời sẽ là bức xúc với điều thứ hai nhiều hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là phỏng đoán chủ quan, sẽ cần có những nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về bản chất hố sâu chia rẽ trong lòng nước Mỹ nói riêng, phương Tây nói chung.  Thất bại của giới tinh hoa quyền lực và giới trí thức qua sự thắng thế của các trào lưu Trumpism và Brexit là một lần sàng lọc mới trong thượng tầng kiến trúc xã hội phương Tây. Liệu Trump và những người cùng phía với ông ta có là những người lãnh đạo tốt hơn so với các đối thủ vừa bại trận? Chúng ta phải chờ thời gian trả lời, nhưng có thể chắc rằng chiến thắng của Trump đánh dấu sự trỗi dậy của một xu thế đường lối chính trị thực dụng hơn trước đây. Bản thân Trump đến nay vẫn khẳng định sẽ giảm bớt các cam kết của Mỹ với cộng đồng quốc tế, kể cả với các đồng minh, và như các cử tri Mỹ đã thẳng thắn bày tỏ3, họ lựa chọn ông Trump một phần vì không còn tin vào những ngôn từ hoa mỹ thường thấy trong giới tinh hoa quyền lực, một phần nữa vì tin rằng ông là người đàm phán cứng rắn sẽ bảo vệ tốt hơn cho lợi ích Mỹ. Tinh thần thực dụng đó của người Mỹ, cùng khả năng gia tăng xu hướng thiên hữu ở châu Âu, và cách tiếp cận thực dụng lâu nay của Nga và Trung Quốc cho thấy khả năng va chạm, xung đột lợi ích giữa các bên sẽ càng cao hơn, và như vậy tiến trình tìm kiếm sự đồng thuận cho những vấn đề cấp bách chung toàn cầu, cụ thể như chống biến đổi khí hậu, có thể sẽ gặp thêm nhiều những trở ngại và thách thức mới.  ———  1 Một khái niệm bắt nguồn từ eligere trong tiếng Latin, có nghĩa là lựa chọn, bầu lên, bổ nhiệm.  2 http://www.independent.co.uk/news/ world/politics/president-donald-trump-why-people-voted-for-republican-wins-us-election-2016-a7407541.html  3 https://www.theguardian.com/us-news/2016/nov/09/why-did-people-vote-for-donald-trump-us-voters-explain  Charles Wright Mills, nhà xã hội học người Mỹ, trong cuốn sách The Power Elite ra năm 1956 cho rằng giới tinh hoa quyền lực Mỹ là sự kết hợp và giao thoa của giới lãnh đạo chính trị, quân sự, và lãnh đạo các tập đoàn. Nhìn sang các nước trong khối XHCN cùng thời kỳ đó, nhân tố thứ ba không có mặt, hay nói đúng hơn là hoàn toàn không được phép tồn tại trong thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên, kể từ khi Liên Xô sụp đổ, cơ chế kinh tế thị trường được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, thì giới lãnh đạo các tập đoàn cũng dần tạo được chỗ đứng của họ tại các nước XHCN cũ một cách tất yếu bởi họ là những người tác động mạnh mẽ tới các huyết mạch kinh tế, không chỉ trong mà cả ngoài biên giới mỗi quốc gia. Như vậy, có thể nói đến nay cách định nghĩa của Mills về giới tinh hoa quyền lực không chỉ áp dụng với nước Mỹ mà có thể áp dụng với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới.    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Thế hệ digital      Những người mười mấy đôi mươi hiện nay, trên toàn thế giới, là thế hệ digital đầu tiên, ra đời và lớn lên cùng với sự ra đời và phát triển của những thiết bị số hóa, kỹ nghệ số hóa, thông tin số hóa, giải trí số hóa, kiểu sống số hóa, nhận thức số hóa. Cuộc sống của những người này gắn liền với thế giới số hóa. Và không phải chỉ ở những chốn đô thị giàu có.    Chuẩn bị về thăm nhà, một trong những việc cần làm là mua quà cho người thân kẻ sơ, nhất là khi mình về nhằm dịp lễ tết. Trước đây, việc này là cả một niềm vui. Từ khi mua vé máy bay đến ngày đi thường là cả tháng, hoặc dài hơn, mua vé trước càng sớm càng rẻ mà, nên tôi có năm ba cái cuối tuần tha hồ dạo khắp các phố phường, thương xá hay trung tâm thương mại, ngắm nghía, thử rồi cân nhắc từng món hàng bắt mắt, tính toán túi tiền, lập danh sách món quà nào tặng cho ai thì đúng điệu nhứt.  Dần dà, chắc tại tuổi tác dồn lên gân cốt khiến việc đi rảo bốn năm tiếng đồng hồ từ cửa hàng này đến cửa hàng khác trở nên mệt mỏi, mới nghĩ tới đi mua sắm đã bắt ngán. Với lại, năm nào cũng đi về một hai lần, riết rồi không biết mua cái gì cho đặc biệt. Lần trước, lụi hụi chèn nhét mấy cái va li, cân lui cân tới (hãng hàng không cắt bớt trọng lượng hành lý ký gởi), đem về tới Sài Gòn thì thấy những món “quà Mỹ” của mình bày bán đầy đường đầy tiệm! Nên lần này tôi chơi kiểu khác, mùa thu hái mận hái táo trong vườn lớp sấy khô lớp làm mứt, đem những thứ “homemade” này về làm quà, bảo đảm không thể đụng hàng.  Lợi điểm là mình đỡ nhức đầu suy nghĩ: ai ai cũng được quà như nhau! Tuy nhiên có một số người tôi ưu tiên được quyền đề đạt nguyện vọng: thích cái gì thì nói sớm để tôi liệu mua sắm, sắp tới mùa sale ở đây rồi. Và bữa nay tôi nhận được danh sách những “điều ước”: iPhone, Nook, iPad, mini laptop. Trước tiên tôi lên mạng xem mấy thứ đó là cái gì. Thú thực ngoài cái laptop nặng hơn 3 kí lô xài mấy năm nay, phần cứng đã lạc hậu, phần mềm không cập nhật được, nhiều phím đã tróc chữ, con chuột đã lờn, nhưng vì xài đã quen và vẫn còn xài được nên vẫn cứ xài, tôi không biết chút gì về mấy đồ điện tử kia. Những năm gần đây tôi theo phái chủ trương giải thoát mình khỏi chủ nghĩa tiêu thụ, cái gì không phải nhu cầu thì không sắm đua theo quảng cáo.  Dĩ nhiên người ta không giống mình. Nhứt là khi người ta còn trẻ, mới có mười mấy hăm mấy tuổi. Tôi bèn lụi hụi tìm hiểu, trao đổi với những người có kinh nghiệm về những hàng hóa thời thượng. Bỗng nhận ra một điều: những người mười mấy đôi mươi hiện nay, trên toàn thế giới, là thế hệ digital đầu tiên, ra đời và lớn lên cùng với sự ra đời và phát triển của những thiết bị số hóa, kỹ nghệ số hóa, thông tin số hóa, giải trí số hóa, kiểu sống số hóa, nhận thức số hóa. Cuộc sống của những người này gắn liền với thế giới số hóa. Và không phải chỉ ở những chốn đô thị giàu có.  Một trong những người gởi “điều ước” về một cái iPhone cho tôi đang sống ở một miền quê hẻo lánh (theo ký ức của tôi) ở Việt Nam. Người đó, tạm gọi là Bạn, nói với tôi qua Skype từ một quán game ở thị trấn đèo heo của mình, rằng trong xóm thiếu gì đứa có, anh chị tụi nó đi làm ăn hay đi lấy chồng ở Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… đem về, gởi về, tiệm trong chợ cũng có bán, cái mắc nhứt, đời mới nhứt, cỡ mấy chỉ vàng! Tôi nhớ lần thăm xóm của Bạn, cứ dăm ba nhà là có một nhà có con gái đi lấy chồng xa xứ hay đi “làm ăn” ở quê người. Chiều tối bạn chở tôi bằng xe gắn máy trên con đường lở lói vì lũ lụt hàng năm “ra chợ” chơi, chứ xóm nhỏ vắng vẻ tối thui. Ở chợ có mấy quán cà phê internet, bạn gọi là tiệm game vì người ngồi trong đó chơi game là chính.  Người bạn ước mini laptop lâu nay vẫn dùng máy tính để bàn ở nhà, nói nào ngay cũng cũ cỡ laptop tôi đang xài. Bạn muốn có laptop để ra quán café wifi ngồi, mà phải là cái be bé xinh xinh cơ. Bạn gởi tôi mấy cái link đến những trang web quảng cáo sản phẩm mà bạn muốn có. Dịch dụ thương mại thời số hóa không bị cản trở bởi những sông đèo hiểm trở ngăn đường xe quảng cáo với cái loa rè của một hai thập niên trước. Bây giờ một sản phẩm digital vừa ra đời ở Mỹ hay Nhật, lập tức, gần như cùng lúc, nó được quảng cáo đến tận mọi hóc bò tó trên trái đất. Cho dù ở hóc bò tó đó, một người cuốc đất cả ngày kiếm được một trăm ngàn, nhưng chuyện phiếm ở góc đường hay trên mạng toàn nói đến những nhà xe siêu sao, ngân sách thất thoát, doanh nghiệp lời lỗ, đề án vay mượn, biếu tặng công khai và bí mật… cỡ tỷ và tỷ. Thì so ra, mấy món đồ digital giá vài chục đến vài trăm đô… đâu phải là điều ước quá đáng.  Những người quan sát xã hội phương tây (hơi già) nói đến thế hệ digital với chút ghen tỵ và đầy kiêng dè, bởi vì thế giới số hóa và những phương tiện kỹ thuật số ngày càng hoàn hảo đang (đã) đẩy xa biên giới của tri thức, xóa những giới hạn hữu hình và vô hình trong khả năng con người, tạo ra vô vàn cơ hội để con người hiểu biết, chia sẻ, mưu lợi hay hoàn thiện bản thân và xã hội, ngoài việc làm cho đời sống thú vị và tiện nghi hơn trong giải trí và giao tiếp. Sở hữu những phương tiện kỹ thuật số là ham muốn hiểu được, nhưng sử dụng nó như thế nào để làm gì…  Ôi, bạn bực mình gắt. Không mua nổi thì thôi, không cho thì thôi, nói chi dài dòng… Bạn offline. Tôi hóa ra là một bà già keo kiệt hủ lậu ư?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế hệ “xếp bút nghiên”: Tướng Cao Văn Khánh      Anh Cao Văn Khánh thuộc “thế hệ 1945” của Việt Nam, bao gồm những trí thức do trường Tây, ít nhất là trường Pháp-Việt đào tạo, rồi tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Có thể bao gồm những ai sinh ra từ 1910 đến 1939, tới Cách mạng tháng Tám 1945 ít nhất cũng 6-7 tuổi. Như vậy là có nhiều lớp tuổi trong một thế hệ, tôi tạm gộp là thế hệ 1945. Họ có một tính chất chung: sinh ra và lớn lên trong thời Pháp thuộc, bị thực dân nhồi sọ nhưng trong tiềm thức vẫn giữ được tinh thần dân tộc, nên khi gặp thời cơ là “xếp bút nghiên” phục vụ Tổ quốc, mỗi người một ngành. Anh Cao Văn Khánh thì “…theo việc đao cung”.        Tôi là bạn đồng nghiệp dạy học và bạn hướng đạo của anh Khánh ở Huế vào những năm 1942-1945. Chúng tôi cùng dạy trường học tư thục Lyceum Việt Anh. Sau vì ghét tên chủ nhiệm Tây Lafférandrie, chúng tôi cùng một số thầy bỏ Việt Anh, lập trường riêng là Hồng Đức. Trường mới, tuy kiến trúc sơ sài, nhưng vẫn đông học sinh vì uy tín có nhiều thầy giỏi và tâm lý học sinh ghét tên chủ nhiệm Tây. Huế hồi đó có nhiều trường trung học tư vì học sinh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận đều đổ về đây. Anh Khánh dạy toán, tôi dạy pháp văn và sử địa. Trong thời gian 1939-1945, các giáo viên tư thục Huế thuộc hai loại: một số chính trị phạm ở tù ra, một số trí thức thích làm việc nơi yên tĩnh và thơ mộng. Ngoài một số trưởng lão Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt, đa số còn lại thuộc thế hệ Quốc văn giáo khoa thư (học sinh học cuốn này từ 1925, như Tạ Quang Bửu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Thanh Tịnh, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Tảo Trang, Phan Khắc Khoan…). Họ đều theo tiếng gọi non sông năm 1945. Huế, bề ngoài im lìm, nhưng quốc dân luôn được nhắc nhở nhiệm vụ cứu nước, từ sự lưu đày của ông già Bến Ngự Phan Bội Châu.  Phong trào Hướng đạo ở Huế, dưới sự lãnh đạo của Tạ Quang Bửu, cũng là một hình thức “nhắc nhở”. Anh Khánh đã giới thiệu tôi vào Đội, tôi lấy biệt danh là Chim bói cá. Nhớ lại những buổi lửa trại vang lên những bài ca yêu nước Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng… Anh Khánh rất nhiệt tình. Đó là một nét tính cách của anh, đã làm gì là làm hết mình. Anh để lại cho tôi những ấn tượng khó quên: Một chàng trai cao lớn, thân hình cân đối, tính tình giản dị, nói năng cân nhắc, nụ cười hiền. Không ai đoán trước được một thầy giáo phong thái nho nhã như vậy lại có thể trở thành một vị tướng tài.  Ấn tượng nhất về anh là tính trung thực. Anh vào Đảng muộn. Đầu kháng chiến, là Khu trưởng duy nhất chưa vào Đảng. Anh tâm sự: “Trước 1945, mình không tham gia chính trị vì còn phải ở lại Huế săn sóc mẹ già. Đảng thành công, mình chưa muốn vào vì chưa có đóng góp gì”. Có người cho nghĩ thế là gàn, tạch tạch sè… Nhưng tôi nghĩ đó là lòng tự trọng. Anh còn nói “Mình chỉ muốn là người công dân tốt. Tổ quốc cần, đi đánh giặc. Xong lại về dạy học. Thế là mãn nguyện!”.           Trong ảnh: Bác Hồ  và các vị Trường  Chinh, Võ Nguyên Giáp , Lê Liêm., Văn tiến Dũng. Hoàng văn Thái , Vuơng thừa Vũ , Cao văn Khánh          Không ngờ anh Khánh đánh Pháp, Mỹ đều giỏi. Quân đội ta có đến hàng trăm tướng, nhưng tướng Khánh nổi bật về hai điểm: Thứ nhất, anh là vị tướng luôn có mặt ở tuyến đầu (mặc dầu mãi đến năm 1974 mới được gọi là tướng), trong gần ba mươi năm, chỉ huy những trận đánh ác liệt nhất và mang lại những thắng lợi chiến lược: Sông Thao (1949), Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954), Khe Sanh (1968), Đường số 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1972-1974). Thứ hai, anh cùng Lê Trọng Tấn được coi là những tướng có tầm tham mưu chiến lược. Từ năm 1953, hai tướng này đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu chuyên đề tấn công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Năm 1974 anh Khánh được điều về Bộ Tổng tham mưu, đúng vào lúc ta đang chuẩn bị giải phóng miền Nam. Đây là dịp để anh đóng góp các kinh nghiệm tham mưu và chỉ huy. Anh trở thành trợ thủ đắc lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Theo lời Đại tướng “Đồng chí Cao Văn Khánh là một trí thức yêu nước, tham gia Cách mạng tháng Tám từ 1945. Anh là một cán bộ quân đội chỉ huy Đại đoàn 308, đánh những trận lớn trong kháng chiến chống Pháp, từng là tư lệnh B70 (Trị-Thiên) trong kháng chiến chống Mỹ, một người hăng hái trung thực, có nhiều kinh nghiệm hợp đồng binh chủng, được bộ đội tin yêu”.  Trong đời riêng, anh không được số phận ưu đãi. Đám cưới của anh ở hầm Đờ-Cát (De Castries) hai tuần lễ sau chiến thắng Điện Biên Phủ lãng mạn như truyện cổ tích, là đỉnh cao hạnh phúc đời anh. Anh đã gặp được ý trung nhân: chị Toản, nữ sinh Huế học trường Đồng Khánh dòng dõi hoàng tộc, đi giải phóng quân năm 15 tuổi. Đôi bạn đời quý mến nhau, nhưng trong 28 năm vợ chồng, ở nhà với nhau cộng lại chỉ khoảng 8 năm vì anh luôn ở chiến trường, chị là bác sĩ chuyên gia sản phụ khoa, cũng luôn đi công tác. Anh chị có bốn con thì một con trai bị tai nạn đường sắt, một cậu chết vì chất độc da cam, do từ 1966 đến 1974, anh Khánh chỉ huy đánh ở miền Nam, nhiễm chất độc hóa học. Anh mất năm 1980 vì ung thư gan cũng do chất độc da cam. Chị Toản chiều ý anh, từ chối để mộ ở Mai Dịch và đặt anh yên nghỉ tại nghĩa trang Yên Kỳ, gần ngôi mộ cậu con trai và những đồng đội Sư 308. Trên bia chỉ ghi Tướng Cao Văn Khánh, ngày sinh, ngày mất, quê quán. Không ghi thêm chức tước gì khác, đúng như tính cách anh: luôn chỉ nhận mình là một công dân, giặc đến thì đánh. Sau chiến tranh mong trở lại cuộc sống bình thường mà thôi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thế kỷ bị sỉ nhục” và chủ nghĩa dân tộc hiện đại Trung Quốc      Nếu bạn hỏi bất cứ người Trung Quốc nào về vị trí của dân tộc họ trong tương lai, câu trả lời rõ ràng là: “Thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc.”      Đài tưởng niệm Chiến tranh nha phiến ở Quảng Châu  Từ góc độ lịch sử và ngoại giao, câu trả lời này cũng hé lộ nhiều khía cạnh quan trọng về cách thức bản thân Trung Quốc nhìn nhận sự hưng thịnh của họ, cũng như cách họ sẽ đối xử với phần còn lại của thế giới. Và chúng ta sẽ tự hỏi sự ngạo nghễ và lòng tự hào về sự “trở lại” của người Trung Quốc là từ đâu? Một phần cho câu trả lời này đến từ giáo dục lịch sử và cách thức ký ức lịch sử được sử dụng như một xúc tác cho chủ nghĩa dân tộc mới ở Trung Quốc. Một trong các diễn ngôn này chính là thế kỷ bị sỉ nhục, 1840-1945.  “Vật vong quốc sỉ”  Ký ức về quốc sỉ này xoay quanh chủ đề về “thế kỷ bị sỉ nhục” (bách niên quốc sỉ) của lịch sử Trung Quốc, thế kỷ mà Trung Hoa được mô tả là bị các nước Phương Tây xâm lược, chia cắt, bắt ký các hiệp ước bất bình đẳng, xây dựng các nhượng địa, tô giới, chiếm hữu các vùng đất khác nhau, tiến hành các cuộc can thiệp quân sự và đàn áp sự phản kháng. Một vài mốc lớn trong số này bao gồm chiến tranh thuốc phiện lần 1 (1840-1842), lần 2 (1856-1860) do người Anh tiến hành nhằm mở cửa Trung Quốc. Hàng loạt các điều ước ưu đãi quan thuế và ngoại giao sau đó được ký kết, bao gồm việc nước Anh được cai trị Hong Kong 150 năm. Kéo theo sau là Nhật Bản và 6 cường quốc Châu Âu khác lần lượt chiếm Macao, Quảng Châu Loan, Đài Loan, Mãn Châu… Năm 1900, liên quan 8 cường quốc tiến vào Beijing đàn áp phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901) đốt phá Bắc Kinh và cướp bóc các cung điện của nhà Thanh. Tội ác của Nhật Bản đối với Trung Quốc được nhấn mạnh, bao gồm việc chiếm Đài Loan, gây ra chiến tranh Trung Nhật (1894-95) để cướp Triều Tiên, xâm lược Mãn Châu 1931, thảm sát Nam Kinh 1937 và mở rộng xâm lược toàn Trung Quốc (1937-1945).  Tất cả chuỗi sự kiện này nhanh chóng trở thành cốt lõi trong diễn trình viết sử và dạy sử ở Trung Quốc nửa sau thế kỷ XX, ảnh hưởng trong sách giáo khoa, bảo tàng, công viên, đài tưởng niệm, phim ảnh, văn học, nghệ thuật, các cuộc triễn lãm, báo chí, và trở thành nguồn cảm hứng cho chủ nghĩa dân tộc mới.  Linh hồn của tinh thần này chính là khẩu hiệu: “vật vong quốc sỉ” – đừng quên quốc sỉ. Khẩu hiệu này xuất hiện đầu thế kỷ XX và nhanh chóng trở thành chủ đề chính cho các cuộc vận động dân tộc chủ nghĩa. Một cuốn lịch của chính quyền Trung Quốc xuất bản năm 1928 đề cập đến ít nhất là 26 ngày “quốc nhục” và còn đề nghị lấy một trong những ngày quốc sỉ này là ngày tưởng niệm ở cấp quốc gia (William Callahan 2006). Tưởng Giới Thạch và các nhà dân tộc chủ nghĩa khác cũng sử dụng ý niệm về quốc sỉ như ngọn cờ tập hợp các phong trào của dân chúng nhằm chống ảnh hưởng từ bên ngoài. Sau đó, ký ức lịch sử này được sử dụng để củng cố ý thức dân tộc Trung Quốc sau biến động chính trị những năm 1950s đến 1989. Những biến động này phần nào làm lung lay tính chính thống quyền lực của Trung Nam Hải và họ tìm cách củng cố lại vị trí của mình bằng cách sử dụng các ký ức chính trị.  Từ chỗ tin rằng mình ở trung tâm của văn minh, Trung Hoa trở thành kẻ bị thống trị và bị xỉ nhục bởi thế giới phương Tây. Một hình ảnh có tính chất biểu tượng được truyền tụng đó là tấm biển cấm người Trung Hoa và chó trong công viên Hoàng Phố ở Thượng Hải. Tuy nhiên đây là một chi tiết lịch sử có nhiều tranh cãi xoay quanh tấm biển nói rằng “No Dogs or Chinese Allowed”: Không cho phép người Trung Quốc và chó. Trong nhiều thập kỷ, người ta nhắc lại câu chuyện này mà không có các dẫn chứng chắc chắn, thậm chí GS hàng đầu về lịch sử Trung Quốc ở đại học Harvard là John K. Fairbank trong nghiên cứu của mình (1986) cũng đề cập đến chi tiết này.  Dùng ký ức tạo ra tính cố kết mới  Chính Đặng Tiểu Bình và những người kế tục đã đưa “Thế kỷ quốc sỉ” vào các sách giáo khoa và biến nó thành hạt nhân của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc hiện đại, và gần đây tiếp tục phát triển thành “Giấc mơ Trung Quốc” của Tập Cận Bình. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội những năm 1980s và sự kiện Thiên An Môn rõ ràng đã làm thay đổi cách thức lịch sử được sử dụng để làm chỗ dựa của chính quyền Trung Quốc, từ lí thuyết về xung đột giai cấp sang chủ nghĩa dân tộc. Dùng ký ức bị sỉ nhục để tạo ra sự cố kết mới của Trung Quốc và tìm kiếm tính chính thống mới cho quyền lực của Beijing.  Điều đặc biệt của sự thay đổi diễn ngôn lịch sử này đó là sự chuyển biến từ việc tập trung vào lịch sử “huy hoàng” thời Mao và thay vào đó là lịch sử của kẻ bị trị, xâm lược, và ô nhục dưới tay của các thế lực bên ngoài. Cách kể lịch sử mới này trút tất cả sự lên án vào phương Tây và tìm cách thu hút giới trẻ vào các cuộc vận động mới nhằm chấn hưng Trung Hoa, và làm chuyển hướng mối quan tâm của giới sinh viên trong những năm 1980s là dân chủ hóa.  Người ta dựng lên các đài tưởng niệm các sự kiện bị “sỉ nhục” và các vụ thảm sát trong lịch sử Trung Quốc như Đài tưởng niệm Chiến tranh nha phiến ở Quảng Châu, và đài tưởng niệm việc quân đội Nhật bắt đầu xâm lược Trung Quốc năm 1931.  Phim ảnh, báo chí và tuyên truyền trở thành công cụ hữu hiệu cho ký ức về thế kỷ sỉ nhục. Rất nhiều bộ phim võ thuật của Trung Hoa bắt đầu nói về các cuộc đấu giữa người Hán và các tay võ sĩ thách đấu Nhật Bản hay Phương Tây. Không dừng ở đó, các sự kiện này cũng được dựng thành phim. Cảnh dưới đây từ “Chiến tranh Nha Phiến”, diễn viên Bào Quốc An vai Khâm Sai Đại Thần Lâm Tắc Từ, đang chuẩn bị đổ các thùng thuốc thuốc phiện của phương Tây xuống biển. Hình ảnh bên phải là bìa của một bộ phim làm về cuộc thảm sát Nam Kinh của quân đội Nhật năm 1937 với con số các nạn nhân được ước tính khoảng 300,000 người. Có ít nhất 10 bộ phim về sự kiện này đã được sản xuất gần đây.  Trong phần lớn các bộ phim này, hình ảnh của những người Phương Tây hay Nhật Bản được mô tả như những kẻ áp bức tàn bạo, khát máu và thủ đoạn luôn tìm cách miệt thị người Trung Quốc và các giá trị Trung Hoa. Dĩ nhiên là tất cả đã bị đánh bại bởi những người anh hùng đại diện cho sức mạnh và tinh hoa của dân tộc Trung Hoa, những người chiến đấu vì danh dự và vì quốc thể.  Dĩ nhiên, đối tượng đông đảo nhất mà cuộc vận động này hướng tới là giới trẻ. Thế hệ 1990s ở Trung Quốc là thế hệ nhận được được một cách có hệ thống hệ thống tuyên truyền mới, lấy chủ nghĩa yên nước làm cơ sở thông qua ký ức về một Trung Hoa bị sỉ nhục. Các cuộc tranh luận liên quan đến sách giáo khoa Nhật Bản, hay các vấn đề biên giới, lãnh thổ mà Trung Quốc có liên quan thường được châm ngòi chính từ ý niệm về thế kỷ bị sỉ nhục và các vùng đất bị mất vào tay nước ngoài. Chúng thường dẫn tới biểu tình, bạo động và các hành động cực đoan, như cuộc biểu tình chống Nhật Bản năm 2005.  Một diễn ngôn về ký ức lịch sử như thế rõ ràng đang ảnh hưởng sâu sắc cả đến chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc, đặc biệt là việc ứng xử với các nước láng giềng, cũng như cách thức công dân Trung Quốc nhìn nhận sự vươn lên của Trung Quốc, và cách thức họ tương tác với phần còn lại của thế giới.   ————  Tài liệu tham khảo  1. Hartwell, Robert. “A Revolution in the Chinese Iron and Coal Industries During the Northern Sung, 960-1126 A.D.” The Journal of Asian Studies 21.2 (1962): 153-62  2. John King Firbank. The Great Chinese Revolution, 1800-1985. New York: Happer & Row, 1986, p. 147  3. William Callahan, “History, Identity, and Security: Producing and Consuming Nationalism in China,” Critical Asian Studies 38:2 (2006), 179-208  4. Ronald Findlay, Kevin H. O’Rourke. Power and Plenty: Trade, War, and the World Economy in the Second Millennium. Princeton Economic History of the Western World, Princeton University Press, 2009  5. Martin Jacques When China Rules The World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order. Penguin, 2012  6. Zheng Wang. Never Forget National Humiliation: Historical Memory in Chinese Politics and Foreign Relations. New York: Columbia University Press, 2012.  7. Kuan Yew Lee, “Two Images of China,” Forbes, June 16, 2008, http://www.forbes.com/forbes/2008/0616/037.html  8.http://www.telegraph.co.uk/news/picturegalleries/worldnews/9548186/Anti-Japan-protests-erupt-in-cities-in-China-over-disputed-islands.html?frame=2341993    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Thế nào là “mất”, thế nào là “được”      Nếu ngày xưa cái “quạt tai voi”  thể hiện sự kết tinh của một niềm tin, của một sự chắc chắn vĩnh cửu,  của một kỉ luật gang thép, của một “liên minh giai cấp”… gì đó, thì cái  quạt hôm nay chỉ thể hiện đúng cái cặp khái niệm “tiền nào-của nấy” của  toàn cầu đang cạnh tranh.     Đang nhâm nhi ly rượu vang, một chú muỗi vo ve đâu đây… Tôi quờ tay đuổi, ly rượu lăn quay ra bàn. Mất toi ly rượu!  Nhìn những giọt rượu đỏ sậm thơm tho tràn ra, tôi chợt nghĩ “ly rượu” thực ra vẫn đó, nào có mất đi đâu ?  Vậy thì “mất” liên quan tới sự chuyển hóa trạng thái của một vật thể. Sự chuyển hóa từ một trạng thái đáng được quí trọng sang một trạng thái mà sự quí trọng ấy không tồn tại được nữa đối với một chủ thể nhận thức, như là ly rượu đã đổ và tôi đây, được coi như là “mất”. Mất là một thực tế, nhưng “chủ quan”. “Thực tế” không bắt buộc luôn luôn phải “khách quan”. “Mất” là sự đánh giá chủ quan về một thay đổi trạng thái của “vật-trong-nó”.   Cô bạn nhìn những giọt rượu lan ra, giục giã “anh không lo mà thấm rượu, đổ muối vào khăn bàn để cứu khăn, còn tự lự gì nữa!”. Miệng nói tay làm, cô đã giải cứu được vụ việc. Lại bảo “thôi bọn mình ra lấy xe đi dạo vùng này đi, ly rượu đổ, thế chính là ‘được’, chả mất gì cả!”.   Chúng tôi lên xe. Đúng thế nhỉ, làm nốt ly rượu thì hóa buồn ngủ mất, chả xem được gì nhiều, bao nhiêu là công đi mãi hàng trăm cây số đến tận nơi đây! Vậy thì cái ly rượu bị đổ là những “vật-cho-ta” khác nhau tùy theo các góc nhìn khác nhau của một chủ thể nhận thức, hay của nhiều chủ thể nhận thức khác nhau.  —-  Đời sống cộng đồng là thế đấy! Nhốn nháo, không kịp ra đầu ra đũa gì cả, nhưng mà cũng vui. Một mình ta, ta cũng chả biết mình tồn tại để làm gì, và trở thành người không đâu.  “Người không đâu, vội mà gì,  Một thì thong thả, hai thì thong dong…  Vũ trụ? Vẫn thế, nhong nhong,  Đám người hăng hái xung phong đầy đường.”  (Phỏng ý thơ của John Lennon)  Ngày hôm nay, các xã hội và con người đã cởi mở dứt khoát, khi họ được thông tin, được cọ sát, được trao đổi, được đi lại ở qui mô toàn cầu.   Nếu ngày xưa cái “quạt tai voi” ở ngoài bắc là sự thể hiện kết tinh của một niềm tin, của một sự chắc chắn vĩnh cửu, của một kỉ luật gang thép, của một “liên minh giai cấp”… gì đó, thì cái quạt hôm nay chỉ thể hiện đúng cái cặp khái niệm “tiền nào-của nấy” của toàn cầu đang cạnh tranh. Cái quạt khách quan đã thay đổi, đấy là chuyện nhỏ. Những người hóng mát đã thay đổi, ấy mới là chuyện lớn.  Chuyện “mất”, “được” hôm nay đã được cộng đồng xem duyệt giản dị như việc tự do mặc cả chọn đồ ngoài chợ, việc lên lớp không thay được các quảng cáo. Con người hôm nay họ làm việc quần quật, cho chủ nhà nước, cho chủ tư nhân, cho chủ thế giới, hoặc cho chủ tự mình. Xong công viêc trĩu nặng, họ có chút thời gian riêng, chút đồng tiền riêng. Họ mua cái đáng giá cho công lao cực nhọc của chính mình, mua cái “được”, theo ý của họ, chứ không quan tâm nhất nhất đến mua cái “tai voi” phi lựa chọn của ngày nào nữa. Những nhà sản xuất “tai voi” xưa cũng chả có gì mà phải tự phật ý, tự dày vò rằng mình rằng đã bị thất sủng vì người ta thôi yêu cái “tai voi” của mình. Mà ngược lại, họ cần nhanh nhanh sản xuất ra những cái quạt “tiền nào-của nấy” khác sao cho bán chạy được.    Điều này thực ra chỉ đơn giản là đời sống con người đã rời bỏ bến bờ bên này của kỉ nguyên thần thánh cổ truyền, và cập sang bờ bến bên kia của kỉ nguyên trần tục hôm nay.  Hôm nay các chương trình xã hội cũng như vậy, chúng phải được cân đong, phân tích, và giải quyết trên nguyên lý “tiền nào-của nấy” trần tục, mộc mạc, giản kiệm, thiết thực, minh bạch, tự do của đời sống của cộng đồng và của mỗi người, chứ không thể cố chấp loay hoay mãi với những “tai voi” thần thánh cổ truyền được nữa.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế nào là “xã hội công dân”?      Khái niệm “xã hội công dân”, còn gọi là “xã hội dân sự”, “xã hội dân gian”… đã phổ biến ở nước ta từ nhiều năm qua, ít nhất cũng hai mươi năm. Nhưng, cũng như tại mấy nước Á Đông khác từng dùng chữ Hán cả ngàn năm, mọi người vẫn chưa đồng ý hoàn toàn về cách dịch các từ ngữ này trong tiếng Anh (civil society) hay tiếng Pháp (société civile). Tình trạng phân vân đó không hoàn toàn chỉ vì khó khăn khi thông dịch, mà nằm ngay trong ý nghĩa của danh từ gốc trong tiếng nói các nước phương Tây. Trong lịch sử cũng như trong cách suy tưởng, khái niệm đó bao hàm nhiều nghĩa khác nhau, các nghĩa cũng thay đổi với thời gian.         Trước khi đề nghị dùng từ “xã hội công dân” để diễn tả khái nhiệm này, để công bằng đối với các từ Hán Việt khác, tôi xin phép tránh không quyết định dùng cách dịch nào: hãy tạm dùng từ “civil society” trong tiếng Anh, hoặc “société civile” tiếng Pháp.   Khái niệm société civile xuất hiện trong ngôn ngữ phương Tây từ thế kỷ 16, khi nói đến giới học thức ưu tú trong xã hội bên ngoài guồng máy chính quyền quân chủ chuyên chế. Đến thế kỷ 18 khái niệm này được sống lại cùng với quá trình công nghiệp hóa, thương mại hóa, và sự xuất hiện của giai cấp tư sản. Như Karl Marx đã nhận ra, sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa, thị trường, làm thay đổi mọi tương quan xã hội. Phương thức sản xuất mới tạo ra những tài sản lớn của cá nhân; giai cấp tư sản có nhu cầu bảo vệ các tài sản của họ. Do đó, họ bắt đầu tranh giành quyền lực với vua chúa và các giáo hội ở Châu Âu, và société civile đã ra đời trong nỗ lực đối kháng này. Adam Ferguson với cuốn “Tiểu luận về lịch sử civil society” xuất bản năm 1767 đã định nghĩa lại khái niệm “civil society” từ triết học qua xã hội học, để nhấn mạnh vai trò của định chế này đối chiếu với guồng máy cầm quyền phong kiến thời đó.   Từ “civil society” có thể bao gồm tất cả các hoạt động có tính cách tổ chức, vượt lên trên phạm vi cá nhân hoặc gia đình nhưng không nằm trong hệ thống của chính quyền. Từ đó tới nay, “civil society” vẫn dùng để chỉ tính chất độc lập và đôi khi đối kháng với guồng máy chính quyền. Cùng với sự phát triển của công nghiệp và thương mại, giới tư sản và trí thức Châu Âu xác định các tổ chức và sinh hoạt ở ngoài guồng máy cai trị của vua chúa hoặc nhà thờ. Cùng với sự phát triển của kinh tế tư sản, “civil society” xác định một “lĩnh vực tư” khác với “lĩnh vực công” mà guồng máy nhà nước phụ trách. Cả hai sự phát triển song hành đó đều dựa trên tinh thần đề cao quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân, tức là lĩnh vực tư; bên ngoài lĩnh vực công do nhà nước phụ trách. Mặt khác, với cuộc cách mạng tư sản dân quyền, nền kinh tế tư sản và xã hội công dân cùng chia sẻ quan niệm một nhà nước ở bên ngoài xã hội, đóng vai trọng tài, ấn định pháp luật và thi hành pháp luật. Có thể nói kinh tế tư bản và xã hội công dân là hai mặt của cùng một quá trình có chiều hướng là giảm bớt quyền hành của guồng máy nhà nước.                     Nhưng ý nghĩa của từ “civil society” không được mọi người xác định giống nhau. “Civil society” có lúc được hiểu như bao gồm cả các tổ chức kinh doanh, có khi được bỏ riêng đứng bên ngoài các công ty sản xuất và phân phối hàng hóa. Nền kinh tế hàng hóa, như Marx nhận thấy, đã sinh ra khái niệm “civil society”, mà ông cho là thuộc thượng tầng kiến trúc của nền kinh tế tư sản. Đối với ông thì “civil society” chỉ là một mặt khác của kinh tế tư bản. Tới nửa sau thế kỷ 20, từ “civil society” được sống lại trong ngôn ngữ chính trị học và xã hội học Châu Âu khi người ta đi tìm các hình thái xã hội có tính cách trung gian giữa cá nhân và guồng máy chính quyền. Những cuộc nghiên cứu về civil society thường kể đến rất nhiều loại tập họp, từ các hội từ thiện bảo vệ chó ở Mỹ, các đội bóng tự nguyện hay ban đồng ca họp nhau ở các làng bên Ý, cho tới những quỹ tín dụng mà dân chúng mấy làng ở Châu Phi thành lập với nhau. Các cơ sở kinh doanh tư có là thành phần của civil society hay không? Báo chí, đài phát thanh và truyền hình thì sao? Có nhà nghiên cứu trong lịch sử Trung Quốc đã trình bầy các hình thái của civil society có từ thời nhà Chu cho tới thời Dân quốc. Tại Singapore, đề tài “civil society” được nhìn dưới một nhãn quan khác các nước Âu Mỹ, với quan niệm giữa nhà nước và civil society không hề có xung đột. Những điều trên đây cho thấy khái niệm “civil society” không giản lược, cũng không bất biến.   Từ những năm đầu thập niên 1990, “civil society” trở nên một đề tài được nghiên cứu rất sâu rộng, mà chủ điểm là các hình thái tổ chức đó liên hệ như thế nào với chế độ dân chủ. Ernest Gellner, trong cuốn “Những điều kiện của tự do: Civil society và các quan niệm đối nghịch của nó,” xuất bản năm 1994, đã đề nghị hãy lấy “civil society” thay thế cho từ “democracy” trong các cuộc vận động dân chủ. Robert Putman, trong một công trình nghiên cứu năm 1993, đã nhận thấy ảnh hưởng của vốn xã hội và xã hội công dân trên thành quả của một cuộc cải tổ hành chính ở Ý từ thập niên 1970. Sự liên hệ giữa civil society và thể chế dân chủ là một lý do khiến nhiều người ở Châu Á quan tâm đến vấn đề này.  Các học giả Trung Quốc dùng khái niệm “civil society” để phân tích xã hội Trung Hoa từ thập niên 80 thế kỷ trước. Một vấn đề được nêu lên khi thảo luận về một từ trong tác phẩm “18 Brumaire” của Karl Marx. Từ lâu, khái niệm mà Marx gọi là “burgerliche Gesellschaft” vẫn được dịch sang tiếng Trung Hoa là “tư sản giai cấp”. Năm 1986 trên số 4 tạp chí Thiên Tân Xã hội Khoa học (tên báo đọc theo lối người Trung Hoa) đã có tác giả đề nghị nên đổi cách dịch “tư sản giai cấp quyền lợi” mà dịch lại là “thị dân quyền lợi”. Chữ “thị dân” gần với gốc chữ “burger” hơn mà trong từ thị dân gồm có cả các nhà tư sản và giới lao động. Đề nghị của nhà nghiên cứu Mác xít này đã khơi dậy một phương pháp mới học tập chủ nghĩa Mác, xác nhận thị dân có những quyền lợi tương đồng trong mọi giao dịch bình đẳng, được luật pháp bảo vệ, và không phải chỉ là những tương quan kinh tế có tính cách bóc lột. Khi nói đến “xã hội thị dân” thì các học giả Trung Quốc cho là từ thời Chiến Quốc ở lục địa Trung Hoa đã có xã hội thị dân rồi, và nhiều người trong đám thị dân đã đóng các vai trò quan trọng trong chính trị.                 Lưu Chí Quang và Vương Tố Lợi viết trong Tân Hoa Văn Trích (bộ 11, số 119, năm 1988) đã đề nghị dùng chữ “công dân xã hội” để dịch khái niệm “civil society”, nói theo lối Việt Nam thì gọi là xã hội công dân. Trong bài mang tựa đề “Từ xã hội quần chúng tới xã hội công dân”, hai tác giả đã nhận xét rằng truyền thống Trung Hoa, dưới ảnh hưởng của Khổng giáo, không có sự phân biệt giữa khái niệm xã hội và khái niệm cá nhân, do đó bên dưới nhà nước chỉ có một thứ “quần chúng xã hội” chứ không có những “tự do dân,” tức là những con người tự do với tính cách cá nhân độc lập tách khỏi các tập hợp xã hội. Ý kiến này không chắc đã phản ảnh đúng tư tưởng thực của Nho giáo, nhưng hai ông chỉ muốn nhấn manh rằng “tự do dân” có những quyền hạn phải được luật pháp bảo đảm chống lại sự thi hành quyền lực vô hạn của chính quyền. Vương Chiếu Quang, trong tạp chí “Thế kỷ 21” số 8 năm 1991, cho là phải dân chủ hóa “xã hội thị dân” với những giới hạn trên việc sở hữu tài sản và san bằng sự chênh lệch giầu nghèo, và ông hy vọng sẽ có ngày tiến tới “xã hội công dân” trong đó quyền lợi cá nhân được quân bình với tình đoàn kết và công bằng trong xã hội.  Trong cuốn “Đương đại Trung Quốc đích quốc gia dữ xã hội quan hệ” (Quan hệ xã hội và nhà nước của Trung Quốc hiện nay) ấn hành năm 1992, trong đó Chen Kuide chủ trương rằng từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, đã có một thứ “lĩnh vực tư” như các tay du hiệp và các nhà Nho liên kết với nhau theo hàng ngang chứ không chỉ theo hàng dọc. Họ trao đổi ý kiến, phát huy tinh thần cạnh tranh ngay trong phạm vi tư tưởng, thành lập các nhóm, vượt qua biên giới các nước chư hầu (một thứ toàn cầu hóa trước đây 25 thế kỷ). Đó là một mầm mống của “civil society” có thể dịch sang chữ Hán là “văn minh xã hội” hoặc là “công dân xã hội”.   Nhiều tác giả người Trung Hoa ở nước ngoài và ở Hồng Kông, Đài Loan cũng tham dự vào cuộc thảo luận trên. Ở Đài Loan nhiều người đã dịch “civil society” là “dân gian xã hội.” Trong một tập sách gồm nhiều tác giả với đề tài “Từ dân chủ vận động đến dân chủ chính trị” xuất bản ở Hồng Kông năm 1993, Gan Yang đã phê bình khái niệm “dân gian xã hội”. Ông cho là từ “dân gian xã hội” (đọc lối Việt Nam là “xã hội dân gian”) không đúng vì nhấn mạnh đến sự tách biệt giữa quyền lợi của người dân và quyền lợi của quốc gia. Ông chủ trương nên dùng chữ Công dân xã hội, trong khái niệm này các quyền lợi chung của người dân cũng thuộc vào trách nhiệm của quốc gia.  Một người được nhắc tới nhiều nhất trong số các học giả ở nước ngoài là Ma Shu Yun, với một bài viết về các cuộc thảo luận nghiên cứu về civil society ở Trung Quốc, đăng trên China Quarterly số 137, năm 1994. Ma đã cho biết Chen Kuide định nghĩa xã hội công dân bao gồm cả “các xí nghiệp tư, các đại học, báo chí, công đoàn, giáo hội, và tất cả các tổ chức đứng độc lập với guồng máy nhà nước”.  Sau khi nhìn qua các điều được thảo luận của các tác giả người Trung Hoa, chúng ta có thể thấy tiện nhất là dịch “civil society” là “xã hội công dân”. Chúng ta không nhất thiết phải sử dụng cách lựa chọn của người Trung Quốc, nhưng từ thời Đông du tới thời Hoàng Xuân Hãn soạn “Danh từ Khoa học”, người Việt Nam vẫn tìm hiểu cách người Trung Hoa sáng chế các thuật ngữ mới để gọi tên các khái niệm của phương Tây như thế nào. Bởi vì dùng chữ Hán Việt cũng có nhiều thuận tiện.  “Xã hội công dân” thể hiện được nhiều hàm ý trong từ “civil society”. Dù hiểu khái niệm “civil society” rộng hay hẹp, dù không coi nó nhất thiết phải đối lập với guồng máy cai trị của nhà nước, thì khái niệm này cũng diễn tả một thực thể dùng để đối chiếu với nhà nước. Nó gồm những hoạt động, tổ chức mà nhà nước không quản lý, để cho người dân tự lo tự liệu. Nhiều vị học giả dùng những chữ “xã hội dân sự” để dịch “civil society” cũng hay. Nhưng khi nói đến “dân sự” chúng ta liên tưởng đến khái niệm đối chiếu là “quân sự”. Còn những chữ “xã hội công dân” khiến người ta dễ đối chiếu với khái niệm “nhà nước” hơn. Mặc dù trong chế độ dân chủ thì nhà nước cũng chỉ là đại biểu của toàn dân, như thế thì xã hội công dân vẫn liên kết một cách hữu cơ với guồng máy cai trị chứ không hoàn toàn là đối kháng.    Quý Đỗ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thể thao và khoa học nước nhà tương đồng mà dị biệt      Mười năm trước đây, thể thao mình còn lẹt đẹt lắm, luôn đội sổ sau năm nước ASEAN. Thế mà giờ đây ta đã qua mặt In đô nê xia, Phi lip pin và Sin ga po, khẳng định chắc chắn ngôi vị thứ ba trên đấu trường SEA Games. Dù còn nhiều chuyện bất cập, dù thể thao Việt Nam vẫn chưa vượt khỏi vùng trũng Đông Nam Á, song cứ đà này, ngày càng có nhiều người Việt tiến lên các đấu trường danh giá hơn mang theo màu cờ sắc áo của Tổ quốc.    Xem các vận động viên nhỏ bé của mình hiên ngang tranh tài trên những đấu trường quốc tế, hãnh diện bước lên bục danh dự trong Tiến Quân Ca dưới lá cờ đỏ sao vàng, ta không khỏi chạnh lòng liên tưởng đến hiện trạng khoa học nước nhà. Khoa học với thể thao rất tương đồng, mà sao ở nước ta lại khác nhau đến thế!  Trong khoa học không có đấu trường để phân định ngôi vị vô địch với á quân, nhưng thay vào đó là các diễn đàn khoa học quốc tế. Phải lọt qua hệ thống phản biện nghiêm túc mới có mặt trên sân chơi này để bước đầu khẳng định chất lượng công trình nghiên cứu của mình. Còn công trình có tác dụng đến đâu, lại phải chờ xem bao nhiêu đồng nghiệp khắp năm châu sử dụng (trích dẫn) trong năm mười năm sau.  Hơn 9300 tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới thuộc 256 chuyên ngành khoa học tự nhiên (6650 tạp chí, 150 chuyên ngành), xã hội (1950 tạp chí, 50 chuyên ngành) và nghệ thuật – nhân văn (1160 tạp chí, 56 chuyên ngành) được tập hợp trong cơ sở dữ liệu khoa học đồ sộ Web of Science của Viện Thông tin Khoa học ISI. Chưa có tạp chí nào của Việt Nam được lọt vào đây. Với lượng thông tin đồ sộ, Web of Science cho ta những tiêu chí khách quan đánh giá trình độ và hiệu quả nghiên cứu khoa học của từng quốc gia, từng trường đại học và viện nghiên cứu, cũng như thành tích và tác động của từng nhà khoa học. Qua đây, mỗi quốc gia có thể biết nước khác đang làm gì, từ đó định hướng hoạt đông nghiên cứu ở nước mình. Tưởng còn gì cần thiết hơn trong tay các nhà quản lý để viết những bản báo cáo thành tích trình lên Chính phủ hàng năm?  Tiếc rằng giới khoa học nước ta lại đứng ngoài cuộc chơi này. Chúng ta bằng lòng chơi trên sân nhà chật hẹp của mình với những luật chơi do mình đặt ra, chẳng giống ai. Trong thế giới hội nhập này, chúng ta đã đóng cửa, lại còn tự bịt mắt mình. Gỡ bỏ chiếc rào cản chuẩn mực trong nghiên cứu khoa học, chúng ta có thể dễ bề tung hô nhau, súng sính trong cân đai áo mão, nhưng hậu quả là một nền khoa học tụt xa sau các nước. Trong cân nhắc của những nhà quản lý, Web of Science là món hàng xa xỉ, tuy chỉ cần đầu tư ít hơn những đề tài tiền tỷ mà mới nghe ta đã thấy choáng váng. Trong khi đó, hiện nay Web of Science đã phổ cập đến hầu hết những trường đại học nghiên cứu trên toàn thế giới.     Trong nhiều năm qua, mặc cho cái nghịch lý trên được nói đến rát cả tai, số đông trong ngót 10.000 người làm KHCN ở nước ta (theo thống kê mới nhất trong Báo cáo Phát triển Con người của UNDP năm 2007) và nhất là những người cầm cân nảy mực vẫn chỉ phản ứng bằng sự bất động. Đâu đó có tiếng xì xầm “công bố quốc tế chỉ là chuyện của mấy vị nghiên cứu cơ bản (ý nói chẳng làm ra được đồng tiền hạt gạo nào cho đất nước), chúng ta nghiên cứu ứng dụng, việc gì phải phí thì giờ vô ích”!  Thật là oan! Cứ nhìn sang Thái Lan ắt rõ. Trong số 649 công bố quốc tế năm 2006 được người Thái nghiên cứu ngay trên đất Thái Lan (so với 70 công bố của Việt Nam), chỉ có 11 bài về Toán và Vật lý, số bài về Hoá học và Sinh học nhiều hơn, song rất khó phân định cơ bản hay ứng dụng. Lẽ nào người Thái lại chịu phí thời gian vô ích như ta tưởng!  Ban cho nghiên cứu ứng dụng cái “đặc quyền” không cần công bố quốc tế, chúng ta đã tạo nên một môi trường khoa học tù mù đến mức vàng thau lẫn lộn. Không chấp nhận chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu ứng dụng, trong khi cái bầu sữa ngân sách ngày càng phình lên, đây chính là nguyên nhân khiến cho bao nhiêu dự án đề tài tiền tỷ thi nhau ra đời mà chẳng để lại dấu vết gì cho khoa học nước nhà. Người nghiên cứu nghiêm túc không có chỗ đứng. Thế hệ trẻ ngày càng xa lánh khoa học là chuyên dễ hiểu lắm!        Có lẽ xin được nhắc lại một lần nữa nguyện vọng đã được nhiều người khẩn thiết nói ra nhiều lần. Đất nước ngót một trăm triệu dân này rất cần và có đủ điều kiện xây dựng một nền khoa học có vị thế trên thế giới. Thiếu nó, chúng ta sẽ không có giáo dục, văn hoá và dân trí, sẽ không định ra quyết sách đúng đắn để phát triển, sẽ không có công nghệ để sống còn trong cuộc cạnh tranh toàn cầu gay gắt này.  Các vận động viên trẻ măng của chúng ta hiên ngang bước lên đấu trường thể thao quốc tế, lẽ nào giới khoa học lại cứ rụt rè!    Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm một lời bàn về thể chế bảo hiến      Từ hơn 10 năm trở lại đây, tình hình nghiên cứu các mô hình và bài học nước ngoài về thể chế bảo hiến trên các diễn đàn hoạch định chính sách và hàn lâm ở VN trở nên sôi nổi, bởi vì quyết định lựa chọn một trong vô số mô hình đã là khó, song làm thế nào để mô hình được chọn đó sống, hoạt động hiệu quả trong bối cảnh kinh tế, chính trị và văn hóa VN mới là điều khó gấp bội.      Trong lịch sử hiến pháp Việt Nam, dấu ấn của phân quyền và chế ước đã xuất hiện sớm trong bản Hiến pháp năm 1946. Có thể so sánh vị thế của Chủ tịch nước với nghị viện nhân dân theo Hiến pháp 1946 để làm rõ ý này. Các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 về sau này đi theo mô hình Hiến pháp Xô Viết không thực hiện tam quyền phân lập. Mãi đến 2001 bản Hiến pháp mới dè dặt được sửa thêm rằng quyền lực nhà nước cần có sự phân công và phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.  Như vậy, ý niệm về phân chia và kiểm soát các quyền lực công cộng nhằm bảo vệ dân quyền đã xuất hiện sớm trong lịch sử hiến pháp Việt Nam. Sau nhiều thập niên vắng bóng, ngày nay, nguyên lý ngày xưa ấy đang được phát minh lại, hy vọng đem lại một cách tiếp cận mới, giúp tổ chức các cơ quan quyền lực ở Việt Nam một cách hiệu quả, làm đúng phận sự, chức năng hơn, giúp cho bộ máy chính quyền hiệu năng hơn, chịu trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn trước nhân dân.          Cuộc bàn tới bàn lui về  mô hình bảo hiến của Việt Nam nhiều tới mức, mượn cách diễn đạt của Nguyên Bộ trưởng Trần Xuân Giá khi kể về hành trình soạn Luật Doanh nghiệp 1999, “sau khi nghe đủ ý kiến mọi người, bây giờ người Việt Nam phải làm theo ý mình”, hoặc trao quyền cho Tòa án tối cao có thẩm quyền bảo hiến theo mô hình Hoa Kỳ, hoặc thành lập một Tòa án hiến pháp như một thiết chế chính trị đặc tụng theo mô hình Đức, hoặc thiết lập một Hội đồng hiến pháp phỏng theo mô hình của người Pháp.  Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cũng có thể phát minh ra một mô hình thể chế mới mang màu sắc Việt Nam và hy vọng thể chế ấy sẽ vận hành được.         Trong một nghiên cứu mang tính toàn cầu, rất công phu, song mang âm hưởng bi quan u ám, vài năm trước đây GS Weingast của Đại học Stanford chỉ ra rằng trong gần 200 quốc gia ngày nay, dù chính quyền nào cũng tuyên bố thượng tôn pháp quyền, chính quyền nào cũng tuyên bố là của dân, do dân vì dân; song những chế độ pháp quyền thực sự, nơi có một thiết chế tài phán bảo vệ hiến pháp như một khế ước kiểm soát quyền lực công cộng, thì không thật nhiều, thực ra chỉ đếm được không quá 20 quốc gia là thực sự có chế độ pháp quyền với nền tài phán hiến pháp hiệu quả (Weingast 2010). Bạn đọc có thể không bi quan như Weingast, song nếu coi Tòa bảo hiến tựa như chiếc vương miện của nhà nước pháp quyền (Krönung des Rechtsstaats) như người Đức thường bảo, các nước đang phát triển có thể dễ dàng vay mượn chiếc vương miện ấy đưa vào xứ mình, song từ cái vương miện được vay mượn ấy có tỏa sáng quyền uy và hào quang nuôi niềm tin của dân chúng vào công lý, vào nơi cuối cùng bảo vệ dân quyền hay không, đó mới là điều thực sự cần bàn.   Tôi thiển nghĩ, quyết định lựa chọn một trong vô số mô hình đã là khó, song làm thế nào để mô hình được chọn đó sống, hoạt động hiệu quả trong bối cảnh kinh tế, chính trị và văn hóa Việt Nam mới là điều khó gấp bội. Đây cũng là một ẩn số chưa được nghiên cứu đầy đủ, tựa như Fukuyama ví nó như một cái hộp đen, hiệu lực của thể chế nhà nước, trong đó có tài phán bảo hiến ở các quốc gia rất khác nhau, có quốc gia thành công, song phần lớn các nước đang phát triển đều khó du nhập được các thể chế nhà nước hiệu năng, trừ vài ngoại lệ là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore (Fukuyama 2004).  Sau khi quan sát kinh nghiệm quốc tế, một điều đáng suy nghĩ đối với chúng ta sẽ là, cần rút ra những bài học vì sao tài phán bảo hiến đã thành công ở Đức, phần nào đó ở Hàn Quốc, và nếu du nhập một mô hình như vậy vào Việt Nam, điều kiện bảo đảm thành công phải gồm những gì?          Dường như để một thiết chế như tòa án hiến pháp vận hành, cần có rất nhiều tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các yếu tố khác, điều đáng tiếc ít được các nhà luật học cho là quan trọng để nghiên cứu.        Mầm mống về nhà nước pháp quyền ở Đức chắc là đã có từ rất sớm, Cộng hòa Weimar chắc phải được xem là một nền cộng hòa dân chủ với hệ thống tư pháp độc lập và chuyên nghiệp, ấy vậy mà sau năm 1933, cũng bộ máy tòa án ấy đã trở thành công cụ trong tay nhà nước phát xít, đàn áp mọi quyền dân chủ của người dân, đẩy xứ sở này vào tình trạng một quốc gia không có công lý, như người Đức thường bảo là Unrechtsstaat. Tòa án Hiến pháp Đức, như người Đức thường tự hào, không phải là phát minh sau Đại chiến thế giới. Dù có truyền thống như thế, song quả thực ý nghĩa chính trị đáng kể của nó chỉ có được sau Đại chiến thế giới thứ hai. Dường như để một thiết chế như tòa án hiến pháp vận hành, cần có rất nhiều tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các yếu tố khác, điều đáng tiếc ít được các nhà luật học cho là quan trọng để nghiên cứu.  Thì cũng thế, theo hiểu biết sơ sài của tôi, Nam Hàn nhiều năm sau cuộc chiến tranh Hàn Quốc không thể được gọi là một chế độ dân chủ. Chỉ khi các điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội đạt tới một mức độ nào đó, nhu cầu cho sự ra đời của một thiết chế bảo hiến và nhu cầu duy trì thiết chế ấy hoạt động thực sự hiệu quả mới hình thành.  Tôi không rõ có là quá lạm dụng tư duy của các nhà kinh tế hay không, song cũng như mọi thiết chế xã hội khác, người ta thường quan tâm tới các khía cạnh cung và cầu cho sự ra đời của một thế chế, ví dụ như thiết chế bảo hiến. Nếu nhìn nhận như vậy thì ở Việt Nam hiện thời chúng ta phải thảo luận xem một thiết chế bảo hiến đã thực sự cấp bách hay chưa? Một thiết chế như vậy ra đời để bảo vệ ai, để thực thi chức năng và sứ mệnh gì, nó có vai trò gì trong nền chính trị nước ta. Bảo hiến trước hết là một thiết chế chính trị, trong vô vàn những dây mơ rễ má kiến tạo nên cân bằng chính trị của quốc gia chúng ta, liệu đã tới một thời điểm chúng ta cần thêm một thiết chế mới hay chưa? Đó là cuộc thảo luân về nhu cầu.          Bảo hiến trước hết là một thiết chế chính trị, trong vô vàn những dây mơ rễ má kiến tạo nên cân bằng chính trị của quốc gia chúng ta, liệu đã tới một thời điểm chúng ta cần thêm một thiết chế mới hay chưa? Đó là cuộc thảo luân về nhu cầu.        Về phía cung, chúng ta có nhiều mô hình, với những thiết kế và chức năng đã khá rõ ràng. Các kiến thức, hiểu biết về mô hình có thể dễ dàng đào tạo và chuyển giao, song để giới chính trị, các thế lực kiểm soát các nguồn lực và người dân ở đất nước chúng ta từ lam quen tới chấp nhận; từ dần dần tin tưởng cho tới kính trọng và đặt niềm tin ở những thiết chế mới như cơ quan bảo hiến, cho nó một sự chính danh để đóng một vai trò đáng kể trong đời sống chính trị ở nước ta mới khó khăn hơn nhiều.  Và cuối cùng, như tác giả Joern Dosch viết trong bài nghiên cứu “The Impact of China on Governance Structures in Vietnam”, từng bước thay đổi thể chế ở Việt Nam vì nhiều lý do đều tương tác rất gần gũi với những gì diễn ra ở CHND Trung Hoa. Môi trường chính trị, thể chế văn hóa, xã hội, những điều kiện lịch sử có nhiều tương đồng vô tình đã đẩy tới những thiết chế xã hội và giải pháp tương đồng. Thiếu tòa bảo hiến, song không vì thế mà chế độ pháp quyền ở Trung Hoa được đánh giá nghiễm nhiên là thấp, kể cả bởi Ngân hàng thế giới, xem thêm đo lường về quản trị quốc gia của nhóm Kaufmann (WGI 2011). Thêm một lần nữa, bạn đọc có thể không đồng ý với Kaufmann, không ai tin Trung Hoa là một chế độ pháp quyền, song tôi e rằng cũng không ai dám khẳng định đó là một quốc gia không có công lý (Unrechtsstaat).   Trên con đường hướng tới công lý, hiểu biết của chúng ta về các tiền đề chính trị, kinh tế và xã hội để cho công lý trở thành một nhu cầu của đại bộ phận dân chúng và của giới tinh hoa cầm quyền quả thật còn rất sơ khai.  Tài liệu tham khảo:  Joern Dosch et al, The Impact of China on Governance Structures in Vietnam, German Development Institute, 2008  Francis Fukuyama, State-Buiding: Governance and World Order in the 21st Century, Cornell University Press, 2004    Barry R Weingast, Why Developing Countries Prove So Resistant to the Rule of Law, in James J. Heckman, Robert L. Nelson, Lee Cabatingan, Global Perspectives on the Rule of Law. (New York: Routledge-Cavendish, 2010)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Theo tâm hay theo pháp?      Nhiều năm nay, không ít các vị cán bộ, có khi còn là cán bộ cấp cao nữa, khi trả lời báo chí thường nói một câu đại ý là người cán bộ cần nhất là có cái tâm, và vài năm gần đây lại thêm một cái nữa, cái tầm. Dường như trong lúc say sưa với đạo đức và trình độ như vậy, họ đã quên mất họ là công chức trong một Nhà nước phấn đấu cho xã hội pháp quyền, trách nhiệm hàng đầu của họ là phải tuân thủ và bảo vệ pháp luật chứ không phải là có đạo đức hay trình độ cá nhân để làm gương cho thiên hạ, mặc dù những cái ấy cũng rất hay ho nếu người ta thật sự có được chúng.       Ngoại trừ một số trường hợp hết sức đặc biệt thì cái tâm hay cái tầm của một người nói chung không có liên quan gì tới việc tuân thủ và bảo vệ pháp luật của y cả, bởi nếu phải dùng cái tâm và cái tầm để thực thi pháp luật thì mỗi người sẽ giải thích các điều khoản pháp luật theo cái tâm và cái tầm của riêng mình, và lúc bấy giờ thì pháp luật sẽ không còn là pháp luật hiểu theo cái nghĩa là hệ thống chế định chung cho tất cả mọi người nữa. Tóm lại, ở đây phải nói tới pháp chứ không được viện dẫn tâm.   Có một câu chuyện khá thú vị trong lịch sử Pháp gia Trung Quốc thời Tiên Tần. Lúc Thương Ưởng làm tướng nước Tần, ban hành pháp lệnh buộc các nhà giàu có tài sản từ một vạn lượng vàng trở lên ở kinh đô Lạc Dương phải ra biên giới khai hoang. Lúc ấy người chống lệnh rất nhiều, người phỉ báng chê bai pháp lệnh càng lắm, tất cả đều bị chém đầu chặt chân tịch thu gia sản vân vân, số còn lại hoảng sợ nín khe kéo nhau ra biên giới làm ruộng. Vì họ đều là nhà giàu, đủ nhân lực tài lực vật lực nên việc khai hoang tiến hành thuận lợi chứ không đánh trống bỏ dùi như nhiều khu kinh tế mới ở ta sau 1975. Vài năm sau, ruộng đất ở biên giới được mở rộng, nông sản nườm nượp chở về Lạc Dương, nhiều người trong đó có cả những kẻ chống lệnh trước kia đều khen là pháp lệnh hay. Thương Ưởng nghe được, lại sai cắt lưỡi những người ấy, với lý do người dưới thì chỉ có phận sự tuân thủ pháp lệnh chứ không được có ý kiến gì cả bất kể là chê hay khen. Dĩ nhiên đó là quan điểm pháp trị của Pháp gia Trung Quốc ngày xưa, không giống cung cách dân chủ lấy ý kiến nhân dân đóng góp cho dự thảo pháp lệnh đông vui rậm đám như ta ngày nay, tuy nhiên chính việc thực thi pháp lệnh răm rắp từ quan tới dân như thế đã góp phần đưa nước Tần vươn lên thành nước mạnh nhất thời Chiến quốc rồi tiến tới thống nhất Trung Quốc về sau. Cho nên nhìn từ góc độ của pháp luật hiện đại thì điểm khả thủ duy nhất trong quan điểm pháp trị lạc hậu và cực đoan ấy có lẽ là ở chỗ này: mọi người phải tuân thủ pháp luật không phải vì có đạo đức mà vì lợi ích và sự an toàn của chính mình. Ai có tâm có tầm thì cứ việc tình nguyện tuân thủ pháp luật, ai không có tâm không có tầm cũng phải biết sợ mà tuân thủ pháp luật, như thế mới có được một xã hội có trật tự và kỷ cương.   Trở lại với chuyện pháp và tâm. Thời phong kiến chính quyền Việt Nam được tổ chức theo mô hình trị đạo Nho gia, cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là một mô hình “Dương Nho âm Pháp”, tức bề ngoài là Nho gia song bề trong là theo Pháp gia. Tuy nhiên chủ trương đức trị, lễ trị của Nho gia thường nhấn mạnh tới đạo đức con người, điều đó cố nhiên rất tốt song có điều lại ít nhiều xóa nhòa ranh giới giữa tư duy đạo đức và tư duy pháp luật. Ai đã đọc Nhị thập tứ hiếu cũng biết một trong 24 tấm gương hiếu thảo được Tống Nho đề cao trong đó là truyện “Quách Cự mai nhi” (Quách Cự chôn con). Chuyện kể Quách Cự nhà nghèo rất có hiếu với mẹ, có thức gì ngon thì dâng lên mẹ. Nhưng y lại có một đứa con trai nhỏ, mẹ y thương cháu nội nên thường nhịn miệng cho cháu ăn, y thấy bất nhẫn bèn đem con đi chôn sống để tiện phụng dưỡng mẹ già, đang đào hố thì mưa gió nổi lên, sấm sét ầm ầm, dưới hố lộ ra một hũ vàng chôn có đề chữ thưởng cho y, con y mới không bị chôn sống. Tinh thần đạo đức Tống Nho đã biến một người con hiếu thảo thành một người cha tàn nhẫn, một kẻ sát nhân vi phạm cả đạo trời lẫn luật người như thế, mà tấm gương hiếu thảo phi nhân và phạm pháp ấy vẫn được đề cao ở Việt Nam cả sau 1975! Một câu chuyện khác cũng của Trung Quốc ít được phổ biến ở Việt Nam hơn, nhưng cũng trên cùng một đường hướng cực đoan tương tự. Có một người sau khi ra ở riêng thì ăn nên làm ra, cha y đang đêm leo tường chui vào nhà y ăn trộm. Y phát hiện là có trộm, im lặng chờ lúc cha y mò vào trong phòng bèn sấn ra đập chết, đến khi thắp đèn lên soi mới biết chính là cha mình. Vụ án đưa lên, các quan không biết xử thế nào, vì điều luật có khoản “Đánh chết kẻ trộm không có tội”, nhưng tha bổng y thì thấy trái đạo lý. Cuối cùng một viên quan họ Dương viết án từ rằng “Đánh chết kẻ trộm không có tội, nhưng người này làm con mà để cha nghèo khổ tới mức phải đi ăn trộm thì quá bất hiếu, phải xử tử để làm gương”, cưỡng từ đoạt lý xử tử bằng được người con rủi ro kia cho phù hợp với tinh thần đạo đức! Sự không minh bạch giữa tư duy đạo đức và tư duy pháp luật ấy trong thực tế đang trở thành một giá trị truyền thống bất lợi đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam. Mới đây khi một số hacker mũ trắng tấn công vài trang web sex, đã có dư luận tỏ ra đồng tình. Nhưng về cơ bản đó là một hành vi phạm pháp, và chúng ta không thể nhân danh đạo đức, nhân danh cái tâm để làm điều đúng, điều tốt một cách phạm pháp hay manh động như vậy, nhất là khi Việt Nam đã bước vào sân chơi quốc tế, phải tuân thủ các chế định quốc tế…   Quan sát hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, có thể thấy không ít điều khoản được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc đạo đức chứ không phải trên cơ sở nguyên tắc pháp luật, ví dụ Pháp lệnh Công chức quy định công chức nhà nước phải chống một cái rất mơ hồ về nội dung pháp lý là “chủ nghĩa cá nhân”. Chính chỗ khiếm khuyết về pháp ấy đã khiến nhiều vị cán bộ cảm thấy phải có tâm và tầm để khắc phục những khó khăn trong thực tiễn thực thi pháp luật, song nhiều lắm thì cũng chỉ khắc phục được một cách chắp vá và nửa vời. Chướng ngại pháp lý ấy tới lượt nó đang tạo ra những chướng ngại tâm lý trên con đường tiến tới một nhà nước pháp quyền thật sự mà cũng là con đường dân chủ hóa của xã hội Việt Nam hiện nay.  4.2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí dụ S’PORE (Chuyện chiến lược văn hóa)      Phải chăng so với c&#225;c nền văn h&#243;a phong ph&#250;, cổ k&#237;nh, h&#249;ng vĩ của c&#225;c nước kh&#225;c trong ASEAN như Indonesia, Campuchia, Myanmar, Th&#225;i Lan, Malaysia, Philippines hay Việt Nam (với 4000 năm lịch sử v&#224; 54 d&#226;n tộc) th&#236; văn h&#243;a Singapore qu&#225; &#8220;sơ sinh&#8221; v&#224; ngh&#232;o n&#224;n? Phải chăng với hơn 4 triệu d&#226;n tr&#234;n một h&#242;n đảo nhỏ x&#237;u m&#224; chỉ trước đ&#226;y 50 năm c&#242;n l&#224; một l&#224;ng ch&#224;i v&#244; danh, đất nước Singapore &#8220;kh&#244;ng c&#243; cửa&#8221; n&#224;o để cạnh tranh về văn h&#243;a với c&#225;c anh chị l&#225;ng giềng     Trước đây hơn 10 năm khi khai trương Bảo tàng Nghệ thuật Singapore – SAM. Thủ tướng Goh Chok Tong lúc đó đã đưa ra một thông điệp chiến lược cho đảo quốc- thị quốc giàu có nhất ASEAN đại ý là: Người Singapore không thể chỉ là những người sống sung túc nhất mà còn phải là những người có văn hóa nhất, có mức sống văn hóa cao nhất.   Nói và làm, cả người dân và Chính phủ đồng lòng chung sức làm văn hóa. Và chỉ sau hơn một thập niên quay lại nơi này tôi đã thấy một Singapore “hoàn toàn khác” với một đô thị quá sạch, quá kỷ luật, quá chăm chỉ và quá buồn tẻ như mình thấy lần đầu. Đã đành Singapore ngày nay là  thiên đường mua sắm, nổi tiếng với ẩm thực phong phú. Song cuộc sống của dân S’pore không chỉ chằn chặn ba ‘phần cứng’ làm việc – ăn uống – mua sắm mà phần thứ tư, phần mềm Văn hóa đã bành chướng rất nhanh, chiếm tỷ trọng lớn với một chất lượng thuộc hàng “top” trong khu vực và thế giới. Những người cho rằng chỉ kinh tế có thể phát triển thần kỳ, còn văn hóa là chuyện không thể lấy tiền mua được mà phải có bề dày lịch sử thời gian, không thể vặn nhanh đồng hồ mà tăng tốc văn hóa … có thể qua thí dụ Singapore mà “xem lại cách đặt vấn đề”!          Esplanade Theatre nhìn từ trên cao.         Esplanade Theatre trong ánh sáng lung linh của buổi tối.         Đập vào mắt trước tiên là kiến trúc hiện đại mà mỗi khuôn hình máy ảnh có thể thu vào hàng chục tòa nhà độc đáo. Không cái nào được giống cái nào hình như là tô chỉ cho việc duyệt đề án! Nhìn không chán mắt, khác hẳn ấn tượng về các ‘khu Phú Mỹ Hưng chuẩn hóa’ đơn điệu trước đây. Đủ để làm một tour du lịch kiến trúc thú vị. Vịnh Marina đang là một đại công trường và khu Casino ngoài đảo Sentosa dọa cạnh tranh với Ma Cao cũng vậy. Khó có thể quên hình ảnh nhà hát Esplanade hình hai nửa quả sầu riêng, thứ trái cây đắt giá nhất, nữ hoàng trái cây ASEAN. Khu Ochard thượng lưu và tân kỳ với design đô thị như Tây và Chinatown xưa cũ, nghe khá kì ở một nơi hơn 70% là người Hoa. Ở đâu ta cũng dễ đọc thấy quảng cáo Singapore là dân tộc đa văn hóa, đa sắc tộc !  Thứ hai là thế giới động thực vật phong phú và tập trung nhất thế giới. Chỉ trong vài km2, mất ba ngày ta có thể chiêm ngưỡng sự kỳ thú của những sản phẩm của tạo hóa: Cá ở Underwater World, Chim ở Jurong Park và Thú ở Zoo và ở thế giới đêm hoang dã  Safari. Người S’pore thực sự tự hào là yêu súc vật nhất trên đời! Tất nhiên họ đã đổ cả núi tiền và trí thức để có ‘di sản văn hóa’ tuyệt vời này. Hòa hợp với thiên nhiên là một chiến lược con người!  Thứ ba là Trung tâm khoa học nơi trẻ em và thanh niên lạc vào một thiên đường trí tuệ. Tò mò và sáng tạo là chiến lược phát triển con người. Là các thư viện và các viện bảo tàng đủ loại từ to với cả nền văn minh Á châu tới nhỏ với những cái tem thư! Sách được bán nhiều vô số kể và cũng là một đối tượng của shoping quốc tế. Nước đóng chai dần được thay thế bằng nước vòi uống được ở các nơi công cộng và trong mọi nhà. Niềm tự hào mới của  S’pore là công nghệ nước sạch ưu việt nhất được xuất khẩu cả sang nhiều nước tiên tiến. Các đại học ngày càng quốc tế hóa, du học sinh ngày càng đông. Quang cảnh đại học với sinh viên đủ các màu da không khác các nơi danh tiếng bên Âu Mỹ. Chiến lược nguồn nhân lực là con người khoa học và công nghệ cao!            Trung tâm khoa học Singapore            Trung tâm Stata dành cho các học viên nghiên cứu máy tính, công nghệ khoa học thông tin tại MIT. Nó được nhà kiến trúc sư nổi tiếng Frank Gehry thiết kế.        Cuối cùng là ấn tượng về chiến lược muốn là thủ đô nghệ thuật của Đông Nam Á. Riêng về  mỹ thuật thì hai tòa nhà cổ nhất, đẹp và to nhất ngay giữa trung tâm là Tòa thị chính cũ và Tòa án tối cao cũ đã được biến thành Phòng tranh Quốc gia, đang được design nội ngoại thất. Năm 2013 mới khai trương nhưng công việc sưu tầm, PR, chuẩn bị chương trình hoạt động ở tầm quốc tế  đã được tiến hành hết sức khẩn trương. Hai tuần khi tôi làm curator cho họ, xem xét hơn 200 tác phẩm của hơn 80 tác giả Việt Nam, trong đó những kiệt tác đích thực, một sưu tập mà hai bảo tàng mỹ thuật của ta sẽ phải ghen tị thì các kiến trúc sư Pháp đang làm việc ngày đêm, design từng chi tiết của bảo tàng tương lai, một phái đoàn Liên minh Bảo tàng Quốc tế tới bàn thảo về chương trình kết nối toàn cầu và một Workshop quốc tế về  quảng bá nghệ thuật ASEAN được tổ chức. Ông Kwok Giám đốc ba bảo tàng mỹ thuật ( Bảo tàng Nghệ thuật- SAM, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại – 8Q và Phòng tranh Quốc gia –TNAG) tự tin giới thiệu: Chúng tôi tự hào có sưu tập nghệ thuật ASEAN lớn nhất thế giới. Chúng tôi tập trung vào thế kỷ 20. Thế kỷ này các nước Đông Nam Á có chung một dòng chảy lịch sử từng bị thực dân hóa, giành độc lập, giải thực dân rồi hiện đại hóa và hội nhập thành một khối vững mạnh! Tôi không biết có giám đốc bảo tàng nào ở ta có tầm nhìn chiến lược như vậy!  Mười lăm năm chỉ là một cái chớp mắt của lịch sử, nhưng rõ ràng từ một xã hội mang tiếng “trưởng giả, giàu xổi” Singapore đã bắt đầu định hình một nền văn hóa riêng, có sắc thái riêng, có uy tín và sức hấp dẫn mà ta có thể nhìn thấy và cảm nhận với sự thích thú bất ngờ. Bài học ở đây có lẽ là hơn bất cứ lĩnh vực nào mà phát triển văn hóa cần tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo.  Chiếu ngược lại “tình hình văn hóa văn nghệ nước nhà” mà qua truyền thông ta thấy ở đâu cũng như gà mắc tóc, toàn vướng những chuyện chữa cháy vụn vặt mới thấy cái ta đang thiếu nhất chính là tư duy chiến lược văn hóa. “Tuổi nhỏ” làm việc lớn là bài học rất hay!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường tài chính: Não người chiến thắng trí tuệ nhân tạo?      Giao dịch bằng thuật toán tốc độ nhanh (HFT – high frequency trading) có làm thị trường tài chính hiệu quả hơn không hay sẽ làm thị trường bất ổn hơn?      Navinder Singh Sarao, một nhà giao dịch bị bắt và khởi tố vì đóng vai trò tạo ra Flash Crash 2010.Ảnh: fortune.com  Đây là một câu hỏi được Chính phủ Mỹ và Anh đặt ra từ năm 2010 khi các giao dịch tự động bằng máy tính, khai thác các thông tin về biến động giá ở khoảng thời gian rất nhỏ (gọi là công nghệ high frequency trading) trở nên phổ biến và tạo ra ảnh hưởng đến thị trường, chẳng hạn như đợt Flash Crash năm 2010. Ở thời điểm đó, chỉ số Dow Jones Industrial Average1 giảm 998,5 điểm (khoảng 9%) là một mức mất điểm nhanh và kỷ lục chỉ trong vài phút, và sau đó lại tăng nhanh trở lại chỉ trong vài phút.   Nguyên nhân dẫn đến điều này được chỉ ra là do các ứng dụng giao dịch bằng thuật toán có xu hướng mua bán chạy theo xu thế giá, chẳng hạn như giá cổ phiếu rớt nhanh sẽ là một tín hiệu bán cho các ứng dụng giao dịch thuật toán, và các ứng dụng này sẽ tranh nhau bán cổ phiếu. Việc một máy tính cạnh tranh từng milli giây để bán nhanh hơn máy tính đối thủ khiến tốc độ rớt giá được khuếch đại nhanh. Nghĩa là chỉ cần một người cố tình làm giá, đẩy giá xuống chẳng hạn, thì mức rớt giá cổ phiếu sẽ được khuếch đại nhiều lần, và người đó có thể thảnh thơi mua cổ phiếu đó với giá rẻ, vì anh ta biết rằng cổ phiếu rớt giá không vì nguyên nhân đặc biệt nào ngoài lệnh bán của mình.   Năm 2015, Navinder Singh Sarao, một nhà giao dịch ở London, đã bị bắt và khởi tố vì bị cho rằng đóng vai trò trong tạo ra Flash Crash 2010. Sarao bị cáo buộc dùng một chương trình tự động để tạo ra một lượng lệnh bán lớn, đẩy giá rớt mạnh, sau đó hủy các lệnh bán này một cách nhanh nhất và mua vào với giá thấp hơn.     Những người có nhiều năm kinh nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam không lạ gì với phương thức làm giá này. Nhưng vấn đề duy nhất là bây giờ chúng được thực hiện với các chương trình máy tính tự động và giao dịch với tốc độ cao.  Kể từ 2010, số lần thị trường tài chính quốc tế lên xuống với mức độ cao ngày càng nhiều. Những biến động tính bằng nghìn điểm của Dow Jones những ngày cuối năm 2018, đầu 2019 là bằng chứng và người ta lại lên án các giao dịch tự động bằng thuật toán với tốc độ nhanh. Nói cách khác trí tuệ nhân tạo đang “đánh chiếm” thị trường tài chính với một lượng lớn các giao dịch trên thị trường tài chính phát triển hiện tại đang được thực thi bởi các ứng dụng giao dịch tự động.    Vấn đề gây tranh cãi là những giao dịch tự động bằng các thuật toán phức tạp, bất kể là giao dịch tốc độ cao hay không, mang lại lợi ích gì cho thị trường? Không khó để lên án các giao dịch này tạo ra biến động quá lớn cho thị trường, và mở đường cho những hoạt động làm giá, thao túng thị trường với những tình huống điển hình như Flash Crash 2010. Khi người ta nắm bắt ít nhiều được cách mà các thuật toán hoạt động, họ có thể tìm ra con đường để tạo ra những tín hiệu giả trong ngắn hạn, kéo theo hàng loạt thuật toán mua bán theo hướng họ muốn.  Nhưng đổi lại, cũng có thể giao dịch bằng thuật toán cũng tạo ra những giá trị nhất định. Nó có thể làm cho thị trường hiệu quả hơn. Thị trường hiệu quả ở đây liên quan đến một khái niệm cơ bản nhất của lĩnh vực tài chính: hiệu quả về thông tin. Eugene Fama, nhà khoa học đoạt giải Nobel kinh tế 2013, cho rằng thị trường tài chính hiệu quả là nơi mà trong đó giá cả phản ánh thông tin một cách đầy đủ nhất. Nói ngắn gọn, trong một thị trường hiệu quả thì giá tài sản tài chính sẽ phản ánh những thông tin mới nhất một cách nhanh nhất.   Vậy liệu một thị trường có một tỷ trọng lớn các giao dịch là do thuật toán tự động thực hiện thì có hiệu quả hơn không? Nghiên cứu đi đầu của lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 2010 và Hendershott, Jones và Menkveld công bố một nghiên cứu trên tạp chí hàng đầu ngành tài chính Journal of Finance vào năm 2011, đưa ra một số bằng chứng cho thấy giao dịch bằng thuật toán nâng cao hiệu quả thị trường qua nâng thanh khoản và chi phí giao dịch.  Nhưng có một nghịch lý trong một thị trường hiệu quả là thị trường càng hiệu quả thì người ta càng không thể kiếm tiền bằng cách tận dụng những thiếu hiệu quả của thị trường để kiếm lời. Hiểu đơn giản là khi giá cổ phiếu càng phản ánh chính xác những thông tin về một công ty thì không còn nhiều cổ phiếu bị định giá quá thấp hay quá cao, vậy thì làm sao các công ty quản lý quỹ hay các chuyên gia tài chính đảm bảo là chiến lược đầu tư của họ có hiệu quả và mang lại tiền cho khách hàng? Ở một khía cạnh khác, những biến động quá mức và đôi khi không dựa trên thông tin gì cả của một thị trường bị máy tính “đánh chiếm” khiến những nhà phân tích chẳng biết phải làm gì với một biến động giá hoàn toàn “nhân tạo”, chẳng hạn một đợt bán tháo mạnh mà không có lý do gì rõ ràng.  Giáo sư Larry Harris của trường kinh doanh Marshall thuộc Đại học Nam California và Stan Druckenmiller, nhà quản lý quỹ thân cận của George Soros, tin rằng trong loại thị trường giao dịch tốc độ cao bằng máy tính này, các quỹ đầu tư và các nhà phân tích sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước đây để kiếm tiền nhiều hơn hay đưa ra khuyến nghị thông minh hơn vì thị trường sẽ có độ nhiễu cao hơn do những giao dịch tốc độ cao nhiều khi được diễn ra không vì nhân tố cơ bản nào cả.  Điều thú vị hơn là nếu mà thị trường càng hiệu quả thì ngay cả các giao dịch của máy tính bằng thuật toán cũng không thể kiếm tiền. Nói đơn giản là khi một cái hồ chứa toàn cá mập siêu thông minh thì tất cả đều sẽ chết đói vì chúng sẽ ăn hết các thức ăn khác quá nhanh và chỉ có thể quay qua giết lẫn nhau. Đây được xem là một nghịch lý của thị trường hiệu quả, vì khi thị trường tài chính quá hiệu quả, nó sẽ triệt tiêu lợi nhuận vượt trội của các công ty đầu tư nhiều công nghệ để đạt được thông tin nhanh nhất và ra quyết định hiệu quả nhất, và kết quả là không ai đầu tư cải tiến công nghệ nữa. Thế nhưng chúng ta có lẽ vẫn còn ở xa điểm đến đó lắm. Điểm cân bằng mới của quá trình chạy đua công nghệ giao dịch tự động này ở đâu là một câu hỏi vẫn làm những nhà nghiên cứu tài chính quan tâm.  Một điều thú vị khác mà tôi nhận ra là ngày càng nhiều sinh viên công nghệ đang trở thành những nhà giao dịch tài chính ngay trong trường đại học với những thuật toán của riêng mình. Thị trường tài chính đang đón một lượng nhà đầu tư nhỏ lẻ mới giao dịch bằng thuật toán, tự tin, trẻ và đôi khi hơi tự cao, và chưa từng trải qua khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008. Tôi tự hỏi liệu có còn chỗ đứng cho những nhà đầu tư nhỏ lẻ mua bán theo các tín hiệu phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật dựa vào hiểu biết về tài chính và kinh nghiệm hay không? Liệu các nhà phân tích được trả lương trăm nghìn đến triệu USD để đưa ra các báo cáo phân tích đề nghị mua, bán cổ phiếu có còn việc hay không? □  —————–  * Giảng viên đại học Bristol, Anh  1 Chỉ số công nghiệp trung bình của Dow Jones dùng để đánh giá khu vực công nghiệp trên sàn chứng khoán của Mỹ.     Author                Hồ Quốc Tuấn*        
__label__tiasang Thiên không thời, địa không lợi và…nhân không hòa      Dự &#225;n khai th&#225;c quặng bauxit ở T&#226;y Nguy&#234;n l&#224; một việc kh&#244;ng quan t&#226;m đến c&#225;c yếu tố thi&#234;n thời, địa lợi, nh&#226;n h&#242;a.    Thiên thời ở đây là điều kiện khách quan không thuận lợi. Trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng của cơn khủng hoảng tài chính thế giới, và Việt Nam cũng không ngoại lệ khi đang phải hứng chịu lạm phát phi mã, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Việc triển khai dự án này không phải là giải pháp lợi ích kinh tế hiệu quả bởi: bauxit không phải là quý hiếm do vậy nếu chúng ta khai thác sẽ rất khó bán. Hiện nay chỉ có Trung Quốc, quốc gia đứng thứ hai thế giới trong khai thác và chế biến bauxit, mới có thể đứng ra “bao tiêu” được với giá rất rẻ. Trong quá khứ, chúng ta đã đặt vấn đề với khối SEV, trong đó có cả Liên Xô, trong việc hợp tác khai thác bauxit ở Tây Nguyên nhưng chính các chuyên gia SEV đã cảnh báo về những bất lợi sẽ xảy ra tiến thành khai thác sẽ không có lợi, đồng thời họ cũng khuyến cáo chúng ta nên trồng những cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cao su…với hiệu quả kinh tế cao hơn.   Còn về địa lợi, Tây Nguyên là nóc nhà của Đông Dương. Việc khai thác bauxit ở Tây Nguyên về mọi mặt không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam mà còn cả với các nước láng giềng như Lào, Campuchia. Quá trình khai thác sẽ có một tác động rất lớn đối với môi trường bởi lẽ, để khai thác quặng bauxit, cần phải bóc một lớp đất dày 10 mét chứa bao nhiêu cây rừng và các thảm thực vật kèm theo đó là hệ sinh thái nhiệt đới phong phú, đồng thời trong quá trình khai thác sẽ tạo ra một lượng bùn khổng lồ gây ô nhiễm. Theo nguyên tắc, khai thác xong phải hoàn thổ, nhưng công đoạn này đã hết sức khó khăn tốn kém. Thực tế việc khai thác than tại các mỏ lộ thiên ở Quảng Ninh đã cho chúng ta thấy, vì ham lợi mà vô trách nhiệm không hoàn thổ đã để lại một “quang cảnh hãi hùng” ở nơi này.   Bên cạnh hiện tượng ô nhiễm ngay tại địa bàn thì việc khai thác bauxit sẽ cần phải sử dụng một lượng lớn nước mặt. Trong khi Tây Nguyên, trong một năm, chỉ có 6 tháng mùa khô và 6 tháng mùa mưa, mà mùa khô ở đây thiếu nước trầm trọng. Ngoài ra, hệ thống các sông Tây Nguyên cung cấp nước mặt cho sông Bé, sông Bé chảy vào sông Đồng Nai tại thị trấn Gia Nghĩa, rồi cung cấp nước ngọt cho TP.HCM. Khi khai thác bauxit sẽ tác động trực tiếp, gây ô nhiễm nguồn nước này, do đó cả TP.HCM sẽ rơi vào cảnh…thiếu nước ngọt.   Việc khai thác bauxit sẽ tiêu thụ một lượng điện rất lớn, trong bối cảnh đất nước đang thiếu điện, có thể xảy ra tình trạng không đủ điện để điện phân quặng đến giai đoạn cuối cùng cho ra nhôm. Do vậy sẽ lãng phí rất lớn vì phải bán quặng thô cho nước ngoài (nếu chế biến được thành alumina giá trị sẽ tăng lên gấp 8 lần, còn nếu chế biến thành nhôm giá trị sẽ tăng lên 100 lần).  Nhưng trên hết, sự tổn thương đến con người, đến văn hóa Tây Nguyên mới là việc hệ trọng cần phải bàn đến, bởi đó là là thứ tài sản quốc gia vô giá hơn cả.   Tây Nguyên là địa bàn sinh sống lâu đời của các dân tộc thiểu số. Họ là chủ nhân lâu đời của mảnh đất này. Đối với người dân Tây Nguyên, cà phê, cao su và các cây lương thực khác đã trở thành “nguồn sống”. Đối với người dân đồng bằng, do công nghiệp hóa, mở rộng các khu công nghiệp, nông dân mất đất, mất ruộng. Một số ít thanh niên may mắn được vào các nhà máy làm việc còn lại đa phần nông đân đều không có nghề. Nhưng những người nông dân này đủ năng động để lên thành phố kiếm việc. Nhưng còn những người dân ở Tây Nguyên thì khác, họ không đủ tháo vát như người dân đồng bằng để tìm kế sinh nhai. Mất đất với họ đồng nghĩa với việc bị tước đoạt toàn bộ phương tiện để sinh sống. Như vậy là chưa nhân hòa.  Trong 5 năm làm điều tra lãnh thổ Tây Nguyên (1977-1981), chúng tôi đã kiến nghị Nhà nước phải coi trọng đời sống cư dân bản địa Tây Nguyên. Dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên là một ví dụ điển hình về việc 30 năm qua, chẳng mấy ai quan tâm đến kiến nghị đó của các nhà khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiện nguyện mùa COVID: Khơi thông các nguồn lực?      Tưởng như những nỗ lực cộng đồng là mạnh mẽ và rộng lớn nhưng thực chất chúng vẫn luôn nằm ở “bên lề” chính sách.      Nhà sáng lập ATM oxy Hoàng Tuấn Anh. Ảnh: Nhân dân.  Khi lòng trắc ẩn dẫn lối  Làn sóng COVID thứ tư ỏ Việt Nam dẫn đến những thách thức chưa từng có cho cả chính quyền lẫn người dân trong việc ứng phó. Tinh thần thiện nguyện và những hoạt động cứu trợ trong tình huống này càng trở nên cần thiết. Trong cơn bĩ cực chung, người ta dễ thấu cảm và để cho lòng trắc ẩn của mình dẫn lối.  Bắt nguồn từ sáng kiến ATM gạo từ làn sóng COVID thứ nhất đầu năm 2020, đến nay hàng loạt mô hình ATM khác được nhân rộng bởi các nhà hảo tâm trong cộng đồng lẫn khu vực nhà nước khi các nhu cầu mới nổi lên: ATM khẩu trang, ATM oxy, ATM phòng trọ, ATM việc làm cộng đồng. Các siêu thị, tủ lạnh “0 đồng” với các mặt hàng thiết yếu, các bếp ăn cung cấp thực phẩm cho tuyến đầu, người nghèo, người khuyết tật là các hoạt động phổ biến do các cá nhân, tổ chức và đội nhóm trong cộng đồng được triển khai nhanh chóng  khắp nơi, thêm vào những sáng kiến đã có từ trước như Quán cơm 2000 và bánh mì miễn phí v.v. Các khóa học ‘bán kiến thức gây quỹ’, các chương trình thiền, yoga, các dịch vụ tư vấn tâm lý miễn phí cho bệnh nhân COVID, y bác sĩ và cộng đồng giúp nhau qua mùa dịch. Hàng nghìn người tình nguyện trong nhiều vai trò khác nhau, từ đi chợ cho khu phong tỏa, đến lấy mẫu xét nghiệm, cắt tóc, hát tại các bệnh viện dã chiến, lái xe, cho mượn phương tiện cá nhân để vận chuyển hàng cứu trợ, v.v. Người ta đóng góp tiền bạc, thời gian, công sức, thông tin, kết nối và cả hiến máu, bất cứ điều gì họ có thể làm được, nhiều lần trong khả năng của mình. Theo thống kê sơ bộ của Trung tâm LIN, có hơn 100 tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động thiện nguyện chống dịch tại TPHCM và Bình Dương. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được xếp hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương về đóng góp từ thiện với 78,5% người dân cho biết họ có quyên góp, theo khảo sát Chi tiêu có trách nhiệm và đóng góp từ thiện của công ty Mastercard công bố cuối năm 2017.1  Hơn nữa những nỗ lực thiện nguyện của cộng đồng giờ đây còn được công nghệ “chắp cánh”. Từ các ngân hàng miễn phí chuyển tiền đóng góp cứu trợ COVID hay ví điện tử cung cấp các lựa chọn quyên góp có nhà tài trợ đối ứng đều được thực hiện dễ dàng đến những ứng dụng kết nối các nguồn lực hữu hình lẫn vô hình như giao tiếp giữa những người dân trong khu phố thông qua các nhóm chat, vốn thúc đẩy nguồn vốn xã hội trong cộng đồng. SOS map và Zalo Connect là những nền tảng kết nối người nhận và người cho được nhanh chóng ra mắt trong mùa dịch do các cá nhân và doanh nghiệp phát triển. Với tính năng thân thiện với người sử dụng, những nền tảng này mau chóng được sự quan tâm và kết nối nhu cầu hiệu quả và minh bạch hơn.                 Tiếp cận dựa trên sự thiếu hụt      Tiếp cận dựa vào tài nguyên          Trọng tâm       Tập trung vào vấn đề và nhu cầu      Tập trung vào thế mạnh & cơ hội          Mục đích       Thay đổi cộng đồng thông qua các dịch vụ tăng lên       Thay đổi cộng đồng thông qua sự tham gia của người dân          Phương pháp       Thu thập thông tin  Thúc đẩy vai trò của các cơ quan và tổ chức       Xác định những điểm mạnh có sẵn và cơ hội bên trong các cộng đồng; trao quyền cho các cá nhân để cùng sáng tạo           Giải pháp       Các chương trình chính sách là giải pháp        Xem cư dân cộng đồng là giải pháp            Sự năng động của hệ thống      Có thể dẫn đến tình trạng kiệt sức theo thời gian      Có thể tạo được ‘đà’/động lực theo thời gian, dẫn đến những sáng kiến mới, kết quả đáp ứng những mong muốn của cộng đồng          Thách thức       Làm thế nào để thu hút người dân tham gia?      Làm cách nào để khơi thông và xây dựng dựa trên sự tham gia của người dân?          Đánh giá       Thành công là kết quả của dịch vụ, được đo lường chủ yếu bởi những tổ chức       Thành công là năng lực, được đo lường chủ yếu bởi những mối quan hệ            Vẫn chỉ là những nỗ lực rời rạc  Các nỗ lực thiện nguyện trên chủ yếu do cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và hội nhóm tự phát khởi xướng và huy động nguồn lực trong những vòng tròn quen biết, bạn bè, các mạng lưới, câu lạc bộ, hội nhóm, nơi sự tin cậy và mối thân quen giúp lời kêu gọi được để tâm hơn và quyết định đóng góp được thực hiện nhanh chóng, giữa các thông tin kêu gọi rải rác nhiều nơi. Khả năng phản ứng nhanh và trao tận tay những nơi cần thiết cũng là điều khiến nhà hảo tâm ‘an tâm’ khi đóng góp. Với những tổ chức phi lợi nhuận hay các cơ sở thường xuyên làm việc với những nhóm khó khăn vốn dễ bị tổn thương trong đại dịch, hoạt động hỗ trợ được thích nghi theo nhu cầu trước mắt và dài hạn của người thụ hưởng. Lợi thế của các tổ chức này là thấu hiểu hoàn cảnh và đặc điểm của nhóm thụ hưởng.  Những hoạt động thiện nguyện từ khối cộng đồng không phải không gặp thách thức. Mô hình ATM đến nay đã được chính quyền ở một số tỉnh học hỏi nhưng nhưng số lượng các ATM này vẫn rất hạn chế, chỉ đáp ứng được “muối bỏ biển” nhu cầu của các nhóm yếu thế. Nhiều nhóm tự phát ‘nguội dần’ khi nguồn lực cạn kiệt sau những đợt giãn cách dài 2-3 tháng. Với những nhóm còn trụ được, khả năng đi được đến đâu còn nằm ở phía trước, chủ yếu là tự thân vận động.  Tưởng như những nỗ lực thiện nguyện từ cộng đồng là mạnh mẽ và rộng lớn nhưng thực chất vẫn luôn nằm ở “bên lề” chính sách. Khi những quy định về phòng chống dịch và giãn cách được triển khai ở TP.HCM đầu tháng bảy, chính quyền địa phương một số nơi lúng túng trong khâu quản lý và đã giải tán những điểm cứu trợ thực phẩm. Thành phố sau đó đã điều chỉnh và tạo điều kiện các hoạt động thiện nguyện diễn ra nhưng một lần nữa phải dừng lại khi thành phố siết chặt giãn cách vì tính chất nhỏ lẻ của họ. Khi chính quyền chủ trương lấy ý kiến của chuyên gia, bộ, ngành để chuẩn bị cho tình huống siết chặt hơn Chỉ thị 16 hồi tháng bảy, thiếu vắng tiếng nói của lĩnh vực thiện nguyện. Điều này cho thấy lĩnh vực này vẫn thiếu chỗ đứng vững chắc trong quy định pháp luật và đóng vai trò bổ trợ hơn là một bên liên quan trong những giải pháp về cộng đồng.    ATM gạo ở Vũng Tàu. Ảnh: PLO.  Theo một nghiên cứu về vai trò của chính sách xã hội trong ứng phó với đại dịch COVID-19 với bốn trường hợp điển hình là Brazil, Đức, Ấn Độ và Hoa Kỳ năm 2020, biện pháp y tế cộng đồng cứng rắn tuy là bước quan trọng và cần thiết nhất trong việc giải quyết mối đe dọa truyền nhiễm khẩn cấp nhưng không đủ để đáp ứng những hậu quả ngắn hạn và tác động lâu dài hơn mà các biện pháp kiểm soát dịch bệnh có thể gây ra. Việc lưu tâm đến các phản ứng của chính sách xã hội cho phép chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe. Bất bình đẳng xã hội và kinh tế tiềm ẩn làm trầm trọng thêm các nguy cơ sức khỏe liên quan đến virus và có nguy cơ mở rộng nếu các chính sách xã hội không được thực hiện. Các chính sách xã hội quan trọng trong ngắn hạn và dài hạn, và định hình những hậu quả lâu dài của đại dịch. Việc tách biệt chính sách xã hội và sức khỏe cộng đồng, về lý thuyết hay thực tế, đều làm suy yếu cả hai và làm tăng nguy cơ cả hai đều thất bại.  Thiện nguyện vì cộng đồng: nửa ly nước đầy hay vơi   Cựu chủ tịch UBND TPHCM phát động “mỗi người dân là một chiến sĩ; mỗi gia đình, tổ dân phố, khu phố là một pháo đài chống dịch”, thừa nhận vai trò của các đơn vị trong cộng đồng trong công cuộc chung của thành phố. Vấn đề là, nhà nước đã có chiến lược nào để kết nối và phát huy nguồn lực của các đơn vị này?  Tiếp cận dựa vào tài nguyên là một phương pháp phát triển bền vững dựa vào cộng đồng ngày càng được áp dụng rộng rãi để giải quyết những thách thức của cộng đồng. Khác với cách tiếp cận dựa trên sự thiếu hụt vốn tập trung vào việc xác định các vấn đề và nhu cầu, tiếp cận dựa trên tài nguyên bắt đầu bằng các tài sản/tài nguyên có sẵn trong cộng đồng và huy động các cá nhân, hiệp hội và tổ chức lại với nhau để phát triển thế mạnh của họ (thường không được nhận ra) và được trao quyền sử dụng chúng. Tiền đề của cách tiếp cận này là cộng đồng biết điều gì là tốt nhất cho họ, có thể tự định hướng quá trình phát triển, đưa ra các giải pháp phù hợp cho những thách thức của địa phương với sự hỗ trợ phù hợp và thông tin rõ ràng. Cách tiếp cận xây dựng cộng đồng dựa vào tài nguyên vượt ra ngoài tài năng của bất kỳ cá nhân nào hoặc hội nhóm cụ thể nào mà xem xét tất cả có thể kết hợp với nhau để tạo ra những thay đổi rộng lớn hơn vì lợi ích chung trong một cộng đồng. Thay vì làm những khán giả thụ động, các công dân trong cộng đồng trở thành những tác nhân thay đổi.  Trong ứng phó với đại dịch, khối lượng công việc phải làm để giải quyết những bài toán phát sinh là khổng lồ, trải dài từ y tế, an sinh, đến kinh tế, thông tin, cơ sở hạ tầng, nguồn cung, v.v. Để việc tập hợp các nguồn lực, sắp xếp các ưu tiên, triển khai, chia sẻ kiến thức chuyên môn và kết hợp các mạng lưới đa dạng trên quy mô rộng được hiệu quả thì sự phối hợp với các thành phần trong xã hội ở nhiều cấp là vô cùng cần thiết.  Để làm được điều này cần những cá nhân/tổ chức có năng lực kết nối, nhìn thấy tài nguyên, và được tin cậy. Các hội đoàn, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức thiện nguyện chuyên làm việc với cộng đồng, những tổ chức thực hành công tác xã hội là mắt xích quan trọng trong quá trình kết nối cộng đồng. Nhưng trên hết họ cần được nhìn nhận là trụ cột quan trọng trong các giải pháp của chính phủ và tạo điều kiện để phối hợp và phát huy vai trò lẫn chuyên môn của mình, chứ không phải là những nỗ lực rời rạc bên lề.  Tính cộng đồng đã bén rễ sâu trong tập quán và lịch sử người Việt từ văn hóa làng xã lâu đời. COVID-19 cho chúng ta thấy rõ hơn sự tương tác của các khu vực và đơn vị trong xã hội. Còn nhiều việc phải làm trong những giai đoạn khó khăn để vượt qua đại dịch, khôi phục những mất mát và hồi sinh. Liệu đây có thể là cơ hội củng cố nội lực cộng đồng để chuẩn bị cho những thách thức khác là bài toán không chỉ của một anh hùng.     Hai cách tiếp cận về thiện nguyện: tiếp cận dựa trên sự thiếu hụt (trái) và tiếp cận dựa trên tài nguyên (phải).  Câu chuyện thành phố Leeds  Một trong những ví dụ về cách tiếp cận dựa trên tài nguyên cộng đồng là trường hợp gần đây tại thành phố Leeds ở Anh. Khi dịch COVID 19 bùng phát tháng 3/2020, Hội đồng thành phố Leeds đã xác định đặt cộng đồng làm trung tâm và cách tiếp cận dựa vào tài nguyên ngay từ đầu. Hội đồng đã khởi xướng hàng loạt công việc khổng lồ, bao gồm các lĩnh vực Y tế và Chăm sóc xã hội, kinh tế, cơ sở hạ tầng và các nguồn cung cấp, truyền thông và người dân/cộng đồng. Ngay từ đầu cuộc khủng hoảng, các dịch vụ hiện có được nhận định là sẽ không đủ đáp ứng mức hỗ trợ cần thiết cho những nhóm dễ bị tổn thương. Một nhóm làm việc ‘Tình nguyện viên’ đã được thành lập để giải quyết vấn đề này. Đây là mối quan hệ đối tác giữa hội đồng thành phố và khu vực dân sự, do Tổ chức Hành động Tình nguyện và Trung tâm Diễn đàn (tiếng nói chung của nhóm dân sự về chăm sóc xã hội và y tế ở Leeds) đại diện, cùng các tổ chức có chương trình hỗ trợ người bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Nhóm làm việc đảm nhận vai trò điều phối hỗ trợ tình nguyện viên. Có 33 tổ chức đầu mối từ khu vực dân sự – một phường có một tổ chức.  Ban lãnh đạo của nhóm tình nguyện có mặt đại diện của giới chuyên môn về Sức khỏe, Cộng đồng và điều phối Tình nguyện. Họ nhanh chóng chia nỗ lực tình nguyện làm ba ‘tầng’.  Tầng 1: Tình nguyện viên có kinh nghiệm sẵn lòng hỗ trợ mức cao, như đến nhà người dân hoặc các vấn đề hỗ trợ phức tạp hơn, như lấy thuốc Methadone cho người bệnh.  Tầng 2: Tập hợp số lượng lớn những người mới tình nguyện giúp các nhiệm vụ như đi mua sắm, mua thuốc thông thường, v.v.  Lời kêu gọi cho hai nhóm này nhận được sự hưởng ứng rất lớn với hơn 8.000 tình nguyện viên ngay từ đầu.  Tầng 3: Tình nguyện viên (TNV) trong chính đơn vị cộng đồng địa phương nhằm giảm thiểu những rủi ro từ việc ‘lạ nước lạ cái” của những TNV từ nơi khác đến. Trong vai trò tình nguyện viên một cách ‘danh chính ngôn thuận’, những TNV này sẽ giúp đỡ những người hàng xóm của mình, thả ghi chú/thông báo qua cửa nhà của mọi người hoặc thiết lập một nhóm WhatsApp, quan sát xem hàng xóm có thể hỗ trợ nhau như thế nào. WhatsApp đã trở thành một công cụ chủ lực nơi mọi người thăm hỏi tình hình lẫn nhau, chia sẻ các mẹo về học tại nhà, nơi nào còn hàng hóa, đảm bảo những hàng xóm cao tuổi và người cách ly đều ổn và có mọi thứ họ cần.  Trong cách tiếp cận dựa trên tài nguyên, thành phố nhận thức rằng dù có thể có các nhu cầu về các dịch vụ thiết yếu, nhưng trước tiên nên bắt đầu với những gì một cộng đồng có thể tự làm. Để làm được điều này các đơn vị cộng đồng phải được hỗ trợ bằng hành động và chính quyền địa phương cần phổ biến cụ thể vì những nỗ lực này người dân phải tự chủ. Họ tập trung vào việc truyền thông rộng rãi lợi ích của mô hình, cách tiếp cận tổng thể, những ví dụ, câu chuyện cụ thể trên các phương tiện truyền thông xã hội, bản tin và blog. Trên trang blog Leeds Kết nối là những câu chuyện truyền tải tinh thần cộng đồng tốt đẹp và sống động trên khắp thành phố, mang mọi người lại với nhau theo những cách mới mẻ, như láng giềng tặng hạt giống để tự trồng cây trong nhà, cùng đặt hàng ở tiệm bánh trong khu vực, những buổi hòa nhạc đường phố nhỏ cho khu phố, v.v. Cẩm nang làm một người hàng xóm tốt cũng được truyền thông rộng rãi, trong đó bao gồm mọi thông tin từ chăm sóc sức khỏe cho bản thân, các nguồn hỗ trợ, giữ an toàn cho bản thân ở nhà, trên mạng, an toàn tài chính, cách giúp đỡ hàng xóm và đăng ký tình nguyện.   Quan điểm phục hồi dựa trên tài nguyên là cách tiếp cận của Leeds đối với khối thiện nguyện trong những năm gần đây – cùng làm với dân chứ không phải cho dân. Bên cạnh giúp đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thực phẩm, thuốc men, đây còn là cơ hội có thể giúp người dân giảm bớt cảm giác bất lực và có được những mối quan hệ và sự hiểu biết mới.  Leeds từ lâu đã nhận ra tiềm năng của các khu dân cư và cộng đồng là trung tâm của việc mang lại sự thay đổi tích cực. Sự ủng hộ của các quan chức cấp cao của hội đồng và ban lãnh đạo chính trị ở Leeds đến từ sự hiểu biết sâu sắc về phương pháp tiếp cận dựa trên tài nguyên.  Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng ngày càng lớn, hội đồng thành phố cũng chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo phản ứng với COVID-19 về dài hạn hơn. Tuy không phải là điều dễ thực thi, câu hỏi lớn hội đồng đặt ra là liệu họ có lựa chọn nào tốt hơn cho những giải pháp dài hạn hỗ trợ cộng đồng không?  Leeds không phải là thành phố duy nhất áp dụng cách tiếp cận này. Một năm rưỡi sau khi Anh đã nới lỏng các biện pháp giãn cách, sự liên kết ở các nhóm cộng đồng tiếp tục duy trì và phát triển mạnh. Trên khắp nước Anh các kết nối cộng đồng được thực hiện trong thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch giúp tạo ra các cửa hàng trao đổi không chính thức. Văn hóa chia sẻ này đã bùng nổ kể từ khi có sự xuất hiện của virus corona. Amina Abu-Shahba, người thành lập một cửa hàng trao đổi ở Swansea, cho biết “Tôi nghĩ sẽ có vài người bạn tham gia thôi, nhưng rồi có gần 5.000 người. Nó trở thành một cái gì đó lớn hơn nhiều việc tránh lãng phí đồ đạc, mà là một cộng đồng và nguồn hỗ trợ cho phụ nữ trên toàn thành phố. Cho đến nay, chúng tôi đã trao đổi hơn 25.000 mặt hàng, quyên góp tiền cho các tổ chức từ thiện và có rất nhiều sự kiện bất ngờ”.□  *Tác giả có 15 năm công tác trong lĩnh vực phát triển, tập trung vào huy động nguồn lực và xây dựng năng lực tổ chức cho các tổ chức NGOs và doanh nghiệp xã hội tại khu vực Đông Nam Á; Tốt nghiệp Thạc Sĩ ngành Lãnh đạo Phi lợi nhuận tại Đại học Pennsylvania.  1 https://newsroom.mastercard.com/asia-pacific/press-releases/childrens-charities-lead-as-asia-pacifics-favorite-cause-to-support/  Tham khảo  https://e.vnexpress.net/news/travel-life/vietnam-leads-asia-pacific-for-charitable-donations-survey-3659525.html?fbclid=IwAR229AkUZ5qj5v-p8e32JUB_er_FvVY1dsg72ONmh1ul QPtzn5yngzOB2nY  https://thanhnien.vn/cong-nghe/tinh-nang-ho-tro-nguoi-kho-khan-do-dich-benh-zalo-connect-mo-tai-20-tinh-thanh-1432932.html   https://congnghe.tuoitre.vn/app-giup-toi-cua-ky-su-viet-20210821214324147.htm    From Deficit-based to Asset-based Community Driven Responses to COVID-19 (Part 1)      Dancing in the streets: an Asset-Based Community Development-informed Local Authority Response to COVID-19      Socially Connected Leeds: Innovative Communities    https://www.theguardian.com/society/2021/aug/25/lockdown-spirit-lives-on-as-neighbour-groups-become-swap-shops?fbclid=IwAR0AtwGXr24dZQu0Du_tTEfA8e2etd4RHWJ_Ho00M_2o0XBaQimQYoYXjG4  https://www.dorsetcommunityaction.org.uk/wp-content/uploads/2020/03/Being-a-Good-Neighbour-Pack-v3.pdf  Mathie, Alison & Cunningham, Gord (1 Jul 2010). “From clients to citizens: Asset-based Community Development as a strategy for community-driven development”. Development in Practice. 13 (5): 474–486. CiteSeerX 10.1.1.613.1286. doi:10.10 80/0961452032000125857.  Scott L. Greer, Holly Jarman, Michelle Falkenbach, Elize Massard da Fonseca, Minakshi Raj & Elizabeth J. King (2021) Social policy as an integral component of pandemic response: Learning from COVID-19 in Brazil, Germany, India and the United States, Global Public Health, 16:8-9, 1209-1222, DOI: 10.1080/17441692.2021.1916831    Author                Nguyễn Phương Anh        
__label__tiasang Thiên thần đã về trời      “Hãy cố lên, mươi phút nữa chị sẽ có một thiên thần”(*) – một bài viết trên Tuổi Trẻ gần đây cứ làm tôi bần thần mãi. Chia vui với “bà ngoại” vừa có được một thiên thần bé nhỏ ở Cộng hòa Czech. Còn tôi, “bà nội” vừa mất đi một thiên thần bé nhỏ ở Paris. Nhưng tôi lại có sự đồng cảm rất lớn với “bà ngoại” – tác giả bài viết, về những nền y tế đầy tính nhân văn.    “Hãy cố gắng, rồi cô sẽ lại có một thiên thần khác”! Sau hai ngày, mọi cố gắng của bệnh viện cũng không giữ lại được đứa cháu nội bé bỏng của tôi, thiên thần đã về trời. Bệnh viện tại Paris, nơi con dâu tôi chữa trị bằng bảo hiểm y tế đã cử một bác sĩ tâm lý theo sát để ổn định tinh thần cho người mẹ trẻ vừa bị sảy thai khi bào thai đã được gần năm tháng tuổi: “Hãy cố gắng, rồi cô sẽ lại có một thiên thần khác thôi mà!”.  Bệnh viện còn cử người đến gặp gia đình thông báo: “Theo luật, bào thai trên ba tháng tuổi được xem như một con người, do đó chúng tôi sẽ chờ gia đình đặt tên cho bé để làm giấy tờ. Với giấy chứng nhận này, gia đình nếu muốn có thể nhập hộ khẩu danh dự cho bé tại địa phương nơi cha mẹ cư trú. Là một con người, dù đã về trời, bé cũng cần có một địa chỉ nhà cùng gia đình để ấm lòng, dù chỉ mang ý nghĩa tinh thần”.  Chiều Paris xao xác lá, nhìn cái im ắng của nghĩa trang Père Lachaise nơi thiên thần bé nhỏ của tôi yên nghỉ trong hầm mộ gia đình, lòng mênh mang buồn, tôi chợt ngẫm: “Mỗi việc làm của họ sao đầy tính nhân văn đến thế! Chỉ một chút cố gắng nghĩ và làm vì con người thôi, vậy mà các bệnh viện của chúng ta chưa làm nổi. Sao vậy?”. Và tôi chợt nhớ về bệnh viện nhi ở trong nước, nơi mà ngày xưa con gái bé bỏng của tôi đã chữa trị, lòng tôi chùng xuống, giá như…  “Yên tâm, mai này bé sẽ giỏi giang!”  15 năm trước đây, khi mới được ba tháng tuổi, con gái tôi bị sốc thuốc chích ngừa dẫn đến tai biến, và hôn mê. Một tai nạn giáng xuống đầy bất ngờ. Ôm con chạy vào bệnh viện cấp cứu từ 8 giờ sáng. Do tôi có quen biết, con tôi sớm được ban lãnh đạo bệnh viện thăm hỏi, nhưng lại không có câu trả lời rõ ràng về bệnh trạng cũng như phương án chữa trị.  Thấy vợ chồng tôi khóc, cô y tá âm thầm điện thoại cho bác sĩ N. đang nghỉ phép ở Vũng Tàu. Ông tất tả đi tàu cánh ngầm về đến lúc 7 giờ tốí. Vào thẳng phòng cấp cứu, bằng con mắt nghề nghiệp, ông rút một chút dịch tủy của cháu, 15 phút sau bé tỉnh lại và đòi bú mẹ. Sau này, một bác sĩ bạn bè “bỏ nhỏ”: “Tại ông bà quen biết nhiều, họ sợ trách nhiệm, không ai dám chẩn đoán một mình mà chờ họp hội đồng!!!”. Nếu thật vậy, nếu không có bác sĩ N., con bé sẽ ra sao?  Hậu quả của việc cấp cứu chậm là sau đó con tôi bị biến chứng. Chúng tôi lại phải cậy nhờ người giúp đưa con đi Paris chữa trị.  Tại Bệnh viện Necker – Paris, chuẩn bị cho ca mổ, cần chụp CT cắt lớp, đứa con 10 tháng tuổi của tôi vừa ngủ dậy nên không chịu ngủ tiếp. Cả kíp chụp đã kiên nhẫn chờ hơn một tiếng đồng hồ cho đến khi cháu ngủ dù họ đã hết giờ làm việc, mà nhất định không gây mê, vì “gây mê nhiều sẽ có hại về sau”- họ nói. Trong khi trước đó, tại một bệnh viện ở nhà, để chụp CT, y tá đã chích một mũi gây mê nhẹ, không xong, cô chích tiếp mũi thứ hai, con bé đứng luôn tròng mắt và tôi đã khuỵu xuống. Trước phòng mổ Necker, cô y tá ra dặn dò: “Ông bà đừng căng thẳng, ảnh hưởng tâm lý bé, hãy cùng tôi chơi giỡn với cháu”. Thế là cả bốn chúng tôi cùng chơi với nhau, để con bé quen với y tá. Cả kíp mổ vẫn chờ đợi. Đúng lúc con bé cười tít mắt, nhanh như chớp cô y tá bế xốc cháu vào phòng mổ, tôi còn nghe tiếng cô ríu rít và tiếng bé cười khanh khách vọng ra.  5 giờ chiều, băng ca đưa cháu trở lại phòng bệnh, bác sĩ mổ nói “xin lỗi” vì ca mổ hơi lâu. Không thấy đưa thuốc, tôi hỏi trụ sinh cho cháu. Vị bác sĩ cười: “Không, phòng mổ vô trùng tuyệt đối, mọi chuyện đã được xử lý trong lúc mổ, từ bây giờ cháu không cần một viên trụ sinh nào cả. Hại lắm!”.  Ngày ra viện, vị bác sĩ trưởng khoa tiếp chúng tôi, ông nói: “Ông bà yên tâm đi, mai này cháu sẽ giỏi giang thôi”.  Giờ con gái tôi đã là cô nữ sinh lớp 9, xinh xắn, điệu đàng và học khá giỏi với nhiều hoài bão tương lai. Nhưng, tôi vẫn luôn khắc khoải. Tôi không so sánh giữa cái giàu – nghèo về kỹ thuật, phòng ốc, về tay nghề các bác sĩ Paris và Sài Gòn, nhưng tôi băn khoăn về tình người trong cách đối xử với bệnh nhân giữa hai bệnh viện. Rất khác nhau! Giá như con tôi không rơi vào tình huống chờ… “chịu trách nhiệm tập thể”, có thể cháu còn tốt, và tôi đã không phải rời bỏ sự nghiệp để dõi theo từng bước chân con vào đời.  Trở về TPHCM khi trời còn mù sương, những cổng chào hoành tráng, những ngôi nhà chọc trời xuất hiện ở khắp nơi, nhưng, xót xa thay khi đi ngang qua những bệnh viện chật chội, đầy ắp bệnh nhân. Sao vậy? Đất nước nghèo nhưng có đến nỗi không tăng được số bệnh viện cũng như đội ngũ bác sĩ, y tá để họ phải chịu áp lực quá tải khi chăm sóc bệnh nhân? Và tôi muốn nói tới một cơ chế quản lý và điều hành bệnh viện mang đầy tính nhân văn với “đạo đức nghề nghiệp” và “trách nhiệm công vụ” mà người dân đang mong muốn. Lời thề Hippocrates – tôi tin rằng vẫn còn trong trái tim của từng bác sĩ, vẫn hiện diện đâu đó trong cuộc sống, vấn đề là cơ chế nào để tấm lòng đó không bị mờ khuất trong những hỗn độn của cuộc sống.  (*) Tuổi Trẻ ngày 29-7-2011       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế rồi mới thi công      Soạn thảo văn bản ph&#225;p luật trước khi quyết định ch&#237;nh s&#225;ch th&#236; cũng giống như x&#226;y nh&#224; trước khi thiết kế ng&#244;i nh&#224;. Mặc d&#249;, chuyện vừa thiết kế vừa thi c&#244;ng trong x&#226;y dựng cơ bản rất &#237;t khi được chấp nhận, thế nhưng chuyện vừa soạn luật, vừa xử l&#253; ch&#237;nh s&#225;ch lại đang l&#224; thực tế phổ biến ở nước ta. Điều n&#224;y l&#224;m cho việc soạn thảo c&#225;c văn bản ph&#225;p luật nhiều khi thật giống với việc &#8220;đẽo c&#224;y giữa đường&#8221;. Qua mỗi lần tr&#236;nh bẩm, mỗi lần xin &#253; kiến, c&#225;c ch&#237;nh s&#225;ch lại được sửa đổi, được r&#250;t ra, rồi lại được đưa v&#224;o li&#234;n tục v&#224; kh&#244;ng c&#243; điểm dừng. V&#224;, c&#243; lẽ, đ&#226;y l&#224; l&#253; do giải th&#237;ch tại sao việc soạn thảo văn bản ph&#225;p luật ở nước ta thường k&#233;o d&#224;i l&#234; th&#234;, m&#224; c&#225;c văn bản ph&#225;p luật lại c&#243; chất lượng kh&#244;ng cao.    Thiết kế một quy trình hoạch định chính sách mạch lạc vì vậy là nhiệm vụ quan trọng nhất của việc hoàn thiện quy trình lập pháp. Điều này, đồng thời, cũng sẽ giúp cho chúng ta tổ chức công việc của Chính phủ, cũng như của Quốc hội hợp lý hơn.   Quy trình chính sách có thể bao gồm hai công đoạn: công đoạn kỹ thuật của chính sách và công đoạn chính trị của chính sách. Hai công đoạn này gắn bó với nhau, nhưng vẫn hai công đoạn khác nhau và do những cơ quan khác nhau thực hiện.   Công đoạn kỹ thuật của chính sách do các cơ quan chuyên môn thực hiện. Đây chủ yếu là các cơ quan chuyên môn của các Bộ. Công đoạn này có thể bao gồm ba bước là: 1. Nhận biết vấn đề; 2. Nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của vấn đề và đề ra giải pháp (giải pháp chính là chính sách) để giải quyết vấn đề; 3. Phân tích chính sách về giải pháp đã được đề ra. Trong công đoạn này, các cơ quan chuyên môn sẽ phải làm rõ các vấn đề sau đây: Vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống là vấn đề gì? Đâu là nguyên nhân chính của vấn đề? Để xử lý nguyên nhân đó, thì giải pháp đề ra là giải pháp gì? Giải pháp được đề ra có chấp nhận được về mặt kỹ thuật, cũng như về mặt chi phí hay không?… Để dễ cảm nhận hơn, xin so sách việc hoạch định chính sách với việc khám chữa bệnh. Không nhận biết vấn đề sẽ rất giống với việc không nhận biết con bệnh. Không nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của vấn đề sẽ rất giống với việc không khám, không xét nghiệm (để chẩn đoán bệnh) mà lại đề ra phương án điều trị. Không phân tích chính sách sẽ rất giống với việc không nhận biết phương án chữa trị có khả thi không và người bệnh có điều kiện để chi trả không.    Công đoạn chính trị của chính sách là công đoạn tiếp theo sau khi công đoạn kỹ thuật của chính sách đã kết thúc và kiến nghị chính sách lập pháp được trình lên cho Chính phủ. Công đoạn này do các chính khách đảm nhiệm (chứ không phải là các nhà chuyên môn). Các nhân vật chính của công đoạn này là vị Bộ trưởng có liên quan và tất cả các thành viên khác của Chính phủ. Công đoạn này chính là việc Chính phủ xem xét kiến nghị lập pháp của các Bộ và quyết định chính sách lập pháp được đề ra. Các câu hỏi được đặt ra cho công đoạn này là: Chính sách được đề ra sẽ ảnh hưởng đến các ưu tiên khác của đất nước như thế nào? Công chúng sẽ phản ứng như thế nào đối với chính sách đã đề ra? Chuyện được mất giữa các giai tầng trong xã hội liên quan đến chính sách có thể chấp nhận được không? Quốc hội có ủng hộ một chính sách như vậy không?…   Một câu hỏi đặt ra ở đây là: Thế Chính phủ có cần quan tâm đến các vấn đề kỹ thuật của chính sách không? Tất nhiên là có. Tuy nhiên, Chính phủ không thể làm thay các cơ quan chuyên môn. Chính phủ không có kiến thức chuyên sâu và không có thời gian để làm việc này. Việc Chính phủ có thể làm ở đây là áp đặt các chuẩn mực cao nhất cho các chuyên gia đảm nhận các công việc của công đoạn kỹ thuật của chính sách.  Nếu Chính phủ phê chuẩn chính sách thì việc soạn thảo văn bản pháp luật có liên quan mới chính thức bắt đầu. Soạn thảo văn bản pháp luật về bản chất chỉ là việc dịch chính sách thành mệnh lệnh hành động (cho đối tượng bị điều chỉnh, cho các quan chức áp đặt việc tuân thủ, cho cơ quan xử lý tranh chấp…). Công việc này phải do các nhà chuyên môn được đào tạo về nghề soạn thảo văn bản pháp luật đảm nhiệm. Nếu chúng ta chưa có được những chuyên gia như vậy, thì các luật gia khó có thể làm thay công việc của họ. Mà như vậy thì đào tạo các chuyên gia soạn thảo văn bản pháp luật phải là một trong những ưu tiên hàng đầu hiện nay.  Trường hợp ngược lại, nếu Chính phủ không phê chuẩn chính sách, thì mọi chuyện có thể chấm dứt tại đó hoặc một chính sách mới phù hợp hơn phải được đề ra. Và như vậy, việc soạn thảo văn bản pháp luật vẫn chưa được đặt ra, nhờ đó chúng ta sẽ không bị lãng phí thời giờ, công sức cho công việc này.  Nhân đây, nếu chính sách lập pháp do Chính phủ hoạch định, thì Quốc hội chính là cơ quan thẩm định chính sách đó. Quy trình lập pháp ở Quốc hội cũng cần phải thiết kế thành hai công đoạn: công đoạn thẩm định chính trị của chính sách và công đoạn thẩm định kỹ thuật của chính sách. Các phiên họp toàn thể của Quốc hội chính là công cụ để thẩm định chính trị của chính sách. Các Ủy ban của Quốc hội chính là công cụ để thẩm định kỹ thuật của chính sách.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết lập công viên hòa bình tại Trường Sa*      Công viên hòa bình trên biển (MPP) do các nhà khoa học Mỹ triển khai từ năm 1994 cho vịnh Aqaba giữa Israel và Jordan. Đây là sáng kiến hoà bình cho các vùng biển đang có mẫu thuẫn xung đột của các quốc gia láng giềng dựa trên mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển, bảo vệ duy trì tính đa dạng sinh học, san hô xuyên biên giới theo chuẩn mực đa công ước quốc tế UNCLOS, CBD, RAMSAR, UNESCO. Trong bài giới thiệu về kinh nghiệm thực tế và thực tiễn nghiên cứu đề xuất MPP trên thế giới, các lợi ích, tác động của chúng. Đồng thời bài cũng nêu phân tích lợi ích, các trở ngại và đề xuất một số ý tưởng thực hiện MPP với vùng biển Trường Sa.      Công viên biển hoà bình (Marine Peace Park-MPP) hay Công viên hoà bình trên biển là học thuyết hay sáng kiến còn khá mới trên thế giới do các nhà khoa học Stephen Jameson, Michael Crosby, Ben Mieremet thuộc phòng Quản lý tài nguyên đại dương và vùng bờ của Cục Đại dương Khí quyển (NOAA) Hoa Kỷ [1] khởi xướng từ tháng Chín năm 1994, với ý tưởng ban đầu là giúp các quốc gia đang đối đầu tại Trung Đông là Israel và Jordan cùng quản lý tài nguyên vùng bờ và hệ sinh thái san hô. Tiếp đến đã có phương án MPP Korea [2] năm 2007 và hàng loạt nghiên cứu đề xuất tám khu MPP tại Địa Trung Hải [9] vào năm 2011, các phương án đề xuất lý thuyết và triển vọng MPP của các nhà khoa học, chính sách của Việt Nam, Hoa Kỳ, Philippines, Đài Loan cho khu vực quần đảo Trường Sa [3,4,5,6,7,8,11] các năm 2010, 2011, 2013.  Theo định nghĩa, công viên biển hòa bình (MPP) là một dạng khu bảo tồn thiên nhiên liên quốc gia (transboundary marine protected area-TBMPA) được chính thức dành riêng cho việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa có liên quan để thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế trên biển, hải đảo tại những nơi còn có xung đột, mâu thuẫn về chính trị và ranh giới biển. Tài nguyên hải sản và các hệ sinh thái biển di cư xuyên biên giới và khả năng bị tổn thương, suy thoái sinh cảnh có liên quan mật thiết với nhau, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia. Khu bảo tồn biển liên quốc gia (TBMPA) và Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), bao gồm hai hay nhiều hơn khu bảo tồn thiên nhiên trên biển (marine protected area-MPA) nằm trên các vùng biển thuộc các quốc gia lân cận nhau. Các khu bảo tồn biển MPA của từng quốc gia do luật pháp các quốc gia quy định. Tại Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước bảo tồn Đa dạng sinh học năm 2010, các bên đã cam kết sẽ thiết lập các khu bảo tồn biển MPA trên thế giới năm 2020 trên 10% diện tích toàn đại dương thế giới.  Hiện trạng và lợi ích của MPP trên thế giới  Công viên Biển Hòa bình Hồng Hải [1] được xây dựng vào năm 2007 là một mô hình MPP điển hình về hợp tác quốc tế. Nó nằm ở mạn bắc Vịnh Aqaba, một vùng biển nửa kín mà hai nước Israel và Jordan từng tranh chấp với nhau. MPP Hồng Hải (Aqaba) có diện tích 375 km2 trong đó Aqaba 263 km2 với dân cư khoảng 55.000 người, và khu MPA Eilat rộng 112 km2 với dân cư khoảng 86.000 người, chiều dài bờ biển 7 km bên Israel và 27 km bên Jordan. Cơ chế MPP tại khu vực giúp cả hai nước về việc thiết lập cách đồng quản lý tài nguyên biển và đồng quản lý rạn san hô, thúc đẩy việc khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển du lịch, kinh tế biển bền vững. Israel và Jordan chia sẻ đường biên giới chung tại, mũi phía bắc hẹp của Vịnh Aqaba, nơi cả hai nước độc lập thành lập khu bảo tồn biển để bảo vệ các rạn san hô. Jordan và Israel chia sẻ đường biên giới chung kéo dài đến tận, mũi phía bắc hẹp của Vịnh Aqaba, nơi các rạn san hô thu hút khách du lịch từ cả hai nước của Biển Đỏ. Nhưng các rạn đã bị ảnh hưởng từ giao thông tàu, rửa trôi chất dinh dưỡng, và lạm dụng từ các thợ lặn giải trí. Cả hai nước đều nhận ra tầm quan trọng của việc bảo vệ các rạn san hô và trước đây đã có những bước riêng để bảo vệ san hô thuộc thẩm quyền của họ. Tuy nhiên, cả hai quốc gia đều nhận ra rằng, bất chấp những nỗ lực cá nhân, quản lý chung liên quốc gia sẽ là cần thiết để bảo vệ tốt nhất các rạn san hô.               Hình 1. MPP Red Sea, 1994       Hình 2. MPP Korea, 2007           MPP Korea   Năm 2007, Chính phủ Triều Tiên và Hàn Quốc đã ký hiệp định về xây dựng khu MPP Korea. Không gian phát triển MPP trên hai vùng biển ven bờ phía tây của Triều Tiên và Hàn Quốc, với mục tiêu bảo tồn tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái biển. Khu vực ven biển xuyên biên giới phía tây bán đảo Triều Tiên bao gồm quy mô gồm các khu bảo tồn thiên nhiên trên biển (Hàn Quốc có 24 và Triều Tiên có 44 khu bảo tồn thiên nhiên) có môi trường quan trọng, nơi sinh sản cho nhiều loài đang bị đe dọa, cồn cát ven biển tuổi địa chất hàng ngàn năm còn nguyên vẹn. Diện tích MPP Korea vào khoảng 1,445 km2 (Hàn Quốc: 487km2, Triều Tiên: 958 km2). Đây là ngư trường phong phú hải sản và năng suất cao trong ngành đánh bắt hải sản của hai quốc gia.  Các phương án MPP trên Địa Trung Hải  Hai MPP được thiết lập và tám MPP đề xuất ở hình 3 đều chủ yếu nằm trong vùng lãnh hải 12 hải lý của các quốc gia, và các quốc gia tham gia đã, đang có nhiều xung đột trên các lĩnh vực chính trị, anh ninh quốc phòng.  Đề xuất xây dựng MPP tại Quần đảo Trường Sa  Lợi ích của công viên hòa bình Trường Sa  Việc thiết lập một công viên hòa bình tại Trường Sa sẽ đem lại các lợi ích quan trọng về mặt bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì nguồn lợi hải sản và góp phần giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác giữa các bên yêu sách quần đảo Trường Sa:  Bảo tồn đa dạng sinh học: Vùng biển quần đảo Trường Sa có rạn san hô rất đa dạng với khoảng 382 loài san hô cứng thuộc 70 giống, 15 họ đã được tìm thấy ngang bằng với số lượng loài phát hiện được trên toàn dải ven biển Việt Nam và bằng khoảng 1/2 số loài san hô trên toàn thế giới [10]. Vì vậy, có nhà nghiên cứu nước ngoài đã ví san hô biển Trường Sa giống như một khu rừng rậm nhiệt đới. Đồng thời, đây cũng là khu vực có các rạn san hô dạng vòng (atoll reef) rất đặc trưng mà vùng biển ven bờ không có do môi trường nước trong sạch, chất đáy phù hợp, nhiệt độ ổn định.  Duy trì các nguồn lợi hải sản của Biển Đông: Theo John McManus [3], Giáo sư về sinh học biển và nghề cá của trường Đại học Miami, Hoa Kỳ, quần đảo Trường Sa đóng vai trò như một “ngân hàng tài nguyên” đối với tài nguyên sinh vật của Biển Đông. Có gần 600 loài cá sinh trưởng vùng biển sâu từ 40 m – 50 m ở chân các rạn san hô ở Trường Sa, trong đó có nhiều giá trị kinh tế cao như cá mú, cá hồng, cá hè, cá bò,…. Các loài cá này sẽ theo thủy triều được phân tán tới vùng biển ven bờ của các nước ven Biển Đông như Philippines, Trung Quốc, Việt Nam, và Indonesia trước khi quay trở lại quần đảo này. Với tình trạng khai thác hải sản quá mức ở các vùng biển ven bờ Biển Đông như hiện nay, việc bảo tồn, gìn giữ quần đảo Trường Sa như một vùng sinh trưởng và phát triển của các loài cá sẽ góp phần tái tạo các nguồn hải sản của Biển Đông.  Giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác. Như định nghĩa MPP đã trình bày ở trên, một trong những tác dụng chính của công viên hòa bình trên biển là nhằm thúc đẩy hợp tác và hòa bình trong các khu vực đang có tranh chấp biển, đảo. Về mặt chính trị – ngoại giao, hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một lĩnh vực được coi là ít nhạy cảm, không liên quan gì đến việc khai thác tài nguyên nên thường dễ được các quốc gia liên quan chấp nhận hơn. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2012, theo đó bảo vệ môi trường là lĩnh vực hợp tác đầu tiên mà các bên có thể xem xét thực hiện trong lức chờ giải quyết dứt điểm và hoàn toàn các tranh chấp trên Biển Đông (Điều 6). Hiện nay, khi các quốc gia tham gia ký kết DOC đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm ra các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện DOC thì xây dựng công viên hòa bình trên biển MPP ở Trường Sa là công việc cần thiết và khả thi, trước khi thiết lập được các cơ chế phân định biển, đảo khác.  Một số khó khăn   Quá trình thiết lập công viên hòa bình ở Trường Sa có thể gặp một số khó khăn về các mặt pháp lý, chính trị và kinh tế-xã hội:  Về pháp lý. Hiện nay các bên có yêu sách đối với quần đảo Trường Sa vẫn chưa thống nhất được phạm vi của quần đảo này. Ví dụ các bên vẫn chưa thống nhất được liệu khu vực bãi Cỏ Rong có thuộc Trường Sa không. Lập trường của Philippines thì coi bãi Cỏ Rong không phải là một bộ phận của quần đảo Trường Sa mà thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình. Tuy nhiên, lập trường của các bên khác về khu vực này thì lại chưa thực sự rõ ràng; bên cạnh đó, các bên cũng chưa thống nhất được chế độ pháp lý của các thực thể trên Biển Đông: thực thể nào là đảo, thực thể nào là đảo đá và thực thể nào là bãi cạn nửa chìm nửa nổi. Cuối cùng là sự không đồng nhất về số lượng thực thể yêu sách giữa năm nước, sáu bên cũng là một trở ngại quan trọng cho việc tìm ra một khu vực hợp tác thiết lập công viên hòa bình.               Hình 3. Tám MPP đề xuất tại Địa Trung Hải           Về chính trị. Do tình hình tranh chấp trên Biển Đông vẫn đang diễn biến phức tạp đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin chiến lược, làm suy giảm đi quan hệ giữa các quốc gia ven Biển Đông. Chính vì thế, khả năng thúc đẩy hợp tác trong các khu vực có tranh chấp có khả năng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, do hiện nay Trung Quốc vẫn đang chưa kết thúc bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo nên rất khó để quốc gia này chấp nhận tham gia bất kỳ thỏa thuận hợp tác nào có thể dẫn đến việc hạn chế việc Trung Quốc thay đổi môi trường sống ở Trường Sa.  Về kinh tế – xã hội. Việc thiết lập công viên hòa bình ở quần đảo Trường Sa có thể dẫn đến việc hạn chế hoạt động của hai ngành kinh tế biển quan trọng trên Biển Đông là khai thác hải sản và giao thông hàng hải. Cụ thể, các biện pháp bảo tồn được áp dụng trong công viên hòa bình ở quần đảo Trường Sa có thể làm hạn chế hoạt động đi qua khu vực này của tàu thuyền, đặc biệt là các tàu có trọng tải lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (như các tàu container, tàu chở dầu,…) và hạn chế hoạt động khai thác thủy, hải sản của ngư dân xung quanh Biển Đông tại đây. Điều này có thể khiến cho các công ty giao thông vận tải biển và ngư dân hoạt động tại Trường Sa không ủng hộ việc thiết lập công viên hòa bình tại đây.      ***  Để thực hiện MPP trên vùng biển Trường Sa, Việt Nam cùng các quốc gia đang chiếm giữ các đảo Trường Sa cần thúc đẩy hợp tác thực hiện bảo tồn thiên nhiên tại khu vực quần đảo Trường Sa; hoạch định, tổ chức và triển khai nghiên cứu cơ sở khoa học cho các phương án/kịch bản MPP cho tiểu vùng với từng quốc gia, phương án đa quốc gia và tổng thể quần đảo Trường Sa làm cơ sở cho lồng ghép trong đàm phán ngoại giao song phương và đa phương về các giải pháp hoà bình cho Biển Đông; xem xét nghiên cứu đề xuất thí điểm thiết lập MPP với các quốc gia ASEAN khác có yêu sách ở Trường Sa là Philippines, Malaysia, và Brunei. Khi lập xong MPP ASEAN, các nước sẽ có kinh nghiệm vững chắc để đàm phán mở rộng ranh giới MPP ở các vùng biển khác; đưa sáng kiến MPP vào các nội dung thảo luận trên các diễn đàn ngoại giao, quốc phòng, môi trường, đa dạng sinh học; và kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm nghiên cứu thành công về MPP như NOAA, KMI, cùng các bộ ngành Israel, Jordan, Hàn Quốc, Triều Tiên; các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học biển quốc tế.  ————–  * Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả  TS Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu biển và hải đảo  TS Vũ Hải Đăng, Học viện Ngoại giao  Tài liệu tham khảo:    1. Ben Mieremet, 2007. Middle East Peace Park. The Experience of a Lifetime: NOAA Marine Scientists Help Protect Red Sea Coral as Part of the Middle East Peace Process.  http://celebrating200years.noaa.gov/magazine/mideast_peace_park/welcome.html   2. Jungho Nam, Keunhyung Yook, Gusung Lee, Jong-Deog Kim, 2007. Toward Establishing the Marine Peace Park in the Western Transboundary Coastal Area of the Korean Peninsula. KMI, 67 pp.    3. John W.McManus, Kwang-Tsao Shao andSzu-Yin Lin, 2010. “Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park: Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an Emphasis on the Role of Taiwan” (2010) 41: 3 Ocean Development & International Law, 270.   4. Dư Văn Toán, 2011. Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011.   5. Dư Văn Toán, Vũ Thị Hiền, Vũ Thành Chơn, Vũ Hồng Hà, Nguyễn Thị Thúy Hằng và Lê Thùy Dung, 2011. Tiềm năng bảo tồn thiên nhiên tại các vùng cận biên giới và gợi ý cho vùng biển Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước và Biến đổi khí hậu”, CRES, VNU.   6. Dư Văn Toán, 2011. Luận cứ khoa học và thực tiễn xác định các vùng biển đặc biệt nhậy cảm trên vùng biển Việt Nam. Báo cáo Tổng kết đề tài TNMT 06.06.   7. Department of Foreign Affairs of the Republic of Philippines, A Rules-Based Regime in the South China Sea, statement by Albert F. Del Rosario, Filipino Secretary of Foreign Affairs (7June 2011), online: Department of Foreign Affairs of the Republic of Philippines , accessed October 26, 2011.   8. Vũ Hải Đăng, “Establishing a Marine Peace Park in the Spratlys: An Option for Implementing the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea” trong Tran Truong Thuy và Le Thuy Trang (eds), Power, Law and Maritime Order in the South China Sea (Laham: Lexington, 2015).   9. CIESM, 2011. Marine Peace Parks in the Mediterranean – A CIESM proposal. N° 41 in CIESM Workshop Monographs [F. Briand, ed.], 128 p., Monaco.   10. Dư Văn Toán, 2014. Bảo tồn và phát triển hệ sinh thái vùng biển đảo Trường Sa. Tạp chí Môi trường, số 5/2014.   11. James Borton, “Marine Peace Park Plan Offers Promise for South China Sea” (25/10/2015) Geopolitical Monitor;      Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Thiếu cơ chế để người dân tham gia quy hoạch và quản lý đô thị      Chưa bao giờ các vấn đề quy hoạch và quản lý đô thị ở Việt Nam lại “nóng” với nhiều bất cập cần được nhìn nhận và giải quyết như những năm trở lại đây. Câu chuyện thời sự về những bất đồng giữa cộng đồng dân cư và chính quyền xung quanh việc lấy đất cho các dự án, hay việc “giành lại vỉa hè” vừa qua là những ví dụ điển hình để mở rộng cái nhìn về vấn đề quy hoạch và quản lý đô thị. Nó cho thấy, để quy hoạch và quản lý đô thị tốt, ngay từ đầu cần có sự tham gia của nhiều bên: chính quyền, hệ thống chuyên gia, các nhà đầu tư, các đơn vị tư vấn và cộng đồng người dân.      Một cuộc họp cải tạo tiểu khu ở quận Jurong East, Singapore với sự tham gia của nhiều thành phần. Ảnh: Tác giả/ thành viên Ban chủ nhiệm dự án.  Cách tiếp cận tham dự  Thông thường, rất khó để cân đối lợi ích của các bên khi họ có những mối quan tâm và lợi ích riêng rất khác nhau, đôi khi trái ngược, và ngay trong nội bộ mỗi bên cũng đã gồm nhiều thành phần. Giữa vô số khác biệt đó, chính quyền có vai trò quan trọng và phù hợp nhất để mời các bên nói trên cùng nhau bàn thảo, tham vấn, lập các đề xuất, ra quyết định và cam kết cùng thực thi quy hoạch (riêng khâu ra quyết định thì vai trò của chính quyền là lớn nhất).  Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam vẫn chưa có cơ chế, chính sách và quy định để khuyến khích hoặc luật hóa cách tiếp cận kiểu “tham dự” (participatory) này. Ở Singapore, chính quyền cũng nhận thức được cách tiếp cận này là cần thiết, tuy nhiên việc áp dụng còn chưa sâu, chủ yếu dừng lại ở khâu điều tra khảo sát người dân nên mức độ và phạm vi tham gia của người dân vào quy hoạch vẫn rất hạn chế. Ở ta còn hạn chế hơn nữa, nhiều dự án quy hoạch không có điều tra khảo sát sâu rộng. Sau khi đưa ra các phương án quy hoạch thì có trưng cầu ý dân nhưng mang tính hình thức, thiếu minh bạch. Nhiều người dân nhiệt tình góp ý, phản hồi nhưng đơn vị chủ quản thường không phân loại, thống kê, công khai và cân nhắc tới những ý kiến đó.  Tiếng nói của các chuyên gia cũng thường bị “lờ đi” hoặc “nghe lấy lệ”. Họ đóng góp nhiều ý tưởng hoặc phản biện ở các hội thảo chuyên môn cũng như trên các kênh truyền thông đại chúng nhưng không đủ sức tác động vào quá trình lập và thực thi các quy hoạch. Đại đa phần người quyết định quy hoạch không có chuyên môn quy hoạch, còn người có chuyên môn lại không có quyền quyết định, dù chỉ ở mức đóng góp một lá phiếu.  Ngay cả trong các dự án quy hoạch đô thị có tư duy tương đối cấp tiến – tạo điều kiện cho nhiều thành phần khác nhau cất tiếng nói – thì cuối cùng những ý kiến đó cũng lại “rơi rụng” dần, và rốt cuộc chỉ còn một nhóm nhỏ chính trị gia quyết định. Và trên thực tế, người ra quyết định chịu nhiều “tác động”, một số trong đó có sự liên kết ngầm với nhóm các nhà đầu tư hoặc tư vấn để hưởng lợi. Thực tế này xảy ra ở nhiều nước trên thế giới.  Hậu quả của sự thiếu tham gia và đồng thuận đa bên cũng như việc thao túng của các nhóm lợi ích là chúng ta không thể có quy hoạch tốt, hoặc có nhưng sau đó đều bị bóp méo. Ví dụ như khu Giảng Võ ở Hà Nội, người dân rất trông đợi sẽ có nhiều không gian mở và xanh sau khi giải tỏa đất. Nhưng đề xuất được công bố lại là những khối chung cư cao 50 tầng mật độ cao, gây thêm áp lực cho hạ tầng vốn đã quá tải. Hay khu Linh Đàm vốn được quy hoạch bài bản và tương đối hoàn chỉnh với các khu nhà ở, hạ tầng xã hội, không gian xanh, vv…nhưng nay đã “bị” chuyển đổi chức năng và “biến dạng”, với mật độ xây dựng cao tới mức các khối nhà cao tầng chen chúc san sát nhau, quây lại thành một cái giếng khổng lồ, không đảm bảo chiếu sáng, thông gió và những điều kiện sống khác. Xây cất càng nhiều với mật độ càng cao thì càng làm cơ sở hạ tầng quá tải và gây ra nhiều hệ lụy về giao thông, khí thải, rác thải, năng lượng, cũng như các vấn đề xã hội khác.  Phần cứng, phần mềm và phần “tâm”  Chúng ta đang tái cấu trúc lại nhiều thành phố trong cả nước, liên tục nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải tạo các khu cũ và đô thị hóa các khu vực ven đô. Đây đều là những yếu tố thuộc về “phần cứng” (hardware). Tuy nhiên, đô thị còn có “phần mềm” (software) song hành và tương tác với phần cứng, đó là nhiều nhóm xã hội với đặc điểm sinh kế, địa vị xã hội, văn hóa và lối sống khác nhau.  Thông thường khi làm quy hoạch, phần mềm thường phức tạp, tinh tế, nhạy cảm, khó khảo sát đánh giá hơn và vì thế cũng ít được quan tâm hơn phần cứng “vô hồn” và dễ đong đếm. Nếu không quy hoạch hợp lý thì phần mềm và phần cứng sẽ “cọc cạch”, không “tương sinh” mà “tương khắc” với nhau. Ví dụ khi chúng ta di dời người dân trong khu phố cổ Hà Nội ra các khu tái định cư ở ngoại vi, thoạt nhìn dưới góc độ “phần cứng” thì chúng ta sẽ tưởng người dân vui mừng vì được “đổi đời” với không gian sống thoáng đãng, tiện nghi và “văn minh” hơn. Nhưng trên thực tế, nhiều người không muốn di dời vì khó thích nghi với môi trường sống mới. Họ đã quá quen bám đường, bám chợ với không gian văn hóa-xã hội truyền thống, đi là mất xóm giềng bạn bè, mất chợ mất chùa, và nguy hiểm nhất là…mất kế sinh nhai. Vì thế mới có cảnh, các khu tái định cư ven đô nhanh chóng biến thành một kiểu “làng phố theo chiều đứng”, với cô bán phở tầng 7, bác cắt tóc tầng 3, vv. Nói cách khác, phần cứng mới không phù hợp và không đủ hấp dẫn để đánh đổi lấy phần mềm cũ.    Một cuộc họp về “phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” ở xã Tam Thanh, TP Tam Kỳ, với nhiều thành phần dân cư, chính quyền địa phương chuyên gia. Ảnh: Tác giả/ thành viên ban chủ nhiệm dự án.  Tương tự, trong quản lý đô thị, không thể chỉ dùng tư duy máy móc, duy ý chí và không xét tới phần mềm để lập sách và hành xử. Câu chuyện “giành lại vỉa hè” hiện nay là một thí dụ. Vỉa hè có chức năng chính là không gian giao thông cho người đi bộ (phần cứng) nên đúng là cần thông thoáng. Tuy nhiên ở Việt Nam và nhiều nước khác, vỉa hè còn mang chức năng phụ không nhỏ thuộc về phần mềm: các chức năng kinh tế (phi chính thức của tiểu thương, hàng rong), văn hóa (như cà phê vỉa hè) và xã hội (nơi giao lưu chòm xóm, bạn bè). Vỉa hè tuy là một không gian hẹp nhưng chứa đựng biết bao thân phận con người. Dẹp phần lấn chiếm của khách sạn, cửa hàng mặt tiền có lẽ chỉ làm họ bớt giàu có. Nhưng dẹp bỏ những người sống bám vỉa hè có thể làm nhiều gia cảnh thêm khốn khó và nhiều đứa trẻ mất cơ hội đến trường hay thêm manh áo mới. Kế nữa, dưới góc độ văn hóa, vỉa hè lộn xộn với tràn ngập các hoạt động sống sẽ hấp dẫn khách du lịch hay tạo nhiều cảm hứng cho các nghệ sĩ hơn nhiều so với một con phố mà vỉa hè trống trơn và sạch tinh không một cọng rác (như trường hợp so sánh vỉa hè Paris hay Rome với Singapore). Do vậy, quản lý đô thị cần phải linh hoạt, tính toán và cân đối nhiều khía cạnh của cuộc sống.  Phần cuối cùng và ít được nhắc tới là phần “tâm” (heartware) – lương tâm, chữ “nhân”, sự thấu cảm (empathy) và vị tha – trong quy hoạch và quản lý đô thị. Ai không khỏi xót xa khi thấy cảnh lực lượng chức năng đi dẹp hàng rong vỉa hè, truy đuổi và tịch thu phương tiện sinh kế? Ai không đau đáu với các vấn đề người vô gia cư, nhà ổ chuột, chợ người lao động vv…trong đô thị? Nhìn chung, quy hoạch và quản lý đô thị ở ta yếu cả về “tâm” (chính là heartware) lẫn về “tầm” (tầm nhìn, tư duy, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm…). Nhưng nếu cầu thị và lắng nghe tiếng nói của các chuyên gia và người dân thì các nhà quản lý sẽ nâng cao cả “tầm” trong chuyên môn lẫn “tâm” trong nhìn nhận các vấn đề xã hội, từ đó thấu hiểu hơn nhu cầu, tâm tư và nguyện vọng của người dân để từ đó có giải pháp phù hợp và nhân văn hơn.  Xin đơn cử một thí dụ về ứng xử của chính quyền ở một thành phố ở Mỹ. Tại đây có hiện tượng các bức tường trên phố bị vẽ graffiti bậy. Trước tình huống đó, lúc đầu chính quyền chọn cách cấm, siết chặt kiểm soát và phạt nặng, nhưng không hiệu quả, vì cứ sơn lại thì đêm nào đó lại có kẻ vẽ trộm tiếp. Sau đó thành phố đã cân nhắc và chọn cách ứng xử khác hẳn. Họ tìm gặp được thủ lĩnh nhóm, tìm hiểu tâm tư và lý do, và phát hiện ra đây là một nhóm thanh thiếu niên rất có tài mỹ thuật và khát khao thể hiện bản thân (self-expression), bản tính của tuổi trẻ. Cuối cùng chính quyền đã cầu thị, mời họ khởi xướng và tham gia vào một vài dự án nghệ thuật cộng đồng, chỉnh trang đô thị và họ vui vẻ nhận lời với thái độ tự hào. Đó là một cách ứng xử trong quản lý đô thị rất thông minh, linh hoạt, đáng để học tập. Câu chuyện này gây liên tưởng tới cách chúng ta ứng xử chống đua xe máy xưa nay. Thay vì truy bắt, giăng bẫy gây tai nạn khiến họ khiếp sợ nhưng cũng thách thức “máu anh hùng”, ta nên xây trường đua để các tài năng điều khiển xe trẻ phát triển như ở nhiều nước đã làm.  Để tận dụng tối đa nguồn lực và “tai mắt” từ người dân, nhiều thành phố tiên tiến trên thế giới đang áp dụng cơ chế phát huy nguồn lực cộng đồng (crowd sourcing), tức là xây dựng một nền tảng (platform) công nghệ để thu thập thông tin phản ánh từ người dân về tình trạng đô thị ở nơi họ sinh sống hoặc đi qua. Sau đó họ làm các chiến dịch quảng bá, khuyến khích người dân tải một ứng dụng chuyên dụng (miễn phí) về điện thoại hoặc máy tính của mình. Khi thấy bất cứ vấn đề gì (hạ tầng hỏng hóc, không gian công cộng bị chiếm dụng, có cãi vã ẩu đả…) thì người sử dụng có thể quay clip, chụp hình, viết phản ánh và gửi về ngay theo các kênh đã được phân loại sẵn trong app. Chính quyền thành phố có bộ phận chuyên trách xử lý thông tin ngay lập tức theo thời gian thực (real-time), rồi chuyển về các phòng chức năng để có biện pháp khắc phục xử lý. Hiện nay ở Việt nam, chúng ta đang rất nỗ lực để bắt kịp các xu hướng mới về ứng dụng công nghệ thông tin trong quy hoạch và quản lý đô thị, điển hình như TP HCM với tầm nhìn hướng tới “đô thị thông minh” (smart city). Tuy nhiên hiện nay chúng ta chủ yếu chỉ dừng ở việc xây dựng đường dây nóng, hình thức sơ khai và hạn chế nhất của crowd sourcing để thu thập phản ánh và góp ý của người dân.  Kinh nghiệm quốc tế  Chúng ta nên tham khảo cách làm quy hoạch và quản lý đô thị của một số thành phố đã được trao Giải thưởng Đô thị Thế giới Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew World City Prize), giải thưởng về đô thị uy tín nhất của Singapore được trao hai năm một lần cho một đô thị trên thế giới có thành tích đổi mới vượt bậc. Thí dụ, năm 2014, giải được trao cho Tô Châu, một thành phố tương đối tương đồng với Việt Nam về văn hóa-xã hội. Tô Châu đã rất thành công trong việc đảm bảo cân bằng mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế nhanh chóng với nhu cầu bảo vệ di sản, giữa đối phó với một lượng lớn lao động nhập cư với duy trì ổn định xã hội. Bí quyết của Tô Châu là đã học tập kinh nghiệm và nhận giúp đỡ từ Singapore trong những năm 1990 ngay từ khi lập quy hoạch tổng thể khu công nghiệp đầu tiên và trung tâm thành phố. Thứ nhất, Tô Châu chuyển dịch kinh tế thành công từ nông nghiệp và sản xuất công nghiệp giá trị thấp sang kinh tế dựa vào dịch vụ và sáng tạo giá trị cao. Thành phố nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo cơ chế đầu tư hấp dẫn, quảng bá quốc tế để thu hút doanh nghiệp toàn cầu tới, lập ra Khu Công Nghiệp Tô Châu và Khu Thương Mại Trung Tâm Kim Kê Hồ (Jinji Lake). Khi thành phố phát triển lên, họ tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng như xây dựng hệ thống xe điện ngầm mới cho thành phố cũng như kết nối khu công nghiệp với trung tâm thành phố và các khu vực phát triển khác. Thứ hai, Tô Châu nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa nên một mặt, thành phố chuyển áp lực phát triển vào khu thương mại hỗn hợp trung tâm, một mặt tiếp tục đầu tư gìn giữ các di sản văn hóa lịch sử. Những khu vực di tích được UNESCO công nhận như khu lịch sử Bình Giang (Pingjiang) đã được bảo tồn các giá trị lịch sử song vẫn phát triển dưới dạng một khu dân cư hấp dẫn cho các cư dân sinh sống. Trong thực thi quy hoạch và quản lý đô thị, Tô Châu được đánh giá cao trong việc nỗ lực cản thiện môi trường sống có lồng ghép các chính sách xã hội tốt để đảm bảo quyền lợi của những người dân bị di dời giải tỏa. Một thí dụ điển hình là khi xây dựng dự án Khu thắng cảnh Thạch Hồ, thành phố phải di dời những hộ nông dân chăn nuôi lợn ra khỏi khu vực hồ sinh thái vì hoạt động này gây ô nhiễm hồ nghiêm trọng. Những người nông dân được di dời, tái định cư trong khoảng thời gian vỏn vẹn bốn tháng với chính sách hấp dẫn “đổi 1 lấy 3”, tức là mỗi nông hộ được cung cấp ba căn hộ ở khu tái định cư để đổi lấy một nông trại mà họ đang sinh sống. Với 3 căn hộ mới này, người dân có thể giữ một căn để ở, một căn để cho con cái và một căn làm tài sản cho thuê tạo sinh kế. Một thành tựu vượt bậc khác nữa của Tô Châu là tạo các chính sách an sinh xã hội rất tốt. Khi phải đối mặt với lượng người nhập cư từ nông thôn đổ xô vào thành phố một cách chóng mặt, Tô Châu đã có những chính sách xã hội rất sáng tạo để thúc đẩy hội nhập cộng đồng. Tất cả những người lao động nhập cư đều được tạo cơ hội tiếp cận với các dịch vụ công như y tế, giáo dục một cách bình đẳng với như những thị dân lâu đời khác, từ đó tạo ra ổn định xã hội lâu dài. Cuối cùng, Tô Châu đã làm rất tốt trong việc duy trì bản sắc văn hóa địa phương, đem lại chất lượng cuộc sống cao cho người dân cũng như thu hút du khách bằng cả giá trị của quá khứ và tương lai. Lãnh đạo thành phố đã cho thấy khả năng cả về “tâm” lẫn “tầm” cũng như quyết tâm chính trị rất cao trong việc phát triển Tô Châu thành một đô thị kiểu mẫu, tạo ra nhiều bài học giá trị cho các khu vực đô thị phát triển nóng ở Trung Quốc cũng như trên trường quốc tế.  ——-   * TS.KTS, chuyên gia quy hoạch đô thị công tác nhiều năm tại Nhật Bản, Singapore và Việt Nam.    Author                Tô Kiên        
__label__tiasang Thiếu ngủ đã trở thành hiện tượng toàn cầu      Hai nhà toán học Daniel Forger và Olivia Walch của trường Đại học Michigan vừa công bố trên tạp chí Science những phát hiện lý thú về thói quen ngủ của người dân ở các nước trên thế giới.      Hai năm trước, Forger và Walch đã thiết kế một ứng dụng smartphone miễn phí có tên ENTRAIN nhằm giúp những người thường xuyên phải đi lại tránh được hiện tượng mệt mỏi bằng cách vạch ra những lịch trình nghỉ ngơi phù hợp với từng người. Ứng dụng này hoạt động dựa trên một mô hình toán học trong đó yêu cầu người sử dụng phải đưa vào những thông tin đầu vào chính xác về địa điểm họ sinh sống, thói quen ngủ nghỉ, thời gian tiếp xúc với ánh sáng hằng ngày,… Sau đó, nhận thấy đây là một trong những cơ sở dữ liệu phong phú và thú vị nhất về giấc ngủ của con người từng được thu thập, hai nhà khoa học đã kêu gọi những người dùng ứng dụng này cho phép họ sử dụng cơ sở dữ liệu đó vào mục đích nghiên cứu. Kết quả, khoảng 10.000 người đến từ 100 quốc gia đã hưởng ứng lời kêu gọi này.   Kết quả nghiên cứu dữ liệu chỉ ra một số mô típ nổi bật. Chẳng hạn, một số quốc gia có nhiều người có thói quen thức đêm trong khi một số quốc gia khác lại có xu hướng ngủ đủ giấc hơn. Những cư dân sống ở Singapore và Nhật Bản có tỉ lệ ngủ ít nhất với thời lượng ngủ trung bình mỗi tối là 7 giờ 24 phút ngủ. Người dân Hà Lan có giấc ngủ dài hơn với thời lượng ngủ trung bình là 8 giờ 12 phút.  Nghiên cứu cho thấy người dân ở nhiều nước trên thế giới đều đang ở vào tình trạng thiếu ngủ, từ đó gia tăng nguy cơ mắc các bệnh như béo phì, tiểu đường, huyết áp cao, đột quỵ và các loại bệnh khác. Sự mệt mỏi do thiếu ngủ gây ra còn khiến con người thực hiện kém hiệu quả các hoạt động liên quan đến thể chất và trí não – đây là lý do tại sao các nhà khoa học ở Mỹ liên tục lên tiếng yêu cầu các trường học mở cửa muộn hơn.  Thói quen ngủ tự nhiên được điều tiết bởi các nhịp điệp sinh học vốn được thiết lập và tái thiết lập bởi chu kỳ ngày – đêm trong tự nhiên do mắt hấp thụ. Theo nghiên cứu của Forger và Walch, những người dành nhiều thời gian ở bên ngoài dưới ánh sáng tự nhiên có xu hướng đi ngủ sớm hơn và ngủ nhiều hơn những người dành hầu hết thời gian ở dưới ánh sáng nhân tạo.   Từ những kết quả này, Forger đặt ra một giả thiết thú vị: “Chúng tôi thấy rằng không phải thời gian tỉnh giấc mà thời gian lên giường đi ngủ mới là chỉ số chính xác cho thấy con người ngủ nhiều hơn hay ít hơn. Vì thế, lý do khiến người dân ở một số nước ngủ ít hơn là vì họ lên giường muộn hơn chứ không phải do họ tỉnh giấc sớm hơn người dân các nước khác.” Do vậy, thời gian ngủ có thể bị đẩy lùi bởi những tác động xã hội, chẳng hạn như làm việc muộn hay đi chơi với bạn bè/đồng nghiệp, trong khi thời gian tỉnh giấc lại chịu ảnh hưởng lớn từ các tác nhân sinh học.       Đức Phát dịch  http://www.smithsonianmag.com/science-nature/smartphone-study-uncovers-why-so-much-world-short-sleep-180959023/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thổ Nhĩ Kỳ “thanh trừng” các trường đại học sau cuộc đảo chính bất thành      Sau cuộc đảo chính thất bại ngày 15/7 vừa qua, tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan đã liên tiếp đưa ra những biện pháp mạnh tay nhằm kiểm soát tình trạng chống đối chính trị, bao gồm những cuộc thanh lọc nhân sự trong các ngành quân đội, tư pháp, cảnh sát, và mới đây nhất, 1.577 lãnh đạo các phân ban của các trường đại học trên cả nước đã nhận được yêu cầu từ chức.    Người ủng hộ tổng thống Erdoğan giương cờ trước một poster điện tử trong cuộc mít tinh tại thủ đô AnkaraTheo thông tin từ các nhà khoa học, có thể nhiều người trong số này sẽ được phục chức sau đó, nhưng động thái hiện tại là nhằm giúp cho tổng thống Erdoğan có thể duy trì được sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị trong lĩnh vực giáo dục.  Trong một cuộc họp khẩn cấp vào ngày 18/7 với 165 hiệu trưởng đại học tại Ankara, Hội đồng Giáo dục Đại học Thổ Nhĩ Kỳ (YÖK) đã yêu cầu các hiệu trưởng liệt kê danh tính của các viện sĩ/quản lý có mối liên hệ với phong trào Gülen – một tổ chức tôn giáo và xã hội đang bị nghi ngờ đứng đằng sau vụ đảo chính – và khai trừ những người này khỏi đơn vị của mình. Đại học Istanbul ngay lập tức đình chỉ công việc của 95 người. Có 28 hiệu trưởng không được mời tới phiên họp, bởi YÖK khẳng định các trường của 28 hiệu trưởng này đang bị tình nghi là ủng hộ Gülen, và một số trường trong đó sẽ bị nhà nước tiếp quản.  Tại cấp phổ thông, khoảng 15.000 giáo viên đã bị đình chỉ dạy để điều tra, và 20.000 giáo viên khác đã bị tước giấy phép giảng dạy.  Ngày 19/7, Hiệp hội Đại học châu Âu (EUA) tại Brussels đã ra một thông báo lên án động thái ép lãnh đạo các trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ từ chức. Ông Rolf Tarrach, Chủ tịch Hiệp hội, nêu quan điểm: “EUA kêu gọi các chính phủ, các trường đại học và các học giả trên toàn châu Âu lên tiếng phản đối những diễn biến này và bảo vệ nền dân chủ ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó có quyền tự trị cho các học viện và quyền tự do học thuật cho các học giả và sinh viên.”  Chi Nhân dịch theo Nature    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thờ sự thật      Sự thật là một điều không dễ dàng tìm cho ra, cho nên con người phải phát triển khoa học, phát triển công nghệ trên mọi lĩnh vực.  Thờ sự thật, lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Đó là vấn đề của một nền văn hóa: nền văn hóa ấy có coi việc phải cố gắng đi đến sự thật là mục đích tối thượng của tinh thần? Hay là không?    “Vừa lòng nhau”    “Túi khôn” của văn hóa dân gian Việt hướng dẫn:   “Lời nói không mất tiền mua  Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”     Túi khôn này bày ra cả một thực tế đời sống ngồn ngộn của mỗi người Việt. Dẫu rằng vẫn có mặt bên kia của túi khôn dân gian, “thuốc đắng dã tật”, nhưng túi khôn ấy cũng đã kèm theo ngay lời phân bua”sự thật mất lòng”.      Tại sao con người thích thờ “vừa lòng nhau”?  Vì, đó là thờ tình cảm, điều dễ nhất.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải suy nghĩ nhiều.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải khó khăn đi tìm sự thật.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải khó khăn để nghe cho tới lúc hiểu ra được sự thật.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải chịu đựng việc nghe cho thủng ra những sự thật bất lợi cho chính mình.  Thờ tình cảm cho người ta sự thỏa mãn tức thì.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải xây dựng cho được tư duy duy lý.  Thờ tình cảm không buộc người ta phải cố gắng tổng hợp được các sự thật đã tìm được thành ra một bức tranh khả dĩ hợp lý.  Thờ tình cảm dễ dàng tạo hiệu ứng đám đông.  Thờ tình cảm dễ dàng khai thác các tập tục cổ truyền sẵn có rồi.  Thờ tình cảm nhanh chóng chiếm đoạt được quyền lực, quyền lực của tình cảm, rồi của yêu ma, của thần thánh, và rốt cục, quyền lực trần tụccủa cộng đồng.      Cơn xoáy lốc quẩn của “vừa lòng nhau”     Khi các cố gắng của một cộng đồng chỉ xoay quanh việc tranh đoạt sự “vừa lòng nhau”, nó tạo lên một vòng xoáy lốc “văn hóa” mà cộng đồng ấy bị chìm vào trong, không làm sao tự thoát ra được: mỗi thành viên đều vừa là nạn nhân, vừa là tác giả. “Vừa lòng nhau” trở thành tâm điểm của cơn xoáy lốc thường hằng của “văn hóa”, cơn xoáy lốc này chứa đựng ít ra những thành tố đặc trưng như sau.     – Thờ quyền lực trực tiếp, quyền lực của người trị người trực tiếp. Tinh thần cộng đồng không đi tìm một điểm tựa nào khác ngoài cái hiện trạng “vừa lòng nhau” kết đọng mong manh ở mỗi thời điểm nhất định.     – Đạo “đối nhân xử thế”. Thoạt nghe, đạo này mang vẻ rất hấp dẫn, mang tính “nghệ thuật”, “nhân văn”. Nhưng thực chất nó chỉ là thứ “tương quan lực lượng”, “ai thắng ai” giữa các đối tác vào mỗi thời điểm nhất định. Hành xử xã hội trở nên một thứ nguyên tắc của vô nguyên tắc, mở đường cho bạo lực muôn dạng, trải từ dạng “tinh tế” kín đáo, cho tới dạng “thô bạo” thách đố. Dẫu như có luật lệ chăng nữa, luật lệ ấy cũng sẽ chỉ có được tính trang trí, nằm gọn trong tay của kẻ đang mạnh hơn, kẻ đang tạm có được nhiều “vừa lòng nhau” hơn, cái cũng đã từng được gọi là “pháp trị” (trị bằng luật hình) từ thời Trung Hoa cổ đại, cái đã được nhận dạng bằng thuật ngữ “rule by law”. Quyền lực của “pháp trị” là cái roi nằm trong tay của người đang thắng thế, đang thống trị. Điều này khác hoàn toàn với tư tưởng “pháp quyền” nơi mà các quyền lực cá nhân và các quyền lực công cộng được dần dà khách thể hóa ra bên ngoài, được thượng tôn, và mọi người của cộng đồng đều vừa có được các quyền phổ quát được công nhận, vừa phải khép mình bình đẳng bên dưới hệ thống luật pháp đã được đồng thuận ấy (rule of law).      – “Tự do cá nhân” dưới dạng thức tích cực, dạng khẳng định không thể tồn tại được, vì không có điểm tựa. “Tự do cá nhân” chỉ còn là dạng thức tiêu cực, tự phủ định, được vẽ lên như cắt tóc đi tu, trốn vào núirừng ở ẩn, treo ấn từ quan thả thuyền mất tích, được tô lên thành những đạo Lão, đạo Trang.      – “Cộng đồng dân chủ” của các cá nhân tự do vì thế cũng không thể hình thành.      – “Đạo vòng” sẽ trở thành nghệ thuật làm biến dạng vòng vèo mọi quy cách, để rốt cục thực thi sức mạnh của kẻ mạnh hơn.     Nan đề của cơn xoáy lốc quẩn này là không thể có được các tiến hóa căn bản của đời sống, nó là một con rắn cắn đuôi bất chấp thời gian.     Nếu các thành viên của một cộng đồng một hôm quyết định với nhau, rằng “vừa lòng nhau” tuy có những cái hay thật, tình cảm thật, được việc tức thì thật, thỉnh thoảng có lợi thật… nhưng thôi, không thể sống luẩn quẩn mãi trong cơn xoáylốc kéo dài hàng ngàn năm ấy nữa… thì họ phải thảo luận… thật… với nhau. Tôi tin rằng chỉ có một lối ra, dứt khoát, duy nhất, là chuyển sang “đạo thờ sự thật”.      Đường “thờ sự thật”     Sự thật khó khăn, nhưng “thờ sự thật” sẽ cho phép con người ngày càng vứt bỏ đi được những của nả gây nhiễu loạn đời sống, dựng dần lên được những rường cột căn bản, để ngày càng ổn định đời sống, và đi lên vững chãi. Vì vậy công việc đầu tiên của “thờ sự thật” là con người không lao vào môn cố tình bịa đặt, mặc dù biết rằng mình có thể nhầm lẫn trong nhận thức.     Thờ sự thật hướng con người đến sự chân thật. Giải tỏa các tư liệu lịch sử chẳng hạn, phải trở thành công việc tự nhiên, và bức thiết của cộng đồng. Phải dựng đạo luật, sau mỗi khoảng thời gian, ví dụ 40 năm hay 50 năm, tất cả các tư liệu phải được công bố tự do, được nghiên cứu tự do. Lịch sử không thể nửa kín nửa hở nửa thần thoại mãi mãi đối với một cộng đồng thờ sự thật.  Con người phải được giải phóng khỏi sự sợ hãi tập tục, khỏi “đạo vừa lòng nhau”, mà vẫn giữ được sự nhã nhặn. Xã hội đang vận hành như thế nào, phải được tự do nghiên cứu, công bố, thảo luận. Các khảo sát xã hội học tường tận phải được thúc đẩy, được trân trọng. Chỉ từ đó mới dựng lại được bộ mặt ngày càng thật của xã hội. Có sự thật ấy, mới mong đến sự sắp xếp, chỉnh đốn, rồi cải cách.     Con người phải thay đổi được thái độ đối với hiện thực qua tinh thần “thờ sự thật”. Nghĩa là “sự thật” không phải là một thứ vũ khí để tranh nhau thắng thua, để ra đòn trừng phạt nhau. Con người phải học tập để giữ được một thái độ bình thản, từ tốn, có khoảng cách đối với “hiện thực”, với “sự thật” được nhận thấy, để ngày càng tiến đến gần hơn và toàn diện hơn về phía sự thật đang vận động, và từ đó, từ tốn xử lý, cải cách đời sống của mình qua các qui trình trật tự, an nhiên.     Những điều thuộc về văn hóa mà chúng ta nói đến ở đây trước hết phải bắt đầu ngay từ những tế bào đơn giản nhất của xã hội. Từ việc đồng tiền của một gia đình nằm rõ ra từng khoản, khoản để đi chợ, khoản tiền điện nước, khoản để càfé bia bọt, không có nạn “ăn gian” khoản này sang khoản kia ngay từ trong nhà. Từ việc tất cả các bậc cha mẹ có thể và cần phải chống lại nạn học hành thi cử khuất tất đè nén lên trẻ em suốt tuổi thơ từ bao nhiêu năm nay. Từ việc đi ra đường phải chờ đèn xanh đèn đỏ ở ngã tư đường, vi phạm sẽ bị chụp ảnh gửi hóa đơn về nhà,thể theo biển số đăng kí. Từ các đòi hỏi phải tạo áp lực dựng lên một hệ thống y tế dù còn nghèo nhưng sạch sẽ, tử tế, chưa có nhà gạch thì dựng nhà lá lên… Các áp lực ấy chỉ giản đơn từ cái tinh thần “thờ sự thật”, tôi quyết không đi vòng quanh cái cối xay mãi để phí hoại cả cuộc đời mình. Các áp lực ấy sẽ làm xã hội tổng thể phải tìm ra giải pháp.      Còn bao nhiêu điều phải nói, và đáng nói tiếp… Nhưng, chúng ta đã cảm nhận quá rõ điều đau đớn và bất lực vô cùng dài lâu khi mà sự thật chưa phải là cái căn bản được một nền văn hóa của chúng ta hiện nay thờ phượng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thỏ và Rùa hay Mèo và Chuột      Thỏ chạy nhanh hơn rùa, thắng rùa ở khía cạnh tài năng, song lại thua rùa ở sự bền bỉ, dẻo dai – khía cạnh đạo đức. Mèo tài năng vượt trội hơn chuột nhưng luôn bị thất bại về chung cuộc. Giống như nhiều tài năng tỏa sáng tại cuộc thi nhưng lu mờ trong cuộc đời.      Con giáp đặc biệt  Trong 12 địa chi, mão tương ứng với hai con vật mèo và thỏ ở hai nền văn hóa Việt Nam – Trung Quốc. Tại sao trong 12 con giáp có đến 11 con tương đồng, chỉ có một con là mèo ở Việt Nam và thỏ ở Trung Quốc? Theo cách lý giải kiểu trực quan sinh động, mèo là con vật gần gũi, thân thuộc với người dân Việt Nam, còn thỏ thì xa lạ!? Thực tế, mèo cũng gần gũi, thân thuộc đối với người Trung Quốc. Còn rồng vốn chỉ có trong tưởng tượng, nhưng đều thống nhất ở cả hai nền văn hóa này. Rõ ràng, đó là sự lựa chọn của văn hóa chứ không phải ý muốn chủ quan.   Theo truyền thuyết, cuộc thi 12 con giáp có danh sách phong thần cho Thỏ. Ở Việt Nam tuồng như chẳng có câu chuyện thi thố tương tự. Điểm đáng lưu ý ở đây là, mèo và thỏ có nhiều lý do để chuyển hóa, đánh đồng và nhầm lẫn với nhau.   Như chúng ta biết, ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa vào thời kỳ Bắc thuộc chủ yếu trên phương diện quan phương; còn xét ở bình diện văn hóa bình dân, chúng ta chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hoa Nam do quá trình cộng cư lâu dài giữa các tộc người cùng sinh sống ở đây. Đến nay, văn hóa phương Bắc đọng lại trong văn hóa bản địa vẫn chủ yếu là văn hóa Hoa Nam. Trong khu vực Hoa Nam, văn hóa Quảng Đông, cùng với tiếng Quảng Đông hết sức phổ biến, tới mức từng nằm trong danh sách lựa chọn ngôn ngữ quan phương của Trung Quốc, chỉ kém tiếng Phổ thông hiện nay vài lá phiếu sau cuộc bình chọn của Quốc hội nước này.   Bộ phận ngôn ngữ Hán – Việt của nước ta đa số có vận, thanh tương ứng với tiếng Quảng Đông, chưa kể rất nhiều từ tưởng là thuần Việt như mùi, úng, kẹp, nhá, gì, chắp… cũng gần gũi với tiếng Quảng Đông. Người Quảng Đông đọc chữ “Mão” là “máo” giống từ “máo” là mèo. Còn theo âm Phổ thông Trung Quốc, “Mão” và “Miêu – mèo” chỉ khác nhau về dấu giọng (tự điệu), còn vận mẫu “ao” và thanh mẫu “m”đều thống nhất với nhau (mao). Chưa kể, âm “mão” cũng tương ứng với “máo”, “mao”, “meo”… phỏng theo tiếng kêu của loài mèo. Sự khế hợp này phải chăng chính là nhân tố tạo nên sự đồng nhất giữa Mão – Mèo, chứ không phải Mão – Thỏ (thâu – thố)?                  Cho tới thời điểm hiện tại, người ta vẫn chưa thể xác định chính xác thời điểm ra đời của 12 con giáp. Chỉ biết rằng vào thời kỳ cổ đại, khu vực Trung Nguyên nước Trung Quốc đã sử dụng “Thiên can địa chi” để tính năm. Còn những tộc người thiểu số ở phía Tây Bắc (Trung Quốc) thì dùng động vật để tính năm. Thời kỳ Tây Hán, 12 con giáp được sử dụng chung với 12 địa chi trong Âm – Dương, Ngũ hành. Nó là kết quả của quá trình giao thoa văn hóa giữa khu vực Trung Nguyên và các tộc người thiểu số phía Tây Bắc (Trung Quốc). Sau này cả hai cách tính trên hợp nhất làm một và trở thành 12 con giáp bây giờ, có nghĩa là Tý tương đương với Chuột, Sửu với Trâu, Dần với Hổ, Mão với Thỏ… Rồi từ 12 thuộc tướng này lại tiếp tục kết hợp với Thập thiên can và những thuộc tính khác nhau trong Ngũ hành, như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để biện giải về Túc mệnh và vận thế…  Hai mặt của một hình tượng   Chúng ta đều biết câu chuyện chạy đua giữa rùa và thỏ. Mèo cũng vậy. Trong bộ phim hoạt hình nổi tiếng thế giới “Tom and Jerry”, mèo thông minh, lanh lợi, tài năng cái thế, ấy vậy mà luôn bị con chuột nhãi ranh chơi hết vố này đến vố khác. Trong đời, mèo thắng chuột là lẽ đương nhiên, thế nên mới ra bi kịch. Còn trong phim ảnh, chuột thắng mèo đâm trở thành hài kịch. Bi hài kịch trong hai nhân vật thỏ và mèo đều giống nhau ở cái điểm: anh hùng trong bi kịch và kẻ thất bại trong hài kịch. Mèo, thỏ vốn đều là những con vật thông minh, lanh lợi, tài ba xuất chúng, chiếm ưu thế trong mọi cuộc thi, nhưng chỉ vì khinh suất nên rốt cuộc bị thua.   Thế mới hay, tài năng đến mấy mà vô đạo sẽ bị người đời ghét. Tất nhiên sống ở đời không thể làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng gây thù chuốc oán, tạo ra nhiều kẻ địch, vô hình trung tự tạo cho mình chướng ngại. Tài năng không phải ai cũng có, nhưng có những cái tài có thể học được, còn đức hạnh nằm ở quá trình tu dưỡng, cảnh giới tối thượng của việc học và kết quả của nó bao giờ cũng bao hàm tính chất định tính – chất lượng của việc học và phẩm chất ở người học. Tài năng trang sức cho bản thân, còn đạo đức là việc thực hành đối với tha nhân. Nói cách khác, lòng tốt của chúng ta chỉ tồn tại dưới dạng thể dụng, đem ra sử dụng thì mới tồn tại.   Trong nhiều trường hợp, tài năng của con người phát lộ một cách dễ thấy, trong khi đức hạnh lặng lẽ tỏa sáng. Thỏ chạy nhanh hơn rùa, thắng rùa ở khía cạnh tài năng, song lại thua rùa ở sự bền bỉ, dẻo dai- khía cạnh đạo đức. Mèo tài năng vượt trội hơn chuột nhưng luôn bị thất bại về chung cuộc. Giống như nhiều tài năng tỏa sáng tại cuộc thi nhưng lu mờ trong cuộc đời. Đức hạnh luôn được quy chiếu bởi những quá trình. Tài năng có khi chỉ cần một phút huy hoàng.        Xã hội hiện đại đang nỗ lực tìm đến sự phát triển ổn định, bền vững. Giá trị bền vững không thể tồn tại theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”, vì phàm cái gì bạo phát sẽ đi tới bạo tàn. Nó có thể là con đường đi của một tài năng xuất chúng, nhưng không thể là giá trị đạo đức của một quá trình lâu dài nhằm vươn tới sự ổn định và bền vững. Công đức phải tích lũy bằng cả cuộc đời.           Xã hội hiện đại đang nỗ lực tìm đến sự phát triển ổn định, bền vững. Giá trị bền vững không thể tồn tại theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”, vì phàm cái gì bạo phát sẽ đi tới bạo tàn. Nó có thể là con đường đi của một tài năng xuất chúng, nhưng không thể là giá trị đạo đức của một quá trình lâu dài nhằm vươn tới sự ổn định và bền vững. Công đức phải tích lũy bằng cả cuộc đời.   Phát triển bền vững không chỉ dựa trên nền tảng của sự kiện toàn về thể chế, thiết chế văn hóa, cùng hệ thống pháp luật, mà còn phải thiết lập trên những giá trị đạo đức cá thể, một dạng thức tự lập pháp đối với mỗi cá nhân. Bài học rút ra từ cuộc thi giữa rùa và thỏ, mèo và chuột ngõ hầu đem đến cho chúng ta có cái nhìn xác thực hơn về tiến trình đi đến cái đích bền vững. Vốn được mệnh danh là một quốc gia có giá trị văn hóa hiếu học, chúng ta không thể cứ mong muốn con em mình học một cách thục mạng theo kiểu thỏ, cũng không thể ê chề lê lết mãi hành trang nặng nề trên lưng như rùa. Thỏ hay rùa, mèo hay chuột vốn chẳng hề mâu thuẫn nhau, nếu nhìn thấu bản thể “vô phân biệt” thì muôn loài đều là Một. Chúng đều có thể trở thành thầy ta vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thỏa ước có ý nghĩa dấu mốc lịch sử      Khi chiếc búa chủ tọa gõ xuống lần cuối cùng tại Hội nghị Thượng đỉnh Paris hôm 12/12, cử tọa gồm đại diện từ 195 quốc gia bùng nổ trong tiếng chia vui.    Họ đã thống nhất được một kế hoạch có ý nghĩa lịch sử trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu sau hai tuần đàm phán, với kết luận là sẽ cắt giảm khí thải nhà kính, bảo vệ các vùng đất thấp trước vấn nạn nước biển dâng, và giúp các quốc gia đói nghèo phát triển kinh tế mà không phải dựa vào nhiên liệu gốc hóa thạch rẻ tiền gây ô nhiễm.  Các bên cũng đồng ý sẽ cố gắng giữ mức tăng nhiệt độ Trái đất dưới 2 °C so với nhiệt độ thời kỳ trước cách mạng công nghiệp. 32 trang thỏa thuận chứa nhiều điều khoản đầy tham vọng nhằm thúc đẩy thế giới chuyển dịch từ sử dụng nhiên liệu gốc hóa thạch sang năng lượng Mặt trời, gió, hạt nhân, thuỷ điện, và các nguồn năng lượng sạch khác.  Các quốc gia sẽ có trách nhiệm đánh giá tiến trình cắt giảm khí thải của mình vào năm 2018, sau đó kể từ năm 2010, cứ năm năm một lần họ phải tái cam kết cắt giảm khí thải, với mục tiêu là cam kết sau sẽ quyết liệt hơn cam kết trước.  Để đảm bảo các quốc gia giữ đúng như cam kết, thỏa ước lần này xây dựng một hệ thống đo lường, báo cáo, và kiểm chứng mức khí thải, trong đó cho phép một sự linh hoạt nhất định cho những quốc gia năng lực thấp hơn. Kế hoạch cũng cho phép có thẩm định kỹ thuật độc lập, và tất cả các quốc gia, ngoại trừ những nước nhỏ và nghèo nhất, đều phải báo cáo mức khí thải của mình hai năm một lần. Tuy nhiên, thỏa ước cũng cho phép nhiều chi tiết được tiếp tục bàn thảo trong các cuộc hội đàm trong năm 2016 về ứng phó biến đổi khí hậu.  Thỏa ước Paris chỉ mới đề xuất mà chưa có điều khoản bắt buộc các nước giàu tăng hỗ trợ chống biến đổi khí hậu cho các nước nghèo vượt mức cam kết hiện nay khoảng 100 tỷ USD/năm từ năm 2020. Thỏa ước cũng chỉ mới thành công trong thừa nhận rằng một số quốc gia đang chịu thiệt hại từ nước biển dâng, tăng cường bão, và những tác hại khác của biến đổi khí hậu, mà chưa cho phép họ được đòi đền bù thiệt hại từ những nước giàu có, phát thải nhiều.  Dẫu sao thì những kết quả đạt được tại thỏa ước Paris cũng là nhờ những nỗ lực không mệt mỏi của các nhà đàm phán những năm qua, bắt đầu từ Rio de Janero năm 1992 và 20 cuộc họp thường niên tiếp theo. Đến năm nay các đại diện mới có thể đặt chân tới Paris với cam kết từ 187 quốc gia, trong đó xác định một lộ trình cắt giảm khí thải từ năm 2030. Đó là những cam kết mạnh mẽ nhất có được từ trước đến nay, mặc dù nhiều cam kết ràng buộc theo những điều kiện, như hỗ trợ tài chính để xây dựng các nhà máy điện, bảo tồn rừng, hay thay đổi cách sinh hoạt có hại của các cộng đồng dân cư. Và dù tất cả các nước thực hiện đúng theo các cam kết họ đưa ra, thì thế giới sẽ tiếp tục tăng thêm 2,7°C từ năm 2100, nghĩa là vẫn đẩy thế giới vào sâu trong khu vực nguy hiểm, với những thảm họa to lớn, không đảo ngược được do biến đổi khí hậu.   Thành công của thỏa ước Paris là buộc các quốc gia phải cam kết ở mức cao hơn, để mức tăng nhiệt độ chỉ trong khoảng từ 2 °C trở xuống, thậm chí theo đuổi mức tăng thấp hơn, chỉ 1,5 °C. Lưu ý rằng ở hiện tại, thế giới vốn đã tăng 1°C so với khi bắt đầu cách mạng công nghiệp.           Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) kết luận rằng để đảm bảo mục tiêu tăng nhiệt độ dưới 2°C, các quốc gia phải cắt giảm khí thải 40-70% so với mức năm 2020 từ năm 2050; còn để đạt mức tăng 1,5oC đòi hỏi mức cắt giảm phải khoảng 70-95% từ năm 2050. Thỏa ước Paris đã yêu cầu IPCC nghiên cứu các kịch bản về giới hạn tăng nhiệt độ trong khoảng 1,5 °C và có báo cáo cho các quốc gia vào năm 2018 để giúp họ xác định mức cam kết gia tăng cần thiết.           Thanh Xuân lược dịch theo Nature       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thoái trào của chính trị căn tính      Do áp lực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, những bức xúc vì sự bất bình đẳng của các nhóm căn tính khác nhau trong xã hội phải tạm nhường chỗ cho những vấn đề kinh tế tỏ ra còn nghiêm trọng hơn. Giới quan sát đã nói tới giai đoạn thoái trào của chính trị căn tính.    Thời kỳ đỉnh cao    Chính trị căn tính đạt được những thành tựu đáng kể ở phương Tây từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đặc biệt là những thập niên cuối thế kỷ trước. Đó là nền chính trị đặt mục tiêu đấu tranh vì công bằng, tiến bộ xã hội và quyền lợi cho các nhóm có căn tính khác nhau, cũng như vì căn tính chung của cộng đồng, quốc gia.  Bức tranh chính trị toàn cầu được tạo cảm hứng từ những phong trào xã hội rộng khắp như bình đẳng giới; chống phân biệt chủng tộc; chống kỳ thị đối với các nhóm thiểu số, yếm thế. Đầu những năm 1970, phong trào đấu tranh của người đồng tính ở Mỹ còn mượn tên Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam (National Liberation Front) để đặt cho cuộc cách mạng của họ (Gay Liberation Front).  Đến đầu thập niên 1990, những tác động của cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất đối với kinh tế Mỹ đã giúp đưa Bill Clinton lên làm Tổng thống. Tuy nhiên, lúc bấy giờ cử tri Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung vẫn quan tâm hàng đầu đến những vấn đề thuộc về căn tính. Họ mong muốn nhìn thấy lãnh đạo có thể, hay ít nhất là tỏ ra có thể, đại diện và có tầm nhìn tích cực đối với quyền lợi của nhóm căn tính mà họ thuộc về. Những chủ đề về căn tính như sex, sắc tộc, giới… bởi vậy được các chính trị gia phương Tây đưa vào nghị trình tranh cử như một thủ thuật để lấy lòng cử tri.  Đỉnh cao của chính trị căn tính chính là thắng lợi của ông Obama mà bản thân ông cũng là ‘một căn tính’ đặc biệt bởi màu da của mình, gợi cảm hứng và hy vọng thay đổi cho các sắc tộc thiểu số phi Âu-Mỹ, như khẩu hiệu ‘Change’ trong chiến dịch tranh cử Tổng thống của ông.   Thoái trào  Nhưng giờ đây mọi sự đã khác trước. Những cảm hứng căn tính dường như đi xuống sau khi lên đỉnh với biểu tượng Obama. Không nói tới những thành công và thất bại trong hai nhiệm kỳ vừa qua, cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài là một nhãn tiền. Đòi hỏi cải thiện công bằng xã hội về căn tính phải tạm nhường chỗ cho những bất bình đẳng kinh tế tỏ ra còn nặng nề hơn. Các phong trào xã hội với ngọn cờ kinh tế nổ ra, điển hình là Tea Party (Tiệc trà)1, Occupy Wall Street (Chiếm phố Wall)2.  Trong khi đó, phong trào của các nhóm thiểu số ngày càng trở nên phân tán, khánh kiệt tư tưởng và những thông điệp của họ hoặc là bị nhào nặn, bóp méo, hoặc đã trở nên bão hòa, lạc lõng trên truyền thông thời buổi thóc cao gạo kém.  Thăm dò của Huffington Post hồi tháng trước nhân bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ cho thấy có đến 56% cử tri lựa chọn ‘kinh tế’ là một trong hai vấn đề họ quan tâm nhất. Con số này bỏ xa các vấn đề khác như y tế, nhập cư, chính sách đối ngoại và chống khủng bố. Đứng gần cuối danh sách được quan tâm là các chủ đề bình đẳng giới hay môi trường. Đảng Cộng hòa có vẻ như đã chớp được thời cơ khi thống kê cho thấy những thông điệp về kinh tế trong chiến dịch tuyên truyền của đảng này được cử tri ghi nhận với tỉ lệ cao nhất.  Ngoài áp lực kinh tế, theo nhận định của giới quan sát, cử tri ngày nay cũng không còn đặt niềm tin và trao gửi sứ mệnh đấu tranh vì căn tính của họ cho các vị nguyên thủ.   Đường vòng không lối vào  Một bộ phim tài liệu về giới mở đầu bằng cảnh một đứa trẻ vừa được sinh ra. Người mẹ sau cơn đau ráng gượng dậy hỏi: Con tôi là trai hay gái? Ông bác sỹ nửa đùa nửa thật: Thưa bà, chuyện đó còn quá sớm để nói!  Giới (gender) nói riêng, và căn tính (identity) nói chung, không phải là cái ‘tự nhiên’, nó là kiến tạo về mặt xã hội. Quá trình kiến tạo này quy định các cá nhân vào những nhóm căn tính khác nhau, với những đặc trưng gắn liền với nhóm, và bản thân cá nhân cũng tự nhận diện mình theo đó. Ví dụ, đi liền với các phạm trù người da đen, phụ nữ, đồng tính, chuyển giới, người nhập cư, người khuyết tật, người nghèo luôn là những đặc trưng căn tính mà xã hội và truyền thông gán ghép.  Vấn đề chính nằm ở chỗ này. Bản thân chính trị căn tính cũng bộc lộ mặt trái như là một thuộc tính của nó. Trước hết, phong trào của các nhóm luôn có tính đơn diện (one-sided), khiến cho nó có nguy cơ dẫn đến sự cực đoan căn tính và thu hẹp tầm nhìn trong phạm vi nhóm.   Một ví dụ gần nhất là việc nữ diễn viên Rose McGowan lên tiếng phê phán rằng phong trào đòi bình đẳng cho phụ nữ không thể trông cậy vào đồng tính nam như một đồng minh vì họ ‘chỉ lo cho bản thân và thù ghét phụ nữ’.  Mặt khác, các phong trào chỉ nhằm đòi quyền cho căn tính của nhóm chứ không phải là giải phóng cá nhân khỏi đặc trưng căn tính mà họ bị quy vào.  Như một lối đi vòng, cá nhân sinh ra, lớn lên, được hoặc tự nhận diện mình trong một nhóm căn tính nhất định và phó thác tính đại diện (agency) của bản thân cho nhóm. Điều này cản trở cá nhân tham gia trực tiếp vào tổng thể xã hội bằng việc thoát ly khỏi địa vị căn tính của họ.  Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến cuộc đấu tranh của các nhóm thiểu số như đồng tính, song tính, chuyển giới chẳng hạn, để đưa được chủ đề của họ vào truyền thông dòng chính. Song, việc giành được sự diễn dịch này, nếu có, lại tiếp tục phơi bày tình trạng bên lề của họ trong mối quan hệ với cái đa số.  Xu hướng tất yếu của các nhóm thiểu số, do đó, là ‘di cư lên mạng’ – phương tiện truyền thông cá nhân hóa tối đa người dùng – như là một sự quay lưng lại với chính trị căn tính và các trào lưu xã hội kiểu cũ. Đây lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.         Thuật  ngữ ‘chính trị căn tính’ (politics of identity) xuất hiện chính thức  vào năm 1977, trong bản tuyên ngôn của nhóm Combahee River Collective,  một tổ chức nữ quyền da màu ở Boston, Mỹ. Họ nhấn mạnh: “Tuyên ngôn  chính trị quan trọng nhất của chúng ta thời kỳ này là cam kết mạnh mẽ  đấu tranh chống lại sự phân biệt chủng tộc, giới, giới tính và bóc lột  giai cấp và coi đó như sứ mệnh đặc thù của chúng ta…”. Năm 1979, thuật  ngữ lần đầu được sử dụng trong giới học thuật, với nghiên cứu của Renee  R. Anspach (Đại học Michigan, Mỹ) về phong trào chính trị của người  khuyết tật và những cựu bệnh nhân tâm lý.               Phong trào chính trị nở rộ  trong xã hội phương Tây, đặc biệt là Mỹ, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa  kiến tạo (constructivism) của những người cánh tả. Chịu ảnh hưởng của  học thuyết Marxism về đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản, chính  trị căn tính đặt trọng tâm là cuộc đấu tranh của các nhóm thiểu số, yếm  thế, bị áp bức trong xã hội, chống lại sự bất bình đẳng và sự thống trị  về mặt căn tính, tư tưởng của các nhóm đa số, được ưu tiên. Chính trị  căn tính sau này được mở rộng ra cùng với những phong trào có quy mô  toàn cầu như nữ quyền, đồng tính, sắc tộc…, và kể cả những phong trào  đấu tranh vì căn tính quốc gia/dân tộc trước sức ép của toàn cầu hóa.            ———-  1 Phong trào chính trị ở Mỹ kêu gọi cắt giảm nợ công quốc gia và ngân sách liên bang thông qua giảm chi phí công và thuế, đến nay đã kéo dài được hơn năm năm.  2 Phong trào biểu tình phản đối giới tài chính ngân hàng được cho là thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và nạn thất nghiệp trầm trọng. Cuộc biểu tình bắt đầu ở New York sau đó lan ra các thành phố lớn trên toàn nước Mỹ, và nhiều nước trên thế giới.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời báo châu Á tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp      Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên, Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các “Anh hùng châu Á”, tôn vinh các nhân vật nổi tiếng làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây. Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Việt Nam)…    Tạp chí đã dành một bài viết dài ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bài báo viết, nhờ tài cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân đội Việt Nam đã chiến thắng lẫy lừng trong chiến dịch quân sự kéo dài 56 ngày đêm và tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của thực dân Pháp năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam.  Bài báo đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi đầu tiên của một lực lượng kháng chiến châu Á đánh thắng quân đội thực dân trong một trận chiến quy mô và làm tiêu tan huyền thoại về sự vô địch của phương Tây thời đó.  Năm 1968, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại là người chỉ đạo làm nên chiến thắng mang đậm tính anh hùng của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân.  Ở tuổi 95, trong bộ quân phục quen thuộc, Đại tướng đã bác bỏ nhận định rằng những chiến thắng quân sự trên đã khiến ông trở thành một người anh hùng. Ông nhấn mạnh “chính dân tộc Việt Nam với tinh thần yêu nước mới là người có thể làm nên những điều phi thường”.  (Theo TTXVN)  ——–  Ảnh trên: Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên tạp chí Time năm 1972.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời di động      Chiếc điện thoại di động nhỏ bé thật nhưng lại có thể làm nên cả một thời đại. Tạm gọi là thời di động.  Đây là thời đại của sự gắn kết. Nếu bản thân bạn đã là một thứ “tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”, thì chiếc di động còn gắn bạn với rất nhiều những “tổng hòa” như vậy nữa. Và các mối quan hệ này khi thì rung bần bật, khi thì kêu ầm cả lên. Cái hay của sự gắn kết không chỉ nằm ở chỗ tiện lợi, mà còn ở chỗ thường xuyên. Mặc dù, như vậy, thì cũng có cái lợi, mà cũng có cái không lợi.         Về cái có lợi, bạn dễ giữ gìn được các mối quan hệ của mình. Chuyện “xa mặt, cách lòng” đã trở thành chuyện của ngày xưa, không phải của thời di động. Ngày nay, bạn luôn luôn ở bên cạnh và “luôn luôn lắng nghe…”, thậm chí nhiều khi còn “thấu hiểu” nữa.  Hai là, bạn dễ dàng khai thác các mối quan hệ của mình. Tất cả các đối tác đều nằm trong điện thoại di động- ấn phím, reo liền. Thực ra, không phải bao giờ và không phải đối tác nào có quan hệ với bạn cũng reo. Tuy nhiên, những chuyện nho nhỏ thì cũng có thể nhờ vả được. Ví dụ như, nhờ đối tác No 1 đón con dùm vì bạn có cuộc họp đột xuất (đã họp thì thường đột xuất).   Về cái không có lợi, bạn càng di động thì càng khó nằm “ngoài vùng phủ sóng”. Alibi trong tiếng Việt gọi là chứng cứ ngoại phạm. Cứ mỗi lần “không liên lạc đươc, xin gọi lại sau” là mỗi lần bạn sẽ cần đến alibi.  Ngoài ra, nếu bạn dễ dàng khai thác các mối quan hệ thì các mối quan hệ cũng dễ dàng khai thác bạn. Chiếc di động chỉ cần kêu ầm lên là lập tức bạn bị tìm thấy. Trong lúc đó, ở đời, không phải việc nào và không phải lúc nào từ chối cũng tiện. Đặc  biệt là trong trường hợp rất ít khi, rất ít việc bạn bị từ chối.  Thời di động là thời bạn không phải đi tìm thông tin, mà thông tin luôn luôn đi theo bạn. Thông tin có thể đi theo bạn bằng hai cách: 1. Được báo hoặc tự hỏi qua mobile; 2. Mobile của bạn có thể kết nối với Internet.  Ngày xưa, chuyện “Thập tự chinh” là có thật. Nhưng chuyện đó về cơ bản đã không xảy ra với rất nhiều người. Đơn giản là vì không nghe, không thấy thì không có. Ngày nay, anh bạn vừa mới bị vợ bỏ hôm qua, hôm nay có ai đó đã gửi message báo vào di động cho bạn. (Mà những chuyện như vậy thì đâu có xác định được ngay là nên chia buồn hay nên chia vui với bạn mình!). Với di động, hóa ra cuộc sống sôi động và phong phú hơn rất nhiều so với những gì bạn tưởng.   Kết nối với Internet lại là một điều còn kỳ diệu hơn. Bạn đã có cả thế giới dựng trong chiếc di động của mình. Bạn có tất cả mọi loại thông tin, và bạn có rất nhiều dịch vụ đi kèm. Chiếc di động đã thật sự làm cho bạn trở nên đa di năng,  hiểu biết, thông tuệ.   Tóm lại, chiếc điện thoại di động tự nó đã làm nên thời đại. Thời đại được đựng trong một chiếc hộp bé xíu thì rất dễ mang theo hàng ngày.         TS. Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời gian vẫn còn nếu hành động ngay từ bây giờ      Như tất cả chúng ta đều biết, đồng bằng sông Cửu Long đang chịu sức ép rất lớn, mà nguyên nhân chủ yếu chính là phương thức phát triển từ nhiều thập kỉ nay. Mặc dù trong quá khứ nó đã mang lại hiệu quả nhưng lại không đảm bảo được tính bền vững và đến nay đang gây ra những hệ lụy to lớn.      Tình trạng khô hạn ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng trầm trọng.  Chúng ta đã chạm đến ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái, các phương thức canh tác đã không còn phù hợp với điều kiện đất đai và nguồn nước, cơ sở hạ tầng không đủ để hỗ trợ việc sản xuất nông nghiệp và nếu cứ tiếp tục duy trì các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn nước ngầm, vốn đang bị sụt giảm, thì sẽ đe dọa đến sự sống còn của cả vùng đồng bằng. Những hoạt động thương mại thông thường sẽ ngày càng giảm lợi nhuận và gần như không còn khả thi về khía cạnh kinh tế.  Bên cạnh đó là những tác nhân vượt ngoài sự kiểm soát của Việt Nam, như sự phát triển thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong và biến đổi khí hậu. Tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn diễn ra vào đầu năm nay là một thức tỉnh với chúng ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự khởi đầu, tình hình có thể còn tiến triển xấu hơn nữa. Nhưng điều đáng mừng là vẫn còn nhiều việc chúng ta có thể làm để tránh thảm họa diễn ra và thời gian vẫn còn nếu chúng ta hành động ngay bây giờ.  Để vượt qua thách thức, đồng bằng sông Cửu Long sẽ cần sự đầu tư rất lớn trong những năm tới, kể cả khi chúng ta không đầu tư vào các hạ tầng phần cứng như đê điều, đập chứa nước, cửa cống mà chỉ tập trung vào các chuyển đổi bắt buộc như chuyển đổi sử dụng đất, điều chỉnh các mô hình kinh tế, phương thức làm ăn của người dân, và dùng các giải pháp tự nhiên để tăng khả năng thích ứng với những cú sốc và áp lực trong tương lai. Số tiền đầu tư cần thiết sẽ lên đến nhiều tỉ đô la. Rõ ràng nó vượt quá khả năng tài chính của Nhà nước và các nguồn tài trợ quốc tế. Điều này dẫn tới yêu cầu về đòn bẩy tài chính, và sự cần thiết tham gia của khối doanh nghiệp tư nhân. Với sự nhạy bén và tiềm lực của mình, doanh nghiệp tư nhân là đối tác không thể thiếu trong quá trình chuyển đổi, bởi họ có thể đầu tư nhiều hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn chính phủ hay các nhà tài trợ.  Tuy nhiên, động lực của các doanh nghiệp tư nhân thuần túy là lợi nhuận đầu tư. Vì vậy, để vận động sự khu vực tư nhân tham gia vào quá trình chuyển đổi mô hình phát triển của đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta phải nâng cao nhận thức của họ, giúp họ thấy rằng kinh doanh bền vững cần có tầm nhìn xa, và đầu tư vào sự chuyển đổi sẽ tạo ra lợi nhuận không chỉ cho hôm nay, mà cả cho tương lai. Đó là lý do khối doanh nghiệp tư nhân và chính phủ có thể tìm đến nhau, triển khai các chính sách và các hoạt động vừa lợi cho khối tư nhân, vừa có lợi cho xã hội, đảm bảo một tương lai bền vững cho tất cả mọi người.  Vậy chuyển đổi như thế nào?  Xin tập trung vào hai ví dụ. Kế hoạch đồng bằng sông Cửu Long (một phần của hợp tác Hà Lan và Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nguồn nước được nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký năm 2010) chia vùng châu thổ thành nhiều vùng dựa vào nguồn nước (regime) và độ mặn. Khu vực giáp biển có đặc điểm là xói mòn trên diện rộng, rừng ngập mặn bị chặt phá, đất bị nhiễm mặn, khô hạn và các hình thức canh tác nông nghiệp kém bền vững. Độ rộng của vùng nhiễm mặn này sẽ tăng theo thời gian và sẽ không có cách gì ngăn cản được điều này. Những vùng nước lợ sẽ thành nhiễm mặn và những vùng nước ngọt sẽ thành nước lợ. Chúng ta có thể cố gắng duy trì tình trạng hiện tại, chống lại những điều kiện bất thường diễn ra ngày càng thường xuyên cùng với chi phí ngày càng tăng, nhưng cuối cùng tất yếu sẽ thất bại. Thật vô lý nếu chúng ta cứ cố gắng duy trì việc trồng lúa trong khi chi phí chống chọi với đất nhiễm mặn sẽ ngày càng tăng lên. Sẽ kinh tế hơn nếu chúng ta tập thích nghi với điều kiện nhiễm mặn ngày càng tăng, chẳng hạn như chuyển sang sản xuất thủy sản bền vững sẽ mang lợi nhuận hơn là trồng lúa nước.      Thật vô lý nếu chúng ta cứ cố gắng duy trì việc trồng lúa trong khi chi phí cải thiện tình trạng đất nhiễm mặn sẽ ngày càng tăng lên. Sẽ kinh tế hơn nếu chúng ta tập thích nghi với điều kiện nhiễm mặn ngày càng tăng, chẳng hạn như chuyển sang sản xuất thủy sản bền vững sẽ mang lợi nhuận hơn là trồng lúa nước.      Tuy nhiên, các mô hình nuôi trồng thủy sản hiện nay ở Việt Nam phần lớn không hề bền vững. Hệ thống thủy lợi ở nhiều địa phương được xây dựng nhằm phục vụ cho việc trồng lúa nước. Những người nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng nước ở hệ thống này để cung cấp cho đầm, hồ của họ, bởi vì điều này có nghĩa là nước từ kênh đào mà họ lấy để nuôi trồng cũng chính là nước họ thải ra. Vì vậy, nếu xảy ra dịch bệnh thì sẽ ngay lập tức sẽ lây lan ra toàn bộ khu vực. Để giải quyết, người ta thường tránh dùng nước từ dòng kênh này. Ngoài ra, để duy trì ổn định độ mặn của hồ nuôi trồng thủy sản, khi nước hồ quá mặn, họ sẽ hòa thêm nước lấy từ nguồn nước ngầm. Như vậy, trong trường hợp họ sử dụng nước từ kênh, thì rủi ro nhiễm bệnh rất cao, còn nếu dùng nước ngầm thì sẽ gây ra sụt lún đất trên diện rộng và có nguy cơ nhấn chìm vùng đồng bằng. Cả hai giải pháp này đều không có tính bền vững.  Giải pháp cho vấn đề trên là hãy ưu tiên sản xuất thủy sản, xây dựng hệ thống nguồn nước tách biệt kênh dẫn nước vào và kênh dẫn nước ra. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện với sự cải tạo đồng bộ của cả vùng, xây dựng lại hệ thống đê và kênh rạch. Khoản đầu tư này là quá tầm đối với cá thể hộ nông dân cả về khả năng tài chính cũng như khả năng vận động sự đồng thuận trong cộng đồng. Vì vậy sẽ cần sự tập trung nguồn lực thông qua các hợp tác xã, hoặc chuyển đổi quyền sử dụng đất cho khối doanh nghiệp tư nhân và người nông dân trở thành người làm thuê. Nó đòi hỏi sự chung tay của Chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, và các nguồn tài trợ.  Một cách khác giải quyết với vấn đề nguồn nước ngọt bị hạn chế và đất nhiễm mặn là tăng cường sử dụng nhà kính. Phần bề mặt mái nhà có thể dùng để thu và trữ nước mưa, và khi kiểm soát được môi trường nuôi trồng thì sẽ thích ứng với điều kiện nguồn nước hạn chế dễ dàng và tránh được những vấn đề với tầng đất ở dưới. Điều này đòi hỏi việc chọn lựa các sản phẩm nông nghiệp thích hợp, cải thiện hệ thống sau thu hoạch để có thể tận dụng triệt để.  Vấn đề thứ hai tôi muốn nhấn mạnh là phương thức làm lúa ba mùa được áp dụng ở nhiều nơi trên đồng bằng sông Cửu Long đã khiến một số tỉnh bị ngập lụt nặng nề ở thượng vùng châu thổ, chưa kể hiện nay lợi nhuận canh tác theo phương thức này đang nhanh chóng suy giảm. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phương thức canh tác sẽ giúp phục hồi năng lực chứa nước ở những tỉnh thành này, qua đó cung cấp nguồn nước để ứng phó với xâm nhập mặn và khô hạn; góp phần bồi lắng, cải thiện độ màu mỡ của đất, tăng năng suất, và tích lũy vùng châu thổ như một quá trình tự nhiên ứng phó với nước biển dâng. Nó cũng giúp giảm nguy cơ xảy ra lũ lớn, lũ bất thường thấy ở các tỉnh này và ở hạ nguồn. Cuối cùng nhưng cũng không kém quan trọng, sẽ giúp chúng ta tăng cường vùng đệm để ứng phó tốt hơn với sự bất ổn ngày càng tăng trong việc thoát nước của sông Mekong trong tương lai.  Tuy nhiên, điều chỉnh xu hướng lúa ba vụ cần có sự đầu tư đa dạng vào những phương thức canh tác, loại nông sản khác nhau, mà trong đó không thể thiếu vai trò của khu vực tư nhân trong việc sản xuất, cung ứng và xử lý, và tạo lợi ích kinh tế dựa trên qui mô sản xuất lớn.  Các nhà làm chính sách nên trao đổi chặt chẽ với các doanh nghiệp để hiện thực hóa những điều kiện cần thiết cho phép triển khai những dự án đầu tư vừa có tiềm năng lợi nhuận, vừa có thể thay đổi vùng châu thổ theo xu hướng chuẩn bị ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu, tạo ra sự phát triển bền vững hơn cho khu vực doanh nghiệp cũng như cho toàn thể cộng đồng trong tương lai.  Hà Minh – Hảo Linh dịch  Bài viết được trích đăng từ phát biểu của Tom Kompier tại Hội thảo “Giải pháp bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân – Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp” do Tạp chí Tia Sáng tổ chức cùng BSA và Sở KH&CN tỉnh Bến Tre. Tít bài là do Tia Sáng đặt.    —————  Tác giả là Thư ký thứ nhất phụ trách về nước và biến đổi khí hậu, Đại sứ quán Hà Lan.    Author                Tom Kompier        
__label__tiasang Thông điệp của Việt Nam: Bền vững và sáng tạo      Tại phiên họp của Diễn đàn các nhà lãnh đạo trẻ toàn cầu (FYGL), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) về Đông Á tại TP.HCM trong 2 ngày 6-7/6/2010, Tổng Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ – diễn giả duy nhất là doanh nhân của Việt Nam (theo tiến cử của Bộ Ngoại giao Việt Nam) đã có bài tham luận “Thông điệp&#160; bền vững của Việt Nam trong bối cảnh châu Á dẫn đầu phục hưng kinh tế toàn cầu”.  Bản tham luận hết sức ấn tượng, đã đem đến cho các diễn giả và toàn thể những người tham gia phiên thảo luận “một nguồn cảm hứng đầy thú vị vì những ý tưởng đột phá, và sáng tạo”. (đánh giá của chủ tọa phiên thảo luận – GS danh dự Hellmut Schutte, trường kinh doanh Quốc tế châu Âu – Trung Quốc (CEIDS)).  Tia Sáng xin giới thiệu một số phần của tham luận đó.                                    Năm nay, chủ đề của Diễn Đàn là “Suy nghĩ lại chương trình nghị sự lãnh đạo của châu Á”. Đây là một chủ đề rất thời sự, đặc biệt, khi Đông Á đang dẫn đầu sự hồi phục kinh tế toàn cầu, phản ảnh xu thế hợp tác kinh tế khu vực ngày càng gia tăng, sức tiêu thụ mạnh của thị trường nội địa, và các biện pháp kích cầu được điều phối. Điều đáng nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên châu Á đang dẫn đầu sự hồi phục kinh tế toàn cầu, mặc dù từ ba thập niên trước, sự tăng trưởng ở châu Á cũng đã vượt các nền kinh tế tiên tiến. Song song với những tiến bộ phát triển tăng tốc của Trung Quốc và Ấn Độ, một thị trường chung của Cộng Đồng ASEAN với 580 triệu người tiêu dùng, đang được hình thành theo tiến trình hội nhập kinh tế khu vực vào năm 2015. Có thể nói rằng gần như ở khắp mọi nơi có một niềm lạc quan mới trong việc đi theo hướng châu Á.  Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức rằng, trong bối cảnh châu Á dẫn đầu phục hưng kinh tế toàn cầu, không cho phép chúng ta quay lưng lại đối với các khủng hoảng khác không kém nghiêm trọng và đang đe dọa cộng đồng thế giới. Đó là: Biến Đổi Khí Hậu, với sự nóng lên toàn cầu, thời tiết đổi thay cực độ và nước biển đang dâng lên trở thành hiểm họa ngày càng rõ rệt khắp trên thế giới; An ninh lương thực cũng là mối hiểm họa đe dọa sự phát triển của những nước chậm tiến trên nhiều lục địa; An ninh năng lượng ngày càng trầm trọng với sự khan hiếm dần của các nguồn than, dầu và khí trên thế giới, có khả năng lũng đoạn sự phát triển của đa số các nền kinh tế trên thế giới còn đang dựa trên năng lượng không tái tạo. Và trên hết là Khủng hoảng nhân văn – về những gía trị văn hoá, đạo đức cũng như tâm linh – rõ ràng khắp nơi trên thế giới, với sự đồng hóa của những tập tục tiêu dùng và sản xuất không bền vững bởi tác động của toàn cầu hóa.  Vì vậy, chúng ta cần kiên định hoạt động tích cực hơn nữa để giãi quyết những thách thức đó theo phương châm: Suy tính lại, thiết kế lại, và xây dựng lại như châm ngôn của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đề xuất đầu năm nay. Đồng thời, đây chính là thời điểm phải suy tính lại những mô hình phát triển và tập trung vào những chiến lược tăng trưởng xanh, để châu Á có cơ hội trở thành vai trò chủ đạo của nền kinh tế mới toàn cầu, trong các lĩnh vực như củng cố sinh thái, tiến bộ xã hội, sáng tạo và khai nghiệp xanh, và những hệ thống quản trị mới.        1.  Tiến đến một thỏa thuận xanh toàn cầu mới  Chương trình Liên Hiệp Quốc về Môi trường (UNEP) đã đề xuất một kế hoạch phục hưng kinh tế toàn cầu gọi là «Một thỏa thuận xanh Toàn cầu mới» (Global Green New Deal). Chúng tôi nghĩ rằng đây là một đề xuất rất cần được sự hưởng ứng của cộng đồng thế giới. Thật sự, nếu chúng ta muốn thực hiện sớm những Chỉ tiêu phát triển của Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals), đặc biệt là chương trình xóa đói trước thời hạn 2015, thì các nhà lãnh đạo của châu Á cần khẩn trương bắt tay hợp tác để cổ vũ cho kế hoạch phục hưng kinh tế toàn cầu này được thực hiện sớm. Ưu tiên là phải tạo ra công ăn việc làm trong những lĩnh vực gọi là xanh, như là cứu rừng nguyên sinh và chương trình trồng rừng qui mô, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển các nguồn lực biển và ngành ngư nghiệp.                    Chúng ta cần khẩn trương tập trung vào vấn đề an ninh lương thực trên thế giới, qua các chương trình đa dạng hóa các loại cây lương thực (food crops) và nâng cấp các sản phẩm nông nghiệp với việc ứng dụng công nghệ sinh học. Những mô hình trang trại sinh thái mới cần được thiết kế và phát triển, song song với một thế hệ mới những đô thị sinh thái, nhằm giải quyết những áp lực của sự khủng hoảng đô thị hoá toàn khắp châu Á.   Là địa bàn của các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất, châu Á không có lựa chọn nào khác hơn là chuyển dịch vào nền kinh tế xanh càng sớm càng tốt. Điều này có nghĩa rằng châu Á cần lấy sáng kiến đề xuất những giải pháp sinh thái bền vững cho vấn đề trung tâm là an ninh năng lượng, nhanh chóng chuyển dịch sang  những nguồn năng lượng tái tạo, sự tiếp thu các công nghệ sạch và sự chuyển đổi các công nghiệp ô nhiễm trở thành các công nghiệp thấp về carbon, quãng bá mô hình kinh tế dịch chuyển theo công thức 3R (giảm thiểu, chế biến lại và sử dụng lại), và những công thức thiết kế  sinh thái và những Giải pháp sinh thái về tiêu thụ và sản xuất bền vững.   Sáng chế và khai nghiệp xanh (innovation and green entrepreneurship) sẽ trở thành hai động lực cơ bản cho nền kinh tế mới, đốc thúc bởi tài chính xanh (green finance) dựa trên nguyên lý gọi là PPP: trước tiên là hành tinh (Planet), thứ đến là cộng đồng (People) và sau cùng là lợi nhuận (Profit), theo đúng thứ tự như vậy. Một sự chuyển dịch về tư duy là khẩn thiết và suy tính lại là yêu cầu trước mắt.     Trong cấu trúc nền kinh tế mới trên thế giới, Việt Nam sẽ phấn đấu vươn lên để có mặt trong toàn bộ chuỗi gía trị của nền Kinh tế xanh, kể cả bốn khâu chính như: nghiên cứu phát triển, sáng chế và sản xuất, hệ thống phân phối sản phẩm, cũng như xây dựng thương hiệu với gía trị sản phẩm gia tăng.   2. Mặt Trận Ngoại Giao Xanh  Có thể nói rằng, trong hai thập niên vừa qua, ASEAN đã đóng góp trong việc phục hưng  của châu Á trên chính trường toàn cầu, với một luật chơi hoàn toàn mới khác ngược với luật chơi quyền bính cổ điển giữa các nước trên thế giới, và đã làm thay đổi hẳn cục diện địa lý chính trị ở toàn bộ Đông Á. Cộng đồng ASEAN cũng đã đóng góp cho một địa bàn hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực ở Đông Á, và đã trở thành động lực chính của tiến trình phát triển của Á châu và xa hơn nữa. Chỉ trong vòng 20 năm, ASEAN đã trở thành một địa bàn trung tâm của Cộng Đồng hội nhập kinh tế với phạm vi mở rộng ở toàn Đông Á, với những nền kinh tế hùng mạnh của châu Á, như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, và kể cả Ấn Độ. Mậu dịch tự do và phối hợp tài chính là hai động cơ chính trong tiến trình hội nhập kinh tế mở rộng này, và đã làm thay đổi hẳn cục diện địa-lý kinh tế của châu Á.                   Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi hẳn cách chúng ta định nghĩa về ngoại giao. Việc xanh hóa ngành ngoại giao đòi hỏi một quan điểm mới và tiến bộ về quyền lợi quốc gia trong một bối cảnh toàn cầu hoàn toàn thay đổi. Cộng đồng ASEAN cũng có khả năng đóng góp vào hợp tác toàn cầu qua mặt trận Ngoại giao xanh nhằm góp phần giải quyết những hiểm họa xuyên biên giới, như là biến đổi khí hậu, sự lan tràn của những bệnh dịch, sự bất ổn nhiều mặt trên thế giới, AIDS, và nhiều cơ nguy khác.   Vì thế mà Việt Nam cũng đã  phối hợp với Denmark nhằm đề xuất một sáng kiến của ASEM về Mặt trận Ngoại giao xanh, với việc thiết lập một mạng lưới ASEM về biến đổi khí hậu với mục tiêu là kết hợp những vấn đề môi trường và phát triển bền vững vào ngành ngoại giao và dùng địa bàn ASEM làm động lực cho sự hình thành của nền Kinh tế xanh. Mạng lưới ASEM về Biến đổi khí hậu sẽ đối phó những vấn đề sau đây: sự nóng lên toàn cầu, đa dạng sinh học, sa mạc hóa, bảo vệ rừng, nước, năng lượng, quản lý chất thải, và phát triển bền vững. Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các nước đối thoại của Cộng Đồng ASEAN, đặc  biệt là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như Liên minh Châu Âu, để xây dựng mặt trận ngoại giao xanh nhằm tăng cường hợp tác về môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu, trên quan điểm quyền lợi chiến lược của mỗi nước gắn bó với quyền lợi của toàn bộ đại đồng thế giới.  Sự hợp tác mới toàn cầu này cũng sẽ bao gồm vai trò không thể thiếu được của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự. Các doanh nghiệp tiên tiến hiện đại, đặc biệt là đa số các công ty đa quốc gia là chủ thể của nhiều tiến bộ khoa học công nghệ của nhân loại, cũng như của những công thức quản lý qui mô và tinh vi nhất về việc giao hàng và dịch vụ với qui mô lớn. Các doanh nghiệp này có khả năng lớn đóng góp vào trách nhiệm xã hội nhằm cứu Trái đất và nhân loại. Vai trò của cộng đồng dân sự thế giới cũng rất cần thiết để các chính phủ của họ thực hiện những cam kết chung.                  3. Xây Dựng Kiến Trúc Tài Chính Khu Vực và Toàn Cầu:                  Chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức của nền kinh tế hậu khủng hoảng, đặc biệt là nhu cầu củng cố sự ổn định tài chính khu vực ở Đông Á, Việt Nam ủng hộ tiến trình củng cố hợp tác tài chính trong khuôn khổ ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) lên một tầm chiến lược cao hơn. Trong những sáng kiến của ASEAN dưới Sáng kiến Đa phương hóa của Chiang Mai, gần đây đã được thành lập một Quĩ Tín Dụng và Đầu tư với số tiền là 700 triệu USD, trong khuôn khổ Sáng kiến thị trường Trái phiếu châu Á.   Đương nhiên, một trật tự kinh tế tài chính mới trên thế giới cũng phải tương xứng với xu thế cải cách và cơ cấu lại Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là các tổ chức kinh tế toàn cầu như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cần phải có những định chế dân chủ hơn, với sự có mặt tương xứng đại diện của các nước đang phát triển.  Thật ra hiện nay không ai biết chắc được kiến trúc này sẽ như thế nào. Nhưng sự thật là một cuộc cách mạng đang hình thành ở châu Á nhằm đổi thay môi trường tài chính khu vực. Ngày hôm nay. Châu Á đang giữ trong tay số dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, gần 3 ngàn tỷ USD. Trong đó, Trung Quốc giữ đến 2 ngàn tỷ. Vì thế sự hình thành của một kiến trúc tài chính quốc tế mới cần sự hội kiến và tham gia rộng rãi của nhiều chủ thể hơn,với Cộng đồng ASEAN đóng một vai trò tích cực hơn trước.     4.  Bảo đảm An Ninh Lương Thực Thế Giới  An ninh lương thực cũng là một mối quan tâm lớn của thế giới vì thực trạng nghèo đói đang đe dọa nhiều xã hội trên các lục địa, như châu Phi, Trung Đông và Nam Á. Đây là một lãnh vực mà Việt Nam có nhiều kinh nghiệm. Cũng từ một nước lạc hậu nghèo đói từ giữa thập niên 80, Việt Nam đã trở thành một nước hàng đầu sản xuất lương thực và nông sản, hạng nhì về xuất khẩu gạo, hàng đầu về cà phê Robusta và hạt Tiêu. Việt Nam sẵn sàng đem kinh nghiệm và kiến thức của mình, đặc biệt về trồng lúa nước, về các cây thực phẩm để đóng góp vào các chương trình lương thực.                    Trong thời đại biến đổi khí hậu, làm thế nào tạo thêm công ăn việc làm cho 70 % dân số nông thôn là một kịch bản trong thập niên tới đây. Việt Nam có kế hoạch xây dựng những vùng kinh tế xanh trọng điểm ở Cao Nguyên miền Bắc, Tây Nguyên Trung phần, Cà Mau và đảo Phú Quốc. Những mô hình làng sinh thái hay trang trại sinh thái sẽ được thiết kế và xây dựng, với sự hợp tác quốc tế nhiều mặt nhằm đóng góp củng cố an ninh lương thực thế giới.  Phát triển nông thôn cần được xúc tiến mạnh mẽ, với việc áp dụng các chính  sách về tín dụng và yểm trợ tài chính cho các nông trường và trang trại, qua chương trình cung cấp động vật và hạt giống cho nông dân, áp dụng công nghệ sinh học vào việc nâng cấp và chọn lọc hạt giống và nuôi dưỡng tế bào (tissue culture), xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dẫn thủy nhập điền (thủy lợi) ở các vùng nông thôn, mở rộng khai khẩn đất mới trồng trọt, tăng cường năng suất lao động, xây dựng hệ thống kho hàng dự trữ nông sản và chế biến lương thực.   Việt Nam có khả năng đem kinh nghiệm của mình về phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông thôn tham gia vào các chương trình quốc tế về an ninh lương thực. Tăng trưởng theo hướng phát triển nông nghiệp sẽ tăng cường lương thực, cung cấp lương thực với giá có thể chấp nhận, và đem lại thu nhập cho người nghèo. Vì đây là vấn đề sống còn một quốc gia và Việt Nam có điều kiện đem kiến thức xanh của mình để đóng góp vào chương trình hành động quốc tế xóa đói giảm nghèo trên thế giới.  5. Khắc Phục Khủng Hoảng Nhân Văn, Đạo Lý và Tâm Linh  Chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, nếu phát triển không bền vững, không dựa trên những nguyên lý công bình sinh thái để bảo vệ trái đất và phục vụ cho nhân loại, mà chỉ dựa trên thị trường cạnh tranh, thì sớm hay muộn sẽ tái diễn sự khủng hoảng kinh tế như vừa qua. Điều này sẽ không tránh khỏi. Vì vậy chúng ta cần thiết phải suy tính lại toàn bộ hệ thống gía trị và luân lý cần chia sẻ, các cơ chế qui định của nền kinh tế thế giới, bang giao quốc tế dựa trên sự tương thuộc lẫn nhau.   Vấn đề cốt lõi ngày hôm nay là xem thử cộng đồng thế giới của chúng ta có thể có một tinh thần đại đồng (communitarian spirit) và một đạo lý toàn cầu (global ethic) để bảo vệ tương lai, hay là chúng ta sẽ trở lại những lối cũ của thói quen và những tập tục cùng lối sống không bền vững và như vậy tiếp tục làm tổn thương đến các hệ sinh thái của trái đất cần thiết cho sự trường tồn của nhân loại, không nói đến xu thế “đồng phục hóa” (uniformization) đem lại bởi toàn cầu hóa. Nếu phát triển chỉ dựa trên chỉ số và kích thước đo lường vật thể và thực dụng, thì phát triển không có tâm (development without a soul).   Đáng lẽ ra, chúng ta cần quan tâm hơn nữa về Tổng Hạnh phúc Quốc gia (Gross National Happiness) thay vì chỉ nghĩ đến Tổng sản lượng Quốc gia (Gross National Product). Công bình và hạnh phúc xã hội sẽ không có ý nghĩa, vì những giá trị cốt lõi của xã hội đã bị khống chế bởi cơ chế thị trường nhằm chỉ phục vụ cho lợi nhuận và đồng tiền. Đây là vấn đề chính yếu của sự khủng hoảng nhân văn hiện nay mà nhiều nhà quan sát đã tiên đoán rằng đang báo hiệu sự suy vong của nền văn minh công nghiệp.   Vấn đề không phải là cộng đồng thế giới không có những giá trị cốt lõi cao quí để cùng chia sẽ. Chúng ta có tất cả, nhưng chúng ta đã và đang bị thị trường thực dụng hoàn toàn thống trị theo những định luật vô luân. Nếu thật sự chúng ta muốn giải quyết những khủng hoảng nêu trên, thì nhất thiết chúng ta phải quyết tâm cam kết bảo vệ những giá trị nhân văn, đạo lý và tâm linh của đại đồng nhân loại trên trái đất, dựa trên tính “nhất nguyên” (oneness).  Chúng tôi chia sẻ những câu hỏi và quan tâm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong báo cáo gần đây nhất về “Tín ngưỡng và Chương trình Nghị sự Toàn cầu : Giá trị cho Nền Kinh tế Hậu khủng hoảng”. Các bạn nêu lên những vấn đề then chốt cho sự sống còn của đại đồng nhân loại trong hành tinh. Câu kết luận của báo cáo này nêu lên một nhận xét vô cùng đau đớn: “Nếu không có thay đổi, thì con đường cũ sẽ dẫn đến chủ nghĩa man rợ”.  Việc tìm kiếm một hướng tư duy mới đã ám ảnh nhiều thế hệ của cộng đồng chúng ta trước đây. Ngày hôm nay việc này càng khẩn thiết hơn nữa. Như ngài Javier Perez de Cuellar, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc trong thập niên 80 đã nêu lên: “Thách thức đối với nhân loại là chấp nhận những lối suy nghĩ mới, những lối hành động sáng tạo, những lối tổ chức xã hội mới, những lối sống mới. Thách thức là cổ vũ cho những con đường phát triển khác nhau, dựa trên những yếu tố nhân văn trong đó các xã hội có thể định vị tương lai của chính mình và chọn những con đường thích hợp để tiến đến những tương lai đó”. Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu hiện nay, văn hóa chính là nguồn gốc của đổi mới của sáng tạo, và sẽ khơi dậy những triển vọng đầy hứa hẹn của nhân loại.  ***  Việt Nam là một nước đi sau trong tiến trình phát triển của thế giới và chúng tôi được cái may mắn học hỏi từ những kinh nghiệm, thậm chí từ những thành tựu lẫn thất bại của các nước đi trước. Việt Nam chúng tôi đã nhận diện sâu sắc những xu thế mới của thế giới sau khủng hoảng, với một tầm nhìn trong sáng và một cam kết quyết liệt để chuyển dịch sang nền kinh tế xanh theo hướng sáng tạo và bền vững. Trong thời đại toàn cầu hóa, thông điệp của Việt Nam là bền vững và sáng tạo. Quyền lợi của Việt Nam gắn kết với quyền lợi của đại đồng thế giới. Việt Nam bền vững thì đóng góp cho thế giới bền vững…và ngược lại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thư chúc mừng 15 năm Tia Sáng      Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày Tạp chí Tia Sáng ra số đầu tiên, tôi xin gửi tới Ban biên tập, cộng tác viên và bạn đọc của Tia Sáng những lời chúc tốt đẹp nhất. Trải qua chặng đường 15 năm không ngừng đổi mới và sáng tạo, Tia Sáng đã trở thành diễn đàn tin cậy và mong chờ của đông đảo các nhà khoa học cũng như bạn đọc yêu mến khoa học trong và ngoài nước.      Tôi vui mừng chia sẻ những thành công hôm nay của Tia Sáng và chân thành hy vọng Tia Sáng sẽ phát huy tốt hơn nữa vai trò định hướng dư luận, nhằm khơi dậy niềm đam mê và khát vọng sáng tạo của các thế hệ nhà khoa học, phục vụ đắc lực các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, động viên, khuyến khích toàn xã hội cùng chung sức xây dựng và phát triển một nền khoa học và công nghệ Việt Nam hiện đại, thiết thực, năng động và hiệu quả.                          Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử đi tìm một mô hình quản lý khoa học khác      Bản danh mục các đề tài được tuyển chọn để đấu thầu thuộc Chương Trình KHCN cấp Nhà Nước giai đoạn 2006-2010 là một bức tranh sinh động về hiện trạng KHCN Việt Nam. Qua đây ta hiểu được tại sao vị thế của khoa học Việt Nam qua các công bố quốc tế từ nhiều năm nay vẫn không được cải thiện, mặc dù ngân sách nhà nước cứ tăng đều hàng năm theo GDP, giờ đây đã lên đến hơn 300 triệu USD.  Vì vậy đã đến lúc phải xem xét lại cuộc chơi, thậm chí ngay từ triết lý của nó. Tại sao những ý tưởng công bằng, dân chủ và tự chủ hằng chỉ đạo thiết kế và thực thi mô hình quản lý khoa học hiện nay (từ tuyển chọn, đấu thầu, xét duyệt, nghiệm thu đề tài, cho đến cái mô thức 115 còn dang dở) lại chưa phát huy tác dụng? Có gì đó chưa ổn, thậm chí ngay từ những quan niệm tưởng chừng không còn gì phải bàn cãi, như tại sao Việt Nam cần nghiên cứu khoa học (NCKH)1)? Từ đó tìm ra một mô hình phát triển KHCN khác, có thể là đối cực với mô hình hiện nay, nhờ đó mà tri thức và năng lực đội ngũ khoa học mới tiến nhanh theo cấp số nhân, đưa KH&amp;CN thực sự trở thành động lực của phát triển kinh tế- xã hội.    Nhìn sang Ấn Độ  Nhưng trước hết, thử nhìn sang Ấn Độ xem họ thực thi “quốc sách hàng đầu” như thế nào? Trong diễn văn khai mạc đậi hội hàng năm Hiệp hội Khoa học toàn Ấn Độ vừa qua, Thủ tướng Manmohan Singh đã phá cách hết sức ngoạn mục 2). Thủ tướng không bắt đầu bằng lời tôn vinh các nhà khoa học dựa trên bản báo cáo thành tích được Hiệp hội soạn sẵn như thường lệ, mà gác nó lại trong ngăn kéo sau khi tham khảo ý kiến cố vấn khoa học độc lập của mình.   ” Trong khi Chính phủ đang tìm mọi cách để đầu tư tối đa cho khoa học, tôi xin kêu gọi các vị cũng phải dốc toàn bộ thời gian và năng lực của mình để mang lại sinh khí mới cho các trung tâm nghiên cứu Ấn Độ… Tôi vô cùng lo lắng khi thấy sinh viên theo học các bộ môn khoa học ngày càng ít đi. Chúng ta phải tìm ra hàng loạt giải pháp thật sâu rộng để vực dậy một hệ thống đại học đang xuống cấp. Tôi thật buồn khi biết chất lượng nghiên cứu ở các trường đại học lẫn những viện khoa học hàng đầu của chúng ta đang tụt hậu. Chúng ta chỉ đóng góp có 2,7% số công bố quốc tế so với 6% từ Trung Quốc 2). Rồi đây, rất có thể, tôi sẽ cho mời tư vấn nước ngoài đánh giá khách quan các viện nghiên cứu của chúng ta”.        Phòng thí nghiệm Tia Vũ Trụ    GS Pierre Darriulat, nhà vật lý hạt nổi tiếng thế giới, đã mang sang Việt Nam nhiều thiết bị tinh vi để nghiên cứu tia vũ trụ, đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ và giảng dạy Vật lý Thiên Văn. Nhưng chắc chắn phòng thí nghiệm này sẽ tươm tất và tấp nập hơn nhiều nếu tấm biển “Tia Vũ Trụ” được thay bằng một công nghệ cao nào đó có thể hái ra tiền. Cho dù đem hết nhiệt tình làm thiện nguyện cho Việt Nam từ nhiều năm nay, ông không khỏi bẽ bàng khi mới đây nhà trường thông báo ông sẽ không tiếp tục giảng dạy môn Vật lý Thiên văn nữa. Bất luận lý do gì, chả lẽ những thiên hà, lỗ đen, big bang, năng lượng tối …, nơi giao nhau kỳ diệu giữa cái vô cùng bé và vô cùng lớn của thế giới vật chất, giữa những ngọn nguồn vô tận của không gian và thời gian, nơi hội tụ hiếm thấy giữa tư duy khoa học chính xác vớí cảm thụ nghệ thuật sâu lắng, lại được truyền đạt bởi một chuyên gia thuộc hàng tốp trên thế giới…, mà không thiết thực hay sao?            Không thể có chính sách đúng nếu đánh giá sai năng lực đội ngũ KHCN. Dù sao đẳng cấp của Ấn Độ vẫn cao hơn ta rất nhiều, họ giàu truyền thống và đầy thành tích. Trường đại học của họ đã có Nobel từ năm 1930. Sau khi giành độc lập, năm 1950 Thủ tướng Nehru đã đích thân tổ chức ra trường Đại học Công nghệ Ấn Độ (IIT), đến nay đã có hơn 100.000 tinh hoa ra lò, không ít người trong số họ lừng danh khắp thế giới. Người ta bảo Silicon Valley của Mỹ sẽ không vận hành được nếu thiếu những cái đầu đến từ IIT 3). Chăm lo vun đắp đội ngũ tinh hoa khoa học là nét đặc trưng nhất trong phát triển của Ấn Độ. Hàng năm 250.000 thanh niên ưu tú trong cả nước thi nhau tranh tài trong cuộc sơ khảo để chọn ra 100.000 ứng viên vào IIT, từ đây chỉ có 4000 lọt qua vòng chung kết.  Tuy bị cô lập trong một thời gian dài, Ấn Độ vẫn không hề xa rời các sân chơi quốc tế về KHCN. Ai đến thăm Ấn Độ trước đây đều nhận ra sự tương phản kỳ lạ giữa hoạt động học thuật cao siêu ở các trung tâm khoa học với tình trạng lam lũ của đám dân nghèo nheo nhóc trong lều bạt dựng ngay trên đường phố. Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong NCKH. Chính vì thế mà ngày nay Ấn Độ có chỗ đứng trên hầu khắp mặt tiền khoa học thế giới.  Nhưng ngay trong bài diễn văn trên, Thủ tướng Singh đã cảnh báo giới khoa học chớ có ngủ say, vì họ còn có quá ít các công bố quốc tế, mà đây lại là một tiêu chí trung thực nói lên khả năng đổi mới công nghệ của đất nước, một yêu cầu sống còn của Ấn Độ trước áp lực cạnh tranh toàn cầu hiện nay.   Vấn đề của chúng ta. Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu khoa học?        Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong NCKH. Chính vì thế mà ngày nay Ấn Độ có chỗ đứng trên hầu khắp mặt tiền khoa học thế giới.        Một quỹ đạo chuyển động được xác định bởi ba yếu tố: mô hình chuyển động, điều kiện ban đầu và điều kiện biên. Khi cần thay đổi quỹ đạo phải xem xét lại cả ba yếu tố này.   Về điều kiện ban đầu, chúng ta mặc nhiên cho rằng Việt Nam đã có một đội ngũ KHCN đủ lớn mạnh để tổ chức ra cuộc tranh tài sòng phẳng (xét theo ý đồ thiết kế ra cuộc chơi hiện nay) trong những chương trình mục tiêu ngắn hạn theo sản phẩm mà không cần kinh qua những chương trình phát triển dài hạn các chuyên ngành khoa học. Trên thực tế, lấy đâu ra một đội ngũ như thế khi chúng ta đi sau thế giới hàng trăm năm và còn đang nghèo khó lạc hậu. Vị thế của chúng ta hiện nay trên thế giới còn xa mới sánh được với Ấn Độ trước đây 60 năm.  Về điều kiện biên, chúng ta không chấp nhận các sân chơi quốc tế để tiệm cận đến mặt tiền KHCN thế giới như mọi nước khác, để lọc lựa những nghiên cứu có chất lượng, sớm chấm dứt tình trang tù mù do thiếu thước đo tin cậy. Chẳng những thế, nhiều người làm đề tài khoa học không quan tâm đến kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp ở các nước. Cả nước hiện nay vẫn chưa có nơi nào để nhà khoa học có thể tiếp cận với các kết quả nghiên cứu mới nhất trên thế giới, một điều rất bình thường ở bất cứ trường đại học nghiên cứu nào ở nước ngoài.  Với một đội ngũ chuyên gia còn quá mỏng, chúng ta lại đặt kỳ vọng vào các hội đồng tuyển chọn, xét duyệt và nghiệm thu, lấy số đông làm thước đo chất lượng. Dân chủ hình thức trong một môi trường học thuật bị hành chính hoá và hàng rào chuẩn mực nghiêm túc bị gỡ bỏ chẳng những không giúp ta tiến lên mà còn bị lợi dụng làm tấm bình phong dung túng cho tiêu cực và lãng phí. Kết quả kiểm toán nhà nước gần đây 4) chắc chỉ mới xới lên một phần.        Bao nhiêu thiết bị khoa học chính xác rất đắt tiền phải nằm đắp chiếu.    Vì chúng chỉ sử dụng làm dịch vụ chứ không phải để NCKH, các quy trình bảo đảm chất lượng không được tuân thủ. Khi vào cuộc mỗi nơi cho ra một kết quả, cơ quan quản lý không biết tin ai. Đo lường chuẩn xác – khoa học có trong mọi khoa học – không được nghiên cứu và giảng dạy chu đáo ở nước ta. Nó giải thích tại sao Việt Nam có rất ít công bố quốc tế về các khoa học thực nghiệm.            Nhưng mấu chốt nhất vẫn là các quan điểm chủ đạo trong mô hình phát triển. Tại sao Việt Nam cần NCKH, ai nghiên cứu, và nên tổ chức như thế nào? Câu hỏi thứ nhất tưởng không còn gì phải bàn cãi. Nhưng chính đây lại là cái nút thắt cần tháo gỡ trước khi bàn đến những chuyện khác. NCKH chưa đặt đúng chỗ, đúng tầm ở nước ta. Thật vây, NCKH tác động đến phát triển xã hội qua ba con đường văn hoá – dân trí, công nghệ – sản xuất và quyết định chính sách phát triển của đất nước. Theo cả ba kênh này, NCKH nghiêm túc ở nước ta đều chưa có chỗ đứng.  Ba kênh này lại tương quan mật thiết với nhau nên không thể chỉ nhấn mạnh một kênh. Sẽ rất tai hại nếu nói khoa học chỉ nghiên cứu những đề tài thiết thực, nhà trường chỉ dạy những gì thiết thực, mà khái niệm “thiết thực” lại được hiểu đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế đơn thuần. Quá nhấn mạnh mục tiêu kinh tế chính là quên đi vai trò động lực kinh tế của NCKH thông qua mặt trận giáo dục và dân trí. Mà có dân trí mới có quan trí, từ đây mới có những quyết sách đúng đắn cho đất nước.        Dân chủ hình thức trong một môi trường học thuật bị hành chính hoá và hàng rào chuẩn mực nghiêm túc bị gỡ bỏ chẳng những không giúp ta tiến lên mà còn bị lợi dụng làm tấm bình phong dung túng cho tiêu cực và lãng phí.        Hệ thống đại học tồn tại từ lâu mà đến nay vẫn chưa có trường đại học nghiên cứu. (Quy chế về các trường đại học nghiên cứu đang được soạn thảo, chưa biết khi nào mới ban hành). Lạm phát bằng tiến sĩ vì không chấp nhận công bố quốc tế làm tiêu chí chính là một trong những nguyên nhân làm sa sút đại học. Trong khi ở nước ngoài NCKH thường tập trung vào các trường đại học, những học giả lớn thường là các giáo sư đại học, công bố quốc tế là tiêu chí bảo đảm sự tồn tại và thăng tiến của các giáo chức đại học, thì ở ta thầy giáo giành rất ít thời gian cho NCKH 5), công bố quốc tế không được khuyến khích. Cho nên, thành tích NCKH của những trường đại học tiên tiến nhất ở Việt Nam còn quá khiêm tốn so với Thái Lan 5), mà Thái Lan lại quá khiêm tốn so với thế giới.  Nhưng NCKH đâu phải được xem như công đoạn quan trọng nhất trong chuỗi khoa học –  công nghệ – sản xuất ở nước ta. Tâm thức phổ biến là muốn đề tài phải cho ra ngay các sản phẩm có thể sờ mó được theo kiểu mỳ ăn liền, trong khi muốn có công nghệ lại phải NCKH công phu và nghiêm túc. Vốn cách rất xa mặt tiền công nghệ thế giới, nhiều khi chỉ cần kiến thức ở bậc đại học, kết hợp với khai thác thông tin trên mạng, người ta có thể tạo ra, hoặc nội địa hoá, một số công nghệ nhất định nào đó. Không thể phủ nhận giá trị của con đường này, nhưng không thể xem đây là quy luật phổ quát của những nước đi sau.        Muốn “xài” ngay công nghệ hạt nhân mà không cần NCKH!    Việt Nam đang có tham vọng dẫn đầu Đông Nam Á về điện hạt nhân với công suất 2000 MW năm 2020, tăng vọt lên 8000 MW năm 2025. Khát điện và có lực lượng hùng hậu như Ấn Độ và Trung quốc cũng chưa bao giờ dám mơ đến một tốc độ phát triển tên lửa như Việt Nam. Bởi vấn đề an toàn vẫn còn đó, mà điện hạt nhân có an toàn hay không lại tùy thuộc vào con người, vào đội ngũ chuyên gia trình độ cao được kinh qua NCKH. Rất tiếc, những người sắp nắm trong tay khoản đầu tư khổng lồ này của đất nước không tỏ ra bận tâm trước nhân lực còn quá mỏng về khoa học và con số không về công nghệ ở nước ta trong lãnh vực năng lượng hạt nhân.          Trong hoạch định chính sách phát triển đất nước, vai trò của NCKH cũng rất mờ nhạt. Có thể nêu ra khá nhiều dẫn chứng cho thấy các nhà hoạch định chính sách thích sử dụng các báo cáo hành chính hơn là những báo cáo khoa học chính xác. Chiều hướng gia tăng dịch bệnh, độc tố trong thực phẩm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường … hiện nay chưa tìm thấy lời giải từ những nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Đây lại là những lãnh vực đa ngành, liên ngành, trong khi nền khoa học của chúng ta lại mang nặng tính hàn lâm chuyên ngành.  Nói tóm lại, NCKH chưa có chỗ đứng xứng đáng trong phát triển kinh tế xã hội trước hết là do nhận thức. Khác với nhiều lãnh vực khác có sự phán xét của công chúng (như nghệ thuật), khoa học còn tù mù giữa tính chuyên nghiệp và không chuyên, ý kiến của các học giả đích thực thường bị xem nhẹ. Trong hoàn cảnh đó, những người không chuyên nghiệp dễ dàng núp dưới danh nghĩa khoa học để mưu lợi từ ngân quỹ nhà nước mà đề án CNTT 112 là một minh chúng.        Từ sản phẩm NCKH đến thương mai hoá đại trà  Có bao nhiêu thiết bị, chế phẩm và quy trình công nghệ làm ra từ các đề tài NCKH, hoặc đem trưng bày ở các TECHMART, được thương mại hoá đại trà thành công? Bộ KHCN nên mạnh dạn tiến hành cuộc tổng duyệt này, có thế mới rút ra được bài học cho mô hình quản lý hiện nay. Chắc chắn tỷ lệ sản phẩm được thương mại hoá thành công là rất thấp (nếu được 10% là rất đáng mừng), cũng như số công bố quốc tế của Việt Nam còn rất khiêm tốn, và rõ ràng hai đầu ra này của NCKH có liên quan với nhau. Chất lượng nghiên cứu càng cao, khả năng thương mại hoá sản phẩm càng lớn. Con đường từ NCKH đến sản xuất của chúng ta thể hiện sự manh mún, tự phát, thiếu quy hoạch, bắt nguồn từ cách quản lý khoa học hiện nay.    Các doanh nghiệp chẳng những chưa mặn mà đóng góp kinh phí cho NCKH (như ở các nước khác), mà còn chen chân vào cái bầu sữa ngân sách nhà nước. Nghiên cứu sản xuất đầu lọc thuốc lá, chế tạo một số thiết bị chuyên dụng, đơn chiếc v.v… lý ra là chuyện của doanh nghiệp, lại trở thành mục tiêu của nhiều đề tài cấp nhà nước. Cứ theo đuổi hết thiết bị này đến thiết bị khác, bao giờ mới có được tiềm lực cho nền khoa học Việt Nam?  Chúng ta đang có một nền khoa học ăn đong với món mỳ ăn liền do quá chú trọng đến những sản phẩm rời rạc, không gắn kết với nhau. Do đó các tập thể khoa học cũng phải ăn đong theo đề tài. Thắng thầu sẽ có tiền để nghiên cứu, tiêu hết tiền, không nghiên cứu nữa. Bức tranh này hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật tích lũy liên tục và kế thừa, nhờ đó mà tri thức và năng lực đội ngũ khoa học mới tiến nhanh theo cấp số nhân. Chuyên gia và học giả tầm cao rất khó xuất hiện và phát triển từ môi trường học thuật hiện nay.     Một mô hình mới        Các doanh nghiệp nhà nước chẳng những chưa mặn mà đóng góp kinh phí cho NCKH (như ở các nước khác), mà còn chen chân vào cái bầu sữa ngân sách nhà nước.        Vậy cuộc chơi mới phải bắt đầu từ nhận thức lại những quan điểm cơ bản trong phát triển KHCN. Cú “kick-off” giờ đây đang ở trong chân của những người quyết định chính sách. Giới khoa học cũng phải dũng cảm tự nhận mình là ai trong thế giới hội nhập này. Nếu chúng ta thực sự còn non yếu, chính sách KHCN phải lấy việc phát triển đội ngũ và môi trường học thuật lành mạnh 3) làm cứu cánh, việc tạo ra các sản phẩm kinh tế cụ thể chỉ nên xem là phương tiện. Chỉ đến khi đội ngũ và môi trường học thuật đạt đến “khối lượng tới hạn” 6), KHCN mới phát triển tự nhiên trong mối tương hỗ với giáo dục, văn hoá và sản xuất, nghĩa là bắt đầu trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội.        Sứ mạng của các Trung tâm nghiên cứu chất lượng cao là phát triển đội ngũ khoa học tinh hoa qua việc tạo dựng một môi trường học thuật tự do sáng tạo theo tinh thần đồng đội trong NCKH.          Để thực hiện chính sách trên, mô hình phát triển phải chuyển trọng tâm từ các chương trình ngắn hạn định hướng theo sản phẩm sang các chương trình dài hạn phát triển ngành, xây dựng các trung tâm nghiên cứu có chất lượng, đặc biệt là chất lượng cao (center of excellence) chủ yếu ở các trường đại học như những đơn vị cấu trúc cơ bản của nền khoa học, vừa có chỗ đứng trên thế giới vừa có tác động đến nền kinh tế, nâng cao vai trò và trách nhiệm của các đầu đàn khoa học, mở rộng các đơn vị chuyên ngành hiện có theo hướng cả chuyên sâu lẫn liên ngành, và dứt khoát sử dụng các sân chơi quốc tế làm thước đo chất lượng.  Xây dựng các trung tâm chất lượng cao (TTCLC) ngang tầm quốc tế là những nội dung chủ yếu và tiêu chí đánh giá thành công của mô hình này. Nền khoa học của đất nước sẽ lớn lên theo các trung tâm này cùng với những đầu đàn và đội ngũ ở đây. Sứ mạng của các TTCLC là phát triển đội ngũ khoa học tinh hoa qua việc tạo dựng một môi trường học thuật tự do sáng tạo theo tinh thần đồng đội trong NCKH. Nội dung nghiên cứu hướng theo các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nhưng qua đó phải nâng cao được tiềm lực của ngành, bảo đảm tính kế thừa những kết quả đã có từ trước chứ không ăn đong theo các đợt đấu thầu như hiện nay (đương nhiên vẫn phải có các tổ chức phản biện).        Máy kiểm xạ chuyên dụng    Trong danh mục chương trình cấp nhà nước 2006-2010 thấy có đề tài chế tạo thử một máy kiểm xạ chuyên dụng. Những đề tài kiểu này đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần từ nhiều năm nay, lần nào người ta cũng hứa sẽ đưa ra sản xuất đại trà. Nhưng giờ đây Việt Nam vẫn chưa có máy kiểm xạ nào được sản xuất trong nước, ngay những máy có tính năng đơn giản và có nhu cầu ngày càng lớn ở nước ta. Ở các nước, máy kiểm xạ thường do các xưởng chế tạo, ban đầu có tính năng đơn giản, dần dà qua kinh nghiệm tích lũy được có thể chế tạo những máy chuyên dụng ngày càng có tính năng cao cấp hơn            Tiêu chí đánh giá sự thành công của các TTCLC trước hết là năng lực NCKH thể hiện qua thành tích hợp tác bình đẳng với các trung tâm khoa học tiên tiến trên thế giới, thực hiện đề tài chung, trao đổi cán bộ tương đương, được các tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí, có nhiều công bố quốc tế qua con đường hợp tác và bằng nội lực. Thành tích NCKH cũng được đánh giá qua tác động đến hai mặt trận giáo dục và kinh tế.  Để bảo đảm tính tích lũy và kế thừa, các TTCLC phải được nhà nước/doanh nghiệp chuẩn y kinh phí dài hạn trên 5 năm một, và có chế độ ưu đãi thích đáng cho các thành viên, thí dụ có chế độ thưởng đặc biệt cho các công trình nghiên cứu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.  Vẫn phải cần một cuộc du nhập khoa học mới  Nhưng với lực lượng đầu đàn quá mỏng hiện nay, không thể thực thi con đường này mà không du nhập khoa học lần thứ hai từ các nước tiên tiến 7). Cần khởi động ngay một đề án mười năm nhằm nâng cấp và xây dựng mới khoảng 200 bộ môn ở các trường đại học đủ trang thiết bị hiện đại và hàng năm mời 200 chuyên gia nước ngoài đến làm việc dài hạn. Chi phí trung bình cho mỗi cơ sở vào khoảng 5 triệu USD, bao gồm đầu tư trang thiết bị và vận hành trong mười năm. Con số này có thể thăng giáng từ 2 triệu đến 20 triệu USD tuỳ trường hợp cụ thể, nhưng tổng kinh phí sẽ là 5 triệu USD x 200 = 1 tỷ USD, nghĩa là 100 triệu USD/năm. Tính thêm chi phí hợp tác quốc tế và thuê chuyên gia, trong số này có những nhà khoa học gốc Việt đang sinh sống ở nước ngoài, sẽ lên đến 125 triệu USD/năm. Con số này chưa bằng một phần tư kinh phí trung bình hàng năm mà nhà nước giành cho KHCN trong giai đoạn sau 2007.         Cần khởi động ngay một đề án mười năm nhằm nâng cấp và xây dựng mới khoảng 200 bộ môn ở các trường đại học đủ trang thiết bị hiện đại và hàng năm mời 200 chuyên gia nước ngoài đến làm việc dài hạn.        Có thể nói mô hình trên đây là đối cực của mô hình hiện nay, do đó chúng ta phải mất một thời gian chuyển tiếp, trong đó cả hai mô hình có thể đồng tồn tại. Lại rất cần chiếc đũa chỉ huy của các nhạc trưởng thay vì các cơ chế dân chủ hình thức như hiện nay.  ______________________________________________________________________  1) Pierre Darriulat, Phỏng vấn đăng trên Tia Sáng số 13, ngày 5/7/2007  2) K. S. Jayaraman, Indian science is in decline, says Prime Minister, Nature Vol. 445, p. 134, 2007  3) J. Thottam/S. Clara, A reunion of the “MIT of India”, New York Time 9/7/2007.  4) Tuổi Trẻ, 6/9/07.  5) Báo cáo về giảng dạy khoa học máy tính, kỹ thuật điện và vật lý ở một số trường đại học Việt Nam, Vietnam Education Foundation phối hợp với Bộ GD ĐT, VIII/2006.  6) Phạm Duy Hiển, So sánh đại học hàng đầu Thái Lan và Việt Nam. Tia Sáng 20/1/ 2007.  7) Phạm Duy Hiển, Đào tạo hai vạn tiến sĩ “xịn”  – tại sao không? VietnamNet, 2006.    Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu hút lao động hậu đại dịch      Dịch bệnh được kiểm soát ở trung tâm kinh tế lớn nhất để chúng ta dần quay lại phục hồi kinh tế, nhưng trước mắt chúng ta lại là thách thức: sau dòng người ồ ạt trở về quê lánh dịch thì thành phố sẽ tìm lao động ở đâu?      Theo báo cáo gần đây của ILO, chính sách lao động việc làm là trọng tâm quan trọng nhất để xử lý khủng hoảng và phục hồi đại dịch ở các nước đang phát triển, với hơn nửa các chính sách liên quan đến vấn đề này. Ảnh: Phóng sự “8 tiếng trọn vẹn” về công nhân tại hai khu Công Nghiệp, khu Chế Xuất lớn của thành phố Hồ Chí Minh: khu Công Nghiệp Tân Tạo, Q. Bình Tân, khu Chế Xuất Linh Trung, Q. Thủ Đức của viện iSEE.   Những điều đã biết và chưa biết   “Thực trạng khó khăn trước mắt là quá lớn”, cả TS. Phạm Khánh Nam, Trưởng khoa Kinh tế, Đại học Kinh tế TP. HCM và TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong đều cùng chung nhận định khi bắt đầu trả lời phóng viên Tia Sáng. Nhìn chung, đại dịch tạo ra vòng lặp khủng hoảng mà chúng ta có thể tạm hình dung một cách đơn giản nhất như thế này: COVID-19 >> giảm tổng cầu/giảm năng lực sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng>> mất việc làm, thu nhập >> giảm tổng cầu đình trệ sản xuất >> mất việc làm, thu nhập >> giảm tổng cầu…   Giữa vòng lặp ấy, đứt gãy nguồn lao động là vấn đề sống còn. Đầu tàu kinh tế phía Nam thiếu lao động trầm trọng, vì 1,3 triệu người đã trở về quê, trong bối cảnh 2,5 triệu lao động phải ngừng làm việc.  Bối cảnh nguồn lực của chúng ta đã hạn chế từ trước đại dịch nay còn khó khăn gấp bội phần đòi hỏi các nhà quản lý cần cơ sở để đưa ra các quyết sách đúng và trúng. Ưu tiên trước mắt là trả lời được câu hỏi làm thế nào thành phố hút được lao động trở lại để không làm đứt gãy sản xuất?  “Lúc này thông tin về hành vi cung và cầu lao động là không đầy đủ và biến động, bất thường”, TS. Phạm Khánh Nam cho biết. Cung và cầu lao động do mỗi cá nhân và đơn vị sử dụng lao động quyết định. Trong trạng thái bình thường thì thị trường sẽ tự cân bằng cung cầu lao động. Trong tình trạng đứt gãy luồng di chuyển lao động, nhu cầu lao động từ khối sản xuất không ổn định, và chính sách quản lý kinh tế xã hội không nhất quán do phụ thuộc vào thời gian, địa điểm COVID-19 bùng phát dịch, nhà nước cần can thiệp giúp đạt cân bằng thị trường lao động một cách tương đối.  Nhưng hiểu về nguồn cung lao động lúc này là rất khó khăn, vì “hành vi của người lao động phức tạp và bị chi phối bởi nhiều yếu tố văn hóa xã hội gia đình” TS. Phạm Khánh Nam nhận định. TS. Phùng Đức Tùng còn lo ngại vấn đề căng thẳng, nỗi lo nhiễm bệnh, nhốt mình trong 3 – 4 tháng có thể trở thành cú sốc tâm lý khiến người di cư không còn “tâm trí nào muốn quay trở lại” thành phố nữa, ít nhất là trong ngắn hạn. Trong bối cảnh đại dịch bất thường, hành vi của con người vốn bình thường đã rất đa dạng thì giờ đây càng tiếp tục khó đoán định. Nhãn tiền là trước 3-4 làn sóng rời thành phố trở về quê của người lao động di cư, chúng ta hầu như không thấy có dự báo, báo cáo nào mang tính hệ thống về các làn sóng này để đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp.       Trong chính sách ngắn và trung hạn, hai nhóm công cụ chính sách thu hút người lao động quay trở lại làm việc là: dùng khuyến khích kinh tế, tác động vào động lực kinh tế của cá nhân và dùng công cụ kinh tế hành vi, tác động tâm lý.      Tương tự, ở đầu còn lại của thị trường lao động, dự đoán “nhu cầu về lao động, việc làm trong sáu tháng tới, một năm tới như thế nào” cũng không dễ dàng hơn. Nhìn vào phản ánh của báo chí, sơ bộ chúng ta biết được là doanh nghiệp đang rất thiếu lao động, nhưng với các nhà kinh tế thì “rất thiếu” chưa phản ánh gì nhiều. Để dự đoán về nhu cầu này lại phải liên quan đến một loạt các câu hỏi khác, gồm dịch chuyển các ngành nghề bị ảnh hưởng của COVID, ngành nào sẽ giảm nhu cầu, ngành nào sẽ tăng nhiều hơn? Từ đó dự đoán nhu cầu dịch chuyển lao động từ ngành này sang ngành kia, xu hướng lao động có kỹ năng, không có kỹ năng, mức độ đào tạo lại, không cần đào tạo lại ra sao? Đó đều là những dữ liệu thành phố Hồ Chí Minh (và vùng lân cận) đang rất cần mà chưa có.   Khi chưa có dữ liệu, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý chỉ có thể dự đoán dựa trên các quy luật về cung cầu kinh tế và có thể là dữ liệu từ một vài khảo sát nhỏ mà chưa có tính toàn diện. Các nhận định vì thế có thể sẽ có độ chênh, chẳng hạn, các nhà kinh tế đều thống nhất ở điểm nguồn nhân lực cho thị trường lao động chính thức, cho các doanh nghiệp có ký kết hợp đồng lao động, các nhà máy, khu công nghiệp rất thiếu. Nhưng nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh tế phi chính thức như kinh doanh hộ gia đình, café nhà hàng nhỏ lẻ, dọn dẹp, bán hàng rong… thì các dự báo lại không hoàn toàn thống nhất. Mặc dù TS. Phùng Đức Tùng cho rằng thiếu nhân lực là điều chắc chắn nhưng theo quan điểm của TS. Phạm Khánh Nam thì khu vực lao động phi chính thức còn hoạt động cầm chừng chứ không lập tức “bật lò xo” hoạt động trở lại như mong đợi của các nhà quản lý. Có thể với “khu vực chính thức, các nhà máy vẫn có tiềm lực sản xuất, kho hàng, khách hàng còn đó, họ có thể thiếu lao động thật. Nhưng khu vực phi chính thức không đến nỗi thiếu vì nhu cầu quay lại chưa cao, bản thân nội lực của họ cũng yếu, như là một người bệnh mới ốm dậy thôi, họ đâu có hoạt động nhanh mạnh được mà cần nhiều lao động. Nên tôi dự đoán là không đến nỗi thiếu lao động trầm trọng quá. Có tình trạng đình trệ kinh tế: sản xuất cầm chừng và người lao động không có việc làm”, TS. Phạm Khánh Nam nói. Chính vì thế các nhà kinh tế và nhà quản lý tiếp tục cần thêm dữ liệu nền chi tiết, ví dụ như các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau hiện giờ sống chết ra sao, khả năng phục hồi thế nào, vì sức khỏe của doanh nghiệp liên quan tới người lao động.     Người lao động từ miền Tây quay trở lại TP.HCM.  Các giải pháp tức thời  Dù chưa có dữ liệu đầy đủ trong tay thì các nhà kinh tế và nhà quản lý vẫn phải đưa ra những nhận định, khuyến nghị chính sách dựa trên các nguyên tắc chung của thị trường. Theo hai chuyên gia, trong giai đoạn trước mắt đến hai năm, cần ưu tiên giải quyết cú sốc đứt gãy thị trường lao động và việc làm bằng cách đảm bảo an sinh, tạo việc làm, chặn đứng vòng lặp khủng hoảng; còn trong trong trung hạn và dài hạn (hai năm tính từ thời điểm hiện tại) phục hồi nền kinh tế theo hướng ưu tiên mục tiêu việc làm, có tính bao trùm (tạo việc làm cho các nhóm yếu thế, lao động nhập cư, lao động phi chính thức) và có khả năng đàn hồi (không đặt mục tiêu hiệu quả kinh tế lên cao nhất mà cần đầu tư gia tăng sức chống chịu của hệ thống trước các cú sốc trong tương lai), ưu tiên các chính sách, chương trình dự án kinh tế tạo ra nhiều việc làm.  Cụ thể, trong chính sách ngắn và trung hạn, hai nhóm công cụ chính sách thu hút người lao động quay trở lại làm việc là: dùng khuyến khích kinh tế, tác động vào động lực kinh tế của cá nhân và dùng công cụ kinh tế hành vi, tác động tâm lý. Đối tượng chính sách chủ yếu trong nhóm này là lao động nhập cư đã quay trở về quê và lựa chọn làm việc trong khu vực kinh tế chính thức. Chính sách thu hút lao động quay trở lại làm việc thuộc nhóm chính sách trong ngắn và trung hạn.   Gói hỗ trợ doanh nghiệp       Cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các “gói phúc lợi” thu hút người lao động quay trở lại làm việc gồm 3 thành phần chính: Giới thiệu việc làm + hỗ trợ nhà trọ + vaccine COVID-19.      Đối với phía cầu lao động của doanh nghiệp, nhà nước cần nhanh chóng có chính sách hỗ trợ, vì tổng kết của Ngân hàng Thế giới ở 55 quốc gia cho thấy chính sách thị trường lao động tập trung phía doanh nghiệp chiếm vai trò chủ đạo trong các chính sách lao động việc làm trong đại dịch COVID-19. Các chính sách thị trường lao động chủ yếu tập trung hỗ trợ doanh nghiệp khả năng thanh khoản và tăng tính linh hoạt trong quy định lao động. Các chính sách tăng tính thanh khoản/dòng tiền cho doanh nghiệp và tính linh hoạt trong điều tiết lao động là những chính sách thị trường lao động được sử dụng rộng rãi nhất.  TS. Phạm Khánh Nam đề xuất, các chính sách cải thiện tính thanh khoản của doanh nghiệp, nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước ưu tiên xem xét chính sách hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp, như hoãn nộp thuế doanh nghiệp, gia hạn khấu trừ thuế giá trị gia tăng, khấu trừ bổ sung thuế, gia hạn thời hạn giải quyết nghĩa vụ thuế. Có thể xem xét hỗ trợ bảo lãnh tín dụng, thanh toán khoản vay (giảm lãi suất cho vay, tái cấu trúc nợ), hoãn/giảm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, phí công đoàn cho người lao động, hỗ trợ điện nước và tiền thuê đất. Cùng quan điểm này, TS. Phùng Đức Tùng nhấn mạnh các chính sách hoãn, giảm đóng các loại bảo hiểm, phí là đặc biệt quan trọng với “các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là thâm dụng lao động, ví dụ như với các doanh nghiệp dệt may giày da thì lương là chi phí lớn nhất, chiếm tới 70%”. Vì tổng giá trị đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, phí công đoàn, bảo hiểm y tế chiếm đến 34,5% chi cho mỗi người lao động là gánh nặng cực kỳ lớn cho các doanh nghiệp thâm dụng lao động. Nếu nhà nước miễn hai năm thì doanh nghiệp có thể dùng tiền đó tăng lương cho người lao động, để thu hút được lao động quay lại.   * Chỉ tính riêng nguồn lao động nhập cư giá rẻ cho TP. HCM và khu vực lân cận đã sụt giảm 1.3 triệu do họ trở về quê hương.  * Tới tháng 8/2021, đã có khoảng 2,5 triệu lao động phải ngừng việc ở các tỉnh phía Nam, chiếm 70% số lao động phải ngừng việc trong cả nước.  * Khảo sát của Ban nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân cho thấy trong thời gian giãn cách vừa rồi chỉ có 16% doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh, 69% tạm ngừng hoạt động và 15% doanh nghiệp giải thể. Trong đó chủ yếu doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ.  “Gói phúc lợi” thu hút người lao động quay trở lại   Khảo sát sơ bộ gần đây của nhóm TS. Phạm Khánh Nam cho thấy quyết định quay trở lại thành phố làm việc phụ thuộc nhiều vào các yếu tố do nhóm chính sách khuyến khích tăng cường phúc lợi. Nhóm nghiên cứu cho rằng nhận thức về tiền lương và thu nhập cũng như tiền lương và thu nhập thực tế tại thành phố Hồ Chí Minh luôn cao hơn tiền lương tại quê nhà của người lao động. Do đó, anh đề xuất cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các “gói phúc lợi” thu hút người lao động quay trở lại làm việc gồm ba thành phần chính: Giới thiệu việc làm + hỗ trợ nhà trọ + vaccine COVID-19.   Nhà nước nên có những chương trình tạo việc làm trực tiếp tạo thêm việc làm trong những dự án có đặc tính đem lại lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích xã hội, có thể là những dự án cơ sở hạ tầng lớn cần nhiều lao động. Lao động tham gia các chương trình này thường là những người thất nghiệp dài hạn hoặc những người trong nhóm lao động phi chính thức bị mất việc do đại dịch COVID-19. Chương trình tạo việc làm trực tiếp hay tạo việc làm công có ba lợi ích: tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là nhóm yếu thế; đóng vai trò bảo trợ xã hội, tạo thu nhập tức thời; và tạo lợi ích công/công trình hạ tầng cơ sở. Khi thị trường lao động phục hồi, chương trình tạo việc làm trực tiếp sẽ thu hẹp.   Các giải pháp này vẫn đi cùng với các các chính sách trợ giúp xã hội khác đã được tiến hành từ đợt dịch thứ tư, bao gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tiền trực tiếp và các khoản trợ cấp khác cho người lao động, gồm hỗ trợ chi phí điện, nước.  Nhưng quyết định quay trở lại của người lao động còn phụ thuộc vào thông tin về bệnh dịch, thông tin chính sách và quá trình thực thi có nhất quán hay không. Nên hai chuyên gia khuyến nghị, các thông tin về dịch bệnh, môi trường làm việc, chính sách việc làm phải được truyền thông rộng rãi qua nhiều kênh truyền thông chính thức, mạng xã hội, và cả người nổi tiếng. Để xây dựng và củng cố lòng tin cho người lao động, cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các chính sách và thông tin liên quan một cách nhất quán và rõ ràng. Tuy nhiên, sẽ vẫn có những vấn đề liên quan tới văn hóa xã hội, ví dụ làm thế nào để thúc đẩy người lao động quay lại làm việc sớm hơn, vượt qua tâm lý quay trở lại làm việc sau Tết Nguyên Đán là việc khó và cần thời gian. Vì khảo sát sơ bộ của TS. Phạm Khánh Nam trên 400 người lao động cho thấy, 42% cho biết chỉ quay trở lại làm việc sau Tết Nguyên Đán.   Cái nhìn dài hạn cho một bối cảnh bất định   Nhìn chung, một trong những vấn đề khó nhất của thị trường lao động vẫn là kết nối cung cầu lao động, khi thông tin cung cầu lao động là không rõ ràng và bất định. Vấn đề kết nối sẽ càng khó khăn trầm trọng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 nên nhóm của TS. Phạm Khánh Nam đề xuất trong dài hạn, cơ quan quản lý nhà nước đầu tư xây dựng nền tảng kết nối việc làm. Ví dụ thành công điển hình là trang kết nối việc làm trực tuyến của Chính phủ Úc https://jobactive.gov.au/. Chính phủ nên có cơ chế hỗ trợ xây dựng nền tảng kết nối việc làm tập trung vào nhóm đối tượng lao động ít kỹ năng, nhóm yếu thế. Nền tảng (platform) này dựa trên mô hình kinh tế nền tảng, sử dụng công nghệ số giúp kết nối nhu cầu chia sẻ nguồn nhân lực nhàn rỗi và nhu cầu sử dụng nguồn lực đó một cách chính xác, hiệu quả, nhanh chóng và chi phí thấp. Nền tảng kết nối việc làm này cũng giúp xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động nhằm giúp các cơ quan hoạch định chính sách có thông tin chính xác hơn về cung cầu lao động tại từng địa phương.  Các thành phố vẫn phải phụ thuộc vào nguồn lao động di cư nhưng đại dịch đã làm lộ rõ tình trạng bấp bênh của họ – lao động di cư thường là nhóm đầu tiên bị cho nghỉ việc, họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận để được chữa trị và thường không được đưa vào diện điều chỉnh của các chính sách ứng phó với đại dịch COVID-19. Khủng hoảng COVID-19 làm gia tăng những nguy cơ này, đặc biệt là đối với nữ lao động di cư vì họ chủ yếu làm các công việc đòi hỏi tay nghề thấp, được trả lương thấp, và ít được tiếp cận với các chế độ an sinh xã hội cũng như ít có lựa chọn đối với các dịch vụ hỗ trợ. “Trong dịch bệnh các chính sách đều cho người di cư cảm thấy mình là công dân hạng hai là không ổn. Các thành phố cần thu hút người lao động và để họ thấy đây là quê hương thứ hai và người ta có thể sinh sống lâu dài thì mới bền vững được”, TS. Phùng Đức Tùng khuyến nghị. Nghĩa là các “chính sách y tế, giáo dục, nhà ở giá rẻ đều phải bình đẳng như người sở tại”.  TS. Phùng Đức Tùng cũng lưu ý thêm, trong chiến lược dài hạn thì việc tập trung phát triển kinh tế ở hai trung tâm lớn là hai siêu đô thị Hà Nội, TP. HCM là không phù hợp. Dịch bệnh lần này mang lại bài học lớn là không thể tập trung phát triển kinh tế và không thể thu hút dân số vào tập trung ở một vài nơi vì rủi ro rất lớn, nên chúng ta phải nghiên cứu tới việc phi tập trung sản xuất, phải khuyến khích các doanh nghiệp đem nhà máy, xí nghiệp đến các nơi có lao động dư thừa chứ không phải là thu hút lao động dư thừa đến các trung tâm.     Dữ liệu lao động   Các nhà kinh tế và tổ chức lao động quốc tế luôn nhấn mạnh, các chính sách về lao động di cư sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi được xây dựng dựa trên bằng chứng thống kê vững chắc. Dù năm ngoái và năm nay, cả hai nhóm nghiên cứu của TS. Phùng Đức Tùng và TS. Phạm Khánh Nam tiến hành các cuộc nghiên cứu quy mô nhỏ trên dưới 1000 mẫu nhưng các chuyên gia cho rằng đây chỉ là các nghiên cứu bước đầu, không có tính đại diện. Để có dữ liệu quy mô lớn ở cả nhóm người lao động và doanh nghiệp thì chỉ có nhà nước mới đủ khả năng thực hiện khảo sát, còn “nhà khoa học đi năn nỉ [doanh nghiệp, người lao động] trả lời không được bao nhiêu”, TS. Phạm Khánh Nam cho biết.    Mặc dù vậy, ngay lúc này cả hai nhóm vẫn đang khẩn trương tiến hành khảo sát để cung cấp thêm thông tin về lao động việc làm trong đại dịch cho nhà quản lý. □  “Đại dịch Covid-19 tạo ra sự chuyển dịch các ngành nghề sản xuất và kinh doanh, một số ngành nghề mất đi, giảm quy mô, và các ngành nghề mới xuất hiện hoặc mở rộng quy mô. Nên trong nghiên cứu tới đây, chúng tôi dự định thiết lập danh mục các ngành nghề sẽ hoạt động trong giai đoạn sắp tới, xếp hạng sự thay đổi, tính toán nhu cầu lao động cho từng ngành nghề và đưa ra đề xuất chính sách thúc đẩy, hỗ trợ sử chuyển đổi của thị trường lao động”, TS Phạm Khánh Nam.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam      Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất (MPS) sang hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), nhiều chỉ tiêu của Việt Nam ngày càng tương đồng với thế giới. Đồng thời cũng phát sinh một số ngộ nhận về con số GDP coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều) và trong nhiều trường hợp gây ra những hiểu lầm đáng tiếc .      Nhìn chung thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn và khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng. Ảnh: Một người phụ nữ bán hàng rong đi qua khu bán hàng xa xỉ phẩm ở Hà Nội. Nguồn: Getty image.   Thu nhập của người lao động từ sản xuất (một nhân tố của GDP) được hiểu bao gồm thu nhập bằng tiền và hiện vật của người lao động trong quá trình sản xuất, hiện nay hằng năm Tổng cục Thống kê (TCTK) không công bố chỉ tiêu này, nhưng dựa vào bảng cân đối liên ngành (input-output table) có thể ước tính thu nhập từ sản xuất chiếm khoảng 53% GDP, như vậy GDP bình quân đầu người năm 2016 khoảng 2188 USD, tăng 25% so với năm 2012 (1755 USD), nhưng một điều trớ trêu là trong đó thu nhập từ sản xuất bình quân của người lao động chỉ tăng 1,2% (khoảng 870 USD năm 2016 so với 860 USD năm 2012). Điều này cho thấy phần thặng dư bình quân tăng rất cao, do nền kinh tế phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nên việc thặng dư tăng cao về thực chất không có ích gì nhiều cho Việt Nam mà chỉ có lợi cho nước ngoài. Cũng theo số liệu của TCTK, tổng thu nhập bình quân đầu người năm 2016 khoảng 1648 USD, điều này có nghĩa khoản thu nhập bình quân đầu người ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) là khoảng 778 USD; nếu tỷ lệ giữa thu nhập từ sản xuất so với tổng thu nhập năm 2012 khoảng 74-75% thì đến năm 2016 tỷ lệ này giảm xuống 53%, phần còn lại là thu nhập kiếm được từ ngoài quá trình sản xuất (47%). Như vậy có thể thấy GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người là hoàn toàn khác nhau; và nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài (FDI) từ khâu sản xuất, lưu thông và phân phối lại.  Số liệu của TCTK cũng cho thấy khoảng cách giữa thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất và tổng thu nhập bình quân đầu người ngày càng bị nới rộng, điều này phần nào do lượng kiều hối những năm gần đây chuyển về Việt Nam khá lớn. Với số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012 về tổng thu nhập bình quân đầu người khoảng 2 triệu đồng tháng thì tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2016 khoảng hơn 3 triệu đồng tháng. Đó là mức thu nhập khiêm tốn, rất khó khăn cho người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn tổng thu nhập bình quân đầu người trên tháng năm 2016 chỉ là 2,4 triệu đồng thấp hơn mức bình quân, trong khi 66% dân số là ở nông thôn. Đó là chưa kể đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, làm cho khoảng cách thu nhập giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giàu nhất lên tới gần 10 lần và đang tăng lên. Các nhà mô hình và các nhà lập chính sách mất nhiều công sức chú trọng vào cấu trúc và sự liên kết ngành, tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ chi tiêu dựa trên thu nhập của các nhóm dân cư ảnh hưởng quan trọng đối với tăng trưởng, một điều được rút từ mô hình cân bằng tổng thể cho thấy chi tiêu của nhóm có thu nhập cao không lan tỏa nhiều đến nền kinh tế trong nước bằng các nhóm thu nhập trung bình và thấp. Việc phân hóa giàu nghèo trong xã hội cần phải được đặt ngang hàng với mục tiêu tăng trưởng GDP. Cái mà xã hội và người dân cần là các chính sách cần hướng đến người dân thay vì hoàn toàn hướng đến doanh nghiệp.  Mặt khác cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ giữa tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình từ năm 2010-2016 và 9 tháng năm 2017 luôn ổn định ở mức 70 – 72% GDP, như vậy có thể thấy mức tiêu dùng bình quân đầu người trên tháng năm 2016 khoảng 2.572.000, trong khi đó thu nhập từ sản xuất bình quân tháng khoảng 2.386.000 đồng. Từ những con số này có thể thấy đa số người dân không những không có để dành mà còn phải đi vay một phần để tiêu dùng! Đây là tín hiệu khá nguy hiểm, không những thế nó còn cho thấy việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân. Tuy nhiên mức tổng thu nhập của dân cư (bao gồm từ sở hữu và chuyển nhượng1) hằng tháng vẫn cao hơn mức chi tiêu khoảng 500.000 đồng, nhưng lại chưa bao gồm rất nhiều khoản lạm thu của chính quyền địa phương từ những khoản  “đóng góp” gần như bắt buộc của các tổ chức ở địa phương, nên phần còn lại (saving) của khu vực hộ gia đình chỉ còn khoảng 30.000 tỷ đồng, tương đương 1,2 – 1,5 tỷ USD. Như vậy lượng kiều hối đổ vào Việt Nam mấy năm gần đây trên dưới 10 tỷ USD nhưng lượng tiền có thể đưa vào đầu tư chỉ khoảng 1,2 – 1,5 tỷ USD.  Mặt khác, phân tích theo các nhân tố cấu thành giá trị gia tăng theo giá cơ bản bao gồm thu nhập của người lao động từ sản xuất, thặng dư sản xuất thuần (không bao gồm khấu hao tài sản cố định) cho thấy tỷ lệ thu nhập từ sản xuất so với giá trị gia tăng thuần tăng nhanh từ 63% năm 2000 lên 67% năm 2007 và giai đoạn hiện nay vào khoảng trên 80%. Điều này có nghĩa nếu năm 2000 có một đồng giá trị gia tăng sẽ có 0.37 đồng thặng dư thì đến giai đoạn hiện nay có một đồng giá trị gia tăng chỉ còn 0,2 đồng thặng dư. Như vậy việc tăng lương không gắn liền với tăng năng suất lao động sẽ khiến thặng dư của các doanh nghiệp giảm đi, nói cách khác tăng lương không dựa vào tăng năng suất sẽ khiến nguồn lực của nền kinh tế nhỏ lại ở những chu kỳ sản xuất sau, khi thặng dư của doanh nghiệp ngày một nhỏ lại dẫn đến việc đầu tư mở rộng sản xuất gặp khó khăn do không đủ khả năng tích lũy. Ngoài ra khi hệ số co giãn về lao động tăng cao, nền kinh tế phải cần một lượng vốn rất lớn mới có thể có được tăng trưởng. Đây là một trong những nguyên nhân khiến khối doanh nghiệp tư nhân trong nhiều năm qua không thể phát triển (giá trị gia tăng đóng góp vào GDP chỉ loanh quanh ở mức 7-8%). Tuy nhiên hệ số này ở các ngành là không giống nhau, hầu hết nhóm ngành chế biến chế tạo có hệ số thu nhập từ sản xuất so với giá trị gia tăng thuần rất cao, hệ số co giãn về thặng dư rất thấp, nên nếu quyết định tăng lương không từ năng suất (quyết định hộ doanh nghiệp) ở những ngành này sẽ làm doanh nghiệp càng thêm khó khăn. Nhưng ngược lại một số ngành lại có hệ số co giãn về thặng dư rất cao như nhóm ngành xây dựng, kinh doanh bất động sản, khách sạn nhà hàng… Điều đó cho thấy việc quyết định tăng lương không nên làm đồng loạt đại trà mà cần tính toán kĩ lưỡng cho các nhóm ngành khác nhau, thậm chí nên nghiên cứu cho ngành trong vùng.  Do đó, để nền kinh tế phát triển lành mạnh, việc tối quan trọng là tăng năng suất lao động, nhưng trước tiên cần tăng thu nhập cho người lao động ít nhất bằng với mức lạm phát. Khi nhận thức của xã hội được nâng lên hãy để doanh nghiệp tự quyết định cân nhắc việc tăng lương dựa trên hiệu quả sản xuất và nguồn nhân lực của họ.  Như vậy có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn rất khó xử, nếu không tăng lương người lao động sẽ rất khó khăn trong cuộc sống, nhưng nếu tăng lương đại trà mà không đi kèm với tăng năng suất lại dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp. Như vậy việc quan trọng nhất là năng suất lao động của Việt Nam cần tăng lên và tăng lương thế nào phải do bên sử dụng lao động quyết định.  ———-  1Cơ bản là kiều hối  Tài liệu tham khảo  Asian Development Bank. (2015). Financial Soundness Indicators for Financial Sector Stability in Vietnam. Manila.  Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Trung-Dien Vu, Pham Le Hoa. (2012). ‘New Economic Structure for Vietnam toward Sustainable Economic Growth in 2020’. Global Journal of Human Social Science, Vol. 12 Issue 10.  TCTK +Niên giám thống kê” 2016, NXB TK, 2017  Miyazawa. K (1976). “Input – output analysis and the structure of income distribution” Heideberg, Springer – Veriag  Nguyen Quang Thai, Bui Trinh (2017). Phân tích GDP và sự phát triển bền vững về môi trường” Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam” Số 2 2017.       Author                Bùi Trinh        
__label__tiasang Thử nhìn lại vấn đề Vốn xã hội      Những năm gần đây vốn xã hội (VXH) là một đề tài được đem ra bàn cải  một cách sôi nổi không chỉ trong giới học thuật, nghiên cứu mà cả trong  không gian công cộng qua các bài báo và bài viết trên các trang của các  mạng xã hội. Điều này không hề là một điều ngẫu nhiên và có những nguyên  nhân khách quan của nó.      Nhận thức đau đáu về cơn khủng hoảng của xã hội Việt Nam, được thể hiện  qua quá nhiều hiện tượng tiêu cực, đã thôi thúc các nhà nghiên cứu, các  nhà hoạt động xã hội, văn hóa và chính trị cố gắng chẩn đoán về những  nguyên nhân đã tạo nên cơn khủng hoảng, hầu tìm ra loại giải pháp thích  hợp. Mặc dù đã có rất nhiều bài viết nêu lên tính mơ hồ của khái niệm  VXH nhằm nhắc nhở ta về những khó khăn trong việc sử dụng nó như là một  công cụ nghiên cứu, nhưng có thể nói VXH là một ý tưởng đã được chờ đợi  như một ý tưởng thần kì để đáp ứng sự khao khát trên. Rất nhiều bài dẫn  đến cùng một kết luận: sự giảm sút, sự thiếu hụt VXH là một trong những  nguyên nhân chính của cơn khủng hoảng của xã hội Việt Nam và việc giải  quyết những vấn để hiện nay của xã hội Việt Nam phải thông qua một sự  tái tạo, củng cố và phát triển VXH[1]. Sự đồng thuận này có thể được xem như là tiêu chí cho tính hiệu lực của ý tưởng, khái niệm VXH.  Tuy nhiên nhà nghiên cứu, nhà hoạt động cần phải cẩn trọng hơn nữa khi  mà một khái niệm như VXH, một khái niệm đa chiều và đa nghĩa, được sử  dụng một cách rộng rãi trong xã hội để làm luận cứ cho một quan điểm,  một chính sách. Bài này không muốn trở lại vấn đề định nghĩa VXH đã được  trình bày một cách đầy đủ trong nhiều bài, đặc biệt trong khuôn khổ của  Hội thảo về VXH do Tạp chí Tia Sáng tổ chức năm 2006 mà chỉ muốn điểm  lại những cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về VXH và những vấn đề đặt  ra trong việc ứng dụng khái niệm VXH vào nghiên cứu thực nghiệm. Bài này  cũng chỉ muốn giới hạn trong phạm vi của xã hội học mặc dù biết rằng,  do tính đa chiều của khái niệm VXH kết hợp hai khái niệm (vốn và xã hội)  của hai ngành khoa học khác nhau, nghiên cứu về VXH tất yếu phải là  nghiên cứu liên ngành.  Lược sử về VXH  Ngay trước khi được khái niệm hóa trong khoa học xã hội, ý tưởng về VXH  đã có từ khi mà con người bắt đầu tư duy về việc «sống chung»: điều gì  đã làm cho con người kết hợp lại với nhau để tạo nên những cộng đồng, sự  kết hợp này được tổ chức theo những cơ chế nào và được cụ thể hóa thông  qua những định chế, những cơ cấu nào. Nội hàm về ý tưởng VXH, gắn liền  với nhiều trào lưu tư tưởng và với những vấn đề xã hội đặc thù, được cảm  nhận theo nhiều kiểu cách khác nhau, ở những thời điểm và không gian  khác nhau.  Những người đầu tiên đã làm việc này thuộc giới triết gia. Ta có thể kể  đến các triết gia thời Hy Lạp Cổ đại (Aristote, Platon), đến các lý  thuyết gia về Khế ước xã hội của thế kỷ 17, 18 ở Châu Âu (Jean Jacques  Rousseau, Locke, Hobbes). Ở đây chúng tôi chỉ muốn đề cập đến hai người  đã có những suy nghĩ về VXH rất gần với cách hiểu hiện nay: Alexis de  Tocqueville và Émile Durkheim.  Alexis de Tocqueville (1805-1859) là một nhà quý tộc Pháp sống vào thời  kỳ mà quyền lực của thành phần này đang sụp đổ. Tuy nhiên ông được xem  như là một trong những lý thuyết gia đầu tiên về nền dân chủ. Trong  chuyến đi của ông sang Mỹ khi Mỹ mới giành được độc lập, điều đã gây một  ấn tượng lớn nơi ông chính là sự hiện hữu của những hiệp hội tự nguyện  do những công dân – tức là những người tự do và bình đẳng – thành lập để  theo đuổi và thực hiện những mục đích khác nhau, tôn giáo, an ninh,  kinh tế, tương trợ. Theo ông thì đây là một cơ sở vững chắc cho nền dân  chủ ở Mỹ khi mà người công dân dấn thân để bảo vệ những quyền lợi của  mình và của cộng đồng làng xã, thành thị hay quốc gia. Ông viết: “Theo  tôi, không có điều gì xứng đáng thu hút cái nhìn của chúng ta bằng các  hội đoàn trí thức và đạo đức của Mỹ (…) Trong các nước dân chủ, khoa học  về sự kết nối thành hội đoàn là khoa học gốc; sự tiến bộ của tất cả các  khoa học khác đều tùy thuộc vào sự tiến bộ của khoa học này. Trong các  luật chi phối xã hội loài người, có một luật được xem như là chính xác  và rõ ràng hơn tất cả các luật khác. Để làm cho mọi người là văn minh  hay trở thành văn minh, họ cần phải phát triển và hoàn thiện nghệ thuật kết nối lại với nhau tương ứng với nhịp độ phát triển về sự bình đẳng của các điều kiện”[2]. Tính ưu  việt của các hội đoàn tự nguyện giữa những người công dân tự do và bình  đẳng mà Tocqueville đã nêu lên trong đoạn trên sẽ được Coleman và Putnam  triển khai một cách chi tiết hơn trong lập luận của họ. Đối với  Tocqueville đó chính là cơ sở của xã hội dân sự, một thành tố không thể  thiếu trong nền dân chủ đang hình thành ở Mỹ, rất khác với các xã hội  Châu Âu vào thời điểm đó. Còn đối với Coleman và đặc biệt đối với  Putnam, thì «nghệ thuật kết nối thành hội đoàn» là phương cách để tạo  nên và củng cố VXH nhằm giải quyết những vấn đề được đặt ra cho các xã  hội trên mọi phương diện.  Émile Durkheim (1858-1917) là người đã sáng lập ra xã hội học ở Pháp.  Sống vào một thời kỳ có nhiều biến đổi với trào lưu công nghệ hóa, thành  thị hóa kèm theo những hệ quả tiêu cực, câu hỏi mà ông đặt ra là: làm  sao mà cá nhân lại vừa trở thành tự chủ hơn mà lại vừa gắn bó mật thiết  hơn với xã hội? Câu trả lời của ông là do mối liên kết xã hội (lien social), một khái niệm trung tâm trong tác phẩm «Bàn về sự phân công lao động xã hội» (1893). Đối với  Durkheim, sự phân công lao động xã hội không chỉ mang lại những lợi ích  vật chất, kinh tế (tăng năng suất, hiệu quả cao hơn của sức lao động) mà  quan trọng hơn nó tạo nên mối liên kết xã hội và, qua đó, tạo nên một  tinh thần đoàn kết giữa các các nhân. Durkheim cho rằng chức năng/vai  trò tinh thần của phân công lao động xã hội quan trọng hơn cả chức năng  kinh tế của nó. Dưới góc độ của mối liên kết xã hội, Durkheim phân biệt  hai loại hình xã hội dựa trên hai hình thái của sự đoàn kết xã hội: đoàn  kết xã hội máy móc trong những xã hội có một sự phân công lao động  thấp, bao gồm những người giống nhau và bị chi phối bởi những luật lệ  chế tài khắt khe; đoàn kết xã hội hữu cơ trong những xã hội có sự phân  công lao động cao và bao gồm những cá nhân ngày càng khác nhau về nghề  nghiệp, chức năng và vị thế với những luật lệ mang tính chất bồi hoàn  (restitutif). Sự tiến hóa của xã hội có thể được giải thích bởi sự phát  triển của sự phân công lao động xã hội và được quan niệm như sự chuyển  hóa từ sự đoàn kết xã hội máy móc sang sự đoàn kết xã hội hữu cơ. Quan  trọng hơn sự phân biệt này, trùng hợp với sự phân biệt mà một số nhà xã  hội học khác đã đưa ra – Tonnies với sự phân biệt giữa cộng đồng  (gemeinschaft) và xã hội (gesellschaft) – là việc Durkheim cho rằng sự  biến đổi của các hình thái của mối liên kết xã hội tùy thuộc vào mật độ  vật chất hay khối lượng xã hội (mật độ dân số và trình độ phát triển của  các phương tiện truyền thông) và mật độ tinh thần hay năng động (cường  độ của những sự trao đổi và tương tác giữa các cá nhân tạo nên những giá  trị chung và sự cố kết xã hội). Khái niệm về mối liên kết xã hội, về sự  cố kết xã hội chính là cơ sở của công trình nghiên cứu của Durkheim về «Tự tử» trong đó ông chứng minh mối tương quan nhân quả giữa cố kết xã hội và bốn loại hình tự tử.  Vào những năm 1980, VXH được khái niệm hóa ở hai bên bờ Đại Tây Dương: ở  Pháp do Pierre Bourdieu và ở Mỹ do James Coleman và Robert Putnam. Ngay  từ lúc đầu khái niệm VXH đã gây nên một sự quan tâm lớn trong giới học  thuật – ở Mỹ nhờ sự năng động của Putnam – và đã là nguồn cảm hứng cho  nhiều công trình nghiên cứu khoa học và đặc biệt hơn nữa cho nhiều chính  sách kinh tế xã hội của một số tổ chức kinh tế, xã hội và chính trị như  Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCDE). Sự  thu hút của VXH không phải là ngẫu nhiên. Vào thời điểm đó, có nhiều yếu  tố đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng VXH vào những  công trình nghiên cứu thực dụng ngay cả khi mà nội hàm của VXH vẫn chưa  nhận được sự đồng thuận của giới học thuật và nghiên cứu. Mỹ vào những  năm 1990 phải đối phó với một số vấn đề như tỷ lệ nghèo cao trong một  nước phát triển nhất thế giới, một sự phân cực xã hội ngày càng gay gắt,  sự phê phán đối với sự can thiệp của Nhà nước, nhất là đối với chính  sách bảo đảm phúc lợi xã hội được xem như là đi ngược lại với chủ trương  của trường phái kinh tế tân cổ điển.Trong tình huống này VXH được xem  như là liều thuốc mầu, một phương thức ít tốn kém và không huy động tài  nguyên công, ngân sách nhà nước để giải quyết những vấn đề xã hội nêu  trên. Sức thu hút của VXH không chỉ dừng lại ở những vấn đề kinh tế xã  hội nhất thời mà còn thể hiện một quan điểm mới trong của cuộc tranh cãi  dai dẳng xung quanh vấn đề quản trị chính trị và kinh tế giữa cánh tả  và cánh hữu, giữa cấp tiến và bảo thủ, giữa Nhà nước và thị trường.  Trong cuộc tranh cải này thì VXH được xem như là cơ sở cho một con đường  thứ ba nhấn mạnh đến tiến trình trách nhiệm hóa để «xây dựng một trật tự xã hội hậu hiện đại bằng những chính sách tích cực để cỗ vũ cho sự dấn thân của xã hội dân sự»[3]. Đó  chính là chủ nghĩa Blair (Blairisme) mà ông Blair đã áp dụng ở Anh trong  những năm cầm quyền (1997-2007). Tư duy này đã mở rộng một không gian  học thuật để tìm kiếm những mô hình thay thế cho sự đối đầu giữa hai  quan điểm truyền thống, trong đó VXH là một chủ đề trung tâm đặc biệt  khi những yêu cầu, áp lực mới xuất hiện trong nhận thức về bản chất của  sự phát triền như sự bình đẳng giữa các thành phần và giữa các giới,  việc bảo vệ môi trường, sự cạn kiệt của các tài nguyên thiên nhiên chẳng  hạn. Để thực thi một chính sách nhắm đến những mục tiêu đa dạng của sự  phát triển, VXH, vừa là một khái niệm đa chiều kích, vừa là một phương  thức tổ chức dựa trên sự dấn thân công dân đúng là một cơ sở lý thuyết  và thực tiễn cho chính sách trên. Trạng thái hòa hợp xã hội mà VXH vươn  tới chính là mục tiêu tối hậu của chính sách này.  Sự can dự của những tổ chức quốc tế đã chuyển cuộc tranh cãi về VXH sang lãnh vực đo lường VXH  vì những bộ phận phụ trách về việc hoạch định các chính sách cần có  những dữ liệu khách quan để tạo cơ sở cho chính sách, biện pháp.Trong  lãnh vực này cũng đã có những cố gắng rất lớn, đặc biệt của các tổ chức  quốc tế để đưa ra những tiêu chí được lượng hóa của VXH [4]. Năm 2001, OCDE đã cho xuất bản báo cáo «Về sự sung túc của các nước – vai trò của vốn con người và vốn xã hội»  và năm 2002 đã có sáng kiến tổ chức một nhóm làm việc mà nhiệm vụ là  đạt đến một sự đồng thuận trên một tổ hợp những tiêu chí và trên toàn bộ  những câu hỏi dẫn đến việc xác định các tiêu chí này. Trào lưu lượng  hóa này gắn liền với điều đã nêu ở trên: tìm kiếm một con đường thứ ba  dựa trên sự dấn thân của công dân thông qua các hội đoàn tự nguyện vừa  có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội một cách có hiệu quả và bền  vững, vừa ít tốn kém, vừa tạo điều kiện để đưa vào tiến trình phát triển  những mối quan tâm mới về việc bảo vệ môi trường, bình đẳng, tính bền  vững.  Tuy nhiên những vấn đề được đặt ra vì tính chất mơ hồ, tính đa nghĩa và  đa chiều kích của khái niệm VXH, phương thức tiếp cận (định lượng hay  định tính), đặc tính của khái niệm VXH (tích cực theo định nghĩa của  Coleman và Putnam hay trung tính) lại tái xuất hiện trong việc thao tác  hóa khái niệm VXH và xác định các tiêu chí của VXH – đo lường cái gì –  mặc dù đã có những cố gắng để tách việc xác định các tiêu chí này ra  khỏi những tranh cãi về mặt lý luận và xác định tính cơ sở của khái niệm  VXH dựa trên thực tiễn và trên kết quả của các công trình nghiên cứu  thực nghiệm.  Tuy rằng khái niệm VXH là «ý niệm  rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân  tích kinh tế… nhưng đây là một ý niệm hữu ích (vì) ý niệm VXH là một cầu  nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những  lý giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế.  Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể  chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế»[5]. Tính hữu  ích của VXH không xóa bỏ tính mập mờ của khái niệm này mà buộc nhà kinh  tế học phải hội nhập những yếu tố phi kinh tế vào lý luận kinh tế để  phân tích hoạt động kinh tế. VXH  được xem như một một «nguồn lực» có những lợi ích kinh tế như sau: “giúp  giải quyết những bài toán tập thể… tiết kiệm phí giao dịch… ảnh hưởng  quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của những loại vốn  khác…(khuyến khích cá nhân) trau giồi khả năng hay kiến thức của mình  thay vì tìm cách móc nối…(tạo nên) một xã hội ít tội phạm…(có) một tư  pháp vững chắc….nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác…  (giúp xã hội) dễ hồi phục sau những cú sốc kinh tế»[6].  Vị trí của VXH trong những quan điểm lý thuyết  VXH chỉ là một khái niệm và nó chỉ có thể bộc lộ ý nghĩa và chức năng  của nó khi được đặt trong bối cảnh lý thuyết của nhà nghiên cứu sử dụng  nó. Có thể nói VXH là một công cụ đã được Coleman và Bourdieu sáng tạo  để bổ sung, điều chỉnh lý thuyết của mình nhằm đáp ứng những sự phê phán  mà các lý thuyết này đã gặp phải trong cộng đồng khoa học.  Trong ý đồ nới rộng và củng cố cơ sở và phạm vi của lý thuyết về sự lựa  chọn duy lý mà Coleman đã theo đuổi và thực hiện qua quyển Foundations of Social Theory và tạp chí Rationality and Society để đề xuất những công thức toán học  chứng minh cho tính duy lý của hành động xã hội, VXH chiếm một vị trí  quan trọng. Điều này thể hiện rõ trong đoạn sau: «Việc  sử dụng khái niệm VXH là một phần của chiến lược tổng quát mang tính lý  thuyết được bàn trong bài này: lấy hành động duy lý như là điểm khởi  đầu nhưng loại bỏ những tiền đề của chủ nghĩa cá nhân cực đoan thường đi  kèm theo khái niệm này (hành động duy lý). Quan  niệm về VXH như là một tài nguyên cho hành động là một phương cách để  đưa cơ cấu xã hội vào hệ chuẩn (paradigme) về hành động xã hội»[7] Ý đồ này lại càng rõ hơn nữa khi Coleman định nghĩa VXH: «VXH  được định nghĩa bởi chức năng của nó. VXH không phải là một thực thể  đơn nhất mà là một bộ những thực thể khác nhau có hai đặc tính chung:  tất cả đều là những khía cạnh nào  đó của cơ cấu xã hội và làm cho một số hành động của những tác nhân –  cá nhân hay tổ chức – trong cơ cấu này được dễ dàng hơn»[8] Như vậy  chúng ta có thể thấy trong sơ đổ mà Coleman đã đưa ra,VXH là khái niệm  được dùng để kết hợp hai cấp độ, vi mô/cá nhân và vĩ mô/tổng thể vì VXH  là thuộc tính của cơ cấu xã hội được tác nhân sử dụng nhằm tăng hiệu quả  hành động của mình. VXH là phi vật thể, không thể chia cắt, không thể  chuyển nhượng và do đó VXH không phải là sở hữu của cá nhân mà là một  tài nguyên công được các cá nhân sử dụng như là một tài nguyên để thực  thi những quyền lợi của bản thân.  Thường thì ta hay hiểu quan điểm của Bourdieu về vốn bao gồm bốn thành  tố (vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn biểu tượng) như là những  điều gắn liền với một cá nhân và điều này được giải thích bởi cố gắng  của Bourdieu để đưa cá nhân vào lý thuyết cấu trúc kiến tạo mà ông đã  xây dựng. Sơ đồ sau cho thấy được điều này:  Cách hành xử = (Vốn x tập tính) + trường  Pratique = (Capital x habitus) + Champ  Ta hãy lấy một thí dụ để minh họa cho sơ đồ này. Một sinh viên mới tốt  nghiệp có thể lựa chọn nhiều chiến lược khác nhau để tìm kiếm việc làm  trên thị trường lao động, được phân tích như một «trường»  trong đó những người tham gia vào trường canh tranh với nhau để hướng  tới cùng một mục tiêu là có được việc làm:1/ Sử dụng vốn văn hóa của bản  thân, tức là bằng cấp mình có và được xã hội, những người tuyển dụng  công nhận ở những mức độ khác nhau tùy vào loại trường mà mình đã tốt  nghiệp; 2/ Sử dụng những mối quan hệ của mình (gia đình, thân thuộc, bạn  bè – vốn xã hội) để được giới thiệu và chấp nhận vào một việc làm; 3/  Sử dụng tiền (vốn kinh tế) để «mua chức». Việc lựa chọn một trong những  chiến lược trên hay khả năng kết hợp những chiến lược này còn tùy thuộc  vào «tập tính» của cá nhân,  tức là những định hướng để suy nghĩ và hành động mà cá nhân đó đã tiếp  thu từ những mối quan hệ mà mình đã xây dựng trong quá trình hình thành  của bản thân. Một người lớn lên trong một môi trường kinh doanh thì có  thể có khuynh hướng lựa chọn phương án 3; một người trong một gia đình  “mô phạm” thì có thể hướng đến phương án 1. Tuy nhiên nếu quan niệm rằng  đối với Bourdieu VXH chỉ gắn liền với cá nhân mà thôi thì đây là một sự  hiểu lầm lớn đối với lập luận của Bourdieu. Đối với Bourdieu, VXH cũng  như các loại vốn khác (vốn văn hóa, vốn kinh tế, vốn biểu tượng) mà cá  nhân sử dụng để hành động trong những «trường» khác nhau dựa trên những  “tập tính” khác biệt – những khái niệm thể hiện ý đồ của Bourdieu để đưa  cá nhân vào lý luận mà ông xây dựng – đều là kết quả của một hành trình  trong không gian xã hội, nơi cá nhân chịu sự tác động của môi trường  sống, của thành phần giai cấp [9] để tự định vị một cách có và vô ý thức và xây dựng những tài nguyên cần cho hành động.  Nhưng sự khác biệt giữa Bourdieu và một số lý thuyết gia khác (Coleman,  Putnam, Fukuyama) về VXH không chỉ nằm ở cách định nghĩa khác nhau về  VXH mà cơ bản xuất phát từ quan điểm lý thuyết khác biệt nếu không phải  là đối lập với nhau. Có thể nói rằng trong khi Coleman, Putnam, Fukuyama  đặt VXH trong khuôn khổ của lý thuyết về sự hội nhập (integration) và  gắn liền VXH – thông qua những chiều kích, thành tố của VXH ( mạng lưới,  chuẩn mực và những chế tài kèm theo, sự tin cậy lẫn nhau, khả năng làm  việc chung với nhau, các tổ chức xã hội tự nguyện) – với những ý niệm  như liên kết xã hội, đoàn kết hay cố kết xã hội thì Bourdieu nhắn mạnh  trên sự xung đột và VXH (cũng như các loại vốn khác) được phân tích như  là những công cụ để duy trì, củng cố một cơ cấu xã hội bất bình đẳng,  một sự thống trị của một giai cấp trên các giai cấp khác. So sánh hai  quan điểm này, chúng ta có thể thấy rằng: «Bourdieu  và Putnam đã tiếp nối và phát triển những ý tưởng của hai truyền thống  xã hội học đối lập với nhau và áp dụng những ý tưởng này vào những vấn  đề hiện nay của xã hội dân sự. Công trình của Putnam đã duy trì nhiều ý tưởng của xã hội học về sự hội nhập.  Khái niệm VXH và sự tin cậy lẫn nhau đều hướng tới những câu hỏi về  những cơ chế củng cố sự kết hợp các giá trị của xã hội, và sự đoàn kết  và sống chung; điều này tạo nên sự đồng thuận và hỗ trợ cho sự phát  triển ổn định của xã hội (sự cân bằng năng động). (Cũng như đã nêu trên)  nếu sử dụng cách tiếp cận của Putnam thì khó mà xử lý được những xung  đột hay những lợi ích đối lập với nhau. Về mặt lý thuyết, Bourdieu  quan tâm chủ yếu đến sự phân tích các cuộc xung đột, đấu tranh xã hội  chung quanh các món cược trong những trường khác nhau; những hình  thức của quyền lực/bạo lực; và những hình thức của sự thống trị và sự  tước đoạt. Sự tin cậy – theo nghĩa mà Putnam gắn cho nó – không có chỗ  đứng trong lý thuyết của Bourdieu. Trong những lãnh vực mà hai cách tiếp  cận gối lên nhau (thí dụ như sự trao đổi xã hội, sự công nhận/lòng tin  cậy), những góc độ để nhận thức gần như đối lập với nhau».[10]  Những vấn đề xung quanh định nghĩa VXH  Hiện nay có một sự lạm phát các định nghĩa về VXH, với xu hướng áp đảo  của các định nghĩa theo kiểu của Coleman, Putnam, Fukuyama. Sự lạm phát  này đã không giúp làm rõ nội hàm của khái niệm VXH và thật sự không giải  quyết một số vấn đề lý thuyết còn tồn đọng về VXH. Điều này là tất yếu  vì tính đa nghĩa, đa chiều kích của khái niệm VXH. Tuy nhiên trong khoa  học xã hội, không thiếu những khái niệm được định nghĩa theo nhiều kiểu  cách khác nhau và được đặt trong những viễn tượng, những khung lý thuyết  khác nhau, thí dụ như văn hóa, giai cấp, nhưng vẫn được sử dụng trong  những nghiên cứu thực nghiệm và vẫn là nguồn cảm hứng, những nguyên lý  lý giải cho nhiều công trình nghiên cứu. VXH là một trong những loại  này.  Chúng ta có thể nhận diện về những vấn đề liên quan đến định nghĩa VXH qua những điểm sau đây:  –  Sự trung tính của khái niệm VXH.  Coleman và Putnam, dưới ảnh hưởng của lý thuyết chức năng, đặt trọng tâm  vào sự hội nhập và do đó không hay ít quan tâm đến những xung đột,  những điều có thể làm cho sự hội nhập bị rối loạn hay cản trở. «Cho đến nay, phần lớn những tác giả như Coleman, Putnam,  Fukuyama đều thiên về cách đinh nghĩa VXH theo hướng tích cực, và nhấn  mạnh tới tính hiệu quả của nó trong việc thúc đẩy khả năng hợp tác và  tham gia vào các hoạt động xã hội, cũng như trong quá trình phát triển  kinh tế. Chính vì thế mà nhiều công trình điều tra dựa trên những định  nghĩa này đã đi đến những nhận định theo khuynh hướng định lượng hóa  (chẳng hạn như nhiều hay ít, mạnh hay yếu), và mặc nhiên giả định rằng  VXH phải mang nội hàm tích cực. Nhưng theo chúng tôi, VXH có thể có ý  nghĩa tích cực hay tiêu cực. Nói cách khác, đây là một khái niệm trung  tính»[11].  Hơn nữa, VXH gắn liền với cơ cấu xã hội. Do đó khi mà cơ cấu xã hội biến  đổi thì điều này cũng tạo nên sự biến đổi của VXH. Như vậy chúng ta có  thể nghĩ rằng VXH của một xã hội ở một thời điểm lịch sử có thể trở  thành những trở ngại, lực cản ở một thời điểm lịch sử khác khi mà xã hội  đã thay đổi và khi mà VXH cũ không còn thích ứng với những yêu cầu mới,  với sự xuất hiện của những xung đột giũa cái cũ và cái mới, giữa cái  «của nợ» và cái «vốn quý» theo cách diễn tả của Fukuyama. Đó chính là  nội dung của cuộc tranh cãi về truyền thống và hiện đại trong các biểu  văn về sự phát triển tại các nước kém phát triển và ở Việt Nam. Chỉ khi  nào VXH được xem như là một khái niệm trung tính thì nó mới có thể trở  thành một công cụ để phân tích một thực tại phức tạp. Những hình thái  kết hợp và những định chế trong đó VXH (sự tin cậy, sự liên kết hay cố  kết xã hội…) được xây dựng phải được phân tích trong bối cảnh xã hội văn  hóa của một xã hội cụ thể vì chính điều này mới giúp cho nhà khoa học  phân tích được sự tương ứng (hay không) của các thành tố của VXH với  những yêu cầu của cơ cấu xã hội, phân tích những xung đột tất yếu xảy ra  giữa những cách hành xử, những giá trị làm nền tảng cho (các loại) VXH [12].  –  Quan hệ nhân quả vòng tròn   Sự khái niệm hóa VXH đã không xóa được tính cách mơ hồ của định nghĩa về  VXH: theo Coleman thì đặc tính chung của các thành tố VXH là: «tất cả  đều là những khía cạnh nào đó của cơ cấu xã hội và làm cho một số hành động của  những tác nhân – cá nhân hay tổ chức – trong cơ cấu này được dễ dàng  hơn». Các cách khác nhau để xây dựng hình thức lý thuyết thống trị cho  khái niệm VXH đều dựa trên một số luận điểm như sau: VXH xuất phát từ cơ  cấu xã hội và chỉ có thể được ghi nhận thông qua những kết quả mà các  tác nhân tạo nên khi sử dụng nó, và chính những kết quả này chứng minh  chức năng của nó. Quan niệm VXH như vậy cũng không giúp chúng ta biết  được nội hàm của VXH. Trong lý luận hiện thường được vận dụng, VXH và  những thành tố của nó khác nhau tùy nơi nhà khoa học, có một khả năng lý  giải gần như vô tận để giải thích vô số hiện tượng. Và lý luận này chủ  yếu dựa trên một quan hệ nhân quả vòng tròn: phạm pháp có tăng, tham  nhũng có lan tràn, thành tựu kinh tế có thấp, dân chủ không được phát  huy, thì nguyên nhân chính đều là sự suy giảm hay thiếu hụt của VXH, và  ngược lại. Nhưng sự suy giảm hay thiếu hụt VXH cũng có thể được xem như  là kết quả của các hiện tượng nêu trên: sự tăng trưởng của phạm pháp, sự  lan tràn của tham nhũng, thành tựu kinh tế yếu kém, sự yếu kém của  những cơ chế dân chủ cũng có thể được quan niệm như là những nguyên nhân  dẫn đến sự giảm sút của VXH. Quan hệ nhân quả vòng tròn khiến cho chúng  tôi nhớ đến một định lý cơ bản trong lý luận xã hội học đã được  Durkheim nêu lên thật rỏ ràng: cần phải phân biệt rành mạch nguyên nhân  với chức năng, và không thể lấy chức năng để lý giải, biện minh cho sự  thành hình của một cơ cấu, một định chế, rồi xem nó như là nguyên nhân  dẫn đến sự hình thành của hiện tượng đó hay định chế đó. Khi Coleman xác  định rằng VXH được định nghĩa bởi chức năng của nó thì điều mà Durkheim  đã cảnh báo không thể tránh được và dẫn đến quan hệ nhân quả vòng tròn.  Quan hệ nhân quả vòng tròn còn được ghi nhận một cách rõ ràng hơn nữa  trong các nghiên cứu thực nghiệm. Trong bản báo cáo của OCDE về «Sự sung túc của các quốc gia – vai trò của vốn con người và vốn xã hội» (2001), có đoạn viết: «Ta  có thể xem sự tin cậy vừa là một nguồn gốc của VXH và vừa là kết quả  của loại vốn này, và như một giá trị thay thế rất gần với các chuẩn mực,  niềm tin và giá trị làm nền tảng cho sự hợp tác xã hội» Nói một cách khác, sự tin cậy tạo nên, là và xuất phát từ VXH.   Tương quan giữa lý thuyết và thực tiễn: đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm   Sức thu hút của VXH là rất lớn và VXH được sử dụng như là  một nguyên lý lý giải cho rất nhiều tình huống khác nhau ở khắp mọi nơi  trong nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm. Đa số các công trình này  đều dựa trên quan niệm của Putnam, nghĩa là trên lý thuyết về sự hội  nhập. Đã có rất nhiều công trình nghiện cứu thực nghiệm được thực hiện  dưới chiêu bài của VXH, đặc biệt bởi các tổ chức quốc tế (OCDE, World  Bank). Điều này đã chuyển mối quan tâm về VXH từ lãnh vực lý thuyết sang  lãnh vực thao tác hóa các chiều kích, các thành tố, các cơ chế của VXH  với một ý hướng rõ ràng là lượng hóa các yếu tố này để tạo cơ sở cho  những so sánh giữa các nước, các cộng đồng khác nhau. Những công trình  này được thực hiện theo ba hướng chủ yếu: quan hệ giữa VXH và phát  triển, giữa VXH và đạo đức xã hội, giữa VXH và dân chủ, hay một sự tổng  hợp của cả ba xu hướng này.  Phải chăng những kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm  giúp cho chúng ta có được một nhận thức rõ ràng về VXH và những hệ quả  của nó. Sự phân tích một số nghiên cứu thực nghiệm[13] cho thấy  những kết quả không nhất thiết thuận chiều với lý luận theo đó có một sự  phụ thuộc lẫn nhau giữa VXH và dân chủ hay thành tựu kinh tế chẳng hạn,  tức là không phải xã hội nào có một khối lượng VXH cao thì sẽ có những  thành tựu kinh tế, xã hội, văn hóa cao. Sự so sánh và phê phán các  nghiên cứu thực nghiệm giúp chúng ta nhận thức những vấn đề sau đây:  –  Khi  chưa có một định nghĩa rỏ ràng về VXH, thì nhà nghiên cứu buộc phải lựa  chọn một định nghĩa và từ đó thiết kế những tiêu chí sẽ được đưa vào  nghiên cứu và lựa chọn các phương pháp, các kỹ thuật, thậm chí các câu  hỏi cụ thể sẽ được sử dụng trong nghiên cứu. Như vậy nếu,  mỗi khi mà nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm VXH và luôn phải (tái) định  nghĩa nó dựa trên câu hỏi nghiên cứu và cách tiếp cận, thì VXH không  thể được xem như là một khái niệm đa chiều mà chỉ là một hỗn hợp các  khái niệm khác nhau.  –  Một tiêu chí được các nhà nghiên cứu diễn giải theo những cách khác nhau:  thí dụ như tôn giáo có thể chỉ những chuẩn mực chung (theo cách tiếp  cận văn hóa) hay một cơ cấu đặc thù của các mối quan hệ (theo cách tiếp  cận cơ cấu chức năng).  –  Một thành tố của VXH có thể gắn liền với những kết quả khác nhau tùy vào cấp độ mà nó được áp dụng: thí dụ tôn giáo hay các mối liên hệ gia đình/gia tộc  chặt chẽ có thể là nền tảng vững chắc cho sự cố kết xã hội ở cấp vi mô  hay trung mô (cộng đồng gia tộc, dân cư như làng xã hay khu phố) nhưng  cũng có thể là một cản trở cho sự cố kết xã hội ở cấp độ vĩ mô của toàn  thể xã hội; những chuẩn mực mạnh có thể giúp tiết kiệm phi giao dịch  trong một nhóm (trường hợp của các nhà kinh doanh về kim cương ở New  York đã được Coleman dẫn chứng cho tính tích cực cua VXH) nhưng lợi ích  này cũng bị giới hạn hay bị xóa bỏ ở cấp độ của tổng thể xã hội vì chính  những chuẩn mực mạnh nay tạo nên một rào cản để gia nhập nhóm.  Như vậy chúng ta cũng không ngạc nhiên lắm khi các nghiên cứu  thực nghiệm dẫn đến những kết quả khác nhau, đôi khi mâu thuẫn với nhau.  Sự tham gia các hội đoàn tự nguyện mà Putnam coi như là một thành tố  quan trọng của VXH không phải là lúc nào cũng có những hệ quả tích cực  trên những thành tựu về mọi mặt trong mọi xã hội. Chúng ta cũng có thể  quy những sự khác biệt giữa các nghiên cứu thực nghiệm cho những khó  khăn kỹ thuật: kích thước giới hạn của các mẫu, dữ liệu sai lầm hay  thiếu sót, cách sử dụng một cách gò ép các dữ liệu sẳn có để bù vào  thiếu sót. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể suy luận rằng: «Rất  phức tạp và khó đo lường VXH. Không phải là vì các dữ liệu quá nghèo  nàn mà vì chúng ta cũng không biết rõ chúng ta đo lường cái gì.»[14]  Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết là trong những công trình thực nghiệm,  VXH được nghiên cứu một cách biệt lập như là một khái niệm độc lập được  tách khỏi cơ cấu xã hội mà nó là một thành tố như Coleman có nêu lên  trong định nghĩa VXH: “VXH bao gồm một vài khía cạnh của cơ cấu xã  hội…”. Và khi so sánh VXH và các loại vốn khác, Coleman viết: «Khác với các loại vốn khác, VXH gắn chặt với cơ cấu các mối quan hệ giữa những con người với nhau». Tuy  nhiên sự tác động của các yếu tố khác của cơ cấu xã hội trên VXH không  được quan niệm và ghi nhận trong các nghiên cứu thực nghiệm: sự bất bình  đẳng, quan hệ quyền lực đều bị gạt bỏ trong các nghiên cứu thực nghiệm.  Và lý do chính có thể được tìm thấy trong chức năng mà VXH đã được giao  phó trong lý thuyết thống trị về VXH. VXH là tất cả những gì làm cho  mối quan hệ giữa những con người được dễ dãi hơn và mang tính hiệu quả  hơn. Chức năng tích cực này của VXH làm cho VXH trở thành đáp án cho đủ  thứ vấn đề rất khác nhau trong xã hội và mọi lãnh vực hoạt động của con  người.  Điều này có thể nhận thấy được trong cuộc tranh luận về VXH ở Việt Nam  tuy rằng ở Việt Nam chưa thật sự có một nghiên cứu thực nghiệm nào về  VXH. Điểm lại các bài viết về VXH ở Việt Nam, chúng ta ghi nhận được hai  điểm chính: một là sự cảnh giác về tính mơ hồ, tính đa nghĩa và đa  chiều kích của khái niệm VXH và hệ quả của nó là những giới hạn của quan  niệm thống trị hiện nay về VXH. Hai nữa là, bất chấp sự cảnh báo nêu  trên, xu hướng chính đương thời là xem VXH như là yếu tố chính để lý  giải, chẩn đoán và bốc thuốc cho những căn bệnh hiện nay của xã hội Việt  Nam, và của nhiều xã hội khác. Thêm nữa chúng ta có thể tự đặt một câu  hỏi: phải chăng huy động khái niệm VXH để giải thích những vấn đề của  Việt Nam có nguy cơ dẫn đến khả năng che lấp những nguyên nhân chính của  các vấn đề này nằm trong văn hóa, lịch sử, cơ cấu, định chế của Việt  Nam được đặt trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, trong sự hội nhập  và tiến trình toàn cầu hóa. Một cách khác để đặt vấn đề chính là trả  lời cho câu hỏi sau đây. Ta có thể nghĩ rằng một trong những nguyên nhân  chính của thắng lợi của nhân dân Việt Nam chính là sức mạnh của VXH ở  con người và ở dân tộc Việt Nam. Nhưng ngay sau đó ta cũng có thể nghĩ  thêm rằng những vấn đề hiện nay của xã hội Việt Nam bắt nguồn từ sự giảm  sút của VXH ở Việt Nam. Vậy thì VXH là gì và những điều gì đã gây nên  sự giảm sút này chỉ trong một thời gian rất ngắn? Qua câu hỏi này thì rỏ  ràng là VXH gắn liền với ý tưởng xã hội dân sự, một ý tưởng không kém  phần mơ hồ so với VXH.  Những nhận định trên giúp cho chúng ta nhận thức được về tính phức tạp  của ý tưởng VXH. Bài này chỉ muốn nêu lên những vấn đề mà các cách tiếp  cận khác nhau để xây dựng ý niệm VXH (vì hiện nay VXH chưa có thể được  xem như là một lý thuyết hay một khái niệm), các ý hướng ứng dụng nó  trong nghiên cứu thực nghiệm, một lãnh vực còn rất phôi thai ở Việt Nam,  đặt ra. Suy cho cùng vấn đề được đặt ra là tính hữu ích, tính hiệu lực  của ý niệm VXH trong học thuật và thực tiễn. Đây còn là một vấn đề mở.  Chúng tôi chỉ hy vọng là những suy nghĩ đã được trình bày ở trên sẽ đóng  góp vào cuộc tranh luận về VXH chắc chắn sẽ tiếp diễn vì VXH gắn liền  với cuộc sống hàng ngày của ngưới dân, và sẽ khuyến khích các nhà nghiên  cứu trẻ dấn thân một cách nghiêm túc vào nghiên cứu thực nghiệm về VXH.    Tài liệu tham khảo  TRẦN Hữu Quang, Tìm hiểu về khái niệm vốn xã hội, Tạp Chí Khoa Học Xã Hội, số 7 (95), 2006, trang 74-81  LÊ Minh Tiến, Vốn xã hội và đo lường xã hội, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 3-2007, pp. 72-77  Sophie PONTIEUX, Le concept de capital social, analyse critique, Contribution au 10ème Colloque de l’ACN, Paris 21-23 janvier 2004  Martti SIISIAINEN, Two Concepts of Social Capital: Bourdieu vs. Putnam  , ISTR Fourth International Conference “The Third Sector: for what and  for whom?” Trinity College, Dublin, Ireland, July 5-8,2000  TRẦN Hữu Dũng, Vốn xã hội và phát triển kinh tế, Tạp chí Tia Sáng, số 13, tháng 7 – 2006 , trang 32-33  James COLEMAN, Social capital in the creation of human capital, American Journal of Sociology, Vol. 94, 1988  Francis FUKUYAMA, Social capital and civil society, IMF Working paper WP/2000/74  Pierre BOURDIEU, Question de sociologie, Paris, Ed. de Minuit, 1984  Pierre BOURDIEU, Le capital social. Actes de la Recherche en Sciences Sociales 31 (1980),  Dasgupta P. (2001) Social capital and economic performance, in E. Ostrom &T-K Ahn (Eds) Social capital: a reader  Robert PUTNAM, Bowling alone: America’s declining social capital. Journal of Democracy Vol. 6 (1995), 64-78  Émile DURKHEIM, De la division du travail social (1893), Paris, PUF, 1973        [1] Trần Kiêm Đoàn viết: « Sẽ  không bao giờ muộn màng, cũng như chẳng bao giờ quá sớm để gây VXH, vì  VXH là xương sống của đời sống kinh tế và nhân văn cho đất nước hôm nay  và cho thế hệ đàn em mai sau ». www.trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/vonxahoi.html       [2] Tocqueville Alexis de, De la démocratie en Amérique (1835) 2 tập, Paris, Gallimard, 1961, trg 159-160. «Il n’y a rien, suivant moi, qui mérite plus d’attirer nos  regards que les associations intellectuelles et morales de l’Amérique  (…) Dans les pays démocratiques, la science de l’association est la  science mère ; le progrès de toutes les autres dépend des progrès de  celle-là. Parmi les lois qui régissent les sociétés humaines, il y en a  une plus précise et plus claire que toutes les autres. Pour que les  hommes restent civilisés ou le deviennent, il faut que parmi eux l’art  de s’associer se développe et se perfectionne dans le même rapport que  l’égalité des conditions s’accroit»       [3] Jobert B. (2002), Une troisième voie très britannique, Revue Française de Sociologie 43(2), trg 407-422      [4] Lê Minh Tiến, Vốn xã hội và đo lường xã hội, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 3-2007, pp. 72-77      [5] Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và phát triển kinh tế, Tạp chí Tia Sáng, số 13, tháng 7 – 2006 , trang 32-33      [6] Trần Hữu Dũng, Bài đã dẫn      [7] Coleman James, Social capital in the creation of human capital, American Journal of Sociology, Vol. 94, 1988, trg S 95: “Use of the concept of social capital is a part of a general  theoretical strategy discussed in the paper: taking rational action as a  starting point but rejecting the extreme individualism premises that often accompany it. The conception of social capital as a  resource for action is one way of introducing social structure into the  rational action paradigm”      [8] Coleman James, bài đã dẫn, trg S 98: “Social  capital is defined by its function. It is not a single entity, but a  variety of differents entities having two characteristics in common:  They all consist of some aspect of social structure, and they facilitate  certains actions of individuals who are in the structure”      [9]  Bourdieu sử dụng từ «agent» (mà chúng tôi tạm dịch là cá nhân hay tác  nhân) để chỉ rằng con người không phải là một thực thể hoàn toàn tự chủ  nhưng vẫn có quyền chủ động tương đối trong không gian, cơ cấu xã hội  thông qua cách hành xử của mình      [10] Martti SiiSiainen, Two Concepts of Social Capital: Bourdieu vs. Putnam ,  ISTR Fourth International Conference «The Third Sector: for what and for  whom?” Trinity College, Dublin, Ireland, July 5-8,2000, trang 22: “Thus  Bourdieu and Putnam can be seen to carry on, and developed further, the  ideas of two opposing sociological traditions and apply these ideas to  current problems of civil society. Putnam’works preserves many of the  ideas of the sociology of integration. His concepts of social capital  and trust are directed to questions about mechanisms that strengthen the  integration of the values of society, and solidarity and togetherness;  and that create consensus and sustain the stable development of society  (moving equilibrium). As already noted, it is difficult to deal with  conflicts or opposing onterests using Putnam’ approach. Bourdieu’main  theoretical interests are in the examination of social conflicts or  struggles about the stakes in different fields; forms of power/vilence;  and forms of domination. Trust – in the  Putnamian sense of the word – has no place in Bourdieu’theorization. In  those areas where the two approaches overlap (e.g. social exchange,  recognition/trust), the visual angles adopted are almost oppositional”      [11] Trần Hữu Quang , Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội, Tạp chí Khoa Học Xã Hội, số 07 (96), 2006, trang 74 -81      [12] Trần Hữu Quang, bài đã dẫn, viết rõ: “nói  đến VXH hay nói đến sự tin cậy mà không đặt chúng vào trong bối cảnh  văn hóa xã hội và bối cảnh các định chế xã hội trong đó hình thành nên  VXH và sự tin cậy, thì không thể hiểu được thực sự nội hàm của những  khái niệm này, vì đã không hình dung đầy đủ những kích thước văn hóa và  kích thước định chế của chúng”      [13] Sophie Pontieux, Le concept de capital social, analyse critique, Contribution au 10ème Colloque de l’ACN, Paris 21-23 janvier 2004       [14] Dasgupta P. (2001) Social capital and economic performance, in E. Ostrom &T-K Ahn (Eds) Social capital: a reader.“It  (social capital) is fiendishly diificult to measure. This is not  because of a recognised paucity of data, but because we don’t quite know  what we should be measuring”        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nhìn lại Vốn xã hội Việt Nam      Khi nói về vốn liếng, người ta thường nghĩ ngay đến những giá trị vật chất cụ thể mà người sở hữu có thể nhìn thấy, cất giữ hay cân, đo, đong, đếm được.    Khái niệm về Vốn Xã Hội.    Những giá trị phi vật thể, đặc biệt là những giá trị tinh thần tạo nên bản sắc đặc thù của một quốc gia, một xã hội, một dòng họ hay một con người được coi như những “bẩm tính trời sinh”, bị chìm khuất sau biên cương và hào lũy truyền đời của lịch sử và văn hóa.               Từ trong nếp nghĩ theo thói quen và cảm tính, Vốn Xã Hội thường bị xem hay được xem là một hệ thống giá trị mặc nhiên (taking for granted value system), mỗi người sinh ra là đã có nó như khí trời, thiên nhiên cây cỏ. Thật ra, nguồn vốn to lớn và quan trọng bậc nhất là Vốn Xã Hội. Trong cụm từ “Vốn Xã Hội” đã ngầm chứa hai thành tố là: Vốn (capital) + Xã Hội (social).  Vậy thì Vốn Xã Hội là gì và ai là sở hữu chủ của nguồn vốn đã bén rễ, đâm chồi nẩy lộc lâu dài và phong phú đó?  Vốn Xã Hội là một thực tại đã có chung dòng lịch sử với đất nước và con người từ thuở sơ khai.  Nhưng người ta đã gọi nguồn vốn này theo những khái niệm và từ ngữ khác nhau.  Khái niệm về “Vốn Xã Hội” xưa nhất của người Việt Nam xuất hiện trong câu chuyện dân gian là chuyện Thằng Bờm. Giá trị của “có” (thằng Bờm) và “đổi” (phú ông) trong câu chuyện này căn cứ trên nguồn “vốn” thì mờ nhạt mà đậm nét nhất chính là cuộc trao đổi nặng tính chất tâm lý và xã hội giữa hai nhân vật có quan hệ mua bán và trao đổi là Phú Ông và Thằng Bờm. Cái quạt mo chỉ là biểu tượng của vật chất. Thằng Bờm mới chính là biểu tượng của xã hội và khát vọng cụ thể của con người trong xã hội đó.  Với phương Tây, khái niệm “vốn xã hội” (social capital) được Lyda Judson Hanifan, một nhà giáo dục Mỹ,  nói đến lần đầu tiên năm 1916 khi ông ta bàn đến vấn đề quan hệ trong các trường ốc ở vùng thôn dã tại Bắc Mỹ.  Để nói về vốn xã hội, ông xác  định rằng: “ những giá trị hiện thực đó có tác dụng lên hầu hết cuộc sống hàng ngày của con người” (those tangible substance [that] count for most in the daily lives of people).  Từ đó, vấn đề vốn xã hội đã được nhắc nhở, nghiên cứu, phát triển và áp dụng một cách có hệ thống và rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, tâm lý… tại Mỹ, các nước phương Tây và các quốc gia kỹ nghệ trên toàn thế giới. Năm 1961, Jane Jacob phân tích và thảo luận về vốn xã hội trong mối tương quan của đời sống ở thành phố.  Năm 1983, Pierre Bourdieu soạn hẳn ra một lý thuyết riêng về VXH.  James S. Coleman phát triển lý thuyết thành một nội dung giáo dục về nguồn vốn xã hội. Ý tưởng này đã được một tổ chức tài chính lớn nhất hành tinh là Ngân Hàng Thế Giới sử dụng như một ý kiến rất hữu ích về mặt tổ chức.  Ngân hàng Thế giới xác định rằng: “Bằng chứng mỗi ngày một nhiều chỉ rõ rằng, sự liên kết xã hội là rất thiết yếu cho các xã hội trong việc làm giàu mạnh kinh tế và cho việc phát triển tiến lên không ngừng”. (Increasing evidence shows that social cohesion is critical for societies to prosper economically and for development to be sustainable (World Bank 1999)”.  Trong khi vốn vật chất (physical capital) nói đến các vật thể hiện hữu và vốn nhân sinh (human capital) nói đến tài sản cá nhân thì vốn xã hội nói đến liên hệ nối kết giữa những con người. Đấy là mạng lưới xã hội với những tiêu chuẩn giao dịch qua lại trong sự tin tưởng lẫn nhau và đồng thời đó cũng là đạo lý cư xử giữa người và người trong xã hội. Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế Giới thì vốn xã hội là những gì liên quan đến các cơ sở, các mối quan hệ và những giá trị truyền thống.  Tất cả cùng hợp sức tạo nên chất lượng và số lượng của thành phẩm làm nên bởi sự tương giao hợp tác trong xã hội… Vốn xã hội không phải chỉ đơn thuần là sự tổng hợp những khối lượng vật chất của xã hội mà là chất keo làm dính chặt những khối lượng tài sản xã hội này lại với nhau.  Nói một cách cụ thể hơn về vốn xã hội, Cohen và Prusak (2001) định nghĩa: “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được”.  Như vậy, vốn xã hội chính là con người.  Trong khi con người lại chính là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội hiện hữu và phát triển trong một hoàn cảnh kinh tế, một bối cảnh lịch sử, một truyền thống văn hóa cụ thể nào đó.  Nhìn về Vốn Xã Hội Việt Nam  Ngày 24 tháng 4 năm 2006 vừa qua, Bill Gates, chủ nhân công ty Microsoft và cũng là người giàu nhất thế giới với gia tài xấp xỉ 53 tỷ đô la Mỹ, đến thăm Việt Nam.  Nhân vật này đã được giới trẻ Việt Nam đặc biệt quan tâm theo dõi.  Đã có người tự hỏi: “Nếu Bill Gates sinh ra tại Việt Nam hay một nơi nào đó không phải là Mỹ thì liệu một ‘Bill Gates hạt giống’ có khả năng trở thành một Bill Gates thành công lẫy lừng như hôm nay không?  Tuy đây chỉ là câu hỏi giả định, nhưng câu trả lời dĩ nhiên là “không!” và câu hỏi tiếp sẽ là “Tại sao?” Câu trả lời đơn giản nhất sẽ là: “Vì Mỹ khác, ta khác.  Mỹ có nhiều phương tiện kinh doanh và điều kiện thuận lợi nghiên cứu kỹ thuật và tham khảo thị trường mà ta không có…”  Thế thì có người lại hỏi, một nhân vật Mỹ nổi tiếng khác cũng đã đến thăm Việt Nam, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton, có một người em trai cùng cha khác mẹ, lớn lên trong cùng một mái ấm gia đình, suýt soát tuổi nhau là Roger Clinton lại trở thành một tay lêu lổng, bị tù tội vì nghiện xì ke, ma túy.  Như vậy có hai Clintons trái ngược nhau trong cùng một hoàn cảnh.  Clinton anh là vốn xã hội đáng quý và Clinton em là cục nợ xã hội đáng thương hại.  Trên đây là thí dụ cụ thể về mối tương quan và sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh.  Đây là cả một sự tương tác về cả ba mặt: Vật chất, tinh thần, hoàn cảnh riêng, chung.  Bởi vậy, phương pháp luận cũng như dữ kiện về các mặt nhân sinh và môi trường xã hội thường là những đối tượng rất phức tạp trong việc đo lường hay phân tích nguồn vốn xã hội.  Các nhà nghiên cứu phải lưu ý đến ba định mức của vốn xã hội: (1) Mức độ vốn xã hội vi mô (micro-level social capital), (2) mức độ vốn xã hội trung mô (meso-level social capital), và (3) mức độ vốn xã hội vĩ mô (macro-level social capital).  Ba định mức này liên quan đến: (1) cá nhân, (2) gia đình, trường học, cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, và (3) xã hội, đất nước và toàn cầu.  Mối liên hệ hữu cơ là: (1) Nếu cá nhân không được chuẩn bị kỹ càng; (2) nếu nghiệp vụ không được đào tạo, huấn luyện nghiêm túc; (3) kết quả sẽ tạo ra là những thành viên xã hội có chất lượng nghèo nàn và hệ quả tất yếu là sẽ làm cho nguồn vốn xã hội suy thoái hay khánh tận.  Công trình nghiên cứu về vốn xã hội gần đây nhất của Robert D. Putnam (1993; 2000) nhấn mạnh về sự hợp tác hai chiều và nhiều chiều của các thành viên trong xã hội. Ông cho rằng sự hợp tác và chia sẻ giữa các thành viên xã hội với nhau là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng vốn xã hội.  Từ đó, Putnam cũng báo động nguy cơ về sự xuống dốc của nguồn vốn xã hội tại Mỹ.  Nguyên nhân chính là vì chủ nghĩa cá nhân (individualism) ngày một chiếm thế mạnh và trẻ em chỉ sống với cha hay mẹ một mình do tình trạng ly dị gia tăng làm cho tinh thần hợp tác xã hội yếu dần.  Nhìn lại vốn xã hội Việt Nam, cảm nhận tức thời trước khi đưa lên bàn cân tính toán là nước ta và dân ta có một nguồn vốn xã hội phong phú được tích lũy qua “bốn nghìn năm văn hiến”.  Nếu đem các tiêu chí điển hình nhất của khái niệm vốn xã hội cơ bản như truyền thống đạo lý, phong cách xử sự hợp tác làm ăn nghiêm túc, đáng tin cậy, giàu tinh thần hợp tác và chia sẻ, có tay nghề vững vàng trong lĩnh vực chuyên môn… thì đất nước và con người Việt Nam xưa nay không thiếu. Nguồn vốn xã hội Việt Nam, do đó, sẽ rất nhiều.  Nếu không có nguồn vốn xã hội giàu có làm căn bản cho sự sống còn và vươn lên của đất nước và con người Việt Nam thì có lẽ nước Việt Nam đã bị đồng hóa hay biến mất giữa những thế lực xâm lăng cường bạo đến từ mọi phía trong những nghìn năm qua. Nhưng nếu xin tạm gác lại niềm tự hào dân tộc để nhìn vào thực tiễn cuộc sống của dân ta trong dòng sinh mệnh của đất nước và trong bối cảnh lịch sử thế giới thì ta thấy được những gì?  Phải chăng nguồn vốn xã hội của Việt Nam trong bao nhiêu năm qua đã được tận dụng đem làm vũ khí chống xâm lăng? Nguồn vốn quan trọng đó bây giờ đang cạn kiệt hay vẫn còn dự trữ tràn đầy dưới dạng tiềm năng?  Căn bản để tạo ra nguồn vốn xã hội là con người.  Phẩm chất của con người Việt Nam không thua sút bất cứ dân tộc nào trong cùng hoàn cảnh địa dư và lịch sử. Trong những trường đại học Mỹ mà người viết bài này có dịp giảng dạy, sự thể hiện rất rõ ràng là sinh viên Việt Nam, thuộc cả hai thế hệ trẻ từ quê nhà sang du học hay sinh ra và lớn lên tại Mỹ đều không thua kém mảy may sinh viên của bất cứ nước nào, nhất là đối với sinh viên Châu Á như Nhật, Trung Quốc, Đại Hàn, Singapore…  Thế nhưng trong thực tế đất nước, về mặt chuyên môn và khả năng khai phá, sáng tạo trong khoa học, kỹ thuật để tạo ra những sản phẩm kỹ nghệ hiện đại, chúng ta vẫn còn bị giới hạn và tụt hậu so với họ?  Vốn xã hội hiện nay của đất nước ta có đủ phẩm chất và lượng dự trữ để đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hay không? Đấy vẫn còn là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách khách quan và khoa học mới có thể tìm ra câu trả lời thích đáng.    Kết luận  Vốn xã hội là một khái niệm tương đối còn mới mẻ trong sinh hoạt kinh tế đậm tính truyền thống và kế thừa của người Việt chúng ta.  Khi nói về nguồn vốn, người ta quen nói đến nguồn vốn vật chất hữu hình và cụ thể (tangible). Còn nguồn vốn xã hội là một giá trị phi vật thể (intangible) nên người ta mơ hồ thấy nó “ở đâu đó” qua những biểu hiện “tài năng” cá nhân có tính chất tiểu xảo và tiểu thương theo kiểu: “nói dẻo quẹo như mẹo con buôn…”! Lenkowsky (2000) đã chứng minh rằng xã hội càng kém phát triển, sức mạnh kinh tế càng yếu thì nguồn vốn xã hội càng dễ bị quên lãng.  Nguồn vốn xã hội là một tiến trình hình thành và đầu tư lâu dài chứ không xuất hiện cụ thể và nhanh chóng trong đời sống như “mì ăn liền”.  Tuy nhiên, Putnam cũng đưa ra một “kính chiếu yêu” để nhìn vào và nhận biết những vùng đang có nguồn vốn xã hội cao hơn… khi “những nơi công cộng sạch sẽ hơn, con người thân thiện, đáng tin cậy hơn, và đường sá an toàn hơn.  Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất.  Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Nghĩa là thiếu đi chiều sâu văn hóa và chiều cao nhân văn thì đấy cũng chỉ là một hình thức phồn vinh thô thiển mà người xưa gọi là “trọc phú” (thanh bần hơn trọc phú) hay theo mắt nhìn của quần chúng bình dân là “giàu mà không sang”.  Hình ảnh của những vùng đất giàu vốn vật chất mà nghèo vốn xã hội thường xuất hiện trong những vùng kinh tế “nước nổi”. Nếu có dịp ghé đến những vùng kinh tế quanh các khu quân sự, hầm mỏ hay hãng xưởng khai thác kinh doanh tạm thời ở Philipines, Panama, Trung Đông, Nam Phi… sẽ thấy rõ hình ảnh “giàu mà không sang” này xuất hiện nhan nhản.  Theo Sennett, R. (1998) thì “Dấu hiệu báo động đầu tiên của sự suy thoái nguồn vốn xã hội là số người phát giàu mà không làm gì cả hay kiếm lợi bất chính một cách công khai càng lúc càng đông và khoảng cách giữa những người nghèo lương thiện và những người giàu gian manh mỗi ngày một lớn”.  Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng, một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội.  Friedland (2003) đã nêu dẫn trường hợp các nước Châu Mỹ La tinh và sự èo uột của vốn xã hội.  Giới lãnh đạo và thân hào nhân sĩ trong vùng thường vinh danh tinh thần địa phương và lòng tự hào nhân chủng một cách quá bảo thủ và cực đoan đến độ lơ là không quan tâm đúng mức đến sự hun đúc, nuôi dưỡng và phát triển nguồn vốn xã hội.  Hậu quả là sự thiếu hợp tác giữa những thành viên xã hội và các thế lực đầu tư đã đưa đến quan hệ một chiều và dẫn đến chỗ vốn xã hội bị phá sản. Các nhà kinh doanh đầu tư nản lòng lui bước.  Thay vì hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, bình đẳng và danh dự thì lại biến tướng thành quan hệ “đút” (bribe) và “đớp” (being bribed) trong mối quan hệ bệnh hoạn của hối lộ và tham nhũng.  Kết quả là hơn một thế kỷ qua, các nước nghèo vẫn nghèo.  Dân chúng vẫn lầm than; nền kinh tế các nước trong vùng rất giàu tài nguyên nhưng vẫn kiệt quệ vì giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài nguyên đất nước để làm giàu cho riêng cá nhân, gia đình và dòng họ của mình rồi tìm cách chuyển tiền của và gửi con cháu của mình ra nước ngoài du học và lập nghiệp.   Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau: Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại.  Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.  Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối thì cũng tương tự như thế, vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.  Thử nhìn lại vốn xã hội Việt Nam trong tương quan nguồn vốn xã hội của thế giới, chúng ta mới thấy rõ được đâu là thế mạnh và thế yếu của mình.  Nhìn rõ mình không phải để thỏa mãn hay nản lòng dễ dãi nhất thời mà để cầu tiến bộ; để sửa đổi và điều chỉnh kịp thời trước sự đòi hỏi như một xu thế tất yếu của thời đại toàn cầu hóa. Sẽ không bao giờ muộn màng, cũng như chẳng bao giờ quá sớm để gây vốn xã hội, vì vốn xã hội là xương sống của đời sống kinh tế và nhân văn cho đất nước hôm nay và cho thế hệ đàn em mai sau.         Ngày 24 tháng 4 năm 2006 vừa qua, Bill Gates, chủ nhân công ty Microsoft và cũng là người giàu nhất thế giới với gia tài xấp xỉ 53 tỷ đô la Mỹ, đến thăm Việt Nam. Nhân vật này đã được giới trẻ Việt Nam đặc biệt quan tâm theo dõi.  Đã có người tự hỏi: “Nếu Bill Gates sinh ra tại Việt Nam hay một nơi nào đó không phải là Mỹ thì liệu một ‘Bill Gates hạt giống’ có khả năng trở thành một Bill Gates thành công lẫy lừng như hôm nay không?  Tuy đây chỉ là câu hỏi giả định, nhưng câu trả lời dĩ nhiên là “không!” và câu hỏi tiếp sẽ là “Tại sao?” Câu trả lời đơn giản nhất sẽ là: “Vì Mỹ khác, ta khác.  Mỹ có nhiều phương tiện kinh doanh và điều kiện thuận lợi nghiên cứu kỹ thuật và tham khảo thị trường mà ta không có…” Thế thì có người lại hỏi, một nhân vật Mỹ nổi tiếng khác cũng đã đến thăm Việt Nam, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton, có một người em trai cùng cha khác mẹ, lớn lên trong cùng một mái ấm gia đình, suýt soát tuổi nhau là Roger Clinton lại trở thành một tay lêu lổng, bị tù tội vì nghiện xì ke, ma túy. Như vậy có hai Clintons trái ngược nhau trong cùng một hoàn cảnh. Clinton anh là vốn xã hội đáng quý và Clinton em là cục nợ xã hội đáng thương hại.   Trên đây là thí dụ cụ thể về mối tương quan và sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh. Đây là cả một sự tương tác về cả ba mặt: Vật chất, tinh thần, hoàn cảnh riêng, chung.  Bởi vậy, phương pháp luận cũng như dữ kiện về các mặt nhân sinh và môi trường xã hội thường là những đối tượng rất phức tạp trong việc đo lường hay phân tích nguồn vốn xã hội.          Trần Kiêm Đoàn (Mỹ)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tướng quyết ngay gói tín dụng 50 – 60 nghìn tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao      Tại Hội nghị Xây dựng nền công nghiệp nông nghiệp Việt Nam vừa diễn ra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định dành gói tín dụng khoảng 50 – 60 nghìn tỷ đồng cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao với cơ chế vay thuận lợi, thông thoáng nhất.      Thủ tướng cùng các đại biểu nhấn nút khởi động chương trình truy xuất nguồn gốc rau an toàn cho TP. Hà Nội và TPHCM. – Ảnh: VGP/Quang Hiếu  Chiều ngày 18/12, tại TPHCM, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự Hội nghị Xây dựng nền công nghiệp nông nghiệp Việt Nam.  Sự kiện do Câu lạc bộ Nông nghiệp công nghệ cao (DAA Việt Nam –đơn vị trực thuộc Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam) tổ chức với sự tham gia của hơn 500 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp.  Không để quy hoạch cản trở công nghệ cao  Tại hội nghị, Thủ tướng và lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương  đã trao đổi, giải đáp trực tiếp các mối quan tâm của các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Cuộc đối thoại diễn ra thẳng thắn, cởi mở, dân chủ, mà theo Thủ tướng, một xã hội cởi mở, dân chủ là yếu tố dẫn đến thành công.  “Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ diễn ra rất quyết liệt trên toàn cầu thì Việt Nam chúng ta có 3 thế mạnh rất quan trọng, một là nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, hai là công nghệ thông tin và thứ ba là du lịch”, Thủ tướng nói và hoan nghênh ý định của DAA về phát triển nông nghiệp công nghệ cao.  Thủ tướng nêu rõ tầm nhìn, khát vọng xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, đa chức năng, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Việt Nam nỗ lực phấn đấu vươn lên, từng bước đứng trong nhóm các quốc gia nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Việt Nam trở thành trung tâm cung ứng sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, có vị thế quan trọng trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.  Từ nền tảng phát triển nông nghiệp, thúc đẩy nhiều ngành khác như công nghiệp chế biến, thực phẩm, công nghiệp sản xuất máy móc và vật tư đầu vào cho nông nghiệp, phát triển các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng. “Phấn đấu sớm đưa Việt Nam thành một quốc gia hàng đầu về sản phẩm nông nghiệp”, Thủ tướng nhấn mạnh.  Căn cứ một số đề nghị của DAA, Thủ tướng nêu rõ thông điệp: Không phải địa phương nào được quy hoạch trong các vùng nông nghiệp công nghệ cao thì mới được phép đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Thay vào đó, cần phải bảo đảm rằng mọi nông dân Việt Nam bất kể vùng miền nào, bất kể quy mô nào, tính chất như thế nào cũng được khuyến khích áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp.  Về đề xuất của Công ty TNHH Đầu tư Thủy sản Nam Miền Trung, doanh nghiệp đang phát triển mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao, Thủ tướng nhất trí việc mở rộng diện tích nuôi tôm. Thủ tướng cho biết sẽ cùng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì một hội nghị về phát triển tôm chất lượng cao ở Việt Nam trong tháng 1/2017.  Về đề xuất của các doanh nghiệp liên quan đến hỗ trợ tín dụng, Thủ tướng quyết ngay: Phải có một gói tín dụng 50 – 60 nghìn tỷ đồng để phục vụ công việc này với cơ chế vay thuận lợi, thông thoáng nhất, nhưng không chỉ cho một ngân hàng thương mại làm việc này mà cho nhiều ngân hàng thương mại. Bởi vì nguyên tắc quan trọng của kinh tế thị trường là cạnh tranh, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng, chống tiêu cực, chi phí không chính thức.  Cho biết Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định Thương mại tự do, là thành viên WTO, Thủ tướng đồng ý với ý kiến các doanh nghiệp là Việt Nam cần có hàng rào kỹ thuật đúng quy định và các cam kết hội nhập để bảo vệ nông sản trong nước.  Thủ tướng nhất trí với các ý kiến là cần thiết phải sửa điều 193 Luật Đất đai về điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và Thông tư 23 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đất đai để tạo điều kiện phát triển nông nghiệp.  Thủ tướng cũng cho rằng phải tổ chức lại sản xuất của các hợp tác xã, hộ cá thể, “chứ để các hộ nhỏ li ti như hiện nay thì khó cạnh tranh trong kinh tế thị trường”.  Thủ tướng cũng đánh giá cao đề xuất của DAA về mô hình phát triển các khu tổ hợp nông nghiệp công nghệ cao.  Thí điểm thành lập ngân hàng quỹ đất  Trên tinh thần đó, Thủ tướng nêu một số chủ trương. Cụ thể là hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp dựa trên nền tảng tiềm năng và lợi thế so sánh, phải tính toán lại sử dụng đất đai có hiệu quả nhất để thực hiện chủ trương đưa cơ giới hóa, đưa doanh nghiệp vào nông nghiệp. Thủ tướng cho biết, Chính phủ đang thí điểm thành lập ngân hàng về quỹ đất và xem xét việc hình thành thị trường quyền sử dụng đất để nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng đất.  Cùng với tín dụng, cần thành lập phát triển một số quỹ bảo hiểm nông nghiệp, quỹ hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp.  Thủ tướng cũng nhấn mạnh chủ trương tăng cường liên kết giữa 4 nhà, trong đó liên kết giữa nhà nông và nhà đầu tư là nòng cốt, đặc biệt là xây dựng cho được chuỗi liên kết trong sản xuất, bảo quản, chế biến và phân phối nông sản, tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu.  Thủ tướng đề nghị nông nghiệp công nghệ cao trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là nền nông nghiệp không chỉ ứng dụng công nghệ cứng, tức là thiết bị, máy móc mà phải biết tranh thủ công nghệ mềm là công nghệ thông tin, mạng xã hội, các phương thức kết nối phi truyền thống…  Phải xắn tay áo vào làm   Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Theo đó, Bộ NN&PTNT rà soát, tiếp tục hoàn thiện quy hoạch nông nghiệp công nghệ cao theo hướng mở, hiệu quả bền vững; nghiên cứu, có chính sách ưu đãi cho các khu nông nghiệp công nghệ cao.  Bộ Tài nguyên và Môi trường kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, tạo thuận lợi cho quá trình tích tụ ruộng đất, có chính sách cho nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp; rà soát, hoàn thiện chính sách ưu đãi về đất đai để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao.  Bộ Công Thương đẩy mạnh xúc tiến thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cả trong nước và quốc tế, thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu nông sản chất lượng cao có giá trị. Nghiên cứu các loại nhà kính, một số công cụ sản xuất phục vụ nông nghiệp công nghệ cao để phát triển ngành cơ khí, khoa học công nghệ trong nước, đồng thời giảm giá thành đầu tư trong nông nghiệp.  Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, ban hành cơ chế đầu tư tín dụng trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhất là nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản, hình thành quỹ phát triển nông nghiệp công nghệ cao.  Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện chính sách về thúc đẩy sức sáng tạo, chuyển giao, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; ưu tiên ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học, ứng dụng công nghệ sinh học, thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin khoa học công nghệ, sử dụng quỹ đổi mới công nghệ quốc gia trong hỗ trợ các dự án nông nghiệp công nghệ cao.  Ngành Y tế kiểm tra, xác định các sản phẩm nông nghiệp sạch đến người dân, “phải làm mạnh mẽ hơn, công bố cái nào sạch, cái nào tốt” để người tiêu dùng yên tâm.  Yêu cầu rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình tại tỉnh Lâm Đồng và một số địa phương, Thủ tướng nhấn mạnh, UBND các tỉnh, thành phố cần tạo điều kiện thuận lợi, trước hết là về thủ tục hành chính và có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích cho các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. “Địa phương phải xắn tay áo lên làm việc này”, Thủ tướng chỉ rõ.  Tại Hội nghị, Thủ tướng đã nhấn nút khởi động chương trình truy xuất nguồn gốc rau an toàn cho TP. Hà Nội và TPHCM.  Doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân  Tại hội nghị, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch DAA Việt Nam bày tỏ mong muốn đưa ra cách làm mới trong nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết giá trị, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân.  “Cách làm mới này sẽ góp phần thay đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, từ ngành có giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng thấp sang ngành có giá trị vượt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống và hình thành một chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả cạnh tranh cung cấp sản phẩm có chất lượng”, ông Bình nói.  Cũng tại Hội nghị, các đại biểu đã được trực tiếp học hỏi những kinh nghiệm thành công thông qua kinh nghiệm thực tiễn từ chính các doanh nghiệp hội viên của DAA Việt Nam. Chẳng hạn như mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Đầu tư Thủy sản Nam Miền Trung; kinh nghiệm của “lão nông triệu đô” Võ Quan Huy tự xây dựng chuỗi giá trị của riêng mình – từ chăn nuôi bò, nuôi tôm thịt đến trồng chuối xuất khẩu.  Bên cạnh đó, DAA Việt Nam đã giới thiệu đề án ứng dụng công nghệ số trong quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm – “Sử dụng tem thông minh DAA STAMP truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng Thực phẩm an toàn”. DAA Việt Nam cũng ký kết 2 thỏa thuận hợp tác và khởi động mô hình thí điểm truy xuất nguồn gốc rau an toàn với UBND TP. Hà Nội và UBND TPHCM.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-quyet-ngay-goi-tin-dung-50-60-nghin-ty-dong/294535.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tướng Rumani bị cáo buộc đạo văn      Một hội đồng khoa học của Rumani đã cáo buộc  Victor Ponta, Thủ tướng nước này, tội đạo văn một số phần trong luận án  tiến sĩ của mình. Tuy nhiên, Hội đồng đã bị giải thể trước  khi kết thúc cuộc họp vào thứ sáu, ngày 29/6 tại Bucharest.     Tại cuộc họp, 13 thành viên của Hội đồng Quốc gia về Chứng nhận học vị các trường đại học (CNATDCU) cùng đưa ra kết luận rằng ông Ponta đã sao chép tới 85 trong số 307 trang (không kể phụ lục) trong luận án tiến sĩ năm 2003 về Tòa án Tội phạm Quốc tế, trong đó chưa tính tới các phần sao chép kín đáo khác như là một số đoạn văn được đạo lại và chỉ thay thế một số từ bằng các từ gần nghĩa. Tuy nhiên, quyền bộ trưởng Bộ Giáo dục Liviu Pop đã làm gián đoạn cuộc họp trên khi nói với các thành viên hội đồng rằng cần phải rút lại những cáo buộc đó. Ông tuyên bố, theo chỉ đạo cấp bộ, tư cách pháp lý của Hội đồng đã bị vô hiệu, sau khi Hội đồng không nộp báo cáo về hoạt động và kết quả của mình như ông ta đã yêu cầu từ ngày 21/6. Nhưng các thành viên CNATDCU không đồng ý với lập luận trên.  “Rõ ràng là chính phủ gây áp lực và muốn công việc của chúng tôi dừng lại”, ông Marius Andruh, chủ tịch Hội đồng và là một nhà hóa học tại Đại học Bucharest nói. “Chúng tôi đã nhận được – không sớm hơn ngày 25/6 – một bản fax yêu cầu báo cáo toàn bộ các hoạt động của chúng tôi. Hiển nhiên là, không cách gì chúng tôi có thể làm được báo cáo như vậy trong vòng 3 ngày”.  Hội đồng khoa học Rumani đã nổi giận vì động thái này, và nhiều người e rằng nó sẽ càng hủy hoại danh tiếng của nền khoa học và hệ thống giáo dục bậc cao của quốc gia. Trong hai ngày cuối tuần, có hơn 800 học giả đã kí vào bản kiến nghị của CNATDCU trong đó bày tỏ bức xúc trước “sự giẫm đạp không biết xấu hổ tất cả mọi phẩm giá con người và nghề nghiệp, lờ đi những nguyên tắc cơ bản nhất của tự do học thuật.”   Trong một lá thư ngỏ gửi tới lãnh đạo EU cuối tuần qua, 16 nhà trí thức Rumani, trong đó có cả Andrei Plesu, hiệu trưởng trưởng Đại học New Europe ở Bucharest và nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Romania, đã bày tỏ rằng vụ việc này có thể làm tổn hại uy tín xã hội Rumani trên diện rộng.   Tại phiên họp ngày thứ sáu, CNATDCU đã đưa ra kết luận: “một phần quan trọng” trong luận án của ông Ponta “dựa trên những đoạn văn lấy của các tác giả khác, và sao chép nguyên văn, mà không hề chú dẫn về việc sao chép này cũng như không hề trích nguồn”.  Nhưng do hội đồng đã bị giải tán từ trước khi kết luận được đưa ra nên những quyết định đó không hề có hiệu lực pháp lý, và những cảnh báo được gửi tới bộ trường Bộ Giáo dục về việc không công nhận luận án của ông Ponta cũng sẽ bị bỏ qua.   Chính phủ đã chuyển vụ việc này cho hội đồng đạo đức nghiên cứu quốc gia, và hội đồng này có 90 ngày điều tra.   Ông Ponta đã thay thế các thành viên của hội đồng này từ đầu năm nay, sau khi có những cáo buộc về hành vi đạo văn của Ioan Mang, cựu Bộ trưởng bộ Khoa học và Giáo dục.   Đảng Dân chủ – Tự do ở phe đối lập đã yêu cầu ông Ponta từ chức. Nhưng vị Thủ tướng này, đồng thời là lãnh đạo của Đảng Dân chủ xã hội, lại khẳng định rằng sai sót duy nhất của ông là tạo danh mục tài liệu tham khảo không đúng theo quy phạm thông thường, và những cáo buộc đạo đức bị đưa ra chẳng qua chỉ là một phần trong chiến dịch chính trị chống lại ông Ponta.   Người hướng dẫn ông Ponta là một giáo sư luật học và là cựu Thủ tướng Adrian Năstase, cũng đã bị tuyên phạt hai năm tù vì tội tham nhũng. Còn những tác giả của các cuốn sách được cho là bị ông Ponta đạo văn, trong đó có nhà luật học Dumitru Diaconu và Vasile Creţu, tuyên bố rằng họ không lưu tâm nhiều đến vụ việc này cũng như kết quả của nó. Một học giả khác mà người ta cho là cũng bị Ponta đạo văn là Ion Diaconu cũng gay gắt bác bỏ việc thủ tướng sao chép công trình của mình. Còn Andruh nói rằng từ nay ông sẽ không tham gia vào bất kỳ hội đồng khoa học nào của Rumani.  Trước đó, hồi đầu tháng tư năm nay, Tổng thống nước láng giềng Hungary Pal Schmitt đã phải tuyên bố từ chức sau khi ông bị thu hồi học vị tiến sĩ do người ta phát hiện luận án dài 251 trang của ông có phần lớn nội dung được dịch ra từ một luận văn của nước ngoài. Ông Schmitt là Tổng thống đầu tiên ở Hungary phải rời bỏ chức vụ giữa nhiệm kỳ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang «Thủ Tướng Sáu Dân»: Tài khoản tình nghĩa, trương mục lòng tin và tư duy cùng thắng      Hồi mười mấy năm trước, l&#250;c Việt Nam mới &#171;mở cửa&#187;, mấy người bạn &#194;u Mỹ cho t&#244;i xem một tạp ch&#237; xuất bản trong nước với h&#236;nh b&#236;a Thủ tướng V&#245; Văn Kiệt đang đ&#225;nh quần vợt. Họ cười: &#171;Chịu đất nước m&#224;y! Kh&#244;ng phải d&#244;ng d&#224;i thuyết minh về &#171;đổi mới&#187;, chỉ cần nh&#236;n l&#227;nh đạo quốc gia với tư thế ấy l&#224; ch&#250;ng tao ấn tượng ngay&nbsp;v&#224; sẳn s&#224;ng trải nghiệm ch&#237;nh s&#225;ch mới của Việt Nam!&#187;.     Sau này, có nhiều dịp trao đổi với doanh nhân và trí thức trong nước, nhất là những người có chí hướng và tầm nhìn lâu dài, tôi «tổng kết» – theo thói quen của nghề nghiên cứu và đào tạo – những từ vẫn được thường được dùng như một mẫu hình chung để nói về «Chú Sáu Dân» là «tình nghĩa, ngay thẳng, lòng tin, hiệp lực, cùng thắng».  Những chuyện trên vẫn làm tôi nghĩ đến mấy khái niệm phổ biến trong khoa học quản trị về nghệ thuật lãnh đạo, ấy là «tài khoản tình nghĩa», «trương mục lòng tin» và «tư duy cùng thắng» thường được nhìn nhận như những tiền đề cần thiết để phát triển năng lực của mỗi một tác nhân cấu thành tổ chức, cộng đồng.   Nhân giỗ đầu của Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, xin được đôi dòng về đề tài trên, như nén nhang nghiêng mình kính viếng.   *  *   *  Không quan hệ nào có thể được kết nối dài lâu trên cơ sở của sự vô cảm và vô tâm! Mọi quan hệ chỉ được củng cố và phát triển từ sự quan tâm và tin tưởng dành cho nhau. Nhìn từ khía cạnh tâm lý trong ngành động lực học tổ chức, thiết lập mối quan hệ với đối tác là khởi nguyên mở ra một «tài khoản tình nghĩa» với độ tích lũy cần thiết ngày càng cao để chuyển hóa thành «trương mục lòng tin», tạo điều kiện cho mối quan hệ ấy trở thành bền vững.   Nói một cách hình tượng và chính xác hơn, trong mọi quan hệ đều có ba mức độ của «tài khoản tình nghĩa»: âm, bằng không và dương. Ở mức âm, các đối tác bị chi phối bởi sự nghi kị, dè chừng. Mỗi bên luôn luôn phải thận trọng, cảnh giác, dò xét lẫn nhau. Do vậy, đối tác thường hóa thành đối thủ và quan hệ giữa hai bên dễ biến ra sự đối đầu. Mức bằng không là dạng trao đổi «tiền trao cháo múc», lấy ích lợi «ngang giá» giữa hai bên làm thước đo, hoàn toàn mang tính thực dụng và thực tiễn, còn lợi thì có qua có lại, hết lợi thì đường ai nấy đi. Đấy là loại quan hệ thông thường của những tập hợp và giao dịch thời vụ, thoạt nhìn thì thù tạc náo nhiệt nhưng thực chất chỉ là cấu kết «đồng sàng dị mộng». Mức dương của «tài khoản tình nghĩa», ngược lại, có tác dụng hết sức tích cực trong việc phát triển quan hệ, nhưng lại rất «khó quản lý»!                  Thủ tướng Võ Văn Kiệt trao đổi về Alexandre de Rhodes với nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng           Lý do là mức dương của «tài khoản tình nghĩa» cần phải được thường xuyên bổ sung bởi sáu «khoản ký gửi» tương tác mật thiết với nhau. Đầu tiên là khả năng thấu hiểu hoàn cảnh cũng như tình cảnh của đối tác, nghĩa là biết thật sự lắng nghe trước khi nhận định và phán xét về cách hành xử, các đòi hỏi và mục đích của họ (cần thấy rõ sự khác biệt ở đây giữa «thật sự lắng nghe để thấu hiểu» và «thông cảm»: lắng nghe để thấu hiểu không nhất thiết là cuối cùng phải đồng ý với đối tác mà chính là để mỗi bên hiểu sâu hơn về động lực thúc đẩy hành động của nhau. Thông cảm trái lại là một thái độ chấp nhận những thỉnh cầu của phía bên kia, và thái độ ấy lại có phần «trịch thượng, bề trên», kể cả « lạm dụng quyền thế ». Vì vậy mà trong ngôn ngữ giao tiếp mới có câu cửa miệng là « xin ông/bà/cô/cậu/anh/chị thông cảm cho…» !).  Tiếp liền là nhận chân ý nghĩa và bản chất của những sự kiện vượt lên trên cách thể hiện của nó: có nhiều việc «rôm rả, đao to búa lớn» nhưng chỉ là điều phô trương, trình diễn; trái lại, có lắm sự vụ nhỏ, nhưng lại thâm trầm vì đó là tiếng nói của nhân sinh đời thường. Biết phân biệt thực chất và tầm quan trọng của những tác động khác nhau của các vụ việc và nhất là quan tâm đến diễn ngôn của đời sống thật (chứ không chỉ phải là văn từ của báo cáo) là minh chứng và đồng thời đào sâu về khả năng lắng nghe và thấu hiểu. Kế đến là sự cần thiết về việc đảm bảo các cam kết: đã hứa hẹn thì phải cố giữ lời, đừng đưa đẩy cho vui lòng đối tác vì hậu quả của việc không thực hiện lời hứa trầm trọng hơn rất nhiều so với việc không hứa hẹn. Từ đấy, nội dung của «khoản ký gửi» thứ tư hình thành: cần thiết phải làm rõ các kỳ vọng của nhau, nghĩa là không để cho mỗi bên sống với những ảo tưởng mà không có bên nào có khả năng hiện thực hóa. Tiếp đấy là phải biết quý trọng sự chính trực, nghĩa là không chỉ không cải biên sự thật cho phù hợp với những điều đã nói mà còn phải luôn cố gắng trung thành với những nguyên tắc cơ bản mà chính bản thân đã tôn vinh. Cuối cùng, nhất quán với năm «khoản ký gửi» trên là biết nhận trách nhiệm của mình khi một sai phạm diễn ra, dù đấy không phải là lỗi của chính mình mà là của hệ thống và tổ chức nhưng hệ thống và tổ chức ấy lại do mình góp phần tạo dựng và nhất là cáng đáng một vai trò trong phần lãnh đạo!   Cũng cần lưu ý về một hệ luận tiêu cực có thể đến từ việc «tích lũy dương» của sáu «khoản ký gửi» trên: đó là khuynh hướng «thấu chi tài khoản tình nghĩa» mà mình đinh ninh là đã có đối với đối tác. Nói cách khác, nếu «tài khoản tình nghĩa» không được bổ sung thường xuyên mà trái lại còn có hiện tượng «thâm lạm vào vốn» – nghĩa là lợi dụng tình nghĩa tốt đẹp của đối tác đã dành cho mình – thì không những «tài khoản tình nghĩa» trở thành âm một cách nhanh chóng mà «trương mục lòng tin» dứt khoát sẽ bị triệt tiêu toàn bộ, khó có cơ may được vãn hồi.  Vài tháng trước khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt mất, trong một buổi chuyện trò thân mật và hạn hẹp với vài người trong nhóm nghiên cứu nhỏ vừa được thành lập ở TP. Hồ Chí Minh (và tự giải tán sau đó không lâu), tôi đề cập mô hình «tài khoản tình nghĩa». Một doanh nhân trẻ, rất thành đạt, đã có nhiều lần trao đổi với Thủ tướng, nhận xét: «Hình như tên hiệu của chú Sáu Dân rất phù hợp: không nhiều thì ít, chú ấy có cả «sáu khoản ký gửi » trên, chí ít là trong quan hệ với các thành phần như tôi». Một Việt kiều, giảng dạy đại học, lại nói: «Cũng bởi vì thế mà giới trí thức vừa trọng vừa tin Thủ tướng Sáu Dân». Trầm ngâm và nhỏ nhẹ, một trí thức khác tiếp lời: «Và dường như cũng vì vậy mà lòng tin vào khả năng đổi mới của thể chế không chỉ được củng cố mà còn tăng cường»!   Phần tôi, cũng đã «ngộ» ra một điều: tình nghĩa và lòng tin không phải là những khái niệm trừu tượng hay những «giá trị vô hình siêu vật chất» mà trái lại là cần phải được xây dựng trên nền tảng của những sự việc hết sức cụ thể: nói về tình nghĩa và lòng tin bằng những thuật ngữ chuyên ngành quản trị là «tài khoản, trương mục, ký gửi, tích lũy, thấu chi…» thoạt nghe có vẻ «chối tai» nhưng đã lột tả được thực chất của những mối quan hệ khác nhau (ngay trong quan hệ hôn nhân, nếu cả vợ lẫn chồng đều không có những «đầu tư» vào việc xây dựng sự nghiệp của nhau lẫn cơ nghiệp chung của gia đình thì mối quan hệ ấy khó mà bền vững vì thiếu «chia xẻ» với nhau các «giá trị cơ bản» về cuộc sống!).   Nói cho gọn, nếu ba «khoản ký gửi » đầu tiên vào «tài khoản tình nghĩa » có khả năng phát triển mối quan hệ cá nhân giữa các bên đối tác thì những «khoản ký gửi» từ thứ tư đến thứ sáu lại còn có thêm khả năng mở ra «trương mục lòng tin» không chỉ giữa các đối tác với nhau mà còn giữa các hệ thống, tổ chức, thành phần mà các đối tác ấy là một tác nhân cấu thành: mỗi cá nhân, dù muốn dù không, đều ít hay nhiều mang tính chất tiêu biểu cho thành phần, tổ chức và hệ thống mà cá nhân ấy xuất thân, do vậy, phong cách sống và ứng xử của một cá nhân vô hình trung tác động đến lòng tin của đối tác đối với toàn bộ tập hợp bao quanh cá nhân ấy!   Và «trương mục lòng tin» lại còn được khuếch trương nếu sự tin cậy của mỗi bên đối với bên kia được phát triển trên «tư duy cùng thắng», nghĩa là vượt lên trên tính cách thỏa hiệp của sự hợp tác – mà ở đấy mỗi bên đều nhượng bộ bên kia, nghĩa là cả hai bên đều phải chấp nhận một sự thiệt thòi nhất định – để tiến đến một sự đồng tâm hiệp lực mà ở đấy mỗi bên đều phải mở ra những khả năng mới cho chính mình để mang đến cho tổng thể một hiệu năng vượt trội mà riêng lẻ không có bên nào có khả năng đạt đươc!   Tóm lại, «tư duy cùng thắng» là triển khai «tài khoản tình nghĩa » và «trương mục lòng tin» theo định hướng tích hợp, nghĩa là hướng về một giải pháp không phải được đưa ra từ ý chí và mong muốn của riêng bên nào, mà là từ một chí hướng và khát vọng chung đến từ mỗi bên và cuối cùng là có lợi cho tất cả.   Nói cách khác, tình nghĩa, lòng tin và tư duy cùng thắng, hiển lộ trong «phong cách Sáu Dân », đã góp phần rất lớn cho chiều hướng đồng tâm hiệp lực giữa những thành phần tinh túy của dân tộc. Và đồng tâm hiệp lực theo «kiểu Sáu Dân» là một hợp tác sáng tạo mà ở đấy tính đặc thù và sự khác biệt của mỗi một thành phần được đề cao và trân trọng nhìn nhận, nhằm phát huy thế mạnh và bổ sung các điểm yếu và thiếu sót của nhau! Trong chiều hướng ấy, «Thủ tướng Sáu Dân» đã giúp cho mỗi một thành phần của Con Người Việt Nam nhận thức rõ thêm về Cội nguồn và Đôi cánh của chính bản thân mình!       Tháng 5 năm 2009.  ————  * Giáo Sư Đại Học, United Business Institutes (Bỉ); Nyenrode Business University (Hà Lan), Giám đốc Think & Teach Ltd (Anh), Giám đốc Điều hành dự án Management Consulting Institute-Vietnam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy chính phủ mở ở Việt Nam      “Nếu muốn đi nhanh, bạn có thể đi một mình. Còn muốn đi xa, hãy đi cùng nhau” (Cách ngôn Mỹ).      Dữ liệu mở chỉ là một cam kết trong chính phủ mở – Ảnh: Economist  Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết tâm và nỗ lực cải cách thể chế cùng nền quản trị công nhằm chống tham nhũng, hướng tới tăng cường tính minh bạch và năng lực kiến tạo … thì việc tham gia Sáng kiến Đối tác Chính phủ mở (OGP) có thể được xem như một xúc tác giúp đẩy nhanh tiến trình.  Trên thực tế, người dân ở bất cứ quốc gia nào cũng thường mong mỏi được chính phủ phục vụ tốt. Trong kỳ vọng của họ, một chính phủ làm việc nhanh chóng hiệu quả, mang lại nhiều dịch vụ thiết thực, không tham nhũng và lãng phí, cũng cần thiết phải là một chính phủ biết lắng nghe và hành động – điều không phải có thể dễ dàng đạt được bởi có rất nhiều trở lực.  Chẳng hạn, ngay bên trong mỗi chính phủ, những lãnh đạo với tầm nhìn và tư duy cải cách cũng thường xuyên phải đấu tranh rất nhiều mới có thể nói lên những điều họ biết, họ hiểu và vận động triển khai cái mới. Còn ở ngoài xã hội, phần đông người dân thường dễ rơi vào tâm lý chán nản, bức xúc khi không thể biết chuyện gì đang diễn ra phía sau bốn bức tường mang tên “chính quyền”, và dường như cũng chẳng có nhiều cách để khiến những người ở bên trong đó có thể lắng nghe ý kiến của họ.  Ngoài ra, liên quan đến yếu tố văn hóa, đại bộ phận dân ở các nước thuộc Thế giới thứ ba thường hay thụ động, trông chờ vào chính phủ thay vì tự giác và chủ động làm gì đó cho mình – như chuyện lấy ý kiến người dân về các dự luật ở Việt Nam, mặc dù công khai nhưng chẳng mấy tham gia đóng góp.  Làm sao để thay đổi văn hóa làm việc của chính phủ lẫn cải thiện nhận thức của người dân? Đó thực sự là một cuộc cách mạng với sứ mệnh quá lớn lao mà không ai có thể âm thầm làm việc một mình. Trận tuyến này đòi hỏi phải có rất nhiều đồng minh, cả bên trong (thành phần lãnh đạo cấp tiến) và bên ngoài chính phủ (khối doanh nghiệp và xã hội dân sự) để cùng thảo luận nhằm đi đến giải pháp và thúc đẩy tiến trình, bên cạnh các đối tác quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ và tìm kiếm niềm cảm hứng.  Và đó cũng chính là lý do để Sáng kiến Đối tác Chính phủ mở OGP (Open Government Partnership) ra đời năm 2011. Từ sự đồng thuận ban đầu bởi các nhà lãnh đạo của 8 Chính phủ (Brazil, Indonesia, Mexico, Nauy, Philippines, Nam Phi, Anh, Mỹ) và 9 tổ chức xã hội dân sự (XHDS), cho đến nay OGP đã thu hút được 79 quốc gia cùng 20 chính quyền địa phương tham gia và thực hiện hơn 3.100 cam kết để cải thiện hơn nữa độ mở, trách nhiệm cùng năng lực của chính phủ.  Về bản chất, OGP hoàn toàn không thuộc về bất cứ một diễn đàn hay sân chơi ngoại giao nào, mà đúng hơn là một sáng kiến – được quốc tế đánh giá thuộc loại nổi bật nhất hiện nay – nhằm thúc đẩy các chính phủ hướng tới minh bạch thông qua cơ chế đối thoại, hợp tác và làm việc chung (giữa chính phủ và XHSD) để đi đến những cam kết cụ thể, chẳng hạn: đảm bảo thông tin sẵn có, công khai và dễ dàng tiếp cận; tham vấn, gắn kết và trao quyền nhiều hơn nữa cho người dân; thực thi các tiêu chuẩn cao nhất về tính liêm chính trong hoạt động chuyên môn của các cơ quan chính phủ; kiên quyết loại trừ tham nhũng; tận dụng và phát huy các lợi thế của công nghệ trong cải thiện hoạt động quản trị nhà nước; bên cạnh mục tiêu bao trùm và đa dạng (kế hoạch hành động phải chú trọng tới các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội).  Việc tham gia OGP cũng hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện, khi các quốc gia quan tâm cần thiết phải đáp ứng được những tiêu chí hợp lệ tối thiểu; cam kết phát huy các nguyên tắc của OGP thông qua Tuyên ngôn Chính phủ mở; gửi ý nguyện thư xin gia nhập; xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia OGP, và gửi kế hoạch hành động để Ban chỉ đạo OGP công khai trên cổng thông tin toàn cầu.      Làm sao để thay đổi văn hóa làm việc của chính phủ lẫn cải thiện nhận thức của người dân? Đó thực sự là một cuộc cách mạng với sứ mệnh quá lớn lao mà không ai có thể âm thầm làm việc một mình.      Ngoài ra, các hoạt động chấm điểm, đánh giá, báo cáo và xét duyệt hồ sơ sẽ được OGP thực hiện hoàn toàn độc lập với chính phủ – áp lực thôi thúc chính phủ thực hiện cải cách. Như hiện nay, trong 4 tiêu chí tính điểm của OGP, bao gồm: Minh bạch tài khóa; Công khai tài sản; Sự tham gia của người dân; và Tiếp cận thông tin, Việt Nam mới chỉ đạt 8/16 – còn thiếu 4 điểm so với yêu cầu tối thiểu để trở thành thành viên của OGP; Ngoài ra, kể từ tháng 9/2017, OGP còn bổ sung thêm tiêu chí Không gian dân sự (còn gọi là Values check hay Kiểm tra giá trị) nhằm đảm bảo môi trường hoạt động cho XHDS phát triển – điểm mà Việt Nam vốn đã không được đánh giá cao và càng cần phải cố gắng rất nhiều.  Trong khuôn khổ Hội thảo Tập huấn “Sáng kiến Đối tác Chính phủ mở và vai trò của các tổ chức xã hội” diễn ra hôm 9/11 tại Hà Nội, PGS. TS Vũ Công Giao (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, OGP thực sự rất phù hợp với Việt Nam, nhất là trong tầm nhìn tham chiếu đến những chủ trương cải cách và định hướng phát triển mới do Đảng và Nhà nước phát động, trong đó có Chiến lược Quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin; Mục tiêu hướng tới Chính phủ liêm chính, kiến tạo và hành động để bắt kịp và đón đầu xu hướng 4.0, …  Do đó, nếu được cung cấp đầy đủ thông tin, việc vận động để Việt Nam gia nhập OGP chắc chắn sẽ nhận được rất nhiều sự quan tâm, mặc dù ở những cấp độ khác nhau, của các cơ quan nhà nước (nhất là Quốc hội và thiết chế phòng, chống tham nhũng) cùng đông đảo xã hội (báo chí, học thuật, tổ chức xã hội và NGO).  Điều này giúp mang đến một vài lợi ích cốt lõi, như mở ra con đường mới, mang tính chiến lược, thúc đẩy, tạo ra bước ngoặt trong quản trị nhà nước và phòng chống tham nhũng; mở rộng cơ hội giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn nữa với thế giới, nâng cao hình ảnh và uy tín, tranh thủ nguồn lực và sự trợ giúp của quốc tế trong việc cải cách thể chế và hiệu quả hoạt động …  Sau cùng, mặc dù còn rất nhiều thách thức cần phải vượt qua, và những khó khăn đôi khi không phải do yếu tố kỹ thuật mà lại nằm ở quán tính hay sức ì văn hóa, nhưng OGP hoàn toàn có khả năng được hiện thực hóa ở Việt Nam nếu chúng ta biết đặt ra những chiến lược và kế hoạch hành động rõ ràng, cụ thể, có trọng tâm (tham khảo kinh nghiệm quốc tế) và chú ý đến tính khả thi (cần tránh những đề xuất phi thực tế, quá đà để dễ dàng bị quy chụp), trước tiên cần bắt đầu từ khâu tuyên truyền, phổ biến nhằm huy động được sự tham gia và phát huy lợi thế của hầu hết mọi chủ thể trong xã hội.Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/thuc-day-chinh-phu-mo-o-viet-nam/2018111504290972p1c785.htm    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho KHCN      Để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho KHCN,  gần đây Bộ KH&amp;CN đề nghị xem xét nâng tỷ lệ trích lợi nhuận trước  thuế để lập quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp lên mức 30-40%, thậm  chí đề nghị cân nhắc xây dựng chế tài để bắt buộc các doanh nghiệp (nhất  là các doanh nghiệp Nhà nước) phải thực hiện việc lập quỹ.     Nhưng không ai dám chắc rằng các quỹ phát triển KHCN ở các doanh nghiệp sẽ được sử dụng đúng mục đích, thay vì trở thành công cụ để lách thuế của doanh nghiệp với những hội đồng thẩm định giám sát mang tính hình thức chiếu lệ. Trong thực tế, bản thân nguồn lực từ Ngân sách Nhà nước đầu tư cho KHCN tại chính các cơ quan của Nhà nước hiện nay cũng khó tránh khỏi sai sót, lãng phí, thất thoát, khi mà các hội đồng thẩm định được thành lập và hoạt động dưới sự quản lý phân tán của nhiều Bộ, ngành khác nhau.    Trong khi đó, qua khảo sát chúng tôi thấy rằng có những doanh nghiệp – trong đó có cả những doanh nghiệp của Nhà nước – thực sự đã đầu tư khá nhiều cho đổi mới công nghệ, đem lại những cải thiện đáng kể trong năng lực sản xuất kinh doanh, nhưng lại hoàn toàn không biết về chính sách ưu đãi của Nhà nước cho phép trích lập quỹ phát triển KHCN. Điều này cho thấy chính sách tuyên truyền của Nhà nước, đặc biệt là các sở, ban ngành tại địa phương, vẫn chưa thật hiệu quả.   Bên cạnh đó, khi được cung cấp thông tin về chính sách ưu đãi này, bản thân các doanh nghiệp cũng tỏ ra không thật mặn mà, cho rằng việc giải trình và thuyết phục các cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan thuế, về các nguồn chi đầu tư cho KHCN, sẽ đòi hỏi một quy trình thủ tục khó khăn, không đơn giản.  Những thực tế trên đây cho thấy rằng với năng lực thẩm định, giám sát của Nhà nước còn hạn chế như hiện nay, các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới cho công nghệ nên căn cứ trên sản phẩm đầu ra, thay vì giám sát đầu vào. Cụ thể là nên chú trọng ưu đãi cho các doanh nghiệp mua các kết quả nghiên cứu đã được cấp bằng phát minh và sáng chế, hoặc các kết quả nghiên cứu đã đem lại cải tiến về năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp được chứng minh rõ ràng qua thực tế sản xuất, kinh doanh. Với những trường hợp như vậy, quy trình thủ tục ưu đãi cho các doanh nghiệp cần thật giản lược để không trở thành nỗi sợ hãi ám ảnh cho doanh nghiệp.   Ngoài ra, cần thấy rằng những đối tượng trong phạm vi áp dụng của chính sách trên đây đều là những doanh nghiệp đang có lợi nhuận. Ở một nền kinh tế đang phát triển với văn hóa kinh doanh chưa cao, nền KHCN còn lạc hậu, thì việc đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh đang hiện hữu và đang giúp họ ‘ăn nên làm ra’ là điều không dễ dàng. Vì vậy, để các doanh nghiệp không thờ ơ đối với việc lập quỹ phát triển KHCN thì điều quan trọng nhất là thúc đẩy nhu cầu đổi mới công nghệ mang tính tự thân của họ. Muốn vậy, thì các nhà quản lý phải làm tốt hai việc: một là thúc đẩy sự cạnh tranh dựa trên chất lượng; hai là có sự giám sát chặt chẽ đầy đủ các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh, thân thiện môi trường. Khi Nhà nước làm tốt hai việc này thì việc tăng chi cho đổi mới công nghệ cũng như lập quỹ KHCN trở thành chiến lược tất yếu của doanh nghiệp để tồn tại.  TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy động lực Xúc cảm và Khai sáng      Công cuộc cải cách của một quốc gia cũng như của mỗi con người dựa trên hai động lực chủ đạo: Xúc cảm và Khai sáng.     Xúc cảm là tổng hòa của cảm xúc xấu hổ, nỗi lo lắng, và ý thức trách nhiệm. Khai sáng bao gồm tầm nhìn, kiến thức, và sự thông tuệ có từ chiêm nghiệm các bài học thành công và thất bại của bản thân và cố gắng học hỏi từ túi khôn nhân loại. Xúc cảm và Khai sáng như hai cánh của một con chim đại bàng; nó cho phép một dân tộc bay cao với tầm nhìn rộng lớn, nhạy bén chớp thời cơ, và quả cảm hành động. Nếu đôi cánh này nhỏ yếu hay bị khuyết tật, một dân tộc dù đã có quá khứ vẻ vang cũng sẽ quanh quẩn trong những lo toan vụn vặt như bầy chim sẻ hay chim cánh cụt.  Dưới đây là một số đề xuất với Quốc hội về việc thúc đẩy mạnh mẽ hai động lực Xúc cảm và Khai sáng.   Xúc cảm  Ngoài việc đánh giá tín nhiệm các chức danh chủ chốt như vừa qua đã làm, Quốc hội cần có đánh giá toàn diện mỗi vị trí chủ chốt theo các tiêu chí sau (dùng thang điểm từ 1 đến 5; 1=yếu kém; 2=hạn chế; 3=đạt yêu cầu tối thiểu; 4=tốt; 5=xuất sắc).   Khát vọng thực hiện ước mơ dân tộc   Tầm nhìn và khả năng hoạch định chiến lược   Năng lực hành động, thể hiện trong kết quả chỉ đạo và điều hành công việc  Nỗ lực học hỏi, lắng nghe chuyên gia  Uy tín xã hội và mối gắn kết với nhân dân  Cần kiệm và gương mẫu trong cuộc sống cá nhân và gia đình   Kết quả này giúp làm sáng tỏ hơn đâu là yếu tố ảnh hưởng chính đến độ tín nhiệm của người được đánh giá. Nó cũng có tác dụng hữu hiệu hơn trong việc giúp người được đánh giá không ngừng rèn luyện để xứng đáng với trọng trách được giao.  Khai sáng  Quốc hội cần mạnh mẽ sử dụng chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy động lực khai sáng quốc gia thông qua ba kênh sau đây:  Các ban chuyên môn tổ chức chất vấn các Bộ trưởng theo định kỳ (có thể là hằng quí hay nửa năm). Các ban này có thể mời chuyên gia trong nước và quốc tế đến giúp chất vấn và các Bộ trưởng cũng có quyền mời các chuyên gia trong nước và quốc tế đến bảo vệ chính kiến hoặc quyết sách của mình. Ví dụ, theo hình thức này, Quốc hội có thể chất vấn Chính phủ về các nội dung như: Chiến lược phát triển; Chương trình cải cách cơ cấu kinh tế; Chiến lược và giải pháp khai thác hiệp định thương mại TPP; Học hỏi các nước thành công trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm; Giảm thiểu tai nạn giao thông,…Sự cọ xát về trí tuệ và kinh nghiệm chuyên môn này, với sự hỗ trợ và tham gia trực tiếp của các chuyên gia trong nước và quốc tế (đặc biệt là người Việt Nam làm việc ở nước ngoài) sẽ giúp gia cường và phát huy mạnh mẽ động lực Khai sáng. Phương cách này sẽ buộc cả Chính phủ và Quốc hội quyết tâm tìm hiền tài và khai thác họ triệt để.  Thiết lập trang web để nhóm chuyên gia được lựa chọn bởi từng ban chuyên môn của Quốc hội kịp thời bình luận, gợi ý và đánh giá (chấm điểm) các nội dung và hiệu lực thực hiện các chính sách của Chính phủ.    Quốc hội mời chuyên gia viết báo cáo hằng năm đánh giá kết quả, hiện trạng, và công cuộc phát triển đất nước.  Nếu hai động lực Xúc cảm và Khai sáng này được gia cường và phát huy mạnh mẽ theo phương cách phác thảo trên đây, công cuộc cải cách ở nước ta sẽ có những bước tiến quan trọng. Nhờ vậy, nền tảng thể chế cho công cuộc phát triển được nâng cấp và mở ra cục diện mới thúc đẩy đổi mới trong sự phấn chấn của lòng dân. Đặc biệt, nạn chạy chức chạy quyền sẽ giảm mạnh; các Bộ ngành sẽ buộc phải chú trọng chọn người tài đức thay vì dung dưỡng trong bộ máy những người thiếu năng lực và phẩm chất.    —  * TS., Đại học Quốc gia Singapore    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy tinh thần công dân      Trước những thách thức về mặt kinh tế – văn hóa – xã hội mà đất nước đang phải đối mặt, hơn bao giờ hết, tinh thần công dân lại rất cần được hun đúc và phát huy.      Nghi lễ chào cờ, hát Quốc ca thể hiện tinh thần yêu nước trong mỗi con người. Ảnh: Hanoimoi.  Đó cũng là chủ đề của buổi Tọa đàm “Tinh thần công dân và sự tham gia của người dân vào các hoạt động vì lợi ích cộng đồng” do Nhóm làm việc vì sự tham gia của người dân (People’ Participation Working Group – PPWG) tổ chức vào sáng ngày 18/10 tại Hà Nội. Hai diễn giả là TS. Vũ Ngọc Anh (Tổ chức Hướng tới minh bạch – Towards Transparency) và TS. Lã Khánh Tùng (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã mang tới cho người tham dự những kiến giải và chia sẻ thú vị về khung lý thuyết nền tảng của tinh thần công dân và thực tiễn phát triển tại Việt Nam cùng một số đề xuất, nhìn từ các nghiên cứu triết học chính trị và lịch sử.   Tinh thần công dân và công dân hóa  Mặc dù còn tồn tại rất nhiều tranh cãi liên quan đến nguồn gốc của khái niệm “công dân” và “tinh thần công dân” (Civility), nó ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại (cách đây hơn 2000 năm) ở các thành bang, hay thực chất mới chỉ xuất hiện trong khoảng vài trăm năm nay trở lại – khi các cuộc Cách mạng tư sản châu Âu đã nâng tầm vị thế của những thần dân – vốn chấp nhận sự an phận- để trở thành công dân với các quyền tự do được bảo vệ khỏi pháp luật), nhưng không thể phủ nhận một thực tế rằng những khái niệm này đang ngày càng được mở rộng, phổ biến ra thế giới và trở thành nền tảng cho các xã hội nhân văn.  Theo đúc kết của TS Vũ Ngọc Anh, tinh thần công dân liên quan đến những đức tính và hành vi mà người công dân cần có, như biết kiểm soát bản thân, khoan dung, tôn trọng, quan tâm đến người khác và các vấn đề xã hội, đồng thời cam kết tham gia các hoạt động cộng đồng để hoàn thành trách nhiệm và bổn phận của mình. Còn ngược lại với tinh thần công dân, đó là những hành vi ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm đối với người khác và cả xã hội, hoặc tính thiếu kiểm soát trước những mâu thuẫn phát sinh, bên cạnh thái độ không chịu tiếp thu và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức chung cùng nhiều tật xấu khác. Nhưng trên thực tế, không phải tự nhiên người dân một nước đã có ngay tinh thần công dân, mà điều này đòi hỏi cần phải có sự tham gia tích cực của cả nhà nước lẫn các tầng lớp dân cư vào quá trình công dân hóa (civicness) – khi nhà nước sẽ kiến tạo các môi trường và thể chế để khuyến khích sự hình thành của tinh thần công dân, còn người dân sẽ chủ động gắn kết, tiếp thu và thực hành nó.  Rút gọn về mặt nội hàm, TS Lã Khánh Tùng cho rằng khái niệm tinh thần công dân cần tập trung vào tính liên đới, dấn thân và phụng sự xã hội. Để làm được điều này, người dân cần phải được thực hiện tinh thần công dân như một dạng quyền và nghĩa vụ đối với đất nước, chứ không phải chỉ đơn giản để giải quyết những mâu thuẫn cá nhân trong xã hội. Một người với tư cách là công dân của một quốc gia, tức là đã có quyền và nghĩa vụ theo Hiến pháp và pháp luật, trong đó có cả quyền bầu cử để lựa chọn ra đại diện xứng đáng lãnh đạo mình … Vì thế, có thể khẳng định ngay rằng, nếu thiếu đi các quyền căn bản thì danh xưng “công dân” thực chất mới chỉ là cái vỏ mà chưa có nội dung thực chất. Ngoài ra, đời sống đô thị (với tầng lớp thị dân đông đảo có học thức, tài sản và địa vị xã hội) dường như cũng có nhiều thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn, miền núi … trong việc thực hành tinh thần công dân.  Tinh thần công dân tại Việt Nam  Cùng nhìn lại lịch sử, mặc dù thâm trầm và chậm chạp hơn so với phương Tây trong việc giũ bỏ chế độ quân chủ chuyên chế để chuyển sang nền cộng hòa (hoặc quân chủ lập hiến nghị viện), nhưng tại các xã hội Á Đông vốn chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, bao gồm cả Việt Nam, từ khá sớm cũng đã xuất hiện một số khía cạnh của tinh thần công dân … nhất là trong thời Pháp thuộc và trước Cách mạng Tháng 8 với nhiều tên tuổi trí thức lớn cùng các hội đoàn, lựa chọn dấn thân vì tiến bộ và công bằng xã hội. Tiêu biểu nhất là Phan Chu Trinh, sau khi từ quan (năm 1905) đã tích cực vận động phong trào duy tân với khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” (mở mang tri thức của dân; chấn hưng ý chí, chí khí, khí phách của dân; làm cho đời sống của dân được đầy đủ, hùng hậu). Tác phẩm “Tỉnh hồn quốc ca” của ông cũng được dùng làm tài liệu giảng dạy tại trường, trong đó có những bài như “Làm việc vì nước vì dân” (Bài XI) ca ngợi những người tài trí tham gia chính trị, ra làm quan thông qua tuyển cử được dân bầu ra để “giúp nước giúp dân”, “lo những điều ích nước lợi dân”. Ngược lại, phê phán và thất vọng trước nhiều kẻ không đức, không tài nhưng do chạy chọt, hối lộ mua chức quan nhằm lo cho bản thân, gia đình, kết bè phái  Hay Huỳnh Thúc Kháng, một người đồng chí gần gũi của Phan Chu Trinh, đã tình nguyện rút lui khỏi hệ thống chính trị chính thống (dân biểu, Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ) để chuyển sang viết báo; Trong bài viết “Quốc dân cần phải có những gì?” (năm 1927), ông đã nhắc đến chuyện “gần mấy năm nay, quốc dân hai chữ đã thành ra ngay cái từ phổ thông”, nhưng hầu như dân ta ai cũng thiếu tư cách quốc dân. Trong những điều thiếu thốn ấy, ông thấy có ba thứ: 1) “Thường thức” là những kiến thức thiết thực thông thường (biết đọc, viết thư, kiến thức căn bản về địa lý, lịch sử…); 2) Nghề nghiệp (“sự chuyên nghiệp”): mỗi người cần có nghề nghiệp chuyên môn, trước là để nuôi thân mình, sau là “cho trọn nghĩa vụ với xã hội”, cần khắc phục bệnh trạng của Việt Nam là thích học làm quan, thiếu thực nghiệp; 3) Đức tin: con người luôn sống trong cộng đồng, xã hội, cần có sự tin tưởng làm sợi dây kết nối, nếu không có điều đó thì không sao có cộng đồng, mà “cũng không thành người, đã không thành người thì nói gì đến tư cách quốc dân nữa”; muốn tạo niềm tin thì không được gian dối, thế nhưng “gần 20 năm nay”, nhiều nhân tài, hội đoàn làm việc gì cũng hỏng là vì “cái bệnh thiếu đức tin, lấy ít làm nhiều, lấy không làm có”, gây ra việc “đã mất cái giá trị của mình mà lại mất lòng tin của người”. Ba điều trên, mặc dù chưa phải là toàn bộ tư cách quốc dân, nhưng chính là ba điều gốc căn bản nhất, còn lòng tin hay niềm tin mà Huỳnh Thúc Kháng đã nêu lên, nói theo cách hiện đại thì đó chính là “vốn xã hội”.  Ngoài ra, ngay từ thập niên 1930, xã hội Việt Nam cũng đã xuất hiện những phong trào của tầng lớp trí thức mới, một trong số đó là Nhà Ánh sáng do Tự Lực Văn Đoàn khởi xướng (năm 1936) – rất được thanh niên và giới trí thức ủng hộ. Theo thông báo trên “Ngày nay” số 38 (Chủ nhật 13/12/1936), Tự Lực Văn Đoàn đã kêu gọi thành lập một Hội Bài trừ những Nhà Hang Tối, còn gọi là Hội Ánh Sáng với ba châm ngôn “Xã hội – Nhân đạo – Cải cách”; Số 39 tiếp theo cũng đăng bài “Nhà rẻ tiền để dân nghèo và thợ thuyền ở” của Hội Bài trừ những Nhà Hang Tối. Do tầm ảnh hưởng của báo “Ngày nay” nên phong trào đã lan tỏa, tác động đến rất nhiều người, nhất là giới trung lưu, trí thức, thanh niên ở đô thị trong giai đoạn 1937 – 1945. Mục đích ban đầu của nhóm là xây dựng nhà cho những người nghèo đô thị, sau này mở rộng ra vùng nông thôn. Mặc dù hội chỉ hoạt động chủ yếu ở miền Bắc, nhưng cũng nhận được rất nhiều đóng góp từ miền Trung và miền Nam. Sang đến năm 1939, phong trào dần yếu đi do sự kiểm soát chặt chẽ của người Pháp đối với các hoạt động xã hội, tuy nhiên Hội Ánh Sáng cũng đã kịp xây dựng được một số khu nhà ở ngoài bãi Phúc Xá (Hà Nội), chưa kể dự định xây thêm nhà ở khu vực Bạch Mai còn chưa thực hiện được. Ngoài ra, Hội còn phát động rất nhiều hoạt động từ thiện như mua gạo phát cho dân vùng bị lụt lội.  Tuy nhiên, trong giai đoạn của hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, để bảo đảm chiến thắng (1945 – 1975), tinh thần công dân, sự hy sinh vì quốc gia, cộng đồng được đề cao, chủ nghĩa cá nhân thì bị phê phán nặng nề hay chưa được xem trọng xứng đáng. Rồi từ sau năm 1975, đến nay xã hội Việt Nam đã chứng kiến thêm quá nhiều biến động, khiến tinh thần “vì nghĩa”, hy sinh vì cộng đồng dần trở nên mờ nhạt, trong khi lối sống “vụ lợi” thì  đang ngày càng lên ngôi. Bên cạnh đó, chương trình giáo dục công dân học đường của chúng ta hiện nay đã bộc lộ rất nhiều hạn chế, cũng như thiếu ăn nhập với các thách thức của xã hội đương đại.  Một vài đề nghị  Để khái niệm tinh thần công dân trở thành nền tảng và là một trong những động lực của công cuộc chấn hưng đất nước hiện nay, theo TS Lã Khánh Tùng, rằng chúng ta nên bắt đầu thúc đẩy tinh thần công dân, trước hết bằng một số thay đổi, theo hướng dung nạp và cởi mở hơn, bao gồm 1) Hoàn thiện các thể chế pháp luật và chính trị; 2) Nới rộng không gian sinh hoạt của các tổ chức dân sự và tôn giáo – vốn có vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng, củng cố sự liên đới giữa những cá nhân trong cộng đồng; 3) Cần nhận thức đầy đủ về những cơ hội và thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế, bên cạnh sự tiến bộ và lan tỏa của các công nghệ mới; 4) Đổi mới chương trình giáo dục công dân, ở cả trong lẫn bên ngoài nhà trường, như cải cách về mặt nội dung (như giản dị hóa, cụ thể hóa, tập trung vào trọng tâm …) và hình thức truyền đạt. Sau cùng, quan trọng hơn và cũng khó khăn hơn, đó là các thế hệ đi trước cần phải trở thành tấm gương về tinh thần và tư cách công dân thì mới có thể tạo được sự tin tưởng nơi thế hệ trẻ – luôn là thành phần xã hội dễ tiếp thu cái mới, nếu được bồi đắp và định hướng đúng đắn (qua truyền thông và giáo dục) thì hoàn toàn có thể đóng vai trò quyết định, thúc đẩy công bằng và tiến bộ xã hội cho Việt Nam trong tương lai.  Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia sớm nhất biết coi trọng “công dân” và “tinh thần công dân” để thực hiện cải cách chính trị, xã hội … trong lúc các nước láng giềng thì chủ trương đóng cửa. Qua các tác phẩm nổi tiếng như Khuyến học, Khái lược văn minh luận, Thoát Á luận, Bàn về quốc quyền, Bàn về phẩm hạnh, … nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi (1835-1901) đã cổ vũ tinh thần thực học, bởi có kiến thức sẽ có tinh thần độc lập; và mục tiêu đầu tiên của học vấn phải là vì xã hội, quốc gia, chứ không phải vì bản thân hay gia tộc. Bàn về trách nhiệm quốc dân, ông cho rằng, mỗi cá nhân đều đồng thời có hai vai trò: làm “khách” (tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ như đóng thuế …) và làm “chủ” (là chủ nhân của đất nước, người dân có thể ủy nhiệm hoặc trao quyền cho chính phủ và được có những quyền lợi). Ngoài ra, ông cũng nêu nguyên tắc “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”, tức xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân tư duy độc lập, sáng tạo chứ, không thể chỉ trông vào chính phủ …    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Thực lực và mục tiêu của hải quân Trung Quốc      Các nước Đông Nam Á cần hiểu tư duy chiến lược và khả năng nâng cấp sức mạnh của Hải quân Trung Quốc để có những chính sách thích hợp trong trang bị quốc phòng, phù hợp với tình hình bảo vệ và duy trì an ninh, an toàn hàng hải tại các vùng biển Đông Nam Á và rộng hơn là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương.     Từ cận bờ chuyển ra nước xanh  Một thời gian từ 1949 đến 1960, thiết kế dòng chính của Hải quân Trung Quốc (TQ) đi theo trường phái của Xô viết cũ có từ thời Thống chế M.V.Frunze trong thập kỷ 1920, vốn cho rằng hải quân là một bộ phận của quân đội nói chung và phải hỗ trợ lục quân tại các vùng cận sông biển. Năm 1950 Liên Xô điều 500 sĩ quan kỹ thuật sang hỗ trợ TQ, đến 1953 con số này là 2000. Ngược lại cũng có hàng ngàn sĩ quan TQ sang Liên Xô học tập trong đó có tướng Xiao Jingguang. Tư duy chiến lược của các nhà hoạch định chiến lược và các sỹ quan hải quân TQ trong thời kỳ này là tập trung cho phòng thủ ven bờ biển, và chú trọng phương thức “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” được đề ra từ năm 1927 bởi lãnh đạo hải quân Liên Xô Vladimir Nikolay. Đồng thời, chiến lược như vậy cũng phù hợp với điều kiện hạn chế về cơ sở vật chất và tài chính của TQ trong thời kỳ này.           Sức mạnh quân sự và ngoại giao của Trung  Quốc phần lớn dựa vào nền tảng tiềm lực kinh tế. Từ thời điểm 2000, Bắc  Kinh đặt chỉ tiêu GDP đến năm 2020 tăng 4 lần trên con số 4.3 ngàn tỷ  USD (2000). Nếu gia tăng GDP khoảng 10%/năm thì mục tiêu này của TQ có  thể đạt sớm hơn 2020.        Đến năm 1954, TQ mới nghĩ đến phát triển hải quân hoạt động ngoài vùng biển sâu (nước xanh), và phát triển tàu ngầm có vũ khí hạt nhân, nhưng vẫn chưa nói đến sự độc lập của hải quân với lục quân. Trong suốt Giai đoạn 1960 đến 1976, TQ có nỗi lo sợ từ phía Bắc do đã có những cuộc đụng độ trên bộ. Giai đoạn này hải quân TQ vẫn hoạt động như 1 trợ thủ của lục quân một khi có nguy cơ từ Liên Xô.   Người làm thay đổi tư duy chiến lược hải quân của TQ là Lưu Hoa Thanh1. Khi sang Liên Xô năm 1958 học tại Voroshilov Viện Hải quân, ông đã chịu ảnh hưởng từ chủ trương của Tổng Tư lệnh Hải quân Liên Xô S.G.Gorshkov, người cho rằng hải quân cần có vai trò chiến lược và độc lập không chịu sự chỉ huy của một bộ chỉ huy lục quân– hải quân chung nhất, và hải quân phải có khả năng hoàn tất các công việc chiến lược vì quyền lợi quốc gia trên biển. Trở về TQ, Lưu Hoa Thanh trở thành Tổng tư lệnh Hải quân và mau chóng phát triển những ý tưởng của Gorshkov trong khoảng thời gian thập kỷ 1980, khi người TQ mở cửa và phát triển kinh tế.   Đầu năm 1982, Lưu Hoa Thanh ra lệnh cho Học viện Nghiên cứu Hải quân tìm hiểu về phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) và vẽ lên 2 phòng tuyến. Phòng tuyến 1 đi qua quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, Đài Loan, Philippines, Borneo và Natuna Besar. Phòng tuyến 2 bao trùm ra ngoài phòng tuyến 1 một diện tích khoảng 80% phòng tuyến 1 đã bao phủ. Từ đó trở đi, hải quân TQ đã có hẳn một không gian giả định cho việc phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) thay hẳn khái niệm phòng thủ bờ từ thời Liên Xô.    Năm 1986, TQ tổ chức hàng loạt hội thảo để bàn luận giữa trường phái cũ (old school), hải quân nước nâu (brown water navy) phòng thủ bờ biển (coastal defense) thành ra hải quân nước xanh (blue water navy) vào tháng 2/1987 Nhật báo Quân đội Giải phóng đăng bài của Cai Xiaohong, lần đầu tiên khẳng định Hải quân là “công cụ chiến lược” và các biển và đại dương là “không gian chiến lược mới”. TQ từ đó đã tách hẳn Hải quân ra khỏi nhiệm vụ phụ thuộc quân đội nói chung và lục quân nói riêng và khẳng định “nhằm chiến thẳng các cuộc chiến hiện đại trên biển, chúng ta phải phối hợp không quân, tàu chiến và tàu ngầm và tạo thành một mũi tiến công tổng hợp”2. Theo niên giám Anh: “The Military Balance” trong 10 năm Lục quân TQ đã giảm tỷ lệ võ trang từ 80.9% (1980) xuống 77.97% (1985) và đến 75.9%(1992) trong khi các năm tương ứng đó (1980, 1985 và 1992), Hải quân TQ tăng từ 11.01% lên 12.85% và 15.55% và Không quân từ 8.09% lên 9.11% và 8.58%. Chi tiết không được công bố nhưng theo số lượng võ khí nhập từ nước ngoài về TQ, ưu tiên dành cho Hải quân và Không quân là điều không khó nhận ra. Các võ khí mới có 4 khu trục hạm  Sovremenny, 4 tàu ngầm lớp Kilo, 48 máy bay SU27SK, một giấy phép sản xuất 200 chiến đấu cơ tương tự và thêm 55 chiếc SU30MKK. TQ đã nhập cả dàn S300PMU1 và Sam TorM. Tỷ lệ mua sắm cho Lục quân, Hải quân và Không quân là ngót ngét 2:3:5. Các chuyến ra đại dương của Hải quân TQ trong vòng 10 năm (1992-2002) là 30 lần so với tổng các chuyến đi 30 năm trước cộng lại.  Trong kế hoạch xây dựng hải quân biển xanh (blue water), TQ sẽ tập trung sâu hơn vào năng lực chiến tranh bất đối xứng để chống lại sự vượt trội về kỹ thuật của Mỹ, và đặc biệt là muốn vô hiệu hóa hệ thống chống tên lửa TMD của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương bằng cách phát triển các tàu ngầm hạt nhân có khả năng phá vỡ hệ thống phòng thủ tên lửa của Nhật – Mỹ.  Hạn chế kỹ thuật  Cho dù là một lực lượng hải quân mạnh nhất nhì châu Á với tầm ảnh hưởng lớn ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Hải quân TQ (HQTQ) vẫn đang đứng trước những bất cập kỹ thuật mà giới hải dương học gần đây từng đề cập đến, và bản thân HQTQ cũng nhận ra các thiếu sót về khí tài và những khó khăn này. Tướng Tào Cương Xuyên, chủ nhiệm Tổng cục Quân khí và sau này là Bộ trưởng Bộ quốc Phòng TQ đã từng than phiền rằng lương bổng thấp đã khiến quân đội nước này khó giữ các nhà khoa học và nghiên cứu giỏi và ông này cũng cho rằng công việc phát triển vũ khí là không dễ dàng.3          Hải quân Trung Quốc đã tuyên bố khảo sát  toàn bộ Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông. Trong đó một trữ lượng 45  tỷ tấn khí tự nhiên và dầu mỏ là nằm ở Biển Đông (trị giá 1500 tỷ USD).  Khu vực Trường Sa và Biển Nhật Bản là khu vực giàu dầu mỏ nhất – 13,7  đến 17,7 tỷ tấn dầu, trị giá 500 tỷ USD.        Công tác bảo trì và cung ứng cho các thiết bị đang có mặt bên ngoài hậu phương, kể cả với các tàu Luzhou và Luyang cũng có khó khăn vì có nhiều hạng mục nhập từ nước ngoài. Trong đó có các hệ thống cảm ứng và chân vịt. Tàu chiến của HQTQ có nhiều nguồn từ Pháp, Hà Lan, Ukraina, Nga, Mỹ, Ý và theo đó gieo ảnh hưởng pha tạp về thiết kế đến các tàu TQ mới đóng. Do vậy huấn luyện nhân sự để bảo trì, tiếp liệu và kể cả thử vận hành đều gặp các thách thức không nhỏ.  Những thiếu sót này làm giảm hiệu năng của hệ thống tàu chiến và càng trầm trọng hơn khi TQ có thói quen xây dựng các lớp tàu nhỏ từng loạt từ hai đến bốn chiếc. Giới hải quân TQ đang ra sức cải tiến tính phù hợp của hệ thống và lập các mẫu số chung để bảo trì thiết bị, giảm những hạn chế do ngân sách và sự hỗn tạp trang thiết bị – yếu tố gây khó khăn trong bảo trì đại trà do lượng sản xuất các lớp tàu quá ít. Sự cố tàu ngầm lớp Ming 361 làm tổn thất 70 thủy thủ nằm 20034 cũng được quy cho công tác bảo trì chưa đạt chuẩn.   Về khả năng đối chọi trên không, muốn được xem là siêu cường biển hiện đại thì phải mạnh về không lực, cả máy bay có và không người lái, cũng như về tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. HQTQ  đã cố gắng nâng cấp bằng cách đưa vào hoạt động tàu Luyang II lớp DDG. Hệ thống dạng Aegis của con tàu này là loạt đầu tiên của HQTQ có thể cung cấp năng lực không đối không trên diện rộng tốt hơn cho họ. Những chiến hạm đời trước chỉ có khả năng tự vệ điểm – được thiết kế để bảo vệ từng con tàu – thay vì được trang bị hệ thống phòng thủ diện (area-defense) có khả năng bảo vệ một nhóm các con tàu. Khác biệt nằm ở chỗ hệ thống phòng thủ diện có tầm và khả năng phát hiện, công kích nhiều mục tiêu cùng lúc. Các tàu lớp Luda và Jianghu không có hệ thống đối không (surface to air); và bốn con tàu lớp Sovremenny mua từ Nga chỉ có hệ thống SA-N-7 phòng thủ điểm. Các tàu lớp Luhu, Luhai, Jiangwei trang bị tên lửa Crotale của Pháp hay phiên bản TQ, tức HQ-6/7 cũng chỉ là những hệ thống phòng thủ điểm. Còn các tàu lớp Luyang I và Luzhou rồi Luyang II dù có tên lửa AAW, nhưng cũng thiếu khả năng phòng thủ diện rộng.        Khả năng đánh tàu ngầm (ASW) cũng là một điểm yếu của HQTQ. Khả năng phát hiện tàu ngầm, đặc biệt là từ phía tàu trên mặt nước là không đơn giản. HQTQ chưa có khả năng tận dụng các kỹ thuật ASW có sẵn, đặc biệt trong điều kiện phát hiện thụ động dù các kỹ thuật này đã có mặt 40 năm.   Các tàu của HQTQ hầu như dùng các thiết bị sonar chủ động, gắn trên thân tàu, tần sóng trung bình. Ban đầu với hai tàu Luhus, hạ thủy năm 1993 và 1996, HQTQ đã có thêm các thiết bị kéo cùng bên dưới tàu (variable depth) bổ sung cho sonar liền thân. Ngoài ra HQTQ không có các nguồn lực chống tàu ngầm trên không (airborne ASW): họ chỉ có vài chục máy bay theo nhiệm vụ này (ASW). Các thông tin được công bố cho thấy HQTQ chưa triển khai hệ thống dò âm thanh tại vùng biển của họ. Một hệ thống ASW chuẩn sẽ bao gồm tất cả các hệ thống này (biển, không trung, bờ biển), được kết hợp và vận dụng đúng mức và đúng lúc bằng kỹ thuật thông tin.          Dù có các tiến bộ trong việc dùng radar có  hỗ trợ từ vệ tinh để phát hiện tàu ngầm và cả chùm laser từ phi cơ để  phát hiện tàu ngầm dưới nước sâu, sóng âm xuyên nước (sonar: thanh nạp  6) vẫn là cách đáng tin cậy nhất để tìm tàu ngầm. Có hai loại sonar là  sonar thụ động và sonar chủ động. Sonar thụ động lắng nghe những tiếng  động dưới biển do tàu ngầm phát ra. Sonar chủ động lợi dụng âm thanh dội  ngược lại từ thân tàu ngầm khi phát ra tín hiệu âm thanh. Quá trình  truyền dội này không theo đường thẳng và âm thanh bị “cong” do độ sâu,  độ mặn, luồng lạch và nhiệt độ. Cả hai loại sonar này đều phải được gắn  liền thân tàu hoặc kéo cùng với cáp đi theo tàu.        Việc hợp nhất các hệ thống cũng là một bài toán lớn cho HQTQ. Một chiến hạm là một “hệ thống của các hệ thống” và HQTQ đang trong giai đoạn đầu tiên nhằm tích hợp các hoạt động thông qua các khung cảnh chiến tranh phức tạp. Sự kết hợp này bao gồm điều hành hiệu quả các hoạt động vận hành tàu, không vận, tiếp liệu, dự báo thời tiết và các hoạt động trong lục địa nhằm đạt mục tiêu vận hành hiệu quả. Trước khi ra mắt các tàu chiến lớp Luhu và Jiangwei, các tàu chiến TQ hầu như không hề có kết hợp hệ thống mà chỉ có hệ điều khiển chiến đấu cơ bản ở trung tâm. Kể từ năm 2000, HQTQ đã cải tiến trong việc kết nối cảm ứng với khí tài, các chức năng hiệu lệnh và điều khiển. Quá trình này không đơn giản vì TQ quen đóng tàu bao gồm các thiết bị nước ngoài sản xuất. TQ sản xuất cho chạy trong cùng 1 hệ thống, ví dụ như hệ thống tên lửa hành trình của Pháp đi cùng với radar thám không do TQ sản xuất!  Bên cạnh việc kết hợp các hệ thống là nhu cầu kết nối các đơn vị nhỏ lẻ nhằm tối đa hóa hợp lực của chi tiết và tổng thể của 1 đơn vị, một lực lượng hay 1 hạm đội. Các hoạt động chiến tranh dùng mạng làm trung tâm (net-centric warfare) đã phổ biến với nhiều lực lượng trên thế giới, tuy vậy TQ vẫn còn đang trong giai đoạn thấp của chương trình tích hợp này. Những tác vụ nhiều bên cần sự kết hợp liên quân, liên ngành và những hệ thống ăn ý. Các điểm yếu này của HQTQ xuất hiện ở các hoạt động thời bình cũng như các hoạt động có thể xảy ra trong thời chiến. Các hoạch định huấn luyện và thao dượt quan sát cho thấy HQTQ vẫn còn đang khó khăn với các công việc chồng chéo và các cuộc điều động chiến đấu đa diện.        Về phương diện tình báo, khảo sát và trinh sát (ISR), cách xử lý sự vụ có tính tập trung về trung ương cao độ và cơ chế ra lệnh cứng nhắc cũng tạo trở ngại cho việc ứng chiến dựa vào mạng (net-centric). Ngoài ra, các thách thức từ công tác truy tầm tàu ngầm, tác vụ trực thăng OTH và nguồn lực từ đất liền cũng gia tăng lượng việc phải làm cho HQTQ.   Trong hai thập kỷ qua, TQ đã cố gắng cải tiến hạ tầng thông tin. Các cải tiến kỹ thuật đã tạo động lực cho thương mại hóa khoa học và họ đã cố kết hợp những tiến bộ này với thương mại, ngân hàng, vận tải và gia tăng sức vận hành của các mạng thông tin hàng không, hàng hải, tàu lửa trên cơ sở điện toán. Những mạng cáp quang nối các tỉnh thành cũng được gắn kết các nhiệm vụ dự trù cho quân sự. Chiến tranh mạng cũng được quan tâm với các tác giả như Shen Weiguang- với cuốn Information Warfare. Những tác giả và độc giả của khuynh hướng này liên tục trao đổi về võ khí của Mỹ và đồng minh, vai trò của vệ tinh, chiến tranh mạng (net-centric), các hệ thống điện tử, các hệ thống và kỹ thuật tấn công chính xác, trinh thám bằng vệ tinh, vai trò của hệ điều khiển và cảnh báo trên không (AWACS), hàng không mẫu hạm, v.v.  Kết luận  Nhìn chung, mặc dù có những chiến lược về ngoại giao, và từng có lúc ưu tiên cho sự mềm mỏng ngoại giao nhằm chờ đợi thời cơ giành chủ quyền cho vùng lãnh hải từ 12 hải lý lên 200 hải lý, song ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc đại Hán từ xa xưa và cả thời kỳ Mao Trạch Đông5 khiến cho chính sách của TQ hiện nay ngày càng tiến xa hơn theo xu hướng phiêu lưu về quân sự và có biểu hiện xâm lấn, biểu hiện rất rõ trong việc chuyển hướng chiến lược quân sự từ phòng thủ bờ biển sang xây dựng hệ thống lý luận quân sự cho việc khống chế biển và các đại dương; đồng thời gia tăng tiềm lực của HQTQ.   Vì vậy các nước Đông Nam Á cần có những chính sách thích hợp trong trang bị quốc phòng, phù hợp với tình hình bảo vệ và duy trì an ninh, an toàn hàng hải tại các vùng biển Đông Nam Á và rộng hơn là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương.     —  1 Lưu Hoa Thanh là người đề ra lý thuyết hai phòng tuyến và chuỗi ngọc trai của TQ.  2 Tạp chí Conmilit tháng 4/1992, trang 35  3 Defense white paper, 2008, http://xinhuanet.com/english/2009-01/20/content_10688124.htm (17/6/2009)    4 http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/3001099.stm  5 Có nơi dịch là “nạp thanh”,  theo chúng tôi có lẽ là “thanh nạp”, theo cách hacker= hắc khách.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực thi giám sát và bãi miễn những chức danh mà Quốc hội bầu      Cách tổ chức Nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua hai Hiến pháp 1946 và 1959, là rất Việt Nam, mang đậm dấu ấn dân tộc và sắc thái phương Đông, đồng thời có vận dụng những thành tựu của phương Tây, trong đó có Pháp, Mỹ và Anh, vì nước Anh đã một thời làm mẫu cho các nền dân chủ phương Tây. Kinh nghiệm của nước Anh được Hobbes và Locke tổng kết, rồi Montesquieu và Rousseau đã tiếp nhận và bổ sung, Tocqueville đã phát triển thêm khi nghiên cứu về nước Mỹ. Với bộ máy Nhà nước ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được những tinh hoa của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, nhiều trí thức và nhân sĩ tiêu biểu, những người có ảnh hưởng và uy tín trong dân. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hết sức coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.         Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng được nêu cao và được công nhận một cách sâu sắc, tự nguyện. Đảng lãnh đạo Nhà nước, Đảng cầm quyền mà không cai trị, lại biết tôn vinh Nhà nước. Trong Nhà nước ấy, có sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chú trọng đến một kinh nghiệm lớn của loài người, Chủ tịch Hồ Chí Minh cố gắng xây dựng một nền hành pháp rất mạnh. Không có một nền hành pháp mạnh, quyền của dân rất khó thực hiện.   Trong mô hình tổ chức Nhà nước của ta hiện nay quyền hành pháp được thực hiện qua con đường Quốc hội chọn và quyết định chứ không phải do nhân dân trực tiếp bầu. Vì vậy trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội hết sức nặng nề trong việc thực thi chức năng cực kỳ quan trọng là quyết định cơ cấu và các nhân sự chủ chốt của Chính phủ. Sứ mệnh trọng đại đó không cho phép người đại biểu của dân sai lầm và dựa dẫm khi đưa ngón tay bấm nút lựa chọn những chức danh cụ thể và con người cụ thể trong bộ máy Nhà nước và Chính phủ. Đồng thời Quốc hội là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ”, quyền “cao nhất” chứ không phải là “tất cả”, không phải là “toàn bộ” quyền của dân. Toàn bộ quyền lực thì ở và chỉ ở nhân dân mà thôi. Và một trong những biểu hiện quyền của dân đó là dân đòi hỏi và theo dõi việc các đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát và bãi miễn những chức danh chủ chốt mà Quốc hội bầu khi cần thiết.  Kinh nghiệm những khóa trước của Quốc hội cho thấy, việc thực thi quyền bãi miễn đó đã vấp phải những rào cản rất khó vượt qua. Chính vì thế mà đông đảo cử tri đã đề nghị Quốc hội khóa XII phải có quy định cụ thể về việc giám sát và bãi miễn một cách định kỳ để dân trao quyền mà không bị mất quyền, không bị tiếm quyền.      Tương Lai        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực trạng chính sách phát triển nông thôn hiện nay      Trong thời gian vừa qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng đều phản ánh thực trạng nông nghiệp nông thôn, nông dân với biết bao vấn đề nảy sinh đang bức xúc đòi hỏi phải giải quyết. Nhưng, theo tôi, còn một thực trạng nữa chưa hay ít được bàn tới là “thực trạng chính sách phát triển nông thôn”. Bởi chúng là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất, nếu không nói là chủ yếu, gây ra các vấn đề bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn.    Trong hơn 20 năm đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách nông nghiệp, nông thôn. Có thể chia thành 2 loại chính sách dựa theo tiêu chí “cởi trói” và “thúc đẩy”.  Những chính sách mang tính “cởi trói” đương nhiên đi vào cuộc sống một cách “tự nhiên” nhất, nhanh nhất, được thực thi đầy đủ nhất, hiệu quả nhất, ngay cả khi mới chỉ là văn bản của Đảng, chưa được Nhà nước thể chế hóa thành luật pháp. Điển hình là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ban hành tháng 4/1988 về “đổi mới quản lý nông nghiệp” với nội dung quan trọng nhất là thừa nhận hộ nông dân là đơn vị tự chủ sản xuất trong nông nghiệp, khôi phục lại vị thế vốn có từ bao đời nay của kinh tế hộ nông dân, đã bị xóa bỏ trong suốt 30 năm tập thể hóa nông nghiệp, coi HTX dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, là đơn vị sản xuất và phân phối theo kế hoạch Nhà nước. Còn các nội dung khác, rất toàn diện của Nghị quyết này ít khi được nhắc đến (!?)  Điển hình quan trọng thứ hai là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 (1986) và các nghị quyết sau đó của Đảng thừa nhận nền kinh tế thị trường như nó đã vốn có bao đời nay, xóa bỏ chính sách “ngăn sông, cấm chợ”, để hàng hóa, trong đó có nông sản, được tự do buôn bán, không phân biệt chủ thể (quốc doanh hay dân doanh), không giới hạn qui mô và địa giới hành chính.  Đó là 2 ví dụ điển hình nhất của chính sách “cởi trói”, khôi phục lại bản chất vốn có của hoạt động kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng.  Để ban hành những chính sách cởi trói, người ta chỉ cần lương tâm và lòng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận cái gì vốn có của đời sống kinh tế theo tinh thần  “của César hãy trả lại cho César”. Hơn nữa, thực tiễn “xé rào” đã buộc những nhà hoạch định chính sách phải hành động “mở khóa” cho cái “lò xo” bấy lâu bị ép chặt và do đó cái “lò xo” này sẽ tự bật lên hết cỡ để trở về trạng thái vốn có ban đầu của nó, mà không cần bất kỳ một tác động nào khác đối với nền kinh tế. Nhưng cũng vì lập tức “bật trở lại” vị thế ban đầu, nên nền kinh tế không thể tạo ra khả năng phát triển mới về chất.  Những chính sách “thúc đẩy” thì hoàn toàn khác hẳn với. Với vai trò thúc đẩy sự phát triển, đạt chất lượng mới cao hơn, nó phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm mà điều quan trọng hơn là phải có trí tuệ, thể hiện bằng sự hiểu biết thấu đáo lý luận và khả năng vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn Việt Nam để phân tích thực trạng, phát hiện vấn đề nảy sinh và nguyên nhân của chúng để đề xuất giải pháp khả thi, không bị các nhóm lợi ích cục bộ vận động hành lang chi phối, dẫn đến việc hy sinh lợi ích của nông dân.  Nhìn vào thực trạng hoạch định và thực thi chính sách phát triển nông thôn hiện nay, người ta có thể thấy rất nhiều vấn đề nảy sinh.  1- Sau một thời gian ban hành và thực thi một chính sách nào đó, chúng ta thường không tổ chức việc đánh giá độc lập do các nhà chuyên gia thực hiện để xác định tác động và hiệu quả của chính sách, mức độ đạt mục tiêu đã đề ra, các tác động tiêu cực và nguyên nhân của nó, sự không còn phù hợp của chính sách so với thực tiễn kinh tế- xã hội đang phát triển, trên cơ sở đó, chỉnh sửa hay ban hành chính sách mới, thay thế chính sách cũ lỗi thời.  2- Chưa có một chính sách nào được ban hành dựa trên kết quả nghiên cứu của một đề tài khoa học, có phản biện độc lập. Mặc dù trong thời gian qua, rất nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ về nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện, nghiệm thu, với kinh phí hàng trăm tỉ đồng. Dường như quá trình ban hành chính sách của bộ máy công quyền và quá trình nghiên cứu khoa học của giới học thuật là “2 đường thẳng song song”. Việc nghiên cứu khoa học về kinh tế – xã hội nông thôn, về nông nghiệp, nông dân chưa được coi là một khâu bắt buộc trong quá trình ban hành chính sách. Nhiều dự báo khoa học đã được công bố trước đây 5 – 7 năm, nay do thực tiễn nóng bỏng bức xúc, các nhà hoạch định chính sách mới ngộ ra, và ban hành các chính sách mang nặng tính chất xử lý tình huống và bị động.                   Xin nêu một vài ví dụ điển hình:  + Khi phóng sự “một hạt thóc gánh 40 khoản phí” được đăng tải, giật mình, các nhà hoạch định chính sách đã vội xử lý bằng việc miễn thủy lợi phí cho nông dân.  Nhưng cho đến nay phổ biến là nông dân vẫn chưa được miễn khoản thu này, vì các cơ quan chức năng lúng túng, khó thực hiện.  Người ta chỉ nên miễn giảm các khoản đóng góp của nông dân từ thu nhập – đầu ra của quá trình sản xuất, để vừa nâng cao mức sống cho họ, vừa bảo đảm sự công bằng giữa cư dân nông thôn và thị dân, như các khoản đóng góp xây dựng trường học, trạm y tế, đường giao thông, hệ thống truyền tải điện đến từng nhà, quỹ bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ đê điều, phòng chống thiên tai … Còn các chi phí thuộc đầu vào của quá trình sản xuất, như tiền mua giống, phân bón, dịch vụ tưới- tiêu nước… người sản xuất phải đầu tư, mới không làm méo mó thị trường theo quy định của WTO. Mặt khác, phải bỏ tiền mua vật tư, dịch vụ đầu vào, người sản xuất mới tiết kiệm sử dụng, người cung ứng mới có trách nhiệm và điều kiện tài chính thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, xóa bỏ cơ chế “xin – cho”. Nếu theo lôgích này thì Nhà nước phải miễn cho nông dân cả tiền mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ cây trồng, vật nuôi (!) thậm chí cả tiền thuê dịch vụ làm đất, thu hoạch nông phẩm theo thứ tự ưu tiên “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”(?). Khi không phải trả thủy lợi phí, nông dân phải xin Công ty thủy nông tưới và tiêu nước. Công ty thủy nông phải xin cơ quan tài chính cấp vốn hoạt động, mà vốn thường cấp vừa thiếu vừa không kịp thời do định mức thấp, bộ máy quan liêu, thiếu trách nhiệm, do cơ chế quản lý tài chính công được thiết kế và vận hành theo “nguyên lý Trạng Quỳnh”. Khi đó, người nông dân phải “biết điều” đưa phong bì cho người có trách nhiệm của Công ty thủy nông, nhất là lúc mùa vụ, ruộng nào cũng cần tưới, lúc úng lụt, ruộng nào cũng cần tiêu nước; còn Công ty thủy nông cũng phải “biết điều” với cơ quan tài chính để nhận được vốn kịp thời. Trong điều kiện luôn mất cân bằng thu – chi và bội chi ngân sách, lạm phát như hiện nay, việc cấp vốn cho Công ty thủy nông lại càng khó khăn. Công ty thủy nông sẽ không có vốn để tu bổ nạo vét kênh mương, sửa chữa máy bơm, trả tiền điện …  Công ty thủy nông đã từ một doanh nghiệp dịch vụ nông nghiệp thành một cơ quan dịch vụ công mà ta thường gọi là đơn vị sự nghiệp công ích. Hậu quả là tưởng giảm bớt gánh nặng cho nông dân, cho hạt lúa, trên thực tế là tăng chi phí, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho tiêu cực phát sinh, không kiểm soát được.  + Giá đất nông nghiệp dù có được xác định trên cơ sở thuận mua vừa bán, cũng rất rẻ, không đủ để “tái định cư” theo đúng nghĩa cho người nông dân mất đất nông nghiệp. Ví dụ giá 500.000đ/m2 đất nông nghiệp nhưng chỉ cần Nhà nước ban hành quy hoạch khu dân cư đô thị hay khu công nghiệp, và ra quyết định giao đất cho nhà đầu tư, chưa cần xây dựng bất cứ một công trình hạ tầng nào, giá đất cũng đã tăng lên 4-5 lần, có thể là 2.000.000đ/m2. Khoản chênh lệch 1,5 triệu đồng này là địa tô cấp sai 2 thuộc sở hữu Nhà nước, bởi do Nhà nước quyết định quy hoạch, nhưng nhà đầu tư lại được hưởng. Lẽ ra, Nhà nước phải dùng khoản thu này, thông qua đấu giá, để “an cư lạc nghiệp” cho nông dân mất đất theo đúng khái niệm “tái định cư” mà cả thế giới quan niệm. Cũng không thể xử lý bằng cách như có chuyên gia kinh tế đề nghị là nhà đầu tư trả một phần tiền mua quyền sử dụng đất của nông dân bằng cổ phiếu công ty của mình, để giải quyết kế sinh nhai cho họ sau khi mất đất. Bởi nông dân không đủ khả năng làm chủ cổ phần hay đồng sở hữu chủ công ty với nhà đầu tư. Rồi thì nông dân cũng phải bán “lúa non” cổ phần của mình như phần lớn công nhân trong các doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hóa mặc dù họ được mua cổ phần với giá ưu đãi. Kinh nghiệm nước Nga hậu Xô – Viết cũng vậy. Nhà nước Nga chia tài sản quốc gia cho mọi công dân bằng coupon, để rồi họ bán rẻ cho các nhà đầu tư, nhanh chóng tạo ra các ông tỉ phú trẻ như Abramovich hay Khodorovski. Nhà nước phải sử dụng khoản địa tô cấp sai 2 do mình tạo ra để đào tạo nghề cho nông dân trẻ và lập quỹ an sinh cho nông dân trung niên, không thể chuyển đổi nghề nghiệp được. Không thể để tình trạng nông dân bán 4.000m2- 5.000m2 đất nông nghiệp mà không đủ tiền mua lại 01 nền nhà 80m2 của chủ đầu tư ngay trên mảnh đất nông nghiệp của mình  trước đây.  3- Các nhà hoạch định chính sách cũng ít khi hỏi ý kiến người dân và doanh nghiệp, những người chịu tác động trực tiếp của các chính sách này, và không tính toán khả năng thực thi chính sách của bộ máy công quyền. Điển hình là chuyện cấm xe ba – bốn bánh tự chế và xe Công nông để bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong nông nghiệp, xe Công nông cũng như xe Đông phong (Trung Quốc), Kubota (Nhật Bản) đều là loại máy kéo nhỏ dưới 15CV, rất thích hợp cho nền nông nghiệp có qui mô ruộng đất của mỗi nông hộ và diện tích mỗi thửa ruộng rất nhỏ hẹp như Việt Nam, Nhật, Đài Loan, Trung Quốc. Nó chỉ là máy kéo đa năng, có thể lắp các loại máy nông nghiệp khác nhau, như máy cày-xới, máy gieo hạt, máy bơm nước, máy suốt lúa, và khi lắp rơ-moóc, nó có thể vận chuyển vật tư ra đồng và chở nông sản về nhà, rất thuận tiện. Nếu cấm sử dụng loại máy đa năng này thì làm sao có thể cơ giới hóa nền nông nghiệp Việt Nam? Nhiều nơi, nông dân đã phải khôi phục xe trâu, bò kéo thay thế cho xe Công nông.  ***  Giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn chính là áp dụng lý luận phát triển nông thôn bền vững vào điều kiện cụ thể của Việt Nam nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng sống cả vật chất và tinh thần của nông dân và dân cư nông thôn. Nội dung của phát triển nông thôn bao gồm 4 quá trình: (i) công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (ii) đô thị hóa; (iii) kiểm soát dân số; (iv) bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn, theo những tiêu chuẩn của nền văn minh nhân loại và truyền thống văn hóa Việt Nam. Thực hiện 4 quá trình này, tỉ lệ dân số và sức lao động nông nghiệp trong tổng dân số và lực lượng xã hội phải giảm tương ứng với tỉ lệ GDP nông nghiệp trong GDP của nền kinh tế. Do đó, phát triển nông thôn bền vững đã bao hàm việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Điều tiên quyết cho sự thành bại của quá trình phát triển nông thôn với 4 nội dung nêu trên là chính sách Nhà nước, khuôn khổ pháp luật về nông nghiệp, nông thôn được hoạch định đúng đắn trên cơ sở khoa học và thực tiễn.    Vũ Trọng Khải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực trạng và giải pháp      Trong mấy chục năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế sản xuất nhỏ theo cơ chế thị trường sang cơ chế kế hoạch tập trung rồi lại quay trở lại cơ chế thị trường tiến lên sản xuất lớn. Về giao dịch quốc tế, Việt Nam từ trạng thái mở cửa và liên kết chặt chẽ với một số nước trong phe XHCN chuyển sang tình trạng bị đóng cửa, cấm vận và quay lại hội nhập ngày càng rộng với quốc tế…    Những biến động to lớn trên đã diễn ra dồn dập trong mấy chục năm qua tác động mạnh mẽ vào toàn bộ hệ thống các giá trị xã hội làm cho nền tảng hình thành VXH Việt Nam thay đổi một cách to lớn. Một số giá trị truyền thống bị xuống cấp, bên cạnh những giá trị tập quán mới được hình thành không phù hợp với nền tảng cũ.  Hậu quả thứ nhất là sự chia rẽ, mất đoàn kết, không gắn bó trong nhiều hoạt động xã hội. Người ta vẫn nói đùa một cách chua chát rằng một người Việt Nam thì hơn một người Nhật Bản, nhưng nhiều người Việt Nam thì thua nhiều người Nhật Bản vì còn bận đấu đá tranh giành nhau. Một hậu quả khác là hiện tượng “chạy theo đuôi cái xấu”. Đó là tình trạng các cá nhân, tập thể trong xã hội không những không có sức đấu tranh chống lại cái xấu mà còn có xu hướng a dua, bắt chước cái xấu một cách không tự giác với tâm lý ích kỷ mong đem lại lợi ích cho mình mà không quan tâm đến quyền lợi của các đối tượng xã hội khác. Có thể kể ra nhiều ví dụ về hiện tượng này. Một gia đình xây nhà lấn ra đường chung, các hộ khác không những không phản đối ngăn chặn mà cũng tự mình mỗi người xây ra một chút để đem lại lợi nhỏ cho mình. Cuối cùng đường phố bị thu hẹp, nghẽn tắc, tất cả mọi người chịu thiệt. Đây cũng là hiện tượng dẫn đến tình trạng học sinh đua nhau quay cóp bài trên lớp, cán bộ đua nhau mang quà cáp đến nhà thủ trưởng…  Một hậu quả khác của tình trạng xói mòn các giá trị xã hội là hiện tượng “Chí Phèo”. Ở rất nhiều cơ quan, địa phương, cộng đồng xuất hiện những phần tử chầy bửa, phá bĩnh, không chấp hành các luật lệ chung, ngang nhiên phá hoại các quyết định và gây rối hoạt động. Tuy nhiên, cơ quan, đoàn thể, cộng đồng chẳng những không đấu tranh loại trừ mà đa số lại nhắm mắt buông xuôi, thậm chí khoanh tay, lùi bước trước những hoạt động đơn lẻ gây cản trở bước tiến chung. Kết quả là tốc độ phát triển của xã hội bị chậm lại ngang bằng sự bảo thủ, cản phá của một số đối tượng chậm tiến. Chúng ta cũng có thể thấy một biểu hiện tinh vi hơn của tình trạng “Chí Phèo” xuất phát từ cơ chế đồng thuận. Thoạt nghe thì rất nhân bản nhưng nhiều trường hợp, nguyên tắc đồng thuận chẳng những làm thui chột mọi ý chí cầu tiến, tinh thần sáng tạo của những cá nhân xuất sắc mà còn hạ thấp tốc độ phát triển chung của tập thể, cộng đồng, ngang tầm với mức độ trì trệ, bảo thủ của những phần tử chậm tiến nhất.  Một hậu quả xấu khác là tình trạng “tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại” khá phổ biến hiện nay. Đó là tình trạng báo cáo láo, thông tin sai của một số cơ quan nhà nước, một số địa phương mà đó còn là nếp sống phô trương, giả tạo của một số doanh nghiệp, gia đình, cộng đồng, Tình trạng chạy theo thành tích, che giấu khuyết điểm dẫn đến thông tin sai lạc, làm mất đi sức đề kháng và sự tỉnh táo của xã hội. Trong nhiều trường hợp thậm chí dẫn đến thảm họa về dịch bệnh, an ninh lương thực, an ninh chính trị, khủng hoảng trong gia đình và xã hội.                Về mặt kinh tế, một khi các giá trị xã hội bị suy giảm thì bộ mặt của nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng cũng không thể lành mạnh. Thị trường chỉ có thể vận hành  trong điều kiện các đối tác tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một môi trường công khai, cạnh tranh, minh bạch với các quan hệ lâu dài. Đa số doanh nghiệp hiện nay có xu hướng làm ăn nhỏ, thích tiến hành các hoạt động có chu kỳ thu hồi vốn ngắn và muốn bí mật mọi thông tin về hoạt động của mình. Xu thế “nhỏ, ngắn, bí mật” khiến nền kinh tế thị trường lành mạnh có xu hướng chuyển sang “kinh tế ngầm” dẫn đến những khó khăn của nhà nước trong quản lý, hỗ trợ và làm nản lòng các nhà đầu tư.  Rõ ràng, bước vào giai đoạn CNH-HĐH, đô thị hóa, giai đoạn của kinh tế tri thức và hội nhập thì Việt Nam phải nhanh chóng xây dựng lại các giá trị xã hội vốn có của mình dựa trên nền tảng quí báu và phong phú đã được xây đắp trong suốt quá trình lịch sử vẻ vang của dân tộc. Để làm được công việc khó khăn nhưng cần thiết trên, chúng ta phải khắc phục một loạt những nguyên nhân đã dẫn đến sự xói mòn các giá trị xã hội đã nêu trên và đó cũng chính là những giải pháp chính mà chúng tôi muốn đề cập…  Thứ nhất, phải khắc phục tình trạng “quan hệ ngắn” đang diễn ra hiện nay. Alvin Toffler trong những tác phẩm nổi tiếng của mình như “Cú sốc tương lai”, “Sự thăng trầm của quyền lực”… cách đây hàng chục năm đã chỉ ra xu thế chung của xã hội loài người khi bước vào giai đoạn hậu công nghiệp hóa là rút ngắn và tăng tốc các mối quan hệ xã hội. Điều này một mặt phù hợp với nền tảng khoa học công nghệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế… Mặt khác gây khó khăn cho việc tạo dựng lòng tin, xác lập các mối quan hệ giao tiếp cần thiết của xã hội. Có rất nhiều cách các nền kinh tế tiên tiến đang áp dụng để kéo dài các mối quan hệ giữa người với người như xác lập các khuôn khổ luật pháp và chiến lược mang tính dài hạn, tăng cường hoạt động thông tin minh bạch và liên tục, hình thành các thể chế đa dạng trong xã hội để liên kết con người với nhau…  Một giải pháp quan trọng khác là vấn đề thông tin định danh. Khổng Tử nói “Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì việc mới thành”. Muốn quan hệ xã hội trở nên lành mạnh thì phải đứng vững trên cơ sở xác định giá trị đích thực của mỗi con người. Năng lực và đạo đức phải trở thành thước đo để giao trách nhiệm và nghĩa vụ. Đồng thời, trách nhiệm và nghĩa vụ phải đi kèm với quyền hạn và lợi ích. “Danh nào, phận nấy” phải là tiêu chuẩn đối xử trong xã hội, cả trong bộ máy quản lý nhà nước lẫn trong các tổ chức đoàn thể quần chúng và đơn vị sản xuất kinh doanh. Những thước đo mang tính hình thức như bằng cấp, danh hiệu, tước hàm, thứ bậc… phải được cân định lại một cách khoa học, đáng tin cậy và được xã hội thực tế chấp nhận theo tiêu chuẩn đích danh như trên.  Vấn đề thứ ba là các vấn đề lịch sử phải minh bạch và được bảo tồn một cách trung thực. Thái độ ứng xử và các quy tắc hoạt động của con người trong tương lai luôn được định dạng và điều chỉnh dựa vào kinh nghiệm và thước đo từ quá khứ. Tình trạng không tôn trọng, thiếu ý thức bảo vệ, thậm chí làm sai lạc hoặc che mờ quá khứ phải được sửa chữa. Những điểm chốt của lịch sử về mặt sự kiện, thời gian, nhân vật, vấn đề… cần được làm sáng tỏ một cách khách quan bằng các kết luận, xử lý mang tính đa dạng, công khai, khoa học.  Các hoạt động truyền thông đại chúng phải hoạt động một cách khách quan, mọi công cụ thông tin, hệ thống số liệu thống kê, các hoạt động nghiên cứu, đánh giá, giám sát trong xã hội cần đạt đến mức chuẩn hóa để đảm bảo các kênh thông tin về quan hệ xã hội diễn ra một cách minh bạch và đáng tin cậy cho nhân dân.  Điều quan trọng nhất là hệ thống luật lệ trong xã hội, cộng đồng và từng tổ chức phải được xác lập và xây dựng một cách công bằng và công khai. Tính thứ bậc của các quy định, luật lệ phải được khẳng định một cách tuyệt đối với mức độ quyền hạn cao nhất là Hiến pháp và các cam kết quốc tế và dưới đó là hệ thống luật và văn bản dưới luật để tạo nền móng tin cậy cho một nhà nước pháp quyền.  Một khi các mối quan hệ trở nên dài hạn, sự phân định danh phận trong xã hội rõ ràng, lịch sử minh bạch, thông tin thông suốt, luật lệ công minh thì giá trị xã hội chân chính sẽ được tái lập và phát triển rực rỡ. Chỉ khi đó giá trị xã hội – nguồn vốn quí báu của dân tộc Việt Nam mới thực sự trở thành lợi thế so sánh để dân tộc cất cánh đi lên.  ————-  * Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT  TS. Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuế thu nhập của người lao động ở Đức      Ở Đức cũng như nhiều nước khác hiện nay, người lao động phải nộp thuế khá cao. Trung bình một người đi làm phải đóng các loại thuế và bảo hiểm từ 40 đến 60% thu nhập, tùy từng loại công việc. Việc người lao động phải đóng thuế, đóng bảo hiểm cao như vậy sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực đối với hệ thống phúc lợi xã hội.    Dưới đây là bảng kê thu nhập của một người lao động ở Đức (số liệu hiện tại năm 2011) thu nhập trước thuế là 5.000 Euro. Ví dụ, với cấp độ thuế số 2 (Steuerklasse 2), cấp độ trung bình trong tổng số 6 cấp độ, nếu thu nhập trước thuế là 5.000 Euro, người lao động cuối cùng chỉ được nhận 2.819,84 Euro do phải đóng các loại thuế, bảo hiểm.(2)           Năm 2011     Tháng      Thu nhập trước thuế  60.000 Euro              5.000 Euro      Thuế thu nhập  13.279 Euro           1.106,58 Euro       Thuế đoàn kết   730,35 Euro           60,86 Euro      Thuế nhà thờ  1.195,10 Euro         99,59 Euro       Bảo hiểm y tế  3.653,10  Euro        304,42 Euro      Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe  434,36  Euro          36,20 Euro      Bảo hiểm hưu trí  5.970,00 Euro          497,50 Euro      Bảo hiểm thất nghiệp  900 Euro           75 Euro       Thu nhập sau thuế và các               khoản thu bắt buộc khác   33.838,09 Euro           2.819,84 Euro           Xin đừng vội hiểu như vậy là bóc lột. Chính phần lớn những người Đức hiểu rằng việc đóng thuế là trách nhiệm xã hội của họ, của người lao động trưởng thành đối với cộng đồng, đổi lại họ được sống trong một xã hội thực sự an toàn, phúc lợi xã hội được chăm lo đầy đủ. Hơn nữa, vấn đề chính là về mặt đời sống, thực tế với số tiền 2.819 Euro trong một tháng, một người lao động trung bình hoàn toàn đủ nuôi sống một gia đình ba người ở Đức.   Việc người lao động phải đóng thuế, đóng bảo hiểm nhiều như kể trên sẽ dẫn đến ba hệ quả tích cực sau:    – Thứ nhất, nhà nước có nguồn tài chính để lo cho những người thất nghiệp, lo cho những người già, người tàn tật, lo cho y tế, giáo dục, giao thông và các hoạt động chung;     – Thứ hai, tài chính sẽ được minh bạch hóa, được quản lý chặt chẽ, vì thế sẽ không có tình trạng người quá giàu trong xã hội, tham nhũng cũng vì thế bị đẩy lùi. Người lao động thu nhập càng nhiều, thì sẽ càng phải đóng thuế nhiều, mức chênh lệch giàu nghèo vì thế sẽ không quá cách biệt;  – Thứ ba, khi mọi người đều được chăm lo, phúc lợi xã hội tốt, không có người quá giàu hay quá nghèo, ai cũng được hưởng những phúc lợi chung, nghề nào cũng đáng được trân trọng, khi ấy tình trạng tội phạm sẽ bị hạn chế đáng kể, xã hội vì thế cũng trở nên ổn định và an toàn hơn.  Ở Việt Nam, sự việc ba mươi giáo viên trường mầm non xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh, Thanh Hóa vừa qua đồng loạt xin nghỉ việc với lý do mức lương quá thấp – trung bình một giáo viên mầm non đứng lớp ngày hai buổi ở đây được nhận 15 nghìn đồng. Cả tháng, trừ tất cả các khoản phải đóng họ được nhận khoảng 500 nghìn đồng(1) – thực sự là một tin không vui trong những ngày đầu năm học mới 2011-2012 này.   Hi vọng trong một tương lai không xa, nhà nước sẽ xem xét, điều chỉnh để có chính sách lương và thuế hợp lý hơn, có chính sách minh bạch hóa đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, để bất cứ ai, làm công việc gì chí ít cũng đủ sống, yên tâm dành hết tâm huyết tập trung cho công việc, không còn cảnh người giáo viên lao động vất vả nhưng đời sống lại quá bấp bênh, đau lòng như thực trạng ở  trường mầm non xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh, Thanh Hóa nêu trên đây.  —  (1) Nguồn: Bảng kê thu nhập của người lao động có mức thu nhập trước thuế 5.000 Euro, cấp độ thuế số 2, Trang web chính thức của Lohnspiegel.de về tính toán thu nhập trước thuế, sau thuế – Brutto Netto Rechner, http://www.lohnspiegel.de/main/bruttonettorechner.  (2) Xem bài viết của tác giả Hoàng Sơn, 30 giáo viên bỏ dạy vì lương dưới 500 nghìn, đăng ngày 7/9/2011 , tại địa chỉ: http://www6.vnmedia.vn/VN/30_giao_vien_bo_day_vi_luong_duoi_500_nghin_36_243414.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường – Chi phí và lợi ích của chính sách?      Mới đây Bộ Tài chính có đề nghị bổ sung vào nội dung của Luật Thuế Tiêu thụ Đặc biệt, trong đó bổ sung nước ngọt bao gồm loại có ga, không ga, tăng lực, thể thao, trà, cà phê uống liền đóng gói gọi chung là đồ uống có đường vào đối tượng chịu thuế TTĐB với mức thuế suất 10% áp dụng từ năm 2019. Lý giải cho điều này, BTC cho rằng đồ uống có đường gây tăng cân, béo phì, là nguyên nhân chính của một số bệnh không truyền nhiễm như tim mạch và tiểu đường và việc đánh thuế này cũng là để phù hợp với thông lệ quốc tế.    Đánh thuế đối với đồ uống có đường  Các bệnh không truyền nhiễm (béo phì, tiểu đường, tim mạch,…) đang là thách thức của xã hội khi trong năm 2015 đã có gần 4 triệu người chết do các vấn đề về cân nặng, chủ yếu là các bệnh lý về tim.  Số liệu thống kê của New England Journal of Medicine1 chỉ ra rằng tỷ lệ béo phì trong độ tuổi trưởng thành ở Việt Nam tính đến năm 2015 chỉ ở mức 1,23% đối với nam và 2,03% đối với nữ trong độ tuổi trưởng thành và con số này ở trẻ em nam là 2,36% và nữ là 1,94%. Đây là mức thấp so với thế giới tuy nhiên tỷ lệ thừa cân ở cả 4 nhóm đối tượng đã tăng gấp 3 lần so với hồi năm 1980. Tỷ lệ bệnh nhân mắc tiểu đường của Việt Nam đã tăng gần gấp đôi trong 10 năm trở lại đây, hiện tại theo tính toán của WHO cứ 20 người Việt Nam thì lại có 1 người bị tiểu đường và trong năm 2015 đã có khoảng 53.458 người tử vong do các bệnh lý liên quan đến tiểu đường2.  Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa lượng calo được hấp thụ và khả năng béo phì, tiểu đường. Trong đó đồ ăn và thức uống với hàm lượng đường nhân tạo cao là nguồn cung cấp calo chính.Việc kiểm soát khối lượng đồ uống có đường được nạp vào cơ thể được cho là giải pháp quan trọng hạn chế sự gia tăng tình trạng béo phì3.  Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến lượng mua, tiêu thụ đồ uống có đường, giá cả là yếu tố có mức độ ảnh hưởng hàng đầu, chứ không phải khẩu vị hay ảnh hưởng từ môi trường xung quanh4.Do đó, can thiệp tài khóa trở thành công cụ hữu hiệu để điều tiết lượng tiêu dùng đồ uống có đường.  3 phương án sử dụng chính sách tài khóa thường được sử dụng trong cuộc chiến chống lại đồ uống gây hại cho sức khỏe bao gồm: Đánh thuế đồ uống, đánh thuế đối với thành phần có trong đồ uống và trợ cấp giá cho đồ uống có lợi cho sức khỏe. Trong đó việc sử dụng chính sách thuế nhằm kiểm soát lượng tiêu thụ đồ uống là giải pháp được nhiều nước áp dụng và có những ảnh hưởng tích cực hơn cả. Đơn cử là sử dụng chính sách giá và thuế đối với thuốc lá đã chứng minh hiệu quả trong giảm lượng tiêu thụ thuốc lá, thúc đẩy cai nghiện thuốc lá. Hiện tại có 14 nước đã áp thuế đối với đồ uống có đường. Các nước châu Âu, Mỹ, Thái Lan, Mexico,… là các nước đã thu được những kết quả khả quan.    Minh họa lượng đường trong các sản phẩm đồ uống tại Úc. Nguồn: Australian Healthy Food Guide​  Thuế khối lượng hay thuế giá trị  2 loại thuế thông dụng đối với hàng hóa là thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt. Kinh nghiệm từ thuế thuốc lá cho thấy thuế tiêu thụ đặc biệt là giải pháp hữu hiệu hơn VAT do nó trực tiếp tăng giá, mang lại nguồn thu thuế ổn định hơn so với thuế dựa trên giá bán bị ảnh hưởng bởi chính sách giá của công ty.  Có 4 loại thuế Tiêu thụ đặc biệt thường được sử dụng đối với đồ uống có đường là Thuế đánh vào  lượng đường có trong đồ uống (Ví dụ đánh thuế 2.000VNĐ/100gam đường hóa học); Thuế đánh vào tỷ lệ đường (Ví dụ đánh thuế 2.000 VNĐ/ lít đối với đồ uống có tỷ lệ đường lớn hơn 8gam/100ml); Thuế đánh vào khối lượng đồ uống có đường (Ví dụ đánh thuế 2.000VNĐ/ lít đồ uống có đường) và Thuế đánh vào giá trị (Ví dụ đánh thuế 20% giá bán của đồ uống có đường).  Trên khía cạnh sức khỏe, đánh thuế dựa trên lượng đường theo phương án 1 và 2 có tác dụng hơn bởi thủ phạm chính là lượng đường chứ không phải lượng đồ uống nạp vào cơ thể. Tuy nhiên loại thuế này cũng phức tạp hơn và cần sự hỗ trợ của bộ máy quản lý thuế chặt chẽ và rõ ràng. Vì vậy nhiều quốc gia đang phát triển với bộ máy thuế chưa hoàn thiện vẫn ưu tiên sử dụng thuế tiêu thụ đặc biệt dựa trên giá trị hơn, điển hình như Barbados, Chile, Nauru.  Còn với Việt Nam, việc áp thuế dựa trên lượng đường là chưa khả thi do không thể đảm bảo các doanh nghiệp ghi đúng lượng đường trên bảng thành phần. Thuế dựa trên giá trị cũng khó quản lý do giá cả khó xác định chính xác. Chẳng hạn một số công ty có thể thu xếp bán các sản phẩm của họ cho bên trung gian với giá thấp nhằm giảm nghĩa vụ thuế. Thuế dựa trên khối lượng có lẽ là giải pháp phù hợp nhất ở Việt Nam hiện nay.    Minh họa giá đồ uống trước và sau thuế đồ uống có đường tại Philippines. Nguồn: Philippines Association of Stores and Carinderia Owners  Cần cân nhắc chi phí – lợi ích của chính sách  Việc đánh thuế đối với các mặt hàng đồ uống có đường, trà và cà phê hòa tan chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nền công nghiệp sản xuất nước giải khát của Việt Nam –  đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng khoảng 15,24%/năm trong giai đoạn 2006-20115. Vì vậy, chúng ta cần lường trước những ảnh hưởng của chính sách thuế này đối với ngành công nghiệp đồ uống. Nếu áp thuế quá cao sẽ kìm hãm sự phát triển, phần mất không do đánh thuế có thể lớn hơn tổng của số tiền thuế thu được và chi phí tiết kiệm được khi tỷ lệ mắc bệnh không truyền nhiễm giảm. Ngược lại, nếu đánh thuế quá thấp sẽ không thể tác động tới hành vi người tiêu dùng, WHO khuyến nghị mức thuế suất 20% sẽ có hiệu quả trong việc giảm lượng tiêu thụ đồ uống có ga6. Tỷ lệ này có lẽ không phù hợp ở Việt Nam do khác biệt về mức sống và các sản phẩm đã phải chịu thuế VAT trước đó.  Việc đánh thuế cũng gây ra những bất tiện đối với cuộc sống của người dân. Trà và cà phê là các mặt hàng được tiêu thụ hàng ngày và có tác động tích cực đối với sức khỏe và tinh thần. Không phải mọi người đều có thể pha chế cà phê rang xay hoặc lá trà khô, sử dụng các hình thức túi lọc cũng lỉnh kỉnh và tốn thời gian. Thêm vào đó, thuế này không đánh vào các sản phẩm trà và cà phê được pha chế tại các quán đồ uống dù lượng đường trong những đồ uống này cũng tương đương hoặc thậm chí cao hơn trong các sản phẩm đóng gói. Điều này liệu đã công bằng hay không?  Một số khác lo ngại việc đánh thuế sẽ triệt tiêu việc nâng cao năng lực sản xuất là không có căn cứ, việc đánh thuế sẽ đòi hỏi doanh nghiệp chuyển dần sang sản xuất các sản phẩm chứa các thành phần tự nhiên có ích cho sức khỏe.  ***  Như vậy, đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường là chính sách đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới và đã chứng minh được những hiệu quả tích cực trong kiểm soát lượng tiêu thụ đồ uống có đường, góp phần giảm rủi ro các bệnh béo phì, tiểu đường. Tuy nhiên khi áp dụng tại Việt Nam, Bộ Tài Chính và Bộ Công thương cần phối hợp để đề ra phương án đánh thuế đúng với những sản phẩm không có lợi cho sức khỏe, không để xảy ra hiện tượng các sản phẩm tốt cho sức khỏe nhưng vẫn phải chịu chung số phận áp thuế do cùng phân loại.  Nguồn:  1The GBD 2015 Obesity Collaborators (2017) Health Effects of Overweight and Obesity in 195 Countries over 25 Years, The New England Journal of Medicine, Vol.377 No.1, July 6, 2017  2World Health Day 2016 Feature Story,  The growing burden of diabetes in Viet Nam (http://www.wpro.who.int/vietnam/mediacentre/features/feature_world_health_day_2016_vietnam/en/)  3Stephen Duckett and Hal Swerissen (2016), A sugary drinks tax: Recovering the Community costs of obesity, Grattan Instutute.  4WHO (2016) Evidence brief for Policy: Reducing the consumption of sugar-sweetened beverages and their negative health impact in Estonia. EVIPNet Europe  5Phan Hữu Thắng (2014), Tổng quan về ngành công nghiệp thực phẩm-đồ uống, Global Integration Business Consultants  6WHO (2015), Fiscal Policies for Diet and Prevention of Noncommunicable Diseases, Technical Meeting Report in Geneva, Switzerland.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Thuốc thử cho “Thuyết Trung Quốc vượt Mỹ”      Khoảng hơn chục năm nay dư luận Trung Quốc (TQ) ngày càng bàn thảo sôi nổi về vấn đề vượt Mỹ. Dường như từ sau ngày ông Tập Cận Bình lên cầm quyền, một số học giả và Think tank nhà nước TQ càng hăng hái đưa ra các kết quả nghiên cứu khoa học chứng minh sức mạnh của TQ trên một số mặt đã vượt Mỹ từ rất sớm.        Ảnh minh họa: Internet.   Những công bố đó làm nức lòng dân chúng trong nước, hình thành “Thuyết TQ vượt Mỹ”.  Nhân vật tiêu biểu của thuyết này là Giáo sư Hồ An Cương, một trong các học giả khoa học xã hội uy tín nhất ở TQ hiện nay.  Hồ An Cương hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu tình hình TQ [“Quốc tình Nghiên cứu Viện”, National Conditions Institute, NCI] thuộc Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh – một cơ sở nghiên cứu khoa học hàng đầu TQ. Năm 2012 ông được bầu là đại biểu Đảng thành phố Bắc Kinh đi dự Đại hội XVIII Đảng CSTQ.  Tháng 1/2018 ông được ĐH Thanh Hoa trao danh hiệu “Giáo sư cấp cao khoa Văn”, còn gọi là GS-Viện sĩ [Senior professors of Liberal Arts. TQ chỉ lập chế độ Viện sĩ Khoa học và Kỹ thuật (KHKT), không có Viện sĩ về khoa học xã hội; GS cấp cao khoa Văn được hưởng chế độ đãi ngộ như Viện sĩ KHKT] trong đợt bình chọn đầu tiên 18 GS cấp cao.  Trong bài “Những thành tựu mới của lý luận trị quốc Tập Cận Bình kể từ Đại hội XVIII tới nay” công bố tháng 12/2016, Hồ An Cương viết: Năm 2010, TQ đã trở thành nước lớn nhất thế giới trong ngành chế tạo, năm 2013 là nước xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất, năm 2014 là nền kinh tế lớn nhất toàn cầu…TQ đã tiến vào trung tâm vũ đài thế giới, phát huy tác dụng lãnh đạo toàn cầu.  Tháng 1/2018, GS Hồ công bố Báo cáo khoa học tổng kết đánh giá tình hình mọi mặt của TQ và so sánh với Mỹ, đưa ra nhận định: “Thực lực kinh tế, thực lực KHKT và quốc lực tổng hợp của TQ đã lần lượt vượt Mỹ vào các năm 2013, 2015 và 2012. Đến 2016, ba sức mạnh này của TQ so với Mỹ bằng 1,15 lần, 1,31 lần và 1,36 lần, đứng thứ nhất thế giới. Ngoài ra về sức mạnh quốc phòng, ảnh hưởng quốc tế và sức mạnh mềm về văn hóa, TQ cũng đang tăng tốc đuổi và vượt Mỹ”.  Nhận định trên ăn nhập với trào lưu sùng bái Tập Cận Bình đang dâng cao và được dư luận TQ quảng bá rùm beng đã nâng cao tinh thần dân tộc và tâm lý tự hào của dân chúng.  Truyền thông Mỹ cũng quan tâm tới vấn đề TQ vượt Mỹ, chủ yếu để giới thiệu sự tiến bộ của TQ mà không tranh cãi đúng sai.  Mặt khác, “kết quả nghiên cứu khoa học” của GS Hồ đã gây ra sự phản cảm ở một số học giả và quan chức, những người hiểu rõ hiện tình lạc hậu của TQ, nhất là về văn hóa và KHKT. Tiếng nói phản biện của họ tuy nhỏ bé nhưng được các mạng xã hội truyền đi rộng rãi đã thức tỉnh dân chúng. Cuối cùng lãnh đạo cấp cao cũng nhận thấy cách tuyên truyền thổi phồng thành tựu của TQ thực ra là phản tác dụng.  Tháng 11/2015, khi giải thích kế hoạch “TQ chế tạo 2025” tại hội nghị Ủy ban thường vụ Chính hiệp, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Thông tin Miêu Vu [Miao Wei] nói:  TQ cần 30 năm để trở thành cường quốc chế tạo. Hiện nay ngành chế tạo toàn cầu gồm 4 thê đội. Thê đội thứ nhất là Mỹ, trung tâm sáng tạo đổi mới KHKT toàn cầu; thê đội thứ hai gồm EU và Nhật, thuộc lĩnh vực chế tạo cấp cao; thê đội thứ ba thuộc lĩnh vực chế tạo cấp trung và thấp, chủ yếu là các nước mới nổi, trong đó có TQ; thê đội thứ tư là các nước xuất khẩu tài nguyên, gồm OPEC, châu Phi, Mỹ Latin. Về sức mạnh KHKT, số một là Mỹ, sau đó đến Anh, Nhật, Pháp, Đức, Phần Lan, Israel, Thụy Điển, Ý, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Australia, Na Uy, Bỉ, Nga, Singapore, Hàn Quốc. Trong Top 20 này không có TQ. Trong 5 cấp bậc về sức mạnh KHKT toàn cầu, TQ ở vào cấp 4.  Theo Báo cáo Sức cạnh tranh toàn cầu năm 2017-2018, do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố, TQ xếp thứ 27 trong số 137 nước được xét; riêng về KHKT, Mỹ đứng thứ nhất, tiếp sau là Anh, Nhật; TQ thậm chí chưa lọt vào Top 20.  ​    TQ dự báo GDP TQ vượt Mỹ trước 2028.  Một công bố cuối 2017 của công ty Chứng khoán Đông Hưng cho biết: – xét theo GDP bình quân đầu người (là chỉ tiêu phổ biến nhất đánh giá trình độ phát triển kinh tế) thì sau đây 32 năm TQ vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; – năng suất lao động của TQ năm 2017 chỉ bằng chưa đến 10% của Mỹ….  Ngày 21/6/2018, Lưu Á Đông Tổng biên tập “Nhật báo Khoa học và Kỹ thuật” (của Bộ KHKTTQ) nói trong một cuộc họp: Ai cũng biết TQ còn cách Mỹ và các nước phát triển khác một khoảng cách rất lớn về KHKT. Những thành tựu KHKT khiến chúng ta vui mừng khôn xiết, như làm được máy bay cỡ lớn…, thì người ta đã có từ nửa thế kỷ trước. Một số dự án lớn ta đang gian khổ tiến hành, như đưa người lên Mặt trăng thì nước Mỹ từ năm 1969 đã thành công lớn… Thế mà ở ta vẫn có một số người lúc thì nói “4 Tân đại phát minh”, lúc thì nói “Đuổi và vượt [Mỹ] toàn diện”, trở thành “Nhất thế giới”… Nếu TQ cho rằng mình có thể sớm thay thế Mỹ, trở thành quốc gia dẫn đầu KHKT thế giới thì đó chỉ là sự tự lừa dối. Phát biểu này được dư luận khen là “dám nói thật”:  Phái bênh vực Thuyết TQ vượt Mỹ cũng viện dẫn nhiều tư liệu để chứng minh họ đúng. Ví dụ họ cho rằng cách tính GDP hiện nay là chưa hợp lý, nếu tính GDP theo sức mua ngang giá thì một báo cáo của IMF năm 2014 cho biết ngay năm đó, GDP TQ đã vượt Mỹ… TQ còn nhất thế giới về nhiều mặt, ví dụ cuối 2016 có 22.340 km đường sắt cao tốc (ĐSCT) chiếm 60% tổng chiều dài ĐSCT toàn cầu; trong khi Mỹ chưa hề có ĐSCT. TQ có vệ tinh lượng tử, vệ tinh thăm dò vật chất tối, tàu ngầm Giảo Long lặn sâu nhất thế giới, dẫn đầu về nghiên cứu phản ứng nhiệt hạch kiểm soát được….  Cuộc tranh cãi nói trên lắng dần sau khi Tổng thống Trump “nâng cấp” các tranh chấp buôn bán TQ-Mỹ thành chiến tranh thương mại, bắt đầu với vụ trừng phạt Tập đoàn ZTE, gã khổng lồ công nghệ thông tin của TQ, có doanh thu 17 tỷ USD (2017).  Do ZTE vi phạm lệnh cấm bán cho Iran các sản phẩm dùng công nghệ Mỹ, ngày 7/3/2016 Mỹ ra lệnh hạn chế bán sản phẩm cho ZTE. Lệnh này có thể sẽ làm ZTE bị phá sản, vì mọi sản phẩm của họ đều dùng sản phẩm và dịch vụ của Mỹ, như chip của Qualcomm và Intel, hệ điều hành của Apple và Google…Vì thế tháng 3/2017 ZTE ký thỏa thuận hòa giải, nhận tội, chịu nộp phạt 892 triệu USD và ký quỹ 300 triệu USD, thay các cán bộ có lỗi. Phía Mỹ gửi cho ZTE bản tổng kết “5 bài học xương máu”, trong đó hai bài học đầu là không được dối trá và không được hủy chứng cứ phạm pháp.  Ngày 16/4/2018, với lý do ZTE vẫn lừa dối, bịa đặt và tái phạm thỏa thuận hòa giải, Mỹ tuyên bố cấm các công ty Mỹ giao dịch với ZTE trong 7 năm (tới 13/3/2025). Lệnh cấm này làm tê liệt hoạt động của 75.000 nhân viên ZTE và ZTE phải ngừng giao dịch cổ phiếu trên các sàn chứng khoán. 8 tuần sau, để đổi lấy sự dỡ bỏ lệnh cấm, ZTE chịu nộp phạt 1 tỷ USD, ký quỹ 400 triệu USD và chịu thuê cán bộ quản lý người Mỹ. Khi giao dịch trở lại, cổ phiếu ZTE rớt giá 39%. Ngày 7/6 Mỹ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. ZTE ước tính vụ này bị lỗ hơn 3 tỷ USD.  Một nhà báo TQ viết “Nếu không vì lão điên Trump gây ra cuộc chiến tranh thương mại này thì có lẽ chúng ta vẫn còn say sưa với ‘Kỳ tích kinh tế 40 năm qua’ và vòng hào quang ‘Nước lớn trỗi dậy’, tới mức chưa tỉnh”.  Vì sao một đại gia công nghệ lớn nhất nhì TQ như ZTE mà chỉ một đòn đã gục ngã? Rõ ràng đó là vì họ phụ thuộc vào nguồn chip cấp cao của Mỹ. Chip Mỹ chiếm 60% vật liệu làm bộ xử lý trong điện thoại di động (ĐTDĐ) của ZTE. Mạch tích hợp là “lương thực” của công nghiệp điện tử, không có lương ăn thì sao sống được.    Nguồn ảnh: ZTE.  TQ tiêu thụ sản phẩm bán dẫn nhiều nhất thế giới, hàng năm nhập 230 tỷ USD chip (hơn cả tiền nhập dầu mỏ). Công nghệ chip của TQ quá lạc hậu, chủ yếu chế tạo chip theo kiểu gia công và chỉ dùng cho sản phẩm cấp thấp. Mỹ, Nhật, châu Âu sản xuất nhiều chip nhất. TQ chế tạo 77% lượng ĐTDĐ toàn cầu nhưng chỉ 3% dùng chip TQ…Giờ đây người ta mới thấy cái hại của “chủ nghĩa lấy về” rất phổ biến ở TQ — chỉ sao chép công nghệ nước ngoài mà không sáng tạo đổi mới. Ban lãnh đạo TQ lập tức chỉ thị phải dồn sức đầu tư cho công nghệ chip đuổi kịp trình độ quốc tế. Một nguồn tin nói việc này cần 10 năm.  Trước khả năng thiệt hại cực lớn từ vụ ZTE, TQ lập tức đàm phán với Mỹ. Ngày 20/5, hai bên đồng ý ngừng chiến tranh thương mại và tiếp tục thương lượng. Website Hội các doanh nghiệp bán dẫn TQ viết: Tin này làm mọi người từ nhà lãnh đạo ở Trung Nam Hải cho tới người thợ trên dây chuyền sản xuất thở phào; giờ đây chúng ta có một phát hiện bất ngờ nhất: Thực lực của TQ còn kém Mỹ một khoảng cách lớn khó tưởng tượng!  Dư luận TQ dấy lên phong trào chống tuyên truyền khoa trương [anti-hype movement]. Đầu tháng 8, một nhóm cựu sinh viên tốt nghiệp ĐH Thanh Hoa gửi thư ngỏ đòi Hiệu trưởng trường này sa thải Hồ An Cương. Ngay cả Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập “Thời báo Hoàn cầu” sặc mùi chủ nghĩa dân tộc cũng viết: “Một học giả nổi tiếng tuyên truyền rằng quốc lực tổng hợp của TQ đã vượt Mỹ. Tôi cảm thấy lo lắng sâu sắc về phán đoán ấy.” Xã luận ngày 1/8 của báo này nêu ra 8 điều TQ cần làm, trong đó điều thứ nhất là Về chiến lược phải giữ thái độ khiêm tốn và thế thủ, trong bất kỳ tình thế nào cũng không được chủ động khiêu khích Mỹ và thể hiện cho Mỹ thấy mặt mạnh của TQ.  Lĩnh vực thám hiểm vũ trụ tập trung nhiều KHKT đỉnh cao, về mặt này TQ đi sau Mỹ rất xa. Các năm 1969-1972 Mỹ đã đưa 12 người đáp xuống Mặt trăng rồi trở về; tàu không người lái Chang E 5 của TQ dự kiến phóng cuối 2017 để lượm đất Mặt trăng đem về, nhưng nay vẫn trục trặc chưa phóng. Tên lửa Trường Chinh 5 mạnh nhất TQ có sức chở 25T, còn tên lửa Falcon Heavy của một công ty tư nhân Mỹ chở được 63,8T.  Báo cáo của Viện Khoa học TQ (6/2018) nói Mỹ dẫn đầu thế giới 87 trong 143 điểm nóng nghiên cứu tuyến đầu (TQ-24) và 8 trong 10 lĩnh vực khoa học lớn.  Nếu so bì về sức mạnh mềm thì TQ càng lép vế. Văn hóa lễ giáo đạo Khổng hạn chế sức sáng tạo, tính độc lập. Văn hóa doanh nghiệp TQ vẫn còn chỗ cho sự dối trá. TQ đầu tư lớn lập cả nghìn Viện và lớp học Khổng Tử khắp toàn cầu nhưng kết quả quảng bá văn hóa TQ rất hạn chế. Văn học TQ đương đại không có tác phẩm nào gây tiếng vang trên thế giới. Hán ngữ không thể nào được hoan nghênh như tiếng Anh…    Ảnh đồ họa tàu sân bay Gerald Ford. Ảnh: U.S. Navy  Một nhà báo TQ viết: Cái đáng sợ nhất của nước Mỹ là họ có sức sáng tạo rất mạnh mẽ.  Chiến tranh thương mại TQ-Mỹ đang tiếp diễn ngày càng găng, mỗi bên đều sẽ trổ hết tài, vận dụng mọi ưu thế của mình. Chưa biết cuối cùng ai sẽ thắng, nhưng có thể nói TQ đã “thắng” ở chỗ nhận ra cách tuyên truyền phô trương quá đáng thành tựu và thế mạnh của mình chỉ có hại, chẳng có lợi. Có lẽ Tập Cận Bình nên trở lại chiến lược khôn ngoan “Giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình, chớ nên khích lệ tâm lý tự hào dân tộc thành tự kiêu, chủ quan; nên chú trọng sáng tạo đổi mới chứ không nên mải mê theo “chủ nghĩa lấy về” – một thứ chủ nghĩa cơ hội rất tai hại.  Tóm lại, cú gục ngã của ZTE trở thành liều thuốc thử chứng tỏ Thuyết TQ vượt Mỹ thiếu căn cứ đứng vững, người TQ cần luôn tỉnh táo nhận rõ các mặt mạnh yếu của mình!  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/thuoc-thu-cho-thuyet-trung-quoc-vuot-my/2018090610368477p1c160.htm      Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Thưởng cho nhà khoa học có công trình công bố quốc tế như thế nào?      Cách đây khoảng hai năm, khi tham gia diễn đàn Tia Sáng về thực trạng hoạt động khoa học ở nước ta, tôi có đề xuất một ý rằng cần phải thưởng cho các nhà khoa học nào có công trình công bố quốc tế.    Thật ra, ý này chẳng có gì mới, mà tôi chỉ rút kinh nghiệm thực tế từ các nước khác mà thôi. Ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan… Chính phủ có chính sách thưởng từ vài ngàn USD đến vài chục ngàn USD cho mỗi công trình được công bố trên các tập san quốc tế. Số tiền tùy thuộc vào loại tập san và uy tín của tập san. Một bài trên Science, Nature, Cell, PNAS, Lancet, New England Journal of Medicine, JAMA, v.v… thì cầm chắc trong tay cả chục ngàn USD. Ngay cả tại Viện tôi làm việc, họ thưởng cho tác giả nào có công trình nghiên cứu công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (IF — impact factor) trên 10. Nói chung, họ xem một công trình khoa học là một tài sản tri thức quốc gia, và cần phải trân trọng tài sản đó. Tôi nghĩ họ có chính sách đúng, nhất là trong tình trạng nước họ còn đang phát triển và phải cạnh tranh quyết liệt với các cường quốc phương Tây.  Tiền thưởng cụ thể là bao nhiêu?  Một mặt do ngân sách nghiên cứu khoa học còn hạn hẹp, mặt khác là qua phân tích trước đây tôi thấy 99.9% các công trình khoa học nước ta thường công bố trên các tập san có IF thấp dưới 10, do vậy chúng ta không thể thưởng vài chục ngàn USD cho một công trình khoa học như ở Trung Quốc hay Hàn Quốc.  Theo tôi thì số tiền thưởng nên được xác định (hay tính toán) dựa vào chỉ số IF của tập san mà công trình được công bố cộng với một hệ số phản ảnh thứ bậc của tập san trong chuyên ngành. Không nên là một con số tròn trĩnh 1000USD như ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.  Cụ thể hơn, tôi đề nghị số tiền thưởng như sau:     T = 100 + (IFj x 200) + (IFj / IFm x 1000)   Trong đó, T là tiền thưởng; IFj là chỉ số impact factor hiện hành của tập san; IFm là chỉ số IF cao nhất trong chuyên ngành.  Vế thứ hai của công thức trên đề nghị rằng cứ mỗi chỉ số IF thì tác giả được thưởng 200 USD.  Vế thứ ba của công thức trên cân nhắc thứ hạng của tập san trong chuyên ngành. Bởi vì có ngành (chẳng hạn như ngành toán) các tập san thường có IF thấp; do đó, sẽ không công bằng nếu chỉ thưởng dựa vào IF, mà phải xem xét đến thứ hạng của tập san đó trong ngành. Chẳng hạn tập san A trong ngành toán chỉ có IF là 1.5, nhưng tập san toán có IF cao nhất là chỉ 2, thì hệ số điều chỉnh là IFj/IFm = 1.5/2 = 0.75. Và, bài nào được công bố trên tập san số 1 của ngành thì được thưởng 1000 USD.  Nhưng có một số tập san có IF thấp hơn 1, và nếu nhân cho 200 thì sẽ không công bằng và thiếu tính khuyến khích. Do đó, tôi đề nghị công trình trên những tập san mới, chưa có IF, hay IF quá thấp thì cũng nên được thưởng 100 USD (vế thứ ba của công thức trên). Có thể xem đây là “điểm sàng” của tưởng thưởng.  Chẳng hạn như một bác sĩ công bố một công trình nghiên cứu trên tập san chuyên ngành nội tiết có IF là 4. Ngành nội tiết có tập san JCEM có IF cao nhất là 6. Do đó, theo công thức trên, số tiền thưởng sẽ là:   T = 100 + (200 x 4) + (4/6 x 1000) = 1567 USD.  Tương tự, một nhà toán học công bố nghiên cứu trên tập san có IF 1.2, nhưng tập san toán học có IF cao nhất là (chỉ giả định) 3, thì số tiền thưởng sẽ là 740 USD.  Lí do đằng sau đề nghị này là chúng ta không chỉ muốn nâng cao số lượng công trình, mà còn phải nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Chỉ số IF là một cách đánh giá tương đối khách quan (chỉ tương đối thôi, vì chẳng có chỉ số nào hoàn hảo cả) về uy tín và chất lượng của một tập san khoa học.  Công thức trên còn gián tiếp khuyến khích những nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng và nghiên cứu y sinh học. Các nghiên cứu này có thể đem lại lợi ích kinh tế nhanh hơn các nghiên cứu khác (chẳng hạn như toán hay vật lí lí thuyết). Các tập san cho khoa học thực nghiệm thường có IF cao hơn tập san lí thuyết, và cách thưởng dựa vào IF cũng là một cách gián tiếp khuyến khích các ngành khoa học này ở nước ta vốn rất nghèo nàn từ mấy mươi năm qua.  Ngân sách thưởng xuất phát từ đâu? Theo TS. Nguyễn Quang A thì chính phủ không nên dính dáng vào chuyện thưởng và anh ấy cho rằng chẳng có nước nào trên thế giới có chính sách thưởng như thế. Thật ra thì, như tôi đề cập trên, chính phủ một số nước Á châu có chính sách thưởng, còn nguồn tiền ở đâu thì tôi không rõ mấy, nhưng tôi biết chắc ở Trung Quốc họ có hẳn ngân sách của Nhà nước cho việc tưởng thưởng này. Còn ở Úc thì Nhà nước không có chính sách thưởng và cũng không có ngân sách để thưởng, mà tùy vào đại học và nguồn thì thường từ các nhóm chuyên gây quĩ cho nghiên cứu ( gọi là research foundation).  Thưởng cho ai? Nếu một nhóm nghiên cứu có 10 người thì tiền thưởng theo công thức trên cho cho đều 10 người hay không? Một công trình khoa học lúc nào cũng là kết quả làm việc của một tập thể Do đó, tưởng thưởng phải nhắm mục đích khuyến khích tinh thần “team work”, tức là làm việc theo đội, theo nhóm, nhưng cũng không quên ghi công trạng của tác giả chính. Công thức trên chỉ đề nghị thưởng cho tác giả chính, người chủ trì công trình nghiên cứu. Đối với các tác giả cộng sự trong công trình, mức độ thưởng bao nhiêu rất khó xác định, bởi vì mức độ đóng góp giữa các tác giả không hẳn đồng đều. vả lại, thứ tự tác giả còn tùy thuộc vào “văn hóa” làm việc của từng nhóm. Có văn hóa mà trong đó chỉ có tác giả đầu và tác giả cuối là hai người quan trọng nhất, còn các tác giả giữa đóng vai trò quan trọng theo thứ tự đóng góp. Lại có văn hóa sắp xếp tác giả theo chữ cái của tên họ, nhưng cũng có nơi sắp xếp tác giả theo thứ tự đóng góp từ cao nhất đến thấp nhất, v.v…  Trước tình trạng đa dạng và phức tạp này, tôi nghĩ cách thực tế nhất để xác định tiền thưởng cho các tác giả cộng sự trong công trình là lấy T nhân cho vị trí của tác giả trong bài báo chia cho tổng số tác giả trong bài báo. Chẳng hạn như nếu một công trình có 5 tác giả, và số tiền thưởng cho tác giả đầu theo công thức trên là 1000 USD, thì tác giả thứ hai sẽ được thưởng 2/5 x 1000, tác giả thứ 3 là 3/5 x 1000, v.v…  Còn tác giả ngoại quốc thì sao?  Đây cũng là vấn đề khá phức tạp. Theo tôi, chỉ thưởng cho tác giả Việt Nam và công trình nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, do người Việt Nam chủ trì. Mục tiêu là khuyến khích nghiên cứu ở Việt Nam và nâng cao nội lực, chứ không phải khuyến khích tham gia vào những công trình khoa học theo kiểu nhảy dù.  Tất nhiên, bất cứ tưởng thưởng nào cũng gây ra dị nghị, tranh chấp, tiêu cực, thậm chí bất hòa. Cần phải nghiên cứu kĩ những yếu tô này vì nếu không cẩn thận rất dễ dẫn đến phản tác dụng.  Trên đây chỉ là vài ý tưởng mới manh nha. Tôi nghĩ cần phải thảo luận thêm để đi đến một qui định (không dám gọi là chính sách) nhằm vực dậy tiềm năng khoa học của nước ta.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyết Sức mạnh biển      Cuốn Sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan xuất bản năm 1890 đến nay vẫn được xếp vào số 10 binh thư có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới.     Xuất thân là sĩ quan hải quân dạy sử học ở Học viện Hải quân Mỹ, Alfred Thayer Mahan đã nghiên cứu kỹ quá trình trở thành cường quốc của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và quá trình Anh Quốc bá chủ thế giới, từ đó viết nên cuốn này.   Mahan cho rằng các quốc gia sống bằng xuất khẩu hàng hoá thì phải kiểm soát biển, phải giành lấy và giữ được quyền kiểm soát biển, nhất là kiểm soát các tuyến giao thông biển huyết mạch liên quan tới lợi ích và ngoại thương của quốc gia mình – sức mạnh biển là nhân tố chính làm cho đất nước giàu mạnh. Muốn thế, phải có lực lượng hải quân và đội thương thuyền mạnh cùng một mạng lưới các căn cứ địa trên biển.   Theo Mahan, các yếu tố sức mạnh biển mà một quốc gia cần phải có gồm: 1- Vị trí địa lý thuận lợi qua biển đi ra thế giới; 2- Địa hình thuận lợi như có nhiều cảng và con sông chảy qua vùng đất màu mỡ thông ra biển; 3- Lãnh thổ có dân sống thì phân bố dọc theo bờ biển; 3- Phải có số dân tương đối đông để có thể cung cấp đủ thuỷ thủ và lao động đóng tàu; 4- Toàn dân phải có khát vọng và nhu cầu về thương mại trên biển; 5- Chính phủ phải có quyết tâm phát triển sức mạnh biển của nước mình.  Mahan đưa ra các điều kiện cơ bản để trở thành thành quốc gia kiểm soát biển: 1- Phải có hải quân, căn cứ hải quân và các tuyến giao thông trên biển không bị nước khác kiểm soát; 2- Phải có đội tàu buôn mạnh cùng các hải cảng và tuyến hàng hải, phải có buôn bán với nước ngoài. Sức mạnh biển phải thể hiện ở chỗ kiểm soát được và lợi dụng được biển; công cụ chính để khai thác biển là đội tàu buôn và hải quân, phải có lực lượng vũ trang để bảo vệ đội tàu buôn và tuyến hàng hải. Trong thời chiến, đội tàu buôn có thể chi viện hải quân tác chiến, chở vật tư, vũ khí, chở thương binh.   Sau khi phân tích từ góc độ chiến lược ảnh hưởng của các nhân tố sức mạnh biển, Mahan đề xuất chiến lược hải quân là xây dựng và tăng cường sức mạnh trên biển trong thời bình và thời chiến nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của quốc gia. Ông cho rằng phương pháp giành quyền kiểm soát biển là tác chiến trên biển và phong toả trên biển. Ông nhấn mạnh nguyên tắc cơ bản tác chiến trên biển là tập trung binh lực và chủ trương nước Mỹ nên thành lập hạm đội biển xa, trước tiên để kiểm soát biển Ca-ri-bê và eo biển Trung Mỹ, sau đó tiến ra các đại dương, và chủ trương hợp tác với các cường quốc khác.   Mahan nêu công thức: Sức mạnh hải quân = Lực lượng + Vị trí.     Hiển nhiên, lực lượng tàu chiến và vũ khí dù mạnh mà không có vị trí thuận lợi thì khó phát huy được tác dụng trong tác chiến trên biển. Để có các vị trí thuận lợi, nước Mỹ đã chiếm một số đảo dù rất nhỏ và rất xa trên đại dương để làm căn cứ địa hải quân, trong khi nhiều nước thực dân khác như Anh, Tây Ban Nha chỉ lo chiếm đất thật rộng. Thực tế sau này chứng tỏ suy tính của người Mỹ rất sáng suốt; nếu không có chuỗi các đảo nhỏ dùng làm căn cứ hải quân ấy, chẳng hạn đảo Guam, Midway, thì sao Mỹ có thể thắng được phát xít Nhật trong chiến tranh Thái Bình Dương. Giờ đây, khi tuyên bố “trở về châu Á”, Mỹ cũng chỉ yêu câu tôn trọng quyền tự do đi lại trên các vùng biển thuộc Thái Binh Dương mà Trung Quốc đang tranh chấp chủ quyền với các nước xung quanh.  Có thể thấy học thuyết Mahan là một trường phái của địa chính trị học, nhưng Mahan nhấn mạnh vai trò của biển chứ không nhấn mạnh vai trò đất liền như thuyết của Mackinder.   Tư tưởng sức mạnh biển của Mahan nhanh chóng được Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt chấp nhận dùng làm căn cứ xây dựng chính sách ngoại giao. Từ năm 1890, chính phủ Mỹ từ bỏ tư duy đất liền, chuyển hẳn sang tư duy biển. Ngoài việc ra sức xây dựng hải quân, Mỹ còn nắm lấy việc đào và kiểm soát kênh Panama, lập căn cứ hải quân ở vùng biển Ca-ri-bê, đảo Hawaii. Năm 1890, Quốc hội Mỹ thông qua Luật Hải quân. Cuối thế kỷ XIX, sức mạnh hải quân Mỹ từ thứ 12 nhảy lên thứ 3 thế giới; sau Thế chiến I thì mạnh nhất thế giới; sau Thế chiến II Mỹ hoàn toàn kiểm soát Thái Bình Dương. Chính phủ Mỹ từ năm 1798 lập riêng một Bộ Hải quân bên cạnh Bộ Lục quân (lập 1789); sau Thế chiến II kết thúc mới lập Bộ Quốc phòng (1947) thay cho hai bộ kia. Nhờ có lực lượng hải quân mạnh nên nước Mỹ trở thành siêu cường toàn cầu.   Tổng thống F. Roosevelt ca ngợi Mahan là một trong những nhân vật vĩ đại nhất, có ảnh hưởng nhất trong đời sống nước Mỹ. Sử gia Kennan đánh giá Mahan là nhà chiến lược quan trọng nhất của nước Mỹ trong thế kỷ XIX.   Sách của Mahan được nhiều nước dịch và xuất bản, có ảnh hưởng lớn tới chính sách ngoại giao giao của các nước. Tuy là cường quốc biển số 1 hồi ấy nhưng Anh cũng rất sùng bái thuyết Sức mạnh biển của Mahan, chính phủ Anh đã áp dụng thuyết này khi lập kế hoạch mở rộng hải quân.   Hoàng đế Đức William II (kẻ gây ra Thế chiến I) và Bộ trưởng Hải quân Đức Von Tripitz đã nghiên cứu kỹ thuyết sức mạnh biển của Mahan và dốc sức phát triển hải quân đế quốc Đức.  Sau khi bị hạm đội Mỹ do đô đốc Matthew Perry chỉ huy ép phải mở cửa giao thương với phương Tây (1854), chính quyền Nhật nhanh chóng hiểu rằng hải quân, chứ không phải lục quân, là lực lượng quân sự quan trọng nhất. Nhật Hoàng khôn ngoan áp dụng ngay thuyết Sức mạnh biển của Mahan, chuyển chiến lược quân sự Nhật sang xây dựng hải quân và giành quyền kiểm soát trên biển. Các học viên trường hải quân Nhật đều phải đọc sách của Mahan. Tổng trọng tải đội tàu chiến Nhật từ 15.000 T năm 1880 tăng lên 700.000 T năm 1914, mạnh thứ 7 thế giới, làm tăng rõ rệt sức mạnh của Nhật. Năm 1894 Nhật dùng hải quân đánh bại Trung Quốc, chiếm đảo Đài Loan; năm 1904 lại tấn công tiêu diệt hạm đội Đông Bắc Á của Nga. Từ thập niên 30 Nhật đã đóng được tàu sân bay hiện đại và có nhiều tàu sân bay nhất thế giới. Các đội tàu chiến Nhật phát huy tác dụng cực lớn trong việc triển khai sức mạnh quân sự chiếm châu Á-Thái Bình Dương, mở đầu bằng cuộc đánh úp thành công Trân Châu Cảng (7/12/1941).  Năm 2000 Trung Quốc xuất bản bản dịch cuốn Ảnh hưởng của Sức mạnh biển đối với lịch sử thời kỳ 1660-1783 của Mahan và đẩy mạnh tuyên truyền về thuyết Sức mạnh biển. Nhiều năm qua Trung Quốc bắt đầu giảm lục quân, tăng cường hải quân, đóng nhiều loại tàu chiến và tàu ngầm hiện đại, mới đây đóng cả tàu sân bay. Bắc Kinh còn ra sức lôi kéo Myanmar để nước này cho họ mở đường ra Ấn Độ Dương. Năm 2009, lần đầu tiên Trung Quốc đưa cả một hạm đội mạnh tới vùng Vịnh Aden ngoài khơi Somalia dưới danh nghĩa tham gia chống cướp biển. Thực chất việc này nằm trong chiến lược đưa hải quân Trung Quốc ra hoạt động tại đại dương. Năm 2010 họ cho tàu chiến lớn nhất là tàu đổ bộ Côn Lôn Sơn 18.500 tấn tham gia hạm đội kể trên. Các cuộc tập trận lớn vừa qua của quân đội Trung Quốc đều là tập trận trên biển, có phối hợp không quân và vệ tinh. Gần đây họ lại có ý định lập căn cứ hải quân tại quần đảo Seychells ở Ấn Độ Dương. Hơn bao giờ hết, Bắc Kinh đang đề cao thuyết sức mạnh biển và kiểu “ngoại giao tàu chiến”.   Do vướng vòng cung Hàn Quốc-Nhật-Đài Loan-Philippines nên Trung Quốc hiện nay không thể vươn ra biển lớn về phía Đông. Vì thế họ nóng lòng muốn vươn xuống phía Nam và vội vã nêu ra yêu sách chủ quyền theo “đường lưỡi bò” hòng chiếm 80% vùng biển này. Tham vọng quá đáng ấy đang gây ra các rắc rối trên biển Đông của Việt Nam. Tình hình đó càng cho thấy hơn bao giờ hết nước ta cần đẩy mạnh áp dụng tư duy biển để tăng cường phát triển sức mạnh biển của mình, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống phức tạp.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia Sáng cho tôi một cái nhìn về trí thức      Ham chơi nhưng tôi vẫn là người ham hiểu biết. Từ mấy năm nay Tia Sáng là tạp chí cho tôi học hỏi được nhiều nhất trong các ấn phẩm ở nước ta mà tôi được biết tới. Tính chất tổng hợp của thông tin và sự đi sâu ở mức độ đáng kể của các bài chuyên đề có được do kết cấu của nội dung tạp chí nhưng căn bản là do trình độ của các người viết. Tôi rất kính nể và yêu mến các tác giả già và trẻ, trong và ngoài nước, nghệ sĩ và nhà khoa học của Tia Sáng. Các trí thức “Việt kiều” cho thêm một góc nhìn lý thú về các vấn đề ở Việt Nam và thế giới. Đúng là có các quan điểm-địa thế quan sát khác nhau! Tôi chỉ mong có nhiều học giả trẻ hơn nữa tham gia viết ở Tia Sáng.    Với một nghệ sĩ, những chuyên mục văn hóa nghệ thuật được kết nối với các vấn đề kinh tế, công nghệ, khoa học là rất bổ ích. Đối với các nhà khoa học chắc cũng vậy. Tôi nhớ rằng mình từng đã hiểu ra rất nhiều điều của nghệ thuật Trung cổ Châu Âu nhờ một cuốn lịch sử hóa học, nhất là phần về thời kỳ của các nhà giả kim thuật!  Tôi hay “sốt ruột” với những chuyện đâu đâu trong thời cuộc, ông chú tôi bảo có lẽ đấy là bệnh của trí thức tử tế. Ở Tia Sáng tôi có thể thấy trí thức ta thật tâm huyết với sự hưng vong của đất nước từ mô hình chính trị, luật doanh nghiệp tới hệ thống giáo dục, vấn đề nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ đến đạo đức băng hoại, môi trường bị đe dọa, cái đẹp bị coi thường, lịch sử không được làm sáng rõ để soi gương cho hôm nay… Cái cảnh phẫn uất kiểu đêm nằm mà “lòng đau như cắt- nước mắt đầm đìa” của các tác giả Tia Sáng là điều đêm nằm tôi có thể thấy khi nhắm mắt lại.  Bi quan với hiện tại nhưng lại tin ở tương lai  có lẽ cũng là “bệnh” của trí thức tử tế, yếu đuối, thân cô thế cô, hay cảm thấy bất lực và tủi thân. Nhưng tôi vui được cộng tác cùng Tia Sáng vì có cái bệnh đó. Tôi không biết bao nhiêu phần nghìn các kiến nghị, đề xuất và gợi ý của các tác giả Tia Sáng được “đèn giời soi xét” tới và cộng đồng chấp nhận. Bao giờ thì một góc nhìn của trí thức trở thành một sức mạnh của trí thức.  Cảm ơn Tia Sáng cho tôi một cái nhìn về trí thức ta bây giờ. Mong sao đông đảo hơn nữa trí thức Việt Nam đọc và viết cho Tia Sáng.    Họa sĩ- Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia Sáng, mấy bài học cho tôi      Tôi không có nhiều thì giờ, nên rất ít khi xem tivi và cũng rất ngại đọc báo. Tôi chỉ đọc báo ta khi bè bạn “nháy” cho biết có bài đáng chú ý, nên đọc. Nhờ đó, tôi biết đến báo Tia sáng nhờ tìm đọc bài báo của anh Phạm Duy Hiển. Bài của anh Hiển viết về lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt với ngọn lửa xanh tuyệt vời.      Đọc anh Hiển, tôi cảm nhận được một đầu óc khoa học có màu xanh của mộng mơ. Khi gần gũi với Tia Sáng và những cộng tác viên thường xuyên của báo, tôi càng được gần gũi hơn với anh Hiển.  Không riêng anh Hiển, ở đất Hà thành này, còn ai mà chẳng biết tôi là người dốt đặc “cán mai” về Toán cũng như về các khoa học tự nhiên. Ấy thế nhưng anh Hiển vẫn tặng tôi ấn phẩm về những công trình của anh, có bài từ năm 1960 là báo cáo đề tài đầu tiên anh được giáo sư bên Nga giao cho thực hiện.   Gần đây nhất, tôi được dự cuộc ra mắt sách của anh Hiển về đề tài an toàn hạt nhân. Tôi đến sớm, nên được đưa vào ngồi ở bàn đầu. Đến lúc thuyết trình, anh Hiển đứng sát ngay trước mặt tôi, như thể anh giảng riêng cho tôi về an toàn hạt nhân. Và chính vì thế, tôi được nghe những lời tâm huyết của anh. Sau khi anh Hiển trình bày những con số chính xác đến độ tuyệt đối trong quan hệ giữa các loại hạt, anh Hiển chốt lại, tôi ghi nhớ gần nguyên văn như sau, “Những con số chính xác tuyệt đối khiến ta mơ hồ nghĩ đến một bàn tay thần bí nào đó đã tạo ra mọi thứ hạt… Và ta chỉ có thể đi đến một kết luận về đạo lý của nhà khoa học. Một nhà khoa học hạt nhân càng cần có đạo đức để giữ cho sự nghiệp xây dựng không thể trở thành công trình hủy hoại”.  Tôi có cảm giác hình như nuôi dưỡng tình bạn nhiều năm chỉ cốt để vẫn nghe một câu đó. Cảm ơn báo Tia Sáng đã cho tôi một người bạn.  ***  Không chỉ một người bạn. Tia Sáng có một thời như cái tổ ấm tập hợp nhiều người để mình kết bạn. Hồi đó, mỗi sáng thứ Bảy, mấy anh (chị) em lại gặp nhau ở trụ sở thuê lại một phòng của tòa nhà tường gạch màu hồng rất đẹp gần sát Ngân hàng Nhà nước – nhà đó thời Hà Nội tạm chiếm là sứ quán Anh quốc, sau 1954 thành trụ sở Công đoàn Hà Nội, vì nghèo rớt phải đem trụ sở đi cho thuê. Bà con ta thường gặp nhau trong căn phòng, rồi được tòa báo mời đi ăn sáng, gồm mỗi người một bát phở và một cốc cà phê đen đá. Có thế thôi, nhưng vui. Ăn uống xong, quay về tòa báo, tiếp tục thảo luận. Đề tài thảo luận thường là nội dung một số báo nào đó. Sau đó thì số báo ra lò cũng gần đủ những điều như nội dung một cuộc thảo luận vừa diễn ra sáng thứ Bảy.  Có khi thảo luận và bế tắc. Tôi nhớ nhất, đó là cuộc bàn bạc xem làm cách gì có nhiều tiền trang trải đủ thứ, và làm cách gì tờ báo tăng tirage và bán được. Có lần chị bạn nhà báo ở Sài Gòn ra. Tôi là người vừa dốt Toán lại dốt cả ứng xử văn minh kinh tế thị trường thời bắt đầu đổi mới – e hèm, tôi mạo muội giơ tay xin nói, và đề nghị bạn nhà báo Sài Gòn san sẻ cho Tia Sáng chút ít quảng cáo. Vừa nói xong, rất ngắn gọn, tôi bị cả hội nghị ồ lên và nhìn tôi như người sao Hỏa. Sao nhỉ? Tôi sai chỗ nào nhỉ? Nhà thơ Lê Đạt, người “thày” vẫn thường giải thích về tình hình thời sự cho tôi, sau khi tan họp đã giải thích cho tôi rằng tôi sai ở chỗ nào. Anh cười cười với tôi: “Cậu ngu thế? Cậu chỉ biết những chuyện hậu hiện đại thôi!”. Tôi biết anh giễu tôi vừa viết bài phát biểu lăng nhăng về “hậu hiện đại”. Và anh nói tiếp: “Có đứa nào nó bỏ tiền thuê quảng cáo trên bìa một tờ báo tirage dưới năm nghìn bản không?” Nói cho đúng ra, cũng có những đề tài thuộc quốc kế dân sinh chứ không phải chỉ bó hẹp trong chuyện làm cách gì cho tờ báo thoát ra khỏi cảnh nghèo. Một đề tài ấy, tôi còn nhớ đó là chuyện phản biện công trình thủy điện Sơn La. Cho tôi dừng kỷ niệm ở đoạn chung chung này thôi.   Đến bây giờ tôi vẫn còn ấn tượng về những cuộc họp ở tòa báo thường kỳ sáng thứ Bảy hồi đó. Hình như ở một thời kỳ mà những nhà trí thức không tin chắc vào những gì mình biết và đặc biệt là luôn luôn canh cánh chuyện “chách nhệm” (bắt chước phát âm của anh em người dân tộc tôi quen nghe trong mười năm nghiên cứu dạy tiếng Việt ở tỉnh Hà Tuyên cũ – chủ tịch nói với cấp phó “tao ký, mày chịu chách nhệm đấy”) thì làm sao có gan quả quyết một điều gì dù cỏn con nhất trên đời?  Tôi ghi nhận một sự kiện đặc biệt ở báo Tia Sáng: ở tập thể này thật sự có đoàn kết không có chuyện đấu đá. Nhỡn tiền ở báo Khoa học và Tổ quốc của VUSTA, ba bốn năm nay tòa báo đóng cửa im ỉm, niêm phong chắc nịch. Chả là vì tờ báo được một bà Tổng biên tập ở mãi đâu đâu cử về. Trên nạt dưới, dưới khinh trên. Thế là đóng cửa. Vẫn không thấy xã hội đau khổ vì thiếu một nguồn thông tin đứng đắn.   Dẫu sao, trải nhiều năm, tôi vẫn nhận ra sự trưởng thành dần dần của Tia Sáng, một tờ báo đứng đắn.   Nhà giáo Phạm Toàn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia Sáng, tiếng nói của giới khoa học thúc đẩy cải cách      Ngay từ những số báo đầu tiên và kiên định cho đến bây giờ, trải qua 25 năm hoạt động với không ít thăng trầm, thử thách Tạp chí Tia Sáng với một lực lượng cộng tác viên thường xuyên có chất lượng cao gồm những nhà khoa học hàng đầu trong nước và ngoài nước như GS Hoàng Tụy, GS Ngô Bảo Châu, GS Trịnh Xuân Thuận, GS toán trẻ Nguyễn Tiến Dũng ở Toulouse, giáo sư người Pháp – Pierre Darriulat, nhà thơ Lê Đạt (đã mất), nhà văn Nguyên Ngọc… đã dũng cảm tự khẳng định mình là tiếng nói trung thực, mạnh mẽ của giới trí thức đóng góp những ý kiến độc lập, đa chiều cho những vấn đề cơ bản của công cuộc phát triển của đất nước, từ các vấn đề kinh tế- xã hội đến những vấn đề cụ thể gây nhiều tranh luận như cuộc thảo luận về cải cách giáo dục, cải cách kinh tế, thúc đẩy vận dụng KHCN vào sản xuất, kinh doanh.      Tia Sáng cũng là tờ báo luôn ủng hộ mạnh mẽ cho những ý tưởng mới trong văn học, nghệ thuật qua những bài viết của Phan Cẩm Thượng hay Nguyễn Quân, Lê Thiết Cương, Trần Ngọc Vương, Thái Kim Lan… Vì vậy, Tia Sáng đã nhận được sự tin cậy của các nhà khoa học, các tiếng nói cải cách của người Việt trong nước và ngoài nước. Cảm ơn Tia Sáng về những nỗ lực kiên trì đó.    Tạp chí Tia Sáng cũng đi đầu trong kết nối khoa học với thực tiễn, đã tổ chức thành công nhiều hội thảo tổng kết kinh nghiệm phong phú về việc đưa KHCN tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở Việt Nam của công ty Thành Mỹ ở Trà Vinh, Minh Long ở Bình Dương, Ralaco ở Hà Nội… Tia Sáng luôn giới thiệu và ủng hộ các điển hình tiên tiến, các phương pháp mới, những tư duy mới từ khắp thế giới cũng như từ trong nước. Vì vậy, Tia Sáng còn được sự ủng hộ nhiệt thành của các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước hoạt động ở Việt Nam. Rõ ràng, Tia Sáng đã luôn nỗ lực gắn bó với cuộc sống sôi động, cương quyết khắc phục thói khoa học tư biện, ăn theo nói leo trong tháp ngà hay phòng máy lạnh.    Đất nước đang đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn đòi hỏi cơ cấu kinh tế phải thay đổi chuyển sang tăng trưởng dựa trên tiến bộ KHCN, hiệu quả và nâng cao năng suất lao động, cùng với cải cách thể chế là yêu cầu không thể trì hoãn từ những đòi hỏi trong nước và hội nhập quốc tế.     Chúc Tạp chí Tia Sáng với 25 tuổi Xuân tiếp tục có đóng góp xứng đáng trong giai đoạn mới đầy cam go và thử thách này.    TS Lê Đăng Doanh                        Tôi thích Tạp chí Tia Sáng. Đây là một ấn phẩm hay nhưng khá kén bạn đọc. Hay vì nó luôn có một góc nhìn độc đáo, một cách diễn giải các vấn đề giàu tính trí tuệ. Kén bạn đọc vì nó không chạy theo thị hiếu thời thượng, không thỏa hiệp với những điều vi phạm nguyên tắc cơ bản của sự tử tế, sự trung thực và sự khách quan.               Xứng đáng với tên Tia Sáng, không ít bài viết trên tạp chí đã soi rọi được vào căn nguyên của nhiều vấn đề mà đất nước ta đang phải đối mặt, lý giải được căn nguyên của nhiều vui buồn, sướng khổ mà người Việt chúng ta mang nặng trong tim.  TS Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở      Trong lúc còn đang lúng túng để tìm ra một động lực mới cho phát triển nông nghiệp, người ta tin rằng những mảnh ruộng nhỏ bé với tư duy manh mún kiểu ‘tiểu nông’ của người nông dân cá thể và công nghệ sản xuất hiện tại đang là lực cản cho phát triển nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, và thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao (CNC) để nâng cao giá trị gia tăng nông sản là nhu cầu bức thiết.  Vậy có phải tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, có phải nông nghiệp CNC thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang bị trì trệ và không bền vững của chúng ta?        Nhiều người cho rằng, cần xóa bỏ hoặc nới rộng hạn điền để gỡ bế tắc trong nông nghiệp.  Phần I: Tích tụ đất đai và hạn điền  Tư duy cần phát triển “đại nông” để gỡ bế tắc cho nông nghiệp  Nhiều người cho rằng, để gỡ bế tắc trong phát triển nông nghiệp hiện nay, cần phải phát triển nền ‘đại nông’ theo kiểu phương Tây, nghĩa là phát triển tư bản nông nghiệp. Để làm được điều này thì cần phải xóa bỏ hay nới rộng hạn điền, cần phải tập trung ruộng đất vào tay những người ‘biết làm ruộng’, những người có vốn, có công nghệ, biết tổ chức sản xuất. Thậm chí ở một số địa phương, chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân trên 20 năm, rồi giao cho doanh nghiệp (DN) thuê lại [1]. Việc chính quyền tham gia vào quá trình tích tụ này được coi là bước đi đột phá, là sáng tạo. Cũng có nơi DN trực tiếp thuê đất của nông dân hoặc thông thông qua chính quyền địa phương làm trung gian để thuê đất của nông dân [2].  Những người cổ súy cho trào lưu này tin rằng: (1) Tích tụ ruộng đất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa là xu hướng tất yếu, cần có chính sách khuyến khích để phát triển nông nghiệp theo hướng này; Nông nghiệp công nghiệp áp dụng CNC sẽ thay thế cho nông nghiệp tiểu nông; (2) Các DN, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh sản xuất hàng hóa, khẳng định vị thế của nông sản Việt Nam (VN) trên thị trường nông sản thế giới.  Ai cũng dễ dàng nhìn ra mặt tích cực cho phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng này: (1) Ở những nơi nông dân đang muốn bỏ ruộng do hiệu quả sản xuất thấp, thì việc DN thuê lại đất để sản xuất nông sản hoàng hóa sẽ mang lại giá trị gia tăng cao cho nông sản và hình thành nền nông nghiệp CNC, qui mô tập trung, mà nông dân – trên lý thuyết – vẫn không mất đất; (2) Một số nông dân trở thành công nhân làm thuê cho DN, có thu nhập cao hơn trước, đồng thời học hỏi được nhiều công nghệ mới, kĩ thuật mới và cung cách quản lý trang trại mới theo cơ chế thị trường; (3) DN thuê ruộng để sản xuất với qui mô lớn thì sẽ tận dụng được lợi thế kinh tế qui mô cả về sản xuất và tiêu thụ, tạo ra giá trị gia tăng cao trên đơn vị diện tích, trên đơn vị đầu tư và trên đơn vị ngày công, nhờ thế, năng suất lao động nông thôn tăng; (4) Thúc đẩy liên kết chuỗi, trong đó DN (các tập đoàn lớn) là đầu tàu, chi phối toàn bộ hoạt động của chuỗi, có thể kiểm soát được chất lượng sản phẩm nông sản và thực phẩm, kết nối nông sản VN với thị trường tòan cầu; vv…  Tuy nhiên một loạt câu hỏi chưa được trả lời, ví dụ: (1) Hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường của các dự án mà các ‘đại gia’ đầu tư vào nông nghiệp thực sự là thế nào? Hay chỉ đến khi có sự cố như Formosa thì mới giật mình xem xét các khía cạnh của việc đầu tư và tích tụ đất đai này? (2) Tính bền vững về mặt tài chính của các dự án nông nghiệp đó như thế nào? Nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp đó có tự nó nuôi sống và làm giầu nó được không và như thế nào? Hay các ‘đại gia’ lấy lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp để bù lỗ cho hoạt động nông nghiệp? và họ đã hạch toán ‘ma’ để có các con số chứng minh nông nghiệp CNC là có lãi, mà lãi lớn; và tích tụ đất đai là tất yếu để có các lợi thế ấy. Nếu lãi ‘âm’ thì có phải DN đang thực hiện ‘trách nhiệm xã hội’, hay là họ còn có mục tiêu tài chính dài hạn nào khác[3] (ví dụ chiếm dụng đất để đến một lúc nào đó thay đổi mục đích sử dụng đất chẳng hạn)? (3) Mối quan hệ giữa DN đầu tư, chính quyền địa phương và cộng đồng địa phương hiện tại (ngắn hạn) có vẻ khá ổn thỏa[4] (khi chi phí và lợi ích của các bên có vẻ chấp nhận được), nhưng về dài hạn vẫn chưa có câu trả lời? (4) Khi nông dân cho thuê đất và trở thành công nhân của DN thì tính chất bền vững của mối quan hệ ông chủ-người làm thuê thế nào? Có khác với các loại hình kinh doanh khác không? Như mất việc, vi phạm bảo hiểm xã hội, DN kinh doanh thua lỗ, không đủ khả năng trả công, hay khi người nông dân không muốn làm thuê cho DN nữa, họ có lấy lại được đất không? Sinh kế của họ sẽ ra sao? Nhà nước có ‘nuôi’ họ khi (chẳng may) các DN này thua lỗ hay phá sản không?, v.v…  Thực tiễn ở một số nước: Nới hạn điền không phải là cứu cánh  Cũng có người cho rằng, nới hạn điền không phải là cứu cánh, lịch sử và thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước đông dân và ít đất như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chứng minh điều này. Chính phủ các nước này đã không mở rộng hạn điền mà nền nông nghiệp của họ vẫn tiến bộ, nông dân của họ vẫn giàu có, DN nông nghiệp của họ vẫn có ‘tiếng nói’ trên thị trường toàn cầu. Philippines (và Brasil nữa) hạn điền rất rộng, diện tích đất của các chủ đất rất lớn, lên đến hàng trăm hàng ngàn hecta, nhưng sản xuất nông nghiệp của họ vẫn kém phát triển, đất nước vẫn không đủ gạo ăn, người nông dân vẫn nghèo. Việt Nam ta tuy diện tích canh tác của nông hộ nhỏ bé, manh mún, công nghệ sản xuất là các công nghệ thường quy, chúng ta vẫn luôn đứng đầu thế giới về nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu; nhưng, buồn là, nông dân ta vẫn chưa giàu, vẫn có người chán ruộng, bỏ ruộng…  Thì ra, hình như nguyên nhân chưa hẳn đã là hạn điền, chưa hẳn là vì chúng ta chưa có nền ‘đại nông’ trong sản xuất nông nghiệp, mà có lẽ còn vì các nguyên nhân khác. Ví dụ như chuỗi giá trị của các ngành hàng nông sản đã không được thiết lập một cách bình đẳng, công bằng, minh bạch; hoặc là, chuỗi giá trị của ngành hàng có đấy, nhưng rất yếu, bị thao túng; người nông dân đã không được tổ chức sản xuất tốt như nông dân Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc; nền nông nghiệp đã không được thiết kế căn cơ để hội nhập toàn cầu trước khi chúng ta gia nhập WTO nên chúng ta bị cuốn vào nền nông nghiệp hàng hóa giá rẻ, nền nông nghiệp số lượng. Nền nông nghiệp của chúng ta từ chỗ bị phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết sang nền nông nghiệp ngoài phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết còn bị phụ thuộc vào vật tư nông nghiệp, giống và giá cả. Ở trong nước thì các DN nắm quyền chi phối nông dân, DN trong nước thì bị DN nước ngoài chi phối; vì thế, tuy là cường quốc xuất khẩu nông sản nhưng DN VN không có tiếng nói trên thị trường thế giới. Hầu hết nông dân Nhật bản, Đài Loan hay Hàn Quốc vẫn là nông dân sản xuất quy mô nhỏ, vẫn là ‘tiểu nông’, không phải ‘đại nông’ hay tư bản nông nghiệp, nhưng là nông dân có tri thức, được tổ chức tốt, sản xuất theo tín hiệu thị trường, nông dân đồng thời là doanh nhân, và nhà nước luôn đồng hành cùng họ. Ở các nước này, họ không thúc đẩy phát triển đại nông, không cố gắng xóa bỏ tiểu nông, để thị trường điều tiết về quy mô nông trại và công nghệ áp dụng.      Chuỗi giá trị của các ngành hàng nông sản không được thiết lập một cách bình đẳng, công bằng, minh bạch; chuỗi giá trị của ngành hàng có nhưng rất yếu và bị thao túng; người nông dân không được tổ chức sản xuất tốt; nền nông nghiệp không được thiết kế căn cơ để hội nhập toàn cầu trước khi chúng ta gia nhập WTO nên chúng ta bị cuốn vào nền nông nghiệp hàng hóa giá rẻ, nền nông nghiệp số lượng.      Các DN tích tụ đất đai: còn nhiều rủi ro  Sau một thời gian dài, kể cả khi đã có Nghị định 61/2010/NĐ-CP[5] ngày 04/06/2010 khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, thì theo báo cáo của VCCI, tính đến năm 2014, số doanh nghiệp trong nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ đạt 1% trong tổng số DN của cả nước và hầu hết các DN trong lĩnh vực này là DN có quy mô vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng. Người ta lý giải sự không mặn mà của DN trong việc đầu tư vào nông nghiệp là do có nhiều trở ngại như rủi ro cao, tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, thời gian thuê đất ngắn, ruộng đất của nông hộ có quy mô nhỏ và phân tán, rất khó đầu tư sản xuất tập trung[6].  Rất may là sau đó, trong thời gian gần đây, đã có nhiều DN có tiềm lực tài chính lớn đầu tư vào nông nghiệp. Nông nghiệp không những chỉ thu hút các DN trong nước mà ở một số địa phương đã có những DN nước ngoài đầu tư[7].  Tại sao các ‘đại gia’ VN bây giờ lại đầu tư vào nông nghiệp? có thể là do:  (1) DN đã tận dụng lợi thế hiện nay về chính sách đất đai là chính quyền cấp tỉnh có thể thu hồi đất để mời doanh nghiệp vào, trước mắt có thể làm nông nghiệp, sau đó có thể chuyển sang mục đích khác. Thực tế, đã có những DN sau khi có được dự án nông nghiệp đã bán và chuyển nhượng toàn bộ hay một phần dự án cho DN khác để kiếm lời. (2) Mặc dù, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế, nhưng chúng ta chưa có cơ chế thị trường thực sự về đất đai. Nhờ thế, ‘đầu vào’ của các dự án của các đại gia làm nông nghiệp hay bất động sản là “thu hồi” theo giá quy định của Chủ tịch tỉnh, được cố định trong 5 năm, và một số ‘đại gia’ đã có được quỹ đất lớn vốn là đất của các nông lâm trường quốc doanh làm ăn thua lỗ với giá đất gần như cho không để đầu tư phát triển vùng nguyên liệu. Nhưng ‘đầu ra’ của đất vào một ngày đẹp trời nào đó, có thể được bán với giá thị trường cao gấp nhiều lần so với giá thu hồi.  Một số nơi không có quỹ đất để mời DN lớn vào thì chính quyền đứng ra thuê đất của dân rồi cho DN thuê lại trên 20 năm. Cách làm này sai luật và có nhiều rủi ro vì những lý do sau: (1) Theo Luật Dân sự, khi ký kết hợp đồng thuê đất chỉ diễn ra giữa các bên có các tổ chức đăng ký theo luật như là thể nhân (phải là thể nhân) có tư cách pháp nhân, nghĩa là một tổ chức có tài sản riêng hoặc quyền định đoạt tài sản đó theo pháp luật. Chỉ có pháp nhân và thể nhân mới được quyền ký hợp đồng với nhau, UBND các cấp không phải là pháp nhân hay thể nhân trong ký kết hợp đồng thuê đất; (2) Luật pháp nghiêm cấm dùng ngân sách nhà nước để kinh doanh nên chính quyền các cấp đứng ra thuê đất của dân là sai Luật Dân sự chứ không phải là sáng tạo; (3) Giả dụ cho chính quyền địa phương ký hợp đồng thì khó tránh được việc dùng quyền ép dân để lấy đất cho DN. Dân sau khi được đền bù, thì trắng tay và sinh kế lâu dài của nhiều thế hệ sẽ ra sao? (4) đền bù không theo cơ chế thị trường, ví dụ: ký hợp đồng dài hạn trên 20 năm liên quan đến vấn đề giá, mà giá thì khó tiên đoán cho một thời gian dài, nên phải có tỷ lệ trượt giá, ít nhất hai năm cần tính lại giá một lần, theo giá đất thị trường để nông dân không bị thiệt thòi; (5) Nếu doanh nghiệp phá sản, chính quyền có lấy ngân sách đền bù cho dân không?  Cách thức thu gom đất của dân của DN thường theo trình tự: (1) DN trình các dự án/đề án lên chính quyền, thường là cấp tỉnh, (2) chính quyền địa phương cùng DN tiến hành các thủ tục thu hồi đất của dân, (3) DN đên bù đất cho dân (theo mức đất nông nghiệp), giống như thu hồi cho các khu công nghiệp. Cũng có khi DN khảo sát, lựa chọn hộ và ký hợp đồng thuê đất, các hộ sản xuất theo yêu cầu quy trình công nghệ của DN, được DN bao tiêu sản phẩm theo giá của DN, thực ra, đây là dạng liên kết sản xuất giữa DN và nông dân.  Từ một quan sát trực tiếp tại một tỉnh đồng bằng sông Hồng, người ta thấy chính quyền ở địa phương này thuê đất của dân giúp DN như sau:  1) Lựa chọn vùng bờ xôi ruộng mật, gần đường và đất tốt để quy hoạch khu nông nghiệp CNC để mời DN vào; vùng xa, đi lại khó khăn và đất xấu không quy hoạch khu nông nghiệp CNC và DN cũng không thuê;  2) Đất được thuê với giá 140 kg thóc/sào/năm nhưng chi trả bằng giá thóc nhà nước tính thuế (450.000 – 470.000/tạ) trong khi giá thị trường là 800.000/tạ và DN trả 5 năm một lần;  3) Trên 95% nông dân không đồng tình với giá thuê vì: (a) giá thấp gần như bằng 50% giá thị trường, nên nông dân cho rằng sẽ không đủ tiền để mua thóc đảm bảo an ninh lương thực của gia đình; (b) đưa đất cho DN thì mình lấy gì làm kế sinh nhai (tiền sẽ tiêu hết, đất vẫn có thể tạo ra thu nhập),  (c) 140 kg lúc này có vẻ hợp lý, nhưng 5-10 năm nữa, với sự thay đổi về công nghệ và giá cả thì mức đó sẽ không còn hợp lý nữa, lúc đó ai đứng ra bảo vệ người nông dân, (d) diện tích thuê chỉ tính ruộng mà không tính bờ, nhưng diện tích bờ DN vẫn trả cho chính quyền; (đ) DN chỉ thuê lao động trẻ từ 18 đến 35 tuổi, nhưng phần lớn (trên 70%) lao động ở nông thôn hiện nay là người cao tuổi và trẻ em (nên trên thực tế không có DN nào thuê), họ thuê lực lượng lao động 16-35 tuổi là những người bị các DN công nghiệp và dịch vụ từ đô thị và các khu công nghiệp thải về và tình nguyện trở thành công nhân nông nghiệp.  4) Chỉ có khoảng 2-3% hộ hoàn toàn đồng ý vì tuy là nông dân nhưng họ không làm ruộng mà làm các ngành nghề khác ở nông thôn hoặc bỏ quê lên thành phố và các khu công nghiệp làm thuê, họ cho người khác ‘mượn’ ruộng miễn phí để canh tác, không có ai mượn hoặc thuê thì họ bỏ hoang ruộng, giữ đất chờ ‘nhà nước’ mở khu công nghiệp hay khu nông nghiệp CNC, để lấy tiền đền bù[8].  Nhưng đa số các nông hộ vẫn cho chính quyền thuê đất vì họ được một món tiền lớn, đủ để trang trải nợ nần, xây dựng nhà cửa, mua sắm phương tiện gia đình, hay đầu tư học hành cho con cái. ‘Nước đến đâu bắc cầu đến đấy’, khác với thời trước ‘khoán 10’, nông dân ngày nay không còn quá lo lắng về miếng ăn hàng ngày khi thóc gạo rẻ và chỉ cần đi làm thợ xây một ngày họ cũng đã có thể mua được ít nhất là 10kg gạo.  (Đón đọc Phần II: Nông nghiệp CNC là con đường tất yếu để tăng khả năng cạnh tranh?)  ——–  Chú thích:  [1] Giá thuê đất rất khác nhau, dao động từ 120kg thóc/sào đến 150kg ngô hạt/sào, cũng có DN nước ngoài trả 25.000 USD/hecta/20 năm, cách thức thanh toán cũng rất đa dạng. Còn nếu như DN mua thì giá đất do UBND cấp tỉnh quy định cho từng khu vực và loại đất.  [2] Có người cho rằng, động cơ hấp dẫn chính quyền địa phương hăng hái giúp DN thuê đất của nông dân hay chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân và cho DN thuê lại là diện tích bờ vùng bờ thửa bờ ruộng dôi ra (khoảng 5-8% tùy theo mỗi nơi). Khi trả tiền cho nông dân, họ tính diện tích canh tác thật (trừ bờ), nhưng khi thu tiền của DN thì họ tính diện tích cả vùng.  [3] Một Chuyên gia quản lý cấp cao của một tập đoàn đầu tư lớn vào NNCNC quy mô lớn (hàng trăm, hàng ngàn hecta) trên cả nước khẳng định: sản xuất nông sản hàng hóa theo kiểu nhập khẩu nguyên xi công nghệ của nước ngoài vào VN đang bị thua lỗ nặng, họ phải lấy kinh phí từ các hoạt động kinh doanh khác để bù sang (đối thoại cá nhân).  [4] Tuy nhiên vẫn còn lẻ tẻ đâu đó, trong các dự án chăn nuôi, người dân địa phương bức xúc về vấn đề ô nhiễm môi trường.  [5] Nhằm bổ sung và thay thế cho Nghị định 61/2010/NĐ-CP, ngày 19/12/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 210/2013/NĐ-CP khuyến khích hơn nữa các DN đầu tư vào nông nghiệp.  [6] Năm 2014, có 3.844 doanh nghiệp nông nghiệp thì đến năm 2015 số doanh nghiệp nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 3.640 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ chưa tới 1% so với tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó 90% là doanh nghiệp nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Vốn đầu tư tập trung chủ yếu ở các vùng thuận lợi, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Bắc Bộ, các vùng khó khăn hơn như Trung du miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên chưa nhiều nhà đầu tư quan tâm.  [7] Đối tác đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn chưa đa dạng, chủ yếu đến từ châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản…) các nhà đầu tư của các quốc gia lớn có thế mạnh về nông nghiệp như Hoa Kỳ, Canada, Australia và các nước Châu Âu đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa nhiều.  [8] Chính sách hỗ trợ đối với các hộ không còn nhu cầu sản xuất nông nghiệp để họ chuyển đổi sang các ngành nghề phi nông nghiệp chưa đủ mạnh (như chính sách hướng nghiệp cho người nông dân, chính sách hỗ trợ tiền chuyển đổi nghề nghiệp….) nên họ vẫn có xu hướng giữ ruộng làm vật “bảo hiểm”, mặc dù đã ngừng canh tác hoặc cho các hộ khác thuê ruộng ngắn hạn phi chính thức.  ——-  Tài liệu tham khảo chính:  1. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai – Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2013.  2. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2013.  3. Nông nghiệp Việt Nam đứng trước ngã ba đường, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-dang-dung-truoc-nga-ba-duong-20161030064014869.htm.  4. Luật đất đai 2013, NXB Chính trị Quốc gia, 2013  5. Nguyễn Ðình Bồng (2013). Chính sách tích tụ ruộng đất nhìn từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản. 847 (5-2013). tr. 54-58  6. Nguyễn Cúc và Hoàng Văn Hoan (2010). Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO. NXB Khoa học kỹ thuật. tr 98-209  7. Nguyễn Đình Bồng, Tạ Hữu Nghĩa (2010), “Phân tích, đánh giá vai trò quản lý Nhà nước tác động đến tích tụ ruộng đất”, Cục chính sách  hợp tác và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp.  8. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.  9. Tích tụ ruộng đất: Giải pháp thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, http://baoninhbinh.org.vn/tich-tu-ruong-dat-giai-phap-thyc-hien-tai-co-cau-nong-nghiep-2016121308363601p2c21.htm  10. Báo cáo số 13-BC/NN-NT ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Vụ Nông nghiệp-Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, 2016.  11. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, Báo cáo về tình hình tích tụ, tập trung đất đai của một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc, 2016  12. Dương Đình Tường, 2009. Nông nghiệp công nghệ cao: Nặng trình diễn, nhẹ hiệu quả, http://nongnghiep.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-nang-trinh-dien-nhe-hieu-qua-post36762.html  13. Đỗ Kim Chung, Nguyễn Văn Song, Trần Đình Thao, Trần Hữu Cường, Nguyễn Việt Long, Trần Thanh Phương, Nguyễn Xuân Trạch, 2017. Tích tụ đất đai và hạn điền; Trao đổi cá nhân.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách      Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC một cách thiếu nghiên cứu, thiếu thận trọng có thể đẩy những người nông dân ra “bên lề” của công cuộc hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp. Vậy nhà nước nên có những chính sách gì để đảm bảo vai trò chủ thể của người nông dân?  Sau kỳ I & kỳ II phân tích toàn diện về tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC trong loạt bài “Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở”, mời bạn đọc đọc tiếp kỳ cuối “Khuyến nghị chính sách” của tác giả Trần Đức Viên.      Tích tụ ruộng đất ở quy mô lớn mới thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang trì trệ? Nguồn ảnh: TTXVN.  Tích tụ, tập trung đất đai  1. Thực tế cho thấy tình trạng nông nghiệp kém hiệu quả hiện nay ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó do diện tích canh tác nhỏ bé, phân tán nên cần phải tích tụ, tập trung đất đai là một trong những nguyên nhân, nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân mang tính quyết định. Người ta cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng kém hiệu quả hiện nay là do tổ chức nông dân (tổ chức sản xuất) và tổ chức thị trường còn có những yếu kém, thể hiện ở chỗ nông nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi toàn cầu ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, lao động giản đơn, thiếu sự hỗ trợ của công nghiệp, dịch vụ, chế biến, thiếu thương hiệu có uy tín, sản xuất không theo tín hiệu thị trường, không theo quy hoạch, sử dụng vật tư, giống chất lượng kém dẫn đến chất lượng nông sản thấp, năng lực cạnh tranh trên thị trường nông sản quốc tế yếu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn có những hạn chế dẫn đến tình trạng tàn phá tài nguyên[1], ô nhiễm môi trường …  Vì vậy, để tái cơ cấu nông nghiệp hiệu quả, cần các giải pháp toàn diện, trong đó giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp[2] phải đi đôi với cải cách mạnh mẽ các điều kiện của sản xuất nông nghiệp như tổ chức tốt thị trường đầu vào, đầu ra, xây dựng và bảo vệ thương hiệu, tăng cường quản lý chất lượng nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông nghiệp, tôn trọng qui luật thị trường, để thị trường điều tiết qui mô sản xuất và công nghệ áp dụng với sự định hướng và hỗ trợ của nhà nước… người nông dân đồng thời là doanh nhân trên đồng ruộng của họ, Có như vậy thì nông nghiệp Việt Nam mới có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới.      Nhà nước chỉ nên là người tạo ra các luật chơi và thực hiện vai trò kiến tạo của minh, chứ không nên tham gia trực tiếp vào cuộc chơi kiểu như đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho DN thuê lại.      2. Tích tụ ruộng đất phải tuân theo quy luật thị trường[3], đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các chủ thể (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp, …). Quy luật thị trường sẽ tự nó phân phối nguồn lực đất đai (và các nguồn lực khác như vốn, lao động, và cả công nghệ tương thích nữa) một cách hiệu quả. Chính quyền chỉ nên làm vai trò xúc tác, trung gian hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân trong quá trình thỏa thuận thuê, mua đất. Xu hướng chung là người nông dân không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tâm lý giữ đất vẫn phổ biến bất chấp nguồn thu nhập phi nông nghiệp được đảm bảo. Do đó, vai trò của thị trường thuê đất cần được chú ý để đảm bảo việc tiếp cận đất đai trong quá trình mở rộng sản xuất nông nghiệp. Mạnh dạn thay đổi chính sách, pháp luật nhằm khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Bỏ thời gian giao đất, nên xem xét giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng lâu dài như đất ở, qua đó tăng giá trị tài sản cho họ khi góp đất vào DN hay cho DN thuê đất.  3. DN có vai trò đầu tàu trong liên kết giúp người nông dân sản xuất theo chuỗi sản phẩm phù hợp với tín hiệu thị trường cả trong và ngoài nước. DN tích tụ ruộng đất nhưng không làm người nông dân mất kế sinh nhai, giúp người nông dân có cuộc sống tốt hơn khi làm nông nghiệp cùng DN. Lúc đó, nông dân mới có điều kiện tự nguyện nhượng cho DN quyền sử dụng đất hay cho thuê đất dài hạn. DN tự thương thảo với người nông dân theo cơ chế thị trường, tức là gặp nhau giữa “cung và cầu”, chính quyền chỉ đứng ra làm chứng, xác nhận để dân yên tâm hơn. Nhà nước chỉ nên là người tạo ra các “luật chơi” và thực hiện vai trò kiến tạo của mình, chứ không nên tham gia trực tiếp vào “cuộc chơi” kiểu như đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho DN thuê lại. Cần xem lại tư cách pháp nhân của chính quyền địa phương khi ký kết hợp đồng thuê đất và cho thuê đất giữa nông dân và DN.      Sản xuất nông sản hàng hóa ứng dụng CNC quy mô nông hộ rất thành công ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan và thậm chí là ở ngay Hoa Kỳ, đất nước có những cánh đồng hút mắt.      4. Về kiến nghị bỏ hạn điền, cần suy xét cẩn trọng trong việc tích tụ ruộng đất quy mô lớn[4], nên chăng chỉ là nới hạn điền. Kiến nghị bỏ hạn điền  mang lại lợi ích không lớn, không chắc chắn, trong khi rủi ro tiềm ẩn lại khá cao. Hãy thử phân tích một số hệ quả và ích lợi mang lại.  Đã có một số DN tập trung được diện tích đất khá lớn nhưng kinh doanh không thành công, khi giao đất, chính quyền kỳ vọng từ các DN nông nghiệp là họ sẽ đầu tư lớn, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, áp dụng giống mới, công nghệ mới, nhờ đó cung cấp khối lượng sản phẩm đạt quy mô xuất khẩu hiệu quả, đồng nhất về kích cỡ, chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn về thương nhãn, xuất xứ, thương hiệu… Nhưng, để xây dựng thương hiệu, cần một quá trình lâu dài. Quy mô lớn mà không có thương hiệu, không có thị phần ổn định thì rủi ro phá sản khi thị trường giảm giá càng lớn. Mà thị trường nông sản thế giới luôn hoạt động theo chu kỳ tăng, giảm khó đoán định, nhất là với DN Việt Nam, còn rất non trẻ, ít kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Ở khía cạnh này, DN kém “sức sống” hơn hộ gia đình. Bởi vì người nông dân kinh doanh ở quy mô hộ gia đình có khả năng “co giãn” nhu cầu, điều tiết cung cầu để thích ứng với rủi ro thị trường tốt hơn DN. Do đầu tư ít, họ ít chịu áp lực trả nợ ngân hàng; do không phân định rõ tiền lương và lợi nhuận nên hộ nông dân có thể duy trì sản xuất ở mức tiền lương tối thiểu, không có lợi nhuận. Vì thế, nông nghiệp nông hộ sẽ ít chịu hậu quả phá sản khi giá nông sản bước vào chu kỳ giảm so với DN nông nghiệp.  Các rủi ro đem lại tác động tiêu cực của việc bỏ hạn điền có thể là: (i) Sẽ có hiện tượng DN nỗ lực nhận quyền sử dụng đất để đầu cơ, bán lại dự án cho DN khác khiến ruộng đất bị bỏ hoang ở quy mô lớn trong thời gian dài, trong khi dân thiếu đất canh tác dẫn đến hiện tượng lấn chiếm trở lại như từng xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ những năm qua; (ii) Người giàu có thể thành lập DN (trá hình) để mua đất nhằm tích trữ của cải một cách an toàn, tránh lạm phát và phá sản của ngân hàng. Do mục tiêu là tích trữ của cải nên họ không chú trọng đầu tư để phát triển nông nghiệp dẫn đến một số diện tích đất không được sử dụng hiệu quả, kích động lại chế độ phát canh thu tô ở quy mô nhỏ; (iii) Hiện tượng cho vay nặng lãi (hoạt động ngầm và thịnh hành ở nhiều nơi, không chỉ ở nông thôn) sẽ hỗ trợ cho những người giàu tích tụ đất đai không nhằm kinh doanh nông nghiệp, đồng thời xuất hiện trở lại nhiều hộ nghèo, vì hoàn cảnh khó khăn phải bán đất. Như vậy, quá trình tích tụ đất tự phát sẽ không còn bị ngăn cản bởi hạn điền (mặc dù hạn điền không thể ngăn chặn hoàn toàn quá trình tích tụ đất phi pháp, nhưng hạn chế động cơ tích tụ đất phi pháp do rủi ro lớn).      Việc các DN thâu tóm diện tích quy mô lớn (kiểu AgroHolding của Ukraina), đẩy nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hậu họa khó lường trước.      Như vậy, việc bỏ hạn điền không hứa hẹn một cách chắc chắn rằng có làn sóng đầu tư lớn của DN, tập đoàn lớn vào kinh doanh nông nghiệp, trong khi đó lại tiềm ẩn các tác động tiêu cực khá lớn. Vì vậy, vấn đề này, cần nghiên cứu thận trọng để nếu cần thiết thì mở rộng thêm hạn điền ở quy mô kinh doanh hiệu quả (nới hạn điền).  5. Nên có chính sách khuyến khích các DN, nhất là các DN có tiềm lực tài chính mạnh, đầu tư vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông sản và tổ chức thị trường nội địa và xuất khẩu (kết nối nông dân Việt Nam với thị trường toàn cầu) hơn là khuyến khích các DN tích tụ ruộng đất để sản xuất qui mô lớn theo mô hình phương Tây như hiện nay. Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN) đã có bài học về việc này khi tổ chức trồng dứa quy mô lớn ở Quảng Trị: (a) Ruộng đất vẫn của nông dân; (b) DN lo đầu vào (cung cấp giống chuẩn, vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chuẩn với giá bán buôn thấp nhất cho nông dân) và lo bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cả đã được công bố công khai từ đầu vụ (trước khi trồng), nông dân mang nông sản đến các vị trí tập kết, xe tải của DN đến thu mua và trả tiền mặt cho nông dân tại các điểm tập kết gần ngay đồng ruộng của nông dân, khấu trừ tiền giống và vật tư DN đã ứng trước (không tính lãi); (c) HVNNVN cùng DN lo tập huấn (miễn phí) cho nông dân và cử cán bộ kĩ thuật cùng sinh viên thực tập tốt nghiệp chỉ đạo sản xuất trực tiếp; (d) Chính quyền địa phương làm trọng tài, đồng hành cùng nông dân và DN giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng phát sinh (nếu có), lo xác đinh các vị trí tập kết, lo tổ chức các nhóm hộ nông dân, Hợp tác xã (HTX) sản xuất theo yêu cầu kĩ thuật và công nghệ của DN và của HVNNVN, lo tu sửa đường xá, hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất và thu mua nông sản. Khi diện tích trồng dứa của tỉnh vượt quá 2.000hecta, DN sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến dứa tại chỗ, tỉnh có trách nhiệm tìm đất và tiến hành các thủ tục pháp lý giao đất cho DN xây dựng nhà máy. Như vậy là, DN không trực tiếp sản xuất ra nông sản, chỉ lo “đầu vào” và “đầu ra” của nông sản. Sản xuất trên đồng ruộng là việc của nông dân, tổ chức sản xuất là việc của chính quyền. Tất nhiên là, chính quyền, DN, HVNNVN luôn đồng hành cùng nhau vì lợi ích của DN và của người nông dân. Mô hình này cũng đang được triển khai thành công ở Tây Nguyên.  Với nông dân Việt Nam, trong điều kiện hiện nay, quy mô diện tích bao nhiêu là vừa? chưa ai nghiên cứu kĩ càng vấn đề này cho từng vùng miền, cho từng loại nông sản. Có người cho rằng đất trồng cây hàng năm khoảng 30 hecta, đất vườn trồng cây ăn trái khoảng 100 hecta, đất trồng rừng khoảng 300 hecta là phù hợp, là vừa sức với với trình độ quản lý và công nghệ hiện nay của hộ nông dân.      Việc bỏ hạn điền không hứa hẹn một cách chắc chắn rằng có làn sóng đầu tư lớn của DN, tập đoàn lớn vào kinh doanh nông nghiệp, trong khi đó lại tiềm ẩn các tác động tiêu cực khá lớn. Vì vậy, vấn đề này, cần nghiên cứu thận trọng để nếu cần thiết thì mở rộng thêm hạn điền ở quy mô kinh doanh hiệu quả (nới hạn điền).      Nông nghiệp công nghệ cao  1. Cần có chính sách khuyến khích phát triển NNCNC quy mô lớn, tập trung, nhưng cũng phải quan tâm đúng mức, nếu chưa muốn nói là quan tâm hơn, đến sản xuất quy mô nông hộ[5], tổ/nhóm hộ nông dân, HTX. Xin nhắc lại là, sản xuất nông sản hàng hóa ứng dụng CNC quy mô nông hộ[6] rất thành công ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan và thậm chí là ở ngay Hoa Kỳ, đất nước với những cánh đồng nhìn hút tầm mắt. Cần phân định rõ và tôn trọng cả hai hình thức: NNCNC và ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp. NNCNC hay ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp thì cũng phải hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, thân thiện với môi trường, tạo tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp.  Thận trọng trong việc nhập khẩu nguyên xi công nghệ tiên tiến “nhất thế giới” của các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh và quan hệ xã hội rộng. Điều đó đóng góp không đáng kể cho việc tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, buộc chúng ta phải lệ thuộc vào công nghệ, giống, vật tư của nước ngoài. Cần cân nhắc được-mất giữa nhập khẩu lương thực, thực phẩm sang nhập khẩu giống, vật tư, công nghệ; chưa ai đo đếm xem “đắt, rẻ” thế nào giữa hai hình thức nhập khẩu này.  2. Nông dân vẫn phải là chủ thể của ruộng đồng, muốn vậy, bằng một cách nào đó, họ phải được tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình vận hành và hoạt động của các khu NNCNC, không thể để nông dân bị đẩy ra “bên lề” của công cuộc phát triển NNCNC. Việc các DN thâu tóm diện tích quy mô lớn (kiểu AgroHolding của Ukraina), đẩy nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hậu họa khó lường trước, ví dụ khi DN bị thua lỗ, ai sẽ tạo sinh kế mới cho nông dân; và khi ấy DN có thể dùng con bài “nông dân” để mặc cả với chính quyền. Nhờ tham gia vào các hoạt động này, họ và con cháu họ học hỏi được kinh nghiệm quản lý và vận hành DN nông nghiệp, hiểu biết về các công nghệ phù hợp; từ đó hình thành tầng lớp nông dân mới, có tri thức, làm chủ công nghệ và biết quản lý, điều hành DN nông nghiệp, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, xác lập vị thế mới của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.  *** Những vấn đề trên cần có các nghiên cứu độc lập và tương đối toàn diện về tác động/hiệu quả của việc tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, NNCNC đến phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường nói chung, đến phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nói riêng, nhất là tác động đến sinh kế của người dân (ngắn hạn và dài hạn).  Có thể học tập mô hình “Ngân hàng đất nông nghiệp” với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển thế hệ các nông dân trẻ có tri thức như Pháp, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở đó, họ thành lập các công ty (ngân hàng) thu mua đất của nông dân theo giá thị trường, nếu như nông dân không có nhu cầu sử dụng đất để canh tác, và nông dân chỉ có thể mua bán đất hay gửi đất vào các ngân hàng đất này. Ai muốn sử dụng đất để canh tác (trồng trọt, chăn nuôi) thì phải có đề án khả thi, có bằng tốt nghiệp thấp nhất là Trung cấp nông nghiệp, sẽ được các Ngân hàng đất này cho thuê lại, và được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.  ————–  Chú thích  [1] Theo Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã đánh mất 43% lượng rừng che phủ từ năm 1973 đến năm 2009.  [2] Ông Sergut Zorya, chuyên gia về nông nghiệp của WorldBank nhận xét: “Bên cạnh những tác động khách quan ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng nông nghiệp như hạn hán, xâm nhập mặn… thì nông nghiệp Việt Nam đang đối diện với những thách thức nội tại như cơ chế chính sách đất đai, trình độ sản xuất và thương hiệu. Đã vậy, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Xuất khẩu tiếp tục khó khăn cả về lượng lẫn về giá. Gạo Thái Lan có thể bán với giá 800 USD/tấn trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 400 USD/tấn”.  [3] Theo một số ghi nhận, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động rất yếu, thậm chí có xu hướng giảm. Trong số đất nông nghiệp đã chuyển nhượng thì 29% chuyển nhượng trước 1994, 41% chuyển nhượng trong giai đoạn 1994 – 2003, 30% chuyển nhượng trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Mặt khác, thị trường cho thuê đất còn kém hơn rất nhiều so với thị trường chuyển nhượng đất nông nghiệp.  [4] Có người cảnh giác: Chủ trương tích tụ ruộng đất có đi ngược lại mục đích của cuộc cải cách ruộng đất cách đây hơn 60 năm không? Nếu vậy thì mục tiêu cách mạng đã thay đổi? Đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề này? Tích tụ ruộng rất có mâu thuẫn gì với mục tiêu của phát triển nông nghiệp bền vững (tăng trưởng kinh tế, cộng đồng thịnh vượng, bảo vệ môi trường)? Đặc biệt là với sinh kế của đại đa số nông dân trong điều kiện hiện nay khi công nghiệp và dich vụ chưa thể hấp thụ hết lao động dư thừa do “mất đất” ở nông thôn? Liệu cộng đồng nông thôn có thịnh vượng được không hay sẽ gây bất ổn về xã hội?  [5] Chính những hộ nông dân này (nông trại quy mô vừa và nhỏ) là những người đã làm nên kỳ tích của nông nghiệp VN thời gian qua, họ cũng cần được đối xử bình đẳng như DN. DN được thuê đất, mua đất, vay vốn để xây dựng NNCNC thì họ cũng có quyền được thuê đất, mua đất, vay vốn để ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Nông dân với 1,5 hecta đất nông nghiệp nếu đem thể chấp ngân hàng chỉ được vay 200-300 triệu đồng, không bằng một chủ sở hữu một ngôi nhà 40m2 có thể thế chấp vay được 3-5 tỷ đồng! Cách làm này, vô hình trung đã hỗ trợ cho người giàu, làm gia tăng khoảng cách giàu-nghèo, gia tăng mâu thuẫn và các bất ổn xã hội.  [6] Trên thực tế, không ít nông hộ đã ứng dụng CNC vào sản xuất. Đa số các nông trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ của hộ nông dân đều nuôi lợn lai, hoặc lợn siêu nạc có giống gốc từ các “cường quốc” chăn nuôi châu Âu như Bỉ, Đan Mạch.., Bò giống từ Úc, Bỉ, Hà Lan… nuôi theo quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, giám sát thú y chặt chẽ, thức ăn chế biến sẵn theo quy chuẩn, v.v… Thế đã đủ để được gọi là CNC chưa?  ————-  Tài liệu tham khảo chính  1. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai – Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2013.  2. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2013.  3. Nông nghiệp Việt Nam đứng trước ngã ba đường, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-dang-dung-truoc-nga-ba-duong-20161030064014869.htm.  4. Luật đất đai 2013, NXB Chính trị Quốc gia, 2013  5. Nguyễn Ðình Bồng (2013). Chính sách tích tụ ruộng đất nhìn từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản. 847 (5-2013). tr. 54-58  6. Nguyễn Cúc và Hoàng Văn Hoan (2010). Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO. NXB Khoa học kỹ thuật. tr 98-209  7. Nguyễn Đình Bồng, Tạ Hữu Nghĩa (2010), “Phân tích, đánh giá vai trò quản lý Nhà nước tác động đến tích tụ ruộng đất”, Cục chính sách  hợp tác và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp.  8. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.  9. Tích tụ ruộng đất: Giải pháp thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, http://baoninhbinh.org.vn/tich-tu-ruong-dat-giai-phap-thyc-hien-tai-co-cau-nong-nghiep-2016121308363601p2c21.htm  10. Báo cáo số 13-BC/NN-NT ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Vụ Nông nghiệp-Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, 2016.  11. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, Báo cáo về tình hình tích tụ, tập trung đất đai của một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc, 2016  12. Dương Đình Tường, 2009. Nông nghiệp công nghệ cao: Nặng trình diễn, nhẹ hiệu quả, http://nongnghiep.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-nang-trinh-dien-nhe-hieu-qua-post36762.html  13. Đỗ Kim Chung, Nguyễn Văn Song, Trần Đình Thao, Trần Hữu Cường, Nguyễn Việt Long, Trần Thanh Phương, Nguyễn Xuân Trạch, 2017. Tích tụ đất đai và hạn điền; Trao đổi cá nhân    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Tiếc thương sinh thái      Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói – hay thậm chí là giọng hát – đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).      Thuyền umiaq của cư dân bản địa Bắc Cực trước biển băng tan. Ảnh: Kiliii Yuyan    Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hóa mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lý, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.      Tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hóa mật thiết với môi trường tự nhiên.      Trước đây, vào năm 2005, nhà triết học Glenn Albrecht đã tạo ra từ “solastalgia” (tạm dịch là “nỗi luyến tiện nghi”) để miêu tả cảm xúc nhớ nhà ngay cả khi vẫn đang ở nhà bởi môi trường quê nhà đã trải qua các thay đổi nghiêm trọng. Đây là một nỗi nhớ nhà chưa từng có tiền lệ và nghiêm trọng hơn cả lời tâm sự “về Edo mà nhớ Edo” của nhà thơ Nhật Matsuo Basho ở thế kỷ XVII: Basho chỉ hụt hẫng vì quê nhà đã thay đổi, còn một người “luyến tiện nghi” còn thấy quẫn bách và bất lực bởi họ cho rằng môi trường quê nhà – thứ gắn bó với họ suốt bao lâu nay – đang thay đổi theo chiều hướng tiêu cực và mỗi cá nhân không có cách nào đảo ngược lại quy trình đó. Chẳng hạn, một người nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long trước lũ lụt và hạn hán ngày càng dâng cao sẽ cảm thấy bất lực và luyến tiếc quá khứ khi cuộc sống của họ còn dễ chịu và điều kiện làm ăn của họ còn phong phú và dồi dào. Trong khuôn khổ của Cunsolo và Ellis, khái niệm “luyến tiện nghi” dường như là biểu hiện dễ nhận dạng nhất của nỗi tiếc thương sinh thái.    Tuy nhiên, nhiều biểu hiện khác của tiếc thương sinh thái không dễ bày tỏ như nỗi luyến tiện nghi. Như bất kỳ vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?” Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guaraní đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hóa của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. Trong một ví dụ không mấy tương đồng, các nhà sinh học biển nghiên cứu Rạn san hô Great Barrier ở Australia cũng đã ghi nhận mức độ u buồn nghiêm trọng trước cảnh tượng rạn san hô đang dần dần biến mất do biến đổi khí hậu. Khác với người Brazil bản địa, các nhà khoa học này không cảm thấy bản sắc văn hóa của mình bị đe dọa, song họ vẫn trải qua một cuộc khủng hoảng hiện sinh về sự sống còn của các loài sinh vật biển mà họ nghiên cứu và của thế hệ con cháu mình. Trả lời tạp chí Nature năm 2019, nhà sinh thái biển John Pandolfi, người đã nghiên cứu Rạn san hô Great Barrier được 30 năm, thừa nhận: “Tôi chẳng quan tâm nếu thế giới tiếp diễn mà không có con người, nhưng tôi có quan tâm về việc tôi đang trút những nợ nần lên con cái mà tôi chẳng bao giờ trả được.” Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu – cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lý nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. Nỗi tiếc thương sinh thái dường như bủa vây lấy họ, khiến việc mở lòng hay yêu cầu giúp đỡ cũng thật khó khăn. Các nhà hoạt động người Mỹ bản địa thường xuyên bị giới truyền thông Hoa Kỳ chỉ trích là “thiếu lý trí” và “không trung lập” vì đã để cảm xúc ảnh hưởng đến công cuộc hoạt động vì môi trường của mình; còn một số nhà khoa học thực địa thì e ngại phát biểu trước công chúng, vì theo lời nhà sinh lý học san hô David Suggett, “thật khó để các nhà nghiên cứu giữ được diện mạo khách quan trong khi biểu lộ rằng họ quan tâm đến những hệ sinh thái mà họ nghiên cứu.”      Bìa album Punisher của Phoebe Bridgers, được tạp chí Esquire miêu tả là “âm nhạc cho tận thế.” Ảnh: Olof Grind    Tiếc thay, sau hàng thập kỷ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kỳ, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kỳ lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Ngoài ra, giới trẻ cũng bị ảnh hưởng ở cả các nước ít hoặc chưa chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu như Pháp (58% “rất hoặc cực kỳ lo”, 35% bị ảnh hưởng trong cuộc sống thường ngày), Anh (49% “rất hoặc cực kỳ lo”, 28% bị ảnh hưởng trong cuộc sống thường ngày) và Phần Lan (44% “rất hoặc cực kỳ lo”, 31% bị ảnh hưởng trong cuộc sống thường ngày). Một người trẻ đọc những con số này cũng sẽ chẳng ngạc nhiên, bởi nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu. Tại Hoa Kỳ, một trong những album nhạc có ảnh hưởng vang dội nhất trong giới thanh thiếu niên năm 2020 là Punisher của ca sĩ sinh năm 1994 Phoebe Bridgers, người khắc họa một thế giới u sầu và rối loạn trước khi kết thúc album với lời hát “Cái kết đến rồi” (The end is here) bị cắt đứt bởi những tiếng gào thét. Còn trên các mạng xã hội như Tumblr hay TikTok, hàng loạt người trẻ hưởng ứng “cottagecore”, phong cách thẩm mỹ xoay quanh một lối sống đồng quê được lý tưởng hóa trong đó con người hằng ngày trồng cây, hái nấm và chăn gia súc, vừa thân thiện với thiên nhiên, vừa tách biệt khỏi áp lực và lo âu của cuộc sống hiện đại. Rõ ràng, biến đổi khí hậu không những ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần của những người trẻ mà còn đẩy họ tới những phản ứng khác nhau: người thì đối mặt với hiện thực, người thì tìm cách thoát khỏi nó. Một số người trẻ khác thì còn tham gia biểu tình hoặc hoạt động chính trị vì môi trường, tiêu biểu nhất là phong trào bãi khóa vì khí hậu (School Strike for Climate) kể từ năm 2018 của các học sinh, sinh viên ở hơn 150 quốc gia khác nhau.      Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.      Tiếc thương sinh thái và các cảm xúc khác do biến đổi khí hậu quả thật đều là các hiện tượng hoàn toàn mới của thế kỷ XXI, song chúng vẫn để lại tác động muôn hình vạn trạng. Như đã thảo luận ở phần trên, những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của những cảm xúc mới này bao gồm các cộng đồng người bản địa, các nhà khoa học thực địa nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cùng với các thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong một thế giới nơi sự nhận thức về biến đổi khí hậu đã thẩm thấu vào lời ăn tiếng nói hằng ngày. Ngoài ra, trong một thế giới nơi những cộng đồng bên lề xã hội thường phải sống ở những địa điểm có nguy cơ bị biến đổi khí hậu hủy diệt cao hơn, chúng ta cũng phải đề cập tới cả những người nghèo, những người da màu, v.v. Có thể thấy, ảnh hưởng về sức khỏe tâm thần của biến đổi khí hậu đã lan rộng ra cả nhân loại, chứ không còn là một vấn đề của một vài cá nhân nhất định nữa.    Nữ ca sĩ nhạc rock độc lập Mitski Miyawaki, được coi như một đại diện nói lên tiếng lòng cô độc của thế hệ trẻ. Trong bài hát Nobody, cô đã lấy việc con người hủy hoại Trái đất làm phép ẩn dụ cho khát vọng giao cảm với đời và tự hỏi: “Sao Kim, hành tinh tình ái, đã bị sự ấm lên toàn cầu hủy diệt. Phải chăng cư dân của nó cũng đã muốn quá nhiều?”    Bởi vậy, khi chuẩn bị cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu, sẽ là không đủ nếu ta chỉ nghĩ đến những biện pháp mang tính kinh tế mà bỏ qua việc đối diện và chữa lành những tổn thương và cú sốc về tâm lý. Biến đổi khí hậu đòi hỏi các chuyên gia tâm lý học và tâm thần học phải vào cuộc để đảm bảo sự khỏe mạnh của cộng đồng nói chung. Chính vì thế, biến đổi khí hậu đã, đang, và sẽ trở thành một áp lực nữa đè nặng lên những hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần vẫn còn chưa phát triển ở nhiều quốc gia. Tại Hoa Kỳ, các nhà tâm thần học đã theo dõi và phân tích được sang chấn tâm lý của những cộng đồng da màu ở Louisiana sau bão Katrina (2005) và bão Ida (2019), thì ở Việt Nam, ảnh hưởng về sức khỏe tâm thần của các thiên tai như đợt Lũ chồng lũ ở miền Trung năm 2020 vẫn còn là một chủ đề còn bỏ ngỏ. Ngoài ra, tiếc thương sinh thái – cùng với các cảm xúc tương tự – đòi hỏi một sự thừa nhận từ các nền giáo dục, bởi lẽ việc giảng dạy về biến đổi khí hậu sẽ bị thiếu sót trầm trọng nếu như những học sinh trẻ tuổi không được chuẩn bị trước cho hiện thực nghiệt ngã và nghiêm trọng đến mức ăn sâu vào trong tâm trí của môi trường thế kỷ XXI. Để dạy về biến đổi khí hậu, các nhà giáo dục sẽ cần phải hợp tác chặt chẽ với các chuyên gia tâm lý – một điều hãy còn hiếm gặp ở Việt Nam – để vừa truyền tải thông tin một cách kỹ càng, vừa đảm bảo rằng những thế hệ trẻ học về chủ đề này sẽ không rơi vào tâm thế của kẻ bại trận và từ bỏ mọi hạnh phúc vì cho rằng mình chẳng thể làm gì được nữa. Trong một bài viết vào năm 2020 trên tạp chí Lancet Planetary Health, nhóm tác giả dẫn đầu bởi Ashlee Cunsolo đã một lần nữa khẳng định rằng tiếc thương sinh thái là một phản ứng hoàn toàn bình thường, nhưng vẫn cần “một sự phản hồi cấp bách từ các bác sĩ lâm sàng, các chuyên gia y tế công cộng, các gia đình, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách”.       Tranh tường vẽ Greta Thunberg tại thành phố Bristol, Anh. Ảnh: Thenation.  Ngoài ra, khi hỗ trợ một cộng đồng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, quan tâm đến sự tiếc thương sinh thái của họ là không đủ mà còn phải hiểu cả những nỗi đau, những trở ngại khác về lịch sử, văn hóa, xã hội của họ. Không thể chỉ nói đến nỗi tiếc thương sinh thái của những bộ lạc bản địa ở châu Mỹ mà không đề cập tới nạn diệt chủng nhắm đến họ hàng trăm năm nay, hay là việc các tập đoàn nỗ lực vận động hành lang để được khai thác dầu mỏ trên đất của các bộ lạc đó. Không thể chỉ nói tới nỗi tiếc thương sinh thái của những người trẻ mà không đề cập tới sự kỳ thị tuổi tác, sự thờ ơ và cả sự quan ngại mang tính phô diễn mà các nhà hoạt động trẻ tuổi như Greta Thunberg hay Vanessa Nakate thường xuyên gặp phải chỉ vì các nỗ lực của họ bị đổ cho sự bồng bột của tuổi trẻ. Để đối mặt và đối phó với tiếc thương sinh thái, lo âu sinh thái (eco-anxiety) hay các hiện tượng tâm lý khác mà biến đổi khí hậu gây ra, những diễn ngôn về các vấn đề này cần chuyển hướng từ cá nhân (theo kiểu “điều đó tùy thuộc hành động của bạn, chỉ thuộc vào bạn mà thôi”) sang các cấu trúc, các hệ thống và các quyền lực khiến cho tổng lượng CO2 mà các núi lửa giải phóng vào bầu khí quyển mỗi năm chỉ bằng 1.8% lượng CO2 mà con người thải ra trong cùng khoảng thời gian đó. Trong một nghiên cứu gây chú ý về nỗi lo của những người trẻ trước sự không hành động của chính phủ về biến đổi khí hậu, nhóm của Caroline Hickman, giảng viên tại Đại học Bath, Anh đã viết: “Trước khi chúng ta có thể đưa ra cho các thế hệ trẻ một thông điệp hy vọng, trước tiên chúng ta phải thừa nhận những chướng ngại vật cần phải vượt qua.” Nói bao quát hơn, việc gợi ý một tương lai phía trước sẽ chẳng có tác dụng và chẳng thuyết phục được ai nếu như gốc rễ của những nỗi tiếc thương, u sầu và lo âu của con người về biến đổi khí hậu vẫn chưa được giải quyết ở hiện tại.  Thật khó mà dự đoán được liệu sẽ có những hiện tượng tâm lý và sinh lý nào khác có thể xuất hiện trong viễn cảnh nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên thêm 1.5°C, hay tồi tệ hơn là 2°C. Tuy nhiên, có lẽ điều cần làm không phải là tìm cách phác họa những tương lai đó. Ngày hôm nay, nhân loại cần đối phó với tiếc thương sinh thái và những nỗi niềm khác về khí hậu, trước hết là bằng việc thừa nhận các cảm xúc này và căn nguyên của chúng, rồi sau đó bắt tay vào cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần để phù hợp với thứ chỉ có thể gọi là một thế giới “kiểu Ovid”1 nơi những thân thể đang và sẽ còn hóa thành các dạng mới.    Tình trạng biến đổi khí hậu do con người đang để lại hậu quả ở cả cấp vi mô và vĩ mô, trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Nếu ở loài thằn lằn anole nâu, màng chân của chúng đang tiến hóa với tốc độ chóng mặt để thích ứng với những mùa bão ngày càng khắc nghiệt, thì ở con người, tâm lý của chúng ta cũng đang biến thiên nhanh không kém, dẫn đến những vấn đề sức khỏe tâm thần mà người ở các thế kỷ trước sẽ chẳng thể nào đồng cảm được. □  —-  1 Một thế gợi nhắc từ câu thơ của nhà thơ Ovid (La Mã): “In nova fert animus mutatas dicere formas corpora”, nghĩa là “Tôi hát về các thân thể chuyển hóa thành các dạng khác nhau.  —  Albrecht, G. (2005), “Solastalgia: a new concept in health and identity”, PAN: Philosophy Activism Nature, (3), pp. 41-55.  Conroy, G. (2019), “‘Ecological grief’ grips scientists witnessing Great Barrier Reef’s decline”, Nature, 573(7774), pp. 318-320.  Cunsolo, A. and Ellis, N.R. (2018), “Ecological grief as a mental health response to climate change-related loss”, Nature Climate Change, 8(4), pp. 275-281.  Cunsolo, A., Harper, S.L., Minor, K., et al (2020), “Ecological grief and anxiety: the start of a healthy response to climate change?”, The Lancet Planetary Health, 4(7), pp. E261-263.  Hickman, C., Marks, E., Pihkala, P., et al (2021), “Climate anxiety in children and young people and their beliefs about government responses to climate change: a global survey”, The Lancet Planetary Health, 5(12), pp. E863-873.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Tiêm vaccine COVID: Ưu tiên người già để giảm thiểu tử vong      Trong điều kiện nguồn cung vaccine còn hạn chế, phương án tiêm ngay cho người già sẽ vừa đạt được mục tiêu giảm được thiệt hại sinh mạng, giảm số người nhập viện và tránh sụp đổ hệ thống y tế, nhờ đó nền kinh tế có thể sớm mở cửa.      Tiêm vaccine tại TP HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.   Việt Nam đang ở trong một tình thế lưỡng nan – nền kinh tế không chịu đựng nổi giãn cách quá lâu, nhưng nếu mở cửa thì nền y tế cũng không chịu đựng được số ca nhiễm tăng quá cao. Nếu y tế sụp đổ cũng sẽ dẫn tới sụp đổ kinh tế. Chúng ta đều biết, với biến chủng Delta, chiến lược kiểm soát COVID đưa số ca mắc về 0 là điều vô cùng khó khăn, nhất là khi số ca nhiễm của Việt Nam đã lên gần nửa triệu người. Việt Nam chưa chủ động được nguồn cung vaccine, vì vậy vấn đề quan trọng là tính toán chiến lược tiêm sao cho vừa giảm tối đa số ca tăng nặng và tử vong vừa nới lỏng giãn cách một cách sớm nhất có thể với một lượng vaccine khan hiếm.   Mục tiêu phủ 50% dân số hay 100% người già?   Có thể nói trong thời gian qua, chiến lược tiêm vaccine của Việt Nam là theo đuổi mục tiêu tối thiểu đạt 50% người từ 18 tuổi trở lên được tiêm vaccine phòng COVID trong năm 2021. (Quyết định số 3355 của Bộ Y tế, ngày 8/7/2021 có xếp người trên 65 tuổi, người có bệnh mãn tính nằm trong diện được tiêm, nhưng trong các hướng dẫn của Bộ Y tế thì người trên 65 tuổi và người bị bệnh nền lại cần thận trọng khi tiêm.(1) Chỉ đến gần đây, người từ 65 tuổi trở lên và người có bệnh nền mới không còn bị xếp vào nhóm “thận trọng tiêm chủng” (Quyết định 3802 của Bộ Y tế, ngày 12/8), và Công văn số 6202 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 2/8 chỉ đạo “tổ chức tiêm chủng cho tất cả các trường hợp từ 18 tuổi trở lên trên địa bàn; ưu tiên tiêm chủng cho lực lượng y tế tuyến đầu, người cao tuổi, các trường hợp có bệnh lý nền theo nghị quyết 21”.(2)  Theo chúng tôi, chiến lược tiêm chủng như thời gian qua là không tối ưu cho mục tiêu “giảm ca tăng nặng và tử vong”. Việc tiêm dàn trải mà không tập trung vào nhóm có nguy cơ tử vong và nhóm tăng nặng nhất sẽ tiếp tục khiến ngành y tế quá tải, và việc kéo dài giãn cách xã hội sẽ không giúp chúng ta phục hồi được nền kinh tế.   Phân tích tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm COVID theo độ tuổi ở Việt Nam (74.652 ca) của nhóm chuyên gia 5F cho thấy nhóm người già từ 65 tuổi trở lên có tỷ lệ tử vong rất cao (3). Trong khi đó, tỷ lệ tử vong với nhóm trẻ tuổi là thấp hơn rất nhiều. Điều này lý giải một phần vì sao tỷ lệ tử vong do COVID-19 ở TP. HCM cao hơn Bình Dương rất nhiều (3,9% so với 0,74%). Trong khi TP. HCM có cơ cấu dân cư đa dạng, người già ở chung với người trẻ nhiều, thì các ca nhiễm COVID-19 của Bình Dương chủ yếu tập trung ở bốn huyện sản xuất công nghiệp, gồm Tân Uyên, Bến Cát, Dĩ An, Thuận An và người mắc chủ yếu là công nhân, trẻ tuổi (theo thông tin từ cổng thông tin điện tử Bình Dương thì số ca nhiễm mới của bốn huyện này chiếm đến hơn 95% tổng số ca nhiễm mới, ngày 30/8) (4).    Biểu đồ 1: Tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm theo độ tuổi. Nguồn số liệu của nhóm chuyên gia 5F(5)   Như vậy, với nguồn cung vaccine còn hạn chế như hiện nay, để sớm mở cửa nền kinh tế, giảm thiểu tối đa tác động của COVID đến nền kinh tế, giảm thiểu số ca tử vong, giảm số ca nhập viện và giảm gánh nặng cho y tế, thì việc cần làm ngay chính là thay đổi chiến lược tiêm vaccine. Thay vì đặt mục tiêu tiêm phủ cho 50% dân số đến hết 2021, thì chúng ta cần đặt mục tiêu tiêm phủ cho 100% (8) người từ 65 tuổi trở lên và người có bệnh nền. Nếu còn vaccine tiếp tục phủ xuống độ tuổi 50-64, đồng thời tiêm cho các nhóm lao động thiết yếu như các shipper, lái xe chuyên chở hàng hóa, những người là đầu mối trong chuỗi cung ứng.       Mô phỏng cho thấy, tiêm rải đều từ 18 đến 74 tuổi sẽ làm tăng số người tử vong cao gấp bốn lần và tăng số người nhập viện gấp 3,6 lần so với tiêm vaccine cho người già từ 50 tuổi trở lên.      Tử vong tăng vọt nếu không ưu tiên người già   Để làm rõ hơn luận điểm của mình, chúng tôi xây dựng một mô hình mô phỏng đơn giản, dựa trên số liệu của Việt Nam một cách tối đa và có tham khảo số liệu của một số nước. Chúng tôi so sánh hai kịch bản tiêm: 1) ưu tiên tiêm cho người già; 2) không ưu tiên tiêm người già mà tiêm dàn trải ở các nhóm trong độ tuổi từ 18-74 như hiện nay. Kết quả cho thấy nếu không ưu tiên người già thì tỉ lệ tử vong và nằm viện cao hơn hẳn. Điều đó dẫn đến hệ quả “thiệt hại kép” là gánh nặng y tế rất lớn và khó mở cửa sớm nền kinh tế sớm.    Mô phỏng của chúng tôi căn cứ vào số ca nhiễm COVID tăng hằng ngày của Việt Nam trong hơn một tháng qua cũng như giả định Việt Nam có thêm 1 triệu ca nhiễm. Nếu dựa vào tỉ lệ tử vong hiện nay của Việt Nam, thì ước lượng số người tử vong sẽ là 35.927 người. Ước lượng số người phải nhập viện nếu không được tiêm vaccine COVID sẽ là 160.000 người. Nếu tiêm vaccine đầy đủ cho dân số từ 18 tuổi trở lên (tức là phải có 140 triệu liều vaccine COVID) thì số lượng người nhập viện sẽ giảm xuống còn 14.530 người. Mô phỏng cho thấy số lượng tử vong cũng như số lượng người nhập viện nếu không tiêm vaccine COVID đặc biệt cao và chủ yếu tập trung ở người già.     Bảng 1. Kết quả ước lượng  Chú thích: * Giả định theo tỉ lệ nhập viện theo từng nhóm lấy từ số liệu của Mỹ vì chúng tôi không tìm thấy tỷ lệ nhập viện ở Việt Nam. (6) ** Ước lượng dựa trên giả định vaccine phổ biến hiện nay như AstraZenaca và Pfizer giúp giảm tỉ lệ nhập viện 92%. Dân số theo tuổi được tính toán theo Điều tra Hộ Gia đình năm 2020.   Việt Nam không thể có ngay 140 triệu liều vaccine. Dựa trên thông tin đại chúng, chúng ta có thể đưa ra giả thiết có tính thực tế là trong trong vòng 2-3 tháng tới Việt Nam có thể nhận được 50 triệu liều vaccine, để tiêm đủ hai liều cho 25 triệu người. Tương tự như trên, nếu chúng ta giả thiết, số lượng ca nhiễm COVID là 1 triệu người và xây dựng hai kịch bản:  + Kịch bản 1: tiêm cho 25 triệu người tính từ người già nhất trở xuống, khi đó ta sẽ tiêm đủ cho gần hết người già từ 50 tuổi trở lên.   + Kịch bản 2: tiêm cho 25 triệu người rải đều từ người 18 tuổi đến 74 tuổi, tiêm theo trọng số các nhóm tuổi, nhóm nào đông hơn sẽ được tiêm nhiều hơn.    Kết quả mô phỏng của hai kịch bản trên được tính cho hai chỉ số (i) số người chết và (ii) số người nhập viện và trình bày tại Biểu đồ số 2 và 3.       Không ưu tiên hàng đầu tiêm vaccine cho người già sẽ dẫn đến hệ quả “thiệt hại kép”: quá tải y tế rất lớn và khó mở cửa sớm nền kinh tế.      Theo kịch bản thứ nhất, tổng số người chết vì COVID là 6.252 người. Nếu theo kịch bản thứ hai thì tổng số người chết vì COVID lên đến 25.093 người, gấp bốn lần so với kịch bản thứ nhất. Khi làm theo kịch bản thứ hai chúng ta có thể cứu được người trẻ khỏi tử vong nhưng thực chất số lượng người trẻ cần cứu rất ít do tỷ lệ tử vong của nhóm người trẻ đã rất thấp kể cả khi không được tiêm vaccine. Kịch bản tiêm cho người già trước sẽ cứu được số lượng lớn sinh mạng và giảm áp lực cho ngành y tế hơn, giúp ngành y tế bình tĩnh thu dung và điều trị bệnh nhân, thì có thể tỉ lệ tử vong sẽ không tới 3,5% như hiện nay (tỉ lệ tử vong ở mức chung của thế giới là 2% (7), hoặc lạc quan hơn là như trước đợt dịch thứ tư, chúng ta giữ được tỉ lệ tử vong thấp, thường chỉ ở dưới 1%).    Tương tự như vậy, việc tập trung tiêm chủng cho người già còn giúp giảm được gánh nặng y tế (8). Chúng tôi cũng xây dựng hai kịch bản như trên để xem số lượng người nhập viện trong hai kịch bản khác nhau như thế nào (9). Theo kịch bản thứ nhất, tổng số người nhập viện phải điều trị là 37.672 người, trong khi đó số người phải nhập viện ở kịch bản thứ hai lên tới 137.043 người, gấp 3.6 lần so với số người nhập viện ở kịch bản 1. Đương nhiên, khi Việt Nam giảm được số người nhập viện do COVID sẽ có nhiều nguồn lực để cứu chữa những người còn lại hơn nên số lượng tử vong cũng sẽ giảm mạnh theo. Biểu đồ 3 minh họa số lượng người nhập viện theo độ tuổi trên cơ sở hai kịch bản được xây dựng.     Bài học kinh nghiệm từ Đức và Indonesia  Để các nhà quản lý tiếp tục cân nhắc chiến lược tiêm chủng, chúng tôi cung cấp thông tin hai trường hợp thuộc hai “trường phái” tiêm vaccine khác nhau:   Indonesia ưu tiên tiêm vaccine cho người trẻ trước (10) với lập luận đây là nhóm năng động, di chuyển nhiều, dễ phơi nhiễm, được tiêm thì sẽ bảo vệ được gia đình và người già (và có điều chỉnh tiêm cho người già sau (11).   Còn nước Đức ưu tiên tiêm vaccine cho người già (12), với thứ tự: ưu tiên thứ nhất là những người trên 80 tuổi, những người làm trong các cơ sở y tế; ưu tiên thứ hai là những người từ 70-79 tuổi, những người có bệnh nền thuộc loại nặng; ưu tiên thứ ba là những người từ 60-69 tuổi, những người có bệnh nền thuộc loại nhẹ; ưu tiên thứ tư là những người dưới 60 tuổi nhưng trên 16 tuổi.   Ngày 13/1/2021, chỉ có 1,1% dân số Đức được tiêm vaccine, số lượng tử vong do COVID là 1.201 người, trên tổng số 23.461 người nhiễm (13). Đến ngày 15/4/2021, tỷ lệ tiêm vaccine mũi một chiếm 18,7% dân số và có 6,5% dân số được tiêm đủ hai liều vaccine, số tử vong chỉ là 328 người trên 30.634 người nhiễm. Và cho đến nay tỷ lệ người dân tiêm đủ hai liều vaccine ở Đức là 60,6%, tỷ lệ tử vong do COVID chỉ khoảng 25 người một ngày trong khi số ca nhiễm theo ngày là hơn 11.000 người. Như vậy với chiến lược tiêm vaccine khôn ngoan trong giai đoạn còn khan hiếm vaccine, Đức đã giảm mạnh được mức tử vong và đã sớm đưa nền kinh tế hoạt động trở lại.   Ngược lại, với Indonesia, đến ngày 1/9, mặc dù 13% dân số đã được tiêm mũi hai và 23% dân số đã được tiêm mũi một, nhưng tỷ lệ tử vong do COVID rất lớn (14), hơn 133 nghìn người tử vong trong số hơn 4 triệu người bị nhiễm (tỉ lệ tử vong khoảng 3,3%). Tiêm vaccine chủ yếu là để giúp ngăn ngừa tăng nặng và tử vong cho người được tiêm chứ chưa thể giúp đạt miễn dịch cộng đồng.  Tóm lại, khi số lượng tử vong do COVID gây ra là nhỏ thì số lượng người mắc sẽ không còn quá nghiêm trọng nữa và khi đó nền kinh tế có thể dần mở cửa trở lại được. Nhưng để đạt được trạng thái đó sớm thì Việt Nam cần phải thay đổi ngay và luôn chính sách tiêm vaccine trong thời gian tới. Vaccine không có tác dụng giảm lây nhiễm COVID, mà chỉ có tác dụng làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ nhập viện. Cần phải đặt ưu tiên người già, người làm việc trong cơ sở y tế lên hàng đầu. Chỉ như vậy mới tránh được “thiệt hại kép” cả về sinh mạng người, đổ vỡ y tế và sớm mở cửa nền kinh tế.□  —  Về các tác giả:   TS Hoàng Xuân Trung, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, TS Nguyễn Ngọc Anh, Trung tâm DEPOCEN, TS. Đào Nguyên Thắng, trường Đại học Osaka, Nhật Bản. Bài viết thể hiện quan điểm của các tác giả, không phải là quan điểm của bất kỳ tổ chức nào.  (1) https://giadinh.net.vn/y-te/thay-doi-moi-nhat-tiem-vaccine-covid-19-cho-nguoi-tren-65-tuoi-mac-benh-nen-can-than-trong-20210803082701876.htm   (2) https://ncov.moh.gov.vn/web/guest/-/6847426-6824  (3) Theo phân tích này, cứ 10 người già từ 75 trở lên mắc COVID thì có 5 người tử vong. Với nhóm người già 65-74 tuổi, cứ 10 người mắc COVID thì có gần 3 người tử vong. Với nhóm 50-64 tuổi, cứ 10 người mắc thì có gần 1 người tử vong. Đối với nhóm từ 40-49, tỷ lệ tử vong thấp hơn hẳn, một 100 người mắc COVID chỉ có khoảng 2 người tử vong. Tỷ lệ tử vong lại càng giảm mạnh nữa ở các nhóm trẻ hơn. Trong 1.000 người nhóm 30-39 tuổi mắc thì có 7 người bị tử vong, 1.000 người nhóm 18-29 tuổi mắc thì mới có hơn 1 người tử vong (tỉ lệ này thấp hơn tỉ lệ ung thư gan ở Việt Nam – khoảng 2,3 trên 1.000 người). Tỷ lệ tử vong cực thấp cho nhóm 0-17, nếu 10.000 người mắc COVID thì chỉ có 5 người tử vong. https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/doi-pho-voi-covid19-ngan-han-va-lau-dai-de-giam-thiet-hai/20210901112035490p1c785.htm   (4) https://www.binhduong.gov.vn/thong-tin-tuyen-truyen/2021/08/570-ngay-30-8-2021-binh-duong-co-them-2-328-benh-nhan-xuat-vie  (5) Nguyễn Thu Anh, Đối phó với covid-19 ngắn hạn và lâu dài: Để giảm thiệt hại? https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/doi-pho-voi-covid19-ngan-han-va-lau-dai-de-giam-thiet-hai/20210901112035490p1c785.htm  (6) https://www.statista.com/statistics/1122354/covid-19-us-hospital-rate-by-age/?  (7) https://www.worldometers.info/coronavirus/  (8) Chúng tôi giả định tiêm phủ 100% là ưu tiên tập trung các khu vực dân cư đông đúc trước, một vài khu vực hẻo lánh thực chất cũng trong điều kiện khá giãn cách nên có thể chờ sau.  (9) Theo số liệu báo cáo thì tỷ lệ người mắc Covid-19 có dấu hiện trung bình và nặng, chiếm 16%. Trong bài viết này, lấy số liệu 16% người nhập viện trong số ca mắc Covid-19 để phân tích số người nhập viện theo tuổi. https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/ti-le-tu-vong-do-covid-19-theo-nhom-tuoi-tai-viet-nam-762461.html   (10) https://www.straitstimes.com/asia/se-asia/younger-people-get-covid-19-vaccines-first-in-indonesias-unusual-rollout?  (11) https://jakartaglobe.id/news/indonesia-begins-vaccinating-elderly-citizens-public-sector-workers  (12) https://www.bundesgesundheitsministerium.de/fileadmin/Dateien/3_Downloads/C/Coronavirus/Verordnungen/CoronaImpfV_EN_080221.pdf?  (13) https://www.worldometers.info/coronavirus/country/germany/    (14) https://corona.jakarta.go.id/en/data-pemantauan    Author                Hoàng Xuân Trung - Nguyễn Ngọc Anh - Đào Nguyên Thắng        
__label__tiasang Tiền đề nào cho phòng chống tham nhũng?      Để không lặp lại vụ Dương Chí Dũng, phải cải  cách tách bạch chức năng quản lý nhà nước khỏi chức năng kinh doanh,  theo tiêu chí: bảo đảm tính độc lập tự chịu trách nhiệm của mọi doanh  nghiệp nhà nước như mô hình ở các nước đã phát triển, không chỉ để loại  trừ tiền đề tham nhũng mà còn bảo đảm cho nền kinh tế nước ta được thế  giới thừa nhận là nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.  &#160;    Vụ xét xử Dương Chí Dũng diễn ra cùng tháng với nhiều vụ tham nhũng, vụ lợi chấn động trên thế giới: Vụ cựu Tổng thống Đức Wulff hầu toà vì 759,30 Euro từ 14.11.2013 hiện chưa kết thúc; Vụ Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Đức Pofalla từ chối tham gia nội các để giữ một chức giám đốc hãng đường sắt quốc gia DB, đang nóng bỏng chính trường; Con ba Bộ trưởng Thổ Nhĩ Kỳ buôn lậu, hối lộ, bị điều tra dẫn tới khủng hoảng chính trị hiện nay; Cựu Tổng thống Pakistan Asif Ali Zardari bị truy tố tội biển thủ một triệu đô la. Tất cả đều nhằm mục đích phòng chống tham nhũng, vụ lợi. Vậy tiền đề, môi trường, nền tảng xã hội dẫn tới các vụ án trên giống và khác nhau ở chỗ nào?   Vụ Pofalla  Tháng trước, DB cho biết, từ lâu hãng đã có ý định tìm một giám đốc phụ trách kinh tế, quan hệ với chính quyền và hoạch định chính sách, sẽ được thông qua cuộc họp thường kỳ cuối tháng 3.2014. Sau đó lộ tin Tổng Giám đốc DB muốn tiến cử cựu Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Pofalla, 54 tuổi, từng làm Tổng Thư ký Đảng CDU, phó Trưởng đoàn Nghị sỹ Đảng CDU/CSU, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng nhiệm kỳ qua 2009-2013. Ngày 13.12.2013, Pofalla tuyên bố rời chính trường không tham gia nội các mới, để tập trung cho việc riêng. Tin DB dự kiến tiến cử Pofalla ngược với lý do trong tuyên bố của ông làm sốc nhiều chính khách, gây sốt chính trường Đức.   Vấn đề nằm ở chỗ, lúc đương chức, Pofalla được giao nhiệm vụ phụ trách chính sách giao thông đường sắt, đã ủng hộ triệt để DB, chống kịch liệt dự luật tách bạch giữa kinh doanh vận tải tầu với hạ tầng đường sắt, nhà ga, vốn xưa nay đều thuộc độc quyền DB. Dự luật đó dựa trên Gói Chính sách Cải cách đường sắt khối EU, gồm ba quy phạm và ba nghị định. Theo đó, từ tháng 12.2019 sẽ đa dạng hoá kinh doanh giao thông đường sắt. Mọi doanh nghiệp được quyền tham gia sử dụng hạ tầng đường sắt để kinh doanh. Nước nào không thực hiện sẽ không được tham gia vào giao thông đường sắt các nước EU khác. Với thế độc quyền xưa nay, DB hưởng lợi mỗi năm từ ngân sách nhà nước tới 4 tỷ Euro đầu tư cho đường sắt, ga tầu, thu lợi từ cơ sở hạ tầng này tới 593 triệu Euro/năm, chiếm 45% tổng lợi nhuận trước thuế, nghĩa là một nửa dựa vào nhà nước; Với chính sách trên sẽ bị mất. Can thiệp tiếp theo, Pofalla đã vận động ba quốc vụ khanh có quan điểm chỉ trích dự án xây dựng nhà ga Stuttgart tốn kém bạc tỷ, để họ rút ý kiến. Dự án này, nếu bị đình chỉ, DB sẽ phải trả lại ngân sách đã đầu tư 800 triệu Euro, còn tiếp tục thì được rót thêm hàng tỷ Euro tiếp theo hàng năm. Trong nhiệm kỳ 4 năm qua, Pofalla có số lần làm việc riêng với DB mức kỷ lục 9 buổi. Việc DB tiến cử Pofalla làm Giám đốc với mức lương khủng 1,2 – 1,8 triệu Euro/năm, gấp tới 6-9 lần lương bộ trưởng của ông 200.000 Euro/năm, gấp 4-6 lần lương Thủ tướng, bị dư luận và chính giới coi là lại quả cho những đóng góp của ông đối với DB trên cương vị Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, đồng nghĩa vụ lợi lạm dụng chức quyền, còn DB thì bị coi đã cài người nằm vùng trong Chính phủ.   Theo nguyên lý, Đảng đại diện cho lợi ích và Quốc hội “đại biểu cao nhất” của nhân dân, không thể không phản ứng trước truyền thông vốn được coi là tiếng nói của người dân, nếu không muốn bị người dân bất tín nhiệm gạt khỏi chính trường bằng lá phiếu của họ. Đó chính là tiền đề động lực tạo ra quy trình tự động hình thành chính sách ở Đức xuất phát từ đòi hỏi thực tế dù nhậy cảm, khó khăn tới đâu (cái mà khoa học gọi là quy luật): Mọi chính khách, nghĩ sỹ liên quan đều phải lập tức lên tiếng, đề xuất chính sách ứng phó. Chủ tịch Ủy hội EU, Günther Oettinger dẫn quy phạm áp dụng cho quan chức EU, cấm làm việc cho doanh nghiệp trong thời hạn 18 tháng sau khi hết nhiệm kỳ, được gọi là thời gian chờ việc. Chủ tịch Đảng Linkspartei tuyên bố sẽ đưa vụ Pofalla ra quốc hội thảo luận. Đảng Xanh đệ đơn khẩn lên Quốc hội đòi thông qua dự luật quy định thời gian chờ việc đối với thành viên chính phủ phải ít nhất ba năm. Còn Chủ tịch đoàn Nghị sỹ SPD đòi thời gian chờ đợi 12-18 tháng. Hiệu ứng tức thì, Hội đồng quản trị DB ra thông cáo sẽ họp bất thường cuối tháng 1.2014 để quyết định nhân sự Pofalla thay vì theo kế hoạch diễn ra vào tháng 3.2014. DB dự kiến, Pofalla sẽ nhận một chức tư vấn với tiền lương thấp, và tới năm 2016 mới có thể tiến cử vào Hội đồng Quản trị, và từ 3.2017 mới tính tới trao đúng nhiệm vụ như đã dự kiến tiến cử trước đây.   Vụ Pofalla không chỉ tự động được giải quyết mà quan trọng hơn được dùng làm căn cứ thực tế để thể chế hoá quyết tâm phòng chống tham nhũng, vụ lợi, thành văn bản lập pháp, hữu hiệu kịp thời.  Truy tố cựu Tổng thống Wulff  Ở Đức, trong khi quyền bảo mật riêng tư được hiến định, đến tội phạm hình sự ra toà cũng không được đăng ảnh nếu không được họ đồng ý, thì Tổng thống Đức nhất cử nhất động, đều có thể bị truyền thông đưa tin bất cứ lúc nào, kể cả quá khứ, bởi Tổng thống do dân bầu và trả lương thì dĩ nhiên dân được quyền giám sát. Đó cũng chính là tiền đề minh bạch vốn đồng nghĩa với một môi trường khó tham nhũng, nhờ quyền tự do báo chí, phát ngôn – công cụ giám sát – được hiến định, buộc nhà nước phải bảo đảm, nếu không sẽ bị chế tài. Chính vì vậy, sau một năm nhậm chức Tổng thống, ngày 13.12.2011, Wulff bị nhật báo Bild đưa tin, trước đó năm năm, khi đang làm thủ hiến tiểu bang Niedersachsen từng vay tiền vợ một doanh nhân 500.000 Euro để mua nhà, nhưng hai năm sau bị Nghị viện Tiểu bang chất vấn thì trả lời không liên quan gì với doanh nhân này và cũng không công bố số tiền vay, nghĩa là Wulff trả lời không trung thực, một đức tính quyết định uy tín, nhân cách chính khách. Cái sẩy nảy cái ung; với chức năng độc lập, truyền thông lập tức sôi sục trước vị tổng thống uẩn khúc của mình, đưa ra bao ngờ vực thời kỳ đó; từ các kỳ nghỉ phép được đài thọ bởi bạn bè là doanh nhân, đến cuốn sách phỏng vấn Wulff mang tên “Sự thật tốt hơn” phục vụ cho chính ông tranh cử Nghị viện tiểu bang năm 2007 nhưng không phải trả tiền xuất bản; rồi được vay tín dụng ưu đãi của ngân hàng BW; tiếp đến được nhà sản xuất phim Groenewold khoản đãi khi mời tới dự lễ hội tháng 10 truyền thống năm 2008 tại München; chiếc ô tô Audi thuộc thế hệ mới nhất do vợ chồng Wulff sử dụng cũng không phải trả tiền do hãng Audi ưu đãi cho những nhân vật nổi tiếng.v.v.   Đưa tin là quyền độc lập của truyền thông dù chỉ ngờ vực, không thể chụp mũ họ bởi họ không phải cơ quan điều tra buộc phải chính xác. Còn làm sáng tỏ ngờ vực đó, là trách nhiệm tự thân của mọi thể nhân liên quan. Tương tự vụ Pofalla, các cơ quan dân cử, đảng phái, lập tức phải lên tiếng, hết Đoàn nghị sỹ đảng Xanh tiểu bang Niedersachsen đệ trình lên nghị viện một bản danh mục 100 câu hỏi yêu cầu điều trần Wulff, đến Đoàn nghị sỹ đảng SPD Niedersachsen đòi đưa Wulff ra Toà Tối cao Tiểu bang, tới đoàn nghị sỹ đảng SPD Liên bang, gửi tới Ủy ban pháp luật Quốc hội 60 câu hỏi để điều trần Wulff…   Đòi hỏi chính trị chỉ mới ở chủ trương, vấn đề được giải quyết hay không nằm ở trách nhiệm pháp lý các cơ quan công lực. Do tính độc lập tự chịu trách nhiệm, các cơ quan công lực buộc phải tự hành động, nếu không sẽ bị chế tài tội bỏ mặc không hành xử. Viện Kiểm sát cho lục soát văn phòng và nhà riêng của phát ngôn viên Tổng thống để truy tìm manh mối, đệ đơn lên Quốc hội Liên bang đề nghị hủy quyền miễn trừ đối với Tổng thống để điều tra. Trước sức ép truyền thông, chính trường, công tố ngày một nặng, ngày 17.02.2012, Wulff tuyên bố từ chức với lý do không còn được dân chúng tin tưởng để hoàn thành sứ mệnh tổng thống (nghĩa là không cần biết mình sai hay đúng, chỉ cần mất tín nhiệm là phải từ chức). Mặc dù trước đó Wulff đã làm hết sức mình để lấy lại uy tín, trả lời kịp thời mọi ngờ vực của truyền thông để giải toả, cho luật sư minh bạch các kỳ nghỉ phép hồi làm thủ hiến, mời giới truyền thông tới xem hồ sơ, trả lời trên Internet 400 câu hỏi của truyền thông, chính khách đòi giải trình. Từ chức, Wulff mất quyền miễn trừ; Viện kiểm sát lập tức cho điều tra, lục soát văn phòng, nhà riêng của Wulff, khởi tố vụ án bị can, với cáo buộc tham nhũng khi tham dự lễ hội 2008 tại München được Groenewold nhận thanh toán tiền khách sạn, tặng quà, tổng cộng 759,30 Euro. Sau bao cuộc điều tra chấn động dư luận, rốt cuộc mỗi vụ việc trên được thẩm định có dấu hiệu hình sự. Ngày 27.08.2013, Toà án Landgericht Hannover quyết định truy tố Wulff tội vụ lợi, như bất kỳ bị cáo nào, dự kiến lịch xét xử tổng cộng 16 phiên kéo dài 8 tuần, với tổng số hồ sơ đính kèm cáo trạng lên tới 20.000 trang.   Bê bối tham nhũng rung chuyển chính trị Thổ Nhĩ Kỳ  Nhờ chức năng độc lập của tư pháp được hiến định, sau một năm điều tra bí mật không cho chính phủ hay biết, ngày 17.12.2013, cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ mở cuộc vây ráp tại thủ đô Ankara và thành phố Istanbul, tịch thu 17,5 triệu đô la tiền bẩn, tạm giữ 91 nghi can, trong đó có con trai của ba bộ trưởng, cùng Giám đốc Ngân hàng quốc doanh Halk. Ngày tiếp theo, Toà án ra trát tạm giam để điều tra con trai Bộ trưởng Kinh tế, Bộ trưởng Nội vụ cùng 22 nghi phạm khác, riêng con trai Bộ trưởng Môi trường được tại ngoại nhờ đặt tiền thế chân. Các nghi can bị cáo buộc phạm tội có tổ chức, hối lộ nhà chức trách, buôn lậu dầu hoả đổi vàng với Iran thông qua ngân hàng quốc doanh Halk bấp chấp Iran bị cấm vận, cũng như chạy giấy phép các dự án xây dựng.  Ngày 18.12, Thủ tướng Erdogan tuyên bố cuộc điều tra bẩn thỉu do phe đối lập đứng đằng sau chống lại chính phủ của ông, và phản ứng lại bằng cách xử lý những cảnh sát liên quan. Cách chức chừng 500 lãnh đạo cảnh sát, trong đó có 16 giám đốc cảnh sát tỉnh, thuyên chuyển hàng nghìn cảnh sát để ngăn cản điều tra. Một Kiểm sát viên thành phố Istanbul bị miễn nhiệm, do cho điều tra liên quan tới cả Thủ tướng. Erdogan cáo buộc cảnh sát và tư pháp muốn thành lập một nhà nước trong nhà nước. Đồng thời lệnh cho cảnh sát phải thông báo cho cấp trên bất cứ vụ điều tra nào, ra chỉ thị cấm phóng viên tiếp xúc với cơ quan cảnh sát.   Ba bộ trưởng có con bị cáo buộc tham nhũng, từ chức. 10 trong nội các 26 bộ trưởng được thay thế.   Tưởng vậy, nhà nước sẽ mạnh lên, nhưng trớ trêu ngay lập tức rơi vào khủng hoảng bởi mô hình nhà nước họ dân chủ đa nguyên (theo phân loại trong chính trị học), Đảng AKP cầm quyền do bầu cử chứ không phải mặc định. Lệnh buộc cảnh sát phải báo cáo cấp trên bị hội luật sư kiện lên tòa án tối cao, được Toà phán vi phạm nguyên tắc hiến định tam quyền phân lập. Ba nghị sỹ Đảng AKP cầm quyền tuyên bố rút ra khỏi Đảng, cựu Bộ trưởng Văn hóa, cựu Bộ trưởng Nội vụ viết lên mạng “nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ không ngu”, bất chấp Đảng AKP cáo buộc họ xử sự gây tổn thất cho Đảng và Chính phủ. Ngày 11.1.2014, Thủ tướng Erdoğan trình dự thảo cải cách tư pháp lên quốc hội cho phép Chính phủ kìểm soát cả quan toà lẫn công tố vốn đang thuộc thẩm quyền của Liên hiệp quan toà và công tố HSYK, lập tức bị đa số nghị sỹ cáo buộc vi hiến, làm mất tính độc lập ngành tư pháp. Còn Phó Thủ tướng Ali Babacan thì ngược lại cho rằng, “nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ không thể có hai cái đầu”. Tranh cãi nảy lửa, lại bị ngăn cản bởi điều hành cuộc họp thô bạo, các nghị sỹ cáu tiết, vớ được gì choảng nhau nấy, từ chai nước uống, đến cặp tài liệu, lap top, bay loạn xạ khắp hội trường.   Còn trên đường phố, tại Ankara, nhân dân xuống đường biểu tình đòi chính phủ đảng AKP từ chức, Chủ Nhật trước lên tới 20.000 người, do công đoàn tổ chức với những khẩu hiệu: “Chúng mày ăn hết của chúng tao”. “Chúng mày ngoạm cả vào hiện tại lẫn tương lai con em đất nước này”. Kết cục thăm dò dư luận, uy tín đảng AKP cầm quyền rớt thảm hại chỉ còn 40% mức tín nhiệm, so với 50% năm 2011. Đảng CHP thắng thế, đạt kỷ lục lên tới 29,8%.     Truy tố Cựu Tổng thống Pakistan  Trong thập niên 90, Tổng thống Zardari đã bị ngờ vực nhận hơn một triệu đô la tiền hoa hồng trong các hợp đồng dành cho các công ty Thụy Sĩ, rửa tiền và xây dựng bất hợp pháp một sân chơi mã cầu. Tuy nhiên khác Wulff ở Đức, Zardari vẫn tại vị, được quyền đặc miễn dành cho tổng thống, nên không thể truy tố. Phải chờ tới nhiệm kỳ 5 năm của ông kết thúc vào ngày 09/01/2014 vừa qua, tòa án chuyên xử các vụ tham nhũng mới đưa được Zardari ra xét xử. Tuy nhiên vụ việc đã quá lâu, không thể phục hồi nhân chứng vật chứng đầy đủ.     Vụ án Dương Chí Dũng  Ngày nay nhà nước nào cũng đầy đủ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cả; quy trình tố tụng hình sự cơ bản giống nhau. Vụ án Dương Chí Dũng cũng không ngoại lệ: Khởi đầu từ báo cáo của Vinalines tháng 7.2011 lỗ hơn 600 tỉ đồng, kèm sự cố mua ụ nổi 83M về không thể hoạt động, được truyền thông phát hiện vào tháng 8.2011. Tháng 9.2011, Chính phủ cho thanh tra. Tháng 11.2011-1.2012, Bộ Công an cho điều tra vụ mua ụ nổi, phát hiện nghi phạm cho lập hai bộ hợp đồng, chứng từ quyết toán khống để chiếm đoạt 2,9 tỉ đồng. Ngày 17.5.2012, C48 ra quyết định khởi tố vụ án, bị can, bắt tạm giam Dương Chí Dũng và tám đồng phạm; Cùng ngày Dương Chí Dũng bỏ trốn. Ngày 1.11.2013, Viện KSNDTC ra cáo trạng truy tố Dương Chí Dũng, cùng chín đồng phạm khác. Ngày 12.12.2013, TAND TP Hà Nội mở phiên toà xét xử. Kết qủa, sau bốn ngày xét xử, Toà tuyên phạt Dương Chí Dũng tử hình tội “tham ô”, “cố ý làm trái”. Đó là chức năng của bất kỳ toà hình sự nước nào.  Nhưng tội tham ô, cố ý làm trái, lại gắn với thể chế nhà nước, nên giá trị ý nghĩa của bản án không dừng ở hình phạt mà ở mức độ sử dụng nó làm căn cứ thực tế để cải cách thể chế nhà nước – tiền đề, nền tảng để phòng chống tham nhũng, vốn quyết định cấp độ tham nhũng quốc gia đó. Chứ không phải cứ án phạt là hết tham nhũng.  Vụ án Dương Chí Dũng trước hết liên quan tới mô hình kinh tế. Nước nào cũng có doanh nghiệp quốc doanh cả, nhưng ở ta vẫn theo mô hình kinh tế quản lý tập trung (được phân loại trong kinh tế học), do nhà nước trực tiếp quản lý. Nghĩa là kinh doanh bằng cả bộ máy nhà nước, điển hình như SCIC, trong tổng số 79 điều của Nghị định 2010/NĐ-CP điều chỉnh hoạt động kinh doanh SCIC, thì có tới 20 điều, chiếm 1/3, cần quyết định của Thủ tướng. Trong khi đó, Bộ trưởng Phủ thủ tướng Pofalla chỉ mỗi ưu ái giúp DB mà đã bị cáo buộc vụ lợi bởi không được phép. Chức năng chủ sở hữu của nhà nước họ chỉ là chức năng chủ cổ phần, ở DB mức 100%. DB kinh doanh như thế nào là việc nội bộ của nó do điều lệ DB quy định như bất kỳ hãng tư nhân nào, tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với mọi hoạt động của hãng, chứ không phải cấp nhà nước nào để can thiệp, quyết định cả. Trong khi đó, ở ta nghiệp vụ kinh doanh mua ụ nổi không phải việc riêng của Vinalines để buộc người đứng đầu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm pháp lý, lo sợ bất cứ ai cũng có thể “nhòm ngó” phát giác sai phạm, mà được mọi cấp quản lý nhà nước ngang dọc tới cấp cao nhất tham gia, quyết định; nghĩa là cộng đồng trách nhiệm, tất khó tránh khỏi cộng đồng cả lợi ích kinh doanh. Tham nhũng mang tính tập thể là tất yếu. Số tiền 10 bị cáo Vinalines tham nhũng và Dương Chí Dũng khai biếu cho các quan chức, cảnh sát liên quan là một minh chứng. Vì vậy, để không lặp lại vụ Dương Chí Dũng, phải cải cách tách bạch chức năng quản lý nhà nước khỏi chức năng kinh doanh, theo tiêu chí: bảo đảm tính độc lập tự chịu trách nhiệm của mọi doanh nghiệp nhà nước như mô hình ở các nước đã phát triển, không chỉ để loại trừ tiền đề tham nhũng mà còn bảo đảm cho nền kinh tế nước ta được thế giới thừa nhận là nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.   Liên quan tiếp theo gắn với cơ chế vận hành các cơ quan công quyền. Ở Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, việc điều tra tham nhũng, tội phạm hình sự là công việc nghiệp vụ chuyên môn tự động độc lập của cảnh sát và viện kiểm sát điạ phương đó, do pháp luật chế tài trách nhiệm (nghĩa là không thực hiện hay thực hiện sai sẽ bị truy tố), tới mức như vụ bê bối tham nhũng ở Thổ Nhĩ Kỹ chỉ khi có án trát Thủ tướng Erdogan mới biết. Nghĩa là các thể nhân đều độc lập về trách nhiệm, nhưng không có nghĩa “vô chính phủ”, mà thống nhất ở chỗ cùng chịu sự điều chỉnh của các văn bản lập pháp. Còn ở ta, trách nhiệm phụ thuộc, theo cơ chế hành chính mệnh lệnh từ trên xuống, “ngày 14.11.2011, sau khi có sự chỉ đạo của UBKTTƯ, C48 Bộ Công an chính thức bắt tay vào điều tra Vinalines”. Còn quyết định điều tra khởi tố Dương Chí Dũng theo lời khai tại toà được báo chí chính thống đưa tin, do “trung ương họp rất căng thẳng”, và được´”Thủ tướng chấp thuận”. Nghĩa là nếu không có hai quyết định chính trị trên thì không thể điều tra và khởi tố, vô hình dung làm mất đi trách nhiệm pháp lý của cơ quan điều tra tố tụng vốn bị pháp luật chế tài khi không làm hoặc làm sai – một dạng bao cấp. Có thể do tính chất đặc biệt của vụ án cần ngoại lệ, lệnh từ cơ quan cao nhất. Còn về nguyên tắc, ở các nước cũng vậy, mọi cơ quan công quyền đều có thể lấy ý kiến các cấp ngang dọc nhưng không phải để xin mệnh lệnh chỉ thị, mà để làm căn cứ cho quyết định của mình, bởi quyết định chính trị vốn sai chỉ bị mất uy tín, không thể thay thế quyết định pháp lý nếu sai bị chế tài. Cách đây mấy năm, Hội người Việt Leipzig Đức tổ chức Tết cổ truyền, chuẩn bị tiệc tùng, ca nhạc, trò chơi, rất hoành tráng, mời Chủ tịch thành phố tới dự. Sắp đến giờ khai mạc thì cảnh sát và cứu hoả tới niêm phong hội trường với lý do vi phạm luật phòng chống cháy. Chủ tịch hội khẩn khoản xin chiếu cố vì ý nghĩa trọng đại của Tết Việt, và nhất là có cả Chủ tịch thành phố tới dự, chắc mẩm như ở ta cảnh sát sẽ phải chờ chỉ thị. Nhưng không, cảnh sát trả lời, Chủ tịch chứ Tổng thống, Thủ tướng tới cũng không thay đổi được quyết định của họ, bởi đây là trách nhiệm pháp lý của cảnh sát. Chủ tịch, Tổng thống, Thủ tướng không được phép và giả sử có được phép thì cũng không dại gì phải chịu án tù thay họ nếu chẳng may xảy ra hoả hoạn thiệt hại. Kỳ vọng đặt hết vào người to nhất thành phố, tắt ngấm; hơn nửa nghìn người có mặt tiu nghỉu giải tán chịu mất Tết.   Qua những vụ chống tham nhũng kể trên, có thể thấy, điều kiện tiên quyết trong chống tham nhũng là minh bạch. Minh bạch trước và trên hết lại nằm ở chỗ truyền thông được quyền tiếp cận. Vụ án Wulff là một minh chứng điển hình (sẽ không bao giờ xảy ra đối với bất kỳ tổng thống nào, tham nhũng tới đâu, nếu luật pháp không bảo đảm được quyền đó cho truyền thông).   Tất cả những cải cách tiền đề trên, như bất kỳ quốc gia nào, đều thuộc phạm trù chính sách, ở ta thuộc trách nhiệm tối cao của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ! Còn người dân, ở quốc gia nào cũng vậy cả, dù là chủ nhân đất nước cũng chỉ có thể và sẵn sàng lên tiếng, nếu truyền thông đóng vai trò là tiếng nói đa chiều của họ, và được pháp luật bảo hộ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến tới “tốt nghiệp” ODA toàn phần      Từ tháng 7/2017, Việt Nam sẽ “tốt nghiệp IDA”, nghĩa là dừng nhận IDA từ Hiệp hội phát triển quốc tế thuộc Worldbank. Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục có lộ trình để tiến tới “tốt nghiệp ODA toàn phần”, trong khi phải nỗ lực cải thiện hiệu quả sử dụng ODA, tránh để lại những “di họa” lâu dài cho các thế hệ tương lai.      Tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông ở Hà Nội, một trong những dự án sử dụng vốn vay ODA. Nguồn ảnh: DĐDN.  Đối với một nước ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, ODA có hai tác dụng tích cực. Một là lấp được khoảng thiếu hụt vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng trong bối cảnh năng lực tiết kiệm còn hạn chế do thu nhập đầu người thấp. Thứ hai là lấp được khoảng thiếu hụt ngoại tệ vì khả năng xuất khẩu còn yếu nhưng cần nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, vật tư để xúc tiến đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế.  Tuy nhiên không phải nước nào nhận ODA cũng thành công trong phát triển kinh tế. Với những nước ODA không được sử dụng có hiệu quả, không thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thì việc vay mượn ODA sẽ trở thành bi kịch cho các thế hệ sau. Cho đến nay, số trường hợp các quốc gia thất bại trong sử dụng ODA nhiều hơn hẳn những nước thành công.  Để thành công trong sử dụng ODA, lãnh đạo các quốc gia tiếp nhận ODA phải hiểu rõ những điều kiện dẫn tới thành công này và nỗ lực đáp ứng những điều kiện đó. Chúng ta hãy xem xét những điều kiện này và đối chiếu với thực tế của Việt Nam.  Điều kiện đầu tiên là quốc gia nhận ODA phải nỗ lực tăng tiết kiệm để hạn chế việc vay mượn nước ngoài và không lãng phí các nguồn vốn cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, ODA chỉ nên được sử dụng vào những dự án đầu tư có chọn lựa, nhằm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt dùng ODA đầu tư vào các dự án hạ tầng hướng đến việc kích thích đầu tư tư nhân, kể cả FDI, trong các ngành xuất khẩu hàng công nghiệp sẽ vừa kích thích tăng trưởng vừa bảo đảm có ngoại tệ để trả nợ trong tương lai. Cuối cùng, phải có kế hoạch chấm dứt nhận ODA trong một tương lai không xa – giới chuyên gia gọi đây là nỗ lực “tốt nghiệp ODA” – bởi có như vậy thì các nhà quản lý mới thực sự quan tâm đến việc hạn chế nhận ODA và có ý thức sử dụng ODA có hiệu quả.  Nhìn vào thực tế Việt Nam, có thể thấy ngân sách nhà nước chi tiêu cho nhiều dự án không cần thiết, không có hiệu quả kinh tế. Đã có điều tra cho thấy có sự thất thoát lớn trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công nên phí tổn xây dựng hạ tầng rất cao. Báo chí đã cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức ở trung ương và địa phương đang có cuộc sống rất xa hoa, không tương xứng với trình độ phát triển của đất nước, không phù hợp với chính sách tiếp nhận nhiều ODA từ nước ngoài.  Việc chọn lựa các dự án đầu tư còn thiếu thận trọng, các phân tích đánh giá khả năng trả nợ và hiệu quả tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế ở ngay cả một số dự án lớn còn chưa đầy đủ hoặc chỉ có tính hình thức. Hậu quả là Việt Nam nhận ODA tràn lan, tính trên đầu người mức nhận ODA của chúng ta đến nay là trên dưới 40 USD, quá nhiều so với kinh nghiệm của Hàn Quốc và Thái Lan (so sánh Hình 1 và 2).    Hình 1  ODA đầu người trong quá trình phát triển của Việt Nam (USD) –Theo World Development Indicators.    Hình 2   ODA trên đầu người trong quá trình phát triển của Hàn Quốc và Thái Lan (đơn vị: USD) – Theo World Development Indicators.  Việt Nam cần đặt ra kế hoạch “tốt nghiệp ODA” trong khoảng 10 năm tới. Nếu không kể thời kỳ nhận viện trợ từ Liên xô cũ và các nước Đông Âu thì đến nay Việt Nam đã nhận ODA gần 25 năm. Việc tùy thuộc lâu dài vào ODA phải được xem như là sự thất bại của chiến lược phát triển.  Hàn Quốc và Thái Lan là những nước châu Á thành công trong phát triển kinh tế và “tốt nghiệp ODA” trong thời gian ngắn. Hàn Quốc vay mượn nước ngoài nhiều từ khoảng năm 1960. Như Hình 2 cho thấy, ODA trên đầu người cao nhất trong giai đoạn 1960-1972 nhưng chỉ độ 10 USD, sau đó giảm dần và từ năm 1982 nguồn vốn ODA vào nước này hầu như không đáng kể. Từ năm 1993, ODA trên đầu người chuyển sang số âm vì lúc này Hàn Quốc không nhận ODA nữa mà chuyển sang vị trí là nước cung cấp ODA cho nước ngoài (kể cả tiền hoàn trả các khoản ODA trong quá khứ. Như vậy Hàn Quốc chỉ nhận ODA trong khoảng 20 năm, với kim ngạch tương đối thấp (tính theo đầu người), và hoàn toàn tốt nghiệp trong vòng 30 năm. Trường hợp Thái Lan, ODA được tiếp nhận cũng từ khoảng năm 1960 và cũng ở mức thấp, trong giai đoạn đầu ODA tính trên đầu người chỉ vài USD mỗi năm. Thái Lan tiếp nhận ODA tương đối nhiều (hơn 5 USD trên đầu người) từ giữa thập niên 1970 và kéo dài độ 25 năm (đến năm 2002), và lúc cao nhất chỉ khoảng 15 USD. Sau đó ODA trên đầu người chuyển dần sang số âm hoặc trên dưới 0 USD. Nếu kể cả giai đoạn tiếp nhận vài USD mỗi năm thì Thái Lan tốt nghiệp ODA trong khoảng 40 năm, nếu kể thời gian nhận nhiều ODA (trên 5 USD) thì Thái Lan tốt nghiệp ODA trong khoảng 25 năm (hình 2). Có thể so sánh Thái Lan và Philippines để thấy ODA không phải lúc nào cũng đi liền với thành quả phát triển. Hai nước này đều được Nhật chú trọng trong quan hệ ngoại giao và ưu tiên cung cấp ODA. Lũy kế ODA Nhật cung cấp từ trước cho đến cuối năm tài chính 2012 cho Philippines là 2.329 tỉ yen, trong khi cho Thái Lan là 2.164 tỉ yen. Hai con số xấp xỉ nhau nhưng thành quả phát triển của hai nước thì hoàn toàn khác. Năm 1960 GDP đầu người của Philippines gấp đôi Thái Lan nhưng đến giữa thập niên 1980 Thái Lan đã theo kịp Phi và khoảng năm 2000 GDP đầu người của Thái Lan đã tăng lên gấp đôi Philippines, hai nước đảo ngược vị trí của năm 1960. Một số nội dung trong bài trích lược từ cuốn Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam (Trần Văn Thọ), NXB Tri thức, 2016 (tái bản năm 2017), Chương 13.    Author                Trần Văn Thọ        
__label__tiasang Tiếng nói người trí thức trong bối cảnh truyền thông hiện đại      Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực truyền thông cùng xu hướng phát triển phổ biến của mạng xã hội, lẽ ra tiếng nói của người trí thức dễ dàng lan tỏa hơn. Nhưng trong cảnh vàng thau lẫn lộn, những tiến bộ về kỹ thuật dường như chỉ làm khuếch đại tiếng ồn của đám đông thì tiếng nói của người trí thức càng dễ bị chìm lấp hơn.       Sự dễ dàng tiếp cận thông tin khiến có quá nhiều thứ để lựa chọn và tiêu hóa, trong khi quỹ thời gian thì có hạn, vì vậy ngày nay số đông – bao gồm cả những người có học vấn – thường lười tìm hiểu sâu nội dung, chỉ lướt mắt qua thông tin và tìm đến những gì vốn đã gần gũi với sở thích, hoặc trực tiếp gắn với công việc của mình. Ngoài ra, với chút ít thời gian còn lại, người ta vẫn có thể quan tâm tới những tiếng nói của ai đó, nhưng đấy thường là những gương mặt của công chúng, những đối tượng được tô điểm bằng chức sắc, địa vị, biết nói trúng vào chỗ công chúng thích nghe, hay đưa ra những quan điểm mà số đông vốn dĩ đồng tình sẵn, hay ít ra phải tìm cách tạo ấn tượng thuyết phục bằng những lời lẽ khoa trương.   Tất cả những yêu cầu ấy đều không gắn với trí thức, những người ít hòa vào dòng đời bon chen lên những địa vị hào nhoáng; ít phát ngôn những lời to tát mà thường thận trọng, có chừng mực trong giới hạn am hiểu của bản thân và với đầy đủ các căn cứ cần thiết; đồng thời họ chỉ nói những gì xuất phát từ sự thôi thúc của lương tâm và trách nhiệm công dân của mình chứ không nhất thiết nhằm dễ xuôi tai người khác.  Mặt khác, ở các nước có truyền thống Nho giáo, cái nhìn của nhà chính trị đối với người trí thức vẫn tồn tại những định kiến xưa cũ, hoặc là ở thái cực coi họ như những “mưu sỹ” có chức năng hiến kế – nghĩa là mặc nhiên coi quan hệ giữa nhà cầm quyền với trí thức là quan hệ cấp trên-cấp dưới – hoặc theo chiều hướng tiêu cực hơn, nhìn nhận họ là những kẻ sĩ tuy trung thực nhưng quá cứng cỏi, những kẻ ngoài lề gây phiền hà, thậm chí làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà chính trị. Cả hai cách nhìn ấy đều chưa dành sự tôn trọng cần thiết cho vai trò độc lập của tiếng nói người trí thức, chưa thấy rằng đó không chỉ là sự phản biện tỉnh táo mà còn là sự đại diện cho sự tiến bộ và lương tri, và dù tiếng nói ấy không được củng cố bằng sự đồng tình, hưởng ứng của số đông trong xã hội thì nó vẫn cần được lắng nghe một cách đầy đủ và khách quan.   Cho nên trong thực tế, lâu nay chúng ta chỉ thường thấy các nhà chính trị lên tiếng trả lời về các vấn đề đã trở thành dư luận của số đông, mà hiếm khi thấy họ công khai đối thoại với những tiếng nói trí thức riêng lẻ – và trong xu thế truyền thông hiện đại, khi tiếng nói của những người trí thức chân chính dễ bị chìm lấp trong tiếng ồn của đám đông, thì sự đối thoại ấy lại càng hiếm hoi.   Để thay đổi thực trạng ấy, không cách gì khác là chúng ta cần củng cố cả ba chân kiềng: cần nhiều hơn những người lãnh đạo biết lắng nghe tiếng nói của trí thức, tôn trọng vai trò độc lập của trí thức; cần nhiều hơn những người trí thức giàu tâm huyết, lý tưởng, quan tâm và sẵn sàng tham gia vào chính sự (dù với tư cách là người trong hay ngoài chính quyền) – lâu nay đa phần chỉ thấy người trí thức lên tiếng khi sự đã rồi, mà ít khi thấy họ tham gia vào các quyết sách khi chúng còn đang dự thảo, kể cả với những dự thảo được công khai thông tin – đồng thời qua đó giúp công chúng dễ nhận ra hơn đâu là những nhà trí thức thực sự; và đặc biệt rất cần có những tổ chức truyền thông nghiêm túc, không chỉ biết chiều lòng số đông mà còn định hướng dư luận, thu hút sự chú ý của công chúng dành cho ý kiến của những người trí thức đích thực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếng nói trí thức 30 năm trước      Nhìn lại những thành tựu nổi bật của sự nghiệp Đổi mới đất nước trong 30 năm qua, có lẽ không sợ sai khi khẳng định rằng năm 1987 đóng vai trò rất đặc biệt. Năm 1987 chính xác là thời điểm của tiếng nói trí thức-nghệ sĩ đã được lắng nghe, cộng hưởng và phần nào được hiện thực hóa, không chỉ mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy sự phát triển đời sống văn hóa văn nghệ, mà còn góp phần tạo đà đi lên của các lĩnh vực khác.         Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (thứ tư từ trái qua) trò chuyện với Nguyễn Văn Hạnh, Lưu Quang Vũ, Trần Văn Thủy (từ trái qua) và một số văn nghệ sĩ khác – Ảnh tư liệu tại cuộc gặp gỡ với văn nghệ sĩ trí thức ngày 7-10-1987.  Trước hết, ta hãy điểm qua một số sự kiện văn hóa văn nghệ đã diễn ra trong năm 1987, hoặc đáng nói hơn, phải chờ đến năm này, nghĩa là sau Đại hội Đảng VI (12/1986) mới được thuận buồm xuôi gió. Trường hợp đáng kể đầu tiên chính là bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy. Bộ phim này làm xong từ năm 1982. Trong những thước phim nhựa Orwo color 35mm màu sắc phai nhạt ấy, Hà Nội hiện lên thực sự nghèo khó, hưu tàn. Phim quay chùa Huy Văn (có ít nhất từ đời vua Lê Thái Tông, sau được Lê Thánh Tông sửa sang và xây thêm điện Dục Khánh) đã mất hẳn vẻ thâm nghiêm cổ kính, trơ vơ đổ nát, ngói vỡ, lộ rõ những vạt nắng mờ nhạt hắt trên bậc thềm xưa cũ. Xe bò, xe xích lô, quang gánh, những thân người gầy gò trong bộ quần áo cũ kĩ và xám xịt vì rét, nháo nhác đi qua cửa ô Quan Chưởng. Trên đường Nguyễn Trãi, người dân lao động nối hàng dài, lầm lũi, cắm cúi mua bán những thức dụng lặt vặt, buồng chuối, mớ rau, cái áo. Café, nước giải khát, bánh ngọt, vài ba nhãn hiệu mới dường như cuống cuồng trưng ra để khỏa lấp những thiếu hụt sinh kế đã kéo dài. Một Hà Nội vốn tự tin vào nền văn hiến của mình, như lời bình có tiếng vọng trong phim, tỏ ra rất e ngại vì kiểu làm ăn thị trường. Hơn một năm sau, ngày 18/10/1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mới được xem Hà Nội trong mắt ai. Nhưng lời nhắc nhở như mệnh lệnh của ông rằng phải tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt đã không được lưu tâm thực hiện. Tiếp đó, tháng 5/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp xem phim này. Đến đây, mọi kịch tính, tựa con lắc đơn, giữa cho phép và cấm, chỉ chấm dứt khi ngày 26/9/1987, Văn phòng Trung ương ra văn bản yêu cầu Ban Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên huấn, Bộ Văn hóa công chiếu Hà Nội trong mắt ai.  Vậy là suốt năm năm, bộ phim liên tục bị ách lại vì bị cho là “có vấn đề”, mượn xưa nói nay, không cùng Đảng giải quyết những khó khăn hiện tại mà nuối tiếc quá khứ phong kiến và gieo rắc vào quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi, tiêu cực”1. “Ai cấm Hà Nội trong mắt ai?”, Lã Nguyên, người sau này sẽ rất tích cực nhìn nhận nhiều trường hợp văn nghệ khác, đặt câu hỏi và tự trả lời: “chính là những người rất hiểu văn nghệ”2.  Ngày 1-2/1/1987, đoàn Quốc hội Mỹ vừa kịp rời Việt Nam thì Báo Văn nghệ số 1, ra ngày 3/1, nêu hai câu hỏi mà sự thẳng thắn trong đó sẽ kích thích những đề đạt táo bạo: 1. Văn học nghệ thuật phải đổi mới những gì? Làm thế nào để thực hiện những đổi mới ấy?; 2.Vì sao chưa có tác phẩm hay? Cần giải quyết những gì để đạt được mục đích có nhiều tác phẩm hay? “Tác phẩm hay”, nỗi kì vọng khắc khoải ấy, sẽ khó lòng xác thực nếu không có cây bút nào dám gạt đi những tác phẩm dở đã chất đầy ở giai đoạn trước đó. Mấy ngày sau, 17/1, Hà Nội vừa rộn ràng ăn Tết Đinh Mão vừa gật gù nhấm nháp những trả lời xông xáo đầu tiên, của Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Minh Châu… Nguyễn Tuân thúc giục “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay”. Theo ông, xã hội đang đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đấu tranh thì phải có người tốt đấu tranh với người xấu mới làm bật lên cái tốt được. Vậy mà thơ văn đều nói toàn người tốt. Ông nghĩ “ngay đến năm 2000 và xa hơn nữa, vẫn còn người chưa tốt”. Nguyên Ngọc tỏ ra trầm lắng hơn khi cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của đổi mới lúc đó là sự tỉnh táo. Bởi, tỉnh táo là “một đặc điểm mới của tư duy thời đại”, là “dấu hiệu của trưởng thành- của từng trải, chín chắn”. Trong khi đó, Hoàng Ngọc Hiến, gần mười năm sau vụ “hiện thực phải đạo” thì nhấn mạnh vào “đổi mới cách nhìn”3…      “…Cuộc chiến đấu còn phức tạp, lâu dài và quyết liệt. Chính vì vậy mà lời chúc của đồng chí [Nguyễn Văn Linh] với anh chị em là: “Tôi chúc các đồng chí mạnh khỏe, kiên trì và dũng cảm”. Lời chúc, mà cũng là một lời kêu gọi lớn.” (Báo Văn nghệ cảm nhận về lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại “sự kiện lịch sử” ngày 6-7/10/1987)      Ngày 25/5, một bài báo như để gây chú ý, đã phải in đậm tiêu đề, “Những việc cần làm ngay”, mạnh mẽ và thoáng chút sắc lệnh, đóng khung xuất hiện trên Nhân Dân. N.V. L không phải là cái tên chỉ kí dưới bài cho xong. Nhưng ngay tức thì, “Những việc cần làm ngay” đã tạo một hiệu ứng bàn luận sôi nổi hiếm thấy, một cú hích dư luận vượt qua mọi rào cản, để nhìn thẳng nói thật nhiều vấn đề xã hội nóng hổi. Bằng nhiều hình thức khác nhau, hoặc đăng lại bài báo của N.V.L trên tờ báo khác, hoặc viết bài bày tỏ thái độ đồng tình, tán dương, “Nói và Làm” nhanh chóng đi vào tâm tư, kì vọng, hành động của cả cộng đồng. Đầu tháng Bảy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra hẳn Thông tri về việc Mặt trận hưởng ứng “Những việc cần làm ngay” của tác giả N.V.L. Từ Lạng Sơn đến thị xã Minh Hải, các tỉnh ủy, các ban ngành, đoàn thể đều nhất tề xắn tay giải quyết một cách cụ thể, nhanh chóng, chính xác và triệt để những việc bất cập, tiêu cực trong đời sống thường ngày mà lâu nay, vì muôn vàn lí do, đã không được giải quyết, giải quyết nửa vời hoặc bỏ mặc. Đã có 20 trên tổng số 31 bài báo “Những việc cần làm ngay” kí tên N.V.L xuất hiện trong năm 1987 (bài cuối cùng ra ngày 28/9/1990). 1987, vì thế, lưu lại khá chồng chất lớp ngôn từ đặc tả thực trạng xã hội, những thực trạng nhức nhối, đau lòng và phẫn nộ bậc nhất. Về việc có hàng vạn đơn xin thôi việc trong ngành giáo dục chẳng hạn, ngày 7/8/1987, N.V.L chỉ thẳng nguyên nhân là do cuộc sống nhà giáo quá chật vật, đồng lương ít ỏi, phương tiện làm việc thiếu thốn, sức khỏe giảm sút, trường lớp dột nát, bàn ghế xiêu vẹo, thiếu bảng, thiếu giấy, thiếu mực… Rõ ràng, không một mĩ từ nào ở đây.  Tháng Sáu năm đó, Nguyên Ngọc có quyết định về làm Tổng biên tập Văn nghệ. Một trong những dấu ấn đầu tiên của ông là cho đăng truyện ngắn Tướng về hưu (vốn được gửi đến bàn biên tập từ tháng 4/1987) của Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dù Nguyên Ngọc chưa hề nghe tên Nguyễn Huy Thiệp nhưng ông nhận thấy trong Tướng về hưu có năng lượng đối đầu trực diện với các vấn đề nóng bỏng của đời sống và tin rằng sau truyện ngắn này, dù nói ra hay không, giới cầm bút từ nay sẽ không thể viết như trước được nữa4. 24 trang, giấy trắng, hụt khổ của Văn nghệ bốn số gộp, 20/6, chào đón Tướng về hưu. Như chúng ta đều biết, kể từ đây, Nguyễn Huy Thiệp được coi là tác giả văn chương nổi bật nhất của văn học Việt Nam hơn ba thập niên qua.  Ở một diễn biến đáng chú ý khác là hiện tượng kịch Lưu Quang Vũ. Hai năm trước, 1985, Lưu Quang Vũ còn là “tác giả trẻ”, nhưng đã biến Hội diễn nghệ thuật Sân khấu toàn quốc thành hội diễn của riêng mình. Nguồn sáng trong đời, Tôi và chúng ta, Người trong cõi nhớ, Người tốt nhà số 5, Vách đá nóng bỏng, Chuyện tình bên dòng sông Thu… chiếm hầu hết các suất diễn trong năm đợt của Hội diễn đó. Nghiễm nhiên, ông nằm trong tầm ngắm của nhiều phía, từ khán giả, các đoàn kịch, đến chính giới. Những bàn tay kiểm duyệt vô hình chưa hạ xuống. Truyền thống lãnh đạo “xem trước” vẫn còn đó. Để Tôi và Chúng ta đến với khán giả trong Hội diễn 1985 ấy, đạo diễn Hoàng Quân Tạo của Nhà hát kịch Hà Nội phải trải qua 12 lần kiểm duyệt. Buổi diễn cho lãnh đạo xem có Tố Hữu và Hoàng Tùng dự. Tố Hữu nhận xét “Hay! Tuyệt vời”5. Không dễ để những sáng tạo nghệ thuật mà trong đó “sự thật” chiếm chỗ, được tự do cất lên. Những mong muốn chính đáng và đau đáu, như của Lưu Quang Vũ, “muốn nói hết sự thật/Về đất nước của mình”, vẫn phải trượt vào quĩ đạo kìm nén, hoặc, mất công mất sức, mất thời gian chờ đợi, mới đi qua những lỗ kim khuôn mẫu. Đã hơn ba năm, Hồn Trương Ba da Hàng Thịt nằm im trong ngăn kéo. Nó thử thách lòng kiên nhẫn. Nó cần đúng lúc để gây choáng váng và trở thành mẫu mực. Phải vào cuối năm 1987, Hồn Trương Ba da Hàng Thịt mới được Nhà hát kịch Việt Nam dàn dựng và chính thức ra mắt công chúng.     Đầu tháng 10/1987 diễn ra sự kiện cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ, trí thức. Cuộc gặp gỡ gần như là “hội nghị Diên Hồng” này đã trực tiếp đề cập đến nhiều vấn đề “nóng bỏng của đất nước, của xã hội, của thời đại”, chứ không chỉ của nghệ thuật. Bởi, như nhận định của báo Văn nghệ, “suy cho cùng, những trăn trở sâu xa nhất về nghệ thuật bao giờ cũng bắt nguồn từ những suy tư, quằn quại về xã hội, về dân tộc và thời đại”6. Có thể nói, lần đầu tiên kể từ khi kết thúc chiến tranh, giới “tinh hoa” của đất nước đã thể hiện đúng, hiệu quả vai trò phản biện, đề đạt và tích cực xây dựng quan điểm một cách thẳng thắn, nồng nhiệt đến thế. Nhưng đồng thời, đây cũng là dịp mà người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã “bắt mạch” chính xác tâm tư, nguyện vọng của số đông trí thức, nghệ sĩ. Từ “cởi trói” vang lên trong cuộc gặp này, cho đến nay, vẫn liên tục được nhắc lại như là một từ khóa then chốt nhằm lí giải sự thăng hoa độc đáo của văn học nghệ thuật, ít nhất từ 1987-1991.  Sự kiện trên tiếp tục được tiếp nối và cụ thể hóa trong Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (ra ngày 28/11/1987) về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Nghị quyết yêu cầu văn học nghệ thuật cần góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh để mở rộng và làm sâu sắc thêm quá trình dân chủ hóa mọi mặt của đời sống đất nước. Tinh thần “dân chủ hóa” ở đây, trên thực tế, đã được rất nhiều nhà văn nỗ lực theo đuổi và thường xuyên làm cho sáng rõ. Chỉ cần nhìn vào các tranh luận, đối thoại, các phóng sự/bút kí trên báo chí lúc bấy giờ, những hoạt động như Nguyên Ngọc đánh giá là “lập lại trật tự, lập lại công bằng xã hội”7, cũng đã thấy phần nào đà dân chủ hóa, dân sự hóa trên phương tiện truyền thông.  Khép lại năm 1987 có thể nhắc đến tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu. Cho dù gần với bản tự thú, nhưng các nhận định, phân tích của Nguyễn Minh Châu đã khía rất sâu vào thái độ nín nhịn làm “cán bộ truyền đạt đường lối” quá lâu của lớp người vốn được coi có cá tính, có lương tri như giới cầm bút. Lời ai điếu hẳn đã làm ngượng chín mặt số đông nhà văn nhưng sẽ là cần thiết, thậm chí, là phương thuốc liều cao để ngăn ngừa thói tính “bảo hoàng hơn vua” vẫn hay tái lặp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật ở ta. Trong sổ tay của ông mà gần đây mới công bố, người ta giật mình vì thấy ông không bận tâm gì đến Tết, chỉ một mực tự nhắc nhở: “chỉ có cái ác thì phải nhớ lấy, chỉ có mưu mô trả giá trong bóng tối là phải nhìn cho rõ. Những cái viết lách của mình vẫn còn lành quá đi mất. Chưa đau. Giữa một cuộc đời đầy oan khiên oan khuất và đầy dối trá, sự lộng hành của cái ác đóng vai trò quyền lực”8. Có lẽ, bất kì lúc nào, cũng đều cần phẩm chất của kiểu trí thức trượng phu như Nguyễn Minh Châu, dám tự nhận lỗi, tự phán xét và thức tỉnh.  Năm 1987, như thế, cho chúng ta những cứ liệu phong phú về quá trình tìm kiếm, trăn trở, suy tư làm sao để có sự thay đổi, đổi mới đích đáng. Những khát vọng, hi vọng bị che khuất hoặc kìm nén từ lâu đã bắt đầu được công khai. Chúng ta có thể nhắc lại ở đây một băn khoăn đã chiếm chỗ hầu hết các luận bàn của trí thức lúc đó: sự thật. Tuy chưa có ai trả lời thế nào là sự thật nhưng hễ có cơ hội, “sự thật”, giống mũi tên được gài dây cung quả cảm, phóng thẳng lên mặt báo. Ngô Thảo thì đinh ninh rằng “đối với nhà văn không có gì cần thiết hơn là được nói lên sự thật”; Nguyễn Văn Hạnh, phó Ban Văn hóa-Tư tưởng Trung ương, thì so sánh: “Nói đến khoa học là nói đến qui luật. Nói đến sáng tác văn học thì trước hết phải nói đến sự thật”. Nguyễn Khải, người mà chiếu theo góc nào cũng thấy sự kín kẽ, tỉnh táo và biết xoay xở, trong lúc thổ lộ quan điểm, đã để trọng âm lệch hẳn như một lời hịch: “Chỉ viết có sự thật, những sự thật đã được kiểm tra từ nhiều phía, từ nhiều nguồn, dẫu có bị chẹt xe, bị dao đâm, bị súng bắn, thậm chí bị đưa ra tòa hoặc bị vu là điên là dại cũng không rời bỏ cái vị trí là một nhà báo cộng sản của mình”. Có lí do để không phải giấu mình quá lâu, sự quyết chí của Nguyễn Khải đã mở thêm vài ngả đường cho các kiểu “sự thật” xuất hiện trong tác phẩm của ông9. Còn Lưu Quang Vũ, trong Tôi và Chúng ta, thì nhấn mạnh: “các đồng chí không muốn hoặc không dám nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật là chúng ta đang bị lún trong đầm lầy, không khéo sẽ chết chìm”. Như vậy, “sự thật”, điều tưởng như khó định lượng và cũng khó thốt thành lời ấy, đã trở thành mối bận tâm thường trực, là tiêu chí để nhận diện, đánh giá khả năng trung thực tận đáy trong ngòi bút nhà văn. Bởi thúc ép này mà bản thân họ, thay vì im lặng, đã liên tục lên tiếng trước những điều chướng tai gai mắt. Nếu hiểu việc nói cho bằng hết, cho cạn lí lẽ và trách nhiệm là một phẩm tính quan trọng của trí thức thì quả thật, thời điểm 1987 xuất hiện rất nhiều “cả giọng” mà độ vang đập, lay chuyển, dư âm của nó đã mang lại nhiều biến chuyển cần kíp, từ nghệ thuật đến đời sống. Câu hỏi “vì sao chưa có tác phẩm đỉnh cao” mà báo chí hay đặt ra gần đây, có lẽ, nên đổi theo hướng sát gần với thực tế hơn, rằng “vì sao rất ít tiếng nói trí thức sáng giá trong văn chương nghệ thuật”.  Trong tâm thế hôm nay luôn sốt ruột chờ đợi, kì vọng vào tầng lớp “tinh hoa” tiên phong hoặc ít ra là gợi dẫn bước đi lí tưởng cho đông đảo nhân quần, chúng ta hẳn phải cổ vũ cho thái độ dám nói thật, nhìn thấu và yêu chuộng sự thật. Dĩ nhiên, bối cảnh giờ đây đã khác xa ba mươi năm trước. Song hồi ức 1987 vẫn còn nguyên vẻ đẹp khó phai về những thân danh đã vì công nghiệp chung mà bền bỉ dấn thân, đôi khi phải chấp nhận thua thiệt, tai bay vạ gió. Riêng điều này, tôi nghĩ, đủ để lấy làm sự chia sẻ chung, không cứ phân biệt xưa hay nay.  ———–  1 Xem thêm: Trần Văn Thủy, Lê Thanh Dũng (2013), Chuyện nghề của Thủy, NXB Hội nhà văn, H., tr.170  2 Thảo luận “Bàn tròn” tại Tuần báo Văn nghệ, số 9 (27/2/1988) và số 10 (5/3/1988)  3 Xem thêm các bài: Nguyễn Tuân, “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay”; Nguyên Ngọc, “Đổi mới trước hết là sự tỉnh táo”; Hoàng Ngọc Hiến, “Trước hết là đổi mới cách nhìn”, trên Văn nghệ, số 3+4, 17/1/1987.  4 Nguyên Ngọc (2009), Tuyển tập tác phẩm, Tập 2, NXB Hội nhà văn, H., tr.257-258.  5 Hà Linh (2014), “Ký ức về những lần kiểm duyệt kịch Lưu Quang Vũ”, Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/san-khau-my-thuat/san-khau/ky-uc-ve-nhung-lan-kiem-duyet-kich-luu-quang-vu-3044211.html  6 Xem thêm: “Hai ngày đáng ghi nhớ mãi” (Tường thuật cuộc gặp gỡ của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ trong hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987), Văn nghệ, số 42, 17/10/1987  7 Nguyên Ngọc (1987), “Về cái tiêu cực và cái tích cực”, Văn nghệ, số 29, 18/7.  8 Nguyễn Minh Châu (2009), Di cảo, NXB Hà Nội, H., tr.412  9 Xem thêm các bài: Ngô Thảo, “Khi thực tiễn lên tiếng”, Văn nghệ, số 27, 4/7/1987; Nguyễn Văn Hạnh , “Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật”, Văn nghệ, số 33, 15/8/1987; Nguyễn Khải, “Nhà báo” Văn nghệ, số 27, 4/7/1987.          Author                Mai Anh Tuấn        
__label__tiasang Tiếp cận pháp luật từ góc nhìn văn hóa      Bên cạnh việc được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế, pháp luật còn có xu hướng được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa,&#160; mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới – những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.    Lâu nay pháp luật thường được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế có tính chất “quan phương” từ phía nhà nước hay nói cách khác pháp luật được hiểu là tổng thể các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tồn tại một xu hướng tiếp cận pháp luật khác – xu hướng nhìn pháp dưới góc độ văn hóa1,  mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới –những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.  – Nhìn pháp luật trong một không gian đa chiều  Pháp luật cũng là một dạng thức của văn hóa – văn hóa qui phạm. Khi đặt pháp luật trong một phạm trù rộng hơn là “văn hóa”, ta sẽ thấy rõ tính chất đa dạng, đa chiều của pháp luật.   Chẳng hạn nếu như ở Bỉ, Hà Lan, Luxemburg, người ta có đạo luật riêng về cái chết nhân đạo, cho phép áp dụng một cái chết nhẹ nhàng hơn đối với những người mắc bệnh hiểm nghèo không thể cứu chữa được, để tránh cho người bệnh đau đớn và đỡ tốn kém tiền bạc2 thì ở Việt Nam và nhiều nước khác luật pháp và đạo đức đều không cho phép điều đó, thậm chí Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 còn trừng trị những người thực hiện hành vi này với tội danh xúi giục hoặc giúp người khác tự sát.  Ở Diyarbakir, Thổ Nhĩ Kỳ, để có biện pháp giáo dục đối với một người đàn ông thường xuyên đánh vợ, Tòa án đã tuyên phạt ông ta một hình phạt là tặng hoa cho vợ mỗi tuần một lần trong vòng năm tháng để học cách tôn trọng cái đẹp. Ngoài ra ông còn phải đọc một cuốn sách mỗi tháng, trong vòng năm tháng về đề tài “quan hệ gia đình và giáo dục con cái” để biết cách làm thế nào để trở thành một ông chồng tốt3.   Việc ôm, hôn khi gặp gỡ thể hiện thái độ thân thiện, cởi mở trong giao tiếp ở nhiều nước Châu Âu là việc làm rất bình thường, nhưng nếu chúng ta sống ở Malaysia mà có hành động như vậy ở nơi công cộng thì đó là hành động bất hợp pháp và chúng ta có thể phải ngồi tù 1 năm để suy nghĩ về hành động mà nhìn bề ngoài rất chính đáng của mình4.   Rất khác với văn hóa pháp luật ở Việt Nam, luật của bang California ở Mỹ – một đất nước nhiều người cho là giàu có và văn minh nhất thế giới – vẫn cho phép người chồng được phép đánh vợ bằng thắt lưng da nhưng lại qui định cụ thể điều kiện dây thắt lưng không được rộng hơn 2 inch (1 inch= 2,54cm)5.    Ở Afghanistan người ta có đạo luật áp dụng trong cuộc sống gia đình của người thiểu số Shia cho phép chồng có quyền bỏ đói vợ nếu bị từ chối sex6.    Từ những ví dụ trên cho thấy ở những không gian, thời gian khác nhau thì pháp luật ở nơi này đôi khi lại là điều tồi tệ, cấm kị ở một nơi khác vì giữa chúng không có chung một hệ qui chiếu.   – Nhìn pháp luật dưới góc độ là kết quả phản ánh một quá trình tự thích nghi   Pháp luật phản ánh sự thích nghi trong một quá trình. Chính sự tự thích nghi đó là nguồn gốc tạo ra sự khác biệt.   Chẳng hạn việc ở ta đi đường về bên tay phải, ở Anh người ta đi phía bên tay trái; ở ta gật đầu có nghĩa là đồng ý và lắc đầu có nghĩa là không, nhưng tại Bulgaria, Hy Lạp, Nam Tư, Thỗ Nhĩ Kỳ, Iran và Bengal thì gật đầu lại có nghĩa là không, và lắc đầu lại có nghĩa là đồng ý… tất cả điều đó phản ánh việc tự thích nghi, phản ánh sự khác biệt trong cách lựa chọn phương thức chung sống, lựa chọn các vấn đề muôn mặt của cuộc sống.   Cái gì hợp lý thì tồn tại, cái gì tồn tại ít nhiều đã chứa đựng trong đó tính hợp lý. Hay nói cách khác mọi thứ tồn tại, vận động và phát triển trên thế giới này đều có lý do riêng của nó và chừng nào còn những khác biệt về lịch sử, địa lý, trình độ phát triển giữa các nền văn hóa thì chừng đó vẫn còn tồn tại những sự khác biệt nhưng đầy tính hợp lý. Chính vì vậy, nếu nhìn pháp luật dưới góc độ văn hóa, người ta thường không phán xét vội vàng, chủ quan về sự cao thấp, mà nhìn nhận vấn đề trong tính đa dạng và khác biệt vốn có của sự vật.  – Nhìn pháp luật trong trạng thái không tĩnh tại mà luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng    Tất cả sự vật, hiện tượng đều ở trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển không ngừng không riêng gì pháp luật. Pháp luật cũng là một dạng thước đo, nhưng thước đo hay cách đo đó sẽ chỉ đúng trong một cộng đồng nhất định, phạm vi nhất định, thời điểm nhất định. Khi đánh giá một vấn đề, ta nên đặt nó trong điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian cụ thể, có vậy ta mới có khả năng đánh giá được đúng bản chất của vấn đề.   Chẳng hạn, nếu như Hiến pháp 1980 chỉ qui định có hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã (Điều 18 Hiến pháp 1980), kinh tế tư bản tư nhân không được thừa nhận thì Hiến pháp 1992 đã thừa nhận nhiều thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Điều 16 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001).   Hoặc hiện nay chủ đề “luật biểu tình” ở nước ta còn là vấn đề pháp lý rất mới nhưng rất có thể trong một thời gian tới, khi Luật biểu tình đã được Quốc hội nước ta thông qua và đi vào cuộc sống, đưa hoạt động biểu tình đi vào nề nếp, phù hợp với xu hướng dân chủ, bảo vệ quyền tự do con người thì đây sẽ là một sinh hoạt chính trị bình thường như nhiều quốc gia hiện nay.   – Nhìn pháp luật bằng tinh thần khoan dung  Đúng là cái gì hay ta nên học, cái gì xấu ta nên tránh, nhưng trước khi biết được hay dở thế nào, cần phải có một cái nhìn “khoan dung về văn hóa, cũng như pháp luật“. Khoan dung là tinh thần chấp nhận sự khác biệt. Thực tế nhiều vấn đề tưởng như không có lối thoát đã được hóa giải bằng việc tôn trọng nguyên tắc xử sự này vì có khoan dung ta mới có điều kiện để hiểu, chia sẻ, đàm phán và cùng tìm ra những qui tắc xử sự chung phù hợp.   Một người chỉ bằng “đôi mắt” hay thông qua “bộ lọc” của riêng mình và lấy cộng đồng văn hóa của mình làm chuẩn khó có thể đánh giá đúng được hết những hành vi và lời nói của một người thuộc một cộng đồng văn hóa khác hay một thế giới quan văn hóa khác. Hiện nay đâu đó vẫn tồn tại lối tư duy cho rằng: “Những gì phù hợp với cái mà bản thân tôi hoặc cộng đồng văn hóa của tôi cho là “đúng”, thì mới là “đúng”, còn những gì khác lạ, không phù hợp với cái bản thân tôi và cộng đồng văn hóa của tôi cho là “đúng” thì ắt hẳn là “sai“. Lối tư duy này là không nên và đó cũng giống như trong một truyện vui khi được hỏi: “cây hoa nào đẹp nhất?”, một chú nhím liền trả lời ngay rằng: “cây hoa xương rồng là đẹp nhất” vì cây hoa xương rồng có những điểm tương đồng với “vẻ ngoài” của chú nhím này.    Giá trị của tinh thần khoan dung ở chỗ khi nhìn vào nền văn hoá khác, hoặc pháp luật của những quốc gia khác trong nhiều trường hợp ta còn tìm thấy được trong đó cả những giá trị cao cả, văn minh hơn những gì chúng ta đang có. Điều này vô cùng cần thiết hiện nay khi sự giao thoa văn hóa, luật pháp giữa các khu vực, quốc gia, vùng, miền đã trở thành một xu hướng tất yếu.   Chung sống hòa bình, bình đẳng, hợp tác, thống nhất trong đa dạng và chủ động học hỏi những giá trị của nhau chính là sự lựa chọn tất yếu của các nền văn hóa, của các hệ thống pháp luật và mỗi một cá nhân trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.    —  (*) NCS Đại học Saarland, CHLB Đức  1. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa mà đến nay được rất nhiều người biết đến: “Văn hóa nên được xem như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Nguyên bản Tiếng Anh: “Culture should be regarded as the set of distinctive spiritual, material, intellectual and emotional features of society or a social group, and that it encompasses, in addition to art and literature, lifestyles, ways of living together, value systems, traditions and beliefs.”  2. Janssen, André (2002). The New Regulation of Voluntary Euthanasia and Medically Assisted Suicide in the Netherlands. Int J Law Policy Family 16 (2): 260–269.  3. Phạt đọc sách thay vì ngồi tù, Báo Tuổi trẻ, ngày 7/8/2009, truy cập tại http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=330534&ChannelID=268.  4. Jonathan Kent, Kiss warning to Malaysia Tourists, BBC News, http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/4879248.stm.  5. Libertarian Party of Maryland, Weird American Laws, http://www.md.lp.org/weird_laws.php  Jennifer Heath, Aschraf Zahedi, Land of the unconquerable: the lives of contemparary Afgan women, University of California Press, 2011, p. 162–170.  6. Jennifer Heath, Aschraf Zahedi, Land of the unconquerable: the lives of contemparary Afgan women, University of California Press, 2011, p. 162–170.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, tiếp cận dần với chuẩn mực quốc tế trong hoạt động KH&CN      Trong giờ nghỉ trưa của Hội nghị Trung ương VI, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về nhiệm vụ của Bộ KH&amp;CN trong năm 2008.    PV: Thưa Bộ trưởng, để góp phần bảo đảm cho nền kinh tế của đất nước trong giai đoạn phát triển mới, có tốc độ tăng trưởng nhanh, chất lượng cao, trong  năm 2008, trọng tâm nhiệm vụ  của Bộ là gì?    Bộ trưởng Hoàng Văn Phong: Trong năm 2008, cơ quan Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung vào 3 nhiệm vụ chính. Đó là:  Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những cơ sở, hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học trên tất cả các lĩnh vực: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển theo các định hướng: tiếp cận dần với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực phụ thuộc chủ yếu vào trí tuệ, không cần đến nhiều trang thiết bị như: toán học, cơ học, vật lý lý thuyết, tin học; các sáng chế, giải pháp hữu ích xuất hiện ngày càng nhiều trong lĩnh vực ứng dụng và phát triển công nghệ. Đó chính là tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học. Để các định hướng này thành hiện thực, cần có sự đánh giá công tâm và đầu tư thỏa đáng. Chẳng hạn với các nhà  khoa học có công bố quốc tế, có sáng chế… cần có chính sách khen thưởng, ưu tiên giao cho chủ trì các đề tài nghiên cứu. Còn với các nhà khoa học trẻ thì có chính sách tạo cơ hội để họ thích ứng dần với nhiệm vụ, phát triển tài năng.  Đẩy mạnh hoạt động, hình thành và phát triển thị trường công nghệ. Thực chất là tạo môi trường tìm kiếm, kích thích đổi mới và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao trình độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, một yếu tố có tính sống còn trong việc nâng cao năng suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong hội nhập quốc tế.  Và nhiệm vụ thứ ba là phải có chiến lược, chính sách hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Nếu không thì không thể nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đổi mới công nghệ được.    Vậy theo Bộ trưởng để  hội nhập quốc tế thành công, đâu là yếu tố chính?  Có nhiều yếu tố để chiến lược này thành công. Trong đó, theo tôi có hai yếu tố chính: Hoạt động khoa học công nghệ của ta phải nhanh chóng tiến tới các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và tính chuyên nghiệp của các nhà khoa học. Vừa qua, giữa Việt Nam và Nhật Bản đã đề ra một số chương trình hợp tác KH&CN. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần có những nhà khoa học đủ trình độ, năng lực để có thể làm đối tác với họ.  Hẳn là trong việc xây dựng và hoàn thiện các cơ sở pháp lý, chính sách, Bộ sẽ quan tâm nhiều đến một chính sách mà các nhà khoa học than phiền từ nhiều năm nay, đó là chính sách tài chính trong hoạt động KHCN?  Chính sách tài chính hoạt động KHCN hiện nay, thực chất là một chính sách mang nặng dấu ấn hành chính. Bó hoạt động KHCN theo niên chế tài chính hằng năm. Kéo theo nội dung, định mức, thủ tục chi, thời hạn thanh quyết toán… cũng phải giải quyết trong năm. Từ đó, gây không ít khó khăn cho công tác nghiên cứu mang nhiều đặc thù rủi ro, ngoài ra các thủ tục hành chính đó cũng gây phiền hà cho các nhà khoa học. Vì vậy, Bộ KH&CN đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu để có thể sớm ban hành một chính sách tài chính thực sự từng bước đáp ứng được tính đặc thù và yêu cầu của hoạt động KHCN.  Bộ trưởng mong ước điều gì trong năm 2008?  Điều tôi mong ước với sự hỗ trợ, hợp tác của các nhà khoa học, cơ quan Bộ KH&CN sẽ thực  thực hiện tốt được ba nhiệm vụ kể trên.  PV            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết kiệm điện kiểu Nhật Bản      Pin năng lượng mặt trời như loại lắp trên nóc trụ sở Itochu ở Tokyo (ảnh bên) có thể sẽ phổ biến hơn ở Nhật Bản nhờ kế hoạch phát triển năng lượng tái sinh đầy tham vọng của Thủ tướng Naoto Kan. Nhưng vấn đề nóng bỏng trước mắt trong mùa hè này ở Nhật là tiết kiệm năng lượng.    Tại Đại học Meiji Gakuin ở Tokyo, giáo sư Keiko Tanaka giảng bài trong lớp với lượng ánh sáng điện bằng một nửa so với bình thường và cũng hạn chế sử dụng máy vi tính, máy chiếu cũng như các thiết bị sử dụng điện khác. Giờ đây bà thường dùng phấn viết lên bảng đen.   Nhưng với lưới điện trục trặc sau thảm họa sóng thần, bà tự hỏi không biết đồng bào mình có kiên quyết tiết kiệm năng lượng được đến mức như đất nước cần hay không.  “Nhật Bản là đất nước nơi các thiếu nữ 18 tuổi dùng thang máy chỉ để đi lên một tầng gác vì họ không muốn phải đổ mồ hôi,” bà nói. “Đây là nơi phần lớn bệ ngồi toilet được sưởi ấm, còn phòng vệ sinh nữ có máy tạo âm thanh để che dấu tiếng động. Người ta đã quen với những tiện nghi nhân tạo tiêu tốn nhiều điện năng.”  Mức tiêu thụ điện [của người dân Nhật] đang bị cắt giảm ở mức chưa từng có vì họ đã mất nhà máy điện hạt nhân Fukushima Số 1 và cơ sở hạ tầng lưới điện bị thiệt hại sau trận động đất và sóng thần hôm 11 tháng 3. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nói trong một báo cáo hồi tháng 7 rằng Nhật Bản “đang trải qua đợt khủng hoảng thiếu năng lượng có lẽ là nghiêm trọng nhất trong lịch sử.”  Nhật Bản đang nỗ lực khôi phục cơ sở hạ tầng và tăng cường nhập khí đốt hóa lỏng (LNG) nhưng IEA cảnh báo rằng tình hình có thể sẽ còn xấu đi do xu thế phản đối năng lượng hạt nhân, nguồn năng lượng đóng góp tới một phần ba lượng điện nước này sản xuất thời kỳ trước tháng 3.   Về lâu dài, Thủ tướng Naoto Kan đã tuyên bố [Chính phủ] sẽ thúc đẩy [sử dụng] năng lượng tái sinh với mục tiêu xây 10 triệu ngôi nhà chạy bằng năng lượng mặt trời trước năm 2020, đồng thời hủy bỏ kế hoạch mở rộng các nhà máy hạt nhân đầy tham vọng trước đây. Nhưng Nhật Bản – đất nước không hề có nhiên liệu hóa thạch – phải đối mặt với một thử thách trước mắt, đó là [việc sử dụng] điều hòa nhiệt độ trong thời tiết nóng bức của tháng Bảy và Tám đã làm cho tình trạng thiếu điện đặc biệt căng thẳng. Chính phủ Nhật nói rằng người dân phải giảm tiêu thụ điện 15% trong hè này; ở Tokyo, mục tiêu là giảm 25%.  IEA nói rằng Nhật Bản sẽ rất khó đạt mục tiêu vì – ngoại trừ chuyện dùng hệ thống toilet có sưởi – nền kinh tế nước này vốn đã tiết kiệm năng lượng hơn rất nhiều so với các quốc gia khác. Để có thể tiết kiệm năng lượng nhiều hơn nữa, “Nhật Bản sẽ phải có những biện pháp tiết kiệm và dự trữ năng lượng vô cùng triệt để,” báo cáo của IEA kết luận.  Thắt lưng buộc bụng và cởi nút thắt   Trước nguy cơ khủng hoảng năng lượng mùa hè, Nhật Bản đã đẩy mạnh chiến dịch Cool Biz mà họ đã phát động từ năm 2005. Vừa đổi tên thành Super Cool Biz, Nhật Bản vừa kêu gọi các văn phòng giữ nhiệt độ ở mức 28°C (nhiệt độ mùa hè ở Tokyo có thể vượt 30°C với độ ẩm cao). Nhân viên văn phòng được động viên thay trang phục công sở bằng quần áo kaki, dép sandal và quần ngố.  Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản tuyên bố họ muốn quản lý bằng cách nêu gương – họ giảm sử dụng máy tính và máy photocopy trong các văn phòng, tắt cửa tự động, giảm số thang máy phục vụ và chuyển sang giờ làm việc sớm.   Nhưng một số người ủng hộ tiết kiệm năng lượng đang cảm thấy mệt mỏi. Taro Kono, một thành viên Hạ viện, nói rằng ông đã cố gắng khuyến khích chế độ làm việc từ xa nhưng nỗ lực của ông đã không đạt kết quả như mong đợi vì nhiều công ty vẫn không muốn từ bỏ khả năng quan sát trực tiếp nhân viên của mình làm việc.  Theo cơ sở dữ liệu EarthTrends nổi tiếng của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI), Mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP của Nhật Bản thấp hơn 20% so với mức trung bình thế giới và thấp hơn 30% so với nước Mỹ. Cơ quan Tài nguyên Thiên nhiên và Năng lượng (ANRE) của Nhật Bản thì ước tính rằng nước Nhật đã tăng hiệu suất sử dụng năng lượng 37% trong vòng 30 năm qua.  IEA, trong báo cáo mang tên “Khẩn trương tiết kiệm điện,” nói rằng vẫn chưa rõ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật chấp nhận tự nguyện cắt giảm mức tiêu thụ điện thêm bao nhiêu nữa. Cơ quan này giải thích rằng nhiều biện pháp tiết kiệm năng lượng ở các công ty này đòi hỏi họ phải chuyển giờ làm việc sang buổi tối hoặc cuối tuần – mà điều cần được công đoàn chấp thuận và có thể làm xáo trộn thời gian biểu của các vị phụ huynh.   Sau sóng thần là làn sóng chống hạt nhân  Tình trạng thiếu điện ở Nhật Bản ngày càng trầm trọng vì nước này quy định các nhà máy điện hạt nhân phải được bảo dưỡng định kỳ 13 tháng một lần và quan chức trong vùng đặt nhà máy sẽ ra quyết định cuối cùng cho phép nhà máy khởi động lại. Việc tái khởi động trước đây thường được chấp thuận đều đặn nhưng nay tất cả đều bị trì hoãn kể từ thảm họa Fukushima Daiichi. Sự chần chừ này xảy ra đồng loạt tại nhiều nhà máy, cho dù động đất tới nay chỉ gây thiệt hại tới một vài nơi, hiện chỉ có 19 trên tổng số 54 lò phản ứng là đang được hoạt động.  Kyushu Electric, công ty cung cấp điện cho miền Tây Nam Nhật Bản, nhận được chút tin vui trong tháng 7 khi vị lãnh đạo địa phương chấp thuận đề nghị tái khởi động các lò phản ứng ở nhà máy Genkai của họ tại quận Saga. Các lò này ngừng hoạt động từ mùa đông vừa rồi để bảo dưỡng. Lựa chọn cuối cùng vẫn nằm trong tay ngài thống đốc quận, ông Yasushi Furukawa.  Các chuyên gia về năng lượng cho rằng nếu ông Furukawa phủ quyết đề nghị tái khởi động thì các quan chức khác cũng sẽ làm theo và tạo ra một phản ứng dây chuyền có thể sẽ làm tê liệt các lò phản ứng hạt nhân ở Nhật trong một năm.  Bộ trưởng bộ Thương mại và Công nghiệp Banri Kaieda đã phải trấn an người dân về độ an toàn của các lò phản ứng bằng cách cam kết rằng chính phủ sẽ kiểm tra tất cả các nhà máy.  Bình minh cho năng lượng tái sinh  Còn phải chờ xem việc kiểm tra độ an toàn trong những tuần sắp tới có trấn an được người dân Nhật Bản về khả năng chống chịu động đất và sóng thần hay không, nhưng rõ ràng là những người bất đồng chính kiến có thể công kích dựa trên thảm họa Fukushima và cổ vũ việc mở rộng sử dụng các nguồn năng lượng thay thế.  Họ lập luận rằng nước Nhật giàu tài nguyên địa nhiệt – với gần 200 núi lửa và khoảng 28.000 suối nước nóng – và có thể cung cấp hơn 80.000 megawatt điện, đủ đáp ứng một nửa nhu cầu của cả nước. Thêm vào đó, một nghiên cứu được Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia [Nhật Bản] công bố hồi năm 2009 ước tính rằng nguồn năng lượng gió trong đất liền của nước này đủ để cung cấp một nửa mức tiêu thụ còn lại.  Nhật Bản đang quyết liệt tìm cách nâng cấp tiềm năng điện mặt trời của mình – đây là động thái của Thủ tướng Kan trước khi ông này thoát hiểm trong cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hồi đầu tháng Bảy. Nước này đã đặt mục tiêu tăng sản lượng quang điện, chủ yếu là từ loại pin tấm lắp trên mái nhà, từ 3.500 megawatt năm 2010 lên 53.000 megawatt vào năm 2030. Xa hơn cái đích cung cấp điện cho 10 triệu ngôi nhà vào năm 2020 của ông Kan, điện mặt trời [ở Nhật] sẽ đủ cung cấp cho 18 triệu gia đình vào năm 2030.  Masayoshi Son, người sáng lập Softbank Mobile và là người giàu nhất nước Nhật, đã thu hút được sự quan tâm đáng kể tới dự án mở một quỹ nghiên cứu cho năng lượng tái sinh, với phần lớn ngân sách là từ tiền túi của ông. Tới nay, 35 trong tổng số 47 quận trưởng của Nhật Bản đã đăng ký làm thành viên sáng lập.  “Rõ ràng là có nhiều phương tiện để thực hiện việc này,” Andrew DeWit, một giáo sư về tài chính công chuyên nghiên cứu tình hình năng lượng ở Đại học Rikkyo (Tokyo), nói. “Nghe có vẻ lạc quan hóa nhưng tôi thực sự nghĩ rằng Nhật Bản, với tất cả nhu cầu về năng lượng tái sinh như hiện nay, chỉ sau một tới hai năm nữa có thể sẽ chứng kiến một sự chuyển mình đáng kinh ngạc trong triển khai tăng cường khả năng cung cấp năng lượng tái sinh.”  Tuy vậy, ông cũng thừa nhận rằng các nhà cung cấp điện hạt nhân Nhật Bản sẽ không dễ dàng từ bỏ nguồn năng lượng này. “Có đủ các luận điệu trái chiều – các trang trại gió quá ồn, chúng làm chết chim chóc và vân vân,” ông nói. “Ngành kinh tế năng lượng của đất nước này sẽ được quyết định trong vòng vài tháng nữa… Với tôi, yếu tố quyết định sẽ là mức nóng bức của mùa hè và mức độ nghiêm trọng của tình hình sự cố hạt nhân.”  Trong khi tương lai của ngành năng lượng Nhật Bản còn đang là câu hỏi thì mối bận tâm của phần lớn người dân lúc này là cắt giảm tiêu dùng điện. Kazuto Tsuchiya, một sinh viên ở Đại học Nam California đang nghỉ hè cùng gia đình ở miền trung nước Nhật, nói rằng họ hàng anh đã bỏ ý định mua máy điều hòa nhiệt độ.  “Chúng tôi sẽ chịu đựng cái nóng với quạt giấy và quạt gấp,” anh nói. Tsuchiya cho rằng đồng bào anh không chống đối việc tiết kiệm nhưng cũng chẳng mặn mà gì với nó.   “Có vẻ như mọi người nghĩ rằng đây là chuyện “sho ga nai”, trong tiếng Nhật nghĩa là ‘còn cách nào đâu, phải chấp nhận thôi’,” anh nói.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiểu sử David Ben Gurion – Lịch sử hình thành nhà nước Israel      Tiểu sử David Ben Gurion – Lịch sử  hình thành nhà nước Israel*&#160; là cuốn tiểu sử chính thức duy nhất được  David&#160; Ben Gurion, vị lãnh tụ lập quốc ưu tú của Israel, đồng ý trả lời  phỏng vấn và cung cấp tư liệu cho tác giả.     Cuốn sách kể về cuộc đời của David Ben Gurion từ  khi còn là cậu bé ốm yếu được sinh ra và nuôi dưỡng trong một gia đình sùng đạo với một ông bố luôn dành tâm huyết cho Tình yêu Ziôn và  Vùng đất Israel, đến khi từ giã cuộc đời trong niềm tiếc thương vô hạn của Israel với bao nhiêu cống hiến của ông với đất nước, con người, nhà nước Israel trên từng chặng đường đời. Ben Gurion đã biến ước mơ từ ngàn đời của dân tộc Israel thành hình, xóa bỏ cuộc sống lưu vong của hàng vạn người Do Thái trên khắp thế giới và mang họ đến Israel trong những cuộc giải thoát ngoạn mục. Cuối cùng, ông đã góp phần hết sức to lớn đưa đất nước Israel bị cô lập giữa thế giới Ả-rập trở thành một cường quốc quân sự và khoa học kỹ thuật cực kỳ tiến bộ. Các thành tựu sáng chói và cả những quyết định sai lầm đằng sau những nỗi thống khổ và hy vọng, giấc mơ thầm kín của Ben Gurion – vị lãnh tụ lập quốc vĩ đại của dân tộc Israel, tất cả đều được tác giả vén lên bức màn bí mật trong cuốn sách này.    Ben Gurion chưa bao giờ đồng ý cho bất cứ ai viết hồi ký của ông, đó là trước khi ông gặp Michael Zar-Bohar. Nhờ được phép tiếp cận các nhật ký, thư từ, tài liệu cá nhân và kho lưu trữ tuyệt mật của ông, tác giả đã khắc họa chân dung chân thực nhất của người đã hiện thực hóa giấc mơ về một quốc gia lý tưởng của người Do Thái – một chính khách quyết đoán thực hiện các quyết định sinh tử cho vận mệnh của đất nước Israel, và một người đàn ông cô đơn trên đỉnh cao quyền lực.   Chỉ một phần cực nhỏ trong con số tư liệu khổng lồ về Ben-Gurion là dùng được trong cuốn sách. Công việc chọn lựa tư liệu và câu chuyện phù hợp để được miêu tả và trích dẫn trong sách không hề dễ dàng. Tác giả đã bận tâm sâu sắc về việc lựa chọn phong cách khi viết quyển hồi ký này và đã đi tới kết luận phải đạt được sự tổng hòa giữa việc miêu tả một chính khách Ben-Gurion và một con người ẩn sau huyền thoại. Có lẽ việc khó khăn nhất là cởi bỏ những lớp vỏ thần thoại và sự lý tưởng hóa phủ lên hình ảnh giàu sức hút của Ben-Gurion bởi những người ủng hộ sùng kính cũng như các kẻ thù cay đắng của ông. Ben-Gurion và vợ ông, Paula, qua đời trước khi quyển hồi ký hiện tại được viết và xuất bản. Do đó, tác giả phải thú nhận rằng, điều đó làm dễ dàng hơn cho tác giả trong việc xử lý một cách tự do vài khía cạnh về đời tư Ben-Gurion, vốn là những điều tác giả sẽ không đụng đến nếu ông và vợ còn sống.   Ben Gurion được coi là một trong bốn vị thánh bất tử của Israel (vị thánh đầu tiên là Theodor Herzl người sáng lập ra chủ nghĩa Ziôn- chủ nghĩa phục quốc Do Thái với lý tưởng và mục đích cao cả là xây dựng một nhà nước độc lập cho người Do Thái. Vị thánh thứ hai là Ben Gurion đã đặt những hàng gạch nền móng đầu tiên giúp biến ước mơ hàng nghìn đời của người Do Thái trở thành hiện thực. Vị thánh thứ ba Levi Eshkol là người đã tiếp bước Ben Gurion xây dựng thành công nhà nước Israel độc lập của riêng người Do Thái và vị thánh thứ tư là Shimon Peres người đã có công thúc đẩy Israel trở thành một cường quốc công nghệ như hiện nay.). Điều đáng nói, năm 1946 tại Paris, Ben Gurion đã từng gặp gỡ và đàm đạo với chủ tịch Hồ Chí Minh về ước mơ, hoài bão, cũng như tầm nhìn chiến lược về việc xây dựng nhà nước độc lập cho mỗi dân tộc.   Tác giả Michael Bar-Zohar (1938) sinh ở Bulgaria và di cư đến Israel năm 1948. Ông học trường trung học Teh ở Tel Aviv, Đại học Hebrew của Jerusalem, chuyên ngành kinh tế và quan hệ quốc tế và nghiên cứu Tiến sỹ tại Viện Khoa học Chính trị của Đại học Paris. Michael Bar-Zohar tham gia chính trị từ năm 1960, được bầu vào Knesset và đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau. Ông từng là phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Israel năm 1967 và tham gia giảng dạy tại Đại học Haifa từ năm 1970 đến 1973. Ông đã đoạt giải Sokolov cho sự nghiệp báo chí của mình và xuất bản rất nhiều sách, trong đó có sách tiểu sử của Ben Gurion và Shimon Peres.         Ngày 6/5 tới đây, tại Phòng hội thảo tầng 6,  nhà D, Thư viện Quốc gia  (31 Tràng Thi, Hà Nội) Đại sứ quán Israel  phối hợp với Alpha Books sẽ tổ chức buổi Tọa đàm và ra mắt cuốn sách  Tiểu sử David Ben Gurion – Lịch sử hình thành nhà nước Israel. Trong  buổi tọa đàm Bà Meirav Eilon Shahar  Đại sứ Israel tại Việt Nam; Ông  Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT Đại học FPT; và Ông Trần Đình Thiên, Viện  trưởng Viện kinh tế Việt Nam sẽ chia sẻ với khách mời và đại diện các  cơ quan truyền thông về cuộc đời và sự nghiệp của Ben Gurion cũng như  lịch sử hình thành nhà nước Israel.          * Người dịch: Trí Vương, 615 trang, giá bìa: 179.000 đồng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm đến với sử      Người ta viết sử, tìm đọc sử khi nào? Chắc là khi muốn tìm một hướng xuất xử trong thực tại nan giải. Khi muốn soi vào quá khứ để thông đạt hiện tại hay lặn tìm một mảnh gương quý soi tâm, cho dù biết, đó là những mảnh gương vỡ.      Hang Những bàn tay, Patagonia, Santa Cruz, Argentina. Dấu những bàn tay theo kiểu âm bản được xác định có niên đại cách nay từ 13 nghìn đến 9 nghìn năm, do người cổ đại tạo ra bằng cách dùng các ống làm từ xương thổi màu lên vách hang.   Nhưng trước hết, đọc sử, là đi tìm một cái nhìn thấu đáo, khoa học, khách quan nhất có thể về quá khứ. Trong cuốn sách Lịch sử học là gì?, Odanaka Naoki1 suy niệm về sử ở hai khía cạnh: “liệu chúng ta có thể hiểu được sự thật lịch sử hay không?” và “việc biết được quá khứ thì có giúp ích gì hay không?”. Mối tương quan tuy hai mà một này đã từng gây ra nhiều cuộc tranh cãi gay gắt của phái hàn lâm và phái phổ thông. Dẫn khái niệm paradigm (tạm dịch là hệ hình) của Thomas Kuhn (trong cuốn Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, đã được dịch, ấn hành tại Việt Nam2 – NV), nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng sử học, cũng như các khoa học khác, “không có khoa học đúng 100% và không có khoa học sai 100%”, tuy nhiên, thảo luận để đi đến một hướng tiếp cận “đúng hơn” không phải là điều bất khả. Odanaka Naoki đề nghị cần có sự vận dụng Kuhn trong cơ cấu nhìn nhận lịch sử. Ông viết: “Việc cung cấp các tri thức ở hiện tại có thể có được sự đồng ý từ rất nhiều người và ổn định, nhưng tương lai sẽ được đánh giá thế nào là điều chưa biết, sử học cũng chỉ là một trong số các ‘khoa học thông thường’.”      Những cuộc giải mật lớn đang phơi bày trước mắt chúng ta vô số hướng tiếp cận mới, phơi bày những khuất tất trong lao động khoa học và thậm chí, đặt lại câu hỏi thẳng thừng về phẩm giá trí thức của những ngự sử nghiêm trang một thời. Nhưng, đồng thời nó cũng đặt ra những thử thách khác, đòi hỏi sự gạn lọc, tổng hợp và xử lý, xác minh nghiêm cẩn của những người làm nghiên cứu ngày nay.      Nhu cầu muốn biết, tiếp cận càng gần càng tốt những sự thật lịch sử là điều thú vị, làm nên sự sống động của sinh hoạt nghiên cứu và trao đổi. Điều này càng trở nên cần thiết, hào hứng hơn trong bối cảnh học thuật hậu hiện đại, khi những diễn ngôn áp đặt của thứ sử học chính thống đang lung lay trước cuộc lật đổ ngoạn mục của những nguồn dữ liệu khổng lồ được cung cấp miễn phí trôi nổi trên các trang mạng và hệ thống thư viện liên thông toàn cầu. Những cuộc giải mật lớn đang phơi bày trước mắt chúng ta vô số hướng tiếp cận mới, phơi bày những khuất tất trong lao động khoa học và thậm chí, đặt lại câu hỏi thẳng thừng về phẩm giá trí thức của những ngự sử nghiêm trang một thời. Nhưng, đồng thời nó cũng đặt ra những thử thách khác, đòi hỏi sự gạn lọc, tổng hợp và xử lý, xác minh nghiêm cẩn của những người làm nghiên cứu ngày nay.  Trong chiều hướng thực tế đó, có thể thấy rằng, đây là thời lý tưởng cho việc phủi bụi tìm lại tác phẩm của các sử gia độc lập đã từng đóng góp trước đây và có thể làm mới chúng bằng những cuộc giới thiệu xứng đáng, gắn kết với thời sự xã hội. Dĩ nhiên, cũng là lúc cần đến những nhà biên khảo, nghiên cứu mới trong hành trình về quá khứ với niềm đam mê, có sự tiếp sức lợi hại của phương tiện công nghệ và nhất là không bị chi phối bởi những định kiến.  Những năm qua, đã có sự trở lại của những sử gia, nhà biên khảo sáng giá mà trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó, từng bị bạc đãi trên diễn đàn nghiên cứu, biên khảo lịch sử chính thống. Có thể kể đến: Lê Thành Khôi, Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Tạ Chí Đại Trường,… Những công trình nghiên cứu chuẩn mực, có tính học thuật cao cần được đặt lại đúng vị trí của nó trong tiến trình lịch sử nghiên cứu đã đành, mà cả những công trình mang tính giả thiết, gợi những ý hướng tiếp cận mới mẻ các vấn đề xã hội của ngày hôm qua cũng cần được phục dựng, góp phần soi tỏ hơn về những chi tiết trong bức tranh quá khứ. Cùng với các công trình của những nhà nghiên cứu nước ngoài về Việt Nam, thì sự trở lại của những tên tuổi nói trên giúp cho người đọc ngày nay nhận diện rõ hơn về tính tiến hóa trong nghiên cứu khoa học lịch sử và hiểu rằng, tri thức lịch sử không phải, không nên là thứ đặc quyền của một ý chí quyền lực nào đó, mà là một lịch sử tri thức, có tính tương tác, thảo luận để sự thật về ngày hôm qua được tỏ tường hơn.  Và tuy là trong một điều kiện tra cứu tài liệu tại chỗ về một số giai đoạn còn nhiều hạn chế, nhưng cũng đã xuất hiện những khuynh hướng biên khảo, nghiên cứu sử học độc lập trong thời gian gần đây. Không tạo ra những công trình tầm vóc có độ bao quát lớn, nhưng những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu vào các giai đoạn ngắn, những khảo sát vi lịch sử đã bắt đầu xuất hiện. Có thể kể những tác giả tiêu biểu: Phạm Hoàng Quân, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Duy Chính,… Có những sự xuất hiện đầy ấn tượng (như hiện tượng Nguyễn Duy Chính với chín đầu sách biên khảo dày về thời Lê mạt và Tây Sơn gây chú ý đặc biệt trong năm qua) đang hứa hẹn một sinh khí khảo sử, làm sử mới không đi vào số đông, đội ngũ, tổ chức hay chủ trương của hội nọ, viện kia, mà từ chính sự hoài nghi và một “tinh thần muốn biết” từ chính người viết.  Odanaka Naoki đưa ra khái niệm common sense, tức thường thức (hay tri thức thực tiễn có ích cho cuộc sống thường ngày của cá nhân), để nói về “sự giúp ích cho hiện tại” của những hiểu biết về lịch sử. Thật quá ảo tưởng khi nghĩ rằng đọc xong một cuốn sách biên khảo, nghiên cứu lịch sử hay có thể giúp người ta cải biến hiện thực, tìm ra ngay hướng đi cho xã hội, nhưng, sự thường thức nằm ở chỗ, khi có dịp đứng trên những hệ hình khác nhau để bóc tách sự thật trong quá khứ, ta có sự chọn lựa phương pháp thích đáng để tiếp cận hiện tại và quan trọng hơn, có thể suy niệm một cách tự giác về thực tại trong một bối cảnh mà kẻ trí biết mình phải làm gì, xuất xử ra sao không phải là chuyện đơn giản và dễ giải đáp.  Ta tìm đến với sử, nhưng thực chất, là sử đang vận vào ta!  —-  1 Nguyễn Quốc Vương dịch, ĐH Hoa Sen và NXB ĐH Quốc gia TP.HCM, 2016.  2 Chu Lan Đình dịch, NXB Tri thức, 2009.          Author                Nguyễn Vĩnh Nguyên        
__label__tiasang Tìm định nghĩa, tìm cơ chế      Tại Hội thảo “Góp ý xây dựng đề án trình Hội nghị TƯ7 (khóa X) về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” do Ban Tuyên giáo TƯ cùng Bộ KH&amp;CN tổ chức, phần lớn ý kiến đều cho rằng muốn “xây dựng đội ngũ trí thức”, trước hết phải bắt đầu từ “định nghĩa trí thức”…  Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4      Danh mục: Diễn đàn   
__label__tiasang Tìm hiểu về Think Tank      Người ta cho rằng, tỷ lệ quyết sách sai lầm tại các nước phát triển ở phương Tây khá thấp, đó là do phương Tây tận dụng được các Think Tank, một loại hình tổ chức có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.     Think Tank là gì?  Think Tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao… , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp… có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.   Franklin Collbohm, sáng lập viên công ty RAND (Think Tank xếp hạng thứ 4 ở Mỹ, có 1600 nhân viên), định nghĩa Think Tank là “Nhà máy ý tưởng”, là trung tâm tư tưởng chiến lược dám thách thức và coi thường mọi uy quyền, dám vượt qua mọi trí tuệ hiện có.   Theo định nghĩa chặt chẽ thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.   Chức năng chính của Think Tank là: – đề xuất ý tưởng; – giáo dục, hướng dẫn dư luận; – tập hợp nhân tài.   Trong tiếng Anh Think là suy nghĩ, ý nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, Tank là cái thùng (bồn, vựa, chậu), còn có nghĩa là xe tăng. Trung Quốc dịch Think Tank là Túi tri thức (“trí nang đoàn”) hoặc Kho trí thức (“trí khố”). Ở ta có người dịch là “Kho Tư tưởng (Ý tưởng)”, “Kho Trí tuệ (Trí thức)”, “Vựa (Bồn) Trí tuệ”, “Nhóm chuyên viên (hoặc Tổ chức) tư vấn”… Nhận thấy tất cả các từ dịch kể trên đều chưa quen với bạn đọc và hơi dài, vả lại hiện chưa có một từ Việt tương đương được nhất trí thừa nhận, cho nên chúng tôi xin tạm dùng Think Tank như một danh từ tiếng Việt (viết hoa, không có số nhiều). Người Nhật cũng dùng nguyên từ Think Tank phiên âm ra tiếng Nhật.  Tình hình Think Tank trên thế giới  Think Tank xuất hiện ở phương Tây đã lâu, nhưng ở Việt Nam thì khái niệm này còn mới lạ, vì thế thiết nghĩ việc giới thiệu về Think Tank là cần thiết.   Theo một báo cáo công bố đầu năm 2009 của ĐH Pennsylvania, kết quả điều tra 169 nước trên thế giới năm 2008 có tổng cộng 5.465 Think Tank; trong đó Bắc Mỹ và Tây Âu có 3080 (chiếm 56,35%, riêng Bắc Mỹ có 1872), châu Á có 653 (11,95%), Đông Âu có 514, châu Mỹ La-tinh và vùng Caribe – 538, châu Phi vùng hạ Sahara – 424, Trung Đông và Bắc Phi – 218, châu Đại dương – 38.   Nước có nhiều Think Tank nhất là Mỹ – 1.777, rồi đến Anh – 253, Đức – 186. Tại châu Á, Ấn Độ có nhiều Think Tank nhất – 121, thứ nhì là Nhật – 105. Theo báo cáo trên, Trung Quốc hiện có 74 Think Tank theo nghĩa rộng; nhưng các học giả Trung Quốc đánh giá nước họ thực sự chưa có Think Tank đúng nghĩa.   Xếp hạng các Think Tank trên thế giới  Dưới đây là một số trích dẫn bảng xếp hạng các Think Tank toàn cầu [1]. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi để nguyên tên tiếng Anh không dịch.  Xếp hạng Top 10 Think Tank của Mỹ như sau:   1. Brookings Institution   2. Carnegie Endowment for International Peace   3. Rand Corporation   5. Heritage Foundation   6. Woodrow Wilson International Center for Scholars   7. Center for Strategic & International Studies   8. American Enterprise Institute   9. Cato Institute   10. Hoover Institution   Xếp hạng Top 10 Think Tank của các nước ngoài Mỹ như sau:   1. Chatham House (tức Royal Institute of International Affairs, thành lập năm 1920 tại Anh)   2. International Institute for Strategic Studies (Anh)   3. Stockholm International Peace Research Institute (Thụy Điển)   4. Overseas Development Institute (Anh)  5. Centre for European Policy Studies (Bỉ)   6. Transparency International (Đức)  7. German Council on Foreign Relations (Đức)   8. German Institute for International and Security Affairs (Đức)   9. French Institute of International Relations (Pháp)   10. Adam Smith Institute (Anh)  Xếp hạng Top 5 Think Tank của châu Á:   1. Chinese Academy of Social Sciences (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)   2. Japan Institute of International Affairs (Nhật)   3. Institute for Defence Studies and Analyses (Ấn Độ)   4. Centre for Strategic and International Studies (Indonesia)   5. Institute for International Policy Studies (Nhật)  Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực an ninh và quan hệ quốc tế:   1.    Brookings Institution (Mỹ)  2.    Chatham House (Anh)  3.    Carnegie Endowment for International Peace (Mỹ)  4.    Council on Foreign Relations (Mỹ)  5.    International Institute for Strategic Studies (Anh)    Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực phát triển quốc tế:  1.    Brookings Institution (Mỹ)  2.    Overseas Development Institute (Anh)  3.    Council on Foreign Relations (Mỹ)   4.    Rand Corporation (Mỹ)  5.    Woodrow Wilson International Center for Scholars (Mỹ)  Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực chính sách kinh tế quốc tế:   1.    Brookings Institution (Mỹ)  2.    Peterson Institute for International Economics (Mỹ)  3.    Fraser Institute (Canada)   4.    National Bureau of Economic Research (Mỹ)  5.    Adam Smith Institute (Anh)  Có thể thấy Viện Brookings đứng đầu cả 3 nhóm nói trên. Viện này thành lập năm 1916, có ngân sách năm 60,7 triệu USD, chuyên nghiên cứu về chính sách đối ngoại và vấn đề Trung Đông. Một số nhân vật tiêu biểu của Viện như Strobe Talbott (từng là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Kenneth Pollact, Alice Rivlin.   Think Tank có quy mô lớn nhất là Công ty Rand, với 1.600 nhân viên, ngân sách 251 triệu USD, chuyên nghiên cứu chiến lược quân sự, các vấn đề kinh tế chính trị. Một số nhân vật tiêu biểu của Rand là James Dobbins, Gregory Treverton, William Overholt.  Mỹ là nước có hệ thống Think Tank phát triển nhanh nhất thế giới, từ 1980 tới nay số Think Tank nước này tăng gấp đôi. Riêng tại Washington đã có trụ sở của khoảng 350 Think Tank, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác. Tại thủ đô Mỹ có một đường phố tập trung rất nhiều Think Tank. Từ thập niên 70 trở đi không chính khách nào có ý định làm chủ Nhà Trắng mà không nhờ vả một Think Tank làm tư vấn. Vì vậy sau khi tân Tổng thống nhậm chức, không ít cán bộ của Think Tank đó được giao các trọng trách trong chính phủ. Khi Tổng thống hết nhiệm kỳ, họ lại về Think Tank cũ làm việc. Vì thế các Think Tank nghiễm nhiên trở thành nơi tập hợp nhân tài, chính khách. Think Tank rất cần cộng tác viên và bạn đọc. Chẳng hạn nếu bạn vào website của Think Tank STRATFOR, họ sẽ liên tục gửi bài cho bạn. Người sáng lập và lãnh đạo STRATFOR là George Friedman mới đây đưa ra một dự báo thế giới thế kỷ XXI rất độc đáo (coi Nhật, chứ không phải Trung Quốc, là đối thủ số 1 của Mỹ ở châu Á…).  Tại sao cần Think Tank?  Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu của xã hội dân sự dẫn tới xu hướng “chính phủ nhỏ, xã hội lớn” dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả. Theo đà phát triển kinh tế và giáo dục, hệ thống doanh nghiệp, trường đại học và giới trí thức ngày càng lớn mạnh, trong xã hội tự xuất hiện nhiều cá nhân và đoàn thể có nguyện vọng cải tiến các quyết sách của đất nước.   Có người nói Công ty Đông Ấn [2] do người Hà Lan Cornelis de Houtman thành lập năm 1602 vừa là công ty xuyên quốc gia đầu tiên vừa là Think Tank đầu tiên trên thế giới nghiên cứu đưa ra phương thức độc quyền thương mại giúp Hà Lan khai thác hệ thống thuộc địa.   Từ sau Thế chiến II, giới trí thức phương Tây nhận thấy trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, mỗi quốc gia muốn tiến nhanh thì phải hết sức hạn chế các quyết sách sai lầm. Thế nhưng không chính phủ nào tránh được sai lầm trong khi đưa ra các quyết định chiến lược trên mọi lĩnh vực. Nguyên nhân gây ra sai lầm là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu-tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ nghe ngóng, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (tức Think Tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể.   Xã hội phương Tây từ rất sớm đã có nhiều cá nhân (điển hình là giáo sư các trường đại học) hoặc tổ chức, đoàn thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề chiến lược của nước mình hoặc thế giới; do độc lập với nhà nước nên họ có khả năng xem xét vấn đề một cách khách quan, toàn diện và đưa ra các giải pháp, chủ trương hợp lý. Chính vì thế, từ sau Thế chiến II, các Think Tank bắt đầu mọc lên như nấm ở phương Tây; trong thực tế các tổ chức này đã có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc ấn định các quyết sách của nhà nước hoặc chính đảng, của các ứng viên nghị sĩ quốc hội hoặc ứng viên Tổng thống. Do thấy được lợi ích to lớn của các tổ chức này nên chính phủ và doanh nghiệp, kể cả các đoàn thể xã hội và cá nhân đã ra sức khuyến khích thành lập và cung cấp kinh phí cho các Think Tank.   Nước Mỹ dựng nước mới hơn 200 năm đã trở thành cường quốc số một thế giới về mọi mặt, điều đó chứng tỏ họ rất ít mắc các sai lầm chiến lược lớn. Ở đây có một nguyên nhân là lãnh đạo nước này xưa nay bao giờ cũng chú ý lắng nghe ý kiến của dân, nhất là các nhà trí thức độc lập với chính phủ. Hệ thống Think Tank ở Mỹ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các chủ trương chiến lược lớn của nước này.  Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Học viện Quản lý công (thuộc trường ĐH Nhân dân Trung Quốc) nhận xét: tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, còn tại các nước phát triển ở phương Tây tỷ lệ này chỉ có khoảng 5%, đó là do phương Tây ra sức tận dụng các Think Tank.   Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của Trung Quốc là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Thực tế cho thấy các chiến lược “Đại Nhảy Vọt”, “Công xã nhân dân” cuối thập niên 50 đã dẫn tới hậu quả nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, hàng chục triệu dân “chết không bình thường”, nói trắng ra là chết đói vì nông dân phải đi “luyện gang thép” và làm các “công trình hinh ảnh” mà bỏ mặc ruộng đồng không ai làm. Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ Nhân dân tệ.   Hầu hết các sai lầm đó là do lãnh đạo cao nhất gây ra. Họ xem xét mọi vấn đề theo cảm tính cá nhân, thích cái gì thì “quyết”, bản thân suy nghĩ trong vài ngày là xong, không giao cho một cơ quan tư vấn nào nghiên cứu, cũng không hỏi ý kiến các nhà chuyên môn, hoặc có hỏi nhưng giới chuyên môn sợ mất lòng cấp trên nên không dám nói thật. Điển hình nhất là “Thời gian biểu vượt Anh đuổi Mỹ” do Mao Trạch Đông đưa ra: ngày 15/4/1958 ông nói Trung Quốc cần “10 năm đuổi kịp Anh, 20 năm đuổi kịp Mỹ”; một tháng sau ông quyết định “7 năm đuổi kịp Anh, thêm 8~10 năm nữa đuổi kịp Mỹ”; ngày 22/6/1958 ông lại quyết: “2~3 năm đuổi kịp Anh”.   Từ ngày cải cách mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã hết sức quan tâm xây dựng các Think Tank và thường xuyên lắng nghe ý kiến của họ. Sự quan tâm đó thể hiện ở chỗ Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu 2009.  Việt Nam ta từng có một số quyết sách sai lầm trên một số mặt, nhưng đáng tiếc là vấn đề này chưa được cơ quan nào nghiên cứu, thống kê, phân tích và công bố, trong khi ta lại nói quá nhiều về những thành tựu. Cách làm này chỉ làm cùn trí tuệ của các nhà hoạch định chiến lược và lãng phí trí tuệ xã hội. Gần đây dư luận đã bắt đầu lên tiếng tuy còn dè dặt về một số chủ trương kinh tế đã hoặc sẽ gây thiệt hại. Cho dù ta còn chưa có Think Tank đúng nghĩa, nhưng thử hỏi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhà nước (các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học…) đã có vai trò gì trong việc đưa ra những quyết sách kinh tế lớn. Nếu biết tận dụng hệ thống cơ quan tư vấn và biết coi trọng xây dựng hệ thống Think Tank thì chắc chắn đã có thể tránh được nhiều sai lầm đáng tiếc.  Đầu thập niên 50 thế kỷ XX, trước khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, một Think Tank nổi tiếng ở Mỹ là Công ty RAND khi nghiên cứu vấn đề “Trung Quốc có thể đưa quân sang Triều Tiên hay không” đã đi tới kết luận Trung Quốc sẽ đưa quân sang giúp Triều Tiên chống Mỹ. RAND rao bán bản báo cáo nghiên cứu này cho Phòng Nghiên cứu chính sách Trung Quốc của chính phủ Mỹ với giá 2 triệu đô-la (bằng giá một máy bay chiến đấu hồi ấy), nhưng bị từ chối. Sau đấy quả nhiên Trung Quốc đưa Quân Chí nguyện sang Triều Tiên; phía Mỹ do không có chuẩn bị trước về vấn đề này nên bị thiệt hại lớn. Tư lệnh quân đội Mỹ trên chiến trường Triều Tiên là MacArthur lúc này mới thấy hối tiếc là đã bỏ mất một quyết sách quý giá được RAND nghiên cứu chu đáo, có cơ sở thực tế.   (Còn nữa)      —-  [1] Xem: Tạp chí Foreign Policy số tháng 1 và 2/2009 (bài của James McGann Phó Giám đốc Chương trình Quan hệ quốc tế ĐH Pennsylvania và Giám đốc Chương trình Think Tank và xã hội dân sự). Có tham khảo thêm: http://www.upenn.edu Penn Research Ranks World’s Best Think Tanks; http://www.foreignpolicy.com The Think Tank Index, và một số website khác.    [2] Dutch East India Company (tên đầy đủ Dutch United East India Com., tiếng Hà Lan Vereenig de Oostindische Compagnie, viết tắt VOC), lập 1602, giải tán 1799, là công ty tư nhân lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất thế giới đương thời.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm hiểu về xã hội công dân      Xã hội công dân (Civil society, XHCD) là một  khái niệm khá mới mẻ, hiện chưa có một nhận thức tương đối thống nhất.  Nhân dịp nước ta đang chuẩn bị sửa Hiến pháp, chúng tôi xin trình bày  một vài tìm hiểu còn rất sơ sài về đề tài này, mong bạn đọc cùng bàn  thảo để làm sáng tỏ.     Xã hội và xã hội công dân  Có thể hiểu XHCD là một hình thức xã hội tự quản, khi toàn dân đều tham gia quản lý xã hội một cách có tổ chức, có trật tự; sự tự quản ấy vận hành song song với sự quản trị xã hội của bộ máy nhà nước.   Các triết gia từ cổ đại đến hiện đại đều quan tâm vấn đề xã hội tự quản, muốn dùng nó để thay thế cho hình thức xã hội được quản lý bằng bộ máy quyền lực nhà nước, bởi lẽ họ đã thấy rõ những mặt tiêu cực vốn có của quyền lực. Sử gia Lord Acton có một danh ngôn: Quyền lực dẫn tới tha hóa và quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối [1]. Sự tha hóa (tức biến chất xấu đi; nguyên văn corrupt, còn dịch là tham nhũng) phổ biến nhất là lợi dụng quyền lực để mưu lợi riêng; lịch sử cho thấy đây là nguồn gốc dẫn đến sự mục ruỗng và sụp đổ có tính tự sát của tất cả các chính quyền chuyên chế, kể cả tại các nước XHCN như Liên Xô và Đông Âu. Rõ ràng, khi trình độ tự quản xã hội càng cao thì bộ máy quyền lực càng được thu nhỏ, do đó hạn chế được mức độ tha hóa của nó.  Karl Marx đầu tiên đưa ra ý tưởng xã hội tự quản khi tiến lên chủ nghĩa cộng sản – khi ấy nhà nước đã tiêu vong, xã hội sẽ hình thành chế độ tự quản xã hội cộng sản. Nói cách khác, Marx coi xã hội tự quản cộng sản là hình thức cao nhất, sau chót, mãi mãi tồn tại của xã hội loài người; khi ấy không còn bộ máy quyền lực nữa (vì nhà nước đã tiêu vong). Việc Marx đánh giá cao xã hội tự quản càng cho thấy chúng ta rất cần xây dựng XHCD như một giải pháp hiệu quả nhất để giảm sự tha hóa của bộ máy quyền lực và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.  Marx cho rằng: – Xã hội tự quản đã có từ trước khi xuất hiện xã hội có giai cấp, dưới chế độ công xã nguyên thủy; – Với sự phân chia xã hội ra thành các giai cấp đối kháng, nó được thay bằng tổ chức chính trị của xã hội mà cơ sở là nhà nước; – Sự phát triển dân chủ XHCN sẽ lôi cuốn tất cả công dân tham gia quản lý xã hội, hình thành tự quản xã hội cộng sản [2].   Ở đây Marx đã nêu ra điều kiện tất yếu để hình thành xã hội tự quản: phát triển dân chủ. Nghĩa là khi toàn dân được hưởng tất cả các quyền dân chủ thì mới có thể hình thành xã hội tự quản.  Xã hội tự quản cộng sản có thể là đỉnh cao của XHCD, song nó chỉ là sản phẩm do bộ óc vĩ đại của Marx nghĩ ra. Rõ ràng nhà nước chỉ tiêu vong khi toàn thế giới cùng lúc tiến lên chủ nghĩa cộng sản – điều đó quá ư xa xôi, vì thế hiện nay chưa thể bàn thảo.  XHCD nói trong bài này là một hình thức xã hội tự quản hiện đang tồn tại ở một số quốc gia, khi nhà nước chưa tiêu vong, tức chưa tiến đến chủ nghĩa cộng sản. Nó là một thực thể gồm vô số các tổ chức công dân (TCCD, còn gọi là đoàn thể công dân) tồn tại độc lập với nhà nước, nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân, giúp nhà nước thực hiện quản lý xã hội một cách tốt nhất, hạn chế các nhược điểm cố hữu của quyền lực, đạt mục tiêu chính quyền nhỏ, xã hội lớn. Hiển nhiên XHCD kiểu này thấp hơn xã hội tự quản cộng sản nhưng nó có khả năng thực hiện ngay từ bây giờ, ở mọi nơi, dưới chế độ XHCN hoặc chủ nghĩa tư bản (CNTB), vì thế rất cần tìm hiểu, thảo luận.  XHCD là một tất yếu lịch sử, bởi lẽ phát triển dân chủ là một xu thế tiến tới không thể ngăn cản của loài người. Đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay đã xuất hiện các TCCD có tính toàn cầu, vì thế có người nêu ra khái niệm XHCD toàn cầu. Đó là các tổ chức phi chính phủ (NGO, Non-Government Organization) hoạt động trên toàn cầu và có tác động lớn không chính phủ nào dám coi thường; thí dụ các tổ chức Ân xá quốc tế, Theo dõi Nhân quyền, các tổ chức tôn giáo, hoặc các quỹ từ thiện lớn. Tại Trung Quốc năm 2004 có hơn 2000 NGO quốc tế được cấp phép hoạt động, số lượng NGO không cấp phép còn nhiều hơn. Đầu tháng 12/2011 Ân xá quốc tế đang đòi các chính phủ châu Phi bắt giữ cựu Tổng thống Mỹ Bush con vì tội cho phép tra tấn tù nhân tại nhà tù ở Guantanamo, nhân chuyến đi thăm châu Phi của ông này. Năm 2009 nước Nga có 277 nghìn NGO; Ấn Độ có khoảng 3,3 triệu NGO. Mỹ hiện có hơn 2 triệu NGO với hơn 9 triệu nhân viên, kinh phí hoạt động hàng năm hơn 500 tỷ USD (do dân tự nguyện đóng góp); viện trợ hàng năm cho các nước nghèo lớn hơn viện trợ nhân đạo của chính phủ Mỹ. Cá biệt quỹ từ thiện có tài sản vài chục tỷ USD, tương đương GDP một quốc gia trung bình. Tiền làm từ thiện do dân Mỹ hàng năm quyên góp lớn gấp 2-3 lần GDP nước ta. Lực lượng hùng hậu của các TCCD khiến chính phủ phải lắng nghe ý kiến, quan điểm của họ.  Tiền đề tất yếu để hình thành XHCD là mọi công dân đều được hưởng các quyền con người cơ bản như tự do ngôn luận, tự do hội họp, mít tinh biểu tình, tự do lập hội, sở hữu tài sản… Khi ấy con người được coi là yếu tố quan trọng nhất; chính quyền chỉ là cơ quan phục vụ dân. Sách Giáo dục công dân dùng trong các trường học ở Mỹ viết: Khi chính quyền là đầy tớ của bạn thì bạn được tự do; khi chính quyền là chủ nhân của bạn thì bạn sẽ như kẻ nô lệ [3]. Khi không ai muốn làm nô lệ nữa thì dĩ nhiên sẽ hình thành XHCD như một tất yếu lịch sử.   XHCD gồm có lĩnh vực tư nhân, các tổ chức xã hội, lĩnh vực cộng đồng công dân và các phong trào xã hội.  Lĩnh vực tư nhân chủ yếu là nói về đời sống cá nhân hoặc gia đình; trong lĩnh vực này các cá nhân được hưởng quyền tư hữu tài sản, các quyền tự do dân chủ và quyền giữ bí mật riêng tư. Ở đây cần nhấn mạnh: thừa nhận quyền tư hữu tài sản là điều kiện tất yếu để hình thành XHCD cũng như nền kinh tế thị trường. Nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai Sáng thế kỷ XVII, triết gia duy vật John Lock nói: Người ta gia nhập xã hội là để bảo vệ tài sản của họ [4]. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Walter Lippmann cho rằng quyền tư hữu tài sản là nguồn gốc ban đầu của tự do [5]. Rõ ràng, khi người dân có tài sản của riêng mình thì mới thực sự có tự do; càng có nhiều tài sản thì càng được tự do hơn. Người không có hoặc có ít tài sản thì không thể bình đẳng thực sự với người giàu, và quyền tự do cũng bị hạn chế. Nói tự do dân chủ mà phủ nhận quyền tư hữu tài sản là tự mâu thuẫn. Người vô sản là người khát khao tự do nhất.  Các tổ chức xã hội của công dân (TCCD, còn gọi là đoàn thể công dân), là những hội đoàn không kiếm lời do công dân tự nguyện tổ chức vì lợi ích chung của cộng đồng (hoặc của xã hội, của thế giới). Hệ thống TCCD tồn tại độc lập với nhà nước (nhưng có thể được nhà nước tài trợ). Nó là chủ thể của XHCD, làm nên sức mạnh của XHCD, góp phần tăng cơ hội và trình độ tham gia công việc chung của công dân. Sự xuất hiện các TCCD là nét đặc trưng chủ yếu của XHCD. Có thể dùng số lượng TCCD để đánh giá trình độ XHCD. TCCD càng hoàn thiện, số lượng càng nhiều thì mức độ tự quản xã hội càng cao, xã hội phồn vinh, phát triển lành mạnh. Tại Mỹ, các TCCD được coi là một trong ba cột trụ lớn của xã hội (hai cột trụ kia là chính quyền và khối doanh nghiệp).  Hình thức TCCD rất đa dạng, như các tổ chức phi chính phủ (NGO), hội ngành nghề, công đoàn, câu lạc bộ, hội (quỹ) từ thiện, đoàn luật sư, các Think-tank v.v… TCCD có tác dụng rất lớn phát huy trí tuệ, ý thức trách nhiệm và đạo đức của từng người dân, thể hiện quan điểm, nguyện vọng của dân chúng trước hiện trạng xã hội hoặc chủ trương chính sách của chính quyền, đấu tranh bảo vệ công lý và quyền lợi của dân, đòi hỏi chính quyền lắng nghe dân, đề xuất giải pháp về các vấn đề đối nội đối ngoại, giúp chính phủ tránh được những quyết sách sai lầm. Thí dụ ở Mỹ khi thấy các đập lớn thủy điện gây hại rất lớn cho môi sinh, từ thập niên 50 các TCCD bảo vệ môi trường bắt đầu đấu tranh ngăn chặn việc xây đập. Họ gặp sự chống đối từ các công ty kinh doanh thủy điện; các công ty này gây sức ép với chính phủ, vì thế chính phủ chần chừ không quyết. Các TCCD kiên cường đấu tranh; kết quả đến thập niên 70 chính phủ Mỹ thông qua Luật bảo vệ vĩnh viễn các con sông và bắt đầu dỡ bỏ một số đập thủy điện (đã dỡ hơn 600 đập), đến thập niên 90 thì dừng hẳn việc làm các đập ngăn sông.  TCCD có mấy đặc điểm khác với các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế: – Là tổ chức dân lập, phi chính phủ; – Có tính độc lập tương đối với chính quyền nhưng không loại trừ sự tham gia của chính quyền; – Không kiếm lời (non-profit); – Có tính tự nguyện.  Lĩnh vực cộng đồng công dân là tên gọi chung của mọi không gian để công dân gặp gỡ, trao đổi ý kiến, hình thành quan điểm chung và dư luận. Truyền thông và mạng Internet, nhất là các mạng xã hội (social network) và báo điện tử đang trở thành bộ phận quan trọng của lĩnh vực này và là phương tiện chủ yếu phát triển XHCD, tác động chẳng kém phong trào xã hội, lại có ưu thế là không ai ngăn chặn được. Việc thăm dò dư luận hiện nay phổ biến tiến hành trên mạng, vừa nhanh vừa phủ rộng, nhanh chóng hình thành sức ép dư luận. Qua mạng, người ta liên kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau (như giúp người gặp khó khăn). Các mạng xã hội như Facebook, Netlog, Twitter… kết nối mọi thành viên không quen biết (nhất là giới trẻ) có sở thích hoạt động trên mạng; họ có thể giao lưu, chia sẻ thông tin, lập quan hệ, thúc đẩy sự liên kết giữa các cá nhân và TCCD mà không bị giới hạn về địa lí và thời gian. Mạng Internet tạo ra một xã hội ảo vĩ đại, nhanh chóng liên kết mọi người không phân biệt dân tộc, quốc tịch thành những TCCD ảo có sức mạnh chính trị thật sự đủ để lật đổ mọi chính quyền độc tài ngoan cố. Phong trào nổi dậy ở xứ A Rập không có truyền thống cách mạng là thí dụ đầu tiên về sức mạnh của xã hội ảo. Trung Quốc hiện có hơn nửa tỷ dân mạng, hơn 300 triệu blogger; gần đây dân mạng đã dùng microblog (weibo) tạo ra sức ép dư luận xã hội cực lớn đối với các tệ nạn như ức hiếp dân, tham nhũng, giấu thông tin thật v.v… góp phần quan trọng thúc đẩy dân chủ hóa chính trị. Khi phong trào Chiếm phố Wall nổ ra, giới trẻ Mỹ mở ngay hơn 200 trang Facebook và Twitter nói về phong trào này. Nhằm tập hợp hơn 1.000 người biểu tình tại Washington Square Park hôm 15/10, họ nêu khẩu hiệu: “Nếu bạn nằm trong số 99%, thì đây là cuộc biểu tình của bạn”. Kết quả có gần 700 người trả lời khẳng định sẽ có mặt.  Phong trào xã hội (chủ yếu nói các phong trào có nòng cốt là tầng lớp trung lưu, thành phần chính trong XHCD) với hình thức chính là mít tinh, biểu tình quần chúng, nhằm thể hiện mạnh mẽ ý chí nguyện vọng của dân, gây sức ép đòi chính phủ sửa các chính sách sai. Các phong trào này thường nảy sinh khi đông đảo nhân dân bất mãn về thực trạng xã hội hoặc chủ trương chính sách sai lầm của nhà nước. Chính quyền rất khó đối phó với các phong trào quần chúng, nếu họ không gây mất trật tự trị an thì chính quyền không thể đàn áp. Phong trào tiến về Washington (1963) do mục sư da đen Martin Luther King dẫn đầu có 200 nghìn người tham gia đưa đến kết quả ngay năm sau Quốc hội Mỹ thông qua Luật Dân quyền (Civil rights bill) cấm các hành vi phân biệt đối xử về bầu cử, việc làm, nhà ở. Các cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ chống chiến tranh Việt Nam năm 1967-1969 dẫn đến việc chính phủ Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến này năm 1973. Nếu không có các phong trào đấu tranh thì rất khó buộc chính phủ Mỹ sớm thay đổi chính sách, vì chính phủ chịu sức ép rất lớn từ các nhóm lợi ích cực đoan có thế lực rất mạnh như nhóm phân biệt chủng tộc, tổ hợp quân sự-công nghiệp (military-industrial complex), giới trùm tài chính phố Wall.     Xã hội công dân Mỹ hiện nay  Nước Mỹ có XHCD sớm, lớn mạnh và hoạt động hiệu quả nhất; tìm hiểu nước Mỹ sẽ có cái nhìn cụ thể về XHCD.   Ý tưởng XHCD xuất hiện ngay từ ngày mở đầu lịch sử nước Mỹ và mang đậm dấu ấn tín điều tôn giáo. Ngày 21/11/1620, sau 66 ngày vượt Đại Tây Dương, chiếc thuyền buồm Hoa Tháng Năm (Mayflower) chở 102 người cặp bờ Cape Cod tại Bắc Mỹ. Đây là những người Anh theo đạo Tin Lành vì không chịu nổi sự hãm hại của vua Anh mà liều mình bỏ tổ quốc trốn sang Tân Thế Giới để tìm kiếm một cuộc sống mới. Trước đó, ngày 11/11, tin rằng mình đã nằm ngoài phạm vi phán xử của bất kỳ chính phủ nào, 41 đàn ông lớn tuổi trong số 102 người hành hương ấy đã tự nguyện ký một giao ước gọi là Công ước Hoa Tháng Năm (Mayflower Compact, được soạn thảo bởi các nhà lãnh đạo họ bầu ra), cam kết sẽ thiết lập một chính quyền tự quản (self government) trên nguyên tắc tự do, bình đẳng, công bằng của đạo Tin Lành [6].   Đây là văn bản đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ xác lập ý tưởng xã hội tự quản. Đó cũng là ý tưởng chung của tất cả các nhóm người Anh theo đạo Tin Lành tự nguyện bỏ nước Anh đang rên xiết dưới chế độ phong kiến sang châu Mỹ xây dựng cuộc đời tự do, trong đó có tốp người trên con thuyền Hoa Tháng Năm. Các cộng đồng dân định cư (settlers) ấy lập ra các “thuộc địa”, về sau hợp nhất thành Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Ý tưởng nói trên do họ đề xướng rất cao cả và hợp lòng người, vì vậy cũng được tất cả những người về sau di cư đến nước Mỹ (immigrants) tán thành. Nhờ thế nước này có điều kiện thuận lợi nhất để hình thành XHCD, không phải mất nhiều năm đấu tranh vì việc đó như ở các nước khác.  Như vậy là trong khi tất cả các quốc gia đều được thiết lập trên cơ sở những người cùng dân tộc, tiếng nói và truyền thống văn hóa, – gọi chung là quốc gia-dân tộc (Nation-state) – thì nước Mỹ là quốc gia duy nhất được thiết lập trên một nền tảng độc đáo: tất cả mọi người đều có chung một ý tưởng, cho dù nước này gồm nhiều dân tộc từ hơn 100 nước trên thế giới đến, khác nhau về huyết thống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhiều thứ.   Samuel Huntington cho rằng ý tưởng đó thể hiện “các nguyên tắc tự do, bình đẳng, chủ nghĩa cá nhân, chính quyền thay mặt cho nhân dân, và sở hữu tư nhân”, “là sự sáng tạo độc đáo của văn hóa Tin Lành” [7]. Hơn 150 năm sau, nó được ghi vào Tuyên ngôn Độc lập rồi Lời nói đầu (Preamble) Hiến pháp Mỹ. Năm 1917 lại được Thư ký Quốc hội Mỹ William Tyler Page viết thành một văn bản chẵn 100 từ cho dễ nhớ, gọi là Niềm tin của người Mỹ (The American’s Creed), và được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 3/4/1918 [8]. Niềm tin ấy trở thành ý thức hệ có một không hai của nước Mỹ.  Người Mỹ tin rằng mọi người sinh ra bình đẳng, được tạo hóa ban cho các quyền tự do dân chủ; tin rằng chính quyền dân cử là của dân, do dân, vì dân, là đầy tớ của dân. Vào thời ấy những ý nghĩ này thật xa lạ với người dân các nước khác, kể cả hầu hết châu Âu đang sống dưới chế độ phong kiến, chính quyền là kẻ cai trị, áp bức bóc lột dân.   Người Mỹ tin rằng nước họ không có phân biệt giai cấp; chỉ có một loại người là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng không bình đẳng về kết quả, và ai cũng có quyền sở hữu tài sản (hiện nay 68% dân Mỹ và 65% người Mỹ gốc Việt có nhà riêng kiểu biệt thự). Nông dân (hiện chiếm 0,7% số dân, hầu hết là chủ nông trại), công nhân (working class, chiếm khoảng 13% số dân) hoặc nhà tư bản (1% số dân) đều là công dân. Phân chia theo thu nhập thì xã hội Mỹ có hai thiểu số người giàu, người nghèo và một đa số trung lưu chiếm khoảng 80% số dân [9]. Các tín đồ Tin Lành cho rằng nghèo do lười là tội lỗi. Người nghèo, kể cả hành khất và thất nghiệp, cũng tin rằng nếu chịu khó phấn đấu thì sẽ giàu có, cho nên họ không ghen ghét hoặc chống lại người giàu. Ở Mỹ người giàu được tôn vinh, coi là tấm gương phấn đấu thành đạt, nhất là người tay trắng làm nên. Nhìn chung xã hội Mỹ không có mâu thuẫn nội bộ gay gắt, lực lượng xã hội có khi đấu tranh (thậm chí quyết liệt) với chính quyền nhưng không dùng bạo lực, đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ.   Tuy hầu hết người Mỹ có cùng ý tưởng xây dựng một xã hội tự quản nhưng để thực hiện điều đó họ phải đấu tranh lâu dài, gian khổ, thậm chí đổ máu, bởi lẽ có không ít nhóm người vì lợi ích riêng mà xâm phạm lợi ích của đa số nhân dân. Sau khi trải qua các thời kỳ thuộc địa, chiến tranh độc lập (1775-1781) và nội chiến (1861-1865), tình hình chính trị ổn định dần, nước Mỹ ráo riết tiến hành công nghiệp hóa, nhờ đó kinh tế tăng trưởng nhanh, đất nước ngày một phồn vinh, hình thành tầng lớp trung lưu đông đảo, là các điều kiện khách quan và cơ sở xã hội để xây dựng XHCD. Đồng thời nhà nước ban hành các đạo luật về quyền tự do lập hội đoàn công dân, các tổ chức dân sự v.v.. tạo cơ sở pháp lý để XHCD phát triển tới mức như ngày nay.   XHCD Mỹ có mấy đặc điểm: – Có rất nhiều tổ chức tự nguyện của công dân; – Nhà nước tách rời tôn giáo; – Thực hành chủ nghĩa liên bang (khác với chủ nghĩa quốc gia ở châu Âu); – Bảo vệ tự do cá nhân như một giá trị của đạo Tin Lành; – Đạo đức xã hội văn minh và phong phú.  Dĩ nhiên muốn có XHCD thì phải giải quyết mối quan hệ giữa riêng với chung, cá nhân với xã hội, lợi ích của cá nhân với đạo đức xã hội, chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa lợi tha. XHCD Mỹ dựa trên chủ nghĩa cá nhân và sự tham dự của cá nhân vào sinh hoạt xã hội nhưng sự tham dự ấy thực hiện theo các khế ước (thỏa thuận) và ràng buộc của các mối quan hệ đạo đức, kinh tế, xã hội, chính trị. Điểm tựa chủ yếu để XHCD tồn tại là tinh thần lý trí, nghĩa là mỗi cá nhân đều phải hành xử một cách có lý trí, tôn trọng công lý, biết tự chủ, có ý thức bình đẳng, tức không xâm phạm lợi ích người khác. Đề cao cá nhân là đề cao quyền tự do định đoạt số phận của mỗi người, chứ không phải là tự do vi phạm luân lý đạo đức, xâm phạm lợi ích chung và lợi ích của người khác.   Tính tự chủ của người Mỹ được phát huy cao bởi lẽ nước Mỹ chưa trải qua chế độ phong kiến như châu Âu. Điều đó làm nên nét đặc sắc của văn hóa chính trị XHCD Mỹ; nền văn hóa này nhấn mạnh tính đạo đức hoặc tính tôn giáo. Giáo lý phổ quát của đạo Tin Lành (Protestant Universalism) đề cao chủ nghĩa cá nhân chứ không phải chủ nghĩa tập thể, do đó đề cao nhân quyền và tư tưởng tự do, bình đẳng; nó trở thành nguyên tắc của nhà nước cộng hòa và của chính thể công dân (civic polity). Cá nhân được đặt ở vị trí cao nhất, nhưng đó là cá nhân biết tự chủ.   XHCD Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của thuyết Calvin [10]: chủ trương bảo vệ giá trị đạo đức của cá nhân, nhấn mạnh tính cộng đồng và trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng; mọi việc riêng tư của các cá nhân đều được xã hội quan tâm; các cá nhân được gắn giá trị cộng đồng.   Các nguyên tắc ý thức hệ mà người Mỹ tuân theo gồm: – Tiếp nhận giá trị và niềm tin của nước Mỹ; – Coi tính tự chủ của cá nhân là cốt lõi của nguyên tắc đoàn kết xã hội; – Các cá nhân phải tích cực tham dự xây dựng trật tự xã hội và chính trị, thành viên mọi TCCD đều phải tham gia sinh hoạt chung của xã hội.  XHCD Mỹ góp phần quan trọng vào việc quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Rất nhiều vấn đề nhà nước không thể làm được hết mà phải nhờ dân tự làm, như giúp người nghèo đói, già yếu, lang thang cơ nhỡ, trẻ mồ côi, bảo vệ môi trường, phòng chống ma túy, chống bạo lực gia đình v.v…Thí dụ mỗi khi tuyết rơi dầy, có nhiều thanh niên tự động lái xe chạy trên đường tìm giúp các xe bị kẹt trong tuyết. Sau biến cố 11 tháng 9, có nơi người dân tự tổ chức canh gác bên ngoài các cửa hàng của người Mỹ gốc A Rập để tránh bị những người quá khích đập phá. Trong cơn bão Katrina, có công dân bỏ tiền túi thuê máy bay lên thẳng đến vùng bị lụt cứu người. Lĩnh vực từ thiện thể hiện rõ nhất vai trò của các TCCD, mỗi năm hàng trăm tỷ USD được các quỹ từ thiện dân lập đưa tới tận tay người cần giúp, nếu để nhà nước làm thì khó tránh khỏi thất thoát lãng phí.  Nằm giữa hai lĩnh vực nhà nước và cá nhân, XHCD có tác dụng điều hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, tạo cơ hội để người dân thực hiện tốt nhất các quyền làm chủ đất nước. XHCD thấm nhuần tín điều tự do, bình đẳng và tồn tại độc lập với chính quyền đã trở thành động lực căn bản làm cho nền dân chủ Mỹ phát triển lành mạnh: dân thực sự làm chủ nhưng xã hội không hỗn loạn, toàn dân nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp và sự điều hành của chính quyền, ngay cả khi kinh tế khủng hoảng, suy thoái cũng vậy.    Hoạt động từ thiện ở Mỹ  Từ thiện là hoạt động quan trọng nhất trong XHCD Mỹ; khảo sát hoạt động này sẽ thấy rõ vai trò của XHCD. Thực chất của hoạt động từ thiện là sự tái phân phối công bằng của cải xã hội, nhằm đạt tới xã hội hài hòa, giảm mâu thuẫn nội bộ nhân dân chứ không đơn giản chỉ là thể hiện tình thương người. Vì thế từ thiện có cả ý nghĩa chính trị to lớn. Sau Thế chiến II, hoạt động từ thiện của người Mỹ được mở rộng ra ngoài nước; kinh phí giúp nhân dân các nước nghèo lớn hơn cả từ thiện trong nước.   Hoạt động từ thiện ở Mỹ đạt trình độ hoàn thiện cao và có quy mô lớn khó tưởng tượng, 2/3 số tổ chức xã hội ở Mỹ là tổ chức từ thiện. Năm 1953 nước Mỹ có khoảng 50 nghìn tổ chức từ thiện; năm 2008 con số này lên tới 1,4 triệu, với tổng tài sản chiếm 5% GDP nước Mỹ. Tiền quyên góp từ thiện bằng khoảng 1,8% GDP. Năm 2007, tổng số tiền quyên góp từ thiện ở Mỹ đạt kỷ lục 306 tỷ USD, gấp 3 lần GDP Việt Nam. Nếu không dành phần lớn số tiền này giúp các nước nghèo trên thế giới mà đem chia đều cho người Mỹ nghèo (giả thử là 20% số dân Mỹ, hoặc hơn 60 triệu người) thì mỗi người được hơn 5000 USD, cao hơn thu nhập bình quân đầu người Trung Quốc. Trong 306 tỷ nói trên có 229 tỷ USD là tiền góp từ các cá nhân (một nửa từ 10% các gia đình giàu nhất nước); 38,5 tỷ USD là tiền quyên góp của các quỹ từ thiện. Tiếp theo là tiền hiến tặng của những người qua đời, và của các công ty.   Từ thiện đã trở thành thói quen của người Mỹ. 70% các gia đình làm từ thiện, mỗi gia đình hàng năm góp bình quân 900 USD hoặc 2,2% tổng thu nhập; ngoài ra còn làm lao động công ích trị giá 1200 USD/năm góp cho từ thiện.   Người giàu ở Mỹ hăng hái làm từ thiện; họ không quên danh ngôn Chết trong giàu sang là cái chết ô nhục. Năm 2010, B. Gates cùng người giàu thứ hai là W. Buffett phát động Phong trào cam kết hiến tặng, kêu gọi các nhà giàu cam kết sẽ hiến ít nhất một nửa tài sản cho xã hội. 57 trong số 400 người giàu nhất nước Mỹ đã tham gia phong trào này. Gates và Buffett cam kết hiến 98 và 99% tài sản riêng.  Lịch sử làm từ thiện bắt nguồn từ truyền thống văn hóa dòng chính của nước Mỹ, đó là giá trị quan của những người Anglo-Saxon da trắng theo đạo Tin Lành (WASP, chủ yếu đến từ nước Anh). Đạo này cho rằng người giàu chỉ là người quản lý tài sản của Thượng Đế (tức xã hội); nghĩa là về pháp lý, tài sản do tư nhân sở hữu nhưng về đạo đức và giá trị quan thì mọi tài sản vượt quá mức chi dùng của cá nhân đều thuộc về xã hội. Tân Ước nói người giàu khi chết khó được lên Nước Chúa. Kinh Thánh viết mọi tín đồ phải góp 1 phần 10 thu nhập hàng năm của mình cho Thượng Đế để giúp người nghèo, gọi là thuế Tithe nộp cho nhà thờ (Church tax). Ngoài ra, người Mỹ có thói quen đề cao giá trị cá nhân và những người sống tự lập (self made man), chỉ kế thừa tinh thần chứ không kế thừa tài sản, coi việc được hưởng tài sản mình không làm ra là trái luân lý; cho rằng để lại tài sản lớn cho con chỉ làm chúng hư hỏng.   Tổ chức từ thiện đầu tiên ra đời ở Mỹ là Hội Kỹ nữ hoàn lương (Magdalen Society, lập năm 1800). Về sau nước Mỹ giàu lên, của cải dư dật, những người giàu dẫn đầu làm từ thiện. Năm 1911 vua sắt thép A.Carnegie lập Quỹ Carnegie New York, đặt nền móng cho hoạt động từ thiện hiện đại. Quỹ góp ngay 5,6 triệu USD cho công tác giáo dục, lớn hơn cả ngân sách giáo dục của chính phủ. Trước khi chết, Carnegie hiến 330 triệu USD cho Quỹ này.   Công lao lớn của Carnegie là đã sáng tạo mô hình Quỹ từ thiện vận hành theo nguyên tắc thương mại, quản lý Quỹ như quản lý công ty; như vậy vốn của Quỹ bảo tồn được lâu dài. Khi ấy làm từ thiện trở thành công việc phức tạp đòi hỏi trí tuệ, không đơn giản chỉ quyên góp tiền rồi chia cho người nghèo. Vì thế tỷ phú Bill Gates phải xin nghỉ hưu để chuyên trách quản lý Quỹ Bill & Melinda Gates (năm 2009 có tài sản hơn 33,5 tỷ USD) sao cho đồng tiền bát gạo tới được tay người nghèo. Ngày nay Quỹ từ thiện là các tổ chức xã hội hợp pháp dùng tài sản của tư nhân để tài trợ cho giáo dục, khoa học, y tế, vệ sinh công cộng và các sự nghiệp công ích khác, với trọng điểm là giáo dục, y tế, vệ sinh.  Có mấy yếu tố giúp hoạt động từ thiện phát triển mạnh. Thứ nhất, nước Mỹ ngày càng lắm người giàu, có nhiều của cải dư thừa để chia cho người nghèo. Năm 1880 cả nước có chưa đầy 100 triệu phú, năm 1916 đã có hơn 40 nghìn, trong đó có người sở hữu tài sản trên 100 triệu USD. Hàng năm các tạp chí Forbes, Fortune công bố danh sách người giàu nhất và người làm từ thiện nhiều nhất nước Mỹ, nhằm tôn vinh và nhắc nhở bổn phận nhân đạo của họ.  Thứ hai, Chính phủ Mỹ có biện pháp cụ thể khuyến khích dân làm từ thiện, như chính sách giảm hoặc miễn thuế thu nhập đối với người có quyên góp từ thiện, và áp thuế suất cao đánh vào tài sản thừa kế. Năm 1913, Chính phủ Mỹ bắt đầu thu thuế thu nhập cá nhân. Bốn năm sau, Quốc hội thông qua luật cho phép giảm thuế thu nhập đối với người dùng tiền hoặc hiện vật quyên góp từ thiện. Vì thế người giàu làm từ thiện là có lợi cho chính họ, lại được tiếng thơm.   Năm 1797 chính phủ Mỹ bắt đầu thu thuế tài sản thừa kế (thuế di sản, inheritance tax) để lấy tiền xây dựng hải quân. Từ năm 1916, thuế di sản trở thành thành thuế cố định, có thuế suất lũy tiến, phải nộp thuế rồi mới được thừa kế di sản (trừ tài sản để lại cho vợ hoặc chồng). Thí dụ để thừa kế di sản trị giá 10.000 USD, người thừa kế phải nộp 5000 USD. Di sản lớn chịu thuế suất 55%. Những người khôn ngoan đều hiến cho xã hội tài sản lớn họ được thừa kế. Rất nhiều người giàu trước khi chết đều hiến tài sản cho các tổ chức từ thiện.   Vì là sự tái phân phối của cải xã hội nên hoạt động từ thiện phụ thuộc vào tình hình kinh tế. Mấy năm nay kinh tế Mỹ suy thoái, tiền quyên góp từ thiện giảm theo. Ngoài ra, cá biệt quỹ từ thiện có hành vi gian dối hoặc tham nhũng cũng làm giảm lòng tin của dân chúng, do đó giảm lượng tiền quyên góp.    Xã hội công dân là một xã hội văn minh tiến bộ   Qua khảo sát XHCD Mỹ, có thể thấy các tổ chức công dân (TCCD) đã giúp người dân có được năng lực chưa từng thấy trong lịch sử để thực thi quyền làm chủ đất nước. Qua TCCD, mọi người có dịp thống nhất quan điểm trước các vấn đề chung, liên kết nhau giám sát hoạt động của chính quyền, bảo vệ lợi ích chung. Khi cần, họ có thể gây sức ép đòi chính phủ thay đổi chính sách hoặc người lãnh đạo và các đòi hỏi đó thực hiện trong khuôn khổ luật pháp.   XHCD phát huy được ý thức làm chủ, tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và lòng yêu nước của mỗi người dân, làm cho xã hội trở nên ổn định, trật tự, văn minh, đạo đức.   XHCD tạo sức ép buộc chính quyền phải lắng nghe dân, làm việc vì dân, công bằng, liêm chính; qua đó hạn chế sự tập trung quyền lực và hậu quả kèm theo như lạm quyền, độc đoán và tham nhũng. XHCD đã làm nước Mỹ thay đổi theo hướng có một chính quyền quy mô gọn nhẹ và thực sự phục vụ dân.   XHCD với hàng triệu TCCD tạo ra một nguồn vốn xã hội phong phú rất cần cho chính quyền, nhất là khi nước Mỹ ngày càng hiếm những lãnh tụ đức tài cao siêu như Lincoln, Wilson, F.Roosevelt. Các chính phủ Mỹ đều biết tận dụng nguồn vốn đó, nhất là nguồn trí tuệ nằm ở các trường đại học, Think-tank v.v.., nhờ thế tránh được những sai lầm chiến lược. Các TT đều dựa vào một hoặc một nhóm Think-tank nào đó chuyên tham mưu hiến kế về chiến lược đối nội đối ngoại và cung cấp cán bộ.  Các NGO, đặc biệt là hội Chữ thập đỏ, thường được chính phủ dùng làm kênh phi chính thức để giải quyết các vấn đề đối ngoại nhạy cảm mà chính phủ không tiện đứng ra làm.  XHCD còn giúp tái phân phối của cải cho người nghèo một cách công bằng, làm cho xã hội hòa hợp, đoàn kết, bớt mâu thuẫn nội bộ. Các NGO thực hiện tốt việc viện trợ nhân đạo quy mô lớn cho các nước nghèo, góp phần quảng bá trên thế giới các giá trị nhân đạo, nhân quyền, dân chủ, bình đẳng, qua đó nâng cao vị thế của nước Mỹ.   Vì XHCD san xẻ bớt công việc quản lý xã hội nên chính phủ Mỹ ủng hộ XHCD. Toàn bộ các tổ chức phi chính phủ đều được miễn thuế, một số được chính quyền tài trợ. Nhà nước coi trọng giáo dục ý thức công dân cho lớp trẻ. Sách Giáo dục công dân viết: Nếu chính quyền có sai trái thì bạn phải phê bình họ, như vậy là bạn có thái độ xây dựng. Nếu thấy nhà nước sai mà bạn vẫn nói là đúng, thì đó là thái độ phá hoại [3]. Chính quyền và xã hội hỗ trợ lẫn nhau cùng vì lợi ích của nước Mỹ, nhờ thế quốc gia này giữ được ổn định chính trị suốt hơn 200 năm nay, kể cả trong các cuộc khủng hoảng-suy thoái kinh tế nghiêm trọng.   XHCD góp phần quyết định khiến người dân cảm thấy mình thực sự là chủ nhân của đất nước; do đó họ thực lòng yêu tổ quốc – điều quý giá nhất không nhà nước nào không mong muốn. XHCD làm cho nước Mỹ có một dạng sức mạnh mềm hiếm thấy, khiến nước này luôn đứng đầu danh sách quốc gia thu hút dân từ các nước khác di cư đến, trong đó có nhiều nhân tài. Trung tướng Lưu Á Châu Chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nhận xét: Nước Mỹ có một sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức, là quốc gia do nhiều triệu con người không yêu tổ quốc mình họp thành nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ [11].    Ghi chú  [1] “Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely.”   http://www.phrases.org.uk/meanings/absolute-power-corrupts-absolutely.html   [2]Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học. A.M.Rumiantxep. Nxb Sự thật, Hà Nội 1986   [3] Tạp chí Tia Sáng số 14 (20/7/2011), tr. 32   [4] “The reason why men enter into society is the preservation of their property” http://thinkexist.com/quotation/the_reason_why_men_enter_into_society_is_the/211689.html  [5] “Private property was the original source of freedom. It still is its main bulwark”   http://quotes.liberty-tree.ca/quotes_by/walter+lippmann  [6] http://score.rims.k12.ca.us/score_lessons/symbols_freedom/pages/mayflower.html  [7] Who Are We? The Challenges to America’s National Identity. Samuel Huntington   [8] http://www.usflag.org/american.creed.html  [9] Vấn đề phân chia tầng lớp giai cấp ở Mỹ rất phức tạp (thí dụ hiện có nhiều triệu cựu chiến binh hưởng trợ cấp, rất khó xếp vào tầng lớp nào). Có nhiều cách phân chia khác nhau. Ở đây dùng cách của Dennis Gilbert. Mỹ hiện có 311 triệu dân. Trong đó có 11,60 triệu công nhân nhà máy (chiếm 9% working class); xét về thu nhập, họ thuộc tầng lớp trung lưu (lương trung bình mỗi giờ 15-20 USD). Người lao động nghèo chiếm 13% số dân. Tầng lớp nghèo chiếm 12%, chủ yếu là thất nghiệp.  [10] Calvinism: học thuyết thần học do John Calvin (1509-1564) đề xướng, phủ nhận uy quyền của giáo hội La Mã, chủ trương bất cứ ai cũng không được có quyền lực vô hạn, tín đồ phải làm tròn bổn phận công dân, nhấn mạnh nỗ lực của cá nhân chứ không coi trọng các định chế, loại trừ xu hướng huyền bí nặng về nghi thức. Có tác dụng thúc đẩy sự ra đời chủ nghĩa tư bản.  [11] Niềm tin và Đạo đức. http://tuanvietnam.net/2010-08-15-niem-tin-va-dao-duc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm lối ra cho nền kinh tế Việt Nam      Trong bối cảnh mà các nền kinh tế trong khu  vực cũng như trên thế giới đã chuyển mình và từng bước vượt qua được  khủng hoảng thì nền kinh tế Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm lối ra.    Thành bại từ tư duy  Dù cho những nguyên nhân khách quan từ bên ngoài có tác động không nhỏ nhưng rõ ràng là những bế tắc mà kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt chủ yếu do các nguyên nhân chủ quan nội tại gây ra. Với chưa đầy 30 năm đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới, việc xác định một mô hình tăng trưởng tối ưu vẫn đang là một bài toán lớn đối với Việt Nam. Do vậy, nhiệm vụ cùng tìm lối ra cho nền kinh tế quốc dân là trách nhiệm lớn cần sự tham gia về trí tuệ của những bộ não hàng đầu trong và ngoài nước cũng như huy động sức mạnh tổng lực của toàn dân. Chúng ta vừa phải tìm cách nhanh chóng thoát khỏi các vấn đề phức tạp và nan giải của hiện tại, vừa phải tìm ra giải pháp dài hạn và triệt để.  Sự thành bại của phục hồi và phát triển nền kinh tế trước hết nằm ở vấn đề tư duy. Nếu con tàu kinh tế Việt Nam được tư duy và thiết kế đúng, nó không những có thể vững vàng trước mọi khó khăn và sóng gió, mà còn có thể thông minh và hiệu quả để đi trên con đường phát triển tối ưu. Tư duy kinh tế của Việt Nam phải hết sức chủ động và tự chủ; đồng thời đó cũng phải là một tư duy toàn cầu, toàn diện, và tổng lực.  Trong một thế giới toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ như hiện nay, hợp tác và cạnh tranh về kinh tế vẫn sẽ chiếm vai trò chủ đạo và trung tâm giữa các quốc gia, khu vực, và các liên minh toàn cầu. Nền kinh tế Việt Nam nói riêng và toàn bộ các lĩnh vực tạo nên sức mạnh quốc gia Việt Nam nói chung đều cần được tư duy và hoạch định trên đường đua toàn cầu; vừa phải hấp thu và hợp tác với quốc tế, vừa phải cạnh tranh để giữ vững tự chủ và phát triển cho quốc gia – dân tộc. Trong một thế giới cạnh tranh ngày càng khốc liệt và phức tạp, với quá nhiều sát thủ kinh tế, nhiều cái bẫy phát triển thì Việt Nam phải có những lựa chọn chiến lược thông minh, phương pháp tiếp cận độc đáo, và thực thi hoàn hảo. Đó là lối ra duy nhất cho kinh tế Việt Nam, phải đột phá để phát triển chứ không thể chỉ dựa vào các giải pháp ứng phó nhất thời, vào các mô hình phát triển dễ dãi và lỗi thời.    Đã đến lúc Việt Nam cần phải thay đổi triệt để mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác các lợi thế sẵn có về tài nguyên (thực chất là bán tài nguyên thô), biến động thị trường (thực chất là đầu cơ), vào viện trợ và đầu tư nước ngoài (thực chất là tiêu vào các khoản nợ) để chuyển qua một mô hình tăng trưởng thực chất dựa trên phát triển chiến lược cạnh tranh cốt lõi của quốc gia. Có rất nhiều chuyên gia đã đưa ra hình ảnh vỏ mít với quá nhiều mũi nhọn để chỉ ra sự bất cập của việc xác định mũi nhọn phát triển, xác định lợi thế cạnh tranh cốt lõi.  Chúng ta cùng phân tích một ma trận chiến lược gồm hai chiều với hai thuộc tính tương ứng: cái gì bên trong mạnh hoặc yếu (trong tương quan lợi thế cạnh tranh so sánh với các quốc gia khác), cái gì bên ngoài (thị trường toàn cầu) cần hoặc không cần. Ta sẽ có được bốn lựa chọn và từ đó có ba hành động hiệu chỉnh chiến lược: một là tập trung và ưu tiên tối đa cho ô chiến lược tốt nhất, đó chính là các chiến lược thuận theo quy luật phát triển tự nhiên; hai là, nhanh chóng dịch chuyển các hành động thuộc ô chiến lược bất lực (không hiệu lực) và nô lệ (phụ thuộc) sang ô chiến lược tốt nhất; ba là, nhanh chóng từ bỏ, kiểm soát, và ngăn cấm các chiến lược thuộc ô hủy diệt (làm cái mình kém mà người khác không cần nữa).     Liệu rằng trong các ngành, lĩnh vực, dự án hiện tại của Việt Nam, có bao nhiều phần bị rơi vào các ô chiến lược bất lợi thuộc các trạng thái: bất lực, nô lệ, thậm chí hủy diệt? Chúng ta có nên đầu tư vào công nghiệp chế tạo, công nghiệp nặng, tàu biển hạng lớn, lắp ráp điệp tử, đầu cơ bất động sản,… trong khi nông nghiệp để phục vụ nhu cầu lương thực ngày càng lớn của thế giới, khai thác lợi thế của kinh tế biển, đầu tư đón đầu kinh tế tri thức lại không được chú trọng đúng mức? Tôi tin rằng, những thành quả kinh tế của gần 30 năm đổi mới vừa qua bị thiệt hại do đầu tư vào sai lĩnh vực lớn hơn rất nhiều so với phần thất thoát do vận hành kém và tham nhũng gây ra.     Tư duy là quyết định, trong đó, tư duy mục đích là cơ bản nhất. Cần thiết phải xác định thật rõ ràng mục đích của mô hình kinh tế Việt Nam là phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, tăng trưởng đột phá hay đảm bảo tính tăng trưởng ổn định và bền vững. Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam phải xác định rõ ưu tiên, thậm chí có phải chọn một trong hai. Theo quan điểm của tôi, đối với Việt Nam, muốn tăng trưởng nhanh thì phải ổn định, muốn tăng trưởng bền vững thì phải đột phá. Nếu xem xét đầy đủ các yếu tố về xu thế của toàn cầu hóa, sức ép phải phát triển để tự chủ và vượt lên từ bên ngoài, và tiềm năng nội tại của Việt Nam; tốc độ tăng trưởng của chúng ta phải đủ nhanh để vượt thắng các sức ép, đồng thời phải đi đúng vào xu hướng phát triển mới của thế giới bằng chính các năng lực lõi của Việt Nam để đồng thời thỏa mãn cả yêu cầu đột phá và bền vững.     Đây chính là đề bài cho bài toán mô hình tăng trưởng Việt Nam. Với bản lĩnh, trí tuệ của dân tộc, cùng với những cơ hội lớn, và cả những đe dọa lớn từ bối cảnh khu vực và thế giới, nếu phát huy được hết sức mạnh của sự đoàn kết, chúng ta không những chỉ tìm ra được lối ra, mà còn tạo ta sự đột phá và thăng hoa của nền kinh tế Việt Nam.  Đột phá là bền vững  Một khi đã xác định đột phá chính là bền vững, muốn bền vững phải đột phá; kinh tế Việt Nam cần tạo ra ba nhóm đột phá chính: đột phá về văn hóa, đột phá về chiến lược, và đột phá về thể chế quản lý kinh tế.  Một quốc gia giàu mạnh không thể không có một khát khao giàu mạnh và hạnh phúc của các công dân được thể hiện thành một nền văn hóa đầy khát vọng đua tranh và gây ảnh hưởng với thế giới, mà một phần trong đó được biểu hiện thành văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh gồm có bốn nội dung quan trọng.     Một là phải tạo được khát khao làm giàu cho bản thân và cho đất nước của mọi người dân, sự giàu có và hạnh phúc này phải được đặt trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, không phải so ta với ta, ta với quá khứ của ta.     Hai là, từ khát khao làm giàu, tinh thần kinh doanh phải tạo ra một xã hội có trọng tri thức kinh doanh, công nghệ, tạo nên một xã hội tri thức kinh doanh.     Ba là, ý thức rằng kinh tế, kinh doanh là góp phần quan trọng cho an ninh và tự chủ của quốc gia; phải đóng vai trò như những người chiến sỹ thời bình cho bảo vệ và phát triển đất nước.     Bốn là, ý thức về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, trong đó, trách nhiệm xã hội đặc biệt phải được thể hiện ở sự đoàn kết và ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp trong nước, trách nhiệm đối với các vấn đề của thời đại nhất là việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Như vậy, chính giáo dục, văn hóa, thể thao, truyền thông, giải trí lại là các ngành có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế. Sở dĩ một quốc gia nhỏ bé như Israel không những có thể đứng vững trong một vị trí địa chính trị hết sức phức tạp, mà còn có khả năng gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên thế giới là vì sức mạnh của văn hóa. Mỗi công dân Israel, mỗi người Do thái đều là nhiều trong một với sự cần cù của nông dân, tính kỷ luật của công nhân, yêu chuộng tri thức, tinh thần kinh doanh và tinh thần chiến binh.    Các chiến lược tốt nhất có thể được chia thành nhóm ngành có ý nghĩa nền tảng, hấp thu, và phát triển. Nhóm Nền tảng là nông nghiệp và dưỡng sinh (được hiểu là một giải pháp tổng thể nhằm bảo vệ và duy trì sức khỏe, công nghệ dược phẩm phương Đông chỉ là một phần trong đó). Đây là những nhóm ngành Việt Nam vừa có lợi thế, có truyền thống và thế giới đang rất cần với nhu cầu ngày càng cao về lương thực và sức khỏe, cần dịch chuyển sự quan tâm và đầu tư của toàn dân và quốc tế vào phát triển nhóm ngành này. Trong thế giới hiện nay, thực sự là có thể làm giàu, và giàu có một cách bền vững từ nông nghiệp; New Zealand, Úc, Nhật Bản, Israel,… nhiều quốc gia có điều kiện kém Việt Nam nhưng đều là các cường quốc nông nghiệp hàng đầu thế giới.  Nhóm Hấp thu là các yếu tố cơ bản của cỗ máy kinh tế thị trường toàn cầu mà chúng ta yếu kém xưa nay, cần phải nhanh chóng học hỏi và làm chủ một cách khôn ngoan; gồm 3 cặp lĩnh vực trọng yếu: công nghiệp chế biến cao và năng lượng; dịch vụ vận chuyển và cơ sở hạ tầng, thương mại và tài chính. Đây là các ngành, các lĩnh vực được coi là thiết yếu đối với nền kinh tế nhưng Việt Nam chưa có đủ kinh nghiệm và truyền thống thực hiện nên phải học tập, hấp thụ và làm chủ. Cần phải đi ngay lên các phân đoạn cao, vào các công nghệ chọn lọc để tránh việc trở thành bãi thải công nghệ, tránh mắc các bẫy phát triển, bẫy đầu tư và tài trợ, bẫy sát thủ kinh tế.     Đặc biệt, sự lành mạnh và tự chủ về tài chính luôn phải được xác định là điều kiện cơ bản và cần thiết. Nhóm Phát triển là các ngành nghề mà tương lai thế giới cần mà Việt Nam có các nền tảng rất mạnh: gồm có kinh tế tri thức và các loại hình kinh tế dựa trên việc đóng gói và phát triển các đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, du lịch và dịch vụ theo hướng kinh tế xanh và văn hóa là các lựa chọn cụ thể của nhóm ngành này.  Có thể nói Thể chế quản lý kinh tế là một vấn đề luôn tạo ra sự thảo luận sôi nổi về cơ cấu, vai trò và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; vai trò quản lý của nhà nước và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước; chất lượng của các dịch vụ công về luật pháp, chính sách, thủ tục hành chính,… Thể chế phải tạo điều kiện thuận lợi phục vụ phát triển các ngành kinh tế chiến lược mũi nhọn, thúc đẩy sức mạnh của văn hóa kinh doanh, phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, và đồng thời phải tương thích với nền kinh tế của khu vực và thế giới. Trong thế giới hiện nay, cạnh tranh của các quốc gia chính là cạnh tranh của các nền kinh tế với hai tác nhân chính là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cùng hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước.  Thể chế quản lý kinh tế là yếu tố thể biện cho phương pháp tiếp cận có đặc sắc và thông minh hay không; thể chế phải định hướng và tạo điều kiện thuận lợi, thậm chí là chế tài mạnh mẽ để nền kinh tế Việt Nam có thể tổ chức theo 3 mô hình và phương thức tổ chức sản xuất tiên tiến, hiện đại và hiệu quả nhất hiện nay; đó chính là việc tạo nên các cụm ngành quốc gia (National Clustering), hệ sinh thái kinh tế (Ecobusiness System) – tạo ra sự liên kết bền vững, phương pháp sản xuất cộng tác đại chúng (Wikinomics) – tạo ra sức mạnh tổng lực.     Cách tốt nhất là tích hợp cả 3 phương thức trên bằng một mô hình có sự chủ đạo và tập trung của năm yếu tố: thị trường, nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, đối tác nước ngoài. Sự tích hợp này sẽ tạo nên các ngành, các lĩnh vực mũi nhọn mà Việt Nam có khả năng cạnh tranh hàng đầu thế giới, sẽ tạo nên các địa bàn, các thành phố chủ đề, các đặc khu kinh tế mở có sức hút lớn với khu vực và thế giới. Để tạo ra đột phá, cần tạo ra các đặc khu mở có tính quốc tế hóa và ASEAN hóa cao với những ưu đãi tối đa về chính sách để thu hút đầu tư từ khu vực và thế giới nhằm phát triển các ngành, các lĩnh vực mằm trong lựa chọn chiến lược tốt nhất của Việt Nam. Các khu vực như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Đà Lạt, Phú Quốc, và rất nhiều địa bàn khác đều rất thuật lợi để tạo ra các đặc khu kinh tế mở như vậy.  Một khi có một tư duy chung, một tầm nhìn chung, một niềm tin chung để ứng phó với những mối nguy chung và cùng hướng đến thành công chung; các chiến lược phát triển đúng đắn và các hành động đột phá vượt thoát khỏi những bế tắc, khó khăn, và thách thức sẽ được diễn ra rộng khắp. Sự thay đổi đó có thể đến từ từng người dân, từng doanh nghiệp, từng chuyên gia và học giả kinh tế; đến từ sự thay đổi có hiệu quả của Nhà nước và Chính phủ, từ sức hấp dẫn của Việt Nam để tái thu hút và thu hút mạnh mẽ các nguồn lực hàng đầu của thế giới. Vượt trên hết mọi khó khăn, bộn bề, nhức nhối hiện nay, Việt Nam vẫn có đầy đủ cơ hội và điều kiện để phát triển mạnh mẽ.  Tám sáng kiến đột phá để phát triển kinh tế mới  Sau khi nghiên cứu và trao đổi với nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu cả trong và ngoài nước, tôi xin được kiến nghị 8 sáng kiến có thể góp phần tạo ra các đột phá căn bản cho nền kinh tế Việt Nam.  Tám sáng kiến được chia làm hai nhóm, nhóm 1 gồm 3 sáng kiến đầu tiên thiên về vi mô, các nội dung thuộc về văn hóa và nhận thức. Trước đây, khi nói đến các giải pháp kinh tế, chúng ta thường chỉ đưa ra các giải pháp vĩ mô; nhưng, chính cái vi mô mới tạo nên một sức mạnh thống nhất và vượt trội cho tầng vĩ mô. Các sáng kiến bao gồm:  Một là, sáng kiến về một phong trào “Khởi nghiệp cho thanh niên” Việt Nam. Một quốc gia giàu mạnh là tập hợp của những công dân có khát vọng và ý thức lập nghiệp và làm giàu cho bản thân và xã hội. Trong mọi thời điểm lịch sử, thanh niên luôn luôn là sức bật của đất nước và dân tộc. Giờ đây, xã hội cần trang bị động lực, tri thức, thể chất và cả tâm hồn, cùng các mạng lưới cần thiết để thổi bùng nên tiềm năng to lớn để thanh niên “khởi nghiệp để kiến quốc”.  Hai là, sáng kiến về phong trào “Làm cha mẹ thông minh”. Đối với mỗi gia đình, đặc biệt là gia đình Việt Nam, con cái là một động lực hết sức mạnh mẽ và trọng yếu. Các quốc gia hùng mạnh và phát triển đều có một công thức giáo dục toàn diện từ gia đình, nhà trường, đến xã hội, tâm linh. Lao động và đầu tư cho con cái chiếm phần lớn trong suy nghĩ và hành động của mỗi gia đình. Nếu các bậc cha mẹ không được tư vấn, hướng dẫn đúng thì sẽ lãng phí nguồn lực của cả xã hội. Đặc biệt cần chú trọng đến các biện pháp truyền thông và tư vấn nhằm nâng cao trí thông minh tài chính cho các hộ gia đình Việt Nam.     Trên thực tế, cũng giống như nhiều quốc gia châu Á khác, lượng tiền tiết kiệm và đầu tư của các hộ gia đình trong tổng thể nền kinh tế là rất đáng kể, và thường nằm trong tay “các bà nội trợ”. Nếu đối tượng này có một tư duy và năng lực tài chính tốt cho các quyết định chi tiêu, đầu tư cho con cái; đầu tư vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán, kinh doanh,… thì nội lực chung của nền kinh tế quốc gia sẽ luôn ổn định mặc cho hệ thống tài chính vĩ mô còn quá nhiều bất cập. Hơn nữa, cần phải nhấn mạnh mai trò của người mẹ, của phái nữ trong gia đình, vì đây vừa là hậu phương, là động lực của người chồng; vừa là người có ảnh hưởng chính đến sức khỏe, trí tuệ và khát vọng của thế hệ trẻ trong gia đình. Có thể nói, trong chiến tranh Việt Nam đã chiến thắng nhờ nghệ thuật chiến tranh nhân dân thì trong tiến trình toàn cầu hóa hiện tại, cũng cần phải có chiến lược tài chính nhân dân để đảm bảo ổn định và phát triển nền kinh tế – tài chính quốc gia, mà trong đó, mỗi tế bào gia đình với động lực đầu tư bền vững cho tương lai con cái sẽ là hạt nhân chính trong chiến lược này.     Ba là, mạng lưới “Đại học toàn cầu tại Việt Nam” và các “Viện nghiên cứu công nghệ cao toàn cầu” tại Việt Nam. Đây là sáng kiến nằm nâng cao cả tri thức, nhận thức và văn hóa kinh doanh toàn cầu hóa cho Việt Nam, thúc đẩy tiến trình hợp tác và hội nhập khu vực và quốc tế cho Việt Nam. Dựa trên đặc tính thông minh và truyền thống hiếu học, phát triển nhờ tri thức và phát triển kinh tế tri thức là một lựa chọn chiến lược hết sức thiết yếu của chúng ta. Chúng ta có thể quy hoạch các thành phố đại học, các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao tạo các địa bàn có lợi thế như Ninh Bình, Huế, Đà Lạt…     Về đối tượng và nội dung, chúng ta có 3 hướng chính: một là khu vực hóa, tạo ra các trường đại học và viện nghiên cứu của ASEAN; hai là, đẳng cấp hóa, kết hợp ngay với các mạng lưới tri thức hàng đầu thế giới hiện này; ba là, khác biệt hóa, tiếp tới nghiên cứu và đưa ra các tri thức đặc sắc của riêng Việt Nam có giá trị ứng dụng cho nền kinh tế mới toàn cầu. Cần phải phát huy tối đa thành quả của cuộc cách mạng thông tin toàn cầu, đặc biệt là các ứng dụng trên mạng internet để có thể quy tụ và tạo ra các trung tâm tư duy, trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng đầu thế giới ngay tại Việt Nam.       Năm sáng kiến nêu sau đây là các sáng kiến vĩ mô nhưng cũng phải cụ thể. Đó là sự tổng hợp của các mô hình chiến lược cụm ngành quốc gia, hệ sinh thái kinh tế và cộng tác đại chúng. Cụ thể hơn, đối với mỗi sáng kiến sẽ không chỉ bao gồm các khái niệm vĩ mô mà còn là các đề xuất về các ngành trọng tâm, địa bàn trọng điểm, và phương thức trọng yếu để triển khai.  Sáng kiến thứ tư là: “Chiến lược đảm bảo An ninh lương thực và Nông sản toàn cầu của Việt Nam”. Các cây trồng chủ lực sẽ là gạo, đỗ tương, cà phê, tiêu, điều, các thảo được… Có thể tạo ra các cụm ngành quốc gia về lương thực, về cà phê, thực phẩm chức năng và dược phẩm phương Đông. Định vị Đồng bằng sông Cửu Long thành trung tâm lúa gạo toàn cầu – phục hưng lại tính ưu việt của nền văn minh lúa nước và nghệ thuật dưỡng sinh đặc sắc của dân tộc; Đăk Lăk, Tây Nguyên là Thủ phủ cà phê toàn cầu,… Đây đều là các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh lớn của Việt Nam, chúng ta cần quy hoạch và đầu tư công nghệ toàn diện để năng cao giá trị gia tăng, thổi vào sản phẩm các giá trị văn hóa có sức hấp dẫn toàn cầu, nâng thành nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật dưỡng sinh đáp ứng được nhu cầu của thị trường toàn cầu.      Sáng kiến thứ 5 là: “Chiến lược biển – xanh dương”. Với vai trò quan trọng về môi sinh, lương thực, năng lượng, du lịch,… biển và đại dương sẽ đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong tương lai, cũng như sẽ giúp nâng cao ý thức và quốc lực để ứng phó với các xung đột hiện có trong khu vực. Cần đứng trên lập trường và lợi ích của cộng đồng ASEAN để cùng phát triển chiến lược này. Theo đó, cần có nhận thức quốc tế hóa và khu vực hóa biển Đông là biển chung của ASEAN, gọi tên là biển ASEAN và trên vùng biển chung đó sẽ tiến hành các hoạt động của kinh tế biển bền vững: khai thách thủy hải sản bền vững và giá trị cao, bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học và sinh thái biển, du lịch và giáo dục biển, khai thác tài nguyên bền vững, bảo vệ hòa bình và an ninh cho sự phát triển của khu vực và thế giới,…    Sáng kiến thứ 6 là: “Chiến lược xanh lục”. Là việc quy hoạch và tạo ra các vành đai xanh liên quốc gia trong khu vực để bảo vệ đa dạng sinh học của rừng, tạo ra các khu bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học, các khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng hài hòa và bền vững, làm nền tảng để phát triển công nghệ dưỡng sinh và y học cổ truyền Việt Nam, bảo vệ tài nguyên nước, xác lập lợi thế trong thị trường giao dịch các-bon toàn cầu. Khi mà biển đổi khí hậu đang ngày càng trở thành thách thức lớn đối với nhân loại, thì các sáng kiến xanh dương và xanh lục vừa cần thiết cho chính Việt Nam, vừa là ngọn cờ để Việt Nam có thể thu hút được các nguồn lực tiến bộ hàng đầu thế giới cùng quy tụu và phục vụ các mục tiêu không chỉ của riêng Việt Nam. Miền núi phía Bắc, dãy Trường Sơn, và hạ lưu Sông Mê Kong là các khu vực cần thiết phải quy hoạch và phát triển thành các đặc khu xanh lục.    Sáng kiến thứ 7 là: “Chiến lược kinh tế văn hóa hòa bình, văn minh hài hòa” Kinh tế văn hóa là kinh tế phát triển dựa trên các lợi thế và văn hóa và ngược lại cũng làm tăng cường ảnh hưởng  về văn hóa. Xét một cách tổng thể, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hóa hiện nay, chiến lược quốc gia thích hợp của Việt Nam là ưu tiên phát triển theo quyền lực mềm. Mà văn hóa là cốt lõi của quyền lực mềm.     Chúng ta có một truyền thống lâu đời của nền văn minh lúa nước với giá trị cốt lõi là tính hài hòa, chúng ta có một lịch sử đầu tranh lâu đời để bảo vệ và gìn giữ hòa bình, đó đều là các giá trị mà thế giới hiện nay cần nêu cao. Chúng ta có thể quy hoạch vùng đất bom đạn Quảng Bình, Quảng Trị trở thành một Thành phố biểu tượng hòa bình của thế giới, ở nơi đó sẽ có Học viện hòa bình và đưa ra nghị trình cho Diễn đàn hòa bình và cổ vũ cho diễn trình hài hòa hóa của thế giới. Sẽ không có một chiến lược quảng bá thương hiệu quốc gia nào hiệu quả hơn dự án này, và về thực chất chính hòa bình và phát triển hài hòa, bền vững là mục tiêu và cam kết của Việt Nam.    Sáng kiến thứ 8 là sự tổng hợp các sáng kiến nêu trên để biến Việt Nam trở thành một cường quốc về du lịch, trở thành điểm đến tiến bộ của thế giới toàn cầu hóa theo xu hướng hài hòa hơn, thân thiện hơn, bền vững hơn. Khi đó đây sẽ là “một Việt Nam của thế giới”, vì thế giới, là địa bàn hình mẫu cho phát triển bền vững mà cả thế giới cùng đến để đầu tư, chia sẻ lợi ích, cùng gìn giữ và bảo vệ các giá trị.  Các sáng kiến nêu trên không biệt lập và tách rời với nhau, mà hỗ trợ và tương tác với nhau, có trong nhau để cùng phục vụ mục tiêu của Việt Nam. Cần nhận thấy, phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp chế biến đại trà không nằm trong các  trọng tâm kinh tế mà Việt Nam cần trọng tâm hóa để tạo nên đột phá. Trong năng lực giới hạn của mình, tôi và tập đoàn Trung Nguyên sẽ cố gắng và nỗ lực thực hiện tốt nhất những gì có thể trong phạm vi của những sáng kiến nêu trên. Sự hỗ trợ của những người có trách nhiệm và sự ủng hộ của cộng đồng vì một niềm tin chung, mục tiêu chung, giá trị chung, tương lai chung trước những cơ hội và thách thức chung là điều kiện cần nhưng cũng là điều kiện đủ để chúng ta có thể cùng làm cho đất nước đột phá và phát triển bền vững trong thế giới mới hiện nay.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin sai lệch về sức khỏe trong bối cảnh COVID-19: Các diễn biến phức tạp toàn cầu      Tiếp theo bài viết về vấn đề định nghĩa tin giả ở kỳ trước, bài viết lần này tìm hiểu tin sai về sức khỏe và bàn luận vài vấn đề nổi cộm trong bối cảnh dịch Covid-19. Điều đáng quan tâm trong luận bàn về tin sai sức khỏe là khoảng cách không xa giữa “tin sai” và “tin dắt mũi”: có rất nhiều tin sai được lan truyền trên mạng xã hội do sự hiểu sai hoặc thiếu hiểu biết của đối tượng loan tin. Đồng thời thấy nhiều loại tin dắt mũi đang được cố ý tuyên truyền với mục đích gây hại cho các nhóm người thiểu số dễ bị tổn thương trong xã hội. Ngoài ra, ranh giới giữa tin sai, tin dắt mũi, và kiến thức phi khoa học là rất mong manh.      Trong dịch Covid-19, Bill Gate cũng trở thành tâm điểm của tin sai lệch về sức khỏe: Ông bị mang ra gắn vào các “mưu đồ chính trị của Trung Quốc”, ủng hộ Trung Quốc và WHO. Thậm chí các chương trình vaccine của ông cũng bị đặt vấn đề. Trong ảnh là một tin sai lệch tiêu biểu khi cắt ghép hình Bill Gate gán cùng với các lãnh đạo Trung Quốc để làm nổi bật “sự liên kết” giữa các bên.  Tin sai sức khỏe: vấn đề nhức nhối trong sức khỏe cộng đồng  Trong hơn một thập kỷ qua, các nhà xã hội học y tế đã nghiên cứu Internet như một thành phần quan trọng mới của hệ sinh thái sức khỏe. Hệ sinh thái sức khỏe (health ecosystem) là khái niệm bao gồm môi trường khám chữa bệnh, điều kiện sinh hoạt dinh dưỡng, các yếu tố văn hóa, xã hội, chính trị, thông tin định hình tình trạng sức khỏe tâm lý và thể chất của con người. Việc nghiên cứu môi trường thông tin internet như là một thành phần mới của hệ sinh thái này thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu xã hội khi các bệnh nhân ung thư ngày càng sử dụng internet để thu thập thông tin và đưa ra quyết định điều trị bệnh lý của mình dựa trên các thông tin này. Việc các bệnh nhân lệ thuộc vào thông tin sức khỏe trên internet tạo nên tam giác thông tin giữa bác sĩ – internet – bệnh nhân; tam giác thông tin này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình trải nghiệm sức khỏe cũng như bệnh tật của dân số toàn cầu.  Việc can thiệp của internet trong hệ sinh thái sức khỏe nếu sử dụng hiệu quả, có thể giúp người bệnh tiếp cận đầy đủ thông tin y học chính xác và nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và nguồn lực lâm sàng. Người bệnh cũng có thể tìm được sự trợ giúp và hỗ trợ về nhiều mặt, từ tinh thần đến vật chất, từ những hội nhóm và cộng đồng sức khỏe trên mạng xã hội. Tuy nhiên, bất cập của ‘yếu tố internet’ trong hệ sinh thái sức khỏe là không nhỏ. Việc ‘dân chủ hóa’ tuyên truyền thông tin trên internet khiến lượng thông tin chất lượng kém được dễ dàng phát tán rộng rãi hơn so với bất kì phương tiện thông tin truyền thông nào khác; nhiều nghiên cứu xã hội đã cho thấy thông tin sức khỏe ở các video trên trang mạng Youtube chứa nhiều thông tin gây hại nguy hiểm như cổ xúy chứng biếng ăn, cổ động việc hút thuốc lá gây hại cho sức khỏe, hay tuyên truyền thông tin sai về tiêm chủng trên Twitter và Facebok, cũng như gieo rắc sự nghi ngờ các tổ chức y tế trong nước cũng như toàn cầu, dẫn đến các trường hợp thuyết âm mưu.       Dễ nhận thấy rằng các tin sai, tin giả, tin dắt mũi, hay thuyết âm mưu xung quanh Covid-19 mang đậm mùi chính trị, cũng như khớp với công thức chung là dựa trên những hiềm khích, định kiến, hay xung đột chính trị sẵn có.      Một ví dụ điển hình về tác hại nghiêm trọng của tin sai sức khỏe là những tin nhiễu xung quanh việc chế tạo vaccine cho virus Zika. Bản chất phức tạp về nguồn gốc, phương thức lây truyền, và hậu quả sức khỏe của virus Zika đã tạo ra một môi trường màu mỡ cho thuyết âm mưu và tuyên bố phản khoa học sinh sôi nảy nở trên Twitter, đặc biệt trong các diễn đàn sức khỏe chống tiêm chủng. Các tuyên bố phản khoa học thành công nhất, được lan truyền rộng rãi nhất, thường được hình thành dựa trên những định kiến có sẵn trong xã hội mà các tuyên bố này được tạo ra. Nhiều người dân ở Mỹ tin rằng chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh, một bệnh lý gây ra bởi virus Zika, là do lỗi của công ty bào chế thuốc Monsanto. Monsanto là một công ty y dược từng được bầu đứng vị trí thứ ba trong danh sách các doanh nghiệp bị ghét nhất ở Mỹ do những cáo buộc về việc đầu độc môi trường và uy hiếp nông dân Mỹ. Nghiên cứu cho thấy các đối tượng vốn đã có định kiến về công ty Monsanto tại Mỹ tin rằng chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh là do pyriproxyfen, một loại thuốc diệt muỗi được cho là do Monsanto sản xuất gây ra, chứ không phải là do virus Zika. Trên thực tế, công ty Monsanto không hề sản xuất loại thuốc nói trên, và hiện không có chứng cứ khoa học nào cho thấy thuốc diệt sâu bọ gây nên chứng bệnh nói trên. Một thuyết âm mưu khác liên quan tới virus Zika là tin đồn thất thiệt rằng chứng đầu nhỏ của trẻ sơ sinh là do hậu quả của việc tiêm vaccine MMR (ngừa bệnh sởi, quai bị, và rubella) và vaccine Tdap (ngừa bệnh bạch hầu, uốn ván, và ho gà). Tin đồn thất thiệt này được thổi phồng lên thành thuyết âm mưu cho rằng các công ty sản xuất và bào chế dược phẩm cố ý gây bệnh cho trẻ nhỏ và đổ lỗi cho virus Zika, nhằm mục đích cuối cùng là bào chế thêm vaccine chống virus Zika để thu thêm càng nhiều lợi nhuận. Thuyết âm mưu này cũng có độ thành công khá cao, vì đặc biệt phù hợp với niềm tin không có cơ sở trong nhiều nhóm cộng đồng rằng tiêm chủng là có hại, và đặc biệt lợi dụng sự suy giảm lòng tin của dân số về các công ty y dược lớn.    Những tin về việc sử dụng cây lá để chữa trị Covid-19 lan khắp từ Đông sang Tây. Tuy nhiên không có cơ sở khoa học để tin rằng các loại thông tin này hiệu quả trong phòng bệnh nhưng đây không phải là tin dắt mũi hay thuyết âm mưu vì nó xuất phát từ kiến thức và niềm tin, thói quen của người dân ở các nền văn hóa khác nhau. Ảnh: Thực hành y học dân gian vẫn là một phần rất quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc và các nước châu Á. Nguồn: AP  Tin sai, tin dắt mũi, và Covid-19: vài diễn biến lớn toàn cầu  Trong bối cảnh Covid-19, nhiều dòng tin sai, tin dắt mũi, cũng như các thuyết âm mưu sức khỏe và chính trị thường được thấy ở các tình huống khủng hoảng dịch bệnh khác đang được lặp lại với nhiều yếu tố diễn biến phức tạp. Báo cáo sơ bộ về tin sai Covid-19 của Oxford Internet Institute cho thấy, thông tin sai lệch và gây hại từ các phương tiện truyền thông và các nguồn thông tin y tế rác được hậu thuẫn bởi các chính phủ các nước khác nhau đã được truyền đến hàng trăm triệu tài khoản truyền thông xã hội. Báo cáo này cũng cho thấy, lượng tuyên truyền của các nguồn thông tin sai lệch mang tính đả kích chính trị này ngang ngửa với trung bình các bài báo từ những trang tin quốc tế tầm cỡ như BBC, Guardian, New York Times và Washington Post. Tính đến thời điểm giữa tháng 4/2020, thông tin từ các nguồn thông tin y tế rác đã được truy cập hơn 9 triệu lần; thông tin đả kích từ các nguồn chính phủ ngoại bang nhận được rất nhiều tương tác và chia sẻ. Đặc biệt, các thông tin này xoay quanh đả kích tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bằng cách lan truyền thông tin giả dựa trên định kiến sẵn có về Trung Quốc nhằm ủng hộ quyết định Tổng thống Mỹ Donald Trump ngưng viện trợ cho WHO. Đến đầu tháng 5/2020, các chủ đề tin sai chuyển sang xoay quanh các thuyết âm mưu cho rằng bệnh viện trên toàn thế giới đang phóng đại số lượng bệnh nhân và nạn nhân của Covid-19, cũng như thông tin biện hộ cho phát biểu gây phẫn nộ của Trump về việc khả năng tiêm chất tẩy hoặc chiếu tia UV vào da để trị virus Corona mới. Trong báo cáo gần nhất vào giữa tháng 5/2020, các loại tin giả được đưa ra về Covid-19 xoay quanh việc ám chỉ rằng Trung Quốc cố tình chế tạo virus từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, cũng như đả kích người nước ngoài sinh sống tại Mỹ thông qua việc tấn công các đề xuất của Đảng Dân chủ.   Có thể dễ nhận thấy rằng các tin sai, tin giả, tin dắt mũi, hay thuyết âm mưu xung quanh Covid-19 mang đậm mùi chính trị, cũng như khớp với công thức chung là dựa trên những hiềm khích, định kiến, hay xung đột chính trị sẵn có. Chính vì lí do này mà tin sai sức khỏe khó lòng tách khỏi các vấn đề chính trị xã hội; bản chất của sức khỏe và bệnh tật là một vấn đề mang tính chính trị xã hội đậm nét. Việc Trung Quốc là nơi khởi điểm của đại dịch Covid-19, cộng với những căng thẳng chính trị toàn cầu với chính quyền Trung Quốc, đã tạo nên làn sóng phản đối Trung Quốc mạnh mẽ. Tại các nước phương Tây, làn sóng này thường được kích động bởi các nhóm cực đoan cánh hữu thông qua việc tuyên truyền thông tin sai mang màu sắc kì thị chủng tộc, thậm chí kêu gọi bạo lực trong nhiều trường hợp. Ví dụ điển hình của các tin thiếu kiểm chứng, mang tính dàn dựng, và mang tính xách động này bao gồm video các cảnh quay thiếu tính xác minh diễn tả người Trung Quốc đổ xô đi mua thực phẩm và các thiết yếu phẩm để dự trữ, với ám chỉ rằng người Trung Quốc hoặc người gốc Trung đóng vai trò là lực lượng tay trong hãm hại các quốc gia phương Tây. Hay như video các cảnh quay thiếu tính xác minh diễn tả người được cho là công dân Trung Quốc cố tình phát tán virus bằng cách phun nhổ vào rau củ tươi trong siêu thị, hay bôi nước bọt vào tay cầm cửa ra vào hoặc ghế đá công viên. Các loại tin này không chỉ gây hoảng loạn cho dân số vốn đang hoang mang lo sợ về đại dịch chỉ xuất hiện một lần trong chu kì một đời người, mà còn góp phần hằn sâu mẫu thuẫn sắc tộc cũng như sự ức hiếp các nhóm người thiểu số từ phía số đông. Cần được nói thêm rằng, việc kì thị người Trung Quốc không chỉ đe dọa sự an toàn và quyền con người của các công dân Trung Quốc hay người gốc Trung; việc kì thị này còn ảnh hưởng đến toàn thể các cá nhân đến từ hoặc có nguồn gốc sắc tộc Đông Á/Đông Nam Á. Điển hình ở Úc, trường hợp hai nữ sinh viên người Singapore và Malaysia bị tấn công ngay tại trung tâm thành phố Melbourne bởi hai đối tượng người Úc da trắng vì hai đối tượng này cho rằng hai sinh viên này là người Trung Quốc cho thấy, bất công xã hội của một nhóm người không phải chỉ là vấn đề của riêng nhóm người đó, mà là sự bất công của toàn xã hội.      Lượng tuyên truyền của các nguồn thông tin sai lệch mang tính đả kích chính trị xung quanh Covid-19 ngang ngửa với trung bình các bài báo từ những trang tin quốc tế tầm cỡ như BBC, Guardian, New York Times và Washington Post.      Người Trung Quốc không phải là nạn nhân duy nhất của các thể loại tin giả sức khỏe mang đậm tính chính trị này. Các nhóm cực hữu đang tái lại những thuyết âm mưu vốn đã gây nên nhiều cuộc khai trừng tàn bạo trong lịch sử người Do Thái, như các bài báo cho rằng người Do Thái cố tình gây nên virus corona mới để thao túng thị trường kinh tế, hủy diệt người da trắng, và âm mưu thôn tính khu vực châu Âu và Bắc Mỹ bằng cách thay thế dân số diện rộng Người di cư nói chung cũng là một đối tượng gánh chịu các thể loại tin giả xung quanh Covid-19. Nhiều nhóm cánh hữu tại các quốc gia phương Tây đưa tin cho rằng các tuyến đường di cư, đặc biệt là tình hình đang diễn ra tại biên giới Hy Lạp/Thổ Nhĩ Kỳ ở châu Âu hoặc biên giới Mexico ở Mỹ, đang hoạt động như một trục chính cho sự lây lan của virus. Từ các bài viết này, thông tin đồn thổi sai sự thật về việc người di cư sẽ lợi dụng cơ hội đại dịch để nổi dậy chống phá nhà nước, cũng như những thuyết âm mưu về các tổ chức khủng bố ISIS lợi dụng cơ hội đại dịch để trà trộn vào bộ phận người di cư cũng được lan truyền rộng rãi. Tại Mỹ, trường hợp một người đàn ông da trắng ở Missouri lên kế hoạch khủng bố bệnh viện bị cảnh sát bắn hạ sau khi điều tra của FBI cho thấy người này có âm mưu khủng bố nội địa lên các nhóm người da đen, người đạo Hồi giáo, và người Do Thái tại nơi lưu trú. Tổ chức FBI cũng đang điều tra nhiều tổ chức cực hữu da trắng đang có dấu hiệu lập kế hoạch dùng virus corona mới để tiêu diệt các nhóm người thiểu số, đặc biệt là người Hồi giáo và Do Thái; các nhóm khủng bố này có dấu hiệu phối hợp với nhau bằng ứng dụng nhắn tin Telegram.    Đại dịch Covid-19 đã khiến cho các tin sai lệch về sức khỏe đan cài với các tin mang đậm màu sắc chính trị và phân biệt chủng tộc tấn công vào các nhóm yếu thế khác nhau. Trong ảnh là người Trung Quốc ở Úc biểu tình chống phân biệt đối xử. Nguồn: Theguardian.  Tin sai sức khỏe và kiến thức phi khoa học: những khúc mắc khó gỡ  Bên ngoài các diễn biến chính trị xã hội xung quanh Covid-19, các loại thông tin sai hay thiếu kiểm chứng trực tiếp liên quan đến phương thức phòng ngừa và chữa trị virus cũng trở thành mối quan tâm lớn. Các phương thức “chữa trị” Covid-19 được lan truyền trên mạng xã hội như uống nước tỏi, nước sả nấu với vỏ cam, ăn nhiều gừng ớt, bôi dầu vào lòng bàn chân trước khi đi ngủ, uống nhiều nước lọc mỗi 15 phút để “tẩy rửa” virus, phơi nắng, hay hạn chế không ăn kem đông lạnh… được lan truyền rộng rãi trên các phương tiện mạng xã hội trong các nước Đông Nam Á, và cả các quốc gia nói tiếng Ả Rập. Tất nhiên, rất dễ để chỉ trích rằng các thông tin này là sai và không có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, nếu nhìn kĩ hơn, thì các thông tin này bắt nguồn từ những thói quen, tư duy, và tập tục mang tính định hình cách am hiểu về sức khỏe và bệnh tật của văn hóa châu Á và khối nước Ả Rập. Những thông tin này có một điểm khác nhau quan trọng với tin sai hay tin dắt mũi: chúng không mang tính đả kích khoa học (antiscience), hay giả khoa học (pseudoscience), mà là kiến thức phi khoa học (non-biomedical). Nói cách khác, tuy không có cơ sở khoa học để tin rằng các loại thông tin này mang lại hiệu quả cho việc phòng ngừa hay chữa trị bệnh dịch – và lí do này đủ để các cơ quan chức năng liên quan đến quản lý bệnh dịch kêu gọi người dân không nên tin vào các thông tin không có cơ sở nói trên – các thông tin này không thể được gọi là ‘tin giả’ theo các đánh giá khái niệm thường được dùng để định nghĩa tin sai, tin dắt mũi, hay thuyết âm mưu.  Vì sao điều này lại quan trọng? Ranh giới giữa những gì được gọi là kiến thức và không phải kiến thức không chỉ đơn thuần mang tính tri thức luận, dựa trên suy luận khoa học thuần túy, hay đo lường toán học nghiêm ngặt. Các yếu tố chính trị, xã hội, và văn hóa luôn luôn can thiệp vào quá trình tạo nên kiến thức. Ví dụ điển hình là ở Philippines, Hội đồng Nghiên cứu và Phát triển Sức khỏe của Bộ Khoa học và Công nghệ Philippines hiện đang tiến hành nghiên cứu dầu dừa như một tác nhân tiềm năng chống lại virus. Điều khiến dầu dừa trở nên triển vọng hơn so với tỏi, nước xả, vỏ cam, hay gừng ớt, là vấn đề không chỉ mang tính khoa học, mà còn mang tính văn hóa xã hội. Chính phủ Trung Quốc cũng tích cực cổ động chữa trị và phòng ngừa Covid-19 bằng các phương thức “đậm tính Trung Quốc”, như việc phát “canh giải độc” tại các bệnh viện ở Vũ Hán và việc Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc đề xuất sử dụng mật gấu để chữa bệnh. Trong công cuộc tìm kiếm phương thức chữa trị Covid-19, các câu hỏi mang tính tri thức luận xoay quanh các đặc tính của kiến thức, ai là người có quyền tạo ra kiến thức, và những đặc thù chính trị xã hội của cả kiến thức khoa học lẫn kiến thức phi khoa học trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. □    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Tính bền vững của phát triển      Trước thềm của việc gia nhập WTO, bức tranh kinh tế nước ta tuy có những khởi sắc, song, chất lượng tăng trưởng vẫn là điều đáng lo ngại. Khi mà mức tăng trưởng dựa phần lớn vào khai thác vốn tài nguyên, ưu đãi vốn đầu tư vật chất thông qua các chính sách ưu đãi vốn và tăng đầu tư công, trong khi hàm lượng chất xám của sản phẩm còn quá thấp do đầu tư vào vốn con người và đổi mới công nghệ còn quá chậm. Một ví dụ: so sánh tỷ lệ sử dụng công nghệ cao của nước ta và với một số nước ASEAN: Việt Nam: 2%, Thái Lan: 30%, Malayxia: 51% và Singapore: 73%! Chất lượng ấy tác động đến khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng như của từng sản phẩm còn yếu kém (tụt 3 bậc so với 2005), tăng trưởng kinh tế năm 2006 thấp hơn năm 2005 (8.43% so với 8,1-8,2%). Phấn đấu quyết liệt để năm 2007 tăng GDP lên từ 8,3-8,5%, thu nhập bình quân khoảng 820USD. Thì vẫn là nước nghèo. Với việc chính thức gia nhập WTO, chúng ta chủ động dấn bước vào “cuộc chơi” toàn cầu từ điểm xuất phát ấy. Điểm xuất phát của một nước nghèo!         Thế mà thực lực luôn là điều kiện tiên quyết của hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà “thương trường”sẽ là“cuộc chiến”. “Cuộc chiến” này sẽ diễn ra gay gắt với nhiều “trận đánh” phức tạp, mà chính đồng minh trong trận này lại có thể  là đối thủ trong trận sau. Vì đó là một quá trình quan hệ đối tác hợp tác và quan hệ đối phương tranh chấp đan xen nhau. Trong “hợp tác” và “tranh chấp” ấy, ai thông minh sáng suốt thì được nhiều hơn mất, ai dại khờ thì mất nhiều hơn được. Không có thực lực, ảo tưởng và cầu may sẽ không có chỗ đứng trong cuộc chiến cam go này. 11 năm của cuộc thương thuyết gia nhập WTO đã cho ta bài học ấy.   Với mức tăng trưởng 8,2% không phải là thấp, và đương nhiên vẫn cần phải phấn đấu hơn nữa vì phải tính đến con số tuyệt đối của sự tăng trưởng đó mới nói đến chuyện thực lực . Ai cũng có thể hiểu được rằng 8% của 100 đồng khác rất ghê gớm với 8% của 1.000 đồng! Song, quan trọng hơn nữa là cái đang phải dồn sức là tính bền vững của sự tăng trưởng kinh tế. Để có được sự phát triển bền vững phải tính đến cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Về xã hội, vấn đề phân phối sản phẩm sẽ là vấn đề có ý nghĩa an dân và ổn định xã hội rất lớn. Chỉ xin gợi ra một ví dụ: 6 năm qua, “Quỹ vì người nghèo” các cấp do Mặt trận TQVN chủ trương đã vận động được 1.700 tỷ đồng, cộng thêm sự giúp đỡ trực tiếp bằng tiền mặt và ngày công trị giá trên 2000 tỷ đồng, đã xây dựng và sửa chữa 418.594 ngôi nhà “đại đoàn kết” cho người nghèo. Song, cũng 6 năm qua, chỉ tính riêng tiền quà biếu của 663 đơn vị đã tiêu tốn của ngân sách Nhà nước trên 4.000 tỷ đồng! Hoặc chỉ cần giảm đi một nửa “bãi Sông Hồng dùng để chứa chưa đủ” số xe ô tô mua sắm quá tiêu chuẩn đã từng được ví von tại Diễn đàn Quốc hội trước đây, sẽ xây được bao nhiêu nhà “đại đoàn kết”? Chỉ một vụ hóa giá nhà “gọn nhẹ” và “ngon lành”, đúng thủ tục và hợp tiêu chuẩn của một “công bộc tận tụy của dân” đã khiến cho gia chủ bỏ túi hàng nghìn cây vàng. Số vàng ấy không từ trên trời rơi xuống, mà từ mô hôi nước mắt của lao động xã hội, của tiền thuế thu được từ người dân, kể cả những người buôn thúng bán bưng, người còng lưng vác hàng tạ gạo trên lưng trần để cho xuống tàu, xuất khẩu.  Tính bền vững còn phải tính đến việc tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người nghèo trong xã hội, nhóm xã hội chịu nhiều thiệt thòi nhất, điều này phải được chú ý ngay từ trong quá trình tạo nên sự tăng trưởng kinh tế. Khi giá tiêu dùng tăng, có thể một bộ phận nào đó trong xã hội ít hoặc thậm chí không chịu ảnh hưởng mấy, song đối với người nghèo thì quả là thảm họa, vì nó tác động trực tiếp đến bát cơm cho con trẻ, đến đĩa tép rang bày trên mâm cơm của triệu triệu gia đình nghèo. Đây chẳng là điều mới mẻ gì. Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã chép một bài thơ có hai câu nói lên nỗi lo toan “trần thế” ấy:  “Vật giá tự vô đằng dũng hoạn  Sinh dân thứ lạc thái bình phong”    Thì ra, nỗi lo vật giá gia tăng sẽ ảnh hưởng đến cảnh dân được an hưởng thái bình đã từng là niềm ưu tư của những tấm lòng thật sự vì nước vì dân tự bao đời nay. Liệu đây có phải là vấn đề thời sự cần bàn trước viễn cảnh khá tốt đẹp mà cùng với sự lạc quan dè dặt là sự nghiêm cẩn tính toán một cách trung thực và sòng phẳng.       Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính chất tiểu nông      Việt Nam gia nhập WTO rồi m&#224; sức cạnh tranh k&#233;m l&#224; do kinh tế nước m&#236;nh c&#242;n mang t&#237;nh chất &#8220;tiểu n&#244;ng&#8221;; x&#227; hội Việt Nam nhếch nh&#225;c v&#236; c&#242;n nhiều &#8220;dư lượng&#8221; của văn h&#243;a tiểu n&#244;ng; thủ đ&#244; lụt lội, bừa bộn h&#224;ng rong, hoa kiểng bị bẻ ph&#225;, đường x&#225; r&#225;c rưởi&#8230; l&#224; do đầu &#243;c quản l&#253; &#8220;tiểu n&#244;ng&#8221;, th&#243;i quen l&#224;ng x&#227; &#8220;tiểu n&#244;ng&#8221;; đến văn học thiếu t&#225;c phẩm &#8220;lớn&#8221; cũng v&#236;&nbsp; nền văn học &#8220;tiểu n&#244;ng&#8221;. Đ&#243; l&#224; những nhận định, ph&#225;n x&#233;t thường thấy tr&#234;n c&#225;c phương tiện truyền th&#244;ng.    Nhớ chuyện Tăng Sâm giết người: một người nói Tăng Sâm giết người, bà mẹ Tăng Sâm vẫn điềm nhiên dệt vải, hai người nói Tăng Sâm giết người, bà mẹ vẫn dệt vải, nhưng ba người nói Tăng Sâm giết người thì bà quăng thoi quăng cửi mà chạy trốn. Cho dù sự thực thế nào thì hơn một chục bài báo và phát biểu của những tác giả kèm theo học vị tiến sĩ, giáo sư, đã khiến cho những độc giả trung bình đinh ninh rằng “vấn đề” của đất nước chúng ta hiện nay chỉ là tình trạng “tiểu nông” ở mọi nơi, mọi ngành. “Tiểu nông” trở thành tính từ để diễn giải bất cứ cái gì mà người ta cảm thấy xấu hổ, không hài lòng, hay muốn lấp liếm đi.  Ở Sài Gòn thập niên sáu mươi của thế kỷ trước có vở kịch nói “Lá sầu riêng” được công chúng ưa thích. Trong kịch có cảnh một chàng trai có học, sắp làm rể nhà giàu, giấu biệt xuất thân nông thôn của mình, xấu hổ về người mẹ nghèo và người cậu nhà quê, rồi tự đưa mình vào tình huống khôi hài. Cảnh đó mua được những trận cười của công chúng vì Sài Gòn lúc đó bắt đầu đón nhận những làn sóng di dân từ nông thôn do chiến tranh phải đổ vào đô thị, và đã có những người choáng ngợp trước sự hào nhoáng của đô thị mà đâm ra mặc cảm tự ti, phủ nhận những giá trị vốn có của mình, sắm cái mặt nạ trưởng giả phù phiếm để hãnh diện với đời. Cho đến bây giờ Sài Gòn vẫn là đất hội tụ của người tứ xứ, không chỉ từ các tỉnh thành khác trong nước, mà còn từ nhiều nước khác. Nó chưa bao giờ là một đô thị hoàn hảo hay lý tưởng. Nó chỉ là đô thị đúng nghĩa, có hay, có dở, phát triển theo qui luật và thực lực của nó. Hàng triệu dân nhập cư từ nông thôn là nguồn đóng góp cho nó những giá trị đặc sắc của từng vùng, từng nhóm văn hóa khác nhau.          Theo tôi hiểu, tiểu nông là người canh tác trên mảnh đất mình làm chủ. Do phương thức tự cung, tự túc, họ phải tự lực, tự lo, tự chủ, tự cường.           Tôi quen văn minh đô thị, nhưng tôi quí trọng tiểu nông. Theo tôi hiểu, tiểu nông là người canh tác trên mảnh đất mình làm chủ. Do phương thức tự cung, tự túc, họ phải tự lực, tự lo, tự chủ, tự cường. Tiểu nông thực sự là những người độc lập, tự do, có nền tảng văn hóa căn cơ, nhân bản. Khi gặp những hoàn cảnh khắc nghiệt: thiên tai, ngoại xâm, nội chiến, chính sách sai lầm, nông dân có thể bị mất đất, trở thành nô lệ, hay kẻ làm thuê, hay tha phương cầu thực. Họ không còn là tiểu nông nữa, mà vì cuộc sinh tồn họ phải biến chất để thích nghi trong hoàn cảnh khác. Như mọi thứ trên đời, nền tảng văn hóa tiểu nông có những ưu điểm và những khuyết điểm. Và như mọi thứ trên đời, khi nền tảng tan vỡ, suy sụp hay rạn nứt, thì những mảnh vỡ, tản lạc, bộc lộ nhiều khuyết điểm hơn ưu điểm.           Nhóm bạn chúng tôi đi nghỉ mát ở Mũi Né, gặp những nhóm khách từ nhiều nơi khác cùng nghỉ chung khách sạn. Họ hỏi chúng tôi có phải ở Sài Gòn ra. Bọn tôi nói có người là dân Sài Gòn, còn lại là dân miền Tây và dân miền Trung. Rồi hỏi lại họ có đoán được ai trong chúng tôi là người xứ nào không. Họ chỉ tôi: chắc bà này dân miền Tây. Còn hai dân miền Tây chính hiệu là Tiên và Liên thì bị nhầm là dân đô thị: Tiên ăn mặc giao tiếp rất có phong cách, Liên nói năng đàng hoàng văn vẻ. Cả bọn ôm bụng cười bò ra. Chuyện này vui, chứ không đến nỗi ngạc nhiên. Tiên là giám đốc doanh nghiệp, Liên là giáo sư Đại học Cần Thơ, còn tôi là một người viết tự do,  ăn mặc giản dị, ăn uống tự nhiên, nói năng thoải mái. Nhưng định kiến miền Tây là nhà quê, và nhà quê thì mộc mạc, nghèo nàn, xấu xí, dốt nát, lạc hậu, lôi thôi, linh tinh … nói theo ngôn ngữ thời thượng là mang tính chất “tiểu nông”.          Kinh tế tiểu nông có thể không thỏa mãn tham vọng làm giàu chớp nhoáng, không thích hợp với kinh tế tiêu thụ chi phối bởi tư bản toàn cầu. Nhưng nếu có một mô hình nông nghiệp đáng mơ ước thì mô hình đó sẽ dựa trên nền tảng tiểu nông: nông dân canh tác trên mảnh đất mình làm chủ, tự cung và cung cấp cho xã hội tương xứng với hưởng thụ từ xã hội. Với những thành tựu khoa học kỹ thuật và phương pháp canh tác ngày nay, không nhất thiết phải có một giàn máy gặt đập liên hợp như một nhà máy di động trên cánh đồng hàng ngàn mẫu mới đạt được sản lượng cao nhất. Công nghiệp hóa nông nghiệp hiện nay là vấn đề gây tranh luận, nó không hẳn là một lựa chọn tối ưu, nhất là về mặt môi trường, văn hóa, xã hội. Lợi nhuận thương mại liệu có tương xứng với cái giá phải trả cho biến đổi sinh thái và cơ cấu xã hội? Khoa học hóa và kỹ thuật hóa nông nghiệp trên nền tảng tiểu nông là một giải pháp khả thi ở nhiều nơi trên thế giới. Phần lớn chính sách bảo hộ nông nghiệp ở các nước tiên tiến đều nhằm duy trì nền tiểu nông, mà một trong những mục đích là bảo tồn văn hóa nông nghiệp vốn là gốc văn hóa dân tộc của họ.   Đâu đến nỗi khó khăn lắm mới thấy rằng để có sức cạnh tranh trên trường quốc tế hiện nay (trên thương trường và trong mọi lĩnh vực khác) chúng ta cần sáng suốt chí công lựa chọn những đầu óc xuất sắc được đào tạo với chất lượng ít nhất phải ngang ngửa đối thủ quốc tế để đưa ra những chính sách và biện pháp vì lợi ích cả cộng đồng dân tộc chứ không chỉ lợi cho tài khoản một số cá nhân hay phe nhóm. Để hiểu vì sao xã hội ngổn ngang vấn đề, dân chúng có những hành vi xã hội kém văn hóa, có lẽ khó khăn hơn, vì nền giáo dục hiện nay chỉ chịu chừng một nửa trách nhiệm, một nửa còn lại cần can đảm và cởi mở để thẳng thắn nhìn nhận và thay đổi. Còn việc đổ thừa nền “văn học tiểu nông” nên ta chưa có tác phẩm lớn, thì do cách đặt vấn đề như vậy, câu trả lời thế nào cũng chướng. Singapore là nước không hề có nông nghiệp, đương nhiên nền văn học không thể là văn học tiểu nông, mà bất chấp tính công nghiệp hóa cực cao của xã hội nước đó, họ vẫn không có tác phẩm văn học “lớn”, có thể họ cũng chẳng băn khoăn quyển sách họ chia sẻ với đồng bào mình có “lớn” hay không, theo tầm, theo chuẩn nào. Còn sử thi Mahabharata của Ấn Độ thì chắc chắn ra đời trong bối cảnh đất nước này còn chế độ tiểu nông. Nếu muốn phê phán hay thay đổi điều gì, thì trước tiên phải gọi đúng tên sự việc, chứ không thể chỉ việc đổ thừa cho tính chất “tiểu nông”.  Ông bà ngoại tôi là tiểu nông thứ thiệt. Tôi thừa hưởng những điều tốt đẹp nhất làm nên con người tôi hiện nay từ ngôi nhà, khu vườn, cánh đồng và thôn làng quê ngoại tôi. Hai người bạn dân miền Tây của tôi cũng có cha mẹ và ông bà là tiểu nông. Chúng tôi đều tự hào là dù được đào tạo ở Mỹ, ở châu Âu, dù làm việc trong môi trường đô thị, chúng tôi vẫn còn trong mình những phẩm chất tiểu nông của ông bà mình. Những phẩm chất đó giúp chúng tôi biết mình là ai, và đâu là nền tảng văn hóa của mình.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính chính danh trong bình chọn sự kiện và xét chọn giải thưởng      Sự không chính danh đang thể hiện rõ nét nhất trong các hoạt động bình chọn sự kiện vào dịp năm hết Tết đến, trao giải thưởng mang tính xã hội, trong lĩnh vực kinh tế và hoạt động khoa học công nghệ.    Chính danh trong mọi hoạt động của xã hội con người là rất cần thiết. Khổng Tử- một nhân tài theo chủ nghĩa “Đức trị” được Hồ Chí Minh coi trọng ngang Mác và Lênin, đã đề cao học thuyết “Chính danh” trong việc thiết lập trật tự tốt đẹp cho xã hội. Theo Khổng Tử, để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” trước hết con người phải nghiêm chỉnh theo thuyết Chính danh. Khi soạn Kinh Xuân Thu (một công trình khoa học về lịch sử giai đoạn từ năm 722 tới năm 481 tr.CN), Khổng Tử đã dựa vào thuyết “chính danh, định mệnh”. Về sau, Hàn Phi Tử- một nhân tài khác theo chủ nghĩa “Pháp trị” cũng đã triệt để ứng dụng thuyết Chính danh. Danh gia (một trong 6 “gia” triết học sau Khổng Tử) cũng rất đề cao thuyết Chính danh: danh không chính thì lời không thuận; lời không thuận thì việc không thành. Học thuyết Chính danh của Khổng Tử (bao gồm việc am hiểu đúng đắn các khái niệm để có thể áp dụng trong thực tiễn) rất phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học trong xã hội ngày nay.  Sự không chính danh đang thể hiện rõ nét nhất trong các hoạt động bình chọn sự kiện vào dịp năm hết tết đến, trao giải thưởng mang tính xã hội (không phải là những giải thưởng Nhà nước), trong lĩnh vực kinh tế và hoạt động khoa học công nghệ.  GDP của VN còn rất thấp, nhưng có nhiều “giải thưởng” rất kêu (“Nhân tài Đất Việt”, “Sao vàng Đất Việt”, “Ngôi sao kinh doanh”, “Nhà quản lý giỏi”, “Doanh nhân tiêu biểu”, “Hoa Trạng Nguyên”, “Trí tuệ Việt Nam” v.v.) và người “thay mặt Ban tổ chức lên trao giải” cũng rất xịn. Khi nền kinh tế còn đang phải “vật lộn” với chậm phát triển, các giải thưởng cứ mọc lên như nấm sau mưa sẽ không tránh được những điều bất cập.          Chính danh: có nội dung, chất lượng đúng với tên gọi (Từ điển tiếng Việt)        Trước hết là sự “lạm phát” về các giải thưởng. Số lượng các giải thưởng quá nhiều, nhiều đến mức cái “lượng” này không thể chuyển thành “chất”. Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính các giải thưởng ở cấp “quốc gia”, “hiệp hội”, “trung ương” ở VN có gần 70 loại khác nhau. Trong đó, liên quan đến lĩnh vực giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế (là những lĩnh vực hoạt động đòi hỏi sự chính danh phải cao nhất) có tới 48 “giải” các loại! Và cái đáng lo ngại nhất (cũng là hậu quả của “lượng”) là chất (giá trị đích thực) của nhiều giải thưởng có giá trị thấp, mà nguyên nhân chính là do được bình chọn và đánh giá không chính danh.  Một ví dụ điển hình (về hoạt động kinh tế): Công ty Tài chính TKV năm 2009, có vốn tự có 1092 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 100 tỷ đồng và nộp ngân sách có 8 tỷ đồng (tức cần tới 10,92 đồng để làm ra được 1 đồng lợi nhuận, và cần tới 136,5 đồng để nộp được 1 đồng vào ngân sách). Trong khi mức bình quân của các doanh nghiệp trong TKV (năm 2009) chỉ cần 3,8 đồng để làm ra 1 đồng lợi nhuận, và chỉ cần 2,95 đồng để nộp được vào ngân sách 1 đồng. Như vậy, Công ty Tài chính của TKV xét về hiệu quả kinh tế, còn thấp hơn mức bình quân tới 2,8 lần và đóng góp cho xã hội còn thấp hơn 46 lần. Mặc dù vậy, Công ty Tài chính là doanh nghiệp duy nhất của TKV đã được trao giải thưởng “Top 200 thương hiệu VN”.  Một ví dụ khác (về hoạt động khoa học-công nghệ): Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) được đánh giá là tương đối “oai” nhờ được thành lập chính danh (do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì và phối hợp tổ chức với các cơ quan sáng lập Quỹ VIFOTEC như Tổng Liên đoàn Lao động VN, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các bộ, các nhà khoa học). Nhưng rất tiếc, giải thưởng này được trao cho “công trình” khoa học VINAALTA (của TKV) là một ví dụ điển hình của sự không chính danh trong hoạt động. Thực tế triển khai cho thấy: công trình này không có tính sáng tạo, không đạt hiệu quả kinh tế cao, vi phạm bản quyền (là 3 tiêu chuẩn quan trọng của Giải). “Công trình” này có thiết bị khai thác than VINAALTA (tên gọi này vi phạm bản quyền) đã được áp dụng rộng rãi từ lâu trên thế giới, do nước ngoài thiết kế (Việt Nam chỉ chế tạo được những chi tiết không quan trọng của thiết bị này), có chi phí đầu tư rất cao, nhưng hiệu quả kinh tế lại rất thấp so với các công nghệ khác. “Công trình” này  vẫn được “nghiệm thu” bởi một Hội đồng Khoa học không chính danh (theo qui định của Giải) của TKV.  Nếu tình trạng trên vẫn tiếp diễn, những sự kiện được bình chọn, các giải thưởng được trao sẽ mất hết giá trị và trở thành phản tác dụng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính chuyên nghiệp với đạo đức và nhân cách      Nói đơn giản thì chuyên nghiệp là tinh thông về nghề nghiệp, và người chuyên nghiệp là người nắm vững các nguyên tắc pháp lý – qui ước xã hội, hệ thống sản xuất, quy trình tác nghiệp, kỹ thuật thao tác v.v của nghề nghiệp mà y theo đuổi và có thể sống chủ yếu bằng nghề ấy.    Trong thực tế, hệ thống sản xuất xã hội phát triển trên cơ sở tái sản xuất xã hội và kết quả các giá trị thặng dư mà nó tạo ra, nên nó được tích lũy chủ yếu từ kết quả hoạt động của những người chuyên nghiệp. Giá trị thặng dư mới là nguồn lực phát triển vĩnh cửu, nên những người chuyên nghiệp với tư cách là lực lượng có hiệu suất hoạt động cao nhất với chi phí thời gian và vật chất ít nhất luôn là những người có vai trò tích cực khách quan trong sự phát triển hệ thống sản xuất xã hội. Tuy nhiên điều không kém phần quan trọng là trong quá trình tạo ra các giá trị thặng dư ấy, họ còn có những đóng góp tích cực khác. Một giáo viên giỏi luôn khiến học sinh nỗ lực, một bác sỹ giỏi luôn làm bệnh nhân yên lòng, một công nhân giỏi luôn được đồng nghiệp tin cậy, một diễn viên giỏi luôn được công chúng ái mộ, nên những người chuyên nghiệp còn là những người góp phần làm giàu vốn xã hội (social capital), khái niệm này được Laurence Prusak và Don Cohen định nghĩa như sau: “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được.” (How to invest in social capital, 2011). Sự tác động qua lại giữa tính chuyên nghiệp với đạo đức và nhân cách hình thành trên cơ sở những đóng góp tích cực nói trên.   Dĩ nhiên, trong các hoạt động sản xuất xã hội mà đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất tinh thần, không bao giờ những người chuyên nghiệp giải quyết được tất cả các vấn đề, thỏa mãn được tất cả các nhu cầu của xã hội, nên sự hình thành lực lượng không chuyên nghiệp ở đây là điều tất yếu. Trong một số trường hợp, những người không chuyên nghiệp cũng có thể có đóng góp nổi bật hay to lớn hơn cả những người chuyên nghiệp, nhưng không phải vì thế mà sự khác biệt giữa hai bên bị mất đi. Kiếm sống bằng nghề nghiệp của mình, những người chuyên nghiệp không thể mà cũng không dám thỏa mãn với những kết quả đã đạt được, phải không ngừng học hỏi và phấn đấu để tiến xa hơn trong nghề nghiệp; ý thức này ở những người không chuyên nghiệp thường không mạnh mẽ và liên tục vì đơn giản là họ không sống bằng nghề ấy việc ấy. Rõ ràng ý thức về tính chuyên nghiệp là chỉ báo quan trọng nhất về khả năng chuyên nghiệp hóa của một cá nhân, và vì đạo đức không gì khác hơn là sự thể hiện “các nhu cầu từ bên trong” của chủ thể hành vi, nên ý thức ấy cũng là nấc thang vững chắc đầu tiên cho cá nhân tiến tới một hệ giá trị đạo đức đích thực. Theo thời gian, khi hoạt động nghề nghiệp đã thẩm thấu vào nhiều chiều nhiều tầng của hoạt động sống, ý thức ấy sẽ phát triển thành nhân cách của những người chuyên nghiệp. Trong cuộc sống có hiện tượng nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực hay nghề nghiệp rất khác nhau, có tính cách hay phong cách rất khác nhau nhưng lại có nhiều nét tương đồng về nhân cách, đó chính vì họ đã được qui đồng về cái mẫu số chung nhân cách chuyên nghiệp này, hoàn toàn thống nhất với nhau ở mục tiêu hoạt động vì sự phát triển của nền sản xuất xã hội.          Bản thân sự chuyên nghiệp còn là một phẩm chất mang tính hệ giá trị, nên nó cũng có những mối liên hệ với nhân cách rất đáng quan tâm.             Tuy nhiên, nhìn vào đa số những người lao động ở Việt Nam hiện nay, nhất là những người lao động trí óc, có thể thấy quá trình từ kỹ năng đến ý thức rồi nhân cách chuyên nghiệp nói chung vẫn chưa diễn ra một cách thông suốt, đồng thời càng chưa phải là tất yếu và phổ biến. Nhiều người đã nói tới thực trạng suy thoái về đạo đức và nhân cách của đội ngũ lao động, coi đó là nguyên nhân của nguy cơ (thật ra đã không còn là nguy cơ) tụt hậu của kinh tế xã hội trong đất nước với hệ thống các hiện tượng gian lận, vi phạm đạo đức trong thi cử, hoạt động khoa học và công nghệ, sáng tạo nghệ thuật hay bớt xén cẩu thả trong sản xuất kinh doanh v.v. Nhìn từ phương diện tính chuyên nghiệp, tình hình ấy phản ảnh tình trạng thiếu thốn về kỹ năng chuyên nghiệp, hời hợt trong ý thức chuyên nghiệp và thờ ơ với nhân cách chuyên nghiệp. Nhưng nếu trở lại với thực trạng giáo dục và đào tạo lao động, sử dụng và đề bạt cán bộ ở Việt Nam nhiều năm nay thì đó là điều có thể lý giải được. Rất nhiều Cử nhân, Thạc sĩ hiện nay không tìm được việc làm chủ yếu vì không biết làm việc; không ít cán bộ công chức chỉ biết nói lý thuyết chính trị chứ không có kiến thức chuyên môn… là những bằng chứng về sự suy thoái của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực không đáp ứng được nhu cầu và xu thế của nền sản xuất xã hội thì hệ quả tất yếu là sự xuống cấp về đạo đức và nhân cách trên phạm vi rộng. Một bộ phận lao động ở Việt Nam tuy không thất nghiệp nhưng đã trở thành lực lượng ăn bám, nên nền sản xuất xã hội càng mở rộng theo đường hướng này thì vốn xã hội cạn kiệt càng nhanh.   Tất nhiên không phải người chuyên nghiệp lúc nào cũng thành công, nhưng trong những trường hợp ngược lại, thái độ đối với những sai lầm hay tai nạn nghề nghiệp cũng là một thước đo về tính chuyên nghiệp của họ. Vụ bác sỹ thẩm mỹ viện Cát Tường ném xác bệnh nhân xuống sông khiến dư luận xôn xao năm vừa qua là bằng chứng. Người bác sỹ này đã rủi ro gây thiệt hại cho bệnh nhân rồi xử sự không đúng, điều đáng tiếc ấy cho thấy một rủi ro khác của nhiều trí thức Việt Nam hiện nay, đó là không được nhà trường, đồng nghiệp và xã hội dạy cách xử sự đúng với nhân cách của những người chuyên nghiệp, ở đó sự tôn nghiêm của nghề nghiệp và chức trách luôn được đặt trên lợi ích và danh tiếng cá nhân.   ***  Dòng chảy tự nhiên nhất trong lịch sử loài người là nền sản xuất xã hội. Nền sản xuất ấy không những phải tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cần thiết cho sự tồn tại trước mắt mà còn phải tích lũy những khả năng phát triển mới. Cho nên một trong những giải pháp căn cơ mà cấp bách của việc phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam hiện nay chính là việc nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực, vì như thế mới có thể giải quyết nhiều nan đề kinh tế và xã hội, văn hóa và lối sống hiện nay một cách triệt để đồng thời đưa Việt Nam bước vào quỹ đạo toàn cầu hóa một cách vững chắc và tự nhiên.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh giản bộ máy      Về mặt lý thuyết, để trả lời câu hỏi nên tinh giản bộ máy nhà nước như thế nào, thì trước tiên cần làm rõ mô hình nhà nước mà chúng ta theo đuổi.        Mô hình nhà nước điều chỉnh sẽ có bộ máy rất nhỏ. Mô hình nhà nước phúc lợi sẽ có bộ máy rất lớn. Trong hai mô hình đó, khó có thể khái quát hóa một cách chung chung là mô hình nào tốt hơn mô hình nào. Mỗi mô hình đều chỉ tốt nếu được người dân ủng hộ và đều chỉ tốt trong những bối cảnh lịch sử, văn hóa nhất định.  Ngoài hai mô hình nói trên, còn có mô hình Xô viết. Tuy nhiên, nếu chọn mô hình này thì chúng ta không cần phải cải cách bộ máy gì nhiều. Vì đây là mô hình mà chúng ta đang có. Nó đã tồn tại ở miền Bắc từ năm 1959-1960, và ở miền Nam từ năm 1975 đến nay.  Đất nước ta đang trong quá trình cải cách và chuyển đổi. Mô hình nhà nước đang được nói tới nhiều hơn cả hiện nay là nhà nước kiến tạo phát triển. Quả thực, ở nước ta, đây là mô hình chưa có được một khuôn khổ khái niệm tương đối rõ ràng, mạch lạc. Theo những gì mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày trong phiên chất vấn tại Quốc hội ngày 18/11/2017 vừa qua, thì quan niệm của chúng ta về nhà nước kiến tạo phát triển rất gần với mô hình nhà nước điều chỉnh. Thủ tướng khẳng định: “Chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển”; “Nhà nước không làm thay thị trường”; “Chính phủ phải kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi”… (Điều thú vị là những gì mà Thủ tướng khẳng định lại không nằm trong khuôn khổ của khái niệm “developmental state” vẫn được nhiều người dịch sang tiếng Việt là “nhà nước kiến tạo phát triển”. Mô hình “developmental state” nằm giữa mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước (Xô viết) kế hoạch hóa tập trung).  Như đã nói ở trên, nếu chúng ta quan niệm nhà nước kiến tạo phát triển chính là nhà nước điều chỉnh, thì quả thực bộ máy nhà nước có thể được cắt giảm rất nhiều. Nhà nước chỉ tạo ra luật chơi, chứ không tham gia đá bóng. Đá bóng là các lực lượng kinh tế và xã hội. Mà như vậy thì nhà nước chủ yếu chỉ là vài ba ông trọng tài, chứ không phải là cả hai đội bóng.  Vấn đề đặt ra là nói lý thuyết thì dễ, nhưng chuyển đổi một hệ thống trùng trùng điệp điệp từ mô hình Xô viết sang mô hình nhà nước điều chỉnh như thế nào mới khó. Thực tế, mâm cỗ đều đã được sắp xếp, và mọi người đều đã ngồi xung quanh. Đuổi người này hay người kia ra ngoài là hoàn toàn không dễ.    Để vượt qua khó khăn này, quan trọng là mâm cỗ phải được bày đặt nhiều hơn nữa ở bên ngoài chứ không chỉ trong bộ máy nhà nước. Nghĩa là cần phải tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân, cho xã hội dân sự phát triển để cơ hội được mở ra nhiều hơn cho tất cả mọi người. Trong đó, có cả những người phải rời khỏi bộ máy hành chính- công vụ và bộ máy chính trị. Tinh giản không có nghĩa là đuổi những người này ra ngoài đường. Tinh giản phải là sự sắp xếp, chuyển đổi theo hướng tạo điều kiện để cho tất cả mọi người đều phát huy được đúng năng lực và sở trường của mình.  Để tinh giản bộ máy, thì nhất thể hóa giữa Đảng và Nhà nước là quan trọng nhất. Ngoại trừ mô hình Xô viết, trong tất cả các mô hình khác, đảng cầm quyền đều hóa thân vào nhà nước để cầm quyền. Đứng ngoài nhà nước để cầm quyền vừa dễ dẫn tới sự chồng chéo, trùng lặp, vừa làm cho quy trình ban hành chính sách, pháp luật trở nên rắc rối, phức tạp, chi phí thủ tục và chi phí cơ hội tăng cao.  Ngoài ra, để tinh giản bộ máy, phi hành chính hóa các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị-xã hội cũng rất quan trọng. Các tổ chức xã hội thì phải do xã hội nuôi. Đây không chỉ là một đòi hỏi của sự công bằng, mà còn là một nguyên tắc để vận hành thể chế. Lý do là vì ăn lương nhà nước thì hiệu ứng “Ăn cơm chúa múa tối ngày” sẽ bị kích hoạt. Mà như vậy thì khả năng phản biện chính sách, pháp luật của nhà nước để bảo vệ các thành viên của các tổ chức xã hội là rất hạn chế. Đó là chưa nói tới động lực vận động chính sách cũng không có nhiều. Hệ quả tiếp theo là phản ứng chính sách trước nhu cầu của quần chúng, nhân dân rất dễ bị chậm trễ và bất cập. Mà như vậy thì căng thẳng xã hội và bất ổn xã hội sẽ rất dễ xảy ra.  Cuối cùng, tinh giản bộ máy đang là đòi hỏi nóng bỏng của đất nước. Song song với ý chí chính trị, một khuôn khổ khái niệm chuẩn xác về việc thiết kế hệ thống cũng rất cần thiết để những cố gắng cải cách có thể thành công.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Tính khả thi của việc may chiếc áo mới cho ngành đường sắt      Vấn đề cải tạo mạng đường sắt (ĐS) nước ta đang được báo chí bàn thảo sôi nổi. Xem ra người nói và viết nhiều nhất về đề tài này là Tiến sĩ Trần Đình Bá.      Quan điểm của TS Bá là ngành ĐS có ngay một chiếc áo mới toanh chứ không nên mặc áo vá. Chiếc áo mới toanh đó được «may» bằng cách thay toàn bộ 3.200 km ĐS khổ hẹp hiện có bằng ĐS khổ tiêu chuẩn, hơn nữa phải toàn bộ là ĐS đôi!  Cùng với nhiều phát biểu, thư, kiến nghị… trước đây gửi lên nhiều cấp lãnh đạo và báo chí, những lời lẽ «đại ngôn» của TS Bá [ví dụ kiến nghị khẩn cấp thủ tiêu (ĐS khổ hẹp); ĐS khổ 1 m không còn giá trị sử dụng nữa…], đã khiến bạn đọc cả nước quan tâm, gây dư luận cho rằng ngành ĐS và Bộ GTVT bảo thủ trì trệ, không tiếp thu «sáng kiến» của ông.   Vậy sự thực như thế nào?   Khối lượng công trình và trang thiết bị của ngành ĐS nước ta rất lớn. Riêng tuyến ĐS Hà Nội-TP.HCM dài 1.726 km đã có gần 160 nhà ga và 27 hầm xuyên núi với tổng chiều dài hơn 8,3 km. Nhiều năm qua, Bộ GTVT và ngành ĐS nước ta đã dày công nghiên cứu vấn đề cải tạo mạng ĐS nhưng chưa phương án lớn nào được thực thi bởi đây là một vấn đề rất phức tạp, quyết định vội vàng chỉ làm lãng phí tiền của và sức dân.   Nước ta thừa hưởng một hệ thống ĐS lạc hậu do Pháp để lại: đường khổ hẹp [1] loại 1 m (1.000 mm) có nhược điểm chở ít, chạy chậm… Để chở nhiều chạy nhanh, ai cũng biết là nên chuyển toàn bộ lưới ĐS 32 nghìn km nước ta thành ĐS khổ tiêu chuẩn 1.435 mm. Thế nhưng việc cải tạo đường, cầu, hầm và nhà ga… ngốn rất nhiều vật tư thiết bị, đặc biệt cần diện tích đất rất lớn. Thí dụ: – chiều dài dùng được của đường tránh trong ga ĐS khổ hẹp ở ta là 450 m, nhưng khi cải tạo thành ĐS khổ tiêu chuẩn thì phải là 800 m; – khổ giới hạn của ĐS khổ tiêu chuẩn rộng hơn ĐS khổ hẹp, đòi hỏi đường song song phải cách xa nhau;… như vậy mỗi ga đều phải tăng diện tích ít nhất gấp bốn lần. Ga Hà Nội sẽ phải mở rộng đến đầu công viên Thống nhất và khu tập thể Văn Chương; giải phóng mặt bằng ga Hà Nội mới sẽ tốn bao nhiêu nghìn tỷ đồng? Mấy trăm ga sẽ tốn mấy trăm nghìn tỷ đồng? Lại còn hơn 5.000 mét hầm trên ĐS sẽ cải tạo thế nào?   Làm ĐS đôi càng tốn đất! Hơn 2.500 km ĐS chính tuyến sẽ phải mở rộng chiều ngang; giả thử thêm 5 m nữa thì toàn tuyến cần thêm 12.500 km2 đất, chưa kể phần mở rộng diện tích hàng trăm ga; tính ra tiền đền bù sẽ là bao nhiêu tỷ đồng? ĐS khổ tiêu chuẩn đòi hỏi đường cong phải có bán kính lớn hơn ĐS khổ hẹp, mà ĐS ta đi qua nhiều vùng đồi núi có vô số đường cong nay phải cải tạo thì cực kỳ tốn kém, có chỗ phải thay bằng cầu cạn hoặc hầm xuyên núi. Chưa kể, cải tạo xong thì hàng nghìn toa xe, mấy trăm đầu máy và vô số thiết bị khác sẽ phải bỏ đi, sắm cái mới. Một đầu máy hiện đại có giá hàng triệu USD. Lãng phí hàng trăm nghìn tỷ đồng như vậy, dân ta có cho phép không?  Ngoài ra khi cải tạo, rõ ràng phải ngừng chạy tàu ít nhất 10-20 năm, mấy chục nghìn nhân viên ngành ĐS lấy gì mà ăn? Nhiều năm không có tàu để chở hành khách và hàng hóa, nền kinh tế sẽ bị thiệt hại như thế nào?   Tóm lại, «Chiếc áo mới toanh» của TS Bá chẳng những cần dăm chục tỷ USD vốn đầu tư mà còn cần thời gian thi công hàng chục năm, gây thiệt hại chưa thể ước tính cho nền kinh tế. Vì vậy tôi tán thành quan điểm của TS Bá phản bác dự án ĐSCT Bắc-Nam [2], nhưng không tán thành cải tạo toàn bộ lưới ĐS thành khổ tiêu chuẩn, lại càng phản đối cải tạo thành ĐS đôi. Chỉ khi nào có khả năng tài chính, ta mới nên xem xét cải tạo những tuyến thực sự có nhu cầu vận chuyển cao tới mức ĐS khổ hẹp không còn cách nào đáp ứng được.   Dĩ nhiên vấn đề này không thể trình bày trong khuôn khổ một bài báo. Vì thế dưới đây chỉ xin tập trung bàn về một chuyện: trong bài Bộ trưởng Thăng và ‘chiếc áo đường sắt’ , không biết vì động cơ nào mà  TS Bá đã đưa ra một số tư liệu sai sự thật về ĐS Nhật và Trung Quốc (Vietnamnet 26/3/2013). Điều đó có thể làm bạn đọc hiểu nhầm vấn đề và ủng hộ quan điểm sai lầm của TS Bá.  Thứ nhất: Trong các bài đã đăng, TS Trần Đình Bá mấy lần nhắc tới «vết xe đổ của Nhật Bản»: ý nói người Nhật đã sai lầm ở chỗ không cải tạo toàn mạng ĐS khổ hẹp thành khổ tiêu chuẩn mà vẫn giữ nguyên ĐS khổ hẹp (chiếm 93% tổng chiều dài toàn mạng ĐS) và chỉ làm mới vài nghìn km ĐSCT khổ tiêu chuẩn. Ông viết: «Năm 2005 xảy ra hai vụ lật tàu liên tiếp làm 500 người chết và bị thương khi đang chạy ở tốc độ 70 km/h. Là nước giàu thứ nhì thế giới, lại là cường quốc về công nghệ ĐSCT, nhưng nước này vẫn có hệ thống đường sắt quốc gia khổ 1.067 lạc hậu… nhất thế giới. Nhân dân bất bình biểu tình, chủ tịch tập đoàn đường sắt phải từ chức».   Thực ra người Nhật rất khôn ngoan khi không cải tạo toàn mạng ĐS khổ hẹp thành khổ tiêu chuẩn, bởi lẽ việc đó cực kỳ tốn kém, hơn nữa, khi nhiều tuyến ĐS khổ hẹp vẫn đáp ứng nhu cầu vận chuyển thì cớ gì phải cải tạo? Họ chủ yếu đầu tư trí tuệ, dùng các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng lực chuyên chở của ĐS khổ hep lên tới mức rất cao. Thí dụ tuy tàu khách ĐS khổ hẹp của họ hiện nay đã chạy với tốc độ tối đa 130-160 km/h nhưng họ vẫn đang nghiên cứu chế tạo loại toa xe tự động nghiêng khi chạy qua đường cong, nhờ thế có thể chạy tới 200 km/h.   Năm 2005 Nhật có 27.268 km ĐS, chủ yếu gồm 20.264 km ĐS khổ 1.067 mm có từ xưa và 3.204 km ĐSCT khổ tiêu chuẩn có từ năm 1964; còn lại là các ĐS địa phương khổ hẹp. Mạng ĐS khổ hẹp của họ rất hiện đại: đã điện khí hóa 13.280 km, tức hơn 65,5%, một tỷ lệ cực cao, nếu ta biết ĐS Trung Quốc hiện nay mới điện khí hóa được hơn 25%. Trình độ tự động hóa cũng vào loại nhất thế giới. Thí dụ tuyến đường đôi ĐS khổ hẹp Tokyo-Osaka điện khí hóa xong năm 1959, trang bị tự động điều khiển chạy tàu, hồi ấy mỗi ngày đêm đã chạy được 200 đôi tàu (200 chuyến đi và 200 chuyến về), trong đó có 160 đôi tàu khách; tàu khách chạy với vận tốc cao nhất 140 km/h [3]. Như thế mà «lạc hậu nhất thế giới» ư? Xin nói thêm: ĐS khổ hẹp ở Nhật có hiệu suất vận tải cao hơn ĐS khổ tiêu chuẩn của nhiều nước khác. Thí dụ 27 nghìn km ĐS Nhật chở được 22,24 tỷ lượt khách, trong khi 40 nghìn km khổ tiêu chuẩn của ĐS Đức lại chỉ chở được 2,2 tỷ lượt khách (số liệu năm 2006).   Xem ra TS Bá đã sai lầm khi kết luận «Đường sắt khổ 1m không còn giá trị sử dụng nữa. Nó đang trở thành bảo tàng đường sắt cổ của thế giới và trở thành gánh nặng của quốc gia».   Còn về vụ tai nạn tàu, có lẽ TS Bá muốn nói vụ trật bánh ngày 25/4/2005 trên ĐS khổ hẹp nội đô Amagasaki làm 107 người chết, 562 bị thương, hai Chủ tịch Công ty ĐS Tây Nhật Bản (một cựu, một tân chủ tịch công ty – chứ không phải Chủ tịch Tập đoàn ĐS như TS Bá viết) phải từ chức. Vụ này lỗi do tài xế lái tàu chạy vào đường cong với tốc độ vượt quy định (70km/h, thực chạy 117km/h). Về sau người ta đã lắp thiết bị tự động dừng tàu (Automatic train stop system) cho tất cả các đoạn ĐS cong: khi tàu chạy quá tốc độ quy định, thiết bị ATS sẽ phát tín hiệu cưỡng chế tàu dừng lại, nhờ thế tránh được tai nạn do chạy quá tốc độ. Trên ĐS khổ tiêu chuẩn cũng vậy, tàu chạy vào đường cong thì phải giảm tốc theo quy định, nếu không thì đều có thể bị trật bánh. ĐS khổ tiêu chuẩn vẫn có thể xảy tai nạn, ví dụ Pháp vừa xảy ra vụ trật bánh hôm 12/7 làm chết sáu người.        TS Trần Đình Bá cho rằng nếu cải tạo toàn bộ lưới ĐS thành đường đôi khổ  tiêu chuẩn thì ta sẽ có một chiếc «áo ĐS» mới toanh, chứ cải tạo theo  phương án của Bộ GTVT thì chỉ là vá víu! Ông đề xuất: «Cởi áo chật trước  hết phải mở rộng đường sắt đôi». Có nghĩa là phải mở rộng «chiếc áo»  khổ một mét qua khổ 1.435 hiện đại đạt chuẩn quốc tế nhưng phải là «hai  chiếc» cho hai chiều riêng biệt. Và ông cho rằng ý tưởng này «thông minh  sáng tạo… được nhiều người ủng hộ». Nếu làm theo phương án ấy thì «Từ  chỗ “chiếc áo” một mét chật ních tới mức “bỗng dưng muốn khóc” giờ lại  có hai “chiếc áo” thênh thang 1.435, nếu thành hiện thực, rất có thể,  Việt Nam là quốc gia tiên phong trong ASEAN có đường sắt đôi 1.435 hai  chiều riêng biệt, cho những quốc gia trong khu vực châu Á – Đông nam Á,  Bắc Á, đến Đông Á phải ganh tỵ».        Thứ hai: TS Bá viết «Trung Quốc đã mở rộng thành công 74.000 km đường sắt khổ một mét thành 1,435, và trở thành cường quốc đường sắt».   Đây lại là một sai lầm 100%, ngay cả học sinh tiểu học Trung Quốc cũng biết ĐS nước này ngay từ ngày đầu tiên (1876) đã chỉ làm đường khổ tiêu chuẩn. Năm 1949 họ có 25 nghìn km ĐS khai thác; cuối 2009 có 86 nghìn km (thứ 2 thế giới về tổng chiều dài); đến 2020 sẽ có hơn 120 nghìn km, trong đó có hơn 16 nghìn km ĐS chuyên dùng chở khách. Mạng ĐS quốc gia Trung Quốc duy nhất có một đoạn 468 km ĐS khổ hẹp 1m nối Côn Minh tới Hà Khẩu (giáp thị xã Lào Cai của ta), vốn là tuyến ĐS Việt – Điền do Công ty ĐS Vân Nam của người Pháp làm, thông xe ngày 31/3/1910, nối cảng Hải Phòng với Côn Minh để miền Tây Nam Trung Quốc có lối ra biển.   Tư liệu là nền tảng để lập luận, tư liệu sai sẽ dẫn đến lập luận sai. Vì thế người ta có quyền nghi ngờ phương án may chiếc áo mới cho đường sắt do ông đưa ra.   —————————-  * cựu kỹ sư đường sắt  Ghi chú:  [1] ĐS có khoảng cách giữa hai mép ray bằng 1.435mm gọi là ĐS khổ tiêu chuẩn; hẹp hơn chuẩn đó là ĐS khổ hẹp; rộng hơn gọi là ĐS khổ rộng (thí dụ ĐS Nga khổ 1524 mm).   [2] Xin xem http://www.vusta.vn/Temps/Home/template2/?nid=84B4 hoặc   http://cauduongbkdn.com/f@rums/showthread.php?p=104955#post104955và http://www.cauduongonline.com.vn/archive/index.php/t-842.html  [3] Vấn đề chạy tàu tốc độ cao trên đường sắt nước ngoài. Nguyễn Hải Hoành, Tổng cục Đường sắt in, 4.1970.          Xây dựng đường sắt đôi              Khi xem xét một mạng lưới đường sắt quốc gia chủ yếu người ta tính đến tính thống nhất về khổ đường trong quốc gia đó bởi lẽ việc vận chuyển hành khách cũng như hàng hoá được đề cập đến trước hết là vận chuyển nội địa. Đường sắt 1000mm của nước ta nếu được cải tạo, xây dựng thành đường sắt đôi 1000mm để vận chuyển hành khách và hàng hoá, NLTQ của toàn hệ thống đường sắt sẽ tăng khoảng 5 lần, Đường sắt Thống nhất có thể đạt tới 90 đôi tàu/ngày đêm, thời gian chạy tàu Hà Nội –Sài Gòn  chỉ còn16 giờ. Theo một tính toán sơ bộ đầu tư cho việc cải tạo, xây dựng đường sắt đôi 1000 mm khoảng 15 tỷ USD.                Ưu việt của đường sắt là mặt bằng sử dụng đất ít, đường sắt đôi 1000mm chỉ chiếm đất bằng 1/3 so với đường bộ có 6 làn xe. (Nước ta đất hẹp, dân số xếp thứ 14 trên thế giới), cần quan tâm đến yếu tố này. Tiêu hao xăng dầu cho 1 hk.km nếu đường sắt là 1, đường bộ là gấp 8 lần. Đường sắt đôi 1000mm xây dựng xong đến đâu có thể đưa ngay vào vận hành đến đó. Thí dụ xây dựng đường sắt đôi 1000mm Sài Gòn– Vũng Tàu, chiều dài 68 km, với vốn đầu tư khoảng 350 triệu USD, tuyến này sẽ nối mạng vào đường sắt hiện có và khai thác có hiệu quả ngay. Nếu có một thiết kế hợp lý, một phương án tổ chức thi công với quyết tâm cao và với việc huy động tối đa thiết bị, vật tư, lao động dồi dào trong nước, đường sắt đôi 1000mm có thể hoàn thành trong thời gian khoảng 8 năm.                                                               PGS.TS  Võ Nhật Thăng                                                              Đại học Giao thông vận tải            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính minh bạch và chuẩn mực đạo đức mới      Báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 4.7.2007 đã đăng lược thuật bản ghi cuộc phỏng vấn Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết do kênh truyền hình CNN tiến hành hôm 24.6.2007 nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết*.        Đây có thể coi là một trong những mốc son của chuyến viếng thăm. Trong bài phỏng vấn, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã thẳng thắn đề cập đến hàng loạt vấn đề được xem là “nhạy cảm” trong quan hệ Mỹ – Việt, từ những vấn đề ở tầm vĩ mô như tự do tôn giáo, nhân quyền, quan hệ Việt Nam– Trung Quốc – Hoa Kỳ, mối quan hệ của Nhà nước Việt Nam với Việt kiều ở Mỹ, người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam… cho đến cả những “vụ việc” cụ thể như hành xử không đúng mực của một nhân viên bảo vệ pháp luật Việt Nam trong phiên tòa xử linh mục Nguyễn Văn Lý. Sau báo Nhân Dân, nhiều tờ báo và website lớn ở Việt Nam cũng đã đưa tin và tổng thuật lại cuộc phỏng vấn này.            Chủ tích nước Nguyễn Minh Triết              chụp ảnh lưu niệm với các kiều bào.        Có thể khẳng định việc không lảng tránh bất cứ vấn đề nào dư luận quốc tế quan tâm, những câu trả lời của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trước hết thể hiện bản lĩnh của vị nguyên thủ quốc gia, cho thấy một chuẩn mực có tính đạo lý đã được đề cao và tuân thủ: tính công khai, minh bạch và lập trường đúng đắn, trước sau như một của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trước những vấn đề đó.  Từ sự việc này có thể suy ra hai điều. Trước hết, tính minh bạch, công khai, đặc biệt, minh bạch hóa, công khai hóa những khía cạnh còn hạn chế của chính mình là một biểu hiện cụ thể và thuyết phục nhất của nội lực Việt Nam, của sự ổn định chính trị và sức mạnh thể chế của chúng ta. Chỉ có người mạnh, người đủ tự tin vào chính mình mới dám công khai, nhìn thẳng vào những hạn chế của chính mình. Thứ hai, hành xử của vị nguyên thủ quốc gia và cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản cần phải trở thành một chuẩn mực hành xử chung của toàn bộ hệ thống chính quyền và hệ thống Đảng.   Trong thực tế, trước bất cứ một hiện tượng nào của cuộc sống cũng có thể có nhiều cách diễn dịch khác nhau. Đó là một quy luật tất yếu của đời sống. Lảng tránh hay bưng bít thông tin (điều khó có thể thực hiện được ngày nay) chắc chắn không phải là những giải pháp tốt vì với sự lảng tránh hay bưng bít, những cách diễn dịch tiêu cực vẫn tồn tại. Không những thế, còn là một cơ hội để những cách diễn dịch sai lạc có cơ hội phát triển và nhân lên đa bội. Vậy, đã đến lúc, cần có một sự nhận thức cơ bản rằng, giải pháp duy nhất để đối phó với những hiện tượng phức tạp của đời sống là có một cơ chế công khai hóa, minh bạch hóa tạo tiền đề cho một diễn dịch đúng đắn. Thực tế lịch sử đã cho thấy, công khai hóa, dám nhận trách nhiệm kể cả trong những sai lầm là con đường duy nhất tăng cường sức mạnh của Đảng và thể chế nhà nước. Vụ Cải cách ruộng đất là một trong những ví dụ cụ thể nhất. Trong Cải cách ruộng đất, chính nhờ thái độ kịp thời sửa sai, nghiêm túc nhận trách nhiệm mà chẳng những xã hội miền Bắc không diễn ra những bất ổn như nhiều người đã dự đoán mà Đảng và Nhà nước còn tổ chức được sức mạnh của toàn dân để tiến hành công cuộc thống nhất đất nước trường kì và gian khổ với rất nhiều tổn thất.   Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt lợi ích của dân tộc của Tổ quốc lên trên hết. Tuy vậy trong thực tế, không phải lúc nào những chủ trương đúng đắn cũng được hiện thực hóa thành công. Điều đó không chỉ gây ra những hậu quả cụ thể trong thực tế mà còn làm ảnh hưởng đến một tài sản vô hình nhưng mang tính nền tảng: niềm tin của Nhân Dân vào Đảng và các cơ quan công quyền. Công khai và minh bạch hóa là con đường duy nhất đúng đắn để tạo nên một cơ chế tự điều chỉnh hữu hiệu hoạt động của Đảng và Nhà nước đồng thời bảo vệ tài sản vô giá nói trên. Hiện nay, một trong những chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước là chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy. Có thể khẳng định, công khai và minh bạch chính là yếu tố mấu chốt, quan trọng nhất để chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân nói trên có thể trở thành hiện thực.   Từ vụ việc liên quan đến phiên tòa xử linh mục Nguyễn Văn Lý cũng có thể rút ra một điều: đã đến lúc, cần phải coi việc trau dồi để đạt đến một trình độ tinh thông về chuyên môn là một trong những chuẩn mực của đạo đức và đạo đức cách mạng. Không ai nghi ngờ về mục đích đúng đắn của nhân viên bảo vệ pháp luật kia muốn giữ gìn trật tự cho một phiên tòa quan trọng. Tuy nhiên, cách hành xử của anh ta rõ ràng là non yếu về nghiệp vụ và thiếu trầm trọng nhạy cảm chính trị. Và nó đã gây ra những tác động tiêu cực đến hình ảnh của cơ quan công quyền, hệ thống hành pháp và uy tín của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tất nhiên, không phải là Đảng và Nhà nước không có ý thức về mối quan hệ hài hòa, biện chứng giữa Đức và Tài, nhưng hình như không phải lúc nào, ở đâu, những chủ trương đó cũng được nhận thức đúng đắn. Nhiều khi ở chổ này, chỗ kia, nhận thức sai lệch về vấn đề này vẫn xuất hiện dưới những vỏ bọc tưởng chừng có lí nhưng nguy hiểm kiểu như: người lãnh đạo không cần giỏi chuyên môn, chỉ cần giỏi quản lí hay người cán bộ chỉ cần trung thành với chế độ là có thể vượt qua được mọi thử thách… Thực tế đã cho thấy sự yếu kém về chuyên môn đã gây ra những tác hại khôn lường đối với sự phát triển nói chung của đất nước. Vậy, phải chăng đã đến lúc cần xác lập một chuẩn mực đạo đức mới dựa trên sự tinh thông nghiệp vụ và khát vọng hướng đến những đỉnh cao của năng lực chuyên môn?  Rõ ràng, hoàn cảnh mới đang bắt buộc chúng ta phải xác lập những giá trị mới.   ———            Lương Xuân Hà           Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính nhân văn của Chiến lược KH&CN      Chiến lược l&#224; việc x&#225;c định những mục ti&#234;u mang t&#237;nh to&#224;n cục, l&#226;u d&#224;i cho một tổ chức, Đảng ph&#225;i ch&#237;nh trị, v&#224; thường l&#224; của một quốc gia, d&#226;n tộc. V&#236; những mục ti&#234;u l&#226;u d&#224;i, to&#224;n cục như thế, nhiều khi trong thực tế, c&#225;c chiến lược thường chạy theo những mục ti&#234;u chung chung, v&#244; cảm, kh&#244;ng thể hiện được nhu cầu cụ thể, bức x&#250;c, thiết yếu trong sản xuất v&#224; đời sống của đ&#244;ng đảo c&#225;c tầng lớp d&#226;n cư. Th&#237; dụ c&#225;ch đặt mục ti&#234;u cho một quốc gia đứng vị tr&#237; thứ mấy trong khu vực, ở v&#224;o tr&#236;nh độ n&#224;o tr&#234;n thế giới về tiềm lực KH&amp;CN v.v.    Chắc chắn, hàng triệu người dân đang phải hằng ngày hằng giờ sử dụng nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh, hàng triệu người dân đủ các loại bệnh tật hiểm nghèo chưa chăm sóc y tế kịp thời, hàng triệu đồng bào bị nhiễm chất đọc da cam với những hậu quả đau thương lâu dài, hàng triệu bà con  nông dân nay chặt cây này mai trồng cây khác, phó mặc cho giá cả lên xuống trên thị trường, các thế hệ người Việt đau xót trước hiện tượng văn hóa Việt đang bị xói mòn, sẽ không cảm nhận được hoặc có thì cũng không hề thấy các chiến lược với cách xác định mục tiêu như thế là hữu ích, thiết thân. Cần nói thêm là cũng với cách xác định mục tiêu chiến lược như vậy, các nhà làm chiến lược KH&CN vô hình trung dễ sa vào thứ chính trị mị dân. Thứ đến, do hậu quả của quá khứ để lại, tư duy của các nhà hoạch định chiến lược phát triển KH&CN chỉ thiên về các lĩnh vực khoa học công nghệ mà không quan tâm đúng mức đến các vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn, (có thể là do người ta không dễ và không ở đâu xếp hạng một nền văn hóa đứng thứ mấy trong khu vực và trên thế giới ?!). Công nghệ có thể là then chốt, là chìa khóa cho phát triển nhưng suy cho cùng chỉ là phương tiện. Rất nhiều nhu cầu thiết thực về đời sống nội tâm, tâm tư, tình cảm của con người sẽ không được giải quyết nếu như chúng ta chỉ chạy theo những thứ hạng hoặc mỹ từ mạnh yếu về mặt này mặt khác, nhất là các lĩnh vực công nghệ. Và sau cùng,  không thể có tính nhân văn nếu một chiến lược KH&CN được xây dựng không có sự tham gia của người dân, và do đó các nhu cầu thiết thực của người dân không được thể hiện trong chiến lược, không chỉ ra được có những liên hệ nhân quả nào đó giữa các mục tiêu chiến lược chung chung với những nhu cầu thiết thực của họ. Việc bộ bộ, ngành ngành làm chiến lược mà chiến lược của ngành nào chỉ biết đến chiến lược của ngành ấy chắc chắn cũng sẽ sản sinh ra những thứ chiến lược không có tính nhân văn, bởi vì mỗi con người phải là “tổng hòa của các mối quan hệ trong xã hội” mà sự thiếu phối kết hợp giữa các chiến lược không thể bảo đảm được.  Thành thử, bên cạnh một số yêu cầu khác, bảo đảm tính nhân văn nên và phải là một yêu cầu thiết yếu của chiến lược phát triển KH&CN nước ta đang chuẩn bị xây dựng. Bảo đảm tính nhân văn của chiến lược đòi hỏi trước hết quá trình xây dựng phải có sự tham gia của người dân, chí ít thông qua các tổ chức đại diện của họ, phải tạo ra khuôn khổ làm chiến lược mang tính tổng thể, đủ rộng rãi để các chiến lược của các Bộ, các ngành, các lĩnh vực KH&CN phối hợp chặt chẽ với nhau, hướng vào giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người dân. Chạy theo các thứ hạng cũng được, nhưng không nên nếu chỉ chạy theo thứ hạng. Hãy xem Nhật Bản, một cường quốc công nghệ trên thế giới nhưng mục tiêu chiến lược KH&CN của họ đến năm 2025 được xác định là “bảo đảm cho mọi người dân Nhật Bản có thể sống mạnh khỏe suốt đời”.                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh thần bất ổn      Bài viết của học giả- nhà báo Phạm Quỳnh cách đây 80 năm vẫn còn nguyên tính thời sự. Xin giới thiệu với bạn đọc.    Không thể chối cãi được rằng đất nước này đang trải qua một cuộc khủng hoảng, có thể là khủng hoảng tăng trưởng, cách gì thì cũng là một khủng hoảng khá sâu sắc, và nhiều người không nghi ngờ gì mức độ nghiêm trọng của nó.  Sự phát triển kinh tế, sự thịnh vượng vật chất có thể dễ dàng đo đếm, đánh giá được: các chỉ số, các thống kê khéo léo, các biểu đồ dễ dàng hiển thị chúng thành các đường cong biểu diễn. Nhưng một trạng thái bất ổn về tinh thần biểu lộ trong những lĩnh vực không cân đong đo đếm được thì khó nắm bắt hơn nhiều.  Ở nhiều nước khác, văn chương, báo chí cho biết tình hình các chuyển động và dao động của công luận, phản ánh thái độ hay miêu tả các tâm trạng, cung cấp các dấu hiệu quý giá về cuộc sống sâu kín của dân chúng, nhưng ở đất nước này, vì nhiều lý do mà nói ra sẽ rất dài, những phương tiện đó gần như không có.  Đến mức một nhà quan sát tò mò muốn tìm hiểu cuộc sống sâu kín của dân tộc này, đặc biệt nếu anh ta lại không nói được ngôn ngữ của nó, không hòa mình được vào cuộc sống bản địa, sẽ không biết mình phải dựa trên cái gì để mà quan sát. Thậm chí đôi khi anh ta còn không nắm bắt được những biểu lộ ra bên ngoài của người dân: hoặc anh ta không hiểu, hoặc anh ta hiểu sai. Và nếu anh ta hài lòng với các tài liệu chính thức, vốn rất dồi dào và dài dòng, anh ta sẽ chia sẻ một sự lạc quan giả tạo, rất ít thật và rất nhiều giả.  Phải chăng nói như thế có nghĩa là cảnh khủng hoảng mà chúng ta vừa nói ở trên và tình trạng tinh thần bất ổn sinh ra từ đó là điều một nhà quan sát sành sỏi không thể nắm bắt được?  Bất kỳ ai chịu khó nghiên cứu cuộc sống của người dân nước Nam mà không dừng lại ở những khía cạnh hời hợt bên ngoài đều nhận ra rất nhiều dấu hiệu tố cáo cảnh tượng khủng hoảng và bất ổn đó. Và người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy chỉ trong vài năm mà đã có những biến đổi sâu sắc trong ý thức, tập tục và tâm trạng của các tầng lớp dân chúng khác nhau.  Một sự tiến hóa đang trở thành hiện thực không diễn ra theo đường thẳng mà người ta muốn gán cho nó theo những dấu hiệu bề ngoài, mà đó là một cuộc tiến hóa lộ ra rất nhiều khó khăn và trắc trở, nhiều sóng gió, gian truân, đau đớn.  Làm thế nào để thoát khỏi nó? Đó là bí mật của tương lai.  Giờ đây, một trạng thái tinh thần bất ổn đang trùm lên đất nước này, nó có thực và khó sờ thấy được như khí quyển, một khí quyển tích đầy điện dông bão.  Trạng thái tinh thần bất ổn này là do các nguyên nhân về đạo đức, xã hội và chính trị.  Trên phương diện đạo đức, các giáo huấn xưa đã làm nên sức mạnh và sự bền chặt của gia đình và xã hội nước Nam, nay đang tan vỡ và sụp đổ từng ngày. Không có gì để thay thế chúng cả. Ở các nước khác, các niềm tin tôn giáo, ngay cả khi đã biến mất, vẫn để lại trong tâm trí con người một nếp nhăn rất khó xóa nhòa. Ở đây, nơi giới trí thức chỉ biết hoài nghi còn quần chúng thì mê tín, nơi mà tình cảm tôn giáo không có gì sâu sắc, các định đề thuộc phạm trù đạo đức, như lòng hiếu thảo, tôn kính tổ tiên, thờ cúng người chết, khi không còn được nuôi dưỡng và gìn giữ bằng một tổ chức gia trưởng và các quy định lễ nghi, có thể nói là không còn lý do tồn tại nữa, chúng hoàn toàn rơi vào quên lãng, để lại trong tâm trí và ý thức một khoảng trống rỗng không dễ khỏa lấp. Mọi người cảm thấy cuộc sống thiếu vắng một cái gì đó, một cái gì đó phải là nguyên tắc chuẩn mực của cuộc sống. Từ đó nảy sinh một rối loạn tinh thần, đặc biệt trong giới trẻ. Thanh niên gần như bị bỏ mặc, quyền lực cha và của thầy chỉ còn ảnh hưởng về danh nghĩa, thậm chí nhiều khi còn gần như hoàn toàn bất lực. Bị giằng co giữa các xu hướng trái ngược nhau, thế hệ trẻ không còn biết quay theo hướng nào. Những người hăng hái nhất, nhiệt huyết nhất, do bản chất mạnh mẽ và sự hào hiệp của tuổi trẻ, đến ngay với các luận thuyết cấp tiến nhất, đến với các lý thuyết cực đoan nhất. Những người rụt rè, những người nhút nhát rơi vào bi quan cùng cực, sầu muộn vô định, bện hoạn, gần giống bệnh suy nhược thần kinh. Trong những ngày gần đây tin tức từ các địa phương cho thấy có một dạng dịch tự tử, mà nạn nhân là rất nhiều thanh niên nam nữ- một điều đặc biệt nghiêm trọng và chứng tỏ rằng cơn đau thế kỷ đã lan sang cả phái yếu- với rất nhiều cô gái trẻ và phụ nữ trẻ, cái Hồ Nhỏ* dường như có sức quyến rũ đặc biệt! Những người khác trốn tránh nỗi buồn trong các trò vui thô tục và trong bê tha trụy lạc. Và từ trên xuống dưới thang bậc xã hội, người ta chơi cờ bạc, chơi hăng say điên cuồng, chơi như chưa từng được chơi ở đất nước này nơi cờ bạc vốn là một trò giải trí bị cấm. Đàn bà cũng chơi cờ bạc như đàn ông, có thể còn chơi nhiều hơn, khi họ không lao vào một sự sùng đạo bệnh hoạn có các biểu hiện rõ ràng đủ sức hấp dẫn đồ đệ của Freud hoặc một y sĩ chuyên về các bệnh tâm thần. Phụ nữ nước Nam thường rất cân bằng, hoạt động có ngắn nắp của họ điều chỉnh nhịp sống của gia đình, xã hội, thậm chí cả nhịp sống kinh tế nữa. Người phụ nữ ở đất nước này, trên rất nhiều phương diện đều cao hơn đàn ông, thế mà nay họ cũng mắc phải sự suy đồi đạo đức chung ấy. Và điều này là vô cùng nghiêm trọng, vì gia đình bị tác động thông qua người phụ nữ, mà gia đình là trung tâm và nền tảng của tất cả.  Ở trên chúng ta đã nói về sự bất lực của các bậc cha mẹ và thầy giáo. Đó là một thực tế cần phải chú ý. Uy quyền của cha mẹ không còn tồn tại trong rất nhiều gia đình chứ không phải chỉ ở các gia đình có vị trí và ảnh hưởng thấp kém. Người cha trong gia đình hoặc là không còn biết áp đặt uy quyền của mình nữa, hoặc thậm chí từ bỏ thực hiện uy quyền của mình vì tin rằng họ đã thuộc vào một quá khứ không còn khả năng và không được phép ảnh hưởng lên tương lai nữa. Như vậy sự tiếp nối giữa các thế hệ đã bị cắt đứt, làm cho những người sinh sau không còn được thừa hưởng kinh nghiệm của các bậc cha anh mình nữa. Và họ cũng không được hưởng các bài học của người thầy của mình nữa. Thầy giáo phần lớn là những người xa lạ dạy cho họ một đạo lý xa lạ bằng một ngôn ngữ xa lạ. Dù có tỏ ra thiện chí, các thầy giáo đó cũng không thể thấu hiểu tâm lý của học trò, hiểu tất cả những tình cảm của chúng, tiếp cận cuộc sống sâu kín của chúng; thầy không thể nói với trò bằng một ngôn ngữ của trực giác và giao cảm tạo ra những rung động gây biết bao âm vang thức tỉnh lý trí và tình cảm trò. Dù giá trị bài giảng của thầy có cao đến đâu chăng nữa, thì vẫn hoàn toàn là lý thuyết, không thể định hướng được nhận thức, không hình thành nên tính cách, không điều chỉnh được ứng xử, bất kể thế nào vẫn không thể thay thế được các môn học truyền thống đã mất.  Ngoài các nguyên nhân về đạo đức này, còn cần phải kể đến các nguyên nhân xã hội, chúng làm trầm trọng thêm và làm phức tạp thêm các nguyên nhân đạo đức. Xã hội nước Nam là một xã hội phân chia thứ bậc rất mạnh. Ở trên một tầng lớp thị dân nho giáo tạo thành tầng lớp tinh hoa của quốc gia, ở dưới là dân chúng gắn bó với đồng ruộng, chỉ biết miệt mài với công việc đồng áng. Trong bốn tầng lớp của xã hội: sĩ, nông, công, thương (nhà nho, nông dân, thợ thủ công, thương lái), theo tôn ti truyền thống, chỉ có hai tầng lớp đầu là quan trọng nhất, đáng kể nhất. Trật tự mới do cuộc xâm chiếm thiết lập và sự phát triển kinh tế của đất nước đã làm đảo lộn trật tự thứ bậc cũ. Các tầng lớp mới hình thành nhờ sự phát triển chung và cũng từ hoàn cảnh mới đang du nhập vào đất nước các tập tục mới, ban đầu thì ở thành phố, sau đó ngày càng thấm sâu vào các vùng nông thôn. Chúng mâu thuẫn với các thói quen lâu đời, va chạm với những khuôn khổ xã hội cũ, làm tan rã nền tảng cũ của gia đình và làng xã. Hệ quả tất yếu là một sự rối loạn trong tập tục, cũng nghiêm trọng như rối loạn ngự trị trong đầu óc con người.  Nhưng nếu đúng là giá trị của một đất nước là ở tầng lớp tinh hoa nước Nam hiện giờ lại đang vô cùng chán nản, và họ chán nản vì những lý do chính trị. Trong bài viết về chủ nghĩa dân tộc, chúng tôi đã lưu ý rằng người nước Nam có cảm giác mình là những người xa lạ ở ngay trong đất nước họ. Chúng tôi không hề phóng đại. Cảm giác này mỗi ngày một tăng cùng với kiến thức ngày một nhiều hơn, họ ý thức rõ hơn về tình hình đất nước và thế giới bên ngoài. Và đó không phải là cảm nhận của một vài nhà báo chính luận “bị thôi miên vì lối nói năng hoa mỹ và trống rỗng của mấy gã thanh niên đã quá ư mất gốc”, như lời một đồng nghiệp người Nam; mà đây là cảm nhận của toàn bộ các thành phần tạo nên cái intellígentsia **  nước Nam: từ nhà nho già thông thạo Hán-Nôm đến trang thanh niên mới tốt nghiệp từ nhà trường Pháp, từ quan lại đến nhà nghiệp chủ và người thương lái. Người ta có thể thấy trạng thái tinh thần này là chẳng có gì hay ho, song không ai có thể phủ nhận sự tồn tại của trạng thái tinh thần ấy. Và những người có trách nhiệm đối với vận mệnh của đất nước phải xem xét nó trong khả năng lớn nhất.  Gộp tất cả các nguyên nhân này lại thì có một trạng thái tinh thần bất ổn chung, nó rồi sẽ trôi qua thôi, cần phải hy vọng thế, nhưng không phải vì thế mà lúc này không lo lắng, bởi vì bất ổn đó làm cho cơ thể xã hội rơi vào trạng thái kháng cự yếu ớt nhất, đúng vào thời điểm trên toàn thế giới sự lây nhiễm một vài tư tưởng đang là điều đáng lo ngại nhất.  1929  —————————  * Vì viết cho độc giả là người Pháp, nên tác giả đã chơi chữ dùng Hồ Nhỏ thay gì dùng tên Hồ Gươm. Thời Pháp thuộc Hồ Gươm (nay đã đổi tên là Hồ Hoàn Kiếm) ở Hà Nội được người Pháp đặt tên là Petit Lac Hồ Nhỏ) còn Hồ Tây thì họ gọi là Grand Lac (Hồ Lớn). Chúng tôi giữ nguyên tên đó để bạn đọc thưởng thức ý vị ngòi bút học giả Phạm Quỳnh (BT)  **Phạm Quỳnh không dùng chữ “giới trí thức” mà dùng chữ intellígentsia in nghiêng trong văn bản, để nhấn mạnh đến những gnười không chỉ “có học” mà là toàn bộ những tầng lớp nào sống và hoạt động bằng trí thức mà có thể tác động được tới sự tiến hsoa của xã hội và đất nước: ngoài lớp người “trí thức” như vẫn quan niệm, còn tính cả lớp người làm các nghề sáng tạo tự do khác (nghệ sĩ, nhà báo, nhà văn…) những người này không chỉ có “địa vị” trong xã hội nhưng họ còn phải thấy được trách nhiệm của cá nhân mình và của tầng lớp mình trước vận mệnh đất nước và xã hội (BT)    Phạm Quỳnh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình trạng tội ác gia tăng, vì đâu nên nỗi?      Từ nhiều năm, đặc biệt trong những thời gian gần đây, tình trạng tội ác từ mức độ cướp của giết người trở xuống, biểu hiện một cách đa dạng dưới mọi hình thức, đã gia tăng đến mức làm cho mọi người dân lương thiện bình thường cảm thấy như mình cùng những người xung quanh đang bị sống trong một môi trường bất an thường trực, không được bảo vệ chặt chẽ, và điều này làm đau đầu biết bao những nhà hoạt động xã hội-văn hóa-giáo dục có thiện chí muốn tìm giải pháp góp phần cứu vãn tình thế.      Không thể dẫn chứng hết những trường hợp cụ thể. Cứ giở báo ra đọc, nhất là những tờ báo thuộc ngành công an, hằng ngày đều thấy có nhiều vụ giết người hoặc cướp của giết người xảy ra nhan nhản ở khắp nơi nơi, từ Nam ra Bắc, từ nông thôn đến thành thị. Và lứa tuổi phạm tội thông thường-đa số ở độ tuổi trên dưới 20, tức được sinh ra và lớn lên trong khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, sau thời kỳ cải cách-mở cửa chừng vài năm. Điều này không có nghĩa, và càng không có nghĩa đơn giản quy kết mọi tội lệ cho công cuộc cải cách-mở cửa của đất nước gắn liền với nền kinh tế thị trường vốn dĩ bắt buộc phải chấp nhận yếu tố tôn trọng sự cạnh tranh, giành giật mặc dù trong khuôn khổ của pháp luật lành mạnh, trên lý thuyết. Nhưng ở một mặt khác, cũng không thể tách rời hẳn những hiện tượng tội ác xấu xa ra khỏi cái môi trường văn hóa trong một thời kỳ lịch sử cụ thể, mang những nét đặc trưng-đặc thù của nó.  Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử các nền văn minh, nhân loại thời nào ở đâu cũng có sự gian lận, tội ác, kể cả tội loạn luân và những thứ xấu xa khác, nhưng tùy nơi, tùy chỗ mà mang những đặc điểm, mức độ phổ biến khác nhau. Ở những quốc gia có nền “phong tục thuần hậu”, lại có thêm minh quân cai trị, luật pháp nghiêm nhặt, giáo dục từ phía tôn giáo hoặc từ phía nhà cầm quyền phát triển thì hành vi tội ác trong dân thường không đáng kể. Lại có thêm một quy luật, mà ta có thể mượn giọng nhà nho xưa để phát biểu, nói lên rằng tình trạng rối loạn kỷ cương thường xuất phát từ nguyên nhân thật sâu xa, không phải một sớm một chiều: “Bề tôi mà giết vua, con mà giết cha, nguyên do không phải một sớm một chiều; tình trạng dẫn đến như thế phải dần dần mà hình thành nên” (Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu nhất nhật chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ). Theo cách diễn đạt này thì cái ác, cái xấu cũng không thể do một ngày một bữa, mà do sự tích tụ chất chứa lâu ngày từ nhiều nhân tố và thời gian mới thành mức độ nghiêm trọng và nguy hiểm. Cái ác không tích chứa lại lâu ngày dài tháng thì không đủ để diệt thân (Ác bất tích bất túc dĩ diệt thân- kinh Dịch, “Hệ từ hạ”.  Các văn nhân, học giả hoặc sử gia Việt Nam thời xưa mỗi khi đề cập đến một vùng đất nào, đều có nói đến phong tục của vùng đất đó, mà trước tiên họ đánh giá chung về nếp sống của người dân trong vùng miền, như trong mục “Phong tục” sách Đại Nam nhất thống chí (soạn từ năm 1865, bản dịch phần Lục tỉnh Nam Việt của Tu Trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1959), phần về tỉnh Biên Hòa, đại khái viết: “Vì địa khí ấm áp trong lặng, nên dân gian phong tục thuần hậu, tánh khí đơn giản, kẻ sĩ chuộng thơ, nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo địa thế phát triển mà làm ăn; ưa sự hát múa, sùng thượng đạo Phật…”. Về tỉnh Gia Định, có đoạn viết: “Tục chuộng tiết khí, khinh tài trọng nghĩa…Dân ở thôn dã thì chất phác, dân ở thị thành thì du đãng…”. Về tỉnh Định Tường, mục “Phong tục” nhận định: “Đất đai rộng, người hào hiệp, siêng nghề nghiệp, hay bố thí… Người ở gần thành thị hay chơi bời biếng nhác, như con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”.   Nói “con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”, có thể đúng phần nào, do yếu tố tiếp xúc nhiều hơn với người Tàu rồi sau đó người Pháp, bởi quân Pháp đánh chiếm tỉnh Định Tường và bắt đầu đặt nền cai trị ở đó rất sớm, từ năm 1861, Định Tường trở thành một trung tâm thương mại. Nhưng mặc dù vậy, tại một số vùng bị chiếm đóng mà nền kinh tế bắt đầu phát triển theo hướng thị trường thô sơ, xã hội chỉ bắt đầu xuất hiện lác đác một số biểu hiện thuộc tệ nạn xã hội chứ chưa phải tội ác giết người. Quyển Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ (Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861) của viên sĩ quan chứng nhân người Pháp Léopold Pallu đi theo đoàn quân chinh phục của Phó thủy sư đô đốc Charner năm 1861 đã chứng minh cho sự thật thú vị này, trong có đoạn viết: “…Người An Nam khiếp sợ cảnh máu rơi. Ở Âu châu, giết người thường đi đôi với cướp bóc, vì giết người là để bảo đảm việc cướp bóc dễ dàng; bọn cướp bóc An Nam chỉ lột sạch nạn nhân nào lọt trong tay họ nhưng không giết; trước năm 1859 (tức là trước khi người Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam Kỳ-TKN), chưa chắc đã có đến ba vụ giết người trong một năm… Trong xứ An Nam án mạng xảy ra là một chuyện cực kỳ hệ trọng, luật của người An Nam buộc họ sống theo bản tính thiên nhiên của họ tức là không bao giờ giết chóc” (bản dịch tiếng Việt của Hoang Phong, NXB. Phương Đông, 2008, tr. 193-194).  Như vậy, căn cứ vào nhận định của tác giả Léopold Pallu đưa ra từ năm 1861, phải chăng chỉ trong vòng 150 năm, bản tính của người Việt Nam so với thời nay đã thay đổi quá nhiều, từ trạng thái hiền hòa, hiếu sinh, tôn trọng mạng sống của kẻ khác sang bản tính độc ác, giết người một cách dễ dàng? Điều này chắc chắn là không thể kết luận vội vàng, mà nếu có đúng một phần thì chỉ đúng trên một thiểu số người nào thôi chứ không thể khái quát thành bản tính thay đổi của cả một dân tộc được. Nhưng trên thực tế, cái gọi “thiểu số” vừa kể cũng là một loại thiểu số cực kỳ đáng ngại, vì tính trên tổng số và về tần suất- nhịp độ xuất hiện, cũng như về tính chất nguy hiểm của các vụ giết người, tình tiết vụ án,  nó không còn ít nữa mà lại có tính chất tràn lan ai cũng đều có thể trông thấy.           Trừ một  số con em hư hỏng bắt đầu làm quen với lối sống xa hoa phung phí của  giới quan chức hoặc nhà giàu mới nổi, các phần tử lép vế trong xã hội  phần nhiều thất nghiệp cũng bị lưu manh hóa, nhất là giới trẻ sinh ra và  lớn lên trong những điều kiện như thế, vừa bị ảnh hưởng bởi tư tưởng  thực dụng chủ đạo chung của xã hội vừa mang nặng tâm lý bị đối xử bất  công, lại mất hẳn lòng tin-lý tưởng khi trông lên tấm gương tệ hại của  một số người lớn ở tầng lớp trên, họ đã không thể cam chịu được cảnh an  phận thủ thường mà tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, để cố chiếm giữ cho mình  hoặc gia đình mình một chút tiện nghi mà không ngại phạm vào bất cứ một  tội ác tày trời nào.           Cách nay chừng chục năm, trên báo Công Giáo & Dân Tộc, tôi đã từng đặt ra vấn đề này trong bài viết “Tình trạng gia tăng tội ác trong xã hội hiện nay” (ký tên Xuân Huy), bây giờ nhìn lại, những quan điểm và nhận định của tôi nêu ra trong khoảng thời gian đó hầu như về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Chỉ có điều, vào lúc đó, tôi vẫn còn ngây thơ hi vọng rằng rồi đây với sự củng cố của nền giáo dục và luật pháp, qua những nỗ lực xây dựng của chính quyền và các tổ chức xã hội, tôn giáo, tình trạng sẽ có thể khá lên rất nhiều chứ đâu ngờ ngược lại còn ngày một tồi tệ hơn như hiện nay.  Trong bài viết nêu trên, tôi có nêu rõ: “…Gần đây sự suy đồi của đạo đức hầu như không có gì kìm hãm bớt, trái lại càng có sức lan tỏa mạnh vì con người bị đánh mất niềm tin vào những giá trị truyền thống, đồng thời lại bị kích động bởi lối sống bạo lực ngày càng được cổ võ và phổ biến khắp nơi trên các phương tiện thông tin và phim ảnh, hậu quả của nền văn minh thiên trọng vào những giá trị kinh tế, vật chất. Sự dốt nát và nạn thất học, bạn đồng hành của tình trạng nghèo đói, cũng như mức sống chênh lệch quá lớn giữa các bộ phận dân cư tạo nên những mâu thuẫn tâm lý có thể là những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự lệch chuẩn hành vi của con người… Có những thứ ban đầu không phải tội ác, mà chỉ là sự mềm yếu của con người, nhưng sau sẽ tiếp tay cho tội ác, như nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, xì ke ma túy (bây giờ có thêm nạn đua xe, cá độ bóng đá- TKN)… Muốn hạn chế những thứ này, cần có một hệ thống luật pháp lành mạnh đạt hiệu quả…”.  Và cho đến hôm nay, thực tế nếp tư duy cùng nền văn hóa xã hội vẫn tiếp tục phát triển theo chiều lệch lạc, cực đoan hướng về những giá trị thực dụng, như cố bù đắp cho những gì thiếu thốn chưa thể có được trong thời kỳ chiến tranh kéo dài trước đó. Trong chuyển hình kỳ, một số không ít con người, đặc biệt thuộc các nhóm đặc quyền đặc lợi, đã câu kết lẫn nhau nhắm mắt chạy theo mọi thứ quyền lợi vật chất bất chấp thủ đoạn, coi đồng tiền và các tiện nghi đời sống là tiên là phật, từ đó phát sinh mọi thứ hiện tượng tiêu cực và bất công xã hội, các căn bệnh xã hội thừa cơ phát tác, hố ngăn cách giàu nghèo ngày một sâu thêm, trong đó có tệ nạn tham nhũng nổi lên tràn lan hầu như đã vượt khỏi tầm kiểm soát của luật pháp mà không có một cơ chế hữu hiệu nào khả dĩ chặn đứng. Trừ một số con em hư hỏng bắt đầu làm quen với lối sống xa hoa phung phí của giới quan chức hoặc nhà giàu mới nổi, các phần tử lép vế trong xã hội phần nhiều thất nghiệp cũng bị lưu manh hóa, nhất là giới trẻ sinh ra và lớn lên trong những điều kiện như thế, vừa bị ảnh hưởng bởi tư tưởng thực dụng chủ đạo chung của xã hội vừa mang nặng tâm lý bị đối xử bất công, lại mất hẳn lòng tin-lý tưởng khi trông lên tấm gương tệ hại của một số người lớn ở tầng lớp trên, họ đã không thể cam chịu được cảnh an phận thủ thường mà tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, để cố chiếm giữ cho mình hoặc gia đình mình một chút tiện nghi mà không ngại phạm vào bất cứ một tội ác tày trời nào.         Mới đây, trong cuộc hội thảo “ Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức, qua bài tham luận, một nhà nghiên cứu đã đưa ra một hướng tiếp cận mới trong việc xem xét sự suy thoái văn hóa-xã hội, trong đó có vấn đề tội ác phát triển cực độ hiện nay. Tôi xin trích lại một đoạn ngắn gần cuối bài tham luận của ông như là một cách để giới thiệu và chia sẻ với tác giả: “Trong nỗ lực đi tìm mô thức mới để thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó là những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hóa mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước”.         Author                Quản trị        
0.07540983606557378
__label__tiasang Tính trung thực của người nghiên cứu      Trong bài viết lần trước (Tia Sáng số 17 ngày 05.9.2008), tác giả bàn về khía cạnh đạo đức khi lựa chọn phương hướng nghiên cứu. Bài viết này góp phần bàn về một khía cạnh khác của đạo đức khoa học: Đó là tính trung thực của người nghiên cứu.  Những ví dụ nêu ra trong bài viết này chúng tôi cố ý chọn những sự kiện xuất hiện đã rất xa trong quá khứ, hầu như chỉ liên hệ với những người đã từ nhiệm, để tránh những điều tế nhị liên quan đến những người đang có địa vị đương thời. (Nói là những sự kiện đã xảy ra rất xa trong quá khứ, nhưng không phải không còn tồn tại trên đất nước ta). Dù vậy, chúng tôi vẫn gửi lời xin lỗi các bạn có liên quan đến các sự kiện được nêu.  Chúng tôi không có ý thức chỉ trích cá nhân, mà chỉ mong sao cộng đồng nghiên cứu, và nhất là các cơ quan hoạch định chính sách khoa học, rút ra được bài học từ những sự kiện này, để nền khoa học của chúng ta đi vào quỹ đạo lành mạnh của khoa học.    Những biểu hiện thiếu trung thực trong khoa học ở nước ta có ở hầu hết mọi lĩnh vực và khá đa dạng, thậm chí đa dạng hơn những gì chúng ta có thể đọc được về sự vi phạm các chuẩn mực đạo đức khoa học trên thế giới.  Chị cho tôi xem cái đèn  Câu chuyện cách đây đã vài ba chục năm. Ông A và ông B là hai chuyên gia về một lĩnh vực kỹ thuật có quan hệ rất gần gũi, vừa là đồng nghiệp, vừa là bạn bè, cùng quan tâm nghiên cứu một loại đèn. Ông A nghiên cứu thành công, ông B loay hoay chưa biết xử lý thế nào. Rồi đến những ngày chuẩn bị triển lãm các thành tích sáng tạo kỹ thuật trong toàn quốc, ông A đi công tác nước ngoài, không có điều kiện chuẩn bị cho triển lãm. Ông B, với tình thân giữa hai gia đình, đến thăm gia đình ông A, đương nhiên, ông được bà vợ ông A đón tiếp rất cởi mở. Bỗng dưng ông B nói theo kiểu như “sực nhớ” ra điều gì đó rất ngẫu nhiên: “À chị này, hình như Anh A đã làm thành công cái đèn phải không?” Với tính tình chân thật rất phụ nữ, bà A khoe đủ chuyện, nào là ông lọ mọ không ăn không ngủ đến chuyện dũa-khoan-cắt-gọt suốt ngày… Ông B lại có một đề nghị … cũng rất đột xuất: “Hay nhỉ! Chị có thể cho tôi chiêm ngưỡng công trình của anh không?”. Bà A được dịp: “Gớm, mọi thứ đang còn để ngổn ngang trong cái phòng thí nghiệm của ông ấy đây này”. Thế là bà đưa ông bạn vào … khảo sát toàn bộ cái góc thí nghiệm của ông A. Ông B đã xem xét rất kỹ, từ các thiết bị, dụng cụ mà ông A sử dụng, cho đến những bán thành phẩm và phế phẩm mà ông chưa kịp thu dọn. Với con mắt của nhà chuyên môn, ông đã khám phá toàn bộ bí mật của ông A. Kết quả, ông B đã kịp mang giới thiệu toàn bộ công trình “của mình” tại triển lãm sáng tạo toàn quốc, và đương nhiên, được lĩnh một giải thưởng nào đó, trong khi ông A còn chu du ở nước ngoài.  Bạt ngàn cây ấy  Cũng khoảng gần ba mươi năm trước đây, sau khi bảo vệ thành công luận án ở nước ngoài, Tiến sỹ P. có sáng kiến phát triển tại quê hương mình một giống cây do ông lai tạo dựa trên một nguyên lý khoa học mới.  Ông đã được các nhà lãnh đạo địa phương giúp đỡ, và đặc biệt là được cấp kinh phí để phát triển giống cây quý này cho quê nhà. Sau mấy tháng thì trên những triền đồi quê hương của ông đã bạt ngàn loại cây ấy. Ông tuyên truyền khắp nơi về “thành tựu” của ông. Ông cũng “lọt” được vào “mắt xanh” của các nhà lãnh đạo, và các nhà lãnh đạo này cũng đã tạo nhiều điều kiện ưu đãi cho ông lập một viện nghiên cứu và ông được cử làm viện trưởng. Nhưng rồi, … cái cây mọc bạt ngàn trên đồi, với chi phí hàng nhiều chục tỷ đồng quy đổi theo thời giá hiện nay, đã không tạo ra bất cứ thứ hạt nào như trong thuyết minh của ông với các nhà lãnh đạo ở địa phương. Một số người nói ông chưa có kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn; số người khác nói ông chỉ mới thành công trong labô, chưa đủ điều kiện triển khai đại trà trên một vùng đất rộng lớn; số khác thì nói ông lừa đảo… Mỗi người đều cố đưa ra những bằng chứng để bảo vệ ý kiến của mình.    Đề nghị tiến sỹ làm thêm thí nghiệm  Cũng khoảng trên 20 năm trước đây, tôi được tham gia như một người trong cuộc liên quan một sự kiện rất đáng ghi nhận.  Có lần, một vị tiến sỹ trình với Thủ tướng đề án xin cấp vốn đầu tư xây dựng một xí nghiệp chế biến bột sắn với mục đích là nâng cao hàm lượng đạm trong bột sắn, một số anh em gọi nôm na cho dễ hiểu (cũng có chút châm biếm) … là biến sắn thành đậu nành.  Đề án xin được cấp ba trăm triệu, có lẽ tương đương khoảng tiền tỷ hiện nay. Đó thực sự là một đề án không nhỏ. Thủ tướng hẹn ngày để vị tiến sỹ đến gặp ở Văn phòng Chính phủ. Đúng hẹn, vị tiến sỹ đến, th … giật thót người, là không chỉ có Thủ tướng, mà còn có cả các nhà nghiên cứu thuộc cùng lĩnh vực này, mà lại … “ngang phân” với tác giả, đã ngồi sẵn ở đó (Thì ra Thủ tướng sử dụng phương pháp Peer Review!). Ngoài ra còn có cả đại diện của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (Thủ tướng lại sử dụng cả bộ máy quản lý!).  Sau phần tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu, tác giả được trình bày đề án, rồi đến phần hỏi và trả lời. Phần này rất dài và có nhiều ý kiến phong phú được nêu ra. Xin được tóm tắt vài ý kiến quan trọng như sau:  Hỏi: Yêu cầu mô tả quy trình.  Xác nhận sau thảo luận: Quy trình hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về khoa học.  Hỏi: Hàm lượng đạm của bột sắn sau chế biến?  Xác nhận: Hoàn toàn đạt yêu cầu như dự kiến, tương đương đậu nành.  Hỏi: Giá thành?  Đáp: 120 Đồng/kg  Hỏi: Giá đậu nành ở chợ?  Đáp: 12 Đồng/kg  Hỏi: Ai ăn được thứ bột sắn chế biến này?  Đáp: Nuôi heo.  Thủ tướng đưa ý kiến nhận xét hơi có chút hóm hỉnh về hiệu quả: Đậu nành thật giá … có 12 Đồng, mà mua về cho người ăn; Còn đậu nành “dổm” giá… những 120 Đồng, mà lại mua về cho heo ăn… Heo xài sang gấp … mười lần người (!)  Thủ tướng kết luận: “Như thế chưa thể đầu tư sản xuất. Chính phủ đề nghị Ủy ban KH&KT Nhà nước (nay là Bộ KH&CN) xem xét cấp kinh phí (có lẽ nên khoảng 50 triệu) để tác giả tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công trình này”.  Từ đấy đến nay đã trên hai mươi năm. Vậy mà chưa nghe ở đâu kết quả nghiên cứu này được áp dụng để phát triển thành một xí nghiệp chế biến sắn thành một thứ bột có hàm lượng đạm ngang với đậu nành.    Viện được sử dụng mật phí 1          Vài ba chục năm trước đây. Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT của một tỉnh (nay gọi là Sở Khoa học và Công nghệ) được mời đến làm việc với Bí thư Tỉnh ủy. Bí thư tỏ thái độ rất quan tâm đến khoa học của tỉnh nhà. Bí thư nói: “Này tôi nghe nói khoa học mới phát minh ra … rễ đậu nành tốt lắm. Nó có tác dụng cải tạo đất, hơn cả phân hóa học. Tôi dự định đề nghị Ủy ban Nhân dân Tỉnh cấp cho các cậu vài chục tấn đậu nành và dăm chục hecta đất để gieo đậu nành. Khi cây đậu nành lớn chừng ngần này (ông vừa nói vừa lấy bàn tay lia lia ngang để giữ một khoảng cách với mặt đất) thì … dập cây đậu nành xuống ruộng để cải tạo đất”. Tuy Bí thư nói kiểu gia đình như thế, nhưng là lệnh không ai dám cãi dù biết rằng làm như vậy là “vứt tiền qua cửa sổ”. Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT nghĩ xót tiền dân, tự thấy không nỡ làm cái việc hại dân đó. Nghĩ mãi, cuối cùng, ông quyết định lấy hai dải đất cách hai mép quốc lộ dăm bảy mét và trồng đậu nành trên đó, chờ khi đậu nành lớn lút tầm nhìn của người ngồi trong xe Volga[1] thì đưa Bí thư đi xem. Chúng tôi hỏi tại sao lại trồng trên hai dải đất rộng dăm bảy mét từ hai mép quốc lộ, thì ông giải thích, … sau này mời Bí thư phóng vèo xe Volga để thị sát thôi. Khi ấy ông sẽ thấy xanh rờn cây đậu nành trải dài kín hai bên đường là hài lòng và khen rồi!          Đây là câu chuyện ở giữa thủ đô Hà Nội. Một vài nhà khoa học lân la đến được mấy vị lãnh đạo rất cao trong Đảng và trong Chính phủ, thuyết phục thế nào đó, lập được một viện trực thuộc Chính phủ. Viện có công an đứng gác và được sử dụng mật phí 1 và được cung cấp ngoại tệ (một chế độ đặc đãi chưa có tiền lệ ở đâu) để nghiên cứu những vấn đề trọng đại của quốc gia. Sau một vài năm, chúng tôi hỏi nhau về những thành tựu mà Viện đã cống hiến cho quốc gia, thì được một vị vụ trưởng ở Ủy ban KH&KT Nhà nước cho biết: “Đơn vị nghiên cứu vật lý màng mỏng của Viện này đã sản xuất được … bộ thiết bị làm bánh đa nem; Đơn vị về điện tử gì đó thì có thêm chức năng buôn xe máy… second hand từ nước ngoài, chất đầy một nhà kho cũng được công an canh gác cẩn mật; Một đơn vị gì đó nữa thì mở cơ sở sản xuất nước tương… xì dầu… Còn những khoản ngoại tệ được giao sử dụng thì không quyết toán được; Một kho máy tính mua bằng ngoại tệ mạnh thì bỗng nhiên bốc cháy”. Sau ít năm sau, Thủ tướng quyết định nhập viện này vào một bộ, không được “trực thuộc Chính phủ” nữa.  Cho đến ngày nay đã trên hai mươi năm, không ai nghe nói Viện đã có thành tựu nào đóng góp cho quốc gia, cũng không thấy có bài báo nào công bố gây tiếng vang quốc tế. Còn các nhân vật chủ chốt – tác giả của sự phù phép đó – thì được đưa lên những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách khoa học và phán xét lập trường, tư tưởng, đạo đức của những người làm khoa học chân chính.  Đạo văn và bao che đạo văn  Nhiều người đã viết bài lên án nạn đạo văn trong khoa học ở nước ta. Tôi đã thử làm tổng kết. Thì ra có rất nhiều kiểu đạo văn, từ trắng trợn thô thiển đến tinh vi … “tế nhị”  – Có vị dịch sách, nhưng đã ghi tên mình là tác giả; Cùng loại này, có vị viết sách, ghi tên mình là tác giả, nhưng thực ra là dịch cóp nhặt từ vài ba nguồn tài liệu.  – Có vị lấy toàn bộ một chương sách của đồng nghiệp để viết báo và ký tên mình là tác giả  – Có vị “cắt tỉa” sách của đồng nghiệp để “viết” thành sách của mình  – Có vị cóp toàn bộ một cuốn sách, chỉ thay các đề mục. Ví dụ, tên của mục là “Khái niệm về luật dân sự”, thì sửa lại là “Luật dân sự là gì?”  – Có vị, chức tước cao thấp khác nhau, đã tập hợp nhân viên viết sách để ký tên mình là tác giả, còn các tác giả đích thực thì được nhận mấy lời “Cảm ơn” đã cộng tác (!)  – Có vị cóp sách của đồng nghiệp rồi ghi mấy lời cảm ơn trong “Lời nói đầu”, còn bên trong thì không có bất cứ một trích dẫn xuất xứ nào.  Nhận dạng chân dung xã hội của những đạo văn trong khoa học, chúng ta có thể thấy đủ mặt các ngành khoa học, có cả giáo sư, viện sỹ, tiến sỹ, nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên “chân đất”, có cả một số vị lãnh đạo bộ, lãnh đạo các cục, vụ, viện, lãnh đạo các trường đại học và các chuyên viên “chân đất”. Đây có lẽ là điều rất đáng buồn về mặt đạo đức trong nền khoa học nước nhà.          Nhận dạng chân dung xã hội của những đạo văn trong khoa học, chúng ta có thể thấy đủ mặt các ngành khoa học, có cả giáo sư, viện sỹ, tiến sỹ, nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên “chân đất”, có cả một số vị lãnh đạo bộ, lãnh đạo các cục, vụ, viện, lãnh đạo các trường đại học và các chuyên viên “chân đất”. Đây có lẽ là điều rất đáng buồn về mặt đạo đức trong nền khoa học nước nhà.          Rồi đương nhiên, đến lượt chính các vị này lại bao che những kẻ đạo văn. Họ hợp thành những liên minh ma quái để kìm hãm những người tử tế. Trong cộng đồng khoa học Việt Nam, điều đáng buồn hơn, chính những người tố giác đạo văn lại bị khinh rẻ và lên án. Còn những kẻ đạo văn và bao che đạo văn lại luồn lọt lên những chức vụ rất cao, để ngồi đó phán xét đạo đức khoa học của người khác. Trách gì nền khoa học nước ta suy kém!  Ngụy tạo dữ liệu  Báo chí ở nước ta có dạo bàn luận sôi nổi về sự kiện ngụy tạo dữ liệu để dựng chuyện về thành công nghiên cứu tế bào gốc của Giáo sư Hwang Woo Suk (Hàn Quốc), rồi giáo sư Eric Poehlman, (Đại học Vermont, Mỹ), tiến sỹ Jon Sudbo (Đại học Oslo, Na Uy), v.v… Nhưng các báo chí cũng quên rằng, Việt Nam chúng ta đâu có ngoại lệ, mà chẳng thấy ai lên án?  Khai báo thành công trong việc nghiên cứu nâng cao hàm lượng đạm trong bột sắn để xin hàng trăm triệu đầu tư xây dựng một xí nghiệp sản xuất có thể xem là một ví dụ; Khai báo thành công trong việc tạo một giống cây rồi xin đầu tư gieo trồng trên những vùng đồi rộng lớn là một ví dụ. Rất nhiều những ví dụ tương tự, có vụ còn “tày đình” hơn nhiều, nhưng không thấy được nêu tên tuổi trên báo chí. Hỏi ra thì được biết, nêu những sự kiện đó lên thì lại đụng chạm đến ông X, bà Y, … “xấu chàng hổ ai”.    Đôi điều ghi nhận  Tất cả các sự kiện được trình bày trong bài báo này có thể quy về hai tội trong khoa học:. gian lận và ăn cắp  Gian lận liên quan đến thái độ trung thực của nhà khoa học. Nó liên quan đến việc ngụy tạo số liệu, bóp méo dữ kiện, không nghiêm túc trong phương pháp nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu; còn ăn cắp liên quan đến thái độ trung thực trong quyền sở hữu trí tuệ. Gian lận thì không ăn cắp của ai, nhưng làm biến dạng thực thể tri thức khoa học; Còn ăn cắp thì không làm biến dạng thực thể tri thức khoa học, mà chỉ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Cả hai hiện tượng này đều luôn là chủ đề được cộng đồng nghiên cứu quan tâm.  Trên quan điểm của xã hội học khoa học, Zuckerman cho rằng, “gian lận và ăn cắp đã huỷ hoại niềm tin vào cộng đồng khoa học. Đó là niềm tin vốn rất chính đáng rằng, những gì mà các nhà khoa học nói, là chân lý tin cậy nhất”. Zuckerman cũng cho rằng, cả hai tội này đều “cần phải trừng phạt nghiêm khắc đến mức dẫn đến phá hoại toàn bộ sự nghiệp của đương sự.”  ***            Đã đến lúc Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) phải chú ý đầy đủ hơn đến các chế tài để duy trì chuẩn mực đạo đức khoa học. Chế tài này không chỉ đặt trên trách nhiệm của nhà nghiên cứu, mà quan trọng hơn, là những kẻ bao che những vi phạm đạo đức trong khoa học.          Gần đây tôi được đọc một số bài trên báo chí và trên mạng phê phán nhà văn Vương Trí Nhàn về tội … ông đã dám nêu những … thói hư tật xấu của người Việt… thậm chí có bài còn hỏi Vương Trí Nhàn, đại loại là ông có xấu như thế không. Nhà văn đã bẽn lẽn trả lời… Tôi đâu có là ngoại lệ! Liệu đến một ngày nào đó, có người sẽ học tập Vương Trí Nhàn viết về thói hư tật xấu trong cộng đồng khoa học Việt Nam? Còn tôi, trong bài viết này, như các bạn đồng nghiệp thấy đấy, tôi cũng không tiện gọi sự vật bằng tên thật của nó. Có lẽ vì không muốn bị mang tiếng là bôi nhọ ông A, bà B,… những ông bà đang ngồi ở những vị trí cao trong cộng đồng khoa học… Như tôi đã ghi nhận ở trên: Ở nước ta, phanh phui những tật xấu thì bị lên án hơn chính những tên tội đồ.  Đã đến lúc Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) phải chú ý đầy đủ hơn đến các chế tài để duy trì chuẩn mực đạo đức khoa học. Chế tài này không chỉ đặt trên trách nhiệm của nhà nghiên cứu, mà quan trọng hơn, là những kẻ bao che những vi phạm đạo đức trong khoa học./.  Ý kiến của bạn?  ———–    [1] Mật phí là cách gọi một loại ngân khoản dùng riêng trong quốc phòng và an ninh, không chịu bất kỳ sự giám sát nào của hệ thống tài chính nhà nước.  [1] Volga là loại xe do Liên Xô sản xuất, dành cho các vị lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên.      Vũ Cao Đàm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính trung thực của người nghiên cứu      Những ví dụ nêu ra trong bài viết này chúng tôi cố ý chọn những sự kiện xuất hiện đã rất xa trong quá khứ, hầu như chỉ liên hệ với những người đã từ nhiệm, để tránh những điều tế nhị liên quan đến những người đang có địa vị đương thời. (Nói là những sự kiện đã xảy ra rất xa trong quá khứ, nhưng không phải không còn tồn tại trên đất nước ta). Dù vậy, chúng tôi vẫn gửi lời xin lỗi các bạn có liên quan đến các sự kiện được nêu.  Chúng tôi không có ý thức chỉ trích cá nhân, mà chỉ mong sao cộng đồng nghiên cứu, và nhất là các cơ quan hoạch định chính sách khoa học, rút ra được bài học từ những sự kiện này, để nền khoa học của chúng ta đi vào quỹ đạo lành mạnh của khoa học.     Những biểu hiện thiếu trung thực trong khoa học ở nước ta có ở hầu hết mọi lĩnh vực và khá đa dạng, thậm chí đa dạng hơn những gì chúng ta có thể đọc được về sự vi phạm các chuẩn mực đạo đức khoa học trên thế giới.       Chị cho tôi xem cái đèn  Câu chuyện cách đây đã vài ba chục năm. Ông A và ông B là hai chuyên gia về một lĩnh vực kỹ thuật có quan hệ rất gần gũi, vừa là đồng nghiệp, vừa là bạn bè, cùng quan tâm nghiên cứu một loại đèn. Ông A nghiên cứu thành công, ông B loay hoay chưa biết xử lý thế nào. Rồi đến những ngày chuẩn bị triển lãm các thành tích sáng tạo kỹ thuật trong toàn quốc, ông A đi công tác nước ngoài, không có điều kiện chuẩn bị cho triển lãm. Ông B, với tình thân giữa hai gia đình, đến thăm gia đình ông A, đương nhiên, ông được bà vợ ông A đón tiếp rất cởi mở. Bỗng dưng ông B nói theo kiểu như “sực nhớ” ra điều gì đó rất ngẫu nhiên: “À chị này, hình như Anh A đã làm thành công cái đèn phải không?” Với tính tình chân thật rất phụ nữ, bà A khoe đủ chuyện, nào là ông lọ mọ không ăn không ngủ đến chuyện dũa-khoan-cắt-gọt suốt ngày… Ông B lại có một đề nghị … cũng rất đột xuất: “Hay nhỉ! Chị có thể cho tôi chiêm ngưỡng công trình của anh không?”. Bà A được dịp: “Gớm, mọi thứ đang còn để ngổn ngang trong cái phòng thí nghiệm của ông ấy đây này”. Thế là bà đưa ông bạn vào … khảo sát toàn bộ cái góc thí nghiệm của ông A. Ông B đã xem xét rất kỹ, từ các thiết bị, dụng cụ mà ông A sử dụng, cho đến những bán thành phẩm và phế phẩm mà ông chưa kịp thu dọn. Với con mắt của nhà chuyên môn, ông đã khám phá toàn bộ bí mật của ông A. Kết quả, ông B đã kịp mang giới thiệu toàn bộ công trình “của mình” tại triển lãm sáng tạo toàn quốc, và đương nhiên, được lĩnh một giải thưởng nào đó, trong khi ông A còn chu du ở nước ngoài.  Bạt ngàn cây ấy  Cũng khoảng gần ba mươi năm trước đây, sau khi bảo vệ thành công luận án ở nước ngoài, Tiến sỹ P. có sáng kiến phát triển tại quê hương mình một giống cây do ông lai tạo dựa trên một nguyên lý khoa học mới.   Ông đã được các nhà lãnh đạo địa phương giúp đỡ, và đặc biệt là được cấp kinh phí để phát triển giống cây quý này cho quê nhà. Sau mấy tháng thì trên những triền đồi quê hương của ông đã bạt ngàn loại cây ấy. Ông tuyên truyền khắp nơi về “thành tựu” của ông. Ông cũng “lọt” được vào “mắt xanh” của các nhà lãnh đạo, và các nhà lãnh đạo này cũng đã tạo nhiều điều kiện ưu đãi cho ông lập một viện nghiên cứu và ông được cử làm viện trưởng. Nhưng rồi, … cái cây mọc bạt ngàn trên đồi, với chi phí hàng nhiều chục tỷ đồng quy đổi theo thời giá hiện nay, đã không tạo ra bất cứ thứ hạt nào như trong thuyết minh của ông với các nhà lãnh đạo ở địa phương. Một số người nói ông chưa có kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn; số người khác nói ông chỉ mới thành công trong labô, chưa đủ điều kiện triển khai đại trà trên một vùng đất rộng lớn; số khác thì nói ông lừa đảo… Mỗi người đều cố đưa ra những bằng chứng để bảo vệ ý kiến của mình.  Đề nghị tiến sỹ làm thêm thí nghiệm  Cũng khoảng trên 20 năm trước đây, tôi được tham gia như một người trong cuộc liên quan một sự kiện rất đáng ghi nhận.   Có lần, một vị tiến sỹ trình với Thủ tướng đề án xin cấp vốn đầu tư xây dựng một xí nghiệp chế biến bột sắn với mục đích là nâng cao hàm lượng đạm trong bột sắn, một số anh em gọi nôm na cho dễ hiểu (cũng có chút châm biếm) … là biến sắn thành đậu nành.   Đề án xin được cấp ba trăm triệu, có lẽ tương đương khoảng tiền tỷ hiện nay. Đó thực sự là một đề án không nhỏ. Thủ tướng hẹn ngày để vị tiến sỹ đến gặp ở Văn phòng Chính phủ. Đúng hẹn, vị tiến sỹ đến, thì … giật thót người, là không chỉ có Thủ tướng, mà còn có cả các nhà nghiên cứu thuộc cùng lĩnh vực này, mà lại … “ngang phân” với tác giả, đã ngồi sẵn ở đó (Thì ra Thủ tướng sử dụng phương pháp Peer Review!). Ngoài ra còn có cả đại diện của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (Thủ tướng lại sử dụng cả bộ máy quản lý!).  Sau phần tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu, tác giả được trình bày đề án, rồi đến phần hỏi và trả lời. Phần này rất dài và có nhiều ý kiến phong phú được nêu ra. Xin được tóm tắt vài ý kiến quan trọng như sau:  Hỏi: Yêu cầu mô tả quy trình.   Xác nhận sau thảo luận: Quy trình hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về khoa học.  Hỏi: Hàm lượng đạm của bột sắn sau chế biến?  Xác nhận: Hoàn toàn đạt yêu cầu như dự kiến, tương đương đậu nành.  Hỏi: Giá thành?  Đáp: 120 Đồng/kg  Hỏi: Giá đậu nành ở chợ?  Đáp: 12 Đồng/kg  Hỏi: Ai ăn được thứ bột sắn chế biến này?  Đáp: Nuôi heo.  Thủ tướng  đưa ý kiến nhận xét hơi có chút hóm hỉnh về hiệu quả: Đậu nành thật giá … có 12 Đồng, mà mua về cho người ăn; Còn đậu nành “dổm” giá… những 120 Đồng, mà lại mua về cho heo ăn… Heo xài sang gấp … mười lần người (!)  Thủ tướng kết luận: “Như thế chưa thể đầu tư sản xuất. Chính phủ đề nghị Ủy ban KH&KT Nhà nước (nay là Bộ KH&CN) xem xét cấp kinh phí (có lẽ nên khoảng 50 triệu) để tác giả tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công trình này”.  Từ đấy đến nay đã trên hai mươi năm. Vậy mà chưa nghe ở đâu kết quả nghiên cứu này được áp dụng để phát triển thành một xí nghiệp chế biến sắn thành một thứ bột có hàm lượng đạm ngang với đậu nành.     Viện được sử dụng mật phí1           Nhận dạng chân dung xã hội của những đạo văn trong khoa học, chúng ta có thể thấy đủ mặt các ngành khoa học, có cả giáo sư, viện sỹ, tiến sỹ, nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên “chân đất”, có cả một số vị lãnh đạo bộ, lãnh đạo các cục, vụ, viện, lãnh đạo các trường đại học và các chuyên viên “chân đất”. Đây có lẽ là điều rất đáng buồn về mặt đạo đức trong nền khoa học nước nhà          Đây là câu chuyện ở giữa thủ đô Hà Nội. Một vài nhà khoa học lân la đến được mấy vị lãnh đạo rất cao trong Đảng và trong Chính phủ, thuyết phục thế nào đó, lập được một viện trực thuộc Chính phủ. Viện có công an đứng gác và được sử dụng mật phí và được cung cấp ngoại tệ (một chế độ đặc đãi chưa có tiền lệ ở đâu) để nghiên cứu những vấn đề trọng đại của quốc gia. Sau một vài năm, chúng tôi hỏi nhau về những thành tựu mà Viện đã cống hiến cho quốc gia, thì được một vị vụ trưởng ở Ủy ban KH&KT Nhà nước cho biết: “Đơn vị nghiên cứu vật lý màng mỏng của Viện này đã sản xuất được … bộ thiết bị làm bánh đa nem; Đơn vị về điện tử gì đó thì có thêm chức năng buôn xe máy… second hand từ nước ngoài, chất đầy một nhà kho cũng được công an canh gác cẩn mật; Một đơn vị gì đó nữa thì mở cơ sở sản xuất nước tương… xì dầu… Còn những khoản ngoại tệ được giao sử dụng thì không quyết toán được; Một kho máy tính mua bằng ngoại tệ mạnh thì bỗng nhiên bốc cháy”. Sau ít năm sau, Thủ tướng quyết định nhập viện này vào một bộ, không được “trực thuộc Chính phủ” nữa.   Cho đến ngày nay đã trên hai mươi năm, không ai nghe nói Viện đã có thành tựu nào đóng góp cho quốc gia, cũng không thấy có bài báo nào công bố gây tiếng vang quốc tế. Còn các nhân vật chủ chốt – tác giả của sự phù phép đó – thì được đưa lên những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách khoa học và phán xét lập trường, tư tưởng, đạo đức của những người làm khoa học chân chính.     Đạo văn và bao che đạo văn             Vài ba chục năm trước đây. Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT của một tỉnh (nay gọi là Sở Khoa học và Công nghệ) được mời đến làm việc với Bí thư Tỉnh ủy. Bí thư tỏ thái độ rất quan tâm đến khoa học của tỉnh nhà. Bí thư nói: “Này tôi nghe nói khoa học mới phát minh ra … rễ đậu nành tốt lắm. Nó có tác dụng cải tạo đất, hơn cả phân hóa học. Tôi dự định đề nghị Ủy ban Nhân dân Tỉnh cấp cho các cậu vài chục tấn đậu nành và dăm chục hecta đất để gieo đậu nành. Khi cây đậu nành lớn chừng ngần này (ông vừa nói vừa lấy bàn tay lia lia ngang để giữ một khoảng cách với mặt đất) thì … dập cây đậu nành xuống ruộng để cải tạo đất”. Tuy Bí thư nói kiểu gia đình như thế, nhưng là lệnh không ai dám cãi dù biết rằng làm như vậy là “vứt tiền qua cửa sổ”. Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT nghĩ xót tiền dân, tự thấy không nỡ làm cái việc hại dân đó. Nghĩ mãi, cuối cùng, ông quyết định lấy hai dải đất cách hai mép quốc lộ dăm bảy mét và trồng đậu nành trên đó, chờ khi đậu nành lớn lút tầm nhìn của người ngồi trong xe Volga[2]thì đưa Bí thư đi xem. Chúng tôi hỏi tại sao lại trồng trên hai dải đất rộng dăm bảy mét từ hai mép quốc lộ, thì ông giải thích, … sau này mời Bí thư phóng vèo xe Volga để thị sát thôi. Khi ấy ông sẽ thấy xanh rờn cây đậu nành trải dài kín hai bên đường là hài lòng và khen rồi!              Nhiều người đã viết bài lên án nạn đạo văn trong khoa học ở nước ta. Tôi đã thử làm tổng kết. Thì ra có rất nhiều kiểu đạo văn, từ trắng trợn thô thiển đến tinh vi … “tế nhị”  –         Có vị dịch sách, nhưng đã ghi tên mình là tác giả; Cùng loại này, có vị viết sách, ghi tên mình là tác giả, nhưng thực ra là dịch cóp nhặt từ vài ba nguồn tài liệu.  –         Có vị lấy toàn bộ một chương sách của đồng nghiệp để viết báo và ký tên mình là tác giả  –         Có vị “cắt tỉa” sách của đồng nghiệp để “viết” thành sách của mình  –         Có vị cóp toàn bộ một cuốn sách, chỉ thay các đề mục. Ví dụ, tên của mục là “Khái niệm về luật dân sự”, thì sửa lại là “Luật dân sự là gì?”  –         Có vị, chức tước cao thấp khác nhau, đã tập hợp nhân viên viết sách để ký tên mình là tác giả, còn các tác giả đích thực thì được nhận mấy lời “Cảm ơn” đã cộng tác (!)  –         Có vị cóp sách của đồng nghiệp rồi ghi mấy lời cảm ơn trong  “Lời nói đầu”, còn bên trong thì không có bất cứ một trích dẫn xuất xứ nào.  Nhận dạng chân dung xã hội của những đạo văn trong khoa học, chúng ta có thể thấy đủ mặt các ngành khoa học, có cả giáo sư, viện sỹ, tiến sỹ, nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên “chân đất”, có cả một số vị lãnh đạo bộ, lãnh đạo các cục, vụ, viện, lãnh đạo các trường đại học và các chuyên viên “chân đất”. Đây có lẽ là điều rất đáng buồn về mặt đạo đức trong nền khoa học nước nhà.  Rồi đương nhiên, đến lượt chính các vị này lại bao che những kẻ đạo văn. Họ hợp thành những liên minh ma quái để kìm hãm những người tử tế. Trong cộng đồng khoa học Việt Nam, điều đáng buồn hơn, chính những người tố giác đạo văn lại bị khinh rẻ và lên án. Còn những kẻ đạo văn và bao che đạo văn lại luồn lọt lên những chức vụ rất cao, để ngồi đó phán xét đạo đức khoa học của người khác. Trách gì nền khoa học nước ta suy kém!  Ngụy tạo dữ liệu  Báo chí ở nước ta có dạo bàn luận sôi nổi về sự kiện ngụy tạo dữ liệu để dựng chuyện về thành công nghiên cứu tế bào gốc của Giáo sư Hwang Woo Suk (Hàn Quốc), rồi giáo sư Eric Poehlman, (Đại học Vermont, Mỹ), tiến sỹ Jon Sudbo (Đại học Oslo, Na Uy), v.v… Nhưng các báo chí cũng quên rằng, Việt Nam chúng ta đâu có ngoại lệ, mà chẳng thấy ai lên án?  Khai báo thành công trong việc nghiên cứu nâng cao hàm lượng đạm trong bột sắn để xin hàng trăm triệu đầu tư xây dựng một xí nghiệp sản xuất có thể xem là một ví dụ; Khai báo thành công trong việc tạo một giống cây rồi xin đầu tư gieo trồng trên những vùng đồi rộng lớn là một ví dụ. Rất nhiều những ví dụ tương tự, có vụ còn “tày đình” hơn nhiều, nhưng không thấy được nêu tên tuổi trên báo chí. Hỏi ra thì được biết, nêu những sự kiện đó lên thì lại đụng chạm đến ông X, bà Y, … “xấu chàng hổ ai”.   Đôi điều ghi nhận  Tất cả các sự kiện được trình bầy trong bài báo này có thể quy về hai tội trong khoa học:gian lận và ăn cắp.          Đã đến lúc Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) phải chú ý đầy đủ hơn đến các chế tài để duy trì chuẩn mực đạo đức khoa học. Chế tài này không chỉ đặt trên trách nhiệm của nhà nghiên cứu, mà quan trọng hơn, là những kẻ bao che những vi phạm đạo đức trong khoa học./.          Gian lận liên quan đến thái độ trung thực của nhà khoa học. Nó liên quan đến việc ngụy tạo số liệu, bóp méo dữ kiện, không nghiêm túc trong phương pháp nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu; còn ăn cắp liên quan đến thái độ trung thực trong quyền sở hữu trí tuệ. Gian lận thì không ăn cắp của ai, nhưng làm biến dạng thực thể tri thức khoa học; Còn ăn cắp thì không làm biến dạng thực thể tri thức khoa học, mà chỉ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Cả hai hiện tượng này đều luôn là chủ đề được cộng đồng nghiên cứu quan tâm.  Trên quan điểm của xã hội học khoa học, Zuckerman cho rằng, “gian lận và ăn cắp đã huỷ hoại niềm tin vào cộng đồng khoa học. Đó là niềm tin vốn rất chính đáng rằng, những gì mà các nhà khoa học nói, là chân lý tin cậy nhất”. Zuckerman cũng cho rằng, cả hai tội này đều “cần phải trừng phạt nghiêm khắc đến mức dẫn đến phá hoại toàn bộ sự nghiệp của đương sự”.  ***  Gần đây tôi được đọc một số bài trên báo chí và trên mạng phê phán nhà văn Vương Trí Nhàn về tội … ông đã dám nêu những … thói hư tật xấu của người Việt… thậm chí có bài còn hỏi Vương Trí Nhàn, đại loại là ông có xấu như thế không. Nhà văn đã bẽn lẽn trả lời… Tôi đâu có là ngoại lệ! Liệu đến một ngày nào đó, có người sẽ học tập Vương Trí Nhàn viết về thói hư tật xấu trong cộng đồng khoa học Việt Nam?   Còn tôi, trong bài viết này, như các bạn đồng nghiệp thấy đấy, tôi cũng không tiện gọi sự vật bằng tên thật của nó. Có lẽ vì không muốn bị mang tiếng là bôi nhọ ông A, bà B,… những ông bà đang ngồi ở những vị trí cao trong cộng đồng khoa học… Như tôi đã ghi nhận ở trên: Ở nước ta, phanh phui những tật xấu thì bị lên án hơn chính những tên tội đồ.   Đã đến lúc Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) phải chú ý đầy đủ hơn đến các chế tài để duy trì chuẩn mực đạo đức khoa học. Chế tài này không chỉ đặt trên trách nhiệm của nhà nghiên cứu, mà quan trọng hơn, là những kẻ bao che những vi phạm đạo đức trong khoa học./.  Ý kiến của bạn?  ———–  [1]  Mật phí là cách gọi một loại ngân khoản dùng riêng trong quốc phòng và an ninh, không chịu bất kỳ sự giám sát nào của hệ thống tài chính nhà nước.  [2]  Volga là loại xe do Liên Xô sản xuất, dành cho các vị lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên.       Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tố cáo xâm hại tình dục: Áp lực phẩm giá và kẽ hở luật pháp      Để có thể tố cáo đến cùng sự việc, phụ nữ phải đối diện với quá nhiều xiềng xích, gồm các định kiến đổ lỗi, quan niệm về trinh tiết, bổn phận của phụ nữ trong việc giữ gìn phẩm giá cho chính mình, gia đình, dòng họ…    Ảnh minh họa: Newyorker  Vụ việc nhà thơ Dạ Thảo Phương công khai tố cáo một đồng nghiệp nam quấy rối và cưỡng hiếp cô từ cách đây 23 năm đã gây xôn xao dư luận với câu hỏi: Vì sao cô không tố cáo ngay tại thời điểm xảy ra sự việc mà tới bây giờ mới công khai? – ở thời điểm đã hết thời hạn tố tụng hình sự.  Ở Việt Nam, chủ đề xâm phạm tình dục ít được thảo luận, thậm chí còn coi là cấm kỵ với các gia đình nạn nhân và cộng đồng. Cách đây ba năm, Phạm Lịch là một trong những người hiếm hoi tố cáo bị quấy rối tình dục. “Tôi chia sẻ với mẹ câu chuyện này. Mẹ quyết liệt không ủng hộ tôi nói ra và năn nỉ hãy bỏ qua đi”, cô kể lại trên báo chí phản ứng của mẹ khi bà không muốn thấy con gái chịu áp lực bủa vây khi thông tin tố cáo bung ra. Năm 2017, một cháu bé 13 tuổi ở Cà Mau tố cáo hàng xóm xâm hại nhưng kết quả điều tra lại kết luận kẻ biến thái vô tội, dẫn đến việc cháu bị mang tiếng với xóm làng đến mức uất ức uống thuốc sâu tự vẫn. Năm 2015, một cháu gái 15 tuổi ở Đồng Nai đã phải uống thuốc sâu tự tử khi bạn trai tung clip nhạy cảm của cháu lên mạng. Điều đáng nói, bạn trai cháu 22 tuổi đã phạm luật, dù quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên lại bị cộng đồng bêu rếu.  Có một điểm chung giữa những câu chuyện tiêu biểu được nêu lên báo chí là dễ bị chìm vào quên lãng và chính nạn nhân tố cáo mới là người cảm thấy bị nhục nhã tới mức phải tự tử, gia đình phải chịu áp lực, không muốn hoặc không thể tố cáo thủ phạm. Những vụ việc nghiêm trọng đó vẫn còn chưa phản ánh được một sự thật khác: phần lớn nạn nhân bị xâm hại tình dục thường giữ kín câu chuyện của mình trong “hộp đen”. Tình trạng tương tự cũng xảy ra trên thế giới: có những thống kê cho thấy, hơn 90% những nạn nhân bị hiếp dâm hoặc quấy rối sẽ không tố cáo.  Khả năng nhận thức, áp dụng pháp luật của cán bộ tiếp nhận tố cáo của nạn nhân xâm hại tình dục sẽ chi phối rất lớn đến sự tương tác giữa các cán bộ tiếp nhận và người trình báo vụ việc.  Có lẽ, chúng ta sẽ không bao giờ biết chính xác nạn nhân bị xâm hại tình dục ở Việt Nam là bao nhiêu nhưng một số khảo sát như một nghiên cứu vào năm 2015 tại Việt Nam của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hợp tác cùng Navigos Search l cho thấy, 17% số người được hỏi trong nhóm ứng viên nhân sự cấp trung cho biết chính họ hoặc người quen đã từng bị cấp trên đưa ra những đề nghị liên quan đến tình dục để đổi lấy các lợi ích công việc. “Phần lớn các nạn nhân của quấy rối tình dục tại nơi làm việc là lao động nữ tuổi từ 18 đến 30. Tuy nhiên, các yếu tố văn hóa và nỗi sợ bị mất việc khiến nhiều nạn nhân không trình báo sự việc”, theo một nghiên cứu do Bộ LĐTBXH thực hiện với sự hỗ trợ của ILO trong năm 2012. Như thế, hàng chục nghìn trường hợp được đưa ra xét xử ở Việt Nam trong vòng năm năm qua có lẽ mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.  Đơn giản là vì tố cáo, công khai thông tin đồng nghĩa với việc nạn nhân phải tự bước vào một đoạn trường…  Không muốn, không thể, không được  Khi nhận được câu hỏi của phóng viên Tia Sáng vì sao người bị hại thường không theo đuổi tố cáo vụ việc đến cùng thì PGS.TS Nguyễn Thu Hương, Khoa Nhân học, Đại học KHXHNV, ĐHQGHN, người đã nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ về xâm hại tình dục đối với phụ nữ tại Đại học Amsterdam, Hà Lan trả lời “các nạn nhân thường 1) không muốn; 2) không thể; và 3) không được”.  Bước đầu tiên, nạn nhân sẽ chỉ được pháp luật coi là ‘người bị hại’ nếu được cơ quan tiến hành tố tụng thừa nhận là người tham gia tố tụng – nghĩa là nạn nhân sẽ phải chứng minh được ‘bị thiệt hại’ với cơ quan tiến hành tố tụng. Cùng lúc, nạn nhân sẽ phải chứng minh được ‘bị thiệt hại’ về sức khỏe thể chất, tinh thần, tình dục với tỷ lệ thương tật cơ thể, sang chấn tâm lý… , nghĩa là cần có giám định pháp y tại cơ sở có thẩm quyền. Và thêm một loạt các thủ tục giấy tờ giới thiệu, chuyển gửi giữa các bên liên quan (công an, y tế, pháp y…) nhưng phải hết sức nhanh chóng vì càng để lâu càng khó chứng minh tổn thương, thậm chí mất hết bằng chứng vật chất trên cơ thể nạn nhân.  Trong khi đó bước tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm lại thường diễn ra tại trụ sở công an xã/phường hoặc có thể là các trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp khác. “Thế nên sẽ rất hên xui”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hương cho biết “tùy thuộc trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm và nhận thức của cán bộ tiếp nhận sẽ tác động đến mức độ thông tin về vụ việc có được ghi nhận chính xác, kịp thời và đầy đủ đến đâu, cũng như thái độ, ứng xử của cán bộ phụ trách tiếp nhận với người trình báo (nạn nhân, người nhà, bạn bè… của nạn nhân) hoặc qua các kênh thông tin khác”. Ở bước này, cũng là lúc các vấn đề về quy định, khái niệm luật (các yếu tố định tội, định khung xử án…) và khả năng nhận thức, áp dụng pháp luật của cán bộ tiếp nhận tố cáo sẽ chi phối rất lớn đến sự tương tác giữa các cán bộ tiếp nhận và người trình báo vụ việc.  Phong trào #Metoo đã giúp nhiều phụ nữ vững tâm khi tố cáo thủ phạm.   Đây cũng là lúc mà các quan niệm, định kiến, những cách hiểu sai lệch kiểu ‘dán mác’ về hiếp dâm, nạn nhân hiếp dâm, thái độ đổ lỗi.. thường thấy trong xã hội sẽ chi phối hành vi, phản ứng của cán bộ phụ trách tiếp nhận. Với những vụ việc mà thông tin đã đăng tải/phổ biến trong dư luận xã hội, thì cả nạn nhân, người thân của họ, cán bộ tiếp nhận đều chịu tác động từ kênh dư luận trong suốt quá trình/từng bước thủ tục.  Sơ sơ như vậy, mới chỉ xem xét các giai đoạn ban đầu (chưa nói đến đi vào quy trình tố tụng hình sự) để đưa vụ việc ra ánh sáng pháp luật, qua một phép cộng nho nhỏ thôi đã thấy xu hướng giải quyết các vụ án xâm hại tình dục hiện vẫn đang thiên về đặt trách nhiệm lên nạn nhân: sẽ phải chứng minh ‘bị thiệt hại’; chứng minh ‘là trái ý muốn’ và buộc phải có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Cũng kể từ đây người tố cáo bước vào một quá trình dài giằng xé giữa công khai theo đuổi chứng minh thiệt hại trước pháp luật và áp lực từ cộng đồng xã hội, văn hóa truyền thống, sẽ tác động đến tâm lý, lựa chọn của nạn nhân: có muốn tiếp tục đeo đuổi nữa hay không?  Việc có muốn tiếp tục theo đuổi là yếu tố quan trọng có tính bước ngoặt trong toàn bộ quá trình còn lại, vì đây là tội “buộc phải có đơn tố cáo của người bị hại thì mới khởi tố vụ án và điều tra”, TS. Trần Kiên, Khoa Luật, ĐHQGHN, cho biết. Đây chính là kẽ hở của luật pháp, có thể bị thủ phạm lợi dụng và tạo ra một vùng xám: Nếu nạn nhân vì bất kỳ một lý do, áp lực nào phải rút đơn thì thủ phạm sẽ hoàn toàn vô tội trước pháp luật, vụ án bị hủy, không thể khởi tố.  Giả sử, cá nhân đó ‘qua’ được bước kiểm tra, xác minh ban đầu, đi tiếp vào giai đoạn sau thì sẽ tiếp tục đối mặt các vấn đề bất cập khác về quy định pháp luật tại từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. “Theo quan sát nghiên cứu của mình, thì việc cá nhân đưa ra lựa chọn sẽ phụ thuộc rất lớn vào sự cân nhắc, nâng lên đặt xuống rất nhiều của cá nhân đó. Về mặt chủ quan, họ có đủ hiểu biết về luật pháp, có khả năng về mặt chủ quan như tính cách, thói quen kiểm soát cảm xúc như thế nào bởi nạn nhân sẽ phải đối diện với các dấu hiệu rối loạn stress/sang chấn tâm lý hậu chấn thương, điều kiện tài chính hay không. Và hoàn cảnh khách quan là yếu tố vô cùng quan trọng, như quan ngại về các nguy cơ, rủi ro cho bản thân, cho gia đình, người thân, đồng nghiệp nếu họ trình báo và tiếp tục theo đuổi – những yếu tố này đóng vai trò rất lớn trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hương cho biết.  Thế nên đa số nạn nhân đã không trình báo với cơ quan chức năng. Vào những năm 2000, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hương đã tiến hành một nghiên cứu công phu để đi tìm những nạn nhân không lên tiếng. Để tìm ra những nạn nhân, chị đã phát khoảng 50 nghìn tờ rơi ở Hà Nội nhằm tìm kiếm nạn nhân và nghiên cứu sâu về 23 trường hợp để tìm hiểu những khó khăn mà họ vấp phải trong quá trình dài đi tìm công lý cho mình.  Có lẽ không có nạn nhân của một loại tội phạm nào lại phải mang ám ảnh tội lỗi thuộc về mình như nạn nhân quấy rối tình dục, hiếp dâm. Mặc cảm ấy xuất phát từ chính họ và từ cái nhìn của cộng đồng trong một truyền thống văn hóa coi trọng trinh tiết, phẩm giá gia đình dòng tộc.  Giằng xé giữa mặc cảm “tội lỗi” và “bổn phận”  Nghiên cứu của chị Thu Hương cho thấy, trải nghiệm khi bước vào đoạn trường tố cáo không chỉ thuộc về những nạn nhân, mà liên quan đến “danh dự gia đình”, vì trong văn hóa Việt Nam, việc người phụ nữ bị “vấy bẩn” sẽ ảnh hưởng tới bộ mặt gia đình, dòng họ. Truyền thống Nho giáo, áp lực danh dự gia đình dòng họ thường khiến gia đình nạn nhân phải rơi vào trạng thái “cân nhắc” tính toán thiệt hơn, thậm chí trải qua quá trình thương lượng với gia đình thủ phạm để vụ việc không loang rộng, để bảo toàn danh dự cho con gái và gia đình. Nếu nạn nhân và gia đình không bước qua được vòng trong danh dự để tố cáo thì khi đó, những sự việc và cả nạn nhân sẽ mãi mãi ở lại trong vùng tối.  Với trường hợp của Dạ Thảo Phương hay Phạm Lịch, dù dũng cảm đã tố cáo, nhưng tất cả đều chỉ dừng lại ở biên bản làm việc giữa các bên liên quan, sau đó chìm dần vào quên lãng và không còn đủ bằng chứng để kết tội nữa. Thật trớ trêu, nạn nhân phải hứng đủ làn sóng chỉ trích, bêu riếu từ cộng đồng về tư cách đạo đức, phẩm hạnh của mình. Có lẽ không có nạn nhân của một loại tội phạm nào lại phải mang ám ảnh tội lỗi thuộc về mình như nạn nhân quấy rối tình dục, hiếp dâm. Mặc cảm ấy xuất phát từ chính họ và từ cái nhìn của cộng đồng trong một truyền thống văn hóa coi trọng trinh tiết, phẩm giá gia đình dòng tộc. Nghiên cứu “Tình dục, chuyện dễ đùa khó nói” của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội cho thấy “sự ám ảnh của trinh tiết”, trinh tiết như là một chỉ dấu về chất lượng của phụ nữ. Ngay cả khi đã làm vợ, làm mẹ thì phụ nữ vẫn có bổn phận phải hành xử đúng mực, phải có trách nhiệm giữ gìn phẩm giá gia đình cho cả chính mình và con cái.  Áp lực này khiến cho chính nạn nhân luôn cảm thấy mang nặng tội lỗi với gia đình. Những người bà, người mẹ của nạn nhân cũng thường phải trải qua quá trình “thương thảo”, rất cân nhắc đến phẩm giá của con mình và của cả dòng họ. Trong công bố của mình, chị Thu Hương đã ghi chép lại có những gia đình thủ phạm đã thương lượng – vừa van vỉ vừa dọa nạt gia đình người bị hại “chị ơi, làm ơn nhắm mắt cho qua để chúng tôi còn sống với. Nếu chị kiện con trai tôi ra tòa thì cháu sẽ bị kết án không quá ba năm, còn con chị sẽ khó mà lấy được chồng”.  Mặc dù nạn nhân của quấy rối, cưỡng bức thường bị sang chấn tâm lý, có nhu cầu được chia sẻ, được hỗ trợ về tâm lý bởi đã có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy các hệ lụy và nguy cơ về sức khỏe thể chất, tinh thần, tình dục trước mắt và lâu dài mà nạn nhân phải chịu nhưng hiện nay Việt Nam chưa có quy trình hỗ trợ nạn nhân bị xâm hại tình dục, chưa có nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân. Thay vì họ được tiếp cận với cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm (victim-centered approach) để hỗ trợ thì ngược lại, nhiều người tìm đến các cơ sở cung cấp dịch vụ lại bị nghi ngờ, đổ lỗi. “Trong cuộc nghiên cứu về quấy rối tình dục mà tôi thực hiện năm 1999, các nạn nhân của quấy rối tình dục ở mọi độ tuổi, bất kể hình thức của họ ra sao nhưng phản ứng của người thân và cộng đồng có thể khiến nạn nhân giấu kín”, TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội cho biết. Nữ sinh có thể bị quấy rối bởi bạn bè, thầy giáo hoặc những kẻ xa lạ nhưng phản ứng của cha mẹ khi nghe con gái kể lại thường là mắng mỏ, chất vấn hoặc cấm đoán. Phụ nữ trưởng thành có thể bị quấy rối bởi đồng nghiệp, sếp, đối tác và cả những người không quen biết, ở văn phòng, công sở, nhà máy, bãi gửi xe, nhà vệ sinh công cộng… nhưng hầu như nạn nhân không được thông cảm, giúp đỡ bởi bất kỳ ai. “Nhiều người đã tự nhủ ‘sống để bụng, chết mang theo’, vì họ sợ hãi, vì xấu hổ, vì sợ hậu quả, … và nhiều khi họ sợ những người không quấy rối nhiều hơn là kẻ quấy rối. Sự nghi ngờ, đổ lỗi, lên án, cô lập là điều mà các nạn nhân sợ nhất”, TS. Khuất Thu Hồng nói. “Nghi ngờ, đổ lỗi cho nạn nhân đã quy giản mọi trách nhiệm về cho nạn nhân, lờ đi trách nhiệm, tội lỗi của thủ phạm, dung túng cho nạn bạo lực tình dục với phụ nữ, bạo hành tập thể về mặt tinh thần với nạn nhân và ngăn chặn nạn nhân đi tìm công lý”.  Như thế, việc phụ nữ đấu tranh, tố cáo nạn quấy rối tình dục hay hiếp dâm vô hình trung đòi hỏi họ phải thực sự dũng cảm, dám chấp nhận hệ thống các quan niệm về phẩm giá, chấp nhận bị nghi ngờ, chỉ trích và cô lập, và họ phải tự bơi vượt qua các rào cản sang chấn. Chúng ta thực sự còn chưa biết đã có bao nhiêu nạn nhân của quấy rối, hiếp dâm trong cộng đồng. Một vài khảo sát gần đay, đơn cử như nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội cùng ActionAid cho thấy 60% thanh thiếu niên từng bị quấy rối ít nhất một lần trong đời nhưng có tới 25% các em chưa kể với bất kỳ ai. Điều này cảnh báo cho chúng ta thấy có lẽ nạn nhân thực sự còn nhiều hơn chúng ta tưởng.  Thực tế, ở nhiều nước trên thế giới, việc cố cáo tội phạm tình dục vẫn là điều rất khó khăn, phải tới một mốc lớn vào năm 2017, khi phong trào #Metoo ra đời, đồng loạt phụ nữ nổi tiếng cùng lên tiếng tố cáo nạn quấy rối thì nhiều phụ nữ mới cảm thấy an toàn khi bước ra kể lại sự việc. Một số lượng lớn phụ nữ công khai, thuộc đủ mọi tầng lớp, địa vị, ngành nghề xã hội cùng chia sẻ những trải nghiệm của mình về việc đã bị xâm hại hay quấy rối tình dục, đã tạo nên một không khí đầy cảm thông khiến những người phụ nữ khác dám cất lên tiếng nói chia sẻ về những chuyện họ đã phải trải qua khi rơi vào những tình thế tương tự. Phải có một phong trào như vậy, phụ nữ mới có thể cảm thấy an toàn khi nói về những gì mình đã trải qua, không những thế, còn nhận được sự khuyến khích ủng hộ hãy làm việc ấy.  Phong trào #MeToo thúc đẩy chính phủ các nước chỉnh sửa và ban hành những bộ luật mới hướng đến bảo vệ phụ nữ. Không chỉ thế, phong trào #MeToo đã mở đường cho những cuộc tranh luận và đối thoại về việc dựa vào những yếu tố nào để xác định đâu là hành vi xâm hại, quấy rối hay đồng thuận, từ đó đặt lại những câu hỏi về các vấn đề tưởng chừng đã bị chôn vùi. Ở Việt Nam, cũng đã tới lúc đặt lại các câu hỏi về kẽ hở của luật pháp khiến nạn nhân có thể bị kẹt ở lại trong vùng xám. Quan trọng hơn, đã tới lúc cộng đồng nhìn nhận lại những đòi hỏi về bổn phận của phụ nữ, thảo luận nghiêm túc về văn hóa đổ lỗi cho nạn nhân. □    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Tòa án độc lập và các cơ chế hiến định cần có      Toà án độc lập giữ vai trò quan trọng trong  việc kiểm soát lạm quyền bởi lập pháp và hành pháp. Nhưng toà án chỉ có  thể thực hiện tốt vai trò này khi Hiến pháp bảo vệ tòa án bằng cách minh  định các bảo đảm và sự độc lập cần thiết, để toà án có thể đối trọng  với các ngành khác trong chính quyền và bảo vệ các quyền con người một  cách hữu hiệu.     Toà án là cơ chế quan trọng để bảo đảm việc thực thi Hiến Pháp  Một quốc gia có thể có một bản hiến pháp với những lời lẽ thật hoa mỹ mà không có tác dụng gì trong thực tế, nếu không có cơ chế thi hành bản Hiến pháp đó. Mọi chính quyền – ngay cả các chính quyền tốt và dân chủ – đôi khi cũng vi phạm hiến pháp. Đặc biệt, quyền con người rất dễ bị tổn thương, bởi vì cả lập pháp lẫn hành pháp đều có lợi khi vi phạm quyền của một cá nhân nào đó. Lập pháp hay hành pháp vi phạm quyền con người có thể do thiếu hiểu biết (họ không ý thức được họ đang vi phạm quyền) hoặc vì lo sợ (trong tình trạng khẩn cấp quốc gia, khi sự lo âu hoảng hốt dâng cao), hoặc chỉ vì họ cho rằng có những mục tiêu quan trọng hơn là quyền con người (như lợi ích của chính họ hay nguyện vọng của các cử tri của họ). Trong các trường hợp như vậy, hiến pháp cần minh định một cơ quan độc lập có quyền và trách nhiệm thực thi hiến pháp, trong đó có việc thực thi các điều khoản nhân quyền. Tòa án có thể không phải là cơ chế thi hành hiến pháp duy nhất (và thực sự, có thêm các cơ chế khác như văn phòng kiểm tra đặc biệt, tương tự như mô hình Ombudsman của Đan Mạch, là một ý kiến hay). Nhưng toà án là một cơ quan bảo hiến quan trọng.    Toà án phải độc lập với mọi ngành khác trong chính quyền  Toà án phải giữ vai trò giám sát thường xuyên và xông pha trong thực thi hiến pháp: Toà án phải “canh giữ” Hiến pháp khỏi những lạm dụng bởi chính quyền. Để hoàn thành vai trò đó một cách hữu hiệu, toà án phải độc lập với mọi ngành khác trong chính quyền. Nếu thẩm phán chịu sự chi phối của quyền hành pháp hoặc lập pháp – ví dụ như có thể bị Chủ tịch nước tuỳ nghi bãi nhiệm, hoặc bị trừ lương bởi quyết định của ngành Lập pháp – thì họ sẽ  không thể đương đầu kháng cự những vi phạm Hiến pháp của các cơ quan đó. Chỉ khi nào ngành Tòa án được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng và kiểm soát bởi các ngành khác trong chính quyền, Tòa án mới có thể trở thành cơ quan bảo vệ Hiến pháp hữu hiệu.  Tòa án cần một số cơ chế bảo vệ đặc biệt  Để thật sự độc lập với các ngành khác của chính quyền, toà án và các thẩm phán cần một số cơ chế bảo vệ đặc biệt.   1. Các thẩm phán phải được bổ nhiệm qua một thủ tục hạn chế việc các chính trị gia có thể cài những người thân cận, như bạn bè hoặc thân hữu hoặc cử tri, vào tòa án. Mục đích là để đảm bảo các thẩm phán được bổ nhiệm do trình độ và khả năng, cũng như do tinh thần trách nhiệm và ý thức đạo đức nghề nghiệp của họ. Để đạt được điều này, một trong những cách tốt nhất là đề ra thủ tục bổ nhiệm trong đó nghiệp đoàn độc lập của giới luật sư, hay luật sư đoàn, chịu trách nhiệm đưa ra một danh sách các ứng viên cho các vị trí thẩm phán. Các nghiệp đoàn này tất nhiên phải độc lập với chính quyền. Chỉ khi nào có sự độc lập đó, họ mới có thể có động lực kiến tạo và giữ gìn các tiêu chuẩn khắt khe về khả năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, để có thể nâng cao uy tín cho ngành nghề của họ. Các ứng viên vào vị trí thẩm phán phải là những người có uy tín trong ngành luật vì sự hiểu biết và khả năng phán xét của họ. Khi có vị trí thẩm phán nào cần bổ nhiệm, ngành hành pháp phải chọn một trong các ứng viên trong danh sách đó. Ngoài ra, một hội đồng các thẩm phán đương nhiệm cũng có thể tự lập ra một danh sách các ứng viên tương tự cho các vị trí thẩm phán cần bổ nhiệm trong tương lai.   2. Các thẩm phán, một khi đã được bổ nhiệm, phải được bảo đảm nhiệm kỳ làm việc lâu dài. Nhiệm kỳ này có thể là suốt đời hoặc một thời gian nhất định nào đó, nhưng thời gian đó phải đủ dài (từ 10 đến 20 năm có thể là một lựa chọn) để các thẩm phán có thể trau dồi kỹ năng chuyên môn mà không phải lo âu về việc làm trong tương lai trong khoảng thời gian đủ dài đó. Nhiệm kỳ của họ cũng có thể được tính theo tuổi của thẩm phán, ví dụ, nhiệm kỳ của một thẩm phán có thể kéo dài đến tuổi 70. Điều quan trọng là vị trí thẩm phán được bảo đảm trong một khoảng thời gian cụ thể và đủ dài, để các thẩm phán yên tâm làm việc. Thêm vào đó, Hiến Pháp cần bảo đảm rằng một khi đã được bổ nhiệm, một thẩm phán không bị bãi nhiệm trước khi nhiệm kỳ kết thúc, trừ khi có bằng chứng thẩm phán đó đã có những vi phạm đạo đức nghề nghiệp nghiêm trọng. Tiêu chuẩn và thủ tục bãi nhiệm cũng phải được quy định rõ ràng trong Hiến pháp (ví dụ, ai quyết định tiêu chuẩn bãi nhiệm đã hội đủ: tòa án cấp cao hơn hay ngành lập pháp?). Mục đích là để công việc của thẩm phán được bảo đảm ổn định trong thời gian tại chức, và thẩm phán không thể bị mất việc trừ phi có những sai phạm nghiêm trọng. Có như vậy các thẩm phán mới có thể đưa ra các phán quyết mà không sợ bị buộc cách chức vì các phán quyết đó.  3. Lương của thẩm phán trong thời gian tại chức cũng phải được bảo đảm. Lập pháp hay hành pháp chỉ được quyền thay đổi mức lương dành cho thẩm phán với hai điều kiện: (1) các thay đổi, nếu có, sẽ được áp dụng đồng bộ (tức là chúng được áp dụng cho tất cả các thẩm phán cùng cấp, chứ không chỉ riêng cho cá nhân nào); và (2) các thay đổi không được hồi tố (tức là chúng chỉ áp dụng cho những thẩm phán được bổ nhiệm sau đó vào các vị trí liên quan, chứ không áp dụng cho những thẩm phán đang tại vị). Đây là hình thức bảo vệ các thẩm phán, để các cơ quan chính trị không thể trả thù cá nhân một thẩm phán vì một phán quyết họ không thích, bằng cách cắt giảm lương của thẩm phán đó.   4. Ngành Tòa án cần nắm quyền kiểm soát các công việc hành chính nội bộ của ngành mình. Các công việc điều hành nội bộ có thể gồm có việc cử các thẩm phán nào xét xử vụ án nào, số tiền dành cho quản trị ngành được chi tiêu như thế nào, nhân viên hành chính được tuyển dụng hay sa thải ra sao, v.v. Nếu bên lập pháp hoặc hành pháp có thể can dự vào những vấn đề điều hành chi tiết như vậy, họ có thể gây nhiều khó khăn cho các thẩm phán mà họ không ưa. Qua sự can dự hành chính đó, họ cũng có thể gây ảnh hưởng lên các phán quyết của thẩm phán thông qua việc điều khiển nhân sự và phân bổ công việc của toà án. Ví dụ, các thẩm phán thường tuyển dụng phụ tá pháp lý. Nếu hành pháp có thể quyết định ai sẽ được tuyển vào các vị trí phụ tá để giúp trong việc nghiên cứu pháp lý và soạn thảo phán quyết, họ có thể chọn những người tìm cách thúc đẩy nghị trình lập pháp (thay vì đề cao án lệ và công lý trong từng vụ án cụ thể), và có thể gây ảnh hưởng lên kết quả phán xử của các vụ án.  Chỉ khi toàn quyền điều hành các công việc nội bộ, tòa án mới có thể thực sự độc lập với các ngành khác trong chính quyền.   Trần Duy Nguyên và Nguyễn Thị Hường (dịch)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tòa án phải độc lập xét xử      Trong buổi làm việc với Tòa án nhân dân tối cao gần đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã yêu cầu Tòa án phải độc lập khi xét xử và khẳng định các cơ quan, cũng như những nhà lãnh đạo cấp cao không can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án.  Vấn đề đặt ra là, cần phải làm những gì để cam kết chính trị đó của Chủ tịch nước trở thành hiện thực trong công cuộc xây dựng Nhà nước Pháp quyền.         Một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó không thể thiếu được một nền tư pháp độc lập bởi lẽ tính tối thượng của pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi có các vị quan tòa áp dụng pháp luật một cách độc lập. Độc lập xét xử cùng có ý nghĩa rất quan trọng để bảo đảm một môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế phán xét độc lập, vô tư và khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi những người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là điều rất quan trọng để bảo đảm sự thành công của việc phòng và chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án.     Thông điệp của vị lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước chắc chắn sẽ gợi mở những suy nghĩ nghiêm túc: làm thế nào để bảo đảm sự độc lập xét xử trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Những bước đi mạnh mẽ trong việc cải thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế liên quan đến độc lập xét xử là điều quan trọng để bảo đảm thực thi nguyên tắc hiến định và cam kết chính trị này.  Trước hết, để bảo đảm độc lập xét xử thì cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm cho sự độc lập của ngành tòa án. Hay nói cách khác, sẽ khó có thể tránh khỏi sự can thiệp từ các thiết chế quyền lực ngoài ngành Tòa án nếu như họ có quyền ảnh hưởng lớn đến việc quyết định ngân sách và cung cấp các cơ sở vật chất duy trì hoạt động của Tòa án. Mặt khác, nếu việc phân bổ ngân sách cho Tòa án cấp dưới còn lệ thuộc vào Tòa án cấp trên như hiện nay cũng khó có thể bảo đảm sự độc lập của Tòa án cấp dưới với Tòa án cấp trên. Nhiều nước trên thế giới đã quy định một tỷ lệ phần trăm nhất định của ngân sách quốc gia, địa phương đương nhiên phải “cắt” cho hoạt động của Tòa án để bảo đảm rằng Tòa án không phải phụ thuộc vào các cơ quan bên ngoài cũng như của Tòa án cấp trên.   Điều quan trọng hơn cả là phải có được một cơ chế để bảo đảm sự độc lập của từng cá nhân thẩm phán trước sự tác động trong nội bộ cũng như ngoài cơ quan tòa án. Phải thừa nhận rằng hiện nay chúng ta vẫn coi Tòa án như một cơ quan hành chính và người thẩm phán như là một công chức trong hệ thống hành chính. Phải thay đổi nhận thức theo hướng thừa nhận vị trí đặc biệt của Tòa án và của người thẩm phán. Từ đó mới có thể thay đổi được một loạt các yếu tố bảo đảm sự độc lập của cá nhân thẩm phán, ví dụ: quan niệm về mối quan hệ “trên – dưới” giữa lãnh đạo Tòa và người thẩm phán, giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên và giữa những người thẩm phán đồng nghiệp cũng như việc áp dụng chế độ đãi ngộ lương và các điều kiện vật chất khác đối với Thẩm phán…  Với cơ chế hiện nay, người thẩm phán khó có thể có đủ bản lĩnh để độc lập. Lãnh đạo Tòa án vẫn được coi là thủ trưởng của họ trong khá nhiều mối quan hệ ‘ngoài tố tụng”. Vẫn còn phổ biến việc áp dụng những quy tắc “bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án, duyệt án… cho dù việc đó được “núp” sau sự biện hộ chỉ là sự “tham khảo” về chuyên môn nhưng người thẩm phán khó mà không tuân thủ vì “số phận” của họ phụ thuộc khá nhiều vào những người cho ý kiến đó. Đó là chưa nói đến việc nếu vị Chánh án của Tòa không vô tư và khách quan? Ngay việc phân công xét xử cũng do lãnh đạo Tòa quyết định cũng là một việc cần xem xét lại khi đại đa số các nền tư pháp khác áp dụng chế độ phân công án một cách ngẫu nhiên để tránh những “những đường dây chạy án.”   Cơ chế bổ nhiệm và nhiệm kỳ thẩm phán hiện nay cũng cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Quy trình tuyển chọn và bổ nhiệm, tái nhiệm của thẩm phán hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào lãnh đạo của Tòa án nơi thư ký, thẩm tra viên và người thẩm phán công tác và của Tòa án cấp trên. Việc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm toàn bộ thẩm phán địa phương cũng nên cân nhắc lại. Ý kiến cho rằng việc bổ nhiệm thẩm phán địa phương bởi Chủ tịch Nước theo quy định trước đây mang tính “hình thức” nên được nhìn nhận lại từ khía cạnh bảo đảm độc lập của cá nhân người thẩm phán, đó là chưa nói đến việc người thẩm phán nhân danh đất nước khi ra phán quyết. Không phải không có lý khi nhiều quốc gia quy định việc bổ nhiệm thẩm phán phải được thông qua bởi cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí của dân. Nhiệm kỳ thẩm phán cũng không nằm ngoài những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm độc lập xét xử. Rõ ràng rằng cứ năm năm một lần lo tái bổ nhiệm sẽ khó có thể làm an lòng người thẩm phán. Liệu họ có đủ bản lĩnh trước những ý kiến dù rất tế nhị của lãnh đạo, của những người có quyền tái bổ nhiệm họ?  Không kém phần quan trọng là chế độ đãi ngộ vật chất đối với thẩm phán. Với điều kiện đất nước còn chưa giàu, dù khó có thể có thể so sánh như Singapore với mức lương thẩm phán vài trăm ngàn USD một tháng nhưng với mức lương vài triệu đồng hiện nay của các vị thẩm phán nước nhà thì đó không chỉ còn là sự ưu tư của riêng họ nữa. Xã hội cần đầu tư cho họ bởi lẽ đó là sự đầu tư công khai và minh bạch cho việc duy trì nền công lý thay vì những “đầu tư ngầm” bởi đương sự cho một số cá nhân thẩm phán hiện nay.  Tuy nhiên, sẽ là chưa đủ nếu không nói đến những cơ chế giám sát hữu hiệu vừa bảo đảm độc lập xét xử vừa tăng cường tính chịu trách nhiệm của người thẩm phán, bao gồm cả những quy định về kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán khi họ lạm dụng quyền lực của mình. Quá nhiều “trách nhiệm” sẽ có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của người thẩm phán. Việc quy định trách nhiệm bồi hoàn về vật chất của thẩm phán khi xét xử oan sai cho dù nhằm tăng cường trách nhiệm của thẩm phán, nhưng điều đó hoàn toàn có khả năng dẫn đến việc người thẩm phán sẽ ‘san sẻ’ trách nhiệm với tập thể thông qua việc duyệt án, thỉnh thị án, hoặc việc Tòa án cấp trên ngại ngần khi cải sửa án của Tòa án cấp dưới. Bất kỳ việc tạo nên sự “lo ngại” không cần thiết của Tòa án cấp dưới, của Thẩm phán, kể cả việc lo ngại về “thành tích” cũng đều có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán. Thiết nghĩ, những sự quan ngại về trách nhiệm của Thẩm phán sẽ bớt đi khi chúng ta có một cơ chế nâng được vị thế, hình ảnh và sự thừa nhận của người thẩm phán, kể cả những yếu tố vật chất, bởi lẽ khi đó người thẩm phán sẽ phải cân nhắc rất thận trọng trước khi đánh đổi những gì mình đang có vì những lợi ích trước mắt.       Như vậy, với thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng của vị Chủ tịch nước và cũng là Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp thì vấn đề còn lại là việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện những bước đi chiến lược, tổng thể, quyết liệt và mạnh mẽ để bảo đảm nguyên tắc hiến định về độc lập xét xử. Con đường còn dài, nhưng có lẽ nên bắt đầu từ việc nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề ta đang ở đâu trong việc tôn trọng nguyên tắc này, những rào cản hữu hình hay vô hình nào, nếu có, đang cản trở con đường đi tìm công lý một cách độc lập?  ———–  * Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hiện đang công tác tại Văn phòng Luật sư YKVN của Việt Nam.         Lưu Tiến Dũng*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tọa đàm về Kỷ nguyên Park Chung Hee      Buổi tọa đàm về vai trò của Park Chung Hee,  một nhà lãnh đạo mang rất nhiều tiếng xấu nhưng đồng thời cũng sở hữu những  phẩm chất quí báu, đối với quá trình phát triển thần kỳ  của Hàn Quốc, sẽ được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của các diễn  giả Hàn Quốc và Việt Nam.      Buổi tọa đàm được tổ chức nhân dịp cuốn sách “Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc” của hai tác giả Kim Byung-Kook và Erza F. Vogel ra mắt bản tiếng Việt. Đây là cuốn sách làm sáng tỏ cách Hàn Quốc trở thành một cường quốc kinh tế mạnh mẽ với một nền dân chủ sôi động dưới chế độ độc tài kéo dài trong 18 năm của kỷ nguyên Park Chung Hee.  Tại tọa đàm, TS Jae Hoon Rhee, Giáo sư Trường Nghiên cứu lãnh đạo Park Chung Hee và Saemaul kiêm Chủ tịch Hiệp hội Khu công nghiệp cao Hàn Quốc; ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; ông Nguyễn Cảnh Bình, Giám đốc VICC kiêm Chủ tịch HĐQT Alpha Books sẽ cùng nhau phân tích trường hợp của Nam Triều Tiên (Hàn Quốc hiện tại) giai đoạn những năm 1960, vì sao từ một quốc gia vừa trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt với dân số thưa thớt, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn dưới sự lãnh đạo của Park Chung Hee lại có thể trở thành một cường quốc, một con hổ Châu Á với hàng loạt các doanh nghiệp đẳng cấp toàn cầu, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và công nghiệp hóa nhanh chóng.    Park Chung Hee là tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: từ tháng 12 năm 1963 đến khi bị ám sát vào ngày 26 tháng 10 năm 1979. Tên tuổi Park Chung Hee gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Park Chung Hee, Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước, mà đã vươn lên trở thành một nền kinh tế công nghiệp mạnh mẽ, một trong những con hổ của châu Á.      Park Chung Hee là một nhân vật gây ra nhiều tranh cãi ngay tại chính đất nước Hàn Quốc cũng như trên các diễn đàn quốc tế. Với tham vọng quyền lực to lớn, ông quyết tâm xây dựng một nền chính trị độc tài, phản dân chủ, nhiều đồng chí bị ông phản bội, “chia để trị” là một trong những biện pháp được ông ưa dùng. Nhưng đồng thời, ông cũng sở hữu những phẩm chất quí báu của một nhà lãnh đạo như kiên định với mục tiêu bảo vệ đất nước, quyết tâm đổi mới xây dựng tổ quốc hùng mạnh, đề cao tinh thần độc lập dân tộc và chống tham nhũng, có óc sáng tạo, sẵn sàng đổi mới tư duy.    Ông nhận thức rằng không thể phát triển công nghiệp nếu không đạt được sự ổn định về chính trị, bởi vậy bất chấp việc bị chỉ trích, lên án là chính phủ độc tài, Park Chung Hee vẫn cương quyết thực hiện đường lối “Trước là công nghiệp hóa, sau là dân chủ hóa”. Kết quả là sau Thế chiến thứ hai, Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên đồng thời hoàn thành hai mục tiêu công nghiệp hóa và dân chủ hóa.    Thông tin chi tiết:    Đơn vị tổ chức: Trung tâm hợp tác trí tuệ Việt Nam VICC; Alpha Books; Tổ chức phi chính phủ Crestcom; Trường đào tạo kỹ năng lãnh đạo và quản lý trực quan; Viện Nghiên cứu phát triển bền vững vùng thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN.     Thời gian: từ 9h – 12h, thứ Năm ngày 12/11/2015.    Địa điểm: Phòng Hội thảo 3C, nhà B, Viện Hàn lâm Khoa học Xã Hội Việt Nam, số 1, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội.                Author                Quản trị        
0.2375
__label__tiasang   —————–  * PGS.TS– ĐH Kinh Tế TP.HCM      Trần Ngọc Thơ*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi đi chấm thi!      Chấm thi là gì? Trong mắt một số người, nó là một món nợ phải trả, một thứ trách nhiệm. Thôi thì “nợ áo cơm phải trả đến hình hài”. Anh là công chức, thì đó là nghĩa vụ. Với một số người khác, đó cũng là một dịp để kiếm thêm một khoản thu nhập bổ sung cho đồng lương vốn chẳng dư dật gì của nhà giáo dẫu là bậc đại học. Hai, ba tuần, làm việc cật lực, và bốn năm triệu thu nhập.         Có người đùa, vớ vẩn phải nộp thuế thu nhập đặc biệt. Và nếu như có một ai vắng mặt thì đây đó lại có tiếng xì xầm: chắc lại kiếm được việc gì khá hơn rồi! Với một số khác, thì đó lại là một dịp thi thố. Anh chấm một ngày ngót trăm bài, tôi chấm một ngày ngót hai trăm, bài anh chấm hay phải đối thoại lại, bài tôi chấm thì không. À, cũng là một thứ đẳng cấp. Những tay chấm siêu đẳng Với những người khác, đó lại là một chuyến “dân công hỏa tuyến” dài ngày. Hai, ba tuần, không ngày nghỉ, làm việc từ sáng đến tối mịt, gù lưng, đỏ mắt, nhìn, liếc, đọc, gạch, cho điểm và ký. Nội cái chuyện ký đã là một công đoạn chẳng mấy dễ chịu. Một ngày phải ký hai ba trăm trang giấy. Mà lại phải nhanh. Thế nên có người mới phải sáng tạo ra hai ba thứ chữ ký. Có thứ dành riêng cho chấm thi. Có người bảo rằng chỉ sau vài ngày chấm thi, tối đến về nhà, lên giường, ngủ rồi mà tay vẫn huơ huơ, ngoáy ngoáy, mồm lẩm bẩm và đầu thì gật gù. Năm rưỡi hay sáu phảy hai lăm? Không biết là “uy mua noa” (humour noir) hay là thật! Chỉ biết nghe cứ hao hao Nho lâm ngoại sử. Nhưng có một điều chắc chắn: với bất cứ ai còn lương tâm nghề nghiệp và một suy nghĩ độc lập trong lành thì chấm thi là một cơ hội để phản tư lại chính cái công việc mà mình được/phải tham gia.    1. Nếu cần thiết phải tìm một ví dụ cho tình trạng được định danh trong kinh tế chính trị học là đồ vật hóa – công cụ hóa con người, tình trạng mà trong phim Thời hiện đại Charlie Chaplin đã miêu tả hài hước một cách cay đắng, thì có lẽ không gì hơn là công việc chấm thi. Công việc này biến mỗi người thành một “search engine”(1) sống hoạt động trong gần hai mươi ngày. Suy cho cùng, việc chấm thi thực chất chính là công việc của một cỗ máy tìm kiếm hoạt động theo đúng nguyên lý của Google hay Altavista. Chuẩn mực của chấm thi là đáp án – một bài giải chuẩn được cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ và điểm số sẽ được chi tiết đến từng ý nhỏ. Công việc chấm thi thực chất là đối chiếu giữa bài làm của thí sinh với đáp án, từ đó, “nhặt” ra ý đúng và… cho điểm. Nói thì đơn giản vậy nhưng “ý đúng” ở đây phải bao gồm cả những luận điểm và những dẫn chứng cần thiết để bảo vệ cho các luận điểm. Trong số những dẫn chứng đó, nhiều khi thí sinh phải học thuộc cả đoạn văn xuôi nguyên tác dài(2). Và tất nhiên, cũng không có một ai học thuộc lòng toàn bộ đáp án (tất nhiên, trừ một số thầy/cô giáo làm công việc luyện thi lâu năm mà với họ những “ý chính” của mỗi bài giảng văn trở thành một thứ “cả trong mơ còn thức”). Người ta sẽ cụ thể hóa đáp án chi tiết thành một hệ thống những “key words” (từ khóa) và công việc chấm thi sẽ là tìm trong bài thi những “key words” nằm trong trường từ ngữ với những “key words” chuẩn của bộ đáp án. Người ta sẽ phải đọc rất nhanh, như một “search engine” quét tốc hành văn bản. Mà không tốc hành sao được khi mà mặc định đi chấm thi nghĩa là có một chuẩn năng suất khoảng 80 đến 100 bài thi mỗi ngày với trung bình mỗi bài thi khoảng hai tờ giấy thi. Tất nhiên, cũng có “độc đắc” là những bài bỏ trống hoàn toàn. Khi đấy người ta tự nhủ: thế là “lãi”. Mắt phải tinh và tập trung để nhanh chóng “chộp” được những từ khóa. Đấy là lý thuyết. Những tay hoặc “lão luyện”, hoặc “tinh nhuệ” trong nghề chấm, người ta có thể vừa đùa, vừa hát, vừa đọc thơ mà “scan” vẫn đảm bảo tốc độ và… chính xác. Đáp án đã đi vào tiềm thức và người ta sẽ rất nhạy, nhanh chóng “bắt đúng tần số” những ý đúng của thí sinh. Mà thực ra thì không đùa, không hát không đọc thơ sao được khi mà trong suốt hai mươi ngày trời, vẫn cái bàn ấy, vẫn căn phòng ấy, vẫn những gương mặt đồng nghiệp ấy và những bài thi dẫu cái thì biến dạng, cái thì tròn trịa, nhưng vẫn chỉ là những ý ấy. Vô cùng dễ “stress”. Từ cái “công nghệ” ấy mới đẻ ra những bi hài kịch. Những cỗ máy chấm thi theo những từ khóa. Vợ chồng A Phủ ư, phân tích nhân vật Mỵ ư? Có số phận đau khổ không? Có. Có “con dâu gạt nợ” không? Có. Có “con rùa sau xó cửa” không? Có. Có “ô cửa bé bằng bàn tay” không? Có. Có trâu ngựa nhà thống lý không? Có. Có đêm hội xuân không, có hoa thuốc phiện không, có uống rượu ừng ực từng bát, có đánh, đạp vào mặt, “chói”, có hai dòng nước mắt của A Phủ không, có cởi “chói” không? Cũng có cả. Ừ thì cho điểm. Xong. Và mỗi năm cái bảng “key words” ấy sẽ lại thay đổi. Đại loại như là Huấn cao(3) thì phải có viết chữ đẹp, tài trèo tường bẻ khóa, phải dỗ gông, phải có rệp rơi xuống, phải ăn thịt uống rượu, phải có chửi (viên quản ngục), phải có phân chuột phân gián (ở trong nhà lao), phải có cho chữ. Và sẽ có những bài thi từ đầu đến cuối không phân biệt được “l” và “n”, “tr” và “ch”, có những bài thi không biết cách tổ chức một bài văn nghị luận thành những luận đề, luận điểm, có những bài thi đầy dẫy lỗi ngữ pháp. Nhưng vẫn cứ được 7 điểm, 7 điểm rưỡi. Vì “đủ ý”.                      2. Ai đó có thể bảo tôi rằng quá bi quan hay nặng hơn nữa, là “bất mãn”, “nhìn hiện thực phiến diện”, đen tối. Nhưng cũng sẽ không ai có thể phủ nhận được rằng, tất cả những điều đó là hệ quả có thật và tất yếu của một thứ triết lý giáo dục được thể hiện trong chính đề thi. Cứ mỗi kỳ thi tuyển sinh, khi tiếng trống báo hết giờ của môn Văn điểm, khi không có bất cứ một cú điện thoại nào báo về ban chỉ đạo về những “sự cố” đề thi, khi đó những người ra đề sẽ thở phào nhẹ nhõm. Và sau đó sẽ là các mỹ từ. Rằng đề thi ra đúng chương trình, rằng không “đánh đố” (một khái niệm mù mờ như kịch phi lý của S. Beckett) rằng đề thi “có tính phân hóa” (không được “đánh đố” nhưng vẫn phải “phân hóa”, một yêu cầu cũng hao hao như là trói cánh lại sau đó bảo bay đi) và vậy là… thành công. Nhìn trong những tiêu chí hẹp thì những điều ấy không sai. Nhưng với một cái nhìn rộng hơn thì tất cả những chuyện này quả thật… có vấn đề. Đúng là với một tiêu chí ra đề gói gọn trong mấy chục tác phẩm văn học Việt Nam được học trong học kỳ II của lớp 11 và toàn bộ lớp 12 thì đề thi là “nằm trong chương trình”. Và nếu chịu khó so sánh với sách giáo viên hướng dẫn giảng dạy cũng sẽ thấy những kiến thức mà đề thi yêu cầu là hoàn toàn đúng với những kiến thức chuẩn mà mỗi giáo viên được yêu cầu giảng dạy cho học sinh. Nói rằng đề thi “không đánh đố” cũng là không sai nốt. Bởi thực chất toàn bộ yêu cầu của đề thi chỉ là học thuộc lòng và nhớ đồng thời trình bày lại cho trôi chảy những điều đã thuộc, đã nhớ (tôi xin nhấn mạnh). Không chỉ có câu kiểm tra kiến thức văn học sử cụ thể liên quan đến tác giả, tác phẩm mà thực chất các câu còn lại cũng chỉ là những câu kiểm tra kiến thức. Sách giáo khoa đưa ra các bài giảng văn, cách đọc các bài này đựơc định hướng cho học sinh dưới dạng các câu hỏi chuẩn bị bài, sách giáo viên chuẩn hóa cách đọc này thành một hệ thống kiến thức và đó là cái chuẩn để thi cử, kiểm tra. Tất nhiên, từ cái chuẩn đó đến yêu cầu kiến thức của một bài thi tuyển sinh đại học là một quãng đường. Cần phải cụ thể hóa, chi tiết hóa – điều mà thời lượng một hoặc hai tiết dành cho một bài giảng văn trên lớp chắc chắn không thể đáp ứng được. Giải pháp: lớp luyện thi và sách văn mẫu. Đó là con đường tất yếu bởi lẽ đề thi tuyển sinh đại học thực chất chỉ là kiểm tra lại kiến thức chuẩn về tác phẩm đuợc cụ thể hóa trong sách giáo viên. Vậy thì chúng ta cũng đừng lấy làm lạ nếu như bài văn duy nhất được điểm mười là một bài văn chép lại gần như y nguyên sách văn mẫu. Học sinh không có lỗi. Và nói rằng đề thi có tính phân hóa quả thật cũng không sai. Nhưng phân hóa cái gì? Em nhớ nhiều và em nhớ ít. Em viết nhanh và em viết chậm. Em viết xấu và em viết đẹp. Tất cả những điều ấy đều đúng. Nhưng như tôi đã nói, nếu nhìn rộng ra thì cái triết lý chấm thi kiểu “có/không (những) ý đó” thực sự lại ẩn dấu những điều phi lý.   3. Trước hết, phi lý ở giới hạn kiến thức của đề thi. Thực chất đó là một sự cắt xén. Trong tổng thể cả chương trình văn học ở bậc phổ thông (bao gồm cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, cả văn học và lý luận văn học) người ta chỉ thi văn học Việt Nam và cũng chỉ một bộ phận của văn học Việt Nam (từ 1930 đến nay). Việc thi sẽ quyết định việc dạy và học. Hậu quả thế nào, không cần nhắc lại. Trong ba phân môn của văn học người ta cũng chỉ thi giảng văn. Tất nhiên, có người sẽ nói là những kiến thức tiếng Việt và tập làm văn đã được tích hợp trong đề thi. Thì cũng đành là như vậy. Nhưng ít nhất, nhìn vào đáp án chuẩn hướng dẫn chấm thi, sẽ thấy tất cả những yêu cầu này đều không có. Kết thúc đáp án luôn có một câu: “Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm trong trường hợp thí sinh không những nói đủ ý cần thiết mà còn biết cách tổ chức bài văn, diễn đạt lưu loát, không sai chính tả”. Rằng hay thì thật là hay… Nhưng vấn đề là nếu một thí sinh không biết cách tổ chức bài văn, diễn đạt không lưu loát và sai chính tả khá nhiều nhưng vẫn “nói đủ ý cần thiết” thì sẽ bị trừ bao nhiêu điểm? Có được coi là đạt yêu cầu hay không? Hoàn toàn không có một tiêu chí nào đánh giá chuyện này. Bởi mối quan tâm tối thượng của đáp án vẫn cứ là “có/không (những) ý đó”. Và thế thì vẫn cứ là điều bình thường việc những thí sinh tuy đủ điểm đỗ vào đại học nhưng vốn từ nghèo nàn, chưa thành thạo viết các thể văn nghị luận và ngữ pháp tiếng Việt. Tất cả chỉ nhờ một “mémoire d’éléphant” (4) và một ý chí học tập phi thường (5). Một tình trạng phổ biến là, ít nhất, theo những gì mà tôi quan sát được từ kinh nghiệm chấm thi của mình, có đến trên 70% thí sinh biến bài làm của mình thành các bài tóm tắt tự sự và diễn xuôi thơ kèm bình luận.   Còn cái gọi là sự sáng tạo của thí sinh? Cuối mỗi đáp án cũng luôn có một công thức: “chấp nhận những ý ngoài đáp án; nhưng phải có cơ sở hợp lý. Khuyến khích những kiến giải riêng thực sự có ý nghĩa, liên quan trực tiếp đến vấn đề”. Đó là công thức đảm bảo cho sự sáng tạo. Nhưng liệu sự sáng tạo có thực sự có đất sống? Ở lớp, học sinh được học những kiến thức đó, đến lớp luyện thi, cũng là những kiến thức đó, sách văn mẫu cũng là những kiến thức đó và đề bài cũng chỉ yêu cầu những kiến thức đó. Đến như một điều tưởng như là riêng tư nhất (cảm nghĩ của thí sinh về nhân vật) cũng được đúc thành công thức(6)] thì thí sinh việc gì phải huy động óc sáng tạo. Khi mà mục đích tối thượng của họ chỉ là thi đỗ. Muốn có được sự sáng tạo, cần phải có những câu hỏi đòi hỏi sự suy luận, những câu hỏi mà rất dễ bị coi là “đánh đố”. Bằng không, tất cả những công thức về tính sáng tạo chỉ là những… công thức.   4. Trong những năm gần đây, bên cạnh các thí sinh học chương trình phổ thông còn có các thí sinh học chương trình phân ban thí điểm. Trong đề thi tuyển sinh cũng có câu dành cho đối tượng này. Một điều có thể khẳng định là số thí sinh lựa chọn làm câu hỏi này không nhiều. Điều đó cũng bình thường. Nhưng từ sự quan sát cá nhân của tôi, điều đáng ngại là đại đa số các em lựa chọn câu hỏi này đều… không làm được bài hoặc có làm nhưng không đạt yêu cầu. Đó là điều mà các “kiến trúc sư” của chương trình mới cần phải suy nghĩ. Có nhiều cách lý giải cho tình trạng này. Có thể là đề ra quá khó. So với những bài giảng văn được lựa chọn trong chương trình phổ thông thì những tác phẩm như Chiếc thuyền ở ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) hay Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng) quả thật có một hàm lượng nghệ thuật rất cao. Câu hỏi về các tác phẩm này cũng giúp học sinh cảm thụ được đúng bản chất thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật (giá trị của tình huống truyện hoặc ý nghĩa của bi kịch). Thế nhưng điều đáng tiếc là hình như tất cả những kiến thức này đều quá khó đối với học sinh và như vậy thì tính khả thi của cái gọi là chương trình phân ban cũng cần phải xem lại. Một giả thiết khác cũng có thể được đặt ra. Theo khảo sát của cá nhân tôi, tất cả các lớp “luyện thi” đều không dạy chương trình phân ban thí điểm. Và như vậy thì cái kết quả thi của các học sinh phân ban sẽ là một phản ánh trung thực nhất chất lượng của hệ phân ban thí điểm.   5. Ai cũng biết thi cử là khâu cuối cùng của một tiến trình đào tạo. Nó phản ánh đúng cái mà nền giáo dục mong đợi ở sản phẩm của mình. Chúng ta luôn nói như những sáo ngữ về những điều mà chúng ta mong đợi ở môn văn, nào là giá trị bồi dưỡng nhân cách, rồi bồi dưỡng tâm hồn rồi những gì cao cả hơn nữa. Nhưng thực sự thì tất cả những triết lý giáo dục được phơi bày trong những kỳ thi tuyển sinh hình như không tương thích với tất cả những mục đích cao cả đó. Thay vì đào tạo ra những người có năng lực trình bày, có năng lực suy nghĩ mạch lạc, biết làm chủ ngôn ngữ và sự phát ngôn, triết lý giáo dục đang hướng đến việc tạo nên những cỗ máy nhớ và những cái lưỡi tài tình trong nghề nói những sáo ngữ. Điều đau lòng trong những năm làm nghề giáo ở bậc đại học của tôi là cho đến tận năm thứ ba (nghĩa là chỉ còn một năm nữa là sẽ ra trường), khi hướng dẫn sinh viên (chuyên ngành văn học, của Khoa Văn học) làm niên luận hoặc viết báo cáo khoa học tôi vẫn phải sửa đầy dẫy lỗi ngữ pháp của các em. Và cũng không phải là quá hiếm hoi trong số các khóa luận tốt nghiệp mà tôi được đọc hoặc phản biện có những khóa luận người viết không biết cách tổ chức luận văn của mình thành một hệ thống minh bạch và chặt chẽ các luận điểm cũng như không biết cách tổ chức một đoạn văn bản cho chuẩn mực.   Họa phúc hữu đầu!                 1. Công cụ tìm kiếm – một thuật ngữ của ngành tin học   2. Một việc mà theo tôi là phản văn chương. Tự bản chất, văn xuôi sinh ra không phải để học thuộc. J.P. Sartre đã giải thích điều này tuyệt hay trong Văn chương là gì ?   3. Nhân vật chính trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân. Được giảng dạy trong chương trình lớp 11 bậc Phổ thông trung học.  4. Người có trí nhớ phi thường.  5. Tiện đây cũng xin nói thêm, nhân dịp việc bài thi được điểm mười được đăng tải và cũng nhân dịp người ta phát hiện ra bài thi này chép lại sách văn mẫu, có những tay cuồng tín cực đoan đã công khai kết tội bài này là “đạo văn”. Tôi không tưởng tượng được đây lại là sản phẩm của một trí tuệ bình thường. Cả em học sinh này lẫn các thầy chấm thi đều không có lỗi. Thậm chí họ đều là những người đáng khen. Vấn đề là cái cơ chế đã buộc họ phải làm như vậy. Tất nhiên, bất cứ ai, từ ông Tổ trưởng tổ ra đề đến ông Cục trưởng cục khảo thí ai cũng đổ tại cơ chế, còn ai đẻ ra cơ chế đó, ai chịu trách nhiệm thì xem ra mù mờ như là một tình huống kiểu Kafka.  6. Xin xem đáp án môn Văn khối D năm 2006, câu hỏi 3, phần dành cho các thí sinh học chương trình phân ban. Có thể tham khảo theo địa chỉ : http://edu.net.vn/Default.aspx?tabindex=1&tabid=6&mid=35.     Phạm Xuân Thạch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tội “giết người“ không có người chết?      Nếu coi thực tế là thước đo của chân lý, thì  sự kiện Tiên Lãng chấn động cả nước, đã được Thủ tướng kết luận, cần  được dùng làm thước đo để kiểm tra lại rất nhiều chủ trương, chính sách,  pháp luật hiện hành có liên quan.     Không hội nhập cộng đồng thế giới  Từ mối quan hệ chiều ngang giữa cấp ủy Đảng, Hội đồng Nhân dân, UBND, tư pháp, hội đoàn, tới quan hệ chiều dọc xã, huyện, thành phố, trung ương…, bởi quyết định cưỡng chế trái pháp luật được thông qua cấp ủy, chỉ thị cho cấp dưới thực hiện, báo cáo với cấp trên xin ý kiến, trước khi thực hiện. Từ chỉ thị của người đứng đầu, tới văn bản lập quy, văn bản lập pháp, hiến pháp, do quyết định cưỡng chế trái luật đã viện dẫn rất nhiều văn bản luật, chỉ thị.  Từ mối quan hệ giữa hành chính, hình sự, tới quốc phòng, bởi tham gia cưỡng chế trái pháp luật bao gồm đầy đủ các cơ quan trên. Thủ tướng không thể đi giải quyết hết 64 tỉnh thành và 27 bộ, ngang bộ, hàng mấy trăm huyện, hàng mấy chục nghìn xã, nếu sự kiện Tiên Lãng, Vinh Quang ở đâu cũng lặp lại, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, mức độ này hoặc mức độ khác. Chưa nói Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành pháp chứ không phải quan toà phán quyết các vụ việc cụ thể.   Mọi cấp hành chính, ban ngành, phải tự nó tự động giải quyết được vấn đề của nó. Muốn vậy vấn đề Tiên Lãng, giải quyết không thể chỉ nhằm vào cá nhân hay vụ việc, mà cao hơn phải từ đó hướng tới cải cách toàn diện thể chế – cái người ta thường được gọi là cơ chế, vốn không thể dễ dàng quy trách nhiệm cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể.   Hãy bắt đầu từ những vấn đề nhỏ lẻ cấu thành cơ chế đó, trước hết có thể đơn cử vấn đề tư pháp, định tội danh, thể hiện qua sự kiện Tiên Lãng.  Xin được dẫn về cáo buộc bị can Đoàn Văn Vươn tội danh “giết người”, được nhắc đến cả trước và sau kết luận của Thủ tướng, trong mọi văn bản liên quan, trên thông tin, báo chí, trong phát ngôn từ lãnh đạo cao cấp nhất, đến nhà chức trách tư pháp, thậm chí cả luật sư bào chữa. Rốt cuộc công luận cứ thế cáo buộc theo, trong khi không có… người chết!   Không luật pháp quốc gia tiên tiến nào cáo buộc phi thực tế, khép tội giết người lại không có người chết như vậy cả. Trong trường hợp này, pháp luật ở ta đã không hội nhập cộng đồng thế giới. Ở họ dấu hiệu đầu tiên cấu thành tội danh giết người phải có bằng chứng là nạn nhân đã chết.   Điều trớ trêu là tội danh giết người trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định trong Chương XII đều không khác mấy các nước hiện đại. Như ở Đức tội danh này được quy định tại điều 215 Giết người, điều 216 Bức tử, điều 212 Làm chết người không chủ đích, điều 222 Ngộ sát, và điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp.   Nhưng oái ăm, cả hai nước đều không định nghĩa người chết, bởi ở Đức chết được coi là khái niệm hiển nhiên chấm dứt sự sống, không cần định nghĩa, và ngộ nhỡ bị hiểu sai đã có Toà Bảo Hiến phán quyết.   Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.   Hệ quả, bất cứ bị cáo nào dùng súng, dùng dao, và suy cho cùng bất cứ thứ gì có khả năng giết người, từ chuốc uống rượu quá ngưỡng, ăn bội thực trở đi, đều thuộc hành vi giết người, có thể bị khép tội đó tùy thuộc nhận thức chủ quan.   Lý giải tại sao hầu như chẳng ai phản đối, khi bị can Đoàn Văn Vươn bị cáo buộc oan, phạm tội danh giết người, chỉ bởi những người thực thi pháp luật đã suy diễn từ khái niệm “khả năng“ mà ra, do bị can dùng súng hoa cải, mìn tự tạo.   Chưa nói, đó không phải vũ khí giết người công dụng, nên không thể kết luận mang động cơ giết người. Trên thực tế nó chỉ nhằm ngăn chặn cưỡng chế (chưa nói nếu cưỡng chế sai luật, dù gây chết người thật, thì hành động chống cự đó chỉ được coi phạm tội ở dạng tự vệ khẩn cấp, như Đức quy định tại điều 32 Bộ Luật Hình sự của họ).     Không thể giết nhầm hơn bỏ sót  Chính tội danh giết người bắt buộc phải có dấu hiệu người chết đã làm cho nhiều vụ án ở Đức phải đình hoãn hoặc án quyết bị toà bảo hiến bác bỏ, cho dù công tố đoán mười mươi thủ phạm.   Một vụ án như vậy với tên gọi: “Giết người không có xác” được coi là điển hình trong lịch sử hình sự nước Đức cách đây 10 năm với bị cáo Hans Hansen, 57 tuổi, chủ Công ty xây dựng ở Düsseldorf Đức, bị cáo buộc giết chết triệu phú chủ bất động sản Otto-Erich Simon, 70 tuổi, buộc phải đình chỉ không thể xét xử tiếp, do bị cáo rốt cuộc mắc tâm thần, sau 135 phiên xét xử, thẩm vấn hơn 200 nhân chứng, tốn kém tới 2 triệu DM, nhưng không có bằng chứng xác chết hay hành vi trực tiếp làm nạn nhân chết để phán quyết.           Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể  cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi  có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ  không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn  thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ  được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.         Theo cáo trạng, năm 1991, nạn nhân sống một mình bỗng mất tích. Sau đó, một hợp đồng nạn nhân bán hai ngôi nhà ở vị trí vàng giữa trung tâm thành phố trị giá 60 triệu DM cho bị cáo với giá hời 30 triệu DM chuyển tiền vào tài khoản của nạn nhân, được trình nhà chức trách để sang tên, bị phát hiện giả mạo.   Lập tức công tố cho rằng, ngoài bị cáo mạo giấy tờ để chiếm đoạt tài sản ra không ai có động cơ gì khác để giết nạn nhân. Trong di chúc cho người cháu, nạn nhân còn ghi rõ hai ngôi nhà thừa kế không được bán, nên chỉ giết mới có thể chiếm đoạt được. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn tìm thấy hoá đơn bị cáo mua xẻng, cuốc dây dợ, cưa bê tông, túi chứa, được cho dùng để giết người, để bổ sung cho cáo buộc của mình.   Nhưng động cơ không thể thay thế bằng chứng người chết, hay hành vi trực tiếp gây ra cái chết, một dấu hiệu bắt buộc phải có trong tội danh giết người.  Hậu qủa trớ trêu là toà không thể phán quyết tội giết người, nên nạn nhân cũng coi như chưa chết, vì vậy người cháu không thể thừa kế tài sản ngay. Theo luật định phải chờ năm năm nữa toà mới có thể xét quyền thừa kế đối với trường hợp mất tích.  Một bản án sơ thẩm về “tội giết người không có xác” gần đây nhất bị Toà án Hiến pháp Đức bác bỏ cách đây hai tháng trước. Theo bản án sơ thẩm, năm 2007, Lotis K 33 tuổi, một phụ nữ Philippinen lấy chồng Đức, bị mất tích, không tìm thấy bất kỳ tung tích nào cả ở Đức lẫn Philippines.   Cơ quan điều tra phát hiện Lotis K trước đó quyết định bỏ chồng mang theo con. Máy nghe lén đặt bí mật tại xe của người chồng ghi được cuộc nói chuyện của người chồng với vợ chồng người em ngồi cùng xe, trong đó có câu: “Vậy là tuyệt vời, chúng ta đã giết được nó”.   Toà cho rằng, điều đó chứng tỏ người vợ đã chết, chứ không phải mất tích, thủ phạm là người chồng, giết vợ để đoạt quyền nuôi con. Toà án Hiến pháp Đức xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm yêu cầu xử lại, với lập luận, bằng chứng tự nói chuyện trong ô tô thuộc bí mật cá nhân được hiến pháp bảo vệ trước nhà nước.   Nghĩa là nhà nước không được dùng nó làm bằng chứng cho bất cứ mục đích nào của nhà nước. Toà sơ thẩm rơi vào tiến thoái lưỡng nan, đến nay vẫn chưa thể mở lại phiên toà, bởi khó có thể xử tiếp, một khi không có bằng chứng xác nạn nhân, hay hành vi của nghi can dẫn tới cái chết nạn nhân đâu đó.  Cả Đức và Việt Nam đều có Luật Hình sự về tội giết người tương đồng nhau, trong khi hai vụ án hình sự Đức viện dẫn cho thấy đến nạn nhân mất tích, họ vẫn không thể kết luận bị cáo tội giết người, thì ở ta bị can Đoàn Văn Vươn bị „vô tư“ cáo buộc tội… giết người trong khi không có bất cứ dấu hiệu người chết nào.   Phán quyết của toà quyết định vận mệnh một con người, một khi có hiệu lực khó có thể làm lại, nên không thể bàng quan trước các văn bản luật có thể dẫn tới những phán quyết oan sai.   Chưa nói, án quyết toà không phải của cá nhân quan toà, khi tuyên án bao giờ cũng bắt đầu bằng câu: “Nhân danh nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (ở ta), hoặc “nhân danh nhân dân” (ở các nước hiện đại), không thể để nó làm “mất thể diện” quốc gia, hay thách thức lương tri con người, bất chấp nhân dân.   Không một quốc gia nào ổn định nổi với một nền tảng, hệ thống pháp lý bất ổn cả, đặt ra cho nước ta hiện nay một nhu cầu bức bách, ưu tiên hàng đầu: Khẩn trương cải cách pháp lý, không phải từ những gì cao siêu ngoài khả năng cả, trước hết và cần nhất, xem xét lại từng văn bản luật, một khi áp dụng nó có vấn đề, khiến người dân bất yên, chính quỵền mất uy tín, vốn thuộc trách nhiệm cao cả của cơ quan lập pháp, của Đại biểu Quốc hội đã được cử tri đặt niềm tin nơi lá phiếu. Họ đang mong mỏi cần kíp hơn bao giờ hết!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi không có ý định chạy tội cho Vedan      Trong bài viết “Hoàn cảnh…” tôi không có ý định nói sâu về công nghệ sản xuất và tất cả các dòng thải của Vedan mà chỉ tập trung vào dịch thải sau lên men – vấn đề mà các nhà quản lý (Cục Môi trường và Vụ Phát triển công nghệ, Bộ KHCNMT và Bộ Thuỷ sản) cũng như các nhà khoa học (công nghệ môi trường và công nghệ sinh học) đã tranh luận rất nhiều trong những năm 1996-1998.  Trong bài viết phản hồi lại ý kiến của PGS.TS Đinh Văn Sâm tôi xin trao đổi lại với ông 3 vấn đề như sau:     1. Bài “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” chỉ nói tới 1 loại chất thải của Vedan là dịch thải sau lên men. Đây là loại chất thải phát sinh sau công đoạn lên men tinh bột sắn (hoặc mật rỉ đường) để sản xuất axit glutamic, lysin hoặc các sản phẩm công nghệ sinh học khác. Trong công đoạn lên men này hoàn toàn không có sự tham gia của clo hoặc hợp chất chứa gốc clo hoạt động, vì vậy không có khả năng sinh ra các hợp chất hữu cơ clo. Dịch thải sau lên men nếu thải ra môi trường ngoài, gặp các chất vô cơ hoặc hữu cơ khác có thể kết hợp với chúng tạo ra các chất POP (chất hữu cơ khó phân hủy). Chính vì vậy khi dịch thải sau lên men thải xuống sống Thị Vải, nơi tiếp nhận nước thải của rất nhiều nhà máy khác nhau, đã làm xuất hiện các chất POP gây ô nhiễm sông.  Cũng cần nói rõ, trong quá trình sản xuất Công ty Vedan có nhiều dòng thải khác, trong đó có nước thải của phân xưởng sản xuất xút-axit có chứa gốc clo hoạt động, tuy nhiên bài “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” chỉ đề cập đến dịch thải sau lên men – một loại chất thải đang là vấn đề nan giải của tất cả các nhà máy sản xuất bột ngọt có công đoạn sản xuất axit glutamic bằng phương pháp lên men tinh bột sắn hoặc mật rỉ đường .  2. Bài báo “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” không hề có ý “chạy tội” cho Vedan, mà chỉ muốn đưa ra ý kiến để các nhà quản lý suy nghĩ quyết định hướng xử lý triệt để vấn đề dịch thải sau lên men – một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm chính của Vedan cũng như các nhà máy tương tự. Xin cung cấp một thông tin, Báo Người lao động điện tử (nld.com.vn) ngày 02-10-2008 đưa đoạn tin sau đây:  “Một cán bộ của Bộ TN-MT cho rằng có thể bắt Công ty Vedan VN bồi thường thiệt hại bằng cách tính như sau: Ví dụ chi phí để xử lý 1 m3 dịch sau lên men là 1 triệu đồng, một tháng Vedan  thải ra hơn 105. 000 m3 dịch sau lên men thì Vedan  đã “tiết kiệm” trên 105 tỉ đồng/tháng. Lấy số tiền này nhân với thời gian Vedan  đã xả lén sẽ thành số tiền rất lớn bắt buộc Công ty Vedan VN phải trả, để Nhà nước sử dụng thực hiện các dự án khắc phục ô nhiễm trên sông Thị Vải. Theo TS Mai Tuấn Anh, Viện Môi trường và Tài nguyên- ĐH Quốc gia TPHCM, nếu tính cả chi phí đầu tư xây dựng nhà máy, để xử lý 1 m3 dịch sau lên men  phải mất khoảng 50 triệu đồng.”  Nếu những tính toán ở trên là đúng thì số tiền xử lý dịch thải lên men ít nhất (chỉ tính 1 triệu đồng/1m3 dịch thải) cũng lên đến hơn 100 tỷ/tháng, con số này buộc người đọc nghi ngờ về tính khả thi của việc sản xuất bột ngọt với điều kiện phải xử lý triệt để dịch thải sau lên men.    3. Ý kiến nhỏ cuối cùng: bài “Hoàn cảnh phạm luật của Vedan” nhắc tới “cacbonhydrat (gluxit)” chứ không phải “cacbonhydrat (lipit)” như bài trao đổi của PGS.TS. Đinh Văn Sâm.  Ý kiến của bạn?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi sẽ ứng cử Tổng thống      “Hệ thống chính trị kiểu cũ phải được cải tổ, tôi sẽ ứng cử ghế Tổng thống”, đó là tuyên bố của Ahn Cheol-Soo, người từng liên tục thay đổi sự nghiệp, từ một bác sĩ, một giám đốc công ty phần mềm, một giáo sư đại học, và nay trở thành một chính trị gia hàng đầu.&#160;     Ahn Cheol-soo từng là một bác sĩ khá nổi tiếng, nhưng từ năm 1995 ông chuyển sang lĩnh vực công nghệ thông tin với việc sáng lập công ty phần mềm AhnLab, công ty phần mềm diệt virus máy tính hàng đầu ở Hàn Quốc. Ông trở nên rất giàu có nhưng đến năm 2005 thì quyết định về hưu và hiến tặng một phần lớn tài sản của mình cho các nhân viên công ty. Năm 2011, ông hiến tặng một nửa giá trị cổ phần còn lại của mình trong công ty AhnLab, tương đương khoảng 130 triệu USD vào lúc đó, cho quỹ từ thiện để trợ giúp trẻ em khuyết tật. Tháng 6 năm nay, ông trở thành giáo sư Học viện Hội tụ Khoa học và Công nghệ của Đại học Quốc gia Seoul. Những bài nói chuyện của ông tại trường phê phán các tập đoàn kinh tế lớn và hệ thống chính trị Hàn Quốc đã giành được sự ủng hộ rộng rãi trong giới trẻ.  Năm 2011, ông Ahn đã hỗ trợ một nhà hoạt động vì quyền công dân thắng cử thị trưởng thành phố Seoul trong tư cách ứng cử viên độc lập. Kể từ đó, hình ảnh ông được lọt vào trung tâm bức tranh chính trị Hàn Quốc. Các kết quả điều tra cho thấy ông sẽ là ứng cử viên đáng nể nếu chạy đua vào ghế Tổng thống. Cả hai đảng chính trị lớn của Hàn Quốc đều đang ganh đua để giành ảnh hưởng từ ông, bằng cách đưa ra những tuyên ngôn hứa hẹn dựa theo các ý kiến của ông về phúc lợi và công bằng xã hội.    Hôm 19/9, ông Ahn đưa ra tuyên bố khẳng định rằng Hàn Quốc không thể tiếp tục phụ thuộc vào những đảng phái chính trị hiện tại với một cấu trúc bảo vệ những quyền lực thâm căn, một hệ thống xây dựng chính sách kiểu cũ, không phản ánh đúng ý nguyện của người dân, và một hệ thống kinh tế không còn phù hợp với thời đại kinh tế tri thức, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo và không tạo thêm công ăn việc làm. Tất cả những điều này đều không giúp mở cửa tới tương lai”, ông Ahn nói. “Không thể cứ tiếp tục thế này”.            Hàn Quốc không thể tiếp tục phụ thuộc vào  những đảng phái chính trị hiện tại với một cấu trúc bảo vệ những quyền  lực thâm căn, một hệ thống xây dựng chính sách kiểu cũ, không phản ánh  đúng ý nguyện của người dân, và một hệ thống kinh tế không còn phù hợp  với thời đại kinh tế tri thức.        Trong tuyên bố tham gia tranh cử, ông Ahn đã gián tiếp phê phán bà Park Geun-Hye, ứng cử viên của Đảng Mặt trận Mới đang cầm quyền, cũng là con gái của Park Chung-Hee, cựu Tổng thống Hàn Quốc từng cầm quyền trong gần hai thập kỷ từ năm 1961 tới khi bị ám sát năm 1979. Ông Ahn nói rằng các ứng cử viên cần nhìn nhận lịch sử Hàn Quốc để có thể đạt được sự đồng thuận trong lòng dân. Ngày nay, dư luận Hàn Quốc vẫn đang có những ấn tượng trái chiều nhau về Park-Chung Hee, một mặt ghi nhận những thành tựu đổi mới hiện đại hóa nền kinh tế nhưng mặt khác bất mãn với những biện pháp quản lý toàn trị mà ông dùng để nắm giữ quyền lực trước đây. Bà Park gần đây thường tìm cách xoa dịu sự chống đối và giảm bớt hố ngăn cách với việc đi thăm mộ những cựu Tổng thống theo tư tưởng khai phóng và các nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động.  Chiến dịch tranh cử của ông Moon Jae-in – một cựu luật sư nhân quyền, ứng cử viên đại diện cho Đảng Dân chủ Thống nhất – khẳng định rằng ông này hân hạnh chào đón ông Ahn tham gia cuộc đua và nhấn mạnh rằng “những thay đổi mà Ahn đưa ra chỉ có thể khả thi nếu chấm dứt được quyền lực của đảng cầm quyền hiện nay”. Theo tờ New York Times, các kết quả trưng cầu ở Hàn Quốc cho thấy ông Ahn sẽ thắng thế nếu chạy đua tay đôi với bà Park Geun-Hye, nhưng trong cuộc đua tay ba ông Ahn sẽ chỉ về thứ hai sau bà Park.    Các nhà phê bình bày tỏ lo ngại rằng ông Ahn có thể còn thiếu nhiều kinh nghiệm trên chính trường, nhưng ông lại cho rằng mình có lợi thế vì không chịu bất kỳ sự ràng buộc chính trị nào. “Kinh nghiệm phong phú của tôi, từ một chuyên gia công nghệ thông tin, một bác sĩ, một nhà quản lý, một nhà giáo dục, chắc chắn là ưu điểm, không thể là nhược điểm”, ông phát biểu trong tuyên bố tranh cử.  Đối với vấn đề quan hệ với Bắc Triều Tiên, ông có quan điểm muốn xích lại gần hơn với người anh em láng giềng. Trong cuốn sách của mình, ông cho rằng Hàn Quốc cần khởi động lại chương trình cứu trợ và tăng cường đối thoại với Bắc Triều Tiên. Hôm 09/10 vừa qua, phát biểu tại Diễn đàn Tri thức Thế giới, ông Ahn khẳng định Hàn Quốc phải theo đuổi quan hệ gần gũi hơn với “những nền kinh tế phương Bắc” nếu muốn tạo bước nhảy vọt tiếp theo trong phát triển kinh tế. Ông cho rằng Hàn Quốc công nghiệp hóa thành công là nhờ quan hệ kinh tế với các nước nằm ven biển, nhưng trong tương lai, nó cần nhìn lên phía Bắc.   Thanh Xuân tổng hợp  http://online.wsj.com/article/SB10000872396390444032404578005521443364846.html?KEYWORDS=Korea; http://www.nytimes.com/2012/ 09/20/world/asia/ new-voice-in-south-korean-politics-enters-presidential-race.html; http://www. nknews.org/2012/10/ahn-cheol-soo-calls-for-closer-ties-with-northern-economies/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi xuất gia gieo duyên (hay: Về vai trò của giới tinh hoa và về sự cống hiến cho xã hội)      Tạp chí Tia Sáng số Xuân năm nay có chủ đề “vai trò của giới tinh hoa trong thời kỳ đổi mới”. Trong thư mời viết bài, ban biên tập đề dẫn rằng “chủ đề này được đặt ra trong bối cảnh thế giới vừa diễn ra những sự kiện, trào lưu quan trọng (Brexit, Trumpism), trong đó, tiếng nói của người trí thức và giới tinh hoa trở nên lạc lõng trước sự thắng thế của những tư tưởng dân túy thực dụng và ngắn hạn được số đông công chúng ủng hộ.”  Nếu nói về vai trò (câu hỏi Làm gì?), tôi nghĩ vai trò của giới tinh hoa trong thời này không thay đổi cơ bản so với các thời khác. Chuyện xuất thế hay nhập thế, im lặng hay mở miệng, vị quân hay vị dân, là câu chuyện không mới. Nhưng có điều này thì mới và cần phải bàn: Giới tinh hoa phải làm thế nào để làm tròn vai trò của mình trong một thế giới có ít nhất hai đặc điểm chưa có tiền lệ:  – Hầu như ai cũng có thể trở thành “tinh hoa” trong một lĩnh vực nhỏ, chỉ cần có kết nối Internet và mạnh dạn bày tỏ ý kiến và/hoặc cảm xúc “thật”.  – Thông tin quá nhiều và thay đổi quá nhanh, khiến người đọc khó đối chiếu, đánh giá để biết đâu là “tinh hoa” thực sự. Việc phản ứng theo cảm xúc trở nên phổ biến hơn, và thường phản ứng tiêu cực với các ý kiến phản biện.      Tác giả sinh hoạt cùng các nhà sư ở chùa Rombodhidharma, thuộc tỉnh Loei của Thái Lan. (Ảnh do tác giả cung cấp).  Những điều này khiến nhiều người trong giới tinh hoa cảm thấy vô vọng và rút dần vào đời sống cá nhân của mình. Sự im lặng của họ khiến các luồng tư tưởng và cảm xúc đối lập ngày càng thắng thế. Giới tinh hoa càng cảm thấy bị cô lập, nên càng rút sâu hơn vào im lặng. Các nhà nghiên cứu có một lý thuyết để nói về quy trình này, gọi là “spiral of silence” tức “vòng xoáy của im lặng”.  Vậy làm thế nào để giới tinh hoa có thể tiếp tục là tiếng nói của sự thật. Giải pháp thì có nhiều. Tôi chỉ xin được nói một vấn đề: làm thế nào có thể chiến thắng được cảm giác muốn buông xuôi trong dòng thác nói trên, để tiếp tục vai trò của mình?  Trả lời câu hỏi này, tôi xin kể chuyện tôi xuất gia gieo duyên ở chùa Rombodhidharma, thuộc tỉnh Loei của Thái Lan vào tháng 10 vừa rồi.  Tôi vốn sang chùa Rombodhidharma của Luang Por Phosrisuryia Khemarato với mục đích nghiên cứu về ứng dụng đạo Phật vào trị liệu các rối nhiễu tâm thần. Lần đầu tôi đến chùa là cuối tháng 6-2016 và chỉ ở lại một tuần. Lúc đó, tôi chỉ tình cờ sang chùa theo một người bạn và đinh ninh rằng chùa này dạy ngồi thiền. Nhưng sang đến nơi thì thấy ở đây không dạy ngồi thiền, cũng không tụng kinh, không trì chú, không niệm Phật, không có thời khóa bắt buộc nào. Thời khóa – nếu có thể gọi như thế – chỉ là một buổi pháp duy nhất mỗi ngày vào lúc 6 giờ sáng. Ai muốn dự sẽ tới chánh điện – chỉ là một cái lán lớn lợp tranh – nghe Luang Por giảng, có thể 15 phút, có thể 45 phút. Sau đó ăn sáng. Thời gian còn lại trong ngày, mọi việc tự vận hành. Không có ai phân công, không có ai quản lý, không ai giám sát, không có bất kỳ một hình thức tổ chức nào, vậy mà mọi việc tự động tổ chức. Người tình nguyện làm việc dưới bếp, người làm việc trong vườn, người quét đường, sửa cốc liêu, vân vân… Khỏe thì làm, mệt thì nghỉ. Mấy trăm chư tăng ở trong các cốc xây đơn giản, có khi chỉ là cái lán che bốn phía, mỗi ngày mang bình bát lấy cơm một lần buổi sáng, còn lại cứ thế “tu”. Giải thích cụ thể pháp tu của tăng ni ở chùa không phải là mục đích bài viết của tôi nên tôi xin phép bỏ qua. Tôi kể tiếp chuyện xuất gia gieo duyên.      Chính sau khi có thể chấp nhận và bỏ xuống những ý niệm về bản thân và việc phải làm, thì tôi lại có một sự rõ ràng và tự do tôi chưa từng biết đến, để có thể làm được rất nhiều điều mà trước đây tôi đắn đo. Sống để làm gì, sống thế nào trở nên rõ ràng hơn hết.      Sang chùa một tuần, tôi trở lại Hà Nội, đổi vé máy bay về Mỹ để có thể trở lại chùa thêm ba tuần. Lần này sang, tôi càng ngấm sâu thêm những gì đang được dạy ở đây. Thế nên trở lại Mỹ rồi, tôi thu xếp với trường để kỳ học mùa thu, tôi có thể trở lại Việt Nam cả học kỳ và sang chùa một thời gian dài hơn để làm nghiên cứu. Trước đó, cả ba mùa hè 2013, 2014, 2015, tôi đã sống trong chùa ở Việt Nam để nghiên cứu. Tôi cũng đã đi nhiều thiền viện và chùa khác nhau ở Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Mỹ để tìm hiểu. Nhưng chưa bao giờ tôi có ý định xuất gia gieo duyên.  Một buổi tối, nghe tin Achan PJ (achan trong tiếng Thái là thầy), một nhà sư tôi kính trọng mới đi xa trở về chùa, tôi quyết định sang chào ngài. Achan PJ chỉ nói được một vài từ tiếng Anh, tôi thì không nói được tiếng Thái. Tôi vừa bước vào, achan nói:  – Việt, hãy xuất gia đi.  – Ồ không, con không xuất gia đâu.  – Hãy xuất gia đi.  – Không, con xuất gia trong tâm rồi.  – Không, phải xuất gia trên thân nữa. Sẽ rất tốt cho con.  – Con biết nhưng con không thể.  – Vì sao không thể?  Tôi giải thích rằng đầu tháng 11, tôi về thành phố Hồ Chí Minh dự Hội nghị Việt kiều và gặp mặt Thủ tướng; sau đó, tôi lại ra Hà Nội thuyết trình về xây dựng luật công tác xã hội cho Việt Nam.  – Đây là lần đầu tiên có luật này – tôi cười cười – Luật này quan trọng lắm. Nếu con mà xuống tóc, con về Việt Nam thuyết trình, người ta thấy cái đầu trọc của con, người ta sẽ nghĩ con điên, không ai tin con cả. Như thế sẽ hỏng hết việc. Vả lại, con đang làm việc bên Mỹ, con đang nghiên cứu về… Con phải abc, xyz…  Achan PJ nói trời ơi, nhiều lý do quá. Giờ ta đưa con lên gặp Luang Por nhá.  – Được rồi, lên gặp Luang Por mà ngài bảo con cạo tóc thì con cạo, không thì con không cạo nhé.  Tôi đồng ý vì lần trước tôi sang chùa, Luang Por nói với tôi rằng quan trọng là xuất gia trong tâm, hình tướng bên ngoài không quan trọng. Nhưng chúng tôi đi lên gặp Luang Por thì ngài đang bận. Achan PJ nói gì đó bằng tiếng Thái với thị giả của Luang Por về việc “Tiến sỹ… xuất gia” (ở chùa, mọi người hay gọi đùa tôi là “Doctor”). Sư thị giả cho Luang Por cười cười đi vào bạch với Luang Por, lát sau sư thị giả đi ra nói với tôi và achan PJ:  – Luang Por nói ok.  Achan PJ cười to.  – Đó, Luang Por nói nhé. Cạo tóc.  Nhưng tôi vẫn không chịu.  – Không phải. Achan không hỏi Luang Por là con có cần cạo tóc không, mà achan chỉ bạch ngài là con xin xuất gia. Dĩ nhiên ngài bảo ok. Con không cạo đâu. Con không thể.  – Vì sao, vì sao?  – Đấy, đầu tháng 11, con phải…  Tôi lại trình bày lại các lý do dài dòng lê thê của mình. Achan PJ lắc đầu:  – À, các tiến sỹ luôn nhiều lý do. Tắc trong lý do… Cho con 20 phút để nghĩ rồi nói cho ta biết: có cạo tóc hay không. Thế thôi.  – OK – tôi cười, lòng biết chắc tôi sẽ không cạo.  Tôi lên xe achan PJ về cốc của ngài. Trên đường về, ngài vừa cười vừa lắc đầu:  – Ah, doctor Việt… Ta đã gặp rất nhiều doctor. Các tiến sỹ nhá, ai cũng đều nói chỉ cần xuất gia trong tâm thôi. Doctor nào cũng nói câu này. Không ai chịu xuất gia ngoài thân cả. Ai cũng nói chỉ cần xuất gia trong tâm. Y như nhau. Chỉ cần trong tâm. Chậc, ai cũng thế.  Tôi vừa nghe câu này, thì trong đầu tôi bỗng nhiên hiện lên trùng trùng điệp điệp khuôn mặt những người thầy, người bạn có bằng tiến sỹ, những doanh nhân, trí thức, người nổi tiếng mà tôi biết. Họ đứng như một đoàn quân, trùng trùng điệp điệp. Chắc chắn họ sẽ không cắt tóc gieo duyên, dù chỉ trong một giây, một giờ, một ngày, hay một tháng. Trong khoảnh khắc mà tôi nhìn thấy tất cả những khuôn mặt của họ và sự từ chối giống hệt nhau của họ, tôi cũng lập tức nhìn rõ khuôn mặt tôi và sự từ chối của tôi. Tôi nhìn rõ những quả núi khổng lồ mà tôi và họ đang cõng trên lưng. Những thành lũy, pháo đài khái niệm mà tôi và họ cùng tự xây cho mình. Và lúc đó, tôi thấy tôi trực diện với nỗi sợ của mình – cũng là nỗi sợ của chúng tôi; dù nó có thể ngụy trang dưới nhiều khái niệm khác như “duy lý”, “trí tuệ”, “khoa học”, thậm chí “phá chấp” hay “giải thoát”.  – OK, con cạo tóc! – tôi nói.  Ngay giây phút đó, những gồng gánh và cả quả núi lớn từ trên vai tôi được vứt ùm xuống. Nhưng cái xảy ra đằng sau việc xuất gia gieo duyên mới là cái đáng nói. Chính sau khi có thể chấp nhận và bỏ xuống những ý niệm về bản thân và việc phải làm, thì tôi lại có một sự rõ ràng và tự do tôi chưa từng biết đến, để có thể làm được rất nhiều điều mà trước đây tôi đắn đo. Sống để làm gì, sống thế nào trở nên rõ ràng hơn hết.  Kinh nghiệm này cho tôi thấy người trí thức nói riêng và con người nói chung thường đi qua ba giai đoạn trong việc xử lý vai trò của mình với xã hội:  – Giai đoạn “trăng mật”: Rất hăm hở, đầy hoài bão, muốn cống hiến hết sức cho xã hội, như phải lòng con người và xã hội vậy.  – Giai đoạn “trăng khuyết”: Bắt đầu bị bầm dập trong quá trình cống hiến cho xã hội, đưa đến nản chí, và cân nhắc chuyện gác kiếm ở ẩn để giữ sự trong sạch của mình hoặc tặc lưỡi đi theo sự thoái hóa của số đông.  – Giai đoạn “trăng tròn”: Người ta có sự chuyển hóa về nội tâm, để đưa đến một trạng thái cống hiến mới, tròn đầy và viên mãn.  Trong hai giai đoạn đầu tiên, tất cả những phiền muộn đến với chúng ta chủ yếu là vì chúng ta làm việc với một tâm ý TÔI đang làm, và chúng ta đặt rất nhiều ý nghĩa, mục đích, lý tưởng, giá trị, mong cầu cho những việc mình làm. Ở bên dưới tất cả những điều đó, chúng ta rút cuộc đều đang cố thu vén cho bản thân, lấy từ người khác và xã hội cho bản thân – có thể tiền, có thể danh tiếng, có thể địa vị, có thể sự ngợi khen, sự hâm mộ, vân vân… Ta làm gì cũng mong được đền đáp; và nếu không được đền đáp như ý thì ta nản chí. Kể cả những thứ thuộc về phong cách, cá tính đều là sự đắp thêm, tô vẽ, chất thêm lên chính mình và người khác. Cho đến lúc chúng trở thành gánh nặng và lời nguyền cho chính chúng ta và cho người khác. Nếu bằng cách nào đó, một người chuyển hóa từ tâm thế “thu vào”, “lấy cho bản thân” sang tâm thế “mở ra” và “cho đi” mà không bám vào một mục đích, mong muốn, kỳ vọng được đền đáp nào, thì họ có thể làm việc không mệt mỏi. Đấy là giai đoạn trăng tròn, tỏa sáng không phân biệt.  Tôi không dám nói to tát rằng tôi giác ngộ điều gì, nhưng trong kinh nghiệm cá nhân, chính khi không còn thấy bản thân mình quan trọng, không thấy những việc mình làm là quan trọng, thì tôi lại có dũng cảm và sự tử tế lớn nhất để làm được nhiều việc. Tôi không nghĩ mình là tinh hoa đang dẫn dắt ai. Tôi không thấy mình có thể đứng trên mà nhìn xuống để chỉ trích, phân tích, răn dạy. Tôi làm những gì tôi có thể làm, chỉ vì tôi có thể làm, và thế thôi.  Khi trống rỗng, không có mục đích viết làm hài lòng người đọc hay kỳ vọng bán được sách, thì tôi viết tốt nhất.  Khi tôi nói chuyện mà không có mục đích thuyết phục người nghe phải tin, tôi nói tốt nhất.  Khi tôi đọc tin tức mà không có mục đích thu lượm kiến thức hay soi xét, bình phẩm thì tôi có thể đọc rất lâu mà không bị nhiễm và mệt mỏi với các cảm xúc lên xuống.  Quay lại câu chuyện của số báo Xuân này. Nếu hỏi vai trò của giới tinh hoa (và mọi giới) trong xã hội hiện tại, thì câu trả lời của tôi ở thời điểm này là chỉ có cho đi. Cho cái gì? Cái gì cũng có thể cho và mỗi chúng ta đều có rất nhiều để cho. Nếu bạn không tự có, bạn có thể kết nối để có.  – Cho tiền, cho thức ăn, cho quần áo, cho chỗ ở, cho phương tiện đi lại, cho không gian vui chơi, cho thuốc men và sự chăm sóc khi bệnh tật, hiến nội tạng, vân vân… Đấy là những thứ hữu hình.  – Cho sự giáo dục, cho sự đùm bọc, cho cảm giác an toàn, cho tình thương, cho sự dũng cảm, cho sự quyết liệt, cho sự kiên định, cho sự hỷ lạc, cho sự cảm thông, cho sự không phán xét, cho sự không sợ hãi, cho sự niềm nở ân cần, cho sự kính trọng, cho sự ôn hòa, cho sự chính trực, cho sự tự chủ, cho sự độc lập, cho sự riêng tư, cho sự kết nối, cho sự hiếu thảo, cho sự buông xả, cho sự thanh tịnh, cho sự im lặng, cho sự vị tha, vân vân… Đấy là những thứ vô hình.  – Cho sự giải thoát thông qua việc khiến người khác thấy được sự thật về bản thân và thế giới, từ đó chấm dứt tất cả trói buộc. Đây là sự cho đi rốt ráo nhất.  Cho thế nào?  – Cho mà không thấy là mình đang đi cho người khác, đang ban phát hay làm phúc cho người khác.  – Cho đi không vì hy vọng hay mong cầu nhận lại được điều gì, mà cho vì có thể cho, không mong được đáp lại.  – Cho một cách công bằng, không phân biệt người tốt, người mình thích, việc mình thích mới cho. Người xấu, người mình không thích cũng cho.  – Cho và buông xả ngay tại đó, không ghi nhớ, cũng không cần phân tích xem họ sẽ dùng cái ta cho vào việc gì, họ có xứng đáng nhận hay không.  Trên tinh thần như thế, tôi dẹp được tất cả những câu hỏi rối ren do sự tính toán lợi ích và rủi ro khi phải quyết định có làm điều gì, có nói hay không nói. Mỗi khi ra quyết định, tôi chỉ hỏi một câu duy nhất: “Điều này có đưa đến chấm dứt các trói buộc cho người khác và cho mình hay không?” Nếu có tôi sẽ làm. Nếu “không” thì không làm. Đối với tôi, đây là con đường hiện tại để tiếp tục sống và làm những việc mình muốn làm một cách bình thường.  Xin quay lại nói nốt câu chuyện tôi xuất gia gieo duyên. Hóa ra, rất nhiều người mà tôi tưởng tượng là sẽ không hài lòng khi thấy cái đầu trọc của tôi lại rất bình tĩnh, thậm chí vui vẻ đón nhận nó. Người có vẻ băn khoăn nhất với cái đầu lởm chởm của tôi lại là anh cán bộ hải quan. Anh ta nhìn tôi, nhìn ảnh hộ chiếu của tôi, rồi lại nhìn tôi, rồi lại nhìn ảnh, và rút cục anh không đừng được:  – Cái đầu này là cái đầu kiểu gì hả em?  – À – tôi cười – cái đầu này là cái đầu kiểu ý anh ạ.  Anh ta nhìn lần nữa vào ảnh hộ chiếu, rồi lại nhìn tôi, rồi hơi mỉm cười và dập mạnh con dấu nhập cảnh, cho tôi qua.       Author                Phan Việt        
__label__tiasang Tôn giáo và khoa học đều cần thiết trong cuộc sống      Vừa rồi Tạp chí Tia Sáng có đăng bài trao đổi về sự cần thiết của khoa học và tôn giáo trong cuộc sống của hai tác giả Dương Quốc Việt “Ánh sáng của Đức tin” và Nguyễn Trịnh Đôn “Phân biệt rạch ròi đức tin với giáo dục và khoa học”, tôi xin đóng góp thêm một góc nhìn của mình về vấn đề này.      Trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ khoa học là gì và tôn giáo là gì. Khoa học tập trung vào nghiên cứu thế giới vật chất ở bên ngoài với mục đích hiểu được thế giới này và để phục vụ đời sống của con người. Tôn giáo tập trung vào nghiên cứu thế giới tinh thần ở bên trong với mục đích hiểu được thế giới này và giúp mang lại hạnh phúc, yêu thương, và bình yên cho con người.  Cách tiếp cận của khoa học là dùng số liệu và thực nghiệm để chứng minh cho những giả thuyết đến từ trí tưởng tượng ban đầu của con người. Khoa học không tin vào những gì mà chưa có bằng chứng thực nghiệm. Cách tiếp cận của tôn giáo là đến từ sự trải nghiệm của mỗi cá nhân và xây dựng nên niềm tin từ những trải nghiệm này. Tôn giáo không cần số liệu để chứng minh cho niềm tin vì nó là trải nghiệm nằm ở bên trong của mỗi cá nhân con người.  Khoa học đã giúp cho con người hiểu được sâu rộng thế giới vật chất ở bên ngoài. Tuy nhiên những kiến thức khoa học mà chúng ta đang có vẫn còn vô cùng nhỏ bé và hạn chế so với những gì chúng ta chưa biết về thế giới này. Do vậy những khám phá khoa học sẽ tiếp tục được thấy trong tương lai. Với thế giới vật chất bên ngoài, khi một khám phá nào đó được phát hiện ra thì mọi người sẽ đều có thể tiếp cận và chia sẻ được khám phá khoa học này.  Ngược lại, tôn giáo là sự khám phá về thế giới nội tâm của từng cá nhân con người. Vì nó là những khám phá, nhận biết, và trở thành niềm tin ở bên trong của mỗi cá nhân, tôn giáo rất khó có thể chia sẻ và hiểu được từ những người ở bên ngoài. Khám phá khoa học có thể hiểu và chia sẻ dễ dàng cho mọi người xung quanh vì chúng là những gì có thể nhìn thấy và cân đong đo đếm được, còn niềm tin tôn giáo thì rất khó có thể chia sẻ vì chúng là vô hình.  Khi một người khám phá và hiểu biết về thế giới nội tâm bên trong của mình, người đó sẽ phát triển được ý thức làm chủ bản thân. Người đó sẽ hiểu và làm chủ được những suy nghĩ và cảm xúc của mình. Người đó sẽ hiểu được những giá trị và niềm tin của bản thân. Người đó sẽ hiểu được mối quan hệ của mình với thế giới tự nhiên và xã hội bên ngoài. Khi một người hiểu được chính mình, người đó sẽ có một cuộc sống cân bằng, hòa hợp, yêu thương, và hạnh phúc với chính mình và thế giới xung quanh. Đây chính là những trải nghiệm của Đức Phật, của Chúa Jesus, và của những hiền nhân khác trong lịch sử, và họ muốn chia sẻ và truyền bá những điều này với tất cả mọi người. Và đây chính là tôn giáo và là mục đích cuối cùng của tôn giáo.  Như vậy cả khoa học và tôn giáo đều cần thiết và không thể thiếu trong đời sống của con người. Khoa học giúp con người hiểu và làm giàu thế giới vật chất của mình. Tôn giáo giúp con người hiểu và làm giàu thế giới tinh thần của mình. Cuộc tranh luận giữa khoa học và tôn giáo chính là cuộc tranh luận giữa vật chất và ý thức – cái nào quyết định cái nào và cái nào cần thiết hơn cái nào. Tôn giáo và khoa học tồn tại song song và tác động lên lẫn nhau cũng giống như vật chất và ý thức. Vật chất quyết định ý thức và ý thức quay trở lại quyết định và thay đổi vật chất. Tôn giáo là khởi đầu của khoa học và khoa học quay trở lại tác động lên tôn giáo. Các trường đại học lâu đời và nổi tiếng trên thế giới hiện đang là trung tâm của khoa học đều có nguồn gốc bắt đầu từ nhà thờ và tôn giáo. Các nghiên cứu khoa học quay trở lại giúp chứng minh để ủng hộ hay bác bỏ những niềm tin tôn giáo. Đây là hai mặt dường như đối lập nhưng lại có mối quan hệ tương hỗ mật thiết và không thể tách rời nhau.  Những nghiên cứu gần đây về Thiền trong Đạo Phật là một ví dụ liên quan đến mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học. Thiền là phương pháp giúp cho con người khám phá và thấu hiểu thế giới nội tâm của mình. Những nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng thiền có rất nhiều công dụng hữu ích giúp cho con người sống cân bằng, hạnh phúc, và bình yên. Rất nhiều công ty và các trường đại học hàng đầu thế giới đã và đang đưa những nghiên cứu và thực hành về thiền vào trong tổ chức của mình.   Có một ví dụ khác về khoa học là hiện tượng rối lượng tử (Quantum Entanglement). Đây là một hiệu ứng trong vật lý lượng tử mà hai hạt vật chất ở cách xa nhau nhưng có một mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Trạng thái của một hạt vật chất sẽ có ảnh hưởng ngay lập tức tới trạng thái của hạt kia thông qua hiện tượng liên đới lượng tử này. Trong tôn giáo, đây là một niềm tin đã được biết đến từ rất lâu: Một chiếc lá rung có thể lay động đến một ngôi sao, hay một lời nguyện cầu có thể vọng vang đến hàng ngàn ngôi sao trong vũ trụ.     Nhà bác học Albert Einstein có một câu nói nổi tiếng về mối quan hệ này: “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khoa học què quặt. Tôn giáo mà thiếu khoa học thì tôn giáo mù lòa.” Cả tôn giáo và khoa học đều cần thiết và không thể thiếu trong cuộc sống, và giáo dục cần phải giúp con người học và hiểu được cả hai.   * GS. TS Vinh Q. Nguyen, Đại học Coe College, bang Iowa, Mỹ    Author                Vinh Nguyễn        
__label__tiasang Tồn tại và phát triển      Nhiệm vụ cơ bản nhất của Đại hội X là xác định dứt khoát giải pháp chính trị cho đất nước trong vòng 5 năm tới. Trên cơ sở định hướng chính trị có tính tổng thể đó, sẽ xác định các giải pháp bộ phận. Định hướng chính trị đóng vai trò quyết định đối với các giải pháp bộ phận. Nhưng các giải pháp bộ phận bằng nghiệp vụ của mình mới có thể tạo ra sức mạnh vật chất cho sự phát triển đất nước.    Chính trị là gì ?  Cách nói của Tôn Trung Sơn có lẽ dễ hiểu hơn cả. “Về ý nghĩa của hai chữ “chính trị” nói giản đơn thì “chính” là việc của dân chúng, “trị” là quản lý, quản lý việc của dân chúng thì gọi là chính trị. Lực lượng quản lý việc của dân chúng thì gọi là chính quyền”.[Tôn Trung Sơn. Chủ nghĩa Tam Dân. Viện thông tin khoa học xã hội, 1995, tr.163].  Dân chúng là cuộc sống thực. Cuộc sống thực của hàng triệu triệu người là liên tục, không có nhiệm kỳ.              .Thỏa mãn cùng một lúc cả ba đặc điểm: kinh tế thị trường, dân chủ, phạm trù cá nhân ở giai đoạn hiện nay (5, 10, 15 năm tới) là một cách xử lý thực tiễn theo định hướng lý thuyết            Chia ra từng nhiệm kỳ là việc làm thực tế trực tiếp của những người đang sống, nhằm những mục đích trực tiếp để tồn tại. Vì vậy, mọi giải pháp, dù giải pháp tổng thể hay giải pháp bộ phận, đều có tính lịch sử, tức là chỉ đúng cho một giai đoạn cụ thể. Và nếu nó thực sự đúng cho một nhiệm kỳ (giai đoạn cụ thể) 5 năm này thì mới hy vọng còn có sự tồn tại và phát triển của đất nước đến nhiệm kỳ (giai đoạn) 5 năm tiếp theo, rồi đến 5 năm tiếp theo nữa… Mỗi nhiệm kỳ (giai đoạn) vừa có tính hiện thực (tồn tại) vừa có tính định hướng (cho phát triển).  Trong nền văn minh hiện đại, để có được sức mạnh vật chất cho sự tồn tại và phát triển thì sức mạnh ấy sẽ được tạo ra một cách tự giác, như một sản phẩm trước đó của tư duy.  Tư duy là CÁCH nghĩ bằng hệ thống khái niệm như CÁCH (phương thức) sản xuất đặc trưng bằng hệ thống công cụ thủ công hay bằng hệ thống máy móc.  Triết học cổ điển Đức, từ thế kỷ XVIII, từ Kant, đến Hegel, đến Marx, đã phân biệt ra hai loại tư duy: tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa và tư duy khoa học. Bất cứ em bé nào cũng biết, đây là nước (đúng là nước thật) nhưng nếu hỏi vặn vì sao đúng là nước, thì chỉ có thể nhận được câu trả lời “kinh nghiệm chủ nghĩa”: rõ là nước, chứ còn gì nữa, còn câu trả lời khoa học: nước là hợp chất của hai chất khí dễ cháy. Thật ngược đời! “Những chân lý khoa học bao giờ cũng ngược đời, nếu người ta phán đoán chúng trên cơ sở kinh nghiệm hằng ngày”. [Mác. Mác và Ăng-ghen. Tuyển tập 6 tập, tập III. Nxb ST, 1982, tr.128].  Hệ thống khái niệm hoàn chỉnh làm nên một lý thuyết (có người gọi là hệ thống quan điểm, thường dùng để “biểu diễn” lập trường tư tưởng). Mỗi lý thuyết có cốt lõi của nó. Ví dụ, nếu từ bộ Tư bản đồ sộ hàng ngàn trang mà rút đi một câu này của Mác thì nó sẽ sụp đổ: Sức lao động sống là nhân tố duy nhất tạo ra lợi nhuận (chứ không phải tư bản, máy móc…). Cũng vậy, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, có mấy dòng này: “Những người Cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này: Xóa bỏ chế độ tư hữu”. [Mác và Ăng-ghen. Tuyển tập 6 tập, Tập I. Nxb ST, 1980, tr.559].  Cách nói “cực đoan” như thế về một lý thuyết là cách nói có trách nhiệm nhất vì dám chấp nhận sự thách              Trong thực tiễn cuộc sống thực thì phải xử lý những việc sát sạt với sự tồn tại trực tiếp. Lúc này, lý thuyết chỉ có tính định hướng. Vì vậy, cả giải pháp tổng thể lẫn giải pháp bộ phận đều phải biết CÁCH xử lý: Triệt để về lý thuyết, mềm dẻo trong hành động, đôi khi vì để thắng mà phải tạm thời chịu thua.           thức một có một không. Có một nó sẽ có tất cả. Không một nó sẽ mất tất cả.  Có một hố ngăn cách rất lớn giữa lý thuyết và thực tiễn. Tư duy (nghĩ) có thể thuần lý thuyết, không hề vương vấn bất cứ điều gì ngoài bản thân lý thuyết ấy. Nhưng trong thực tiễn cuộc sống thực thì phải xử lý những việc sát sạt với sự tồn tại trực tiếp. Lúc này, lý thuyết chỉ có tính định hướng. Vì vậy, cả giải pháp tổng thể lẫn giải pháp bộ phận đều phải biết CÁCH xử lý: Triệt để về lý thuyết, mềm dẻo trong hành động, đôi khi vì để thắng mà phải tạm thời chịu thua. Hegel cho rằng đạt đến tư hữu cá nhân là lịch sử đạt đến trình độ phát triển đỉnh điểm, đạt đến hoàn thiện, vĩnh viễn. Mác cho rằng tư hữu cá nhân là một tất yếu lịch sử (mà chủ nghĩa tư bản là hình thái xã hội đặc trưng cho nó) thì cũng với một tính tất yếu đanh thép y như thế, tư hữu cá nhân sẽ bị phủ định, sẽ bị vượt bỏ. Vì vậy, về mặt triết học, chế độ tư hữu nhất định sẽ bị xóa bỏ. Còn về mặt lịch sử, chính Mác cũng thừa nhận tính tích cực của nó ở một giai đoạn lịch sử cụ thể, ví dụ, khi đang hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản. Chế độ tư hữu đã sinh ra trong lịch sử nhân loại thì rồi tự nó sẽ xoá bỏ nó, một khi lịch sử phát triển đến trình độ cần thiết đó. Không thể nhổ nhớm cây cho nó chóng lớn (Mạnh tử).  Trình độ phát triển của nước ta ở giai đoạn cụ thể này đòi hỏi cách xử lý thực tiễn của chính nó, ít nhất trong 5 năm, 10 năm, 15, 20, 25, thậm chí 50, 100 năm nữa…  Khi đã có định hướng lý thuyết, thì có thể chủ động xử lý thực tiễn, ví dụ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hình thành và phát triển (có tính lịch sử) chế độ tư hữu. Đến nay, đầu thế kỷ XXI, tức là đã 3-4 thế kỷ rồi, mà cả nhân loại, kể cả các nước phát triển nhất, vẫn đang cơn khát tư hữu. Cơn khát tư hữu cũng tự nhiên như các cơn khát khác như khát nước… nó phải đã đã, thì mới “bình tĩnh” được.  Đại hội X xác định giải pháp chính trị cho đất nước, tức là chỉ ra cách xử lý thực tiễn mọi việc của dân chúng, của 80 triệu người, trước hết là việc làm ăn sinh sống. Phải sống đã, rồi mới hy vọng sống tốt hơn!  Thừa nhận nền kinh tế thị trường tức là thừa nhận nhiều thành phần kinh tế, thừa nhận tư hữu cá nhân.  Thừa nhận tư hữu cá nhân tức là thừa nhận tính dân chủ giữa các mặt hàng bày bán trên thị trường (giữa chợ). Tất cả đều hưởng dân chủ như nhau không phân biệt nguồn gốc xuất thân, nơi sinh nơi sống…  Tư hữu nghĩa là của tôi, của cá nhân tôi. Cá nhân tôi giữa chợ (trên thị trường) hay trong phòng bầu cử, thì cũng vẫn là một “tôi” ấy, như bất kỳ “tôi” nào khác. “Tôi” – tôi với “tôi” – anh trực tiếp với nhau, không có quá khứ xen vào, không cho kẻ thứ ba xen vào (trừ hàng hóa).  Thỏa mãn cùng một lúc cả ba đặc điểm ấy (kinh tế thị trường, dân chủ, phạm trù cá nhân) ở giai đoạn hiện nay (5, 10, 15 năm tới) là một cách xử lý thực tiễn theo định hướng lý thuyết. Vì là xử lý chính trị, nên tất cả mọi người đều phải biết rõ “việc của dân chúng” để có thể chấp nhận cách xử lý. Nói chữ: mọi việc của dân chúng phải xử lý công khai, minh bạch, không còn “bí mật nội bộ”, không còn “xử lý nội bộ”, không còn bất cứ vùng cấm đặc quyền đặc lợi nào cho bất cứ cá nhân nào. Được như vậy là được cho cả tồn tại (cho bây giờ) và được cho cả phát triển (cho ngày mai).  Hồ Ngọc Đại    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôn vinh cái gì? Thói háo danh hay thành tích học thuật?      Suốt hàng chục năm nay, dư luận đã không ngớt truy kích bệnh háo danh, thói sính bằng cấp đang là nguyên cớ bề sâu của nhiều tệ nạn xã hội, không chỉ liên quan đến học hành thi cử mà còn đến cả những chuyện mua bán bằng cấp, chạy chức chạy quyền, liên quan đến công tác cán bộ, công tác nhân sự nói chung. Ấy thế nhưng chừng như căn bệnh này không hề thuyên giảm trước mọi sự công kích; một trong những biểu hiện nổi cộm hiện tại là sự xuất hiện cả một “Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại”, đang chuẩn bị xây dựng một Văn Miếu hiện đại rộng hàng mấy chục hecta, dựng bia đá ghi danh các tiến sĩ thời nay.       Cách đây ít năm, đã có một nỗ lực cùng loại nhưng tầm cỡ nhỏ hơn: một nhóm nào đó đứng ra tổ chức tiếp cận những người có bằng tiến sĩ các loại, tập hợp tư liệu tiểu sử, ảnh chân dung và liệt kê công trình khoa học rồi in thành 2 tập “Tiến sĩ Việt Nam hiện đại” nghe nói bán rất chạy; rất chạy là vì mỗi vị có tên trong đó sẽ mua ít nhất 1 cuốn! Còn tác dụng của 2 tập sách mỗi cuốn trên dưới ngàn trang in đó thì không thấy ai nói là có hay không!   Cách dựng “bia giấy” kể trên dẫu sao cũng “không là cái đinh gì” so với dự án vừa được công bố. Một điều rất đáng chú ý: đứng chủ trương công việc của trung tâm nói trên là những tên tuổi đã từng đứng đầu các cơ quan Nhà nước về khoa học và giáo dục. Căn bệnh sính bằng cấp, thói háo danh, qua dữ kiện về nhân sự này, càng cho thấy mức trầm kha của nó trong xã hội ta.  Thiết nghĩ nên nhìn thẳng để thấy ý nghĩa hai mặt (thậm chí nhiều mặt), ngay của những di tích như Văn Miếu Quốc tử Giám với những tấm bia khắc tên các tiến sĩ thời trước; hoặc các di tích Văn miếu, văn chỉ, còn sót lại nơi một số làng xã. Một mặt, toàn bộ các di tích ấy là bằng chứng về truyền thống hiếu học của dân ta, riêng Văn Miếu Quốc tử Giám còn là bằng chứng về sự xuất hiện khá sớm của các thiết chế giáo dục đào tạo trong chính sách của Nhà nước quân chủ trên đất nước ta mà các tấm bia khắc tên những người đỗ đạt cao đó là minh chứng rõ rệt. Nhưng mặt khác, các di tích ấy, những tấm bia khắc tên ấy cũng gắn với một trong những thói tật của người Việt đời xưa: đi học chỉ cốt đỗ đạt để được làm quan, khi đã quan cao bổng hậu, vinh thân phì gia rồi thì không “học” thêm gì nữa, chẳng có công tích gì đáng kể, đến nỗi ngoài mấy ký tự còn lại trên đá thì  người mang họ tên ấy hầu như chẳng có công trình tác phẩm gì để lại cho đời.   Cho nên, với Văn Miếu, của ngày xưa hay của ngày nay, vấn đề là duy trì nó, dựng mới nó để tôn vinh cái gì? Để làm thỏa mãn thói háo danh, thói sính bằng cấp vốn cũng rất có “bề dày truyền thống” của người đời nay, hay tôn vinh thành tích học thuật của các nhà khoa học tiêu biểu, những người có thể có hoặc không có tấm bằng tiến sĩ nhưng có công trình thật sự, được thừa nhận thật sự?  Ở khía cạnh tôn vinh thành tích học thuật của những nhà khoa học tiêu biểu, theo tôi, hoạt động của trung tâm vừa thành lập kể trên có thể nên được tiếp tục, nhưng nội dung công việc, − và cả tên gọi của trung tâm nữa, −  cần có ít nhiều thay đổi. Vấn đề chính trong nội dung là: nên tôn vinh những nhà khoa học có thành tích học thuật thật sự, có công trình, có đóng góp thật sự vào các ngành khoa học ở trong hoặc ngoài nước.   Còn đối với những người đã đỗ tiến sĩ, có nên ghi nhận không? Thiết nghĩ nên hay không là tùy thuộc sự suy nghĩ của chúng ta, − tức là suy nghĩ của dân chúng và nhất là của giới trí thức.  Nên nghĩ thế nào về “tiến sĩ”? Tạm bỏ qua mọi thứ lộn sòng, gian dối liên quan đến việc mưu cầu tấm bằng “tiến sĩ”, ở trong hay ở ngoài nước, ta hãy chỉ cần nhớ đó là quy chế được đánh dấu cho bậc (= học vị) cao nhất về học vấn của người đi học. Nghĩa là “tiến sĩ” dù sao cũng là dấu hiệu thuộc tư cách học trò. Đối với cuộc đời, đối với nhân quần, điều đáng quan tâm trước hết không phải là con người kia có bằng cấp gì, mà là con người có học vấn nào đó đã làm được những gì có ích, ví dụ, mở mang gì thêm cho tri thức, tạo ra cái gì mới về kỹ năng làm việc, đóng góp gì mới vào sự tiện nghi của đời sống con người? Nói cách khác, việc người ta đi học để có được những tấm bằng “cử nhân”, “thạc sĩ”, “tiến sĩ”, − chủ yếu vẫn là việc của mình và cho mình; việc người ta phát minh, sáng chế, làm ra công trình, tác phẩm, − mới là việc vì người khác, vì cộng đồng. Người ta chỉ nên tôn vinh những hành động vì cộng đồng, vì nhân loại.            Theo tôi, hoạt động của trung tâm nói trên nên hướng vào phạm trù “nhà khoa học” thay vì phạm trù “tiến sĩ”. Hoạt động chính ở đây là lập bảo tàng danh nhân khoa học người Việt.         Nếu hiểu vấn đề theo cách như vậy thì, theo tôi, hoạt động của trung tâm nói trên nên hướng vào phạm trù “nhà khoa học” thay vì phạm trù “tiến sĩ”. Hoạt động chính ở đây là lập bảo tàng danh nhân khoa học người Việt. Hoạt động này cũng tương tự hoạt động làm bảo tàng văn học mà Hội nhà văn đang chủ trì, khác chăng là những người làm nghề bảo tàng khác nhau sẽ có sáng kiến khác nhau.  Nhân nói đến di sản của các nhà khoa học, tôi lại nghĩ đến một tình trạng hầu như trái ngược nhau khá phổ biến ở ta, ấy là sau khi một học giả tầm cỡ nằm xuống, sau tang lễ trọng thể ít lâu sẽ có việc truy tặng huân chương, giải thưởng, những hội thảo, kỷ niệm rầm rộ, v.v… nhưng chỉ có một việc rất ít khi được tiến hành: ấy là lập những nhóm chuyên gia và nhân viên để kiểm kê tủ sách, giấy tờ, bản thảo của người quá cố, để xem có những tác phẩm nào còn bỏ dở, những thư từ ghi chép ra sao, tóm lại là kiểm định phần thật sự là di cảo, bên cạnh phần công trình tác phẩm đã công bố. Từ vài chục năm trước trong dư luận đã có những lời ta thán về chuyện tủ sách cũ của học giả này hay học giả kia không được bảo quản tốt, đến nỗi để các cháu nhỏ đem xé sách quý chữ nho ra phất diều thả chơi.   Nói rộng ra, nên thấy tình trạng yếu kém cả ở việc nghiên cứu về nhân vật trong sử học lẫn việc nghiên cứu tác gia trong văn học, − yếu kém từ sưu tầm tập hợp tư liệu hiện vật đến khái quát chung về cuộc đời những con người tiêu biểu về những phương diện nào đó; biểu hiện rõ nhất là các tác gia người Việt chúng ta chưa viết ra được cuốn tiểu sử nào đạt chuẩn khiến giới biên khảo nước ngoài buộc phải dịch ra tiếng nước họ thay vì đầu tư cho chuyên gia của họ đi tìm hiểu để viết ra. Nên nhận ra điều này, ngay về những nhân vật lớn người Việt mà thế giới cần biết nhất.    Phải chăng hoạt động của những cơ sở như trung tâm nói trên sẽ hướng tới những chuẩn mực cao về bảo tồn di sản các nhân vật lịch sử, cụ thể là của những học giả Việt Nam tiêu biểu ở thời hiện đại?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôn vinh hành động vì chủ quyền biển, đảo      Ngày 1/8, 63 tác giả tiêu biểu có các  công trình nghiên cứu về biển, đảo; những ngư dân quả cảm bám biển; quân  chủng Hải quân và những lực lượng bảo vệ biển đảo của đất nước đã được  tôn vinh tại Hà Nội.    Buổi gặp mặt “Tôn vinh hành động vì chủ quyền biển, đảo” do Trung tâm Minh Triết thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) và Công ty cổ phần xã hội Điện tử Gafim (Gafim Corp), tổ chức.   Các đại biểu dự cuộc gặp mặt cũng bày tỏ sự hoan nghênh và đánh giá cao phong trào “Góp đá cho Trường Sa” của Báo Tuổi Trẻ; phong trào “Tấm lưới nghĩa tình” của công nhân, viên chức cả nước vì biển, đảo thân yêu của Tổ quốc, do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động.  Đặc biệt, những công trình nghiên cứu về biển, đảo được xuất bản trong thời gian qua, điển hình như: “Lẽ phải-Luật quốc tế và Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của tác giả Nguyễn Việt Long; tác phẩm “Có một con đường mòn trên Biển Đông” của tác giả Nguyên Ngọc; tác phẩm “Biển Đông hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác” của tác giả Đặng Đình Quý…đã có tác dụng lớn trong việc nâng cao nhận thức, tình cảm và mức độ quan tâm của nhân dân và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đồng thời góp vào dư luận quốc tế những kiến giải đúng mực của Việt Nam về vấn đề chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông.  Trong cuộc gặp mặt “Tôn vinh hành động vì chủ quyền biển, đảo” cũng diễn ra hội thảo về tình hình nghiên cứu chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, do các nhà khoa học, học giả và chuyên gia trình bày, cung cấp một cái nhìn tổng hợp về những công trình được xuất bản trong thời gian qua. Đây là cơ sở để các nhà nghiên cứu bình luận, đánh giá về ưu, khuyết điểm trong các nghiên cứu về lĩnh vực này, mặt khác có thể gợi ý về hướng nghiên cứu cho các cơ quan chức năng.  Nhân dịp này, Công ty cổ phần xã hội Điện tử Gafim đã giới thiệu ý tưởng thiết kế Mạng Biển, Đảo Việt Nam.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde vẫn được tín nhiệm sau khi ra tòa      Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Christine Lagarde không phải chịu án phạt nào và vẫn giữ được vị trí của mình, bất chấp cáo buộc liên quan đến việc bà đã sơ suất với một khoản chi của Chính phủ trong thời gian làm Bộ trưởng Tài chính Pháp năm 2008.      Tổng giám đốc IMF, bà Christine Lagarde. Nguồn: Cliff Owen – AP    Chỉ vài giờ sau khi hội đồng thẩm phán ở Paris ra phán quyết không có hình phạt hay án tù nào cho bà Lagarde hôm thứ Hai vừa qua, Ban điều hành đại diện cho 189 nước thành viên của IMF tái khẳng định họ hoàn toàn tin tưởng vào bà.  Bà Lagrade không có mặt tại Paris khi tòa công bố phán quyết cuối cùng. Từ trụ sở của IMF ở Washington, bà nói với các phóng viên rằng bà sẽ không kháng cáo quyết định này sau khi quyết liệt chống lại cáo buộc đối với bà kể từ khi nhận chức lãnh đạo IMF vào năm 2011.  “Tôi đã bị kết tội tắc trách, nhưng không có án tù, án phạt nào, và cũng không bị ghi vào hồ sơ hình sự. Tôi không hài lòng với điều đó, nhưng có những thời điểm một người phải dừng lại, sang một trang mới, tiếp tục làm việc với những người đã đặt niềm tin vào tôi”, bà nói.  Trong phán quyết đưa ra hôm thứ Hai, các thẩm phán không phát hiện ra sự sơ suất trong quyết định của bà Lagarde khi tìm cách dàn xếp vụ kiện của ông Bernard Tapie bên ngoài tòa án, nhưng họ nói rằng việc bà không phản đối quyết định bồi thường khoảng 400 triệu euro cho ông Tapie là sơ suất, dẫn đến việc sử dụng sai công quỹ.  Thẩm phán phụ trách vụ án, ông Martine Ract Madoux, giải thích việc không có án tù nào bằng cách viện dẫn trách nhiệm nặng nề của bà Lagarde trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 đang ở cao trào tại thời điểm bồi thường [cho ông Tapie], cũng như uy tín quốc tế rất lớn của bà. Cáo buộc đối với bà Lagarde có thể khiến bà phải chịu nhiều nhất một năm tù.  Bà Lagarde, 60 tuổi, phát biểu tại phiên tòa diễn ra tuần trước rằng bà đã hành động trung thực và vì lợi ích công.  Bà cũng nói bà đã chấp thuận phán quyết của trọng tài trung gian hòa giải – đi ngược lại tư vấn của một số viên chức Bộ Tài chính Pháp – nhằm chấm dứt trận chiến pháp lí tốn kém kéo dài 15 năm giữa chính phủ và ông Tapie, cũng là người ủng hộ tổng thống khi đó là ông Nicolas Sarkozy.  Năm 1993, ông Tapie đòi chính phủ Pháp bồi thường 1 tỷ euro, sau khi bán cổ phần của ông trong công ty thể thao Adidas cho Credit Lyonnais, một ngân hàng nhà nước.  Ông cáo buộc Credit Lyonnais lừa ông vì sau đó ngân hàng đã bán lại cổ phiếu đó với giá cao hơn nhiều.  Do vụ kiện ở tòa án bị bế tắc, hai bên đã đồng ý với một thỏa thuận riêng, trong đó ông Tapie nhận bồi thường 403 triệu euro bao gồm cả lãi suất và thiệt hại.  Tuy nhiên, vào năm 2015, một thẩm phán cho rằng quyết định của trọng tài trung gian hòa giải là vô căn cứ do có sự gian lận và yêu cầu ông Tapie hoàn lại 403 triệu euro cùng với lãi suất.  Song ông Tapie đã được bảo hộ phá sản và vẫn chưa hoàn lại tiền.  Đây là vụ kiện thứ năm được xét xử bởi tòa án đặc biệt của Pháp, lập ra từ năm 1993 để xử các vị bộ trưởng trong chính phủ. Tòa án có 15 thẩm phán, trong đó 12 người là nghị sĩ, chưa bao giờ ra án tù nào nặng cả.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn:   http://uk.reuters.com/article/uk-france-lagarde-idUKKBN1481HO?il=0          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Bill Clinton dự lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam      Cựu Tổng thống Bill Clinton đã tham dự Lễ chào mừng  kỷ niệm 20 năm quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam tại Hà Nội hôm thứ Năm, ngày  2/7. Tại đây ông có bài phát biểu trước hơn 1.000 vị khách.      Tổng thống Bill Clinton tới Hà Nội để khai mạc lễ kỷ niệm lần thứ 20 của sự kiện bình thường hóa quan hệ ngoại giao mang tính lịch sử giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tuyên bố năm 1995 là một trong nhiều việc làm của Tổng thống Clinton nhằm giúp hai nước nâng cao tinh thần hoà giải và cùng nhau hướng tới tương lai, bao gồm cả việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và cuộc đàm phán cho một thỏa thuận thương mại song phương.  Vào ngày 11/7/1995, Tổng thống Clinton đã tuyên bố “bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam,” mở đường cho hiệp ước có tính lịch sử. Bước đột phá này dẫn tới việc Quan hệ Đối tác Toàn diện đã được Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký vào năm 2013; và đưa tới một tầm nhìn chung thể hiện cho mối quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực, dẫn dắt hai quốc gia hướng tới tương lai. Trong niềm tin vào tương lai tươi sáng đó, các buổi lễ chào mừng đã được tổ chức tại Hà Nội và TPHCM cùng những chương trình khác trong suốt năm 2015 trên 63 tỉnh thành Việt Nam.  Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius đã thông báo sự tham gia của cựu Tổng thống tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20 của Tổng Lãnh Sự Quán tại TPHCM vào thứ Tư, ngày 1/7. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã thay mặt Chính phủ Việt Nam đến tham dự buổi lễ với tư cách khách mời danh dự. Những vị khách khác của buổi lễ bao gồm cựu Đại sứ Douglas “Pete” Peterson, cựu Đại sứ Michael W. Michalak và Đại biện lâm thời đầu tiên Desaix Anderson.  Để tôn vinh lễ kỷ niệm lần thứ 25 của Đạo luật về Người khuyết tật của Hoa Kỳ, www.ada.gov, đội hợp xướng Hi vọng (the Hope Choir) với những thành viên khiếm thị đầy tài năng đã cùng nhau hát quốc ca Việt Nam tại Hà Nội dưới sự chỉ huy của Giáo sư Tôn Thất Triêm. Trong khi đó, tại TPHCM, nhóm Đời rất đẹp (Life is Beautiful) từ Trung tâm Khuyết tật và Phát triển Năng lực (DRD) cũng đã biểu diễn bài quốc ca.  Như Đại sứ Osius đã phát biểu tại Lễ kỷ niệm ở Tổng Lãnh Sự Quán ngày 1/7, “khi nhìn lại, tôi nhớ rằng sự kiện ngày Quốc khánh đầu tiên vào 18 năm trước cũng không tráng lệ như sự kiện này, ở đó có ít khách mời hơn, ít quan chức Hoa Kỳ làm việc ở đây, và ít công ty Mỹ hơn… Dù vậy, sự kiện đó vẫn có tính biểu trưng quan trọng vì nó đại diện một kỷ nguyên mới giữa hai đất nước…. Những điều chúng ta học được trong suốt những năm đầu ấy… là rằng dù đã từng là kẻ thù, Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn có thể xây dựng một mối quan hệ mới…. Vì vậy, là một Đại sứ, tôi cảm thấy lạc quan.  Tôi biết mình phải trân trọng quá khứ của chúng ta, tôi có lý do để chào mừng những thành công của 20 năm vừa qua và tôi biết rằng tương lai của mối quan hệ này là vô hạn. Tôi tin rằng người Mỹ và người Việt Nam sẽ tiếp tục cùng nhau tiến lên và có sự hợp tác sâu rộng hơn trong nhiều lĩnh vực hoạt động hơn nữa”.   Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Hugo Chavez: Cảm ơn quốc dân yêu mến của tôi      Pháo hoa bắn rực rỡ trên nền trời thủ đô Venezuela trong lúc Tổng thống vừa tái đắc cử Hugo Chavez viết trên Twitter: “Cảm ơn quốc dân yêu mến của tôi! Venezuela muôn năm! Cảm ơn Chúa! Cảm ơn tất cả mọi người!”      Hàng chục ngàn người Venezuela ủng hộ ông Hugo Chavez đã hân hoan đổ ra khắp đường phố Caracas để ăn mừng chiến thắng.   Kiên định con đường chủ nghĩa xã hội  Chiến thắng của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez đã dập tắt cơ hội tốt nhất trong 14 năm qua của phe đối lập nhằm giành quyền lãnh đạo đất nước có trữ lượng dầu thô lớn nhất Nam Mỹ. Ông Hugo Chavez nay càng củng cố thêm vai trò là một trong những nhà lãnh đạo nổi bật trong lịch sử hiện đại của châu Mỹ Latin.   Kết quả chính thức cho thấy ông Chavez, được 54,42% số phiếu bầu, vẫn còn được sự tín nhiệm của tầng lớp lao động và người nghèo ở Venezuela, bất chấp sức khỏe của ông vẫn đang trong quá trình hồi phục từ bệnh ung thư.  Mary Reina (62 tuổi), một người ủng hộ ông Chavez, cho biết: “Tôi đang ăn mừng với tất cả trái tim. Chavez là niềm hi vọng của quốc dân và của châu Mỹ Latin”. Tổng thống Argentina Cristina Fernandez cũng viết trên Twitter: “Chiến thắng của bạn là chiến thắng của chúng ta. Và là chiến thắng cho Nam Mỹ và vùng Caribê”.  Kế thừa di sản để lại của anh hùng giải phóng dân tộc Simon Bolivar, Tổng thống Chavez đã đổ hàng tỉ USD doanh thu từ nguồn dầu mỏ vào các chương trình chống đói nghèo ở Venezuela. Ông cũng khéo léo tận dụng khả năng hùng biện để tạo dựng một tình cảm chặt chẽ với quần chúng. Đây chính là những lý do giúp Chavez tiếp tục cương vị lãnh đạo đất nước sau kỳ bầu cử khó khăn.          Các nhà quan sát dự đoán chiến  thắng của ông Chavez sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến quy tắc của nhóm các  quốc gia thành viên OPEC trong hai thập kỷ. Venezuela sẽ tiếp tục chào  đón đầu tư nước ngoài từ các nước đồng minh chính trị như Trung Quốc,  Nga, Iran và Belarus, trong khi các nhà đầu tư phương Tây thận trọng  hơn. Quan hệ ngoại giao với Washington có khả năng vẫn còn căng thẳng,  mặc dù dầu hỏa Venezuela vẫn tiếp tục nhập khẩu vào Mỹ trong những năm  qua.         Ở mặt trận đối ngoại, ông cũng có sự ủng hộ của các đồng minh cánh tả xung quanh khu vực từ Cuba đến Bolivia – những quốc gia được ông Chavez hỗ trợ nhờ nguồn nhiên liệu và tài chính dồi dào.  Ông Chavez cho biết sẽ tiếp tục kiên trì theo đuổi con đường chủ nghĩa xã hội. Tương lai chính trị của ông Chavez không chỉ màu hồng bởi ông phải ra sức hàn gắn sự bất đồng và chia rẽ của đất nước từ cuộc bầu cử vừa qua. Đã có bạo lực và một số nhà hoạt động chính trị bị bắn chết trong quá trình vận động tranh cử quyết liệt giữa các phe phái.  Những người ủng hộ liên minh Dân chủ Thống nhất do ứng viên 39 tuổi Henrique Capriles lãnh đạo đã chìm trong nước mắt trước thất bại. Ông Capriles, được một lượng phiếu không đến nỗi tồi 44,97%, đã chúc mừng ông Chavez và chấp nhận thua cuộc. Thế nhưng lực lượng tập hợp 30 đảng phái đối lập này sẽ tập hợp lại nhanh chóng cho các cuộc bầu cử nhà nước vào tháng 12 tới.  Tuy thua cuộc nhưng tỉ lệ phiếu bầu dành cho phe đối lập phản ánh một phản ứng tức giận đáng kể nhắm vào ông Chavez. Người dân đã bày tỏ bất bình trước sự yếu kém của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản như tội phạm, bạo lực, đường sá đầy ổ gà xuống cấp trầm trọng, nạn mất điện và tham nhũng ở tất cả các cấp trong bộ máy điều hành đất nước.  Sự chú ý bây giờ sẽ chuyển sang những kế hoạch cho một nhiệm kỳ mới sáu năm của ông Chavez.  Venezuela có khả năng đảm bảo chỉ số phát triển ổn định từ 4-5% trong năm nay. Dù vậy vẫn có nỗi lo về lạm phát trong năm 2013 do chính phủ đã chi tiêu hào phóng trong thời gian diễn ra chiến dịch vận động tranh cử của ông Chavez, phần nào giúp ông tăng cơ hội chiến thắng.  Trong quá khứ, ông Chavez từng thắng cử nhờ hướng về phía trước với những cải cách triệt để. Với nhiệm kỳ mới kéo dài đến năm 2019, ngoài nền kinh tế nhiên liệu chủ chốt, ông Chavez có thể đầu tư phát triển các ngành ngân hàng, công nghiệp thực phẩm và chăm sóc sức khỏe của Venezuela.  Hãng Reuters cho rằng “mọi ánh mắt sẽ được nhìn về sức khỏe của ông Chavez một lần nữa” trong nhiệm kỳ mới. Vị tổng thống bệ vệ có lúc để lộ sự kiệt sức, nhưng rồi lại gây ngạc nhiên cho công chúng khi nhảy múa, hát và chơi đàn tại một cuộc mittinh cho chiến dịch bầu cử vừa qua của mình.  “Bất kỳ dấu hiệu nào về sự suy giảm sức khỏe của ông sẽ dấy lên nhiều tranh luận trong Đảng Xã hội chủ nghĩa”, Reuters nhận định. Chủ tịch quốc hội Diosdado Cabello, Ngoại trưởng Nicolas Maduro và Phó tổng thống Elias Jaua là những ứng viên tiềm năng thay thế vai trò lãnh đạo của ông Chavez khi cần thiết.  Nhưng không ai trong số các đồng minh trên của ông Chavez lại có sức hút thật sự. Vì vậy nếu có được một cuộc bầu cử khác, Henrique Capriles lại có thể là một sự lựa chọn lý tưởng sau khi nhà lãnh đạo đối lập này đã nổi tiếng ở đất nước 29 triệu người nhờ một chiến dịch tranh cử được đánh giá cao dù gặp thất bại.  Nhiệm kỳ sáu năm mới của Tổng thống Hugo Chavez bắt đầu từ ngày 10-1-2013.           Một nhà lãnh đạo giữa “khen ngợi và chỉ trích”   Hugo Chavez tên đầy đủ là Hugo Rafael Chávez Frías, sinh  ngày 28-7-1954 trong một gia đình nhà giáo nghèo ở làng Sabaneta. Ông  theo học Học viện Quân sự Venezuela từ năm 17 tuổi và được phong hàm  thiếu úy năm 1975.   Chavez lãnh đạo nhóm đảo chính tổng thống Carlos Andres  Perez năm 1992 nhưng thất bại. Được ân xá vào năm 1994, Chavez gây sửng  sốt khi bốn năm sau (1998) ông được bầu làm tổng thống với lời hứa giúp  đỡ dân nghèo. Ông tái đắc cử vào năm 2000 và 2006. Trong suốt các nhiệm  kỳ cầm quyền này, ông Chavez đẩy mạnh chính sách “Nhiệm vụ Bolivar”  chống lại dịch bệnh, nạn mù chữ, sự kém dinh dưỡng, đói nghèo và những  tệ nạn xã hội khác.   Ông Chavez từng bị đảo chính vào tháng 4-2002 bởi lực  lượng doanh nghiệp và lao động tổ chức biểu tình. Các tướng lĩnh yêu cầu  Chavez từ chức sau khi ông ra lệnh nổ súng vào người biểu tình. Dù vậy,  liên minh tân chính phủ lỏng lẻo đã phải trả quyền lại nhanh chóng cho  Chavez sau hai ngày. Lực lượng đảo chính thất bại bởi không giành được  sự ủng hộ của đa số người dân cũng như các nước láng giềng (các quốc gia  Mỹ Latin đều lên án đảo chính).   Năm 2008, lạm phát ở Venezuela lên đến 30%. Sang năm 2009  ông Hugo Chavez tuyên bố phá giá đồng bolivar của Venezuela khiến tỉ  giá của đồng nội tệ giảm còn một nửa so với USD.    Bên cạnh lập trường đưa đất nước Venezuela tiến lên chủ  nghĩa xã hội, quốc hữu hóa nền kinh tế, ông Chavez ủng hộ đoàn kết các  nước Nam Mỹ, đặc biệt là những quốc gia nghèo. Chavez cũng đã kết bạn  với các nhà lãnh đạo từ Iran sang Belarus – những nhân vật mà giới  phương Tây nhìn với sự nghi ngờ. Ông chống “chủ nghĩa đế quốc” và chính  sách ngoại giao của Mỹ.   Các quan điểm và chính sách đối nội lẫn đối ngoại của  Tổng thống Chavez gây tranh luận trái chiều, nhận được khen ngợi lẫn chỉ  trích. Những người phản đối nói ông là người độc tài, quản lý kinh tế  yếu kém, độc đoán. Ông cũng gây tranh cãi khi sửa đổi hiến pháp để loại  bỏ giới hạn nhiệm kỳ tổng thống.   Ông Chavez chịu ảnh hưởng tư tưởng rất lớn từ người bạn  và cũng là người thầy Fidel Castro. Giống Fidel Castro, ông nổi tiếng  với những bài phát biểu kéo dài trên truyền hình vào ban đêm. Năm 2012,  ông Chavez phá vỡ kỷ lục của chính mình bằng cách nói chuyện trong gần  10 giờ.   Ông Chavez tuyên bố vào giữa năm 2011 rằng ông được điều trị khỏi bệnh ung thư. Đến tháng 3-2012 bệnh tái phát nhưng bốn tháng sau ông tuyên bố mình được chữa khỏi hoàn toàn.          Tổng hợp Reuters, AFP      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Mỹ – Những bài diễn văn nổi tiếng*      Diễn văn của Tổng thống Mỹ luôn được coi là một trong những diễn văn có tầm ảnh hưởng lớn, không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Để mang đến cho độc giả những hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về tầm quan trọng của các bài diễn văn của các đời Tổng thống Mỹ, Alpha Books đã tập hợp các bài diễn văn được coi là xuất sắc nhất trong lịch sử nước Mỹ trong cuốn sách dày 440 trang, vừa được phát hành.    Trên núi Rushmore ở tiểu bang South Dakota của nước Mỹ, 100 năm qua vẫn sừng sững tượng cao 18 mét của bốn Tổng thống Mỹ tạc vào đá núi: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln. Ước tính có khoảng ba triệu du khách đến thăm di sản này mỗi năm. Đến đó, họ ngắm chân dung của bốn vị tổng thống kiệt xuất của nước Mỹ và xem bản Tuyên ngôn Độc lập cùng bản Hiến pháp. Đến đó, họ hiểu thêm về những tiền nhân đã khai quốc, mở mang bờ cõi và bảo vệ nền cộng hòa ra sao.  Nền cộng hòa đó ra đời trong tiếng súng, khi vùng đất mới của những thuộc địa riêng lẻ vì muốn liên kết chống thực dân Anh đã hợp lại. Trong khi người dân còn nhọc nhằn bên những luống cày cống nạp cho thực dân thì những người liên bang đã ngồi lại với nhau, lập ra những thể chế đầu tiên. Lịch sử nước Mỹ ghi ngày 7-6-1776, một đại biểu thuộc địa Virginia, ông Richard Henry Lee, trình bày trước Hội nghị Đại lục tại Philadelphia (tiểu bang Pennsylvania) rằng liên minh các thuộc địa “có quyền là những tiểu bang tự do, đọc lập”. Đáp lại đề nghị này, Hội nghị Đại lục đã lập ra ủy ban khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập chuẩn bị tài liệu để nước Mỹ tuyên bố độc lập, bao gồm những con người ái quốc mà sau này trở thành những vị cha già của đất nước: Thomas Jefferson, Abraham Lincoln, George Washington, Benjamin Franklin, John Adams… Thomas Jefferson là ủy viên của ủy ban đã chắp bút lo viết dự thảo đầu tiên.   Ngày 4-7-1776, bản Tuyên ngôn Độc lập được chuẩn y, không chỉ tuyên bố sự ra đời của một quốc gia mới với 13 tiểu bang, mà còn đưa ra một triết lý mới về sự tự do của con người mà sau này trở thành động lực cho toàn thế giới: “Chúng tôi xem những chân lý sau như hoàn toàn hiển nhiên, rằng mọi con người đều được sinh ra bình đẳng, rằng họ được Đấng sáng tạo ban cho những quyền không thể chuyển nhượng, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Những người ký tên vào Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 dù có bộ óc nhìn xa đến đâu cũng không thể mường tượng được rằng con cháu họ sau này có những bước đi thật dài để kiến tạo đất nước chỉ với 9 ngàn dặm vuông và 3 triệu dân lúc họ thành lập trở thành một cường quốc chỉ một thế kỷ sau đó.   Tuyên ngôn Độc lập được cả nước đón chào bằng lửa mừng, rượu mừng, pháo hoa và chuông nhà thờ. Nhưng sau khi người Mỹ tuyên bố độc lập, quân đội Anh mở cuộc tấn công lớn hòng dẹp tan quân cách mạng, quân đội do George Washington lãnh đạo đã thất bại liên tục và rút về phía Bắc. Nathan Hale, một cựu giáo sư ở Connecticut, khi bị quân Anh xử, đứng trước giá treo cổ đã tuyên bố một câu sau này hậu thế còn ghi: “Nếu tôi có được một vạn lần sinh mệnh thì tôi cũng sẽ hiến dâng toàn bộ số sinh mệnh đó để chiến đấu bảo vệ quốc gia đang chịu quá nhiều đau khổ của tôi.” Tinh thần ấy đã cổ vũ những người cách mạng tiến tới để bảo vệ nền độc lập non trẻ cho đến năm 1783, Mỹ và Anh ký kết hòa ước tại Paris với việc Anh thừa nhận nền độc lập của Mỹ. Cuộc chiến tranh của cách mạnh Mỹ thành công, người Mỹ giành được độc lập, Hợp chúng quốc gia đời trong hoàn cảnh xã hội suy kiệt, đi đâu cũng thấy vết thương chiến tranh.   Để bảo vệ nền cộng hòa non trẻ, luật pháp phải ra đời. Cho đến nay, Mỹ vẫn được thế giới nhìn về như một đất nước có hệ thống pháp luật đầy đủ nhất và hoàn hảo nhất. Điều này được khởi đầu ngay từ khi nước Mỹ mới giành độc lập, viết ra bộ luật đầu tiên của đất nước. Ngày 14-5-1787, Hội nghị lập hiến diễn ra ở Philadelphia với sự góp mặt của 55 nhân vật, trong đó James Madison đóng vai trò chính, cùng nhau tạo ra bản Hiến pháp của nước Mỹ. Đến ngày 17-9-1787, sau 16 tuần tranh luận, Hiến pháp được 39 trong 42 đại biểu tham dự ký kết. Từ những buổi bình minh đầu tiên đó của quốc gia, những người lập quốc bên cạnh việc định ra khái niệm tự do và bình đẳng còn xác định nhiều quy tắc bảo vệ cho quyền của mỗi cá nhân. Đầu năm 1789, cuộc bầu cử toàn nước Mỹ được tổ chức lần đầu tiên dưới bản Hiến pháp. Cử tri đã bỏ phiếu nhất trí bầu George Washington làm tổng thống và John Adams làm phó tổng thống. Washington tuyên thệ nhậm chức vào ngày 30-4-1789 tại thủ đô lúc bấy giờ là New York. Hơn 220 năm sau, khi nhậm chức tổng thống, các tổng thống Mỹ đều lập lại câu thề mà Washington đã tuyên thệ ngày đó, sau này được ghi vào Hiến pháp, rằng sẽ thực thi các nhiệm vụ của tổng thống một cách trung tín và bằng hết sức của mình để “duy trì, bảo vệ và gìn giữ Hiến pháp nước Mỹ”.   Ngày ấy, những lãnh đạo của nước Mỹ dáng nhỏ bé, đi lại bằng ngựa hoặc xe, nói với dân qua truyền miệng hoặc loa, nhưng trách nhiệm của họ thì thật nặng nề: bảo vệ chính quyền non trẻ và xây dựng đất nước với ý thức rõ rằng hậu duệ muôn đời sau sẽ đánh giá những bước đi đầu tiên này. Đến năm 1796, Washington quyết định rằng hai nhiệm kỳ là đủ, ông nghỉ hưu năm 1797. Gần ba năm sau, Washington giã từ cuộc đời vào ngày 13-12-1799. Lên thay Washington, John Adams đã làm một việc quan trọng để đời trong lịch sử: dời thủ đô nước Mỹ từ Philadelphia đến một thành phố mới được xây dựng nằm bên bờ sông Potomac tại đặc khu Columbia (District of Columbia) vào năm 1800. Thành phố mới này được đặt tên là Washington để kỷ niệm người cha già đầu tiên của nước Mỹ. Để tránh sự nhầm lẫn với tiểu bang Washington ở miền Tây, thủ đô Washington được thêm hai chữ D.C. phía sau. Và để nhớ rằng Pennsylvania từng là vùng đất kinh đô, Adams đã cho đặt tên đại lộ trung tâm ở thủ đô là Pennsylvania mà ngày nay vẫn là con đường mà mỗi tổng thống phải đi qua trong thủ tục tuyên thệ nhậm chức.   Vị tổng thống thứ ba và cũng là người khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập – Thomas Jefferson – là người kế thừa và tiếp tục phát huy di sản của Washington nhiều nhất để gìn giữ nền độc lập có được bằng xương máu của binh sĩ. Trong diễn văn nhậm chức năm 1800, Jefferson đã hứa hẹn một chính quyền “khôn ngoan và cần kiệm”. Chỉ sự hiện diện của Jefferson trong Nhà Trắng thôi cũng đủ khuyến khích tiến trình dân chủ. Ông huấn luyện nhân viên phải tự xem mình là người được nhân dân ủy nhiệm. Ông khẳng định “Tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa, tất cả chúng ta đều là người Liên bang”, và rằng cần phải bảo vệ sức mạnh Hiến pháp bởi đó là “sợi dây neo” gìn giữ hòa bình trong nước và sự an toàn ở nước ngoài. Trong một lá thư, Thomas Jefferson nhấn mạnh một câu về sau được khắc trên tượng đài của ông: “Tôi đã thề trước bàn thờ Chúa lời thề sẽ mãi mãi căm thù với bất cứ hình thức nào chà đạp lên sự bình đẳng của con người.” Một trong những hành động của Jefferson được ghi dấu ấn vào lịch sử Mỹ là đã làm tăng gấp đôi diện tích đất nước. Với 15 triệu USD, Mỹ có được thỏa thuận mua Louisiana vào năm 1803. Lãnh thổ này rộng hơn 2,6 triệu km2, có cả cảng Orleans.  James Madison – “cha đẻ của Hiến pháp” – kế nhiệm Jefferson. Những người sau cứ lót tiếp những viên gạch mà người trước đã nung đúc cho nền cộng hòa. Trong khi chính quyền mới ra đời với việc thiết lập các cơ quan liên quan, nước Mỹ không ngừng mở rộng diện tích và dòng người di dân từ châu Âu không ngừng cập bến nước Mỹ. Điều kiện sống ở dọc suốt bờ biển Đại Tây Dương đã kích thích cuộc di dân đến những vùng đất mới. Từ New England, nơi đất đai không thể cho sản lượng lương thực cao, người dân đã rời những ngôi làng và nông trại ven biển để đi vào vùng nội địa màu mỡ. Cho đến năm 1800, vùng thung lũng sông Ohio và Mississippi đã trở thành một vùng biên giới rộng lớn. “Hi-o, chúng ta đi nào, trôi theo dòng Ohio” đã trở thành bài hát của hàng ngàn người đi tìm vùng đất mới ngày ấy. Từ năm 1816 đến 1821, 6 tiểu bang mới được thành lập: Indiana, Illinois và Maine (những bang tự do) và Mississippin, Alabama và Missouri (những bang nô lệ). Năm 1819, đánh đổi bằng 5 triệu USD, nước Mỹ đã thu được cả vùng Florida từ Tây Ban Nha và quyền hạn của Tây Ban Nha đối với xứ Oregon miền Viễn Tây. Trong lúc ấy, miền Tây đã trở thành khu vực buôn bán lông thú rất sôi động. Dân số đất nước tăng từ 7,2 triệu đến hơn 23 triệu từ năm 1812 đến 1852 và đất đai có thể định cứ tăng lên gần bằng diện tích châu Âu: từ 4,4 triệu lên 7,8 triệu km2. Cuộc Tây tiến này cũng đưa dân định cư vào những xung đột với các cư dân sống lâu đời ở đó: người da đỏ.   Bận bịu dựng xây đất nước, người Mỹ vẫn không quên tiền nhân. Năm 1848, một tháp đá cẩm thạch cao 169,2 mét, nặng 90.854 tấn được khởi công xây dựng và sau đó hoàn thành vào năm 1884, đài tưởng niệm không chỉ để nhớ mãi tổng thống đầu tiên của nước Mỹ George Washington mà còn là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Mỹ cho đến ngày hôm nay. Cho đến năm 1850, nước Mỹ với 31 tiểu bang đã là nơi cư ngụ của 23 triệu dân. Miền đông công nghiệp bùng phát, miền trung tây và miền nam nông nghiệp phồn vinh. Sau năm 1849, các mỏ vàng ở California rót một suối vàng vào các kênh thương mại. Đối với dân miền nam năm 1850, họ không cảm thấy có trách nhiệm với chế độ nô lệ. Ở một số vùng duyên hải chế độ nô lệ đến năm 1850 đã có hơn 200 tuổi, đó là một phần quan trọng của nền kinh tế tại đây. Phong trào bãi nô nổi lên đầu những năm 1930. Riêng ở Ohio, người ta ước tính từ năm 1830 đến 1860 có hơn 40.000 nô lệ đã bỏ trốn. Số tổ chức bài nô đã tăng nhanh đến độ vào năm 1840 có khoảng 2.000 tổ chức với tổng số hội viên là 200.000 người. Từ lãnh thổ của Mexico, Texas trở thành tiểu bang thứ 28 của Mỹ vào năm 1845. Sau đó, Mexico tiếp tục nhượng lại cho Mỹ vùng Tây Nam và California với giá 15 triệu USD.   Về mặt xã hội, những năm 1850 là một thập niên đầy bất hòa về việc chiếm hữu nô lệ, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định tạo dựng nên nước Mỹ trong quá khứ và lãnh đạo đất nước phải đối đầu khi tính chuyện tương lai. Năm 1852, Harriet Beecher Stowe xuất bản cuốn Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tom), một cuốn tiểu thuyết phản ứng trước việc thông qua đạo luật nô lệ bỏ trốn, miêu tả sự tàn bạo của chế độ nô lệ. Hơn 300.000 bản đã được bán hết trong năm đầu tiên. Thời thế tạo anh hùng, giữa không khí sục sôi ngày đó, một cái tên vì dân xuất hiện và được lịch sử Mỹ ghi nhớ về sau: Abraham Lincoln. Lincoln từ lâu đã coi chế độ chiếm hữu nô lệ là một điều tàn ác. Trong một bài diễn văn đọc ở Illinois năm 1854, ông tuyên bố rằng mọi pháp chế của đất nước phải nằm trong nguyên tắc là chế độ nô lệ phải bị hạn chế và cuối cùng sẽ bị hủy bỏ. Bài diễn văn khiến ông được miền Tây đang lớn mạnh ủng hộ nhiệt liệt. Năm 1858, Lincoln ra tranh cử giành ghế thượng nghị sĩ Illinois, ông nhấn mạnh trong bài diễn văn phát động chiến dịch tranh cử về mục tiêu của nước Mỹ: “Một gia đình chia rẽ không thể nào tồn tại. Tôi tin chính quyền này không thể chịu đựng mãi mãi tình trạng nửa nô lệ nửa tự do. Tôi không mong đợi liên bang bị tan rã. Tôi không mong muốn ngôi nhà sụp đổ mà tôi mong đợi nó không còn bị chia rẽ.”   Nhiệm kỳ Tổng thống sau đó của Abraham Lincoln là nhưng năm của ly khai, nội chiến và giải quyết chế độ chiếm hữu nô lệ. Trong diễn văn nhậm chức ngày 4-3-1861, Abraham Lincoln từ chối công nhận việc ly khai, gọi việc này là “vô hiệu về mặt pháp lý”. Nội chiến huynh đệ Nam – Bắc tương tàn tiếp tục xảy ra. Một trận đánh được lịch sử Mỹ khắc ghi trong nội chiến là trận đánh dữ dội kéo dài 3 ngày tại Gettysburg với số người chết hơn 3.000 quân Liên bang và hơn 4.000 quân Liên minh chết, số bị thương và mất tích lên đến 20.000 lính mỗi bên. Ngày 19-11-1863, khánh thành nghĩa trang quốc gia mới tại Gettysburg, Lincoln có bài diễn văn 272 từ mà sau này được đánh giá là bài diễn văn nổi tiếng nhất của các tổng thống Mỹ. Việc xây dựng nghĩa trang cho binh sĩ của cả hai chiến tuyến cũng như những câu từ trong bài diễn văn có tác động to lớn đến việc hòa giải và hàn gắn quốc gia, với một cụm từ bất hủ: chính quyền của dân, do dân và vì dân.   Cuộc nội chiến kéo dài đến năm 1865, khi quân đội miền Nam đầu hàng thì mới kết thúc. Lúc này, tái thiết là nhiệm vụ hàng đầu, như quyết tâm của Abraham Lincoln trong diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai năm 1864: “Chúng ta hãy nỗ lực để hoàn thành công việc đang dang dở, băng bó các vết thương trên đất nước.” Kết thúc cuộc nội chiến cũng là lúc nước Mỹ mở ra thời kỳ tái thiết và thống nhất hai miền Nam Bắc với “những vết thương” đầy mình. Thời kỳ tái thiết kéo dài từ năm 1863 đến 1877, thêm một gánh nặng mới đặt lên đôi vai vốn đã gầy guộc của Lincoln.   Ngày 1-1-1863, Abraham Lincoln ký một văn kiện quan trọng mà ông đã mơ ước từ lâu: Tuyên bố trả tự do cho người nô lệ, còn gọi là Tuyên bố giải phóng nô lệ. Đối tượng của bản tuyên bố này là hơn 3 triệu người nô lệ, được tuyên bố “kể từ nay được tự do”. Điều đáng tiếc là chưa tận hưởng được cái giá của nền tự do do chính người nô lệ mong mỏi và tạo lập, ngày 14-4, ông bị một người Virginia cay đắng trước thất bại của miền Nam ám sát và mất một ngày sau đó. Nhà thơ James Russell Lowell viết: “Chưa từng có lời thương tiếc nào đầy sức thuyết phục như cái nhìn lặng lẽ đồng tình mà những người lạ trao nhau khi họ gặp nhau ngày hôm đó. Nhân loại chung của họ đã mất đi một người thân thiết.”  Thế kỷ đầu tiên của nước Mỹ đi qua với bốn cái tên đã được khắc nhớ nhất trong lịch sử Mỹ: George Washington, Thomas Jefferson, James Madison và Abraham Lincoln. Nền dân chủ, giá trị Mỹ mà họ tạo ra, với người Mỹ, không chỉ có giá trị trăm năm.   —  * Sách do NXB Thế giới và Alpha Books ấn hành, giá bìa: 130.000đ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Top những thủ đô đáng sống nhất trên thế giới      Theo điều tra chất lượng mức sống năm 2011 do tạp chí Mercer đưa ra thì thành phố Vienna, Áo có mức sống cao nhất trên thế giới. Nước Đức và Thụy Sỹ mỗi nước có tới 3 đại diện trong top 10 thành phố được xếp hạng cao nhất, lần lượt ở Đức là Munich ( thứ 4), Dusseldorf ( thứ 5), Frankfurt ( thứ 7).        Tại Thụy Sỹ, có thành phố Zurich ( thứ 2), Geneva ( thứ 8), Bern ( thứ 9). Các thành phố còn lại là Auckland (New Zealand, thứ 3), Vancouver ( Canada, thứ 5). Copenhagen (Đan Mạch) và Sydney (Australia)  chia nhau vị trí thứ 9 và thứ 11. Đáng tiếc trong bảng xếp hạng này, các thành phố của nước Anh và Mỹ không được đánh giá cao, thành phố London (nước Anh) chỉ đứng ở vị trí thứ 38, ở Mỹ là thành phố Honolulu (số 29).  Cũng theo đánh giá này, hầu hết những thành phố có mức sống tồi nhất trên thế giới hầu hết nằm ở châu Phi bao gồm Khartoum ( Sudan, vị trí 217), Port- au- Prince (Haiti, 218), N’ Djamena ( Cộng hòa Chad, 219), Bangui ( Cộng hòa Nam Phi, 220). Do ảnh hưởng nhiều của chiến tranh, thủ đô Baghdad ( 221), Irac đứng ở vị trí thấp nhất.  Công ty Mercer tiến hành khảo sát với mục tiêu giúp cho cho chính phủ các nước và các công ty đa quốc gia trên thế giới có cái nhìn đúng đắn và những chính sách phù hợp khi đầu tư cho một thành phố nào đó. Đánh giá tiêu chí chất lượng sống sẽ cung cấp những thông tin và các khuyến cáo có giá trị đối với từng thành phố. Bảng xếp hạng được thực hiện qua việc tính điểm dựa trên một thành phố lấy làm chuẩn là NewYork với mức điểm cơ sở là 100.  Bên cạnh đó, một cuộc khảo sát riêng biệt, xác định những thành phố an toàn nhất trên thế giới dựa theo mức ổn định nội bộ, mức độ tội phạm, hiệu quả thực thi pháp luật và quan hệ quốc tế của các nước được diễn ra. Thành phố Luxembourg đứng đầu, tiếp sau là thành phố Bern (Thụy Sỹ), Helsinki, Zurich, Vienna, Geneva, Stockhom là những vị trí tiếp theo. Không có gì thay đổi khi các thành phố ở châu Phi vẫn nằm trong top dưới cùng về mức độ an toàn, thành phố Baghdad tiếp tục nằm ở vị trí áp chót bảng xếp hạng với những cuộc giao tranh diễn ra liên miên.  Theo chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Mercer, Slagin Parakatil cho biết, các thành phố châu Âu sẽ vẫn tiếp tục dẫn đầu danh sách này bởi họ được thừa hưởng điều kiện cơ sở vật chất cao cấp, hiện đại nhất. Cùng với đó là những điều kiện về mức độ bảo trợ xã hội, chăm sóc y tế, phương tiện giải trí…Nhưng những năm trở lại đây, cuộc khủng hoảng kinh tế và nợ công ở châu Âu đẩy tình trạng thất nghiệp lên cao, những thể chế chính trị lung lay một cách đáng kể làm cho những vị trí này có thể thay đổi trong tương lai.  39 tiêu chí đánh giá chi tiết nằm trong 10 nhóm tiêu chí đánh giá của Mercer đưa ra bao gồm:  – Môi trường chính trị và xã hội (Ổn định chính trí, mức độ tội phạm, thực thi pháp luật…)  – Môi trường đầu tư kinh tế (Quy đổi tiền tệ, dịch vụ ngân hàng…)  – Môi trường văn hóa – xã hội (Kiểm duyệt, tự do cá nhân…)  – Y tế và vệ sinh môi trường (Vật tư y tế, mức độ lan truyền các bệnh truyền nhiễm, nước thải sinh hoạt, xử lý chất thải, ô nhiễm không khí…)  – Giáo dục (Theo tiêu chuẩn quốc tế)  – Dịch vụ công cộng và giao thông vận tải (Điện, nước, giao thông công cộng, tình trạng tắc nghẽn giao thông…)  – Giải trí (Nhà hát, rạp chiếu phim, thể thao…)  – Các mặt hàng tiêu dùng (Mặt hàng thực phẩm…)  – Nhà ở (Đồ dùng gia đình, nội thất, dịch vụ bảo trì…)  – Môi trường tự nhiên (Khí hậu, thiên tai)  Duyên Anh  Lược dịch theo http://www.mercer.com/qualityoflivingpr#city-rankings)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trả lại một chương sử  đau thương      Phải tới năm 20091, người Campuchia mới bắt đầu chính thức đưa vào sách giáo khoa lịch sử những nội dung về nạn diệt chủng gây ra bởi chế độ Khmer Đỏ. Bài viết của Ben Kiernan nhìn lại những lý do khách quan và chủ quan đã gây ra những khoảng trống trong lịch sử của Campuchia.&#160;     Campuchia đã trải qua năm lần dời đô trước khi bị nước ngoài chiếm đóng, và trong vòng 60 năm qua có bảy lần thay đổi thể chế cầm quyền, mỗi lần có biến động là một lần sử sách bị thất lạc, trong khi người lên cầm quyền thường xóa bỏ thông tin các đổi thủ trong hồ sơ. Các quốc gia bên ngoài cũng tìm cách tác động lên sử chính thống của Campuchia, như phủ nhận hoặc ngăn chặn việc ghi lại lịch sử. Ngay cả với nạn diệt chủng gây ra bởi Khmer Đỏ trong giai đoạn 1975-1979, phải tới trong vòng vài năm gần đây Campuchia mới thật sự có cơ hội chính thức ghi lại.  Quá khứ vụn nát       Những văn bản cổ và các di tích còn lại, như đền thờ Angkor Wat được xây từ thế kỷ 12, đã được chứng minh là thuộc về giai đoạn trung cổ của Campuchia. Sau giai đoạn này, tới khoảng năm 1432, người Khmer dời đô xuống hạ lưu, đặt tên kinh đô mới là Lovek. Các nhà sư chịu trách nhiệm trông coi đền Angkor, nhưng những hồ sơ ghi trên lá cọ về di tích này trải qua thời gian đã hoàn toàn bị hủy hoại. Tới năm 1594, quân Thái tràn vào chiếm đóng Lovek. Sau đó 2 năm, người Thái ở Campuchia lại bị đánh bại bởi thực dân Iberia2. Sau này, như nhà nghiên cứu lịch sử Michael Vickery đã chứng minh, khi triều đình của người Khmer biên soạn lại giai đoạn lịch sử từ thế kỷ 15 và 16, họ đã phải dựa vào sử sách của người Thái, vì không có các nguồn của người Khmer.    Nội chiến cũng làm hủy hoại, để sót lại không nhiều hồ sơ lịch sử. Một đoạn ghi hiếm hoi trên bia ở đền Angkor vào năm 1747 có nội dung chào mừng chiến thắng của một vị vua Khmer sau khi ông này đánh bại một công chúa nổi loạn ngày nay không còn tên tuổi. Sau khi truy sát lực lượng nổi loạn bằng cách “ngăn chặn và lùng soát mọi ngả đường”, quân triều đình đã “đẩy lùi, truy đuổi, và đập tan” (kchat kchay) quân nổi loạn. Nhà vua được dâng lên “nhiều nô lệ và tài sản của công chúa”, cùng tất cả “tướng lĩnh, quân đội” của cô ta.    Sau khi xâm lược Đông Dương, năm 1863 thực dân Pháp áp đặt chế độ bảo hộ lên Campuchia, di chuyển thủ đô từ Oudong về Phnom Penh. Người Pháp cũng giành lại phần lãnh thổ có đền Angkor mà Thái Lan đang chiếm giữ, và cho khôi phục lại các địa điểm khảo cổ. Tuy nhiên, thực dân Pháp không quan tâm tới giáo dục. Các trường nhà chùa suy tàn; tỷ lệ người biết đọc biết viết giảm xuống. Trong vòng 90 năm dưới chế độ thực dân, Campuchia chỉ có 144 cử nhân.    Trái ngược với Việt Nam nơi có nhiều công bố lịch sử được thực hiện dưới chế độ thuộc địa, các sử gia Campuchia rất thiếu các sử liệu bằng tiếng Khmer. Sau khi Campuchia giành độc lập, chế độ của Hoàng tử Norodom Sihanouk (1954 – 1970) quan tâm nhiều tới phổ cập giáo dục. Tuy nhiên, như cố vấn Charles Meyer của Sihanouk sau này hồi tưởng lại, toàn bộ quốc gia hầu như không công bố được sử liệu gì đáng kể.     Lịch sử bị “tận diệt” cùng nạn diệt chủng  Vào thập kỷ 1960, trong khi chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ đang diễn ra, Sihanouk tìm cách giữ Campuchia trung lập.  Nhưng sau khi ông bị trục xuất, Campuchia bị biến thành chiến trường của các bên liên quan tới chiến tranh Việt Nam. Tổng thống Nixon ra lệnh cho máy bay ném bom vào tấn công các mục tiêu của đối phương trong lãnh thổ Campuchia. Nhiều chiến dịch ném bom quy mô lớn đã diễn ra. Tới năm 1973, hơn nửa triệu tấn bom Mỹ đã được ném vào lãnh thổ Campuchia, làm chết khoảng 100 nghìn dân thường, và tàn phá các vùng nông thôn. Chính sự tàn phá này đã giúp du kích của Pol Pot khích động nông dân, tuyên truyền rằng những cuộc không kích này là “do Phnom Penh cử đến”. Quân Khmer Đỏ gia tăng lực lượng, bao vây thủ đô, tấn công vào những người vô tội.   Sau khi Khmer Đỏ giành kiểm soát Campuchia vào tháng 4 năm 1975, chúng đuổi hết người thành phố về nông thôn. Nhiều người đã bị giết hại. Chế độ Pol Pot tàn sát cả Phật tử, thành phần chính còn lưu giữ tri thức văn hóa ở Campuchia. Khmer Đỏ cũng giết khoảng 10 nghìn người Việt, sống ở Campuchia, và trục xuất 150 nghìn người. Người Trung Quốc và người thiểu số theo đạo Hồi cũng bị giết. Tổng cộng có khoảng 1,7 triệu người chết trong vòng 4 năm.      Không chỉ tàn sát đồng loại, Khmer Đỏ cũng tận diệt luôn cả lịch sử. Chúng xóa bỏ các thư viện, đốt sách vở, đóng cửa trường học, giết hại các giáo viên. Ba phần tư trong số 20 nghìn giáo viên của Campuchia bị giết hoặc phải bỏ chạy ra nước ngoài.  Một quá trình khôi phục chậm chạp  Sau khi quân đội Việt Nam đánh bại Khmer Đỏ vào tháng 1 năm 1979, Cộng hòa Nhân dân Campuchia (PRK) ra đời, cho mở lại các thành phố và trường học, nhưng vấp phải lệnh cấm vận từ Mỹ và Trung Quốc. Một cán bộ của Liên Hợp Quốc kể lại rằng ông đến một trường học bị vây quanh bởi mìn và nghĩa địa. Có lớp học 50 học sinh nhưng chỉ có 8 cái bút. Có lớp học tổ chức dưới bóng cây, và tới mùa mưa phải dừng lại. Học sinh có em tới lớp trong tình cảnh “trần như nhộng”.  Với sự hỗ trợ của Việt Nam, PRK cho mở lại Đại học Sư phạm, và in được 40 đầu sách giáo khoa vào năm 1980. Nhưng trong suốt một thập kỷ, các trường học của Campuchia không hề dạy môn lịch sử, thay vào đó là các lớp dạy đạo đức chính trị và truyện dân gian. Các chuyên gia Việt Nam đề xuất Bộ Giáo dục Campuchia xây dựng một chương trình giáo dục mới, nhưng PRK không hoàn toàn hưởng ứng. Một nhà chức trách giải thích rằng lịch sử của đất nước này vẫn chưa được ai viết. Từ năm 1985 tới 1987, Liên Xô cho công bố một tài liệu lịch sử bằng tiếng Khmer dài 584 trang, nhưng không được PRK công nhận với lý do những nội dung này “không chính xác”. Tới năm 1986, Bộ Giáo dục cho xuất bản một cuốn sách giáo khoa lịch sử lớp 5, nhưng cuốn sách này lại không được phép giảng dạy trong trường học. Một số ý kiến đặt ra giả thuyết là trong sách có những nội dung nhạy cảm trong quan hệ Campuchia – Việt Nam.          Như nhà nghiên cứu lịch sử Michael  Vickery đã chứng minh, khi triều đình của người Khmer biên soạn lại giai  đoạn lịch sử từ thế kỷ 15 và 16, họ đã phải dựa vào sử sách của người  Thái, vì không có các nguồn của người Khmer.        Từ năm 1979, PRK bắt đầu đào tạo hàng trăm giáo viên trung cấp. 13 năm sau, năm 1988 Đại học Phnom Penh được mở cửa, với 2000 sinh viên mới, trong đó có 70 người học ngành lịch sử. Khoa Sử của trường có 5 giảng viên, hai người được đào tạo từ thời trước năm 1975, ba người sau 1980. Họ từng cùng là đồng tác giả của các cuốn sách giáo khoa môn lịch sử, trong đó có cuốn sách lịch sử lớp 5 xuất bản năm 1986 mà đến lúc này đã được Nhà nước cho phép đưa vào chương trình giảng dạy.   Khoảng trống về nạn diệt chủng  Ngày nay, các cuốn sách giáo khoa lịch sử mà học sinh Campuchia được học gồm có hai phần, Lịch sử Campuchia và Lịch sử Thế giới, trong đó bao gồm cả những phần nội dung nhạy cảm trong quan hệ với các nước láng giềng. Ví dụ, sách lớp 5 nói về sự can thiệp của Việt Nam vào Campuchia hồi thế kỷ 19. Trong giai đoạn này, Việt Nam và Thái Lan cùng cạnh tranh nhau giành quyền lợi ở Campuchia. Cuốn sách nói rằng để thoát khỏi sự kiểm soát của Thái Lan, “các vị vua Khmer đã tìm cách dựa vào triều đình phong kiến phía Đông, tức Việt Nam”. Sự can thiệp của triều đình Huế “ngày càng gia tăng”, đặc biệt là trong thời vua Ang Chan II (1794–1834). Thái Lan cũng “dùng vũ lực để gây sức ép với vua Ang Chan II để bắt vị vua này hoàn toàn phục tùng chủ quyền áp đặt của người Thái. Lo sợ trước sức ép, vua Ang Chan II đề nghị triều đình Huế giúp đỡ. Việt Nam đưa quân sang đánh bại quân Thái. Nhưng vị vua Khmer chết vào năm 1834 mà không có con trai nối dõi. Triều đình Huế “bắt đầu tìm cách thao túng Công chúa Ang Mey, con gái vua Ang Chan II nhằm gia tăng ảnh hưởng của mình và loại trừ ảnh hưởng của Thái Lan, ngày càng can thiệp sâu vào các vấn đề triều chính của triều đình Oudong”.  Trong khi từ lâu những nội dung trong sách giáo khoa lịch sử Campuchia đã bàn về sự can thiệp của các nước láng giềng trong thế kỷ 19 một cách khá thẳng thắn, thì phần nội dung nói về thảm họa diệt chủng gây ra bởi Khmer Đỏ lại rất hạn chế. Sau khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia vào năm 1989, ít có học sinh, sinh viên nào được tiếp cận những tài liệu lịch sử bàn về giai đoạn vừa qua này.   Năm 1991, mặc dù sách giáo dục chính trị của lớp 11 có đề cập về Khmer Đỏ với những nội dung như: “dưới chính quyền Pol Pot, người Campuchia trở nên tuyệt vọng, cuộc sống không còn ý nghĩa, và thường trực sợ hãi; họ cũng chịu đựng mọi sự đàn áp bởi những kẻ giết người hung bạo, bị biến thành nô lệ của chúng”. Tuy nhiên, các lớp học môn lịch sử hoàn toàn không đả động gì về thời kỳ Khmer Đỏ. Năm 2001, Bộ Giáo dục Campuchia xuất bản một số bộ sách giáo khoa lịch sử mới trong đó bắt đầu đưa vào nội dung về Khmer Đỏ, nhưng đến năm 2003 những cuốn sách này bị thu hồi chỉ sau một học kỳ được sử dụng cho giảng dạy.  Những tiêu cực từ môi trường địa chính trị quốc tế  Sự né tránh của chính quyền Campuchia trong việc đưa nội dung về nạn diệt chủng gây ra bởi Khmer Đỏ ít nhiều liên quan đến sức ép của một số quốc gia khác, trong đó có những cường quốc.   Trong thời kỳ nạn diệt chủng xảy ra ở Campuchia, vì những lý do địa chính trị, cả Washington, Bắc Kinh, và Bangkok đều đồng thuận ủng hộ tiếp tục duy trì sự tồn tại của thể chế Khmer Đỏ. Khi Tổng thống Mỹ Gerald Ford tới thăm Indonesia ngày 6/12/1975, tài liệu ghi lại ông này đã trao đổi với Tổng thống Suharto như sau: “Chúng tôi sẵn lòng từng bước tạo dựng quan hệ với Campuchia với hi vọng có thể giúp làm giảm ảnh hưởng từ Bắc Việt Nam, dù chúng tôi biết rằng chính phủ Campuchia rất khó chơi”. Kissinger thì đánh giá rằng Bắc Kinh cũng đang thực thi chiến lược tương tự: “Người Trung Quốc muốn dùng Campuchia để cân bằng thế lực trước Việt Nam… Chúng ta đều không ưa Campuchia, chính phủ của họ thật tồi tệ, nhưng chúng ta muốn họ duy trì được độc lập. [Vì vậy] chúng ta không ngăn cản Thái Lan hoặc Trung Quốc tìm cách xích lại gần hơn với Campuchia”.  Kể cả sau khi đã bị thất thế, chính quyền Khmer Đỏ vẫn nhận được sự hậu thuẫn gián tiếp âm thầm từ chính phủ Mỹ qua các đời Tổng thống, từ Carter, Reagan, tới Bush cha. Năm 1979, Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của Carter, từng khẳng định quan điểm tương tự như chính sách của Kissinger trước đây: “Tôi khuyến khích Trung Quốc hậu thuẫn Pol Pot. Tuy thể chế Pol Pot là đáng ghê tởm, chúng ta không bao giờ ủng hộ thể chế này, nhưng [gián tiếp thông qua] Trung Quốc thì có thể được”. Với sự đồng tình nửa công khai từ Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan cùng nhau hỗ trợ cho Khmer Đỏ. Năm 1982, Mỹ và Trung Quốc khuyến khích Sihanouk gia nhập liên minh lưu vong với DK (Đảng Dân chủ Kampuchea – tức Khmer Đỏ). Ngoại trưởng Mỹ George Schultz từng từ chối ủng hộ đề xuất về một tòa án quốc tế xét xử tội phạm diệt chủng. Tới năm 1989, người kế nhiệm ông ta là James A. Baker thậm chí còn đề nghị cho Khmer Đỏ tham gia vào chính phủ Campuchia.    Đồng hành với những chính sách và thái độ hậu thuẫn Khmer Đỏ từ các cường quốc là sự im lặng kéo dài 20 năm của Liên Hợp Quốc đối với nạn diệt chủng xảy ra ở Campuchia. Năm 1988, các nước Đông Nam Á đã họp và thống nhất không cho phép bất cứ sự trở lại nào của “những chính sách và hoạt động mang tính diệt chủng của chính quyền Pol Pot”. Nhưng tới năm 1989, Đại Hội đồng Thành viên Liên Hợp Quốc vẫn từ chối xác nhận những thủ phạm đã gây ra “những chính sách và hoạt động bị lên án rộng rãi trong quá khứ gần đây”. Năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an chỉ bày tỏ sự lấy làm tiếc về “một số chính sách và hoạt động trong quá khứ”, nhưng không nói một cách cụ thể, không nêu thủ phạm, và không nói rõ thời gian xảy ra.   Năm 1990, Tiểu Ban Quyền Con người của Liên Hợp Quốc từng cân nhắc lên án “nạn diệt chủng xảy ra dưới thời chính quyền Khmer Đỏ”, và yêu cầu các quốc gia “đưa ra trước tòa những thủ phạm gây tội ác chống lại loài người ở Campuchia, ngăn chặn những kẻ này quay trở lại các vị trí lãnh đạo trong chính phủ”. Tuy nhiên, Tiểu ban cuối cùng phải loại bỏ nội dung này trong chương trình, sau khi gặp phải một số ý kiến cho rằng nó “không có lợi” cho Liên Hợp Quốc. Phải tới năm 1991 Tiểu Ban mới ra đề nghị “cộng đồng quốc tế ngăn chặn sự lặp lại của nạn diệt chủng ở Campuchia”. Vào thời điểm này, Washington đã cam kết ủng hộ việc đưa Khmer Đỏ ra tòa. Thế nhưng sang năm sau, giám đốc cơ quan Quyền Con người Liên Hợp Quốc tại Campuchia lại phàn nàn rằng cơ quan này “hoàn toàn không có khả năng hoạt động tại một trong số các khu vực” ở Campuchia” – một lời phê phán yếu ớt về sự chống đối từ phía Khmer Đỏ. Ông này còn cố tình làm giảm nhẹ tính nghiêm trọng của nạn diệt chủng giai đoạn 1975-1979 bằng cách gọi thời gian này là một phần trong “những thập kỷ của xung đột, nổi dậy, và sự đối đầu”.  Công lý được thực thi  Nhưng cuối cùng không ai có thể lảng tránh sự thật. Từ căn cứ trong rừng, Khmer Đỏ tẩy chay cuộc tổng tuyển cử năm 1993 do Liên Hợp Quốc tổ chức, và tiếp tục tổ chức giết hại các binh sĩ, dân thường Campuchia. Việc đưa chúng ra trước công lý được đưa vào nội dung luật pháp của Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton năm 1994. Hai năm sau, Chương trình Nạn diệt chủng Campuchia của Đại học Yale công bố 100 nghìn trang tài liệu mật về Khmer Đỏ, cho thấy vai trò của những lãnh đạo Khmer Đỏ hàng đầu trong những cuộc thảm sát tập thể giai đoạn 1975-1979, và bắt đầu đăng những nội dung này trên internet (tại www.yale.edu/cgp). Tới năm 1997, Thủ tướng Hun Sen và Norodom Ranariddh – con trai Hoàng tử Sihanouk – cùng hợp tác đề nghị Liên Hợp Quốc hỗ trợ xét xử các lãnh đạo Khmer Đỏ vì những tội ác trong quá khứ. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã bổ nhiệm một “Nhóm Chuyên gia” điều tra vụ này.            Đồng hành với những chính sách và thái độ  hậu thuẫn Khmer Đỏ từ các cường quốc là sự im lặng kéo dài 20 năm của  Liên Hợp Quốc đối với nạn diệt chủng xảy ra ở Campuchia.        Trong khi đó, nạn đào ngũ và binh biến đã làm sụp đổ lực lượng Khmer Đỏ. Pol Pot đã chết từ năm 1998, và được hỏa thiêu trong rừng. Các chỉ huy khác như Nuon Chea và Khieu Samphan đầu hàng. Khmer Đỏ chính thức tàn lụi. Trong vòng vài tháng, quân đội Campuchia đã bắt sống chỉ huy quân đội Khmer Đỏ là Chhit Choeun (còn gọi là Mok) và bắt giữ cựu chỉ huy nhà tù Tuol Sleng là Deuch.  Đầu năm 1999, Nhóm Chuyên gia Liên Hợp Quốc kiến nghị đưa các thành viên lãnh đạo Khmer Đỏ ra tòa vì những tội ác chống loài người trong giai đoạn 1975-1979. Bên cạnh những “tội ác chiến tranh” gây ra với Việt Nam và Thái Lan, đối với nhân dân Campuchia, Khmer Đỏ đã “phạm hầu hết mọi tội ác” quy định sau Hội nghị Liên Hợp Quốc về tội diệt chủng năm 1948. “Các bằng chứng cũng cho thấy các công tố viên cần điều tra việc tổ chức diệt chủng người Chăm, người Việt, các nhóm thiểu số khác, cùng cộng đồng Phật tử”. Liên Hợp Quốc bắt đầu cùng chính quyền Hun Sen triển khai các phiên tòa quốc gia/quốc tế để xét xử các lãnh đạo Khmer Đỏ.  Việc chính thức xét xử tội ác của chính quyền Khmer Đỏ sẽ không giúp trả lại cho người Campuchia những người thân là nạn nhân đã bị Khmer Đỏ giết hại, nhưng có thể giúp trả lại cho họ một chương lịch sử quan trọng. Những học sinh Campuchia cuối cùng có thể được đọc những trang sách giáo khoa viết về thảm kịch của đất nước mình. Dù không còn dấu vết tro tàn của Pol Pot, nhưng kho hồ sơ tài liệu ngày một đầy đủ về nạn diệt chủng không thể nào biến mất như những chương khác trong lịch sử Campuchia trước đây.     Thanh Xuân lược dịch từ:   http://www.historytoday.com/ben-kiernan/coming-terms-past-cambodia  —————-  1 http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/8350313.stm  2 Iberia: bán đảo nay bao gồm lãnh thổ của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Andorra, Gibraltar    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trả lời câu hỏi: Trí thức là gì? (Phần 1)      Hình mẫu và khái niệm về trí thức chỉ có thể  xuất hiện khi xã hội với một cấu trúc chặt chẽ được hình thành, tức là  khi con người rời bỏ đời sống hoang dã để tập hợp lại với nhau, hình  thành nên những cộng đồng người, trong đó các cá nhân tương tác với nhau  theo những qui định và nghi thức được cả cộng đồng thừa nhận, dù là  thành văn hay ngầm định.     Trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền   bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những   trung giới trong các quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến   bộ của xã hội. Với quan niệm đó, khái niệm trí thức chỉ có ý nghĩa khi   xem xét dưới lăng kính xã hội, và người trí thức chỉ thực sự xuất lộ  khi  sử dụng các đặc trưng cơ bản của mình: tri thức chuyên môn, khả  năng  cảnh báo và định chuẩn, để thực hiện vai trò xã hội của chính  mình.  “Trí thức là gì?” là vấn đề gây tranh cãi từ lâu. Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục. Bằng chứng của điều này là hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức đang tồn tại song hành, như: trí thức là người lao động trí óc, trí thức là người có học, trí thức là người khám phá và truyền bá tri thức, trí thức là người tích cực tham gia phản biện xã hội, trí thức là người dẫn dắt xã hội, trí thức là lương tâm của xã hội, trí thức là người không để cho xã hội ngủ v.v…Thậm chí, triết gia người Pháp Jean-Paul Sartre còn đưa ra một định nghĩa tuy bề ngoài có vẻ hài hước, nhưng rất khó bác bỏ: trí thức là người thích làm những việc chẳng phải của mình!  Chính vì vậy, việc tìm một định nghĩa đúng và khả dụng về trí thức, là một một điều cần thiết. Điều này cần bắt đầu từ việc lần lại thời điểm sớm nhất mà khái niệm trí thức có thể được hình thành.  Đặc phẩm của xã hội  Ngược dòng lịch sử, thấy rằng: khi con người còn ở giai đoạn săn bắt hái lượm thì chắc chắn khái niệm trí thức chưa xuất hiện. Lý do là trong hoàn cảnh đó, một khái niệm như vậy là hoàn toàn vô nghĩa. Khi chỉ cần với tay thu lượm các sản phẩm của tự nhiên để phục vụ cuộc sống còn nặng bản năng tự nhiên, theo kiểu tự cấp tự túc, người ta chỉ quan tâm đến những thứ có thể ăn được còn hay hết, chứ không quan trọng việc có trí thức hay không trí thức.  Điều đó dẫn đến một nhận định: thời điểm sớm nhất để hình mẫu, và do đó là khái niệm, về trí thức xuất hiện là khi loài người rời bỏ đời sống săn bắt hái lượm để tập hợp thành xã hội với cấu trúc tương đối chặt chẽ, khởi đầu bởi việc phát minh ra nông nghiệp, khoảng 8000-3500 năm trước công nguyên, và sau đó là chuyển vào sống trong các đô thị, không phải bởi trào lưu đô thị hóa thời hiện đại, mà ngay sau khi nông nghiệp đã tương đối phát triển, khoảng 3500-800 năm trước công nguyên.   Việc phát minh ra nông nghiệp đòi hỏi phải thuần hóa một số giống cây trồng và động vật. Còn việc chuyển vào sống trong các đô thị đòi hỏi những kỹ năng tổ chức và dịch vụ cao cấp hơn đời sống nông nghiệp, khi những người sống trong đô thị không trực tiếp sản xuất ra thực phẩm. Đây chính là môi trường thuận lợi để những loại hình lao động mới, và do đó là các giai tầng mới ra đời, trong đó có trí thức.  Nhận định này cho thấy, hình mẫu và khái niệm về trí thức chỉ có thể xuất hiện khi xã hội với một cấu trúc chặt chẽ được hình thành, tức là khi con người rời bỏ đời sống hoang dã để tập hợp lại với nhau, hình thành nên những cộng đồng người, trong đó các cá nhân tương tác với nhau theo những qui định và nghi thức được cả cộng đồng thừa nhận, dù là thành văn hay ngầm định. Nói cách khác, trí thức là một sản phẩm đặc biệt của xã hội.          Việc đồng nhất hoạt động của trí thức với  lao động trí óc, và vai trò của họ với việc khám phá, truyền bá và sử  dụng tri thức, tuy không sai nhưng thiếu chính xác. Đó là nguyên nhân vì  sao những tranh luận về trí thức kéo dài mãi không ngừng.         Điều này cũng cho thấy, việc chọn ra một mốc thời gian cụ thể, gắn với một sự kiện cụ thể trong thời cận đại hoặc hiện đại, như ra đời của bản kháng nghị năm 1906 –sau đó được thủ tướng Pháp Clemenceau gọi là Tuyên ngôn của trí thức – nhằm chống lại một bản án oan sai trong “sự kiện Dreyfuss”, do nhà văn Pháp Émile Zola ký tên đầu, làm thời điểm ra đời của khái niệm trí thức là không chính xác. Hình mẫu về người trí thức, và do đó là khái niệm trí thức, chắc chắn phải xuất hiện sớm hơn thế rất nhiều, khi xã hội có cấu trúc chặt chẽ được hình thành. Tuy nhiên, tiêu chí để xác định “trí thức là gì?” sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, và thay đổi theo sự phát triển của xã hội.  Vì thế, việc tra cứu các văn bản có chữ “trí thức” sẽ không giúp nhiều cho việc làm rõ nội hàm của khái niệm trí thức. Thay vào đó, cần đi vào tìm hiểu những đặc trưng chính của người trí thức, đặc biệt ở thời hiện đại, thông qua phân tích công việc và vai trò của họ đối với xã hội, mới có hy vọng trả lời một cách rốt ráo câu hỏi: Trí thức là gì?  Phân công lao động  Đã là con người, dù muốn hay không, trước hết phải đáp ứng được những nhu cầu sinh học tối thiểu của mình như ăn, uống, ở, mặc… Nếu như ở thời săn bắt hái lượm, những nhu cầu này được đáp ứng theo kiểu “tự cung tự cấp”, tức mỗi cá nhân phải tự lo cho mình, thì trong đời sống nông nghiệp và đặc biệt là đô thị, các nhu cầu này được đáp ứng không chỉ bởi kiểu “tự cấp tự túc”, mà còn bởi các dịch vụ trao đổi phức tạp.  Cấu trúc chặt chẽ của xã hội và sự tương tác giữa các thành phần của nó cũng đã làm nảy sinh nhiều nhu cầu khác so với nhu cầu sinh lý thuần túy, như các nhu cầu về giải trí, nghệ thuật, sinh hoạt tinh thần, nghi lễ tôn giáo… Việc đáp ứng những nhu cầu này đòi hỏi những kỹ năng và kiến thức chuyên biệt, cần được học hỏi và tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định, nên không phải cá nhân nào cũng có thể làm được.   Đây chính là cơ sở cho việc hình thành sự phân công lao động, và như một hệ quả, là mảnh đất sống cho những tầng lớp mới có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình không thông qua sản xuất trực tiếp. Đặc điểm chung của họ là sử dụng lao động trí óc nhiều hơn lao động chân tay trong việc tạo ra sản phẩm; và sản phẩm của họ cũng không mang tính “tự cấp tự túc”, tức không thể dùng để đáp ứng trực tiếp các nhu cầu sinh học tối thiểu, mà dùng để trao đổi với người khác, dưới dạng hàng hóa hoặc dịch vụ.   Ở thuở ban đầu, có thể hình dung công việc này liên quan đến các hoạt động văn hóa, giả trí, nghi lễ, tôn giáo, quản lý cộng đồng… Nói chung là liên quan đến các hoạt động tinh thần của con người và tương tác giữa người này với người khác trong xã hội. Đây là sự rẽ nhánh lần thứ nhất trong quá trình phân công lao động.          Tuy cá nhân là phần tử cơ bản hợp thành xã  hội, nhưng chính cá nhân cũng là nạn nhân của xã hội, theo nghĩa bị xã  hội tìm cách đồng hóa làm mất các đặc trưng riêng của mình. Tổ chức xã  hội càng phức tạp thì mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội càng lớn, sức ép  của xã hội lên cá nhân càng nặng nề.        Theo thời gian, xã hội càng phát triển và càng phức tạp, việc đáp ứng những nhu cầu này đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng càng chuyên biệt hơn nữa, cần nhiều thời gian và năng lượng hơn nữa, nên không một cá nhân nào có thể đáp ứng được tất cả những yêu cầu này, mà cần chuyên chú vào một hoặc một nhóm kỹ năng chuyên biệt. Tầng lớp lao động gián tiếp được phân chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo đặc thù của công việc, chẳng hạn: nghệ sĩ đáp ứng các nhu cầu giải trí, luật sư đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp của các cá nhân và tổ chức, bác sĩ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo viên đáp ứng nhu cầu giáo dục thanh thiếu niên, chính trị gia đáp ứng nhu cầu quản trị xã hội… Đây chính là sự rẽ nhánh thứ hai trong quá trình phân công lao động.   Trong lần rẽ nhánh này, các thể loại công việc đã đa dạng hơn rất nhiều so với trước đây, nên tầng lớp lao động gián tiếp cũng trở nên phong phú hơn nhiều. Tuy nhiên, cũng giống như sự rẽ nhánh lần thứ nhất, mẫu số chung trong lao động của họ vẫn là phần lao động trí óc nhiều và quan trọng hơn phần lao động chân tay. Đặc biệt, trong số những người lao động trí óc, có một nhóm nhỏ tập trung vào việc thu thập và xử lý thông tin; phân loại và hệ thống hóa thông tin để hình thành tri thức; sử dụng tri thức để đào tạo người khác, hoặc ứng dụng cho những công việc cụ thể khác nhau… Nói gọn là khám phá, truyền bá và sử dụng tri thức.   Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, khối lượng tri thức này ngày càng nhiều và càng chuyên biệt hóa. Kết hợp với sự công nghiệp hóa và sản xuất đại trà, và sau đó là sự ra đời của công nghệ thông tin, tri thức ngày càng trở lên quan trọng. Trong nhiều lĩnh vực kinh tế và dịch vụ, tri thức đã trở thành đồng thời là lực lượng sản xuất và hàng hóa trao đổi chính. Vì thế, ai nắm được tri thức, người đó có sức mạnh.   Chính nhờ việc nắm được sức mạnh này, một dạng sức mạnh mới mẻ hoàn toàn so với sức mạnh cơ bắp, những người lao động trí óc này trở nên có vai trò quan trọng trong xã hội. Nhiều người gọi họ là trí thức. Tuy nhiên, việc đồng nhất hoạt động của trí thức với lao động trí óc, và vai trò của họ với việc khám phá, truyền bá và sử dụng tri thức, tuy không sai nhưng thiếu chính xác. Đó là nguyên nhân vì sao những tranh luận về trí thức kéo dài mãi không ngừng.     Cá nhân và xã hội  Như phân tích ở trên, trí thức là một sản phẩm đặc thù của xã hội. Sự ra đời của trí thức gắn liền với sự hình thành của xã hội loài người. Do đó, nếu tách trí thức khỏi xã hội để định nghĩa xem trí thức là gì thì sẽ còn phiến diện hơn cả việc đưa cá ra khỏi nước để tìm hiểu hoạt động của cá. Lý do là khi cá ra khỏi nước thì cá vẫn là cá về mặt hình thức, nhưng đưa trí thức ra khỏi xã hội thì trí thức sẽ biến mất.    Xã hội được hợp thành bởi các cá nhân. Nhưng sự hợp thành này không phải là sự kết hợp cơ học thuần túy. Cụ thể, tính chất của xã hội không chỉ đơn thuần là tổng tính chất của các phần tử hợp thành, mà còn được quyết định phần nhiều bởi cơ chế tương tác giữa các phần tử. Chính cơ chế tương tác có tính cách nhân tạo này đã làm cho xã hội trở thành một hệ thống, tạo ra các đặc thù văn hóa, kinh tế, chính trị… và đến lượt nó, quay trở lại chi phối toàn bộ lối sống, nếp suy nghĩ, cách thức ứng xử của các cá nhân dưới dạng cả vô thức lẫn ý thức thông qua tập quán, giáo dục và luật pháp.   Xã hội khi đó trở thành một thực thể có tính độc lập tương đối với cá nhân. Tính chất của xã hội sẽ phụ thuộc phần lớn vào chính cơ chế vận hành, tức cơ chế tương tác giữa các phần tử của xã hội, và những đặc trưng của nó, chứ không phải là tính chất của các cá nhân riêng lẻ. Sức ép của xã hội lên cá nhân trong trường hợp này là rất lớn, và đặc biệt lớn trong các xã hội toàn trị hoặc thần quyền.  Như vậy, có sự tương tác hai chiều mãnh liệt, dưới dạng bồi đắp, chi phối, kiểm soát hoặc tàn phá lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội. Tuy cá nhân là phần tử cơ bản hợp thành xã hội, nhưng chính cá nhân cũng là nạn nhân của xã hội, theo nghĩa bị xã hội tìm cách đồng hóa làm mất các đặc trưng riêng của mình. Tổ chức xã hội càng phức tạp thì mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội càng lớn, sức ép của xã hội lên cá nhân càng nặng nề.  Trước sức ép thường trực này, cả dưới dạng vô thức và ý thức, cá nhân dần đánh mất đi rất nhiều sự tự do và độc lập nguyên thủy của mình, mất dần khả năng tự quyết và tầm mức ảnh hưởng của mình trong các vận động xã hội lớn. Ngay cả trong những vận hành thường ngày của xã hội, điều này cũng không ngoại lệ, và có thể được minh chứng qua câu nói cửa miệng của rất nhiều người: Tại cơ chế!   Như vậy, trăm sự là tại cơ chế, tức có nguyên nhân từ sự vận hành của hệ thống, chứ không phải là từ cá nhân.  Giá trị phổ quát  Khi từ bỏ đời sống săn bắt hái lượm tự do để bước vào đời sống xã hội với vô số tương tác, con người đã học cách cư xử, làm việc và chung sống với nhau, hình thành nên những nhân sinh quan, thế giới quan mới mà thời nguyên thủy không có. Theo thời gian, những nhân sinh quan, thế giới quan này sẽ được tinh luyện để tạo thành những giá trị có tính phổ quát, tức đúng trong một khoảng thời gian rất dài và với đại chúng, như Chân, Thiện, Mỹ; và gần đây hơn là Tự do, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân quyền, Công lý… Những giá trị phổ quát này sẽ đóng vai trò định chuẩn cho xã hội, tỏa ra trong mọi ngõ ngách của đời sống, ảnh hưởng đến mọi hoạt động của cá nhân dưới nhiều thể nhiều dạng khác nhau như văn hóa, thói quen, tác phong… Với vai trò định chuẩn này, chúng sẽ giúp xã hội vận hành trơn tru và phát triển được trong thế ổn định tương đối, tránh được những xung đột, đổ vỡ và hỗn loạn do mâu thuẫn lợi ích và xung đột văn hóa gây ra. Chúng cũng giúp điều hòa mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội hầu cho cá nhân không bị bóp nghẹt trước sự chèn ép của xã hội; giúp cho xã hội giữ được sự lành mạnh cần thiết, không bị tha hóa thành một địa ngục nhân tạo do lòng tham, bạo lực và sự u mê gây ra, đặc biệt là từ sự lạm dụng các phương tiện vật chất và quyền lực của những cá nhân có thể chi phối sự vận hành của cả hệ thống.          “Đi tắt đón đầu” trong phát triển, không có  cách nào nhanh và hiệu quả hơn việc chủ động hấp thụ và quảng bá những  giá giá trị phổ quát mới, hội nhập vào những dòng chảy mới của thời đại.  Còn kéo lùi sự phát triển, không cách nào ghê gớm hơn việc ngăn chặn sự  truyền bá cac giá trị phổ quát và tinh hoa tư tưởng của nhân loại.        Những giá trị phổ quát này ổn định trong một khoảng thời gian dài, nhưng không phải là bất biến. Nếu như Chân, Thiện, Mỹ có thể được coi như một giá trị phổ quát ở cả phương Đông lẫn phương Tây, tồn tại bền vững từ hàng nghìn năm nay, thì Trung quân – tức là trung thành với nhà Vua – một giá trị có tính phổ quát thời phong kiến, đã bị loại bỏ vì đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội hiện đại. Gần đây, một số giá trị  như Tự do, Dân chủ, Bình đẳng, Nhân quyền… được coi là những giá trị phổ quát mới, bên cạnh bộ ba Chân-Thiện-Mỹ truyền thống.   Việc hình thành một, hoặc một bộ, giá trị phổ quát thường rất gian nan, và phải trả những giá rất đắt. Thông thường, những giá trị phổ quát này sẽ được hình thành ở một nơi nào đó có những điều kiện chín muồi và lan dần sang các nơi khác tiếp xúc với nó như những làn sóng văn hóa, kinh tế, chính trị…, hình thành nên một xu thế mới của phát triển.   Do vai trò quan trọng của các giá trị phổ quát đối với việc bảo vệ cá nhân, bảo vệ sự lành mạnh của xã hội, cũng như định hướng phát triển cho xã hội sao cho hòa nhịp được với những trào lưu phát triển mới, nên trong các cuộc đấu tranh phát triển, chúng thường được coi là chính nghĩa. Chúng có sức mạnh nội tại như một giá trị phổ quát và sức mạnh thời đại của một trào lưu mới, nên trong các cuộc đối đầu, lực lượng nào nắm được chính nghĩa, hoặc được dân chúng tin là có chính nghĩa, thường là người thắng cuộc. Lực lượng này cũng thường được coi là tiến bộ vì hòa nhập được với sức mạnh của một trào lưu phát triển mới. Ngược lại, nếu tìm cách lảng tránh hoặc chống trả những giá trị phổ quát này, vì thiển cận hoặc vì lợi ích của một nhóm nhỏ, xã hội sẽ phải trả giá đắt, thậm chí bị phá hủy, vì cưỡng lại một động năng phát triển khổng lồ của thời đại. Những người chống lại các giá trị phổ quát mới này, và do đó là chống lại các làn sóng phát triển mới, sẽ bị coi là phản động, theo đúng nghĩa đen của từ này.          Do giáo dục, ràng buộc, định kiến, qui tắc,  nghi lễ, luật pháp, định chế, sự sợ hãi, sự u mê, áp lực cuộc sống, lòng  tham, sự toan tính… mà các cá nhân thường quên mất rằng, mình có một tự  do nội tại bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt. Có thể gọi điều này là  sự đánh mất mình.        Với những nơi không phải là chỗ xuất phát của những giá trị phổ quát mới này, nếu biết chủ động và khôn khéo cưỡi lên những đợt sóng phát triển này thì sẽ tận dụng được động năng to lớn của cả một trào lưu mới, thường được gọi là sức mạnh thời đại, để phát triển. Do đó, “đi tắt đón đầu” trong phát triển, không có cách nào nhanh và hiệu quả hơn việc chủ động hấp thụ và quảng bá những giá giá trị phổ quát mới, hội nhập vào những dòng chảy mới của thời đại. Còn kéo lùi sự phát triển, không cách nào ghê gớm hơn việc ngăn chặn sự truyền bá các giá trị phổ quát và tinh hoa tư tưởng của nhân loại.  Về mặt triết học, có thể coi các giá trị phổ quát chính là kết quả của các quá trình đấu tranh biện chứng trong nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Sau khi đã được hình thành, được tinh luyện theo thời gian và được thừa nhận rộng rãi, thì chính các giá trị phổ quát sẽ trở thành các trung giới cho các quá trình biện chứng khác đang hàng ngày hàng giờ diễn ra trong mọi mặt của của đời sống, với tư cách định chuẩn cho sự vận hành và phát triển của cả xã hội.  Tự do nội tại   Áp lực của xã hội với tư cách là một hệ thống lên cá nhân, đặc biệt là trong các xã hội hiện đại, là một điều được thừa nhận hiển nhiên. Tuy nhiên, vấn đề có tính triết học cần đặt ra: Đâu là giới hạn của sự chèn ép này? Có chăng một khoảng tự do nội tại, bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt bởi các yếu tố bên ngoài, trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân? Nếu có, cá nhân nên sử dụng khoảng tự do bất khả tước đoạt đó như thế nào để tự bảo vệ mình và bảo vệ sự lành mạnh của xã hội?  Con người, từ khi chuyển từ vượn thành người, và thông qua lịch sử phát triển của mình, đã tự chứng minh là một sinh vật có lý trí. Điều này có nghĩa, con người có thể sử dụng lý trí của mình để đưa ra các lựa chọn. Quá trình này diễn ra trong bộ não người, do đó về bản chất, có tính độc lập tương đối với những gì đang diễn ra ở bên ngoài. Chính khoảng độc lập tương đối này là cơ sở cho sự tồn tại của một thứ tự do có tính chất nội tại, bất khả xâm phạm đối với mọi chèn ép từ xã hội bên ngoài lên cá nhân.  Đây là thứ tự do không thể tước đoạt. Trong trường hợp cùng cực nhất, cá nhân vẫn có thể lựa chọn bất hợp tác, hoặc cao hơn là tự hủy, bằng cách này hoặc cách khác. Các trường hợp tuyệt thực, tuẫn tiết… là những ví dụ điển hình cho lựa chọn của cá nhân trong những trường hợp khốn cùng. Chính những lựa chọn tự hủy của cá nhân trong các trường hợp này đã chứng thực cho tính không thể tước đoạt bởi xã hội của thứ tự do này.  Trong thực tế, do giáo dục, ràng buộc, định kiến, qui tắc, nghi lễ, luật pháp, định chế, sự sợ hãi, sự u mê, áp lực cuộc sống, lòng tham, sự toan tính… mà các cá nhân thường quên mất rằng, mình có một tự do nội tại bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt. Có thể gọi điều này là sự đánh mất mình. Chỉ trong những hoàn cảnh rất đặc biệt, hoặc sau một quá trình chiêm nghiệm và tu tập lâu dài, cá nhân mới tái khám phá ra sự tồn tại của thứ tự do nội tại này. Sự kiện này thường được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau, như sự thức tỉnh, ngộ đạo, tìm lại được bản thân mình… nhưng đều có chung bản chất là tái khám phá ra tự do nội tại của cá nhân để thoát khỏi định kiến và sự sợ hãi, giành lại sự tự chủ cho cá nhân trong mọi cuộc ứng xử với chính mình và thế giới bên ngoài.  Chính việc ý thức được sự tồn tại của thứ tự do nội tại này sẽ giúp cá nhân đứng vững trước sự chèn ép của xã hội. Và thông qua đó, cá nhân ý thức được bản ngã và giá trị của bản thân mình, đồng thời điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp nhất, theo nghĩa tốt cho không chỉ bản thân cá nhân đó mà còn cả cộng đồng. Điều này tạo cơ sở cho sự hình thành một phẩm tính khác, gọi là lương tri. Như vậy, tự do nội tại của cá nhân chính là nơi trú ngụ của lương tri con người.  Điều này giải thích vì sao những người tu tập để khám phá và nuôi dưỡng tự do của riêng mình, những người dám cất lên tiếng nói hoặc dấn thân bảo vệ tự do của con người, lại thường được gọi là lương tâm của xã hội hay rộng lớn hơn là lương tri của nhân loại.   Điều thú vị là thứ tự do này, nếu xét về tầm mức thì rất nhỏ bé và chỉ xuất lộ trong những hoàn cảnh đặc biệt, lại thường được gọi là đại tự do. Chắc hẳn điều này gắn liền với mức độ tác động của nó đối với cuộc sống của cá nhân, và cả ở sự khó khăn của mỗi người phải trải qua trước khi đạt được nó.  Với người trí thức, việc nhận thức được sự tồn tại của thứ tự do nội tại này sẽ giúp họ có đủ cơ sở ở trong lý luận, và sau đó là dũng cảm ở trong hành động, để theo đuổi những giá trị phổ quát đã nói ở trên, hầu thực hiện vai trò xã hội của chính mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trả lời câu hỏi: Trí thức là gì? (Tiếp theo và hết)      Vì nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá  những giá trị phổ quát, nên về mặt hình thức, người trí thức thường có  xu hướng đứng về phía đại chúng. Tuy nhiên, đây không nhất thiết phải là  điều luôn luôn đúng. Xét về bản chất, người trí thức sẽ đứng về phía những giá trị phổ quát, bất kể nó đang ở phía bên này hay bên kia.     Trí thức là gì?  Như vậy, đến đây đã có đủ cơ sở để trả lời câu hỏi “Trí thức là gì?”, như sau: Trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những trung giới trong các quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.   Từ cách hiểu về trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ và quảng bá những giá trị phổ quát của con người, có thể suy ra, và sau đó là kiểm chứng, những phẩm tính của người trí thức. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà các phẩm tính này thể hiện ra dưới dạng khác nhau, nhưng có thể liệt kê một vài trong số đó: Yêu tự do, yêu chân lý, yêu mến cái đẹp, tư duy độc lập, trung thực, sáng tạo, lương thiện, không thoả hiệp với cái xấu và cái ác…  Những phẩm tính này sẽ được bộ lộ ra thông qua hành động của họ, ở mức cơ bản nhất là lựa chọn và thái độ. Do đó, xã hội nhận biết một cá nhân có phải là trí thức hay không, trước hết thông qua lựa chọn và thái độ của cá nhân này, sau đó là trong chuỗi hành động của anh ta và hệ quả của nó đối với xã hội.  Như vậy, người trí thức với tư cách là một sản phẩm đặc thù của xã hội, xuất lộ khi xem xét dưới góc nhìn của xã hội đối với cá nhân, phải là người có lựa chọn và thái độ rõ ràng đối với các vấn đề xã hội, ở mức độ đủ tường minh để xã hội nhận biết được. Xã hội càng loạn lạc thì lựa chọn và thái độ càng phải rõ ràng, hầu cho đại chúng có thể nhận ra được mà hướng theo. Chính qua lựa chọn và thái đội của mình, người trí thức khẳng định cơ sở tồn tại của mình, và qua đó là được xã hội thừa nhận từ xã hội như một hệ quả. Nói cách khác, cơ sở tồn tại của người trí thức nằm ở mối tương quan của anh ta với xã hội, chứ không phải trong đời sống cá nhân. Vai trò của người trí thức, vì thế, cũng nằm ở vai trò xã hội của anh ta. Thiếu vai trò xã hội này, người trí thức sẽ suy biến thành một nhà chuyên môn thuần túy.  Do đặc tính trừu tượng của những giá trị phổ quát, nên những người nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá chúng thường là người lao động trí óc. Điều này gây ra một cảm nhận rằng trí thức là người lao động trí óc. Tuy nhiên, qua những phân tích ở trên, có thể thấy nhận định này là phiến diện. Lý do là nó đã chỉ tập trung vào một đặc điểm nhận dạng, mà không chỉ ra được đặc trưng cơ bản nhất của người trí thức, và đặc biệt, không xét người trí thức trong tương quan của họ đối với xã hội.  Do sự phân công lao động, những người lao động trí óc thường phải là người được đào tạo, tức người có học, định lượng chủ yếu thông qua bằng cấp. Do đó, cũng có ý kiến cho rằng, trí thức là người có học, hoặc cụ thể hơn là người đã tốt nghiệp đại học. Định nghĩa này còn phiến diện hơn cả định nghĩa trí thức là người lao động trí óc, nhất là khi việc học đại học đang ngày càng trở thành phổ cập.  Cũng vì nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá những giá trị phổ quát, nên về mặt hình thức, người trí thức thường có xu hướng đứng về phía đại chúng. Tuy nhiên, đây không nhất thiết phải là điều luôn luôn đúng. Xét về bản chất, người trí thức sẽ đứng về phía những giá trị phổ quát, bất kể nó đang ở phía bên này hay bên kia.   Cũng cần lưu ý rằng trí thức không phải là một nhãn mác vĩnh cửu, một khi đã được dán lên một cá nhân nào đó thì mãi mãi không thay đổi. Đời sống của mỗi cá nhân là tổng hợp của vô vàn hoạt động, trong đó có nhiều hoạt động mang tính bản năng, nên không hẳn lúc nào cũng có các giá trị phổ quát ở trong đó. Cho nên, sẽ rõ ràng hơn nếu nhìn nhận rằng, người trí thức có những phẩm tính đặc trưng, và những phẩm tính này sẽ bộc lộ ra ở những thời điểm cần thiết, chứ không nhất thiết phải đóng khung một hình mẫu cứng nhắc. Ngay cả khi một người đã được thừa nhận là trí thức, thì cũng không có gì đảm bảo rằng anh ta sẽ không bị tha hóa dưới tác động của lòng tham và sự u mê. Sự tha hóa này có thể được hiểu là việc người trí thức buông bỏ tự do nội tại và những giá trị phổ quát để hùa theo cường quyền, hùa theo cái ác và cái xấu, nhằm trục lợi cá nhân. Trong trường hợp này, anh ta không còn là trí thức, dù vẫn còn đầy đủ chức danh, bằng cấp, hay sự thừa nhận chính thức của các cơ quan công quyền.  Ngược lại, có những người ban đầu chỉ là nhà chuyên môn thuần túy, nhưng sau đó ý thức được vai trò xã hội của mình, ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ và quảng bá những giá trị phổ quát,  nên dần chuyển hóa thành người trí thức.Vì thế, trí thức là một khái niệm động, chứ không phải là một nhãn mác vĩnh cửu. Người trí thức do đó, cũng luôn cần phải tự soi mình.  Vì tự do và các giá trị phổ quát đều thuộc về nhận thức cá nhân, hoạt động chủ yếu trong đời sống tinh thần của cá nhân đó, nên sự tha hóa của trí thức rất khó nhận biết, nhất là khi đã được khéo léo ngụy trang bởi bằng cấp, chức danh, truyền thông đại chúng… Vì thế, trí thức chân chính bao giờ cũng rất ít, chỉ được nhận biết trước hết bởi cá nhân họ, sau đó là sự thừa nhận của xã hội thông qua hành vi của họ, mà trước hết là ở lựa chọn và thái độ của họ đối với các vấn đề xã hội.   Sự đánh tráo các giá trị phổ quát, hoặc ngụy tạo cho những giá trị phổ quát ảo bằng tuyên truyền và các mỹ từ, nhằm trục lợi cá nhân hoặc  bảo vệ lợi ích phe nhóm, cũng thường xảy ra trong lịch sử, nhất là ở những nơi dân trí còn chưa được mở mang đúng mức. Trong trường hợp này, tất yếu sẽ xuất hiện những kẻ, thậm chí là nhóm lớn, ngụy trí thức. Đây chính là những kẻ đạo đức giả, kẻ thù tự nhiên của trí thức chân chính.   Phân biệt được đâu là trí thức chân chính, đâu là ngụy trí thức, nếu chỉ căn cứ trên lời nói và sự phô diễn, thì thường rất khó khăn. Nhưng nếu nhìn vào hành vi của họ, từ động cơ thực hiện, phương tiện sử dụng và mục đích hướng tới, và đặc biệt là hậu quả của các hành vi này với đối với xã hội trên diện rộng, thì những ngụy trí thức này sẽ hiện nguyên hình là kẻ đạo đức giả hoặc “lưu manh giả danh trí thức”.  Vai trò xã hội của trí thức  Nếu chỉ xét mối tương quan giữa cá nhân và xã hội, trí thức chính là người bị chèn ép nhiều nhất vì có khả năng nhất trong việc chỉ ra những yếu kém của xã hội. Tuy nhiên, người trí thức có những vũ khí mà xã hội không thể tước đoạt, đó là tự do nội tại và những giá trị phổ quát. Người trí thức sẽ dùng chính vũ khí này để thực hiện sứ mệnh của mình, qua đó khẳng định sự tồn tại của mình, đối với xã hội. Vậy sứ mệnh của trí thức, hay vai trò xã hội của trí thức, là gì?  Dưới góc độ chuyên môn, trí thức chính là người tìm kiếm và sáng tạo ra những tri thức mới, và sau đó là truyền bá và sử dụng những tri thức này để nâng cao đời sống của xã hội, cả về vật chất lẫn tinh thần. Chiếm lĩnh được tri thức, người trí thức có sức mạnh, và do đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Sự đóng góp của người trí thức đối với xã hội, trước hết nằm ở khía cạnh này.  Tuy nhiên, những tìm kiếm và sáng tạo tri thức cần phải dựa trên những giá trị phổ quát, hướng đến việc thúc đẩy, hoặc ít nhất là vô hại, sự phát triển của xã hội. Nếu một sáng tạo hoặc tìm kiếm tri thức mục đích của nó là nhằm thống trị hay hủy diệt con người, hoặc hủy hoại những thành tựu văn hóa của con người, thì người sáng tạo ra tri thức đó không thể được gọi là trí thức, mà là tội phạm hoặc kẻ khủng bố. Trong các cuộc chạy đua vũ trang trên thực tế, đặc biệt là trong các nghiên cứu liên quan đến vũ khí hóa học, sinh học, nguyên tử, rất khó phân định đâu là sự tìm kiếm tri thức nhằm thống trị và đâu là để tự vệ. Đó chính là lý do vì sao các hoạt động tìm kiếm và sáng tạo tri thức cần phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các tiêu chuẩn đạo đức, cả ở mức chuyên biệt và phổ quát. Nếu không, dưới sự thúc giục của lòng tham và nhu cầu quyền lực, sẽ có những tội ác nhân danh sự tìm kiếm tri thức mà kẻ thực hiện chúng là những tội phạm giả danh trí thức. Trong những trường hợp đặc biệt này, lương tri và đạo đức cần phải được đặt cao hơn tri thức, mà ví dụ điển hình là việc nhiều nhà khoa học đồng thanh yêu cầu dừng sử dụng năng lượng nguyên tử làm vũ khí hủy diệt, dù trước đó họ có đóng góp trong việc khám phá ra thứ năng lượng này.  Bên cạnh việc tìm kiếm, sáng tạo và truyền bá tri thức, do lợi thế về am hiểu chuyên môn, trí thức cần là người lên tiếng cảnh báo những nguy cơ và hiểm họa đến từ tự nhiên và xã hội. Những hiểm họa đến từ tự nhiên có thể được cảnh báo nhờ máy móc thiết bị, nhưng hiểm họa đến từ xã hội thì không thể. Do đó, việc có chính kiến, và gióng lên hồi chuông cảnh báo công luận trước những hiểm họa , đặc biệt là hiểm họa nhân tạo, là vai trò của trí thức.  Đây là sự cảnh báo nhân danh những giá trị phổ quát, chứ không phải là nhân danh cá nhân người trí thức. Vì thế, sự cảnh báo thường có tính độc lập và khách quan tương đối. Sức mạnh của cảnh báo, đặc biệt là những cảnh bảo xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào bộ giá trị phổ quát mà nó dựa vào, chứ không phải ở vị trí xã hội của người đưa ra cảnh báo hoặc số người tham dự. Chính nhờ vai trò cảnh báo này mà người trí thức thường được coi là lương tri của xã hội.  Sự cảnh báo, nếu chỉ giới hạn vào các hiểm họa nhân tạo có thể xảy đến từ các chính sách thiếu cơ sở của nhà cầm quyền, thì thường được hiểu như là sự phản biện chính sách, hay phản biện xã hội khi mở rộng ra các lĩnh vực khác. Sự phản biện này chỉ xuất hiện khi một chính sách đã hoặc sắp hình thành, nên có phạm vi tác động nhỏ hơn sự cảnh báo. Vì thế, phản biện không thể thay thế được cảnh báo.  Bên cạnh hai vai trò đã nêu trên, trí thức cũng chính là người định chuẩn trong xã hội, sao cho xã hội được lành mạnh, vận hành hiệu quả, phát triển bền vững. Sự định chuẩn này cũng cần phải dựa trên cơ sở là những giá trị phổ quát, chứ không phải là những kiến thức chuyên biệt hay ý muốn của bất cứ cá nhân hoặc nhóm người nào. Chỉ khi nào việc định chuẩn dựa được trên những giá trị phổ quát, đã được kiểm chứng ở nhiều nơi trong suốt chiều dài lịch sử, thì mới có thể giảm thiểu được những sai sót và ấu trĩ về nhận thức gây ra. Ngược lại, nếu sự định chuẩn này chỉ dựa trên ý muốn chủ quan của một vài cá nhân, hoặc tri thức chuyên môn của một nhóm người, thì khả năng gặp phải sai sót do sự ấu trĩ, thiển cận, hạn hẹp tầm nhìn, là rất lớn.  Việc định chuẩn này không phải là đưa ra một giải pháp cụ thể, do đó không thể đòi hỏi trí thức phải đưa ra giải pháp cho từng vấn đề riêng biệt. Đưa ra giải pháp là công việc của các nhà chuyên môn, còn ban hành chính sách là công việc của các chính trị gia. Người trí thức chỉ dùng các giá trị phổ quát, như Chân, Thiện, Mỹ, Tự do, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân quyền… để định chuẩn cho mọi hoạt động của xã hội, bất kể đó là các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục v.v.  Các giá trị phổ quát là kết tinh của các kinh nghiệm hoạt động của con người trong suốt chiều dài lịch sử, nên mang trong mình tính kế thừa, cả trong thời gian lẫn không gian. Vì thế, nếu sử dụng các giá trị phổ quát làm cơ sở cho việc định chuẩn cho xã hội thì sẽ tránh được những đổ vỡ, xáo trộn do sự mâu thuẫn và va đập giữa các thang giá trị của các thế hệ và các nền văn hóa khác nhau. Nếu sự định chuẩn này đặt cơ sở trên các giá trị mới chưa được kiểm chứng, hình thành nên do sự mò mẫm hoặc ý muốn chủ quan với mong muốn tạo ra những nhảy vọt lớn, hay những ảo tưởng thiếu cơ sở, thì việc tạo ra các đứt gãy, làm phá vỡ sự bền vững của xã hội, gây nên nhiều tai họa cho dân chúng là điều khó tránh khỏi. Cuộc cách mạng văn hóa tàn khốc ở Trung Quốc những năm 1958-1968 là minh chứng rõ rệt cho điều này.  Chính vì thế, nếu xem xét xã hội như một tiến trình liên tục, tiến lên được nhờ những đấu tranh biện chứng, cả trong nhận thức và hành động, thì các giá trị phổ quát sẽ đóng vai trò là các trung giới của các quá trình đấu tranh biện chứng này, đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong mọi mặt của đời sống. Người trí thức với tư cách là người nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá những giá trị phổ quát, vì lẽ đó, cũng đã tự đặt mình vào vị trí trung giới của các quá trình vận động biện chứng của xã hội. Họ chính là người tạo điều kiện cho sự ra đời và nâng đỡ cái mới tiến bộ, và loại bỏ cái cũ đã lạc hậu, giúp cho xã hội đổi mới và phát triển không ngừng.   Thay lời kết  Trí thức là một sản phẩm đặc biệt của xã hội. Sự xuất hiện của người trí thức gắn liền với việc hình thành xã hội. Do đó, ý nghĩa của khái niệm trí thức, và sâu xa hơn là vai trò của người trí thức, chỉ có thể được hiểu đầy đủ khi đặt vào mối liên hệ với xã hội. Chính nhờ việc đặt vào mối liên hệ này, những đặc trưng của người trí thức mới được xuất lộ. Trong số những đặc trưng này, quan trọng nhất là tìm kiếm, sáng tạo và truyền bá tri thức – gọi là đặc trưng tri thức; cảnh báo các hiểm họa cho xã hộ – gọi là đặc trưng cảnh báo; và định chuẩn cho xã hội – gọi là đặc trưng định chuẩn. Tất cả các hoạt động liên quan đến ba đặc trưng này của người trí thức đều phải dựa trên những giá trị phổ quát mà họ nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá.  Có thể biểu diễn ba đặc trưng này và mối quan hệ giữa chúng trên một hình tam giác, tạm gọi là tam giác đặc trưng, như sau:       Tùy theo năng lực cá nhân và tính cách mà mỗi người trí thức có một tam giác đặc trưng, với kích thước và hình dạng khác nhau. Kích thước của tam giác đặc trưng phụ thuộc trước hết vào tài năng cá nhân của người trí thức, sau đó là độ lớn của chiều kích các giá trị phổ quát mà người trí thức theo đuổi. Còn hình dạng của tam giác đặc trưng phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của người trí thức trên ba phương diện “Tri thức – Định chuẩn – Cảnh báo” đối với xã hội. Các tỷ lệ này gia giảm tùy theo đặc thù , ưu tiên công việc và cá tính của mỗi người, nhưng không được biến mất hoàn toàn. Nếu không, tam giác đặc trưng sẽ suy biến thành một đoạn thẳng hoặc điểm.  Trong trường hợp suy biến thành đoạn thẳng, người trí thức sẽ không còn là một điển hình mẫu mực. Còn trong trường hợp suy biến thành điểm, người trí thức bị suy thoái thành nhà chuyên môn thuần túy nếu chỉ tập trung vào tri thức, hoặc kẻ quấy rối nếu chỉ tập trung vào cảnh báo, hoặc kẻ đạo đức giả nếu chỉ tập trung vào định chuẩn.  Cũng qua tam giác đặc trưng này, thấy rằng: các giá trị phổ quát đóng vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần, là bảng giá trị và vũ khí tối hậu của người trí thức. Buông bỏ chúng, người trí thức không chỉ trắng tay, mà còn xóa bỏ luôn các đặc trưng nhận dạng của mình, do đó xóa bỏ sự tồn tại của mình dưới góc nhìn xã hội.   Ở đỉnh thứ nhất của tam giác đặc trưng, thông qua việc chiếm giữ tri thức chuyên môn, người trí thức sẽ có được sức mạnh của sự hiểu biết, tư duy độc lập, sự sáng tạo, tức sức mạnh của lý tính. Với vai trò này, người trí thức được coi như bộ não của xã hội.   Ở đỉnh thứ hai của tam giác đặc trưng, thông qua việc cảnh báo những hiểm họa có thể xảy đến, đặt biệt là các hiểm họa nhân tạo do xã hội tạo ra, vai trò xã hội của trí thức được xuất lộ. Thông thường, sự cảnh báo này thường liên quan đến việc bảo vệ sự lành mạnh của xã hội, lên án sự chà đạp của cường quyền lên nhân tính, sự đồng cảm với những người kém may mắn, người thấp cổ bé họng, người đang chịu áp bức bất công, nên ở vai trò này, người trí thức thường được coi là lương tâm của xã hội.  Ở đỉnh thứ ba của tam giác đặc trưng, thông qua việc sử dụng những giá trị phổ quát để định chuẩn cho xã hội, người trí thức đã tự đặt mình vị trí gương mẫu cho đại chúng. Việc sử dụng những giá trị phổ quát như những trung giới của các quá trình đấu tranh biện chứng, hầu tạo ra sự đổi mới và phát triển của xã hội, ngưới trí thức đã tự đặt mình vào vị trí trung giới của sự phát triển. Vì thế, ở vai trò này, người trí thức được coi là người dẫn dắt sự phát triển của xã hội.  Cả ba vai trò này của người trí thức đều chỉ xuất lộ và phát huy tác dụng khi xét người trí thức trong mối quan hệ với xã hội. Chính ở trong mối quan hệ này, người trí thức tìm được cơ sở tồn tại của mình.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm của người có học khi phát biểu      Gần đây, trên báo chí của Việt Nam liên tục xuất hiện các phỏng vấn, kêu gọi, giao lưu và thảo luận mang tính quốc gia với những người có học hàm học vị, mà nổi bật nhất là với tiến sỹ Vũ Minh Khương (tốt nghiệp ĐH Harvard – Mỹ) về các vấn đề như cải cách giáo dục, phát triển kinh tế, đánh giá cán bộ, kêu gọi thanh niên, thời cơ quốc gia… (cụ thể, xin xem trên website của Vietnamnet và Tuổi Trẻ trong thời gian qua và xem buổi giao lưu nhân dịp Tết của Vietnamnet với tiến sỹ Khương). Đây là những vấn đề quan trọng; nhưng theo dõi những bài phát biểu của tiến sỹ Vũ Minh Khương, tôi nhận thấy rất nhiều phát biểu và hô hào của anh thật là vô nghĩa và lẽ ra không nên được thổi phồng trên quy mô quốc gia, vì chúng có thể đưa đến những nhận thức lệch lạc cho công chúng. Bài viết này trình bày một vài suy nghĩ của tôi về trách nhiệm của người có học khi phát biểu về các vấn đề xã hội trước công chúng    Không phải tiến sỹ nói gì cũng đúng, cũng nên tin  Một ví dụ cụ thể cần phải được báo động là việc tiến sỹ Vũ Minh Khương liên tục phát biểu những lời hết sức thiếu khoa học và những hô hào vô nghĩa trên nhiều báo chí cả nước trong thời gian qua. Bài mới nhất của anh về Tầm vóc dân tộc và công cuộc phát triển (đăng trên Vietnamnet, ngày 5-1-2006) là một ví dụ điển hình. Ở bài này, anh cho rằng tầm vóc dân tộc là yếu tố sống còn cho phát triển, và tầm vóc dân tộc bao gồm (1) khát vọng dân tộc, (2) tầm nhìn và tư duy, (3) tâm huyết và tài năng của những đội ngũ trụ cột, (4) tinh thần học hỏi và hợp tác, và (5) đặc tính văn hóa. Phân tích cụ thể thì dài, tôi chỉ xin chỉ ra một ví dụ nhỏ, ngay từ phần đầu trong nhận định của anh.  Anh cho rằng khát vọng dân tộc là yếu tố rất quan trọng, dựa trên “nền tảng của lòng yêu nước, tính tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm với thế hệ tương lai”. Nhưng không hiểu, những thứ này – ví dụ như tính tự tôn dân tộc – là đặc điểm trong mỗi cá thể hay là một thứ chung chung cho cả nước? Nếu là thứ chung chung cho cả Việt Nam thì anh tính nó bằng cách đem cộng tổng số khát vọng dân tộc của mỗi người Việt Nam lại hay thế nào? Ví dụ như nếu cần phải cải thiện khát vọng dân tộc thì cải thiện ở từng cá nhân hay ở đâu, làm thế nào? Nếu như khát vọng dân tộc là đặc tính di truyền cho mỗi nhóm người, thì còn bàn đến làm gì? Còn nếu có thể dùng đến giáo dục để nâng cao khát vọng dân tộc thì sao anh không nói thẳng luôn giáo dục là yếu tố sống còn của phát triển mà lại đi dùng một cái khái niệm trên ngọn cây và hết sức mơ hồ như thế kia?  Đứng về mặt xã hội, lối tư duy của anh nguy hiểm ở chỗ nó cứ hướng người ta tới một sự đua tranh ảo nào đó; rằng chúng ta phải cố mà lên được tầm này tầm khác, đứng hàng nọ hàng kia trong thế giới. Sao không nghĩ rằng chỉ cần chúng ta no ấm, đời sống con người văn minh là đủ, ở chỗ nào trong thế giới mà chả được? Sao không nghĩ rằng ở các nước khác, các nhà chính trị muốn làm gì thì làm, người dân chỉ chú trọng một điều là họ là người lao động tốt, sống có đạo đức, có sự chuyên nghiệp, họ làm cha làm mẹ một cách tử tế, cần gì biết đến chuyện nước họ đứng ở đâu? Sao không nghĩ rằng người ta thậm chí không cần đến cái tinh thần dân tộc một cách cục bộ; cái mà người ta cần là ý thức về sự làm người của mình, rằng dù sống ở Việt Nam hay ở Mỹ hay ở Nam Phi thì người ta cũng vẫn cần phải có những phẩm chất như nhau – ví dụ như sự trung thực và trách nhiệm trong lao động, lòng trắc ẩn với con người, sự dũng cảm và ham học hỏi… có những cái đó ở mỗi người thì tự khắc mọi việc sẽ tốt lên? Sao không nghĩ rằng chỉ có một thế giới chung mà lại cứ phải tách ra thành hai thế giới – Việt Nam và các nước còn lại? Sao không nghĩ rằng những thứ to tát trên không thể thay thế được trình độ lao động, nhận thức và tính chuyên nghiệp của người lao động?  Lẽ ra, thay vì kêu gọi thanh niên có lòng yêu nước, có ý chí dân tộc, phải biết vươn mình như Thánh Gióng, anh nên kêu gọi thanh niên học tập cho tốt, trở thành những người lao động lành nghề và có trách nhiệm. Có đội ngũ lao động như thế thì Việt Nam mới mong có thể thu hút đầu tư hay gia công xuất khẩu gì đó; chứ hiện nay trên thị trường Mỹ, đi đâu cũng chỉ thấy hàng gia công từ Trung Quốc, hoạ hoằn lắm mới thấy hàng gia công từ Việt Nam.  Lẽ ra, thay vì làm cho người ta có ảo tưởng rằng cả thế giới đang nhìn vào Việt Nam, rằng thời cơ Thánh Gióng đã đến với Việt Nam, anh nên nói một cách khách quan rằng thời cơ là cho tất cả thế giới và Việt Nam thực sự chỉ là một phần nhỏ trong cả thế giới; muốn đi lên thì cứ bình tĩnh mà cải tổ từng bước, đừng ảo tưởng vào sự lớn vụt hay vươn mình nào vì quán tính của cách suy nghĩ và tư duy cũ còn rất nặng nề tại Việt Nam – anh Khương chính là một đại diện tiêu biểu của lối tư duy “cán bộ Đoàn” đó mặc dù anh đã đi học ở Mỹ rất lâu.  Lẽ ra, thay vì phát biểu những điều to tát trên báo chí về phát triển kinh tế, về đánh giá cán bộ như thể chúng được đúc rút từ kinh nghiệm thực tế, anh nên nói rõ rằng chúng chỉ dựa trên lý thuyết trong trường học. Thế mà nguy hiểm là chúng lại tạo những ảo tưởng rất tai hại cho những người đọc trong nước, những người không có nhiều công cụ phân tích và ít được nghe các khái niệm to tát. Cụ thể là đọc những bài phản hồi của bạn đọc với các bài viết của anh trên báo Tuổi Trẻ và Vietnamnet, tôi rất lấy làm phiền lòng vì sự háo hức và ảo tưởng mà các bạn trẻ lây từ anh về một cuộc đổi đời, hoá rồng nhanh chóng nào đó chỉ bằng niềm tin và lòng nhiệt tình. Lẽ ra anh nên nói rằng cái cần nhất lúc này là lao động, lao động, và lao động. Là học lấy sự chuyên nghiệp và sự văn minh trong cư xử, từ cái nhỏ nhất trở đi chứ đừng mơ mộng hão huyền.  Lẽ ra…  Vài suy nghĩ về trách nhiệm của một người có học khi phát biểu trước công chúng  Xưa nay, người ta thường tin vào những người có bằng cấp, đã thành công, có quan hệ với người này người kia… nói theo thành ngữ Việt Nam là “miệng kẻ sang có gang có thép”. Ở Việt Nam, xã hội đang thay đổi mạnh nên có động thái “có bệnh thì vái tứ phương” mà không kịp tìm hiểu xem thày mình mời bốc thuốc là thày nào. Tâm lý này đưa đến sự tôn vinh không chính xác những thứ hào nhoáng giả vờ, như người có bằng tiến sỹ, giáo sư tại Mỹ, Việt kiều thành công ở nước ngoài, sinh viên giỏi ở nước ngoài… mà không biết thực chất những sự thành công và bằng cấp kia là thế nào.   Tôi nghĩ, càng được tin tưởng và có nhiều người nghe, người ta càng phải thận trọng và có trách nhiệm với các phát biểu của mình. Giả sử tôi viết tiểu thuyết, có ngớ ngẩn một tí thì chắc cũng không chết ai; nhưng nếu triển khai một chính sách sai thì cái hại không biết đâu mà lường. Tạo ra một ảo tưởng sai cho một đám đông thì cái hại cũng không biết bao giờ mới sửa được.  Trừ những ngành khoa học kỹ thuật như toán, lý, hóa, tin học, y học, dược học, cơ khí… – những ngành mà phạm vi áp dụng của nó khá tương đồng giữa Mỹ và Việt Nam, theo tôi, các ngành khoa học xã hội đòi hỏi người làm chính sách hoặc xây dựng lý thuyết phải có thời gian tìm hiểu thực tế và sống trong môi trường thực tế chứ không chỉ nói chung chung trên các lý thuyết, nhất là lý thuyết học từ nước ngoài – trừ khi anh là thiên tài có khả năng tư duy trừu tượng rất cao, điều mà tôi nghi ngờ ở những người Việt Nam sang Mỹ du học. Vì thế, việc phát biểu những điều to tát về chính sách hay về các phong trào xã hội là một điều một người có học nên hết sức thận trọng. Nếu có phát biểu, cần nêu rõ giới hạn những phát biểu của mình.  Chốt lại, tôi muốn nói rằng đừng nhìn thấy một người có học vị tiến sỹ ở Mỹ, dù ở trường nào, mà nhầm tưởng người đó có thể kinh bang tế thế. Xã hội nên thận trọng khi giao phó những bài toán lớn cho những người mới chỉ được chứng minh khả năng qua học vị tiến sỹ. Bản thân tôi, nếu có được hỏi phát biểu trên báo chí thì tôi chỉ trả lời các phỏng vấn về chuyện du học, về chuyện đời sống ở Mỹ…; chứ tuyệt nhiên ở thời điểm này và kể cả đến lúc lấy được bằng tiến sỹ, tôi sẽ không cho phép mình phát biểu bất cứ điều gì về chính sách xã hội ở Việt Nam. Đơn giản là tôi nghĩ tôi không có hiểu biết thực sự về các vấn đề xã hội khi mà tôi sang Mỹ đã 5 năm nay và từ lúc bắt đầu học về chính sách xã hội thì tôi chưa có lúc nào về Việt Nam để thực sự tìm hiểu mọi thứ trong khi xã hội Việt Nam đang thay đổi rất nhanh chóng. Lẽ dĩ nhiên, nếu phát biểu chỉ dựa trên lý thuyết được học tại trường thì tôi có thể nói tràng giang đại hải rất nhiều (và có lẽ với rất nhiều mỹ từ) về các loại chính sách xóa nghèo, chính sách phát triển cộng đồng, về các chính sách phúc lợi trẻ em, chính sách lao động, nhân tố nọ, nguồn lực kia, mô hình nọ, khái niệm kia; nhưng nói những điều lý thuyết sách vở đó là vô nghĩa và thiếu trách nhiệm.  Bản thân là người học qua chương trình thạc sỹ về truyền thông và cũng là người viết báo, tôi biết cái hạn chế của việc trình bày các vấn đề học thuật trên mặt báo cũng như những yếu tố khác nữa trong guồng máy sửa chữa, lên bài cho đúng chủ trương chính sách. Nhưng tôi thiết nghĩ, nguyên tắc của người làm khoa học là mỗi lời nói ra phải có ý nghĩa và phải có chất lượng cao nhất. Nghĩa là về tính chính xác, phát biểu đó phải chính xác ngang nhau khi nói với người đọc đại chúng trong nước hay trước một hội đồng các giáo sư, hay để nộp cho một tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới. Ngôn ngữ, giọng điệu có thể khác, nhưng ý nghĩa của các nhận định thì phải như thể người ta đang phát biểu trước một hội đồng kiểm duyệt khắt khe nhất của những người có trình độ cao. Nếu nó không đạt được tính chính xác đó, thì tốt nhất là không nên nói. Im lặng không nói điều vô nghĩa cũng là một phẩm chất cần có của người có suy nghĩ vậy.    Phan Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm hợp đồng, trách nhiệm đối với người tiêu dùng      Việc anh Minh mua chai Number One từ Tân Hiệp Phát là hợp đồng mua  bán. Tuy nhiên, Tân Hiệp Phát đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng  trách nhiệm là giao hàng đảm bảo chất lượng. Do vậy, Tân Hiệp Phát phải  bồi thường thiệt hại cho anh Minh. Trong dân sự, quyền quyết định cốt ở  đôi bên, vì thế, các bên có thể thương lượng để giải quyết bồi thường do  vi phạm hợp đồng. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, không bị hạn  chế. Do vậy, việc khởi tố anh Minh về tội cưỡng đoạt tài sản là không  đúng.    Như báo chí đã đưa tin, ngày 03 tháng 12 năm 2014, anh Võ Văn Minh (Tiền Giang) phát hiện có một con ruồi trong chai nước giải khát Number One của Công ty Tân Hiệp Phát ở Bình Dương. Sau đó anh Minh đã gọi điện thoại cho Công ty này yêu cầu người đến để thương lượng. Lúc đầu, anh Minh đòi 1 tỉ đồng, nếu không sẽ cung cấp thông tin cho báo chí và in 5.000 tờ rơi phát tán, nhưng sau 3 lần thương lượng thì anh Minh và Công ty Tân Hiệp Phát đồng ý mức bồi thường là 500 triệu đồng. Chiều 27/01, anh Minh bị công an bắt giữ và khởi tố vì tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật Hình sự.   Tuy nhiên, xét trên góc độ pháp lý thì đây đơn thuần là trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng, trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Mặc dù hành vi của anh Minh, trên góc độ đạo đức, việc viện dẫn “nếu không bồi thường thì sẽ cung cấp thông tin cho báo chí” là trái đạo đức đối với người tiêu dùng, cộng đồng nói chung mà thôi. Và đương nhiên công ty Tân Hiệp Phát cũng phạm phải chuẩn mực đạo đức khi ngồi vào bàn đàm phán với lý do này. Có chăng, việc thỏa thuận bồi thường này sẽ không được pháp luật bảo vệ. Điều này có nghĩa là, sau khi bồi thường 500 triệu, giả sử anh Minh cung cấp thông tin cho báo chí thì Tân Hiệp Phát không được Tòa án bảo vệ để kiện anh Minh vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật.  1. Trách nhiệm hợp đồng, trách nhiệm với người tiêu dùng  Vụ án bà Liebeck kiện McDonald   Ngày 27/02/1992, bà Liebeck (bang New Mexico, Mỹ) mua một ly cà phê giá 49 cent từ một cửa hàng take-away của McDonald. Ngồi trên xe Ford Probe 1989 của cháu trai, vì không có chỗ giữ ly cà phê nên bà Liebeck đã kẹp ly cà phê vào giữa hai đùi. Trong khi mở ly cà phê để cho thêm ít đường thì ly cà phê bị đổ và vì ly cà phê quá nóng (trên 80 độ C), bà Liebeck bị bỏng.   Ban đầu bà Liebeck đòi McDonald phải bồi thường $20.000 để bù đắp cho các chi phí, thiệt hại bao gồm: Chi phí 8 ngày nằm viện $10.500; chi phí thuốc men trong tương lai $2.500, thiệt hại nhu nhập $5.000 (xấp xỉ $18,000). McDonald không đồng ý, mà chỉ đề nghị bồi thường $800.  Sau đó, bà Liebeck nhờ luật sư để kiện ra tòa với lý do sự bất cẩn trong sản xuất của McDonald, để cà phê quá nóng, nguy hiểm cho người tiêu dùng, không có cảnh báo hợp lý. Sau đó, Bồi thẩm đoàn yêu cầu McDonald bồi thường $160,000 cho thiệt hại của bà Lieback. Đồng thời Mc Donald phải chịu khoản phạt $2,7 triệu (tương đương 2 ngày lợi nhuận). Tổng số tiền Bồi thẩm đoàn yêu cầu McDonald phải đưa cho bà Leibeck là $2,860 triệu. Mặc dù sau đó, thẩm phán đã giảm số tiền phạt còn $480.000. Và tổng số tiền bồi thường là $640,000. Tuy nhiên, cả McDonald và Liebeck đã không đồng ý và quyết định thương lượng với số tiền khoảng $600.000.  Rõ ràng, việc áp dụng một khoản phạt đối với nhà sản xuất đủ sức răn đe là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của họ đối với người tiêu dùng. Không thể vì ly cà phê chỉ $49 cent mà cẩu thả đối với sản phẩm do mình tạo ra được.   Máy cắt cỏ của Yellowstone  Công ty Yellowstone, Mỹ đã phát triển một loạt các máy cắt cỏ. Tuy nhiên, các máy cắt cỏ của công ty này phát nổ ngày càng nhiều, ngay cả khi không sử dụng. Sau khoảng 10 năm đưa ra thị trường, hàng trăm người đã bị thương bởi vì máy cắt cỏ của công ty này. Công ty Yellowstone đã giải quyết tranh chấp bằng cách thương lượng với các nạn nhân. Có trường hợp, Yellowstone đã bồi thường lên đến $3 triệu. Trong các thương lượng của Yellowstone, có điều khoản cấm nạn nhân công khai vụ việc.   Giả sử, có một nạn nhân công khai thông tin này thì Yellowstone sẽ không được Tòa án bảo vệ để đòi lại tiền từ nạn nhân bởi thỏa thuận này trái với đạo đức xã hội. Cả Yellowstone và các nạn nhân đều hành xử không đúng mực với người tiêu dùng khác, với cộng đồng nói chung.  2. Trách nhiệm hình sự?  Rõ ràng, cả anh Minh và công ty Tân Hiệp Phát đều tự nguyện tham gia thỏa thuận bồi thường trách nhiệm do Tân Hiệp Phát vi phạm trách nhiệm hợp đồng, trách nhiệm sản phẩm đối với người tiêu dùng.  Viện dẫn lý do “công khai thông tin với báo chí, phát tờ rơi” đối với hành vi vi phạm trách nhiệm hợp đồng, trách nhiệm đối với sản phẩm để vào bàn đàm phán chỉ đơn thuần là vi phạm đạo đức với người tiêu dùng khác mà thôi, chứ không thể quy kết là “thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần người khác”.  Với sự muôn hình vạn dạng của cuộc sống, mà đối với mỗi trường hợp, chúng ta cần phải có cách giải thích và áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, bởi suy cho cùng là bảo vệ lẽ phải, lẽ công bằng, bảo vệ thế yếu.  Xét trên tương quan của anh Minh so với Công ty Tân Hiệp Phát thì anh Minh là thế yếu, là vị thế của người phân phố hàng nhỏ lẻ cho “gã nhà giàu, đầy quyền lực” Tân Hiệp Phát. Do vậy, khả năng để anh Minh uy hiếp tinh thần là rất khó xảy ra. Để xác định được việc uy hiếp tinh thần của người khác hay không cần xác định rõ là người bị uy hiếp có sự lựa chọn khác hay không, nếu không thì “tinh thần” hợp pháp của mình bị người khác đe dọa.  Trong trường hợp này, Tân Hiệp Phát có thể không thương lượng với anh Minh, và nếu anh Minh gửi thông tin cho báo chí hay rải truyền đơn sai sự thật thì có thể yêu cầu Tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị xử lý vì lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm hại lợi ích người khác.  Một khi, công ty Tân Hiệp Phát đồng ý bồi thường cho anh Minh thì đây đơn thuần là thỏa thuận về dân sự. 500 triệu là nghĩa vụ mới mà Tân Hiệp Phát phải thực hiện.  Giả sử anh Minh bắt giữ hoặc đe dọa sẽ giết giám đốc hay nhân viên của Tân Hiệp Phát thì mới phát sinh trách nhiệm hình sự là “uy hiếp tinh thần người khác”. Trong vụ việc này, không thể giải thích công ty Tân Hiệp Phát là “người” khác được.   Khi lập biên bản, cơ quan công an thu hồi luôn chai Number One từ anh Minh. Câu hỏi đặt ra là, anh Minh còn chứng cứ gì trong tay để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, khi mà chai Number One là chứng cứ quan trọng nhất trong vụ án này?  ***  Ồn ào rồi cũng qua đi, chỉ có anh Minh là người đáng lẽ ra pháp luật phải bảo vệ thì rồi đây cánh cửa trại giam đang đón chào vì cách hiểu, sự áp dụng cứng nhắc các quy định pháp luật mà nó dường như đã có tiền lệ. Do vậy, với sự đa dạng của các tình huống trong cuộc sống, cần phải có sự giải thích, áp dụng linh hoạt của các cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo công bằng, công lý, ít nhất là cho thế yếu, người tiêu dùng. Bởi “thế mạnh”, tự họ có cách bảo vệ cho quyền lợi của họ.  Đặt lên bàn cân cả pháp lý lẫn đạo đức, đáng lẽ ra pháp luật nên trừng trị nhà sản xuất Tân Hiệp Phát vì đưa ra sản phẩm kém chất lượng cho người tiêu dùng hơn là người bị vi phạm như anh Minh (mặc dù anh Minh vẫn vi phạm đạo đức với người tiêu dùng khác). Có vẻ như trách nhiệm với các chế tài hành chính như hiện nay chưa đủ sức răn đe đối với các công ty (pháp nhân), mà cần phải hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân mới đáp ứng được những mong “mọi cá nhân, tổ chức bình đẳng trước pháp luật”. Cũng như, việc áp dụng một khoản phạt dân sự (punitive damage) để bồi thường cho nạn nhân như trong ví dụ mua cà phê của bà Liebeck là hợp lý. Ngoài ra, với “ý đồ” mong người khác (anh Minh) bị xử lý hình sự theo sự dàn dựng của mình, bổ sung tội “bẫy người khác phạm tội” cũng rất cần thiết để bảo vệ giá trị đạo đức cộng đồng.            Điều 135 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:  1.  Người nào  đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh  thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến  năm năm.  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:  a) Có tổ chức;  b) Có tính chất chuyên nghiệp;  c) Tái phạm nguy hiểm;  d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;  đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:  a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;  b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.  4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:  a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;  b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm không chỉ ở thủy điện Hố Hô      Vấn đề chính nằm ở công tác quản lý rủi ro lũ lụt của chúng ta chưa tốt    Từ ngày 12 đến 15 tháng 10, tại các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế đã có mưa lớn trên diện rộng gây lũ lụt do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh. Đây cũng là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất về lũ lụt ở Việt Nam, nơi mà lũ lụt xảy ra hằng năm vào mùa mưa1.  Năm 2016 cũng được dự báo là năm mà chịu tác động mạnh nhất của hiện tượng El Nino ở khu vực Thái Bình Dương. Ở một số vùng ở Quảng Bình, tổng lượng mưa lên đến 700mm trong 3 ngày. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai trung ương, thiệt hại trong đợt mưa lũ này là 34 người chết, 1 người mất tích, trên 132.893 nhà cửa bị ngập và hư hại, 320.000 gia súc, gia cầm bị chết, và những thiệt hại nặng nề đến nông nghiệp, giao thông, thủy lợi2.  Nhiều người đổ lỗi hậu quả nặng nề của lũ ở Hà Tĩnh là do thủy điện Hố Hô. Nhưng giả sử nếu không có thủy điện Hố Hô xả lũ thì liệu trận lụt vừa rồi sẽ không gây ra thiệt hại nặng nề như vậy?   Bản thân thủy điện không tạo ra nước. Nếu không có đập ở đó, lượng nước vẫn về với khối lượng và lưu lượng đó3. Ngay cả trong trường hợp “ngặt nghèo” rất có thể gây tăng lũ như bậc thang thủy điện trên sông Vu Gia – Thu Bồn khi tất cả các thủy điện cùng xả lũ một lúc thì việc xả lũ của thủy điện chỉ ảnh hưởng do không thực hiện nhiệm vụ phòng lũ, như kết luận trong nghiên cứu của TS. Lê Anh Tuấn và cộng sự sau khi chạy mô hình thủy lực.4 Nhưng với dung tích hồ chứa của đập Hố Hô là 38 triệu m3, dung tích phòng lũ (dung tích từ mức nước chết đến mực nước dâng bình thường của hồ chứa) là 6 triệu m3, mà lưu lượng về hồ ổn định ở mức 1.600 m3/s đến 1.800 m3/s trong suốt 7 giờ5, thì thủy điện Hố Hô có xả nước đến mực nước thấp nhất để đón lũ cũng không giữ được bao nhiêu nước.  So sánh với dung tích phòng lũ của bậc thang thủy điện trên sông Đà là 7 tỷ m3, chiếm 70% tổng dung tích phòng lũ của các hồ chứa trong cả nước, thì các thủy điện ở khu vực miền trung không có khả năng chứa lũ do điều kiện địa hình đồng bằng ở miền Trung rất hẹp nên không có vùng đệm để chứa lũ như lưu vực sông Đà ở phía Bắc. Vì vậy, chúng ta không thể đặt nhiệm vụ phòng lũ cho thủy điện tại khu vực miền trung.  Mặc dù thủy điện Hố Hô cũng có thể tham gia một phần nhỏ vào việc cắt lũ, giảm thiệt hại cho người dân bằng cách xả nước trước khi lũ về để đón lũ. Nhưng dự báo của chúng ta không đủ tốt để ra quyết định. (Nếu dự báo không đúng, lũ không về thì nhà máy không có nước phát điện).  Vậy sau những hậu quả nặng nề của lũ lụt ở Hà Tĩnh và Quảng Bình, không thể quy toàn bộ trách nhiệm cho thủy điện Hố Hô. Theo tôi, vấn đề chủ yếu nằm ở: công tác quản lý rủi ro lũ lụt của chúng ta chưa tốt, trong đó có công tác dự báo (vì khả năng dự báo phải chính xác để cho thủy điện xả lũ, để các ban chỉ huy phòng chống thiên tai và người dân chủ động ứng phó), công tác quản lý tài nguyên nước, quản lý quy hoạch (trong đó có quy hoạch thủy điện), và quản lý rừng (việc rừng đầu nguồn bị chặt phá, khiến nước về càng nhanh hơn, không có lớp phủ thực vật bảo vệ đất và giữ nước nên rủi ro sạt lở đất trong mưa càng cao. Nhiều nhà đầu tư lợi dụng việc đầu tư thủy điện để chặt gỗ, phá rừng…)  Chu kỳ của công tác quản lý rủi ro thiên tai có thể minh họa như trong hình. Xu hướng ở các nước phát triển hiện nay người ta tập trung đầu tư vào phần giảm thiểu và chuẩn bị, hướng đến cách tiếp cận chủ động. Lúc đó người dân và các nhà quản lý sẽ chủ động hơn với lũ lụt hướng đến giảm thiểu được các thiệt hại nặng nề về người và tài sản.       Công tác giảm thiểu và công tác chuẩn bị được đề xuất như sau:               Công tác giảm thiểu          M1: Quy hoạch và phân vùng sử dụng đất để kiểm soát việc xây dựng tại những khu vực dễ bị lũ lụt          M2: Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro lũ lụt          M3: Đào tạo và giáo dục về quản lý rủi ro lũ lụt          M4: Phát triển các hệ thống quản lý rủi ro lũ lụt          M5: Cung cấp thông tin kịp thời và hiệu quả liên quan đến rủi ro lũ lụt          M6: Xây dựng và củng cố hệ thống đê đập, hồ chứa, và hệ thống thoát nước          M7: Tập trung vào công tác quản lý rừng như bảo vệ rừng và trồng rừng          M8: Phân tích các rủi ro để đo lường, đánh giá các khu vực dễ bị lũ lụt          M9: Tập trung vào vào công tác quản lý nguồn nước, như quản lý các lưu vực sông          M10: Bảo hiểm nông nghiệp để giảm thiểu ảnh hưởng về kinh tế cho người nông dân                     Công tác chuẩn bị          P1: Xây dựng và củng cố hệ thống quan trắc khí tượng          P2: Xây dựng các bản đồ ngập lụt          P3: Xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo sớm          P4: Dự trữ lương thực, thực phẩm          P5: Tạm thời sơ tán người và tài sản khỏi các địa điểm bị đe dọa          P6: Xây dựng nhà tránh trú bão          P7: Nâng cao nhận thức của cộng đồng về quản lý rủi ro lũ lụt          P8: Chuẩn bị phương tiện, thiết bị cứu trợ trong trường hợp khẩn cấp          P9:  Xây dựng quy trình phối hợp và hợp tác của các bên liên quan          P10: Đào tạo nhân viên có năng cứu trợ khẩn cấp và diễn tập          P11: Tuyển nhân viên cho dịch vụ cứu trợ khẩn cấp trong lũ lụt            Trong luật phòng chống thiên tai số 33/2013/QH13 quy định rất rõ 3 mục với các hoạt động rất cụ thể cho: (1) phòng ngừa thiên tai, (2) ứng phó với thiên tai, (3) khắc phục hậu quả thiên tai. Vậy sau những lần thiên tai nặng nề mỗi năm các ban chỉ huy phòng chống thiên tai có rà soát và đánh giá lại hiệu quả cụ thể của các công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phụ hậu quả thiên tai không?   Sơ đồ tổ chức của hệ thống ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn7 cho thấy hệ thống hành chính công các cấp từ trung ương đến địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) hoàn toàn chịu trách nhiệm về các hoạt động liên quan đến công tác quản lý thiên tai. Năm nào tất cả các ban chỉ huy phòng chống thiên tai cũng đều lập các phương án phòng chống thiên tai cho địa phương mình nhưng tất cả các phương án đó mới chỉ dừng lại ở các văn bản hành chính, và dựa trên kinh nghiệm quản lý từ các cán bộ trong hệ thống chính trị. Hậu quả của trận lụt không chỉ lần này mà năm nào cũng xảy ra và xảy ra ở nhiều địa phương cho thấy rằng hoạt động của các ủy ban phòng chống thiên tai tại địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) không thực sự hiệu quả trong việc giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản. Điều rõ ràng nhìn thấy được trong cơn lũ vừa rồi là tất cả toàn hệ thống ban chỉ huy phòng chống thiên tai, đặc biệt là người dân hoàn toàn bị động.          Hiện nay, hệ thống quản lý thiên tai của Việt Nam đã huy động được lực lượng từ tất cả các cấp chính quyền tham gia trong công tác phòng chống thiên tai, làm việc với các cộng đồng nhanh chóng trên tinh thần đoàn kết. Điều này nói lên một năng lực kết nối cộng đồng chặt chẽ. Tuy nhiên, sự hiện diện của bộ máy hành chính công trong các hoạt động quản lý rủi ro thiên tai là chưa đủ. Những người ra quyết định, đứng đầu các ban chỉ huy phòng chống thiên tiên ở cấp địa phương, là các lãnh đạo ở các cấp chính quyền, và không có chuyên môn trong quản lý thiên tai. Đáng lẽ, cần phải có sự góp mặt của các chuyên gia và các nhà khoa học vào các ủy ban này trong việc ra quyết định. Cần có sự đầu tư và nghiên cứu, cần có sự tham gia của họ trong các hoạt động của ban chỉ huy phòng chống thiên tai, cụ thể là tập trung vào hướng tiếp cận chủ động. Các quyết định phải được thực hiện dựa trên sự kết hợp các kiến thức khoa học mới nhất và một sự nhạy cảm sâu sắc với hoàn cảnh địa phương.  Hiện tại, quỹ phòng chống thiên tai hằng năm ở các địa phương được thu theo quyết đinh số 94/2014/NĐ-CP, cùng với rất nhiều dự án vay vốn ngân hàng thế giới và các nguồn tài trợ nước ngoài dành cho công tác giảm thiểu rủi ro thiên tai mà Việt Nam là một trong những nước nhận được nhiều nguồn tài trợ và vốn vay cho giảm thiểu rủi ro thiên tai nhất trên thế giới. Điều này đặt ra một yêu cầu cần có một cơ chế hiệu quả để đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính hiệu quả của đầu tư.     *Ngành quản lý rủi ro thiên tai, Đại học Newcastle, Úc  Chú thích:  1 http://phongchongthientai.vn/tin-tuc/mua-lu-gay-thiet-hai-tai-cac-tinh-mien-trung/-c3222.html  2 http://phongchongthientai.vn/tin-tuc/bao-cao-nhanh-cong-tac-truc-ban-phong-chong-thien-tai-ngay-18-thang-10-nam-2016/-c3277.html  3Thiết kế thủy điện thường phải đảm bảo năng lượng thừa của dòng chảy sau tràn phải là nhỏ nhất bởi vì nếu không sẽ phá hoại lòng dẫn, thậm chí là xói lở chân đập. 4  https://www.researchgate.net/publication/268310440_Van_hanh_xa_lu_va_tich_nuoc_ho_chua_thuy_dien_den_ha_luu_he_thong_song_Vu_Gia_-_Thu_Bon_Tu_so_lieu_mo_phong_den_phan_anh_thuc_te_cua_nguoi_dan  5 http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chuyen-gia-quy-trinh-xa-nuoc-cua-thuy-dien-ho-ho-bat-cap-3486362.html  6 http://soha.vn/giai-oan-cho-thuy-dien-20161019235505991.htm  7http://phongchongthientai.vn/he-thong/so-do-chung/-c2.html                Author                Lưu Thị Diệu Chinh - Jason Von Meding*        
__label__tiasang Trách nhiệm và nhân đạo trong vấn đề chất độc da cam      Tòa án New York đã bắt đầu nghe vụ kiện do Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đệ đơn kiện 32 công ti hóa học từng sản xuất và cung cấp hóa chất, kể cả chất độc màu da cam, sử dụng trong thời chiến kéo dài suốt 10 năm (từ 1961-1971). Phiên tòa thu hút sự chú ý của thế giới và ngay cả quốc hội Mĩ, vì thời điểm của phiên tòa diễn ra trùng hợp với chuyến thăm chính thức nước Mĩ của chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Ngoài dư luận ủng hộ phía nguyên đơn (tức Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam), giới cựu chiến binh Hàn Quốc, New Zealand, và Úc cũng theo dõi xem phán quyết của tòa án vì họ cũng có dự định kiện các công ti hóa chất Mĩ do những phơi nhiễm mà họ chịu phải trong thời chiến.         Khó có thể đoán trước kết quả phiên tòa ra sao, nhưng kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy vấn đề chất độc da cam chưa bao giờ được thảo luận đến nơi đến chốn ở pháp đình.  Hơn hai năm trước, tháng 3 năm 2005, vụ kiện chất độc da cam không được xét xử vì theo Thẩm phán Jack Weinstein, “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lí dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế.  Vụ kiện không được xét xử.”  Hơn 20 năm về trước khi các cựu chiến binh Mĩ kiện các công ti hóa chất Mĩ về những tác hại sức khỏe mà họ chịu phải khi tham gia vào chiến dịch phun độc chất, và vụ kiện được kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài tòa mà theo đó các công ti hóa chất đồng ý lập ra một quĩ y tế xã hội nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mĩ từng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam.      Nhưng bất kể kết quả phiên tòa ra sao, một thực tế không thể chối cãi được là qua nhiều nghiên cứu trong ba thập niên qua, dioxin và chất độc da cam gây ra nhiều tác hại đến sức khỏe con người.  Viện y khoa Mĩ (Institute of Medicine) thuộc Viện hàn lâm khoa học Mĩ duyệt qua các nghiên cứu trong quá khứ và đi đến kết luận rằng chất độc da cam hay dioxin là nguyên nhân gây ra  một số bệnh như ung thư tế bào mềm, ung thư máu dạng Non-Hodgkin và Hodgkin, ung thư tuyến tiền liệt, ban clor, chứng nứt đốt sống, v.v…    Trong vòng 2 năm qua cũng có một số nghiên cứu cho thấy chất độc da cam có thể kéo dài hàng năm thập niên.  Chẳng hạn như một nghiên cứu mới nhất (công bố năm ngoái) cho thấy các cựu chiến binh Mĩ từng trực tiếp phun chất độc màu da cam có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, bệnh tim, cao huyết áp, và các bệnh mãn tính đường hô hấp cao hơn những cựu chiến binh khác khoảng 50% đến 100%.  Trong một bài báo khoa học gần đây công bố trên tập san dịch tễ học International Journal of Epidemiology, nghiên cứu sinh bác sĩ Ngô Đức Anh (Hà Nội) và tôi phân tích dữ liệu từ 21 công trình nghiên cứu từ Mĩ, Úc và Việt Nam liên quan đến ảnh hưởng của chất độc da cam và dị tật bẩm sinh.  Chúng tôi phát hiện rằng những bà mẹ hay cha bị phơi nhiễm độc chất da cam trong thời chiến có nguy cơ sinh con với dị tật bẩm sinh tăng gấp 2-3 lần so với những người không bị phơi nhiễm.       Nói tóm lại, tác hại của chất độc da cam đến con người là một thực tế hiển nhiên.  Không chỉ ở Mĩ mà còn ở Việt Nam.  Chỉ cần đến những vùng bị phun độc chất nhiều trong thời chiến sẽ thấy tần số trẻ em với dị tật bẩm sinh, ung thư, và các bệnh ngặc nghèo khác sẽ thấy ngay hệ quả của việc sử dụng chất màu da cam một cách bừa bãi.  Thật ra, có bằng chứng cho thấy giới khoa học quân sự Mĩ biết trước tác hại của chất độc da cam.  Tiến sĩ James R. Clary, thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) trực thuộc Airforce Armament Development Laboratory (Florida), viết như sau: “Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương trình khai quang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của chất dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ.  Chúng tôi còn biết rằng công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, vì chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn.  Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá.  Chúng tôi không bao giờ nghĩ là quân đội chúng ta lại bị nhiễm độc chất.  Và, nếu chúng tôi nghĩ đến tình huống này, chúng tôi mong muốn chính phủ chúng ta giúp đỡ các cựu chiến binh bị nhiễm độc chất.”    Vấn đề chất độc da cam ở VN có thể giải quyết một cách thỏa đáng nếu các công ti hóa học và chính phủ Mĩ có thiện chí.  Thật ra, Quốc hội Mĩ đã có thiện chí giải quyết vấn đề qua vài tuyên bố gần đây của các quan chức Mĩ, nhưng các công ti hóa học vẫn chưa chịu nhận lãnh trách nhiệm.  Những việc làm có ý nghĩa mà các công ti liên quan đến vấn đề chất độc da cam có thể thực hiện được là giúp đỡ cho những nạn nhân bị nhiễm độc chất và bị những bệnh được công nhận là do độc chất da cam hay dioxin gây ra. Năm 1984, các công ti hóa học [có liên quan đến việc sản xuất và cung cấp độc chất da cam cho quân đội Mĩ] đồng ý bồi thường cho các cựu quân nhân Mĩ một số tiền khoảng 180 triệu Mĩ kim.  Ở Việt Nam, hình thức bồi thường có thể bao gồm việc điều trị những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra, tạo công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm, lập bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và trình độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.  Một cách giúp đỡ khác là các công ti lập một ngân quĩ để làm sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Hòa, A Lưới, A Sao, v.v… Năm 1976, ở Ý sau vụ tai nạn kĩ nghệ xảy ra tại nhà máy gần thị trấn Seveso làm thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kg dioxin.  Ấy thế mà cho đến nay, tức gần 30 năm sau tai nạn đó và sau 30 năm làm sạch môi trường, các nhà nghiên cứu Ý vẫn phát hiện tác hại của dioxin trong sức khỏe người dân.  Ở Việt Nam hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, vì chất độc đã lắng đọng xuống lòng đất, nhất là các nơi bùn lầy.  Do đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.   Cái nghịch lí cơ bản của chiến tranh là trong khi nạn nhân thì quằn quại với khổ đau, thì một bộ phận phục vụ cho chiến tranh lại ăn nên làm ra.  Đối với người lính ngoài chiến trường, hay người dân bị kẹt trong giữa hai lằn đạn, chiến tranh đồng nghĩa với sự chết chóc, thương vong.  Nhưng đối với các công ti sản xuất và buôn bán vũ khí, kể cả hóa chất dùng cho hủy diệt môi sinh núp dưới danh nghĩa “khai quang”, “ái quốc”, chiến tranh là một thương trường lí tưởng, một cơ hội thương mại để mở rộng hoạt động sản xuất và thị trường vũ khí.    Năm 1864, khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống, Karl Marx đại diện cho Hiệp hội Công nhân Quốc tế (International Workingmen’s Association) gửi lời chúc mừng.  Lúc đó, Charles Francis Adams, một bộ trưởng của Mĩ ở Luân Đôn thay mặt Lincoln trả lời Marx: “Chính phủ Mĩ ý thức sâu sắc rằng chính sách của Mĩ, hiện nay cũng như trong quá khứ […] là phấn đấu cho sự bình đẳng và công lí đúng đắn cho tất cả các nhà nước, tất cả con người  […] Quốc gia không phải tồn tại một cách riêng lẻ và chỉ cho riêng quốc gia đó; quốc gia tồn tại để cổ vũ cho sự thịnh vượng và hạnh phúc của nhân loại bằng những hợp tác nhân đạo.”  Vì vậy không có lí do gì ngăn cản Mĩ nhận lãnh trách nhiệm về sai lầm và những hệ quả nghiêm trọng của chất độc da cam ở Việt Nam bằng những hành động thực tế và thiết thực cho nạn nhân độc chất.  Chú thích ảnh: Đoàn các nạn nhân chất độc da cam trước giờ vào phiên tòa. Ảnh: TTO    GS. Nguyễn Văn Tuấn        Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhỏ      Việt Nam đã và đang hội nhập sâu và rộng vào sân chơi quốc tế, các doanh nghiệp cần đánh giá lại những chương trình CSR của mình để bắt kịp với yêu cầu của khách hàng, thu hút nhà đầu tư và mở rộng kinh doanh. Khi đó, CSR không chỉ đơn thuần là từ thiện mà là một công cụ tạo ra giá trị chung cho doanh nghiệp và xã hội!      Nông trại chế biến phô mai của Pizza 4P’s. Ảnh: Pizza 4P’s  Trong nước, CSR (Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp)  thường được truyền thông đến công chúng dưới hình thức từ thiện, xin-cho, ở đâu khó thì cho chỗ đó, lúc nào khẩn cấp thì trợ giúp rồi thôi. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp và công chúng cho rằng làm từ thiện chính là CSR, là thực hiện trách nhiệm với xã hội của doanh nghiệp. Điều này không chính xác; bản chất CSR vượt khỏi diễn dịch hạn hẹp này: từ thiện chỉ là một phần của CSR và CSR không chỉ là từ thiện!     Chiếc bánh pizza `mang tới thế giới nụ cười và hòa bình’     Pizza 4P’s từ những năm 2011-2012 còn là một nhà hàng nhỏ, nằm trong con hẻm ở đường Lê Thánh Tôn, Tp. HCM. Mỗi lần đến đây, bạn thường phải đặt bàn trước vài ngày, có khi cả tuần. Hầu hết người bạn nước ngoài nào của tôi từng đến Tp. HCM đều nói Pizza 4P’s là địa điểm yêu thích của họ. Điều gì đã khiến Pizza 4P’s đặc biệt như vậy?    Trong chín năm qua, Pizza 4P’s đã phát triển thành 21 cửa hàng trải dài từ Nam ra Bắc. Bạn sẽ ấn tượng khi biết khái niệm CSR đã ‘sống’ trong hoạt động kinh doanh và tăng trưởng của Pizza 4P’s ra sao.    Trả lời câu hỏi của tôi về ý nghĩa của CSR với Pizza 4P’s, anh Yuma Nagata, Quản lý Phát triển Bền vững nói: “chúng tôi thường không gọi là CSR mà gọi là ‘phát triển bền vững’. [Phát triển bền vững] gắn liền với tầm nhìn kinh doanh của chúng tôi là ‘mang tới thế giới nụ cười và hòa bình’ […] Chúng tôi vận hành nhà hàng nhưng chúng tôi muốn đạt đến sự an yên bên trong của con người và đó là lý do chúng tôi bắt đầu kinh doanh […] ‘Phát triển bền vững’ là cốt yếu để có thể đạt được tầm nhìn này vì nếu xã hội hay sản phẩm [của chúng tôi] không bền vững thì chúng tôi không thể nào đạt được tầm nhìn của mình cả”.    Khi bắt đầu hoạt động, Pizza 4P’s phải nhập khẩu phô mai từ Ý. Việc nhập khẩu nên Pizza 4P’s quyết định học cách tự làm phô mai để đảm bảo nguyên liệu làm pizza có chấ lượng cao. Đến nay, hầu hết tất cả phô mai sử dụng trong nhà hàng của Pizza 4P’s được sản xuất tự nhiên, không có chất phụ gia, từ nông trại riêng ở Đơn Dương, Lâm Đồng.      Pizza 4P’s ‘từ nông trại tới bàn ăn’. Ảnh: Pizza 4P’s  Việc làm phô mai cũng cho ra khoảng 3.000 lít nước Whey (nước sữa) mỗi ngày như một sản phẩm phụ. Nước này có nồng độ chất hữu cơ gây ô nhiễm cao, không thể xả xuống hệ thống thải được. Để giải quyết bài toán này, Pizza 4P’s áp dụng một hệ thống xoay vòng, tái chế phụ phẩm. Một nông trại gần đó mỗi ngày đến thu gom toàn bộ nước thải về, ủ lên men để làm phân bón hoặc làm thức uống cho bò. Rau xà lách rocket được tưới từ nước thải này lại được bán cho Pizza 4P’s. Pizza 4P’s cũng dùng nước Whey để chế biến thức uống hoặc sốt salad vì nó là loại chất thải từ sữa, có chứa nhiều chất dinh dưỡng.    Từ những bước đi đầu tiên, sức khỏe của khách hàng và sự tử tế với môi trường đã được Pizza 4P’s quan tâm, cân nhắc trong cách kinh doanh của mình.    Từ nông trại tới bàn ăn:    Vẫn với tôn chỉ đảm bảo sức khỏe và đem nụ cười đến cho thực khách, Pizza 4P’s mua trực tiếp nấm shiitake hữu cơ từ một nông dân (người dân tộc thiểu số) để chế biến mì. Nông hộ này thuộc chương trình chuyển đổi từ trồng cà phê sang trồng nấm do UNESCO thực hiện. Việc trồng cà phê thường đi đôi với phá rừng; trong khi lợi nhuận thu về lại không lớn. Thay vào đó, trồng nấm không cần nhiều diện tích, không cần phá rừng mà lại đem đến lợi nhuận cao. Bắt kịp chương trình này, Pizza 4P’s đã phối hợp với hộ nông dân và tạo thêm đầu ra cho sản phẩm nấm hữu cơ shiitake.    Nhân viên thu mua của Pizza 4P’s cùng anh Yuma đích thân đi thực địa, tìm kiếm những hộ nuôi trồng nông/thủy sản theo phương pháp hữu cơ, không hóa chất để mua sản phẩm từ họ. Mô hình này tốn kém hơn so với cách mua hàng thông thường, thông qua nhà cung cấp. Tuy nhiên, Pizza 4P’s vẫn kiên định tìm cách cân đối giữa chi phí và giá bán để đảm bảo nó được triển khai nhằm đem đến lợi ích cho khách hàng, người nông dân và môi trường. Anh Yuma nói: “Chi phí và giá không nên chỉ là yếu tố duy nhất được xét đến trong kinh doanh.”     Một lần nữa, tính trách nhiệm đã được thể hiện trong cách Pizza 4P’s kinh doanh. Theo nghiên cứu về Từ thiện Doanh nghiệp và Quan điểm của Doanh nghiệp về các Tổ chức Phi chính phủ Địa phương ở Việt Nam năm 2013 của VCCI, The Asia Foundation và CECODES công bố, 58% các công ty tham gia khảo sát nói rằng hoạt động từ thiện của họ không gắn với mục tiêu kinh doanh. Trong khi đó, Pizza 4P’s nằm trong nhóm tiên phong, đưa những hoạt động xã hội vào trong ADN của doanh nghiệp một cách đầy chiến lược.    Từ chất thải tới ‘edutainment’ (giáo dục giải trí):    Vấn đề lớn khi kinh doanh nhà hàng là chất thải. Làm sao để xử lý chất thải một cách bền vững, thân thiện với môi trường? Pizza 4P’s đã đưa ra những giải pháp sáng tạo, độc đáo cho bài toán này.    Pizza 4P’s đã sử dụng túi nhựa phân hủy làm từ bột bắp. Nếu bao ni lông thông thường mất 20 năm để phân hủy1, những chiếc túi được Pizza 4P’s sử dụng chỉ mất sáu tháng để phân hủy khi chôn dưới đất. Ống hút nhựa cũng đã được thay thế bằng ống hút bằng cỏ nhằm đáp lại sự quan tâm ngày càng cao của khách hàng. Song song, 100% chai thủy tinh (rượu, bia, v.v.) thải ra đều được tái chế: đập vỡ, nung chảy và dùng làm nguyên liệu sản xuất chai mới.    Chi nhánh Xuân Thủy, Quận 2, Tp. HCM của Pizza 4P’s sử dụng trùn quế để phân hủy một phần rác thực phẩm (70kg/ tháng)2. Ấn tượng hơn nữa khi chi nhánh này được xây dựng theo mô hình ‘edutainment’ (giáo dục giải trí) với mong muốn giới thiệu, ‘giáo dục’ cho thực khách về mô hình bền vững thông qua trải nghiệm ẩm thực. Ở đây có một vườn rau hữu cơ được bón phân từ rác thải thức ăn đã qua xử lý và tưới với nước từ ao nuôi cá. Chất thải từ cá khiến nước từ ao cung cấp thêm dưỡng chất cho rau. Nhà hàng này cũng sử dụng tấm lợp pin mặt trời để giảm 20.8 tấn CO2 (có phần mềm theo dõi năng lượng, tính từ 5/2019 đến 1/2021). Và như vậy, thực khách được thích thú trải nghiệm một không gian thân thiện với thiên nhiên và một mô hình vòng tròn về bền vững! Nét độc đáo này chắc chắn đã tạo thêm điểm nhấn và sự khác biệt của Pizza 4P’s với những đối thủ khác.      Hình 3: Kim tự tháp về Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp của tác giả Carroll Nguồn: tapchitaichinh.vn    Bền vững trong khủng hoảng:    Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng lớn đến ngành dịch vụ, du lịch; Pizza 4P’s cũng không nằm ngoài khủng hoảng này. Khi phải cắt giảm chi phí, một số chương trình Phát triển Bền vững cũng buộc phải cắt giảm ngân sách. Tuy nhiên, Covid-19 đã thúc đẩy Pizza 4P’s sáng tạo hơn và sát sao hơn để vừa kinh doanh bền vững, vừa tạo giá trị kinh tế cho doanh nghiệp.    Vì phải giảm chi, điều đầu tiên Pizza 4P’s đánh giá lại cách làm bền vững của mình đó là việc sử dụng năng lượng. Từ đầu mùa dịch, Pizza 4P’s đã triển khai cuộc thi cắt giảm sử dụng năng lượng giữa các nhà hàng. Việc này hiển nhiên giúp giảm chi phí; song song đó, còn giảm lượng khí thải ra môi trường, giảm hiệu ứng nhà kính, góp phfn giảm công suất tiêu thụ năng lượng từ những nhà máy sản xuất năng lượng và giảm nguy cơ cạn kiệt của nguồn nhiên liệu hóa thạch.    Một điểm nhỏ khi quan tâm đến trái đất, đến môi trường rõ ràng có ý nghĩa lớn cho doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng.       Nụ cười của nhân viên, hạnh phúc của khách hàng, hòa bình cho cộng đồng:       Mỗi khi đến Pizza 4P’s, tôi luôn ấn tượng với nụ cười và sự tận tụy phục vụ của nhân viên. Anh Yuma nói với tôi: “nếu chúng tôi muốn mang hòa bình đến thế giới thì hiển nhiên chúng tôi phải nghĩ tới nhân viên”. Ứng dụng triết lý Chỉ số Hạnh phúc Quốc gia (GNH), bắt nguồn từ Buhtan, Pizza 4P’s xây dựng hệ thống đo lường chi tiết về mức độ hạnh phúc, hài lòng của nhân viên.    Với cộng đồng, Pizza 4P’s cũng thực hiện nhiều chương trình từ thiện. Từ những ngày đầu thành lập, Pizza 4P’s đã là một đối tác tích cực của trường dạy nghề Thăng Long (dành cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn) ở Tp. HCM. Pizza 4P’s nhận sinh viên tốt nghiệp từ trường này vào làm việc. Pizza 4P’s cũng đóng góp cho các hoạt động dọn rác thải nhựa, đóng góp bữa ăn cho Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương Hà Nội, hay sáng tạo ra những món bánh pizza hòa bình nhân ngày Hòa bình Quốc tế và đóng góp toàn bộ tiền bán các loại bánh này cho quỹ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, v.v.    Quan tâm đến nhân viên là chức năng của bộ phận nhân sự hay sự hài lòng của khách hàng là do bộ phận vận hành phụ trách. Tuy nhiên, yếu tố trách nhiệm của doanh nghiệp cũng được thể hiện ở đây; cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp không thể tách rời hoạt động kinh doanh. Song song đó, từ thiện vẫn là một phần trong Phát triển Bền vững của CSR. Nhưng ta thấy từ thiện chỉ là một phần trong tất cả nỗ lực của Pizza 4P’s để sống và kinh doanh một cách có trách nhiệm với xã hội và môi trường.     Kinh doanh bền vững ± tạo giá trị chung     Câu chuyện của Pizza 4P’s đã thể hiện rõ nét một định nghĩa phổ biến về CSR của tác giả Carroll (1991). Theo đó, từ thiện chỉ là một trong bốn trụ cột của mô hình CSR, song song với trách nhiệm về kinh tế, pháp lý và đạo đức của doanh nghiệp (hình 3)3.    Trong hơn nửa thế kỷ qua, CSR xuất hiện dưới nhiều tên gọi và hình thái khác nhau, ví dụ: Phản ứng của Doanh nghiệp với Xã hội (Corporate Social Responsiveness), Doanh nghiệp Công dân (Corporate Citizenship), Quản trị Doanh nghiệp (Corporate Governance), Trách nhiệm Giải trình của Doanh nghiệp (Corporate Accountability), Phát triển/Kinh doanh Bền vững (Sustainability), v.v. Dù được gọi tên thế nào thì tất cả những khái niệm này đều nằm dưới ‘chiếc ô’ CSR, được công nhận như một công cụ quản lý tạo nhiều giá trị cho doanh nghiệp, xây dựng năng lực cạnh tranh đồng thời tạo những tác động tích cực cho cộng đồng và môi trường4. Như tác giả nổi tiếng Porter và Kramer (2011) định nghĩa đây là mô hình ‘tạo ra giá trị chung’, trong đó doanh nghiệp tạo ra lợi ích kinh tế bằng cách mà cũng mang lại giá trị cho xã hội bằng việc giải quyết các thách thức xã hội5.    Câu chuyện của Pizza 4P’s là một ví dụ minh chứng cho một doanh nghiệp nội địa bắt nguồn kinh doanh với mong muốn đem lại giá trị cho cộng đồng song song với tạo ra lợi nhuận. Tuy đã trở thành xu hướng, nhưng cũng giống như một số nước đang phát triển khác, CSR trong nước thường được xem như là một khái niệm của phương Tây6, chưa được thực hành như một phần cốt lõi của hoạt động kinh doanh. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), CSR lại càng kém thân thiện hơn vì nó được xem như là chủ đề của các doanh nghiệp lớn, không phù hợp cho SMEs.      Vòng tròn về tái sử dụng rác thực phẩm ở mô hình ‘edutainment’ của Pizza 4P’s. Ảnh: kilala.vn    Cách làm CSR truyền thống (chẳng hạn như xây dựng các chính sách liên quan, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, hoạt động cộng đồng, báo cáo về tác động, v.v.) thường được tranh cãi là ‘thiên vị’ về phía các doanh nghiệp đa quốc gia7. Theo đó, CSR được phát triển ở các công ty lớn với giả định rằng họ xây dựng một khuôn mẫu để các SMEs làm theo8. Các SMEs thường được xem như là mô hình thu nhỏ của các công ty lớn và vì vậy cách làm CSR truyền thống có thể chỉ đơn giản thu nhỏ lại để phù hợp với SMEs9. Giả định này hoàn toàn không đúng.    Cách Pizza 4P’s bắt đầu hành trình kinh doanh bền vững đã cho thấy họ không đi theo một khuôn mẫu CSR của những doanh nghiệp lớn mà bắt nguồn từ triết lý, tầm nhìn và sứ mệnh kinh doanh của người sáng lập và lãnh đạo công ty. Đó là những giải pháp sáng tạo, giải đáp những câu hỏi làm sao để cân bằng giữa lợi ích kinh doanh với lợi ích của khách hàng, của cộng đồng, của môi trường và thế hệ mai sau. Từ khi mới thành lập, dù là một doanh nghiệp nhỏ, nhưng những lợi thế như linh hoạt, năng động, tự quản lý, người sáng lập cũng là người điều hành đã đưa Pizza 4P’s đến với hành trình phát triển bền vững từ nông trại làm phô mai. Đến nay, chỉ sau chín năm, với phát triển bền vững là ‘xương sống’ trong vận hành, Pizza 4P’s đã tăng lợi thế cạnh tranh, phát triển với 1.700 nhân viên và được CNN ca ngợi là nhà sản xuất phô mai ngon nhất Châu Á9.    Việt Nam đã và đang hội nhập sâu và rộng vào sân chơi quốc tế. Theo đó, những yếu tố như môi trường, xã hội, quản trị (ESG) được yêu cầu/ quy định trong các hiệp định thương mại quốc tế và thu hút nhiều hơn sự quan tâm của các nhà đầu tư. Hơn nữa, khách hàng và người tiêu dùng trong nước cũng ngày càng lưu ý hơn đến môi trường, sức khỏe, đạo đức của doanh nghiệp khi quyết định tiêu tiền. Một nghiên cứu gần đây của các học giả Huang Y.-F., Do M.-H. và Kumar V về nhận định của người tiêu dùng Việt Nam về CSR đã cho thấy người tiêu dùng ủng hộ CSR và có mong đợi cao, mong muốn doanh nghiệp thể hiện bốn yếu tố CSR (như hình 3)10. Thị trường trong nước với dân số trẻ, thế hệ Gen-X và Y ngày càng thay đổi thói quen tiêu dùng và sự quan tâm đến xã hội, môi trường. Trong bối cảnh đó, có lẽ các doanh nghiệp cần đánh giá lại những chương trình CSR của mình để bắt kịp với yêu cầu của khách hàng, thu hút nhà đầu tư và mở rộng kinh doanh. Khi đó, CSR không chỉ đơn thuần là từ thiện mà là một công cụ tạo ra giá trị chung cho doanh nghiệp và xã hội!  ——  * Nhà tư vấn độc lập về Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp (CSR) và Phát triển các tổ chức Phi lợi nhuận.     Nguồn tham khảo:  1    https://www.wwf.org.au/news/blogs/the-lifecycle-of-plastics#gs.o9tecu  2   https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/cuoc-van-dong-kinh-doanh-ben-vung-tren-quy-mo-toan-cau/2020010302420308p1c785.htm  3   Carroll, A. (1991) ‘The Pyramid of Corporate Social Responsibility: Toward the Moral Management of Organizational Stakeholders’, Business Horizons, 34(4), pp.39-48  4   Freeman R. E., Harrison, J. S., Wicks, A. C., Parmar, B. L and De Colle, S. (2010) Stakeholder Theory – The State of the Art. Cambridge: Cambridge University Press  5   Porter, M. E. and Kramer, M. R. (2011) ‘Creating Shared Value’, Havard Business Review, 89(1/2), pp. 62-77. Available at: http://web.b.ebscohost.com.oxfordbrookes.idm.oclc.org/ehost/error?vid=1&sid=59ea159b-0377-4122-bf1b-b0aaf891bfee%40sessionmgr102  6   Ciliberti, F., Pontrandolfo, P. and Scozzi, B. (2008) ‘Investigating Corporate Social Responsibility in Supply Chains: A SME Perspective’, Journal of Cleaner Production, 16(15), pp. 1579–1588. doi: 10.1016/j.jclepro.2008.04.016  7   Tran, A. N. and Jeppesen, S. (2016) ‘SMEs in Their Own Right: The Views of Managers and Workers in Vietnamese Textiles, Garment, and Footwear Companies’, Journal of Business Ethics, 137(3), pp. 589–608  8   Jenkins, H. (2006) ‘Small Business Champions for Corporate Social Responsibility’, Journal of Business Ethics, 67(3), pp. 241–256  9   https://thanhnien.vn/du-lich/cnn-ca-ngoi-da-lat-san-xuat-pho-mai-thuoc-hang-ngon-nhat-chau-a-1237158.html  10  Huang, Y.-F., Do, M.-H. and Kumar, V. (2019) ‘Consumers’ Perception on Corporate Social Responsibility: Evidence from Vietnam’, Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 26(6), pp. 1272–1284. doi: 10.1002/csr.1746    Author                Trần Vũ Ngân Giang (Giang Trần)        
__label__tiasang Trái đất đang bị đô thị hóa      Hiện hơn một nửa dân số thế giới đang sinh sống tại các khu vực thành thị, và tỉ lệ này còn tiếp tục gia tăng và theo dự đoán, tới năm 2050, gần 2/3 dân số thế giới sinh sống tại đô thị. Trái đất ngày nay đã trở thành một hành tinh đô thị.    Cư dân đô thị đang ngày một gia tăng.  Cách đây vài thập kỷ, phần lớn cư dân đô thị trên thế giới sinh sống ở châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng dự kiến tới năm 2030, đa phần cư dân đô thị lại sống ở châu Á và châu Phi, và sự phát triển này phần nhiều diễn ra ở các thành phố có dưới một triệu dân – chỉ riêng ba quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ và Nigeria theo dự đoán sẽ có thêm một tỉ cư dân đô thị trong các thập kỷ tới đây.  Các thành phố có sức tiêu thụ lớn về thực phẩm, năng lượng, nước, và nguyên vật liệu. Do đó, diện tích đất đai cần thiết để cung cấp những nhu cầu thiết yếu này là rất lớn, bởi “dấu chân sinh thái”1 của một thành phố thường lớn gấp 200 lần (hoặc hơn) so với diện tích của chính thành phố đó. Ngoài ra nhiều khu đô thị hiện đang vươn rộng ra với tốc độ nhanh chóng và “nuốt chửng” cả đất nông nghiệp lẫn đất tự nhiên. Và do con người thường thích sống ở những khu vực mà cây cối và động vật hoang dã cũng ưa thích – chẳng hạn như thung lũng các dòng sông hay các vùng đất trũng ven biển – nên sự phát triển này đồng nghĩa với việc các thành phố đang “tấn công” vào nhiều “điểm nóng” đa dạng sinh học của thế giới.  Các thành phố cũng làm biến đổi môi trường theo nhiều cách khác nhau, từ tạo ra chất gây ô nhiễm không khí và nguồn nước cho đến tạo ra tiếng ồn và ánh sáng nhân tạo. Một sự thay đổi quan trọng nữa là các thành phố có thể sẽ trở thành những “hòn đảo nhiệt” có nhiệt độ ấm hơn so với các khu vực ngoại ô nông thôn xung quanh. Hàng tấn xi măng và nhựa đường ở thành phố hấp thụ và rồi lại phát xạ nhiệt, khiến các trung tâm thành phố ngày càng nóng hơn..  Sự gia tăng về diện tích các bề mặt không thấm nước trong đô thị (chẳng hạn như đường rải nhựa, mái nhà,…) còn gây ra một thay đổi lớn khác về sinh thái: bề mặt cứng ngăn nước thấm vào lòng đất, gây ra lũ quét, làm ô nhiễm dòng chảy, gây hại cho các hệ sinh thái thủy sinh, chẳng hạn như làm giảm sự đa dạng trong các loài côn trùng.  Tuy nhiên, sự phát triển của các thành phố không phải là tin xấu hoàn toàn. Việc “dồn” nhiều người vào sinh sống trong một diện tích tương đối nhỏ ở khu vực thành thị là cơ hội giúp cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng và nguyên vật liệu. Chẳng hạn, nếu các chính phủ hoạch định được chính sách đúng đắn và xây dựng cơ sở hạ tầng hợp lý, các cư dân đô thị có thể có tỉ lệ tiêu thụ năng lượng trên đầu người ít hơn so với cư dân nông thôn. Dẫu vậy, hiện nay nhiều thành phố vẫn đang phải đối mặt với một thách thức chung: cải thiện hiệu suất năng lượng của các tòa nhà cao tầng.  Dù sự phát triển của các thành phố là điều đáng mừng hay đáng lo, nhưng có một sự thật rõ ràng: trái đất đô thị hóa là điều chắc chắn, và những quyết định mà chúng ta đưa ra ngày nay về việc xây dựng và sinh sống tại thành phố như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều thế hệ sau này.  Đăng Quang lược dịch theo Science——-1 Dấu chân sinh thái: là thước đo tác động của con người đến các hệ sinh thái của trái đất, thường được tính theo diện tích đất tự nhiên hoặc lượng tài nguyên thiên nhiên bị tiêu thụ mỗi năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trải thảm đỏ      Trải thảm đỏ, chính sách chiêu hiền đãi sĩ của Nhà nước được đề ra có dễ đã gần trọn một kế hoạch năm năm. Năm năm tuy là một quãng thời gian chưa dài song không thể gọi là ngắn nhưng xem chừng kết quả chưa có gì khả quan lắm.    Chiếc thảm đỏ đã được trải ra sao vẫn còn thưa thớt dấu chân người tài.  Mà thiện chí của cả hai bên chủ và khách là không thể nghi ngờ!  Thảm đỏ của người mời có vấn đề?  Hay thái độ hưởng ứng của người được mời có vấn đề?  Hay có sự hiểu lầm gì chăng?  Hình ảnh trải thảm đỏ là một hình ảnh tuy không quý hiếm nhưng cũng có thể gọi là đẹp, một mỹ từ.  Nguy hiểm nhất của những mỹ từ là chúng có thể làm cho người ta say đến mức lơ đãng khâu thực hiện một cách thấu đáo.  Bình luận về Xixêrông, một chính khách hùng biện thượng thặng thời cổ La Mã, Vonte có một nhận xét rất đáng chú ý:  “Xixêrông nói quá hay, đến mức ngỡ rằng mình đã làm”.  Muốn sử dụng người tài, yêu mến họ chưa đủ mà phải thật sự cần họ, cảm nhận sự cấp bách sử dụng họ trong việc chung lo xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời nhận thấy nguy cơ nhỡn tiền của sự thụt lùi trong cuộc Maratong với các quốc gia khu vực và thế giới.  Thật cần thì sẽ tìm thấy người tài.  Thật cần thì sẽ nghĩ ra cách sử dụng họ.  Nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển có một hình ảnh rất được “ Người ta không thể đội thuyền thúng đi ra biển lớn” (Xin lỗi nếu nhớ không thật đúng nguyên văn).  Nếu người ta cảm nhận sâu sắc cái hài hước đến xót xa của nghịch cảnh đội thuyền thúng ra biển này, nhất định người ta phải và sẽ tìm ra cách giải quyết hữu hiệu.  Không giải quyết được một việc nhiều khi không phải vì không có khả năng giải quyết mà vì chưa thấy cấp thiết cần giải quyết.  2. Phải thấy rằng việc sử dụng người tài không đơn thuần là việc chiếu cố, việc ưu đãi từ phía người sử dụng tốt bụng mà là một việc cần làm ngay của những người quản lý có trách nhiệm.  Sử dụng người tài hoàn toàn không phải một nhu cầu đơn phương.  Lòng yêu nước của người tài biểu hiện ở thái độ cống hiến hết mình đối với cộng đồng.  Lòng yêu nước của người quản lý (với tư cách là người được nhân dân ủy quyền) biểu hiện ở bận tâm canh cánh săn tìm người tài cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất có thể để họ cống hiến tốt.  Cả hai bên đều phải trả lời trước lương tâm và Tổ quốc về việc thực hiện nghĩa vụ này.  3. Không có người tài chung chung mà chỉ có những người tài đối với những nhu cầu (càng cấp bách càng cu thể càng tốt).  Không xác định được nhu cầu rõ ràng thì không xác định được người tài.  Nhu cầu sinh ra người tài. Và ngược lại người tài sinh ra nhu cầu. Đó là luật tương tác hữu cơ trong quá trình phát triển bền vững của một quốc gia.  Việc trải thảm đỏ có lẽ sẽ hấp dẫn hơn nhiều nếu được bổ sung bằng việc trải thêm những hợp đồng cụ thể, sòng phẳng (mà vẫn rất yêu nước) trong đó từ đãi ngộ mang nặng tính quan liêu bao cấp ngày càng được thay thế bằng những điều khoản những cam kết trên cơ sở thỏa thuận. Chúng ta có thói quen khi nói đến đãi ngộ là nghĩ ngay đến khoản đầu tiên mà quên mất rằng đãi ngộ không phải chỉ gồm những điều kiện vật chất mà rất cần những điều kiện tinh thần (có thể bù trừ cho nhau) để tái sản xuất hiệu quả nhất cho cả bên sử dụng lẫn bên được sử dụng có một tên chung là nhân dân.  Đừng thắc mắc người tài thờ ơ với thảm đỏ. Hãy thắc mắc xem thảm đỏ có chỗ nào ách tắc giao thông ngăn cản người tài qua “ải” hay không.  Nên chú ý người tài thường nhược điểm quá mải bận tâm chuyên môn của mình mà ngơ ngác đường đi nước bước.  4. Các cơ quan của ta, cơ quan nào cũng có một bộ phận chuyên trách cán bộ ít nhiều cồng kềnh và đầy quyền uy. Mà hiệu quả không nhiều.  Vụ tổ chức cán bộ hoàn toàn không phải một cơ quan ban phát chức quyền có tính xin cho. Cái thực trạng trái khoáy cán bộ phục vụ ban tổ chức chứ không phải ban tổ chức phục vụ cán bộ là một tệ tục đáng trách của một nền hành chính lạc hậu và cổ lỗ.  Vụ tổ chức phải là một cơ quan năng động có nhiệm vụ thăm dò tài năng như những đoàn thăm dò địa chất hoạt động trên thực địa chứ không phải chìm ngập trong đống bụi của những hồ sơ lí lịch.  Bao giờ thì chúng ta xây dựng được những cơ quan thăm dò tài năng có trách nhiệm và nhiệt tình thiết lập những bản đồ nhân tài như những bản đồ tài nguyên chiến lược cấp quốc gia.  Nhiều người chưa hiểu rằng phát hiện ra những người tài và sử dụng họ một cách hiệu quả, bản thân nó cũng đã là một tài năng.  Cái tài trác tuyệt của Lưu Bị là đã dùng được tài của Gia Cát.  ***  Người tài bản thân nó mới chỉ là một quặng tốt, nó chỉ trở thành một giá trị xã hội khi được khai thác thành mỏ.  Điều đáng buồn nhất của một quốc gia là thừa quặng mà thiếu mỏ, lẹt đẹt mãi ở hàng ngũ những quốc gia nghèo và chậm phát triển.    Lê Đạt     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?      Chỉ một năm sau khi về hưu (1943), thời cuộc  bắt đầu đưa đẩy chuyển ông sang một hướng rẽ đầy phong ba bão táp mà  bình sinh có lẽ ông chưa bao giờ kịp nghĩ tới.       “Một cơn gió bụi” nổi lên bao trùm hoàn hải trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đến hồi quyết liệt đã làm cho cuộc đời nhà giáo-nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim không còn được êm ả cách tương đối như trước. Người Nhật, kéo vào Đông Dương từ những năm 40, với nhiều ý đồ có sẵn trong mối quan hệ tranh quyền với Pháp, đã bắt đầu cho người ve vãn, tìm cách lui tới làm quen, lấy cớ để hỏi han ông những kiến thức liên quan các vấn đề văn hóa, lịch sử. Việc này Trần Trọng Kim đã thuật lại khá rõ trong tập hồi ký cuối đời, mà gần đây đã được đưa lên mạng Internet nên rất dễ tìm đọc. Ngay từ chương đầu, thái độ sống và lập trường chính trị của ông đã được bộc lộ khá rõ:        “Sau 31 năm làm việc trong giáo giới…, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển…       “Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.       “Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị…       “Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình…       “Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ… Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.       “Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả” (Một cơn gió bụi, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr. 9-12).        Về lập trường chính trị như vừa nêu trên, nhất là đối với sự can thiệp ngày càng thô bạo của Nhật ở Đông Dương, chúng ta còn được biết rõ thêm qua vài đoạn nêu trong tập hồi ký của Bùi Diễm (sinh năm 1923, con trai Bùi Kỷ), một người cháu gọi vợ ông bằng cô ruột (gọi ông bằng chú, nói theo miền Nam là dượng rể): “Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi (tức Trần Trọng Kim-TVC), nơi ông cụ tôi (tức cụ Bùi Kỷ- TVC) và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật (tức hiến binh Nhật-TVC) đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá” (Gọng kềm lịch sử, Cơ sở Phạm Quang Khai, Paris, 2000).        Việc dàn cảnh bắt Trần Trọng Kim đưa đi giấu sẵn ở Chiêu Nam Đảo (tức Singapour do Nhật chiếm đóng) để chuẩn bị cho một mưu đồ tương lai, lấy cớ là để bảo vệ ông thoát khỏi sự rình rập bắt bớ của mật thám Pháp, cũng đã được kể rõ trong chương tiếp theo của tập hồi ký Một cơn gió bụi, nhưng để tóm tắt hơn và có phần khách quan hơn, xin trích dẫn thêm vài đoạn kể tiếp sau của Bùi Diễm:       “Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.       “Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới (…). Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác (…), chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác….Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào “Người Á, đất Á” và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt.       (…)       “Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.        “Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. “Chú phải lên đường đi xa,” mợ tôi tiếp tục cho thêm tin “vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi” (Gọng kềm lịch sử, sđd.).       Chuyến đi đó, khởi đầu từ ngày 27.10. 1943 và chính thức xuống tàu thủy ngày 1.1.1944, cùng với một người bạn nữa cũng cảnh ngộ bị “bắt cóc” vào chung chỗ hiến binh Nhật như ông là cụ Dương Bá Trạc (1884-1944), nằm trong dự mưu do người Nhật khéo tác động và dẫn dắt, đối với Trần Trọng Kim được coi là một chuyến đi định mệnh, hướng cuộc đời ông vào một ngả rẽ hoàn toàn không chủ động, nếu không muốn nói gần như trái hẳn với lập trường chính trị ban đầu của ông. Tuy nhiên, có nhiều khả năng trong quá trình tiếp xúc sau này với các đại diện Nhật Bản ở Chiêu Nam Đảo và những nơi khác, Trần Trọng Kim đã được người Nhật tìm cách rỉ tai vận động để gieo cho ông mầm mống hi vọng về tương lai độc lập-canh tân xứ sở dưới sự bảo trợ của họ, nhưng điều này thì Trần Trọng Kim vẫn kín miệng không thấy kể ra trong hồi ký. Dù sao, mưu đồ của Nhật cũng đã quá rõ, không mấy cần phải có thêm tài liệu để chứng minh.        Sau khoảng một năm trải qua cuộc sống chờ đợi buồn tẻ ở Chiêu Nam Đảo, Dương Bá Trạc đã mất tại đây vào ngày 11 tháng 12 năm 1944 (nhằm 26 tháng 10 năm Giáp Thân) vì bệnh ung thư phổi, thi hài được Nhật tổ chức hỏa táng đem về nước. Lúc này chỉ còn một mình Trần Trọng Kim ở lại với vài người khác do Nhật đã đưa qua sẵn trước đó, để đến ngày 16.1.1945 thì được bố trí đi Băng Cốc (Thái Lan) cùng với Đặng Văn Ký, một thành viên chủ chốt của đảng Phục Quốc thân Nhật.       Ngày 9 tháng 3 năm 1945, vào lúc 21 giờ, sau khi bị Toàn quyền Pháp Decoux tìm cách trì hoãn yêu sách do đại sứ Nhật tại Đông Dương Shunichi Matsumoto đưa ra trong một tối hậu thư đã trao chỉ trước đó 2 giờ, đòi Pháp phải đặt toàn bộ quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa dưới quyền điều khiển của mình, Tổng tư lịnh Nhật Yuichi Tsuchihashi đã ra lệnh mở màn cuộc đảo chánh lật đổ chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Bị tấn công bất ngờ vì chưa hề hay biết trước, quân pháp thất thế trên khắp cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc và chỉ chống trả một cách yếu ớt rồi đầu hàng ngay trong ngày hôm sau. Toàn thể quan chức đầu não của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux, một số khác cùng quân lính phải bỏ chạy thoát thân sang Lào hoặc Trung Quốc.        Việc đảo chánh, Nhật đã chuẩn bị kỹ sẵn trước, nên chỉ từ 9 giờ tối hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau, toàn cõi Việt Nam rơi vào tay Nhật, cả thực dân Pháp và thường dân, công chức đều bất ngờ. Tình cảnh của họ lúc đó lao đao, nhưng nhờ tính rộng lượng cố hữu của người dân Việt, nên cũng không đến đỗi quá bi thảm: “… Các nhà chuyên môn Pháp được tiếp tục làm việc… Một vài kĩ sư Pháp mon men tới sở, bị đánh… Sau tôi nghe nói một số người Pháp ở miền Tây trốn vào bưng, không bị dân chúng đánh đập, giam giữ, tố cáo; có người còn giúp đỡ lương thực, che chở cho họ nữa. Ở Nam này như vậy, mà có lẽ ở Bắc, Trung cũng không khác mấy…. Có người bảo người Việt nào cũng có một ông Phật ở trong lòng, câu ấy đúng” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 233-234).       Ngày 10.3.1945, lúc 11 giờ, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở  hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật.        Ngay hôm sau, ngày 11. 3.1945, triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập (dưới bản tuyên bố ký tên vua Bảo Đại cùng toàn thể Cơ mật viện, đứng đầu là Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh).       Tờ chiếu tuyên bố độc lập có đoạn viết: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!”       Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một vài thành phố lớn, do sự sách động của các nhóm thân Nhật, một số người xuống đường rầm rộ để tri ân quân đội Nhật hoàng, nhưng quảng đại quần chúng thì đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào “độc lập” do Kempeitai (Hiến binh) và quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17.3.1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập tại các đình làng: “Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp” (Nguyễn Vỹ, Tuấn – chàng trai nước Việt, Quyển II, Sài Gòn, 1970, tr. 513).           Cũng trong ngày 17.3.1945, Bảo Đại ban bố Đạo dụ số 1 theo đó nhà vua sẽ đích thân cầm quyền và chế độ chính trị mới sẽ quản lý đất nước theo khẩu hiệu “Dân vi quý” (dân trên hết), chỉnh đốn lại quốc gia, đồng thời kêu gọi các bậc hiền tài ra giúp nước.        Ngày 18.3.1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng độc lập, cảm ơn Nhật, và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc đưa từ Chiêu Nam (Singapore) về (theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964-Việc từng ngày, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966, tr. 5).       Một ngày sau, giải tán Cơ mật viện gồm 6 quan chức tối cao của triều đình nhà Nguyễn do Phạm Quỳnh đứng đầu.        Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gởi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật cố ý ngăn chặn, nêu giả lý do Ngô Đình Diệm cáo bệnh không ra Huế được, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm (1901-1963) giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại-Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.            Ngày 30.3.1945, Nhật cho người bố trí đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc về Sài Gòn, lấy cớ Tư lệnh bộ ở Sài Gòn mời về để “hỏi việc gì về lịch sử” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 42). Đến nơi viên trung tướng tham mưu trưởng thuộc Bộ tư lệnh Nhật mới cho hay Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã từ chức, vua Bảo Đại mời ông cùng với các ông Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Cẩm về Huế hỏi ý kiến.       Thấy tên mình mà không có tên Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim hỏi viên trung tướng: “Tôi không có hoạt động gì, và không có phe đảng nào cả. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc”. Viên trung tướng trả lời: “Đó là ý của vua Bảo Đại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới, ông cứ ra Huế rồi sẽ biết” (sđd., tr. 43).       Ngày 2.4.1945, Nhật bố trí cho Trần Trọng Kim đáp xe lửa ra Huế. 19 giờ rưỡi ngày 5.4 xe lửa đến Huế, lát sau ông đã được gặp lại vợ con có sẵn ở đó, nói là đang trên đường ra Hà Nội định xin phép qua Xiêm tìm ông, nhưng sự tình cờ kỳ lạ này đã khiến có người suy diễn nhiều khả năng chính người Nhật đã sắp đặt sẵn sao đó.         Những thay đổi giai đoạn cuối trong sự sắp xếp nhân sự cho bộ máy cai trị mới này, cả Bảo Đại, Cường Để, Ngô Đình Diệm đều không hay biết. Duy Trần Trọng Kim có được người Nhật rỉ tai riêng cho biết hay không thì đây vẫn còn là một điểm nghi vấn, vì không thấy ông hé môi kể ra trong tập hồi ký, nhưng khả năng này là rất lớn, vì từ hôm ở Băng Cốc về Sài Gòn, chiều nào viên đại úy ở Bộ tư lệnh Nhật cũng mời ông đến ăn cơm và nói chuyện, có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. “Mấy ngày như thế, đến chiều hôm mùng hai tháng tư, đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 46).       Ngày 7.4.1945, Trần Trọng Kim vào yết kiến Bảo Đại. Theo như lời kể của ông trong tập hồi ký thì ông tìm cớ thoái thác việc đứng ra lập chính phủ, lấy lý do già yếu, không có đảng phái và không hoạt động chính trị, rồi đề nghị dùng “người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn” (sđd., tr. 49) nhưng Bảo Đại cho hay đã gọi mà không thấy Ngô Đình Diệm về. Nhà vua không ép, chỉ yêu cầu ông ở lại Huế nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Có lẽ lúc này vua vẫn còn tiếp tục ngóng tin Ngô Đình Diệm, đâu có dè rằng kịch bản Cường Để-Diệm đã bị cánh tướng lãnh Nhật bác bỏ, nên tìm cách ngăn chặn hai bức điện liên lạc của Bảo Đại, giữa lúc ông Diệm đang ở Sài Gòn trong một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm!        Đợi tin Ngô Đình Diệm lâu không được, Bảo Đại sốt ruột quyết định mời Trần Trọng Kim vào làm việc lần thứ hai, thuyết phục  thành lập nội các. Xin trích tiếp đoạn hồi ký, qua đó vừa thấy được nội dung cuộc trao đổi giữa hai người, vừa luôn thể biết qua thành phần nội các do ông Trần đề nghị và được Bảo Đại chuẩn y ngay:            “Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.       “Ngài nói:       “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.       Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:       “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.       Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng. Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục…       “Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.       Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau:   – Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội các Tổng trưởng   – Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội vụ Bộ trưởng   – Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại giao Bộ trưởng  – Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư pháp Bộ trưởng   – Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng  – Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài chánh Bộ trưởng   – Phan Anh, luật sư, Thanh niên Bộ trưởng   – Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công chính Bộ trưởng  – Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y tế Bộ trưởng  – Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh tế Bộ trưởng  – Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ, Tiếp tế Bộ trưởng.       “Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.       “Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước” (sđd., tr. 50-53).       Ngoài các bộ trưởng đã nêu trong danh sách, bộ máy chính phủ Trần Trọng Kim còn lần lần được bổ sung, gồm có:       – Phan Kế Toại (1892-1992), Tổng đốc, Khâm sai Bắc Bộ (sau giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)       – Nguyễn Văn Sâm, Nhà báo, Khâm sai Nam Bộ (được cử theo Đạo dụ 108 ngày 14.8.1945, sau bị ám sát ngày 10.10. 1947)       – Trần Văn Lai, Bác sĩ, Đốc lý Hà Nội (sau giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính TP Hà Nội)       – Đặng Văn Hướng (1887-1954), Phó bảng, Tổng đốc Nghệ An (sau giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh-Tĩnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)       – Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Luật sư, Đốc lý Hải Phòng (sau giữ chức Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời)       – Kha Vạng Cân (1908-1982), Kỹ sư, Đô trưởng Sài Gòn (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)       Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Được cái, cả họ và vua Bảo Đại đều không can thiệp sâu theo kiểu cơ cấu sẵn các thành phần nhân sự cấp bộ trưởng, như lối quy hoạch, cơ cấu nhân sự chặt chẽ bây giờ. Nhờ vậy Trần Trọng Kim đã có được sự chủ động trong việc tìm chọn nhân tài thích hợp theo quan niệm của mình.       Tuy nhiên, theo luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), một thành viên chủ chốt của Nội các, Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai xứ sở”, nhưng ông Trịnh đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ…, tuyên cáo Việt Nam độc lập và thống nhất”. Ngoài ra ông Thảo còn cho biết Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pridi Banomyong chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại như Thái Lan, đại khái bằng cách song song với phe thân Nhật, Thái Lan cần dự bị sẵn một lực lượng chính trị khác hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi Thế chiến II kết thúc. Vị chính khách này còn khuyên Trần Trọng Kim “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” (Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne, Paris, 1994, tr.62, dẫn lại theo Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, Tiên Rồng, USA, 2004, tr. 52-53).       Nói gì thì nói, về mặt lịch sử, vẫn phải công nhận Nội các vừa thành lập ngày 17.4.1945 là chính phủ đầu tiên của Việt Nam theo nghĩa hiện đại, và Trần Trọng Kim đã trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dù chỉ mới độc lập trên danh nghĩa. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức tên tuổi, có trình độ học vấn cao, nhiệt tâm, trong sạch và yêu nước, nhưng tất cả đều thiếu hẳn kinh nghiệm quản lý và nhất là sự lọc lõi chính trị trong thời loạn.       “Trừ Thủ tướng Trần Trọng Kim, chỉ có bằng cấp Trung học, chư quý vị bộ trưởng toàn có những bằng cấp to lớn: nào thạc sĩ bác sĩ, tiến sĩ luật khoa v.v. cả. Người dân Việt mừng thầm khi đọc danh sách nội các… Nhưng…” (Bùi Nhung, Thối nát, Sài Gòn, 1965, tr. 50).       Về thái độ của quần chúng trước việc thành lập nội các mới, nhìn chung các thành phần trí thức (gồm cả sinh viên học sinh) đều nao nức phấn khởi đón luồng gió mới, một số khác dè dặt chờ đợi, vì thấy vẫn còn lệ thuộc Nhật. Nhóm Thanh Nghị đứng đầu là Vũ Đình Hòe thậm chí từ ngày 20.4.1945 còn có hẳn một chương trình riêng gọi là TÂN VIỆT NAM HỘI để ủng hộ Chính phủ (xem Hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội Nhà Văn, 2004, tr. 166-167).       Phấn khởi tiếp đón luồng gió mới độc lập vừa vớ được, ông Nguyễn Duy Phương còn cho ra hẳn một tập sách mỏng chuyên đề lấy tên Lịch sử độc lập và Nội các đầu tiên Việt Nam, do Việt Đông Xuất Bản Cục xuất bản tại Hà Nội khoảng nửa tháng sau khi Nội các thành lập, để bày tỏ sự ủng hộ tích cực, bằng cách trích đăng khá đầy đủ và hệ thống những tin tức, bài phỏng vấn các vị bộ trưởng liên quan các mặt hoạt động cùng chủ trương mới của Nội các, với lời hô hào nêu rõ: “Chỉ hợp quần mới gây nên sức mạnh… Chúng ta hãy đem hết tài năng sĩ, nông, công, thương ra thực dụng. Để giải quyết những vấn đề quan trọng, để tiếp tế, cứu tế cho đỡ nỗi thống khổ đồng bào nghèo đói! Và để giữ vững đất đai thế nào là độc lập của Việt Nam một cách bất diệt”*.         Một số đảng phái quốc gia như Đại Việt (ở Hà Nội), Phục Quốc, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập (ở Sài Gòn), Tân Việt Nam (ở Huế) đều ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim và được Nhật khuyến khích.         Riêng dân chúng ở các vùng nông thôn thì vẫn thờ ơ với chính trị.        Thế rồi đến ngày 8.5.1945, Nội các Trần Trọng Kim mới chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân tại Dinh Tổng trưởng (tòa Khâm sứ Trung Kỳ cũ). Đầu tiên đọc bản Tuyên chiếu của Hoàng đế Bảo Đại về việc thành lập Nội các: “Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh nghiệm để đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt chẽ các giai từng xã hội và luôn luôn giữ một mối liên lạc giữa chính phủ và nhân dân (…)” (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr. 24).        Sau đó, Nội các đưa ra bản tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế, cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi quốc dân ra sức đoàn kết, gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, “tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia”; chăm lo việc cứu đói, định lại thuế khóa cho công bằng; đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết giữa chánh phủ với dân chúng; thống nhất pháp luật trong toàn quốc và tránh sự lạm quyền, tiệt trừ nạn tham nhũng; rèn luyện lớp thanh niên mới có khí khái có nghề nghiệp; chú trọng nâng cao trình độ sinh hoạt của dân chúng. “Chúng tôi xin tuyên thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cũng một lòng vì nước, giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật, để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt Nam ta muôn đời trường cửu” (nguyên văn bản tuyên cáo này có in trong phần phụ lục Một cơn gió bụi, sđd., tr. 192-195).           Kế hoạch đặt ra đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp quản bộ máy cai trị của Pháp, thông qua sự thu xếp bàn giao lại của Nhật, đã hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Theo nhà sử học Pháp Philippe Devillers, có hai điểm trở lực căn bản nhất, đó là sự thiếu chín muồi về chính trị của dân chúng và quyền ngăn cấm của người Nhật: “Quyền cấm cố của Nhật là rất nặng nề, cả về kế hoạch chính trị lẫn kế hoạch kinh tế và quân sự” (Histoire du Viêt Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil,1952, tr. 128). Ngoài ra, còn nhiều nỗi khó khăn cụ thể và trực tiếp khác: bộ máy quan lại thực dân nửa phong kiến đã thối nát quá lâu; nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc từ tháng 3.1945 vì mất mùa và một phần quan trọng vì chính sách nông nghiệp thời chiến do Pháp-Nhật gây ra làm cả triệu người chết, thây phơi đầy đường; bom đạn do quân Đồng minh Anh, Mỹ đổ xuống phá nát các cơ sở hạ tầng làm cho công tác cứu đói của Bộ Tiếp tế càng trở nên khó khăn trầy trật; Nhật ngày càng thua đậm trong trận Thế chiến (nhất là sau hai lần bị ném bom nguyên tử trong các ngày 6 và 8.8.1945); Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương bằng mọi giá; thiếu sự hậu thuẫn tinh thần của quảng đại quần chúng, trong khi đó, hoạt động của Việt Minh, được chuẩn bị từ lâu và một cách khéo léo, có sách lược hẳn hoi, đang ngày càng tăng mạnh với chủ trương đánh đổ cả Pháp-Nhật lẫn chính quyền phong kiến giành độc lập, được nhân dân nhiều nơi trên khắp cả ba miền đất nước hưởng ứng. Nội các Trần Trọng Kim lâm vào thế bị động và ngày càng lúng túng, phải chấp nhận từ chức, tiếp theo là việc thoái vị của cả vua Bảo Đại vì áp lực của cao trào cách mạng.       Liên quan việc Nội các Trần Trọng Kim từ chức, cả hai tài liệu Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim và  Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe (NXB Hà Nội, 1983) đều phản ảnh những thông tin cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau về một số chi tiết và ngày tháng. Đại khái, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và xu hướng quần chúng-trí thức ngã theo Việt Minh, nội bộ Chính phủ Trần Trọng Kim đã bắt đầu có những dấu hiệu phân hóa về sự lựa chọn chủ trương, đường lối.        Được biết, trong khoảng thời gian này, Vũ Đình Hòe (1912-2011), người đứng đầu nhóm Thanh Nghị, cùng chí hướng với hai bộ trưởng Vũ Văn Hiền và Phan Anh (1912-1990), ban đầu rất tích cực ủng hộ Chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim, nay thấy không ổn, bắt đầu có những cuộc tiếp xúc với người của Việt Minh, thậm chí còn được đại diện của Việt Minh là Dương Đức Hiền (1916-1963) kết nạp vào Đảng Dân chủ. Trong tập Hồi ký Vũ Đình Hòe (NXB Hội Nhà Văn, 2004), ông cho biết: “Trước ngày 17 [tháng 6.1945] tôi đã gặp hai anh Phan Anh và Vũ Văn Hiền, trao đổi nhận định về tình hình. Tôi cho hai anh biết tâm trạng của anh em trí thức ngoài Bắc giảm sút lòng tin đối với Chính phủ [Trần Trọng Kim], một số coi như Chính phủ bất lực rồi, còn dân chúng thì số đông ở thành phố trước sau vẫn thờ ơ, một số dân quê ngày càng đông ngưỡng mộ Việt Minh. Tôi thành thực thổ lộ với hai anh có lẽ nên dự bị ‘một hướng suy nghĩ khác’ cho kịp thời chuyển” (tr. 183).           Trong một cuộc họp Nội các (Phạm Khắc Hòe nói ngày 3.8.1945) ở Dinh Tổng trưởng, cả ba bộ trưởng Hồ Tá Khanh (1908-1996), Trần Đình Nam (1896-1974), Nguyễn Hữu Thí đều đề nghị Nội các nên rút lui để nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh càng sớm càng tốt, may ra mới cứu được đất nước. Nội dung đề nghị này, cả ông Hòe lẫn ông Kim đều trình bày giống nhau trong tập hồi ký của mỗi người. Nhưng về phản ứng của Nội các Tổng trưởng trước đề nghị rút lui, mỗi người lại kể khác nhau.        Theo sự mô tả của Phạm Khắc Hòe thì ông Kim tỏ vẻ gay gắt, trách các bộ trưởng thiếu trách nhiệm, không khí buổi họp trở nên căng thẳng (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 45), còn Trần Trọng Kim trong tập hồi ký của mình chỉ nói: “Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay” (sđd., tr. 89).       Cuộc họp phải tạm dừng. Hai ngày sau, 5.8.1945, toàn thể Nội các dâng lên vua tờ phiến xin từ chức. Ngày 6.8.1945, Bảo Đại chấp nhận đơn từ chức, nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trần Trọng Kim tìm cách liên lạc với những người có đảng phái như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đặng Thai Mai… mời ra Huế lập nội các mới nhưng sau một tuần lễ không thấy ai hưởng ứng, mà theo ông Kim tâu lại với Bảo Đại là do những người ông mời đều rất cách mạng, rất tả, và vì điều này không làm vừa lòng người Nhật nên họ đã chặn điện lại. Trong khi chờ đợi, ngày 12.8.1945, Bảo Đại ra đạo dụ đổi nội các từ chức thành nội các lâm thời, làm việc chỉ được mấy ngày thì Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945). Tình thế bức bách, thế lực của Nhật coi như tan rã, Đồng minh mạnh lên, chủ trương vận động vua Bảo Đại thoái vị của Việt Minh thông qua đầu mối liên lạc của Tôn Quang Phiệt (1900-1973) được Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tích cực ủng hộ, và theo đề xuất của Trần Đình Nam, một cuộc họp khẩn cấp nội các đã được triệu tập sáng ngày 17.8.1945 do vua đích thân chủ tọa.        Nhóm Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh đề nghị Nội các rút lui, vua Bảo Đại thoái vị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ chung quanh tổ chức mạnh nhất, hăng hái nhất là Việt Minh để bảo vệ nền độc lập. Theo Phạm Khắc Hòe kể trong hồi ký thì Trần Trọng Kim phản ứng, một cuộc tranh luận sôi nổi dấy lên, cuối cùng thống nhất ý kiến với bộ trưởng Vũ Văn Hiền (1911-1963), đề nghị tạm thời vẫn giữ chính thể quân chủ với vua Bảo Đại nhưng giao cho Việt Minh tổ chức nội các, thể hiện trong Đạo dụ số 105 được Phạm Khắc Hòe soạn thảo ngay sau đó, trong giờ giải lao 15 phút.        Trước cuộc họp, Phạm Khắc Hòe được sự ủng hộ của Trần Đình Nam đã chuẩn bị sẵn một bản dự thảo theo đó khẳng định tư cách và ý chí độc lập của dân tộc, kêu gọi mọi người ái quốc ra phò vua giúp nước, và động viên tinh thần hi sinh của Hoàng đế. Khi bản dự thảo được vua Bảo Đại cho phép đọc lên, Trần Trọng Kim phản ứng về việc hi sinh của Hoàng đế, cho là ép vua quá, trong khi đó Phan Anh phát biểu dung hòa, nói để cho vua tự suy nghĩ quyết định. Bảo Đại yêu cầu đọc lại đoạn “hi sinh của Hoàng đế” nêu trong bản dự thảo để nghe cho rõ hơn, nghe xong vua đồng ý, giao cho Văn phòng (tức cho Phạm Khắc Hòe) làm văn bản để chiều ký. Văn bản này tạm gọi là “Chiếu động viên quốc dân” mà Bảo Đại đã ký ngay vào 4 giờ chiều hôm đó (17.8.1945) sau vài phút do dự và “một cái nhún vai nhè nhẹ”, trong có đoạn: “Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu… Trước tình thế quốc tế hiện thời, trẫm muốn mau có nội các mới… Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, trẫm sẵn sàn hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như trẫm” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 195-196; Phạm Khắc Hòe có dẫn lại trong Từ triều đình Huế…, tr. 58-59).       Trong một diễn biến khác, ngày 19.8.1945 khi thấy tình thế đã nguy ngập đến nơi, “chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả”, đến lượt Trần Trọng Kim cũng vào gặp vua, dẫn gương của vua Louis bên Pháp và vua Nicolas II bên Nga, đốc thúc Bảo Đại phải thoái vị ngay không nên chần chừ (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 92).           Đến giờ phút này, cả Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và phần lớn thành viên trong Nội các vẫn còn mơ hồ, chưa biết rõ lãnh tụ Việt Minh là ai.        Với vai trò đã bí mật nhận với Việt Minh (thông qua Tôn Quang Phiệt), Phạm Khắc Hòe tiếp tục tìm mọi phương tiện khéo léo vận động Bảo Đại thoái vị, bằng cách luôn báo cáo với vua về những cuộc biểu tình của quần chúng đả đảo phát-xít, ủng hộ Việt Minh, về huyền thoại dân gian “thánh Nguyễn Ái Quốc” ra đời ở đất Nam Đàn… để khuyên nhà vua nên rút lui. Cuối cùng Hoàng đế đồng ý nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là ‘Thánh Nguyễn Ái Quốc’ thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay” (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 62). Nghe xong Phạm Khắc Hòe khấp khởi vội vã lo soạn chiếu thoái vị, và hoàn tất ngay trong đêm 20.8.1945.        Gần trưa ngày 23.8.1945, Bảo Đại nhận được tối hậu thư của Việt Minh, dưới đóng dấu “Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương” nhưng không có ai ký tên, đòi nhà vua phải trả chính quyền cho nhân dân và hứa sẽ bảo đảm tính mạng, tài sản cho hoàng gia, hạn cho nhà vua phải trả lời trước 13 giờ 30 phút ngày 23.8.1945 và cử ông Phạm Khắc Hòe làm người liên lạc giữa nhà vua và Chính quyền cách mạng.       Theo đề nghị của Phạm Khắc Hòe, một cuộc họp nội các đã được triệu tập ngay lập tức vào đúng 12 giờ 25 phút cùng ngày để kịp trả lời Việt Minh đồng thời góp ý kiến cho dự thảo Chiếu thoái vị do chính ông Hòe khởi thảo. Cuộc họp do vua chủ tọa, có mặt Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương (1898-1986), Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Hữu Thí, Phạm Khắc Hòe. Mọi người đồng ý chấp nhận các điều kiện do Việt Minh đưa ra trong tối hậu thư, còn Chiếu thoái vị thì chỉ sửa có mấy chữ “nồi da xáo thịt” thành “Nam Bắc phân tranh”.              Tờ chiếu lịch sử đó của Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng triều Nguyễn sau 143 năm trị vì đất nước phong kiến mà hơn một nửa thời gian bị lệ thuộc Pháp, chính thức đề ngày 25.8.1945. Ông chấp nhận từ bỏ ngôi báu một cách khá mau lẹ một phần vì muốn đặt lợi ích của quốc dân lên trên, phần khác cũng do bị áp lực từ nhiều phía và cũng chẳng còn cách nào khác.            Chiều ngày 26.8.1945, trong không khí buồn tẻ chỉ hiện diện vài người thân cận, vua làm lễ cáo yết Liệt thánh về việc thoái vị ở Thế miếu là nơi thờ Gia Long và các vua nối tiếp. Các quan văn võ được thông báo trước nhưng đều không đến dự.        Chiều 30.8.1945, tại cuộc lễ thoái vị được cử hành long trọng trước Ngọ Môn, Bảo Đại mặc triều phục tuyên độc chính thức Chiếu thoái vị, lời lẽ chân thực cảm động, với sự có mặt của đại diện Việt Minh gồm các ông Trần Huy Liệu (Trưởng đoàn), Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận cùng sự chứng kiến của đám đông hàng vạn dân chúng:       “Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,  Vì nền độc lập của Việt Nam,  Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh tất cả, và ước mong rằng sự hi sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.  …  Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.  Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.  Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.  …  Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.  Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.  Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta… (chép theo Con rồng Việt Nam của Bảo Đại, tr. 187-188, có một số câu chữ khác hơn so với văn bản chép trong Phụ lục hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim).   Đọc xong, vua Bảo Đại trao kiếm vàng và ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, biểu thị chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim, mà ba tuần lễ sau cùng đổi gọi Nội các Lâm thời, coi như cũng chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.       Trong hồi ký Con rồng Việt Nam (Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990), cựu hoàng Bảo Đại sau này nhớ lại: “Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi. Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu” (tr. 188).       Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.       Về phần Nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy  4 tháng (từ 17.4 đến 7.8.1945, nếu tính đến 23.8.1945 khi quyết định xong Chiếu thoái vị thì được 4 tháng 6 ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, Nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng đã làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận:               – Tháng 6 năm 1945, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, Annam); tạm duy trì bài quốc thiều “Đăng đàn cung”; đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long tinh bằng cờ quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm.       – Bộ Tiếp tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt.       – Thanh trừng quan tham lại nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.        – Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.       – Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.       – Can thiệp với Nhật để từ ngày 9.8.1945 tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản đã bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương trừng thanh quan lại và bài trừ tệ hối lộ.       – Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20.7.1945.       – Ngày 1.8.1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm Lính Khố xanh, Khố đỏ.       – Ngày 14.8.1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.        – Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.       – Về tư pháp, thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5.7.1945.       – Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc Tiểu học và Trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.       – Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa.       – Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên Tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.       – Trong giai đoạn tồn tại cuối, nhận thức được trào lưu, tham gia dàn xếp êm và nhanh chóng việc thoái vị của Bảo Đại để trao quyền lãnh đạo cho chính quyền cách mạng, tránh một cuộc xung đột đổ máu rất có thể xảy ra nếu có sự kháng cự.       Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.        Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Nam vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!       Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.        “Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).       Nội các Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, “xây dựng khu vực thịnh vượng chung” của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trị mới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.       Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẫm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu âu tiêu cực, được chăng hay chớ.       Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.       Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạm nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.       Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!…” (sđd., tr. 99-100).       Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết…” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).       Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc, lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ hay dở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.       Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân).  Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).       Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67).         Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.       Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng, .           Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng  hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).         Kỳ cuối: “Một cơn gió bụi”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trần Trọng Kim học giả      Qua một số tập hồi ký và tài liệu loại khác có được trong tay, tác giả cố gắng trình bày tương đối đầy đủ và khách quan hơn so với quan điểm “chính thống” về nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim cùng Nội các của ông, từ đó có thể suy nghiệm được những bài học lịch sử hữu ích áp dụng cho hiện tại và tương lai.     Thuộc thế hệ tuổi trên dưới 60 như chúng tôi, ở miền Nam, hễ có quan tâm ít nhiều tới chuyện sách vở thì hầu như không ai không biết đến nhân vật Trần Trọng Kim (1883-1953), một học giả tên tuổi, có thời gian ngắn tham gia chính trị với tư cách Thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945), và là người tiên phong cho một số công trình biên khảo có giá trị lâu dài thuộc nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau, như Việt Nam sử lược, Nho giáo, Truyện Thúy Kiều…   Khởi đầu sự nghiệp trứ tác từ năm 1914 khi phụ trách mục “Học khoa” trên Đông Dương Tạp Chí, với loạt bài viết có tính giáo khoa về luân lý và về khoa sư phạm học, nếu tính đúng và đủ, Trần Trọng Kim là tác giả của tất cả những công trình đã in thành sách, liệt kê theo thứ tự thời gian như sau: Sơ học luân lý (Nhà in Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1914), Sư phạm khoa yếu lược (Trung Bắc Tân Văn, 1916), Việt Nam sử lược (2 quyển Thượng và Hạ, Trung Bắc Tân Văn, 1919), Truyện Thúy Kiều chú giải (1925, soạn chung với Bùi Kỷ), Quốc văn giáo khoa thư (3 tập: lớp Đồng ấu, lớp Dự bị, và lớp Sơ đẳng), Luân lý giáo khoa thư, Sử ký giáo khoa thư (cả ba loại giáo khoa thư này xuất bản năm 1926, và đều soạn chung với Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, do Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ vẽ minh họa), 47 điều giáo hóa của nhà Lê (Trung Bắc Tân Văn, 1928, dịch “Lê triều giáo hóa điều luật tứ thập thất điều” ra tiếng Pháp: Les 47 articles du Catéchisme moral de l’Annam d’autrefois), Nho giáo (Trung Bắc Tân Văn, 1930, ba quyển; sau in gộp lại thành hai quyển, 1932-1033), Việt thi (sao lục và chú giải), Phật lục (NXB Lê Thăng, Hà Nội, 1940), Phật giáo (Tân Việt xuất bản), Vương Dương Minh (1940), Việt Nam văn phạm (Lê Thăng, Hà Nội, 1941, soạn chung với Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ), Tiểu học Việt Nam văn phạm (Tân Việt xuất bản), Phật giáo thủa xưa và Phật giáo ngày nay (Tân Việt, 1953; “Lời mở đầu” của tác giả đề tháng 10.1952), Hạnh thục ca (Tân Việt xuất bản), Đường thi (Tân Việt xuất bản), Lăng ca kinh (Tân Việt, 1964), Một cơn gió bụi (Hồi ký, viết từ năm 1949, xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn do NXB Vĩnh Sơn).         Ngoài những sách đã in chính thức trên đây, Trần Trọng Kim còn có loạt bài biên khảo dài về Đạo giáo (Đạo Lão Tử) đăng nhiều kỳ trên Nam Phong Tạp Chí (từ số 67 năm 1923), chưa xuất bản thành sách. Vũ trụ đại quan và  Thiên văn học là 2 công trình biên khảo khác nữa nhưng dường như chỉ ở dạng bản thảo đã bị thất lạc trong thời kỳ chiến tranh Việt-Pháp (1946-1954). Quyển đầu thấy tác giả có nhắc qua trong một bức thư gởi Hoàng Xuân Hãn mới được công bố gần đây; còn quyển sau, chỉ được biết qua sự ghi nhận của nhà văn-nhà báo Lãng Nhân Phùng Tất Đắc trong tập hồi ký Nhớ nơi kỳ ngộ (do Ziên Hồng xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1997). Riêng cuốn Pháp bảo đàn kinh nói là do ông dịch, chúng tôi chỉ thấy giới thiệu sau bìa lưng một quyển sách khác do NXB Tân Việt in năm 1964, nên chưa thể xác định.           Nếu xét trên phương diện đề tài thì tác phẩm của Trần Trong Kim bao quát một phạm vi rất rộng, từ giáo khoa nhiều môn học sang các lĩnh vực Văn, Triết, Sử, Tôn, và đều có tính cách tiên phong đi đầu trên mỗi lĩnh vực học thuật trong giai đoạn chuyển giao từ nền cựu học sang tân học, trong số đó riêng Việt Nam sử lược từ khi ra đời đã được đánh giá là một trong những quyển sử quy mô đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, vừa có phong cách ngắn gọn, súc tích, vừa đầy đủ dễ hiểu, đọc rất hấp dẫn, và được tái bản cho đến nay có đến chục lần.  Điều khá đặc biệt là những cuốn giáo khoa tiểu học nêu trên do ông chủ trì biên soạn đều là những sách viết rất hay, mà một số bài trong đó đến nay lớp người từng học tiểu học khoảng nửa trước thế kỷ XX vẫn còn thuộc nằm lòng. Một số câu, đề bài đã trở thành nhưng câu khẩu ngữ rất quen thuộc: Ai bảo chăn trâu là khổ… Xuân đi học coi người hớn hở... Cách biên soạn đơn giản, dễ nhớ như thế của nhóm soạn giả Trần Trọng Kim rất có giá trị thuyết phục, mà ngày nay có lẽ còn phải phấn đấu học hỏi nhiều nữa giới sư phạm mới có thể vượt lên hơn được.         Trong Việt Nam văn học sử yếu, GS Dương Quảng Hàm xếp Trần Trọng Kim vào chương “Các văn gia hiện đại” cuối sách, ở tiểu mục “Khuynh hướng về học thuật”, chỉ với 3 dòng nhận xét rất ngắn gọn nhưng đủ khái quát hết sự nghiệp học thuật của ông: “Trần Trọng Kim (hiệu Lệ Thần) là một nhà sư phạm đã soạn nhiều sách giáo khoa có giá trị và một học giả đã có công khảo cứu về Nam sử và các học thuyết cổ của Á Đông” (Bộ Giáo dục-Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1968, tr. 450).         Đến Nhà văn hiện đại (4 tập, Tân Dân, Hà Nội, 1942-1945), nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan (1902-1987) xếp Trần Trọng Kim vào “Các nhà văn lớp đầu”, nhóm biên khảo (cùng với Bùi Kỷ, Lê Dư, Phan Khôi, Nguyễn Quang Oánh, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh), đã giới thiệu khá tỉ mỉ văn nghiệp của ông (chiếm đến 30 trang giấy). Đặc biệt giới thiệu, phân tích, phê bình một cách tập trung, chi tiết vào 3 quyển Việt Nam sử lược, Nho giáo và  Việt Nam văn phạm. Riêng Việt Nam sử lược, Vũ Ngọc Phan cho rằng “tuy gọi là ‘lược’ nhưng cũng đủ được mọi việc trong thời kỳ đã qua của nước nhà và đáng coi là một bộ sách giá trị” (NXB Văn Học-Hội Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Văn Học TP. HCM, 1994, tập I, tr. 181). Rồi đi tới một kết luận chung cho toàn bộ sự nghiệp biên khảo của Trần Trọng Kim: “Đọc tất cả các văn phẩm của Trần Trọng Kim, người ta thấy tuy không nhiều, nhưng quyển nào cũng vững vàng chắc chắn, không bao giờ có sự cẩu thả.          “Ông có cái khuynh hướng rõ rệt về loại biên khảo; chỉ đọc qua nhan đề các sách của ông, người ta cũng có thể thấy ngay: hết lịch sử, đến đạo Nho, đến đạo Phật, rồi lại đến mẹo luật tiếng Việt Nam. Ông là một nhà giáo dục, nên những sách của ông toàn là sách học cả.          “Văn ông là một thứ văn rất hay, tuy rất giản dị mà không bao giờ xuống cái mực tầm thường; lời lời sáng suốt, giọng lại thiết tha như người đang giảng dạy. Lối văn ấy là lối văn của một nhà văn có nhiệt tâm, có lòng thành thật” (sđd, tr. 208-209).         Lại đến Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, tập III, phần Văn học hiện đại 1862-1945 (Quốc Học Tùng Thư, Sài Gòn, 1965), nhà nghiên cứu văn học rất tài hoa uy tín này tiếp tục xếp Trần Trọng Kim vào hàng ngũ các nhà biên khảo tiêu biểu của giai đoạn 1907-1932, chung với Phan Kế Bính (1875-1921), Nguyễn Hữu Tiến (1874-1941) (hai tác giả đã được Vũ Ngọc Phan xếp vào nhóm Đông Dương Tạp Chí và nhóm Nam Phong Tạp Chí) và Phan Khôi (1887-1959). Phạm Thế Ngũ gọi Trần Trọng Kim là nhà giáo dục mới, lần lượt điểm qua các tác phẩm tiêu biểu, trước khi đi đến nhận định tổng quát có thể bổ sung được cho sự đánh giá của hai nhà vừa nêu trên: “Ở Trần Trọng Kim ta thấy một đặc điểm là mặc dù sớm theo Tây học, lại sang cả Pháp du học, song ông đã có với văn hóa Đông phương một mối kính cẩn sâu xa. Có thể nói ông chủ trương bảo tồn, thủ cựu hơn cả Phạm Quỳnh. Về đường trước tác thì có thể nói ông đã thực hiện đúng cái đường lối… là đem tất cả cái gia tài văn hóa của ông cha mà bàn giao lại cho thế hệ mới… Tuy có Tây học song ông tự đặt mình vào phái cũ, đem cái phương pháp mới học được của Tây học mà làm những công trình bàn giao ấy cho được rõ ràng hơn hoàn bị hơn. Sự phối hợp giữa một phương pháp biên khảo mới mẻ và một kho kiến thức phong phú cộng thêm vào một thiện chí theo đuổi “cúc cung tận tụy” đã khiến cho những công trình của ông có một giá trị vững bền và đặt ông vào hàng đầu các nhà biên khảo ở giai đoạn này.         “Về hành văn thì ông có một lối văn đặc biệt bình dị… Không ưa những hình ảnh cao kỳ, lối sắp đặt đối ngẫu, sự bay bổng hay hào hoa, chỉ muốn dùng cách thông thường nhất dễ hiểu nhất, để dẫn giải ôn tồn cho người ta hiểu. Văn bình đạm song có khí có lực, cũng như con người vậy” (tr. 301-302).           Trần Trọng Kim, còn có bút hiệu Lệ Thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Lĩnh, xã Đan Phổ (nay là Xuân Phổ, trước thuộc tổng Đan Hải), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.         Theo Vũ Ngọc Khánh, họ Trần của Trần Trọng Kim là một họ lớn ở Đan Phổ (lúc đầu gọi Đan Phố, sau theo cách phát âm mới đọc Phổ), cụ thân sinh ra Trần Trọng Kim là Trần Bá Huân, có tham gia phong trào Cần Vương. Em gái ông tên Trần Thị Liên là một cán bộ Xô Viết, hoạt động năm 1930 (mất năm 1964). Ngoài ra, ông còn có người con gái hiện đang ở Pháp (xem “Bàn thêm về Trần Trọng Kim”, Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, 26.11. 2009). Riêng vợ ông là em gái nhà nghiên cứu văn học Bùi Kỷ.         Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, ông học chữ Hán từ nhỏ. Năm 1897, học chương trình Pháp ở Trường Pháp-Việt Nam Định. Năm 1900, thi đỗ vào Trường thông ngôn, tốt nghiệp năm 1903. Năm 1904, làm Thông sự ở Ninh Bình.        Ít ai biết rõ thuở hàn vi của Trần Trọng Kim ra sao, vì ngay trong tập hồi ký viết cuối đời, cuốn Một cơn gió bụi (tên phụ “Kiến văn lục”, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969), cũng không thấy kể. Chỉ biết ông nhà nghèo, nên năm 1906 mới nhờ bạn học cũ là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) giúp, khi ông Vĩnh được nhà nước bảo hộ Pháp giao trách nhiệm tổ chức đi dự cuộc Hội chợ Marseille ở Pháp (hồi đó gọi là “đấu xảo”), sắp xếp cho ông đi theo với tư cách thợ khảm, mà thật ra mục đích chính chỉ để tranh thủ ở lại Pháp học thêm: “Thì mục đích mình là kiếm đường du học, chứ tôi có biết khảm khiếc gì đâu!” (Lãng Nhân, sđd., tr. 84).          Từ đó ông trải qua học trường Thương mại ở Lyon, rồi được học bổng vào trường Thuộc địa Pháp. Năm 1909, vào học trường Sư phạm Melun, tốt nghiệp ngày 31 tháng 7 năm 1911 rồi về nước, do học bổng của mọi sinh viên lúc đó đột nhiên bị bãi. Sau đó, lần lượt dạy ở Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm.         Ông là nhà giáo mẫu mực, có uy tín trong xã hội, từng giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: Thanh tra các trường tiểu học Pháp-Việt (1921), Trưởng ban Soạn thảo Sách giáo khoa Tiểu học (1924), giáo viên Trường Sư phạm thực hành (1931), Giám đốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1933). Ngoài ra ông còn là Phó trưởng ban Ban Văn học của Hội Khai trí Tiến Đức và Nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Bắt đầu về hưu năm 1942 khi vừa tròn 60 tuổi.         Theo sự kể lại của Lãng Nhân, một người được Trần Trọng Kim coi là bạn trẻ khá thân thiết, thì ông người vóc đậm nên trông hơi thấp, nước da ngăm ngăm, đi đứng khoan thai vững vàng, tuy gốc Nghệ Tĩnh nhưng ở Bắc lâu nên giọng nói nhẹ nhàng. Thấy ông là nhà giáo đạo mạo, lại chuyên viết những công trình nghiêm túc gần như giảng đạo, ít ai nghĩ Trần Trọng Kim là người có óc trào lộng, thích kể chuyện tiếu lâm, và cũng theo Lãng Nhân cho biết, cuốn sách nhỏ do nhà Ích Ký phố Hàng Giấy xuất bản năm 1910, có những chuyện “xứ Nghệ” xem vỡ bụng cười, đều do ông Trần kể lại với tác giả Thọ An, tức Phạm Duy Tốn (1883-1924), một nhân vật trọng yếu của nhóm Nam Phong.         Tính ông vui vẻ, cởi mở, xuềnh xoàng dễ gần và không quan cách, kể cả khi sau này ở địa vị đứng đầu chính phủ, như có lần chào tạm biệt một nhà báo khi nhà báo này vừa làm xong cuộc phỏng vấn: “Ta cũng là anh em, trước ông biết tôi là Kim nay cứ gọi Kim, xin đừng xưng hô kiểu cách” (xem Nguyễn Duy Phương, Lịch sử độc lập và nội các đầu tiên Việt Nam, Hà Nội, 1945, tr. 33).         Có những chi tiết rất lý thú về nền nếp sinh hoạt hằng ngày của ông. Cũng theo Lãng Nhân, “Sở dĩ ông thực hiện được những tác phẩm có giá trị cả về phẩm lẫn lượng, là nhờ sự kê cứu tỉ mỉ công phu cùng đức tính cần cù, nhẫn nại và cương quyết ít thấy ở ai khác. Thật vậy, nhà ông, trên lầu, riêng một căn làm thư phòng, giữa kê một bàn giấy lớn, sách vở bày trên từng chồng xếp đặt ngay ngắn, bên đèn bên quạt điện, trước bàn là một ghế bành gỗ gụ không có nệm. Điều khác thường là bao nhiêu đó được vây kín trong một khung hình lớn lúc nào cũng buông xùm xụp để tránh muỗi. Mỗi ngày cơm chiều xong là ông tản bộ đi chơi, đi thăm hỏi bạn bè, khi chuyện trò trong hội Khai Trí, nhưng nghiêm luật bất di bất dịch là đúng 10 giờ đêm, dù mưa gió bão bùng, thế nào ông cũng có mặt nơi ‘bàn mùng’ để căm cụi dùi mài cho đến 2 giờ sáng” (sđd., tr. 84-85).    Kỳ II: Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trắng chữ nhẹ tênh – nhà thơ Lê Đạt      Đầu năm 1999, nhà Văn hóa Thế giới ở Berlin gửi xuống Muenchen cho tôi ngót chục bài thơ, nhờ chuyển ngữ sang tiếng Đức cho tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Berlin vào cuối tháng 3 năm ấy. Như thường lệ không đắn đo, tôi sốt sắng nhận lời.      Mãi sau này mới biết ra lẽ “cái duyên” tại sao mình được chọn:  Tác giả những bài thơ là Lê Đạt.  Và cuộc dịch thơ trở nên một “trận toát mồ hôi”, chẳng biết nhà thơ “đã làm khổ chữ” đến đâu, mà mười mấy năm sau thố lộ, “chữ đã làm khổ” nhà thơ đến “cả một tạ mồ hôi”, – chuyện ấy chắc… cũng thường cho Việt Nam nóng bức – còn tôi, chưa bao giờ trong đời đã có một trận dịch bở hơi tai, một trận đụng độ chữ nghĩa cam go đến thế, nhớ lại vẫn còn thấy… ê vai.  Thì có ngờ đâu mà kịp thủ thế – cứ tưởng thơ là thơ trơn lu, thế mà mới đọc là va đầu ngay vào những con chữ kỳ lạ, những cấu trúc ngược, những cạm bẫy của dấu nhấn, chấm phết, xuống hàng, bỏ lửng, những chữ ghép ra khỏi mọi qui tắc, những chữ “con” thành “cả”, “đại” thành “tiểu”, “nghiêm mà đùa”, “thanh mà tục” – chưa thấy một chữ nào thật tục trong thơ Lê Đạt – nhiều con chữ gói cả một nền văn học vào trong, mà khi được chuyển ra ngoại ngữ, nó đánh mất tất cả khối lượng văn chương… Đọc thơ mà như đang rơi giữa thinh không:  “Tim ghép ngọt góc cằn xuân bỏ hóa  Máu chửa hoàn hồng tình cả dạy non  Mộng đằng ngà bướm vẫn son ăn mạ  Vô tâm              Hay em ghép quả bồ hòn”  (Ghép tim)  “Tuổi lú lẫn ngược nhằm ga trẻ dại  Hay ngây thơ                       Không biết lối về già  Tha thẩn chữ ngã ba”  (Ke tuổi)  “Rừng buồn bứt lá chim chim  Hỏi sim sim tím                           hỏi bìm bim leo  Ước lòng trắng chữ nhẹ tênh cỏ lú  Chín kiếp chuyện đời ú ớ một tên em”  (Cỏ lú)  Trận “dịch thơ” trở thành một trận chiến truy lùng chữ nghĩa dở khóc dở cười, tôi không biết tác giả ở phương nào để hỏi ông bao nhiêu là câu hỏi, nhưng biết rõ cán cân đã hẳn nghiêng về đâu: cái gậy ảo thuật ngôn ngữ đã hất tung trái cầu dịch thuật: một bên là tự do vùng vẫy bên kia là hai tay bị trói hai lần cấm không được ra khỏi vòng chơi. Ba lần đưa bản dịch thử cho người bạn Đức, ba lần đều nghe trả lời “không hiểu“. Đến lần thứ tư, tôi đành nhắm mắt dịch liều, y như khi lái xe vào Paris, rơi nhằm Place de Concorde có 16 con đường túa vào nhau nơi bồng binh, nếu đi theo luật và tinh thần “phần phải về ta” kiểu Đức thì sẽ đụng xe rầm rầm, cho nên muốn thoát thì đành phải nhắm mắt đạp ga theo cảm tính của luật chơi “người sao ta vậy”, có nghĩa, tôn trọng mạng sống là trước hết còn luật là chấp!  Chẳng đặng đừng phải chấp thôi, nếu “chữ chơi” thì “chơi” với chữ, mà trong luật “chơi” này trước hết, người chơi phải biết “chơi” thật, có nghĩa tự do, có nghĩa vứt hết mọi điều lệ ngôn ngữ, để nghiêm túc theo chính ngôn ngữ của người đang “ngôn” hay của chính “ngữ ngôn”. Ít nhất tôi đã đổi tư thế của mình – học theo Lê Đạt trong vô thức, nửa phút trước khi quyết định đầu hàng, gửi trả lại nguyên bản, bằng cách bỏ hết tâm trạng nghiêm trọng, thả lỏng mình và liều mạng dịch tiếp. Thế mà được việc, kết quả người bạn Đức đã hiểu.  Có điều tôi chắc chắn rằng, nếu bây giờ đọc lại bản dịch – điều mà đã 10 năm nay tôi không làm – thì có lẽ sẽ có…bản dịch khác – không phải đúng, chính xác hơn – mà sảng khoái hơn…Biết đâu…  Tôi không chắc nhà thơ Lê Đạt đồng ý với tôi, như ông đã từng không để ý. Giờ đây chẳng còn dịp để bày tỏ điều này và  còn những điều “tha thẩn chữ ngã ba“ vẫn là nỗi băn khoăn không dứt.  Ví như “cái ga xanh ấy sót lại” hay “xót lại”? – tôi đã nhận được hai bản khác nhau gửi dến, do đánh máy sai theo giọng Bắc nhầm “s” và “x”.? Dạo ấy tôi hỏi các anh ở Paris bản nào và được xác nhận “sót lại” là đúng theo tác giả. Tôi cũng đã dịch “sót lại” nhưng nếu giờ đây dịch lại thì tôi sẽ dịch “xanh xót lại”:  “Đời tốc hành một ga xanh SÓT lại  Một góc tuổi mải tầu thơ dại mãi  Tìm nhà               quên mất số lớn khôn”   hay đúng hơn?:  Đời tốc hành một ga xanh XÓT lại…  Cái ga xanh, xanh đến xót xa khi chuyến tốc hành đã vụt qua…Lê Đạt đã đi…đột ngột chuyến tốc hành!  Có  phải tự do của tôi là “xót” bây giờ, xót xa,  nhưng có một chữ “xót” không?  Hay “sót” và “xót” cũng chỉ là “bóng chữ”?  Nhà thơ sẽ mỉm cười…  Như đã mỉm cười khi gặp tôi ở Berlin (chúng tôi ở hai chương trình khác nhau tuy trong cùng một tuần lễ văn hóa). Cuộc gặp đơn giản và tự nhiên, không khách sáo, không nồng nhiệt mà bình thường với những nụ cười của Lê Đạt: hiền hòa. Vẻ người đôn hậu “nhà thơ không phải là nhà thơ” hơn dáng dấp ta thường chờ đợi của một nhà thơ. Chúng tôi không đả động gì đến thơ. Nhà thơ không hỏi về chuyện dịch thơ của mình (hiếm hoi lắm) và người dịch cũng không nhắc đến chuyện “toát mồ hôi“. Có lẽ một phần chuyến đi sang Đức đã quá bất ngờ cho một nhân vật của Nhân Văn Giai Phẩm. Trong tất cả những chuyện trò không dứt vẫn còn nghe rúng động chuyện nhà thơ Lê Đạt ra khỏi Việt Nam, đến phút chót vẫn còn đấu tranh ngoại giao giữa hai nước. Nỗi bỡ ngỡ bỗng nhiên được thả cho đi còn rõ trên cử chỉ của nhà thơ.  Cũng có lẽ vì mọi sự bình thường, có gì đâu mà hỏi.  Tôi mang theo nhiều ấn tượng về tuần lễ Việt Nam tại Berlin, trong đó ấn tượng về buổi gặp nhà thơ Lê Đạt khá lạ lùng: cái cảm giác sống động được thấy bằng xương thịt một người, nhưng lại nhẹ hững như sờ một cái “Bóng”. Quả tình Lê Đạt đã là cái bóng đứng đó với cô hướng dẫn viên Brigitte Kraffert, khi tôi thấy lần đầu, so với cường độ mãnh liệt của cuộc chiến với thơ Lê Đạt mà tôi trải qua trước đó.  Mà có lẽ chính vì cái bóng đơn sơ ấy mà có cuộc gặp lại lần hai chăng?  Lần này do tôi chủ động. Hóa ra thơ Lê Đạt đã nằm trong tiềm thức từ lúc nào. Một lần đến Hà Nội, tôi lang thang 36 phố phường, qua Hàng Đào, Hàng Đường, đến Lương Văn Can, rồi tình cờ  lớ quớ ở một góc đường lao xao những xanh đỏ tím vàng, những giấy là giấy, trùng điệp cửa hàng bán giấy vệ sinh, thùng giấy, xà phòng, khăn tắm… Ơ kìa chẳng là:  Đầu phố Lãn Ông có cửa hàng tạp vặt  Đăng ký số 4210                            đứng tên Lê Đạt  Nhớ xưa ba mươi năm  Cửa hàng quan niêm phong  …  Tôi  bắt đầu từ hàng thứ nhất, hỏi một hồi thì tìm đúng cửa hàng Lê Đạt. Người nhà bảo ông đi dạo chưa về. Trở lại lần thứ hai, nhà thơ xuất hiện thật sau những núi giấy vệ sinh: bỡ ngỡ nhận ra người khách bất ngờ “Lan đấy hả?”, nỗi ngạc nhiên không quá một tích tắc là đã thấy nụ cười nhân hậu tiếp theo.  Những năm sau mỗi lần đến Hà Nội, tôi thường gặp nhà thơ với một số nhà văn hóa, nhà khoa học ở gia đình Tia Sáng cùng nhau đi ăn sáng hay ăn trưa. Buổi gặp thường ngắn ngủi, vừa đủ nghe một bản nhạc, trao đổi vài tin tức,  hớp vài ngụm nước trà, hay dừng nơi ly rượu vang, lần cuối món cừu nướng nơi Viện Goethe. Chuyện cũng vu vơ, nhẹ nhàng, chuyện chung chung giữa nhiều người. Nhưng có một lần, giữa câu chuyện chung giữa tôi, nhà báo Văn Thành và nhà thơ, đột nhiên ông quay sang nói với tôi, trong tư thế của một người đang tranh luận về một đề tài – một đề tài ghiền của tôi – mà nào có bao giờ trao đổi điều chi – chứng tỏ nhà thơ đã chuyện trò “không lời” với tôi từ lâu, từ cuộc gặp này sang cuộc khác về cái đề tài ấy, bây giờ đi đến lời kết:  “Này, điều mà moi thích nhất trong đạo Phật, đó là tu cho được cái tâm bình thường!”, rồi tự gật đầu “Chính cái tâm bình thường, thật bình thường, mới là điều đáng nói, hay lắm đấy!”  Tôi giật mình nhìn sang nhà thơ, thấy ông đang cười mỉm một mình, và giật mình thêm một lần nữa, bất ngờ nhận ra – chính cái người không bao giờ ngờ đến – chính người ấy lại chỉ cho tôi điều tinh yếu của đạo Phật  rõ nét hơn tất cả những người chuyên cần trong đạo Phật, những Thiền sư, những nhà tu, những Phật tử thông thuộc thiên kinh vạn quyển.  Giữa rừng hỗn mang từ nhà đến chợ, từ chợ đến trường, từ trường đến cấp cao và cấp cao hơn, trong một thời mà những chữ như “hoành tráng”, “làm giàu”, “đại gia”, “hoa hậu”, “anh hùng cứu nước” buôn bán nhà đất hà rầm tràn lan khắp nơi, ai ai cũng tìm cái hơn cái nhất, cái tôi ưu tú, lấn sâu đến tận nhà chùa, nhà thờ như một thứ bệnh thần kinh bên cạnh những thứ dịch cấp tính, thì giữ được cái “:tâm bình thường” quả không dễ mà lại cần thiết chừng nào.  Chính nhà thơ Lê Đạt đã trực nhận điều ấy bằng nhạy cảm của nhà thơ, và có lẽ suốt cuộc đời Lê Đạt đã “chơi thơ” một cách nghiêm túc trên cái nền Tâm ấy, đổ hàng tạ mồ hôi trên cái tâm ấy để xây Thơ.  Thật sảng khoái!  Chỉ tiếc xót – có thể Lê Đạt sẽ cười và bảo “moi biết rồi” –  tôi chưa kịp thú nhận với chú Lê Đạt rằng, những lần gặp nhau, ấn tượng của tôi về “bóng chữ” không còn là ấn tượng về hình hài – ngay cả cái bóng – mà trở thành một ấn tượng phổ quát, đại thể hơn: đó là cảm giác được ngồi dưới mái hiên hay một mái chùa nào đó, không cần bước vào trong, cũng không cần pho tượng, chỉ ngồi ở hiên mà thấm đượm phong cảnh, trời mây, cả nhân tình thế thái, hong nắng và gió hồn nhiên,… có thể với ly rượu vang và nhiều hoa, bởi vì  Lê Đạt là nhà thơ của thế giới…bình thường “ước lòng trắng chữ nhẹ tênh”.  Hay “nhẹ tênh”  bóng chữ vụt vào cõi rong chơi?  Muenchen, 22. 04. 2008    Author                Thái Kim Lan        
__label__tiasang Tranh cãi luật biểu tình dựa trên tiêu thức nào?      Thế giới ngày nay hầu như không còn nước nào bàn cãi về quyền biểu tình cả vốn là một khái niệm phổ quát có nội hàm: Quyền „đồng tình“ tập hợp „nơi công cộng“ (ngày nay được bổ sung thêm: „trên mạng“) để „biểu đạt“ chính kiến tư tưởng tình cảm của họ ủng hộ hay phản đối trước chính sách hay sự kiện nào đó, mà họ muốn xã hội, nhà nước, thậm chí thế giới (như biểu tình phản đối Trung Quốc) quan tâm giải quyết.     Từ khái niệm đó có 6 dấu hiệu đặc trưng (xem thêm bài Cần sớm có luật biểu tình – Tia Sáng số 11/6/2014): – Nhằm thể hiện mong muốn được xã hội, nhà nước quan tâm giải quyết, nên biểu tình không bao giờ do nhà nước tổ chức cả (1.1). – Mà do cá nhân hoặc hội đoàn độc lập tổ chức hoặc 1 nhóm người tự tập hợp lại, nói cách khác người dân tự liên kết với nhau, thuộc phạm trù xã hội dân sự (1.2). – Biểu tình là hình thức biểu đạt chính kiến tư tưởng tình cảm đối với một chính sách hay trước một sự kiện nào đó, vì vậy nó phải nhằm vào đối tượng cụ thể đó, không thể chung chung nhưng cũng không được phạm vào quyền riêng tư, cá nhân ai (1.3). – Là một „tập hợp“ cùng „đồng tình“, biểu tình mang tính mở không giới hạn số lượng, tập hợp bất cứ ai tự nguyện. Vì vậy, cơ cấu, hoạt động không theo nguyên tắc hành chính mệnh lệnh, mà chỉ là sự thoả thuận phân công công việc, tự nguyện thực hiện, và không ai được phép mua chuộc hay cưỡng bức ai tham gia (1.4). – Do nhằm biểu đạt ý kiến, nên biểu tình chỉ tổ chức nơi công cộng, không được diễn ra trong trụ sở công quyền, hay nơi cần bảo vệ tránh đông người, doanh nghiệp, nhà dân (1.5). – Khác với bạo lực đường phố thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hình sự, hay cách mạng bạo lực thuộc phạm trù chính trị, biểu tình được mặc định là ôn hoà vì vậy không được sử dụng bạo lực, và không có khái niệm biểu tình bạo động (1.6).      Các dấu hiệu trên chính là những tiêu thức dùng để phân biệt đối tượng điều chỉnh của luật biểu tình, thiếu nó không thể tranh cãi, bởi theo logic học chỉ có thể tranh cãi khi cùng tiêu thức, nếu không kết qủa chẳng đến đâu, bởi „ông nói gà bà nói vịt“ hay „thày bói xem voi“. Vấn đề nóng bỏng xã hội hiện nay nằm ở câu hỏi, luật biểu tình là „cần“ hay „phải“ có? Và nếu chưa có thì nhà nước phải hành xử như thế nào ? Trả lời câu hỏi này không thể không bắt đầu từ định đề: Biểu tình là quyền tạo hoá (2).      Đã là „tạo hoá“ thì „không ai chối cãi được“. Nhưng vì lợi ích, nên nhiều quyền tạo hoá ngay cả khi được thừa nhận, như trường hợp đã được ghi vào Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cách mạng Pháp năm 1791, nhà nước thực dân Pháp vẫn „mang lá cờ bình đẳng bác ái (thừa nhận quyền tạo hoá) tới cướp đất nước ta áp bức đồng bào ta (chống lại quyền tạo hoá của dân bản xứ, vì lợi ích của nhà nước Pháp)“. Vì vậy quyền tạo hoá chỉ được bảo đảm khi và chỉ khi hiến pháp và luật chế tài được nhà nước phải phục vụ cho mục đích đó, chứ không phải ngược lại như luật của thực dân Pháp sinh ra để chế tài đồng bào ta phục vụ chế độ thực dân của chúng. Theo luật học, đó chính là bản chất nhà nước pháp quyền (mà nước ta đang đeo đuổi), dựa trên nguyên lý bất di bất dịch: “nhà nước chỉ được làm những gì luật (tức văn bản lập hiến và lập pháp) cho phép, và người dân được làm tất cả chỉ trừ những gì luật cấm“ (3). Chứ không phải ngược lại, người dân bị cấm tất cả trừ khi có luật cho phép (4).      Ở nước ta, quyền biểu tình được mặc định trong Hiến pháp 1946 (nghĩa là không có điều khoản biểu tình nhưng cũng không có điều khoản cấm nó), được hiến định trong Hiến pháp năm 1959, tại Điều 25: “Công dân nước VNDCCH có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Tới Hiến pháp 1980, được hiến định tại  Điều 67, với giới hạn “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân…”.  Tương tự, đến Hiến pháp 1992, Điều 69 giới hạn, “biểu tình theo quy định của pháp luật”. Tiếp tới Hiến pháp 2013, Điều 25 cũng giới hạn: „Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.      Điều 2 Hiến pháp 2013 hiến định nước ta là “nhà nước pháp quyền“, tức tuân theo tiêu thức (3), chứ không thể (4). Vì vậy giới hạn quyền biểu tình quy định tại Điều 25, Hiến pháp 2013 không mang nghiã “chừng nào chưa có luật biểu tình thì chừng đó người dân không có quyền biểu tình“, (đã là quyền tạo hoá thì tương tự như trong luật giao thông đường bộ, không người dân nào phải ngồi ở nhà chờ cho tới khi có luật ban hành mới ra đường cả, hay tự do hôn nhân  chẳng ai phải chờ có luật mới cưới cả), mà đặt ra một trách nhiệm hiến định cấp bách cho nhà nước phải ban hành luật biểu tình, để xác định nhà nước được phép làm những gì đối với hoạt động biểu tình và người dân khi biểu tình phải tránh những gì bị cấm, nếu không nhà nước „bó tay“ bởi đơn giản thiếu luật chế tài, đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự, buộc cả hai bên phải tuân thủ.Có thể tham khảo Hiến pháp CHLB Đức ban hành năm 1949, Điều 8 quy định quyền biểu tình phần nào tương tự ta: “(1) Tất cả người Đức có quyền tập họp ôn hoà không có vũ khí, không cần báo trước hay xin phép.  (2) Tập họp ôn hoà ngoài trời có thể bị giới hạn bởi 1 văn bản lập pháp“. Tới 4 năm sau, ngày 24.7.1953, họ mới có luật biểu tình. Trong khoảng 4 năm đó, người dân bất cần đến luật biểu tình, biểu tình hoàn toàn tự do; nhà chức trách chỉ được phép can thiệp khi có hành vi hình sự và do toà án phán quyết, chứ không phải nhà nước muốn làm gì thì làm. Mặt khác, dù hiến pháp cho phép Luật biểu tình Đức đưa ra giới hạn nhưng hoàn toàn không có nghĩa muốn giới hạn thế nào và tới đâu cũng được, mà phải tuân theo các tiêu thức (1) và (2) được hiến định tại Điều 19: “Khi giới hạn quyền cơ bản không bao giờ được phép vi phạm bản chất quyền đó“ (5). Nếu không quyền tạo hoá chỉ hữu danh vô thực.      Có thể tham khảo những Điều khoản chung Luật biểu tình Đức để thấy ngưỡng giới hạn ở họ đáp ứng tiêu thức (5) như thế nào: “Điều §1 (1) Ai cũng có quyền tổ chức tập họp và tham gia biểu tình.  (2) Không có quyền đó, gồm những: 1- Ai chống lại quyều cơ bản về tự do biểu tình được ghi tại điều 8 Hiến pháp. 2- Ai ủng hộ mục đích của những đảng bị  toà án hiến pháp tuyên phán vi phạm hiến pháp… Điều § 2 (1) Ai công khai mời gọi tham gia tập họp, người đó là người tổ chức và phải nêu rõ tên khi mời. (2) Khi tổ chức tụ họp mỗi người đều có thể cấm những gây rối cản trở cuộc biểu tình tổ chức đúng luật này. (3) Không ai được phép mang theo vũ khí hoặc đồ vật có thể gây thương tích hoặc hư hỏng đồ vật mà không được phép của cơ quan chính quyền. Cùng cấm tương tự như vậy khi mang theo trên đường đi tới chỗ biểu tình để chuẩn bị hoặc phân phát cho biểu tình.  Điều § 3 (1) Cấm sử dụng sắc phục để thể hiện quan điểm chính trị. (2) Hội đoàn thanh thiếu niên mang đồng phục phải đệ đơn xin giấy phép miễn cấm ở điều (1). Thẩm quyền quyết định bởi Bộ nội vụ Liên bang hoặc Thủ hiến tiểu bang, và công bố trên công báo“.         *Những tranh cãi cần được hoá giải     Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhiệm kỳ 13 chiều 28/9/2011, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề xuất xây dựng Luật Biểu tình để điều chỉnh vấn đề thực tế đang đòi hỏi. Thủ tướng đã giao Bộ Công an soạn thảo luật này.      Ba năm sau, chiều 30.5.2014, Quốc hội biểu quyết thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, trong đó có Luật biểu tình, với 424/436 (85,14%) phiếu thuận. Theo đó, Luật biểu tình sẽ cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, và thông qua tại kỳ họp thứ 10.     Như vậy sau tới 3 năm khởi sự tính từ khi Thủ tướng đề xuất đến nay vẫn, có tới 14,86% đại biểu không thấy cần luật biểu tình, dựa trên những tiêu thức:     – „Nhu cầu cuộc sống là có nhưng bộ phận soạn thảo Luật Biểu tình chưa sẵn sàng“. Vô hình dung lấy năng lực của bộ phận soạn thảo vốn là công bộc của chủ nhân người dân làm thước đo quyết định ban hành luật biểu tình hay không, chứ không lấy tiêu thức (2),(3), (4) để đối chiếu.      – „Có Luật Biểu tình thì ở mức cao hơn nhưng cũng không ngoài nội dung bảo vệ trật tự nơi công cộng“. Hoàn toàn sai với tiêu thức (1),  trật tự công cộng là đối tượng điều chỉnh của luật hình sự, giao thông, không phải đối tượng của luật biểu tình.     – “Luật Biểu tình được đề xuất rất nhiều nhưng trong tình hình hiện nay không nên đưa ra vì nó rất nhạy cảm“. Vi phạm tiêu thức (2). Chế độ thực dân tước đoạt quyền tạo hóa dân thuộc điạ nên luôn phải đối phó với đấu tranh chống bất công, mà vẫn thừa nhận quyền biểu tình, không hề coi nó là nhạy cảm để không ban hành, thì không lý do gì khi chúng ta đã giành chính quyền về tay nhân dân lại coi quyền tạo hoá của dân là nhạy cảm cả.      – “Biểu tình quy định trên giấy tờ là đi đứng thế nào, biểu ngữ ra sao… nhưng khi ra đấy biểu ngữ trong người họ đưa ra, rồi lời nói ra, ai kiểm soát được”. Giao thông nước ta năm 2013 gây ra  29.385 vụ tai nạn, làm chết 9.369 người, nhưng chắc không ai lấy đó làm tiêu thức tai nạn không „kiểm soát được“ để đòi hủy luật giao thông hay cấm giao thông cả. Ở đây còn thuộc lĩnh vự tư tưởng, mà Mác từng bác bỏ: „Đừng vì chậu nước bẩn mà hắt luôn cả đứa bé đang ngồi tắm trong đó“.     Nếu một số đại biểu quốc hội vẫn còn nhận thức sai về biểu tình như vậy, thì cả về trách nhiệm lẫn thẩm quyền theo đúng hiến pháp 2013 là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng của truyền thông để thay đổi nhận thức sai trên đối với quy luật xã hội về quyền tạo hoá và nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm quyền đó; mặt khác Quốc hội cần tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội đón bắt được ý nguyện người dân, ra sức tiếp cận với khoa học thông qua „đặt hàng“ nghiên cứu tại các cơ quan khoa học, có bộ máy giúp việc trình độ đại học hỗ trợ. Nếu không, không chỉ mục tiêu luật biểu tình thông qua 2015 chưa chắc đã đạt, mà nhiều cải cách, chủ trương, chính sách trọng đại khác cũng chịu rủi ro do chính nhận thức chủ quan của đại biểu; vốn theo luật định, ở quốc gia nào cũng vậy cả, họ không chịu trách nhiệm pháp lý với biểu quyết của mình, nhưng lại quyết định cả số phận từng người dân lẫn tiền đồ vận mệnh cả đất nước, dân tộc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh chấp biển Đông và hội nhập tư pháp quốc tế      Tranh chấp Việt-Trung liên quan tới biển  Đông, Hoàng Sa, Trường Sa bùng phát khi ngày 1.5.2014 Trung Quốc hạ đặt  giàn khoan Hải Dương 981(HD981) trong vùng biển đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý của  Việt Nam xuất phát từ tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa tồn tại  nhiều thập niên nay do lịch sử để lại không giải quyết dứt điểm.     Mục đích chiến lược độc chiếm biển Đông  Do hai bên thoả thuận theo nguyên tắc hoà bình vốn chỉ áp dụng đối với người thiện chí, giữ tín: “dễ trước khó sau”, chứ không dùng biện pháp chắc chắn triệt để, nền tảng gốc rễ giải quyết trước, ngọn râu ria sau; tin tưởng nhau “giữ nguyên hiện trạng” vô hình trung giữ nguyên tranh chấp tiềm ẩn chứ không cảnh giác loại trừ mọi xung đột có thể nảy sinh từ hiện trạng; và “không liên minh, liên kết với nước nào, để chống nước khác” vốn được ưa trọng trong một thế giới không tranh chấp, và khi xảy ra cũng chẳng liên quan tới lợi ích nước mình. Trong khi đó, Trung Quốc dù thương lượng kiểu gì thì cũng chỉ là phương tiện nằm đạt mục đích chiến lược độc chiếm biển Đông (xem các tuyên bố của họ), với tiềm lực quân sự, kinh tế vượt trội, bằng mọi thủ đoạn thời chiến, đánh đàm, hoà chiến, mưu mô kiểu “Tam Quốc” (vụ tranh chấp bãi cạn với Philipin là điển hình, thoả thuận cùng rút, nhưng rốt cuộc Trung Quốc ở lại), bất chấp các công ước quốc tế, mọi thoả thuận song đa phương, sẵn sàng hy sinh bất kỳ mối quan hệ nào, dù chính họ kêu gọi láng giềng hữu nghị, đồng chí, nâng lên tầm cao tới “bốn tốt”, “16 chữ vàng” làm “đại cục” – trong khi rắp tâm bội tín, biến nó thành “viển vông”. Trước phản ứng của Việt Nam đối với dàn khoan HD 981, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì vẫn khẳng định: Trung Quốc sẽ tiếp tục “sử dụng mọi biện pháp có thể” để bảo vệ chủ quyền và hoạt động của dàn khoan nằm hoàn toàn trong lãnh hải Trung Quốc. Cảnh báo Việt Nam sẽ hứng chịu hậu quả nặng nề nếu hợp tác với các nước khác như Hoa Kỳ để chống lại tuyên bố chủ quyền Trung Quốc, hay cùng Philippines kiện cáo. Còn phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đòi “Việt Nam phải đình chỉ quấy nhiễu, thổi phồng bất đồng, gây tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả các vụ bạo lực nghiêm trọng”.   Chiến lược độc chiếm trên không chỉ công khai bằng các tuyên bố, mà được triển khai bài bản trên thực điạ. Gần đây nhất, chỉ sau vụ đặt giàn khoan HD 981 một tháng, Trung Quốc đã khởi công xây dựng sân bay trên đảo Gạc Ma đánh chiếm của Việt Nam 1988. Một khi đi vào hoạt động, họ sẽ xác lập vùng nhận diện phòng không chiếm toàn bộ vùng trời Việt Nam khu vực đó. Tới giữa tháng trước, Trung Quốc làm lễ động thổ xây dựng trường học, bệnh xá trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa. Cùng lúc, đưa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào hệ thống quản lý đất đai, cho đăng ký quyền sở hữu sử dụng đất. Để chuẩn bị tiền đề cho nó, từ hai năm trước Trung Quốc đã lập đơn vị hành chính mới Tam Sa, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa với số dân 1.443 người, nhằm “lục điạ hoá” đảo không dân trước kia, “bê tông” hoá đường biên, để bảo đảm chủ quyền dù có bị bác bỏ cũng không thể thực thi, “quyền thực tế” vẫn thuộc họ. Giàn khoan HD 981 chỉ là bước thí điểm cho “kế hoạch triển khai chừng 50 dàn khoan nữa ở biển Đông” trong những năm tới. Chính vì vậy, ngay khi giàn khoan HD 981 di dời khỏi ngày 16.7.2014, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc “không đưa giàn khoan trở lại”, thì Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố thẳng thừng: “Chuyển giàn khoan là sắp xếp kế hoạch tác nghiệp trên biển của doanh nghiệp hữu quan, không liên quan với bất cứ nhân tố bên ngoài nào. Tác nghiệp kể trên hoàn toàn là công việc trong phạm vi chủ quyền Trung Quốc. Bước tới doanh nghiệp hữu quan sẽ nghiên cứu ấn định phương án làm việc cụ thể giai đoạn tới”.  Chiến lược và thực tiễn triển khai nhất quán, bất di bất dịch trên sẽ quyết định tính chất, mức độ yêu sách của Trung Quốc, và theo đó là nguy cơ biển Đông trong tương lai.  Hoàng Sa, Trường Sa và quyền luật định  Vụ tranh chấp Việt-Trung khởi phát lần này, cả hai đều khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình, “không thể tranh cãi”, “nhân nhượng” đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, trên cơ sở viện dẫn các nguyên tắc thiết lập chủ quyền trích lục từ Điều hai Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, Thỏa thuận cấp cao hai nước ngày 11/10/2011, Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC) ngày 4/11/2002. Cả hai đều liên tiếp gửi các kháng thư lên Liên Hiệp Quốc, khẳng định quyền luật định của mình, phản đối hành động bên kia xâm phạm, bằng cách đưa ra những cứ liệu lịch sử “không thể chối cãi”, bao gồm những điểm chủ yếu:   + Nguồn gốc lịch sử: Phía Trung Quốc đưa ra ghi chép lịch sử từ thời kỳ Bắc Tống (960-1127), đã thực thi chủ quyền đối với các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), nhưng không có bản đồ xác định rõ đảo nào, ở đâu, hay chỉ đơn giản mấy đảo ven biển phía Nam. Tấm bản đồ tỉnh Quảng Đông xuất bản năm 1897 cũng chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam. Tới năm 1909 khi phát hiện một doanh nhân Nhật đang khai thác phân chim trên quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) giữa Hồng Kông và Đài Loan, tổng đốc tỉnh Quảng Đông mới tổ chức thám hiểm tới quần đảo Hoàng Sa do hai người Đức dẫn đường ngày 6.6, lấy đó làm cơ sở lịch sử cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.   Lịch sử Việt Nam ít nhất từ thế kỷ XVII, nhà Nguyễn đã thành lập hải đội Hoàng Sa để khai thác kinh tế và quản lý nhà nước đối với hai quần đảo. Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây chùa “Hoàng Sa tự” và đặt tượng đá trên quần đảo Hoàng Sa.   + Các tuyên bố và hành xử: – Ngày 8.3.1921, Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Pháp. – Ngày 30.3.1921, chính quyền quân sự miền Nam Trung Quốc ra quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào đảo Hải Nam, khởi đầu tranh chấp với Pháp chủ quyền đối với Hoàng Sa, và từ thập niên 1930 với quần đảo Trường Sa; đến năm 1937 bị Pháp yêu cầu đưa ra trọng tài Quốc tế giải quyết nhưng Trung Quốc từ chối. – Năm 1932, Pháp sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Đặt trạm khí tượng trên đảo Phú Lâm, Hoàng Sa. – Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố bản đồ nước họ bao gồm cả bốn quần đảo trên Biển Đông. – Năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra đồn trú ở quần đảo Hoàng Sa. – Tháng 1.1947, Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm; Pháp phản đối đồng thời cho quân chiếm giữ đảo Hoàng Sa (Pattle). – Ngày 1.12.1947, Tưởng Giới Thạch ký sắc lệnh đặt tên Trung Quốc cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tuyên bố chúng thuộc lãnh thổ Trung Quốc. – Ngày 14.10.1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại. – Năm 1956, Trung Quốc cho quân chiếm giữ tiếp phía Đông quần đảo Hoàng Sa. – Tháng 4.1956, Pháp rút khỏi Đông Dương trao lại quân đội VNCH tiếp quản nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. – Ngày 22.8.1956, Tàu HQ04 VNCH ra quần đảo Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, để bảo vệ trước hành động xâm chiếm của Đài Loan và Philippineses. – Ngày 20.10.1956, VNCH đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy, và tới ngày 13.7.1961, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. – Từ 17. 01 đến 20.01.1974, Trung Quốc đánh chiếm nốt nhóm đảo phía Tây độc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. – Ngày 19.01.1974, Bộ Ngoại giao VNCH tuyên cáo kêu gọi thế giới lên án Trung Quốc. Sau đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố, yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng thương lượng. – Từ ngày 13-28.4.1975, Quân giải phóng miền Nam tiếp quản các đảo có quân đội VNCH đóng giữ. – Ngày 05.06.1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và tới ngày 12.11.1982, Chính phủ Việt Nam đều tuyên bố khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. – Ngày 14.3.1988, Trung Quốc đánh chiếm bãi đá Cô Lin, bãi đá Len Đao và bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam quản lý.   + Các hội nghị quốc tế: – Trước và sau khi Nhật Bản đầu hàng, Tuyên bố Cairo 1943, và Tuyên bố Postdam năm 1945 (có Trung Quốc tham dự) về các quần đảo Nhật chiếm ngoài khơi Thái Bình Dương từ năm 1914 đều không nhắc đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. – Tới Hội nghị San Francisco ký Hòa ước với Nhật, ngày 5.9.1951, với đại diện 51 nước tham dự, đã bác bỏ đề nghị của Ngoại trưởng Liên Xô thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo phía Nam. Đến ngày 7.9, Thủ tướng VNCH Trần Văn Hữu tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, không một nước nào phản đối. Hội nghị Genève lập lại hoà bình ở Đông Dương (1954) có cả Trung Quốc và Việt Nam tham dự khẳng định Việt Nam độc lập và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.  + Bảo vệ và bác bỏ: Trong cuộc chiến pháp lý, hiển nhiên các bên không chỉ đưa bằng chứng bảo vệ quyền luật định của mình mà còn tìm mọi bằng chứng lợi thế bác bỏ quyền của đối phương dù giá trị của nó do toà án định đoạt.   – Nhằm mục đích đó, Trung Quốc viện dẫn như: – Phát biểu cá nhân của Thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm ngày 16.5.1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân liên quan tới chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. – Văn bản ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai về tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc ngày 4.9.1958 (vốn diễn ra trong bối cảnh chiến tranh lạnh về ý thức hệ và chỉ nhằm mục đích đó, không trực tiếp liên quan tới tuyên bố chủ quyền hai quần đảo). – Tuyên bố ngày 9.5.1965 của Chính phủ VNDCCH về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam (cũng chỉ liên quan tới cuộc chiến lúc đó). – Tập “Bản đồ Thế giới” do Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam xuất bản tháng 5.1972 (chỉ đơn giản gọi tên hai quần đảo bằng tiếng Trung). – Sách giáo khoa Địa lý lớp 9 Việt Nam xuất bản 1974, giới thiệu “nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” có cả Hoàng Sa, Trường Sa (vốn không phải bằng chứng pháp lý về tuyên bố chủ quyền).  – Phía Việt Nam viện dẫn: – Cuối thế kỷ 19, hai tầu Bellona và Umeji Maru bị đắm và cướp ở Hoàng Sa đòi Trung Quốc bồi thường, nhưng bị từ chối không thuộc chủ quyền họ. – Năm 1975, Đặng Tiểu Bình trao đổi với TBT Lê Duẩn, tranh chấp biển Đông sẽ thực hiện theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị. Nguyên tắc đó cũng được thể hiện trong bị vong lục Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12.5.1988, nghĩa là thừa nhận tranh chấp và cam kết không sử dụng vũ lực. – Bác bỏ các viện dẫn sai lệch của Trung Quốc về Công thư Phạm Văn Đồng cùng các ấn phẩm bản đồ, sách báo Việt Nam liên quan.    Quyền án định  Tranh chấp biển Đông: 1- trực tiếp liên quan tới chủ quyền quốc gia của năm nước sáu bên tham gia; 2- chủ quyền này có đặc trưng được xác lập không do dân bản điạ mà từ thực tế chiếm hữu sử dụng đảo (chính vì thế nó nằm ngoài quy luật đấu tranh giành độc lập như ở các nước thuộc điạ trước đây, đời này không giành được thì đời sau); 3- kéo dài hàng thế kỷ nay, chỉ bởi thiếu thoả thuận, hiệp định, công ước, hay án định có hiệu lực chế tài ngăn ngừa; 4- kết qủa, chừng nào các bên tranh chấp không tự ký kết các thoả hiệp phận định chủ quyền hoặc không đạt được quyền án định thì chừng đó vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ bất cứ lúc nào cũng có thể bùng nổ chiến tranh, phủ định quyền luật định của nhau, nhất là khi tiềm năng lợi ích khai thác tỏ ra vượt trội so với phí tranh chấp bỏ ra; 5- mà kết cục phần thắng hoặc vai trò quyết định, tất yếu sẽ thuộc về kẻ mạnh. Với chiến lược độc chiếm biển Đông cùng thực tiễn triển khai nó, đồng thời từ chối mọi đàm phán đa phương, quốc tế, Trung Quốc không ngoài chủ đích sử dụng quy luật tất yếu trên. Vì vậy, nếu tương lai ngắn hạn trước mắt không thể đạt được một thoả ước phân định chủ quyền biển đảo có hiệu lực tương tự như một hiệp định cắm mốc biên giới với Trung Quốc, thì các bên tranh chấp khác không còn con đường nào khác ngoài nhanh chóng tìm kiếm quyền án định ở các toà án quốc tế.   Các án lệ quốc tế cho thấy không thiếu những toà án, trọng tài quốc tế tin cậy có thể thụ lý xét xử từng phần (như đòi Trung Quốc rút giàn khoan, cấm sử dụng bạo lực…) hoặc tổng thể (đòi thừa nhận chủ quyền đảo, vùng đặc quyền kinh tế) liên quan tới tranh chấp biển Đông hiện nay, được nhiều chuyên gia cả trong lẫn ngoài nước để cập chi tiết, như: Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) cơ quan xét xử chính của Liên Hiệp Quốc, Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Toà án Trọng tài quy định tại Phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Toà án Trọng tài Đặc biệt quy định tại Phụ lục VIII của UNCLOS.  Quyền án định thông qua toà án, trọng tài quốc tế phán quyết, được coi là công lý quốc tế, thế giới ủng hộ, dù mỗi bên có bị thiệt hay lợi phần nào so với quyền luật định. Khi và chỉ khi đó, mới có thể chấm dứt được tranh chấp, dập tắt nguy cơ chiến tranh địch hoạ gây tang tóc, điêu linh cho dân chúng, bảo đảm quyền luật định tương quan cho mọi bên tranh chấp. Chậm ngày nào, ngày đó nguy cơ mất thêm quyền luật định biển đảo càng cao, cho tới mất hoàn toàn. Quy luật này đúng ngay cả trong quan hệ gia đình, người vợ nào để cho chồng đánh được một lần mà không bị hề hấn gì, thì người đó sẽ bị đánh suốt đời. Giàn khoan Trung Quốc HD 981 đã kéo sâu vào vùng đặc quyền kinh tế EEZ Việt Nam được một lần “n” thành công, thì không có lý gì không lặp lại lần “n+1” tại bất cứ ở đâu, chỉ cần lấy đảo đánh chiếm được làm tâm quay một vòng tròn bán kính 200 hải lý. Và nếu sau này giả định có đạt được quyền án định đi chăng nữa, thì quyền thực tế cũng mất nốt, nếu Trung Quốc lấn lướt tiếp, chiếm hữu lâu dài trên thực tế, như trường hợp quá hạn đòi nợ 30 năm nêu ở dẫn liệu phần I.  Quyền thực tế  Một khi đã chọn toà án làm cán cân công lý thì phải chấp nhận phán quyết dù có bị thua thiệt so với quyền luật định. Nhưng chắc chắn thua thiệt đó bù đắp được cái giá tranh chấp phải trả nếu không có quyền án định – ít nhất đúng với bên yếu. Ngay cả khi một bên không tham gia kiện hoặc tham gia nhưng không thừa nhận án quyết, thậm chí ngay cả ra án quyết cũng không có chế tài thi hành án, tức bên thắng không giành được quyền thực tế ngay, thì vẫn giành được điều quý giá nhất làm nền tảng – công lý, thế giới ủng hộ. Chỉ khi đó mới có thể nói tới chính nghĩa, tranh thủ được quốc tế, huy động được đồng thời cả ba yếu tố, thiên thời, điạ lợi, nhân hoà để tiếp tục đấu tranh giành quyền thực tế.   Trên thực tế, ngay cả toà Công lý Quốc tế ICJ cũng không ít phán quyết không được một bên ủng hộ, như án quyết năm 1971 đòi Nam Phi ngừng chiếm đóng Namibia, bị Nam Phi khước từ, nhưng rốt cuộc Namibia vẫn giành được độc lập năm 1990. Hay hai năm sau đó, 1973, Pháp chống lại phán quyết tạm thời của ICJ đòi ngừng thử vũ khi hạt nhân trên đảo thuộc họ chiếm đóng Mururoa-Atoll, ở Thái Bình Dương. Nhưng tới năm 2000, dưới áp lực quốc tế, Pháp cũng phải tự rút khỏi quần đảo này.  Phần lớn các án quyết ICJ đều mang ý nghĩa quốc tế quan trọng, bảo đảm công lý và chấm dứt vĩnh viễn tranh chấp quốc gia, tránh nguy cơ chiến tranh, như án quyết năm 1980 đứng về phiá Mỹ chống Iran bắt giam nhân viên ngoại giao Mỹ. Hay bản án giải quyết phần đất tranh chấp giữa hai nước Tunesien và Libyen. Án quyết giải quyết tranh chấp lãnh hải giữa Mỹ và Canada vùng Maine-Golf.   Tranh chấp biển giữa hai quốc gia gần đây nhất được ICJ phán quyết là giữa Romania và Ukraina đối với vùng biển Đen năm 2009. Theo đó, Romania được quyền chiếm hữu 79,34% diện tích tranh chấp có trữ lượng khí đốt tới 70 tỷ m3. Cả hai đều hoan nghênh, Ruamani coi mình đã giành được thắng lợi, còn Ukraina phát biểu hài lòng.  Liệu năm nước và sáu bên tranh chấp hiện nay, nhất là Việt Nam và Philippines đang trực diện với Trung Quốc, có tin tưởng, quyết tâm theo đuổi một phán quyết như thế đối với vùng biển đảo tranh chấp!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ cuối)      Philippines, Malaysia và Brunei đều có luận thuyết riêng trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất.     III. Luận thuyết của các nước khác  1) Luận thuyết của Philippines      Philippines có yêu sách đối với khoảng 60 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa.1  Yêu sách đầu tiên được Thomas Cloma, một công dân Philippines, đưa ra vào năm 1947 khi ông tuyên bố phát hiện ra một nhóm đảo, đá nằm cách bờ Tây đảo Palawan 300 hải lý.      Ngày 17.5.1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo của quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines. Tuyên bố này đã bị các nước có liên quan phản đối.      Mãi đến tháng 3.1956, Thomas Cloma mới tiếp tục việc “phát hiện” nhóm đảo này. Ông cử một nhóm 40 thủy thủ đổ bộ lên các đảo của quần đảo Trường Sa với mục đích tiến hành chiếm hữu chính thức. Họ cắm cờ Philippines lên một số đảo, trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba)2. Ngày 11.5.1956, họ tuyên bố các đảo họ đã chiếm đóng được đặt tên là Kalayaan (Đất Tự do), còn Thomas Cloma tự phong mình là Chủ tịch Hội đồng Tối cao Nhà nước Kalayaan3. Tuyên bố này đã bị các nước liên quan phản đối.4       Ngày 15.5.1956, Thomas Cloma gửi thư cho bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Philippines thông báo về việc chiếm giữ vùng lãnh thổ rộng 64.976 dặm vuông ở phía Tây Palawan, nằm ngoài các vùng nước của Philippines và không thuộc quyền tài phán của bất cứ nước nào và yêu sách chiếm hữu vùng lãnh thổ này dựa trên quyền phát hiện và chiếm đóng, đồng thời gửi kèm theo bản đồ. Tuy tên của các đảo bị thay đổi hoàn toàn, nhưng bản đồ cho thấy Kalayaan bao gồm phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.5      Trong họp báo ngày 19.5.1956, bộ trưởng ngoại giao Philippines khẳng định rằng nhóm đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa phải thuộc chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Sài Gòn, Bắc Kinh và Đài Loan đều phản đối tuyên bố này. Đài Loan có ý định cử thủy quân đến Trường Sa. Manila lập tức thông báo với Đài Loan và Việt Nam rằng Philippines chưa có yêu sách chính thức về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này.      Ngày 6.7.1956, Thomas Cloma lại gửi thư cho yêu cầu chính phủ Philippines cho Kalayaan được hưởng chế độ bảo hộ. Trong công văn trả lời T. Cloma, bộ trưởng ngoại giao Philippines cho rằng ngoài nhóm 7 đảo mà quốc tế gọi là Trường Sa (Spratly), các đảo khác đều là lãnh thổ vô chủ (terra nulius), do đó mọi công dân Philippines cũng như công dân các nước khác đều có quyền tự do khai thác kinh tế và định cư.      Đáp trả “sự kiện T. Cloma”, Việt Nam đã cử tàu tuần tra đến quần đảo Trường Sa vào tháng 8.1956.      Ngày 1.10.1956 xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa hải quân Đài Loan và nhóm người của T. Cloma ở North Danger Shoal. Người của T. Cloma bị tịch thu hết vũ khí. Chính phủ Philippines hoàn toàn không can thiệp.      Vào thời kỳ 1970-1971, các đơn vị thủy quân Philippines theo lệnh của tổng thống F. Marcos đã chiếm một số đảo của Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn và South Rock. Philippines cũng tổ chức tuần tra trên một loạt đảo và đá nhỏ ở phía Đông Bắc quần đảo.6  Năm 1971, Philippines một lần nữa cố chiếm đảo Ba Bình nhưng thất bại. Chính quyền Philippines phản đối sự chiếm đóng của Đài Loan với các lý do: a) Philippines có danh nghĩa chủ quyền dựa trên sự phát hiện của T.Cloma; b) Trung Quốc chiếm đóng de facto một số đảo nằm dưới sự kiểm soát của các nước đồng minh mà không cho các nước này được biết; c) nhóm đảo Trường Sa nằm trong vùng nước quần đảo của Philippines7. Cùng với sự phản đối, Philippines tăng cường quân số trên các đảo lên 1.000 người. Một sân bay đã được xây dựng trên đảo Thị Tứ.      Năm 1974 Thomas Cloma chuyển giao “chủ quyền” Kalayaan cho chính phủ Philippines. Đến thời điểm này, Philippines kiểm soát 4 đảo.8      Năm 1978, Philippines đặt quân đội trên 7 đảo của Trường Sa. Ngày 11.6.1978, tổng thống Philippines sát nhập 7 đảo này vào lãnh thổ Philippines bằng sắc lệnh số 15969, sắc lệnh này đồng thời khẳng định các đảo này “về mặt pháp lý không thuộc bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, giờ đây phải thuộc về Philippines và nằm dưới quyền tài phán của Philippines nhờ sự chiếm cứ và quản lý hiệu quả theo đúng luật quốc tế”. Sắc lệnh cũng quy định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo này.10      Ngày 14.9.1979, tổng thống Philippines tuyên bố rõ Philippines sẽ tiếp tục yêu sách chủ quyền đối với 7 đảo họ đang chiếm đóng chứ không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa. Trong cuộc họp báo này, tổng thống Philippines nhắc lại nhóm 7 đảo này là vùng lãnh thổ chưa có người chiếm đóng, chưa được biết đến và chưa có người ở, thậm chí chưa được đánh dấu trên các bản đồ trước Thế chiến II, và Philippines chiếm cứ chúng như lãnh thổ vô chủ (terra nullius).      Ngày 10.3.2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9.522 về đường cơ sở, đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines. Hành động này của Philippines lập tức bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối.      Luận thuyết của Philippines không vững vàng ở chỗ nước này cho rằng các đảo mà mình chiếm giữ là lãnh thổ vô chủ và chưa được biết đến, nhưng trên thực tế, chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay cả khi bỏ qua các giai đoạn lịch sử xa xưa, quần đảo này đã được Pháp chiếm cứ hữu hiệu từ những năm 1930 (quân đội Pháp có mặt trên đảo Thị Tứ từ tháng 4.1933) và sau đó trao lại cho Việt Nam khi Pháp rời khỏi Đông Dương mà không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía các nước, trong đó có Philippines. Luật quốc tế cũng không quy định một lãnh thổ phải thuộc về một quốc gia chỉ vì nằm gần quốc gia đó nhất. Ngoài ra, việc chiếm đóng và các yêu sách của Philippines đối với nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay từ ban đầu luôn gặp sự phản đối từ phía các nước khác có liên quan, do đó khó lòng có thể nói đến một sự chiếm cứ hiệu quả và không có tranh chấp theo đúng các nguyên tắc của luật quốc tế.  2) Luận thuyết của Malaysia      Năm 1978, Malaysia đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo An Bang, Đá Kỳ Vân và đá Công Đo dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa.       Năm 1979, Malaysia công bố bản đồ trong đó một số đảo của Trường Sa được đánh dấu là lãnh thổ Malaysia.       Tháng 6.1983, Malaysia chiếm đóng quân sự đảo đầu tiên – Đá Hoa Lau – trong khu vực yêu sách. Tháng 9.1983, Malaysia chính thức tuyên bố nước này quyết định chiếm cứ bãi san hô ngầm James Schoal, Đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, Đá Kỳ Vân và khẳng định các đảo này nằm trong vùng được gọi là “vùng kinh tế biển” của Malaysia.  Tháng 12.1986, quân đội Malaysia11 chiếm đảo Đá Kỳ Vân và Kiêu Ngựa.      Tháng 6.1999, Malaysia mở rộng chiếm đóng ra Đá Én Ca và bãi Thám Hiểm, nâng tổng số các đảo bãi chiếm đóng của mình ở quần đảo Trường Sa lên bảy đảo, bãi.      Luận thuyết của Malaysia dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa. Tuy nhiên, điều 76 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ghi rõ: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”, hoàn toàn không liên quan đến các đảo, đá nổi lên mặt biển trong vùng thềm lục địa. Luận thuyết của Malaysia hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.   3) Luận thuyết của Brunei      Brunei chỉ yêu sách chủ quyền đối với đảo Louisa Reef, với luận thuyết đảo này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Brunei. Tuy nhiên, Công ước LHQ về Luật Biển 1982 chỉ công nhận quốc gia ven bờ có “chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió”, quyền tài phán trong việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị về công trình, quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học biển cũng như bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (điều 56). Việc yêu sách chủ quyền đối với các đảo chỉ vì chúng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế là một diễn giải sai lệch các quy định của Công ước. Do đó, luận thuyết của Brunei, tương tự như trường hợp Malaysia, là thiếu thuyết phục và không có cơ sở.      Ở đây, một câu hỏi có thể nảy sinh là: Louisa Reef có phải là một đảo theo qui định của luật quốc tế hay không? Bởi một quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền và thụ đắc chủ quyền đối với đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước). Nếu Louisa Reef là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, Brunei và các nước khác đều không thể yêu sách chủ quyền12. Khi đó nó sẽ là một phần vùng đặc quyền kinh tế mà Brunei có thể có các quyền giới hạn như đã nêu trên. Trong trường hợp này, một vấn đề nữa sẽ phải đặt ra là vùng đặc quyền kinh tế của Brunei có chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Malaysia đòi hỏi hay không.     IV.    Kết luận  Những phân tích trên đây cho thấy trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thực tế tranh chấp dai dẳng và phức tạp cũng như ý muốn của các bên khiến việc giải quyết tranh chấp bằng con đường pháp lý hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa, tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì tính chất phức tạp của nó, đòi hỏi một giải pháp tổng thể với các yếu tố pháp lý, lịch sử, chính trị, kinh tế. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, yếu tố pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông cần rất nhiều nỗ lực và thiện chí của các bên liên quan, đặc biệt là Trung Quốc, nước luôn phản đối việc đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án quốc tế bất chấp nhiều lần đề nghị của Việt Nam.   ——-  1. Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994), tr.111     2. Quốc Tuấn, „Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoaliên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975     3. Jan Rowinski, sđd    4. Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994, trang 62      5. Samuels Marwyn S., sđd  6. Jan Rowiński, sđd    7. Lee G. Cordner, sđd     8. International Herald Tribune, số ngày 28.3.1974    9. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91    10. Lee G. Cordner, sđd  11. Jan Rowiński, sđd  12. Xem các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp giữa Quatar và Barhan (http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7029.pdf ) và chủ quyền đói với đảo South Ledge trong tranh chấp giữa Malaysia và Singapore (http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14506.pdf )    Tài liệu tham khảo:  1.    Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.  2.    Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế, sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988  3.    Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay, Moscow, 1982  4.    Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit international, vol.21, 1975  5.    Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998  6.    Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press nr.7574, ngày 27.11.1971   7.    Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa, 1990  8.    Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982   9.    Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật Kinh tế biển Monaco, 2000  10.    Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994   11.    Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, tạp chí mạng Talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302)  12.    Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91  13.    Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981  14.    Dương Danh Huy, „Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai quốc gia Việt Nam trên hai miền Bắc, Nam”, trang web Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ngày 9.11.2011 (http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1288-trong-chin-tranh-54-75-co-mt-hay-hai-quc-gia-tren-hai-min-bc-nam )  15.    Từ Đặng Minh Thu, „Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.  16.    Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994)  17.    Quốc Tuấn, „Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975  18.    Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994  19.    Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ I)      Tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể xem như một trong những tranh chấp phức tạp, lâu dài nhất trong lịch sử luật quốc tế. Thực tế tranh chấp với nhiều khía cạnh lịch sử, pháp lý, chính trị v.v… đòi hỏi một nỗ lực tổng thể khi tìm hiểu. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, một cách khái quát, chúng tôi muốn trình bày và cân nhắc luận thuyết của các bên tranh chấp dưới ánh sáng luật pháp quốc tế.     Trong tranh chấp Hoàng Sa, các bên tranh chấp là Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều đòi hỏi chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo.      Tranh chấp Trường Sa bao gồm các bên Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei, trong đó Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đòi hỏi chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, Philippines (mới tham gia tranh chấp từ năm 1951) và Malaysia (từ năm 1978) đòi hỏi chủ quyền với một phần quần đảo, còn Brunei chỉ đòi hỏi một đảo (Louisa Reef, từ năm 1984).  I. Luận thuyết của Việt Nam        1. Từ thời kỳ nhà nước phong kiến, Việt Nam đã có danh nghĩa pháp lý đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius).       Theo luật quốc tế, bản thân quyền phát hiện đầu tiên một lãnh thổ vô chủ không đủ để tạo ra danh nghĩa pháp lý cho quốc gia phát hiện. Muốn thụ đắc chủ quyền, quốc gia này phải tiếp tục chiếm cứ hiệu quả lãnh thổ đó. Hai nguyên tắc cơ bản trong việc thụ đắc chủ quyền là nguyên tắc thực sự, tức là chiếm hữu thực sự lãnh thổ vô chủ, coi nó như một bộ phận lãnh thổ của mình và thực thi quyền hạn nhà nước, quản lý hành chính trong một thời gian hợp lý; và nguyên tắc công khai – việc chiếm hữu phải được các quốc gia khác công nhận.1 Một cá nhân hay một công ty không thể thụ đắc chủ quyền lãnh thổ.       Ngoài yếu tố vật chất (corpus), việc chiếm hữu thực sự đồng thời còn đòi hỏi yếu tố tinh thần (animus) nghĩa là ý chí của quốc gia muốn chiếm hữu lãnh thổ vô chủ.      Để chứng minh cho quyền phát hiện và chiếm hữu thực sự của mình, Việt Nam đã đưa ra các luận cứ sau:      – Nhà nước phong kiến Việt Nam đã biết đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi đó được gọi dưới tên chung là Đại Trường Sa, Hoàng Sa hay Vạn Lý Trường Sa và coi chúng là một phần lãnh thổ của mình.                – Trong suốt ba thế kỷ từ XVI đến XIX, chính quyền phong kiến Việt Nam đã thực thi liên tục chủ quyền của mình ít nhất là trên quần đảo Hoàng Sa bằng cách thường xuyên cử các đội thuyền Hoàng Sa và Bắc Hải đến các đảo này hàng năm, trong nhiều tháng, để khảo sát, đo đạc, khai thác tài nguyên một cách có hệ thống, thu lượm các tài sản chìm đắm, xây miếu dựng đền và trồng cây như các biểu tượng khẳng định chủ quyền, tổ chức thu thuế, cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn. Việc thực thi chủ quyền này diễn ra hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, và có đầy đủ cả yếu tố vật chất (corpus) lẫn tinh thần (animus).          Để chứng minh cho luận cứ này, Việt Nam đã đưa ra các nguồn tài liệu chính thức của nhà nước như Đại Nam thực lục tiền biên (1600-1775), Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630-1653), Phủ biên tạp lục (1776), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách địa lý lịch sử chung của Đại Nam 1865-1882), Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876), các châu bản triều Nguyễn về các bản tấu, phúc tấu, các dụ của các Vua, và hàng loạt bản đồ, tài liệu của nước ngoài thời kỳ đó.2      Các tác giả Jaseniew Vladimir và Stephanow Evginii trong cuốn “Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay”, sau khi trình bày các sự kiện cho thấy việc thực thi chủ quyền liên tục của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng nhấn mạnh: “từ lâu đời, chính quyền phong kiến Việt Nam đã sát nhập các quần đảo như Hoàng Sa và Trường Sa vào bên trong biên giới lãnh thổ nhà nước Việt Nam.”3   2. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ tại Việt Nam, Pháp đã đại diện cho Việt Nam trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo.       Năm 1899, toàn quyền Paul Doumer ra đề nghị chính phủ Pháp một hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, công việc này không thực hiện được vì thiếu ngân sách.      Ngày 8.3.1925, toàn quyền Đông Dương tuyên bố Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước Pháp.4 Các chuyến khảo sát và nghiên cứu khoa học đã được thực hiện ở quần đảo Hoàng Sa từ năm 1925 và ở Trường Sa từ năm 1927.5      Năm 1930, chính quyền Pháp ở Đông Dương cử phái đoàn đến treo cờ trên quần đảo Trường Sa. Sau đó, từ năm 1930 đến 1933, các đơn vị hải quân Pháp đã chiếm cứ các đảo chính của quần đảo này: đảo Trường Sa (13.4.1930), đảo An Bang (7.04.1933), đảo Ba Bình (10.4.1933), nhóm Hai Đảo (10.4.1933), Loai Tạ (11.4.1933), Thị Tứ (12.4.1933) cùng các đảo nhỏ xung quanh các đảo nói trên. Việc chiếm cứ này được thông báo trong Công báo của Cộng Hòa Pháp ngày 26 tháng 7 năm 1933 và Công báo Đông Dương ngày 25 tháng 9 năm 1933. Việc chiếm cứ này không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía Trung Quốc, Philippines, Hà Lan (khi đó đang chiếm Brunei) hay Mỹ. Nước Anh yêu cầu giải thích và tuyên bố thỏa mãn với hồi đáp của Pháp.6        Ngày 2.12.1933, Thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.       Ngày 30.3.1938 hoàng đế Bảo Đại đã ra chiếu chỉ sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Ngày 15 tháng 6 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương J. Brévié ra nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại Hoàng Sa. Sau đó chính phủ Pháp tiến hành chiếm cứ thực sự toàn bộ quần đảo. Một đội quân cảnh vệ được cử đến đồn trú thường xuyên tại đây. Vào năm 1938, bia chủ quyền được dựng lên với dòng chữ “Cộng Hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa, 1816 – đảo Hoàng Sa – 1938”. Một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến được đặt trên đảo Hoàng Sa7.       Năm 1939, Nhật chiếm đóng Trường Sa, đổi tên quần đảo thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan). Tháng 4 năm1939, Pháp gửi công hàm phản đối các hành động quân sự của Nhật và khẳng định quần đảo này là một phần lãnh thổ của An Nam8.       Ngay sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, chính quyền Pháp đã lập tức khôi phục lại sự có mặt của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1946, một phân đội của Pháp đã đổ bộ lên Hoàng Sa để chiếm lại quần đảo. Tháng 10 năm 1946, chiến hạm của Pháp mang tên “Chevreud” đã đến Trường Sa và đặt bia chủ quyền trên đảo Ba Bình9.       Cuối năm 1946, khi Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), Pháp đã phản đối và yêu cầu họ rời khỏi quần đảo.       Như vậy, với tư cách nhà nước bảo hộ đại diện cho quyền lợi của An Nam, chính phủ Pháp không hề từ bỏ mà vẫn thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa một các liên tục. Đối với Trường Sa, Pháp coi đây là lãnh thổ vô chủ và đã chiếm cứ thực sự trước khi các nước khác có mặt trên quần đảo này mà không gặp sự phản đối đáng kể nào từ phía các quốc gia khác.  3. Chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được thực thi và bảo vệ sau khi Pháp rời khỏi Đông Dương            Ngày 14.10.1950, chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý hai quần đảo.       Trong phiên họp thứ 7 tại Hội nghị hòa bình San Francisco vào ngày 7.9.1951, đại diện Quốc Gia Việt Nam (chính quyền Bảo Đại) là thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Trần Văn Hữu đã chính thức tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có một phản đối hay bảo lưu nào từ phía 51 nước tham dự Hội nghị. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều vắng mặt trong hội nghị này.10 Tuy nhiên, Trung Quốc bảo lưu yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15.8.1951.      Sau Hiệp ước Geneva năm 1954, hai quần đảo được Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. Ngày 22 tháng 8 năm1956, sau khi quân Pháp rút đi, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa và đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp này.11       Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, với tư cách người thừa kế danh nghĩa pháp lý cùng các quyền và yêu sách của Pháp, đã liên tục tiến hành quản lý hành chính, khảo sát, khai thác và bảo vệ hai quần đảo bằng các hành động như: cắm cờ, lập bia chủ quyền trên quần đảo Trường Sa (8.1956), sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam (7.1961), khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo bằng thông cáo của Bộ Ngoại Giao ngày 15 tháng 7 năm 1971, sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy (9.1973), cấp phép cho khai thác phân chim, bắt giữ nhóm quân Trung Quốc giả dạng ngư dân xâm chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa (2.1959). Tháng 1 năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ các đảo Hoàng Sa, chính quyền đã phản ứng mạnh mẽ và tận dụng mọi cơ hội để khẳng định chủ quyền của mình như: gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo An và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đề nghị can thiệp, tuyên bố khẳng định chủ quyền tại Hội nghị Ủy ban Kinh tế Viễn Đông (3.1974) và tại Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp Quốc về Luật Biển tại Caracas (7.1974), công bố sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa (2.1975).     4. Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời ngày 2.7.1976 là bên kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó, tiếp tục sở hữu danh nghĩa pháp lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho đến nay.                Thực thi chủ quyền của mình, Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (12.1982), lập thị trấn Trường Sa bao gồm quần đảo Trường Sa, thị xã Cam Ranh và các đảo phụ cận (4.2007), liên tục có quân đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Các lãnh đạo của Việt Nam tiến hành các chuyến đi thăm và khảo sát quần đảo Trường Sa nhằm khẳng định chủ quyền như: các chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Quyết, tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Đoàn Khuê vào tháng 5.1988, chuyến thăm của ủy viên Bộ Chính trị Phạm Thế Duyệt vào tháng 4.1998.   Đón đọc kỳ II: Luận thuyết của Trung Quốc và Đài Loan  —  Chú thích:  * Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, Thạc sĩ ngành Công pháp quốc tế, Đại học Warszawa  Tác giả xin trân trọng cảm ơn các góp ý của TS. Dương Danh Huy, TS. Nguyễn Đức Hùng và TS. Lê Vĩnh Trương cho bài viết này.     1. Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.   2. Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế, sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988   3. Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay, Moscow, 1982  4. Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit international, vol.21, 1975  5. Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998  6. Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press nr.7574, ngày 27.11.1971  7. Monique Chemillier-Gendreau, sđd  8. Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa, 1990  9. Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982   10. Rowiński Jan, sđd  11. Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật kinh tế biển Monaco 2000      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ II)      Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong phần dưới đây.      II. Luận thuyết của Trung Quốc và Đài Loan  1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius)            Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN)1. Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao, “phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác.”2 Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn.3             Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính), các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số 1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam).4      Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật quốc tế đòi hỏi.      Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:       – Các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ sở Vũ Kinh tổng yếu (chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông).5 Theo Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.     – Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn, trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.      – Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.       – Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý.6      Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của luật quốc tế. “Chúng không chứng minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền”.7        Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả, giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: “dù sao đi nữa, luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung Quốc.”8  2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945       Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc.9 (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát.10      Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các cường quốc công nhận.       Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan).      Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.      Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.  3. Thời kỳ sau 1945      Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6.1946, quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào tháng 1.1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.      Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền.      Tháng 10.1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5.1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.       Tháng 4.1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh)11.       Ngày 4.9.1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.       Ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.       Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm này (tháng 1.1974) “Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó.”12            Tháng 2.1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo trên quần đảo Trường Sa.13      Tháng 3.1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo nào cho mãi đến tận năm 1988.14       Tháng 4.1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.      Tháng 5.1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.15      Tháng 2.1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ của Philippines trên quần đảo Trường Sa.      Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24.10.1970 cũng đã ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.   4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá trị pháp lý:          Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian chiến tranh 1954-1975.       Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn về luật quốc tế.   Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan điểm của mình.       Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin.16       Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế, như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời điểm 30.4.1975.       Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14.9.1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?      Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c) bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và trường kỳ.17      Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các tuyên bố đó.       Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.    —  1. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994   2. Nguyễn Hông Thao, sđd  3. Monique Chemillier-Gendreau, sđd,   4. Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302 )  5. Monique Chemillier-Gendreau, sđd  6. Nguyến Hồng Thao, sđd  7. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91, tr.40.   8. Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981, tr.8-13  9. Monique Chemillier-Gendreau, sđd  10. Nguyễn Hồng Thao, sđd  11. Monique Chemillier-Gendreau, sđd  12. Rowiński Jan, sđd  13. Monique Chemillier-Gendreau, sđd  14. Rowiński Jan, sđd  15. Monique Chemillier-Gendreau, sđd         16. Dương Danh Huy, sđd  17. Từ Đặng Minh Thu, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.        Author                Quản trị        
0.37777777777777777
__label__tiasang       Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh luận tại nghị trường      Cho đến nay, hoạt động tranh luận ở nghị trường, vẫn còn tồn tại không ít các vấn đề, tuy nhiên, thành tựu đạt được là rất đáng được ghi nhận. Đây là một dấu mốc quan trọng trên con đường tiến tới chuyên nghiệp của Quốc hội nước ta.      Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long ngày 19/3, trong phiên họp thứ 22 của UB Thường vụ Quốc hội. Đây là phiên họp đầu tiên cơ quan thường trực của Quốc hội thí điểm việc “chất vấn và trả lời chất vấn ngay”. Nguồn: Vnexpress.net  Tranh luận được tăng cường là một trong những ấn tượng đọng lại về kỳ họp thứ 4 vừa qua của Quốc hội. Và chính tranh luận đã làm cho những phiên chất vấn trở nên hấp dẫn hơn; các vấn đề được đề cập trở nên sáng rõ hơn.  Tranh luận tại nghị trường là một hoạt động rất quan trọng trong quy trình quản trị quốc gia. Trong nhiều mô hình thể chế, đây có lẽ còn là hoạt động quan trọng nhất và thực chất nhất của nghị viện. Lấy ví dụ, đối với Nghị viện Anh Quốc hay nghị viện của bất kỳ quốc gia nào khác theo mô hình đại nghị, thì quyền thẩm định và thông qua luật (quyền lập pháp) chỉ là hình thức. Chính phủ có đa số ở nghị viện, nên có thể thông qua bất kỳ dự luật nào mà chính phủ muốn. (Đảng có đa số ở nghị viện (hạ viện), thì có quyền thành lập chính phủ. Chính vì vậy, ở đây quyền lập pháp và quyền hành pháp hòa lẫn vào nhau làm một. Quyền lập pháp của nghị viện lúc này chỉ mang tính hình thức. Trừ trường hợp các nghị sĩ của đảng cầm quyền không nghe theo đảng, thì nghị viện mới có thể quyết khác chính phủ. Tuy nhiên, điều này rất khó xảy ra, vì kỷ luật đảng trong mô hình đại nghị là rất nghiêm ngặt).      Việc tranh luận vì vậy sẽ làm rõ được mất của chính sách, nhờ đó mà quy trình chính sách cũng trở nên minh bạch; người dân và các tổ chức xã hội cũng có điều kiện nắm rõ chính sách và đóng góp ý kiến của mình. Hệ quả tiếp theo là dân chủ tham gia (participative democracy) được tăng cường.        Nếu việc thông qua dự luật chỉ là hình thức, thì việc tranh luận về dự luật lại không phải như vậy. Tranh luận là dịp để phe đối lập và các nghị sĩ độc lập đưa ra ý kiến phản biện về chính sách lập pháp được đề ra. Chính phủ và các nghị sĩ của đảng cầm quyền cũng có điều kiện để biện hộ cho chính sách của mình. Việc tranh luận vì vậy sẽ làm rõ được mất của chính sách, nhờ đó mà quy trình chính sách cũng trở nên minh bạch; người dân và các tổ chức xã hội cũng có điều kiện nắm rõ chính sách và đóng góp ý kiến của mình. Hệ quả tiếp theo là dân chủ tham gia (participative democracy) được tăng cường.  Tranh luận cũng rất quan trọng đối với Quốc hội nước ta, vì Đảng cầm quyền cũng có đa số trong Quốc hội. Chủ trương, chính sách của Đảng chắc chắn sẽ được Quốc hội thông qua. Vấn đề là tranh luận tại Quốc hội sẽ làm cho các chủ trương, chính sách đó trở nên minh bạch hơn. Và Đảng cũng có điều kiện được cân thêm về chủ trương, chính sách của mình khi được nghe ý kiến phản ánh sự nhìn nhận vấn đề từ những góc độ khác nhau.  Tranh luận thực chất là một cuộc thảo luận chính thức tại nghị trường khi các vị đại biểu đưa ra ý kiến phản biện lại quan điểm của Chính phủ hoặc của các vị bộ trưởng. Thực tiễn cho thấy, ở  nước ta, các vị đại biểu tranh luận không chỉ với các vị bộ trưởng mà còn cả với nhau. Một số đại biểu quả thực đã xin phát biểu để tranh luận lại ý kiến của các vị đại biểu khác. Đây là một điểm rất khác với nghị viện của nhiều nước trên thế giới. Có thể, điều này xảy ra vì không có phe đối lập trong Quốc hội nước ta. Cũng có thể, quy trình, thủ tục cho các phiên tranh luận đang trong quá trình hình thành.  Do tranh luận chưa được tổ chức theo những phiên họp dành riêng cho hoạt động này, (mà đang diễn ra chủ yếu trong các phiên chất vấn), một sáng tạo về mặt thủ tục đã được đề ra. Đó là để tranh luận, các vị đại biểu Quốc hội phải giơ bảng; để chất vấn hoặc phát biểu thì ấn nút điện tử. Đây là cách làm hay vì chủ tọa có thể nhận biết đại biểu nào đang muốn tranh luận. Do tham gia tranh luận sẽ được ưu tiên, nên quả thực, có một số vị đại biểu giơ bảng chỉ để giành quyền được phát biểu. Không ít những phát biểu như vậy lại không đưa ra được ý kiến phản biện.  Ngoài ra, một số vấn đề liên quan đến văn hóa tranh luận cũng cần được quan tâm. Ví dụ, văn hóa tranh luận đòi hỏi chỉ được tấn công quan điểm, chứ không được tấn công con người. Hay, lập luận phản biện phải dựa trên chứng cứ và lô gíc, chứ không dựa trên sự suy diễn và quyền thế. Tranh luận theo giá trị cũng ít khi được các nghị viện chuyên nghiệp chấp nhận. Vì tranh luận theo giá trị không nhắm vào các vấn đề đang được đặt ra, mà lại dựa vào những giá trị đã có sẵn. Các giá trị này có thể được chia sẻ, nhưng cũng có thể rất khác nhau. Ví dụ, khó có thể nói người thích ăn mặc giản dị là sai, chỉ có người thích ăn mặc hợp thời trang mới đúng.  Tóm lại, liên quan đến hoạt động tranh luận ở nghị trường, vẫn còn tồn tại không ít các vấn đề, tuy nhiên, thành tựu đạt được là rất đáng được ghi nhận. Đây là một dấu mốc quan trọng trên con đường tiến tới chuyên nghiệp của Quốc hội nước ta.       Author                Nguyễn Sĩ Dũng        
__label__tiasang Trao đổi về bài viết: Tội “giết người” không có người chết?      Bài  viết Tội “giết người” không có người chết? của TS. Nguyễn Sĩ  Phương (Tia sáng 20/2/2012)* có rất nhiều thông tin thú vị, thiết  thực, đề cập những vấn đề bức xúc hiện nay. Tuy nhiên, tôi thấy cũng còn một vài vấn đề chưa rõ, rất mong được trao  đổi, học hỏi thêm về mặt khoa học cùng với tác giả và bạn đọc, như sau:      –    Cần phân biệt “tội giết người đã hoàn thành” và “tội giết người chưa đạt”  TS. Nguyễn Sĩ Phương cho rằng: “Không luật pháp quốc gia tiên tiến nào cáo buộc phi thực tế, khép tội giết người lại không có người chết như vậy cả. Trong trường hợp này, pháp luật ở ta đã không hội nhập cộng đồng thế giới. Ở họ dấu hiệu đầu tiên cấu thành tội danh giết người phải có bằng chứng là nạn nhân đã chết. [….]Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.”  Tôi cho rằng luận điểm này của tác giả đưa ra về pháp luật Việt Nam là chưa thực sự thuyết phục. Theo Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam 2009, đối với tội giết người (các Điều liên quan từ Điều 93 trở đi), hậu quả chết người vẫn là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm hoàn thành.  Vấn đề đặt ra là có những trường hợp trên thực tế chủ thể thực hiện hành vi cố ý giết người, mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể đó. Xin nêu một ví dụ, năm 2009 có trường hợp một người phụ nữ tên là D. đã thực hiện một hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, do ghen tuông mà D. đã dùng chiếc kim khâu bao tải dài đến 8cm đâm vào đầu một cháu bé mới 40 ngày tuổi để trả thù tình địch, nhưng rất may là cháu bé đã thoát chết. Vấn đề ở đây là hung thủ chưa giết người thành công (theo cách nói của tác giả chưa có “người chết”) là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của D.1 Vậy trường hợp này sẽ xử lý như thế nào?  Do yêu cầu phải xử lý đồng bộ các hành vi nguy hiểm cho xã hội2, trong trường hợp này nhà làm luật Việt Nam đã dự liệu rằng nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan, nằm ngoài ý muốn của người phạm tội thì hành vi phạm tội vẫn có thể bị coi là tội giết người chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) theo Điều 18 BLHS 2009 hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp) theo Điều 104 BLHS 2009.   Trở lại trường hợp đã nêu ở trên, muốn xác định D có phạm tội giết người chưa đạt không, cần phải chứng minh ý chí của người phạm tội có mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hậu quả đã không xảy ra do các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội không. Nếu xác định được đúng như vậy, D. vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt.3 Do hậu quả chưa xảy ra (cháu bé vẫn còn sống), nên thực hiện chính sách nhân đạo của nhà nước, D sẽ được xử lý nhẹ hơn tội giết người đã hoàn thành. Hay nói cách khác, không có hậu quả “người chết” nhưng theo pháp luật Việt Nam đây vẫn là “tội giết người chưa đạt”.  –    Luật pháp của Đức có qui định về phạm tội chưa đạt và vấn đề phòng vệ chính đáng  Thứ nhất, ở Đức cũng có qui định hành vi phạm tội chưa đạt (Tiếng Đức: Der Versuch/ Tiếng Anh: The Attempt) tại các Điều 22, 23, 24 Bộ luật hình sự4, theo đó tại Điều 23 Khoản 2, tội phạm chưa đạt có thể được xử phạt nhẹ hơn hành vi phạm tội hoàn thành.5 Mức độ miễn giảm cụ thể ra sao được qui định tại Điều 49 Khoản 1 Bộ luật hình sự. Như vậy, Bộ luật hình sự của Đức bên cạnh việc qui định tội phạm hoàn thành, cũng đã dự liệu cho cả những trường hợp phạm tội chưa đạt. Hay nói cách khác, những trường hợp cố ý giết người nhưng chưa đạt vì lý do khách quan vẫn bị xử lý theo qui định của pháp luật Đức.6   Thứ hai, phòng vệ chính đáng thì không bị coi là tội phạm. Tác giả cho rằng: “[…] hành động chống cự đó chỉ được coi phạm tội ở dạng tự vệ khẩn cấp, như Đức quy định tại điều 32 Bộ Luật Hình sự của họ”. Thông tin này theo tôi là không chính xác. Điều 32 Khoản 1 Bộ luật hình sự Đức không coi phòng vệ chính đáng (hay theo tác giả dịch là tự vệ khẩn cấp – Notwehr) là hành vi phạm tội. Điều khoản này qui định: Bất cứ ai thực hiện hành vi tự vệ khẩn cấp thì hành vi đó không bị coi là trái luật.   Thứ ba, tác giả đã nêu: “Như ở Đức tội danh này được quy định tại điều 215 Giết người, điều 216 Bức tử, điều 212 Làm chết người không chủ đích, điều 222 Ngộ sát, và điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp.” Sau khi tra cứu lại thì tôi thấy có sự không thống nhất giữa trích dẫn của tác giả và những Điều luật hiện hành của Bộ luật hình sự Đức7 và có kết quả khác như sau:              Trích dẫn của tác giả      Điều luật tra cứu trong Bộ luật hình sự   của Đức (có chú thích tham khảo dịch nghĩa theo   cách hiểu của tôi)          Điều   215 Giết người      Điều   215 đã bị hủy bỏ (weggefallen)   Điều   211 – Tội giết người trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, mức xử phạt: tù   trung thân, mức cao nhất trong BLHS của Đức (Tiếng Đức: Mord/ Tiếng Anh:   Murder under specific aggravating circumstances).8          Điều   216 Bức tử      Điều   216 Tötung auf Verlangen – Tội giúp người khác tự sát, mức xử phạt: phạt tù từ   6 tháng đến 5 năm (Tiếng Đức: Tötung auf Verlangen/ Tiếng Anh: voluntary   euthasasia, assisted suicide).9          Điều   212 Làm chết người không chủ đích      Điều   212 Totschlag – Tội giết người (không thuộc trường hợp giết người trong trường   hợp đặc biệt nghiêm trọng của Điều 211), mức xử phạt:   không dưới 5 năm tù (Tiếng Đức: Totschlag/ Tiếng Anh: Murder).10          Điều   222 Ngộ sát      Điều   222 Fahrlässige Tötung – Tội vô ý giết người, mức xử phạt: bị phạt tù đến 5   năm hoặc bị phạt tiền (Tiếng Đức: Fahrlässige Tötung / Tiếng Anh: negligent   homicide).11          Điều   32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp      Điều   32 Notwehr – Phòng vệ chính đáng (Tiếng Đức: Notwehr/ Tiếng Anh:   self-defence)12                 Như vậy qua phân tích ở trên có thể thấy, luật pháp Việt Nam và luật pháp CHLB Đức đều phân biệt rõ hành vi phạm tội chưa đạt và phạm tội đã hoàn thành. Mục đích của qui định này là không làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm, đồng thời phải xử lý đồng bộ các hành vi nguy hiểm cho xã hội.  –    Quan điểm về trường hợp của Đoàn Văn Vươn  Liên quan đến vụ gia đình anh Vươn, tôi đồng tình với quan điểm của tác giả khi cho rằng không nên cáo buộc tội giết người trong khi vụ việc đang được tiến hành điều tra.  Đi vào cụ thể, tôi cho rằng cần làm rõ anh Vươn “có ý định giết người” hay không hay hành vi của anh chỉ là “phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 khoản 1 BLHS 2009.   Thực tế, muốn xác định chính xác cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ, trong đó cần chú trọng đánh giá các nội dung, diễn biến của các yếu tố khác nhau như:  – Địa điểm nơi anh Vươn thực hiện hành vi (Khi xem xét hành vi của anh Vươn cũng cần hết sức lưu ý rằng địa điểm thực hiện hành vi là chỗ ở riêng của họ, hoàn toàn không nằm trong diện tích đất bị cưỡng chế)  – Hoàn cảnh cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội (Cần xem xét rằng hành vi của anh Vươn thực chất là chống trả lại người đang có hành vi trái pháp luật trực tiếp xâm phạm lợi ích chính đáng của mình, xâm hại chỗ ở hợp pháp của mình một cách cần thiết).  – Mối quan hệ giữa nạn nhân và anh Vươn như thế nào, nhất là mâu thuẫn giữa đôi bên sâu sắc ở mức nào (Cần lưu ý là gia đình Đoàn Văn Vươn đã tiến hành các thủ tục theo đúng qui định pháp luật, gia đình anh đã khởi kiện lên Tòa án huyện, khởi kiện tiếp lên Tòa án tỉnh thì không được giải quyết…)  – Tác dụng, tính năng của loại phương tiện mà anh Vươn sử dụng, cách thức tiến hành trên thực tế (Súng hoa cải mức độ sát thương ra sao, với loại súng tự tạo, có đủ gây chết người không);  – Hành vi tấn công, cường độ tấn công của hành vi có mức độ mãnh liệt ra sao;  – Vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân (Xem xét vị trí tấn công đó có chứa đựng khả năng chết người hay không);  – Động cơ nào đã thúc đẩy anh Vươn thực hiện hành vi đó (Cần xem xét động cơ thực hiện hành vi của anh Vươn là để bảo vệ tài sản, tính mạng, bảo vệ gia đình);  – Thái độ của anh Vươn biểu hiện trước và sau khi sự việc đã xảy ra như thế nào v.v…    Trên thực tế, tôi cho rằng chính việc giao đất, thu hồi đất và việc cưỡng chế sai trái là nguồn gốc dẫn đến hành vi chống trả của anh em Đoàn Văn Vươn. Đến nay khi mà hành vi thu hồi đất, cưỡng chế của chính quyền đã được kết luận là bất hợp pháp (dù là từ phía Thủ tướng chính phủ, không phải Tòa án), thì vấn đề đặt ra là có nên xem xét hành vi của anh Vươn theo hướng là một hành vi phòng vệ chính đáng theo Điều 15 Khoản 1 BLHS 2009 hay không?       Vụ việc Tiên Lãng xét rộng ra thực chất không chỉ là việc của gia đình anh Vươn mà còn liên quan đến số phận của hàng triệu người nông dân có đất và đang trong nguy cơ mất đất khác trên cả nước. Người dân rất nóng lòng chờ đợi và hy vọng với cách xử lý vấn đề hợp tình hợp lý, chính quyền sẽ tạo được niềm tin với nhân dân, đem lại nhiều điều tốt đẹp không chỉ với gia đình anh Vươn, mà còn với tất cả những người nông dân cả nước.  —  * http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4917&CategoryID=42  1. Xem cụ thể bài viết: Cháu bé 40 ngày tuổi bị kim khâu lốp đóng ngập đầu, đăng ngày 11/11/2009, tại đây: http://www.vtc.vn/2-231279/xa-hoi/chau-be-40-ngay-tuoi-bi-kim-khau-lop-dong-ngap-dau.htm.   2. Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Về tội phạm chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà nội, Luật học 25 (2009), tr. 125–133.  3. Xem thêm ý kiến bình luận của Luật sư Phạm Hồng Hải trong bài viết Vụ đâm kim xuyên não: Giết người vì động cơ đê hèn, đăng ngày 16/11/2009, truy cập tại địa chỉ: http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/vtc.vn/Luat-su-Pham-Hong-Hai-Chac-chan-la-toi-giet-nguoi/3505030.epi   4. Bộ luật hình sự của Đức (Strafgesetzbuch – StGB) được thông qua lần đầu ngày 15/5/1871, có hiệu lực 1/1/1872, sửa đổi, bổ sung gần nhất ngày 6/12/2011, hiệu lực lần sửa đổi gần nhất từ ngày 14/12/2011.  5. Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 23 Strafbarkeit des Versuchs (2) Der Versuch kann milder bestraft werden als die vollendete Tat.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 23 (2) An attempt may be punished more leniently than the completed offence”.  6. Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.  7. Truy cập trang web chính thức của Bộ Tư pháp liên bang Đức (Bundesministerium der Justiz), ngày 21/2/2012, truy cập tại địa chỉ  http://www.gesetze-im-internet.de/stgb/index.html hoặc Cổng thông tin pháp luật Đức (Dejure) tại địa chỉ: http://dejure.org/gesetze/StGB (Tình trạng cập nhật văn bản luật (Gesetzesstand): 14/2/2012).  8. Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 211 Mord (1) Der Mörder wird mit lebenslanger Freiheitsstrafe bestraft. (2) Mörder ist, wer aus Mordlust, zur Befriedigung des Geschlechtstriebs, aus Habgier oder sonst aus niedrigen Beweggründen, heimtückisch oder grausam oder mit gemeingefährlichen Mitteln oder um eine andere Straftat zu ermöglichen oder zu verdecken, einen Menschen tötet.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 211 – Murder under specific aggravating circumstances (1) Whosoever commits murder under the conditions of this provision shall be liable to imprisonment for life. (2) A murderer under this provision is any person who kills a person for pleasure, for sexual gratification, out of greed or otherwise base motives, by stealth or cruelly or by means that pose a danger to the public or in order to facilitate or to cover up another offence.”  9. Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 216 Tötung auf Verlangen (1) Ist jemand durch das ausdrückliche und ernstliche Verlangen des Getöteten zur Tötung bestimmt worden, so ist auf Freiheitsstrafe von sechs Monaten bis zu fünf Jahren zu erkennen. (2) Der Versuch ist strafbar”./ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 216 – voluntary euthasasia, assisted suicide (1) If a person is induced to kill by the express and earnest request of the victim the penalty shall be imprisonment from six months to five years. (2) The attempt shall be punishable”.    10. Nguyên bản Tiếng Đức: “§ 212 Totschlag (1) Wer einen Menschen tötet, ohne Mörder zu sein, wird als Totschläger mit Freiheitsstrafe nicht unter fünf Jahren bestraft. (2) In besonders schweren Fällen ist auf lebenslange Freiheitsstrafe zu erkennen.“/  Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 212 Murder (1) Whosoever kills a person without being a murderer under section 211 shall be convicted of murder and be liable to imprisonment of not less than five years. (2) In especially serious cases the penalty shall be imprisonment for life”.  11. Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 222 Fahrlässige Tötung – Wer durch Fahrlässigkeit den Tod eines Menschen verursacht, wird mit Freiheitsstrafe bis zu fünf Jahren oder mit Geldstrafe bestraft.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 222 Negligent homicide – Whosoever through negligence causes the death of a person shall be liable to imprisonment of not more than five years or a fine.”  12. Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em thua thiệt, quốc gia tổn thất      Trẻ em là nguồn lực quan trọng nhất của mọi  quốc gia. Điều này đúng không chỉ về mặt đạo đức mà còn đúng về mặt kinh  tế. Đầu tư vào y tế, giáo dục và kĩ năng cho trẻ em sẽ mang lại hiệu  quả kinh tế cao nhất cho đất nước.     Công trình nghiên cứu mới của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) cho thấy, trong số những nước có thu nhập cao, nước nào làm tốt khi đầu tư vào những lĩnh vực này, còn nước nào thì không.     Thu nhập cao chưa chắc đã bảo đảm phúc lợi cho trẻ em*  Bản báo cáo Phúc lợi của trẻ em ở các nước giàu đưa ra một cái nhìn toàn diện về điều kiện sống của trẻ em ở Mĩ, Canada và châu Âu – 29 nước cả thảy. Trẻ em ở những nước theo đường lối xã hội dân chủ ở Tây Âu được chăm sóc kĩ lưỡng nhất. Hà Lan đứng đầu danh sách này, tiếp theo là Đan Mạch, Iceland, Phần Lan, Thụy Điển và Đức.   Đáng ngạc nhiên là Mĩ – nền kinh tế lớn nhất thế giới – xếp thứ 26, theo sau là những nước nghèo như Lithuania, Latvia và Romania. Pháp và Anh nằm giữa bảng xếp hạng.  Công trình nghiên cứu này đánh giá phúc lợi của trẻ em từ quan điểm: điều kiện vật chất (liên quan đến mức thu nhập của gia đình); sức khỏe và an toàn; giáo dục; hành vi có tính rủi ro (như sử dụng quá nhiều rượu) và môi trường vật chất, trong đó có điều kiện về nhà ở. Mặc dù công trình nghiên cứu chỉ giới hạn trong những nước có thu nhập cao, chính phủ các nước – thậm chí chính quyền các thành phố – trong những khu vực khác trên thế giới nên tiến hành công trình nghiên cứu như thế nhằm phân tích tình trạng phúc lợi của trẻ em tại khu vực của mình.   Cách biệt giữa các nước Bắc Âu và Mĩ gây cho người ta nhiều ấn tượng nhất. Nói chung, các nước Bắc Âu thường chu cấp tiền cho các gia đình để bảo đảm rằng tất cả trẻ em đều được lớn lên trong những điều kiện tươm tất, và họ thực hiện những chương trình xã hội đầy tham vọng nhằm tạo ra những nhà mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học và trung học chất lượng cao. Ngoài ra, tất cả trẻ em đều được hệ thống y tế đầy hiệu quả chăm sóc một cách chu đáo.   Mĩ, với ý thức hệ thị trường tự do, cá nhân chủ nghĩa, thì lại khác. Ở đây, người ta chỉ cấp cho các gia đình những khoản tiền trợ giúp nhỏ. Những chương trình của chính phủ được cho là sẽ cung cấp cho người dân một mạng lưới an sinh xã hội, nhưng trên thực tế, các chính khách thường tỏ ra bàng quan đối với phúc lợi của người nghèo vì ít người nghèo tham gia bầu cử và họ không tài trợ cho những chiến dịch tranh cử tốn kém. Nói cho ngay, bằng chứng thể hiện một cách rõ ràng rằng các chính khách ở Mĩ có xu hướng chỉ nghe và phản ứng đối với những cử tri giàu có hơn của họ mà thôi. Cái gọi là mạng lưới an sinh bị thiệt thòi, người nghèo ở Mĩ thì cũng thế.   Sự khác biệt giữa các nền dân chủ xã hội và Mĩ còn thể hiện rõ hơn giữa những hạng người khác nhau. Ở các nước dân chủ xã hội, chỉ có dưới 10% trẻ em lớn lên dưới mức nghèo khổ tương đối (thu nhập của gia đình nhỏ hơn một nửa thu nhập trung bình trong cả nước). Ở Mĩ tỉ lệ nghèo khổ tương đối cao hơn 20%.   Trẻ em ở Mĩ còn bị khổ sở nhiều hơn vì sinh thiếu trọng lượng (chỉ số chủ yếu chứng tỏ sẽ gặp vấn đề về sức khỏe sau này); nhưng lại bị bệnh béo phì ở tuổi 11, 13 và 15; và có tỉ lệ sinh sản rất cao ở độ tuổi từ 13 đến 19. Ở Mĩ, trong số 1.000 bé gái tuổi từ 15 đến 19 thì có 35 trường hợp sinh con; trong khi đó, ở các nước Bắc Âu là dưới 10 trường hợp.   Tương tự như thế, trẻ em ở Mĩ thường gặp nhiều vụ bạo lực trong xã hội hơn là trẻ em ở những nước có thu nhập cao khác. Có thể đây không phải là điều đáng ngạc nhiên, nhưng rất đáng lo vì tiếp xúc với bạo lực là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự phát triển về thể chất, tình cảm và nhận thức của trẻ em. Số vụ giết người tính trên đầu người dân ở Mĩ lớn hơn khoảng năm lần so với Bắc Âu.  Quyền bình đẳng về cơ hội là quyết định    Một trong những khía cạnh thú vị của công trình nghiên cứu của UNICEF là họ đã sử dụng cái mà bây giờ được gọi là “phúc lợi chủ quan.” Nghĩa là hỏi thẳng về mức độ thỏa mãn của người dân. Thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về phúc lợi chủ quan của người lớn trên khắp thế giới. Nhưng tôi chưa thấy một công trình nghiên cứu tương tự nào như thế, trong đó người ta hỏi trực tiếp trẻ em về cảm nhận của chúng về phúc lợi – đúng là một câu hỏi rất thông minh.   Bằng chứng chứng tỏ rằng, nói chung trẻ em ở Bắc Âu đánh giá được lợi thế đáng kể của chúng. Người ta đề nghị trẻ em xếp hạng “mức độ thỏa mãn với cuộc sống” của chúng theo thang 11 bậc. Ở Hà Lan, tới 95% trẻ em tự xếp từ bậc 6 trở lên. Ở Mĩ, tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng 84%. Điểm phân loại theo lối chủ quan này lại có liên hệ mật thiết với chất lượng của những mối tương tác của những trẻ em này với bạn bè cùng trang lứa và cha mẹ chúng. Khoảng 80% trẻ em Đan Mạch nói rằng bạn học là những người “tử tế và sẵn sàng giúp đỡ”, trong khi chỉ có 56% trẻ em Mĩ nói như thế mà thôi.   Nước Mĩ phải trả giá quá đắt vì để cho nhiều trẻ em đến như thế lớn lên trong nghèo đói, bệnh tật, trường học và nhà ở tồi tàn. Tỉ lệ trẻ em phải đi tù – nhất là trẻ em da màu, nghèo khổ – làm người ta phải choáng váng. Ngay cả những em may mắn thoát được hệ thống nhà tù to lớn của Mĩ cũng thường trở thành người thất nghiệp hay không thể tìm được việc làm vì không có tay nghề cần thiết để có thể tìm và giữa được việc làm xứng đáng.   Người Mĩ đã và đang nhắm mắt trước sai lầm chết người này một phần là do lịch sử phân biệt chủng tộc kéo dài, cũng như niềm tin không đúng chỗ của họ vào “chủ nghĩa cá nhân thô kệch.” Thí dụ, một số gia đình da trắng phản đối đầu tư công cho lĩnh vực giáo dục vì tin rằng phần lớn tiền thuế của họ sẽ dùng để trợ giúp những học sinh da màu nghèo khó.   Kết quả là mọi người đều thua. Trường học kém hiệu quả; tỉ lệ đói nghèo cao; và cùng với đó là tỉ lệ thất nghiệp và tội phạm cao lại buộc xã hội Mĩ phải trả giá đắt về mặt tài chính và xã hội.   Kết luận của UNICEF có sức thuyết phục mạnh mẽ. Quốc gia có thu nhập cao cũng chưa chắc đã bảo đảm được phúc lợi cho trẻ em. Những xã hội quyết tâm thực hiện quyền bình đẳng về cơ hội cho tất cả con em của họ – và sẵn sàng dùng công quỹ đầu tư cho chúng – cuối cùng sẽ nhận được những kết quả tốt hơn rất nhiều.   Từng nước phải so sánh điều kiện sống của con em mình với điều kiện sống được UNICEF nói tới trong công trình nghiên cứu được nhắc tới bên trên và dùng kết quả đó làm kim chỉ nam cho việc mở rộng những khoản đầu tư cho phúc lợi của trẻ em. Đấy là sự nghiệp quan trọng nhất đối với sức khỏe và thịnh vượng trong tương lai của bất kì dân tộc nào.   Jeffrey D. Sachs là Giáo sư về phát triển  bền vững, và về chính sách sức khỏe và quản lí; Giám đốc Viện Trái đất ở  Đại học Columbia (New York, Mĩ); Cố vấn đặc biệt của Tổng thư kí Liên  hiệp quốc về mục tiêu phát triển thiên niên kỉ. Ông đã xuất bản những  cuốn sách như Chấm dứt đói nghèo và Thịnh vượng chung.     Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/new-unicef-study-of-poor-children-in-rich-countries-by-jeffrey-d–sachs    —  * Các tít phụ do Tia Sáng đặt         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em và ước mơ      Khi không có mơ ước, con người trở nên tầm  thường và đáng thương, yếu ớt như một con vật non nớt giữa trái đất.  Không có ước mơ, con người mất đi mục đích sống và trở nên vô phương  hướng giữa cuộc đời. Khi không có ước mơ, con người trở nên tẻ nhạt và  cô đơn giữa vô vàn đồng loại.     Ước mơ, nói cho to tát là tư tưởng, nói cho đơn giản là khao khát, khát vọng  hay dễ hiểu hơn nữa là những mong muốn của con người. Cụ thể, đó là những mục tiêu lớn nhỏ của cuộc sống khi còn ở dạng tiềm năng để thực hiện. Người có ước mơ và sống để theo đuổi ước mơ là con người thật nhất. Còn khi chính bản thân mình cũng không biết mình đang muốn gì, đang mơ ước gì, thì đó chưa thành con người hoàn chỉnh.   Phật Thích Ca là người nhận ra sự quan trọng của ước mơ và dành cả đời để theo đuổi, kiếm tìm con đường đi đến hạnh phúc cho nhân loại. Khi còn là một thái tử, sống xa hoa trong hoàng cung, ông vẫn chưa cảm thấy mình là một con người hoàn chỉnh. Những gì ông muốn đều được đáp ứng: quyền lực, danh vọng, nhà cao, vợ đẹp… mọi thứ đều không thiếu. Nhưng chính vì quá đầy đủ, lại ít tiếp xúc với cuộc sống thường dân bên ngoài nên ông không biết mình đang thiếu gì, cần gì và muốn gì. Sau này, khi ngộ ra chân lý, Phật mới biết, đó là những tháng ngày bất hạnh nhất của cuộc đời mình. Bất hạnh đó chính là thiếu ước mơ. Khi Phật đang là thái tử, đi ra ngoài, thấy sự đói khổ của người dân- là con dân của chính mình, ông rơi nước mắt vì thương họ. Nhưng sau đó, khi suy nghĩ lại, ông thấy họ đói khổ, nghèo khó, bệnh tật nhưng họ vẫn là con người. Chính trong sự thiếu thốn, họ biết mình cần gì, mong gì và mơ ước gì. Do vậy mà cuộc sống của họ có sự cố gắng, sự chờ đợi và sự mong mỏi. Điều đó làm cho cuộc sống của người dân có ý nghĩa hơn. Và ông nhận ra, những người dân đói khổ kia đang sống hạnh phúc hơn chính thái tử vì họ có ước mơ.   Từ câu chuyện của Phật, hôm nay, nhân ngày cả thế giới hướng về con trẻ, xin được nói vài câu chuyện liên quan đến con em chúng ta.   Tôi có một người anh làm kinh doanh và rất thành đạt. Cả hai vợ chồng anh đều có vai vế và thu nhập cao, nhà to đẹp, xe hơi loại sang, trong nhà luôn có vài người giúp việc. Hai vợ chồng có một cậu quý tử rất kháu khỉnh và ngoan ngoãn. Vì tương lai cậu quý tử nên anh chị cho cháu vào học ở trường cao cấp mà học phí đến cả ngàn đô. Đã vậy, hai vợ chồng anh rất bận rộn nên thuê hẳn một chiếc taxi quen làm nhiệm vụ đưa đón con đi học. Trong nhà, thằng bé không thiếu một thứ đồ chơi nào, từ đồ rẻ tiền đến loại cả chục triệu, cứ có trên quảng cáo thì có trong phòng của cậu. Những gì cậu thích chỉ cần yêu cầu là bố mẹ đáp ứng ngay mà chẳng cần để ý đến giá cả hay chuyện cậu chơi được bao lâu thì chán. Mọi thứ ăn uống và chơi của nó, bố mẹ đều mặc định là phải tốt nhất, an toàn nhất. Ngay cả việc bạn bè, cậu cũng bị kiểm soát, không được ra ngoài ngõ chơi với mấy bạn ở đường phố. Nhiều khi trò chuyện, cả anh lẫn chị đều nói một câu ngắn gọn và đầy đủ nhất: “Thì cả đời anh chị lăn lộn kiếm tiền cũng để lo cho cu cậu chứ cho ai”.   Có lẽ nhiều người cũng nghĩ giống như vậy, và thầm mong làm được như vậy. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có thế. Công việc bận rộn nên anh chị ít có thời gian dành cho thằng bé. Khi cả hai vợ chồng về đến nhà thì con đã ngủ. Còn khi rời khỏi nhà thì con chưa ngủ dậy. Cả ngày có khi chỉ kịp hỏi người giúp việc về diễn biến trong ngày của con. Khổ thân cậu bé là cả ngày chỉ biết đến đồ chơi, biết mặt người giúp việc và chú lái xe. Đến trường cũng chỉ vài người bạn chẳng khác gì cậu. Cuộc sống với nó càng thêm buồn chán vì những thứ nó muốn thì nó đều có. Và chính nó cũng không còn biết mình muốn thêm cái gì.   Một câu chuyện khác, cùng cơ quan tôi có gia đình một chị có cô con gái cũng đã học lớp 4. Vì hai vợ chồng đều làm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nên hy vọng con cái sau này nối nghiệp mẹ cha. Thế là một kế hoạch học tập của con gái được bố mẹ đưa ra bài bản và chặt chẽ như… một công trình nghiên cứu. Từ rạng sáng học ngoại ngữ, sáng và chiều học ở trường, trưa đọc sách văn học, tối học ở trung tâm, khuya về còn phải đọc sách rồi mới đi ngủ. Ứng với chương trình học đó là một khối lượng sách vở lên đến cả hơn chục cân đè lên đôi vai nhỏ bé của nó. Bố mẹ nó theo đuổi tư tưởng “học-học nữa-học mãi” khiến con bé ngày càng gầy gọc, xanh xao.   Có lẽ còn vô vàn câu chuyện của nhiều gia đình trong thành thị hiện nay ở Việt Nam tượng tự như câu chuyện của hai gia đình trên. Xưa nay, vào những dịp lễ liên quan đến trẻ em như tết Trung thu, Quốc tế thiếu nhi… chúng ta thường quan tâm đến các cháu nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, bệnh tật… Điều đó là chính đáng bởi một chút vật chất nhỏ giúp đỡ cho những gia đình, những đứa trẻ không may mắn là một việc tốt nên làm. Nhưng cũng không nên quên rằng, những thiếu thốn tinh thần trong xã hội hậu hiện đại này cũng đáng sợ không kém những thiếu thốn vật chất trong xã hội cũ.   Nhìn nhận lại hai câu chuyện trên để nhìn về tương lai gần và xa hơn một chút của đất nước ta bởi một ngày không xa, những đứa trẻ hôm nay sẽ là người chủ của đất nước. Một con người trưởng thành và có đủ năng lực kiến tạo cuộc sống, từ khi bé họ đã cần được vun trồng một đời sống tinh thần tốt đẹp, có ước mơ, hoài bão và có nghị lực để thực hiện ước mơ của mình. Người lớn đừng nhân danh bề trên mà áp đặt vào cuộc sống của con trẻ. Một mối nguy lớn nhất đe dọa trẻ nhỏ hiện nay là sự cơ giới hóa tâm hồn, cơ giới hóa tinh thần và sự cơ học hóa tính cách. Vậy nên, chuyện nuôi con, dạy con bây giờ không phải là một vấn đề bản năng mà cần có tri thức, phương pháp hợp lý. Chỉ nuôi con bằng thế giới vật chất như trường hợp anh chị tôi kể trên hay dạy con bằng những kế hoạch học tập triền miên như người đồng nghiệp của tôi, vô hình chung đã làm hại chính đứa con yêu quý của họ, tước đi những động lực sống của chúng. Trẻ con hôm nay cần rất nhiều thứ, trong đó có tình yêu tương từ bố mẹ, gia đình, sự chia sẻ với bạn bè, sự tôn trọng của xã hội. Và đặc biệt, trẻ em cần những ước mơ đẹp và cần được mọi người tôn trọng ước mơ đó. Nếu không có ước mơ, trong tương lai, những con búp bê, robot tinh tế và đẹp đẽ sẽ thay thế những đứa trẻ đáng yêu.    Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên đường đi tới      Phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật giải phóng con người khỏi bao nhiêu cực nhọc, khó khăn, không ai không biết và chắc chắn không ai phản đối. Đấy là tất yếu. Mà hàng chục tỷ người trên thế giới gắng sức làm việc hằng ngày cũng chỉ vì thế. Song hình như ai cũng lại biết rằng giữa những cái đó với cái ta gọi là hạnh phúc còn có một điều gì đó khác nữa. Điều gì vậy?        Đã lâu, có lần tôi đi xem một bộ phim, hình như của Ba Lan, đã quên mất tên, cả cốt truyện cũng không còn nhớ gì, chỉ nhớ có cảnh đâu vào đầu thế kỷ 19, một cậu thanh niên du học Paris, trở về Varsovie bằng xe lửa, mẹ ra đón ở ga, hai mẹ con đi về nhà trên chiếc xe ngựa lóc cóc, đêm đầy tuyết, nhà rất xa, đi mãi, đi mãi… Hôm ấy, tôi nhớ không hiểu vì sao tôi bỗng nảy ra ý nghĩ lẩn thẩn: bây giờ thì chẳng còn ai phải đi từ Paris về Varsovie trên chiếc tàu lửa rùa bò như vậy nữa, bay vù một cái vài tiếng đã tới, và người mẹ ắt sẽ ra đón con trên một chiếc ô tô đời mới, thoáng cái đã về đến nhà, bất chấp mưa với tuyết. Thậm chí cả trường hợp cậu con trai không học Paris, mà tận Cali, Boston hay Montréal…    Nhưng giữa hai cái thời điểm cách nhau đến gần hai thế kỷ ấy, liệu con người trên trái đất này có trở            Câu hỏi về hạnh phúc, nói cách khác, gắn với câu hỏi về phát triển. Có hạnh phúc, nhưng đừng lạc hậu. Tiến bộ, mà vẫn giữ được sự yên tĩnh tâm hồn và sự ấm áp của nhân tình.        nên hạnh phúc hơn không? Bà mẹ và đứa con hôm nay có hạnh phúc hơn hai mẹ con ngày xưa ấy?… Và bao nhiêu điều khác nữa vẫn diễn ra hằng ngày quanh ta. Xưa, một bức thư đi từ Thăng Long vào Thuận Hóa mất vài ba tháng là thường; không ai thấy chậm, cũng chẳng hề sốt ruột. Bà Huyện Thanh Quan vào Kinh thăm chồng lững thững dừng bước ưu tư trên Đèo Ngang, chỉ “nhớ nước đau lòng”, nào có nghĩ gì đến thời gian… Bây giờ, gửi EMS, chậm quá 24 tiếng, bưu điện đã có thể bị khách hàng kiện rồi. Cảm giác về thời gian đã thay đổi biết bao, và con người thì sống ngày càng dễ sốt ruột hơn, cũng dễ nóng tính hơn. Sự bình tâm, kiên nhẫn, tĩnh tại trong tâm hồn dường như ngày càng giảm đi rất nhiều… Tôi cũng thường vào các tiệm Internet, bây giờ thành phố nào cũng nhan nhản, mắc ADSL hẳn hoi, thấy đông nhất là trẻ con chơi game, còn các bà các chị thì trò chuyện với người thân ở bên Mỹ, đủ các thứ chuyện trên trời dưới đất, trong nhà ngoài ngõ, cứ như các bà đang ngồi trước hè tán gẫu với nhau vậy; có bữa tôi nghe trộm bà ngồi ở máy bên cạnh, sau hàng giờ tâm sự với con, bảo: Thôi, con đi ngủ đi, khuya rồi, bên đó bây giờ là 12 giờ đêm rồi mà. “Bên đó” là New York, còn tôi với bà thì đang ngồi quán Internet ở Đà Nẵng, đúng 12 giờ trưa… Vậy đó, tiện nghi, sự rút ngắn khoảng cách, sự tăng lên vùn vụt của tốc độ… là những dấu hiệu rõ rệt nhất của thời đại. Tức những cái ta gọi là sự tiến bộ. Tất cả những cái ấy có làm cho con người hạnh phúc hơn không? Câu hỏi vớ vẩn, vậy mà cứ trở đi trở lại, không dứt. Và hình như cũng không dễ trả lời. Bởi thế nào là hạnh phúc? Xưa nay nào đã có ai dám nói một tiếng khẳng định cuối cùng!   Ngày nay khi nói đến phát triển, trên thế giới là vậy mà ở ta cũng vậy, bao giờ người ta cũng nói phải “phát triển bền vững”. Thế nào là phát triển bền vững? Hẳn có bao nhiêu tiêu chí và điều kiện, về chiến lược, về chính sách, về cơ cấu kinh tế và xã hội, về mức sống, lối sống v.v… Song hình như cũng có thể có một cách nói vắn tắt: phát triển làm sao đó mà con người vẫn có được hạnh phúc. Vẫn giữ được sự bình tâm thanh thản giữa vũ trụ và nhân quần này. Không lạnh lẽo và cô đơn đi, không lạnh lẽo và cô đơn hơn. Bởi, hình như ngày nay càng rõ rệt hơn bao giờ hết, sự phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật vừa đẩy nhân loại đi tới vùn vụt đến chóng mặt, đầy hứa hẹn huy hoàng, vừa đe dọa trầm trọng, thậm chí đến cả sự tồn tại của con người như một giống loài.  Chúng ta đã sống và phát triển như thế nào đó để cho trái đất bị ô nhiễm đến mức ngày nay phải sợ cả những đàn chim di cư tuyệt vời hằng năm từng đàn lớn bay rợp ngang trời từ phương Bắc giá lạnh về phương Nam nóng ấm: rất có thể chúng mang theo cúm gia cầm! Những người Việt Nam thuộc thế hệ tôi chắc đều còn nhớ bộ phim thật đẹp của điện ảnh Xô viết xưa “Đàn sếu bay qua”… Bây giờ người ta đang tính kế hoạch tiêu diệt những đàn sếu như vậy đấy, khi mùa đông, cũng là mùa dịch cúm tới. Biết đâu, có thể lắm, thế giới đến một ngày nào đó không còn chim nữa! …    ***  Franois Jullien, nhà triết học và Trung Quốc học người Pháp, suốt nhiều chục năm qua chuyên đi vào một đề tài thú vị, ông tiến hành một nghiên cứu so sánh giữa triết học phương Tây (mà ngọn nguồn là Hy Lạp [cổ]) với minh triết phương Đông (theo ông tiêu biểu là Trung Hoa [cổ]). Một trong những phát hiện quan trọng của ông: hóa ra không có những phạm trù phổ quát một cách tức thì trong các nền văn hoá khác nhau. Một trong những cái đó, chẳng hạn, chính là phạm trù Hạnh phúc. Hóa ra Hạnh phúc cũng chỉ là một phạm trù tinh thần của phương Tây. Trung Quốc có quan niệm Phước, nhưng giữa Hạnh phúc và Phước rất khác nhau. Trong khái niệm Hạnh phúc vẫn nặng khá nhiều ý tưởng về một sự chinh phục, chủ động, chiếm lấy, đoạt lấy. Còn Phước là cái ta may mắn bắt gặp được trong cuộc đời, do biết sống thuận theo “cái vốn vậy” (“de par soi-même ainsi”) của đất trời, được Trời “cho”. Một bên chủ động, thậm chí tấn công, chiếm đoạt; một bên thuận theo, để cho cái Hiển nhiên cứ thế tự nó đến. Trong tác phẩm “Bàn về tính hiệu quả”, ông đã lấy nhiều ví dụ từ chiến tranh Việt Nam chống Mỹ, cách đánh của Việt Nam mà ông cho là rất tiêu biểu cho tư duy phương Đông về tính hiệu quả, làm thế nào để đạt cho được hiệu quả cao nhất trong mọi việc ở đời. Trong khi quan niệm quân sự phương Tây, theo ông, chủ trương đối đầu trực tiếp, chiến thắng cuối cùng bao giờ cũng phải là kết quả của một trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt căn bản lực lượng đối phương, thì cách đánh của Việt Nam hầu như ngược lại, tìm cách tác động không phải vào đối tượng trực diện tức thì mà vào “thượng nguồn” của nó, khi nó mới manh nha, còn “mềm”, lần theo nó từng bước, “dắt dẫn” cho nó tự đi theo dòng chảy tự nhiên, và cuối cùng kết thúc chiến tranh không phải bằng việc đối phương bị tiêu diệt lớn mà “tự nó” sụp đổ. Một cách đi khôn ngoan, đỡ tốn sức hơn nhiều… Hàng nghìn năm qua phương Đông đã đi như vậy, một cách minh triết. Một lối đi không phải tranh chấp, giành giật với tự nhiên, mà hòa hợp tối đa với tự nhiên, tự đánh chìm mình đi trong tự nhiên. Trong bốn cái “Vô” của Khổng Tử, có cái “Vô ngã”. Tự để biến mất cái “Tôi” đi. Và “Phước” rồi tự nó sẽ đến. Người có “phước” nhất là người đã hòa được với tự nhiên đến tan biến hoàn toàn. Hay quá, phải không?  Song lại cũng có điều không đơn giản: chính vì đối đầu, tấn công trực tiếp vào đối tượng, “xé rách tự          Cách đặt vấn đề của người Nhật không phải là hiện đại nhưng vẫn dân tộc, không có nhưng nào cả, mà là hiện đại hóa dân tộc, yêu cầu sống còn, thế thôi. Kết quả, họ đã thịnh vượng vào những nước hàng đầu thế giới, và cũng rất đặc sắc và độc đáo dân tộc ít ai bằng.        nhiên” ra bằng một phiến diện cố tình, bắt đầu công kích vào tự nhiên từ một điểm và tạm thời bỏ qua tất cả những chỗ khác đi đã (điều minh triết Trung Hoa hết sức phản đối), mà tư duy phương Tây đã làm bật ra được cá nhân, điều mà phương Đông “khôn ngoan” né tránh đã để cho chìm nghỉm mãi trong “cái tự nó vốn vậy” phẳng lì vô tận và vô vọng. Không làm bật ra, không giải phóng được năng lượng tự do của cá nhân thì không thể đi đến cách mạng khoa học. Trung Hoa cổ đã từng là nơi khám phá ra sớm nhất thuốc súng, la bàn, nghề in…, nhưng không sao chuyển sang được cuộc cách mạng khoa học như phương Tây từng có vào thế kỷ 16, chính là vì vậy. Chính sự khôn ngoan của minh triết cũng đồng thời tạo ra sự trì trệ của phương Đông. Và quá trình hiện đại hoá của các nước phương Đông suốt mấy thế kỷ qua để đuổi kịp “thế giới” về thực chất cũng chính là quá trình Âu hóa, phương Tây hóa. Vậy đó, ở đời là thế, được cái này thì mất cái khác, chẳng thể nào toàn vẹn. Hình như ngày nay chúng ta đang chứng kiến hai xu hướng ngược chiều thú vị: phương Tây hùng mạnh về khoa học kỹ thuật, mà con người lại “lạnh lẽo và cô đơn”, đang tìm đến sự tĩnh tại tâm hồn phương Đông từng có, trong khi phương Đông thì đang ra sức đuổi cho kịp khoa học kỹ thuật phương Tây, dù biết trong cuộc chạy đua tất tưởi đó ắt phải trả bằng những hy sinh giá trị không thể tránh.   Câu hỏi về hạnh phúc, nói cách khác, gắn với câu hỏi về phát triển. Có hạnh phúc, nhưng đừng lạc hậu. Tiến bộ, mà vẫn giữ được sự yên tĩnh tâm hồn và sự ấm áp của nhân tình. Một mâu thuẫn tất yếu chăng? Và phải chăng thế kỷ mới là thế kỷ của sự kết hợp Đông Tây ấy, trong đó dĩ nhiên mỗi bên có mất một ít. Hình như vấn đề là mất và được, cái nào nhiều hơn, cơ bản hơn? Có thể “hội nhập” mà chúng ta thường nói với rất nhiều băn khoăn, cả lo lắng, là như vậy chăng?  ***  “Hội nhập”, nói cho cùng, cũng chẳng là chuyện mới. Sống, nói theo cách nào đó, cũng tức là “hội nhập”, bởi sống là trao đổi chất, một vật sống được phân biệt với một vật không sống ở chỗ nó có trao đổi chất, có hội nhập với môi trường chung quanh nó hay không. Biệt lập là chết, đã chết. Song người ta cũng thường nói, đến mức đã thành khẩu hiệu, “hội nhập, vâng, nhưng đừng đánh mất mình”, “tiếp thu có chọn lọc”, “hiện đại hoá nhưng phải luôn giữ vững bản sắc”…, hàm chứa nhiều lo lắng.  Tôi thường hay nghĩ đến hai ví dụ, hai kinh nghiệm, một nhỏ, một lớn: Hội An và Nhật Bản.  Gần đây người ta thường nói nhiều đến Hội An, được coi như một nơi đã giữ gìn rất tốt “bản sắc”          Tư duy phương Đông rất coi trọng vấn đề cơ hội, mà họ gọi là “Thời”.                 Mùa Xuân này, vấn đề Thời lại một lần nữa đặt ra với chúng ta. Một lần nữa đòi hỏi ở chúng ta một quyết đoán lớn, kịp thời, không quá chần chừ, rất có thể cho cả trăm năm sau của đất nước.             riêng của mình, thành đạt hiện nay về văn hoá và du lịch chính vì nét đặc sắc đó, thậm chí chừng nào đó đã có thể tạo thành cái gọi là “hiện tượng văn hóa Hội An”… Nhưng thử nghĩ xem nếu quả thật có hiện tượng đó thì nó đã được tạo nên bằng cách nào? Hội An là nơi hội nhập sớm nhất, nhiều nhất, mở nhất, triệt để nhất của nước ta từ cách đây ba hay bốn thế kỷ. Đấy là nơi đầu tiên ở nước ta tiếp xúc với phương Tây. Mở đến mức cho phép thành lập một “thành phố” Nhật và một “thành phố” Hoa gần như tự trị ngay trên đất của mình. Và nói cho cùng thì văn hóa Hội An là văn hóa gì? Chính là sự tổng hợp của văn hoá bên trong (kể cả văn hóa Chăm mà người Việt tiếp thu khi đi vào Nam) với tất cả những văn hoá đến từ bên ngoài Tây, Tàu, Nhật, không từ chối, không kỳ thị với bất cứ ảnh hưởng nào hết, và hầu như cũng chẳng có “cảnh giác”, đề phòng, rào cản nào cả. Hoặc cũng có thể nói cách khác, nếu văn hoá là một thứ bản lĩnh, thì bản lĩnh của Hội An chính là không sợ bất cứ sự du nhập nào cả, bản lĩnh của Hội An chính là một sự đa văn hoá rất dễ và nhẹ, bình tĩnh và tự tin. Tức Hội An, cách đây mấy thế kỷ đã hội nhập mà không quá lo lắng sẽ đánh mất mình, để có thể hội nhập được một cách thật chủ động, đàng hoàng, nên cuối cùng đã giữ được mình nhiều nhất, tốt nhất, như lịch sử đã và cả hôm nay đang chứng minh.  Người Nhật cũng thường rất thích đến Hội An, chắc vì nhiều kỷ niệm lịch sử gắn bó ở đấy, nhưng cũng có thể không chỉ có thế. Có thể họ gặp ở Hội An một điều gì đó từng gần gũi với họ trong thái độ và kinh nghiệm hội nhập. Cách đây mấy thế kỷ, họ đã Âu hóa thật quyết liệt và triệt để, mà hình như hồi bấy giờ họ không lo lắng và cũng chẳng nói gì mấy đến “chọn lọc”, “cảnh giác”, “giữ mình”. Họ ra sức học phương Tây đến cùng, thậm chí, như có người nói, đã từng bỏ cả một thế hệ chỉ đi học và “bắt chước” để về làm ngay đã, từ đó rồi mới tính tiếp đến chuyện “độc lập, sáng tạo”. Có lẽ cách đặt vấn đề của họ không phải là hiện đại nhưng vẫn dân tộc, không có nhưng nào cả, mà là hiện đại hóa dân tộc, yêu cầu sống còn, thế thôi. Kết quả, họ đã thịnh vượng vào những nước hàng đầu thế giới, và cũng rất đặc sắc và độc đáo dân tộc ít ai bằng.   Hai ví dụ có thể giúp ta suy nghĩ trên đường đi tới hôm nay chăng?      ***  Tôi rất thích một câu của Engels: “Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp là lịch sử mà mỗi bước tiến là một bước lùi tương đối”. Không có sự đi tới nào không có mất mát, song dẫu sao vẫn là đi tới. Nếu ngày nay mất mát có nhiều hơn, ấy là vì những bước đi tới cũng lớn hơn. Hạnh phúc, vậy đó, là một khái niệm rất tương đối. Phải đánh đổi. Và hình như kinh nghiệm lịch sử cho thấy ai dám đánh đổi thì sẽ được nhiều hơn là mất. Ngập ngừng, rụt rè, “cảnh giác” nhiều quá, lắm khi lại dẫn đến đánh mất mình.  Bởi còn có vấn đề cơ hội.  Tư duy phương Đông rất coi trọng vấn đề cơ hội, mà họ gọi là “Thời”.  Mùa Xuân này, vấn đề Thời lại một lần nữa đặt ra với chúng ta. Một lần nữa đòi hỏi ở chúng ta một quyết đoán lớn, kịp thời, không quá chần chừ, rất có thể cho cả trăm năm sau của đất nước.   Nguyên Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên hết và chủ yếu là Nhà nước      Năm 2020 Việt Nam cần đến 47 triệu tấn lúa cho trên 100 triệu dân chứ chưa nói xuất khẩu. Trong khi năm 2010 sản xuất mới được 40 triệu tấn lúa và xuất khẩu gần 7 triệu tấn gạo. Do vậy việc bảo đảm an ninh lương thực cho Việt Nam trong những thập kỷ 30- 40 sắp đến cũng trở thành vấn đề quan trọng có tính sống còn.  Bài viết này thử lạm bàn về bài toán an ninh lương thực trong điều kiện biến đổi khí hậu nước biển dâng, chủ yếu là cho vùng trọng điểm lúa số một cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).      Nông dân Việt Nam nói chung, nông dân ĐBSCL nói riêng là những người sản xuất theo truyền thống tuyệt vời. Từ sau đổi mới – hội nhập, họ cũng là người tiên tiến không thua ai. Họ biết tự học hỏi mày mò để sản xuất ra giống cây – con, chế tạo máy hút bùn – đào đất, máy gặt – đập – suốt lúa từ thô sơ đến máy liên hợp … và cả làm “Thần đèn” dời nhà, dời cả nhà chùa, nhà thờ v.v…Vậy mà như vô tình có lúc ta đi hỏi họ: “Nên trồng cây gì, nuôi con gì, bán cho ai”! Đành rằng họ có ơn lớn trong sự nghiệp đổi mới, cứu đất nước thoát khỏi thời khủng hoảng đen tối những năm giữa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Nhưng họ không thể giải bài toán này. Vì đó là trách nhiệm tự nhiên của “Ba nhà” ở giới thượng tầng. Đó là: Nhà nước, Nhà doanh nghiệp và Nhà khoa học. Trong đó trước nhất, trên hết và chủ yếu là Nhà nước:  – Nhà nước phải xác định lại qui hoạch và bảo vệ qui hoạch vùng sản xuất lúa quốc gia. Phải sống chết mà giữ cho được diện tích đó, ít nhất trong 50 năm. Chuyển mục đích từ 01 đến 05 ha phải do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT duyệt và chịu trách nhiệm trước cả nước. Hạn trên đó phải do Thủ tướng duyệt. Các tỉnh trong vùng, làm qui hoạch sử dụng đất không được làm theo “tư cách  quốc gia”, nghĩa là như cả nước, ai có gì mình có nấy như: Cảng sông biển, sân bay, sân golf, khu công nghiệp, nhất là công nghiệp đóng tàu, công nghiệp ô nhiễm như nhà máy giấy, thuộc da, dệt nhuộm, tái chế phế liệu v.v… là không được đem về đây.  – Vùng sản xuất phải được qui hoạch lũ trong điều kiện nước biển dâng và tần suất ngập lụt thiên tai (như hiện nay). Quản lý sản xuất phải theo qui hoạch, không để tự phát. Không bảo đảm thì kiên quyết không sản xuất lúa trong mùa nước mà chuyển sang nuôi hoặc trồng cây con khác phù hợp.  – Mỗi trường ĐH, Viện nghiên cứu trong vùng, thậm chí cả nước cần được giao nhiệm vụ, đề tài có liên quan đến vùng trọng điểm lúa. Mỗi kết quả nghiên cứu hay sáng kiến được áp dụng làm lợi, kể cả của nông dân đều phải được công nhận, trả công và bảo vệ bản quyền. Không cần khen thưởng cho oai. Phải có cơ quan, người cầm cân nảy mực cụ thể được giao nhiệm vụ này.  – Các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo phải hội đủ điều kiện. Không cấp phép cho “công ty giỏ xách” xuất khẩu gạo mà không có kho, không có hợp tác với nông dân. Có thể tham khảo mô hình Công ty CP Bảo vệ Thực vật An Giang đang làm. Vừa sử dụng đội ngũ kỹ sư nông nghiệp ra trường ngày càng nhiều, đem chất xám về nông thôn, không chỉ có “cùng nông dân ra đồng” làm lúa mà còn xây dựng nông thôn mới. Vừa bảo đảm đầu vào sản xuất cho nông dân (kỹ thuật, vật tư, giống…), vừa bảo đảm đầu ra (tiêu thụ lúa) thuận tiện và có văn hóa cho nông dân. Hiện nay Bộ Công thương và Bộ NN&PTNT đang “lọc“ lại từ trên hai trăm công ty kinh doanh xuất khẩu gạo, chọn những công ty có năng lực thật sự. Về điểm này, ta cần tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan. Phải khẳng định vai trò hạt nhân của doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo để giúp họ chứ không ai khác. Nhưng họ phải là hạt nhân thật sự chứ không phải là ký sinh, chụp giựt. Nông dân giỏi mà chưa giàu là vì “Nhạc trưởng” chưa có gậy chỉ huy đúng nhịp và thành phần doanh nghiệp ăn theo lúa gạo quá đông!  – An ninh lương thực là Nhà nước lo, không để cho nông dân lo như hiện nay. Khi giá lúa tăng thì Chính phủ sợ dân nghèo không đong gạo nổi nên kiềm giá. Nhưng kiềm giá cho 20% dân nghèo và ngưỡng nghèo thì 80% còn lại hưởng lợi là không công bằng. Thái Lan hiện giờ họ còn phát tem phiếu gạo cho người nghèo để Chính phủ bù giá. Ta từng làm rồi sao nay lại bỏ. Năm Liên Xô sụp đổ, tôi đến một nước tư bản rất giàu, họ còn độc quyền quản lý gạo, muối, đường ăn do các công ty quốc doanh và HTX thu mua giá thế giới, thậm chí cao hơn và bán lẻ bằng hoặc dưới giá thành có bù lỗ. Vậy là sao?  – Cuối cùng và cũng là trên hết là chiến lược quản trị quốc gia. Trong đó vấn đề giáo dục – dạy nghề đi đôi với khôi phục VỐN môi trường thiên nhiên và VỐN môi trường xã hội – VỐN CON NGƯỜI. Bởi muốn khôi phục, bảo vệ môi trường thiên nhiên thì dân phải không thiếu đói mới không làm thuê cho lâm tặc phá rừng, đào bới quặng, săn bắn thú… Dân có học, có nghề, có việc làm là điều kiện tiên quyết để có VỐN NGƯỜI. Dạy nghề nông thôn phải tách bạch với dạy nghề của Khuyến nông. Không tách ra thì không chuyển dịch lao động được. Không thể dạy đan rổ rá, lợp lờ hay dạy làm ruộng nuôi heo mà gọi là dạy nghề để chuyển dịch kinh tế. Bởi đơn giản là nếu làm nông dân thì các nghề ấy cha truyền con nối có gì mà phải dạy.  Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực thuộc phạm trù nông nghiệp, nhưng giải quyết các mâu thuẫn để phát triển bền vững lại thuộc phạm trù chính trị – xã hội. Vốn tự nhiên (tài nguyên trên mặt và dưới lòng đất) ta không còn nhiều và đang bị khai thác vô độ, vốn xã hội đang bị vơi nhanh, vốn thời gian cũng không còn rộng rãi như thời vàng son đổi mới đã qua – 25 năm! Bài toán khí hậu và an ninh lương thực phải được giải đồng bộ đồng thời với xử lý và khắc phục những vấn đề nêu trên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí nhớ tập thể và danh tính dân tộc      Trong một thế giới đầy biến động và phân cực mà nổi lên là hiện tượng những đám đông bị lôi kéo theo các định kiến thiên lệch, hẹp hòi, bài viết của GS Darriulat cảnh tỉnh chúng ta hãy nhận thức đầy đủ về trí nhớ tập thể. Đây là điều rất cần thiết trên con đường phát triển trưởng thành và chung sống một cách văn minh, hòa hợp giữa các dân tộc.      Tranh Bà Triệu của Xuân Lam, phỏng dựng lại từ tranh dân gian Đông Hồ.   Nếu biết học hỏi từ quá khứ thì chúng ta hẳn đã tôn trọng thay vì gây chiến tranh với đồng loại; ta sẽ yêu đất nước mình mà không tuyên bố rằng nó tốt đẹp hơn những đất nước khác, yêu nước cả những khi thành công và thất bại, giống như yêu thương con mình; ta sẽ tò mò về văn hóa các nước láng giềng, ham học hỏi và chia sẻ cho nhau những nét riêng tốt đẹp nhất; ta sẽ biết phân biệt ai là người đang phụng sự lẽ phải tự nhiên, ai là kẻ muốn áp đặt bá quyền; ta cũng có thể sẽ học được cách chung sống yên bình và hài hòa. Để thực hiện ước muốn đó, cũng giống như các nước láng giềng, chúng ta cùng phải học về lịch sử. Tuy nhiên, thói thường khiến người ta học lịch sử một cách không đầy đủ và khách quan: chỉ học từ những gì được giữ lại trong trí nhớ tập thể.    Để củng cố khối đoàn kết quốc gia, chúng ta cần những biểu tượng định danh: quốc kỳ, quốc ca, tiêu ngữ. Độc lập – tự do – hạnh phúc là một tiêu ngữ hay và đáng tự hào của Việt Nam. Tiêu ngữ của nước Pháp không có độc lập và hạnh phúc, nhưng có bình đẳng và bác ái, cũng là tiêu ngữ hay. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần những hình ảnh biểu trưng và người hùng dân tộc, đại diện cho những giá trị mà chúng ta tin tưởng, là nền tảng để dựng nên cơ đồ. Người Việt coi mình cùng từ một bọc trứng, nên gọi nhau là đồng bào và con Lạc cháu Hồng. Những người anh hùng của Việt Nam đầy vinh quang, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, và gần gũi với chúng ta là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Lời Bà Triệu về quyền tự do còn vang mãi: Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người? Chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị thà trẫm mình xuống sông thay vì đầu hàng giặc Hán; những anh hùng hi sinh trong lớp thanh niên Việt vì độc lập dân tộc đánh đuổi thực dân Pháp: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Quang Thái, Lý Tự Trọng. Nguyễn Văn Trỗi trước những họng súng của đội xử bắn chính quyền Việt Nam Cộng hòa đưa ra lời nói sau cùng cũng còn ghi lại trong trí nhớ tập thể của người Việt: chính người Mỹ đã xâm lược đất nước ta, chính họ giết nhân dân ta bằng máy bay và bom đạn… Tôi chưa bao giờ đi ngược lại ý chí nhân dân tôi. Tôi hành động để chống Mỹ.      Lịch sử được tạo nên từ những trang vinh quang và cả những trang tối tăm. Trí nhớ tập thể thường nhớ cái trước mà quên cái sau.      Dân tộc Pháp cũng có những người anh hùng như vậy. Jeanne d’Arc, một thiếu nữ chăn cừu nghe thấy lời ba vị thánh cho biết Chúa đã chọn cô là người giải phóng đất nước đang bị người Anh xâm lược một phần. Giống như Bà Triệu, Bà Trưng, cô tập hợp quân đội đánh đuổi quân Anh khỏi bờ cõi Pháp. Cô bị người Burgundy, đồng minh của người Anh, bắt giữ và thiêu trên cọc khi mới mười chín tuổi.    Tất cả những người anh hùng ấy đều cùng chia sẻ những giá trị bất diệt làm nên phẩm giá con người: trong sáng, chính trực, dũng cảm, nhân ái, tận hiến cho lẽ phải. Tất cả họ cũng đứng cùng về một phía: những người phục thù, chống lại điều sai trái, phục hồi công lý cho tổ quốc bị xâm lược tàn nhẫn và bất công bởi ngoại bang. Đối lập với họ là những kẻ thù xấu xa. Jeanne d’Arc bị tuyên án bởi Cauchon, vị linh mục đáng khinh theo đuổi không gì khác ngoài quyền lực, phản bội và bán rẻ tổ quốc cho người Anh. Nguyễn Văn Trỗi chết dưới tay các đao phủ của Nguyễn Khánh và Dương Văn Minh, những đầy tớ của người Mỹ. Kẻ thù của Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Quang Thái là thực dân Pháp ngạo mạn đáng xấu hổ, những cai ngục Côn Đảo cùng chuồng cọp của chúng.       Trí nhớ tập thể của một dân tộc, những huyền thoại và nghi lễ, cho chúng ta những người anh hùng để kính ngưỡng, những phẩm cách để tôn vinh, những tấm gương để học hỏi. Trí nhớ tập thể cũng chỉ ra những kẻ xấu đáng lên án: sự tàn ác, hèn hạ, hủ bại, ích kỷ, thối nát, phản trắc. Đấy là mặt tích cực, nhưng ngược lại trí nhớ tập thể cũng có lúc coi cả một dân tộc nào đấy là kẻ thù, một điều hoàn toàn sai.    Khi tôi còn là một đứa trẻ, trong Thế chiến thứ II, nước Pháp bị quân Đức xâm chiếm, thế hệ cha mẹ tôi đã nuôi dưỡng lòng căm ghét và khinh rẻ họ. Trong trí tưởng tượng của tôi, họ là những quái vật đáng sợ. Một ngày nọ, trên đường về từ trường mẫu giáo, tôi gặp một người lính Đức. Tôi còn nhớ rõ, khi ấy mình chỉ hơn năm tuổi, sợ chết khiếp, nhưng người lính Đức chỉ đơn giản là hỏi tôi đường đến bưu điện, rất dịu dàng bằng tiếng Pháp. Tôi chỉ cho anh ta rằng nó ở khá gần, rồi chạy thục mạng về nhà, ngạc nhiên vì mình vẫn còn sống và tự do. Từ đó, tôi hình dung về những người Đức một cách ít đáng sợ hơn. Ít năm sau, chiến tranh kết thúc, tôi mười một tuổi, sống ở Paris; tôi còn nhớ về Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, họ họp ở cung Palais de Chaillot, trên bãi cỏ phía trước dựng lên các trạm gác lắp ghép, nhìn đối diện Tháp Eiffel; những tấm poster in hình chim bồ câu hòa bình của Picasso với nhành ô liu trên mỏ, rồi hình bé gái với Kháng cáo Stockholm bị đe dọa bởi những trái bom hạt nhân lơ lửng bên trên. Cùng khi đó, Robert Schuman ký bản Tuyên ngôn khiến Pháp và Đức gắn kết trong một thỏa thuận hợp tác sản xuất than đá và thép, hạt mầm cho Liên minh châu Âu sau này: Sự liên kết trong sản xuất được thiết lập sẽ khiến hiển nhiên mọi cuộc chiến giữa Pháp và Đức không những không thể chấp nhận được mà thực chất là không thể nào triển khai được. Sau này, tôi dành một phần ba thế kỷ 20 của mình trong vai trò là một nhà vật lý làm việc tại một phòng thí nghiệm quốc tế; nhiều trong số những người bạn tốt nhất của tôi là người Đức.    Vị đại sứ đầu tiên của nước Việt Nam non trẻ tại Pháp là Võ Văn Sung. Năm 1975 khi đất nước thống nhất, đã có sự chia rẽ trong cộng đồng người Việt ở Pháp, giữa những người ủng hộ phía Bắc và phía Nam. Những vết thương sâu cần được hàn gắn. Đây là thông điệp về hòa bình và tình yêu mà ông Sung gửi lại cho chúng ta ba thập kỷ sau đó: “Riêng ở Pháp, ông viết trong hồi ký, tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều đồng bào thuộc các hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau, kể cả những người vì lẽ này hay lẽ khác đã đứng ngoài hai cuộc kháng chiến cứu nước của Dân tộc, thậm chí, có người đã có lúc ở bên kia trận tuyến; những đồng bào ấy sau ba mươi năm nước nhà hòa bình và thống nhất đều để lại trong ký ức tôi nhiều điều đáng nhớ và nhiều tình cảm đáng trân trọng. […] Tình yêu là nền tảng, tình yêu kết nối trẻ thơ Việt Nam với đất mẹ, tình yêu mà những người ở nước ngoài hướng về những người ở trong nước”.              Chúng ta không nên tự phỉnh phờ rằng mình khác biệt và miễn nhiễm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan.      Tôi không tìm cách biện minh cho những tội ác và sự bóc lột từng diễn ra trong lịch sử. Điều ấy không phải bàn cãi. Vấn đề ở đây là cần ý thức rằng khi một cộng đồng bị đặt trong một tình huống nào đó, người ta sẽ dễ bị dẫn dắt theo số đông. Những người anh hùng là ngoại lệ, những kẻ xấu cũng thuộc về số ít, nhưng đa số mọi người dễ bị cuốn theo đám đông. Chúng ta cần khiêm nhường, nhận ra không khó để cả một cộng đồng trở nên hèn nhát, và cũng dễ để giấu tội ác dưới danh nghĩa yêu nước. Thật đơn giản nếu chúng ta lý giải sự lên ngôi của Đức Quốc xã là do người Đức ngu xuẩn. Họ không ngu xuẩn, ít nhất là không hơn chúng ta. Chúng ta không nên tự phỉnh phờ rằng mình khác biệt và miễn nhiễm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nhân loại không khác biệt, và cách nhanh nhất để bị nhiễm độc chính là cho rằng dân tộc mình khác biệt. Để tự bảo vệ mình khỏi những con virus ấy chúng ta cần tỉnh táo trước nguy cơ bị chi phối, cần tạo ra những liều kháng sinh mạnh bằng cách đấu tranh không ngừng chống lại sự dốt nát, xây dựng sự quan tâm trong cộng đồng.    Trí nhớ tập thể là thứ không thể xuất khẩu. Với Thế chiến thứ II, người Mỹ thường chỉ nhớ Trân Châu Cảng và Ngày D, người Nga thường nhớ Stalingrad, người Nhật thường nhớ Hiroshima và Nagasaki. Người anh hùng của dân tộc này có thể là kẻ thù của dân tộc khác, chiến thắng và vinh quang của người này cũng có thể là bại trận và đau thương của người khác. Quốc ca Pháp là một bài hát chiến tranh viết trong Cách mạng Pháp. Chỉ khi tới Việt Nam, tôi mới nhận ra nó có thể gây xúc phạm thế nào khi xướng lên ở một quốc gia khác. Khổ đầu bài hát: Bạn có nghe, trong các làng ta, tiếng gào thét của những tên lính hung ác? Chúng vào từng nhà tàn sát vợ con ta. Nhưng chính người Pháp đã làm như vậy trên đất Việt cơ mà. Tôi nhớ từng khẽ tâm sự về điều này cùng cảm giác xấu hổ của mình với một người láng giềng khi ở tòa sứ quán Pháp lúc bài quốc ca xướng lên nhân dịp kỷ niệm ngày cướp ngục Bastille; ông ấy đáp lại: thưa ngài, khi quốc ca được xướng lên ta nên lắng nghe và im lặng.        Lịch sử được tạo nên từ những trang vinh quang và cả những trang tối tăm. Trí nhớ tập thể thường nhớ cái trước mà quên cái sau. Chúng ta khó thay đổi quy luật ấy. Sự quên lãng tập thể gần đây đã thu hút mối quan tâm của các nhà khoa học xã hội, bạn có thể đọc trên internet nhiều nghiên cứu về điều này; các dân tộc đã nhớ và quên các chương đau đớn trong lịch sử như thế nào: việc tàn sát người Do Thái đối với người Đức, người Mỹ đối với việc tàn sát tập thể người da đỏ và ách nô lệ đặt lên người da đen, người Anh, Pháp đối với thời kỳ thực dân, v.v. Lịch sử cũng cho thấy chúng ta dễ biến tình yêu nước thành thù hận với dân tộc khác như thế nào. Bốn năm qua trên nước Mỹ cho thấy chủ nghĩa dân tộc dễ dàng đe dọa một nền dân chủ, dựng lên những bức tường sắt trên biên giới, đánh thức nạn phân biệt chủng tộc và khiến đám đông tin vào những lời dối trá. Bốn năm qua cũng cho thấy những cuộc cách mạng và xu hướng toàn cầu hóa các phương tiện truyền thông, các mạng xã hội, với Twitter, Instagram và những nền tảng khác, đã giúp truyền bá tin giả nhiều hơn là chống lại sự dốt nát. Nhớ lại giữa thế kỷ 19, Marx và Engels ước muốn giải phóng nhân loại khỏi sự thống trị của tiền tài, chấm dứt sự bóc lột giữa người với người, với khẩu hiệu: vô sản trên mọi quốc gia đoàn kết lại! Bạn không có gì để mất ngoài xiềng xích. Nhưng một thế kỷ sau, toàn thế giới rơi vào hai cuộc chiến tàn khốc với khoảng tám mươi triệu người chết mà nạn nhân đa số là những người vô sản.    Chuyện ấy chẳng bao giờ lặp lại ư! Thế giới sẽ còn ghi nhớ được bao lâu? □     Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Trí thức dân tộc thiểu số      Không ít dân tộc thiểu số có nhà khoa học, nhà văn của mình, nhưng trước vấn đề của cộng đồng, họ đã làm gì? – Không gì cả! Với Chăm, Thái hay Tày đã thế, các dân tộc khác chưa có nhà văn, thậm chí chưa tiến sĩ, tình hình càng tệ hơn. Không ai khả năng giúp chính quyền và người ngoài tộc hiểu vấn đề mình, hiếm ai thẳng thắn nói lên ý nguyện thiết yếu từ cộng đồng hay góp tiếng nói xây dựng cộng đồng.  Vậy làm thế nào để đào tạo trí thức dân tộc thiểu số?    Có thể đào tạo đội ngũ học thức phục vụ công tác nào đó – chuyên môn hay xã hội –, riêng trí thức – không! Trí thức là kẻ tự tôi luyện qua va chạm thực tế trong không gian trí thức mở. Nhưng không phải vì thế mà một nền giáo dục không thể chuẩn bị cho thành phần này ra đời. Ở đây, có ba vấn đề đặt ra:  * Trang bị kiến thức phổ thông. Hiệu quả giáo dục và đào tạo ở ta lâu nay ra sao dư luận kêu nhiều rồi, không nhắc lại. Riêng trường hợp các dân tộc thiểu số, có hai vấn đề. Thứ nhất: “chế độ ưu tiên” vừa đúng vừa sai. Đúng, khi con em dân tộc cư trú vùng sâu vùng xa ít điều kiện tiếp xúc môi trường sách vở, họ được ưu tiên qua lớp Đại học dự bị là cần. Nhưng sau đó, tuyển thẳng họ vào Đại học mà không qua sát hạch sòng phẳng, thì sai. Không ít bác sĩ, kỹ sư ra trường với trình độ rất thấp, đã làm trì trệ xã hội. Thứ hai: Đến hôm nay, việc phổ cập kiến thức văn hóa dân tộc vẫn chưa được các chương trình Đại học quan tâm đúng mức. Bộ phận sinh viên này rất mù mờ về văn hóa dân tộc sau khi rời giảng đường, cả sinh viên ngành Văn hóa. Hơn phân nửa sinh viên Chăm còn mù cả chữ mẹ đẻ nữa! Họ hành xử thế nào, khi va chạm thực tế cuộc sống? Bởi tiếng nói quyết định về phát triển xã hội ở ngày mai không còn là của già làng nữa, mà phải là thế hệ trẻ được đào tạo rất căn bản, của hôm nay.  * Chuẩn bị nền tảng tinh thần tự do. Là điều thiết yếu để người học thức có khả năng suy tư độc lập, dũng cảm lên tiếng trước bức xúc xã hội, dám góp tiếng nói về các vấn đề cộng đồng để thúc đẩy tiến bộ cộng đồng. Tránh cho họ thái độ sống chết mặc bay, trở thành kẻ ươn hèn, hoặc xu phụ quyền lực đủ loại. Đánh giá sự trưởng thành tinh thần của một dân tộc, không phải ở đất nước đó đào tạo bao nhiêu vị khoa bảng, nhà khoa học hay bác sĩ hàng đầu mà chủ yếu ở giới trí thức đứng ở đâu, phản ứng thế nào trước vấn nạn xã hội.  Được biết, Bàn về tự do của John Stuart Mill được coi là tác phẩm kinh điển bên phương Tây, mười hai năm sau xuất bản tại Anh (1859), người Nhật đã dịch và in hàng triệu bản phát hành rộng rãi. Ngay thời Duy Tân, Nhật Bản đã chuẩn bị cho các thế hệ tiếp nối tinh thần tự do rồi. Sau đó, tiến bộ của đất nước mặt trời mọc thế nào thì miễn bàn.  * Tạo không gian trí thức. Diễn đàn báo chí hay cuộc gặp gỡ trao đổi giữa đại diện chính quyền và giới trí thức sự hiểu biết lẫn nhau, giúp đất nước phát triển. Bởi, nếu chưa có không gian trí thức đúng nghĩa thì không thể hình thành tầng lớp trí thức. Trí thức hoặc trở thành người phản kháng vô vọng, hoặc kẻ đi hàng hai tệ hại và tai hại. Từ đó, trí thức hết còn là nhân tố phản biện tích cực cho xã hội.  Với dân tộc thiểu số, đa phần cán bộ, viên chức làm việc tại cơ quan Nhà nước ở các trung tâm văn hóa lớn, sợi dây liên hệ với bản làng bị cắt đứt, họ lạc lõng giữa người đa số và, rất ít cơ hội phát biểu chính kiến về cộng đồng mình. Những người làm việc tại các tỉnh và địa phương, do điều kiện vật chất và sự tòng thuộc cấp trên, càng không dám nói thật, dù họ phải chứng kiến chuyện chướng tai gai mắt, hằng ngày. Ai, tổ chức nào tạo không gian trí thức cho họ? Và tạo như thế nào?  Trí thức, những người trung chuyển tư tưởng chuyên nghiệp (professional secondhand dealers in ideas) – như cách nói của Fr.Hayek – không cần là nhà chuyên môn đầu ngành hay kẻ xuất chúng. Vị thế, thói quen bám sát thời sự, tinh thần dấn thân và uy tín trí thức khiến họ dũng cảm và biết lên tiếng về mọi vấn đề xã hội. Họ nói, và dư luận lắng nghe. Quan điểm hay ý kiến của họ ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng.  Nếu trí thức dân tộc thiểu số chưa được trang bị tri thức văn hóa dân tộc, bên cạnh thiếu dũng khí trí thức, thì làm sao họ có thể “trung chuyển” ý kiến cộng đồng lên cơ quan các cấp, hay để giải quyết vấn đề cộng đồng? Khi kiến thức về văn hóa dân tộc thua kém già làng thì đề nghị cải tổ “hủ tục” của bạn sẽ bị coi là phản truyền thống, hỏi bạn có thể thuyết phục cộng đồng nghe “khoa học tiên tiến” mới lạ không? Hoặc, nếu bạn không có tiếng nói bênh vực quyền lợi chính đáng của cộng đồng, hỏi bạn đủ uy tín với đồng bào không? Không thể! Hoạt động trí thức tê liệt là điều khó tránh khỏi. Và, thiệt thòi là luôn thuộc về xã hội và đất nước.      Inrasara      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức là ai?      Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.    Bàn chuyện trí thức, “trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm”, tôi xin nêu lên một số quan niệm và cách hiểu về “trí thức” ở nước ngoài. Chữ “Intelligentsia” mà ta dịch là “trí thức” gốc từ Nga. Cách đây gần hai chục năm trên một tờ tạp chí Liên Xô có một cuộc thảo luận bàn tròn về “Trí thức xưa và nay”. Tham gia thảo luận là các nhà đông phương học Liên Xô hồi đó. Tôi xin trích dịch một số ý kiến nêu ra đây tham khảoi. V. I. Maksimenko quan niệm trí thức: “Đó là một kiểu ý thức và đó cũng là một môi trường văn hóa xã hội, nhờ đó ý thức này được sinh ra, được duy trì, được phổ biến và được truyền lại cho thế hệ khác hay dân tộc khác. Có thể có những quá trình xã hội – lịch sử mà trong lòng chúng trí thức không những thể hiện mình ra, mà về nhiều mặt còn có khả năng quy định chiều hướng đời sống của dân tộc. […]. Trí thức bao giờ cũng có tính “quốc tế” và tính “thế giới”, nhưng không phải do sự đoạn tuyệt mang tính chất hư vô chủ nghĩa với các mối quan hệ nền tảng của mình, mà do các khát vọng của nó mang tính toàn nhân loại và do nó không chấp nhận vai trò làm nhà tư tưởng cho những quyền lợi phe nhóm, hạn hẹp. Vì thế nó không thể tạo thành “giai cấp” cũng như không thể lập thành “đảng phái”: mọi mưu toan trên con đường này đều sẽ biến thành sự tự bứt mình khỏi cuộc sống hiện thực làm khô cứng giới trí thức”. Theo ông, tất cả mọi tấn kịch của trí thức đều xa gần liên quan đến một mâu thuẫn nảy sinh tự chính bản chất của trí thức: định hướng tự trị về tư tưởng – cuộc sống – hoạt động và nhu cầu biến sự tự trị đó thành cái được xã hội thừa nhận, điều này thể hiện rõ nhất trong quan hệ với “quyền lực” và “Nhân dân”. Nói chính xác hơn: “Ở đâu các quan hệ này không được ý thức, chúng ta có thể tha hồ tìm thấy các cấu trúc trí tuệ phát triển cao, nhưng không tìm được trí thức. Trong quan hệ với quyền lực, trí thức có thể đứng ở vị trí hợp tác hay đối lập, đối thoại hay bác bỏ hoàn toàn, nhưng có một điều nó không thể làm: trùng khớp với quyền lực và biến thành một trong những hiện thân của nó mà vẫn giữ được mình là trí thức”. G. S. Pomerants cho rằng “trước thời Phục Hưng của châu Âu… không có các nhà trí thức theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Chỉ có các tiền trí thức. Họ xuất hiện cùng với triết học”. Ông theo quan niệm của M. Buber là “có hai kiểu người mang văn hóa trí thức thay nhau bước ra tiền đài lịch sử. Kiểu “ổn thỏa” thể hiện trong mình văn hóa như là hệ thống chức năng chuẩn mực; kiểu “đặt vấn đề”, ngược lại, – đó là người mang sự khủng hoảng văn hóa, sự tả tơi, đổ nát, và sự thay thế các hình thức của nó. Nhà tư tưởng kiểu ổn thỏa, ngay dù có nghiên cứu triết học đi nữa, cũng biến nó thành một khoa học hệ thống chuyên ngành (Aristotel, Hégel). Nhà tư tưởng kiểu đặt vấn đề, giống như Hamlet, tìm cách khôi phục cái thế giới bị “lung lay”, “trật khớp” (Pascal, Kierkegaard). Sự khác biệt giữa các thời đại chỉ là ở mức độ ảnh hưởng của kiểu này hay kiểu kia mà thôi”.        Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.        Điều thú vị là có sự phân biệt giữa “intelligent” và “intellectual”. Rất khó dịch hai từ này, gọi là “thông thái” và “trí thức” có được chăng? Tôi cứ để ngỏ cách dịch nghĩa, nhưng theo tôi, đây có lẽ là chỉ hai dạng trí thức khác nhau (hay hai dạng khác nhau nối tiếp nhau của trí thức) thuộc hai kiểu văn hóa khác nhau, có thể là dạng Đông và dạng Tây. E. A. Torchinov đặt câu hỏi: “Có phải intelligentsia hiện diện như là dấu hiệu quan trọng của một nền văn hóa này hay khác, hay tầng lớp này xuất hiện ở một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, rồi sau biến mất (được thay bằng, chẳng hạn, các chuyên gia hay các “intellectual”)? Có phải intelligent là người quá độ từ người học giả trung đại sang người intellectual thời mới ở châu Âu?” Ông cho câu trả lời sẽ là khẳng định nếu như không có thực tế Trung Quốc với tầng lớp nhà nho ở đây. Theo ông từ nho gần với quan niệm về “intelligent” của Nga hơn với quan niệm về “intellectual” của phương Tây. Và mặc dù nhà nho chưa phải là trí thức theo đúng nghĩa của từ này, nhưng đó là nền tảng cho trí thức có thể xuất hiện khi có điều kiện thích hợp. A. I. Kobzev cho chữ nho là bao gồm cả “intelligent” và “intellectual”. Ông dẫn ý kiến của nhà Trung Quốc học nổi tiếng người Anh J. Needam cho rằng quan niệm” công danh rộng mở cho người tài” mà nhiều người gắn với cuộc Đại Cách Mạng Pháp, thật ra lại không phải xuất từ Pháp hay châu Âu nói chung, mà là từ Trung Quốc. Thế kỷ XX các dân tộc châu Âu lấy thi cử để tuyển viên chức, ấy là đã có ý dựa theo kinh nghiệm của Trung Quốc. A. I. Kobzev cho rằng “intelligentsia” theo nghĩa chuẩn mực và rộng nhất là tầng lớp người lao động trí óc. Nhưng định nghĩa đó quá rộng, cần thu hẹp lại bằng cách chỉ ra: một, cấp độ học vấn; hai, kiểu lao động trí óc (sáng tạo, tự do, phi tôn giáo); ba, các quan niệm và phương châm tư tưởng hệ quan trọng nhất (niềm tin vào sứ mệnh riêng của mình, sự hướng theo những tư tưởng tiến bộ, thái độ phê phán đối với truyền thống, sự đối lập với quyền lực, lòng yêu dân); bốn, sự tự nhận diện của intelligentsia với tư cách tự nó.  Trong cuốn sách Người mất hướng (L’homme dépaysé), Tzvetan Todorov, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng gốc Bungary sống tại Pháp, đã đưa ra nhiều suy nghĩ về trí thức, nhất là người trí thức “dépaysé”. Trong một đề mục “Chính trị của trí thức”, ông tán thành sự xác định của Montaigne phân biệt ba vị thế đối với chân lý và các giá trị tinh thần: “vị thế của người hư vô chủ nghĩa (như cách chúng ta nói hiện nay), những người từ chối tìm kiếm chúng; vị thế của người giáo điều, những người đã tìm thấy chúng; và vị thế của người nghiên cứu không mệt mỏi, những người tiếp tục tìm kiếm ngay cả nếu như họ biết rằng sự tìm kiếm không đi đến đâu cả. Ranh giới giữa loại người sau và người hư vô chủ nghĩa mà hiện nay đặc biệt nhiều là rất lớn, bởi nó được xác định bằng các mục đích cuối cùng. Ranh giới giữa họ và người giáo điều mỏng manh hơn, bởi đây chủ yếu liên quan đến các phương tiện để đạt mục đích: người giáo điều có được giá trị nhờ vào truyền thống (mang tính tôn giáo hay không) hoặc nhờ vào sự đốn ngộ thoáng qua (từ lời lẽ của vị thủ lĩnh có phép mầu nhiệm hay từ sáng tạo của nghệ sĩ thiên tài), còn người tìm kiếm chân lý và các giá trị tinh thần có được chúng thông qua sự nhận thức Vũ Trụ và thông qua sự đối thoại giữa mọi người. Trí thức kiểu thứ ba, không giáo điều không hư vô, làm việc cả với chân lý, cả với các giá trị tinh thần, điều đó do chính thiên chức của nó gây nên; hơn thế ở cả hai mặt nó đều đạt được sự hài hòa, bởi nó không tin vào những chân lý có sẵn, không tin vào các giá trị chỉ dựa trên hành động đức tin. Kiểu trí thức như thế, ngược lại với hai kiểu kia, không phải là lỗi thời”ii.  Edgar Morin, nhà khoa học xã hội Pháp, cho thuật ngữ “trí thức” gồm có ba điều: 1) Chỉ người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần; 2) Các hoạt động đó có tác động đến đời sống chính trị và xã hội của xã hội quanh họ; và 3) Loại người này có ý thức tuân theo các nguyên lý phổ quát thích hợp. Điểm thứ ba trong định nghĩa “trí thức” của Edgar Morin nghĩa là thế nào? Đó có nghĩa là trí thức phải có được tính bất đồng sáng tạo và tinh thần phê phán, phải duy trì được “độ căng” giữa lý tưởng và thực tế. “Bản chất tuyệt đối của các lý tưởng của trí thức ngăn họ có những thỏa hiệp nửa vời, “nửa sự thật”, mà các nhà chính khách thấy khó tránh khỏi”iii.  Những cách hiểu và định nghĩa về trí thức nêu trên có thể cho thấy một quan niệm thống nhất: trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.  ***  Theo tôi, hiện nay ở Việt Nam có những trí thức có nhân cách kẻ sĩ, nhưng rất ít người có tư cách trí thức.  Cố giáo sư Trần Đình Hượu (1925 – 1995), một nhà nghiên cứu tư tưởng và văn hóa nổi tiếng cho rằng, theo hành trình của nhà nho trong lịch sử, thì từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, chúng ta có các loại hình: nhà nho – Tài tử, nhà nho – Cần vương, nhà nho – Duy tân, nhà nho – Tây học, nhà nho – Cách mạng. Nho ở đây chỉ một tính chất, một loại hình, bất luận hoàn cảnh xuất thân và học vấn, và có thể nói nó là xuyên/liên thời đại nữa. Chất kẻ sĩ là sự khảng khái và bất chấp, bộc lộ rõ và có tác động mạnh về mặt đạo đức. Tư cách trí thức thì khác, đó là sự suy nghĩ độc lập và dám đi đến cùng trong sự suy nghĩ của mình trên cơ sở học vấn tri thức và khả năng tư duy khoa học, không chịu hệ lụy và ràng buộc nào từ ngoại cảnh dù nhân danh gì.  Để trí thức Việt Nam có thể lớn mạnh thành một tầng lớp đúng nghĩa và có vai trò tích cực đối với xã hội thì chúng ta phải vận hành một thứ văn hóa chính trị tham dự. Văn hóa chính trị (political culture) là một quan niệm chỉ sự hành xử của người dân đối với chính quyền, hay chính trị nói chung. Đó là “Sự định hướng của các công dân của một quốc gia đối với đời sống chính trị, sự nhận thức của họ về tính hợp thức chính trị và các truyền thống của thực tế chính trị” (“The orientation of the citizens of a nation toward politics, and their perceptions of political legitimacy and the traditions of political practice” www.photius.com/countries/brazil/glossary/). Có nhiều thứ văn hóa chính trị khác nhau tùy theo cấp độ và kiểu loại tham dự chính trị cũng như tùy theo thái độ của người dân đối với đời sống chính trị. Almond và Verba, hai tác giả công trình nghiên cứu nổi tiếng về chính trị học “Văn hóa dân sự” (The Civic Culture, 1963) đã nêu lên ba kiểu văn hóa chính trị tinh (pure type) như sau: – Kiểu giáo dân (Parochial): Nơi các công dân chỉ mơ hồ biết là có chính quyền trung ương tồn tại và họ sống gần như không quan tâm gì đến các quyết định của Nhà nước – Kiểu thần dân (Subject): Nơi các công dân biết có chính quyền trung ương tồn tại và họ phụ thuộc nhiều vào các quyết định của nó với rất ít sự bất đồng, phản đối. – Kiểu tham dự (Participant): Nơi các công dân có khả năng tác động đến chính quyền bằng nhiều cách khác nhau và họ bị ảnh hưởng bởi việc đó. Ba kiểu tinh này của văn hóa chính trị có thể kết hợp với nhau, phối hợp những yếu tố đắc dụng của mỗi cái, tạo thành văn hóa dân sự.  i Tạp chí “Các dân tộc Á Phi” (Narody Azii i Afriki), số 2/1990, tr. 39-56.  ii Tzvetan Todorov. L’homme dépaysé.  242 p., Seuil, Paris. 1996.       iii Dẫn theo Yue Daiyun. Comparative Literature and China, Peking University Press, 2004, tr. 211.      Phạm Xuân Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức là ai? Họ đang làm gì?      * Báo Tuổi trẻ ngày 19/7/2006, bạn đọc Linh Trang viết: “Chạy… “tiến sĩ”!… ai “chạy” khỏe nhất? Trước hết là các quan chức trong ngành giáo dục và bên ngoài. Một chủ nhiệm khoa, một phó hiệu trưởng, một hiệu trưởng… có thâm niên quen biết nhiều, khi cần có cái bằng tiến sĩ đụng đâu có người giúp đó vì tình cảm cũng có nhưng chủ yếu vì mối quan hệ “có đi có lại”, “cộng tác lâu dài”, tôi lo cho anh thì anh lo cho tôi… Chống gian lận thi cử, trước hết các quan chức to, nhỏ trong ngành giáo dục, trong các trường đại học… không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước thực trạng này!”        Một bản tổng kết quá hay, cực chính xác với những cụm từ đích đáng: quan chức trong ngành và bên ngoài, có thâm niên, có đi có lại, lâu dài…  Nhân việc Bộ trưởng mới Nguyễn Thiện Nhân khen thầy giáo Khoa, em họ tôi, một phó hiệu trưởng PTTH ở Hải Phòng, cũng đang làm thạc sĩ, nói “xanh rờn”: Liệu có đủ sức thay máu toàn ngành không!?  Lại đọc báo thấy năm nay sẽ có thêm hàng loạt trường đại học mới, nâng cấp từ các khoa cũ hay các trường cao đẳng! Lại nhớ lại qua 30 năm “trưởng thành” của một trường bổ túc cán bộ văn hóa ngoài đê La Thành nâng thành trung cấp, rồi nâng thành cao đẳng, rồi nâng thành trường đại học và cấp cả bằng Ts., Ths. mà rùng mình!  Các cỗ máy sản xuất ra trí thức ở nước ta là như vậy và sản xuất như vậy. Đã có những thống kê, cảnh báo về chất lượng đáng báo động của đào tạo nhưng Quốc hội và Chính phủ có nghe thấy không và nếu có nghe rồi thì cũng chưa làm gì để thay đổi mà vẫn cứ đà cũ tiến lên, tiếp tục chế ra những sản phẩm kém. Nêu đích danh thì phải gọi là “làm hàng giả“. Dân ta phải dùng trí thức giả đã mấy thập niên. Thế nên tất nhiên sẽ là rất chính xác khi Phạm Duy Hiển viết trên Tia Sáng số 14.20/7/2006: “…tác động của KHCN đến kinh tế đời sống thì quá ít, chủ yếu chưa có đội ngũ chuyên nghiệp, thậm chí đang có xu hướng thoái hóa”. Ông còn nêu ra con số 50.000 người làm R&D ở ta, gấp 5-6 lần Thái Lan, cao hơn cả Thụy Điển (46.000) lần Singapore (18.000) mà kết quả là 0 trường ĐH thuộc top 500 và 0 nhà khoa học thường được trích dẫn nhất.  Rõ ràng đây không phải chỉ là chuyện làm việc kém mà là tham nhũng chính hiệu vì ta đã chi tiền thuế của dân để làm ra các con số 0. Nếu tính tác hại thì còn phải nêu số âm vì nếu dùng thuốc giả thì không chỉ tốn tiền mà còn sinh bệnh. Tại sao cấm làm hàng giả, thuốc giả mà lại cứ sản xuất ra trí thức giả?  Mặt kia của tờ giấy là những chính sách như: “Trọng dụng nhân tài, trí thức! Tôn vinh thành tích đào tạo 100% khá giỏi! Đón các thủ khoa ở Văn Miếu thờ Khổng Tử! “Chuẩn hóa cán bộ “ở khắp mọi ngành, mọi cấp bằng văn bằng… (trong khi tỷ lệ xin được việc làm của người mới tốt nghiệp đại học, cao đẳng ở các công ty tư nhân và nước ngoài  là quá thấp!). Như vậy ta không chỉ làm hàng giả mà còn khuyến khích, thậm chí bắt buộc dùng hàng giả.   Tôi đã nhiều lần kiến nghị đình chỉ việc đào tạo trên đại học ở VN  (nhất là ở các môn KHXH&NV và nghệ thuật!) cũng như đình chỉ làm tượng đài ở VN tới khi ta xác định lại được chất lượng của các thứ sản phẩm này. Nhiều nhà khoa học cũng đã đề nghị thi lại, xét lại các hàm, vị Gs,Ts,Th.s. Lý do quá đơn giản vì các tượng đài của ta không phải tượng đài, không phải nghệ thuật, chẳng ích lợi gì cho dân, cho nước mà chỉ sinh tham nhũng lãng phí. Với đào tạo sau đại học cũng hệt như vậy! Nhưng tôi lại tự hỏi hàng chục năm nay mình được mời góp ý với TW, với Bộ, với Viện khoa học giáo dục… còn chẳng “ăn ai” thì mấy bài báo ì xèo của các bạn trẻ trên báo hàng ngày sẽ tác dụng tới đâu?  Làm thế nào để “thay máu toàn ngành”  như cô em gái tôi “thách” tân Bộ trưởng? Và tôi kính trọng ý kiến của GS Hoàng Tụy khi ông nói về lỗi hệ thống! Nếu không sửa các lỗi hệ thống này thì ta không thể có trí thức đúng là trí thức. Câu hỏi trí thức là ai? Ai là trí thức? Hiện không thể trả lời được ở nước ta. Và câu hỏi Họ đang làm gì?  cũng sẽ rất khó trả lời.  Một vĩ thanh nhỏ: Không ai tự nhận dân tộc mình là lười và dốt. Người nước ngoài lại càng tuyệt đối không dám nói thế mà lúc nào cũng phải nói dân tộc bạn là thông minh và cần cù! Như vậy nhận thức về người Việt thông minh, chăm chỉ chỉ là khẩu hiệu động viên và ít cơ sở để tự hào hay dùng làm cơ sở, xuất phát điểm cho việc đào tạo trí thức. Món “bánh vẽ” này các bậc phụ huynh và “phụ mẫu” của dân đã dùng quá lâu và cũng cần được cảnh tỉnh bằng cách nhìn thẳng vào những kết quả thực tế đáng buồn trong sáng tạo và cống hiến của “trí thức” ta. Nhiều người đề nghị trong giai đoạn quật khởi của Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa… cần làm cho  mỗi người Việt nhìn thấy “Người Việt xấu xí” để quyết tâm vươn lên; mà có lẽ trước hết trí thức phải làm gương, nhìn cho rõ “Người trí thức Việt xấu xí” để mà tiến lên và đưa dân đưa nước tiến lên.   Cho tôi được xin lỗi các vị trí thức chân chính mà tôi kính nể khi nói thật và gay gắt về trí thức và đào tạo trí thức ở ta hiện nay.        Nguyễn Bỉnh Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức là trí thức – Cán bộ là cán bộ      Cần một cuộc cách mạng đau đớn, quyết liệt trong đào tạo và sử dụng trí thức. Trí thức thực là trí thức- cán bộ thực là cán bộ, ai vào việc nấy độc lập sáng tạo mới mong kinh tế, văn hóa nước nhà thực sự cất cánh bền vững.        Trí thức theo cách mạng  Năm 1919 với khoa thi cuối cùng thời phong kiến có thể coi là thời điểm phất cờ toàn thắng của Tân học đối với Cựu học. Đây không chỉ là việc quay lưng lại với chân trời trí thức cũ của phương Đông lạc hậu, hướng về chân trời tri thức phương Tây đang rực rỡ. Quan trọng hơn, chính là việc đảo lộn cơ cấu xã hội cũ với thứ bậc sĩ- nông– công- thương mà lớp sĩ phu- đứng đầu là lớp trí thức duy nhất cũng là lớp quan lại phục vụ triều đình.   Cựu học không chỉ có nghĩa là học Khổng, mà quan trọng hơn là học để làm quan. Cử nhân thì quan huyện, tiến sĩ thì chức to hơn. Khi suy vi thì hệ thống cựu học với hệ thống thi cử chỉ là chuyện đào tạo cán bộ hành chính mà thôi, không có giá trị sản xuất tinh thần nào cả. “Tiến vi quan thoái vi sư” thì cũng không khác gì, vì sư ở đây cũng lại là dạy cho lớp trẻ kế tiếp ra làm quan theo mẫu cũ. Sự gắn bó số phận, tình cảm, tâm huyết của trí thức cựu học với quan trường là một truyền thống quá bền chắc. Tú Xương cay cú chuyện thi cử tới mức chửi thề: “Tế đổi thành Cao mà chó thế/Tiệp trông ra Kiện ối giời ơi”. Rồi Nguyễn Khuyến bảo Ông: “Rằng hay thì thật là hay/giời mà đối chó lão này không ưa”. (Chưa ai dám chắc cái tâm thức gắn bó với quan trường của trí thức tới nay không còn âm ỉ mạnh mẽ!). Cả hai vị đứng nguyên trong vòng cựu học: chỉ có một con đường tiến thân là thi cử để ra làm quan và thúc thủ chờ mệnh giời.   Việc sản xuất tinh thần thực sự chỉ là nghề tay trái khi không làm quan thì bốc thuốc, viết sách như Hải Thượng Lãn Ông (ông này lười không thích làm quan!) hay Lê Quý Đôn là rất hãn hữu. Làm quan mà lo công nghệ, thúc đẩy kỹ thuật như Nguyễn Văn Thại làm kênh Vĩnh Tế hay Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất đai càng hiếm hoi hơn. Đại bộ phận chỉ làm thơ ngâm vịnh loanh quanh như trò “mua vui”. Văn học thành tựu ở sự chán đời của các ông quan  thiên tài sáng tác một cách nghiệp dư còn các ngành văn nghệ khác đều là “vô loài” khuyết danh cả. Điều này khác hẳn tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn nghệ của các nhà Nho Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (không ai dám chắc rằng trong tâm thức nhiều vị quan ngày nay- cũng hay làm văn vần lúc hồi hưu- văn nghệ cũng vẫn chỉ là như thế). Điều đó lý giải phần nào câu hỏi của một thủ khoa khi vào thăm miếu thờ Khổng tử -Văn Miếu (vẫn bị nhiều người hiểu nhầm là Miếu thờ Văn hiến, văn hóa, sức mạnh trí tuệ của dân tộc và bị dịch ngây ngô ra tiếng tây là Miếu thờ văn học literature!) rằng: Tại sao nước ta nghèo thế này mà lắm người giỏi thế? Và ngược lại tại sao nước ta nhiều người giỏi thế- tên có trên bia- mà sao lại vẫn nghèo? Phần nào tính nghiệp dư của sản xuất tinh thần giải thích tại sao qua cả ngàn năm khoa cử mà đóng góp của trí thức nước ta vào kho tàng tri thức nhân loại chưa xứng với tầm dân tộc.   Tân học mang lại mẫu trí thức mới không gắn với quan trường mà gắn với nông công thương và “đám vô loài”. Họ được đào tạo chuyên ngành hành chính, bác sĩ, canh nông, kỹ sư, họa sĩ, kiến trúc sư… để làm thuê như một lực lượng lao động tự do. Nhân đó các trí thức văn nghệ cũng bước ra khỏi bóng tối khuyết danh “con hát”, “thợ vẽ”, cũng đường hoàng là trí thức hẳn hoi. Điều đó dẫn tới một đợt bùng nổ nhỏ của trí thức với các nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và sáng tạo văn nghệ ở nửa đầu thế kỷ 20. Song xã hội tao loạn suốt mấy thập niên sau đó nên mẫu hình trí thức độc lập- như là lực lượng sản xuất tinh thần mà nhiệm vụ là góp phần quyết định nâng cao GDP và lo đời sống tinh thần cho người dân – chưa được cố kết bền chắc.   Trở lại nửa đầu thế kỷ nếu như các trí thức cựu học tìm cách canh tân khởi nghĩa không thành thì lớp tân học cũng mang lòng yêu nước sâu sắc và đại bộ phận đầu có chí “lấy vũ khí giặc đánh giặc”, tức phải học văn minh kỹ nghệ phương Tây, hiểu phương Tây thì mới có thể đánh đuổi thực dân và canh tân đất nước. Khi các phương án cách mạng kiểu mới (khác với cách của các nhà Nho) xuất hiện thì hầu hết trí thức đi theo hoặc phương án này hoặc phương án kia. Các Đảng Cộng sản thu hút được nhiều trí thức và sau này Việt Minh càng có sức thu hút mạnh hơn. Thế nên không phải chỉ từ sau 1945 trí thức mới đi theo cách mạng mà có thể nói theo cách mạng mưu cầu độc lập, phú cường cho đất nước là một phẩm chất vốn có của trí thức tân học ngay từ các thế hệ đầu tiên.    Trí thức khởi nghĩa đi học  rồi làm quan   Cuộc khởi nghĩa thành công của Đảng và Việt Minh có sự tương đồng với Lam Sơn của Lê Lợi và Nguyễn Trãi ở chỗ dựa vào nông dân dưới một ngọn cờ tư tưởng mới với sự góp sức của lớp trí thức tinh hoa. Nguyễn Trãi và Lê Lợi đã đưa Khổng thành chính thống và chúng ta đi theo chủ nghĩa Mác-Lê. Cuộc kháng chiến kiến quốc đã thu hút đông đảo trí thức. Họ vừa là các nhà trí thức đầu ngành cả ở khoa học lẫn văn nghệ vừa là các cán bộ đầu ngành. Rồi trong thập niên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất có thêm lớp trí thức xã hội chủ nghĩa (XHCN) được đào tạo ở nước ngoài. Từ các vị đi học những năm 1953-1954 tới lớp cuối cùng năm 1964-1965 như chúng tôi đều được dặn là đi học cho tương lai, để về xây dựng đất nước sau này. Sau này mới có đất dụng võ. Nhưng rồi hầu như chỉ có các nhà khoa học thuần lý thuyết, các môn không động đến chính trị và kinh tế  như khảo cổ, dân tộc học, nghiên cứu vốn cổ dân gian và hay y học là có đất và nhiều thành tựu. Các môn ứng dụng thì ở miền Nam tốt hơn nhiều vì có đất dụng võ. Thế rồi hàng chục năm các vị trí thức được đào tạo bài bản này hầu hết đều làm cán bộ các loại mà không làm chuyên môn. Một tiến sĩ cơ khí không làm ra cái máy nào, một tiến sĩ hóa polime không làm ra một bao ny lông nào, họ chỉ đi dậy và đào tạo ra mười mấy thế hệ cơ khí và polime cũng không thực hành gì cả như họ! Và cũng lại đi làm cán bộ sở, ty, phòng, ban và đi dạy như họ!   Trí thức hóa cán bộ?  Một dòng ngược lại là trí thức hóa cán bộ, tiêu chuẩn hóa cán bộ. Có bác ủy viên tỉnh ủy đã cáu bẳn với giảng viên rằng: Tôi học là cho Đảng, có phải học tại chức cho tôi đâu mà bắt thi lại mãi! Một trung tá chuyển ra làm hiệu trưởng một trường mỹ thuật và đi viết kịch nghiệp dư. Không biết có học tại chức không. Hệ tại chức hạ thấp tiêu chuẩn vốn đã thấp của hệ chính quy, các trường bồi dưỡng cán bộ nâng cấp dần lên cao đẳng rồi đại học và tới năm 2000 thì đã có thể cấp bằng Thạc sĩ (Ths), Tiến sĩ (TS)… để đáp ứng việc tiêu chuẩn hóa cán bộ, trí thức hóa cán bộ. Việc này dẫn tới hình thành một đội ngũ trí thức giả, nhất là từ khi ta không còn nguồn đào tạo từ các nước XHCN nữa. Lớp trí thức giả, trình độ thấp mà có đủ văn bằng đứng ra chủ trì đào tạo cấp bằng tiếp cho các thế hệ sau, tiếp tục làm “hàng giả, hàng nhái”.   Đến nay có thể thấy việc lạm phát bằng Ths. TS trong nước cũng như việc các vị TS xin dạy đủ mọi nơi cho đủ số giờ và chiêu dụ cán bộ “vùng sâu vùng xa” làm Ths, TS… để họ hướng dẫn. Đủ giờ dạy, đủ số luận văn đã hướng dẫn (có khi làm hộ luôn) thì mới được phong GS. Thế rồi rủ nhau về quê bỏ tiền khắc tên mình lên bia đá tặng làng! Bánh xe cứ thế quay, không gì cản nổi nữa, cái xe đi tới đâu thì không cần biết! Một anh làm TS lịch sử, tất nhiên là ngon rồi vì các thầy đều không giỏi lắm và đang cần tính điểm để được phong PGS nên đâu dễ đánh trượt anh. Nhưng ngoại ngữ thì khó quá thế là có suất đi tu nghiệp tiếng Anh ở nước ngoài trong chương trình 300 TS của thành phố. Học về anh bảo: đọc thì lõm bõm chứ nghe thì vẫn ù tai, nhưng cũng là qua được cầu ngoại ngữ!  Trí thức tụt hậu là nguy nhất   GDP tăng, đời sống được cải thiện, xóa đói giảm nghèo hay tụt hậu là thực tế mà tụt hậu về trí thức là rõ và nguy nhất, ảnh hưởng trầm trọng nhất đối với phát triển bền vững. Khẩu hiệu dùng hiền tài, chương trình đào tạo bao nhiêu TS cho một thành phố… là viển vông lợi bất cập hại, làm băng hoại xã hội nếu như hiền tài, nguyên khí mà văn bằng là đồ giả và được sử dụng giả. Và đó là cách tốt nhất tiêu diệt vai trò dẫn dắt, xây dựng  đất nước của trí thức thật.   Trở lại mẫu trí thức độc lập làm thuê manh nha đầu thế kỷ trước ta thấy đến nay nó vẫn chưa đươc hình thành thực sự ở ta. Tính chất độc lập, tự trị của trí thức chưa có nền tảng. Khi công nghiệp hóa chuyển giao công nghệ ta đã quên không chuyển giao công nghệ giáo dục đào tạo trí thức và công nghệ sử dụng trí thức. Tính tự trị của nghiên cứu khoa học gắn với đào tạo và sản xuất chưa hình thành.   Cuộc hội nhập và toàn cầu hoá cứ ào ào tới. Đám “sất phu hữu trách” ở đâu? Cần phải mạnh dạn, không sĩ diện, không ngụy biện mà nhận rằng trong khi guồng máy công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng tốc thì trí thức đã bị văng ra, rớt lại phía sau. Một lớp nền giả đã được tạo ra và đóng mác bảo hành nhưng rồi một lúc nào đó công trình sẽ sụt đổ vì cái nền giả đó.       Nguyễn Bỉnh Quân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức luôn cùng tiếng nói thúc đẩy xã hội dân chủ, bình đẳng, tự do      Các GS ngành sử học Trịnh Văn Thảo và GS Pierre Brocheux đã nghiên cứu, đánh dấu những cột mốc phát triển trong lĩnh vực sử học của ngành Việt Nam (VN) học trên thế giới và đào tạo trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều thế hệ nhà nghiên cứu về VN. Một trong hàng trăm những nhà nghiên cứu đó, TS Nguyễn Thụy Phương, chuyên gia giáo dục hậu thuộc địa và giải thực dân văn hóa (hiện làm việc tại Hội đồng quốc gia đánh giá chất lượng học đường – CNESCO, Pháp) đã tiến hành những cuộc đối thoại sử học với các GS như một câu chuyện kể về cuộc đời họ, những số phận vừa là sản phẩm vừa là tác nhân của tiến trình lịch sử VN thế kỷ XX. Và đây cũng như một cuộc trao đổi học thuật về những chủ đề mang tính thời sự về chỗ đứng của VN trong khu vực và thế giới.      GS Trịnh Văn Thảo.  Hành trình trí thức  TS. Nguyễn Thụy Phương: Tôi được biết, GS xuất thân trong một gia đình khá giả và được gửi vào học trường Pháp từ sớm. Vậy trường Pháp đã để lại dấu ấn như thế nào trong đường đời sự nghiệp của GS?  GS Trịnh Văn Thảo: Tôi sinh sống trong một gia đình trung lưu miền Nam, vùng phụ cận TP. HCM ngày nay. Kể từ thế hệ ông cha, chú bác đến các anh chị lớn đều đi học và xuất thân trường Pháp nhưng bắt đầu tuổi mình (1950) tôi đã trở về hệ thống trường Việt, học trường Việt. Lúc đầu là một trường tư thục nhỏ ngoại ô Sài Gòn tên là “VN Học đường” (xóm Cầu Mới) sau thi vào lớp Đệ Ngũ trường Trung học Petrus Ký (Lê Hồng Phong bây giờ). Vì thế, đối với thế hệ của chúng tôi, tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ và văn học Pháp cũng được chúng tôi yêu quý. Tôi còn nhớ mãi “Lettres de mon Moulin” của A. Daudet, vài bài thơ của Victor Hugo, Lamartine, Paul Verlaine…  GS đã đi du học ở Pháp trong bối cảnh nào?  Tôi đến Pháp cuối tháng tư năm 1955, nghĩa là một năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève. Có nhiều lý do lẫn lộn: có du học vì hai ông anh sắp ra trường bên Pháp, có chính trị vì gia đình tôi lo sợ chính quyền ông Diệm bắt giam tôi cùng với nhiều giáo sư tham gia Phong trào bảo vệ hoà bình tại Sài Gòn. Phong trào này do một số trí thức Sài Gòn như L.S. Nguyễn Hữu Thọ, GS Nguyễn Văn Dưỡng… khởi xướng trong tinh thần Hiệp định Genève (dĩ nhiên tôi tham gia với tư cách học sinh trung học).  Ở Pháp GS bắt đầu nghiên cứu về VN. Tại sao vậy? Và những người thầy nào đã có ảnh hưởng lớn lên GS ?  Lớn lên gặp thời chiến tranh, nghĩ đến bạn bè mình bị gọi đi lính hay hy sinh, tôi cố sức chia sẻ cái vinh cái nhục của thế hệ mình. Khởi sự tôi cũng định học kỹ sư Nông học nhưng rốt cuộc lại “rơi” vào hai trường Chính trị học và Đại học Văn khoa vì từ bé tôi say mê Sử học, mà cũng vì ảnh hưởng bởi các GS Raymond Aron, G. Gurvitch, Levi -Strauss… Đề tài tiến sĩ chuyên ngành (hồi xưa gọi Tiến sĩ đệ tam cấp) là “Một phương trình hội nhập của cộng đồng người Đông Dương hồi hương về Pháp” (Etude d’un processus d’adaptation sociale. Les rapatriés d’Indochine en France1) theo phương pháp điều tra thực địa (hai thí điểm quan sát là ngoại ô Paris/Sarcelles và một tỉnh nhỏ miền Nam nước Pháp). Bài luận này được xem là tương đương với phần một của Luận án TS nhà nước vì Ban Giám khảo muốn khuyến khích tôi tiếp tục nghiên cứu. Sau đó tôi quyết định chọn đề tài thuộc lĩnh vực triết học Mác-xít dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Louis Vincent Thomas (ĐH Sorbonne) và GS Louis Althusser (lúc ấy còn làm Giảng sư trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm). Luận án mang tên “Khái niệm thời cơ trong chủ nghĩa duy vật lịch sử: Marx và Engels và báo chí cách mạng” (Le concept de conjoncture dans le matérialisme historique. Marx et Engels et le journalisme révolutionnaire)2. Dĩ nhiên, mối liên hệ giữa đối tượng nghiên cứu và thời cuộc quá rõ ràng. Tôi chọn triết học Mác-xít vì chủ nghĩa Mác Lê lúc đó được xem là công cụ cách mạng hiện đại qua kinh nghiệm Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, VN…  Thuộc địa và giải thực dân  Trong cuộc đời nghiên cứu của mình, giáo dục thuộc địa là một chủ đề được GS rất chú trọng. Vậy nền giáo dục thuộc địa có đem lại những “hệ quả tích cực” cho nền giáo dục của VN độc lập không? Giáo dục VN giai đoạn hậu thuộc địa là sự đứt gãy hay tiếp biến của giáo dục thuộc địa?  Trong quyển “Nhà trường Pháp tại Đông Dương” (NXB Karthala, Paris năm 2004; NXB Thế Giới, Hà Nội năm 2009), tôi cố gắng phân tích cái hay cũng như cái dở, thành hay bại của chế độ giáo dục thuộc địa. Tuy nhiên dù trong tình huống nào, nhà trường Pháp cũng không làm giảm bớt tính hiếu học của người Việt và hơn nữa chế độ giáo dục của Đệ Tam Cộng hòa Pháp (sau thời Thủ tướng Jules Ferry) cũng khá phù hợp với tâm lý chung của ta. Đó là tâm lý xem khoa trường là con đường tiến thân duy nhất. Đó là chưa nói đến yếu tố con người, tình thầy trò vẫn tồn tại khi ta đọc lại các hồi ký của ông Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan… Theo tôi, trong một mức độ nào đó, có đứt gãy và có tiếp biến thời hậu thuộc địa trong Nam và ngoài Bắc. Nói tóm tắt, có đứt gãy về mặt ý thức hệ, chính trị như các môn sử địa… còn tiếp biến trên phương pháp suy luận, tinh thần khoa học và óc phán đoán duy lý.  Giới chính trị Pháp và người Pháp nói chung đối diện như thế nào với hồi ức về Đông Dương thuộc địa, chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Algérie?  Theo tôi, người dân Việt luôn luôn nhớ ơn những nhân vật, người trí thức, lao động, các đảng phái thiên tả bên Pháp đã ủng hộ phong trào đấu tranh giành độc lập của ta qua các Hội bảo vệ Nhân quyền, Mặt trận Bình dân năm 1936, cao trào học sinh sinh viên Pháp xuống đường biểu dương tình đoàn kết với VN những năm 1968… Vấn đề “tiêu hóa” quá khứ lịch sử dân tộc – nhất là qua kinh nghiệm cận đại và hiện đại – rất là phức tạp và luôn có tính chất “hai chiều” (ambivalent). Xứ nào cũng thế. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs phân biệt trí nhớ tập thể dưới hai hình loại: trí nhớ nhà nước và trí nhớ cộng đồng cá biệt. Nhiều biến cố lịch sử xã hội thể hiện khác nhau theo hình loại này hay hình loại khác.  Tại Pháp đã tiến hành một cuộc “giải thực dân”, tôi được biết GS cũng có tham gia thảo luận về vấn đề này trên phương diện học thuật3. Vậy GS có thể giới thiệu về nguồn gốc, động lực và mục đích của các nhà nghiên cứu Pháp khi họ thảo luận về “giải thực dân”?  Như đã nói trên, ý thức chống chủ nghĩa thực dân ở châu Âu đã bắt nguồn từ các phong trào cấp tiến. Hãy nhớ lại bài “Diễn văn của Bougainville” của Diderot tố cáo những tội ác của cuộc chinh phục thuộc địa, cướp đất, cướp người, cướp của… ngay giữa thời cách mạng Ánh sáng (thế kỷ XVIII). Ý thức cách mạng xã hội của Mác Anghen cũng xuất xứ từ đó.  Hơn nữa, các nhà tư tưởng Pháp là sản phẩm của nền giáo dục Đệ Tam Cộng hòa, phần đông họ chia sẻ ít nhiều tư tưởng tự do và bình đẳng của Cách Mạng 1789. Hầu hết, những sử gia lớn sau 1945 như F. Braudel, Duby, hay gần đây như nhà sử học Jean Chesnaux luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của người Việt. Trong giới nhân học, không ai không biết vai trò tích cực của GS Pierre Bourdieu hay bà Germaine Tillon trong phong trào giải thực bên Algerie. Trong một mức độ nào đó, giải thực dân chính trị đi đôi với giải thực dân tư duy.    Trường Lê Hồng Phong ngày nay, tức là trường Trung học Petrus Ký, nơi GS Trịnh Văn Thảo theo học trong những năm 1950.  Trí thức Việt Nam thế kỷ 20  Quay trở lại VN, theo GS, những trí thức VN được đào tạo trong thời thuộc địa bởi trường Pháp đã có đóng góp như thế nào vào tiến trình giải phóng hay chia cắt đất nước?  Trực diện với chế độ thực dân thời cận đại là thành quả của các nhà nho thời Kháng chiến chống Pháp như phong trào Cần Vương hay Duy Tân. Tuy lúc đó các cụ phản ứng theo quan điểm trung quân ái quốc, họ vẫn là những gương sáng trong lịch sử dân tộc… Trong phong trào Duy Tân, có người như Phan Châu Trinh muốn dân ta tiếp thu di sản 1789 của Pháp để thực hiện một cuộc cách mạng ôn hòa, dân chủ, tiến bộ. Thế hệ trí thức người Việt những năm 1950 có công trong đấu tranh giành tự chủ và thống nhất đất nước nhưng chưa làm được những việc như phát triển, đoàn kết và nhất trí dân tộc, là những yếu tố căn bản để bảo tồn nòi giống.  Giới trí thức Việt tại Pháp hoạt động và dấn thân như thế nào trong hai cuộc chiến: chiến tranh Đông Dương và chiến tranh VN? Họ đồng thuận và phân hóa như thế nào?  Vấn đề “dấn thân” của trí thức người Việt tại Pháp rất phức tạp và đòi hỏi tìm hiểu nhiều khía cạnh. Dù sao đi nữa, trước sự kéo dài của chiến tranh và xu hướng “lưỡng cực” Bắc Nam, làm sao hàng ngũ trí thức – dù sống trong nước cũng như hải ngoại – tránh khỏi hiện tượng phân hoá hàng ngũ? Sự phân hóa xuất phát từ ý thức hệ, nghĩa là ngay tại châu Âu, quê hương của các thứ chủ nghĩa, sự phân hóa cũng mạnh không kém gì ở VN. Ý chí không, không đủ…  Đối với giới trí thức miền Nam dưới thể chế Cộng hòa (1955-1975), theo GS, những điểm gì làm nên sự khác biệt của họ với những thế hệ trước và sau họ và với những trí thức miền Bắc xã hội chủ nghĩa đương thời? Rất nhiều người trong số họ phải ly tán, lưu vong sau 1975, di sản của họ để lại cho lịch sử tri thức VN của thế kỷ 20 như thế nào?  Nghiên cứu chế độ Việt Nam Cộng hoà (VNCH) miền Nam từ ngày thành hình đến lúc bại trận, sụp đổ và quá trình phân tích tính chất, logic diễn biến cũng như việc đánh giá những hậu quả xã hội, nhân sự, chính trị, tâm lý, kinh tế… của đất nước sau khi Thống nhất luôn đòi hỏi nhiều cố gắng tìm tòi, nhiều giả thuyết và giải đáp tế nhị. Có lẽ phải cố hàn gắn những vết thương còn nhức nhối, hòa giải dân tộc trước khi phán xét lịch sử. Hơn nữa, viết sử hiện đại bao giờ cũng vấp phải hiện tượng thiếu khoảng cách thời gian. Rất nhiều trí thức của chế độ VNCH phải ly tán, lưu vong sau 1975, sự nghiệp họ để lại sau này thuộc về lịch sử của nhân loại và lịch sử dân tộc.  Hiện nay xã hội dân sự ở VN phát triển tương đối mạnh, sự phản hồi của xã hội dân sự trước các hiện tượng xã hội tương đối tốt, đến từ nhiều nhóm (nhà báo, dân chúng, công chức…). GS có nhận xét gì về vai trò và trọng lượng của người trí thức trong bối cảnh này so với trong quá khức?  Sau vụ án xử Dreyfus hay hiện tượng động viên trí thức chống chủ nghĩa phát xít những năm 1930, ai cũng thấy rằng chỗ đứng của thành phần tri thức bao giờ cũng bắt nguồn từ “xã hội dân sự” dù không phải ai cũng ý thức một cách cụ thể và biện chứng mối quan hệ đó. Các phong trào tôn giáo, văn hóa và chính trị những năm 1970 trong miền Nam đã khơi dậy niềm hy vọng tương tự. Hiện tượng trí thức có liên hệ hữu cơ với xã hội dân sự. Một xã hội dân chủ đòi hỏi quan hệ bình thường giữa người dân, trí thức và giới cầm quyền.  Việt Nam học  Là người có cái nhìn thông suốt về lịch sử VN, xin GS cho biết những nhận xét về nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở VN (đề tài, mối quan tâm, chất lượng học thuật…) qua hai giai đoạn: 1955 – 1975 (cả miền Bắc và miền Nam) và từ Đổi mới (1986) đến nay.  Trong lĩnh vực chuyên môn, tôi thấy các ngành nghiên cứu khoa học xã hội (nhất là ngành sử học và nhân học) và khoa học nhân văn (văn học), đặc biệt trong các ngành sáng tác văn nghệ có tiến bộ thấy rõ về chất lượng cũng như về số lượng, dịch thuật, xuất bản sách báo VN ra nước ngoài… Uy tín của những nhà sử học trong nước như GS Hà Văn Tấn, GS Phan Huy Lê…, vài nhà dân tộc học hay ngôn ngữ học vượt qua biên giới đất nước. Trên phương diện sáng tác, tên tuổi các nhà văn “trẻ” như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… lan rộng, các tác phẩm hay của họ đã và đang được dịch, xuất bản trên thế giới. Đó là chưa nói đến thế hệ các nhà văn trẻ đầy triển vọng đang sinh sống tại xứ ngoài.  Theo quan sát của GS, từ 30 năm trở lại đây, giới VN học quốc tế phát triển như thế nào (số lượng, chất lượng, chủ đề và mức độ quan tâm học thuật…)?  Trong lĩnh vực quốc tế, ngành VN học lại càng phong phú, đa dạng về bề rộng cũng như chiều sâu. Các quốc gia tiên tiến trên các lục địa Âu, Á, Mỹ, Úc đếu chú trọng đến văn hóa Việt, nhất là những đặc thái của địa lý chính trị, sức tư duy và tính sáng tạo của người Việt. Ta không nên để lỡ cơ hội để tiếp thu, đổi mới. Phải tiếp thu các luồng tư tưởng và tăng cường việc trao đổi với người xứ ngoài, và đồng thời khuyến khích tinh thần tự lập tự tin của trí thức trong nước như các cụ Duy Tân từng nói: Khai dân trí, chấn dân khí, đào tạo nhân tài…  Trong tương lai, nếu coi VN là địa hạt hay đối tượng nghiên cứu, đặt trong bối cảnh Đông Nam Á hay châu Á-Thái Bình Dương, thì điều gì ở VN sẽ hấp dẫn học giới quốc tế?  Theo tôi, yếu tố “địa dư chính trị” khiến cho xứ Việt, tiếng nói, chữ viết và văn hóa người Việt có một chỗ đứng trọng yếu, chiến lược trong vùng châu Á – Thái Bình Dương. Không phải đương nhiên mà ngành VN học hiện phát triển nhanh và sâu trong các trung tâm nghiên cứu và đại học quốc tế.   Xin trân trọng cảm ơn GS đã chia sẻ!  Paris – Aix-en-Provence, Pháp, tháng 2/2017.  ——–  1Xem T.V.Thao, “Essai sur une sociologie du rapatriement”, Tạp chí Etho-psychologie, tháng 3 1973, 1-93  2Le concept de conjon cturedans le matéri lisme historique. Marxet Engels et le journalisme révol tionnaire, Paris, Anthropos, 3 volumes,1978-1979-1980  3La fracture colonial: La société française au prisme de l’héritage colonial, 2005; Culture post-coloniale 1961-2006; Ruptures postcoloniales: Les nouveaux visages de la société française, 2010…  ———  Giáo sư Trịnh Văn Thảo sinh năm 1938 tại Gia Định (Việt Nam), từng trải qua các giai đoạn học tập, nghiên cứu và giảng dạy về chính trị học, xã hội học, triết học trong môi trường học thuật Pháp. Độc giả Việt Nam biết nhiều tới ông qua một số công trình đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt: Viet Nam du confucianisme au communisme, Paris: L’Harmattan, 1990, 2007 [Ba thế hệ trí thức người Việt 1862-1954. Hà Nội: Thế Giới, 2013], L’école française en Indochine, Paris: Karthala, 1995 [Nhà trường Pháp ở Đông Dương, Hà Nội: Thế Giới, 2009], Xã Hội Nho giáo Việt Nam dưới nhãn quan của Xã hội học lịch sử, Hà Nội: Tri Thức, 2014. Sự nghiệp khoa học của GS Trịnh Văn Thảo được xác lập trên hai khối thành tựu cơ bản tương quan mật thiết với nhau: nghiên cứu về quá trình tương tác giữa con người cá nhân Marx-Engels với chủ nghĩa cộng sản trên toàn cầu và nghiên cứu về diễn tiến dấn thân xã hội của tầng lớp trí thức Việt Nam từ giai đoạn bản lề của hai thế kỷ XIX-XX cho tới nửa sau của thế kỷ XX. Những ấn phẩm tiêu biểu do ông chủ trì và đồng tác giả: Marx-Engels et le journalisme révolutionnaire, Paris: Anthropos, 3 tập, 1978 -1979 -1980; Dictionnaire critique du Marxisme, PUF: 1982 ; Les compagnons de route de Ho Chi Minh, Paris: Karthala, 2004; L’itinéraire de Tran Duc Thao: Phénoménologie et transferts culturels, Paris: Armand Colin, 2013… Sau thời gian hoạt động ở miền Bắc nước Pháp (ĐH Sorbonre, ĐH Amiens), GSTrịnh Văn Thảo đã đưa Việt Nam học mở rộng tới miền Nam xứ sở hình lục giác này. Là một trong những người sáng lập Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Đại học Aix-Marseille), ông là thành viên quan trọng trong việc tổ chức thành công hội thảo quốc tế Euro-Việt thường kỳ ở châu Âu vào năm 1995 với nhiều kết quả nghiên cứu về Việt Nam. Là giáo sư đại học, ông đã kế thừa và kiến thiết thành công trong thực tế phương pháp xã hội học lịch sử trong hướng dẫn nghiên cứu. Bên ngoài nước Pháp, ông từng là Giáo sư thỉnh giảng tại các Đại học UQUAM (Canada), Fortaleza (Brazil), Ibaraki (Nhật Bản)… Tháng Ba năm 2017, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (Việt Nam) vinh danh ông với vị thế một học giả nghiên cứu hàng đầu về Việt Nam. Với giới học thuật quốc tế, GS Trịnh Văn Thảo là một trong những học giả gốc Việt kiến tạo thành công nghiên cứu về Việt Nam trong dòng chảy của văn hóa nhân loại.  Việt Anh    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Trí thức sạch      Trên Tia Sáng số 12 (trang 54) vừa rồi, nhà thơ Lê Đạt đưa ra một từ rất hay – “Trí thức sạch”, “nhìn lên không xấu hổ với cha ông, nhìn xuống không xấu hổ với hậu thế”. Ở đây tác giả dùng “Trí thức sạch” để nói về các sĩ phu yêu nước thời Đông kinh Nghĩa thục cách đây tròn 100 năm.         Rất tiếc ngày nay nước ta chẳng còn bao nhiêu “Trí thức sạch” như vậy. Tôi không nói những người đạo văn, đạo thơ, đạo nhạc… mà chỉ muốn nói về những người được xã hội thừa nhận là “nhà trí thức”, có bằng cấp, tên tuổi hẳn hoi, thậm chí rất nổi danh nữa kia. Họ chưa “sạch” ở chỗ không kiên trì chính kiến của mình, thường nói lấy lòng cấp trên, dám bóp méo sự thật, kể cả sự thật lịch sử. Họ sẵn sàng a dua phê phán các nhà trí thức khác, thậm chí nói xấu, dù đó là những người chân chính và là đồng nghiệp của họ. Gần đây tình cờ đọc bài phê phán triết gia Trần Đức Thảo của một vị giáo sư cùng cơ quan với ông Trần đăng báo hồi thập kỷ 50 gì đó, tôi thật sự thất vọng với vị giáo sư-thần tượng này của tôi. Cảm giác ấy cũng xuất hiện mỗi khi thấy các nhà trí thức của ta tranh cãi trên báo chí, bảo nhau là dốt, là không biết gì… Như thế sao gọi là “Trí thức sạch” được nhỉ?  Bỗng liên hệ ngay với mối quan hệ giữa hai nhà cách mạng họ Phan. Phan Châu Trinh tranh luận nhiều lần với Phan Bội Châu, vì cụ  hoàn toàn phản đối đường lối chống Pháp theo phương thức bạo động, khôi phục nền quân chủ và cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu. Tuy mâu thuẫn cơ bản về đường lối, nhưng hai cụ vẫn hết mực kính nể nhau. Phan Châu Trinh từng nói với viên Khâm sứ Pháp rằng Phan Bội Châu “là một nhà hào kiệt ái quốc của nước Nam, trong nước không ai không biết tiếng” (xem Thi tù Tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng). Phan Châu Trinh thật là một “Trí thức sạch” đáng ngưỡng mộ.          Hữu Dương    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức trong xã hội      Gần đây, tôi đọc lại một bài viết của Noam Chomsky, Trách nhiệm của giới trí thức, đăng ở Mỹ từ năm 1967. Chomsky, người có tiếng nói gay gắt phản đối cuộc chiến Việt Nam, đồng thời cũng phê phán giới trí thức, những ai ngả theo Nhà Trắng và dùng ảnh hưởng của họ để bao biện cho những tội ác xảy ra ở Việt Nam.      Chúng ta cần đào tạo những con người trưởng thành có trách nhiệm và năng lực, những người biết dùng óc phê phán để có thể đề xuất những ý tưởng có tính xây dựng, khả thi, và tiến bộ thay vì đưa ra những chỉ trích vô trách nhiệm, vô ích, và cực đoan. Ảnh: Những thanh niên tiêu biểu của Việt Nam trên Tàu Thanh niên Đông Nam Á và Nhật Bản lần thứ 42 (SSEAYP 2015).  Bài viết của ông khiến tôi nhớ tới Phong trào Tự do Ngôn luận, từng bùng nổ ở Đại học Berkeley năm 1964 – mà tôi trực tiếp chứng kiến khi đang hoàn thành luận án tiến sỹ của mình – cùng các phong trào Phản chiến và Quyền Công dân diễn ra sau đó. Tôi nhớ đến Martin Luther King với tuyên bố năm 1967: Nếu tâm hồn Mỹ có bị đầu độc hoàn toàn thì trong bản khám liệm tử thi phải có đoạn viết “Việt Nam”; và Bertrand Russell, người viết Tội ác Chiến tranh ở Việt Nam, đồng thời là chủ tịch tòa án lương tâm Stockholm.  Đọc lại bài viết của ông cũng nhắc cho tôi thấy sự mong manh của giới trí thức. Khi tôi còn ở Berkeley, có vài giáo sư trẻ, bao gồm cả Gef Chew, người nổi tiếng thời đó với lý thuyết “bootstrap” về các hạt cơ bản, khi chuyển đến làm việc ở trường này đã bị buộc phải ký một bản Non-communist Loyalty Oath (Tuyên thệ Trung thành Chống Cộng sản). Để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, các học giả trường Berkeley đã phản đối sự áp đặt này và hậu quả là khoảng ba mươi người bị đuổi việc. Tuy nhiên, trên khắp nước Mỹ, đa số trí thức đã chấp nhận ký bản tuyên thệ. Ellen Schrecker, trong bài viết về chủ nghĩa McCarthy, ghi lại những vụ việc minh họa rất sống động tình trạng này:  “Cuối thập kỷ 1950, một nhóm nghiên cứu sinh Đại học Chicago mong muốn có một máy pha cà phê tự động lắp đặt ngay bên ngoài Khoa Vật lý để thuận tiện cho những người phải làm việc khuya. Họ truyền nhau và ký vào một bản kiến nghị tới Ban Quản lý Tòa nhà và sân bãi. Tuy nhiên các đồng nghiệp khác từ chối ký vào bản kiến nghị vì sợ nếu đứng tên chung thì sẽ dính líu tới những nghiên cứu sinh bị coi là cấp tiến này. Vụ việc trên không phải là trường hợp đơn nhất và là một thí dụ minh họa cho tâm lý kiêng kị mà ngay từ thời đó người ta đã thấy đây chính là hậu quả tai hại nhất gây ra bởi phong trào tố Cộng. Những người cẩn trọng thường né tránh các hoạt động chính trị bởi lo ngại bản thân mình sẽ gặp rắc rối. Giới trí thức thất vọng chứng kiến tầng lớp trung lưu Mỹ trở thành một đám đông thuần phục. Một thế hệ sinh viên câm lặng trong các trường đại học, trong khi các thầy giáo của họ không dám giảng dạy bất kỳ nội dung nào bị coi là gây tranh cãi.”      “… Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…” – Thân Nhân Trung        Nhưng may mắn là vẫn có vô vàn những tấm gương trí thức mà ảnh hưởng của họ đóng góp cho sự tiến bộ. Chúng ta nhớ đến Voltaire, Rousseau và các triết gia Lumières, những người bày tỏ khát vọng của nhân dân Pháp và truyền cảm hứng cho Cách mạng 1789; Phan Châu Trinh, người thầy của nhóm Ngũ Long mà một trong số đó chính là Bác Hồ, với những nỗ lực đấu tranh cho dân chủ và những quyền phổ quát trong giai đoạn 1908 tới 1925. Chúng ta còn nhớ rất nhiều những ví dụ khác.  Chúng ta ca ngợi di sản của những vị vua và hoàng đế bảo vệ cho trí thức và nghệ sỹ, đồng thời vùi xuống bùn nhơ tên tuổi những bạo chúa đàn áp họ. Chúng ta còn nhớ Goebbels, năm 1933, khi hắn chúc mừng các sinh viên đã đốt những cuốn sách “không thuần Đức và vô đạo đức” trong các trường đại học: “kỷ nguyên của chủ nghĩa trí thức Do Thái được bốc thơm đến đây là chấm dứt. Chiến thắng của cách mạng Đức đã mở cửa cho con đường của nước Đức”; Pol Pot với sự đàn áp có tính hệ thống, trong hai năm 1976 và 1977, đối với 1.500 trí thức, những người trở về từ nước ngoài để phụng sự Tổ quốc; Stalin, từ cuộc Đại Thanh trừng và những vụ án ở Moscow năm 1936, tới Đêm của những Nhà thơ bị giết hại năm 1952, đánh dấu sự kết thúc một thập kỷ những trí thức Do Thái bị đàn áp có tính hệ thống; Franco, dưới sự bảo trợ của Tòa thánh Công giáo, tiến hành từ Khủng bố Trắng, ám sát hàng loạt trí thức, trong đó có Federico Garcia Lorca, và trục xuất 15.000 người Cộng hòa, bao gồm nhiều trí thức như Jorge Semprún; các trại tập trung của Đức đến Mao Trạch Đông với Cách mạng Văn hóa và Phong trào Trăm hoa đua nở.   Để bày tỏ rằng việc nói về vai trò và trách nhiệm của trí thức trong xã hội là một chủ đề dễ trở nên nhạy cảm, chệch khỏi khuôn khổ định hướng chính trị của các chính quyền hoặc làm mếch lòng ai đó. Tuy nhiên, cần phải có cách để bàn về chủ đề này một cách duy lý, khách quan, tránh sa vào cảm tính một cách không cần thiết, với mục đích duy nhất là chỉ ra những điều cần làm để giúp đất nước tiến bộ.  Chúng ta phải tin rằng giới trí thức không phải là mối nguy hại đối với thể chế, nhưng cũng không phải là những nhân viên răm rắp làm theo chỉ đạo bên trên; họ không phải là những kẻ kiêu ngạo, thích hưởng thụ các đặc ân quá phận, nhưng cũng không phải là đối tượng để các nhà cầm quyền xem thường hoặc sách nhiễu. Chúng ta phải tin rằng trí thức là những công dân có tinh thần trách nhiệm, người có bổn phận trước quốc gia khi được trao cơ hội để phát triển tới một trình độ cao về học thuật, sẵn sàng trở thành tấm gương về năng lực, trí tuệ và đạo đức. Họ cống hiến cho lợi ích chung của cộng đồng theo cách nào đó giống như các già làng, những người được lựa chọn bởi “phẩm giá, uy tín, sự trung thực và tầm nhìn xa trông rộng, cùng với những tri thức, sự hiểu biết và ý thức hướng tới công lý”. Chúng ta phải tin rằng tri thức chính là cội nguồn của năng lực và sự thông thái, thay vì là công cụ cho quyền lực; là động lực thúc đẩy văn hóa thay vì những giá trị vật chất, và phụng sự cho cộng đồng thay vì cho lợi ích cá nhân.  ***  Giáo dục đại học và đào tạo đóng một vai trò trọng yếu trong việc đào tạo ra những công dân có tinh thần trách nhiệm, xóa tan mọi nỗi sợ hãi đè nén người trí thức như Ellen Schrecker từng nhắc nhở: Một thế hệ sinh viên câm lặng trong các trường đại học, trong khi các thầy giáo của họ không dám giảng dạy bất kỳ nội dung nào bị coi là gây tranh cãi. Chúng ta cần phát triển tư duy phê phán trong sinh viên, thay vì bắt các em học thuộc lòng những luận điểm mà bản thân các em không thực sự hiểu đầy đủ.  Câu chuyện này rất liên quan đến cuộc tranh luận về việc giáo dục nên phục vụ đại chúng hay cho một nhóm tinh hoa. Ở Việt Nam, do sự chi phối của lịch sử và chính trị, đã có nhiều cuộc tranh luận về quan điểm giáo dục. Hậu quả là một thời gian rất dài, giáo dục phục vụ đại chúng được coi trọng trong khi giáo dục phục vụ nhóm tinh hoa bị xem nhẹ.  Đến nay tôi cho rằng rõ ràng Việt Nam cần chuyển đổi điểm cân bằng (hay có lẽ là điểm bất cân bằng) trong giáo dục, theo xu hướng thiên hơn về nhóm tinh hoa. Qua một trường hợp như Quốc học Huế, trước đây vốn dành cho con em hoàng tộc và các gia đình danh giá, nơi đào tạo ra những cựu học sinh như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Xuân Diệu, Tố Hữu, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Việt v.v, phải chăng chúng ta nên ghi nhận rằng chủ trương đào tạo tinh hoa thời đó đã có sự đóng góp đáng kể cho Cách mạng? Còn cái được gọi là các lứa cử nhân tài năng ở các trường đại học Việt Nam ngày nay có lẽ còn rất xa mới đạt được mục tiêu tương tự như vậy.       Chúng ta phải tin rằng giới trí thức không phải là mối nguy hại đối với thể chế, nhưng cũng không phải là những nhân viên răm rắp làm theo chỉ đạo bên trên; họ không phải là những kẻ kiêu ngạo, thích hưởng thụ các đặc ân quá phận, nhưng cũng không phải là đối tượng để các nhà cầm quyền xem thường hoặc sách nhiễu.      Đối với hoạt động nghiên cứu cũng có thể áp dụng cùng một tư duy như vậy. Để nền khoa học tiến bộ, cần hình thành một số ít những trung tâm xuất sắc, được cẩn trọng lựa chọn căn cứ theo nội dung, giá trị và những cam kết của nhà nghiên cứu. Thay vì nâng cấp đồng loạt các cơ sở nghiên cứu trong cùng một ngày, chúng ta chỉ có thể dành sự ưu đãi về điều kiện vật chất cho một số ít những đơn vị thực sự xứng đáng; thành công của họ sẽ là hạt giống đóng góp cho sự tiến bộ và phát triển của quốc gia cũng như thế giới.  Quan điểm phản đối chủ nghĩa tinh hoa chủ yếu là về vấn đề phân tầng xã hội. Một thực tế đáng buồn là trong mọi thể chế, con em các gia đình khá giả và được giáo dục chu đáo thường có nhiều cơ hội vào đại học hơn so với con em những gia đình ít điều kiện. Học phí quá cao và ít học bổng cho sinh viên nghèo là một thực trạng ở các trường đại học Việt Nam. Trong bối cảnh đó, điều quan trọng nhất chúng ta có thể làm là đảm bảo sự liêm chính trong việc tuyển chọn sinh viên đầu vào, tuyệt đối không chấp nhận sự nể nang riêng tư, óc bè phái, hay tệ tham nhũng. Đây là một công cuộc mà Việt Nam còn đang phải nỗ lực, và phải tiếp tục duy trì.  Các bậc ông bà, cha mẹ của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay trước đây từng trải qua những năm tháng khó khăn. Trong chiến tranh và đói kém, bát cơm thường được coi trọng hơn sách vở. Không có gì lạ khi thế hệ đi trước mong con em mình được hưởng các điều kiện vật chất mà họ từng thiếu thốn. Nhưng nhiều năm đã trôi qua. Đã đến lúc tôn vinh các giá trị trí tuệ, đạo đức, văn hóa hơn các giá trị vật chất. Đã đến lúc những con em ưu tú trong thế hệ trẻ vươn đến tri thức và sự xuất sắc. Họ phải được trao cơ hội phụng sự đất nước và tự hào với những gì mình đóng góp cho sự phát triển của nó. Họ phải được trao một tầm nhìn về tương lai, và được ý thức về bổn phận trên vai mình, rằng trách nhiệm của họ là khiến ngày mai tốt đẹp hơn hôm nay.  Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi trong hệ thống hiện hành. Cần một bầu không khí tin tưởng thay cho sự ngờ vực. Thế hệ trẻ phải được dũng cảm nói lên quan điểm riêng của mình và thế hệ cha anh phải khuyến khích điều ấy với một tinh thần tích cực và xây dựng. Chuyện ấy không hề gây nguy hại cho thể chế, mà sẽ giúp tạo bước đột phá trong công cuộc phát triển đất nước.  Chúng ta cần đào tạo những con người trưởng thành có trách nhiệm và năng lực, những người biết dùng óc phê phán để có thể đề xuất những ý tưởng có tính xây dựng, khả thi, và tiến bộ thay vì đưa ra những chỉ trích vô trách nhiệm, vô ích, và cực đoan. Thật dễ để nhìn ra điều gì cần thay đổi; thực sự thực hiện những thay đổi cần thiết mới là thách thức khó khăn. Cái chúng ta cần là giải pháp chứ không phải những chẩn đoán.  Chúng ta không nên e sợ việc đào tạo nên những con người tinh hoa. Tri thức và năng lực sẽ không bao giờ làm hại sự phát triển của đất nước, mà hoàn toàn ngược lại. Những ai am hiểu lịch sử biết rằng kể từ Pericles và Khổng Tử, trong gần hai mươi lăm thế kỷ, chúng ta đấu tranh cho một thứ công lý hoàn hảo mà đến nay hầu như không mấy thay đổi, và không may là khoảng cách tới cái đích ấy cũng không rút ngắn hơn là mấy. Những ai am hiểu khoa học biết rằng chúng ta càng học thì càng thấy còn nhiều điều cần phải học. Tuy nhiên, vì tác nhân nào đó mà con người vẫn tiếp tục đấu tranh và tiếp tục học hỏi. Có lẽ đó chính là sự thông thái, sự không chấp nhận những học thuyết và giáo điều, niềm tin vào một thế giới tốt đẹp hơn, niềm khao khát muốn học cách chung sống, để thấu hiểu nhau hơn, để tôn trọng nhân phẩm hơn tất thảy. Chúng ta không nên e sợ việc đào tạo nên những người trí thức.  Trong suốt tám thế kỷ, giới tinh hoa Việt Nam từng được tuyển chọn dựa trên thành tựu thi cử. Chính xác hơn là từ năm 1075 khi vua Lý Nhân Tông tổ chức kỳ thi Nho học đầu tiên, tới năm 1919 khi chính quyền thuộc địa Pháp chấm dứt các kỳ thi này. Tôi không muốn nói rằng chúng ta nên áp dụng nguyên trạng thông lệ cũ bởi rõ ràng đó sẽ là một sự thụt lùi cả về xã hội và văn hóa, tuy nhiên người Việt nên tự hào với ý nghĩa của di sản cũ, một truyền thống tôn trọng trí tuệ và các giá trị đạo đức. Chúng ta nên quan tâm đến việc duy trì sự tôn trọng ấy, và trong trường hợp thiết thì hãy khôi phục nó.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Trí thức và chính trị      Lời ban biên tập trang mạng Project Syndicat (Mĩ): Ông Václav Havel, vừa tạ thế ngày 18 tháng 12 (2011), là một trí thức hiếm hoi: không phải ông tìm cách chen chân vào chính trị mà chính trị đã đẩy ông vào con đường đó. Năm 1998, trong khi đang làm Tổng thống cộng hòa Czech, ông đã đưa ra những suy nghĩ sau đây về những cái lợi và mối nguy hiểm của nghề nghiệp của mình.        Một người trí thức – bằng những cố gắng của cá nhân mình đã thâm nhập vào bên dưới bề mặt của sự vật, để nắm được những mối quan hệ, nắm được nhân và quả, để công nhận rằng cá nhân chỉ là một phần của tồn tại rộng lớn hơn và từ đó có nhận thức sâu sắc hơn về thế giới và trách nhiệm trước thế giới – có thể làm chính trị được hay không?  Nói như thế, có cảm tưởng rằng tôi cho là trách nhiệm của người trí thức là tham gia hoạt động chính trị. Nhưng đấy là điều vô nghĩa. Hoạt động chính trị cần một loạt yêu cầu đặc biệt, chỉ liên quan đến nó mà thôi. Một số người đáp ứng được những đòi hỏi này, số khác thì không, dù họ có là trí thức hay không.  Tôi tin tưởng sâu sắc rằng thế giới cần – hiện nay càng cần hơn bao giờ hết – những chính trị gia đã được khai minh, chín chắn, những người dũng cảm và có đầu óc khoáng đạt, đủ sức cân nhắc những sự kiện nằm bên dưới phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của họ, cả về không gian lẫn thời gian. Chúng ta cần những chính trị gia muốn và có khả năng vượt lên trên những mối quan tâm về quyền lực của họ hay những mối quan tâm của đảng hay quốc gia của họ và hành động phù hợp với những quyền lợi căn bản của nhân loại hiện nay – nghĩa là hành động theo cách mà mọi người phải hành động, mặc dù đa phần không thể hành động như thế.  Chưa bao giờ chính trị lại phụ thuộc vào thời điểm, phụ thuộc vào tâm trạng thất thường của công chúng và phương tiện truyền thông đến như thế. Chưa bao giờ chính trị gia bị buộc phải theo đuổi những vấn đề thiển cận và chóng qua đến như thế. Tôi có cảm tưởng rằng cuộc sống của nhiều chính khách trôi lăn từ những bản tin trên TV vào tối hôm trước sang cuộc thăm dò dư luận vào sáng hôm sau, rồi đến hình ảnh của mình trên TV vào tối hôm sau nữa. Tôi không tin là thời đại của những phương tiện thông tin đại chúng hiện nay khuyến khích việc xuất hiện và trưởng thành của những chính trị gia tầm cỡ như Winston Churchill; tôi nghi ngờ, mặc dù bao giờ cũng có ngoại lệ.  Tóm lại: thời đại của chúng ta càng ít khuyến khích những chính trị gia có tư duy dài hạn thì chúng ta lại càng cần những chính trị gia như thế và do đó mà càng cần sự ủng hộ các nhà trí thức – ít nhất là những người đáp ứng được định nghĩa của tôi – tham gia vào chính trị. Sự ủng hộ như thế có thể xuất phát từ những người không bao giờ tham gia vào chính trị – vì lí do gì thì cũng thế – nhưng đồng ý với những chính trị gia đó hay ít nhất là cũng chia sẻ với những ý tưởng làm cơ sở cho những hành động của họ.  Có người phản đối: các chính trị gia phải được dân chúng bầu, dân chúng bầu cho những người suy nghĩ như họ. Người muốn thăng tiến trong lĩnh vực chính trị thì phải chú ý đến tâm trí của con người nói chung, phải tôn trọng cái gọi là quan điểm của người cử tri “bình thường”. Chính trị gia, dù muốn dù không, cũng phải là một cái gương. Ông ta không dám trở thành người quảng bá cho những chân lí không được lòng người, không dàm thừa nhận những chân lí có thể có lợi cho nhân loại nhưng lại bị đa số cử tri cho là không phải mối quan tâm trực tiếp của họ hoặc thậm chí bị họ coi là trái ngược với quyền lợi của mình nữa.  Tôi tin rằng mục tiêu của chính trị không phải là đáp ứng những ước muốn ngắn hạn. Chính khách phải tìm cách thuyết phục dân chúng, để họ ủng hộ ý tưởng của mình, ngay cả khi đấy là những ý tưởng chưa được nhiều người ưa chuộng. Chính trị phải thuyết phục cử tri rằng chính khách này công nhận hay hiểu một số vấn đề tốt hơn là dân chúng và vì thế mà họ nên bầu cho chính khách đó. Do đó, dân chúng có thể ủy thác cho chính trị gia một số vấn đề – mà vì nhiều lí do khác nhau – họ không hiểu hay không muốn mất thì giờ suy nghĩ, đấy là những vấn đề mà một người nào đó sẽ phải nói thay họ.  Nghệ thuật chính trị chân chính là nghệ thuật thuyết phục dân chúng ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa, ngay cả khi việc theo đuổi sự nghiệp đó có ảnh hưởng tới quyền lợi tức thời của nhân dân. Điều đó phải được thực hiện mà không gây trở ngại cho việc chúng ta kiểm tra – bằng nhiều cách khác nhau – rằng đấy là sự nghiệp chính nghĩa, và bằng cách đó mà khẳng định rằng những công dân đã tin tưởng ta không bị dẫn vào con đường phục vụ cho những điều dối trá và hậu quả là phải chịu tai họa, không đi tìm kiếm sự thịnh vượng trong tương lai một cách viển vông.  Cần phải nói rằng một số trí thức có khả năng thực hiện những cái ác như thế. Họ trau dồi để có hiểu biết hơn tất cả mọi người, họ đứng cao hơn tất cả mọi người. Họ bảo với đồng bào của mình rằng đồng bào không hiểu dự án đầy trí tuệ do họ đưa ra vì đồng bào còn ngu dốt, chưa ngang tầm với những người đưa ra dự án. Sau tất cả những gì chúng ta đã trải qua suốt thế kỉ XX, phải công nhận rằng thái độ trí thức – đúng hơn là ngụy-trí thức -như thế nguy hiểm đến mức nào. Xin nhớ rằng có biết bao nhiêu trí thức đã giúp thiết lập nên các chế độ độc tài hiện đại!  Chính trị gia giỏi phải có khả năng giải thích mà không cần dụ dỗ; ông ta phải khiêm tốn tìm kiếm chân lí của thế giới mà không được tuyên bố rằng mình là người sở hữu chuyên nghiệp chân lí đó; và ông ta phải cảnh tỉnh dân chúng về những phẩm chất tốt đẹp trong chính họ, trong đó có cả khả năng đánh giá những giá trị và quyền lợi vượt ra ngoài quyền lợi cá nhân, mà không tỏ ra là cao đạo hơn và không ép buộc đồng bào mình bất cứ thứ gì. Ông ta không nên khống chế tâm trạng của quần chúng hay ra lệnh cho các phương tiện thông tin đại chúng, cũng không bao giờ được cản trở việc theo dõi một cách sát sao mọi hành động của mình.  Trong địa hạt chính trị, các nhà trí thức nên thể hiện sự có mặt của mình bằng một trong hai cách khả dĩ sau đây. Họ có thể – mà không cảm thấy xấu hổ hay mất giá – nhận chức và sử dụng vị trí của mình để làm những việc mà mình cho là đúng chứ không phải là để bám víu lấy quyền lực. Hoặc là họ có thể trở thành những người cầm gương soi vào nhà cầm quyền để bảo đảm rằng người cầm quyền phụng sự sự nghiệp chính nghĩa chứ không sử dụng những lời có cánh để che đậy những việc xấu xa như nhiều trí thức tham gia hoạt động chính trị trong những thế kỉ qua.  Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/havel46/English    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức và không gian công cộng trong xã hội hiện đại      Bài viết chủ yếu dựa trên những tư tưởng và luận điểm của một số tác giả khoa học xã hội trên thế giới mà chúng tôi cho là quan trọng và mang tính gợi mở cho tiến trình suy tư về việc xác lập một không gian công cộng tự do thực thụ, trong đó quan trọng trước hết là không gian báo chí, để người trí thức đảm nhiệm được sứ mệnh của mình.         Một trong năm tác phẩm điêu khắc trên đường phố Kiev của nghệ sĩ Kostiantyn Skrytutskyi dành tặng giới trí thức – cú mèo, bói cá, quạ, chim đầu rìu.  Sứ mệnh của trí thức trong xã hội hiện đại  Pierre Bourdieu cho rằng nét đặc thù của người trí thức không phải là “biết mình phải nghĩ gì” về tất cả những thứ mà xã hội thời thượng coi là đáng suy nghĩ, mà ngược lại, cần “tìm cách khám phá ra tất cả những gì mà lịch sử và lô-gic của trường trí thức đã từng buộc anh ta phải suy nghĩ […] với ảo tưởng là mình đang được tự do.”1  Ralf Dahrendorf [nhà xã hội học Đức, 1929-2009] từng ví vai trò của người trí thức trong xã hội hiện đại tương tự như vai “anh hề” trong triều đình Âu châu thời xưa, vốn thường xuất hiện bên cạnh nhà vua hay hoàng hậu để kể chuyện giễu cợt hoặc đùa giỡn. Theo ông, bất cứ xã hội nào cũng đều có những người “ở bên trên” chuyên ra lệnh, và những người “ở bên dưới” chuyên làm theo luật lệ được ban hành; ngoài ra, còn có những người ở giữa, không chỉ ra lệnh mà cũng không chỉ thi hành, chẳng hạn kế toán viên hay cảnh sát viên. Tuy nhiên, ngoài ba hạng người ấy, còn có một loại nữa mà người ta thường bỏ quên, đó chính là nhân vật “anh hề”. Không giống như những người ở bên trên, ở giữa hay ở bên dưới vốn luôn luôn phải đóng đúng vai của mình, anh hề được coi là diễn viên nằm ngoài mọi vai. “Vai của anh ta là không đóng vai nào”: “điều mà mỗi người phải làm” và “cách mà mỗi người phải diễn” chính là những điều mà anh hề không tuân theo2.  Anh hề đóng vai “lương tâm phê phán của những kẻ cầm quyền” và có quyền tự do làm những điều mà những kẻ bên dưới nếu làm thì sẽ bị trừng phạt. “Quyền lực của anh hề nằm nơi sự tự do của anh ta so với hệ thống tôn ti của trật tự xã hội, nghĩa là, anh ta phát ngôn từ bên ngoài cũng như từ bên trong đó. Anh hề thuộc về trật tự xã hội nhưng không buộc phải trung thành với nó; anh ta có thể phát ngôn cả những sự thật nhức nhối về trật tự xã hội ấy mà không phải sợ hãi gì.”3  Dahrendorf viết: “Với tư cách là những anh hề cung đình của xã hội hiện đại, mọi trí thức đều có nghĩa vụ phải hoài nghi tất cả những gì hiển nhiên, coi mọi quyền hành đều mang tính tương đối, đặt ra tất cả những câu hỏi mà không ai khác dám nêu lên.”4 Anh hề không gánh vác một trách nhiệm nào, và lẽ tất nhiên cũng chẳng có quyền lực gì, nhưng không phải vì thế mà sự thật anh ta nói ra bị kém giá trị. “Một xã hội có dung nạp hay không những anh hề cung đình trí thức chuyên phê phán và chất vấn các định chế của mình, và cách thức mà xã hội khoan dung chấp nhận những người này, đấy chính là thước đo cho sự trưởng thành và sự vững chắc nội tại của xã hội ấy.”5      Xã hội hiện đại là một xã hội mang tính chất thế tục, nghĩa là trong đó phương thức tổ chức đời sống xã hội không còn dựa trên nền tảng của những trật tự siêu nhiên hay siêu việt nữa, mà là thông qua sự thảo luận, tức là thông qua hoạt động truyền thông, nhờ đó con người mới có thể đi đến một sự thỏa thuận, tức một khế ước, về chuyện chung sống với nhau như thế nào một cách chính đáng.      Hans Gerth [nhà xã hội học Mỹ gốc Đức, 1908-1978] và Wright Mills [nhà xã hội học Mỹ, 1916-1962] nhận định rằng trí thức là một trong số những thành phần thường được/bị coi là “chệch hướng” trong xã hội6. Liên quan đến tư thế chệch hướng này, P. Berger [nhà xã hội học Mỹ gốc Áo, 1929] và T. Luckmann [nhà xã hội học Áo, 1927-2016] phân tích như sau: “[…] tình trạng ở ngoài lề xã hội của [người trí thức] […] cho thấy anh ta không chịu hội nhập trên phương diện lý thuyết vào trong lòng vũ trụ [biểu tượng] của xã hội anh ta. Anh ta tỏ ra là một chuyên gia đối đầu trong công việc định nghĩa thực tại. Tương tự như chuyên gia ‘chính thức’, anh ta cũng có một bản thiết kế cho xã hội nói chung. Nhưng trong khi bản thiết kế của chuyên gia ‘chính thức’ luôn luôn phù hợp với các chương trình định chế, và được dùng để chính đáng hóa các chương trình này về mặt lý thuyết, thì bản thiết kế của người trí thức lại tồn tại trong một cõi chân không về mặt định chế […]. Có thể khẳng định chắc chắn rằng một mức độ đa nguyên nhất định chính là một điều kiện cần thiết [cho sự tồn tại và hoạt động của giới trí thức].”7  Joseph Schumpeter cho rằng, với tư cách là người hoạt động tự do, trí thức chính là người “đỡ đẻ” của xã hội8.  Nếu người trí thức gần như luôn luôn “ở trong một dạng nổi loạn thường trực chống lại tình trạng lệ thuộc vào lợi ích và vào sự tuân phục”9, thì theo H. Gerth và W. Mills, những trí thức “chệch hướng” này lại “thường đóng những vai trò quan trọng trong những giai đoạn chuyển đổi từ một cấu trúc xã hội này sang một cấu trúc xã hội khác. Họ phê phán những thứ đang tồn tại như thể là những thứ ‘đã chết rồi’, và họ làm điều này nhân danh những tiêu chuẩn chưa thành hiện thực, và có thể ngay cả những tiêu chuẩn ‘không tưởng’, không thể thực hiện được.” 10  Hiểu theo chiều hướng ấy, hiển nhiên là người trí thức không thể nào đảm nhiệm được sứ mệnh của mình nếu thể chế xã hội không xác lập được một không gian công cộng tự do thực thụ, mà trong đó quan trọng trước hết là không gian báo chí.  Không gian công cộng và báo chí  Không gian công cộng là một trong những sản phẩm độc đáo nhất của xã hội hiện đại vốn mang một trong những thuộc tính then chốt là tính đa nguyên. Khi định nghĩa sự “khai minh” chính là “sự giải thoát ra khỏi tình trạng ấu trĩ”, triết gia Đức thế kỷ 18 Immanuel Kant nhấn mạnh rằng người ta “phải luôn luôn được tự do sử dụng công khai lý tính của mình, và chỉ có điều này mới có thể mang lại sự khai minh nơi con người”11. Nếu “Vị sĩ quan nói: không tranh cãi, tập luyện đi! Nhân viên thu thuế nói: không tranh cãi, nộp tiền đi! Vị giáo sĩ nói: không tranh cãi, hãy tin đi!”, thì nhà nghiên cứu lại là người phải đưa công trình của mình “ra trước thế giới độc giả” để họ xem xét, phê phán. Chỉ khi nào tính công khai được tôn trọng, thì “anh ta [mới] được hưởng đầy đủ quyền tự do và thậm chí còn được mời gọi truyền thông cho công chúng mọi tư tưởng thiện chí mà anh ta đã suy xét cẩn thận”12. Đề cập tới giới trí thức không nằm trong bộ máy nhà nước mà ông gọi chung là “các nhà triết học”, Kant nhận xét như sau: “Do quyền tự do mà họ tự cho là mình có, [các nhà triết học] thường là những người chướng tai gai mắt đối với nhà nước, vốn luôn luôn chỉ muốn cai trị, và với tư cách là ‘những người khai minh’, họ nổi tiếng là trở thành mối đe dọa đối với nhà nước […]. Điều này chỉ có thể xảy ra nhờ vào không gian công cộng, nếu cả một quốc gia muốn biểu tỏ sự bất bình của mình. Vì thế, việc cấm đoán không gian công cộng sẽ cản trở sự tiến bộ của một dân tộc hướng đến điều tốt đẹp hơn.”13      “Một xã hội có dung nạp hay không những anh hề cung đình trí thức chuyên phê phán và chất vấn các định chế của mình, và cách thức mà xã hội khoan dung chấp nhận những người này, đấy chính là thước đo cho sự trưởng thành và sự vững chắc nội tại của xã hội ấy”. Ralf Dahrendorf      Theo Jürgen Habermas, không gian công cộng là không gian mà trong đó bất cứ cá nhân nào cũng có thể tham gia và trao đổi ý kiến với nhau mà không bị áp lực từ bên ngoài. Trên nguyên tắc, đây là nơi diễn ra những cuộc tranh luận mang tính chất lý tính và phê phán, và do vậy đây chính là nơi kết tinh nên những ý kiến (công luận) và ý muốn của công chúng. Tính duy lý của sự đối thoại trong không gian công cộng giúp cho người ta vượt dần ra khỏi những lợi ích cá biệt để đạt tới một sự đồng thuận giữa những người có thiện chí với nhau14.  Không gian công cộng đóng vai trò trung gian giữa xã hội công dân và nhà nước, buộc nhà nước phải chịu trách nhiệm trước xã hội do “tính công cộng” của mình. Không gian công cộng tự nó mang tính chất phê phán bởi lẽ nó giả định rằng phải có những thông tin về các hoạt động của nhà nước để công luận có thể xem xét và bình phẩm15.  Các phương tiện truyền thông đại chúng là định chế điển hình nhất của không gian công cộng. Trong xã hội hiện đại, định chế này tạo ra một không gian công cộng mới mẻ và rộng mở, chưa từng có trong các xã hội cổ truyền, tiền hiện đại. Theo Daniel Lerner [học giả Mỹ, 1917-1980] “một hệ thống truyền thông chính là một dấu chỉ và cũng đồng thời là một tác nhân của sự thay đổi trong toàn bộ một hệ thống xã hội.”16 Các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là báo chí, chính là một trung giới truyền thông trong nội bộ xã hội dân sự, cũng như giữa xã hội dân sự với các định chế nhà nước. Hiểu theo ý nghĩa này, truyền thông đại chúng không phải là một lãnh địa dành riêng cho những người có quyền lực, những nhà truyền thông hay các chuyên gia.  Báo chí là chiếc cầu nối không thể thiếu giữa người dân với xã hội. Vì thế, một trong những chức năng xã hội quan trọng của báo chí là nuôi dưỡng sự gắn bó của người dân với đời sống xã hội, và từ đó, sâu xa hơn, củng cố lòng tin của người dân vào các giá trị xã hội. Người dân đọc báo không chỉ để biết tin tức và theo dõi dòng thời sự, mà quan trọng hơn, còn là để hiểu thời cuộc mà họ đang sống. Do vậy, nếu tờ báo không chu toàn sứ mệnh của mình, chỉ thông tin một chiều theo kiểu “tô hồng”, thì chuyện độc giả không tín nhiệm vào tờ báo là điều dễ hiểu. Điều đáng nói là một khi tình hình này trở nên phổ biến thì nguy cơ nảy sinh tình trạng mất lòng tin trong xã hội là điều khó lòng ngăn chặn. Một cách tổng quát, có thể nói rằng độ tin cậy của một nền báo chí cũng biểu hiện độ tin cậy của chính hệ thống xã hội.  Xã hội hiện đại là một xã hội mang tính chất thế tục, nghĩa là trong đó phương thức tổ chức đời sống xã hội không còn dựa trên nền tảng của những trật tự siêu nhiên hay siêu việt nữa, mà là thông qua sự thảo luận, tức là thông qua hoạt động truyền thông, nhờ đó con người mới có thể đi đến một sự thỏa thuận, tức một khế ước, về chuyện chung sống với nhau như thế nào một cách chính đáng.  Triết gia Đức Georg Hegel (1770-1831) từng viết như sau: “Nguyên tắc của thế giới hiện đại đòi hỏi rằng những gì buộc con người phải nhìn nhận thì bản thân chúng phải tự chứng tỏ là chính đáng đã.”17 Nói cách khác, những điều mà người ta coi là “chính đáng” phải là kết quả xuất phát từ một quá trình thảo luận tự do. Theo Hegel, “trong dư luận quần chúng có cả cái đúng lẫn cái sai”, nhưng việc nhìn ra những điều đúng đắn trong đấy “chính là công việc của bậc vĩ nhân”. Ông viết: “Ai thể hiện được ý nguyện của thời đại mình, ai nói cho thời đại mình biết điều mà thời đại mong muốn, và hoàn thành ý nguyện ấy, là vĩ nhân của thời đại”18. Để biết được “ý nguyện” của dân chúng, để hiểu được công luận, hiển nhiên là phải tôn trọng và tạo điều kiện cho quyền tự do ngôn luận, và hệ luận của điều này là quyền tự do báo chí. Theo Hegel, “sự tự do ngôn luận bao giờ cũng được xem là ít nguy hiểm hơn so với sự im lặng, bởi nếu nhân dân im lặng, sợ rằng họ sẽ giữ mãi trong lòng sự chống đối, trong khi việc tự do lý sự sẽ mở lối thoát và mang lại cho họ một mức độ thỏa mãn nào đó, khiến công việc được tiến hành dễ dàng hơn.”19 Dĩ nhiên, tự do báo chí hoàn toàn không phải là “tự do tha hồ nói và viết những gì mình thích”, bởi lẽ nếu nghĩ như vậy thì cũng không khác gì nói rằng “sự tự do nói chung có nghĩa là muốn làm gì thì làm”, và cách hiểu này là “sản phẩm của lối suy nghĩ còn hoàn toàn thiếu văn hóa, thô lậu và nông cạn”20.  Vào tháng 5-1842, trên tờ nhật báo Rheinische Zeitung, Karl Marx viết rằng có thể có ba loại công chúng khi một nền báo chí sa vào tệ giả dối và tệ tiêu cực: một là nhóm “mê tín về chính trị”, hai là nhóm “không tin tưởng về chính trị”, và ba là nhóm “hoàn toàn quay lưng lại với cuộc sống của quốc gia, biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư”. Và Marx còn nhấn mạnh rằng nền báo chí ấy “có tác dụng làm suy đồi đạo đức” trong xã hội21.  ————–  * PGS.TS xã hội học.  1Bourdieu, Pierre (1984), Questions de sociologie, Paris, Minuit. Tr. 71.  2,3,4,5Dahrendorf, Ralf (1970), “The Intellectual and Society. The Social Function of the ‘Fool’ in the Twentieth Century” [1953], in Philip Rieff (Ed.), On Intellectuals, New York, Anchor Books. Tr. 53-56.  6,10 Gerth, Hans, and C. Wright Mills (1964), Character and Social Structure. The Psychology of Social Institutions [1953], New York, Harcourt, Brace and World, Inc. Tr. 270-271.  7Berger, Peter L., và Thomas Luckmann (2015), Sự kiến tạo xã hội về thực tại. Khảo luận về xã hội học nhận thức [1966], Trần Hữu Quang chủ biên dịch thuật, giới thiệu và chú giải, Hà Nội, Nxb Tri thức. Trang 187.  8, Schumpeter, Joseph A. (2003), Capitalism, Socialism and Democracy [1943], London, Routledge. Tr. 149; tr. 146.  9Mills, C. Wright (1974), White Collar. The American Middle Classes [1951]. London, Oxford University Press. Tr. 143.  11,12Kant, Immanuel (2006a), “An Answer to the Question: What Is Enlightenment?” [1784], in Immanuel Kant, “Toward Perpetual Peace” and Other Writings on Politics, Peace, and History, Yale University Press. Tr.18 – 22.  13Kant, Immanuel (2006b), “The Contest of the Faculties, Part Two. The Contest of the Faculty of Philosophy with the Faculty of Law” [1798], in Immanuel Kant, “Toward Perpetual Peace” and Other Writings on Politics, Peace, and History. Tr.159.  14Habermas, Jürgen (1993), L’Espace public: Archéologie de la publicité comme dimension constitutive de la société bourgeoise [1962], Paris, Payot. Tr. 211-214, tr.224.  15Létourneau, Alain (2001), “Remarques sur le journalisme et la presse au regard de la discussion dans l’espace public”, in Patrick J. Brunet, L’éthique dans la société de l’information, Québec et Paris, Presses Université Laval, L’Harmattan. Tr. 49.  16Lerner, Daniel (1973), “Systèmes de communications et systèmes sociaux”, in Francis Balle et Jean Padioleau (Dir.), Sociologie de l’information, Textes fondamentaux, Paris, Larousse. Tr. 132-133.  17,18,19,20Hegel, Georg W.F. (2010), Các nguyên lý của triết học pháp quyền [1821], Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Hà Nội, Nxb Tri thức. Tr. 803- 805.  21Mác, Các, và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia. Tr.102-105.          Author                Trần Hữu Quang *        
__label__tiasang Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức      1. Thế nào là trí thức ?  1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.                          Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như “Những ngày thơ ấu“, “Bỉ vỏ“, chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều “kỹ sư chân đất” – những nông dân “chân lấm tay bùn” chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.  Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức.    Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu “bằng cấp cao” là đặc tính “cao” phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ” (nghĩa là: “không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng“, “không có bằng cao đẳng thì không lấy“). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.  Như vậy, có thể hiểu trí thức không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại, người có bằng cấp cao cũng chưa hẳn đã là trí thức. Điều quan trọng đối với người trí thức là có hiểu biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn nhất định.                 1.2. Thay cho dấu hiệu bằng cấp, nhiều người quan niệm: “Trí thức là những người lao động trí óc.” Nhưng định nghĩa này chưa làm rõ thế nào là “lao động trí óc“.  Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì một nghệ sĩ dương cầm, một nhà điêu khắc hay một bác sĩ phẫu thuật sử dụng cơ bắp không kém gì người lao động chân tay; sáng tạo của một họa sĩ thoạt nhìn cũng không khác hoạt động của người chép tranh hay người vẽ truyền thần; công việc của một nhà giáo ở trung học hay đại học cũng thuộc phạm trù “giáo dục” như công việc của cô bảo mẫu. Điểm phân biệt giữa những người này là ở tầm mức của công việc và trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc ấy. Ví dụ, khác với y tá hay hộ lý, bác sĩ phẫu thuật thực hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính mạng con người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được đào tạo chu đáo về lý luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, trình độ càng phải cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đã có sẵn, cho ra lò hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau; còn đối với nhà điêu khắc thì mỗi tác phẩm là một sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật nhất định. Tóm lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn.        1.3. Một trong những cách hiểu khác về trí thức là dựa vào hoạt động chính đem lại thu nhập cho họ. Theo cách hiểu này, trí thức là những người lấy lao động trí óc làm một nghề, hay nói cách khác là sống bằng lao động trí óc. Cách hiểu này không sai nhưng cũng không bao quát được hết thực tế. Bởi vì trong lịch sử không hiếm những trường hợp như cụ Tú Xương, tài năng văn chương nức tiếng, được hậu thế tôn vinh là một trong những thi nhân lỗi lạc của nước nhà, nhưng sinh thời, cụ chỉ lấy văn chương làm nơi bộc bạch nỗi niềm, còn kiếm sống phải nhờ cả vào một tay cụ bà “Quanh năm buôn bán ở mom sông / Nuôi đủ năm con với một chồng.“  Không riêng gì văn chương mà trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, chúng ta cũng có thể dẫn ra những ví dụ tương tự. Họa sĩ Van Gogh miệt mài sáng tạo nghệ thuật suốt cuộc đời nhưng khi còn sống, ông lâm vào cảnh cùng quẫn vì không mấy ai chịu mua những bức tranh của họa sĩ thiên tài. Nhà sáng chế K. Tsiolkovxkij thời Sa Hoàng bị coi là gàn dở và cũng sống trong cảnh bần hàn; sáng chế bị xếp xó. Chỉ sau khi có chính quyền xô viết, ông mới được trọng dụng. Nhưng phải đến 22 năm sau khi ông mất, tên lửa đẩy thiết kế theo mô hình của ông mới đưa được vệ tinh lên vũ trụ và ông mới được tôn vinh là ông tổ của ngành hàng không vũ trụ.  Như vậy, không phải trí thức bao giờ cũng có thể sống bằng trí tuệ của mình. Điều quan trọng là họ thường xuyên lao động trí óc, thường xuyên sáng tạo những sản phẩm trí tuệ, như là sứ mạng, là lẽ sống của mình.  1.4. Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, quản lý kinh tế – xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.  Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý.     2. Một số đặc điểm của trí thức  Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng rất phong phú. Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Phải chăng có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau ?  2.1. Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc. Nhờ ham học, ham đọc  mà người trí thức luôn luôn tiếp cận được cái mới, do đó trình độ lý luận không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lý luận quá mức có thể dẫn đến tình trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn. Đó là nhược điểm mà người trí thức cần đề phòng.  2.2. Trí thức là người luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập khuôn theo công thức sẵn có. Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai trò nhân tố quan trọng thúc đẩy khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế – xã hội phát triển. Tuy nhiên, xã hội cũng dễ nhìn nhận những sáng tạo quá đà, nhất là trong phong cách sống, là lập dị.  2.3. Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề. Vì vậy, trí thức thường hay có ý kiến phản biện. Trong xã hội cũng như trong mỗi đơn vị, những ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị, ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc hoặc bổ sung, hoàn thiện chủ kiến của mình. Nhưng ý kiến phản biện, nhất là những ý kiến quá thẳng thắn, dễ gây phản ứng tiêu cực. Vì vậy, người phản biện cũng cần chọn cách nói, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phục của ý kiến mình được cao hơn.  Thói quen lật lại vấn đề khiến người trí thức nhiều khi lật đi lật lại cả ý kiến của mình. Tự phản biện mình là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sự cầu thị. Tuy nhiên, nếu trước bất cứ việc gì cũng cân đi nhắc lại mà không dám hành động thì sẽ thành do dự, nhu nhược, thiếu quyết đoán.  2.4. Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đã tin điều gì một cách có căn cứ thì trí thức thường rất trung thành với niềm tin của mình. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolas Copernik sẵn sàng               đối mặt với toà án giáo hội, chứ không phản bội niềm tin của mình là trái đất quay xung quanh mặt trời. Gần một trăm năm sau, lại đến lượt nhà thiên văn Italia Galileo Galilée dũng cảm bảo vệ thuyết quả đất quay trước tòa án giáo hội, bất chấp án lưu đày và rút phép thông công. Nhưng lịch sử cũng ghi lại thảm kịch của biết bao trí thức xưa chết vì đặt sai niềm tin, sự trung thành của mình vào những bạo chúa, độc tài hay những lý tưởng bị phản bội. Người phương Đông gọi đó là thái độ ngu trung, một biểu hiện cực đoan của trung thành.  |  2.5. Trí thức thường có hoài bão vươn lên những đỉnh cao, những vị trí nổi bật trong xã hội. Cách chúng ta 150 năm, Nguyễn Công Trứ từng viết:  “Đã mang tiếng ở trong trời đất  Phải có danh gì với núi sông.”  Người trí thức nói chung trọng danh hơn trọng lợi. Thậm chí không ít người trọng danh hơn cả mạng sống của mình. Nhưng quá trọng danh có thể dẫn đến hiếu danh. Chuyện chạy đua bằng cấp, danh hiệu, giải thưởng v.v… mà xã hội phê phán hiện nay cũng là những biểu hiện của thói hiếu danh.    2.6. Trí thức thường khảng khái, tự trọng. Người xưa đã khái quát phẩm hạnh này thành nguyên tắc sống: “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi lòng, quyền uy không khuất phục nổi). Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xã hội trọng vọng trí thức không chỉ vì trí tuệ của họ mà còn vì phẩm chất cao quý này. Tuy vậy, trong cuộc sống, cũng cần phân biệt lòng tự trọng với thói sĩ diện. Tự tô vẽ hư danh cho mình, tạo cho mình vỏ bọc bằng những thứ không phải của mình và khư khư bảo vệ nó, đó là sĩ diện, một biểu hiện xa lạ với lòng tự trọng .  2.7. Trí thức thường cư xử lịch thiệp. Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch lòng người khác. Đây là một phẩm chất đáng quý trong ứng xử, nhưng nếu quá nhún nhường, quá tế nhị cũng dễ bị người xung quanh cho là không thực bụng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức và sự tiến bộ của xã hội      Khái niệm “trí thức” xuất phát từ vụ án Dreyfus nổi tiếng ở Pháp cách đây hơn một thế kỷ (1894-1906), trong đó sĩ quan Dreyfus bị kết án phản quốc bằng các chứng cứ giả.      Dreyfus được những người có tư tưởng tiến bộ, tiêu biểu như Emile Zola, Anatole France, George Clémenceau tập hợp thành lực lượng đông đảo đấu tranh đòi lại công lý cho ông ta, chống lại sự vùi dập, xuyên tạc sự thật, lừa dối công chúng của những kẻ nắm quyền hành. Cuối cùng, Dreyfus được trắng án và khôi phục danh dự sau 12 năm. Từ sau vụ án Dreyfus, đã không ít lần tương tự các nhà trí thức tập hợp lại với nhau để đưa ra các “tuyên ngôn của trí thức” về các vấn đề nóng bỏng của xã hội. Các tuyên ngôn đó nói chung có tính chất tiến bộ và khai sáng. Một ví dụ gần đây là “Tuyên ngôn của các trí thức Tunisia” vào năm 2012, chống lại các xu hướng nguy hiểm có nguy cơ xảy ra ở Tunisia như là chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tôn giáo hoá chính quyền.  Có những người dùng từ “trí thức” theo nghĩa hạn hẹp, khắt khe, coi rằng người trí thức phải là nhà tư tưởng lớn tiên phong với những tác phẩm triết lý lớn để đời. Khi giáo sư sử học James Kloppenberg ở Harvard gọi Barack Obama là “nhà trí thức thực sự, Tổng thống triết gia” thì bị một học giả nổi tiếng khác là giáo sư quan hệ quốc tế Barry Rubin ở Israel phản đối dữ dội. Lý do mà Rubin đưa ra là Obama không thật uyên thâm về lịch sử, triết học hay luật pháp, không viết được công trình lý thuyết lớn nào như là những bậc tiền bối John Adams, Thomas Jefferson và James Davidson. Nếu hiểu kiểu khắt khe như vậy thì số lượng người trí thức rất ít và không tạo thành một tầng lớp trong xã hội.                          Sĩ quan Alfred Dreyfus (phải) bị kết án phản quốc bằng các chứng cứ giả. Ảnh phải: Cảnh nhà văn Emile Zola lên tiếng đấu tranh đòi công lý cho Alfred Dreyfus trong phiên tòa xử Dreyfus. Sự việc này đã được đưa vào bộ phim “Cuộc đời Emile Zola” (năm 1937).   Để tránh cãi nhau một cách vô ích xem “ai là trí thức”, chúng ta có thể coi khái niệm “trí thức” là một khái niệm tương đối, thay vì tuyệt đối, tương tự như “giàu” và “nghèo” là những khái niệm tương đối. Như vậy, một người có thể là trí thức trong mắt người này nhưng chưa đạt mức trí thức trong mắt người khác.  Chúng ta cũng có thể coi những người có mức độ trí thức cao thì tạo thành tầng lớp trí thức ưu tú trong xã hội. Theo nhà kinh tế Friedrich August von Hayek (1899-1992), tầng lớp trí thức không chỉ gồm những nhà tư tưởng tiên phong, mà còn là tầng lớp trung gian giữa các nhà tư tưởng tiên phong và đại chúng, với vai trò “dẫn dắt đại chúng”, truyền đạt lại các tri thức, giác ngộ từ những nhà tiên phong đến đại chúng.  Thế nào là có mức độ trí thức cao?   Nói theo kiểu tâm lý học, một người càng có trí tuệ cao, tình cảm cao (đồng cảm với nỗi khổ của nhân loại) và quyết tâm cao thì mức độ trí thức càng cao. Thiếu một trong ba vế đó thì mức độ trí thức bị giảm đi. Không có quyết tâm thì chỉ là “trí ngủ”, thiếu tình cảm thì có thể thành quỷ dữ như Hitler, còn thiếu trí tuệ thì là nhiệt tình cộng với ngu dốt dễ dẫn đến phá hoại.  Có nhiều khi từ “trí thức” bị dùng với nghĩa xấu. Ngay trong vụ án Dreyfus, ban đầu từ “trí thức” được phe chống Dreyfus dùng một cách mỉa mai để chỉ những người ủng hộ Dreyfus như là những kẻ “hám danh, rách việc, kém hiểu biết thực tế nhưng lại thích chõ miệng vào việc không phải của mình”. Bản thân giới “có học” và tự nhận mình là “trí thức” cũng mắc một số căn bệnh khiến từ “trí thức” bị mang nghĩa xấu. Những căn bệnh phổ biến nhất là: thừa lý thuyết thiếu thực hành, thừa học vấn thiếu trách nhiệm, tự cao tự đại. Ở Việt Nam từ thời phong kiến có câu thơ: “Ai ơi chớ lấy học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Ngay ở Hà Lan ngày nay, từ “trí thức” hay bị hiểu là “học quá nhiều và có những quan điểm không thực tế về thế giới”. Ở Cộng hoà Séc, từ “trí thức” cũng được dùng để chỉ những người lắm triết lý viển vông xa vời thực tế. Tuy nhiên, người ta không thể phủ nhận rằng cố Tổng thống Vaclav Havel là một biểu tượng của nhà trí thức lớn đem lại thay đổi tốt đẹp cho xã hội Séc.  Có một số học giả coi rằng không có một tầng lớp trí thức chung của xã hội, mà mỗi giai cấp trong xã hội có đội ngũ trí thức riêng của giai cấp đó để phục vụ giai cấp đó. (Xem phân tích về các quan niệm về giới trí thức trong bài báo: Kurzman và Owens, The sociology of intellectuals, Annu. Rev. Sociol. 2002, No. 28: 63-90). Ví dụ như giai cấp vô sản có trí thức vô sản, giai cấp tư sản có trí thức tư sản, phe cánh tả có trí thức cánh tả, cánh hữu có trí thức cánh hữu. Tuy rằng việc phân loại này có thể còn đúng một phần nào đó, nhưng trong xã hội hiện đại ngày nay, sự khác biệt giữa một người “trí thức cao” và một người “kém trí thức” lớn hơn nhiều so với sự khác biệt giữa một người “trí thức cánh tả” và một người “trí thức cánh hữu”. Nếu là những người có “mức độ trí thức cao” thì dù theo “trường phái nào” cũng dễ gần nhau và dễ hợp tác với nhau vì lợi ích chung của xã hội.  Tất cả các hiểu biết của chúng ta về thế giới ngày nay (ví dụ như di truyền học hay vật lý lượng tử), tất cả các tư tưởng lớn (ví dụ như bình đẳng chủng tộc, giải phóng nô lệ, dân chủ và tự chủ ở các cấp) và các tiến bộ xã hội đều có công khám phá và truyền bá của các trí thức. Các nhà lãnh đạo lý tưởng của một đất nước và của toàn thế giới phải là những trí thức thực sự. Ngay từ thời phong kiến, người ta cũng đã nhận ra tầm quan trọng của tri thức trong lãnh đạo, qua việc tuyển quan bằng các kỳ thi. Đất nước nào, xã hội nào có tầng lớp trí thức càng mạnh và có chính quyền càng trí thức thì càng dễ phát triển, tiến bộ.  Làm sao để phát triển và phát huy vai trò của tầng lớp trí thức?   Ở đây, tôi chỉ xin nêu ra một số điểm khá hiển nhiên: 1) Nhận thức về sự kém cỏi của mình (hay là của giới trí thức của đất nước mình) để từ đó quyết tâm vươn lên; 2) Tăng đầu tư và tạo điều kiện cho sự phát triển của trí thức; 3) Cải thiện hệ thống giáo dục.  Nhận thức về sự kém cỏi của mình  Dễ thấy rằng, so với thế giới, trí thức Việt Nam của chúng ta còn yếu. Tuy trong lịch sử của dân tộc có một số trí thức lớn như là Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, nhưng nhìn tổng thể thì đóng góp của Việt Nam cho toàn thế giới trong lịch sử còn rất khiêm tốn so với các nước khác. Còn nhìn vào thực trạng hiện nay, có thể thấy đóng góp của giới trí thức nước ta lại càng hạn chế, có lẽ trước hết bởi sự học hành không đến nơi đến chốn, tưởng là biết tuy rằng chưa biết, thêm vào đó là cách làm việc cẩu thả. Điều đó thể hiện điển hình nhất qua những đóng góp về dịch thuật. Có một lượng lớn các tác phẩm hay bằng tiếng nước ngoài, khi được dịch sang tiếng Việt bị sai rất nhiều, thậm chí đến mức làm sai hoàn toàn ý của tác giả. Cách đây ít hôm, tôi được đọc bản dịch tiếng Việt in ra vào cuối năm 2015 của cuốn sách “Xứ Đông Dương” (L’Indo-chine) của Paul Doumer (từng là Toàn quyền Đông Dương trong 5 năm, rồi về sau trở thành Tổng thống Pháp) viết năm 1905. Có thể nói ông Doumer là một người uyên bác, xuất thân từ một gia đình “vô sản” nhưng được hưởng nền giáo dục khai sáng của Pháp, và quyển sách của ông về Đông Dương là một tài liệu lịch sử quý báu mà có lẽ nhà sử học hay văn hoá học về Việt Nam nào cũng đều cần biết. Chỉ tiếc rằng, bản dịch tiếng Việt năm 2015 của nó bị sai một cách thô thiển, hầu như trang nào cũng sai, và chứa nhiều câu đọc tiếng Việt đã thấy ngớ ngẩn vô nghĩa chưa cần đối chiếu với bản gốc tiếng Pháp. Ai mà đọc và hiểu theo bản dịch này thì sẽ bị hiểu sai hết ý của Doumer và hiểu sai lịch sử. Và sách của Doumer không phải là sách duy nhất bị rơi vào tình trạng như vậy. Rất nhiều sách triết học, mỹ học, văn học, v.v. có bản gốc tiếng nước ngoài đang tồn tại ở Việt Nam bị dịch sai, và như vậy người Việt Nam chúng ta đã bị hiểu sai rất nhiều thứ, khiến cho mức độ tri thức và trí thức bị giảm đi.  Đầu tư cho chất xám và trí thức  Sự đầu tư kém cỏi cho các công việc trí óc là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới hạn chế chất lượng các sản phẩm tri thức, mà tình trạng sách dịch bị sai rất nhiều trên đây cũng là một ví dụ điển hình. So với thế giới, giá ô tô hay nhà cửa ở Việt Nam cao gấp mấy lần, nhưng giá của sách lại chỉ bằng một phần mấy, đã thế vẫn ít người mua, sách bán được ít tiền, người viết sách hay dịch sách đều chỉ nhận được rất ít thù lao, và do đó chất lượng của sách viết hay sách dịch cũng bị tồi tương xứng.  Trong khi đó, chỉ cần nhìn sang Trung Quốc và các nước láng giềng khác cũng đủ thấy những nơi khác họ coi trọng trí thức hơn như thế nào, trả công xứng đáng hơn cho những người hoạt động trí óc ra sao, và kết quả là họ phát triển nhanh hơn, trở nên văn minh hơn chúng ta như thế nào. Trong lần đi công tác ở Trung Quốc vào tháng 1/2016, tôi thật sự ấn tượng về sự tiến bộ, không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hoá của họ. Người Trung Quốc vốn mang tiếng ở bẩn và ồn ào, nói oang oang, nhưng ở những quán tôi vào ăn ở Trung Quốc đầu năm 2016 lại thấy họ nói nhỏ nhẹ không khác gì phương Tây – những quán tôi vào ở Hà Nội cuối năm 2015 mới là oang oang. Còn về sự ở bẩn, lạ thay, các nơi công cộng ở những thành phố như Thiên Tân và Trường Xuân của Trung Quốc mà tôi đến dịp đầu năm vừa rồi lại rất sạch sẽ và an toàn. Sự tiến bộ trên của Trung Quốc chắc chắn gắn liền với sự coi trọng giáo dục và trí thức, là những yếu tố đã làm cho con người và xã hội trở nên văn minh hơn.  Theo truyền thống hiếu học và tôn trọng giáo viên vẫn được giữ cho đến ngày nay, các trí thức ở Trung Quốc còn được coi trọng hơn cả ở phương Tây. Đặc biệt, các giáo sư ở Trung Quốc có thu nhập cao hơn là bác sĩ hay luật sư. Ngay cả các giảng viên trẻ ở Trung Quốc mà tôi gặp cũng có thu nhập tốt, có tiền để đi công tác nước ngoài thoải mái, có xe hơi riêng, chứ không chật vật như ở Việt Nam. Một buổi tối, họ dẫn tôi vào một quán KTV (karaoke) lịch sự, và ở đó họ hát đủ các thứ nhạc Trung, Nga, Anh, v.v., một chi tiết nhỏ nhưng chứng tỏ họ rất có tinh thần hoà nhập với thế giới về văn hoá.  Vấn đề cải thiện giáo dục  Nước Pháp có tội xâm lược Việt Nam, nhưng có công truyền bá vào Việt Nam một nền giáo dục khai phóng. Chính vì được hưởng một nền giáo dục khai phóng nên Việt Nam có được một tầng lớp trí thức ưu tú vào đầu thế kỷ 20 tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta cần phát huy truyền thống giáo dục khai phóng này, đổi mới giáo dục theo hướng đó, thay vì giáo dục theo lối gò bó, hình thức, giáo điều.  Có một số tín hiệu tốt trong giáo dục của Việt Nam gần đây, xuất phát từ các nỗ lực của những trí thức không nằm trong “hệ thống giáo dục” rồi được Bộ Giáo dục chấp nhận và ủng hộ, như là chương trình “sách hóa trường học” của Nguyễn Quang Thạch (đông đảo học sinh sẽ có được văn hoá đọc, sẽ biết đến không chỉ sách giáo khoa mà còn chủ động đọc nhiều sách khác, tự nâng cao hiểu biết qua việc đọc sách) hay “liên minh STEM” (cách học sinh động tích hợp khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học với nhiều thực hành thú vị) của nhiều nhóm tư nhân làm giáo dục (như là DTT, Long Minh, Sputnik Education, v.v.) hợp thành. Đây là những đóng góp quan trọng góp phần thay đổi nền giáo dục theo chiều hướng tích cực, sẽ góp phần nâng cao nền tảng văn hoá của Việt Nam, và hệ quả là tầng lớp trí thức tương lai nhờ đó mà mạnh lên.  Chúng ta có thể hy vọng rằng, với nền giáo dục trên thế giới ngày càng tốt lên, tầng lớp trí thức cũng sẽ ngày càng mạnh lên, và toàn thể thế giới sẽ ngày càng văn minh lên. Khi mức độ trí thức của xã hội càng cao lên, thì xã hội càng có nhiều yếu tố “xã hội chủ nghĩa” (giống như tiên đoán của Marx, hay của Schumpeter, hay của một số nhà triết học hay kinh tế khác, nhưng theo con đường và vì các lý do không hẳn giống như là Marx hay Schumpeter đưa ra). Như Einstein có nói, “thế giới này là của chung”. Những gì quan trọng nhất đều là “trời cho”, và tự do mưu cầu hạnh phúc không có nghĩa là vơ vét của chung thành của riêng, không có nghĩa là chiến tranh để tranh giành quyền lực. Một viễn tưởng “utopia” về một “xã hội đại đồng” cũng có thể đến một ngày nào đó khi mà toàn trái đất này sẽ đạt được mức độ trí thức đủ cao!      Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo ở Việt Nam: 5 xu hướng chủ đạo      Trong quá trình làm dịch vụ Trí tuệ nhân tạo (TTNT) ở Việt Nam, được tiếp xúc và làm việc với rất nhiều doanh nghiệp, chúng tôi nhận ra rằng đây là một thị trường cực kì tiềm năng nhưng cũng đầy thử thách. Để minh họa cho đánh giá này, tôi xin được liệt kê ra đây 5 xu hướng chủ đạo về TTNT tại Việt Nam (VN).      Có hàng trăm bài toán tối ưu hoá về Logistics cảng biển. Ảnh: PV  1. TTNT là Máy Học  Đây có lẽ là cách giải thích theo hướng học thuật được nhắc tới nhiều nhất không chỉ ở VN mà còn trên thế giới. Hàng loạt các hội thảo, khóa học, sự kiện về những ứng dụng của Máy Học với sự tham gia của các công ty, chuyên gia trong và ngoài nước được tổ chức với mật độ dày đặc từ Bắc chí Nam thu hút sự quan tâm của rất nhiều thành phần, độ tuổi trong xã hội. Rất nhiều khả năng thuyết phục về việc ứng dụng Máy Học được nhắc tới thông qua các ví dụ thực tế: Từ nhận dạng khuôn mặt, camera giao thông thông minh, phân loại nông sản tới nhận dạng chữ viết tay, biển số xe, chứng minh thư nhân dân (CMTND), nhận dạng giọng nói, xe tự lái…  Trên lý thuyết tiềm năng là vậy, thế nhưng trong thực tế những ứng dụng này hầu như chưa đi được vào các doanh nghiệp do chưa tạo ra được đủ độ tin cậy và ổn định. Có thể kể đến việc camera và phần mềm nhận dạng khuôn mặt phục vụ cho việc check in/check out công sở đến từ một cường quốc trên thế giới là Trung Quốc hiện chưa tạo ra được sự hài lòng cho các doanh nghiệp sử dụng. Khi nhận được các yêu cầu làm tốt hơn các sản phẩm sẵn có trên thị trường về nhận dạng khuôn mặt, phản xạ ngay lập tức của chúng tôi là từ chối. Đây là một bài toán mang tầm thế giới và đòi hỏi rất nhiều năm nghiên cứu bền bỉ với sự đầu tư về nhân vật lực khổng lồ.  Ngoài ra còn có thể kể đến một bài toán tiêu biểu, nhập môn về Máy Học cho việc nhận dạng chữ viết tay, biển số xe hay CMTND. Hiện tại theo hiểu biết hạn hẹp của mình, chúng tôi chưa thấy được bất kì phần mềm nào trên thị trường có thể đáp ứng được yêu cầu với hệ thống chữ viết, biển số xe hay CMTND VN. Có hai lý do cho vấn đề này: thứ nhất việc nhận dạng chữ viêt biển số xe hay CMTND VN chưa được đầu tư phát triển nhiều như tiếng Anh; Thứ hai, yêu cầu của các DN có nhu cầu về phần mềm này thường rất cao, họ thường đòi hỏi việc nhận chính xác 100% hoặc chấp nhận sai số cực thấp trong khi không có đủ khả năng chi trả và không kiên trì đầu tư dài hạn (như các DN nước ngoài – mà Nhật là một ví dụ tiêu biểu).  Nói như vậy không có nghĩa là vơ đũa cả nắm tất cả các DN VN, khi làm việc với các tập đoàn lớn, chúng tôi nhận thấy sự cầu thị và sự trân trọng của họ đối với các chuyên gia. Chúng tôi hiểu được sự đầu tư tốn kém của các tập đoàn lớn với kinh nghiệm đau thương khi làm TTNT với hầu hết các tập đoàn khổng lồ trên thế giới từ Google, IBM, Oracle đến các công ty mới nổi từ khắp nơi trên thế giới đến tư vấn và chào bán sản phẩm. Tôi xin phép được phân tích các lí do dẫn đến sự thiếu hiệu quả này trong phần sau.  2. TTNT là Xử lí Ngôn ngữ Tự nhiên  Cách giải thích này thực sự đã tạo ra một cơn lũ các công ty làm phần mềm về Chatbot – trả lời khách hàng tự động cho 70-80% các công hỏi thông dụng nhất trong việc chăm sóc khách hàng, giảm thiểu nhân lực con người. Có hai lý do tạo nên làn sóng Chatbot này: Thứ nhất, việc tạo ra các sản phẩm Chatbot là công nghệ ít thách thức nhất trong TTNT; Thứ hai, Chatbot là một công nghệ chuẩn thế giới. Rất nhiều thư viện mã nguồn mở sẵn sàng và miễn phí cho phép các công ty tùy chỉnh và áp dụng hiệu quả cho các khách hàng của mình trong một thời gian ngắn. Đây cũng là một yêu cầu mà chúng tôi thường xuyên từ chối.  Bên cạnh việc không có lợi thế cạnh tranh, việc có quá nhiều nhà cung cấp trong và ngoài nước, cùng với giá nhân công thấp dẫn đến việc Chatbot không được đánh giá cao.  3. TTNT như Mì ăn liền  Đây là tên của một bài trình bày quảng bá cho Google API (các dịch vụ có sẵn cho Máy Học của Google) xuyên suốt từ Bắc chí Nam. Ý tưởng của Google là các DN công nghệ thậm chí không cần có năng lực Máy Học cũng có thể tạo ra các phần mềm TTNT một cách dễ dàng thông qua việc sử dụng các dịch vụ có sẵn từ Google và trả tiền cho mỗi lần gọi dịch vụ.  Chúng tôi vẫn hay nói đùa với nhau là các dịch vụ này của Google giống bào ngư, vây cá chứ không giống mì ăn liền như họ quảng bá. Lí do hết sức đơn giản là khi áp dụng thực tế cho các DN, việc gọi dịch vụ của Google hàng ngàn, hàng triệu lần một ngày sẽ tạo ra chi phí khổng lồ cho các DN VN, trong khi hiệu quả thực tế vẫn là một dấu hỏi lớn. Ngoài Google, các gã khổng lồ khác trên thế giới như IBM, Amazon, Microsoft cũng đang chạy đua vũ trang quyết liệt cho miếng bánh thị trường màu mỡ này.  4. TTNT là tất cả mọi thứ khác Blockchain, IoT, Siri, …  Cùng với cuộc CMCN 4.0, TTNT đang là thứ trang sức được hầu hết các DN VN và cả thế giới ưa chuộng để đánh bóng hình ảnh của mình. Mọi thứ đều là TTNT, mọi thứ đều tự động hóa, mọi thứ đều màu hồng.  5. TTNT phục vụ cho Tối ưu  Khi gặp gỡ các DN VN, chúng tôi thường bắt đầu bằng các vấn đề cần tối ưu khi nguồn lực hạn hẹp dù đối có các công ty nhỏ hay các tập đoàn với doanh thu hàng nghìn tỉ mỗi năm. Bắt đầu vấn đề với cách tiếp cận cầu thị và trung thực với mong muốn hiểu các vấn đề khó khăn của doanh nghiệp, chúng tôi luôn giữ được uy tín, quan hệ và hình ảnh tốt dù có đi tới được hợp đồng hay không.  Bằng cách hiểu vấn đề và nghiên cứu độ khả thi của các giải pháp trong một thời gian không quá dài, chúng tôi luôn tư vấn giúp cho các khách hàng đưa ra các quyết định ngay từ ban đầu về việc nên làm hay không làm để tránh được sự lãng phí về thời gian, nhân vật lực và tiền bạc. Đối với các tập đoàn lớn, đôi khi họ phải chấp nhận một mặt sử dụng các hệ thống lớn với giá cao, mặt khác xử lí một cách thủ công, kinh nghiệm với các tác vụ đặc thù không theo bất cứ một chuẩn nào trên thế giới của doanh nghiệp mình.  Lật lại vấn đề, tại sao các gã khổng lồ về TTNT không muốn giải quyết các vấn đề đặc thù tại VN? Câu trả lời theo logic là vì chúng không đáng để đầu tư nghiên cứu với kinh phí quá cao, trong khi vấn đề đặc thù của DN này lại khác xa vấn đề của các DN khác ngay tại thị trường VN. Trong kinh doanh, không có chuyện đầu tư lớn để tạo ra sản phẩm phục vụ cho duy nhất một DN với giá rẻ mà không có khả năng nhân rộng và bán được trên toàn VN, châu Á hay thậm chí thế giới.  Muốn vậy cần sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các DN VN, từ việc cung cấp đầy đủ các dữ liệu chân thực, nghiệp vụ đặc thù, cho tới việc chuẩn bị một đội ngũ hỗ trợ các chuyên gia trong quá trình dài hơi tạo ra các sản phẩm TTNT mang thương hiệu thuần Việt.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/cong-nghe/tri-tue-nhan-tao-o-viet-nam-5-xu-huong-chu-dao/20190104102042666p1c859.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển khai bệnh án điện tử: Cần nhiều hơn 10 năm      Thông tư 46/2018 TT-BYT về bệnh án điện tử của Bộ Y tế vừa có hiệu lực vào tháng ba vừa qua. Theo lộ trình, dự kiến đến năm 2028, tất cả các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc sẽ phải triển khai bệnh án điện tử (nếu chưa triển khai được thì phải có văn bản báo cáo Bộ Y tế, nêu rõ lý do và lộ trình thực hiện trong tương lai). Đó là một công việc đầy thách thức.      Nếu triển khai bệnh án điện tử, các bệnh viện sẽ phải tự đầu tư hệ thống công nghệ thông tin để lưu trữ các thông tin cận lâm sàng, chứ không in phim và trả cho bệnh nhân như trên ảnh.   Sự cần thiết phải triển khai bệnh án điện tử ở Việt Nam là điều không cần bàn cãi và đó là việc sớm muộn chúng ta cũng phải làm, theo xu hướng chung của thế giới, vốn đã khởi động từ cuối những năm 1990, đầu những năm 2000. Trong tương lai gần, hệ thống công nghệ thông tin quản lý bệnh án điện tử sẽ giúp các bệnh viện quản lý tốt hơn các nguồn lực của mình. Nhưng quan trọng hơn, bệnh án điện tử tích lũy qua nhiều năm, và nếu liên kết giữa các bệnh viện với nhau, sẽ là nguồn dữ liệu lớn vô giá đối với y học bởi nó chứa đựng những tri thức của bác sĩ, bao gồm cả những “tri thức ẩn” – những kinh nghiệm và phán đoán của họ qua nhiều năm khám chữa bệnh; tiến trình phát triển của từng loại bệnh, phản ứng và tình trạng của bệnh nhân, ở các điều kiện khác nhau với từng loại thuốc và từng phác đồ điều trị. Hiện nay, một số doanh nghiệp trên thế giới đã cung cấp các công cụ để hỗ trợ chẩn đoán, điều trị và dự báo tình trạng bệnh tình của bệnh nhân sử dụng các dữ liệu của bệnh án điện tử. Nền Y học sẽ có những chuyển biến lớn nếu con người làm chủ được nguồn dữ liệu này. Tuy nhiên, trước khi bước sang con đường khai phá, thách thức trước mắt chúng ta là, làm thế nào để tạo ra bệnh án điện tử? Trước hết, hãy xem lại quá trình cơ bản một bệnh nhân vào bệnh viện: đầu tiên, anh/cô ta sẽ được khám và xét nghiệm để chẩn đoán bệnh. Nếu không cần nằm viện (điều trị ngoại trú), thi thoảng, anh/cô ta sẽ có bệnh án ngoại trú. Nếu phải nằm viện (điều trị nội trú), anh/cô ta sẽ nhập viện để điều trị. Trong thời gian điều trị nội trú, bác sĩ sẽ tới thăm anh/cô ta vài lần mỗi ngày. Giữa những lần đó là điều dưỡng và y tá tới để thực hiện theo y lệnh. Những diễn biến về tình trạng người bệnh sẽ được các y, bác sĩ ghi vào những “tờ giấy” được kẹp ở đầu giường bệnh nhân. Những “tờ giấy” này, ghi những dấu hiệu lâm sàng, bên cạnh những thông tin “cận lâm sàng” (các thông tin xét nghiệm, chiếu, chụp, điện tim, điện não đồ…), là một trong những dữ liệu quan trọng nhất của bệnh án điện tử. Nếu như từ trước đến nay, bệnh án được viết tay và lưu trên giấy thì giờ đây sẽ được lưu dưới dạng điện tử, trên máy tính, gọi là bệnh án điện tử (EMR – Electronic Medical Records).   Thông tư của Bộ Y tế nhấn mạnh vào sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước và thủ trưởng các đơn vị khám chữa bệnh trong việc triển khai bệnh án điện tử mà bỏ qua các y, bác sĩ – đối tượng thực hiện quan trọng nhất và cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất khi triển khai bệnh án điện tử. Nếu nhìn vào quy trình khám, chữa bệnh ở trên, sẽ nhìn thấy rằng, công cuộc chuyển đổi từ bệnh án giấy sang bệnh án điện tử, là quá trình chuyển đổi thói quen, thậm chí là thay đổi quy trình khám chữa bệnh. Từ nay, các bác sĩ sẽ phải làm quen với công nghệ mới, vừa thăm khám bệnh nhân, vừa ghi lại trên máy tính hoặc điện thoại, đưa ra các quyết định lâm sàng dựa trên dữ liệu, phải tiên liệu được những tình huống liên quan đến lưu giữ, chia sẻ, bảo mật thông tin ảnh hưởng tới quyền riêng tư của người bệnh (những thông tin nào không nên lưu giữ trong bệnh án? Người bệnh có quyền hạn tiếp cận bệnh án ở mức độ nào?…). Quan trọng hơn, điều mà thông tư chưa nhắc đến, là để có nguồn dữ liệu cực lớn và máy có thể đọc và phân tích được này thì ngay từ đầu, ngôn ngữ nhập liệu vào bệnh án điện tử cần phải được chuẩn hóa, rõ ràng và chi tiết ở mức độ nhất định, tạo sự thống nhất giữa các bệnh viện. Điều này khác hẳn với trước đây, các y bác sĩ chỉ cần ghi vắn tắt trên giấy, “mình họ hiểu” là đủ, và bệnh án đó cũng rất ít khi được sử dụng lại sau khi bệnh nhân xuất viện.  Câu chuyện số hóa bệnh án điện tử cũng là câu chuyện số hóa trong đa số các lĩnh vực, ngành nghề khác, thể hiện ở chỗ, mức độ thành công không phụ thuộc vào mệnh lệnh hành chính mà ở “tinh thần tự nguyện” tiếp nhận của người thực hiện. Nói cách khác, các y bác sĩ cần thời gian để nhận ra những lợi ích thực sự của bệnh án điện tử, làm quen với các công nghệ hỗ trợ và thiết lập quy trình khám, chữa bệnh mới. Mỹ và Anh đã từng trải qua bài học đắt giá khi triển khai bệnh án điện tử theo hướng “từ trên xuống”. Sau khi Tổng thống Mỹ Obama tuyên bố vào năm 2009, rằng sẽ có kế hoạch “đầu tư vào hồ sơ bệnh án điện tử và những công nghệ mới để giảm các sai sót, giảm chi phí, bảo đảm quyển riêng tư cá nhân cho người bệnh và giảm tỉ lệ tử vong”. Chính quyền liên bang đã nhanh chóng tung ra một chương trình thúc đẩy điều này bằng Luật Phục hồi và Tái đầu tư Mỹ, đổ tới hơn 30 tỉ USD cho các bệnh viện, phòng khám, các công ty công nghệ, các nhà tư vấn để tức tốc đạt được mục tiêu nhưng tỉ lệ ứng dụng bệnh án điện tử/hồ sơ sức khỏe điện tử năm 2013 mới chỉ dừng ở 69%, kém xa một số nước phát triển khác. Nước Anh cũng không khá khẩm hơn, họ dành 16 tỉ USD vào năm 2002 cho một dự án kết nối bệnh án điện tử trên cả nước nhưng kết quả trở thành “một thảm họa lớn tới mức không thể triển khai nổi”. Lý do chính của những thất bại này, mặc dù là những dự án sức khỏe được đầu tư lớn nhất thế giới, đó là họ đầu tư nâng cấp công nghệ trước mà chưa tính đến phản ứng của các y bác sĩ.   Khoảng thời gian 10 năm triển khai thực hiện bệnh án điện tử ở tất cả các bệnh viện Việt Nam (hơn 1100 bệnh viện) như được ghi ở trong thông tư là quá ngắn ngủi. Số hóa ở lĩnh vực nào cũng thách thức nhưng ở lĩnh vực y tế còn thách thức hơn rất nhiều lần, đặc biệt là với điều kiện ở Việt Nam, khi ngành Y tế còn đang đối mặt với rất nhiều vấn đề cấp bách và các y bác sĩ thường xuyên ở tình trạng quá tải (số bác sĩ trên một vạn dân của Việt Nam chưa bằng 1/3 của Mỹ và 1/5 của nhiều nước châu Âu, thường xuyên có tình trạng nằm ghép trên hai bệnh nhân một giường) và ý nghĩa của bệnh án điện tử chưa thể nhìn thấy ngay. Hơn nữa, các bệnh viện cũng không nhận được hỗ trợ nào trong công cuộc số hóa này mà phải tự đầu tư nâng cấp và bảo dưỡng công nghệ.  Đặc điểm chung của các nước áp dụng bệnh án điện tử thành công là có một tầm nhìn rõ ràng với những bước đi nhỏ, cụ thể, từ mục tiêu nhỏ đến mục tiêu lớn với tinh thần gần giống như “khởi nghiệp tinh gọn”: thử – kiểm chứng – chỉnh sửa, chấp nhận những thất bại nhỏ để tránh những thất bại lớn, lắng nghe ý kiến từ nhiều phía, đặc biệt là những người có ảnh hưởng tới cộng đồng các y bác sĩ. Thời gian để các quốc gia này đạt tới tỉ lệ ấn tượng là gần 100% các y bác sĩ sử dụng bệnh án điện tử và liên thông bệnh án điện tử giữa các cơ sở khám chữa bệnh lên tới hàng chục năm, ví dụ như Scotland là 30 năm và ở Đan Mạch, Thụy Điển là gần 20 năm. Ở Scotland, một đất nước thuộc Vương Quốc Anh nhưng kết quả thực hiện bệnh án điện tử lại vượt xa Anh quốc mà gần như không có bất kì chi phí hỗ trợ nào của chính phủ. Việc ứng dụng bệnh án điện tử của khu vực này được lan tỏa thông qua các cộng đồng bác sĩ ở đây: một phòng khám uy tín sử dụng bệnh án điện tử sẽ kéo  các phòng khám khác sử dụng theo. Trường hợp của Thụy Điển và Đan Mạch là hai ví dụ khác bởi được khởi xướng từ chính phủ nhưng đều bắt đầu ở quy mô rất nhỏ. Dự án thử nghiệm ở Thụy Điển ban đầu chỉ nằm ở quy mô rất nhỏ với 500 bác sĩ, nhà trị liệu cơ năng, y tá và các nhân viên y tế), song song là phát triển các khung pháp lí với sự hợp tác giữa Bộ Sức khỏe – Xã hội và chính quyền của 21 hạt để nhân rộng ra cả nước. Chỉ riêng thời gian nhân rộng đã diễn ra trong hơn 10 năm (số lượng bệnh viện của đất nước này chưa bằng 1/10 của Việt Nam) và có giai đoạn ngừng hoạt động để chỉnh sửa, bổ sung những tiêu chuẩn về quyển riêng tư, chia sẻ thông tin của người bệnh. Đan Mạch cũng có chiến lược tiếp cận bệnh án điện tử và hồ sơ sức khỏe một cách chậm rãi, họ bắt đầu xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử trong phạm vi một hạt trước với những chức năng cơ bản của bệnh án điện tử, sau đó mới nhân rộng. Mỗi một dự án nâng cấp, thay đổi đều được xác định sẽ kéo dài từ 2-4 năm và chính phủ sẽ thưởng cho những bác sĩ hợp tác với công nghệ mới.        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Triết lý pháp luật hiện đại của Radbruch      Gustav Radbruch (1878–1949) là ông tổ của  ngành triết học pháp luật ở Đức, đồng thời là một trong những nhà triết  học pháp luật có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Nói đến Radbruch, người  ta vẫn thường nhắc đến một bài viết rất ngắn, nhưng cũng rất nổi tiếng  được xuất bản vào tháng 9/1945: bài viết “Năm phút triết học pháp luật”  (Fünf Minuten Rechtsphilosophie). Chỉ với “năm phút”, nhưng Radbruch đã  khái quát hóa được “năm triết lý”, “năm yêu cầu” cơ bản nhất của pháp  luật hiện đại, xuất phát từ nền tảng pháp luật tự nhiên, trên cơ sở phê  phán những luận điểm của trường phái thực chứng pháp luật.     –    Luật pháp hiện đại: chống lại sự tùy tiện  Trường phái pháp luật thực chứng cho rằng: “Mệnh lệnh cũng là luật và ở nơi nào có quyền lực thì ở đó tồn tại pháp luật.”1    Radbruch phản bác lại rằng hiểu như vậy rất nguy hiểm, vì đó chính là việc cổ súy cho tư tưởng độc tài, đặt bạo quyền đứng trên luật pháp. Ông phê phán: “Cách tư duy này đã làm cho các luật gia và cũng như người dân đang dần mất đi khả năng tự vệ, chống lại những hành vi của công quyền hành xử độc ác, không cần đến luật pháp.”2  Xuất phát từ những lập luận đó, ông đã đưa ra nhận định luật pháp hiện đại phải có chức năng chống lại sự tùy tiện. Muốn chống lại sự tùy tiện thì một đạo luật phải được ưu tiên áp dụng chung cho tất cả các trường hợp liên quan và công quyền không được phép hành động, nếu luật pháp không cho phép.3    –    Luật pháp hiện đại: chống lại chế độ độc tài và bạo quyền   Trường phái thực chứng pháp luật cho rằng: “Luật pháp là những gì đem lại lợi ích cho con người.”4    Radbruch phản bác lại và cho rằng: khái niệm “lợi ích” ở đây rất mơ hồ. Ông đưa ra hàng loạt các câu hỏi để cùng suy ngẫm như: Phải chăng việc vi phạm hợp đồng, những việc làm trái với lẽ phải cũng sẽ đều là “luật”, miễn sao nó phục vụ cho “lợi ích của con người”? Mà “con người” ở đây là ai? Phải chăng bất kể những gì mà cơ quan công quyền cho rằng nó có lợi cho con người thì đó đều là luật, bao gồm cả sự chuyên quyền và tùy tiện, xử phạt không cần luật hay tống giam, đàn áp không cần xét xử và tuyên án? Thế nào là lợi ích công và lợi ích tư? Điều gì xảy ra khi luật pháp chỉ phục vụ lợi ích của một người hay một nhóm người có trong tay quyền lực, nhưng lại ẩn dưới danh nghĩa là “lợi ích công”?5     Radbruch khẳng định: “Không, nhất định pháp luật phải có vai trò chống lại sự độc quyền và bạo quyền.”6 Từ đó, ông đi đến nhận định không phải tất cả mọi thứ mà đem lại lợi ích cho con người thì đều là luật. Mà những gì là luật, chỉ khi đó là lẽ phải7 và có ích cho tất cả mọi người.8 Kết luận này cho thấy tư tưởng của Radbruch xuất phát từ động cơ bảo vệ nền dân chủ, chống lại bạo quyền; tư tưởng này rất khác so với quan điểm nặng về tính giai cấp của pháp luật, coi pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị.  –    Luật pháp hiện đại: Chống lại sự bất công, hận thù và những hành động phi nhân tính  Trường phái pháp luật thực chứng cho rằng: con người là khác nhau về địa vị, xuất thân, nhiệm vụ…do vậy pháp luật phải làm rõ sự khác biệt này. Radbruch không phản đối một thực tế là con người khác nhau, nhưng ông lại có quan điểm khác, ông cho rằng mục đích tối thượng của luật pháp không phải là khoét sâu sự khác biệt hay khoảng cách giữa những con người, mà cần hướng đến sự công bằng (Gerechtigkeit).9 Khi xây dựng hay áp dụng pháp luật cần phải dựa trên những tiêu chuẩn chung, đảm bảo sự vô tư. Sự vô tư không thể có khi pháp luật hay việc áp dụng pháp luật không mang trong đó tính thiện, mà chứa đựng lòng hận thù, sự phân biệt đối xử hay những hành động phi nhân tính. Radbruch nêu ví dụ: nếu một ai đó cổ vũ cho việc ám sát các đối thủ chính trị, hoặc cổ vũ cho những mệnh lệnh giết những người của những chủng tộc khác, thì tất cả những điều này không phải là sự công bằng và cũng không được hiểu là luật.10  Như vậy một trong những tiêu chí của pháp luật hiện đại đó chính là sự công bằng. Pháp luật, ngoài nghĩa là lẽ phải, nó phải thể hiện sự công bằng, tính vô tư, đồng thời là công cụ để chống lại lòng hận thù hay những hành động phi nhân tính.  –    Luật pháp hiện đại: Chống lại sự không ổn định và không an toàn  Radbruch quan niệm rằng con người không ai hoàn thiện và vì vậy pháp luật do con người làm ra cũng không hoàn thiện, có thể còn có những điểm chưa hợp lý. Tuy nhiên, cần phải ưu tiên tính hợp pháp, vì pháp luật mang tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức, không ai có thể nại ra rằng do luật chưa hợp lý theo quan điểm cá nhân nên không thi hành.11   Ngoài ra pháp luật phải đảm bảo sự an toàn pháp lý (Rechtssicherheit) bao gồm các tiêu chí như: tính ổn định, tính tường minh, tính được đảm bảo thi hành và tính có thể tiên liệu trước. Radbruch đưa ra đề xuất rằng muốn hoàn thiện hệ thống pháp luật thì nhân dân và đặc biệt là các nhà luật học có trách nhiệm phải chỉ ra những điểm còn bất hợp lý, chưa công bằng của luật, đề xuất để bãi bỏ.12   Thực chất Radbruch đã đưa ra một triết lý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của pháp luật, theo hướng ưu tiên tính hợp pháp. Ngày nay, sự hài hòa giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật là rất quan trọng và cần thiết. Hai tiêu chuẩn này tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, thống nhất và bổ trợ cho nhau. Radbruch đã chỉ ra mâu thuẫn có thể có giữa hai yêu cầu này và đặt ra trách nhiệm xã hội rất lớn đối với những nhà luật học trong việc chỉ ra những hạn chế, những điểm còn chưa hợp lý của pháp luật.13  –    Luật pháp hiện đại: Chống lại việc đi ngược lại những nguyên tắc pháp luật tự nhiên  Radbruch đánh giá rất cao những nguyên tắc của pháp luật tự nhiên (jus naturale). Ông cho rằng: “Có những nguyên tắc pháp luật còn quan trọng hơn bất cứ một văn bản pháp lý nào, vì khi một đạo luật mà xung đột hay mâu thuẫn với những nguyên tắc này chúng sẽ không có hiệu lực pháp luật. Người ta gọi những nguyên tắc này là pháp luật tự nhiên hay luật duy lý.”14    Radbruch là người ủng hộ trường phái pháp luật tự nhiên (jus naturale). Pháp luật tự nhiên là những qui luật khách quan, tồn tại độc lập với luật lệ do con người đặt ra. Pháp luật do con người đặt ra phải tuân thủ luật tự nhiên, không thể có điều ngược lại.15 Con người ngay từ khi sinh ra vốn dĩ đã có những quyền con người một cách tự nhiên, những quyền con người ấy có trước cả khi có Hiến pháp hay luật. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trải qua đêm dài ác mộng về sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, Luật cơ bản (Hiến pháp) Đức tại Điều 1 Câu 1 đã tuyên bố và vĩnh viễn hóa giá trị cao nhất của Hiến pháp này đó chính là vấn đề bảo vệ phẩm giá của con người.16 Để không rơi vào luận điểm của chủ nghĩa duy tâm, Radbruch cũng phê phán rằng việc khẳng định Chúa là tối cao, cần phải vâng lời đức Chúa là luận điểm rất mơ hồ. Nếu coi đức Chúa quyết định tất cả, chỉ có đức Chúa là đúng, thì quyền lợi của con người sẽ bị gạt ra một bên. Từ đó, ông đề xuất cần phải nhìn nhận lại, cần coi việc bảo vệ quyền con người là việc bảo vệ những giá trị khách quan, thiêng liêng và quan trọng nhất của pháp luật.17    Bài viết của Radbruch không giản đơn chỉ là để dành cho năm phút thuyết giảng, mà ông đã thực sự nêu lên được năm triết lý, năm chức năng căn bản nhất của pháp luật hiện đại. Những triết lý về pháp luật của Radbruch sở dĩ được thừa nhận rộng rãi và gây được ảnh hưởng mạnh mẽ vì cách tiếp cận của ông rất mới mẻ, không bị bó hẹp bởi định kiến giai cấp hay phạm vi dân tộc tính, mà đã hướng tới những chuẩn mực chung, phổ quát của pháp luật đó là: lẽ phải, sự công bằng, sự ổn định, tính khách quan, giá trị nhân văn, chống lại sự tùy tiện, bạo quyền và những hành động phi nhân tính.   —  1 – 3 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.      4-5 Xem: Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.      6 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.  7 Từ Luật (das Recht) trong tiếng Đức còn có một nghĩa khác đó là lẽ phải, sự đúng đắn.      8-14 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.      15 Ngày nay trường phái pháp luật tự nhiên được nhiều người ủng hộ do tính hợp lý của nó, theo nguyên tắc sự vật như nó có, vì nó vốn như thế, cái xấu phải tránh, cái tốt phải được thực hiện.  16 Điều 1 Câu 1 Luật cơ bản (Hiến pháp) của Đức qui định: “Phẩm giá của con người là bất khả xâm phạm.”  17 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 210.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò chuyện về tân hiến pháp      Là cuốn sách được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị, “Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.    Không bao lâu sau ngày Thiên hoàng tuyên bố  đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện, Hiến pháp Nhật Bản ra đời. Bản  Hiến pháp mới với ba nguyên lý cơ bản là “hòa bình, dân chủ và tôn trọng  con người” đã thay thế cho bản Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố  dưới thời Minh Trị (1889). Nước Nhật trong suốt 15 năm (1931-1945) bị  kìm kẹp trong sự trấn áp khắc nghiệt của chủ nghĩa quân phiệt vì vậy  những nội dung của Hiến pháp Nhật Bản là những điều quá mới mẻ với hầu  hết người dân Nhật. Chính vì vậy, làm thế nào để toàn bộ người dân Nhật  Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp trở thành vấn đề vô cùng quan  trọng. Để giải quyết vấn đề này, Cục thông tin giáo dục dân sự (CIE) của  Bộ tư lệnh quân đồng minh (GHQ) trước khi công bố Hiến pháp Nhật Bản  (3/11/1946) đã yêu cầu Bộ Giáo dục biên soạn một cuốn sách “cẩm nang”  với mục đích làm cho học sinh có hiểu biết chung về những nội dung chính  của Hiến pháp.  Tiếp nhận yêu  cầu này, Cục Sách giáo khoa của Bộ Giáo dục Nhật Bản đã bắt tay biên  soạn cuốn “Sách đọc về Hiến pháp”. Ngày 13 tháng 3 năm 1946, Asai  Kiyoshi (Đại học Keio) được chọn là tác giả viết cuốn sách. Asai đã viết  một hơi xong bản thảo dành cho đối tượng là học sinh các trường trung  học cơ sở. Bản thảo của Asai đáp ứng được các yêu cầu của Ban Giáo dục  trực thuộc CIE và Ban Luật và Tòa án (Court and Law Division) của Cục  dân chính và đến ngày 13 tháng 5 thì được GHQ chính thức chấp nhận. Sau  khi kiểm tra, CIE đã thêm vào 11 trang minh họa và cuốn sách được đem  in.  Ngày 2 tháng 8 năm 1947 cuốn  sách được phát hành với tựa đề “Trò chuyện về tân hiến pháp”. Sách được  in tới 5, 5 triệu bản dành cho toàn bộ giáo viên, học sinh cấp THCS và  người trưởng thành. Cấu tạo nội dung của cuốn sách như sau:  1. Hiến pháp  2. Dân chủ là gì?  3. Chủ nghĩa hòa bình quốc tế  4. Chủ quyền thuộc về nhân dân  5. Thiên hoàng  6. Từ bỏ chiến tranh  7. Các quyền con người cơ bản  8. Quốc hội  9. Chính đảng  10. Nội các  11. Tư pháp  12. Tài chính  13. Tự trị địa phương  14. Sửa đổi  15. Pháp quy tối cao  Về  hình thức văn phong, cuốn sách được viết dưới dạng tác giả trực tiếp  nói chuyện với độc giả vì vậy đặc điểm nổi bật của nó là sự tươi mới,  mềm mại dễ đi vào lòng người. Ví dụ như đoạn văn dưới đây: “Trong số các  bạn chắc chắn có nhiều người đã phải tiễn bố và anh trai ra trận phải  không nào. Bố và anh có trở về an toàn không? Hay là cuối cùng thì họ đã  không về? […] Tiến hành cuộc chiến tranh như thế, Nhật Bản đã thu được  lợi ích gì đây? Không có gì cả. Nhưng thật kinh sợ, quá nhiều sự việc bi  thảm đã xảy ra phải không nào?” (Từ bỏ chiến tranh).  “Hãy đến những nơi bị cháy bởi những trận bom. Từ mặt đất bị cháy bật lên những mầm cỏ xanh. Tất cả đang vươn mình sống.” (Các quyền cơ bản của con người).  Các  nhà nghiên cứu người Nhật cho rằng cuốn sách này là một tư liệu quan  trọng phản ánh không khí thời đại của nước Nhật khi đó – giai đoạn  chuyển mình từ nước Nhật quân phiệt sang nước Nhật hòa bình, dân chủ.  Các nhà nghiên cứu người Nhật cũng chỉ ra một số đặc trưng nổi bật của  cuốn sách.  Thứ nhất, cuốn sách  đã khẳng định và chỉ rõ rằng Hiến pháp là phương tiện quan trọng để hạn  chế quyền lực của quốc gia (nhà nước) và xác lập quyền lợi của quốc  dân, tức là thuyết minh về tính hai mặt của hiến pháp. “Trong hiến pháp  này, giống như vừa trình bày, bên cạnh cách tiến hành công việc của đất  nước thì còn có viết một việc quan trọng nữa. Đó là quyền lợi của quốc  dân” (Hiến pháp).  Thứ  hai, cuốn sách đã chỉ rõ sự khác biệt của Nhật Bản mới so với Nhật Bản  trước chiến tranh. Chẳng hạn như đoạn viết về “Tự do” và “Bình đẳng”:  “Có hai thứ cần thiết cho cuộc sống thật sự là người. Đó là “Tự do” và  “Bình Đẳng” (Các quyền cơ bản của con người). “Tòa án trở thành nơi có  thể kiểm tra xem pháp luật do quốc hội tạo ra có phù hợp với hiến pháp  hay không” (Tư pháp).  “Khi  sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể làm được mà phải tiến  hành bỏ phiếu để xem quốc dân đồng ý hay phản đối” (Sửa đổi hiến pháp).  Thứ  ba, cuốn sách đã luận giải về điều 9 của hiến pháp. Sự trình bày này  mặc dù vừa tiếp nhận chủ nghĩa hòa bình tuyệt đối và phê phán chiến  tranh nhưng đồng thời cũng là sự thuyết minh phản ánh chính xác sự biện  luận của chính phủ Nhật Bản ở vào thời điểm chế định Hiến pháp. “Ở Nhật  Bản sẽ không có cả lục quân, hải quân và không quân. Đây là sự từ bỏ  chiến lực. “Từ bỏ” có nghĩa là “ném bỏ”. Tuy nhiên tôi không hề nghĩ mọi  người sẽ cảm thấy buồn. Đó là vì nước Nhật làm điều đúng đắn trước các  nước khác. Trong thế giới này không có thứ gì mạnh hơn điều tốt” (Từ bỏ chiến tranh).  Tuy   nhiên, theo các học giả Nhật thì “Trò chuyện về Tân hiến pháp” cũng tồn  tại nhiều điểm hạn chế. Thứ nhất là sự “biện hộ” cho trách nhiệm của  Thiên hoàng đối với cuộc chiến tranh vừa xảy ra: “Trong cuộc chiến tranh  này, thiên hoàng đã rất vất vả” […]. Hãy đặt Thiên hoàng vào giữa,  phải làm sao cho thiên hoàng khỏi phải vất vả vì trị nước nữa” (Thiên hoàng).  Thứ hai, cuốn sách đã đơn giản hóa một cách cực đoan tính đúng đắn của  nguyên lý quyết định theo đa số. “Việc quyết định mọi việc theo ý kiến  số đông là điều đúng đắn nhất. Do đó những người còn lại nên tuân theo ý  kiến của số đông” (Dân chủ là gì?).  Mặc  dù còn có những hạn chế nói trên, “Trò chuyện về tân hiến pháp” đã có  vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật  và khai sáng quốc dân Nhật. “Trò chuyện về tân hiến pháp” của Bộ Giáo  dục được ghi vào Mục lục sách giáo khoa năm 1948 và 1949 với tư cách là  sách giáo khoa dùng cho học sinh trung học cơ sở năm thứ nhất (tương  đương lớp 7 ở Việt Nam). Tuy nhiên sau đó trong năm 1950 và 1951, cuốn  sách được dùng như là tài liệu bổ trợ và từ năm 1952 trở đi không còn  được ghi vào mục lục sách giáo khoa nữa. Các học giả Nhật cho rằng đó là  do sự thay đổi trong chính sách của quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản và  mối quan hệ quốc tế đã trở nên căng thẳng khi Xô-Mĩ đối đầu trong cuộc  Chiến tranh lạnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò chuyện với máy tính      Hôm nay còn quá sớm để nói về tác động của ChatGPT trong tương lai, đặc biệt là ở Việt Nam. Tuy nhiên có một điều chắc chắn: Khi ChatGPT có thể kết nối dễ dàng ở Việt Nam và bằng tiếng Việt, nó sẽ thu hút rất nhiều sự quan tâm của người dân.    Máy tính IBM 650. Ảnh: Cushing Memorial Library and Archives, Texas A&M.  Tôi bắt đầu tiếp xúc với máy tính vào cuối những năm 50. Chiếc máy đầu tiên là IBM 650, vận hành bằng ngôn ngữ rất kỹ thuật, với một cái trống từ tính đọc dữ liệu từ bìa đục lỗ với tốc độ 200 bìa/phút và các ống chân không. Lúc đó tôi đang tính quỹ đạo của sóng siêu âm trong đại dương với phổ nhiệt độ cho trước. Tôi nhớ rằng ở thời điểm đó, tôi đang làm việc ở phía Nam nước Pháp và tới thăm bố mẹ ở Paris. Bố tôi là một công chức, từng học luật. Ông kể với tôi rằng, ông mới đến một cơ quan để giúp họ hoạch định ngân sách hằng năm. Tới nơi, người ta đưa ông đến xem một chiếc máy tính mới tinh họ vừa mua xong và bảo ông nhấn nút. Ông làm theo và chiếc máy in bên cạnh chạy ra một tờ giấy với dòng chữ: Chào mừng ông Darriulat, và cảm ơn ông rất nhiều vì những gì đã làm cho chúng tôi! Bố tôi vô cùng ấn tượng khi chiếc máy quá đỗi lịch sự gọi tên ông và cảm thấy điều đó gần như là phép màu. Khi ông cho tôi xem tờ giấy đó – người ta đưa ông làm kỉ niệm, tôi giả vờ chia sẻ niềm ngưỡng mộ đó với ông: bởi vì tôi quá yêu và kính trọng ông nên không nỡ làm ông mất hứng.  Đó là câu chuyện hơn 70 năm về trước, nhưng thực ra từ đó đến nay tôi vẫn giữ cái nhìn khinh khỉnh đó mỗi khi người khác tỏ ra kinh ngạc về những điều mà máy tính làm được. Chồng chất sự thổi phồng phi lí của trí tuệ nhân tạo và điểm kì dị của công nghệ khi máy móc vượt xa con người càng khiến tôi vững tin vào thái độ của mình. Nhưng cùng lúc, thái độ khinh khi đó dường như ngày càng trở nên lạc lõng vì ít nhất hai lí do: đầu tiên, ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta quá sâu rộng khiến ta buộc phải lưu tâm; thứ hai, có những tiến bộ vượt bậc gần đây về phiên dịch, thu thập dữ liệu, chatbot và những ứng dụng phần mềm tương tự.  Ở điểm thứ nhất, có rất nhiều điều cần nói, và hẳn đã có rất nhiều điều người ta đã nói, đang nói và vẫn tiếp tục nói. Có một hố sâu quá lớn ngăn cách giữa những người đang nếm trải chiến tranh, nạn đói, sự kìm kẹp và sự bất công và các tỉ phú sử dụng công nghệ thông tin để áp đặt quyền lực lên người dân hay để tạo ra xe tự hành, tên lửa cho người giàu du lịch vào vũ trụ. Khi giới học thuật kể câu chuyện về sự tiến bộ của AI và ảnh hưởng của nó đến nhân loại, với tôi, cứ như là nói về cách mạng công nghệ 5.0 với người đàn ông già, một cựu chiến binh trong Quân đội nhân dân thời kháng chiến chống Mỹ, giờ đang sửa xe đạp ở góc ngõ nơi tôi sống. So sánh với biết bao thách thức khi ta phải đối mặt với những hiểm họa khẩn cấp toàn cầu, những câu chuyện đầy cảm hứng về những tiến bộ tuyệt diệu của công nghệ thông tin bỗng trở thành một trò đùa không cười nổi. Tôi đã từng có nhiều cơ hội để bình luận về điều này trên Tia Sáng1, cho phép tôi chép lại vài dòng từ bài viết cũ thể hiện chính xác cảm xúc của mình: “Máy tính đáng lẽ phải giải phóng chúng ta khỏi những công việc nhàm chán lặp lại để chúng ta có nhiều thời gian tư duy. Nhưng chúng ta chẳng những không trở nên thông thái hơn mà lại dành rất nhiều thời gian ngồi trước màn hình máy tính, làm những thứ người khác từng làm tốt hơn mình – những người mà công việc của họ đã hi sinh vì xã hội tôn thờ cuộc cách mạng số. Máy tính robot hóa đời sống xã hội của chúng ta, chiếm hữu lấy trí óc và trái tim của chúng ta, khiến ta vùi mặt vào chiếc điện thoại di động thông minh của mình, khiến ta bị hút vào thế giới ảo nơi chỉ có những “câu hỏi thường gặp” mới có cơ hội được trả lời. Mạng xã hội phát tán những lời dối trá và xúc phạm, lan tỏa sự tầm thường và cực đoan của chúng, tạo điều kiện cho các chính trị gia tập hợp “người theo dõi” và “lượt thích” đằng sau những tư tưởng mà chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của cá nhân họ và, cuối cùng, ngăn cản những cuộc tranh luận thấu tình đạt lý, vốn thiết yếu cho sự sinh tồn của con người”.    Máy tính robot hóa đời sống xã hội của chúng ta, chiếm hữu lấy trí óc và trái tim của chúng ta, khiến ta vùi mặt vào chiếc điện thoại di động thông minh của mình, khiến ta bị hút vào thế giới ảo nơi chỉ có những “câu hỏi thường gặp” mới có cơ hội được trả lời.    Điểm thứ hai, được thể hiện một cách ngoạn mục qua cơn sốt đột ngột và sự chú ý đặc biệt tới phiên bản mới nhất của ChatGPT, đáng được phân tích một cách nghiêm túc. Trong rất nhiều năm, tôi đã kinh ngạc trước khả năng khó tin của Google với vai trò là một cỗ máy tìm kiếm trên internet và tôi ngày càng sử dụng nó nhiều hơn như một phụ tá quen thuộc cho suy nghĩ của mình. Không chỉ với việc tư duy những gì nghiêm túc: khi già đi, những kí ức về thời thơ bé bỗng thức dậy trong trí não của của chúng ta và gần đây tôi thức dậy với một đoạn nhạc trong bài hát ru mà mẹ tôi từng hay hát văng vẳng trong đầu; Tôi không thể nhớ được toàn bộ câu hát, nhưng chỉ cần gõ ra một vài từ trên bàn phím…là trên máy tính đã hiện ra bài hát ru xa xưa hàng thế kỉ từng được hát ở những tỉnh phía Tây Nam nước Pháp.  Tôi thường dùng Google dịch để chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, kết quả, còn xa mới có thể được gọi là hoàn hảo, nhưng đủ tốt cho mục đích của tôi. Nhưng gần đây, tôi dùng nó để dịch một bài thơ từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và thấy ngỡ ngàng trước sản phẩm xuất sắc của nó, một bằng chứng cho thấy sự nhạy cảm và tinh tế mà người ta không ngờ đến từ một cái máy. Đó là bằng chứng cho thấy sự tiến bộ vượt bậc so với hai năm về trước.  Tôi cũng ngày càng đánh giá cao chất lượng của các bài viết trên Wikipedia mà tôi vẫn thường tham khảo, đa số là về khoa học những cũng có một số về các lĩnh vực khác như lịch sử, triết học, nghệ thuật. Việc thu thập tất cả các thông tin cần thiết để viết về một chủ đề chỉ là vấn đề kĩ thuật. Nhưng việc chắt lọc từ thông tin thô đó là một nhiệm vụ thách thức hơn rất nhiều, đặc biệt là phải kể một câu chuyện hợp lí từ một lượng thông tin thô ngày càng nhiều lên. Wikipedia là một trang đã làm rất tốt việc đó với một thái độ khách quan và trung lập, tránh một xu hướng phân cực rất đáng tiếc của nhiều thảo luận hiện nay chỉ tập trung vào mặt tối hoặc mặt sáng của cùng một câu chuyện. Những vấn đề phức tạp không phải chỉ có đen hoặc trắng, khôn ngoan là phải nhìn ra mảng xám ở giữa; sự phân lập giữa hai phe quan điểm đối lập và xúc phạm nhau chỉ củng cố cho luận điểm của mỗi bên bằng sự vô minh, hằn sâu lêm sự thù hận và ngăn cản người ta đưa ra những quyết định đúng đắn. Bài viết trên Wikipedia về năng lượng hạt nhân là một ví dụ về một tổng quan thực tế và khách quan. Thay vì thúc đẩy một phong trào chống điện hạt nhân, nó chỉ ra rằng “với tỉ lệ tử vong là 0.07 với mỗi TWh, điện hạt nhân là nguồn năng lượng an toàn nhất nếu tính theo tỉ lệ tử vong trên một đơn vị năng lượng theo các dữ liệu lịch sử”. Tuy nhiều bài viết tránh được sự thiên kiến, cũng có những bài không được như vậy, chẳng hạn như với những bài về biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu, phủ định nỗ lực của những người như Judith Curry ở Mỹ và Quỹ Clintel hoặc “climate-réalistes” ở châu Âu đang làm hết sức để có thể điều hòa cuộc tranh luận và thay thế sự thiếu hiểu biết và cảm xúc nhất thời bằng kiến thức và lí lẽ. ChatGPT có thể tổng hợp thông tin tốt, thậm chí là tốt hơn Wikipedia hay không?     Tổng hợp thông tin là kĩ năng khó khi phải chắt lọc thông tin từ khối lượng dữ liệu thô cực lớn. Nhưng ChatGPT còn làm tốt hơn Wikipedia. Ảnh: Fast Company.  Phần giới thiệu ban đầu nhắc nhở chúng ta rằng, cơn sốt từ sự phấn khích của những người dùng ChatGPT chỉ là bước mới trên một quá trình dài phát triển phần mềm chatbot. Tuy nhiên, vẫn chưa có gì rõ ràng rằng đây là một bước ngoặt về tương tác giữa người và máy hay chỉ đơn giản là kết quả cho thấy máy tính có thể bắt chước thành công biểu đạt của con người. Câu hỏi này cần phân tích chi tiết hơn.  Không có gì phải nghi ngờ rằng việc thông thạo một ngôn ngữ, bao gồm cả những sắc thái vi tế của nó, chưa kể đến làm sao để hiểu được những ẩn ý, là một khả năng vô giá. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy những ứng dụng phần mềm hiện nay đang nhanh chóng tiệm cận tới trình độ đó khi làm việc với tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ tương tự. Thể hiện của chúng ở tiếng Việt rõ ràng là kém hơn nhưng ta có cơ sở để dự đoán rằng, với một độ trễ nhất định, rồi nó cũng sẽ sớm đạt đến sự xuất sắc tương đương. Trong bối cảnh này, tôi thấy thú vị khi đọc về trải nghiệm của những người dùng Google hay Baidu – một ứng dụng tương tự của Trung Quốc, trong khả năng dịch từ tiếng Trung sang tiếng Anh2. Từ những gì họ nói, có vẻ rất giống với trường hợp của tiếng Việt. Một tương lai mà người ta có ngay lập tức phần dịch tiếng Anh của bất kì đoạn tiếng Trung nào, dù là dạng viết hay nói, trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa sẽ đem lại những hệ quả rõ ràng. Nó vừa được coi như một mối đe dọa đối với quốc gia 25 thế kỉ tuổi đời do các học giả Trung Quốc mang đến nhưng nó đồng thời cũng tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng của đất nước này trên toàn thế giới.  Để chứng minh ChatGPT sẽ tạo ra sự khác biệt gì khi nó được nhiều người Việt tiếp cận, tôi lựa chọn một chủ đề nhạy cảm về tâm nguyện hỏa táng trong di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay, khi tôi hỏi Google, tôi được dẫn đến một loạt bài báo với đa dạng góc độ bình luận và phân tích về chủ đề này3. Tôi dĩ nhiên là tò mò muốn biết ChatGPT sẽ trả lời thế nào nên đã hỏi nó: “Tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh, người để lại di sản được nhiều người Việt Nam ngưỡng mộ, có di nguyện được hỏa táng sau khi mất, cuối cùng lại được bảo quản thi hài và đặt trong lăng ở Hà Nội?” Câu trả lời, sau một vài nhận định cẩn trọng và dựa trên thực tế, có thể kết luận như sau: “Những người đồng chí của ông tin rằng Bác nên được lưu giữ và tưởng niệm theo cách lâu dài hơn, và bởi vậy họ quyết định bảo quản thi hài Bác và xây dựng lăng ở Hà Nội. Lăng được khánh thành vào năm 1975 và từ đó trở thành một địa điểm nổi tiếng đối với cả khách du lịch và người dân Việt Nam. Quyết định bảo quản thi hài Hồ Chí Minh và xây lăng xuất phát từ nhiều yếu tố, bao gồm vai trò là lãnh tụ cách mạng, tầm quan trọng của Bác với người dân Việt Nam và mong muốn tạo nên một biểu tượng cách mạng sống mãi. Mặc dù Hồ Chí Minh có di nguyện được hỏa táng, thi hài Người đã trở thành một biểu tượng mạnh mẽ về chủ nghĩa dân tộc, tinh thần đoàn kết của Việt Nam và di sản của Người vẫn được trọng vọng bởi nhiều người Việt Nam ngày nay”. ChatGPT biết rõ cần nói gì về một chủ đề nhạy cảm, hơn hẳn Wikipedia.    Cơn sốt từ sự phấn khích của những người dùng ChatGPT chỉ là bước mới trên một quá trình dài phát triển phần mềm chatbot. Tuy nhiên, vẫn chưa có gì rõ ràng rằng đây là một bước ngoặt về tương tác giữa người và máy hay chỉ đơn giản là kết quả cho thấy máy tính có thể bắt chước thành công biểu đạt của con người.    Lúc này, tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình có thể tác động để ChatGPT trả lời đúng với những gì mình muốn. Để làm điều này, tôi lựa chọn chủ đề về nóng lên toàn cầu và với trao đổi đầu tiên, tôi khiến ChatGPT đưa ra câu trả lời xác nhận lại sự thật đã được công nhận rộng rãi, khẳng định lại sự đồng thuận của giới khoa học. Nhưng rồi tôi bắt đầu tranh cãi: “Tôi đang nói về những tiếng nói khác, như Judith Curry, trong phần lớn sự nghiệp của mình, công nhận hiện tượng nóng lên toàn cầu và phần lớn nguyên nhân là do con người gây ra, không đồng tình cảnh báo cấp bách rằng một thảm kịch sắp xảy đến với trái đất. Bạn đã hiểu nhầm tôi rồi, chắc là tôi nói chưa đủ rõ ràng”. Thế là ChatGPT nhanh chóng đưa ra câu trả lời khác: “Tôi xin lỗi nếu lỡ gây ra bất cứ hiểu nhầm nào. Nói cho rõ, đúng là có những cá nhân và các tổ chức thừa nhận hiện tượng nóng lên toàn cầu và nguyên nhân từ những hoạt động của con người, nhưng phủ nhận ý tưởng rằng điều đó sẽ dẫn đến một hậu quả thảm khốc. Những cá nhân và tổ chức này có lẽ tiếp cận cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu một cách khôn khéo hơn, và có lẽ họ vận động cho phản ứng chính sách khác với những tiếng nói khẩn thiết. Judith Curry là một trong những cá nhân như vậy. Bà đã chỉ trích một vài khía cạnh trong hiểu biết chung của cộng đồng khoa học về biến đổi khí hậu, nhưng bà cũng vẫn thừa nhận hiện tượng nóng lên toàn cầu và vai trò của con người trong chuyện này. Bà vận động cho một hướng tiếp cận cẩn trọng hơn trong cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu. Tương tự như thế, Quỹ Clintel và Climato-réalistes ở châu Âu là những tổ chức cũng nghi ngờ về sự nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và phản đối nhiều chính sách về khí hậu, nhưng cũng thừa nhận hiện tượng này và vai trò của con người. Họ đấu tranh cho một thảo luận đúng mực hơn, và ủng hộ những chính sách làm sao để cân bằng giữa việc phát triển kinh tế lẫn bảo vệ môi trường. Cần nhớ rằng trong khi những tiếng nói đó có thể đưa ra những góc nhìn khác trong cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu, thì quan điểm khoa học được đa số đồng thuận vẫn là hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, và điều này đem đến rủi ro và thách thức lớn với xã hội loài người và hệ sinh thái. Các chính sách đối phó với biến đổi khí hậu vẫn là chủ đề cần tranh cãi và thảo luận, nhưng quan trọng là cần phải dựa trên những thông tin và góc nhìn thực chứng được công nhận bởi cộng đồng khoa học”. Thành công! Tôi, cuối cùng cũng khiến ChatGPT nói chính xác những gì tôi muốn nghe.  Tôi hỏi ChatGPT đủ mọi loại câu hỏi khác: Tại sao có còn hơn không? Việt Nam nên ưu tiên giải pháp gì để giảm thiểu CO2 trong bối cảnh nóng lên toàn cầu? Ngày nay, điều gì còn lại trong hy vọng của Marx và Engels rằng vô sản các quốc gia đoàn kết lại? Và rất nhiều chủ đề khác, trong đó có những chủ đề như kiểm duyệt, tự do biểu đạt hay vụ Việt Á gần đây. Dĩ nhiên, tất cả đều không phải là những câu hỏi ngây thơ, với mỗi câu hỏi tôi đều có kì vọng rõ ràng về việc thế nào mới là câu trả lời chấp nhận được. Trong trường hợp nào cũng vậy, những câu trả lời nó đưa ra đều có bằng chứng, biểu lộ sự xác tín, khiêm nhường và để lại một ấn tượng về một trí tuệ đáng ca ngợi. Tuy nhiên, những người khác có thể thấy những câu trả lời này là thiên lệch và sai trái; nếu họ ở vị trí của tôi để hỏi, họ sẽ dùng lời lẽ khác để hỏi, theo cách làm sao để có được câu trả lời mà họ dễ chấp nhận hơn. Cuối cùng, nếu chúng ta có thể tranh cãi với máy như với con người, điều đó sẽ tạo nên sự khác biệt gì? Liệu máy móc có thông tuệ hơn chúng ta không?  Những ví dụ tôi kể trong bài viết khiến chúng ta tự hỏi về tác động của những tiến bộ sẽ đạt được trong quá trình phát triển chatbot và những phần mềm tương tự; rất nhiều câu hỏi nảy sinh nhưng tôi cố kim mình để trả lời: hôm nay còn quá sớm để nói về tác động của nó trong tương lai, đặc biệt là ở Việt Nam. Tuy nhiên có một điều chắc chắn: Khi ChatGPT có thể kết nối dễ dàng ở Việt Nam và bằng tiếng Việt, nó sẽ thu hút rất nhiều sự quan tâm của người dân. Nhưng vẫn quá sớm để nói rằng nó sẽ hiệu quả như thế nào trong việc đấu tranh với cái dốt, liệu nó sẽ được sử dụng với mục đích xấu hay tốt, người ta sẽ kiểm soát nó thế nào, nó sẽ thúc đẩy mọi người cất tiếng nói ra sao. Chúng ta hãy chờ xem.  Tôi có thể trò chuyện với máy tính nhiều giờ nữa, nhưng người cháu của vợ tôi đến thăm chúng tôi, và ôm chúng vào lòng hẳn là điều quan trọng hơn với tôi bây giờ: Tôi tắt ứng dụng. □  Hảo Linh dịch  ———-  Tài liệu tham khảo:  1https://tiasang.com.vn/dien-dan/nhung-the-gioi-song-song-va-cach-mang-cong-nghiep-40-10716/  2 https://www.quora.com/How-effective-is-Google-Translate-at-translating-Chinese  3 https://www.google.com.vn/search?q=president%20ho%20chi%20minh%20cremation    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Trốn tránh chuẩn mực quốc tế là tạo cơ sở cho tiêu cực trong nghiên cứu khoa học      Không ít các cán bộ khoa học có đủ mọi bằng cấp và chức danh ở ta thường tìm mọi cách lảng tránh các chuẩn mực khoa học nghiêm túc và khách quan với ngụy biện rằng chúng ta mới qua chiến tranh, còn nghèo, cần phải từ từ, rằng họ thực hiện các đề tài nghiên cứu định hướng “ứng dụng” không đòi hỏi phải có công bố quốc tế như các nghiên cứu “lý thuyết” ? Lập luận đó vẫn cứ lặp đi lặp lại trong nhiều năm, bất chấp những thay đổi diễn ra thời gian qua, kể cả khi chúng ta đã bước vào tiến trình hội nhập và kinh phí nhà nước đầu tư cho khoa học &amp; công nghệ được tăng mạnh nhờ có sự tăng trưởng của nền kinh tế.    Nếu họ làm ứng dụng thực sự phục vụ thực tế thì họ phải thu được kinh phí trực tiếp từ các cơ sở sản xuất và thị trường, và nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ về mặt hành chính và pháp lý, kể cả có thể xét cho vay vốn ưu đãi. Còn đã là thực hiện đề tài nghiên cúu, nghĩa là hưởng kinh phí bao cấp từ nhà nước, thì họ phải chịu các đòi hỏi nghiêm ngặt và khách quan về chuẩn mực khoa học cho các kết quả nhận được (không phải chỉ là một báo cáo tổng kết để xếp tủ, hay áp dụng hình thức, không hiệu quả), và qua đó giúp nâng cao được cái nền của khoa học & công nghệ nước nhà.  Công bố bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành được phản biện khách quan bởi các chuyên gia ẩn danh sẽ buộc nhà khoa học phải cập nhập học hỏi được các thành tựu tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực chuyên môn của mình, giúp kiểm định được phương pháp giải quyết vấn đề của nhà khoa học là đúng đắn, và khẳng định được trình độ và đóng góp của nhà khoa học. Mọi lĩnh vực chuyên môn từ lý thuyết đến ứng dụng đều có các tạp chí của mình, và các tạp chí thuộc các lĩnh vực ứng dụng thậm chí còn nhiều áp đảo so với các tạp chí có thiên hướng lý thuyết.  Trên trường quốc tế, trình độ và năng lực của các nhà khoa học và cả các quốc gia được đánh giá trước tiên qua số bài báo công bố trên các tạp chí khoa học chuẩn mực quốc tế, và số bằng phát minh, sáng chế. Theo Viện thông tin khoa học (Institute for Scientific Information – ISI), có trụ sở tại Mỹ, các nhà khoa học các ngành của VN, từ Y, Sinh, Nông nghiệp tới Toán, Lý, Hóa, và các lĩnh vực Kỹ thuật, Kinh tế, đã công bố trong 10 năm qua (tính tới tháng 2/2007) tổng cộng 4 ngàn bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực. Con số đó chỉ bằng 1/3 con số tương ứng của Malaysia (trong khi số dân nước ta bằng 4 lần số dân Malaysia), 1/4.5 số bài của Thái lan, dưới 1/11 của quốc đảo Singapore, 1/45 của Hàn quốc, 1/108 của Trung quốc (số dân VN bằng 1/16 TQ), và 1/700 của Mỹ.  Cụ thể hơn, gần 50% số bài của Thái Lan là do nội lực (tự họ làm được), trong khi tỷ lệ nội lực của chúng ta chỉ là 20%, còn lại là do hợp tác với quốc tế. Điều đó cho thấy các nhà khoa học của chúng ta vẫn còn phải dựa nhiều vào hỗ trợ quốc tế. Điều đáng lo là mặc dù số bài mà chúng ta tham gia có tăng 10% hằng năm, số bài nội lực vẫn chỉ dừng ở số 80 bài/năm trong suốt 10 năm qua, bất kể kinh phí nghiên cứu khoa học từ ngân sách quốc gia của chúng ta được tăng mạnh trong thời gian này. Các công bố quốc tế từ nội lực của cả khoa học VN chỉ bằng 1/4 con số tương ứng của riêng ĐH Chulalongkorn của Thái Lan, một ĐH có kích cỡ tương đương ĐH quốc gia HN.  Con số chi tiết về số công bố quốc tế các ngành của Việt Nam 10 năm qua: 1.Y học lâm sàng (656 bài), 2. Vật lý (640), 3. Động thực vật học (531), 4. Toán (424), 5. Kỹ thuật (277), 6. Hóa (272), 7. Nông nghiệp (174), 8. Địa chất (158), 9. Môi trường (150), 10. KHXH (145), …,15 Kinh tế (29), …  Có một điếm sáng: do những lý do lịch sử, các ngành Toán và Vật Lý của chúng ta đã tập hợp được lực lượng mạnh trong quá khứ, có được truyền thống khá tốt, và là hai ngành duy nhất đã có được số công bố quốc tế sánh ngang và vượt các nước bạn Đông Nam Á. Tuy nhiên khi xét về tổng thể, các bài báo quốc tế lại đến chủ yếu từ các lĩnh vực khoa học ứng dụng mà ta thua xa bạn.  Động lực nghiên cứu chất lượng để công bố quốc tế ở VN hiện nay mới chỉ xuất phát từ 2 nguồn bên ngoài: cơ hội được mời ra nước ngoài cộng tác (như ở các ngành Toán và Vật lý lý thuyết), và từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng trong nước được quốc tế tài trợ và có sự tham gia của chuyên gia nước ngoài (như trong các lĩnh vực Y, Sinh và Môi trường). Động lực công bố quốc tế nội lực hầu như không có: từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng kinh phí lớn cấp Bộ Ngành, cấp Nhà nuớc tới các đề tài nghiên cứu cơ bản kinh phí nhỏ hơn, trên thực tế, đều phớt lờ đòi hỏi cần có về công bố quốc tế. Điều đó dẫn tới số lượng ít ỏi các kết quả nội lực đạt chuẩn mực quốc tế như đã nói ở trên – phản ánh chất lượng kém của các đề tài nghiên cứu và hiệu quả thấp của vốn đầu tư của nhà nước cho khoa học công nghệ..  Thiếu ràng buộc về chất lượng nghiên cứu dẫn tới lỏng lẻo trong quản lý và tiêu cực trong việc xét và phân kinh phí các đề tài, đạo đức thấp của cộng đồng khoa học, làm giả ăn thật tràn lan. Kể cả các nhà khoa học dã được đào tạo tốt ở nước ngòai trở về cũng bị tàn lụi dần theo thời gian trong một môi trường thiếu lành mạnh như vậy.  Công nghệ không phải là thứ dễ định lượng đo đếm được. Nhưng chính thông qua lao động của các chuyên gia với các kết quả nghiên cứu theo chuẩn mực quốc tế (các bài báo và các sáng chế), nhất là của các lĩnh vực ứng dụng, công nghệ sẽ dần được hình thành. Các quốc gia có nhiều kết quả bài báo công bố quốc tế cũng là các quốc gia có nhiều phát minh, sáng chế và nền công nghệ phát triển tương ứng.  Chính bởi tầm quan trọng của các bài báo khoa học chuẩn mực quốc tế đối với nền khoa học công nghệ của một quốc gia, ngoài thông lệ chung quốc tế sử dụng các kết quả đó như là cơ sở cho xét duyệt, đánh giá các đề tài nghiên cứu và thăng tiến nghề nghiệp của các nhà khoa học, nhiều nước đang phát triển, từ Hàn quốc, Pakixtan tới TQ,  còn có thêm chế độ thưởng tiền mặt trực tiếp cho các bài báo công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín. Luận án TS từ Hàn quốc tới Phillipnes đều đòi hỏi phải có các bài báo đăng tạp chí quốc tế ISI. Các Viện nghiên cứu của Viện HLKH Trung quốc khẳng định năng lực và thành tích nghiên cứu của họ qua số bài báo quốc tế đạt chuẩn cao nhất SCI  và số bằng phát minh, sáng chế.  Tại sao lực lượng khoa học công nghệ của chúng ta tuy khá đông về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng, mặc dù từ mấy chục năm nay nhà nước vẫn luôn khẳng định “khoa học kỹ thuật là then chốt”, và kể cả trong những năm chiến tranh gian khổ vẫn tuyển chọn nhiều học sinh ưu tú gửi đi đào tạo ở các nước tiên tiến nhằm xây dựng tiềm lực cho chúng ta ngày hôm nay. Đừng nhắc mãi tới các lý do khách quan để mà nhìn thấy nguyên nhân chủ quan: chính sách khoa học của chúng ta có nhiều bất cập và lạc hậu. Mặt khác, tầm nhìn, ý thức nghề nghiệp, ý chí phán đấu vươn lên độc lập tự cường, tự đánh giá mình một cách khách quan, của các nhà khoa học VN, trước hết là những người chiếm giữ các vị thế được coi là “đầu ngành”, nhìn chung là yếu.  Chuẩn mực TS là gì nếu như ứng viên không có nổi lấy một bài báo đăng tạp chí quốc tế ? Một GS có xứng danh hay không khi không thể là tác giả chính (từ nội lực, sau khi đã bảo vệ luận án TS) của dù chỉ một bài báo quốc tế chuẩn mực tối thiểu ISI ? Khoa học VN làm sao mà tiến bộ được khi phần lớn các thành viên của một Hội đồng ngành NCCB, Hội đồng chức danh GS Ngành, Ban biên tạp tạp chí ngành,… không có nổi lấy một bài báo khoa học đăng tạp chí chuẩn mực SCI trong 5 năm, và thậm chí 10 năm gần đây nhất.  Cũng dễ hiểu vì sao nhiều chức sắc đầu ngành của chúng ta lại dị ứng và phớt lờ chuẩn mực quốc tế. Mập mờ là điều họ cố gắng duy trì. Vì đề cao chất lượng nghiên cứu khoa học sẽ làm ảnh hưởng tới vị thế “đầu ngành” và các đặc quyền đặc lợi của họ, trong khi tư duy văn hóa phong kiến của họ là rất nặng nề.  Với tư duy lạc hậu và tiến độ làm khoa học như con số cụ thể đã nói ở trên, phải nửa thế kỷ nữa chúng ta mới tới được trình độ công bố quốc tế hiện nay của các láng giềng Thái Lan và Malaysia, và đành lòng quên đi ước mơ có ngày VN sánh vai được với các cường quốc Năm châu như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn?  Để đổi mới khoa học như chúng ta đã thành công trong đổi mới nền kinh tế, việc tiên quyết phải làm là  thiết lập môi trường khoa học lành mạnh dựa trên các chuẩn mực quốc tế đã được xác lập thông qua các bài báo khoa học quốc tế ISI, các phát minh, sáng chế, sản phẩm mới hữu dụng – đóng vai trò như tiêu chuẩn thị trường trong kinh tế. Mọi chương trình khoa học, các đề tài nghiên cứu, các bằng cấp, chức danh, và Hội đồng khoa học ngành, đều phải được xây dựng trên cái nền này.  ————  * Viện Cơ học, Hà nội.  Phạm Đức Chính*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trứng hay gà có trước?      Trứng c&#243; trước hay g&#224; c&#243; trước? C&#226;u hỏi đơn giản n&#224;y lại l&#224; một th&#225;ch thức kh&#244;n c&#249;ng về mặt l&#244;g&#237;ch. C&#243; người cho rằng trứng c&#243; trước v&#236; trứng nở ra g&#224;; c&#243; người lại cho rằng g&#224; c&#243; trước v&#236; g&#224; đẻ ra trứng. Thế nhưng, con g&#224; đẻ ra trứng th&#236; lại nở ra từ một quả trứng, v&#224; quả trứng đ&#243; lại do một con g&#224; đẻ ra&#8230; Cứ như vậy, v&#244; tận l&#224; những cuộc tranh luận- những &#8220;cơn b&#227;o tố trong ấm nước tr&#224;&#8221;.    Thực ra, một thứ chân lý chung chung là điều rất khó đạt được trong cuộc sống. Chân lý bao giờ cũng cụ thể: Con gà đẻ ra quả trứng, thì có trước quả trứng; quả trứng nở ra con gà, thì có trước con gà. Việc trứng có trước hay gà có trước là điều chúng ta chỉ có thể biết được một cách chắc chắn tại những thời điểm xác định trong dòng chảy vô tận của thời gian.  Có hai phạm trù luôn luôn tồn tại khách quan và quyết định bản chất của sự vật. Đó là không gian và thời gian. Chân lý chỉ tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định. Nó không tồn tại ngoài không gian và thời gian đó. Ví dụ, nước sôi ở nhiệt độ 100oC chỉ đúng với vùng đồng bằng, chứ không đúng với vùng núi cao, chỉ đúng với thời nay, chứ không đúng với thời Trái đất có áp suất không khí lớn hơn (hoặc nhỏ hơn). Cũng tương tự như vậy, sự phân bổ của thị trường về các nguồn lực tốt hơn hay sự phân bổ của Nhà nước tốt hơn; tự do quan trọng hơn hay sự điều chỉnh quan trọng hơn là những điều chúng ta chỉ trả lời chính xác được cho từng lúc và từng nơi mà thôi.  Trong chuyện hoạch định chính sách và pháp luật, điều quan trọng là phải luôn luôn nhớ đến các yếu tố không gian và thời gian. Những lý luận chung chung nằm ngoài khuôn khổ của các yếu tố nói trên, đều chứa đựng rủi ro sai lệch hoặc giáo điều. Giáo điều, về bản chất, là một sự sai lệch về thời gian, khi chân lý của quá khứ được áp đặt cho hiện tại và tương lai. Điều tệ hại nhất là các giáo điều thường làm tê liệt khả năng tư duy của con người. Mà thiếu một khả năng tư duy phê phán, con người không thể nắm bắt được những quy luật thay đổi và phát triển không ngừng của cuộc sống.   Cuộc sống lại có thể biến đổi khác nhau ở những vùng miền khác nhau. Một mức hạn điền ở một thời điểm nhất định có thể đúng cho miền Bắc, nhưng chưa chắc đã đúng cho miền Nam. Một định mức chi tiêu có thể đúng cho nông thôn, nhưng chưa chắc đã đúng cho thành thị.   Quả trứng hôm qua có thể đã nở thành con gà hôm nay. Lạm phát hôm qua có thể đã chuyển thành giảm phát hôm nay. Vạn vật đều biến đổi vô tận trong không gian và thời gian. Chính vì vậy, điều quan trọng là đừng nên dùng khả năng tiếp cận chân lý của ngày hôm qua để áp đặt cho ngày hôm nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Hoa có nhiều điều khác người Việt      Nếu bạn gặp ai lần đầu ở xứ lạ, mà người đó  bảo bạn rằng bạn là người Việt, không phải là người Hoa, thế mà thực sự  đúng là như vậy, thì người đó quá là tài! Có những người như thế thật,  người xứ tây hẳn hoi, nhưng chính tôi cũng không dám chắc mình đủ tinh  anh được đến như thế.    Chẳng cần phải lý sự nhiều, sự giống nhau giữa người Việt và người Hoa thật là lớn lao, cả về thể chất lẫn tinh thần. Đọc chuyện của ai, chứ đọc chuyện của xứ Hoa thì người Việt cảm thấy như họ đang nói chuyện về mình. Đọc Lỗ Tấn, tôi cứ đinh ninh mãi rằng bác AQ là người Hoa… gốc Việt. Vua quan triều Nguyễn thì ăn mặc còn Hoa hơn cả vua quan Trung Hoa triều Thanh, chuyện ấy, chả phải nhắc.  Giống là vậy, thế nhưng nhìn cho kĩ, nhiều điều của xứ Hoa vẫn cứ khác xứ Việt.  Nhắm tới tự quyết tinh thần  Xứ Hoa thu thập đủ các lý thuyết thập phương. Nhưng dù có những giai đoạn họ không hề hiểu rõ các lý thuyết đó ra làm sao, họ im ỉm không cam chịu làm nô lệ đơn thuần cho những lý thuyết đó. Ngược lại là khác, họ tìm cách Trung Hoa hóa chúng, tìm cách khai thác chúng một cách sinh lợi, theo quan niệm của họ. Phật giáo là một ví dụ. Ngay cả học thuyết Marxist-Leninist, một khi vào đến Trung Hoa, nó cũng rất nhanh chóng nhuộm chuyển thành học thuyết Mao Trạch Đông, một cách dứt khoát, dẫu có cực đoan thêm hơn lên.  Trung Hoa không tự trói mình trong tập tục về sự biết ơn vô bờ. Xử sự của họ với Liên bang Soviet là ví dụ điển hình, sau chịu ơn được việc, là ngang hàng lập tức.     Cái tinh thần gắng leo thật sự lên đỉnh của thiên hạ đó của xứ Hoa, là cái chưa có ở người Việt.  Tinh thần thực dụng    Nói là một chuyện, làm ăn sinh sống là chuyện khác, đó cũng là một tinh thần Hoa thật mãnh liệt. Khổng giáo khinh thường, chê bai buôn bán đến đâu đi chăng nữa, thì buôn bán vẫn luôn luôn là lý tưởng và thực hành lớn lao trong đời sống người Hoa. Tôi từng quen biết một kĩ sư trẻ người Hoa, anh này giỏi giang, sáng sủa, hàng ngày chăm chỉ leo xe bus đi làm, chứ không diện xe ôtô riêng đẹp để tán các người đẹp dù cho thu nhập của anh thừa sức. Trong khoảnh khắc càfé thân tình anh ta thổ lộ riêng «bố mẹ tôi ráo riết rồi, đi làm là để có phiếu lương để đi vay tiền, cứ mua cho xong được ba cái căn hộ đơn cho thuê, khi ấy là xong cái nghề đi làm, rồi muốn bay nhảy gì thì hẵng. Tôi đã mua được hai cái.»  Người Việt tuy là học mượn, học nhờ Khổng giáo, nhưng lại cứ làm như mình là con đẻ chính nòi chân chính của Khổng giáo, bắt chước phải cho triệt để cái thuyết đó theo tưởng tượng của mình, để mà khinh thường buôn bán thật sự, đến mức căm phẫn buôn bán. Đã là bắt chước, thì đúng là chỉ theo được cái bóng chước bên ngoài.  Người Trung Hoa hôm trước mang cả ông Khổng Tử ra đấu tố, cứ như là ông ấy đang phạm phải tội bè phái chống chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Hôm nay, tên tuổi của ông Khổng Tử lại được thắp sáng choang, y như là tượng Nữ Thần Tự Do bên bờ New York. Nếu bạn ngạc nhiên vì điều bình thường đó, chẳng qua là vì bạn chưa hiểu văn hóa Trung Hoa, và hơn nữa, nếu bạn là người Việt, thì bạn chưa hiểu chính mình.  Bao dung vì lợi  Ngay từ thời xa xưa, các đạo quân Trung Hoa đánh chiếm đến đâu cũng thường đã sẵn sàng nhiều phương phép, hoặc là làm cỏ man rợ các thành trì bất khuất, hoặc là cho các quân tướng của các thành trì đã sớm đầu hàng được giữ nguyên tước vị. Họ không lo vác theo các loại bộ máy quan lại to nhỏ đông đúc li ti để thay thế cho bằng hết được các bộ máy ở mọi nơi mới bình định, chiếm đóng được. Có như thế, các đạo quân xứ Hoa mới đi được xa, mới thu giữ được thiên hạ mênh mông. Họ biết «bao dung vì lợi», để còn kiếm được những ích lợi thật to lớn hơn như thế nữa.  Ngay trong thời hiện đại, Trung Hoa đã vô cùng kiên nhẫn chờ cho hết các thời hạn để thu về trong hòa bình các lãnh địa Hongkong, Macao đã cực kì phát triển giàu có, và lại còn chấp nhận bình thản các thể chế kinh tế-xã hội khác biệt của chúng. Rồi tới đây, sẽ là Taiwan.  Nhưng họ cũng rất dứt khoát thoắt ra tay ở biển Đông khi thời cơ vừa hé lộ, không khác gì Tư Mã Ý nhanh tay bắt Mạnh Đạt ngày nào.  Người Việt thì bận lu bù trong các suy nghĩ tính toán thiệt hơn nhỏ nhặt.  Chép sử kĩ càng    Xứ Hoa có nền chép sử. Trong đống sử liệu đó, vàng, thau, thật, giả hỗn độn, nhưng vẫn có vàng, vẫn có thật. Tư Mã Thiên lạnh lùng chuyên nghiệp từ cả hàng ngàn năm, từ trước cả công nguyên, đã đành; ngay chuyện Tam Quốc bảy giả ba thật cũng đã khắc họa nhà nghề đời sống và con người đủ loại quí phái bần tiện, khắc họa sắc sảo, không nương tay.  Ngay trong thời hiện đại hôm nay, Mao Trạch Đông đã được đánh giá lại công khai, chính thống, là “bảy đúng, ba sai”. Các nhân vật lịch sử hiện đại của xứ Việt thì thường phải “mười đúng, zero sai”, hoặc “zero đúng, mười sai”, theo lối nghĩ thần thoại ông Thiện ông Ác. Hơn cả thế nữa, đã đúng, là đúng tiềm năng, đúng mãi mãi ; đã sai, là sai tiềm năng, sai muôn thuở.  Trung Hoa không mang tên vĩ nhân của họ ra đặt cho các địa danh lớn, họ hiểu rằng điều đó không được an bền, và không lấy được lòng người trong dài lâu.  Tính toán xa xôi  Nếu người Việt cũng thích nhìn xa xăm, thì cũng thường chỉ là để thỏa cơn mơ “chí khí”, để khoe mẽ văn nghệ. Xứ Hoa khác, họ chắc chắn có kế hoạch cho 20 năm, cho 50 năm tới. Làm được hay không còn là chuyện khác, nhưng việc tính toán thật về đường dài nằm trong tâm trí của họ, và họ thi hành chúng. Người đã quen tính đường dài thì ung dung hơn, và đủ làm ngạc nhiên liên tục những người xung quanh chỉ quen tính đường ngắn, quen nghe ngóng, quen ăn thì ở độ.  Tầm vóc  Sự khác nhau căn bản nhất của xứ Việt và xứ Hoa, là tầm vóc. Nhưng người Việt lại hay quên nhất điều này.  Xứ Việt có tầm vóc thật là khiêm nhường so với xứ Trung Hoa, vậy mà lại cả ngàn năm cứ cố học nguyên xi theo Trung Hoa nhiều chuyện, điều đó là vô cùng không bình thường.  Để ví dụ, tầm vóc đã khác nhau đến như thế, mà trong lịch sử lại từng cùng đua nhau áp dụng Khổng giáo, thì sẽ là vô cùng khác nhau giữa vị thế của quốc gia đóng ngôi thiên tử với vị thế của quốc gia đóng phận dậu phiên khi phải gặp nhau.  Để ví dụ, tầm vóc đã khác nhau đến như thế, mà lại cùng áp dụng chính sách thương thảo tay đôi “đóng cửa bảo nhau”, thì kết quả được chờ đợi từ mỗi bên khắc sẽ phải khác nhau đến thế nào.  Tạm kết  Có rất nhiều điều người Hoa nghĩ và hành xử khác người Việt mà người Việt cần học. Nhưng nếu lối học là học đuổi theo bóng, thì càng thu hoạch, càng ảo tưởng.  Học thật, tới nhẽ. Để tìm ra con đường thực sự sáng sủa, bền vững của mình, cho mình.  Và tất nhiên, đừng bao giờ chỉ học từ mỗi xứ Trung Hoa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Nguyên trao học bổng hỗ trợ con em nông dân trồng cà phê      Mới đây, Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên đã  trao tặng 50 suất học bổng cho các sinh viên là con em nông dân trồng cà  phê có thành tích học tập tốt thuộc các trường đại học – cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, bao gồm Đại học Tây Nguyên, Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, Cao đẳng nghề thanh niên dân tộc Tây Nguyên.    Đại diện Trung Nguyên, ông Nguyễn Văn Lợi – Giám đốc điều hành Nhà máy cà phê Trung Nguyên cho biết: “Chúng tôi muốn thông qua hành động nhỏ này, gửi lời cảm ơn đến những gia đình, những người nông dân trồng cà phê đã cùng với Trung Nguyên sống chết với cây cà phê, nỗ lực làm ra những hạt cà phê ngon nhất để cung ứng những tách cà phê tuyệt hảo, góp phần thúc đẩy, xây dựng đời sống bà con nông dân một cách ổn định, bền vững từ cây cà phê.”  Đây là một trong những hoạt động thường niên của Trung Nguyên dành cho các HSSV học giỏi, vượt khó trên cả nước, để cùng với gia đình, thầy cô động viên tinh thần học tập của các em, tiếp tục thắp sáng những ước mơ học tập. Riêng đối với tỉnh Đắk Lắk, hàng năm, Trung Nguyên đều ưu tiên dành tặng hàng trăm suất học bổng cho các học sinh – sinh viên là con em của các hộ nông dân trồng cà phê, mỗi suất học bổng trị giá 1 triệu đồng, để góp phần tạo điều kiện cho các em yên tâm học tập.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc cấy đảo trong vùng biển tranh chấp để củng cố yêu sách của mình      Ảnh thám sát của Philippines cho thấy Trung Quốc  đã và đang chuyển cát tới các rạn san hô và bãi cát ngầm để làm tăng  thêm một số đảo mới cho quần đảo Trường Sa (ảnh bên), trong cái mà các quan chức  ngoại giao gọi là một nỗ lực mới để mở rộng dấu chân của Trung Quốc ở biển Đông.      Các quan chức này nói rằng các đảo đó sẽ có thể cho phép dựng các tòa nhà lớn, thiết bị giám sát, kể cả radar và việc cư trú của con người.  Việc xây dựng đảo đã báo động Việt Nam, Philippines và các nước Đông Nam Á khác cũng có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Từ tháng 4, Philippines đã đưa đơn phản đối việc TQ cải tạo đất tại hai rạn san hô. Tháng này, Tổng thống Philippines, Benigno S. Aquino III, chỉ trích các di chuyển của tàu TQ mà ông nói có thể dính dáng vào việc xây dựng đảo tại hai địa điểm khác.      Hành động của TQ cũng làm các quan chức cấp cao của Hoa Kì lo ngại. Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel trách TQ về “các hoạt động cải tạo đất tại nhiều địa điểm” trong biển Đông tại một hội nghị an ninh gây tranh cãi ở Singapore vào cuối tháng 5.  Những người chỉ trích nói rằng các đảo này sẽ cho phép TQ đặt các trạm công nghệ giám sát và tiếp tế tốt hơn cho các tàu của chính phủ. Một số nhà phân tích nói rằng quân đội TQ đang nhắm đến một bàn đạp trong quần đảo Trường Sa như là một phần của chiến lược dài hạn triển khai sức mạnh xuyên suốt Tây Thái Bình Dương.          Từ tháng Giêng năm 2014, TQ đã xây dựng ba  hoặc bốn đảo, dự đoán là khoảng 20-40 acre (1 acre ≈ 4048 m²) mỗi đảo,  một quan chức phương Tây cho biết. Ông nói thêm rằng dường như có ít  nhất một cơ sở dành cho mục đích quân sự, và các đảo mới này có thể được  sử dụng để tiếp tế cho tàu bè, kể cả các tàu tuần tra biển của TQ.        Có lẽ cũng quan trọng không kém, các đảo mới này có thể cho phép TQ yêu sách vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí cho mỗi đảo, điều này được quy định trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Philippines đã lập luận tại tòa án quốc tế rằng TQ chỉ chiếm đóng các đảo đá và rạn san hô chứ không phải các đảo thực sự có đủ tiêu chuẩn hưởng vùng đặc quyền kinh tế.  “Bằng cách tạo ra dáng vẻ của một đảo, TQ có thể đang tìm cách tăng cường giá trị các yêu sách của mình,” M. Taylor Fravel, một nhà khoa học chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts nói.  TQ nói rằng họ có quyền xây dựng trong quần đảo Trường Sa vì đó là lãnh thổ của TQ. “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa”, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying) nói hồi tháng trước, dùng tên tiếng Trung cho quần đảo Trường Sa. Các quan chức TQ cũng cho rằng Việt Nam và Philippines đã xây dựng nhiều kiến trúc trong khu vực tranh chấp hơn TQ, vì vậy TQ cũng tự do theo đuổi các dự án của mình.  Nhưng các nhà phân tích lưu ý rằng các nước kia không xây dựng đảo, mà nói chung họ chỉ dựng các kiến trúc trước năm 2002, năm TQ và 9 nước Đông Nam Á kí Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông. Một điều khoản trong Tuyên bố này nói rằng các bên phải “thực hành tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động” có thể làm leo thang căng thẳng và phải ngưng đưa người tới sinh sống ở bất kì thể địa lí nào đang không có người ở.  Mặc dù thỏa thuận này là không ràng buộc và không nói rõ ra là cấm xây dựng trên các đảo hoặc tạo ra những đảo mới, một số nhà phân tích nói rằng các hoạt động này cũng bao hàm trong đó.  “Họ đang làm thay đổi hiện trạng,” Carlyle A. Thayer, giáo sư danh dự về chính trị tại Đại học New South Wales ở Australia nói. “Họ chỉ làm tăng căng thẳng.”  Từ tháng Giêng năm 2014, TQ đã xây dựng ba hoặc bốn đảo, dự đoán là khoảng 20-40 acre (1 acre ≈ 4048 m²) mỗi đảo, một quan chức phương Tây cho biết. Ông nói thêm rằng dường như có ít nhất một cơ sở dành cho mục đích quân sự, và các đảo mới này có thể được sử dụng để tiếp tế cho tàu bè, kể cả các tàu tuần tra biển của TQ.          Tháng trước, các bản phác kĩ thuật số của  các cấu trúc dự kiến cho quần đảo Trường Sa được lưu hành trên các trang  web tin tức của TQ, kể cả trên trang thời báo Hoàn Cầu (Global Times),  tờ báo trực thuộc tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng  sản. Các bản phác thảo, dưới nhãn là một nghiên cứu, cho thấy một đảo  mới với các bến chuyển hàng, bãi đỗ xe và một sân bay với đường băng,  máy bay và nhà chứa máy bay.        Tháng trước, TQ khiến khu vực và Washington báo động khi một công ti dầu nhà nước đặt giàn khoan dầu thăm dò ở về phía bắc trong vùng biển Đông, cạnh quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp gần Việt Nam. Giàn khoan kích động xung đột ngoại giao và các cuộc biểu tình bạo lực chống TQ tại Việt Nam.  Nhưng việc xây dựng đảo “thì lớn hơn giàn khoan dầu nhiều”, một quan chức phương Tây, đề nghị giấu tên để tránh các cuộc thảo luận ngoại giao khó chịu nói. “Những đảo này mọc ra rồi nằm luôn ở đấy.”  Các quan chức nói rằng đá Gạc Ma (Johnson South Reef), nơi TQ chiếm lấy vào năm 1988, là chỗ phát triển nhất trong quần đảo này cho đến nay. “Bây giờ đó là đảo Gạc Ma; không còn là đá Gạc Ma nữa”, quan chức phương Tây nói. Các quan chức Philippines công bố không ảnh hồi tháng trước cho thấy nhiều kiến trúc và một con tàu lớn.  Lê Hải Bình, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, cho biết trong một tuyên bố bằng email rằng Việt Nam có chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và rằng “TQ đã và đang thực hiện các hoạt động mở rộng và xây dựng bất hợp pháp” xung quanh đá Gạc Ma và các địa điểm khác thuộc chủ quyền của Việt Nam.  Ông nói Việt Nam yêu cầu TQ “ngưng ngay lập tức các hoạt động mở rộng và xây dựng bất hợp pháp” trên rạn san hô này và “rút tàu và các phương tiện ra khỏi khu vực đó.”  Quần đảo Trường Sa bao gồm hàng trăm rạn san hô, đá, bãi cát và đảo san hô nhỏ trải rộng trên 160 000 dặm vuông. Sáu chính phủ có yêu sách chồng lấn trong khu vực. TQ và Việt Nam cũng có yêu sách chủ quyền mâu thuẫn đối với quần đảo Hoàng Sa, ở khu vựcchỗ giàn khoan dầu TQ đang đặt. Cả hai khu vực đều có nhiều hải sản và trữ lượng lớn dầu mỏ và khí đốt.  Kim Xán Vinh (Jin Canrong), giáo sư nghiên cứu quốc tế tại Đại học Nhân Dân TQ, cho biết ông tin rằng việc xây dựng trên đá Gạc Ma là “một thử nghiệm kỹ thuật, để xem những điều như thế có thể được thực hiện hay không.” Ông nói nếu TQ muốn thử xây dựng đảo trên quy mô lớn hơn thì một lựa chọn hợp lí sẽ là đá Chữ Thập, khoảng 90 dặm về phía tây đá Gạc Ma.  Tháng trước, các bản phác kĩ thuật số của các cấu trúc dự kiến cho quần đảo Trường Sa được lưu hành trên các trang web tin tức của TQ, kể cả trên trang thời báo Hoàn Cầu (Global Times), tờ báo trực thuộc tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản. Các bản phác thảo, dưới nhãn là một nghiên cứu, cho thấy một đảo mới với các bến chuyển hàng, bãi đỗ xe và một sân bay với đường băng, máy bay và nhà chứa máy bay. Các bài báo cho biết những ảnh này có nguồn từ Công ti Kĩ thuật đóng tàu NDRI tại Thượng Hải. Khi được hỏi về những bản phác thảo qua điện thoại, một phụ nữ tại công ti này cho biết các ảnh này “rất nhạy cảm” và đã bị rút xuống khỏi trang web của công ti. Cô ta từ chối bình luận thêm.  Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), chủ tịch Viện Nghiên cứu biển Đông, một nhóm nghiên cứu liên kết với chính phủ trên đảo Hải Nam, cho biết TQ xây dựng chủ yếu với ý định tăng cường quản lí thủy sản và năng lực cứu trợ nhân đạo của nước này, chứ không nhằm mục đích quân sự.  “Các cơ sở của chúng tôi còn tệ hơn nhiều so với Philippines lẫn Việt Nam”, ông nói. “Bạn thấy rằng Việt Nam thậm chí còn có cả một sân bóng đá nữa.” Lính hải quân Việt Nam và Philippines chơi bóng đá trong ngày 08 tháng 6 trên đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), đảo này do Việt Nam kiểm soát. Ông Tồn nói “Điều này rõ ràng có nghĩa là chọc giận TQ”.  Christopher K. Johnson, nhà phân tích chính về TQ tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington, nói rằng các động thái gần đây của TQ một phần là để bù đắp cho thực tế rằng trong hơn một thập kỉ quân đội TQ tập trung chủ yếu vào Đài Loan trong khi Việt Nam và Philippines phát triển các cơ sở trên bãi ngầm và các rạn san hô mà họ kiểm soát. Ông cho biết các quan chức quân đội TQ đã nói trong những năm gần đây về việc xây dựng một lực lượng hải quân có thể hoạt động xa hơn cái thường được gọi là “chuỗi đảo thứ nhất” (những đảo gần với đất liền châu Á bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa) để thâm nhập vào “chuỗi đảo thứ hai”, bao gồm Guam và các vùng lãnh thổ xa hơn khác về phía đông.    Phan Văn Song dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc coi trọng phát triển hệ thống Think Tank      Tháng 1/2004 Trung ương Đảng Trung Quốc chỉ thị: Phải  làm cho giới khoa học xã hội trở thành “Kho tư tưởng” và Think Tank của  Đảng và Chính phủ. Hàng nghìn cơ quan  nghiên cứu bắt đầu tổ chức nghiên cứu phản biện. Một số đoàn thể tư vấn  kiểu Think Tank xuất hiện tuy còn rất khó hoạt động.      Quá trình phát triển  Trung Quốc bắt đầu làm quen với khái niệm Think Tank từ sau cải cách mở cửa. Trước đó, quá trình hoạch định chính sách chủ yếu do một số cá nhân lãnh đạo quyết định, hầu như không sử dụng trí tuệ của bộ máy tư vấn và của dân chúng; vì thế từng phạm những sai lầm khó tưởng tượng.   Thí dụ, một câu nói của lãnh tụ Người đông (thì) sức lớn dẫn tới hậu quả không thực thi sinh đẻ có kế hoạch, số dân tăng thêm mấy trăm triệu, để lại bao nhiêu di họa: thất nghiệp, chưa giàu đã già. Việc hủy chế độ khám sức khỏe trước khi cưới đã làm tăng số người tàn tật lên tới mức đáng lo…   Do cách quyết sách tùy tiện ấy, Trung Quốc đã bỏ lỡ hai cơ hội chiến lược để phát triển đất nước. Cơ hội thứ nhất: sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên, môi trường an ninh của Trung Quốc được cải thiện rõ rệt, nhưng chỉ tận dụng thuận lợi này được 4 năm thì các chủ trương Chỉnh phong, Chống phái hữu, Đại Nhảy Vọt, Công xã nhân dân đã hủy hoại tất cả. Sức người sức của bị lãng phí không sao kể xiết, hàng chục triệu dân bị chết đói, bỏ lỡ cơ hội vàng phát triển sau chiến tranh (trong khi Nhật tận dụng được cơ hội này). Cơ hội thứ hai: sau khi nối lại quan hệ với Mỹ, hoàn cảnh chiến lược của Trung Quốc trong thời gian 1971-1976 được cải thiện rất nhiều. Thế nhưng 10 năm đại loạn “Cách mạng Văn hoá” đã phá hỏng cơ hội đó.   Nhiều người thấy rõ những sai lầm ấy nhưng không ai dám nói. Nguyên soái Bành Đức Hoài mới dè dặt nêu ra vài ý kiến về Đại Nhảy vọt đã bị cách hết mọi chức vụ.   Xảy ra tình hình trên không phải vì người Trung Quốc kém thông minh. Nhưng trí tuệ của họ bị bỏ xó; hơn tỷ dân chỉ có một người được quyền suy nghĩ và phát ngôn. Tư tưởng “Đại nhất thống” của Khổng giáo tuy tạo ra sự nhất trí cao độ trong toàn dân song đồng thời cũng bóp chết mọi sáng tạo, mọi ý tưởng đúng đắn.   Đến thập kỷ 80, nhằm ngăn chặn các quyết sách tùy tiện chưa qua sự nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, Đặng Tiểu Bình đề xuất Khoa học hóa quyết sách, cho phép nêu các ý kiến trái chiều. Một số chuyên viên cấp cao rời cơ quan nhà nước lập cơ quan nghiên cứu của mình. Năm 2003 Ủy ban Phát triển Cải cách công khai tổ chức mời thầu đề tài nghiên cứu Quy hoạch 5 năm lần thứ X. Tháng 1/2004 Trung ương Đảng chỉ thị: Phải làm cho giới khoa học xã hội trở thành “Kho tư tưởng” và Think Tank của Đảng và chính phủ. Hàng nghìn cơ quan nghiên cứu bắt đầu tổ chức nghiên cứu phản biện. Một số đoàn thể tư vấn kiểu Think Tank xuất hiện tuy còn rất khó hoạt động.   Giới học giả Trung Quốc nhận xét nước họ xuất siêu hàng hóa nhưng lại nhập siêu về tư tưởng. Đó là do thể chế chính trị hiện hành không tạo điều kiện sinh ra những nhà tư tưởng, nhà chính trị học có thể đề xuất các ý tưởng, lý thuyết mới lạ làm cả thế giới quan tâm như Huntington, Toffler, Paul Kennedy, Joseph Nye… Một học giả viết: sau Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chưa có nhà tư tưởng nào. Trung tướng Lưu Á Châu chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc nói thẳng: “Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel nói Trung Quốc không có triết học. Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào.”  Kiều Lương, tác giả sách “Siêu hạn chiến”, nêu thí dụ: khi Anh Quốc dự định trả lại Hồng Công cho Trung Quốc, nhiều chính khách phương Tây lo nước này thống nhất sẽ lớn mạnh tới mức đe dọa thế giới. Bà Thủ tướng Thatcher an ủi: “Các bạn chẳng cần e ngại Trung Quốc, vì trong vài chục năm tới, thậm chí cả trăm năm, nước này không thể mang lại cho thế giới bất cứ một tư tưởng mới nào cả.”   Trung Quốc hơn phương Tây ở chỗ có ưu thế “tập trung lực lượng làm việc lớn” nhưng nếu quyết sách không khoa học hóa thì sự “tập trung lực lượng” sẽ chỉ mang lại thiệt hại rất lớn; bởi vậy cần có các cơ quan nghiên cứu chính sách có năng lực chuyên môn cao, dám nêu ra “chính sách dự bị” cho nhà nước. Vì thế Think Tank còn được gọi là “chính phủ trong bóng tối”.  Do không tận dụng được trí tuệ xã hội, tỷ lệ sai lầm quyết sách của Trung Quốc cao gấp 6 lần các nước phát triển, giá thành chế tạo hàng hóa cao gấp 8 lần ở Nhật, nghĩa là Trung Quốc đang khai thác tài nguyên tổ tiên để lại với tốc độ tàn phá thiên nhiên.  Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này khiến lãnh đạo Trung Quốc càng không hài lòng với hoạt động của hệ thống cơ quan nghiên cứu chính sách. Hệ thống này thiếu cả 3 tiêu chuẩn chính của Think Tank: tính độc lập tư tưởng, tính sáng tạo và sức quảng bá ảnh hưởng của mình.   Trong tình hình đó, Think Tank – nơi nghiên cứu đề xuất các chủ trương chính sách chiến lược lớn nhỏ của quốc gia, lò ấp các nhà chiến lược, nhà tư tưởng – bắt đầu được đặc biệt coi trọng.   Hệ thống Think Tank hiện có  Trung Quốc hiện nay đã hình thành một hệ thống Think Tank quy mô lớn, chủ yếu gồm:  1. Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (China Center for International Economic Exchanges, CCIEE): cơ quan dịch vụ tư vấn, nghiên cứu và giao lưu kinh tế quốc tế, do chính phủ duyệt thành lập, nơi tập hợp các nhân tài cấp cao về lĩnh vực nghiên cứu kinh tế và có quan hệ rộng trong lĩnh vực kinh tế. CCIEE do Ủy ban Phát triển và cải cách Nhà nước chủ trì, đăng ký tại Bộ Dân chính Trung Quốc. CCIEE được gọi là “Siêu Think Tank”, vì được ưu tiên cấp kinh phí và tập hợp toàn các “siêu” chuyên gia.  2. Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: cơ quan học thuật cao nhất nghiên cứu về triết học và khoa học xã hội; là Think Tank có quy mô lớn nhất Trung Quốc.  3. Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc chính phủ Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách, trực thuộc chính phủ Trung Quốc.  4. Viện Khoa học Trung Quốc: cơ quan học thuật hàn lâm cao nhất về KHKT của nhà nước.    5. Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu cấp cao lý luận quân sự, trung tâm nghiên cứu học thuật quân sự.  6. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc: nghiên cứu tổng hợp các vấn đề quan hệ quốc tế.   7. Viện Nghiên cứu Quan hệ quốc tế hiện đại: nghiên cứu các vấn đề quốc tế tổng hợp.      8. Ủy ban Toàn quốc Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương của Trung Quốc.   9. Hội Khoa học kỹ thuật Trung Quốc.   10. Hội Chiến lược quốc tế Trung Quốc: đoàn thể học thuật dân lập nghiên cứu vấn đề chiến lược có tính toàn quốc.   11. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Thượng Hải: một trong các Think Tank chủ yếu nghiên cứu chiến lược và chính sách ngoại giao.  Ngoài ra tại Đài Loan thuộc Trung Quốc còn có:  1. Think Tank Quốc Dân Đảng: chính thức thành lập 7/2000, gốc là Quỹ Nghiên cứu chính sách quốc gia pháp nhân tài đoàn; đương kim Chủ tịch Quốc dân đảng Liên Chiến làm chủ tịch Hội đồng quản trị; thành phần gồm nhiều quan chức chính quyền đã nghỉ hưu, các chuyên viên, học giả.  2. Trung tâm Đài Loan: thành lập 12/2001, gồm các đại gia giới học thuật và kinh doanh, các học giả ở nước ngoài về Đài Loan làm việc và quan chức chính quyền.  Nội địa Trung Quốc hiện có hơn 2.500 cơ quan nghiên cứu chính sách, với 35 nghìn cán bộ chuyên trách, 270 nghìn nhân viên làm việc. Trong đó có 2.000 cơ quan “kiểu Think Tank”, chủ yếu nghiên cứu chính sách, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ chính phủ. Trong số này Trường Đảng Trung ương, Viện Khoa học xã hội, Trung tâm Nghiên cứu phát triển, Học viện Hành chính nhà nước thường được gọi là các Think Tank nhà nước.   Viện Khoa học xã hội có 50 viện nghiên cứu, 260 phòng nghiên cứu, 4.000 cán bộ chuyên trách. Quy mô như vậy vượt xa các Think Tank ở phương Tây (toàn bộ Think Tank cả nước Anh có 1.000 cán bộ, cả châu Âu có chưa tới 5.000 người).    Một số vấn đề của hệ thống Think Tank ở Trung Quốc  Nhà kinh tế nổi tiếng Lưu Tôn Nghĩa, phó Tổng thư ký CCIEE, nguyên Hiệu trưởng ĐH Trung văn, Hồng Công, nhận xét: Trung Quốc có hơn 2.000 Think Tank nhưng uy tín và ảnh hưởng chưa tương xứng với sức mạnh kinh tế đất nước, lực lượng chưa bằng một Think Tank lớn ở Mỹ như Công ty Rand hoặc Viện Brookings.  Doanh nhân nổi tiếng Ninh Cao Ninh nói: bao giờ các văn phòng luật, văn phòng kế toán, công ty tư vấn và Think Tank của Trung Quốc có thể ra nước ngoài kiếm tiền thì Trung Quốc mới trở thành nước lớn; hiện nay chúng ta vẫn phải dựa vào các Think Tank nước ngoài.  Tôn Triết, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Trung Quốc-Mỹ thuộc ĐH Thanh Hoa, nhận xét: tác dụng của các Think Tank ngoại giao Trung Quốc là “lạc hậu”, chưa phối hợp ăn ý giữa cán bộ nhà nước với giới học giả, điều này có phần do chưa xây dựng được chế độ tư vấn chính quy.  Một số học giả Trung Quốc nhận định nước họ chưa có Think Tank với ý nghĩa thực sự. Trung Quốc có hơn 2.000 Think Tank (Mỹ có 1.777), nhưng báo cáo của ĐH Pennsylvania chỉ thừa nhận có 74; nghĩa là phần lớn bị người Mỹ bỏ qua. Bắc Kinh, Thượng Hải không có tên trên bản đồ Think Tank thế giới. Mặt khác, các Think Tank Trung Quốc chỉ lo nghiên cứu phát hiện và giải quyết vấn đề trước mắt, chưa có nghiên cứu nhìn xa trông rộng, dự kiến xu hướng phát triển thời đại, chưa sánh được với các Think Tank hàng đầu trên thế giới, họ nghiên cứu cả những vấn đề sau đây 30-50 thậm chí 100 năm.   Số lượng Think Tank nhiều nhưng 95% ăn lương nhà nước, cán bộ do nhà nước bổ nhiệm; chỉ có 5% thuộc diện dân lập, quy mô rất nhỏ. Think Tank dân lập lớn nhất chỉ có 20 cán bộ, kinh phí hàng năm chừng 2 triệu RMB (Nhân Dân Tệ; 1 RMB tương đương 0,147 USD). Các cơ quan nghiên cứu chính sách hiện nay thường bị dư luận chê trách là hay đưa ra dự báo sai (thí dụ dự báo giá dầu, chỉ số CPI …) và không có tiếng nói trước các vụ việc lớn (như vụ sữa Tam Lộc…) do đó họ không có ảnh hưởng trong dư luận.   Vì phần lớn Think Tank là cơ quan nhà nước nên họ không đại diện cho trí tuệ công chúng, chỉ là cơ quan tuyên truyền và giải thích chính sách nhà nước, rất khó đề ra các ý kiến có tính phản biện đích thực; trong khi tính trung lập và độc lập mới là các yếu tố chủ yếu quyết định sức sống và do đó quyết định nguồn lực của các Think Tank.   Vương Thông Tấn Phó Hội trưởng Hội Nghiên cứu nhân tài Trung Quốc nói: “Rất nhiều Think Tank của chúng ta chỉ có tác dụng chứng minh tính đúng đắn của chính sách.”   Khó khăn lớn nhất của các Think Tank là thiếu nguồn vốn hoạt động, nhất là loại dân lập. Một giám đốc Think Tank dân lập nói: “Nghiên cứu làm cái quạt điện còn có thể bán lấy chút tiền. Chúng tôi nghiên cứu sửa hiến pháp, sửa chính sách nhà nước thì ai bỏ tiền cho chúng tôi? Nhất là việc nghiên cứu các vấn đề vĩ mô, chính quyền chưa chắc đã thích anh làm chuyện ấy.” Rốt cuộc Think Tank của ông này 20 năm qua phải kiếm kế sinh nhai bằng việc tư vấn cho các doanh nghiệp cần xin phá sản.   Think Tank “sang trọng nhất” là CCIEE cũng gặp khó khăn về vốn, tuy mục tiêu hùn vốn chỉ có 500 triệu RMB. Trong khi đó các Think Tank tại phương Tây đều nhận được tài trợ của nhiều doanh nghiệp, cá nhân, quan chức, và cả của nhà nước; bởi lẽ họ thấy các Think Tank rất hữu ích với họ. Thí dụ ở Mỹ, riêng một Quỹ Rockefeller mỗi năm tài trợ hơn 60 triệu USD cho Viện Brookings.  Tôn Triết cho biết nguồn tài chính của các Think Tank nghiên cứu ngoại giao chưa đa dạng, phần lớn dựa ngân sách của cơ quan chủ quản, mà các cơ quan này thường coi nghiên cứu là “nghề phụ”, Think Tank bị coi nhẹ nên chưa được rót đủ kinh phí, thậm chí có Think Tank vì thế phải nghỉ việc. Ngay cả Quỹ Nghiên cứu vấn đề quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc thành lập đã hơn 10 năm, tuy có tài trợ từ bên ngoài mà năm nào cũng thiếu kinh phí. Do đó các Think Tank thiếu sức thu hút học giả trẻ. Người trẻ nhất của một cơ quan nghiên cứu nổi tiếng nọ đã 35 tuổi, trong khi cơ quan cần lớp thanh niên tuổi 20 tuổi vừa ra trường đang tràn đầy nhiệt tình nghiên cứu, khám phá.  Xã hội Trung Quốc chưa có văn hóa quyên tặng cho Think Tank, qua đó bảo đảm tính độc lập trong nghiên cứu. Các doanh nghiệp khi làm hoạt động công ích thường chỉ quyên tặng phần cứng (như xây dựng nhà làm việc) mà chưa quyên tặng kinh phí cho việc nghiên cứu chính sách công.  Đặng Duật Văn phó Tổng biên tập Thời báo Học tập của Trường Đảng Trung ương nói: “Trung Quốc có nhiều Think Tank nhưng do các vấn đề về cơ chế, nguồn vốn và hệ thống đánh giá nên chưa có thành tích nổi bật trên sân khấu quốc tế, khó có thể đối thoại với các Think Tank hàng đầu thế giới.”  Dư luận Trung Quốc cho rằng nước này rất cần các Think Tank đa nguyên và nhiều loại hình. Vương Thông Tấn nói: “Think Tank dùng đầu óc để làm ra lợi ích có hiệu quả; một xã hội càng phát triển thì càng cần nhiều Think Tank…. Khi các vấn đề càng phức tạp thì càng cần các Think Tank có lập trường khách quan. Mỗi Think Tank phải có lập trường riêng nhưng có thể “hòa mà bất đồng”, được bảo lưu quan điểm của mình, nêu ra các số liệu và kiến nghị khác nhau.”  Khác với phương Tây, ở Trung Quốc các đại biểu quốc hội và đại biểu Chính Hiệp (tương đương Trung ương Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam) đều không là người chuyên trách và không do dân bầu, vì thế Trung Quốc càng đặc biệt cần có một bên thứ 3 có tính độc lập, tính dân gian và tính trung lập về lợi ích – đó là các Think Tank dân lập, nhờ thế có thể tạo ra được sự phát triển thực sự cho đất nước. Các nước phát triển coi Think Tank là thế lực (quyền lực) lớn thứ tư sau các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.   Khoa học hóa quyết sách không chỉ là nghe ý kiến dân, vả lại không phải ý kiến đa số là đúng, mà phải nghe ý kiến của các Kho trí tuệ độc lập với nhà nước tiến hành nghiên cứu, phản biện chính sách theo một quy trình có logic chặt chẽ. Nói theo ngôn từ Trung Quốc thì Think Tank phải trở thành “Lãnh tụ ý kiến” của công chúng, phản ánh lên lãnh đạo các ý kiến, chính sách đã qua nghiên cứu công phu nhằm đạt mục tiêu tác động tới quyết sách của chính phủ, tới dư luận công chúng.   Muốn phát triển hệ thống Think Tank cần có 2 điều kiện khách quan: – từ trên xuống dưới hình thành bầu không khí tôn trọng các quyết sách có tính độc lập về chuyên nghiệp; – toàn xã hội phải có một không gian công cộng (tức dư luận) tương đối cởi mở khuyến khích nhiều người tham dự quyết sách.  Hiện nay môi trường xã hội Trung Quốc chưa thuận lợi cho việc phát triển các Think Tank dân lập. Thí dụ, các Think Tank này vốn là tổ chức phi lợi nhuận, nhưng chính sách nhà nước lại yêu cầu họ phải đăng ký dưới hình thức doanh nghiệp kiếm lời, hoặc “núp bóng” một cơ quan nhà nước nào đó. Các Think Tank hoạt động trong môi trường chưa thuận lợi. Thói quen hàng nghìn năm vẫn áp đảo, cái gì cấp trên đã quyết, dù sai đi nữa, cũng rất khó góp ý sửa đổi, phản bác.  Vương Lợi Lệ, nghiên cứu viên của CCIEE nhận định: nhiệm vụ chủ yếu của Think Tank là nghiên cứu chính sách; mục tiêu của Think Tank là phải tác động tới quyết sách của chính phủ và tới dư luận; nói cách khác, sức cạnh tranh chính của Think Tank là ở năng lực sáng tạo và sức ảnh hưởng dư luận, chứ không phải là ở quy mô và cấp bậc. Để Think Tank thực sự phát triển trở thành một ngành nghề, cần phải hình thành các cơ chế, môi trường và văn hóa có lợi. Nên khuyến khích lập nhiều kênh góp vốn nhằm bảo đảm các Think Tank giữ được tính độc lập, dân lập và đa nguyên. Các Think Tank cần phát huy ảnh hưởng quốc tế, giành quyền ăn nói trên sân khấu quốc tế.  Xu hướng phát triển hệ thống Think Tank ở Trung Quốc  Trung Quốc đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu (Global Think Tank Summit, 2- 4/7/2009 tại Bắc Kinh) có mặt lãnh đạo 30 Think Tank và nhiều học giả trên toàn thế giới. Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tới dự.   Việc này chứng tỏ Trung Quốc bắt đầu đặc biệt coi trọng Think Tank. 30 năm qua Trung Quốc mới chỉ tập trung phát triển sức mạnh cứng mà chưa coi trọng sức mạnh mềm – sự đột phá về quan niệm tư tưởng, văn hóa giáo dục, then chốt là sự khoa học hóa, hợp lý hóa các quyết sách. Đây là một thiếu sót đáng tiếc. Nếu có nhiều Think Tank dân lập thực sự độc lập và chất lượng cao, thì chính phủ sẽ tập trung được trí tuệ của nhiều bên, nhiều người, nâng cao được tính khoa học, tính hữu hiệu và tính dân chủ của quyết sách. Cần thực thi quy trình mỗi khi nhà nước cần quyết định một chính sách lớn, đầu tiên các Think Tank phải nghiên cứu và nêu ra, sau đó dư luận tiến hành bàn thảo, Quốc Hội xem xét, nghe báo cáo và chất vấn, cuối cùng chính phủ tiếp thu.  Gần đây đã xuất hiện những tín hiệu khả quan: nhiều cơ quan nhà nước tăng kinh phí nghiên cứu, một số quan chức khi nghỉ hưu lại đến nhận công việc ở trường đại học hoặc viện nghiên cứu, việc này giúp thắt chặt mối quan hệ giữa chính quyền với Think Tank; nhiều Think Tank độc lập đã tiếp nhận nguồn tài trợ của xã hội và doanh nghiệp, qua đó tiến theo hướng trở thành Think Tank hiện đại có ảnh hưởng lớn.  Bước phát triển đáng kể là tháng 3/2009 Thủ tướng Ôn Gia Bảo duyệt thành lập Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (CCIEE), gồm toàn các nhân vật cấp cao. Chủ tịch Ban Chấp hành (BCH) CCIEE là nguyên phó Thủ tướng Tăng Viêm Bồi, ủy viên BCH gồm toàn cán bộ cấp bộ thứ trưởng đương chức hoặc đã nghỉ hưu, giám đốc ngân hàng lớn. Trước mắt đây là một Think Tank cấp cao kiểu mới nửa nhà nước nửa dân lập; sau này sẽ trở thành một Think Tank dân lập, tập hợp đội ngũ chuyên viên cấp cao, tiến hành các nghiên cứu dài hạn, chiến lược, toàn cục, nhằm cung cấp trợ giúp về trí tuệ cho các chính sách công, cung cấp dịch vụ tư vấn cho các vụ kinh doanh xuyên quốc gia.   Nhà nước chỉ cấp cho CCIEE kinh phí thành lập 5 triệu RMB; còn kinh phí hoạt động phải tự lo. CCIEE đã lập quỹ riêng để tạo nguồn vốn đa nguyên, nhằm mục tiêu tạo vốn 500 triệu RMB; hiện quỹ đã tập hợp được 30 doanh nghiệp trung ương, sau này sẽ thu hút doanh nghiệp tư doanh. CCIEE sẽ áp dụng cơ chế vận hành kiểu thị trường như các Think Tank nước ngoài, không dùng tiền nhà nước, như vậy có lợi cho việc duy trì tính độc lập trong nghiên cứu. CCIEE sẽ dẫn đầu phong trào lập các Think Tank dân lập trong cả nước. Dĩ nhiên quá trình này sẽ còn nhiều khó khăn, nhưng đã được khởi động với quyết tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất.  Trịnh Tân Lập Phó Tổng thư ký CCIEE nói ban lãnh đạo CCIEE quyết tâm xây dựng CCIEE sao cho có được uy tín và tác động lớn như các Think Tank hàng đầu phương Tây, tức là có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết sách của chính phủ và dư luận công chúng.  Thành lập CCIEE là một sự kiện lớn chứng tỏ Trung Quốc quyết đẩy mạnh tiến trình tăng cường vai trò của các tổ chức dân lập trong việc tham dự quyết định mọi chủ trương chính sách của nhà nước, nhằm thực hiện phương châm Khoa học hóa quyết sách.     —–  Tham khảo:   1- Penn Research Ranks World’s Best Think Tanks [http://www.upenn.edu]  2- The Think Tank Index [http://www.foreignpolicy.com]   3- 全球智库峰会 [http://baike.baidu.com]  4- 中国智库95%以上吃财政饭 独立性存隐忧 [http://www.chinanews.com.cn]  5- 中国需要民间智库 [http://forum.defence.org.cn]  6- 一个国家的智商：欢迎中国智库时代到来 [http://news.qq.com]       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc – Hành trình ba ngàn dặm      Suốt chuyến đi, tôi tự đặt ra câu hỏi, vậy, so với Trung Quốc, người Việt có những lợi thế gì, khi chỉ nhìn bề ngoài là hai xã hội khá tương đồng nhưng về quy mô và tầm vóc, người Trung Quốc chắc chắn giàu mạnh hơn, đồ sộ hơn, kỷ luật hơn và phát triển hơn.  &#160;    1. Tôi lựa chọn một chuyến đi Trung Quốc trong những ngày đầu năm mới này. Trước đó, tôi cũng từng đi Trung Quốc vài lần, ghé thăm Bắc Kinh, Quảng Châu, nhưng đó là những chuyến đi “cưỡi ngựa, xem hoa”, chúng tôi đi máy bay và ít có thời gian và điều kiện tìm hiểu đất nước, xã hội, lịch sử Trung Quốc. Trong những chuyến đi đó, Trung Quốc đối với tôi dường như rất giàu đẹp, nhất là Bắc Kinh với những con đường đầy kín xe ô tô và những tòa nhà cao ngất. Nhưng từ lâu trong tôi nhắc đến Trung Quốc là tôi nhớ đến những câu chuyện và nhân vật trong Tam Quốc, trong Thủy Hử, rồi hiện đại là các tác phẩm Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình… vì thế, tôi lựa chọn chuyến đi này theo cách của một người Trung Quốc bình thường. Chúng tôi sẽ đi tàu, đi xe khách, ở những nhà trọ, nhà nghỉ như một người Trung Quốc bình thường. Hành trình của chúng tôi như sau: Hà Nội – Lạng Sơn – Bằng Tường – Nam Ninh – Trường Sa (Hồ Nam) – Thiều Sơn (quê Mao Trạch Đông) – Xích Bích – Vũ Hán – Kinh Châu – Trùng Khánh – Quảng An (quê Đặng Tiểu Bình) – Côn Minh – Hà Khẩu – Lào Cai – Hà Nội. Tất cả đều là đi tàu và xe khách, tổng chiều dài là 5.000km (hơn 3.000 dặm) và đi trong 11 ngày.  2. Điều tôi thấy Trung Quốc khác biệt nhất với Việt Nam là vấn đề thông tin. Các khách sạn ba-bốn sao mà tôi ở đều không có kênh nước ngoài như ở Việt Nam. Không CNN, không Discovery, không HBO, không Star Sport… Trừ một-hai kênh CCTV phát tiếng Anh, còn lại tôi không tìm kiếm được nguồn thông tin nào để hiểu về Trung Quốc. Tôi ra các sạp báo dù quy mô lớn hơn ở Việt Nam, nhưng cũng không tìm thấy tờ báo tiếng Anh nào ngoại từ tờ Global Times – Thời báo Hoàn cầu. Tìm khắp cả tám thành phố tôi đến đều không mua được tờ Nhân dân Nhật báo… Dĩ nhiên, tôi cũng không truy cập được vào facebook, google, đặc biệt là Google Map… Tôi thực sự loay hoay với 10 ngày sống ở Trung Quốc. Những thói quen của tôi, như xem CNN, HBO, rồi vào facebook, tìm kiếm dữ liệu qua goolge đều phải từ bỏ. Tôi cũng cố gắng truy cập trang baidu.cn và bing.com của Microsoft nhưng kết quả cũng rất tệ.   3. Là người đọc sách và làm xuất bản, nên đi đâu tôi cũng ghé thăm các thư viện, hiệu sách. Để đo lường mức độ văn minh của quốc gia nào đấy, của dân tộc nào đấy, thì chẳng thể nhìn sự hoành tráng của những cửa hiệu thời trang hay nhìn vào đám xe ô tô bóng loáng chạy trên đường cao tốc; mà bạn cần nhìn vào hiệu sách, vào thư viện, vào những tri thức dân tộc đó sản sinh ra và tiêu hóa. Đó là “thức ăn” của dân tộc, của giới trí thức, của thanh niên, của trẻ em, của tất cả mọi người… Tôi vào các hiệu sách Tân Hoa (chuỗi nhà sách lớn nhất Trung Quốc) thấy sách của phương Tây được dịch và bày bán rất ít, không nhiều như Việt Nam. Tại Việt Nam, sách dịch từ Âu Mỹ có thể chiếm 60-70% thì ở Trung Quốc chỉ chừng 5-10%. Dĩ nhiên sách của người Trung Quốc viết thì được xuất bản nhiều, nhưng tất cả chỉ là các sách thiếu nhi, văn học, kinh doanh… Có thể nhận thấy ngành xuất bản của Trung Quốc rõ ràng lớn mạnh hơn Việt Nam, sách nhiều, giá sách thì rẻ hơn, nhưng so với tầm vóc một cường quốc, một trong những cái nôi văn minh của loài người, và so với Hàn Quốc, với Nhật Bản thì thực sự nghèo nàn và nhỏ bé. Nỗi thất vọng của tôi càng tăng thêm khi Trung Hoa là một quốc gia có lịch sử và nền văn minh đồ sộ hàng ngàn năm với những nhà tư tưởng lớn lao như Khổng, Lão… vậy mà bây giờ không có mấy ai, không có tác phẩm tư tưởng nào lớn. Trên những hiệu sách, có lẽ chỉ còn các tư tưởng của Mao, Đặng, Giang, Hồ, Tập… Tôi nhớ chuyến đi Đan Mạch và Thụy Điển, hai quốc gia bé nhỏ ở Bắc Âu. Đan Mạch và Thụy Điển có 5,5 và 9,3 triệu người trong khi Trùng Khánh là thành phố trực thuộc Trung ương của Trung Quốc có 28 triệu người, và Vũ Hán (thủ phủ của Hồ Bắc) có 8,4 triệu người và Trường Sa (thủ phủ của Hồ Nam) có 6,4 triệu người. Nhưng nhà sách và sách ở Trung Quốc so với ở Đan Mạch, Thụy Điển thì khác nhau xa quá. Một quốc gia như Trung Quốc không thể là cường quốc, nếu nhìn ở góc độ văn minh và văn hóa của hiện tại! Không, tôi không thấy nền văn minh và trí tuệ, của tri thức ở những nơi tôi đến!      4. Trong chuyến đi, tôi có dịp gặp Ngải Đình, một thanh niên Trung Quốc, sinh năm 1980, tốt nghiệp ngành IT ở Vũ Hán, nay là chủ một cửa hàng máy tính nho nhỏ giữa trung tâm thành phố Vũ Hán. Tôi hỏi Ngải Đình, này, những người giỏi nhất, những nhà tư tưởng của Trung Quốc đâu rồi, cậu buồn rầu trả lời: Họ đã không ở trong nước, từ lâu lắm rồi, họ đã rời khỏi đất nước này, họ sang Đài Loan, cả đi Mỹ nữa và họ không về…  5. Di sản và quá khứ vĩ đại của Trung Hoa đã bị tàn phá quá nhiều… Tôi không biết còn bao nhiêu phần trăm cái di sản đó còn giữ được cho đến hôm nay. Thành Kinh Châu xưa lẫy lừng, giờ vẫn được coi là trung tâm du lịch và thành cổ còn sót lại nhưng đó chỉ là một thành cổ giả, mới được phục dựng và phục dựng rất tốt. Chiến trường Xích Bích ngày xưa, ngoại trừ chữ Xích Bích khắc trên đá quét sơn đỏ thì không còn gì. Tôi cũng đi thăm một vài ngôi chùa, vài địa danh cổ nhưng những gì còn sót lại cũng chẳng là bao. Khi ở Côn Minh, tôi hỏi hai cô bé sinh viên ở đây địa điểm cổ nhất của thành phố là gì, họ ngần ngừ thật lâu rồi dẫn tôi đến một ngôi trường đại học. Đại học Côn Minh được xây dựng năm 1922, trên mảnh đất ngày xưa là trường thi thời nhà Minh, nhà Thanh. Nơi đó có một ngôi nhà xây kiểu Pháp, do một kiến trúc sư người Trung Quốc du học ở Pháp thiết kế. Nhưng đó là ngôi nhà duy nhất giữa những ngôi nhà to, hiện đại mới được xây dựng khác… Côn Minh cũng chẳng còn quá khứ!  6. Quê nhà Mao và Đặng là hai địa điểm dường như hấp dẫn nhất với tôi. Mao sinh ra trong một ngôi làng ở huyện Thiều Sơn, tỉnh Hồ Nam, thôn nơi Mao sinh ra chỉ cách trung tâm huyện lỵ Thiều Sơn chừng ba cây số. Còn ngôi nhà nơi Đặng sinh ra cách trung tâm thành phố Quảng An bảy cây số… Nhưng khó có thể nói Đặng sinh trong một gia đình nông dân khi nhìn thấy ngôi nhà của cha mẹ Đặng. Nhà có tới 10 gian, đồ đạc rất nhiều và cầu kỳ, sơn son thiếp vàng. Hẳn gia đình Đặng phải là đại địa chủ, nếu so với bối cảnh Việt Nam… Nhà Mao không rộng lớn như nhà Đặng nhưng cũng là một nhà không phải quá nghèo. Điều bất ngờ với tôi nhất là mộ của cha mẹ Mao và cha mẹ Đặng đều xây dựng vô cùng đơn giản, thậm chí chỉ tương tự như một gia đình nông dân bình thường ở Bắc Bộ chứ chưa nói đến gia đình khá giả. Tôi không thấy lễ vật cầu kỳ, không thấy sự hoành tráng ở những ngôi mộ này.  7. Trong suốt những ngày ở Trung Quốc, điều khiến tôi băn khoăn và suy nghĩ nhất là tinh thần chống Nhật. Khắp nơi, trên các kênh truyền hình, trên tàu hỏa, trên xe khách đường dài tôi đi từ Trùng Khánh về Côn Minh, tôi đều thấy quá nhiều các bộ phim chống Nhật của Trung Quốc. Tôi tự hỏi, liệu người Nhật, các doanh nghiệp Nhật sẽ cảm thấy thế nào khi hằng ngày phải xem những hình ảnh đó, dù có thật thì đó cũng đã là quá khứ quá xa xôi. Người Nhật không thể an tâm và thấy bình an khi sống trên mảnh đất khi những cư dân ở đó ghét bỏ mình, thù hận mình. Người Nhật sẽ và hẳn phải đi tìm một mảnh đất khác để hợp tác, phát triển… Và xa hơn, một dân tộc khi hằng ngày xem cảnh chém giết, đánh nhau, chiến tranh, nung nấu sự thù hận và tinh thần dân tộc chủ nghĩa, dân tộc đấy sẽ đi về đâu???  8. Suốt chuyến đi, tôi tự đặt ra câu hỏi, vậy, so với Trung Quốc, người Việt có những lợi thế gì, khi chỉ nhìn bề ngoài là hai xã hội khá tương đồng nhưng về quy mô và tầm vóc, người Trung Quốc chắc chắn giàu mạnh hơn, đồ sộ hơn, kỷ luật hơn và phát triển hơn. Tôi nghĩ Việt Nam có thể có các lợi thế sau: (a) Chữ viết của người Việt là dạng chữ alphabet, có thể giúp người Việt học nhanh, học tập phương Tây nhanh hơn. Trong khi chữ Hán khó tây hóa, nếu ai đó học về y học, về hóa, về dược… sẽ thấy rất khó để chuyển tải những danh từ khoa học, các khái niệm khoa học ra tiếng Trung; (b) Việt Nam có nhiều tự do trong trao đổi, phát biểu hơn… và chúng ta được nhận nhiều thông tin hơn. Giới trẻ Việt Nam ngày nay xem CNN, BBC hằng ngày, vào google, dùng facebook… quá dễ dàng. Trong khi người Trung Quốc cũng có mạng xã hội của riêng họ, nhưng đó là một mạng biệt lập với thế giới. Dù có nhiều điểm tốt, hậu thuẫn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cho ngành IT trong nước, nhưng khi bạn không được kết nối với thế giới, không biết thế giới đang làm gì và nghĩ gì thì đây vẫn là điểm thiệt thòi của người Trung Quốc; (c) Cuối cùng, người dân Việt Nam hiểu mình đang ở đâu và bên ngoài như thế nào… Người Việt có phần tự ti, nhưng lòng khao khát những điều mới mẻ, khao khát những thay đổi, khao khát một xã hội mới tốt đẹp hơn dường như ở trong suy nghĩ của mọi người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc hoảng sợ trước nạn ô nhiễm khói bụi      Giao thông phát triển nhanh chóng, tiêu thụ  than tăng vọt – người Trung Quốc đang khốn khổ vì ô nhiễm khói bụi luôn  đạt các kỷ lục mới. Thông tin về trường hợp một bé gái tám tuổi mới đây  bị ung thư phổi do khói, bụi đã gây phẫn nộ trong dân chúng.    Một bé gái tám tuổi bị ung thư phổi làm tái phát các cuộc tranh luận về ô nhiễm môi trường tệ hại ở Trung Quốc (TQ). Cô bé sống gần một con đường có mật độ xe cộ đông đúc ở tỉnh Giang Tô. Bác sỹ cho rằng, ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây bệnh cho em, theo các phương tiện truyền thông TQ, kể cả tờ Nhân Dân nhật báo của nhà nước.   Một hãng thông tấn trích dẫn ý kiến của lãnh đạo một bệnh viên ung thư ở Nam Kinh cho rằng, một lượng lớn hạt bụi bẩn trong không khí là nguyên nhân gây bệnh. Ngoài ra còn có các nguyên nhân gây bệnh khác, thí dụ ảnh hưởng của yếu tố di truyền.   Vụ việc đã làm rộ lên yêu cầu ban hành đạo luật về không khí sạch.     Sản xuất năng lượng tăng hơn ba lần   Tuy nhiên điều này không thể diễn ra nhanh chóng. Khói, bụi không phải mới xuất hiện trong những ngày gần đây, theo lời Thủ tướng Lý Khắc Cường, để xử lý cần phải có thời gian. Nhà chức trách phải công khai và cập nhật các chỉ tiêu hiện hành về không khí, kịp thời cảnh báo cho người dân để họ có thể áp dụng các biện pháp tự bảo vệ. Ngoài ra phải kiên quyết thực hiện hơn nữa các quy định về bảo vệ môi trường.  Trong trường hợp khói, bụi nghiêm trọng, các nhà máy phải tạm dừng hoạt động và giảm thời gian làm việc; những ngày đó, cũng cần hạn chế giao thông, Bộ Môi trường công bố chỉ dẫn hôm 6/11. Chỉ dẫn còn đề cập việc đóng cửa các trường học, ngừng các hoạt động vui chơi giải trí. Khi không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng phải “thi hành các biện pháp cưỡng chế” để giảm lượng khí thải.   Nguyên nhân chính gây khói, bụi là việc tăng nhanh hoạt động giao thông trên đường phố, yếu tố thời tiết và cạnh đó là việc tiêu thụ một lượng than đá quá lớn. Hiện TQ tiêu thụ một lượng than đá bằng tất cả các nước khác cộng lại, theo thông tin của Cơ quan năng lượng Hoa kỳ (EIA) công bố hồi tháng mười vừa qua. Từ năm 2000 đến nay, sản xuất năng lượng của TQ đã tăng hơn ba lần.   Nhưng mãi đến bây giờ Bắc Kinh mới có kế hoạch về các biện pháp cụ thể để chống lại tình trạng ô nhiễm môi trường. Website của thành phố này cho hay, trong năm tới sẽ hạn chế cấp giấy phép lái xe ô tô. Theo đó, từ 240.000 giấp phép như hiện nay sẽ giảm xuống còn 120.000 và các loại xe ô tô thân thiện với môi trường sẽ được ưu tiên cấp giấy phép.   Cấp giấy phép lái xe thông qua xổ số   Các thành phố Thượng Hải, Quảng Châu và Quý Dương cũng có kế hoạch giảm cấp giấy phép lái xe, theo hãng thông tấn Reuters. Việc cấp giấy phép sẽ tiến hành qua đấu giá hoặc xổ số.   Tuy nhiên trong mùa đông trước mắt, TQ vẫn phải đối mặt với tình trạng khói, bụi, nhất là ở miền bắc TQ. Cuối tháng mười vừa qua, không khí ô nhiễm nghiêm trọng đã làm tê liệt cuộc sống hàng ngày ở thành phố Cáp Nhĩ Tân, một trung tâm kinh tế với 11 triệu dân. Nhiều nhà máy, trường học phải đóng cửa. Hồi tháng giêng năm nay, thủ đô Bắc Kinh chìm đắm cả tuần liền trong những đám mây bụi dầy đặc. Mức độ bụi mịn cao chưa từng có. Các bệnh viện đầy ắp bệnh nhân, chủ yếu bị các bệnh về đường hô hấp và tim mạch. Hàng trăm nhà máy trong thành phố với hơn 20 triệu dân buộc phải tạm thời đóng cửa.  Những hạt bụi than dầy đặc trong không khí không những chỉ cản trở tầm nhìn và gây khó thở. Kết quả một công trình nghiên cứu quốc tế mới công bố hồi tháng mười vừa qua cho hay, tuổi thọ của người dân ở miền bắc TQ, nơi không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng, giảm 5 năm so với người dân ở miền nam TQ. Nếu tính từ đầu những năm chín mươi thì 500 triệu dân ở bắc TQ đã bị mất 2,5 tỷ năm tuổi thọ, như các nhà nghiên cứu đã viết trên tạp chí chuyên đề “Proceedings of the National Academy of Sciences”.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc lại đánh lừa dư luận      Bên lề một hội thảo đầu tư Mỹ – Trung, chủ  tịch Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) Vương Nghi Lâm đã  “đánh lận con đen” khi cho biết việc mời thầu các lô dầu khí trong thềm  lục địa của Việt Nam đang “diễn ra trôi chảy”.    Ông Vương còn mạnh miệng tuyên bố một số công ty Mỹ đang tỏ ra quan tâm đến việc mời thầu này, nhưng không nêu tên đó là những công ty nào.  Các chuyên gia nhận định phát biểu của ông Vương chẳng qua chỉ là lặp lại tuyên bố chủ quyền bất hợp pháp của Bắc Kinh ở biển Đông. Trên thực tế, lời mời thầu phi pháp này không thu hút được sự quan tâm của các công ty lớn, đặc biệt là các công ty đang hoạt động ngoài khơi Việt Nam như Exxon Mobil của Mỹ, Gazprom của Nga hay ONGC của Ấn Độ.  “Khi PetroVietnam đã thông báo cho các công ty không tham gia dự thầu, sẽ có rất ít công ty muốn rủi ro” – Reuters dẫn lời một chuyên gia thuộc Công ty tư vấn năng lượng IHS khẳng định.  Trong khi đó, Tổ chức IANS dẫn lời ông Rajiv Bhatia, tổng giám đốc Hội đồng quan hệ thế giới của Ấn Độ (ICWA), đã bày tỏ quan ngại về tình hình trên biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải và tự do đi lại. IANS còn cho biết trong số các lô dầu khí của Việt Nam mà Trung Quốc tự nhận là của họ khi mời thầu, có một lô mà một công ty Ấn Độ đã ký hợp đồng thăm dò với Việt Nam từ trước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn      Đường 9 đoạn (Nine-dotted line), tức Đường Chữ U (U-shape line) hoặc Đường Lưỡi Bò là đường ranh giới biển do Trung Quốc (TQ) đưa ra nhằm chiếm 80% diện tích Biển Đông, điểm cực Nam đến vĩ độ 4. Tham vọng này quá lớn, quá vô lý và quá trắng trợn nên sau khi công bố đã bị dư luận Đông Nam Á và toàn thế giới phản đối.     Nhưng chính quyền TQ giấu kín như bưng không  nói cho dân họ biết sự thực, khăng khăng nói bừa là toàn bộ các đảo bên  trong Đường 9 đoạn là thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của TQ. Với sự tuyên truyền giáo dục dối trá như  vậy, đa số dân TQ đều cho rằng TQ nên dùng sức mạnh quân sự “giải phóng”  các đảo đang bị một số nước khác chiếm. Rất may là một số trí thức TQ,  trong đó có Trương Quang Nhuệ, đã tỉnh táo và dũng cảm có những bài viết  trên mạng vạch ra sự thật về Đường 9 đoạn.  Xin giới thiệu dưới đây lược thuật phần đầu bài viết của ông.    “Đường 9 đoạn” do một đại tá quân đội Quốc Dân Đảng vẽ ra  Nếu bạn vẫn còn có chút xa lạ với từ ngữ Đường 9 đoạn thì chắc hẳn bạn đã quen với tấm bản đồ Nam Hải chứ! Đây là thể hiện cụ thể của ý nghĩ [TQ] “có chủ quyền không thể tranh cãi về các đảo ở Nam Hải” cho tới nay vẫn còn nhiều người kiên trì.  Thế nhưng nguồn gốc của Đường 9 đoạn lại bị giấu kín như bưng, ngày nay có mấy người TQ biết rằng thực ra nó đâu phải do Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hoạch định, mà là do Chính phủ Dân Quốc [của Quốc Dân Đảng] năm xưa vạch ra. Hơn nữa Đường 9 đoạn cũng không phải là do Bộ Ngoại giao của chính phủ ấy chủ trì hoạch định, mà là lấy danh nghĩa Bộ Nội chính phát hành tấm bản đồ này. Người vạch ra Đường 9 đoạn là một sĩ quan hải quân có thân phận đặc biệt, nguyên sĩ quan hải quân trong sứ quán Trung Hoa Dân Quốc tại Mỹ, năm 1946 làm sĩ quan chỉ huy Hạm đội Tiền tiến đi Nam Hải công cán.  Tháng 10 năm 1946, hải quân Chính phủ Dân Quốc thành lập tại Thượng Hải Hạm đội Tiền tiến với nhiệm vụ xuống Nam Hải tiếp quản các đảo bị Nhật chiếm. Tối 29/10, dưới sự chỉ huy của đại tá Lâm Tôn [1], một đoàn 4 tàu chiến nhổ neo ra khỏi cửa Ngô Tùng, Thượng Hải. Đoàn gồm 4 chiến hạm : tàu khu trục hộ tống Thái Bình, tàu chống ngầm Vĩnh Hưng, tàu đổ bộ xe tăng Trung Kiện và tàu Trung Nghiệp [2]. Ngày 9/11 đoàn tàu đến cảng Du Lâm thuộc đảo Hải Nam. Sau đó, Lâm Tôn chỉ huy hai tàu Thái Bình và Trung Nghiệp tiến về phía đảo Nam Sa. Phó chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc dẫn hai tàu Vĩnh Hưng, Trung Kiện tiến về đảo Tây Sa [Việt Nam gọi là Hoàng Sa]. Tên các hòn đảo Vĩnh Hưng, Trung Kiện, Thái Bình và Trung Nghiệp [3] ngày nay có vẽ trên bản đồ Nam Hải chính là tên 4 chiếc tàu năm xưa tham gia Hạm đội Tiền tiến.   Có điều đáng nhắc lại là tàu Thái Bình vốn là chiến hạm chủ lực của hải quân Tưởng Giới Thạch, về sau đến năm 1954 bị tàu cao tốc phóng lôi của Quân Giải phóng TQ đánh chìm ở vùng biển gần tỉnh Triết Giang. Nhưng hòn đảo mang tên nó- tức đảo Thái Bình  – cho tới nay vẫn do chính quyền Đài Loan kiểm soát.  Năm 1947, dựa váo các tài liệu do Hạm đội Tiền tiến trình báo, Bộ Nội chính Chính phủ Dân Quốc công bố Bảng đối chiếu tên cũ – mới của các đảo ở Nam Hải. Cùng năm đó xuất bản Bản đồ sơ lược vị trí các đảo ở Nam Hải 南海位置略图, ghi rõ vùng biển Nam Hải gồm các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa [4] đều thuộc lãnh thổ Dân quốc Trung Hoa và vẽ đường biên giới quốc gia có 11 nét đứt rời xung quanh các đảo ở Nam Hải, cũng tức là Đường 11 đoạn 十一段线. Năm 1948 lại xuất bản Bản đồ Khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc 中华民国行政区域图 kèm theo Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải 南海诸岛位置图do Phó Giác Kim phụ trách Vụ Phương vực Bộ Nội chính 内政部方域司 chủ biên, trở thành bản đồ chính thức sớm nhất công khai vẽ Đường 11 đoạn.  Ngày 21/4/1949, Quân Giải phóng TQ vượt Trường Giang tiến xuống phía Nam đến tận Nam Kinh, thủ đô Chính phủ Dân Quốc. Cho dù Chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tan rã nhưng Đường 11 đoạn không vì thế mà biến mất. Ở đây có một nguyên nhân là trước đó không lâu. Lâm Tôn, người vạch đường biên ở Nam Hải, đã khởi nghĩa chống lại Tưởng Giới Thạch, gia nhập hàng ngũ Quân Giải phóng. Sau đó Lâm Tôn liên tiếp được cử làm Phó Tư lệnh Hải quân Hoa Đông rồi Phó Tư lệnh Hải quân của Quân Giải phóng TQ. Đường 11 đoạn năm nào ra đời cùng với Lâm Tôn và các tài liệu do ông cung cấp đã lọt vào tầm mắt của giới lãnh đạo TQ. Vì thế trong các bản đồ do Tân TQ xuất bản đã nhanh chóng xuất hiện Đường 9 đoạn được sửa chữa một chút từ Đường 11 đoạn. [5]   “Đường 9 đoạn” chưa bao giờ là đường biên giới quốc gia!  Trước hết, đường biên giới quốc gia tất phải là đường nét liền, đây là một chuẩn tắc cơ bản thông dụng trên toàn thế giới. Thế nhưng Đường 9 đoạn đã chia thành 9 đoạn thì lẽ tự nhiên là một đường đứt rời. Điều đó về cơ bản đã loại trừ khả năng Đường 9 đoạn trở thành đường biên giới quốc gia. Nói cách khác, Đường 9 đoạn cùng lắm chỉ có thể dùng làm một “đường chủ trương”, thể hiện Chính phủ TQ chủ trương hoạch định vùng biển và các đảo ở trong đường đó vào lãnh thổ TQ. Đường 9 đoạn xưa nay chưa bao giờ, và cũng không thể là một tuyến cương giới thực tế đã được hoạch định. Bởi vậy không thể vì sự tồn tại Đường 9 đoạn mà nói các đảo và vùng biển bên trong đường đó là lãnh thổ của TQ; lại càng không thể yêu cầu các quốc gia khác tôn trọng “đường biên giới quốc gia” căn bản không tồn tại này.  Đồng thời, giải thích Đường 9 đoạn là “đường biên giới quốc gia” là đi ngược lại Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, hoàn toàn không ăn nhập với Công ước đó. Trong thực tiễn thi hành Luật biển quốc tế bao năm qua, có một lý luận và nguyên tắc cơ bản nhất là “Đất liền thống trị biển”, cũng tức là nói chủ trương lãnh thổ đối với biển của quốc gia ven biển ắt phải dựa trên cơ sở chủ quyền lục địa, và lấy đường cơ sở lãnh hải làm đường khởi đầu từ đó hướng ra ngoài để hoạch định lãnh hải của mình. Công ước Lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 và Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 – hai Công ước này quy định rõ các chuẩn tắc cơ bản “Lấy chủ quyền đất liền để quyết định chủ quyền biển” và “Lãnh hải mở rộng 12 hải lý”.  Bởi vậy, cho dù bản thân các đảo ở Nam Hải không tồn tại bất cứ tranh chấp nào thì “lãnh thổ trên biển” do nó sinh ra cũng nhiều nhất chỉ có thể là một vòng tròn bán kính 12 hải lý xung quanh đảo, chứ tuyệt đối không thể bao gồm toàn bộ vùng biển Nam Hải như Đường 9 đoạn. Hơn nữa liệu các bãi đá lúc chìm lúc nổi khi thủy triều lên xuống và các đảo san hô khó có thể duy trì đời sống và sản xuất lâu dài cho dân cư ấy có thể dùng làm cơ sở cho chủ trương “lãnh thổ trên biển” được hay không? – điều này khi áp dụng luật biển quốc tế thì cũng đáng ngờ vực!    Bởi vậy xét về pháp lý thì mấy chục năm qua Đường 9 đoạn đã trở thành một trò cười trong thực tế vận hành Luật biển quốc tế.     Cơ hội lịch sử để vuột mất sau chuyến đi biển của Lâm Tôn  “TQ từ xưa tới nay đã có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Nam Hải” câu nói này [người ta] đã nghe không biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng cân nhắc kỹ lưỡng một chút thì vấn đề sẽ hiện ra: kể từ ngày khai quốc nền văn minh Trung Hoa cho đến năm 1840 khi đại bác của người Anh phá vỡ cánh cổng lớn của đế quốc Đại Thanh thì TQ cũng vậy, Triều Tiên cũng vậy, Đông Nam Á cũng vậy, toàn bộ phương Đông hoàn toàn chẳng có khái niệm chủ quyền gì cả. Tra cứu hết lịch sử trên dưới 5000 năm của TQ, e rằng cũng khó mà tìm thấy trong văn thư nào có hai chữ chủ quyền. Chủ quyền là khái niệm hoàn toàn do người phương Tây sáng tạo, TQ cổ đại sao mà có được? Thế thì làm sao có thể nói tới “Chủ quyền không thể tranh cãi từ xưa đến nay”?  Thực ra nếu dựa vào quan niệm chủ quyền của phương Tây để nghiêm túc cân nhắc cuộc tranh cãi về quần đảo Nam Sa, chúng ta sẽ phát hiện thấy lập trường của TQ thật sự rất khó đứng vững được: dựa vào chuyện tàu thuyền TQ đến nơi ấy mấy lần gì gì đó, đánh bắt được mấy con cá thì chỗ ấy là của TQ sao? Thế thì trong lịch sử, tàu thuyền của tôi đến chỗ ấy còn nhiều hơn anh nữa kia, năm này qua năm khác tôi đánh cá ở đấy, cớ sao lại không được thừa nhận? Anh bảo anh đến đấy trước, vậy có chứng cứ không? Năm nào tháng nào ai đến đấy? Chuyện này về căn bản là một mớ sổ sách rối bét, dù sao thì cũng chẳng ai có cách nào sinh cơ lập nghiệp được trên những mỏm đá san hô chỉ nhô lên khỏi mặt nước một tý tẹo ấy.  Trong tình hình chuẩn tắc lịch sử rơi vào tình trạng rối rắm và hỗn loạn như trên, thì nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” trở nên quan trọng hơn. Mà Nam Sa cách Việt Nam, Malaysia, Philippines gần hơn cách TQ, bởi vậy giả thử theo chuẩn tắc địa lý “cự ly gần, thềm đại lục vươn ra”, thì chẳng cần nói, TQ thậm chí có thể chẳng có được phần nào! Còn nói về nguyên tắc “Chiếm trước” vốn dĩ có thể là cực kỳ có lợi cho TQ, nhưng vì [TQ] suốt 40 năm ròng coi nhẹ quyền lợi trên biển, cho nên ngày nay [“Chiếm trước”] lại trở thành ưu thế tuyệt đối của người khác.   Vào cái thời Lâm Tôn lập hạm đội đi Nam Hải, các quốc gia Đông Nam Á hồi ấy căn bản còn là các xứ thuộc địa, sau này mới xuất hiện [là quốc gia độc lập]. Chính quốc các nước thực dân châu Âu đều bị Thế chiến II làm cho tan nát, lúc này đang chuẩn bị cuốn gói chuồn khỏi [các thuộc địa của mình], nào ai còn tâm tư để ý đến mấy hòn đảo san hô trên biển mênh mông kia đâu? Hơn nữa cho dù Bộ Nội chính của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc có in cái Đường 9 đoạn trên tấm bản đồ phát hành trong nước, nhưng Chính phủ này hoàn toàn không thông qua con đường ngoại giao để tuyên bố với Đông Nam Á rằng “Vùng này là của tôi”. Người ta [các nước Đông Nam Á] hoàn toàn chẳng biết gì về chuyện ấy thì sao mà có thể “đưa ra ý kiến khác” được?   Như vậy là, TQ chiếm ưu thế về nguyên tắc “Lịch sử” nhưng lại thiếu những chứng cớ được hệ thống luật biển hiện đại chấp nhận, mà hai nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” lại trở thành có lợi cho các quốc gia Đông Nam Á mà bất lợi cho TQ. Trên tầng nấc pháp lý, vấn đề Nam Sa đã rơi vào tình thế bị động cực kỳ nghiêm trọng [đối với TQ].   Nói thẳng ra, giả thử bây giờ nổ ra một cuộc chiến tranh xung quanh quần đảo Nam Sa ở Nam Hải, thì trên toàn thế giới có lẽ chỉ có 1,3-1,4 tỷ người [ý nói người TQ và người Hoa] cho rằng TQ không phải là kẻ xâm lược!   —  Ghi chú của người dịch:  [1] Lâm Tôn 林遵上校 (1905-1979), học trường Hải quân Hoàng gia Anh, được đào tạo về tàu ngầm tại Đức, 1934 về TQ ; từng là Phó quan của Sứ quán TQ tại Mỹ, rồi Tư lệnh Hạm đội II đóng tại vùng Trường Giang. 1948 là thiếu tướng hải quân Trung Hoa Dân Quốc. 1949 dẫn quân gia nhập Quân Giải phóng TQ, trở thành một trong những người sáng lập hải quân TQ. 1955 được phong thiếu tướng hải quân. Đảng viên Quốc dân Đảng TQ, đảng viên thuộc Ủy ban Cách mạng Quốc dân đảng TQ, Đảng viên Đảng Cộng sản TQ.  [2] Bản Trung văn viết là Trung Á, có lẽ in sai.  [3] – Đảo Vĩnh Hưng, tên quốc tế Woody, rộng 2,13 km2, là đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị TQ chiếm, hiện có sân bay và thành phố Tam Sa do TQ lập ra. – Đảo Trung Kiện thuộc quần đảo Hoàng Sa, cách đảo Woody 178 km về phía Tây Nam. – Đảo Thái Bình, tên quốc tế Itu Aba, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; rộng 0,443 km2, là đảo duy nhất có nguồn nước ngọt. – Đảo Trung Nghiệp, tên quốc tế Thitu; rộng 0,33 km2; do Phillippines kiểm soát.  [4] Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa là 4 quần đảo lớn nhất ở Nam Hải. – Đông Sa, tên quốc tế Pratas Island, ở gần Hong Kong, tức gần đại lục TQ hơn cả; hiện do Đài Loan kiểm soát. – Trung Sa, tên quốc tế Macclesfield Bank; ở gần Philippines, phần lớn là đảo san hô chìm dưới nước; bãi cạn Scarborough mà TQ gọi là đảo Hoàng Nham thuộc quần đảo này. (theo tài liệu của TQ).  [5] Một nguồn tin của mạng TQ nói trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, TQ nhường cho Việt Nam 2 đảo đá trong Vịnh Bắc Bộ để xây dựng trạm radar, vì thế đường 11 đoạn phải bỏ mất 2 đoạn, còn lại 9 đoạn.  Nguyên Hải tóm dịch  Nguồn :  南海新攻：放弃“九段线”，推出共同体          黄光锐的博客      http://blog.sina.com.cn/s/blog_5e0fb3610100npng.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc quy hoạch nhân tài      Mới đây Trung Quốc (TQ) đã công bố “Đề cương Quy hoạch phát triển nhân tài quốc gia trung và dài hạn từ 2010 – 2020”, cụ thể hoá Chiến lược Cường quốc nhân tài – một bước đột phá để bước vào kỷ nguyên Kinh tế tri thức. Bài tổng hợp dưới đây nêu một số nét chính của đề cương này.     1. Tỷ trọng nhân tài trong nguồn nhân lực tăng đáng kể  – Tổng nguồn lực nhân tài tăng từ 114 triệu người lên 180 triệu người, tăng 58%, nâng cao tỉ trọng tài nguyên nhân tài chiếm trong tổng tài nguyên nhân lực lên 16%, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.  – Tỉ lệ dân số ở tuổi lao động chủ yếu được giáo dục cao đẳng đại học đạt 20%, trong 10.000 lao động có 43 người nghiên cứu phát minh, nhân tài kĩ năng cao chiếm tỉ lệ trong lao động kĩ năng đạt 28%, kết cấu phân bố và cấp độ, loại hình, giới tính nhân tài theo xu hướng hợp lí.  – Trong các lĩnh vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội như chế tạo trang bị, tin học, kĩ thuật sinh vật, vật liệu mới, hàng không vũ trụ, hải dương, tài chính tiền tệ, bảo vệ môi trường sinh thái, năng lượng mới, khoa học kĩ thuật nông nghiệp, tuyên truyền văn hóa tư tưởng xây dựng thành một loạt điểm cao nhân tài.  – Đầu tư tiền vốn nhân lực chiếm tỉ lệ trong GDP đạt 15%, đóng góp của tiền vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đạt 33%, tỉ lệ đóng góp của nhân tài đạt 35%.  2. Coi trọng cơ chế, thể chế   – Cải tiến phương thức quản lý nhân tài:  Mục tiêu là xoay quanh thể chế quản lý nhân tài sử dụng tốt, sử dụng linh hoạt nhân tài, hoàn thiện quản lý vĩ mô của chính phủ, sắp xếp có hiệu quả thị trường, đơn vị tự chủ sử dụng người, nhân tài tự chủ lựa chọn nghề.  Nhiệm vụ chủ yếu là phân loại chế độ quản lý nhân sự đơn vị sự nghiệp, thúc đẩy cải cách chế độ nhân sự đơn vị sự nghiệp, từng bước xây dựng quyền hạn trách nhiệm rõ ràng, phân loại khoa học, cơ chế linh hoạt, quản lý mạnh mẽ. Khắc phục hành chính hóa trong quản lý nhân tài đang tồn tại, xóa bỏ mô thức cấp bậc hành chính và hành chính hóa quản lý đang tồn tại thực tế trong các đơn vị sự nghiệp như viện, sở nghiên cứu, học viện nhà trường, bệnh viện. Tìm tòi xây dựng kết cấu quản lý theo kiểu hội đồng thường trực, hội đồng quản trị của các đơn vị sự nghiệp.  – Cơ chế tuyển dụng bổ nhiệm nhân tài sáng tạo:  Mục tiêu là kiện toàn chế độ tuyển chọn nhân viên lãnh đạo xí nghiệp nhà nước, tăng thêm mức độ tuyển, mời thị trường hóa. Hoàn thiện chế độ quản lý cương vị và chế độ mời của các đơn vị sự nghiệp, kiện toàn chế độ tuyển chọn nhân viên lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp.  Nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thiện chế độ bầu cử và chế độ cử đại diện người xuất vốn tài sản nhà nước. Kiện toàn phương thức bổ nhiệm như ủy nhiệm, mời, lựa chọn và bổ nhiệm nhân viên lãnh đạo đơn vị sự nghiệp. Thúc đẩy toàn diện đơn vị sự nghiệp thông báo tuyển dụng công khai, cạnh tranh cương vị và chế độ quản lý hợp đồng. Xây dựng chế độ thông báo tuyển dụng toàn cầu người phụ trách cương vị then chốt của đơn vị sự nghiệp và các hạng mục trọng điểm của quốc gia.   – Cơ chế sắp xếp lưu động nhân tài sáng tạo:  Mục tiêu là xây dựng cơ chế sắp xếp lưu động nhân tài như điều khiển vĩ mô của chính phủ, cạnh tranh công bằng chủ thể thị trường, tổ chức môi giới cung cấp dịch vụ, nhân tài tự chủ chọn nghề.  Nhiệm vụ chủ yếu là phá bỏ trở ngại mang tính cơ chế lưu động nhân tài, từng bước xây dựng chế độ đăng kí hộ khẩu thống nhất giữa thành thị và nông thôn, điều chỉnh chính sách di chuyển hộ khẩu, làm cho nó có lợi cho việc nhập khẩu nhân tài.   – Cơ chế bảo đảm khích lệ nhân tài sáng tạo:  Mục tiêu là hoàn thiện chế độ thù lao nhân tài các loại, tăng cường quản lý vĩ mô phân phối thu nhập, từng bước xây dựng chế độ tiền lương, quy phạm trật tự, kích thích sức sống, chú trọng công bằng, quản lý mạnh mẽ. Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội, lấy bảo hiểm dưỡng lão và bảo hiểm y tế làm trọng điểm, hình thành hệ thống bảo hiểm nhân tài kết hợp giữa quốc gia, xã hội và đơn vị.  Nhiệm vụ chủ yếu là kiện toàn cơ chế kích thích nhân tài xí nghiệp nhà nước, thúc đẩy biện pháp kích thích trung hạn và dài hạn như quyền cổ phần, trọng điểm nghiêng về nhân tài lập nghiệp sáng tạo. Từng bước nâng cao tiền dưỡng lão cơ bản của nhân viên xí nghiệp nghỉ hưu, trọng điểm nghiêng về nhân viên kĩ thuật chuyên nghiệp cao của xí nghiệp nghỉ hưu. Nghiên cứu biện pháp bảo hiểm bổ sung cho nhân tài, ủng hộ đơn vị sử dụng người xây dựng bảo hiểm y tế, bảo hiểm dưỡng lão bổ sung cho các loại nhân tài. Mở rộng mặt phủ kín bảo hiểm xã hội nhân tài nông thôn, tổ chức kinh tế phi công hữu, tổ chức xã hội mới.  3. Một số chính sách, giải pháp có tính đột phá   – Thực hiện chính sách có lợi cho nhân viên khoa học kĩ thuật chuyên tâm nghiên cứu và sáng tạo.  Thúc đẩy toàn diện chế độ viên chức, nhân viên quản lý đơn vị sự nghiệp. Cải thiện điều kiện sinh hoạt của nhân tài khoa học kĩ thuật thanh niên, thành phố có điều kiện có thể ưu tiên giải quyết vấn đề nhà ở trong xây dựng nhà ở mang tính bảo đảm của quốc gia.    – Thực hiện chính sách thúc đẩy lưu động hợp lí giữa nhân tài của Đảng, chính quyền, nhân tài quản lý kinh tế xí nghiệp và nhân tài kĩ thuật chuyên nghiệp.  Mở rộng phạm vi nhậm chức trao đổi nhân viên lãnh đạo đảng, chính quyền và đơn vị sự nghiệp nhà nước vượt ra ngoài khu vực và bộ ngành. Mở rộng kênh khơi nguồn nhân tài đảng và chính quyền, hoàn thiện chế độ tuyển chọn nhân tài từ đơn vị sự nghiệp xí nghiệp và tổ chức xã hội. Hoàn thiện biện pháp liên tục chuyển quan hệ bảo hiểm xã hội của nhân tài cơ quan đảng, chính quyền lưu động đến đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp.  – Thực hiện chính sách nhân tài mở cửa hơn nữa.  Hoàn thiện chế độ quyền lưu trú lâu dài của người nước ngoài, thu hút nhân tài cao cấp người nước ngoài đến TQ công tác. Gia tăng mức độ nhập khẩu trí tuệ của nước ngoài, tìm tòi các biện pháp như thực hiện di dân kĩ thuật, cung cấp tài nguyên trí tuệ nước ngoài, phát hiện đánh giá, cho phép đi vào thị trường, sử dụng khích lệ, đánh giá thành quả.   – Thực hiện chính sách cổ vũ phát triển nhân tài của tổ chức kinh tế phi công hữu, tổ chức xã hội mới.  Đưa công tác khai thác nhân tài tổ chức kinh tế phi công hữu, tổ chức xã hội mới vào quy hoạch phát triển nhân tài của chính quyền các cấp. Các chính sách như bồi dưỡng, thu hút, đánh giá, sử dụng nhân tài, chính quyền được hưởng thụ bình đẳng như tổ chức kinh tế phi công hữu, tổ chức xã hội mới.    – Thực hiện chính sách dịch vụ công cộng thúc đẩy phát triển nhân tài.  Hoàn thiện hệ thống dịch vụ công cộng nhân tài chính phủ, xây dựng mạng dịch vụ nhất thể hoá toàn quốc. Kiện toàn mặt bằng dịch vụ công cộng như đại lí nhân sự, đại lí bảo hiểm xã hội, đăng kí sử dụng công nhân của xí nghiệp, trọng tài hoà giải tranh chấp nhân sự lao động, quản lý hồ sơ nhân sự, dịch vụ việc làm, đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá nhân tài. Xây dựng chế độ dịch vụ công cộng mua bán chính phủ, tạo điều kiện cho công tác cân đối nhân tài các loại và trách nhiệm gia đình.       Tài liệu tham khảo  1. CRI Onlie: TQ công bố đề cương quy hoạch phát triển nhân tài trung và dài hạn đầu tiên  2. Vietnamnet: TQ muốn có 180 triệu nhân tài trong 10 năm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc theo sách bản đồ Mỹ năm 1820      Hôm 28/3 thủ tướng Đức Angela Merkel có tặng chủ tịch TQ Tập Cận Bình bản đồ Trung Hoa ‘thuần tuý’ (China Proper) của nhà bản đồ Pháp Jean Baptiste d’Anville in năm 1735. Bản đồ này cho thấy phần lãnh thổ thuần tuý của Trung Quốc (với dân cư chủ yếu là người tộc Hán) không bao gồm Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ lẫn Mãn Châu, còn đảo Đài Loan và đảo Hải Nam được vẽ với đường biên khác màu.     Nhân dịp này xin giới thiệu bản đồ có tên ‘Trung Quốc và vương quốc triều cống Triều Tiên’ (China and the Tributary Kingdom of Corea) in sau hơn 80 năm cũng cho thấy lãnh thổ Trung quốc ‘thuần tuý’ không khác mấy bản đồ của Anville. Bản đồ này nằm trong tập bản đồ “A Complete Genealogical, Historical, Chronological, And Geographical Atlas”, do M. Carey & Son. J. Yeager, Sc. xuất bản năm, 1820, dựa theo bản in ở London năm 1817 và có sửa chữa và bổ sung. Kèm theo bản đồ này có những ghi chú về địa lí, lịch sử, niên đại… được soạn dựa trên thông tin chính thức của TQ và những hiểu biết của phương Tây lúc đó. Các ghi chú này cho thấy hết sức rõ ràng Trung Quốc ‘thuần tuý’ không bao gồm Mông Cổ, phần lớn Mãn Châu (trong bản đồ ghi là Hoa phiên [Chinese Tartary]),Tây Tạng, Tân Cương, Đài Loan, Hải Nam (. TQ thuần tuý cũng phân biệt rạch ròi với Triều Tiên, Việt Nam (miền Bắc Việt Nam trong bản đồ ghi là vương quốc Bắc Kì [kingdom of Tonkin]) và do đó không thể có Hoàng Sa, Trường Sa. Cũng như bản đồ Anville, bản đồ này chỉ là của bên thứ ba (không phải là bản đồ kèm theo hiệp ước của các bên có liên quan) nên không thể dùng làm bằng chứng chính về chủ quyền lãnh thổ trước toà án quốc tế. Tuy nhiên, do tính khách quan của chúng các toà án có thể xem xét như là chứng cứ phụ giúp củng cố cho các chứng cứ chính, nếu có.     Trong tinh thần đó, chúng tôi xin lược dịch phần ghi chú kèm theo bản đồ này giới thiệu thêm cho các bạn đọc.  VỊ TRÍ, RANH GIỚI, VÀ KÍCH THƯỚC  Trung Hoa ‘thuần tuý’ (China Proper)1 , nằm giữa 20° và 42° vĩ Bắc, và giữa 98° và 123° kinh Đông 2, được bao bọc ở phía Bắc bởi các nước Hoa Phiên (Chinese Tartary) 3 – phân cách bằng một bức tường thành to lớn (Vạn lí Trường Thành- ND) dài 500 league (1league ~ 5,556km); ở phía Đông bởi Thái Bình Dương – ngăn cách với Bắc Mĩ; phía Nam bởi (vương quốc) Bắc Kì 4 và biển [Nam] Trung Hoa; và ở phía Tây bởi vương quốc Tây Tạng và sa mạc Gobi. Trung Hoa có chiều dài là 1 450 dậm, và chiều rộng là 1 240 dậm, toàn bộ chiếm một diện tích 1 298 000 dặm vuông.  PHÂN BỐ DÂN CƯ, DIỆN TÍCH                      Tỉnh      Thủ phủ      Dân số      Diện tích  (dậm vuông)          1      Bắc Trực   Lệ (Hà Bắc)      Bắc Kinh      38 000 000      58 950          2      Thiểm   Tây      Tây An      30 000 000      154 008          3      Sơn Tây      Thái   Nguyên      27 000 000      55 268          4      Sơn Đông      Tế Nam      24 000 000      65 104          5      Hà Nam      Khai   Phong      25 000 000      65 104          6      Giang   Nam (Giang Tô)      Nam Kinh      32 000 000      92 961          7      Tứ Xuyên      Thành Đô      27 000 000      166 800          8      Hồ Quảng   (Hồ Bắc)      Vũ Hán      27 000 000      144 770          9      Triết   Giang      Hàng   Châu      21 000 000      39 150          10      Giang   Tây      Nam   Xương      19 000 000      72 176          11      Vân Nam      Vân Nam      8 000 000      107 969          12      Quý Châu      Quý   Dương      9 000 000      64 554          13      Quảng   Tây      Nam Ninh      10 000 000      78 250          14      Quảng   Đông      Quảng   Châu      21 000 000      79 456          15      Phúc Kiến      Phúc   Châu      15 000 000      53 480                 Tổng cộng             333 000 000      1 298 000                 Bảng kê trên được lấy từ báo cáo của phái bộ ngoại giao dưới quyền Bá tước Macartney 5, do Sir George Staunton biên soạn vào năm 1793, theo yêu cầu của ông, số liệu này được Chow-to-Zhin, một quan Trung Hoa cung cấp, và được lập dưa trên các tài liệu xác thực, lấy từ các công sở ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, theo số liệu chính thức thu được năm 1761 thì dân số TQ chỉ là 98.214.553 người, nên rất khó tin trong khoảng thời gian 32 năm dân số đã tăng lên gần 135 triệu. Toàn bộ dân số người Hoa thuần tuý và Hoa phiên có lẽ vào khoảng 300 triệu người.     (Bạn đọc có thể truy cập bản đồ tỉ lệ cao hơn và các ghi chú kèm theo ở: http://www.davidrumsey.com/luna/servlet/detail/RUMSEY~8~1~35482~1200401:Geographical-and-Statistical-Map-of?sort=Pub_List_No_InitialSort%2CPub_Date%2CPub_List_No%2CSeries_No&qvq=w4s:/where/China; q:China; sort:Pub_List_No_InitialSort%2CPub_Date%2CPub_List_No%2CSeries_No; lc:RUMSEY~8~1&mi=78&trs=218)   Phan Văn Song dịch  —————-  1China Proper là phần lãnh thổ Trung Quốc không tính các nước phiên thuộc (chư hầu phải triều cống) xung quanh mà theo quan niệm “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ” (Nơi nào trên thế giới đều là đát của vua) của họ đều thuộc TQ, tạm dịch là Trung Hoa ‘thuần tuý’ (có tác giả dịch là Trung Quốc ‘đích thực’ hay Trung Quốc ‘chuẩn’ – có vẽ hai từ ‘đích thực’/’chuẩn’ chưa phản ánh đúng ý nghĩa của từ tiếng Anh ‘Proper’ như vừa trình bày).  2Vị trí địa lí cho thấy rõ TQ ‘thuần tuý’ không thể bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa (ở phía Nam vĩ tuyến 17° Bắc) của VN và cũng không chứa quần đảo Senkaku (ở phía Đông kinh tuyến 123°28’ Đông) mà Nhật đang kiểm soát.  3Theo bản đồ và văn cảnh toàn bài thì Chinese Tartary có lẽ gồm Tân Cương, Mông Cổ và Mãn Châu, tạm dịch là Hoa Phiên.  4Nguyên bản tiếng Anh là kingdom of Tonquin chỉ Bắc bộ Việt Nam (gọi theo một tên cũ của Hà Nội là Đông Kinh)  5Phái bộ này đến TQ trong thời gian 1792-1794 nhằm thuyết phục vua Càn Long nhà Thanh nới rộng giao thương giữa Anh và TQ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trước giờ bấm nút: Kỳ vọng và Trăn trở!      BÀN THÊM VỀ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:  Đất nước đang chuyển mình để bước vào một thời kỳ phát triển mới, và xã hội đang trông chờ Luật giáo dục đại học (Luật) mới của thời kỳ phát triển ấy. Rất có thể, chỉ vài ba ngày nữa, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học (GDĐH) sẽ được Quốc hội (QH) thông qua để chính thức trở thành cơ sở pháp lý mang tính mở đường cho một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp chấn hưng GDĐH nước nhà. Xin chia sẻ đôi điều kỳ vọng và trăn trở.    Mong đợi và Tin tưởng  Mọi người mong và tin là, Luật mới sẽ tạo ra các động lực và nguồn lực mới để GDĐH tiếp tục có được những đột phá trong việc nâng cao chất lượng GDĐH và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào hệ thống giáo dục đại học toàn cầu. Cụ thể:  1. Luật phải bám sát thực tế GDĐH Việt Nam hiện nay và có tầm ‘nhìn xa’ ít nhất là cho 10-20 năm tới. Người ta mong và tin là Luật mới đủ sức giúp cho nền GDĐH nước nhà vượt qua các thách thức đang phải đối mặt, như nguy cơ bị tụt hậu so với GDĐH các nước phát triển, thậm chí là nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa ngay trong khu vực ASEAN; hay sản phẩm của nền GDĐH là các sinh viên tốt nghiệp sẽ được trang bị đầy đủ về phẩm chất và năng lực để có thể tham gia và làm chủ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; cũng như các vấn đề mà cuộc CMCN lần thứ 4, lần thứ 5 và biến đổi khí hậu đang đặt ra cho sự phát triển và thịnh vượng của đất nước.     2. Luật (và các văn bản pháp quy dưới Luật như Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của các bộ ngành liên quan) cũng sẽ đồng hành với quan điểm của Đảng về phát triển GDĐH, như coi GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh xã hội hóa GDĐH, tự chủ ĐH và vấn đề cận thị trường (quasi market) trong phát triển GDĐH, v.v…      Luật phải bám sát thực tế GDĐH Việt Nam hiện nay và có tầm ‘nhìn xa’ ít nhất là cho 10-20 năm tới.      3. Luật sẽ đồng hành với các thông điệp quan trọng của người đứng đầu Đảng và Nhà nước về một thời kỳ phát triển mới của GDĐH, được thể hiện qua bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại lễ Khai giảng năm học mới của Học viện Nông nghiệp Việt Nam ngày 30/9 vừa qua (xem toàn văn bài phát biểu trên báo Nhân dân số ra ngày 01/10/2018). Các thông điệp đó là (i) Giáo dục tư duy phản biện cho người học: Sinh viên tốt nghiệp phải có kỹ năng sáng tạo, hợp tác và tư duy phản biện để có đủ năng lực tự chủ và thích ứng tốt với môi trường làm việc thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có ý thức trách nhiệm cao với bản thân, với gia đình, với cộng đồng và đất nước; (ii) Tự chủ đại học là xu thế tất yếu: Tinh thần chung là các trường đại học phải được tự chủ hơn về học thuật, được chủ động sáng tạo, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong khuôn khổ của pháp luật, ít bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính; (iii) Nhà nước tiếp tục đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục đại học, nhưng hình thức đầu tư sẽ thay đổi nhằm đẩy mạnh văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học: Tự chủ đại học không có nghĩa là các trường đại học phải “tự túc” hoàn toàn về tài chính, Nhà nước vẫn phải đầu tư để bảo đảm tốt các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất, kỹ thuật và các phương tiện phục vụ để nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học; (iv) Thực sự trọng dụng và trọng thị nhân tài, giáo sư đầu ngành, chuyên gia đầu ngành: Cần có những chính sách, chế độ cụ thể, thiết thực, tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi nhất để các cô giáo, thầy giáo cống hiến tốt nhất cho sự nghiệp trồng người; vì thế, chủ trương này cần được cụ thể hóa bằng các chính sách và thể chế thực sự trọng dụng và trọng thị nhân tài.    Đại học Bách khoa Hà Nội là một trong ba đơn vị thí điểm bỏ cơ chế bộ chủ quản. Ảnh: Internet.  Một số vấn đề cần làm rõ thêm  Để Luật và các văn bản dưới Luật đạt được sự đồng thuận và có tính khả thi cao, cần bổ sung, và làm rõ thêm một số nội dung, vấn đề sau:  Khái niệm và từ ngữ    1. Một số khái niệm và từ ngữ nên theo hướng tiệm cận nhất với các tiêu chí, tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế; ví dụ như các khái niệm: Trường ĐH trong ĐHQG, Trường ĐH trong ĐH vùng, Trường ĐH, Chương trình đào tạo, Khung trình độ Quốc gia, Ngành đặc thù, v.v… Hay như khái niệm “ĐHQG, ĐH vùng là các ĐH thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển các vùng của đất nước” (Điều 4 Khoản 4) thì cần làm rõ thế nào là “nhiệm vụ chiến lược quốc gia”? và các trường ĐH khác không có nhiệm vụ thực hiện “nhiệm vụ chiến lược quốc gia”?    2. Luật cũng không nên phân ra “trường ĐH” và “ĐH”, đây chỉ là danh xưng, ở nước ngoài không quan trọng gì, nhưng ở VN tên gọi nhiều khi lại là sự thứ bậc cao thấp khác nhau trong một hệ thống, là chỉ báo về sự đầu tư và quan tâm khác nhau của nhà nước. Hãy để các ĐH tự khẳng định vị trí và đẳng cấp của họ bằng chất lượng. Trên thực tế, cách gọi ‘trường ĐH’ hay ‘ĐH’ với số đông dân chúng chỉ là một.  3. Về ĐH vùng cũng vậy, nhiều ý kiến cho rằng mô hình quản lý các trường ĐH thành viên và ĐH vùng hai cấp như hiện nay giống như ‘củ khoai tây trong bịch khoai tây’, ít nhất đã có 2 vị nguyên Giám đốc ĐH vùng đã ví von như vậy. Trên thực tế đúng là như vậy, ai cũng biết. Sao các thực tế ấy chưa được Luật lần này giải quyết dứt điểm và thấu đáo?  Tự chủ đại học  1. Một trong những chìa khóa của đổi mới GDĐH là tự chủ ĐH. Nếu vậy, các ĐHQG và ĐH vùng, các ĐH vốn được coi là rường cột của hệ thống GDĐH quốc dân, có tham gia vào tiến trình tự chủ ĐH không?   2. Cần làm rõ như mức độ tự chủ ‘bên ngoài’ trường ĐH và ‘bên trong’ trường ĐH để tránh tình trạng các trường được giao tự chủ lại tiếp tục phải ‘bê đá dò đường’ như thời ‘thí điểm tự chủ ĐH’. Nôm na ‘bên ngoài’ là mối quan hệ (hay vị trí, vai trò, trách nhiệm và quyền hạn) giữa trường ĐH với các cơ quan quản lý nhà nước (bộ chủ quản, Bộ GD&ĐT, UBND địa phương…), với đảng ủy cấp trên và với xã hội; ‘bên trong’ là mối quan hệ giữa đảng ủy, hội đồng trường (HĐT) và hiệu trưởng (HT); giữa bộ máy quản trị và quản lý cấp trường với các đơn vị trực thuộc, với giảng viên và người học.  3. Cần làm rõ cơ chế và cách thức hoạt động của HĐT. Hiện nay HĐT phải thực hiện các quyền (ghi tại Điều 16 Khoản 2 các Điểm d, đ, e, g, i, Khoản 6 Điểm d như thông qua dự toán, quyết toán, giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính,…) nhưng HĐT không có bộ máy chuyên môn nghiệp vụ riêng, tất cả đều phải sử dụng bộ máy chuyên môn, quản lý của HT để thực hiện các quyền trên thì có khả thi không? Có thực chất không? Có khả tín không? Khái niệm ‘bộ máy giúp việc của HĐT’ được hiểu như thế nào? HĐT quyết định nhân sự HT và các chức danh quản lý khác như thế nào? Hay sẽ có hướng dẫn riêng? Có gì chưa đồng thuận với Nghị quyết 19-NQ/TW ban hành ngày 25/10/2017 về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị công lập, và Nghị quyết 08 của Chính phủ ban hành ngày 24/01/2018 về chương trình hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19? Ví dụ, trong các NQ trên, Đảng và Chính phủ cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập được tổ chức thi tuyển, thuê, bổ nhiệm giám đốc điều hành; trên thực tế, HT các trường ĐH tự chủ hoạt động như (‘như’ thôi, chứ ko phải ‘là’) CEO của các doanh nghiệp, tại sao các trường ĐH công lập cũng là đơn vị sự nghiệp công lập, thì lại chưa được thực hiện các quyền này? Vấn đề này còn có liên quan đến Điều 20 “Hiệu trưởng”  về các hình thức HĐT lựa chọn HT.    4. Cần làm rõ tiêu chí Chủ tịch HĐT (Khoản 4 Điều 16), như thế nào là ‘có uy tín ở trong và ngoài trường’? Ở trong trường thì còn có thể đo đếm được (lấy phiếu tín nhiệm chẳng hạn), còn ‘cân đo’ uy tín ở ngoài trường có dựa vào năng suất khoa học (như số công trình, chỉ số H, v.v…) hay cũng chỉ dựa vào chỉ số ‘vừa lòng’ (bỏ phiếu tín nhiệm)? Khái niệm “có kinh nghiệm quản lý GDĐH’ được hiểu cụ thể như thế nào? Quản lý cấp bộ môn, cấp khoa hay cấp trường? Họ có cần có thành tích vượt trội trong thời gian đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý ấy không hay chỉ cần Bí thư đảng ủy ‘duyệt’ và được cấp trên ủng hộ là có thể đưa ra bầu/lấy phiếu tín nhiệm? Câu “độ tuổi giữ vị trí chủ tịch hội đồng trường công lập theo quy định của pháp luật’ được hiểu là nam chưa quá 60, nữ chưa quá 55? Có cần đủ tuổi để làm chủ tịch HĐT trọn 1 nhiệm kỳ? Thiết nghĩ, môi trường ĐH là môi trường học thuật, cần lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc làm thước đo thay vì dùng tuổi để ‘cưa đều’. Quy định ‘có kinh nghiệm quản lý GDĐH’ chung chung sẽ tạo ra ‘cửa’ cho chạy chọt, xin cho.   5. Một khi các CSGD được trao quyền tự chủ, có nhiều đối tác cùng tham gia sở hữu và giám sát, nhà nước không còn ‘độc quyền’ nữa, thì một trong những vấn đề có thể gây ra những hệ lụy ko đáng có và dễ nhầm lẫn là vấn đề sở hữu và chủ sở hữu (Điều 16a); vì vậy Luật cũng cần làm rõ vấn đề sở hữu, chủ sở hữu và sở hữu cộng đồng, chủ sở hữu cộng đồng. Nên hiểu là, dù là chủ sở hữu cộng đồng thì nhà nước vẫn nắm quyền chi phối quyết định với các trường đại học, nhất là các trường đại học công vì Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư và đảm bảo điều kiện hoạt động cho nhà trường, vì trong thiết chế HĐT của các trường công lập có đại diện của chính quyền địa phương, của bộ chủ quản, của bộ GD&ĐT, có Bí thư đảng ủy – người có trách nhiệm tối thượng là chấp hành nghiêm túc Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và các chỉ thị, nghị quyết của tổ chức đảng cấp trên.   6. Cụm từ “phù hợp với quy định của pháp luật” (xuất hiện 07 lần/73 Điều), “theo quy định” (xuất hiện 63 lần/73 Điều trong bản Dự thảo ngày 16/10/2018 của Ban soạn thảo) được đề cập đến ở nhiều điều luật này được hiểu như thế nào? Nên chỉ dẫn luôn theo quy định nào, cụ thể là gì?       Cần làm rõ nhà nước đầu tư cho CSGD dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn như thế nào. Dựa trên kết quả KPIs của CSGD (chất lượng và hiệu quả công việc) hay do phân loại CSGD của nhà nước (ĐHQG, ĐH vùng, ĐH nghiên cứu, ĐH ứng dụng, v.v…), hay đầu tư theo đầu sinh viên?      Tài chính và đầu tư  Thực ra, một số vấn đề có liên quan đến tài chính và quản lý tài chính ĐH đã được đề cập ở phần ‘Tự chủ ĐH’, ở đây, chúng tôi đề nghị làm rõ thêm mấy vấn đề sau:  1. Cần làm rõ nhà nước đảm bảo điều kiện hoạt động như thế nào (Điều 7 Khoản 2 Điểm a)? Dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn nào? Nhà nước đầu tư dựa trên kết quả KPIs của CSGD  (chất lượng và hiệu quả công việc) hay do phân loại CSGD của nhà nước (ĐHQG, ĐH vùng, ĐH nghiên cứu, ĐH ứng dụng, v.v…), hay đầu tư theo đầu sinh viên? Rồi cơ chế nào để thực hiện quy định về việc phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả (Điều 12 Khoản 2)? Nhà nước có cần phải công khai hóa các khoản đầu tư tài chính và đầu tư cơ sở vật chất cho các ĐH không? Nếu không công khai (như hiện nay) thì làm sao có thể tạo ‘sân chơi’ bình đẳng, công bằng và minh bạch để thực hiện ‘nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả’?    2. Khái niệm ‘ưu đãi đội ngũ giáo sư đầu ngành’ ở Khoản 3 Điều 54 sẽ được thực hiện như thế nào? Các CSGD có quyền tự đặt ra các chính sách ưu đãi về thời gian lên lương, mức thưởng và các chế độ đãi ngộ khác hay là nhà nước quy định ‘mức tối thiểu và mức tối đa’? Hiện nay đang xếp PGS và GS vào cùng ngạch lương giảng viên cao cấp, như thế có là thể hiện sự ’thu hút, sử dụng và đãi ngộ thích hợp để nâng cao chất lượng giảng viên’ theo Luật định?    3. Luật cần bổ sung thêm điều khoản về chính sách hỗ trợ học phí, cấp bù học phí, ưu tiên vay vốn tín dụng sinh viên của nhà nước đối với các ngành nghề xã hội cần, đất nước cần, nhưng khả năng thu hút người học thấp (Điều 65), đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các ngành kinh tế, cũng như đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ về an ninh quốc phòng của đất nước theo từng giai đoạn.  4. Cần làm rõ khái nhiệm “phát triển GDĐH” (“Điều 67 Khoản 1) cụ thể gồm những hoạt động nào? Phục vụ đời sống, sinh hoạt của giảng viên và người học có phải là một trong các nội dung của “phát triển giáo dục đại học” không hay cứ phải liên quan trực tiếp đến dạy, học, nghiên cứu (giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm…) thì mới được coi là “phát triển giáo dục đại học”. ĐH ở nước ngoài cũng có cafeteria, co-op, chợ sinh viên, chợ mua bán đồ cũ, ngân hàng…vậy ở ta, những hoạt động tương tự như vậy có được coi là “nhằm mục đích phát triển GDĐH”?    Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (UB) của Quốc hội đã tổ chức các hội nghị để lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Luật này. Ảnh: Một hội nghị do GS Phan Thanh Bình, chủ nhiệm UB chủ trì ngày 21/8 tại TP HCM. Nguồn: ntt.edu.vn  Kết luận  Kết luận bài viết này có lẽ nằm ở Điều 73 về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành”. Ai cũng biết là Luật phải cô đọng, hàm chứa các vấn đề về pháp lý và thể chế cốt lõi mà phạm vi của Luật phải bao trùm, nên không thể quá chi tiết và cụ thể; vì thế, sau khi Luật này được QH thông qua, cần sớm ban hành Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ GD&ĐT để hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật, tránh tình trạng một điều luật có thể được hiểu theo các cách khác nhau; nhờ thế, Luật có thể sớm đi được vào thực tiễn cuộc sống. Nếu không, Luật vẫn chỉ nằm trên giấy, không thể đi vào cuộc sống như các Quyết định thí điểm tự chủ mà Thủ tướng đã giao cho các trường ‘thí điểm’: có quyền của Thủ tướng giao đấy, mà các CSGDĐH này vẫn gần như ko thể ‘tự chủ’ được gì, vì họ vướng đủ thứ trong thực tiễn điều hành hoạt động của nhà trường.     Đào tạo và Quy hoạch mạng lưới  1. Thiết nghĩ, để hội nhập và để phù hợp với nền kinh tế thị trường, rất cần phải đổi mới chương trình đào tạo. Có lẽ cần bắt đầu từ cái gốc của từ này: University – “đại học” xuất phát từ khái niệm “tri thức rộng hay tri thức toàn cầu” (universal knowledge) và hơn hết, nó có nghĩa khởi thủy là giáo dục nhân văn, giáo dục con người biết làm người bình thường, tử tế và lương thiện; chứ ko phải giáo dục để ai ai cũng nhăm nhăm làm quan, làm giàu; vì vậy, cùng với các môn học chuyên ngành để đào tạo chuyên gia, các môn học về khoa học xã hội (chứ không phải các môn giáo dục ý thức hệ) nên được coi là các môn học cốt lõi của GDĐH chất lượng cao ngay ở các trường/khoa khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ; người ta gọi giáo dục như thế là giáo dục khai phóng (liberal arts education), điều làm nên sự thịnh vượng của các cường quốc kinh tế hiện nay.  2. Quy định về chương trình đào tạo Thạc sĩ cũng có điểm (Khoản 3 Điều 33) chưa hợp lý vì đi ngược với phần lớn thông lệ đào tạo các bậc học của nước ngoài, vì ở nước ngoài có thể có chương trình đào tạo Thạc sĩ không tương ứng với chương trình đào tạo bậc đại học; với chương trình đào tạo Tiến sĩ cũng vậy. Vì vậy, ngoài quy định “ngành tương ứng” thì cũng nên quy định thêm “ngành gần”; vì có thể có những ngành đào tạo có ở cấp cao hơn nhưng lại không có ngành tương ứng ở cấp thấp hơn (do chuyên sâu hóa hay liên ngành hóa). Do đó nên quy định chương trình đào tạo cấp thấp hơn đạt chuẩn kiểm định thì được tự chủ mở ngành đào tạo cấp trên tương ứng hoặc ngành gần (có liên quan), cho phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.  3. Tốt nghiệp đại học có nhiều loại học vị (danh hiệu bằng khác nhau), có lẽ nên quy định lại (Điều 38 Khoản 1): Văn bằng GDĐH thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp đại học (cử nhân, kỹ sư, bác sĩ, kiến trúc sư …), bằng Thạc sĩ, bằng Tiến sĩ cho dễ hiểu với số đông dân chúng vì đã quá quen thuộc trong xã hội VN.  4. Cần làm rõ khái niệm thế nào là ‘nhân lực trình độ cao’ (Điều 11 Khoản 2 Điểm c), làm thế nào để đo lường, đánh giá? Tương tự như vậy với khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao” (Điều 68). Thiết nghĩ quy hoạch phải phục vụ cho các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển KT-XH của đất nước và của từng vùng miền trong tương lai. Quy hoạch chỉ quan tâm đến “các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng đặc biệt khó khăn” là chưa đầy đủ và chưa toàn diện: Phải chăng các vùng không thuộc vùng kinh tế trọng điểm, không là vùng đặc biệt khó khăn thì quy hoạch mạng lưới các trường đại học đã ổn rồi, đã tốt cả rồi?    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Trước hết cần xác định cho rõ tính chất và nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam hiện nay      Việc xác định tính chất và nhiệm vụ này vô cùng quan trọng. Như sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ là cách mạng giải phóng dân tộc, nên đề ra chính sách đoàn kết toàn dân, kể cả giai cấp phong kiến trong đó có cả cựu hoàng Bảo Đại, xác định đối tượng của cách mạng là thực dân phản động và việt gian.        Sau năm 1975, nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn thành, đáng lẽ chúng ta phải chuyển sang giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản, dùng đảng và chính quyền của giai cấp vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân chủ, nói một cách khác, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, nghĩa là về mặt chính trị giải phóng con người khỏi tàn dư phong kiến thực dân, thực hiện các quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, tự do ngôn luận…; về mặt kinh tế phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp hóa đất nước… Thế nhưng chúng ta đã đốt cháy giai đoạn, vội vàng chuyển sang cách mạng XHCN ngay, xây dựng một chế độ chính trị thoát khỏi những điều kiện vật chất sẵn có. Khi ấy, chúng ta tưởng rằng có thể dựa vào Liên Xô để công nghiệp hóa đất nước, để cơ giới hóa nông nghiệp.  Thực ra nước ta vẫn chưa chín mùi cho cách mạng dân chủ tư sản, vì nền công nghiệp chưa phát triển, giai cấp tư sản cũng chưa đủ để lãnh đạo cuộc cách mạng đó. Lịch sử đã khiến Đảng ta phải đứng ra hoàn thành cuộc cách mạng đó, tức là xây dựng cơ sở vật chất, tạo ra những tiền đề văn minh để khi có điều kiện thì chuyển sang XHCN. Nhiệm vụ này vô cùng khó khăn vì giai cấp vô sản chưa có kinh nghiệm xây dựng công nghiệp, chưa có kinh nghiệm quản lý xí nghiệp, quản lý đất nước. Nhiệm vụ này tương tự như của Minh trị Thiên hoàng đứng ra hiện đại hóa nước Nhật. Quá trình hiện đại hóa đã đẻ ra một giai cấp tư sản Nhật mạnh, nhưng Nhật hoàng vẫn không đổ, mà là bình phong cho giai cấp tư sản cầm quyền. Giai đoạn cách mạng hiện nay, ta gọi là bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ, về thực chất là giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản. Trong giai đoạn này, giai cấp tư sản dân tộc không phải là đối tượng của cách mạng mà là người bạn đường của cách mạng. Nếu không có giai cấp vô sản cầm quyền thì đương nhiên họ đã phải là người cầm quyền. Không nên đặt vấn đề hạn chế sự phát triển của giai cấp tư sản bởi vì những nhà kinh doanh giỏi, những nhà sản xuất giỏi chẳng những sản xuất ra của cải vật chất, tạo công ăn việc làm cho người lao động, về thực chất họ làm lợi cho dân cho nước nhiều lần hơn những ông quan cách mạng chỉ biết đè đầu cưỡi cổ và đục khoét nhân dân. Trong khi chúng ta mời những nhà tư bản nước ngoài vào đầu tư ở nước ta, thì không có lý do gì lại hạn chế các nhà tư bản trong nước. Trong giai đoạn cách mạng này, không thể không xảy ra sự phân hóa ở nông thôn, cuối cùng dẫn tới tỉ lệ dân số nông nghiệp xuống còn 20-25% và số người lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Chỉ khi nào số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân tăng lên thì chất lượng của Đảng cộng sản mới được nâng cao thực sự. Nếu không nó vẫn bị ảnh hưởng của tư tưởng nông dân phong kiến.  Thời kỳ cách mạng tư sản dân chủ hay bước đầu của thời kỳ quá độ dài bao lâu? Với tốc độ nhanh nhất, Hàn Quốc cũng  mất 30 năm mới đạt trình độ hiện nay. Với một bộ máy quan liêu rườm rà và trì trệ như hiện nay thì 50 năm nữa ta chưa chắc đã bằng Malaixia bây giờ, chưa nói bằng Hàn Quốc. Trong một thời gian dài như vậy, vẫn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần, cơ cấu giai cấp sẽ có sự thay đổi, chắc chắn có sự phát triển của giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, sự giảm đi của nông dân, trong tương lai liệu Đảng cộng sản cầm quyền có đủ sức để điều hòa quyền lợi của các giai cấp khác nhau không? Hiện tại, nhân dân ta mới thoát khỏi sự áp bức của thực dân và phong kiến, trên thực tế chưa hiểu và chưa biết sử dụng hết quyền dân chủ của mình cho nên nhiều lúc, nhiều nơi còn bị đè nén bởi những hiện tượng chuyên quyền độc đoán. Mặc dầu đã mắc những sai lầm nghiêm trọng, mặc dầu quá nhiều đảng viên sa sút, Đảng còn lãnh đạo được, phần vì công lao giải phóng dân tộc. Nhưng nếu chúng ta không đổi mới Đảng, thật sự trở thành trí tuệ và lương tâm của thời đại, liệu ta còn đủ sức lãnh đạo thành công nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới hay không?  Muốn phát triển kinh tế thị trường, Đảng phải có những đảng viên kinh doanh giỏi, làm chủ ngân hàng giỏi, làm chủ các xí nghiệp tư nhân giỏi. Muốn vậy Đảng phải bỏ qui định Đảng viên khi muốn làm giàu phải ra khỏi Đảng. Đồng thời Đảng cần kết nạp những nhà tư sản giỏi vào Đảng để sử dụng những kinh nghiệm quản lý của họ, thực hiện lời của Lênin, sẵn sàng đổi hàng trăm đảng viên cộng sản lấy một chuyên gia tư sản.   Trong một phần ba của thế kỷ 20, lịch sử nước ta đã có những đóng góp vẻ vang cho sự nghiệp cách mạng thế giới. Tiếc rằng, cùng với các đảng anh em khác, chúng ta đã mắc những sai lầm có tính chất nguyên tắc. Từ Đại hội VI, chúng  ta đã bắt đầu sửa những sai lầm đó, do đó mà đã đạt được một số kết quả về kinh tê xã hội. Chỉ có tiếp tục dũng cảm nhìn thấy những sai lầm có tính chất lịch sử đó, chúng ta mới vạch ra được đường lối đúng và giành được thắng lợi trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.   Chú thích Anh:  Đảng cần kết nạp những nhà tư sản giỏi vào Đảng để sử dụng những kinh nghiệm quản lý của họ, thực hiện lời của Lênin, sẵn sàng đổi hàng trăm đảng viên cộng sản lấy một chuyên gia tư sản        GS. NGND Nguyễn Văn Chiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trước sự lôi kéo của cái ác      Cảnh một chiến binh IS cắt đầu nhà báo người  Mỹ James Foley bằng con dao gọt trái cây được truyền đi trên internet  đã gây ra một cú sốc mạnh đối với nhiều người, đặc biệt là người dân  trong xã hội Mỹ. Đó là một dạng thức khủng bố mới, không tạo ra một lúc  nhiều xác chết, nhưng đủ sức gieo rắc hình dung về trạng thái chết khủng  khiếp, rùng rợn nhất đối với những người sống.    Hai tuần sau, Steven Sotloff, một nhà báo Mỹ khác cũng bị IS hành quyết theo cách tương tự. Và cuối đoạn clip ngắn, IS còn đưa ra một con tin mới, là công dân Anh, người tiếp theo bị lên kế hoạch lấy mạng.  Trên bề mặt thông tin, những đoạn clip cho chúng ta thấy có một lực lượng chính trị mới muốn truyền đến toàn thế giới thông điệp về sự tồn tại và sức mạnh của mình. Bạo lực trở thành phương tiện để truyền đi thông điệp. Sự tàn nhẫn trong phương cách giết người tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ, nỗi sợ choáng ngợp khiến nhân loại có thể dễ dàng bỏ qua những nguyên nhân, động lực thúc đẩy hay mảy may chia sẻ về mặt lý lẽ để thứ bạo lực đó có mặt. Mặc dù, ai cũng biết mọi thứ luôn có nguyên nhân sâu xa của nó và đó chỉ là cái ác của bề mặt, thứ dễ thấy nhất trong vô số tàn bạo trên bàn cờ chính trị quan hệ quốc tế vốn đầy rẫy những hắc ám khuất tất.  Điều mà những người trần mắt thịt chúng ta được biết qua những sự kiện này, đó là rõ ràng cái ác đã công khai đe dọa, thách thức, một mặt tạo ra nỗi ghê sợ cho đa số, nhưng mặt khác, lại có sức lôi kéo, quyến rũ riêng với một thiểu số nào đó. Nói như học giả Pháp Georges Bataille, thì cái ác có sự hấp dẫn của nó. Chính sự tò mò, sức hút đó đã khiến thông tin, hình ảnh thủ ác được truyền thông rộng rãi và lôi kéo nhiều người theo. Và cùng với sự phổ biến cái tàn bạo đó, thế giới đang chứng kiến một hiện tượng đáng sợ khác: một số công dân trong những xã hội văn minh sẵn sàng khoác áo đen để trải nghiệm cuộc đời chiến binh, đối thoại bằng bạo lực, và khi cần, sẵn sàng dùng dao cứa vào cổ người vô tội cho đến chết như một cách xác lập diễn ngôn hiện hữu của mình (trong tháng Tám, theo nguồn tin từ The Sunday Times, thì nghi phạm cắt cổ James Foley là một nhạc sĩ Rap người Anh theo phong trào IS; một bản tin trên tờ Mirror cũng cho rằng, một số nữ chiến binh IS là công dân các nước châu Âu đang ra sức chiêu mộ lực lượng…)  Khi cái ác trắng trợn phô trương sức mạnh, lan truyền nhanh sự ảnh hưởng của nó, lúc đời sống nhân loại bị đẩy sâu vào trong nỗi bất an khôn tả, con người sống trong cảm giác phi lý triền miên, thì cuộc kiếm tìm siêu hình về ý nghĩa tồn tại trở nên thách thức khốc liệt hơn bao giờ hết.  Nhưng may mắn thay, đổi lại, ngay chính trong lãnh địa của cái ác, người ta vẫn thấy vẻ mặt bình thản của những trí thức mang lý tưởng tốt đẹp, đó là James Foley, đó là Steven Sotloff – những con người dấn thân để theo đuổi mục tiêu cốt lõi muôn thở của báo chí; tường thuật những sự thật phi nhân của chiến tranh với mong muốn nguồn thông tin chiến sự sống động chân thực sẽ trở thành thông điệp thức tỉnh thế giới.  Ai đó nói rằng, truyền thông đang định hình thế giới của chúng ta. Vậy thì từ câu chuyện trên, cũng nên nhìn sâu vào bản chất của sự dấn thân trong sứ mệnh thông tin. Những cuộc dấn thân chấp nhận đầu rơi máu chảy của người đưa tin có thể được nhìn như một biểu trưng của phẩm giá trí thức. Nó nhắc nhở điều này: ở những nơi quyền lực của bóng tối vẫn còn khống chế lối ra của sự thật và tiếng nói của lương tâm con người, thì cần có nhiều James, Steven dám đánh đổi an nguy bản thân để nhích xa, mở rộng hơn biên độ âm vang của tiếng nói sự thật, dám đánh đổi tính mạng để bảo vệ lẽ phải, công bằng, nhân tâm, dám quyết liệt và không khoan nhượng trước mầm ác, cái ác đang diễn biến tinh vi trong bối cảnh sống đang đầy rẫy những dàn đồng ca thông tin của sợ hãi, khiếp nhược, vô cảm.   Thời nào cũng thế, sự ra quân của cái ác bao giờ cũng rộn ràng, thậm chí có sức hấp dẫn, hiệu triệu mạnh mẽ, còn sự hiện hữu của điều thiện đôi khi lại quá đỗi âm thầm, tự tại trong một thế giới thường bội thực bởi những hung tin.   Nhưng hy vọng, không vì thế mà niềm xác tín vào lương tri của chúng ta có thể dễ dàng bị lung lay.        Người đi tìm cái tốt đang bị khuất lấp*     …Steve  không phải là kẻ nghiện chiến tranh. Anh cũng chẳng cần nổi danh trong  quân sự. Anh chỉ đơn thuần muốn trao tiếng nói cho những người thấp cổ  bé họng. Câu chuyện của Steve cũng giống như câu chuyện của vị bác sĩ  người Libya ở Misrata, người đã đấu tranh để có thể cung cấp những dịch  vụ chăm sóc tâm lý cho trẻ em bị tổn thương bởi chiến tranh; hay như câu  chuyện của người thợ sửa ống nước ở Syria, người đã mạo hiểm tính mạng,  vượt ranh giới giữa hai chính quyền để mua được thuốc chữa bệnh.     Và cuối cùng thì Steve đã hi sinh tính mạng của mình để kể được những câu chuyện của họ cho thế giới.    Steve  không phải là một người hùng. Như tất cả chúng ta, anh chỉ cố gắng tìm  kiếm cái tốt đang bị khuất lấp trong một thế giới ngập tràn bóng tối. Và  nếu cái tốt đó thực sự không tồn tại thì anh đã cố gắng tạo ra nó.    Anh  đã luôn tìm cách giúp đỡ những người thiệt thòi hơn mình, trợ giúp tìm  việc và giới thiệu những mối liên lạc quý giá cho những người mới chuyển  đến trong vùng.  Anh có thể mải mê  xem bộ phim hoạt hình ‘South Park’, nhưng vẫn rất nghiêm túc cố gắng  hoàn thành một bài viết vào lúc 3 giờ sáng. Anh còn có tật xấu khó bỏ là  nghiện đồ ăn vặt nữa.    Bất chấp công việc bận rộn, Steve luôn dành thời gian “Skype” với cha của mình để trò chuyện về trận gôn mới nhất của ông.     Steve  thường nói rằng công việc của anh là nắm tay mọi người để gây dựng mối  quan hệ với họ trước khi đào sâu vào câu chuyện. Anh không bao giờ nóng  vội hay bị áp lực. Tất cả những người từng gặp đều trân trọng Steve bởi  sự chân thành và lòng tốt của anh.    Steve là một tâm hồn hiền lành mà thế giới này đã đánh mất. Nhưng tinh thần của anh thì sẽ còn sống mãi.     Hôm  nay chúng ta đau khổ. Tuần này chúng ta than khóc. Nhưng chúng ta sẽ  lại vực dậy trước thử thách này. Chúng ta sẽ không cho phép kẻ thù khống  chế mình bởi thứ vũ khí duy nhất mà chúng sở hữu là nỗi sợ hãi.     Chúng  ta cũng gửi những lời cầu nguyện đến cho gia đình của James Foley. Như  Steve, anh đã phải chịu đựng những điều kinh khủng nhất. Nhưng những kẻ  cầm tù anh không bao giờ đánh bại được anh, và anh đã trở thành nguồn  cảm hứng cho những người khác trong nhà tù tăm tối ở một nơi rất xa khỏi  sự tự do của đất nước này.     Khánh Minh dịch    Nguồn: http://www.bbc.com/news/world-us-canada-29056608    *  Trích bài phát biểu của người phát ngôn đại diện cho gia đình Steven  Sotloff – nhà báo người Mỹ thứ hai bị lính IS sát hại, tiêu đề do Tia  Sáng đặt              Author                Quản trị        
__label__tiasang Truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam      Khởi đi từ c&#225;ch hiểu &#8220;D&#226;n chủ l&#224; sự thể hiện c&#225;c quyền tự do v&#224; b&#236;nh đẳng của con người v&#224; sự &#253; thức của họ về c&#225;c quyền lợi ấy, sự thể hiện n&#224;y l&#224; một phạm tr&#249; lịch sử ăn khớp với c&#225;c điều kiện v&#224; qu&#225; tr&#236;nh x&#227; hội cụ thể, gắn liền với c&#225;c thiết chế v&#224; quan hệ x&#227; hội nhất định đồng thời th&#244;ng qua c&#225;c lực lượng v&#224; phương tiện x&#227; hội x&#225;c định&#8221;, b&#224;i viết đặt vấn đề t&#236;m hiểu nội dung v&#224; t&#237;nh chất, động lực v&#224; cơ cấu cũng như c&#225;c quy luật v&#224; đặc điểm của sự ph&#225;t triển truyền thống d&#226;n chủ trong x&#227; hội Việt Nam. B&#224;i viết n&#234;u ra một số hạn chế của truyền thống d&#226;n chủ trong x&#227; hội Việt Nam v&#224; cho rằng việc kế thừa đồng thời cải tạo n&#243; l&#224; &#8220;cuộc c&#225;ch mạng duy nhất đảm bảo cho d&#226;n tộc Việt Nam gi&#224;nh được thắng lợi trong cuộc đấu tranh để h&#242;a nhập v&#224;o thế giới hiện đại, cuộc đấu tranh m&#224; trong đ&#243; con người Việt Nam vừa phải Trở lại ch&#237;nh m&#236;nh vừa phải Vượt khỏi ch&#237;nh m&#236;nh&#8221;.     Cần minh định về khái niệm dân chủ. Theo Từ điển triết học giản yếu, NXB. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987 thì dân chủ là “Hình thức Nhà nước trong đó chính quyền về mặt pháp lý thuộc về nhân dân”, còn theo Từ điển chính trị vắn tắt, NXB. Tiến bộ, Matxcơva và NXB. Sự thật, Hà Nội, 1988 thì dân chủ là “Hình thức chế độ chính trị dựa trên cơ sở công nhận những nguyên tắc về quyền lực nhân dân, quyền tự do và bình đẳng của nhân dân”. Tuy nhiên các định nghĩa nói trên chỉ mới đề cập tới dân chủ như một khái niệm chính trị và trong phạm vi xã hội hiện đại, nên để có thể nhìn thấy truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam thì phải tìm về nguồn gốc lịch sử và văn hóa của khái niệm này.  Không thể tách rời khái niệm dân chủ với tự do và bình đẳng, dù rằng trong thực tế có những khi dân chủ không song hành với bình đẳng và tự do. Bước vào xã hội có giai cấp, con người cũng bước vào một thời kỳ phân hóa trên cả các mặt kinh tế và văn hóa, chính trị và xã hội. Khoảng cách và mâu thuẫn giữa các giai cấp và các nhóm xã hội về quyền lợi kinh tế – văn hóa và địa vị chính trị – xã hội đã trở thành chướng ngại đối với sự phát triển toàn diện của từng cá nhân và vững chắc của toàn xã hội. Tư tưởng về quyền tự do và bình đẳng vì vậy đã hình thành như định hướng phát triển tối ưu cho xã hội loài người, và thước đo trực tiếp của các quyền lợi ấy chính là dân chủ.  Hơn thế nữa, trong lịch sử đã có vô số các trường hợp bình đẳng mà không tự do hay tự do mà không bình đẳng, nên dân chủ luôn là bạn đồng hành với pháp luật trong việc điều chỉnh sự lệch hướng và điều tiết sự lệch pha giữa tự do và bình đẳng, quy tụ chúng lại trên một đường hướng, một mục tiêu chung. Cho nên có thể nói dân chủ là sự thể hiện các quyền tự do và bình đẳng của con người và sự ý thức của họ về các quyền lợi ấy, sự thể hiện này là một phạm trù lịch sử ăn khớp với các điều kiện và quá trình xã hội cụ thể, gắn liền với các thiết chế và quan hệ xã hội nhất định đồng thời thể hiện qua các lực lượng và phương tiện xã hội xác định. Từ cách hiểu này, có thể bước đầu tìm hiểu nội dung và tính chất, động lực và cơ cấu cũng như các quy luật và đặc điểm của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam.  Các sử liệu hiện có không cho phép tìm hiểu chi tiết về thiết chế xã hội Việt Nam trước thời Bắc thuộc, nhưng một số truyền thuyết lịch sử cũng ít nhiều phản ảnh một phong khí dân chủ trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội của người Việt đương thời. Chẳng hạn truyền thuyết về Lang Liêu cho thấy người Việt không có chế độ tông thân pháp với quy định chặt chẽ về dòng đích dòng thứ như Trung Quốc; truyền thuyết về Mai An Tiêm cho thấy tình hình hoạt động thương nghiệp – ngoại thương của người Việt; truyền thuyết về Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung cho thấy quyền tự do của phụ nữ trong hôn nhân… Nhưng bị trấn áp dưới thời Bắc thuộc cũng như bị hạn chế từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, các quyền lợi bình đẳng và tự do nguyên sơ này đã phát triển trong một hình thức tàn khuyết với nền dân chủ công xã gồm “lệ làng” và quyền “tự trị” của các xã thôn đối với Nhà nước mà đặc biệt là trên địa bàn miền Bắc.           Khác với tiền bạc và địa vị xã hội có thể sáng còn tối mất, học vấn là một loại quyền lực mà con người giữ được suốt đời, nên trong xã hội Việt Nam ngày xưa giới trí thức luôn là người tiên phong trong việc giương cao ngọn cờ dân chủ, tuy trong không ít trường hợp ngọn cờ ấy thường bị che lấp bởi khẩu hiệu “nhân nghĩa” muôn thuở của Nho gia.         Động lực thứ hai của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam luôn luôn là nông dân chứ chưa bao giờ là doanh nhân, nên truyền thống dân chủ ở Việt Nam đã phát triển một cách không toàn diện về nội dung và không đồng bộ về cơ cấu.         Dĩ nhiên nền dân chủ ấy cũng có những khiếm khuyết của nó, chẳng hạn song song với việc bảo vệ các thành viên của cộng đồng thì nó cũng đồng thời đè nén các thành viên bằng sức mạnh của cộng đồng, song song với việc chống lại sự khống chế của giai cấp thống trị đối với cộng đồng thì nó cũng đồng thời tách cộng đồng ra khỏi nhiều quá trình chung của đất nước. Sự đan xen giữa thiết chế xã hội này với thiết chế chính trị phong kiến mà đặc biệt là từ thời Lê trở đi đã đưa tới một kết quả đặc biệt, đó là sự đan xen giữa các yếu tố dân chủ và không dân chủ trong tổ chức, thiết chế và quan hệ của xã hội Việt Nam. Cho nên Việt Nam thời phong kiến có Trưng Nữ Vương nhưng cũng có sự bất bình đẳng đối với phụ nữ; có Hội nghị Diên Hồng nhưng cũng có sự áp chế đối với nhân dân. Phải nói rằng thiết chế chính trị Nho giáo cũng có những yếu tố dân chủ nhất định, chẳng hạn chế độ khoa cử để tuyển chọn cán bộ hay chức quan Ngự sử chuyên trách việc can gián nhà vua và tham hặc quan lại phạm pháp, nhưng nhìn chung xã hội phong kiến tồn tại trên căn bản kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc chỉ có thể tạo ra một truyền thống dân chủ nửa vời.   Từ cuối thế kỷ XIX thì con người Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với nền dân chủ hiện đại và ý thức công dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà một trong những bằng chứng cụ thể là phong trào cộng sản ở Nam Kỳ trước Cách mạng Tháng Tám với các hình thức đấu tranh của xã hội dân chủ hiện đại như báo chí, nghị trường. Nhưng nếu nói ý thức công dân là biểu hiện của một quá trình khác hẳn về chất so với sự phát triển của truyền thống dân chủ thời phong kiến, thì ở Việt Nam quá trình ấy đã diễn ra một cách phức tạp và khó khăn. Manh nha từ các phong trào vận động yêu nước, tiến bộ và cách mạng trước 1945 rồi định hình trong ba mươi năm chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước trước 1975, ý thức công dân ở Việt Nam đã hình thành và phát triển với hai mâu thuẫn cơ bản. Thứ nhất, do chưa có được cơ sở kinh tế và kết cấu xã hội tương ứng nên về cơ bản nó vẫn tồn tại trên nền tảng xã hội truyền thống với những điều chỉnh mang tính gá lắp về dân chủ, vì vậy về cơ bản vẫn chưa phù hợp với các nhu cầu của sự phát triển đất nước hiện tại, đây cũng là nhân tố xã hội dẫn tới việc duy trì chế độ bao cấp sau 1975. Thứ hai, do hình thành và phát triển trong những điều kiện bất thường, ý thức công dân ở Việt Nam có một nội dung không hoàn chỉnh trong một kết cấu khá đơn giản thiên về các nội dung chính trị, nên một khi có những biến động khách quan về kinh tế – xã hội thì rất dễ bị phá vỡ thế cân bằng và mất đi tính ổn định cần thiết như người ta đã thấy trong thời gian xóa bỏ bao cấp từ 1986 đến nay. Những khiếm khuyết trong ý thức công dân, trong truyền thống dân chủ của con người Việt Nam hiện nay chính phản ảnh đồng thời thể hiện hai mâu thuẫn ấy, hai mâu thuẫn trong lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam thế kỷ XIX – XX.  Động lực chủ yếu của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam  Có thể dễ nhận ra rằng truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam đã có mầm mống của hầu hết các quan niệm tự do và bình đẳng hiện đại, chẳng hạn giữa Phạm Lam Anh “Khí phẫn kết thành trời cũng hỏi” với Hồ Xuân Hương “Ví đây đổi phận làm trai được” đều có một nét chung là không cam tâm yên phận với số phận và địa vị mà xã hội phong kiến an bài cho phụ nữ ngày xưa. Truyền thống dân chủ trong lãnh vực văn học nghệ thuật và khoa học kỹ thuật ở Việt Nam còn dễ thấy hơn, dù rằng cái học tu tề trị bình để quản lý xã hội của Nho gia khiến trí thức Việt Nam thời phong kiến ít quan tâm mà cũng không coi trọng những loại học vấn để phát triển sức sản xuất. Viên hành tẩu Bộ Lễ Cao Bá Quát cũng có thể kết bạn thơ văn và thậm chí còn được đề bài Hậu tự cho tập thơ Thương Sơn công thi tập của Tùng Thiện công Miên Thẩm, viên Bố chánh xuất thân Cử nhân Nguyễn Thông cũng có thể gửi thư cho viên Thượng thư xuất thân Tiến sĩ Phạm Phú Thứ để thẳng thắn trình bày quan điểm của mình về văn chương. Chính từ đây, có thể thấy được động lực thứ nhất của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam. Khác với tiền bạc và địa vị xã hội có thể sáng còn tối mất, học vấn là một loại quyền lực mà con người giữ được suốt đời, nên trong xã hội Việt Nam ngày xưa giới trí thức luôn là người tiên phong trong việc giương cao ngọn cờ dân chủ, tuy trong không ít trường hợp ngọn cờ ấy thường bị che lấp bởi khẩu hiệu “nhân nghĩa” muôn thuở của Nho gia. Từ Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan với nhà Mạc soán ngôi tới Đào Duy Từ giúp đỡ họ Nguyễn chống Trịnh, người trí thức Việt Nam đã từng bước đi tới một truyền thống dân chủ chính trị ngay từ thời phong kiến, truyền thống đã đem lại cho lịch sử Việt Nam những Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích trong triều đại nông dân Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII và một Cao Bá Quát với ngọn cờ Vũ Thang “điếu dân phạt tội” ở miền Bắc năm 1851 rồi những Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp dưới ngọn cờ cứu nước “chẳng nghe Thiên tử chiếu” ở Nam Kỳ sau Hòa ước 1862.   Nhưng động lực thứ hai của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam luôn luôn là nông dân chứ chưa bao giờ là doanh nhân, nên truyền thống dân chủ ở Việt Nam đã phát triển một cách không toàn diện về nội dung và không đồng bộ về cơ cấu. Không có một nền kinh tế hàng hóa trên cơ sở sản xuất công nghiệp, truyền thống dân chủ kinh tế trong xã hội Việt Nam thời phong kiến không thể phát triển vì không có một tầng lớp doanh nhân độc lập về ý thức xã hội và chủ động trong hoạt động kinh doanh. Cần nói thêm rằng không nên ngộ nhận mà coi Nho giáo là một chướng ngại tư tưởng đối với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, của hoạt động thương nghiệp. Tất cả các kinh điển Tứ thư Ngũ kinh của Nho giáo đều không có câu nào phê phán việc buôn bán, một trong các học trò giỏi của Khổng Tử là Tử Cống còn là một đại thương nhân. Cho nên việc trọng nông ức thương của một số chính quyền phong kiến thật ra chỉ là cấm đoán, hạn chế tư thương nhằm giành độc quyền và lợi nhuận thương nghiệp tối đa về cho quan thương, cho thương nghiệp của chính quyền chứ hoàn toàn không phải vì khinh ghét thương nghiệp. Dĩ nhiên đến đầu thế kỷ XX thì tầng lớp tư sản dân tộc không bị hạn chế như thương nhân thời phong kiến, nhưng hoàn cảnh đất nước bị ngoại nhân đô hộ lại khiến họ không được tự do và bình đẳng trong việc cạnh tranh với tư bản nước ngoài. Phải thẳng thắn để nhìn nhận rằng chế độ bao cấp kéo dài sau 1975 thật ra chính là sự lặp lại việc đè nén tư thương thời phong kiến ở một quy mô khác, nên không lạ gì mà đến cuối thế kỷ XX một số cá nhân và cơ quan trong bộ máy Nhà nước vẫn còn phản ứng khi Chính phủ quyết định bãi bỏ các giấy phép con…  Trong sinh hoạt xã hội, truyền thống dân chủ ở Việt Nam cũng có nhiều điều khiếm khuyết. Nếu sự không bình đẳng và tự do trong xã hội hiện đại chủ yếu xuất phát từ sự phân hóa giàu nghèo, có nguồn gốc kinh tế thì sự không bình đẳng và tự do trong xã hội truyền thống xuất phát từ sự phân biệt sang hèn, có nguồn gốc đẳng cấp. Không lạ gì mà các quy phạm lễ nhạc thời phong kiến lại bao gồm cả các chuẩn mực trong sinh hoạt cá nhân từ ăn uống, nhà cửa tới vật dụng trang phục, với những quy định có khi rất chi tiết về kích thước, kiểu dáng, màu sắc của nhà cửa đền miếu, y phục vật dụng… có tính chất đẳng cấp cho các nhóm xã hội, ai vi phạm các quy định này sẽ bị coi là “vượt phận tiếm lễ”, thậm chí còn có thể bị coi là có mưu đồ phản nghịch, “bất hiếu bất trung”. Dĩ nhiên nhìn từ góc độ xã hội thì các quy phạm hạn chế quyền tự do cá nhân trong tiêu dùng ấy cũng hạn chế cả quyền tự do cá nhân trong sản xuất, nên với sự thắng thế của kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa thì nó cũng mau chóng bị thủ tiêu như một tập quán bất bình đẳng chà đạp lên nhân phẩm con người. Tuy nhiên tập quán này lại ít nhiều được phục hồi trong thời bao cấp sau 1975 với các hình thức tem phiếu tiêu chuẩn tương ứng với cấp bậc chức vụ trong bộ máy Nhà nước, dẫn tới tệ nạn đặc quyền đặc lợi hiện đã vượt ra khỏi phạm vi hoạt động tiêu dùng trong đời sống vật chất mà thấm vào nhiều hoạt động và lãnh vực khác của sinh hoạt xã hội, dĩ nhiên với sự giúp sức đắc lực hơn của kinh tế thị trường.  Sau cùng, sự phát triển của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam còn gặp phải một trở ngại khách quan là sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực. Giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng với các khu vực biên giới, hải đảo… và những vùng sâu vùng xa luôn luôn có những khoảng cách về kinh tế – xã hội, về dân sinh và dân trí, đây là một khó khăn lớn cho việc xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật cũng như cơ chế dân chủ hiện đại thống nhất trên toàn lãnh thổ, ảnh hưởng bất lợi tới việc kế thừa và nâng cao ý thức dân chủ nơi con người Việt Nam sau thế kỷ XX.   Quy luật phát triển của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam:   Từ những điều nói trên, đã tạm đủ để có thể bước đầu rút ra một số đặc điểm mà cũng là quy luật phát triển của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam:   1. Truyền thống dân chủ ở Việt Nam luôn gắn liền với độc lập dân tộc. Chịu tác động từ thảm họa vong quốc hàng ngàn năm, ý thức giác ngộ về quyền tự do và bình đẳng của con người Việt Nam trong và sau thời Bắc thuộc đã tập trung hướng tới lợi ích cộng đồng nhiều hơn lợi ích cá nhân, nên thường được phát huy vào những lúc tổ quốc lâm nguy, nhân dân khốn khổ, còn trong những thời kỳ độc lập và hòa bình thì tâm lý tiểu nông an phận của nông dân và tư duy “pháp tiên vương” (theo phép tắc thời tiên vương) trì trệ của tầng lớp thống trị lại vượt lên chiếm vai trò chủ đạo, làm triệt tiêu tính năng động và sáng tạo của dân tộc trên tất cả các hoạt động và lãnh vực xã hội, điều này quy định yếu tố thụ động và tự phát trong sự phát triển của truyền thống dân chủ ở Việt Nam.   2. Nhìn chung truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam còn chưa toàn diện về nội dung và chưa đồng bộ trong cơ cấu, chẳng hạn nặng về dân chủ chính trị mà nhẹ về dân chủ kinh tế và dân chủ xã hội, hay dân chủ chính trị nhìn chung cũng chưa đồng bộ về trách nhiệm và quyền lợi, vì sau khi xã hội thần dân với biểu hiện tích cực nhất của nó là ngọn cờ Cần vương của các nhà nho yêu nước đã bị lịch sử khai tử cuối thế kỷ XIX, con người Việt Nam không có một xã hội công dân nên trong thực tế đã đi đến ngày 30. 4. 1975 bằng một xã hội quốc dân.   3. Động lực chủ yếu của truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam là nông dân và trí thức. Nhưng do giới hạn của điều kiện sống, ý thức dân chủ ở hai nhóm xã hội này ít khi triệt để và mang nhiều mâu thuẫn, đây cũng là ánh phản về những hạn chế trong truyền thống tư tưởng và tư duy của con người Việt Nam.   4. Cơ chế phối hợp giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam chưa thống nhất ở các các nhóm xã hội, khu vực và địa bàn khác nhau. Nếu thừa nhận một trong những nền tảng của dân chủ là sự tự ý thức về quyền tự do và bình đẳng nơi từng cá nhân, thì hiện nay ý thức ấy còn chưa có được cơ sở kinh tế – xã hội cũng như điều kiện giáo dục – thông tin phù hợp để phát triển một cách thuận lợi và tự nhiên.  ***  Trên con đường hội nhập vào thế giới thông qua kinh tế hàng hóa với cơ chế thị trường, Việt Nam cũng mang theo nhiều hành trang là những giá trị của quá khứ. Trong số hành trang ấy có những yếu tố trở thành động lực và nguồn lực, nhưng ngược lại cũng có những yếu tố trở thành gánh nặng và trở ngại cho sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Truyền thống dân chủ chưa đầy đủ và nhiều mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam là một giá trị mang cả hai ý nghĩa tích cực và tiêu cực nói trên, nên việc kế thừa đồng thời cải tạo truyền thống này vừa là một vấn đề phức tạp vừa là một vấn đề cấp thiết trong sinh hoạt kinh tế và xã hội, văn hóa và tư tưởng, khoa học và chính trị ở Việt Nam hiện tại. Dĩ nhiên đây không phải là một công việc dễ dàng hay đơn giản, vì nó buộc con người Việt Nam phải có những đột phá trên tất cả các mặt nhận thức và tâm lý, tư tưởng và lối sống, nghĩa là trong cả phương thức tư duy lẫn phương thức sống. Nhưng đây là cuộc cách mạng duy nhất đảm bảo cho dân tộc Việt Nam giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh để hòa nhập vào thế giới hiện đại, cuộc đấu tranh mà trong đó con người Việt Nam vừa phải Trở lại chính mình vừa phải Vượt khỏi chính mình…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Truyền thông để khoa học gần hơn với đại chúng      Từ xa xưa, ở các nước phương Tây, xuất hiện những con người, có tri thức, tự đúc rút kinh nghiệm rồi chia sẻ, phổ biến kiến thức, trong phạm vi một nhóm nhỏ rồi mở rộng đại chúng.    Trẻ em háo hức đến Bảo tàng Thiên nhiên (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  Ví dụ: Nhà hiền triết Socrates, người đặt nền móng cho thuật tự biện từng đi khắp các thành bang Hy Lạp để truyền bá tư tưởng và mở trường dạy học. Euclid, người đã viết bộ sách cơ sở, có thể coi nó là bộ sách nền móng của Toán học, Newton với “Philosophiae Naturalis Principia Mathematica” (tạm dịch: Nguyên lý Toán học của Triết học tự nhiên) nền móng của Cơ học cổ điển. Darwin với cuốn “nguồn gốc loài người” giải thích quá trình hình thành loài mới, nguồn tiến hoá của giới tự nhiên ngày nay… Có rất nhiều các ví dụ lịch sử về những cá nhân và những cuốn sách như thế mà chúng ta không thể kể hết được, là minh chứng cho thấy các ví dụ trong lịch sử, để thấy được ở phương Tây họ chú ý tới việc phổ biến khoa học ra sao. Chính từ sự phổ biến kiến thức ấy mà dân trí của họ được nâng cao, con người phát triền và luôn thôi thúc sự sáng tạo, từ đó tạo ra một nền khoa học kỹ thuật phát triển giúp thúc đấy kinh tế.  Trong khi đó, giới nho sỹ Việt trước đây chỉ bao gồm giới quan lại, các thầy đồ, nho sinh, với các tri thức mang nặng tính khoa cử quanh quẩn trong khoảng 60 cuốn sách kinh điển của Nho học. Do vậy, những tri thức được truyền bá trong cộng đồng xưa kia chủ yếu chỉ trong lĩnh vực văn chương. Còn những sản phẩm tri thức có tính ứng dụng thiết thực lại rất ít được phổ biến, có chăng chỉ giới hạn trong một vài lĩnh vực như Đông y, phong thủy, tử vi lý số, kinh dịch bói toán. Các tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghiệp hầu như không được quan tâm chia sẻ truyền bá rộng rãi trong cộng đồng.  Cái nếp xưa lạc hậu ấy đến nay trong xã hội hiện đại vẫn hằn sâu trong tư duy của số đông. Chúng ta vẫn tự hào về truyền thống hiếu học, nhưng thực chất sự hiếu học ấy thuần túy vẫn chỉ là nhồi nhét vào đầu học sinh những kiến thức sẵn có phục vụ cho mục tiêu đỗ đạt, có bằng cấp để tìm công ăn việc làm, thay vì học tập theo nhu cầu ứng dụng thiết thực trong đời sống. Hậu quả không chỉ là chúng ta thiếu các nhà phát minh, sáng chế tài năng, mà nghiêm trọng hơn, là sự hạn chế nghiêm trọng ngay từ mặt bằng dân trí phổ thông, dẫn tới năng suất, chất lượng lao động thấp, làm hạn chế năng lực phát triển của đất nước.  Để thay đổi nếp nghĩ lạc hậu kéo lùi sự phát triển trên đây, riêng trong lĩnh vực truyền thông KH&CN, cần bắt tay triển khai ngay một số công việc:  Chú trọng truyền thông về các hoạt động giáo dục khoa học, kỹ thuật công nghệ trong nhà trường, kêu gọi nghiên cứu phổ cập giáo dục STEM để học sinh được tiếp cận với các tri thức khách quan ngay từ nhỏ, tạo nền tảng về khoa học kỹ thuật và công nghệ cho thế hệ tương lai.  Tăng cường truyền thông các bài giảng khoa học từ các chuyên gia uy tín dành cho đại chúng để đưa tri thức mới, các công nghệ, kỹ thuật mới tới gần hơn với người dân.  Truyền thông một cách chuyên nghiệp, nghiêm túc về các seminar, hội nghị khoa học liên ngành, tạo sự gắn kết trong nghiên cứu khoa học của các chuyên gia, đồng thời giúp các chuyên gia, các nhà nghiên cứu có thể mở rộng vốn hiểu biết về nhu cầu thực tiễn đời sống nhằm tạo ra các nghiên cứu ứng dụng có chất lượng cao hơn.  Truyền thông về hoạt động đổi mới giáo trình, phương pháp dạy học tại các trường theo xung hướng tăng cường thực hành, đưa sinh viên và các nhà khoa học tham gia cùng quần chúng cải thiện đời sống, cải tạo công nghệ, kỹ thuật sản xuất.  Truyền thông về các sân chơi sáng tạo khoa học, kỹ thuật cho các cấp từ tiểu học tới đại học, từ địa phương tới trung ương, từ các xã tới toàn quốc để kích thích sự sáng tạo của đại chúng và tôn vinh các sáng tạo, cải tiến có ích. Đồng thời các nhà khoa học cũng tham gia hỗ trợ trong việc đảm bảo cơ sở lý thuyết, tính đúng đắn và tối ưu cho sản phẩm.  Trên hết, truyền thông KH&CN phải thay đổi nhận thức của số đông trong cộng đồng xã hội, để mỗi cá nhân đều có ý thức chủ động tìm hiểu nâng cao trình độ, kiến thức của mình cùng những người xung quanh, và ứng dụng vào những việc làm thiết thực nhỏ nhất.    Author                Nguyễn Đức Hưng        
__label__tiasang Truyền thông trong công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai      Nếu coi sự hiểu biết của con người đối với  thời tiết là một dạng tri thức thì truyền thông là cách thức để xã hội  có cái nhìn đúng đắn về khả năng cũng như khó khăn của công tác dự báo  khí tượng thủy văn.     Ngày Khí tượng Thế giới (23/03/1950-23/03/2013) cũng là thời điểm những người làm công tác khí tượng thủy văn chuẩn bị bước vào một mùa mưa bão mới. Bài viết dưới đây nhằm nâng cao nhận thức của bạn đọc về tầm quan trọng của truyền thông đối với công tác dự báo khí tượng thủy văn.   Truyền thông theo định nghĩa của Valenzula (1992) là từng hành động trao-nhận thông tin giữa người và người. Thông tin bao gồm nhu cầu, mong muốn, tri thức, hay trạng thái tình cảm. Quá trình trao-nhận thông tin kết thúc khi người nhận hiểu được đầy đủ thông điệp mà người trao muốn chia sẻ. Dự báo thời tiết theo Fleming (2008) là quá trình con người đặt niềm tin vào sự hiểu biết của mình đối với sự thay đổi của trạng thái khí quyển trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian đó có thể kéo dài từ vài phút cho tới vài tháng, thậm chí vài năm, phụ thuộc vào từng hiện tượng. Qua hai định nghĩa này chúng ta thấy chủ thể con người đã được hết sức chú trọng. Cả truyền thông và dự báo thời tiết đều hướng tới một đích ngắm duy nhất là phục vụ cộng đồng. Nói một cách khác, nếu coi sự hiểu biết của con người đối với thời tiết là một dạng tri thức thì truyền thông (anh Thông) là cách thức để xã hội (anh Xã) có cái nhìn đúng đắn về khả năng cũng như khó khăn của công tác dự báo khí tượng thủy văn (anh Dự).   Xin mạn đàm về anh Dự trước tiên. Hàng nghìn năm qua, loài người bằng mọi cách vẫn mải miết tìm cách tiếp cận đến quyền năng của ông giời, cố hiểu và làm chủ bầu khí quyển trái đất nhưng kết quả thu được rất hạn chế. Minh chứng là hàng năm thiên tai, không phân biệt sắc da, giới tính, hay vị trí địa lý, vẫn cướp đi hàng ngàn mạng sống trên trái đất cũng như hàng tỷ tiền bạc của cải và vật chất. Nói thuộc tính  “Không-Thể-Dự-Báo” hay “Có-Thể-Sai” là bản chất của anh Dự là vì nhẽ vậy. Thế còn anh Thông? Xin thưa, anh Thông là nhà đầu bếp khéo léo. Anh có đủ loại món ăn cũng như gia vị để hấp dẫn anh Xã. Lương-Giá-Tiền, Giao thông, hay Giáo dục là những món chế biến ưa thích, anh Xã ăn mãi không biết chán. Rõ ràng anh Thông có nhiều lựa chọn cho mình hơn. Tuy nhiên không vì thế mà anh Dự lại bị anh Thông bỏ quên. Chẳng thế mà trong tất cả các thời báo có lượng xuất bản lớn trên thế giới, phần tin dự báo thời tiết luôn tồn tại và chiếm một tỷ lệ nhất định. Tương tự như vậy trên hầu khắp các kênh truyền hình, phần tin thời tiết đều được điểm vào giờ “vàng”, thậm chí nhiều nơi còn có kênh truyền hình dự báo thời tiết riêng biệt 24/7. Khi thiên tai xảy ra, tin tức dự báo không còn là món ăn đơn thuần nữa, lúc này tin dự báo trở thành một trong những chiếc phao cứu sinh đầu tiên cho cộng đồng. Ở đây chúng ta thấy xuất hiện một nghịch lý là dù biết tính chất không-thể-dự-báo nhưng tại sao thông tin anh Dự đưa ra vẫn được dùng để phục vụ cộng đồng?  Câu trả lời ngắn gọn có thể là: “Vì Dự – Thông  chúng ta cần nhau”. Câu trả lời không sai bởi ai cũng biết xã hội càng văn minh, con người càng tiến bộ thì mối quan tâm của con người với thời tiết – khí hậu sẽ tăng lên. Nhưng dường như đó không phải là một câu trả lời hoàn chỉnh. Một câu trả lời hoàn chỉnh sẽ giúp chúng ta biết được thông tin khí tượng hiện đang được hiểu và sử dụng như thế nào, qua đó thấy được mức độ phụ thuộc cũng như tìm ra được một số giải pháp để có thể làm tốt hơn nữa công tác phục vụ cộng đồng của hai anh Dự – Thông.  Tính khả dụng của tin dự báo khí tượng thủy văn và khả năng thích nghi của truyền thông  Trước tiên, để tìm hiểu thông tin dự báo khí tượng thủy văn (gọi tắt là dự báo) hiên nay được hiểu và sử dụng thế nào chúng ta hãy cùng xem một ví dụ sau đây. Trong một khảo sát của cơ quan Khí tượng Úc (Muchemi, 2008), những người tham gia được hỏi là họ hiểu thế nào nếu nghe tin dự báo là 30% khả năng sẽ mưa tại một thành phố. 55% người hiểu là mưa sẽ rơi tại bất kỳ địa điểm nào trong thành phố với xác suất 30%, trong khi đó 36% câu trả lời hiểu theo nghĩa là 30% xác suất mưa trên toàn bộ thành phố. Kết quả này ngoài việc cho ta thấy sự đa dạng trong nhận thức của cộng đồng, nó còn cho thấy rõ ràng có một vấn đề nảy sinh giữa truyền thông và dự báo. Đối chiếu với định nghĩa về truyền thông nêu trên, ta thấy trong ví dụ này quá trình trao-nhận thông tin chưa kết thúc bởi cộng đồng hay người nhận chưa hiểu được một cách trọn vẹn, đầy đủ thông điệp của bên dự báo. Ở đây mô hình tri thức-thầy giáo-học sinh có thể dùng để minh họa cho vấn đề này. Nếu ta coi thầy giáo là nguồn truyền đạt lại kiến thức từ kho tàng tri thức tới học sinh thì rõ ràng để giảng bài cho học sinh, hiển nhiên là người thầy phải thông hiểu những điều trong sách hay kho tàng tri thức. Hiểu trên tinh thần đó thì để truyền tải một thông tin đầy đủ, trọn vẹn tới cộng đồng, bản thân người đưa tin cũng cần phải có hiểu biết về loại thông tin đó. Nói cách khác, truyền thông cũng cần tăng cường sự hiểu biết của mình đối với các tin dự báo.  Bên cạnh đó, về phía dự báo cũng có thể làm tốt hơn phần việc của mình nếu bản tin dự báo được làm cụ thể hơn. Gợi ý được đưa ra là bên cạnh tin dự báo mưa nói trên, anh Dự sẽ cung cấp thống kê khí hậu về tần suất xuất hiện mưa tại địa điểm và thời gian tương ứng. Thống kê này một mặt sẽ giúp người sử dụng (bao gồm cả truyền thông và cộng đồng) tiên lượng được khả năng sai số của dự báo, mặt khác nó sẽ giúp người dùng dần dần xây dựng được lòng tin hay độ khả tín vào dự báo.   Cũng liên quan đến việc hiểu và sử dụng bản tin dự báo, phần trao đổi này chúng ta thử tìm hiểu bản tin dự báo thời tiết đã và đang được sử dụng như thế nào thời gian qua tại Việt Nam? Trong những ngày có thời tiết tốt, guồng máy Dự – Thông bên phát bên nhận phối hợp nhịp nhàng, ăn ý. Tuy nhiên khi thời tiết nguy hiểm xảy ra, ví dụ như bão, lũ, một số điểm lấn cấn bắt đầu xuất hiện. Để dẫn chứng cho nhận định này, chúng ta lấy cơn bão gần đây nhất, cơn bão Sơn Tinh (24-29/10/2012, 7/63 tỉnh thành bị ảnh hưởng, thiệt hại xấp xỉ 3.5 tỷ đô-la Mỹ, 11 người chết và mất tích), làm ví dụ. Cùng thời gian này, bên kia Thái Bình Dương, nước Mỹ cũng phải chống trả với cơn bão Sandy (24/50 bang của Mỹ bị ảnh hưởng, thiệt hại xấp xỉ 71 tỷ đô-la Mỹ, hơn 80 người chết). Một sự so sánh giữa truyền thông và dự báo của hai quốc gia trong tình huống cùng đối phó với một hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm sẽ phần nào giúp chúng ta hình dung sự khác biệt và có thể rút ra những bài học hữu ích. Có người sẽ đặt câu hỏi tại sao lại so sánh Việt Nam – một nước đang phát triển, kinh thế đứng hàng thứ 62/110, với Mỹ – một siêu cường trên thế giới. Thực tế là, với siêu bão Sandy, một nước phát triển hàng đầu về công nghệ khoa học như thế mà cũng khốn đốn để đối phó và cứu trợ cộng đồng thì điều đầu tiên chúng ta cần nhận ra rằng: Dự báo chỉ là dự báo, đâu cũng vậy mà thôi. Tại Việt Nam, ngay khi bão kết thúc, như thường lệ khi có thiệt hại về người và của, dự báo là cơ quan được chính truyền thông “hỏi thăm” nhiều nhất. Tuy nhiên cũng khó trách được truyền thông trong trường hợp này vì dường như họ đang thực hiện nhiệm vụ của mình là truyền đạt thông tin, phản ánh, suy nghĩ của những người đứng đầu các địa phương bị thiệt hại lớn từ bão. Chuyện về những người đứng đầu các địa phương chúng ta tạm thời không lạm bàn trong bài viết này. Chỉ có điều, giá như truyền thông hiểu được bản chất và khả năng của công tác dự báo, sau đó sử dụng chính sự hiểu biết đấy để nâng cao nhận thức cộng đồng thì tốt biết mấy. Cùng thời điểm bão kết thúc, bên kia bờ đại dương, hầu như toàn bộ các hãng báo chí lớn như CNN, Washington Post, New York Times … tràn ngập thông tin thống kê thiệt hại do bão Sandy gây ra. Phóng viên truyền thanh, truyền hình đều cố gắng trực tiếp ghi hình, chuyển tải thông tin nhanh nhất tới cộng đồng, và kêu gọi sự giúp đỡ cho những người trong cơn hoạn nạn. Không một dòng tin nào họ nhắc tới dự báo. Liệu đây có được coi là điều tạo ra sự khác biệt giữa cách ứng xử của truyền thông hai nước?  Vẫn với ví dụ hai cơn bão Sơn Tinh và Sandy nói trên, nay chúng ta xem khả năng dự báo của Mỹ và Việt Nam khác và giống nhau thế nào. Giống như nhiều quốc gia thuộc Tổ chức khí tượng Thế giới, các bản tin dự báo thời tiết nguy hiểm tại Mỹ và Việt Nam được phát báo chính thức từ một đơn vị và nội dung bản tin (trường hợp này là bản tin bão) đều bao gồm ba phần: thông tin cơn bão đã qua, thời điểm hiện tại và dự báo sắp tới. Do đó độ dài các bản tin chính thức cũng không chênh nhau đáng kể. Sự khác biệt trong dự báo lại bắt đầu từ chính truyền thông. Tại sao ? Tại Việt Nam, trong trường hợp thời tiết nguy hiểm, tất cả các phương tiện truyền thông đều phát báo chính xác những gì Cơ quan dự báo phát tin. Điều này có nghĩa là toàn bộ các thuật ngữ chuyên môn cũng được phát báo tới đại chúng, chuẩn xác tới từng dấu chấm dấu phẩy. Vấn đề là những ngôn từ được dùng trong các bản tin thường có khả năng bao hàm nội dung lớn hơn nhiều với số lượng các con chữ đươc sử dụng. Việc sử dụng các thuật ngữ chuyên môn này trong một số trường hợp có thể gây khó hiểu cho người sử dụng bản tin. Trong khi đó, tại các hãng truyền thông lớn của Mỹ, đội ngũ chuyên gia thời tiết của họ được phép tự dựng bản tin báo bão với lời văn dễ hiểu cho tất cả mọi người. Đương nhiên, trong bản tin họ vẫn có phần trích dẫn, hay giới thiệu tới bản tin chính thức của Cơ quan dự báo quốc gia. Theo dõi quá trình phát tin bão Sandy bên Mỹ, ta thấy còn một điểm rất đáng chú ý nữa. Đó là tại thời điểm ngày 24 tháng 10, tức 6 ngày trước khi bão đổ bộ đất liền. Với sự tự do trong quyết định bản tin của mình, kênh truyền hình MSNBC trình diễn sự khác nhau giữa dự báo của Trung tâm dự báo hạn vừa châu Âu và dự báo của Cơ quan khí tượng Mỹ. Dự báo của Châu Âu cho rằng Sandy sẽ đổ bộ vào đất liền nước Mỹ vào rạng sáng ngày thứ 3, tức 30 tháng 10; trong khi đó dự báo của Mỹ nhận định Sandy chạy thẳng ra biển. Hơn nữa, khoảng cách sai số giữa hai hệ thống dự báo này tại thời điếm đấy khác nhau xấp xỉ 1250km, tương đương khoảng cách Hà Nội – Nha Trang.  Với việc cung cấp hai dự báo tréo ngoe nhau như thế truyền thông Mỹ một mặt giải thích được với cộng đồng mức độ khó khăn cũng như khả năng sai số của dự báo, mặt khác cũng đưa ra cảnh báo sớm trước 6 ngày để người dân phòng bị trong trường hợp xấu nhất. Rất may, cảnh báo sớm này của Châu Âu lại đúng với những diễn biến thực tiếp theo của bão Sandy. Đưa tin như kênh truyền hình kia là một cách mở mang dân trí. Hình như, ta chưa thấy điều tương tự trên các phương tiện truyền thông tại Việt Nam.  Kết luận  Tóm lại, thông qua một số ví dụ chúng ta có thể thấy rằng mối quan hệ giữa truyền thông và dự báo là mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Trên hành trình này, cả truyền thông và dự báo đều có thể tự sửa đổi để hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của mình cũng như cố gắng trợ giúp lẫn nhau, đặc biệt trong các tình huống thiên tai xảy ra. Đối với dự báo, bên cạnh dự báo định lượng hiện nay, dự báo xác suất có thể là một sự lựa chọn tốt trong tương lai. Dự báo xác suất giúp cho người sử dụng bản tin có ngay ước lượng về khả năng và giới hạn của dự báo, tránh được các rủi ro nghề nghiệp đối với các yêu cầu chưa phù hợp trong khoa học dự báo khí tượng thủy văn ở thời điểm hiện tại ví dụ như bão đổ bộ chính xác vào vùng nào, lượng mưa cụ thể bao nhiêu… Đối với truyền thông, đội ngũ phóng viên, biên tập tin dự báo nên cần thiết có sự am hiểu nhất định về ngành khí tượng thủy văn. Một cơ chế tự do hơn trong xây dựng, phát hành bản tin cũng có thể là một gợi mở trong tương lai của truyền thông.  Tài liệu tham khảo   Gerald Fleming, 2008: Service delivery and public weather services – an overview. WMO Bulletin, vol. 57 (4).  Samuel Muchemi et al., 2008: Guidelines on communicating forecast uncertainty. WMO/ TD No.4122.  Julia Scherba de Valenzuela, 1992: National Joint Committee for the Communicative needs of persons with Severe Disabilities, United States.     Author                Quản trị        
__label__tiasang TS Khuất Thu Hồng và TS Đặng Hoàng Giang nói chuyện “Ta đã làm gì đời ta… trong thế giới ảo?”      Từ ngàn xưa, con người đã không bao giờ muốn chấp nhận thực tại hữu hạn nên đã không ngừng tưởng tượng về những thế giới khác – nơi họ tự do làm những điều không đạt được trong cuộc đời thực, kể cả những điều tốt đẹp cho bản thân và những hình phạt cho kẻ thù. Phải chăng tự do chính là động lực thúc đẩy con người sáng tạo ra Internet, ra mạng xã hội – hay thế giới ảo như cách gọi để gộp chung tất cả những phát minh vĩ đại và rồ điên đó?      Càng ngẫm về  cách chúng ta tung hoành trong thế giới ảo, hay mò mẫm, hoảng loạn trong đó tôi càng thấy nên gọi nó là phát minh vĩ đại và rồ điên của nhân loại. Khi tri thức như được mở ra không ngừng nhờ Internet, khi tương tác xã hội được nhân lên dường như vô hạn trong mạng xã hội, chúng ta tưởng mình đã được tự do hơn. Chúng ta tưởng như mình đang sánh cùng các vị thần tiên trong thế giới siêu nhiên. Tiếc thay, chúng ta vẫn chỉ là người trần mắt thịt – càng phát minh, càng không thể cất cánh vì bị ghim chặt ở mặt đất bởi sức nặng của chính mình.  Mấy tuần qua, mạng xã hội liên tục dậy sóng bởi một số vụ bê bối pháp đình, bởi những lời tố cáo xâm hại tình dục và kêu cứu vì bạo hành. Có bao nhiêu tình cảm tốt đẹp được sẻ chia thì cũng có bấy nhiêu những lời thóa mạ, rủa xả. Cảm giác tự do khỏi những giao tiếp vật lý càng khiến người ta dễ dàng mạt sát lẫn nhau nhiều hơn và tàn tệ hơn ở ngoài đời thực. Xem ra tự do trong thế giới ảo còn khó khăn hơn. Vậy chúng ta đang đi về đâu? Tôi chợt nhớ đến câu hỏi mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh hay đặt ra cho các học trò của mình “Ta đã làm gì đời ta”và những suy nghĩ lan man của tôi về thế giới ảo chợt quay về day dứt. Chừng nào chúng ta không rũ bỏ được sức nặng trần tục mà chúng ta được bồi đắp từ nền văn hoá của cuộc đời này, chừng đó chúng ta vẫn tiếp tục tước đi tự do của chính mình ở mọi thế giới, cho dù có tạo ra bao nhiêu thế giới chăng nữa.  Đó là những chia sẻ đầu tiên của TS. Khuất Thu Hồng về buổi nói chuyện “Ta đã làm gì đời ta … trong thế giới ảo?”.  Buổi nói chuyện do hai diễn giả, TS. Khuất Thu Hồng (viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội – ISDS) và TS. Đặng Hoàng Giang (Phó GĐ Trung tâm nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng – CECODES) trình bày, dẫn chương trình bởi TS. Giáp Văn Dương (Chủ tịch GiapGroup). Các diễn giả sẽ cùng cử tọa trao đổi, thảo luận về những nội dung chính sau đây:  Chúng ta sống ảo từ bao giờ?  Chúng ta sống ảo đến mức nào?  Đời thực đã “xâm lăng”thế giới ảo ra sao?  Chúng ta sẽ còn sống thực được bao lâu?  Buổi nói chuyện do Tia Sáng/ Báo Khoa học và phát triển tổ chức trong khuôn khổ chuỗi hoạt động thường kỳ đưa khoa học và nghệ thuật đến công chúng.  Thông tin chi tiết:  Thời gian:14h30, thứ Bảy ngày 09/06/2018.  Địa điểm: Café Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Vào cửa tự do.    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Lưu Vĩnh Toàn: AI sẽ là “cạm bẫy” nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa dùng sai hay ảo tưởng      Trí tuệ nhân tạo (AI) là một công cụ hiệu quả với các công ty lớn trên thế giới như Google, Amazon, Facebook… Vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có thể tận dụng được thế mạnh của AI để hỗ trợ công việc sản xuất, kinh doanh của mình?    Chúng tôi đã trao đổi với TS. Lưu Vĩnh Toàn (công ty Move Digital AG, Thụy Sĩ) – một chuyên gia về data mining, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, AI, về cách tiếp cận AI của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hiện nay.    TS. Lưu Vĩnh Toàn.   Anh có thể chia sẻ góc nhìn của anh về quá trình triển khai ứng dụng AI của doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách bài bản?  Theo tôi, quá trình ứng dụng AI của một doanh nghiệp, dù ở quy mô lớn hay nhỏ cũng nên tuân theo quy luật phát triển của chính ngành AI gồm 3 giai đoạn trong lịch sử: rule based (dùng máy giải quyết các vấn đề của con người dựa theo các quy tắc định nghĩa trước), machine learning (dùng máy học ra các quy tắc dựa các phương pháp thống kê dữ liệu), deep learning (phương pháp học máy dựa trên lượng dữ liệu cực lớn).  Cho nên một doanh nghiệp cũng vậy, luôn phải bắt đầu bằng việc (1) số hóa dữ liệu,(2) phát hiện ra các quy tắc và quy trình có thể đồng bộ, xử lý tự động (3) có hệ thống analytics để phân tích, thống kê dữ liệu và đánh giá các ảnh hưởng của các giải pháp (4) dùng máy móc, thuật toán hay ứng dụng hệ thống mới tối ưu các quy trình đấy để giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh.  Khi những nguồn tài nguyên còn hạn chế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đừng lao ngay vào một giải pháp ứng dụng AI toàn diện mà nên ứng dụng AI ở từng công đoạn một, trước mắt hỗ trợ cho nhân viên để tăng hiệu quả công việc từng bước, ví dụ với bộ phận marketing, bán hàng có sự hỗ trợ của hệ thống gợi ý khách hàng tiềm năng, bộ phận chăm sóc khách hàng có hệ thống phân loại phản hồi của khách hàng và gợi ý câu trả lời… Cần cố gắng tận dụng các giải pháp AI có sẵn dưới dạng dịch vụ hay các hệ thống mã nguồn mở để tiết kiệm chi phí và kiểm tra tác dụng.  Lưu ý là rất nhiều các công ty công nghệ lớn đã sử dụng các giải pháp AI bên dưới các dịch vụ rồi nên trước mắt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tìm hiểu để sử dụng một số dịch vụ của họ cho tối ưu thay vì tự xây dựng.  Chẳng hạn trong việc marketing, nền tảng như Facebook, Google đã có một lượng dữ liệu và giải thuật rất mạnh để hỗ trợ các chiến dịch quảng cáo hiệu quả cho khách hàng bằng cách dựa vào lượng dữ liệu ban đầu khách hàng cung cấp, tìm ra tập người dùng có thông tin tương ứng trên mạng xã hội để nhắm việc hiển thị quảng cáo cho đúng đối tượng hơn.  Hay trong việc quản lý khách hàng, một hệ thống CRM (quản lý quan hệ khách hàng) như Salesforce có tích hợp tính năng AI phân tích sắc thái của khách hàng dựa trên dữ liệu xã hội, thông tin giao tiếp của khách hàng như email, hợp đồng để hiểu rõ hơn dự định của khách hàng từ đó điều chỉnh cách tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn. TensorFlow là một nền tảng mở cho việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp học máy có thể đáp ứng các ứng dụng trong nhận dạng ảnh, giọng nói, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, phân tích dữ liệu time series…  Khi lượng dữ liệu thu thập đủ lớn, doanh nghiệp đã rõ hơn về quy trình xử lý, phát hiện các vấn đề tiềm tàng, có lực lượng nhân viên có kinh nghiệm trong cả công nghệ lẫn nghiệp vụ doanh nghiệp, thì doanh nghiệp có thể triển khai các giải pháp AI phức tạp và có các tính năng xử lý độc lập với sự tương tác của con người.  Khi ứng dụng AI, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cần thận trọng trước những vấn đề gì?  Các vấn đề cần thận trọng tôi đã đề cập trong bài “AI: một cách tiếp cận CMCN 4.0 trong doanh nghiệp” với một số cạm bẫy như: đánh giá sai về khả năng công nghệ, thiếu nhân lực triển khai các dự án AI, coi AI có thể mang lại những điều “thần kỳ cho doanh nghiệp” hay cố gắng theo đuổi giải pháp của các công ty công nghệ lớn.  Một vấn đề nữa mà tôi lo ngại là các hệ thống IT của chúng ta không đủ “mở” hay “trong suốt” để tích hợp các giải pháp AI. Chẳng hạn khi đề cập với một doanh nghiệp trong nước về ứng dụng phân tích email để đánh giá tự động phản hồi của khách hàng và gợi ý các câu trả lời cho khách hàng, doanh nghiệp đó nói luôn là không thể được vì nhân viên trong công ty chỉ dùng gmail cá nhân để giao tiếp với khách hàng, email công việc và email cá nhân nhiều khi lẫn lộn.  Đây là sự khác biệt với các doanh nghiệp nước ngoài khi thư cá nhân và công việc phải rạch ròi, có thể xử lý bằng một số hệ thống tự động nhưng nó được bảo vệ cẩn thận bởi các công nghệ bảo mật và hành lang pháp lý.  Thêm nữa, các hệ thống IT của nhiều doanh nghiệp có thể chưa được thiết kế theo dạng các “micro service” để tích hợp với các giải pháp AI. Ví dụ hệ thống AI chỉ cải tiến một quy trình của hệ thống bằng lấy dữ liệu từ thành phần A, xử lý rồi tương tác với thành phần B. Những A và B lại không tách rời nhau ra hay phần giao diện lập trình của A và B hoàn toàn đóng hoặc chỉ chạy trên nền tảng mà module AI không hỗ trợ thì cũng rất khó có thể thử nghiệm giải pháp AI trên đó.  Theo anh, AI có phải là “chìa khóa vạn năng” cho mọi vấn đề của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi tiếp cận cách mạng 4.0?  Chắc chắn AI không phải là “chìa khóa vạn năng” cho mọi vấn đề của doanh nghiệp khi tiếp cận cách mạng 4.0. Nó thậm chí còn là “cạm bẫy” đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu dùng sai nó hay ảo tưởng về nó. Ví dụ bị sa lầy vào một giải pháp quá phức tạp hay tốn kém mà giá trị mang lại của nó quá ít do đặc thù của doanh nghiệp.  Tôi đã chứng kiến một công ty rất hào hứng với demo của một ứng dụng chatbot và muốn theo đuổi ứng dụng nó. Tuy nhiên ý định này thất bại vì mặc dù có lượng người dùng giao tiếp với hệ thống nhiều nhưng những truy vấn của khách hàng không đủ lâu hay đủ dài để dùng đến công nghệ chatbot hay công ty chưa có dữ liệu đầy đủ để “đào tạo” cho các chatbot đấy.  Một số người ví von AI bây giờ như cái máy tính PC hay tin học ở thập kỷ 1980. Nhiều người nói về nó, biết nó có thể làm được những điều thú vị, kỳ vĩ nhưng không phải ai cũng biết cách dùng, và lợi ích nó mang lại quá ít so với số tiền bỏ ra mua nó lúc đấy. Thậm chí không hiệu quả bằng một máy tính bấm tay. Nhưng cuối cùng cũng đến giai đoạn PC rẻ đi, nhiều người biết dùng hơn và ứng dụng của nó trở nên thiết yếu như ta đang thấy hằng ngày.  AI không thể giải quyết được vấn đề của doanh nghiệp nếu vấn đề đó chưa được định nghĩa rõ, thu thập dữ liệu cẩn thận để xác định ra được giới hạn mà ứng dụng AI có thể “phá vỡ” được nó.AI nên được cân nhắc ở những ứng dụng mang lại thêm giá trị cho doanh nghiệp, ví dụ cắt giảm chi phí, tự động hóa một số quy trình (vì các yếu tố này đã rất rõ ràng với kinh nghiệm của doanh nghiệp) thay vì để nó tự tìm ra thị trường, sản phẩm, tính năng mới vì đây là các khía cạnh cần sự nhạy bén của con người, sẽ thiếu nguồn tri thức, dữ liệu và quy tắc chung để máy móc có thể xử lý.  Có ý kiến cho rằng, hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khó ứng dụng AI vì còn thiếu nhân lực được đào tạo về AI. Anh nghĩ gì về ý kiến này?  Trong thời kỳ công nghệ và thế giới đang thay đổi rất nhanh, nguồn nhân lực nào cũng có thể thiếu, thậm chí với cả các doanh nghiệp lớn và tại các nước phát triển. Thử tính xem chúng ta đã có bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin? Mỗi sinh viên Công nghệ thông tin của chúng ta đã được học về môn AI trong chương trình đại học hay chưa? Bao nhiêu đề tài tốt nghiệp, nghiên cứu, thực tập liên quan đến lĩnh vực AI? Từ thời tôi học đại học trong nước cách đây 20 năm, tỉ lệ đó đã không phải nhỏ. Như vậy chúng ta có sự nhìn nhận, có quá trình dài chuẩn bị cho nguồn nhân lực đó. Nên nếu có thiếu thì đấy là do chúng ta chưa biết tận dụng nguồn nhân lực tiềm năng ấy, hoặc nguồn nhân lực ấy còn thụ động trong cách suy nghĩ, trong cách tiếp cận và ứng dụng công nghệ.  Cách đào tạo trong trường đại học chúng ta cũng vẫn phải tiếp tục thay đổi, cải tiến, không chỉ ở chương trình mà ở phương thức dạy và học. Trong một ngành học có tiềm năng ứng dụng AI các bài tập thực hành, bài tập lớn sẽ đóng góp vào kết quả cuối cùng của sinh viên chứ không thể chỉ nghe giảng và làm bài thi là hoàn thành môn học. Nên tạo điều kiện cho sinh viên đại học tham gia vào các đề tài nghiên cứu cùng với các nghiên cứu sinh và thực tập thêm tại các doanh nghiệpđể có bài toán, dữ liệu cụ thể, có kỹ năng tổng hợp và đánh giá dữ liệu, phân tích kết quả của các giải thuật AI.  Tại công ty tôi làm việc có những kỹ sư trước đây họ chỉ làm về thiết kế giao diện hay học một ngành hoàn toàn khác (kinh tế, vật lý). Nhưng khi xã hội đề cập nhiều về các vấn đề AI, machine learning,họ sẵn sàng dành thời gian ngoài giờ đăng ký khoá học trên mạng, download các chương trình mã nguồn mở về để tìm hiểu và tự đào tạo kiến thức cho mình. Chỉ khoảng 3 tháng họ đã có để dùng thử công cụ để xử lý các dữ liệu của công ty. Có thể chưa được gọi là chuyên gia nhưng ít nhất họ có những hiểu biết nhất định để tham gia vào các dự án ứng dụng AI của công ty hay có các nhận xét, đóng góp thiết thực về các giải pháp.  Tóm lại nếu đã xác định là xu thế, nhu cầu thì cả 3 phía: doanh nghiệp, nhà trường, người kỹ sư đều phải có những chuyển đổi để đáp ứng vấn đề nhân lực. Cái này không chỉ trong lĩnh vực AI mà trong nhiều lĩnh vực công nghệ mà chúng ta còn cho là thiếu khác.  Vậy có cách làm thiết thực nào để các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có thể tận dụng được lợi thế của AI?  Là người đang làm việc ở môi trường nước ngoài khá lâu, tôi e có thể những ý kiến của mình sẽ thiếu thiết thực với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Chỉ xin đóng góp mấy ý chung chung thế này:  Không nên có “tư tưởng đi tắt đón đầu”, chúng ta có thể tiếp cận nhanh, quyết liệt, linh hoạt vì chưa bị phụ thuộc vào lượng khách hàng lớn hay hệ thống lớn, nhưng không có nghĩa là chúng ta bỏ qua từng công đoạn số hóa, hiểu rõ các quy tắc, quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp rồi tiến tới tự động hóa, áp dụng các giải thuật, hệ thống thông minh hỗ trợ doanh nghiệp.  Lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên luôn tâm niệm máy móc để phục vụ và tối ưu hóa công việc của con người. AI cũng chỉ là một phần trong tiến trình phát triển ấy, không nên thổi phồng hay lơ là nó.Nếu mỗi người luôn trăn trở suy nghĩ tối ưu hoá các quy trình, bắt tay vào thử nghiệm công nghệ mới để tháo gỡ các vấn đề của doanh nghiệp, dù là từng bước nhỏ, thì sẽ nảy sinh ra các ý tưởng, giải pháp sử dụng AI.  Nên kết hợp, bắt tay với các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước cung cấp các giải pháp AI để tiết kiệm chi phí, tạo môi trường và kinh nghiệm cho nguồn nhân lực và tiềm năng phát triển AI trong nước. Dĩ nhiên nhà nước nên hỗ trợ một phần cho việc kết hợp này. Sẽ rất đáng tiếc và bất lợi cho tương lai nếu nguồn dữ liệu, dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước bị rơi dần vào các doanh nghiệp nước ngoài vì họ có giải pháp AI ban đầu tốt hơn.  Cảm ơn anh!  Thanh Nhàn thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ cầu Cần Thơ đến Điện hạt nhân      Cầu Cần Thơ thuộc loại công nghệ kinh điển, lại được nhà thầu đầy kinh nghiệm của một nước tiên tiến thi công, nên ít ai nghĩ đến chuyện xảy ra sự cố. Ấy thế mà nó vẫn sập, không ở đoạn giữa sông mà là ở nhịp dẫn, lại không đợi đến nhiều thập kỷ sau (như cây cầu trên sông Mississippi ở Mỹ), mà sập ngay trong khi đang thi công.         Rồi đây, kết luận của Uỷ ban Điều tra Nhà nước sẽ nêu ra hàng loạt chức sắc, nhà thầu, tổ chức thiết kế, thi công, nghiệm thu, kỹ thuật viên trong và ngoài nước vô tình hay cố ý tòng phạm vào thảm họa này. Nhưng cái mẫu số chung của hầu hết các lỗi lầm đó, không gì khác, chính là sự bất cẩn của con người coi thường luật lệ, làm vô hiệu hóa hệ thống thực thi luật và quản lý chất lượng trong hoạt động cồng nghiệp. Toàn bộ hệ thống đó lại phải thông suốt từ trên xuống dưới, nên để xảy ra thảm họa ở một công trình thế kỷ như cầu Cần Thơ, trách nhiệm trước hết phải thuộc về người đứng đầu ngành GT-VT.  Thoát ra khỏi một nền sản xuất tiểu nông, lạc hậu, sự bất cẩn của con người là mối đe dọa lớn nhất trong quá trình công nghiệp hóa tăng tốc như hiện nay. Không thể để cho bất cứ định kiến nào (chẳng hạn tin vào nhà thầu đến từ một nước tiên tiến) làm mất cảnh giác, khi mà cuộc sống luôn bị chi phối bởi ngày càng quá nhiều yếu tố rủi ro trong cơ chế thị trường.    Bài học đắt giá nhất nói trên giờ đây sẽ là hành trang đưa chúng ta đến những công trình có quy mô và mức độ mất an toàn lớn hơn gấp bội trong những năm tới, như nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) sắp được xây dựng và đưa vào vận hành ồ ạt sau năm 2020, theo như kế hoạch Bộ Công Thương đang trình Chính phủ. Khác với kỹ thuật cầu đường, công nghệ ĐHN còn rất mới mẻ, chứa đựng nhiều yếu tố mất an toàn, gây nên bất an về tâm lý xã hội. Phải nói ngay rằng, với công nghệ ĐHN hiện đại sẽ rất khó xảy ra thảm họa như Chernobyl gieo rắc chất phóng xạ lên khắp Bắc bán cầu, nhưng không loại trừ những cấp độ mất an toàn khác, từ thấp đến cao, gây thiệt hại về người và của, có khi còn nghiêm trọng hơn những gì đã từng xảy ra vài năm trước đây ở Nhật Bản. Cho nên cần phải xây dựng một hệ thống luật hạt nhân và thực thi luật rất nghiêm ngặt và một đội ngũ có đủ tri thức và lương tâm, vừa biết làm chủ công nghệ, vừa biết đặt lợi ích quốc gia lên trên mọi toan tính cá nhân.   Luật phải nghiêm, bởi từ nhà máy ĐHN cho đến các hoạt động ứng dụng tia bức xạ trong kinh tế và đời sống đều gây tác hại đến con người, không đợi đến lúc xảy ra sự cố mà ngay trong điều kiện hoạt động bình thường. Giác quan của con người lại không nhận biết được những tia bức xạ đó, hoặc nguy cơ có thể đến với họ, chuyện này khác hẳn với trường hợp trụ số 14 cầu Cần Thơ bị nghiêng, báo trước cho mọi người thảm hoạ có thể xảy ra. Tác hại của tia bức xạ lại không có ngưỡng an toàn, liều bức xạ thấp bao nhiêu cũng đều có tác hại.   Chính dựa trên quan điểm khoa học này mà tổ chức quốc tế về an toàn bức xạ ICRP đã khuyến cáo các nước thể  hiện trong luật nguyên tắc ALARA nổi tiếng (As Low As Reasonably Achievable), theo đó mọi hoạt động hạt nhân phải giữ liều chiếu xạ thấp nhất có thể có cho người và môi trường, phải được minh chứng là cần thiết vì không tìm được giải pháp khác tốt hơn. Nên nhớ rằng có đến hàng nghìn người tham gia xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN chịu tác hại của bức xạ.  Bài toán an toàn hạt nhân là bài toán kinh tế, công nghệ ĐHN càng an toàn, giá thành càng cao. Khi xảy ra mâu thuẫn giữa tính an toàn và tính kinh tế phải đặt yêu cầu an toàn lên trên. Vì vậy Luật hạt nhân sẽ được Quốc hội thảo luận và thông qua, phải quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân, nhất là khi xảy ra mất an toàn. Trách nhiệm trước hết thuộc về những người ký các quyết định về đầu tư, tổ chức và nhân sự. Giải quyết xong những chuyện trên, chúng ta có thể yên tâm mà đồng thanh “GO NUCLEAR”!      Phạm Duy Hiển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ chiếc khẩu trang chống dịch: Bàn luận về văn hóa, khoa học và sắc tộc      Chưa khi nào cuộc tranh luận xung quanh chiếc khẩu trang nhỏ bé lại trở nên căng thẳng như trong đại dịch Covid-19, người ta dễ dàng kỳ thị, bài xích nhau hoặc thậm chí đưa ra cả thông điệp, quan điểm chính trị xung quanh việc đeo/ không đeo. Nó là biểu hiện của những khác biệt về văn hóa, khoa học và sắc tộc ngầm ẩn.      Mặc dù dịch bệnh phức tạp nhưng hầu như vẫn chỉ có ít người da trắng ở Úc đeo khẩu trang. Ảnh: https://www.news.com.au/  Tôi có anh bạn người Úc da trắng thân nhau hơn chục năm. Khi dịch bệnh nổ ra, tôi và anh cãi nhau gay gắt về vấn đề đeo khẩu trang chống dịch. Tôi cho rằng đeo khẩu trang là một hành động đơn giản và cấp thiết, nếu toàn dân tự giác đeo khẩu trang thì sẽ giúp bổ trợ hai hành vi chống dịch quan trọng khác là thường xuyên rửa tay đúng cách và giãn cách xã hội. Ngược lại, anh bạn tôi cho rằng vì văn hoá và lịch sử nước Úc không có thói quen đeo khẩu trang, nên nếu chính phủ Úc ra lệnh bắt thực hiện hành vi này, người dân sẽ rất phẫn nộ, từ đó chống đối, không thực hiện cả việc rửa tay hay giãn cách xã hội. Anh phân tích, bối cảnh văn hóa đóng vai trò mấu chốt trong việc lên phương án phòng chống dịch: người dân Úc, vốn lớn lên và sinh sống trong môi trường dân chủ tự do, sẽ không dễ dàng chấp nhận các chính sách gò bó đến vậy. Nếu chính phủ Úc không thuyết phục người dân một cách hài hòa, anh so sánh việc yêu cầu toàn dân Úc đeo khẩu trang để chống dịch ngang với việc cấm toàn bộ xe ô tô vận chuyển trên đường để giảm ách tắc giao thông. Việc phải đeo khẩu trang đối với người dân Úc cũng cực đoan như việc trên đường phố không còn một chiếc xe ô tô nào nữa vậy: giải pháp này có thể mang lại hiệu quả lớn, nhưng sự gò bó thay đổi chính văn hóa và nhịp sống của xã hội là một đánh đổi không chấp nhận được.   Tôi rất bất ngờ khi anh vẽ một bức tranh chân dung người dân Úc – các công dân của một xã hội dân chủ giàu có – nhuốm màu cực đoan. Cần nói thêm, anh bạn tôi là một giáo sư đại học ở Úc đã có thâm niên từng làm việc tại Việt Nam với các dự án cộng đồng, hoàn toàn không phải là một nhân vật thiếu trải nghiệm văn hóa hay bảo thủ thái quá. Có thể vì anh muốn bảo vệ luận điểm của mình nên đã vô ý quá lời, đơn giản hóa tâm lý người dân Úc cũng như văn hóa của nước Úc. Nhưng vấn đề cần thảo luận ở đây là luận điểm cho rằng người dân nước Úc rất cứng đầu và khăng khăng bảo vệ sự tự do sinh hoạt theo thói quen của họ, dù tình hình bệnh dịch của thế giới vào thời điểm chúng tôi tranh luận đang biến chuyển vô cùng khó lường. Và có gì đó mang tính phân biệt, trong việc anh ngầm ám chỉ rằng việc người dân các quốc gia châu Á tuân thủ việc đeo khẩu trang nghiêm ngặt phần lớn là do “bản tính tuân thủ” của xã hội Á Đông.   Cuộc đối thoại có thể đi vào ngõ cụt, ngõ cụt này được xây lên do cách hiểu rất méo mó và bất di bất dịch về văn hóa: đây là cách chúng tôi đã sinh sống từ trước đến nay, nó ăn sâu vào suy nghĩ và thói quen của chúng tôi, và chúng tôi không cần phải thay đổi lối sống này chỉ vì ở các nơi khác người ta sinh hoạt khác. Nếu lối sống sẵn có ở nước bạn vô tình giúp xã hội của bạn chống dịch rất thành công, đấy là một may mắn ngẫu nhiên; sự may mắn của các bạn không phải là bài học cho chúng tôi, vì thì là rằng văn hóa mỗi nơi mỗi khác!  Khoa học vượt ra ngoài văn hóa và chính trị?  Việc vị giáo sư đại học ở Úc dùng ngay luận đề văn hóa để giải thích sự khác nhau giữa các hành động chống dịch ở mức độ cá nhân, cũng như sự thiết kế các chính sách chống dịch khác nhau, là rất đáng đem ra mổ xẻ ở đây. Suy cho cùng, nếu không có văn hóa làm chỗ dựa, chúng ta sẽ rất hoang mang trong việc tìm cơ sở để lý giải cho những gì chúng ta đang làm hoặc đang không làm. Một chính sách dựa trên chứng cứ và cơ sở khoa học sẽ chỉ thành công nếu được trình bày và lý giải theo cách phù hợp với văn hóa của quốc gia sở tại. Khoa học có văn hóa riêng của nó, nhưng hai từ khoa học và văn hóa ít khi nào đi đôi với nhau, mà có khi tranh luận về văn hóa đi vào bế tắc, người ta sẽ cầu cứu đến khoa học như là một vị thẩm phán công bằng và vô tư, phán xét sự thật dựa trên bằng chứng và nghiên cứu thực nghiệm gắt gao. Việc thừa nhận rằng khoa học cũng có luận lý văn hóa chính trị riêng tuy chính xác nhưng rất mạo hiểm: vì trước nay chúng ta cần một lĩnh vực đòi hỏi tính phản văn hoá và phản chính trị – chính là khoa học – để có thể đi đến tri thức chung mà không phải mắc vào chiếc bẫy bản chất hóa văn hóa và đặc tính con người. Đây là lí do mà các nhà khoa học chỉ trích rất kịch liệt việc chính trị hóa nghiên cứu khoa học: họ tin rằng khoa học “vượt lên” ngoài chính trị, và khoa học chính là cứu cánh cho những vấn đề to lớn nhất của nhân loại.    Tổng thống Mỹ Donald Trump là người phản đối việc đeo khẩu trang, ông vẫn không đeo khẩu trang trong bức ảnh ông làm việc với Thống đốc Jared Polis của Colorado vào hồi tháng 5 và hình ảnh của ông gây ảnh hưởng rất lớn – khiến nhiều người dân Mỹ không đeo khẩu trang. Chỉ vài ngày gần đây ông mới chịu đeo khi tình hình dịch bệnh leo thang ngày càng phức tạp. Nguồn ảnh: Nytimes.  Nhưng nếu thực sự khoa học chính là cứu cánh cho nhân loại, thì có lẽ không có lí do nào mà việc đeo khẩu trang lại không được tích hợp triệt để trong công tác chống dịch toàn cầu. Nghiên cứu đã ngày càng cho thấy rất rõ việc đeo khẩu trang, dù là khẩu trang vải, giúp bảo vệ bạn và mọi người xung quanh hiệu quả. Vậy mà trong cơn đại dịch nguy nan, vẫn có nhiều nơi khước từ việc làm này. Có lẽ đây chính là cốt lõi của vấn đề: khoa học dựa trên tiêu chuẩn đánh giá riêng (cuộc chiến về bằng chứng khoa học chứng minh hiệu quả của việc đeo khẩu trang chống dịch là một chủ đề lớn khác mà tôi không tiện bàn luận chi tiết ở đây, tôi đã liệt kê một số bài báo khoa học liên quan bên dưới bài để tiện việc tham khảo), nhưng khoa học không thể nào vượt lên trên văn hóa và chính trị trong một khoảng thời gian ngắn. Trong khi công tác chống dịch lại là công tác của ngay hôm nay, ngay giờ phút này.      Câu chuyện về chiếc khẩu trang chống dịch và những trắc trở mà chiếc khẩu trang phải đi qua trước khi trở thành thói quen của người dân khắp nơi để giúp họ bảo vệ sức khoẻ bản thân và cộng đồng xung quanh họ là câu chuyện chồng chéo các nguồn lực văn hoá, chính trị, sắc tộc; một câu chuyện nhắc nhở chúng ta về giới hạn của không chỉ các lĩnh vực phi khoa học, mà còn là giới hạn của chính hoạt động khoa học trong việc đoàn kết và mách bảo chúng ta cần phải làm gì trước dịch bệnh toàn cầu.      Thế là lại quay về chuyện văn hóa. Như đã bàn ở trên, chúng ta vừa có thể dùng văn hóa để giải thích sự khác nhau trong các chính sách chống dịch toàn cầu, và vừa có thể dùng văn hóa để biện luận cho sự khác nhau này. Văn hóa là một khái niệm kì diệu như thế – nó có thể được mang ra kéo giãn hoặc cho co lại tùy thích. Tuy việc thảo luận bằng cách lạm dụng khái niệm văn hóa theo kiểu “văn hóa của tôi khác văn hóa của anh” là bất cập nhưng nó mách ta biết niềm tin và suy nghĩ của mỗi cá nhân chúng ta đến từ đâu, và nó nhắc nhở chúng ta rằng sự khác biệt trong niềm tin và suy nghĩ của các cá nhân khác với chúng ta không phải là do họ hồ đồ vô cớ, mà phần lớn là do rất nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.   Cái bẫy khư khư ôm lấy văn hóa của riêng mình  Thế nhưng sức mạnh tư duy của khái niệm văn hóa dừng lại ở đó. Trong một xã hội đa chủng tộc, việc khư khư nắm giữ văn hóa như một khái niệm bất di bất dịch không chỉ ngăn cản sự hòa nhập đồng điệu của nhiều sắc tộc mang trong mình nhiều văn hóa khác nhau, mà còn góp phần tái thiết lập hệ thống cấp bậc sắc tộc trong xã hội đó. Trước khi Trung Quốc ra cảnh báo chính thức đến các du học sinh Trung Quốc về việc xem xét lại kế hoạch du học ở Úc vào tháng 6 năm nay do lý do kì thị chủng tộc tăng cao tại Úc, thống kê của Liên minh người Úc gốc Á (Asian Australian Alliance) cho thấy trong vòng chỉ hai tuần trong tháng tư, tại Úc xảy ra 178 ca tấn công với động lực phân biệt chủng tộc lên người Úc gốc châu Á. Con số này tăng lên đến 386 vào đầu tháng 6/2020; thống kê này cũng nêu rõ 90% số tai nạn kì thị chủng tộc tại Úc là không được thống kê ghi nhận. Truyền thông Úc thường xuyên đưa tin các vụ tấn công phân biệt chủng tộc của người da trắng lên người châu Á; không ít các trường hợp này trực tiếp liên quan đến việc các sinh viên quốc tế châu Á tại Úc thường xuyên đeo khẩu trang ở nơi công cộng để chống dịch. Không chỉ ở Úc, tại Mỹ có hơn 1000 trường hợp người châu Á bị tấn công, tại Anh, trong ba tháng đầu năm 2020, cảnh sát ghi nhận 267 trường hợp người châu Á bị tấn công. Cả ba quốc gia đề cập ở đây đều đa văn hóa, đa chủng tộc, có lượng dân đa số là người da trắng, và sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Tại Mỹ, người da trắng chiếm hơn 60% dân số; người Mỹ Latin chiếm hơn 18%, người da đen chiếm hơn 13%, người châu Á chiếm gần 6%, người bổn quốc chiếm chỉ hơn 1%. Tại Anh, người da trắng chiếm hơn 87%; người châu Á chiếm 7%, người da đen chiếm 3%, và các nhóm còn lại chiếm 3%. Tại Úc, một điều thú vị là thống kê dân số không sử dụng các nhóm sắc tộc như ở Anh và Mỹ, mà sử dụng quốc gia tổ tông làm nguồn gốc của công dân. Điều này khiến việc tính toán số liệu về sắc tộc không mang tính chính xác, do cách thống kê của Úc được thiết lập với tinh thần xóa bỏ các khái niệm về chủng tộc nhưng tạm ước tính dựa trên các số liệu thống kê về nguồn gốc công dân rằng hơn 75% dân số Úc là người da trắng, hơn 15% là người châu Á, dưới 3% là người bổn quốc, dưới 1% người da đen và dưới 1% người Mỹ Latin.     Những người biểu tình không đeo khẩu trang đối diện với cảnh sát ở Michigan, Mỹ. Nguồn: CNN.  Như vậy, khi nói về văn hóa ở các quốc gia này, chúng ta cần phải nói về văn hóa ở số nhiều, và theo tỉ lệ: văn hóa người da trắng, văn hóa người da màu, văn hoá của số đông, văn hóa của thiểu số. Và về sắc tộc, văn hóa của số đông người da trắng tại các quốc gia này được nghiễm nhiên xem là văn hóa “chuẩn” và chủ đạo; các văn hóa thiểu số của người da màu xung quanh là các văn hóa cần phải thích nghi, hòa nhập, thay đổi, biến dạng, hòa tan. Sự khác biệt trong các hành vi chống dịch từ nhiều nhóm người khác nhau – được lý giải và biện luận bằng khái niệm văn hóa – chính là cái bẫy dẫn đến vòng xoay tái sản xuất cấp bậc sắc tộc, dù sắc tộc đó có được gọi tên hay không. Dù khoa học có đứng về hành vi của nhóm thiểu số, khoa học cũng không thể giải cứu họ ra khỏi sự phân biệt và tệ hơn là bạo lực từ các thành phần cực đoan trong nhóm đa số trong bối cảnh dịch bệnh.   Bối rối giữa các yếu tố kinh tế chính trị   Cần phải nói thêm, văn hóa và chủng tộc không phải là toàn bộ câu chuyện xung quanh việc khoa học và các sự thật do khoa học chứng minh có đến được gần gũi với người dân hay không. Sức khỏe cộng đồng là lĩnh vực luôn đi liền với các yếu tố chính trị không chỉ nội địa mà còn ở tầm quốc tế. Điển hình cho luận điểm này là việc tổ chức Y tế Thế giới WHO gửi ra các tín hiệu gây bối rối cho các quốc gia thành viên về việc liệu có cần áp dụng chính sách yêu cầu đeo khẩu trang không khi lúc đầu họ khuyến cáo rằng người dân không cần phải đeo khẩu trang nếu bản thân không có triệu chứng bệnh hoặc đang không phải chăm sóc cho người bệnh. Khi nhận chỉ trích từ nhiều phía về khuyến cáo kì lạ này, WHO chống chế rằng đeo khẩu trang sẽ tạo nên cảm giác an toàn ảo cho người đeo khiến họ lơ là các biện pháp chống dịch khác, đồng thời quan ngại rằng sự ồ ạt mua khẩu trang của người dân sẽ tạo nên sự thiếu thốn trang thiết bị cần thiết cho các cán bộ y tế. Hai lý do này không hề liên quan đến cơ sở khoa học của hiệu quả trong việc đeo khẩu trang hay không; đây là hai lý do thuần túy mang tính kinh tế – xã  hội – chính trị. Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy việc đeo khẩu trang sẽ dẫn đến việc lơ là rửa tay hay giãn cách xã hội, và việc thiếu thốn trang thiết bị y tế là vấn đề không thể được giải quyết bằng giải pháp bác bỏ việc sử dụng các trang thiết bị này. Sự thất bại của WHO trong việc đưa ra một thông điệp mạnh mẽ, xác đáng và rõ ràng ngay từ đầu dịch đã ảnh hưởng đến việc nhiều quốc gia xem xét thiết kế chính sách phản ứng của mình.      Nếu thực sự khoa học chính là cứu cánh cho nhân loại, thì có lẽ không có lí do nào mà việc đeo khẩu trang lại không được tích hợp triệt để trong công tác chống dịch toàn cầu.      Thế nhưng cũng trong bối cảnh mù mờ chính trị này, chính văn hóa và kinh nghiệm lịch sử là cứu cánh cho rất nhiều quốc gia. Việt Nam, tương tự với các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia châu Phi vốn đã có kinh nghiệm chống dịch SARS và Ebola, phản ứng nhanh và ngay lập tức thực hiện các quy cách chống dịch gắt gao, bao gồm cả việc quy định đeo khẩu trang nghiêm ngặt khi ra đường. Điều đáng bàn ở đây là, số ít các chuyên gia ở Anh và Mỹ ủng hộ việc đeo khẩu trang ngay từ những ngày đầu chống dịch liên tục nhấn mạnh rằng việc áp dụng giãn cách xã hội và khuyến nghị ho vào khuỷu tay là những phương pháp chống dịch được áp dụng và thực hiện rộng rãi dù không hề được đưa qua thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên – phương pháp thực nghiệm thường được xem là “tiêu chuẩn vàng” cho nghiên cứu khoa học thực nghiệm. Chính vì vậy, việc lập luận rằng phải đợi bằng chứng khoa học theo đúng phương pháp thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên cho hiệu quả của việc đeo khẩu trang chống dịch là vô lý và mang tính định kiến. Có lẽ các nghiên cứu về nhân học sức khỏe trong tương lai nên đào sâu vào vấn đề này: điểm khác biệt nào giữa hành vi ho vào khuỷu tay và hành vi đeo khẩu trang khiến một hành vi được chấp nhận nhanh chống và rộng rãi, trong khi hành vi còn lại lại bị mang ra đặt thành vấn đề tranh cãi đến như vậy?  Từ đầu tháng 7, tình hình diễn biến dịch ở Úc lại rơi vào tình trạng xấu sau nhiều tháng quản lý rất hiệu quả. Tại tiểu bang Victoria, trước tình hình ca lây nhiễm tăng mạnh, kế hoạch phong tỏa chia theo mười hai mã vùng trong vòng hai tuần được thực hiện nhanh chóng. Anh bạn tôi nằm trong mã vùng bị phong tỏa triệt để; anh không được phép ra khỏi nhà nếu không có lý do chính đáng. Tính tôi rất hay trêu bạn, nhưng lần này thì tôi không trêu; tôi hiểu sự thất vọng là rất thật khi việc quản lý dịch ở tiểu bang bị thất bại ngay vào lúc nước Úc đang chống dịch thành công. Chỉ sau một tuần, lệnh phong tỏa theo mã vùng được lan rộng ra thành phong tỏa toàn khu vực đô thị Melbourne, và biên giới giữa bang New South Wales và bang Victoria cũng bị đóng. Vào ngày 10/7/2020, tiểu bang Victoria khuyến nghị, nhưng không bắt buộc đeo khẩu trang khi ra đường cho toàn bộ công dân. Theo lời bạn bè tôi ở Úc kể lại, khuyến nghị không gây ảnh hưởng gì đáng kể cho hành vi chống dịch của người dân: cảnh tượng người châu Á đeo khẩu trang đi lại giữa những người da trắng không đeo khẩu trang vẫn là quan cảnh thường ngày tại Melbourne tại thời điểm tháng 7/2020. Có lẽ anh bạn tôi đã đúng phần nào: phải chăng thực sự có điều gì đó ở văn hóa chủ đạo tại Úc khiến việc đeo khẩu trang không chỉ có vẻ thừa thãi – nó còn làm cho số đông cảm thấy bức bối khó chịu. Thế nhưng có lẽ còn quá sớm để tuyên bố rằng anh bạn tôi đã thật sự nắm bắt được nhịp thở của đời sống Úc, dù anh thật sự là công dân Úc “chính gốc”. Theo thống kê vào tháng 4/2020 của ĐH Oxford, Anh, số lượng người đeo khẩu trang chống dịch tăng vọt tại các nước châu Âu (với dân số người da trắng chiếm phần đông) khi chính quyền các nước này ra lệnh yêu cầu người dân tuân thủ quy định. Cụ thể, số người đeo khẩu trang tăng 84% ở Ý, 66% ở Mỹ, và 64% ở Tây Ban Nha – quốc gia mà tính đến tháng 6/2020, tỉ lệ người đeo khẩu trang tăng hơn 90%. Trong phát biểu chính thức từ ĐH Oxford, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng đây là kết quả của việc chính phủ các quốc gia này có phương án truyền đạt thông điệp sức khỏe cộng đồng rõ ràng và nhanh chóng. Nhóm nghiên cứu cũng  trực tiếp bác bỏ nhận định thường được đưa ra ở Anh rằng vì nước Anh không có lịch sử và văn hóa đeo khẩu trang, việc yêu cầu người dân đeo khẩu trang sẽ gây hại cho kinh tế nước Anh, do người dân sẽ ngừng đi mua sắm tại các cửa hàng.   Có lẽ bài học mà chúng ta cần phải học đã từ rất lâu nhưng rất hay quên, đó là việc văn hóa là một hiện tượng sống. Văn hóa bất di bất dịch chỉ có thể tồn tại trong trí hình dung thiếu tính linh động và sáng tạo của những ai cho rằng con người không thể thay đổi, rằng xã hội không thể chuyển mình thích nghi theo những biến chuyển do chính các cá nhân trong xã hội mang lại. Tại Mỹ, mấy hôm nay Tổng thống Trump đã liên tục xuất hiện trên báo đài với chiếc khẩu trang in hình đại ấn quốc gia như đang gửi thông điệp thay đổi phương án chống dịch sau nhiều tháng không đeo khẩu trang khi xuất hiện ở trước công chúng. Ở Anh, Thủ tướng Borris Johnson đã ra lệnh bắt buộc người dân đeo khẩu trang khi đi vào các cửa tiệm và đích thân đeo khẩu trang trên báo đài sau nhiều tháng chịu chỉ trích về phương án chống dịch kém hiệu quả; người dân Anh không tuân thủ có thể bị phạt 100 bảng Anh. Câu chuyện về chiếc khẩu trang chống dịch không phải đơn thuần là câu chuyện chiến thắng dù chậm nhưng hết sức khách quan và công bằng của một nền khoa học mang tính mục đích luận – một khoa học cứu cánh của nhân loại. □  —-  Tài liệu tham khảo:  Phát biểu chính thức của ĐH Oxford về việc ủng hộ chính sách đeo khẩu trang ở Anh: https://www.ox.ac.uk/news/science-blog/face-coverings-made-compulsory-after-oxford-covid-19-study-inspires-debate  Báo cáo khoa học của Royal Society và British Academy về chứng cứ khoa học cho việc đeo khẩu trang chống dịch và thông điệp gửi đến công chúng: https://royalsociety.org/-/media/policy/projects/set-c/set-c-facemasks.pdf?la=en-GB&hash=A22A87CB28F7D6AD9BD93BBCBFC2BB24  Tổng kết các nghiên cứu mới nhất về đeo khẩu trang chống dịch và phát biểu chính thức của CDC Hoa Kỳ: https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/prevent-getting-sick/cloth-face-cover-guidance.html       Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Tự chủ đại học: Con đường gập ghềnh      Tự chủ đại học đã được nhắc tới từ cách đây hai thập kỷ và được luật hóa từ năm 2005, sau đó bắt đầu thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với một số cơ sở giáo dục đại học công lập. Dù các nhà quản lý đã khẳng định tự chủ đại học là con đường một chiều của giáo dục đại học Việt Nam nhưng trên con đường ấy vẫn còn những vướng mắc nào cản trở quá trình tự chủ của các trường? Đó là nội dung cuộc trao đổi của Tia Sáng với GS.TS Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng trường  Học viện Nông nghiệp Việt Nam.      GS.TS Trần Đức Viên. Ảnh: Hoàng Nam  Là người có thời gian theo dõi, trải nghiệm một chặng đường dài của tự chủ đại học, ông thấy chính sách tự chủ đã tạo ra cú hích nào với các trường?     Sau rất nhiều các thảo luận và trải nghiệm, người ta đã nhận thức rằng tự chủ đại học là con đường tất yếu phải đi của các trường đại học Việt Nam dù muốn hay là không. Nhưng con đường ấy rộng hay hẹp, phẳng phiu hay gập ghềnh trắc trở thế nào phụ thuộc chủ yếu vào thể chế và quyết tâm chính trị của những người có trách nhiệm. Đã có nhiều hướng dẫn, văn bản, nghị định1 được đưa ra mang tính “đốc thúc” tự chủ nhưng tại sao cho đến nay mới chỉ có trên 20 trường dám “thí điểm” tự chủ (và chưa có những tổng kết đánh giá khả tín về những bước đi chập chững của những trường này)? Một chủ trương muốn được cuộc sống chấp nhận cần phải đảm bảo được ít nhất hai vấn đề cốt tử: một là tạo được niềm tin cho các đối tượng chịu tác động của chính sách, bởi một khi đã có niềm tin, người ta có thể đạp bằng mọi gian khó; và hai là, thực tế phải minh chứng được chính sách ấy giúp họ có thêm nhiều lợi ích đa chiều hơn.    Từ quan sát của cá nhân, tôi thấy các nỗ lực chính sách của chúng ta chưa thực sự tường minh nên đang tạo ra hiệu ứng chỉ tự chủ được “nửa chừng”. Tự chủ được thể hiện ở hai cấp độ quan hệ: cấp độ trong nội bộ trường và cấp độ giữa trường đại học với nhà nước, rõ nhất là với cơ quan chủ quản và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan. Hiện nay về cơ bản các trường tự chủ có mô hình quản trị chưa khác gì nhiều so với các trường chưa tự chủ, ngoài việc “đẻ” ra thêm một thiết chế mà đến nay vẫn còn hữu danh vô thực là Hội đồng trường (HĐT). Mặt khác, có lẽ các nhà trường chưa được tin tưởng thực sự nên thay vì tạo điều kiện để tự chủ thực chất thì vẫn được các bộ ngành giám sát hoạt động “như xưa” qua công tác thanh tra, kiểm toán trực tiếp đều đặn, và hàng loạt các chính sách trói buộc tự chủ đại học khác, làm cho các trường tự chủ muốn tự chủ thực sự cũng không dễ dàng gì; dù ai cũng biết, ở các nước có nền GD&ĐT tiên tiến, nhà nước ngoài việc cung cấp tài chính thì có rất ít vai trò trong việc định ra những quy tắc để quản lý trực tiếp nhà trường, đó thuần túy là công việc của nhà trường và các bên liên quan khác trong cơ chế đồng quản trị; nhà nước và xã hội chỉ quan tâm đến các sản phẩm đầu ra mà nhà trường đã cam kết.  Trong khi chưa tính toán đầy đủ và khả thi để biết tự chủ sẽ tạo ra động lực, nguồn lực thực sự gì cho từng trường đại học, qua đó có một lộ trình phù hợp, vậy mà chúng ta đã đưa ra những thủ tục hành chính hóa là đến một ngày cụ thể phải có HĐT, rồi đến một ngày cụ thể khác phải đổi mới HĐT theo luật mới một cách “đồng phục”.      Trong phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, một trong những đơn vị đang đi tiên phong trong việc phát hiện một số bệnh dịch mới nổi. Ảnh: Thu Quỳnh     Vì sao cho đến nay HĐT vẫn bị coi là “hữu danh vô thực”?    Về nguyên tắc, theo Luật định, HĐT đại diện cho chủ sở hữu của nhà trường, mà với các đại học công lập thì đó là chủ sở hữu cộng đồng thiết chế quyết định các vấn đề quan trọng nhất của một trường đại học như tổ chức và nhân sự, kể cả nhân sự ban giám hiệu, tài chính và tài sản, đối nội và đối ngoại; nhưng thực tế vai trò này lại bị chồng chéo và còn chưa rõ ràng. Vì trên thực tế, cũng như tất cả các trường chưa tự chủ khác, Đảng ủy mới chính là cơ quan quyết định công tác tổ chức và nhân sự trong nhà trường. HĐT có nhiệm vụ hợp pháp hóa các nghị quyết của Đảng ủy bằng các nghị quyết của HĐT. Chưa có một hướng dẫn nào phân định rõ ràng nghị quyết của Đảng ủy có gì giống và khác với nghị quyết của HĐT và ngược lại. Nếu trong một trường đại học mà bí thư Đảng ủy kiêm luôn hiệu trưởng thì người đó gần như toàn quyền. Ví dụ, quy trình hiện nay về nhân sự là đã có quy hoạch của Đảng ủy, rồi quy hoạch ấy lại trình lên Đảng ủy khối các trường đại học, trình lên Ban cán sự Đảng của cơ quan chủ quản, thì việc xin ý kiến HĐT chỉ là thủ tục, hội đồng chỉ làm việc thực hiện những quyết định đã có sẵn; cái đó được gọi là ‘tự chủ thủ tục’ (procedure autonomy), chưa phải tự chủ thực chất.  Trong thực tế hiện nay có thể nói rằng không có hội đồng thì các trường vẫn hoạt động như thế. Trong khi đó, muốn đánh giá được vai trò của HĐT, phải chứng minh được rằng thiết chế ấy đã nâng cao được chất lượng giáo dục, chất lượng hoạt động KH&CN và các hoạt động khác của trường đại học.     Dễ thấy điểm khác biệt căn bản của mô hình tự chủ của ta so với các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến (mà ta đang cố gắng học theo) là trong khi ta có các tầng lớp kiểm soát, giám sát khác nhau thì ở họ các đại học đó hoàn toàn gần như là một “lãnh địa” riêng của giới học thuật mà nhà nước không cần can thiệp vào miễn là trường ấy không vi phạm hình sự, không làm thất thoát tài sản, không tham nhũng, đảm bảo liêm chính học thuật. Nhà nước tôn vinh và đầu tư cho nhà trường dựa vào KPIs (kết quả đầu ra) rõ ràng như có nhiều sinh viên xuất sắc, sinh viên có việc làm tốt, nhiều công bố đẳng cấp, nhiều phát minh, sáng chế, nhiều đổi mới sáng tạo, nhiều kết quả phục vụ xã hội thiết thực và hiệu quả, v.v… Thông qua KPIs ấy, xã hội cũng đã tự “xếp hạng” và vinh danh các trường đại học thôi. Vấn đề mấu chốt là chúng ta phải làm sao xây dựng được một mô hình lành mạnh, tự do học thuật cao, liêm chính học thuật được tôn trọng, không bị bó buộc bởi bất cứ thủ tục hành chính nào; nhờ thế, nhà trường sẽ trả lại cho xã hội bằng kết quả KPIs tốt nhất có thể.  Nhìn chung, muốn sáng tạo, phát huy nội lực thì phải có tự do học thuật, có khoảng trời tự do cho các nhà khoa học, phải trao quyền cho họ thì họ mới có tự do được, mới nghiên cứu cái mà mình muốn và công bố cái mà đất nước đang cần; nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do học thuật ấy. Nhìn lại, hình như chúng ta chưa làm được nhiều trong việc tạo ra khuôn khổ pháp lý để các nhà khoa học được thực sự tự do sáng tạo, để họ được cống hiến thật sự cho dân cho nước.  Để đại học tự chủ thì không chỉ cần có sự tự chủ về mặt thiết chế tổ chức, mà còn cả về nguồn nhân lực, tài chính. Theo ông trong thực tế điều này đã diễn ra như thế nào?    Trường đại học chỉ tự chủ thực sự khi quyền quyết định chuyên môn thuộc về hội đồng học thuật đại học, quyền quyết định về tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản thuộc về HĐT với sự giám sát của vị đại diện vốn nhà nước nằm trong HĐT. Về mặt luật pháp tưởng như đã thông thoáng, rõ ràng nhưng thực tế có rất nhiều thứ đang còn lúng túng, đang bị ràng buộc bởi nhiều luật khác như Luật Viên chức, Luật Quản lý tài sản công, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đất đai… vì các Luật này và hệ thống các văn bản dưới Luật còn chưa hỗ trợ nhau, thậm chí còn nhiều quy định chưa ăn khớp với nhau, “cản phá” nhau, chưa hoàn chỉnh, thống nhất để dẫn lối và hỗ trợ các trường đại học thực hiện quyền tự chủ đã được luật định.    Về mặt nhân sự, các trường tự chủ chưa được trao quyền tự chủ quyết định nhân sự cấp cao nhất, mà mới chỉ được quyết định từ cấp khoa, cấp bộ môn trở xuống.    Về tài chính, chúng ta cũng đang tự chủ khá nửa vời và chưa có những quy định tường minh xem các trường được làm gì và chưa được làm gì. Nhà trường tự chủ và không nhận kinh phí chi thường xuyên của nhà nước, nay được quyền xếp lương cho cán bộ nhưng chỉ tối đa bằng hai lần mức lương cơ bản, còn lại muốn xếp lương cho giáo sư thì phải xin ý kiến. Làm sao mà Bộ Nội vụ hoặc cơ quan chủ quản biết được chính xác giáo sư ấy thực sự đóng góp như thế nào cho nhà trường? Khen thưởng cũng theo định mức, theo hướng dẫn; đúng ra đó là việc của nhà trường, được phân loại dựa theo các tiêu chí về hiệu quả công tác, hiệu lực quản lý và năng suất lao động, ko cần một “cấp trên” nào “duyệt” cả.    Thực ra bây giờ đồng lương chưa đủ sống thì làm sao các trường đại học có thể thu hút được người tài về, muốn trả thu nhập xứng đáng theo hiệu quả công việc thì lại phải “biến báo” bằng cách trả thêm theo hợp đồng sản phẩm, hợp đồng nghiên cứu, viết chuyên đề, v.v…. thay vì nhà nghiên cứu, giảng viên trong trường có được một mức lương cao một cách minh bạch, cứ thế mà làm và trả đúng KPIs nhà trường giao. Nhà khoa học còn phải hoàn tất cả yêu cầu dở khóc dở cười như đi ô tô thì phải sao chụp từ bằng lái của lái xe, số CMT của lái xe, nhật ký hành trình, chụp ảnh chiếc ô tô với biển số đăng ký, tới nhà dân khảo sát là phải có thông tin tọa độ, địa chỉ, số CMT, xin số tài khoản để chuyển khoản, nhìn chung là các nhà quản lý tìm đủ mọi cách để chống các nhà khoa học (KH) “nói dối”. Các trường phải tiêu tốn nguồn nhân lực không nhỏ vào việc hoàn thiện các chứng từ kế toán bằng cung cách quản lý “sợi tóc chẻ làm tư”. Nếu nhà quản lý quan tâm nhiều hơn đến các tiêu chí KPIs rõ ràng, khả tín thì lo gì họ nói dối hay bớt xén?    Như vậy, chính sách thì cởi mở nhưng nhìn vào chi tiết thì thấy còn nhiều cái bó chân bó tay nhà khoa học. Động lực cho các trường phát triển sẽ chỉ tới khi không còn những quy định làm nản lòng các nhà khoa học, các giảng viên đại học, để tự chủ đại học mang lại cho chủ thể của đổi mới giáo dục và các đối tượng liên quan niềm tin thực sự, lợi ích thực sự. Khi hội tụ đủ các yếu tố ấy, không cần “hô hào” hoặc “khoác” chiếc áo tự chủ, các trường cũng sẽ tự động tự chủ, không cần một biện pháp hành chính nào.      Đại học Bách khoa là một trong số hơn 20 trường đang thí điểm tự chủ đại học. Ảnh: Hoàng Nam.      Vậy cần có những chính sách, quy định nào để không còn những cái “bó chân” đó, thưa ông?     Muốn một thực thể sống thật thì nó phải có không gian sinh tồn thực sự của mình. Về tự chủ đại học, cần làm rõ mối quan hệ giữa các thiết chế quản lý và quản trị ở hai mức độ: một là, trong nội bộ trường đại học có Đảng ủy thì Đảng ủy sẽ làm gì, HĐT, ban giám đốc làm gì; nghị quyết của Đảng ủy, nghị quyết của HĐT ban hành những vấn đề gì. HĐT phải có thực quyền chứ không thể là một tổ chức hữu danh vô thực, nó có vị trí và vai trò thực sự của nó; thiếu thiết chế này hoạt động của trường đại học bị méo mó, chất lượng đào tạo, uy tín xã hội bị suy giảm… Mô hình HĐT cũng tương tự như mô hình hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp, người ta cũng cho rằng trường đại học tự chủ sẽ vận hành ‘như’ (chứ không phải ‘là’) doanh nghiệp, vậy thì tại sao cơ chế của hội đồng quản trị của doanh nghiệp lại khác biệt với tổ chức HĐT nhiều đến vậy? Thứ hai là xác định rõ ràng mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và nhà trường. Chúng ta chỉ bỏ “cơ chế” chủ quản chứ không nhất thiết phải bỏ cơ quan chủ quản, nên cần phải quy định, cơ quan chủ quản được làm gì và không được làm gì, nhà trường được làm gì và không được làm gì. Một khi hành lang pháp lý có đường biên rõ ràng thì các trường đại học tự chủ cứ thế mà thực hiện các quyền đã được pháp luật cho phép, quan hệ xin-cho giữa cơ quan chủ quản và trường cũng sẽ biến mất, không còn có chuyện cơ quan chủ quản can thiệp sâu vào các hoạt động của nhà trường, kể cả các vấn đề “tế nhị” về tổ chức và nhân sự.    Về mặt tư tưởng, cũng cần thay đổi quan điểm tự chủ tài chính là các trường phải tự lo, “tự bơi”. Cách hành xử này dẫn đến thực trạng là trước khi nghĩ đến chất lượng hay giáo dục khai phóng còn ở mãi đâu đâu, các trường đã phải loay hoay lo kiếm tiền để tồn tại, lo tuyển cho nhiều sinh viên vào học vì học phí gần như là nguồn thu duy nhất trước khi lo thực hiện sứ mệnh và các giá trị cốt lõi của trường. Ở đâu giáo dục mà chỉ lo kiếm sống thì ở đó khó có nền giáo dục tử tế, khó nói đến chất lượng, ở đâu làm khoa học mà để kiếm tiền, để làm giàu thì ở đó khó có nền khoa học công nghệ chân chính, khó có liêm chính học thuật. Nếu nhìn nhận tự chủ tài chính một cách méo mó và thiển cận, thì sẽ tạo ra làn sóng “kinh doanh hóa” các trường đại học, nghĩa là những người điều hành trường đại học đặt ưu tiên tài chính lên hàng đầu, nên họ tìm mọi cách để tăng thu và tiết kiệm tối đa chi phí đào tạo, tìm mọi cách thức để “giáo dục với giá rẻ”. Lãnh đạo các trường này không ngại ngần yêu cầu giảng viên phải chấm điểm cao hơn, thiết kế khóa học dễ hơn, giảm bớt thực hành, thực tập, hạn chế tối đa việc đánh trượt sinh viên, v.v…  Kinh doanh hóa đào tạo như thế thì lấy đâu ra chất lượng, lấy đâu ra người tài?    Đồng thời, việc đầu tư cho các trường tự chủ cũng phải tường minh. Hiện nay chúng ta đang thấy một thực trạng là tự chủ hay không tự chủ không hơn gì nhau về mặt đầu tư của nhà nước, chỉ thấy tự chủ bị thua thiệt vì bị cắt ngay lập tức các khoản chi thường xuyên. Dù muốn dù không thì cũng đã đến lúc có các chỉ số về đầu tư tường minh, dựa chủ yếu vào các tiêu chí KPIs mà các trường đại học đạt được. Ví dụ, hiện nay chúng ta chưa biết rõ cơ sở khoa học của việc đầu tư cho trường đại học A cả ngàn tỉ đồng với một trong những đầu ra là 200 công bố trên các tạp chí Q1, còn ít bằng phát minh hay sáng chế; trong khi đó, có trường không nhận ngân sách nhà nước nhưng cũng có cả trăm công bố trên trên các tạp chí Q1, và đều đặn có một vài phát minh, sáng chế được quốc tế thừa nhận.    Tôi vẫn còn băn khoăn là, hình như ở các nước có nền giáo dục đại học phát triển, các trường đại học tự chủ thực chất là các trường tự trị đại học mà ở đó họ chỉ cần cam kết: Không vi phạm hình sự, không tham nhũng, không vi phạm liêm chính học thuật, không làm thất thoát hay suy giảm tài sản công, và bảo đảm hoạt động của nhà trường hiệu quả và bền vững. Một khi đại học làm đúng như vậy, không một cơ quan nhà nước hay tư nhân nào can thiệp vào các hoạt động của nhà trường.     Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi! □     Thu Quỳnh thực hiện     Cần phải có đánh giá các chính sách tự chủ đại học hiện nay đang tác động như thế nào tới các trường thí điểm tự chủ theo Nghị quyết 77 [2] trong giai đoạn đầu.   Thực ra, 6 trường ‘thí điểm’ đầu tiên (Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Trường Đại học Hà Nội, Trường Đại học Ngoại thương, Học viện Nông nghiệp, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tôn Đức Thắng) đều là các trường ‘mạnh’ về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, hoặc là các trường có nguồn thu học phí chủ động và đủ lớn, có thế mạnh có thể liên kết với doanh nghiệp, và hợp tác quốc tế; nên cần phải phân tích để biết được các chính sách về tự chủ đã tạo điều kiện cho họ phát triển đến đâu, những thành quả nào có được là nhờ tự chủ, những thành tựu nào không phải do tự chủ… Việc đánh giá này phải do các cơ quan, tổ chức đánh giá độc lập tiến hành, từ đó rút ra các bài học cho việc hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện tự chủ đại học trên quy mô lớn hơn. Cũng xin nói thêm là, nên chăng nhà nước chọn các đại học quốc gia, đại học vùng, là các đại học rường cột của hệ thống giáo dục đại học của đất nước, để tiến hành thí điểm tự chủ trước; từ đó, với các bài học thu được từ quá trình ‘thí điểm’ này, mở rộng dần sang các trường đại học khác, thì có lẽ tiến trình tự chủ đại học đã thu được nhiều thành tựu nổi bật hơn.     —  Chú thích:  1 Luật Giáo dục 2005, Luật Giáo dục đại học 2012 và cụ thể hóa hơn trong Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định 99, ngày 30 tháng 12 năm 2019, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật Giáo dục ĐH.  2 Nghị quyết 77/NQ-CP (NQ77) ngày 24/10/2014.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ chủ quyền dữ liệu đến ban-căng hoá internet: Những vận động mới trong quản lý internet      Chủ quyền dữ liệu (data sovereignty) là khái tiệm tư duy đang ngày càng trở nên phổ biến trong cách các quốc gia khối BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi) tiếp cận việc quản lý internet. Đặc biệt, tư duy chủ quyền dữ liệu là nền tảng cho việc hình thành thương hiệu quản lý internet của Nga và Trung Quốc – hai cường quốc đang ngày càng xích lại gần nhau trên mặt trận hình thành ý thức hệ đối lập với phương Tây trong việc định hình hệ thống internet. ‘Ban-căng hoá’ internet (internet balkanisation– hay ‘splinternet’), một khái niệm được nhắc đến đầu tiên từ những năm cuối thập niên 90, đang ngày càng được nhắc đến nhiều hơn trong những năm gần đây bởi mối liên minh ngày càng rõ nét này.      Tổng thống Vladimir Putin trong một buổi hội nghị báo chí phát biểu rằng: “Internet là một dự án của CIA và bây giờ vẫn vậy”. Nguồn: kremlin.ru  Chủ quyền dữ liệu và khối BRICS   Chủ quyền dữ liệu là thuật ngữ dùng để chỉ các động thái làm luật với mục đích kiểm soát dữ liệu đi ngang qua, hoặc được tạo ra ngay tại lãnh thổ các quốc gia trên thế giới. Khác với một khái niệm rộng hơn là chủ quyền điện toán (cyber sovereignty), chủ quyền dữ liệu và các quốc gia đứng sau tư duy này (mà cụ thể là các quốc gia khối BRICS – Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và những nước có trình độ phát triển kinh tế tương tự) đặc biệt hướng mũi nhọn quan tâm đến việc điều chỉnh dòng chảy dữ liệu trên internet dưới quyền hạn pháp lý của từng quốc gia khác nhau.  Nga và Trung Quốc là hai quốc gia thuộc khối BRICS có cái nhìn gay gắt và mạnh mẽ nhất về vấn đề chủ quyền dữ liệu, với thái độ xem việc siết chặt dòng chảy dữ liệu bắt nguồn từ và thông qua lãnh thổ quốc gia hai nước này là yêu cầu tối quan trọng trong việc bảo vệ thông tin nhạy cảm cũng như nền văn hoá quốc gia của họ trên môi trường internet. Các quốc gia còn lại trong khối BRICS đã và đang có những động thái làm luật với hướng đi tương tự, dù với mức độ thành công, sự chặt chẽ, mối quan tâm, và động lực khác nhau. Vào năm 2013, Tổng thống Brazil Dilma Rousseff ủng hộ việc sửa đổi khung quyền dân sự trên internet (còn được gọi là Marco Civil), yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ đám mây nước ngoài lưu trữ dữ liệu tạo ra tại Brazil trên các máy chủ được lưu trữ ở Brazil. Tuy nhiên, đề xuất này không mấy được lòng các nhà làm luật tại Brazil, và dự luật được chốt lại với điều khoản ít gây tranh cãi hơn, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ đám mây nước ngoài hoạt động tại Brazil phải tuân thủ luật pháp Brazil.  Vào năm 2011, Chính phủ Ấn Độ cập nhật Đạo luật Công nghệ thông tin năm 2000 nhằm đưa ra một số sửa đổi liên quan đến quyền riêng tư và xử lý dữ liệu, bao gồm cả việc bắt buộc các doanh nghiệp thu thập và lưu trữ dữ liệu cá nhân phải có chính sách bảo mật dữ liệu người dùng, có được sự đồng ý thu thập dữ liệu từ người dùng, và chỉ được chia sẻ dữ liệu với các công ty có cùng tiêu chuẩn bảo vệ dữ liệu gắt gao theo quy định pháp luật của Ấn Độ. Không phải là ngẫu nhiên mà các yêu cầu này của Ấn Độ vào năm 2011 nghe khá quen thuộc; Ấn Độ, với vị trí là quốc gia tiếp nhận hơn 40% lượng thuê ngoài bắt nguồn từ các nước phương Tây, vốn đã từ lâu đồng thuận với cách nhìn làm luật quản lý dữ liệu của các quốc gia châu Âu. Ta có thể nhìn thấy rất nhiều điểm tương đồng từ cách làm luật của Ấn Độ với GDPR, bộ luật bảo vệ dữ liệu châu Âu chính thức có hiệu lực vào năm 2018. Điểm đáng lưu ý với trường hợp Ấn Độ là việc ủng hộ làm luật quản lý dữ liệu tại quốc gia này chủ yếu đến từ giới tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh công nghệ thông tin, bởi nhu cầu gia tăng tính cạnh tranh trong việc giành lấy thị phần thuê ngoài từ các quốc gia phương Tây với lối tư duy bảo vệ dữ liệu nhằm mục đích gia tăng quyền lợi của công dân họ. Theo nhận định của các chuyên gia quốc tế, Ấn Độ dường như quan tâm hơn đến việc bảo vệ dữ liệu của các nhà đầu tư phương Tây tại lãnh thổ quốc gia họ hơn là bảo vệ dữ liệu của công dân Ấn Độ tạo ra trên lãnh thổ Ấn Độ. Chính vì sự khác biệt mấu chốt này mà động thái làm luật dưới tên gọi chủ quyền dữ liệu của Ấn Độ thường mang nhiều tương đồng với các quốc gia phương Tây hơn là các quốc gia còn lại trong khối BRICS.      Ấn Độ dường như quan tâm hơn đến việc bảo vệ dữ liệu của các nhà đầu tư phương Tây tại lãnh thổ quốc gia họ hơn là bảo vệ dữ liệu của công dân Ấn Độ tạo ra trên lãnh thổ Ấn Độ.      Nam Phi phê duyệt Khung chính sách An ninh mạng Quốc gia vào năm 2012, với động lực cốt yếu giúp quốc gia này xây dựng cơ sở an ninh internet đáng tin cậy hơn. Đứng thứ ba trên thế giới về số lượng tai nạn tấn công mạng (cyber attacks), Nam Phi là một trong những nạn nhân chịu nhiều rủi ro mạng nhất thế giới bởi cơ sở hạ tầng non yếu và sự lơ là xây dựng cơ sở pháp lý vững mạnh nhằm bảo vệ an ninh mạng. Với tỉ lệ phần trăm người dùng ngày càng tăng đáng kể (gần 60% vào năm 2018, cao hơn Ấn Độ với chưa đầy 25%, và nhỉnh hơn cả Brazil với 58%), Nam Phi đang ngày càng đối mặt với những thử thách an ninh mạng cả về mặt kỹ thuật lẫn pháp lý.  Bài toán thương hiệu liên minh Nga-Trung   Trái với các quốc gia còn lại trong khối BRICS, Nga và Trung Quốc đang dần hình thành một thương hiệu quản lý internet đậm nét Nga-Trung. Chính phủ Trung Quốc và Nga đồng kiến tạo thương hiệu “chủ quyền internet” hoàn toàn đối lập với hệ tư tưởng công nghệ và quản trị của Mỹ, phù hợp với tham vọng chính trị của cả hai cường quốc này trên chính trường thế giới từ những năm đầu thế kỷ XXI.  Chủ nghĩa tư duy đối lập của Trung Quốc và Nga có một lịch sử khá dài. Thương hiệu chủ quyền internet của Nga ra đời năm 1998, khi Nga đề xuất với Liên Hợp Quốc dự thảo nghị quyết về “Những phát triển trong lĩnh vực thông tin và viễn thông trong bối cảnh an ninh quốc tế”. Vai trò trung tâm của nhà nước và các tổ chức liên bang trong việc quản lý internet tại Nga được manh nha từ văn bản này, và từ đó phát triển ngày càng mang tính có tổ chức. Trong suốt một thập kỷ tiếp theo, Trung Quốc và Nga cùng nhau giới thiệu khái niệm chủ quyền internet thông qua nhiều cơ quan và quy trình quản trị Internet mới, bao gồm Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin (World Summit on the Information Society), Diễn đàn quản trị Internet (Internet Governance Forum), Đại hội công nghệ thông tin thế giới (World Congress on Information Technology), và Netmundial. Trong vòng 10 năm trở lại đây, khi vấn đề quản lý internet ở cấp độ toàn cầu đang ngày càng trở thành vấn đề địa chính trị mang tính tranh cãi gay gắt, mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc trong vấn để này đang ngày càng xích lại gần hơn, với chuyên gia Alexander Gabuev gọi đùa mối quan hệ này là “tình anh em kỹ thuật số” (digital bromance) trong thời đại công nghệ thông tin.    Trung Quốc xem Baidu là “phương tiện để phát sóng và truyền bá văn hóa Trung Quốc. Nguồn ảnh: South China Morning Post  Vào năm 2011, cùng với Tajikistan và Uzbekistan, Trung Quốc và Nga đã trình lên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc một đề xuất về Quy tắc ứng xử quốc tế về an ninh thông tin (International Code of Conduct for Information Security). Phê phán những lời hoa mỹ mang tư duy toàn cầu hoá về tự do ngôn luận trên internet thường được đẩy mạnh bởi Mỹ và các quốc gia phương Tây, Quy tắc này nhấn mạnh “chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia” cũng như “tôn trọng sự đa dạng của lịch sử, văn hóa và hệ thống xã hội của tất cả các quốc gia.” Quy tắc này cũng nhấn mạnh quyền của các quốc gia trong việc bảo vệ không gian thông tin của họ, đặc biệt đề cao “môi trường tinh thần và văn hóa”, và “sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống quản lý Internet quốc tế đa phương, minh bạch và dân chủ” ở cấp chính phủ. Năm 2015, dưới tên gọi Tổ chức hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organization), bao gồm các nước Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga, Tajikistan và Uzbekistan, Quy tắc này được chỉnh sửa và một lần nữa trình lên Liên Hợp Quốc. Động thái này được nhìn nhận rộng rãi trên toàn thế giới là hành vi đánh dấu sự chia rẽ mang tính thể chế hoá trong quản lý internet ở cấp độ toàn cầu.  Cũng trong năm 2015, Trung Quốc và Nga chính thức hóa mối liên minh điện toán của hai quốc gia này với Thỏa thuận song phương về Hợp tác an ninh thông tin quốc tế (Agreement on International Information Security Cooperation). Thỏa thuận khẳng định rằng chủ quyền và các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho toàn bộ các quyền thi hành luật của nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, và quyền tài phán quốc gia luôn được ưu tiên trong các vấn đề cơ sở hạ tầng thông tin nằm trong biên giới địa lý của mỗi quốc gia. Gần đây nhất, vào tháng 4/2016, Moscow đã tổ chức Diễn đàn An toàn Internet Quốc tế lần thứ 7, và trong khuôn khổ này Diễn đàn an ninh và phát triển Công nghệ thông tin Trung-Nga lần thứ nhất đã chính thức diễn ra. Tham gia diễn đàn này từ phía phái đoàn Trung Quốc là Lu Wei, Giám đốc Quản lý không gian mạng của Trung Quốc lúc bấy giờ, và Phương Tân Hưng, Kỹ sư trưởng của Khiên Vàng (Golden Shield), công nghệ kiểm duyệt internet khét tiếng ở Trung Quốc. Chủ quyền điện toán và sự cần thiết trong việc đối trọng với chính sách và các công ty Internet của Mỹ là những vấn đề được bàn đến xuyên suốt diễn đàn. Liên minh Nga-Trung ngày càng phản đối rõ nét những gì họ xem là sự thống trị của Mỹ trong việc quản lý internet toàn cầu, và  đẩy mạnh xây dựng thương hiệu chủ quyền internet bằng cách thúc đẩy xây dựng các công ty dịch vụ internet nội địa. Các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia trong lĩnh vực internet không chỉ được nêu tên tại các sự kiện trong nước một cách khoa trương; mà các công ty này còn thường xuyên được đưa vào tham gia các sự kiện liên quốc gia dưới biểu ngữ ‘chủ quyền internet’.      Thời đại mà internet được xem như một ‘ngôi làng chung’ kết nối toàn thế giới dưới cùng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật trung lập vận chuyển dữ liệu toàn cầu dường như đã kết thúc. Ngày nay, sự can thiệp của chính quyền các quốc gia với những tư tưởng chính trị đối lập đến việc quản lý và kiểm soát môi trường thông tin số đang ngày càng trở nên có hệ thống và phần lớn mang nhiều tính cực đoan.      Các công ty dịch vụ internet nội địa điển hình của Trung Quốc và Nga là Baidu và Yandex. Hai thương hiệu bộ máy tìm kiếm trên internet này đều ra đời vào năm 2000, ra sàn vào năm 2005 (Baidu) và 2011 (Yandex). Tại Trung Quốc, Baidu chiếm hơn 75% thị phần công cụ tìm kiếm trên mạng, giữ vị trí gần như độc tôn tại quốc gia này – phần lớn nhờ vào việc Google rút khỏi Trung Quốc vào năm 2010. Tuy vẫn đang hoạt động tại Nga, thị phần của Google ở quốc gia này chỉ vỏn vẹn 30%, so với 55% của Yandex. Không chỉ vận hành trên lãnh thổ Nga, Yandex đã và đang thiết kế những công cụ tìm kiếm đặc biệt dành cho các quốc gia lân cận như Belarus, Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Ukraine. Từ sau khi lên sàn, Yandex còn đặc biêt tạo ra công cụ yandex.com dành cho người sử dụng tiếng Anh, và thậm chí đặt văn phòng nghiên cứu và phát triển mang tên Yandex Labs ở Thung lũng Silicon tại California, Mỹ. Ước tính cho thấy 9% lợi nhuận của Yandex thu được từ quảng cáo đến từ bên ngoài lãnh thổ Nga. Làm chủ bộ máy tìm kiếm trên ở cấp độ quốc gia là một dự án mang tính chiến lược vô cùng quan trọng; lượng thông tin khổng lồ trên internet sẽ không thể nào đến được với người dùng nếu không có những bộ máy tìm kiếm sàng lọc và tổ chức, sắp xếp lượng thông tin này theo cách liên quan và hữu ích nhất đến với người dùng. Nói cách khác, các công cụ tìm kiếm trên mạng như Google, Baidu, hay Yandex chính là cửa ngõ dẫn người dùng internet đến với nguồn tài nguyên thông tin kỹ thuật số giàu có của toàn thế giới. Đằng sau mỗi cánh cửa là một quan cảnh khác nhau, với những chọn lọc tài nguyên được sắp xếp với những mục đích hoàn toàn khác biệt. Trung Quốc xem Baidu là “phương tiện để phát sóng và truyền bá văn hoá Trung Quốc”, và dù đã không đạt được thành công tại Nhật và Việt Nam, Baidu đã ra mắt công cụ tìm kiếm bằng tiếng Bồ Đào Nha mang tên Busca tại Brazil vào năm 2014, với sự có mặt của Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Brazil Dilma Rousseff. Nga xem Yandex là sản phẩm của một “nước Nga mới, tràn đầy lý tưởng đổi mới và tư duy kinh doanh”, dưới thời Tổng thống Medvedev. Khẩu hiệu này tồn tại vỏn vẹn bốn năm khi tổng thống Nga Putin trở lại vào năm 2012; dưới chính quyền Putin, internet được nhìn nhận là hệ thống công nghệ kỹ thuật mang tính lật đổ của phương Tây, là nơi bắt nguồn của tệ nạn xã hội và chính trị, và là mối đe dọa xã hội cần được kiểm soát và kiềm chế. Tại Diễn đàn độc lập Truyền thông địa phương và Khu vực năm 2014, Putin đã gọi internet là một “dự án đặc biệt của CIA”, và bày tỏ quan điểm rằng Mỹ muốn giữ vị trí độc quyền trong quản lý nguồn tài nguyên cũng như cơ sở hạ tầng internet.  Ban-căng hoá internet và những rủi ro tương lai  Quản lý internet là vấn đề ngày càng mang tính địa chính trị đậm nét. Thời đại mà internet được xem như một ‘ngôi làng chung’ kết nối toàn thế giới dưới cùng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật trung lập vận chuyển dữ liệu toàn cầu dường như đã kết thúc. Ngày nay, sự can thiệp của chính quyền các quốc gia với những tư tưởng chính trị đối lập đến việc quản lý và kiểm soát môi trường thông tin số đang ngày càng trở nên có hệ thống và phần lớn mang nhiều tính cực đoan. Rõ nét hơn hết là sự thành lập liên minh Nga-Trung trên chính trường quốc tế, và động thái thành lập những hệ tư tưởng đối lập với Mỹ của hai cường quốc này. Trong bối cảnh phân cực ý thức hệ trong quản lý internet hiện nay, việc khả năng dẫn đến các quốc gia vừa và nhỏ dần dà tách ra đứng về phía phương Tây/Mỹ hoặc phía liên minh Nga-Trung và khối BRICS nói chung là rất cao.  Bán đảo Ban-căng, vốn hầu hết nằm dưới sự cai trị của Đế chế Ottoman cổ đại, đã bị phân tách thành những quốc gia nhỏ độc lập từ đầu thế kỷ XIX và hình thành hơn 10 quốc gia khác nhau. Việc ‘chia năm xẻ bảy’ các vùng lãnh thổ quốc gia đối lập và thù địch về chính trị, kể từ đó, thường được ví von với tên gọi “Ban-căng hoá”. Chưa thể nói chính xác được liệu trong tương lai internet của chúng ta có sẽ phải qua quá trình lịch sử như bán đảo Ban-căng hay không; điều mà ta có thể bắt đầu làm rõ và phát triển ngay từ bây giờ, đó chính là lập trường quản lý internet dựa trên tinh thần hợp tác và thiện chí. Các quốc gia dù nhỏ hay lớn đều có quyền và nghĩa vụ tìm lấy tiếng nói riêng của mình và đóng góp mang tính xây dựng vào diễn đàn toàn cầu trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường thông tin điện toán chung của toàn nhân loại.            Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Từ chuyện HỌC SINH KHÔNG THÍCH MÔN SỬ      Đó là điều mà công luận đã lên tiếng báo động cách đây ngót một năm trước con số 60% bài thi sử ĐH-CĐ 2005 dưới điểm 1. Nhưng rồi thời gian cứ bình thản trôi qua như cái bình thản của những người có trách nhiệm với nền sử học và sự nghiệp chấn hưng giáo dục nước nhà, để tới năm nay, một điệp khúc tương tự lại diễn ra. Trong bài báo này, chỉ xin đề cập chút ít về tư liệu sử hiện đại Việt Nam để lẩy ra vài lý do vì sao không phải chỉ học sinh, mà cả người lớn cũng không mấy quan tâm đến lịch sử nữa. Biết đâu trong đó có bóng dáng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó mới hình dung xem tình trạng này liệu có cơ cứu vãn được hay không.        Điểm qua vài sách sử   Bộ Đại cương lịch sử Việt Nam-tập III: 1945-2000*, được soạn nhắm nhiều đến các nhà giáo-nhà sử học tương lai, người sẽ trực tiếp truyền vào tim thế hệ đi sau niềm hứng khởi với môn sử. Dù được giành một phần đáng kể (55 năm-nhưng chiếm già 1 phần 3 pho quốc sử 4000 năm. Quả là bất bình thường!), viết về hiện thời, với phương tiện thông tin, lưu trữ hiện đại, nguồn sử liệu vô cùng phong phú (trong, ngoài nước), thế mà đọc hết lại thấy một cảm giác rất lạ, như sau bữa ăn thời “bao cấp”, hiếm thịt cá, chỉ toàn rau mì, bụng căng mà mắt vẫn hoa, rõ là bị thiếu những chất đang rất cần cho cơ thể, mà quá thừa những gì không cần nữa, hay khó tiêu hóa nổi. Đó là:   • Cuốn sách như để giảng dạy, ca ngợi về học thuyết chiến tranh cách mạng hơn là một thứ thông sử. Sử liệu thì ít, chủ yếu về chiến tranh, lại quá nhiều lời bình luận, đánh giá kiểu đại ngôn mang tính “định hướng tư tưởng” của những thập niên 50-60 thế kỷ trước.  • Tuy thiên về chiến tranh nhưng toàn thấy “ta thắng, địch thua”, làm giảm tính chất ác liệt của cuộc chiến, sự hy sinh, tổn thương ghê gớm của dân tộc.  • Tư liệu hầu hết là về cách mạng, miền Bắc, quá ít về xã hội thuộc Pháp, Mỹ-chính quyền Sài gòn (chỉ chưa tới 10 trong 340 trang sách).  • Về kinh tế, xã hội ở miền Bắc, cả nước sau 1975 cũng toàn “thành công”, “đúng đắn”, còn tổn thất, sai lầm chỉ sơ qua vài trang (kể cả những sai lầm đã được công khai thừa nhận); đầy những trích dẫn (hoặc giọng văn) của các báo cáo tổng kết thành tích, Văn kiện Đại hội .  • Đáng lo nữa là với một cuốn chính sử mà lại toát lên một cách nhìn quá thấp về lớp trẻ hiện nay.   Đọc thêm bộ Việt Nam những sự kiện lịch sử,  cuốn 4:1945-1975** (và cả bộ Những sự kiện lịch sử Việt Nam *** nữa). Tuy không dàn trải những bình luận, ngợi ca ngoài sử liệu (vì thuộc loại sử biên niên), nhưng cũng đều mắc những “bệnh” hệt như bộ Đại cương lịch sử Việt Nam. Còn thử nghe các tác giả giãi bày: “…có hai dòng trái ngược: dòng lịch sử chính thống, cách mạng… và dòng lịch sử đối lập, phản bội…“, thành ra lý do của sự thiên lệch quá mức về sử liệu là “vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách”(?) nên cái dòng gọi là “đối lập, phản bội” kia chỉ được đề cập “trong chừng mực có thể” (nghĩa là khoảng 5-7 trong 600 trang). với khoa học, với lịch sử mà lại có thể bằng giọng lấp liếm dễ dãi đến thế?            Xếp hàng thời bao cấp        Bước qua một “địa hạt” khác, bộ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975**** thì khác hẳn. Mặc dù rất nhiều điều còn phải bàn về những sự thiên lệch cố hữu, nhưng  dù sao cũng đã ít đi những mảng “tối” của sự thiếu vắng, sai lệch, che lấp tư liệu. Bên cạnh nỗ lực kiên cường của quân dân trong lao động, chiến đấu là mất mát đau đớn trong những đợt cải cách ruộng đất, chỉnh đốn Đảng, cải tạo tư bản, nền kinh tế bao cấp… cũng được nêu kha khá. Đặc biệt có hẳn một phần về vùng chính quyền Sài gòn kiểm soát (những 250/1100 trang). Ngoài ra, cùng bộ sách này còn có cuốn Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 rất công phu, cho ta biết được một nền kinh tế năng động và có khả năng hội nhập, có thể phát huy khi đất nước được giải phóng, nhất là từ khi đổi mới, như tác giả-chủ biên Đặng Phong viết.     Vài chuyện sử bên ngoài sách sử  Để có được sự ham thích học và tìm tòi về lịch sử nói chung đã là vô cùng khó với lớp trẻ thời nay, nên không chỉ có những cuốn sử khô khan, mà rất cần nhiều đóng góp của báo chí-thông tin, văn hóa nghệ thuật, làm cho từng nhân vật, sự kiện lịch sử xa mờ sống động lại trong mắt hậu thế, khơi gợi trí tưởng tượng cho chính sử gia để có được lý giải, tìm tòi những trang sử bị khuất lấp. Vậy thử điểm qua vài món ăn tinh thần qua mấy chục năm nay.  Cách đây khoảng phần tư thế kỷ, có hai vở kịch lịch sử của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Trãi ở Đông quan và Rừng trúc và bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt, bộ phim tài liệu Hà nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy. Số phận chúng khá khốn khổ, không phải do giá trị nghệ thuật (vì người xem rất hưởng ứng), mà lại là do những đánh giá không thuận của một số nhà quản lý văn hóa.  Tiếp đến, trong không khí được “tự cởi trói” của giới văn nghệ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã làm sôi sục văn đàn bằng hàng loạt truyện ngắn; nhưng trong đó, những truyện có nhân vật Quang Trung, Nguyễn Du cũng đã chịu không ít “búa rìu” của giới phê bình quan phương. Đơn giản vì người ta đã “phong thánh” những anh hùng, danh nhân dân tộc, sẽ không thể chịu nổi một tài năng nhưng có “tật” là muốn “lật đổ thần tượng” bằng lối “người hóa” trở lại nhân vật.  Tương tự, ở cuốn Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, và gần đây là phim truyện về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hongkong đều có đề cập đến người phụ nữ đầu tiên trong cuộc đời riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà từ lâu coi như húy kỵ. Chỉ tiếc rằng hai tác phẩm có lẽ ở vào hai thời điểm quá cách xa nhau, xuất phát từ hai chủ thể khác nhau (một đằng cá nhân, một đằng là Nhà nước) nên đã chịu hai thái độ nhìn nhận rất khác của những người có trách nhiệm.  Gần đây, qua văn học nước ngoài cũng thêm chút sử liệu quý giá, dù còn quá ít, dưới dạng hồi ký, như những cuốn Tại sao Việt Nam?, Cuộc chiến tranh Đông Dương, Paris Saigon Hanoi … ít bị cắt xén, hoặc của những nhân vật tiếng tăm trong chế độ Sài gòn được trích đăng báo, tập hợp thành sách như Đỗ Mậu, Phạm Duy, Nguyễn Tiến Hưng… Có lẽ phải đợi tới đây, bằng việc gia nhập WTO thì chúng ta mới có thể dễ được tiếp cận hơn những tư liệu về chính mình đến từ mọi ngả bên ngoài?  Mấy lời bàn  Trước hết, chỉ qua một vài phác họa trên ta có thể thấy chút căn nguyên cho lời giải đáp vì sao học sinh không thích môn sử. Mới tạm điểm qua sách giành cho thầy cô, cho “người lớn” thôi mà đã thấy nặng tư duy “thời chiến”, “cái búa cái liềm” trong lối viết sử ở thời đại văn minh, bùng nổ thông tin này. Khi cả nước trải qua liên tiếp mấy cuộc kháng chiến trong hơn nửa thế kỷ, rồi đối đầu bằng chiến tranh lạnh, nên đời sống xã hội mọi mặt đã phải đặt “nhiệm vụ chính trị” lên hàng đầu. Đó là minh họa đường lối, nhấn mạnh truyền thống chống ngoại xâm, kể cả cường điệu cái xấu của kẻ thù, vẻ đẹp của “ta”…, tạm gác lại thiên chức nhà sử học để mà viết ra những gì có lợi cho “ta” thôi. Mặt trái của “tấm huân chương” chính là cái giá đắt phải trả cho lối thực dụng tiểu nông đó. Nhưng không thể cứ tiếp tục trả giá mãi khi mà đất nước đã độc lập, thống nhất, chiến tranh lạnh cũng chấm dứt từ lâu, việc xây dựng một xã hội văn minh hiện đại giờ là yêu cầu hàng đầu, nên thế hệ sau rất cần hiểu nhiều, đầy đủ, chính xác, khách quan nền tảng văn hóa, đời sống lao động sản xuất, giao thương…  của tiền nhân (đủ cả cái hay, cái dở).  Thời “bao cấp” kéo dài từ trong chiến tranh cho tới giai đoạn 1975-1986, nhưng không phải chỉ trong kinh tế, mà mọi mặt, có sử học. Tiếp đến là thời “đổi mới”, nhưng những thay đổi mới tập trung cho phát triển kinh tế; tâm lý e ngại, những thói quen do tình trạng trì trệ quá lâu đã tự làm khó sử gia trong việc thay đổi căn bản lối tư duy-viết sử (nói rộng hơn là cả về khoa học xã hội). Phải chăng chúng ta mới chỉ đang xóa “bao cấp” trong kinh tế thôi chứ chưa dám xoá “bao cấp” về tư tưởng? Nghĩ giản dị rằng con người hễ “no cơm ấm áo” là khắc văn minh, vui tươi yêu đời? Có phải vì thế mà thông sử thì vẫn không thoát được cái “vòng kim cô” xưa cũ, nhưng chuyên sử kinh tế thì được “cởi trói” dần theo với nền kinh tế thị trường? Hay đó còn là cả một quan điểm giáo dục, muốn thông qua môn sử và vài môn xã hội khác để “đúc sẵn” vào đầu những nhận thức chính trị, lòng trung thành với chế độ cho lớp trẻ? Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, rồi nào là “mở cửa”, hội nhập… mà vẫn quanh quẩn với lối nghĩ đó thì thật tai hại; khi mà cũng chỉ với từng đó thời gian thôi, nước Nhật phong kiến Minh trị Duy tân đã làm cuộc đổi thay cách mạng mới có được như ngày hôm nay, trước hết là do biết nâng cao dân trí, ý thức sớm việc bảo vệ độc lập quốc gia phải bằng một nền dân chủ văn minh tiên tiến.  Một điều trái ngược với thực trạng đáng buồn này là lịch sử hiện đại của Việt Nam lại vô cùng đa dạng, phong phú, đầy “kịch tính” trên mọi lĩnh vực, là “đất màu mỡ” cho những khám phá, tranh luận… tạo hấp dẫn thêm cho mọi tìm tòi phát hiện táo bạo của các sử gia. Nhưng cũng ngược lại, với những đa dạng phức tạp đó, nếu ta không sớm định cho nó một “hình hài” đúng như nó vốn có mà để các sử gia tiền bối nhắm mắt xuôi tay, cả bao “pho sử sống” dần khuất núi đem theo xuống mồ bí ẩn lịch sử, rồi phó mặc cho hậu thế thì sẽ vô cùng nan giải cho cái việc nắn lại một “cơ thể” đã mang đầy khiếm khuyết, dị tật. Ấy thế mà ít nhất chúng ta vẫn đang có tới 2500 sử gia để mà lo lắng cho điều này!  Với nội dung giảng dạy lịch sử như vậy, để có được niềm say mê dạy, học môn sử, thầy trò sẽ phải nỗ lực rất nhiều để nhặt nhạnh thông tin, tìm kiếm nguồn cảm hứng ở bên ngoài môi trường học tập, bù đắp những gì mà hệ thống sách vở không đem lại, đem lại không đúng cho họ. Khốn nỗi họ phải theo giáo án, đi đúng lằn ranh đã được vạch sẵn chứ khó dám liều để dạy “sử ngoài luồng”; cuộc sống khó khăn với đồng lương không nuôi nổi bản thân, điều kiện giảng dạy thì nghèo nàn không cho phép họ phiêu lưu lãng mạn với “tình yêu nghề nghiệp” duy ý chí. Và đáng lo ngại nữa là thế hệ trẻ ngày nay vẫn bằng mọi cách riêng để tự hiểu mình là ai, hiểu thế hệ cha ông; đương nhiên chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho điều đó. Là thái độ phản kháng bằng lên án, mất niềm tin và sự kính trọng thế hệ đi trước; nảy nở thói đạo đức giả, thực dụng, vô ơn… Còn một giá đắt nhãn tiền mà chúng ta đã phải trả từ lâu cho nhiều quyết định sai lầm để lại hậu quả nặng nề là từ sự chủ tâm coi thường tính thẩm định, dự báo, phản biện của khoa học xã hội (trong đó không thể thiếu sử học). Sẽ như “gậy ông đập lưng ông” cho một nền sử học-giáo dục minh họa phải đứng trước nhiều thế hệ nhắm mắt, bịt tai, quay lưng lại. Như câu bất hủ của Abutaliv “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác”.   ———————  *  NXB Giáo dục – 2005  **  NXB Giáo dục – 2004 (Viện sử học)  ***  Phan Đình Nhân – 2002  **** NXBKHXH – 2005 (Viện kinh tế)    Nguyễn Hữu Vinh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ đại học quanh ta, nghĩ về KH&CN Việt Nam      Qua v&#224;i chuyện về mấy đại học ở v&#224;i nước quanh ta (Thailand, Singapore, H&#224;n Quốc v&#224; Trung Quốc), g&#243;p phần l&#224;m r&#245; th&#234;m họ kh&#225;c ta thế n&#224;o v&#224; tại sao lại kh&#225;c. Tiếp theo l&#224; v&#224;i suy nghĩ về con đường khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ của đất nước trong thập kỷ tới.     1. Về mấy đại học quanh ta  Đại học Chulalongkorn (Thái Lan)  Mấy năm qua báo chí thường so sánh kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí ISI của Đại học Chulalongkorn của Thái Lan với hai Đại học Quốc gia của ta [1],[2]. Đại thể, các khảo sát này chỉ ra số ấn phẩm trên các tạp chí được ISI xếp hạng trong SCI hay SCIE của Đại học Chulalongkorn nhiều lần hơn số ấn phẩm có ở đây của hai Đại học Quốc gia của ta trong cùng quãng thời gian. Vì vậy khi được đề nghị tham gia đoàn của cơ quan đến làm việc với Đại học Chulalongkorn, tôi đồng ý ngay. Ba ngày không đủ để biết sâu về một đại học, nhưng chút kinh nghiệm với những đại học khác cũng cho tôi thấy một vài điều tại Đại học Chulalongkorn.   Đứng đầu trong các đại học của Thái Lan về hầu hết các ngành, Đại học Chulalongkorn có một khuôn viên rất lớn nằm ngay trong trung tâm Bangkok (có lẽ lớn hơn cả khuôn viên của Đại học Bách khoa Hà Nội mấy chục năm trước khi trường này chưa bị chia nhỏ ra nhiều phần). Dễ nhận thấy ngay ở vẻ bên ngoài của Đại học Chulalongkorn sự bề thế, sự quy hoạch, sự cân đối giữa các tòa nhà và rất nhiều cây xanh,… vốn là đặc trưng bên ngoài của những đại học có thứ hạng.   Hai nhận xét nhỏ nữa cho thấy họ khác ta. Thứ nhất là các phòng học ở đây đều có sẵn hệ thống nghe-nhìn (máy chiếu, tivi, video, microphone, …). Tôi đi quanh quan sát ngẫu nhiên dăm lớp học, thì đều thấy họ hoàn toàn không có kiểu dạy đọc chép. Các thầy cô đều dùng máy chiếu, giảng giải nhiều và sinh viên chăm chú nghe. Ở hành lang và các khu vực học công cộng, sinh viên ngồi trao đổi theo nhóm, tìm tin với máy laptop và dùng sách giáo khoa. Sách giáo khoa các môn học- theo tôi có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục đại học và lâu nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức ở đại học của ta- đều có thể tìm mua dễ dàng ở hiệu sách của đại học này. Thứ nhì là giáo viên có phòng làm việc và có nhiều căng-tin để ăn trưa trong trường- thiếu những thứ này thật bất tiện và ít làm được việc khi thầy cô cần làm việc ở trường cả ngày.   Tôi vẫn thường nói với mấy đồng nghiệp rằng Đại học Chulalongkorn hơn mình ít nhất vì ba điều sau. Một là giáo viên ở đây phần lớn là người Thái gốc Hoa, nên nói chung khả năng khoa học của họ không thua kém gì giáo viên ở bất cứ đại học nào tại châu Á. Hai là họ thường được đào tạo khá lâu từ nhiều nước phát triển (hai năm trước tôi làm việc vài ngày với một nhóm 5-6 giảng viên trẻ của Đại học Thammasat ở ngoại ô Bangkok, trong đó một người được học bổng của Chính phủ Thái đi học hơn mười năm ở Mỹ từ cuối phổ thông cho đến hết bậc tiến sĩ, mấy người kia đều có 6-8 năm ở Mỹ, Pháp hay Nhật để học thạc sĩ, tiến sĩ hoặc hậu tiến sĩ). Ba là điều kiện làm việc và lương của họ tốt hơn ta, đủ để họ dành toàn bộ tâm sức vào dạy học và nghiên cứu. Với ba điều kiện này, nếu họ không thua ta về số lượng ấn phẩm khoa học chất lượng cao mới là điều đáng ngạc nhiên!     Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore)  Đại học Quốc gia Singapore (NUS, http://www.nus.edu.sg/) và Đại học Công nghệ Nanyang (NTU, http://www.ntu.edu.sg/Pages /default.aspx) là hai đại học hàng đầu ở Singapore. Theo hệ thống của Anh nên các đại học ở Singapore chỉ có một số rất ít giáo sư (thường tỷ lệ giáo sư trên phó giáo sư là quãng 1/10), và do vậy rất ít phó giáo sư có thể trở thành giáo sư. Ở NYU, chỉ giáo sư được làm việc đến tuổi 65, còn các phó giáo sư chỉ được làm việc ở đây đến tuổi 58. Nhận ra những hạn chế của chính sách này, cách đây hai năm NTU quyết định thay đổi. Những phó giáo sư được đánh giá xuất sắc về nghiên cứu và đào tạo sẽ được quyền làm việc đến 65 tuổi dù không là giáo sư. Các khoa của NTU lập ra các hội đồng đánh giá, và nhờ một số người nước ngoài thẩm định độc lập các ứng viên của mình. Khi đó tôi có được hỏi nhờ nhận xét cho hai người làm cùng ngành (tạm gọi là X và Y). Ở đây xin kể tóm tắt để thấy các phó giáo sư của họ có kết quả làm việc thế nào.   Tiến sĩ X có bằng này năm 1987 tại Anh, thành phó giáo sư của NTU năm 1990. Trong vòng 20 năm qua, X là tác giả và đồng tác giả của 99 bài báo trên các tạp chí quốc tế trong đó chừng 15 bài in trong các tạp chí của IEEE, hơn 80 bài ở tuyển tập các hội nghị quốc tế, viết 4 cuốn giáo trình in tại nhà xuất bản Prentice Hall, và có h-index bằng 9. Tiến sĩ Y trẻ hơn và có bằng này ở Mỹ năm 1996, thành phó giáo sư ở NTU năm 2003. Đến 2007, Y là tác giả của 32 bài báo tạp chí quốc tế (gần 20 bài trong SIE/SCIE), 115 bài hội nghị quốc tế, có h-index bằng 12. Đáng kể là 10 bài báo tiêu biểu của Y những năm qua đều trong các tạp chí rất uy tín trong ngành. Điều quan trọng thấy ở đây là sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, họ tiếp tục làm nghiên cứu và có kết quả tốt. Đáng nói là X và Y không phải các trường hợp ngoại lệ ở NTU và NUS. Nếu vào thăm website của hai đại học này ta có thể thấy phần đông giáo viên của họ đều có kết quả nghiên cứu khoa học chừng chừng như vậy.   KAIST (Hàn Quốc)  Làm việc ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST, http://www.vast.ac.vn) và Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (JAIST, Japan Advanced Institute of Science and Technology, http://www.jaist.ac.jp), tôi có ít nhiều chia sẻ với các đồng nghiệp tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST, Korea Advanced Institute of Science and Technology, http://www.kaist.edu /edu.html). KAIST đứng trong nhóm vài đại học hàng đầu tại Hàn Quốc, và nhận được sự tài trợ rất lớn của Chính phủ Hàn để vươn lên đạt những thành tựu quốc tế về khoa học và công nghệ hiện đại. Phần lớn giáo viên ở đây đều trở về từ Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản. Đến làm việc một số lần ở KAIST và qua nhiều tiếp xúc với đồng nghiệp ở đây, tôi thấy phần lớn họ có trình độ cao, có nhiều nghiên cứu sinh, một số có nghiên cứu xuất sắc.   Một chính sách ở KAIST là một người khi được tuyển vào vị trí giáo sư (full professor) phải qua thời gian làm việc 7 năm mới được xét kết quả hoạt động để có thể trở thành chính thức (tenure). Cách đây hai năm, KAIST thay đổi chính sách này, cho phép các giáo sư có thể đề nghị đánh giá kết quả của mình trước 7 năm, kể từ khi được tuyển vào vị trí giáo sư. Tình cờ tôi được mời làm người nhận xét nước ngoài cho một người yêu cầu được xét để trở thành giáo sư chính thức sau 6 năm được tuyển vào vị trí này. Giáo sư Z này tốt nghiệp tiến sĩ ở Mỹ năm 1991, trở về KAIST năm 1995 và được chuyển từ phó giáo sư thành giáo sư năm 2001. Tóm tắt, trong vòng 20 năm, anh Z này đã là tác giả/đồng tác giả của 37 bài báo trên SCI, đã trình bày 7 báo cáo mời ở các hội nghị quốc tế, có 7 bằng phát minh đăng ký ở Hàn Quốc, 6 giải thưởng bài báo hay nhất (best paper awards), 30 lần được nhận tài trợ nghiên cứu từ Chính phủ và công nghiệp. Nhìn vào Website của hai người khác tôi quen ở KAIST thì thấy kết quả của họ còn ấn tượng hơn. Một trong hai người này là giáo sư xuất sắc (distinguished professor) của KAIST, trong số rất ít giáo sư được nhận danh hiệu này ở đây.  Đại học Nam Kinh (Trung Quốc)  Tuy chưa có dịp đến thăm một đại học nào trong những lần đến Trung Quốc, tôi thường làm việc với một số đồng nghiệp, nghiên cứu sinh nước này nên cũng ít nhiều biết về các đại học của họ. Phần này nói về một chính sách đặc biệt của Trung Quốc với những nhân tài của mình, cụ thể qua câu chuyện một đồng nghiệp tại Đại học Nam Kinh. Ở một nước rộng và đông dân, có truyền thống văn hóa lâu đời như vậy, hẳn nhân tài không phải “như lá mùa thu”. Điều quan trọng đáng quan sát là cách đất nước này đang sử dụng những người tài của mình.   Tôi quen Zhi-Hua Zhou, người làm cùng chuyên môn, giáo sư của Đại học Nam Kinh (http://cs.nju. edu.cn/zhouzh/). Đại học Nam Kinh nằm trong nhóm 11 trường được xếp hàng đầu trong số 2236 trường đại học và cao đẳng của Trung Quốc (gồm Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Giao thông Thượng Hải, …). Zhi-Hua tốt nghiệp đại học (1996), thạc sĩ (1998), tiến sĩ (2000) hoàn toàn tại Đại học Nam Kinh. Với thành tích nghiên cứu xuất sắc từ khi là nghiên cứu sinh, với vốn tiếng Anh rất tốt, Zhi-Hua đang trở thành một trong những chuyên gia được thừa nhận trên thế giới, một người làm nghiên cứu có rất nhiều kết quả công bố quốc tế ở những nơi uy tín nhất trong ngành trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence), học máy (machine learning) và khai phá dữ liệu (data mining). Tại Đại học Nam Kinh, sau khi hoàn thành xuất sắc luận án tiến sĩ, Zhi-Hua được nhận làm giáo sư trợ giảng vào đầu năm 2001, trở thành phó giáo sư một năm sau (2.2002), và trở thành giáo sư sau một năm rưỡi nữa (10.2003) khi mới 29 tuổi. Đáng kể hơn, vào tháng 3.2007, ở tuổi 34, Zhi-Hua được xét phong danh hiệu giáo sư Trường Giang (Cheung Kong Professor), còn gọi là học giả Trường Giang.   Chương trình học giả Trường Giang (Cheung Kong Scholars Program) là một chương trình đặc biệt từ 1998 của Bộ Giáo dục Trung Quốc, kết hợp với tập đoàn Cheung Kong tại Hongkong, nhằm hỗ trợ những nhà khoa học xuất sắc tuổi còn trẻ hoặc trung niên (không quá 45 tuổi cho người làm khoa học tự nhiên và không quá 50 cho người làm khoa học xã hội) tại các đại học ở Trung Quốc, nhằm kích thích sự tranh đua vươn lên trong khoa học, tạo điều kiện cho những người này và đại học của họ vươn lên “đẳng cấp quốc tế”. Mỗi năm Trung Quốc tuyển chọn khoảng 100 học giả Trường Giang cho tất cả các ngành khoa học, và mỗi ngành thường chỉ có khoảng 1-2 người được nhận danh hiệu này. Lương và tài trợ cho một học giả Trường Giang gấp khoảng 10 lần lương một giáo sư bình thường ở Trung Quốc. Từ 1998 đến 2008, có 905 giáo sư và 403 giảng viên từ 115 viện nghiên cứu và đại học được nhận danh hiệu học giả Trường Giang, với tuổi trung bình tương ứng 42 và 46 [3]. Trong số 905 giáo sư Trường Giang, có 259 người trước kia ở nước ngoài hoặc mới trở về từ nước ngoài trong vòng ba năm gần đây (gần 29%), và tất cả 403 giảng viên được nhận danh hiệu này đều từ Hongkong hoặc nước ngoài trở về Trung Hoa lục địa. Có hai loại giáo sư Trường Giang. Nhóm một là những người làm việc tối thiểu 9 tháng mỗi năm tại Trung Quốc, và nhóm hai là những người làm việc tối thiểu 2 tháng mỗi năm tại Trung Quốc. Việc có nhóm hai này nhằm thu hút những học giả gốc Hoa xuất sắc ở nước ngoài dành một phần thời gian về tham gia xây dựng nền khoa học trong nước, và cả người nước ngoài không phải gốc Hoa (có một số người nước ngoài đoạt giải Nobel là học giả Trường Giang).   Hoàn toàn được đào tạo trong nước nhưng với tài năng và những chính sách đặc biệt của Nhà nước, Zhi-Hua đã vượt lên, và theo đánh giá của tôi, mới 35 tuổi nhưng đã nằm trong nhóm một vài người Hoa xuất sắc nhất trên thế giới về lĩnh vực chuyên môn, với một uy tín được thừa nhận rộng rãi ở trong và ngoài nước.  2. Nghĩ về khoa học và công nghệ Việt Nam thập kỷ tới  Liệu có thể không thay đổi?  Những câu chuyện kể trên về mấy đại học hàng đầu ở vài nước quanh ta nhằm nêu lại một sự thật: Cán bộ khoa học ở họ làm nghiên cứu có kết quả hơn ta dù khi xuất phát có thể ta cũng không thua kém họ. Vì mấy người kể trong phần trên đều trong ngành công nghệ thông tin (CNTT) – ngành nước ta được chỉ đạo để trở thành “nước mạnh về công nghệ thông tin”[4] – nên một câu hỏi tự nhiên có thể đặt ra là trong ngành CNTT này, ở ta có một ai có được kết quả nghiên cứu như mấy người vừa kể trên không, trong khi ở họ có rất nhiều người như vậy? Thêm nữa, nếu cách làm vẫn như mấy thập kỷ vừa qua, liệu ta có thành “nước mạnh” được không?   Nguyên nhân nào tạo ra sự khác biệt về hiệu quả giữa người làm nghiên cứu của ta và của họ? Câu trả lời không khó và chắc nhiều người đồng ý, đó là môi trường làm việc, cụ thể là một môi trường gồm ba yếu tố liên quan nhau: một là điều kiện nghiên cứu, hai là lương và tài trợ đủ để tập trung cho nghiên cứu, và ba là những chính sách tạo ra động lực của người nghiên cứu.  Chúng ta sắp kết thúc một thập kỷ và dường như “không đạt được mục tiêu đưa khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực”[5]. Điều cần nói ngay là nếu lúc này ta không có những thay đổi mạnh mẽ, vào năm 2020 khi kiểm điểm lại chúng ta sẽ lặp lại việc không đạt mục tiêu như hôm nay, như những thập kỷ đã qua (viết đến đây tôi chợt băn khoăn không rõ “mục tiêu” của ta về KH&CN có đủ rõ và cụ thể để có thể đánh giá việc đạt được đến mức nào chưa?). Điều này cũng được khẳng định trong các văn bản của Bộ KH&CN, “Nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi”[6].   Tạo môi trường tốt cho nhóm nghiên cứu mạnh  Những năm qua chúng ta đã ít nhiều đầu tư kinh phí cải thiện được điều kiện làm nghiên cứu KH&CN tại một số cơ sở, như lập 17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, mua một số máy móc đắt tiền đặt ở một vài nơi (máy tính song song hiệu năng cao, máy cộng hưởng từ hạt nhân,…) mua nhiều tạp chí điện tử online ở Viện Thông tin KH&CN Quốc gia, … nhưng nhìn chung điều kiện nghiên cứu khoa học của ta ở hầu hết mọi nơi còn thiếu, nhất là cho những ngành, những loại nghiên cứu đòi hỏi kinh phí cao. Tuy nhiên, ngay cả những nơi được tập trung đầu tư như vậy ta cũng chưa có những kết quả nghiên cứu như mong muốn, vẫn có tình trạng “đắp chiếu” thiết bị. Đơn giản vì ta chưa có môi trường đồng bộ, ta có đầu tư về máy móc nhưng chưa có đầu tư cho “con người” một cách thích hợp.   Đặc điểm cơ bản của người làm công ăn lương ở ta là hầu hết đều phải tìm việc làm thêm để có thu nhập ngoài lương. Chúng ta đã và đang rất lãng phí vì những người xuất sắc nhất về KH&CN phải kiếm sống bằng những việc không liên quan đến sở trường và nghề nghiệp chính của họ. Như vậy, một cách là làm sao phụ cấp cho những người này ở một mức đủ cao để họ tập trung được vào nghiên cứu KH&CN, quy tụ và lập được nhóm nghiên cứu của mình và chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể với Nhà nước, dưới dạng các chương trình và đề tài.  Khi kinh phí KH&CN của ta còn ít, chưa đủ tài trợ cho mọi người làm nghiên cứu, thì trước hết đành tài trợ kinh phí cho những người giỏi nhất có chuyên môn phù hợp với những việc đất nước đang rất cần. Để làm tốt việc được giao, những người này cần xây dựng được nhóm nghiên cứu của mình. Tài trợ bao nhiêu người và bao nhiêu tiền là tùy cơ quan quản lý Nhà nước. Nếu như ở tất cả các ngành, giả sử ta tìm được 100 người như vậy trên cả nước, đầu tư cho họ xây dựng được 100 nhóm nghiên cứu mạnh (giả sử họ được làm việc với điều kiện đủ tốt, các thành viên và người đứng đầu có phụ cấp vài lần hơn mức lương hiện nay) … thì khả năng những nhóm này hoàn thành những nhiệm vụ được giao và cam kết là rất lớn. Một đất nước với hơn tám mươi triệu dân thì dù chưa giàu cũng có thể đầu tư tốt cho những nhóm nghiên cứu mạnh như vậy với yêu cầu họ có đóng góp xứng đáng. Quỹ nghiên cứu cơ bản NAFOSTED là một dạng gần với đề nghị này.   Để những nhóm nghiên cứu mạnh làm việc tốt, ngoài điều kiện làm việc tốt và có kinh phí trợ cấp cho người làm nghiên cứu, còn cần những chính sách thích hợp để hỗ trợ và tạo động lực cho người làm nghiên cứu KH&CN. Cụ thể là các chính sách về khoa học và giáo dục của Nhà nước cần đề cao giá trị của các nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Phần trên đã nêu thí dụ các nước quanh ta tạo một số chính sách để thúc đẩy động lực con người như thế nào. Một thí dụ tiêu biểu ở ta là chính sách về tuyển chọn các vị trí giáo sư-phó giáo sư ở các đại học và các viện nghiên cứu. Đây là chuyện dài đã được bàn lâu nay và không nằm trong khuôn khổ bài viết này, nhưng chắc chắn các chính sách này của ta cần phải thay đổi nhiều để gần với chuẩn mực và cách làm phổ biến trên thế giới. Nếu không có sự phân biệt rạch ròi về giá trị của các sản phẩm khoa học, nếu không đề cao những kết quả nghiên cứu KH&CN chất lượng cao trong việc tuyển chọn các vị trí giáo sư-phó giáo sư, các chính sách này sẽ hạn chế đóng góp của những lực lượng tinh hoa trong khoa học, và khuyến khích các nghiên cứu dễ dàng. Những dự kiến về tiêu chuẩn mới công bố gần đây phần nào đã thể hiện sự quan tâm đến giá trị, nhưng cũng còn xa với sự khác biệt thật của các loại hình sản phẩm.  Tổ chức đề tài từ trên xuống hay từ dưới lên?   Phân định được các kiểu loại hoạt động KH&CN sẽ cho phép ta hình dung tốt hơn bức tranh KH&CN của đất nước. Theo tôi, các hoạt động này có thể được phân định theo loại hình nghiên cứu (đặc trưng bởi bản chất của việc nghiên cứu, thường được xem gồm có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển[7]), và phân định theo cấp độ nghiên cứu (đặc trưng bởi mục tiêu và quy mô nghiên cứu), thường gồm có: Các chương trình hay đề án trọng điểm quốc gia; Các chương trình KH&CN trong các lĩnh vực ưu tiên; Và các đề tài nghiên cứu KH&CN.     Chương trình hay đề án trọng điểm quốc gia ở từng giai đoạn nhằm nghiên cứu và thực hiện những trọng trách trong sự phát triển đất nước (national mission-oriented projects). Chẳng hạn sau kháng chiến chống Pháp, Nhà nước ta đã có chương trình 10 năm tiêu diệt bệnh sốt rét (1955-1964) trên toàn miền Bắc, giao cho Giáo sư Đặng Văn Ngữ phụ trách. Hay như trong các năm 1993-1998 chúng ta đã có chương trình quốc gia về CNTT do các Giáo sư Đặng Hữu, Phan Đình Diệu chủ trì. Chắc chắn những chương trình/đề tài trọng điểm quốc gia trong mỗi giai đoạn luôn rất quan trọng, cần được xác định, tìm và giao công việc cũng như điều kiện cho những người và tập thể có khả năng nhất thực hiện. Ở nhiều nước khác, đây là một trọng trách của Hội đồng KH&CN Quốc gia.  Trong mỗi lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực được ưu tiên phát triển (strategic sectors), các cơ quan quản lý KH&CN cần tìm cách nêu ra được những hướng nghiên cứu (research areas), liên quan đến nhiệm vụ xây dựng đất nước và phát triển KH&CN để tổ chức lực lượng thực hiện. Đây chính là dạng các chương trình KH&CN chúng ta vẫn thường làm. Khác chăng là quan niệm và cách làm cần phải được thay đổi. Trước hết cần chọn và giao trọng trách cho những nhà khoa học đứng đầu các hướng này (research supervisor). Người đứng đầu cùng các trợ lý và cơ quan quản lý cần xây dựng được các mục tiêu cụ thể, và kêu gọi các nhóm nghiên cứu tìm ra các nội dung nghiên cứu dưới dạng các đề tài để đạt được các mục tiêu này. Các đề tài nhiều triển vọng nhất sẽ được lựa chọn cùng với người đứng đầu (chủ nhiệm đề tài). Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu phải ký hợp đồng với Nhà nước và chịu trách nhiệm về công việc của mình. Một chương trình KH&CN cần một số đề tài liên quan với nhau trong một tổng thể, ứng với một lực lượng khoa học và những kết quả nghiên cứu được cam kết thực hiện. Cách xác định mục tiêu và giao trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu các hướng nghiên cứu có rất nhiều khả năng tốt hơn cách ‘ra đầu bài’ ở ta lâu nay, thường do cơ quan quản lý khoa học làm.  Nếu hai cấp độ nghiên cứu kể trên gắn với các mục tiêu do Nhà nước đặt ra và tìm các cá nhân và tập thể để giao trách nhiệm thực hiện, thì cấp độ thứ ba là các đề tài nghiên cứu KH&CN do các nhà khoa học tự do xây dựng ra theo chuyên môn của mình và xin tài trợ của Nhà nước để thực hiện. Đây thường là những đề tài nhỏ của nhóm dăm nhà khoa học. Những đề tài này thường cần có ở rất nhiều lĩnh vực để đảm bảo tính đa dạng của lực lượng và nội dung nghiên cứu KH&CN của đất nước. Người làm các loại đề tài này thường ở các đại học hay các viện nghiên cứu. Quỹ phát triển KH&CN NAFOSTED có thể được hiểu là một quỹ tài trợ cơ bản cho các đề tài KH&CN ở cấp độ này.   Sản phẩm chính của các loại đề tài KH&CN này là các bài báo được công bố, nhất là các công bố quốc tế ISI để nâng cao tiềm lực và uy tín khoa học nước nhà, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, làm cơ sở và chuẩn bị lực lượng cho các đề tài trọng điểm Nhà nước và các chương trình KH&CN trong các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, cần chú ý rằng sản phẩm chính của các đề tài ở hai cấp độ nghiên cứu kia là các mục tiêu đạt được, và ấn phẩm khoa học là những yêu cầu phụ có thể theo sau[2].     Hình bên chỉ ra một cách định tính quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu và cấp độ của các đề tài nghiên cứu. Đây chỉ là các tỷ lệ ước định và tương đối ở ba mức: lớn, trung bình và nhỏ. Có thể xem ngoài việc tổ chức và quản lý việc xây dựng các chương trình và đề tài ở các cấp độ khác nhau, vai trò quản lý của Nhà nước còn ở việc xác định một cách định lượng các tỷ lệ trong hình phù hợp với tiềm lực khoa học của ta.  Việc tạo môi trường nghiên cứu tốt cho một số cán bộ chọn lọc khi ta chưa lo được cho tất cả cần gắn với các loại đề tài ở các cấp độ khác nhau. Hiện nay, cách xác định đề tài của ta dường như vẫn chủ yếu từ dưới lên, và nếu vậy cần thay đổi để có sự kết hợp của cả hai cách tiếp cận, dưới lên và trên xuống.   3. Thay cho lời kết  Nghĩ về những điều lớn hơn chuyện ngày thường – như nghĩ về khoa học và công nghệ của đất nước trong một thập kỷ tới – đòi hỏi mỗi người phải đặt ra những câu hỏi với trách nhiệm cao hơn, những câu hỏi về tìm đường. Bốn mươi năm trước, trong số những thanh niên ưu tú, nhiều người đã rời trường đại học để tham gia công cuộc cứu nước và nhiều người lên đường du học để sau tham gia công cuộc dựng nước. Người ra đi hiểu về vận mệnh đất nước, về “Đường chúng ta đi” và do vậy thanh thản với những “Ngày mai chúng tôi sẽ ra trận”. Mãi về sau tôi mới biết những câu chúng tôi đã thuộc lòng ấy trong tùy bút “Đường chúng ta đi” là của nhà văn Nguyên Ngọc, dưới bút danh Nguyễn Trung Thành, người đã có những tháng năm tuổi trẻ trong chiến tranh, và giờ đây gần 80 tuổi vẫn bền bỉ tìm cách góp sức trên con đường giáo dục, văn hóa, khoa học và công nghệ của đất nước.   Chúng ta đang đứng trước một thập kỷ mà nếu không tìm ra “Đường chúng ta đi” cho khoa học và công nghệ, có thể đất nước sẽ không bao giờ thoát khỏi cảnh một nước nghèo và mãi đi sau thiên hạ.   ————-  Tài liệu tham khảo  [1] Phạm Duy Hiển, “Bóng đá và Đại học – Thái Lan và Việt Nam”, Vietnamnet, 1.2007,  http://vietnamnet.vn/nhandinh/2007/01/649976/  [2] Nguyễn Văn Tuấn, “Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam”, Tia Sáng, 4.2009 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2799   [3] “Professor Chan Hsiao-chang Bestowed Cheung Kong Achievement Award”, 12.2008,  http://www.cuhk.edu.hk/cpr/pressrelease/081205e.htm  [4] “Ra mắt Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia nhiệm kỳ 2009-2013”, 8.4.2009 http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=37&sub=130&article=144861  [5] Nguyễn Ngọc Châu, “Đổi mới cách xây dựng Chiến lược Khoa học và Công nghệ”, Tia Sáng http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2763.  [6] Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 http://www.most.gov.vn/hdquanlyKHCN/mlfolder.2006-06-30.5486494076/mldocument.2006-07-05.7960110741#thuctrang  [7] Hồ Tú Bảo, “Tổ chức và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học ở Nhật”, Tia Sáng, 8.2008 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=36&News=879       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do ngôn luận và ý thức trách nhiệm công dân      Theo tôi, nhìn chung việc người dân lên  tiếng phê phán những tiêu cực không phải là đang chống lại chính quyền,  mà ngược lại, đó chính là thực hiện quyền và trách nhiệm chính đáng của  người dân – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, dân chủ chính là làm sao  để người dân mở miệng – mặt khác qua đó giúp chính quyền khắc phục, sửa  chữa những sai sót của mình.     Vì vậy, các chính phủ đều cần lắng nghe những tiếng nói phê phán của người dân. Đặc biệt với thế hệ trẻ, cần khuyến khích họ tự do phát biểu, bởi đó cũng là cách thúc đẩy và phát triển ý thức trách nhiệm của họ với tương lai của đất nước, khiến họ biết lo lắng về những lợi ích chung của cộng đồng hơn lợi ích riêng. Chúng ta cần đối xử với giới trẻ như những người trưởng thành có trách nhiệm; khuyến khích họ phát biểu một cách tự do miễn là họ làm điều đó với tinh thần tích cực và xây dựng. Thậm chí trong một xã hội tiến bộ, người ta phải khoan dung và độ lượng với giới trẻ nếu, đôi lúc, vì nhiệt huyết quá mức của tuổi trẻ mà họ có những tuyên bố không có đầy đủ căn cứ.  Nếu không khuyến khích tinh thần phê phán có trách nhiệm ở giới trẻ, chúng ta sẽ tạo ra một thế hệ những người chỉ biết vâng lời một cách thụ động. Có thể ai đó cho rằng làm như vậy là bảo vệ họ khỏi vấp vào những sai lầm trong nhận thức, nhưng thực ra chúng ta đang thất bại trong việc trang bị cho họ bản lĩnh cần thiết để đối mặt với tương lai khó khăn, thất bại trong việc đào tạo họ biết phản ứng, nói “không” khi phải nói không và biết tức giận khi cần phải tức giận.  Việc giáo dục tinh thần phê phán lành mạnh luôn đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều một cách khoa học trong mọi vấn đề, kể cả những lĩnh vực được coi là nhạy cảm về chính trị bởi chỉ có như vậy mới giúp xây dựng, phát triển, củng cố những tri thức và lý tưởng đích thực. Ví dụ khi giảng dạy về chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần cung cấp đầy đủ những thông tin đa chiều cần thiết để giới trẻ có thể đánh giá khách quan những thành công và thất bại của các hình thái xã hội khác nhau: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa tự do. Sẽ rất lý thú và hữu dụng nếu chúng ta dạy chủ nghĩa Mác-Lênin một cách nghiêm túc, về những năm tháng ban đầu của quan điểm chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vào thời kỳ cách mạng công nghiệp, niềm cảm hứng của giới trí thức trong những ngày đấu tranh cho công bằng và đoàn kết trên toàn thế giới; về thành công của chủ nghĩa xã hội trong việc giải phóng dân tộc khỏi ách phong kiến và thực dân và sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết trước đây trong việc hiện thực hóa giấc mơ của những người sáng tạo ra nó. Chúng ta cũng nên nói về những thành công và thất bại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tự do, bình luận về sự gia tăng mất kiểm soát mà chúng tác động lên nền tài chính thế giới.   Nếu tất cả những điều này được dạy một cách đúng đắn, sẽ có nhiều bài học được rút ra, và thế hệ trẻ cần phải học những bài học đó để có thể đối diện với nhiều khó khăn và thử thách mà họ sẽ gặp phải khi gánh vác sứ mệnh của mình với đất nước.        (Trích lược từ bài diễn văn của GS Pierre Darriulat tại buổi họp mặt cộng tác viên cuối năm 2014 của Tạp chí Tia Sáng, bản dịch của Phạm Ngọc Điệp; nội dung trích lược được đăng với sự đồng ý của GS Pierre Darriulat).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do thông tin: Nền tảng cho một xã hội minh bạch      Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng  trong đời sống bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân  trong mọi lĩnh vực. Thông tin đồng thời cũng là “ô-xi của nền dân chủ”,  như khẳng định của Chiến dịch Toàn cầu về Quyền tự do ngôn luận. Tự do  thông tin – bao gồm tự do tìm kiếm, lưu giữ, truyền đạt và sử dụng thông  tin dưới mọi hình thức – được coi là một trong những quyền cơ bản của  con người.       Trên thế giới, Luật Tự do thông tin đầu tiên ra đời ở Thụy Điển cách đây gần 300 năm, nhưng phải đến những năm 1990 mới phổ biến ở nhiều nước phát triển khác. Thậm chí ở Vương quốc Anh, một nước có nền dân chủ lâu đời, mãi đến năm 2000 luật mới được ban hành và năm năm sau mới chính thức có hiệu lực. Ở Việt Nam, một bộ luật tương tự dưới tên gọi Luật Tiếp cận thông tin cũng đang được soạn thảo theo chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội.  Quyền lợi của cộng đồng là tối thượng  Trong chuyến đi đến Vương quốc Anh mới đây nhằm khảo sát việc thực thi Luật Tự do thông tin (Freedom of Information Act), chúng tôi đã được chia sẻ những câu chuyện hết sức ấn tượng.   Theo Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh, các cơ quan chính quyền, các tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đều có trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin mà mình nắm giữ và giải đáp câu hỏi của bất kỳ công dân nào, kể cả người nước ngoài đang sinh sống tại Anh, mà người hỏi không cần nêu lý do tại sao họ nêu những câu hỏi đó. Thời hạn phải đưa ra câu trả lời là trong vòng 20 ngày và không đòi hỏi bất kỳ chi phí nào. Để thực thi trách nhiệm này, mỗi cơ quan, tổ chức thuộc diện điều chỉnh của Luật đều phải có nhân sự chuyên trách. Ở Đại học Glasgow nơi chúng tôi đến thăm, bộ phận này gồm sáu người, đứng đầu là một chuyên gia do Văn phòng Cao ủy Thông tin (ICO) biệt phái đến. Những người làm công việc này không nhất thiết được đào tạo về luật nhưng phải nắm vững Luật Tự do thông tin để quyết định việc có trả lời hay không trả lời một câu hỏi nào đó. Đại diện của Đại học Glasgow cho biết, mỗi năm trường nhận được vài trăm yêu cầu cung cấp thông tin, ngoài một số câu hỏi “tào lao” như trường có bao nhiêu con ma hay bao nhiêu tháp nhọn – tất nhiên là không cần mất thời gian trả lời những câu hỏi đó – những câu hỏi thường gặp là hiệu trưởng chi bao nhiêu tiền để đi công cán nước ngoài, chi bao nhiêu tiền tiếp khách, hiệu quả thế nào, hay năm qua trường đã chi bao nhiêu tiền để sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất,…          Ở Vương quốc Anh, ngay cả một số thông tin  được coi là “bí mật quốc gia” cũng được xem xét để cung cấp theo yêu cầu  của người dân dựa trên nguyên tắc lợi ích cộng đồng là tối thượng.             Tóm lại, người dân có quyền rất lớn trong việc đặt câu hỏi với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào đang sống nhờ tiền thuế do họ đóng góp. Tuy vậy, Luật vẫn có những quy định về giới hạn của quyền này, hay còn gọi là những trường hợp ngoại trừ – cụ thể ở đây là các thông tin cá nhân, bí quyết kinh doanh, bí mật quốc gia. Điều đặc biệt là ở Vương quốc Anh, ngay cả một số thông tin được coi là “bí mật quốc gia” cũng được xem xét để cung cấp theo yêu cầu của người dân dựa trên nguyên tắc lợi ích cộng đồng là tối thượng. Trong trường hợp yêu cầu bảo mật không quan trọng bằng lợi ích cộng đồng thì ICO có quyền yêu cầu cơ quan sở hữu thông tin phải giải mật. ICO là một cơ quan độc lập do Quốc hội lập rangười đứng đầu, tương đương chức Bộ trưởng, do Nữ hoàng đích thân bổ nhiệm, chịu trách nhiệm giám sát và hướng dẫn việc thực thi Luật Tự do thông tin trên lãnh thổ Anh, Bắc Ireland và Xứ Wales (Scotland có Luật Tự do thông tin và ICO riêng). Ví dụ điển hình nhất về việc bí mật quốc gia cũng có thể được cung cấp theo yêu cầu là câu chuyện Thái tử Charles trao đổi thư với Thủ tướng về việc tham chiến ở Iraq. Khi báo giới đưa tin đó, một số người dân yêu cầu Chính phủ phải công khai nội dung những bức thư trao đổi giữa hai bên. Mặc dù Hoàng gia Anh không thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do thông tin, nhưng sau khi cân nhắc lợi ích của cộng đồng, ICO đã yêu cầu Chính phủ phải đáp ứng yêu cầu của người dân.  Giải đáp câu hỏi của chúng tôi vì sao Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh ra đời từ năm 2000 mà mãi đến năm 2005 mới có hiệu lực, người đứng đầu ICO cho biết, năm năm đó là thời gian chuẩn bị bộ máy nhân sự, tập huấn, xây dựng văn bản hướng dẫn để việc thực thi Luật được trơn tru.  Có tự do thông tin mới có minh bạch  Hiện nay, hầu hết những thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân đều do các cơ quan nhà nước nắm giữ bởi vậy hệ thống các cơ quan nhà nước có trách nhiệm hết sức to lớn trong việc bảo đảm quyền tự do thông tin của công dân.  So với trước Đổi mới, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân đã có bước tiến đáng kể, mặc dù quyền này mới chỉ được đề cập trong Cương lĩnh của Đảng từ năm 1991. Thông tin về quy hoạch đô thị, giá đất…, đặc biệt là các văn bản pháp luật được công bố rộng rãi ngay từ giai đoạn khởi thảo qua nhiều kênh như cổng thông tin điện tử, bảng thông tin trước cửa các trụ sở cơ quan nhà nước.             Theo Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh,  các cơ quan chính quyền, các tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đều có  trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin mà mình nắm giữ và giải đáp câu  hỏi của bất kỳ công dân nào, kể cả người nước ngoài đang sinh sống tại  Anh, mà người hỏi không cần nêu lý do tại sao họ nêu những câu hỏi đó.            Tuy nhiên, xét từ cả hai phía, chưa phải công dân và cơ quan, tổ chức nhà nước nào cũng nhận thức đầy đủ về quyền được thông tin và nghĩa vụ phải công khai và cung cấp thông tin mình có theo quy định của pháp luật. Bởi vậy mới dẫn đến những vụ việc lùm xùm thời gian gần đây như thay thế hàng nghìn cây xanh ở Hà Nội hoặc lấn sông ở Đồng Nai mà người dân không được biết, không được hỏi ý kiến; hay có vị quan chức nọ đã phát biểu hết sức ngạo mạn rằng, không cần hỏi ý kiến người dân vì người dân biết gì mà hỏi khi nói về một công trình được xây bằng hàng trăm tỷ đồng lấy từ ngân sách.  Bối cảnh đó càng khiến chúng ta mong đợi Luật Tiếp cận thông tin do Chính phủ soạn thảo từ năm 2008 sớm được Quốc hội ban hành và đi vào cuộc sống.   Là một trong những người được tiếp cận bản dự thảo từ rất sớm, lại đang chủ trì đề tài cấp Nhà nước về cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đạo luật này, cá nhân tôi thấy rằng, so với tên gọi Luật Tự do thông tin thì tên gọi Luật Tiếp cận thông tin có ít nhiều mất mát về nội hàm. Mặc dù bản dự thảo được soạn theo hướng tương thích với quan niệm và quy định về quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của các công ước, điều ước quốc tế và Luật Tự do thông tin của các nước trên thế giới, nhưng vẫn cần làm rõ thêm một số nội dung như quyền tự do lưu giữ và tự do truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức. Về các trường hợp ngoại trừ như bí mật quốc gia thì cũng phải làm rõ vấn đề thời hạn giải mật đối với từng loại tài liệu. Việc thành lập một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm giám sát quá trình thi hành Luật Tiếp cận thông tin, có đủ quyền lực để yêu cầu các bộ, ban, ngành và kể cả Quốc hội thi hành quyết định của mình như ICO ở Vương quốc Anh cũng là một vấn đề cần suy nghĩ nghiêm túc. Về thời hạn đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin của người dân, dự thảo Luật của ta quy định chỉ có một tuần, so với ở Vương quốc Anh là 20 ngày. Tôi e rằng thời hạn này không có tính khả thi.  Theo tôi biết, bản dự thảo Luật Tiếp cận thông tin đã hoàn thành, và lẽ ra đã được trình tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII từ ngày 20-5 đến 24-6 năm nay nhưng có lẽ do còn một số điểm cần thảo luận thêm nên chưa thấy trình Quốc hội theo kế hoạch.  Rồi đây khi đạo luật được ban hành, người dân sẽ có thêm cơ sở pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của mình, ở đây là quyền đương nhiên được biết, được hỏi và được đáp ứng yêu cầu về thông tin.            Mặc dù dự thảo Luật Tiếp cận thông tin của  ta được soạn theo hướng tương thích với quan niệm và quy định về quyền  tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của các công ước, điều ước quốc tế và  Luật Tự do thông tin của các nước trên thế giới, nhưng vẫn cần làm rõ  thêm một số nội dung như quyền tự do lưu giữ và tự do truyền đạt thông  tin dưới mọi hình thức.            Tôi cũng tin tưởng rằng Luật Tiếp cận thông tin chắc chắn sẽ làm cho chính quyền hoạt động minh bạch hơn, hiệu quả hơn. Liệu có quan chức nào dám không thận trọng với lời nói và hành động của mình khi phải đối mặt với những câu hỏi của người dân như: anh đã ở khách sạn loại gì khi đi công tác, anh đi xe gì, thu nhập ra sao, hiệu quả công việc thế nào…?  Luật cũng sẽ góp phần chấm dứt tình trạng các cơ quan chính quyền thiếu chủ động hoặc chậm trễ trong việc công bố các chương trình, kế hoạch hành động ảnh hưởng đến lợi ích của số đông người dân hoặc có những phát ngôn hoàn toàn sai lầm về nhận thức như cho rằng việc này hay việc nọ ngoài tầm hiểu biết của người dân nên không cần thông tin, không cần hỏi ý kiến.     Thái Thanh ghi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do thương mại: một sức ép cải cách Chính sách, Pháp luật Việt Nam      Năm 1871 Nguyễn Trường Tộ viết lời tấu: “Nên mở cửa, chứ không nên đóng”. Vậy mà, hơn 100 năm sau, người Việt Nam vẫn chập chững học luật chơi của chợ thế giới. Vào AFTA, APEC, tiến tới gia nhập WTO, đã và đang thực hiện những hiệp định thương mại song phương được ký kết với trên 80 nước trên thế giới, cửa đã mở, không thể đóng lại được nữa. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý nhận diện ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế đối với hệ thống chính sách và pháp luật kinh tế của Việt Nam.         Từ khi thương nhân phương Tây mạnh dần lên, tự tạo ra luật lệ, tự tạo ra các tòa án của thương nhân và đô thị tự trị bên cạnh pháp luật phong kiến và giáo hội, chủ nghĩa trọng thương đã luôn đòi hỏi thông thương, hạn chế và xóa bỏ rào cản để hàng hóa được lưu thông tự do. Liên tục từ thế kỷ XII cho đến nay, các rào cản của quận công, lãnh chúa dần được xóa bỏ, hình thành nên các nhà nước quốc gia. Sự tự do di chuyển của hàng hóa vật chất, tiền, công nghệ và lao động đã là một lý do cơ bản để thống nhất Châu Âu, hình thành các khu vực thương mại tự do mang tính khu vực, cũng như nền tảng cơ bản hình thành Tổ chức thương mại thế giới.  Việt Nam tham gia AFTA, Tổ chức thương mại thế giới hay ký kết Hiệp định thương mại với Mỹ (Hiệp định TMVM), ở cấp độ nào cũng phải tuân thủ nguyên tắc tạo mọi điều kiện cho hàng hóa, tư bản và con người được di chuyển tự do; các rào cản hạn chế sự tự do đó phải được từng bước dỡ bỏ.   Và đương nhiên, phía Mỹ, cũng như các nước giàu có khác, cũng từng bước dỡ bỏ các rào cản đối với hàng hóa và dịch vụ Việt Nam. Một tư duy thoạt nghe tưởng như có đi có lại, song theo tính toán của E. Fukasa và W. Martin [1999], ảnh hưởng của nó đối với phía Việt Nam là cơ bản, chứ các hiệp định không có ảnh hưởng đáng kể gì đối với phía Mỹ và các nước phát triển. Nước Mỹ vốn đã quen mở của cho hầu hết các nước trên thế giới, theo hạ viện Mỹ [US Senate, 2001], Việt Nam là một trong sáu quốc gia cuối cùng bị Mỹ khước từ quy chế thương mại bình thường, nay mở thêm cửa cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam [vốn chỉ chiếm một thị phần không đáng kể ở Mỹ], bản thân Hiệp định TMVM mang lại một số lợi ích, song không làm thay đổi đáng kể chính sách, pháp luật và kinh tế đối với người Mỹ. Thêm nữa, theo Wortzel [2002], hàng hóa xuất từ Mỹ sang Việt Nam cả năm  mới chỉ bằng 3 ngày xuất sang Nhật, điều đó đủ cho thấy ảnh hưởng của Hiệp định TMVM này hoàn toàn không đáng kể đối với nền kinh tế Mỹ.   Song đối với Việt Nam, Hiệp định TMVM có thể sẽ tạo ra những xung lực đáng kể, ví dụ lượng hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ đã tăng nhanh, do thuế suất nhập khẩu của Mỹ giảm đáng kể [từ trung bình 40% nay giảm xuống còn 3 – 4%], xuất khẩu gia tăng kéo theo phân bổ lại cấu trúc ngành nghề và thu hút vốn đầu tư cũng như phân bổ nguồn lực hợp lý, tăng trưởng xuất khẩu có thể sẽ đem lại phúc lợi gia tăng tính theo thu nhập bình quân của Việt Nam, một bộ phận người Việt Nam có thể được lợi từ Hiệp định này.   Thực tiễn đánh giá việc thực hiện Hiệp định TMVM phần nào xác nhận những dự đoán đó đã diễn ra. Để đổi lại, Việt Nam phải mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ. Những chính sách nâng đỡ doanh nghiệp nhà nước bấy lâu nay vẫn quen áp dụng bị buộc phải hạn chế hoặc xóa bỏ, và việc thực hiện những cam kết này bị đặt dưới sự giám sát của phía Mỹ. Một cuộc phá hủy đang chờ đợi các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, và xưa nay vốn sống nhờ vào sự che chở của ngân sách nhà nước.   Cộng với những điều kiện vay nợ từ các định chế tài chính quốc tế, về cơ bản nằm trong sự kiểm soát của các nhà tư bản tài chính Mỹ, sự tự do hoạch định chính sách kinh tế của Chính phủ Việt Nam, càng bị thu hẹp dần. Nói cách khác, tham gia các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế cũng như thực thi các hiệp định thương mại song phương, về mặt bản chất, là sự tự nguyện hạn chế một phần quyền tự định đoạt chính sách thương mại của Việt Nam, khép Chính phủ nước ta vào thứ kỷ luật một phần bị giám sát bởi Chính phủ nước ngoài để đổi lấy sự tự do và cơ hội tiếp cận thị trường nước họ.   Những triết lý này thật không dễ chịu đối với một dân tộc vừa giành được độc lập; song xét trên toàn cục, điều đó đúng cho bất kỳ quốc gia nào muốn tham gia chợ toàn cầu. Người Đức, người Pháp muốn trở thành đầu tàu của nền kinh tế Liên minh Âu Châu EU, thì tự họ phải tự nguyện từ bỏ đồng DM và Franc, từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập, từ bỏ quyền định ra thuế quan, giám sát cửa khẩu, thậm chí phải dỡ bỏ các trạm kiểm tra đường biên.   Mọi so sánh có thể khập khiễng, song nếu liên tưởng đến lưỡi kiếm thời Trung cổ, họng đại bác thời cận đại, và các hiệp định thương mại thời nay, tất cả đều có một mẫu số chung là tự do thương mại, mở rộng thị trường và truyền bá chủ nghĩa trọng thương. Kinh nghiệm lịch sử đã nhiều lần chứng minh mọi sự thụ động và miễn cưỡng chấp nhận thường mang lại tai họa nhiều hơn là ích lợi cho dân tộc. Lời kêu gọi “nên mở, không nên đóng” của tiền nhân cách đây 140 năm [Nguyễn Trường Tộ]  vẫn còn vang lên cảnh báo dân tộc ta về nguy cơ của một nền văn hóa đóng kín với thế giới bên ngoài.  Có thể dự đoán trong những năm đầu thực hiện Hiệp định TMVM, hoặc nếu được gia nhập WTO, một số thuận lợi trước mắt dễ nhận thấy cho Việt Nam. Xuất khẩu tăng kích thích tăng trưởng, tạo ra công ăn việc làm, phúc lợi cho dân chúng Việt Nam có thể tăng [E. Fukase, W. Martin  1999, CIEM, 2001]. Song “đưa một ngón tay, cá sấu sẽ nuốt cả bàn tay”: những ảnh hưởng lâu dài của Hiệp định TMVM cũng như luật lệ của WTO sẽ thay đổi cung cách quản lý nền kinh tế của Việt Nam theo kiểu Âu Mỹ. Các nhà tài phiệt Phương Tây vốn đã quá quen đánh gục sự tự chủ về chính sách của hàng loạt quốc gia chỉ với những lời tư vấn của câu lạc bộ người cho vay [Stiglitz, 2002].   Nay, cứ mỗi năm một lần, Tổng thống nước Mỹ lại xem Việt Nam có đủ điều kiện để hưởng sự nới lỏng của đạo luật Jackson-Vanik hay không, nếu ông ta lắc đầu, thuế suất lại quay về 40% như cũ. Và biết đâu, danh sách những điều kiện đó cứ gia tăng mãi, từ các điều kiện lắt léo về bảo vệ môi trường, hạn chế hoặc cấm sử dụng lao động trẻ em, sử dụng lao động tư nhân cho đến các quy định bảo vệ sức khỏe con người. Vụ cá basa là một lần diễn tập đầu tiên, khi quan chức Việt Nam phải phơi bày đủ mọi hồ sơ để người Mỹ thẩm định theo tiêu chí của họ, liệu Việt Nam có bán phá giá hay không. Sau vụ cá da trơn, là vụ kiện tôm. Sau tôm là xe đạp, bật lửa ga, và biết bao vụ kiện khác còn đang chờ đợi.  Sự mở cửa cho hàng hóa và tư duy Âu Mỹ trong điều kiện doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm khoảng 42% tổng sản phẩm quốc nội, đa phần làm ăn kém hiệu quả và chậm đổi mới, các doanh nghiệp dân doanh trong nước chưa thoát khỏi sự phân biệt đối xử của Nhà nước, và chưa bao giờ được cạnh tranh một cách bài bản, theo tôi, có lẽ sẽ tước mất cơ hội tập bơi cho doanh nhân trước khi ném họ vào dông tố của đại dương.   Tuy nhiên, để tránh hiểu nhầm, tôi nhấn mạnh rằng khi 150 nước đã tham gia Tổ chức thương mại thế giới và câu lạc bộ này đã chiếm tới 90% tổng thương mại toàn cầu [WTO, 2005], thì Việt Nam tham gia hội nhập là điều tất yếu. Chỉ có điều các thiết chế điều tiết kinh tế, chính sách, pháp luật và thói quen, khả năng kinh doanh của doanh nhân dường như chưa được chuẩn bị chu đáo cho cuộc đua này. Điển hình là sau khi ký kết Hiệp định TMVM, người ta mới lo thống kê những lĩnh vực chính sách và pháp luật cần được điều chỉnh cho phù hợp. Giới trí thức Việt Nam cũng chưa quen làm chức năng dự báo, mà thường khi chỉ quen minh họa cho những sự đã rồi. Sự trì trệ này có nhiều nguyên nhân, song một dân tộc trẻ trung với 60% dân số ở độ tuổi dưới 30, 85% dân số ở độ tuổi dưới 40 [Wortzel, 2002], không có nhiều lý do để bất lực trong việc khai thác lợi thế của toàn cầu hóa để làm giàu cho chính mình, gia đình và dân tộc mình.   Nước Nhật đến với thế giới bằng việc Minh Trị và quần thần làm lễ canh tân; Trung Quốc đang trở thành siêu cường kinh tế vì những cuộc cải cách toàn diện ngay trên đất nước của họ. Nếu không tự cải cách, sớm muộn luật lệ của WTO cũng buộc Việt Nam phải cải cách theo những định hướng luật lệ của họ.   Bởi vậy, quả là không ngoa, nếu người ta cho rằng, những cuộc đàm phán của Việt Nam để gia nhập WTO tại Giơ-ne-vơ chắc cũng rất khó, song chưa chắc đã khó bằng những tranh luận gay gắt có thể sẽ diễn ra ngay tại Hà Nội: Liệu giới hoạch định chính sách nước ta đã sẵn sàng cho những luật chơi mới, buộc phải minh bạch hóa luật lệ và chính sách, mở cửa cho tư nhân tự do kinh doanh và chiếm hữu các ngành kinh tế trọng yếu, từ viễn thông cho tới ngân hàng? Cuộc vật lộn thoát ra khỏi những tư duy bảo hộ cũ, vốn quen nhấn mạnh công hữu và sự can thiệp rộng rãi của nhà nước vào đời sống kinh tế để chấp nhận tư duy trọng thương, chấp nhận kinh tế tư nhân là động lực cho tăng trưởng, chấp nhận cạnh tranh gay gắt…, chắc sẽ rất phức tạp trong bối cảnh văn hóa, chính trị và thể chế nước ta.      Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy lại sự phát triển của Việt Nam      Điều đáng sợ nhất của chúng ta hiện nay là đứng yên trong khi cả thế giới đang chuyển động, đó là chia sẻ từ một số đồng chí cán bộ quản lý cấp cao khi trao đổi với tôi. Chúng ta không thể đứng yên để giữ ổn định được, bởi đứng yên đồng nghĩa với tụt hậu.      Nguồn nhân lực Việt Nam làm gia tăng giá trị cho các công ty công nghệ nước ngoài ở Việt Nam rất thấp, mà chủ yếu chỉ gia công sản phẩm. Ảnh: Sản xuất linh kiện cơ khí tại công ty Saigon Precision với 100% vốn Nhật Bản tại Khu Chế xuất Linh Trung, TP HCM (Nguồn: Cao Thăng/ hiec).  Nhìn lại nội hàm của đổi mới trong ba mươi năm qua  Đổi mới trong ba mươi năm qua thực chất là đổi mới từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ kinh tế một thành phần sang đa thành phần, trong đó khu vực tư nhân là động lực rất mạnh để phát triển; từ kinh tế khép kín sang mở cửa, hội nhập;từ quản lý tập trung sang phân cấp, phân quyền (vừa với hàm nghĩa phân cấp phân quyền để cho người dân được tự do làm những điều luật pháp không cấm, đặc biệt là quyền kinh doanh, vừa là phân cấp phân quyền trong bộ máy nhà nước như giữa trung ương và địa phương). Thực chất của quá trình đổi mới chính là mở rộng quyền và cơ hội lựa chọn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh của người dân và điều chỉnh dần vai trò của nhà nước.  Tuy nhiên, trên thực tế đổi mới trong thời gian qua mới chủ yếu về kinh tế, trong khi giáo dục, văn hóa, xã hội… còn ít và chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí cản trở sự phát triển của đất nước. Điển hình như lĩnh vực giáo dục đã góp phần khiến đất nước rơi vào bẫy lao động giá rẻ, không thể thoát khỏi tình trạng sản xuất gia công, nguồn nhân lực có chất lượng luôn bị thiếu thốn bấy lâu nay. Đại hội Đảng lần thứ 11, rồi Đại hội 12 đều nhấn mạnh Chiến lược 10 năm 2011-2020, trong đó ba đột phá chiến lược là cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng. Trong ba mục tiêu đó, cải cách thể chế thực sự đến giờ vẫn còn nhiều bế tắc, nên Thủ tướng luôn phải đưa vấn đề này vào chương trình hành động hằng năm, các diễn đàn ở Quốc hội và nhiều nơi khác cũng thường xuyên đề cập đến cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, và Hội nghị TW 5 vừa rồi cũng vậy.  Những yếu tố quyết định thành công trong đổi mới  Những yếu tố quan trọng nhất dẫn tới thành công trong đổi mới thời gian qua là: Cách tiếp cận thực tế về trình tự và tiến độ cải cách, tránh gây sốc, thực hiện từng bước trên cơ sở đồng thuận; tranh thủ thế mạnh của đất nước, ban đầu tập trung vào các ngành sản xuất thâm dụng lao động và nông nghiệp; ưu tiên khai thác nguồn nhân lực; sử dụng các hiệp định thương mại quốc tế để vượt qua những cải cách khó khăn (từ yêu cầu của các hiệp định mà chúng ta mở cửa mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp trong nước).  Tuy nhiên, còn có những yếu tố quan trọng khác mà Việt Nam chưa phát huy tốt. Trước hết là chúng ta chưa xây dựng được nhà nước với thiết chế, vai trò và năng lực phù hợp với điều kiện chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Thứ hai là thể chế kinh tế thị trường đến nay vẫn chưa hoàn thiện, vẫn còn cơ chế xin – cho nửa nhà nước, nửa thị trường. Thứ ba là chưa phát huy mạnh mẽ vốn xã hội (không chỉ là nguồn nhân lực, mà còn là sự gắn kết xã hội). Chúng ta chưa huy động được sự tham gia của người dân vào xây dựng chính sách, luật pháp, xã hội cũng như quá trình góp ý, giám sát nhà nước, mà chỉ huy động để họ tự làm ăn, tự kiếm sống. Thậm chí, trên một số phương diện sự tham gia lên tiếng của người dân ngày càng thiếu hiệu quả. Ví dụ, khi chúng tôi hỏi các doanh nghiệp, ngày càng nhiều doanh nghiệp cho biết họ không lên tiếng nữa, bởi nói mãi rồi mà không mang lại sự thay đổi. Trong cuộc đối thoại với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa rồi, năm vấn đề phần lớn các doanh nghiệp đưa ra cũng giống như trong cuộc đối thoại đầu tiên do nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải tổ chức cách đây 20 năm, chưa kể nhiều vấn đề doanh nghiệp kêu là phức tạp hơn cả cách đây 20 năm như tệ tham nhũng, đòi hỏi bôi trơn. Thứ tư là chúng ta lãng phí rất nhiều nguồn lực tri thức, kĩ năng, công nghệ trong và ngoài nước. Tổng kết 25 năm thu hút đầu tư nước ngoài của Bộ KH&ĐT cũng nói rằng cái kém nhất trong thu hút đầu tư vào Việt Nam là chuyển giao công nghệ. Kể cả những đơn vị nhân danh là đầu tư công nghệ cao ở Việt Nam nhưng giá trị gia tăng là rất nhỏ. Năm ngoái, nhóm nghiên cứu của trường Fulbright ở TP HCM làm một nghiên cứu đánh giá 10 năm hoạt động của Intel ở Việt Nam, kết quả cho thấy Việt Nam chỉ tạo ra 3% giá trị gia tăng của Intel, còn 97% vẫn là của họ. Hiệu quả sử dụng nguồn lực tri thức trong nước còn thấp một phần do cách tuyển dụng.  Việt Nam có nguy cơ đang đi theo mô hình phát triển nền kinh tế zombie (zombie economy), cứ tiếp tục tăng trưởng GDP nhưng thực chất không bền vững, thịnh vượng, bất bình đẳng xã hội gia tăng và chi phí về môi trường ngày càng nặng nề. Đây không chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam mà đang hiện hữu ở nhiều nước khác. Việt Nam cần có sự thay đổi tư duy về phát triển, một cách rộng rãi hơn, có thể tạm gọi là mô hình phát triển hạnh phúc quốc gia, hay kinh tế cộng đồng… tốt nhất là “đi chậm hơn” chứ không đánh đổi tăng trưởng bằng mọi giá. Theo phát biểu của TS.Andrew Wells – Dang, Chuyên gia tư vấn cao cấp của Oxfam Việt Nam tại Hội thảo Xã hội dân sự thường niên lần 2, ngày 9/6/2017.    Một số cơ hội đổi mới mạnh bên trong và về quan hệ đối ngoại đã bị bỏ lỡ. Ví dụ năm 1997- 1998 xảy ra khủng hoảng tài chính khu vực, chúng ta không kịp đổi mới nhiều ngoài việc ra được Luật Doanh nghiệp năm 1999. Cơ hội hoàn tất BTA với Mỹ cũng bị chậm mất hơn một năm. Đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 là cơ hội để rất nhiều nước sắp xếp lại nền kinh tế hoặc cải cách nhưng Việt Nam cũng không tận dụng, thậm chí tệ hơn là chúng ta đã “cải lùi” khi bơm ra một gói kích cầu tương đương 8 – 9 tỉ USD (cao nhất trên thế giới nếu tính trên tổng GDP), phần lớn tiền rơi vào các nhóm lợi ích khác nhau, để lại cả một hệ quả nợ công, nợ xấu nặng nề.  Sáu chuyển đổi căn bản cần thực hiện  Báo cáo Việt Nam 2035 do Chính phủ Việt Nam và Worlbank đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao, hướng tới một xã hội thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ vào năm 2035 (theo OECD thì phải đến năm 2058 Việt Nam mới trở thành nước giàu) – xem Bảng 1.    Bảng 1: Khát vọng của Việt Nam tới năm 2035. Nguồn: Báo cáo Việt Nam 2035, Chính phủ VN và Ngân hàng Thế giới, 2016.  Để đạt được mục tiêu cao nhất của Báo cáo cũng rất khó, đòi hỏi tăng trưởng GDP bình quân đầu người phảiở mức 7%, tức là tăng GDP khoảng 8 – 9% trong 20 năm liên tục. Nhưng Việt Nam vẫn có thể làm được, với điều kiện phải có thay đổi đột phá về thể chế, và về đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ. Ba trụ cột chính mà Báo cáo chỉ ra là: thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường; công bằng và hòa nhập xã hội; nhà nước có năng lực và trách nhiệm giải trình.  Để thúc đẩy tăng trưởng một cách bền vững, sáu chuyển đổi căn bản Việt Nam cần thực hiện là:  – Hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển khu vực kinh tế tư nhân.  – Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo về công nghệ và giáo dục.  – Nâng cao hiệu quả của quá trình đô thị hóa.  – Phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu  – Đảm bảo công bằng và hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế cùng với sự phát triển của xã hội trung lưu.  – Xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao.  Về kinh tế, các biện pháp cải cách có tác động ngay là tạo môi trường thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh và năng suất của khu vực tư nhân trong nước; cải cách toàn diện khu vực doanh nghiệp nhà nước; tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo định hướng thị trường, hiện đại hóa, thương mại hóa nông nghiệp; tận dụng các cơ hội hội nhập quốc tế, tham gia hiệu quả các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs). Các biện pháp cải cách có tác động dài hạn: Học tập (cải cách giáo dục) và đổi mới sáng tạo; Đô thị hóa và mở rộng không gian phát triển; Đảm bảo bền vững về môi trường.  Về xã hội, có ba nhóm vấn đề chính cần giải quyết. Thứ nhất, nhóm vấn đề bất bình đẳng: cải thiện giáo dục, điều kiện dinh dưỡng, vệ sinh cho người dân tộc thiểu số; thực hiện các cam kết giúp người tàn tật hòa nhập xã hội; cung cấp các dịch vụ xã hội (tách khỏi hộ khẩu) cho người nhập cư; bình đẳng cho phụ nữ với việc xóa phân biệt tuổi nghỉ hưu, tăng cơ hội đào tạo và chọn lựa công việc, vấn đề giới tính khi sinh. Thứ hai, nhóm vấn đề già hóa dân số và yêu cầu của tầng lớp trung lưu, với hệ thống hưu trí, bảo trợ xã hội, bảo hiểm y tế; chất lượng hệ thống giáo dục, y tế và các dịch vụ. Thứ ba là vấn đề lao động: đảm bảo tiếng nói người lao động và vai trò công đoàn, tổ chức của giới chủ; hoàn thiện và thực thi Luật Lao động.  Về thể chế, hoàn thiện ba trụ cột của nhà nước hiện đại: Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường đầy đủ, xã hội dân chủ phát triển:  Nhà nước pháp quyền (đây có thể coi là yêu cầu cấp bách nhất hiện nay): Nhà nước được tổ chức hợp lý; thiết chế nhà nước gắn kết và đồng bộ; bộ máy hành chính gọn nhẹ, dựa trên chức nghiệp thực tài; quốc hội chuyên nghiệp; tư pháp độc lập và có đủ năng lực; thực thi đầy đủ nguyên tắc pháp quyền, xóa khoảng cách giữa pháp luật và thực thi pháp luật; có cơ chế đảm bảo sự tham gia rộng rãi của người dân trong quá trình hoạch định chính sách;  Kinh tế thị trường đầy đủ: Vai trò của khu vực công – khu vực tư, lợi ích công-tư được phân định rạch ròi trong quan hệ giữa nhà nước và thị trường; kinh tế thị trường năng động và cạnh tranh; khu vực tư nhân là động lực cho tăng trưởng; nền kinh tế có sân chơi bình đẳng, quyền tài sản được bảo đảm và minh bạch; Nhà nước tuân thủ các nguyên tắc thị trường trong hoạch định chính sách kinh tế (phân bổ nguồn lực theo hiệu quả chứ không chia theo thành phần kinh tế hay chính sách ưu đãi mang tính chủ quan);  Xã hội dân chủ phát triển: Bảm đảm tiếng nói mạnh mẽ của người dân và xã hội trong quan hệ giữa nhà nước và xã hội; khung pháp lý và không gian cho người dân thực hiện quyền cơ bản và các quyền dân chủ khác; cơ chế buộc các cơ quan công quyền minh bạch và có trách nhiệm giải trình đối với người dân.  Để thực hiện sáu chuyển đổi nêu trên, thách thức lớn nhất trước hết là thay đổi tư duy của các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách để bắt kịp nhu cầu phát triển của đất nước và đòi hỏi của nhân dân. Chúng ta từng lo lắng rằng những thay đổi lớn sẽ gây bất ổn, nhưng đất nước là trên hết, đất nước mà không phát triển được thì sẽ dẫn tới những bất ổn còn lớn hơn. Cần nhận thức rõ bối cảnh thay đổi trong nước và trên thế giới để thực sự cải cách, tạo động lực mới để phát triển. Trước đây chúng ta dựa vào FDI và xuất khẩu là động lực chính của nền kinh tế, đến giờ khi khó khăn về FDI và xuất khẩu thì chúng ta mới nói nhiều hơn tới khu vực tư nhân trong nước là động lực quan trọng để phát triển. Nhưng vấn đề là phải thực sự cải cách để tạo động lực phát triển cho khu vực tư nhân chứ không chỉ dừng trên các văn bản, nghị quyết. Sự ám ảnh về vai trò quá lớn của nhà nước là không hợp lý, vì trong kinh tế thị trường các yếu tố cần phải điều chỉnh dần theo thời gian, theo quy luật phát triển tự nhiên chứ không phải nhà nước dẫn dắt tất cả. Cần xác định rõ vai trò, chức năng, cấu trúc của “nhà nước kiến tạo” trong quan hệ tương tác với thị trường và xã hội.  Cuối cùng, theo suy nghĩ của tôi, không nên chỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng bao nhiêu phần trăm GDP. Hãy kỳ vọng một Việt Nam giàu có (RICH) theo hàm nghĩa nhân văn, trong đó có thể bền bỉ chống chịu được với các cú sốc (Resilient); luôn đổi mới sáng tạo, chống sức ỳ, vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn (Innovative); kết nối giữa các tác nhân, các ngành, các vùng, hình thành các liên kết phát triển ở trong và ngoài nước để tạo thành sức mạnh cạnh tranh (Connecting); phát triển hài hòa về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường (Harmonious). Đây là các “chỉ số” mềm nhưng có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước trong thời gian tới.    Bảng 2: Quy mô kinh tế so với quy mô dân số, so sánh Việt Nam và Trung Quốc. Nguồn: Báo cáo Việt Nam 2035.  Đầu thế kỷ 19, Việt Nam tương đương với Trung Quốc về vị thế cùng gần bằng 1.0. Trong quá trình phát triển sau đó, cả Việt Nam và Trung Quốc đều “đi xuống” về quy mô kinh tế. Tuy nhiên, Trung Quốc đã “bật lên” được, trong khi khả năng Việt Nam khôi phục lại quy mô kinh tế còn rất vất vả. Kỳ vọng là tới 2035 Việt Nam mới có thể đạt được ngưỡng 0.8 của năm 1820.    Author                Phạm Chi Lan        
__label__tiasang Tư duy trần thế      Hàng vạn năm trước đây, đời sống con người chưa khác với loài vật bao nhiêu. Cái tiêu biểu nhất có lẽ ở chỗ khác, ở sự phản tư về sự tồn tại của mình. Chính sự phản tư này làm con người ý thức tách mình ra khỏi loài vật và giới tự nhiên xung quanh, và tự trả lời cho sự khắc khoải của mình bằng sự tưởng tượng thần thánh.     Chúng ta là con của ông Trời, có sứ mệnh đặc biệt để thống trị dẫn dắt muôn loài, chinh phục thiên nhiên. Ta lấy hình ảnh của mọi sức mạnh lớn lao đem vẽ cho mình: mặt trời, mặt trăng, các vì sao, rồi gió bão, hồng thủy, hổ báo, voi, tê giác, rắn rết, chim ưng, cùng các tưởng tượng gán ghép từ đó, như rồng phượng, ma lực, mặc khải, hóa kiếp, vân vân.  Mãi rất gần đây, vài trăm năm hoặc có nơi mới vài chục năm, con người mới chấp nhận dần tư duy trần thế.  —  Cuối những năm 80 thế kỉ trước, xã hội rục rịch mở cửa, tôi có dịp được gặp một vài nhà nghiên cứu từ Âu Mỹ qua đất Việt.  Các cuộc thảo luận thật nhiều hương vị, vì ngôn ngữ và tư duy cách nhau cũng khá xa.  Trong một buổi đi bộ ra đường, ông giáo sư người Mỹ vui vẻ hỏi: tôi ở khách sạn chán quá. Tôi muốn về nhà ông ở, đi chơi, nói chuyện cho vui, trả tiền trọ ăn uống đàng hoàng, có được không?  Tôi ngắm ông và bảo: ý ông hay thật!   Chợt nhớ mình vẫn đang ở trong xã hội tư duy thần thánh, tôi vội nói lại: Cái này thì chưa được ông ạ!  —  Điều rất may mắn mà chúng ta lại hay quên, là chúng ta đang sống trong thời bình đã vài chục năm nay. Ta phải biết ơn thời bình, và biết quên đi triết lý sống thời chiến. Điều đó tất nhiên không có nghĩa là không xây dựng ra trò nền quốc phòng.  Thời bình đòi hỏi triết lý sống riêng của nó.  Ngày xưa tục truyền vua Lê còn biết vứt trả gươm lại cho chú rùa nơi Kinh Đô, để học sống thời bình cùng mọi người.  Nghĩa là phải biết vứt bỏ ngôn ngữ, tư duy thời chiến.   Ngày hôm nay đòi hỏi còn phải cao hơn nhiều: vứt bỏ tư duy thần thánh.  —  Ở Pháp, bạn đi nghỉ vài tuần. Bạn có thể và nên làm một việc như sau: báo cho cảnh sát. Và mấy ông này sẽ thỉnh thoảng lượn ôtô đảo qua nhà bạn bất chợt ban ngày, đêm hôm xem có tay du thủ du thực nào hý hoáy không. Cảnh sát ăn lương từ tiền thuế của dân. Công việc của anh là trật tự xã hội. Anh phải có trách nhiệm, chủ động và sáng kiến thực thi công việc đó. Anh không phải thay Trời trị ai cả. Đấy là tư duy trần thế hôm nay trong thời bình.  Một đảng cầm quyền thời bình cũng vậy. Đảng có những lý tưởng của mình, nhưng với xã hội thì cái căn bản nhất, đó là người dân cần được đối thoại thẳng thắn với đảng cầm quyền, vào thẳng các công việc thiết thực, với tinh thần trần thế. Và bản thân đảng cầm quyền cũng phải có tư duy trần thế, từ ngôn ngữ, tới giao tiếp, hành xử công việc…   Ví dụ định chế chính quyền hiện đại thực chất là cái quy chế đồng thuận về sinh hoạt chung của xã hội được hình thành nên, thông qua việc xây dựng các thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp, thông tin. Như thế khi người dân đối thoại với định chế chính quyền là họ đối thoại đơn giản với chính mình.  Cái định chế này được quen gọi ở Trung Quốc, Việt Nam theo danh từ thần thánh là quốc gia, hay nhà nước. Nghĩa là đất nước nằm trong tay một nhà, một dòng họ. Đó là một cản trở tinh thần rất lớn, nó không giải phóng con người khỏi ý thức vua-quan-thần dân xưa. Đáng nhẽ không gọi là nhà nước nữa, mà gọi là thể chế chẳng hạn. Etat trong tiếng Pháp, State trong tiếng Anh chẳng hạn cũng nhằm chỉ một thể chế, không có gì là “nhà-nước” cả.  Ngày lễ độc lập trước ở ta gọi chuẩn là “Tết Độc lập”. Ở Pháp gọi là “Tết Dân tộc”, “Fête Nationale”. Ở Mỹ gọi là “Ngày Độc Lập”, “Independence Day”. Thế rồi cái thói quen thần thánh ở Trung Quốc lại kéo sang, người ta gọi tất cả là “Quốc Khánh”, “ngày lập nước”. Quốc Khánh Việt, Quốc Khánh Pháp, Quốc Khánh Mỹ! Trong khi nước Việt chúng ta hiển nhiên đã được thành lập từ hàng ngàn năm nay rồi!  Xây dựng đời sống mới, hãy rũ bỏ từng bước tất cả những lối nghĩ, lối nói, lối làm việc, lối sống thần thánh, xây dựng lối nghĩ, lối nói, lối làm việc, lối sống trần thế.   Đơn giản, mà sâu xa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Fukuzawa Yukichi nhìn về Nguyễn Trường Tộ      Có thể nói, ở hai ông Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát). Có&#160; rất&#160; nhiều sự tương đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống cùng trong một giai đoạn lịch sử. Từ thực tế trên, việc so sánh hai nhân vật lịch sử này, đồng thời cũng là những nhà tư tưởng về cải cách, mở cửa có thể mang lại cho chúng ta nhiều điều thú vị.                        Những điểm tương đồng  Có thể nói, Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ là hai người sinh cùng thời, và cả hai đều học rất giỏi. Điều thú vị nữa là hai người đều sinh ra từ một vùng đất có truyền thống, chứ không không phải ở thủ đô. Hai ông không xuất thân từ gia đình quá giàu có, nhưng cũng không phải ở gia đình quá nghèo.  Hai nước Nhật và Việt Nam ở thời mà các ông sinh sống thì cũng có một vài điểm tương đồng. Thí dụ như hai nước cùng đóng cửa với thế giới, nhưng bắt đầu bị các quốc gia phương Tây nhòm ngó.  Tại Nhật, năm 1853, hạm đội Mỹ xuất hiện gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Anh trai thúc giục Fukuzawa tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây. Khi đó, ông mới 23 tuổi. Đến tháng 8-10/1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm người dạy tiếng Hà Lan cho lãnh địa Nakatsu. Tháng 7/1859: Nhật mở cửa ba cảng biển theo các điều khoản của “Hiệp ước hoà bình và hữu nghị”, được ký một năm trước đó với Mỹ và một số nước châu Âu.                   Ở Việt Nam, năm 1858, Pháp đánh Đà Nẵng. Nguyễn Trường Tộ lúc đó 30 tuổi, Nhà thờ xã Đoài mời ông làm giáo viên dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier dạy ông tiếng Pháp và khoa học thường thức phương Tây.  Hai người cùng đi nước ngoài hầu như cùng thời điểm, như vậy cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa có điều kiện tiếp xúc Tây học từ sớm, biết tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lại có dịp được ra nước ngoài nên hai ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với văn minh, với thế giới vật chất và công nghệ của phương Tây, từ đó hình dung trong đầu những hoạt động, những tư tưởng mang tinh thần cải cách.  Đầu năm 1860, trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, chính quyền Shogun quyết định phái sứ giả sang Mỹ. Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn sang San Francisco, Mỹ. Từ Mỹ về trong năm đó, ông dịch và xuất bản cuốn sách đầu tay “Kaeitsugo”. Khoảng ba năm đầu sau đó, Fukuzawa chỉ chuyên tâm học hành và viết cuốn sách đầu tiên.               FUKUZAWA YUKICHI               (1835-1901)  Sinh tại thành phố Osaka, trong một gia đình Samurai cấp thấp.  Đến năm 1837, cha ông qua đời đột ngột ở tuổi 44. Cuộc sống khó khăn, ông phải giúp gia đình và cho mãi đến năm 14 tuổi mới được đến trường. Không chỉ dừng lại ở một nhà tư tưởng, Fukuzawa đã bắt tay làm rất nhiều việc, từ mở trường dạy học, lập tờ báo, dịch sách để hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh chóng về nhận thức, hành động và phát triển của người dân cũng như đất nước Nhật Bản.          Trong những năm 1861-1863, ông sang châu Âu theo đoàn đàm phán mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Ông đến các nước như Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò phiên dịch, Fukuzawa quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm Thực trạng phương Tây (Seiyo jijo). Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ. Đến năm 1866, ông hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn Thực trạng phương Tây để giành thời gian dịch cuốn Kinh tế chính trị của J. H. Burton. Trong cuốn sách xuất bản năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình thiết lập nên xã hội văn minh. Sau đó, ông tiến hành dịch các tác phẩm quan trọng của Anh cho người Nhật đọc, học tập và tiếp thu.         Còn ở Việt Nam, những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng, Singapore, Thụy Sĩ. Trên đường đi ông có ghé Roma yết kiến Giáo hoàng rồi cuối cùng sang Paris theo học trong gần 2 năm.  Vào năm 1861, khi Đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp với mong muốn góp phần mình cho sự hoà hoãn hai bên. Ông viết thư gửi triều đình trong đó nêu ý kiến là nên hoà với Pháp. Sau đó, ông viết bản điều trần đầu tiên. Đến quãng năm 1862-1863, ông thôi không làm phiên dịch nữa vì thất bại trong việc điều đình. Thời gian này, ông tham gia xây cất tu viện ở Sài Gòn và dồn tâm trí soạn kế hoạch giúp phát triển đất nước. Vào tháng 3/1863, ông gửi triều đình văn bản “Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ”. Tiếp đó, ngày 29/3/1863, ông gửi bản Trần tình. Một năm sau đó, ông gửi triều đình văn bản “Kế hoạch duy trì hoà ước mới”, và “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”. Tất cả là những bản điều trần!    Và những khác biệt  Nhưng đáng tiếc thay, nếu so sánh với Fukuzawa, Nguyễn Trường Tộ có nhiều nhược điểm, thiếu sót. Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa công cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật và thời kỳ trì trệ của Tự Đức ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ chính sự khác biệt về lối tư duy và hành động của hai nhà trí thức đại diện này.  Năm 1867, Fukuzawa lại sang Mỹ, tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có. Về nước, Fukuzawa mở trường KEIO. Chỉ trong năm đó (1867), số học sinh của trường đã lên đến 100. Thời gian này, ông chủ yếu đọc, viết sách và giảng dạy. Những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích, điều đó cho thấy sự quan tâm của người dân đối với thế giới bên ngoài.  Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách.   Ngày 4/7/1868, cuộc nội chiến giữa hai phe cải cách và bảo thủ ở Nhật Bản bùng nổ. Fukuzawa đã nói với học sinh, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.                   Sau năm 1868,  Fukuzawa dành hết thời gian, sức lực cho công việc giảng dạy ở Keio và giúp lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh, các mối quan hệ quốc tế. Sau đó, vào năm 1876, Fukuzawa xuất bản cuốn Khuyến học, tác phẩm nổi tiếng nhất. Ông thúc giục người Nhật học đọc, học viết, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc, rồi tiếp đến là học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức. Lúc này, ông 41 tuổi.            NGUYỄN TRƯỜNG TỘ               (1828 – 1871)  Sinh tại Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Ông học rất giỏi, ngoài việc học với cha ở nhà, ông còn theo học nhiều thầy đồ nổi tiếng trong vùng. Tuy mất sớm ở tuổi 43 nhưng ông đã đề xuất rất nhiều kế hoạch cải cách táo bạo, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh trì trệ, tiến lên trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh. Đáng tiếc, những bản điều trần của ông thời đó đã không được trọng dụng.           Về Nguyễn Trường Tộ, những công việc thì vẫn như vậy. Năm 1865, ông gửi triều đình văn bản “Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy”.  Vào đầu năm 1866, khi được mời đến Huế, ông tiếp tục gửi văn bản “Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước”. Đến tháng 4/1866: ông thảo thư Tây Soái có châu phê của Vua. Đây vẫn là một bản điều trần và gửi thư cho Vua. Tháng 8/1866, Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier đến Huế, chuẩn bị đi Pháp, được vua Tự Đức tiếp kiến.  Từ tháng 9 đến hết năm 1866, ông tiếp tục gửi văn bản và thư tới triều đình, cụ thể như văn bản “về việc học thực dụng” và “Phải tạm thời dựa vào Pháp” và những bức thư về vấn đề khác nhau. Vào năm 1867,ông  cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Tháng 3 năm sau đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Tổ chức gấp việc khai mỏ”.Trong các tháng 3-5/1868, ông viết nhiều văn bản thúc giục triều đình cử người đi Pháp học  Tiếp tục như vậy, suốt năm 1871, Nguyễn Trường Tộ viết rất nhiều văn bản đề xuất việc thông thương với Pháp như “Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng”, “Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao”, “Về chính sách nông nghiệp”; “nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Rất tiếc, ngày 24/11/1871, Nguyễn Trường Tộ mất ở quê, hưởng thọ 41 tuổi. Nguyễn Trường Tộ mất sớm nhưng tôi tin rằng, dù ông còn sống, ông sẽ vẫn không làm gì khác hơn ngoài việc viết tấu trình.  Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 30 bản điều trần đề xuất canh tân, xây dựng đất nước giàu mạnh và gần sáu chục bản điều trần khác đề cập đủ mọi lĩnh vực.  Tôi không nghĩ rằng ở thời đại Nguyễn Trường Tộ, việc mở trường có quá nhiều khó khăn. Việc dịch sách, ngược lại thì rất khó vì lúc đó hầu như chúng ta chỉ sử dụng tiếng Hán và phụ thuộc nhiều vào sách dịch của người Trung Quốc. Tại Trung Quốc, mãi đến những năm 1903, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi mới ồ ạt triển khai dịch sách của phương Tây cho người Trung Quốc, điều này cho thấy Nguyễn Trường Tộ khó lòng làm được việc này ở Việt Nam thời điểm đó.  Còn Fukuzawa thì vào năm 1875 xuất bản cuốn “Văn minh khái luận” ra đời, nhằm thuyết phục trí thức Nhật Bản chấp nhận quá trình hiện đại hoá. Ngày 1/3/1882, Fukuzawa tự mình xuất bản tờ Jiji-shimpo. Trước đó, Fukuzawa muốn mở một tờ báo nhằm thúc đẩy việc sớm thiết lập Nghị viện nhưng kế hoạch này đã bị gác lại vì sự chia rẽ nội bộ. Năm 1885,  Fukuzawa viết bài báo gây rất nhiều tranh cãi Datsu – a – ron [Thoát Á Luận], kêu gọi Nhật Bản hãy học theo phương Tây và nhanh chóng hiện đại hóa…                  Đánh giá của hậu thế  Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc in hình ông trên tờ tiền 10.000 yen, dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước Mặt trời mọc.  Fukuzawa để lại ngôi trường Keio mà ngày nay là Đại học Keio (hiện trường Keio hệ chính thức có khoảng 28.000 sinh viên và 5.000 nghiên cứu sinh). Ông cũng để lại hàng chục cuốn sách dịch và nhiều sách do ông viết. Ông được coi là người khởi xướng cho việc dịch sách ở Nhật Bản, mang lại tác động to lớn cho xã hội Nhật Bản.   Còn đối với Nguyễn Trường Tộ, theo nhiều học giả và công chúng, các bản điều trần của ông nếu được áp dụng là một sách lược lớn biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.  Học giả Lê Thước phê bình công nghiệp bình sinh của ông: “Nguyễn Trường Tộ là nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn”.  Tên của ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam, nhưng chưa có đồng tiền nào mang hình ông mặc dầu ông cũng được coi là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần cách tân. Nguyễn Trường Tộ thường được trí thức Việt Nam coi là hình mẫu thất bại trong mong ước hiện đại hóa Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhiều người cũng coi ông như bài học để chỉ ra sai trái của triều đình mà quên đi những sai lầm của chính ông.      Tư tưởng tiền nhân để lại  Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:  “Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người.”  Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: “Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”, tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác.  Tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: “Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”.  Trong giáo dục, ông phản đối lối học tầm chương trích cú, đóng cửa khư khư giữ lấy cái sự học lỗi thời chỉ cốt có học vị bằng cấp. Ông chủ trương học để thực hành. Ngay cả bản thân, ông không hề đề tên ứng thí một khoa nào, không hề có bằng cấp gì nhưng kiến thức của ông sâu rộng mang tầm bách khoa, uyên thâm trong nhiều lĩnh vực.  Theo ông cần phải đưa vào chương trình giáo dục những tri thức về nông nghiệp, địa lý, thiên văn, công nghệ, luật pháp, nghĩa là những gì xã hội, cuộc sống hiện đại thực sự cần tới trước mắt và lâu đài, chứ không phải dùi mài tứ thư ngũ kinh với những giáo huấn xa vời của Khổng Mạnh. Ông cũng sớm đề xuất soạn Tự điển cho người học, nghiên cứu Hán học, Tây học.  Dường như toàn bộ sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ chỉ gói gọn trong mấy từ viết điều trần. Không thể đếm được ông đã viết bao nhiêu bản điều trần trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, và dù những bản điều trần này được rất nhiều trí thức Việt Nam hiện đại ca ngợi là tư tưởng lớn thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất, chứ không phải là bắt tay vào làm (thực hiện). Trong khi đó, Fukuzawa đã dịch và viết nhiều sách, mở trường dạy học, lập báo, hợp tác và hướng dẫn các trí thức quốc gia láng giềng. Fukuzawa có gửi điều trần lên Thiên Hoàng nhưng không nhiều và không phải là hành động chính yếu của ông. Có thể khi đó, Minh Trị đã là một nhà vua anh minh nhưng ở Fukuzawa, tư duy là hành động. Điều quan trọng hơn nữa, đó là Fukuzawa hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản. Ông truyền tinh thần canh tân của mình cho hàng nghìn sinh viên theo hoc ở Keio, cho hàng triệu người Nhật qua các cuốn sách ông dịch, và qua những bài báo gây nhiều tranh cãi…  Qua bài học thành công và thất bại của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ có thể tìm ra được cách hành xử thích đáng hơn của trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Hà Giang tới Quảng Bình: Những tiếng chuông cảnh báo      Những chung cư nham nhở của đại công trường vỡ nợ 1.800 tỷ đồng ở Hà Giang chưa phai trong tâm trí người dân, nay lại tới Quảng Bình. Dải đất nghèo miền Trung hàng năm thu ngân sách địa phương chưa vượt quá 550 tỷ đồng, nay đã vay nợ ngân hàng trên 5.000 tỷ đồng. Trong số ấy, tổng số nợ xấu khó đòi đã tới mức báo động vượt qua con số 500 tỷ đồng. Nếu tách riêng số nợ dành cho 33 doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ xấu còn cao hơn nữa; cứ 20 đồng cho DNNN vay, nay 5 đồng đã rất khó đòi. Những nguy cơ gì ẩn chứa sau mơ ước tăng trưởng GDP hai con số quá lệ thuộc vào vốn vay?        Một công ty có 57 tỷ đồng vốn hoạt động, thì 42 tỷ đã là vốn vay. Cùng chia số phận với 33 DNNN khác trên địa bàn tỉnh, Mía Đường Quảng Bình có vốn đầu tư 142 tỉ đồng, nay đã lỗ 136 tỷ; càng sản xuất, lưu kho, càng thêm lỗ. Nợ xấu gia tăng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tài chính của các ngân hàng cho vay; ngân hàng cho vay lâm bệnh thì người dân gửi tiền nháo nhác hành xử theo tâm lí đám đông, cả hệ thống tài chính quốc gia có nguy cơ liên lụy. Bởi vậy, từ Hà Giang tới nợ xấu ở Quảng Bình, cần báo động về trách nhiệm của các địa phương, ngân hàng thương mại quốc doanh cũng như các doanh nghiệp trong việc dễ dãi với từng đồng vốn vay.  Có được tự do từ chính sách tản quyền, các địa phương ganh đua từng đồng vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng; tỉnh nào cũng sân bay, bến cảng, xi măng lò đứng, mía đường, đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy sản. Ra ngõ gặp công trình, 12.000 dự án đầu tư trải rộng như tấm màn thưa khó có thể tạo nên những ngành nghề mũi nhọn. Đó là chưa kể vô số dự án được thực hiện bởi những mục đích  chính trị nhiều hơn là lí do kinh tế; rót thêm 750 triệu USD tiền vay từ thị trường chứng khoán New York làm cho quy mô vốn đầu tư của TCT Đóng tàu Việt Nam Vinashin nở ra rất nhanh, nay đã bằng 3/4 hãng đóng tàu Hyundai, song năng lực quản lí và hiệu quả kinh tế còn rất nhiều điều quan ngại. Nếu David Dapice, giáo sư kinh tế của Harvard có lí, thì càng tăng đầu tư dàn trải, Việt Nam mỗi năm đã đánh mất ít nhất 1 tỷ USD. Đó là chưa kể các nguồn tài nguyên quốc gia ngày càng cạn kiệt dần, môi trường sinh thái bị hủy hoại và cơ hội cạnh tranh của con cháu sẽ càng khó khăn hơn. Bởi vậy, nếu chỉ đo lường tăng trưởng bởi GDP, tỉnh nào cũng mời gọi đầu tư, song lãi mẹ đẻ lãi con, người cho vay có lợi còn ta nghèo vẫn hoàn nghèo.  Việc cho vay và sử dụng vốn vay dường như có phần dễ dãi ở Quảng Bình còn có một lí do khác. Trong 7 ngân hàng thương mại có hội sở ở địa phương thì 5 ngân hàng thuộc quốc doanh, khách hàng vay nợ cũng thường là doanh nghiệp quốc doanh. Dù sự can thiệp hành chính vào chính sách cho vay đã bớt phần lộ liễu, song không thể phủ nhận ảnh hưởng của chính quyền địa phương đối với việc cấp phát nguồn tín dụng này. Tín chấp là một công cụ quản lí rủi ro quen thuộc, song các ngân hàng ở Quảng Bình lại có thêm sáng kiến buộc các giám đốc doanh nghiệp mang nhà đất tư nhân thế chấp cho nợ của doanh nghiệp. Đây là một giải pháp tình thế cực chẳng đã, bởi nhà đất của một ông giám đốc thì có đáng kể gì với khoản vay hàng trăm tỷ đồng riêng của nhà máy mía đường. Hơn nữa, công ty là pháp nhân độc lập; bắt giám đốc thế nợ cho công ty thực ra đã cá thể hóa khoản nợ, làm cho công ty chỉ mang danh hữu hạn, chứ trách nhiệm dây dưa đến tất cả các thành viên liên đới.  Về lâu dài, phải tăng cường vai trò của ngân hàng trong quản trị rủi ro. Người cho vay phải được chủ động hơn khi đánh giá mức khả thi của dự án và quyền can thiệp vào quá trình sử dụng tiền vay. Nếu người vay vỡ nợ, ngân hàng phải dễ dàng thu hồi được các nguồn tài nguyên cấp cho dự án, phát mại chúng và thu hồi nợ đọng. Pháp luật đất đai và phục hồi theo luật phá sản phải nghiêng hẳn về bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ. Ách tắc trong phát mại tài sản thế chấp làm cho nợ xấu lan rộng và người thiệt hại cuối cùng là toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Nợ khó đòi ở Quảng Bình lại gióng lên một hồi chuông nữa cảnh báo những giấc mơ tăng trưởng bề nổi, mà không tính đến hiệu quả và lợi ích lâu dài cho con cháu mai sau.        Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
0.391304347826087
__label__tiasang         Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Hội An đến … Hà Nội      Anh bí thư Hội An là bạn tâm đắc của tôi. Tôi biết anh từng nhiều đêm mất ngủ, vắt tay lên trán, thao thức đến sáng trắng, đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, lo cứu lấy Hội An, cứu văn hóa Hội An, bởi văn hóa là cái phải lo cứu lấy từng ngày, ở đâu và xưa nay đều vậy.  Còn người Tràng An từng rất văn hóa nhất nước giờ đây nghĩ sao về sự mất còn của những cái rất nhỏ nhoi mà trường cửu vô giá của Hà Nội trong những toan tính hẹp rộng nhỏ to của Hà Nội hôm nay.      Một trong những cái hay nhất của Hội An là nó luôn thấy rằng nó “có vấn đề”. Hội An rất đẹp, và giản dị mà thâm thúy nó biết rằng cái đẹp là văn hóa, mà văn hóa thì có một đặc điểm cố hữu là vừa bền vững vừa mong manh, rất mong manh, dễ vỡ, luôn bị uy hiếp bởi chính sự đi tới của cuộc sống, xưa nay vẫn vậy, đầy triển vọng cũng lại đầy thách thức, và thách thức thì ngày mỗi dữ hơn, thậm chí có thể ít văn hóa hơn, ngang nhiên, trắng trợn hơn. Nhất là văn hóa trọc phú đang lấn át bây giờ.        Vẻ đẹp Hội An nằm trong một chiều sâu hơn, giản dị mà thăm thẳm, không gì thay thế được: những ngôi nhà cổ, rất đẹp, với những con người Hội An, rất đẹp, sống chính trong những ngôi nhà ấy.              Nếu những ngôi nhà cổ Hội An được bán ngày càng nhiều cho người nơi khác đến, thì rồi cái được gọi là văn hóa Hội An từng lặng lẽ khiêm nhường mà làm say mê du khách bốn phương không gì cưỡng được, sẽ ra thế nào?        Tôi vừa có dịp ngồi với anh bí thư Hội An, hai anh em trằn trọc bàn với nhau suốt buổi chiều về một uy hiếp mới Hội An đang phải đối mặt, dường như có thể sẽ là sâu hơn, nguy hiểm hơn tất cả những lần nó từng trải qua: nhiều người, là các đại gia tất nhiên, từ Hà Nội, từ Sài Gòn, giàu lên rất dữ rất nhanh trong cơ chế thị trường hoang dã, đang đổ xô đến mua những ngôi nhà cổ ngay trong phố cổ Hội An. Nghe nói có cả người nước ngoài về nữa. Và người Hội An trong phố cổ thì đang bán nhà, đã đến mấy chục chiếc, rồi hẳn sẽ lên đến hàng trăm. Cũng dễ hiểu thôi, các gia đình sinh con đẻ cái, lớn phình lên, chia tách ra, cha mẹ có nhu cầu chia gia tài cho con cháu. Những người có tiền, thừa mứa tiền, rất nhạy với tín hiệu đó, liền chộp lấy cơ hội.  Họ mua nhà cổ Hội An để làm gì? Có hai khả năng: giàu có, họ chơi sang, một cái mốt chơi sang trông ra rất “có văn hóa”, cao cấp. Các ngôi nhà cổ Hội An được họ mua để chơi như một món đồ cổ, hệt những thứ quý, hiếm, đắt tiền họ vẫn bày khoe trong tủ kiếng phòng khách của mình. Hết chơi lọ cổ, chum vại cổ, ông bình vôi cổ, bàn ghế, liễn phướng, cả thư tịch cổ …, bây giờ họ chơi đến nhà cổ. Thú chơi cao cấp, mốt mới, rất thời thượng. Thậm chí họ sẽ tu bổ những ngôi nhà ấy đẹp hơn lên rất nhiều, hết sức chăm chút, đúng kiểu, đúng cổ, rất chuyên nghiệp, đến chuyên gia Nhật, chuyên gia Pháp, chuyên gia Ba Lan từng giúp Hội An tu bổ nhà cổ nhiều năm nay chưa chắc đã bằng. Bởi họ thừa tiền, chẳng sá gì. Khả năng thứ hai: những người cũng rất giàu có, tất nhiên, mua để ở, hoặc như một kiểu nhà nghỉ cuối tuần độc đáo, rất lạ, hoặc làm chỗ dưỡng già, rất “exotique”, và sang hơn, “văn hóa” hơn hẳn các resort đang mọc lên nhan nhản bây giờ…  Cả hai loại người mua ấy sẽ không làm hỏng các ngôi nhà cổ Hội An, họ sành chơi lắm. Nhưng họ sẽ phá tan tành Hội An, phá đến tận gốc rễ, cốt lõi của Hội An. Sẽ không còn Hội An, sẽ mất hẳn Hội An, sẽ tiêu diệt Hội An. Bởi Hội An, cái lạ nhất, quý nhất, hay nhất, hấp dẫn nhất, đáng yêu nhất của Hội An, không nơi nào bằng, không chỉ là những ngôi nhà cổ vốn đã rất đẹp. Vẻ đẹp Hội An nằm trong một chiều sâu hơn, giản dị mà thăm thẳm, không gì thay thế được: những ngôi nhà cổ, rất đẹp, với những con người Hội An, rất đẹp, sống chính trong những ngôi nhà ấy. Những con người rất Hội An, bình dị, chân chất, thật thà, rất xưa, rất quê, mà đồng thời, kỳ diệu biết bao, lại rất phố, rất nay, rất hiện đại, rất văn minh, rất năng động, rất tân thời, một sự kết hợp, thậm chí không phải một sự kết hợp mà là một căn cốt cứ như là “tự sinh”, tuyệt diệu mà lại tự nhiên như không, hầu như chẳng cần chút cố gắng nào. Những con người như vậy sống trong những ngôi nhà như vậy làm nên cái ta vẫn gọi là “văn hóa Hội An”, một điều theo tôi đến nay vẫn chưa cắt nghĩa được hoàn toàn – cũng như những gì là văn hóa thật, văn hóa thật thì không bao giờ có thể cắt nghĩa được hoàn toàn, cho tận cùng, nó mãi mãi còn là bí mật, bí quyết… Một văn hóa Hội An như vậy đang bị tấn công, rất có thể trong trận tấn công tiêu diệt chiến quyết định lần này. Nếu những ngôi nhà cổ Hội An được bán ngày càng nhiều cho người nơi khác đến, thì rồi cái được gọi là văn hóa Hội An từng lặng lẽ khiêm nhường mà làm say mê du khách bốn phương không gì cưỡng được, sẽ ra thế nào? Sẽ ra thế nào một Hội An với lối sông Hà Nội hay Sài Gòn? Một Hội An Hà Nội hóa hay Sài Gòn hóa? Sẽ còn gì Hội An?…  Rất may, Hội An biết điều đó, biết đây là thách thức có thể sinh tử, và đang nghĩ cách đề kháng. Anh bí thư Hội An nói với tôi: “Chúng tôi đang tính, có thể như thế này chăng, đương nhiên không thể ngăn người ta bán nhà và mua nhà, chẳng luật pháp nào cấm được, và người ta cũng có nhu cầu thật sự. Vậy thì, chẳng hạn có thể quy định bán nhà trong phố cổ thì phải ưu tiên bán cho chính người Hội An. Nếu sau đó không có người Hội An nào mua được nữa, thì Nhà nước sẽ mua. Chúng tôi sẽ chuẩn bị một quỹ, bao nhiêu tỷ cũng sẽ quyết chuẩn bị cho kỳ được, để mua những ngôi nhà cổ trong phố cổ chủ nhân bắt buộc phải bán, sau đó sẽ cho chính những người chủ cũ ấy thuê lại, với giá rẻ. Nghĩa là vẫn giữ được con người Hội An sống trong những ngôi nhà cổ Hội An, không để cho những ngôi nhà cổ Hội An biến thành đồ cổ chết, thành “xác ướp Ai Cập” như anh đã có lần lo lắng. Chúng tôi cũng nghe được ý kiến anh tin rằng Hội An từng đủ sức Hội An hóa tất cả văn hóa ngoại lai đến từ bất cứ đâu, từ Nhật, từ Hoa, từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, rồi cả Pháp và Mỹ… Hội An không sợ văn hóa ngoại lai, sức đề kháng văn hóa, khả năng tiếp biến và tiêu hóa văn hóa ngoại lai của nó là rất lớn. Chúng tôi cũng có lòng tin đó. Nhưng cũng phải tính đến tương quan lượng trong cuộc giáp mặt văn hóa, như chính anh từng nói, rất quyết liệt và cả hỗn hào lần này. Không thể để cho mọi chuyện diễn ra hoàn toàn tự phát…”.  Anh bí thư Hội An là bạn tâm đắc của tôi. Tôi biết anh từng nhiều đêm mất ngủ, vắt tay lên trán, thao thức đến sáng trắng, đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, lo cứu lấy Hội An, cứu văn hóa Hội An, bởi văn hóa là cái phải lo cứu lấy từng ngày, ở đâu và xưa nay đều vậy. Đã là văn hóa thì bao giờ cũng mong manh mà…  ***  Tôi nói chuyện Hội An lần này vì, xin thú thật, đang nghĩ đến Hà Nội, đến chuyện mở rộng Hà Nội với quy mô nghe đến kinh hoàng đang làm xôn xao dư luận, không chỉ dư luận, xôn xao tận đáy tâm tư mỗi người Việt. Nhiều người đã lên tiếng về các mặt lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế, đất đai…, những lý lẽ đầy tâm huyết và cũng đầy thuyết phục. Tôi cũng không thể không xin góp một tiếng nói nhỏ.        Hà Nội là hội tụ văn hóa, đó là một điều cần khẳng định và đặc biệt nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu trong mọi suy tính về Hà Nội.        Quá trình đô thị hóa là một quá trình chung, tất yếu, với những quy luật chung, đồng thời cũng là quá trình riêng, với những quy luật riêng của mỗi đô thị. Vậy thử nghĩ về quy luật đô thị hóa của Hà Nội xem sao, có gì độc đáo, khác biệt, tạo nên vẻ khác biệt, độc đáo không thể thay thế của nó, nhất là hiện nay khi ta đang muốn quy hoạch lại Hà Nội với ý đồ lớn và quy mô lớn chưa từng có.  Có thể như thế này chăng: một đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa Hà Nội là Hà Nội được hình thành, từ ban đầu, và trong suốt quá trình lịch sử, bằng một quá trình hội tụ văn hóa rất độc đáo, rất tập trung, và lâu dài. Ai cũng biết Thăng Long – Kẻ Chợ – Hà Nội trước tiên đã được hình thành bằng con đường hội tụ các làng nghề, vốn rất đặc sắc ở một vùng trung tâm của Bắc Hà. “Ba mươi sáu phố phương” (36 chỉ là một cách nói ước lệ để chỉ số nhiều, thật ra có đến hàng trăm phố phường, tôi đã thử đếm rồi) là một dấu vết sâu đậm của quá trình ấy, còn đậm không chỉ trong tâm tưởng mà cả trong đời sống thực tế cho đến tận ngày nay. Hội tụ làng nghề đương nhiên là hội tụ kinh tế. Nhưng ai cũng biết, làng nghề, vốn bắt đầu (và tồn tại lâu dài) theo phương thức thủ công, tức lấy sự khéo léo, tinh vi, cả tâm hồn người thợ, tài hoa của họ, thậm chí cả chất nghệ sĩ tiềm ẩn tích tụ lâu đời trong họ, nên cũng là văn hóa, thậm chí văn hóa theo nghĩa mộc mạc mà gốc gác, sâu xa nhất của văn hóa. Hà Nội là hội tụ văn hóa, đó là một điều cần khẳng định và đặc biệt nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu trong mọi suy tính về Hà Nội. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng ta nhắc đến Lý Thái Tổ với tầm nhìn chiến lược có tính đột phá của ông, quyết rời rừng núi kín đáo mà chật hẹp Hoa Lư, ra đứng hiên ngang giữa đồng bằng sông Hồng trống trải, đối mặt với không gian mới rộng mở, chấp nhận thách thức mới để tìm cơ hội phát triển mới cho dân tộc. Yếu tố địa-chính trị-quân sự trong quyết định dũng cảm này thật vĩ đại. Riêng tôi, tôi còn muốn nghĩ thêm đến một khía cạnh nữa, có thể cũng quan trọng không kém: Ra Thăng Long, cũng là Lý Thái Tổ muốn đến đứng tại trung tâm của vùng văn hóa Việt lâu đời nhất và đặc sắc nhất, Việt nhất. Thậm chí rất có thể phương diện văn hóa này nằm ở vị trí then chốt trong quyết định lớn của ông, là cái nền của những phương diện khác được tính toán kia. Một trong những dấu ấn đậm nét nhất của triều đại Lý, rồi đến Trần, là ý thức mạnh mẽ về việc xây dựng một nền móng tư tưởng văn hóa độc lập cho dân tộc, tạo động lực cơ bản cho một thời đại mới của dân tộc, thời đại phục hưng và phát triển độc lập hùng cường sau 1000 năm Bắc thuộc. Không phải ngẫu nhiên mà chính trong thời kỳ này đạo Phật, vốn được du nhập rất sớm vào nước ta, cả vài thế kỷ trước công nguyên, và ở tại trung tâm Luy Lâu vào loại lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ, tức chính vùng Bắc Ninh với nhiều làng nghề đặc sắc vừa nói trên kia, đã được tổ chức nghiên cứu, Việt hóa, đậm đà nhất, một sự tìm tòi căng thẳng, vừa uyên bác vừa thực tế, kết hợp triết lý Phật giáo với văn hóa truyền thống Việt vốn có từ Hùng Vương. Lý Thái Tổ vốn từng là một người học trò chăm chỉ tại một ngôi chùa Phật bên Bắc Ninh … Nghĩa là nếu quyết định định đô Thăng Long là một quyết định chính trị, thì đó thật đúng ra là một quyết định chính trị-văn hóa, văn hóa-chính trị; nếu Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước thì đó là một trung tâm chính trị-văn hóa, văn hóa-chính trị. Khởi đầu là vậy, quá trình là vậy, quy luật là vậy, nay cũng là vậy…                      Chất văn hóa ấy, với tất cả chiều sâu lâu đời và tinh tế, thấm sâu trong mỗi con người Hà Nội, không khí Hà Nội, mọi sinh hoạt Hà Nội, trong cái gọi là “chất Hà Nội” – cũng như “chất Hội An” vậy – riêng có và không gì thay thế được. Và văn hóa thì, thường vậy, vừa to lớn vừa được biểu hiện trong những thực thể rất nhỏ nhoi, rất ít được chú ý, rất dễ bị bỏ qua, thường khi mất đi rồi mới chợt thấy, chợt nhận ra, nhận ra thì không còn nữa rồi, mới hay rằng nó là quý biết bao, vô giá, chẳng tiền của nào và chẳng bao giờ mua lại được nữa …               Chất văn hóa ấy, với tất cả chiều sâu lâu đời và tinh tế, thấm sâu trong mỗi con người Hà Nội, không khí Hà Nội, mọi sinh hoạt Hà Nội, trong cái gọi là “chất Hà Nội” – cũng như “chất Hội An” vậy – riêng có và không gì thay thế được.              Vậy mà, cũng phải nói thật điều này thôi, hình như trong quản lý Hà Nội lâu nay ta lại quá ít chú ý điều này, ít chú ý nhất, quá dễ hời hợt, cả bừa bãi nữa trong các quyết định của mình, quyết định xóa bỏ, “giết chết” cái này, để cho tồn tại cái kia, phát triển cái nọ, tùy tiện, vội vã, mà lại rất quyết đoán!        Vậy mà, cũng phải nói thật điều này thôi, hình như trong quản lý Hà Nội lâu nay ta lại quá ít chú ý điều này, ít chú ý nhất, quá dễ hời hợt, cả bừa bãi nữa trong các quyết định của mình, quyết định xóa bỏ, “giết chết” cái này, để cho tồn tại cái kia, phát triển cái nọ, tùy tiện, vội vã, mà lại rất quyết đoán! Chẳng hạn, cũng xin nói luôn một lần cho xong, quyết định xóa bỏ hàng rong trên các đường phố Hà Nội “để cho Hà Nội sạch sẽ, tinh tươm, văn minh hơn”, người ta bảo vậy. Quả thật tôi không biết là “văn minh”nào? Hàng rong, thậm chí ngồi xổm trên vỉa hè ăn hàng rong là một nét văn minh của Hà Nội, mất đi rồi mà xem, Hà Nội sẽ mất đi một cái gì đó rất Hà Nội, rất Thạch Lam, rất Nguyên Tuân, rất Vũ Bằng, rất Phái … có hàng trăm ngôi nhà cao đến 7-8 chục tầng đang định xây để đua đòi với thiên hạ cũng chẳng thay thế được đâu. Những quầy sách bé tí bên bờ sông Seine là một nét văn minh không gì thay thế được của Paris, vô cùng đáng yêu và vô cùng văn hóa của Paris. Tôi cũng đã từng tận mắt nhìn thấy các hàng rong bán đủ thứ từ vật lưu niệm cho đến quần áo của người Hoa ngay trên hè phố New York, những xe bán hàng rong của người Việt trên đường phố Washington DC, không xa tòa Bạch Ốc… Ta muốn dọn hết cho văn minh hơn họ chăng? …  Những năm qua cũng đã diễn ra một cuộc tàn phá dữ dội các làng nghề truyền thống nổi tiếng quanh Hà Nội, cả các chùa chiền lâu đời, đẹp đến mê hồn, và là nơi tích tụ lịch sử, văn hóa, tư tưởng của hàng nghìn năm văn minh Việt. Một trong những lực lượng đã tấn công và đang tiếp tục tấn công, đến mức hầu như chắc chắn sẽ tiêu diệt hẳn các di tích ấy là các khu công nghiệp hiện đại đang liên tục và hỗn hào mọc lên như nấm. Hà Nội sẽ là một Hà Nội như thế nào, sẽ còn gì là Hà Nội, với một Hà Nội đang mở rộng ra mênh mông, trên chính những vùng văn hóa cổ xưa ấy, để thành một trung tâm kinh tế, một trung tâm công nghiệp hiện đại? Sao Hà Nội lại đi đua công nghiệp hóa với Thành phố Hồ Chí Minh? Hình như còn định đua cả về nhà cao nhất nước và dân số đông nhất nước nữa kia.  Những người có trách nhiệm và có quyền đối với Hà Nội nên nhớ rằng Hà Nội, Hà Thành, Tràng An mà mình đang lãnh trách nhiệm trước lịch sử, cả với cha ông nghìn năm trước và con cháu bao thế hệ sau, có một chỗ mạnh không ai bì được là sự thanh lịch. Và thanh lịch là biết sang trọng mà không đua đòi. Không huênh hoang. Không cần to lớn, bề thế. Và nhất là trong sạch. Tôi biết anh bạn tôi, người lãnh đạo đêm đêm vẫn thao thức vì Hội An, là một người trong sạch đến mức có người bảo anh ta hơi “gàn”!  Có ai đêm đêm trằn trọc vắt tay lên trán để lo đến sự mất còn của những cái rất nhỏ nhoi mà trường cửu vô giá của Hà Nội trong những toan tính hẹp rộng nhỏ to của Hà Nội hôm nay.  Bài học của phố cổ nhỏ Hội An, vậy đó, chẳng nhỏ chút nào. Người Tràng An từng rất văn hóa nhất nước nghĩ sao?     Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự mình định liệu      Con người, đối với những hỉ, nộ, ai, lạc của mình, nên “tự mình định liệu”; đối với những được mất, thành bại của mình, cũng nên “tự mình định liệu”. Đời người đi đến đâu, từ đâu đến, nên “tự mình định liệu”; thành vua thành giặc, thành thánh thành hiền, càng nên “tự mình định liệu”! Con người, nên làm chủ chính mình.    Tục ngữ có câu: “không có Thích Ca trời sinh, không có Di Lặc tự nhiên”, tất cả đều phải dựa vào nỗ lực không ngừng của bản thân; chỉ cần bạn phấn đấu, tiến thủ, tự nhiên sẽ trả lại cho bạn một thành quả xứng đáng.  Trên thế gian, có người vì một câu nói vu vơ của người khác, liền âu sầu, nhớ mãi, ba bữa cơm rau mà không nuốt nổi; có người vì một chuyện cỏn con không được như ý, đã tâm tình phiền não, trằn trọc suốt đêm. Cũng giống như cuộc đời này, vui buồn đều bị người khác điều khiển; muốn bạn thích, khen ngợi bạn hai câu tốt đẹp, muốn bạn phiền não, phê bình bạn vài câu không hay. Đời người ta lúc nào cũng sống trong sự nắm giữ của người khác, không buồn sao được!  Tương truyền, Triệu Phán Quan dưới địa ngục, phụng mệnh Diêm Vương, đến cõi trần cho biết dương thọ của người đời còn lại bao nhiêu.                  Triệu Phán Quan ngồi bên lề đường, tay rung chuông, nói với ông A đã cáo lão về quê: “Thọ mệnh của ông chỉ còn lại ba tháng; sau ba tháng nữa, tôi sẽ vào nhà ông rung chuông, ngay khi tiếng chuông vang lên, ông sẽ theo tôi biến mất.”  Triệu Phán Quan lại rung thêm một tiếng chuông, nói với thương gia B đang qua đường: “Thọ mệnh của ông chỉ còn lại ba tháng, ba tháng nữa, tôi đến phủ của ông lắc chuông, trong tiếng chuông, ông sẽ theo tôi mà chết”.  Hai ông A, B nghe vậy, trong lòng sợ hãi, bồn chồn không yên. Từ lúc đó, A ngày nào cũng âu sầu buồn bã, nghĩ tới ba tháng còn lại của mình, ăn không xuôi, ngủ không yên. Ngày nào cũng chỉ nhìn đống tiền mình đã kiếm được mà đau khổ, tay không ngừng đếm những của cải mà cả đời mình đã vất vả tích cóp, chẳng biết nên làm thế nào!  Mặt khác, ông B nghĩ đến đời mình chỉ còn được ba tháng nữa, mới thấy cuộc đời ngắn ngủi và cay đắng biết bao, gia tài vạn quan, giúp gì mình được nữa? Thế là, ông bố thí cho mọi người, xây cầu làm đường khắp nơi, tùy duyên giúp nghèo cứu khổ, cứ bận rộn như thế, quên cả chính mình.  Đến kỳ hạn ba tháng, Triệu Phán Quan y hẹn đến nhà ông A, do ưu sầu phiền não, tâm thần không yên, ông A ngày nào đã trở thành một ông A thân thể suy nhược, mới nhìn thấy Triệu Phán Quan, thì dù chuông chưa kêu, ông đã ngã mà chết. Song ông B thì, do hành thiện bố thí, làm phúc cho quê nhà, người dân nhớ ơn ông, để tỏ lòng, họ liên tục đem hoành phi đến tặng. Chiêng trống vang trời, náo nhiệt không ngớt, vì thế, mặc cho tiếng chuông của Triệu Phán Quan rung mãi, ông B vẫn không hề nghe thấy, ông tiếp tục sống một cuộc sống tự tại, lấy việc thiện làm niềm vui.  Vì vậy, trên đường đời của con người, vui buồn được mất, tất cả là ở mình, không hề bởi người khác!  Đại sư Tinh Vân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Olympic Vật lý Hà Nội đến Olympic Bắc Kinh và xa hơn      Như thường lệ, các kỳ thi Olympic Vật lý IPhO có ba đề thi lý thuyết và hai đề thi thực nghiệm. Năm nay Việt Nam đăng cai IPhO 2008 và ra đề. Chiếc chày giã gạo bên bờ suối ở vùng núi phía bắc Việt Nam là nội dung đề lý thuyết thứ nhất. Đề thứ hai về đầu dò các hạt năng lượng cao theo hiệu ứng Cherenkov, phát minh của một Nobel vật lý người Nga. Trong đề thứ ba, thí sinh khảo sát chuyển động thẳng đứng của các túi khí trong khí quyển, qua đó đánh giá ô nhiễm khí thải từ xe máy trong giờ cao điểm giao thông ở Hà Nội. Trong hai đề thi thực hành, thí sinh dùng phương pháp nhiệt vi sai và đi ốt bán dẫn để đo nhiệt độ nóng chảy của những mẫu vật nhỏ, và hiệu suất pin mặt trời.    Thông điệp từ IPhO 2008  Không thấy sử sách ghi lại chiếc chày giã gạo dùng máng nước do ai chế ra, và xuất hiện từ khi nào. Chắc phải hàng nghìn năm trước khi Newton và Euler hoàn chỉnh cơ học cổ điển hồi thế kỷ XVII-XVIII để ta có đủ cơ sở khoa học giải thích được nó. Cổ lỗ, nhưng giải thích đâu có dễ. Chỉ cần một máng nước nhỏ đủ làm cho chiếc chày nặng vài chục kg cứ lầm lì nâng lên hạ xuống cối giữa những cánh rừng im ắng. Từ ngàn đời nay, người ta chế tác ra nó hoàn toàn theo kinh nghiệm và trực cảm. Và có lẽ IPhO 2008 là dịp để chiếc chày giã gạo được đem ra “phẫu thuật” bằng kiến thức vật lý ở bậc phổ thông.  Như một bức tranh đầy tương phản với chiếc chày giã gạo, đầu dò Cherenkov ở đề thi thứ hai nằm ngay trên mặt tiền của vật lý học hiện đại. Ánh sáng màu xanh (ai quan tâm có thể đến tham quan lò phản ứng Đà Lạt) phát ra khi các hạt tích điện chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng trong môi trường đã được ứng dụng để nhận dạng những hạt năng lượng cao, cũng chính là những tín hiệu phát ra từ cấu trúc sâu thẳm nhất của vật chất. Hiệu ứng Cherenkov không có trong chương trình phổ thông. Thí sinh IPhO 2008 và cả thầy họ hẳn chưa có dịp đến thăm các máy gia tốc cực lớn trên thế giới để nhìn thấy loại đầu dò này. Thí sinh phải vận dụng trí tưởng tượng dựa trên những kiến thức vật lý ít ỏi trong nhà trường.  Không chỉ đi tiên phong trong nhận thức cấu trúc vật chất, vật lý học còn giải quyết những vấn đề nóng bỏng và sống còn của thế giới như bảo vệ môi trường, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, và đặc biệt là chinh phục nguồn năng lượng tái tạo vô tận mà Tạo hóa đã ban cho loài người.  Với tấm pin mặt trời trên bàn thí nghiệm IPhO 2008, chỉ có 5% ánh sáng từ ngọn đèn dây tóc được chuyển hóa thành điện năng. Nhưng hiệu suất các tấm pin mặt trời trên thị trường giờ đây đã đạt đến 15%, công suất điện lớn nhất từ một nhà máy là 20 MW (ở Tây Ban Nha), sắp đến sẽ có nhà máy 200 MW theo công nghệ Israel đặt tại California ở Mỹ. Năng lượng mặt trời còn chưa cạnh tranh được với các dạng năng lượng khác, một phần vì còn thiếu chính sách khuyến khích, nhưng sẽ có vai trò ngày càng lớn để thay thế dần năng lượng hóa thạch. Với đề thi về đo hiệu suất pin mặt trời và chiếc chày giã gạo, IPhO 2008 đã phát đi một thông điệp mạnh mẽ lưu ý mọi người đến nguồn năng lượng tái tạo vô tận và thân thiện với môi trường mà hầu như chưa hề được khai thác. Chậm chân về năng lượng tái tạo chính là thiếu tầm nhìn rất tai hại trong thời buổi khủng hoảng năng lượng hiện nay.  Chính vật lý học đã khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp từ vài thế kỷ trước đây bằng những phát minh về năng lượng thay thế cho lao động cơ bắp, sức nước, sức gió và ánh sáng mặt trời dưới dạng thô sơ nhất. Nhưng con người đã quá lạm dụng nhiên liệu hóa thạch để công nghiệp hóa gây nên thảm họa môi trường và biến đổi khí hậu như hiện nay. Bài học này xem ra vẫn còn xa lạ lắm với rất nhiều người nắm trong tay tiền bạc và quyền lực.  Đây chính là thông điệp từ đề thi lý thuyết thứ ba. Thí sinh sẽ thấy các yếu tố khí tượng bất lợi như hiện tượng nghịch nhiệt ở gần mặt đất (nhiệt độ không khí tăng theo độ cao) sẽ làm tăng ô nhiễm không khí như thế nào qua thí dụ khí thải ô xít cac bon (CO) từ xe gắn máy vào một buổi sáng mùa đông ở Hà Nội. Đương nhiên, thủ phạm gây ô nhiễm không khí chính là con người. Nhưng nắm bắt được các yếu tố khí tượng bất lợi là cách tốt nhất để hạn chế tối đa tác hại do các nguồn phát ô nhiễm gây ra.    Mù trời ở Bắc Kinh và cái giá phải trả cho tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá             Ngày 2/8/08, PM10 = 15 μg/m3 (theo BBC) Hình 1     Ngày khai mạc Olympic 8/8/08, PM10 = 156 μg/m3 (theo BBC) Hình 2         Bắc Kinh ngày 10/8/08, PM10 = 278 μg/m3 (theo BBC) Hình 3            Khi đám trẻ IPhO 2008 vò đầu trước bài toán khí quyển Hà Nội, thì nhiều người lớn lại đau đầu với bầu trời mù xám ở Bắc Kinh, vì chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày khai mạc Olympic. Bắc Kinh là một trong 13 thành phố lớn có không khí ô nhiễm nhất thế giới. Với 3,3 triệu ô tô lưu hành trên đường phố, cứ mỗi ngày lại có thêm 1000 xe mới đăng ký, người Bắc Kinh chưa tìm ra cách gì khác hợp lý hơn là theo “giấc mơ Mỹ”. Tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu, mà than và dầu lại kém chất lượng (chứa nhiều lưu huỳnh) khiến cho không khí Bắc Kinh ô nhiễm nặng nề.  Nhận thấy ô nhiễm không khí là một trong những điểm yếu luôn gây tranh cãi và chống đối xung quanh việc chọn địa điểm tranh tài cho hàng chục nghìn lực sĩ hàng đầu thế giới, Bắc Kinh đã không tiếc tiền của công sức để có được những ngày trời xanh (blue skies) vào dịp Olympic. Họ đã di dời và làm sạch 200 nhà máy, đưa bốn nghìn xe buýt chạy gas vào sử dụng thay cho dầu diesel, sử dụng nguồn năng lượng địa nhiệt, cắt giảm hơn một triệu xe ô tô lưu hành trên đường phố hằng ngày dựa theo biển số chẵn lẻ, yêu cầu không được dùng củi táo, củi lê để quay vịt ở các nhà hàng… và nhiều giải pháp làm sạch môi trường khác. Tốn kém lên đến 67 tỷ nhân dân tệ. Nhưng món tiền khổng lồ này cũng chỉ mới cải thiện được 20% chất lượng không khí. Thế mới biết cái giá phải trả cho tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá là dường nào!  Nhưng trước giờ khai mạc Olympic, sân vận động Tổ Chim vẫn lờ mờ trên nền trời mù xám. Khoa học gọi hiện tượng này là “smog” hay “haze”. Tầm nhìn bị hạn chế bởi các chất ô nhiễm trong không khí được thải ra từ ống khói nhà máy và xe cộ. Thuật ngữ “smog” mới có trong tiếng Anh, được cấu thành từ hai từ fog (sương mù) và smoke (khói). Có lẽ vì thế mới xảy ra cuộc tranh luận trên các phương tiện thông tin xung quanh đề tài: fog hay smog? Jacques Rogge, Chủ tịch UB Olympic quốc tế IOC cảnh báo có thể hoãn một số môn thi đấu kéo dài như chạy marathons, nhưng ông cũng khéo trấn an mọi người bằng trò chơi chữ: “Fog” mà các bạn nhìn thấy trên bầu trời Bắc Kinh có thể do không khí quá ẩm, chứ chưa hẳn là bị ô nhiễm. Tờ nhật báo chính thức Daily China ngày 10/8, một ngày mù trời sau khi khai mạc Olympic, còn giật dòng tít trên đầu trang nhất: Haze không đồng nghĩa với chất lượng không khí tồi.  BBC phải ra tay nghiên cứu chất lượng không khí theo kiểu a ma tơ  Nhiều người vẫn nghi ngờ. Một số lực sĩ nổi tiếng hay bị dị ứng và hen suyễn đã không đến Bắc Kinh, nhường những chiếc huy chương danh giá lại cho đồng nghiệp nước khác. Đoàn cua rơ Mỹ đến sân bay với khẩu trang đen che kín mặt khiến Ban Tổ Chức phật lòng. Canada phải cử Douglas Chark, một chuyên gia khí hậu học đi theo đoàn lực sĩ mang theo những thiết bị lỉnh kỉnh để đo bốn chất ô nhiễm không khí chính. Kết quả nghiên cứu được công bố trên nhật báo Toronto Sun ngày 10/8/08: tình trạng ở Bắc Kinh giống như những ngày tồi tệ nhất ở Ontario!          Các thí sinh của đoàn Trung Quốc dự thi IPhO 39        Nhưng chơi trội, và hài hước nhất (trên quan điểm nghiên cứu khoa học), là hãng BBC. Phóng viên của họ được giao nhiệm vụ đo nồng độ bụi PM10 (bụi có kích thước dưới 10 micron = 1/100 mm) mỗi ngày một lần vài chục phút vào buổi trưa ngay từ ban công khách sạn giữa trung tâm thành phố và đưa kết quả lên mạng (http://news.bbc.co.uk/2/hi/in_pictures) cùng với ảnh chụp bầu trời phía trước. Ngày 2/8 với nồng độ bụi 15 microgam/m3 có lẽ là ngày đẹp trời hiếm thấy ở Bắc Kinh (hình 1), khác hẳn với bầu trời hôm khai mạc 8/8, khi nồng độ bụi lên đến 156 microgam/m3 (hình 2). Có được bốn con số 8 liền nhau, ngày khai mạc Olympic Bắc Kinh quả là một ngày đẹp. Hai hôm sau, nồng độ bụi tăng lên gần gấp đôi khiến cho những nhà cao tầng phía trước khách sạn của phóng viên BBC mất hút (hình 3).  Còn xa mới có thể xem cái nghề tay trái của phóng viên BBC như một khảo cứu khoa học. Nhưng dù sao anh phóng viên này vẫn có công quảng bá ra đại chúng một bằng chứng đã biết trong khoa học: mù trời ở Bắc Kinh là smog, là không khí chứa quá nhiều hạt bụi ly ty rất có hại cho sức khỏe. Năm 1952, hàng nghìn người dân Luân đôn đã chết vì mù trời do nghịch nhiệt kéo dài suốt một tuần lễ. Smog không phải là fog, sương mù màu trắng đục mà ta thường thấy như một hiện tượng thời tiết thuần túy.  Lướt Net trước những hôm khai mạc Olympic mới thấy đề thi cho đám trẻ IPhO 2008 vừa mang tính thời sự lại khá thực tiễn và hiện đại. Và cũng đủ khó để thử thách những tài năng vật lý tương lai.  Mấy điều suy ngẫm  Họ là ai? Trong số hơn 360 thí sinh IPhO 2008 từ hơn 90 quốc gia trên thế giới, chỉ có một em đạt trên 9 điểm cho đề bài thứ nhất (chày giã gạo) và bốn em cho đề bài thứ ba (khí quyển). Ba trong số năm em này là người Hoa. Trong số 46 huy chương vàng của IPhO 2008 có 16 em gốc Hoa, trong đó 5 em ở lục địa, 5 em ở Đài Loan và 11 em ở các nước khác. Hai em đạt điểm cao nhất về lý thuyết và thực hành đều là người Hoa. Những gì đã và đang xảy ra ở IPhO 2008 và Olympic Bắc Kinh, khiến ta phải tin rằng người Hoa nói chung, và Trung Quốc nói riêng, sẽ trở thành một nhân tố ngày càng quan trọng trong thế kỷ XXI. Không gì cản được họ, trừ chính họ, như điều răn thứ nhất của Phật.  Sẽ rất ngớ ngẩn nếu xem kết quả IPhO 2008 như một bản đồ thu gọn về nghiên cứu vật lý, và khoa học nói chung, trên thế giới. Với bốn huy chương vàng, người Việt Nam có thể vui, nhưng không phải vui vì nền vật lý nước nhà xếp ngang Mỹ, Ấn độ, Hàn Quốc, thậm chí còn hơn cả Nga, Pháp, Đức v.v…  Ngược lại là một nỗi buồn dai dẳng sau mấy phút vui ban đầu. Bao nhiêu huy chương vàng quốc tế về Toán, Lý, Hóa v.v… từ hàng chục năm nay giờ đây đang ở đâu? Có cơ quan nào dõi theo từng bước đi của họ, trong khi chúng ta không ngớt kêu gào hãy khuyến khích và đãi ngộ xứng đáng các nhân tài khoa học?      Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ “phải chê” sang “phải khen”      Mấy h&#244;m nay dư luận kh&#225; n&#243;ng với tin tức cuộc hội thảo lớn về vương triều Nguyễn. Người ta n&#243;i rằng hội thảo n&#224;y sẽ dẫn đến nhiều thay đổi lớn, v&#237; dụ sẽ phải viết lại Quốc sử (chỉ với đoạn sử triều Nguyễn hay tất cả c&#225;c đoạn sử Việt?), sẽ phải sửa s&#225;ch gi&#225;o khoa, v.v. &#8230;                        Thế nhưng, tỉnh táo mà nhìn, đây dẫu sao cũng chỉ là chuyện nội bộ của giới sử học trong nước, nói rõ hơn, chỉ là chuyện nội bộ của sử học miền Bắc, lâu nay vốn vận hành trong quy phạm “phải chê” triều Nguyễn, gần như tuân theo cái lệ: triều đại vừa lên bao giờ cũng chê trách triều đại vừa đổ. Thời hạn “phải chê” có thể đã hết, nên nay đã đến lúc bảo nhau nhìn lại, đánh giá khác đi, v.v…  Mọi điều gọi là “đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn”, mọi lời khuyên răn “hãy trung thực, khách quan, công bằng với chúa Nguyễn, triều Nguyễn”, rõ ràng, chỉ có ý nghĩa đối với giới sử học “tại chỗ” của ta mà thôi!  Thực vậy. Thử nghĩ mà xem: liệu có thể đem những lời khuyên răn như trên để nói với Trần Trọng Kim, tác giả “Việt Nam sử lược”? hoặc nói với Lê Thành Khôi, với Tạ Chí Đại Trường, những sử gia người Việt làm nghiên cứu ở nước ngoài? Lại nữa, tình thế sẽ ra sao nếu đem những lời khuyên răn trên đây để nói với Li Tana, với Tsuboi, những chuyên gia nước ngoài về sử Việt?        Trước đây người ta bảo nhau phân tích sao cho ra những tội lỗi, những sai quấy càng nhiều càng tốt của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; giờ đây đến lúc chỉ có khen và khen; người nghiên cứu nào có ý “chê” sẽ có nguy cơ bị tẩy chay! Một quy phạm mới hứa hẹn những nạn nhân mới! Đó đâu phải là điều đáng mừng?        Trung thực, khách quan, công bằng, − bao giờ cũng là những điều tối thiểu trong đạo đức nghề nghiệp của người làm nghiên cứu khoa học, là những điều cần được trang bị từ khi đang học hành tập tành để vào nghề nghiên cứu, là những tôn chỉ thiêng liêng luôn theo sát mọi suy tư mọi động thái trong nghiên cứu (ví dụ, mỗi khi đưa ra một từ ngữ mô tả, nhận định), chứ không phải là chuyện chỉ mới nảy ra giữa chừng đời, thậm chí cuối đời người nghiên cứu. Thành thử, những khuyên răn ấy vang lên giáo đầu cho hoạt động học thuật rầm rộ này, xem chừng lại như thú nhận những sự bất thường đã tồn tại bấy lâu.  Nhưng, điều không ít đáng quan ngại từ đây lại là khả năng hình thành một quy phạm mới thay cho quy phạm cũ, dù chỉ trên đề tài chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trước đây người ta bảo nhau phân tích sao cho ra những tội lỗi, những sai quấy càng nhiều càng tốt của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; giờ đây đến lúc chỉ có khen và khen; người nghiên cứu nào có ý “chê” sẽ có nguy cơ bị tẩy chay! Một quy phạm mới hứa hẹn những nạn nhân mới! Đó đâu phải là điều đáng mừng?  Nghiên cứu là đi vào xúc tiến nhận biết đối tượng với càng ít định kiến có sẵn càng tốt. Sự đột phá chỉ đến khi phát hiện những dữ liệu hoàn toàn mới mẻ của đối tượng nghiên cứu, hoặc khi xuất hiện những tư tưởng nghiên cứu mới mẻ trên một đối tượng cũ. Việc những đồng nghiệp đồng lòng nhất trí một thái độ mới (mà tựu trung là “khen” thay vì “chê”) trên một đối tượng nghiên cứu cũ, phải chăng đã có thể xem là sự đột phá?  Lĩnh vực trứ tác học thuật có khía cạnh tương tự lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật: đó là sự bộc lộ bản sắc, phong cách người trứ tác trên chính những tác phẩm, công trình có giá trị. Sử học cũng không nằm ngoài thông lệ ấy. Cho nên, trên những đề tài như về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn hay bất cứ đề tài nào khác, điều đáng chờ đợi là những công trình tác phẩm có giá trị mang phong cách cá nhân nhà nghiên cứu chứ không phải những cuốn sách có giọng điệu khen ngợi khẳng định na ná nhau, khiến người ta nghĩ đến dàn đồng ca, hoặc tệ hơn, đến sự lựa chọn trên sàn chứng khoán của các nhà đầu cơ “bầy đàn”!      Ý kiến của bạn?        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư pháp, tự trị địa phương, sửa đổi hiến pháp, pháp quy tối cao      “Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.     10. Nội các  […]  11. Tư pháp  “Tư pháp” là công việc xét xử tranh chấp, quyết định xem có tội hay không có tội. “Tòa án” là thứ chỉ công việc tương tự. Cho dù là ai thì cũng có quyền tiếp nhận sự phán xử công bằng để bảo vệ sinh mệnh, tự do, tài sản…của bản thân. Việc nước gọi là tư pháp này là việc rất quan trọng đối với quốc dân vì thế việc xét xử và đưa ra phán quyết công bằng là rất quan trọng.   Ở đó nhà nước có “tòa án” là nơi tiến hành công việc “tư pháp”. Tòa án khi tiến hành công việc này chỉ tuân theo pháp luật mà hiến pháp và quốc hội tạo ra và xét xử một cách công bằng theo quy định của hiến pháp. Ngoài ra không được nói ra bất cứ thứ gì khác. Thêm nữa, người có vai trò xét xử tức là “thẩm phán” không được tùy tiện quyết định.   Đây gọi là “sự độc lập của quyền tư pháp”. Để cho sự phán xử công bằng thì ai cũng có thể nghe và xem xét xử. Cũng giống như quốc hội công việc của tòa án được diễn ra trước sự chứng kiến của quốc dân. Điều này cũng được hiến pháp quy định rõ ràng.   Hiến pháp lần này có một điều thay đổi lớn cần phải nói. Đó là có thể điều tra xem pháp luật do quốc hội tạo ra có hợp với hiến pháp hay không. Nếu như cho rằng pháp luật đó trái với điều hiến pháp quy định thì việc bất tuân pháp luật đó là có thể. Vì vậy tòa án có vai trò rất lớn.   Các bạn thân mến, quốc dân chúng ta cần phải nghĩ rằng quốc hội là nơi thay mặt cho chúng ta và tin tưởng quốc hội đồng thời phải nghĩ rằng tòa án là nơi bảo vệ tự do và quyền lợi của chúng ta đồng thời tôn kính nó.   12. Tài chính  […]  13. Tự trị địa phương  Trong thời chiến tranh cái gì cũng nói “vì đất nước” vì thế việc của từng người dân đã bị tư duy rất cứng nhắc. Tuy nhiên đất nước là sự tập trung của quốc dân vì vậy từng quốc dân không tốt thì đất nước sẽ không thể tốt. Cũng giống như thế, nước Nhật Bản chia làm rất nhiều địa phương, các địa phương này nếu như không trở nên giàu có thì đất nước cũng không thể nào giàu có.   Để làm được điều đó thì từng địa phương tự mình tiến hành mọi việc là tốt nhất. Bởi vì ở địa phương đó có rất nhiều thông tin và người sống ở địa phương đó là người biết rõ nhất mọi điều. Tự mình làm những việc của mình gọi là “tự trị”. Vì vậy việc nhà nước trao quyền cho từng địa phương tiến hành tự trị được gọi là “tự trị địa phương”.   Trong Hiến pháp lần này, tự trị địa phương này được xem trọng và quy định rõ ràng. Từng địa phương trở thành một đoàn thể và tự mình tiến hành công việc của bản thân.   Thủ đô Tokyo, đạo Hokkaido, các phủ tỉnh, thành phố làng đều là các đoàn thể. Đây  được gọi là “Đoàn thể công cộng địa phương” .      Nếu như tiến hành việc nước là dân chủ thì cách tiến hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương cũng phải là dân chủ. Đoàn thể công cộng địa phương có thể nói là bộ phận của đất nước. Giống như nước có quốc hội, đoàn thể công cộng địa phương cũng có “Hội đồng ” làm đại diện cho người dân sống ở địa phương. Thống đốc điều hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương và những người có trách nhiệm quan trọng khác, cả các nghị viên của hội đồng  địa phương tất cả đều do người dân tự mình bỏ phiếu bầu ra.   Và như thế tự trị địa phương đã được quy định rõ trong Hiến pháp vì vậy pháp luật quy định công việc của một đoàn thể công cộng địa phương nào đó khi được tạo ra ở quốc hội muốn biết ý kiến của người dân ở địa phương thì tiến hành bỏ phiếu và nếu như số phiếu không quá bán thì sẽ không thể được.   Các bạn thân mến,  để yêu nước và dốc sức cho đất nước  các bạn hãy yêu địa phương mình sống và dốc sức cho địa phương mình. Hãy nghĩ rằng nếu địa phương giàu có thì đất nước cũng sẽ phồn vinh.   14. Sửa đổi  “Sửa đổi” là chỉ việc thay đổi hiến pháp. Hiến pháp như trước đó đã nói là quy tắc quan trọng nhất trong số các quy tắc của đất nước vì vậy thủ tục sửa đổi nó phải hết sức nghiêm cẩn.      Vì vậy, trong Hiến pháp lần này quy định khi sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể làm được mà quốc dân phải bỏ phiếu tán thành hay phản đối.   Trước hết là một viện của quốc hội có trên 2/3 số nghị viện tán thành thì sẽ quyết định thay đổi Hiến pháp. Đây gọi là “đề xuất” sửa đổi Hiến pháp. Sau đó thông báo cho quốc dân biết và quốc dân tiến hành bỏ phiếu tán thành hay phản đối. Khi trên một nửa tổng số phiếu tán thành thì có nghĩa là việc sửa đổi Hiến pháp đã được quốc dân đồng ý. Đây gọi là sự “thừa nhận” của quốc dân. Sự sửa đổi được quốc dân thừa nhận sẽ được công bố dưới tên Thiên hoàng. Đây gọi là sự “công bố”.   Hiến pháp mới do quốc dân tạo ra là của quốc dân vì vậy khi công bố cũng phải dưới danh nghĩa của quốc dân.   15. Pháp quy tối cao  Giống như đã nói ở phần đầu tiên của cuộc trò chuyện này, “Pháp quy tối cao” là quy tắc có vị trí cao nhất nước tức là Hiến pháp. Trong Hiến pháp này với tư cách  là pháp quy tối cao đã nói về hai nội dung là quy tắc quyết định cách tiến hành việc nước và quy tắc quy định các quyền con người cơ bản của quốc dân. Trong đó các quyền con người cơ bản của quốc dân do từ trước đến nay bị tư duy rất cứng nhắc vì vậy Điều 9 của Hiến pháp đã ghi rất nghiêm trang rằng các quyền con người cơ bản này là thứ con người có được sau thời gian dài nỗ lực, được thử thách qua rất nhiều  sự việc và nó là quyền vĩnh viễn không thể xâm phạm.   Hiến pháp này là pháp quy tối cao  vì vậy những gì trái với những điều được quy định bởi Hiến pháp này cho dù là pháp luật hay mệnh lệnh đều không có hiệu lực với tư cách là quy tắc. Điều này được Hiến pháp quy định rõ.  Cả Thiên hoàng, bộ trưởng, nghị viên quốc hội, thẩm phán tất cả đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp này. Thêm nữa, Nhật Bản cũng phải tuân theo cả giao ước giữa Nhật Bản và các nước khác (gọi là “điều ước”), cả các quy tắc về giao lưu giữa các nước (gọi là “pháp quy quốc tế”) và điều này cũng được Hiến pháp quy định.   Các bạn thân mến, Hiến pháp mới là hiến pháp do quốc dân Nhật Bản tạo ra và là hiến pháp của quốc dân. Từ giờ về sau các bạn hãy tuân theo Hiến pháp và làm cho nước Nhật Bản phồn vinh.     Người dịch: Nguyễn Quốc Vương (Khoa Lịch sử ĐH Sư phạm Hà Nội)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ tăng giá xăng dầu tới bán nhà tính theo giá vàng: Lạm bàn về văn hóa ứng xử của người làm quan      Bạn sẽ nghĩ gì, khi quan chức Chính phủ vừa ráo hoảnh trấn an báo giới sẽ không tăng giá xăng, vừa bí mật chuẩn bị quyết định cho phép đột ngột tăng giá xăng 15%, có hiệu lực tức thì ngay vào thời điểm văn bản này được kí.        Tháng năm, bằng một quyết định hành chính bất ngờ, xăng dầu được phép tăng giá. Ở những xứ đã hội nhập sâu vào chợ toàn cầu giá xăng trôi nổi từng giờ theo những biến động ở Trung Đông là điều chẳng mấy khó hiểu. Ở nước ta, việc tăng giá xăng dầu vì những sức ép của thị trường cũng khó mà cưỡng lại được, song điều đáng bàn là thái độ của những người giữ quyền cho phép tăng giá xăng. Quyết định tăng giá được giữ bí mật đến tận phút chót, khi tiếp xúc với báo giới vài ngày trước đó, người ta vẫn thường xuyên loan tin sẽ tìm mọi cách để bình ổn giá cả, kể cả vay ngoại tệ nước ngoài để hỗ trợ bù lỗ cho doanh nghiệp nhập xăng.   Cùng với giá xăng, cước phí vận tải, giá nguyên liệu cũng rục rịch tăng nhanh. Hàng triệu người tiêu dùng, hàng vạn doanh nghiệp kinh doanh vận tải và sản xuất, chế biến, ngày qua ngày mới kịp ngấm dần tác động của việc tăng giá. Những lí lẽ kiểu như “thị trường của nước ta còn rất sơ khai, người dân và doanh nghiệp hay đầu cơ để kiếm lời, nên cực chẳng đã quan chức nhà nước mới phải bí mật giữ kín chuyện tăng giá xăng” liệu có thể còn chấp nhận được chăng trong một thời đại mà người dân mong chờ vào một nền hành chính với những chính sách minh bạch, dễ tiên liệu và dự đoán được?            Một Chính phủ mà công sở của mình chưa tin vào bản tệ thì làm sao có thể giáo dục nhân dân tự trọng và yêu lấy đồng tiền, yêu lấy quốc gia của mình.               Nhà nước là một khái niệm rất xa vời, người dân chỉ có thể cảm nhận được nhà nước qua cách ứng xử của nhân viên công lực, bắt đầu bằng người gác cổng, cô cán bộ hộ tịch cấp phường, cho tới viên cảnh sát giao thông trên đường hay quan chức nơi công sở. Những lời hỏi đáp có thưa gửi trân trọng với từng người dân, những sơ đồ, tờ rơi chỉ dẫn dễ hiểu các quy trình hành chính và quyền của người dân góp phần tạo nên một văn hóa tử tế của công chức. Đặc biệt, khi tiếp xúc với báo giới, công chức càng phải được đào luyện kĩ càng, bởi một thông tin báo chí sẽ gây dư luận trong hàng triệu người nghe. Bạn sẽ nghĩ gì, khi quan chức Chính phủ vừa ráo hoảnh trấn an báo giới sẽ không tăng giá xăng, vừa bí mật chuẩn bị quyết định cho phép đột ngột tăng giá xăng 15%, có hiệu lực tức thì ngay vào thời điểm văn bản này được kí.   Tháng năm, giá vàng cũng tăng cao, mỗi ngày phá một kỉ lục. Những người dân bị giải tỏa mặt bằng đã nhường mái ấm của mình cho những công trình công cộng, đã được mua nhà tái định cư, nay đứng ngồi không yên bởi hợp đồng bán nhà được các công ty quốc doanh soạn sẵn, tính giá nhà bằng vàng cho chắc chắn. Điều ấy cũng đúng với những người được mua nhà của nhà nước theo những chính sách thanh lí khác. Vàng tăng giá, làm cho giá mua nhà tăng vọt vượt quá khả năng của dân nghèo. Người ta lại hỏi, tại sao nhà nước khi lấy đất của dân thì đền bù bằng tiền đồng Việt Nam, song khi bán nhà cho dân thì lại chắc lép tính giá bán nhà bằng vàng cho đỡ rủi ro?  Cách hành xử ấy liệu có phù hợp chăng với một nhà nước có chức năng che chở, bảo hộ người dân? Trước một chính quyền có cảnh sát, súng đạn, nhà giam; từng người dân quả thực vô cùng mỏng manh và yếu ớt. Bởi vậy, ở đâu người ta cũng gắng hạn chế công lực và bảo vệ dân quyền. Dưới sức ép của công luận, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đã tạm đình chỉ việc bán nhà tái định cư cho dân tính giá bằng vàng. Điều ấy đáng hoan nghênh, song chưa thật triệt để. Cần phải tìm mọi cách cản trở cơ quan nhà nước chỉ giành lấy phần thuận lợi về mình và làm khó dễ cho dân. Một Chính phủ mà công sở của mình chưa tin vào bản tệ thì làm sao có thể giáo dục nhân dân tự trọng và yêu lấy đồng tiền, yêu lấy quốc gia của mình. Lại một lần nữa gióng lên những tiếng chuông kìm chế sự lạm quyền của công lực và thúc đẩy nhận thức “người dân được phép làm tất cả những gì pháp luật không cấm, còn cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì pháp luật cho phép mà thôi”.  Tháng năm, đêm thì đã ngắn lại thêm thiếu ngủ vì nhật báo Nam Hàn đưa tin hoàng tử xứ này đi mua vợ Việt Nam. Lại nữa, một cô gái Việt được chào bán như món hàng trên chợ Mã Lai. Nhà nước có trách nhiệm gì trước danh dự và nhân phẩm của con người, mà trên hết là quyền được sống, quyền được tự do sở hữu, tự do phát triển nhân cách? Người ta nói 34 tỉnh thành đã phá rào, mời gọi đầu tư mà vi phạm pháp luật quốc gia, 17 trong số đó đã được Trung ương nhắc nhở, khiển trách. Có người lo trong cuộc chạy đua xuống đáy, anh em sẽ tự dìm nhau, có hại cho lợi ích quốc gia. Điều ấy có thể đúng, song theo thiển nghĩ của tôi là một dấu hiệu tốt cho trách nhiệm của quan chức địa phương. Làm quan liệu có hãnh diện gì, nếu còn có người dân cùng cực và buộc phải bán mình rẻ mạt?      Phạm Duy Nghĩa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ thảm nạn tàu cao tốc Tây Ban Nha, nghĩ về Việt Nam      Camera đường sắt đặt cách nhà ga thành phố  Pilgerstadt Santiago de Compostela, Tây Ban Nha 4 km, đã ghi lại toàn bộ  vụ tai nạn thảm khốc sáng 26/7.     Đoàn tàu cao tốc loại Alvia số 04155 của Renfe – hãng đường sắt quốc gia Tây Ban Nha, hộc tốc chạy vào đường cua gấp, lúc 20 giờ 41 phút tới điểm dưới một chiếc cầu vượt, thì bật ra khỏi đường ray, đập vào tường chắn bê tông nhào lộn tan tành. Trong khoảnh khắc ba giây khói bụi mù trời như một đoạn phim kinh dị viễn tưởng. 78 người chết tại chỗ, 178 người bị thương, trong đó 32 người nguy hiểm tính mạng. Không một toa xe nào còn trên đường ray. Đầu tàu bắn sóng soài ra mặt đường, may mặt chính diện còn nguyên, nhờ thế tài xế tàu thoát chết chỉ bị thương nhẹ, điện báo ngay cho cấp trên. Bốn toa tiếp nó kéo nhau lộn nhào xuống vũng trũng cạnh đó. Một toa giữa đâm qua cả tường bao kỹ thuật cao 10 m, rơi rầm xuống sát vườn của một khu dân nhiều chung cư. Các toa cuối va vào đoạn tường bê tông bao, rồi đâm liên hoàn vào nhau cong queo, tới mức lực lượng cứu hộ phải sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật hàng giờ mới mở được lối vào trong toa để cứu hộ.       Vụ tai nạn chấn động Tây Ban Nha, chính quyền phải tập trung cùng lúc vừa cứu hộ vừa điều tra nguyên nhân. Ngay sau đó, Bộ Nội vụ đã loại trừ được lý do khủng bố. Ngày tiếp theo, tài xế tàu bị câu lưu thẩm vấn, thừa nhận tàu vào cua chạy tốc độ 190 km/giờ, qúa gấp đôi giới hạn quy định 80 km/giờ, mặc dù tín hiệu đã báo cho lái tàu cách đó 4 km, tức trước 75 giây. Vậy là đoàn tàu cao tốc non 200 km/giờ đã đặt cược hàng trăm tính mạng vào cá nhân người lái tầu, vốn thần thánh mấy cũng không thể tuyệt đối chắc chắn. Đây chính là lỗi, chưa đủ kỹ thuật an toàn để làm chủ rủi ro ở cấp độ chết người hàng loạt, mà bao quốc gia, kể cả cường quốc từng phải trả giá đắt.              Hệ thống an toàn ERTMS:      – Tại những cung đường tốc độ giới hạn trong khoảng dưới  160 km/giờ, trước đó 1 km hệ thống ERTMS sẽ báo tín hiệu cho lái tàu  biết tốc độ được phép. Nếu tốc độ tàu vượt quá, thiết bị từ trường sẽ  hoạt động, tàu bị phanh cưỡng bức, không phụ thuộc lái tầu.    – Tại những cung đường tốc độ trên 160 km, tốc độ tàu sẽ  được tự động điều khiển, không phụ thuộc lái tầu, ngoài trừ trường hợp  nhiễu. Lúc đó lái tàu có thể tắt hệ thống điểu khiển tốc độ tự động.    – Hệ thống tự động phanh, dùng để kiểm tra xem lái tàu  làm chủ được vận tốc trong toàn bộ chuyến đi hay không? Theo đó, cứ 30  giây lái tàu phải ấn nút kiểm tra một lần hoặc giữ chân ở pê đan, nguyên  lý như giữ chân ga ô tô, không chấp hành sẽ nhận ngay tín hiệu cảnh  báo. Nếu để quá 30 giây bất chấp cả tín hiệu cảnh báo, tàu sẽ bị phanh  cưỡng bức lập tức.        Tuyến đường sắt xảy ra thảm nạn trên chỉ được trang bị hệ thống ASFA cho tàu nhanh loại Alvia Tây Ban Nha chứ không được trang bị hệ thống an toàn ERTMS châu Âu như ở các tuyến đường sắt cao tốc khác. Hệ thống này chỉ tác dụng đối với tốc độ trên 200 km/giờ, dưới mức đó do lái tàu tự xử lý. Trong thảm nạn trên, ASFA đã tự động phát tín hiệu nhắc nhở tốc độ giới hạn 80 km/giờ. Theo quy phạm, tài xế phải lập tức ấn nút tiếp nhận, đồng thời phanh ngay. Câu hỏi truy nguyên tất được đặt ra, tại sao lái tàu đã không phanh hoặc phanh không kịp thời? Dù câu trả lời thế nào thì vẫn là lỗi con người, nghĩa là không thể bảo đảm tuyệt đối.       Thảm nạn tàu hoả lớn nhất lịch sử Tây Ban Nha xảy ra năm 1944 cũng tại tuyến đường trên làm thiệt mạng tới 500 người. Đã là thảm nạn thì không chỉ liên quan tới vấn đề tìm kiếm nguyên nhân mất an toàn phải giải quyết tiếp đó, mà chấn động cả chính trị kinh tế và xã hội nếu năng lực quốc gia không tương thích, sẽ bất ổn theo. Vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, Liên Xô, ngày 26.4.1986 là điển hình, di lụy đến tận ngày nay. Vụ thảm hoạ tàu hoả Tây Ban Nha năm 1944, chế độ độc tài lúc đó lo sợ dân chúng lên án đã đối phó bằng cách giữ bí mật tuyệt đối. Ai chết thiệt thân, dân chúng không hề biết. Nhà nước không hề quan tâm bởi toàn bộ sức mạnh nhà nước đã dồn hết vào củng cố quyền lực.      Thế giới hiện đại hoàn toàn khác, thảm nạn tàu hoả lớn thứ hai Tây Ban Nha lần này chấn động cả nước họ, thu hút quốc tế quan tâm. Dân chúng sống ở đó lao tới hiện trường cứu hộ người bị nạn cùng lực lượng chuyên nghiệp với mọi trang thiết bị hiện đại; hai cần cẩu khủng nâng từng toa tàu một được nhanh chóng đưa đến giải phóng hiện trường; hàng trăm người tình nguyện hiến máu cho nạn nhân tới bệnh viện chờ chật ních khi chính quyền phát đi lời kêu gọi.       Về chính trị và hành chính. Nguyên thủ nhiều quốc gia gửi điện chia buồn. Nhà Vua đến bệnh viện thăm hỏi từng nạn nhân, gửi thông điệp đến toàn dân, kêu gọi đoàn kết trước nỗi đau chung của dân tộc và hy vọng thảm nạn sẽ buộc nước họ phải giải quyết được tồn tại cấp bách hiện nay của hệ thống đường sắt quốc gia. Thủ tướng trực tiếp tới hiện trường chỉ đạo, ban hành lệnh quốc tang ba ngày tưởng niệm người tử nạn, chính quyền tự trị điạ phương kéo dài lệnh quốc tang tới một tuần, đình chỉ mọi hoạt động hội hè truyền thống dù khâu chuẩn bị đã hoàn tất.       Về kinh tế, theo quy phạm EU, hành khách có quyền trong vòng hai tuần lễ đòi bồi thường thiệt mạng 21.000 Euro/người, ở Tây Ban Nha do hãng Allianz ký hợp bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tới 36.000 Euro/người, chỉ tính cho 78 người chết tại chỗ đã mất gần 3 triệu Euro, chưa kể bồi thường người bị thương. Bồi thường tài sản trị giá toàn đoàn tầu, cộng doanh thu bị mất, tính cho một đoàn tàu cao tốc chừng 20 toa, lên cỡ nửa tỷ Euro (thu ngân sách nước ta chỉ dăm tỷ Euro/năm). Liên quan tới kinh tế đối ngoại, thảm nạn tàu cao tốc lần này có thể phá vỡ hợp đồng hàng tỷ Euro giữa Renfe Tây Ban Nha với Saudi-Arabien xây dựng tuyến đường tàu cao tốc giữa Mekka và Medina. Renfe cũng thuộc doanh nghiệp tranh thầu lợi thế nhất hợp đồng tới 12 tỷ Euro xây dựng đường sắt cao tốc ở Brasilien, tuyến Rio de Janeiro nối São Paulo. Tuy nhiên điều kiện Brasilien đặt ra là doanh nghiệp tranh thầu trong vòng năm năm qua không xảy ra tai nạn nào. Thảm nạn này có thể đặt dấu chấm hết cho vụ tranh thầu phần thắng tưởng đã không thể trượt này.      Liệu tiềm lực kinh tế, chính trị, ý thức công dân và hệ thống hành chính nước ta hiện tại có chịu đựng nổi khi xảy ra thảm nạn tàu cao tốc như ở Pilgerstadt Tây Ban Nha vừa qua. Mặc dù tàu cao tốc là đỉnh cao khoa học kỹ thuật giao thông, quốc gia nào chẳng hướng tới? Câu hỏi này không thể không trả lời một khi dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam lại được đặt ra!            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự tử và trách nhiệm của truyền thông      Cách đây chưa lâu, sự kiện ca sĩ Sơn Tùng M-TP bị phạt 70 triệu đồng và phải tiêu hủy toàn bộ bản ghi MV “There’s no one at all” đã gây ra khá nhiều tranh cãi cả trước và sau quyết định của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch. Tuy số phận của MV này đã được xác định, câu chuyện này có thể vẫn chưa kết thúc, hay đúng hơn, đây là sự mở đầu tốt để người làm việc trong lĩnh vực truyền thông giải trí đưa những đánh giá thấu đáo hơn về vai trò của họ trước một vấn nạn đang gây nhức nhối trên toàn thế giới: tự tử.    Ảnh: self.com  Con số cập nhật nhất trên trang web của tổ chức y tế thế giới (6/2021) cho thấy mỗi ngày, có 700.000 người chết vì tự tử trên khắp toàn cầu, trong đó 77% số lượng tử vong vì tự tử nằm ở các nước thu nhập trung bình và thấp. Đáng chú ý, tự tử là lý do lớn nhất gây ra tử vong ở độ tuổi từ 15-19. Những thông tin đáng giật mình này có lẽ khiến cho chúng ta phải tự hỏi điều gì khiến nhiều người lựa chọn tự kết thúc sinh mạng của họ đến vậy?  Có nhiều hơn một lý do đẩy con người đến quyết định bi kịch này. Đó có thể là hệ quả của các chứng bệnh tâm thần hoặc lạm dụng chất kích thích khiến một cá nhân không làm chủ được hành vi, hoặc không thể suy nghĩ thấu đáo. Đó có thể là phản ứng cực đoan trước biến cố bất hạnh của cuộc đời. Đó có thể là hành động của những người đã phải chịu sự bỏ bê, ngược đãi, hay bạo hành. Nhưng trong rất nhiều yếu tố có thể trực tiếp gây ra, hoặc gia tăng khả năng của hành động tự tử, không thể không kể đến sự tiếp xúc với các câu chuyện về tự tử trên truyền thông.  Trong vài thập kỉ qua, có không ít ví dụ cho thấy sau khi một ngôi sao tự kết thúc cuộc đời mình, một số người hâm mộ của họ cũng sẽ bắt chước làm theo. Một nghiên cứu của các giáo sư Đại học Yonsei, Hàn Quốc, thực hiện năm 2015 cho thấy cái chết do tự tử của những người nổi tiếng ở nước này gây tác động tiêu cực lên khán giả và gây gia tăng tỉ lệ tự tử trong một thời gian ngắn, đặc biệt là ở nhóm người có cùng độ tuổi và giới tính. Không chỉ thế, nhóm người còn có khả năng sẽ chọn kết thúc cuộc đời theo cùng một phương pháp với ngôi sao đó.  Chính vì thế, không ít nhà phê bình đã khẳng định rằng truyền thông phải nhận trách nhiệm trong việc gây ra nhiều vụ tự tử hơn trong xã hội. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “tự tử bắt chước” (copycat suicide) hay “hiệu ứng Werther”. Khái niệm hiệu ứng Werther được hình thành từ một sự kiện có thật trong lịch sử, đó là tỉ lệ tự tử của thanh niên Đức tăng đột biến sau khi cuốn sách của đại thi hào Goethe, “Nỗi buồn của chàng Werther”, xuất bản.  Nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia chỉ ra rằng việc đọc hoặc xem các tin tức về cái chết do tự tử sẽ tăng khả năng thực hiện hành vi tự tử ở các nhóm vốn đã sẵn nguy cơ. Trong thời đại bùng nổ của truyền thông, khi các cá nhân có khả năng tình cờ nhìn thấy các tin tức như vậy trên báo chí chính thống hay mạng xã hội nhiều hơn, vấn đề này còn nghiêm trọng hơn nữa.  Với các bậc phụ huynh, hiện tượng này có thể là một cơn ác mộng. Ở độ tuổi mới lớn, khi băn khoăn, bất an là cảm giác thường trực của con trẻ, khi sự hâm mộ cuồng nhiệt đôi khi có phần thái quá một thần tượng trở thành một phần của đời sống tâm lý lứa tuổi, trẻ vị thành niên là đối tượng dễ bị các tin tức tiêu cực này tác động hơn cả. Đó chính là lý do mà nhà sản xuất loạt phim nhắm đến khán giả mới lớn 13 Reasons Why (13 lý do tại sao) đã phải cắt bớt đi hơn 10 phút phim miêu tả cảnh tự tử của nhân vật chính sau khi nhận được sự chỉ trích gay gắt từ khán giả.  Nhưng, nếu quả thực là như thế, liệu có phải cứ cấm truyền thông đưa tin về các vụ tự tử đi là xong? Sự thật phức tạp hơn thế nhiều. Truyền thông, trên thực tế, có thể tạo ra những thay đổi tích cực.  Một trong những vai trò của truyền thông, bên cạnh việc đưa tin, là có thể bình thường hóa những vấn đề vẫn bị coi là những cấm kị trong xã hội. Tự tử có thể là một hành động cực đoan, nhưng nó chỉ là bề nổi của rất nhiều vấn đề khác vốn vẫn chịu sự kỳ thị xã hội như bệnh tâm thần, hay chưa được quan tâm thỏa đáng như bạo hành gia đình hay học đường. Việc xuất hiện những sản phẩm truyền thông bàn sâu hơn về những sự kiện, diễn tiến trước hành động tự tử của một cá nhân sẽ giúp khán giả hiểu rõ hơn về các nguyên nhân của lựa chọn này. Những người đang phải sống chung với các chứng bệnh tâm thần và hoàn cảnh bất hạnh có thể có được an ủi khi thấy những vấn đề mình phải đối mặt được nhìn nhận, thấy hiểu. Và có thể nhờ vậy họ sẽ dám lên tiếng để tìm sự giúp đỡ.  Bản thân hành động tự tử cũng là đối tượng của sự kì thị hoặc bị coi là nỗi ô nhục của gia đình, người thân. Người tự tử cũng thường bị coi là những người ích kỷ, kém cỏi, thất bại. Truyền thông, bao gồm cả báo chí và truyền thông giải trí, sáng tạo, đều góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề này, thúc đẩy khán giả tìm hiểu sâu hơn về những yếu tố là nguyên nhân hoặc làm gia tăng nguy cơ tự tử. Truyền thông giúp có người ý định chọn tự tử là lối thoát nhận được cái nhìn cảm thông hơn, và cũng giúp các gia đình đã từng phải đối mặt với nó, hoặc đang phải chăm sóc một người có ý định tự tử vượt qua nỗi sợ thành kiến xã hội.  Không chỉ vậy, các tổ chức hoạt động nhằm giảm bớt tỉ lệ tự tử thường nhắc đến hiệu ứng Pagageno. Khái niệm này được lấy cảm hứng từ câu chuyện của chàng Pagageno – một nhân vật trong vở opera Cây sáo thần của nhạc sĩ Mozart. Trong vở opera, Pagageno mất đi tình yêu và tưởng rằng chết là cách duy nhất giúp chàng giải thoát bản thân khỏi nỗi đau. Tuy nhiên, đã có ba nhân vật khác xuất hiện và chỉ cho chàng những cách giải quyết khác, giúp chàng vượt qua cảm xúc tuyệt vọng và tìm lại khao khát sống. Các chuyên gia cho rằng, truyền thông có thể chính là một nhân vật cứu rỗi như vậy. Họ có thể mang đến cho những người trên bờ tuyệt vọng cơ hội nhìn nhận lại hoàn cảnh, cân nhắc các lựa chọn và chọn vượt qua nỗi đau khổ bằng cách tiếp tục sống.  Câu hỏi lớn nhất ở đây là? Vậy thì làm sao để biết được truyền thông có thể gây ra hệ quả nào khi họ bàn về tự tử. Trên thực tế, các chính phủ, tổ chức, hiệp hội truyền thông trên khắp thế giới đã bàn về vấn đề này nhiều năm trước. Tổ chức Y tế thế giới WHO đã xuất bản một cuốn cẩm nang cho những người làm việc trong mảng truyền thông nghe nhìn để có thể giảm thiểu tác động tiêu cực và thúc đẩy tác động tích cực lên khán giả khi bàn về tự tử.  Lời khuyên của các chuyên gia WHO nhấn mạnh vào yếu tố nhận thức và trách nhiệm của người viết. Cụ thể, để có thể góp phần cải thiện vấn nạn này, những người hoạt động lĩnh vực truyền thông cần đảm bảo cung cấp thông tin chính xác về những tổ chức, địa điểm có thể hỗ trợ người có nguy cơ tự tử cao, giáo dục khán giả về những vấn đề liên quan đến tự tử và cách phòng tránh, đưa ra những lời khuyên và giải pháp để đối mặt với biến động của cuộc sống. Bên cạnh đó, khi đưa tin hay bàn luận về những ca tự tử cụ thể, cần cân nhắc sử dụng từ ngữ thích hợp để tránh lãng mạn hay bình thường hóa hành động này, tránh đưa lại hình ảnh, đoạn phim của sự việc, và không dùng từ khóa tự tử với diễn đạt giật gân, tránh miêu tả phương pháp hay địa điểm. Khi nói về các vụ tự tử, tác giả của sản phẩm truyền thông cũng cần có trách nhiệm đưa ra những giải pháp tích cực hơn. Bên cạnh đó, họ cũng nên ý thức rằng chính họ, những người đưa tin hay sáng tạo nội dung liên quan đến tự tử cũng có thể bị tác động vì vấn đề này.  Nói một cách ngắn gọn, truyền thông đúng là có trách nhiệm với vấn đề tự tử. Cái chính là từng cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này, những tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội và cả hệ thống luật pháp quốc gia cho thấy họ đang nỗ lực về điều gì. Câu chuyện của Sơn Tùng M-TP và video của anh có thể sẽ có lúc rơi vào quên lãng, nhưng mỗi ngày, truyền thông Việt Nam vẫn sẽ bàn về tự tử, hoặc trong đời thật, hoặc trong thế giới hư cấu theo các cách khác nhau. Liệu có phải đã đến lúc chúng ta cần phải có một cuốn cẩm nang hoặc có thể là bộ nguyên tắc chi tiết về cho người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông ở nước mình.□  ——–  Tác giả: Giảng viên ngành Quan hệ Công chúng – Quản trị Công nghệ Truyền thông, Đại học Hoa Sen.    Author                Lê Vũ Phương Thủy        
__label__tiasang Tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục      Trong x&#226;y dựng hiện đại, người ta thiết kế c&#244;ng tr&#236;nh theo &#8220;Đề b&#224;i&#8221;, tức l&#224; theo tư tưởng chỉ đạo. Vậy c&#225;i &#8220;Đề b&#224;i&#8221; ra cho việc thiết kế &#8220;Chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục&#8221; l&#224; g&#236;?     1. Stalin mời ba nhà khoa học đến, giao nhiệm vụ: Làm bom nguyên tử.  Việc của Stalin thế là xong. Các nhà khoa học bằng nghiệp vụ của mình thực thi nhiệm vụ được giao.  Mỗi việc có tầm cỡ quốc gia có hai mặt: mặt xã hội – chính trị và mặt nghiệp vụ thực thi. Lưu ý rằng nhiệm vụ xã hội – chính trị là bất khả kháng, nghĩa là khả thi. Marx nói rằng, một khi lịch sử đã đề ra một nhiệm vụ thì trong thực tiễn cuộc sống đã có điều kiện vật chất để thực thi.  Giáo dục là một sự nghiệp có tầm cỡ quốc gia. Ngày nay, tất cả 100% dân cư đều được học, thì Nghiệp vụ sư phạm phải tìm cách thực thi, đảm bảo ai cũng học được, học gì được nấy, học đâu chắc đấy.  Ai cũng được học, ví như phải làm bom nguyên tử.  Ai cũng học được, ví như bom nguyên tử đã nổ thử.  Chiến lược phát triển giáo dục, thực ra, chỉ có vậy thôi về chữ nghĩa, nhưng để làm thật thì cũng phải nói dài dài ra, nói rành rọt: Giáo dục là gì? Thế nào là phát triển? Phát triển đến mức nào (có thể cân đo đong đếm), trong bao lâu? Bằng sức mạnh vật chất nào để tạo ra sự phát triển ấy?  2. Stalin giao việc làm bom nguyên tử cho ba nhà khoa học, sao không giao cho Bộ trưởng quốc phòng hay Cục trưởng quân giới, những người giàu kinh nghiệm làm bom thường, đã từng góp công lớn vào Chiến thắng chống phát xít trong Đại chiến vừa kết thúc?  Stalin biết, trí khôn có được từ tổng kết kinh nghiệm làm hàng triệu quả bom thường không có nghiệp vụ làm ra bom nguyên tử. Hai nghiệp vụ ở hai tầm nguyên lý cao thấp hơn nhau, như ở quê ta, hàng vạn cây tre tất cả đều lẹt đẹt dưới tầm cao một cây đa làng. Cuộc cải cách giáo dục năm 1981 làm theo cách tổng kết kinh nghiệm các đơn vị tiên tiến, không có tư tưởng mới vượt khỏi tầm quá khứ, thì thành công sao được!  Trong xây dựng hiện đại, người ta thiết kế công trình theo “Đề bài”, tức là theo tư tưởng chỉ đạo. Vậy cái “Đề bài” ra cho việc thiết kế “Chiến lược phát triển giáo dục” là gì? Nhân thể xin nói, dùng chữ “phát triển” là đúng rồi. Phát triển, chứ không phải “cải cách”, không phải “đổi mới”, cũng không phải “chấn hưng”…   Một trình độ phát triển được “định nghĩa” bằng cái mới, lần đầu tiên có. Quả là cái mới của cây. Quả phát triển từ một hoa chứ không nhờ “tổng kết kinh nghiệm” từ các hoa “tiên tiến” nhất… Ở quả không thấy “hình hài” của hoa, không phỏng theo hoa. Quả kế thừa hoa bằng phương thức phát triển.  3. Tư tưởng chiến lược cơ bản của Stalin là từ bom thường chuyển sang bom nguyên tử.  Tư tưởng chiến lược cơ bản của Đảng ta là từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  Từ năm 1978, chúng tôi nói ra rành rẽ:  Hướng đi: Hiện đại hoá nền giáo dục.  Cách làm: Công nghệ hoá quá trình giáo dục.  Trong suốt 30 năm qua, đi theo Hướng đi đó, làm theo Cách làm đó, chúng tôi hình thành một Hệ thống tư tưởng về nền giáo dục mới và dần dần định hình Công nghệ giáo dục.  Nền sản xuất vật chất đã công nghệ hoá quá trình sản xuất để làm ra sản phẩm tất yếu, từ thế kỷ XVIII, đến cuối thế kỷ XX đã tiến lên sản xuất bằng công nghệ cao, vậy là lịch sử hiện thực với nền sản xuất bằng công nghệ cao đã chuẩn bị sẵn cơ sở vật chất và một mẫu mực về cách làm cho nền giáo dục hiện đại.  Nền giáo dục và nền sản xuất vật chất cùng một dòng máu huyết thống từ Mẹ lịch sử hiện thực. Cũng từ Mẹ lịch sử sinh ra Tư tưởng chiến lược cơ bản của giáo dục.  4. Nền sản xuất vật chất hiện đại gợi ý cho Tư duy giáo dục hiện đại điều mấu chốt nhất như trao cho cái “chìa khoá” mở ra cho thấy mối quan hệ Quá trình / Sản phẩm: Một quá trình được tổ chức và kiểm soát để làm ra sản phẩm tất yếu.  Có trong tay một sức mạnh vật chất thì mới dám nói chuyện tư tưởng một cách chân thành và trung thực.  Sản phẩm cơ bản nhất và cuối cùng của một nền giáo dục là Học sinh. Toàn bộ sự nghiệp giáo dục chỉ vì một nhân vật – Học sinh. Nói dài dài ra: Lẽ sống và Sức sống của một nền giáo dục hiện thân ở Học sinh. Tư duy giáo dục hiện đại lấy Học sinh làm chuẩn, lấy Học sinh làm trung tâm, lấy Học sinh làm căn cứ cho tất cả các hoạt động giáo dục của Người lớn, nghĩa là phải giả định rằng Học sinh luôn luôn đúng! Nếu Học sinh chấp nhận thì may ra nền giáo dục ấy đúng. Nếu Học sinh không chấp nhận, thì chắc chắn đó là một nền giáo dục sai lầm.  Hưởng một nền giáo dục đúng thì Đi học là hạnh phúc! Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui! (Năm 1978, lần đầu tiên nói ra: Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày hội!). Sức mạnh vật chất tạo ra niềm vui và hạnh phúc đi học lấy từ Sản phẩm giáo dục do mỗi Học sinh tự làm ra cho chính mình.  5. Sản phẩm giáo dục lấy giá trị của mình làm năng lượng vật chất cấp cho sự phát triển tự nhiên của cá nhân học sinh (giá trị này không làm tăng thêm giá trị cho xã hội). Để có giá trị mới, sản phẩm giáo dục phải là cái mới, chưa hề có. Chuỗi các cái mới này (sản phẩm giáo dục) tự nó có năng lực phát triển theo lôgic nội tại của chính mình, nhờ vậy có thể làm cốt lõi vật chất cho sự phát triển tự nhiên của Học sinh.            Sản phẩm giáo dục về Khoa học tạo ra sự phát triển lý trí, nhận thức, tư duy.  Sản phẩm giáo dục về Nghệ thuật tạo ra sự đa dạng, sự tinh tế và sâu sắc về tình cảm.  Sản phẩm giáo dục về Lối sống tạo ra ý chí (sức mạnh của đạo đức).  Lý trí / Tình cảm / Đạo đức như các hệ cơ bắp, tuần hoàn, não bộ của một cơ thể sống.          Học sinh hiện đại là một thực thể tinh thần, sinh ra, lớn lên, phát triển trong Phạm trù cá nhân, nên sản phẩm giáo dục của ai tạo ra sự phát triển của chính cá nhân ấy.  Sự phát triển của Thực thể tinh thần diễn ra trong ba lĩnh vực tinh thần (theo Hegel): Khoa học / Nghệ thuật / Tôn giáo, mà trong nền giáo dục phi tôn giáo là ba lĩnh vực Khoa học / Nghệ thuật / Lối sống (với cốt lõi là đạo đức).  Sản phẩm giáo dục về Khoa học tạo ra sự phát triển lý trí, nhận thức, tư duy.  Sản phẩm giáo dục về Nghệ thuật tạo ra sự đa dạng, sự tinh tế và sâu sắc về tình cảm.  Sản phẩm giáo dục về Lối sống tạo ra ý chí (sức mạnh của đạo đức).  Lý trí / Tình cảm / Đạo đức như các hệ cơ bắp, tuần hoàn, não bộ của một cơ thể sống.  6. Làm ra sản phẩm giáo dục là vấn đề cốt lõi của Nghiệp vụ sư phạm.  Trong nền sản xuất tiểu nông – tiểu thủ công, nghiệp vụ của lão nông hay của thợ cả là các “bí quyết tay nghề”, mà có thì có thật, nhưng chính người có nó trong tay cũng không hiểu nó là gì, vì sao có, nên sản phẩm là may rủi, khi được mùa, khi thất bát.  Nền sản xuất đại công nghiệp đã xé toang bức màn bí mật che giấu “bí quyết tay nghề” bằng cách phân giải quá trình sản xuất thành các nhân tố cấu thành nó, ngay tại nó, độc lập với ý chí người phân giải, trên cơ sở đó thiết kế công nghệ sản xuất, làm ra sản phẩm tất yếu.  Nghiệp vụ sư phạm cũng có hai trình độ tương ứng: Làm ra sản phẩm may rủi và làm ra sản phẩm tất yếu (có thể kiểm soát được), diễn đạt bằng hai công thức nghiệp vụ:  (1). Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ  (2). Thầy thiết kế – Trò thi công  Thầy giảng giải về bản chất là đưa đến cho học sinh cái có sẵn, rồi thuyết phục (thực chất là cưỡng bức) học sinh chấp nhận.  Nguyên tắc vàng của Nghiệp vụ sư phạm theo công thức (2) thì cấm ngặt việc đưa đến cho học sinh những cái có sẵn, mà tổ chức và kiểm soát quá trình học sinh tự làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình.  7. Giáo dục tha hoá và tước bỏ tha hoá giáo dục là vấn đề tư tưởng và thực tiễn có tính thời sự trong Chiến lược giáo dục.  Sự tha hoá trong giáo dục là hệ quả tự nhiên từ sự tha hoá trong lao động sản xuất, với hai đặc điểm:  Một, quá trình lao động vốn là quá trình tự nhiên, tự nguyện, hạnh phúc thì biến thành sự cưỡng bức như khổ sai, làm mất đi bản chất người của lao động.            Học sinh là một thực thể tự nhiên, hiểu rằng những gì trái tự nhiên và dù bị áp đặt đến mấy cũng bị học sinh từ chối, nghĩa là học sinh luôn luôn đúng.          Hai, sản phẩm lao động không thuộc người làm ra nó, mà thuộc kẻ khác, vì lợi ích của kẻ khác, và người này dùng nó để nô dịch lại người làm ra nó.  Bản chất ấy của lao động tha hoá cũng là bản chất của tha hoá giáo dục. Nền giáo dục đã tha hoá! Nhận ra sự thật đó, thì phải tìm cách để vượt bỏ nó, tước bỏ tha hoá, trả lại cho giáo dục bản chất người (thuộc phạm trù người) vốn có.  Học sinh là một thực thể tự nhiên, hiểu rằng những gì trái tự nhiên và dù bị áp đặt đến mấy cũng bị học sinh từ chối, nghĩa là học sinh luôn luôn đúng.  Học sinh đi học là học làm ra sản phẩm giáo dục, tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, vì lợi ích cơ bản của mình là sự phát triển tự nhiên, chứ không phải vì bị đe doạ và cưỡng bức bằng những điểm số, thi cử, bằng cấp, khen thưởng, trừng phạt… chính những cái ở bên ngoài việc học này thường đem nô dịch người học.  8. Nhà trường là nơi học sinh đang sống cuộc sống thực, là cuộc đời thực với những hạnh phúc thực, đau khổ thực, hạnh phúc hay đau khổ ngay bây giờ, ngay ngày hôm nay.  Tư duy giáo dục ngàn năm nay quen coi Nhà trường chỉ là nơi “chuẩn bị vào đời”. Vì chỉ là “chuẩn bị”, nên dễ là chuẩn bị giả, tập dượt giả… dễ đem những cái có thực hôm nay đặt cược đổi lấy những cái vu vơ trong tương lai mơ hồ.  Ngày nay, tất cả 100% Trẻ em đều đi học, chứ không như ngày trước, 95% dân cư ở nhà, đầu tắt mặt tối làm ăn thì sống Cuộc sống thực, còn 5% kia đến trường được nuôi không, chỉ “chuẩn bị làm quan”, thì học những mẹo mực làm quan, với những trò chơi chữ nghĩa văn bản… Thầy / Trò lúi húi với nhau trong các phòng học, phòng thi cửa đóng then cài… cấm người ngoài!            Chính sách “mở cửa” của Đảng đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, cho cả xã hội lẫn cho giáo dục. Hãy mở toang các cánh cửa phòng học, cho ánh sáng tự nhiên chiếu vào, cho không khí trong lành tràn vào, cho người ngoài nhìn vào… cho Thầy / Trò nghe được, thấy được sự vận động với tốc độ chóng mặt của Cuộc sống hiện đại.          Chính sách “mở cửa” của Đảng đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, cho cả xã hội lẫn cho giáo dục. Hãy mở toang các cánh cửa phòng học, cho ánh sáng tự nhiên chiếu vào, cho không khí trong lành tràn vào, cho người ngoài nhìn vào… cho Thầy / Trò nghe được, thấy được sự vận động với tốc độ chóng mặt của Cuộc sống hiện đại.  Học sinh hiện đại dù sống ở đâu, ở nhà, ở trường, ở công viên, ở rạp hát, ngày thường, ngày lễ, ngày hè, lúc nào và ở đâu đâu em cũng sống cuộc sống thực.  9. Trẻ em sống dọc theo hai dòng xoắn với nhau: Trưởng thành / Phát triển. Một tự nhiên thiên nhiên, một nhân tạo, tự tạo.  Trưởng thành đi theo một lộ trình định sẵn trong mã di truyền, đã có ở bào thai. Phát triển là quá trình nhân tạo, tự tạo ở ngoài đời, cùng phát triển với xã hội, qua các thời đại. Thời trước, tuổi thơ rất ngắn, hầu như không có, 5/6 tuổi đã phải lo kiếm sống. Ngày nay, 18 tuổi em còn nhỏ lắm, hằng ngày mẹ còn dúi quà vào tay.  Trẻ em hiện đại có một “thời trẻ con” được phân hoá thành các lứa tuổi. Mỗi lứa tuổi tự định nghĩa bằng cái mới lần đầu tiên có, cùng với cách làm cũng mới có lần đầu tiên:  0 – 2, 3 – 5, 6 – 11, 12 – 16, 17 – …  Các cái mới và cách làm ở mỗi lứa tuổi một khác, có thể hình dung theo sự khác nhau giữa các giai đoạn trưởng thành của cây: mầm – chồi – lá – hoa – quả. Sự khác nhau này có thể lấy ranh giới 5/6 tuổi làm ví dụ: trước đó là tuổi chơi, tuổi của kinh nghiệm; sau đó là tuổi học, tuổi của khoa học.  Từ kinh nghiệm sang khoa học là một “bước nhảy sinh mệnh” của nhân loại, ở thế kỷ XVIII, đến thế kỷ XXI thì chắc phải là “bước nhảy sinh mệnh”  của đời người hiện đại, của từng cá nhân hiện đại.  10. Chiến lược phát triển giáo dục chẳng qua là Giải pháp nghiệp vụ cho một Nhiệm vụ xã hội – chính trị bất khả kháng. Việc lớn như vậy vẫn có thể gói gọn trong mấy chữ: Ai cũng được học, học gì được nấy.            Chiến lược phát triển giáo dục chẳng qua là Giải pháp nghiệp vụ cho một Nhiệm vụ xã hội – chính trị bất khả kháng. Việc lớn như vậy vẫn có thể gói gọn trong mấy chữ: Ai cũng được học, học gì được nấy.          Sẽ thiết kế được Giải pháp đích thực, nếu một, tìm ra cốt lõi vật chất của Giải pháp và hai, biết cách làm cho Tư tưởng của Giải pháp được vật chất hoá dưới hình thái trực quan, bên ngoài đầu óc các cá nhân.  Một hình thái trực quan của Nền giáo dục hiện đại là Trẻ em hiện đại (nên phân biệt giáo dục Trẻ em và đào tạo người lao động sản xuất).  Trẻ em hiện đại là nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong Phạm trù người, sinh ra và phát triển trong Phạm trù cá nhân.  Trẻ em hiện đại là một thực thể tự nhiên đang phát triển. Ở điểm xuất phát, tính từ lúc mới lọt lòng, Bé là một thực thể trừu tượng chứa trong bản thân mình khả năng bỏ ngỏ, cho mặc sức phát triển đến mọi trình độ có thể, theo chiều ngày càng cụ thể hơn.  Bản chất sâu xa của sứ mệnh giáo dục là tạo mọi điều kiện, trước hết và sau cùng là điều kiện vật chất, cho khả năng bỏ ngỏ được hiện thực hoá, tạo ra sự phát triển tự nhiên nhất qua các lứa tuổi, sao cho mỗi em hưởng giáo dục sẽ phát triển thành chính mình, một cá nhân duy nhất, có một không hai trên đời!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư tưởng chủ đạo trong quản lý KH là phục vụ tốt nhất cho hoạt động của các nhà KH và tổ chức KH-CN      Tại cuộc hội thảo Hoạt động khoa học và công nghệ: Thực trạng và giải pháp do tạp chí Tia Sáng tổ chức vừa qua, nhiều nhà khoa học cho rằng lĩnh vực quản lý khoa học những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2006, đã có những chuyển biến tích cực với những bước đi đúng hướng.  Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Hoàng Văn Phong về vấn đề này.        PV: Bộ trưởng nghĩ gì về sự đánh giá của các nhà khoa học về những chuyển biến tích cực trong quản lý khoa học?   Bộ trưởng Hoàng Văn Phong: Đúng là trong vài năm gần đây, trong hoạt động quản lý nhà nước, Bộ KH&CN đã đạt được một số kết quả ban đầu nhất định. Nếu như từ nhiều năm trước đây, cơ sở pháp lý cho hoạt động KH&CN chỉ có Luật KH&CN cùng một số ít Pháp lệnh, Nghị định, thì vài năm gần đây, Bộ KH&CN đã tập trung chỉ đạo khẩn trương xây dựng hệ thống các đạo luật. Đến năm 2006 đã trình Quốc hội ban hành được một số đạo luật quan trọng như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và Qui chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa. Các đạo luật này đã tạo nên một hệ thống văn bản qui phạm pháp luật tương đối đầy đủ, có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh toàn diện, đồng bộ hoạt động KH&CN; vừa tạo động lực và thuận lợi cho sự phát triển KH&CN vừa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế… Theo tôi, sự đánh giá của các nhà khoa học là có phần “ưu ái”, động viên những gì mà Bộ KH&CN đã làm được, vì với sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, sự hợp tác của các Bộ, ngành có liên quan, và sự đóng góp trí tuệ của các nhà khoa học, đáng ra chúng ta có thể tháo gỡ thêm được những vướng mắc tồn tại trong quản lý hoạt động khoa học hiện nay.    Hẳn là có nhiều nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến tích cực trong quản lý hoạt động khoa học, nhưng theo Bộ trưởng, đâu là nguyên nhân chủ yếu?  Trong mọi lĩnh vực quản lý hiện nay, Bộ KH&CN luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng chủ đạo là phục vụ đến mức tối đa yêu cầu “chính đáng” của các nhà khoa học và cơ quan KH&CN, thay vì chỉ là kiểm soát. Nói cách khác là giải phóng những người làm khoa học khỏi cơ chế cũ, nếp nghĩ cũ, tạo điều kiện và cơ hội để họ phát huy tối đa sức sáng tạo. Theo tôi, đó chính là nguyên nhân chủ yếu đưa đến những chuyển biến tích cực trong quản lý khoa học. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng đây là một sự chuyển mình đầy khó khăn vì đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới lề lối tác phong làm việc để có thể có đủ quyết tâm vượt qua các yếu kém, bất cập.  Vậy tư tưởng chủ đạo đó đã được thể hiện trong công tác quản lý như thế nào trong năm 2006?  Năm 2006 là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 – 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tập trung triển khai kế hoạch KH&CN theo tinh thần đổi mới toàn diện với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, nên hoạt động khoa học công nghệ đã có những chuyển biến tích cực, từng bước thực sự phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập ngày càng sâu vào quá trình toàn cầu hóa.  Riêng trong lĩnh vực quản lý hoạt động khoa học, với tư tưởng chủ đạo trên, Bộ KH&CN đã trình Quốc hội thông qua một số Luật như đã nói ở trên đúng tiến độ với chất lượng cao và đã trình Chính phủ ban hành một số cơ chế chính sách về khoa học công nghệ với tư tưởng đổi mới quyết liệt, các giải pháp tiến bộ, các giải pháp có tính khả thi như: Xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN; trình Chính phủ Nghị định Doanh nghiệp Khoa học công nghệ bao gồm các chế định liên quan tới việc thành lập, chuyển đổi, đăng ký, công nhận và chính sách ưu đãi với doanh nghiệp khoa học công nghệ; hoàn thành Đề án sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học và trọng dụng nhân tài với những chính sách ưu đãi đặc biệt, trước hết tập trung cho các nhà khoa học có trình độ cao được nhà nước giao nhiệm vụ quốc gia và các nhà khoa học trẻ xuất sắc có khả năng ươm tạo công nghệ ở các trường đại học và viện nghiên cứu trọng điểm, quỹ đầu tư mạo hiểm; quy định về sở hữu quản lý và khai thác tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi của các nhà khoa học…  Bộ trưởng đánh giá hiệu quả của các cơ chế chính sách mới đó trong đời sống khoa học như thế nào khi mà theo báo cáo tổng kết của Bộ KH&CN, sau một năm triển khai Nghị định 115-  một nghị định được cộng đồng các nhà khoa học coi là có tính cách mạng trong quản lý khoa học – mới chỉ có 31/287 tổ chức khoa học công nghệ của các bộ, ngành và địa phương phê duyệt đề án chuyển đổi?   Trung Quốc từ năm 1984 đã có những thay đổi lớn trong quản lý hoạt động khoa học, nhưng tôi được biết, đến năm 1998, những cơ chế mới đó mới phát huy được hiệu quả một cách rộng rãi. Theo tôi, ở ta cũng vậy, cần phải có một thời gian để những chính sách đổi mới từng bước phát huy hiệu quả. Và hiệu quả của những cơ chế chính sách đó đến đâu không chỉ phụ thuộc vào quyết tâm tổ chức thực hiện của các nhà quản lý mà phụ thuộc rất lớn vào sự dấn thân của các nhà khoa học trong sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ của đất nước. Cả hai phía đều cùng có quyết tâm đổi mới thì mới thành công được.  Riêng đối với việc chậm trễ trong việc thực hiện Nghị định 115, theo tôi, nguyên nhân đầu tiên là do lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương chưa chỉ đạo quyết liệt, chưa mạnh dạn phân cấp, còn nặng tư tưởng bao cấp. Nhiều đơn vị lúng túng trong khâu xác định giá trị tài sản được giao và chậm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện. Hiện nay, Bộ KH&CN đã trình Chính phủ biện pháp tháo gỡ sự chậm trễ này.   Theo Bộ trưởng, trong năm 2007, hoạt động khoa học cần tập trung vào những nhiệm vụ gì để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của nền khoa học nước nhà trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa?  Nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội khóa XI và Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2007, hoạt động khoa học công nghệ trong năm 2007 sẽ tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu nghiên cứu khoa học vào sản xuất kinh doanh; phát triển thị trường công nghệ góp phần tạo bước chuyển biến nhanh hơn về chất lượng hiệu quả của nền kinh tế; xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc thu hút đầu tư vào khu công nghệ cao Hòa Lạc và TP Hồ Chí Minh. Cải cách triệt để hơn nữa các cơ chế chính sách quản lý khoa học, tập trung vào các qui chế tuyển chọn và quản lý các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ…   Để có cơ sở góp phần cùng các nhà khoa học thực hiện các nhiệm vụ trên đồng thời nâng cao năng lực trước các vụ việc gây bức xúc trong xã hội như xăng pha acetone, bệnh vàng lùn xoắn lá, dầu biodiesel làm chết động cơ tàu biển… xảy ra vừa qua, Bộ KH&CN sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới tư duy quản lý trong đội ngũ cán bộ công chức.  Xin cảm ơn Bộ trưởng.     P.V    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ vương đạo tới bá đạo      Từ nhiều năm nay, nhất là từ sau sự kiện Quốc vụ viện Trung Quốc thản nhiên phê chuẩn thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cho nhập chúng vào tỉnh Hải Nam của Trung Quốc (đầu tháng 12 năm 2008), Trung Quốc liên tục có những động thái gây bất ổn gia tăng tại biển Đông, nơi có nhiều nguồn lợi hấp dẫn về hải sản, dầu mỏ và cũng là vị trí chiến lược quan trọng trong việc giao thương hàng hải của nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt mấy tháng gần đây, qua việc bồi đắp cát (đã chuẩn bị từ lâu) lên các rạn san hô và xây dựng các tòa nhà, cảng biển, đường băng… trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Một số việc làm nêu trên của Trung Quốc cho thấy dường như “cường quốc số hai” này đang đi theo hướng từ bỏ con đường “vương đạo” để đi theo “bá đạo”?    Trung Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ chênh lệch giàu nghèo đang gia tăng nhanh chóng.  Trung Quốc thật sự có phải là một nước mạnh không?  Theo nhận định chung của hầu hết các học giả trên thế giới, Trung Quốc chỉ mạnh một số mặt (quân sự, dự trữ đô la…) nhưng không thành công về mặt xây dựng xã hội và văn hóa – đạo đức, chủ yếu do thể chế chính trị lạc hậu gây nên. Về mặt báo cáo công khai, suốt nhiều năm gần đây Trung Quốc có chỉ tiêu phát triển kinh tế cao, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, nhưng đồng thời cũng để bộc lộ rất nhiều vấn đề phải đối phó vừa khó khăn vừa quyết liệt, như tính chất phong kiến cổ hủ khó sửa của dân tộc về mặt văn hóa (“người Trung Quốc xấu xí”…), những vấn nạn về tình trạng tranh chấp quyền lực chính trị nội bộ (đang ở đỉnh cao…), nạn ô nhiễm môi trường, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu đậm, nạn thất nghiệp, mâu thuẫn giữa các dân tộc, và tình trạng quốc nạn tham nhũng trầm trọng kéo dài… Tất cả đều vô phương cứu chữa nếu không có được những bước đi cải cách kịp thời và thích hợp hơn nữa theo con đường dân chủ hóa. Đó là chưa kể thêm những trận thiên tai ngày càng nặng nề thỉnh thoảng ập xuống đất nước gây thiệt hại với quy mô rất lớn về nhân mạng và của cải… Thiên tai nhân họa dồn dập có thể sẽ làm cho nước Trung Quốc phải bận tâm nhiều và bị giảm đi một phần sức mạnh đáng kể.  Do vậy, mặc dù bên ngoài nhìn Trung Quốc như một cường quốc, trên thực tế các nhà lãnh đạo nước này cho rằng quốc gia còn nghèo, dễ bị tổn thương và có rất nhiều vấn đề nội tại (xem Susan L. Shirk, China: The Fragile Superpower [Cường quốc mong manh], bản tiếng Việt “Gã khổng lồ mất ngủ” của NXB Hội Nhà Văn, 2015, tr. 383). James Lilley, người giới thiệu trên bìa cuốn sách vừa dẫn trên của bà Susan L. Shirk (chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc, từng là cựu Phó trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Clinton…), đã viết: “Trong cuốn sách có tính khai mở này, Susan L. Shirk trình bày tỉ mỉ về tiến bộ kinh tế đáng kinh ngạc của Trung Quốc, cùng lúc vén tấm màn che phủ những vấn đề nội bộ gay gắt của nước này. Bà đã dùng sự thật để bác bỏ một hình ảnh giả tạo về Trung Quốc vốn do các nhà quan sát Trung Quốc vồn vã đưa ra” (xem trang bìa 3, sđd.).      Theo quan điểm biện chứng của Kinh Dịch hoặc của Lão-Trang thì chỗ mạnh của sự vật cũng có chứa đựng mặt yếu kém của nó. Đó là hai mặt đối lập song song tồn tại. Chỗ yếu cơ bản của Trung Quốc trong suốt tiến trình lịch sử cho đến hiện nay vẫn là phải gánh chịu một dân số quá đông (năm 2005 đã vượt con số 1,3 tỉ người, gần bằng ¼ dân số thế giới), nên tất yếu phải chứa đựng bên trong bản thân nó càng nhiều yếu tố mâu thuẫn hơn so với những nước có quy mô dân số nhỏ hơn. Nếu ép hạn chế sinh sản quá đáng, làm trái với tự nhiên, sẽ có thể gây nên những hậu quả trục trặc về mặt tâm lý xã hội, đối với một dân tộc có truyền thống lâu đời coi sự đông con là hạnh phúc, như trường hợp những đứa con một “đế vương” được cưng chiều trong hầu hết gia đình của người Trung Quốc hiện nay với một sự phát triển chắc chắn không được hoàn toàn bình thường về mặt tâm lý. Chính vì vậy, dân tộc Trung Quốc phải luôn luôn đối phó với mọi thứ vấn đề phức tạp về quốc kế dân sinh mà ngày nay người ta gọi là những vấn đề kinh tế-xã hội. Lịch sử Trung Quốc đã từng chứng tỏ, nói theo La Quán Trung trong đoạn đầu Tam quốc diễn nghĩa là “hết loạn lại trị, hết trị lại loạn”, khó lòng vượt thoát những điều kiện động loạn để giữ được sự phát triển bền vững. Thực tế chứng minh rằng, Trung Hoa là một nước có bề dày lịch sử rất lâu dài và phong phú, nhưng bên cạnh những thành tựu tích cực đóng góp nhiều cho nhân loại, lịch sử trong quá khứ Trung Quốc cũng là lịch sử của những cuộc chiến tranh chinh phạt bất tận đi cùng với sự tranh chấp quyền lực đẫm máu của các thế lực phong kiến cát cứ, chắc chắn là vì nước Trung Hoa đất rộng người đông, tính cọ xát xã hội và đấu tranh xã hội thường gay gắt quyết liệt nhiều hơn, và điều này đã tiếp tục diễn ra kéo dài cho đến những năm của nửa sau thế kỷ 20. Gần đây nhất, tình trạng mâu thuẫn xã hội tại Trung Quốc đang ngày càng gia tăng khủng khiếp, biểu hiện qua những cuộc biểu tình đập phá, đụng độ dữ dội với cảnh sát, cũng như đã xảy ra liên tiếp nhiều vụ ném bom chết người. Những vụ bạo động và đánh bom này đang làm lộ rõ sự bất ổn trong xã hội Trung Quốc vốn xuất phát từ biết bao nỗi bức xúc liên quan đến tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo và nạn tham nhũng vô phương cứu chữa, đặc biệt là từ việc thu hồi đất đai…    Trong phần kết luận quyển Lý thuyết quân sự Trung Hoa (bản dịch tiếng Việt từ tiếng Anh của Nguyễn Duy Chính, NXB. Công an Nhân dân, 2004), tác giả Chen Ya Tien đã đưa ra một nhận định có lẽ chính xác: “Với đà gia tăng dân số mãnh liệt, tình trạng môi sinh ngày càng suy thoái, tài nguyên giới hạn, không nói là thế kỷ của Trung Hoa có đến không mà ngay cả giữ cho được mức phát triển như hiện nay cũng không phải dễ” (tr. 514).  Thật ra, dân tộc và các nhà cầm quyền Trung Quốc có thừa sự thông minh và kinh nghiệm để nhận ra đúng những mặt mạnh, yếu của mình, từ đó tìm cách sửa chữa đường lối chính trị/ ngoại giao theo chính sách “vương đạo” (thay vì “bá đạo”), như trong những năm từ khoảng 1979 đến đầu thiên niên kỷ mới, đã tìm cách hòa giải khá thành công và có tính thuyết phục, hợp với nhân tâm và văn minh, với Hoa Kỳ, Tây Âu cùng nhiều nước nhỏ khác ở vùng Đông Nam Á. Đáng tiếc, chính sách hòa giải nêu trên không được kéo dài, mà theo các chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc, cũng xuất phát từ áp lực ngày càng tăng của tình trạng bất ổn bên trong.  Xem Thanh thực lục, thấy được chính sách “nhu viễn” của các nhà cầm quyền Trung Quốc thời xưa có vẻ khôn ngoan hơn đường lối trông có vẻ “bá đạo” hiện nay của Trung Quốc. Chẳng hạn, khi nghe quan địa phương báo cáo về chuyện tranh chấp vài miếng đất nhỏ ở vùng biên giới Trung-Việt (Bắc Việt Nam), vua Khang Hi (một vua tài giỏi được nhân dân Trung Quốc rất kính phục) liền hạ ngay chiếu chỉ, không chút đắn đo, trong có đoạn tạm dịch ra như sau: “Xem tờ tâu, [biết được] tình hình xa gần khác nhau trong ranh giới cũ của Giao Chỉ. Trẫm nghĩ đạo nhu viễn, xét về mặt phân chia lãnh thổ và sống hòa mục với nước láng giềng, thì sống hòa mục với nước láng giềng là tốt [hơn]; so sánh giữa sợ uy và nhớ ơn, thì nhớ ơn là trên hết. Người ta bảo rằng các xứ Ðô Long1, Nam Ðan vào thời cuối Minh đã bị An Nam chiếm hữu, như vậy việc xâm chiếm không phải khởi đầu từ triều ta. Kể từ triều ta đến nay, An Nam mấy đời cung kính phục tùng, quy thuộc lâu dài, thật đáng khen, sẽ phải được khích lệ, há lại tranh giành với họ chút đất đai, huống chi lại là khu vực đã mất vào thời cuối Minh rồi? Ðất này quả có lợi ư, thế thì Thiên triều lẽ nào lại nên tranh lợi với nước nhỏ? Nếu không có lợi ư, thế thì lại cần gì phải tranh chấp với họ? Bụng Trẫm chỉ muốn lấy đại công chí chính làm hẹn, coi [mọi người] trong nước ngoài nước đều là con đỏ. Vả lại hai đất giáp giới liền cõi, rất dễ xảy ra xích mích, càng nên khéo xử để vỗ về an ủi quan tâm đến họ, không chỉ làm cho dân nước họ được yên, mà cũng chính là để làm cho dân ta được yên. Nếu lấy khe nước nhỏ làm ranh giới, thì có hại gì? Những hành động tham lợi muốn cầu may lập công, đều không đáng làm bài học. Hãy rõ ý này của Trẫm, rồi châm chước mà thi hành” (Thanh thực lục: Việt Nam Miến Điện Thái Quốc Lão Qua sử liệu trích sao, “Thế Tông thực lục”, bản chữ Hán, q. 31, tr. 28-31).  Thật ra các ông vua Tàu như Khang Hi, Càn Long… được dân Trung Quốc kính phục cũng có tinh thần “đại Hán bành trướng” chứ chẳng phải không. Họ không dễ gì từ bỏ được tư duy, tâm lý của đại quốc, nhưng đó là một vấn đề thuộc quá khứ lịch sử. Chính sách “nhu viễn” của họ mà các triều vua Việt Nam bắt chước học tập khi ứng xử với những nước láng giềng nhỏ hơn cùng thời đó (như Chiêm Thành, Cao Miên, Xiêm La, Lão Qua…) dù sao vẫn là một chính sách khôn ngoan truyền thống, nhằm giữ mối quan hệ cùng tồn tại hòa bình lâu bền giữa nước lớn với nước nhỏ, chứ không xâm lược, trừ vài trường hợp nước nhỏ có chuyện lục đục phải chạy qua tâu báo với “thiên triều”.  Từ gần 30 năm nay, Trung Quốc cho in lại hầu như tất cả sử sách, bao gồm cả Tứ thư Ngũ kinh và hệ thống các sách kinh điển thuộc “bách gia chư tử”, có lẽ cũng muốn để cho nhân dân Trung Quốc học tập trên cơ sở vận dụng phát huy những tinh hoa tư tưởng của người xưa. Được vậy thì tốt, và giả định các nhà cầm quyền biết “ôn cố tri tân”, thi hành có chọn lọc lời dạy của các bậc thầy xưa, Trung Quốc sẽ có thể thành công hơn nữa hoặc ít nhất cũng giữ được sự ổn định lâu hơn trên con đường phát triển của mình.  Trước nhất về triết lý phát triển, rồng bay quá đà thì sẽ có điều ân hận, như lời trong kinh Dịch “Kháng long hữu hối”, mà một nhà chú giải cổ thư đã giảng là “Nếu biết tiến mà không biết thoái có ngày sẽ hối hận”. Một số nhà cầm quyền Trung Quốc trước đây thường hay có thói “tham đại cầu dương”, ưa chủ trương “đại nhảy vọt” nên thành quả tuy có nhiều mà thất bại cũng lắm. Điều họ chưa làm được vẫn còn vang vọng trong lời cảnh báo của vị Vạn thế sư biểu Khổng Tử, “Không lo ít mà chỉ sợ chia không đều” (Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân). Đó là một bài học rất đáng tham khảo đối với mọi dân tộc chứ không chỉ riêng gì Trung Quốc, khi vạch ra đường lối phát triển cho một đất nước.  Lão Tử chủ trương “bất tranh” mà phải tự khiêm hạ (nhún nhường, hạ mình): “Nước lớn cũng như dòng nước dưới thấp, là chỗ thiên hạ dồn về… Cho nên nước lớn phải hạ mình trước nước nhỏ thì sẽ được nước nhỏ thần phục; nước nhỏ mà hạ mình trước nước lớn thì sẽ được nước lớn che chở…”.  Cả Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử… đều cực lực phản đối chiến tranh xâm lược, chiếm đất của nước nhỏ, nhất là Mạnh Tử, khi ông phát biểu khá rõ, nói cho người xưa cùng thời ông mà ta nghe tưởng như nói với người hôm nay: “Người có nhân đức dù lấy đất đai của người này cấp cho người khác cũng không nỡ làm, huống chi lại giết người để lấy đất sao?” (Mạnh Tử, “Cáo Tử” hạ).  Xem ra, trong vụ tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa với Việt Nam và nhiều nước khác, thật đáng tiếc, Trung Quốc toàn cãi ý Thầy! Cái được nếu có cũng rất ít chẳng đáng là bao so với một nước lớn như Trung Quốc, nhưng phần mất về các mặt khác thì lại chắc chắn và sẽ lớn hơn nhiều nếu nhìn vấn đề trên toàn cục và theo hướng tương lai lâu dài.——-1 Đô Long 都龍: Vùng đất trước đây thuộc Việt Nam, được gọi là Tụ Long; qua Hiệp ước Thiên Tân, thực dân Pháp đã nhường cho Trung Quốc, hiện nay còn địa danh trấn Ðô Long, thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, trấn này giáp với tỉnh Hà Giang, Việt Nam.    Author                Trần Văn Chánh        
__label__tiasang Tự xây dựng trường ĐH chuẩn mực quốc tế      Việc b&#224;n thảo x&#226;y dựng ở Việt Nam một trường đại học đẳng cấp quốc tế khởi đầu c&#225;ch đ&#226;y v&#224;i năm, dường như đ&#227; lắng xuống th&#236; gần đ&#226;y s&#244;i động trở lại khi Bộ Gi&#225;o dục v&#224; Đ&#224;o tạo đưa ra dự &#225;n sẽ vay của WB v&#224; ADB khoảng 400 triệu USD v&#224; hợp t&#225;c với một số đại học v&#224; tổ chức nước ngo&#224;i v&#224;o năm 2013, sẽ x&#226;y dựng mới 4 trường đại học c&#244;ng lập đa ng&#224;nh, đa lĩnh vực chất lượng cao, tiến tới tr&#236;nh độ quốc tế v&#224;o năm 2020, trong đ&#243; c&#243; &#237;t nhất một trường lọt v&#224;o tốp 200 của thế giới.     Cụ thể là trường đại học Việt Đức trong khuôn viên ĐHQG TP.HCM, Đại học KH&CN tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và hai trường đại học ở Đà Nẵng và Cần Thơ. Tại cuộc lấy ý kiến các chuyên gia và nhà khoa học trong và ngoài nước ở Hà Nội đầu tháng 8, dường như để minh chứng cho tính khả thi của dự án này, bà Trần Thị Hà Vụ trưởng Vụ GD-ĐH đã dẫn ra sự thành công của ĐH KH&CN HongKong (HKVST) – chỉ sau 15 năm xây dựng đã được Newsweek xếp hàng 60 trên thế giới (không biết trường này có trong tốp 200 theo xếp hạng của ĐH Thượng Hải?). Nhưng phần lớn những người am hiểu giáo dục đại học đều không tin vào tính khả thi của dự án, dù chúng ta có đổ vào đó không chỉ 400 triệu USD mà là cả tỉ USD. Họ đã có lý, vì tiêu chí hàng đầu của một đại học đẳng cấp quốc tế là một trung tâm nghiên cứu và đào tạo mạnh với một đội ngũ GS, giảng viên có nhiều công bố quốc tế, có hệ số trích dẫn cao. Vậy chỉ trong thời gian gần chục năm làm cách nào chúng ta có được đội ngũ GS, giảng viên như vậy cho các trường kể trên? Trong khi chất lượng nghiên cứu của đội ngũ GS, giảng viên các trường ĐH hiện nay của ta còn rất hạn chế. (Số công bố quốc tế trong lĩnh vực toán – một lĩnh vực thuộc loại mạnh hàng đầu của Việt Nam – của tất cả các trường ĐH và Viện toán của ta trong năm chỉ bằng số công bố quốc tế của trường ĐH Toulouse – một trường ĐH hạng trung bình ở Pháp). Hơn nữa, theo nguồn tin rất đáng tin cậy của một giáo sư, thì có đối tác của 4 trường trên còn xa mới được coi là trường đạt chuẩn mực quốc tế, nói gì đến đẳng cấp quốc tế. Đối tác như vậy không hy vọng họ có thể thu hút được các nhà khoa học uy tín nước ngoài đến Việt Nam tham gia giảng dạy.  Từ bài học các nước đang phát triển có trình độ KH&CN và tiềm lực kinh tế hơn ta nhiều như  Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác trong xây dựng trường ĐH đẳng cấp quốc tế cho thấy không có trường hợp nào do nước ngoài làm hoặc áp đặt một mô hình của nước ngoài mà thành công. Điển hình là năm 2005, George Mason, một trong những trường Đại học Mỹ đầu tiên mở một chi nhánh đào tạo ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập, nhưng vào tháng 5 vừa qua, nó trở thành trường đầu tiên quyết định đóng cửa, dù chưa hề cho tốt nghiệp một sinh viên nào. Vì vậy việc chúng ta hợp tác với nước ngoài để xây dựng một số trường ĐH là cần thiết nhưng với thực trạng của nền kinh tế – xã hội và giáo dục đại học hiện nay của ta, không nhất thiết đặt ra mục tiêu top 200 – “có tính chính trị” như vậy- mà chỉ đặt vấn đề xây dựng các trường ĐH theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những chuyên gia có kỹ năng cao, đóng góp vào sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.   Theo GS Hoàng Tụy, nếu chúng ta thực sự mong muốn về lâu dài có được một trường đại học có đẳng cấp quốc tế thuộc hạng trung bình của các nước tiên tiến, thì trước mắt phải bắt đầu từ việc tự xây dựng một trường đại học với qui mô nhỏ, chọn lọc một vài ngành học mà ta có tiềm lực mạnh với từ 200 – 300 sinh viên, nhưng mọi hoạt động giảng dạy và đào tạo của trường ngay từ đầu phải theo các chuẩn mực quốc tế và ngày càng phấn đấu theo chuẩn mực cao hơn. Bộ máy quản lý của trường thời kỳ đầu cần thu hút được những GS có uy tín lớn, cần thiết có thể mời các GS người nước ngoài.   Trong bối cảnh của Việt Nam, để có thể xây dựng được một trường ĐH đẳng cấp quốc tế, là một việc lâu dài rất khó khăn, phải vượt qua không ít chướng ngại về thể chế, về văn hóa nghiên cứu, tính cạnh tranh… đặc biệt là chính sách tiền lương, đãi ngộ vật chất. Vì vậy theo GS Hoàng Tụy, sự quyết tâm cùng với các chính sách của các nhà quản lý là điều cần nhưng chưa đủ. Phải huy động được sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà giáo có uy tín quốc tế và chỉ có họ mới có thể huy động thêm được nguồn lực và tư vấn cho các nhà quản lý những bước đi và giải pháp thích hợp.         TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ xuồng cao tốc đến sông Mekong bền vững      Cách đây hơn bốn thập kỷ khi còn là một trung úy hải quân trẻ trong “Hải quân vùng sông nước”, tôi và các thủy thủ đã đi dọc sông Mekong trên tàu chiến Hoa Kỳ. Ngay cả khi chiến tranh đang diễn ra xung quanh chúng tôi, thì trong những khoảnh khắc yên tĩnh chúng tôi vẫn bị hút hồn bởi vẻ đẹp và sức mạnh của dòng sông – trâu, hải sản mà chúng tôi trao đổi với ngư dân địa phương, rừng đước dọc hai bờ và dọc những nhánh sông nhỏ.  &#160;    Từ lâu những đường thủy phục vụ cho chiến tranh này đã trở thành vùng nước của hòa bình và thương mại – Hoa Kỳ và Việt Nam đã thiết lập một mối quan hệ mạnh mẽ và năng động 20 năm qua.  Nhưng ngày nay, dòng sông Mekong đang phải đối mặt với một nguy cơ rất mới và khác – một nguy cơ đe dọa sinh kế của hàng chục triệu người và mối nguy cơ đó tượng trưng cho sự rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra cho cả hành tinh này. Tăng trưởng và phát triển thiếu bền vững cùng với việc khai thác tối đa dòng sông đang gây nguy hiểm cho sức khỏe và sự thịnh vượng của khu vực về dài hạn.  Từ trên xuồng cao tốc trong những năm 1968 và 1969, chúng tôi có thể thấy rằng dòng sông màu mỡ này rất cần thiết cho lối sống và đời sống của những cộng đồng dọc hai bờ sông. Trong rất nhiều chuyến đi của tôi đến khu vực kể thời điểm đó, với tư cách là Thượng nghị sĩ và ngoại trưởng, tôi đã chứng kiến Hoa Kỳ cùng các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á hợp tác chặc chẽ với nhau nhằm theo đuổi sự phát triển theo cách có thể giúp các nền kinh tế trong khu vực phát triển đồng thời bảo vệ môi trường.  Mặc dù đã có những nỗ lực này nhưng dòng sông Mekong vẫn đang bị đe dọa. Dọc theo dòng sông dài 4.344km, các nhu cầu ngày càng gia tăng về năng lượng, thực phẩm và nước đang tàn phá hệ hệ sinh thái và hủy hoại sinh kế của 240 triệu người. Phát triển thiếu bền vững và tốc độ phát triển nhanh chóng của các công trình thủy điện đang đe dọa nhu cầu về thực phẩm và nước của hàng triệu người đang sống phụ thuộc vào dòng sông này.  Điều gì đang bị đe dọa? Tại Campuchia, sông Mekong cung cấp sự đa dạng sinh học phong phú cho một lưu vực sông vốn cung cấp hơn 60% chất đạm cho đất nước này. Tại Việt Nam, dòng sông giúp tưới tiêu cho “vựa lúa” của đất nước vốn đang hỗ trợ cho nền kinh tế đang phát triển nhanh này. Trên khắp khu vực, dòng sông này là huyết mạch quan trọng về giao thông, nông nghiệp và phát điện.     Sông Mekong ganh đua với sông Amazon về sự đa dạng sinh học. Cá tra khổng lồ của sông Mekong và cá heo Irrawady chỉ có ở sông Mekong và các nhà khoa học liên tục phát hiện ra những loài động vật mới, cá và thực vật trên khắp vùng đồng bằng này. Một số loài mới được phát hiện gần đây có thể một ngày nào đó hứa hẹn sẽ trở thành các loại thuốc mới giúp chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo.  Thách thức thật rõ ràng: Toàn bộ khu vực Mekong cần xây dựng một chiến lược bề rộng đảm bảo rằng sự tăng trưởng trong tương lai không phải đánh đổi với không khí sạch, nước sạch và một hệ sinh thái lành mạnh. Làm được nhiệm vụ quan trọng này sẽ nêu ra một ví dụ trước thế giới về những gì có thể làm được.  Số phận của khu vực sông Mekong cũng sẽ có ảnh hưởng đến những người sống cách con sông rất xa. Ví dụ, thương mại của Hoa Kỳ với khu vực Mekong tăng 40% từ năm 2008 đến năm 2014. Xu hướng này cũng đồng nghĩa với việc có nhiều công ăn việc làm cho người Mỹ và tăng trưởng kinh tế liên tục cho các nước Đông Nam Á.  Xử lý thách thức này đòi hỏi chúng tôi phải làm việc với các nước đó để giải quyết những nhu cầu phát triển rất hiện hữu cùng lúc chúng ta gìn giữ môi trường. Điều này đòi hỏi phải có dữ liệu tốt để phân tích và lập kế hoạch thích hợp, đầu tư thông minh, các nhà lãnh đạo mạnh mẽ và định chế hiệu quả để quản lý các tài nguyên của sông Mekong vì lợi ích của tất cả mọi người trong khu vực.  Nhằm đến mục tiêu đó, chúng tôi đã cùng với Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam khởi động Sáng kiến Hạ vùng sông Mekong. Mục đích là tạo ra một tầm nhìn chung về tăng trưởng và cơ hội, theo đó công nhận vai trò của con sông như một động lực kinh tế và tôn trọng vị trí của nó trong môi trường.  Đó là lý do tại sao tuần này (ngày 2 và 3/2) Hoa Kỳ và chính phủ Lào đồng tổ chức một cuộc họp quan trọng gồm các quan chức cấp cao của 5 nước hạ vùng sông Mekong, Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu tại Pakse, Lào, nơi có hợp lưu của sông Mekong và sông Don. Cùng tham gia với họ sẽ là các đại diện của khu vực tư nhân và các nhà tài trợ như Ngân hàng Phát triển châu Á, họ sẽ làm việc cùng nhau về một kế hoạch chi tiết vì một tương lai bền vững.  Tại cuộc họp, chúng tôi sẽ khởi động Sáng kiến Năng lượng bền vững sông Mekong, là một kế hoạch nhằm khuyến khích các nước trong khu vực phát triển các chương trình theo đó sẽ điều chỉnh hướng đầu tư trong khu vực nhằm vào các sáng tạo, đổi mới trong các nguồn năng lượng tái tạo không gây hại cho môi trường.  Đây không phải là vấn đề áp đặt một con đường phát triển ở các quốc gia này. Mà là Hoa Kỳ cùng các nước khác làm việc với các quốc gia đối tác của chúng tôi để thiết lập một tập hợp các nguyên tắc đầu tư và phát triển nhất quán để đảm bảo sức khỏe cũng như nhịp sống kinh tế về dài hạn dọc theo dòng chảy của con sông.  Quan hệ đối tác này là một phần thiết yếu trong nỗ lực to lớn hơn của Tổng thống Obama và toàn bộ chính quyền của ông nhằm ủng hộ nhân dân khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như là một tín hiệu nữa thể hiện cam kết của chúng tôi đối với việc giúp đỡ các nền kinh tế sôi động và các nền dân chủ mới nổi này.  Đối với người Mỹ và Đông Nam Á cùng thế hệ với tôi, sông Mekong đã từng là một biểu tượng về xung đột. Nhưng ngày nay nó có thể là một biểu tượng về phát triển bền vững và quản lý tốt.  ————————————————————————  * Ngoại trưởng Hoa Kỳ         Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tụt hậu và phát triển      Cách đây 10 năm, chúng ta nói: Việt Nam đang bị tụt hậu so với thế giới. Đây là nguy cơ lớn nhất, cũng là thách thức lớn nhất. Nhờ nhận thức đó, chúng ta đã xác lập được một quyết tâm thực tiễn: phải thoát khỏi tụt hậu. Cách đây 5 năm, chúng ta lại nói: không chỉ tụt hậu, Việt Nam đang bị tụt hậu xa hơn. Và đây mới đích thực là nguy cơ lớn nhất. Nhận thức được điều này cũng là một bước tiến quan trọng của tư duy. Vì mấy lẽ. Một, nó xác định chính xác hơn tọa độ phát triển của Việt Nam trong không gian phát triển toàn cầu hiện đại. Hai, nó cảnh báo tính chất khốc liệt của tình thế mà chúng ta có thể lâm vào: khả năng dân tộc Việt Nam “bị đặt ra bên lề sự phát triển của thế giới”1. Ba, nó xác định rõ yêu cầu: để thoát khỏi tụt hậu, trước tiên, phải chặn được xu thế tụt hậu xa hơn. Quyết tâm phát triển của Việt Nam, vì thế, phải tăng gấp bội, phải ngàn lần “cao hơn núi”.    Tình thế cuộc đua tranh phát triển của Việt Nam.  Thế giới đang trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Nguyên lý phát triển đang thay đổi căn bản. Còn tốc độ biến đổi cao và ngày càng cao đang trở thành một thuộc tính phát triển cơ bản của mọi quá trình. Đối với một nước đi sau (như Việt Nam), do tiềm lực yếu, quen với sự thong thả và chậm chạp, việc nhập cuộc vào thế giới đó, đua tranh với nó một cách “bình đẳng” quả thực giống như một nhiệm vụ “bất khả thi”.   Nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới nghĩa là Việt Nam phải thực hiện bước chuyển kép chưa từng có trong lịch sử: vượt bỏ nền kinh tế nông dân cổ truyền, đồng thời, phải xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển lên nền công nghiệp đại cơ khí và phát triển kinh tế thị trường, tháo dỡ các rào cản tự cấp tự túc để mở cửa và hội nhập vào thế giới. Đó là những nhiệm vụ “động trời”, mang tầm lịch sử – thời đại. Nhưng vẫn chưa hết. Để thoát khỏi tụt hậu và tiến kịp thế giới, Việt Nam còn phải đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức, tức là phải thực hiện ngay cú nhảy “vượt thời đại”.       Đi thẳng vào hiện đại nghĩa là gì?   Là từ một điểm xuất phát thấp, chủ động tích cực tham gia ngay từ đầu vào quá trình toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, là đặt mục tiêu xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại bằng cách bỏ qua nhiều khâu, nhiều bước đi mà thế giới đã vượt qua. Đó chính là cách mà Hàn Quốc, Malaysia và một số nền kinh tế khác đã thực hiện thành công: rút ngắn quá trình công nghiệp hóa để bước nhanh sang công nghệ hiện đại. Nhanh đến mức mà J. Naisbitt, nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ phải thốt lên rằng có vẻ như các nước này bỏ qua công nghiệp hóa.                                     Đi thẳng vào hiện đại cũng có nghĩa là đồng thời với các quá trình kinh tế đó, phải hình thành và phát triển đồng bộ một xã hội dân chủ, văn minh, mở cửa, của con người, vì con người và do con người.   Thành tựu 20 năm qua, đã chứng tỏ sự lựa chọn là đúng đắn về nguyên tắc phương hướng phát triển của Việt Nam. Nhưng khi nhìn lại để đi tới, cần nhận thấy rằng, quá trình phát triển của chúng ta còn bị “lệch”: nặng về kinh tế, nhẹ về chính trị – xã hội; trong kinh tế lại thiên về công nghiệp hóa trong khi nội dung hiện đại hóa vẫn chưa được đặt đúng tầm. Chính đây là một trong những nguyên nhân căn bản giải thích tính chưa vững chắc của quá trình tăng trưởng, giải thích xu hướng tụt hậu xa hơn chưa phanh hãm lại được của nền kinh tế trong những năm qua2.   Tại thời điểm hiện nay, khi đất nước đang bước vào một giai đoạn hội nhập sâu và toàn diện vào hệ thống kinh tế thế giới và khu vực, thêm một lần, chúng ta phải suy ngẫm lại chân lý: cái đã từng đúng không chắc sẽ tiếp tục đúng. Đổi mới cần được tiếp tục đẩy mạnh chính là hiểu theo nghĩa đó. Và một chiến lược khôn ngoan phải là: Tiến hành công nghiệp hóa hướng tới kinh tế tri thức, dựa vào tri thức và vào hội nhập quốc tế; coi rượt đuổi tri thức và tiến kịp công nghệ là nội dung chủ chốt của toàn bộ nỗ lực đua tranh phát triển của dân tộc.   Cần chuẩn bị gì cho một cuộc chạy đua, vừa là maraton, vừa là đua tốc độ ngắn hạn?   Chắc chắn là cần chuẩn bị nhiều thứ. Ở đây, chỉ xin nêu vài thứ “hành lý” được coi là cơ bản.   Trước hết, phải chuẩn bị một ý chí phát triển và một tầm nhìn xa. Hãy nhìn lại Đông Á với các ví dụ thực tiễn – Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia và gần đây nhất là Trung Quốc, để nhận thức đầy đủ ý nghĩa quyết định của luận đề nói trên. Tất cả các quốc gia đó, không có ngoại lệ, đã nỗ lực “tiến kịp” bằng sự cắn răng vượt khó của người dân và tính kỷ luật sắt thép của xã hội, cộng vào đó, một bộ máy lãnh đạo quốc gia nhìn xa trông rộng (để biết đi tắt và biết vượt bỏ), toàn tâm toàn ý cho công cuộc phục hưng đất nước. Và họ đã thành công.  Thứ đến, một chiến lược phát triển thông minh. Để thành công với chiến lược phát triển “rút ngắn”, “tiến kịp”, cần có một chiến lược phát triển đặc biệt khôn ngoan. Chiến lược đó phải có tầm nhìn vượt xa thực trạng đất nước, phải bao quát được xu thế và triển vọng của nền kinh tế toàn cầu đang biến động rất nhanh và đầy bất thường. Chiến lược đó phải bảo đảm cho nền kinh tế tồn tại và phát triển trong cuộc cạnh tranh quốc tế với những đối thủ cạnh tranh mạnh hơn gấp bội và ngày càng khốc liệt.   Thực chất của chiến lược đó, đối với một nước nghèo đi sau, không có gì khác hơn là i) có một định hướng phát triển phù hợp với xu thế của thế giới hiện đại (mà xu thế chủ đạo hiện nay là toàn cầu hóa và kinh tế tri thức); ii) có khả năng tận dụng được thời cơ và lợi thế phát triển mà thời đại dành cho các nước đi sau (lớn nhất là thời cơ đi ngay vào hiện đại, đi ngay vào công nghệ cao như mô hình Bangalore của Ấn Độ); iii) kết được mọi nguồn sức mạnh – tư nhân và nhà nước, nội lực và ngoại lực, lịch sử và hiện đại – thành một khối thống nhất, cùng hướng tới một mục tiêu duy nhất: đưa Việt Nam tiến kịp thế giới.   Yêu cầu này đòi hỏi không được tạo ra và duy trì một hệ thống thể chế kỳ thị, phân biệt đối xử các nguồn lực và các chủ thể phát triển.   Nguồn nhân lực cho phát triển.   Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định thành công của quá trình chuyển nền kinh tế lên hiện đại.    Để đi thẳng vào hiện đại và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề mấu chốt đặt ra cho một nước đi sau là: đào tạo thế nào để nhanh chóng có lực lượng trí thức đủ mạnh và thực sự hữu dụng cho một chiến lược phát triển rút ngắn?          Không phải tất cả các nước đi sau đều có thể rút ngắn quá trình phát triển. Ngược lại, đa số đã thất bại, ít nhất là cho đến ngày hôm nay. Chỉ có một số ít nền kinh tế Đông Á và vài nền kinh tế Nam Mỹ là thành công trong nỗ lực phát triển rút ngắn của mình. Nói như vậy để thấy rằng chỉ có mong muốn và quyết tâm phát triển không thôi thì chưa đủ. Thậm chí, nếu chỉ có vậy thì đất nước càng dễ rơi vào thảm họa, kiểu như “đại nhảy vọt”. Hiện nay, Trung Quốc và Ấn Độ – hai nền kinh tế đang phát triển khổng lồ – đang bộc lộ rất rõ ý chí, năng lực và sự khôn ngoan trong việc lựa chọn cách thức phát triển theo lối đi nhanh vào hiện đại. Và cho đến nay, họ đang thực sự gặt hái những thành công. Sự trỗi dậy của hai nền kinh tế này không chỉ làm nghiêng lệch các cán cân phát triển vốn có của thế giới. Hơn thế, bằng tốc độ đi vào hiện đại rất nhanh, họ đang đe dọa vị thế của các nền kinh tế phát triển cao.        Một trong những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực cao cấp điển hình ở các nước đi sau thành công trong nỗ lực đuổi kịp là ngay từ đầu và không hạn chế, thậm chí tạo mọi điều kiện để khuyến khích thanh niên đi du học nước ngoài, nhất là ở các trung tâm khoa học – công nghệ hàng đầu thế giới. Mỹ, Anh, Đức là những địa chỉ đó. Lực lượng trí thức được đào tạo ở các trung tâm này, khi trở về nước, sẽ đóng vai trò là lực lượng chủ chốt trong quá trình phát triển kinh tế và khoa học – công nghệ. Họ cũng sẽ là hạt nhân xây dựng nền đại học quốc gia đạt “đẳng cấp quốc tế”. Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc và Ấn Độ đều hành động như vậy. Và họ đã thành công, ít nhất là “về cơ bản”. Việt Nam chúng ta cũng có định hướng này nhưng chưa biến nó thành một chiến lược xuyên suốt, có tầm vóc và một quyết tâm hành động quốc gia thống nhất và mạnh mẽ.  Một yếu tố cản trở quá trình này chính là thái độ đối với vấn đề “chảy máu chất xám” (brain drain). Nhưng xử lý vấn đề thế nào – bằng cách ngăn cấm, hạn chế thanh niên du học hay mở rộng cơ hội du học nước ngoài, đồng thời, tìm cách nâng cao sức hút quốc gia để lôi kéo họ trở về? Trả lời câu hỏi này, có hai bài học đáng lưu tâm.  Bài học thứ nhất: Thái độ đối với người du học. Suốt trong một thời gian dài, Trung Quốc coi những thanh niên du học không quay về nước là kẻ phản bội Tổ quốc. Chính phủ tìm cách hạn chế dòng học sinh du học. Kết cục là số người du học ít, tỷ lệ người trở về nước thấp. Nhưng từ nửa sau thập niên 1990, Chủ tịch Đặng Tiểu Bình thực thi chính sách khuyến khích du học nước ngoài, đặc biệt là vào Mỹ, Anh, Đức, coi những người du học chưa về nước sau khi tốt nghiệp vẫn là người Trung Hoa yêu nước, đồng thời, tạo mọi điều kiện để hấp dẫn họ trở về (chủ yếu bằng việc cải thiện môi trường chính trị – kinh tế – xã hội trong nước, mở rộng cơ hội việc làm, tăng chế độ đãi ngộ và nâng cấp điều kiện làm việc…). Kết quả đảo ngược nhanh chóng: Số người du học tăng lên, hàng năm đạt 60-70.000 người. Tỷ lệ người về nước từ mức 20-30% trong thập niên 1980 nay lên tới 60-70%. Nhiều người thành đạt ở Mỹ và Châu Âu trong tư cách nhà khoa học hay doanh nhân lần lượt trở về Trung Quốc lập nghiệp. Và họ đã góp phần xứng đáng vào sự trỗi dậy kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc gần đây.   Bài học thứ hai: áp dụng chính sách chưa buộc người du học trở về nước ngay sau khi tốt nghiệp. Trong thập niên 1980-1990,  hàng ngàn nhà khoa học và kỹ sư gốc Châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc, Ấn Độ) từng làm việc trong các trung tâm nghiên cứu và ngành công nghiệp thông tin của Mỹ lũ lượt hồi hương, đến mức một số người Mỹ lo ngại rằng sự dịch chuyển brain drain về Châu Á có thể làm chuyển dịch vị trí tiên phong về công nghệ của Mỹ sang Châu Á. Và giờ đây, người ta chợt nhận ra rằng việc những người du học tiếp tục tu nghiệp ở các trung tâm kinh tế và khoa học – công nghệ của thế giới thêm một thời gian và chỉ thu hút họ trở về nước ồ ạt khi điều kiện phát triển các ngành công nghiệp – công nghệ cao trong nước đã chín muồi cùng với các cơ hội mở rộng cho cá nhân họ là một chiến lược khôn ngoan. Việc ở lại thêm một thời gian đối với lực lượng tinh hoa này là vô cùng có giá trị vì nó cho phép họ tiến xa hơn vào các tri thức đỉnh cao, học hỏi thêm cách tổ chức hoạt động kinh tế tri thức và kinh doanh trong điều kiện toàn cầu hóa. Với tri thức đó, khi trở về nước, họ đã là những người có kinh nghiệm trong việc tổ chức công cuộc phát triển hiện đại ở đất nước mình.     Với nguồn tiềm năng trí tuệ to lớn và tình yêu Tổ quốc bao la trong mỗi người dân, chúng ta có dư địa thênh thang để chiến lược đó phát huy tác dụng, trở thành một lực đẩy mạnh mẽ bậc nhất cho công cuộc xây dựng một nước Việt Nam tiến kịp thời đại và “sánh vai” cùng nhân loại.   ——–                     [1] Cách diễn đạt của UNDP (Báo cáo Phát triển Con người 1999) về nguy cơ các nước đi sau không nhập cuộc được vào quỹ đạo phát triển toàn cầu và vì thế, đánh mất triển vọng phát triển của mình.      2 Ngoài khoảng cách chênh lệch thu nhập so với các nước đi trước đang doãng ra, sự tụt hậu xa hơn còn thể hiện ở mức độ cải thiện chậm chạp chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng quốc gia 2 năm gần đây của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam bị tụt 21 bậc. Tuy mức tụt 21 bậc có thể không phản ánh chính xác thực tế, nhưng dù sao, đây cũng là một cảnh báo cần được lưu ý nghiêm túc.     			Trần Đình Thiên        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông: Sự nhầm lẫn tai hại trong lịch sử      Biển Đông là một nơi nguy hiểm bởi những tầng lớp tranh chấp chồng lấn ở đó. Đó là những tranh giành trật tự thế giới trong tương lai, tranh chấp giữa những sức mạnh khu vực và tranh giành tài nguyên biển. Tiêu điểm là nút thắt chủ quyền đối với vài trăm mỏm đá và rặng san hô. Mặc dù rất nhiều sự chú ý đổ dồn vào những tranh chấp này, nhưng ngạc nhiên là rất ít mối quan tâm đến nguồn cơn của nó. Một vài tuyên bố sai lầm của Trung Quốc đã được ghi nhận vài thập kỉ trước nhưng ngày càng nhiều bằng chứng được đưa ra ánh sáng kể từ đó và đây là thời điểm để xem xét lại những tuyên bố của quốc gia này.        Hình 1: Đá vành khăn, một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa.      Trọng tâm của vấn đề hiện nay trên Biển Đông là quần đảo Trường Sa và một vài thực thể địa lý dưới đại dương gần bờ biển Việt Nam và đảo Borneo (một trong ba hòn đảo lớn nhất châu Á). Bản thân CHND Trung Hoa và Trung Hoa dân quốc (Đài Loan) chưa bao giờ đưa ra nguồn gốc những tuyên bố chủ quyền của họ về các khu vực này. Nghiên cứu của tôi, được công bố trên tạp chí học thuật Modern China (Trung Quốc hiện đại) – đã đưa đến kết luận rằng, những tuyên bố của Trung Quốc chỉ xuất hiện bởi vì lỗi dịch thuật và đo đạc bản đồ trong những năm 1930.      Tuyên bố đầu tiên   Câu chuyện về tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông bắt đầu vào năm 1907 khi họ phát hiện ra một thương nhân người Nhật chuyên khai thác phân hóa thạch của mòng biển trên quần đảo Đông Sa (nằm giữa Hồng Kông và đảo Đài Loan), tên là Nishizawa Yoshiji. Ông là một trong nhiều doanh nhân Nhật Bản đào phân chim để làm phân bón ở Thái Bình Dương. Tuy nhiên, từ đó lại có những đồn đoán về việc Nhật Bản đang dự định xây dựng căn cứ Hải quân ở Đông Sa và điều đó khiến Mỹ vốn vừa giành thuộc địa mới là Philippines quan ngại. Chính phủ Mỹ thông báo cho các quan chức Bắc Kinh vào cuối năm 1907 nhưng phải khoảng một năm sau thì triều đình nhà Thanh mới cử tàu đến điều tra. Vào năm 1909, triều đình Lưỡng Quảng xác nhận sự có mặt của Nishizawa ở quần đảo này và điều đó làm dấy lên một cuộc biểu tình lớn ở phía Nam Trung Quốc (vì người dân nước này cảm thấy chủ quyền của mình bị xúc phạm – ND) và làn sóng tẩy chay hàng Nhật. Chính phủ Nhật Bản vì vậy đồng ý đàm phán. Điều này cuối cùng dẫn tới việc Nhật công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Đông Sa.   Tuy nhiên, cùng lúc đó, chính quyền Lưỡng Quảng biết đến sự tồn tại của Quần đảo Hoàng Sa, có lẽ đó là lần đầu tiên họ nghe về nó và họ lo ngại Nhật Bản có thể sẽ thôn tính quần đảo này. Điều này dẫn tới một cuộc thăm dò vào tháng năm và tháng sáu của đô đốc Lý Chuẩn (李準) vào năm 1909, đồng thời Trung Quốc tuyên bố chính thức chủ quyền của mình lên quần đảo Hoàng Sa lần đầu tiên. Tàu thăm dò của Trung Quốc chỉ dành ba ngày giữa những hòn đảo bắn đại bác và cắm cờ trước khi trở về đất liền. Tuy nhiên, một điều rất rõ mà những người dẫn đầu cuộc thăm dò nhận ra ngay lập tức đó là Quần đảo Hoàng Sa không đem lại giàu có gì cho Trung Quốc. Báo chí lúc bấy giờ có đề cập đến một kế hoạch biến quần đảo này thành một thuộc địa của mình nhưng chỉ trong vài tuần, chính quyền nước này hoàn toàn không còn hứng thú gì với quần đảo này. Họ không quay lại đó cho đến những năm 1920.   Sự việc tiếp theo diễn ra ở biển Đông hoàn toàn là một sự lúng túng – là một sự hỗn độn ảnh hưởng tới những ghi nhận của giới học thuật về tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và cho đến bây giờ vẫn tác động đến những cuộc thảo luận về lịch sử. Vào tháng 12/1931, Pháp – quản lý thuộc địa ở Đông Dương – tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa và chín tháng sau, Trung Quốc Dân quốc phản đối. Trong tháng 7/1933, trong khi hai chính quyền vẫn đang tranh cãi về quần đảo Hoàng Sa, Pháp đồng thời cũng tuyên bố mình đã thôn tính xong sáu đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Điều này khiến Trung Quốc lúng túng vô cùng. Một điều rất rõ là trong những văn bản chính thức và báo chí thời bấy giờ, chính quyền Trung Quốc không phân biệt được giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ nghĩ rằng những hòn đảo mà Pháp vừa tuyên bố thôn tính chính là những gì mà Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền vào năm 1909. Phải mất nhiều tuần họ mới nhận ra sai lầm này. Trong quá trình đàm phán, Hải quân Trung Quốc còn gửi bức điện cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng quần đảo Trường Sa không hề tồn tại! Tình huống này chỉ được hóa giải với sự hỗ trợ của bản đồ của quan chức Mỹ tại Manila. Cuối cùng, chính quyền Trung Quốc quyết định rằng họ không thể chứng minh được tuyên bố chủ quyền của mình ở quần đảo Trường Sa và bởi vậy không phản đối hành động của Pháp nữa.   Tuy nhiên, sự lúng túng này khiến chính quyền Trung Quốc quyết định điều Ủy ban đánh giá bản đồ nước và đất điều tra lại tình huống này. Trong số các nhiệm vụ của ủy ban này, họ phải xem xét và dịch các bản đồ để chỉ ra quần đảo nào là Hoàng Sa và quần đảo nào là Trường Sa. Họ cũng đặt những tên Trung Quốc cho những địa danh này – nhưng đó chỉ đơn giản là dịch thuật hoặc phiên âm. North Danger Reef (Rạn nguy hiểm từ phía Bắc, một phần của cụn Song Tử) trở thành Beixian 北險礁 và quần đảo Trường Sa trở thành Si – ba – la – tuo 斯巴拉脫島 ‬(Tư Ba Lạp Thoát, phiên âm từ tên của một thuyền trưởng người Anh, Richard Spratly, người đã ghi chép về quần đảo năm 1843) và Luconia Shoals (Cụm bãi cạn Luconia) được phiên âm thành Lu – kang – ni – a 盧康尼亞滩 (Lư Khang Ni Á). Nghiên cứu của tôi cho rằng danh sách các tên mà ủy ban này dịch ra được lấy từ  China Sea Directory (Thư mục Biển Trung Hoa) được xuất bản năm 1906 của Văn phòng bản đồ Hàng hải Anh Quốc.   Nhưng trong quá trình này, Ủy ban này đã bị sai vài điểm. Họ đặc biệt lúng túng bởi hai thuật ngữ tiếng Anh là “bank” và “shoal”. Hai từ này đều có nghĩa là vùng biển nông – từ “bank” dùng để chỉ phần đáy biển nhô lên cao khỏi mặt nước (bãi),  từ còn lại là cách diễn đạt của ngành hàng hải, lấy từ Tiếng Anh cổ, nghĩa là “nông.” Thế nhưng ủy ban này lạị dùng một từ để dịch cả hai từ, là tan 滩 (than), có ý nghĩa chung chung mơ hồ là “bãi cát”, một thực thể có thể là ở dưới nước hoặc trên mặt nước.   Ủy ban gọi một thực thể ngầm dưới đại dương, James Shoal (Bãi ngầm James), bằng tên gọi Tiếng Trung là Zengmu tan曾姆滩, và thực thể khác Vanguard Bank (Bãi Tư Chính) là Qianwei tan 前衛滩. Zengmu là cách phiên âm của “James” còn Qianwei (Tiền vệ) là cách dịch của từ “vanguard” và tan là cách dịch của cả hai từ “bank” và “shoal”. Cách dịch này đưa đến một hậu quả vô cùng lớn mà chúng ta sẽ thấy dưới đây. Tại sao họ lại chọn hai thực thể ngầm dưới đại dương cho danh sách của họ thì vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.   Giả thuyết của tôi là, bởi vì họ không hề thực hiện bất kì một khảo sát bản đồ thủy văn nào, thành viên của ủy ban này phụ thuộc hoàn toàn vào những bản đồ mà họ tham khảo. Một bản đồ được coi là một phần của bất kì bộ sưu tập tiêu chuẩn nào thời bấy giờ là được sản xuất bởi công ty Edward Stanford của London. Bản đồ năm 1918 của công ty này, có tên Quần đảo châu Á có sự ưu ái đặc biệt cho cả James Shoal và Vanguard Bank và với hầu hết các thực thể khác được ủy ban liệt kê (xem hình 1). Tôi ngờ rằng, cũng chính bản đồ này đã định hướng lựa chọn của ủy ban này về việc đặt tên Trung Quốc cho thực thể nào.       Hình 2: Tài liệu Đảo và quần đảo châu Á, cho thấy Bãi ngầm James (James Shoal) và Bãi Tư Chính (Vanguard Bank) là những thực thể chìm (được khoanh vùng bởi tác giả bài viết). Bản đồ này được công ty Edward Stanford, London, năm 1918 (Thư viện bản đồ Anh, Bản đồ 88715) xuất bản.    Vào năm 1936, Bạch Mi Sơ, người sáng lập Hiệp hội Địa lý Trung Quốc, sử dụng thông tin của Ủy ban này để xuất bản “Cấu trúc địa lí Trung Quốc mới”中華建設新圖 (Trung Hoa Kiến thiết tân đồ). Kế thừa cả sự nhầm lẫn trong việc dịch thuật của Ủy ban cũ, ông đã tạo ra một sai lầm khủng khiếp. Ông vẽ thực thể Jeams Shoal lẫn Vanguard Bank đều là quần đảo (xem Hình 2). Và ông còn thêm đường chữ U vòng quanh Biển Đông chườm xa về phía Nam tới James Shoal và chườm xa về phía Đông Nam tới tận Vanguard Bank. Ý đồ của ông Bạch khá rõ ràng – Đó là đánh dấu cách hiểu “khoa học” của ông về chủ quyền của Trung Quốc. Bởi vì sự tùy tiện của ông (có thể là nhằm phục vụ lợi ích quốc gia) về James Shoal và Vanguard Bank về sau trở thành giới hạn chủ quyền đưa ra trong tuyên bố của Trung Quốc trên Biển Đông. Đó cũng là lần đầu tiên đường này được vẽ trên bản đồ Trung Quốc. Nó thậm chí còn không xuất phát từ tài liệu của nhà nước mà hoàn toàn là công trình của một cá nhân.   Bạch còn có một vài “sáng tạo” khác nữa. Ông vẽ những thực thể của Bãi ngầm Macclesfield Bank (ở chính giữa Biển Đông) là một quần đảo. Đó là lí do tại sao, cho đến tận ngày hôm này, chính quyền Trung Quốc vẫn nói về bốn quần đảo trên biển, mặc dù một trong số chúng không hề tồn tại!  Dù vậy chính quyền Trung Hoa Dân quốc tới trước năm 1946 lại không tuyên bố chủ quyền của mình ở Trường Sa. Đến tận năm 1943, Bộ Thông tin của Chính quyền Trung Hoa Dân quốc đã xuất bản cuốn Sổ tay Trung Quốc 1937 – 1943, một cuốn hướng dẫn mạch lạc về địa lý, lịch sử, chính trị và kinh tế của nước này. Ngay từ trang mở đầu, nó đã khẳng định “Lãnh thổ của Trung Hoa Dân quốc kéo dài từ [dãy núi Sayan ở phía Bắc]… tới Đảo Tri Tôn thuộc Quần đảo Đông Sa.”      Hình 3: Ảnh từ quyển Cấu trúc địa chí Trung Quốc mới (1936) xuất bản bởi Bạch Mi Sơ. Bãi ngầm James (James Shoals) được gọi là Zengmu tan曾姆滩 và Vanguard Bank gọi là Qianwei tan 前衛滩 (Vạn an than). Cả hai đều được vẽ là quần đảo và được chỉ dấu bằng đường biên giới cho chính ông Bạch vẽ (Vòng khoanh tròn được thêm vào bởi tác giả bài viết). Nguồn: Báo của Đại học Sư phạm Bắc Ninh, số 295 (10/5/2012).  Quan niệm về chủ quyền hàng hải của của Trung Quốc thay đổi chóng mặt sau đó ba năm. Sự thay đổi này thực ra bị thúc đẩy, có lẽ thậm chí còn bị điều khiển bởi hai học trò của Bạch Mi Sơ. Vào năm 1927, khi ông là Trưởng Khoa Lịch sử và Địa lý tại Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Bạch dạy Phó Giác Kim và Trịnh Tử Việt. Sau Thế chiến thứ Hai, họ được tuyển vào Bộ Nội vụ để cố vấn cho chính phủ về biên giới chủ quyền. Họ vẽ bản đồ biển và đặt tên các đảo vào năm 1946 và 1947 dẫn đến tuyên bố chính thức của Trung Quốc trên Biển Đông. Phó Giác Kinh và Trịnh Tử Việt sử dụng bản đồ của ông Bạch cùng đường chữ U để làm chỉ dẫn. Bởi vậy Trung Quốc cũng tuyên bố cả chủ quyền của mình với James Shoal và Vanguard Bank. Điều này hết sức phi lí – trừ khi bạn hiểu nguồn cội kì lạ của nó. Tuyên bố của Trung Quốc là kết quả của một chuỗi những nhầm lẫn và tùy tiện.   Vào tháng 10 năm 1947, Bộ Nội vụ của Trung Hoa Dân quốc đặt lại tên các quần đảo trong tuyên bố mới của mình. Hầu hết các việc dịch và phiên âm năm 1935 đều bị thay thế bởi các tên gọi mới, kêu và “Trung Quốc hơn”. Chẳng hạn như, tên Trung Quốc cho Quần đảo Trường Sa được chuyển từ Si-ba-la-tuo thành Nam Sa 南威島 hay Bãi cạn Scarbrough được chuyển từ Si-ka-ba-luo 斯卡巴洛礁 (phiên âm Tư Ca Ba Lạc) thành Rạn san hô Dân Chủ 民主礁. Tên Tiếng Trung của Vanguard Bank được chuyển từ Qianwei tan sang Wan’an tan (Vạn An). Quá trình này lặp lại trên khắp các đảo và quần đảo. Bộ Nội vụ có vẻ nhận ra vấn đề trước đó trong việc dịch từ “shoal” bởi vì họ đã dùng từ “ansha” 暗沙, nghĩa đen là “cát ngầm” như một cách gọi mới thay thế cho từ tan 灘 trong nhiều thực thể, bao gồm James Shoal, được đổi tên thành Zengmu ansha 曾母暗沙 (Tăng Mẫu ám sa).   Vì vậy phải đến tận năm 1948, chính quyền Trung Quốc mới chính thức mở rộng tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông tới quần đảo Trường Sa và xa về phía Nam tới tận James Shoal. Hẳn là điều gì đó đã thay đổi giữa tháng 7 năm 1933, thời điểm khi Trung Hoa Dân quốc hoàn toàn không biết gì về sự tồn tại của quần đảo Trường Sa đến năm 1947, khi họ “khẳng định” điểm cực Nam của chủ quyền mình là James Shoal.   Kết luận  Mặc dù chính quyền Trung Quốc muốn nói rằng họ có chứng cứ lịch sử và cổ xưa về những rạn san hô và các mỏ đá ở Biển Đông, thì việc đánh giá chi tiết các bằng chứng cho thấy, các “chứng cứ” này hóa ra mới chỉ được tạo ra từ nửa đầu thế kỉ 20. Các “chứng cứ này” cũng thay đổi trong suốt 40 năm thời kỳ từ 1907-1947. Toàn bộ quá trình này đầy rẫy những sự lẫn lộn và hiểu nhầm. Một vài nhầm lẫn là do một số ít những quan chức và học giả thiếu hiểu biết vào những năm 1980 đã tạo ra những hoang mang kéo dài đến tận bây giờ và gây tai họa cho địa chính trị Đông Nam Á đến tận ngày nay. □      Hảo Linh dịch  ——-  *Bill Hayton là học giả của Chương trình châu Á – Thái Bình Dương ở Think-tank Chatham House, Viện quan hệ Quốc tế Hoàng gia. Ông là tác giả của quyển sách Biển Đông: tranh chấp quyền lực ở châu Á.       Author                Bill Hayton*        
__label__tiasang Tuyển sẽ thành thi biến tướng?      Nhân đề án đổi mới tổng thể thi và tuyển sinh vừa được Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) công bố, Tia Sáng đã có cuộc mạn đàm về vấn đề này cùng PGS.TS. Trần Ngọc Vương, giảng viên Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đại học Quốc gia Hà Nội.         Ông đánh giá thế nào về chủ trương nhập hai kì thi tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng thành một?   Thi tốt nghiệp phổ thông đặt ra những chuẩn yêu cầu mang tính đại chúng, liên quan đến đại đa số người đi học còn thi tuyển sinh vào đại học và cao đẳng, trong thực tế chỉ liên quan đến 1/10 số thí sinh ra khỏi nhà trường phổ thông hằng năm. Hàng chục năm vừa rồi số vào được các trường cao đẳng đến đại học chỉ là 1/10. Vậy thì có chuyện là anh dùng chuẩn đại trà có đánh giá được chuẩn có tính lựa chọn và cạnh tranh? Tốt nghiệp phổ thông không ai định tỉ lệ trước nhưng giáo dục chuyên nghiệp thì định tỉ lệ, định chỉ tiêu đào tạo. Vả lại ngưỡng tuyển sinh vào đại học, cao đẳng lại có sự phân hóa cực kì lớn theo đặc thù từng trường. Như vậy không thể đem hai cái chuẩn so với nhau. Đó là hai đại lượng không thể so sánh. Thế nên không thể gộp hai cái làm một. Ngày xưa, để chọn người làm quan, làm vua, người ta cũng đã phân ra những tiêu chí khác nhau. Người làm quan to thì có thể “tiểu sự hồ đồ đại sự bất hồ đồ”. Người làm quan nhỏ thì không thế. Có anh có năng lực giải quyết những chuyện cao cấp nhưng giải quyết những chuyện bình thường thì cũng chỉ như người thường thậm chí là kém hơn. Đó là chuyện bình thường. Điều đó chứng tỏ người xưa ý thức rõ về các chuẩn mực còn ta thì hình như chưa.  Nhưng có lẽ trong dự kiến, Bộ cũng đã tính đến điều này. Chẳng hạn, Bộ cho phép các trường quyết định môn nhân hệ số hoặc môn năng khiếu.                  Trong dự án công bố trên báo chí, tôi thấy nhiều vấn đề cơ bản của thi cử vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản. Liệu việc nhân hệ số một số môn có cho phép tìm được những học sinh có một số năng lực nào đó vượt trội? Rồi hàng loạt vấn đề tồn tại từ kì thi trước cho đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để. Liệu có tiếp tục diễn ra tình trạng có những học sinh thi ba môn được 26,27 điểm thì trượt đại học trong khi đó có những học sinh chỉ được 16,17 điểm thì được quyền học đại học? Vì sao? Vì anh thả nổi hệ thống tuyển sinh đại học. Điểm thi tốt nghiệp thì bị “nắm”, là một thứ pháp định. Trong khi đó, việc tuyển sinh của các trường đại học thì lại không thể nắm được vì họ tự chủ. Anh không thể bắt trường này phải nhận đối tượng được chừng này điểm tốt nghiệp, trường kia nhận đối tượng được chừng kia điểm. Cùng lắm anh chỉ quyết định được một cái gọi là điểm sàn. Còn lại, mỗi trường sẽ tuyển theo cách của họ.   Mô hình này còn có những nhược điểm gì nữa, thưa ông?   Trong thực tế, mọi kiểm định chất lượng giáo dục của ta đều mới chỉ đi những bước chập chững đầu tiên. Bây giờ nếu giao cho Cục khảo thí quản lí chất lượng của cả kì thi quốc gia thì họ có thể làm được không? Chắc chắn không.  Cuối cùng thì kì thi sẽ được giao về cho địa phương. Về địa phương thì sẽ thấy việc người ta tác động đến kết quả là điều cực kì dễ dàng có thể xảy ra.   Vậy là mô hình “ghép” thì hay nhưng có lẽ là khó khả thi?  Mô hình đúng hay không đo bằng việc anh có thể hiện thực hóa được hay không. Nếu mà về lí thuyết anh bị phản biện liên tục trong khi đó về thực tiễn anh có thể không thể thực hiện được thì làm sao có thể gọi là mô hình đúng được? Cần phải nhớ rằng đây không phải là lí thuyết trừu tượng mà là tương tác xã hội cụ thể. Tôi không chấp nhận lối diễn đạt theo kiểu nó đúng nhưng nó không thể thực hiện được mà phải nói là vì nó không thể thực hiện nên nó không đúng. Cần nói như triết học Mác xít là “thực tiễn là thước đo của chân lí”. Đúng hay không là do kết quả thực tiễn quy định. Tôi không bàn chuyện mô hình lôgích hình thức. Tôi không thách thức. Tôi chỉ là người tiếc tiền của mồ hôi của nhân dân. Giáo dục của chúng ta đã thí nghiệm quá nhiều rồi.   Vậy ông cho đó là một thí nghiệm quá không an toàn?               Gộp hai kì thi thì sẽ đẻ ra hàng chục kì thi khác. Đó chính là cơ hội để tính tự phát và tùy tiện phát triển. Dù có bỏ đi một kì thi thì nhu cầu tuyển sẽ vẫn còn và thế thì tuyển sẽ thành thi biến tướng. Và đó sẽ là mảnh đất cho tính tự phát và tùy tiện phát triển. Hơn nữa, nếu tuyển thì dựa vào cái gì để tuyển. Học bạ, bảng điểm phổ thông? Nếu ở những địa phương người ta làm học bạ giả, các trường có tuyển không? Đến những chuyện thiêng liêng như hồ sơ thương binh mà còn bị làm giả hàng nghìn bộ thì sá gì học bạ phổ thông? Đó là chuyện phải nói cho dứt khoát.              Rất không an toàn. Trước khi tiến hành phải có những phép thử cục bộ. Ai được phép đánh giá kiểm định, có đủ tư cách và năng lực không, và sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào. Rồi sự phân quyền giữa quản lí nhà nước và quyền tự chủ của đại học đến đâu. Phải có một sự phân loại đại học để có chính sách cụ thể cho từng trường, thậm chí có những ngành học phải có ưu đãi đặc biệt với sự trợ giúp của nhà nước. Trong những vấn đề đó, nhà nước phải chủ động điều tiết. Phải phân loại các trường và giải một loạt bài toán mà hiện nay là những mâu thuẫn tai hại : những khoa thuộc những ngành đòi hỏi chất lượng sinh viên cao nhất thì điểm tuyển sinh lại rất thấp, nếu không muốn nói là thấp nhất.    Nhưng chúng ta cũng thừa nhận rằng là nói gì thì nói, đại học sẽ vận hành theo một cơ chế thị trường với những trường, những ngành học mà có bắt học sinh cũng không vào. Ông nghĩ sao về điều này?   Giáo dục bị chi phối và tất yếu sẽ bị chi phối bởi tính thị trường. Nhưng giáo dục khi đã là một thực thể có chủ thể quản lí và điều khiển thì nhu cầu về tính tự giác và tính tiên liệu trước lại là yêu cầu bắt buộc. Ví dụ. Nếu anh để cho tự phát thì đến bao giờ có công nghệ hạt nhân, thiên văn học, triết học và kinh tế học?   Ngoài ra, chuyện gộp hai kì thi còn có chuyện áp dụng thi trắc nghiệm cho tất cả các môn, ông nghĩ thế nào về hình thức thi này?  Về vấn đề trắc nhiệm, cứ lấy ví dụ như thế này, một học sinh trung bình yếu nghĩa là có thể làm chắc chắn được khoảng 4 điểm trên 10. 6 điểm còn lại, cứ làm trắc nghiệm theo xác suất là có thêm được 2 điểm nữa. Vậy là có số điểm là 6/10. Vậy là trắc nhiệm sẽ đẩy chất lượng thực lên cao. Vấn đề thứ hai, thi trắc nhiệm có bảo đảm rằng đáp án thi là đáp án đúng duy nhất không? Ví dụ, một câu hỏi ngoại ngữ, chọn một trong ba từ, nhưng người học không biết cả ba từ, trong khi đó anh ta lại biết một từ đồng nghĩa với đáp án đúng, vậy trường hợp này tính sao? Từ đó sẽ thấy đáp án là quay về với triết lí của bộ đề thi trước đây, chỉ chọn đáp án có sẵn, không cho phép mọi sự sáng tạo. Anh có bảo đảm rằng đáp án là chắc đúng và không có khả năng khác cũng đúng không? Và nếu học sinh nhìn thấy khả năng không có trong đáp án đó thì sao? Tóm lại, trắc nghiệm không phải là chìa khóa vạn năng. Nó có ưu điểm nhưng ưu điểm ấy chỉ phát huy được khi kết hợp với thi tự luận theo một tỉ lệ hợp lí.  Qua chuyện dự án thi cử này, theo ông vấn đề lớn của hệ thống giáo dục của chúng ta là gì?   Cho đến nay, các cuộc đóng góp ý kiến về giáo dục chỉ có tính chất là những cuộc tham khảo ý kiến theo kiểu không có không được mà những người làm công tác điều hành bắt buộc phải tiến hành mỗi khi triển khai một công việc nào đó. Chính vì những thứ “không có không được” ấy mà người ta tổ chức ra Hội đồng Quốc gia giáo dục, tổ chức ra các hội thảo, nhưng lại thiếu một cơ chế đối thoại thực sự giữa những nhà giáo có tri thức, kinh nghiệm với các nhà quản lý về các vấn đề giáo dục. Đó chính là vấn đề.   Xin cảm ơn và mừng ông nhân ngày Nhà giáo Việt Nam.                 PV    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyên truyền một chiều làm người Trung Quốc thêm xấu xí      Với tâm lý kỳ thị chủng tộc, nhiều người  Trung Quốc đã thực sự xấu xí. Và sự xấu xí này đang đang được gia cường  trực tiếp hay gián tiếp thông qua chính sách tuyên truyền một chiều của  nhà nước Trung Quốc.    1. Khoảng năm 2000-2001, trong quá trình tìm hiểu văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là những thói hư tật xấu của họ đến văn hóa Việt Nam, như thói háo danh hư học, tôi đọc được cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương – một nhà báo người Đài Loan. Càng đọc và suy ngẫm, tôi càng thấy người Trung Quốc quả thực có những thói quen rất xấu, như kỳ thị chủng tộc, tự tôn quá đáng, cãi lấy được v.v.  Vài năm sau đó, tôi có dịp làm việc với nhiều đồng nghiệp đến từ Trung Quốc lục địa. Về chuyên môn họ khá vững vàng, nhưng về văn hóa, ngoài những mô tả của Bá Dương ra, tuy đậm nhạt khác nhau tùy người, thì còn một đặc điểm chung rất nặng nề mà Bá Dương đã không nhắc đến. Đó là: những người Trung Quốc mới này, dù là nhà khoa học, cũng bị chính phủ Trung Quốc tuyên truyền một chiều kiểu nhồi sọ tạo ra những định kiến rất khó gỡ bỏ, đặc biệt là trong các tranh luận liên quan đến tranh chấp biên giới, hải đảo, trong đó có tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Chẳng hạn, trong một cố gắng tìm hiểu nguyên nhân thực sự của cuộc chiến 17/2/1979, theo lý giải của phía bên kia, tôi đã hỏi ba đồng nghiệp người Trung Quốc đều trên dưới ba mươi tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ ở trong nước, rồi sang Anh làm việc cùng nhóm với tôi. Sau một giờ trao đổi, cả ba người đều đưa ra cùng một kết luận giống hệt nhau: Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, vì: Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhưng Việt Nam đã liên kết với Liên Xô (cũ) để đe dọa Trung Quốc. Do Việt Nam tiến đánh Campuchia, một đồng minh thân cận của Trung Quốc. Do xung đột biên giới dai dẳng, Việt Nam đòi chia biên giới theo hướng có lợi cho mình, nhưng không đi sâu phân tích xem lý lẽ đó đã thỏa đáng chưa, và nguyên nhân thực sự của những cái được gọi là nguyên nhân kia là gì. Điều này hoàn toàn trái ngược với tác phong làm việc khoa học, tìm hiểu kĩ nguyên nhân, liên hệ đến các yếu tố tác động bên ngoài, như trong các vấn đề chuyên môn của họ.  2. Ngày 22/2/2013, Bà Rose Tang – một nhà báo người Mỹ gốc Hoa, đã từng giảng dạy tại đại học Princeton – đã chụp lại tấm biển có dòng chữ tiếng Trung và Anh “Không phục vụ người Nhật, người Philippines, người Việt Nam và chó” tại nhà hàng Beijing Snacks (Bách Niên Lỗ Chử) và đăng lên trang facebook cá nhân. Những tấm ảnh này đã gây ra một sự phẫn nộ lớn trong cộng đồng người Việt. Sau đó, tấm biển này đã được gỡ bỏ, nhưng ông chủ nhà hàng nhất định không chịu xin lỗi về việc kỳ thị chủng tộc này.  Tuy đây chỉ là việc làm của cá nhân ông chủ nhà hàng nói trên, nhưng nó phản ánh tâm lý kỳ thị chủng tộc đang rất phổ biến ở Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, Philippines, Nhật Bản ngày càng gia tăng. Tình hình trở nên đặt biệt căng thẳng với Việt Nam và Philippines khi Trung Quốc ngày càng lộ rõ ý đồ độc chiếm biển Đông với yêu sách về “đường lưỡi bò” hết sức phi lý, bất chấp Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS).  Khi chính phủ Nhật Bản quốc hữu hóa đảo Senkaku, hàng loạt vụ đập phá cửa hàng bán đồ Nhật đã xảy ra. Khi Philippines đâm đơn kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, thì chính quyền Trung Quốc kịch liệt phản đối, và một nhà hàng Trung Quốc treo tấm biển kỳ thị chủng tộc gây sốc này.  Nhớ lại lời bàn về kỳ thị chủng tộc của Bá Dương: “Tôi chỉ muốn nói cái đầu óc kỳ thị nơi người Trung Quốc, so với kỳ thị chủng tộc, còn ở mức độ thấp kém hơn, vì nó là đầu óc kỳ thị địa phương”, mới thấy rằng việc kỳ thị chủng tộc là có thật và thực sự là một căn bệnh của người Trung Quốc.   3. Trong lo ngại về những căng thẳng mà Trung Quốc gây ra cho các nước xung quanh trong thời gian gần đây, đặc biệt khi Trung Quốc đang trỗi dậy, có sức mạnh kinh tế và quân sự vượt trội so với các nước láng giềng, thì tâm lý kỳ thị chủng tộc này là một điều rất đáng lo ngại. Nó nhắc nhở người ta nhớ lại hình ảnh của các nước phát xít trước thế chiến thứ hai. Thời kỳ đó, ở các nước này cũng phổ biến tâm lý kỳ thị chủng tộc, coi chỉ dân tộc mình là ưu việt đáng sống, còn các dân tộc khác chỉ là thứ cấp, thậm chí đáng bị loại bỏ. Chính tâm lý kỳ thị chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi ở các nước phát-xít này là một trong những nguyên nhân đưa nhân loại đến cuộc đại chiến tàn khốc, mà hệ quả của nó đến bây giờ vẫn còn dai dẳng, và có lẽ sẽ không bao giờ có thể khắc phục hết được.  Liệu Trung Quốc có đi theo vết xe đổ này không? Liệu Trung Quốc có gây ra đại họa cho nhân loại bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi mà chính phủ họ ít nhiều cổ xúy, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tuyên truyền một chiều về các tranh chấp và xung đột lợi ích với các dân tộc khác? Câu trả lời còn chưa rõ ràng. Nhưng có một điều chắc chắn, nếu chính phủ Trung Quốc không có những điều chỉnh kịp thời để hạn chế tâm lý kỳ thị chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi dường như đã rất rõ ràng thì điều không ai muốn rất có thể sẽ lại xảy ra. Đó sẽ là cái giá quá đắt, không chỉ đối với Trung Quốc và các nước nạn nhân, mà còn với cả nhân loại.  Với tâm lý kỳ thị chủng tộc, nhiều người Trung Quốc đã thực sự xấu xí. Và sự xấu xí này đang được gia cường trực tiếp hay gián tiếp thông qua chính sách tuyên truyền một chiều của nhà nước Trung Quốc.  4. Đối với Việt Nam, bài học về sự phản tác dụng của chính sách truyền thông một chiều đã nói trên đây của Trung Quốc cũng cần phải được nghiêm túc xem xét. Tuyên truyền một chiều có thể có tác dụng cho các chính sách nhất thời của nhà nước, nhưng về lâu dài thì lại có hại cho dân trí, dân khí và sự trưởng thành của dân tộc. Người dân chỉ có thể trưởng thành nếu được tiếp cận các luồng thông tin đa dạng và được tự do tham gia thảo luận, hòng tìm ra sự thật trong rừng thông tin đó. Nói cách khác, dân tộc chỉ có thể trưởng thành nếu mọi người dân của nó được quyền tự do tiếp cận thông tin, tự do thảo luận, tức tự do báo chí được đảm bảo.  Với những sự việc nhỏ như sự kỳ thị chủng tộc của một chủ nhà hàng Trung Quốc trên đây, việc lên tiếng để bảo vệ phẩm giá của mình là cần thiết. Nhưng điều này sẽ trở thành vô nghĩa nếu Việt Nam cứ mãi nghèo nàn tụt hậu, cứ mãi ở thế yếu so với họ. Nếu đât nước không phát triển được, dẫn đến dân tộc bị khinh rẻ trên trường quốc tế thì lỗi này trước hết thuộc về các nhà lãnh đạo đất nước, và sau đó là từng người dân cụ thể.   Vì thế, điều cần thiết hơn là phải làm sao cho Việt Nam hùng mạnh, phải giải phóng sức sản xuất và sức sáng tạo, quy tụ nguồn lực để phát triển. Điều này đòi hỏi nỗ lực trước hết của các lãnh đạo, sau đó mới đến từng người dân.   Nếu Việt Nam giàu mạnh, thì những lời kỳ thị đâu đó chỉ như con gió thoảng, có gì là đáng ngại? Còn khi Việt Nam mãi nghèo nàn lạc hậu, thì tức giận khi bị kỳ thị đâu có giúp được gì nhiều.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tỷ lệ vàng và vẻ đẹp của Toán      Tỉ lệ vàng từ lâu đã được con người coi là một con số thần thánh, một con số vô tỷ xấp xỉ 1.6180339887… được áp dụng phổ biến trong kiến trúc và mỹ thuật. Người ta nói rằng Leonardo da Vinci từng áp dụng tỉ lệ vàng khi vẽ bức Mona Lisa; người Hy Lạp sử dụng nó khi xây dựng Pathernon, và trước đó người Ai Cập cũng vận dụng nó để xây Kim tự tháp Khufu. Thậm chí, Claude Debussy từng đưa tỉ lệ vàng vào trong cấu trúc âm nhạc của ông.      Vậy bí ẩn sau bản chất tỉ lệ vàng là gì. Ta hãy thử xem xét một chút về toán học. Tỉ lệ vàng là tỉ lệ Φ giữa hai đại lượng a và b, khi mà a/b = (a+b)/a = Φ (ngoài ra, với a > b thì tỉ lệ b/(a-b) cũng bằng Φ). Như vậy, với tỉ lệ vàng Φ, ta có thể thiết lập một chuỗi vô hạn tăng dần, trong đó tỉ lệ giữa một số bất kỳ với số bé hơn đứng ngay trước nó luôn bằng Φ, và bất kỳ số nào trong chuỗi cũng đều bằng tổng của hai số đứng trước nó. Do đó, mối liên hệ giữa các phần tử này vô cùng khăng khít, vừa gắn kết với nhau theo quan hệ nhân chia, vừa theo quan hệ cộng trừ.  Để hình dung một cách thị giác, ta hãy vẽ một hình chữ nhật bất kỳ có hai cạnh a và b nêu trên (giả định rằng a > b). Một cách vô thức, khi ta dựng hai cạnh a và b thì đồng thời trong tâm trí cũng có thể phát sinh các độ dài không trực quan khác, cụ thể là tổng và hiệu của hai cạnh a, b. Nếu xếp bốn độ dài này theo thứ tự tăng dần ta sẽ có  (a-b), b, a, (a+b), trong đó tỉ lệ hai số liền kề luôn là tỉ lệ vàng Φ.  Như vậy, trong một hình chữ nhật với hai cạnh có tỉ lệ vàng, không chỉ những độ dài trực quan (tức hai cạnh vuông góc) mà cả những độ dài vô thức phát sinh (tổng và hiệu hai cạnh vuông góc) cũng đều tuân theo tỉ lệ vàng. Tỉ lệ vàng trở thành yếu tố hạch tâm, liên kết tất cả các đại lượng chiều dài trong hình chữ nhật, dù trực quan hay vô thức.  Đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm và minh chứng hiệu ứng của tỉ lệ vàng. Gustav Fechner từ thế kỷ 19 đã thử cho mọi người xem các hình chữ nhật khác nhau để chọn ra hình mà họ cảm thấy dễ chịu nhất về mặt thị giác, đa số họ đã ngẫu nhiên chọn những hình có hai cạnh theo tỉ lệ vàng.  Cảm giác dễ chịu về mặt thị giác ở con người đối với tỉ lệ vàng mà thực tế trên đã chứng minh nói lên điều gì? Theo tôi, nó liên quan mật thiết tới bản năng chinh phục và giao hòa, không chỉ có ở con người mà tồn tại trong vạn vật. Chúng ta mong muốn chế ngự thế giới, hoặc ít ra là thấu hiểu toàn bộ, hay nếu không thấu hiểu toàn bộ thì trong thâm tâm ta vẫn hi vọng những phần chưa biết có sự liên hệ ngấm ngầm với những gì đã biết theo một quy luật nào đó. Quá trình con người theo đuổi, tìm kiếm một cách có lý trí những quy luật phổ quát, trong tôn giáo, triết học, khoa học, toán học…, cũng như tiến trình chắt lọc cái đẹp trong nghệ thuật về bản chất đều có điểm chung, đó là sự nỗ lực giao cảm với thế giới, bằng cách chinh phục hoặc tìm mối liên hệ giữa bản thân con người với những gì chưa biết.  Đối với tỉ lệ vàng, có thể hiểu nó là một biểu tượng của sự sinh sôi vô tận trong trật tự. Nó hiện hữu trước mắt nhưng đồng thời ngầm gợi tả vô vàn những biến hóa kế tiếp, tất cả đều khăng khít mật thiết, và tất cả những biến hóa ấy đều có thể dễ dàng truy hồi về điểm mấu chốt ban đầu.  Do đó, không phải tình cờ mà tỉ lệ vàng thường được lựa chọn khi người ta muốn minh chứng cho vẻ đẹp của toán học. Vẻ đẹp ấy mang hình thức toán, nhưng trong bản chất nó nói rằng: chúng ta hiện hữu, chúng ta sinh sôi, chúng ta gắn kết, chúng ta có năng lực giao hòa với thế giới, và chúng ta chung một gốc rễ.    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Ứng dụng truy vết điện tử: Đánh đổi giữa quyền riêng tư và sức khỏe cộng đồng?      Việc sử dụng ứng dụng truy vết điện tử (contact-tracing application) ở nhiều quốc gia vào năm 2020, khi đại dịch vừa bùng nổ đã gây ra nhiều tranh cãi về minh bạch quản lý dữ liệu, tính hiệu quả, cũng như hệ quả xã hội của các ứng dụng công nghệ này.      Những cán bộ làm công tác truy vết ở Hàn Quốc đang xem xét hình ảnh camera của một hiệu thuốc, nơi có một người bị dương tính với COVID-19 ghé thăm trước đó. Ảnh: Vox.com  Sự bùng nổ của các ứng dụng truy vết điện tử     Truy vết là một công cụ quan trọng trong việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, và là một phần không thể thiếu trong công tác quản lý dịch tễ. Thế nhưng, đứng trước hiện trạng số lượng ca bệnh tăng nhanh và liên tục, công tác quản lý dịch cần phải chạy đua với thời gian để có thể kiểm soát hiệu quả sự lây truyền, việc truy vết ngày càng trở nên vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, các ứng dụng truy vết bằng công nghệ có thể giúp tăng tốc cho việc truy vết, và giúp công tác kiểm soát bệnh dịch trở nên hiệu quả hơn các phương pháp truy vết truyền thống. Để đạt được điều này, điều kiện đầu tiên là việc ứng dụng truy vết bằng công nghệ cần phải được áp dụng rộng rãi.    Chính vì lý luận này mà vào đầu năm ngoái, khi dịch COVID-19 vừa bùng nổ, trên app store của Apple, Google, và Amazon xuất hiện tràn lan những ứng dụng truy vết tự phát do các công ty công nghệ nhanh chóng phát triển và khuyến khích người dùng cài đặt, với mục đích kép là vừa lấp vào lỗ hổng công nghệ được xem là cần thiết vào lúc bấy giờ, vừa nhân cơ hội thu thập dữ liệu người dùng với mục đích lợi nhuận về sau. Không lâu sau đó, cả ba tập đoàn công nghệ này đều không cho phép các ứng dụng tự phát xuất hiện trên nền tảng mua bán ứng dụng của mình nữa, và tuyên bố rằng chỉ hợp tác với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ có uy tín như WHO đối với toàn bộ các công nghệ liên quan đến dịch COVID-19. Quyết định này được đưa ra do vô vàn những vấn đề nghiêm trọng về việc tin sai lệch, tin bịa đặt, cơ sở hạ tầng quản lý dữ liệu, và quyền riêng tư của người dùng mà nhiều ứng dụng tự phát đã không tuân thủ. Như vậy, ngay từ những ngày đầu tiên của đại dịch, khi áp dụng công nghệ là một giải pháp cần thiết và cấp bách, vấn đề lòng tin của người dùng và trách nhiệm của doanh nghiệp đã được đặt lên hàng đầu.     Giới hạn dành cho các ứng dụng truy vết điện tử     Nếu việc ứng dụng công nghệ để tăng tốc truy vết là cần thiết và cấp bách, vì sao nhiều quốc gia vẫn có những phản đối gay gắt từ nhiều nước đối trước việc các ứng dụng này ngày càng lan rộng? Có ba vấn đề lớn đáng quan tâm trong việc ứng dụng công nghệ truy vết điện tử trong quản lý dịch tễ đã được mang ra mổ xẻ toàn cầu mà có lẽ Việt Nam cũng cần tham khảo để rút kinh nghiệm. Vấn đề thứ nhất liên quan đến quy tắc giám sát hàng loạt, vốn được xem là không cần thiết trong một xã hội văn minh hiện đại. Vấn đề thứ hai liên quan đến quyền riêng tư, sự kì thị, và nguy cơ đối xử bất công đối với một bộ phận người dân trong xã hội. Vấn đề thứ ba trực tiếp liên quan đến tính thiếu chính xác của các ứng dụng truy vết điện tử do những giới hạn sẵn của các công nghệ mà những ứng dụng này sử dụng để phát triển.    Nỗi lo giám sát hàng loạt (mass surveillance)    Giám sát hàng loạt là một khái niệm diễn tả việc áp dụng hệ thống và công nghệ thu thập, phân tích, tạo ra dữ liệu với số lượng lớn, diễn ra vô thời hạn, để có thể quản lý một bộ phận dân số lớn. Khái niệm này đối lập với việc giám sát có mục tiêu (targeted surveillance), khi người ta chỉ giám sát giới hạn trong những cá nhân mà họ có lí do xác đáng (reasonable suspicion) để nghi ngờ những người này đang có hành vi sai trái, hoặc thuộc nhóm có rủi ro nguy hiểm cao.    Trong khi đó, giám sát hàng loạt dựa trên giả định rằng tất cả thông tin có thể thu thập được về con người đều hữu ích để giải quyết một mối đe dọa giả định; nhiều người cho rằng nguyên lý này không thể dung hòa với các giá trị và nguyên tắc cơ bản một xã hội hiện đại, văn minh, và coi trọng giá trị cuộc sống của con người. Kể cả trong trường hợp mối đe dọa không phải là giả định mà rất chắc chắn – ví dụ như là mối đe dọa về sức khỏe cộng đồng do COVID-19 gây ra – thì vẫn cần phải xem xét lựa chọn các giải pháp ít xâm hại hơn. Và trong trường hợp không thể tìm được một giải pháp ít mang tính xâm hại hơn cho những vấn đề nan giải cấp bách như là đại dịch, nếu việc thực hiện các biện pháp công nghệ có thể dẫn đến nguy cơ giám sát hàng loạt, nó cần phải được theo dõi, phê bình, và công khai minh bạch để có thể được can thiệp, sửa đổi một cách phù hợp.    Như vậy thì làm thế nào để có thể tránh khỏi nguy cơ sa vào thực tiễn giám sát hàng loạt? Công ước châu Âu về Quyền con người, Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Liên Hợp Quốc và Nguyên tắc Siracusa đã đưa ra bốn nguyên tắc cần xem xét khi phân tích và đánh giá tính đạo đức của việc giám sát hàng loạt với ứng dụng truy vết COVID-19. Bốn nguyên tắc này bao gồm: sự cần thiết, tính tương xứng, giá trị khoa học, và giới hạn về thời gian.    1. Sự cần thiết: được định nghĩa là việc các chính phủ chỉ nên can thiệp vào quyền của người dân khi tối cần thiết cho lợi ích sức khỏe cộng đồng. Các rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc xâm phạm quyền riêng tư cá nhân phải nhỏ hơn hoặc bằng lợi ích mà nó mang lại cho người dân. Nếu không có một lợi ích nào đáng để đánh đổi quyền riêng tư, thì việc thực hiện ứng dụng công nghệ có thể được xem là không cần thiết.    2. Tính tương xứng: Mức độ nghiêm trọng của các rủi ro sức khỏe đang được chính phủ ra sức giải quyết là lý do biện minh duy nhất cho những tác động tiềm ẩn của một ứng dụng truy vết lên quyền của người dân.    Khi viết các ứng dụng, những tùy chọn tối ưu nhất về mặt công nghệ không quan trọng bằng những tùy chọn hiệu quả nhất để bảo vệ quyền của người dùng mà vẫn có thể đạt được mục tiêu quản lý dịch bệnh. Ví dụ, khi người dùng ứng dụng tiếp xúc với ca dương tính, họ sẽ được báo tin nhắn để có thể tự nguyện cách ly tại nhà, hoặc đến báo cáo với các cơ quan chức năng để được sàng lọc lấy mẫu xét nghiệm. Người dùng đã tự nguyện cung cấp thông tin về toàn bộ nơi họ đi lại sinh hoạt hằng ngày cho ứng dụng để có thể giúp quản lý dịch bệnh và bảo vệ cộng đồng; họ cần được có quyền lựa chọn giải pháp phù hợp với tình huống cá nhân của họ trong khuôn khổ pháp luật cho phép để bảo vệ bản thân.    3. Giá trị khoa học: là khái niệm đánh giá xem một ứng dụng có hiệu quả, kịp thời và chính xác hay không. Các quy trình theo dõi tiếp xúc thủ công truyền thống không đủ hiệu quả đối với đại dịch COVID-19, và không thể đánh giá hiện tượng lây truyền không có triệu chứng. Việc sử dụng truy vết điện toán có thể giúp cải thiện phương diện này. Tuy nhiên, để các ứng dụng hoạt động thực sự hiệu quả, tỉ lệ sử dụng cần đạt 56-60% dân số. Hơn nữa, nếu các ứng dụng này không liên tục cập nhật các thông tin khoa học mới nhất, đặc biệt là trong bối cảnh kiến thức khoa học liên tục thay đổi để có thể đáp ứng cho diễn biến nhanh của đại dịch, thì hậu quả có thể rất tai hại. Mặc dù tình hình đại dịch của chúng ta hiện nay là vô cùng cấp bách, các tiêu chuẩn đánh giá khoa học nghiêm ngặt về tính hiệu quả hay kém hiệu quả của các ứng dụng truy vết không thể bị thờ ơ bỏ qua.    4. Giới hạn về thời gian: cần thiết lập các điều khoản mang tính hữu hạn về mặt pháp lý và kỹ thuật để các ứng dụng truy vết chỉ được phép hoạt động trong thời hạn cần thiết, với đúng mục đích giải quyết tình hình đại dịch. Các ứng dụng phải được thu hồi và vô hiệu hóa càng sớm càng tốt sau khi đại dịch kết thúc. Nếu chúng ta rơi vào tình cảnh không thể đoán trước được sự kết thúc của đại dịch, việc sử dụng các ứng dụng phải được xem xét, đánh giá thường xuyên, và quyết định về việc liệu có nên tiếp tục sử dụng ứng dụng hay không phải được đưa ra ở mỗi lần xem xét. Dữ liệu đã thu thập từ người dân chỉ nên được cơ quan y tế công cộng lưu giữ cho mục đích nghiên cứu, với các quy định rõ ràng về thời gian lưu giữ dữ liệu, đối tượng chịu trách nhiệm về bảo mật, giám sát, và quyền sở hữu của dữ liệu, và thủ tục giải trình minh bạch với người dân. Tuyệt đối không nên tái sử dụng các ứng dụng được triển khai dưới bối cảnh khẩn cấp với mục đích mới, hoặc dần dần gia tăng các tính năng mới vào những ứng dụng này để biến chúng thành một công cụ giám sát khác với mục đích ban đầu.    Quyền riêng tư, sự kì thị, và nguy cơ loại trừ xã hội    Rất nhiều tổ chức chuyên quản lý và vận động về việc bảo vệ quyền riêng tư và chống sự kì thị tại Mỹ và châu Âu đã đưa ra các nguyên tắc và quy ước về việc phát triển và sử dụng các ứng dụng truy vết điện tử để có thể bảo vệ tối đa quyền riêng tư và giảm thiểu các nguy cơ loại trừ xã hội. Đơn cử như việc tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) đã tuyên bố tám điều kiện đối với các dự án của chính phủ, bao gồm:    1. Việc giám sát cần phải “hợp pháp, cần thiết, và tương xứng”;    2. Mở rộng giám sát và giám sát sẽ phải có các điều khoản hết hạn;    3. Việc sử dụng dữ liệu sẽ phải được giới hạn cho các mục đích chống COVID-19;    4. Bảo mật và ẩn danh dữ liệu sẽ phải được thực hiện, và được chứng minh dựa trên bằng chứng rõ ràng;    5. Giám sát số cần phải giải quyết nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng phân biệt đối xử và loại trừ xã hội với các nhóm bất lợi xã hội;    6. Bất kỳ chia sẻ dữ liệu nào với bên thứ ba sẽ phải được định nghĩa rành mạch tại các điều luật, và cần phải được công khai;    7. Cần có các biện pháp bảo vệ chống lại hành vi lạm dụng dữ liệu, và trao quyền cho công dân phản ứng lại các hành vi lạm dụng;    8. “Sự tham gia có ý nghĩa” của tất cả “các bên liên quan có liên quan” sẽ được yêu cầu, bao gồm cả của các chuyên gia y tế công cộng và các nhóm yếu thế.      Vòng đeo tay giám sát những người từ nước ngoài đến HongKong cách li tại nhà. Ảnh: Willie Siau/Echoes Wire/Barcroft Media/Getty Images  Những quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng hình thức truy vết điện tử ít gây tranh cãi, là do họ đã có một nền tảng pháp lý vững chắc và cẩn trọng đối với đối tượng áp dụng. Hàn Quốc đã dựa trên nền tảng các bộ luật được thông qua về minh bạch về dữ liệu trong đợt bùng phát MERS năm 2015, đã triển khai ứng dụng truy vết cho phép Chính phủ Hàn Quốc thu thập và công bố dữ liệu một cách công khai, bao gồm lịch sử đi lại của các bệnh nhân đã được xác nhận. Hay Hong Kong chỉ áp dụng ứng dụng ‘StayHomeSafe’ và thiết bị đeo tay theo dõi điện tử đối với những người từ nước ngoài tới được cách ly tại nhà nhằm đảm bảo họ thực hiện đúng nghĩa vụ không ra khỏi khuôn viên nơi lưu trú. Ngoài ra, thiết bị đeo tay này không thu thập vị trí cụ thể của người cách li, mà chỉ đánh giá vị trí tương đối với khuôn viên của nhà ở, thông báo rằng họ có đi ra khỏi “vùng cho phép” hay không.    Ngoài ra, truy vết điện tử chỉ hiệu quả nếu nó được áp dụng với những biện pháp y tế công cộng cổ điển. Chẳng hạn như ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á như Trung Quốc và Đài Loan, các ứng dụng truy vết được chính phủ bắt buộc áp dụng, và tỏ ra hiệu quả khi được triển khai kèm với các phương pháp truy vết thủ công trong việc xác định các trường hợp mới, trong bối cảnh sau giãn cách xã hội.    Hay tại Mỹ, Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ (ACLU) vào tháng 8/2020 đã lập luận rằng có nhiều sự bất bình đẳng về sở hữu điện thoại thông minh giữa các nhóm chủng tộc – xã hội thiểu số tại Mỹ, và nhận định rằng “ngay cả khi chúng ta sở hữu hệ thống truy vết toàn diện và hoàn hảo nhất, hệ thống này cũng sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho người dân, nếu chúng ta không sở hữu một hệ thống an sinh xã hội và y tế đủ tốt để giúp những người có thể nhiễm bệnh có quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, giúp họ xét nghiệm, và giúp hỗ trợ những người bị cách ly”.    Ngoài ra, cũng nên lưu ý rằng, nếu người dân mất lòng tin vào ứng dụng đó, việc bắt buộc người dân phải dùng các ứng dụng truy vết cũng không có nghĩa lí gì. Tại Singapore, cứ ba người thì chỉ có một người tải xuống ứng dụng TraceTogether vào cuối tháng 6/2020, bất chấp chính quyền nước này đưa ra các yêu cầu pháp lý đối với hầu hết người lao động tại đây. Bộ Nội vụ của quốc gia này tuyên bố rằng, cảnh sát có thể truy cập vào những dữ liệu của các ứng dụng này cho mục đích điều tra tội phạm. Tiết lộ này khiến nhiều người giận dữ, họ cảm thấy như bị chơi khăm bởi trước đó Singapore kiên quyết khẳng định rằng ứng dụng này chỉ được dùng để phòng chống COVID-19.    Công nghệ không phải là ‘viên đạn bạc’ – chúng luôn có sai số    Vấn đề đáng quan tâm cuối cùng trong việc thực hiện ứng dụng truy vết điện tử đó là tính chính xác của các công nghệ nền tảng mà ứng dụng này sử dụng, như là công nghệ Bluetooth và GPS. Tính năng phát hiện người đến gần trong khu vực lân cận bằng công nghệ Bluetooth có nguy cơ báo cáo thừa lượng tương tác, dẫn đến hiện tượng “dương tính giả”; ví dụ có một người dương tính đang ở đối diện bạn bên kia đường, công nghệ bluetooth vẫn tính là bạn tiếp xúc với họ, vì công nghệ suy ra khoảng cách của Bluetooh không mang tính tin cậy cao. Phạm vi của một thiết bị Bluetooth nhất định có thể thay đổi do môi trường xung quanh, hoặc thậm chí là do cách người dùng cầm thiết bị điện thoại. Kết quả tiếp xúc dương tính giả có thể dẫn đến hai khả năng, đó là việc khiến người sử dụng tự cách ly bản thân một cách không cần thiết gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, hoặc xấu hơn là khả năng người dùng bỏ qua các cảnh báo của ứng dụng, nếu các cảnh báo này được coi là không đáng tin cậy.    Tính năng phát hiện người đến gần trong khu vực lân cận bằng GPS cũng có thể không đáng tin cậy. Theo trang GPS.gov, trang thông tin chính thức của chính phủ Hoa Kỳ về công nghệ GPS, thì điện thoại thông minh hỗ trợ GPS thường chính xác trong bán kính 4,9 mét dưới môi trường thông thoáng tuyệt đối, và độ chính xác này sẽ giảm dần theo sự hiện diện của các yếu tố gây nhiễu, như là nhà cửa, tường vách, cây cối. Nếu chúng ta đối chiếu điều này với các hướng dẫn giãn cách xã hội yêu cầu mọi người giữ khoảng cách 2m, thì việc sử dụng công nghệ GPS để truy vết có thể trở nên dư thừa và không thật sự cần thiết. Công nghệ Bluetooth, ngoài việc dễ gây nên kết quả tiếp xúc dương tính giả, cũng có thể gây nên kết quả âm tính giả, vì Bluetooth không thể phát hiện và cảnh báo người dùng nếu họ bước vào một không gian mà người bị nhiễm vừa mới rời khỏi. Về mặt này, công nghệ GPS được đánh dấu thời gian mang tính ưu việt hơn.     Bài toán đánh đổi quyền riêng tư – giám sát dữ liệu: tìm điểm cân bằng?     Khoa học công nghệ đang chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của chúng ta; chúng ta không thể nào phó thác toàn bộ công tác quản lý và thực hành công nghệ cho các kỹ sư lập trình và các chuyên gia máy tính. Trong một báo cáo gần đây được xuất bản ở tạp chí của Hội Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE), một tổ chức danh giá của cộng đồng khoa học kỹ thuật thế giới, một nhóm kỹ sư đến từ Úc đã mạnh dạn tuyên bố rằng việc cài đặt một ứng dụng theo dõi truy vết chủ yếu nhằm mục đích cao cả là giữ cho cộng đồng an toàn khỏi lây lan căn bệnh COVID-19 là chẳng có gì đáng lo ngại. Họ đưa ra tuyên bố này sau khi lập luận rằng các cơ quan chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ mạng, và các tập đoàn công nghệ lớn như Apple hay Google đã có thể theo dõi tất cả mọi người bằng cách sử dụng các ứng dụng và công nghệ truyền thống như kết nối WiFi, tháp liên lạc di động, ứng dụng định vị GPS, và hệ thống camera được triển khai trên khắp các thành phố. Chính vì hệ thống giám sát điện toán đã được triển khai nhan nhản khắp nơi, và vì người dùng đã cài đặt vô số các ứng dụng trên điện thoại hoặc đồng hồ thông minh của họ (trò chơi, mạng xã hội, v.v.) mà không biết hoặc không quan tâm đến các tác động về bảo mật hay quyền riêng tư, nhóm nghiên cứu kết luận rằng việc cài thêm ứng dụng truy vết cũng chẳng đáng là gì so với cơ cấu giám sát vốn đã bao trùm lấy đời sống con người trong xã hội số.    Đây là một nhận định hết sức nguy hiểm và đáng phê bình, nhưng dường như lại được chấp nhận rộng rãi bởi chính một tổ chức danh giá như IEEE. Có ba điều đáng chỉ trích chính từ một nhận định vô trách nhiệm như vậy. Thứ nhất, nhận định này hiển nhiên cho rằng ‘cuộc chiến’ giữa quyền công dân và giá trị nhân văn với chủ nghĩa giám sát dữ liệu đã kết thúc, và chủ nghĩa giám sát dữ liệu đã chiến thắng. Nhóm tác giả đã không ngần ngại chỉ ra rằng người dùng các thiết bị điện tử có rất ít kiến thức và rất ít mối quan tâm về những gì đang diễn ra với dữ liệu của họ, và chính vì thế mà việc tiếp tục khai thác dữ liệu từ người dùng mà không cần chịu trách nhiệm giải trình gì với họ là việc làm đúng đắn, hay chí ít là “không đáng gây nên lo ngại”. Đây là một ngụy biện logic cơ bản, thường được gọi tên là “ngụy biện phong trào”. Ngụy biện phong trào là lập luận rằng nếu một hành vi ứng xử, một niềm tin, hay một chủ trương nào đó được thực hiện rộng rãi tại thời điểm hiện tại, chắc hẳn hành vi, niềm tin, hay chủ trương này sẽ phải đúng. Chỉ vì chúng ta đang sống trong một thực trạng xã hội mang tính bóc lột (xem thêm bài về Chủ nghĩa thực dân dữ liệu), không có nghĩa rằng đây là một thực trạng xã hội đúng đắn, cần được gìn giữ, và nên được dùng làm tiền đề cho những bóc lột, khai thác, và thao túng khác.    Thứ hai, nhận định này thiếu sự thành thực trong việc đánh giá độ quan tâm và sự hiểu biết của người dân về công nghệ. Nhóm nghiên cứu chuyên gia về công nghệ đang nhìn người dân với cái nhìn trịch thượng và cho rằng công chúng không thể nào đủ hiểu biết hay đủ tiếng nói để đòi hỏi quyền lợi và những giá trị nhân văn của mình cần được bảo vệ và cân bằng. Cuộc khảo sát về quyền riêng tư của người tiêu dùng năm 2020 của Cisco mang tên “Bảo vệ quyền riêng tư của dữ liệu để duy trì niềm tin kỹ thuật số” cho thấy rằng việc bảo vệ quyền riêng tư của dữ liệu vẫn quan trọng đối với người tiêu dùng ngay cả trong thời kỳ đại dịch. Trên thực tế, một phần ba người tiêu dùng là “Người ủng hộ quyền riêng tư” đã tẩy chay các doanh nghiệp do các hoạt động bảo mật dữ liệu của họ. 40% người tham gia nghiên cứu cho rằng đại dịch sẽ củng cố tầm quan trọng của quyền riêng tư, và chỉ 28% nói rằng đại dịch sẽ làm cho quyền riêng tư ít quan trọng hơn trong tương lai. Hơn một nửa (57%) ủng hộ việc người thuê lao động yêu cầu người lao động cung cấp thông tin sức khỏe để đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động; tuy nhiên, chỉ có một nửa hỗ trợ việc tiến hành theo dõi vị trí người lao động để quản lý dịch. Chỉ 37% ủng hộ việc tiết lộ thông tin về các cá nhân bị nhiễm bệnh, và chỉ một phần ba ủng hộ việc chia sẻ thông tin sức khỏe với các công ty tư nhân cho mục đích nghiên cứu.    Thứ ba, nhận định này coi thường vai trò của chính phủ trong việc đi đầu làm gương và chủ động đề ra các phương án quản lý dữ liệu với mục tiêu cốt yếu là tiết chế quyền lực của các tập đoàn công nghệ khổng lồ như Facebook, Google, hay Apple. Về vấn đề này, châu Âu đã đi đầu thế giới với việc đưa vào hoạt động bộ luật GDPR (xem thêm loạt bài của Tia Sáng) từ năm 2018, đặt nền tảng quan trọng cho việc buộc các tập đoàn công nghệ phải chịu trách nhiệm giải trình với người dân châu Âu khi sử dụng dữ liệu của họ.    Dễ nhận thấy rằng những nỗ lực hiện thời trong việc đánh giá và phê bình các hệ quả xã hội của ứng dụng công nghệ trong việc thu thập dữ liệu người dùng với mục đích giám sát đang được dựa trên cán cân giữa quyền riêng tư, quyền con người, và giá trị nhân văn của xã hội ở một bên, và với thực hành giám sát cần thiết của các đối tượng quản lý ở bên còn lại. Việc cân bằng cán cân này hầu như là bất khả thi; nếu chúng ta coi trọng hoạt động giám sát hơn, quyền lợi và giá trị nhân văn sẽ phải yếu thế. Liệu có cách nào để chúng ta vượt ra ngoài tư duy đối kháng này khi nhận xét và phê bình về ứng dụng công nghệ trong xã hội hay không, và làm thế nào để có thể đạt được một cái nhìn mang tính hợp tác, tôn trọng, và hòa hợp hơn?    Việc làm tối cần thiết đầu tiên mà chúng ta cần thúc đẩy đó là các cuộc trao đổi thành thực, thiện chí từ nhiều nhóm xã hội, nghiên cứu, và làm luật. Hãy Nhìn vào bộ luật GDPR như một nỗ lực rất đáng tham khảo trong thời điểm hiện tại. Bộ luật này trải qua quá trình dài tham vấn không chỉ các chuyên gia kỹ thuật như là kỹ sư, mà còn lắng nghe ý kiến rất đa dạng từ các nhóm chuyên gia về quyền công dân, luật sư, các nhà khoa học xã hội, các triết gia về công nghệ, và cả người dân châu Âu trước khi được thông qua. Để có thể vượt ra ngoài cái nhìn hạn hẹp về sự đối đầu giữa công nghệ và con người, chúng ta rất cần sự tham gia của nhiều nhóm chuyên gia với nhiều cái nhìn đa dạng, hơn là dựa vào chỉ một nhóm chuyên gia kỹ thuật mà cái nhìn và am hiểu xã hội của họ có thể thiếu bao quát và thiếu tính đa chiều. □  ——–  Tài liệu tham khảo  A Survey of COVID-19 Contact Tracing Apps https://ieeexplore.ieee.org/document/9144194/authors#authors  Exploring consumer attitudes about privacy  https://fpf.org/blog/exploring-consumer-attitudes-about-privacy/    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Ứng phó khi TP. HCM vượt ngưỡng 10.000 ca COVID-19      Dữ liệu hiện nay cho thấy ở TP. HCM, các biện pháp trong hai đợt giãn cách vừa qua là chưa đạt mục tiêu kiểm soát dịch, không đạt được mục tiêu về hạn chế ảnh hưởng đến phát triển kinh tế. Do đó, cần có chiến lược kiểm soát dịch bệnh mới và truyền thông cho các chiến lược này nhất quán ở mọi ngành, mọi cấp. Chúng tôi đề xuất 6 giải pháp bổ sung để giúp TP. HCM, và tới đây là các vùng lân cận hoặc tương tự có thể “câu giờ – chờ vaccine”, vượt qua đợt dịch thứ tư.      ​Lấy mẫu xét nghiệm COVID tại TP HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.   Từ 18/5 đến 26/6/2021, TP. HCM đã trải qua bốn tuần giãn cách xã hội nhưng số ca phát hiện hằng ngày càng tăng cao với tổng số 3.084 ca được phát hiện. Dịch lan rộng, nhanh và nhiều hơn các đợt dịch trước.    Nhiều chuỗi lây nhiễm phức tạp và lan nhanh    Chuỗi lây nhiễm đầu tiên có liên quan tới Hội thánh Truyền giáo Phục hưng. Quá trình truy vết và sàng lọc cộng đồng đã phát hiện các chuỗi lây nhiễm mới, phức tạp hơn như chuỗi ca bệnh tại các chợ đầu mối (Hóc Môn, Bình Điền, Sơn Kỳ…), tại các công ty, khu công nghiệp (KCN Tân Phú Trung, CTCP Trung Sơn…). Sau khi truy vết, các chuỗi lây nhiễm từ TP. HCM còn lan sang một số tỉnh/thành khác: Long An, Tiền Giang, Bình Dương (từ nguồn lây Hội thánh Truyền giáo Phục hưng). Nhưng điều đáng lưu ý hơn là có khoảng 7,5% số ca chưa được cập nhật thông tin dịch tễ để phân loại chuỗi lây. Đây là dấu hiệu cho thấy dịch vẫn đang diễn biến phức tạp ngoài cộng đồng, và có thể tiềm ẩn những chuỗi lây nhiễm khác, chưa được phát hiện ra.    Dịch bệnh đã lan rộng trong cộng đồng chứ không tập trung tại một vài điểm nóng    Bản chất của dịch bệnh là đã lây lan rộng trong cộng đồng vì hiện tại vẫn tiếp tục có các ca F0 được phát hiện qua sàng lọc ở các bệnh viện các điểm khác nhau trên toàn TP. Mặc dù các biện pháp giãn cách đã được thực hiện, các ca đã nhiễm sẵn có trong cộng đồng vẫn sẽ lần lượt được phát hiện.      So với các chủng khác đã được ghi nhận trước đây, chủng Delta không chỉ dễ lây hơn mà còn dễ gây bệnh nặng hơn.      Số ca mắc chủ yếu tập trung trong nhóm độ tuổi lao động, từ 20-50 tuổi. Đây là nhóm di chuyển, tiếp xúc nhiều, làm tốc độ và mức độ lây nhiễm diễn ra nhanh và nhiều hơn. Đặc điểm này cũng có nghĩa là các F1 và F2 cũng nhiều hơn và cũng có tỷ lệ thuộc nhóm tuổi lao động cao hơn. Số ca mắc mới là trẻ em trong cộng đồng được phát hiện từ sớm có xu hướng tăng theo xu hướng ca mắc mới của người lớn.    Với chiến lược kiểm soát dịch như hiện tại, khi F1 phải được cách ly tập trung và F2 phải được cách ly tại nhà, số lượng người cần cách ly quá lớn, đưa đến gánh nặng về phục vụ và giám sát của không chỉ ngành y tế mà còn cách lực lượng xã hội khác. Ngoài ra, một số lượng lớn người trong tuổi lao động phải bị cách ly cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế của TP.    Với nhận định về tình hình lây lan đã rộng trong cộng đồng, việc phát hiện các chuỗi lây nhiễm đầu tiên thực ra là sự phát hiện ngẫu nhiên, và không phải là các ca/chuỗi ca chỉ điểm cho đợt dịch này. Nói cách khác, việc cố gắng đi tìm các ca/chuỗi ca chỉ điểm là không khả thi, và không thực sự còn nhiều ý nghĩa thực tế trong việc kiểm soát dịch bệnh ở thời điểm hiện tại.    Về xét nghiệm, với năng lực hiện tại và thực tế hoạt động xét nghiệm thời gian qua là đã hết công suất, số lượng 25.000 mẫu đơn (tương ứng với khoảng 500.000 mẫu từ mẫu gộp) là còn hạn chế so với dân số TP, thì số lượng ca phát hiện có thể chưa phải là số ca thực tế lưu hành trong cộng đồng. Nói cách khác, số ca trong cộng đồng chưa được phát hiện còn rất nhiều, nếu không có chiến lược tầm soát thì sẽ bỏ lọt các ca này, làm dịch sẽ tiếp tục lan rộng hơn.      Top 10 chùm lây nhiễm chính tại TP HCM (dữ liệu cho đến ngày 26/6).  Chủng virus lây lan nhanh chóng hơn, độc lực cao hơn    Theo các kết quả giải trình tự gene tới nay, chủng virus lưu hành phổ biến nhất trong đợt dịch thứ 4 tại Việt Nam là chủng Delta (Ấn Độ/B.1.617.2), sau đó là chủng Alpha (Anh/B.1.1.7).    So với các chủng khác đã được ghi nhận trước đây, chủng Delta không chỉ dễ lây hơn mà còn dễ gây bệnh nặng hơn. Các triệu chứng bệnh cũng khác so với chủng trước. Triệu chứng thường gặp là nhức đầu, đau họng, sổ mũi, sốt; các triệu chứng trước đây thường gặp như ho, mất vị giác nay đã ít phổ biến. Nguy cơ nhập viện do bệnh nặng khi nhiễm chủng Delta là gấp đôi so với Alpha.    Ngoài ra, hiệu quả vaccine thấp khi tiêm 1 mũi (chỉ đạt 33%), nhưng vẫn đạt 80% sau tiêm mũi 2. Vì thế, không thể dùng chiến lược tăng nhanh độ bao phủ 1 mũi vì hiệu quả bảo vệ quá thấp.    Như vậy dịch có nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng và kéo dài. Hiện nay năng lực cách ly đã quá tải. Khi số ca nhiễm tăng lên mức trên 10.000, hệ thống y tế sẽ không đủ năng lực điều trị.    Dựa trên các số liệu được công bố hiện nay, chúng tôi chạy mô hình phân tích dự báo vào ngày 24/6 cho thấy nếu thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 10 của TP, dịch có thể kết thúc vào khoảng cuối tháng 8/2021 nếu các biện pháp phòng chống dịch được triển khai mạnh. Tuy nhiên, nếu việc triển khai Chỉ thị 10 của TP không hiệu quả, số ca bệnh sẽ tăng lên nhanh chóng và vượt ngưỡng năng lực của hệ thống. Với kịch bản này, hệ thống y tế sẽ có thể đáp ứng được nhu cầu điều trị, nếu được bổ sung thêm một số hệ thống Ecmo (bảng 1).      Khi số bệnh nhân vượt ngưỡng 10.000 cần hướng dẫn và giám sát F0 chưa có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ được cách ly và điều trị tại nhà (nên tham khảo hướng dẫn của Ấn Độ).      Khi việc triển khai Chỉ thị 10 không hiệu quả, khi số bệnh nhân tăng lên 10.000 hoặc hơn nữa, thành phố sẽ không có đủ năng lực chăm sóc y tế (so với sự chuẩn bị hiện nay). Lúc này, tỉ lệ tử vong sẽ tăng nhanh. Hơn thế nữa, khi số bệnh nhân vượt quá 10.000, nếu mỗi F0 có 20 F1 thì số F1 sẽ vượt quá 20 x 10.000 x 21 ngày = 200.000 F1 phải cách ly trong 21 ngày. Con số này hoàn toàn vượt xa khả năng truy vết và cách ly của hệ thống hiện tại. Vì vậy, cần chuẩn bị và xây dựng kế hoạch chăm sóc, điều trị tại cộng đồng cho kịch bản xấu.                    Giả định  khi có 10.000 F0      Số dự báo      Năng lực hệ thống          Tổng số F1 cần cách ly      20 F1/ 1 F0      200.000 người x 21 ngày         30.000 người x 21 ngày             Số ca cần chạy ecmo      1/450      20      16          Số ca nặng cần điều trị ICU      3,5%      315      500 – 1.000          Số ca có triệu chứng (tới khi khỏi)      Kết quả dự báo      6.000      4.000          Số ca không triệu chứng      Kết quả dự báo      3.000      5.000 – 10.000             Đề xuất các biện pháp phòng chống dịch     Trước tình hình trên, chúng tôi đề xuất thực hiện một số giải pháp sau: 1. Giảm mật độ người, giữ khoảng cách giữa người với người; 2. Hỗ trợ trực tiếp tiền hoặc nhu yếu phẩm cho người nghèo, cận nghèo, mất việc, phá sản; 3. Mở rộng nhanh xét nghiệm bằng cách cho tự xét nghiệm tại nhà (tối thiểu là hằng tuần) miễn phí toàn dân, dùng kit có độ nhạy cao; song song với chiến lược xét nghiệm hiện nay; 4. Tiêm vaccine cuốn chiếu, phủ từng vùng, ưu tiên người cao tuổi và nơi có mật độ cao, ưu tiên tạo vành đai an toàn phía Bắc, Tây Bắc TP; 5. Áp dụng các biện pháp tăng thông khí, ưu tiên các hoạt động tại nơi thông thoáng, ngoài trời hoặc có máy lọc màng Hepa, đèn UV treo trần, và tạm dừng các hoạt động trong phòng kín có nhiều người; 6. Triển khai cách ly F1 tại nhà có sự giám sát của cộng đồng.    Trong đó hiện nay TP đã áp dụng các biện pháp như cách ly tại nhà nên chúng tôi đề xuất thêm giải pháp giám sát và hạn chế rủi ro bằng cách đeo vòng đeo tay, có người giám sát và lập đường hotline báo cáo song song cho tuyến xã phường và CDC tỉnh để phát hiện và xử lý vấn đề kịp thời, kiểm tra giám sát ngẫu nhiên và định kỳ. Các đề xuất khác là:    Tổ chức triển khai tiêm chủng nhanh và an toàn, theo nhóm ưu tiên và cuốn chiếu từng khu vực địa lý    – Ưu tiên tiêm vaccine theo thứ tự: Cán bộ y tế, cán bộ chống dịch (để bảo vệ đội ngũ phòng chống dịch); Người có nguy cơ bị bệnh nặng và tử vong (để giảm gánh nặng cho bệnh viện); Cuốn chiếu từng khu vực địa lý (có thể theo mật độ dân) để tạo vòng đai an toàn cho từng khu vực (để không cho dịch lan rộng hơn).    – Huy động toàn bộ phòng khám, bệnh viện, trạm y tế tham gia tiêm chủng: Với khả năng lây nhiễm của chủng mới Delta, cần ít nhất 85% dân số hoàn thành hai mũi để đạt được miễn dịch cộng đồng. Để tiêm chủng đầy đủ cho bộ phận dân số này, sẽ cần ít nhất 125 ngày nếu công tác tổ chức tốt, người dân hợp tác và không bị thiếu hụt vaccine. Tuy nhiên thời gian để chuẩn bị cho chiến dịch tiêm chủng cần được tính toán kỹ lưỡng.    – Một số điểm có thể giúp tối ưu quy trình tiêm chủng hiện nay: Trong lúc chưa có hệ thống số hoạt động hiệu quả, in trước thông tin về thuốc, về cách tiêm, về tác dụng phụ gửi người dân để họ được tiếp cận đầy đủ thông tin trước khi đến phòng tiêm, điều này làm rút ngắn thời gian khám sàng lọc của bác sĩ trước tiêm; Hẹn giờ tiêm chủng để giảm mật độ người tập trung cùng một thời điểm; Lắp hệ thống TV phát thông tin mà người dân cần biết trước, trong và sau khi tiêm chủng; Treo bảng hướng dẫn các bước thực hiện và vị trí các bàn tiêm; Đánh dấu vị trí đặt ghế ngồi để đảm bảo khoảng cách 2m giữa người với người.     – Kết hợp hai loại vaccine để tạo sự linh hoạt cho kế hoạch tiêm chủng khi có tình trạng khan hiếm vaccine.    – Số hóa hệ thống đăng ký, khai báo và theo dõi tiêm chủng: Hiện nay hệ thống Sổ sức khỏe điện tử chưa hoạt động hiệu quả và còn tồn tại nhiều sai sót.    Tiêm vaccine tại TP HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.   Cần sửa đổi để đáp ứng yêu cầu: Kết nối với hệ thống sẵn có của chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia phục vụ công tác giám sát, truy xuất dữ liệu, báo cáo và thiết lập hệ thống hộ chiếu vaccine; Kiểm định được được độ chính xác của thông tin đăng ký tiêm chủng; Kết nối thông tin giữa bộ phận đăng ký tiêm, hẹn lịch, với bộ phận tiêm chủng, giám sát sau tiêm và kiểm kê, báo cáo.    Tuy nhiên có thể gặp một số rủi ro: Nhân viên tiêm chủng bị mắc COVID hàng loạt; Lượng vaccine về không kịp theo kế hoạch tiêm chủng; Điều phối, tổ chức tiêm chủng không tốt dẫn tới điểm tiêm quá đông hoặc quá vắng; Không xử trí kịp tác dụng phụ ở điểm tiêm cộng đồng.    Cần các biện pháp hạn chế rủi ro: Lên kế hoạch dự phòng nhân sự; Tiêm cuốn chiếu để tạo miễn dịch từng khu vực; Giám sát hỗ trợ công tác tổ chức và điều phối. Mời các doanh nghiệp có kinh nghiệm tổ chức tham gia hỗ trợ; Tổ chức các đội hỗ trợ hồi sức cấp cứu di động.    Tăng tốc độ xét nghiệm    Thời gian qua, đã có những biện pháp tăng cường năng lực xét nghiệm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xét nghiệm gấp gáp. Đề xuất giải pháp:    Với xét nghiệm RT-PCR: Cho phép và hướng dẫn lấy mẫu tại nhà (có video hướng dẫn) và gửi mẫu tới phòng xét nghiệm RT-PCR và trả kết quả qua tin nhắn; Thiết lập các điểm lấy mẫu và xét nghiệm tại nơi công cộng; Mua bổ sung máy RT-PCR và lập kế hoạch chặt chẽ để đảm bảo chuỗi cung ứng sinh phẩm và testkit; Tập huấn và tăng cường nhân viên xét nghiệm với sự hỗ trợ và giám sát từ xa của các phòng lab có kinh nghiệm; Kêu gọi sự ủng hộ của khối tư nhân trong việc cung cấp trang thiết bị, sinh phẩm, nhân lực.    Với xét nghiệm kháng nguyên: Không thực hiện với người nghi nhiễm hoặc có tiền sử dịch tễ; Sử dụng xét nghiệm kháng nguyên có độ nhạy cao để sàng lọc tại cộng đồng. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính: hướng dẫn cách ly và lấy mẫu xét nghiệm RT-PCR. Nếu kết quả âm tính, lấy mẫu xét nghiệm gộp RT-PCR; Cho phép và hướng dẫn người dân tự lấy mẫu và xét nghiệm tại nhà; Sàng lọc và xét nghiệm tại nhà thuốc là nơi đầu tiên người có triệu chứng tới mua thuốc.    Nhưng xét nghiệm kháng nguyên có rủi ro không thể phát hiện loại trừ người nhiễm ở giai đoạn sớm và lấy mẫu sai có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, nên cần hạn chế rủi ro bằng cách hướng dẫn cách lấy mẫu đúng và hiểu ý nghĩa của kết quả xét nghiệm âm tính và dương tính, hướng dẫn tự cách ly khi có yếu tố dịch tễ.    Tăng thông khí tại các khu vực kín, giảm mật độ người bằng cách lắp đặt hệ thống quạt gió, máy lọc không khí có màng lọc HEPA hoặc sử dụng đèn UV trần nhà để diệt khuẩn    – Tòa nhà, siêu thị, trường học, quán ăn, nhà dân, nhà ga, bến xe, khu vực chờ ở sân bay…    – Phương tiện giao thông công cộng như xe buýt, tàu hỏa, xe buýt đưa đón học sinh…    Xây dựng hệ thống checklist để người dân và cán bộ chịu trách nhiệm giám sát/thanh tra có thể tự đánh giá và đưa ra các giải pháp cải thiện. Tham khảo checklist kiểm tra nơi làm việc của các ngành nghề khác nhau của Úc.    – Có hướng dẫn chi tiết về giảm mật độ người ở từng khu vực cụ thể (nhà máy, trường học, siêu thị, chợ dân sinh, khu dân cư, kí túc xá, hoạt động ngoài trời…).    Chăm sóc, điều trị F0 tại nhà khi số bệnh nhân vượt ngưỡng 10.000    Người nhiễm SARS-CoV 2 không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ có thể tự khỏi. Bên cạnh đó, vẫn có một số trường hợp F0 chuyển biến nặng nhanh, cần được chăm sóc kịp thời. Việc điều trị tập trung sẽ đảm bảo được hai mục tiêu: (i) phát hiện và điều trị sớm trường hợp nặng, và (ii) cách ly hạn chế lây nhiễm ra cộng đồng. Tuy nhiên, khi số F0 vượt quá số giường điều trị, việc đưa toàn bộ F0 vào bệnh viện điều trị có thể dẫn tới quá tải hệ thống y tế, trong khi ngành y đang phải dồn lực để truy vết, cách ly, xét nghiệm cũng như điều trị các bệnh khác.    Do vậy cần hướng dẫn và giám sát F0 chưa có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ được cách ly và điều trị tại nhà (nên tham khảo hướng dẫn của Ấn Độ).    Điều kiện áp dụng khi: Số ca F0 quá lớn, vượt khả năng chăm sóc và điều trị của hệ thống y tế; F0 dưới 50 tuổi. F0 hoặc người nghi nhiễm SARS-CoV 2 nhưng không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ và nồng độ oxy trong máu ≥ 92%; Không áp dụng với F0 trên 50 tuổi, có bệnh nền, phụ nữ mang thai và những người có nguy cơ mắc bệnh nặng, tử vong cao, cần theo dõi chặt chẽ; Có máy đo nồng độ oxy trong máu tại nhà và biết cách sử dụng; Có đủ thuốc cơ bản như trong hướng dẫn và có ít nhất một người chăm sóc tại nhà.    Tuy nhiên vẫn có rủi ro như có thể không phát hiện kịp thời khi bệnh nhân chuyển nặng nên không đảm bảo việc chăm sóc y tế; Lây lan ra cộng đồng do không được cách ly chặt chẽ.    Biện pháp hạn chế rủi ro: Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như phần cách ly tại nhà; Giao trạm y tế phường/xã, hoặc phòng khám tư để giám sát việc này; Lập hotline gọi điện hỏi thăm hằng ngày và đưa ra hướng dẫn chuyển viện kịp thời.  Ngoài các chiến lược nêu trên, để có sự ủng hộ và hợp tác của người dân, của ngành y tế và các ngành khác, ngành y tế TP cần xây dựng một chiến lược truyền thông nguy cơ bám sát các chiến lược này và linh hoạt theo thời gian và theo mức độ nguy cơ của từng vùng/khu vực. □  —–  *TS, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock, đại diện nhóm chuyên gia 5F gồm một số chuyên gia y tế cộng đồng, dịch tễ học truyền nhiễm, bác sĩ tình nguyện tập hợp các thông tin có bằng chứng khoa học về COVID-19.     Tài liệu tham khảo  1. Nhóm 5F: Dashboard tổng hợp số liệu COVID-19, tính toán dự báo đợt dịch thứ tư, các khuyến nghị http://bit.ly/5f_dashboard_covid  ; thông tin về vaccine COVID-19: https://www.vacxin-covid.com/  2. Aziz Sheikh, Jim McMenamin, Bob Taylor, Chris Robertson. SARS-CoV-2 Delta VOC in Scotland: demographics, risk of hospital admission, and vaccine effectiveness. Lancet 397 (10293), 2461-2462, June 26, 2021. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)01358-1  3. Hester Allen, Amoolya Vusirikala, Joe Flannagan, et. al. Increased household transmission of COVID-19 cases associated with SARS-CoV-2 Variant of Concern B.1.617.2: a national case-control study. https://khub.net/documents/135939561/405676950/Increased+Household+Transmission+of+COVID-19+Cases+-+national+case+study.pdf/7f7764fb-ecb0-da31-77b3-b1a8ef7be9aa  4. Daniel S. Knight, Tushar Kotecha, Yousuf Razvi, et. al. COVID-19. Myocardial Injury in Survivors. Circulation. 2020;142:1120–1122. https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.049252  5. Bệnh viện Phổi Trung ương. Hướng dẫn lấy mẫu xét nghiệm dịch họng, dịch tỵ hầu. Video https://www.youtube.com/watch?v=QjM0Eh-1Raw  6. Femke Wolters, Jeroen van de Bovenkamp, Bart van den Bosch, et. al. Multi-center evaluation of cepheid xpert® xpress SARS-CoV-2 point-of-care test during the SARS-CoV-2 pandemic. J Clin Virol. 2020 Jul; 128: 104426. Published online 2020 May 11. doi: 10.1016/j.jcv.2020.104426  7. Dinnes J, Deeks JJ, Berhane S, et. al. What are rapid point-of-care tests for COVID-19? https://www.cochrane.org/CD013705/INFECTN_how-accurate-are-rapid-tests-diagnosing-covid-19  8. Victor M Corman, Verena Claudia Haage, Tobias Bleicker, et. al. Comparison of seven commercial SARS-CoV-2 rapid point-of-care antigen tests: a single-centre laboratory evaluation study. Lancet Microbe. April 07, 2021. https://doi.org/10.1016/S2666-5247(21)00056-2  9. CDC Hoa Kỳ. Ventilation in Buildings. 2/6/2021. https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/community/ventilation.html  10. Safe Work Australia. https://www.safeworkaustralia.gov.au/collection/workplace-checklists-covid-19  11. Heinrich Scheiblauer , Angela Filomena , Andreas Nitsche, et. al. Comparative sensitivity evaluation for 122 CE-marked SARS-CoV-2 antigen rapid tests. Preprint. https://doi.org/10.1101/2021.05.11.21257016    Author                Nguyễn Thu Anh        
__label__tiasang Ứng phó với BĐKH qua các kỳ COP: Ít tương đồng, nhiều khác biệt      Qua các kỳ Hội nghị các bên tham gia Công  ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (gọi tắt là COP), các  nước thành viên chủ chốt vẫn thể hiện sự khác biệt nhiều hơn sự tương  đồng trong các thương thảo.    Những tàn phá thảm khốc của cơn bão Haiyan tại Philippines vẫn tiếp tục được truyền thông thế giới cập nhật từng ngày từng giờ. Không dễ để kết luận tình trạng nóng ấm toàn cầu là nguyên nhân trực tiếp tạo nên cơn bão khủng khiếp này, nhưng dường như Haiyan sẽ được nhắc đến như là một chỉ dấu cụ thể của những thảm họa thiên nhiên mà con người sẽ phải hứng chịu trong tương lai nếu tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) vẫn diễn ra như hiện nay. Chẳng thế mà đại diện đến từ Philippines trong ngày làm việc đầu tiên của Hội nghị COP-19 tại Warsaw đã nghẹn ngào yêu cầu lãnh đạo thế giới phải có những thống nhất trong hành động để đối phó với tình trạng BĐKH. Ông nêu câu hỏi, “Nếu không phải chúng ta thì là ai? Không [hành động] lúc này thì lúc nào? Không ở đây [Warsaw] thì ở đâu?”  Ngược trở lại thời gian, hai mươi hai năm trước, tại Rio de Janeiro, Brazil, lãnh đạo các nước trên thế giới đã cùng cam kết hành động nhằm chống lại những tác động nguy hiểm gây ra bởi BĐKH thông qua Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC, từ dưới đây gọi tắt là Công ước khung). Trong suốt thời gian đó, nhiều biến cố thăng trầm trong quá trình thương thảo giữa các nước đã xảy ra, và có lẽ rào cản chính trong toàn bộ các thương thảo này chính là việc quy trách nhiệm và sau đó là cam kết giảm phát thải khí nhà kính của các thành viên trong Công ước khung. Bài viết này cố gắng đưa ra những điểm tóm tắt chính mà trong đó quan điểm và cách tiếp cận của các nước đã tạo nên những cách biệt tưởng chừng không thể san lấp.     Khác biệt giữa các nước trong và ngoài Phụ lục 1  Cho đến thời điểm hiện tại, khi COP-19 vừa kết thúc, trong các thương thảo về biến đổi khí hậu, thế giới chia rẽ thành ba nhóm chính: Châu Âu (đại diện tiêu biểu Đức, Pháp, Anh Quốc), Mỹ, và nhóm các nước lớn đang phát triển và phát thải nhiều (bao gồm bốn nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Brazil, gọi tắt là BASIC). Các thành viên còn lại, trong đó có Việt Nam, được hiểu là sẽ cam kết thực hiện những quyết định được tạo ra bởi sự đồng thuận từ tất cả các bên.   Tưởng chừng vô lý, nhưng thực tế những cách biệt đầu tiên giữa các nước lại được tạo ra từ chính Công ước khung mà các thành viên đã ký kết năm 1992. Cụm từ “Trách nhiệmchung nhưng có sự phân biệt (về trách nhiệm) và khả năng đáp ứng của từng thành viên” ghi tại Điều 3 Công ước khung được xem là cơ sở chính để thế giới đối phó với BĐKH. Cụ thể hơn, điều khoản này xác định các nước phát triển cần phải đi đầu trong quá trình ứng phó với BĐKH. Các nước phát triển được liệt kê trong Phụ lục 1 của Công ước bao gồm các nước thuộc khối OECD, cộng với phần lớn các nền kinh tế nổi bật và Liên bang Nga. Nhóm BASIC, đại diện bởi Trung Quốc, được đưa vào danh sách các nước không thuộc Phụ lục 1; Việt Nam cũng nằm trong danh sách này.   Ba năm sau, năm 1995, tại hội nghị COP đầu tiên ở Berlin, Điều 3 nói trên được diễn đạt lại cụ thể hơn rằng các thành viên trong Phụ lục 1 phải có trách nhiệm giảm thải khí nhà kính trong một khoảng thời gian cụ thể và thế giới không có yêu cầu nào đối với các thành viên không thuộc Phụ lục 1 đối với quá trình nóng ấm toàn cầu.   Vai trò của Mỹ   Những yêu cầu từ hội nghị tại Berlin đã vấp phải sự phản đối sâu sắc từ chính giới Mỹ. Tháng 8/1997, Nghị quyết của Thượng viện Mỹ với sự đồng thuận tuyệt đối (95-0) xác định rằng Mỹ sẽ không ký vào bất kỳ văn bản nào trong khuôn khổ Công ước 1992, trừ khi các nước đang phát triển cũng phải cam kết thực hiện giảm phát thải khí nhà kính trong cùng khoảng thời gian tương ứng. Nghị quyết này dựa trên thực tế là tại thời điểm Hội nghị COP 1 ở Berlin năm 1995, tổng lượng phát thải của các nước không trong Phụ lục 1 lớn hơn nhiều lần lượng phát thải bởi các nước phát triển. Nói tóm lại, Mỹ sẽ đồng ý thực hiện mục tiêu giảm thải bằng văn bản khi và chỉ khi Trung Quốc và nhóm BASIC cũng phải chia sẻ trách nhiệm đối với thế giới.   Cũng xin nhắc tại đây rằng, một trong những giá trị phổ quát của phương tây là cam kết bằng văn bản đồng nghĩa với việc thực hiện nghiêm túc và chấp nhận sự giám sát của các thành viên; tính minh bạch của cam kết được đặt lên hàng đầu. Giá trị phương tây này dường như còn là điều lạ lẫm đối với một số vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Mặc dù Mỹ không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto tại COP-3 năm 1997 nhưng trong 10 năm sau ngày thương thảo tại Kyoto, lượng phát thải khí nhà kính của Mỹ chỉ tăng 0.2%/năm, trong khi đó tổng lượng phát thải khí nhà kính của các nước trong Phụ lục 1 đã tăng 0.4%/năm, và của toàn thế giới là 2.8%/năm. Như vậy, theo quan điểm của Mỹ, sự gia tăng phát thải khí nhà kính của thế giới hiện nay chủ yếu gây ra bởi các nước như Trung Quốc, chứ không phải gây ra bởi sự vắng mặt của Mỹ trong ký kết Nghị định thư.   Trong một cách tiếp cận khác đối với BĐKH, vấn đề xác định và tìm kiếm nguồn tài chính, thế giới chứng kiến Mỹ đã thể hiện vai trò lãnh đạo, kêu gọi mở mới và tăng cường các Quỹ quốc tế, cơ chế tài chính cho BĐKH. Từ năm 2010, ngân khố Mỹ đã xác định một khoản tăng đều đặn xấp xỉ 40%/năm dành hỗ trợ các nước đang phát triển ứng phó với BĐKH. Trong Hiệp ước Copenhagen, được công nhận tại COP-15 năm 2009, thế giới ghi nhận sự cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD của Mỹ và các nước phát triển vào năm 2020 đối với BĐKH. Cách tiếp cận này, đối lập với cách tiếp cận mục tiêu giảm thải bằng tuân thủ văn bản pháp lý của Châu Âu. Nói cách khác, Mỹ sẵn sàng hỗ trợ tài chính nhưng không muốn ràng buộc bởi các văn bản pháp lý quốc tế cho tới khi Trung Quốc đồng ý cùng chia sẻ trách nhiệm về vấn đề này (bằng văn bản).     Trung Quốc: Ứng phó với BĐKH không được ảnh hưởng đến phát triển kinh tế  Quan điểm của Trung Quốc về vấn đề BĐKH gần như không thay đổi cho tới COP-17 vào năm 2011 ở Durban, Nam Phi. Trong suốt hơn hai thập kỷ trước đó, Trung Quốc luôn cho rằng quá trình ấm nóng toàn cầu gây ra bởi các nước phát triển, và do vậy những nước này phải có trách nhiệm giải quyết vấn đề mà họ gây ra bằng nguồn tài chính của mình. Phát biểu tại Hội nghị COP-15 ở Copenhagen, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh trách nhiệm lịch sử của các nước phát triển và cho rằng sẽ hoàn toàn không công bằng nếu đòi hỏi các nước đang phát triển phải thực hiện mục tiêu chung giảm thải khí nhà kính.           Trong 10 năm đầu của thế kỷ 21, Trung Quốc  đã phát thải một lượng CO2 nhiều hơn bất kỳ nước phát triển nào đã phát  thải trong toàn bộ thế kỷ 20, ngoại trừ Mỹ và Đức.         Mặc dù tuyên bố quốc tế như thế nhưng những biến chuyển nội tại tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng chính phủ nước này cũng đã có những hành động cụ thể nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Cụ thể, Trung Quốc dường như đã đạt được mục tiêu giảm 20% năng lượng sử dụng tính trên một đơn vị tổng sản phẩm quốc nội từ năm 2006-2010 và tăng 15% năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng cung cấp điện năng vào năm 2020. Quốc gia này hiện cũng nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về sản lượng điện gió. Như vậy, có thể hiểu Trung Quốc cũng sẵn sàng chung tay hành động với thế giới nhưng họ không hề muốn ký kết vào các văn bản pháp lý chính thức. Tại sao? Chấp nhận cách tiếp cận vấn đề BĐKH từ trên xuống dưới (cam kết thực hiện theo đúng mục tiêu giảm thải cụ thể bằng văn bản – đây là lập trường nhất quán của Châu Âu) đồng nghĩa với việc Trung Quốc phải minh bạch những hoạt động tác động đến khí hậu, báo cáo tiến độ, chấp nhận đánh giá của quốc tế, và các hoạt động nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính phải tuân thủ luật pháp quốc tế.   Chính phủ nước này cho rằng những cam kết quốc tế có thể sẽ ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm quyền kiểm soát tối cao, và cuối cùng là mất ổn định chính trị. Vị thế quốc tế của Trung Quốc có được như hôm nay là nhờ sự tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong một thời gian dài. Do vậy mọi quá trình gây ra sự suy giảm tăng trưởng kinh tế đều phải bị ngăn chặn, giảm thiểu hoặc loại bỏ.   Cũng trong phát biểu tại Copenhagen, Thủ tướng Trung Quốc còn nhấn mạnh rằng các hành động ứng phó với BĐKH nhất thiết phải đặt trong khuôn khổ của phát triển bền vững và bằng mọi giá không được ảnh hưởng tới những nỗ lực giảm thiểu đói nghèo của các nước đang phát triển. Từ đây, chúng ta đã thấy rõ được hố sâu ngăn cách giữa Trung Quốc và Mỹ, hay Trung Quốc và Châu Âu trong thương thảo BĐKH.     Cách tiếp cận khoa học của châu Âu  Thế giới đã chứng kiến những nỗ lực không mệt mỏi của Châu Âu đối với BĐKH trong hơn hai thập kỷ vừa qua (tính từ Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992). BĐKH đã được đặt tại vị trí trung tâm trong các chính sách ngoại giao chung của khối. Chính Châu Âu đã thuyết phục thế giới ủng hộ cơ chế đối thoại đa phương dựa trên mục tiêu giảm thải và thời gian biểu cụ thể. Ví dụ, mục tiêu hàng đầu là hạn chế sự gia tăng nhiệt độ ở ngưỡng 2oC, giảm thiểu phát thải toàn cầu 50% vào năm 2050, trong đó các nước phát triển phải giảm phát thải ít nhất 80%, hoặc là vào năm 2020 ngưỡng phát thải giảm 30% so với lượng phát thải năm 1990… Bên cạnh mục tiêu và thời gian biểu cụ thể là những ràng buộc pháp lý sao cho các bên thực hiện phải được giám sát, đánh giá bởi cộng đồng quốc tế. Châu Âu tin rằng đây là cách tiếp cận khoa học, trực tiếp và mạnh mẽ nhất để giảm thiểu, ngăn chặn tác động của BĐKH đối với trái đất.   Để gây dựng lòng tin với thế giới, đại diện của khối (Đức, Pháp, Anh Quốc) đã tạo ra những thay đổi lớn về giảm thiểu phát thải, kinh tế carbon thấp, và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn mọi nước phát triển khác trong cùng thời kỳ. Cơ chế trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính (ETS) của Châu Âu cũng là một trong những phát kiến được thế giới ghi nhận, ủng hộ mạnh mẽ. Tuy nhiên, hai thành viên phát thải nhiều nhất thế giới, Trung Quốc và Mỹ – chiếm gần một nửa tổng lượng phát thải toàn cầu – tiếp tục không thỏa mãn với cách tiếp cận của Châu Âu. Hoàn toàn có lý khi cho rằng chính sự trì hoãn thống nhất của những thành viên này sẽ tạo ra một khoảng trống thời gian để trái đất tiếp tục bị nóng lên một cách không kiểm soát.     Cơ hội lịch sử ở COP-17  Như vậy với một số dẫn chứng nêu trên, chúng ta có thể thấy những tương đồng (ít) và  khác biệt (nhiều) giữa các thành viên chủ chốt trong thương thảo BĐKH. Điều này giải thích tại sao thế giới chỉ đạt được những tiến bộ chậm chạp trong vấn đề BĐKH trong thời gian vừa qua. Những tiến bộ này hoàn toàn không tương xứng với tốc độ gia tăng nhiệt độ trái đất mà Báo cáo kỹ thuật lần thứ 5 của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) mới công bố gần đây. Trái đất liên tục nóng lên trong khi con người vẫn loay hoay để tìm cách thức chung giải quyết vấn đề.   Rất may, tại Hội nghị COP-17 năm 2011 ở Nam Phi, một cơ hội lịch sử đã được mở ra cho tất cả các bên. COP-17 thiết lập mới một quá trình thương thảo với mục tiêu là cộng đồng thế giới sẽ phải đạt được thỏa thuận chung cuối cùng vào năm 2015, trong thỏa thuận đó xác định mọi thành viên sẽ nhận được đối xử công bằng dưới cùng một thiết chế luật pháp vào năm 2020. COP-17 quyết định xóa bỏ sự phân biệt giữa các nước thuộc Phụ lục 1 và các nước không thuộc Phụ lục 1. Quyết định này, về bản chất, nhằm đưa Mỹ và Trung Quốc tìm được tiếng nói chung trong thương thảo BĐKH. Cũng cần phải chỉ ra ở đây rằng, để được sự chấp nhận của nhóm BASIC, COP-17 đồng ý tiếp tục kéo dài sự tồn tại của Nghị định thư Kyoto thêm 5 năm, 2015-2020.     Điểm sáng ở COP-19   Kết quả tại Hội nghị COP-19 ở Warsaw trong những ngày này tưởng như sẽ là những chỉ dấu cụ thể nhất của thế giới hướng tới thời điểm lịch sử 2015. Tuy nhiên, cho đến thời điểm kết thúc, điểm sáng lớn nhất của COP-19 chỉ là đóng góp 280 triệu USD của ba nước Na Uy, Anh Quốc và Mỹ nhằm ngăn chặn nạn phá rừng, phát triển bền vững nông nghiệp và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp. Vẫn còn nguyên đó những chỉ trích giữa các nước về cam kết giảm thiểu phát thải CO2 hay cụ thể hóa cam kết tài chính vào năm 2020 của các nước thuộc Phụ lục 1… Do vậy, thực tế là, thay đổi bản lề 2015 sẽ chỉ diễn ra nếu tất cả các thành viên đàm phán BĐKH có những hành động cụ thể của riêng mình.   —  * Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Đại học Victoria, Wellington, New Zealand    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng xử của nước Đức với điện hạt nhân sau sự kiện Fukushima      Trong những năm gần đây ở Đức, có hai luồng ý kiến rõ rệt về điện hạt nhân: Ý kiến thứ nhất là tiếp tục duy trì hoạt động các NMĐHN thêm một khoảng thời gian, sau đó thì dừng hẳn; ý kiến thứ hai là dừng ngay hoạt động của tất cả các nhà máy này và chuyển hướng sang dùng các loại năng lượng sạch. Nội các chính phủ của bà Angela Merkel theo đuổi lập trường thứ nhất.      Trong năm 2010, Chính phủ Đức đã ra quyết định kéo dài thời gian hoạt động của bảy trong số 17 NMĐHN thêm 8 năm; 10 nhà máy còn lại được duy trì hoạt động thêm 14 năm. Tuy nhiên Chính phủ Đức đã có sự thay đổi đột ngột trong chính sách đối với các nhà máy điện hạt nhân ngay sau sự kiện nổ các lò phản ứng hạt nhân ở nhà máy điện Fukushima, Nhật Bản, ngày 15/3/2011.  Chính phủ Đức đã ra quyết định tạm dừng hoạt động của tám trong số 17 NMĐHN trong thời gian 3 tháng để phục vụ cho công tác đánh giá độ an toàn theo nhiều kịch bản khác nhau [8]. Thậm chí kịch bản về các vụ tấn công vào mạng máy tính điều khiển nhà máy điện hạt nhân cũng được đưa vào hồ sơ để xem xét, đánh giá.  Theo Bộ trưởng Môi trường Norbert Röttgen, rất nhiều khả năng là sau 3 tháng tạm dừng, một trong số các nhà máy trên sẽ ngừng hoạt động vĩnh viễn [7]. Trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, bà Angela Merkel nói rằng quan điểm của bà đã hoàn toàn thay đổi sau thảm họa nổ các lò phản ứng hạt nhân ở nhà máy điện Fukushima. Bà phát biểu: „Thảm họa ở Fukushima có phạm vi mà chúng ta chưa bao giờ hình dung đến đã làm thay đổi quan điểm của tôi về năng lượng hạt nhân và những rủi ro của nó,“ và nhấn mạnh „Tôi cũng học được nhiều điều.“ [4],[5],[6]. Bà Merkel nói rằng những sự bất trắc được cho là không ngờ tới vẫn có thể xảy ra và hệ thống chính trị phải có động thái phù hợp để đối phó với những sự kiện tương tự. Theo bà Merkel những sự việc xảy ra ở một nước có nền công nghệ cao như Nhật Bản cho thấy nước Đức cần phải xem xét và kiểm tra, tính toán lại mức độ an toàn của các nhà máy điện hạt nhân, và thời điểm dừng các nhà máy điện trong vòng 3 tháng là để thực thi các công tác này. Quyết định về các NMĐHN ở Đức sẽ được đưa ra dựa vào kết quả của các cuộc kiểm tra về an toàn. Là một nhà kỹ trị, bà Merkel đã hành xử trên một tinh thần thẳng thắn và cầu thị chứ không phải là những lời nói suông „tôi đảm bảo“ „tôi tin“ không thể được dùng để trấn an dư luận về sự an toàn của các lò phản ứng. Khác với phản ứng của đa số là sẽ đứng lên bảo vệ quan điểm của mình, có nghĩa là sẽ đứng ra „cam kết“ „đảm bảo“ rằng sẽ không có sự cố sẽ xảy ra như ở Fukushima, bà Merkel cùng Nội các của mình đã chấp nhận thay đổi chính sách. Không bảo thủ, dám thừa nhận mình đã học được nhiều điều và chấp nhận thay đổi quan điểm cho phù hợp với lợi ích của đất nước, đó là một phẩm chất cần có của người làm chính trị.    Song song với các hoạt động đánh giá độ an toàn của các NMĐHN, trong khoảng thời gian tạm dừng của các nhà máy, Chính phủ cũng mời các chuyên gia độc lập, nghe tư vấn, bàn giải pháp để rút ngắn thời gian đưa vào sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo [3]. Theo lịch trình, vào tháng 5, bà Merkel sẽ gặp gỡ với đại diện của nhà thờ, các tổ chức về bảo vệ môi trường và các liên minh để bàn về chuyển đổi sử dụng các loại hình năng lượng. Giữa tháng 5 là thời hạn cuối cùng để Ủy ban kiểm tra an toàn các nhà máy điện hạt nhân nộp bản báo cáo đánh giá tổng thể. Vào tháng 6 sẽ là các cuộc gặp gỡ của Chính phủ với các đảng phái trong Quốc hội Đức. Như vậy, đây chính là dịp để Chính phủ nhận được ý kiến đóng góp, phản hồi  từ đông đảo các tầng lớp, lực lượng trong xã hội.  Sức ép dư luận cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của Chính phủ về việc tạm dừng hoạt động các NMĐHN. Làn sóng biểu tình đã góp phần làm thay đổi các chính sách của Chính phủ đối với vấn đề năng lượng. Hàng trăm nghìn người dân Đức biểu tình phản đối chính sách về hạt nhân bằng cách đứng gần nhau, khoác tay vào nhau và tạo thành một chuỗi xích dài hàng chục kilomet. Câu slogan „Năng lượng hạt nhân ư? Không, cảm ơn“ đã trở nên quen thuộc trong đời sống thường nhật của người dân, thậm chí gần đây logo cho phong trào phản đối năng lượng hạt nhân còn trở thành một xu hướng mốt mới [2].  Thay thế dần ĐHN bằng điện gió  Các chính sách về năng lượng hạt nhân có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị của Đức. Khi vấn đề này trở nên nóng bỏng, đó là cơ hội cho các nhà hoạt động môi trường tìm được chỗ đứng trên chính trường. Trong cuộc bầu cử gần đây ở hai bang được coi là quê hưởng của đảng Dân chủ thiên chúa giáo (CDU, đảng của bà Merkel) là Baden-Wüttemberg và Rheinland-Pfalz, các thành viên của đảng CDU đã không thu được sự ủng hộ của số đông cử tri như thường lệ. Trong tương lai, ở bang Baden-Wüttemberg, Thủ hiến hiện thời của bang (một thành viên của CDU) có thể sẽ phải ra đi để nhường chỗ cho một ứng cử viên của đảng Xanh. Ở bang Rheinland-Pfalz, số phiếu ủng hộ cho đảng Xanh cũng tăng lên đáng kể so với kỳ bầu cử trước. Có thể thấy ưu thế đang thuộc về những người có lập trường kêu gọi xóa bỏ điện hạt nhân.  Hiện nay các thành viên của các đảng SPD và đảng Xanh trong Quốc hội Đức tiếp tục kêu gọi dừng hoạt động toàn bộ các nhà máy điện hạt nhân và chuyển sang dùng năng lượng tái tạo. Xu hướng phát triển các loại năng lượng tái tạo được đang thu được sự quan tâm cao độ của các lực lượng đối lập trong Quốc hội và cả dư luận Đức. Các giải pháp thay thế cho điện hạt nhân như phong điện và quang điện đang được đưa lên bàn nghị sự. Theo tính toán sơ bộ, để sản sinh một lượng điện tương đương với một nhà máy điện hạt nhân, cần phải có 200 chong chóng phát điện bằng năng lượng gió. Để thay thế tất cả 17 nhà máy điện hạt nhân hiện có, phải dùng 3400 chong chóng và cần có một diện tích khổng lồ để đặt các chong chóng đó; diện tích này tương đương với bang Saarland (2.568,70 km²) [1]. Có một diện tích khổng lồ như vậy là điều không tưởng, nhưng điều đó không có nghĩa là giải pháp thay thế điện hạt nhân bằng phong điện bị đặt hoàn toàn ra khỏi bàn nghị sự. Hiện nay các biện pháp tối ưu tiếp tục được nghiên cứu để triển khai thay thế dần điện hạt nhân bằng phong điện. Nước Đức đang có bước chuyển biến về cơ cấu các loại năng lượng; an ninh năng lượng được đảm bảo, nhưng quan trọng hơn cả chính là sự an toàn của con người; yếu tố con người phải là chủ thể mà mọi chính sách phải hướng tới. Dẫu có phát triển loại năng lượng nào đi chăng nữa, sự an toàn của con người phải được đặt lên hàng đầu, các yếu tố khác như lợi nhuận, sản lượng chỉ có thể xếp vào hàng thứ yếu. Đó là quan điểm chính sách được tạo ra là để phục vụ, chứ không phải để áp chế con người.  Tài liệu tham khảo:  1.                  Wieviele Windräder sind nötig, um ein Kernkraftwerk zu ersetzen?http://blog.tagesschau.de/2011/04/05/wieviele-windrader-sind-notig-um-ein-kernkraftwerk-zu-ersetzen/  2.                  Wie Politsymbole zum Trendartikel werden http://www.dw-world.de/dw/article/0,,14973353,00.html  3.                  Nach Japan müssen unsere AKW auf den Prüfstand http://www.tagblatt.de/Home/nachrichten/ueberregional/politik_artikel,-Nach-Japan-muessen-unsere-AKW-auf-den-Pruefstand-_arid,128061.html  4.                  Zwei Frauen – zwei Geständnisse http://www.tagesschau.de/inland/atom166.html  5.                  Merkel: „Ich habe durch Fukushima dazugelernt“ http://www.morgenpost.de/printarchiv/titelseite/article1596644/Merkel-Ich-habe-durch-Fukushima-dazugelernt.html  6.                  „Auch ich habe dazugelernt“ http://www.bild.de//politik/inland/angela-merkel schnelle-energiewende-17225516.bild.html  7.                  Laufzeitverlängerung wird vorläufig ausgesetzt http://www.tagesschau.de/inland/atomdebatte122.html  8.                  Acht deutsche AKW vorerst außer Betrieb http://www.tagesschau.de/inland/atomdebatte130.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ước mong ngày nào cũng là Ngày Pháp luật      Năm nay ở Việt Nam lần đầu tiên có một ngày có tên là “Ngày Pháp luật”.1  Một trong những khẩu hiểu của “Ngày Pháp luật” năm nay là: “Sống và làm  việc theo Hiến pháp và pháp luật”2.     Cá nhân tôi trộm nghĩ: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” là việc đương nhiên, tại sao lại cần phải có khẩu hiệu? Phải chăng, nêu khẩu hiệu như vậy có nghĩa rằng việc “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” còn chưa có hoặc đang ở rất xa?    Hơn nữa, mục đích của “Ngày Pháp luật” là “nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”.3 Nhưng hãy cùng suy nghĩ: Thượng tôn pháp luật là thượng tôn cái gì?   Nếu pháp luật hợp lẽ phải, hợp qui luật, đem lại lợi ích thiết thực cho con người, thì thiết nghĩ không cần hô khẩu hiệu, người dân sẽ tự nhận thấy tính thiết thực, tự tìm đến, tự bảo vệ nó như “chốn nương thân của mình”. Thượng tôn pháp luật là thượng tôn lẽ phải, lẽ công bằng, cái nhân văn cao cả, hợp lẽ sống ở đời ngay trong chính pháp luật. Thượng tôn pháp luật là không có ai ở trên pháp luật và không có ai không được pháp luật bảo vệ.   Nhiều nước trên thế giới họ có Ngày Hiến pháp (Constitution Day) , để nhắc nhở công quyền tôn trọng Hiến pháp. Vì vậy, theo thiển ý của tôi trong Nhà nước pháp quyền thì không có ngày nào không phải là Ngày Pháp luật cả. Nếu có, chỉ nên lấy ngày này là “Ngày Hiến Pháp”  theo đúng ý nghĩa là Ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – Hiến pháp năm 1946, để cùng dựng xây một Chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam và nhắc nhở những công bộc của dân buộc phải nghiêm chỉnh thực thi Hiến pháp.  Tôi ước mong có một “Ngày Hiến pháp” và ngày nào cũng là “Ngày Pháp luật”!  —  1 Theo quy định tại Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ đề của Ngày Pháp luật năm nay được xác định là “Toàn dân xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.  2 Xem Công văn số 6902/BTP-PBGDPL ngày 25/9/2013 của Bộ Tư Pháp về việc tổ chức thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2013.   Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.  Không phải riêng Việt Nam, tại nhiều nước trên thế giới cũng có “Ngày Hiến pháp” hoặc “Ngày Pháp luật”. Chẳng hạn, ở Đức thì từ năm 1860 họ đã tổ chức diễn đàn của các nhà luật học thường niên (Juristentag) và vẫn duy trì đến ngày nay. Mỹ từ năm 1961 cũng vậy, họ lấy ngày 1/5 hàng năm là Ngày Pháp luật (Law Day). Nhiều nước có Ngày Hiến Pháp, chẳng hạn từ năm 1947, Nhật Bản chọn ngày mồng 3/5 là Ngày Hiến pháp hay từ năm 1949, Hàn Quốc cũng chọn ngày 17/7 là “Ngày Hiến pháp”.      3 Xét dưới góc độ lịch sử, ngày 9/11 là ngày ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập. Cho nên việc lấy ngày này là Ngày Hiến Pháp là rất hợp lý.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ước tính chi phí toàn cầu của bệnh ung thư tăng cao trong 30 năm tới      Một nghiên cứu mới cho thấy những bệnh ung thư như ung thư khí quản, phế quản và phổi là những bệnh ung thư kéo theo chi phí cao nhất; tiếp đến là ung thư ruột kết và trực tràng, ung thư vú, ung thư gan, và ung thư máu hay bệnh bạch cầu và chỉ riêng những bệnh ung thư này sẽ tiêu tốn khoảng 12 nghìn tỷ đô-la quốc tế (Int$) trong 30 năm tới.     Đồng thời, chi phí của tất cả các bệnh ung thư nói chung trong cùng khoảng thời gian sẽ là 25,2 nghìn tỷ Int$. Int$ là một loại tiền tệ giả định thường được sử dụng trong các phân tích và so sánh kinh tế giữa các quốc gia.    Các nghiên cứu trước đây đã ước tính chi phí toàn cầu của bệnh ung thư – nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới – nhưng chủ yếu xem xét một số bệnh ung thư nhất định. Để có được bức tranh toàn cảnh hơn, nhóm Simiao Chen, nhà kinh tế học sức khỏe tại Viện Sức khỏe Toàn cầu Heidelberg, Đức, đã thu thập dữ liệu kinh tế và sức khỏe từ khắp nơi trên thế giới.        Sau đó, họ lập mô hình chi phí ung thư trong tương lai, chia nhỏ dữ liệu giữa các quốc gia và loại ung thư. Ngoài chi phí điều trị trực tiếp, các ca chẩn đoán còn ảnh hưởng đến nền kinh tế theo cách buộc bệnh nhân phải nghỉ làm và dành tiền tiết kiệm để điều trị.    Phân tích ước tính, nếu không đầu tư thêm vào nghiên cứu và phòng ngừa, ung thư sẽ khiến nền kinh tế toàn cầu phải trả giá bằng 25,2 nghìn tỷ Int$ từ chi phí y tế, thu nhập bị hụt do mất sức lao động và các khoản tiết kiệm phải chi dùng trong 30 năm tới. Khoản này tương đương với việc thế giới mất đi giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu từ Trung Quốc, nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong cùng khoảng thời gian.    Mặc dù 3/4 số ca tử vong do ung thư xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, phân tích cho thấy hơn một nửa chi phí toàn cầu cho bệnh ung thư sẽ rơi vào các nước có thu nhập cao, trong đó Trung Quốc và Mỹ chịu gánh nặng lớn nhất. Ở Trung Quốc, nguyên nhân là dân số đông. Ở Mỹ, nguyên nhân là chi phí chăm sóc sức khỏe cao.    Nghiên cứu cũng cho thấy tác động kinh tế của các bệnh ung thư khác nhau giữa các nước. Ở châu Phi cận Sahara, ung thư vú và cổ tử cung gây tác động kinh tế lớn nhất. Trong khi đó, các nước giàu sẽ phải trả chi phí cao nhất cho các bệnh ung thư chủ yếu ảnh hưởng đến dân số già, chẳng hạn như ung thư phổi.    Theo Chen, những thông tin trong nghiên cứu có thể giúp các nhà hoạch định chính sách biết nên nhắm mục tiêu vào loại ung thư nào trong chính sách hỗ trợ, đầu tư nghiên cứu và phòng ngừa. “Rất tốn kém để tìm cách giải quyết ung thư. Nhưng chi phí của việc không giải quyết ung thư thậm chí còn cao hơn”, Chen lưu ý.    Chen chỉ ra, ở các quốc gia như Trung Quốc, nơi bệnh ung thư phổi phổ biến, các chính sách nhằm hạn chế sử dụng thuốc lá có thể tạo ra sự thay đổi lớn. Robin Yabroff, nhà nghiên cứu dịch vụ y tế tại Hiệp hội Ung thư Mỹ, cũng cho biết nhiều căn bệnh tốn kém có thể được giải quyết nhờ phòng ngừa, chẳng hạn như tiêm vaccine ngừa virus u nhú ở người – loại virus liên quan đến ung thư cổ tử cung, hoặc khám sàng lọc ung thư thường xuyên.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp KH&CN: Biết đến bao giờ?      Nhà nước cần đưa ra các ưu đãi hào phóng về thuế dành cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) không chỉ để ghi nhận mà để thúc đẩy khối tư nhân đầu tư cho đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ giải quyết những bài toán về kinh tế, xã hội của đất nước. Nhưng gần 15 năm trôi qua, ưu đãi đó vẫn quá khó thành hiện thực.    Sau nhiều nỗ lực hằng năm chứng minh rằng doanh thu từ những sản phẩm sinh ra từ các nghiên cứu khoa học chiếm một tỉ lệ nhất định trên tổng doanh thu với Bộ Khoa học và Công nghệ, doanh nghiệp cuối cùng đã được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN.   Ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp KH&CN được quy định lần đầu tiên trong nghị định 80 của Bộ KH&CN vào năm 2007. Trong đó, nếu doanh nghiệp chứng minh được doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ lần lượt đạt ít nhất 30%, 50% và 70% trong năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba trở đi, thì họ sẽ được miễn thuế 4 năm, giảm thuế 9 năm và được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm hoặc thậm chí suốt đời dự án.   Thế nhưng, cơ quan thuế tuyên bố rằng doanh nghiệp đã được hưởng ưu đãi thuế đối với dây chuyền, nhà xưởng…mà họ sẽ dùng để sản xuất các sản phẩm khoa học công nghệ kia rồi. Vì vậy, họ sẽ không được hưởng ưu đãi nữa.   Không ai nên được hưởng hai lần với cùng một dự án đầu tư cả. Đó là lập luận của cơ quan thuế, nhưng khoan đã, doanh nghiệp được ưu đãi cho những cơ sở vật chất vì nhà nước muốn thu hút họ vào các địa bàn và lĩnh vực nhất định. Đó là một chuyện. Tuy nhiên, sau khi đầu tư như vậy rồi, họ lại mất nhiều công sức và nguồn lực tạo ra một công nghệ mới để sản xuất được nhiều sản phẩm hơn, chất lượng tốt hơn, với giá thành thấp hơn và nhanh hơn…lại là chuyện khác. Và đáng lẽ họ cần được ghi nhận cho điều đó.   Có doanh nghiệp đã trình bày rằng, việc bị “cắt” ưu đãi thuế như vậy giống như họ mua hai tấm vé số, trúng thưởng ở hai tuần khác nhau nhưng khi nhận thưởng, công ty sổ xố lại lấy vé này trừ đi vé kia, hoặc nói rằng họ nhận tiền thưởng một vé là đủ rồi.  Nút thắt của vấn đề nằm ở việc cơ quan thuế chưa nhìn thấy, hoặc ít nhất là chưa công nhận những tài sản vô hình. Nhà xưởng lớn, máy móc hiện đại đều là thứ hữu hình dễ thấy, dễ đánh giá. Nhưng những know-how, những technique đằng sau, nói cách khác là “linh hồn” của những máy móc đó thì không mấy ai nhận ra. Chẳng hạn như, một công ty xây dựng trung tâm dữ liệu với dàn máy chủ hoành tráng thì dễ được cơ quan thuế thừa nhận, nhưng thuật toán để phân tích, nén và lưu truyền dữ liệu trên những máy chủ đó thì chưa chắc cơ quan thuế đã thấy khi đề cập đến việc ưu đãi. Trong khi, đó mới là thứ mà doanh nghiệp “đổ mồ hôi sôi nước mắt” để nghiên cứu, là “đổi mới sáng tạo” mà nhà nước vẫn cổ vũ nhiều năm nay. Công nghệ là thứ không dễ gì hình thành trong một sớm một chiều mà lên đến chục năm thử và sai, “nướng” nhiều tiền của và công sức của doanh nghiệp. Và kể cả khi tìm ra bí quyết rồi, doanh nghiệp cũng còn cần nhiều thời gian để hoàn thiện mới có thể thu lại được những gì đã bỏ ra. Ưu đãi thuế là để khuyến khích tư nhân đầu tư vào khoa học – công nghệ, dám dấn thân chấp nhận rủi ro, góp phần tham gia giải quyết những bài toán của kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, trong hơn 300 doanh nghiệp khoa học công nghệ đã được công nhận trước năm 2019, chỉ có duy nhất một doanh nghiệp được hưởng “hai tấm vé số” đó và cũng phải trải qua chặng đường “đấu tranh” vô cùng gian nan, phức tạp.         Doanh nghiệp KH&CN ít nhất phải có chỗ đứng trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, luật này đã có ít nhất ba lần điều chỉnh từ năm 2008 nhưng vẫn chưa thừa nhận doanh nghiệp KH&CN.      Các cơ quan thuế rất e ngại việc doanh nghiệp trục lợi chính sách. Chính vì vậy, giải pháp an toàn là hạn chế những ưu đãi hết sức có thể, đòi hỏi doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách càng nhiều càng tốt. Nhưng thực ra, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khoa học công nghệ chỉ là “thả con săn sắt bắt con cá rô” đối với nhà nước. Khuyến khích để doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ, đúng là nhà nước có “thất thu” thuế thu nhập của doanh nghiệp đó trong một vài năm, nhưng sẽ nhanh chóng “lãi” một lượng thuế VAT lớn hơn gấp nhiều lần, vì công nghệ mới đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn, hấp dẫn hơn đối với thị trường. Hơn nữa, công nghệ đã được doanh nghiệp phát triển thành công rồi, đã được Bộ KH&CN chứng nhận rồi, đâu còn rủi ro gì nữa?    Nhưng các cơ quan quản lý tài chính của nhà nước vẫn chưa thừa nhận điều đó. Việc ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khoa học công nghệ vẫn là sự thỏa hiệp câu chữ giữa các cơ quan này với Bộ KH&CN. Vào năm 2019, nghị định 13 của Bộ KH&CN ra đời với kì vọng có thể tháo gỡ được sự nhầm lẫn giữa những gì “vô hình” và “hữu hình” trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Nghị định này định nghĩa rằng, nghiên cứu khoa học không nhất thiết phải tạo ra sản phẩm mới mà có thể là một công nghệ mới, giải pháp mới trên một dây chuyền, nhà xưởng đã cũ. Đồng thời, cũng để giải tỏa mối lo ngại từ các cơ quan tài chính nhà nước rằng các doanh nghiệp sẽ lợi dụng chính sách, nghị định này không ưu đãi thuế trên tổng doanh thu của doanh nghiệp mà chỉ ưu đãi trên doanh thu của những sản phẩm, dịch vụ hình thành từ những nghiên cứu phát triển được chứng nhận mà thôi. (Nghĩa là doanh nghiệp càng nhiều sản phẩm dịch vụ xuất phát từ nghiên cứu khoa học thì càng được hưởng nhiều ưu đãi). Đồng thời, doanh nghiệp không được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm như nghị định 80 nữa.   Theo nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, có một quy định bất thành văn là, khi áp dụng luật ở lĩnh vực nào thì luật chuyên ngành ở lĩnh vực đó sẽ có giá trị cao nhất, các thông tư, nghị định khác sẽ có vai trò thấp hơn. Nói cách khác, khi nói đến ưu đãi thuế, luật thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có giá trị tối thượng, khi nói đến các loại hình doanh nghiệp, luật doanh nghiệp sẽ là cơ sở soi chiếu đầu tiên. Nhưng đáng tiếc, trong cả hai luật này đều không đề cập đến doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ. Nói cách khác, ngoài Bộ KH&CN, các bộ khác chưa thừa nhận loại hình doanh nghiệp này.         Đó là lí do mà trong hơn một thập kỉ qua, không có một ưu đãi riêng với doanh nghiệp khoa học công nghệ. Các văn bản của Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ có thể ghi rằng, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được ưu đãi như “doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghệ cao” hoặc “như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao” hay “như doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”. Dù thế nào, chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp khoa học công nghệ cũng chỉ là một cách “vận dụng” thông minh. Phía các cơ quan quản lý tài chính vừa không thể đánh giá về công nghệ, lại vừa ngại việc phải linh hoạt đối với những gì không được quy định trong luật chuyên ngành của mình. Câu chuyện ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ vì vậy, cứ rơi vào một vòng luẩn quẩn không có hồi kết.   Kể từ khi nghị định 80 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ ra đời, đã có thêm tổng cộng bốn văn bản pháp luật nữa cùng quy định về ưu đãi cho loại hình doanh nghiệp này. Càng về sau, các ưu đãi càng “chặt chẽ” hơn. Để bóc tách và chứng minh tỉ lệ doanh thu các sản phẩm từ nghiên cứu khoa học với tổng doanh thu đạt 30% với cơ quan thuế là việc không hề đơn giản với mỗi doanh nghiệp, nhưng không gì nhụt chí hơn là chứng minh xong lại không mang lại được ưu đãi gì.    Lối ra duy nhất cho điều này là doanh nghiệp KH&CN ít nhất phải có chỗ đứng trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, con đường vận động chính sách sẽ còn nhiều chông gai khi luật này đã có ít nhất ba lần điều chỉnh từ năm 2008 nhưng vẫn chưa thừa nhận doanh nghiệp KH&CN.   Doanh nghiệp có thể thuyết phục, đấu tranh, thậm chí là kiện các cơ quan tài chính để đòi quyền lợi. Nhưng vừa qua, Thông tư 03 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định 13 dường như lại khiến tia hi vọng nhỏ nhoi này cũng vụt tắt. Văn bản này cũng khẳng định rằng, nếu doanh nghiệp đã và đang được hưởng bất kì một chính sách ưu đãi thuế nào khác khi được chứng nhận là doanh nghiệp khoa học công nghệ, thì họ cần lấy “thời gian của ưu đãi này trừ thời gian của ưu đãi kia”. Nói cách khác, cuối cùng, dù trúng thưởng “hai tấm vé số”, doanh nghiệp cũng không được hưởng cả hai. □       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ưu tiên chống dịch: Phương án hợp lý nhất      Bài học từ ba lần bùng phát dịch trong nước và cả quốc tế cho thấy, muốn đạt được mục tiêu bảo vệ nền kinh tế thì phải ưu tiên chống dịch. Việc thỏa hiệp, chần chừ khi chống dịch có thể phải trả giá đắt gấp đôi: vừa không chống được dịch, vừa không chặn được sự suy giảm kinh tế.    Trong năm qua, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chống dịch thành công điển hình nhờ vào các biện pháp thắt chặt truy vết, xét nghiệm, dựng các hàng rào giãn cách hoặc khoanh vùng cách ly. Nhưng chuyển biến dịch bệnh năm nay đã đưa Việt Nam sang một tình huống khác: làm thế nào đảm bảo được mục tiêu kép vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế sau một năm “thắt lưng buộc bụng”, trong khi chờ đợi có đủ vaccine cho 70% mọi người? Vậy chúng ta chấp nhận các biện pháp ưu tiên chống dịch đi trước một bước, thậm chí sẽ phải chấp nhận ngưỡng có lúc cần phải cách ly, phong tỏa ở từng nơi, hay là trì hoãn hoặc nới lỏng để ưu tiên phát triển kinh tế?    Nhân viên y tế trắng đêm lấy mẫu xét nghiệm Covid-19 cho hơn 30.000 công nhân Khu chế xuất Tân Thuận, TP HCM. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Chỉ có thể lựa chọn cách đỡ tổn thất nhất     Trước khi nhìn về cuộc chiến phía trước, chúng ta hãy cùng nhìn lại những yếu tố nào dẫn tới ba “trận đầu” thắng oanh liệt. Một công bố mới đây của TS. Phạm Duy Quang cùng các nhà khoa học tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh và CDC Hà Nội1 công bố vào 25/1/2021 trên tạp chí BMJ Global Health1 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp chính trị và y tế cộng đồng chặt chẽ để kiểm soát các đợt bùng phát dịch bệnh ngay tại các ổ dịch, truy vết, xét nghiệm, giãn cách xã hội, giảm tiếp xúc ở các khu vực công cộng để làm giảm mức độ lây lan hoặc thiết lập khu vực phong tỏa chính là bài học kinh nghiệm hữu ích cho các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình. Tương tự, ngày 5/3 vừa qua, trong một bài viết dài trên Our World in Data (trang thông tin về dữ liệu và nghiên cứu toàn cầu do một nhóm các nhà nghiên cứu của đại học Oxford xây dựng) phó giáo sư Todd Pollack, trường Y khoa Harvard, và cộng sự2 đã phân tích và cho rằng chiến lược chống COVID của Việt Nam hiệu quả nhờ phản ứng của hệ thống y tế công, chính quyền trung ương quyết đoán, và chiến lược ngăn chặn chủ động và toàn diện dựa vào xét nghiệm, truy vết và cách ly (comprehensive testing, tracing, and quarantining).     Đó là góc nhìn của những nhà dịch tễ học, luôn mong muốn quét dịch bệnh ra khỏi cộng đồng. Nhưng giữ gìn một cách gắt gao, đóng cửa biên giới, từng một lần giãn cách toàn xã hội trong cả nước, tam tứ phen “thắt lưng buộc bụng” giãn cách, đóng cửa kinh doanh các dịch vụ không thiết yếu ở các tỉnh có dịch bệnh có hợp lý về mặt kinh tế không?    Để đánh giá được tác động của những lần giãn cách xã hội (cứng hay mềm), cần phải tách bạch được tác động của giãn cách và tác động của dịch bệnh. Chẳng hạn, ngành du lịch vốn tạo ra gần một triệu việc làm giờ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, cả một năm phải nằm thoi thóp kêu cứu. Nhưng liệu đó có phải lỗi của việc đóng cửa, giãn cách và siết chặt đi lại để chống dịch? khi thực ra cơ bản là cầu du lịch quốc tế, nguồn đóng góp chủ đạo cho ngành du lịch, đã giảm do toàn cầu bị ảnh hưởng dịch bệnh không thể đi lại như bình thường.    Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tính toán các biện pháp chống dịch của Việt Nam đã tác động tới từng ngành hàng kinh tế cụ thể như thế nào, nhưng nếu tính những tổn thất mà ngành du lịch nói riêng hoặc các ngành hàng khác phải chịu thì phải “loại trừ yếu tố cầu đã tụt giảm mạnh do bối cảnh dịch bệnh chung toàn cầu”, bởi vì “ngay cả không đóng cửa biên giới thì khách du lịch cũng không thể đến được Việt Nam như trước, cầu của các ngành hàng cũng giảm do đại dịch tác động”, theo TS. Hoàng Xuân Trung, Phòng Nghiên cứu Kinh tế châu Âu, Viện Nghiên cứu châu Âu, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Mặt khác, nếu cho phép du lịch nội địa tràn ngập thì nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao và hệ thống y tế không có khả năng truy vết lượng người di chuyển khổng lồ3. “Khi tách ra như vậy thì sẽ thấy giãn cách để chống dịch không phải điều gì quá kinh khủng. Và thực ra Việt Nam đã khôn ngoan chọn phương án đỡ tổn thất, trụ được lâu dài và cân bằng tổng thể nền kinh tế để ứng phó với đại dịch. Đòi hỏi chọn phương án không tổn thất chút nào giống như không có đại dịch là không thể”.     Nhìn tổng thể, Việt Nam đã chọn cho mình một lối đi truy vết, cách ly rất đặc thù nhờ vào một hệ thống chính trị quyết liệt, huy động cả xã hội theo dõi, giám sát “phòng còn hơn chữa”, truy nhiều vòng, phong tỏa cách ly đúng mục tiêu (targeted lockdown) hầu như không giống với bất kỳ nước nào. Chưa tính các chi phí sức người, sức của cho cả hệ thống truy vết, y tế thì riêng trong năm 2020 tổng cộng có khoảng hơn 10,2 triệu người từng phải cách ly (trong đó hơn 200 nghìn người được chữa trị tại các cơ sở y tế, 4,2 triệu người từng cách ly tập trung và hơn 5,7 triệu người từng cách ly tại nhà)4 và đổi lại là điều mà hầu như rất ít nơi làm được là có thể đưa được dịch bệnh về 0 trong phần lớn thời gian ở hầu khắp các địa phương trong cả nước. Nhờ đó, Việt Nam là nước hiếm hoi tăng trưởng dương tương đối tốt trong năm 2020, trong đó quan trọng nhất là các ngành sản xuất, chế biến chế tạo đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế được bảo vệ; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,16%, công nghiệp và xây dựng tăng 6,3%, dịch vụ tăng 3,34%.       Công nhân ngoại tỉnh dọn tới ở ký túc xá miễn phí tại Trường Cao đẳng Công nghiệp và Thương mại tỉnh Vĩnh Phúc. Nhằm ứng phó với đợt bùng phát dịch thứ tư, Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên ra quy định “cứng rắn” là buộc xét nghiệm cho người lao động tại các khu công nghiệp và có chính sách cho công nhân ngoại tỉnh ở trong các ký túc xá ngay tại tỉnh để hạn chế đi lại giữa các địa phương, giúp giảm nguy cơ lây lan virus. Nguồn ảnh: Tiền phong.      Giải pháp y tế thực ra là kinh tế     Hiện nay chưa có một tính toán cụ thể nào về việc đóng cửa, giãn cách chống dịch của Việt Nam đã tác động như thế nào đến nền kinh tế. Cũng chưa có những đánh giá từng đợt giãn cách xã hội ở từng tỉnh bùng phát dịch cho phép chúng ta hình dung và so sánh nếu đóng cửa, giãn cách hoặc không đóng cửa không giãn cách sẽ tác động đến kinh tế như thế nào.    Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn sang các nước đã có kịch bản phong tỏa hoặc nới lỏng nền kinh tế để xem phương án nào có lợi hơn. Một số tính toán gần đây cho thấy không phải cứ mở cửa là tốt, mà điều tồi tệ nhất với nền kinh tế đầu tiên chính là “không hành động để chống dịch”, điều hại thứ hai là “phong tỏa trong thời gian quá ngắn”. Tính toán của các nhà kinh tế học Đại học Cambridge5 và Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã cho thấy nền kinh tế có thể tụt giảm 30% hoặc thậm chí hơn nếu không áp dụng các biện pháp chống dịch như phong tỏa (lock down) hay giãn cách xã hội (social distancing) dẫn tới việc người dân nhiễm bệnh, người lao động phải ở nhà hoặc điều trị bệnh làm ảnh hưởng tới nguồn lực lao động của cả nền kinh tế6. Khi có chiến lược lock down chống dịch, các doanh nghiệp được đảm bảo sự ổn định, không mất nguồn lực lao động do virus lây lan, xây dựng được kế hoạch đầu tư như thế nào; còn trong bối cảnh bất định do không biết dịch bệnh sẽ còn tiếp tục như thế nào thì các doanh nghiệp không thể có chiến lược ổn định mà thậm chí phải đối diện với đóng cửa lâu dài.      GS. Philippe Aghion dự báo năm 2021, các nước nhóm theo đuổi chiến lược “0 COVID” có thể tăng GDP trung bình 6.2% so với năm 2019. Trong khi đó, các quốc gia châu Âu thuộc nhóm ban đầu mở cửa, khi bệnh dịch quá nhiều mới phong tỏa trên diện rộng thì có thể lại giảm tới 3.4% so với năm 2019.7      Thực ra việc tranh cãi giữa ưu tiên chống dịch hay ưu tiên phát triển kinh tế đã diễn ra bất tận kể từ khi dịch bệnh bắt đầu hoành hành. Chẳng hạn nhìn vào mức suy giảm kinh tế, như của Hoa Kỳ trong năm qua (GDP âm 3.5%), nhiều người vẫn tin rằng đó là lỗi của các chính sách giãn cách xã hội hoặc phong tỏa. Nhưng sau khi trải qua một năm chống dịch, các nhà kinh tế học mới tính toán và cho thấy “đúng là đóng cửa nền kinh tế thì sẽ làm cho nền kinh tế tụt giảm, tuy nhiên nếu không đóng cửa thì còn điêu đứng hơn rất nhiều”, TS. Hoàng Xuân Trung nhận xét. Anh cho biết, trong bài phân tích vào 31/3 trên trang voxeu7 đăng tải các phân tích của chuyên gia kinh tế, giáo sư Philippe Aghion, trường Kinh tế London và các đồng sự đã so sánh các nước, khu vực thuộc hai trường phái chống dịch khác nhau. Một nhóm gồm Australia, Trung Quốc, New Zealand, Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan – có chính sách tạm gọi là loại trừ cho dịch về 0 bằng nhiều biện pháp chặt chẽ khác nhau, thì mặc dù nền kinh tế có sụt giảm nhưng sụt giảm ít hơn, chịu sụt giảm chủ yếu ở khu vực dịch vụ, và phục hồi nhanh hơn so với các nước mở cửa. Dự báo năm 2021, các nước nhóm theo đuổi chiến lược “0 COVID” có thể tăng GDP trung bình 6.2% so với năm 2019. Trong khi đó, các quốc gia châu Âu thuộc nhóm ban đầu mở cửa, khi bệnh dịch quá nhiều mới phong tỏa trên diện rộng thì có thể lại giảm tới 3.4% so với năm 2019.     Để dịch không đánh vào “xương sống” nền kinh tế     Như vậy, cho đến khi bao phủ được vaccine thì phương án hợp lý nhất vẫn là ưu tiên chống dịch bằng khoanh vùng, xét nghiệm, truy vết, cách ly y tế. Trong trường hợp có dịch bùng phát thì giãn cách xã hội là cần thiết. Trong cuộc trao đổi với Tia Sáng gần đây, TS.BS Nguyễn Thu Anh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock, người đứng đầu một trong các nhóm nghiên cứu độc lập phân tích mô hình và đưa ra dự báo cho bốn đợt dịch COVID ở Việt Nam cũng đã cho biết, trong trường hợp dịch bệnh đã tới ngưỡng đáp ứng của địa phương, việc giãn cách tạm thời trong vòng hai tuần sẽ làm cho đường lây dừng lại, sau đó khối lượng công việc sẽ không tăng quá nhanh và giảm dần xuống. Lúc đó, cán bộ phòng dịch mới thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của họ.    “Phong tỏa”8 (cách làm linh hoạt của Việt Nam được giáo sư Todd Pollack gọi là phong tỏa nhắm trúng mục tiêu) hay “giãn cách xã hội” một cách kịp thời, linh hoạt không phải là mối đe dọa kinh tế mà thực chất để nhằm đảm bảo cho các hoạt động xương sống của nền sản xuất không bị tổn hại. Nếu dịch bệnh đã tấn công và yêu cầu phải phong tỏa các khu vực sản xuất, sau khi “làm sạch”, tuân thủ theo các yêu cầu của ngành y tế, vẫn có thể quay trở lại sản xuất với điều kiện “bình thường mới” chứ không làm gián đoạn quá lâu. Ví dụ gần đây có thể thấy như trường hợp Khu công nghiệp An Đồn của Đà Nẵng, đóng cửa vài ngày để dập dịch, xét nghiệm rồi đã quay trở lại làm việc với điều kiện tuân thủ 5K. Hoặc Vĩnh Phúc đã đặt ra yêu cầu khắt khe và tốn kém là xét nghiệm sàng lọc COVID, người lao động ngoài tỉnh Vĩnh Phúc vào khu công nghiệp phải được xét nghiệm ba ngày một lần hoặc là ở ngay ký túc xá do tỉnh bố trí bởi nếu “sơ sảy khiến dịch lan rộng thì hậu quả rất khó lường”.      Australia cũng thuộc nhóm các nước áp dụng chiến lược siết chặt các biện pháp chống dịch để COVID về 0. Trong ảnh: Một địa điểm xét nghiệm COVID ở Melbourne, Australia. Nguồn ảnh: Nytimes.      Nhưng việc đưa ra các phân tích mang tính vĩ mô và thực hành các chính sách ở từng địa phương không phải lúc nào cũng tương đồng. Giãn cách xã hội hay phải phong tỏa một khu vực nhất định sẽ trở thành một quyết định rất cân não trước áp lực phải cố thực hiện cho bằng được “mục tiêu kép”. Thực tế đã chỉ ra, sẽ không có mục tiêu kép nào nếu không đảm bảo được yếu tố thứ nhất là chống dịch. Chúng ta hãy thử nhìn vào hai tâm điểm bùng phát dịch mà giờ đây hàng chục nghìn nhân viên, tình nguyện viên y tế ở nhiều địa phương cùng đang dồn lực vào giải quyết là Bắc Giang và Bắc Ninh. Trong lần bùng phát dịch thứ tư này, với hai điểm khởi phát từ một ca nhập cảnh và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương ở Hà Nội, qua vài vòng lây nhiễm rồi không may xâm nhập vào khu công nghiệp của Bắc Giang, chỉ từ một người nhiễm bệnh, một điểm ban đầu ở một công ty, đã “cháy lan” ra cả bốn khu công nghiệp của Bắc Giang.  Nếu chỉ tính riêng hai khu công nghiệp có nhiều ca nhiễm COVID cũng như số lượng F1, F2 nhất là Vân Trung và Quang Châu ngày 8/5 có một ca, rồi sau đó thì chỉ trong vòng từ ngày mùng 9 đến 19/5 Khu công nghiệp Vân Trung đã tăng từ 32 ca nhiễm lên 358 ca nhiễm, từ ngày 16 tới 29/5 Khu công nghiệp Quang Châu tăng từ 152 ca lên 1577 ca nhiễm (nguồn từ các thông cáo báo chí của tỉnh). Và cho đến hết tháng năm, số lượng F1, F2 của mỗi khu công nghiệp Vân Trung và Quang Châu cũng vào khoảng hơn 30.000 người. Sau khi cả bốn khu công nghiệp của Bắc Giang đóng cửa hai tuần thì đến 29/5 mới có ba doanh nghiệp dần quay trở lại hoạt động.    Trường hợp của Bắc Ninh và Bắc Giang cho thấy, chỉ lơi tay chậm dù một ngày thì hậu quả là dịch bệnh sẽ xâm nhập thẳng vào sống lưng của nền kinh tế, gây hậu quả to lớn hơn nhìn thấy ngay được. Thiệt hại không chỉ tính bằng tiền, như một ước tính tạm thời của các nhà quản lý Bắc Giang cho biết một ngày dừng hoạt động thì các khu công nghiệp ở đây thiệt hại 2000 tỉ đồng, mà đây là một phần mắt xích của chuỗi cung ứng cho những công ty toàn cầu. Riêng đợt bùng phát dịch này ở hai tỉnh đã ảnh hưởng tới các nhà máy sản xuất của nhiều thương hiệu lớn như Samsung, Canon, Foxcon… Do đó, việc có kiểm soát được dịch ở đây để quay trở lại sản xuất còn là yếu tố thuyết phục về khả năng ổn định để sản xuất của Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài, chỉ dấu cho thấy khả năng bảo vệ mắt xích của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.    Chống dịch bằng các biện pháp chặt chẽ nhất đòi hỏi phí tổn nhân lực, vật lực của cả hệ thống y tế, công an, quân đội. Nhưng làm thế nào để giữ cho các ngành xương sống không bị ảnh hưởng quá lớn, người lao động không bị mất việc? Lời khuyên của các nhà kinh tế ở đây là vai trò của nhà nước rất quan trọng, “nhà nước không được tiếc tiền” cho các gói hỗ trợ doanh nghiệp bởi nếu doanh nghiệp sản xuất đổ vỡ thì phải rất lâu mới khôi phục lại được năng lực sản xuất. Năm ngoái, một cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển Mekong trên hơn 1300 người đã cho thấy 24% người lao động bị mất việc, 65% người bị giảm thu nhập, chủ yếu rơi vào nhóm lao động không có kỹ năng, kỹ năng thấp, trong các ngành dịch vụ, nghèo và cận nghèo. Trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài, đây cũng vẫn là nhóm cần hỗ trợ nhất để đảm bảo an sinh xã hội. □     Chuẩn bị cho việc mở cửa   Để chuẩn bị cho việc mở cửa trở lại ở châu Âu, GS Philippe Aghion và một số nhà kinh tế khác đã đề xuất việc cho phép đi lại trong các vùng “xanh” – vùng an toàn. Giới hạn cho cư dân các khu vực “xanh” khác nhau có thể đi lại du lịch khi có các chứng nhận vaccine hoặc xét nghiệm âm tính. Nhưng yếu tố tiên quyết vẫn phải là đảm bảo các vùng xanh này không bị lây nhiễm cộng đồng trở lại.  Còn Australia cũng đã ban hành lộ trình chuẩn cho kịch bản mở cửa trở lại với các mục tiêu: phải có được một chương trình tiêm chủng vaccine toàn diện; cho phép những người đã tiêm vaccine hoặc có miễn dịch với SARS-CoV-2 được cập cảnh hoặc đi du lịch nước ngoài; hỗ trợ thí điểm mở cửa trở lại một số chương trình du lịch, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp và giáo dục; vẫn duy trì kiểm dịch ở các cửa ngõ của đất nước; có các địa điểm cách ly y tế với những người đến từ các nước có nguy cơ lây nhiễm cao, dương tính với virus.     —–  Chú thích:  1 Phạm Duy Quang và cộng sự, In the interest of public safety: rapid response to the COVID-19 epidemic in Vietnam, BMJ Global Health doi: 10.1136/bmjgh-2020-004100  2Todd Pollack và cộng sự, Emerging COVID-19 success story: Vietnam’s commitment to containment, https://ourworldindata.org/covid-exemplar-vietnam  3  Ngay cả châu Âu cũng chưa thể cho đi lại tự do mà đang nghiên cứu cho phép di chuyển với những trường hợp được chứng nhận “xanh”, tức là đã tiêm vaccine, đã có kháng thể với SARS-CoV hoặc phải được xét nghiệm âm tính. What is the EU Digital COVID Certificate? https://ec.europa.eu/info/live-work-travel-eu/coronavirus-response/safe-covid-19-vaccines-europeans/eu-digital-covid-certificate_en  4 Báo cáo số 24 về tình hình COVID ở Việt Nam năm 2020 của WHO. Nguồn: https://www.who.int/vietnam/internal-publications-detail/covid-19-in-viet-nam-situation-report-24  5 Economic damage could be worse without lockdown and social distancing – study. Nguồn: https://www.cam.ac.uk/research/news/economic-damage-could-be-worse-without-lockdown-and-social-distancing-study  6 Một mô hình của các nhà kinh tế Đại học Oxford cũng ước tính, kịch bản chống dịch bằng cách phong tỏa (lock down) giúp giảm thiệt hại ít nhất 1.7% GDP so với kịch bản không siết chặt phong tỏa. https://voxeu.org/article/voluntary-social-distancing-and-lockdowns-us  7Aiming for zero Covid-19 to ensure economic growth. https://voxeu.org/article/aiming-zero-covid-19-ensure-economic-growth?  8 Không phải chỉ có chúng ta chấp nhận giãn cách xã hội theo từng địa phương để bảo vệ sức khỏe người dân và nền sản xuất. Ngay trong ngày 27/5 vừa qua, bang Victoria, Australia cũng phải phong tỏa trong vòng một tuần, chỉ cho phép người dân ra ngoài khi có việc thiết yếu, tập thể dục, mua thực phẩm hoặc đi bệnh viện, khi phát hiện các ca nhiễm trong cộng đồng. Còn các địa phương khác cũng dựng hàng rào cách ly với bang Victoria. https://www.reuters.com/world/australias-victoria-state-likely-enter-covid-19-lockdown-media-reports-2021-05-26/    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Ủy ban điều tra của nghị viện      Đầu tháng 11/2010, ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết kiến nghị thành lập Ủy ban điều tra của Quốc hội để làm rõ trách nhiệm chính trị trong vụ Vinashin. Theo Luật Tổ chức Quốc hội, khi thấy cần thiết, Quốc hội sẽ thành lập Ủy ban điều tra, nhưng do một số nguyên nhân, trong đó theo trả lời ĐBQH của UBTVQH, không thành lập Ủy ban điều tra vì UBKTTƯ, Thanh tra, cơ quan điều tra cũng đang điều tra vụ Vinashin.  Bài viết này giới thiệu thực tiễn về ủy ban điều tra ở nghị viện các nước.    Ủy ban điều tra-công cụ giám sát hiệu quả  Ở nhiều nước, các uỷ ban điều tra của nghị viện có vai trò rất lớn trong việc thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của Hành pháp. Đặc điểm của hoạt động này là điều tra sự lạm dụng công quyền, trong đó không chỉ trong các cơ quan hành pháp. Chẳng hạn, hoạt động điều tra của các uỷ ban và tiểu uỷ ban trong Quốc hội Mỹ được biết đến rộng rãi trên thế giới. Hoạt động này thậm chí có thể dẫn đến sự từ chức bất đắc dĩ của Nguyên thủ quốc gia như đã từng xảy ra vào năm 1974, khi hoạt động điều tra của Uỷ ban pháp luật Hạ viện Mỹ dẫn đến sự từ chức của Tổng thống Nixon. Việc thành lập Uỷ ban điều tra cũng nhằm mục đích thu thập các thông tin để báo cáo cho nghị viện để nếu cần, nghị viện có thể tổ chức thảo luận và đi đến các kết luận giám sát.  Việc thành lập các ủy ban để điều tra về hoạt động của cơ quan hành pháp đặc biệt phổ biến ở các nước theo mô hình cộng hòa tổng thống. Nguyên nhân chính xuất phát từ nguyên tắc cơ quan lập pháp cần được thông tin về các hoạt động của các cơ quan hành pháp. Các ủy ban điều tra với thẩm quyền rộng lớn là nguồn thông tin chủ yếu cho nghị viện, thay thế cho các phiên hỏi – đáp không có ở truyền thống của mô hình này. Bên cạnh đó, ở các nước này, quyền thành lập các uỷ ban điều tra cũng xuất phát từ cơ chế “kiềm chế và đối trọng” trong tổ chức bộ máy nhà nước.  Ở các nước theo mô hình nghị viện Anh, Quốc hội cũng có thể thành lập các ủy ban điều tra. Điều này là do trong nhiều trường hợp, Quốc hội cần phải có các thông tin xác thực hơn, cẩn trọng hơn trước khi đưa ra một quyết định về trách nhiệm của cơ quan hành pháp. Trong các trường hợp này, Quốc hội không sử dụng các ủy ban thường trực là để bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động điều tra bởi vì phạm vi điều tra của Ủy ban có thể chuyên sâu hơn, cần đến cả các thành viên bên ngoài Quốc hội chứ không chỉ các nghị sỹ Quốc hội. Tuy nhiên, so với nghị viện ở các nước cộng hòa tổng thống, Ủy ban điều tra ít được sử dụng hơn ở các nước có chính thể cộng hoà đại nghị. Sở dĩ như thế vì Chính phủ của các nước này xuất thân từ đảng đa số trong nghị viện, nên nghị viện biết rất rõ các hoạt động của Chính phủ không cần thông qua các hoạt động điều tra.  Sau khi hoàn tất công việc của mình, ủy ban sẽ trình báo cáo lên các Viện của Nghị viện để những cơ quan đó đưa ra các quyết định thích hợp. Nghị viện có thể thể hiện ba thái độ khác nhau đối với các kết quả điều tra của Uỷ ban điều tra: thứ nhất, không thoả mãn với việc thực hiện chính sách của Hành pháp; thứ hai, đồng ý với việc thực hiện chính sách của Hành pháp; thứ ba, không thể hiện ý kiến gì. Trong trường hợp nghị viện không đồng ý với việc thực hiện chính sách của hành pháp, nếu xác đáng, hành pháp sẽ phải tự động thực hiện theo các khuyến nghị do Uỷ ban điều tra đưa ra trước khi để vấn đề đó làm quan hệ giữa hành pháp và lập pháp trở nên quá căng thẳng.  Các báo cáo và kết luận của uỷ ban điều tra không có ý nghĩa bắt buộc đối với toà án. Điều 76, Hiến pháp Tây Ban Nha nhấn mạnh rằng kết luận của uỷ ban điều tra “không có ý nghĩa quyết định đối với toà án, chúng không đả động đến các quyết định của toà án. Các kết quả điều tra có thể được thông báo cho Công tố viên nhà nước và ông ta nếu thấy cần thiết sẽ áp dụng những biện pháp thích hợp”. Còn theo Hiến pháp CHLB Đức, quyết định của các uỷ ban điều tra không bắt buộc phải được xem xét ở toà án; toà án được tự do trong việc đánh giá các thông tin của Ủy ban điều tra.  Thủ tục thành lập và hoạt động: Sự độc lập rất quan trọng  Thủ tục thành lập Uỷ ban điều tra của nghị viện thường khá đơn giản, chủ yếu dựa trên kiến nghị của các nghị sỹ Quốc hội, có thể từ một hoặc một số lượng nghị sỹ nhất định.  Kiến nghị của nghị sỹ được thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội và Quốc hội sẽ quyết định có thành lập Ủy ban đó hay không, chức năng, nhiệm vụ và phạm vi điều tra đến mức độ nào, chỉ định các thành viên, bầu chủ tịch uỷ ban (thông thường là người của đảng đa số trong nghị viện) và xác định kinh phí cho hoạt động của Uỷ ban.  Thông thường các uỷ ban điều tra được thành lập riêng biệt ở mỗi viện của Nghị viện. Hiến pháp Nhật Bản qui định quyền của mỗi viện tiến hành điều tra về những vấn đề quản lý nhà nước (điều 62). Một số nước lại qui định không chỉ sự thành lập các uỷ ban điều tra độc lập ở mỗi viện, mà còn có các uỷ ban điều tra hỗn hợp (Tây Ban Nha). Mỗi Viện của Nghị viện Hoa Kỳ có thể thành lập trong Viện mình các uỷ ban điều tra, hoặc cũng có khi cả hai Viện cùng nhau thành lập Uỷ ban điều tra. Ở Hoa Kỳ, Uỷ ban điều tra có thể là uỷ ban thường trực của Nghị viện. Các cuộc điều tra có thể do các Uỷ ban thường trực của Nghị viện tự ý tiến hành miễn là thuộc thẩm quyền của Uỷ ban. Thông thường, hoạt động điều tra của Quốc hội Hoa Kỳ do các tiểu ban tiến hành.  Uỷ ban điều tra cũng có thể được Nghị viện thành lập theo phương thức đặc biệt. Theo đó, Ủy ban không chỉ có các thành viên là nghị sỹ mà cũng có thể có thành viên là các nhân vật ngoài Nghị viện, có tiếng là vô tư, công bằng và có uy tín về chuyên môn.  Đặc biệt quan trọng là, để một ủy ban điều tra hoạt động có hiệu quả, ngay bước đầu thành lập, ủy ban này phải đảm bảo được tính độc lập. Tính độc lập trong hoạt động của Ủy ban thể hiện trước hết ở chỗ, các thành viên của Ủy ban và các chuyên viên giúp việc phải được cung cấp ngân sách độc lập và phải độc lập về lợi ích, tức là không liên quan đến công việc chính trước đây của mình, không có các mối quan hệ gia đình, thân thuộc với các đối tượng bị điều tra.  Hoạt động điều tra của các uỷ ban trong Bundestag được qui định cụ thể tại Điều 44,  Đạo luật cơ bản của CH LB Đức. Bundestag có quyền, còn theo kiến nghị của 1/4 thành viên bắt buộc phải thành lập Uỷ ban điều tra để thu thập những chứng cứ cần thiết với hình thức công khai, trừ một số trường hợp. Việc thu thập chứng cứ được tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự. Bí mật thư tín, bưu phẩm, điện tín không bị xâm phạm. Các toà án và chính quyền bắt buộc phải giúp đỡ về mặt pháp lý và chuyên môn đối với Uỷ ban điều tra.  Các phiên họp của ủy ban điều tra có thể công khai, nhưng cũng có thể họp kín. Trong khi nghị viện các nước Bỉ, Thụy Sỹ, Ireland, Ý không có điều tra kín, hoặc như phần lớn các cuộc điều tra của nghị viện Israel là công khai, thì ở nhiều nước chúng có thể diễn ra mà không có sự tham dự của công chúng, báo chí. Thậm chí ở Na Uy, Zambia, Zimbabwe, mọi cuộc điều tra của nghị viện đều không công khai. Tuy nhiên, ở những nước ủy ban điều tra có thể họp kín, có những quy định cụ thể về các trường hợp này. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, ủy ban điều tra chỉ họp kín khi bàn về việc bổ nhiệm các vị trí hành pháp hoặc các điều ước đã lên lịch. Ở Canada, Sudan, ủy ban điều tra họp kín về các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia hoặc lợi ích công đòi hỏi. Ở CHLB Đức, các cuộc họp kín diễn ra khi bàn về bí mật quốc gia hoặc dữ liệu cá nhân có tầm quan trọng đặc biệt.  Thẩm quyền, phạm vi hoạt động rộng  Theo kinh nghiệm của nhiều nghị viện trên thế giới, để hoạt động điều tra có hiệu quả, nên quy định một thẩm quyền rộng lớn cho các uỷ ban điều tra. Thường thì các Uỷ ban này có các quyền cơ bản như: tìm hiểu các tài liệu ở các cơ quan nhà nước; kiểm tra những địa điểm cần thiết; triệu tập các nhân chứng bao gồm các chuyên gia, các nhà kỹ thuật, các nhân viên hành pháp, người dân đến để làm chứng, cung cấp thông tin cho ủy ban…Họ có quyền triệu tập cả những nhân chứng như Tổng thống, trong đó sự có mặt nhân chứng là bắt buộc.  Đối tượng điều tra của các uỷ ban thường rất lớn, bao hàm rất nhiều vấn đề. Thông thường, phạm vi điều tra của các ủy ban gồm các vấn đề được quan tâm chung. Tuy nhiên, ở một số nước như Úc phạm vi điều tra của các ủy ban rộng hơn nhiều, không hạn chế nội dung điều tra; còn ở một số nước như Hoa Kỳ, Bỉ, Philippines, Anh, chỉ có một số hạn chế đối với phạm vi điều tra của các ủy ban dạng này. Ủy ban điều tra của nghị viện ở những nước như Bulgaria, Canada, Israel, Litva, Zimbabwe chỉ được tìm hiểu những vấn đề đã được quy định trong luật.  Ủy ban thường trực trong nghị viện Hoa Kỳ, sau khi Đạo luật về cải tổ quyền lập pháp năm 1946 ra đời, được quyền theo dõi quá trình thực thi của Chính phủ các đạo luật thuộc lĩnh vực uỷ ban mình phụ trách. Còn các uỷ ban điều tra đặc biệt thường có đối tượng điều tra được xác định ngay trong khi thành lập ủy ban.  Giao dịch cá nhân có thuộc phạm vi điều tra hay không là một vấn đề được quan tâm trong khi nghiên cứu về ủy ban điều tra của nghị viện vì có thể vi phạm bí mật cá nhân. Một cuộc khảo sát hơn 40 nghị viện trên thế giới cho thấy, đại đa số ủy ban điều tra của nghị viện các nước có thẩm quyền điều tra cả giao dịch cá nhân. Tuy nhiên, ở một số nước cũng có những quy định hạn chế thẩm quyền này. Chẳng hạn, ở Anh và Ý, giao dịch cá nhân thuộc đối tượng xem xét của ủy ban điều tra nếu liên quan đến vấn đề điều tra. Ở Na Uy, nếu quá trình điều tra cho thấy cần phải tìm hiểu giao dịch cá nhân thì Ủy ban điều tra có thể làm điều này. Ở Canada, ủy ban điều tra của nghị viện có thể đụng đến giao dịch cá nhân nếu chúng liên quan đến những vấn đề có tính chất liên bang; hoặc ở Zimbabwe nếu chúng liên quan đến các cơ quan công quyền hoặc chi tiêu công. Còn ở Ấn Độ, những giao dịch bất thường, có dấu hiệu trái luật có thể bị đặt trong tầm ngắm của ủy ban điều tra.  Đối với thẩm quyền của ủy ban điều tra liên quan đến các vụ việc đang được tòa án xét xử, các nước có hai cách xử lý. Theo một cuộc khảo sát, trong số 41 nước, ủy ban điều tra của nghị viện 15 nước không được điều tra các vụ việc đó; còn ở 18 nước ủy ban điều tra có thẩm quyền này.  Các nhân chứng khi được triệu tập phải có nghĩa vụ chấp nhận và phải tuyên thệ với Chủ tịch Uỷ ban điều tra sẽ cung cấp những thông tin đúng sự thật, trừ những thông tin có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Ở nhiều nước, trừ những trường hợp đã được quy định, nếu nhân chứng từ chối hợp tác, Ủy ban điều tra hoặc cả nghị viện sẽ quyết định về việc có phải áp dụng các hình phạt đối với nhân chứng gồm phạt tiền hoặc phạt tù, hoặc cả hai, và tòa án sẽ xem xét vấn đề này. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, những nhân chứng được triệu tập mà từ chối sẽ bị phạt tiền tới 1000 USD, và có thể bị phạt tù đến 1 năm. Còn ở Pháp, Chủ tịch các Uỷ ban điều tra có thể yêu cầu các cơ quan vũ trang dẫn nhân chứng tới trình diện.  Coi trọng bảo vệ nhân chứng  Đối với thành công của ủy ban điều tra của nghị viện, thông tin do nhân chứng cung cấp đóng vai trò then chốt, trong đó nhiều thông tin mà nhân chứng e ngại, không muốn phổ biến rộng vì có thể kéo theo những hệ quả pháp lý không hay cho chính họ. Chính vì vậy, để các nhân chứng mạnh dạn nói ra những thông tin đó, Hiến pháp, pháp luật, quy chế nghị viện nhiều nước đã có những quy định bảo vệ nhân chứng được triệu tập đến các ủy ban điều tra như một nguồn thông tin quan trọng.  Thông thường, việc bảo vệ nhân chứng được thể hiện trên ba phương diện: một là, không được sử dụng các chứng cứ do nhân chứng cung cấp trong quá trình điều tra của ủy ban để chống lại nhân chứng; hai là, không được dựa trên các chứng cứ đó để khởi tố hình sự nhân chứng; ba là, nhân chứng có quyền từ chối làm chứng chống lại chính mình.  Tuy nhiên, ở nhiều nước như Canada, Kenya, Hàn Quốc, Zambia, Zimbabwe, quyền này sẽ không được áp dụng nếu nhân chứng cung cấp thông tin giả mạo. Ở cộng hòa Czech, có thể sử dụng chứng cứ của nhân chứng nếu không ảnh hưởng đến sự an toàn của họ; nhưng tuyệt đối không được khởi tố hình sự nhân chứng dựa trên các thông tin do họ cung cấp cho ủy ban điều tra của nghị viện. Còn ở Anh và Úc, cơ chế bảo vệ nhân chứng có tính tuyệt đối, tức là không có ngoại lệ. Nhân chứng cũng được bảo vệ vô thời hạn với một số ngoại lệ.  Văn bản quy định về việc bảo vệ nhân chứng có khác nhau ở các nước. Đa số Hiến pháp các nước không quy định trực tiếp bảo vệ nhân chứng được triệu tập đến ủy ban điều tra của nghị viện. Bên cạnh đó, cũng có Hiến pháp nhiều nước như Hoa Kỳ, Đức, Philippines, Ấn Độ, Nhật Bản quy định: nhân chứng (trước tòa, trước các ủy ban điều tra, trong đó có ủy ban điều tra của nghị viện) có quyền không phải làm chứng chống lại chính mình. Còn ở Canada và Úc, theo Hiến pháp, không được dựa trên những thông tin do nhân chứng cung cấp cho ủy ban điều tra của nghị viện để khởi tố họ. Theo Hiến pháp của LB Đức, nhân chứng trước ủy ban điều tra của nghị viện có quyền từ chối trả lời những câu hỏi có thể khiến cho mọi người coi nhân chứng phạm tội hình sự. Một số Hiến pháp như của Kenya, Zambia không quy định trực tiếp bảo vệ nhân chứng, nhưng giao việc quy định này cho luật.  Bên cạnh đó, ngay cả ở những nước Hiến pháp không có một dòng nào nhắc đến bảo vệ nhân chứng, trong đó có nhân chứng trước các ủy ban điều tra của nghị viện, thì cũng có quy định trong luật về vấn đề này. Tuy nhiên, cũng như trong Hiến pháp, luật các nước bảo vệ nhân chứng theo các cách thức khác nhau. Chẳng hạn, luật các nước như Canada, Úc, Kenya, Hàn Quốc quy định cụ thể hơn các nước Bỉ và Thụy Sỹ. Hay là ở Ý, các nhân chứng của ủy ban nghị viện có thể được giảm mức hình phạt nếu bị kết tội sau này. Còn ở Peru, chỉ có nhân chứng của một số ngành như luật sư, nhà báo, bác sĩ được hưởng quyền từ chối làm chứng chống lại chính mình.  Ngoài ra, quy trình, thủ tục hoạt động của nghị viện nhiều nước như Anh, Ý, Zambia, Zimbabwe cũng có những cơ chế bảo vệ nhân chứng của các ủy ban điều tra. Ví dụ ở Anh, nhân chứng không có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào của ủy ban điều tra, nhưng cả hai Viện đều coi việc khởi tố dựa trên những chứng cứ do nhân chứng cung cấp trước các Ủy ban của mình là xâm phạm đặc quyền nghị viện, mà như thế tòa án cũng sẽ từ chối xem xét vụ án. Còn Ủy ban điều tra của nghị viện Ý sẽ coi chứng cứ do nhân chứng cung cấp cho ủy ban là “bí mật chức năng”, và do đó, không ai được sử dụng chứng cứ đó để chống lại nhân chứng nói trên hoặc bất kỳ người nào khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Uy tín người Việt      Gần đ&#226;y đ&#227; ph&#225;t sinh một loạt sự cố g&#226;y tổn hại lớn đến uy t&#237;n đất nước n&#243;i chung v&#224; cộng đồng người Việt n&#243;i ri&#234;ng. Điển h&#236;nh l&#224; c&#225;c vụ bu&#244;n lậu tiền, h&#224;ng, kể cả h&#224;ng quốc cấm, ma t&#250;y&#8230;bị ph&#225;t hiện c&#243; li&#234;n quan đến một số phi c&#244;ng tr&#234;n c&#225;c tuyến bay quốc tế của VietnamAirline v&#224; một số nh&#226;n vi&#234;n thuộc đại sứ qu&#225;n Việt Nam tại nước ngo&#224;i.    Một bộ phận người lao động Việt Nam tại nước ngoài cũng có nhiều hành vi vi phạm pháp luật nước sở tại, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, bỏ trốn nơi đăng ký làm việc, gây gổ mất trật tự, đánh nhau…khiến một số nước đi đến quyết định đơn phương như đình chỉ nhận thêm lao động, buộc thôi việc xuất cảnh trước thời hạn, ngừng cấp visa nhập cảnh. Mới đây nhất là vụ phát hiện đường dây tham nhũng PCI dẫn đến Nhật Bản tạm ngừng cấp viện trợ ODA cho Việt Nam…  Các vụ việc nói trên, dù lớn hay nhỏ, trực tiếp hoặc gián tiếp đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín đất nước và con người Việt Nam, một đất nước và dân tộc đã một thời là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là “lương tri, lương tâm” thời đại, được cả thế giới yêu mến, ngưỡng mộ. Trên thực tế, câu chuyện về uy tín người Việt đã không còn diễn ra trong nước, không còn là chuyện nội bộ để có thể “Đóng cửa dạy nhau” được nữa, mà đã trở thành chủ đề quan trọng trong mối bang giao quốc tế, có tác động đến hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là quan hệ kinh doanh, đầu tư, thương trường…trong thời buổi hội nhập toàn cầu như hiện nay. Với thái độ bình tĩnh và công tâm khi đánh giá vụ việc, truy tìm đúng những nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng xét cho cùng, chúng ta phải đứng trên lập trường “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” để từ đó thấy được tầm mức ảnh hưởng hệ trọng của vấn đề, nhận thức được đây là một trong những “Vấn nạn về uy tín và đạo đức” không riêng gì Việt Nam mà rất nhiều quốc gia khác đang phải đương đầu để từ đó có giải pháp khắc phục phù hợp.  Uy tín của Tổ quốc và dân tộc trước hết phải được chứng minh và bảo vệ thông qua hành vi cụ thể của từng cá nhân, từng công dân nước Việt, bằng tất cả sức mạnh của lòng tin vào quá khứ, hiện tại và tương lai. Điều này phải bắt nguồn từ chính lòng tự tôn tự hào về truyển thống yêu nước và phẩm giá đạo đức ngàn đời mà các thế hệ đi trước đã hi sinh và dày công hun đúc gây dựng nên. Mặt khác, trong thời đại ngày nay, câu trả lời hùng hồn nhất cho uy tín của một dân tộc nằm ở ngay chính thành quả của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đó là cách tốt nhất để thế giới nhìn vào, thấy được ý chí cũng như uy tín của người Việt trên trường quốc tế. Hay nói khác đi, nếu không vượt qua được tình trạng đói nghèo và lạc hậu, không xây dựng được một xã hội trật tự văn minh thì chắc chắn chúng ta sẽ không có cơ hội để minh chứng được uy tín và vị thế của dân tộc mình. Có lẽ không còn quá sớm để nhanh chóng bắt tay vào việc chấn hưng một cách cơ bản các hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, cổ vũ lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Đã đến lúc cần phải phát động một phong trào sâu rộng trong quần chúng, khuyến khích từng cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội chủ động tự giác tham gia vào “Phong trào nâng cao uy tín người Việt”, xem đây là một phần cực kỳ quan trọng của chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài cảm nhận về thời đại      Những đặc trưng lớn của thời đại này là gì? Dòng chảy của lịch sử sẽ đi về đâu và vị trí của trí thức trẻ Việt Nam trong dòng chảy chung ấy thế nào? Bài viết này mong góp một số ý kiến có tính cá nhân cho hai câu hỏi trên.    Thế giới ngày càng trở nên động hơn đến mức “mọi thứ đều có thể”.  Có thể cái tiến bộ ngày hôm qua hôm nay đã không còn thích hợp nữa và ngày mai trở nên lạc hậu. Trong phương diện tri thức, những hệ thuyết mới liên tục ra đời để hoàn thiện và thay thế các hệ thuyết cũ, và qua đó mở rộng kho tàng tri thức nhân loại. Trong phương diện kinh tế và xã hội, mỗi phương thức tổ chức đời sống kinh tế – xã hội đều có những ưu, nhược điểm nhất định, và vì vậy sự thịnh suy của mỗi phương thức được quyết định bằng khả năng thích nghi của chúng trước những biến chuyển của thời cuộc. Lý thuyết về các hệ phức hợp (complexities) chỉ ra rằng không tồn tại        Cần phải có một “bậc tự do” và độ linh hoạt nhất định để tạo ra không gian cho việc học tập, rút kinh nghiệm thông qua những thử nghiệm đổi mới tư duy và chính sách.         những nguyên lý tất định, bất di bất dịch trong các hệ điều khiển phức hợp động. Điều này có ít nhất hai hệ quả đối với việc tổ chức kinh tế và xã hội. Thứ nhất, mọi kế hoạch hay chương trình phát triển kinh tế, xã hội chỉ nên có tính định hướng mà không nên tự trói chặt mình vào những chỉ tiêu định lượng duy ý chí và cứng nhắc. Thứ hai, khả năng thích nghi trong một môi trường năng động thông qua học tập là yếu tố then chốt cho sự thành công. Thử và sai là hệ quả tất yếu của nguyên lý này. Như thế có nghĩa là cần phải có một “bậc tự do” và độ linh hoạt nhất định để tạo ra không gian cho việc học tập, rút kinh nghiệm thông qua những thử nghiệm đổi mới tư duy và chính sách.  Không thể lãng quên những phần tử mịn hơn, động hơn của thế giới vi mô. Mịn hơn và động hơn là một đặc trưng lớn không chỉ của khoa học tự nhiên mà cũng là của khoa học xã hội nữa. Đáng tiếc là ở Việt Nam, mỗi khi nói tới hai chữ “khoa học” thì người ta lập tức nghĩ ngay tới khoa học tự nhiên và công nghệ mà quên bẵng khoa học xã hội, vốn là cơ sở cho sự phát triển tri thức về con người và về xã hội loài người.  Sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu đồng thời với sự phân cực của thế giới. Sau chiến tranh lạnh, thế giới đã chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại vì lợi ích chung của các quốc gia. Và một cách tất yếu, thế giới cũng đang trong quá trình chuyển tiếp từ một thế giới tựa lưỡng cực (quasi bipolar) sang đa cực. Những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền.        Một khi thế giới còn bị thống trị bởi những tư tưởng đại loại như “hoặc là bạn hoặc là kẻ thù của nước Mỹ” thì không bao giờ có hòa bình và thịnh vượng trong thế giới này.           thông cùng với sự phát triển của các phương tiện giao thông đã và sẽ còn góp phần to lớn trong việc thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian giữa các quốc gia và khu vực. Điều này góp phần thực thi ý tưởng về một xã hội toàn cầu. Đứng trên góc độ kinh tế, chúng ta nhận thấy một thực tế rõ rệt là sự xích lại gần nhau của hai thái cực: Nhà nước của nhiều nước TBCN với những chương trình phúc lợi ngày càng mở rộng như trợ cấp y tế và giáo dục, quỹ viện trợ cho người nghèo và khuyết tật v.v. Ở cực kia, các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường với hiệu quả cao hơn, trong đó Việt Nam và Trung Quốc là hai ví dụ điển hình. Tuy nhiên, hạt nhân còn thiếu trong nền kinh tế toàn cầu này là một tinh thần tương thân tương ái, một lý tưởng kiến thiết thế giới đại đồng trên cơ sở bình đẳng và thực sự tôn trọng quyền tự do lựa chọn của nhau. Một khi thế giới còn bị thống trị bởi những tư tưởng đại loại như “hoặc là bạn hoặc là kẻ thù của nước Mỹ” thì không bao giờ có hòa bình và thịnh vượng trong thế giới này.  Sự hình thành một nền văn hóa và tri thức toàn cầu. Trong tiến trình này, mỗi quốc gia có cơ hội tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác để làm giàu thêm cho kho tàng văn hóa và tri thức của mình. Tuy nhiên, mỗi quốc gia cần có ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa, coi đó là đóng góp to lớn cho kho tàng văn hóa chung của nhân loại. Nói một cách ngắn gọn: “hòa nhưng không đồng” nên được coi là phương châm của hội nhập.  Hình ảnh của người “công dân toàn cầu” sẽ như thế nào?  Điều cơ bản đầu tiên là họ phải là chính mình trước khi họ tích hợp các yếu tố tích cực của các nền văn hóa khác. Họ là những người có khả năng sử dụng thành thạo ít nhất một trong các ngoại ngữ chính: Anh, Trung và Pháp. Họ liên tục cập nhật những tri thức mới của nhân loại, coi đó là một hoạt động tự giác và quá trình khám phá năng lực của bản thân. Họ là những người có một cái nhìn toàn cầu với ý thức rằng họ là không chỉ là người dân của một quốc gia cá biệt, mà họ còn là công dân của một thế giới rộng lớn hơn nhiều. Với cách nhìn nhận này, họ dễ tiếp thu và cởi mở hơn với những điều mới lạ. Hơn thế, họ cũng ý thức được trách nhiệm của mình với cộng đồng lớn hơn này.  Nói tóm lại, những người công dân toàn cầu này có khả năng tư duy và nói bằng thứ “ngôn ngữ” của toàn cầu, nhưng với “sắc điệu” của riêng họ.   Sự phát triển của con người và của cộng đồng được đo lường bằng mức độ tự do một cách toàn diện của con người. Và trong quá trình hướng tới mục đích này, những giá trị về dân chủ và thị trường đã trở thành những giá trị phổ quát của nhân loại.  Nền kinh tế tri thức là một xu thế tất yếu của thời đại. Trong thế kỷ 20, chúng ta đã từng biết đến nền kinh tế thị trường, nền kinh tế kế hoạch và nền kinh tế hỗn hợp với những công cụ phân phối đặc trưng và phương thức giải quyết các vấn đề kinh tế của chúng. Tiêu điểm của nền kinh tế tri thức, không giống các  loại hình kinh tế trên, nhấn mạnh vào động lực phát triển của của xã hội trong thời đại mới. Nền kinh tế hiện đại không chỉ được xây dựng trên cơ sở tài sản vật chất và nguồn nhân lực mà quan trọng hơn phải được đặt nền móng ở khả năng học tập, tiếp thu và thích nghi của mọi thành viên của nó nhằm để thích ứng với môi trường toàn cầu liên tục phát triển và đầy biến động. Thách thức lớn nhất của nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay là do khoảng cách tri thức và trình độ phát triển cộng nghệ thông tin ở phạm vi đại chúng của chúng ta so với mặt bằng chung còn rất thấp; thêm vào đó với hạn chế về nguồn tài chính, nguy cơ tiếp tục tụt hậu nhanh hơn và xa hơn là hoàn toàn hiện thực.  Thế giới sẽ đi về đâu? Có lẽ sẽ không thể có câu trả lời đích xác cho câu hỏi này. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thế giới và xuyên suốt chiều dài lịch sử của nhân loại thì dường như toàn thể loài người không phân biệt khu vực địa lý, màu da, tiếng nói đều đang tiến về một hướng đích chung, đó là phấn đấu cho sự phát triển của con người và của cộng đồng, mà theo Amartya Sen, giáo sư được giải Nobel của trường Trinity College (thuộc đại học Cambridge) thì sự phát triển này lại được đo lường bằng mức độ tự do một cách toàn diện của con người. Và trong quá trình hướng tới mục đích này, những giá trị về dân chủ và thị trường đã trở thành những giá trị phổ quát của nhân loại.  Thế giới đang vận động với gia tốc tăng trưởng theo cấp số nhân. Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội hiếm có để bắt kịp với thế giới và hòa vào dòng chảy của thời đại. Trong nỗ lực này của đất nước, niềm tin và sức mạnh của dân tộc nằm ở tiềm năng của mỗi người dân Việt Nam, trong đó đội ngũ trí thức trẻ phải đảm đương vị trí tiên phong. Tương lai của đất nước phần lớn phụ thuộc vào ý chí, tinh thần, và trí tuệ của những trí thức trẻ này.   Giang Anh     Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài đề xuất cho giao thông trên quốc lộ và trong thành phố      Trong khi hiệu quả của các “dự án” hoặc “siêu dự án” giao thông quốc lộ đối với xã hội còn xa mới đạt mức trung bình thì các giải pháp được đề xuất nhằm khắc phục tình trạng tắc nghẽn ngày càng trầm trọng ở Thủ đô lại đang trở nên “nhàm chán”.    Quốc lộ kiểu… đường thị tứ  Không ai phủ nhận tác dụng của Quốc lộ 5 nối Hà Nội-Hải Phòng đối với thành công thời mở cửa của Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ hơn 10 năm sau khánh thành – con số rất nhỏ bé so với tuổi thọ của một xa lộ, con đường huyết mạch nối Thủ đô với thành phố Cảng nhộn nhịp nhất miền Bắc, đã trở thành một kiểu đường thị tứ với trung bình cứ 2km đường thì có một đoạn hạn chế tốc độ <=50km/giờ. Điều này lý giải tại sao quãng đường chỉ tròm trèm 100km mà một xe con chạy nhanh cũng phải mất 2 giờ!  Chạy trên Đại lộ Thăng Long với tốc độ 90km/h và hầu như vắng tanh vắng ngắt cả năm nay, những người lái xe không khỏi ao ước giá như quốc lộ 5 cũng được như vậy.   Và cũng giá như, Hải Phòng trở thành một thành phố vệ tinh của Thủ đô với quốc lộ 5 nối liền như Đại lộ được liệt vào hàng hiện đại nhất của Việt Nam kể trên thì chắc chắn bộ mặt kinh tế của toàn bộ đồng bằng Sông Hồng đã có những thay đổi thần kỳ chỉ trong một vài năm.  Với đúng khoảng cách từ Sân bay Quốc tế về Thủ đô Bangkok như từ Nội Bài về Hà Nội, chưa đầy 10 năm, người Thái đã hoàn thiện bằng việc nâng cấp từ xa lộ thông thường bán và xé vé như của ta hiện nay bằng một xa lộ 2 tầng cực kỳ hiện đại!  Suốt chiều dài từ Nội Bài về Hà Nội, không hề có cầu vượt dân sinh cho các làng mạc bị con đường này phân cách làm hai nửa. Cũng như vậy, khi Quốc lộ 5 trở thành đường thị tứ với quá nhiều giới hạn <=50km/h thì việc xuất hiện quá muộn của những cây cầu vượt dân sinh đã trở nên lỗi thời. Có thể người đề xướng làm cầu vượt cho đường 5 không biết rằng thay vì làm cầu vượt vào thời điểm này, họ nên “tháo khoán” việc chính thức mở thêm các ngã tư, ngã ba với việc bố trí hệ thống tín hiệu giao thông đầy đủ (đèn đỏ-đèn xanh) cộng với làn đường dành cho người đi bộ, thay vì cứ chăm chăm làm rào ngăn thêm kiên cố, thì thời gian chạy xe từ Hà Nội đi Hải Phòng không những không bị chậm hơn so với hiện nay mà chắc chắn rằng con số tai nạn giao thông cũng sẽ giảm đi rất nhiều vì sẽ không còn cảnh trẻ em, phụ nữ và các cụ già trèo qua dải phân cách rất cao bất kể giờ nào.    Ùn tắc trong phố – sao không đánh chặn từ xa?  Hãy bỏ qua mọi yếu tố mang tính cơ sở hạ tầng như đường rộng, phân làn đúng hay sai, kể cả yếu tố của phương tiện tham gia giao thông như số lượng ô tô đang bị “lên án” như hiện nay, hay như con số khổng lồ về số lượng xe máy đang lưu hành tại Thủ đô; theo quan điểm của chúng tôi, lực lượng góp phần quan trọng trong giải pháp tình thế nhằm giảm thiểu và tránh ùn tắc giao thông tại Hà Nội là lực lượng dân phòng hoặc an ninh Phường-chúng ta gọi họ nôm na là lực lượng An ninh Giao thông Phường (ANGTP). Vì họ là những người sâu sát nhất và hiểu tường tận mọi lý do ùn tắc trên địa bàn của họ, do đó, việc huy động tối đa lực lượng này vào việc điều hành giao thông cùng CSGT chính là chìa khóa cho tình trạng ùn tắc hiện nay.  Sẽ có thắc mắc, luôn có lực lượng này tham gia mà ùn tắc vẫn luôn trầm trọng. Câu trả lời là chúng ta đã chỉ coi lực lượng này là hỗ trợ cho CSGT, và “công cụ” điều hành duy nhất mà họ có chỉ là những gậy gỗ được sơn thô thiển. Do đó, sự hiện diện của họ nhiều khi rất phản cảm trong con mắt người tham gia giao thông.  Trước tiên, chúng ta phải chính thức hóa nhiệm vụ của lực lượng An ninh Giao thông Phường. Về số lượng: Đội ngũ này phải được tăng cường một cách đáng kể (ít nhất gấp 5 lần hiện nay) với kinh phí trực tiếp được san sẻ giữa Quận+Đơn vị Giao thông Công chính Quận+phụ cấp từ Bộ GT-VT. Chắn chắn việc trả phụ cấp cho lực lượng này sẽ “rẻ” hơn so với việc bổ xung thêm lực lượng CSGT, cũng vì đôi khi, sự hiện diện trên mức cần thiết của lực lượng CSGT có thể phản tác dụng trong con mắt người tham gia giao thông. Việc cần thiết sau đó là trang bị cho lực lượng ANGTP những phương tiện tác nghiệp cần thiết, thí dụ như các thiết bị bộ đàm phục vụ việc “đánh chặn” ùn tắc từ xa.   Ở đây, có một yếu tố chuyên môn là dường như CSGT hiện nay chỉ giải quyết các điểm ùn tắc theo nghiệp vụ “tĩnh”. Vì rằng chưa thấy có một điểm ùn tắc nào được CSGT đứng đánh chặn từ xa. Cũng có thể vì lực lượng CSGT quá mỏng?! Nếu quả thực như vậy thì với con số dồi dào về ANGTP, họ sẽ làm được điều mà chúng ta gọi là “đánh chặn ùn tắc từ xa” rất hiệu quả bằng việc dùng bộ đàm liên hệ, thông báo cho nhóm thuộc ngã tư trước (sau) để ngăn (hoặc điều chỉnh luồng giao thông một cách cưỡng bức như tạm thời đi tắt qua đường một chiều), không cho người tham gia giao thông tiến xa hơn, làm trầm trọng thêm tình cảnh đang ùn tắc.  Tất cả những biện pháp này đều nằm trong tầm tay Bộ GT-VT. Nếu làm theo cách này, Bộ trưởng Bộ GT-VT sẽ có một đội ngũ rất tiềm năng và hiệu quả. Điều quan trọng hơn là do họ sâu sát thực tiễn địa phương, cũng vì họ không có quyền “sách nhiễu” người vi phạm và họ chính là con em của người dân tại phường nên mọi hành động của họ sẽ mang một sắc thái tình cảm và trước hết vì danh dự phường nơi họ sinh sống.  Nói như vậy nhưng lực lượng CSGT vẫn là chủ đạo, vì chỉ có các anh mới đủ trình độ đào tạo lực lượng An ninh Giao thông Phường, cũng chỉ các anh mới là những người liên kết các tụ điểm ùn tắc liên thông giữa các Quận khác nhau trong thành phố.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài điều về bài báo của Phan Việt      Là độc giả quen thuộc của tạp chí Tia Sáng, nhân đọc bài báo “Trách nhiệm của người có học khi phát biểu” của tác giả Phan Việt, tôi xin được trình bày một vài ý kiến phản hồi về nội dung của bài báo và thái độ của người viết.    1. Về nội dung  Trước hết, tôi rất thích cách dẫn nhập của tác giả: rất thẳng thắn, rất rõ ràng. Tác giả đã đưa ra ý kiến phản bác quan điểm của một cá nhân, đóng góp một tiếng nói lạ làm diễn đàn của trí thức phong phú và đa dạng hơn. Tuy nhiên, tôi có vài điều muốn trao đổi cùng tác giả Phan Việt (PV).  Về câu hỏi của PV: “Sao không nghĩ rằng chỉ cần chúng ta no ấm, đời sống con người văn minh là đủ, ở chỗ nào trong thế giới mà chả được?” Tôi thiết nghĩ con người ta ai sinh ra chẳng có quê hương “dù có đi bốn phương trời” vẫn nhớ về nơi chôn rau cắt rốn. Quê hương cho ta cái bản sắc không trộn lẫn mình với bất cứ ai. “Quê hương nghĩa nặng tình sâu”, nghĩ đến quê hương trong tôi luôn ngân nga câu hát trong bài “Về quê” của nhạc sỹ Phó Đức Phương “Thiếu quê hương, ta về đâu?” Tha thiết lắm, nhớ thương lắm, làm sao có thể sống thiếu quê hương được.  Còn nhân loại giống nhau vì ai cũng cần cơm no áo ấm, ứng xử văn minh, tư duy độc lập, sáng tạo nhằm vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn. Nhân loại vừa giống nhau vừa khác nhau mới có sự đa dạng và độc đáo. Tôi e rằng nếu chỉ hướng con người suy nghĩ theo cách của PV “ở chỗ nào trong thế giới mà chả được”, ta sẽ mất đi bản sắc dân tộc mà ông cha ta ngàn đời đã xây đắp và ngày nay, chúng ta vẫn luôn luôn gìn giữ để “hòa nhập nhưng không hòa tan”.  “Sao không nghĩ rằng ở các nước khác, các nhà chính trị muốn làm gì thì làm… cần gì biết đến chuyện nước họ đứng ở đâu?” Tôi hơi ngạc nhiên vì tác giả học ngành chính sách xã hội mà cho rằng “các nhà chính trị muốn làm gì thì làm người dân chỉ chú trọng một điều là họ là người lao động tốt”. Ở nước nào vậy? Theo tôi được biết ở các nước có nền dân chủ, các nhà hoạch định chính sách rất lắng nghe ý kiến dân chúng. Người dân tham gia tích cực, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp trong bộ máy điều hành nhà nước. Họ có thể gửi kiến nghị hoặc có thể biểu tình phản đối, gây áp lực cho những người điều hành đất nước phải thay đổi một chính sách nào đó. Nếu các nhà chính trị muốn làm gì thì làm, không cần biết đến người dân thì tôi chưa hiểu xã hội sẽ như thế nào, trừ phi dân chúng là những con cừu ngốc nghếch. Tôi thì nghĩ dân mình không phải thế, không đời nào muốn thế.  “Sao không nghĩ rằng người ta thậm chí không cần đến cái tinh thần dân tộc một cách cục bộ…”. Điều này thì tôi khó có thể đồng ý với PV. Nếu không có tinh thần dân tộc thì làm sao chúng ta dựng nước, giữ nước trong lịch sử  mấy ngàn năm. Chúng ta làm gì có tên trên bản đồ thế giới. Nếu không vì dân tộc biết bao thế hệ đã đổ máu xương để giành độc lập. Nếu không vì tình yêu quê hương đất nước thì căn cớ gì biết bao Việt kiều trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã rời bỏ nơi êm ấm trở về đồng cam cộng khổ với nhân dân trên chiến khu Việt Bắc. Chính vì thiếu tinh thần dân tộc nên mới lắm kẻ làm chuyện đồi bại, ô danh, làm nhục quốc thể.  Tôi trộm nghĩ các cụ dưới suối vàng từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến chị Út Tịch sẽ ngậm ngùi mà tiếc công đánh giặc và muốn rút lời “còn cái lai quần cũng đánh”. Trần Quốc Toản chắc sẽ bóc quả cam ra ăn ngon lành và cười các cụ già trong hội nghị Diên Hồng là lẩm cẩm, ta cần gì đến dân tộc mà phải họp bàn cho mệt người. Nếu tôi không nhầm, ý kiến của PV cảnh báo cho con cháu chúng ta rằng làm gì có chuyện “hòa nhập nhưng không hòa tan”; thế hệ sau sẽ có cơm ăn áo mặc, no ấm, nhưng chúng ta tan vào đâu đó không còn bản sắc riêng biệt, không còn cái thế giới tâm linh của chính mình, cái cõi mà “mỗi khi lòng xác xơ” ta lại trở về tìm nguồn an ủi.  Ý kiến về độ chính xác của thông tin theo PV là: “…mỗi lời nói ra phải có ý nghĩa và phải có chất lượng cao nhất. Nghĩa là về tính chính xác, phát biểu đó phải chính xác ngang nhau khi nói với người đọc đại chúng trong nước hay trước một hội đồng các giáo sư, hay để nộp cho một tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới.” PV nói như sách hướng dẫn làm nghiên cứu khoa học, viết bài báo khoa học, để người ta hướng tới chuẩn mực. Nhưng “thông tin có ý nghĩa, chất lượng cao, chính xác” đều mang tính tương đối. Có điều đúng ở chỗ này, sai ở chỗ khác, ngày hôm nay đúng, hôm sau đã không được chấp nhận. Lịch sử cho thấy Bruno bị lên giàn hỏa thiêu chỉ vì nói những điều mà Giáo hội cho là sai, nhưng sau này thì chúng ta biết đấy “trái đất vẫn quay”.  PV đang học ở Hoa Kỳ chắc phải biết trường đại học được coi là “thị trường tư tưởng” (market of ideas), đón nhận mọi ý kiến khác nhau, học hỏi lẫn nhau để tìm ra chân lí, không ai có thể áp đặt ai là “ý kiến của anh vô nghĩa, thiếu chính xác, thiếu  khoa học, tư duy của anh nguy hiểm và phải nói như tôi cơ”. Vì thế ngày nay, từ  “chính xác” (correct) người ta ít dùng, thay vào đó là “chấp nhận được” (acceptable). Làm sao có thể khẳng định và cũng không nên khẳng định ý kiến của người khác là mơ hồ, vô nghĩa, không khoa học một cách quá chủ quan như vậy.  2. Thái độ của người viết  Tôi muốn trình bày ba điều: thái độ đối với độc giả, đối với anh Vũ Minh Khương và đối với chính tác giả.  Thái độ đối với độc giả: Với độc giả trẻ, PV làm đúng cái điều mà PV khuyên anh VMK không nên làm là hô hào. PV hô hào họ đừng tin những điều anh VMK nói. PV không chỉ áp đặt mà còn thuyết phục thanh niên chỉ nên tin vào điều tác giả nói: “… đọc những bài phản hồi của bạn đọc với các bài viết của anh trên báo Tuổi Trẻ và Vietnamnet, tôi rất lấy làm phiền lòng vì sự háo hức và ảo tưởng mà các bạn trẻ lây từ anh về một cuộc đổi đời, hóa rồng nhanh chóng nào đó chỉ bằng niềm tin và lòng nhiệt tình”.  Đối với độc giả trong nước, PV đã quá lo lắng là chúng tôi không đủ “công cụ phân tích” và “ít được nghe các khái niệm to tát” để hiểu nổi những khái niệm anh VMK đưa ra. Tôi không khỏi cảm thấy “chạnh lòng” mặc dù tôi cũng hỏi một số chuyên gia ngôn ngữ và các nhà khoa học là “công cụ phân tích” là gì, và anh/chị có nó hay không?” Tôi không nhận được câu trả lời thỏa đáng. Nhưng một điều chắc chắn họ vẫn đọc, vẫn làm khoa học, vẫn tiếp nhận tri thức mới như bất cứ nơi đâu trên thế giới. Chắc PV chưa biết rằng nhiều trí thức hàng đầu của ta được đào tạo ở Pháp, những người đã có nhiều đóng góp cho nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Tiếp đó là một thế hệ trí thức được học hành bài bản ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, nhiều người hiện đang giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy quản lí nhà nước. Chỉ khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây chúng ta mới có cơ hội sang các nước Tây Âu và Bắc Mỹ du học như PV. Hơn nữa, ngày nay, thông tin bùng nổ, nhiều đến mức phải học cách lựa chọn nên đọc cái gì. Tôi cho rằng PV hơi quá lo cho chúng tôi, những độc giả quen thuộc của “Tia Sáng” đang ngồi ở Việt Nam.  Đối với sinh viên du học, thái độ của PV là  “…trừ khi anh là thiên tài có khả năng tư duy trừu tượng rất cao, điều mà tôi nghi ngờ ở những người Việt Nam sang Mỹ du học”. Tôi cho rằng thông tin mà không có số liệu bằng chứng cụ thể thì có chấp nhận được không? Điều mà PV khuyên độc giả phải thận trọng khi phát ngôn, thì chính PV cũng chưa làm được.  Thái độ đối với anh VMK: Tôi không biết nên gọi bài báo của PV thuộc thể loại nào: bình luận, phân tích ý kiến, quan điểm của anh Khương hay là bình luận về tính cách anh VMK. Giá PV học được cách nói của người Tây phương, không phủ nhận đối tượng mà phủ nhận khả năng tri nhận đối tượng đó của chính mình. Ví dụ, người ta nói “tôi không nghĩ là anh ấy đúng” (1) thay cho câu “anh ấy sai” (2). Rất tiếc, bài viết toàn những câu loại (2) như “lối tư duy của anh nguy hiểm” “nhiều phát biểu và hô hào của anh thật là vô nghĩa” “phát biểu những lời hết sức thiếu khoa học và những hô hào vô nghĩa”. Tôi ít thấy phong cách bình luận như thế của những người làm khoa học.  Câu cuối cùng trong bài báo “Im lặng không nói điều vô nghĩa cũng là một phẩm chất cần có của người có suy nghĩ vậy”. Nếu các bạn làm một phép suy luận lôgic thì sẽ thấy ngay PV muốn nói điều gì. Tôi nghĩ đạo đức nghề nghiệp làm báo không cho phép phóng viên nhạo báng người khác như vậy.  Thái độ đối với chính tác giả, người cầm bút, trí thức đang học ở Mỹ: Làm khoa học đòi hỏi tính khách quan. Đưa ra lập luận nào đó cần chứng minh bằng bằng chứng xác thực. PV đưa ra 5 thành tố của khái niệm “Tầm vóc dân tộc”, nhưng chỉ loanh quanh ở thành tố đầu tiên với những nhận định chủ quan thiếu dẫn chứng thuyết phục, dẫn đến những kết luận không thể mang tính khách quan. Vậy 4 thành tố còn lại thì sao? Độc giả chưa thỏa mãn với những lập luận và dẫn chứng mà PV đưa ra để thuyết minh cho nhận định của mình về anh VMK.  Thông điệp tôi nhận được từ tác giả Phan Việt là lời kêu gọi độc giả trẻ “đừng tin những gì anh ấy nói”, kêu gọi những người có trách nhiệm quản lí nhà nước là “đừng bao giờ giao việc cho anh ấy.” Tôi được biết Tia Sáng chưa đăng tải bất kỳ bài báo nào về anh VMK, nếu độc giả của Tia Sáng chỉ quen dùng báo giấy, không đọc VNN và Tuổi Trẻ chắc chưa biết anh VMK là ai, ngoài những lời phán xét của tác giả Phan Việt. Thay cho lời kết, tôi muốn dùng câu châm ngôn của người Mỹ: “Những điều Pi-tơ nói về Pôn cho ta biết nhiều về Pi-tơ hơn về Pôn” (What Peter says about Paul tells us more about Peter than Paul).  Bảo Hưng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài giải pháp cho việc tăng  thu nhập cho nhà khoa học      Phần lớn những người trong ng&#224;nh, v&#224; cả giới l&#227;nh đạo, đều biết, nếu muốn hệ thống đại học v&#224; nền khoa học Việt Nam ph&#225;t triển, kh&#244;ng thể kh&#244;ng giải quyết vấn đề thu nhập v&#224; điều kiện sống của giảng vi&#234;n đại học v&#224; c&#225;n bộ khoa học. Tuy nhi&#234;n, cho đến nay vẫn chưa c&#243; hướng n&#224;o để giải quyết vấn đề n&#224;y, ngo&#224;i việc cho ph&#233;p sử dụng một phần kinh ph&#237; d&#224;nh cho đề t&#224;i nghi&#234;n cứu để tăng thu nhập cho c&#225;n bộ khoa học. V&#236; vậy,&nbsp; xin kiến nghị một số giải ph&#225;p trước mắt cho việc tăng thu nhập cho nh&#224; nghi&#234;n cứu v&#224; giảng vi&#234;n ĐH, bảo đảm cho họ c&#243; thể d&#224;nh hết t&#226;m sức cho c&#244;ng việc của m&#236;nh.     Để có được một quốc gia văn minh, phồn vinh và an ninh, không thể không phát triển khoa học và đội ngũ trí thức. Điều này các nước tiên tiến trên thế giới đã nhận thức được từ lâu, và Việt Nam cũng phải đi theo. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học và giáo dục đại học ở Việt Nam gặp không ít khó khăn, và một trong những khó khăn đó chính là sự quá bất hợp lý trong hệ thống lương bổng cho các cán bộ nghiên cứu và giảng viên đại học.  Để thấy thu nhập chính thức của các giảng viên đại học ở Việt Nam thấp đến mức nào, có thể so sánh:  – Giữa thu nhập của giảng viên đại học ở Việt Nam với giảng viên ở các nước đang phát triển khác.  – Giữa các giảng viên đại học ở Việt Nam và những người trình độ tương đương nhưng làm những ngành khác như kỹ sư, bác sĩ, tài chính kế toán v.v.  Theo cả hai so sánh đó, thì lương của giảng viên đại học công của Việt Nam đều đang ở mức quá thấp khó có thể chấp nhận. Ví dụ như giáo sư ở Việt Nam (tạm coi là tầng lớp trí thức cao cấp nhất, có trình độ cao nhất của Việt Nam) được không quá 4-500 USD một tháng kể cả phụ cấp, trong khi ở Senegal (là nước đang phát triển còn nghèo hơn Việt Nam) có thể được trên 2000 USD một tháng, hay các cán bộ quản lý cấp cao ở các doanh nghiệp ở Việt Nam có thể đạt thu nhập chính thức vài nghìn USD một tháng.        Ở Việt Nam hiện có 4 dự án đại học quốc tế nhà nước: 1 cái với Đức (ở TP.HCM), 1 cái với Mỹ (vùng Mê Kông?), 1 cái với Nhật (ở Đà Nẵng?), và 1 cái với Pháp ở Hà Nội. Các đại học mới này sẽ trả lương cho giảng viên cao hơn hẳn các đại học hiện tại. Tất nhiên, các đại học “đẳng cấp quốc tế” cũng như các viện nghiên cứu “đẳng cấp quốc tế” mới lập ra sẽ phải có chế độ đãi ngộ thì mới thu hút được người giỏi và đảm bảo chất lượng. Thế còn đối với những người giỏi nhưng vẫn ở các đại học cũ thì sao ? (Nếu “rút ruột” hết các đại học cũ chuyển toàn tinh tú sang đại học mới, thì lại thành dở, phá hoại các đại học cũ). Chế độ đãi ngộ với những người giỏi nhưng nằm lại ở các đại học cũ cũng sẽ phải thay đổi theo, để tránh “bất công”. Nếu nâng lương “đại trà” là “không khả thi”, thì sẽ chuyển sang hình thức tăng “phụ cấp khoa học” các phụ cấp khác, ví dụ như làm khoa học tốt có thể được tiền phụ cấp khoa học = vài lần tiền lương chính thức, đăng bài quốc tế thì được tính thành tiền thưởng khoa học đáng kể, như thế cũng đỡ. Thực ra ở nhiều cơ quan Nhà nước khác (các vụ này vụ nọ, chứ không nói đến doanh nghiệp) đã cho phép trả lương bằng ít ra 3-4 lần lương chính thức rồi.              Ở Toulouse có một Viện Kinh tế (Toulouse School of Economics) khá có tiếng, ở đó các giảng viên/nghiên cứu viên cũng được nhận tiền phụ cấp khoa học theo tiêu chí bài báo khoa học. Họ có 1 danh sách các tạp chí kinh tế quốc tế có uy tín, chia làm 3 loại: Loại 1 (uy tín nhất, khó đăng nhất) đến loại 3, và tính điểm khoa học (chuyển thành tiền phụ cấp khoa học) theo tổng số lượng bài đăng ở mỗi loại. Đây không phải là cách tính lương/phục cấp khoa học “hoàn thiện” nhất, nhưng là một cách khá khách quan và dễ thực hiện, có thể áp dụng cho Việt Nam.        Lương thấp cho cán bộ nghiên cứu và giảng viên đại học (cộng với điều kiện làm việc hết sức thiếu thốn) dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như:  – Các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa. Đấy là hậu quả tất yếu của hệ thống “lương ít lậu nhiều”. Khi lương quá thấp và xã hội thiếu công bằng và kỷ cương, thì người ta dễ bị cám dỗ bởi các cách kiếm tiền, dễ dàng lợi dụng quyền lực trách nhiệm trái với đạo lý nghề nghiệp, ví dụ như bán điểm cho sinh viên. Rất khó hình dung một giảng viên ở một đại học tiên tiến trên thế giới lại đi bán điểm cho sinh viên (ai làm như vậy mà bị phát hiện thì sẽ không còn mặt mũi nào nhìn đồng nghiệp), nhưng ở Việt Nam hiện tượng này không phải là hiếm.  – Chất lượng đào tạo và nghiên cứu kém, lãng phí chất xám. Kể cả các giảng viên hay nghiên cứu viên có năng lực và nhiệt huyết, cũng tốn quá nhiều thời gian cho việc “kiếm kế sinh nhai” (vì lương chính thức không đủ sống), còn rất ít thời gian dành cho khoa học và cho sinh viên, và hệ quả tất yếu là kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thấp (thể hiện qua việc có rất ít công trình khoa học “nghiêm chỉnh” so với số lượng giảng viên đại học và nghiên cứu viên), và chất lượng giảng dạy cũng thấp (dạy xô bồ, chương trình và giáo án lạc hậu chậm thay đổi, v;v.). Đây chính là sự lãng phí chất xám ghê gớm trong đại học: So với sự “chảy máu chất xám” (tức là những người Việt có trình độ bỏ ra nước ngoài làm việc), thì sự lãng phí chất xám trong nước có thể lớn hơn nhiều lần.  – Rất khó thu hút các tài năng trẻ đi theo con đường nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học, bởi nếu hai công việc đòi hỏi khả năng và cố gắng tương đương, nhưng một việc có thu nhập 2000 USD một tháng còn việc khác có thu nhập 200 USD một tháng, thì không cứ gì các bạn trẻ, ngay cả bạn sẽ chọn việc nào? Do vậy rất khó kiếm đủ người có trình độ để tuyển làm giảng viên ở các trường đại học.  Trong khi ngay tại phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước (đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần hóa), chế độ lương bổng của cán bộ đã đi theo cơ chế thị trường, “hưởng theo thành quả” và không bị chặn trên, thì chế độ lương của các cán bộ giảng dạy nghiên cứu vẫn đang bị kìm kẹp bởi các chính sách từ thời bao cấp. Ở Việt Nam hiện tại, lương chính thức của giáo sư bị chặn trên (hệ số lương không quá 8 theo thang lương Nhà nước, và thấp hơn lương của tướng quân đội hay bí thư TW Đảng), trong khi ở Anh, Mỹ, Hàn Quốc và nhiều nước khác, lương giáo sư không bị chặn trên mà chỉ có chặn dưới. Việc chặn trên lương giáo sư là một kiểu quan liêu bao cấp bình quân chủ nghĩa và trái ngược lại với nguyên tắc “hưởng theo lao động”, không thực sự coi trọng khoa học, coi khoa học không thể quan trọng bằng những thứ khác, phủ nhận khả năng có thể đem lại những đóng góp to lớn thay đổi xã hội của các nhà khoa học. Chúng ta cần học tập Mỹ: Tuy không phải là nước “xã hội chủ nghĩa”, nhưng hệ thống lương của họ cho giới khoa học tuân thủ theo qui tắc “hưởng theo lao động”, sòng phẳng và công bằng hơn nhiều lần ở Việt Nam. Những giáo sư cao cấp nhất ở Mỹ có thể có lương chính thức hơn 1 triệu USD một năm, cao hơn mấy lần lương chính thức của Tổng thống. (Tất nhiên Tổng thống ở Mỹ thì có nhiều đặc quyền mà giáo sư không có). Ở Việt Nam, giáo sư vừa không có đặc quyền gì so với các quan chức, vừa bị chặn trên lương chính thức.   Phần lớn những người trong ngành, và cả giới lãnh đạo, đều biết, nếu muốn phát triển hệ thống đại học và nền khoa học Việt Nam một cách đàng hoàng, không thể không giải quyết vấn đề thu nhập và điều kiện sống của giảng viên đại học và cán bộ khoa học, đặc biệt là với các cán bộ khoa học trẻ, những người không có dự trữ về kinh tế, nếu không đảm bảo được điều kiện sống cho họ, thì khó có thể hy vọng họ phát triển về sự nghiệp giảng dạy và khoa học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có hướng nào để giải quyết vấn đề này, ngoài việc cho phép sử dụng một phần kinh phí dành cho đề tài nghiên cứu để tăng thu nhập cho cán bộ khoa học (điều này trái với thông lệ quốc tế) lại dẫn đến những tiêu cực khác. Vì vậy, trong khi chờ Nhà nước có chính sách lương mới bảo đảm cho nhà khoa học có được điều kiện sống và làm việc sao cho phù hợp, trước mắt, Nhà nước cần tăng các khoản phụ cấp sinh hoạt và chi phí công tác. Cụ thể:  – Các khoản phụ cấp về đi lại, điện thoại, rèn luyện sức khỏe, người giúp việc… Ví dụ như Phó thủ tướng có tiêu chuẩn đi lại bằng xe Nhà nước không mất tiền, kể cả khi đi việc riêng. Chi phí xe hơi cho Phó thủ tướng mỗi tháng chắc không dưới 10 triệu VND. Bởi vậy, để cho công bằng, cũng nên chi cho các giáo sư (có lương bằng 2/3 lương của Phó thủ tướng) mỗi tháng vài triệu tiền phụ cấp chi phí đi lại. Ngay giám đốc các doanh nghiệp cỡ vừa (tính về bậc lương Nhà nước thì kém giáo sư) cũng có xe đưa đón?          Tôi là một cán bộ trẻ, đã làm việc 2 năm ở trường Đại học KHTN-HN nên tôi nắm khá cụ thể một số mức lương, thực tế là còn thấp hơn nhiều so với con số 200 USD ở trên. Lương một cán bộ trẻ vừa là sinh viên được giữ lại trường, viện công tác thường xấp xỉ 100 USD. Cụ thể tôi năm đầu được 68 USD/tháng (1.200.000 VND), đến năm thứ 2 được 85 USD / tháng (1.500.000 VND), nếu tôi tiếp tục làm việc ở trường sau khi nhận bằng thạc sĩ thì lương là 124 USD/tháng (2.200.000 VND) (hiện tại tôi đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài). Trong khi tiền VND mất giá kinh khủng, lương thì vẫn giậm chân tại chỗ, thử hỏi với lương như vậy sống thế nào được, nói gì đến nghiên cứu.   Nguyen   Đúng là Việt Nam mình đang đi lên và đội ngũ trí thức vẫn 1 lòng yêu nước. Nhưng vấn đề thu nhập của giáo viên thực sự nhức nhối. Tôi đã ra làm 14 năm nay mà mức lương chính chỉ là 2 triệu 2. Cộng thêm các khoản thu nhập khác mới chỉ khoảng 6 triệu/tháng. Với các bạn trẻ mới ra trường thì còn tệ hơn. Kết quả là họ phải lao vào kiếm sống. Người thì đi làm công ty, người thì dạy lấy dạy để. Vì thế không còn thời gian cho NCKH, trau dồi kiến thức, soạn bài giảng cho hay. Trong khi đó thì bộ máy quản lý cồng kềnh, thiếu hiệu quả. Theo tôi được biết, hiện nay chỉ khoảng 6,7% tiền học phí được chi cho tiền giảng dạy. Còn lại làm những gì tôi không biết. Vì thế mà bây giờ vẫn trả 30-40 ngàn đồng/tiết dạy.  Trần Nam Dũng          – Tiêu chuẩn về nhà ở. Giáo sư và các giảng viên đại học trẻ cũng cần được trợ cấp nhà cửa, với tỷ lệ theo lương. Đòi hỏi này thực ra không có gì quá đáng: Ngay như Trung Quốc cũng có chính sách cấp nhà ở cho các giảng viên đại học trẻ. Với mức lương hiện tại và giá nhà cửa hiện tại, thì các giảng viên đại học ở Việt Nam không thể nào mua nhà dưới bất cứ hình thức gì, trừ khi có nguồn thu nhập khác. Và không an cư thì không lạc nghiệp. Ví dụ: Có thể phân căn hộ khiêm tốn cho giảng viên trẻ, với giá trị khoảng 50 nghìn USD. Nếu tính chi phí lãi suất 5%, thì việc cấp căn hộ giá trị 50 nghìn USD tương đương với việc phụ cấp 5% X 50.000 = 2500 USD/năm tiền nhà ở, hay khoảng 200USD/tháng tiền nhà, cho 1 cán bộ trẻ (đối với giáo sư phụ cấp nhà ở này phải tăng lên thành ít nhất 500USD/tháng).  Nếu Chính phủ chấp nhận cung cấp các khoản phụ cấp và công tác phí cho giáo sư như đề nghị phía trên (nhà cửa, đi lại, điện thoại, người giúp việc, v.v.), thì cũng đã đủ làm tăng thu nhập thực tế của các giáo sư lên trên 1500 USD một tháng, mà không cần đòi hỏi tăng lương chính thức (và cũng không cần tham nhũng hay làm thêm tay trái). Đó có thể là một giải pháp khả dĩ trong tình hình hiện tại.  Song song với việc kiến nghị đổi mới chế độ lương bổng sao cho xứng đáng và hợp lý hơn, giới đại học và khoa học Việt Nam có thể chủ động tạo thêm nguồn thu nhập cho mình bằng chất xám của mình, làm những việc vừa có ý nghĩa về khoa học và giáo dục vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho bản thân. Ví dụ như:  – Giảng dạy chất lượng cao, đồng thời thu học phí cao tương xứng. (Câu hỏi là: Nếu học phí cao SV không có tiền đóng học phí thì sao? Câu trả lời là, thực tế cho thấy, những chương trình giảng dạy chất lượng cao và tạo công ăn việc làm, nếu có thu học phí cao vẫn có nhiều người xin học. Đồng thời Chính phủ và các trường phải có chính sách cấp học bổng cho học sinh giỏi và cho học sinh nghèo ham học vay). Để làm được việc này, các trường (đại học công) cần có quyền tự chủ cao về tài chính, và có quyền trả thù lao cao cho các bài giảng. Hiện tại mức thù lao này do Nhà nước qui định, và quá thấp.  – Liên kết với doanh nghiệp, làm các nghiên cứu có ứng dụng hiệu quả thực tế vào các mảng khác nhau của nền kinh tế, tạo nguồn thu nhập từ các ứng dụng đó. (Chính phủ phải lo tài trợ các nghiên cứu cơ bản, còn các nghiên cứu ứng dụng có thể “tự nó nuôi nó” và nuôi người làm nó).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài kiến nghị về nghiên cứu và giáo dục đại học      Trong dịp về nước vừa qua theo lời mời của Bộ GD&amp;ĐT để tham dự IPhO 2008, tôi thấy báo chí trong nước ngợi khen quá mức thành tích của những thí sinh Việt Nam trong kỳ thi đó và coi đó là một dấu hiệu về sự phát triển của trình độ KH nước nhà chẳng thua kém ai.    Đây là một ảo tưởng vô cùng nguy hiểm vì những giải thưởng cao trong những kỳ thi Olympic quốc tế chỉ phản ánh một phần nào sự đào tạo ở cấp 3 của chúng ta không phải là lạc hậu, và có thể nói là tốt nhờ chương trình đào tạo tốt ở những lớp chuyên (nhưng lại hẹp hòi vì sự hiểu biết tổng quát trên đời sống lại thấp so với sự đào tạo ở phương Tây). Nhưng muốn trở thành nhà khoa học, chúng ta không thể ngừng ở mức này (điều này nhiều nhà khoa học trong nước cảnh báo, nhưng dường như chẳng mấy được quan tâm). Trong khi đó, tiếp xúc với một số bậc khoa học lão thành có uy tín lớn và nhiều nhà khoa học có tài năng và tâm huyết với sự phát triển khoa học và giáo dục, họ đã bày tỏ sự lo lắng về trình độ KH&CN của chúng ta tụt hậu ngày càng xa so với ngay một số nước trong khu vực, và về việc chậm cải tổ nền giáo dục đại học nước nhà.  Thực trạng trên theo tôi có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do từ nhiều năm nay chúng ta không có được một chính sách, chiến lược phát triển nghiên cứu và giảng dạy đại học phù hợp với sự phát triển của KT-XH (chúng ta có một số nhà khoa học, quản lý giỏi có thể làm được điều này, nếu được Nhà nước lắng nghe, được trọng dụng), và sự đánh giá thiếu chính xác nhiều lĩnh vực trong hoạt động KHCN (trong quá khứ, một vài nhà lãnh đạo đã vô ý đi sai đường và đã làm gương xấu cho thế hệ trẻ, như chuyện viện sỹ New York!). Có dịp đến thăm những trung tâm nghiên cứu ở Trung Quốc, tôi thấy người ta làm việc rất nghiêm chỉnh, trong khi đó, chúng ta lại mất thì giờ để tranh giành ảnh hưởng không dựa trên tiêu chuẩn khoa học mà qua những tiêu chuẩn ngoài khoa học…  Sự đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học phải dựa vào những tiêu chuẩn quốc tế, những công trình phải có sự tham gia của những hội đồng gồm những nhà khoa học giỏi nước ngoài hay Việt kiều phối hợp với những nhà khoa học có uy tín ở trong nước và phải được công bố trên những tạp chí có tiếng ở nước ngoài không chỉ trong những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản mà cả nghiên cứu ứng dụng. Chúng ta đánh giá quá cao những chương trình có giá trị tạm thời, những tổ chức hội nghị quốc tế không đúng và không có ích để giúp nâng cao trình độ khoa học trong nước, như những sự thăm viếng của những nhà khoa học được giải Nobel để cho người trong nước có được cảm tưởng là khoa học chúng ta đã đạt được trình độ cao. Cố nhiên những sự viếng thăm của các nhà khoa học được giải Nobel có tác dụng tốt là giúp và kích thích thế hệ trẻ hướng về nghiên cứu khoa học, nhưng tác dụng hại của nó, ngoài ý muốn của những nhà khoa học được giải Nobel, là làm ru ngủ các nhà quản lý về trình độ khoa học của chúng ta.  Sự đánh giá chính xác công bằng những công trình nghiên cứu của những nhà khoa học hiện tại trong nước ở các đại học và những viện nghiên cứu qua những đề tài dự án sẽ giúp họ tăng tiền lương bổng và sẽ đem lại sự kích thích hào hứng trong công việc nghiên cứu và giảng dạy. Và để có thể làm tốt được việc này, sự có mặt của các nhà khoa học nước ngoài và Việt kiều trong những hội đồng quản trị và đánh giá dự án là không thể bỏ qua.  Mặc dầu gần đây tôi đã cổ động dùng một số tiền của Quỹ Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc Gia qua chương trình dự án để kéo những tài năng trẻ Việt Nam ở nước ngoài về phục vụ đất nước về những ngành ít tốn kém vì thế có xu hướng lý thuyết, nhưng chúng ta phải bắt đầu thực thi nghiêm chỉnh một chương trình đầu tư một cách hợp lý những ngành có liên quan đến sự phát triển của kỹ nghệ ở Việt Nam về lý thuyết cũng như thực nghiệm. Đó là một giải pháp tương đối ít tốn kém để nâng cấp trình độ các phòng thí nghiệm và giảng dạy ở đại học.  Chương trình này sẽ kéo về Việt Nam một số tài năng trẻ tuổi để phục vụ đất nước. Nếu Trung Quốc đã thành công kéo về nước họ những tài năng xuất sắc với những số tiền trăm lần lớn hơn, tại sao chúng ta lại không bắt đầu một chương trình khiêm tốn để có thể góp phần tháo gỡ một tình trạng bế tắc ở các đại học và những viện khoa học mà chúng ta không thể chấp nhận được.      Trương Nguyên Trân (GS ĐH Bách khoa Paris)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài lời “không dễ nghe”      Vừa là cộng tác viên, vừa là bạn đọc của Tia Sáng từ nhiều năm nay, theo tôi dấu ấn đậm nét nhất của Tia Sáng trong lòng độc giả chính là sự trung thực, thẳng thắn (đôi khi khá quyết liệt) mang tính phản biện của những bài viết về nhiều vấn đề rất thời sự của xã hội Việt Nam đương đại. Nhưng, nếu tôi không nhầm, có lẽ chưa có bài viết “gan ruột” nào đề cập đến những vấn đề của chính bản thân Tia Sáng. Vậy thì, nhân kỷ niệm 15 năm Tia Sáng, tại sao tôi lại không thử viết một bài như vậy?    Trong tay tôi là tờ Tia Sáng số 4, tháng 4/2001 – số kỷ niệm 10 năm thành lập. Những trang đầu tiên được dành cho những bài viết bày tỏ suy nghĩ của nhiều đối tượng độc giả khác nhau đối với Tia Sáng. Đọc lại những bài viết mình đã đọc rất kỹ cách đây 5 năm rồi quay trở về với thực tại, tôi bỗng cảm thấy bâng khuâng, lo lắng cho Tia Sáng khi nhìn về phía trước.  5 năm đã trôi qua, theo cảm nhận của riêng tôi, Tia Sáng vẫn chưa có dấu hiệu thật rõ nét cho thấy sự phát triển – ngoại trừ việc tăng kỳ (lên 2 số/tháng). Mặc dù có thể nói hiện tại chưa có một tạp chí của một bộ, ngành nào làm được như Tia Sáng (về khía cạnh tạo một diễn đàn nghiêm túc và cởi mở cho đội ngũ trí thức), nhưng để đạt được những gì mà người đọc kỳ vọng thì Tia Sáng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ.  Thách thức đầu tiên, không chỉ đối với riêng Tia Sáng mà với cả các báo viết khác, đó là sự xuất hiện ngày càng đông đúc của làng báo điện tử. Với “sức chứa” thông tin gần như vô hạn, khả năng cập nhật thông tin và tương tác trực tuyến với độc giả hết sức nhanh nhậy,  báo điện tử ngày càng thu hút đông đảo người đọc, trước hết là những người có điều kiện tiếp cận với Internet như học sinh, sinh viên, các nhà giáo, các nhà khoa học.  Thách thức thứ hai, đó là về mức độ xã hội hóa còn thấp của Tia Sáng. Bản thân tôi đã kiểm nghiệm điều này qua thực tế: cùng viết về một chủ đề, nhưng khi đăng trên Tia Sáng tôi chẳng nhận được mấy phản hồi từ phía độc giả, trong khi đăng trên một tạp chí phổ thông hơn thì sau đó đã nhận được khá nhiều ý kiến chia sẻ của các đồng nghiệp (trí thức) ở cả 3 miền. Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu là vì Tia Sáng chưa đủ sức hút (hoặc do tiếp thị kém) đối với đông đảo người đọc chứ không phải là chủ trương ‘kén độc giả” của tòa soạn. Bởi chẳng hay ho gì khi quanh đi quẩn lại chỉ mấy vị trí thức “cây đa, cây đề” viết cho nhau đọc, gật gù mãn nguyện vì có cơ hội “xả stress” mà không biết những ý kiến đầy tâm huyết và nhiều khi rất có giá trị của mình có được ai đọc hay không, có mang lại hiệu quả gì cho tiến trình đổi mới, phát triển của đất nước hay không? Các nhà lãnh đạo, quản lý thì bận trăm công nghìn việc nên nhiều khi chỉ “đọc báo” qua thư ký.  Các trí thức trẻ thì đang phải vật lộn với cuộc sống  “cơm áo, gạo tiền” đầy cạnh tranh và cạm bẫy, chả hơi đâu mà đọc các bài viết của các bậc cha, chú nếu các bài viết đó không đề cập trực tiếp đến những mối quan tâm rất thực tế của họ. Mà để đáp ứng mối quan tâm đó của thế hệ trí thức thời @ thì báo điện tử là phù hợp và hiệu quả hơn nhiều. Còn các đối tượng độc giả “bình dân” hơn (về vị trí trong xã hội, nhưng chưa chắc đã thua kém về tri thức) thì sao? Họ chẳng dại gì tự làm khổ mình với các bài viết toàn ở tầm vĩ mô mà chữ nghĩa lại hàn lâm với nhiều thuật ngữ cao siêu, thích hợp với các hội thảo khoa học chuyên ngành hơn là xuất hiện trên mặt báo. Hơn nữa, tính xã hội hóa của một tờ báo không chỉ được đánh giá từ góc độ độc giả mà còn từ góc độ người viết. Phải thừa nhận trên Tia Sáng đã hội tụ được rất nhiều các bậc trí thức nổi tiếng trong nước, nhưng hầu hết đó là những người còn sót lại của cái thời “nhân tài (khoa học) như lá mùa đông (chứ không được như lá mùa thu)”, nên hết sức quý hiếm, được trọng dụng và đã nổi tiếng trong nhiều thập kỷ qua như các giáo sư Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Chiển, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự... Còn ngày nay thì khác rồi, nhân tài người Việt của nhiều thế hệ tiếp theo, chưa cần kể đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài, cũng đã không thể đếm xuể. Những thế hệ nhân tài mới này, về trí tuệ uyên bác chưa chắc đã hơn được các bậc cha, anh – nhưng những suy nghĩ của họ chắc chắn sẽ gần gũi với cuộc sống đương đại hơn, thực dụng hơn (theo nghĩa tích cực của từ này), phản ánh những xu thế đa dạng, hiện đại mang tính dự báo cho tương lai của chính họ. Đã có bao nhiêu khuôn mặt nhân tài thế hệ mới như vậy xuất hiện trên Tia Sáng? Quá ít! Trong khi các báo điện tử và cả các báo giấy khác đã hết sức quan tâm khai thác trí tuệ của đội ngũ này và họ đã làm không tồi. Bởi vậy, xã hội hóa sẽ còn là một thách thức “dai dẳng” đối với Tia Sáng.  Thách thức thứ ba, cũng có nguyên nhân từ thách thức thứ hai nói trên, đó là tính phản biện mà Tia Sáng luôn tự hào. Các nhà xã hội học gần đây đang nói rất nhiều đến khái niệm “nguồn vốn xã hội” (hay “nguồn lực xã hội”) được hình thành tính cộng đồng, tính dân tộc và từ niềm tin, quan tâm, ủng hộ của xã hội đối với thể chế chính trị hiện hành, tạo nên sức mạnh tinh thần cho sự phát triển của quốc gia. Nếu chấp nhận sự tồn tại một nguồn vốn như vậy thì chúng ta dễ nhận thấy rằng: nói chung, tính phản biện của một quan điểm nào đó thường chỉ có giá trị (tức có tác động tích cực đối với bộ máy công quyền, từ đó góp phần làm tăng nguồn vốn xã hội) nếu nó được sự đồng thuận, ủng hộ của đông đảo người dân. Nhưng liệu có được sự đồng thuận, ủng hộ như thế không nếu quan điểm đó chỉ được một số ít người biết đến? Trong khi trên các tờ báo có mức độ xã hội hóa cao hơn Tia Sáng như các báo điện tử, các nhật báo giấy các bài viết cũng có tính phản biện (không thua kém gì các bài trên Tia Sáng) đang xuất hiện ngày càng nhiều. Chưa nói đến cái “khó” của Tia Sáng: là một tạp chí của Bộ, nhận kinh phí từ Bộ (nên lẽ thường là phải “bảo vệ” Bộ, chỉ nói những điều “dễ nghe”?). Hy vọng rằng lãnh đạo Bộ cũng “thoáng”, thực sự coi Tia Sáng là một kênh thông tin có ích cả trên 2 chiều: từ Bộ đến xã hội (trước hết là giới trí thức) và ngược lại.  Đối với tôi, để Tia Sáng thực sự tỏa sáng còn rất nhiều việc phải làm. Không biết suy nghĩ chủ quan của tôi có đúng không, có ai chia sẻ không? Nhưng dù thế nào đi nữa thì tôi cũng không thể cứ một mình trăn trở, tôi cũng phải tìm “chỗ” để “xả stress” chứ? Và tôi đã “liều mạng” chọn ngay Tia Sáng để làm điều này, bởi tôi tin Tia Sáng đã quá quen với những những lời nói tâm huyết nhưng “không dễ nghe”. Và bởi tự đáy lòng mình, tôi yêu Tia Sáng, tôi mong rằng 5 năm sau chúng ta sẽ kỷ niệm 20 năm trong sự tỏa sáng rực rỡ của nó.                            GS Nguyễn Thúc Hải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài lý do khiến Bill Gates tới Việt Nam      Không ít người mạnh dạn tuyên bố hoặc thầm nghĩ rằng Bill Gates sang Việt Nam (VN) là để đạt được một thỏa thuận về bản quyền như họ đã làm với Trung Quốc (TQ), hay để bán cho Bộ Tài chính một ít bản quyền phần mềm. Nhưng khi nghĩ vậy họ đã bỏ sót một vài yếu tố quan trọng sau:    Doanh số bản quyền phần mềm của Microsoft tại VN trong một năm chưa bằng doanh số một ngày của họ tại Nhật Bản. Đối với Bill Gates, thời gian là tiền bạc, người ta từng tính rằng nếu Bill Gates cúi xuống nhặt tờ 100$ rơi trên đường thì thời gian lãng phí đó còn giá trị gấp nhiều 100 $. Vậy mà lần này ông bỏ ra gần hai ngày cho VN! Đi cùng Bill Gates không chỉ một mình ông, mà là cả một đoàn người chuẩn bị, hộ tống và bao nhiêu trang thiết bị với khoản chi phí tính ra có thể vượt xa doanh số của Microsoft tại VN. Nói tóm lại, Bill Gates sang VN không phải vì lý do kinh tế ngắn hạn hay trung hạn.  Việt Nam không thể so sánh với TQ về quy mô thị trường, hay mức độ trưởng thành về vấn đề bản quyền phần mềm. Nền kinh tế TQ đã lớn tới mức họ sẽ trở thành một nguồn thu đáng kể cho Microsoft trong hiện tại và nguồn thu này sẽ còn tăng dữ dội trong nhiều năm tới. Nền kinh tế TQ đã phát triển tới mức chi phí cho bản quyền phần mềm không còn là quá lớn đối với họ và vấn đề bản quyền nếu không được cải thiện sẽ tác động có hại tới môi trường kinh tế, cản trở sự phát triển ngành công nghiệp phần mềm của chính họ. Nói cách khác, khi Bill Gates gặp chủ tịch Hồ Cẩm Đào thì Microsoft đã đạt được các lợi ích kinh tế ngay trước mắt, trong ngắn hạn, cũng như trong dài hạn. Nhưng VN thì không, VN là con cá nhỏ tới mức có bắt lên được người ta cũng sẽ vứt lại xuống hồ chờ nó lớn lên.               Chuẩn bị giao lưu với sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội            Như nhiều nhà chiến lược về công nghệ thông tin (ICT) đã nhận định, việc vi phạm bản quyền phần mềm lại là vũ khí tốt nhất của Microsoft chống lại các đối thủ mã nguồn mở (open source). Gây áp lực quá mạnh trong việc tuân thủ bản quyền sẽ khiến cho người sử dụng và các lập trình viên VN, vốn không thể chi trả nổi các khoản phí mua bản quyền, sẽ buộc phải chuyển sang các nền tảng (platform) mã nguồn mở. Kết quả là Microsoft không nhận được gì mà sẽ tự tạo cho mình một đội ngũ đối thủ hùng hậu. Một khi các lập trình viên và người sử dụng còn có thể vi phạm bản quyền phần mềm thì sẽ không có lý do kinh tế gì để họ sử dụng các sản phẩm open source vốn bị coi là kém chất lượng hơn. Điều này Microsoft hiểu, vì họ đã trải nghiệm tại các thị trường TQ, Ấn Độ, Mỹ la tinh. Chiến lược của họ không phải là gây áp lực tuyệt đối lên vấn đề bản quyền, mà quản lý nó một cách thận trọng, để vừa có thể thu phí bản quyền từ những người nghiêm túc và có tiền, vừa không tạo ra một đội ngũ đối địch, vừa khiến platform của Microsoft trở thành con ngựa thành Tơ roa xâm nhập sâu vào và tạo ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ICT VN.  Nhưng tại sao Bill Gates tới VN? Bên cạnh các lý do làm từ thiện, tò mò hay tham quan, dứt khoát phải còn các lý do khác về lợi ích. Sau đây có thể là một vài lý do:  a. Microsoft và Intel thật sự cho rằng VN có tiềm năng để trở thành một Ấn Độ mới trên hai phương diện nguồn lực, outsource, và thị trường tiêu thụ ICT. Không phải là tình cờ khi mà cả Intel lẫn Microsoft đều đến VN. Bộ đôi công ty đầu tầu này, vốn được gọi là cặp Wintel, đã cùng nhau thay đổi bộ mặt nền công nghiệp ICT của Mỹ, và một khi họ nhìn vào đâu, cả ngành công nghiệp ICT sẽ phải nhìn theo, họ đi tới đâu cả ngành sẽ phải đi theo. Lần này họ cùng tới VN, nhiều khả năng là họ tới để tạo sự quan tâm về nó, thúc đẩy nó và tìm cơ hội để biến nó thành một cường quốc thật sự về ICT.  b. Microsoft là một công ty marketing, họ không quan tâm nhiều tới việc tự bán sản phẩm, đối tác làm hộ họ điều này. Trọng tâm của họ luôn là xây dựng thương hiệu, hình ảnh, sản phẩm tốt và vị thế thị trường. Khi hôm nay chúng ta biết tới một thương hiệu thì 10 năm, 20 năm sau chúng ta vẫn còn nhớ đến nó với một ấn tượng hầu như không thay đổi. Lần đến VN này của Bill Gates là một cơ hội cho Microsoft trong việc xây dựng hình ảnh không phai mờ về công ty này và sản phẩm của nó trong lòng người Việt. Tất cả giới lãnh đạo cao cấp nhà nước, tất cả các công ty hàng đầu, toàn bộ giới trí thức, toàn bộ sinh viên VN, phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí cả nông dân đều hướng về Bill Gates và Microsoft. Bill Gates tới VN, đi theo ông là việc Microsoft xâm nhập vào lòng người Việt; dù bận rộn là vậy ông vẫn không quên giới thiệu bộ ba sản phẩm chính Windows, Microsoft Office và Internet Explorer, kết quả là bây giờ mọi người Việt chúng ta sẽ đều ghi nhớ chúng và 10 năm sau khi có đủ tiền chúng ta sẽ mua chúng.  c. Bill Gates đến với VN là một bài makerting điển hình. Khi một ngôi sao xuất hiện trước công chúng, những thứ xuất hiện cùng anh ta sẽ được quảng cáo. Bill Gates là ngôi sao, Microsoft và sản phẩm của họ là những thứ xuất hiện cùng ông. Một vấn đề quan trọng khác, trong kỷ nguyên internet 2.0, ai làm chủ internet người đó thống trị thế giới. Tại Mỹ và nhiều quốc gia, thương hiệu Microsoft đang suy yếu, thay vào đó Google đang là tâm điểm của báo chí và truyền thông. Để đảo ngược xu hướng này thì một quốc gia nhỏ chưa phát triển như VN cũng có thể là quân cờ chiến lược. Chuyến đi này của Bill Gates tới VN, vô tình hay hữu ý, đã giúp Microsoft có được lợi thế người đi đầu, chiếm địa vị duy nhất trong lòng hàng chục triệu người sắp hòa nhập vào kỷ nguyên Internet. Bản quyền cũng là câu chuyện của 10 năm. Lần này Bill Gates không cố ép chúng ta hai chữ “bản quyền”, điều Microsoft muốn là gieo được hai chữ “bản quyền” vào lòng người VN, họ chuẩn bị sẵn sàng nó cho cái ngày VN trưởng thành về mặt bản quyền như TQ ngày hôm nay.  Hãy nhớ rằng Bill Gates đến VN không phải để bán sản phẩm, ông đến để chuẩn bị cho việc làm ăn vào nhiều năm sau này. Bill Gates và Microsoft thành tâm muốn VN phát triển, vì nếu VN không phát triển thì chuyến đi này của ông là một sự lãng phí lớn.  Bill Gates đến VN, mang theo thông điệp của một cơ hội mới, vấn đề còn lại nằm ở chúng ta. Việt Nam mong muốn nắm lấy cơ hội này, nhưng liệu chúng ta có nắm được hay không? Hay lại để nó trôi đi như bao lần trước. Điều này phụ thuộc nhiều vào kiến thức và trình độ của các nhà quản lý vĩ mô.  Tân Ng   Nguồn tin: http://space.msn.com/tanNg      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nhận xét mới về vấn đề chảy máu chất xám      Ngày nay, hầu như ai lưu tâm đến phát triển kinh tế đều nói đến vấn đề chảy máu chất xám.&#160; Sự thật là, cho đến gần đây, phần lớn hiểu biết về vấn đề này đều có tính khẩu truyền, căn cứ trên lượng số liệu tương đối hiếm hoi, và nhất là chưa có một khung phân tích tổng thể thật khoa học và chính xác.    Rất may, trong vài năm nay, một số nghiên cứu quy mô đã bắt đầu xuất hiện.* Có nhiều nguyên nhân cho việc đáng mừng này. Một là, với sự đóng góp rõ rệt của kiều dân vào thành tựu kinh tế của nhiều nước (cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ), nhiều người cho rằng hiện tượng “chảy máu chất xám” (brain drain) không còn đơn giản như xưa, và hiện tượng “tuần hoàn chất xám” (brain circulation), thậm chí hiện tượng “tăng thu chất xám” (brain gain), cũng cần được chú ý. Hai là, nhờ toàn cầu hóa, các luồng chảy xuyên quốc gia của hàng hóa, vốn, và bây giờ là người, trở nên thông thoáng hơn. Vậy mà, so với trình độ hiểu biết về luân lưu hàng hóa và vốn, thì hiểu biết về luân lưu con người (nhất là chất xám) còn quá thấp, cần phải nỗ lực để biết rõ hơn. Đặc biệt, sự luân lưu chất xám nên đuợc phân tích trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, chú ý đến chính sách của những nước giàu nhằm thu hút một số loại chất xám, và ảnh hưởng khác nhau trên các quốc gia mất chất xám. Ba là, nhờ vào lượng thông tin ngày càng phong phú, phương pháp phân tích kinh tế ngày càng tinh tế, chúng ta hiểu biết nhiều hơn về hiện tượng chảy máu chất xám, phân tích và đáng giá hiện tượng này có thể khoa học hơn, dễ dàng hơn.  Bốn kênh ảnh hưởng  Có thể hình dung ảnh hưởng của chảy máu chất xám như truyền qua bốn “kênh”:  (1) Một là, chính “kì vọng” đi ra nước ngoài cũng đã có ảnh hưởng đến nhiều người trong nước (nhất là giới trẻ), dù rốt cục họ có đi hay không. Người ta không cần phải thật sự di cư mới có ảnh hưởng đến nước gốc.  Kì vọng ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, làm ăn, sẽ thúc đẩy giới trẻ trong nước năng nổ trau giồi thêm giáo dục, tay nghề, và do đó ảnh hưởng tốt cho xã hội và kinh tế của nước họ. Ảnh hưởng này thường đuợc gọi là hiệu ứng “thu thêm chất xám” (brain gain). Một ví dụ cụ thể: chính giấc mơ sang Mỹ làm việc ở “thung lũng Silicon” đã thúc đẩy giới trẻ Ấn Độ đi vào tin học, đưa đến sự phát triển công nghiệp phần mềm ở quốc gia này.  Hiển nhiên, không phải hi vọng “xuất ngoại” của bất cứ ai bao giờ cũng thành sự thật, nhưng sự sự cố gắng của họ sẽ có lợi cho xã hội. Như vậy, cơ hội di cư ra nước ngoài sẽ tăng thêm động lực đầu tư vào giáo dục. Theo vài nghiên cứu, hiệu ứng này khá lớn cho những quốc gia (như Trung Quốc và Ấn Độ) đông dân (trên 30 triệu) và tương đối không quá nghèo. Ngoài ra, cũng nên thấy rằng các thể chế và chính sách trong một nước cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự kiện là người dân có thể ra nước ngoài lao động, sinh sống, chẳng hạn như nhà nước phải nghĩ đến những biện pháp để giữ lại những người có tài.   Song, nhìn kĩ hơn, cường độ của hiệu ứng “thu thêm chất xám” cũng tùy thuộc vào mức độ và tiêu chuẩn gạn lọc của các nước phát triển trong chính sách cho nhập cư của họ. Sự gạn lọc ấy càng tinh vi thì hiệu ứng này càng thấp vì ít người sẽ nuôi hi vọng sang các nước phát triển sinh sống. Vài nghiên cứu cũng cho thấy lắm khi triển vọng du học lại có ảnh hưởng ngược lại (thành ra xấu), vì nó có thể làm nhiều người ít trau giồi trí thức của mình hơn. Chẳng hạn như con cháu các gia đình khá giả, biết chắc rằng cha mẹ sẽ gửi mình đi ngoại quốc, có thể bỏ bê học tập trong nước. Tương tự, cũng có người sẽ đợi khi sang nước tiên tiến mới bắt đầu học hành, do đó không gây hiệu ứng “thu thêm chất xám” nào cho quốc gia sinh quán của họ.  (2) Hai là, sự “vắng mặt” của chất xám sẽ có ảnh hưởng không tốt cho quốc gia gốc của họ. Đây là hậu quả mà từ lâu ai cũng biết. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây có phát hiện nhiều chi tiết mới, chẳng hạn như ảnh hưởng khác nhau của các loại chất xám, ngoài việc gây thiếu hụt trong “thị trường đầu vào”. Sự thất thoát của những người có tay nghề cao, nhất là những cá nhân nhiều khả năng tổ chức và điều hành, sẽ gây thuơng tổn đặc biệt nặng nề cho các nước nghèo, hơn hẳn sự thất thoát của những loại chất xám khác. Sự di cư của những người có kinh nghiệm quản lí bệnh viện, chủ nhiệm khoa ở các đại học, các bác sĩ, y tá, và nhà giáo, từ các quốc gia chậm tiến là nguyên do chính  khiến các nước này không thoát ra đuợc cái bẫy nghèo khổ. Nhiều phân tích khác thì cho rằng không phải sự thất thoát của những chuyên gia đã gây thiệt hại nặng nề như vậy, nhưng là sự thất thoát của giai cấp trung lưu.  Cũng phải nói đến ảnh hưởng trên chính những người ra đi. Đáng ngạc nhiên là cho đến nay ảnh hưởng này tương đối ít được biết một cách cặn kẽ (ngoài khẳng định chung chung là, tất nhiên, đời sống của họ hẳn là khấm khá hơn, nếu không thì họ đã không đi!). Vài nghiên cứu vừa xuất hiện đã cho nhiều thông tin mới về ảnh hưởng này. Chẳng hạn như một khảo sát gần đây cho thấy chất xám nhập cư vào Mỹ đã tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ (và nâng cao thu nhập trong một số công nghiệp), không phải lấy việc của dân Mỹ như trước đây nhiều người vẫn nghĩ.   (3) Ba là, ảnh hưởng của cộng đồng kiều dân: Đây là ảnh hưởng từ xa của người đang sinh sống ở nước ngoài đối với quốc gia gốc của họ. Ngoài những ảnh hưởng về thương mại, đầu tư, kiều hối, và kiến thức, một người sống xa xứ mà thành đạt cũng giúp hạ thấp những rào cản kinh doanh quốc tế qua vai trò “trung gian uy tín” tức là cho các đối tác quốc tế hiểu biết thêm về dân tộc họ, và những cơ hội làm ăn ở quê hương họ, và ngược lại, giúp đồng bào trong nước họ biết về nước ngoài. Nói cách hoa mỹ, cộng đồng kiều dân là rất quan trọng trong tiến trình giúp nước họ hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu và thương mại quốc tế.  Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới thì đúng là kiều hối có trực tiếp giúp đỡ các nước chậm tiến giảm nghèo, và là một nguồn ngoại tệ quan trọng, song ảnh hưởng rộng hơn thì khá phức tạp, và tùy từng nước. Ở Guatemala, chẳng hạn, đa số gia đình nhận kiều hối dùng tiền đó để giáo dục con em hơn là tiêu dùng. Nhưng ở Mexico thì mức độ giáo dục của con cái những gia đình có thân nhân ở Mỹ thì lại thấp hơn con cái những gia đình khác, có lẽ vì các gia đình có người di dân nghĩ rằng rồi con cái họ cũng sẽ sang Mỹ làm lao động chân tay, mà những việc đó thì đâu cần trình độ giáo dục cao!  (4) Bốn là kênh “hồi hương”. Đó là ảnh hưởng của kiều dân hồi hương sau nhiều năm sinh cơ lập nghiệp ở nước ngoài, với tay nghề cao hơn, mạng lưới xã hội rộng hơn, và tài sản nhiều hơn.  Bây giờ họ có nhiều khả năng đóng góp hơn cho quê hương họ.    Chính sách  Như đã nói ở trên, các nước đã phát triển (cụ thể là Mỹ, Anh, Canada, Úc) không chỉ thụ động đón nhận chất xám tìm đến với họ, nhưng đa số còn có những chính sách tích cực thu hút chất xám để (a) bù lấp thiếu hụt chất xám của chính họ, và (b) tăng thế cạnh tranh của họ trên thương trường quốc tế. Cụ thể, các nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ chảy máu chất xám tùy thuộc vào chính sách của các nước tiên tiến (mà chất xám muốn đến) không kém gì vào điều kiện sinh sống ở quốc gia gốc. Nói cách khác, chính sách của các nước đang thất thoát chất xám phải trực diện với sự thật là có một nổ lực cố tình thu hút chất xám (nhất là trong một số ngành nghề nhất định, cụ thể là y khoa và tin học) của các nước đã phát triển.  Như vậy, có thể xếp các chính sách đối với vấn đề chảy máu chất xám làm bốn loại: “hạn chế”, “đền bù”, “sáng tạo”, và “móc nối”.  (1) Về hạn chế, nhiều tác giả cho rằng một chính sách di cư cân đối (giữa các ngành nghề, từ các quốc gia khác nhau) sẽ là công bình và tốt cho phát triển chung. (Hiện nay các nước giàu thu hút chất xám trình độ cao, thậm chí chỉ trong một số ngành nghề nhất định, và không hồ hởi vói các loại hạng lao động khác). Các nước giàu phải cương quyết không “câu” những chất xám (chẳng hạn như bác sĩ, y tá) mà sự ra đi của họ sẽ gây thiệt hại vô cùng cho các quốc gia mà mức độ phát triển đang là thấp nhất.  (2) Nếu không hạn chế được sự thất thoát chất xám thì cũng phải có cách đền bù cho những người ở lại. Có trách nhiệm đền bù có thể là chính phủ các nước giàu, các công ty những nước giàu đang dùng chất xám, hoặc do chính nguời có chất xám sau khi đã ra nước ngoài.  (3) Về mặt “sáng tạo” thì các nước giàu phải đầu tư nhiều hơn để gây dựng chất xám cho công dân họ. (Chính sự thiếu hụt chất xám bản xứ là lí do họ cần chất xám ở các nước nghèo để lấp vào lỗ hổng!). Về phía các nước nghèo, với tiên đoán rằng người có học lực càng cao thì càng nhiều khả năng đi khỏi nước, chính phủ nên bắt buộc các người này phải đóng góp nhiều hơn để trang trải phí tổn đào tạo, giáo dục họ. Các nước đang phát triển cũng phải nâng cấp nền giáo dục của họ, đơn giản là vì chính hệ thống giáo dục yếu kém của họ đã “xua đuổi” các nhà giáo dục tài ba của họ ra nước ngoài.  (4) Về mặt “mạng lưới xã hội”: các nước gốc phải có những chính sách nhằm bảo tồn liên lạc giữa người đã ra đi và đất nước quê hương. Tất nhiên, các chính sách này cũng phải gồm những biện pháp khuyến khích chất xám hồi hương. Cả nước gốc lẫn nước thu nhận phải làm dễ dàng việc xuất nhập cảnh của kiều dân, gửi kiều hối, và đầu tư. Theo đa số người nghiên cứu vấn đề này, các chính phủ nên tạo động lực cho người muốn trở về hơn là gây thêm rào cản cho người muốn ra đi.  ————  *Xem, chẳng hạn như: (1) Kapur và McHale, 2005, “Give Us Your Best and Brightest”, Center for Global Development; (2) Schiff và Ozden, 2005,  “International Migration, Remittances and the Brain Drain”, World Bank; (3) Boucher, Stark và Taylor, 2005, “A Gain with a Drain? Evidence from Rural Mexico on the New Economics of the Brain Drain”, Center for Development Research; (4) Ottaviano và Peri, 2005, “Rethinking the Gains From Immigration: Theory and Evidence From the U.S.”, University of Cafifornia, Davis      Trần Hữu Dũng        Nguồn tin: Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của năng lượng hạt nhân suy giảm      Báo cáo về Công nghiệp điện nguyên tử trên  thế giới năm (World Nuclear Industry Status Report – WNISR) 2013 vừa  được công bố cho thấy, ở nhiều quốc gia, năng lượng mặt trời và gió đang  lấn át năng lượng hạt nhân.     Rất khó phục hưng năng lượng hạt nhân  Còn quá sớm để nói về sự suy giảm, nhưng những số liệu đã làm rõ: sản lượng điện hạt nhân trên thế giới liên tục giảm, so với năm 2006 là năm có công suất cao nhất, giảm 12%. Năm ngoái, với tổng sản lượng là 2.346 Terawatt giờ, các nhà máy điện nguyên tử đóng góp khoảng 10% tổng sản lượng điện trên toàn thế giới. Với thời hoàng kim những năm 1990, tỷ lệ này đã giảm đến 17%. Trong khi đó, điện mặt trời và điện gió đều có xu hướng tăng ở khắp nơi. Các nước Trung Quốc, Đức, Nhật Bản là ba trong bốn nền kinh tế hàng đầu thế giới, lần đầu tiên có sản lượng điện tái sinh cao hơn điện hạt nhân.   Các số liệu khác cũng minh chứng cho sự thay đổi tương quan này. Theo báo cáo do hãng tư vấn Mycle Schneider Consulting ở Paris tiến hành, thì năm 2012 các nhà cung cấp điện đã đầu tư 268 tỷ USD cho điện tái sinh; đầu tư cho điện nguyên tử chỉ có 25 tỷ USD, không bằng 10% so với điện tái sinh. Tương tự như vậy, năm 2012 trên thế giới có thêm các nhà máy điện gió, với tổng công suất 45 Gigawatt và điện mặt trời với 32 Gigawatt, trong khi đó điện hạt nhân là 1,2 Gigawatt.  Xu hướng này làm cho Nhóm Xanh trong Nghị viện châu Âu, chủ dự án WNISR 2013, rất phấn khởi. “Sự phục hưng của năng lượng nguyên tử chỉ là chuyện cổ tích,” Ralf Fücks, Chủ tịch Quỹ Heinrich-Böll, nhà đồng tài trợ cho WNISR 2013, khẳng định. Mycle Schneider, chủ biên  WNISR 2013, giải thích về sự chuyển hướng của năng lượng tái sinh: “Năng lượng tái sinh rẻ hơn và việc xây dựng, lắp đặt kỹ thuật nhanh hơn nhiều.”  Phân tích trên cho thấy, yếu tố hiệu quả kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến sự hạn chế đầu tư xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. Nội trong mười năm gần đây, theo Schneider, giá thành lắp đặt một kWh đã tăng từ 1.000 USD lên 7.000 USD, trong đó có lý do là yêu cầu an toàn rất cao, sau thảm họa ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima của Nhật Bản năm 2011.    Xây dựng cầm chừng    Bên cạnh đó, những vấn đề về kỹ thuật cũng gây nhiều khó khăn cho việc triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Trên văn bản, dự kiến có 66 lò phản ứng với tổng công suất là 63 Gigawatt sẽ được xây dựng, trong đó 44 công trình là ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Tuy nhiên, theo WNISR 2013, thì chín lò phản ứng vẫn nằm trong danh sách dự kiến từ hơn 20 năm nay và 45 dự án khác thì vẫn chưa có thời hạn khởi công xây dựng chính thức. Hiện có 427 nhà máy điện hạt nhân hòa vào lưới điện, giảm 17 nhà máy so với năm cao nhất là năm 2002.  Những người tán dương điện hạt nhân thường đề cập chương trình năng lượng hạt nhân đầy tham vọng của Trung Quốc, họ lớn tiếng khoe khoang đất nước khổng lồ này không chỉ cung cấp cho thế giới các tấm pin mặt trời giá rẻ mà sẽ cung cấp công nghệ hạt nhân tiên tiến nhất. Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch xây dựng 28 nhà máy điện hạt nhân, nhiều hơn bất kỳ nước nào, tuy nhiên, theo WNISR 2013, suốt hai năm qua, không một lò phản ứng nào được triển khai xây dựng. Trong khi đó, giới lãnh đạo Bắc Kinh mới đây ra tuyên bố từ nay đến năm 2015, tổng công suất của các nhà máy điện mặt trời sẽ tăng gấp bốn lần, từ 8 Gigawatt lên 35 Gigawatt. Dường như chưa có dấu hiệu gì về sự cải thiện của công nghiệp nguyên tử.  Được xuất bản lần đầu vào năm 1992 và lần thứ hai vào năm 2004, WNISR chỉ ra mắt đều đặn hằng năm kể từ năm 2008. Báo cáo này nhằm phân tích tương quan giữa điện hạt nhân với các nguồn năng lượng khác trên thế giới, được xuất bản theo đặt hàng của các tổ chức nghiên cứu năng lượng và tổ chức chính trị khác nhau.    Những nước tiêu thụ nhiều năng lượng điện nhất thế giới   1. Trung Quốc  2. Mỹ  3. Nhật Bản  4. Nga  5. Ấn Độ  6. Canada  7. Đức  8. Pháp  9. Brazil  10. Hàn Quốc  XH dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò lập pháp của chính phủ?      Ở nước ta, trên dưới 95% các văn bản pháp luật là do Chính phủ soạn thảo và trình Quốc hội thông qua. Ở nhiều nước trên thế giới tỷ lệ này còn cao hơn nữa- thường lên đến 97-98%. Như vậy, nghịch lý lớn nhất của chuyện làm luật là cơ quan có quyền lập pháp (Quốc hội trong trường hợp của nước ta) chưa chắc đã là cơ quan làm luật nhiều nhất. Nhưng chính đó lại phản ánh bản chất và động lực của hoạt động sáng tạo pháp luật trong cuộc sống.    Trước hết, phần lớn các nước trên thế giới hiện nay đều được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền (và nước ta cũng vậy). Mà một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là: người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, còn các quan chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Từ nguyên tắc này, trong mọi hành xử, các cơ quan của Chính phủ đều bắt buộc phải chỉ ra được cơ sở pháp lý cho hành động của mình. Chúng ta vẫn thường nghe thấy các quan chức ở cả trung ương lẫn ở địa phương bày tỏ sự bất lực trước các hành vi gây ô nhiễm môi trường, làm tổn hại đến sức khỏe của cộng đồng và trật tự công cộng… vì họ không có đủ chế tài. Điều này không hẳn chỉ phản ánh sự yếu kém của các quan chức, mà còn phản ánh sự thiếu hụt các công cụ pháp lý.  Như vậy, động lực tự nhiên của hành pháp là muốn có công cụ pháp lý, muốn được pháp luật trao quyền. Đây cũng là động lực của việc hành pháp luôn luôn tận dụng quyền sáng kiến pháp luật để có thêm công cụ cho hoạt động quản lý của mình.              Động lực tự nhiên của hành pháp là muốn có công cụ pháp lý, muốn được pháp luật trao quyền. Đây cũng là động lực của việc hành pháp luôn luôn tận dụng quyền sáng kiến pháp luật để có thêm công cụ cho hoạt động quản lý của mình.                Ngoài ra, Chính phủ thường chủ động soạn thảo và đệ trình các dự luật còn vì một lý do hoàn toàn mang tính kỹ thuật. Chính phủ, bao gồm cả các bộ, là những cơ quan điều hành công việc hàng ngày của đất nước. Do vậy, các cơ quan này thường phát hiện ra các vấn đề của cuộc sống trước tiên. Rất nhiều vấn đề của cuộc sống lại do những hành vi có vấn đề của con người gây ra. Trong những trường hợp như vậy, không uốn nắn được (không điều chỉnh được) những hành vi có vấn đề của các đối tượng có liên quan, không thể giải quyết được các vấn đề của cuộc sống. (Ví dụ, không uốn nắn được những hành vi vi phạm luật lệ giao thông, không thể giải quyết được vấn đề tai nạn giao thông). Mà để điều chỉnh hành vi của con người, thì trong nhiều trường hợp, thiếu các công cụ pháp lý là không thể thực hiện được. Như vậy, nhiều khi để giải quyết các vấn đề của cuộc sống, Chính phủ cần phải có luật (Tất nhiên, là thứ luật mà Chính phủ cần, chứ không phải là bất kỳ thứ luật nào mà Quốc hội cho).   Việc soạn thảo văn bản pháp luật thường do các cơ quan của Chính phủ đảm nhận còn có nguyên nhân liên quan đến đòi hỏi về chuyên môn. Rất nhiều vấn đề của cuộc sống hiện đại (ví dụ như thị trường chứng khoán, hoạt động tài chính-ngân hàng, thương mại điện tử v.v.) là những vấn đề kỹ thuật chuyên sâu. Chính phủ mới có đủ lực lượng chuyên gia để hiểu và thiết kế được những thiết chế vận hành trên thực tế. Quốc hội sẽ không bao giờ có đủ một lực lượng chuyên gia như vậy cả.  Hiện nay, nhiều người cho rằng Quốc hội là cơ quan có quyền lập pháp, thì Quốc hội phải chủ động vươn lên đảm nhận toàn bộ các công việc liên quan đến chuyện làm luật, đặc biệt là khâu soạn thảo văn bản. Nếu không, việc giao quyền soạn thảo văn bản pháp luật cho các bộ sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan này cài cắm các quyền năng của mình vào luật. Mà như vậy, thì càng nhiều luật, càng khổ cho dân. Loại ý kiến này không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, bản chất sâu xa của vấn đề lại nằm ở chỗ khác.             Động lực của quy trình lập pháp cụ thể như sau: Chính phủ có động lực trình các dự luật; Quốc hội có động lực thẩm định các dự luật. Chính phủ và Quốc hội chỉ là hai phần cấu thành của một nền quản trị quốc gia thống nhất. Mỗi cơ quan đều có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình lập pháp.              Trước hết, các vị đại biểu Quốc hội là những người đại diện cho dân. Người dân thì ai cũng muốn có quyền tự do nhiều hơn là bị điều chỉnh (mặc dù trong nhiều trường hợp một sự điều chỉnh là rất cần thiết). Mà như vậy, thì quả thực các vị đại diện cho dân không chắc đã có động lực để làm luật. (Động lực của các vị đại biểu chỉ có trong những sáng kiến lập pháp nhằm hạn chế quyền can thiệp của các quan chức hành chính vào cuộc sống của người dân). Để dễ cảm nhận hơn, xin lấy dự Luật thuế thu nhập cá nhân để làm ví dụ. Đây là một dự luật rất cần thiết để bảo đảm nguồn thu cho ngân sách trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Chính phủ chắc chắn có động lực to lớn trong việc ban hành một đạo luật như vậy. Tuy nhiên, bất cứ một đại biểu Quốc hội nào quá hăng hái trong việc thu tiền của dân thì sẽ rất dễ bị mất phiếu trong đợt bầu cử tới. Rõ ràng, động lực của các vị đại biểu là phản đối dự luật thuế, chứ không phải là đấu tranh để ban hành nó. (Mặc dù, về mặt lý thuyết, đại biểu Quốc hội được coi là nhận ủy quyền của dân theo nguyên tắc tín thác. Nghĩa là, các vị đại biểu được quyền tự lựa chọn phương án mà theo họ là có lợi nhất cho nước, cho dân. Tuy nhiên, động lực thì vẫn là tránh làm những việc mà vì chúng các vị dân biểu có thể bị mất phiếu của cử tri).  Việc các bộ, ngành tìm cách cài cắm quyền năng của mình vào trong luật, có thể, đúng là một vấn đề. Thế nhưng, tại sao Quốc hội lại không thể thẩm định các dự luật để loại bỏ điều đó đi? Làm việc này chắc chắn sẽ dễ hơn việc soạn thảo một dự luật ngay từ đầu rất nhiều. Dù sao, việc thẩm định dự luật để loại bỏ sự lạm quyền thì vẫn dễ hơn là việc soạn thảo cả dự luật. Đó là chưa nói tới tình trạng, các chuyên gia soạn thảo của Quốc hội rồi cũng sẽ phải liên hệ với các bộ hữu quan của Chính phủ để được hỗ trợ trong việc soạn thảo văn bản. Trong trường hợp này, các quyền năng vẫn có thể được cài vào văn bản. Tuy nhiên, rủi ro cho dân thì sẽ lớn hơn, bởi vì Quốc hội đã soạn thảo thì không còn có một cơ quan nào khác có đủ động lực và có đủ thẩm quyền để giám sát về khả năng lạm quyền.  Trong thực tế, đã có hai dự luật được các cơ quan của Quốc hội soạn thảo. Đó là dự Luật giao dịch điện tử và dự Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Đây là những cố gắng rất đáng hoan nghênh của các Ủy ban hữu quan của Quốc hội. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng phần lớn đội ngũ chuyên gia tham gia vào việc soạn thảo những văn bản nói trên thì đều là người của Chính phủ. Sau khi các cơ quan này soạn thảo xong văn bản thì một vấn đề pháp lý đặt ra là ai sẽ phải thẩm tra các văn bản đó? Về mặt nguyên tắc, nếu Chính phủ soạn thảo Quốc hội thẩm tra, thì Quốc hội soạn thảo Chính phủ phải thẩm tra. Ít nhất, Chính phủ cũng cần thẩm tra xem về mặt kỹ thuật những chính sách được đề ra trong dự luật có thể triển khai được trong cuộc sống hay không? Vì trong trường hợp cụ thể như trên, cơ quan hoạch định và đề ra chính sách là Quốc hội chứ không phải là Chính phủ. Ở đây hình thành nên một quy trình ngược. Vì quy trình thuận thì phải như sau: Chính phủ đều ra chính sách, soạn thảo thành dự luật trình Quốc hội phê chuẩn và thông qua, sau đó Chính phủ triển khai chính sách đã được thông qua vào cuộc sống. Quốc hội giám sát xem Chính phủ có thực hiện đúng những gì đã được Quốc hội thông qua hay không.  Đối với hai trường hợp cụ thể nói trên, các cơ quan thẩm tra lại là các Ủy ban khác của Quốc hội. Hình thành lên chuyện Quốc hội thẩm định Quốc hội. Việc này chẳng bị luật nào cấm. Tuy nhiên, động lực của việc thẩm định sẽ không dễ được bảo đảm.  Tóm lại, Trái đất quay xung quanh Mặt trời là vì lực hấp dẫn. Đó là động lực tự nhiên của đất trời. Việc sáng tạo pháp luật cũng phải có động lực của nó. Động lực của quy trình lập pháp cụ thể như sau: Chính phủ có động lực trình các dự luật; Quốc hội có động lực thẩm định các dự luật. Chính phủ và Quốc hội chỉ là hai phần cấu thành của một nền quản trị quốc gia thống nhất. Mỗi cơ quan đều có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình lập pháp.  ———  ẢNH: Đại biểu QH thảo luận về dự Luật phòng, chống bạo lực gia đình     TS. Nguyễn Sĩ Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài ưu tiên trong sửa Luật Đất đai      Pháp luật đất đai giờ đây thật um tùm. Trong bối cảnh đó, việc sửa Luật Đất đai năm 2022 cần ưu tiên vào giải quyết những trục trặc gì?    Giá nhà đất ở Việt Nam đã cao gấp hơn 20 lần thu nhập trung bình. “Sốt đất” xảy ra ở khắp nơi. Ảnh: Thời báo ngân hàng.  Hiện nay, trên một thửa đất xuất hiện biết bao nhiêu là lợi quyền: chiếm hữu, canh tác, sử dụng, định đoạt, thế chấp, cầm cố, góp vốn, bảo đảm. Trong số đó, sinh ra nhiều tiền của là các quyền có tính định đoạt, gồm quyền quy hoạch, lập dự án, thu hồi, quyền chuyển nhượng đất đai. Cơ quan nhà nước, chủ dự án, nhà đầu tư, doanh nghiệp, người dân cùng chia sẻ, phân bổ, kiểm soát các quyền đó. Nguyên lý vẫn là thế, song thực trạng thương mại hóa đất đai đã trở nên sôi động, nhốn nháo dị thường. Đất đồi, đất ruộng, đất rừng, ao hồ, bờ biển… hết thảy đều đã trở nên đắt đỏ. Trong bối cảnh đó, việc sửa Luật Đất đai vào năm 2022 cần ưu tiên vào giải quyết những trục trặc gì?  Quy định của Hiến pháp rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân cho người ta cảm giác ai cũng có phần. Song có được một tấc đất cắm dùi đã trở thành một giấc mơ quá đỗi xa vời với nhiều người. Giá nhà đất ở Việt Nam đã cao gấp hơn 20 lần thu nhập trung bình. Ai có của đều để tích trữ vào đất. Người có nhiều của càng giành lấy nhiều đất. Nếu không có cách phân bổ phúc lợi phù hợp thì thiểu số 1% chiếm hữu của cải, quyền lực trong xã hội sẽ lấy hết cơ hội của đám đông 99% còn lại. Sửa Luật Đất đai, nếu cần, phải góp phần giảm bất công trong phân bổ phúc lợi đất đai.    Sự phân tán giữa các bộ, ngành và các địa phương có thể là nguyên nhân làm cho tài nguyên đất đai chưa được quản lý hiệu quả, giá trị tăng thêm bị tư túi, tạo nên bất công dai dẳng.    Từ góc nhìn ấy, chí ít có ba nhóm chính sách cần ưu tiên trong lần chỉnh sửa pháp luật đất đai lần này. Thứ nhất là minh bạch quyền quy hoạch, quyền lập dự án có sử dụng đất, quyền thu hồi, đền bù và bảo đảm công lý cho người bị thu hồi. Điều này liên quan đến vai trò của Nhà nước trong điều tiết, định đoạt, phân bổ đất đai. Thứ hai, pháp luật phải bảo vệ lợi ích thỏa đáng của các nhà đầu tư phát triển đất, không có sự dũng cảm dấn thân chịu rủi ro của họ ruộng lúa vẫn mãi chỉ là ruộng lúa. Hiển nhiên, ai cũng hiểu phải làm ra cái bánh rồi mới tính đến phân chia. Sự dấn thân của những người phát triển, nâng cao giá trị đất cần được bảo vệ. Thứ ba là tài chính đất đai, phân bổ giá trị tăng thêm từ phát triển đầu tư vào đất đai, những người được hưởng lợi nhiều từ đầu tư công của Nhà nước phải chia sẻ một cách hợp lý giá trị tăng thêm với Nhà nước và cộng đồng. Người nắm giữ càng nhiều đất càng phải chịu nhiều thuế tài sản, thuế ấy phải hoàn toàn thuộc ngân sách địa phương để tùy chi dùng vào duy trì nâng cấp hạ tầng.  Các định hướng này phần nào đã được ghi nhận trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII, nhấn mạnh “tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai”.  Hiển nhiên, nhiều vấn đề kể trên vượt quá phạm vi điều chỉnh của Luật Đất đai và có lẽ cũng vượt quá thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và môi trường, cơ quan được xem là chủ trì, có trách nhiệm chính trong việc đề xuất chính sách đất đai. Tài chính đất đai, thuế tài sản (đánh vào nhà đất) dường như thuộc thẩm quyền đề xuất của Bộ Tài chính, đầu tư có sử dụng đất thuộc phạm vi chính sách của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phát triển hạ tầng, nhất là các dự án giao thông sử dụng nhiều đất đai thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giao thông Vận tải, kinh doanh nhà ở và chung cư thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng. Sự phân tán giữa các bộ, ngành và các địa phương có thể là nguyên nhân làm cho tài nguyên đất đai chưa được quản lý hiệu quả, giá trị tăng thêm bị tư túi, tạo nên bất công dai dẳng.  Phân lô bán nền ở Lâm Đồng. Nguồn ảnh: Vietnamnet.   Bởi vậy, sửa Luật Đất đai 2013 là cơ hội để rà soát tính thống nhất giữa các đạo luật có liên quan đến đất đai, bắt đầu bởi Bộ Luật dân sự, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Giao dịch bảo đảm và các luật khác về đầu tư, tài sản, hợp đồng, công chứng, thi hành án. Mỗi lần sửa luật cần cố gắng rà soát và sửa tất cả hệ thống văn bản có liên quan. Đôi khi trục trặc xuất hiện trên thực tế không phải bởi quy định của Luật Đất đai 2013, mà bởi pháp luật liên quan và bởi quy định có tính chỉ đạo điều hành dưới luật của cơ quan hành chính. Hiển nhiên, trục trặc cũng có thể xuất hiện bởi năng lực của cơ quan, công chức thi hành. Nếu tiếp tục cặm cụi sửa riêng Luật Đất đai, có khi chúng ta mải mê sửa cây mà không thấy rừng.  Pháp luật đất đai um tùm như một khu rừng nhiệt đới. Tuy nhằng nhịt song cũng thật giản đơn. Quốc gia hợp thành từ muôn triệu công dân, lãnh thổ hợp thành từ muôn triệu ô thửa, mỗi ô thửa đất đều là tài sản, đều có chủ, gọi người chủ ấy là chủ sử dụng đất. Quyền tài sản ấy, gọi là vật quyền, phần do chiếm hữu mà có, phần do hưởng thừa kế của tổ tiên, phần do mua bán, và phần do nhà nước phân phối. Dân có quyền mà Nhà nước cũng có quyền, quyền sử dụng đất có thể tư hữu, mà cũng có thể công hữu, tức đất công thuộc khối công sản. Sau khi đã xác lập một chế độ quyền tài sản như thế, địa chính giúp cung cấp các bằng khoán, minh chứng quyền của người chủ. Địa chính cũng tỉ mỉ ghi chép lại các biến động tặng cho, thừa kế, bảo đảm, cầm cố, thế chấp. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai chính là bước tiến rất mới cung cấp dịch vụ địa chính kiểu mới, các trích lục bằng khoán điền thổ kiểu mới, nên bỏ dần cách thức cấp sổ đỏ cho từng người chủ sử dụng. Từ Bộ luật dân sự, tới Luật về quản lý đất đai (tôi nghĩ Luật Đất đai nên thu hẹp lại dần theo hướng này), cần nhất quán tư duy ghi nhận và bảo hộ quyền tài sản đất đai của người dân. Càng ghi nhận và bảo hộ quyền ấy một cách hiệu quả, càng giúp làm giảm chi phí giao dịch, kinh tế sẽ phát triển, và nước ta sẽ giàu mạnh bởi hàng triệu người dân tự lo liệu được cho bản thân mình.□    Author                Phạm Duy Nghĩa        
__label__tiasang Vài ý kiến về “công trình nội lực”      1/ Xu hướng công tác nghiên cứu đang chiếm ưu thế trên toàn bộ thế giới. Điều này thể hiện rất rõ ở những ngành khoa học cơ bản, đặc biệt là trong vật lý và toán học. Nếu ta giơ bất kỳ một tạp chí toán học có uy tín nào thì sẽ thấy hầu hết các bài báo đề là các bài viết chung. Tôi biết nhiều trường hợp các tác giả viết bài chung mà không hề gặp nhau lần nào trong suốt quá trình nghiên cứu. Không nên lấy tiêu chuẩn nội lực để đánh giá nền khoa học nước nào giỏi hay kém.    2/ Chúng ta không nên nhấn mạnh về công trình nội lực mà nên nhấn mạnh về việc đánh giá các công trình nghiên cứu phải đưa vào các công trình đăng ở các tạp chí quốc tế. Chính việc có một tiêu chuẩn đánh giá đúng đắn sẽ thúc đẩy các nghiên cứu nghiêm túc và qua đó tăng tỷ lệ công trình nội lực,.  3/ Trong tình hình số lượng các bái báo đăng ở tạp chí quốc tế của các tác giả Việt Nam đang ít ỏi thì chúng ta không thể yêu cầu mọi người, mọi đề tài nghiên cứu đều có công trình đăng ở quốc tế được, nhất là công trình nội lực. Số đông các nhà khoa học Việt Nam sẽ không ủng hộ việc này.  Trước mắt nên kêu gọi các nhà quản lý có những chế độ đãi ngộ xứng đáng cho những người có công trình “quốc tế” và ưu tiên những người này khi xét duyệt các đề tài nghiên cứu.  GS.TS Ngô Việt Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẫn còn những tiêu chí “trên trời”      Bộ GD&ĐT vừa ban hành Dự thảo quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư thay thế cho quy định cũ với yêu cầu mới là các ứng viên PGS, GS phải có các bài báo khoa học quốc tế, kể cả ngành KHXH&NV.      TS Trần Trọng Dương  Yêu cầu này, theo tôi, thực sự cần thiết bởi trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, việc “nâng tầm” cho những ứng viên GS-PGS là việc tất yếu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Dự thảo lại đưa ra những tiêu chí mà tôi cho là “trên trời” đối với công bố khoa học trong nhóm các ngành thuộc khối KHXH&NV khi mắc phải hai lỗi cực kỳ nghiêm trọng – Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) cũng đang phải tháo gỡ đúng hai lỗi này. Đó là:  (1) Ốp nguyên mô hình hệ tiêu chuẩn của ngành tự nhiên cho ngành KHXH&NV, bằng các chỉ số tạp chí ISI và SCOPUS – trong khi phần lớn các ngành về Việt Nam học đều chỉ dùng hai chỉ số cơ bản ISSN (cho bài báo khoa học trên tạp chí) và ISBN (cho công bố khoa học dạng sách) – và bỏ qua hệ thống tạp chí và nhà xuất bản của các đại học và cơ quan nghiên cứu có chất lượng.  (2) Ốp nguyên hệ tiêu chuẩn Âu Mỹ (hệ tiêu chuẩn Anh ngữ), trong khi công bố khoa học cũng phải đa nguyên, đa phương và đa ngữ. Chúng ta còn nhiều chuẩn công bố khác ở các ngôn ngữ khác như Nga ngữ, Nhật ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ, Hoa ngữ, Hàn ngữ,…  Có ý kiến cho rằng, tiêu chí phải có bài báo quốc tế sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực như: bỏ tiền mua bài đăng, bỏ tiền nhờ người viết hộ, rồi nhờ đứng tên với người khác (vì quy định không yêu cầu phải là tác giả chính), trong khi bài báo quốc tế kể cả ISI và Scopus, cũng có năm bảy loại. Để chống các hiện tượng tiêu cực này trong việc công bố quốc tế thì Dự thảo phải có trong tay danh sách các tạp chí quốc tế rởm và các nhà xuất bản bản rởm, đi kèm với nó là một số quy định và chế tài được công bố công khai. Như thế sẽ hạn chế được chuyện vàng thau lẫn lộn cũng như hiện tượng “mua gian bán lận” ở chốn học thuật.  Một điểm đáng lưu ý nữa trong tiêu chuẩn bổ nhiệm PGS, GS là các ứng viên phải chủ trì các đề tài khoa học cấp cơ sở (với PGS) hoặc cấp bộ (với GS). Tôi cho rằng, ở mặt tích cực, các đề tài cấp cơ sở hay cấp bộ đều thể hiện công lao đóng góp và khả năng nghiên cứu, tổ chức nhóm nghiên cứu của các ứng viên đối với các công việc khoa học do cơ quan giao phó. Ở khía cạnh ngược lại thì một đề tài khoa học đã được nghiệm thu chỉ đút ngăn kéo mà không được xuất bản (thành bài nghiên cứu, chuyên luận) hoặc không được áp dụng cho một cơ sở đào tạo, sản xuất thì chỉ là thứ “bánh vẽ”, không mấy khi có giá trị. Nhưng một khi đề tài đã công bố thì nó đã được tính điểm ở chỉ số xuất bản rồi. Cho nên, theo ý kiến cá nhân của tôi, nên bỏ bớt tiêu chí “chủ trì các hệ đề tài”, như thế sẽ kích thích chỉ số công bố của các chủ nhiệm đề tài ăn lương ngân sách, và cũng là để giảm thiểu những người ăn bám cơ chế.     Văn Hiệp ghi    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Vấn đề công nghệ và môi trường  trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên      Ng&#224;y 24/4/2009, Bộ Ch&#237;nh trị đ&#227; c&#243; &#253; kiến kết luận về Quy hoạch ph&#226;n v&#249;ng thăm d&#242;, khai th&#225;c, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015, c&#243; x&#233;t đến năm 2025, trong đ&#243; Bộ Ch&#237;nh trị đ&#227; đặc biệt nhấn mạnh vấn đề c&#244;ng nghệ v&#224; m&#244;i trường. Để l&#224;m s&#225;ng tỏ v&#224; tạo sự đồng thuận chung về vấn đề n&#224;y ch&#250;ng t&#244;i xin cung cấp v&#224; trao đổi th&#234;m một v&#224;i th&#244;ng tin c&#243; li&#234;n quan.    Vấn đề công nghệ: Trong thông báo nêu trên Bộ Chính trị đã đặc biệt lưu ý: “Việc lựa chọn công nghệ là một nội dung quan trọng; yêu cầu là phải sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trên thế giới”. Đây là một lưu ý rất cơ bản. Bất kỳ dự án đầu tư công nghệ nào, vấn đề đặt ra hàng đầu cần được thẩm định là tính hợp lý của công nghệ. Đối với bất kỳ dự án khai khoáng nào, công nghệ phải phù hợp với loại khoáng vật là đối tượng sẽ được khai thác và đưa vào tuyển luyện. Nguồn gốc hình thành và thành phần thạch học của khoáng vật bauxite rất khác nhau. Bauxite là tên gọi chung của các khoáng vật có chứa nhiều Al2O3. Cũng có những khoáng vật có chứa Al2O3, nhưng không nhiều, có tên gọi không phải là bauxite (ví dụ như apatite). Điều quan trọng chúng ta cần đặc biệt quan tâm trước hết là sự phù hợp của công nghệ tuyển-luyện đối với loại bauxit của Tây Nguyên. Công nghệ tuyển-luyện là các giải pháp kỹ thuật dựa trên các quá trình vật lý và hóa học của việc chuyển đổi từ bauxite nguyên khai thành alumina. Ngoài các giải pháp kỹ thuật, liên quan đến công nghệ cần phải tính đến là kinh nghiệm của con người (nhà thầu). Để đánh giá kinh nghiệm, chúng ta cần xem xét những thành tích của nhà thầu trong các dự án “tương tự”. Nhìn chung, bauxite của Tây Nguyên thuộc loại “phong hóa” khác bauxite thuộc loại “sa khoáng” về nguồn ngốc địa chất. Như vậy, công nghệ và kinh nghiệm của nhà thầu về bauxite sa khoáng khác với công nghệ và kinh nghiệm về bauxite phong hóa.  Chất lượng quặng bauxite: có ảnh hưởng rất quyết định đến tính khả thi về mặt kinh tế cũng như tính cạnh tranh của công nghệ được lựa chọn. Nhìn chung, công nghệ Bayer được áp dụng cho loại bauxite có chất lượng cao, có hàm lượng SiO2 thấp. Chỉ số  “Modunsilic” (mSi) của bauxite có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi lựa chọn công nghệ và có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của công nghệ. Chỉ số này được xác định bằng tỷ lệ giữa thành phần Al2O3 và SiO2 trong quặng bauxite. Chỉ số này càng cao càng tốt (thành phần Al2O3 càng cao, và SiO2 càng thấp càng tốt). Theo đánh giá chung, chất lượng bauxite của VN thuộc loại thấp, chứ không phải là cao như nhiều người lầm tưởng. So với bauxite của các nước trên thế giới, bauxit của Tây Nguyên thuộc loại chất lượng thấp nhất, đòi hỏi phải có thêm công đoạn tuyển rửa quặng nguyên khai để tăng modun silic, vì vậy tính cạnh tranh khi sử dụng công nghệ Bayer cũng là thấp. Đây thực sự là một thách thức đối với chủ đầu tư. Chỉ số mSi của bauxite Tân Rai và Nhân Cơ chỉ có 3,5-7,8 (trung bình 4,93) trong khi của Indonesia 14-18; Jamaica 15-25; Úc 11-20, Ấn Độ 20-25; Pháp 11-18; Nam Tư (cũ) 10-20; Hungary 10-13; Suriman 18-23; Hy Lạp 10-19 v.v. Trong công nghệ Bayer chỉ số mSi sẽ quyết định (ảnh hưởng tới) tỷ lệ thu hồi hóa học của alumina. Như ta đã biết, theo lý thuyết, khi áp dụng công nghệ Bayer cho bauxite của Tây Nguyên có modun silic mSi=4,93, tỷ lệ thu hồi Al2O3 (trên cơ sở hóa học) tối đa (chưa tính đến các yếu tố khác) là (1-1:4,93) x 100% = 79,71%. Modun  silic càng thấp, tỷ lệ thu hồi này càng thấp, và tính hiệu quả càng thấp. Trong quá khứ, chúng ta đã có các nghiên cứu cụ thể để lựa chọn công nghệ. Kết quả cho thấy, cần có quy trình cụ thể đối với bauxite của từng mỏ. Mỏ “1 tháng 5” và mỏ Tân Rai cần có hai quy trình khác nhau, với các thông số công nghệ khác nhau (áp suất và nhiệt độ hòa tách, nồng độ kiềm trung bình, thời gian hòa tách, tốc độ hòa tách, yêu cầu khử silic v.v.).  Tỷ lệ tổn thất quặng: Trong ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đã nêu rõ “chú ý đúng mức đến việc tiết kiệm tài nguyên”. Đây là một vấn đề quan trọng có liên quan đến việc lựa chọn các giải pháp công nghệ và tính khả thi của dự án, đảm bảo khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên không tái tạo là bauxit. Vì chất lượng quặng bauxite của Tây Nguyên thấp, để áp dụng công nghệ Bayer đòi hỏi phải có khâu nâng cấp chất lượng bauxite bằng công đoạn tuyển-rửa. Theo số liệu nghiên cứu ban đầu (văn bản số 8377/TKV-NT ngày 10/12/2008), hằng năm, chúng ta cần khai thác tới 3,4 triệu tấn bauxite có hàm lượng quặng Al2O3 là 35-39% để tuyển ra 1,6 triệu tấn quặng tinh có hàm lượng Al2O3 là 47-52%. Như vậy, chỉ tính riêng công đoạn “chuẩn bị” này tổn thất quặng đã lên tới 37%. Sau đó sử dụng kiềm NaOH để hòa tách 1,6 triệu tấn quặng tinh để thu được 0,65 triệu tấn alumina với hàm lượng quặng Al2O3 là 98,6%. Như vậy, tỷ lệ tổn thất tài nguyên (quặng Al2O3) trong cả dây truyền công nghệ được áp dụng là rất lớn (tới 49-50%). Cái giá phải trả (tổn thất tài nguyên) như vậy là tương đối cao, còn cao hơn cả tỷ lệ tổn thất than đang được khai thác tại Quảng Ninh hơn 120 năm qua. Vì vậy chúng ta phải đặc biệt quan tâm tính hợp lý của cả dây truyền công nghệ. Tổng tài nguyên than của chúng ta có hàng trăm tỷ tấn, trong khi tổng tài nguyên bauxite của chúng ta chỉ có vài tỷ tấn. Về mặt kinh tế-tài nguyên, theo nguyên tắc để đảm bảo đánh giá đúng hiệu quả kinh tế -xã hội của công nghệ hay của dự án, chúng ta cần đưa chỉ số về tổn thất tài nguyên này được tính thành tiền vào phần “chi phí”.  Vấn đề bùn đỏ: Trong kết luận, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh vấn đề ảnh hưởng tới môi trường của các dự án bauxit: “nếu không được quản lý tốt, không tính đến tác động môi trường thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng mà việc khắc phục phải mất nhiều năm với chi phí tốn kém lớn”. Bùn đỏ có liên quan mật thiết đến vấn đề môi trường và sinh thái. Liên quan đến bùn đỏ có hai vấn đề cần quan tâm, đó là: công nghệ thải bùn đỏ và địa điểm chôn cất bùn đỏ. Nhiều ý kiến cho rằng, việc chọn công nghệ “ướt” là một sai lầm, rất nguy hiểm về môi trường, không cần phải “thí điểm”, mà cần được (và có thể) sửa sai ngay từ bây giờ khi còn chưa muộn. Khái niệm “ướt” ở đây gắn với chất NaOH, chứ không phải gắn với H2O như cách hiểu thiếu khoa học của một số người (gắn với nước mưa). Bãi thải bùn đỏ theo công nghệ “khô” rất khó bị mưa lũ cuốn trôi, ít có nguy cơ bị vỡ đập, chiếm dụng ít diện tích đổ thải, suất đầu tư thấp hơn (tới 30-50%) và bản thân ít độc hại. Còn bãi thải bùn đỏ theo công nghệ “ướt” rất dễ bị mưa lũ cuốn trôi (kể cả sau khi đã được tháo khô), rất dễ bị vỡ đập (vì phải chịu tác động của áp lực thủy tĩnh), chiếm dụng nhiều diện tích hơn (tới 50%-100%), suất đầu tư cao hơn và bản thân bãi thải rất độc hại (đặc biệt là khi chưa kịp tháo khô). Việc chôn cất bùn đỏ gần biển được các nước áp dụng vì như vậy là chúng ta đã vô hiệu hóa được bùn đỏ theo kiểu nôm na cho “kẻ cắp gặp bà già”. Nước biển (có độ pH cũng cao) là môi trường duy nhất “không biết sợ” bùn đỏ. Hay bùn đỏ có tràn ra biển thì cũng như “muối tràn ra biển”.  Chất lượng sản phẩm alumina đã được Bộ Chính trị lưu ý: “sản phẩm phải có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới”. Chất lượng của alumina có liên quan đến 2 nhóm chỉ tiêu chính là hàm lượng, và cỡ hạt. Về hàm lượng, trong báo cáo của Bộ Công thương có công bố hàm lượng Al2O3 trong alumina “made in VN” (là 98,6%). Nhìn chung, hàm lượng tối thiểu của Al2O3 trong alumina dùng cho luyện nhôm là không được nhỏ hơn 98%. Nhưng, chỉ tiêu này là chưa đủ. Chúng ta còn phải quan tâm đến các chỉ tiêu khác (tùy thuộc vào thị trường và mục đích sử dụng của alumina) như hàm lượng của các hợp chất SiO2; Fe2O3; TiO2+V2O5+Cr2O3+MnO; ZnO; Na2O+K2O quy đổi ra Na2O. Về cỡ hạt, tỷ lệ dưới cỡ -45micron phải nhỏ hơn 10%, cỡ hạt trung bình 80-100 micron và trọng lượng riêng bề mặt không nhỏ hơn 35m2/g. Đây là các chỉ tiêu rất quan trọng có ảnh hưởng tới giá bán sản phẩm alumina sau này.  Bộ Chính trị đã chỉ đạo rất rõ: “cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện”. Một vấn đề không kém phần quan trọng có thể và cần được thẩm định (tính toán, xác định chính xác) ngay từ đầu là dòng tiền (“Cash Flow”) của dự án. Nguồn vốn để xây dựng dự án có thể thu xếp được. Nhưng dự án sau khi xây dựng có vận hành được hay không còn phụ thuộc vào dòng tiền thực phải “dương” của dự án. Việc phải đảm bảo dòng tiền là “dương” trong các năm đầu khi chủ đầu tư phải thanh toán nợ vay ngân hàng là yếu tố sống còn của dự án. Thực tế cho thấy, các dự án “có yếu tố nước ngoài” (liên doanh với nước ngoài, và/hoặc vay vốn của nước ngoài) thường bị phía nước ngoài “thâu tóm” một cách nhẹ như lông hồng nếu Cash Flow không dương. Các đối tác nước ngoài thường dùng Cash Flow để thực hiện “diễn biến hòa bình” với chủ đầu tư (ép bán cổ phần hoặc không mua sản phẩm). Ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài” chính là để tránh rủi ro này. Và cũng chính để đảm bảo dòng tiền dương của dự án, trong kết luận của Bộ Chính trị đã nêu rõ “Việc lựa chọn công nghệ là một nội dung quan trọng; yêu cầu là phải sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trên thế giới”.  Bộ Chính trị đã chỉ đạo:“Trong thời gian tới, phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, chế biến alumina, nhôm phải bảo đảm lợi ích trước mắt, lâu dài và bền vững của đất nước”. Đây là một vấn đề rất quan trọng, xuyên suốt trong các tư tưởng phát triển bền vững nền kinh tế xã hội của VN. Đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chúng ta dễ nhận thấy vấn đề “tăng trưởng” đã được xếp sau vấn đề “bền vững”. Liên quan đến vấn đề “trước mắt và lâu dài” chúng ta phải quan tâm đến giá trị năng lượng của bauxite-nhôm. Hiện nay, các quốc gia có thừa nguồn điện rẻ tiền, thường xuất khẩu điện thông qua việc sản xuất nhôm để xuất khẩu (vì nhôm dễ vận chuyển đi xa, còn thủy điện thì không thể truyền tải đi xa được). Thực chất là dùng điện khử oxy trong quặng Al2O3 để thu nhôm kim loại. Đối với một quốc gia rất nghèo về nguồn tài nguyên năng lượng như Việt Nam (thủy điện đã phát triển gần hết tiềm năng; dầu mỏ và khí đốt đang cạn kiệt; than đá khai thác ngày càng khó khăn; uranium có trữ lượng không đáng kể v.v.) chúng ta phải biết coi trọng bauxite như một nguồn tài nguyên năng lượng hóa thạch cho các thế hệ mai sau. Hiện nay, nếu khai thác bauxite chỉ để sản xuất ra alumina và nhôm, chúng ta phải trả giá quá cao (ngoài việc chịu tổn thất tài nguyên không tái tạo tới 50% như nêu trên, với công nghệ hiện tại còn phải tiêu hao tới 14.000-15.000kWh điện để sản xuất 1 tấn nhôm trong khi chúng ta không có đủ nguồn điện rẻ tiền). Nếu chúng ta biết tiết kiệm hoặc để dành tài nguyên khoáng sản bauxite, trong tương lai không xa (khoảng 20-30 năm nữa) với sự ra đời và phát triển của công nghệ nano nhôm thì bauxite Tây Nguyên chính là lời giải duy nhất có tính khả thi cao cho bài toán an ninh năng lượng của VN. Nhôm kim loại được các nhà khoa học coi là vật tích năng lượng quý nhất, vì quá trình oxy hóa của nhôm kim loại (quá trình ngược lại của việc luyện alumina thành nhôm) sẽ giải phóng một lượng nhiệt khổng lồ theo phương trình hóa học: 4Al + 3O2 → 2Al2O3 – 30,91 МJ/kg; Đây chính là nguyên lý hoạt động của loại bom Napal. Hiện nay đã có những thử nghiệm thành công của ô tô chạy bằng nhôm. Đứng thứ hai sau nhôm là Silic (Si) cũng có trong thành phần bỏ đi của bauxite với công thức Si + O2 → SiO2 – 30,50 МJ/kg. Tuy nhiên, về mặt công nghệ, nhôm có ưu việt hơn hẳn so với silic. Bột nano nhôm được xếp đầu bảng về năng lực phản ứng và hiệu quả tích năng lượng cao (nếu bạn đọc quan tâm, chúng tôi xin nêu rõ vấn đề này trong một bài riêng). Công nghệ nano hiện nay đang được nhiều nước ưu tiên phát triển. Công nghệ nano than (carbon) ở VN đã thu được những kết quả đầy hứa hẹn. Chúng tôi tin rằng công nghệ nano nhôm ở VN cũng hoàn toàn có thể được đẩy mạnh triển khai nghiên cứu và ứng dụng.  Cuối cùng, chúng tôi cho rằng, để thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, chúng ta cần phải thực sự cầu thị, có tinh thần trách nhiệm cao, với ý thức chính trị đúng mức, và có hiểu biết cụ thể các khía cạnh có liên quan về công nghệ-kỹ thuật-môi trường-kinh tế-xã hội. Vì vậy, nếu được kiến nghị một lần nữa, chúng tôi xin mạnh dạn kiến nghị với Bộ Công thương và VUSTA xem xét tổ chức một cuộc Hội thảo “lượt về” (vòng hai) với chủ đề “Xây dựng các giải pháp để thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả các ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về triển khai các dự án bauxite-alumina-nhôm của VN”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề không nằm ở công nghệ mà ở kĩ năng      Sau khi giới thiệu khái niệm “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” tại hội nghị thường niên vào năm 2016, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã có một báo cáo về tác động của cuộc cách mạng này lên lao động và nghề nghiệp trong tương lai, The Future of Jobs (Tương lai của việc làm). Báo cáo này dựa trên việc phân tích dữ liệu điều tra từ những lãnh đạo của 371 công ty, tập đoàn lớn trên thế giới về những kì vọng của họ ở nhân viên trong những năm tới. Tia Sáng đã có một cuộc trao đổi với anh Till Leopold, Trưởng dự án của sáng kiến về Giáo dục, giới và hệ thống việc làm của WEF, một trong những tác giả chính của báo cáo này về sự thay đổi kĩ năng của người lao động trong tương lai.       Till Leopold.  Điều gì khiến anh ngạc nhiên nhất khi tiến hành báo cáo này?  Khi WEF yêu cầu các tập đoàn đưa ra dự đoán về thời điểm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ thay đổi lao động và việc làm trong tương lai, dựa trên ba lựa chọn cho trước là 2020-2030, 2030-2040, 2040-2050, đa số đều lựa chọn phương án đầu tiên và nói rằng họ đã bắt đầu thực hiện kế hoạch và chiến lược đào tạo để thay đổi nguồn nhân lực của mình.  Hóa ra, tác động của cuộc cách mạng không phải là điều gì mơ hồ hoặc xa xôi mà nó đã xảy ra, dựa trên những gì các công ty hàng đầu thế giới đang chuẩn bị.  Một trong những khám phá quan trọng nhất của báo cáo đó là trung bình 35% kĩ năng cơ bản mà các công ty yêu cầu ở người lao động hôm nay sẽ bị thay đổi vào năm 2020. Nhưng bức tranh điều gì sẽ diễn ra không khiến cho chúng tôi ngạc nhiên bằng thời điểm diễn ra điều đó quá gần và mọi người đều nhận thức quá rõ điều đó.  Báo cáo của anh chỉ ra rằng dưới 50% các lãnh đạo quản lý nhân sự của các công ty tỏ ra tự tin về chiến lược của họ. Vậy thì có tới hơn một nửa không cảm thấy như vậy. Họ có quan điểm nào sai về tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới lao động và việc làm hay không?  Mọi người thường đánh giá quá cao những tác động xảy ra trong ngắn hạn của cuộc cách mạng lần thứ tư nhưng lại coi thường những tác động xảy ra trong dài hạn. Tôi nghĩ rằng hiện tại, những cuộc tranh luận của chúng ta thường nói về một thời điểm nào đó trong một vài năm nữa, sự bùng nổ của tự động hóa sẽ khiến cho hàng loạt các công việc biến mất. Nhưng đến lúc đó, nếu không có gì xảy ra thì chúng ta sẽ bảo nhau rằng: “ồ, thế thì chắc chẳng bao giờ nó xảy ra đâu”.  Như vậy, thì chúng ta cứ chờ đợi xem liệu chiến lược ngày hôm qua và ngày hôm nay liệu có đủ tốt cho đến một thời điểm bất ngờ tất cả mọi thứ thay đổi hay không. Và nếu thời điểm đó không diễn ra như những gì chúng ta tưởng tượng thì chúng ta cứ theo cách cũ mà làm.      Nhưng tôi nghĩ thay đổi sẽ không ập đến như vậy và thái độ này thật ra rất nguy hiểm. Nó không chỉ ở quy mô doanh nghiệp mà cả quy mô quốc gia nữa.  Ở quy mô doanh nghiệp, nhiều nơi không nghĩ đến đầu tư cho việc đào tạo và nâng cấp kỹ năng, thúc đẩy việc học liên tục của người lao động. Mà con người là tài sản lớn nhất của một tổ chức và nếu họ không được chuẩn bị, sẽ có lúc công ty đối mặt với cú sốc trong tương lai khi các mô hình kinh doanh thay đổi. Điều mà thực ra chúng ta đã nhìn thấy ở nhiều nền công nghiệp rồi.  Ở quy mô quốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, các nhà chính trị thường nghĩ rằng họ có thể dựa vào lao động giá rẻ. Nhưng, điều đó không phải là ưu thế cạnh tranh bền vững để phát triển một quốc gia. Sự phát triển công nghệ trên thế giới sẽ nhanh chóng khiến cho lợi thế này biến mất.      Nhiều ý kiến cho rằng, không phải là công nghệ sẽ khiến cho người lao động thất nghiệp mà là do kĩ năng của họ không còn phù hợp nữa, điều đó có đúng không?  Tác động ngay lập tức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến việc làm chính là sự thay đổi yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp đối với người lao động. Công nghệ mới không chỉ bao gồm robot hay trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra tác động mà nhiều công nghệ khác nữa, như Internet của vạn vật mà nhờ đó bạn có thể nhanh chóng phát hiện ra chính xác lỗi trong máy móc, dây chuyền sản xuất và sửa chữa nó theo thời gian thực. Nếu có kĩ năng phù hợp trong việc tương tác với máy móc thì năng suất và hiệu quả công việc của một người sẽ tăng lên rất nhiều.  Công nghệ sẽ lấy đi những công việc có tính lặp lại và tạo điều kiện cho mọi người tập trung vào những công đoạn tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn trong chuỗi sản xuất của mình. Nhưng điều đó chung quy phụ thuộc vào việc họ có kỹ năng phù hợp để làm công đoạn đó không, để tương tác với công nghệ không. Vấn đề ở đây, vì vậy không phải là công nghệ sẽ thay thế con người như nhiều giả thuyết đưa ra mà những cuộc phỏng vấn với chuyên gia của WEF chỉ ra rằng, nguy cơ mất việc của người lao động là do họ không bắt kịp với những kĩ năng mới để tận dụng công nghệ, sẽ có những nguy cơ liên quan đến khoảng cách xã hội giữa những người có kĩ năng phù hợp và sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và những người bị “bỏ lại” vì không có những kĩ năng đó.    Sự thay đổi các kỹ năng ở 10 lĩnh vực trong nền kinh tế. Nguồn: Điều tra của báo cáo Future of Jobs, Diễn đàn kinh tế thế giới.  Tuy nhiên, chúng ta có thể lựa chọn để điều đó không xảy ra nhờ vào sự hợp tác của chính phủ, doanh nghiệp và xã hội. Hành động của chúng ta hôm nay sẽ quyết định bức tranh của ngày mai. Chúng ta cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về những tác động tiêu cực mà sự phát triển của công nghệ mang lại trong tương lai và suy nghĩ về việc đầu tư cho con người, trang bị cho họ những kĩ năng để sẵn sàng với điều đó.  Liệu chúng ta có thể nói về những kĩ năng mà mọi người cần phải có trong tương lai không? Tôi nhớ rằng có ba kĩ năng đó là kĩ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giải quyết những vấn đề phức tạp.  Đó là cách chúng tôi phân loại trong báo cáo “Tương lai nghề nghiệp”. Đúng thế. Tuy nhiên, chúng ta thấy trong hầu hết các công việc, mọi người đều cần có những kỹ năng cơ bản về công nghệ. Họ cần phải hiểu về hoạt động của công nghệ đấy và làm việc với những công nghệ đấy như thế nào, cụ thể hơn, đó là kỹ năng mà chúng tôi gọi là tư duy phê phán (critical thinking) và kỹ năng giải quyết vấn đề. Đó là những gì cần thiết trong một thế giới có quá nhiều thông tin và nhiều công nghệ trong tương lai. Giống như, khi có rất nhiều thông tin sẵn có trên internet, bạn phải biết chọn lọc và đọc những gì có chất lượng cao.       Các tác giả còn nói trong báo cáo là những ngành nghề vốn tập trung vào khía cạnh công nghệ sẽ đòi hỏi nhiều kĩ năng tương tác, làm việc với người khác. Bởi vì trong tương lai, công nghệ sẽ tràn ngập quanh chúng ta, họ vừa phải “xóa mù” cho cộng đồng về công nghệ vừa phải học hỏi từ người khác kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nữa.  Vậy là, chúng ta thấy phía nào cũng cần phải thay đổi kĩ năng, những người làm về công nghệ thì cần kĩ năng xã hội, những người làm về lĩnh vực xã hội thì cần bổ sung những kĩ năng về công nghệ để đối mặt với một môi trường mà thông tin và công nghệ phổ biến cho tất cả mọi người.   Gần đây một nhà kinh tế học đến từ Thụy Điển, Goran Roos, chuyên gia về vốn trí tuệ tới Việt Nam. Ông có nói rằng, trong tương lai, chỉ còn những công việc đòi hỏi kĩ năng cực thấp và kĩ năng cực cao là còn tồn tại, còn những ngành có năng lực trung bình thì hoàn toàn biến mất.  Đó là điều tôi vừa nói lúc nãy, đó cũng là nguy cơ mà chúng ta có thể thấy trước – hai thái cực, hai nhóm người, một bên thì có kĩ năng tương tác với công nghệ, sẽ có những kĩ năng cao và sẽ có rất nhiều người không có những kĩ năng đó, bị lề hóa và tụt lại phía sau.  Chúng tôi vừa công bố một báo cáo mới về nhân lực toàn cầu 2017, một báo cáo hằng năm của chúng tôi. Theo đó, chúng tôi đánh giá nguồn nhân lực các nước dựa trên các khía cạnh khác nhau. Theo quan điểm của chúng tôi, nguồn nhân lực không phải là con người mà là kĩ năng và kiến thức của họ.  Việt Nam xếp thứ 6 trên thế giới về số lượng người lao động, tính cả số người trẻ và số người già. Cũng không có khoảng cách lớn về giới trong việc tham gia lực lượng lao động. Hơn nữa, tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam rất thấp. Nói chung Việt Nam là một quốc gia chăm chỉ.  Một khía cạnh khác là know-how, đây là là kĩ năng để một người có thể hoạt động trong môi trường công nghệ và trong một nền kinh tế phức tạp. Về điểm này, Việt Nam chỉ xếp thứ 120 trên 130 nước.     Vấn đề ở Việt Nam không phải là mọi người chưa đủ chăm chỉ, mà sẽ có nguy cơ người lao động bị tụt lại phía sau vì không phát triển những kĩ năng cần thiết và phù hợp cho tương lai. Tôi muốn nhấn mạnh lại một lần nữa là báo cáo của chúng tôi chỉ là ghi nhận của hiện tại nhưng nếu không có gì thay đổi, đó sẽ là tương lai của các bạn. Chính phủ, khối doanh nghiệp và xã hội phải cùng ngồi với nhau và thay đổi điều đó. Rất nhiều know-how và kĩ năng nghề nghiệp của người lao động cần sự phối hợp của chính phủ và doanh nghiệp để phát triển.  Ở Việt Nam hiện nay, khối tư nhân đang vận động cho giáo dục STEM nhưng anh có nghĩ rằng phương pháp giáo dục mới này đã đủ để chuẩn bị thế hệ trẻ cho những thay đổi công nghệ trong tương lai?  Tôi nghĩ có hai khía cạnh của câu trả lời cho câu hỏi này. Khía cạnh thứ nhất, mọi người đã nói về nó, đó là kĩ năng và năng lực, mọi người phải có kiến thức cơ bản và thành thạo nhất định về mặt công nghệ. Tuy nhiên đó không phải là toàn bộ câu chuyện, phải không?  Trên thực tế tư duy phê phán để đánh giá những thông tin xung quanh có lẽ còn quan trọng hơn những kiến thức công nghệ thuần túy và ngay cả những kiến thức công nghệ cũng thay đổi một cách chóng mặt. Rất có thể kiến thức bốn năm học đại học để làm kĩ sư sẽ có phần lạc hậu ngay sau khi bạn tốt nghiệp. Vấn đề không nằm ở việc học nhiều kĩ năng về công nghệ mà vấn đề là xây dựng những năng lực cơ bản (để có thể tự học những cái đó).  Chúng tôi nghĩ rằng các hệ thống giáo dục cho đến thời điểm này vẫn dựa trên một con đường học hành đi từ phổ thông đến đại học và đến khi học đại học thì bạn sẽ học những kĩ năng cần thiết cho cả đời. Nhưng điều này không còn phù hợp và không thể duy trì trong thế giới ngày nay nữa. Chúng ta cần một hệ thống hỗ trợ việc học suốt đời, cho tất cả mọi người, ở tất cả mọi lứa tuổi. Hiện nay cũng có một vài thử nghiệm ở một số trường đại học tại Silicon Valley, Mỹ, trong đó họ thay đổi việc học đại học từ ba năm thành học các khóa học nhỏ liên tục trong suốt 10 năm (nhưng bạn vẫn có thể nhận bằng trước đó). Cũng có nhiều phong trào học online, cấp chứng chỉ và chứng nhận cho những khóa chuyên sâu, ngành hẹp. Chúng thúc đẩy bạn tiếp tục việc học hành, thoát khỏi quan điểm trường đại học trang bị tất cả cho bạn trong vòng ba năm và bạn không cần thiết phải học gì thêm sau khi tốt nghiệp.  Có rất nhiều thứ cần học đối với những người đã có công ăn việc làm. Thực ra quá trình tự học vẫn có thể diễn ra một cách tự nhiên trong không gian làm việc nhưng điều đó tùy thuộc vào ý thức của mỗi người. Tuy nhiên, đòi hỏi tất cả người lao động phải học và nâng cao kĩ năng của mình sẽ là quá sức của họ nếu không cho họ bất cứ một hỗ trợ nào khác. Họ còn cần thời gian và tâm sức gia đình, cuộc sống riêng tư nữa chứ. Vậy làm thế nào để giải quyết điều này? Tôi nghĩ đây là một yêu cầu cho chính phủ và doanh nghiệp phải cùng hợp tác để đưa ra những ý tưởng về giáo dục, đưa ra một mô hình khuyến khích và trao quyền cho mọi người để họ có thể học như vậy.  Cảm ơn anh vì cuộc đối thoại này!   Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề lập pháp nhìn từ pháp luật đất đai      Thống kê của Thanh tra Chính phủ được công bố tháng 12/2011 cho thấy, số hồ sơ khiếu nại về đất đai chiếm tỉ lệ không dưới 80% tổng số hồ sơ khiếu nại phát sinh của cả nước, trong đó có tới 50% khiếu nại đúng. Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, đó là chỉ dấu rất rõ ràng cho thấy hệ thống pháp luật về đất đai đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng từ thực tiễn.      Tính bất ổn định của một đạo luật quan trọng  Đất đai là vấn đề hệ trọng của bất cứ quốc gia nào và sự ổn định của vấn đề đất đai liên quan trực tiếp đến sự ổn định của toàn xã hội. Lịch sử Việt Nam cho thấy, đất đai luôn là một trong những vấn đề chính trong các cuộc biến động lớn của xã hội. Trong cương lĩnh đấu tranh giành độc lập dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề đòi lại ruộng đất về cho dân cày luôn là một trụ cột quan trọng, và cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thành công nhờ đưa ra những khẩu hiệu mang tính cách mạng về ruộng đất như vậy.  Từ năm 1987 đến nay, Nhà nước đã có những nỗ lực khổng lồ trong việc luật hóa các quan hệ xã hội liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, nỗ lực này đã không đưa đến một hệ thống các văn bản pháp luật đất đai hoàn chỉnh và ổn định mà trong gần 25 năm qua, đã có tới 3 văn bản luật đất đai mới được ban hành, cùng với 4 lần bổ sung, sửa đổi. Tính trung bình, cứ khoảng 4 năm một lần lại có những thay đổi lớn về chính sách đất đai.   Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho rằng: “Sở dĩ pháp luật về đất đai thay đổi thường xuyên như vậy là vì chúng ta còn dùng dằng, không dứt khoát giữa hai hệ chuẩn: hệ chuẩn kinh tế kế hoạch hóa tập trung (KTKHHTT), gắn với chế độ sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất nói chung và đất đai nói riêng; và hệ chuẩn kinh tế thị trường (KTTT), gắn với đòi hỏi phải bảo vệ quyền tư hữu tài sản”. Đây là vấn đề cốt lõi, quyết định sự ổn định của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai. Một mặt, chúng ta kế thừa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai từ Hiến pháp 1980 và trên thực tế đã kiểm soát quyền sử dụng, tước đoạt quyền định đoạt của các chủ sở hữu đất trước đây; mặt khác, chúng ta quy định quyền của người sử dụng đất gần như tiệm cận với quyền sở hữu đất (có thể chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, cho thuê lại, hoặc dùng quyền sử dụng đất làm tài sản đảm bảo,…) để làm cơ sở cho sự vận hành của nền KTTT. Do vậy, cho dù pháp luật có gọi tên quan hệ sở hữu về đất đai là gì đi chăng nữa, trong tâm lý và xử sự của người dân, họ vẫn tự coi mình là “chủ sở hữu” chứ không phải “chủ sử dụng”. Trong khi đó, phạm vi quyền hạn của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai lại quá lớn, khiến cho người dân luôn mang theo những bức xúc và canh cánh một nỗi lo sợ mang tên “thu hồi đất”. Khi pháp luật đất đai không thừa nhận một thực tế đang diễn ra phổ biến và một yêu cầu bức bách của nền kinh tế để điều chỉnh thì không thể tìm kiếm một sự ổn định nào, dù là nhỏ.         Hiện nay, để Luật đất đai đi vào được cuộc sống, cần đến hơn 120 văn bản hướng dẫn. Cụ thể hơn, vào năm 2008, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã đưa ra một con số thống kê cho biết, cứ 1 trang Luật Đất đai thì phải “cõng” tới 19,5 trang văn bản hướng dẫn thi hành.               ———————-              Việc quy định chung chung, đồng thời giao thẩm quyền quá lớn cho Chính phủ tạo ra nguy cơ cho việc hướng dẫn tùy tiện và tiềm ẩn khả năng dẫn đến lạm quyền, trong khi năng lực giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân lại không tương xứng.         Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi từ nền KTKHHTT sang nền KTTT cũng làm thay đổi các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai và kéo theo đó là đòi hỏi hệ thống pháp luật phải thay đổi theo. TS. Nguyễn Sĩ Dũng, với thâm niên theo sát hoạt động lập pháp của Quốc hội trong nhiều năm qua, còn cho rằng: “Nếu nói chính trị là nghệ thuật của cái có thể, thì vào những thời điểm ban hành các văn bản luật đất đai, khả năng lập pháp của Quốc hội chỉ dừng lại ở mức như vậy”.   Trong bối cảnh hiện nay, nếu coi tính ổn định là một tiêu chí để đánh giá chất lượng của một hệ thống pháp luật, thì pháp luật về đất đai, với việc đứng trên những cơ sở nội dung và kỹ thuật bấp bênh nêu trên, đang tỏ ra là một hệ thống mang nhiều hoài nghi về chất lượng.   Lập pháp ủy quyền và những hệ lụy  Trong 146 điều của Luật Đất đai 2003, chúng ta dễ dàng nhận thấy có đến 40 điều, khoản có nội dung “Chính phủ quy định chi tiết”, “Chính phủ quy định cụ thể”, hay “do Chính phủ quy định”. Hoạt động lập pháp ủy quyền này dẫn đến hai hệ lụy:  Một là, Luật Đất đai bị “treo” khi đến ngày có hiệu lực (1/7/2004) mà vẫn chưa có văn bản hướng dẫn của Chính phủ. Cho đến ngày 29/10/2004, nghị định đầu tiên hướng dẫn Luật Đất  đai mới được ban hành và phải mất thêm hơn 1 tháng sau đó, 4 nghị định khác mới lần lượt ra đời. Tình trạng đình trệ các giao dịch và xử lý hồ sơ liên quan đến đất đai tại các cơ quan Nhà nước trong nhiều tháng sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực là một bài học lớn đối với hoạt động lập pháp ủy quyền. Gần đây nhất, vào năm 2009, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng bị “treo” trong gần 3 tháng khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản (ban hành ngày 19/6/2009, có hiệu lực từ 1/8/2009) phải chờ nghị định ban hành mẫu giấy mới. Hiện nay, để Luật Đất đai đi vào được cuộc sống, cần đến hơn 120 văn bản hướng dẫn. Cụ thể hơn, vào năm 2008, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã đưa ra một con số thống kê cho biết, cứ 1 trang Luật Đất đai thì phải “cõng” tới 19,5 trang văn bản hướng dẫn thi hành.         Việc xây dựng một đạo luật chất lượng, ổn định về đất đai đòi hỏi phải gắn liền với việc thiết kế mô hình quản trị quốc gia, trong đó, nguyên tắc “của dân, do dân và vì dân” được tôn trọng triệt để và có cơ chế hiệu quả để thực thi.         Hai là, việc quy định chung chung, đồng thời giao thẩm quyền quá lớn cho Chính phủ tạo ra nguy cơ cho việc hướng dẫn tùy tiện và tiềm ẩn khả năng dẫn đến lạm quyền, trong khi năng lực giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân lại không tương xứng. Thu hồi đất là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất hiện nay và có dấu hiệu cho thấy nội dung hướng dẫn thi hành đã được mở ra hơi rộng. Vốn dĩ, khoản 1, điều 40 Luật Đất đai 2003 quy định: “Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ”. Đến Nghị định 181/2004/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác, Chính phủ đã diễn giải nội dung “các dự án đầu tư lớn” thành hơn 50 lĩnh vực khác nhau, trong đó có cả những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều khả năng tranh chấp như “dự án xây dựng khu nhà ở”, “dự án xây dựng công trình dân dụng khác”,… Bản thân trường hợp thu hồi đất cho mục đích phát triển kinh tế đã là quy định không có trong Hiến pháp (chỉ cho phép trưng mua, trưng dụng đất cho mục đích an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia), việc diễn giải nội dung này của các cơ quan chấp hành – vốn gắn với nhiều lợi ích có liên quan, càng khiến cho nguy cơ lạm quyền trong cả công tác hướng dẫn lẫn thực thi trở nên rõ ràng hơn.  TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, “một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Quốc hội trao nhiều quyền lập pháp cho Chính phủ như vậy là tại thời điểm thông qua Luật Đất đai, các nhà làm luật không đưa ra được giải pháp pháp lý phù hợp, hoặc chính sách khi đó chưa rõ ràng nên phải tìm cách ủy quyền cho Chính phủ”. Đất đai vốn dĩ là lĩnh vực phức tạp và trong điều kiện năng lực lập pháp của Quốc hội còn một số hạn chế như hiện nay, dường như không có nhiều giải pháp hơn là đẩy trách nhiệm lập pháp cho cơ quan chấp hành.   Những nền tảng của một đạo luật hoàn chỉnh  Theo dự kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến tháng 6/2012 cơ quan này sẽ hoàn tất dự thảo Luật Đất đai sửa đổi và trình Quốc hội vào tháng 8/2012. Đồng thời, công tác tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 cũng đang được ráo riết triển khai nhằm trình dự thảo Hiến pháp ra Quốc hội vào cuối năm 2012 và ban hành vào tháng 10/2013. Đây là cơ hội không thể tốt hơn để Việt Nam khắc phục những khuyết tật trong hệ thống pháp luật liên quan đến đất đai, không những để tránh việc phát sinh một vụ án Đoàn Văn Vươn thứ hai, mà còn để tháo gỡ mọi trở ngại và tạo động lực mới cho nền kinh tế đột phá. Cơ hội này sẽ không được tận dụng tốt, nếu không xây dựng được hai cơ sở nền tảng cho việc thiết kế một đạo luật đất đai có chất lượng:  Một là, dứt khoát về hệ chuẩn, thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai để các quan hệ sở hữu này phù hợp với các quy chuẩn của nền KTTT.   Hai là, thiết kế mô hình quản trị quốc gia hiệu quả, hướng tới giám sát chặt chẽ việc sử dụng quyền lực, đồng thời đặt hệ thống tư pháp ở vị trí thực sự độc lập. Về cơ bản, luật khung (với ý nghĩa là văn bản quy định các nguyên tắc, cơ chế chung) và cơ chế ủy quyền lập pháp vẫn cần thiết trong hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay để một mặt, đảm bảo tính ổn định của văn bản luật, mặt khác đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt trong hoạt động áp dụng. Do vậy, một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả sẽ đảm bảo hạn chế được sự lạm quyền.   Đất đai vốn dĩ là tài sản đặc biệt, gắn với những giá trị vật chất và tinh thần đặc biệt. Đồng thời nó cũng gắn với những tiêu cực đặc biệt mà trong đó, tham nhũng đất đai là vấn đề nổi cộm hiện nay. Việc xây dựng một đạo luật chất lượng, ổn định về đất đai đòi hỏi phải gắn liền với việc thiết kế mô hình quản trị quốc gia, trong đó, nguyên tắc “của dân, do dân và vì dân” được tôn trọng triệt để và có cơ chế hiệu quả để thực thi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề “xe không chính chủ” và những hệ lụy      Về quy định xử phạt đối với chủ sở hữu phương tiện “không chuyển quyền sở hữu theo quy định” mới đây, tác giả Nguyễn Minh Tuấn cho rằng, trừng phạt thật nặng, tăng mức phạt thật cao  đối với người vi phạm là đi ngược lại những nguyên tắc căn bản của một  nhà nước pháp quyền, một xã hội văn minh, hiện đại. Luật pháp muốn được  thực hiện nghiêm minh trước hết phải thấu tình, đạt lý, người dân phải  thấy được lợi ích cho bản thân, cho cộng đồng mà qua đó tự nguyện chấp  hành.&#160;      Ngày 19/9/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị  định71/2012/NĐ-CP1 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định  34/2010/NĐ-CP2  về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông  đường bộ. Có  rất nhiều ý kiến khác nhau của người dân về vấn đề này,  trong đó có  không ít ý kiến tỏ ra bức xúc. Vậy bản chất của qui định này  là gì,  xung quanh qui định này phát sinh những vấn đề pháp lý nào, cần  phải  làm gì để giải quyết? Bài viết ngắn dưới đây xin được góp bàn về  chủ đề  này.  –    Chỉ xử phạt đối với chủ sở hữu phương tiện mà “không chuyển quyền sở hữu theo quy định”  Trước hết cần khẳng định rằng Nghị định 71/2012/NĐ-CP về căn bản không khác nhiều so với Nghị định 34/2010/NĐ-CP. So với Nghị định34/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì không có sự thay đổi về việc xử phạt đối với hành vi “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định”, mà chỉ có sự thay đổi về mức phạt, cụ thể là 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô; 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô3. Hay nói cách khác, về bản chất qui định xử phạt đối với hành vi “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” là không mới. Nội dung của qui định này là người nào sở hữu xe do mua bán, trao đổi nhưng không thực hiện nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu phương tiện với cơ quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật mới bị xử phạt.   Điểm mấu chốt mà cả Nghị định 34/2010/NĐ-CP và 71/2012/NĐ-CP của Chính phủ đều quy định là chỉ xử phạt đối với “chủ xe”. Ở đây “chủ xe” cần được hiểu là “người chủ sở hữu phương tiện giao thông” – người có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với phương tiện giao thông. Hay nói cách khác, những trường hợp như người có tên trong giấy đăng ký ô-tô, xe máy, nhưng đã chuyển giao quyền sở hữu; người mua lại xe rồi bán cho người khác; người mượn xe và đang chiếm hữu, sử dụng, lái chiếc xe đó trên đường…đều không phải là “người chủ sở hữu phương tiện giao thông”.   Nghị định 71/2012/NĐ-CP không hề có qui định bắt buộc phải mang Giấy đăng ký xe đúng tên. Chẳng hạn, nếu bạn mượn xe của người khác, có đủ giấy tờ và tham gia giao thông, thì bạn sẽ trở thành “người điều khiển phương tiện giao thông”, mà không phải là người chủ sở hữu phương tiện hay “chủ xe” theo cách dùng từ của Nghị định 71/2012/NĐ-CP. Căn cứ vào qui định này, cảnh sát giao thông cũng không có thẩm quyền để xử phạt bạn. Hay nói cách khác, những trường hợp như vợ đi xe của chồng, con đi xe của bố mẹ, tài xế lái xe theo hợp đồng cho hãng, mượn xe của một người bạn…sẽ không bị xử phạt theo qui định của Nghị định 71/2012/NĐ-CP này.   –    Vấn đề pháp lý đặt ra  Văn bản pháp luật được ban hành sau không hẳn luôn tiến bộ hơn văn bản ra đời trước đó và cũng chưa nói lên được liệu bất cập của văn bản pháp luật trước đã được giải quyết thấu đáo hay chưa. Cụ thể hơn: Việc không có thay đổi về qui định xử phạt đối với hành vi “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” tại Nghị định 71/2012/NĐ-CP so với Nghị định 34/2010/NĐ-CP không có nghĩa rằng qui định này không còn bất cập và không đáng để bàn thảo tiếp.  Còn khá nhiều những vấn đề bỏ ngỏ,bất cập tại Nghị định 71/2012/NĐ-CP, chẳng hạn như:     1)    Nghị định 71/2012/NĐ-CP của Chính phủ nêu qui định xử phạt đối với trường hợp “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định”, nhưng lại không qui định rõ căn cứ nào để xác định chiếc xe mà một người đang sử dụng là xe mượn hay là xe mà họ là người sở hữu nhưng không làm thủ tục sang tên đổi chủ?    2)    Trong trường hợp một chiếc xe đã được mua bán nhiều lần, không chuyển quyền sở hữu,việc xử lý sẽ được tiến hành như thế nào? Không phải chỉ riêng người mua xe trốn thuế trước bạ, mà cả người bán cũng trốn thuế thu nhập cá nhân. Việc chỉ xử lý người mua liệu có phù hợp? Phải chăng với qui định này thì tất cả trách nhiệm sẽ bị đổ dồn vào người mua xe nhưng không chuyển quyền sở hữu, không nộp thuế trước bạ, còn trách nhiệm người có tên trong giấy đăng ký xe máy, ô-tô nhưng đã bán xe, người mua lại xe rồi bán cho người khác, không nộp thuế thu nhập cá nhân thì không xử lý? Nếu muốn xử lý thì làm thế nào để truy tìm được người có tên trong giấy đăng ký xe máy, ô-tô nhưng đã chuyển giao quyền sở hữu hay người mua lại xe rồi bán cho người khác?    3)    Vì qui định này mà người đi mượn xe chắc chắn sẽ bị gây phiền hà (vì lý do sử dụng xe “không chính chủ”). Làm thế nào để tránh được những rắc rối, phiền nhiễu này cho người dân?    4)    Việc xác minh chính xác“người chủ sở hữu phương tiện giao thông”hiện nay là rất khó khăn. Người điều khiển phương tiện cần phải có thêm những loại giấy tờ gì để chứng minh rằng một chiếc xe là xe đi mượn? Làm thế nào để vừa thực hiện nghiêm minh, không gây phiền hà cho người dân, mà vẫn ngăn chặn được cả trường hợp người sở hữu không làm thủ tục sang tên đổi chủ giả mạo giấy tờ để khỏi bị xử lý theo Nghị định 71/2012/NĐ-CP?    5)    Số lượng xe chưa sang tên đổi chủ hiện nay ước tính phải lên tới 40% lượng xe lưu thông.Nếu phải xử phạt tất cả các trường hợp vi phạm, thì ngân sách nhà nước sẽ phải bỏ ra thêm bao nhiêu tiền và cần phải có thêm bao nhiêu cảnh sát giao thông để làm nhiệm vụ này? Qui định gấp gáp như vậy liệu có khiến cảnh sát giao thông vừa thêm nhiều việc, vừa gây khó cho dân, vừa dễ khiến tình trạng tham nhũng, mãi lộ thêm trầm trọng hơn không?    –    Một vài đề xuất cụ thể      Việc chuyển quyền sở hữu phương tiện giao thông như mô tô, xe máy là một việc làm rất bình thường, được thực hiện ở hầu hết các quốc gia hiện nay.   Muốn người dân tự nguyện thực hiện các qui định pháp luật thì cần phải làm nhiều việc, nhưng trước tiên cần phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân hiểu được ý nghĩa tích cực của qui định đó. Tôi cho rằng:  –    Ý nghĩa tích cực trước tiên của qui định này là bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chính người có quyền sở hữu tài sản là phương tiện giao thông;   –    Ý nghĩa tích cực thứ hai là đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước, đặc biệt trong trường hợp xử lý các vụ án hình sự hoặc tai nạn giao thông được thuận lợi, nhanh chóng. Đảm bảo tốt công tác quản lý nhà nước cũng là vì lợi ích của nhân dân. Việc đẩy lùi tình trạng ách tắc giao thông như hiện nay là mong muốn của Chính phủ và toàn dân. Thông qua việc đăng ký này, việc quản lý thông tin của người tham gia giao thông chắc chắn sẽ tốt hơn. Có quản lý được thông tin của người tham gia giao thông mới có thể xử lý được vi phạm giao thông. Sắp tới tại các tuyến đường sẽ gắn camera để xác định người vi phạm, việc làm này cá nhân tôi cho rằng rất văn minh, rất nên làm, bởi lẽ nó sẽ vừa góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông của người dân, vừa góp phần xử lý chính xác người vi phạm, vừa góp phần giảm thiểu lực lượng cảnh sát giao thông và vừa góp phần giải quyết vấn nạn ách tắc giao thông hiện nay. Khi người dân đã hiểu, thấy được ý nghĩa, hiệu quả thiết thực, thì chắc chắn việc thực thi sẽ dễ dàng hơn.  Việc đăng ký sở hữu đối với những tài sản đặc biệt trong đó có mô tô, ô tô là đúng, phù hợp, nhưng áp dụng một cách đột ngột, trong khi chưa có Thông tư hướng dẫn, chưa rõ phải xử lý như thế nào rõ ràng là không phù hợp và thiếu đồng bộ. Tình trạng không chuyển quyền sở hữu phương tiện giao thông lan tràn như hiện nay đó là hệ quả của một thời gian dài buông lỏng công tác quản lý. Muốn luật pháp được thực hiện nghiêm minh, tôi nghĩ không thể vội vã, mà cần có sự chuẩn bị, lên các phương án và lộ trình thực hiện kĩ càng hơn.  Mục đích xử phạt đối với trường hợp “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” là để ngăn chặn việc trốn thuế khi sang tên đổi chủ. Ngăn chặn trốn thuế thì cũng nên đặt ngược lại vấn đề là liệu chính sách thuế đã phù hợp chưa, bất cập ở chỗ nào, ở qui định hay ở khâu thực hiện để tháo gỡ. Tôi cho rằng lệ phí trước bạ hiện nay theo qui định tại Nghị định số 45/2011/ND-CP  hiện hành là quá cao. Việc cần làm hiện nay là phải giảm lệ phí trước bạ, đồng thời cải cách thủ tục, giấy tờ sao cho đơn giản, thông thoáng, thuận tiện đối với người dân. Giảm lệ phí, thủ tục đơn giản, người dân chấp nhận, tuân thủ, nhà nước thu được thuế, chắc sẽ là cách làm khôn ngoan hơn việc qui định một mức thuế trên trời, còn người dân thì tìm cách trốn thuế, hệ quả là nhà nước vẫn thất thu và người dân thì vẫn tìm đủ mọi cách để “lách luật”.  Trừng phạt thật nặng, tăng mức phạt thật cao đối với người vi phạm là đi ngược lại những nguyên tắc căn bản của một nhà nước pháp quyền, một xã hội văn minh, hiện đại. Luật pháp muốn được thực hiện nghiêm minh trước hết phải thấu tình, đạt lý, người dân phải thấy được lợi ích cho bản thân, cho cộng đồng mà qua đó tự nguyện chấp hành. Khi xây dựng các văn bản pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, một lĩnh vực liên quan mật thiết đến lợi ích của người dân, nhà làm luật cần tham khảo kĩ cách làm của những nước văn minh hiện nay, tính toán lộ trình thực hiện phù hợp và quan trọng nhất là cần tham khảo ý kiến của người dân. Nhà làm luật có đặt mình vào vị trí người dân, hiểu, cảm thông và chia sẻ với những bức xúc của người dân, mới có thể đưa ra được những qui định gần gũi, thiết thực và vì thế qui định ấy mới có khả năng được thực thi đầy đủ trên thực tế.  —  1 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2/ 4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, ban hành ngày 19/9/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 10/11/2012.  2 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ban hành ngày 2/4/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2010.  3 So sánh hai qui phạm này ta thấy: Nghị định 34/2010/NĐ-CP, tại Điều 33 Khoản 1 mục a và Khoản 4 mục đ có qui định: “1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây: […] a) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định; 4. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây: đ) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.” Sửa đổi, bổ sung Điều khoản này, Điều 1 Khoản 8 Nghị định 71/2012/NĐ-CP của Chính phủ qui định: “[…] 3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây: […] e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.”; “ […] 6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây: […] c) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định.”  4 Nghị định số 45/2011/ND-CP của Chính phủ về lệ phí trước bạ, ban hành ngày 17/6/2011, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2011.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vận hành chế độ trách nhiệm chính trị      Trách nhiệm chính trị là chế độ trách nhiệm đòi hỏi các quan chức (chính trị) phải có được sự tín nhiệm của nhân dân hoặc của những người đại diện cho nhân dân. Còn tín nhiệm thì còn chức quyền, hết tín nhiệm thì hết chức quyền.      Khi một quan chức tuyên bố sẵn sàng chịu trách nhiệm chính trị trước Quốc hội thì điều đó có thể hiểu như sau: “Nếu Quốc hội không tín nhiệm, tôi sẵn sàng từ chức”.     Sự tín nhiệm của nhân dân là điều kiện quan trọng nhất đối với chế độ trách nhiệm chính trị. (Đây cũng là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm tính chính danh, tính hợp pháp của quyền lực chính trị). Tuy nhiên, đo đếm sự tín nhiệm của nhân dân khá khó khăn và tốn kém về mặt kỹ thuật.       TS Nguyễn Sĩ Dũng     Thông thường, người ta phải tổ chức tổng tuyển cử hoặc trưng cầu dân ý để làm được điều này. Cách ít tốn kém hơn là đòi hỏi các quan chức chính trị phải có được sự tín nhiệm của các vị dân biểu. Các quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp chính là cách làm thứ hai này. Lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức định kỳ. Bỏ phiếu tín nhiệm được tổ chức khi có yêu cầu của các cơ quan chức năng hoặc của 20% tổng số các vị đại biểu Quốc hội hoặc 1/3 tổng số các các vị đại biểu Hội đồng nhân dân.     Theo quy định hiện hành, thì việc lấy phiếu tín nhiệm được tổ chức vào giữa nhiệm kỳ. Trong Kỳ họp tháng 10 vừa qua, Quốc hội đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các quan chức do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Điều đáng mừng (ít nhất là cho các quan chức) là không có vị quan chức nào có phiếu tín nhiệm thấp quá 50%. Công bằng mà nói, nếu lấy phiếu theo 3 mức-tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp – thì xác suất bị tín nhiệm thấp là khá bé (chỉ khoảng 33%).     Vận hành chế độ trách nhiệm chính trị bằng cách bảo đảm sự tín nhiệm của các vị dân biểu không phải là không có rủi ro. Rủi ro dễ nhận thấy nhất là: sự tín nhiệm của các vị dân biểu chưa chắc đã là sự tín nhiệm của nhân dân; sự bất tín nhiệm của các vị dân biểu cũng chưa chắc đã là sự bất tín nhiệm của nhân dân. Để vượt qua rủi ro này, luật pháp nhiều nước cho phép đưa vấn đề trách nhiệm chính trị ra toàn dân xem xét. Trong trường hợp này, luật pháp cho thủ tướng quyền giải tán nghị viện để tổ chức bầu cử lại. Nếu người dân vẫn bầu lại cho thủ tướng (hoặc đảng của thủ tướng) thì cũng có nghĩa là thủ tướng hoặc chính phủ đã vượt qua được sự bất tín nhiệm của nghị viện. Cựu thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã làm điều nói trên khi dự án tư nhân hoá hệ thống viễn thông Nhật Bản của ông bị Quốc hội bác bỏ. Tất nhiên, trong trường hợp nhân dân không bầu lại cho đảng của thủ tướng, thì sự bất tín nhiệm của nhân dân đã quá rõ ràng.     Ở ta, cơ chế xác nhận sự tín nhiệm của nhân dân theo cách như đã nói ở trên vẫn chưa được quy định. Mặc dù, gần đây sự cần thiết phải có cơ chế để các cơ quan quyền lực nhà nước kiểm soát lẫn nhau đã được ghi nhận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 2013. Trong khi sự tín nhiệm của các vị dân biểu đang là điều kiện duy nhất để các quan chức hành pháp tiếp tục nắm giữ quyền lực (nhân đây, chúng ta phải coi việc bỏ phiếu tín nhiệm như là một công cụ để quyền lực lập pháp kiểm soát quyền lực hành pháp, thì việc làm này mới có ý nghĩa), thì điều quan trọng nhất là phải bảo đảm rằng các vị dân biểu phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Mà như vậy thì các vị dân biểu bắt buộc phải tham vấn được ý kiến của cử tri trước khi quyết định sẽ bỏ phiếu như thế nào trong đợt lấy phiếu tín nhiệm các quan chức sắp tới.     Nguồn khoahocphattrien.vn         Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa … để làm gì?      Chúng ta chưa thật sự làm văn hóa. Có phải thật thế không? Tôi rất mong được thử trao đổi, để cùng suy nghĩ tiếp. Và để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay, và cả ngay mai nữa, nhanh mà vững, mà bền, và nói cho cùng, để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay thật sự đưa đến sự trong lành cho xã hội và hạnh phúc cho con người.    Tôi có một người bạn Philippines tên là Takjit Nahitmit, hình như đấy là biệt hiệu, một kiểu bút danh của anh, chứ không phải tên thật. Anh giải thích cho tôi theo thổ ngữ ở quê anh tên ấy có nghĩa là “Ánh chớp thầm lặng”. Sau một thời gian quen và thân với anh tôi nghĩ tôi có thể hiểu vì sao anh đã chọn cái bút danh nghe hơi lạ ấy. Có vẻ như gia đình anh thuộc tầng lớp trí thức lớn và thượng lưu trong xã hội Philippines. Mẹ anh từng là nữ thị trưởng đầu tiên của thủ đô Ma-ni-la. Còn anh thì đã tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, sau đó về làm việc cho một cơ quan của Liên hiệp quốc tại Paris gần chục năm…, cho đến một hôm anh bổng từ bỏ tất cả, danh vọng, chức quyền, tiền bạc, kinh thành hoa lệ, rũ áo ra đi, quay về Philippines, và căm cụi làm văn hóa. Anh có cho tôi xem một số phim do chính anh tự làm đạo diễn, tự quay, tự dựng, tuyệt đối không hề sử dụng diễn viên chuyên nghiệp, phim truyện hẳn hoi nhưng người đóng là người thường bắt gặp ngoài đường, trong nhà máy, trên đồng ruộng. Có nét gì phảng phất những phim rất hay và rất độc đáo của điện ảnh Iran. Thỉnh thoảng anh sang Hà Nội, đến và đi đều rất nhẹ nhàng, giản dị, thường ăn mặc quần áo dân tộc, hai cậu con trai anh có mẹ là người Thụy Điển nhưng lại thích ăn mặc, thật lạ, rất giống người Tây Nguyên ở ta, thậm chí có khi còn đóng khố, rất đẹp. Takjit rất yêu các nền văn hóa dân tộc thiểu số ở quê anh. Anh có tặng tôi một cây sáo không phải thổi bằng mồm mà bằng mũi, âm thanh réo rắt xa xôi và mơ hồ, rất lạ. Lần nào sang anh cũng gọi điện cho tôi, chúng tôi thường tìm một chỗ vắng và yên tĩnh ngồi với nhau có khi suốt ngày, nói với nhau về công việc của mỗi người, về những ao ước và cả những lo nghĩ của chúng tôi. Có hôm Takjit đột ngột hỏi tôi: “Theo anh, ở những đất nước như đất nước chúng ta bây giờ, văn hóa cần phải làm gì, có thể làm gì, vai trò của văn hóa là gì, nhất là trong tình hình sôi nổi mà cũng đầy thách thức hiện nay?”. Tôi biết đấy là câu hỏi vẫn khiến Takjit ray rứt, và quả không dễ trả lời. Tôi nói: “Takjit ạ, thì chính anh phải trả lời cho tôi câu hỏi ấy đi chứ, chính anh đã từng là tiến sĩ kinh tế ở một quốc gia giàu có và hiện đại nhất thế giới, từng sống và làm việc hàng chục năm giữa một Paris hoa lệ đệ nhất hành tinh…, thế mà rồi đột nhiên anh vất bỏ tất cả để quay về quê hương và chỉ chăm chăm làm văn hóa, lại làm theo cách rất riêng của anh… Vậy tức là anh đã suy nghĩ nhiều lắm về văn hóa, vai trò của văn hóa, lâu dài và ngay hôm nay, chính anh phải nói với tôi, cho tôi đi chứ…”. Takjit ngồi trầm ngâm một lúc, rồi hỏi: “Anh có lái xe ô tô không? Anh biết đấy, lái xe rất quan trọng là hai bàn chân đạp, một chân ga và một chân phanh, cũng gọi là chân thắng ấy mà. Và quan trọng nhất chính là chân thắng. Khi nào thì người ta cần đến chân thắng, khi nào thì phải giữ rất chặt, rất chắc chân thắng? Không phải là khi dừng xe, hay khi chạy chậm, mà chính là khi tăng tốc và lại qua cua nữa. Văn hóa, theo tôi, chính là cái chân thắng ấy đấy, của xã hội, của lịch sử, của con người, của một đất nước, một dân tộc. Chứ không phải chân ga. Kinh tế là chân ga. Kinh tế lúc nào cũng lao tới phía trước, nhanh hơn, nhanh hơn nữa, nhanh hơn mãi, bao nhiêu cũng không vừa, nhất là đối với những đất nước như đất nước chúng ta, đang phải cố đuổi kịp năm châu bốn biển cũng đang lao tới rất dữ dội, phải cố tăng tốc tối đa có thể để đuổi cho kịp. Và lại phải qua cua, liên tục qua cua. Chính lúc này hơn bao giờ hết cần giữ thật chắc chân thắng. Chính lúc này hơn bao giờ hết cần văn hóa. Nếu không thì cuộc xông tới có rất nhiều nguy cơ lao luôn xuống vực. Tôi cho rằng ở những đất nước như đất nước chúng ta hình như người ta đang hiểu rất lầm về văn hóa, người ta cho rằng khi đất nước đang phải lao tới trong cuộc đuổi bắt lớn này thì văn hóa cũng phải lao theo, văn hóa phải ra sức cổ vũ, reo hò cho cuộc đuổi bắt say mê ấy. Văn hóa phải ra sức cổ vũ kinh tế và chính trị, chính các nhà chính trị và kinh tế cũng thường xuyên đòi hỏi, thúc giục văn hóa như vậy… Không phải đâu, hoàn toàn ngược lại. Chính khi kinh tế lao tới thì văn hóa, công việc của văn hóa là phải giữ thắng, chính lúc này mới càng thấy vô cùng cần văn hóa, cần phải có văn hóa để nắm chắc cái thắng của xã hội. Khi kinh tế và cả xã hội lao tới, thì văn hóa phải lùi lại một chút, bởi văn hóa là gì, nếu không phải là sự bình tĩnh, bình tâm, sự vững chăc, vững chãi của xã hội và con người. Kinh tế là cần thiết, là quyết định, chính trị cũng vậy, chính trị rất quyết định, nhưng tôi cho là văn hóa mới quyết định hơn, bởi nó là cái nền, nó lâu dài hơn, kinh tế và cả chính trị nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện, văn hóa mới là mãi mãi, trường cửu, nó ở với con người, đi cùng con người trên đường dài vô tận của con người; nó lo về cái vì đó mà con người sống, lẽ sống, lẽ hạnh phúc của con người ở đời, cái lẽ vì đó mà con người làm kinh tế và làm chính trị cùng bao nhiêu việc khác. Kinh tế và chính trị tất yếu lao tới, mà văn hóa cũng hăng hái, bồng bột lao theo, thì là nguy cơ, thì xe sẽ đổ xuống vực, rồi tất cả có thể chỉ là vô nghĩa thôi, thậm chí tan nát, hoặc ít ra cằn cỗi cả thôi… Vậy đó, anh thấy không, chính vì vậy mà tôi đã bỏ Boston, bỏ New York, bỏ Paris… tôi trở về với quê hương tôi, tôi lo cho cái nền trong cuộc đuổi bắt thiết yếu và cuộc qua cua, cũng là thiết yếu, cua rất ngặt, rất hiểm của các đất nước chúng ta bây giờ. Tôi nguyện làm một ánh chớp im lặng, anh biết đấy, dấn ga thì rú lên ồn ào, giữ ga thì âm thầm, im lặng, nhưng mà không có nó, không chắc chân chỗ này thì có thể sẽ chẳng còn gì hết, sẽ là vô nghĩa hết, sẽ là điều chúng ta không hề mong muốn…           ảnh: Lê Thiết Cương          Cũng có thể nói thế này chăng; kinh tế, chính trị thì kêu gào, cổ vũ, động viên, gọi người ta đua chen, văn hóa thì bình tĩnh và can ngăn… Hình như ở nước anh, cũng như ở nước tôi, có một cái bộ gọi là Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch. Du lịch là làm ra tiền, hút thật nhiều khách để có thật nhiều tiền, thể thao thì là ganh đua, cao nhất, xa nhất, nhanh nhất, sao Văn hóa cũng đứng chung vào đó? Tôi thì tôi mong chỉ có một cái bộ gọi là Bộ Văn hóa, để lo việc cơ bản là giữ thắng thôi. Cũng có thể gọi là Bộ của sự Bình tĩnh Xã hội… Chưa có được một bộ như vậy. Nên tôi xin về làm việc đó, mong là một ánh chớp thầm lặng…”  Mấy năm gần đây ít thấy Takjit sang, chỉ thỉnh thoảng được thư hay nghe điện của anh. Tôi biết anh đang vất vả lắm, nhưng anh không hề nản chí. Vất vả cũng là đúng thôi. Bởi ý tưởng của anh về văn hóa là khá lạ – mà những gì thật sự sâu xa, sâu sắc thì bao giờ lại chẳng lạ – thậm chí có gì như là lạc lõng giữa cuộc đời đua chen xô bồ bây giờ. Tôi thường suy nghĩ về ý tưởng của anh, công việc của anh. Tôi khâm phục sự dấn thân lặng lẽ mà quyết liệt của anh. Nó khiến ta muốn nghĩ lại về những gì chúng ta đang làm, có thật là văn hóa không những gì chúng ta đang làm? Hình như chúng ta đang làm rất nhiều, rất nhiều thứ được coi là văn hóa, nhưng văn hóa thật, như anh bạn kỳ lạ của tôi quan niệm và dấn thân, thì chúng ta chưa làm, không làm. Những gì gọi là văn hóa chúng ta đang làm thường rất ồn ào, mà văn hóa thật thì lại không ồn ào. Nó thâm trầm. Cái thắng có ồn ào bao giờ đâu, trừ khi phải thắng khẩn cấp vì sắp chết đến nơi! Chúng ta chưa thật sự làm văn hóa. Có phải thật thế không? Tôi rất mong được thử trao đổi, để cùng suy nghĩ tiếp. Và để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay, và cả ngay mai nữa, nhanh mà vững, mà bền, và nói cho cùng, để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay thật sự đưa đến sự trong lành cho xã hội và hạnh phúc cho con người.  Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa đối thoại      Với đà phát triển tăng tốc của “toàn cầu hóa” đối thoại đã vượt khỏi giới hạn một kỹ năng và trở thành một phạm trù mới của đạo đức.     1) Một trong những tiến bộ đáng nể nhất của tư duy hiện đại là đã vượt qua thời nguyên lý loại trừ bước sang kỷ nguyên của nguyên lý bổ sung.  Nguyên lý loại trừ có một sức ỳ thâm căn cố đế vì nó đã chế ngự tư duy nhân loại đằng đẵng hàng nghìn năm trời.  Nó vận hành trên hai vế đúng/sai và không công nhận, tuyệt đối không công nhận có vế thứ ba.   Cách hành xử của nó là độc thoại và cao trào của nó là định kiến: kẻ nào không đi với ta là chống lại ta.   Phong cách của nó là khép kín, bảo thủ, hẹp hòi và độc đoán.  Lịch sử còn nhớ lời phát ngôn nổi tiếng của Goebel một cánh tay đắc lực của Hitle: “Khi tôi nghe thấy từ văn hóa, tôi rút súng ra”.  Nguyên lý bổ sung cung cấp cho vận hành tư duy hiện đại một vế thứ ba: cái khác.  Cách hành xử của nó là đối thoại. Phong thái của nó là cởi mở, dung nhận, thực sự cầu thị, bình đẳng và đoàn kết.  Nó phủ-nhận mọi chân lý độc tôn, tất định.  Nó khuyến khích mọi cuộc tranh luận, mọi ý kiến khác biệt trên con đường không có kết thúc (non finito) của hành trình chân lý.  Nguyên lý bổ sung của Bohr và đôi bạn đồng hành nguyên lý bất định của Heisenberg và nguyên lý bất toàn của Godel hoạt động như bộ ba “ngự lâm quân pháo thủ” của tư duy hiện đại. Hiểu biết của con người ngày một trưởng thành. Con người ngày càng hiểu rằng tri thức của mình là hữu hạn, rằng chân lý là một quá trình tiếp cận trường kỳ, chân lý luôn luôn trên đường đi và không có ngày Chúa nhặt cũng như không có một công ty độc quyền chân lý.  Xây dựng một nền văn hóa đối thoại hết sức bức thiết nhưng cũng trường kỳ khó khăn vì loài người sống quá lâu năm trong thói quen độc thoại- Nó như một bóng ma bất đắc kỳ tử luôn luôn ám ảnh hành trình đối thoại của loài người.  2) Tôi xin phép được nhắc lại và nhấn mạnh đề phòng mọi sự hiểu lầm.  – Độc thoại là tin rằng mình đã nắm vững chân lý và chỉ có nhiệm vụ cao cả là thuyết phục kẻ khác chấp thuận. Tật cố hữu của nó là áp đặt cửa quyền và sốt ruột. Các nhà tri thức học gọi đó là phong cách nóng (hot).  Như trên đã nói: với người độc thoại chân lý là đã có sẵn và ở phía sau lưng nên do đó thường có tính chất bảo thủ tự mãn và đa nghi.  – Đối thoại, ngược lại, tin rằng chân lý không phải một tiền đề (précepte) mà một hậu đề (postcete) kết quả của một quá trình phân tích, thảo luận, xây dựng của nhiều người nên phong cách của nó là thành khẩn, bình tĩnh và dân chủ. Giới học thuyết gọi đó là phong cách mát (cool).  3) Từ thời mở cửa chúng ta đã bắt đầu xây dựng được một sinh hoạt đối thoại khá tốt. Trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đã xuất hiện những cuộc thảo luận tương đối có chất lượng.  Nhưng phải nói thật với nhau, để xây dựng được một nền văn hóa đối thoại thực chất còn rất nhiều điều cần phải làm.  Một số cá nhân hoạt động văn hóa “nhà nọ nhà kia” hẳn hoi trong lúc tranh cãi về học thuật đã cãi nhau theo nghĩa đen với những lời lẽ rất mất vệ sinh của đám người ngoài chợ.  Một số người còn mắc bệnh cay cú “cãi lấy được” cố tìm cách moi móc, cố tình đánh những đòn hiểm (?) để hạ “nốc ao” đối thủ.  Chúng ta phải cố gắng trọng thị hơn nữa những bạn đối thoại với ta (đó cũng là thái độ tự trọng) và cố gắng “fair play” (chơi đẹp) đến mức tối đa có thể như những vận động viên có tư cách.  Cái bi kịch cũng như cái lớn lao của con người là: Điều gì cũng phải học và điều gì cũng có thể học được.  Học ăn, học nói, học gói, học mở.  Học nói chính là văn hóa đối thoại.  Ngay từ thời xa xưa các cụ ta đã có những lời khuyên hết sức tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc về đối thoại. Chẳng hạn: “Lời nói không mất tiền mua/Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “Một sự nhịn là chín sự lành”, “Nói phải củ cải nghe cũng được”.  Trong đối thoại một đòi hỏi quan trọng là phải biết lắng nghe.  Một thiền sư dạy: Không phải vô cớ mà trời sinh ra con người có hai tai và một miệng.  4) Đầu thế kỷ XX trước thiên hướng chuyên môn hóa cao của khoa học, Nitsơ đã lo rằng một ngày không xa con người sẽ chuyên môn hóa đến mức trở thành những thằng gù(?)  Như những Cátxăngđrơ (cô đồng báo điềm gở), các trí tuệ lớn thường đứng ở điểm lâm nguy của nhân loại. Mặc dầu khả năng tiên tri lỗi lạc, Nietzsche cũng chưa vượt qua được nguyên lý loại trừ của thời đại minh.  Cơ nguy chuyên môn đến mức “gù hóa” là có thật nhưng chưa bao giờ người ta đề cập đến những khoa học liên thông liên ngành nhiều như bây giờ.  Nhà bác học lớn người Bỉ Prigogine còn công khai hô hào cho một khối liên minh mới giữa tất cả các ngành khoa học tự nhiên và xã hội để tạo dựng một cái nhìn nên thơ và đỡ khô cứng đối với sự sống.  Và những câu nói “hội nhập”, “toàn cầu hóa” gần như đã trở thành lời nói cửa miệng của thế kỷ XXI.  Văn hóa đối thoại đã trở thành một yêu cầu bức thiết hơn bao giờ hết.    Author                Lê Đạt        
__label__tiasang “Văn hóa ngành” trong tiêu chí đánh giá      Tôi cơ bản đồng ý với dự thảo “Quy định về việc đánh giá kết quả thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên kết thúc năm 2006” nêu trong bài báo trên Tia Sáng (5/5/2007). Điều muốn nói ở đây là do truyền thống, do bản chất của các khoa học, các ngành khoa học đều có “văn hóa ngành” của mình (theo cách gọi của GS Ngô Quang Hưng, State University of New York at Buffalo), trong đó có những thói quen, quy ước và ảnh hưởng khác nhau của các hội nghị khoa học trong ngành nên vai trò của các bài báo ở tạp chí và hội nghị ở các ngành khoa học khác nhau là khác nhau, thậm chí rất khác nhau.    Nghiên cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học mới và có ý nghĩa, làm nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu cơ bản khác. Giá trị của nghiên cứu cơ bản là giá trị toàn cầu, và do vậy việc công bố quốc tế phải là tiêu chí quan trọng nhất. Khẳng định điều này là rất cần thiết, vì đa số các nghiên cứu của chúng ta vẫn chỉ công bố trong nước, và ai cũng biết dù đã lâu ta không nói ra là có một khoảng cách lớn giữa việc công bố trong nước và công bố quốc tế.  Ở nhiều ngành khoa học, bài báo ở hội nghị khoa học được xem có giá trị thấp hơn rất nhiều so với bài ở tạp chí, thậm chí không đáng kể. Ở các ngành này, phần lớn các hội nghị chuyên ngành chỉ đòi hỏi người tham gia nộp một bản tóm tắt (abstract) hay tóm tắt mở rộng (extended abstract) chừng một hai trang. Hầu hết các bài (tóm tắt) gửi đến đều được nhận báo cáo tại hội nghị. Tại hội nghị chỉ có bản in các tóm tắt, và một số hội nghị sau đó sẽ chọn một số tác giả, yêu cầu nộp bài toàn văn để duyệt và in trong một tuyển tập.  Tin học (hay khoa học máy tính, KHMT) có “văn hóa ngành” khác. Các hội nghị KHMT đều yêu cầu người tham gia phải gửi bài toàn văn để tuyển chọn, với quy ước bài phải viết với một độ dài nào đó (như không quá 6000 từ, hoặc không quá 12 trang). Các hội nghị thường quy định nộp bài quãng 6 tháng trước ngày hội nghị để Ban chương trình có đủ thời gian tuyển chọn và in ấn. Mỗi bài gửi đến hội nghị thường được đánh giá bởi 3 đến 4 thành viên của Ban chương trình trong quãng thời gian 2 tháng. Gần đây nhờ Internet và các phần mềm giúp tuyển chọn bài, nhiều hội nghị đòi hỏi và cho phép tác giả trả lời những câu hỏi và ý kiến của các phản biện sau vòng duyệt đầu, và sau đó nhóm 3-4 phản biện của từng bài báo sẽ bàn bạc với nhau trước khi gửi quyết định của mình cho Trưởng Ban chương trình. Quá trình phản biện này thường chừng 2 tháng. Tuyển tập hội nghị, với các bài được chọn và sửa chữa theo góp ý của các phản biện, được in trước và có sẵn tại hội nghị. Uy tín của một hội nghị thường cũng đi cùng với uy tín của các thành viên Ban chương trình và nhà xuất bản. Tuyển tập của các hội nghị hàng đầu thường được in tại các nhà xuất bản hàng đầu như ACM, MIT, Springer, Morgan Kaufmann, …  Có những xếp hạng chia các hội nghị ngành KHMT thành các nhóm A, B, C, D, … hoặc không được xếp hạng, trong đó nhóm A có chất lượng cao nhất (như các hội nghị NIPS, IJCAI, ICML, ACM SIGKDD, …). Số bài được nhận báo cáo và đăng trong các tuyển tập thường quãng 25% số bài gửi đăng ký tham gia, trong đó nhiều hội nghị nhóm A có tỷ lệ bài được nhận khoảng 10-15%. Cần nói thêm rằng tỷ lệ nhận bài không đồng nhất với chất lượng hội nghị, vì chất lượng bài gửi đến các hội nghị ở các nhóm A, B, … rất khác chất lượng bài gửi đến các hội nghị nhóm C, D, hoặc các hội nghị chưa được xếp hạng. Nhiều cơ sở nghiên cứu ở các nước phát triển hằng năm có sẵn một danh sách các hội nghị “tốt”, chỉ tài trợ khi nhân viên gửi bài tham gia các hội nghị này.  Thật ra khó ai có thể biết rõ được cái “văn hóa” của một ngành nào đó nếu không làm việc trong ngành này. Theo quan sát của tôi, trong các ngành khoa học có truyền thống lâu năm như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Y học, … các bài báo tạp chí được đánh giá cao hơn hẳn các bài báo ở tuyển tập của hội nghị. Trong khi đó các ngành khoa học non trẻ, như KHMT chẳng hạn, những bài báo ở các hội nghị chất lượng cao được đánh giá không thua kém gì bài ở các tạp chí tốt. Chẳng hạn, đại học Washington bang Seatle (một trong những đại học hàng đầu về KHMT ở Mỹ), khi xét tuyển chọn các chức vụ giáo sư, đánh giá một bài báo hội nghị chất lượng cao trong ngành KHMT tương đương một bài trong các tạp chí có tiếng.  Cái văn hóa ngành này còn thấy ở nhiều khía cạnh khác. Dễ thấy là các bài báo trong Vật lý, Hóa học, Sinh học, … (những công trình liên quan đến công nghệ, thực nghiệm) thường do nhiều tác giả cùng làm, và bài ở nhiều tạp chí thường chỉ ngắn chừng vài ba trang, viết theo quy định của những khuôn mẫu nhất định (như các phần motivation, method, result, discussion, conclusion), trong khi đó bài ở các tạp chí về lý thuyết như toán học thường chỉ do một hai tác giả, và có thể dài nhiều chục trang. Chẳng hạn bài báo ở Annals of Math về kết quả dẫn đến giải thưởng của Viện Toán Clay của Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon dài … 99 trang.  Câu chuyện ngành KHMT bàn ở trên có lẽ cũng có trong một số ngành khoa học khác. Cũng nên nhìn nhận một thực tế là khoảng cách trong nhiều ngành khoa học của chúng ta so với thế giới là từ khá cho đến rất xa, do vậy tuy đề cao những cần có các mục tiêu về công bố quốc tế tại những nơi hợp với sức mình.  Trong khoa học máy tính, bài báo ở các hội nghị chuyên ngành danh tiếng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp của các khoa học gia. Được nhận đăng bài ở một số hội nghị hàng đầu khó hơn ở nhiều journals có tiếng. Nguyên do của sự “tréo ngoe” này trong ngành khoa học máy tính là do: Thứ nhất, KHMT phát triển cực nhanh trong vài thập niên gần đây, phần vì nó còn rất trẻ so với các ngành khác. Chờ khi công trình của mình được nhận đăng ở một journal (mất khoảng 1-2 năm) thì kết quả đó đã lỗi thời, thậm chí bản thân tác giả có khi cũng không thích thú gì lắm với nó nữa vì đã có những kết quả tốt hơn trong cùng thời gian. Vòng quay của các hội nghị tốn khoảng 6 tháng (từ khi nộp đến khi đi báo cáo). Thứ hai, đây cũng là vấn đề “văn hóa” của ngành. Thứ ba, hội nghị là một trong những phương tiện tốt nhất để mọi người làm quen, tìm hiểu nghiên cứu của nhau, tìm cơ hội hợp tác nghiên cứu, giới thiệu công trình của mình với thế giới các đồng nghiệp.  Các sinh viên, nhà nghiên cứu, giáo sư nào chưa có bài trong hội nghị lớn của ngành mình thì nói chung là kẻ ngoài cuộc, nghiên cứu không ai biết tới, và sẽ xa rời dòng chảy chính của các nghiên cứu trong ngành.  GS. Ngô Quang Hưng  Hồ Tú Bảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa nhận trách nhiệm      C&#243; thể chỉ do tr&#249;ng hợp ngẫu nhi&#234;n, m&#224; cũng c&#243; thể theo đ&#250;ng quy luật ngặt ngh&#232;o, nhiều (qu&#225; nhiều) sự kiện xảy ra, đồng loạt hoặc li&#234;n tiếp trong năm, l&#224;m lộ r&#245; những sai s&#243;t, yếu k&#233;m của bộ m&#225;y quản l&#253;, điều h&#224;nh.     Báo chí đã có dịp đưa tin, bình luận về những vụ nổi cộm: dự báo sai về tình hình cung cầu lương thực dẫn đến quyết định bất hợp lý về xuất khẩu gạo; dự báo sai về tình hình thời tiết, dẫn đến sự bị động trong việc ứng phó với đợt mưa lũ lịch sử tại Hà Nội; chuyện vi phạm pháp luật môi trường rành rành và kéo dài của các doanh nghiệp lớn như Huyndai Vinashin, Vedan, Hào Dương, Miwon,…, đến khi bị phát hiện thì việc chế tài chẳng đi đến đâu và cũng chẳng thấm vào đâu, dù các phương tiện truyền thông và người dân đã tạo sức ép rất dữ dội và quyết liệt đối với bộ máy bảo đảm thực thi pháp luật.      Bức xúc vì thiệt hại gây ra cho xã hội quá nặng nề trong khi sự trừng phạt không hề có hoặc không cân xứng, dư luận, thông qua nhiều diễn đàn, đòi hỏi giải quyết thấu đáo vấn đề trách nhiệm của những người giữ vị trí lãnh đạo, then chốt ở các cơ quan, thiết chế được giao chức năng công trong các lĩnh vực.          Ai cũng hiểu rằng trách nhiệm, một khi được quy kết cho người nắm một chức vụ công, trở thành căn cứ để áp dụng chế tài pháp lý; việc chế tài, về phần mình, thường ảnh hưởng bất lợi ít nhiều đến sự thăng tiến và cả việc nắm giữ chức vụ đang có. Chức càng cao, quyền càng to, thì tầm ảnh hưởng của công việc thực hiện càng rộng, sâu, do đó, trách nhiệm càng lớn và chế tài tương ứng cũng nặng nề.   Trong nhiều trường hợp, được ghi nhận chủ yếu ở các nước chậm tiến, những người nắm quyền lực công mà làm bậy đến mức không né tránh được trách nhiệm, thường tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của chế tài đối với mình, về phương diện vật chất. Song cả khi ấy, thì sự chế tài cũng là cái gì đó không dễ chịu đựng: dù sao, người bị chế tài cũng là một nhân vật được xã hội biết đến một cách rộng rãi, như là người cổ vũ cho cái tích cực, cái tốt, cái đúng; chế tài, trong điều kiện đó, dễ khiến người ta có cảm giác bẽ bàng, như khi nhìn thấy một chiếc mặt nạ rơi xuống và làm lộ ra khuôn mặt xấu xí, đầy khuyết tật.     Bởi vậy, “cố gắng” không nhận trách nhiệm là cách cư xử được ưu tiên lựa chọn bởi một người luôn “tận tâm” với chức vụ của mình mà lỡ làm bậy. Trong chừng mực nào đó, nó còn có mối liên hệ gắn bó với bản năng tự vệ để sinh tồn và được hiểu là một cách phản ứng tự nhiên của một thực thể sống trước sự đe doạ, tấn công từ bên ngoài.     Muốn ngăn chặn sự phổ biến tràn lan của xu hướng đó trong khu vực công, chỉ kêu gọi ý thức tự giác, tự trọng của con người thì không đủ. Phải làm thế nào đặt “đương sự” ở trong tình trạng không thể chối bỏ hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho người khác mà  phải chấp nhận để trách nhiệm được quy cho mình, một cách rành mạch, dứt khoát.     Để đạt được điều đó, trước hết cần hoàn thiện hệ thống quy tắc pháp lý chi phối tổ chức và vận hành của guồng máy hành chính quốc gia. Tư tưởng chủ đạo là trách nhiệm gắn với chức vụ công, trên nguyên tắc, phải được cá nhân hoá. Mỗi hành vi ứng xử nhân danh quyền lực công, trong khuôn khổ giao tiếp chính thức, như ra một quyết định, công bố một quan điểm, một chính kiến,… đều phải gắn chặt với một chủ thể nào đó, có lai lịch được xác định rõ ràng. Tất nhiên, qua trình bàn bạc, thảo luận về việc xây dựng phương án ứng xử có thể diễn ra với sự tham gia của nhiều chủ thể, đặc biệt là với tư cách người tham mưu, tư vấn; nhưng, một khi được lựa chọn, phương án ứng xử phải mang tên một cá nhân nào đó, đảm nhận một tư cách nào đó.       Chẳng hạn, trong việc ra một văn bản pháp quy cấp Bộ, trách nhiệm về hệ quả luôn phải được xác định thuộc về Bộ trưởng, cho dù người biên soạn thường là một hoặc nhiều công chức thuộc quyền; thậm chí người ký văn bản có thể chỉ là một cấp phó.       Bên cạnh đó, cần phải phát huy khả năng phản biện của xã hội đối với công việc quản lý, điều hành của nhà chức trách. Quy tắc cơ bản là: nếu xã hội, tức là người dân, buộc phải tuân thủ một chính sách hay một quyết định của nhà chức trách, thì, một cách hợp lý, xã hội phải có quyền tham gia vào việc kiểm tra tính hợp pháp, đúng đắn của chính sách, quyết định đó.    Chất vấn công khai ở nghị trường đối với người quản lý, điều hành, như việc chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với thành viên Chính phủ, là một trong những hình thức phản biện, mang ý nghĩa kiểm tra, cho phép làm rõ chủ thể của trách nhiệm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người bị chất vấn có thể trả lời quanh co và đẩy câu chuyện đi vào chỗ bế tắc. Cần có cơ chế kiểm tra trực tiếp, khách quan, nghĩa là do một người thứ ba tiến hành, cho ra kết luận vô tư mà tất cả các bên trong vụ tranh cãi, dù muốn hay không, đều phải chấp nhận.   Trong xã hội có tổ chức, chỉ có toà án mới đủ tư cách đảm nhận  vai trò người thứ ba đó. Rõ hơn, cần thừa nhận cho công dân quyền khởi kiện trước toà án để yêu cầu xem xét tính đúng đắn, hợp pháp của một chính sách, một quyết định của nhà chức trách hành chính. Trong trường hợp việc áp dụng một chính sách, quyết định bị cho là không đúng dẫn đến thiệt hại vật chất, tinh thần cho công dân, thì người bị thiệt hại phải có quyền yêu cầu bồi thường thoả đáng.   Vấn đề còn lại là: trong suốt năm vừa vừa qua, chưa thấy biện pháp nào trong các biện pháp kể trên có dấu hiệu khởi động chính thức để hình thành. Bước vào năm mới, câu chuyện về xây dựng văn hoá nhận trách nhiệm trong khu vực công vẫn đang lẩn quẩn ở những chương đầu,… mãi chờ một cú hích của nhà chức trách, để sang trang.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa quản lý trong quản lý văn hóa      (Nhân đọc một số bài về quản lý nghệ thuật trong Tia Sáng số 13 tháng 7/2007)    “Những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”, “những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần”*, nói như vậy có lẽ vẫn chưa đủ cho khái niệm về những “đối tượng” trong nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa ở đất nước này. Sẽ còn có tất cả những sản vật của tạo hóa góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của con người. Thêm nữa, còn bao gồm hết thảy những ai tham gia vào các hoạt động văn hóa nữa. Từ đây ta có thể hình dung ra công việc “quản lý văn hóa” của cơ quan chức năng khó khăn, trừu tượng tới mức nào, và làm sao cho người cán bộ quản lý trong mọi hành xử, quyết định của mình đều có được một “trình độ cao, biểu hiện văn minh”* – tạm gọi đó như là cái “văn hóa quản lý”.           Một cảnh trong phim: Vũ điệu tử thần        Khi anh cảnh sát giao thông với súng bắn tốc độ trong tay, thật dễ dàng xác định chiếc xe chạy quá nhanh để thổi còi phạt. Còn người quản lý văn hóa khi nhìn nhận một bức tranh khỏa thân, một bức ảnh nuy liệu có dễ dàng phân định được cái ranh giới giữa nghệ thuật đích thực với mức độ “vi phạm thuần phong mỹ tục”, “khiêu dâm” không? Hay trong quyết định xử lý của mình sẽ có đầy những dấu hiệu chủ quan, cảm tình, cảm tính?  Đến như một tang vật để kết tội một bị cáo trước tòa, vị quan tòa cũng đâu có thể một mình khẳng định nó là chứng cứ chắc chắn, mà cần phải có hàng loạt hoạt động tố tụng, từ khâu thu thập, bảo quản, cho đến giám định hết sức nghiêm cẩn. Thế nên với một cuốn tiểu thuyết, làm sao có thể dễ đánh giá nó là “độc hại”, kích động bạo lực, hay xuyên tạc gì gì đó…, một khi chưa có sự thẩm định công khai của ít ra là một hội đồng nghệ thuật khách quan, có uy tín, chứ không phải bởi một vài cán bộ quản lý, dù có chức quyền tới đâu. Những khó khăn cho người quản lý ở đây thậm chí còn có thể đẩy họ tới việc sử dụng những lý do có tính biến báo nhỏ nhặt, mơ hồ, thiếu tính thuyết phục khác. Và thế là lại đụng tới cái “văn hóa quản lý” – không những không góp phần nâng đỡ, phát triển mà thậm chí còn vùi dập những con người tài năng đầy nhạy cảm và hoạt động sáng tạo rất cần sự khích lệ cảm hứng.  Một học viên cảnh sát không thể ra đường tự thực tập bắn súng, bắt bớ, khám xét. Thế nhưng vấn đề lại khác hẳn với những học viên trường nghệ thuật một khi muốn cọ sát với thực tế. Người quản lý văn hóa có nghĩ tới đời sống vật chất eo hẹp của họ, có thấy nhu cầu văn hóa đại chúng, có chịu nhìn nhận về điều kiện dạy và học thiếu thốn khó khăn tới mức nào… hay chỉ thấy chút mặt trái của cuộc sống có thể liên hệ nào đó tới họ khi va chạm với xã hội   Một tòa nhà xây trái quy định, bị “cắt ngọn” đi, thậm chí đập bỏ, thật là đơn giản. Thế nhưng một bức tường thành xưa, một bức tranh cổ quý giá được phục chế sai lạc hẳn với vẻ ban đầu của nó thì quả là một tai họa không thể nào cứu vãn nổi. Tệ hơn nữa như với Hòn Vọng phu, sản phẩm vô giá của tạo hóa bị đập đi, tiếp đến cái gọi là “phục chế” thật sự là một hành vi lú lẫn phản văn hóa. Những người cán bộ quản lý văn hóa luôn phải trực diện với những thách thức như vậy của lịch sử. Họ có đủ thẩm quyền, nhưng còn kiến thức pháp luật, và ý thức tới đâu rằng mình có đủ  không vốn văn hóa, cái tầm viễn kiến, hay chí ít là chịu lắng nghe để đưa ra quyết định mà không gây phản tác dụng, tàn phá chính những gì mình đang có nhiệm vụ bảo vệ?  … Tất cả những kinh nghiệm va vấp ấu trĩ, hành xử thô bạo trong mọi hoạt động quản lý văn hóa là nhiều không thể kể hết. Hiện trạng xuống cấp, nghèo nàn, méo mó của môi trường văn hóa không thể thiếu nguyên nhân từ đó. Nó còn cho ta thấy ngoài những đòi hỏi phù hợp pháp lý trong một môi trường với hàng đống văn bản pháp luật còn sơ sài, chung chung, chồng chéo thì còn cả sự có hay không tính hợp lý, hợp đạo lý đầy tinh tế nữa. Chưa kể tính hai mặt – tốt/xấu, hay/dở – của mỗi hành vi cũng rất cần những người “cầm cân nảy mực” trong môi trường văn hóa biết cân nhắc trong sự công tâm, cầu thị, am hiểu.  Từ đây có thêm một dấu hỏi, là phải chăng cái khái niệm “quản lý văn hóa” đã mang một hàm ý vừa hẹp vừa cứng nhắc cũ kỹ cho một công việc hệ trọng là gìn giữ, phát huy vốn văn hóa của dân tộc và nhân loại? Nó cần được thay thế, ví như bằng cụm từ “phát triển văn hóa” chẳng hạn.  ———-  * “Văn hóa”: Từ điển tiếng Việt, NXB Đà nẵng-Trung tâm Từ điển học, 1997; Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1998.      Nguyễn Hữu Vinh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa tranh luận và mục tiêu của đồng thuận      Mấy tháng đầu năm 2006 vừa qua, trong dịp chuẩn bị Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt nam, một đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi chưa từng thấy trong xã hội ta với nội dung là góp ý kiến vào các bản dự thảo văn kiện trình Đại hội đã diễn ra một cách hào hứng, sôi nổi trong suốt mấy tháng liền, qui tụ được rất nhiều ý kiến phong phú, đa dạng và chứa đầy tâm huyết của các tầng lớp nhân dân trải rộng trên một phạm vi hết sức rộng lớn các vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước ta, từ các vấn đề chung về con đường phát triển của đất nước, về thể chế chính trị và xã hội, cho đến những vấn đề cụ thể của các ngành kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ, những vấn đề về quản lý của nhà nước và phát triển của thị trường, về những tệ nạn tham nhũng, lãng phí đang lan tràn trong xã hội…         Chúng ta đều dễ nhận thấy có nhiều điều mới mẻ trong cách thức đóng góp ý kiến cũng như cách tiếp thụ ý kiến của cả người nói và người nghe: người nói thì chân thành, cởi mở, thẳng thắn,… và người nghe thì điềm tĩnh, ôn hòa, tránh những phản ứng vội vã… Gần hai tháng đã trôi qua từ ngày bế mạc Đại hội Đảng. Sau một thời gian ngắn yên ắng có thể là cho việc nghiền ngẫm những suy nghĩ chưa kịp xem xét trước đó, gần đây ta lại đã bắt đầu thấy xuất hiện những bài viết, thậm chí cả những hội thảo, tiếp tục những ý kiến đóng góp và cả những tranh luận về nhiều vấn đề chung của đất nước, cả những vấn đề có tính lý luận cũng như nhiều vấn đề thực tiễn trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,… hiện nay. Hy vọng rằng việc góp ý kiến và thảo luận về những vấn đề phát triển đất nước sẽ được tiếp tục và dần trở thành một tập quán trong sinh hoạt văn hoá và chính trị của xã hội, một thể hiện sinh động của tinh thần “dân chủ hóa” mà nghị quyết Đại hội X của Đảng đã từng nhấn mạnh.  Đợt góp ý kiến và thảo luận trước Đại hội đã góp phần làm rõ thêm những yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp tiếp tục đổi mới: hoàn thiện nhanh chóng hơn các cải cách kinh tế, các cơ chế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế; khắc phục quyết liệt hơn các tệ nạn quan liêu tham nhũng trong hệ thống công quyền; đồng thời có những bước chuyển biến cơ bản và kiên định về cải cách chính trị theo hướng xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà nước pháp quyền dân chủ thực sự của dân, do dân và vì dân. Lẽ đồng thuận chung về mục tiêu phát triển của đất nước hướng đến dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được khẳng định đậm nét hơn. Mặt khác, ta cũng cần tỉnh táo và bình tĩnh mà nhận định rằng, mặc dù đã có sự đồng thuận về nội dung khái quát và ngôn từ thể hiện những mục tiêu chung của sự phát triển, nhưng về rất nhiều những nội dung cụ thể, những giải pháp thực hiện các mục tiêu chung đó, sự đồng thuận chưa tiến xa được bao nhiêu. Cuộc góp ý kiến vừa qua tuy có “đặt vấn đề”, thậm chí có đề xuất một số kiến nghị và giải pháp, nhưng gần như chưa có sự thảo luận, tranh luận về các kiến nghị và giải pháp đó, nên “đồng thuận” cũng chỉ mới đạt được ở mức chung chung, chứ chưa đủ rõ ràng để thể hiện trong thực tiễn hành động.           Nhiều năm trước đây, và cả đến dăm ba ngày gần đây, ta vẫn còn              thấy dấu vết của một kiểu tranh luận mà một vài người viết tự cho mình cái              độc quyền chân lý, xem mình là đúng, chắc chắn đúng, ai nói khác mình đều              là sai, là xấu, từ đó tha hồ dùng những lời lẽ khiếm nhã để phê phán, để bác bỏ,              để kết tội, và tệ hơn là từ chỗ phê phán nội dung đi đến chỗ xúc phạm nhân cách của người đối thoại.        Vậy thì, cuộc góp ý kiến, thảo luận và tranh luận trong xã hội về những vấn đề phát triển đất nước cần được tiếp tục. Và, tuy không còn cái không khí hào hứng, sôi nổi như những ngày trước Đại hội Đảng, nhưng như ta thấy, nhiều tiếng nói chân thành, tâm huyết, nhiều suy tư sâu lắng của nhiều bậc thức giả, của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có cả nhiều tranh luận gay gắt của những khác biệt vẫn thỉnh thoảng được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, trên báo viết và báo mạng những ngày gần đây. Tôi thành thực vui mừng được thấy cuộc thảo luận đã không dừng lại ở một trạng thái dở dang, mà đang được tiếp tục như đòi hỏi của cuộc sống. Tôi chỉ xin góp thêm một vài ý kiến sau đây:  Cuộc trao đổi ý kiến và thảo luận (hay tranh luận?) đang và sẽ được tiếp tục chắc hẳn phải đi sâu hơn vào nội dung của những vấn đề phát triển đất nước, mà không chỉ dừng lại ở sự đồng thuận chung chung về những mục tiêu của sự phát triển đó. Để có được ý kiến tham gia đóng góp vào cuộc thảo luận chung, mỗi người chúng ta, ngoài nhiệt tình và ý thức trách nhiệm, hẳn còn phải tìm hiểu và nghiên cứu ít nhiều các kiến thức đây đó về sự phát triển của thế giới trong thời đại hiện nay. Mà ta biết, trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội hết sức đa dạng của thế giới ngày nay, đã có và đang ra đời biết bao nhiêu chủ thuyết, lý luận, ý tưởng, kiến giải về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng có nhiều chỗ tương đồng nhưng cũng có không ít khác biệt. Ta thường quen nói cần dựa trên cơ sở “khoa học”, nhưng bản thân khoa học trong thời đại ngày nay cũng đang có những tiến hóa cơ bản, nên nếu có dựa vào cơ sở khoa học thì cũng phải là thứ khoa học đang tiến hóa đó. Tôi nói như vậy không có ý làm nhiễu loạn những cuộc thảo luận sắp tới của chúng ta, mà chỉ muốn để chúng ta có thái độ lắng nghe và khoan dung nếu trong tranh luận có thể có nhiều ý kiến khác biệt, thậm chí là đối lập, cái khác biệt có thể làm nên sự giầu có và phong phú cho cuộc thảo luận, không nên xem cái đích của thảo luận phải là ở chỗ xác định ai đúng ai sai, bởi vì cái đúng cái sai không dễ mà xác định được, vả chăng ngày nay nên đặt mục tiêu cho thảo luận là để đi tới một sự đồng thuận với chất lượng cao hơn, không phải cho “ai thắng ai” mà là cho “mọi người đều thắng”. Có “chân lý” hay không, và mục tiêu của khoa học có phải là đi tìm chân lý hay không vẫn còn là câu hỏi lớn của bản thân khoa học, kinh nghiệm lịch sử đã cho ta thấy rằng “thế giới này không phải được vận hành bởi những người đúng, mà bởi những người có khả năng thuyết phục người khác rằng mình đúng”1   Tranh luận và chất lượng kết quả của tranh luận phụ thuộc khá nhiều vào văn hóa tranh luận. Trong nhiều năm trước đây, và cả đến dăm ba ngày gần đây, ta vẫn còn thấy dấu vết của một kiểu tranh luận mà một vài người viết tự cho mình cái độc quyền chân lý, xem mình là đúng, chắc chắn đúng, ai nói khác mình đều là sai, là xấu, từ đó tha hồ dùng những lời lẽ khiếm nhã để phê phán, để bác bỏ, để kết tội, và tệ hơn là từ chỗ phê phán nội dung đi đến chỗ xúc phạm nhân cách của người đối thoại. Tôi không có quyền gì để đề nghị loại bỏ kiểu “tranh luận” đó, nhưng cũng thành thực hy vọng là hiện tượng như vậy chỉ là cá biệt và sẽ được chấm dứt, và cuộc trao đổi ý kiến hay tranh luận của chúng ta sẽ được tiếp tục diễn ra trong môi trường của một văn hoá tranh luận lành mạnh giữa những công dân của cùng một đất nước đang cùng nhau tìm cách làm cho đất nước nhanh chóng phát triển và giàu mạnh, cho một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Rất có thể trong cuộc tranh luận đó, sẽ không có ai giành được phần đúng, phần thắng về cho riêng mình, mà mỗi người đều đóng góp được kẻ nhiều người ít phần đúng, phần thắng của mình vào thắng lợi chung của sự nghiệp phát triển đất nước thân yêu của chúng ta.  ———  1 Xem J. Gharajedaghi. Tư duy hệ thống. NXBKhoa học xã hội. Hà nội, 2005            Phan Đình Diệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa ứng xử của người làm luật      Cần xây dựng đội ngũ người làm luật như thế nào để, khi tiếp cận với các điều luật, người ta không phải thấy loáng thoáng đằng sau đó bóng dáng của những phần tử cơ hội, mang tính cách nhỏ nhen, làm luật theo cung cách của người đi giăng bẫy để triệt hạ đồng loại. Thay vào đó, phải là hình ảnh những con người thanh lịch, thông thái, đầy quyền uy nhưng cũng rất bao dung, rộng lượng, đảm nhận vai trò dẫn đường cho toàn xã hội trong công cuộc kiến tạo trật tự và công bằng.    Điều luật gây dị ứng  Có một điều luật mà, mỗi khi đọc, tôi luôn có cảm giác băn khoăn và hụt hẫng, dù nhiều năm đã trôi qua: Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. Chính xác hơn, có một đoạn trong điều luật tạo ra cảm giác không dễ chịu này: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn, thi toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”.  Băn khoăn, vì không thể hiểu tại sao người làm luật lại buộc thẩm phán chọn một cách xử sự rất đặc thù, nếu không muốn nói là chẳng giống ai. Đáng lý ra, trước một đơn kiện của công dân, người được giao nhiệm vụ bảo đảm công lý trong xã hội có tổ chức chỉ có quyền lựa chọn giữa hai phương án: hoặc tiếp nhận, nghĩa là thụ lý, và giải quyết; hoặc không tiếp nhận, nghĩa là trả đơn mà không thụ lý.  Đơn kiện được tiếp nhận một khi sự việc có tính chất pháp lý và nhất là thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, như trong các trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tư nhân tài sản hoặc kiện đòi huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tuỳ theo chất lượng của chứng cứ và lý lẽ mà các bên đưa ra, thẩm phán chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu.   Trái lại, đơn kiện không được tiếp nhận một khi sự việc không thuộc thẩm quyền của toà án. Có thể vì đó là việc thuộc quyền giải quyết của một cơ quan nhà nước khác, như trường hợp người dân than phiền về thái độ phục vụ của một công chức. Cũng có thể vì đó là việc hoàn toàn không có tính pháp lý, như trường hợp một người kiện một người khác về hành vi… phụ tình, bạc bẽo.  Hụt hẫng, bởi, cứ đặt mình ở vị trí của đương sự trong vụ án, người ta sẽ thực sự ngơ ngác trước việc nhận lại một quyết định của toà án không công nhận quan hệ vợ chồng, sau khi nộp một lá đơn xin ly hôn. Rõ ràng, trong trường hợp này, có gì đó hơi thô thiển, nếu không muốn nói là lỗ mãng, trong thái độ xử sự mà cơ quan công quyền dành cho người dân thường.    Song, không thể trách thẩm phán hoặc thư ký toà án trực tiếp trao cho đương sự quyết định lạnh lùng, vô cảm đó: họ chỉ làm những gì pháp luật đòi hỏi. Ở đây, chính quy tắc pháp lý cụ thể có vấn đề về tính thích hợp của cách ứng xử được người làm luật xác định trong tình huống dự kiến.      Sự phũ phàng dành riêng cho người nghèo và ít học    Đằng sau điều luật có thể là một câu chuyện dài… đến hơn nửa thế kỷ: chuyện về những nỗ lực của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống các tàn dư của các tập tục hôn nhân phong kiến, cũng như các hệ thống nghi thức kết hôn gọi là phi thế tục.        Các quy tắc của luật viết có khả năng mang dấu ấn động lực sống và tính cách của người sáng tạo ra nó. Ngay lập tức, người ta nhận ra vấn đề làm thế nào để tránh việc lợi ích riêng tư và tính cách tiêu cực của con người chi phối sự hình thành của các quy tắc pháp lý.        Ngay từ cuối những năm 1950, người làm luật đã khẳng định rằng muốn được Nhà nước, xã hội thừa nhận là vợ chồng, thì các cặp chung sống phải đăng ký kết hôn; rằng mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý. Có lẽ, cứ nói mãi mà vẫn thấy nhiều người tiếp tục coi trọng các lễ cưới theo tập tục, tín ngưỡng hơn là lễ đăng ký kết hôn trước nhà chức trách, nên cuối cùng, người làm luật mới giáng xuống quy tắc ấy. Có thể coi đó như một kiểu trừng phạt đối với những ai không biết tôn trọng công sức và tiền bạc Nhà nước đổ ra để xây dựng, hoàn thiện định chế hộ tịch, trong khuôn khổ thiết lập, củng cố trật tự xã hội.         Vấn đề là: chắc chắn, những người có sự hiểu biết nhất định về luật sẽ nhận ra được tính chất phi pháp lý của quan hệ giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn: muốn chấm dứt quan hệ, người ta chỉ cần chia tay, đường ai nấy đi, chứ chẳng tội gì mà phải lôi nhau ra toà án, để nhận một quyết định đầy nhạo báng ấy. Vậy cũng có nghĩa rằng người đi nộp đơn trong tình huống dự kiến của điều luật thường là những người ít học và, một cách logic, phải là những người nghèo, lao động chân lấm tay bùn, nói chung, thuộc tầng lớp dưới của xã hội.  Không chỉ ngỡ ngàng và có thể phải cắn răng hứng chịu nỗi bực dọc của người cầm cân nẩy mực, những người trong cuộc còn dễ cảm thấy tủi phận, do bị các công bộc coi như người đã gõ nhầm cửa, vì kém hiểu biết.    Văn hóa ứng xử của người làm luật  Người làm luật, được hiểu là người trực tiếp soạn thảo các điều khoản cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật, trước hết, cũng là một con người. Chắc chắn, người làm luật cũng có tính cách riêng, hình thành và được hoàn thiện như là kết quả nhào nặn của thiên hướng ứng xử tự nhiên, do trời phú, và của sự giáo dục tiếp nhận từ gia đình, nhà trường, cũng như sự tác động của môi trường làm việc, giao tiếp.  Đặc biệt, sống cuộc sống bình thường như tất cả mọi người, trong điều kiện bị giằng xé giữa điều thiện và điều ác, cái xấu và cái tốt, hận thù và bao dung… người làm luật cư xử tùy theo kết quả đấu tranh nội tâm để lựa chọn giữa hai thái cực. Sự lựa chọn ấy, rốt cuộc, được chuyển hóa thành thái độ, hành vi cụ thể trong các giao tiếp nhân văn, kể cả các giao tiếp thực hiện trong khuôn khổ công việc chuyên môn, nghề nghiệp, nghĩa là trong việc làm luật.  Nói cách khác, các quy tắc của luật viết có khả năng mang dấu ấn động lực sống và tính cách của người sáng tạo ra nó. Ngay lập tức, người ta nhận ra vấn đề làm thế nào để tránh việc lợi ích riêng tư và tính cách tiêu cực của con người chi phối sự hình thành của các quy tắc pháp lý.  Vả lại, được coi là một loại ứng xử nhân văn, việc làm luật cũng đòi hỏi ở chủ thể ứng xử sự thỏa mãn một loạt các tiêu chí mà xã hội văn minh đặt ra đối với bất kỳ giao tiếp nào, trong đó có tiêu chí về nét văn hóa của hành vi. Trong lĩnh vực xây dựng chuẩn mực pháp lý, tiêu chí này càng cần được chú trọng, bởi lẽ, người làm luật được chính thức trao quyền áp đặt khuôn mẫu xử sự lên toàn xã hội: dưới sự bảo đảm bằng sức mạnh của quyền lực công, người làm luật có quyền buộc mọi chủ thể quan hệ xã hội cư xử theo khuôn mẫu đó.  Nếu văn hóa ứng xử trong việc làm luật không được coi trọng, thì pháp luật sẽ có nguy cơ bị lạm dụng và trở thành công cụ mà người làm luật sử dụng để hạch sách, nhũng nhiễu, thay vì để tổ chức hành vi của chủ thể trong cuộc sống pháp lý.        Người làm luật mà có tính khí hung hăng, háo thắng và không biết tự kiềm chế còn có thiên hướng dùng pháp luật để trút giận và “ăn thua đủ” với xã hội, nhất là khi đứng trước tình trạng có nhiều chủ thể tỏ ra ngoan cố, bất hợp tác với nhà chức trách trong việc phổ cập khuôn mẫu ứng xử được chính thức thừa nhận và cổ vũ: luật trở thành lời cấm đoán, đe dọa, nhiếc móc… Điều khoản nói trên của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 là một minh chứng.         Điều đáng buồn là không khó để tìm thấy những hạt sạn tương tự trong hệ thống pháp luật hiện hành. Cuối năm, báo chí, công luận giật mình khi nghe nói người lãnh đạo ngành giáo dục đang cân nhắc việc ra một quy định cho phép ghi chú việc sinh viên vay nợ để học tập vào bằng tốt nghiệp. Biện pháp này được lý giải như một cách lưu ý người sử dụng lao động về tình trạng nợ nần của sinh viên, qua đó, tranh thủ sự hợp tác của người sử dụng lao động trong việc thu hồi vốn vay. Đúng là chủ nợ nào cũng lo mất vốn; nhưng giảm thiểu rủi ro mất vốn bằng một biện pháp khiến người ta liên tưởng đến việc đóng dấu nhận dạng vào thân thể người nô lệ ngày xưa, thì… đúng là hết chỗ nói.  Cũng may, đó chỉ mới là ý tưởng.       Hiện tượng “ra đòn độc” bằng luật có thể được ghi nhận không chỉ trong quan hệ giữa người làm luật với dân mà, thậm chí, còn giữa những người làm luật với nhau. Ví dụ nổi đình đám nhất trong năm vừa qua, có lẽ là chuyện giữa một bên gồm những người làm Luật đất đai và Bộ luật dân sự, với bên kia, những người làm Luật nhà ở: xây dựng các quy tắc chống lại nhau, những người làm luật đẩy xã hội vào một ma trận giấy hồng, sổ đỏ, giấy trắng… rối rắm và đầy bất trắc.  Bài học rút ra, từ tất cả những chuyện đó, rất ngắn gọn: muốn làm luật, trước hết phải học làm người. Để có những điều luật tốt và có sức thuyết phục, điều cần thiết là phải có những người làm luật tốt. Không chỉ có trình độ chuyên môn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật của công việc, người làm luật còn phải có các phẩm chất và nhân cách của người đại diện cho xu thế ứng xử tích cực trong xã hội.  Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẫn là chuyện nuôi dưỡng con người      Những ngày cuối cùng của năm 2005 lùi vào phía sau để lại dư vị đắng tai ác của vụ bán độ bóng đá. Giờ đây, việc xử phạt nghiêm khắc số cầu thủ bán độ là cần nhưng cần hơn gấp nhiều lần là phải chỉ ra được môi trường sống đã nuôi dưỡng và đẩy những cầu thủ trẻ của chúng ta trượt dài trên con đường tha hóa.    Phẫn nộ về chuyện bán độ, người ta nghĩ lại cái môi trường mà cầu thủ tài danh nọ đã từng sống: “Một khu phố, một xóm mà có đến 40% số thanh niên nghiện thì còn gì để nói nữa” (Lao động  22.12). Vẫn còn chứ, “cái để nói” là các cầu thủ trẻ của ta hít thở cái không khí bệnh hoạn ấy khi họ còn đang ở “đội bóng đường phố” chứ cũng chưa vào đến tuyển U14!  Rồi khi họ bắt đầu thành danh thì cũng là lúc họ buộc phải làm quen với món võ đã được luyện thành thạo của một số trong những bậc đàn anh, hơn nữa những bậc cha chú, đang dẫn dắt đường đi nước bước cho họ, món võ quá quen thuộc: ăn chặn tiền thưởng do mồ hôi lao động và quyết tâm phấn đấu của họ mà có. “Trong sự sa đọa dẫn họ đến con đường tha hóa và bán rẻ mình có ai giật mình với chính mình qua câu hỏi: Đã bao nhiêu lần mình ngó lơ và thiếu trách nhiệm với những cầu thủ mà mình thường thường “bác bác, con con”với họ” (Lao động 22.12). Trả đũa lại sự ăn chặn nhơ bẩn đó là là sự ăn miếng trả miếng để bù lại số tiền mồ hôi nước mắt đã được các bậc “đi trước” ăn bẩn mất.  Cái môi trường mà một cựu giám đốc sở TDTT một tỉnh nọ đã phát biểu trắng trợn: “Bóng đá Việt Nam không cần tiền đạo, chỉ cần tiền mặt” (Pháp luật TPHCM 28.12). Ở đó, có những gương mặt đã nhẵn lì về những chuyện tiêu cực xấu xa vốn đã được cảnh báo, nhưng vẫn tiếp tục được ỡm ờ dọn cỗ! Ai ỡm ờ? Dư luận xã hội đang còn nán đợi “hồi sau sẽ rõ”. Nhưng trước khi rõ điều này thì kẻ gánh chịu nỗi đau “Tiếc thay tay đã nhúng chàm; Dại rồi còn biết khôn làm sao đây” lại là đám trẻ người non dạ kia!  Vì thế mà giận thì thật là giận, mà thương thì cũng là thương số cầu thủ đã rơi vào cảnh ngộ “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”. Những giọt nước mắt hối hận nghĩ cho kỹ cũng chưa phải là đã quá muộn mằn nếu thấu tỏ cái “chốn đoạn trường” mà chúng đã đi vào được khởi đầu từ đâu. Phải dám nhìn vào điểm xuất phát mới thấy hé lộ ra sự thể tất cần có của tầm mắt khoan dung trong giải pháp. Đã hơn một lần tôi dẫn ra những lời xúc động thấm đẫm tính nhân văn của V.Hugo, tác giả “Những người khốn khổ”: “cái thứ cát ô uế mà bạn xéo dưới chân, hãy ném nó vào lò nấu, hãy để nó chảy ra, hãy để nó sôi lên, nó sẽ trở thành pha lê rực rỡ”. Tôi không muốn nhìn vào ánh mắt thẫn thờ của những chàng trai đã bị sập bẫy đang ngồi trong trại giam. Tôi muốn nhìn nụ cười của họ vào những phút xuất thần lóe sáng trên sân cỏ đã làm bật dậy niềm sung sướng tự hào hồn nhiên và cao cả của hàng triệu tấm lòng. Rất dễ xéo thứ cát ô uế làm bẩn đế giày! Khó hơn nhiều là biết cách ném nó vào lò nấu để làm cho nó chảy ra và sôi lên. Khó hơn nữa là luyện cho nó trở thành pha lê rực rỡ.           Chuyện bán độ của số cầu thủ ngôi sao cần được xem như giọt nước tràn ly của sự bất cập trong việc đào luyện con người, trong công tác tư tưởng và văn hoá.        Từ nghèo khổ, phút chốc có cả cục tiền, nếu thiếu sự giáo dục và rèn luyện, thì chuyện dấn vào và trượt dài trên con đường sa đọa là điều quá dễ hiểu. Cái đáng nói là lối dung dưỡng của sự vô trách nhiệm của những người, những tổ chức có chức năng quản lý và giáo dục những cầu thủ trẻ kia. Cái đáng nói là lối sống “sành điệu” dung tục và sống sượng của lối bán mình dễ dãi cho đồng tiền được khoác cho bộ áo sặc sỡ về lòng hâm mộ các “sao” bóng đá cũng như những “sao” khác sớm nở tối tàn trên sàn diễn hay từ các cuộc “thi” quen kích động những thị hiếu phàm tục, càng như chất xúc tác đẩy nhanh sự sa đọa. Chúng ta cũng đã được chứng kiến “cái nết đánh chết cái đẹp” ở một phiên toà nọ mà cái đẹp đã bán mình vẫn cố làm ra bộ trong trắng và ngây thơ! Với gia đình “gia giáo” còn thế thì chẳng trách các chàng trai nghèo khổ vốn hiếu hạnh đã buộc phải ăn tươi nuốt sống lối sống thị dân. Và cần phải đặt hiện tượng bán độ của những tài năng bóng đá trên bình diện văn hóa, để không chỉ tìm ra giải pháp cho việc đào tạo và giáo dục các tài năng trẻ trên sân cỏ mà còn phải nhìn lại những khuyết tật của sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.  Báo chí đã gợi lên hình ảnh của những “Hai Lúa” đáng yêu và có bản lĩnh trên sân cỏ. Thế nhưng cũng đừng quên những “Hai Lúa” đó cũng vẫn đang phải hít thở trong cùng bầu không khí của những kẻ đã gục ngã kia. Và cũng cần biết rằng, nơi quê hương của những “Hai Lúa” đó cũng không thiếu sự lầm lũi cơ hàn mà khát vọng đổi đời cũng đang giục giã phải cố kiếm tiền để cải thiện đời sống cho bản thân và cho gia đình. Nhưng kiếm được đồng tiền sạch sẽ đâu phải dễ. Thì đấy, thật đau lòng phải dẫn ra đây cảnh ngộ của không ít cô gái phải kiếm chồng nước ngoài mà chẳng cần biết đến tình yêu, chỉ cốt có được một món tiền  cứu giúp cha mẹ vượt qua đói nghèo. Không phải chỉ một thân phận Thuý Kiều “dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”, mà các cô gái của chúng ta đã phải xếp hàng để người ta xem mặt, thậm chí cũng không quá lạ lẫm với cái cảnh “vén tóc bắt tay”của người chào hàng và kẻ đi mua hàng! Báo chí đã đưa ra những con số xót xa về tỷ lệ số thanh nữ trong một xã kiếm chồng nước ngoài kiểu đó ở nơi vựa lúa của cả nước! Đau đớn hơn là chính gia đình họ cũng hối thúc chuyện ấy.  Hy vọng rằng đem chuyện này trộn lẫn vào chuyện“bán độ” bóng đá không đến nỗi lạc đề, cũng không là một “vĩ thanh” guợng gạo, mà là chuyện chẳng đặng đừng để đánh thức dư luận xã hội về việc nuôi dưỡng con người. Và liệu đây có phải là chuyện văn hoá không nhỉ?     Tương lai     Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẫn muốn hội độc quyền!      Gần đ&#226;y, nghe tin giới ca sĩ b&#224;n nhau lập một hội ri&#234;ng, b&#234;n cạnh sự tiếp nhận tin tức th&#244;ng thường, ở t&#244;i c&#242;n c&#243; một cảm tưởng buồn. Buồn v&#236; h&#243;a ra giới văn nghệ sĩ của ta vẫn chưa tho&#225;t khỏi nỗi &#225;m ảnh về kiểu hội đo&#224;n văn nghệ sĩ theo một m&#244; h&#236;nh đ&#227; cũ: m&#244; h&#236;nh hội độc quyền.      Sao lại dám bảo cái hội thậm chí còn chưa ra đời, mới chỉ được ấp ủ, thai nghén kia là hội độc quyền?   Tôi dám đoán như thế, vì những người rủ nhau lập hội ấy, qua những phát biểu đây đó của họ, đã đủ tỏ ra họ đang nhắm tới cái dạng thức hội mà trên lãnh thổ toàn quốc sẽ chỉ có một nó là duy nhất trong giới của mình, những ai làm nghề ca hát đều (phải) gia nhập hội ấy, hội ấy sẽ đại diện cho ca sĩ cả nước trong mọi hoạt động nghề nghiệp, mọi vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ, v.v… Trên những nét phác như thế, đây sẽ là một hội mang tính độc quyền, hệt như các hội độc quyền hiện có, do di sản của “quá khứ gần”, được thiết kế theo kiểu mỗi ngành một hội, cũng tương tự như EVN trong ngành điện nước ta hiện nay.   Tôi cũng dám đoán rằng cái hội ca sĩ đang được vận động thành lập kia còn muốn sẽ được nhà nước cấp kinh phí hoạt động, cấp trụ sở, xe cộ, v.v…, và sẽ tồn tại bên cạnh các hội đã có như hội nhạc sĩ, hội sân khấu, hội nhà văn, v.v… Như thế, đó sẽ còn là một hội “nhà nước hóa” nữa kia!   Hình như các nghệ sĩ hát (và không chỉ có họ) không hề nhớ rằng, loại hình hội nhà nước hóa, hội độc quyền này, là di sản của việc áp dụng mô hình “chủ nghĩa xã hội nhà nước” kiểu cũ, từ trung ương đến địa phương hiện đang có tới hàng trăm hàng ngàn hội các loại, mỗi năm tiêu tốn tiền cỡ chục tỉ của ngân sách, tức là tiền đóng thuế của dân; và loại hội này đang là mối bận tâm của những nỗ lực cải cách về thể chế; nhưng những hô hào “xã hội hóa” vẫn còn chưa hữu hiệu gì. Cũng xin nhớ thêm rằng, đây là những hội mà trong đó các thành viên thay vì hỗ trợ nhau về nghề nghiệp sẽ … đấu đá nhau giành chức tước, sẽ ngấm ngầm mặc cả bán mua phiếu bầu mỗi kỳ đại hội, như người ta đã thấy, bởi vì, cùng với chức tước được bầu sẽ là bậc lương, là tiêu chuẩn xe cộ, nhà cửa, − tất cả đều bao cấp từ ngân sách!  Bên cạnh con số cả trăm (nếu không đến cả ngàn) hội còn chưa thanh lý được kia, tôi nghĩ không nên có thêm dù chỉ một (bằng số: 01) hội nữa cũng trong loại hình hội độc quyền này!  Nói vậy có vẻ như là tôi góp lời bàn lùi vào những hô hào lập hội của giới ca sĩ hiện nay. Hiểu thế cũng chẳng sao. Tôi không dám chắc rằng các vị sốt sắng lập hội kia sẽ không thành công; là vì hiện cũng còn không ít vị công chức (và quan chức) vẫn muốn duy trì lâu chừng nào hay chừng nấy các loại hội nhà nước hóa và độc quyền này, bởi họ vẫn muốn trở lại cơ chế bao cấp cũ; có các vị công chức ấy ủng hộ, một hội ca sĩ mới rất có thể sẽ thành hình.    Tôi không vỗ tay hoan nghênh kiểu hội độc quyền và nhà nước hóa. Vì thế, trước những vận động lập hội của giới ca sĩ kia, tôi chỉ góp lời khuyên duy nhất: tránh mô hình hội độc quyền và hội nhà nước hóa.   Cụ thể hơn, xin quý vị hãy nghĩ đến một hội nhỏ thôi, đừng là hội toàn quốc! Một nhóm nhỏ thôi, vài chục người chẳng hạn. Hãy nghĩ đến mô hình Tự Lực Văn Đoàn hồi những năm 30 của thế kỷ trước chỉ với 7 thành viên; hoặc ở một phía khác là mô hình một nhà dưỡng lão của các nghệ sĩ ở các tỉnh phía Nam hiện giờ, nơi mà giới nghệ sĩ lập ra cho những trường hợp già yếu không nơi nương tựa, chăm sóc nhau lúc sức tàn lực kiệt, lo đến cả hậu sự cho nhau nữa, rất thiết thực và đầy tình nghĩa!   Trong cuộc sống hiện nay, hoạt động của văn nghệ sĩ nói chung, là thuộc về đời thường, thuộc về đời sống dân sự. Hoạt động nghệ thuật, tức là hoạt động nghề nghiệp của từng văn nghệ sĩ, − mà nội dung chính bao gồm sáng tác và công bố tác phẩm, − gắn họ trước hết với những đơn vị văn hoá nghệ thuật như toà soạn báo, tạp chí, nhà hát, nhà xuất bản, hãng phim, hãng băng đĩa, xưởng hoạ, phòng tranh, v.v…, − những đơn vị này có thể là đơn vị quốc doanh, cũng có thể là xí nghiệp dân doanh, thậm chí là xí nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, tuỳ theo chế định của luật pháp. Quan hệ của văn nghệ sĩ với các đơn vị nghệ thuật là quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động; không nên đem nội dung “hội đoàn” vào quan hệ này.   Sự liên kết tương hỗ giữa văn nghệ sĩ với nhau, nếu thuộc phạm vi các quyền tinh thần và lợi ích, nảy sinh từ các sản phẩm sáng tạo của họ, − có thể được đảm trách bởi các hãng, các tổ chức tư vấn về bản quyền; nếu thuộc phạm vi chăm sóc sức khoẻ, tuổi già, − có thể được đảm trách bởi các hãng, các tổ chức chuyên về bảo hiểm xã hội.   Còn lại, lĩnh vực mà văn nghệ sĩ có thể cần liên kết nhau, chính là lĩnh vực trực tiếp gắn với hoạt động sáng tạo: những xu hướng, những quan niệm, những ý đồ nghệ thuật cần được chia sẻ, cần được hợp tác, để cùng nhau phác hoạ, hoàn thiện, cùng nhau biến dự phóng nghệ thuật thành thực thể nghệ thuật. Loại liên kết này là yếu tố đáng kể nhất để rủ nhau lập hội. Trong quỹ đạo của chế độ bao cấp, nhân danh sự liên kết ấy, người ta sẽ lập các hội mang tính toàn quốc, và sau khi được chính quyền công nhận, cái hội đó sẽ gần như trở thành “chính quyền”, thành cơ quan hành chính trong giới mình: một “bộ” (hoặc tổng cục) văn học nếu đó là giới nhà văn, một “bộ” (hoặc tổng cục) âm nhạc, nếu đó là giới nhạc, v.v… Kiểu hội “nhà nước hóa”, hội độc quyền, đã hình thành như thế, suốt nhiều năm dài. Nay thì thời bao cấp đã qua; ta nên dứt bỏ luôn cái tư duy, cái mô hình về kiểu hội độc quyền, hội nhà nước hóa ấy.  Tôi nghĩ, trong đời sống văn nghệ từ nay về sau, liên kết nhóm nhỏ có lẽ là dạng liên kết hữu hiệu hơn. Có thể gọi đấy là mô hình hội nghề nghiệp ngày nay. Các nhóm nhỏ này (ví dụ dễ thấy là các ban nhạc trẻ, các nhóm hoạ sĩ, kiến trúc sư, có khi là nhóm vừa nhà văn, nhà báo, hoạ sĩ… cùng làm một tờ báo chẳng hạn) chỉ tồn tại chừng nào còn nỗ lực sáng tạo chung, chừng nào sự sáng tạo chung còn có hiệu quả đối với đời sống. Khi những nỗ lực ấy, những hiệu quả ấy không còn thì sự chia tay giữa họ, sự chấm dứt của nhóm là không tránh khỏi, và điều đó không hề gây tai hoạ hay biến động gì cho xã hội, ngược lại, là hiện tượng thông thường, bình thường thậm chí cần thiết của đời sống văn hoá văn nghệ. Rời một nhóm vừa tan, mỗi nghệ sĩ lại có thể tham gia một nhóm khác, đã có từ trước hoặc mới lập. Tóm lại, theo tôi, mô hình nhóm nhỏ khả thi hơn, và thực ra cũng đang phổ biến rồi. Đâu cần phải có thứ hội lớn, hội “toàn quốc”?  Thử nghĩ lại mà xem: liệu có cần thiết kế thêm ra cả một cơ cấu kềnh càng ban bệ hội hè cho giới ca sĩ cả nước không, khi mà vô số những hội đoàn văn nghệ kiểu cũ vẫn còn đấy, vẫn xài phí tiền đóng thuế của dân, trong khi việc quản lý về mặt nhà nước cho từng ngành hoạt động nghệ thuật đã chuyển hầu hết về cho các bộ chức năng (thông tin truyền thông hoặc văn hóa thể thao du lịch)?  Hẳn sẽ có ý kiến: nếu như cái hội sắp lập này sẽ tự duy trì hoạt động của mình chỉ bằng đóng góp của hội viên, hoặc bằng các loại tài trợ, bằng những nguồn tiền quyên góp được mà thôi, chứ nhất quyết không xin ngân sách!?  Vâng! Nhưng nếu quý vị tránh được cái quy chế nhà nước hoá rồi, thì lại nên tránh nốt cái quy chế hội độc quyền. Đây là đề nghị của riêng tôi: đừng đặt ra quy chế hội ca sỹ này là hội mang tính toàn quốc, hội duy nhất của giới ca sỹ Việt Nam! Vì nếu đặt ra quy chế ấy thì tức là xâm phạm “quyền không vào hội”, hoặc “quyền lập một hội khác” của những ca sỹ người Việt khác, họ chưa chắc đã tán đồng đứng cùng một hội với những người đang ồn ào lên tiếng đề nghị lập hội, bất kể họ nổi tiếng nhiều hơn hay ít hơn quý vị.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn nạn tăng biên chế và BOT: Cùng một nguyên nhân      Biên chế Nhà nước và các BOT Giao thông là hai chủ đề nổi bật trên truyền thông mấy tuần vừa qua. Vấn đề tinh giản biên chế hành chính được nêu lên tại Nghị quyết 16 HĐBT ngày 8-2-1982, nhưng đến nay biên chế ngày càng tăng. Vấn đề các BOT giao thông tuy mới rộ nở trong thời gian 2011 – 2015, nhưng sự “nghiêm trọng” của nó cũng không thua vấn đề “giảm biên chế hành chính”, vì nó cũng chạm trực tiếp đến quyền lợi của dân.      Dự án BOT Pháp Vân – Cầu Giẽ    Sau Nghị quyết 16 HĐBT-1982 “Về việc tinh giản biên chế hành chính”; hằng năm, trong các Nghị quyết, Văn kiện của Đảng và Chính phủ đều đặt ra vấn đề này càng ngày càng quyết liệt vì tính quan trọng và cấp bách của nó. Nhưng tại Hội nghị cán bộ trực tuyến toàn quốc sáng ngày 29-11-2017, người đứng đầu ngành Tổ chức Trung ương Đảng giới thiệu tình hình và công bố những số liệu rúng động: Sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW- 2015, theo yêu cầu phải giảm mỗi năm 70.000 người, hai năm phải giảm 140.000 đến 150.000 người, nhưng thực tế không giảm được người nào mà lại tăng 96.000 người. Hiện có gần 8 triệu người đang hưởng lương ngân sách, chiếm gần 9% dân số. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Hàng năm trung bình chi thường xuyên của Việt Nam ở mức 68-69% tổng chi ngân sách, có lúc lên đến 72%. Riêng năm 2017 này Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc ký duyệt ngân sách, tiết kiệm hơn cũng chiếm 65%. Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy. Nước Mỹ có diện tích lớn xấp xỉ 30 lần nước ta, dân số gần gấp 4 lần, nhưng đội ngũ công chức của họ chỉ có 2,1 triệu, tức 160 người nuôi 1 công chức. Nhìn sang Trung Quốc thì chúng ta thấy đội ngũ công chức của họ cũng chỉ chiếm 2,8% dân số. Rõ ràng, vấn đề tổ chức-bộ máy- nhân sự-biên chế của cả hệ thống chính trị xưa nay là cực lớn, tư tưởng đơn giản, biện pháp hời hợt là không giảm được mà chính nó sẽ quay lại “giảm” người đi giảm nó! Ba mươi lăm năm chỉ có tăng tổ chức, tăng biên chế, tăng người có chức vụ. có “cấp hàm” – hàm Vụ trưởng, hàm Vụ phó (?), tăng chi cho con người của bộ máy v.v… dẫn đến thiếu tiền để chi đầu tư  xây dựng và trả nợ!  Bộ máy Nhà nước tồn tại, mạnh lên là nhờ tính khoa học và tính cách mạng, trong khi tính tự phát ngày càng chen vào lấn át tính khoa học; và trong hàng ngủ xuất hiện ngày càng nhiều những người thờ ơ – vô cảm, tham nhũng… Và chính những vấn đề tổ chức-cán bộ-biên chế như vậy là một trong những nguyên nhân của tình hình các BOT hiện nay. Theo thống kê, trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Giao thông vận tải đã huy động được khoảng 186.660 tỷ đồng để đầu tư 62 dự án theo hình thức hợp đồng BOT và BT. Cái gọi là “bất cập” có lẽ bắt đầu từ việc đầu tư rầm rộ này. Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật hiện nay cả nước có 88 trạm thu phí trên tuyến quốc lộ, trong đó Bộ GTVT quản lý 74 trạm thu phí, UBND các tỉnh quản lý 14 trạm. Có 13 hệ thống thu phí trên các tuyến đường cao tốc, trong đó Bộ GTVT quản lý 12 hệ thống; UBND các tỉnh quản lý một hệ thống. Trạm thu phí trên tuyến Quốc lộ 1, có 20 trạm cách nhau khoảng dưới 60km. Thứ trưởng cho rằng, mức thu phí và lộ trình tăng phí của một số đơn vị là điều quan tâm nhất hiện nay (?).  Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã dẫn số liệu khảo sát của các tổ chức nghiên cứu kinh tế cho thấy, chi phí logictic (vận chuyển) ở Việt Nam hiện nay là trên 21%, thuộc loại cao nhất trên thế giới. Và chi phí này chủ yếu bị đẩy cao do phí BOT tăng cao trong mấy năm gần đây. Theo kết quả thanh tra, từ khi triển khai đầu tư theo hình thức hợp đồng BT, BOT trong lĩnh vực giao thông đến nay, với hơn 70 dự án đã thực hiện đều không lựa chọn được nhà đầu tư nào theo hình thức đấu thầu mà 100% là chỉ định thầu với lý do chỉ có một nhà đầu tư tham gia. Trong đó có cả nhà đầu tư được lựa chọn chưa đảm bảo năng lực dẫn đến nhiều bất cập, sai sót. Trong 19 dự án đường bộ, có 13 dự án được giảm thời gian thu phí tổng cộng là 92 năm 3 tháng – tức là tăng thời gian thu quá lố mức “được phép” –  thành ra ăn gian. Rõ ràng các BOT giao thông trở thành những “cục máu đông” gây ách tắc cho nền kinh tế, làm mất lòng dân “giữa đường”, “giữa ban ngày” ai cũng thấy. Các BOT giao thông, sự tù mù bắt đầu từ năm 2011, điển hình là BOT Cai Lậy – Tiền Giang. Theo tài liệu có được, vào ngày 28/10/2013, thứ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải, đã gấp gáp ký cùng lúc ba công văn hỏa tốc gửi HĐND, UBND và đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang về việc “thống nhất vị trí đặt trạm thu phí hoàn vốn dự án đầu tư xây dựng quốc lộ đoạn tránh qua thị trấn Cai Lậy  theo hình thức BOT” và ngày 19/12/2013 ông lại ký quyết định phê duyệt dự án. Con đường đi từ Bộ về Tỉnh và ngược lại của một dự án ngàn tỷ, có tuổi thọ hơn nửa thế kỷ, trong “cơ chế quan liêu” còn nặng như hiện nay mà cách nhau chỉ 1 tháng 21 ngày, là quá ngắn về thời gian để bàn bạc dân chủ công khai với dân về tính toán khoa học và dự toán thu chi của dự án? Nhưng cũng không ai biết dự án hạch toán ra sao mà là “bí mật”. Ngày 17/8/17, tại cuộc họp báo về BOT giao thông tại Bộ GTVT, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông phát biểu: “Trong luật và những văn bản dưới luật đều không có quy định nào yêu cầu công khai hợp đồng BOT. Ngoài ra các hợp đồng BOT đều không đóng dấu mật nhưng không cần thiết phải công khai tất cả”. Vậy là, bất cứ có sự cố nào xảy ra, nhân viên nhà nước bao giờ cũng tự cho là làm đúng luật!  Bí mật là chuyện đang bàn tính làm, đang làm; nhưng khi đã thực hiện thì phải công khai cho dân biết để giám sát. Đó là thông lệ văn minh, Nhà nước ta còn yêu cầu dân giám sát chính quyền, hoạt động của cán bộ nữa, nhưng cái gì quan trọng đụng chạm đến quyền dân, tiền dân (ngân sách) mà bí mật như có người tưởng thì dân giám sát cái gì? Những vấn nạn trong biên chế và BOT hiện nay có chung một nguyên nhân: Do thể chế hiện nay còn có nhiều bất cập rất cần sớm sửa đổi.       Author                Nguyễn Minh Nhị        
__label__tiasang Vần thơ khiến các nguyên thủ rơi lệ      Trong lễ khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh về  biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc, phần phát biểu ấn tượng và sâu sắc  nhất không thuộc về một nguyên thủ quốc gia hay ngôi sao điện ảnh mà bất  ngờ thuộc về nữ công dân từ đảo quốc nhỏ bé Marshall, Kathy  Jetnil-Kijiner.     Một quan chức Liên Hợp Quốc sau đó đã bày tỏ trên tài khoản Twitter là nó khiến “nhiều nhà lãnh đạo rơi lệ”, gợi nhớ đến bài phát biểu đầy cảm xúc của nhà ngoại giao Philippines, Yeb Saño, trong cuộc họp gần đây nhất về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc được tổ chức vài ngày sau cơn bão Haiyan.   Là một nhà thơ kiêm nghệ sỹ trình diễn, Kathy Jetnil-Kijiner gây chú ý bởi những thông điệp bằng thơ của mình trên blog, “thơ của tôi chủ yếu tập trung vào việc nâng cao nhận thức các vấn đề trong cuộc sống và các mối đe dọa mà nhân dân tôi phải đối mặt: việc tiến hành thử nghiệm hạt nhân trên các hòn đảo, chủ nghĩa quân phiệt, nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, nạn di cư cưỡng bức, nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ”.   Hơn ai hết, Kathy Jetnil-Kijiner đấu tranh để thế giới quan tâm hơn đến Tổ quốc mình – quần đảo Marshall, một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu. Nằm ngoài khơi Thái Bình Dương, nhiều năm qua người dân Marshall đã phải đối mặt với hạn hán khắc nghiệt, lũ lụt, mực nước biển dâng cao… Vì vậy, trong buổi lễ khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc vừa qua, Kathy Jetnil-Kijiner đã nói lên tiếng nói của những người dân “thấp cổ bé họng” thuộc đảo quốc Marshall rộng vỏn vẹn 181km2: “Chúng tôi đã thấy sóng đánh dữ dội vào ngôi nhà mình, những cái cây khô héo vì nhiễm mặn và hạn hán. Nhìn con em mình, chúng tôi tự hỏi nếu quần đảo bị chìm thì liệu chúng làm cách nào để tồn tại”. Qua “Dear Matafele Peinem”, bài thơ nói về cô con gái sơ sinh với lời hứa lạc quan “Chúng ta không để cho con chìm xuống. Con sẽ thấy điều đó” (We won’t let you down. You’ll see), Jetnil-Kijiner kêu gọi hành động của các nhà lãnh đạo thế giới vì lợi ích của các thế hệ tương lai và trước hết là cam kết khắc phục biến đổi khí hậu trước khi quần đảo Marshall bị đại dương nuốt chửng.   Và Jetnil-Kijiner tự tin rằng dù khó khăn như thế nào thì vấn đề biến đổi khí hậu vẫn sẽ được giải quyết, và con gái của cô sẽ có thể tiếp tục sống ở quần đảo Marshall. “Không có ai bị chìm khuất, con yêu”, cô nói. “Không ai phải ra đi. Không ai mất quê hương. Không ai trở thành người tị nạn biến đổi khí hậu.”  Trước Jetnil-Kijiner, tại Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu Copenhagen năm 2009, cô gái 17 tuổi Christina Ora từ quần đảo Solomon cũng từng kêu gọi: “Tôi sinh ra năm 1992. Quý vị đang đàm phán về cuộc sống của tôi”. Năm năm sau khi những bế tắc vẫn chưa được giải quyết, Christina Ora tiếp tục đăng đàn: “Chúng tôi muốn quý vị lắng nghe tiếng nói của các đảo quốc Thái Bình Dương, lắng nghe những quốc gia dễ bị tổn thương. Quý vị đang giữ tương lai và cuộc sống của chúng tôi trong tay”.  Từ Christina Ora tới Jetnil-Kijiner, người dân các quốc đảo Thái Bình Dương đã có một bước tiến dài trên con đường đấu tranh chống biến đổi khí hậu. Họ đã tạo nên một hình ảnh khác về những quốc đảo bên lề thế giới, không cam chịu là nạn nhân của mực nước biển dâng mà trở thành những người đang tham gia cuộc chiến chống biến đổi khí hậu với các quốc gia khác trên toàn thế giới.   T.N tổng hợp   ww.smh.com.au, www.theguardian.co.uk, www.slate.com, www.thinkprogress.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vào WTO, thử nghĩ về vài khía cạnh văn hóa      Rất tình cờ mà thật trùng hợp, trong những ngày này, khi mọi người đang rộn rịp xôn xao vì chuyện ta đã vào WTO, tôi tìm lại được một cuốn sách cũ thú vị, cuốn “An Nam cung dịch sử” của Chu Tuấn Thủy, và cùng lúc gặp được người đã dịch và giới thiệu cuốn sách ấy, nhà nghiên cứu Vĩnh Sính từ Canada về dự một hội thảo quốc tế ở Hà Nội. Từ lâu tôi vẫn thường nghĩ một nghiên cứu so sánh, ít nhất và trước hết, giữa ba nước Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, về nhiều phương diện, lịch sử, xã hội, văn hóa, chính trị…, là rất quan trọng, có lẽ ngày càng quan trọng. Cả ba đều nằm trong khu vực thường được gọi là ảnh hưởng văn hóa Hán, đều là láng giềng của một đất nước và một trong những nền văn hóa, văn minh khổng lồ của nhân loại là Trung Hoa, tính cách, rồi con đường đi và số phận lịch sử của ba dân tộc có gì giống nhau và khác nhau, vì sao? Từ đó có thể nghĩ gì cho hôm nay?         Như nhiều người đang nói: Vào WTO là một chuyển biến có tính lịch sử, là ra biển lớn, ra đại dương, chứ không chỉ mon men ven bờ như hàng nghìn năm nay ta vẫn rón rén, một cuộc nghiên cứu so sánh như vậy, để từ đó nhìn lại mình, một cách thật bình tĩnh, nghiêm túc lúc này là hết sức cần thiết. Giáo sư Vĩnh Sính chính là một người đã chú tâm làm công việc đó, từ nhiều năm trước; việc ông dịch và giới thiệu cuốn sách của Chu Tuấn Thủy cũng nằm trong mối quan tâm lớn đó của ông.  Chu Tuấn Thủy là trưng sĩ, tức là người có tài được tiến cử ra giúp nước chứ không qua đường thi cử, trung thần nhà Minh. Khi người Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, lên nắm quyền ở Trung Quốc, ông có chạy sang Việt Nam, đã năm lần đến Đàng Trong, thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, có lần đã ở đấy liền 4 năm, tha thiết muốn được đem sở học của mình giúp Việt Nam, đúng vào lúc Việt Nam, cùng các nước phương Đông, đang đứng trước một chuyển động lịch sử chưa từng thấy: chủ nghĩa tư bản phương Tây đổ xô đi tìm thị trường ở phương Đông, gây nên cái mà ngày nay ta gọi là toàn cầu hóa, cuộc toàn cầu hóa lần thứ nhất. Người Việt, những người cầm quyền Việt Nam bấy giờ đã tiếp Chu Tuấn Thủy như thế nào? Hống hách bắt phải lạy, hỏi có những bằng cấp gì, khi biết chẳng có bằng cấp gì cả thì hết sức coi thường, rồi bâu lại cật vấn toàn những chuyện vớ vẩn về sách vở giáo điều và tướng số mê tín, rồi bắt giam, câu lưu, có lúc Chu đã suýt phải bỏ mạng… Cuối cùng, năm 1658, Chu ốm nặng, phải tìm cách quay về Nhật Bản. Ở Nhật, hoàn toàn ngược lại, được lãnh chúa của một trong ba lãnh địa lớn nhất của Nhật lúc bấy giờ là Tokugawa Mitsukumi mời làm tân khách, Chu đã đem sở học của mình hết lòng giúp Mitsukumi, và Mitsukumi chính là người chủ xướng học phái Mito, có ảnh hưởng lớn đến phong trào yêu nước dẫn đến Minh Trị Duy Tân, như chúng ta đều biết, đã đưa nước Nhật đến một số phận khác hẳn chúng ta, không những giữ vững được độc lập dân tộc trước bão táp toàn cầu hóa mà còn trở thành cường quốc, cho đến ngày nay…  Về Việt Nam, Chu Tuấn Thủy trong tác phẩm “An Nam cung dịch sử” có nhận xét cay đắng và thẳng thắn: “Tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng”. Dạ Lang là một nước nhỏ thời Hán, có bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ” (Ở ta gần đây cũng có một cuộc bàn cãi đúng y như vậy!). Dạ Lang tự đại trở thành thành ngữ chỉ những cộng đồng kiêu căng vô lối, không tự biết mình, cũng không biết người, thường đề cao cái gọi là ý thức “độc lập”, kỳ thực là biệt lập, sự biệt lập cách đây mấy trăm năm đã đưa dân tộc ta đến đâu, ta đều đã biết cả rồi.    Đọc lại Chu Tuấn Thủy, người bạn lớn lẽ ra ta từng có được mà ta dại dột bỏ mất, đọc Chu trong những ngày này khi ta vào WTO, có lẽ không thể không nghĩ có phải đây chính là lúc ta phải thật sự quyết bỏ cho hết tiệt bệnh Dạ Lang đi, căn bệnh, nếu ta thật sự dám thẳng nhìn lại mình, là khá thâm căn của người Việt. Tôi nghĩ có thể đó chính là một khía cạnh văn hóa sâu sắc trong sự kiện lịch sử đang diễn ra những ngày này.  Cũng chính trong cuốn sách “Việt Nam và Nhật Bản, giao lưu văn hóa” trong đó ông công bố bản dịch “An Nam cung dịch sử”, giáo sư Vĩnh Sính còn có một bài viết rất đáng chú ý nhân chuyến ông đi dự một hội nghị văn hóa ở Hàn Quốc. Trong hội nghị này ông đặc biệt chú ý đến bài tham luận của giáo sư Hàn Quốc Park Seong-Rae nói về điều mà vị giáo sư này, với một tinh thần tự phê phán dân tộc rất đáng để ta suy nghĩ, gọi là “hội chứng độc lập” hay “bệnh độc lập”, luôn chăm chăm nhấn mạnh, đề cao cái đặc sắc, cái độc lập văn hóa của nước mình, dân tộc mình đối với các nước khác, dân tộc khác, xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, và do đó luôn sợ “mất bản sắc” dân tộc khi hội nhập với những giá trị văn hóa khác. Đây hình như cũng chính là điều ngày nay ở ta đang được nhiều người nói đến, như một răn đe. Park Seong-Rae nói rằng: “Nếu người Hàn Quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hóa của họ đối với những nước láng giềng… – chẳng hạn như “cảm xúc nghệ thuật độc đáo” của người Hàn Quốc – thì chính bản thân họ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn”. Nghĩ cho kỹ xem, ở ta điều này không phải không có, thậm chí còn đậm đà hơn nhiều. Và Vĩnh Sính viết “Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hóa khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hóa Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa”. Riêng tôi nghĩ, chính trong ngày này, khi chúng ta đang bắt đầu thật sự dấn mình vào biển lớn WTO, thì “hội chứng độc lập” càng dễ thức dậy nhiều hơn, mạnh hơn. Đây có thể lại là một khía cạnh văn hóa nữa hết sức đáng suy nghĩ hiện nay.  Như chúng ta đều nhớ, cách đây hơn một thế kỷ, đã từng diễn ra một cuộc tranh luận hết sức độc đáo và sâu sắc giữa hai đầu óc và hai nhân cách, hai nhà yêu nước lớn nhất của dân tộc thời bấy giờ, hai con người thân thiết với nhau và kính trọng nhau đến mực nhưng lại cũng hết sức khác biệt nhau về tư tưởng và vô cùng thẳng thắn trong đối thoại: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Trong cuộc tranh luận đó Phan Châu Trinh đã có một nhận xét quyết liệt, đúng như tính cách của ông. Ông cho Phan Bội Châu là một bậc đại hào kiệt “có lòng thương nước nhưng không biết cái đạo thương nước”. “Đạo thương nước”, theo Phan Châu Trinh, là biết cho rõ nhược điểm chết người của dân tộc và đất nước mình, kiên quyết và mạnh mẽ đi ra thế giới, học tập thế giới, thay đổi mình đi, để rồi có thể sánh vai cạnh tranh sống còn cùng với thế giới.  Ý tưởng đó ngày nay càng thời sự biết chừng nào.       Nguyên Ngọc     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vào WTO: Việt Nam nên trợ cấp ngành nào?      Chắc chắn khi trở thành thành viên thứ 150 của WTO, nhiều cơ hội sẽ mở ra, Việt Nam sẽ thu được nhiều lợi ích. Tuy nhiên, những rủi ro luôn đi kèm với cơ hội. Do đó, để có thể gặt hái được những lợi ích, giảm thiểu được những rủi ro, Việt Nam cần phải cẩn trọng và khéo léo hơn khi đưa ra các chính sách, nhất là các chính sách liên quan đến việc hỗ trợ và trợ cấp.     Việc hỗ trợ của Nhà nước là điều cần thiết và đương nhiên. Tuy nhiên, trước hết cần phải xác định những đối tượng nào, ngành nào cần được hỗ trợ nhiều nhất và ít gây tranh cãi nhất.   Rõ ràng, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ba nhóm cần phải hỗ trợ chính là những người ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, người lao động và cộng đồng doanh nghiệp. Nếu coi nhà nước là người hỗ trợ thì trong xã hội chỉ còn lại ba nhóm nêu trên. Liệu có giải pháp nào hỗ trợ cho cả xã hội mà không vi phạm các nguyên tắc của WTO Xin trả lời là có. Nhưng trước hết, cần xem xét nhu cầu của mỗi nhóm nên trên là gì.  Đối với những người ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, ước muốn của họ là được mùa và nông sản bán được giá cao để có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống. Để có được điều này, với một diện tích đất giới hạn, giải pháp khả dĩ chỉ có thể là giảm số lao động ở khu vực nông nghiệp để tăng diện tích đất trên mỗi lao động nông nghiệp đồng thời áp dụng các công nghệ mới và có cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Muốn tăng diện tích trên một người làm nông nghiệp thì một bộ phận lao động ở khu vực này phải có kỹ năng để có thể chuyển sang khu vực công nghiệp dịch vụ, đồng thời bản thân những người ở lại khu vực nông nghiệp cũng phải biết cách áp dụng các công nghệ sản xuất nông nghiệp mới.                             Nhu cầu của người lao động là gì? Đơn giản là có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống. Để có được điều này, bản thân người lao động phải được đào tạo có kỹ năng, đồng thời nền kinh tế có khả năng tạo ra việc, hấp thu lượng lao động hiện có.  Đối với cộng đồng các doanh nghiệp, nhu cầu đơn giản của họ là kinh doanh có lợi nhuận. Để có lợi nhuận, ngoài thị trường, vốn và các yếu tố khác (những thứ không thể hỗ trợ và bảo hộ theo các điều khoản của WTO), một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp phải có đội ngũ lao động lành nghề, năng suất cao nhưng chỉ yêu cầu mức lương vừa phải.  Làm thế nào để có một lực lượng lao động được đào tạo có kỹ năng cao nhưng chấp nhận một mức lương vừa phải; nông dân có thể và biết cách áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới; doanh nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh nhờ một đội ngũ lao động năng suất, chất lượng cao, nhưng quỹ lương của doanh nghiệp lại không chiếm phần lớn doanh thu? Câu trả lời đơn giản là Nhà nước cần đầu tư và trợ cấp mạnh mẽ cho giáo dục đào tạo và công tác khuyến nông. Nếu được đào tạo miễn phí hoặc với một chi phí thấp, mọi người sẽ có điều kiện đi học nhiều hơn và khi đi làm họ không đòi hỏi mức lương cao để bù đắp các chi phí hoặc trả gánh nặng nợ nần của việc đi học mà chỉ cần một mức lương đủ trang trải cuộc sống, có một phần tích lũy là chấp nhận được. Đối với khu vực nông nghiệp, ngoài được hưởng các dịch vụ giáo dục đào tạo chất lượng cao, chi phí phải chăng, cộng với công tác khuyến nông tốt, không lo gì nông dân không biết áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới, năng suất và chất lượng các sản phẩm cây trồng vật nuôi gia tăng là điều có thể dự đoán trước.               Trợ cấp cho giáo dục đào tạo và công tác khuyến nông là lĩnh vực duy nhất mà các nước có thể trợ cấp thoải mái mà không chịu bất kỳ sự phản đối của nước nào và không hề vi phạm các nguyên tắc của WTO. Hơn thế nữa, đây là cách tốt nhất để có thể đạt được mục tiêu “trăm năm trồng người” hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh            Thực ra, trợ cấp cho giáo dục đào tạo và công tác khuyến nông là lĩnh vực duy nhất mà các nước có thể trợ cấp thoải mái mà không chịu bất kỳ sự phản đối của nước nào và không hề vi phạm các nguyên tắc của WTO. Hơn thế nữa, đây là cách tốt nhất để có thể đạt được mục tiêu “trăm năm trồng người” hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh – điều kiện tiên quyết để có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”.  Nói thêm một chút về vấn đề liên quan đến cải cách giáo dục. Quan điểm của người viết hoàn toàn ủng hộ việc tăng quyền tự chủ cho các trường đại học nhưng hoàn toàn không ủng hộ chủ trương cắt giảm kinh phí của các trường, mà ngược lại, song song với quá trình phân cấp này, nhà nước cần tăng cường hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục đào tạo trên cơ sở cạnh tranh trong đào tạo và nghiên cứu. Trường nào có chất lượng cao về đào tạo và nghiên cứu sẽ nhận được nhiều kinh phí hơn. Trong điều kiện hiện nay, phải thừa nhận rằng, chúng ta không đủ khả năng và tính khách quan để chấm điểm và xếp loại các cơ sở giáo dục đào tạo làm cơ sở phân bổ các khoản hỗ trợ. Nên, cách tốt nhất là thuê một tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế có uy tín thực hiện công việc này với điều kiện sau một thời gian nhất định từ 5-10 năm sẽ chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam. Có như vậy, vừa khách quan trong điều kiện hiện nay, vừa có điều kiện tiếp nhận công nghệ tiên tiến ở một thời điểm thích hợp.  Giáo dục và khuyến nông là hai lĩnh vực nhà nước nên hỗ trợ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Không những thế, nếu làm tốt công tác khuyến nông vào giáo dục đào tạo, phần lớn những đối tượng thiệt thòi nhất trong xã hội sẽ được hưởng lợi. Đồng thời, giáo dục là nơi phân bổ nguồn lực, lợi ích công bằng nhất cho tất cả các thành viên trong xã hội.       Thảo Nguyên    Author                Quản trị        
__label__tiasang Về ba trụ cột trong báo cáo “Việt Nam 2035”      Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, sáng tạo, Công bằng và  Dân chủ” do Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư  xây dựng (gọi tắt là Báo cáo) được công bố ngày 23/2 vừa qua đã xác định  ba trụ cột quan trọng mà Việt Nam cần tập trung tạo lập, phát triển  trong giai đoạn tới là thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi  trường; công bằng và hòa nhập xã hội; và nhà nước có năng lực cùng  trách nhiệm giải trình.       Tôi đồng ý với Báo cáo là trong dài hạn, tăng năng suất (lao động) là con đường bền vững duy nhất để nâng cao mức sống về mặt kinh tế (GDP/đầu người) của người dân. Nhưng tôi thấy cần bàn thêm về ba nguyên nhân của tình trạng năng suất của Việt Nam đang giảm sút trong thời gian gần đây. Đó là: cơ cấu lao động của Việt Nam (44% trong nông nghiệp hay có một số lớn trong khu vực phi chính thức) là nguyên nhân khiến năng suất hiện tại đang thấp chứ điều này không giải thích được tại sao năng suất đang sụt giảm. Thực ra nếu mặt bằng năng suất đang thấp thì khả năng tăng sẽ cao hơn (e.g. lao động dịch chuyển khỏi nông nghiệp, khỏi khu vực phi chính thức); sở hữu tài sản ở Việt Nam chủ yếu còn lấn cấn về sở hữu đất đai chứ các loại tài sản khác không hoặc ít có vấn đề về quyền sở hữu, kể cả tài sản tài chính hay sở hữu doanh nghiệp. Tôi cũng không nghĩ tính cạnh tranh trên thị trường hàng hóa (tiêu dùng, dịch vụ) của Việt Nam yếu, ngoại trừ một số loại hàng hóa do nhà nước độc quyền kinh doanh. Nền tảng kinh tế thị trường còn yếu kém là đúng nhưng tác hại lớn nhất là sự can thiệp quá nhiều vào thị trường bằng các chính sách công nghiệp của nhà nước theo kiểu quả đấm thép (đa số thất bại như Vinashin, Vinalines); phân bổ các tư liệu sản xuất một cách lệch lạc cũng là hệ quả của nền tảng kinh tế thị trường còn yếu kém do can thiệp quá sâu của nhà nước dẫn đến năng suất thấp chứ không phải làm giảm năng suất.   Theo tôi, gốc rễ của vấn đề năng suất giảm trong thời gian gần đây là sự yếu kém của nhà nước với hai hệ quả sau đây. Thứ nhất là hệ thống hành chính ngày càng trì trệ và đặc biệt là ngày càng tham nhũng. Khi những dự án đầu tư công bị rút ruột hay hoạt động kinh doanh tư nhân phải tốn nhiều chi phí bôi trơn thì hiệu quả đầu tư/kinh doanh sẽ kém, dẫn đến năng suất sụt giảm. Hệ thống hành chính yếu kém cũng làm trì trệ mọi hoạt động kinh tế nói chung và làm chậm lại các cải cách xã hội khác có liên quan trực tiếp đến năng suất kinh tế như giáo dục, y tế. Tôi đã và vẫn cho rằng cải cách hành chính (thực sự) sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam hơn bất kỳ một chính sách kinh tế nào khác. Hệ quả thứ hai của một nhà nước yếu kém là dẫn tới nhiều chính sách kinh tế sai lầm. Dễ thấy như những chính sách công nghiệp sai lầm mà tôi đã nói đến bên trên hay một số chính sách vĩ mô (tỷ giá, lãi suất) và buông lỏng quản lý hệ thống ngân hàng, và nhiều ví dụ khác khó thấy hơn như thâm hụt ngân sách liên tục, hay việc khăng khăng xây nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, khai thác bauxite ở Tây Nguyên… Chúng đã và đang là lực cản lớn cho năng suất.   Tôi không ngạc nhiên khi Báo cáo nhắc đến công bằng và hòa nhập xã hội trong trụ cột thứ hai, cũng như môi trường bền vững trong trụ cột thứ nhất. Đây là quan điểm mang tính truyền thống của WB, và những vấn đề này không chỉ riêng với Việt Nam mà đã trở thành các vấn đề nóng chung trên thế giới. Nhưng với riêng Việt Nam, tôi nghĩ còn một khía cạnh nữa rất quan trọng mà Báo cáo chưa đề cập đến, đó là xây dựng vốn xã hội mà cụ thể là đạo đức và niềm tin trong xã hội.  Đành rằng GDP/đầu người hay tăng trưởng 6-7%/năm là quan trọng, nhưng như Báo cáo đã chỉ ra, điều quan trọng hơn là mức tăng trưởng đó phải được phân bổ công bằng (chứ không phải đồng đều) cho xã hội và không được hủy hoại môi trường sống. Bên cạnh đó đạo đức xã hội xuống cấp là điều ai cũng thấy ở Việt Nam. Người ta thờ ơ hơn vì biết đâu lại bị lừa khi giúp người khác, người ta tàn bạo hơn vì nếu không thì làm sao giành giật được miếng ăn hay cái ấn triện ngày tết, người ta nghi kỵ, cảnh giác hơn vì biết đâu bó rau mua ngoài chợ đầy thuốc sâu. Tăng trưởng cao, năng suất tốt để làm gì nếu xã hội ngày càng “không đáng sống” như vậy?  Cuối cùng, Báo cáo chưa nói thẳng là Việt Nam phải cải cách chính trị nhưng trụ cột thứ ba của báo cáo này cũng gần như vậy. Một nhà nước “chịu trách nhiệm giải trình trước dân” trước hết phải là một nhà nước pháp quyền thực sự. Mặt khác, một nhà nước có năng lực cũng đòi hỏi phải hoạt động trong môi trường có tính cạnh tranh lành mạnh và người dân phải được nâng cao quyền lựa chọn phương án nhà nước nào mà họ thấy là làm việc hiệu quả nhất.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Về bài Có chăng nguồn lực xã hội của Vũ Minh Khương      Trong bài viết của mình, ông VMK đề cập đến ba loại nguồn: Nguồn vốn Tài Chính, Nguồn lực xã hội và Nguồn lực con người. Bài viết của ông Nguyễn Sỹ Dũng (NSD) đề cập đến các loại vốn: Vốn tài chính, Vốn tri thức và Vốn xã hội. Như vậy trong cả hai bài viết này, người ta bàn về các khái niệm Nguồn tài nguyên làm tiền đề cho sự phát triển. Sự trùng hợp này, ông cho là sự kỳ lạ, thực ra không có gì kỳ lạ bởi đó là những khái niệm thường gặp trong các tài liệu kinh tế học của phương tây. Không rõ ông đã đọc qua hay chưa.    Có hai cách triển khai vấn đề, theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu. Liên quan đến phát triển quốc gia, trong khuôn khổ vài nghìn chữ của một bài viết và theo chiều rộng, người ta có thể liệt kê các khái niệm vốn, chính sách, cơ sở hạ tầng, môi trường, vị trí địa lý,…chứ không thể phân tích kỹ. Theo chiều sâu, người ta cũng chỉ đủ quota giấy để xoáy vào một vấn đề thôi. Bởi vậy, không nên ngạc nhiên khi các ông VMK, NSD chỉ triển khai vấn đề nguồn vốn, nguồn lực mà không đề cập đến những thứ khác như Chính sách phát triển.  Về vấn đề lượng hoá, hiện nay trong khoa học có nhiều khái niệm chưa thể lượng hoá, hoặc chưa thống nhất được cách thức lượng hoá, ví dụ như Thần giao Cách cảm mặc dù ai cũng đồng ý là có thứ đó. Nhiều nhà khoa học còn khẳng định rằng trong tương lai Thần Giao Cách Cảm sẽ là phương thức chủ yếu để giao tiếp giữa con người. Trong quá khứ, người trung cổ không hiểu Sóng Vô tuyến để làm gì và cũng không hề có ý niệm lượng hoá, nhưng ngày nay người ta đã lượng hóa được và chúng ta đều thấy ứng dụng to lớn của nó. Như vậy, một khái niệm chưa được lượng hoá không hẳn vì nó kém quan trọng mà có thể chỉ thể hiện sự ngu dốt của loài người ở một thời điểm nào đó mà thôi.  Bản thân tôi thấy rằng nhiều chính sách KH-KT ví dụ chính sách phát triển Công Nghệ Thông Tin của VN hơn chục năm nay là hợp lý, nhưng nền CNTT của Việt nam vẫn èo uột bởi nguồn lực xã hội chưa được kích thích đủ mức. Nhiều chính sách vỹ mô có thể học hỏi, sao chép từ các nước khác. Nhưng phát huy tinh thần dân tộc, nguồn vốn xã hội là điều không đơn giản mà trước nay chúng ta chưa chú trọng đúng mức. Đến nỗi mà những khái niệm cơ bản người phương tây nhấn mạnh lâu rồi mà ở ta nhiều trí thức vẫn còn ngạc nhiên. Nhật Bản, Singapore phát triển được như vậy không chỉ vì chính sách đúng đắn mà vì hơn hẳn các dân tộc khác họ đã thành công trong giáo dục được công dân lòng tự trọng, cảm giác hổ thẹn đối với sự kém cỏi của đất nước mình, tinh thần hi sinh, cần cù lao động vì lợi ích quốc gia.  Tôi không muốn sa đà vào những cuộc tranh luận vô bổ về những khái niệm đã trở thành “sách vở”. Chỉ cần đọc thôi chứ không cần phát minh lại cái bánh xe. Nếu như ông Trọng Tín biết rằng, ngành Kinh tế mà ông VMK theo học ở Mỹ, là ngành có hàm lượng toán học nặng hơn rất nhiều tất cả các ngành khoa học xã hội khác thì hẳn ông đã thận trọng hơn khi cố gắng chê bai ông VMK về lượng hoá để bênh vực những người mà tôi ngờ rằng kiến thức về lượng hoá chắc gì sánh được với ông VMK. Tôi không loại trừ khả năng có những người không được học hành nhiều nhưng có năng khiếu toán học bẩm sinh. Tiếc rằng, tôi không tìm thấy điều đó trong những bài viết của người mà ông bóng gió bênh.  Đề xuất ý tưởng chính sách giống như làm chiêm tinh vậy. Đúng 50-60% đã là giỏi, thậm chí 30-40% cũng là tốt rồi. Giá như ông Trọng Tín biết rằng các chuyên gia của IMF cũng dự báo sai GDP của tận 6 nước trong nhóm G-7. Không nên tưởng tượng rằng Đặng Tiểu Bình, Lý Quang Diệu phán trăm câu trúng cả trăm. Thái độ cần thiết của độc giả (bao gồm các policy makers) là “đãi cát tìm vàng”, nhặt ra những thứ hay thứ đẹp mà thôi. Những thứ hay mà không áp dụng được thì ta tạm coi là Triết học vậy. Bài viết của ông VMK cũng có những sai sót nhưng không có gì trầm trọng đến mức phải “phóng đại ồn ào”.  Thực ra trước những chính sách quan trọng, đều có ban cố vấn thẩm định thống nhất ý kiến, quốc hội thông qua chứ không nên quá lo lắng một người tự quyết tất cả. Nếu lo thì chỉ nên lo những người không có trình độ kết bè kết đảng vùi dập, mưu hại những người tốt, để đưa những kẻ bất tài, xấu xa lên, bất chấp lợi ích quốc gia.  Tranh luận để tăng cường hiểu biết là cần thiết. Nhưng tranh luận nhằm phủ nhận sạch trơn những cố gắng của người khác, để ủng hộ thái độ trịnh thượng, kiêu căng của những người trẻ, đòi áp đặt uốn nắn nhận thức của người khác một cách “không biết mình biết người” là điều tôi không bao giờ tán thành. Năng lực cũng như trình độ của ông Khương còn cần được kiểm chứng lâu dài. Nhưng thái độ điềm tĩnh, ôn hoà của ông Khương trước những người công kích mình đã khiến tôi khâm phục và quyết định viết bài này.  Quang Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Về dự thảo Nghị định Doanh nghiệp khoa học và công nghệ      Tiếp theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05.09.2005 của Chính phủ “Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập”, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 214/2005/QĐ-TTg ngày 30.08.2005, phê duyệt Đề án thị trường công nghệ, mới đây, Bộ KH&amp;CN đã có dự thảo Nghị định về “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” và dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&amp;CN, giai đoạn 2006-2010”. Đó là những nỗ lực đáng ghi nhận của Bộ KH&amp;CN nhằm thúc đẩy quá trình cải cách hệ thống KH&amp;CN, nâng cao hiệu quả của các cơ sở KH&amp;CN cũng như tạo động lực vật chất đối với đội ngũ cán bộ khoa học-công nghệ.         Điều quan trọng là tổ chức thực hiện, rút kinh nghiệm và mở rộng diện áp dụng trong thực tế. Sau đây thử bàn về một số khía cạnh của dự thảo Nghị định về doanh nghiệp KH&CN.  Trước hết, xét về mặt lô-gich, dự thảo Nghị định về doanh nghiệp KH&CN có quan hệ mật thiết và có thể coi là bước phát triển nối tiếp của Nghị định 115.   Có lẽ việc cần làm là sơ kết việc thực hiện Nghị định 115 trong thời gian qua, phân tích các kết quả đã đạt được và làm rõ bối cảnh và động lực để chuyển đổi các cơ sở KH&CN thành doanh KH&CN.  Theo kinh nghiệm của một số nước, doanh nghiệp KH&CN có thể được thành lập như một doanh nghiệp bất vụ lợi (non-profit) (tức là lấy thu bù chi, bảo đảm đời sống đầy đủ cho nhà khoa học, lợi nhuận được dùng chủ yếu để tái đầu tư) hay là một doanh nghiệp kinh doanh thuần túy vì lợi nhuận không bằng hoạt động kinh doanh mà bằng cách bán những dịch vụ chuyển giao công nghệ, giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp khác. So với cơ sở KH&CN hoạt động theo Nghị định 115, được khoán kinh phí do nhà nước giao, được nhà nước chuyển giao tài sản để sử dụng, không phải nộp thuế lợi nhuận doanh nghiệp và không phải tuân theo các quy định tài chính nghiêm ngặt về kế toán và kiểm toán, doanh nghiệp KH&CN sẽ phải tự vay lấy vốn, tự đầu tư tài sản, tự tìm kiếm thị trường, phải đóng thuế và phải tuân thủ các trách nhiệm kể trên như một doanh nghiệp bình thường khác. Không rõ động lực để chuyển đổi sang doanh nghiệp KH&CN sẽ bao gồm những gì? Chương III đưa ra một loạt những ưu đãi như ưu đãi về thuế, miễn thuế thu nhập trong 4 năm sau khi bắt đầu có thu nhập phải chịu thuế, được giảm thuế thu nhập 50% thêm 8 năm nữa, được miễn thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đối với trang, thiết bị nguyên vật liệu. Cách ưu đãi này có thể tạo ra sân chơi không bình đẳng và rất có thể sẽ bị đối thủ cạnh tranh khiếu kiện vì được trợ cấp bất bình đẳng, trái với cam kết WTO. Cho đến nay, qua thực tế việc ưu đãi theo cơ chế “xin-cho” thiếu minh bạch làm cho tác dụng của ưu đãi bị giảm mạnh, thậm chí bị triệt tiêu như trong trường hợp Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước đây.  Trước mắt, theo dự thảo Nghị định này, ngoài việc phải đăng ký như một doanh nghiệp bình thường khác tại cơ quan đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp KH&CN phải đăng ký thêm ở Sở KH&CN để được công nhận là doanh nghiệp KH&CN. Lợi thế gì khi mang danh hiệu “doanh nghiệp KH&CN” chưa thấy rõ nhưng nếu “một cổ hai tròng” làm hai báo cáo, hai lần trình bẩm… thì không dễ thuyết phục được nhà khoa học.  Giai đọan tốn kém và có nhiều rủi ro nhất trong chu kỳ nghiên cứu-triển khai là giai đoạn đầu tư đưa kết quả trong phòng thí nghiệm vào thực tế. Giai đoạn này cần một số vốn khá lớn để làm thử ở quy mô kỹ thuật, đưa sản phẩm đi thử về kỹ thuật và thử nghiệm ở thị trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy tỷ lệ thành công bình quân chỉ khoảng 20%, thậm chí còn thấp hơn. Việc trợ giúp các cơ sở khoa học-công nghệ trong giai đoạn này là rất quan trọng như chia sẻ rủi ro, huy động vốn đầu tư qua Quỹ Đầu tư mạo hiểm. Đến khi kết quả đã được thể nghiệm, các cơ sở khoa học thành công, nếu muốn có thể thành lập doanh nghiệp để kinh doanh sản phẩm mới đó. Điều quan trọng là có các hình thức thích hợp để giúp doanh nghiệp trong giai đọan “khởi động” (start-up) có nhiều khó khăn. Khi đã đi vào giai đoạn sản xuất dây chuyền theo nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp nên chấp nhận cạnh tranh bình đẳng, không nên và không cần ưu đãi đặc biệt nữa.  Có lẽ nên làm thí điểm cả Nghị định 115 và dự thảo Nghị định này để có kinh nghiệm thực tế. Sau đó. có thể quy định cụ thể và rõ ràng hơn theo đúng tinh thần cạnh tranh bình đẳng, hỗ trợ phù hợp với cam kết WTO thì có sức thuyết phục hơn.        TS. Lê Đăng Doanh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Về khoa học xã hội & nhân văn      .    Gần đây các vần đề nghiên cứu khoa học được đặt ra rất sôi nổi từ hệ thống quản lý, đầu tư kinh phí, chất lượng, số lượng đội ngũ, đào tạo và đánh giá kết quả nghiên cứu đến cơ cấu các thiết chế và hội đồng…song có vẻ chỉ sôi nổi trong lĩnh vực Khoa học Tự nhiên (KHTN) còn ‘bên’ KHXH&NV thì dường như ‘im lìm’.  Khoa học Xã hội (KHXH) tất nhiên gắn chặt với đời sống xã hội tức với chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa nghệ thuật… và việc nghiên cứu chịu những chi phối rõ ràng từ thể chế chính trị, ý thức hệ, quan điểm, chủ thuyết, chính sách cụ thể mà thể chế đó triển khai.   Nếu KHTN là không biên giới thì KHXH lại thường dung thân ở một cương vực, dân tộc, xã hội và lịch sử cụ thể. Và cái ‘tên miền .vn’ ảnh hưởng không nhỏ tới việc nghiên cứu, chuẩn mực quốc tế hầu như không được đặt ra! (Sau đợt phong GS, PGS mấy năm trước có thống kê cho thấy tỷ lệ học hàm, học vị KHXH ở VN khoảng 17-18% là cao bất thường so với các nước khác, kể cả các nước mạnh về KHXH &NV. Trong đợt đó có tới 40% học hàm trao cho các môn triết học và Lịch sử tư tưởng, trong khi ai cũng biết môn triết không phải thế mạnh của khoa học Việt Nam).   Một đặc điểm nữa là trong KHXH ở ta không có phân biệt khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng hay nói cách khác hầu như 99% là khoa học ‘ứng dụng’. Vô cùng hiếm các công trình thuần túy lý thuyết tầm cỡ dẫn đường quốc gia hay có tầm quốc tế. Một cảm giác chung là học hàm học vị KHXH ‘ít chất khoa học’ hơn bên KHTN. Viện Toán, Viện Lý, Viện Sinh,Viện Hóa hay Ung bướu rõ ràng vẫn ‘khoa học’ hơn Viện Sử, Viện Văn ,Viện Mỹ thuật hay Viện KHXH thành phố! Và có bị cảm giác ấn tượng như vậy cũng không oan. Sẽ có người nói: Tôi không thể làm TS, Th.s toán hay lý nhưng hầu như ai cũng có thể tự tin nói rằng: Tôi có thể làm TS sử, văn, triết hay quản trị kinh doanh và mỹ thuật… Hết sức xin lỗi các đồng nghiệp nhưng đó là một sự thật.  1. Tính phục vụ và tính phi vụ lợi của nghiên cứu KHXH là một biện chứng. Ta có truyền thống triều đại sau phủ nhận ‘sạch trơn’ triều đại trước. Khi một lãnh tụ chính quyền mới nói ‘nhà Nguyễn là phản động toàn diện’ thì suốt mấy chục năm không có công trình nghiên cứu nghiêm túc về nhà Nguyễn và nếu có thì chủ yếu để nhằm chứng minh là nó ‘phản động toàn diện’. Con người và xã hội VN muốn hay không cũng thoát thai trực tiếp từ con người và xã hội thời thuộc địa và thời Nguyễn. KHXH&NV hiện đại không nghiên cứu XH&NV thời đó thì là thiệt thòi cho việc xây dựng và phát triển xã hội và nhân văn ngày nay. Vì những quan điểm, lý do tương tự ta không có các công trình tầm cỡ về văn hóa Chăm và lịch sử ngàn năm của một vương quốc từng tồn tại trên đất VN ngày nay. Khi khai quật hoàng thành Thăng Long ‘ta’ chỉ thiên về đề cao sự ‘khác Trung Hoa’ của nghệ thuật hoàng thành mà không nhắc tới ‘sự gần gũi Chăm’ hiển nhiên của nó! Trước đây có cuốn Lịch sử Văn học VN đồ sộ mới ra được tập đầu gồm tất cả các tác giả – nhà thơ đều là các lãnh tụ xếp trước sau theo chức vụ của họ. Cuối tập đó có một nhà thơ thuộc nhóm Thơ mới nhưng lúc đó là Thứ trưởng Bộ Văn hóa! Để cải cách hành chính các nhà Xã hội học (XHH) làm điều tra và kết quả cho thấy mức độ hài lòng của dân chúng với các dịch vụ công là trên 90% ở mọi trắc nghiệm. Tự hỏi với kết quả đó thì nước ta đâu cần cải cách Hành chính làm chi nữa. Có rất nhiều các công trình nghiên cứu lịch sử, từ Lịch sử một ngành, một tỉnh, một quận, thậm chí một ‘phong trào công nhân ở một công ty cao su’ nhằm chứng minh một chân lý đã được xác định. Ở đây mâu thuẫn giữa tính phục vụ, tuyên truyền, giáo dục…của KHXH và tính phi vụ lợi của KH thực sự cần tìm được một sự chung sống thế nào đó. Cần có những công trình, những phương pháp nghiên cứu KHXH xuyên thời gian vượt qua các nhu cầu thời sự thì mới có thể đi tới chiều sâu, có giá trị khoa học lâu bền.  2. Nghiên cứu KHXH ở ta thường đậm chất tập thể. Có lẽ chưa có một cá nhân nhà nghiên cứu KHXH nào được ‘rót’ kinh phí nghiên cứu trong khi các công trình có giá trị luôn là các công trình cá nhân và độc lập. Cần tìm ra một cơ chế nào đó để phát huy được các tài năng nghiên cứu KHXH, huy động chất xám của họ vào phục vụ sự nghiệp chung. Làm việc tập thể, liên kết tập thể là rất quan trọng trong nghiên cứu KHXH nhưng chỉ khi nó không cào bằng-dĩ hòa vi quý-mà tôn trọng đề cao phát kiến, quan điểm phương pháp của cá nhân xuất chúng và các nhóm tinh hoa. Việc “nâng cấp”- đổi tên- một trường bổ túc cán bộ văn hóa sơ cấp lên trung cấp rồi đại học và phát triển sau đại học môn ‘văn hóa học’ chắc không phải con đường phát triển thực sự của KH và văn hóa!  3. Sự dễ dãi, xuê xoa hạ thấp chất lượng trong đào tạo sau ĐH và xét duyệt các học hàm, học vị, công trình, đề tài cùng với quan niệm thực dụng, tức thời khá thô thiển làm cho nghiên cứu KHXH bị lạm phát số lượng, hạ thấp chất lượng cả ở nhân sự lẫn ‘công trình’. Đã có quá nhiều chuyện cười về chuyện này. KHXH có thể trở thành mảnh đất cho chủ nghĩa cơ hội, thoạt đầu có hại không chỉ cho khoa học mà cả cho chính trị, xã hội, kinh tế, đạo đức…Ai cũng thấy một số  GS. Văn học từng ‘lớn tiếng’ nhất trong phê phán văn chương ‘tiền chiến’-Thơ mới ,Vũ Trọng Phụng hay Tự lực Văn đoàn rồi Nhân văn Giai phẩm bằng các công trình đồ sộ thì sau đổi mới, khi thời thế đã xoay vần, cơ hội đã tới lại quay ra lớn tiếng ca ngợi những thứ, những người mình từng ‘hạ gục’. Và thói cơ hội đó không chỉ có trong nghiên cứu VHNT!  Giải quyết các mâu thuẫn, “thanh lý” các thực trạng  mà trên đây chỉ là vài thí dụ nhỏ) không hề dễ dàng nhưng không thể không làm bởi xã hội càng CNH, HĐH thì vai trò của nghiên cứu KHXH&NV càng lớn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Về một số vấn đề trong đổi mới giáo dục hiện nay      Thời gian vừa qua dư luận lên tiếng khá nhiều về những vấn đề trong giáo dục. Có khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề đổi mới của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo. Xuất phát từ các ý kiến khác nhau này Tia Sáng có cuộc gặp gỡ và trao đổi với GS Hoàng Tuỵ.        P.V: Thưa GS, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau bàn về những mặt sai, mặt tiêu cực trong giáo dục, GS có suy nghĩ gì?    GS. Hoàng Tụy: Từ nhiều năm nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng không ngớt có những cuộc tranh luận về các vấn đề giáo dục. Điều này chứng tỏ mối quan tâm sâu sắc của xã hội đối với giáo dục và ước vọng tha thiết của người dân hướng tới một nền giáo dục lành mạnh, phát triển đúng hướng.   Thật đáng khích lệ là Tia Sáng chẳng những không bàng quan mà còn là một trong những diễn đàn đáng tin cậy về đổi mới giáo dục.  Điều các độc giả mong mỏi và đòi hỏi là diễn đàn này phải gắng giữ tính chất khoa học, văn hóa của nó, bởi còn có lĩnh vực nào “văn hóa” hơn giáo dục? Khi tranh luận tất nhiên có ý kiến đúng và sai, nhưng bao giờ cũng nên đứng trên mặt bằng khoa học, cố gắng tránh những thái độ thiếu khách quan, thiếu thận trọng khi phát biểu về những vấn đề nhạy cảm, và trong mọi trường hợp tránh đưa ra những thông tin mang tính bịa đặt gây hiểu lầm, ảnh hưởng đến uy tín của tờ báo mà chúng ta phải mất nhiều công phu mới gây dựng được.   Gần đây một số người tỏ ý băn khoăn trước một vài phát biểu của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, đại loại: biếu thầy cô giáo một ít tiền nhân ngày Nhà Giáo cũng không có gì đáng ngại nếu điều đó xuất phát từ tấm lòng; hoặc: hệ tại chức là “nồi cơm” của các trường đại học, không thể triệt ngay mà phải từ từ, v.v. GS có chia sẻ những băn khoăn đó?  Nếu đặt những câu nói này trong bối cảnh cuộc vận động chống tiêu cực mà ngành giáo dục đã phát động thì đúng là phần nào có sự thiếu nhất quán. Tôi chia sẻ băn khoăn của nhiều người. Song tôi vẫn tin ông Bộ trưởng thật sự muốn chống tiêu cực, sự thiếu nhất quán ấy chứng tỏ ông còn chịu nhiều áp lực. Mong sao những áp lực ấy không làm ông đi chệch mục tiêu.   Ai cũng thấy các hệ tại chức, từ xa đang có nhiều bê bối cần phải được kiên quyết chấn chỉnh. Nơi nào đào tạo nhăng cuội chỉ cốt lấy tiền thì cần kiên quyết xử lý. Nhiều người trong đó có tôi đều cho rằng không thể vì nồi cơm mà thoả hiệp với tiêu cực, trái lại càng phải quyết liệt để giữ kỷ cương thì mới mong có những nồi cơm lớn hơn. Tuy nhiên, tôi không tán thành ý kiến một số ít đòi xóa bỏ các hệ tại chức, từ xa. Đó là những hình thức đào tạo đáp ứng nhu cầu thực sự của một bộ phận trong xã hội không có điều kiện kinh tế và thời gian để theo học các lớp chính quy. Ở một số nước, thậm chí đầu tư của toàn xã hội cho các hình thức học tập ngoài chính quy còn vượt cả đầu tư cho hệ chính quy truyền thống. Vấn đề là phải chấn chỉnh để làm cho có hiệu quả, chứ không phải phát triển bừa bãi, biến thành một sự lãng phí lớn và góp phần vào sự sa sút chung của đạo đức trong xã hội.      Bộ GD-ĐT đang đưa lên mạng những quy định dạy thêm học thêm (DHTH) để trưng cầu ý kiến. Một số báo cũng có chuyên mục về vấn đề này, người ủng hộ, kẻ phản đối, ý kiến rất khác nhau. GS có đề xuất gì về vấn đề quan trọng này?  Tôi đã nhiều lần đề cập chuyện này khi bàn về giáo dục. Gần đây nhất tôi cũng đã có phát biểu trên báo Sàigòn Giải Phóng. Đại thể tôi vẫn luôn cho rằng DTHT như đã nảy sinh và tồn tại ở ta trong hai chục năm qua là một trong những nét lạc hậu nhất của giáo dục Việt Nam. Nói gì thì nói, sở dĩ DTHT cứ phát triển, mặc cho mọi nghị quyết phê phán nó và mọi lệnh cấm, chủ yếu là do nó đáp ứng một nhu cầu giả tạo của xã hội, tạo nên do đồng lương giáo viên không đủ sống, kết hợp với chương trình quá tải không hợp lý, nhất là khi xung quanh nhà trường công chức mọi ngành đều có cách kiếm thêm thu nhập ngoài lương để nâng cao mức sống. Không nên viện cớ ở một số nước tiên tiến như Nhật bản đều có học thêm với một tỉ lệ cao (70%?), để biện minh cho việc DTHT của ta, vì học thêm ở các nước đó khác hẳn DTHT của ta. Trừ trường hợp đặc biệt những học sinh vì đau ốm hay lý do nào đó không theo kịp được lớp, còn họ chỉ học thêm những thứ ngoài chương trình chính khóa (nhạc, họa, nghệ thuật, ngoại ngữ, v.v.), để phát triển năng khiếu, hoặc để chuẩn bị thi vào những trường lớn thường đòi hỏi cao hơn chương trình THPT. Học như thế thường từng nhóm nhỏ, dưới hình thức học sinh phải chủ động nhiều hơn là nghe giảng thụ động, gần như một cách tự học dưới sự hướng dẫn của thầy.  Không có kiểu như ta, học ở lớp qua loa hay sơ sài rồi trả tiền để học thêm ngoài giờ, học kỹ hơn về những thứ trong chương trình và học theo những lớp khá đông, người kém học chung với nguời giỏi, và thường cũng nghe giảng thụ động không khác gì ở lớp chính khóa. Thậm chí luyện thi trong những phòng chật như nêm, thiếu cả điều kiện vệ sinh tối thiểu. Học thêm như vậy nếu có thu lượm thêm được chút kiến thức nào thì cái giá phải trả cũng quá đắt, giáo dục ngày càng lún sâu vào kiểu học từ chương, khoa cử, học vẹt, bắt chước, làm theo, chứ làm sao phát triển được tính chủ động, sáng tạo. Ham học theo kiểu xưa đó chẳng có lợi gì cho đất nước, nhất là trong thời đại này. Cho nên cần có nhận thức dứt khoát về tính chất lạc hậu của DTHT tràn lan.  Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là nên ủng hộ việc cấm đoán DTHT. Chừng nào các nguyên nhân sinh ra DTHT còn tồn tại, thì không thể dùng mệnh lệnh hành chính để xoá bỏ DTHT. Đặc biệt, trong lúc tiền lương giáo viên không đủ sống thì không có pháp lý cũng như đạo lý nào cấm được họ dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Đó là nỗi đau, nỗi nhục chung của xã hội, không nên để một mình giáo viên gánh chịu. Do đó, giải pháp đúng đắn là tạm thời chấp nhận DTHT để quản lý tốt hơn, và hạn chế các tiêu cực. Đồng thời đừng quên đây chỉ là giải pháp tạm thời, cốt lõi giải quyết vấn đề này là phải tìm biện pháp nhanh chóng sửa đổi chế độ lương để tiến tới xoá bỏ dần DTHT, chỉ để tồn tại kiểu học thêm lành mạnh như ở các nước. Mà sửa đổi chế độ lương thì đâu phải khó đến mức không làm được, tuy phương án Bộ GD-ĐT đang đề nghị chưa phải là hay và cơ bản.  Nhiều người, kể cả một số nhà khoa học Việt kiều vốn rất tâm huyết với giáo dục, đều tỏ ý hoài nghi tính khả thi của kế hoạch của bộ GD-ĐT dự định đào tạo hai vạn tiến sĩ (TS) trong mười năm tới. GS có tin trưởng kế hoạch ấy thực sự khả thi không và bằng cách nào khả thi?  Chắc rằng khi tuyên bố kế hoạch đào tạo TS với qui mô như vậy Bộ GD-ĐT đã có những tính toán cụ thể. Tuy vậy, cũng như nhiều người, tôi e rằng ta chỉ mới tính toán ước lượng nhu cầu, chứ chưa cân nhắc kỹ về tính khả thi của kế hoạch. Ví dụ, ta có thể xúc tiến mạnh gửi người nhờ các nước giúp đỡ đào tạo, song khó khăn của giải pháp này là chọn người gửi đi học từ những nguồn nào trong khi đại học của ta còn yếu kém như hiện nay và chắc chắn với đội ngũ giảng dạy hiện có khó có thể nâng cấp nhanh chóng được. Không phải chỉ có tài chính mà còn nhiều yếu tố phức tạp khác không thể dễ dàng vượt qua.    Một lần nữa cần nhắc lại bài học từ việc đào tạo TS quá cẩu thả chỉ cốt số lượng mà hàng chục năm nay ta vẫn coi như một thành tích, thật ra đang gây cho ta những khó khăn trở ngại chưa lường hết. Cả việc công nhận GS, PGS không theo các chuẩn mực quốc tế bình thường, trong khi gạt ra ngoài nhiều người trẻ xứng đáng, cũng đang làm chậm tiến trình hội nhập quốc tế của các đại học Việt Nam. Cái vòng luẩn quẩn: thầy kém đào tạo ra trò kém, trò kém trở thành thầy kém, rối lại đào tạo ra trò kém,… chỉ có thể chấm dứt bằng những biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết. Trước hết ở các khâu đào tạo sau cử nhân và tuyển chọn GS, PGS .   Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm thất bại do bệnh thành tích, chạy theo hình thức, số lượng, mà coi nhẹ thực chất. Lần này nên chăng phải thực tế hơn. Đây cũng là một biểu hiện căn bệnh thành tích không thể tiếp tục duy trì trong đời sống giáo dục.  Đội ngũ GS của ta tuy đông nhưng tuổi rất cao, nếu cứ theo quy định chung một số khá lớn GS sắp phải nghỉ hưu mà không có người thay thế. Trước tinh hình đó, Bộ GD-ĐT dự định đề nghị Nhà nước cho phép kéo dài tuổi hưu của GS. Một số ý kiến còn rất phân vân về chuyện này, GS nghĩ sao?    Trước hết tôi rất tiếc về vấn đề này báo Tia Sáng số 23 ngày 5.12.2006 vừa đăng một bài của Lương Xuân Hà (LXH) dưới cái tít rất kêu: “Món quà nhân ngày nhà giáo và những những cuộc phiêu lưu của ngành giáo dục” trong đó tác giả đã bịa đặt, xuyên tạc nhiều điều dẫn ra không đúng từ số báo An ninh thế giới cuối tuần số 63, tháng 10-2006. Số là, có nhà báo hỏi tôi về tuổi hưu trí đối với các nhà khoa học lỗi lạc và chính trị gia xuất sắc nên giải quyết thế nào cho hợp lý. Nhân trả lời tôi có nêu cách giải quyết ở các nước tiên tiến, đặc biệt Mỹ, Canada và Nhật, và khi giải đáp các thắc mắc của nhà báo liên hệ với tình hình của ta tôi cũng có nói vài ý, nhưng rất chung chung, không hề có đề nghị cụ thể gì và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi các đối tượng nhà báo đã xác định trong câu hỏi (nhà khoa học lỗi lạc, chính trị gia xuất sắc). Chỉ có thế thôi mà tác giả LXH lại bịa ra thành chuyện to tát “lên tiếng trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng Nhà nước cần bãi bỏ quy định tuổi hưu trí với các giáo sư, bởi lẽ các giáo sư là nguồn chất xám vô giá đối với đất nước đồng thời cũng là những nhân cách lớn”. Thật không ngờ sự bịa đặt xuyên tạc trắng trợn đến mức đó. Sau khi thêm nhiều chi tiết tưởng tượng khác nữa, tác giả LXH phong cho nhân vật của mình cái chức mỉa mai “phản biện giáo dục” kèm lời phê phán “lùng nhùng trong những hy vọng duy ý chí”.   Tôi tin chắc những ai từng theo dõi các cuộc thảo luận về giáo dục đều biết rằng một sự đánh giá và ngưỡng mộ mù quáng như trên đối với đội ngũ giáo sư của ta hoàn toàn xa lạ với tôi. Dù không được thông minh và giàu trí tưởng tượng như tác giả LXH, chắc không ai ngây ngô tin rằng có giáo sư nào lại đi tự ca ngợi giới mình một cách lố bịch như đã kể. Riêng tôi không có cái thích thú ấy, có chăng ai đó suy bụng ta ra bụng người rồi tưởng ai cũng như mình, sẵn sàng đánh mất tính trung thực là cái tối thiểu của nhân cách trí thức.   Khi thuật lại câu nói của tôi: ở Mỹ và Canada, “đã là giáo sư hay nhà khoa học lớn thì họ đều biết tự trọng…”, tác giả LXH lại có vẻ như muốn làm cho người đọc bỏ qua mấy chi tiết quan trọng:  Mỹ và Canada, giáo sư hay nhà khoa học lớn. Có lẽ ông bạn cứ tưởng giáo sư ở Mỹ hay Canada cũng được tuyển chọn tùy tiện như ở xứ mình, sống lâu lên lão làng, cho nên mới không tin rằng ở các nước đó giáo sư được hưởng quyền không thể bị thải hồi hay nghỉ hưu, nhưng lại có quyền đơn phương rời bỏ đại học mình đang làm để chuyển tới một đại học khác thích hợp hơn. Cái quy chế hợp đồng như thế là bất đối xứng thật, song nó buộc các đại học, nhất là đại học lớn, phải cân nhắc kỹ càng trước khi tuyển một giáo sư, chứ không thể tuyển chọn theo những tiêu chuẩn tùy tiện rồi lãnh đủ hậu quả cho sự tùy tiện đó, như ta đã làm hàng chục năm qua và còn muốn tiếp tục duy trì trong nhiều năm tới.   Cũng trong bài phỏng vấn đã dẫn, tôi có nhấn mạnh tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá các nhà khoa học và chính trị gia cao cấp ở các nước dựa trên năng lực thực tế của họ đối với công việc họ phụ trách. Thậm chí, muốn ứng cử giáo sư ở một số nước Bắc Âu không cần bằng cấp gì hết, ngay cả bằng tiến sĩ, mà chỉ cần chứng tỏ năng lực khoa học biểu hiện qua số lượng và chất lượng các công trình đã công bố trên quốc tế. Ở các nước này, giáo sư cũng không bắt buộc phải lên lớp trực tiếp, mà chủ yếu chỉ phải hướng dẫn nghiên cứu. Trong khi đó, một số đại học thuộc loại chất lượng thấp lại không đặt yêu cầu cao về nghiên cứu mà chỉ thiên về giảng dạy, mặc dù theo quan niệm chung, dạy đại học phải kết hợp với nghiên cứu mới bảo đảm được chất lượng.  Một vấn đề đã được thảo luận nhiều và gần đây xem ra đã ngã ngũ là xóa bỏ độc quyền in và phát hành sách giáo khoa của Nhà Xuất bản Giáo dục. Tuy nhiên vẫn có ý kiến cho rằng đó chưa hẳn  là giải pháp khả thi và tối ưu. Theo GS, việc này có ảnh hưởng gì đến chất lượng giáo dục và nên giải quyết  như thế nào cho hợp lý?    Tôi đã có nhiều dịp phát biểu về vấn đề này (xem Thời báo Kinh Tế Sàigòn, số 50-2006). Ở hầu hết các nước trên thế giới không có chuyện một nhà xuất bản của Nhà Nước hay tư nhân được giao độc quyền xuất bản sách giáo khoa, mà giáo dục của họ tốt hơn ta nhiều. Vậy không có lý do gì lo ngại rằng xóa bỏ độc quyền này sẽ dẫn đến kết quả tiêu cực cho giáo dục. Nói chung không chỉ trong lĩnh vực này mà trong nhiều lĩnh vực khác nữa độc quyền là một hình thức quản lý lỗi thời đang bị xóa bỏ dần. Nếu có ai phản đối độc quyền vì thèm khát “miếng bánh” khổng lồ (như trong bài báo đã nêu trên Tia Sáng) thì điều đó cũng chẳng có gì xấu. Cạnh tranh kinh tế đều vì “miếng bánh” cả, chỉ đáng lên án là cạnh tranh không lành mạnh. Tôi thiết tưởng thời nay mà cứ lập luận quanh co để bảo vệ độc quyền là đi ngược lại xu hướng tiến bộ. Còn làm sao để thị trường sách giáo khoa không rối loạn, bát nháo, thì mấu chốt không phải là bám giữ độc quyền mà là tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, để cho mục tiêu lợi nhuận đi đôi với trách nhiệm cộng đồng. Những lo ngại rằng xóa bỏ độc quyền sách giáo khoa sẽ gây rối loạn cũng chẳng khác gì lo ngại phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm suy yếu nền kinh tế. Đó thực chất là ý muốn quay lại kiểu quản lý bao cấp mà mọi chúng ta đều quá rõ tác hại.    Về sách giáo khoa, ngoài chuyện độc quyền xuất bản còn nhiều vấn đề khác nữa, như: nên tổ chức biên soạn chương trình và sách giáo khoa như thế nào là hợp lý, có nên quy định một cuốn sách duy nhất cho cả nước về mỗi môn, mỗi lớp, và giáo viên có bắt buộc phải dạy theo đúng sách đó không,v.v.  Phải thừa nhận hai mươi năm qua các vấn đề này được giải quyết chưa tốt, gây ra quá nhiều lãng phí, khiến nhiều người có ý kiến.  Rất tiếc cuộc tranh luận gay gắt đang diễn ra về sách giáo khoa đã đi tới giai đoạn cãi vã thiếu bình tĩnh, khách quan. Tôi nghĩ đây không còn là diễn đàn thích hợp với Tia Sáng. Chẳng hạn, tôi cũng bị vô cớ gán cho là tác giả bộ sách giáo khoa toán 50 năm trước, chẳng lẽ tôi không cải chính mà cải chính tất sẽ bị lôi vào cuộc tranh luận chẳng có gì hay ho cả, vì tôi cảm thấy thiếu thiện chí và trung thực. Tốt nhất  Bộ GD-ĐT cùng với ban VHGD của Quốc Hội nên vào cuộc để hướng cuộc tranh luận vào mục tiêu xây dựng hơn, nhằm cải tổ lại việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa cho hợp lý và có hiệu quả, không chỉ cho giáo dục phổ thông mà cả cho đại học.   Trên thế giới đã có quá đủ kinh nghiệm về các vấn đề này, khi hội nhập ta không thể bỏ qua các kinh nghiệm đó. Tôi chưa biết mai đây vào WTO rồi, mà cái gì của ta cũng chẳng giống ai, cứ đường ta ta đi, sách ta ta học, cho đến nỗi có những kiểu dạy người ta đã bỏ mấy chục năm rồi mà ta vẫn cố giữ, ngược lại có những kiến thức học sinh phổ thông các nước đều được học mà ở ta vẫn có giáo sư còn lơ mơ, thì làm sao chống đỡ nổi với làn sóng toàn cầu hóa.   Bộ GD-ĐT dự định trong vài năm tới sẽ bỏ thi tuyển đai học. GS có ý kiến gì về vấn đề này? Có lý do nào để lo ngại rằng bỏ thi đại học sẽ đẻ ra nhiều rắc rối, và coi đây cũng  là  một bước phiêu lưu của  giáo dục?  Có thể đồng ý hay không, nhưng không thể coi đây là một cuộc phiêu lưu. Cũng như vào WTO có thể thích hay không, nhưng không thể coi là mạo hiểm. Tôi không biết trên thế giới có nước tiên tiến nào còn thi tuyển đại học chung cho cả nước như ta. Ở Mỹ hay Anh có những kỳ thi như SAT hay GCSE, nhưng đó chỉ là kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng để loại bớt những người quá kém và vì vậy yêu cầu của các kỳ thi này cũng không phải để tuyển vào một ngành đại học cụ thể, mà chỉ là kiểm tra một số kỹ năng tổng quát.   Ở nước ta, có điều kỳ lạ là học thì không nghiêm chỉnh, thi thì tiêu cực đủ cách, nhưng lại rất thích nhiều kỳ thi chung cả nước. Hết năm này đến năm khác, mỗi mùa thi tuyển sinh đại học là cả nước đi thi, với biết bao chuyện dở khóc dở cười và tốn kém tiền của. Từ hơn mươi năm rồi chúng tôi đã kiên trì thuyết phục bỏ bớt các kỳ thi, đến bây giờ mới bỏ được thi tiểu học và thi THCS. Nay Bộ GD-ĐT dự định tiếp tục bỏ thi tuyển sinh đại học, tôi hoan nghênh tuy rằng theo tôi tốt hơn là nên bỏ thi tú tài và thay kỳ thi tuyển sinh đại học bằng một kỳ thi sơ tuyển kiểu như SAT của Mỹ. Lý do vì sao chúng tôi đã nêu rõ trong bản kiến nghị năm 2004 và gần đây trên Tia Sáng số 15 ra ngày 5.8.2006.   Tôi vẫn cho rằng nên bỏ thi tú tài, nói đúng hơn chỉ nên thi học kỳ ở lớp 12 cho nghiêm chỉnh, đủ điểm thì cho tốt nhiệp. Nếu nói rằng cái bằng phải bảo đảm giá trị chất lượng thì khi thi nghiêm túc giá thử chỉ 50% thi đỗ giá trị tấm bằng đã đúng yêu cầu chưa? Mà nếu nhờ thế giá trị tấm bằng có được nâng lên tí chút, thì liệu cái lợi đó có đáng để đánh đổi bằng việc cả mấy chục vạn học sinh học lớp 12 thi trượt, với những hệ lụy xã hội kèm theo? Hơn nữa, trong một hệ thống giáo dục mà bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, cho đến trình độ GS, PGS đều thấp tệ hại so với chuẩn, thì liệu đánh trượt 40-50% học sinh lớp 12 có ý nghĩa gì. Nên chăng thà chấp nhận giá trị bằng tú tài chỉ là trình độ trung bình thực tế của 12 năm học, rồi có biện pháp nâng cao dần chất lượng một cách trung thực, từng bước nhưng kiên quyết, từ lớp 1 cho đến tiến sĩ?   Ngoài những vấn đề đã nêu trên, GS có thấy những vấn đề quan trọng nào khác cần góp ý kiến với ngành giáo dục khi chúng ta đã bước vào WTO? Phải chăng, như tác giả LXH đã nhận định, chúng ta đang “mất phương hướng và cái chúng ta đang cần là dũng khí đi thẳng vào cái thực chất yếu kém, mất phương hướng có tính tổng thể của nền giáo dục, vào những vấn đề có tính bản chất chứ không phải chỉ là những hiện tượng bề mặt”?    Còn rất nhiều vấn đề, mà then chốt nhất (và cũng khó khăn nhất), theo tôi, là giải pháp tiền lương. Tôi vui mừng thấy Bộ GD-ĐT đã bắt đầu nhận ra ý nghĩa then chốt của việc này, có dịp thuận lợi tôi sẽ xin góp ý về vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác, đặc biệt các vấn đề của đại học. Còn về nhận định  cho rằng cả các nhà quản lý giáo dục và các “nhà phản biện giáo dục” đều đang mất phương hướng trầm trọng thì những ý kiến tôi đã phát biểu ở trên tưởng cũng đã làm rõ quan niệm của tôi. Có lẽ cái nhận định chủ quan và có tính chất phỉ báng mọi người là do tác giả bài báo không có điều kiện theo dõi các cuộc thảo luận về giáo dục từ hơn mười năm nay. Thiết tưởng không cần nhắc tới bản kiến nghị năm 2004 của hơn hai mươi người chúng tôi.   Đương nhiên có nhiều ý kiến trái chiều thì chỉ có lợi cho công việc chung. Chỉ có điều, như tôi đã nói, sẽ là may mắn và hạnh phúc hơn nếu mỗi người đều đứng trên mặt bằng khoa học và vì lợi ích chung mà phát biểu quan điểm riêng của mình một cách thẳng thắn nhưng trung thực. Nếu khiêm tốn một chút thì tốt hơn, nhưng trung thực, khách quan là yêu cầu chính.  Quả thật, giáo dục hiện nay còn rất nhiều vấn đề cần các nhà quản lý cũng như những người thực sự tâm huyết tham gia ý kiến. Vấn đề không phải là tranh luận để tìm ra ai đúng ai sai, mục đích cuối cùng chính là tìm ra  những giải pháp tích cực – đòn bẩy để chữa trị những căn bệnh trầm kha của giáo dục. Cảm ơn GS đã chia sẻ những suy nghĩ và quan điểm của mình về lĩnh vực này.      P.V thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Về sự vô minh      “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Hồ Chí Minh      Các nhóm cực đoan đang chiêu mộ thành viên tin theo những tư tưởng sai lệch của QAnon. Ảnh: Rick Loomis/Getty images.  Hoa Kỳ từng được coi là một điển hình về sự kiên định với các nguyên tắc dân chủ. Không phải ngẫu nhiên mà tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh năm 1945 lại mượn ý từ bản tuyên ngôn năm 1776 của Jefferson: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là hình ảnh đẹp của Hoa Kỳ mặc dù trong quá trình phát triển, nó cũng có những trang sử đen tối. Phải kể đến những cuộc tàn sát đẫm máu người da đỏ, chế độ nô lệ, kỳ thị chủng tộc, tàn dư vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Những cuộc xâm lược nước ngoài, trong đó Chiến tranh Việt Nam là một ví dụ điển hình. Tuy vậy, tư tưởng cởi mở của Hoa Kỳ trong việc chào đón người nhập cư từ khắp nơi trên thế giới vẫn hết sức nổi bật. Bốn năm qua, dưới nhiệm kỳ Tổng thống của Donald Trump đã cho thế giới thấy sự mong manh của những nguyên tắc dân chủ như vậy, đây là một bài học không chỉ của Hoa Kỳ. Nhiều nhà sử học, xã hội học và chính trị học nhận thấy tầm quan trọng của sự kiện này; họ đang tiến hành phân tích nguyên nhân, đánh giá hậu quả của nó đối với tương lai của xã hội loài người. Chúng ta từng tôn trọng Hoa Kỳ, nước có nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà khoa học hàng đầu ở hầu hết các lĩnh vực. Việc xây dựng bức tường biên giới với Mexico, phủ nhận kết quả bầu cử dân chủ, không tôn trọng khuyến nghị của các nhà khoa học, dù là nóng lên toàn cầu hay đại dịch, thao túng quyền lực, xung đột sắc tộc và thù hận đảng phái đã nhắc nhở chúng ta rằng Hoa Kỳ cũng là quê hương của Ku Klux Klan1 của Pround Boys2, của những tín đồ sáng tạo luận và của chủ nghĩa bè phái tôn giáo.    Dữ liệu về những niềm tin sai lầm của người Mỹ đã và đang được các nhà xã hội học thu thập. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy 78% đảng viên Đảng Dân chủ được hỏi cho rằng Đảng Cộng hòa đã bị những kẻ phân biệt chủng tộc kiểm soát, trong khi đó 81% đảng viên Đảng Cộng hòa cho rằng Đảng Dân chủ đã bị những người theo chủ nghĩa xã hội kiểm soát. Đảng viên Đảng Cộng hòa ước tính rằng 32% đảng viên Đảng Dân chủ có xu hướng tình dục không phải với người khác giới trong khi thực tế chỉ là 6%; đảng viên Đảng Dân chủ ước tính có 38% đảng viên Đảng Cộng hòa kiếm được hơn 250.000 USD mỗi năm trong khi thực tế con số đó chỉ là 2%. Có rất nhiều ví dụ như vậy… Tôi để người đọc tự lên mạng khám phá vô số những bài báo và bài luận do các nhà xã hội học viết về chủ đề này.    Tuy vậy, có một trường hợp cụ thể đáng kinh ngạc về thông tin sai lệch vẫn cần được đề cập: đó là thuyết âm mưu QAnon. Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ ba năm trước như một thuyết cực hữu, tuyên bố sự tồn tại trên cơ sở một thuyết âm mưu của những kẻ ấu dâm tôn thờ Quỉ Sa-tăng và điều hành một đường dây buôn bán tình dục trẻ em toàn cầu. Tổng thống Trump được cho là đang bí mật hành động để xóa bỏ tổ chức này, điều này sẽ sớm xảy ra và được gọi là “Bão tố”3 và “Sự thức tỉnh vĩ đại”.    Thật tuyệt nếu ta có thể gạt bỏ tất cả những thứ rác rưởi như vậy và không mất thời gian với nó. Nhưng các nhà xã hội học lại cho rằng làm như vậy là sai: số lượng những người tin và ủng hộ QAnon không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng; trong tháng tám, Facebook đã phát hiện ra có hàng nghìn nhóm mạng xã hội và trang mạng, với hàng triệu thành viên và người theo dõi, ủng hộ thuyết âm mưu QAnon. Rất dễ để ta nghĩ rằng đây là một hiện tượng chỉ là của Hoa Kỳ và chúng ta không cần quan tâm đến nó. Nhưng các nhà xã hội học lại cho rằng nghĩ như vậy là sai: hiện nay QAnon đang lan truyền rất nhanh ở châu Âu và xuất hiện nhiều ở Nhật Bản. Ta có thể nghĩ rằng những người tin vào QAnon chỉ là những kẻ ngốc không cần bận tâm, nhưng các nhà xã hội học cho rằng nghĩ như vậy là sai lầm: QAnon là một mạng lưới thông tin sai lệch đã phát triển như một loại virus để tấn công các trụ cột của nền dân chủ của chúng ta.    Tôi không phải là một nhà xã hội học và cũng không có năng lực, địa vị hay thẩm quyền để có nhận định gì đó thông thái về việc này: cũng thật nực cười nếu tôi cố làm như vậy. Tuy nhiên, có vẻ rõ ràng là chúng ta đang phải đối mặt với hiện tượng mới nguy hiểm, hay đúng hơn là hiện tượng cũ với cường độ mới và chưa từng có. Dân chủ dựa trên tự do ngôn luận và đa dạng về tư duy nhằm thúc đẩy đối thoại và tiến bộ, tuy nhiên, không được bóp méo sự thật: thông tin sai lệch ngăn cản tranh luận một cách dân chủ và hòa bình, gây chia rẽ xã hội và tạo thù hận.    Con người không ngu ngốc. Ít nhất sự ngu ngốc ở Hoa Kỳ cũng không nhiều hơn ở các nước khác, sự ngu xuẩn có ở mọi nơi. Tuy nhiên, thiếu hiểu biết thì phổ biến. Càng thiếu hiểu biết thì người ta càng nghĩ rằng mình thông tuệ. Các nhà tâm lý học đã đặt tên cho hội chứng này là: hội chứng Dunning-Kruger; họ đã phát minh ra một từ mới (agnotology) để nghiên cứu nguyên nhân khiến thiếu hiểu biết tồn tại, những thứ cho phép nó được sử dụng như là những công cụ chính trị. Gần đây, Robert Proctor đã tập hợp một loạt các bài luận phân tích những ví dụ điển hình thành cuốn sách có tựa đề: Agnotology: Sự tạo thành và Phá hủy của Thiếu hiểu biết, do Nhà xuất bản Đại học Stanford phát hành. Cũng có nhiều bài báo cùng chủ đề khác, tôi trích dẫn dưới đây một vài dòng từ phần tóm tắt của một trong những bài báo đó4 để minh họa rõ những luận điểm được sử dụng: “Thời kỳ Đen tối Tri thức” của Hoa Kỳ đã tạo nên một xã hội sẵn sàng bác bỏ một cách rộng rãi dữ liệu khoa học và những sự thực có thể kiểm chứng, tạo nên sự hoang mang, sợ hãi, bài ngoại, đe dọa nền dân chủ. Bài báo này nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa thiếu hiểu biết hiện nay trong Thời đại Hậu Kỹ thuật số và […] xem xét hiện tượng xã hội học của thiếu hiểu biết do văn hóa gây ra, […] vai trò của công nghệ và sự phát triển của các “nhóm xã hội thứ ba”5 ảo, sự tái cấu trúc ngành công nghiệp tin tức và việc tạo ra hệ thống truyền thông thù địch, chia rẽ hiện nay.    Internet, với các mạng xã hội và blog, thu hút bình luận của người đọc, thường tạo nên những cuộc đối thoại vô ích giữa hai phe đối lập. Những người tham gia thảo luận thường không dùng lập luận mà thay vào đó dùng những lời lẽ để lăng mạ, mạt xát nhau. Ở những quốc gia bị ảnh hưởng mạnh bởi đại dịch, việc cách ly xã hội đã khiến nhiều người bị lôi kéo vào những bong bóng ảo này hơn.    Chúng ta biết quá rõ cách thức tuyên truyền và thông tin sai lệch có thể được sử dụng như một công cụ quyền lực như thế nào. Trong khoa học, trường hợp của Lysenko, người được Stalin ủng hộ mạnh mẽ, là một điển hình. Năm 1964, Sakharov đã nói với Viện Hàn lâm Khoa học Xô Viết rằng “ông ấy phải chịu trách nhiệm về sự lạc hậu đáng xấu hổ của ngành sinh học Xô Viết, đặc biệt là ngành di truyền học, vì đã phổ biến các quan điểm giả khoa học, về chủ nghĩa phiêu lưu, về sự suy thoái của giáo dục và về sự phỉ báng, sa thải, bắt giữ, thậm chí những cái chết của nhiều nhà khoa học chân chính”. Từ năm 1894 đến năm 1906, nước Pháp chia thành hai phe, ủng hộ và chống Dreyfus, một đại úy Do Thái của quân đội Pháp bị buộc tội sai lầm vì được cho là đã cung cấp thông tin cho kẻ thù. Vào những năm 1980, KGB thực hiện một chiến dịch thông tin sai lệch, Chiến dịch Infektion, nhằm làm cho dân chúng tin rằng Hoa Kỳ đã tạo ra HIV/AIDS là một phần của dự án nghiên cứu vũ khí sinh học của họ. Các nhà truyền giáo chính thống dạy con cái của họ rằng Chúa đã tạo ra thế giới cách đây 6000 năm trong sáu ngày liên tục và thuyết tiến hóa là một trò lừa bịp. Bi kịch hơn là những tuyên truyền của Đức Quốc Xã đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những cuộc đàn áp người Do Thái ở châu Âu, kích động lòng căm thù chống lại họ và bôi xấu họ như là những sinh vật xâm nhập vào xã hội Aryan [quý tộc] như là những kẻ ăn bám văn hóa lang thang băng hoại bởi tình dục và tiền bạc.  Ngày nay, thông điệp của các nhà xã hội học là một lời cảnh báo: môi trường xã hội và công nghệ toàn cầu hiện nay đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của nhiều mối nguy hiểm như vậy: hơn bao giờ hết chúng ta cần nhớ lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.□     Nguyễn Dung dịch     1 ND: Một tổ chức bí mật của Hoa Kỳ gồm những người Mỹ da trắng theo đạo Tin lành chống lại những người thuộc chủng tộc hoặc tôn giáo khác.  2 ND: Một tổ chức khủng bố theo chủ nghĩa dân tộc da trắng cực hữu, tân phát xít, chỉ dành cho nam giới nhằm cổ vũ và tham gia bạo lực chính trị ở Hoa Kỳ và Canada.  3 ND: khi hàng ngàn thành viên của tổ chức sẽ bị bắt  4 https://link.springer.com/article/10.1007/s42438-019-00084-5  5 ND: Các nhà xã hội học chia xã hội ra làm ba nhóm: nhóm thứ nhất, nhóm thứ hai và nhóm thứ ba. Nhóm người được chấp nhận là hình mẫu hoặc định hướng để định hình thái độ, hành vi và đánh giá một người được gọi là nhóm thứ ba hoặc nhóm tham chiếu.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Về tính cách Việt      &#160;Hãy đắp điếm nhớ thương  phủ nhiều hoa lên dĩ vãng.  Rồi biên chế ba lô cho nhẹ gánh lên đường.    1. Những đặc tính của một dân tộc không phải trời cho ngay một lúc, mà được hình thành dần trong những điều kiện đặc biệt về không gian (hay địa lý) và thời gian (hay lịch sử).  Có thể nói đặc tính nổi bật nhất của người Việt là đặc tính chống (hay tự vệ).  Câu hỏi Tồn tại hay không tồn tại luôn được đặt ra với chúng ta một cách bức thiết trong suốt chiều dài của lịch sử. Và chỉ riêng việc tồn tại của một nước Việt Nam trên bản đồ thế giới đã có thể coi là một kì tích.  Trải đằng đẵng hàng nghìn năm Bắc thuộc từ thuở còn trứng nước mà không bị tiệt giống (hay đồng hóa) bản thân nó đã nói lên sức sống “bất trị” của các dân tộc Việt.  Một số nước lớn có một thói quen rất du đãng của bọn xã hội đen là bắt nạt các nước yếu. Và luôn nhận vơ lãnh thổ của họ bất chấp lẽ phải và đạo lý. Việc dám “chơi nhau” tay bo với các “bố già” sừng sỏ nhất đến từ phương Bắc, từ phía mặt trời mọc, từ châu Âu và cả châu Mỹ xa xôi cho họ phơi bụng đã chứng tỏ bản lĩnh thiện chiến của “nhược tiểu” Việt Nam.  Nó được gói gọn trong hai câu ca dao tuyệt vời hào khí dưới đây:  Nực cười châu chấu đá xe  Tưởng rằng chấu nát dè đâu xe kềnh  Nếu chúng ta có một truyền thống “chống” number – one, chúng ta chưa có đủ điều kiện và thời gian để tự tạo cho mình một truyền thống “xây” cân xứng.  Hay nói như các nhà khoa học nhân văn, Việt Nam có một truyền thống tự vệ hàng đầu nhưng còn thiếu truyền thống “phát triển”. Nói thế không có nghĩa là ta không có khả năng phát triển mà chỉ có nghĩa rằng đó là một sở đoản, cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện trường kì để biến nó thành sở trường.  2. Đã có một thời nhận xét sau đây rất được truyền tụng:  “Ta đã thắng đế quốc Mỹ thì khó khăn nào ta cũng thắng được”.  Nhận xét này không hoàn toàn sai, nhưng không đủ, và hơi vội. Đánh Mỹ oanh liệt trong chiến tranh giải phóng dân tộc và phát triển bền vững đất nước thành một quốc gia công nghiệp tiền tiến là hai việc khác nhau, đòi hỏi những kinh nghiệm khác nhau.               Xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng              hoàng phát triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.            Trong những điều kiện đã thay đổi, những ưu điểm của thời trước có thể trở thành nhược điểm thậm chí, trở ngại của thời kì sau.  Trong chiến tranh du kích, một đặc tính tối cần thiết là sự đối phó mau lẹ, một khả năng “tháo vát”, “giật gấu vá vai”, “hoạt trí” hơn là những suy tính dài hơi, có tính hệ thống. Đó là nguyên nhân chính (ở đây tôi không đề cập đến tệ tham nhũng) của những kế hoạch kinh tế vội vàng, “chụp giật” làm tốn kém tài sản nhiều khi tới mức kếch xù của nhân dân.  Một kế hoạch tốt không đòi hỏi một sự ứng phó nhanh mà đòi hỏi một suy tính bình tĩnh, bao quát, xây dựng trên những thông tin đầy đủ và những luận chứng xác đáng. Xuất phát từ một trình độ tri thức của những chuyên viên tinh thông. Vì thiếu cái khả năng này nên chúng ta thường đưa ra những kế hoạch vội vàng, “ăn đong”, phải liên tục sửa chữa, càng sửa chữa càng rối, càng nát.  3. Những tính cách của một dân tộc có thể coi là vốn xã hội của dân tộc đó, mà đã nói đến vốn, thì phải nói đến việc sử dụng vốn đó một cách tối ưu. Muốn đạt được sự tối ưu đó, cần phải xây dựng một lớp người quản lí xã hội có tri thức, nghĩa là hiểu biết dựa trên một hệ thống thông tin minh bạch và trung thực.  Không ít người thường lẫn lộn một thông tin khoa học với một thông tin quảng cáo. Ở ta, có một thói quen rất không tốt là coi những người nói về những khuyết điểm của cộng đồng là kém yêu nước hơn những người nói về ưu điểm. Người ta sẵn sàng chấp nhận những ưu điểm “ảo” và dị ứng những khuyết điểm “thật”. Trong một xã hội trung thực nói những ưu điểm “ảo”, hoang đường sai lệch nhằm những mục đích vụ lợi cần phải được phê phán nghiêm khắc như một hành động vu cáo.  Quảng cáo cần thông tin đẹp để quyến rũ, khoa học cần thông tin xác thực để hiểu biết và thức tỉnh.  Đó là hai chuyên ngành khác nhau.  4. Ai cũng biết nông dân Việt Nam nổi tiếng là cần cù, hay lam hay làm.  Chính những người nông dân cần cù này đã một thời trở thành những kẻ chây lười, tắc trách do tác động một số chính sách nông nghiệp sai lầm của chúng ta về hợp tác hóa.  Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nổi tiếng có truyền thống hiếu học.  Chúng ta đã sử dụng vốn đó thế nào khiến nạn chạy bằng, chạy điểm, chạy lớp lan tràn khắp nước, đến mức người phụ trách cao nhất của ngành Giáo dục phải lớn tiếng kêu gọi: “Nói không với tiêu cực trong học đường”. Trong ngôn ngữ thông dụng của hoạt động kinh tế thị trường, người ta gọi đó là “buôn thua bán lỗ”, là ăn vào vốn.  Đã có một thời người ta ca ngợi tính cách “phép vua thua lệ làng”, quan hệ làng xóm “tối lửa tắt đèn”, “chín bỏ làm mười” của người Việt như một ưu điểm trong việc xây dựng một nền dân chủ của xã hội.  Phải biết rằng trong quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền, đó là một điều tối kị, nó dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, ảnh hưởng rất xấu đến sự thực thi của pháp luật. Một xã hội văn minh phải là một xã hội có kỉ cương thông suốt từ trên xuống dưới.  Việc chấp hành kỉ luật một cách thoải mái, thân thiện với một cộng đồng làng xã có thể rất dễ chịu nhưng nó tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn khi ta xây dựng một xã hội công nghiệp kỹ thuật cao, chẳng hạn công nghệ nguyên tử.  Một nhà báo đã nói đùa: Đứng về mặt giao thông đô thị thì Việt Nam là nước tự do nhất thế giới.  Chúng ta thường tự hào đất nước có hàng nghìn cây số bờ biển nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được một nền văn minh biển. Không xây dựng được một nền văn minh biển thì làm sao ra biển lớn được? Các nhà sử học đều biết rằng, biển đóng một vai trò lớn như thế nào trong việc xây dựng một nền văn minh năng động và hiện đại.  Một nhà văn hài hước đã bình luận câu hát rất phổ biến “Biển một bên và em một bên” như sau: Đó là tấn bi kịch của anh nằm giữa, quay sang Đông thì bên Tây hứ, quay sang Tây thì bên Đông hừ. Bao giờ thì chúng ta thực sự ra biển?  Mong ước đau đáu suốt đời và sau đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng hoàng phát  triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.  Khi nghiên cứu những tính cách của dân tộc, chúng ta nhất thiết không được đãng trí mục tiêu trên.  Cần phải thẳng thắn nhận thức rằng, muốn xây dựng một quốc gia tiên tiến chỉ có sự thông minh, tháo vát, nhiệt tình thôi không đủ. Mà cần, rất cần một cái nhìn bao quát, có hệ thống và tầm xa của tri thức.  Việc nâng cao dân trí cũng như quan trí đã trở thành một đòi hỏi sống còn, bức bách đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam.  —————–    Lê Đạt      Author                Quản trị        
__label__tiasang VEDAN: Một năm nhìn lại      Danh sách các công ty gây ô nhiễm đã bị phát hiện và xử lý ngày càng kéo dài, từ Tung Kuang (Hải Dương), Thái Tuấn (TP. HCM) cho tới Vedan và mới đây là Sonadezi (Đồng Nai). Vì vậy cần rút ra vài bài học từ việc xử lý hành vi gây ô nhiễm sông Thị Vải của Công ty Vedan để kết hợp sức mạnh toàn xã hội trong việc chống suy thoái và ô nhiễm môi trường; đồng thời đề ra những chính sách và thể chế phù hợp, xung đột về môi trường sống có thể gây nên những bất ổn định xã hội nghiêm trọng.      Vedan là một DN 100% vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có cơ sở kinh doanh đặt tại Đồng Nai, tiêu thụ nguyên liệu tại địa phương, tạo ra khoảng 2.000 việc làm với thu nhập bình quân trên 2.1 triệu VNĐ/tháng. Sau khi bắt đầu hoạt động, nguồn nước thải của Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải, từ năm 1994 các hộ dân đã khiếu nại, nhiều hộ ngừng kinh doanh. Năm 1995, Vedan đã chi 15 tỷ VNĐ hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp. Mặc dù vậy, Vedan tiếp tục gây ô nhiễm sông Thị Vải thêm 14 năm nữa mới bị phát hiện. Tháng 9/2008 Vedan bị bắt quả tang thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải qua hệ thống những đường hầm bí mật.   Sau khi vụ việc được phát hiện, những vướng mắc trong xử lý hành vi phạm pháp của Vedan bộc lộ dần. Luật ta trói ta, các cơ quan hành pháp chưa có đủ thẩm quyền rạch ròi để thực thi pháp luật. Về xử lý hành chính, Bộ TN&MT đã xử phạt và truy thu phí môi trường của Vedan, song đùn đẩy trách nhiệm đình chỉ hoạt động hoặc rút giấy phép kinh doanh của Vedan xuống cho chính quyền tỉnh Đồng Nai. Về xử lý hình sự, cơ quan điều tra không thể khởi tố hình sự vụ án này vì luật pháp VN chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân công ty Vedan và chỉ truy cứu trách nhiệm cá nhân các lãnh đạo Vedan nếu họ đã bị xử lý hành chính. Về khía cạnh bảo vệ lợi ích công cộng, cho đến nay chưa có cơ quan Nhà nước nào được chỉ định buộc Vedan khôi phục lại môi trường sinh thái cho dòng sông Thị Vải.   Ngoài lợi ích công cộng, gây hại cho cộng đồng nói chung cho đến nay vẫn chưa được cơ quan nào khởi kiện Vedan đòi bồi hoàn, sông Thị Vải chết gây hại cụ thể cho 7.000 hộ nông dân của ba tỉnh Đồng Nai, BR-VT và TP.HCM. Sau khi Vedan bị bắt quả tang, nông dân bắt đầu đòi Vedan bồi thường, yêu cầu của họ được dư luận xã hội ủng hộ trong suốt các năm 2008-2010. Các tờ báo lớn ở VN liên tục đưa tin, tổ chức hội thảo, kêu gọi hỗ trợ nông dân. Các đoàn đại biểu Quốc hội chất vấn trách nhiệm của Bộ TN&MT. Ngoài ra, các siêu thị cũng góp sức hỗ trợ nông dân. Vì bị người tiêu dùng tẩy chay, từ tháng 10/2008 nhiều siêu thị Big C, Maximark, Coopmart, Metro đã ngừng kinh doanh sản phẩm của Vedan. Dư luận như bị đổ thêm dầu vào lửa khi 3 sản phẩm của Vedan trớ trêu lại được Cục VSATTP Bộ Y tế tặng bằng khen vì sự an toàn sức khỏe cộng đồng năm 2009. Đến cuối tháng 07 đầu tháng 8/2010, tất cả những sức ép đa dạng này dồn Vedan vào thế phải thương lượng với nông dân.  Khi nông dân đòi Vedan bồi thường, phản ứng của chính quyền ba tỉnh là khác nhau. Tại TP.HCM, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy và UBND, Hội Nông dân đứng ra làm đầu mối tiếp nhận đơn thư của người dân. Hội Nông dân TP.HCM cũng chủ động báo cáo Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và qua đó báo cáo sự việc tới Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ đó đưa nội dung vụ việc Vedan ra thảo luận tại cuộc họp của Chính phủ vào ngày 02/11/2008. Tại BR-VT, chính quyền giao Sở NN & PTNT chủ trì giúp nông dân kê khai và xác định thiệt hại. Từ đề xuất của chính quyền TP.HCM và BR-VT, Bộ TN&MT đã chỉ đạo Viện Môi trường và Tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) hỗ trợ xác minh thiệt hại, hỗ trợ chứng cứ giúp nông dân đấu tranh với Vedan. Bộ TN&MT cũng tạm ứng trước 2,6 tỷ đồng từ Quỹ Bảo vệ Môi trường giúp nông dân nộp tạm ứng án phí khi khởi kiện ra tòa án. Như vậy, nếu có chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, các đoàn thể và thể chế hành chính VN có thể phát huy được sức mạnh tốt. Ngược lại tại Đồng Nai, do Vedan nằm trên địa bàn tỉnh, tiêu thụ nguyên liệu, tạo việc làm, đóng góp đáng kể cho kinh tế của địa phương, chính quyền Đồng Nai không chủ động hỗ trợ nông dân khởi kiện, chần chừ không tiến hành hỗ trợ kê khai và xác minh thiệt hại cho nông dân. Hội Nông dân Đồng Nai thậm chí còn thỏa thuận ghi nhận mức hỗ trợ của Vedan là 15 tỷ VNĐ, trong lúc nông dân tỉnh này đòi Vedan bồi thường 119 tỷ VNĐ. Như vậy, nếu thiếu chỉ đạo từ trên, các hiệp hội khá thụ động khi đại diện cho tiếng nói của hội viên.          Nông dân nghe hướng dẫn các thủ tục khởi kiện.          Giúp nông dân phải kể đến sự đóng góp của hội luật gia và giới luật sư. Từ tháng 7/2010 hàng chục tổ chức luật gia, luật sư với hàng trăm luật sư của ba tỉnh đã tự nguyện hỗ trợ miễn phí cho nông dân, giúp họ chuẩn bị hồ sơ và khởi kiện Vedan ra tòa. Tại Đồng Nai, sau khi nhận được sự gợi ý bằng văn bản của UBND tỉnh Đồng Nai, 40 văn phòng luật sư đã tình nguyện tham gia hỗ trợ miễn phí cho nông dân Đồng Nai, giúp họ thảo đơn kiện và chuẩn bị hồ sơ vụ kiện, làm đơn giảm án phí cho các hộ nghèo, hoàn tất các thủ tục ủy quyền cho luật sư, giúp đỡ vẽ sơ đồ vùng thiệt hại, củng cố chứng cứ giúp nông dân. Với cố gắng rất lớn của các tổ chức luật sư và sự chia sẻ của các tòa án địa phương, khoảng 4.700 hồ sơ đơn kiện riêng lẻ đã được hoàn tất và khởi kiện tại các địa phương trong một thời gian khoảng 5 tuần trước khi hết thời hiệu khởi kiện và nộp tại các tòa án địa phương.        Vụ Vedan, một năm sau nhìn lại, cho thấy sức mạnh to lớn của toàn xã hội, từ báo chí, người tiêu dùng, các hiệp hội cho tới các thể chế chính thức của Nhà nước, nếu tất cả đồng lòng gìn giữ môi trường sống, cái khó ló cái khôn, sẽ có vô vàn phương cách định hướng tăng trưởng vì chất lượng cuộc sống của người dân.        Trước sức ép của dư luận, sự đe dọa của hàng ngàn vụ kiện, và sự tẩy chay của người tiêu dùng, Vedan từ chỗ chỉ hứa cam kết hỗ trợ nông dân, đã bắt đầu chấp nhận thương lượng về bồi thường. Đến ngày 10/09/2010, thông qua thỏa thuận riêng rẽ với đại diện nông dân của ba tỉnh, Vedan đã chấp nhận bồi thường gần 220 tỷ VNĐ cho 7.000 hộ nông dân, với điều kiện các hộ nông dân rút lại đơn khởi kiện. Như vậy các bên đã đạt được một giải pháp chấp nhận được mà không phải tiến hành gần 5.000 vụ kiện tốn kém thời gian, tiền bạc, với kết cục chưa thật rõ ràng. Trên thực tế, cho đến nay Vedan đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bồi thường như cam kết. Cuối tháng 01/2011, nông dân Cần Giờ TP.HCM đã nhận đủ số tiền bồi thường, họ đã quyết định chia đều số tiền 45,7 tỷ VNĐ cho 839 hộ dân bị thiệt hại. Tại BR-VT, Sở NN&PTN làm đầu mối đã phân chia 53,619 tỷ VNĐ cho 1255 nông hộ theo tỷ lệ khai báo trước khi khởi kiện. Riêng tại tỉnh Đồng Nai, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc chia tiền, vào thời điểm 07/2011 địa phương này mới chia được khoảng 37 tỷ trong tổng số 119,5 tỷ VNĐ tiền bồi thường thiệt hại của Vedan cho nông dân.   Vụ Vedan, một năm sau nhìn lại, cho thấy sức mạnh to lớn của toàn xã hội, từ báo chí, người tiêu dùng, các hiệp hội cho tới các thể chế chính thức của Nhà nước, nếu tất cả đồng lòng gìn giữ môi trường sống, cái khó ló cái khôn, sẽ có vô vàn phương cách định hướng tăng trưởng vì chất lượng cuộc sống của người dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì một môi trường sách trong sạch      Đọc là một hành động giao tiếp giữa độc giả và tác giả, nó phải được đặt trên những qui ước cơ bản của hoạt động giao tiếp giữa con người là tôn trọng lẫn nhau và chân thành với nhau.    Tôi nói “lẫn nhau” và “với nhau” để nhấn mạnh tính hai chiều của hoạt động này. Nhà xuất bản + hệ thống phát hành sách + công ty /cá nhân kinh doanh sách hiện nay là môi trường trung gian giữa độc giả và tác giả. Hiện nay, môi trường này đang bị ô nhiễm, đầy những sự nhập nhằng, ma mãnh và vì thế nên nó làm khúc xạ đến mức quái đản mối quan hệ độc giả – tác giả. Chính nó phải chịu trách nhiệm về sự khủng hoảng lòng tin và quí mến nhau giữa độc giả và tác giả. Chính nó khiến cho sáng tác trở thành một lao động hèn kém bị bóc lột, miệt thị, đến nỗi các tác giả phản ứng bằng sự sáng tạo giả tạo, vô trách nhiệm, tự hạ phẩm giá bản thân lẫn chất lượng sản phẩm, quay lưng lại độc giả, chỉ “viết cho mình” hay ngạo nghễ “viết tiểu thuyết ba xu”. Chính nó khiến độc giả cảm thấy mình bị phỉnh nịnh, lừa gạt, móc túi, bị tra tấn, bị coi thường quá đáng; và trong cõi hỗn mang sách báo ngày nay, có người cho rằng đọc càng ít thì càng ít bị ô nhiễm tinh thần.  Qua khúc xạ của môi trường này, tác giả và độc giả không còn nhận ra nhau, hoặc nhận ra hình ảnh méo mó của nhau, và ngộ nhận nhau. Vậy thì trước hết cần phải làm trong sáng môi trường trung gian giữa độc giả và tác giả. Để ít nhất thì “ngưu tầm đúng ngưu, mã tầm đúng mã”. Độc giả muốn giải trí hài lòng với những cuốn sách để giải trí, người muốn thu thập tri thức an tâm với sự chính xác thông tin trong cuốn sách đắt giá mình mua, người muốn thưởng thức văn chương không thất vọng với những sản phẩm và tên tuổi được quảng bá hay bảo kê bằng những thương hiệu và danh hiệu to tát.  Tôi thú thật là chưa nhìn thấy giải pháp khả thi nào cho khổ nạn đọc hiện nay, mặc dù nhu cầu truyền thụ kinh nghiệm và tri thức bằng ngôn ngữ dân tộc của một cộng đồng 85 triệu người có hai phần ba dân số dưới ba mươi tuổi (tuổi cần học cần đọc) là một nhu cầu chẳng những cần thiết mà còn khẩn thiết trong tình hình tăng tiến thần tốc của thế giới chúng ta đang sống. Không muốn trở thành đánh trống bỏ dùi, chỉ xin được gợi ý vài biện pháp để chữa một căn bệnh đã trở nên trầm kha từ bên trong.  Giải pháp thứ nhất: Xây dựng những giải thưởng uy tín có vai trò sàng lọc giá trị thực sự chứ không phải là miếng thịt để chia chác giành giật trong một cái làng nào đó. Hiện nay ở cả nước ta chỉ có những giải thưởng vừa ít ỏi vừa tai tiếng trong phạm vi sách văn học. Đối với đa số áp đảo những loại sách khác trên thị trường, kể cả những sách cung cấp kiến thức chết người như chơi nếu không chính xác, như sách y học, kinh tế, hướng dẫn này nọ, hay tự học, tự rèn luyện, hầu như không có sự sàng lọc nào cả. Quan điểm của tôi là: bất cứ thứ sách gì cũng được quyền xuất bản trong giới hạn cho phép của pháp luật nhưng bên cạnh đó, cần phải có sự thẩm định giá trị một cách khách quan và việc đọc của công chúng cần phải do những tổ chức có chuyên môn, uy tín hướng dẫn.  Giải pháp thứ hai: Luật pháp phải công bằng, nghiêm minh. Nhà xuất bản tư nhân, cho đến nay, vẫn chưa được công nhận nhưng, thiết nghĩ, cũng cần có một hình thức nào đó quy định quyền truyền bá tác phẩm của một tác giả trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Điều này, cho đến nay vẫn chưa được đề cập đến một cách đúng mức trong hệ thống Luật vậy mà, chỉ có làm được điều đó thì mới ràng buộc được trách nhiệm xuất bản đúng đối tượng, và trả lại cho người sáng tác địa vị đường hoàng trong xã hội, trong quan hệ với nhà xuất bản và nhà phát hành, chứ không bị đối xử như lao động nô lệ trong cái “thực trạng văn hoá đọc” ở Việt Nam hiện nay.  Mặc dù tình trạng trẻ em bỏ học đang trong tình trạng báo động, mặc dù nền giáo dục phổ thông ngày càng mắc mớ, dù xoá mù chữ rồi tái mù chữ, tôi vẫn lạc quan rằng dân trí nước ta và trình độ đọc của dân ta phải cao hơn trước, và nhu cầu đọc/ học của dân ta càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Cho nên tôi cũng lạc quan rằng nhất định sẽ có chuyển động trong thế giới sách, trong hoạt động sáng tạo và giáo dục. Nếu không, hiểm họa sẽ khôn lường.    Lý Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc?      Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi…        Tuy nhiên vì nền kinh tế Việt Nam được thoát thai từ chế độ bao cấp, doanh nghiệp tư nhân chưa phải là chủ lực, tính cạnh tranh trong thương mại chưa cao nên mối liên hệ giữa viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa được quan tâm. Vai trò của trí thức, nhất là ở đại học và viện nghiên cứu rất mờ nhạt. Chính vì vậy “kho tàng kiến thức” của những nhà khoa học tên tuổi, những chuyên gia đầu ngành Việt kiều ở nước ngoài không được thực sự quan tâm (thậm chí hầu như bị lãng quên).  Có thể khẳng định, nếu có sự hợp tác về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu của trí thức Việt kiều, dưới bất cứ hình thức nào, cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá đất nước.  Nhưng tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ? Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:  ► Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;  ► Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên…) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;  ► Chưa có đầu mối để tìm tòi, liên lạc, mời gọi… do chính trí thức Việt kiều đảm trách vì trong     hàng trăm, hàng ngàn công nghệ cao của thế giới, phải là người có kiến thức mới có thể lựa chọn những công nghệ tốt nhất, thích hơp nhất và có lợi nhất cho đất nước;  ► Thủ tục giấy tờ về nước phải thông qua nhiều Bộ ngành nên rất rườm rà, mất thời gian;  ► Tinh thần “vọng ngoại” của một số ít người trong nước vẫn thích “mắt xanh mũi lõ” dù rằng có nhiều khi “mắt xanh mũi lõ” lại ở trình độ khoa học kỹ thuật thấp hơn, không hiểu Việt Nam hơn trí thức Việt kiều;  ► Tính “địa phương” và “trong ngoài” còn khá phổ biến, môi trường làm việc dựa nhiều vào cảm tính nên nhiều khi không công bằng, thiếu tin tưởng làm trí thức Việt kiều trở thành những thứ trang trí, không có thực quyền và cơ hội đóng góp sở trường khoa học kỹ thuật của mình.    Từ những năm 1970 Hàn Quốc đã mạnh dạn triển khai chính sách mời gọi trí thức Hàn kiều ở Mỹ trở về đóng góp. Ba mươi năm sau Hàn Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 13 của thế giới. Cũng thế Trung Quốc đã ứng dụng chính sách ưu đãi mời gọi trí thức Hoa kiều, và họ cũng đã tiến rất nhanh trong công cuộc hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước, trở thành nền kinh tế thứ ba trên thế giới. Chỉ có Việt Nam, đã hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, mà vẫn còn loay hoay mãi với câu hỏi về trí thức Việt kiều.  ———————————  * Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001, Australia      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao lạc quan?      Việt Nam đứng đầu trong nhóm 10 nước có tinh thần lạc quan nhất thế giới, theo kết quả thăm dò của Viện BVA (Pháp) vừa công bố vào những ngày đầu năm 2011. Trong khi đó, ngày 15.8.2010, tờ Newsweek công bố Việt Nam là nước xếp vị trí thứ 81/100, xét về chất lượng sống. Câu hỏi đặt ra, vì sao chất lượng sống thấp mà chỉ số lạc quan của người dân lại cao như vậy?    Hãy nhìn vào bảng xếp hạng về nhóm các nước lạc quan nhất thế giới, theo điều tra của BVA, bên cạnh Việt Nam, còn có các nước mới nổi như Trung Quốc, các nước nghèo như Nigeria, các nước vừa thoát khỏi chiến tranh hoặc thậm chí chỉ mới giảm xung đột vũ trang như Afghanistan, Iraq, Pakistan. Điều này cho thấy, về cơ bản, có hai “điều kiện” để dẫn đến (tâm lý) lạc quan của người dân: đất nước vừa trải qua binh biến và đang nâng niu, tận hưởng nền hòa bình, an ninh trong đời sống; đất nước sống dưới sự lãnh đạo, bảo hộ bởi một chính phủ.  Xét điều kiện thứ nhất dẫn đến sự lạc quan, có thể cảm nhận, người Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh, thấm thía cảnh li tán, đổ máu, việc hiểu, trân trọng sự yên ổn, hòa bình từng giây từng phút là điều hiển nhiên. Thậm chí, quá nhức nhối với vết thương chiến tranh trong quá khứ để lại, nhiều người Việt hôm nay né tránh câu chuyện chính trị, họ xem chính trị là của “mấy ông bà ở trển”, của nhà nước, trong lúc đó, đồng thời đánh mất một trong những ý nghĩa quan trọng của chính trị đó là xác định điều kiện, vị trí, vai trò chỗ đứng của cá nhân trong xã hội mà anh ta đang sống.   Thực tế đó, đưa đẩy đến một tâm lý tiêu cực, đó là người dân tự đánh mất ý thức về tiếng nói, ngại ngần cống hiến trí lực của mình cho cộng đồng hay tham gia trực tiếp vào cỗ máy vận hành xã hội. Chính trị, họ giao cho nhà nước, còn đời sống khó khăn thì tự xoay xở, tùy cơ ứng biến. “Tự lo” là triết lý sống của nhiều người. Điều này cũng dẫn đến ý thức, hành xử công cộng ngày càng yếu.  Cái giá của hiện tại hòa bình đã trả bằng biết bao xương máu từ quá khứ chiến tranh. Nhưng cái giá của việc quá sợ mất hòa bình và sự yên ổn cá nhân đã dẫn đến sự cam phận, an phận thủ thường, ngại đụng chạm, phản ứng, thậm chí phớt lờ trước những bất công đang xảy ra trong cộng đồng, trước sự bê bối nhũng nhiễu đang diễn ra trước mắt, trước sự biểu hiện xói mòn những giá trị đạo đức xã hội.   Chưa bao giờ, hai từ “vô cảm” được báo chí nhắc đến nhiều như trong thời hiện tại. Phẩm chất xã hội nhân văn bị bào mòn, thay vào đó, những kỹ năng đối phó, tranh giành, ích kỷ được trang bị như những phản ứng mang tính bản năng sinh tồn.   Các con số báo cáo phát triển hàng năm từ chính phủ vẫn cho người dân sự an tâm và tin vào sự phát triển của đất nước mà họ dự phần xây dựng, thậm chí, mở ra những hy vọng tương lai tươi sáng. Song, những cải thiện cơ bản về chính sách an sinh xã hội – cái chìa khóa để thăng tiến con người mà ta vẫn gọi là chất lượng sống thì đang được mài giũa một cách chậm chạp suốt 35 năm hòa bình nhưng lại luôn trật khớp với tốc độ phát triển. Người dân có thể hài lòng vì đời sống kinh tế tốt lên, an ninh được đảm bảo cơ bản nhưng quên mất sự bươn trải đối phó tính toán căng thẳng trong từng ngày, từ chuyện giao thông đi lại, môi trường giáo dục con cái, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng dịch vụ y tế thấp hay môi trường sống đang ngày càng nhiều đe dọa…   Thâu tóm tinh thần kết quả của đề tài nghiên cứu về mức sống và môi trường sống của người dân TP.HCM do Viện Nghiên cứu Phát triển TP .HCM công bố đầu năm 2010, Ths Lê Văn Thành, chủ nhiệm công trình, lý giải vì sao thu nhập đầu người tăng mà chất lượng sống lại giảm, rằng: “Nói về mức sống tính theo thu nhập thì nó cụ thể nhưng chất lượng sống – vừa mang tính vật chất vừa có khái niệm về tinh thần – lại không đơn thuần có nhiều tiền là có cuộc sống tốt. Chất lượng cuộc sống của người dân TP.HCM có thể nói là giảm.” (Tuổi trẻ, 25.1.2010)   Đúc kết đó cho thấy, bao giờ khái niệm tăng trưởng bền vững với các tiêu chí điều kiện môi trường, chất lượng sống của người dân, di sản giá trị tinh thần để lại cho thế hệ tương lai được đảm bảo hàng đầu mới là cái đích cần hướng đến của một quốc gia, chứ không đơn thuần dừng lại ở niềm tin và sự thỏa mãn tạm thời như một phép thắng lợi tinh thần căn cứ trên phép tính trung bình ở mỗi túi tiền của người dân.  Trong trường hợp Việt Nam, có thể hiểu, về mặt nào đó, lạc quan cũng là một phương cách, liệu pháp tinh thần giúp người ta tự hài lòng với hiện tại. Chỉ số chấp nhận sống chung với nghịch cảnh cao cộng với tâm lý hy vọng “chớ than phận khó ai ơi/ còn da lông mọc còn chồi nẩy cây” luôn được phát huy hết mức. Đây có lẽ cũng là một nét đặc thù dân tộc tính của người Việt được hun đúc qua lịch sử triền miên bị đô hộ, triền miên ứng phó thiên tai. Lạc quan, dĩ hòa vi quý vừa là điều kiện tốt để chính quyền xây dựng một đời sống an ninh đảm bảo nhưng nó vừa là trở lực trong xây dựng những thể chế hiện đại hơn, hướng đến sự đột phá trong xây dựng mạng lưới an sinh, xã hội dân sự.   Chỉ số lạc quan cao trong điều kiện chất lượng đời sống người dân thấp, từ một góc nhìn khác, nó không hẳn đem lại sự… lạc quan, mà có thể xem là một tín hiệu đáng báo động!  Nguyễn Vĩnh Nguyên    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao người Việt nghiện Facebook?      Việt Nam đứng trong top 10 quốc gia có người dùng truy cập mạng xã hội Facebook trên thế giới, theo khảo sát mới vừa công bố của GlobalWebIndex trên tạp chí Economist đầu tháng 11/2014. Tại sao với một quốc gia mà mọi thông tin trên internet chưa hoàn toàn được mở cửa với người dùng như Việt Nam, thì nhu cầu sử dụng mạng xã hội lại cao như vậy? Cụ thể, người dân làm gì ở trên mạng xã hội?  &#160;    Câu trả lời, nếu đơn giản nhất sẽ là: chia sẻ thông tin, đời sống cá nhân và kết nối cộng đồng. Nhưng sâu xa, nhìn vào thực tế của khí hậu truyền thông và văn hóa, thì vấn đề không dừng lại ở đó. Nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ trí thức bắt đầu biết cách sử dụng mạng xã hội như một phương tiện truyền thông riêng để chia sẻ hình ảnh, góc nhìn đời sống, truyền tải thông tin và đưa ra thông điệp xã hội với tư cách những công dân thực thụ. Nhiều người sử dụng mạng xã hội như một phương tiện quảng bá trong kinh doanh hay xây dựng hình ảnh cá nhân, từ đó, tác động đến đại chúng một cách hiệu quả. Nhiều dự án từ thiện cộng đồng, tiếng nói xã hội dân sự được tập hợp, bắt đầu từ trên mạng xã hội.  Ở đây, ảnh hưởng của truyền thông mạng xã hội vào thực tế đời sống khá rõ ràng, mạnh mẽ và trực tiếp. Trong thời gian qua, nhiều thông tin, sự kiện thời sự được khởi đầu từ mạng xã hội chứ không phải trên những tờ báo chính thống, đã làm thay đổi cả chiều hướng thông tin được “phân luồng” trên báo chí chính thống. Mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn rộng rãi để những tiếng nói độc lập, đa dạng có thể lan tỏa và cọ xát với nhau một cách sòng phẳng, tự do. Trong đời sống chính trị, mạng xã hội như một hàn thử biểu phản ánh đầy đủ và chính xác tâm thế xã hội trước phương thức vận hành chung. Chỉ cần một phát biểu thiếu trách nhiệm hoặc thiếu hiểu biết của một vị đại biểu tại nghị trường, trong vài phút sau đã có những cuộc tranh luận nổ ra trên Facebook; chỉ cần một quyết định, chính sách nào đó lạm quyền, phi lý, thiếu minh bạch và thiếu trách nhiệm được ban hành thì vài phút sau trên mạng đã xuất hiện những ý kiến phản biện, phản ứng thẳng thắn. Đã có những phản ứng như thế tạo nên sự bùng phát lớn khiến cục diện tình hình thay đổi, ngăn chặn những “chính sách trên trời”, làm ảnh hưởng xấu đến tương lai cộng đồng.     Theo xu thế chung của báo chí thế giới, báo chí Việt Nam bắt đầu quen với tâm lý coi mạng xã hội là một kênh tham khảo, kênh bổ sung hay chất liệu, nguồn thông tin thô thay vì dè bỉu, chê bai hay đẩy nó về phía bên kia chiến tuyến. Đã có những người làm báo chí chính thống đứng vào trung tâm dòng chảy của mạng xã hội để tiếng nói xã hội của mình được “thử lửa” và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ hơn.               Kết quả xếp hạng của GlobalWebIndex dựa trên khảo sát 170.000 người dùng internet ở 32 nước khác nhau trong quý I năm 2014. Theo đó, các nước có số người sử dụng Facebook nhiều nhất là: 1. Mỹ; 2. Ấn Độ; 3. Trung Quốc; 4. Brazil; 5. Indonesia; 6. Nga; 7. Mexico; 8. Philippines; 9. Đức; 10. Việt Nam.  Một khảo sát khác do SimilarWeb thực hiện dựa trên phân tích dữ liệu truy cập theo địa chỉ đăng ký IP của thiết bị người dùng đã cho một kết quả khác hẳn, với Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn vắng mặt khỏi danh sách top 10. Cách này chưa phản ánh đầy đủ thực tế ở những quốc gia mức độ kiểm soát của nhà nước với internet còn cao, dịch vụ mạng xã hội có những thời điểm rất chập chờn, người dùng muốn truy cập thì phải thông qua một phần mềm cung cấp IP trung gian để “vượt tường”.             Tóm lại, nếu nhìn ở góc độ thực tế truyền thông ngày nay, không thể nghĩ hay nói rằng mạng xã hội là phương thức truyền thông phụ, phi chính thống và chỉ báo chí nhà nước quản lý thì mới là chính thức. Coi mạng xã hội là thù địch của đời sống báo chí lại càng là cách nghĩ ấu trĩ tai hại trong thời buổi này.  Mức độ người Việt “nghiện Facebook” có lẽ nhiều hơn dữ liệu mà  GlobalWebIndex thu thập được. Điều đó phản ánh một nhu cầu truyền thông, nhu cầu về tiếng nói cá nhân trong xã hội. Ngay trong mục đích chia sẻ sở thích, đời sống như xem phim, đọc sách, ăn uống, nuôi con, du lịch… trên mạng xã hội, cũng đã cho thấy người dùng mong muốn xác lập sự hiện hữu của họ trong cái thế giới mà vai trò, vị thế và tiếng nói cá nhân không phải bao giờ cũng được thừa nhận một cách đầy đủ.   Nếu nhìn ở góc độ giá trị, thì thấy vẫn còn đó những lao xao hỗn loạn, thậm chí tính bầy đàn – như cách không ít học giả vẫn quy kết cho những lối hành xử cảm tính, đám đông trên mạng xã hội. Tuy nhiên, cũng như trong đời sống văn minh, với một không gian văn hóa mà mỗi người tìm thấy sự chủ động, tự do và biết tôn trọng những tiếng nói khác biệt, thì nên lạc quan và hiểu rằng, văn hóa hành xử hay chất lượng những chia sẻ rồi sẽ được hình thành nơi mỗi người sống trên mạng xã hội qua thời gian.   Cần nhìn về đời sống mạng xã hội ở Việt Nam theo góc nhìn rộng, lạc quan hơn là xét nét và định kiến!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao nhân dân chưa yên lòng?      Trước ngày khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XII chúng tôi có dịp tiếp xúc với đông đảo cử tri và lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân. Đa số nhân dân mà chúng tôi tiếp xúc là nông dân, là thanh niên và một bộ phận các trí thức. Mặc dầu những thành tựu của trên 20 năm Đổi mới là quá rõ ràng và các biện pháp mà Chính phủ đề ra để hạn chế lạm phát đang phát huy thực sự những tác dụng trông thấy, nhưng khi tâm sự thành thật với bất kỳ cử tri nào hoặc với các bạn đồng nghiệp tôi đều cảm thấy nhân dân ta thực sự chưa yên lòng với thực trạng xã hội hiện nay.  Rất đáng mừng là các tồn tại làm nhân dân chưa yên lòng đều đã được Đảng thấu hiểu một cách sâu sắc và chính xác. Điều đó thể hiện qua ba Nghị quyết mà Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng đã nhất trí thông qua trong thời gian gần đây. Nhưng tôi mong muốn chúng ta đừng quên ghi nhớ lời căn dặn của Hồ Chủ tịch: ”Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã được thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin của nhân dân”. (HCM toàn tập, T.5,1995, tr.250)    1/ Với nông dân, nghị quyết 7 ghi rõ: “Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”.  Người nông dân hỏi: Ai chịu trách nhiệm về những tồn tại yếu kém này? Nhẽ nào trách nhiệm đều thuộc về nông dân? Nông dân làm sao xóa bỏ được 75 triệu thửa ruộng manh mún, nhỏ bé? Nông dân làm sao trồng trọt, chăn nuôi theo quy mô lớn với những hợp đồng có người đảm nhận đầu tư và tiêu thụ nông sản phẩm. Nông dân làm sao tự nhập được các giống cây trồng chuyển gene với năng suất rất cao mà giá thành lại hạ vì chịu được thuốc trừ cỏ và giảm thiểu được thuốc trừ sâu mà 12 triệu nông dân thuộc 23 nước đang canh tác rộng lớn trên 114,3 triệu ha? Bộ cấm chăn nuôi nhỏ lẻ theo truyền thống thì nông dân lấy gì quả trứng bồi dưỡng cho con, lấy gì có con lợn bán đi để nộp tiền học cho con. Nông dân làm sao ngăn cản được các nhà đầu tư và chính quyền đang ngang nhiên chiếm đoạt toàn những bờ xôi , ruộng mật, toàn là những nhất đẳng điền, toàn là ven các quốc lộ, tỉnh lộ, những nơi đất có cấu tượng mà phải hàng nghìn năm nhờ tác dụng chuyển đổi của vi sinh vật mới có thể có được. Tôi thầm nghĩ lãnh đạo mà vẫn chưa hiểu thế nào là đất có cấu tượng thì đừng nên tham gia vào việc quy hoạch ruộng đất. Thật bất ngờ khi trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi tới 366,44 nghìn ha (!). Vậy mà ngay các Khu công nghiệp được cấp giấy phép từ lâu nhưng ruộng đất vẫn bị bỏ không một cách vô cùng lãng phí. Nhẽ nào đất nước mình mà cần tới 141 sân golf ở 39 tỉnh, sử dụng tới 49.268 ha đất đai- trong đó có 2 625 ha đất trồng lúa. Nếu như trong suốt 16 năm Thủ tướng chỉ cấp phép cho 34 dự án sân golf thì chỉ chưa đầy 2 năm (7/2006-5/2008) các địa phương sau khi được phân cấp đã cấp phép cho 104 dự án- nghĩa là cứ bình quân sau mỗi tuần lại xuất hiện thêm 1 sân golf (!). Đấy là chưa kể việc sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ cỏ sẽ dẫn đến ô nhiễm không ít các mạch nước ngầm. Xin lưu ý Quốc hội là ở Trung Quốc các bạn nói với tôi là muốn chuyển đổi mục đích sử dụng 5 mẫu Trung Quốc (tương đương với 1/3 ha) thì phải cần có quyết định của Quốc vụ viện (tức là của Chính phủ Trung ương). Bao giờ Chính phủ ta làm được như vậy? Nông dân làm gì để có mức sống không quá chênh lệch so với thành thị? Hiện nay giá lương thực, thực phẩm so với năm 2005 đã tăng được 20-30% , nhưng giá vật tư nông nghiệp , giá nhân công đã tăng trên 60%, chưa kể nạn phân bón giả đang làm nông dân khốn đốn. Thu nhập thực tế của nông dân đã giảm đi 50% sau khi trừ đi các chi phí sản xuất. Trong khi Công nghiệp được bảo hộ mạnh mẽ từ phía Nhà nước thì thử hỏi Nông nghiệp, Nông thôn và Nông dân được gì? Nhiều nước đầu tư vào nông nghiệp tới 7-8% GDP trong khi Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng chỉ đầu tư có 4% cho lĩnh vực hết sức quan trọng này. Ai chịu trách nhiệm dừng xuất khẩu khi giá gạo trên thế giới lên tới 1200 USD khiến nông dân Tây Nam Bộ không bán được thóc tươi và phải phơi lúa lên khắp đường nhựa mặc cho xe ô tô nghiền nát.  2/ Với trí thức chúng ta có một đội ngũ đông đảo trí thức vừa yêu nước, vừa nhiệt tình, đấy là chưa kể đến trên 300 trí thức Việt kiều tài giỏi- không ít người đang làm việc tại các Trung tâm khoa học, các Trường đại học danh tiếng trên thế giới. Vậy mà như Nghị quyết Trung ương 7 đã đánh giá: “Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính… Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế. Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ở các tạp chí có uy tín trên thế giới, số sáng chế được đăng ký quốc tế còn quá ít. Trong khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và định hướng, chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra, chưa có những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược, sao chép. Trong văn hóa, văn nghệ còn ít tác phẩm có giá trị xứng tầm với những thành tựu vẻ vang của đất nước, sự sáng tạo và hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật còn nhiều hạn chế.”  Anh chị em trí thức đặt câu hỏi: Những tồn tại trên phần nào thuộc về bản thân các trí thức? Chúng ta có hàng chục vạn trí thức đang hoạt động nhiệt tình và tự nguyện trong các Hội khoa học chuyên ngành, nhưng ai cho phép các Hội chuyên ngành này tham gia phản biện các vấn đề hệ trọng đến khoa học- công nghệ, đến kinh tế-xã hội? Lấy ví dụ trong khi chương trình giáo dục phổ thông của ta vừa nặng lại vừa thấp, nhiều môn học chả giống nước nào trên thế giới. Chương trình lại được làm sau khi đã soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa sửa mãi vẫn đầy thiếu xót. Vậy tại sao Bộ GD&ĐT không giao cho các Hội chuyên ngành tham gia xây dựng Chương trình rồi sẽ hỏi ý kiến của đông đảo các thầy cô giáo. Sao không kiến nghị sửa Luật Giáo dục để chuyện viết và in sách không còn là chuyện độc quyền của một nhà xuất bản. Chuyện bỏ kỳ thi vào đại học, việc định rút chương trình đại học xuống 3 năm, việc xây thêm một đại học chất lượng cao nữa khi đã có sẵn hai Đại học Quốc gia anh chị em trí thức và các Hội chuyên ngành đâu có được tham gia phản biện. Thậm chí những việc rất lớn như mở rộng Hà Nội thì nghe nói ngay Hội Kiến trúc sư và Hội Xây dựng cũng đâu có được tham gia ý kiến? Gần đây trí thức trong và ngoài nước phản ứng mạnh mẽ khi Nhà nước dự kiến bỏ ra 80 triệu USD để xây dựng nhà máy cồn nhiên liệu từ bột sắn và rỉ đường ở Phú Thọ. Thật là khó hiểu, khi các nước người ta sản xuất cồn sinh học từ bã mía, rơm rạ và sinh khối thực vật biển , chứ bột sắn và rỉ đường thì là nguyên liệu cho các nhà máy công nghệ sinh học mà các nước phát triển đang làm ra các dược liệu có giá trị cao hơn gấp hàng trăm, hàng nghìn lần so với cồn nhiên liệu. Đã có 80 triệu USD thì nên đầu tư tập trung cho ngành Công nghệ Sinh học để có thể làm ra hàng loạt các sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu có hiệu quả cao hơn nhiều. Sản xuất từ sắn (và rỉ đường) thì chỉ cần tháp cất lại từ “quốc lủi” chứ cần gì tới 80 triệu USD? Tôi chỉ có một nguyện vọng là mong các đồng chí lãnh đạo cấp cao rẽ qua thăm Viện Vi sinh vật học ở Bắc Kinh để hiểu rõ nếu tập trung đầu tư thì có thể đưa lại biết bao nhiêu sản phẩm có giá trị cho đất nước bằng con đường sản xuất các sản phẩm Công nghệ sinh học từ vi sinh vật mang gene tái tổ hợp. Cá nhân tôi không tán thành việc đánh giá các nhà khoa học bằng số bài báo đăng trên một số tạp chí danh tiếng nước ngoài, Chúng ta hãy coi trọng việc đem khoa học phục vụ trực tiếp cho đất nước này hơn là việc làm các nghiên cứu lý thuyết để dễ được đăng trên báo chí nước ngoài. Tại sao chúng ta không có các thành tựu lớn trong khoa học trong khi hằng năm đầu tư không ít kinh phí cho khoa học.. Tôi cho rằng chúng ta đầu tư quá dàn trải, các đề tài nghiên cứu cũng quá dàn trải và chính sách đấu thầu đề tài thường không hợp lý và không chính xác. Nên thu gọn quyết liệt đầu mối các cơ quan nghiên cứu và cần đầu tư đủ tầm cho các Trung tâm khoa học để đủ sức giải quyết các nhiệm vụ do Chính phủ đặt hàng trong từng giai đoạn. Còn nhóm cán bộ khoa học nào có sáng kiến hay cứ việc xin vay tiền để triển khai. Nếu không thành công thì xin xuất toán để dành cho nhóm cán bộ khác, còn nếu thành công thì không những không phải trả nợ mà còn được thưởng thêm tương xứng với thành tựu thu được. Nếu Bộ Khoa học&Công nghệ và Bộ Tài chính đồng ý thì chính tôi xin xung phong làm ngay theo phương án này  3/ Với Thanh niên. Chúng ta nói thanh niên chung đều thông minh, ham học, cầu tiến bộ nhưng phong trào thanh niên còn rất nhiều hạn chế, một số thanh niên mất phương hướng và đi vào con đường hư hỏng. Tệ nạn nghiện hút, tiêm chích đẫn đến HIV, tình trạng kiếm sống bằng buôn bán ma túy, mại dâm, trộm cướp chưa bị đẩy lùi. Nghị quyết Trung ương 7 đã đánh giá rất chính xác các tồn tại trong thanh niên :  “một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Học vấn của một bộ phận thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập quốc tế. Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Tỷ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao…”  Nên tìm hiểu vì sao thanh niên giảm sút niềm tin, đó chính là do họ là lớp người rất nhạy cảm. Các bậc cha chú làm ăn bất chính mà trở nên giàu có thì họ tội gì không noi theo? Nông thôn sống quá cực khổ thì tội gì không lao ra thành phố, mặc dầu biết rằng ở đó có sẵn biết bao nhiêu cạm bẫy. Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, coi nhẹ nền tảng gia đình đã khiến cho biết bao gia đình tan vỡ và đẩy biết bao thanh niên vào chỗ chán nản, mất phương hướng. Hoc đại học rất tốn kém mà tìm được việc làm đúng chuyên môn nghe đâu chỉ mới được tới được 20%? Xin việc làm ở bất kỳ đâu cũng phải đút lót(!). Chuyện rất phổ biến, ai cũng biết, vậy mà chả có bất kỳ ai bị xử lý? Chuyện rất phi văn hóa lại được gọi là văn hóa- Văn hóa phong bì (!). Khi Đại biểu Quốc hội Mạc Kim Tôn bị tuyên án tù 8 năm vì tham ô từ dự án ma 172 triệu đồng (!), giới trẻ cười thầm: Giám đốc một Sở lớn thế mà chỉ ăn hối lộ có ngần ấy thôi à? Thế thì các Giám đốc khác, ngay cả các Trưởng, Phó phòng xúc đâu ra tiền mà hầu hết đều có được nhà cửa khang trang tại Thủ đô, tại TP Hồ Chí Minh và các thành phố lớn khác. Trước là cho con về ôn thi, đợi sau khi về hưu sẽ chuyển cả nhà ung dung về đó. Tiền mua đất xây nhà phải nhiều tỷ chứ đâu có ít? Chúng ta quyết tâm chống tham nhũng nhưng có lẽ đang giống như quyết tâm chống bọ rầy(!). Bỏ ra biết bao công sức, tiền bạc mà bọ rầy năm nào cũng phá lúa đến mức có tới hàng nghìn con trên một gốc lúa? Bọ rầy nhờn thuốc chẳng khác gì tham nhũng đã nhờn với pháp luật hiện hành (!). Trong phong trào Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo tôi chúng ta nên tập trung học và làm theo câu của Người: “Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nước nhà, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp. Mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hóa của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian bán nước” (HCM toàn tập, T.6, 1995, tr.490). Nếu theo đúng như tinh thần đó thì bất cứ ai nếu không thuyết trình được nguồn gốc tài sản thì nên cho nghỉ công tác ngay (!).Tội lỗi đến đâu xét xử sau! Thanh niên sẽ rất phấn khởi trước thái độ nghiêm minh như vậy.Thanh niên cũng đâu còn có hăng hái thi đua như trước đây, vì việc nhận danh hiệu thi đua nhiều khi phải chạy chọt, xin xỏ… Sinh hoạt Đoàn trở nên nhạt nhẽo, thiếu sinh khí, nhất là ở khu vực nông thôn. Thanh niên tham gia Công đoàn cũng chẳng hào hứng gì với các sinh hoạt thiếu nội dung thích đáng. Thanh niên trí thức tốt nghiệp ở nước ngoài về không muốn ở lại làm việc trong nước đang bị hiểu lầm là vì muốn làm ở nước ngoài cho có lương cao. Thực tế ở đơn vị tôi cho thấy, dù lương rất thấp nhưng các tiến sĩ ấy rất hào hứng ở lại tham gia, vì thấy có đầy đủ điều kiện để phát huy tài năng của mình. Muốn hiểu thanh niên cho đúng nên hỏi xem người lớn đã quan tâm đến thanh niên như thế nào. Họ cần được tự do phát biểu chính kiến của mình, miễn là những chính kiến mang tính xây dựng. Họ có quyền đòi hỏi điều kiện để phát huy những điều đã được học hỏi trong và ngoài nước. Sử dụng sai một trí thức là bóp chết ngay trí thức ấy ngay từ ngày sử dụng.  Ba bản Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7 đã chỉ rõ một cách đầy đủ các biện pháp khắc phục những tồn tại trong ba vấn đề hệ trọng nói trên. Tôi mong muốn chúng ta đừng quên ghi nhớ lời căn dặn của Hồ Chủ tịch” Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã được thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin của nhân dân (HCM toàn tập, T.5,1995, tr.250)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Trung Quốc làm nên kỳ tích kinh tế nhưng lại chưa trỗi dậy về văn hóa?      Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ  hai thế giới. Nhưng Trung Quốc đã có sự trỗi dậy về văn hóa chưa? Rõ  ràng là chưa bởi dù đời sống kinh tế giàu lên, nhưng Trung Quốc vừa chưa  giành được sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế, vừa chưa làm cho dân  chúng trong nước được sống hạnh phúc hơn.    Trung Quốc cũng ý thức được điều đó, vì vậy họ cũng cố gắng giới thiệu nền văn hóa nước mình ra nước ngoài. Nhưng vì không có những tư tưởng mới và giá trị mới, Trung Quốc đành phải nhờ tới Khổng Tử. Họ lập các Học viện Khổng Tử. Nhưng các Học viện ấy lại bị đơn giản hóa thành nơi học ngôn ngữ, chữ viết của Trung Quốc. Bất kể người lập Học viện Khổng Tử hay người làm công tác truyền bá văn hóa khác, họ đều không biết mình cần phải truyền bá thứ văn hóa và giá trị như thế nào.  Theo quan điểm của ông Vương Canh Vũ **, sự trỗi dậy của Trung Quốc hiện nay là lần trỗi dậy thứ tư. Trong lịch sử, Trung Quốc ít nhất từng có 3 lần được công nhận là quốc gia lớn mạnh nhất trong vùng, vì thế người ta gọi sự trỗi dậy lần nữa này của Trung Quốc là sự “phục hưng”. Và người ta có thể học được rất nhiều bài học kinh nghiệm từ lịch sử những lần trỗi dậy này.    Lần trỗi dậy thứ nhất xảy ra vào quãng từ thế kỷ III trước CN đến thế kỷ III sau CN, tức từ khi triều nhà Tần thống nhất Trung Quốc cho đến triều nhà Hán. Vào thời nhà Hán, sức ảnh hưởng của Trung Quốc lan tới bán đảo Triều Tiên và vùng Đông Nam Á. Rất nhiều nước xung quanh Trung Quốc thời nhà Hán đã nhập khẩu hàng hóa và công nghệ của triều Hán, chủ yếu là tơ lụa, giấy viết, đồ gốm sứ và các công nghệ lục quân và hải quân. Trong giai đoạn này, ấn tượng sâu sắc nhất mà Trung Quốc đem lại cho mọi người là về kinh tế và văn hóa. Trong hơn 400 năm sau đời Hán, Trung Quốc chia năm xẻ bảy thành mấy tiểu quốc rối loạn bất an.   Lần trỗi dậy thứ hai cùng với việc kiến lập triều nhà Đường hồi thế kỷ VII. Sức ảnh hưởng của triều Đường truyền bá tới Nhật và các vùng khác ở Đông Á, duy trì được gần 300 năm là nhờ có sự mở cửa [khai phóng] cao độ. Thời Đường chẳng những văn hóa mở cửa mà chính trị cũng mở cửa, Trung Quốc được các học giả phương Tây gọi là “Đế quốc mở cửa”. Sự truyền bá đạo Phật và việc các bộ lạc du mục phương Bắc định cư tại vùng trung nguyên — lực hỗn hợp lớn mạnh của hai loại ảnh hưởng đó đã tạo dựng nên một quốc gia mới, thể hiện tính thế giới cao độ của nó. Sự mở cửa cao độ cũng đem lại một thời đại không ngừng tăng trưởng về thương mại và công nghiệp, tạo dựng được một thời kỳ toàn thịnh thực sự trong lịch sử Trung Quốc.  Lần trỗi dậy thứ ba, với sự triều nhà Minh được lập vào năm 1368 và duy trì được khoảng 400 năm. Trong thời gian này, tư tưởng Nho giáo được tái xác lập là tư tưởng chính thống của tầng lớp thống trị. So với hai lần trước thì lần trỗi dậy này thua kém nhiều, bởi lẽ văn hóa chính trị của Trung Quốc bắt đầu trở nên rất bảo thủ. Chính sách bế quan tỏa quốc dẫn đến tình hình đất nước ngày một xấu đi. Mặc dầu triều Minh tăng cường phòng ngự nhưng vẫn không ngừng bị các nước xung quanh xâm nhập và cuối cùng bị người dân tộc Mãn chinh phục.   Tiếp đến triều nhà Thanh. Lúc mới thành lập rất hùng mạnh nhưng sau đó tầng lớp cai trị lại tiếp tục duy trì chính sách bảo thủ và bế quan tỏa quốc của triều nhà Minh, và suy sụp dần. Năm 1840, khi Anh Quốc tấn công Trung Quốc thì nhà Thanh đã không còn sức chống trả nữa.  Sự trỗi dậy thiếu hồn đổi mới  Sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày nay, ít nhất cho đến bây giờ, không giống như sự trỗi dậy của thời nhà Hán Đường, mà giống như thời nhà Minh (Thanh). Đã không có sự sáng tạo đổi mới chế độ như đời Hán, lại cũng không có sự mở cửa và sự trỗi dậy về văn hóa như đời Đường. Điều duy nhất giống sự trỗi dậy 3 lần trước là phát triển kinh tế và kèm theo là tăng cường sức mạnh quân sự, còn văn hóa về cơ bản vẫn còn ở trạng thái bế quan tỏa quốc, vừa từ chối tiếp thụ các giá trị phổ quát lại vừa không có sức sáng tạo văn hóa ở bên trong. Và có khả năng lặp lại tấn bi kịch của triều nhà Minh, tức là trước khi quốc gia trỗi dậy thực sự thì đã bắt đầu suy thoái.           Chính sách bế quan tỏa quốc về thể chế và về  tư tưởng của triều nhà Minh đã làm cho Trung Quốc bỏ mất cơ hội trở  thành một quốc gia biển. Thời kỳ triều nhà Minh là thời mở đầu thế kỷ  hàng hải của thế giới. Hồi ấy dù là về mặt nhà nước hay xã hội, Trung  Quốc đều có năng lực trở thành quốc gia biển hơn bất cứ quốc gia nào.  Trịnh Hòa đi ra biển phía Tây là sự tượng trưng cho năng lực [biển] của  nhà nước. Nạn “cướp biển” “điên cuồng lạ thường” ở vùng ven biển Đông  Nam là sự tượng trưng cho năng lực biển của dân gian Trung Quốc. Thế  nhưng trong điều kiện không có sự đổi mới về tư tưởng và chế độ, nhóm  người từng giành được những lợi ích đặc quyền to lớn dưới sự che chở của  vương quyền đã chặt đứt con đường Trung Quốc đi lên thành quốc gia  biển.        Ý nghĩa của trỗi dậy văn hóa đối với sự phát triển bền vững của quốc gia bị [người Trung Quốc] đánh giá cực thấp. Trỗi dậy thời Hán Đường là trỗi dậy về văn hóa ; suy thoái sau chót cũng là suy thoái về văn hóa. Nếu văn hóa không thể trỗi dậy thì tất nhiên sẽ phát sinh sự chế ước nghiêm trọng đối với kinh tế thậm chí chính trị. Xét từ bên trong, không có sự sản sinh tư tưởng thì không thể có sự đổi mới về chế độ, cuối cùng tất nhiên dẫn đến khép kín và suy thoái. Xét từ bên ngoài, không sinh ra tư tưởng thì không thể tạo dựng được một nền văn hóa và giá trị quan có sức thu hút. Nếu chỉ có trỗi dậy về kinh tế và tiến trình quân sự hóa liên quan với nó, thì [quốc gia ấy] sẽ bị coi là “bá đạo” và là mối “đe dọa”, từ đó làm xấu môi trường quan hệ quốc tế.  Sở dĩ văn hóa không trỗi dậy theo kinh tế, nhân tố hàng đầu là mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa. Dù cho người ta có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế và văn hóa đồng thời trỗi dậy (thời Hán Đường) nhưng người ta cũng có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế trỗi dậy mà không dẫn đến sự trỗi dậy của văn hóa (triều nhà Minh). Trỗi dậy kinh tế và trỗi dậy văn hóa không tồn tại mối quan hệ tất nhiên với nhau, hai cái đó không phải là cùng một sự việc. Cho dù không có trỗi dậy kinh tế cũng có thể vẫn có trỗi dậy về văn hóa. Bất kể ở Trung Quốc hay ở phương Tây, rất nhiều sáng tạo tư tưởng và văn hóa vĩ đại đã được tiến hành dưới trạng thái cực kỳ nghèo khó.  Ba nhân tố phi kinh tế của trỗi dậy văn hóa  Sáng tạo văn hóa và sự phân quyền của nhà nước, văn hóa mở cửa, người văn hóa độc lập — ba nhân tố phi kinh tế này càng có liên quan với nhau. Nếu tồn tại một trong ba nhân tố đó thì có thể xuất hiện sáng tạo văn hóa.   Trong lịch sử, mỗi lần xuất hiện trạng thái phân chia quyền lực, nhất là khi hoàng quyền suy thoái, thì ngược lại, văn hóa sẽ xuất hiện tình cảnh phục hưng. Ngày nay mọi người Trung Quốc không muốn chính quyền nhà nước suy thoái để có sự trỗi dậy văn hóa. Ngược lại phần lớn mọi người mong muốn chính quyền nhà nước lớn mạnh cùng với sự trỗi dậy của văn hóa. Vấn đề là trong văn hóa chính quyền nhà nước nên quản lý cái gì, không nên quản lý cái gì.  Một nhân tố quan trọng hơn nữa là nhân cách độc lập của người văn hóa [văn hóa nhân]. Nếu có nhân cách độc lập thì không một nhân tố nào, kể cả chuyên chế và nghèo đói, có thể ngăn trở sự sáng tạo văn hóa. Nước Nga là một thí dụ điển hình. Bất kể nền chuyên chế của Sa Hoàng hay của chủ nghĩa cộng sản đều không thể ngăn cản sự sáng tạo tri thức của các nhà trí thức Nga. Dưới ách chuyên chế, các nhà trí thức Nga đã sáng tạo được một nền văn học nghệ thuật, tư tưởng triết học huy hoàng. Người văn hóa Trung Quốc chưa thể tiến hành sáng tạo văn hóa dưới ách chuyên chế — điều đó có liên quan tới việc người văn hóa ỷ lại cao độ vào chính quyền. Trong lịch sử Trung Quốc chưa từng xuất hiện cái mà phương Tây gọi là quần thể “nhà trí thức”, tức quần thể những người lấy sự sáng tạo tư duy làm nghề nghiệp suốt đời của mình.  Rất rõ ràng, muốn thực hiện sự trỗi dậy văn hóa Trung Quốc, khâu mấu chốt là ở chỗ điều chỉnh mối quan hệ giữa chính trị với văn hóa. Ý tưởng muốn chính quyền là chủ thể của sáng tạo văn hóa hoàn toàn chỉ là không tưởng. Như vậy không phải là nói chính quyền không có bất kỳ mối quan hệ nào với sáng tạo văn hóa, mà hoàn toàn ngược lại.  Thực tế cho thấy Ban Tuyên giáo Trung ương nhiều năm qua không thực hiện cải cách quản lý văn hóa có tính thực chất, mà trở thành một kiểu cơ chế kiểm soát đơn giản, dẫn đến sự chính trị hóa cao độ và quan liêu hóa cao độ trong lĩnh vực văn hóa, khiến cho những gien [gene] sáng tạo văn hóa nguyên sơ nhất cũng hoàn toàn không thể xuất hiện.  Sách lược của chính quyền, chính quyền ủng hộ cái gì và phản đối cái gì đều sẽ gây ra ảnh hưởng sâu sắc đối với sự trỗi dậy văn hóa. Tại Trung Quốc có hiện tượng quá nhiều nguồn lực của chính quyền bị dùng vào việc kiểm soát, và dùng quá ít nguồn lực cho sự sáng tạo cái mới, hoặc rót vào lĩnh vực văn hóa nào chính quyền tán đồng mà thôi. Nhưng có một thực tế là trong bất cứ xã hội nào, rất ít quan chức chính quyền hiểu được nội dung của sáng tạo văn hóa. Do vậy không ít trường hợp chính quyền ủng hộ văn hóa lại dẫn đến sự suy thoái của sự nghiệp văn hóa. Thí dụ điển hình là lĩnh vực Phật giáo, do được chính quyền ra sức ủng hộ, kết quả dẫn đến sự tham nhũng và phân hóa lớn trong nội bộ Phật giáo. Các lĩnh vực văn hóa như văn nghệ, văn học … cũng vậy.   Việc chính quyền kiểm soát văn hóa đưa đến tình trạng phần lớn mọi người ỷ lại cao độ vào chính quyền, kết quả sẽ dẫn tới suy thoái văn hóa. Đối với những người văn hóa muốn giữ được một số tính độc lập, họ muốn sinh tồn và phát triển thì biện pháp duy nhất họ dùng là chống lại [đối kháng] chính quyền, qua đó tạo ra một loại văn hóa khác đối lập với chính quyền. Đó cũng là một loại văn hóa chính trị hóa quá mức, được người phương Tây khen hay, gọi đấy là sự trỗi dậy văn hóa của Trung Quốc. Nếu xem xét từ lập trường khách quan, dù là sáng tạo văn hóa do bản thân chính quyền tiến hành hay là sáng tạo văn hóa được tiến hành vì để chống lại hiện trạng chính trị, cả hai đều rất khó đi đến sự trỗi dậy của văn hóa.  Chắc chắn là nếu Trung Quốc muốn đi con đường trỗi dậy thời nhà Đường mà tránh đi con đường trỗi dậy thời nhà Minh thì biện pháp duy nhất là phải tiến hành cải cách thể chế văn hóa, giải phóng văn hóa ra khỏi chính trị, ra khỏi thể chế quan liêu, giải phóng người văn hóa ra khỏi quá trình quan liêu chính trị. Chỉ có “nhốt quyền lực vào trong cũi” thì văn hóa Trung Quốc mới có thể trỗi dậy được.    —-  * Tác giả Trịnh Vĩnh Niên 郑永年, s. 1962, Thạc sĩ Luật ĐH Bắc Kinh, Tiến sĩ chính trị học ĐH Princeton, hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc ĐH Quốc gia Singapore, nhà bình luận nổi tiếng của Báo Buổi Sớm (Singapore), thường viết về chủ đề Trung Quốc với thái độ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, được nhiều báo Trung Quốc đăng lại.  ** Vương Canh Vũ, s. 1930, Tiến sĩ sử học ĐH London, thời gian 1957-86 từng dạy ở ĐH Malaya (Malaysia) rồi ĐH Quốc gia Australia, 1986-95 Hiệu trưởng trường ĐH Hong Kong, 1997-2007 Giám đốc Viện Đông Á thuộc Đại học quốc gia Singapore, từ 2007 tới nay là Giáo sư đặc cấp Đại học Quốc gia Singapore kiêm Chủ tịch Viện Nghiên cứu Đông Á.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch và ghi chú  Nguồn:  http://business.sohu.com/20130424/n373836036.shtml  郑永年：中国创造经济奇迹 但为何文化没有崛起？       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Việt Nam chống dịch Covid-19 thành công?      Làm sao trong một quốc gia, khi các cơ quan quản lý còn chưa thể yêu cầu người dân tuân thủ hoàn toàn các quy tắc giao thông tối thiểu mà lại có thể bắt họ làm theo các nguyên tắc nghiêm ngặt chưa từng thấy để kiểm soát dịch bệnh?          Trên Blog của Quỹ Châu Á, các chuyên gia đặt dấu hỏi, tại sao ở một đất nước người dân không thể tuân thủ các quy tắc tối thiểu như tham gia giao thông, lại có thể đáp ứng các nguyên tắc nghiêm ngặt trong chống dịch Covid? Ảnh: Bloomberg.        Câu hỏi ấy trên blog Quỹ Châu Á cũng là câu hỏi mà nhiều tờ báo quốc tế đặt ra về Việt Nam, quốc gia có biên giới sát Trung Quốc – nơi khởi nguồn của đại dịch Covid-19, lại có thể chống dịch thành công. Để lý giải về điều đó, Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRI) đã thực hiện một nghiên cứu “Cảm nhận và trải nghiệm của người dân về một số biện pháp ứng phó với đại dịch Covid-19 của các cấp chính quyền”, dưới sự tài trợ của Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) và Cơ quan Phát triển quốc tế Úc (Australian Aid).   “Tôi đọc hàng trăm bài báo từ các nước trên thế giới cố lý giải tại sao Việt Nam lại chống dịch thành công, thậm chí có tòa báo [không tin vào tính minh bạch thông tin về hiệu quả chống dịch] nên đã thuê người đến các nhà tang lễ để đếm số người mất trong những tuần Covid ở Việt Nam”, TS Phùng Đức Tùng, Viện trưởng MDRI nhớ lại. Tuy nhiên hầu hết các lý giải của các chuyên gia, của các tòa báo đó đều chỉ dựa trên các quan sát nhỏ, phân tích chính sách và hành động của chính phủ mà chưa có khảo sát quy mô, mang tính đại diện, thu thập thông tin đầy đủ về nhận thức, hành vi thực hành, quan điểm, niềm tin của người dân với các chính sách của chính phủ trong đại dịch, cũng như thông tin tác động tiêu cực của Covid tới các nhóm lao động, tới việc làm của người dân, quan điểm của người dân với gói hỗ trợ 62 ngàn tỉ của chính phủ.   Đó là lý do vì sao MDRI tiến hành một nghiên cứu nhằm “cung cấp bức tranh tương đối đầy đủ với bằng chứng cụ thể, lý giải xác đáng tại sao Việt Nam thành công trong chống dịch Covid thời gian qua đồng thời cũng nhằm đánh giá tác động tiêu cực nghiêm trọng của Covid tới các nhóm dân cư khác nhau”, TS Phùng Đức Tùng nói. Bởi vì chưa có nghiên cứu nào về trải nghiệm và nhận thức của người dân với các phản ứng và chính sách của chính phủ để đối phó với đại dịch Covid-19 ở Việt Nam nên nhhững phát hiện trong nghiên cứu này có thể đem lại cái nhìn sâu sắc về lý do thành công của Việt Nam trong việc chống Covid-19 và gợi ý các chính sách đối với chính quyền trung ương và địa phương để ứng phó với các đợt đại dịch Covid-19 tiếp theo có thể xảy ra hoặc một đại dịch tương tự.      89% người dân đồng thuận với chính sách chống dịch là điều mà chính phủ các nước khác trên thế giới không thể có được khi so sánh với Việt Nam.      Đồng thuận nhân tâm  Đúng như câu hỏi đặt ra trên blog của Quỹ Châu Á và nhiều tờ báo khác, một chính sách điều chỉnh hành vi của toàn xã hội sẽ chỉ thành công khi có được sự đồng thuận, tin tưởng của phần lớn người dân. Và những nghi ngờ của họ đặt ra phần nào có cơ sở vì các khảo sát chỉ số hiệu quả hành chính công của Việt Nam hằng năm (PAPI) cho thấy chính quyền các tỉnh đều phải tập trung cải thiện nội dung liên quan đến “công khai minh bạch” hay “trách nhiệm giải trình” nhiều nhất.  Một trong những cách thức để các nhà nghiên cứu có thể đo lường đánh giá là khảo sát trên diện rộng. Trong trường hợp này, MDRI đã chọn khảo sát ngẫu nhiên trong bộ mẫu hơn 14 nghìn người của PAPI, TS Phùng Đức Tùng cho biết. Bộ mẫu này là phù hợp để đánh giá cảm nhận chính sách của người dân, vì cuộc khảo sát do PAPI thực hiện đủ trải rộng tất cả các tỉnh, và người dân tham gia trả lời PAPI cũng đã có đánh giá về hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền trong năm qua. Tuy nhiên, để đảm bảo tính “đại diện cao” thì MDRI cũng phải chọn lọc ngẫu nhiên. Từ bộ dữ liệu tham gia PAPI trên 63 tỉnh thành trên toàn quốc, MDRI chọn 10% những người cung cấp số điện thoại cho PAPI nhưng phải đảm bảo tất cả 831 làng tham gia khảo sát PAPI 2019 đều có đại diện trả lời (tối đa mỗi làng 4 người) và cuối cùng phỏng vấn thành công 1.335 người. MDRI cũng đã so sánh các đặc điểm nhân khẩu học của những người được hỏi này với số mẫu còn lại trong cuộc khảo sát PAPI năm 2019 để xác định không có sự khác biệt đáng kể về nhân khẩu học giữa các mẫu trả lời khảo sát Covid-19 với tổng thể những người tham gia PAPI nhằm đảm bảo tính đại diện của bộ mẫu.    Công dân Việt Nam trở về từ Hàn Quốc được khai báo y tế, đo thân nhiệt và theo dõi sức khỏe kỹ lưỡng.  Trong cuộc khảo sát này, 74% số người được hỏi cho biết họ nghe về Covid-19 hằng ngày, còn lại 16,3% và 8,9% người được hỏi nghe về Covid-19 vài ngày trong tuần hoặc thi thoảng nghe, và chỉ chưa tới 1% người trả lời chưa bao giờ nghe nói về Covid-19. Và hiệu quả của tuyên truyền “mưa nhiều thấm đất” đã được chứng minh – như điều quan trọng mà nghiên cứu này đo lường được – chính là 98% người được hỏi nói rằng họ “tin tưởng vào tính chính xác của thông tin về Covid-19”.   Chưa từng có một chiến dịch nào được tuyên truyền rộng rãi như cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, thông tin Covid-19 bủa vây lấy người dân, từ ti vi, tin nhắn điện thoại, mạng xã hội cho tới internet. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ trong ba tháng (từ ngày 1/2 đến ngày 31/5/2020), báo chí đã đăng tổng số hơn nửa triệu tin, bài về đại dịch Covid-19, trong đó tin tích cực chiếm khoảng 42%; tin trung lập chiếm 35%, tin tiêu cực chiếm 23%. Chỉ riêng nhà mạng Viettel đã nhắn tới 4 tỉ tin nhắn tuyên truyền tới người dùng. Đây là làn sóng nhắn tin tuyên truyền phòng chống thiên tai, dịch bệnh nhiều nhất từ ​​trước đến nay ở Việt Nam. Và định hướng tuyên truyền thực sự đã có hiệu quả, đại dịch Covid-19 đã thu hút được sự quan tâm lớn của tất cả mọi người dân, từ nam phụ cho tới lão ấu, từ thành thị cho đến nông thôn, miền núi.  Mức độ tin tưởng vào tính minh bạch, đáng tin cậy trong chính sách chống dịch cao như vậy nên phần lớn người dân hoàn toàn đồng thuận với các yêu cầu của Chính phủ, từ các hoạt động cá nhân hằng ngày như cách ly, giãn cách xã hội, rửa tay, đeo khẩu trang (99% người dân đeo khẩu trang, còn các hoạt động khác như rửa tay, tránh tụ tập… theo khuyến nghị của chính phủ đều đạt khoảng 90%) cho tới các chiến lược “thắt lưng buộc bụng”, thậm chí phải “hi sinh phát triển kinh tế để đảm bảo ưu tiên cao nhất của nhà nước hiện nay là cứu người khỏi Covid-19”. Tỉ lệ 89% người dân đồng thuận với chính sách chống dịch là điều mà chính phủ các nước khác trên thế giới không thể có được khi so sánh với Việt Nam. Có thể thấy rõ điều đó khi so sánh kết quả nghiên cứu này với một khảo sát về sự đồng thuận của người dân với chính phủ do Tổ chức Kinh tế thế giới tiến hành – trung bình 67% người dân các nước đồng thuận với chính sách “ưu tiên cao nhất của Nhà nước hiện nay là cứu người khỏi Covid-19 cho dù phải hy sinh phát triển kinh tế” tương tự của Việt Nam; và ở các nước đưa ra mục tiêu “cần ưu tiên phát triển kinh tế, cho dù một tỷ lệ nhỏ dân số bị tổn vong vì Covid-19” thì tỉ lệ đồng thuận của người dân giảm thê thảm – chỉ còn 1/3 dân số đồng ý.   Hỗ trợ cần nhắm vào các nhóm yếu thế  Bài học về hiệu quả khi minh bạch chính sách là rất rõ ràng. Tuy nhiên, cho dù Việt Nam có “đắp đê chống dịch” cao đến mức nào thì vẫn chịu khó khăn về kinh tế tứ phía. Nhưng những khó khăn ấy tác động đến nhóm nào nhiều nhất? nhóm nào cần nhận hỗ trợ cấp bách nhất? là những câu hỏi mà nghiên cứu này tiếp tục tìm hiểu. Có khoảng gần 1/3 số người trả lời cho biết Covid-19 không làm kinh tế gia đình họ suy suyển gì, nhưng còn lại, tới 64% người được hỏi bị mất thu nhập do Covid-19. Trong đó, những nhóm nghèo, yếu thế sẵn trong xã hội chính là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. 24% người trả lời cho biết họ mất việc, mà phần lớn người mất việc là các lao động phổ thông và lao động kinh doanh hộ gia đình, lao động không có kỹ năng và tự làm phi nông nghiệp dễ mất việc nhất; các hộ gia đình nghèo, cận nghèo chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.     Cho dù Việt Nam chống dịch thành công, nhưng các nhóm yếu thế vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Có tới 24% người trả lời nghiên cứu này cho biết bị mất việc làm. Trong ảnh: Đám đông những người nhận gạo cứu trợ của một ngân hàng trên phố Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh: Hoàng Nam.   Mặc dù chính phủ có gói cứu trợ khẩn cấp 62 nghìn tỉ kịp thời nhưng mức độ bao phủ của các khoản hỗ trợ có giới hạn (với 21% người trả lời tiếp cận được), nên nhìn chung, cách ứng phó với đại dịch của hầu hết người dân vẫn là truyền thống “thắt lưng buộc bụng”, hầu hết các hộ giảm chi tiêu các mặt hàng không thiết yếu trước, sau đó có khoảng 70% các hộ gia đình giảm hàng thiết yếu, 42% các hộ phải tiêu đến tiền tiết kiệm, 15% phải đi vay mượn người thân và cá biệt có tới 7% phải bán tài sản để chi tiêu.   Dù đánh giá cao tính minh bạch cũng như chính sách tuyên truyền của nhà nước nhưng nghiên cứu này cũng chỉ ra những lỗ hổng trong chính sách hỗ trợ, cứu trợ Covid hiện nay. Đằng sau những con số được hỗ trợ vẫn là 36% hộ gia đình nghèo thuộc diện cần hỗ trợ lại chưa chạm tay vào gói này hoặc ngược lại, có tới 19% hộ không nghèo, không cần hỗ trợ lại được nhận gói này. “Một trong những câu chuyện làm tôi ấn tượng khi tiến hành nghiên cứu này là một cựu chiến binh nói rằng ‘Bản thân tôi và các đồng đội, đã được hưởng lương, hỗ trợ hằng tháng mà vẫn nhận được hỗ trợ, trong khi có nhiều người lao động mất việc làm, giảm thu nhập thì chưa được nhận. Tôi và các đồng đội thấy xấu hổ khi nhận được sự hỗ trợ’ “, TS Phùng Đức Tùng kể lại.      Đằng sau những con số được hỗ trợ vẫn là 36% hộ gia đình nghèo thuộc diện cần hỗ trợ lại chưa chạm tay vào gói này hoặc ngược lại, có tới 19% hộ không nghèo, không cần hỗ trợ lại được nhận.      Trường hợp mà TS Phùng Đức Tùng kể ra không phải những cá biệt. Khảo sát này cho thấy, càng những người có trình độ học vấn thấp và thu nhập thấp, chịu ảnh hưởng nhiều nhất của dịch bệnh lại càng ít có khả năng tiếp cận thông tin về các chính sách và gói viện trợ nhất. Các phân tích hồi quy để xem xét các yếu tố tương quan với chính sách của chính phủ cũng cho thấy càng người dân thành thị, những người có trình độ học vấn cao hơn, những người có kinh nghiệm, trải nghiệm tích cực về quản trị và hành chính công càng có nhiều khả năng ủng hộ hoạt động chống dịch của chính phủ hơn so với người dân nông thôn, những người có trình độ học vấn thấp hơn. Đặc biệt là những người bị giảm thu nhập và mất việc làm càng ít ủng hộ chính sách của chính phủ. Vì thế, lưu ý chính sách của chúng tôi ở đây là quan tâm tới các nhóm chịu tác động của Covid, đặc biệt là các nhóm nghèo, yếu thế vốn ít có khả năng tiếp cận thông tin, TS Phùng Đức Tùng nhấn mạnh. □    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người      Hồ Ch&#237; Minh l&#224; người lu&#244;n lu&#244;n lo lắng đến tương lai l&#226;u d&#224;i của đất nước. Người n&#243;i: &#8220;V&#236; sự nghiệp trăm năm phải trồng người&#8221;. Thật ra kết quả của việc trồng người kh&#244;ng phải đợi đến trăm năm m&#224; chỉ sau v&#224;i chục năm, hai mươi nhăm năm ch&#250;ng ta đ&#227; c&#243; thể gặt h&#225;i được những th&#224;nh quả tốt đẹp.  Muốn đạt được những th&#224;nh quả tốt đẹp đ&#243;, cần c&#243; sự kết hợp h&#224;i h&#242;a, trước mắt l&#224; của hai ng&#224;nh y tế v&#224; gi&#225;o dục, một ng&#224;nh lo cho sự ph&#225;t triển t&#226;m hồn v&#224; tr&#237; tuệ, một ng&#224;nh chuy&#234;n lo sự ph&#225;t triển thể lực của thanh ni&#234;n ch&#250;ng ta.     Trong các cuộc tranh đua trên sân cỏ, ai cũng thấy, tuy không kém phần xông xáo và nhanh nhẹn, nhưng hình thể của thanh niên Việt Nam quá bé nhỏ so với thiên hạ. Nguyên nhân cơ bản là từ hàng ngàn đời nay dân ta là dân ăn rau, thịt chỉ để dành đến Tết, giỗ và hội hè (Đặng Nghiêm Vạn, Văn hóa Việt Nam Đa tộc người, NXB Giáo dục 2007, tr.364, 365), lại thêm các tục kiêng khem vô lý và quá đáng trong các dịp sản phụ ở cữ…Tất nhiên thay đổi tập quán ngàn đời của một dân tộc không phải là chuyện dễ. Nhưng ngày nay trong sự hòa nhập với thế giới, việc kết hợp giáo dục gia đình với phối hợp của hai ngành giáo dục và y tế và sự quan tâm của Nhà nước, trong đó có việc quan tâm quản lý giá sữa trên thị trường, hy vọng có thể làm được.  Lãnh tụ Hồ Chí Minh đề ra chiến lược con người đã từ lâu. Nhưng phần do chiến tranh kéo dài, phần do mải chạy theo nhiệm vụ phát triển kinh tế trước mắt, mà các vị lãnh đạo Nhà nước ta chưa thực sự quan tâm đến nhiệm vụ lâu dài liên quan tới tiền đề của dân tộc.  Ta còn nhớ trong đại chiến thế giới lần thứ II, người lính Nhật có thân hình thấp lùn như thế nào. Ấy vậy mà chỉ sau một thời gian, ta thấy thân hình của người Nhật không kém gì thân hình của các người Tây phương khác. Có được đầu óc tinh khôn và cơ thể phát triển, người Nhật đã trở thành cường quốc thứ hai chỉ sau Mỹ, mặc dù Nhật không có tài nguyên gì đáng kể.  Có thể coi những việc làm hằng ngày hiện nay của hai ngành y tế và giáo dục là để chuẩn bị cho tư tưởng chiến lược của Hồ Chí Minh được không?   Việc lo chống cúm A H1-N1, chống sốt xuất huyết, chống HIV của ngành y tế hiện nay, cũng như việc đề ra 10 nhiệm vụ coi như nhiệm vụ chiến lược của ngành giáo dục, cũng như việc tổ chức các kì thi mà Vụ Khảo thí đề ra là cần thiết, nhưng nếu chỉ có vậy thì chưa thể đáp ứng nhiệm vụ chiến lược mà Hồ Chí Minh đề ra cho toàn Đảng là: “Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người”! Tôi nghĩ rằng trong nhiều viện hiện có của ngành y tế có thể nâng Viện Dinh dưỡng thành Viện Dinh dưỡng Quốc gia chăng? Còn Viện Chiến lược Giáo dục hiện nay có nhiệm vụ quét sạch các tư tưởng lạc hậu hàng nghìn năm do chế độ phong kiến hay tư tưởng nông dân để lại như: Đi học để đỡ chân lấm tay bùn, một người làm quan, cả họ được nhờ v.v… mà phải nghiên cứu lịch sử giáo dục từ thời Hi Lạp – La Mã đến thời Phục hưng: Học trước hết để giải phóng con người, biến con người từ con người nô lệ thành con người hoàn toàn tự do    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vị tổng thống giấu tay      Mùa xuân năm 1954, khi mới chớm vào năm thứ hai trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đứng trước một quyết định mang tính chiến lược: liệu có đưa lính Mỹ vào tham chiến ở Đông Dương.    Khi Eisenhower trở thành Tổng thống Mỹ vào năm 1953, ông thừa hưởng một đường lối chủ trương của chính quyền Mỹ trước đây, trên cơ sở  học thuyết mang tên gọi “thuyết domino”. Thuyết này hình thành từ thời Tổng thống Truman, cho rằng nếu không có sự can thiệp của các thế lực bên ngoài thì chủ nghĩa cộng sản sẽ phát triển từ Đông Dương lan khắp Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông, và tạo hiệu ứng cộng hưởng tới châu Âu.  Với việc Mỹ đã bị phân tán lực lượng quân đội ở Triều Tiên, Nhận Bản, và châu Âu, trong khi Eisenhower cảm nhận rõ gánh nặng đòi hỏi phải cắt giảm quân ngũ, vì vậy, cho dù không đồng tình với chủ nghĩa thực dân, và cũng không tán thành các chính sách quân sự của Pháp, nhưng Mỹ lại muốn Pháp duy trì cuộc chiến để ngăn chặn phong trào phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Ngược lại, Pháp cần đến những đồng dollar của Mỹ để chi trả phí tổn chiến tranh.  Con đường dẫn đến Geneva  Vào thời điểm Eisenhower vừa giành thắng lợi trong cuộc chạy đua vào ghế Tổng thống ở Mỹ thì ở Đông Dương, quân đội Pháp mệt mỏi bước sang năm thứ tám của một cuộc chiến từng được coi là sẽ kết thúc chóng vánh. Vào thời điểm này, chính quyền Pháp đã ném vào cuộc chiến hơn 3,5 tỷ USD – hơn gấp đôi nguồn thu của Pháp từ kế hoạch Marshall. Đó cũng là khi tình hình Chiến tranh Triều Tiên đã ngã ngũ và đi vào ổn định để Trung Quốc có thể hỗ trợ nhiều hơn cho lực lượng Việt Minh, cả về vật chất lẫn cố vấn. Những nguồn lực này giúp Võ Nguyên Giáp, vị tổng tư lệnh quân đội Việt Minh, nâng cấp các lực lượng cả về mặt tổ chức lẫn trang thiết bị. Quân Pháp bị gia tăng tấn công, lùi vào thế co cụm ở  châu thổ sông Hồng, miền Trung Việt Nam, và một số thành phố lớn ở miền Nam.   Ngày 27/10/1953, vị Thủ tướng theo xu hướng bảo thủ của Pháp, Joseph Laniel, tuyên bố rằng ông ta sẵn sàng đàm phán hòa bình với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Về phía Anh, Chính phủ Churchill lo ngại rằng phương Tây đang dồn quá nhiều tâm sức và lực lượng quân đội ở châu Á, khi mà dường như chính quyền Eisenhower theo đuổi chính sách “ăn thua tới bến”. Vào lúc ấy, Anh đặt hi vọng vào lời kêu gọi của lãnh đạo Liên Xô đương thời là Georgi Malenkov về một sự “chung sống hòa bình”. Vì vậy, người Anh tin rằng đàm phán sẽ giúp đem lại kết cục tốt nhất [về phía phương Tây] trong việc kết thúc Chiến tranh Đông Dương, thậm chí có thể giúp kết thúc toàn bộ Chiến tranh Lạnh. Trung Quốc cũng muốn giảm bớt chiến sự căng thẳng ở gần biên giới của mình và đồng ý hòa đàm.   Chính phủ Mỹ hoảng hốt trước diễn biến này. Mới từ đầu năm 1953, Quốc hội Mỹ từng đồng ý chi 785 triệu USD cho Kế hoạch Navarre (đặt theo tên tư lệnh mới của Pháp ở Đông Dương, tướng Henri Navarre). Nhưng là người ủng hộ chủ nghĩa đa phương, Eisenhower cho rằng ông ta không có lựa chọn nào hơn là ủng hộ quan điểm của các đồng minh, và cố gắng vớt vát những gì tốt nhất có thể đạt được qua hòa đàm, cho dù Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles gọi đây là cuộc chơi cho kẻ thua trận. Mỹ và các bên khác cùng nhất trí sẽ đưa Chiến tranh Pháp – Đông Dương vào chương trình Hội nghị Geneva về Các vấn đề Viễn Đông, dự kiến bắt đầu vào ngày 26/4/1954.             Năm 1953, là thời điểm những lực đẩy đưa  chân nước Mỹ vào con đường can thiệp quân sự là khá mạnh mẽ: Lính Pháp  bị quân đội Việt Minh siết chặt vòng vây tại Điện Biên Phủ và Chính phủ  Pháp đã nói rõ với người Mỹ rằng chiến dịch này sẽ quyết định vận mệnh  cuộc chiến, đồng thời Thủ tướng Pháp Joseph Laniel cảnh báo Washington  rằng nếu Điện Biên Phủ thất thủ, Pháp sẽ không còn lựa chọn nào khác  ngoài thỏa hiệp vô điều kiện với những người cộng sản. Vì vậy Laniel đề  nghị Eisenhower ra lệnh đưa máy bay ném bom vào công kích ở Điện Biên  Phủ; Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ và phe cực hữu của Đảng Cộng hòa –  đang trong thời điểm cực thịnh về quyền lực – đều khẳng định rằng đây là  lúc hành động ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản. Quốc hội Mỹ  cũng dường như sẵn lòng ủng hộ nếu Tổng thống yêu cầu không kích.        Để đưa Pháp vào thế đàm phán tốt hơn, Navarre cho triển khai chiến dịch cuối cùng của mình. Ông ta dự tính sẽ dụ tướng Giáp vào một trận địa bày sẵn, thay vì tiếp tục bị cuốn theo lối đánh du kích sở trường của Việt Minh. Cái bẫy được giăng ra với 12 nghìn quân tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương được thả dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, vị trí mà Navarre cho là đủ hấp dẫn để thu hút tấn công từ Việt Minh, nhưng đủ thuận lợi cho việc phòng thủ chống lại các cuộc tấn công. Về phía tướng Giáp, ông lạc quan chấp nhận thách thức này. Hơn 50 nghìn bộ đội Việt Minh hành quân lên phía Bắc cho trận đánh lịch sử. Cả thế giới nhìn về Điện Biên Phủ, chờ đợi kết cục trận đánh sẽ quyết định vận mệnh của Việt Nam, Pháp, và có lẽ toàn bộ châu Á.  Mềm mỏng chiều lòng các phe  Dwight Eisenhower nhìn vào cục diện Điện Biên Phủ với nhiều lo ngại riêng. Ông phải làm sao để vừa lòng Đảng Cộng hòa của mình, lúc này đang bị chia rẽ thành nhiều phe, phe muốn nước Mỹ tách biệt không can dự vào chuyện bên ngoài, phe muốn tăng cường vai trò nước Mỹ trong các vấn đề quốc tế, phe ưu tiên cho châu Á, phe ưu tiên cho châu Âu, phe chống cộng, phe đơn thuần muốn cắt giảm chi tiêu ngân sách. Điều Eisenhower mong muốn là đưa ra một sách lược hứa hẹn những điều mà mọi phe đều chấp nhận được. Về cơ bản, trước đây ông đã cam kết rằng chính phủ mình sẽ đẩy lùi được bước tiến của cộng sản ở Đông Dương mà không cần huy động lính Mỹ. Để thay đổi bất cứ nội dung nào của cam kết này, ông sẽ cần sự ủng hộ của Quốc hội.   Trong vai trò là anh hùng của nước Mỹ thời Thế chiến thứ II, Eisenhower có tiếng nói với trọng lượng nhất định trong các vấn đề đối ngoại của quốc gia. Nhưng phong cách lãnh đạo của Eisenhower thường luôn tránh đối đầu với Quốc hội, trừ phi trong tình huống bất khả kháng.  Cách thức ông ứng xử với các đồng minh cũng tương tự, đặc biệt là với Pháp. Mặc dù giận dữ vì Paris chỉ nhận tiền chứ không nhận tư vấn từ Mỹ, và rất không tán thành kế hoạch của Navarre trong việc lựa chọn Điện Biên Phủ làm địa điểm cho trận đánh cuối cùng – một lòng chảo vây bọc bởi rừng rậm hiểm trở, không có đường bộ để tiếp tế và tăng viện, không có đường rúi lui – “là một quân nhân, tôi kinh sợ [kế hoạch này]”, ông nói – nhưng sau khi trận địa đã bày xong, Eisenhower vẫn ủng hộ Pháp, cả về vật chất lẫn tinh thần, để tránh xảy ra một cuộc tháo chạy vô phương cứu vãn.    Tháng 1 năm 1954, Thủ tướng Pháp Laniel khẩn thiết đề nghị Washington hỗ trợ cho cuộc chiến sắp xảy ra ở Điện Biên Phủ. Trước kia chỉ đề nghị về tài chính, nhưng lần này Pháp xin hỗ trợ 400 thợ máy của không quân Mỹ, sự hiện diện đầu tiên của quân đội Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Được sự đồng ý của Ủy ban Đặc biệt về Đông Dương, Eisenhower đồng ý gửi đi 200 người.    Sau đó, ông đã phải đứng ra giải thích với các nhà lập pháp hàng đầu, đang tức giận vì Quốc hội bị đứng ngoài cuộc và chỉ được biết về thỏa thuận với Pháp do tin tức rò rỉ ra báo chí. Nhưng với những lời lẽ mềm mỏng và các hứa hẹn, Eisenhower không những dàn hòa được vụ này mà còn giành được sự ủng hộ từ họ. Sau khi được Quốc hội chính thức thông qua gói hỗ trợ cho Pháp, ngày 10/2 ông đã trả lời họp báo bằng lời xoa dịu những người phản đối: “Không có bi kịch nào lớn hơn cho nước Mỹ là đi dính líu sâu vào một cuộc chiến sinh tử” ở Đông Dương.   “Không thể thắng bằng quân sự”  Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu ngày 13/3/1954. Trong 5 ngày đầu tiên, Việt Minh chiếm lĩnh ba cứ điểm phía Bắc, xóa sổ hai đường băng, giết và làm bị thương hai tiểu đoàn của Pháp. Một tiểu đoàn nữa đào ngũ. Giám đốc CIA Allen Dulles báo cáo với Eisenhower rằng bên phòng thủ chỉ có 50-50 phần trăm cơ hội giữ vững.   Đây là bối cảnh khi tướng Paul Ely, Tham mưu trưởng của Pháp tới Washington theo lời mời của Tổng Tham mưu trưởng Mỹ, đô đốc Arthur Radford, người từ lâu muốn thúc đẩy Mỹ can thiệp sâu và mạnh mẽ hơn vào chiến sự ở Đông Dương. Chính Radford thuyết phục Ely rằng việc đưa máy bay Mỹ vào ném bom Điện Biên Phủ là cần thiết, và cùng nhất trí với nhau mỗi người sẽ đi thuyết phục chính phủ của nước mình về chủ trương này.   Tuy nhiên, Eisenhower đã cân nhắc các lựa chọn khác nhau về chính sách của Mỹ đối với tình hình ở Điện Biên Phủ (thậm chí từng ra lệnh cho Hạm đội 7 sẵn sàng can thiệp trong trường hợp Mỹ tuyên chiến), và ông không tìm được giải pháp nào thỏa đáng. Việc can thiệp quân sự này phá vỡ nhiều nguyên tắc và mục tiêu chính trị mà Eisenhower coi trọng: phi thực dân, thận trọng về quân sự, cân đối ngân sách, duy trì hòa bình [cho nước Mỹ]. Và điều quan trọng nhất là, Eisenhower chưa bao giờ tin rằng việc can thiệp quân sự sẽ đem lại kết quả tốt hơn so với đàm phán. Khi chưa thành Tổng thống Mỹ và vẫn đang là một vị tướng trong quân đội, ông đã viết trong nhật ký của mình về tình trạng vô vọng của Pháp khi cố gắng níu giữ Đông Dương: “Tôi tin là không thể thắng bằng quân sự trong cuộc chiến này. Cho dù Đông Dương không còn người Cộng sản nữa thì ngay bên kia biên giới là Trung Quốc với nguồn nhân lực vô tận”.          Có thể nói rằng Eisenhower đã rất dụng tâm  trong việc che dấu chủ trương không can thiệp quân sự vào chiến tranh  Đông Dương. Ông ta giấu kín chủ kiến của mình trước công chúng, Quốc  hội, những đồng minh thân cận nhất của Mỹ, và giấu kín cả với những cố  vấn của mình. Bên cạnh đó, ông làm như thể chuyển giao trách nhiệm đưa  ra quyết định vào tay người Anh, qua đó biện minh việc Mỹ không can  thiệp cho lý do là các đồng minh của Mỹ đã không đủ quyết tâm.               Chính sách thao túng kiểu Machiavelli đã khiến sau này người ta gọi Eisenhower là “vị Tổng thống giấu tay”.        Tuy nhiên, trong vai trò là Tổng thống Mỹ, Eisenhower không muốn bộc lộ ra những điều mà một vị tướng quân đội có thể tự do bày tỏ trong nhật ký của mình. Ông không muốn phát ngôn ra điều gì có thể làm hủy hoại nhuệ khí của Pháp. Các cố vấn của Tổng thống thường xuyên cảnh báo rằng nếu tinh thần bại trận lan truyền quá nhanh ở Pháp và quân đội của họ ở Đông Dương, Navarre có thể sẽ đầu hàng trước những người cộng sản từ trước khi diễn ra Hội nghị Geneva. Vì vậy, Eisenhower khuyên người Pháp nên cố gắng duy trì tới cùng, và ông tính rằng Pháp cuối cùng sẽ tự tháo gỡ khỏi Đông Dương tại hội nghị đàm phán hòa bình.   Kế sách hoãn binh  Trước những đòi hỏi trong nội bộ nước Mỹ từ chính bộ máy của mình cho việc đưa không quân Mỹ vào can thiệp ở Đông Dương, đầu tiên Eisenhower dùng kế hoãn binh, bằng cách yêu cầu tiến hành nghiên cứu. Nhưng tới tháng 4, sức ép từ Hội đồng An ninh Quốc gia quá lớn, buộc ông ta phải đưa ra câu trả lời trực tiếp. Tới lúc này, thay vì tiếp tục thảo luận với các cố vấn của mình, đa số là các diều hâu hiếu chiến, Eisenhower đưa ra câu trả lời rằng quyết định can thiệp hay không phải được đưa ra bởi các nghị sĩ. Ông ra lệnh cho Radford và Dulles đi hỏi ý kiến các lãnh đạo của cả hai đảng trong Quốc hội.  Đúng như Radford nghi ngờ, đây chỉ là một cách khác để Eisenhower né tránh trách nhiệm từ chối thẳng thừng việc giúp đỡ Pháp. Tổng thống Mỹ đã từ chối tham dự cuộc họp với Hạ viện để vận động tấn công bằng không quân. Ông cũng không thực hiện bất kỳ cuộc gọi điện thoại nào để giúp thuộc cấp vận động các nghị sĩ. Ông cũng không cho phép Dulles trình trước các nghị sĩ dự thảo nghị quyết mà Bộ Quốc vụ Mỹ (có vai trò như một bộ ngoại giao) đã chuẩn bị, với nội dung cho phép Tổng thống được ra lệnh tiến hành các hoạt động hải quân và không quân. Thay vào đó, như ông nói, cứ để cho các nghị sĩ bày tỏ họ muốn làm gì.  Quốc hội Mỹ đã hành xử đúng như Eisenhower mong muốn. Các nghị sĩ đại diện trong cuộc gặp với Dulles và Radford đã khẳng định rằng họ chỉ đồng ý cho nước Mỹ can thiệp vào cuộc chiến với 3 điều kiện: một là phải có vai trò tham gia của nước Anh; hai là Pháp hứa sẽ tham chiến cho đến khi giành thắng lợi; ba là Pháp giải phóng cho các thuộc địa. Eisenhower hân hoan chấp nhận các điều kiện này.  Ông ta thậm chí còn đặt ra những đòi hỏi chi tiết hơn. Ông kiên quyết cho rằng mọi hành động can thiệp phải có sự tham dự của lính Anh, mặc dù thừa biết quan điểm của chính phủ Thủ tướng Churchill là cam kết đi theo lộ trình hòa bình Geneva. Ông cũng đòi hỏi để đi đến hành động, trước hết Quốc hội phải tiến hành bỏ phiếu, một quy trình rất tốn thời gian.   Eisenhower hứa hẹn với các cộng sự đang thất vọng của mình rằng ngay khi các điều kiện nói trên được thỏa mãn, sau khi đánh giá thấy tình hình chiến sự đủ nghiêm trọng, ông ta sẽ ra lệnh ném bom xung quanh Điện Biên Phủ. Còn trước mắt, ông nói, Dulles đã có “đủ cơ sở để đi thương thuyết với các quốc gia khác và nói với họ rằng nếu họ đồng ý với đề xuất mà chúng tôi đưa ra, chúng tôi sẽ sẵn sàng tham gia vào một cuộc hội ý”. Tuy nhiên, ngoài việc cấp cho Dulles một lá thư duy nhất, với những ngôn từ không thật rõ ràng gửi tới Churchill, Eisenhower không làm bất cứ động tác nào khác để thuyết phục các đồng minh. Việc gửi Dulles đi thương thuyết ở Anh đơn thuần chỉ làm phân tán lực lượng những người trong chính quyền muốn Mỹ can thiệp vào Đông Dương, cũng đồng thời hất sang Anh nghĩa vụ từ chối đề nghị cứu trợ của Pháp – dưới vỏ bọc là tôn trọng Quốc hội và tinh thần đa phương quốc tế.    Vị tổng thống giấu tay  Ngược lại, trước công chúng Eisenhower thể hiện một thái độ tuyên chiến với Cộng sản. Trả lời họp báo ngày 7/4, Eisenhower tuyên bố rằng nước Mỹ không được phép tiếp tục để thua một lần nữa trước Cộng sản. Ông từ chối trả lời khi một phóng viên hỏi trong trường hợp khẩn cấp, liệu Chính phủ Mỹ có hành xử “đơn phương” tham chiến ở Đông Dương. Đúng như Eisenhower dự kiến, báo chí Mỹ tin vào những lời lẽ hiếu chiến của Tổng thống. “Mỹ chọn Đông Dương là nơi chặn bước tiến của Cộng sản ở Đông Nam Á, cho dù cần phải tham chiến”, các tờ US News và World Report cùng công bố. Đây là một trong những đe dọa trống rỗng nhất của Eisenhower. Từ trước khi những bài báo này được viết, Tổng thống Mỹ đã ra lệnh rút hải quân Mỹ ra khỏi Vịnh Bắc Bộ.  Trong khi đó, Dulles đơn thương độc mã tìm cách vận động các đồng minh cùng nhất trí tham gia hành động. Ngay cả Pháp cũng không mặn mà với các hành động đa phương. Chỉ tới lúc bị dồn đến chân tường, đúng một ngày trước khi bắt đầu Hội nghị Geneva, Chính phủ Laniel cuối cùng mới chấp nhận yêu cầu của Washington, và liên hệ với Ngoại trưởng Anh, Anthony Eden về đề nghị Anh tham gia ném bom xung quanh Điện Biên Phủ. Không có gì là bất ngờ khi Eden từ chối. Với việc từ chối tham gia hành động, Chính phủ Churchill đã khiến Dulles không thể thỏa mãn các điều kiện tiên quyết mà Quốc hội Mỹ và Eisenhower đặt ra trước khi tiến hành can thiệp quân sự.  Như vậy, có thể nói rằng Eisenhower đã rất dụng tâm trong việc che dấu chủ trương không can thiệp quân sự vào chiến tranh Đông Dương. Ông ta giấu kín chủ kiến của mình trước công chúng, Quốc hội, những đồng minh thân cận nhất của Mỹ, và giấu kín cả với những cố vấn của mình. Bên cạnh đó, ông làm như thể chuyển giao trách nhiệm đưa ra quyết định vào tay người Anh, qua đó biện minh việc Mỹ không can thiệp cho lý do là các đồng minh của Mỹ đã không đủ quyết tâm.   Chính sách thao túng kiểu Machiavelli1 đã khiến sau này người ta gọi Eisenhower là “vị Tổng thống giấu tay”. (Phải 3 thập kỷ sau, khi mở những giấy tờ riêng tư của Eisenhower, các học giả mới thực sự biết được những tính toán ẩn dưới vẻ ngoài điềm đạm của ông).  Kết thúc  Ngày 7/5, Điện Biên Phủ hoàn toàn thất thủ vào tay Bộ đội Việt Minh. Khoảng 6500 tới hơn 10000 quân Pháp bị bắt sống, trong đó 40% đang bị thương. Ngày 21/7 Hội nghị Geneva đưa ra tuyên bố cuối cùng kết thúc cuộc chiến, và khẳng định ba nước Đông Dương không còn là thuộc địa của Pháp. Việt Nam “tạm thời” bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 cho tới khi một cuộc tổng tuyển cử sẽ quyết định tương lai chính trị của quốc gia.  Các sử gia cùng nhất trí cho rằng thành công lớn nhất của Eisenhower trong nhiệm kỳ Tổng thống của mình là bảo tồn được hòa bình cho nước Mỹ. Bản thân ông cũng cho là như vậy. “Nước Mỹ không để mất người lính nào, hay một tấc đất nào dưới chính quyền của tôi”, ông nói. “Chúng ta giữ được hòa bình. Người ta hỏi nhờ đâu mà được như vậy – nhờ Thượng đế, không phải tự nhiên mà có điều ấy, tôi có thể khẳng định như vậy với các bạn”.  Đúng là mọi chuyện không tự nhiên mà xảy ra với những người trong cuộc. Eisenhower đã bị vây bọc giữa những lựa chọn mà quyết định nào cũng để lại hậu quả, và ông đã đưa ra những quyết định cứng rắn đi ngược lại lời khuyên từ đa số Hội đồng An ninh Quốc gia, làm lung lay Liên minh Bắc Đại Tây Dương. Vậy mà bằng cách thức riêng, ông đã làm như thể mình chẳng làm gì, đơn thuần chỉ là chứng nhân bất lực trước các sự kiện, phụ thuộc vào Quốc hội, vào đồng minh. Ông thậm chí còn cải thiện mối quan hệ giữa hành pháp và lập pháp ở Mỹ qua thái độ tỏ ra hết mực tôn trọng quyền lực của Quốc hội.  Nhưng chính sách cẩn trọng của Eisenhower cũng khiến quan hệ của Mỹ với các đồng minh sứt mẻ. Mầm mống của sự ngờ vực lẫn nhau đã được gieo, và bùng nổ trong cuộc khủng hoảng kênh đào Suez. Sự không tin cậy của Pháp đối với Mỹ lên đến đỉnh điểm khi De Gaulle rút nước Pháp khỏi mạng lưới điều hành NATO, trục xuất trụ sở NATO khỏi Fontainebleau, và xác lập sự độc lập về vũ khí hạt nhân.  Chính sách thận trọng của Eisenhower đã giúp ông duy trì uy tín của mình giữa các phe khác nhau ở trong nước, giúp ông tiếp tục điều hành hiệu quả trong một giai đoạn phức tạp của lịch sử nước Mỹ. Đáng tiếc, điều này chưa đủ để giúp nước Mỹ sau này tránh sa chân vào một cuộc chiến mà Eisenhower đã thấy trước là không thể thắng được. 1      Thanh Xuân lược dịch   —————–  1 Nhà ngoại giao, triết học chính trị, nhà viết kịch người Ý sống thời thế kỷ 15-16    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vị trí và trách nhiệm xã hội của nhà khoa học      Sự kiện sáu nhà khoa học người Italia phải  ngồi tù vì kết luận chuyên môn sai khiến chúng ta không khỏi liên tưởng  đến vị trí và trách nhiệm xã hội của nhà khoa học Việt Nam.    Trong những ngày gần đây sự yếu kém của nền KH&CN nước nhà được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông và nguyên nhân chủ yếu dường như được khẳng định là những bất cập của cơ chế tài chính, với những ràng buộc cứng nhắc của cơ chế này trong việc quản lý KHCN. Tuy vậy, phải nhận thức rõ ràng là cộng đồng khoa học chúng ta thực ra cũng có trách nhiệm không nhỏ đối với hiện trạng ỳ trệ, yếu kém hiện nay của KHCN. Đã từ lâu không ít nhà khoa học đã quen với cách làm việc cầm chừng, hình thức, thiếu đam mê và đặc biệt là ít quan tâm đến trách nhiệm xã hội trong công việc của mình. Phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động nghiên cứu và triển khai, trách nhiệm này của một nhà khoa học có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng chắc chắn không có việc nghiên cứu thuần túy nào mà không có liên quan đến xã hội và cộng đồng. Câu chuyện sau đây chắc chắn rất đáng suy ngẫm đối với nhiều người trong chúng ta.   Ngày 6 tháng 4 năm 2009, một trận động đất gần 6 độ Richter đã làm rung chuyển L’Aquila, một thị trấn cổ kính nhỏ ở miền trung Italia, cướp đi sinh mạng của 309 người dân. Đây là một thảm kịch lớn đối với nhân dân vùng này và vì thế cộng đồng dân sự cũng như các giới chức trách đã tìm hiểu rất kỹ về vụ động đất và các hệ quả của nó. Sau hơn hai năm, ngày 22 tháng 10 năm 2012, tòa án dân sự L’Aquila đã kết án bảy người vì tội ngộ sát và mỗi người trong họ phải nhận một án tù giam sáu năm. Chắc không ít bạn đọc sẽ ngạc nhiên khi biết là ngoài một quan chức địa phương, sáu người trong nhóm bị kết án tù là các nhà chuyên gia KH&CN: ba nhà địa chấn học (seismologist), hai kỹ sư và một chuyên gia về núi lửa (volcanologist). Đây là những chuyên gia trình độ cao đã được mời tham dự Hội đồng quốc gia về dự báo và các biện pháp hạn chế ảnh hưởng của thảm họa thiên nhiên ngày 31 tháng 3 năm 2009, sau khi L’Aquila đã trải qua liên tiếp một loạt các dư chấn động đất nhỏ trong vòng hơn ba tháng. Vội vã dựa trên các kết quả nghiên cứu và tính toán mô phỏng, thiếu tìm hiểu kỹ càng lịch sử các quá trình động đất ở vùng này từ thế kỷ 18 cho đến nay, các chuyên gia đã khuyến cáo rằng loạt dư chấn này là hệ quả bình thường của quá trình tỏa năng lượng qua khe hở giữa hai lớp thềm lục địa và xác suất của một trận động đất cường độ lớn là không có, một khi dư chấn nhẹ đã xảy ra liên tục trong một thời gian dài như vậy. Sự tin cậy vào kết luận khoa học của hội đồng quốc gia trên là nguyên nhân mà rất nhiều nạn nhân của trận động đất ngày 6 tháng 4 năm 2009 đã chủ quan không tìm cách thoát thân mà cứ ở lại trong nhà mình (theo lời kể của họ hàng còn sống sót).   Theo nội dung của bản cáo trạng gần 500 trang, trong một cuộc phỏng vấn vào buổi chiều trước khi động đất TS Bernado De Bernardinis, phó giám đốc Trung tâm bảo vệ dân cư (civil protection department) của Italia còn khuyên dân chúng ở L’Aquila hãy yên tâm thưởng thức các buổi tối với những cốc rượu vang ngon. Một lời khuyên quá chủ quan và thiếu trách nhiệm xã hội. Những gì xảy ra sau đó thực sự là một cảnh báo hà khắc về sự yếu kém chuyên môn của nhóm chuyên gia khoa học tham gia hội đồng quốc gia trên và là một cú shock đối với cộng đồng khoa học của cả nước Italia. Một bức thư với chữ ký của gần 5.000 nhà khoa học đã được gửi lên Tổng thống Italia xin ân xá cho những nhà khoa học bị kết án tháng 10 vừa qua nhưng đã bị bác. Rõ ràng là các hậu quả của kết luận chuyên môn sai trong trường hợp này là quá lớn và nhà khoa học bắt buộc phải chịu hình phạt tương xứng với sai lầm và sự thiếu trách nhiệm xã hội của mình.     Ở Việt Nam, sau một loại những dư chấn nhẹ làm rung chuyển vùng đất quanh công trình thủy điện sông Tranh trong những tháng qua, một số chuyên gia cũng đã tin rằng chắc không thể có dư chấn mạnh hơn nữa xảy ra. Tuy nhiên, chiều ngày 15 tháng 11 năm 2012 một trận động đất cường độ 4,7 độ Richter (mạnh nhất kể từ hơn 50 năm nay) đã làm cho dân chúng vùng này vô cùng hoang mang và nhiều chuyên gia cùng giới quản lý công trình thủy điện sông Tranh một lần nữa phải thực sự lo lắng. Tất nhiên tất cả chúng ta đều mong muốn dự đoán của giới chuyên môn rằng không thể có động đất cao hơn mức 5,5 độ Richter ở vùng sông Tranh là chính xác, nhưng mỗi một kết luận hay khuyến cáo trong tương lai đối với công trình thủy điện này phải được đưa ra với một trách nhiệm xã hội cao nhất của các nhà khoa học và quản lý đối với “quyền được sống” của người dân địa phương, như đã được kêu gọi trong cuộc họp Quốc hội vừa qua.   Hà Nội ngày 19/11/2012  —  * Viện Khoa học & Kỹ thuật hạt nhân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việc dời Đô      Lịch sử Hà Nội (Histoire de Hanoi -Nhà xuất bản Fayard tháng 2-2001) do ông Philippe Papin, người Pháp viết. Ông là cựu học sinh trường Cao đẳng Sư phạm Saint-Cloud và thành viên trường Viễn đông Pháp, đã sống ở Hà Nội hơn 10 năm.  Để viết tập sách này, ông đã tham khảo hầu hết các cuốn sử do các sử gia Việt Nam viết và rất nhiều bài viết về Việt Nam và Hà Nội của các tác giả trong và ngoài nước qua nhiều thời kỳ, xuất bản ở nhiều nước.  Tia Sáng xin trích một đoạn trong tập sách của ông do nhà giáo Hoàng Tiến Hành (năm nay đã 87 tuổi) dịch từ năm 2004.      Vào tháng 10 ngày Quý Sửu (1009), Lý Thái Tổ lên ngôi tại Hoa Lư. Đến tháng 7 âm lịch năm 1010 (Thuận thiên thứ nhất), sau khi được sự đồng ý của triều đình, Lý Thái Tổ quyết định dời đô. Lúc kiệu vua vừa đến Đại La, vua thấy hiện trên trời một con rồng màu lạp phách. Coi đó là điềm tốt, ông đặt ngay cho vùng đất mới này là  Thăng Long và tên này đã được giữ trong 9 thế kỷ. Thăng Long, đất Rồng bay lên, truyền thuyết giải thích tên Thăng Long đồng thời phản ánh sự vươn lên của một triều đại, gợi lại một cách rõ ràng Rốn Rồng và con vật bé nhỏ dạng giun tiêu biểu cho nghệ thuật Đại La… Triều đại mới phải khẳng định tính độc lập một cách khôn khéo vì nó vẫn phải chịu sự đỡ đầu của nước láng giềng phương Bắc. Để xác định cương vị mới, triều đình đã dùng một từ Hán, thể hiện được sự độc lập của Việt Nam mà không cắt đứt với Trung Quốc. Để khẳng định việc dời đô là đúng, truyền thuyết còn kể một số chuyện như Lý Thái Tổ trông thấy trong làng quê ông một con chó cái đẻ một con chó con lông trắng mang dòng chữ Hán “Thiên tử”. Trên đường Đại La ông lại gặp một con chó cái bụng to quá cỡ, từ phía Bắc chạy qua đền An Xá, đẻ 8 con, báo trước 8 triều đại sẽ nối tiếp Lý Thái Tổ. Trong những truyện này, nhân vật chính là một chó cái, một chó con và một ổ chó vì Lý Thái Tổ sinh năm 974 và định dời đô năm 1010. Cả hai năm nay đều là năm Chó (năm Tuất). Ngoài ra dân gian còn có thành ngữ “tốt đất chó đẻ”. Một phong tục nữa là khi chôn người, người ta chôn theo một bộ xương chó, xem như tiếng sủa của nó chống được ma quỷ. Cũng vì thế trong những lần làm lễ xây dựng Thăng Long đều giết một con chó con để cúng. Có thể chuyện này còn dấu tích trong đền “Cẩu nhi” (chó con) ngày nay ở bờ hồ Trúc Bạch. Đền An Xá nằm ở khu Phúc Xá trên bờ sông Hồng gợi lại chuyện 8 con chó con. Bên cạnh đền này, trên một quả chuông đúc năm 1690 có ghi gốc làng An Xá xưa nằm ở Trung tâm Đại La. Dân làng phải di cư ra sống trên bãi cát sông Hồng, để dành đất xây cung điện nhà vua. Ghi chép này cho chúng ta biết thêm bề dày lịch sử về dời đô, một sự kiện chúng ta chỉ biết qua các tư liệu chính thức.   Thăng Long được đặt dưới sự bảo trợ thứ ba là Ngựa trắng (Bạch Mã). Cũng như thời Âu Lạc và thời Lý Nguyên Hỷ. Lý Thái Tổ đã thất bại trong việc xây thành. Trong buổi cầu phúc dâng thần Rốn Rồng, có một con ngựa trắng hiện trên trời phi qua Thăng Long để lại những dấu chân. Để nhớ ơn, nhà vua xây trên gò Nùng đền thờ Rốn Rồng, thần và chúa tể đại phúc và Đại vương Bạch Mã. Đền này sau đó dời đi. Ngày nay nằm ở trung tâm thành phố buôn bán có tên là đền (Bạch Mã). Đền này cũng thể hiện được sự tiếp nối, vì ở đây thờ hai vị thần xưa (Rốn Rồng) và vị thần mới (Bạch Mã), người xưa kia đã xây dựng Đại La (Cao Biền) và người lập nên Thăng Long (Lý Thái Tổ).    Nội dung truyền thuyết thời này khác với thời Cao Biền ở chỗ không lấy đấu tranh giữa thiên nhiên với thiên nhiên làm chủ đề chính.    Rồng bay, ngựa có cánh, chó thần, đều là những truyền thuyết, những phóng dụ về sự gặp gỡ của một con người với một vùng đất mới (Thăng Long) đã được hợp pháp hoá. Những truyện này đều nhằm gắn số mệnh vua nhà Lý với Kinh đô mới từ xưa đã nổi tiếng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việc làm và quan hệ việc làm  phi truyền thống ​trước CMCN 4      Cuộc cách mạng công nghệ 4 đang được định hình, nhưng vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi “bao nhiêu việc làm sẽ mất đi, bao nhiêu được tạo ra?” hay “con người và công nghệ, ai thắng ai?”      ILO dự đoán sẽ 56% việc làm ở Đông Nam Á sẽ biến mất trong vài thập kỷ tới. Số việc làm này chủ yếu là kỹ năng thấp trong cách ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, v.v. Ảnh: thietbidetmay  Trận đấu 4.0: Con người & công nghệ, ai thắng ai?  Việc làm mất đi hay chuyển đổi?  Năm 2017, Tập đoàn tư vấn McKinsey tung ra dự báo về việc làm toàn cầu trước tác động của tự động hóa. Dự báo cho thấy vẫn có đủ việc làm cho đến năm 2030 do 7 xu hướng kích cầu việc làm cùng xuất phát từ chính tự động hóa. Đồng thời tự động hóa sẽ làm thay đổi loại hình và kỹ năng làm việc của từ 75 triệu cho đến 375 triệu người trên toàn thế giới tùy theo mức độ áp dụng công nghệ nhanh hay chậm.  Cứ 6 trên 10 việc làm hiện nay sẽ bị chuyển đổi về hình thức do ít nhất 30% hoạt động thực hiện công việc đó được tự động hóa. Tức là khoảng 14% trong số 2,66 tỉ việc làm sẽ không bị mất đi mà chỉ chuyển sang dạng khác. Với tốc độ ứng dụng công nghệ nhanh nhất, sẽ có khoảng 30%, tức là 800 triệu người lao động bị thay thế. Tuy nhiên 8-9% việc làm hoàn toàn mới được tạo ra và nhu cầu sẽ tăng lên với 33% lực lượng lao động xuất phát từ các xu hướng như thu nhập và tiêu dùng gia tăng tại các nền kinh tế mới nổi; già hóa dân số; phát triển và áp dụng công nghệ mới; đầu tư vào xây dựng cơ bản; năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu; và các dịch vụ bù đắp cho các công việc không được trả lương. Các con số này cho thấy thế giới sẽ có đủ việc làm đến năm 2030.  Với báo cáo này, nỗi sợ mất việc làm sẽ được thay thế bằng sự lo lắng làm sao tốc độ đầu tư vào phát triển và ứng dụng công nghệ của chính phủ và doanh nghiệp có thể đi cùng với tốc độ tăng trưởng, thay thế việc làm, cũng như nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động. Vì chắc chắn việc làm chỉ có thể được tạo ra và được thay thế hiệu quả nếu mức lương đi cùng với năng lực đi lên của người lao động, tăng trưởng kinh tế đi kèm sáng tạo kích cầu việc làm, lực lượng lao động trẻ và đa đạng ngành nghề mở rộng đường cho ứng dụng công nghệ.  Cuối cùng, việc làm kỹ năng thấp hay ít đòi hỏi bằng cấp vẫn được thâm dụng, nhưng không bao gồm các hoạt động mà máy móc và robot có khả năng vượt trội như sản xuất hàng loạt, tổng hợp, xử lý số liệu, v.v. Thay vào đó, lực lượng lao động, bao gồm cả những người quản lý, phải bổ sung và nâng cao các phẩm chất và kỹ năng về công nghệ, quản lý các mối quan hệ việc làm, quan hệ xã hội, tư duy nhận thức, phân tích logic và khả năng sáng tạo. Như ông trùm bán lẻ Jack Ma đã khẳng định, thế hệ lao động mới cần học những thứ mà robot khó có thể qua mặt được họ, như nghệ thuật, hội họa, âm nhạc, tâm lý hay các kỹ năng tương tác giữa con người với con người.  Tại Việt Nam, các phẩm chất và kỹ năng làm việc này đang là những thách thức lớn nhất của lực lượng lao động, cũng là những “khối u” nhức nhối đang triệt tiêu năng suất, hiệu quả hợp tác tại nơi làm việc, vốn có nguyên do từ xuất phát điểm thấp về chất lượng giáo dục trước và trong khi tham gia thị trường lao động. Từ đây đã và đang có sự dịch chuyển từ quan hệ việc làm truyền thống sang việc làm “tự do” trong nền kinh tế chia sẻ – khi mà các cá nhân từ chối làm việc tập thể để trở thành “nhà thầu độc lập” trong mối quan hệ với đối tác hoặc ông chủ “ảo” như Uber, Grab, Airbnb, Freelancer, Upwork, v.v. Phân tích được xu hướng này tại Việt Nam mới có thể dự báo sâu hơn tác động của 4.0 lên việc làm và lực lượng lao động và mới có thể trả lời câu hỏi “Ai thắng ai?”  Cách mạng lần thứ 4 tạo ra các mối quan hệ việc làm phi truyền thống  ​Việc làm phi truyền thống (GIG) – độc lập, tùy ý, nhiều rủi ro, ít ràng buộc, nhiều yếu tố công nghệ –  đã có mặt ở Việt Nam được một thời gian, song song với xu hướng khởi nghiệp (start-up). Nó đối lập với việc làm truyền thống (JOB) –  làm công ăn lương, ít rủi ro nhưng bị ràng buộc bởi nghĩa vụ, trách nhiệm, quy trình – vốn là tấm vé đảm bảo “an ninh” việc làm cho mỗi người lao động.  Thay vì ký hợp đồng toàn thời gian và dành hết 8-9 tiếng tại văn phòng hay cơ sở sản xuất, người đi làm thời 4.0 có thể cài ứng dụng Upwork, nhận một công việc thiết kế, lập trình, v.v. từ Mỹ nhưng vẫn ngồi tại Việt Nam và làm việc bất kỳ thời gian nào mình muốn với các điều kiện trả công được thực hiện ngay trên ứng dụng. Nếu không thích làm công nhân lao động tại các nhà máy sản xuất, bất kỳ ai cũng có thể trở thành tài xế Uber hoặc một người bán hàng tự do trên Facebook, Ebay, Amazon, v.v. Anh tài xế chở khách đi bao nhiêu km thì được trả lương theo giá mà ông chủ Uber đưa ra ngay trên ứng dụng. Cô bán mỹ phẩm online lúc nào thích thì có thể streamline chào hàng, chốt đơn hàng theo giá mà mình đưa ra hoặc giá thị trường. Đây là loại hình GIG mà đến năm 2020 sẽ có hơn 40% người đi làm trên thế giới lựa chọn để thay thế hoặc hỗ trợ công việc truyền thống đang có…, đây cũng là cách thức khiến hơn 800 triệu việc làm không mất đi mà được chuyển đổi sang dạng thức khác đã được Mckinsey dự báo đến 2030. ​      Lực lượng lao động, bao gồm cả những người quản lý, phải bổ sung và nâng cao các phẩm chất và kỹ năng về công nghệ, quản lý các mối quan hệ việc làm, quan hệ xã hội, tư duy nhận thức, phân tích logic và khả năng sáng tạo.      Việc làm phi truyền thống kéo theo việc hình thành các mối quan hệ làm việc phi truyền thống. Theo đó người đi làm thời 4.0 nếu không còn muốn ràng buộc hoặc bị quản lý bởi những người sử dụng lao động thiếu tầm nhìn đối với vốn con người, thiếu năng lực quản trị doanh nghiệp, quản lý lao động cảm tính, hay vi phạm các điều kiện lao động đã cam kết như trả lương thiếu, muộn, không tạo cơ hội phát triển v.v. thì có thể làm việc với các ông chủ “ảo” như Uber, Grab, hay tự trở thành ông chủ tự thân với Amazon, Facebook, Upwork, Fiverr, v.v.. để giao kết một hợp đồng làm việc chỉ bằng một cú click chuột.  Với mối quan hệ việc làm công nghệ này, mô tả công việc, đánh giá năng lực, thu nhập thù lao, sản phẩm đầu ra cụ thể được ghi nhận bằng các thuật toán đơn giản khiến hai bên đàm phán, thương lượng, giao kết, điều chỉnh, v.v. một cách chính xác và ít sai sót hơn hàng chục lần so với thỏa thuận thông thường.  ​Tăng hiệu suất làm việc mà chưa cần robot  ​Nói tới cách mạng lần thứ 4, nhiều người lo lắng tới sự “xâm lăng” của robot, nhưng tại Việt Nam, nói đến robot hiện giờ vẫn là quá xa vời. Thị trường lao động trong cách mạng lần thứ 4 cần được nhìn nhận thực tế thông qua mức độ ứng dụng công nghệ mà tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. v.v. thâm dụng lao động. Ngoài tỉ lệ sử dụng internet ở mức thấp, các ông chủ tại Việt Nam vẫn còn e dè khi sử dụng các ứng dụng và nền tảng thông minh để tăng hiệu suất và năng lực làm việc của cá nhân, tập thể. Nhiều doanh nghiệp, thậm chí rất lớn và lớn, vẫn sử dụng cơ chế nặng về hành chính văn bản và các hàm excel đơn giản để quản lý đến hàng trăm hàng ngàn người…ở các nơi làm việc cấp tiến hơn, các hệ thống hiện đại được trang bị để quản trị nhân lực nhưng dễ dàng bị chi phối và lạm dụng bởi các quyền hạn và mối quan hệ không được quản trị minh bạch. Chi phí cho những vấn đề này nhìn ở góc độ tranh chấp về lợi ích giữa các cá nhân đến tập thể (từ vị trí quản lý cao nhất đến thấp nhất) có thể tính đến hàng trăm nghìn đến hàng triệu USD cho những dự án thất bại, những vụ kiện tụng, đình công hoặc hiệu quả làm việc tụt đáy mà phần nhiều các doanh nghiệp không tính toán được.  Một lý do nữa là giá nhân công tại Việt Nam vẫn còn rẻ để các nhà đầu tư tiếp tục sử dụng máy móc “vốn đã bị thải loại từ các nền kinh tế tiên tiến” và “năng suất lao động có theo kịp máy móc hiện đại đâu mà đầu tư mới làm gì?” Cuối cùng, các ông chủ lớn nhỏ tại Việt Nam hay được nhân viên hài hước nhận định về khả năng ra quyết định, đặc biệt các quyết định đầu tư vào những vấn đề phức tạp như quản trị hệ thống hay công nghệ, thường không có căn cứ dự báo tính toán.      Năm 2016, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cảnh báo rằng ít nhất tại 15 nền kinh tế phát triển hoặc mới nổi (bao gồm Trung Quốc), 7,1 triệu việc làm mất đi thì có 2,1 việc làm được tạo ra. Tức là có khoảng 5 triệu người không có việc trong giai đoạn 2015-2020. Số việc làm mất đi là việc làm “cổ trắng”, hành chính văn phòng, số việc làm được tạo ra chủ yếu là vị trí kỹ sư tin học, lập trình…      Trước tự động hóa và robot, thế giới đã thúc đẩy công nghệ Quản lý thông minh (Business Intelligence – BI) để giải quyết các vấn đề tồn đọng trong quản lý truyền thống trước khi trí tuệ nhân tạo vào cuộc. Có BI thì Walmart, người khổng lồ về thâm dụng lao động, gần đây mới quyết định theo chân Amazon dựa nhiều hơn vào nền kinh tế GIG và tự động hóa. Vì với BI, họ tính toán rằng dù doanh thu hằng năm lên tới 500 tỉ USD, mỗi người lao động của họ chỉ kiếm về cho họ 217.000 USD một năm, so với 315.000 USD của nhân viên Amazon, dù công ty này nhỏ hơn rất nhiều và số lượng lao động chỉ bằng 1/4 Walmart. Walmart hi vọng tự động hóa và GIG sẽ cải thiện hiệu suất làm việc trên toàn cầu, số lượng nhân viên sẽ giảm đi, vì thế thu nhập của họ sẽ tăng lên và tiếng xấu “chạy đua xuống đáy” về trả lương cho người lao động của Walmart bao năm qua có thể sẽ không còn.  Như vậy tại Việt Nam, chỉ cần áp dụng các nền tảng quản trị doanh nghiệp thông minh (BI) phổ biến và đã được chứng minh của thế giới để nâng tầm hiệu suất làm việc, thúc đẩy các mối quan hệ việc làm lành mạnh đã là một cuộc “cách mạng” đáng kể tại Việt Nam, chứ chưa nói gì đến trí tuệ nhân tạo (AI) và robot.    Author                Đặng Thị Hải Hà        
__label__tiasang Việc tính điểm công trình phải dựa trên  chất lượng thực sự của các công bố      Một trong những vấn đề g&#243;p phần lớn đến hoạt động nghi&#234;n cứu KHCN cũng như GDĐT ch&#237;nh l&#224; việc ph&#225;t triển đội ngũ c&#225;n bộ KHCN, GDĐT tinh hoa của đất nước. Đ&#243; ch&#237;nh l&#224; đội ngũ những nh&#224; khoa học c&#243; chức danh GS, PGS &#8211; đội ngũ những người tham gia trọng yếu trong hoạt động nghi&#234;n cứu KHCN cũng như trong sự nghiệp đ&#224;o tạo nguồn nh&#226;n lực tr&#236;nh độ cao cho đất nước.     Quy chế mới xét chức danh GS, PGS mà Thủ tướng vừa ban hành (QĐ174-2008-QĐ-TTg, ngày 31/12/2008), mặc dù về mặt quy trình thủ tục xét duyệt còn ít được đổi mới và nhìn chung chưa đáp ứng kỳ vọng, phải tạo sự thay đổi căn bản của giới chức KHCN cũng như GDĐT, tuy nhiên, để bù lại một số hạn chế và bất cập trong Quy chế mới này, chúng ta vẫn có thể cải thiện được việc nâng cao chất lượng xét bổ nhiệm GS, PGS, khi có quy định cụ thể về cách tính điểm công trình khoa học tại khoản 4 điều 8 trong Nghị định. Theo đó, việc tính điểm công trình khoa học phải dựa trên cơ sở chất lượng thực sự của các công bố. Trong đó, không những cần phải cần phân biệt các công bố quốc tế và trong nước mà cấp bậc về chất lượng của các công bố quốc tế và quốc gia cũng cần được xem xét. Một trong những bất cập trong những đợt xét GS, PGS trước đây là có phân biệt tạp chí quốc gia loại I, loại II nhưng lại đánh đồng giữa công bố trên tạp chí quốc gia và quốc tế, đánh đồng giữa các công bố trên tạp chí với các báo cáo Hội nghị khoa học xuất bản dưới dạng tuyển tập báo cáo (proceedings). Với cách đánh giá và cho điểm không tính đến chất lượng các công bố như trên, chúng ta đã bỏ qua các tiêu chí tối thiểu trong đánh giá KHCN và vô hình trung cũng góp phần cào bằng tiêu chí “chất lượng công trình nghiên cứu”, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một nhà khoa học. Cách đánh giá này không chỉ đã góp phần nâng đỡ 2/3 số GS, PGS không xứng đáng (như GS Hoàng Tụy đã nhận xét), mà còn bỏ lọt nhiều người tài không được đứng trong đội ngũ các nhà khoa học tinh hoa của đất nước. Nay không những chúng ta cần đánh giá cao hơn – cũng có nghĩa là tính điểm cao đối với các công bố quốc tế mà cũng như cần thay đổi cách tính điểm các công bố trên các tạp chí quốc gia, quốc tế theo chuẩn mực mới, cụ thể:   – Một bài báo công bố trên các tạp chí quốc gia loại 1 sẽ được tính 1,0 điểm,    – Một bài đăng trên các tuyển tập hội nghị quốc gia (có Hội đồng biên tập, được xuất bản chính thức và nộp lưu chiểu) được tính 0,5,   – Bài báo công bố quốc tế trên Tạp chí SCI (Scientific Citation Index) được tính 5.0 điểm,   – Bài báo công bố quốc tế trên Tạp chí thuộc SCIE (Scientific Citation Index Expanded) được tính 2.5,  – Bài báo công bố trên tạp chí quốc tế không thuộc 2 danh sách trên hoặc báo cáo hội nghị quốc tế (proceedings) được tính như tạp chí quốc gia loại 1.   Như vậy, theo chuẩn mực mới phù hợp với thông lệ quốc tế, chúng ta không thể tính đồng hạng các công bố quốc gia và quốc tế, cũng không thể tính như nhau giữa các công bố trên tạp chí với các tuyển tập báo cáo hội nghị. Cách tính mới này chắc chắn không chỉ có tác dụng khuyến khích mà còn đem lại sự công bằng cho những nhà khoa học đã và đang hội nhập quốc tế thành công qua các công bố quốc tế của họ. Tuy vậy, cách tính mới cũng không phương hại đến những ai chưa có điều kiện công bố quốc tế.  Tính công trình theo chuẩn mực mới chắc sẽ góp phần xoá bỏ một số bất cập trước đây, khi một số nhà khoa học đủ tiêu chuẩn GS, PGS quốc tế nhưng lại không đáp ứng được các tiêu chuẩn GS, PGS của Việt Nam. Cách làm mới cũng góp phần trẻ hoá đội ngũ GS, PGS từ nguồn nhân lực trẻ được đào tạo quốc tế và có công bố quốc tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viếng nhà thơ LÊ ĐẠT      Anh Lê Đạt đã không còn nữa. Tôi sửng sốt biết tin anh mất mà không thể tin đó là sự thật. Bởi từ đã rất lâu tôi vẫn luôn quen với ý nghĩ là anh vẫn còn rất trẻ, như anh thường tự nhận:  Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại  Hay ngây ngơ không biết lối về già…    Cái “lú lẫn” và “ngây ngơ” rất thật thà và đáng yêu cùng với tiếng cười luôn sảng khoái và tươi trẻ của anh, từ nhiều năm nay đã trở thành một nét đặc trưng cho sức sống của TIA SÁNG, nơi qui tụ nhiều anh chị em tâm huyết với những thăng trầm của nền giáo dục và khoa học nước nhà. Trong cái tập thể thân yêu đó, tôi vẫn thường được bậc đàn anh “ngây ngơ không biết lối về già” Lê Đạt xem là “trẻ nhỏ”, và dành cho nhiều ưu ái. Có một dạo trong nhiều năm dài, thỉnh thoảng vào ngày chủ nhật, anh vẫn cùng anh Kiến Giang đạp xe đến nhà tôi chơi, chuyện trò thân thiết về đủ mọi thứ, từ thơ ca cho đến cuộc đời. Nhờ những lần gặp gỡ đó mà tôi đã được anh cho các tập thơ Bóng chữ, Ngó lời, tập truyện ngắn Hèn đại nhân, và do đó, được hiểu và dần dần yêu thơ anh. Tôi nhớ trong tập Bóng chữ, anh có kể chuyện một lần có người hỏi nhà thơ Mallarmé: “Ông định nói gì trong thơ?” Nhà thơ đáp: “Nếu biết định nói gì thì nói, việc gì phải viết thơ”. Lại hỏi: “Sao tôi nhiều ý hay mà làm thơ lại không hay?” Đáp: “Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ”. Và tôi dần hiểu được vì sao các nhà cách tân thơ như anh phải lao tâm khổ tứ đến vậy để chắt lọc cho được những “bóng chữ, ngó lời” mong góp phần làm trong sáng thêm, phong phú thêm vẻ đẹp của thơ Việt, tiếng Việt. Và để phát hiện cho được những “bóng chữ, ngó lời” như vậy, thơ phải là “một lạng cảm hứng cộng với một tạ mồ hôi”, như anh từng tâm sự trên báo Thanh niên gần đây trước khi anh ra đi. Là người gần như suốt cuộc đời không tiếc sức cho sự nghiệp cách tân thơ, anh Lê Đạt cũng là người không ngừng suy nghĩ và đóng góp nhiều ý kiến có chiều sâu tư duy cho sự nghiệp chấn hưng và phát triển nền giáo dục và văn hoá của nước nhà.   Và nay, anh đã quyết ra đi. Xin tạ từ anh. Chúc anh thượng lộ bình an về nơi “Quê chữ”, hình như ở nơi đó, khoảng đầu đường hai mốt, anh có hẹn với ai đó từ lâu vẫn gắng đứng đợi anh, “Dù thắp sáng trời Một nguyên thảng thốt/ Thư thả tình hương chữ cốm kỳ duyên”*.  ————————  * Lời thơ của Lê Đạt trong bài Hương chữ, tập thơ Ngó lời.      Phan Đình Diệu       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam chính thức gia nhập WTO      Phiên họp của Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới vừa kết thúc với sự đồng thuận của 149 thành viên. Chủ tịch Ban Công tác Eirik Glenne gõ búa, thông qua toàn bộ hồ sơ, mở đường đưa VN bước vào sân chơi thương mại toàn cầu.    Thông tin trên được phát đi từ trụ sở WTO tại Geneva ít phút sau khi cuộc họp kết thúc.  Phát biểu tại lễ ký nghị định thư gia nhập với Việt Nam, Tổng giám đốc WTO Pascal Lamy đã chúc mừng thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới. Theo ông, nỗ lực của Việt Nam là điều đáng khích lệ đối với các thành viên WTO.    “Việt Nam là một ví dụ cho thấy những nỗ lực cải cách trong nước để gia nhập WTO đã mang lại kết quả rõ nét. Năm ngoái, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8%, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 6 tỷ USD và xuất khẩu tăng 20%. Chắc chắn Việt Nam còn đạt được những thành quả lớn hơn nhờ những bộ luật mới, các chế tài hành chính và các cam kết về hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong văn kiện gia nhập WTO”.    Ông Pascal Lamy từng là cao uỷ thương mại của Liên minh châu Âu EU. Chính ông đã đặt bút ký hiệp định kết thúc đàm phán gia nhập WTO giữa Việt Nam và EU.  Tại lễ gia nhập, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển một lần nữa nhấn mạnh các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam luôn đi cùng công cuộc đổi mới.   “Chính những cải cách trong nước đã đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định của Việt Nam, tạo cơ sở cho việc Việt Nam gia nhập WTO. Mặt khác, việc gia nhập WTO giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình cải cách, tạo cơ hội mở rộng thương mại, một yếu tố quan trọng cho việc phát triển kinh tế”.    Theo Bộ trưởng Tuyển, với sự hợp tác ngày càng mở rộng giữa các thành viên WTO, Việt Nam sẽ tận dụng tốt nhất được các cơ hội, vượt qua các thách thức, đảm bảo sự phát triển nhanh chóng và ổn định, góp phần tích cực trong việc phát triển hệ thống thương mại đa phương.  Phiên họp đặc biệt của đại hội đồng WTO hôm nay có sự tham gia của đông đủ đại diện 49 thành viên Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO. Chủ tịch Đại hội đồng, cũng là Chủ tịch Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam, ông Eirik Glenne đã tóm tắt quá trình đàm phán và kết quả việc thương thảo của Việt Nam trong tiến trình gia nhập.  Ông chủ tịch Đại hội đồng cũng trình bày 4 bộ hồ sơ văn kiện cam kết của Việt Nam xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, bao gồm báo cáo của Ban công tác dài 260 trang; bản cam kết dài 560 trang của Việt Nam trong lĩnh vực hàng hóa, thuế quan, trợ cấp nông nghiệp cùng lộ trình xuất khẩu; bản cam kết trong lĩnh vực dịch vụ 60 trang; cuối cùng là dự thảo nghị định thư về việc gia nhập WTO của Việt Nam.  Sau màn trình bày của ông Glenne, không ai có ý kiến phản đối. Chính ông đã gõ búa xuống mặt bàn chủ tọa, kết thúc phần biểu quyết thông qua từng văn kiện.  Khoảng thời gian này, là những gì mà phía VN dồn nén, xúc động, đợi chờ sau hơn 11 năm gian nan đàm phán.  Champagne đã nổ vang, với sự chứng kiến của toàn thể Ban công tác và bạn bè quốc tế, chung vui với Việt Nam trong giây phút trọng đại. Đáp lời chúc mừng của các đại biểu, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã cảm ơn sự nhiệt tình, giúp đỡ đầy thiện chí của bạn bè thế giới, giúp Việt Nam chính thức bước vào ngôi nhà chung kinh tế toàn cầu.  Phiên bỏ phiếu của WTO diễn ra chỉ vài ngày trước khi Hà Nội đăng cai hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC, với sự tham gia của lãnh đạo 21 nền kinh tế thành viên và hàng nghìn doanh nhân quốc tế.    (Theo VnExpress)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có thể thừa rất nhiều lao động trong CMCN4      Nếu không tập trung vào đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực, Việt Nam sẽ không thể “nhảy tắt” lên đoàn tàu CMCN 4 đồng thời dư thừa một lực lượng lao động rất lớn.      Công nhân tại công ty TNHH Solum Vina (KCN Bá Thiện II, Bình Xuyên). Ảnh: Báo Vĩnh Phúc.   Đó là cảnh báo của một số chuyên gia về lao động và quản trị doanh nghiệp tại tọa đàm “Cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động tới thị trường lao động Việt Nam” do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Công ty cổ phần sách Omega+ và Trung tâm Nghiên cứu quốc tế SCIS (ĐH Khoa học xã hội TPHCM, ĐHQGTPHCM) tổ chức ngày 27/3 vừa qua.  Cuộc CMCN 4 sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc các ngành công nghiệp chế tạo ở tất cả các nền sản xuất, những ngành nào có tỉ lệ R&D càng lớn thì càng có khả năng vươn ra toàn cầu. Tuy nhiên theo TS. Phạm Quang Ngọc – chuyên gia về đổi mới sáng tạo và lao động, các doanh nghiệp Việt Nam lại hạn chế ở hai điểm quan trọng: năng lực sáng tạo còn rất yếu; mức độ đầu tư cho R&D và số lượng bằng sáng chế của các công ty Việt Nam còn quá ít ỏi (ví dụ, trong năm 2017, Việt Nam chỉ đăng ký không đầy 20 sáng chế tại Mỹ trong khi riêng hãng Apple đã đăng ký trên 3000 sáng chế). “Các doanh nghiệp trong nước vẫn còn đang ở trong giấc mơ phát triển kinh tế nhờ quy mô chứ không phải dựa trên nền tảng đổi mới công nghệ. Thậm chí nhiều công ty mà tôi đi thực tế vẫn còn đang ở trong vòng luẩn quẩn lo ngại đổi mới công nghệ không có đầu ra”, ông Ngọc nhấn mạnh.  Song song với đó, cuộc cách mạng này cũng đặt yêu cầu phải tập trung đào tạo kỹ năng cho lực lượng lao động nhưng tư duy quản lý về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam vẫn chưa thay đổi, “chỉ mới tháng trước, Cục Lao động nước ngoài, Bộ LĐTBXH vẫn đang rất tự hào về việc lần đầu tiên Việt Nam vượt Trung Quốc về số lượng người xuất khẩu sang Nhật Bản. Nhìn rộng ra thì chẳng có gì để phấn khởi cả, điều cần thiết là không nên để quá nhiều người phải đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Trong bối cảnh CMCN 4, nếu không tiếp tục thay đổi thì Việt Nam sẽ bị tụt hậu và lại tiếp tục thừa một lực lượng lao động rất lớn”, ông Trần Chí Dũng, Phó giám đốc văn phòng giới sử dụng lao động VCCI, nhận xét. Bởi vì, thị trường lao động Việt Nam hiện nay có nhiều đặc điểm yếu kém, chưa thể bắt kịp với làn sóng CMCN 4. Cụ thể, đến năm 2018, tỉ lệ lao động có đào tạo quá thấp (chỉ chiếm 21,4%); tỉ lệ lao động hưởng lương thấp (40%); tỉ lệ lao động có thu nhập phi chính thức chiếm tới gần 60%. Về cơ cấu, lao động trong các ngành nông lâm thủy sản chiếm 41%; tỉ lệ thấp nghiệp ở thanh niên cao hơn 3 – 4 lần so với tỉ lệ chung trong xã hội. Trong khi đó, những công việc phổ thông không những không có thêm mà còn bị robot thay thế, đặc biệt với các ngành dệt may, da giày, thủy sản, nông nghiệp… trong vòng 5 năm nữa. Lúc đó chúng ta phải làm gì với hàng triệu lao động phổ thông “trình độ 2.0 – 3.0” bị mất việc, ông Dũng đặt câu hỏi.  Theo ông Dũng, lực lượng lao động sẽ phân thành nhiều lớp: Nhóm lao động trẻ đang học trong các trường sẽ có thể hướng tới chuẩn mực CMCN 4; nhóm 3.0 đang phục vụ cho các ngành công nghiệp hiện nay thì có thể nâng cấp trình độ và đáp ứng phần nào nhu cầu chuyển đổi; nhóm 2.0 rất khó nâng cấp – thì có thể chuyển sang làm việc ở các ngành đặc thù truyền thống. Do đó, cần phải đổi mới giáo dục và đào tạo ngay từ bây giờ để hướng nhóm trẻ bắt kịp CMCN 4.  Nhưng đổi mới giáo dục sẽ phải đi theo hướng giúp người học “học cách học” suốt đời chứ không chỉ là “chỉ dạy kiến thức” và sẽ phải đạt được các mục tiêu sau: giúp trẻ yêu thích và học cách học; học cách hiểu, làm việc và hợp tác với mọi người; hiểu về những vấn đề phức tạp và xử lý được những vấn đề phức tạp, xử lý được những rủi ro, theo TS. Lê Anh Vinh, Phó viện trưởng Viện KH Giáo dục, Bộ GD&ĐT.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Việt Nam đón công dân thứ 90 triệu      2 giờ 45 phút sáng ngày 1.11 đã đánh dấu  mốc tròn 90 triệu của dân số Việt Nam với sự ra đời  của cháu Nguyễn Thị Thùy Dung tại Bệnh viện phụ sản Trung ương Hà Nội.    Cháu Thùy Dung là con gái thứ hai của vợ chồng anh chị Nguyễn Văn Dũng và Lê Thị Duyên ở thôn Hòa Xá, xã Nam Chính, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cháu nặng 3.2 kg và hoàn toàn khỏe mạnh.  Sự ra đời của công dân thứ 90 triệu không chỉ là niềm vui cho gia đình cháu mà còn mang lại niềm hạnh phúc và tự hào cho toàn thể dân tộc ta.  Đây là thành công đánh dấu nỗ lực to lớn, sự phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi của toàn Đảng, toàn dân nói chung và ngành Y tế nói riêng đã đẩy lùi mốc 90 triệu của dân số Việt Nam sau 11 năm so với dự báo của Liên Hợp Quốc.  Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phát biểu tại buổi lễ chào mừng công dân 90 triệu của Việt Nam: “Chúng ta đã chào đón một công dân tí hon ra đời. Cháu ra đời khỏe mạnh bình thường đã là niềm vui cho gia đình và niềm vui cho tất cả chúng ta. Đây sẽ là thế hệ tiếp nối thế hệ dân số vàng hiện tại của Việt Nam, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội và nâng cao vị thế của đất nước trong tương lai.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam học Campuchia làm lúa gạo !      “Để tìm ra lối thoát cho lúa gạo Việt Nam, mới đây tỉnh Sóc Trăng đã cử đoàn cán bộ sang Campuchia học tập kinh nghiệm. Đi cùng đoàn còn có GS.TS Võ Tòng Xuân, nhà nông học hàng đầu Việt Nam” (Báo Đất Việt Online ngày 26/11/2016). Tôi không có thông tin về kết quả của chuyến đi, nhưng tôi có suy nghĩ: cái gì họ khác ta, làm nên sự khác biệt để vượt trội (qua mặt) ta thì đó là cái cần học.      Phải có 10 hay 20 ha hoặc hơn nữa để trực canh, nông dân mới giàu.  Tôi từng tháp tùng anh em Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang nhiều lần sang giúp nước bạn kỹ thuật trồng và tiêu thụ lúa gạo ở các tỉnh Takéo, Candal (giáp giới An Giang) theo đề nghị rất thiết tha và trân trọng của họ.  Tôi về hưu hơn 10 năm nay. Hoàn cảnh anh em ở Sóc Trăng bây giờ có lẽ cũng khác xa thời trước đây nên mới có chuyện Việt Nam qua học Campuchia làm lúa, bán gạo. Vậy bây giờ ta khác biệt và cần học tập Campuchia cái gì? Cái đó Bộ NN & PTNT của ta trả lời sẽ đúng hơn. Nhưng theo hiểu biết cũ và những gì cập nhật qua truyền thông, tôi thử nêu vấn đề để chúng ta cùng tìm hiểu:  Trước hết phải tìm các mẫu số chung về vấn đề con người, đất đai, thời tiết – thủy văn, thị trường và bao trùm hết thảy là vấn đề thể chế chính trị – kinh tế, để so sánh sự khác biệt.  Về con người, tôi nhớ ba tôi hay khen người Campuchia chân chất, nói sao làm vậy, thủy chung (thà bán rẻ hoặc cho không người họ quen thân chớ không bán, thậm chí là không bán đắt cho người không thân quen); họ rất biết sợ và tin chính quyền, tin Trời Phật, biết sợ có tội nếu làm hại người khác… Cái “mẫu số” này thử dân ta có bao nhiêu phần trăm so với họ? Gạo nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, cá tôm nhiễm kháng sinh, kể cả đầu tôm có đinh hoặc rau câu,… đâu chỉ có một mình nông dân là thủ phạm mà các chủ doanh nghiệp và chính quyền lại vô can? Việc này các cấp quản lý từ thấp tới cao ở ta ai cũng biết nhưng không ai làm gì hết, thậm chí không nói mà đành nhìn những “công” hàng bị trả về, bị khách hàng quen cũ từ chối mua tiếp, thị trường truyền thống bị teo tóp lại… Vậy mà Bộ NN & PTNT tuần trước công bố đến năm 2018, tôm mới sẽ “hết bị bơm rau câu”. Vậy trước mắt thị trường hãy chờ đấy!  Về đất đai, giữa ta và bạn tuy không khác biệt về thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, nhưng quan hệ sở hữu, hạn điền,… là cái kềm “kẹp” tâm lý, tình cảm nông dân trong cái vòng luẩn quẩn của việc mưu sinh (tính không ra) và tất yếu là “hạn chế” luôn cái làm giàu. Ta nói “phải bảo đảm cho nông dân có lãi tối thiểu 30%”, vậy lãi 30% trên diện tích 0,5 – 1,5 hoặc 3 ha là rất khác nhau nếu tính trên số lãi tuyệt đối. Đó là chưa nói lãi 30% trên diện tích 30 ha còn lớn hơn đến cỡ nào. Mà phải có 10 hay 20 ha hoặc hơn nữa để trực canh, nông dân mới giàu. Mặt khác, tuy năng suất lúa Việt Nam có lẽ cao nhất Đông Nam Á, nhưng vì thủy lợi phí, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công chăm sóc… (và có cả “địa tô mới” gọi là tiền thuê đất) quá lớn trong cơ cấu tổng chi phí nên giá bán lúa tại ruộng cũng rất cao, trong khi vận tải biển của ta có chi phí cao hơn nên giá gạo xuất khẩu tại cảng (FOB) lại buộc phải rẻ hơn v.v… Do đó, năng suất lúa càng cao chi phí cũng càng cao nhưng giá bán luôn ngược lại. Cái nghịch lý: càng làm lúa càng nghèo là vậy! Vậy ta dám sửa Quyền tài sản về đất và hạn điền trong Luật Đất đai không?  Về thị trường, vì “gạo trắng Việt Nam” là thương hiệu “gạo giá rẻ” trên thị trường quốc tế lâu nay, không ai cạnh tranh mà có lần một quan chức cao nhất ngành kinh tế nông nghiệp nước ta nói với tôi: “Là một lợi thế cạnh tranh của gạo Việt Nam” – tôi hiểu ý ông nói là cạnh tranh trên thị trường gạo ở các nước nghèo. Người nghèo ở các nước ăn gạo Việt Nam – giá rẻ, dần rồi một số họ cũng tự túc lương thực, trồng khoai củ thay gạo, một số “thoát nghèo” ăn gạo khác ngon hơn, số sợ bịnh nên hạn chế ăn tinh bột gạo. Bên cạnh đó, các nước có tiềm năng lớn về trồng lúa nước như Campchia, Myanmar cũng bắt đầu cạnh tranh với ta. Như vậy, người ăn gạo “giá rẻ” có xu hướng giảm và diện tích canh tác lương thực có xu hướng tăng. Vậy sao ta cứ giữ diện tích, sản lượng gạo loại này? Bán cho ai? Ngay như Thái Lan, gạo cao cấp của họ đang có xu hướng tăng tồn kho liên tục, vấn đề này là nỗi lo của nhà cầm quyền và cũng đã góp một phần “lộn xộn” chính trường Thái Lan gần đây. Còn ta nếu bớt trồng lúa để trồng cây gì lại là đề tài khác, chưa bàn ở đây.  ***  Nhân nói gạo cao cấp, thấp cấp, có người muốn Việt Nam trồng lúa chất lượng cao để cạnh tranh với gạo Thái (!) và phải xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Câu chuyện này có thời gian nói, bàn và làm từ khi ta xuất gạo từ vài triệu tấn, đến khi cao nhất trên 7 triệu tấn/năm và 2016 này xuống còn trên 5 triệu tấn… mà vẫn tiếp tục chỉ thấy nói và nói. Vậy làm thương hiệu khó lắm phải không? Khó! Vì là làm chớ không phải là nói hoặc dùng tiền mà mua được thương hiệu. Vậy thương hiệu là gì? Nói nôm na: Thương hiệu là cái nhãn hiệu hàng hóa được người mua tin và tìm mua. Có những thương hiệu thành quốc hiệu. Ở Việt Nam bây giờ, “thương hiệu” là vấn đề niềm tin. “Niềm tin” lương thực, thực phẩm sạch bây giờ linh thiêng hơn hết, vì ăn nhằm “độc chất” thì cái chết sẽ gần hơn; niềm tin tôn giáo về “tội phước” có khi xa hơn! Tạo thương hiệu cho lương thực – thực phẩm nội địa cho khách hàng trong nước còn khó, huống chi cho khách hàng ngoài nước? Có nghe mấy lần Chính phủ và Bộ NN&PTNT nói “Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam” tôi không hình dung xây dựng bằng cách nào? Sao làm hoài mà không có gạo thương hiệu? Trong khi tính xây dựng “Thương hiệu gạo Việt”, ta có bài học kinh nghiệm nào về việc để mất thương hiệu độc quyền tự nhiên cá ba sa, mất cả nghề nuôi truyền thống loài cá quí hiếm này và đang sắp mất thương hiệu cá tra như vết xe đổ của con cá ba sa!  Muốn có gạo thương hiệu phải có tiền đề: Giống (di truyền hoặc lai tạo – có bản quyền); đất, nước và khí hậu ở vùng thích hợp gieo trồng; công thức chế biến, pha trộn tạo ra thương hiệu riêng của nhà cung cấp. Ngoài ra, phong cách làm ăn của nhà cung cấp cũng góp thêm niềm tin trong thương hiệu sản phẩm, hoặc chỉ riêng dịch vụ của nhà cung cấp cũng tạo được thương hiệu riêng cho sản phẩm – doanh nghiệp, thí dụ gạo có giống lúa như nhau, nhưng ai cung cấp đúng hẹn, đúng giá, đúng chất lượng, thanh toán tiện lợi và thái độ cởi mở thì cũng là một lợi thế. Như vậy, thương hiệu gạo quốc gia chủ yếu dựa vào giống (của quốc gia), vùng sản xuất có lợi thế và chế độ canh tác cho sản phẩm thuần, đồng nhất, ổn định, cung cấp sản lượng lớn cho nhà buôn, có sự trợ giúp của nhà nước, nhà khoa học, sự giác ngộ và sản xuất có tổ chức của nhà nông. Gạo có thương hiệu – nhãn hiệu là do người tiêu dùng chọn, do nhà doanh nghiệp tạo dựng (chọn lọc tự nhiên hoặc pha trộn) không nhất thiết phải thuần giống nào, và Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ thương hiệu ấy. Như vậy, có thương hiệu hàng hóa hay không là do Nhà nước và doanh nghiệp quyết định chớ không phải do nông dân hay nhà khoa học!  Trở lại chủ đề “Việt Nam sang Campuchia học làm lúa gạo” tôi nghĩ cái gì họ khác ta, làm nên sự khác biệt để vượt trội (qua mặt) ta chính là những vấn đề cơ bản nêu trên, trong sự phù hợp của khung thể chế chính trị Nhà nước và thị trường tự do. Ngoài ra, một vấn đề cốt lõi luôn thời sự là họ nói ít mà làm nhiều; tỷ lệ người có học hàm học vị trong xã hội ít hơn ta. Đó cũng là một sự khác biệt lớn so với ta. Ta dám học họ không?  ————  Nguyễn Minh Nhị: Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang.       Author                Nguyễn Minh Nhị        
__label__tiasang Việt Nam: Khỉ sẽ tuyệt chủng trên bàn nhậu?*      Hầu như không có nước nào lại có nhiều loài khỉ đang bị đe dọa như Việt Nam. Nhưng chẳng bao lâu nữa thì phần lớn chúng sẽ bị tuyệt chủng – thịt khỉ được xem là thức ăn ngon trong đất nước này. Với máy quay bí mật, SPIEGEL ONLINE đã có thể quay phim trong các nhà hàng bán thịt khỉ. Đó là những hình ảnh thật kinh khủng.    Trong một ngôi làng ở đâu đó trong miền Trung Việt Nam. Một vài người đàn ông trẻ tuổi đang ngồi ở ngoài trời và thưởng thức món ăn. Trên cái bàn tròn trước họ có một món thịt. Đó có thể là thịt heo hay thịt bò, nhưng đấy lại là thịt khỉ. Người ta uống nhiều bia kèm theo. Họ chẳng buồn để ý đến con người xa lạ vừa mới đi ngang qua để nhìn thoáng vào trong bếp.  Một nữ bác sĩ thú y người Đức ở Việt Nam đã quen thuộc với vấn đề đấy. Bà ấy là chuyên gia về con cu li, còn gọi là khỉ gió, và kể về việc những vật thể nghiên cứu của mình đã biến mất với vận tốc nào. “Săn bắn đã trở thành một môn thể thao được ưa chuộng cho lúc nhàn rỗi”, bà ấy nói, “vào cuối tuần, đàn ông trẻ tuổi nhảy lên yên xe máy và chạy vào rừng.” Sau đấy, những con khỉ sẽ được bán ở chợ để làm vật nuôi trong nhà hay là thịt rừng. Khắp nơi trong nước có những nhà hàng mà trên thực đơn có thịt khỉ. Cả nhiều khu rừng đã trống rỗng rồi.  Do đó, SPIEGEL ONLINE đã nhìn vào trong hậu trường của những nhà hàng khỉ này. Người nước ngoài trong những hàng quán như thế sẽ gây nghi ngờ nên một người Việt Nam đã đóng vai một khách hàng, người đang trên đường tìm hàng tiếp tế cho nhà hàng của mình ở Hà Nội. Vì thế nên người này đã được mời vào phòng trong, kho hàng và bếp của những người giết khỉ. Những hình ảnh mà ông ấy mang về thật là gây chấn động.    Giết chết tàn bạo cho những người sành ăn  Một cảnh diễn ra trong một gian phòng tối tăm mà có thể nhận ra được một con khỉ ở trong đó. Dường như đó là một con khỉ Macaca, bộ lông của nó có màu nâu. Tay của nó bị trói quặt ra sau lưng. Con thú nằm trên mặt đất, bàn tay khỏe mạnh của người đầu bếp ấn nó xuống mặt đất. Rồi một người đàn bà liên tục đổ nước nóng từ một cái xô nhựa lên đầu của con thú, và người đầu bếp bắt đầu vặt lông của con khỉ Macaca ra. Điều kỳ lạ là con khỉ hầu như không la hét gì cả. Nhưng người ta có thể nhìn thấy nó uốn éo người, đập đuôi, đấu tranh vì cuộc sống của nó. Ít lâu sau đấy, người ta có thể nhận thấy viên đầu bếp trưởng dùng con dao rựa đánh liên tục vào cái đầu trọc của con thú còn sống. Chẳng mấy chốc, con thú đã chết.  Máu được người đàn bà hứng vào trong một cái túi nilon. Phần còn lại được đưa vào trong phòng bên cạnh, nơi có hai xác khỉ khác, đã được nhổ lông và lấy nội tạng ra, đang nằm chờ tiếp tục xử lý. Hầu như tất cả mọi thứ đều được dùng: thịt được rán, nội tạng được nấu, dương vật được phơi khô. Những gì không phục vụ cho sự no đủ thì có thể được bán đi như dược phẩm truyền thống của Trung Quốc. Trong gian phòng ở phía trước có hàng chục con khỉ đông lạnh nằm trong kho. Họ có thể cung cấp vài trăm con trong vòng vài tuần, bà chủ quán hãnh diện tuyên bố.  “Ở chợ đầy thịt rừng”, nhà bảo vệ loài sinh vật và cũng là nhiếp ảnh gia thiên nhiên Karl Ammann nói. “Tăng trưởng kinh tế và hạ tầng cơ sở tốt hơn chỉ khiến cho sự việc tệ hại hơn.” Hiện giờ, ngay đến những vùng hẻo lánh nhất của Đông Nam Á cũng được khai phá; đồng thời, việc ăn thịt thú hiếm đã trở thành mốt. “Trong những buổi tiệc ở châu Á, dương vật cọp và bột từ sừng tê giác được chuyền nhau như thuốc phiện ở những nơi khác”, Ammann nói.  “Ở trong vùng của chúng tôi đầy nhà hàng khỉ”  Từ một năm rưỡi nay, người Đức Georg Kloeble làm việc ở Việt Nam. Trong tỉnh Thanh Hóa, tròn 240 kilômét về phía Đông Nam của Hà Nội, ông ấy đang xây dựng lực lượng bảo vệ rừng theo yêu cầu của Hỗ trợ Phát triển Đức, chịu trách nhiệm cho hai tỉnh. “Vào lúc ban đầu, thật sự là chẳng có ai lo lắng đến các con thú cả”, Kloeble nói, người trước đó đã sống 20 năm ở Malawi, hoạt động vì sự sống còn của những con voi ở đấy và đã thành lập tổ chức bảo vệ động vật Wildlive Action Group International. Hiện giờ, các cố gắng mang sự bảo vệ loài vật đến gần với người Việt của ông ấy đã có thành quả. Vì ngày càng có nhiều thú vật được tịch thu nên trạm lâm nghiệp của ông ấy đã biến thành một vườn bách thú nhỏ, cái đang nuôi dưỡng ngoài những thứ khác là 17 con khỉ, tê tê và hai con gấu ngựa sơ sinh.  Qua đó, khả năng cung cấp chỗ ở đã cạn kiệt. Trước hết là các con gấu đang cần nhiều diện tích. “Chúng tôi đang rất cần sự giúp đỡ ngay lập tức, đặc biệt là cho các con gấu, để xây cho chúng một khu đất trong khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên”, Kloeble nói. “Nuôi các con thú đấy với thức ăn cho trẻ sơ sinh và hoa quả tốn khoảng 1500 euro cho một con mỗi năm.”    Tất nhiên là Kloeble biết rằng ông ấy đã tròng vào cổ mình một công việc Sisyphus. “Ở trong vùng của chúng tôi đầy nhà hàng khỉ.” Cuộc đấu tranh chống hoạt động bất hợp pháp đấy rất vất vả. Phải cần đến cả một hệ thống của những người cung cấp thông tin để tìm ra các nhà hàng đó. Thêm vào đấy, nhà hàng mới mọc lên nhiều như nấm. Tuy vậy, Kloeble vẫn tin tưởng rằng công việc của mình sẽ thành công: “Tuy phải cần nhiều thời gian, nhưng ít ra thì cũng có chuyển động.”  Phan Ba dịch từ http://www.spiegel.de/wissenschaft/natur/vietnam-affen-werden-in-restaurants-geschlachtet-a-837365.html  (Tia Sáng lấy lại bài từ Phan Ba’s blog với sự đồng ý của blogger, tiêu đè do Tia Sáng đặt lại)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam: Những nhân tố hạn chế sự tăng trưởng của chỉ số cạnh tranh toàn cầu      Bài viết “Thấy gì qua chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam (2006 – 2016)” * đã chỉ ra những chỉ số cần ưu tiên cải tiến để tăng chỉ số GCI (Global Competitiveness Index) của Việt Nam. Bài viết này nhận diện những yếu tố hạn chế sự tăng trưởng của chỉ số này.      Hành trình nhận diện   Những chỉ số cần ưu tiên cải tiến để tăng chỉ số GCI của Việt Nam là các chỉ số thể chế, hạ tầng cơ sở, môi trường kinh tế vĩ mô và sức khỏe và GD tiểu học trong Nhóm (I); các chỉ số hiệu quả của thị trường lao động, hiệu quả của thị trường hàng hóa, và giáo dục đại học và dạy nghề trong Nhóm (II). Các chỉ số của Nhóm (III) rất thấp, phản ánh tăng trưởng của Việt Nam còn dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn.  Vì chỉ số nhóm các yêu cầu cơ bản có trọng số lớn nhất, 60%, trong tổ hợp xác định chỉ số cạnh tranh GCI, bài viết này xem xét sâu hơn chỉ số thể chế vì nó đã kéo tụt xuống điểm số của Nhóm (I) (xem hình bên phải) và nhận diện trong những yếu tố WEF đã sử dụng để cấu thành chỉ số thể chế, yếu tố nào đã hạn chế sự tăng trưởng chỉ số Nhóm (I) và tiếp theo, chỉ số GCI của Việt Nam.    Cấu thành của chỉ số thể chế     1. WEF xác định chỉ số thể chế như là tổ hợp của yếu tố thể chế công (Public Institution) và yếu tố thể chế tư (Private Institution) theo công thức:  [Thể chế]  =  0.75 * [Thể chế công] + 0.25 * [Thể chế tư]  Yếu tố thể chế công được WEF cấu tạo từ 5 yếu tố hợp phần là Quyền sở hữu (Property Rights), Đạo đức và tham nhũng (Ethics and Corruption), Ảnh hưởng phi pháp (Undue Influence), Hiệu lực của Chính phủ (Government Efficiency), An ninh (Security).  Điểm số của chỉ số Thể chế công được WEF tính bằng trung bình cộng của điểm số của 5 yếu tố này.  [Thể chế công] = 1/5 * ([QSH]+[ĐĐ&TN]+[AHPP]+[HLCP]+[AN])  Dưới đây là bảng điểm số và đồ thị diễn biến của hai yếu tố thể chế công và thể chế tư, và của 5 yếu tố hợp phần của thể chế công trong 11 năm (2006–2016).      Bảng điếm số và các đồ thị trên đây cho thấy điểm số của An ninh đứng trên và tách biệt với các yếu tố khác, thấp nhất là 4,42 (2014) và cao nhất 4,95 (2012).  Các yếu tố có điểm số thấp nhất là Hiệu lực của Chính phủ, Ảnh hưởng phi pháp, và Đạo đức và tham nhũng tuy các điểm số này có xu hướng nhích lên từ năm 2104. Điểm số của 3 yếu tố này không vượt quá 3.5 trong các năm 2010 – 2016, với đáy là 3.12 thuộc về yếu tố Ảnh hưởng phi pháp (năm 2012).  Yếu tố Quyền sở hữu tuột dốc từ năm 2009, chạm đáy năm 2012 với điểm số 3.23.  2. Từ đâu các yếu tố Đạo đức và tham nhũng, Ảnh hưởng phi pháp và Hiệu lực của Chính phủ có điểm số thấp?  Đạo đức và tham nhũng được tính từ 3 yếu tố hợp phần là (a) đào tẩu công quỹ (Diversion of public funds); (b) sự tín nhiệm của công chúng đối với các nhà chính trị (Public trust in politicians); (c) thanh toán các khoản không theo quy tắc và hối lộ (Irregular payments and bribes), và điểm số là trung bình cộng của điểm số của 3 yếu tố này. Điểm số lần lượt từ trên xuống như sau:    Yếu tố Ảnh hưởng phi pháp được tính từ 2 yếu tố hợp phần là (a) sự độc lập của tòa án (Judicial independence); (b) sự thiên vị trong quyết định của quan chức chính phủ (Favoritism in decisions of government officials), và điểm số là trung bình cộng của điểm số của 2 yếu tố này. Điểm số như sau:    Yếu tố Hiệu lực của Chính phủ được tính từ 5 yếu tố hợp phần là (a) Lãng phí chi tiêu công (Wastefulness of government spending): (b) Gánh nặng của các quy định của Chính phủ (Burden of government regulation): (c) Hiệu lực của khuôn khổ pháp lý trong giải quyết tranh chấp (Efficiency of legal framework in settling disputes): (d) Hiệu lực của khung pháp lý trong xem xét lại các quy định (Efficiency of legal framework in challenging regs); (đ) Sự minh bạch trong hoạch đinh chính sách của Chính phủ (Transparency of government policy making), và điểm số là trung bình cộng của điểm số của 5 yếu tố này. Điểm số như sau:Yếu tố An ninh được tính từ 5 yếu tố hợp phần là: (a) Đối phó với khủng bố đối với kinh doanh (Business costs of terrorism); (b) Đối phó với tội ác và bạo lực đối với kinh doanh (Business costs of crime and violence); (c) Đối phó với Tội ác có tổ chức (Organized crime); (d) Độ tin cậy của sự phục vụ của cảnh sát (Reliability of police services), và điểm số là trung bình cộng của điểm số của 5 yếu tố này. Điểm số như sau:    Yếu tố An ninh được tính từ 5 yếu tố hợp phần là: (a) Đối phó với khủng bố đối với kinh doanh (Business costs of terrorism); (b) Đối phó với tội ác và bạo lực đối với kinh doanh (Business costs of crime and violence); (c) Đối phó với Tội ác có tổ chức (Organized crime); (d) Độ tin cậy của sự phục vụ của cảnh sát (Reliability of police services), và điểm số là trung bình cộng của điểm số của 5 yếu tố này. Điểm số như sau:    Nhận xét và thảo luận  1. Yếu tố đạo đức và tham nhũng tốt lên đều từ năm 2006 đến năm 2010, sau đó tụt khá sâu các năm 2012 – 2014, rồi hồi phục lại cho tới năm 2016, nhưng điểm số vẫn còn rất thấp.  2. Yếu tố Ảnh hưởng phi pháp tốt lên đều từ năm 2006 đến năm 2010, sau đó tụt khá sâu hai năm 2011 và 2012, rồi hồi phục lại cho tới năm 2016, nhưng điểm số vẫn còn rất thấp do yếu tố sự thiên vị trong quyết định của quan chức chính phủ.  3. Yếu tố Hiệu lực của Chính phủ tốt lên đều từ năm 2006 đến năm 2010, sau đó điểm số tăng, giảm không đều cho đến năm 2016 vẫn chưa đạt được điểm số năm 2010. Lãng phí chi tiêu công và Gánh nặng của các quy định của Chính phủ là 2 yếu tố hợp phần chủ yếu tạo nên sự biến động này.  4. Đạo đức và tham nhũng, Ảnh hưởng phi pháp, Hiệu lực của Chính phủ là các yếu tố làm giảm sự tăng trưởng của chỉ số thể chế công, từ đó chỉ số thể chế;  5. Năm 2011 là năm đánh dấu sự tụt giảm khá sâu của chỉ số thể chế và các yếu tố hợp phần mà 5 năm sau (2015) vẫn chưa phục hồi được.  Trên đây mới là những nhận xét rút ra từ phân tích số liệu trong cơ sở dữ liệu của WEF. Xin nhường việc lý giải nguyên nhân của các nhận xét này cho các nhà khoa học (chính trị, kinh tế, xã hội và nhân văn) và các nhà lý luận.  6. Để có tầm nhìn ra khu vực, 5 yếu tố cấu thành chỉ số thể chế công của 3 nước trong Cộng đồng ASEAN là Việt Nam, của Singapo và của Thái Lan được so sánh tại 3 thời điếm 2006, 2011, và 2016. Singapo được chọn vì quốc gia này nằm trong tốp đầu các nền kinh tế toàn cầu một cách ổn định. Thái Lan được chọn vì tương đồng với Việt Nam.    ——————————————————————————  * Nguyễn Ngọc Trân, Thấy gì qua chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam (2006 – 2016), Báo Đại biểu nhân dân số ra ngày thứ sáu 14.10.2016 (http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=379799)  Số liệu trích từ http://www.weforum.org/reports/global-competitiveness-report-2016-2017       Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Việt Nam: Thặng dư hay thiếu hụt công suất?      Việt Nam đã và đang trải qua ít nhất hai cột mốc quan trọng từ khi bắt đầu tiến trình đối mới đến nay: Thứ nhất, khởi đầu tiến trình đổi mới vào 1986, chuyển từ mô hình kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Trên thực tế, Việt Nam đã tận dụng khá tốt cơ hội này để vượt qua ngưỡng nước nghèo sau 20 năm; Thứ hai, trở thành thành viên WTO vào năm 2007. Điều này có nghĩa là Việt Nam chấp nhận mở cửa toàn diện với thế giới bên ngoài để đón nhận những cơ hội cũng như chấp nhận những thách thức mới. Tiếp cận từ góc nhìn thặng dư công suất, Việt Nam sẽ tận dụng được những cơ hội, vượt qua những thách thức này như thế nào?      Việt Nam 20 năm về trước  Chiến tranh tàn phá tiếp tục với một thập kỷ triển khai mô hình kinh tế tập trung, mô hình không khuyến khích người ta làm việc, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam hết sức tiêu điều, lương thực phải nhập khẩu, sản phẩm công nghiệp hầu như không có gì, dịch vụ không được xem là một ngành kinh tế chính thức và trong xã hội không nhiều gia đình có thể ăn no mặc ấm. Tuy nhiên, nếu nhìn vào những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những vùng đất màu mỡ, nhưng liên tục mất mùa do người ta không muốn canh tác hay hệ thống thuỷ lợi không đảm bảo, những mỏ dầu, mỏ than giàu trữ lượng, phố phường trống vắng, thưa thớt người qua lại thì có thể thấy sự trù phú có thể xuất hiện trong tương lai gần nếu các nguồn lực được cởi trói.  Mặt khác, tuy khó khăn trăm bề, nhưng việc học hành luôn được nhiều gia đình coi trọng. Tinh thần học hỏi cũng ở một mức độ rất cao. Nếu có một quyển sách, hay một tờ báo rơi vào tay ai đó thì chúng sẽ được đọc từ trang đầu đến trang cuối, việc đọc đi đọc lại nhiều lần hay chép lại sách là điều hết sức bình thường. Tuy hệ thống giáo dục rất lạc hậu so với thế giới, nhưng những tiêu cực dường như không có, người thầy luôn được tôn trọng và đề cao. Chính những điều này đã làm cho chất lượng và khả năng của nguồn nhân lực vượt xa so với nhu cầu thực tế.  Thêm vào đó, tuy chưa có bất kỳ một sự chuẩn bị nào cho nền kinh tế thị trường, nhưng do trong giai đoạn đầu, cấu trúc nền kinh tế còn tương đối đơn giản, tình trạng tham nhũng không phổ biến và đáng báo động nên hệ những quy định, thể chế mới được xây dựng cũng tạm ổn để nền kinh tế có thể vận hành mà không gặp nhiều bất trắc. Trên thực tế, trong 20 năm qua, không có nhiều vấn đề làm Việt Nam phải quan tâm nhiều và tập trung giải quyết, trừ cuộc khủng hoảng các hợp tác xã tín dụng cuối thập niên 1990 và những vấn đề liên quan đến chính sách đất đai.  Sự thặng dư về tài nguyên và nguồn nhân lực cộng với một môi trường thể chế không phức tạp đã giúp Việt Nam có được sự thành công trong 20 năm với thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 3 lần, tỷ lệ hộ nghèo từ hầu như toàn bộ giảm xuống dưới 20%.    Câu chuyện của ngày hôm nay  Trái ngược với hơn 20 năm về trước, giờ đây về cơ bản Việt Nam đã vượt qua khỏi ngưỡng nước nghèo, nhiều người đã có thể ăn ngon mặc đẹp. Tuy nhiên, những vấn đề đang bộc lộ sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển ổn định trong dài hạn của Việt Nam.  Các nguồn lực vật chất đang dần cạn kiệt: Giờ đây, những câu chuyện về nâng cao năng suất mở rộng diện tích đã không còn là vấn đề thời sự như cách đây 20 năm mà là hoang mạc hoá, khô hạn, ngập mặn, ô nhiễm môi trường… Các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dầu mỏ, than đá (hai nguồn tài nguyên chính) không phải là vô tận. Thời điểm cạn kiệt dầu mỏ đang ở rất gần. Sự quy hoạch manh mún, chia cắt đô thị dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông đang tạo ra bầu không khí hết sức ngột ngạt, nhất là ở hai đô thị lớn mà nếu không có những giải pháp kịp thời thì hậu quả sẽ khó mà lường được. Cứ nhìn những nước chung quanh cách đây hơn 10 năm thì có thể cảm nhận được điều gì có khả năng xảy ra đối với Việt Nam trong một tương lai không xa.  Hậu quả của thời “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” đang hiển hiện: Cải cách hệ thống giáo dục lạc hậu là điều hết sức cần thiết. Tuy nhiên những trục trặc, những điều không lường đón hết khi tiến hành cải cách đã gây những tác động hết sức tiêu cực. Đầu những năm 1990, do đời sống giáo viên quá khó khăn, không ít người đã phải xoay sở tìm nghề khác. Trong số những người ở lại, cho dù còn rất nhiều người có năng lực và tâm huyết với nghề, nhưng những người không thể đi đâu vẫn tiếp tục làm thầy.  Hơn thế, chính sự khó khăn trong giai đoạn này đã không khuyến khích những người giỏi nhất vào ngành sư phạm và tình trạng “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” đã xảy ra. Người viết không hề có ý định “vơ đũa cả nắm”, nhưng có thể nhìn nhận một cách khách quan rằng, do những người “kém nhất” trở thành thầy cộng với cơ chế quản lý đã đẩy hệ thống giáo dục Việt Nam vào một tình cảnh hết sức éo le. Hiện tượng vi phạm đạo đức học đường như thầy lạm dụng trò, trò đánh thầy ngay trên bục giảng, chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu, học sinh bỏ học hàng loạt… không còn là những sự kiện cá biệt mà trở thành hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội. Giờ đây, chúng ta có thể cảm nhận được hậu quả của việc quan tâm không đúng mức đến “lợi ích trăm năm”.  Một điều đáng quan tâm khác là cấu trúc nền kinh tế hiện nay và những vấn đề liên quan đã khác rất nhiều so với cách đây 20 năm. Tham nhũng trầm trọng hơn, dần xuất hiện các nhóm lợi ích chi phối một bộ phận, một ngành hay toàn nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả không phải là do cơ chế hay năng lực quản lý mà có thể là do chủ đích với mục tiêu cuối cùng là tìm cách đánh cắp tài sản của nhân dân hay củng cố địa vị cá nhân làm tổn hại đến lợi ích chung.  Tuy nhiên, cho dù những dấu hiệu không tốt đang hiển hiện ngày một rõ nét hơn, nhưng tiềm năng của Việt Nam vẫn rất lớn, nếu có những chính sách hợp lý để mỗi người Việt Nam có thể phát huy tối đa khả năng của mình thì việc có được thành công từ hai bàn tay trắng như Nhật Bản hay Singapore là điều không phải là không thể.    Dự báo tương lai                       Mọi chuyện đang rất trôi chảy, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt 8,48%, mục tiêu đặt ra cho năm 2008 lên đến 9%. Do vậy, việc đưa ra những nhận định kém lạc quan có lẽ không hợp thời cho lắm. Tuy nhiên, Economist Intelligence Unit (EIU) đã đưa ra dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2030 theo một kịch bản chúng ta không hề mong đợi. Trong 5 năm tới, tốc độ tăng trưởng vẫn hết sức khả quan ở mức trên dưới 8%, nhưng sau đó những rắc rối, yếu kém của nền kinh tế có thể sẽ bộc lộ kéo tốc độ tăng trưởng xuống dưới 5% vào năm 2020, thời điểm Việt nam đặt ra mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp.  Nếu dự báo về tốc độ tăng trưởng nêu trên là của một người tiểu tốt vô danh như tác giả bài viết này thì không có gì là chú ý, nhưng đây là EIU, ít nhất cũng là tổ chức có uy tín và họ có cơ sở trên cơ sở quan sát những gì đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Do vậy, muốn tránh kịch bản như vậy, Việt Nam cần hết sức quan tâm tìm hiểu tại sao EIU lại đưa ra con số như vậy.  Xét dưới góc độ công suất cần thiết để hấp thu những cơ hội mới thì có lẽ Việt Nam đang ngấp nghé bên bờ thiếu hụt công suất. Nếu không có những quyết sách hợp lý, rất có thể Việt Nam sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính mà nó là nguồn gốc gây ra những bất ổn xã hội và trì trệ nền. Việc mắc phải “căn bệnh Hà Lan”*, sai lầm của những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào nhưng khai thác và sử dụng không hợp lý rất có thể xảy ra.  Có lẽ, tất cả các nguồn lực đều bị giới hạn, ngoại trừ nguồn nhân lực, nếu có một hệ thống giáo dục tốt và một môi trường làm việc khuyến khích mọi người hăng say lao động thì khả năng có được một nội lực mạnh mẽ để tận dụng tốt các cơ hội trong tiến trình hội nhập là điều nằm trong tầm tay. Nếu không, việc chỉ có thể làng nhàng ở những nước thường thường bậc trung làm điều không khó dự đoán.  —————-   * “Căn bệnh Hà Lan” là thuật ngữ trong kinh tế học ra đời năm 1977 để mô tả sự suy giảm của khu vực sản xuất Hà Lan sau khi nước này tìm ra mỏ khí gas lớn. Từ đó về sau, thuật ngữ này được sử dụng để nói về mối quan hệ giữa việc phát hiện những nguồn tài nguyên thiên nhiên mới với sự tụt hậu của sản xuất trong nước của một quốc gia.  “Căn bệnh Hà Lan” phát tác một khi nguồn tài nguyên trong nước đã cạn kiệt hoặc có sự biến động giảm giá tài nguyên trên thị trường thế giới. Khi đó việc khai thác tài nguyên để bán gặp khó khăn, các ngành sản xuất khác trong nước hầu như đã tê liệt vì tụt hậu kĩ thuật khi không được đầu tư trong một thời gian dài. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng. (Theo www.saga.vn)  Từ sự phát triển công nghiệp Thuỵ Điển, GS Ari Kokko thuộc Trường Kinh tế Stockholm, một học giả nổi tiếng về thương mại quốc tế và chính sách công nghiệp, đã chỉ ra rằng sở dĩ Thuỵ Điển có thể tận dụng được các cơ hội và đạt được sự thành công trong hơn 100 năm qua là do nước này có một sự “thặng dư công suất”, nói một cách đơn giản là tiềm năng của nền kinh tế, khả năng của nguồn nhân lực cao hơn nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Do vậy, “Khi quá trình công nghiệp hoá được châm ngòi bởi các phát minh đổi mới kỹ thuật từ nước ngoài và nhu cầu tăng mạnh của các nơi khác ở châu Âu đối với nguyên liệu thô, thì Thuỵ Điển ở vào vị thế vững vàng để khai thác các cơ hội mới.” Kết quả Thuỵ Điển đã thành công. (Xem thêm Ari Kokko, “Vai trò của công suất thặng dư trong phát triển công nghiệp Thuỵ Điển”, Tia Sáng số 1/2008)  Hùynh Thế Du         Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam trong hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu: Hãy bắt tay vào thực hiện      Việc Việt Nam cam kết trên trường quốc tế sẽ đạt đỉnh phát thải khí nhà kính vào năm 2030 thực ra là không cần thiết và không mấy ý nghĩa để đưa nó thành một mục tiêu chính sách trong nước. Cách tiếp cận “hứa ít nhưng làm nhiều” trong ngoại giao về kiểm soát khí thải nhà kính mới là khôn ngoan. Giờ đây ta hãy bắt tay vào thực hiện. Lượng phát thải khí CO2 của Việt Nam có thể đạt đỉnh trước cả năm 2030.      Dự án trồng một tỉ cây xanh, cùng với việc lắp đặt năng lượng tái tạo rộng rãi trên toàn Việt Nam trong những năm gần đây, cho ta lí do để hi vọng. Ảnh minh họa: Nhà máy điện mặt trời Phước Ninh. Nguồn ảnh:cafebiz.vn  Bốn mươi nhà lãnh đạo các quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu dưới hình thức trực tuyến trong hai ngày 22-23/4 để chào mừng nước Mỹ quay lại cuộc chiến biến đổi khí hậu. Để chuẩn bị cho hội nghị COP26 diễn ra tại Glasgow, Anh vào tháng 11 tới đây, năm năm sau Thỏa thuận Paris, những nhà lãnh đạo này nhắc lại cùng nhắc lại thỏa thuận của họ đối với tính cấp bách của thảm họa khí hậu. Họ cùng thừa nhận sự cần thiết phải giảm mức khí thải nhà kính xuống bằng 0 vào năm 2050 để có cơ hội duy trì nhiệt độ Trái đất tăng không quá 1.50C.    Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã trình bày chính sách khí hậu của Việt Nam ở Hội nghị thượng đỉnh. Ông nhận thức được sự quan trọng của việc kìm hãm mức nóng lên toàn cầu không tăng quá 1.50C và sự bức thiết phải chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh, có tổng mức khí thải bằng 0. Ông tuyên bố rằng, việc chuyển đổi này là bắt buộc và không loại trừ một lĩnh vực nào cả. Ông kì vọng các nước phát triển tiếp tục đóng vai trò dẫn đầu trong việc giảm khí thải và hỗ trợ các nước đang phát triển. Việc theo đuổi mục tiêu khí hậu phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Và ông đưa ra cam kết của Việt Nam trong việc chống lại biến đổi khí hậu bao gồm:      Những con số trong kịch bản chống biến đổi khí hậu của Việt Nam chỉ mang ý nghĩa chính trị với mục đích thể hiện thông điệp rằng Việt Nam có tham gia vào quá trình chống biến đổi khí hậu toàn cầu.      Giảm 9% khí thải nhà kính vào năm 2030 không điều kiện, với nguồn lực trong nước. Việc giảm thiểu này sẽ đạt đến 27% với điều kiện được hỗ trợ song phương và đa phương.    Giảm đáng kể các nhà máy phát điện chạy bằng than và tăng tỉ lệ điện tái tạo trong tổng sản lượng điện quốc gia tới 20% vào năm 2030 và 30% vào năm 2045.    Giảm lượng khí thải nhà kính trên một đơn vị GDP xuống gần 15% vào năm 2030 và khí methane từ hoạt động sản xuất nông nghiệp 10%.    Trồng một tỉ cây xanh đến năm 2025, một dự án nhằm hấp thụ 2-3% tổng lượng khí thải của Việt Nam vào năm 2030.    Theo quan sát của tôi trong lĩnh vực năng lượng, sự hỗ trợ song phương và đa phương đối với Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể trong năm năm vừa qua. Mục tiêu giảm 27% khí nhà kính đến năm 2030 có lẽ sẽ là điều Việt Nam theo đuổi trong tương lai: Tổng thống Mỹ Joe Biden, người chủ trì hội nghị, đã tuyên bố rằng sẽ tăng cường các kế hoạch tài chính để hỗ trợ các nước đang phát triển về biến đổi khí hậu. Dẫu rằng những kế hoạch này chưa đủ để Mỹ bù đắp lại bốn năm vừa qua bỏ bê nhiệm vụ lãnh đạo trong vấn đề này, thì hội nghị cũng là một sự kiện ngoại giao thành công. Các thành viên hội nghị đã bàn thảo về sự cần thiết phải thống nhất một mức giá sàn chung cho carbon, trong trường hợp vẫn tiếp tục khai thác và sử dụng than đá. Phần lớn các quốc gia đều đồng loạt hướng đến mục tiêu giảm một nửa lượng khí thải nhà kính vào năm 2030:    Liên minh châu Âu đang luật hóa mục tiêu giảm tổng lượng khí thải nhà kính tới năm 2030 bằng 55% so với mức ở những năm 1990 và đạt trung hòa carbon vào năm 2050 (trung hòa carbon là lượng khí carbon thải ra bằng lượng carbon hấp thụ và sử dụng).    Mỹ cam kết sẽ giảm một nửa lượng khí thải nhà kính của mức năm 2005 trong thập kỉ này (trước đó, dưới thời kì cựu Tổng thống Obama, Mỹ cam kết đến năm 2025 giảm 26-28% lượng khí thải nhà kính của mức năm 2005).    Nhật cam kết sẽ cắt giảm khí thải nhà kính xuống còn 46% của mức năm 2013 vào năm 2030, tham vọng giảm một nửa so với mục tiêu họ đặt ra trước đó.  Canada cũng nâng cao tham vọng của mình, cam kết giảm 40-45% lượng khí thải của năm 2005 đến năm 2030.    Hàn Quốc cũng hứa sẽ đình chỉ việc sử dụng ngân sách để tài trợ cho những dự án than ở nước ngoài và sau đó nhấn mạnh việc sẽ nhất quán với cam kết đến năm 2050 đạt mục tiêu tổng lượng khí thải nhà kính bằng 0.    Cam kết của các quốc gia khác liên quan đến việc ngăn chặn nạn phá rừng và sản xuất năng lượng sạch hơn. Ba Lan, một quốc gia sử dụng nhiều điện than, tuyên bố rằng họ vừa kết thúc đàm phán với các hiệp hội những người lao động ở mỏ than để đảm bảo một quá trình cắt giảm điện than công bằng và xác đáng sắp tới. Ấn Độ tiếp tục khẳng định mục tiêu đạt tổng công suất điện tái tạo là 450GW vào năm 2030. Trung Quốc nhấn mạnh quy hoạch sẽ đạt mức đỉnh khí thải carbon vào năm 2030 và hứa sẽ đạt trung hòa carbon vào năm 2060, và cam kết xa hơn nữa là dừng việc tiêu thụ than kể từ năm 2025 trở đi.    Khi các quốc gia dẫn đầu đều giảm một nửa lượng khí thải vào năm 2030, liệu đến thời điểm đó Việt Nam đã đạt đến đỉnh phát thải khí nhà kính hay chưa? (để kể từ đó về sau chỉ có giảm phát thải mà không tăng nữa). Bản cập nhật của Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam đối với việc chống biến đổi khí hậu (NDC) đã lí giải các mục tiêu giảm khí thải nhà kính chi tiết hơn (xem bảng 1).  Bảng 1: Khí thải nhà kính của Việt Nam trong từng kịch bản theo bản NDC cập nhật (2020)                 2014      2020      2030          Kịch bản thông thường      284.0      528.4      927.9          Kịch bản cam kết không điều kiện (bằng nội lực)      284.0      528.4      844.0 (-9% kịch bản thông thường)          Kịch bản cam kết có điều kiện (với sự hỗ trợ của nước ngoài)      284.0      528.4      677.1 (-27 % kịch bản thông thường)          Đơn vị : Triệu tấn CO2  Mục tiêu giảm khí thải được xác định dựa trên kịch bản phát thải thông thường (không có hành động chống biến đổi khí hậu), cho thấy rằng lượng khí thải sẽ vẫn tăng, kể cả trong kịch bản tham vọng nhất, chỉ là tăng chậm hơn. Tuy nhiên, kịch bản thông thường này không thể quan sát được. Nó là một kịch bản phi thực tế, một kịch bản tưởng tượng. Cùng với phong cách đó, cam kết “năng lượng tái tạo sẽ chiếm một phần trong các nguồn năng lượng chính” có phần mờ ảo khi tính “lập lờ” cả thủy điện lớn và các nhà máy phát điện sinh khối truyền thống trong đó. Bởi vậy, những con số trong kịch bản NDC này không thuộc phạm trù của những mục tiêu có thể lượng hóa, theo dõi và kiểm chứng được. Những con số này chỉ mang ý nghĩa chính trị với mục đích thể hiện thông điệp rằng Việt Nam có tham gia vào quá trình chống biến đổi khí hậu toàn cầu.    Bản NDC cập nhật của Việt Nam thể hiện tham vọng lớn hơn bản gốc trước đó. Trong bản cập nhật nộp vào năm 2020, Việt Nam cam kết giảm lượng khí thải từ 9%-27% là lớn hơn so với cam kết gốc vào năm 2016 là chỉ giảm từ 8%-25%. Ngoài ra, ngụ ý của cam kết có điều kiện của Việt Nam là nước ta cũng kì vọng vào sự hỗ trợ của quốc tế từ các nước đã phát triển. Với điều kiện đó, lượng khí thải trong khoảng từ năm 2020 – 2030 sẽ là 150 triệu tấn thay vì 400 triệu tấn như kịch bản thông thường. Trong vòng 10 năm tới, vốn đầu tư vào cơ sở vật chất và công nghiệp trong kịch bản chỉ tăng 150 triệu tấn khí thải sẽ khác với vốn đầu tư vào kịch bản 400 tấn khí thải. Trong vòng sáu năm qua, lượng khí thải của Việt Nam đã tăng 244 tấn. Giảm khí thải xuống còn 150 tấn trong 10 năm tới sẽ là một bước ngoặt lớn. Việt Nam “đặt cược” khá tham vọng và thể hiện sự cam kết với việc giảm khí thải của quốc gia. Nhưng kiểm soát đạo hàm bậc hai của đường cong là không đủ. Bước tiếp theo là làm sao để giảm lượng khí thải xuống bằng 0.    Dự án trồng một tỉ cây xanh, cùng với việc lắp đặt năng lượng tái tạo rộng rãi trên toàn Việt Nam trong những năm gần đây, cho ta lí do để hi vọng. Nền kinh tế và xã hội Việt Nam thay đổi nhanh chóng hơn phần lớn các quốc gia khác. Khả năng cao là Việt Nam không làm gì thì lượng khí thải cũng đã ở dưới mức kịch bản thông thường rồi. Kịch bản này được tính toán từ trước khi dịch Covid-19 xảy ra, dựa vào bản Quy hoạch điện cũ. Nó không tính đến lượng carbon không thải ra môi trường nhờ vào sự bùng nổ gần đây của điện mặt trời và gió. Trong vòng năm năm tới, việc khởi động thị trường cho các công ty tư nhân cung cấp dịch vụ điện năng là khả thi – và nó sẽ giúp tất cả các tổ chức trên khắp cả nước tiết kiệm điện và giảm lượng khí thải. Sớm thôi, EVN sẽ bắt đầu dừng hoạt động các nhà máy điện than cũ và không hiệu quả. Việc nối lưới với một số các cánh đồng điện gió ngoài khơi sẽ khả thi trong khoảng thời gian đó. Cải thiện công tác dự báo thời tiết sẽ cho phép sử dụng nhiều và hiệu quả năng lượng gió và mặt trời hơn. Sự trỗi dậy của điện mặt trời nổi, nông điện (vừa lắp điện mặt trời vừa canh tác trên cùng một nông trại), lưu trữ điện năng, điện sinh khối, công nghệ thu lại nhiệt hao phí và lĩnh vực các phương tiện giao thông chạy bằng điện sẽ làm nhiều người ngạc nhiên.    Việc Việt Nam cam kết trên trường quốc tế sẽ đạt đỉnh phát thải khí nhà kính vào năm 2030 thực ra là không cần thiết và không mấy ý nghĩa để đưa nó thành một mục tiêu chính sách trong nước. Cách tiếp cận “hứa ít nhưng làm nhiều” trong ngoại giao về kiểm soát khí thải nhà kính mới là khôn ngoan. Giờ đây ta hãy bắt tay vào thực hiện. Lượng phát thải khí CO2 của Việt Nam có thể đạt đỉnh trước cả năm 2030.□     Hảo Linh dịch    Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Vĩnh biệt Giáo sư Thái Quang Trung      Chúng ta phải tập làm quen không còn ánh mắt  nhân hậu của ông, không còn tiếng cười chân thành của ông bên chúng ta,  những người từng quen biết ông, từng cộng tác với ông, từng yêu mến  trân trọng ông. Đối với chúng ta đó là việc khó khăn biết chừng nào!     Nhưng đâu phải chỉ khi ông mất đi rồi chúng ta mới thấy dấu ấn của ông đối với thế gian này quá lớn, mà ngay trong những ngày ông hiện diện bên chúng ta, chúng ta đều có một nỗi sợ hãi không chút mơ hồ, một nỗi sợ hãi thường trực, rằng, nếu chẳng may ông không còn nữa thì sẽ là mất mát vô cùng lớn với tổ quốc này, với non sông này, với đồng bào này. Và chỉ cần vụt đến cái sự tưởng tượng vu vơ ấy thôi chúng ta đã cảm thấy rùng mình. Ấy vậy mà… giờ đây chúng ta phải nghiêng mình vĩnh biệt ông mãi mãi. Một người bạn thân thiết của ông đã phải thốt lên: Đau đớn quá không chỉ cho hôm nay mà cho cả phía trước, không chỉ cho Việt Nam mà còn cho cả nhân gian này.  Ông sinh ra như báo trước một định mệnh, rằng, ông chỉ có thể sống được, nếu được bú mớm dòng sữa của một người đàn bà nào đó vất vưởng của làng quê.Và ông đã được cứu sống bởi chính dòng sữa của một người mẹ – một đồng bào mà dòng sữa có được chỉ nhờ củ sắn củ khoai của mảnh đất miền Trung, nơi hứng chịu nhiều nhất đạn bom chiến tranh và nắng gió khắc nghiệt. Ông thường gọi nhân dân của mình là đồng bào vì hơn ai hết ông hiểu được chính đồng bào ấy đã bao bọc chở che cho ông và nuôi ông nên người. Ông ước mơ xây dựng một thành phố mang tên Hòa bình cho cả thế giới ở chính mảnh đất Miền Trung này. Không dừng lại chỉ ước mơ ông đã ngày đêm thiết kế lên thành phố mang tên Hòa bình ấy, và ông đi khắp các diễn đàn quốc tế vận động mọi người chung tay xây dựng nơi hứng chịu nhiều đạn bom nhất thế giới là nơi đặt biểu tượng của Hòa bình, của lòng Nhân ái, của Tình yêu.   Khi một người nào đó mất đi sẽ có điệp khúc rằng lịch sử sẽ đánh giá chính xác về con người đó. Không, với tất cả sự trung thực và công bằng nhất chúng ta không phó mặc sự đánh giá về ông cho lịch sử, và chúng ta những người bạn, những người đồng chí của ông cũng không cần sự đánh giá của lịch sử ấy, vì hơn ai hết chúng ta hiểu ông, chúng ta biết tất cả những việc ông hành động,ông hiến dâng, vì vậy ngay giờ phút này chúng ta có thể tự hào gọi ông Thái Quang Trung- Người yêu nước vĩ đại.  Trong những năm thời trẻ của mình tại nước Pháp ông đã bỏ niềm đam mê hội họa, mà nếu ông theo đuổi có thể trở thành một họa sĩ tài danh để lao vào phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam. Khi cả thế giới bị khủng hoảng về biến đổi khí hậu, về kinh tế, ông là thành viên sáng lập tích cực của Diễn đàn Bảo vệ môi trường Á-Âu, ông đi khắp thế giới để kết nối các nguồn lực giúp Việt Nam bảo vệ môi trường, ông tự tìm các nguồn tài trợ để giúp Việt Nam thực hiện các dự án bảo vệ môi trường. Ông là một trong những người ít ỏi trên thế giới nhận biết tác hại của nền kinh tế nâu phụ thuộc vào dầu hỏa ô nhiễm, hủy diệt môi trường mà giải pháp duy nhất là phát triển kinh tế xanh. Có thể nói rằng Thái Quang Trung là người Việt Nam hàng đầu có tầm nhìn khoa học nhân văn nhất về chiến lược kinh tế xanh ở Việt Nam. Ông nỗ lực hết mình vận động các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học, các nhà giáo dục cũng như các lãnh đạo địa phương chuyển hướng phát triển kinh tế nâu qua kinh tế xanh.Tất cả các dự án giúp cho các tỉnh ở Việt Nam đều có dấu ấn thông điệp mạnh mẽ của ông về kinh tế xanh ấy.  Tên tuổi của ông ít xuất hiện trên truyền thông, ông rất ít khi nói về những công việc ông đã làm, nhưng giờ phút này tổng kết lại mới thấy hết những đóng góp của ông cho đất nước quả là rất lớn lao và đầy thuyết phục với tầm nhìn rộng và tính nhân văn cao. Các dự án phát triển kinh tế xanh, du lịch xanh, giáo dục xanh, rồi các dự án bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là các dự án về kinh tế sáng tạo của ông đã tạo ra những tầm nhìn vừa mang tính chiến lược bền vững, vừa mang tính đột phá đã góp phần không nhỏ về nhận thức, về tầm nhìn chuyển dịch tâm thế mới cho đất nước hòa nhập với thế giới. Nếu các dự án của ông về kinh tế xanh ở Huế,Trường đại học xanh ở Huế, Du lịch xanh ở Lăng Cô,Thừa Thiên- Huế, Phục hưng Phố Hiến ở Hưng Yên,Thế giới tâm linh ở Đền Hùng, Phú Thọ, Đa dạng sinh vật biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh,Thành phố Sáng tạo ở Phú Yên,Thiên đường du lịch ở Phú Quốc, Kiên Giang,Thế giới của cái nhỏ mà quyến rũ ở Hội An, Thành phố thông minh ở Đà Lạt, Thiên đường Cà phê ở Đắc Lắc  vv… được hình thành chắc chắn sẽ tạo ra một hình ảnh mới cho Việt Nam.  Thái Quang Trung đột ngột ra đi làm sửng sốt con tim tất cả những ai biết về ông. Ở đây chúng ta không muốn nói về nỗi đau, về những mất mát, mà chúng ta muốn nói về con đường của ông, con đường của một người trí thức yêu nước chân chính đã đi, đã dâng hiến hết mình không vì danh lợi, không vì bất cứ tính toán ích kỉ tầm thường nào cho riêng mình. Con đường mà ông luôn cam kết và luôn truyền cảm hứng mãnh liệt cho lớp trẻ để tạo ra sự tiếp nối không ngừng. Chính vì vậy chúng ta nguyện rằng chúng ta có nghĩa vụ thiêng liêng bước tiếp con đường sáng ngời ấy của ông. Một tương lai thật sự tươi đẹp cho đất nước luôn là niềm đau đáu đến da diết của ông vì cả cuộc đời ông, ông chỉ luôn tôn thờ cái đẹp. Đẹp cho từng con người, đẹp cho từng mảnh đời, đẹp cho quê hương xứ sở, đẹp cho hành tinh. Nhưng giờ phút này xin ông hãy thanh thản yên nghỉ nơi mảnh đất xứ Huế này, mảnh đất mà ông muốn được hạnh phúc hóa thân, mảnh đất mà trước khi mất ông đã kịp đặt tên cho nó: “Miền đất của hạnh phúc”, vì tất cả chúng ta cũng như những bạn trẻ của tương lai đất nước đã, đang và sẽ cùng nguyện làm tiếp những việc gì ông còn đang làm dở dang, đi tiếp con đường ông đã đi, bay tiếp giấc mơ không chỉ cho Huế, cho Việt Nam, mà còn cho cả trái đất ông yêu thương, ông luôn gọi là “Trái tim xanh của tôi”, mãi mãi là miền đất của hạnh phúc.                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vĩnh biệt vị Đại tướng của khát vọng      Chiều tối 4.10.2013, khi hay tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi xa, người đầu tiên tôi liên lạc là người bạn ở rất xa – nhà báo, phóng viên Catherine Karnow – con gái của sử gia, nhà báo Stanley Karnow – người đã viết rất nhiều về tướng Giáp và được coi như một người bạn thân tình của gia đình. Trong những lá thư ngắn ngủi trao đổi, Catherine nói lúc này tấm lòng của cô ở cùng chúng tôi, chia sẻ nỗi buồn cùng chúng tôi và những người dân VN về tổn thất to lớn này.    Chứng kiến sự trân trọng của đồng bào cả nước cũng như những người bạn quốc tế dành cho Đại tướng, và từ những lần được gặp ông, được ông chia sẻ, đối với tôi, tuy từ giã chúng ta, nhưng Đại tướng đã để lại mỗi người dân VN và nhiều người bạn trên thế giới, bất kể chính kiến, dân tộc, thể chế… một sự kính trọng lớn lao và toàn diện với một nhân cách lớn xưa nay hiếm: Một người yêu nước vĩ đại và một tài năng quân sự thao lược xuất chúng. Tài năng quân sự kiệt xuất tầm cỡ thế giới đương đại bên cạnh năng lực kiệt xuất về chính trị, văn hóa của ông đã được báo chí, sách, phim ảnh… nói đến đầy đủ, nên ở đây tôi chỉ xin được nói về ông ở chiều kích tâm cảm khác trực tiếp hơn, đó hình như là sự gắn bó xuyên thế hệ giữa một công dân – một tổ chức trẻ với vị Đại tướng mà vinh quang được công nhận toàn cầu.  Trong 10 năm qua, Trung Nguyên và cá nhân tôi đã nhận được quan tâm đặc biệt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một người bạn lớn luôn dõi theo các chương trình mà chúng tôi và cộng sự cùng các tổ chức xã hội đề xướng như  “Nước Việt lớn hay nhỏ?” (2003), “Người Việt dùng hàng Việt” (2005), “Thương hiệu nông sản Việt” (2006) và chỉ mới năm ngoái (11.2012), khi sức khỏe đã thực sự  nguy kịch, Đại tướng vẫn có lời động viên cho Chương trình Thanh niên sáng tạo khởi nghiệp do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung Nguyên và các tổ chức xã hội đề xướng, rồi bức thư ông tâm huyết gửi tới các doanh nhân nhân dịp thành lập Câu lạc bộ Các nhà công thương VN hồi đầu năm nay… Từng ấy năm, từng lời nói ấm áp đôn hậu, từng dòng thư súc tích, chứa chan thôi thúc, từng quyển sách đề tặng truyền tải biết bao tin yêu gửi thế hệ trẻ của Đại tướng gửi đến tổ chức và tập thể chúng tôi hẳn nhiên không là ngẫu nhiên mà tôi nghĩ, điều đó thể hiện sự yêu mến, ủng hộ đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là các doanh nghiệp VN giàu khát vọng.  Đối với tôi, đó là sự ủng hộ của nhân cách lớn, đại diện thế hệ tiền bối đối với khát vọng lớn, khát vọng xây dựng một đất nước hùng mạnh, đặc biệt về kinh tế. Tôi đọc được trong một bài phỏng vấn của cha Catherine – Stanley Karnow với Đại tướng, ông đã trả lời nhà báo rằng: “Tôi biết được tổ tiên của chúng tôi là những người đã hy sinh vì đạo nghĩa, và nhiệm vụ của mình là phải rửa sạch những nỗi nhục trong quá khứ”. Nỗi nhục ấy với tôi không chỉ là câu chuyện đất nước hàng nghìn năm đứng ở tuyến đầu của những cuộc tranh chấp, ngoại xâm… nó còn là câu chuyện chúng tôi – những thế hệ tiếp nối sẽ làm gì tiếp, thay vì chỉ “Dựng nước và Giữ nước”?    Thư Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi tới   Ban tổ chức ngày hội Sáng tạo vì Khát vọng Việt   (23.11.2012) tại Dinh Thống Nhất, TP.HCM  Trong lá thư gửi tới ngày hội Sáng tạo vì Khát vọng Việt (23.11.2012) – sự kiện thu hút hơn 60.000 lượt người tham dự tại Dinh Thống Nhất (TP.HCM), chúng tôi vinh dự nhận được thư của Đại tướng với lời nhắn gửi phản ánh tâm nguyện của Đại tướng về trách nhiệm của thế hệ thanh niên đối với nhiệm vụ xây dựng đất nước giàu mạnh “sánh vai các cường quốc năm châu”. Niềm tin này đặt cho chúng ta câu hỏi then chốt: “Làm sao kiến tạo thế hệ thanh niên cháy bỏng khát vọng khởi nghiệp – kiến quốc”? Đó cũng là lý do để chúng tôi tự tin tiếp tục với Hành trình vì Khát vọng Việt trao tặng hàng triệu cuốn sách cho các bạn trẻ VN để giúp các bạn khởi nghiệp, làm giàu bền vững vì lợi ích cho bản thân, gia đình, vì một VN hùng mạnh và ảnh hưởng ra toàn cầu. Hành trình này chính là hành trình cùng nhau tạo dựng một chí hướng vĩ đại cho người Việt, bản đồ dẫn lối thành công cho người trẻ để cùng nhau, thế hệ “con Rồng cháu Tiên” có thể làm nên những trang sử vẻ vang, chứ không chỉ còn “rửa sạch nỗi nhục trong quá khứ”.  Cuộc đời của Đại tướng cùng những gì ông và các cộng sự của mình đã làm, lại một lần nữa chứng nghiệm sự đúng đắn và sâu sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của cha ông bao đời để chúng ta áp dụng vào cuộc chiến cạnh tranh thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đó là niềm tin mạnh mẽ vào thành công trong những điều kiện khó khăn nhất. Đó là hoài bão cháy bỏng về sự hùng mạnh của đất nước. Đó là năng lực sáng tạo – mưu trí trong chiến thắng với trở lực lớn lao khi nguồn lực vật chất còn giới hạn. Đó là tinh thần chiến binh can đảm, quyết chiến, quyết thắng. Quan trọng hơn hết là sự ủng hộ của cộng đồng, của nhân dân – chính là nền tảng cho mọi thắng lợi như điều Đại tướng chia sẻ với ông Stanley Karnow cũng trong cuộc phỏng vấn trên: “Chúng tôi đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân. Trong chiến tranh, có hai yếu tố chính, đó là con người và vũ khí. Những vũ khí, thiết bị điện tử tinh vi của Mỹ cuối cùng lại không mang lại ích lợi gì. Con người mới là yếu tố quyết định. Con người! Con người!”. Trong những cuộc ganh đua với các tập đoàn toàn cầu, chúng tôi đã luôn dựa vào nền tảng chiến tranh nhân dân của cha ông, sáng tạo trong cạnh tranh, áp dụng các cách thức đã được cha ông, được những vị tướng lỗi lạc như ông ứng dụng để chiến thắng các cuộc chiến với các đối thủ to lớn hơn ngàn lần trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.  Dù Đại tướng đã từ giã chúng ta để ra đi nhưng những gì ông để lại, có lẽ không riêng phần cho Trung Nguyên với tất cả sự đôn hậu, ấm áp tin yêu mà còn là cho tất cả chúng ta – những người trẻ. Bên cạnh đó là những bài học giá trị đầy sâu sắc về trí tuệ và nhân văn vẫn luôn tươi mới – đây là một tài sản có giá trị lớn lao đầy thiết thực mà chắc rằng mỗi chúng ta nên nghiên cứu thấu đáo và sử dụng trong tư duy và hành động, đặc biệt trong phụng sự cộng đồng.  Chào từ biệt Đại tướng lần cuối, chúng ta đáp lời động viên chan chứa chân tình của ông để cùng bước vào chương trình xây dựng thế hệ thanh niên khởi nghiệp – kiến quốc với “Hành trình vì Khát vọng Việt”  vì sự thịnh vượng, phồn vinh cho mỗi gia đình, đóng góp cho sự hùng mạnh của đất nước với tinh thần chiến binh, khát vọng mạnh mẽ cùng tinh thần sáng tạo vượt mọi thách thức, nghịch cảnh.  Cùng cả nước tiễn đưa một nhân cách lớn – một tấm lòng yêu nước vĩ đại, chúng tôi, những thành viên Trung Nguyên cũng như mọi người dân Việt với tấm lòng kính trọng Vị tướng của dân, xin tiễn biệt người “Anh Cả” bằng những lời thơ giản dị mà một người bạn Trung Nguyên đã gửi tới chúng tôi:  “…Thưa Đại tướng!  Người yên nghỉ nơi vũng Chùa, núi Rồng kia chắc vẫn buồn lắm,  khi sự ra đi của người không thể cả dân tộc khóc thương.  Nước mắt có phân ly của nước mắt,  Cả dân tộc mình trong muôn nỗi phân ly còn mãi đắm chìm.  Và chắc người cũng rất buồn nếu dân tộc này chỉ biết khóc thương cho những anh hùng mở cõi, đánh giặc.  Mà thiếu vắng những anh hùng kiến quốc – những anh hùng thực sự bất diệt, để chào đón và khóc thương… ”             Author                Quản trị        
__label__tiasang Võ Nguyên Giáp: Vị tướng tài chào đời mùa nước lũ      Quê hương Quảng Bình từ xa xưa đã lưu truyền  trong dân gian câu dân ca “Tháng bảy nước chảy lên bờ.” Tháng bảy âm  lịch là mùa lũ lụt quê tôi. Võ Nguyên Giáp cất tiếng khóc chào đời đúng  mùa mưa lũ vào ngày 2 tháng 7 năm Tân Hợi, dương lịch là ngày 25/8/1911,  trong một cái chòi cao cất tạm dưới gốc cây mít cổ thụ sau vườn nhà để  tránh mưa to nước lớn.    Về ngày sinh của Võ Nguyên Giáp, các nhà nghiên cứu chuyên viết tiểu sử các yếu nhân thì mỗi người nói một cách. Chẳng hạn Jean Sainteny, trong phần chỉ dẫn tiểu sử Võ Nguyên Giáp (Notice biographique sur Vo Nguyen Giap) viết sinh năm 1912. Từ điển Bách Khoa (Larousse) của Pháp lại ghi năm 1911.  Thậm chí có tác giả như Boudare trong cuốn “Giap” do nhà xuất bản Atlas ấn hành năm 1977 viết “Sinh ra ở An Xá thuộc tỉnh Quảng Bình năm 1910.”  Còn tờ The Sunday Times số ra tháng 11/1972 James Fox ghi “Ông sinh ngày 1/9/1910” và James Fox khẳng định như đinh đóng cột rằng đó là ngày sinh chính xác, vì ông đã “tìm thấy giấy khai sinh của ông Giáp tại thủ đô Paris.” Tuy vậy, theo gia đình và họ hàng, Võ Nguyên Giáp sinh năm Tân Hợi, 1911 vào ngày 25/8 đúng vào mùa nước lũ Quảng Bình.  Ông sinh trưởng trong một dòng họ lớn, có tiếng tăm tại làng An Xá, họ Võ, có nhà từ đường khá to ở cuối làng. Cụ nội là Võ Quang Nguyên, một nhà nho đức độ và cụ bà Bùi Thị Giá rất mực đảm đang yêu thương chồng con. Giáp sinh ra không thấy mặt ông nội, nhưng cậu nhớ như in lúc bà nội mất bà mặc chiếc áo điều thắm.  Sau bao năm tháng chiến tranh, giặc giã liên miên, gia đình phải tản cư nhiều nơi. Việc cúng giỗ, trông coi phần mộ không có điều kiện, lâu ngày mộ các cụ bị thất lạc. Gần đây được sự giúp đỡ của bà con địa phương, con cháu đã tìm thấy phần mộ của các cụ, nằm trong thượng nguồn sông Kiến Giang.  Gia đình ông có bảy anh chị em nhưng người anh cả và chị cả mất sớm nên còn lại năm 3 người con gái và 2 người con trai là Võ Nguyên Giáp và Võ Thuần Nho, sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Cụ thân sinh là cụ Võ Quang Nghiêm và cụ Nguyễn Thị Kiên.  Cụ Nghiêm là một nho sinh đã nhiều lần lều chõng đi thi tuy không đỗ đạt nhưng là một nhà nho có uy tín trong vùng. Cụ dạy chữ Hán nhưng khi phong trào học chữ Quốc ngữ phát triển ông chuyển sang dạy chữ Quốc ngữ cho thanh thiếu niên trong làng và bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Cụ Nghiêm tuy không phải là Tiên chỉ của làng nhưng mỗi lần làng có việc tế, lễ, đều mời cụ làm chủ tế.  Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, do phải thu xếp việc nhà nên chưa kịp tản cư cùng gia đình, ông Nghiêm đã bị giặc Pháp bắt đưa về giam ở Huế. Ông bị chúng tra tấn dã man chết ngay trong nhà lao Huế. Sau ngày đất nước thống nhất, con cháu đã tìm thấy và bốc mộ ông đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Lệ Thủy.  Khác với cụ ông rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, giữ gìn nề nếp gia phong, cụ bà lại rất mực yêu thương, dang tay ôm con vào lòng đỡ lời cho con cái mỗi khi bị cụ ông mắng mỏ.  Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cụ bà cùng gia đình tản cư lên chiến khu Bang Rợn, huyện Lệ Thủy. Năm 1952 bà rời quê hương ra chiến khu Việt Bắc, rồi cùng gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về thủ đô Hà Nội sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng.  Gia đình cụ Nghiêm thuộc diện nghèo trong làng, quanh năm phải vay nợ nặng lãi của các nhà giàu như nhà Khóa Uy, một Hoa Kiều giàu sụ ở làng Tuy Lộc kề bên. Võ Nguyên Giáp đã có lần theo mẹ chèo nock (thuyền) chở ló (thóc) đi trả nợ. Cậu suốt buổi phải ngồi dưới nock trông ló, còn mẹ cậu phải đội ló chạy lên chạy xuống bến giữa trời nắng chang chang.  Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những câu chuyện đêm đêm mẹ kể cho cậu nghe về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi hạ chiếu cần vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ non sông, còn cha nói về phong trào đánh Pháp qua bài vè “Thất thủ kinh đô” đầy cảm động, đã gieo vào lòng cậu bé những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Phải chăng những ấn tượng sâu sắc đó đã góp phần nuôi dưỡng ý chí cho sự nghiệp cách mạng của vị Đại tướng – Tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/Home/Vo-Nguyen-Giap-Vi-tuong-tai-chao-doi-mua-nuoc-lu/201310/219171.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Võ Văn Kiệt – Người có đôi mắt xanh      Sau những phút chênh vênh, choáng váng về sự đột ngột ra đi của Ông, xin được nói về những ấn tượng đậm nét của Ông trong giới trí thức, mà bản thân Ông, một người nông dân nghèo khổ, qua sự đào luyện của cuộc sống, bằng sự miệt mài liên tục học hỏi, lắng nghe, suy ngẫm, tuy đã có lần Ông khai trong lý lịch “trích ngang” về trình độ văn hóa là “biết đọc, biết viết”, Ông cũng đã trở thành một người trí thức với hàm nghĩa đầy đủ và tốt đẹp của hai chữ đó.    Đọc, Ông đọc khá nhiều. Đọc theo cách của Ông để lựa chọn, phân tích, ghi chép và hình thành những chủ kiến của chính mình ngay trong khi đang dự hội nghị, trên đường công tác và thường xuyên là từ 5 giờ sáng, một mình với cuốn sổ tay và cây bút. Nếu tinh ý lắng nghe những nhận xét về những ý tưởng Ông vừa đọc, xem kỹ những nét bút gạch sửa, thêm bớt câu chữ trong những trang soạn thảo, sẽ hiểu rằng những gì Ông nói ra, viết ra thực sự là sự kết đọng dòng tư duy của Ông, tràn đầy cảm xúc theo nhịp đập của trái tim Ông.  Thời gian sau này, khi không phải vướng bận trực tiếp những công việc sự vụ, Ông đọc được nhiều hơn những cuốn sách mà bạn bè giới thiệu với Ông, có những cuốn rất dày mà liếc thấy những chỗ đánh dấu thì biết rằng Ông đọc rất kỹ và dừng lâu trước những trang sách. Ông cũng đọc kỹ báo chí các loại với chiếc bút trên tay, nhiều lần cắt riêng một trang, một đoạn mà Ông phát hiện ra nội dung nổi bật của nó, gửi trực tiếp cho những người, mà theo Ông, là cần theo dõi và giải quyết những vấn đề mà bài báo đề cập.  Nhưng có lẽ điều Ông học được nhiều hơn cả là do khả năng biết lắng nghe của Ông. Tự biết về những gì mình thiếu song lại rất cần cho cái đầu của người ra quyết định và kiểm tra sự thực hiện, Ông cần mẫn, chân thành lắng nghe và biết cách nghe những người Ông chủ động vời đến, biết cách khai thác ý tưởng của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực để tự làm giàu cho tri thức của mình. Rồi tri thức đó là nguồn sáng chiếu rọi, dẫn dắt hành động của Ông trong những tìm tòi sáng tạo trong những quyết sách lớn.  Con người ấy không thích nói lý thuyết, không phải vì Ông coi thường lý luận, mà vì Ông tin rằng, từ hoạt động thực tiễn mới nảy sinh ra những chất liệu sống của những quyết sách đáp ứng đúng quy luật của đời sống. Với Ông, quy luật ấy mới chính là sự đúc kết lý luận giàu hơi thở của thực tiễn. Con người Ông là con người hành động. Hành động sau khi đã nắm bắt nguyện vọng của quần chúng, chân thành và tỉnh táo lắng nghe ý kiến chuyên gia, rồi tự mình, trên bề dày sự trải nghiệm của chính mình, biết và dám đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định ấy. Nếu trí thức là người có chủ kiến của riêng mình về thời cuộc để dám đưa ra chính kiến, định hình được những giải pháp thực hiện, nhằm góp phần thúc đẩy cuộc sống thì Sáu Dân chính là người trí thức kiểu đó.  Dường như là một khả năng trời phú, Ông sớm phát hiện và khai thác, phát huy những năng lực của người trí thức mà Ông gặp gỡ. Điều này không chỉ thể hiện rõ khi Ông giữ trọng trách đứng đầu Chính phủ, “đóng vai trò động lực trong công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới” như lời ghi trong điện chia buồn của Tổng thư ký LHQ, mà là nét độc đáo rất nhất quán trong tính cách của Ông. Người ta từng biết đến chuyện từ trước năm 1950, khi làm Phó bí thư, Ông thà nhận kỷ luật chứ không chịu nhận cương vị Bí thư tỉnh ủy mà một người trí thức Ông kính trọng đang đảm nhiệm nhưng chỉ vì thành phần xuất thân mà tổ chức loại bỏ. Sau 1975, Ông kiên quyết tiếp tục mối quan hệ mật thiết với một số nhà trí thức của chế độ cũ để tìm cách khai thác những đóng góp từ vốn hiểu biết và kinh nghiệm quản lý kinh tế của họ mặc cho những quy kết và định kiến.  Chính cái đó đã tạo nên Võ Văn Kiệt – người có đôi mắt xanh.  Tương Lai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn niềm tin      Theo quan điểm của Francis Fukujama, vốn xã  hội ở cấp độ vĩ mô, cấp độ cao nhất, là niềm tin và chuẩn mực xã hội, ở  đây chúng tôi xin được gọi tóm tắt là vốn niềm tin. Những ví dụ được nêu  ở đây là các trải nghiệm thực tế của cá nhân nên chưa hẳn đã hoàn toàn  phù hợp với nội dung muốn đề cập. Vì vậy, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận  xét mang tính cá nhân qua so sánh với bối cảnh của Việt Nam.     Ví dụ 1. Đi xe buýt ở Berlin   Năm 2012, nhân chuyến lưu giảng ở ĐH Pecs (Hungary), Viện Hàn lâm khoa học Hungary và hội thảo ở Gottingen (CHLB Đức). Ấn tượng của tôi với hệ thống xe buýt và tàu điện ở Hungary và Đức là hệ thống này hết sức quy củ, sạch sẽ và tiện dụng. Đa phần người dân sử dụng vé tuần, vé tháng, vé năm, tuy theo nhu cầu của họ. Riêng khách lẻ phải mua vé trực tiếp trên phương tiện bằng tiền mặt thông qua hệ thống bán vé tự động, không có người bán vé hay soát vé, tất cả đều tự giác. Do chưa quen với dịch vụ này nên lần đầu tôi đã gặp khó khăn. Sau khi thực hiện xong, tôi nói đùa với người bạn đồng hành “nếu ở Việt Nam chắc chẳng ai mua nữa mà sẽ đi chùa luôn.” Và tôi hỏi liệu ở đây cứ đi xe mà không mua vé thì chuyện gì sẽ xảy ra? Cô ngẩn người một lúc và nói rằng cô chưa từng thấy ai làm như vậy cả! và nếu có ai làm vậy thì chắc rằng sẽ bị những người xung quanh nhìn với một con mắt “kinh tởm.” Cô cho rằng vì cả xã hội tin tưởng vào hệ thống dịch vụ công nên không ai làm như vậy, dĩ nhiên không cần đến người soát vé.    Nhận xét: Vốn niềm tin ở các xã hội phát triển đủ để các công ty vận tải hành khách tin vào khách hàng và người dân có đủ lòng tin vào một xã hội minh bạch – xã hội dân sự.  Ví dụ 2. Sử dụng tài khoản ngân hàng ở Mỹ  Hầu hết các ngân hàng lớn ở Mỹ đều cho phép người dân sử dụng thẻ Credit Card để mua hàng hoặc rút tiền khi lượng tiền trong tài khoản không có hoặc không đủ, thậm chí co thể “tạm ứng” trước hàng chục nghìn USD. Nhưng sau đó, chủ tài khoản phải hoàn lại số tiền đã tiêu trong một thời hạn nhất định. Một lần, trong năm học đầu tiên, bộ phận tài vụ của trường nơi tôi đang theo học chuyển nhầm một khoản tiền 4000USD vào tài khoản của tôi. Tôi báo cáo việc này với ngân hàng, họ cảm ơn. Sau đó, tôi hỏi nếu tôi cứ sử dụng khoản tiền đó thì sao? Họ trả lời là ngân hàng sẽ điều tra các khoản thu chi, nếu chủ tài khoản không chứng minh được nguồn gốc thì khoản tiền đó sẽ bị truy thu. Với mỗi sai phạm buộc ngân hàng phải sử dụng biện pháp “bắt buộc,” thì độ tín nhiệm (accredit) của chủ tài khoản sẽ bị trừ đi. Khi mức độ sai phạm tới một mức độ nào đó, họ sẽ không cho phép chủ tài khoản này mở tài khoản ngân hàng (kể cả ở các ngân hàng khác, thông thường hệ thống ngân hàng có sự liên thông với nhau). Và khi không có tài khoản ngân hàng thì sẽ không thể đi xin việc và sẽ vô cùng khó khăn trong việc thanh toán các khoản chi tiêu.  Nhận xét: Hệ thống ngân hàng được quản lý chặt chẽ, liên thông với nhau và liên thông với hệ thống quản lý của các cơ quan pháp luật như tòa án, cảnh sát hay bộ phận cấp thị thực. Người dân tự giác tuân thủ các quy định của thể chế. Do có niềm tin vào hệ thống ngân hàng nên người dân không tích trữ tiền mặt hay vàng như ở ta. Sự kiện siêu lừa Huyền Như và sự chối bỏ trách nhiệm của Vietinbank trong “đại án” 4000 tỷ vừa qua sẽ khiến cho niềm tin của khách hàng vào hệ thống ngân hàng Việt Nam giảm sút nghiêm trọng.   Ví dụ 3. Niềm tin được bảo vệ tính mạng  Trong một lần đi máy bay từ Boston đến Los Angeles tôi chứng kiến một phụ nữ bị khó thở cần cấp cứu, phi hành đoàn đã cho hạ cánh khẩn cấp. Sau đó họ giải thích rằng mỗi lần hạ cánh, cất cánh cùng với các chi phí cấp cứu và chăm sóc y tế sẽ tốn hàng chục hoặc hàng trăm nghìn USD bên cạnh việc gây chậm trễ cho toàn bộ hành khách nhưng việc bảo vệ tính mạng con người là quan trọng nhất nên họ cần phải làm và họ có lời xin lỗi đến tất cả hành khách.   Nhận xét: Người dân tin vào mức độ an toàn và trách nhiệm của ngành hàng không Mỹ nên việc sử dụng máy bay làm phương tiện đi lại ở Mỹ hết sức phổ biến. Thông thường trên bầu trời nước Mỹ luôn luôn có khoảng 8000 máy bay đang bay (không kể các máy bay ở dưới mặt đất). Niềm tin này giúp cho công nghiệp hàng không Mỹ phát đạt.     Kết luận chung: Niềm tin và chuẩn mực xã hội là điều kiện tối cần thiết để một xã hội phát triển. Một xã hội không có (hoặc không còn) niềm tin sẽ là một xã hội không thể phát triển. Nói cách khác, đó là một  xã hội vận hành theo nguyên tắc của kẻ mạnh “cá lớn nuốt cá bé” và các luật lệ ở đây đều không có tác dụng, ngoài luật rừng.     Xuân Quý Ngọ 2014    Đọc thêm:    Vốn xã hội từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6145     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn và vốn Xã hội      Bài báo này sau khi điểm qua các khái niệm về vốn (tư bản), một khái niệm trừu tượng đã làm đau đầu nhiều học giả, sự hiểu lầm về vốn đã gây ra đau khổ cho không biết bao người trong vài ba trăm năm qua và vẫn chưa đi đến hồi kết, sẽ điểm chi tiết hơn về vốn xã hội, một khái niệm được đưa ra 90 năm trước nhưng mới thực sự được chú ý nhiều khoảng 15-20 năm lại đây, nêu vài ý tưởng sơ bộ của tác giả.    1. Vốn vật chất, vốn con người  Năm 2000 Hernando de Soto, nhà khoa học Peru cho ra mắt cuốn The Mystery of Capital tôi đã dịch ra tiếng Việt (2003) là Sự bí ẩn của Tư bản (được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành với tên gọi Sự bí ẩn của Vốn (2006). Ngay trên trang bìa của ấn bản tiếng Việt đập vào mắt bạn đọc là hình ảnh của các đồng schilling Áo, đồng dollar Mỹ, v.v. chứng tỏ những người làm sách đã hiểu sai khái niệm vốn, tư bản đến thế nào. Tiền không phải là vốn, không phải là tư bản.  Cả A. Smith lẫn K. Marx đều coi tư bản là cái gì đó rất quan trọng, tạo động lực cho nền kinh tế thị trường. A. Smith coi tư bản là cái làm cho sự chuyên môn hoá và trao đổi sản phẩm có thể thực hiện được. Ông coi tư bản là lượng tài sản được tích tụ, được cố định và thể hiện trong một đối tượng cụ thể nào đó nhằm mục đích sản xuất, tăng năng suất, tạo giá trị thặng dư. De Doto cho rằng Smith coi tư bản là khả năng của tài sản để triển khai sản xuất mới. Jean Baptise Say cho rằng “về bản chất tư bản luôn luôn là phi vật chất vì không phải vật chất tạo ra tư bản mà là giá trị của vật chất ấy, giá trị không có cái hữu hình”. K. Marx đồng ý với các quan điểm trên. Như thế tư bản, hay vốn là cái nằm ngoài tài sản, nằm trong mối quan hệ của các [chủ] tài sản. Có thể nói các học giả cổ điển này tuy chưa hiểu rõ tư bản là gì nhưng họ đã hiểu khía cạnh quan trọng, và trừu tượng nhất, khó nắm bắt nhất của tư bản, nó là cái gì đó tồn tại ngoài tài sản, ẩn giấu trong các mối quan hệ giữa các tài sản (hay chủ tài sản).  Nếu xét các tài sản vật lí, thì bản thân các tài sản thuộc tầng vật lí (thí dụ một cái nhà, ở tầng vật lí nó chỉ phục vụ cho việc ở). Khả năng để phục vụ sản xuất mới của chúng được thể hiện ở một tầng cao hơn tầng vật lí, đó là tầng biểu diễn tài sản, là tầng thông tin. Khả năng của tài sản phải được biểu diễn, được thể hiện, được mô tả, được cố định ở tầng thông tin. Chính cái khả năng của tài sản được biểu diễn, được cố định này trên tầng thông tin là cái tạo ra tư bản, tạo ra vốn. H. de Soto chỉ ra rằng cái tầng thông tin ấy chính lại nằm trong hệ thống quyền sở hữu (Khả năng kinh tế của nhà đất được thể hiện bằng chứng thư sở hữu, bằng “sổ đỏ”, thực ra là bằng thông tin trong hệ thống thông tin sở hữu, không chỉ gồm có thông tin nhà đất mà cả của các tài sản khác như cổ phần, nhà máy, hầm mỏ, trang trại, số lượng gia súc hay các trang trại cà phê, cao su, v.v.). Đấy có lẽ là hai phát kiến to lớn nhất của H. de Soto.  Ông xác định 6 tác dụng của quyền sở hữu. Quyền sở hữu xác định tiềm năng kinh tế của tài sản. Hệ thống quyền sở hữu tích hợp những thông tin tản mác vào một hệ thống mà mọi tác nhân kinh tế có thể truy cập được, làm cho khả năng kinh tế của tài sản (tức là tư bản, là vốn) có cuộc sống riêng trên tầng thông tin, làm cho sự luân chuyển của chúng dễ dàng. Quyền sở hữu làm cho dân chúng có trách nhiệm. Quyền sở hữu làm cho các tài sản có thể chuyển đổi (kết hợp, chia tách, di chuyển) để thúc đẩy việc kinh doanh. Quyền sở hữu kết nối dân chúng lại thành một mạng lưới, gắn người chủ với các tài sản, với các thông tin về tài sản (nguồn gốc, lịch sử) với việc thực thi các giao dịch và như thế quyền sở hữu bảo vệ các giao dịch, bảo vệ các chủ tài sản, nâng cao tinh thần thượng tôn pháp luật của các chủ tài sản.  Chủ nghĩa tư bản chỉ phồn thịnh ở các nước có hệ thống quyền sở hữu tốt (các nước phương Tây) và thất bại ở mọi nơi khác, các nơi muốn thủ tiêu quyền sở hữu thì lại càng không thể có sự phát triển. Đấy là một thông điệp quan trọng của H. de Soto được thể hiện trong nhan đề phụ của cuốn sách.  Nếu xét các tài sản vô hình như hiểu biết, kiến thức hay các tài sản ngầm (tacit) như kĩ năng, duyên (của cô bán hàng chẳng hạn), v.v. thì trong mối quan hệ xã hội (với những người khác, các tổ chức khác) khả năng của các tài sản này chính là vốn con người, tư bản con người. Các tài sản này khó được biểu diễn, được cố định, được mô tả trên tầng thông tin hơn các tài sản vật lí, nhưng nó vẫn có thể được nhận ra qua phỏng vấn, qua lí lịch công tác, bằng cấp, nhận xét của những người sử dụng lao động, đánh giá của giới chuyên môn, hồ sơ của các công ti săn đầu người (lại trên một tầng thông tin). Nghiên cứu cách biểu diễn, cách cố định các tài sản này chắc sẽ là lĩnh vực nghiên cứu lí thú. Như thế khả năng của tác tài sản vô hình hay ngầm ẩn của con người chính là tư bản hay vốn con người được biểu diễn trên tầng thông tin.    2. Vốn xã hội    Khái niệm vốn xã hội được L. J. Hanifan đưa ra lần đầu tiên năm 1916 như những thứ “được tính nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của con người: cụ thể là thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm, và giao thiệp xã hội giữa những cá nhân và gia đình tạo thành một đơn vị xã hội…Nếu [một cá nhân] giao tiếp với các láng giềng của mình, và họ với láng giềng của họ, thì sẽ có sự tích tụ vốn xã hội, cái có thể thoả mãn ngay các nhu cầu xã hội của anh ta và có thể có một tiềm năng xã hội đủ để cải thiện đáng kể điều kiện sống của cả cộng đồng” [trích theo M. Woolcock, D. Narayan]. Sau đó khái niệm này thực sự bị lãng quên và lác đác được một số học giả đề cập đến trong các năm 1950, 1960 và 1970. Thực sự khái niệm này chỉ được nhiều người quan tâm và bàn luận sau các công trình nổi tiếng của Coleman cuối các năm 1980 đầu 1990 và Putnam (1993, 1995). Từ đó đến nay vốn xã hội trở thành một đề tài nghiên cứu nóng và đã đi đến nhiều đồng thuận, tuy vẫn còn nhiều bất đồng và nhiều vấn đề chưa rõ cần nghiên cứu tiếp.  Khái niệm vốn xã hội thường gắn với sự tham gia xã hội và công dân, với các mạng hợp tác và đoàn kết, gắn với sự cố kết xã hội, sự tin cậy, sự có đi có lại và tính hiệu quả thể chế.    Hiện có ba cách tiếp cận về vốn xã hội:  Cách tiếp cận vi mô nhấn mạnh đến bản chất và các hình thức của ứng xử hợp tác (giá trị của hành động tập thể, vốn xã hội được coi là 1) sản phẩm của các động cơ của các tác nhân để tạo ra một hiệp hội; 2) ứng xử của họ; và 3) cảm nhận của họ về các vấn đề tập thể, Ngân hàng Thế giới nhắc đến loại này như “vốn xã hội nhận thức” (cognitive social capital).  Cách tiếp cận vĩ mô nhấn mạnh đến các điều kiện (thuận lợi và bất lợi) cho hợp tác, đến giá trị của hội nhập và cố kết xã hội; nó nhấn mạnh đến môi trường xã hội, các thể chế, cấu trúc xã hội và chính trị truyền đạt các giá trị và các chuẩn mực tạo điều kiện cho người dân tham gia hoạt động xã hội và công dân; coi vốn xã hội như sản phẩm của các  cấu trúc đó. Kết quả là, các cấu trúc này càng củng cố sự tin cậy và sự có đi có lại, thì càng nhiều người tham gia vào đời sống công dân, và sẽ càng có nhiều vốn xã hội.  Cách tiếp cận trung gian (meso) nhấn mạnh các kết cấu cho phép hợp tác xảy ra. Nó nhấn mạnh đến giá trị phương tiện của vốn xã hội, gắn với tiềm năng của các mạng xã hội. Ngân hàng Thế giới nhắc đến nó như “vốn xã hội cấu trúc”(structural social capital.  Người ta cũng phát triển nhiều kĩ thuật và phương pháp để đo lường vốn xã hội, nhưng vẫn chưa có phương pháp được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Canada, Australia và Ngân hàng Thế giới có những sáng kiến đáng kể về nghiên cứu và đo lường vốn xã hội.  Dựa trên ý tưởng của H. de Soto ta có thể hình dung vốn xã hội là khả năng của các tài sản xã hội nằm trong các mối quan hệ, trong mạng lưới xã hội, được cố định, được biểu diễn trên một tầng thông tin, bất luận các tài sản xã hội đó là các tài sản hữu hình hay vô hình. Các tài sản xã hội có thể là các định chế như gia định, nhóm, câu lạc bộ, hiệp hội, quân đội, công an, hệ thống an sinh xã hội, hay các tài sản vô hình như hệ thống luật pháp, các tập quán, tinh thần thượng tôn pháp luật, v.v. Khả năng đó nằm trong mối quan hệ xã hội chứ không phải trong bản thân các tài sản ấy. Có thể phóng sự tưởng tượng của chúng ta lên nữa để hình dung: trên tầng thông tin lại hình thành các tài sản, khả năng, tiềm năng của các tài sản (trên tầng thông tin này) lại được biểu diễn, cố định trên một tầng thông tin nữa, và cứ thế đến vô tận. Nói cách khác khả năng tạo vốn ngày càng tăng lên. Thực ra nghĩ như trên là vẫn theo cách tiếp cận thứ bậc: có tầng vật lí và các tầng thông tin nằm trên nhau, mỗi tầng trên biểu diễn, cố định năng lực của các tài sản thuộc tầng dưới nó. Có lẽ hữu hiệu hơn là một mô hình phi thứ bậc hơn, các tầng đó thuộc về một mạng có quan hệ qua lại với nhau chứ không chỉ từ dưới lên hay trên xuống theo kiểu thứ bậc. Nhìn từ cách tiếp cận này có thể thấy H. de Soto đã đề cập đến phần rất quan trọng của vốn xã hội gắn với định chế quyền sở hữu, tuy nhiên cách nhìn này cho ta cái nhìn bao quát hơn. Đây chỉ là các ý tưởng ban đầu, cần nhiều nghiên cứu hơn để làm rõ, để phát triển nó, hay bác bỏ nó.  Các mạng đã được các nhà toán học và các nhà kĩ thuật nghiên cứu từ lâu (dưới các tên như lí thuyết mạng, lí thuyết matroid, lí thuyết graph). Gần đây nghiên cứu ứng dụng các mạng vào vật lí, sinh học, khoa học trái đất, các hệ thống kĩ thuật (như mạng giao thông, viễn thông), vào xã hội là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức sôi động và đưa lại nhiều kết quả hết sức lí thú. Sự giao thoa giữa nghiên cứu các hệ thống phức tạp, các mạng phức tạp và vốn xã hội có thể mang lại nhiều kết quả quan trọng. Đã có nhiều kết quả về vốn xã hội nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết (ngay một định nghĩa được đại bộ phận những người liên quan chấp nhận cũng chưa có). Còn có nhiều chỗ cho các nhà nghiên cứu, cho sự hợp tác giữa các khoa học xã hội và khoa học tự nhiên cũng như khoa học kĩ thuật. Nghiên cứu, hiểu rõ vốn là gì, tư bản là gì, vốn xa hội là gì, sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển, và hứa hẹn nhiều kết quả lí thú, có những hệ quả trực tiếp đến phát triển kinh tế và xã hội, thúc đẩy dân chủ và tự do.  Nguyễn Quang A      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn và Vốn xã hội      Bài báo này sau khi điểm qua các khái niệm về vốn (tư bản), một khái niệm trừu tượng đã làm đau đầu nhiều học giả, sự hiểu lầm về vốn đã gây ra đau khổ cho không biết bao người trong vài ba trăm năm qua và vẫn chưa đi đến hồi kết, sẽ điểm chi tiết hơn về vốn xã hội, một khái niệm được đưa ra 90 năm trước nhưng mới thực sự được chú ý nhiều khoảng 15-20 năm lại đây, nêu vài ý tưởng sơ bộ của tác giả.    1. Vốn vật chất, vốn con người  Năm 2000 Hernando de Soto, nhà khoa học Peru cho ra mắt cuốn The Mystery of Capital tôi đã dịch ra tiếng Việt (2003) là Sự bí ẩn của Tư bản (được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành với tên gọi Sự bí ẩn của Vốn (2006). Ngay trên trang bìa của ấn bản tiếng Việt đập vào mắt bạn đọc là hình ảnh của các đồng schilling Áo, đồng dollar Mỹ, v.v… chứng tỏ những người làm sách đã hiểu sai khái niệm vốn, tư bản đến thế nào. Tiền không phải là vốn, không phải là tư bản.  Cả A. Smith lẫn K. Marx đều coi tư bản là cái gì đó rất quan trọng, tạo động lực cho nền kinh tế thị trường. A. Smith coi tư bản là cái làm cho sự chuyên môn hóa và trao đổi sản phẩm có thể thực hiện được. Ông coi tư bản là lượng tài sản được tích tụ, được cố định và thể hiện trong một đối tượng cụ thể nào đó nhằm mục đích sản xuất, tăng năng suất, tạo giá trị thặng dư. De Doto cho rằng Smith coi tư bản là khả năng của tài sản để triển khai sản xuất mới. Jean Baptise Say cho rằng “về bản chất tư bản luôn luôn là phi vật chất vì không phải vật chất tạo ra tư bản mà là giá trị của vật chất ấy, giá trị không có cái hữu hình”. K. Marx đồng ý với các quan điểm trên. Như thế tư bản, hay vốn là cái nằm ngoài tài sản, nằm trong mối quan hệ của các [chủ] tài sản. Có thể nói các học giả cổ điển này tuy chưa hiểu rõ tư bản là gì nhưng họ đã hiểu khía cạnh quan trọng và trừu tượng nhất, khó nắm bắt nhất của tư bản, nó là cái gì đó tồn tại ngoài tài sản, ẩn giấu trong các mối quan hệ giữa các tài sản (hay chủ tài sản).  Nếu xét các tài sản vật lí, thì bản thân các tài sản thuộc tầng vật lí (thí dụ một cái nhà, ở tầng vật lí nó chỉ phục vụ cho việc ở). Khả năng để phục vụ sản xuất mới của chúng được thể hiện ở một tầng cao hơn tầng vật lí, đó là tầng biểu diễn tài sản, là tầng thông tin. Khả năng của tài sản phải được biểu diễn, được thể hiện, được mô tả, được cố định ở tầng thông tin. Chính cái khả năng của tài sản được biểu diễn, được cố định này trên tầng thông tin là cái tạo ra tư bản, tạo ra vốn. H. de Soto chỉ ra rằng cái tầng thông tin ấy chính lại nằm trong hệ thống quyền sở hữu (Khả năng kinh tế của nhà đất được thể hiện bằng chứng thư sở hữu, bằng “sổ đỏ”, thực ra là bằng thông tin trong hệ thống thông tin sở hữu, không chỉ gồm có thông tin nhà đất mà cả của các tài sản khác như cổ phần, nhà máy, hầm mỏ, trang trại, số lượng gia súc hay các trang trại cà phê, cao su, v.v…). Đấy có lẽ là hai phát kiến to lớn nhất của H. de Soto.  Ông xác định 6 tác dụng của quyền sở hữu. Quyền sở hữu xác định tiềm năng kinh tế của tài sản. Hệ thống quyền sở hữu tích hợp những thông tin tản mát vào một hệ thống mà mọi tác nhân kinh tế có thể truy cập được, làm cho khả năng kinh tế của tài sản (tức là tư bản, là vốn) có cuộc sống riêng trên tầng thông tin, làm cho sự luân chuyển của chúng dễ dàng. Quyền sở hữu làm cho dân chúng có trách nhiệm. Quyền sở hữu làm cho các tài sản có thể chuyển đổi (kết hợp, chia tách, di chuyển) để thúc đẩy việc kinh doanh. Quyền sở hữu kết nối dân chúng lại thành một mạng lưới, gắn người chủ với các tài sản, với các thông tin về tài sản (nguồn gốc, lịch sử) với việc thực thi các giao dịch và như thế quyền sở hữu bảo vệ các giao dịch, bảo vệ các chủ tài sản, nâng cao tinh thần thượng tôn pháp luật của các chủ tài sản.  Chủ nghĩa tư bản chỉ phồn thịnh ở các nước có hệ thống quyền sở hữu tốt (các nước phương Tây) và thất bại ở mọi nơi khác, các nơi muốn thủ tiêu quyền sở hữu thì lại càng không thể có sự phát triển. Đấy là một thông điệp quan trọng của H. de Soto được thể hiện trong nhan đề phụ của cuốn sách.  Nếu xét các tài sản vô hình như hiểu biết, kiến thức hay các tài sản ngầm (tacit) như kĩ năng, duyên (của cô bán hàng chẳng hạn), v.v… thì trong mối quan hệ xã hội (với những người khác, các tổ chức khác) khả năng của các tài sản này chính là vốn con người, tư bản con người. Các tài sản này khó được biểu diễn, được cố định, được mô tả trên tầng thông tin hơn các tài sản vật lí, nhưng nó vẫn có thể được nhận ra qua phỏng vấn, qua lí lịch công tác, bằng cấp, nhận xét của những người sử dụng lao động, đánh giá của giới chuyên môn, hồ sơ của các công ti săn đầu người (lại trên một tầng thông tin). Nghiên cứu cách biểu diễn, cách cố định các tài sản này chắc sẽ là lĩnh vực nghiên cứu lí thú. Như thế khả năng của tác tài sản vô hình hay ngầm ẩn của con người chính là tư bản hay vốn con người được biểu diễn trên tầng thông tin.     2. Vốn xã hội  Khái niệm vốn xã hội được L. J. Hanifan đưa ra lần đầu tiên năm 1916 như những thứ “được tính nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của con người: cụ thể là thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm, và giao thiệp xã hội giữa những cá nhân và gia đình tạo thành một đơn vị xã hội… Nếu [một cá nhân] giao tiếp với các láng giềng của mình, và họ với láng giềng của họ, thì sẽ có sự tích tụ vốn xã hội, cái có thể thoả mãn ngay các nhu cầu xã hội của anh ta và có thể có một tiềm năng xã hội đủ để cải thiện đáng kể điều kiện sống của cả cộng đồng” [trích theo M. Woolcock, D. Narayan]. Sau đó khái niệm này thực sự bị lãng quên và lác đác được một số học giả đề cập đến trong các năm 1950, 1960 và 1970. Thực sự khái niệm này chỉ được nhiều người quan tâm và bàn luận sau các công trình nổi tiếng của Coleman cuối các năm 1980 đầu 1990 và Putnam (1993, 1995). Từ đó đến nay vốn xã hội trở thành một đề tài nghiên cứu nóng và đã đi đến nhiều đồng thuận, tuy vẫn còn nhiều bất đồng và nhiều vấn đề chưa rõ cần nghiên cứu tiếp.  Khái niệm vốn xã hội thường gắn với sự tham gia xã hội và công dân, với các mạng hợp tác và đoàn kết, gắn với sự cố kết xã hội, sự tin cậy, sự có đi có lại và tính hiệu quả thể chế.  Hiện có ba cách tiếp cận về vốn xã hội:  Cách tiếp cận vi mô nhấn mạnh đến bản chất và các hình thức của ứng xử hợp tác (giá trị của hành động tập thể, vốn xã hội được coi là 1) sản phẩm của các động cơ của các tác nhân để tạo ra một hiệp hội; 2) ứng xử của họ; và 3) cảm nhận của họ về các vấn đề tập thể, Ngân hàng Thế giới nhắc đến loại này như “vốn xã hội nhận thức” (cognitive social capital).  Cách tiếp cận vĩ mô nhấn mạnh đến các điều kiện (thuận lợi và bất lợi) cho hợp tác, đến giá trị của hội nhập và cố kết xã hội; nó nhấn mạnh đến môi trường xã hội, các thể chế, cấu trúc xã hội và chính trị truyền đạt các giá trị và các chuẩn mực tạo điều kiện cho người dân tham gia hoạt động xã hội và công dân; coi vốn xã hội như sản phẩm của các  cấu trúc đó. Kết quả là, các cấu trúc này càng củng cố sự tin cậy và sự có đi có lại, thì càng nhiều người tham gia vào đời sống công dân, và sẽ càng có nhiều vốn xã hội.  Cách tiếp cận trung gian (meso) nhấn mạnh các kết cấu cho phép hợp tác xảy ra. Nó nhấn mạnh đến giá trị phương tiện của vốn xã hội, gắn với tiềm năng của các mạng xã hội. Ngân hàng Thế giới nhắc đến nó như “vốn xã hội cấu trúc” (structural social capital).  Người ta cũng phát triển nhiều kĩ thuật và phương pháp để đo lường vốn xã hội, nhưng vẫn chưa có phương pháp được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Canada, Australia và Ngân hàng Thế giới có những sáng kiến đáng kể về nghiên cứu và đo lường vốn xã hội.  Dựa trên ý tưởng của H. de Soto ta có thể hình dung vốn xã hội là khả năng của các tài sản xã hội nằm trong các mối quan hệ, trong mạng lưới xã hội, được cố định, được biểu diễn trên một tầng thông tin, bất luận các tài sản xã hội đó là các tài sản hữu hình hay vô hình. Các tài sản xã hội có thể là các định chế như gia đình, nhóm, câu lạc bộ, hiệp hội, quân đội, công an, hệ thống an sinh xã hội, hay các tài sản vô hình như hệ thống luật pháp, các tập quán, tinh thần thượng tôn pháp luật, v.v… Khả năng đó nằm trong mối quan hệ xã hội chứ không phải trong bản thân các tài sản ấy. Có thể phóng sự tưởng tượng của chúng ta lên nữa để hình dung: trên tầng thông tin lại hình thành các tài sản, khả năng, tiềm năng của các tài sản (trên tầng thông tin này) lại được biểu diễn, cố định trên một tầng thông tin nữa, và cứ thế đến vô tận. Nói cách khác khả năng tạo vốn ngày càng tăng lên. Thực ra nghĩ như trên là vẫn theo cách tiếp cận thứ bậc: có tầng vật lí và các tầng thông tin nằm trên nhau, mỗi tầng trên biểu diễn, cố định năng lực của các tài sản thuộc tầng dưới nó. Có lẽ hữu hiệu hơn là một mô hình phi thứ bậc hơn, các tầng đó thuộc về một mạng có quan hệ qua lại với nhau chứ không chỉ từ dưới lên hay trên xuống theo kiểu thứ bậc. Nhìn từ cách tiếp cận này có thể thấy H. de Soto đã đề cập đến phần rất quan trọng của vốn xã hội gắn với định chế quyền sở hữu, tuy nhiên cách nhìn này cho ta cái nhìn bao quát hơn. Đây chỉ là các ý tưởng ban đầu, cần nhiều nghiên cứu hơn để làm rõ, để phát triển nó, hay bác bỏ nó.  Các mạng đã được các nhà toán học và các nhà kĩ thuật nghiên cứu từ lâu (dưới các tên như lí thuyết mạng, lí thuyết matroid, lí thuyết graph). Gần đây nghiên cứu ứng dụng các mạng vào vật lí, sinh học, khoa học trái đất, các hệ thống kĩ thuật (như mạng giao thông, viễn thông), vào xã hội là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức sôi động và đưa lại nhiều kết quả hết sức lí thú. Sự giao thoa giữa nghiên cứu các hệ thống phức tạp, các mạng phức tạp và vốn xã hội có thể mang lại nhiều kết quả quan trọng. Đã có nhiều kết quả về vốn xã hội nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết (ngay một định nghĩa được đại bộ phận những người liên quan chấp nhận cũng chưa có). Còn có nhiều chỗ cho các nhà nghiên cứu, cho sự hợp tác giữa các khoa học xã hội và khoa học tự nhiên cũng như khoa học kĩ thuật. Nghiên cứu, hiểu rõ vốn là gì, tư bản là gì, vốn xã hội là gì, sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển, và hứa hẹn nhiều kết quả lí thú, có những hệ quả trực tiếp đến phát triển kinh tế và xã hội, thúc đẩy dân chủ và tự do.  Nguyễn Quang A      Author                Quản trị        
0.32
__label__tiasang   PGS.TS Trần Ngọc Thơ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội- nguồn lực hay cản trở?      1.Nếu vốn xã hội được hiểu như những quan hệ, liên kết, ràng buộc các cá nhân trong một cộng đồng khác với vốn vật chất có thể sở hữu hóa và vốn nhân lực hoàn toàn của mỗi cá nhân, cũng được sở hữu hóa; nếu vốn xã hội này không tùy thuộc cá nhân và không sở hữu hóa được thì nó cần được đặt trong hai tương quan với hai loại vốn kia.    . Thứ nhất là tương quan với sự phát triển và thứ hai là tương quan với xã hội công dân. Vào đầu thế kỷ trước cũng đã xuất hiện hai vấn đề này. Tân học cho rằng phải cải cách, học lấy của Âu Tây hai điều là khoa học và dân chủ. Tuy nhiên, thực tế là phải giành độc lập, tự do rồi mới làm hai việc kia được. Chủ nghĩa thực dân không cho ta học lấy hai thứ ấy. Trước đây một thế kỷ khi cải cách có hai quan niệm đối nghịch: một là nhìn về quá khứ, khuyếch trương ưu việt của lề thói, văn hiến, Khổng học, quốc hồn, quốc túy… (chắc cũng bao gồm các  thứ mà nay ta gọi là vốn xã hội hay truyền thống văn hoá); hai là quay lưng lại quá khứ, chỉ nhìn về phía trước, tương lai,  tiệt diệt những thứ hủ lậu, những lề thói, tâm lý, thước đo, những quan hệ trói buộc cá nhân trong cộng đồng để hấp thu nhanh chóng cái thực học (khoa học công nghệ), bỏ cái hư học (học để làm quan), phát triển chủ nghĩa cá nhân và xây dựng nền dân chủ, hình thành quan hệ công dân. Hiện nay, Việt Nam vẫn đứng nguyên trước những vấn đề đó nhưng môi cảnh thế giới và trong nước đã khác, sự phát triển của khoa học công nghệ đã khác về chất, các mô hình dân chủ cũng đang thay đổi và khủng hoảng. Đặc biệt là cuộc hội nhập và toàn cầu hóa bất khả kháng đòi hỏi không chỉ nhìn lại phía sau hay nhìn về phía trước mà còn phải nhìn ngang nữa. Các tương quan, lợi thế, tình huống trong việc phát triển và dân chủ hóa không còn đơn tuyến mà đa chiều và có nhiều ràng buộc, hệ quả kiểu mới. Nếu lý tưởng “thẩm mỹ” canh tân trước đây một thế kỷ là mong được như Tây ,giống như Tây, bằng được Tây trong tương quan trò – thầy thì bây giờ là có được khoa học công nghệ và dân chủ nhưng không như Tây, không giống Tây, không nói chuyện bằng Tây trong tương quan bắt buộc là đối tác đồng đại. Chiều nhìn ngang đòi hỏi phải xử lý vốn xã hội nếu có bằng những cách khác.  Cần phân biệt vốn xã hội ở các nước đã phát triển và vốn xã hội ở các nước đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, xã hội công dân cũng chỉ đang hình thành. Ở các nước đã phát triển và đã có xã hội công dân, có thể nói vốn xã hội về căn bản là tốt cả và sự tăng hay giảm của nó ảnh hưởng tới sự phát triển dân chủ của xã hội công dân (dẫu rằng vẫn có những vốn xã hội ‘xấu’ như chủ nghĩa cực đoan, sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, các tổ chức tội ác…)  Còn ở các nước đang phát triển thì có lẽ vấn đề là vốn xã hội không tốt cũng không xấu bởi đó là những thực thể đã và đang tồn tại có thể sử dụng cho phát triển và xây dựng xã hội công dân hoặc trở thành những chướng ngại vật cần gỡ bỏ trên con đường đó. Vậy tính chất của vốn xã hội này sẽ là trở thành nguồn lực hay cản trở cho hai việc đó. Mà điều này tùy thuộc vào mô hình phát triển cũng như hình ảnh xã hội công dân mà một quốc gia đang theo đuổi. Thí dụ đi tắt đón đầu hay bền vững, dân chủ kiểu Mỹ, Bắc Âu, Châu Âu  hay “mang màu sắc Trung Quốc”? Ở các nước này vốn xã hội mang tính phổ biến quốc gia thì ít mà mang tính địa phương vùng miền và các cộng đồng nhỏ hơn, thí dụ như các làng nghề, các sắc tộc thiểu số, các cộng đồng tôn giáo nhỏ… thì nhiều. Ở Việt Nam, xã hội công dân hầu như chưa xuất hiện dù đã có mấy chục năm thuộc địa 100% ở Nam Kỳ, chế độ cộng hoà phụ thuộc Mỹ cũng như những thập niên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.  2. Người làng, người lính, người mở đất: Tôi vẫn tin rằng các thế kỷ 16-19, từ nhà Mạc, qua Trịnh -Nguyễn- Chăm tới Tây Sơn và Gia Long- Minh Mạng là thời kỳ làm nên nước Việt Nam hiện nay về mọi mặt từ cương vực, chủng tộc, kinh tế, văn hóa tới hành chính quản trị và ghi khắc sâu đậm nhất tính dân tộc hiện nay của người Việt Nam. Tôi thấy người Việt Nam vẫn có ba hệ thống các quan hệ gắn kết theo ba mô hình đó, hình thành và cố kết trong thời kỳ đó, ở đó chứa đựng những cái chúng ta gọi là truyền thống, vốn văn hóa hay vốn xã hội.  Người Việt Nam vẫn là một người làng, những ràng buộc, quan hệ  kiểu người làng vẫn xâm nhập vào các tập đoàn kinh tế và các khu chế xuất, trong quan hệ hành chính và văn hóa, trong các khu phố văn hóa và các khu đô thị mới. Người Việt Nam vẫn là một người lính với những ràng buộc liên kết và thói quen cộng đồng của mình như: đồng tâm nhất trí trong chuyện tức thời, kỷ luật và ý chí quyết thắng tức thời, nhìn rõ mục tiêu ở cự ly ngắn, yêu thương nhau lúc hoạn nạn… Người Việt Nam hôm nay vẫn là người đi mở đất dù ở bộ ngoại giao, trong nghiên cứu khoa học hay trong giáo dục và các ngành công nghệ cao. Muốn khám phá, đùm bọc nhau lúc khởi nghiệp, ham cái mới và luôn có tâm lý của người khởi đầu… Người Việt ngày nay vẫn liên kết, ràng buộc, hợp tác, đáng giá nhau theo ba mô hình này.  Trên ba loại “vốn xã hội” này bao trùm các quan hệ Khổng giáo vốn là cái máy kẽo kẹt điều tiết các quan hệ xã hội hàng ngàn năm nay, ít nhất cũng mạnh lên từ thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi và bên cạnh đó là những liên kết ràng buộc lỏng lẻo, bao dung nhưng bền chặt của Đạo Phật. Chúng tôi không bàn về hai thứ “siêu vốn” sau ở đây. Tuy nhiên tác động của chúng ở ba thứ vốn kể trước là khá rõ ràng.  Thí dụ: Người làng gắn với nhau bằng nghề của làng, với ý thức gìn giữ, tự hào nhưng không chia sẻ kinh nghiệm để thúc đẩy công nghệ phát triển. Thói giữ bí quyết (nhất nghệ tinh) và việc không có quyền sở hữu trí tuệ làm cho các nghề không phát triển được. Các làng dệt, gốm, đúc đồng… hiện nay với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn loay hoay với những “bí quyết” cá nhân không phát huy hiệu quả mà thành ra các xưởng gia công, làm  thuê theo mẫu mã nước ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công thành công cũng là đã biết sử dụng, phát huy tinh thần của làng nghề xưa. Người làng gắn với gia tộc. Tương quan “giọt máu đào- ao nước lã” dẫn tới những cản trở hình thành tinh thần công dân, tới tính xuê xoa, bè phái, “gia đình trị” ở các thiết chế lớn nhỏ. Người làng gắn với hương ước, với các quy định cho một cộng đồng nông nghiệp nhỏ và sự kỳ thị dân ngụ cư. Ở mọi nơi “ma cũ bắt nạt ma mới” cản trở không khí dân chủ. Các hương ước mới có thể hay cho một khu công nghiệp mới mở ở một làng xưa nhưng cũng có thể gây đụng độ với pháp luật và các nhà đầu tư từ xa tới, nhất là khi động đến đất đai. Người làng theo các thước đo giá trị cổ hủ ( “ao tù nước đọng”- theo các học giả cải cách đầu thế kỷ 20). Việc coi “phép vua thua lệ làng” hiện vẫn tràn lan ở các cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng cản trở hình thành dân chủ. Các thước đo theo hệ quy chiếu làng nhỏ bé, cục bộ, phiến diện thường nhằm mục đích tự vệ, bảo tồn hơn là khuyếch trương phát triển. Từ người làng tới công dân là cả một cuộc thay đổi lớn  mà ta còn phải làm. Chế độ trung ương tập quyền cũng chưa bao giờ đủ mạnh và có điều tiết vĩ mô về kinh tế đủ mạnh. Ngay ý thức con dân của thiên tử cũng mờ nhạt (điều này chắc khác với Trung Quốc).                   Tinh thần Người lính, tình đồng đội được coi là di sản quý giá của cả mấy thế hệ khởi nghĩa và chiến tranh. Đã có thời bộ đội chuyển ngành làm quản lý và kinh tế được coi là chìa khóa của công tác cán bộ. Và hiện nay thế hệ lãnh đạo xuất thân thanh niên xung phong là làn sóng cuối cùng. Sự xả thân khi hoạn nạn, tinh thần tập thể chung sức đồng lòng gắn với việc tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, chỉ đâu đánh đấy có giá trị cho từng phi vụ ngắn hạn, giỏi chiến thuật mà không có tầm nhìn chiến lược, mạnh về ý chí, giỏi ứng phó mà ít hoạch định dài hạn. Tinh thần chiến đấu quyết định thắng lợi nên dễ dẫn tới ý chí luận, “đã đánh thắng ba đế quốc to” thì cái gì cũng làm được, kể cả trong kinh tế. Cái tâm lý đồng ngũ– hành động kiểu lính đã cho nhiều bài học. Nó cũng hạn chế hình thành  các thước đo giá trị sáng tạo cá nhân và một tầm nhìn chiến lược của các vị tướng rất cần trong giới quản trị kinh doanh.  Mặt khác Hội cựu chiến binh có lẽ là một tổ chức rộng lớn nhất và đang phát huy những giá trị tích cực trong xã hội ta. Những thói quen chuẩn mực người lính có thể phát huy trong việc xây dựng tính đoàn kết, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ công nhân lành nghề được không? (Kiểu như tinh thần samurai vì ông chủ dưới hình thức mới ở các công ty của Nhật?)  Người đi mở đất có cái hào sảng, ưa khám phá, khai khẩn những vùng đất mới, biết đùm bọc giúp đỡ nhau trong bước khởi đầu, phóng khoáng hào sảng và coi trọng tình bạn. Năm thế kỷ mở đất, di dân, hòa chủng để lại dấu ấn địa phương, miền vùng khá rõ trong sự đa dạng văn hóa của nước ta. Tình đồng hương và nỗi nhớ quê là những nét đặc sắc của tâm hồn Việt Nam. Ba miền Bắc Trung Nam có những vốn văn hóa khác nhau để cả dấu ấn trong cơ cấu tổng bí thư-chủ tịch nước-thủ tướng. Trong lý lịch và chứng minh thư nhân dân có mục quê quán, nguyên quán mà không nước nào có. Các hội đồng hương không tổ chức chặt chẽ nhưng có sức mạnh đáng kể. Câu ca dao mới về người Nghệ An mua đất ở Hà Nội, phố Nam Định ở TP. HCM, người Huế ở Tây Nguyên, người Kh’me ở Trà Vinh, Chăm ở An Giang… đều có những ràng buộc nề nếp, quan hệ  hình thành do mở đất di dân. Sau 1975 bùng nổ cuộc di dân Bắc- Nam và Việt Nam – nước ngoài. Tình đồng hương, đồng vùng, đồng miền mạnh hơn tình đồng nghiệp. Tư tưởng cát cứ cục bộ có cơ sở xã hội của nó, bắt đầu từ việc phát âm- chửi cha không bằng pha tiếng! Cộng đồng di dân này vừa gắn kết trong vùng đất mới vừa tự hào về quê gốc của mình. Duy có trong kinh doanh ít thấy tinh thần này được phát huy. Có chăng chỉ là giúp nhau lúc hoạn nạn, xóa đói giảm nghèo hay bước đầu mới nhập cư. Thói quen tạm bợ và làm liều, bất chấp luật pháp cũng còn thấy rõ ở các khu mới di dân từ Bắc vào. Tuy nhiên ở các cộng đồng di cư, nhất là lớp trẻ thì chủ nghĩa cá nhân, tính tự lập được phát huy do thoát được những  thói quen, quan hệ và giáo điều ở quê cũ. Ham thích lập nghiệp cũng được thổi bùng. Họ không an phận như ở cái “ao tù” xưa cũ. Chúng ta có những giá trị và ràng buộc của tình đồng hương, đồng ngũ nhưng hầu như không có tinh thần “đồng nghiệp” cả trong quản lý, nghiên cứu, sản xuất lẫn trong thương mại…  Có thể thấy rằng các loại vốn xã hội ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, phức tạp. Những ràng buộc và chế tài vô hình, những thói quen, nếp nghĩ phổ biến trong từng cộng đồng làm cho mỗi cá nhân từ vô thức đã khó chống lại. Các loại quan hệ đó mang những thước đo giá trị vô hình nhưng tác động cụ thể trong đời sống chính trị, hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Hầu như bất kỳ loại vốn nào, kiểu liên kết ràng buộc, thang giá trị, thông tin nào cũng có thể là nguồn động lực hay cản trở phát triển kinh tế và xã hội công dân tùy cách, tùy nơi, tùy lúc. Có người cho rằng cần tìm ra một thứ dân chủ kiểu Việt Nam- có “hương vị Việt Nam” có lẽ muốn dung hòa tận dụng các loại vốn xã hội này! Tính nhỏ lẻ, địa phương và màu sắc văn hóa của cộng đồng nhỏ là đặc trưng cho các loại “vốn xã hội” vốn văn hóa này. Việc đi tới những thước đo, thang giá trị chung không phải dễ và xóa sạch tính nhỏ lẻ chưa chắc đã hay!  Gần đây có những ý kiến đề cao vai trò của đạo Khổng trong văn hóa châu Á như một lợi thế phát triển, tôi nghĩ rằng cần thận trọng trong việc xếp Việt Nam nằm gọn trong thế giới Khổng giáo, cần nghiên cứu thấu đáo hơn về đạo Khổng ở Việt Nam. Việc quay lại quảng bá: công- dung- ngôn- hạnh cho phong trào giải phóng phụ nữ, nêu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở các trường học, khôi phục miếu thờ Văn vương -Khổng Tử  như là đền thờ quốc gia (dịch nhầm là miếu thờ  văn học –văn hóa ! Vô tình khuyến khích học cử tử, học để làm quan và chuộng hư danh) nhiều khi lợi bất cập hại! Phan Khôi có những ý kiến rất hữu ích và còn thời sự về Khổng học ở Việt Nam (xem Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo 1929– Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Đà Nẵng 2005, trang 40).   Cần nghiên cứu tính phức tạp và đa dạng của vốn xã hội ở Việt Nam. Chính vì thế tôi thấy hội thảo này sẽ rất bổ ích.     3. Truyền thống nghệ thuật như một nguồn lực văn hóa và gắn kết cộng đồng  Những quan hệ, ràng buộc, chuẩn mực, thói quen ở ba mặt nêu trên cũng tạo ra trong những thế kỷ 16- 19 những truyền thống và thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam từ mỹ thuật tới văn học, sân khấu, âm nhạc… Việc xác định đặc tính, phẩm chất và gốc rễ xã hội của các thành tựu nghệ thuật giai đoạn cổ điển này quan trọng hơn việc thích đẩy niên đại lùi về thời Hùng Vương hay Lê Sơ để tăng bề dày truyền thống. Nghệ thuật của chúng ta  mang tính đa dạng vùng miền rất rõ vì thế rất đặc sắc và cũng vì thế thường nhỏ nhoi khó mang tầm quốc gia và tầm quốc tế. Tuy nhiên vào thời buổi này bản sắc và sự đa dạng lại lên ngôi và là lợi thế lớn. Văn hóa làng vẫn bàng bạc trong cả văn chương hiện đại hôm nay. Chèo khó ai nghe ở Nam bộ, cải lương khó thịnh hành ở Bắc kỳ, tượng Chăm còn nhiều người Bắc cho là “không thuần Việt” (tuy việc khai quật thành cổ Thăng Long thời Lý-Trần với những dấu ấn Chăm rõ rệt có làm một số sử gia “Khổng- Mạnh” thay đổi cách nhìn một chút). Văn học chỉ đạt mức cổ điển ở văn vần nên hiện nay người Việt vẫn là người sính thơ nhất (các câu lạc bộ thơ, tiêu chuẩn văn hóa khu phố, Hội người cao tuổi, cựu chiến binh… có lệ là phải làm thơ. Ngày thơ Việt Nam được ủng hộ khá nhiệt liệt. Từ quan chức về hưu, giáo làng tới nông dân, lái đò, cô bán tạp hóa chợ Đông Ba… lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, đọc thơ cả). Việc say chèo, tuồng, cải lương, ca trù, đờn ca tài tử của từng vùng, từng cộng đồng có thể tạo các fans club khá mạnh, tạo nên những sinh hoạt văn hóa đa dạng gắn kết cộng đồng. Dòng ca nhạc não nuột, nhớ quê ở hải ngoại cũng như ngay quê hương mình đi cùng với sự phân biệt các cộng đồng di cư trước 45, sau 75 và sau 90 làm cho anh nhạc sĩ Hà Nội sống ở Sài Gòn mà cứ rên rỉ nhớ nhung hoa sữa như nhớ tới đảo Bồng Lai hay thời Nghiêu Thuấn vậy! Cũng không nước nào có cả một nền văn nghệ quân đội như nước ta. Tướng, tá, lính làm thơ, viết văn là chuyện thường! “Làm thơ và đánh giặc” như Nguyễn Trãi vẫn là hình ảnh lý tưởng khá viển vông và vô bổ trong thời bình phát triển kinh tế. Tôi nghĩ rằng truyền thống nghệ thuật Việt Nam rất đặc sắc và phong phú mà mang đậm sắc thái vùng miền nên việc phát huy vốn này rất thích hợp với việc gìn giữ di sản, xây dưng cộng đồng. Các làng quan họ, chương trình Vầng trăng cổ nhạc, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử, các làng gốm, làng lụa, làng hoa… nói chung các thú vui nho nhỏ của cộng đồng nhỏ có thể gắn kết con người ở các khu công nghiệp, khu phố văn hóa, ở các hội đoàn cơ sở, ở khu dân cư mới và làng xóm cũ. Việc chưa thành cổ điển và toàn dân tộc của đại bộ phận truyền thống văn hóa càng đòi hỏi chương trình giá  dục nghệ thuật và di sản cho toàn dân, thực hiện một cách chính quy có bài bản từ phổ thông. Việc này cần làm hệ thống và là một nội dung chính của cải cách giáo dục. Không thể chỉ làm manh mún như dạy cồng chiêng cho trường Tây Nguyên hay vài thử nghiệm sân khấu học đường cùng vài tờ tranh giới thiệu vài danh họa bên cạnh tranh thiếu nhi. Mặt khác ta cũng thấy  nghệ thuật vàng mã đúng là nghệ thuật đáng ở bảo tàng, hát văn rất hay song cũng có thể hòa với làn sóng mê tín, dị đoan và thú cầu cơ gọi hồn, lên đồng… đang bùng phát trở lại. Ngay trong mỹ thuật, việc trở lại với truyền thống nghệ thuật tiền thực dân (mà có ít nhất ba thành tựu cỡ thế giới là nghệ thuật Chăm, gốm Lý Trần và tượng gỗ đình chùa Bắc bộ), một bước “bẻ lái” đột phá nhiều ý nghĩa của hội họa đổi mới, cũng  có nguy cơ làm cho nghệ thuật đang đi theo hướng chuyên nghiệp lại bị “tái dân gian hóa”, trở nên nông cạn và thành thứ hàng du lịch! Tác dụng tiêu cực luôn tiềm ẩn trong vốn văn hóa.    Khi bàn tới phát triển văn hóa ta luôn gặp thế lưỡng nan: bảo tồn một cách bảo thủ hay phát triển, cách tân hướng ngoại. Nay trong toàn cầu hóa vấn đề còn là có bị tái thực dân hóa về văn hóa hay không và “cái lạnh lẽo” của toàn cầu hóa (chữ của ông giám đốc Viện Gớt Augustin) có đóng băng sự đa dạng văn hóa, bứng rễ các nền văn hóa nghệ thuật ở các nước đang phát triển như nước ta hay không?  Tóm lại, những thực tế thành công thường là sự đổi chiều, chuyển hướng chức năng của truyền thống (gồm cả các thành tựu cũng như các ràng buộc, quan hệ, chuẩn mực giá trị mà chúng ta tạm gọi là quỹ xã hội) sao cho chúng không là một cản trở mà là các nguồn lực trong các cộng đồng mới cụ thể và linh hoạt.  Tôi cho rằng vốn xã hội sẽ thành nguồn lực nếu ta chỉ phát huy bản chất của nó trong các tương quan mới, mục đích mới bằng các cách thức mới. Nếu mù quáng tin vào những giá trị vô hình và rập nguyên khuôn mẫu, cách thức, mục đích như xưa kia và như nó đang tồn tại thì nó sẽ là những cản trở.  Nguyễn Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội- nguồn lực hay cản trở?      1. Nếu vốn xã hội được hiểu như những quan hệ, liên kết, ràng buộc các cá nhân trong một cộng đồng khác với vốn vật chất có thể sở hữu hóa và vốn nhân lực hoàn toàn của mỗi cá nhân, cũng được sở hữu hóa; nếu vốn xã hội này không tùy thuộc cá nhân và không sở hữu hóa được thì nó cần được đặt trong hai tương quan với hai loại vốn kia.    Thứ nhất là tương quan với sự phát triển và thứ hai là tương quan với xã hội công dân. Vào đầu thế kỷ trước cũng đã xuất hiện hai vấn đề này. Tân học cho rằng phải cải cách, học lấy của Âu Tây hai điều là khoa học và dân chủ. Tuy nhiên, thực tế là phải giành độc lập, tự do rồi mới làm hai việc kia được. Chủ nghĩa thực dân không cho ta học lấy hai thứ ấy. Trước đây một thế kỷ khi cải cách có hai quan niệm đối nghịch: một là nhìn về quá khứ, khuếch trương ưu việt của lề thói, văn hiến, Khổng học, quốc hồn, quốc túy… (chắc cũng bao gồm các  thứ mà nay ta gọi là vốn xã hội hay truyền thống văn hóa); hai là quay lưng lại quá khứ, chỉ nhìn về phía trước, tương lai, tiệt diệt những thứ hủ lậu, những lề thói, tâm lý, thước đo, những quan hệ trói buộc cá nhân trong cộng đồng để hấp thu nhanh chóng cái thực học (khoa học công nghệ), bỏ cái hư học (học để làm quan), phát triển chủ nghĩa cá nhân và xây dựng nền dân chủ, hình thành quan hệ công dân. Hiện nay, Việt Nam vẫn đứng nguyên trước những vấn đề đó nhưng môi cảnh thế giới và trong nước đã khác, sự phát triển của khoa học công nghệ đã khác về chất, các mô hình dân chủ cũng đang thay đổi và khủng hoảng. Đặc biệt là cuộc hội nhập và toàn cầu hóa bất khả kháng đòi hỏi không chỉ nhìn lại phía sau hay nhìn về phía trước mà còn phải nhìn ngang nữa. Các tương quan, lợi thế, tình huống trong việc phát triển và dân chủ hóa không còn đơn tuyến mà đa chiều và có nhiều ràng buộc, hệ quả kiểu mới. Nếu lý tưởng “thẩm mỹ” canh tân trước đây một thế kỷ là mong được như Tây, giống như Tây, bằng được Tây trong tương quan trò – thầy thì bây giờ là có được khoa học công nghệ và dân chủ nhưng không như Tây, không giống Tây, không nói chuyện bằng Tây trong tương quan bắt buộc là đối tác đồng đại. Chiều nhìn ngang đòi hỏi phải xử lý vốn xã hội nếu có bằng những cách khác.  Cần phân biệt vốn xã hội ở các nước đã phát triển và vốn xã hội ở các nước đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, xã hội công dân cũng chỉ đang hình thành. Ở các nước đã phát triển và đã có xã hội công dân, có thể nói vốn xã hội về căn bản là tốt cả và sự tăng hay giảm của nó ảnh hưởng tới sự phát triển dân chủ của xã hội công dân (dẫu rằng vẫn có những vốn xã hội ‘xấu’ như chủ nghĩa cực đoan, sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, các tổ chức tội ác…)  Còn ở các nước đang phát triển thì có lẽ vấn đề là vốn xã hội không tốt cũng không xấu bởi đó là những thực thể đã và đang tồn tại có thể sử dụng cho phát triển và xây dựng xã hội công dân hoặc trở thành những chướng ngại vật cần gỡ bỏ trên con đường đó. Vậy tính chất của vốn xã hội này sẽ là trở thành nguồn lực hay cản trở cho hai việc đó. Mà điều này tùy thuộc vào mô hình phát triển cũng như hình ảnh xã hội công dân mà một quốc gia đang theo đuổi. Thí dụ đi tắt đón đầu hay bền vững, dân chủ kiểu Mỹ, Bắc Âu, Châu Âu hay “mang màu sắc Trung Quốc”? Ở các nước này vốn xã hội mang tính phổ biến quốc gia thì ít mà mang tính địa phương vùng miền và các cộng đồng nhỏ hơn, thí dụ như các làng nghề, các sắc tộc thiểu số, các cộng đồng tôn giáo nhỏ… thì nhiều. Ở Việt Nam, xã hội công dân hầu như chưa xuất hiện dù đã có mấy chục năm thuộc địa 100% ở Nam Kỳ, chế độ cộng hòa phụ thuộc Mỹ cũng như những thập niên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.  2. Người làng, người lính, người mở đất: Tôi vẫn tin rằng các thế kỷ 16-19, từ nhà Mạc, qua Trịnh – Nguyễn- Chăm tới Tây Sơn và Gia Long- Minh Mạng là thời kỳ làm nên nước Việt Nam hiện nay về mọi mặt từ cương vực, chủng tộc, kinh tế, văn hóa tới hành chính quản trị và ghi khắc sâu đậm nhất tính dân tộc hiện nay của người Việt Nam. Tôi thấy người Việt Nam vẫn có ba hệ thống các quan hệ gắn kết theo ba mô hình đó, hình thành và cố kết trong thời kỳ đó, ở đó chứa đựng những cái chúng ta gọi là truyền thống, vốn văn hóa hay vốn xã hội.  Người Việt Nam vẫn là một người làng, những ràng buộc, quan hệ  kiểu người làng vẫn xâm nhập vào các tập đoàn kinh tế và các khu chế xuất, trong quan hệ hành chính và văn hóa, trong các khu phố văn hóa và các khu đô thị mới. Người Việt Nam vẫn là một người lính với những ràng buộc liên kết và thói quen cộng đồng của mình như: đồng tâm nhất trí trong chuyện tức thời, kỷ luật và ý chí quyết thắng tức thời, nhìn rõ mục tiêu ở cự ly ngắn, yêu thương nhau lúc hoạn nạn… Người Việt Nam hôm nay vẫn là người đi mở đất dù ở bộ ngoại giao, trong nghiên cứu khoa học hay trong giáo dục và các ngành công nghệ cao. Muốn khám phá, đùm bọc nhau lúc khởi nghiệp, ham cái mới và luôn có tâm lý của người khởi đầu… Người Việt ngày nay vẫn liên kết, ràng buộc, hợp tác, đánh giá nhau theo ba mô hình này.                Trên ba loại “vốn xã hội” này bao trùm các quan hệ Khổng giáo vốn là cái máy kẽo kẹt điều tiết các quan hệ xã hội hàng ngàn năm nay, ít nhất cũng mạnh lên từ thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi và bên cạnh đó là những liên kết ràng buộc lỏng lẻo, bao dung nhưng bền chặt của Đạo Phật. Chúng tôi không bàn về hai thứ “siêu vốn” sau ở đây. Tuy nhiên tác động của chúng ở ba thứ vốn kể trước là khá rõ ràng.  Thí dụ: Người làng gắn với nhau bằng nghề của làng, với ý thức gìn giữ, tự hào nhưng không chia sẻ kinh nghiệm để thúc đẩy công nghệ phát triển. Thói giữ bí quyết (nhất nghệ tinh) và việc không có quyền sở hữu trí tuệ làm cho các nghề không phát triển được. Các làng dệt, gốm, đúc đồng… hiện nay với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn loay hoay với những “bí quyết” cá nhân không phát huy hiệu quả mà thành ra các xưởng gia công, làm thuê theo mẫu mã nước ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công thành công cũng là đã biết sử dụng, phát huy tinh thần của làng nghề xưa. Người làng gắn với gia tộc. Tương quan “giọt máu đào- ao nước lã” dẫn tới những cản trở hình thành tinh thần công dân, tới tính xuê xoa, bè phái, “gia đình trị” ở các thiết chế lớn nhỏ. Người làng gắn với hương ước, với các quy định cho một cộng đồng nông nghiệp nhỏ và sự kỳ thị dân ngụ cư. Ở mọi nơi “ma cũ bắt nạt ma mới” cản trở không khí dân chủ. Các hương ước mới có thể hay cho một khu công nghiệp mới mở ở một làng xưa nhưng cũng có thể gây đụng độ với pháp luật và các nhà đầu tư từ xa tới, nhất là khi động đến đất đai. Người làng theo các thước đo giá trị cổ hủ (“ao tù nước đọng”- theo các học giả cải cách đầu thế kỷ 20). Việc coi “phép vua thua lệ làng” hiện vẫn tràn lan ở các cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng cản trở hình thành dân chủ. Các thước đo theo hệ quy chiếu làng nhỏ bé, cục bộ, phiến diện thường nhằm mục đích tự vệ, bảo tồn hơn là khuếch trương phát triển. Từ người làng tới công dân là cả một cuộc thay đổi lớn mà ta còn phải làm. Chế độ trung ương tập quyền cũng chưa bao giờ đủ mạnh và có điều tiết vĩ mô về kinh tế đủ mạnh. Ngay ý thức con dân của thiên tử cũng mờ nhạt (điều này chắc khác với Trung Quốc).  Tinh thần Người lính, tình đồng đội được coi là di sản quý giá của cả mấy thế hệ khởi nghĩa và chiến tranh. Đã có thời bộ đội chuyển ngành làm quản lý và kinh tế được coi là chìa khóa của công tác cán bộ. Và hiện nay thế hệ lãnh đạo xuất thân thanh niên xung phong là làn sóng cuối cùng. Sự xả thân khi hoạn nạn, tinh thần tập thể chung sức đồng lòng gắn với việc tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, chỉ đâu đánh đấy có giá trị cho từng phi vụ ngắn hạn, giỏi chiến thuật mà không có tầm nhìn chiến lược, mạnh về ý chí, giỏi ứng phó mà ít hoạch định dài hạn. Tinh thần chiến đấu quyết định thắng lợi nên dễ dẫn tới ý chí luận, “đã đánh thắng ba đế quốc to” thì cái gì cũng làm được, kể cả trong kinh tế. Cái tâm lý đồng ngũ– hành động kiểu lính đã cho nhiều bài học. Nó cũng hạn chế hình thành các thước đo giá trị sáng tạo cá nhân và một tầm nhìn chiến lược của các vị tướng rất cần trong giới quản trị kinh doanh.  Mặt khác Hội cựu chiến binh có lẽ là một tổ chức rộng lớn nhất và đang phát huy những giá trị tích cực trong xã hội ta. Những thói quen chuẩn mực người lính có thể phát huy trong việc xây dựng tính đoàn kết, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ công nhân lành nghề được không? (Kiểu như tinh thần Samurai vì ông chủ dưới hình thức mới ở các công ty của Nhật?)  Người đi mở đất có cái hào sảng, ưa khám phá, khai khẩn những vùng đất mới, biết đùm bọc giúp đỡ nhau trong bước khởi đầu, phóng khoáng hào sảng và coi trọng tình bạn. Năm thế kỷ mở đất, di dân, hòa chủng để lại dấu ấn địa phương, miền vùng khá rõ trong sự đa dạng văn hóa của nước ta. Tình đồng hương và nỗi nhớ quê là những nét đặc sắc của tâm hồn Việt Nam. Trong lý lịch và chứng minh thư nhân dân có mục quê quán, nguyên quán mà không nước nào có. Các hội đồng hương không tổ chức chặt chẽ nhưng có sức mạnh đáng kể. Câu ca dao mới về người Nghệ An mua đất ở Hà Nội, phố Nam Định ở TP. HCM, người Huế ở Tây Nguyên, người Kh’me ở Trà Vinh, Chăm ở An Giang… đều có những ràng buộc nề nếp, quan hệ hình thành do mở đất di dân. Sau 1975 bùng nổ cuộc di dân Bắc- Nam và Việt Nam – nước ngoài. Tình đồng hương, đồng vùng, đồng miền mạnh hơn tình đồng nghiệp. Tư tưởng cát cứ cục bộ có cơ sở xã hội của nó, bắt đầu từ việc phát âm- chửi cha không bằng pha tiếng! Cộng đồng di dân này vừa gắn kết trong vùng đất mới vừa tự hào về quê gốc của mình. Duy có trong kinh doanh ít thấy tinh thần này được phát huy. Có chăng chỉ là giúp nhau lúc hoạn nạn, xóa đói giảm nghèo hay bước đầu mới nhập cư. Thói quen tạm bợ và làm liều, bất chấp luật pháp cũng còn thấy rõ ở các khu mới di dân từ Bắc vào. Tuy nhiên ở các cộng đồng di cư, nhất là lớp trẻ thì chủ nghĩa cá nhân, tính tự lập được phát huy do thoát được những  thói quen, quan hệ và giáo điều ở quê cũ. Ham thích lập nghiệp cũng được thổi bùng. Họ không an phận như ở cái “ao tù” xưa cũ. Chúng ta có những giá trị và ràng buộc của tình đồng hương, đồng ngũ nhưng hầu như không có tinh thần “đồng nghiệp” cả trong quản lý, nghiên cứu, sản xuất lẫn trong thương mại…  Có thể thấy rằng các loại vốn xã hội ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, phức tạp. Những ràng buộc và chế tài vô hình, những thói quen, nếp nghĩ phổ biến trong từng cộng đồng làm cho mỗi cá nhân từ vô thức đã khó chống lại. Các loại quan hệ đó mang những thước đo giá trị vô hình nhưng tác động cụ thể trong đời sống chính trị, hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Hầu như bất kỳ loại vốn nào, kiểu liên kết ràng buộc, thang giá trị, thông tin nào cũng có thể là nguồn động lực hay cản trở phát triển kinh tế và xã hội công dân tùy cách, tùy nơi, tùy lúc. Có người cho rằng cần tìm ra một thứ dân chủ kiểu Việt Nam- có “hương vị Việt Nam” có lẽ muốn dung hòa tận dụng các loại vốn xã hội này! Tính nhỏ lẻ, địa phương và màu sắc văn hóa của cộng đồng nhỏ là đặc trưng cho các loại “vốn xã hội” vốn văn hóa này. Việc đi tới những thước đo, thang giá trị chung không phải dễ và xóa sạch tính nhỏ lẻ chưa chắc đã hay!  Gần đây có những ý kiến đề cao vai trò của đạo Khổng trong văn hóa Châu Á như một lợi thế phát triển, tôi nghĩ rằng cần thận trọng trong việc xếp Việt Nam nằm gọn trong thế giới Khổng giáo, cần nghiên cứu thấu đáo hơn về đạo Khổng ở Việt Nam. Việc quay lại quảng bá: công- dung- ngôn- hạnh cho phong trào giải phóng phụ nữ, nêu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở các trường học, khôi phục miếu thờ Văn Vương -Khổng Tử như là đền thờ quốc gia (dịch nhầm là miếu thờ  văn học –văn hóa! Vô tình khuyến khích học cử tử, học để làm quan và chuộng hư danh) nhiều khi lợi bất cập hại! Phan Khôi có những ý kiến rất hữu ích và còn thời sự về Khổng học ở Việt Nam (xem Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo 1929- Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Đà Nẵng 2005, trang 40).           Vốn xã hội nhìn từ lịch sử      Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã hình thành những cộng đồng lớn nhỏ trong lòng dân tộc. Một biểu hiện đặc thù của vốn xã hội ở Việt Nam là tình đùm bọc giữa đồng bào bắt nguồn từ truyền thuyết mẹ Âu Cơ và lòng yêu nước biểu hiện mạnh mẽ trong công cuộc chống ngoại xâm.   Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần để chống quân Nguyên thế kỷ thứ 13 là một minh chứng lịch sử về sự gắn kết xã hội sâu sắc trong tình hình đặc biệt khó khăn.   Nguyễn Trãi đã thể hiện sự minh triết về chính trị bằng những chính sách nhân đạo thực sự xúc động qua các câu phú:  Nghĩ về kế lâu dài của nước nhà  Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh  Sửa hòa hiếu cho hai nước  Tắt muôn đời chiến tranh1          Lòng nhân ái, quan điểm cùng nhau chung sống trong hòa bình là một vốn quý trong truyền thống dân tộc ta. Việc quân của Quang Trung được dân miền Bắc giúp đỡ, lấy ván bó rơm làm lá chắn trong trận công đồn của Sầm Nghi Đống, vô hiệu hóa được súng hỏa châu của quân xâm lược nhà Thanh là một ví dụ khác cho thấy lòng yêu nước, tình đoàn kết dân tộc đã vượt qua quy mô của làng xóm và trở thành sức mạnh chống ngoại xâm.   Cuộc kháng chiến chống Pháp với chính sách đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ nguồn vốn xã hội để bổ sung cho sự thiếu hụt về vốn tài chính và kinh tế. Xin đơn cử một số ví dụ:   –          Chỉ nhờ sự nhường cơm xẻ áo của nhân dân, không hề có ngoại viện, chúng ta đã vượt qua được nạn đói năm 1945 trong thời gian rất ngắn. Chính sự đùm bọc giúp đỡ đó đã đóng góp cho sự thành công của chiến dịch xóa nạn mù chữ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.   –          Tuần lễ vàng (thu được 370 kg vàng và 20 triệu đồng, tương đương với tổng số thuế thân và thuế điền thổ thu được trong 1 năm), các cuộc vận động mùa đông chiến sỹ… đã góp phần giúp cho Chính phủ non trẻ vượt qua được tình trạng ngân khố trống rỗng, tài chính kiệt quệ, thực hiện cuộc xây dựng chiến khu, mua vũ khí, xây dựng Vệ quốc đoàn.   –          Đồng bào trong cả nước đã thực sự đùm bọc, giúp cho hàng triệu đồng bào tản cư có được chỗ ở, điều kiện sinh sống, đất canh tác… trong khi nhà nước không có bất kỳ sự trợ giúp tài chính nào của công quỹ. Một cuộc di dân như vậy cực kỳ khó khăn, tốn kém nhưng ở nước ta, trong những điều kiện hết sức khó khăn đã diễn ra mà không có trục trặc lớn nào.   –              Song từ sau 1953, chính sách đại đoàn kết dân tộc bị thay thế bằng một loạt chính sách rất xa lạ với truyền thống của dân tộc, thay đại đoàn kết dân tộc bằng đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất với đấu tố, xử lý oan sai hàng loạt cán bộ, sử dụng nhục hình, kích động con tố cha, vợ tố chồng… đã phá hoại nặng nề vốn xã hội ở nông thôn và để lại những di chứng lâu dài.   Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở thành phố cũng gây ra tác hại tương tự về vốn xã hội trong quan hệ giữa người và người, tuy mức độ tàn khốc có giảm bớt phần nào. Sự tàn phá vốn văn hóa, vốn đạo đức cũng cực kỳ nghiêm trọng và để lại những hệ quả lâu dài.   Việc áp dụng triệt để đến mức cực đoan quan niệm thành phần chủ nghĩa trong chính sách cán bộ đã bóp méo nghiêm trọng vốn xã hội truyền thống tốt đẹp của dân tộc và gây ra rất nhiều tác động tiêu cực nhiều mặt đối với xã hội. Con người không còn được quyết định bởi năng lực và đóng góp của bản thân mình mà bởi “thành phần” của cha mẹ hay ông bà để lại. Là con bần cố nông, dẫu học hành thế nào cũng vẫn đỗ, được nhận xét tốt, vẫn được phân công công tác thuận lợi, được đề bạt là thủ trưởng. Con nhà địa chủ (hay thành phần không cơ bản) dẫu học giỏi, cố gắng phấn đấu đến mấy cũng không được học hành tiếp, gặp khó khăn ngay trong việc tìm đối tượng kết hôn và xin phép kết hôn, bị phân biệt đối xử gay gắt trong phân công công tác, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật. Tóm lại, chủ nghĩa thành phần đã tái lập ra những đẳng cấp mới trong một xã hội tự tuyên bố mục tiêu là xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, người với người là anh em, nhưng hoàn toàn không dựa trên năng lực và phẩm chất, đóng góp, hành động thực tế của con người mà sinh ra ở thành phần nào là bị kết án chung thân bất thành văn trong số phận hạn hẹp của nguồn gốc giai cấp của mình.   Trong quá trình đổi mới, một số những cách làm quá thô bạo và phi lý đã được lặng lẽ điều chỉnh nhưng chưa bao giờ được chính thức thừa nhận là sai. Song chừng nào việc quyết định cán bộ còn thiếu công khai minh bạch, được quyết định bởi những yếu tố không liên quan gì đến năng lực, phẩm chất thì vốn con người và vốn xã hội vẫn còn bị hạn chế và bị bóp méo.   ———-  [1] Phú Núi Chí Linh, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr.87        TS. Lê Đăng Doanh          3. Truyền thống nghệ thuật như một nguồn lực văn hóa và gắn kết cộng đồng  Những quan hệ, ràng buộc, chuẩn mực, thói quen ở ba mặt nêu trên cũng tạo ra trong những thế kỷ 16- 19 những truyền thống và thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam từ mỹ thuật tới văn học, sân khấu, âm nhạc… Việc xác định đặc tính, phẩm chất và gốc rễ xã hội của các thành tựu nghệ thuật giai đoạn cổ điển này quan trọng hơn việc thích đẩy niên đại lùi về thời Hùng Vương hay Lê Sơ để tăng bề dày truyền thống. Nghệ thuật của chúng ta  mang tính đa dạng vùng miền rất rõ vì thế rất đặc sắc và cũng vì thế thường nhỏ nhoi khó mang tầm quốc gia và tầm quốc tế. Tuy nhiên vào thời buổi này bản sắc và sự đa dạng lại lên ngôi và là lợi thế lớn. Văn hóa làng vẫn bàng bạc trong cả văn chương hiện đại hôm nay. Chèo khó ai nghe ở Nam bộ, cải lương khó thịnh hành ở Bắc kỳ, tượng Chăm còn nhiều người Bắc cho là “không thuần Việt” (tuy việc khai quật thành cổ Thăng Long thời Lý-Trần với những dấu ấn Chăm rõ rệt có làm một số sử gia “Khổng- Mạnh” thay đổi cách nhìn một chút). Văn học chỉ đạt mức cổ điển ở văn vần nên hiện nay người Việt vẫn là người sính thơ nhất (các câu lạc bộ thơ, tiêu chuẩn văn hóa khu phố, Hội người cao tuổi, cựu chiến binh… có lệ là phải làm thơ. Ngày thơ Việt Nam được ủng hộ khá nhiệt liệt. Từ quan chức về hưu, giáo làng tới nông dân, lái đò, cô bán tạp hóa chợ Đông Ba… lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, đọc thơ cả). Việc say chèo, tuồng, cải lương, ca trù, đờn ca tài tử của từng vùng, từng cộng đồng có thể tạo các fans club khá mạnh, tạo nên những sinh hoạt văn hóa đa dạng gắn kết cộng đồng. Dòng ca nhạc não nuột, nhớ quê ở hải ngoại cũng như ngay quê hương mình đi cùng với sự phân biệt các cộng đồng di cư trước 45, sau 75 và sau 90 làm cho anh nhạc sĩ Hà Nội sống ở Sài Gòn mà cứ rên rỉ nhớ nhung hoa sữa như nhớ tới đảo Bồng Lai hay thời Nghiêu Thuấn vậy! Cũng không nước nào có cả một nền văn nghệ quân đội như nước ta. Tướng, tá, lính làm thơ, viết văn là chuyện thường! “Làm thơ và đánh giặc” như Nguyễn Trãi vẫn là hình ảnh lý tưởng khá viển vông và vô bổ trong thời bình phát triển kinh tế. Tôi nghĩ rằng truyền thống nghệ thuật Việt Nam rất đặc sắc và phong phú mà mang đậm sắc thái vùng miền nên việc phát huy vốn này rất thích hợp với việc gìn giữ di sản, xây dựng cộng đồng. Các làng quan họ, chương trình Vầng trăng cổ nhạc, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử, các làng gốm, làng lụa, làng hoa… nói chung các thú vui nho nhỏ của cộng đồng nhỏ có thể gắn kết con người ở các khu công nghiệp, khu phố văn hóa, ở các hội đoàn cơ sở, ở khu dân cư mới và làng xóm cũ. Việc chưa thành cổ điển và toàn dân tộc của đại bộ phận truyền thống văn hóa càng đòi hỏi chương trình giáo dục nghệ thuật và di sản cho toàn dân, thực hiện một cách chính quy có bài bản từ phổ thông. Việc này cần làm hệ thống và là một nội dung chính của cải cách giáo dục. Không thể chỉ làm manh mún như dạy cồng chiêng cho trường Tây Nguyên hay vài thử nghiệm sân khấu học đường cùng vài tờ tranh giới thiệu vài danh họa bên cạnh tranh thiếu nhi. Mặt khác ta cũng thấy  nghệ thuật vàng mã đúng là nghệ thuật đáng ở bảo tàng, hát văn rất hay song cũng có thể hòa với làn sóng mê tín, dị đoan và thú cầu cơ gọi hồn, lên đồng… đang bùng phát trở lại. Ngay trong mỹ thuật, việc trở lại với truyền thống nghệ thuật tiền thực dân (mà có ít nhất ba thành tựu cỡ thế giới là nghệ thuật Chăm, gốm Lý Trần và tượng gỗ đình chùa Bắc bộ), một bước “bẻ lái” đột phá nhiều ý nghĩa của hội họa đổi mới, cũng  có nguy cơ làm cho nghệ thuật đang đi theo hướng chuyên nghiệp lại bị “tái dân gian hóa”, trở nên nông cạn và thành thứ hàng du lịch! Tác dụng tiêu cực luôn tiềm ẩn trong vốn văn hóa.    Khi bàn tới phát triển văn hóa ta luôn gặp thế lưỡng nan: bảo tồn một cách bảo thủ hay phát triển, cách tân hướng ngoại. Nay trong toàn cầu hóa vấn đề còn là có bị tái thực dân hóa về văn hóa hay không và “cái lạnh lẽo” của toàn cầu hóa (chữ của ông giám đốc Viện Gớt Augustin) có đóng băng sự đa dạng văn hóa, bứng rễ các nền văn hóa nghệ thuật ở các nước đang phát triển như nước ta hay không?  Tóm lại, những thực tế thành công thường là sự đổi chiều, chuyển hướng chức năng của truyền thống (gồm cả các thành tựu cũng như các ràng buộc, quan hệ, chuẩn mực giá trị mà chúng ta tạm gọi là quỹ xã hội) sao cho chúng không là một cản trở mà là các nguồn lực trong các cộng đồng mới cụ thể và linh hoạt.  Tôi cho rằng vốn xã hội sẽ thành nguồn lực nếu ta chỉ phát huy bản chất của nó trong các tương quan mới, mục đích mới bằng các cách thức mới. Nếu mù quáng tin vào những giá trị vô hình và rập nguyên khuôn mẫu, cách thức, mục đích như xưa kia và như nó đang tồn tại thì nó sẽ là những cản trở.  Nguyễn Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội- nguồn lực hay cản trở?      1.Nếu vốn xã hội được hiểu như những quan hệ, liên kết, ràng buộc các cá nhân trong một cộng đồng khác với vốn vật chất có thể sở hữu hóa và vốn nhân lực hoàn toàn của mỗi cá nhân, cũng được sở hữu hóa; nếu vốn xã hội này không tùy thuộc cá nhân và không sở hữu hóa được thì nó cần được đặt trong hai tương quan với hai loại vốn kia.    Thứ nhất là tương quan với sự phát triển và thứ hai là tương quan với xã hội công dân. Vào đầu thế kỷ trước cũng đã xuất hiện hai vấn đề này. Tân học cho rằng phải cải cách, học lấy của Âu Tây hai điều là khoa học và dân chủ. Tuy nhiên, thực tế là phải giành độc lập, tự do rồi mới làm hai việc kia được. Chủ nghĩa thực dân không cho ta học lấy hai thứ ấy. Trước đây một thế kỷ khi cải cách có hai quan niệm đối nghịch: một là nhìn về quá khứ, khuếch trương ưu việt của lề thói, văn hiến, Khổng học, quốc hồn, quốc túy… (chắc cũng bao gồm các  thứ mà nay ta gọi là vốn xã hội hay truyền thống văn hoá); hai là quay lưng lại quá khứ, chỉ nhìn về phía trước, tương lai,  tiệt diệt những thứ hủ lậu, những lề thói, tâm lý, thước đo, những quan hệ trói buộc cá nhân trong cộng đồng để hấp thu nhanh chóng cái thực học (khoa học công nghệ), bỏ cái hư học (học để làm quan), phát triển chủ nghĩa cá nhân và xây dựng nền dân chủ, hình thành quan hệ công dân. Hiện nay, Việt Nam vẫn đứng nguyên trước những vấn đề đó nhưng môi cảnh thế giới và trong nước đã khác, sự phát triển của khoa học công nghệ đã khác về chất, các mô hình dân chủ cũng đang thay đổi và khủng hoảng. Đặc biệt là cuộc hội nhập và toàn cầu hóa bất khả kháng đòi hỏi không chỉ nhìn lại phía sau hay nhìn về phía trước mà còn phải nhìn ngang nữa. Các tương quan, lợi thế, tình huống trong việc phát triển và dân chủ hóa không còn đơn tuyến mà đa chiều và có nhiều ràng buộc, hệ quả kiểu mới. Nếu lý tưởng “thẩm mỹ” canh tân trước đây một thế kỷ là mong được như Tây, giống như Tây, bằng được Tây trong tương quan trò – thầy thì bây giờ là có được khoa học công nghệ và dân chủ nhưng không như Tây, không giống Tây, không nói chuyện bằng Tây trong tương quan bắt buộc là đối tác đồng đại. Chiều nhìn ngang đòi hỏi phải xử lý vốn xã hội nếu có bằng những cách khác.  Cần phân biệt vốn xã hội ở các nước đã phát triển và vốn xã hội ở các nước đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, xã hội công dân cũng chỉ đang hình thành. Ở các nước đã phát triển và đã có xã hội công dân, có thể nói vốn xã hội về căn bản là tốt cả và sự tăng hay giảm của nó ảnh hưởng tới sự phát triển dân chủ của xã hội công dân (dẫu rằng vẫn có những vốn xã hội ‘xấu’ như chủ nghĩa cực đoan, sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, các tổ chức tội ác…)  Còn ở các nước đang phát triển thì có lẽ vấn đề là vốn xã hội không tốt cũng không xấu bởi đó là những thực thể đã và đang tồn tại có thể sử dụng cho phát triển và xây dựng xã hội công dân hoặc trở thành những chướng ngại vật cần gỡ bỏ trên con đường đó. Vậy tính chất của vốn xã hội này sẽ là trở thành nguồn lực hay cản trở cho hai việc đó. Mà điều này tùy thuộc vào mô hình phát triển cũng như hình ảnh xã hội công dân mà một quốc gia đang theo đuổi. Thí dụ đi tắt đón đầu hay bền vững, dân chủ kiểu Mỹ, Bắc Âu, Châu Âu hay “mang màu sắc Trung Quốc”? Ở các nước này vốn xã hội mang tính phổ biến quốc gia thì ít mà mang tính địa phương vùng miền và các cộng đồng nhỏ hơn, thí dụ như các làng nghề, các sắc tộc thiểu số, các cộng đồng tôn giáo nhỏ… thì nhiều. Ở Việt Nam, xã hội công dân hầu như chưa xuất hiện dù đã có mấy chục năm thuộc địa 100% ở Nam Kỳ, chế độ cộng hòa phụ thuộc Mỹ cũng như những thập niên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.  2. Người làng, người lính, người mở đất: Tôi vẫn tin rằng các thế kỷ 16-19, từ nhà Mạc, qua Trịnh -Nguyễn- Chăm tới Tây Sơn và Gia Long- Minh Mạng là thời kỳ làm nên nước Việt Nam hiện nay về mọi mặt từ cương vực, chủng tộc, kinh tế, văn hóa tới hành chính quản trị và ghi khắc sâu đậm nhất tính dân tộc hiện nay của người Việt Nam. Tôi thấy người Việt Nam vẫn có ba hệ thống các quan hệ gắn kết theo ba mô hình đó, hình thành và cố kết trong thời kỳ đó, ở đó chứa đựng những cái chúng ta gọi là truyền thống, vốn văn hóa hay vốn xã hội.  Người Việt Nam vẫn là một người làng, những ràng buộc, quan hệ  kiểu người làng vẫn xâm nhập vào các tập đoàn kinh tế và các khu chế xuất, trong quan hệ hành chính và văn hóa, trong các khu phố văn hóa và các khu đô thị mới. Người Việt Nam vẫn là một người lính với những ràng buộc liên kết và thói quen cộng đồng của mình như: đồng tâm nhất trí trong chuyện tức thời, kỷ luật và ý chí quyết thắng tức thời, nhìn rõ mục tiêu ở cự ly ngắn, yêu thương nhau lúc hoạn nạn… Người Việt Nam hôm nay vẫn là người đi mở đất dù ở bộ ngoại giao, trong nghiên cứu khoa học hay trong giáo dục và các ngành công nghệ cao. Muốn khám phá, đùm bọc nhau lúc khởi nghiệp, ham cái mới và luôn có tâm lý của người khởi đầu… Người Việt ngày nay vẫn liên kết, ràng buộc, hợp tác, đánh giá nhau theo ba mô hình này.  Trên ba loại “vốn xã hội” này bao trùm các quan hệ Khổng giáo vốn là cái máy kẽo kẹt điều tiết các quan hệ xã hội hàng ngàn năm nay, ít nhất cũng mạnh lên từ thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi và bên cạnh đó là những liên kết ràng buộc lỏng lẻo, bao dung nhưng bền chặt của Đạo Phật. Chúng tôi không bàn về hai thứ “siêu vốn” sau ở đây. Tuy nhiên tác động của chúng ở ba thứ vốn kể trước là khá rõ ràng.  Thí dụ: Người làng gắn với nhau bằng nghề của làng, với ý thức gìn giữ, tự hào nhưng không chia sẻ kinh nghiệm để thúc đẩy công nghệ phát triển. Thói giữ bí quyết (nhất nghệ tinh) và việc không có quyền sở hữu trí tuệ làm cho các nghề không phát triển được. Các làng dệt, gốm, đúc đồng… hiện nay với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn loay hoay với những “bí quyết” cá nhân không phát huy hiệu quả mà thành ra các xưởng gia công, làm thuê theo mẫu mã nước ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công thành công cũng là đã biết sử dụng, phát huy tinh thần của làng nghề xưa. Người làng gắn với gia tộc. Tương quan “giọt máu đào- ao nước lã” dẫn tới những cản trở hình thành tinh thần công dân, tới tính xuê xoa, bè phái, “gia đình trị” ở các thiết chế lớn nhỏ. Người làng gắn với hương ước, với các quy định cho một cộng đồng nông nghiệp nhỏ và sự kỳ thị dân ngụ cư. Ở mọi nơi “ma cũ bắt nạt ma mới” cản trở không khí dân chủ. Các hương ước mới có thể hay cho một khu công nghiệp mới mở ở một làng xưa nhưng cũng có thể gây đụng độ với pháp luật và các nhà đầu tư từ xa tới, nhất là khi động đến đất đai. Người làng theo các thước đo giá trị cổ hủ ( “ao tù nước đọng”- theo các học giả cải cách đầu thế kỷ 20). Việc coi “phép vua thua lệ làng” hiện vẫn tràn lan ở các cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng cản trở hình thành dân chủ. Các thước đo theo hệ quy chiếu làng nhỏ bé, cục bộ, phiến diện thường nhằm mục đích tự vệ, bảo tồn hơn là khuếch trương phát triển. Từ người làng tới công dân là cả một cuộc thay đổi lớn mà ta còn phải làm. Chế độ trung ương tập quyền cũng chưa bao giờ đủ mạnh và có điều tiết vĩ mô về kinh tế đủ mạnh. Ngay ý thức con dân của thiên tử cũng mờ nhạt (điều này chắc khác với Trung Quốc).  Tinh thần Người lính, tình đồng đội được coi là di sản quý giá của cả mấy thế hệ khởi nghĩa và chiến tranh. Đã có thời bộ đội chuyển ngành làm quản lý và kinh tế được coi là chìa khóa của công tác cán bộ. Và hiện nay thế hệ lãnh đạo xuất thân thanh niên xung phong là làn sóng cuối cùng. Sự xả thân khi hoạn nạn, tinh thần tập thể chung sức đồng lòng gắn với việc tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, chỉ đâu đánh đấy có giá trị cho từng phi vụ ngắn hạn, giỏi chiến thuật mà không có tầm nhìn chiến lược, mạnh về ý chí, giỏi ứng phó mà ít hoạch định dài hạn. Tinh thần chiến đấu quyết định thắng lợi nên dễ dẫn tới ý chí luận, “đã đánh thắng ba đế quốc to” thì cái gì cũng làm được, kể cả trong kinh tế. Cái tâm lý đồng ngũ– hành động kiểu lính đã cho nhiều bài học. Nó cũng hạn chế hình thành các thước đo giá trị sáng tạo cá nhân và một tầm nhìn chiến lược của các vị tướng rất cần trong giới quản trị kinh doanh.  Mặt khác Hội cựu chiến binh có lẽ là một tổ chức rộng lớn nhất và đang phát huy những giá trị tích cực trong xã hội ta. Những thói quen chuẩn mực người lính có thể phát huy trong việc xây dựng tính đoàn kết, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ công nhân lành nghề được không? (Kiểu như tinh thần Samurai vì ông chủ dưới hình thức mới ở các công ty của Nhật?)  Người đi mở đất có cái hào sảng, ưa khám phá, khai khẩn những vùng đất mới, biết đùm bọc giúp đỡ nhau trong bước khởi đầu, phóng khoáng hào sảng và coi trọng tình bạn. Năm thế kỷ mở đất, di dân, hòa chủng để lại dấu ấn địa phương, miền vùng khá rõ trong sự đa dạng văn hóa của nước ta. Tình đồng hương và nỗi nhớ quê là những nét đặc sắc của tâm hồn Việt Nam. Ba miền Bắc Trung Nam có những vốn văn hóa khác nhau để cả dấu ấn trong cơ cấu tổng bí thư-chủ tịch nước-thủ tướng. Trong lý lịch và chứng minh thư nhân dân có mục quê quán, nguyên quán mà không nước nào có. Các hội đồng hương không tổ chức chặt chẽ nhưng có sức mạnh đáng kể. Câu ca dao mới về người Nghệ An mua đất ở Hà Nội, phố Nam Định ở TP. HCM, người Huế ở Tây Nguyên, người Kh’me ở Trà Vinh, Chăm ở An Giang… đều có những ràng buộc nề nếp, quan hệ hình thành do mở đất di dân. Sau 1975 bùng nổ cuộc di dân Bắc- Nam và Việt Nam – nước ngoài. Tình đồng hương, đồng vùng, đồng miền mạnh hơn tình đồng nghiệp. Tư tưởng cát cứ cục bộ có cơ sở xã hội của nó, bắt đầu từ việc phát âm- chửi cha không bằng pha tiếng! Cộng đồng di dân này vừa gắn kết trong vùng đất mới vừa tự hào về quê gốc của mình. Duy có trong kinh doanh ít thấy tinh thần này được phát huy. Có chăng chỉ là giúp nhau lúc hoạn nạn, xóa đói giảm nghèo hay bước đầu mới nhập cư. Thói quen tạm bợ và làm liều, bất chấp luật pháp cũng còn thấy rõ ở các khu mới di dân từ Bắc vào. Tuy nhiên ở các cộng đồng di cư, nhất là lớp trẻ thì chủ nghĩa cá nhân, tính tự lập được phát huy do thoát được những  thói quen, quan hệ và giáo điều ở quê cũ. Ham thích lập nghiệp cũng được thổi bùng. Họ không an phận như ở cái “ao tù” xưa cũ. Chúng ta có những giá trị và ràng buộc của tình đồng hương, đồng ngũ nhưng hầu như không có tinh thần “đồng nghiệp” cả trong quản lý, nghiên cứu, sản xuất lẫn trong thương mại…  Có thể thấy rằng các loại vốn xã hội ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, phức tạp. Những ràng buộc và chế tài vô hình, những thói quen, nếp nghĩ phổ biến trong từng cộng đồng làm cho mỗi cá nhân từ vô thức đã khó chống lại. Các loại quan hệ đó mang những thước đo giá trị vô hình nhưng tác động cụ thể trong đời sống chính trị, hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Hầu như bất kỳ loại vốn nào, kiểu liên kết ràng buộc, thang giá trị, thông tin nào cũng có thể là nguồn động lực hay cản trở phát triển kinh tế và xã hội công dân tùy cách, tùy nơi, tùy lúc. Có người cho rằng cần tìm ra một thứ dân chủ kiểu Việt Nam- có “hương vị Việt Nam” có lẽ muốn dung hòa tận dụng các loại vốn xã hội này! Tính nhỏ lẻ, địa phương và màu sắc văn hóa của cộng đồng nhỏ là đặc trưng cho các loại “vốn xã hội” vốn văn hóa này. Việc đi tới những thước đo, thang giá trị chung không phải dễ và xóa sạch tính nhỏ lẻ chưa chắc đã hay!  Gần đây có những ý kiến đề cao vai trò của đạo Khổng trong văn hóa châu Á như một lợi thế phát triển, tôi nghĩ rằng cần thận trọng trong việc xếp Việt Nam nằm gọn trong thế giới Khổng giáo, cần nghiên cứu thấu đáo hơn về đạo Khổng ở Việt Nam. Việc quay lại quảng bá: công- dung- ngôn- hạnh cho phong trào giải phóng phụ nữ, nêu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở các trường học, khôi phục miếu thờ Văn Vương -Khổng Tử như là đền thờ quốc gia (dịch nhầm là miếu thờ  văn học –văn hóa! Vô tình khuyến khích học cử tử, học để làm quan và chuộng hư danh) nhiều khi lợi bất cập hại! Phan Khôi có những ý kiến rất hữu ích và còn thời sự về Khổng học ở Việt Nam (xem Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo 1929- Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Đà Nẵng 2005, trang 40).   Cần nghiên cứu tính phức tạp và đa dạng của vốn xã hội ở Việt Nam. Chính vì thế tôi thấy hội thảo này sẽ rất bổ ích.  3. Truyền thống nghệ thuật như một nguồn lực văn hóa và gắn kết cộng đồng  Những quan hệ, ràng buộc, chuẩn mực, thói quen ở ba mặt nêu trên cũng tạo ra trong những thế kỷ 16- 19 những truyền thống và thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam từ mỹ thuật tới văn học, sân khấu, âm nhạc… Việc xác định đặc tính, phẩm chất và gốc rễ xã hội của các thành tựu nghệ thuật giai đoạn cổ điển này quan trọng hơn việc thích đẩy niên đại lùi về thời Hùng Vương hay Lê Sơ để tăng bề dày truyền thống. Nghệ thuật của chúng ta  mang tính đa dạng vùng miền rất rõ vì thế rất đặc sắc và cũng vì thế thường nhỏ nhoi khó mang tầm quốc gia và tầm quốc tế. Tuy nhiên vào thời buổi này bản sắc và sự đa dạng lại lên ngôi và là lợi thế lớn. Văn hóa làng vẫn bàng bạc trong cả văn chương hiện đại hôm nay. Chèo khó ai nghe ở Nam bộ, cải lương khó thịnh hành ở Bắc kỳ, tượng Chăm còn nhiều người Bắc cho là “không thuần Việt” (tuy việc khai quật thành cổ Thăng Long thời Lý-Trần với những dấu ấn Chăm rõ rệt có làm một số sử gia “Khổng- Mạnh” thay đổi cách nhìn một chút). Văn học chỉ đạt mức cổ điển ở văn vần nên hiện nay người Việt vẫn là người sính thơ nhất (các câu lạc bộ thơ, tiêu chuẩn văn hóa khu phố, Hội người cao tuổi, cựu chiến binh… có lệ là phải làm thơ. Ngày thơ Việt Nam được ủng hộ khá nhiệt liệt. Từ quan chức về hưu, giáo làng tới nông dân, lái đò, cô bán tạp hóa chợ Đông Ba… lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, đọc thơ cả). Việc say chèo, tuồng, cải lương, ca trù, đờn ca tài tử của từng vùng, từng cộng đồng có thể tạo các fans club khá mạnh, tạo nên những sinh hoạt văn hóa đa dạng gắn kết cộng đồng. Dòng ca nhạc não nuột, nhớ quê ở hải ngoại cũng như ngay quê hương mình đi cùng với sự phân biệt các cộng đồng di cư trước 45, sau 75 và sau 90 làm cho anh nhạc sĩ Hà Nội sống ở Sài Gòn mà cứ rên rỉ nhớ nhung hoa sữa như nhớ tới đảo Bồng Lai hay thời Nghiêu Thuấn vậy! Cũng không nước nào có cả một nền văn nghệ quân đội như nước ta. Tướng, tá, lính làm thơ, viết văn là chuyện thường! “Làm thơ và đánh giặc” như Nguyễn Trãi vẫn là hình ảnh lý tưởng khá viển vông và vô bổ trong thời bình phát triển kinh tế. Tôi nghĩ rằng truyền thống nghệ thuật Việt Nam rất đặc sắc và phong phú mà mang đậm sắc thái vùng miền nên việc phát huy vốn này rất thích hợp với việc gìn giữ di sản, xây dựng cộng đồng. Các làng quan họ, chương trình Vầng trăng cổ nhạc, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử, các làng gốm, làng lụa, làng hoa… nói chung các thú vui nho nhỏ của cộng đồng nhỏ có thể gắn kết con người ở các khu công nghiệp, khu phố văn hóa, ở các hội đoàn cơ sở, ở khu dân cư mới và làng xóm cũ. Việc chưa thành cổ điển và toàn dân tộc của đại bộ phận truyền thống văn hóa càng đòi hỏi chương trình giáo dục nghệ thuật và di sản cho toàn dân, thực hiện một cách chính quy có bài bản từ phổ thông. Việc này cần làm hệ thống và là một nội dung chính của cải cách giáo dục. Không thể chỉ làm manh mún như dạy cồng chiêng cho trường Tây Nguyên hay vài thử nghiệm sân khấu học đường cùng vài tờ tranh giới thiệu vài danh họa bên cạnh tranh thiếu nhi. Mặt khác ta cũng thấy  nghệ thuật vàng mã đúng là nghệ thuật đáng ở bảo tàng, hát văn rất hay song cũng có thể hòa với làn sóng mê tín, dị đoan và thú cầu cơ gọi hồn, lên đồng… đang bùng phát trở lại. Ngay trong mỹ thuật, việc trở lại với truyền thống nghệ thuật tiền thực dân (mà có ít nhất ba thành tựu cỡ thế giới là nghệ thuật Chăm, gốm Lý Trần và tượng gỗ đình chùa Bắc bộ), một bước “bẻ lái” đột phá nhiều ý nghĩa của hội họa đổi mới, cũng  có nguy cơ làm cho nghệ thuật đang đi theo hướng chuyên nghiệp lại bị “tái dân gian hóa”, trở nên nông cạn và thành thứ hàng du lịch! Tác dụng tiêu cực luôn tiềm ẩn trong vốn văn hóa.     Khi bàn tới phát triển văn hóa ta luôn gặp thế lưỡng nan: bảo tồn một cách bảo thủ hay phát triển, cách tân hướng ngoại. Nay trong toàn cầu hóa vấn đề còn là có bị tái thực dân hóa về văn hóa hay không và “cái lạnh lẽo” của toàn cầu hóa (chữ của ông giám đốc Viện Gớt Augustin) có đóng băng sự đa dạng văn hóa, bứng rễ các nền văn hóa nghệ thuật ở các nước đang phát triển như nước ta hay không?  Tóm lại, những thực tế thành công thường là sự đổi chiều, chuyển hướng chức năng của truyền thống (gồm cả các thành tựu cũng như các ràng buộc, quan hệ, chuẩn mực giá trị mà chúng ta tạm gọi là quỹ xã hội) sao cho chúng không là một cản trở mà là các nguồn lực trong các cộng đồng mới cụ thể và linh hoạt.  Tôi cho rằng vốn xã hội sẽ thành nguồn lực nếu ta chỉ phát huy bản chất của nó trong các tương quan mới, mục đích mới bằng các cách thức mới. Nếu mù quáng tin vào những giá trị vô hình và rập nguyên khuôn mẫu, cách thức, mục đích như xưa kia và như nó đang tồn tại thì nó sẽ là những cản trở.           Nguyễn Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội, nhìn từ góc độ doanh nghiệp      Một trong những cách để tìm hiểu khái niệm mới là bắt đầu từ những trải nghiệm thực tế, sau đó đem đối chiếu thực tế đó với một số cách hiểu phổ biến được giới thiệu về khái niệm. Kết quả của quá trình này-ở mức tối thiểu là người tìm hiểu có thể gọi tên những “sự vật” mình có thể “thấy được” phù hợp với ý nghĩa đã xác định của khái niệm. Nếu tốt hơn thì người tìm hiểu có thể bổ sung hoặc tạo mới những ý nghĩa cho khái niệm đã có sẵn.    Xin được bắt đầu bằng ví dụ từ một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phần mềm. Công ty này làm ra và bán các phần mềm về quản lý. Đó là công việc làm chung của tất cả những nhà quản lý và nhân viên trong doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, sự ràng buộc lẫn nhau giữa các thành viên trong công ty thường dựa trên một số yếu tố cơ bản dưới đây:  1.                  Thống nhất với nhau về mục tiêu hoạt động (Tạo ra lợi nhuận từ việc sản xuất kinh doanh, thực hiện mơ ước tạo ra những sản phẩm phần mềm quản lý của người Việt Nam phục vụ cho thị trường trong nước và nước ngoài, xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp và nhân văn cho mọi người v.v…)   2.                  Thống nhất với nhau về quy định, chuẩn mực trong hành xử giữa nhà quản lý và nhân viên, giữa các bộ phận, cá nhân khác nhau trong công ty, giữa công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp.  3.                  Thống nhất với nhau về quyền và nghĩa vụ trong từng vị trí công việc, các chế độ, chính sách về lương, thưởng, đào tạo, đánh giá thành tích, xử phạt v.v…  4.                  Niềm tin vào sản phẩm đang kinh doanh, niềm tự hào về công ty  5.                  Niềm tin vào lãnh đạo cao nhất và đội ngũ quản lý của công ty.  Có thể nhận thấy đây là những yếu tố có tác động chồng chéo và ảnh hưởng lớn đến cách thức mỗi cá nhân giao dịch (hoặc giao tiếp) trong tổ chức cũng như với các tổ chức bên ngoài liên quan. Chúng ảnh hưởng đến quyết định cá nhân gia nhập vào công ty, thái độ làm việc trong công ty và chia tay với công ty. Năm yếu tố trên được đáp ứng và thỏa mãn sẽ làm cho sự ràng buộc lẫn nhau trong các thành viên chặt chẽ và bền vững hoặc ngược lại.   Trở lại với khái niệm “Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống”. Những ràng buộc lẫn nhau này, được hiểu là vốn xã hội, được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới´”[1].  Có lẽ cách hiểu này cần được làm rõ là vốn xã hội sẽ phụ thuộc vào số lượng hay chất lượng của sự ràng buộc lẫn nhau. Bên cạnh đó cũng cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự ràng buộc lẫn nhau (số lượng và chất lượng), vì đây là những cơ sở để trả lời cho một số vấn đề đang được quan tâm liên quan đến vốn xã hội như: làm sao để đánh giá vốn xã hội và liệu có thể đo lường được nó không? Vai trò của vốn xã hội trong việc thúc đẩy sự quản lý tốt?    Từ thực tế đã nêu trong một doanh nghiệp, một khi xác định đó là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sự ràng buộc lẫn nhau trong tổ chức, liệu chúng ta có thể đưa ra một cách hiểu về khái niệm về vốn xã hội như sau: Vốn xã hội là những yếu tố tinh thần (ví dụ như sự đồng thuận, niềm tin) có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng sự ràng buộc lẫn nhau giữa các cá nhân trong một tổ chức, cộng đồng.  Với cách hiểu đã nêu, chúng ta sẽ đưa ra những diễn dịch sau: Muốn tạo ra vốn xã hội trong doanh nghiệp, chúng ta cần phải xây dựng sự đồng thuận và niềm tin. Muốn đo lường vốn xã hội trong doanh nghiệp chúng ta sẽ đo lường sự đồng thuận (về mục tiêu họat động, các quy định, chuẩn mực, các chế độ, chính sách) và niềm tin (đối với lãnh đạo, sản phẩm và công ty) của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp. Và đây sẽ là cơ sở để chúng ta nhận thức về vốn xã hội trong doanh nghiệp, xây dựng các công cụ phương pháp để đo lường và xác định các giải pháp hành động thúc đẩy công tác quản lý của doanh nghiệp?  Lời kết  Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của một khái niệm mới chỉ thực sự mang lại ý nghĩa khi cung cấp cho người tìm hiểu những nhận thức mới về thực tế hiện tại, và quan trọng hơn, những nhận t thức mới đó trở thành sức mạnh, động lực để hành động tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cuộc sống.  Vốn xã hội là khái niệm được chuyển dịch từ ngôn ngữ nước ngoài. Nội hàm trước hết của khái niệm được hiểu theo định nghĩa và cách sử dụng khái niệm này của tác giả người nước ngoài. Ngay cả trong trường hợp này, hiểu như thế nào cho đúng và thống nhất là đã khó vì “chưa có một định nghĩa hoàn thiện nào được mọi người thừa nhận chung cho khái niệm vốn xã hội, lại càng chưa có một cách thức nào đo lường, đong đếm một cách định lượng nguồn vốn đó để có thể đưa “đại lượng” vốn xã hội vào các mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đây là hiện tượng bình thường trong ngôn ngữ và cuộc sống.  Khi chuyển dịch sang Tiếng Việt, ngữ nghĩa của từ này sẽ bị “khúc xạ” qua “lăng kính” của người dịch và người đọc. Độ khúc xạ lớn hay nhỏ tùy thuộc vào năng lực hiểu biết và khả năng ngôn ngữ, thái độ khách quan của người dịch và người đọc. Bên cạnh đó, nhu cầu hiểu khái niệm này theo cách riêng của mình cũng bắt đầu xuất hiện. Sự diễn dịch, dẫn chứng cho ví dụ từ những khái niệm ban đầu sẽ làm cho khái niệm được mở rộng. Một khi khái niệm càng được mở rộng ý nghĩa, cách hiểu thống nhất về khái niệm càng thu nhỏ. Một khi không thể xây dựng được một chuẩn thống nhất để hiểu, việc đo lường cũng trở nên vô cùng khó khăn.  Nêu ra những điều này để xin được bày tỏ một vài mong đợi đối với diễn đàn “Vốn xã hội trong phát triển” như sau:  1.                  Diễn đàn sẽ giới thiệu càng nhiều càng tốt những cách hiểu, định nghĩa về khái niệm “vốn xã hội” .Việc đưa ra một khái niệm thống nhất về khái niệm này chắc là không thể thực hiện được, nhưng hy vọng những người tham gia diễn đàn sẽ thảo luận và giới thiệu một số định nghĩa, cách hiểu phổ biến, nhất là những cách hiểu phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam. Nếu Việt hóa được khái niệm vốn xã hội thì thật là tuyệt vời.  2.                  Dựa trên những định nghĩa phổ biến, diễn đàn sẽ đúc kết được một số công cụ và phương pháp giúp các nhà quản lý xã hội, doanh nghiệp, tổ chức đánh giá, đo lường vốn xã hội một cách có hệ thống và khoa học.  3.                   Diễn đàn sẽ khơi gợi niềm tin và tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội để sẽ có nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm đến xây dựng và phát huy vốn xã hội, biết cách sử dụng vốn xã hội để phát triển cá nhân, xây dựng những tổ chức, doanh nghiệp lành mạnh, phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.  Trân trọng cảm ơn.  ———————  * ( Phó giám đốc nhân sự trung tâm công nghệ phần mềm SSP- Thạc sĩ Xã hội học)   [1] Trích từ tham luận “Vốn xã hội và phát triển”- LS Nguyễn Ngọc Bích.  Trần Minh Trọng*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn Xã hội nhìn từ Tương quan giữa Ba Giác độ: Nhà nước, Thị trường, Xã hội Dân chính.      Lịch sử là một tiến trình chuyển động với dạng ‘bình thông nhau’: một sự cố trong lĩnh vực này vẫn luôn tương tác với lĩnh vực khác! Và con người –hiểu theo nghĩa nhân loại- có thể làm chủ được phần nào lịch sử của chính nó khi nó nhìn nhận ra:       1.        Vốn Xã Hội và Cách Tiếp cận Liên ngành.        1). Đâu là các lĩnh vực cơ bản tạo nên ‘cơ chế/động thái vận hành’ của lịch sử cộng đồng ; 2). Và thế nào là lưỡng tính vừa ‘vận động tự thân’ vừa ‘độc lập tương đối’ của mỗi một lĩnh vực ấy.                  Tiếp cận như trên chính là đặt vấn đề tìm hiểu tính chất của các mối quan hệ giữa những thành tố cấu thành thực thể: mọi thực tế và trạng thái, không bao giờ là một khối toàn nhất tự nó, mà hiện diện từ việc kết nối – chính xác là từ đặc tính của sự quan hệ- giữa những phần tử hay yếu tố khác nhau. Trong chiều hướng ấy, năng lực vận động của một cộng đồng quốc gia thoát thai từ tính chất của các mối tương quan giữa ba lĩnh vực cơ bản là Nhà nước, Thị trường và Xã hội!                 Trong sự giao thoa giữa ba lĩnh vực trên, thông thường là giới chính trị học vẫn coi trọng vai trò của Nhà nước và chuyên gia kinh tế lại chú tâm đến sự sinh động của thị trường. Nhưng với cách nhìn phức hợp ngày nay, tính chất của xã hội lại có khuynh hướng chiếm trọng tâm: chẳng phải ngẫu nhiên mà thành ngữ tưởng là giản đơn ‘Xã hội nào thì Nhà nước ấy và Thị trường thế nào thì cần Xã hội thế ấy’ lại biến thành một ‘phương châm nghiên cứu’ của liên ngành xã hội-kinh tế-chính trị học!                   Trong khuôn khổ đó, khái niệm ‘vốn xã hội’ trở thành ‘vấn đề lớn’: khác với ‘tài nguyên xã hội’ (‘Social Resources/SR’) chú trọng đến việc liệt kê ‘trọng lực tự thân’ của những ‘lượng của cải’ mà một tập thể nhân quần có được ở ba bình diện khác nhau là nhân lực, tài lực và vật lực, ‘vốn xã hội’ (‘Social Capital/SC’) đặt vấn đề tìm hiểu tính năng động và chiều hướng phát triển của cộng đồng xã hội thông qua việc phân tích cùng lúc cách kết nối giữa ba bình diện vừa nêu trên và thể loại tương giao giữa những tác nhân cấu thành nội hàm của ‘nguồn nhân lực/nhân sự’.                    Cần hiểu rõ ý nghĩa của cụm từ ‘thể loại tương giao giữa những tác nhân cấu thành nộị hàm của nguồn nhân lực/nhân sự’ vừa nêu: đó là hình thái của ‘mạng quan hệ cá nhân và cộng đồng’ (‘individual and community network’) bao gồm một bên là giữa các cá nhân với nhau và một bên là giữa các cá nhân với những tập hợp quy tụ các cá nhân đó. Vào thời buổi ‘World Cup’, có thể lấy bóng đá để sáng tỏ vấn đề: chẳng ‘ăn thua’ gì nếu một đội có đủ 11 siêu sao nhưng mỗi siêu sao chỉ khư khư nghĩ đến việc ‘tự mình thể hiện mình’ mà không gắn kết với nhau bởi một ‘tinh thần đồng đội’ phối hợp nhịp nhàng việc vận hành các ‘bộ phận hữu cơ của tập thể’ là thủ môn, hậu vệ, trung vệ, tiền vệ và tiền đạo!  Chính vì thế mà trong doanh nghiệp đã hình thành sự tương hỗ giữa hai chuyên ngành là ‘quản trị nguồn nhân lực’ (‘Human Resources Management/HRM’) và ‘quản trị đội ngũ nhân sự’ (‘People-Team Management/PTM’): một bên khởi nguyên từ việc tìm hiểu ‘khả năng bản thân của mỗi một cá nhân hoạt động cho doanh nghiệp’ và một bên lại phát sinh từ sự quan tâm đến ‘tiềm năng của việc tích hợp những quan hệ giữa các thành viên của toàn thể cộng đồng cấu thành nội và ngoại lực của doanh nghiệp’.                  Tuy nhiên, xuất hiện ở đây vấn đề mấu chốt mà việc tháo gỡ có khả năng đặt định cơ sở cho việc phát huy vai trò của vốn xã hội trong tiến trình ‘phát triển hài hoà’ với ý nghĩa là ‘tăng trưởng cân đối giữa kinh tế, xã hội và chính trị’ và theo hướng ‘quan hệ tương hỗ và cân bằng cán cân lực lượng giữa Nhà nước, thị trường và xã hội’, cụ thể là ở Việt Nam.   2. Từ Xã Hội Công Dân đến Xã hội Dân Sự và Vốn Xã Hội trong Thể Chế Tư Bản.             Vấn đề mấu chốt ấy được khơi mào từ một câu hỏi thoạt tiên tưởng chỉ đơn thuần là hàn lâm: vì những lý do cụ thể gì mà khái niệm vốn xã hội, nguyên nội dung đã được phân tích khá rõ vào giữa thập niên 1910 (chính xác là 1916 bởi một giảng viên trường cao đẳng ở West Virginia là L.J. Hanifan trong một công trình nghiên cứu về ‘cộng đồng nông thôn/rural community’ đăng trong ‘Annals of the American Academy of Political and Social Science’, 67-XIX/XVI-NY), lại phải chờ đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI mới được nhiều tác giả quốc tế đồng loạt đề cao như một ‘công cụ tư duy về xã hội mang tính khai phá và rất hữu dụng cho việc thúc đẩy tích cực tiến trình phát triển kinh tế và chính trị’?            Một nhận định của Karl Marx hoàn toàn đúng ở đây: ‘nhân loại chỉ đào sâu những câu hỏi nào có thể mang đến cho nó hướng giải quyết các vấn đề đang được đặt ra’! Quả thế:  xuất hiện trong khoảng thời gian mà khái niệm ‘Xã hội Dân Sự /Công Dân’(‘Civil Society/CS)’ đang trên đà chiếm lĩnh các ngành khoa học xã hội, nhân văn, chính trị và kinh tế Âu Mỹ không chỉ như một luận đề có khả năng kiến giải sự tiến hoá của lịch sử các cộng đồng quốc gia mà còn như một ‘phương thức lâm sàng’ (‘clinical method’) góp phần ‘giải phóng’ con người khỏi sự vô cảm của những guồng máy nặng nề của quyền lực, khái niệm ‘Vốn Xã Hội’ bị ‘bỏ quên’ vì chỉ được nhìn nhận như ‘một chìa khoá nhỏ mở ra một khung cửa sổ hẹp thuộc diện vi mô của sinh hoạt cộng đồng’. Nói cách khác: khi phần lớn các tác giả thời danh lúc bấy giờ đều hình dung là các vấn đề cơ bản có thể được giải quyết rốt ráo với việc triển khai và ứng dụng khái niệm ‘Xã hội Dân Sự /Công Dân’ thì ‘bày thêm’ một khái niệm khác như ‘Vốn Xã Hội’ biến thành ‘việc tốn công không cần thiết’ (: ‘nguyên lý tiết kiệm/principle of economy’ trong ‘tư duy khoa học’: khi mọi vấn đề cơ bản đều có thể giải quyết với ‘CS’ thì ‘SC’ lại đâm ra ‘thừa’)!            Phải chờ đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi mà phần lớn các xã hội dân sự /công dân Âu Mỹ đã gần như bị biến chất và lộ rõ sự bất lực trong việc cân bằng các mối tương quan giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thì khái niệm ‘vốn xã hội’ -đã được thi thoảng ‘đánh thức’ trước đấy bởi vài tác giả nổi danh kể từ thập niên 1960- lại trở thành một ‘đề tài nóng’. Nói gọn: tính chất của ‘xã hội dân sự/công dân’ còn lại được gì khi mà nhiều quan hệ xã hội đã bị biến thái vì sự ‘co cụm về bản thân’ ?! Ngay đến một thú tiêu khiển trước đấy ở Mỹ (và Tây Âu) mang tính ‘tập thể của những tối thứ bảy sốt bỏng’ (‘Saturday Night Fever’s Community’) mà nay lại biến thành ‘Chơi Bowling Một Mình’ (lấy từ tựa đề một tác phẩm của Robert Putnam ‘Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community’, Simon & Schuster ed. NY 2000) thì việc ‘xé lẻ giữa con người dân sự và cộng đồng công dân’ trở thành không chỉ là mối đe doạ cho sự cường thịnh của chính thể quốc gia mà còn là cơ hội để thị trường bành trướng theo hướng ‘hoàn toàn tự nó và vì nó’!            Thật vậy: cơ bản được đình hình với G.W.F.Hegel và sau đó được phân tích trong các bối cảnh lịch sử khác nhau (chủ yếu là từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX) bởi Karl Marx, nội dung của khái niệm xã hội dân sự/công dân cũng như các mối tương quan biện chứng giữa xã hội ấy và Nhà nước đã được thể hiện rõ ràng: thoát thai từ những tập hợp thuộc ‘phong trào Anh sáng’ và trước sự khủng hoảng của chế độ phong kiến , ‘xã hội dân sự/công dân tư sản’ tự khẳng định nó thông qua việc đối kháng với Nhà nước quân chủ. Nhưng rồi với sự hình thành của Nhà nước tư sản, xã hội dân sự/công dân tư sản lại trở thành một định chế gắn kết tương tác với Nhà nước: thoát thai từ xã hội dân sự/công dân (tư sản), Nhà nước (tư sản) trở thành ‘đại diện’ của nó, là một thiết chế chính trị mà cộng đồng xã hội điều tiết/điều hợp những lợi ích chung và riêng, những mâu thuẫn giữa tập thể quốc gia và các đoàn thể quốc dân, những đối kháng giữa giai cấp/giai tầng xã hội và công dân, giữa cá nhân và tổ chức.  Trong chiều hướng đó, xã hội dân sự/công dân không còn là một thực thể hoàn toàn độc lập hoặc/và đối kháng với Nhà nước mà biến thành chính là một ‘cộng đồng môi giới’, trung gian giữa chính quyền và tư nhân, giữa guồng máy tập quyền và các qui hợp tản quyền, giữa ý thức hệ bá quyền của thể chế và hệ tư tưởng đa tuyến của cá nhân.             Cũng trong diễn trình đó, ‘phẩm chất công dân’ của xã hội tư sản ấy càng ngày càng được đề cao: ‘việc dân sự’ không phải thuần tuý là việc ‘riêng của cá nhân’ vì chính là thông qua sự thực hiện ‘việc dân sự’ mà mỗi một thành viên của cộng đồng dân cư thể hiện rõ nét vai trò công dân của mình. Chẳng phải vô cớ mà khái niệm ‘Citizenship’ (‘tính chất công dân’) đã được quảng bá song hành với những định chế thuộc Nhà nước tư sản và khái niệm ‘Civil Society’ đã phát triển song song với việc đề cao ý thức hệ về ‘Civic Rights’ (‘quyền công dân’) của tư bản: xã hội dân sự trở thành một thực thể ‘thiết thực và hữu dụng’ cho Nhà nước tư sản vì nó đóng trọn vẹn vai trò ‘tổ chức công dân’ làm ‘trợ tá hữu cơ’ (‘Organic Clerk’) cho chính thể tư bản. Theo đó, ý nghĩa của từ ‘Civil’ trong ‘Civil Society’ không còn chủ yếu là dùng để đối kháng với ‘phong kiến’ (‘Feudal’) vốn khởi nguyên từ sự mâu thuẫn giữa ‘độc đoán, chuyên quyền’ (‘Autocratic’) và ‘Civilized’ (‘văn minh’, hiểu theo nghĩa đen là ‘không còn bị che lấp bởi sự tăm tối’. Cũng cần chú ý: ‘Civilization’ và ‘Civil’ có cùng nghĩa gốc  của từ La Tinh là ‘không [còn] chịu lệ thuộc [và nhờ thế mới biến thành văn minh]’, vì vậy nếu theo nghĩa tầm nguyên của từ ‘Civil Society’ thì phải dịch theo ý là ‘xã hội không còn chấp nhận sự cương toả của Nhà nước phong kiến’, hiểu rộng hơn là ‘xã hội của người dân không chấp nhận chuyên quyền quân chủ’, và chính xác là ‘xã hội của quyền công dân’ hoặc gọn là ‘xã hội công dân’)!            Với triết gia và nhà cách mạng người Y, Antonio Gramsci, biện chứng trên còn được phân tích rõ ràng hơn (‘Gramsci & The History of Dialectical Thought’ by Maurice Finocchiaro, Cambridge University Press 2002): xã hội công dân tư sản –nghĩa là tất cả những tổ chức và tập hợp dân lập ngoài chính quyền- thoạt tiên tưởng là một thực thể nằm bên ngoài Nhà nước tư sản nhưng thực chất lại  thuộc ‘phạm trù cai quản’ của Nhà nước tư sản được xem như là một chỉnh thể pháp định. Đúng vậy: dù có là tự lập hay tự quản thì toàn bộ xã hội công dân vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp chế Nhà nước! Chính vì thế mà khi Nhà nước càng mở rộng nền pháp lý nhằm ‘hợp thức hoá/định chế hoá’ những hoạt động của xã hội công dân thì vô hình trung xã hội ấy trở thành một thiết chế nằm trong hệ thống pháp quy (: ‘luật chơi’) của Nhà nước hiện hành, tự mình biến thành một tác nhân trực tiếp điều tiết những mâu thuẫn tiềm tàng trong công đồng dân chúng, đỡ cho Nhà nước cầm quyền khỏi phải ôm đồm bao biện mọi lĩnh vực. Theo chiều hướng ấy, tính năng động của xã hội công dân rốt cuộc lại bổ sung cho những hoạt động của bộ máy Nhà nước, và cuối cùng là hai thực thể hữu cơ ấy liên hợp lại thành một hệ thống chỉnh thể mà sự ‘vận hành kép’ góp phần vào sự ‘tái tạo mở rộng của chính thể tư bản’.            Kết lại, có thể nói như nhận định của Joseph Schumpeter (‘Capitalism, Socialism and Democracy’, Peter Smith Publishers 1984) là ‘tính đối trọng’ giữa Nhà nước và xã hội công dân trong chế độ tư bản tương tự như sự ‘cân bằng giữa mã lực của chiếc xe và sức chận của cái phanh: xe chạy nhanh mà không có phanh tốt thì dễ toi đời’. Và ‘tuyệt chiêu’ của tư bản là Nhà nước và xã hội công dân hoạt động tương tác với nhau: cái này phóng nhanh quá thì cái kia đạp phanh và cái kia chậm quá thì cái này lại rồ máy tăng ga’. Nói cách khác, Nhà nước và xã hội công dân vừa thúc đẩy tính năng động của nhau vừa làm đối lực cho ‘sức mạnh’ của nhau!            Tuy nhiên, sự vận hành của hệ thống bên trên không còn được như ý kể từ cuối thập niên 1960 với ‘sức mạnh bành trướng’ của thị trường:            Trong kinh tế-chính trị học tư bản, từ ‘bàn tay vô hình’ của Adam Smith đến những ‘mô hình tự điều tiết’ của các trường phái tân cổ điển, vai trò chủ yếu của Nhà nước được đặt định trong việc ngăn chặn những ‘tiêu cực ngoại vi’ của thị trường  (‘negative externalities’) và thực hiện những công trình mà thị trường không thu được lợi riêng. Trong chiều hướng đó, chức năng cơ bản của Nhà nước nói chung chỉ là ‘trợ thủ’ cho kinh tế thị trường và ‘bảo vệ’ trật tự tư sản.             Kể từ thập niên 1930 và nhất là sau Đệ Nhị Thế Chiến, với việc ứng dụng lý thuyết kinh tế của Keynes, Nhà nước lại có thêm nhiệm vụ tích cực trong việc phân phối thu nhập quốc dân để ‘kích cầu’ và qua đó thúc đẩy sản xuất. Với ‘Nhà nước bảo trợ’, mức sống của xã hội Âu Mỹ đã được cải thiện đáng kể. Nhưng sự bành trướng của Nhà nước ấy rốt cuộc đã đưa đến hệ quả là sự huỷ hoại tính tự chủ của xã hội công dân đồng thời với sự lan tràn của một guồng máy hành chính công quyền nặng nề: sau ‘30 năm vàng son’ (‘The Glorious’ 30’) của việc điều hợp những thoả hiệp giữa tư sản và lao động và tăng cường phúc lợi xã hội, trước thềm của ‘chu kỳ I trong khủng hoảng kinh tế (dầu lửa)’ -nghĩa là vào thập niên 70-, các xã hội công dân ở Âu Mỹ nhìn chung đã biến thành một mạng lưới chằng chịt tập hợp vô số những tổ chức phường hội, đòi hỏi những quyền lợi cục bộ và trông chờ vào sự ‘bảo trợ của Nhà nước’!            Sang đến cuối thập niên 1980, với sự suy thoái của các chính thể theo mô hình của Keynes (chủ yếu là ở Tây và Bắc Âu), những chính sách kinh tế tân tự do, khởi xướng từ Anh và Mỹ, ngày càng lan rộng: Nhà nước nhường chỗ cho thị trường! Chính xác hơn, Nhà nước càng ngày càng bị ‘thị trường hoá’: không những Nhà nước phải mở cửa cho nguyên tắc tư lợi được triển khai ở những khu vực trước đấy thuộc diện công quản hoặc bán công (y tế, giáo dục, bảo hiểm lao động và xã hội…) mà còn phải nhân danh hiệu năng và hiệu suất kinh tế can thiệp thẳng vào việc tổ chức sản xuất (qui chế lao động, định chuẩn mức lương, chi viện ngân sách, phân bố qui trình…). Và sang đến giữa thập niên 1990, những chính sách ‘giải lệ’ (‘Deregulation’, nghĩa là giải trừ những qui định pháp lý có trước đấy để mở rộng cho thị trường hoạt động một cách toàn năng trong gần như tất cả mọi lĩnh vực) rốt cuộc đã biến Nhà nước thành công cụ trực tiếp của một thể chế tư bản muốn thị trường hoá các vận hành và quan hệ xã hội, kể cả những vận hành và quan hệ vốn nằm ngoài phạm trù kinh tế.            Trong bối cảnh đó, cán cân ‘tương quan lực lượng’ giữa thị trường, Nhà nước và xã hội công dân nghiêng hẳn về thị trường ngày càng trở thành một tác nhân thống lĩnh. Và cũng trong diễn trình đó, các ‘học thuyết tân tự do’ trong khoa học xã hội, nhân văn và chính trị –dựa vào ‘trọng lượng’ của các trường phái tân cổ điển trong kinh tế học- đã phổ biến những ‘định nghĩa mới’ về ‘Civil Society’: đó là khoảng không gian riêng biệt của những mối quan hệ hợp tác giữa tư nhân, nghĩa là những cá nhân trưởng thành, tự do và ý thức, có quyền thiết lập cho riêng mình mọi ‘thể loại hợp đồng quan hệ’ miễn sao các ‘hoạt động dân sự’ ấy không đụng chạm đến quyền lợi của cá nhân khác trong cộng đồng. Nói gọn: nội hàm của ý niệm ‘Civic/Công dân’ trong ‘Civil Society’ hoàn toàn bị  triệt tiêu so với ý niệm ‘Civil/Dân sự’ hiểu đơn thuần theo nghĩa đấy là ‘việc riêng của cá nhân, miễn sao tự do của cá nhân này không đụng chạm đến tự do của cá nhân khác’. (Chính vì thế, mà xin nói thêm ở đây là khi dịch khái niệm ‘Civil Society’ ra tiếng Việt với hai thuật ngữ ‘Xã hội Công dân’/’Xã hội Dân sự’ cũng cần lưu ý đến những ‘khác biệt của các bối cảnh’ tác động đến nội hàm của hai ý niệm ‘công dân’ và ‘dân sự’ như vừa được trình bày).              Nói cách khác, khi mà việc ứng dụng triệt để các trường phái tân cổ điển trong kinh tế đã đưa đến hệ quả là ‘thị trường ngày càng phình ra, Nhà nước ngày càng teo lại’ thì các’học thuyết tân tự do’ (mà một số còn tự nhận một cách ‘hàm hồ’ là ‘hậu hiện đại’!) trong các ngành xã hội, nhân văn và chính trị học cũng phải góp phần để ‘xã hội dân sự’ gây sức ép cho Nhà nước ngày càng ‘teo thêm’ bằng cách định chế hoá xã hội ấy thuần tuý như một ‘không gian của tư nhân’ vì thế mà nó nhất thiết phải luôn luôn đối kháng với cái ‘vô nhân lạnh lùng’ của guồng máy Nhà nước!            Kết lại, trong diễn trình lịch sử ấy, sự ‘tái xuất giang hồ’ của khái niệm ‘Vốn Xã Hội’ cũng như việc triển khai những luận đề phát xuất từ khái niệm ấy vào cuối thể kỷ XX đầu thế kỷ XXI ở Âu Mỹ hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên: vấn đề đặt ra là ‘Vốn Xã Hội’ ấy được nhìn từ giác độ nào? Từ Nhà nước? Từ thị trường? Từ chính xã hội? Hay từ mối tương quan giữa cả ba giác độ ấy? Và ‘Vốn Xã Hội’ ấy có chức năng cơ bản gì đối với thể chế  tư bản?    3. ‘Xã hội hoá Vốn Xã hội’  và ‘Xã hội Dân chính’          hay Vì sao Tư bản lại Cần Vốn Xã hội?            Với những ai đã đọc kỹ ‘Chơi Bowling Một Mình’ của Robert Putnam, điều gây ấn tượng đầu tiên là khái niệm ‘Social Capital’ trong tác phẩm ấy khởi nguyên được đặt song hành với các khái niệm ‘Civic Participation’ (‘Tham gia với tư cách công dân’) và ‘Civic Engagement’ (‘Cam kết/Dấn thân theo tính chất công dân’): hiện tượng con người trong xã hội ‘co cụm về chính bản thân của riêng nó’ (‘Egotism/Egocentricity’) thể hiện một sự ‘từ chối/từ nhiệm tính chất công dân của nó’ (‘Renunciation/Resignation’. Lưu ý, từ ‘Resignation’ còn có nghĩa là ‘cam chịu số phận, chấp nhận một cách âm thầm’)! Từ đó vấn đề chủ yếu được đặt ra cho nhà chính trị học (chuyên ngành gốc của Robert Putnam) là: liệu một thể chể có thể tồn tại/tái tạo mở rộng khi mà công dân từ chối/từ nhiệm vai trò của nó?! Những số liệu dẫn chứng trong tác phẩm còn làm lộ rõ tính trầm trọng của vấn đề: phần lớn sự tham gia của người dân (ở Mỹ và một số nước Tây Âu) trong các hoạt động mang tính chất ‘Civic Participation/Civic Engagement’ đều giảm sút. Và nếu so sánh sự tham gia của quần chúng đối với hai thể loại sinh hoạt chính trị (‘Political Participation’) và tôn giáo (‘Religious Participation’) thì số lượng đóng góp (tiền của và thời gian) cho các buổi lễ tôn giáo cao hơn rất nhiều, đấy là chưa nói đến sự phổ biến tràn lan của hiện tượng ‘kinh doanh tín ngưỡng’ (‘Belief’s Business’). Do đó, một câu hỏi trọng yếu cuối cùng đã được rút ra: thế thì rốt cuộc làm thế nào để phát triển một cách bền vững thể chế chính trị và nền tảng kinh tế khi mà phần lớn các mối tương giao xã hội biến thành những ‘mạng kết nối vừa bất định vừa ngấm ngầm’ (‘Unpredictable and Informal Social Connections’)?               Câu hỏi trên cũng là mối bận tâm của nhiều nhà nghiên cứu xã hội học-kinh tế Tây Âu (Stefen Baron, John Field & Tom Schuller ‘Social Capital : Critical Perspectives’, Oxford University Press 2002). Chính vì thế mà một khái niệm mới đã được đưa ra: ‘Xã Hội Hoá Vốn Xã Hội’ (‘Socializing Social Capital’). Thoạt nghe rất ‘quái chiêu’ nhưng lại đúng là vậy: trước những ‘mạng kết nối bất định và ngấm ngầm’ của quần chúng, không có cách gì hơn là Nhà nước và xã hội công dân phải hợp sức nhằm ‘công khai và trong sáng hoá’ (‘Officialization & Transparency’) cho tất cả công dân biết về những hoạt động của các guồng máy và tổ chức của chính nó. Đơn giản: hiện tượng ‘kết nối bất định và ngấm ngầm’ khởi sinh từ sự mất lòng tin của dân chúng trước cung cách vận hành của chính guồng máy Nhà nước và các tổ chức thuộc xã hội công dân, vì vậy nếu muốn quần chúng không còn ‘từ chối/từ nhiệm vai trò công dân’ thì ‘thượng sách’ là  Nhà nước và các tập hợp của xã hội công dân phải tự mình ‘tiên phong’ trong việc đề cao tính ‘lương thiện’ (‘Honesty’) nhằm khả dĩ có lại được ‘lòng tin’ (‘Trust’) của quần chúng dựa vào sự ‘đối đãi luân lưu’ (‘Reciprocity’) chứ không còn là loại ‘quan hệ một chiều’ (‘One Way Connections’) mà quần chúng phải gánh chịu đối với Nhà nước và các tập hợp của xã hội công dân.             Các nhà nghiên cứu trên còn đưa thêm hai khái niệm mới để nêu rõ sự nghiêm trọng của tình hình: nếu Nhà nước và xã hội công dân không cật lực dồn sức cho việc ‘Xã hội Hoá Vốn Xã hội’ thì  các nhà ‘Tư Bản Về Vốn Xã Hội’ (‘Social Capitalists’), xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường, sẽ thâu tóm độc quyền việc ‘Kinh Doanh Vốn Xã Hội’ (‘Social Relationship’s Business’)!            Vậy các nhà ‘tư bản về vốn xã hội’ và ‘kinh doanh vốn xã hội’ là gì mà kinh khiếp thế ? Thật ra, nội hàm của hai khái niệm ấy đã được phân giải trước đấy không lâu trong công trình của một tác giả người Mỹ gốc Pháp (Jeremy Rifkin ‘The Age of Access. The New Culture of Hypercapitalism where All of Life is a Paid-for Experience’, T-P Son’s Publishers, NY 2000): đó là những doanh nghiệp mà toàn bộ các hoạt động ‘siêu lợi nhuận’ đều dựa trên việc khai thác sự ‘thèm mong có được những quan hệ xã hội’ càng ngày càng phổ biến. Đơn giản: tiềm ẩn trong ‘co cụm của bản thân’ là một nỗi niềm ‘cô đơn ghê gớm’. Khó có ai cứ ‘chơi bowling một mình’ mà vui mãi! Chính vì thế các nhà ‘kinh doanh vốn xã hội’ dễ biến thành các nhà ‘tư bản về vốn xã hội’ vì thực chất họ không bán sản phẩm và cũng chẳng bán dịch vụ mà chính là ‘cung ứng cho người tiêu dùng những thể nghiệm ấn tượng (‘impressive experiences’) về những thể loại quan hệ xã hội mà thâm tâm họ muốn có’: với bất cứ cơ hội nào –sinh nhật, đám hỏi, ma chay, triển lãm nghệ thuật, tốt nghiệp, lễ tình nhân, hội chợ, hội nghị, thăng quan, vừa khỏi ốm, vừa dứt ăn kiêng, con mọc răng, mẹ vợ rụng răng, mua xe, v…v…- các doanh nghiệp ấy đều ‘phục vụ sáng tạo’ (‘creative offerings’). Nói gọn: trong xã hội ‘thiếu vắng quan hệ’ thì trên thị trường lại xuất hiện việc ‘kinh doanh quan hệ’. Đó là tiến trình mà thuật ngữ chuyên ngành gọi là ‘Access Economy’ hiểu theo nghĩa là ‘bán ấn tượng cho những thành phần cô đơn muốn có được cảm giác là mình không bị ra rìa mà là vẫn còn khả năng hội nhập vào môi trường xã hội bao quanh’ (‘Access’ nghĩa đen là ‘được thâm nhập/tiếp nhận vào một nơi nào đấy’)!            Trong diễn trình trên của việc ‘khai thác vốn xã hội’, đến ngay cả Ngân hàng Thế giới –mà mối quan tâm hàng đầu là tài chính quốc tế chứ không phải là ‘quyền công dân- cũng đâm ra ‘sốt ruột’: một ‘mô hình nghiên cứu về vốn xã hội’ mang tên ‘The SC-IQ’s Six Dimensions’ (‘Bản điều nghiên tích hợp về sáu chiều kích của vốn xã hội’) đã được cho ra đời (D.Narayan, V.Nyhan Jones, M.Woolcock & C.Grootaert ‘Measuring Social Capital: An Integrated Questionnaire’, World Bank Working Papers, Washington 2004).  Ngoài hai chiều kích ‘cổ điển’ là ‘kết nối các nhóm’ và ‘tính gắn bó nội bộ’, bốn chiều kích được Ngân hàng Thế giới đặt trọng tâm là : ‘giữ lòng tin và tình đoàn kết’, ‘xây dựng sự hợp tác và các hành động tập thể’, ‘thông tin và phản hồi thông tin’, ‘phân quyền và hoạt động chính trị’. Mục đích của Ngân hàng Thế giới là liên kết với ‘Diễn đàn của Xã hội Công dân Thế giới’ (‘World Civil Society Forum’), một bộ phận của Liên Hiệp Quốc có chức năng chủ yếu là ‘tạo điều kiện cho dư luận quốc tế nhận thức về mọi tiếng nói phản kháng những tiêu cực của tiến trình toàn cầu hoá’ ( ?!), nhằm ‘không để cho giới hoạt động kinh doanh bị chi phối bởi tầm nhìn ngắn hạn thao túng việc khai thác vốn xã hội vì điều này có nguy cơ gây việc mất lòng tin và ảnh hưởng đến sự đoàn kết các công dân quốc tế’!            Tóm lại: kể từ khi thể chế tư bản sản sinh được một thành phần ‘trưởng giả sáng suốt’ (‘clear-sighted bourgeoisie’), thành phần ấy đảm nhiệm ‘chức năng khách quan‘ (‘objective function’) là ‘cảnh báo’ cho chế độ biết những ‘nguy cơ’ đang rình rập nó. Và mối đe doạ hiện nay đối với thể chế ấy là việc ‘thừa vốn tư bản nhưng lại thiếu vốn xã hội’. Cái thiếu này có hậu quả là không những sự ‘cân bằng lực lượng’ giữa ba thực thể  hữu cơ của thể chế là Nhà nước, thị trường và xã hội công dân đã bị lũng đoạn bởi thị trường mà vốn xã hội còn biến thành món hàng kinh doanh! Chính vì thế mà vốn xã hội -được nhìn nhận như nguồn năng lượng (‘Energy’) thiết yếu cho sự vận hành của xã hội công dân, nguyên là một thực thể không thể không có trong ‘thế kiềng ba chân’ của chính thể tư bản- đã trở thành một ‘đề tài nóng bỏng’ ở Âu Mỹ.            Và cũng chính là để cho công chúng nhận thức được rõ ràng hơn nữa sự ‘quý giá’ của vốn xã hội cũng như sự cần thiết của xã hội công dân trong việc tái tạo chính thể quốc gia, nhiều giới học thuật Âu Mỹ đã ‘hành hương về nguồn khái niệm Civil Society’ (Michael Edwards ‘Civil Society’, Polity Press, Cambridge 2004) nhằm khẳng định ‘The Core of the Civil Society is the Civic Society’ ( nếu muốn dịch cho sát ý cụm từ này thì có thể phải là ‘cốt lõi của xã hội công dân là xã hội dân chính’. ‘Dân Chính’ hiểu theo nghĩa gốc là ‘việc chung của người cùng làng cùng nước’)!             Và ‘xã hội dân chính’ ấy phải được được thiết chế cơ bản trên sự liên kết của  ba ‘trục vận hành’ (‘ Functionality’s Hub’) là : ‘Đời sống Hội đoàn’ (‘Associational Life’) bao gồm tất cả mọi ‘khuyến khích của thể chế’ (‘encouragements from the system’) nhằm thúc đẩy quần chúng nhận lãnh tất cả ‘trách nhiệm công dân’ (‘civic responsability’) của họ thông qua sự ‘hoạt động có ý thức’ (‘conscientious activities’) của các hội đoàn xã hội tự quản (‘Self-Managed Organisations’); ‘Xã hội Tốt lành’ (‘Good Society’) hiểu theo nghĩa là ‘đời sống cộng đồng chỉ thật sự hoàn thiện được chính nó khi con người sống trong đó có thể tin tưởng được người khác và có thể dựa không chỉ vào sự công minh của Nhà nước mà còn vào bản chất bất vụ lợi (‘Non-Profit’) của các đoàn thể nhân quần hiện diện trong xã hội’ và ‘Không gian Công cộng Rộng mở’ (‘Open Public Sphere’) được nhìn nhận như là ‘trục trung tâm’ (‘Central Hub’) nối liền ‘Hai trục Hội đoàn và Xã hội’:  nếu Nhà nước không tạo ra được sự tin tưởng cho công chúng để họ nói lên một cách công khai và minh bạch mọi nguyện vọng và tâm tư của họ thì không những khoảng cách giữa nhà cầm quyền và quần chúng sẽ ngày càng  lớn mà lúc ấy các hội đoàn có mặt trong xã hội chủ yếu chỉ nhắm đến hướng trục lợi riêng tư (‘Self-Profit Oriented’) và cuối cùng là sự tốt lành của xã hội chỉ là điều ảo tưởng. Nói gọn: mở rộng không gian công cộng –nguyên là vai trò của Nhà nước (phát xuất từ việc công nhận các đòi hỏi của xã hội)- chính là phương cách để ‘tích luỹ và phát triển vốn xã hội’ (‘Accumulating & Developing the Social Capital’) nhằm tạo dựng một ‘xã hội dân chính’ năng động góp phần tích cực vào sự cường thịnh của chính thể quốc gia.  Trong chiều hướng đó, ‘không gian công cộng chính là không gian dân chính’ (‘The Public Sphere is the Civic Sphere’) hiểu theo nghĩa ‘mọi việc chung của làng của nước đều được thảo luận minh bạch công khai và không e dè nghi ngại’ (Simone Chambers & Will Kymlieka ‘Alternative Conceptions of Civil Society’, Princeton University Press 2001).            Cũng cần nói thêm là ở thời buổi bành trướng của toàn cầu hoá, việc phát huy ‘vốn xã hội quốc gia và địa phương’ (‘National and Local Social Capital’) trong những thể chế của ‘xã hội dân chính với những dấn thân mạnh mẽ của tính chất công dân’ (‘Civil Society with Strong Civic Engagement’) là điều hết sức cần thiết cho sự tồn tại và tái tạo chỉnh thể chính trị-xã hội trước sự ‘xâm thực’ của ‘thị trường ngày càng lõ rõ bản chất bá quyền’ (‘Market’s Hegemony’,  trong John Clark ‘Globalizing Civic Engagement : Civil Society and Transnational Action’, Earthscan ed. London 2003).            Nói gọn : từ ‘dân sự’ đến ‘công dân’ rồi ‘dân chính’, xã hội và vốn xã hội ngày càng hiển lộ –dưới cái nhìn của giới học thuật Âu Mỹ- vai trò trọng tâm của nó trong việc phát triển kinh tế và chính trị cũng như sự tái tạo mở rộng Nhà nước và thị trường theo nghĩa tích cực. Trăn trở còn lại là liệu phải (hay ‘nên’) tiếp cận và giải quyết các vấn đề ấy thế nào ở Việt Nam!  4. ‘Vốn xã hội’ và ‘Mô hình Ba Tác Nhân’ ở Việt Nam.            Thoạt nhìn, có thể nói mà không sợ bị sai lầm quá đáng là vấn đề của Việt Nam hiện nay, ngược với tình trạng của của các nước Âu Mỹ như vừa được phân tích, là: ‘Thiếu vốn tư bản nhưng lại thừa vốn xã hội’!            Nhưng khi đi sâu vào việc kiến giải thực chất của việc sử dụng vốn xã hội ở Việt Nam thì vấn đề lại đâm ra hết sức …có vấn đề! Thật vậy: nói theo thuật ngữ chuyên ngành thì vốn xã hội ở Việt Nam được vận dụng đa phần một cách tiêu cực như một thể loại ‘quan hệ trói buộc’ (‘Bonding Social Capital’) chứ không phải là tích cực theo nghĩa ‘quan hệ bắc cầu rộng mở’ (‘Bridging Social Capital’)!             ‘Bonding Social Capital’ là sự ‘ràng buộc/trói buộc’ giữa những nhóm người hiểu theo nghĩa ‘đồng bọn’: người này dựa vào người kia không phải vì thật sự tin tưởng nhau một cách ‘trong sáng’ mà chính vì quan hệ sợ ‘bức dây động rừng’ do việc ‘ông bà này nắm thóp ông bà nọ’. Nói gọn theo kiểu ‘phổ cập trong dân gian’ là : ‘đồng tiền đánh bật đồng chí, và cũng vì đồng tiền mà trở thành đồng phạm có nguy cơ…đồng lĩnh án’ (nghĩa là một thể loại ‘mạng kết nối ngầm’ nhưng lại theo hướng…’tội phạm’)!            ‘Bridging Social Capital’, ngược lại, là loại ‘quan hệ xã hội nối nhịp cầu‘ kết liên đoàn thể này với đoàn thể khác, cá nhân và thành phần này với cá nhân và thành phần khác trong xã hội, theo hướng cùng nhau vọng về một ‘chính nghĩa công cộng’ (‘Public Cause’) mà ở đấy mỗi thành viên của cộng đồng đều ‘hưởng được phần của mình đúng theo công lý’ (‘công lý’ hiểu theo hướng ‘Public Reason’ nghĩa là ‘lý lẽ chung đến từ đại đa số của dân chúng chứ không phải đến từ thiểu số nắm quyền chính trị hoặc/và kinh tế tự cho mình đặc quyền ấn định và ban phát chân lý’).            Câu hỏi cơ bản phát xuất từ nhận định của vấn đề trên là:  – Phải chăng ‘truyền thống văn hoá’ của Việt Nam –vốn là một dân tộc tự bao đời hướng về việc ‘lá lành đùm lá rách/bầu ơi thương lấy bí cùng/ba cây chụm lại nên hòn núi cao’- đã bị mai một dần dần bởi một cấu trúc thế quyền mà ở đấy ‘xã hội dân chính’ không được hiện diện với tất cả chức năng tích cực của nó ?!               Và ba câu hỏi có tính hệ luận là:  – Trong một thể chế không có ‘xã hội dân chính’ làm sao phát huy được tính chất tích cực của ‘vốn xã hội’ ?!   – Điều gì sẽ đến nếu sự bành trướng của thị trường –một thị trường toàn cầu hoá- sản sinh ra một ‘xã hội dân sự’ –hiểu theo nghĩa là ‘nơi chốn của những không gian tư nhân’- đồng minh với nó ?  – Rốt cuộc, sẽ là thế nào vị thế của Nhà nước –vốn đang bị đục khoét bởi những hấp lực tư lợi- khi Nhà nước ấy phải đối đầu cùng lúc với một thị trường mang tính toàn cầu và một xã hội dân sự mang tính tư nhân ?!            Trước những vấn nạn trên, người viết không có tham vọng đưa ra được câu trả lời, chỉ gợi ý bằng mô hình sau mà ở đấy vốn xã hội’ được tích cực phát huy trong khuôn khổ của giác độ về một chỉnh thể bao gồm sự cân bằng –hiểu theo nghĩa vừa ‘vận động tự thân’ vừa ‘độc lập tương đối’-  giữa ba tác nhân thiết yếu cho sự vận hành của lịch sử mỗi một quốc gia:  Tôn Thất Nguyễn Thiêm      Author                Quản trị        
0.35555555555555557
__label__tiasang   Nguyễn Vạn Phú       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội ở Việt Nam      Lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản như nhau, nguồn lực bằng nhau, ở một mức xuất phát giống nhau nhưng một bên phát triển mạnh trở nên giàu có, một bên lụi tàn đến chỗ nghèo đói, người ta bắt đầu viện đến khái niệm vốn xã hội. Nếu có một thứ vốn như thế, tài sản vốn xã hội ở Việt Nam cao hay thấp, có đóng góp gì cho quá trình phát triển đất nước?    Nói một cách đơn giản nhất, vốn xã hội là những mạng lưới kết nối con người lại với nhau, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung. Một ngôi làng bị bão tàn phá – nếu dân làng góp sức cùng nhau xây dựng lại nhà cửa thì kết quả sẽ cao hơn nhiều lần so với khi từng người đơn độc tự làm lấy. Vốn xã hội ở đây không phải tự dưng mà có. Nó phải xuất phát từ một quá trình trải nghiệm chuyện “có đi, có lại”, trải nghiệm mức độ “chơi được” của người khác và kỳ vọng ở kết quả nhờ thành công ở những lần hợp tác trước. Cũng như người Việt Nam từng hiểu “Một cây làm chẳng nên non/Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”, vốn xã hội là một thực tế từ xưa nhưng chỉ trở thành đề tài thời thượng ở phương Tây vào cuối thập niên 1990.  Ở đây, cần lưu ý một số điểm trước khi nhìn lại vốn xã hội ở Việt Nam. Trước hết, vốn xã hội không chỉ là động lực thúc đẩy tiến bộ của xã hội bên cạnh vốn tài sản và vốn con người như các ví dụ ở trên. Nó còn có thể có tác động xấu. Năm khu phố có năm tay lưu manh thì mọi người dù sao còn chịu được vì từng tên riêng lẻ không gây hại nhiều lắm, lại dễ bị khống chế. Nhưng nếu năm tay này liên kết với nhau thành một băng đảng thì hậu họa chúng gây ra tăng gấp hàng trăm lần cho cả một thành phố. Mafia, xã hội đen tồn tại đến bây giờ cũng nhờ biết “tận dụng”vốn xã hội của chúng.  Thứ nữa, các mạng lưới hình thành vốn xã hội thay đổi nhanh chóng. Ngày xưa lối sống khép kín của các cộng đồng dân cư nhỏ, như làng quê Việt Nam là môi trường xây dựng một loại vốn xã hội khác. Ngày nay, Internet, email, điện thoại di động lại là công cụ tạo dựng một loại vốn xã hội hoàn toàn khác. Tuy môi trường tác động lên vốn xã hội nhưng không thể kêu gọi chung chung rồi hy vọng nhờ vào “nhiệt huyết” mà vốn xã hội bỗng tăng lên theo kỳ vọng. Có thể nó sẽ tăng trong thời gian ngắn như trên thị trường vốn tài chính nhưng cũng sẽ nhanh chóng xẹp xuống một khi con người, qua trải nghiệm thực tế, không tìm thấy điều họ cần tìm. Vốn xã hội phát huy tác dụng tích cực mạnh nhất ở một xã hội dân chủ nơi mọi người được tự do và tự nguyện tham gia các mạng lưới gắn kết cộng đồng và ngược lại nền dân chủ của một xã hội càng được củng cố một khi vốn xã hội ở đó mạnh lên. Cuối cùng, từ “vốn” có thể gây hiểu nhầm vì qua quan sát, người ta nhận ra một điều: vốn xã hội càng sử dụng càng tăng chứ không giảm như các loại vốn khác; thậm chí nếu không sử dụng, vốn xã hội sẽ dần dần triệt tiêu.  Cho dù những nhà nghiên cứu đang bất đồng về định nghĩa vốn xã hội sao cho trọn vẹn và chính xác, có thể thấy đa số đồng ý ở điểm vốn xã hội chỉ xuất hiện khi các cá nhân trong cộng đồng cùng chia sẻ một số chuẩn mực và giá trị làm cơ sở cho sự hợp tác. Vì thế có lẽ một khía cạnh quan trọng trong nền văn hóa của một xã hội có thể được dùng để đo lường mức vốn xã hội của cộng đồng. Đó là tính tập thể đối chọi với tính cá nhân.  Chính Robert Putnam, tác giả cuốn Bowling Alone (2000) nổi tiếng về vốn xã hội than phiền vốn xã hội nước Mỹ đang giảm thấp vì người Mỹ hiện đại sống mang tính cá nhân hơn trước nhiều.   Thế nhưng, khái niệm tính tập thể thường không được hiểu đầy đủ. Chúng ta thường gán cho tính tập thể những điều tốt đẹp, là sức mạnh của “ba cây chụm lại” và chê bai tính cá nhân. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Tính tập thể đúng là mối quan hệ chặt chẽ ở một xã hội nơi con người gắn kết nhau, sống dựa vào nhau. Và một khi đã dựa vào nhau như thế, cá nhân trong tập thể thường phải tôn trọng sự đồng thuận, ít thích va chạm, không muốn đối đầu, không muốn làm người khác mất mặt – một khái niệm rất quan trọng trong xã hội phương Đông.   Xét ở góc độ này người Việt Nam có tính tập thể cao. Nhưng điều đó chưa hẳn đưa đến kết luận vốn xã hội ở Việt Nam cao. Nó rất cao trong khuôn khổ gia đình khi cha mẹ có thể hy sinh tất cả cho việc học của con cái, trong bình diện cả nước khi có chiến tranh, lúc đó cá nhân sẵn sàng hy sinh thân mình vì lợi ích chung của cả đất nước. Nó cũng rất cao vì người dân Việt Nam rất tôn trọng tình làng nghĩa xóm, sẵn sàng chia sẻ cho người gặp bất hạnh. Nhưng cũng như vốn tài chính, vốn xã hội sinh ra không chỉ để phục vụ cho nó – nó phải có tác dụng lên sự thịnh vượng của cộng đồng. Và ở đây, tính tập thể – nhìn ở góc cạnh tránh va chạm, muốn có đồng thuận, có thể làm thui chột sự đột phá của cá nhân, có thể có tác dụng nhân vốn xã hội lên gấp bội. Mạng lưới kết nối xã hội suy cho cùng là để nhằm thực hiện một mục tiêu chung nào đó, nếu tất cả chỉ chú trọng đến xây dựng quan hệ hòa đồng thì có nguy cơ quên béng mục tiêu ban đầu cho sự ra đời mạng lưới xã hội ấy. Hơn nữa, vai trò cá nhân rất cần thiết để làm người tiên phong, vượt ra khỏi tập thể quen thuộc của mình, tiếp thu ý tưởng của tập thể khác để xây dựng mạng lưới liên kết mới. Các nhà nghiên cứu về vốn xã hội cũng nêu lên hiện tượng cá nhân lẩn tránh đằng sau một tập thể để giảm bớt sự đóng góp và tăng mức hưởng lợi từ tập thể. Chỉ có thể tránh hiện tượng này bằng một tập thể với những quy ước rõ ràng, minh bạch, tính chịu trách nhiệm cao của từng cá nhân. Một ông thứ trưởng quản lý như thế nào để các bộ phận bên dưới nhũng lạm với quy mô chưa từng thấy lại có thể dùng màn che tập thể để lẩn tránh trách nhiệm – ấy chính là chỗ yếu của tính tập thể trong tính toán vốn xã hội của chúng ta.  Ở bình diện lớn hơn, tính tập thể của xã hội có nguy cơ ngăn cản xã hội đó vươn ra bên ngoài vì chắc chắn họ sẽ gặp phải những giá trị khác, những chuẩn mực khác khó lòng chấp nhận đối với họ. Lúc đó, vốn xã hội hạn hẹp này sẽ đẩy xã hội đó đến chỗ bế tắc và trở nên trì trệ.  Mặt tốt và mặt xấu của tính tập thể hay, nói cách khác, tính tích cực và tính tiêu cực của vốn xã hội thể hiện rõ nhất trong thế giới làm ăn. Nếu sử dụng mối quan hệ giữa quyền lực và tiền bạc thành một liên kết riêng, mang tính loại trừ người khác để hưởng lợi cho riêng mình, thì đấy là một loại vốn xã hội nguy hại cho xã hội nói chung. Nó cũng giống mối quan hệ bên trong các băng đảng hay các nhóm khủng bố cuồng tín. Còn xây dựng một mối quan hệ mở, hướng ra bên ngoài, trên cơ sở mọi người tham gia cùng chia sẻ, cùng hưởng lợi, là cầu nối cho mọi cá nhân lúc đó tính tập thể mới biến vốn xã hội thành nguồn lực lớn cho phát triển.  Nguyễn Vạn Phú      Author                Quản trị        
0.391304347826087
__label__tiasang         Nguyễn Vạn Phú    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội tích lũy lâu đời      Vốn xã hội của dân ta, xuyên qua lịch sử, có đủ phong phú hay cũng nghèo nàn? Đây là một câu hỏi đáng nghiên cứu kỹ và đầy đủ, một đề tài cho nhiều luận án khảo sát trong tương lai. Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu vài nét phác thảo.    Nhận xét đầu tiên là phải kể đến một yếu tố lịch sử xác định cá tính của cả dân tộc Việt Nam, đó là mười thế kỷ Bắc thuộc. Sống chung với nhau mười thế kỷ, dài lắm chứ! Làm sao một dân tộc tồn tại và giữ được cá tính sau một ngàn năm bị đô hộ? Guồng máy cai trị đó từng được thử thách trên địa bàn rộng lớn hơn ở phương Bắc, với đầy kinh nghiệm tổ chức, tuyên huấn, mà trong thời gian đó cũng có những vị quan tốt như Sĩ Nhiếp, Đỗ Tuệ Độ… Guồng máy cai trị đó lại đặt trên một nền văn minh có sức sống mạnh mẽ và có giá trị nhân bản cao rất hấp dẫn. Chắc phải có một yếu tố xã hội nào đó tồn tại, bám rễ trong mỗi con người Việt Nam và trong tương quan họ thiết lập với nhau.  Một trong các phản ứng tập thể của người Việt trong một ngàn năm đó là củng cố các mối liên hệ ở bên trong lũy tre làng, củng cố đời sống riêng trong tập thể mỗi làng xã, lấy đó làm chỗ ẩn náu, che chở nhau và cùng nhau tự bảo vệ. Paul Mus đã ví làng xã ở Việt Nam như các khúc của một con rồng, với đặc điểm là mỗi khúc có sinh mạng riêng, có thể sống riêng, chặt cái đầu rồng đi nhưng mỗi khúc rồng vẫn sống được. Có thể nói mỗi làng xã Việt Nam là một ổ kháng chiến để tự bảo vệ, bảo vệ bản sắc văn hóa, phong tục, tiếng nói, củng cố các truyền thống xã hội. Cứ xem các vị thần hoàng thờ trong đình làng, chúng ta thấy khác hẳn các vị thần thánh được người phương Bắc đưa sang. Tinh thần tự trị, tự quản, và có thể nói đến óc tự quyết, nằm trong hệ thống làng xã, là một thứ vốn liếng chung trong lịch sử nước ta.  Nhưng đơn vị làng xã có thể gây vốn mà cũng có thể tiêu sạch hết vốn liếng. Cũng giống như các thành thị Hy Lạp thời thượng cổ, mà một số nhà xã hội học đã so sánh với các xã thôn Việt Nam. Nhưng so sánh như vậy là che giấu một ưu điểm của xã thôn Việt Nam, so với các “cité antique.” Trong các thành thị Hy Lạp cổ, cá nhân con người bị hy sinh trước quyền lợi tập thể. Như Fustel de Coulanges viết, từ năm 1864, “Thành thị Hy Lạp được lập ra dựa trên một tôn giáo và tổ chức như một giáo hội. Trong một xã hội như thế, tự do của con người không còn nữa.” Làng xã Việt Nam không đến nỗi như vậy, làng xã không dựa trên tôn giáo, tinh thần bao dung của dân Việt cao hơn. Không thể tưởng tượng dân chúng trong một làng ở Việt Nam có thể chấp nhận việc tuyên án tử hình một hiền triết trong làng, như Socrate chẳng hạn, chỉ vì ông bị kết tội phạm đến thần thánh. Làng xã không đè bẹp cá nhân, mà đó cũng là một sức đề kháng trước các thế lực cai trị của các vị “khách” từ ngoài tới. Trong mỗi làng xã có những mạng lưới đan nhau làm nơi nương tựa cho các cá nhân, bên ngoài gia tộc và không lệ thuộc hệ thống chính quyền. Người ngoại quốc có thể chiếm được kinh đô, đặt quan cai trị, chỉ định các xã quan; nhưng họ không thể sử dụng hệ thống làng xã vào việc đồng hóa người Việt, không thể dùng hệ thống hành chính của họ biến đổi đặc tính dân tộc Việt. Nếu như trong các làng xã của chúng ta không có những mạng lưới linh động và luôn luôn biến hóa theo nhu cầu của các cá nhân, theo thời gian, thì chính quyền ngoại xâm có thể sử dụng chính cơ cấu làng xã để sai bảo và thay đổi luôn con người Việt Nam trong một ngàn năm thống trị.  Những mạng lưới tổ chức trong làng xã  Nếu chúng ta chỉ nhìn vào xã hội Việt Nam trong một thời gian ngắn khoảng 10 năm, 20 năm thì thấy có những lúc toàn thể dân tộc muôn người như một, đoàn kết, tin tưởng và tự động tương trợ lẫn nhau. Thí dụ như mùa Thu năm 1945. Nhưng hình ảnh đó không đủ để tuyên bố xác định vốn xã hội. Các biến cố như chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh chống ngoại xâm, không phải là đời sống bình thường của một dân tộc, dù trong chúng ta nhiều người đã sống gần cả cuộc đời trong chiến tranh. Muốn biết cái vốn xã hội của người Việt thế nào, chúng ta phải tìm về những thời kỳ mà người Việt Nam sống tương đối “bình thường,” không được tác động một cách đặc biệt. Trong cuộc sống bình thường, người Việt Nam có cho thấy đã tích lũy được nhiều vốn xã hội, qua các yếu tố như chúng ta định nghĩa với những câu hỏi ở trên hay không? Chúng ta sẽ thấy vốn xã hội của người Việt qua mạng lưới tổ chức trong các làng xã từ thời cổ xưa, có thể là mầm mống cho xã hội công dân bây giờ.  Đọc những tài liệu nghiên cứu chúng ta cũng có thể xác định vốn xã hội của người Việt rất giầu và có gốc rễ lâu bền. Thử kể những sách của Phan Kế Bính (Việt Nam Phong tục – 1916), Toan Ánh (Nếp cũ – 1968, 1992), Trần Từ (Cơ cấu Tổ chức của Làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ – 1984), và các bài nghiên cứu chuyên đề khác. Qua các công trình nghiên cứu này, hiện còn khá sơ sài, tổng quát, chúng ta thấy mỗi làng ở Việt Nam là một mạng lưới rất nhiều tổ chức tự nguyện, tự do, với mục đích hỗ tương. Đặc biệt là mạng lưới này thường độc lập và không lệ thuộc vào cơ cấu chính quyền thôn xã. Chính quyền xã thôn có thể do chính quyền trung ương thay đổi, chỉ định, điều khiển. Nhưng nhiều “tổ chức tư” của dân làng hoàn toàn không dính dáng gì tới hệ thống hành chính của xã, và có khi không chịu ảnh hưởng của ranh giới địa dư do việc phân chia thôn, ấp, xã tạo ra. Giữa mọi người phải có một lòng tin tưởng lẫn nhau cao lắm mới thiết định được những mạng lưới tương trợ như vậy trong hàng ngàn năm.  Những cuốn sách trên đây đã kể ra nhiều tổ chức tư nhân tự nguyện trong làng. Kiểm điểm những danh từ để chỉ các “hội tư’ thì chúng ta thấy cả một kho phong phú. Riêng điều đó cũng chứng tỏ ý thức tương trợ tự nguyện của người mình rất cao và biểu hiện rất cụ thể. Hội, có khi gọi là Họ, là Phường, Giáp, Ty, Phe, Hàng (hàng giáp, hàng thôn)… đều có thể dịch là association. Trong số báo Tia Sáng gần đây, ông Nguyễn Quân đưa ra hình ảnh “người làng,” “người lính” và “người mở đất” để mô tả con người Việt Nam. Người làng, là một đơn vị trong làng xã. Người lính, một phần tử của quốc gia. Nhưng con người Việt Nam không phải chỉ có hai chiều (dimensions) đó mà còn sống với những kích thước khác. Họ còn là những phần tử của Hội, của Phường, Họ, Hàng, Phe, nữa. Các kích thước xã hội của con người rất phong phú.  Có những hội tương tế như Hội Hiếu, Hội Hỉ hoặc gồm cả hai, để mọi người giúp lẫn nhau trong những dịp ma chay, cưới hỏi, cất nhà, khao vọng… Có làng lập những Hội Ăn Tết, Hội Thịt Lợn, Hội Tư Văn, Họ Bánh Chưng, theo nhu cầu kinh tế hoặc văn hóa; Quan Họ là một mạng lưới hội tư xuyên qua nhiều làng. Quy tụ các nghề nghiệp thì có Phường Vải, Phường Củi, Phường Đan, Phường Nón, Phường Bát Âm, Phường Chèo, Giáo Phường… Ngày xưa cũng có những hội chỉ có mục tiêu giải trí như Hội Chọi Gà, Hội Chơi Diều. Những người cùng học một thầy thành lập Hội Đồng Môn, các vãi lập ra Hội Chư Bà, Hội Đội Bát Nhang; các cụ ông có Hội Đồng Tuế. Trong bài viết trên Tia Sáng, ông Nguyễn Ngọc Bích cũng nhắc tới việc Chơi Họ, hoặc Chơi Hụi. Đó là thứ tổ chức tín dụng tự phát trong làng xã, giống như các gotong royong ở Indonesia và bayanihan ở Philippines. Đó là một hình thức “tiểu tín dụng” (micro-credit) tự phát trong nhân dân, nếu không có lòng tin cẩn và tinh thần hỗ tương thì không tồn tại bao nhiêu thế hệ được.  Nếu Alexis de Tocqueville tới Việt Nam vào thế kỷ 19 chắc ông cũng phải thấy là người Việt Nam cũng có thói quen khi họ thấy một nhu cầu chung nào thì bảo nhau lập ra một hội hoàn toàn tư để cùng giải quyết nhu cầu đó! Những cơ cấu tự phát đó đã có từ bao giờ và mất bao lâu để thành hình rồi tiến hóa, lưu truyền trong xã hội cổ nước ta? Chắc nhiều sinh viên tiến sĩ có thể lấy câu hỏi này làm đề tài nghiên cứu. Khi nào tư nhân còn được tự do thành lập hội, lập phường, thì truyền thống tốt đẹp đó sẽ sống lại và phát triển thêm. Chúng ta sẽ có những Hội Tin Học, Hội Máy Bay Kiểu Nhỏ, Hội Hoa Phong Lan, Hội Du Lịch…  Trong làng xã còn một hình thức tập hợp mà Phan Kế Bính không thấy là quan trọng, nhưng đã được Trần Từ phân tích kỹ, là các Giáp. Một xã có thể có nhiều giáp; giáp không lệ thuộc tổ chức hành chính, không nhất thiết gồm những người cùng thôn, cùng tộc họ, mặc dù phần lớn các giáp từ đầu lập ra theo các tiêu chuẩn đó. Thành viên của giáp là những người đàn ông, gia nhập giáp ngay từ lúc ra đời, tức là cha truyền con nối. Địa vị của mỗi cá nhân trong giáp không tùy thuộc gia sản, chức vụ, địa vị xã hội hoặc bằng cấp, mà theo một tiêu chuẩn khách quan: ghi tên trước hoặc sau trong danh sách giáp. Ai ghi tên trước được ngồi chiếu trên, bình thường tức là người cao tuổi ngồi trên. Người ta có thể đổi giáp, gia nhập một giáp mới (rất hiếm), khi đó có thể phải ngồi dưới những người trẻ hơn mình vì họ ghi tên gia nhập trước. Trần Từ nói giáp có một thứ tiêu chuẩn phi giai cấp, biểu lộ tinh thần dân chủ trong làng xã của nước ta. Toan Ánh cũng công nhận “Tổ chức trong hàng giáp thật hết sức dân chủ.” Công việc của các giáp chỉ có tính cách tế tự và tương trợ, có ông Thủ Chỉ và hội đồng hàng giáp đứng đầu, vai trò lãnh đạo được luân phiên. Có những người Đăng cai lo các “dự án ngắn hạn” như tiệc tùng, ăn uống hàng năm. Ông Toan Ánh cũng giải thích tổ chức Giáp ở Việt Nam không liên hệ gì với tổ chức cùng tên ở Trung Quốc, bên đó hệ thống giáp lập ra vì nhu cầu an ninh địa phương.  Các tổ chức tư nhân tự nguyện trong làng xã có mục đích tương trợ, do các nhu cầu và sở thích chung của từng nhóm người. Một yếu tố quan trọng quy tụ các tập hợp tư nhân tất nhiên là nhu cầu kinh tế. Mỗi làng thường có Kho Nghĩa Sương, là kho lúa để làm việc nghĩa, phòng khi đói kém, đi cùng với ruộng nghĩa sương. Định chế này đặt dưới khung của cơ cấu hành chính nhưng cũng biểu lộ xu hướng tương trợ được tổ chức với tinh thần dân chủ. Phan Kế Bính có chép bản sao những điều ước nghĩa sương ở một làng thuộc tỉnh Bắc Ninh làm mẫu. Người ta góp vào Kho Nghĩa tùy theo sức, mỗi sào ruộng một đấu thóc. Thóc nghĩa sương chỉ dùng để tương trợ khi thiếu thốn, không được dùng vào việc khác. Những người có trách nhiệm đều do dân bầu với nhiệm kỳ 2 năm, họ được biếu thóc trong dịp Tết để thù lao. Khi dư đem bán thóc thì tiền được để vào quỹ chung cũng để làm việc tương trợ. Việc xuất tiền mua gì phải có chữ ký của bốn thủ bạ và người sương chính đứng đầu (chuẩn chi) rồi đưa cho thủ quỹ lấy ra. Nếu thủ quỹ không xét kỹ các chữ ký kể trên mà đã xuất thóc hay tiền thì sẽ phải đền. Những ngày họp dân xã, mỗi năm một lần, đàn ông từ 18 tuổi trở lên, ai cũng có quyền nêu vấn đề vào nghị trình và khi đa số thuận thì được. Nêu vài thí dụ trên để thấy dân trong làng xã có ý thức dân chủ và quan niệm tổ chức rất chặt chẽ.  Trên mặt kinh tế, người Việt lập các tổ chức tự nguyện như Phường Săn ở các làng ven núi rừng, như Yên Thế, BaVì, mỗi năm tổ chức các ngày hội săn bắn, thú vật săn được đem chia đều. Tại nhiều làng ven sông như Sơn Tây, Bắc Ninh, mỗi năm tổ chức đánh cá tập thể của tất cả dân làng trước khi cho người chuyên nghiệp “đấu trưng.” Trong những cuộc đánh cá tập thể đó nam nữ đều tham dự, công việc được phân chia thứ tự, đánh cá xong đem cúng đình rồi chia nhau hưởng. Ở các huyện Can Lộc, Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh có những Phường Củi, cùng đi đốn củi ở Ngàn Hống. Tại sao người ta không làm lối “riêng rẽ khỏe ăn?” Vì nhu cầu đông người để chống thú dữ, nhu cầu phân công cho nhiều loại lao động khác nhau, và cũng thỏa mãn cả nhu cầu giải trí và tạo cơ hội cho thanh niên nam nữ gặp nhau.  Nhiều tổ chức tư nhân tự nguyện tương trợ trong làng xã Việt Nam đã bị chế độ thực dân Pháp tìm cách thay thế bằng hệ thống hành chính và các tổ chức xã hội của họ, làm giảm bớt vai trò của người dân, nhưng giềng mối, gốc rễ tinh thần vẫn tồn tại. Năm 1945 khi dân ta được tự do, cùng một lúc tại các làng xã có bao nhiêu hội mới thành hình, lo từ việc giáo dục, y tế đến kinh tế, nhưng chú trọng nhiều vào mặt quân sự và chính trị. Phong trào Đời Sống Mới trong thời gian đó phát triển được phải nói là vì trong truyền thống, tập tục của người dân đã có một thứ vốn xã hội rất phong phú và bền chặt.  Kết luận  Những thí dụ kể trên đây cho thấy trong lịch sử dân tộc ta có một vốn liếng chung rất quý, là tinh thần tự nguyện và hỗ trợ lẫn nhau, biểu hiện qua những mạng lưới tổ chức tự phát của người dân, độc lập đối với hệ thống cai trị. Có một thời, khi khảo sát đời sống xã thôn Việt Nam người ta thường chỉ nêu lên các hủ tục. Tất nhiên cơ cấu xã hội nào cũng có thể sinh ra những hủ tục. Gặp khi bị chế độ thực dân kìm hãm, xã hội làng xóm có thể biến chứng chỉ còn phô bầy cái xấu làm cho người ta quên mất các thuần phong mỹ tục. Khi bình tĩnh nghiên cứu lại, chúng ta khám phá ra rất nhiều mầm mống tốt, sẵn sàng nẩy nở khi có luật pháp rõ ràng để người dân được tự do hội họp và tự do thành lập các hiệp hội. Mạng lưới các tập hợp tư nhân trong làng xã cổ truyền không thể tái lập như xưa được nữa, nhưng tinh thần tương trợ, lòng tin cẩn lẫn nhau trong truyền thống người Việt là có thật. Hệ thống giá trị đề cao tín nghĩa là có thật, đã được thể hiện rất cụ thể qua mạng lưới đó. Chúng ta có thể tin tưởng vào vốn xã hội của dân mình, sẵn sàng bước vào thời hiện đại.  Quý Đỗ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội trong phát triển kinh tế      Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu nhận ra là để cạnh tranh với các doanh nhân quốc tế thì trước khi cầu viện tới các nguồn lực bên ngoài thì cần sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có ngay bên trong doanh nghiệp – các nguồn lực đó không chỉ là tiền, tài sản, công nghệ, tài năng mà còn bao gồm cả các mối quan hệ xã hội, quan hệ trong nội bộ từng tổ chức/công ty và những phương pháp hành xử chung của xã hội được ứng dụng một cách tự nhiên trong các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.    Trong bài viết này tôi đề cập tới một khía cạnh của vốn xã hội – đó là phương pháp hành xử trong kinh doanh và qua đó tạo nên một môi trường hoạt động lành mạnh cho các thành viên của một công ty hay một tổ chức.  Hiện nay, trên thế giới thường hay nhắc tới từ “transparent” nghĩa là “minh bạch” – việc được hoạt động trong một môi trường minh bạch là ước mong của rất nhiều người vì trong một môi trường minh bạch, những vướng mắc tâm lý và những vướng mắc trong các khâu thực hiện công việc, những rào cản tâm lý của người lao động được gỡ bỏ và qua đó năng lực làm việc được giải phóng.  Vai trò của thành viên của tổ chức là làm việc hiệu quả để đạt được công việc được giao.  Vai trò của những nhà quản lý là tạo được một môi trường làm việc để các thành viên trong tổ chức có thể làm việc hiệu quả – và trong những ngày này, chúng ta thường hay nói đến hiệu quả công việc thường được tạo nên nhờ vào sức mạnh tập thể và một trong những điều kiện để một tập thể có sức mạnh chính là khả năng cộng tác và làm việc theo nhóm.  Các nhà lãnh đạo (cả doanh nghiệp lẫn các tổ chức xã hội hay nhà nước) đều muốn đội ngũ nhân viên của mình “LÀM VIỆC HIỆU QUẢ” và mong muốn những điều sau:        –  Có người tài cùng cộng tác        –   Hiệu quả công việc cao        –   Công việc được hoàn thành tốt        –   Công ty phát triển ổn định        –   Đội ngũ luôn sáng tạo        –    Khách hàng luôn hài lòng  –         …  Các nhà tư vấn phát triển doanh nghiệp thường hay nghe thấy những phát biểu sau:       –   Công việc chậm chạp       –   Bộ máy không hiệu quả       –   Nhân tài khó tìm kiếm       –    Khó sử dụng nhân tài       –    Mâu thuẫn giữa các cá nhân chủ chốt phát sinh từ ý tốt của chính họ  Ða số các trường hợp, nguồn gốc phần lớn vấn đề xuất phát từ chính sự không rõ ràng trong hành xử của các nhà quản lý. Trong quá trình tư vấn, các nhà quản lý (cũng chính là những người sáng lập, sở hữu và điều hành) rất ngạc nhiên khi nhận ra chính mình là nguồn gốc của sự không minh bạch vì trong cách suy nghĩ của họ, họ đang rất minh bạch, rõ ràng và rất có ý muốn mọi người cùng tham gia vào các hoạt động và các quyết định trong kinh doanh.  Nguyên nhân của sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ và hành động của giới chủ hoặc giới quản lý cao cấp, chính là thiếu một qui trình quản lý minh bạch, trong đó, các ý muốn, định hướng chiến lược được thể hiện rõ ràng với những tiêu chuẩn, qui tắc theo các chuẩn mực mà những người trong hệ thống chấp nhận được và cùng tuân thủ vì lợi ích chung. Chính phần lầnThiếu qui trình cũng là nguyên nhân của các thất bại trong nhiều trường hợp khác nữa trong rất nhiều lĩnh vực như công nghệ sản xuất, quản trị nhân sự, quản trị thương hiệu, quản trị dịch vụ… Tuy nhiên, qui trình không phải là một cái gì đó phải học cao biết rộng mới có thể lĩnh hội và áp dụng, nhưng đòi hỏi phải có một tinh thần nghiêm túc trong công việc và thực thi nghiêm túc các suy nghĩ của mình một cách trật tự và đến cùng thì sẽ hoàn thành một qui trình.  Một trong những nguyên tắc rõ ràng nhất chính là nguyên tắc SMART – THÔNG MINH. Nguyên tắc này đòi hỏi các ý muốn, định hướng, kết quả… phải được đảm bảo có đầy đủ những yếu tố: S, M, A, R và T – đó là các chữ mang ý nghĩa là Cụ thể, Đo lường được, Có người chịu trách nhiệm, Định hướng và Giới hạn thời gian.  Những người thực thi công việc theo nguyên tắc SMART thì luôn có hiệu quả cao hơn rất nhiều so với những người không tuân theo nguyên tắc này, và khi nhiều người cùng làm việc hiệu quả thì sẽ góp phần làm cho vốn xã hội tăng lên.  Nguyên tắc SMART có thể được áp dụng ở mọi nơi, mọi công việc, mọi suy nghĩ và mọi người đều có thể áp dụng được nếu như họ muốn thực hiện được một công việc hiệu quả.  Như vậy, vấn đề tiếp theo và quan trọng nhất là làm như thế nào để nhiều người có thể áp dụng được nguyên tắc SMART trong công việc của mình.  Hình dung một công việc bất kỳ, và thử áp dụng SMART cho công việc đó  Ðiều đầu tiên là phải xác định được điều mình muốn một cách cụ thể: phần lớn các công việc không thành hoặc chậm chạp và hay thay đổi thường bắt nguồn từ sự không cụ thể của công việc. cũng giống như học sinh, khi không hiểu đề thi thì không làm bài được, do đó hoặc là không làm gì cả (mặc dù có giả bộ làm) hoặc làm mà không biết mình đang làm gì.  Rất nhiều vì dụ về sự không cụ thể của việc không xác định cụ thể công việc muốn được thực, đó là các mong muốn (đôi khi rất cháy bỏng) nhưng không được phát biểu một cách cụ thể, và điều đó làm cho người thực thi mong muốn đó không thể có một tiêu chí cụ thể để thực hiện. Lý do là khoảng thời gian của công việc rất dài, và mỗi ngày qua đi, công việc hàng ngày phát sinh sẽ làm cho người thực hiện chỉ tập trung giải quyết sự vụ mà quên đi mục tiêu đầu tiên dự tính, nếu ngay từ đầu công việc được xác định cụ thể thì khi cần có thể tham chiếu, còn nếu không thì trong đa số trường người thực hiện sẽ bị lạc lối trong chính những công việc hàng ngày.  Các trường hợp thường gặp nhất là các công việc thường được giải thích bằng một mong ước định tính, ví dụ như      –   Tiếp thị:            phải xây dựng một thương hiệu mạnh      –    Bán hàng:         xây dựng một hệ thống mạng lưới rộng khắp cả nước      –    Sản xuất:          nâng cao hiệu quả thu hồi thành phẩm, giảm các lỗi không phù hợp      –    Hành chính:       giảm sai sót giấy tờ hành chính      –    Nhân sự:          nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên      –    Kế toán:           giảm sai sót trong các báo cáo tài chính và hóa đơn      –    An toàn:           giảm tai nạn lao động trong nhà máy  Đây là các lỗi thường gặp nhất trong giới doanh nghiệp khi xác định các công việc cần phải hoàn thành, thậm chí viết trong bảng mô tả công việc và các mục tiêu phải hoàn thành của từng cá nhân hay từng bộ phận. Những công việc này sẽ không bao giờ có thể hoàn thành chính vì sự không rõ ràng, không cụ thể của nội dung các yêu cầu công việc đó: ví dụ như “một thương hiệu mạnh” là một mong muốn định tính và nếu như không có các tiêu chí cụ thể thì không thể biết là khi nào công việc này hoàn thành. Thay vào đó phải yêu cầu những tiêu chí cụ thể hơn, bắt đầu bằng việc xác định thế nào là một thương hiệu mạnh theo ý kiến của người giao việc, và sau đó yêu cầu thực hiện các công việc cụ thể để đạt các chỉ tiêu lượng hóa của một thương hiệu mạnh. Ở đây, nguyên tắc “lượng biến thành chất” phải được áp dụng tuyệt đối. Có nghĩa là muốn đạt được một yêu cầu về chất “mạnh” thì phải đạt được một loạt các yêu cầu về lượng như “phần trăm nhận diện của người tiêu dùng”, “tỷ lệ mua hàng khi có và không có tác động như quảng cáo, khuyến mãi”, “% thay đổi quyết định mua hàng”…  Ví dụ khác trong sản xuất, đó là “tăng hiệu quả sản xuất” hay “nhà máy đạt hiệu quả cao” cũng là một yêu cầu về chất, để đạt được mong muốn này thì phải cụ thể hóa mong muốn thành các yêu cầu cụ thể về lượng, đó là “tỷ lệ thành phẩm thu hồi” hay “lượng tiêu hao nguyên vật liệu” hay “số giờ công cho một đơn vị thành phẩm”…  Trong lĩnh vực sản xuất, các lỗi giao việc không cụ thể ít gặp hơn trong các lĩnh vực khác, một phần là do đặc thù của công việc sản xuất luôn gắn với các chỉ tiêu định lượng, một phần là do các nhà quản lý sản xuất thường có những nền tảng cơ bản về lĩnh vực hoạt động của mình nên có thể hiểu được bản chất của từng vấn đề, và qua đó việc lượng hóa các chỉ  tiêu công việc ít khi gặp lỗi không cụ thể.  Tiếp xúc nhiều với các doanh nghiệp, tôi nhận thấy đa số trường hợp các nhà quản lý công ty thường xuất phát từ nền tảng kỹ thuật sản xuất, do đó khi phải quản lý các mục tiêu công việc nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình thì thường có xu hướng đặt ra các yêu cầu định tính và khi không có kiến thức vững về lĩnh vực mới, cộng với không có ý thức về sự lượng hóa các ý muốn “định tính” thành các công việc cụ thể có tính “định lượng”, kết quả là không thể quản lý được công việc của mình ở lĩnh vực mới. Ở đây phải nói tới một công việc xa hơn, đó là kết quả ứng dụng các kiến thức trong trường học vào thực tế – tất cá các nhà quản lý đều đã từng học qua nguyên lý triết học cơ bản, đó là “lượng biến đổi thành chất” tuy nhiên không hề có ý thức áp dụng nguyên lý đó trong công tác quản lý công việc, điều đó là một sự lãng phí lớn một nguồn vốn xã hội đã đầu tư vào nghiên cứu, giảng dạy nhưng không có kết quả trong các hoạt động thực tiễn.  Ðiều tiếp theo là một công việc cụ thể phải đo lường được và có phương pháp đo cụ thể. Một khi kế quả công việc không thể đo lường được thì không thể coi công việc đó là một công việc nghiêm túc vì nếu như đặt ra câu hỏi là công việc đã hoàn thành chưa thì không thể có câu trả lời thỏa đáng.  Những ví dụ về những công việc không thể đo lường được kết quả cũng rất nhiều, chủ yếu là do kỹ năng giao việc chưa cao và chưa thật sự tập trung vào việc đạt kết quả cụ thể của từng công việc. Chúng ta thường hay gặp các công việc này trong nhiều lĩnh vực, hãy lấy ví dụ nêu trên như “giảm sai sót trong giấy tờ của các công việc hành chính” – đây là một trường hợp điển hình, những nhà quản lý không có khái niệm lượng hóa mục tiêu sẽ hài lòng với các đặt chỉ tiêu công việc này, nhưng thế nào là sai sót – đánh máy sai là một sai sót hay một văn bản đã ban hành sai phải thu về gọi là một sai sót?  và thế nào là giảm: giảm một hay giảm mười sai sót và cuối cùng là ai là người xác định thế nào là sai sót và xác định cách đo lường các sai sót đó trên thực tế – nếu trên thực tế không thể thực hiện được việc đo lường này thì coi như chỉ tiêu công việc này là không thực tế và khi một yếu tố không thực tế thì toàn bộ công việc sẽ không còn ý nghĩa thực tế của nó nữa.  Một phần không thể thiếu, nhưng lại hay thiếu nhất, đặc biệt là trong các tổ chức, cơ quan nhà nước, đó là phải có người chịu trách nhiệm cụ thể. Một công việc không có người chịu trách nhiệm cụ thể thì không thể coi đó là một công việc nghiêm túc. Khi một công việc được giao cho một tập thể và không nêu đích danh người nào chịu trách nhiệm về việc hoàn thành hay không hoàn thành công việc đó thì sẽ dẫn đến trường hợp rõ ràng là tính nhất quán của việc hoàn thành công việc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong một tổ chức, nơi các công việc luôn được hoàn thành từ từng chuỗi các công việc đơn lẻ và có tính lặp đi lặp lại.   “Không hoàn thành công việc” đó là một vấn đề – tuy nhiên, đối với nhà quản lý thì việc quan trọng hơn, chính là “khả năng lặp lại của việc không hoàn thành công việc”. Sai lầm có thể xảy ra – điều quan trọng là sai lầm đó không được lặp lại. Ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng nếu một người mắc nhiều lỗi tương tự trong những trường hợp tương tự thì rõ ràng đó là trách nhiệm của nhà quản lý.  Việc giao công việc mà không có tên người cụ thể chịu trách nhiệm công việc đó thì sẽ dẫn đến hai hệ quả, hệ quả thứ nhất là nếu công việc thành công hay thất bại thì không có khả năng lặp lại thành công hay ngăn ngừa thất bại thêm một lần nữa. hệ quả thứ hai là sẽ không có cơ chế trao quyền hạn cụ thể để thực hiện trách nhiệm cụ thể, do đó khả năng thực thi công việc gần như không được đảm bảo một cách chắc chắn vì nếu có chuyện gì xảy ra thì sẽ không ai dám nhận trách nhiệm cụ thể để thực hiện, phần lớn là do không có quyền hạn gì để có thể nhận trách nhiệm xử lý công việc đó. Vì vậy khi thực hiện xác định đích danh người thực hiện công việc thì cũng phải xác định luôn các quyền hạn để thực hiện được công việc đó.  Phần thứ tư là tính định hướng của công việc – thông thường không công việc nào có thể tự nó hoàn thành, mà các công việc chỉ được coi là một phần trong tổng thể, do đó nếu các công việc không có định hướng đến một kết quả chung thì không những không có tác dụng trên thực tế mà còn có khi ảnh hưởng đến toàn đại cục. Ðể có thể thực hiện được công việc này cần có một định hướng cụ thể của một tổng thể các công việc và có sự điều phối cụ thể để đảm bảo tất cả các công việc được hoàn thành theo một định hướng chung của toàn cục. Như vậy chắc chắn sẽ có một số bộ phận không đạt mục tiêu tối ưu hóa theo từng cục bộ nhưng trên phương diện tổng thể sẽ đạt hiệu quả chung cao nhất của cả tổ chức.  Lỗi hay xảy ra trong việc xác định tính định hướng của công việc, đó là khi người lãnh đạo bị ảnh hưởng cục bộ của một bộ phận và mong muốn tối ưu hóa hoạt động của bộ phận đó mà làm ảnh hưởng chung đến hiệu quả cuối cùng, hay trường hợp khác là khi người lãnh đạo tập trung tối ưu hóa hoạt động của tất cả các bộ phận mà không để ý đến sự hài hòa của tổng thể, và có thể làm cho hiệu quả chung không bao giờ đạt được.  Phần cuối cùng là hạn định thời gian, đây là khâu quan trọng của bất kỳ công việc nào nhưng cũng thường hay bị bỏ quên hoặc không được thực hiên nghiêm túc, và do đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của rất nhiều khâu khác trong cả quá trình.  Hơn một nửa số lỗi tìm ra trong quá trình quản lý tại các doanh nghiệp là khi các nhà quản lý không thể hoặc quên thiết lập giới hạn thời gian hoàn thành công việc. Ðiều này này làm cho quá trình xử lý công việc rất chậm và nhiều trường hợp không bao giờ nhìn thấy kết quả, mặc dù lúc nào cũng thấy các thành viên luôn bận rộn với công việc.  SMART là một qui tắc đơn giản nhưng rất hiệu quả  Khi có cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến các lợi thế cạnh tranh khác – cũng như vậy, khi so sánh hiệu quả làm việc của các cộng đồng thì những cộng đồng nào có thể làm việc hiệu quả hơn sẽ có được lợi thế hơn các cộng đồng khác. Do đó nếu như các doanhnghiệp Việt nam có thể áp dụng một cách triệt để các nguyên tắc của SMART thì cũng đã là một biện pháp rất hiệu quả để tăng cường vốn xã hội của chúng ta.  Câu hỏi tiếp theo là: Áp dụng SMART vào công việc quản lý doanh nghiệp có khả thi?  Trả lời là Có.  Lý do: nguyên tắc hoạt động của SMART là rất đơn giản, ai cũng có thể hiểu được và áp dụng được.  Ðiều kiện nào có thể áp dụng được các nguyên tắc SMART này trong công việc:       –   Lãnh đạo thực tâm muốn thực hiện công việc một cách hiệu quả       –   Nhân viên thực tâm muốn hoàn thành trách nhiệm của mình một cách chuyên nghiệp       –   Lãnh đạo hiểu rõ bản chất của công việc quản lý – không nhất thiết phải là chuyên gia được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực mình quản lý, mà phải là chuyên gia quản lý và điều phối công việc trong lĩnh vực mình quản lý. Khi là chuyên gia quản lý thì hoàn toàn có thể sử dụng các chuyên gia tư vấn chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể      –    Chia nhỏ công việc tổng thể thành các chỉ tiêu cụ thể theo một hệ thống quản lý theo hiệu quả công việc (thường gọi là hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả công việc – KPI system) và các tiêu chí này phải đảm bảo nguyên tắc SMART trong việc thiết lập chỉ tiêu công việc.  Không chỉ các doanh nghiệp mà các tổ chức xã hội cũng như các cơ quan nhà nước cũng có thể áp dụng các nguyên tắc quản lý này trong công việc của mình, chỉ có điều khác biệt duy nhất, đó là mục tiêu lợi nhuận của các công ty kinh doanh thường dễ thực hiện hơn và tầm nhìn cũng không quá xa như các mục tiêu của các tổ chức hay các cơ quan nhà nước, là những nơi có nhiều ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả công việc hơn là muc tiêu lợi nhuận đơn thuần của các công ty kinh doanh; tuy nhiên, nếu như các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước có thể áp dụng được hệ thống KPI một cách SMART thì chắc chắn là cái gọi là Vốn Xã Hội sẽ gia tăng đáng kể.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội trong phát triển kinh tế      Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu nhận ra là để cạnh tranh với các doanh nhân quốc tế thì trước khi cầu viện tới các nguồn lực bên ngoài cần sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có ngay bên trong doanh nghiệp – các nguồn lực đó không chỉ là tiền, tài sản, công nghệ, tài năng mà còn bao gồm cả các mối quan hệ xã hội, quan hệ trong nội bộ từng tổ chức/công ty và những phương pháp hành xử chung của xã hội được ứng dụng một cách tự nhiên trong các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.    Trong bài viết này tôi đề cập tới một khía cạnh của vốn xã hội – đó là phương pháp hành xử trong kinh doanh và qua đó tạo nên một môi trường hoạt động lành mạnh cho các thành viên của một công ty hay một tổ chức.   Hiện nay, trên thế giới thường hay nhắc tới từ “transparent” nghĩa là “minh bạch” – việc được hoạt động trong một môi trường minh bạch là ước mong của rất nhiều người vì trong một môi trường minh bạch, những vướng mắc tâm lý và những vướng mắc trong các khâu thực hiện công việc, những rào cản tâm lý của người lao động được gỡ bỏ và qua đó năng lực làm việc được giải phóng.   Vai trò của thành viên của tổ chức là làm việc hiệu quả để đạt được công việc được giao.   Vai trò của những nhà quản lý là tạo được một môi trường làm việc để các thành viên trong tổ chức có thể làm việc hiệu quả – và trong những ngày này, chúng ta thường hay nói đến hiệu quả công việc thường được tạo nên nhờ vào sức mạnh tập thể và một trong những điều kiện để một tập thể có sức mạnh chính là khả năng cộng tác và làm việc theo nhóm.   Các nhà lãnh đạo (cả doanh nghiệp lẫn các tổ chức xã hội hay nhà nước) đều muốn đội ngũ nhân viên của mình “LÀM VIỆC HIỆU QUẢ” và mong muốn những điều sau:  –         Có người tài cùng cộng tác  –         Hiệu quả công việc cao  –         Công việc được hoàn thành tốt  –         Công ty phát triển ổn định  –         Đội ngũ luôn sáng tạo  –         Khách hàng luôn hài lòng  –         …   Các nhà tư vấn phát triển doanh nghiệp thường hay nghe thấy những phát biểu sau:  –         Công việc chậm chạp  –         Bộ máy không hiệu quả  –         Nhân tài khó tìm kiếm  –         Khó sử dụng nhân tài  –         Không phát hiện được nhân tài trong nội bộ  –         Mâu thuẫn giữa các cá nhân chủ chốt phát sinh từ ý tốt của chính họ   Đa số các trường hợp, nguồn gốc phần lớn vấn đề xuất phát từ chính sự không rõ ràng trong hành xử của các nhà quản lý. Trong quá trình tư vấn, các nhà quản lý (cũng chính là những người sáng lập, sở hữu và điều hành) rất ngạc nhiên khi nhận ra chính mình là nguồn gốc của sự không minh bạch vì trong cách suy nghĩ của họ, họ đang rất minh bạch, rõ ràng và rất có ý muốn mọi người cùng tham gia vào các hoạt động và các quyết định trong kinh doanh.   Nguyên nhân của sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ và hành động của giới chủ hoặc giới quản lý cao cấp, chính là thiếu một qui trình quản lý minh bạch, trong đó, các ý muốn, định hướng chiến lược được thể hiện rõ ràng với những tiêu chuẩn, qui tắc theo các chuẩn mực mà những người trong hệ thống chấp nhận được và cùng tuân thủ vì lợi ích chung. Chính phần lớn việc qui trình cũng là nguyên nhân của các thất bại trong nhiều trường hợp khác nữa trong rất nhiều lĩnh vực như công nghệ sản xuất, quản trị nhân sự, quản trị thương hiệu, quản trị dịch vụ… Tuy nhiên, qui trình không phải là một cái gì đó phải học cao biết rộng mới có thể lĩnh hội và áp dụng, nhưng đòi hỏi phải có một tinh thần nghiêm túc trong công việc và thực thi nghiêm túc các suy nghĩ của mình một cách trật tự và đến cùng thì sẽ hoàn thành một qui trình.   Một trong những nguyên tắc rõ ràng nhất chính là nguyên tắc SMART – THÔNG MINH. Nguyên tắc này đòi hỏi các ý muốn, định hướng, kết quả… phải được đảm bảo có đầy đủ những yếu tố: S, M, A, R và T – đó là các chữ mang ý nghĩa là Cụ thể, Đo lường được, Có người chịu trách nhiệm, Định hướng và Giới hạn thời gian.  Những người thực thi công việc theo nguyên tắc SMART thì luôn có hiệu quả cao hơn rất nhiều so với những người không tuân theo nguyên tắc này, và khi nhiều người cùng làm việc hiệu quả thì sẽ góp phần làm cho vốn xã hội tăng lên.   Nguyên tắc SMART có thể được áp dụng ở mọi nơi, mọi công việc, mọi suy nghĩ và mọi người đều có thể áp dụng được nếu như họ muốn thực hiện được một công việc hiệu quả.   Như vậy, vấn đề tiếp theo và quan trọng nhất là làm như thế nào để nhiều người có thể áp dụng được nguyên tắc SMART trong công việc của mình.   Hình dung một công việc bất kỳ, và thử áp dụng SMART cho công việc đó   Điều đầu tiên là phải xác định được điều mình muốn một cách cụ thể: phần lớn các công việc không thành hoặc chậm chạp và hay thay đổi thường bắt nguồn từ sự không cụ thể của công việc. Cũng giống như học sinh, khi không hiểu đề thi thì không làm bài được, do đó hoặc là không làm gì cả (mặc dù có giả bộ làm) hoặc làm mà không biết mình đang làm gì.  Rất nhiều thí dụ về sự không cụ thể của việc không xác định cụ thể công việc muốn được thực thi, đó là các mong muốn (đôi khi rất cháy bỏng) nhưng không được phát biểu một cách cụ thể, và điều đó làm cho người thực thi mong muốn đó không thể có một tiêu chí cụ thể để thực hiện. Lý do là khoảng thời gian của công việc rất dài, và mỗi ngày qua đi, công việc hàng ngày phát sinh sẽ làm cho người thực hiện chỉ tập trung giải quyết sự vụ mà quên đi mục tiêu đầu tiên dự tính, nếu ngay từ đầu công việc được xác định cụ thể thì khi cần có thể tham chiếu, còn nếu không thì trong đa số trường người thực hiện sẽ bị lạc lối trong chính những công việc hàng ngày.  Các trường hợp thường gặp nhất là các công việc thường được giải thích bằng một mong ước định tính, ví dụ như  –         Tiếp thị:            phải xây dựng một thương hiệu mạnh  –         Bán hàng:         xây dựng một hệ thống mạng lưới rộng khắp cả nước  –         Sản xuất:          nâng cao hiệu quả thu hồi thành phẩm, giảm các lỗi không phù hợp  –         Hành chính:       giảm sai sót giấy tờ hành chính  –         Nhân sự:          nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên  –         Kế toán:           giảm sai sót trong các báo cáo tài chính và hóa đơn  –         An toàn:           giảm tai nạn lao động trong nhà máy   Đây là các lỗi thường gặp nhất trong giới doanh nghiệp khi xác định các công việc cần phải hoàn thành, thậm chí viết trong bảng mô tả công việc và các mục tiêu phải hoàn thành của từng cá nhân hay từng bộ phận. Những công việc này sẽ không bao giờ có thể hoàn thành chính vì sự không rõ ràng, không cụ thể của nội dung các yêu cầu công việc đó: ví dụ như “một thương hiệu mạnh” là một mong muốn định tính và nếu như không có các tiêu chí cụ thể thì không thể biết là khi nào công việc này hoàn thành. Thay vào đó phải yêu cầu những tiêu chí cụ thể hơn, bắt đầu bằng việc xác định thế nào là một thương hiệu mạnh theo ý kiến của người giao việc, và sau đó yêu cầu thực hiện các công việc cụ thể để đạt các chỉ tiêu lượng hóa của một thương hiệu mạnh. Ở đây, nguyên tắc “lượng biến thành chất” phải được áp dụng tuyệt đối. Có nghĩa là muốn đạt được một yêu cầu về chất “mạnh” thì phải đạt được một loạt các yêu cầu về lượng như “phần trăm nhận diện của người tiêu dùng”, “tỷ lệ mua hàng khi có và không có tác động như quảng cáo, khuyến mãi”, “% thay đổi quyết định mua hàng”…   Ví dụ khác trong sản xuất, đó là “tăng hiệu quả sản xuất” hay “nhà máy đạt hiệu quả cao” cũng là một yêu cầu về chất, để đạt được mong muốn này thì phải cụ thể hóa mong muốn thành các yêu cầu cụ thể về lượng, đó là “tỷ lệ thành phẩm thu hồi” hay “lượng tiêu hao nguyên vật liệu” hay “số giờ công cho một đơn vị thành phẩm”…   Trong lĩnh vực sản xuất, các lỗi giao việc không cụ thể ít gặp hơn trong các lĩnh vực khác, một phần là do đặc thù của công việc sản xuất luôn gắn với các chỉ tiêu định lượng, một phần là do các nhà quản lý sản xuất thường có những nền tảng cơ bản về lĩnh vực hoạt động của mình nên có thể hiểu được bản chất của từng vấn đề, và qua đó việc lượng hóa các chỉ  tiêu công việc ít khi gặp lỗi không cụ thể.   Tiếp xúc nhiều với các doanh nghiệp, tôi nhận thấy đa số trường hợp các nhà quản lý công ty thường xuất phát từ nền tảng kỹ thuật sản xuất, do đó khi phải quản lý các mục tiêu công việc nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình thì thường có xu hướng đặt ra các yêu cầu định tính và khi không có kiến thức vững về lĩnh vực mới, cộng với không có ý thức về sự lượng hóa các ý muốn “định tính” thành các công việc cụ thể có tính “định lượng”, kết quả là không thể quản lý được công việc của mình ở lĩnh vực mới. Ở đây phải nói tới một công việc xa hơn, đó là kết quả ứng dụng các kiến thức trong trường học vào thực tế – tất cả các nhà quản lý đều đã từng học qua nguyên lý triết học cơ bản, đó là “lượng biến đổi thành chất” tuy nhiên không hề có ý thức áp dụng nguyên lý đó trong công tác quản lý công việc, điều đó là một sự lãng phí lớn một nguồn vốn xã hội đã đầu tư vào nghiên cứu, giảng dạy nhưng không có kết quả trong các hoạt động thực tiễn.   Điều tiếp theo là một công việc cụ thể phải đo lường được và có phương pháp đo cụ thể. Một khi kết quả công việc không thể đo lường được thì không thể coi công việc đó là một công việc nghiêm túc vì nếu như đặt ra câu hỏi là công việc đã hoàn thành chưa thì không thể có câu trả lời thỏa đáng.  Những ví dụ về những công việc không thể đo lường được kết quả cũng rất nhiều, chủ yếu là do kỹ năng giao việc chưa cao và chưa thật sự tập trung vào việc đạt kết quả cụ thể của từng công việc. Ví dụ như đề ra chỉ tiêu “giảm sai sót trong giấy tờ của các công việc hành chính” là một trường hợp điển hình của những nhà quản lý không có khái niệm lượng hóa mục tiêu. Nhưng thế nào là sai sót – đánh máy sai là một sai sót hay một văn bản đã ban hành sai phải thu về gọi là một sai sót?  và thế nào là giảm: giảm một hay giảm mười sai sót và cuối cùng là ai là người xác định thế nào là sai sót và xác định cách đo lường các sai sót đó trên thực tế – nếu trên thực tế không thể thực hiện được việc đo lường này thì coi như chỉ tiêu công việc này là không thực tế và khi một yếu tố không thực tế thì toàn bộ công việc sẽ không còn ý nghĩa thực tế của nó nữa.   Một phần không thể thiếu, nhưng lại hay thiếu nhất, đặc biệt là trong các tổ chức, cơ quan nhà nước, đó là phải có người chịu trách nhiệm cụ thể. Một công việc không có người chịu trách nhiệm cụ thể thì không thể coi đó là một công việc nghiêm túc. Khi một công việc được giao cho một tập thể và không nêu đích danh người nào chịu trách nhiệm về việc hoàn thành hay không hoàn thành công việc đó thì sẽ dẫn đến trường hợp rõ ràng là tính nhất quán của việc hoàn thành công việc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong một tổ chức, nơi các công việc luôn được hoàn thành từ từng chuỗi các công việc đơn lẻ và có tính lặp đi lặp lại.   “Không hoàn thành công việc” đó là một vấn đề – tuy nhiên, đối với nhà quản lý thì việc quan trọng hơn, chính là “khả năng lặp lại của việc không hoàn thành công việc”. Sai lầm có thể xảy ra – điều quan trọng là sai lầm đó không được lặp lại. Ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng nếu một người mắc nhiều lỗi tương tự trong những trường hợp tương tự thì rõ ràng đó là trách nhiệm của nhà quản lý.   Việc giao công việc mà không có tên người cụ thể chịu trách nhiệm công việc đó thì sẽ dẫn đến hai hệ quả, hệ quả thứ nhất là nếu công việc thành công hay thất bại thì không có khả năng lặp lại thành công hay ngăn ngừa thất bại thêm một lần nữa. Hệ quả thứ hai là sẽ không có cơ chế trao quyền hạn cụ thể để thực hiện trách nhiệm cụ thể, do đó khả năng thực thi công việc gần như không được đảm bảo một cách chắc chắn vì nếu có chuyện gì xảy ra thì sẽ không ai dám nhận trách nhiệm cụ thể để thực hiện, phần lớn là do không có quyền hạn gì để có thể nhận trách nhiệm xử lý công việc đó. Vì vậy khi thực hiện xác định đích danh người thực hiện công việc thì cũng phải xác định luôn các quyền hạn để thực hiện được công việc đó.   Phần thứ tư là tính định hướng của công việc – thông thường không công việc nào có thể tự nó hoàn thành, mà các công việc chỉ được coi là một phần trong tổng thể, do đó nếu các công việc không có định hướng đến một kết quả chung thì không những không có tác dụng trên thực tế mà còn có khi ảnh hưởng đến toàn đại cục. Để có thể thực hiện được công việc này cần có một định hướng cụ thể của một tổng thể các công việc và có sự điều phối cụ thể để đảm bảo tất cả các công việc được hoàn thành theo một định hướng chung của toàn cục. Như vậy chắc chắn sẽ có một số bộ phận không đạt mục tiêu tối ưu hóa theo từng cục bộ nhưng trên phương diện tổng thể sẽ đạt hiệu quả chung cao nhất của cả tổ chức.   Lỗi hay xảy ra trong việc xác định tính định hướng của công việc, đó là khi người lãnh đạo bị ảnh hưởng cục bộ của một bộ phận và mong muốn tối ưu hóa hoạt động của bộ phận đó mà làm ảnh hưởng chung đến hiệu quả cuối cùng, hay trường hợp khác là khi người lãnh đạo tập trung tối ưu hóa hoạt động của tất cả các bộ phận mà không để ý đến sự hài hòa của tổng thể, và có thể làm cho hiệu quả chung không bao giờ đạt được.   Phần cuối cùng là hạn định thời gian, đây là khâu quan trọng của bất kỳ công việc nào nhưng cũng thường hay bị bỏ quên hoặc không được thực hiện nghiêm túc, và do đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của rất nhiều khâu khác trong cả quá trình.  Hơn một nửa số lỗi tìm ra trong quá trình quản lý tại các doanh nghiệp là khi các nhà quản lý không thể hoặc quên thiết lập giới hạn thời gian hoàn thành công việc. Điều này làm cho quá trình xử lý công việc rất chậm và nhiều trường hợp không bao giờ nhìn thấy kết quả, mặc dù lúc nào cũng thấy các thành viên luôn bận rộn với công việc.  SMART là một qui tắc đơn giản nhưng rất hiệu quả  Khi có cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến các lợi thế cạnh tranh khác – cũng như vậy, khi so sánh hiệu quả làm việc của các cộng đồng thì những cộng đồng nào có thể làm việc hiệu quả hơn sẽ có được lợi thế hơn các cộng đồng khác. Do đó nếu như các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng một cách triệt để các nguyên tắc của SMART thì cũng đã là một biện pháp rất hiệu quả để tăng cường vốn xã hội của chúng ta.  Câu hỏi tiếp theo là: Áp dụng SMART vào công việc quản lý doanh nghiệp có khả thi?  Trả lời là Có.  Lý do: nguyên tắc hoạt động của SMART là rất đơn giản, ai cũng có thể hiểu được và áp dụng được.  Điều kiện nào có thể áp dụng được các nguyên tắc SMART này trong công việc?  – Lãnh đạo thực tâm muốn thực hiện công việc một cách hiệu quả  – Nhân viên thực tâm muốn hoàn thành trách nhiệm của mình một cách chuyên nghiệp.  – Lãnh đạo hiểu rõ bản chất của công việc quản lý – không nhất thiết phải là chuyên gia được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực mình quản lý, mà phải là chuyên gia quản lý và điều phối công việc trong lĩnh vực mình quản lý. Khi là chuyên gia quản lý thì hoàn toàn có thể sử dụng các chuyên gia tư vấn chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể  – Chia nhỏ công việc tổng thể thành các chỉ tiêu cụ thể theo một hệ thống quản lý theo hiệu quả công việc (thường gọi là hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả công việc – KPI system) và các tiêu chí này phải đảm bảo nguyên tắc SMART trong việc thiết lập chỉ tiêu công việc.  Không chỉ các doanh nghiệp mà các tổ chức xã hội cũng như các cơ quan nhà nước cũng có thể áp dụng các nguyên tắc quản lý này trong công việc của mình, chỉ có điều khác biệt duy nhất, đó là mục tiêu lợi nhuận của các công ty kinh doanh thường dễ thực hiện hơn và tầm nhìn cũng không quá xa như các mục tiêu của các tổ chức hay các cơ quan nhà nước, là những nơi có nhiều ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả công việc hơn là muc tiêu lợi nhuận đơn thuần của các công ty kinh doanh; tuy nhiên, nếu như các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước có thể áp dụng được hệ thống KPI một cách SMART thì chắc chắn là cái gọi là Vốn Xã Hội sẽ gia tăng đáng kể.      Nguyễn Duy Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội trong vấn đề phát triển      Lẽ ra, khái niệm «vốn xã hội» không đủ chính xác để chúng ta bàn nhiều về nó. Quả thực, nó đã gây nên khá nhiều ngộ nhận, với những định nghĩa mà một số người gán cho nó. Không những thế, trong vấn đề phát triển, điều cần đào sâu tìm hiểu đối với chúng ta, chính là bản thân nội dung vấn đề phát triển, chứ không là gì khác.    1 – Vốn xã hội như một công cụ phát triển kinh tế  Phát triển cái gì, và phát triển như thế nào? Đó mới là cốt lõi của vấn đề.  Tôi sẽ dành phần 2 để bàn về vấn đề này.  Trở lại khái niệm «vốn xã hội».  Có hai cách hiểu khái niệm này, một cách hiểu thuần túy «kỹ thuật», thuần tuý kinh tế, đi đôi với cách hiểu khái niệm «phát triển» được khung lại ở khía cạnh kinh tế; một cách hiểu rộng hơn, đi đôi với cách hiểu khái niệm phát triển một cách toàn diện hơn: xã hội ở đây bao gồm tất cả các mặt xã hội, giáo dục, y tế, nhân quyền, v.v…  Một nước phát triển về kinh tế là một nước có GDP cao, thu nhập đầu người cao, có trình độ công nghiệp hóa cao, các ngành ngân hàng, thương mại và dịch vụ hoạt động tốt.  Song, một nước phát triển về kinh tế có thể rất yếu kém trên một số mặt của đời sống xã hội. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, một nước giàu có vào bậc nhất nhì thế giới, nhưng cơ cấu tổ chức về mặt y tế cho người dân thì lại rất tồi, nhất là đối với một vài tầng lớp người cùng khổ trong xã hội, như người Mỹ da đen chẳng hạn. Về tuổi thọ trung bình, Mỹ cũng chỉ đứng hàng thứ 13 trên thế giới, ngang hàng với 12 nước khác (theo thống kê của Ngân hàng thế giới, năm 1989).  Sự chênh lệch về thu nhập và về quyền hưởng thụ cũng rất lớn ở Mỹ, đặc biệt  giữa  dân Mỹ đen với dân Mỹ trắng. Tỷ lệ chết yểu của người Mỹ da đen, trong quãng tuổi từ 25 đến 50, cũng nhiều hơn gấp hai, ba lần người Mỹ da trắng. Theo thống kê, ở Harlem, New York, khu người Mỹ đen ở tập trung, tuổi thọ trung bình của một người đàn ông ở đây không có hy vọng đạt tới  40 tuổi như  một người dân nghèo ở một xứ nghèo khổ nhất ở Đông Nam Á.  Thủ đô Washington, trông bề ngoài văn minh, sáng sủa như thế, nhưng chỉ cần đi vòng ra phía sau tòa Thượng nghị viện là đã gặp ngay những khu phố nhếch nhác, bẩn thỉu và… không an toàn, nơi những người Mỹ da đen ở, và là nơi khách du lịch không dám bén mảng.  Kinh nghiệm rút ra từ những thí dụ của nhiều nước phát triển trên thế giới mấy thập kỷ qua, cho thấy một nước phát triển  không cân bằng, hài hòa, về các mặt vật chất và tinh thần, nhất là lơ là những khâu văn hóa và giáo dục, cũng như những quyền lợi  cơ bản của người dân, thì có thể gặp đầy rẫy những khó khăn, tệ nạn về các mặt nhân quyền và xã hội, đặc biệt là trong việc giáo dục thế hệ  trẻ.  Bởi vây cho nên, khi nhìn vấn đề phát triển mà chỉ khung lại ở khía cạnh kinh tế không thôi, và chỉ chú trọng đến những chỉ tiêu về tăng trưởng, thì chắc chắn là không nhìn thấy hết mọi vấn đề. Tuy nhiên, đứng về mặt «kỹ thuật» thuần túy, người ta có thể chỉ nghiên cứu vấn đề ở góc cạnh này thôi, để tìm hiểu sự vận hành của riêng khâu phát triển kinh tế.  Cũng vì thế cho nên, có hai cách tiếp cận khái niệm «vốn xã hội».  Cách thứ nhất, có thể hiểu «vốn xã hội» như «năng lực tiếp nhận của một xã hội» trong việc tiếp thu chuyển dịch công nghệ từ một nước phát triển đến một nước đang phát triển. Hiểu theo nghĩa  này, thì  «vốn xã hội» là một tổng thể những điều kiện xã hội thuận lợi cho sự phát triển về mặt kinh tế, đặc biệt là cho khâu chuyển giao kỹ thuật.  Cách thứ hai, có thể hiểu «vốn xã hội» như là những điều kiện xã hội thuận lợi cho việc phát triển toàn diện của xã hội đó, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cho người dân được hưởng những quyền lợi vật chất và tinh thần tối thiểu, để họ có thể sinh sống, làm ăn trong an toàn và thực hiện được nhiệm vụ công dân của mình, góp phần làm cho xã hội phồn vinh.  Theo cách hiểu thứ nhất, thì «vốn xã hội» chủ yếu là năng lực tiếp thu chuyển giao công nghệ của một nước đang phát triển. Trong một bài viết mang tựa đề: «Du nhập, chuyển giao công nghệ và năng lực xã hội: Vài khảo sát về kinh nghiệm ở Đông Nam Á» (Từ Đông sang Tây, NXB Đà Nẵng, 2005), Giáo sư Trần Văn Thọ, đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản, cho biết, các tác giả  Ohkawa & Rosovsky (1973) gọi khả năng đó là «năng lực xã hội» (Social Capability). Khả năng đó gồm có:        1/ Vốn con người được giáo dục và đào tạo;         2/ Khả năng của nhà nước mở rộng thị trường hướng ngoại để sản xuất dựa trên công nghệ nhập;         3/ Khả năng gia tăng tiết kiệm để bảo đảm nguồn cung cấp vốn đầu tư vào công nghệ mới.  Một tác giả khác, nhà kinh tế học Watanabe (1979) cho rằng năng lực này bao gồm:        1.     Lao động lành nghề        2.     Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp        3.     Một chính phủ mạnh.             Abramovits (1982) thì lại cho rằng: yếu tố cấu thành «năng lực xã hội», gồm có:        1-    Trình độ  giáo dục của dân chúng        2-    Các cơ chế chính  trị, thương mại, tài chánh của một nước        3-    Mức độ tự do cạnh tranh của xí nghiệp.                Còn theo Minami (1992), thì Nhật Bản có năng lực xã hội, vì có:        1.     Nguồn lực con người phong phú        2.     Khả năng hiện đại hóa tổ chức kinh doanh        3.     Khả năng xây dựng các mạng lưới thông tin.  Theo ý kiến riêng của Giáo sư Trần Văn Thọ, thì những phân tích của các tác giả trên còn khá tản mạn, và chưa có hệ thống. Theo ông, thì xã hội có thể chia làm 5 thành phần:        1.       Giới lãnh đạo chính trị         2.       Giới quan chức         3.       Giới lãnh đạo kinh doanh         4.       Giới trí thức        5.       Giới lao động (kể cả nông dân).  Để có năng lực xã hội, thì « mỗi giới phải có những tố chất cần thiết, và xã hội phải có các cơ chế cần thiết để các giới nối kết với nhau thành một sức mạnh tổng hợp ». (Trần Văn Thọ, sđd)    Từ những phân tích và ý kiến nêu trên của các nhà kinh tế học, ta có thể rút ra một vài nhận xét :        1/ Năng lực xã hội (hay «vốn xã hội») tùy thuộc trước hết vào nguồn nhân lực và trình độ giáo dục, đào tạo của nguồn nhân lực ấy. Muốn phát triển nguồn nhân lực ấy, để sử dụng công nghệ du nhập có hiệu quả, phải phát triển giáo dục và đào tạo.         2/ Cần có chính sách định hướng giáo dục, đào tạo, rõ ràng cho từng giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa (Ở đây, vai trò của nhà nước cũng là quyết định).         3/ Cần có một lớp các nhà kinh doanh bản xứ năng nổ và có thực lực        4/ Cần có một sự hợp lực giữa các tầng lớp xã hội để có sức mạnh tổng hợp  Theo cách hiểu thứ hai, thì «vốn xã hội» là cái khung cảnh thuận lợi cho việc phát triển về mọi mặt của một xã hội, chứ không phải chỉ riêng về kinh tế. Trong cái khung cảnh đó, nổi bật là quan hệ giữa nhà nước và người dân: nhà nước tạo cho người dân những điều kiện vật chất và tinh thần, trong đó có những quyền tự do cơ bản, để người dân thực hiện được nhiệm vụ công dân của mình, và  góp phần trở lại vào sự phát triển của xã hội. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm công ăn việc làm cho người dân, tổ chức và quản lý các dịch vụ phúc lợi công cộng tối thiểu, nhằm phục vụ cho người dân về các mặt giáo dục, y tế, văn hóa, bảo hiểm xã hội… Nhưng ngay cả hiểu theo cách thứ hai này, khái niệm «vốn xã hội» cũng không đủ chính xác để nói lên hết những điều kiện cho phép một xã hội phát triển một cách toàn diện.  2 – Phát triển toàn diện và bền vững  Nhìn vào sự phát triển của một xã hội, điều đáng quan tâm không phải chỉ là những chỉ số về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm, hay mức thu hoạch đầu người hàng năm, mà quan trọng hơn cả là chất lượng của sự phát triển ấy, là tính chất  lành mạnh và bền vững của nó. Cần xem xét sức sản xuất và sức tiêu thụ, cách khai thác các nguồn tài nguyên, cách bảo vệ môi trường thiên nhiên, lối sống vật chất và tinh thần của người dân, các khâu giáo dục, văn hóa, y tế, các quyền tự do, dân chủ, v.v…  Ngay từ những năm 70, nhiều nhà kinh tế học và xã hội học đã gióng lên những tiếng chuông báo động về sự phát triển không hài hòa và không bền vững của các xã hội tư bản phát triển ở phương Tây, đặc biệt là  E.F. Schumacher với tác phẩm «Small is beautiful» nổi tiếng (1973). Những vấn đề mà Schumacher nêu lên vào những năm đó, đến nay vẫn còn nguyên giá trị :  –      Nguy cơ con người làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên  thiên nhiên do lòng tham vô hạn và lòng ích kỷ của mình  –      Nguy cơ tự huỷ diệt, làm hư hỏng môi trường sinh thái  –      Quy mô và phương thức sản xuất không thích ứng  Schumacher đã trích dẫn Gandhi như sau: «Trái đất có thể đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu của con nguời, nhưng chắc chắn sẽ không thỏa mãn được lòng tham của họ». Tăng thêm nhu cầu, theo ông, không phải là một thái độ minh triết, mà chỉ làm tăng thêm sự lệ thuộc vào những yếu tố mà con người không kiểm soát được, những yếu tố gây nên cãi cọ, xích mích và chiến tranh.  Phát triển bền vững đòi hỏi một sự định hướng lại các hoạt động khoa học và công nghệ. Schumacher là một trong những nhà xã hội học đầu tiên nêu lên khái niệm «thích ứng». Một phương pháp, một giải pháp kỹ thuật, hay một cái máy, chỉ thích ứng khi nào nó vừa rẻ, ai cũng có thể mua được, lại có kích thước, quy mô, không quá to tát, khiến ai cũng có thể dùng được, và nhất là không làm thui chột óc sáng tạo của con người.  Một trong những ý tưởng quan trọng mà Schumacher đã nêu lên, là: con người mới là nguồn tài nguyên chính của sự phát triển, chứ không phải là thiên nhiên. Mà con người sở dĩ có được những hiểu biết, những sáng kiến, những phát minh, cũng là nhờ ở giáo dục.  Vào những năm 70, người ta đã phải đặt ra câu hỏi: nếu phương Tây luôn luôn sống trong khủng hoảng triền miên, phải chăng là trong hệ thống giáo dục của họ có điều gì không ổn?  Khoa học, kỹ thuật, thường được coi là «trung tính», chúng có thể dẫn đến phồn vinh và hoà bình , cũng như chúng có thể dẫn đến những tai họa về môi trường hay chiến tranh hủy diệt.  Người xưa có câu: «Science sans conscience n’est que ruine de l’âme» (Rabelais, nhà thơ Pháp, 1494-1553), tạm dịch là: «Có tri thức mà không có lương tri, thì chỉ là sự tàn tạ của tâm hồn».  Do đó mà vai trò của các khoa luân lý, đạo đức, và triết lý trong giáo dục là vô cùng quan trọng. Mà những giá trị đạo đức của nhân loại, những tư tưởng lớn của tiền nhân, vạch ra bản chất của sự vật và những giá trị đích thực của cuộc đời, sở dĩ được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng là nhờ ở ngôn từ và thông qua giáo dục.  Không phải ngẫu nhiên, mà hồi còn ở trung học, người ta đã phân ra hai ngành học trong bộ môn triết học: ngành lô gích và ngành luân lý!  Lô gích của sự phát triển về mặt kinh tế không phải là lô gích của cuộc sống, lại càng không phải là lô gích của sự phát triển toàn diện của xã hội.  Văn Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam      Năm 2006, một cuộc hội thảo do tạp chí Tia Sáng tổ chức đã quy tụ gần  200 nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng đề cập đến một vấn  đề thiết yếu đối với quá trình phát triển của Việt Nam: Vốn xã hội  (VXH).      Những giải pháp được đặt ra trên nhiều phương diện khác nhau đối với quá  trình phát triển của Việt Nam từ sau giai đoạn “mở cửa.”[1]  Tuy nhiên, nhiều người dân vẫn chưa thực sự hiểu những vấn đề cốt lõi  về VXH do đây là một thuật ngữ kinh tế xã hội của phương Tây, trong  tiếng Anh là  social capital. Bài viết này sẽ đưa ra một số những  thông tin căn bản nhất về vấn đề lý thuyết để tất cả mọi người ở tầng  lớp xã hội có thể tiếp cận một vấn đề quan trọng “cũ người” nhưng “mới  ta” này.  Một số nhà lý thuyết VXH tiêu biểu[2]  Khái niệm VXH đã được đề cập đến từ nửa đầu thế kỷ 19 khi Alexis de  Tocqueville, một học giả người Pháp, quan sát đời sống của người dân Mỹ  và cho rằng xã hội Mỹ là một tập hợp các mối quan hệ phức tạp nhưng lại  hoạt động hết sức hiệu quả trong nền dân chủ. Tập hợp những mối quan hệ  này đã tạo nên nét đặc trưng văn hóa mà nhờ đó đã tạo nên sức mạnh của  nước Mỹ trong quá khứ và cả trong giai đoạn hiện tại. Ông cho thấy “Ở  đây không chỉ có các nghiệp đoàn thương mại và công nghiệp tham dự vào  mà còn có hàng nghìn loại khác.”[3]  Tuy nhiên, phải tới những thập niên cuối thế kỷ 19, thuật ngữ VXH mới  được đưa vào các nghiên cứu mang tính học thuật và phải tới nửa sau thế  kỷ 20, VXH mới được sử dụng một cách chính thống và được sử dụng rộng  rãi trong các công trình khoa học. Trong những thập niên cuối thế kỷ 20,  VXH đã trở thành một thuật ngữ khoa học được nghiên cứu một cách có hệ  thống và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau về kinh tế học, xã  hội học, nhân học,… Sau Alexis de Tocqueville, nhiều nhà lý thuyết khoa  học xã hội khác như Robert Putnam, Pierre Bourdieu, James Coleman,  Francis Fukuyama,… đã đưa VXH thành một nội dung quan trọng trong nhiều  công trình nghiên cứu kinh điển về khoa học xã hội cũng như các chương  trình giảng dạy ở nhiều trường đại học.  Trong cuốn sách nổi tiếng Chơi Bowling một mình (Bowling Alone),  Robert Putnam đã đề cập đến lý thuyết VXH như là “giá trị cốt lõi của  các mạng lưới xã hội” Theo ông VXH, cũng như vốn vật chất hay vốn con  người, đều là những loại “vốn” có khả năng làm tăng năng suất từ những  tác động tương hỗ của các mối tương tác thông qua các mạng lưới xã hội,  các quy tắc xã hội cũng như niềm tin của con người trong xã hội, vì vậy,  VXH có giá trị đối với những ai có khả năng sử dụng nó. “Putnam không  những đã đào sâu khái niệm vốn xã hội, mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm  đo lường vốn xã hội. Trong một công trình nghiên cứu đối chiếu giữa  miền bắc và miền nam nước Ý, Putnam đã khảo sát vốn xã hội xét về mức độ  tham gia vào đời sống công dân qua những chỉ báo như: mức độ tham gia  vào các cuộc bầu cử, số lượng phát hành báo chí, mức độ gia nhập tự  nguyện vào các hội (như các hội hát hoặc các câu lạc bộ bóng đá…), và  mức độ tin tưởng vào các định chế công cộng.”[4] Tuy nhiên, đóng góp quan trọng của Putnam đối với các khuynh hướng tiếp cận lý thuyết VXH chính là việc ông coi niềm tin của con người  (trust) trong xã hội như một giá trị cốt lõi của VXH. Khái niệm này  cũng được James Coleman đặt ra trong các nghiên cứu của ông cùng việc  gắn các giá trị của VXH với sự sáng tạo trong vốn con người cùng với các  chuẩn mực xã hội.  Không đi sâu vào các giá trị cốt lõi của VXH như Putnam hay Coleman, nhà  xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu lại đặt VXH trong một khoảng tiếp  cận rộng hơn, bao quát hơn trong một cái nhìn chung đối với vốn kinh tế, vốn văn hóa và  vốn biểu tượng.  Hướng tiếp cận này của Bourdieu cũng có nhiều điểm tương đồng với  Putnam và Coleman, tuy nhiên, Bourdieu đã đóng góp cho hệ thống lý  thuyết VXH một khái niệm hết sức có giá trị, đó là  vốn biểu tượng.  Vốn biểu tượng được xem như những giá trị về danh dự, uy tín hay sự  công nhận được lồng trong một ngữ cảnh văn hóa. Chẳng hạn, “chủ nghĩa  anh hùng Việt Nam” có thể được xem như một loại vốn biểu tượng mang tinh  thần dân tộc hoặc thương hiệu của đại học Harvard có thể được xem như  một loại vốn biểu tượng trong việc thu hút sinh viên. Không giống như  những loại “vốn” khác đã đề cập ở trên, vốn biểu tượng là một thành tố  phi giới hạn, nó tùy thuộc vào các yếu tố lịch sử và văn hóa để hình  thành nên VXH theo nghĩa chung nhất.  Nói tóm lại, VXH theo cách hiểu căn bản nhất bao gồm các thành tố: 1) Hệ  thống các mạng lưới xã hội; 2) Niềm tin của con người trong xã hội; và  3) Khả năng kết nối để thực hiện công việc trong xã hội. Tuy nhiên, đây  mới chỉ là điều kiện “cần” chứ chưa phải điều kiện “đủ” để chúng ta có  thể cụ thể hóa VXH thành các giá trị mang tính thực tiễn đối với xã hội  và đời sống của con người. Hướng tiếp cận của Francis Fukuyama dưới đây  dường như đã giải quyết được vấn đề này.  Francis Fukuyama cho rằng “phần lớn các định nghĩa về VXH đều chỉ nói về  những mặt biểu hiện của VXH hơn là về bản thân VXH. Ông quan niệm rằng  VXH chính là thành tố văn hóa của các xã hội hiện đại – những xã hội mà  kể từ thời kỳ Khai sáng đã được tổ chức dựa trên cơ sở của các định chế  chính thức, trên cơ sở nhà nước pháp quyền và lý tính. Định nghĩa về VXH  của Fukuyama có đặc điểm là nhấn mạnh hơn đến yếu tố chuẩn mực xã hội.  Có thể nói, hướng tiếp cận của Francis Fukuyama là một hướng tiếp cận  mang tính tổng thể đối với lý thuyết VXH. Từ những chuẩn mực xã hội mà  con người đã tạo ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai, có thể nói,  loài người là loài duy nhất trên hành tinh sáng tạo nên những giá trị  mang tính xã hội. Những giá trị mang tính xã hội đó chính là sự tổng hợp  cao nhất của VXH. Tuy nhiên, khái niệm VXH ở mức độ tổng thể mà  Fukuyama đã đề xuất bao gồn cả mức độ thấp cũng như mức độ cao, nó bao  gồm cả các yếu tố tích cực cũng như tiêu cực. Vì vậy, việc phân định các  loại vốn khác nhau này cần được xem xét một cách cụ thể tùy từng trường  hợp, chuyên mục dưới đây sẽ đề cập cụ thể hơn về vấn đề này.  Những vấn đề căn bản của lý thuyết VXH  Qua những hướng tiếp cận lý thuyết của các nhà khoa học nêu trên, chúng  ta có thể tạm phân chia VXH thành hai loại căn bản: VXH dành cho cá nhân  (như quan điểm của Bordieu) và VXH mang tính xã hội (như quan điểm của  Putnam, Fukusima). Dường như hướng thứ hai ngày càng được quan tâm nhiều  hơn và cũng được sử dụng ngày một rộng rãi hơn trong nhiều ngành nghề  có liên quan đến VXH nói chung và khoa học xã hội nói riêng. Sự khác  biệt trong việc tiếp cận VXH với các mức độ khác nhau ở các xã hội khác  nhau chính là khó khăn lớn nhất đối với việc sử dụng lý thuyết VXH trong  các nghiên cứu về khoa học xã hội. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến  những tranh luận “vô tiền khoáng hậu” về mặt học thuật.  Trong nhiều cách phân loại về mức độ tiếp cận đối với VXH, các nhà khoa  học đã chia thành những định mức như sau: “(1) Mức độ vốn xã hội vi mô  (micro-level social capital), (2) mức độ vốn xã hội trung mô (Meso-level  social capital), và (3) mức độ vốn xã hội vĩ mô (macro-level social  capital).  Ba định mức này liên  quan đến: (1) Cá nhân, (2) gia đình, trường học, cơ quan, đoàn thể, xí  nghiệp, và (3) xã hội, đất nước và toàn cầu. Mối liên hệ hữu cơ là: (1)  Nếu cá nhân không được chuẩn bị kỹ càng; (2) nếu nghiệp vụ không được  đào tạo, huấn luyện nghiêm túc; (3) kết quả sẽ tạo ra là những thành  viên xã hội có chất lượng nghèo nàn và hệ quả tất yếu là sẽ làm cho  nguồn vốn xã hội suy thoái hay khánh tận.”[5]  Việc phân chia này đã giúp các cá nhân trong xã hội, các hội nhóm, các  nghiệp đoàn cũng như các thể chế quản lý xã hội có thể tiếp cận lý  thuyết VXH ở các mức độ khác nhau tùy vào thực tiễn.  Việc phân chia nói trên, xét về lý thuyết là thỏa đáng và hợp lý, tuy  nhiên, có một thực tế là tại cùng một thời điểm việc sử dụng lý thuyết  VXH ở mỗi xã hội luôn có những khác biệt, thậm chí là những khác biệt  rất lớn. Chẳng hạn, ở vùng nông thôn, nơi người dân có quan điểm xã hội  tương đối thủ cựu gần với truyền thống hơn thì mức độ tiếp cận VXH tương  đương với cấp độ 1 hoặc 2 đã nêu ở trên. Trong khi đó, người dân ở  thành phố (nơi có các thiết chế đô thị và lối sống hiện đại) buộc phải  tuân thủ các quy tắc xã hội phù hợp với các định chế quốc gia (khu vực  đô thị) và quốc tế. Mức độ này chính là tầm mức vĩ mô, ở cấp độ 3. Xét  rộng ra, ở các xã hội khác nhau, các quốc gia khác nhau và các khu vực  địa lý, kinh tế, lịch sử khác nhau thì việc tiếp cận VXH càng có nhiều  khác biệt và càng cần được “phân cấp” cụ thể hơn, chi tiết hơn. Chẳng  hạn, các quốc gia phát triển ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,  Singapore,… có các thiết chế xã hội tương đối hoàn thiện, sẽ sử dụng VXH  ở cấp độ cao hơn các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam,  Cambodia,… nơi niềm tin trong xã hội chưa được khẳng định và các thiết  chế xã hội chưa đủ hoàn thiện.  Ngoài những cách thức phân chia đã nêu ở trên, việc phân cấp sử dụng các  cấp độ VXH cũng cần dựa trên trình độ phát triển của xã hội. Tạm thời,  chúng ta có thể phân chia trình độ phát triển VXH qua ít nhất là 03 giai  đoạn (gọi tắt là 3G – theo cách dùng của thuật ngữ phát triển công  nghệ):  1G: Giai đoạn tiếp cận lý thuyết VXH  2G: Giai đoạn sử dụng lý thuyết VXH và các ứng dụng căn bản  3G: Giai đoạn ứng dụng VXH ở tầm vĩ mô  Theo đó, tại thời điểm hiện tại, các quốc gia phát triển đã sử dụng VXH  3G thì ở Việt Nam chúng ta vẫn chưa thực sự bước vào 1G do Việt Nam chưa  có một xã hội dân sự (civil society) thực sự. Năm 2007, vấn đề ứng dụng  các lý thuyết khoa học xã hội như VXH, vốn văn hóa, vốn biểu tượng,… đã  được chính phủ Anh đưa vào chương trình nghị sự chính thức để sử dụng  trong việc hoạch định chính sách công (public policy). Chương trình nghị  sự này nhấn mạnh đến ảnh hưởng của các loại vốn nói trên từ những hành  vi của cá nhân và cộng đồng. Từ đó quyết định cách thức tương tác của  chúng đối với các thành tố khác như lợi ích của thông tin, ưu đãi tài  chính đối với mỗi cá nhân trong xã hội. Chương trình này được nhóm  nghiên cứu của David Knott thực hiện trong khung chính sách công của  chính phủ Anh từ năm 2008.[6] Tuy nhiên, để thực hiện được các chính sách công dựa trên các loại vốn đó thì niềm tin và  chuẩn mực xã hội cần phải đạt đến một “độ cao” cần thiết trong một xã hội dân sự.  Lý thuyết VXH với thực tiễn của Việt Nam  Ở trên, bài viết đã nêu các vấn đề mang tính tích cực hay “mặt phải” của  VXH. Dưới đây bài viết sẽ đề cập đến mặt trái của VHX và những quan  điểm sai lầm của chúng ta về VXH. Việc hiểu nông hoặc hiểu sai về VXH đã  dẫn đến những định hướng sai lầm và hậu quả là làm suy thoái VXH cũng  như nền tảng đạo đức xã hội. “Theo Portes, vốn xã hội chứa đựng trong nó  ít nhất là bốn hậu quả tiêu cực. Thứ nhất, đó là sự loại trừ  những người ngoài. Vốn xã hội thường mang lại các cố kết bên trong nhóm.  Tuy nhiên, những cố kết như thế lại tạo ra khó khăn cho việc mở rộng  nhóm, đồng thời ngăn cản sự tham gia của những người bên ngoài. Thứ hai  là đòi hỏi thái quá đối với thành viên. Điều này có thể tốt nếu xét  theo khía cạnh tổ chức của nhóm. Nhưng mặt tiêu cực là ở chỗ nó hạn chế  sáng kiến của các thành viên. Thứ ba là hạn chế tự do cá nhân. Thứ tư  là việc hạ thấp chuẩn mực của sự cách biệt trong nhóm. Vì vốn xã hội có  xu hướng tạo ra cố kết, giữ các cá nhân ở những vị thế ngang bằng nhau  nên trong nhiều tình huống sự thành công của một cá nhân làm xói mòn  liên kết nhóm. Nhiều khi, vốn xã hội giữ các cá nhân ở những vị thế  ngang bằng nhau nên đã làm triệt tiêu tham vọng và sự sáng tạo của họ.”[7]  Có thể nói, tính cố kết, bè phái, địa phương chủ nghĩa, gia đình trị,…  là những mặt trái tiêu biểu của người Việt Nam, đó chính là những mặt  tiêu cực phổ biến của VXH. Nhận thức được vấn đề này thông qua lý thuyết  VXH có thể giúp chúng ta tránh được những nhược điểm căn bản, mang  tính cố hữu hoặc những sai lầm đáng tiếc.  Một thực tế khác rất dễ thấy trong xã hội Việt Nam hiện nay là một xã  hội được vận hành bằng những mối quan hệ “thân thuộc” mang đặc trưng  “lợi ích nhóm.” Loại VXH này tuy làm lợi cho một số ít cá nhân ở các  nhóm lợi ích nhưng xét trên tổng thể về VXH (như quan điểm của Fukuyama)  thì nó không những không đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội  mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến niềm tin và  chuẩn mực xã hội.  Một xã hội không còn niềm tin và những chuẩn mực là một xã hội đang  đứng bên bờ vực tan rã. Những biệt ngữ “chạy án”, “làm luật” hay “lách  luật” đang được sử dụng hết sức phổ biến hiện nay là những minh chứng rõ  nét về sự suy giảm nghiêm trọng niềm tin đối với luật pháp. Việc “chạy  trường”, “xin điểm”, “bằng giả, bằng rởm”… là những chỉ báo cho thấy các  chuẩn mực về học vấn, nhân cách, tiêu chí giáo dục,… bị đảo lộn. Để  giải quyết những vấn đề nói trên thì việc đưa lý thuyết VXH vào giảng  dạy và áp dụng trong thực tiễn của Việt Nam là một điều hết sức cần  thiết. Việc làm này “tuy muộn nhưng còn hơn không.” Tuy nhiên, tất cả  các vấn đề nói trên chỉ có thể được giải quyết trong một xã hội dân sự.  Tài liệu tham khảo  Bourdieu, Pierre.  1980. Le Capital Social: Notes Provisoires. Actes de la Rechercheen Sciencies Sociales 3: 2-3.  Bourdieu, P. 1984. Distinction: A social critique of the judgement of taste, Harvard: Routledge.  Bourdieu, Pierre.  1986.  The Forms of Capital.  In Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education.  J. Richardson, ed.  Westport: Greenwood Press.  Coleman, James.  1987.  Norms as Social Capital. In Economic Imperialism. Radnitsky and Bernholz, eds.  New   York: Paragon House.  Coleman, James.  1988. Social Capital in the Creation of Human Capital. American Journal of Sociology 94 (Supplement): S95-S120.  Coleman, James. 1990. Foundations of Social Theory.  Harvard  University Press.   Fukuyama, Francis. 1999. Social Capital and Civil Society. Lecture at The Institute  of Public Policy. George Mason  University. October 1, 1999  Fukuyama, Francis. 1997. Social Capital. Lecture at Brasenose College, Oxford, May 12, 14, and 15, 1997  Hayek, Friedrich.  1960.  The Constitution of Liberty.  Chicago: The University of Chicago Press.  Nguyễn Tuấn Anh, VXH và sự cần thiết nghiên cứu VXH ở nông thôn Việt Nam hiện nay. http://tainguyenso.vnu.edu.vn/  Putnam, Robert.  1966. Political Attitudes and the Local Community. American Political Science Review 60: 640-654.  Putnam, Robert.  1995. Bowling Alone: Americas Declining Social Capital.  Journal of Democracy 6: 65-78.  Putnam, Robert.  2000.  Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community.  New York: Simon and Schuster.  Tocqueville, Alexis de.  1988.  Democracy in America.  G. Lawrence, trans. J.P. Mayer, ed. Perennial Library edition.  New York: Harper and Row, Publishers  Trần Hữu Quang. 2006. Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội. Tạp chí Khoa học xã hội, số 07 (95), trang 74-81.  Trần Kiêm Đoàn. 2006. Khái niệm về VXH, trong: http://www.trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/vonxahoi.html            [1]  Loạt bài này có thể xem trực tiếp trên website của Tạp chí Tia sáng:  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=1787&CategoryID=16         [2]  Ngoài các tác giả được giới thiệu ở đây còn một số nhà khoa học khác có  đóng góp đáng kể đối với lý thuyết VXH nhưng do giới hạn về thời lượng  của bài viết này nên chúng tôi chỉ xin nêu một vài ví dụ mà không liệt  kê toàn bộ.         [3] Putnam, Robert. 2000.  Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community.  New York: Simon and Schuster, tr. 48         [4] Trần Hữu Quang. 2006. Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội. Tạp chí Khoa học xã hội, số 07 (95), trang 74-81         [5] Theo Trần Kiêm Đoàn trong: http://www.trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/vonxahoi.html         [6]  Xem: “Hướng tới biến đổi văn hoá: Một khung chính sách” (David Knott  with Stephen Muers and Stephen Aldridge, Achieving Culture Change: a  policy framework July 2007, PM’s Policy Unit) của chính phủ Anh tại  trang web:  http://www.cabinetoffice.gov.uk/strategy          [7] VXH và sự cần thiết nghiên cứu VXH ở nông thôn Việt Nam hiện nay,  tham luận của Nguyễn Tuấn Anh, Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học  Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  http://tainguyenso.vnu.edu.vn/         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội và phát triển      Trong bài này chúng tôi sẽ tóm lược các điểm chính của vốn xã hội như được trình bày theo một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Sau đó đề cập đến sự nghiên cứu của ông Fukuyama và liên hệ một số điểm chính yếu của ông với thực tế của nước ta để tìm xem vốn xã hội của chúng ta cao hay thấp. Thực tế được chọn lựa là sáu vấn đề nằm trong cơ cấu tổ chức xã hội và công việc xây dựng con người ở ta.    I. Khái niệm về vốn xã hội  Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống.2  Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961, Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993.3 Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ. Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém. Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web… Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action). Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung. Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng.  Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới. Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước ta. Bạn, tôi và vài người quen rủ nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bước 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3). Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế. Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế.   Lý giải từng bước, ta thấy dễ chịu khi làm ăn với ai mà mình tin, không mất công, chẳng mất giờ, vốn là của cải có sẵn (tài nguyên) và không nên phí phạm. Khi mình tin người khác họ cũng sẽ tin mình và như thế niềm tin tạo nên một nghĩa vụ. Nếu đứng trong vị trí của từng cá nhân một, ta có sự tin cẩn nhau; lúc nhìn cả hai người một lần thì đó là niềm tin hay sự tin tưởng. Có hai loại tin tưởng: một là tin vào những người mà mình biết rõ; hai là tin vào những người mình chưa biết rõ nhưng vì họ đứng trong một cơ cấu, một tổ chức mà mình tin tưởng nên mình cũng tin họ luôn. Xây dựng niềm tin thì mất nhiều thời gian và công sức nhưng để mất nó thì rất dễ. Một xã hội đầy rẫy sự bất tín thì khó có sự hợp tác (Baland and Platteau, 1998).  Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng niềm tin. Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc (specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang nhau, và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các bên.  Quy tắc (rules) là những sự bó buộc mà mỗi người phải theo khi làm một việc gì đó. Quy tắc chính thức là luật pháp do nhà cầm quyền ban hành. Luật lệ luôn đi kèm với sự trừng phạt tinh thần hay vật chất. Quy tắc không chính thức là những điều mà các cá nhân áp dụng để đóng khuôn hành vi hàng ngày của họ. Hành vi mẫu mực (norms), trái lại, là một việc làm theo một cung cách nào đó phù hợp với sự mong mỏi, sự ưa thích. Về mặt ngữ nghĩa, “norm” là hành vi mẫu mực hay các tiêu chuẩn được xã hội, hoặc các nhóm chấp nhận (tự nguyện hay không) và dựa trên đó, xã hội đánh giá một người hay một việc. Khi dịch từ “norm” sang tiếng Việt là “chuẩn mực” thì nó chỉ còn có nghĩa là một cái gì được chọn để làm căn cứ đối chiếu. Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để làm lợi ích của tập thể được đặt cao hơn lợi ích cá nhân. Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng sẽ làm như thế.  Những điều trên cũng còn được gọi là luật chơi hay là luân lý nội tại của một hệ thống xã hội (Coleman, 1990), ximăng của xã hội (Elster, 1989) hay những giá trị căn bản tạo nên lòng tin (Collins và Chippendale, 1991). Chúng phản ánh mức độ của một cá nhân bằng lòng hòa giải với người khác hay kiểm soát hành vi của mình. Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể.  Cuối cùng là sự liên kết, mạng lưới hay nhóm. Đó là thành tố quan trọng của vốn xã hội. Có nhiều loại liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, đám ma…) Chúng có thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình.  Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital). Loại trước tạo nên các nhóm như Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi chính phủ hay các hội từ thiện. Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự. Xã hội này là một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể góp tay với chính quyền chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể.  Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã hội và tạo ra sự gắn bó trong đó. Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998).     II. Vốn xã hội và sự phát triển kinh tế  Trong quyển “Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity” xuất bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.  Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của người khác. Ông nói thẳng: “Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội.”4 Để minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.  5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc tế, ông định nghĩa: “Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal) phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người (nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi đối với mọi người, và chỉ trở thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những bạn của tôi.” 5  Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức thời đều sẽ tạo nên vốn xã hội. Trái lại chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm trong xã hội hợp tác với nhau, hay tạo nên sự hợp tác, thì đó mới là hành vi mẫu mực. Đa phần chúng lại là các đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm.  Vốn xã hội sẽ làm giảm chi phí khi thực hiện các công việc phát sinh từ các hành vi trang trọng như hợp đồng, mối tương quan giữa các cấp, hay từ quy định của các cơ quan… Thí dụ, hợp đồng bảo rằng phải làm thế này, thế nọ; nhưng nếu hai bên tin nhau thì có thể cắt giảm chúng. Tương tự, trong các nơi không sử dụng kỹ thuật cao, vốn xã hội sẽ tạo ra một hiệu quả cao hơn khi so sánh nó với các kỹ thuật chính thức hiện dùng để phối hợp công việc. Điển hình là phương pháp sản xuất theo dây chuyền của Taylor. Nó được lập tại các xưởng, rất tập trung, lắm giấy tờ, và không hữu hiệu lắm vì các quyết định đưa ra bị đình trệ, hay thông tin bị bóp méo khi đi qua các cấp chỉ huy. Ngày nay, trong nhiều doanh nghiệp, phương pháp Taylor đã bị thay thế bằng một cơ cấu quản trị đơn giản, chú trọng việc chuyển giao trách nhiệm xuống cho các tổ trưởng ở dưới cùng. Các công nhân hiểu biết tình trạng nơi mình làm việc được phép tự quyết định thay vì trình lên trên. Cách này làm cho công việc được thực hiện nhanh chóng hơn, ít tốn kém hơn so với cách làm cũ và nó hoàn toàn tùy thuộc vào vốn xã hội của lực lượng lao động.  Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn. Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa. Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý. Đó là nguồn gốc của một quyền uy, nó ấn định các hành vi mẫu mực và trông đợi sự tuân thủ không cần suy nghĩ. Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua các qui trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý lẽ. Thứ ba, sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thí dụ, cả Đức và Nhật đều đã trải qua các cuộc đình công của thợ thuyền, rồi xung đột chủ thợ với chính quyền trong những năm 1920, 30. Hai chính quyền ấy đã phải trấn áp các nghiệp đoàn lao động độc lập và thay thế họ bằng công đoàn “vàng”. Sau khi hai nước bại trận, họ có cách tiếp cận mềm dẻo hơn đối với việc quản lý các quan hệ lao động; kết quả là ở Đức đã có chính sách kinh tế thị trường xã hội (Sozialmarktwirtschaft) còn ở Nhật là chế độ làm việc suốt đời. Dẫu cũng còn những bất cập, hai định chế này đã đóng vai trò quan trọng trong sự phục hồi kinh tế của hai nước kia và tạo nên một loại vốn xã hội.  Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin  gọi chúng là các yếu tố tinh thần. Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.     III. Vốn xã hội ở ta  Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của chúng ta có cao không, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin. Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.     Cơ cấu xã hội  Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Ở đây chúng tôi chọn hai khía cạnh nằm trong cơ cấu xã hội để xem xét là: việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân chúng và cấu trúc Đảng – chính quyền.  Việc đoàn ngũ hóa.  Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân…). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập.  Cuối cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học sinh…) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính giúp gây dựng vốn xã hội không?  Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các hội đoàn của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý do. Thứ nhất, mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa. Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội.              Về các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trừ các hội do tư nhân lập ra thì hoạt động của họ có hiệu quả nhất định đối với ngành nghề của họ, còn các hội do các cơ quan chính quyền là chủ quản thì hiệu quả hoạt động của chúng không cao. Điều đó cũng có những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất các hội viên có những lợi ích khác nhau khi tham gia. Thứ hai, lãnh đạo của các hội đoàn đó do cơ quan chủ quản cử; họ không cần sự ủng hộ của hội viên nên không quan tâm đến lợi ích của hội viên. Chỉ trong những trường hợp do áp lực từ bên ngoài vào, như các vụ bán phá giá; họ mới hoạt động hiệu quả trong tư thế tự vệ nhiều hơn là phát triển ngành nghề của mình.  Riêng các hội ái hữu, đồng hương thì hoạt động của chúng có tính tương tế, hiếu hỷ nên không đóng góp vào vốn xã hội. So với trước năm 1975, những người trong bang Triều Châu ở Sài Gòn đã lập ra bệnh viện với hàng trăm giường thì hiệu quả hoạt động của các hội trên không có gì để so sánh.  Gần đây trong các cuộc thảo luận về “Luật về Hội” đã có nhận xét về các hội đoàn ở ta thì tính chất tự nguyện, tự quản của chúng hầu như không có. Ý nghĩa và vai trò của chúng đã bị nhà nước hóa nên sự thu hút của hội đối với quần chúng chẳng là bao. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần xác định các đoàn thể quần chúng là một định chế nằm trong xã hội dân sự, bên cạnh những định chế khác như nhà trường, giáo hội, truyền thông báo chí. Những sự kiện này chứng tỏ sự đóng góp của các hội đoàn ở ta cho vốn xã hội đang còn là điều ao ước.  Cấu trúc Đảng- chính quyền.  Trong một xã hội mà dân trí chưa cao, nền kinh tế còn đang ở giai đoạn phát triển thì quan niệm “quan chi phụ mẫu” vẫn còn nặng trong dân chúng. Hơn nữa, một vị lãnh đạo chính quyền có thể lên hệ thống truyền thông khuyên bảo dân chúng như một phần trong nhiệm vụ của họ. Vì thế dân chúng vẫn nhìn vào lời nói, việc làm của những quan chức kia như là tấm gương; mà những quan chức ấy lại xuất phát từ cấu trúc Đảng-chính quyền nên ta xem cấu trúc này.   Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, do vậy Đảng lãnh đạo chính quyền một cách toàn diện và triệt để. Nhân sự do Đảng cử, chính quyền nhận và sử dụng. Trong chiến tranh, cơ chế này rất hữu hiệu vì thua thắng rõ ràng nên trách nhiệm dễ được phân định. Thế nhưng, khi điều hành nền kinh tế trong thời bình thì sự đúng sai của các biện pháp kinh tế đã áp dụng khó biết ngay nên việc ấn định trách nhiệm rất khó. Hơn nữa trong cơ chế Đảng-chính quyền thì người quyết định không làm, còn người làm thì không được quyết định rồi cấp thừa hành của người làm không do người này chọn nên việc quy trách nhiệm lại càng khó hơn. Hậu quả là cái cấu trúc hợp lý trong lý thuyết thì trong thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn về trách nhiệm. Các sai phạm của viên chức chính quyền ít bị trừng phạt. Nếu có thì họ chỉ chịu kỷ luật dành cho đảng viên, một thứ hình phạt được ấn định theo sự nhận thức của người sai phạm, chứ không phải bị áp đặt luật như ở tòa án.     Việc xây dựng con người  Việc xây dựng con người ở đây không được nhìn theo giáo dục hay văn hóa mà theo khía cạnh là: (1) trang bị cho con người những đức tính tốt – (2) để họ có khả năng ngồi lại với nhau – (3) hầu làm được những công việc nhất định nào đó. Đảo ngược ba vế kia để nói về điều chúng ta đang quan tâm thì: để cho kinh tế phát triển phải có việc (3) – việc đó thành hiện thực nhờ (2), đó là vốn xã hội – và muốn có cái vốn đó thì phải có (1). Xây dựng con người ở đây nhắm vào vế (1). Và ta sẽ xem xét ba vấn đề: tinh thần tập thể; việc tạo lập các đức tính tốt và cách thực hiện óc tư lợi.  Tinh thần tập thể  Có một thời tập thể là nền tảng của xã hội ta. Cá nhân phải đứng dưới tập thể. Đại đa số cá nhân được đưa vào đội ngũ một cách này hay cách khác, mà không có sự chọn lựa, theo nguyên tắc “tất nhiên phải thế” vì đó là khuôn mẫu của chế độ chính trị. Ngày nay việc đoàn ngũ hóa giảm nên tinh thần tập thể cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, não trạng tập thể với những lợi ích tinh thần mà nó đã từng đem lại cho con người sẽ không bao giờ mất; bởi vì người ta chỉ bỏ những gì bất lợi, còn giữ mãi những gì có lợi cho mình dù hoàn cảnh có đổi thay. Ta có thể nêu vài thứ.  Bản ngã bị mất đi  Là một nhân vị, một bản ngã, mỗi cá nhân phải được tự do quyết định, chịu trách nhiệm và được khen ngợi hay tôn vinh. Thế nhưng, khi tham gia vào một tập thể – vì cơ cấu xã hội không cho phép làm khác – thì cá nhân bị mất bản ngã. Họ không thể tách biệt, sống khác với tập thể. Họ không còn tự do, phải làm theo quyết định của tập thể; nếu còn thì chỉ được ghi nhận theo quyền bảo lưu và quyền này không bao giờ biến thành hiện thực. Khi họ phải làm theo người khác thì không thể bắt họ chịu trách nhiệm cá nhân được. Khi người khác đã nghĩ cho mình thì họ trở nên ỷ lại. Vậy là họ mất đi cái bản ngã của mình, luôn cả tinh thần trách nhiệm cá nhân! Dù có vậy, thì nhu cầu được tôn vinh của họ không hề mất; kẻo họ không còn cảm thấy mình là người nữa; nhu cầu ấy đã biến thể thành chủ nghĩa thành tích mà ta sẽ đề cập sau này.  Lợi ích nằm dưới chiêu bài tập thể  Khi sinh hoạt theo tập thể, cá nhân có những mối lợi nhất định cho riêng mình nhân danh tập thể. Họ có một chiêu bài tốt của người khác để mình có thể làm xấu. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.  Bạn chơi chung với một nhóm người – đó là một tập thể – nếu lúc nãy bạn để cái bút cho anh em dùng mà nay cần nó, bạn hỏi: “Có bạn nào thấy nó không?” thì có thể không ai trả lời. Thậm chí một người tên A đang cầm nó thì anh ta cũng không cảm thấy phải trả lời; vì bạn không hỏi thẳng anh ta. Điều này cho thấy trong tập thể thì không thể đặt ra trách nhiệm cá nhân.Và anh A kia đã che chắn trách nhiệm cá nhân mình dưới danh nghĩa tập thể. Thế nhưng khi không nghe ai trả lời mà bạn có buột miệng nói: “Tập thể gì mà xấu thế!” thì ngay lập tức có thể anh A kia sẽ đứng ra sừng sộ với bạn: “Mày dám bảo tập thể xấu”; hay có giọng nói: “Này nói thế động chạm lắm nghe!” Có thể người sừng sộ với bạn không thích bạn; nhưng anh ta làm không phải vì không thích bạn, mà vì bạn xúc phạm đến tập thể đấy!  Với đủ loại che chắn dành cho cá nhân như thế, tính tập thể làm cho ý thức phạm tội của cá nhân mất đi và do đó cũng làm mất đi sự xấu hổ trong họ. Điều này có thể thấy qua hình phạt tập thể. Một người trong tập thể làm điều gì sai trái, hình phạt sẽ được áp dụng cho tập thể với ý nghĩa “phạt vì không biết bảo nhau”. Do tính lây lan của tình cảm con người nên khi tất cả bị phạt thì không ai còn cảm thấy bị phạt. Đứa bên cạnh cũng bị như mình, ôi có gì đâu mà phải xấu hổ!  Tạo lập các đức tính tốt của con người  Con người ai cũng có vật chất và tinh thần. Tinh thần thúc đẩy, ngăn cản và hướng dẫn hành động của con người. Tạo lập các đức tính tốt cho con người là ngay từ lúc nhỏ. Ở trong gia đình và nhà trường, người ta dạy cho con người các đức tính phổ biến là: sự tự chế, lòng thương người, trách nhiệm, tình bạn bè, sự làm việc, can đảm, kiên nhẫn, thật thà, trung thành và niềm tin tôn giáo. Vậy ta có thể hỏi việc tạo lập các đức tính tốt cho con người trong xã hội của ta được làm như thế nào? Chúng ta có một tập hợp (một bộ) các đức tính tốt để cho một người cư xử với người khác, những người không phải là thân thích với mình, không?  Câu trả lời là đối với những người nắm chức vụ công quyền thì có. Thí dụ cho công chức là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”; cho công an có 6 điều, cho phụ nữ có 8 chữ… Những đức tính này được trang bị cho những người có chức vụ xã hội nhất định chứ không phải cho mọi người bình thường trong xã  hội; chúng là đạo đức nghề nghiệp nên không giúp nhiều vào việc tạo nên vốn xã hội giúp kinh tế phát triển.  Đối với những người bình thường và chiếm đa số trong dân chúng thì trong một thời gian rất dài trên các phương tiện truyền thông và giáo dục chúng ta ít nghe đến giáo dục gia đình, đến việc cha mẹ dạy dỗ con cái trong nhà, đến phép lịch sự của một cá nhân bình thường; mà nghe nhiều đến sinh hoạt của các tổ chức chính trị truyền thống trong đó hội viên được khuyến khích, giúp đỡ để coi trọng quyền lợi chính trị. Ý thức về quyền lợi chính trị là biết cách giữ, biết cách đòi để không làm mất quyền lợi của mình, để hơn người; chứ không phải để cư xử ra sao với người hàng xóm.   Về cách thức phải đối xử với người hàng xóm thì những đức tính tốt dạy cho con người cũng ít. Ngoài năm điều Bác Hồ dạy cho trẻ em trong đó những đức tính có thể dùng một cách phổ quát là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” thì chỉ có một khẩu hiệu đạo đức tổng quát “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thế nhưng đoàn kết tốt là phải làm gì? Mình vì mọi người thì phải làm sao? Tất cả không được triển khai, không có gương soi chung. Trong các đoàn thể có các nội quy, nhưng chúng là những gì từ bên ngoài áp đặt vào con người. Nội quy là một loại luật pháp, nó đòi hỏi phải có người khác canh chừng; chứ không phải là những gì nằm sẵn bên trong con người, được hun đúc lên, hay được thấm nhuần vào trong họ để rồi họ tự mình kiểm soát mình. Trong các tổ chức nêu trên chắc chắn không có những đức tính tốt nằm trong đạo đức cổ truyền mà đã bị phá hủy qua các phong trào “bài phong đả thực”.  Do cách giáo dục áp đặt từ bên ngoài vào và nặng về việc đòi ăn trên ngồi trốc (quyền lợi chính trị) nên một số không nhỏ những người ở xã hội ta, bắt đầu từ giới có chức có quyền sau lan rộng ra dân chúng, khi đánh giá theo khía cạnh đạo đức, thì họ cũng giống như một cột xi măng không có cốt sắt bên trong. Sự tự chế của họ, sự kiểm soát chính mình, để ngăn họ không làm điều xấu hầu như không có. Nhiều người trong giới cầm quyền đã đầu hàng tiền bạc. Họ không làm điều xấu vì thấy có người khác biết hoặc sợ bị phê bình; chứ không phải từ ý thức của họ rằng việc ấy xấu. Những câu chuyện “quá xá” của các con dòng cháu giống nêu trên báo cho thấy sự thiếu tiết chế này. Khi một người không tự ngăn chặn mình làm xấu thì chuyện họ ngồi chung với người khác rất khó; vì họ không thích, hay người khác không thích họ. Trong thời kỳ chiến tranh, hội viên của các tổ chức chính trị truyền thống hoạt động rất tốt, rất thành công; dẫu cũng chịu những gì áp đặt từ bên ngoài vào, lý do là vì hồi đó có mục tiêu rõ ràng và nó đứng ngay trước mặt (giải phóng vùng địch chiếm). Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, mục tiêu không rõ ràng nên rất khó huy động hội viên bằng áp lực bên ngoài. Họ không làm nhưng nói rất hay, rất hợp thời.  Cách thực hiện óc tư lợi  Lợi ích mà mỗi người chúng ta theo đuổi là lợi ích vật chất hay tinh thần. Đi tìm nó thì ai cũng làm nhưng cách làm khác nhau tùy theo đức tính của mỗi người. Vậy vấn đề là làm như thế nào để có nó? Có ba cách làm chính: đòi theo lợi thế chính trị, theo sự công bằng và theo đạo đức. Ở xã hội ta, cách đầu khá phổ biến, nó bắt nguồn từ giới nắm quyền lực sau đó lan rộng ra theo tâm lý “sở dĩ tôi làm cho anh như thế vì người ta đã đối xử với tôi như vậy.” Ta xem xét cách thực hiện óc tư lợi qua hai kiểu phổ biến ở ta.  Đòi theo lợi thế chính trị  Đòi theo cách này là dựa vào quyền hạn của mình để đòi hỏi hạch sách. Thí dụ cấp giấy phép. Cách đòi này không tạo ra sự hợp tác, vì người bị đòi chỉ có bỏ ra mà không lấy về. Cái mà họ lấy về là nhiệm vụ mà người cấp phép phải làm.  Ở ta sự đòi hỏi theo lợi thế chính trị rất thịnh hành, đến mức người ta đòi trước rồi làm sau. Nạn tham nhũng là do nguồn gốc này. Nguyên do là từ cách đào tạo đoàn viên thanh niên, lực lượng dự bị của Đảng – những người sẽ cầm quyền sau này. Ngay từ khi học ở trung học, chỉ có ai vào Đoàn mới được làm lớp trưởng. Điều này đúng về mặt chính trị, chọn người mình tin tưởng: là đoàn viên – mới được giao; nhưng sai lầm về mặt đạo đức vì trong suy nghĩ của em được chọn nó trở thành: là đoàn viên thì sẽ có. Và em phấn đấu vào Đoàn để nhắm một lợi ích cho mình, chứ không phải dùng Đoàn để phục vụ người khác. Đối với em, Đoàn là bữa tiệc, là một mục tiêu tự thân. Và sau này khi anh ta vào Đảng, lên nắm quyền, cách suy nghĩ kia đã ăn sâu vào lòng. Đây là một thí dụ đơn giản để làm rõ vấn đề. Trên thực tế sự tính toán của các người có quyền lực phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa đoàn viên Hướng đạo tham gia tổ chức này là để phục vụ người khác; vì tổ chức đó không có quyền lực chính trị. Tổ chức Đoàn gắn với chính trị nên nó cho đoàn viên một lợi thế chính trị và vào đó là được hưởng ngay. Vì quyền lợi bày trước mắt nên trước khi làm bao giờ họ cũng hỏi: “Làm việc ấy ta sẽ được gì ?”. Họ không còn tự nguyện chịu thiệt thòi để mà có thể hợp tác với người khác.   Chủ nghĩa thành tích  Ta biết cá nhân bị xóa nhòa trong tập thể. Không còn tự do thì chẳng có trách nhiệm; thế nhưng họ không thể bỏ được nhu cầu muốn được tôn vinh; mà muốn được thế thì phải có thành tích. Đây là nguồn gốc thứ nhất của chủ nghĩa thành tích. Trong tập thể, khi một cá nhân phạm lỗi thì họ biết, dẫu không bị quy trách; nhưng ít nhiều họ xấu hổ, và để khỏa lấp sự xấu hổ kia họ phải đi tìm thành tích. Đây là nguồn gốc thứ hai. Trong lĩnh vực cá nhân, muốn kiếm thành tích thì cách an nhàn nhất là nhận vơ, làm lẫn lộn thành tích của người khác với mình, thay đổi quan điểm theo kẻ thắng, hoặc bảo là người khác xấu để chứng minh mình tốt.  Về mặt tập thể, khi cá nhân không được tôn vinh thì mọi người trong tập thể đều muốn tập thể của mình được tôn vinh. Ước mong cá nhân trở thành đòi hỏi của tập thể. Đây là lý do thứ ba. Vậy tập thể được tặng huy chương phải là chủ trương của người lãnh đạo. Tập thể ở đây là một đơn vị chính trị, vậy thành tích của nó phải là vật chất, cái gì thấy ngay, chụp ảnh được. Người lãnh đạo tập thể không đi tìm lợi ích tinh thần vì nó không giúp họ tranh cử trong nhiệm kỳ sau. Vì vậy, lấy ngành giáo dục làm thí dụ, họ quan tâm đến số học sinh tốt nghiệp mỗi kỳ thi; chứ không phải chuyện các em có giỏi hay không. Khi tập thể cao nhất, to nhất (cấp tỉnh) lấy số học sinh tốt nghiệp làm thành tích, thì họ sẽ chỉ thị cho các tập thể trung gian (quận) phải đạt được thành tích ấy; các quận bèn chỉ thị cụ thể cho mỗi trường (một tập thể) tỷ lệ học sinh phải đỗ. Các giáo viên, ngoài thành tích cho cá nhân mình, còn bị áp lực thành tích từ trên ấn xuống; do vậy họ không ngại ngần hay cảm thấy sai khi cho học sinh thuộc bài mẫu trước khi thi, hay cứ cho điểm cao dẫu học sinh kém. Các tỉnh vùng sâu, vùng xa mà điểm thi tốt nghiệp của học sinh ở đó cao hơn thành phố lớn là vì vậy.   Chủ nghĩa thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả của hiện tại mà nó đề cao không thật. Khi cá nhân theo đuổi chủ nghĩa này họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không  họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác để làm việc chung, để có sự tự nguyện.  Kết luận  Cho câu hỏi vốn xã hội ở ta có cao không, chúng ta vừa xem qua các yếu tố giúp tạo nên vốn đó, chú trọng vào một vài đức tính, xem nó có thể nảy sinh từ cơ cấu xã hội và trong việc xây dựng con người. Khi xem xét như thế chúng ta đã có câu trả lời.  Như đã đề cập, bài này nhằm gợi lên một số đề tài liên quan đến vốn xã hội tại Việt Nam để rồi rút ra một số vấn đề sẽ thảo luận sau này; vì thế những gì nêu ở trên, trả lời ở đó, chưa chắc đã đúng. Do đó, chúng sẽ là những đề tài để thảo luận một cách rộng rãi. Có thể độc giả sẽ bác bỏ, sẽ đặt ra những vấn đề khác với những kết luận khác. Điều đó sẽ rất hữu ích cho tất cả chúng ta, những người quan tâm đến tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc.     ——————  1Ở Việt Nam, tài liệu về đề tài này có rất ít, không thể đi vào một thư viện để tìm như có thể làm ở Mỹ chẳng hạn; nhiều điều trình bày ở đây được tổng hợp từ các các trang web tìm thấy qua Google Search. Vì vậy phần ghi chú (footnote) không được làm đúng thể thức.  2 Centre for Environment and Society “ What is Social Capital?”; Univeristy of Essex.  3 Janes Jacob; Pierre Bourdieu; Robert Putnam; James Coleman.  4 Trần Hữu Dũng “Vốn xã hội và kinh tế” Tạp chí Thời Đại số 8, t. 89, 90.  5 Francis Fukuyama “ Social Capital and Civil Society”, IMF 1/10/1999.      Luật sư Nguyễn Ngọc Bích      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội và phát triển kinh tế      Tuy rằng động cơ khiến các học giả đặt ra khái niệm Vốn xã hội xuất phát từ nhiều hướng (xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục) song đại để là với nhận xét rằng (1)sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia), (2)sự tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất), và (3)nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội, liên hệ gia tộc…), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ rệt.    Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này, nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” – “vốn xã hội”.  Trước khi khai triển thêm về  khái niệm này, cần nhận xét ngay rằng không ít bàn tán về nó là xung quanh câu hỏi thật sự căn bản: tại sao gọi nguồn lực này là “vốn”?  Người biện hộ cho bản chất “vốn” của nguồn lực này đưa ra ba lí do chính. Thứ nhất, nó giống những loại vốn (đã được công nhận) khác ở chỗ có thể tích lũy từ các loại nguồn lực khác với mong mỏi sẽ có thêm thu hoạch (dù không chắc) trong tương lai. Thứ hai, vốn xã hội có thể được sử dụng trong nhiều việc khác nhau (Coleman 1988).  Thứ ba, vốn xã hội có thể được chuyển thành những loại nguồn lực khác, vốn khác (Bourdieu 1985).  Tất nhiên, cũng như những loại vốn khác ở chỗ có nhiều chỗ khác nhau song vẫn là “vốn”, vốn xã hội (theo những người đề xuất ý niệm này) có vài dị biệt với những loại vốn khác.  Chẳng hạn, khác vốn tài chính (nhưng giống vốn vật thể và vốn con người), vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, bảo trì, để tiếp tục có ích. Rồi, cũng không thể tiên đoán suất chiết cựu của vốn xã hội. Về đặc tính này, vốn xã hội giống với vốn con người, nhưng khác với vốn vật thể .  Căn bản hơn, không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân. Nó tùy vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hóa công. Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác.  Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.  Gần đây, nhiều nhà kinh tế chính thống (Arrow, Solow, Stiglitz) đã phân tích cặn kẽ khái niệm vốn xã hội và nêu ra một số dè dặt về sự thích hợp của chữ “vốn” trong cụm từ này. Arrow nhắc lại rằng vốn vật thể có ba đặc tính: trải ra trong thời gian (extension in time), hàm chứa những hi sinh cho lợi ích mai sau, và có thể được chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác. Theo Arrow, “vốn xã hội” có đặc tính thứ nhất nhưng thiếu đặc tính thứ hai và thứ ba. Solow đặt thêm câu hỏi: vốn vật thể có “suất thu hoạch” và có thể đo bằng cách tổng cộng tất cả đầu tư trong quá khứ, trừ đi phần tiêu hao, còn vốn xã hội thì làm sao đo? “Suất thu hoạch” của nó là cái gì? Và Ostrom châm thêm: vốn xã hội có đặc tính là càng sử dụng thì giá trị càng tăng, hoàn toàn trái ngược với vốn vật thể.  Vốn xã hội và phát triển kinh tế           Nhịp cầu mới        Vậy thì cái “nguồn lực” ấy (từ đây sẽ gọi là “vốn xã hội” cho gọn, dù vẫn tồn nghi tính “vốn” của nó, như đã nói ở trên) có những ích lợi kinh tế nào?  (1)Vốn xã hội giúp giải quyết những “bài toán tập thể”. Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy rẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc bình thường như dừng khi đèn đỏ hoặc không vứt rác nơi công cộng. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng – giúp giải quyết các “bài toán phối hợp” (coordination problems). Đi xa hơn (dù chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), người viết bài này nghĩ rằng “tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát…).  (2) Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs). Mọi giao dịch xã hội và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm của họ.  (3) Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của những loại vốn khác. Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người (Coleman 1988).  (4) Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy (chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng làm việc.  Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay nghề, sẽ được quan tâm hơn. Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau dồi khả năng hay kiến thức của mình.  (5) Một xã hội nhiều vốn xã hội là một xã hội ít tội phạm.[1] Khi sinh ra trong một xã hội mà thành viên tin cẩn nhau thì con người cũng dễ có lòng tốt với người khác. Hậu quả là xã hội sẽ ít tội phạm hơn. Lợi ích kinh tế không phải nhỏ.  (6) Vốn xã hội của nhà nước là cái sườn, là thành tố của pháp chế. Càng nhiều vốn xã hội thì tư pháp càng vững chắc, khế ước càng nhiều khả năng thực thi, tham nhũng càng ít, quyết định của nhà nước càng minh bạch, dễ kiểm soát, và bộ máy hành chính càng hữu hiệu.  (7) Vốn xã hội, qua dạng tin cẩn, sẽ tăng mức khả tín của quan chức nhà nước, đặc biệt là khi họ tuyên bố về chính sách kinh tế và tài chính. Do đó vốn xã hội sẽ nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác.   (8) Một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ (tức là phong phú vốn xã hội) sẽ dễ hồi phục sau những cú “sốc” kinh tế. Theo Rodrik (1999), những cú sốc này đòi hỏi sự quản lí những quyền lợi khác nhau trong xã hội. Vốn xã hội giúp hài hòa những xung khắc mà một cơn khủng hoảng kinh tế sẽ phơi trần. Thiếu vốn xã hội, ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế sẽ trầm trọng và lâu dài hơn.  Vốn xã hội và chính sách phát triển kinh tế  Ý niệm “vốn xã hội” là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lí giải phong phú và thuyết phục hơn về hiện tượng phát triển kinh tế.  Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế. Nhận định này có nhiều hệ luận quan trọng cho chính sách phát triển mà cho đến nay hầu như chỉ nhắm vào mặt kinh tế.  (1) Mọi chính sách đều có một bối cảnh xã hội, và mỗi bối cảnh ấy là một hỗn hợp tế nhị giữa các tổ chức không chính thức (informal), những mạng (quen biết cá nhân), và các thể chế. Do đó, quy hoạch chính sách đòi hỏi, trước hết, một phân tích xã hội và thể chế để nhận dạng mọi thành phần liên hệ, và liên hệ giữa các thành phần ấy. Cụ thể, khi hoạch định một phương thức can thiệp kinh tế hay xã hội, cần lưu ý đến khả năng các nhóm thế lực có thể động viên ảnh hưởng của họ theo cách có hại cho cộng đồng chung.        “Vốn xã hội” là một ý niệm hữu ích, cơ bản là nó giúp ta nhớ rằng liên hệ quen biết, sự tin cẩn, thể chế xã hội (và lịch sử) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, và do đó cần những chính sách thích hợp. Tuy nhiên, phải cảnh giác rằng ý niệm này rất linh động, thậm chí mập mờ, chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế.  Hơn nữa, có nhiều tình huống, vấn đề, mà sự phân tích không thật sự cần khái niệm “vốn xã hội”. Fukuyama (2006) cảnh báo là chớ nên xem (tiếp cận) “thể chế” như “viên đạn thần” cho phát triển. “Vốn xã hội” cũng thế. Nên xem nó như một quan niệm bổ túc để hiểu tiến trình phát triển, không phải là thành tố quan trọng nhất trong tiến trình này.        (2)  Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi công trình  xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế… Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại “hàng hóa công” và, cũng như các loại hàng hóa công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ.  Sự hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.  (3)  Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một “cộng đồng”, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau – ít khi của toàn thể quốc gia. Do đó, chính sách “phát triển vốn xã hội” cần được cẩn thận chọn lọc, cụ thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã hội riêng) trong một nước (Granovetter). Nó không thể là một chính sách chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội. Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vượt lên những chia rẽ trong xã hội, làm xã hội gắn kết hơn.   (4) Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng lại có thể rất giàu vốn xã hội) và giúp những tập thể, những nhóm xã hội liên kết với nhau. Đặc biệt quan trọng là “bắt cầu” (từ của Granovetter) giữa những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo là không xuất phát từ địa phương.  Nhằm mục đích này, phải cổ động sự tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội, giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực) trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy.   (5) Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối với họ? Tiếp cận “vốn xã hội” nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.  (6) Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách “tiết lộ thông tin” (information disclosure) ở mọi cấp để công dân có nhiều thông tin hơn, và do đó tăng cường “tính trách nhiệm” ở khu vực công lẫn tư. Quan niệm vốn xã hội đưa đến ý nghĩ là một chính sách tăng cường thông tin, nhất là giữa các tầng lớp xã hội, là cần thiết – thêm một lí do để nhà nước đầu tư vào những phương tiện truyền thông đại chúng.  (7) Liên hệ giữa các loại vốn xã hội thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế. Những lối sống “cổ truyền” (dựa vào vốn xã hội giữa dân chúng) dần dần được thay thế bằng những tổ chức xã hội có quy củ hơn. Thị trường ngày càng mở rộng, quy mô sản xuất ngày càng lớn, nhưng sự phát triển ấy chỉ có thể bền vững nếu số lượng và chất lượng vốn xã hội là đầy đủ và thích hợp. Nhìn cách khác, ở mỗi giai đoạn phát triển là một tỷ lệ tổ hợp tối ưu giữa vốn-xã-hội-dân-sự và vốn-xã-hội-nhà-nước và, trong chừng mực có thể, chính sách phải linh động đồng nhịp với những thay đổi ấy.  Trần Hữu Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội và phát triển kinh tế      Một cách tóm tắt xu hướng phát triển của kinh tế học (Tây phương) về phát triển trong nửa thế kỉ qua là: nó đi từ các mô hình căn cứ trên những quan niệm khá hẹp hòi, thậm chí thiếu nhất quán, đến những mô hình phức tạp hơn, với nhiều yếu tố “ngoại kinh tế” (thể chế, văn hóa lịch sử, địa lí). Hai yếu tố nổi bật mà lý thuyết này đã dần dần hội nhập trong xu hướng ấy là con người và xã hội.    Có lẽ nên nhắc lại: theo kinh tế học cổ điển, ba thành tố quyết định tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, và vốn vật thể.  Cho đến khoảng những năm 1990, gần như mọi thuyết về phát triển kinh tế đều xem quan hệ xã hội là thứ yếu, thậm chí không cần bàn đến.  Vào những thập niên 50 và 60, chẳng hạn, các liên hệ xã hội, lối sống cổ truyền bị xem là trở ngại cho phát triển (hiểu là hiện đại hóa).[1] Tiếp theo thời kì này là giai đoạn lên ngôi của kinh tế học tân cổ điển, và dù trường phái này (cụ thể là Theodore Schultz và Gary Becker) có đề nghị thêm vốn con người vào số các thành tố phát triển, nó cũng không chú ý đến các quan hệ xã hội. Thậm chí, một số kinh tế gia tân cổ điển cực đoan còn cho rằng có thể giải thích các hiện tượng xã hội (kể cả tôn giáo) bằng mô hình tối đa hóa (lợi nhuận cho doanh nghiệp, dụng ích cho cá nhân). Tất nhiên, tiếp cận kinh tế cổ điển lẫn tân cổ điển đều hầu như không có đề nghị nào về chính sách đối với quan hệ xã hội.   Khái niệm vốn xã hội xuất hiện trong kinh tế trong bối cảnh ấy.[2]  Qua cụm từ này, nhiều nhà phân tích cảm thấy đã tìm ra một “đáp số” cho hai nhu cầu cùng lúc: vừa vẫn duy trì tiếp cận kinh tế (“vốn”), vừa hội nhập vào tiếp cận ấy những yếu tố “xã hội”.   I.  “Vốn xã hội” là gì?  Trong bài “Vốn xã hội và kinh tế” (Thời Đại số 8, 2003) tôi đã trình bày sơ về ý niệm “vốn xã hội”. Xin tóm tắt như sau: Tuy rằng động cơ khiến các học giả[3] đặt ra khái niệm này xuất phát từ nhiều hướng (xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục) song đại để là với nhận xét rằng (1) sự tin cẩn giữa những người cùng một “cộng đồng” (không nhất thiết bao trùm toàn thể quốc gia), (2) sự tuân theo thói lề, phong tục của cộng đồng ấy (không cần pháp luật cưỡng chế, hoặc vì hấp lực của quyền lợi vật chất), và (3) nói chung là “mạng lưới” xã hội (có thể là những hiệp hội, liên hệ gia tộc…), những “thứ đó” có ảnh hưởng thường là tốt đối với xã hội nói rộng, thậm chí có những lợi ích kinh tế rõ rệt. Từ những nhận xét “chung chung” (và khó phủ nhận) này, nhiều học giả đã gọi nguồn lực ấy là một thứ “vốn” – “vốn xã hội”.  Trước khi khai triển thêm về  khái niệm này, cần nhận xét ngay rằng không ít bàn tán về nó là xung quanh câu hỏi thật sự căn bản: tại sao gọi nguồn lực này là “vốn”?  Người biện hộ cho bản chất “vốn” của nguồn lực này đưa ra ba lí do chính.[4] Thứ nhất, nó giống những loại vốn (đã được công nhận) khác ở chỗ có thể tích lũy từ các loại nguồn lực khác[5] với mong mỏi sẽ có thêm thu hoạch (dù không chắc) trong tương lai. Thứ hai, vốn xã hội có thể được sử dụng trong nhiều việc khác nhau (Coleman 1988).[6]  Thứ ba, vốn xã hội có thể được chuyển thành những loại nguồn lực khác, vốn khác (Bourdieu 1985).[7]   Tất nhiên, cũng như những loại vốn khác ở chỗ có nhiều khác nhau song vẫn là “vốn”, vốn xã hội (theo những người đề xuất ý niệm này) có vài dị biệt với những loại vốn khác.  Chẳng hạn, khác vốn tài chính (nhưng giống vốn vật thể và vốn con người), vốn xã hội cần được nuôi dưỡng, bảo trì, để tiếp tục có ích.[8] Rồi, cũng không thể tiên đoán suất chiết cựu của vốn xã hội. Về đặc tính này, vốn xã hội giống với vốn con người, nhưng khác với vốn vật thể .[9]   Căn bản hơn, không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân. Nó tùy vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hoá công. Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác.  Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.[10]  Gần đây, nhiều nhà kinh tế chính thống (Arrow, Solow, Stiglitz) đã phân tích cặn kẽ khái niệm vốn xã hội và nêu ra một số dè dặt về sự thích hợp của chữ “vốn” trong cụm từ này. Arrow nhắc lại rằng vốn vật thể có ba đặc tính: trải ra trong thời gian (extension in time), hàm chứa những hi sinh cho lợi ích mai sau, và có thể được chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác. Theo Arrow, “vốn xã hội” có đặc tính thứ nhất nhưng thiếu đặc tính thứ hai và thứ ba. Solow đặt thêm câu hỏi: vốn vật thể có “suất thu hoạch” và có thể đo bằng cách tổng cộng tất cả đầu tư trong quá khứ, trừ đi phần tiêu hao, còn vốn xã hội thì làm sao đo? “Suất thu hoạch” của nó là cái gì? Và Ostrom châm thêm: vốn xã hội có đặc tính là càng sử dụng thì giá trị càng tăng, hoàn toàn trái ngược với vốn vật thể.  II.  Vốn xã hội và phát triển kinh tế  Vậy thì cái “nguồn lực” ấy (từ đây sẽ gọi là “vốn xã hội” cho gọn, dù vẫn tồn nghi tính “vốn” của nó, như đã nói ở trên) có những ích lợi kinh tế nào?  (1) Vốn xã hội giúp giải quyết những “bài toán tập thể”. Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy rẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc bình thường như dừng khi đèn đỏ, hoặc không vứt rác nơi công cộng. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng – giúp giải quyết các “bài toán phối hợp” (coordination problems).[11] Đi xa hơn (dù chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự “thất bại phối hợp” (coordination failures), người viết bài này nghĩ rằng “tiếp cận vốn xã hội” có thể rất hữu ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm phát…).[12]  [1] Một tài liệu của Liên Hợp Quốc năm 1951 hô hào phá vỡ những xã hội truyền thống nếu muốn phát triển.  [2]Dù nó đã có trong xã hội học gần cả thế kỉ trước.  [3]Những tên tuổi chính: Bourdieu, Coleman, Putnam, Fukuyama, De Soto, …  [4] Xem Adler và Kwon (1998)  [5] Chẳng hạn như vốn tài chính là do tiết kiệm mà có.  [6] Ví dụ, một người bạn của anh là một thứ vốn xã hội mà anh có thể dùng khi nhờ người ấy giới thiệu chỗ làm cho anh, và cũng có thể dùng để “tâm sự” (khỏi tốn tiền gặp bác sĩ tâm lý!).  [7] Tuy nhiên, sự chuyển đổi này không phải luôn luôn dễ (vốn tài chính là dễ chuyển đổi nhất).   [8] Ví dụ, “móc nối xã hội” giữa một nhóm người sẽ phai nhạt qua thời gian nếu những người ấy không giữ liên lạc với nhau.  [9] Một chiếc ôtô cũ chẳng hạn, dùng càng lâu thì chắc chắn giá trị càng giảm. Nhưng không thể tiên đoán giá trị của một liên hệ sẽ thay đổi ra sao với tầm mức hai người giữ liên lạc với nhau.  [10] Trong một hội đoàn, chỉ vài người lươn lẹo là không ai còn tin ai nữa.  [11] “Thế lưỡng nan của người tù”, chẳng hạn.  [12] Xem Cooper và John, 1988; Cooper 1999.  Trần Hữu Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn Xã hội và phát triển (Phần II)      Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.    III. Vốn xã hội ở ta  Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của chúng ta có cao không, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin. Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.  Cơ cấu xã hội  Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Ở đây chúng tôi chọn hai khía cạnh nằm trong cơ cấu xã hội để xem xét là: việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân chúng và cấu trúc Đảng – chính quyền.  Việc đoàn ngũ hóa.  Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân…). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập.  Cuối cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học sinh…) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính giúp gây dựng vốn xã hội không?  Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các hội đoàn của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý do. Thứ nhất, mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa. Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội.              Trong tâm người Việt Nam    Có ngạc nhiên không khi chính khái niệm vốn xã hội đã được Trần Nhân Tông (TNT) trong giai đoạn dựng nước sử dụng khi đưa ra một mẫu mực đạo lý sống trong một xã hội vừa giành được chủ quyền độc lập và đang ở trong giai đoạn kiến thiết đất nước? Trong “Cư trần lạc đạo phú”, (“Sống đời vui đạo”), TNT đã bàn về “xây vốn xã hội” cho con người Việt Nam (VN) trong buổi sơ khai lập quốc ấy, khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy trước hết là CON NGƯỜI VN, một vốn quý báu nhất trong xã hội. “Cư trần lạc đạo” gồm 10 hội trình bày quan điểm toàn diện của TNT về xã hội VN, dự án giáo dục, đào tạo con người, “gây vốn” cho một xã hội nhân bản nhằm có thể phát huy và bảo đảm an lạc cộng đồng.        “Sạch giới lòng, dồi giới tướng/ Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm” đồng thời luôn luôn chuẩn bị cho giải phóng tự do.      Điểm đặc biệt trong lý thuyết ở đời vui đạo là tính toàn diện, bao gồm trên mọi bình diện: xã hội “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, triết lý tùy duyên, không ép buộc, không khai trừ “đói cứ ăn đi mệt ngủ liền”, hành động đạo đức “Sạch giới lòng, dồi giới tướng/            Hội thứ nhất nói về không gian “Xã hội VN” của con người VN, đó là một không gian xuyên suốt thành thị và sơn lâm trong một tương quan đi về của muôn nghiệp, mà mục đích của con người là “dừng nghiệp” xấu chuyển nghiệp lành, được sống trong “an nhàn thể tính”. Nhưng an nhàn đối với TNT không chỉ ở sơn lâm, mà trần tục náo nhiệt cũng không chỉ ở thị thành, nếu con người không được khai sáng một cái nhìn rộng mở trong quá trình thực tập cái Tâm hay Tu Tâm: “yêu tính sáng hơn yêu châu báu”, “trọng lòng rồi mới trọng hoàng kim”. Thành thị hay sơn lâm đều là đất thao luyện cho TÂM, không nơi nào là ưu việt hơn. Sự thao luyện này bao gồm kỷ luật nghiêm túc:     Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm/ Ngay thờ chúa thảo thờ cha/ Đi dỗ mới trượng phu trung hiếu”, tôn giáo “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn gian tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc”.    Một vốn xã hội mang nhiều yếu tố xã hội trong nghĩa không khai trừ, năng động khai mở và tạo khả thể hội nhập, không phân biệt giai cấp và khai phóng tự do, nguồn suối của nhân nghĩa và tình thương:   Dứt trừ nhân ngã  Thì ra thực tướng kim cương  Dừng hết tham sân  Mới làu lòng viên giác   Vốn xã hội giàu tính xã hội không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp, dấn thân cho đời tu tâm vì đạo:  Vâng ơn thánh xót mẹ cha  Thì thầy học đạo  Mến đức Cồ kiêng bùi ngọt  Cầm giới ăn chay  Dựng cầu đò, xây chiền tháp,  Ngoài trang nghiêm sự tướng hãy tu  Săn hỉ xả nhuyễn từ bi  Nội tự tại kinh lòng hằng đọc   Một lý thuyết chứng tỏ tính chân lý của nó trong thời gian, khi nó đứng vững và đem lại an lạc cho cộng đồng. Vốn xã hội mà TNT dựng lên đã được tiếp nối và phát huy trong chiều dài lịch sử VN, nó trở nên niềm tự tin và sức mạnh tâm thể của con người VN.    Thái Kim Lan            Về các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trừ các hội do tư nhân lập ra thì hoạt động của họ có hiệu quả nhất định đối với ngành nghề của họ, còn các hội do các cơ quan chính quyền là chủ quản thì hiệu quả hoạt động của chúng không cao. Điều đó cũng có những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất các hội viên có những lợi ích khác nhau khi tham gia. Thứ hai, lãnh đạo của các hội đoàn đó do cơ quan chủ quản cử; họ không cần sự ủng hộ của hội viên nên không quan tâm đến lợi ích của hội viên. Chỉ trong những trường hợp do áp lực từ bên ngoài vào, như các vụ bán phá giá; họ mới hoạt động hiệu quả trong tư thế tự vệ nhiều hơn là phát triển ngành nghề của mình.  Riêng các hội ái hữu, đồng hương thì hoạt động của chúng có tính tương tế, hiếu hỷ nên không đóng góp vào vốn xã hội. So với trước năm 1975, những người trong bang Triều Châu ở Sài Gòn đã lập ra bệnh viện với hàng trăm giường thì hiệu quả hoạt động của các hội trên không có gì để so sánh.  Gần đây trong các cuộc thảo luận về “Luật về Hội” đã có nhận xét về các hội đoàn ở ta thì tính chất tự nguyện, tự quản của chúng hầu như không có. Ý nghĩa và vai trò của chúng đã bị nhà nước hóa nên sự thu hút của hội đối với quần chúng chẳng là bao. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần xác định các đoàn thể quần chúng là một định chế nằm trong xã hội dân sự, bên cạnh những định chế khác như nhà trường, giáo hội, truyền thông báo chí. Những sự kiện này chứng tỏ sự đóng góp của các hội đoàn ở ta cho vốn xã hội đang còn là điều ao ước.  Cấu trúc Đảng- chính quyền.  Trong một xã hội mà dân trí chưa cao, nền kinh tế còn đang ở giai đoạn phát triển thì quan niệm “quan chi phụ mẫu” vẫn còn nặng trong dân chúng. Hơn nữa, một vị lãnh đạo chính quyền có thể lên hệ thống truyền thông khuyên bảo dân chúng như một phần trong nhiệm vụ của họ. Vì thế dân chúng vẫn nhìn vào lời nói, việc làm của những quan chức kia như là tấm gương; mà những quan chức ấy lại xuất phát từ cấu trúc Đảng-chính quyền nên ta xem cấu trúc này.   Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, do vậy Đảng lãnh đạo chính quyền một cách toàn diện và triệt để. Nhân sự do Đảng cử, chính quyền nhận và sử dụng. Trong chiến tranh, cơ chế này rất hữu hiệu vì thua thắng rõ ràng nên trách nhiệm dễ được phân định. Thế nhưng, khi điều hành nền kinh tế trong thời bình thì sự đúng sai của các biện pháp kinh tế đã áp dụng khó biết ngay nên việc ấn định trách nhiệm rất khó. Hơn nữa trong cơ chế Đảng-chính quyền thì người quyết định không làm, còn người làm thì không được quyết định rồi cấp thừa hành của người làm không do người này chọn nên việc quy trách nhiệm lại càng khó hơn. Hậu quả là cái cấu trúc hợp lý trong lý thuyết thì trong thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn về trách nhiệm. Các sai phạm của viên chức chính quyền ít bị trừng phạt. Nếu có thì họ chỉ chịu kỷ luật dành cho đảng viên, một thứ hình phạt được ấn định theo sự nhận thức của người sai phạm, chứ không phải bị áp đặt luật như ở tòa án.  Việc xây dựng con người                  Việc xây dựng con người ở đây không được nhìn theo giáo dục hay văn hóa mà theo khía cạnh là: (1) trang bị cho con người những đức tính tốt – (2) để họ có khả năng ngồi lại với nhau – (3) hầu làm được  những công việc nhất định nào đó. Đảo ngược ba vế kia để nói về điều chúng ta đang quan tâm thì: để cho kinh tế phát triển phải có việc (3) – việc đó thành hiện thực nhờ (2), đó là vốn xã hội – và muốn có cái vốn đó thì phải có (1). Xây dựng con người ở đây nhắm vào vế (1). Và ta sẽ xem xét ba vấn đề: tinh thần tập thể; việc tạo lập các đức tính tốt và cách thực hiện óc tư lợi.  Tinh thần tập thể  Có một thời tập thể là nền tảng của xã hội ta. Cá nhân phải đứng dưới tập thể. Đại đa số cá nhân được đưa vào đội ngũ một cách này hay cách khác, mà không có sự chọn lựa, theo nguyên tắc “tất nhiên phải thế” vì đó là khuôn mẫu của chế độ chính trị. Ngày nay việc đoàn ngũ hóa giảm nên tinh thần tập thể cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, não trạng tập thể với những lợi ích tinh thần mà nó đã từng đem lại cho con người sẽ không bao giờ mất; bởi vì người ta chỉ bỏ những gì bất lợi, còn giữ mãi những gì có lợi cho mình dù hoàn cảnh có đổi thay. Ta có thể nêu vài thứ.  Bản ngã bị mất đi  Là một nhân vị, một bản ngã, mỗi cá nhân phải được tự do quyết định, chịu trách nhiệm và được khen ngợi hay tôn vinh. Thế nhưng, khi tham gia vào một tập thể – vì cơ cấu xã hội không cho phép làm khác – thì cá nhân bị mất bản ngã. Họ không thể tách biệt, sống khác với tập thể. Họ không còn tự do, phải làm theo quyết định của tập thể; nếu còn thì chỉ được ghi nhận theo quyền bảo lưu và quyền này không bao giờ biến thành hiện thực. Khi họ phải làm theo người khác thì không thể bắt họ chịu trách nhiệm cá nhân được. Khi người khác đã nghĩ cho mình thì họ trở nên ỷ lại. Vậy là họ mất đi cái bản ngã của mình, luôn cả tinh thần trách nhiệm cá nhân! Dù có vậy, thì nhu cầu được tôn vinh của họ không hề mất; kẻo họ không còn cảm thấy mình là người nữa; nhu cầu ấy đã biến thể thành chủ nghĩa thành tích mà ta sẽ đề cập sau này.  Lợi ích nằm dưới chiêu bài tập thể  Khi sinh hoạt theo tập thể, cá nhân có những mối lợi nhất định cho riêng mình nhân danh tập thể. Họ có một chiêu bài tốt của người khác để mình có thể làm xấu. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.  Bạn chơi chung với một nhóm người – đó là một tập thể – nếu lúc nãy bạn để cái bút cho anh em dùng mà nay cần nó, bạn hỏi: “Có bạn nào thấy nó không?” thì có thể không ai trả lời. Thậm chí một người tên A đang cầm nó thì anh ta cũng không cảm thấy phải trả lời; vì bạn không hỏi thẳng anh ta. Điều này cho thấy trong tập thể thì không thể đặt ra trách nhiệm cá nhân.Và anh A kia đã che chắn trách nhiệm cá nhân mình dưới danh nghĩa tập thể. Thế nhưng khi không nghe ai trả lời mà bạn có buột miệng nói: “Tập thể gì mà xấu thế!” thì ngay lập tức có thể anh A kia sẽ đứng ra sừng sộ với bạn: “Mày dám bảo tập thể xấu”; hay có giọng nói: “Này nói thế động chạm lắm nghe!” Có thể người sừng sộ với bạn không thích bạn; nhưng anh ta làm không phải vì không thích bạn, mà vì bạn xúc phạm đến tập thể đấy!  Với đủ loại che chắn dành cho cá nhân như thế, tính tập thể làm cho ý thức phạm tội của cá nhân mất đi và do đó cũng làm mất đi sự xấu hổ trong họ. Điều này có thể thấy qua hình phạt tập thể. Một người trong tập thể làm điều gì sai trái, hình phạt sẽ được áp dụng cho tập thể với ý nghĩa “phạt vì không biết bảo nhau”. Do tính lây lan của tình cảm con người nên khi tất cả bị phạt thì không ai còn cảm thấy bị phạt. Đứa bên cạnh cũng bị như mình, ôi có gì đâu mà phải xấu hổ!  Tạo lập các đức tính tốt của con người  Con người ai cũng có vật chất và tinh thần. Tinh thần thúc đẩy, ngăn cản và hướng dẫn hành động của con người. Tạo lập các đức tính tốt cho con người là ngay từ lúc nhỏ. Ở trong gia đình và nhà trường, người ta dạy cho con người các đức tính phổ biến là: sự tự chế, lòng thương người, trách nhiệm, tình bạn bè, sự làm việc, can đảm, kiên nhẫn, thật thà, trung thành và niềm tin tôn giáo. Vậy ta có thể hỏi việc tạo lập các đức tính tốt cho con người trong xã hội của ta được làm như thế nào? Chúng ta có một tập hợp (một bộ) các đức tính tốt để cho một người cư xử với người khác, những người không phải là thân thích với mình, không?  Câu trả lời là đối với những người nắm chức vụ công quyền thì có. Thí dụ cho công chức là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”; cho công an có 6 điều, cho phụ nữ có 8 chữ… Những đức tính này được trang bị cho những người có chức vụ xã hội nhất định chứ không phải cho mọi người bình thường trong xã  hội; chúng là đạo đức nghề nghiệp nên không giúp nhiều vào việc tạo nên vốn xã hội giúp kinh tế phát triển.  Đối với những người bình thường và chiếm đa số trong dân chúng thì trong một thời gian rất dài trên các phương tiện truyền thông và giáo dục chúng ta ít nghe đến giáo dục gia đình, đến việc cha mẹ dạy dỗ con cái trong nhà, đến phép lịch sự của một cá nhân bình thường; mà nghe nhiều đến sinh hoạt của các tổ chức chính trị truyền thống trong đó hội viên được khuyến khích, giúp đỡ để coi trọng quyền lợi chính trị. Ý thức về quyền lợi chính trị là biết cách giữ, biết cách đòi để không làm mất quyền lợi của mình, để hơn người; chứ không phải để cư xử ra sao với người hàng xóm.   Về cách thức phải đối xử với người hàng xóm thì những đức tính tốt dạy cho con người cũng ít. Ngoài năm điều Bác Hồ dạy cho trẻ em trong đó những đức tính có thể dùng một cách phổ quát là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” thì chỉ có một khẩu hiệu đạo đức tổng quát “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thế nhưng đoàn kết tốt là phải làm gì? Mình vì mọi người thì phải làm sao? Tất cả không được triển khai, không có gương soi chung. Trong các đoàn thể có các nội quy, nhưng chúng là những gì từ bên ngoài áp đặt vào con người. Nội quy là một loại luật pháp, nó đòi hỏi phải có người khác canh chừng; chứ không phải là những gì nằm sẵn bên trong con người, được hun đúc lên, hay được thấm nhuần vào trong họ để rồi họ tự mình kiểm soát mình. Trong các tổ chức nêu trên chắc chắn không có những đức tính tốt nằm trong đạo đức cổ truyền mà đã bị phá hủy qua các phong trào “bài phong đả thực”.                  Do cách giáo dục áp đặt từ bên ngoài vào và nặng về việc đòi ăn trên ngồi trốc (quyền lợi chính trị) nên một số không nhỏ những người ở xã hội ta, bắt đầu từ giới có chức có quyền sau lan rộng ra dân chúng, khi đánh giá theo khía cạnh đạo đức, thì họ cũng giống như một cột xi măng không có cốt sắt bên trong. Sự tự chế của họ, sự kiểm soát chính mình, để ngăn họ không làm điều xấu hầu như không có. Nhiều người trong giới cầm quyền đã đầu hàng tiền bạc. Họ không làm điều xấu vì thấy có người khác biết hoặc sợ bị phê bình; chứ không phải từ ý thức của họ rằng việc ấy xấu. Những câu chuyện “quá xá” của các con dòng cháu giống nêu trên báo cho thấy sự thiếu tiết chế này. Khi một người không tự ngăn chặn mình làm xấu thì chuyện họ ngồi chung với người khác rất khó; vì họ không thích, hay người khác không thích họ. Trong thời kỳ chiến tranh, hội viên của các tổ chức chính trị truyền thống hoạt động rất tốt, rất thành công; dẫu cũng chịu những gì áp đặt từ bên ngoài vào, lý do là vì hồi đó có mục tiêu rõ ràng và nó đứng ngay trước mặt (giải phóng vùng địch chiếm). Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, mục tiêu không rõ ràng nên rất khó huy động hội viên bằng áp lực bên ngoài. Họ không làm nhưng nói rất hay, rất hợp thời.  Cách thực hiện óc tư lợi  Lợi ích mà mỗi người chúng ta theo đuổi là lợi ích vật chất hay tinh thần. Đi tìm nó thì ai cũng làm nhưng cách làm khác nhau tùy theo đức tính của mỗi người. Vậy vấn đề là làm như thế nào để có nó? Có ba cách làm chính: đòi theo lợi thế chính trị, theo sự công bằng và theo đạo đức. Ở xã hội ta, cách đầu khá phổ biến, nó bắt nguồn từ giới nắm quyền lực sau đó lan rộng ra theo tâm lý “sở dĩ tôi làm cho anh như thế vì người ta đã đối xử với tôi như vậy.” Ta xem xét cách thực hiện óc tư lợi qua hai kiểu phổ biến ở ta.  Đòi theo lợi thế chính trị  Đòi theo cách này là dựa vào quyền hạn của mình để đòi hỏi hạch sách. Thí dụ cấp giấy phép. Cách đòi này không tạo ra sự hợp tác, vì người bị đòi chỉ có bỏ ra mà không lấy về. Cái mà họ lấy về là nhiệm vụ mà người cấp phép phải làm.  Ở ta sự đòi hỏi theo lợi thế chính trị rất thịnh hành, đến mức người ta đòi trước rồi làm sau. Nạn tham nhũng là do nguồn gốc này. Nguyên do là từ cách đào tạo đoàn viên thanh niên, lực lượng dự bị của Đảng – những người sẽ cầm quyền sau này. Ngay từ khi học ở trung học, chỉ có ai vào Đoàn mới được làm lớp trưởng. Điều này đúng về mặt chính trị, chọn người mình tin tưởng: là đoàn viên – mới được giao; nhưng sai lầm về mặt đạo đức vì trong suy nghĩ của em được chọn nó trở thành: là đoàn viên thì sẽ có. Và em phấn đấu vào Đoàn để nhắm một lợi ích cho mình, chứ không phải dùng Đoàn để phục vụ người khác. Đối với em, Đoàn là bữa tiệc, là một mục tiêu tự thân. Và sau này khi anh ta vào Đảng, lên nắm quyền, cách suy nghĩ kia đã ăn sâu vào lòng. Đây là một thí dụ đơn giản để làm rõ vấn đề. Trên thực tế sự tính toán của các người có quyền lực phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa đoàn viên Hướng đạo tham gia tổ chức này là để phục vụ người khác; vì tổ chức đó không có quyền lực chính trị. Tổ chức Đoàn gắn với chính trị nên nó cho đoàn viên một lợi thế chính trị và vào đó là được hưởng ngay. Vì quyền lợi bày trước mắt nên trước khi làm bao giờ họ cũng hỏi: “Làm việc ấy ta sẽ được gì ?”. Họ không còn tự nguyện chịu thiệt thòi để mà có thể hợp tác với người khác.   Chủ nghĩa thành tích  Ta biết cá nhân bị xóa nhòa trong tập thể. Không còn tự do thì chẳng có trách nhiệm; thế nhưng họ không thể bỏ được nhu cầu muốn được tôn vinh; mà muốn được thế thì phải có thành tích. Đây là nguồn gốc thứ nhất của chủ nghĩa thành tích. Trong tập thể, khi một cá nhân phạm lỗi thì họ biết, dẫu không bị quy trách; nhưng ít nhiều họ xấu hổ, và để khỏa lấp sự xấu hổ kia họ phải đi tìm thành tích. Đây là nguồn gốc thứ hai. Trong lĩnh vực cá nhân, muốn kiếm thành tích thì cách an nhàn nhất là nhận vơ, làm lẫn lộn thành tích của người khác với mình, thay đổi quan điểm theo kẻ thắng, hoặc bảo là người khác xấu để chứng minh mình tốt.  Về mặt tập thể, khi cá nhân không được tôn vinh thì mọi người trong tập thể đều muốn tập thể của mình được tôn vinh. Ước mong cá nhân trở thành đòi hỏi của tập thể. Đây là lý do thứ ba. Vậy tập thể được tặng huy chương phải là chủ trương của người lãnh đạo. Tập thể ở đây là một đơn vị chính trị, vậy thành tích của nó phải là vật chất, cái gì thấy ngay, chụp ảnh được. Người lãnh đạo tập thể không đi tìm lợi ích tinh thần vì nó không giúp họ tranh cử trong nhiệm kỳ sau. Vì vậy, lấy ngành giáo dục làm thí dụ, họ quan tâm đến số học sinh tốt nghiệp mỗi kỳ thi; chứ không phải chuyện các em có giỏi hay không. Khi tập thể cao nhất, to nhất (cấp tỉnh) lấy số học sinh tốt nghiệp làm thành tích, thì họ sẽ chỉ thị cho các tập thể trung gian (quận) phải đạt được thành tích ấy; các quận bèn chỉ thị cụ thể cho mỗi trường (một tập thể) tỷ lệ học sinh phải đỗ. Các giáo viên, ngoài thành tích cho cá nhân mình, còn bị áp lực thành tích từ trên ấn xuống; do vậy họ không ngại ngần hay cảm thấy sai khi cho học sinh thuộc bài mẫu trước khi thi, hay cứ cho điểm cao dẫu học sinh kém. Các tỉnh vùng sâu, vùng xa mà điểm thi tốt nghiệp của học sinh ở đó cao hơn thành phố lớn là vì vậy.   Chủ nghĩa thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả của hiện tại mà nó đề cao không thật. Khi cá nhân theo đuổi chủ nghĩa này họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không  họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác để làm việc chung, để có sự tự nguyện.  Kết luận  Cho câu hỏi vốn xã hội ở ta có cao không, chúng ta vừa xem qua các yếu tố giúp tạo nên vốn đó, chú trọng vào một vài đức tính, xem nó có thể nảy sinh từ cơ cấu xã hội và trong việc xây dựng con người. Khi xem xét như thế chúng ta đã có câu trả lời.  Như đã đề cập, bài này nhằm gợi lên một số đề tài liên quan đến vốn xã hội tại Việt Nam để rồi rút ra một số vấn đề sẽ thảo luận sau này; vì thế những gì nêu ở trên, trả lời ở đó, chưa chắc đã đúng. Do đó, chúng sẽ là những đề tài để thảo luận một cách rộng rãi. Có thể độc giả sẽ bác bỏ, sẽ đặt ra những vấn đề khác với những kết luận khác. Điều đó sẽ rất hữu ích cho tất cả chúng ta, những người quan tâm đến tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc.         Luật sư Nguyễn Ngọc Bích      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn Xã hội và phát triển(1)      Ý niệm”vốn xã hội” này còn rất mới ở ta. Trên thế giới nó cũng được dùng lần đầu tiên năm 1961 để nói về những giá trị tinh thần xuất phát từ những đoàn thể được hình thành do sự tự nguyện kết hợp với nhau của dân cư trong một khu vực (association) để tạo nên những công trình hay sự nghiệp chung cho cộng đồng. Khi dân cư kết hợp như thế, nhìn từ ngoài vào, họ giống như một cái lưới do đó còn gọi là giá trị của các mạng lưới xã hội (social networks value). Từ năm đó đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về các lĩnh vực khác nhau quanh chủ đề này, trong đó có công trình của một giáo sư Mỹ gốc Nhật là Francis Fukuyama bàn về vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế. Trong bài này chúng tôi sẽ tóm lược các điểm chính của vốn xã hội như được trình bày theo một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Sau đó đề cập đến sự nghiên cứu của ông Fukuyama và liên hệ một số điểm chính yếu của ông với thực tế của nước ta để tìm xem vốn xã hội của chúng cao hay thấp. Thực tế được chọn lựa là sáu vấn đề nằm trong cơ cấu tổ chức xã hội và công việc xây dựng con người ở ta.    Mục đích của bài này là gợi mở những đề tài cho một cuộc thảo luận rộng rãi về vốn xã hội tại Việt Nam để sau đó rút ra một số chủ đề (issue) cho cuộc hội thảo “Vốn xã hội trong phát triển” có tính học thuật do Tạp chí Tia Sáng và Thời báo Kinh tế Sài gòn phối hợp tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào giữa năm nay. Hội thảo muốn bàn về các yếu tố tinh thần cần thiết cho sự phát triển kinh tế bền vững của chúng ta.    Khái niệm về vốn xã hội  Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống.  Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961, Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993.  Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ. Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất giờ vừa tốn kém. Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web… Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action). Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung. Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng.  Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới. Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước ta. Bạn, tôi và vài người quen rủ nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bứớc 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3). Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế. Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế.    Lý giải từng bước, ta thấy dễ chịu khi làm ăn với ai mà mình tin, không mất công, chẳng mất giờ, vốn là của cải có sẵn (tài nguyên) và không nên phí phạm. Khi mình tin người khác họ cũng sẽ tin mình và như thế niềm tin tạo nên một nghĩa vụ. Nếu đứng trong vị trí của từng cá nhân một ta có sự tin cẩn nhau; lúc nhìn cả hai người một lần thì đó là niềm tin hay sự tin tưởng. Có hai loại tin tưởng: một là tin vào những người mà mình biết rõ; hai là tin vào những người mình chưa biết rõ nhưng vì họ đứng trong một cơ cấu, một tổ chức mà mình tin tưởng nên mình cũng tin họ luôn. Xây dựng niềm tin thì mất nhiều thời gian và công sức nhưng để mất nó thì rất dễ. Một xã hội đầy rẫy sự bất tín thì khó có sự hợp tác (Baland and Platteau, 1998).  Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng niềm tin. Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc (specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang nhau, và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các bên.        Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là  trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể.         Quy tắc (rules) là những sự bó buộc mà mỗi người phải theo khi làm một việc gì đó. Quy tắc chính thức là luật pháp do nhà cầm quyền ban hành. Luật lệ luôn đi kèm với sự trừng phạt tinh thần hay vật chất. Quy tắc không chính thức là những điều mà các cá nhân áp dụng để đóng khuôn hành vi hàng ngày của họ. Hành vi mẫu mực (norms), trái lại, là một việc làm theo một cung cách nào đó phù hợp với sự mong mỏi, sự ưa thích. Về mặt ngữ nghĩa, “norm” là hành vi mẫu mực hay các tiêu chuẩn được xã hội, hoặc các nhóm chấp nhận (tự nguyện hay không) và dựa trên đó, xã hội đánh giá một người hay một việc. Khi dịch từ “norm” sang tiếng Việt là “chuẩn mực” thì nó chỉ còn có nghĩa là một cái gì được chọn để làm căn cứ đối chiếu. Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để làm lợi ích của tập thể được đặt cao hơn lợi ích cá nhân. Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng sẽ làm như thế.  Những điều trên cũng còn được gọi là luật chơi hay là luân lý nội tại của một hệ thống xã hội (Coleman, 1990), ximăng của xã hội (Elster, 1989) hay những giá trị căn bản tạo nên lòng tin (Collins và Chippendale, 1991). Chúng phản ánh mức độ của một cá nhân bằng lòng hòa giải với người khác hay kiểm soát hành vi của mình. Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là  trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể.  Cuối cùng là sự liên kết, mạng lưới hay nhóm. Đó là thành tố quan trọng của vốn xã hội. Có nhiều loại liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, đám ma.) Chúng có thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình.  Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital). Loại trước tạo nên các nhóm như Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi chính phủ hay các hội từ thiện. Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự. Xã hội này là một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể góp tay với chính quyền chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể.  Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã hội và tạo ra sự gắn bó trong đó. Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998).  Vốn xã hội và sự phát triển kinh tế  Trong quyển “Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity” xuất bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.  Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của người khác. Ông nói thẳng: “Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội.”  Để minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.  5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc tế, ông định nghĩa: “Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal) phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người (nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi đối với mọi người, và chỉ trở thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những bạn của tôi.”   Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức thời đều sẽ tạo nên vốn xã hội. Trái lại chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm trong xã hội hợp tác với nhau, hay tạo nên sự hợp tác, thì đó mới là hành vi mẫu mực. Đa phần chúng lại là các đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm.  Vốn xã hội sẽ làm giảm chi phí khi thực hiện các công việc phát sinh từ các hành vi trang trọng như hợp đồng, mối tương quan giữa các cấp, hay từ quy định của các cơ quan… Thí dụ, hợp đồng bảo rằng phải làm thế này, thế nọ; nhưng nếu hai bên tin nhau thì có thể cắt giảm chúng. Tương tự, trong các nơi không sử dụng kỹ thuật cao, vốn xã hội sẽ tạo ra một hiệu quả cao hơn khi so sánh nó với các kỹ thuật chính thức hiện dùng để phối hợp công việc. Điển hình là phương pháp sản xuất theo dây chuyền của Taylor. Nó được lập tại các xưởng, rất tập trung, lắm giấy tờ, và không hữu hiệu lắm vì các quyết định đưa ra bị đình trệ, hay thông tin bị bóp méo khi đi qua các cấp chỉ huy. Ngày nay, trong nhiều doanh nghiệp, phương pháp Taylor đã bị thay thế bằng một cơ cấu quản trị đơn giản, chú trọng việc chuyển giao trách nhiệm xuống cho các tổ trưởng ở dưới cùng. Các công nhân hiểu biết tình trạng nơi mình làm việc được phép tự quyết định thay vì trình lên trên. Cách này làm cho công việc được thực hiện nhanh chóng hơn, ít tốn kém hơn so với cách làm cũ và nó hoàn toàn tùy thuộc vào vốn xã hội của lực lượng lao động.  Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn. Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa. Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý. Đó là nguồn gốc của một quyền uy, nó ấn định các hành vi mẫu mực và trông đợi sự tuân thủ không cần suy nghĩ. Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua các qui trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý lẽ. Thứ ba, sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thí dụ, cả Đức và Nhật đều đã trải qua các cuộc đình công của thợ thuyền, rồi xung đột chủ thợ với chính quyền trong những năm 1920, 30. Hai chính quyền ấy đã phải trấn áp các nghiệp đoàn lao động độc lập và thay thế họ bằng công đoàn “vàng”. Sau khi hai nước bại trận, họ có cách tiếp cận mềm dẻo hơn đối với việc quản lý các quan hệ lao động; kết quả là ở Đức đã có chính sách kinh tế thị trường xã hội (Sozialmarktwirtschaft) còn ở Nhật là chế độ làm việc suốt đời. Dẫu cũng còn những bất cập, hai định chế này đã đóng vai trò quan trọng trong sự phục hồi kinh tế của hai nước kia và tạo nên một loại vốn xã hội.    Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin  gọi chúng là các yếu tố tinh thần. Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.  Vốn xã hội ở ta  Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của chúng ta có cao không bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin. Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.    Cơ cấu xã hội  Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Chúng tôi chọn ba khía cạnh nằm trong cơ cấu xã hội là:  tính giai cấp của chế độ chính trị, việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân chúng, và cấu trúc Đảng – chính quyền. Trong ba lãnh vực đó, thì hai lĩnh vực đầu ít nhiều có tính lý thuyết vì chúng là bản chất của chế độ, nhưng sự thực hiện chúng trong những năm gần đây không còn mạnh mẽ như xưa, hay như đáng lẽ phải có theo sách vở. Dẫu sao, chúng vẫn còn, vẫn được khuyến khích và không bao giờ mất trong lý thuyết lẫn thực tế.     Tính giai cấp của chế độ chính trị  Nhà nước chúng ta là của giai cấp công nhân. Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện tính chất này. Không bàn đến tính chất ấy đối với thể chế chính trị; ở đây ta chỉ xét riêng tính giai cấp đối với sự tạo lập vốn xã hội.  Ta tưởng tuợng trên một cái bàn có những ly thủy tinh đựng các chất lỏng khác nhau: nước, xăng, nhớt; mỗi cái ly tiêu biểu cho một giai cấp. Giai cấp vô sản giống như một ly nước đầy. Ở trên cùng của cái ly, nước trong nhất, xuống dưới nước từ từ bớt trong và ở đáy nước đục. Phần nước trong nhất tiêu biểu cho thành phần tiên tiến nhất của giai cấp; sự giác ngộ chính trị của họ là cao nhất. Và đó là giai tầng lãnh đạo của giai cấp. Nước từ từ đục dần ở dưới tiêu biểu cho các thành phần quần chúng có trình độ giác ngộ chính trị khác nhau, mức đó càng thấp thì nước càng đục, cuối cùng nhất là thành phần chậm tiến. Giai cấp vô sản không có nhiều của cải nên sự giác ngộ chính trị là tiêu chí phân loại thành phần. Việc phân loại ấy tạo ra sự phân biệt trong nội bộ và đưa đến đấu tranh khôn nguôi vì tiêu chí phân loại không có hình hài. Chẳng những thế giai cấp này lại còn phải đấu tranh với giai cấp khác để giành quyền uy. Vậy khi nói đến tinh thần giai cấp thì là ám chỉ đến đấu tranh; như thế tinh thần kia không tạo nên sự hợp tác giữa các cá nhân; trái lại nó chấp nhận sự loại trừ nhau. Khi chế độ chính trị mang tính giai cấp thì sự loại trừ kia được thực hiện bằng chính sách phân biệt đối xử, công khai hay âm thầm. Hệ quả của sự phân biệt này là sự ghen ghét, sự kiêu căng xen lẫn nhau trong mối quan hệ giữa các cá nhân.   Khi tinh thần giai cấp được giáo dục qua hệ thống truyền thông thì các trẻ em sẽ tiếp thu. Dù chưa biết sau này sẽ giàu hay nghèo, nhưng em đó đã được dạy về quyền lợi giai cấp và sự bảo vệ quyền lợi ấy, tức là biết đòi, không ngại đấu tranh. Một cách vô tình, em đã được dạy sự ích kỷ và việc ấy lại được hỗ trợ bởi sự phân biệt đối xử nằm sẵn trong xã hội do thể chế chính trị tạo ra. Ngày nay, vì nhiều lý do, tính giai cấp ít được nói đến; nhưng nó vẫn tồn tại tiềm tàng và vì chính đáng nên nó sẽ xuất hiện khi có sự xung đột về lợi ích.  Việc đoàn ngũ hóa.  Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân…). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập.  Cuối cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học sinh…) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính giúp gây dựng vốn xã hội không?  Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các hội đoàn của của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý do. Thứ nhất mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa. Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội.    Về các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trừ các hội do tư nhân lập ra thì hoạt động của họ có hiệu quả nhất định đối với ngành nghề của họ, còn các hội do các cơ quan chính quyền là chủ quản thì hiệu quả hoạt động của chúng không cao. Điều đó cũng có những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất các hội viên có những lợi ích khác nhau khi tham gia. Thứ hai, lãnh đạo của các hội đoàn đó do cơ quan chủ quản cử; họ không cần sự ủng hộ của hội viên nên không quan tâm đến lợi ích của hội viên. Chỉ trong những trường hợp do áp lực từ bên ngoài vào, như các vụ bán phá giá; họ mới hoạt động hiệu quả trong tư thế tự vệ nhiều hơn là phát triển ngành nghề của mình.  Riêng các hội ái hữu, đồng hương thì hoạt động của chúng có tính tương tế, hiếu hỷ nên không đóng góp vào vốn xã hội. So với trước năm 1975, những người trong bang Triều Châu ở Sài Gòn đã lập ra bệnh viện với hàng trăm giường thì hiệu quả hoạt động của các hội trên không có gì để so sánh.  Gần đây trong các cuộc thảo luận về “Luật về Hội” đã có nhận xét về các hội đoàn ở ta thì tính chất tự nguyện, tự quản của chúng hầu như không có, ý nghĩa và vai trò của chúng đã bị nhà nước hóa nên sự thu hút của hội đối với quần chúng chẳng là bao. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần xác định các đoàn thể quần chúng là một định chế nằm trong xã hội dân sự, bên cạnh những định chế khác như nhà trường, giáo hội, truyền thông báo chí. Những sự kiện này chứng tỏ sự đóng góp của các hội đoàn ở ta cho vốn xã hội đang còn là điều ao ước.  Cấu trúc Đảng- chính quyền.  Trong một xã hội mà dân trí chưa cao, nền kinh tế còn đang ở giai đoạn phát triển thì quan niệm “quan chi phụ mẫu” vẫn còn nặng trong dân chúng. Hơn nữa, một vị lãnh đạo chính quyền có thể lên hệ thống truyền thông khuyên bảo dân chúng như một phần trong nhiệm vụ của họ. Vì thế dân chúng vẫn nhìn vào lời nói, việc làm của những quan chức kia như là tấm gương; mà những quan chức ấy lại xuất phát từ cấu trúc Đảng-chính quyền nên ta xem cấu trúc này.   Đảng Cộng sản nắm quyền uy chính trị và hành xử quyền ấy bằng một công cụ là chính quyền; như thế Đảng phải lãnh đạo chính quyền một cách toàn diện và triệt để. Nhân sự do Đảng cử, chính quyền nhận và sử dụng. Trong chiến tranh, cơ chế này rất hữu hiệu vì thua thắng rõ ràng nên trách nhiệm dễ được phân định. Thế nhưng, khi điều hành nền kinh tế trong thời bình thì sự đúng sai của các biện pháp kinh tế đã áp dụng khó biết ngay nên việc ấn định trách nhiệm rất khó. Hơn nữa trong cơ chế Đảng-chính quyền thì người quyết định không làm, còn người làm thì không được quyết định rồi cấp thừa hành của người làm không do người này chọn nên việc quy trách nhiệm lại càng khó hơn. Hậu quả là cái cấu trúc hợp lý trong lý thuyết thì trong thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn về trách nhiệm. Các sai phạm của viên chức chính quyền ít bị trừng phạt. Nếu có thì họ được rút về bên Đảng và chịu kỷ luật dành cho đảng viên, một thứ hình phạt được ấn định theo sự nhận thức của người sai phạm, chứ không phải bị áp đặt luật như ở tòa án. Kỷ luật của Đảng đã trở thành sự dung dưỡng cho các sai phạm về lạm quyền ở bên chính quyền và sở dĩ vậy là vì hai lý do (i) bí thư chi bộ do các đảng viên bầu lên, làm gắt quá thì nhiệm kỳ sau không được bầu nữa; và (ii) đồng chí với nhau làm mạnh nhau thì đó là dại dột; phải tha nhau vì trước mắt luôn có kẻ thù giai cấp; dẫu họ là dân chúng. Vậy cấu trúc Đảng-chính quyền không đặt nặng trách nhiệm cá nhân đối với các quan chức chính quyền; người dân nhìn vào họ là tấm gương để bắt chước.  Con tiếp: Vốn xã hội và phát triển (2)  Nguyễn Ngọc Bích      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn Xã hội và phát triển(2)      Việc xây dựng con người Việc xây dựng con người ở đây không được nhìn theo gíáo dục hay văn hóa mà theo khía cạnh là: (1) trang bị cho con người những đức tính tốt – (2) để họ có khả năng ngồi lại với nhau – (3) hầu làm được những công việc nhất định nào đó. Đảo ngược ba vế kia để nói về điều chúng ta đang quan tâm thì: để cho kinh tế phát triển phải có việc (3) – việc đó thành hiện thực nhờ (2), đó là vốn xã hội – và muốn có cái vốn đó thì phải có (1). Xây dựng con người ở đây nhắm vào vế (1). Và ta sẽ xem xét ba vấn đề: tinh thần tập thể; việc tạo lập các đức tính tốt, và cách thực hiện óc tư lợi.    Tiếp phần 1    Tinh thần tập thể  Có một thời tập thể là nền tảng của xã hội ta. Cá nhân phải đứng dưới tập thể. Đại đa số cá nhân được đưa vào đội ngũ một cách này hay cách khác, mà không có sự chọn lựa, theo nguyên tắc “tất nhiên phải thế” vì đó là khuôn mẫu của chế độ chính trị. Ngày nay việc đoàn ngũ hóa giảm nên tinh thần tập thể cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, não trạng tập thể với những lợi ích tinh thần mà nó đã từng đem lại cho con người sẽ không bao giờ mất; bởi vì người ta chỉ bỏ những gì bất lợi, còn giữ mãi những gì có lợi cho mình dù nhiệm và được khen ngợi hay tôn vinh. Thế nhưng, khi tham gia vào một tập thể – vì cơ cấu xã hội không cho phép làm khác – thì cá nhân bị mất bản ngã. Họ không thể tách biệt, sống khác với tập thể. Họ không còn tự do, phải làm theo quyết định của tập thể; nếu còn thì chỉ được ghi nhận theo quyền bảo lưu và quyền này không bao giờ bihoàn cảnh có đổi thay. Ta có thể nêu vài thứ.  Bản ngã bị mất đi  Là một nhân vị, một bản ngã, mỗi cá nhân phải được tự do quyết định, chịu trách ến thành hiện thực. Khi họ phải làm theo người khác thì không thể bắt họ chịu trách nhiệm cá nhân được. Khi người khác đã nghĩ cho mình thì họ trở nên ỷ lại. Vậy là họ mất đi cái bản ngã của mình, luôn cả tinh thần trách nhiệm cá nhân! Dù có vậy, thì nhu cầu được tôn vinh của họ không hề mất; kẻo họ không còn cảm thấy mình là người nữa; nhu cầu ấy đã biến thể thành chủ nghĩa thành tích mà ta sẽ đề cập sau này.  Lợi ích nằm dưới chiêu bài tập thể  Khi sinh hoạt theo tập thể, cá nhân có những mối lợi nhất định cho riêng mình nhân danh tập thể. Họ có một chiêu bài tốt của người khác để mình có thể làm xấu. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.  Bạn chơi chung với một nhóm người – đó là một tập thể – nếu lúc nãy bạn để cái bút cho anh em dùng mà nay cần nó, bạn hỏi: “Có bạn nào thấy nó không?” thì có thể không ai trả lời. Thậm chí một người tên A đang cầm nó thì anh ta cũng không cảm thấy phải trả lời; vì bạn không hỏi thẳng anh ta. Điều này cho thấy trong tập thể thì không thể đặt ra trách nhiệm cá nhân.Và anh A kia đã che chắn trách nhiệm cá nhân mình dưới danh nghĩa tập thể. Thế nhưng khi không nghe ai trả lời mà bạn có buột miệng nói: “Tập thể gì mà xấu thế!” thì ngay lập tức có thể anh A kia sẽ đứng ra sừng sộ với bạn: “Mày dám bảo tập thể xấu”; hay có giọng nói: “Này nói thế động chạm lắm nghe!” Có thể người sừng sộ với bạn không thích bạn; nhưng anh ta làm không phải vì không thích bạn, mà vì bạn xúc phạm đến tập thể đấy!  Với đủ loại che chắn dành cho cá nhân như thế, tính tập thể làm cho ý thức phạm tội của cá nhân mất đi và do đó cũng làm mất đi sự xấu hổ trong họ. Điều này có thể thấy qua hình phạt tập thể. Một người trong tập thể làm điều gì sai trái, hình phạt sẽ được áp dụng cho tập thể với ý nghĩa “phạt vì không biết bảo nhau”. Do tính lây lan của tình cảm con người nên khi tất cả bị phạt thì không ai còn cảm thấy bị phạt. Đứa bên cạnh cũng bị như mình, ôi có gì đâu mà phải xấu hổ!    Tạo lập các đức tính tốt của con người  Con người ai cũng có vật chất và tinh thần. Tinh thần thúc đẩy, ngăn cản và hướng dẫn hành động của con người. Tạo lập các đức tính tốt cho con người là dạy bảo họ về mặt tinh thần từ lúc nhỏ. Về cách tạo lập ấy, tôi xin nêu cách làm trong đạo Công giáo như là một thí dụ với mục đích dẫn giải.        Trong vòng 5 năm trở lại đây, cuộc tranh luận về vốn xã hội xoay quanh các đề tài sau:   – Vai trò của các hình thức khác nhau của vốn xã hội trong sự tạo lập một cuộc sống sống động và bền vững?;   – Làm sao để đánh giá vốn xã hội và liệu có thể đo lường được nó không?;   – Sự phân định giữa các hình thức khác nhau của vốn xã hội (có những cái không có lợi cho xã hội);    – Có thể “tạo nên” vốn xã hội qua các diễn tiến hay thể thức xúc tác từ bên ngoài?;   Vai trò của vốn xã hội trong việc thúc đẩy sự quản lý tốt (good governance) và một xã hội dân sự mạnh, và những thứ này có những hiệu quả gián tiếp đối với sự phát triển kinh tế như thế nào?          Người Công giáo có một giáo lý: ngoài những điều ấn định về Thiên Chúa, họ có những điều phải tin về sự tồn tại của mình; những điều không được làm cho chính mình và cho người khác. Bình thường, sau khi đã thấm nhuần giáo lý, hành động của họ là thói quen; nhưng trong những trường hợp bị phân vân thì giáo lý trở thành kim chỉ nam. Cơ bản nhất trong các giáo lý này là 10 điều răn: 3 điều là cư xử đối với Chúa; 1 điều đối với cha mẹ; 6 điều còn lại là đối với mình và với người. Tuy nhiên, vì đã tồn tại từ lâu, các điều răn trên đã được triển khai thành những bài kinh ngắn gọn dễ nhớ và trẻ em từ khi lên ba đã phải đọc theo ở trong nhà qua các buổi kinh tối, rồi sau này học ở nhà thờ. Chẳng hạn, các em học từ bé: khiêm nhường chớ kiêu ngạo; rộng rãi chớ hà tiện; cho khách đỗ nhà; yêu người chớ ghen ghét… Đây là quá trình nhận thức và nó từ từ thấm vào các em. Khoảng 2, 3 tuổi các em thường đòi theo bố mẹ đi nhà thờ. Ở đó, giáo lý được đào sâu, thực tế hóa, với gương tốt xấu được nêu ra. Việc đi nhà thờ, bị buộc mỗi tuần một lần vào ngày Chúa Nhật, là cơ hội để cho người công giáo tự mình và cùng những người khác học hỏi để “phát huy các ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm” trong việc sống theo giáo lý. Đó là quá trình hỗ trợ. Cuối cùng, người Công giáo qua các linh mục được Chúa ban cho một số ơn lành cần thiết cho đời sống của họ; thí dụ chịu lễ để tăng cường sức mạnh tinh thần; lúc cưới được chịu phép hôn phối, lúc ốm nặng đươc chịu phép xức dầu. Những phép này – gọi là bí tích – tác động vào niềm tin của họ, và có một hiệu quả tâm lý, giúp họ an tâm giữ và làm những gì đã được dạy. Sự thể ấy có thể thấy qua việc sau.  Lúc chiều cô bé nhìn thấy anh trai mình đánh gẫy cái môi múc canh. Khi dọn cơm, mẹ hỏi cô ai làm gẫy. Cô bé phân vân. Nếu bảo anh làm thì anh ấy sẽ không chơi với mình nữa, nếu nói “không biết” là dối mẹ. Với một người lớn họ không có sự phân vân kia vì nghĩ đến mẹ, đến việc làm gẫy. Cô bé kia không nghĩ được như thế, chỉ sợ người anh không chơi với mình; tuy nhiên cô biết không nói với mẹ là nói dối và là phạm tội nói dối. Nghĩ đến tội, cô nhớ đến Chúa, mà cô đã được dạy dỗ đấy là một đấng rất thương mình, đã chịu chết vì tội lỗi của mình; vậy nếu nói dối là phạm tội với Chúa. Cô không thể phạm tội đối với Chúa; mặc dù nếu nói dối, thì mẹ cũng không biết và cô sẽ được chơi với anh. Cô có sự chọn lựa và cô quyết định nói với mẹ là người anh trai làm gẫy. Cô bé đã nghĩ đến một cái gì cao hơn, vượt trên tất cả. Cô sợ mất lòng Chúa hơn là mất lòng anh mình. Và cô là một người nói thật.  Về người nói thật, thì không phải chỉ những người có tín ngưỡng, mà tất cả những ai nói thật đều giống nhau ở một điểm là: họ chỉ biết một điều duy nhất là nói thật. Trái lại, người nói dối biết hai thứ: nói thật và nói dối. Trong lần đầu tiên giao tiếp với người khác, người nói thật (là A) không bao giờ nghĩ ra được rằng người mình tiếp xúc (là B) sẽ nói dối vì (i) A không biết nói dối và (ii) suy bụng ta ra bụng người. Về phần người nói dối (là A’), họ đã nói dối, nên trong lòng họ sự nói dối hiện diện; và khi suy bụng ta ra bụng người họ cũng nghĩ B nói dối. Và để an toàn cho mình, họ tin B nói dối nhiều hơn nói thật. Những thái độ ban đầu khác nhau này tạo nên vốn xã hội. Người nói thật giao tiếp với người khác trong sự thành thật; còn người nói dối thì trong sự nghi ngờ. Quen thế mãi, người nói dối mất đi sự ham muốn nói thật; lòng họ không còn áy náy khi nói dối, cũng chẳng còn bực mình vì phải nói dối; cuối cùng họ tin điều họ nói dối là thật.  Ở các nước mà hiến pháp của họ không có điều khoản “mọi người được tự do theo hay không theo một tôn giáo nào” thì ở trong gia đình và nhà trường, người ta dạy cho con người các đức tính phổ biến là: sự tự chế, lòng thương người, trách nhiệm, tình bạn bè, sự làm việc, can đảm, kiên nhẫn, thật thà, trung thành và niềm tin tôn giáo.  Với những hiểu biết ở trên, ta có thể hỏi việc tạo lập các đức tính tốt cho con người trong xã hội của ta được làm như thế nào? Chúng ta có một tập hợp (một bộ) các đức tính tốt để cho một người cư xử với người khác, những người không phải là thân thích với mình, không?  Câu trả lời là đối với những người nắm chức vụ công quyền thì có. Thí dụ cho công chức là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư ”; cho công an có 6 điều, cho phụ nữ có 8 chữ…. Những đức tính này được trang bị cho những người có chức vụ xã hội nhất định chứ không phải cho mọi người bình thường trong xã  hội; chúng là đạo đức nghề nghiệp nên không giúp nhiều vào việc tạo nên vốn xã hội giúp kinh tế phát triển.  Đối với những người bình thường và chiếm đa số trong dân chúng thì trong một thời gian rất dài trên các phương tiện truyền thông và giáo dục chúng ta ít nghe đến giáo dục gia đình, đến việc cha mẹ dạy dỗ con cái trong nhà, đến phép lịch sự của một cá nhân bình thường; mà nghe nhiều đến sinh hoạt của các tổ chức chính trị truyền thống trong đó hội viên được khuyến khích, giúp đỡ để coi trọng quyền lợi chính trị. Ý thức về quyền lợi chính trị là biết cách giữ, biết cách đòi để không làm mất quyền lợi của mình, để hơn người; chứ không phải để cư xử ra sao với người hàng xóm.   Về cách thức phải đối xử với người hàng xóm thì những đức tính tốt dạy cho con người cũng ít. Ngoài năm điều Bác Hồ dạy cho trẻ em trong đó những đức tính có thể dùng một cách phổ quát là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” thì chỉ có một khẩu hiệu đạo đức tổng quát “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thế nhưng đoàn kết tốt là phải làm gì? Mình vì mọi người thì phải làm sao? Tất cả không được triển khai, không có gương soi chung. Trong các đoàn thể có các nội quy, nhưng chúng là những gì từ bên ngoài áp đặt vào con người. Nội quy là một loại luật pháp, nó đòi hỏi phải có người khác canh chừng; chứ không phải là những gì nằm sẵn bên trong con người, được hun đúc lên, hay được thấm nhuần vào trong họ để rồi họ tự mình kiểm soát mình. Trong các tổ chức nêu trên chắc chắn không có những đức tính tốt nằm trong đạo đức cổ truyền mà đã bị phá hủy qua các phong trào “bài phong đả thực”.  Do cách giáo dục áp đặt từ bên ngoài vào và nặng về việc đòi ăn trên ngồi trốc (quyền lợi chính trị) nên một số không nhỏ những người ở xã hội ta, bắt đầu từ giới có chức có quyền sau lan rộng ra dân chúng, khi đánh giá theo khía cạnh đạo đức, thì họ cũng giống như một cột xi măng không có cốt sắt bên trong. Sự tự chế của họ, sự kiểm soát chính mình, để ngăn họ không làm điều xấu hầu như không có. Nhiều người trong giới cầm quyền đã đầu hàng tiền bạc. Họ không làm điều xấu vì thấy có người khác biết hoặc sợ bị phê bình; chứ không phải từ ý thức của họ rằng việc ấy xấu. Những câu chuyện “quá xá” của các con dòng cháu giống nêu trên báo cho thấy sự thiếu tiết chế này. Khi một người không tự ngăn chặn mình làm xấu thì chuyện họ ngồi chung với người khác rất khó; vì  họ không thích, hay người khác không thích họ. Trong thời kỳ chiến tranh,  hội viên của các tổ chức chính trị truyền thống hoạt động rất tốt, rất thành công; dẫu cũng chịu những gì áp đặt từ bên ngoài vào, lý do là vì hồi đó có mục tiêu rõ ràng và nó đứng ngay trước mặt (giải phóng vùng địch chiếm). Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, mục tiêu không rõ ràng nên rất khó huy động hội viên bằng áp lực bên ngoài. Họ không làm nhưng nói rất hay, rất hợp thời.  Khi xem xét theo nhiều khía cạnh, và thuần túy lý thuyết,  ta thấy vốn xã hội đã có từ khi loài người xuất hiện, nó nằm trong các đức tính tốt của mỗi người và nẩy sinh khi họ tự nguyện làm chung với nhau một công việc nào đó; nhưng chỉ cách đây không lâu lắm người ta mới nhận ra và nêu nó lên. Ngay từ năm 1835, Alexis Tocqueville đã nói về sự kết hợp tự nguyện ở Mỹ rồi.  Mỹ là một nước hữu thần, và cái vốn kia như thế đã có trước bản Tuyên ngôn của Marx năm 1848; dựa trên đó chủ nghĩa Cộng sản đề ra một thế giới mới khác với cái xưa. Vậy có thể nói đến vốn xã hội trong một thế giới mới khác với cái cũ lại ưu việt hơn không? Nếu có thì nó thuộc loại co cụm hay vươn ra bên ngoài?  Cách thực hiện óc tư lợi  Lợi ích mà mỗi người chúng ta theo đuổi là lợi ích vật chất hay tinh thần. Đi tìm nó thì ai cũng làm nhưng cách làm khác nhau tùy theo đức tính của mỗi người. Vậy vấn đề là làm như thế nào để có nó? Có ba cách làm chính: đòi theo lợi thế chính trị, theo sự công bằng và theo đạo đức. Ở xã hội ta, cách đầu khá phổ biến, nó bắt nguồn từ giới nắm quyền lực sau đó lan rộng ra theo tâm lý “sở dĩ tôi làm cho anh như thế vì người ta đã đối xử với tôi như vậy.” Ta xem xét cách thực hiện óc tư lợi qua hai kiểu phổ biến ở ta.  Đòi theo lợi thế chính trị  Đòi theo cách này là dựa vào quyền hạn của mình để đòi hỏi hạch sách. Thí dụ cấp giấy phép. Cách đòi này không tạo ra sự hợp tác, vì người bị đòi chỉ có bỏ ra mà không lấy về. Cái mà họ lấy về là nhiệm vụ mà người cấp phép phải làm.  Ở ta sự đòi hỏi theo lợi thế chính trị rất thịnh hành, đến mức người ta đòi trước rồi làm sau. Nạn tham nhũng là do nguồn gốc này. Nguyên do là từ cách đào tạo đoàn viên thanh niên, lực lượng dự bị của Đảng – những người sẽ cầm quyền sau này. Ngay từ khi học ở trung học, chỉ có ai vào Đoàn mới được làm lớp trưởng. Điều này đúng về mặt chính trị, chọn người mình tin tưởng: là đoàn viên – mới được giao; nhưng sai lầm về mặt đạo đức vì trong suy nghĩ của em được chọn nó trở thành: là đoàn viên thì sẽ có. Và em phấn đấu vào Đoàn để nhắm một lợi ích cho mình, chứ không phải dùng Đoàn để phục vụ người khác. Đối với em, Đoàn là bữa tiệc, là một mục tiêu tự thân. Và sau này khi anh ta vào Đảng, lên nắm quyền, cách suy nghĩ kia đã ăn sâu vào lòng. Đây là một thí dụ đơn giản để làm rõ vấn đề. Trên thực tế sự tính toán của các người có quyền lực phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa đoàn viên Hướng đạo tham gia tổ chức này là để phục vụ người khác; vì tổ chức đó không có quyền lực chính trị. Tổ chức Đoàn gắn với chính trị nên nó cho đoàn viên một lợi thế chính trị và vào đó là được hưởng ngay. Vì quyền lợi bày trước mắt nên trước khi làm bao giờ họ cũng hỏi: “Làm việc ấy ta sẽ được gì ?”. Họ không còn tự nguyện chịu thiệt thòi để mà có thể hợp tác với người khác.     Chủ nghĩa thành tích  Ta biết cá nhân bị xóa nhòa trong tập thể. Không còn tự do thì chẳng có trách nhiệm; thế nhưng họ không thể bỏ được nhu cầu muốn được tôn vinh; mà muốn được thế thì phải có thành tích. Đây là nguồn gốc thứ nhất của chủ nghĩa thành tích. Trong tập thể khi một cá nhân phạm lỗi thì họ biết, dẫu không bị quy trách; nhưng ít nhiều họ xấu hổ, và để khỏa lấp sự xấu hổ kia họ phải đi tìm thành tích. Đây là nguồn gốc thứ hai. Trong lĩnh vực cá nhân, muốn kiếm thành tích thì cách an nhàn nhất là nhận vơ, làm lẫn lộn thành tích của người khác với mình, thay đổi quan điểm theo kẻ thắng, hoặc bảo là người khác xấu để chứng minh mình tốt.  Về mặt tập thể, khi cá nhân không được tôn vinh thì mọi người trong tập thể đều muốn tập thể của mình được tôn vinh. Ước mong cá nhân trở thành đòi hỏi của tập thể. Đây là lý do thứ ba. Vậy tập thể được tặng huy chương phải là chủ trương của người lãnh đạo. Tập thể ở đây là một đơn vị chính trị, vậy thành tích của nó phải là vật chất, cái gì thấy ngay, chụp ảnh được. Người lãnh đạo tập thể không đi tìm lợi ích tinh thần vì nó không giúp họ tranh cử trong nhiệm kỳ sau. Vì vậy, lấy ngành giáo dục làm thí dụ, họ quan tâm đến số học sinh tốt nghiệp mỗi kỳ thi; chứ không phải chuyện các em có giỏi hay không. Khi tập thể cao nhất, to nhất (cấp tỉnh) lấy số học sinh tốt nghiệp làm thành tích, thì họ sẽ chỉ thị cho các tập thể trung gian (quận) phải đạt được thành tích ấy; các quận bèn chỉ thị cụ thể cho mỗi trường (một tập thể) tỷ lệ học sinh phải đỗ. Các giáo viên, ngoài thành tích cho cá nhân mình, còn bị áp lực thành tích từ trên ấn xuống; do vậy họ không ngại ngần hay cảm thấy sai khi cho học sinh thuộc bài mẫu trước khi thi, hay cứ cho điểm cao dẫu học sinh kém. Các tỉnh vùng sâu, vùng xa mà điểm thi tốt nghiệp của học sinh ở đó cao hơn thành phố lớn là vì vậy.   Chủ nghĩa thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả của hiện tại mà nó đề cao không thật. Khi cá nhân theo đuổi chủ nghĩa này họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không  họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác để làm việc chung, để có sự tự nguyện.  Kết luận    Cho câu hỏi vốn xã hội ở ta có cao không, chúng ta vừa xem qua các yếu tố giúp tạo nên vốn đó, chú trọng vào một vài đức tính, xem nó có thể nảy sinh từ cơ cấu xã hội và trong việc xây dựng con người. Khi xem xét như thế chúng ta đã có câu trả lời.  Như đã đề cập, bài này nhằm gợi lên một số đề tài liên quan đến vốn xã hội tại Việt Nam để rồi rút ra một số vấn đề sẽ thảo luận sau này; vì thế những gì nêu ở trên, trả lời ở đó, chưa chắc đã đúng. Do đó, chúng sẽ là những đề tài để thảo luận một cách rộng rãi. Có thể độc giả sẽ bác bỏ, sẽ đặt ra những vấn đề khác với những kết luận khác. Điều đó sẽ rất hữu ích cho tất cả chúng ta, những người quan tâm đến tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc.       Nguyễn Ngọc Bích      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội Việt Nam, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy      Bài viết sẽ đi từ “vốn xã hội” (VXH) như một khái niệm mới – một khái niệm “mốt” trong khoa học kinh tế xã hội, nội dung, giới hạn và khả năng ứng dụng của nó, từ đó thử phân tích những hiện tượng hao vốn trong bối cảnh xã hội Việt Nam (VN) từ 1975. Phần thứ ba thử truy cập lại một “lý thuyết” được xem là mô hình (modele) “vốn xã hội” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trong triển vọng phát huy vốn xã hội.    Phần 1 chỉ thuần phân tích khái niệm để tìm mặt sau của vấn đề. Phần 2 đi từ một thực trạng”vốn xã hội” tại Việt Nam, những hiện tượng tiêu cực bao hàm trong khái niệm VXH. Phần 3 đưa ra một luận đề có tính phản đề khiêu khích (hay gợi ý), đồng thời có tính tổng hợp: không phải Bordieu hay Putnam khám phá ra khái niệm và dự án “vốn xã hội”, thế kỷ 13, Trần Nhân Tông đã đưa ra dự án VXH với “Cư trần lạc đạo”.     1. Vốn xã hội: từ khía cạnh kinh tế đến ý nghĩa nhân bản x hội:  VXH thường được hiểu như tổng thể những tương quan đời sống con người trong cùng một xã hội, bao gồm những gia sản văn minh văn hóa (kinh tế, triết lý sống, đạo đức, phong tục tập quán v.v…)  mà con người trong một cộng đồng hay xã hội đã tạo dựng và phát huy.  Trong những nghiên cứu về VXH, lý thuyết về vốn xã hội từ những thập niên 80, 90 với Bourdieu, Putnam được định hình cụ thể. VXH được sử dụng trong nghĩa đặc thù có tính xã hội kinh tế. VXH phân biệt với vốn nhân bản, vốn văn hóa và dĩ nhiên vốn kinh tế. Sự khác biệt hiển nhiên nằm trong cụm từ “xã hội” và “vốn”.   Khi nói đến “vốn” trong cụm từ “vốn xã hội”, những người đặt tên đã nghĩ đến ý nghĩa đặc thù kinh tế của khái niệm “vốn”. Đơn giản, ở đây có một sự đầu tư của cải hay một tài sản nào đó, với mục đích “kiếm lời”, tiền hay vốn sẽ được nhiều hơn nhờ vào đầu tư, nếu một vốn không đem lại kết qủa nhiều hơn, nó sẽ là tiền quăng đi. Nhưng VXH lại khác với những vốn khác như vốn nhân văn (cá nhân riêng lẻ), vốn vật chất tiền bạc, khác với những tài sản công cộng như bảo đảm giao thông và quyền lợi công cộng mà nhà nước phải lo, VXH do xã hội đem đến từ những tương quan liên lạc tự nguyện giữa người và người, chính mối tương quan này ấn định VXH, nó không có tính vật chất như chính khái niệm “vốn” gợi lên, mà có ý nghĩa tinh thần, đó là sự tin tưởng lẫn nhau và sự sẵn sàng tương thân tương trợ giữa người và người đang chung sống với nhau. VXH là tổng thể những tương quan tin cậy và tự nguyện mà trong lúc chung sống những thành viên trong cộng đồng hay đoàn thể kiến tạo nên, nó bao hàm sự hỗ trợ tình thương, tính thân hữu, liên lạc. Chính mối dây tương quan tinh thần qua lòng tin cậy lẫn nhau có thể đem đến lợi ích mà một xã hội cần có: sự an lạc và phúc lợi cộng đồng, an sinh hạnh lạc, đồng thời nó đem lại những món lãi vật chất: chính nhờ VXH sẵn có những phí tổn chuyển nhượng (Transaktion) được tiết kiệm, những thiệt hại, tổn thất do xung đột quyền lợi được giải quyết căn cứ vào những qui định đã được thỏa thuận giữa những người cùng chung quyền lợi.  Khái niệm VXH giải thể những ám ảnh ý thức hệ thường mắc vướng trong các khái niệm về xã hội: ví dụ khái niệm về giai cấp không bao hàm trong VXH, ngược lại VXH là một khái niệm hàng dọc, nó nhấn mạnh một điểm mà lý thuyết tranh đấu giai cấp không chú ý đến: tương quan tương trợ lẫn nhau trong tự nguyện, người giàu giúp kẻ nghèo, người mạnh khỏe giúp kẻ ốm, người thất học được bảo trợ, người đi tìm việc được giới thiệu hợp tác. VXH tạo nên một mạng lưới xã hội gồm tương quan giữa cá nhân và đoàn thể, giữa đoàn thể và đoàn thể. Bourdeau phân biệt VXH do những diễn viên (akteur), như là một nguồn cá nhân đến từ những tương quan xã hội với những cá nhân khác, VXH này là một nguồn quan trọng cho hiện trạng xã hội (Status) và an lạc cá nhân.  Định nghĩa có tính hệ thống về VXH: tổng thể những yếu tố hỗ trợ cuộc sống cộng đồng và qua đó đẩy mạnh sự phát triển xã hội, còn gọi là mạng lưới xã hội.  Những nghiên cứu cho thấy rằng VXH càng tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tốt cho hội viên của mạng lưới xã hội. Vì thế những tổ chức phát triển và ngân hàng thế giới nhận ra ưu điểm của sự cải thiện VXH, chính nó là yếu tố thiết yếu cho chiến thuật phát triển thành công.  Chính yếu tố tinh thần nền tảng “tin tưởng lẫn nhau” và sự tình nguyện hợp tác là điều kiện bảo đảm cho xã hội có khả năng phát triển về kinh tế, mà người Đức đã gọi là “hòa bình xã hội”. Sau thế chiến thứ hai, chính “hòa bình xã hội” đã đóng góp vào công cuộc xây dựng một nước Đức bị phá sản toàn diện do chiến tranh, trở thành một cường quốc trên thế giới. “Hòa bình xã hội” của một tập thể con người siêng năng, thông minh, có tinh thần khoa học và nhất là trung kiên và sẵn sàng hi sinh (chính những người phụ nữ Đức đã xây dựng nước Đức từ những đống gạch đổ nát, đã hi sinh tất cả cho công việc dọn dẹp tàn tích chiến tranh, và họ đã vực dậy tinh thần suy sụp của tù binh Đức, thanh niên Đức trở lại với niềm tin tương lai), chính điểm tựa tình thương, tình thân hữu, tính tương liên – cơ sở căn bản của hòa bình xã hội, đã đem đến cho nước Đức trong những thập niên 60 sự tăng trưởng mạnh về mặt kinh tế, cụ thể là người dân có lương cao, hưởng được nhiều lợi tức và ít đình công, do đấy tăng trưởng được bảo đảm. Hòa bình xã hội bao gồm những biện pháp  đem lại tin tưởng cho người dân: đó là quyền tự quyết và bảo đảm xã hội. Chính trong tình trạng khủng hoảng kinh tế của nước Đức hiện nay, Koehler, Tổng thống đương kim của CHLB Đức, trong diễn văn ngày nhận chức, đã nhấn mạnh vai trò của VXH trong sự đóng góp phát triển kinh tế nước Đức.  “Hòa bình xã hội” là mạng lưới xã hội trong đó yếu tố tín cẩn, chuẩn mực (Normes) hỗ trợ lẫn nhau và những định chế thỏa thuận hợp tác được thiết lập, nó tạo điều kiện hạ tầng cơ sở có thể nâng đỡ và phát huy tương quan xã hội đem đến lợi ích cho cá nhân và tập thể. VXH từ đó có thể xem như một bảo đảm chữ tín với cộng đồng hay những đoàn thể khác, từ đó chữ tín là đặc tính tương quan giữa cá nhân hay đoàn thể. Trên bình diện quốc gia và kinh tế, VXH tạo nên 1 điều kiện không thể thiếu cho một hợp tác có ý nghĩa lâu dài và xây dựng trong ý hướng an lạc cộng đồng  Koehler muốn nhắc nhở công đồng Đức nên sẵn sàng ĐÓNG GÓP hợp tác tự nguyện trong công cuộc vực dậy nền kinh tế của Đức, cho thấy tương quan giữa VXH và phát triển kinh tế không thể tách rời nhau.  Sự kêu gọi này phải được hiểu như một thú nhận vốn xã hội Đức hiện nay đang thiếu hụt, bởi vì người Đức không sẵn sàng bỏ “vốn xã hội” mà chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng lẻ, cá nhân. Trong trường hợp này Koehler chỉ nhìn khía cạnh “tiết kiệm” những phí tổn quốc gia nhờ vào VXH đã có sẵn, mà không nghĩ đến phí tổn đầu tư ban đầu cho VXH, những người phê bình ông nói rằng, VXH trước hết là một đầu tư, và nó cũng tốn của, không bao giờ không có đầu tư một vốn gì mà đòi có lãi được.  Từ những thành tựu của những nghiên cứu của Putnam (từ 1993), ngân hàng thế giới giúp đỡ phát triển đã chú trọng đến yếu tố “vốn xã hội” như một trong những tiêu chuẩn đánh giá khả năng mang đến thành quả tốt cho mỗi dự án phát triển của quốc gia nhận lãnh dự án.   VXH tăng thêm một khi cách giao tiếp giữa những cá nhân càng chặt chẽ và có uy tín, nhờ đó vô tình hay chủ ý, những bổn phận xã hội thường xuyên của một hay nhiều đối tác được phát huy thêm, từ đó khả năng trung tín càng được thực thi. Đó là điều kiện hợp tác cá nhân cũng như đoàn thể trong một xã hội và trong tương quan quốc tế.  Trong tương quan đối tác, VXH trở nên một tiêu chuẩn đánh giá cho sự hợp tác kinh tế thay vào những khác biệt về quan điểm chính trị. Nó là ngõ tránh cho những mâu thuẫn quan điểm chính trị, trung lập hóa những lập trường tư tưởng dị biệt, để chỉ tập trung vào lĩnh vực phát triển kinh tế. Với khái niệm VXH các nhà lý thuyết xã hội nhấn mạnh vai trò quan trọng củayếu tố kinh tế trong những liên hệ xã hội.  Theo P. Bourdieu, VXH là tổng thể những tài nguyên hiện tại và tiềm ẩn liên hệ đến một phần mạng lưới những tương quan xh về cảm thông và truy nhận lẫn nhau. Ngược với vốn nhân văn, VXH không dựa trên con người tự nhiên mà trên tương quan giữa con người. VXH cho ta xâm nhập vào những tài nguyên của đời sống xã hội như tương trợ, giúp đỡ, truy nhận, tri thức và quan hệ với những nhóm khác từ việc đi tìm chỗ làm, nơi học. Nó sản xuất và tái sản xuất những tương quan trao đổi, như tặng quà, làm đẹp lòng nhau, thăm viếng v.v… Trong một xã hội, VXH nhỏ thì thế lực pháp lý và cảnh sát trị đóng vai trò quan trọng để bảo vệ tư hữu và điều hành nhà nước, bởi vì sự tin tưởng  và sẵn sàng hợp tác không đủ để giải quyết những vấn đề xã hội và mâu thuẫn con người.  Cường độ của vốn xã hội quan hệ đến sự tăng trưởng hay giảm thấp của tăng trưởng kinh tế. Hội nhập thành công có nghĩa là giúp những người bên lề xã hội gia nhập vào VXH (qua những phương tiện đào tạo học đường, để có thể phát triển và gia tăng VXH).  VXH nhỏ làm tăng những chi phí chuyển giao (transaktion) và làm giảm năng suất sản xuất. VXH tích cực có ảnh hưởng kinh tế lên chính trị, nơi ở, tăng trưởng và tạo nên công ăn việc làm.  2. VXH trong tình trạng nguy cơ phá sản  Với vụ PMU 18, vấn đề tham nhũng tại VN trở nên một vấn đề quốc te . Những cơ quan đầu tư giúp vốn phát triển nghi ngờ khả năng đáng tin cậy của những người thực hiện dự án, và đằng sau đó là cái “VXH”, điểm tựa của người làm dự án. Không những người thực hiện dự án chịu trách nhiệm, mà toàn thể xã hội đều bị vạ lây. Đồng thời hiện tượng này vén màn cho thấy hiện trạng xã hội hiện nay của nước được hỗ trợ dự án, trong đó mức tin cậy đang bị khủng hoảng. Nó có thể có những hậu quả tiêu cực cho công cuộc phát triển và xây dựng xã hội trong thời đại toàn cầu hóa.  Tình trạng “cô dâu” Việt Nam, tình trạng gái điếm gia tăng, tảo hôn, con số nhiễm HIV, tỷ số phạm pháp gia tăng, con số tai nạn giao thông không giảm mà tăng, tham nhũng hối lộ trở nên chuẩn tắc tương quan xã hội,  đang làm đen VXH tại VN, nếu không nói làm kiệt quệ. Xã hội VN hầu như mất đi vốn căn bản, mặc dù đời sống vật chất của người dân đã cải tiến so với những thập niên 70, 80, đó là sự hao hụt lòng tin vào đoàn thể, vào nhà nước (do những người đại diện Sự an lạc cộng đồng thực sự trở nên bấp bênh.  Trở lại thập niên 70, sau cuộc chiến, xã hội VN đang nằm trong giai đoạn chuyển biến, thoát xác, đầy hi vọng và triển vọng phát triển, dù vốn kinh tế hầu như kiệt quệ, nghèo! Nhưng VXH có sẵn đã rất lớn, tiềm năng hòa bình xã hội rất dồi dào với sự sẵn lòng chung sức của toàn dân: tình nghĩa đồng bào, ruột thịt Bắc Nam, tình yêu nước, tình đùm bọc lẫn nhau khởi từ  nền tảng gia đình vẫn còn vững chắc. Cái vốn chung ấy đã là nguồn suối tiềm năng cho sự phát huy an lạc cộng đồng thực sự trong xã hội. Nhưng trong xu thế chiến thắng, chính sách mới đã muốn thay đổi VXH có sẵn bằng một VXH mới, theo dự án cách mạng xã hội với một công thức phổ quát và đặt định: “Yêu nước tức là yêu xã hội chủ nghĩa” dựa trên nền tảng gọi là đạo đức cách mạng. Đây là một sự can thiệp từ bên ngoài vào VXH đã có sẵn. Theo lý thuyết, VXH có thể tự phát từ bên trong do sự quyết định của các thành viên sống trong đó, một VXH như thế có khuynh hướng phát triển tự nhiên, bởi vì xã hội luôn luôn sinh động trong biến chuyển, thay đổi, thích nghi và biến xác. Nhưng VXH cũng có thể bị thúc đẩy hay được hỗ trợ từ bên ngoài. Vốn đầu tư từ bên ngoài có thể thay đổi chuyển hoán VXH có sẵn bằng cấm đoán thế lực hay nâng đỡ để cải thiện trong mục đích đem lại phúc lợi cho toàn thể. Trong trường hợp VN, nhà nước đã tự tay xây dựng một mô hình VXH theo định nghĩa giới hạn vào “XHCN”, một mô hình VXH khép kín với một mạng lưới xã hội sít sao từ  Đảng như một đoàn thể có nội qui nhất định theo giáo điều Mác Lê và những đoàn thể có tính vệ tinh: hội phụ nữ, hội cách mạng lão thành, đoàn thanh niên cộng sản, hội trí thức yêu nước v.v… Với một sức thâm nhập vào quần chúng có tính chỉ huy trung ương hóa, những hình thức VXH khác như các cơ quan từ thiện và thiện nguyện của các tổ chức tôn giáo, những đoàn thể tư nhân (Hương đạo, gia đình Phật tử, Thanh niên Công giáo v.v…) đều bị loại trừ, không được hoạt động. Sự loại trừ này xảy ra từ một chủ trương chính trị về VXH. Nhưng sự loại trừ đến từ cơ cấu tổ chức VXH mới, cách mạng, như những đoàn thể chặt chẽ, đóng kín (closed) chỉ dành cho hội viên chọn lọc mang đến một sự thay đổi VXH VN từ trong cơ cấu: đồng thời với chính sách “cải tạo công thương nghiệp và nông nghiệp” (đầu năm 1977 nhằm xóa bỏ tư bản tư nhân và ép buộc nông dân vào hợp tác xã, chính sách “học tập cải tạo”, kỳ thị lý lịch của người dân tên mọi lĩnh vực, nhất là giáo dục khai hóa, cấm thành lập những đoàn thể thiện nguyện, kiểm soát hoạt động từ thiện tôn giáo dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, không những trên phương diện kinh tế mà còn trên phương diện VXH: hàng triệu người di tản, trốn khỏi Việt Nam. Một mảng VXH VN bị cắt đứt hay nói theo ngôn ngữ mới đây, một khúc ruột VN đã bị đứt đoạn, một vết thương không nhỏ cho đất nước và một di chứng oán hận trong lòng người vẫn còn tồn đọng cho đến ngày hôm nay.  Trường hợp VXH đen này là một trường hợp tiêu biểu cho sự quá tải về cách bỏ VXH mới, nó dẫn đến sự loại trừ cá nhân riêng tư và đoàn thể khác, hiện tượng của VXH theo mô hình XHCN tương tự như một thứ của hàng đóng cửa, không nhận khách hàng ngoài thành viên, đã gây khó khăn cho sáng kiến đổi mới cũng như làm cho những đổi mới bị mai một dưới kỷ luật bó buộc của nội bộ đoàn thể.  Chính sự trung thành tuyệt đối hay tin tưởng cuồng tín của đoàn thể có hệ quả ngược lại 180o: đó là sự nghi ngờ, không tin cậy cá nhân ở ngoài hay những đoàn thể khác, những yếu tố này làm tan vỡ VXH thay vì phát huy VXH. Có thể nói, những đoàn thể khép kín như thế phản xã hội, phi xã hội nếu hiểu xã hội là một môi trường hội nhập của những tương quan con người trong mục đích chung sống an vui.  Hòa bình xã hội như thế không có cơ sở căn bản để phát triển và cuộc bỏ vốn mới trong khoảng các thập niên 70, 80 và trước đổi mới không thể có lãi xã hội. Sự an ninh chỉ được mạng lưới công an bảo đảm, chứ không phải đi từ quần chúng tự nguyện. Mặc dù những thành viên của VXH mới được hưởng những đặc quyền đặc lợi – như thế là có lời, rất lời nữa là khác, lãi ấy đã tạo nên một giai cấp tư bản kiểu mới – nhưng đằng sau lớp sơn son là hố chia cách…  Chúng ta hãy trở lại với khái niệm VXH cũ từ thời điểm làn sóng những người di tản.  Gần 3 triệu người dân bỏ nước ra đi. Họ mang theo những gì ngoài một ít của cải nhiều rủi hơn may, thường bị hải tặc cướp đi? Chắc chắn, họ mang theo oán hận, thất vọng cũng như hi vọng được sống ở một nơi nào khác ngoài đất nước VN. Nhưng vô tình,  họ đã mang theo một cái vốn nhẹ tênh mà không biết: VXH VN. Chính cái VXH ấy, đó là gia đình còn lại, người thân còn lại, bạn bè còn lại, cái không gian ấy, tiếng chuông chùa ấy, chén cơm, con cá, những tình tương thân mà họ đã nhận được, lời khuyên của thầy của bạn, giáo huấn mà họ được trau dồi, gia đình, tình nghĩa thầy trò, tình bạn hữu, tình đồng đội, tín ngưỡng, nếp sống an lành trong cộng đồng xã hội từ tuổi ấu thơ.  Chính cái VXH ấy, tưởng nó phá sản, trôi mất, nhưng nó lại nhân đôi hay nhân gấp triệu, gấp lên tỉ, nó trở thành tiền lãi xuôi về VN. Thống kê cho biết từ những thập niên 80, 90, người Việt nước ngoài đã giúp người trong nước với con số không nhỏ, mà nếu thiếu nó là một lỗ hổng lớn cho ngân sách quốc gia.  Thoạt tiên trong mấy mươi năm, những giúp đỡ này đã được nhà chức trách và những hội viên VXH mới đánh giá với con mắt dè dặt cảnh giác kẻ địch, thái độ thường có của những hội kín, tương tự như nếp suy nghĩ của những hình thức bè đảng kiểu mafia, thái độ kì thị những người lạ hầu như là nguyên tắc xử thế. Mãi cho đến sự truy nhận gần đây, người ngoài nước mới được đánh giá là khúc ruột VN xa xôi đã được nối lại.  Nhưng cái VXH ấy vượt lên trên mọi chính trị đảng phái, nó là vốn liếng của con người VN đã được sống và lớn lên trong căn nhà nhân bản VN đã có từ khi dựng nước, và nó kiên trì không phôi pha, nó không hành động nhân danh chủ nghĩa như chủ nghĩa yêu nước hay chủ nghĩa thương người, nó được gây dựng từ lúc nằm nôi nghe mẹ hát: thương người như thể thương thân. Lá lành đùm lá rách. Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn… Và trong nhà trường với sự giáo hóa nhân nghĩa lễ trí tín, từ bi hỉ xả. VXH ấy luân lưu truyền mãi cho những thế hệ kế tiếp, nó là gia sản truyền thừa với di chúc giản dị: cần khéo léo như cách dẫn nước trị thủy xưa nay: tuôn năng lượng dồi dào cho cuộc sống hay phá hủy toàn diện cuộc sống.  Sự khủng hoảng VXH trong những thập niên vừa qua phát sinh ra hai hướng đi vòng (Umleitung, deviation) tạo nên sự biến thể tiêu cực của VXH: thứ nhất hiện trạng nghèo khổ thiếu thốn vật chất cùng với nạn thất nghiệp, trẻ em đường phố, biện pháp y tế còn khiếm khuyết, giáo dục tắc nghẽn vì thiếu hụt ngân quỹ v.v…, đã thúc đẩy những tổ chức tôn giáo, nhân đạo thiện nguyện tình nguyện đứng ra hoạt động xã hội, bằng những con đường tránh né, bán công khai.  Những tổ chức quốc tế giúp đỡ phát triển đã vào VN và ngân hàng thế giới đã đầu tư những dự án phát triển. Mạng lưới xã hội được nới rộng cho nhiều tầng lớp quần chúng. Đó là những hình thức VXH giúp nhẹ gánh ngân quỹ quốc gia. Nhưng khổ thay, đồng thời với những trợ giúp bên ngoài, VXH hầu như có nguy cơ phá sản với những hiện tượng tiêu cực đã đề cập trên. VXH hiện nay như tình trạng của những cột bê tông bằng tre: sự tin cậy bị phá sản vì tham nhũng và lạm dụng (trường hợp PMU 18 đụng chạm đến tin tưởng quốc tế về sự chân thật của VXH VN), an lạc cộng đồng tan vỡ. Những nhóm bên lề (Randgruppen) phát sinh, nạn thanh thiếu niên phạm pháp và bị lợi dụng, nạn mãi dâm, nạn buôn người, buôn gái, nhiễm HIV càng lúc càng gia tăng, kẻ vô gia cư, du thủ du thực, băng đảng phạm pháp v.v… Hiện tượng nhóm bên lề xã hội báo hiệu tiềm năng bất ổn định của VXH. Những nhóm người này vì khiếm khuyết giáo dục, ngôn ngữ không được trau dồi, tương quan đời sống kinh tế khó khăn không được hội nhập vào trong lòng xã hội. Họ ở bên ngoài chuẩn tắc xã hội và những giá trị nhân bản, bị cô lập và loại trừ, không được hội nhập vào quá trình sản xuất của xã hội, họ trở nên gánh nặng của nhà nước. Hiện tượng xã hội bên lề không do những kẻ trong cuộc lựa chọn mà chính là kết quả của chiến thuật loại trừ và làm tê liệt của những đoàn thể đang chế ngự. Giai cấp giàu nghèo đang được hình thành nhanh chóng trong lúc nền tảng đạo đức chỉ là những cộc tre mục nát, sự bóc lột con người đang có thể trở nên qui luật sống, nếu không có sự bảo vệ của luật pháp nghiêm chỉnh.  Hiện trạng này cho thấy, một VXH khép kín với hệ thống đoàn thể khép chặt, đảng viên và lý lịch công trạng thường gây nên sự kì thị và khai trừ những thành phần xã hội khác, một VXH nhỏ (so với con số 80 triệu người còn lại) không có khả năng hội nhập xã hội.  Không đóng kín, mở rộng mạng lưới xã hội và tạo khả năng hội nhập là điều kiện cho sự phát triển cộng đồng, cho hòa bình xã hội. J. Harris gọi một loại VXH không có khả năng hội nhập rộng rãi là VXH ảo (nó chỉ thực cho một nhóm người) hay phi xã hội.  J. Harris cho rằng khái niện VXH mà Putnam sử dụng để khảo sát xã hội đã giới hạn khái niệm này trong tương quan kinh tế, nhất là cơ cấu con người bị đơn giản hóa như một homo oeconomicus  – con người kinh tế – trước khi là một vốn đem lãi suất, xã hội dân sự nằm trong quyền lực chính trị và chính những tác động của chính quyền thúc đẩy sự phát triển xã hội và ngược lại có thể làm cho VXH phá sản. Hiện tượng vốn tiêu cực tại VN cho thấy mức độ tin tưởng vào một hội đoàn có thể là trở ngại cho sự tin tưởng chung. Chính nhà nước phải có những qui tắc cơ bản làm trung gian và bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau có nghĩa là bảo đảm quyền bình đẳng. Tìm hiểu thêm những nguyên nhân sâu xa của sự tương liên giữa con người đang chung vốn xã hội cho thấy bề dày quá khứ của giáo dục gia đình qua truyền thống tôn giáo và truyền thống đạo đức. Những yếu tố ấy ấn định tính xã hội không đến sau yếu tố chính trị cũng như ý thức hệ và văn hóa.  3. Một mô hình lý thuyết VXH đáp ứng đúng “mốt” hiện đại đã nằm sẵn trong TÂM con người VN:  Từ những suy nghĩ trên cho thấy vấn đề then chốt của VXH thật sự nằm trong khả năng ứng dụng VXH  mang tính xã hội chân thực, hầu thiết lập một nền hòa bình xã hội toàn diện bảo đảm an sinh và hạnh lạc của cộng đồng.  Khả năng ứng dụng nằm trong hai điểm then chốt: mở cửa và hội nhập trong năng động và thức tỉnh, bởi lẽ xã hội là một khái niệm mở,  nhìn toàn diện,  xã hội xuất hiện như một dòng thác đầy sinh động cũng như đa dạng, phức tạp trong sự chuyển tiếp và chuyển biến không ngừng. Cần phải nắm bắt được yếu tính của dòng chảy con người bằng một cái nhìn mới có khả năng tự điều chỉnh và đổi mới: một cái nhìn toàn diện “không bỏ sót một hữu tình nào”.  Những người hoạt động xã hội trên thế giới hiện nay đang nhìn trong khái niệm VXH một mốt mới trong việc tìm hiểu và phát huy VXH như điều kiện cải tạo xã hội trong nghĩa tích cực.  Có ngạc nhiên không khi ta đã có một của báu trong nhà? Chính khái niệm VXH đã được Trần Nhân Tông (TNT) trong giai đoạn dựng nước sử dụng khi đưa ra một mẫu mực đạo lý sống trong một xã hội vừa dành được chủ quyền độc lập và đang ở trong giai đoạn kiến thiết đất nước. Trong “Cư trần lạc đạo phú”, “sống đời vui đạo”, TNT đã bàn về “xây VXH” cho con người VN trong buổi sơ khai lập quốc ấy, khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy trước hết là CON NGƯỜI VN, một vốn quý báu nhất trong xã hội. “Cư trần lạc đạo” gồm 10 hội trình bày quan điểm toàn diện của TNT về xã hội VN, dự án giáo dục, đào tạo con người, “gây vốn” cho một xã hội nhân bản nhằm có thể phát huy và bảo đảm an lạc cộng đồng. Hội thứ nhất nói về không gian “Xã hội VN” của con người VN, đó là một không gian xuyên suốt thành thị và sơn lâm trong một tương quan đi về của muôn nghiệp, mà mục đích của con người là “dừng nghiệp” xấu chuyển nghiệp lành, được sống trong “an nhàn thể tính”. Nhưng an nhàn đối với TNT không chỉ ở sơn lâm, mà trần tục náo nhiệt cũng không chỉ ở thị thành, nếu con người không được khai sáng một cái nhìn rộng mở trong quá trình thực tập cái Tâm hay Tu Tâm: “yêu tính sáng hơn yêu châu báu”, “trọng lòng rồi mới trọng hoàng kim”. Thành thị hay sơn lâm đều là đất thao luyện cho TÂM, không nơi nào là ưu việt hơn. Sự thao luyện này bao gồm kỷ luật nghiêm túc: “Sạch giới lòng, dồi giới tướng/ Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm” đồng thời luôn luôn chuẩn bị cho giải phóng tự do.  Điểm đặc biệt trong lý thuyết ở đời vui đạo là tính toàn diện, bao gồm trên mọi bình diện: xã hội “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, triết lý tùy duyên, không ép buộc, không khai trừ “đói cứ ăn đi mệt ngủ liền”, hành động đạo đức “Sạch giới lòng, dồi giới tướng/ Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm/ Ngay thờ chúa thảo thờ cha/ Đi dỗ mới trượng phu trung hiếu”, tôn giáo “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn gian tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc”.  Một VXH mang nhiều yếu tố xã hội trong nghĩa không khai trừ, năng động khai mở và tạo khả thể hội nhập, không phân biệt giai cấp và khai phóng tự do, nguồn suối của nhân nghĩa và tình thương:                     Dứt trừ nhân ngã                     Thì ra thực tướng kim cương                     Dừng hết tham sân                     Mới làu lòng viên giác  VXH giàu tính xã hội không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp, dấn thân cho đời tu tâm vì đạo:                    Vâng ơn thánh xót mẹ cha                    Thì thầy học đạo                    Mến đức Cồ kiêng bùi ngọt                    Cầm giới ăn chay                    Dựng cầu đò, xây chiền tháp,                    Ngoài trang nghiêm sự tướng hãy tu                    Săn hỉ xả nhuyễn từ bi                   Nội tự tại kinh lòng hằng đọc    Một lý thuyết chứng tỏ tính chân lý của nó trong thời gian, khi nó đứng vững và đem lại an lạc cho cộng đồng. VXH mà TNT dựng lên đã được tiếp nối và phát huy trong chiều dài lịch sử VN, nó trở nên niềm tự tin và sức mạnh tâm thể của con người VN.  Điểm mạnh nhất đã đứng vững với thời gian có lẽ là sự hình thành một cái tâm VN có ích cho hòa bình xã hội: cái tâm không phân biệt, kỳ thị, khai trừ, bao gồm cả toàn thể con người VN. Có lẽ TNT là một nhà kinh tế xã hội đã đưa ra giải pháp mà Bourdeau, Putnam và Harris vẫn còn băn khoăn trước vấn nạn: làm thế nào để chuyển đổi sự tin cậy của một đoàn thể (vốn xã hội nhỏ) sang một toàn thể cộng đồng làm thế nào để nhân VXH, ngoài những hỗ trợ ngoại tại, chính sự rèn luyện cái TÂM không phân biệt là điều kiện để chia. TNT đã gây vốn để cả dân tộc VN cùng chia lời, chia sẻ chứ không chia cắt, đoạt vốn.  Và để thay kết luận, nếu không có cái vốn VN cùng chia ấy, môt người VN xa quê lâu năm như tôi đã không có những thôi thúc trở về.  Thái Kim Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vừa chống dịch vừa sản xuất      Sự khác biệt trong lần bùng phát dịch thứ tư ở Việt Nam đòi hỏi một cách thích ứng linh hoạt hơn phù hợp với từng địa phương, từng vùng để bảo vệ chuỗi sản xuất, hỗ trợ những nhóm lao động mất việc, theo TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong.      Nhiều công ty “ba tại chỗ” vẫn có thể bị virus xâm nhập, do đó phải nghĩ tính tới phương án sản xuất ngay trong bối cảnh chưa thể kiểm soát dịch bệnh. Doanh nghiệp tại khu công nghệ cao TP.HCM thực hiện “ba tại chỗ”. Nguồn: Báo Giao thông.   Duy trì sản xuất trong cả vùng xanh và vùng đỏ     Cách chống dịch của Việt Nam vẫn đang giúp bảo vệ được sức khỏe của người dân và cơ bản giúp sản xuất không bị đứt gãy so với các nước đang bị bùng dịch mạnh. Cho đến trước đợt dịch thứ tư, phương pháp giãn cách hoặc cách ly, phong tỏa tuyệt đối từng khu vực có dịch đã giúp các vùng này nhanh chóng quay trở lại sản xuất. Nhưng đối với đợt dịch thứ tư này, các nhà dịch tễ học dự báo cần nhiều thời gian để kiểm soát tình hình lây nhiễm ở khu vực TP.HCM và rộng ra là cả cụm công nghiệp quan trọng ở Đông Nam Bộ. Trên truyền thông, Bộ trưởng Bộ Y tế khẳng định đợt dịch này có diễn biến nhanh, xảy ra trên địa bàn rộng, trong một thời gian ngắn, số ca mắc tăng rất cao và nhấn mạnh “đợt dịch này ở những địa bàn trọng điểm về dịch rất khó có thể đưa số ca nhiễm về 0. Do đó, chúng ta phải xác định tiếp tục công cuộc phòng chống dịch nhanh, mạnh và bền bỉ”.      Trong bối cảnh đó, sản xuất ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam đặc biệt là các tỉnh thành là đầu tàu công nghiệp như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai gặp nhiều khó khăn, nguy cơ đứt gãy chuỗi lưu thông hàng hóa, chuỗi sản xuất đang ngày càng hiện hữu. Qua báo chí phản ánh, mặc dù rất muốn thực hiện “mục tiêu kép” duy trì cả sản xuất và chống dịch nhưng khi triển khai “ba tại chỗ – sản xuất, ăn, nghỉ tại chỗ”, “một cung đường hai điểm đến – nơi ở của công nhân và nơi sản xuất”, nhiều doanh nghiệp buộc phải ngưng hoạt động do xuất hiện ca mắc COVID-19 trong nhà máy, khu công nghiệp có số lượng công nhân đông. Cuối tháng bảy, bốn hiệp hội gồm Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giày và Túi xách, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam và Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM đã ký chung một bản kiến nghị gửi lên Thủ tướng, phản ánh những khó khăn của việc áp dụng phương thức “ba tại chỗ”. Chỉ một khảo sát sơ bộ của Hiệp hội xuất nhập khẩu Bình Dương đã cho thấy, hơn 1000 doanh nghiệp ngưng hoạt động vì không đảm bảo tiêu chí để duy trì sản xuất theo cách này. Các khu công nghiệp nhỏ hơn ở Tiền Giang, Hậu Giang cũng đang trong cảnh tương tự.      Hiện tại thời gian chống dịch bệnh phải kéo dài, nếu tình hình này vẫn còn tiếp diễn, nguy cơ đứt gãy chuỗi sản xuất trên diện rộng, về lâu dài có thể dẫn tới những khó khăn trầm trọng hơn cho vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, đầu tàu kinh tế phía Nam hút tới một nửa nguồn FDI của cả nước và đóng góp trên 50% GDP của cả nước. Mặt khác, khi dừng sản xuất, công nhân mất việc, thậm chí nghỉ về quê sẽ khiến các khu công nghiệp thiếu lao động trầm trọng và mất rất nhiều thời gian phục hồi hậu đại dịch.      Vì thế, thay vì chỉ tập trung vào một chiến lược “ba tại chỗ”, đảm bảo các “vùng xanh” (vùng không có COVID) trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp như kinh nghiệm của Bắc Ninh, Bắc Giang và nay là TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai đang tiến hành, chúng ta nên nghĩ tới cách làm mới, đó là có thể áp dụng “một cung đường hai điểm đến” hoặc “ba tại chỗ” để đảm bảo sản xuất ngay trong cả các “vùng đỏ” – các cụm, khu công nghiệp phát hiện có ca nhiễm virus.      Thứ nhất chúng ta nên nghĩ tới việc bố trí lại các không gian sản xuất đảm bảo giãn cách, không tiếp xúc nhiều và tăng cường bảo hộ cho người lao động. Thứ hai, các nghiên cứu trên thế giới và thống kê dịch tễ học ở Việt Nam hiện nay đều cho thấy không phải tất cả những người nhiễm virus SARS-CoV-2 đều là bệnh nhân. Chủ yếu virus gây tăng nặng và tử vong ở người cao tuổi, người có bệnh nền, tỉ lệ tử vong từ 1-3%, đa số F0 trong độ tuổi lao động đều an toàn. Trong trường hợp các nhà máy có F0, nếu cả nhà máy và công nhân đều đồng thuận sản xuất và tạm thời không ra khỏi nhà máy thì có thể thí điểm xây dựng các nhóm chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngay tại chỗ, chuyển tiếp F0 cần chăm sóc đến các bệnh viện thu dung, bệnh viện điều trị. Chiến lược triển khai tiêm vaccine của TP.HCM và các tỉnh hiện nay đang áp dụng theo kiểu “cuốn chiếu” nên  người lao động ở các khu công nghiệp được tiêm vaccine cũng sẽ đảm bảo sức khỏe tránh nguy cơ tăng nặng khi nhiễm virus.       Dám nghĩ và thử nghiệm các giải pháp khác nhau mới có thể giúp lưu thông sản xuất, đảm bảo huyết mạch nền kinh tế và cuộc sống của người dân.      Trong những năm tháng chiến tranh, Việt Nam đã từng ở thế vừa chiến đấu vừa giữ vững sản xuất. Nếu áp dụng cách làm này trong thời điểm đại dịch, chúng ta có thể thí điểm sản xuất ở “vùng đỏ” và tiến tới mở rộng, duy trì đảm bảo sản xuất trong tình hình dịch bệnh chưa thể kiểm soát. Còn ngược lại ở các khu vực miền Trung, miền Bắc vẫn còn được hưởng hiệu quả của công tác truy vết y tế, tiếp tục duy trì các vùng xanh ở các khu sản xuất, chế xuất công nghiệp, nông nghiệp như chúng ta đang làm.      Tuy nhiên để áp dụng cách làm này, chúng ta cần chú ý một vài điều kiện là giữ sự lưu thông chuỗi hàng hóa và sản xuất, thống nhất quy trình vận chuyển từ trung ương đến địa phương để không có quá nhiều giấy phép con, duy trì các quy trình khai báo y tế trên hệ thống công nghệ thông tin.     Ưu tiên bảo vệ người lao động      Tình hình dịch bệnh khiến nhiều thành phần kinh tế đều mỏi mệt, trong đó lực lượng công nhân mất việc lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhất do không có tích lũy, đặc biệt là các nhóm lao động di cư phải đi thuê nhà thường không có đầy đủ giấy tờ tạm trú, hộ khẩu và có xu hướng trở về quê lánh nạn. Vì vậy, song song với chống dịch, chúng ta cần các gói cứu trợ mạnh hơn cho các nhóm lao động mất việc này, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt là đảm bảo ngưỡng sinh tồn cho người dân, giúp người dân ở yên tại chỗ, vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài là giữ được nguồn lực lao động cho các khu công nghiệp cũng như các khu đô thị hậu đại dịch. Hình thức hỗ trợ có thể linh hoạt bằng tiền mặt hoặc bằng các gói lương thực thực phẩm.     Để đạt được hiệu quả trong việc triển khai các cứu trợ cho người dân bị ảnh hưởng, chúng ta có thể học hỏi cách tiêm chủng của TP. HCM khi áp dụng một chương trình tiêm vaccine cho tất cả người dân, kể cả người nơi khác đến và sinh sống tại thành phố. Khi đưa ra các gói cứu trợ, không nên triển khai một cách cứng nhắc bắt buộc người thụ hưởng phải có hộ khẩu hoặc tạm trú, dẫn đến chậm triển khai chương trình và khiến người lao động bất an muốn rời thành phố. Như vậy rất có thể các đô thị sẽ thiếu trầm trọng nguồn lao động ở giai đoạn phục hồi.      Trong đại dịch, với sự linh hoạt vốn có, các tổ chức xã hội, thiện nguyện đã làm rất tốt vai trò hỗ trợ của mình một cách nhanh chóng, kịp thời tới từng hộ dân ở từng ngõ phố. Tôi cho rằng, các cơ quan quản lý nhà nước có thể tăng hiệu quả triển khai chính sách và sử dụng ngân sách bằng cách tận dụng ưu điểm ấy của họ để liên kết, phối hợp hỗ trợ cho người lao động.      Đợt bùng phát dịch bệnh ở TP. HCM và Đông Nam Bộ không chỉ liên quan đến các khu công nghiệp và người lao động hiện tại mà còn liên quan đến những gì sẽ diễn ra chính tại nơi này trong tương lai. Do đó, việc dám nghĩ và thử nghiệm các giải pháp khác nhau mới có thể giúp lưu thông sản xuất, đảm bảo huyết mạch nền kinh tế và cuộc sống của người dân. □     Bảo Như ghi     Author                Phùng Đức Tùng        
__label__tiasang Vượt đèn đỏ…      Tôi đã lẩn mẩn phỏng vấn những người đi nước ngoài mà tôi biết với một câu hỏi duy nhất trong vòng một năm nay: “Ông (bà)đã bao giờ thấy người nước ngoài vượt đèn đỏ chưa?”. Cho đến bây giờ tất cả những người được hỏi đều trả lời: “Chưa thấy bao giờ”    Nhưng ngay sau đó có những người ghé tai tôi hỏi: “Ông có hâm không mà hỏi thế?”. Tất nhiên là tôi không hâm. Tôi hỏi thế để khẳng định một nhận định mà tôi không có cơ sở nhưng bằng những gì hiểu biết tôi rất tin người nước ngoài không vượt đèn đỏ trừ những kẻ cướp nhà băng hay một loại tội phạm nào đó đang trên đường chạy trốn sự truy đuổi của cơ quan pháp luật. Tôi hỏi thế để cố gắng lý giải vì sao người Việt Nam lại thường xuyên vượt đèn đỏ.   Chúng ta thử đi một ngày qua các ngã ba, ngã tư của một trong những nơi “văn minh văn hóa nhất” của đất nước. Nơi có tỷ lệ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ cùng sinh viên và công chức cao nhất. Nơi ấy là Hà Nội. Nhưng chính ở nơi “văn minh, văn hóa nhất” ấy, số người vượt đèn đỏ lại nhiều hơn cả. Tôi thường xuyên nhìn thấy những thanh niên vụt qua đám đông đang dừng xe khi có đèn đỏ và phóng như bay qua ngã ba, ngã tư. Lúc đầu, tôi nghĩ chỉ có những thanh niên lêu lổng, ngang tàng, không chịu học hành gì mới vượt đèn đỏ như vậy. Nghĩa là chỉ những người ấy mới sống một cách không có ý thức trong cộng đồng của mình.   Nhưng không phải thế mà cả những công chức áo cổ cồn, giày da đen bóng. Nhưng chưa hết mà có cả những người tóc đã hoa dâm. Nhưng chưa hết mà cả những cô gái ăn mặc rất mốt đến những bà đầy phong cách của một bà chủ. Tất cả đều vượt đèn đỏ. Cũng lại lúc đầu tôi nghĩ họ chỉ vượt đèn đỏ buổi sáng vì vội đến trường, đến công sở cho đúng giờ, kịp đưa con tới lớp, kịp tàu kịp xe đi công tác. Nhưng không! Bảy giờ sáng họ vượt đèn đỏ. Mười giờ sáng họ vẫn vượt đèn đỏ. Giữa trưa họ vẫn vượt. Ba giờ chiều vẫn thế. Bảy giờ tối vẫn không có chiều hướng giảm. Nửa đêm vẫn cứ vượt đèn đỏ. Nghĩa là lúc nào có thể vượt đèn đỏ là họ vượt và không chỉ người trẻ mà người già cũng vượt.  Không chỉ đàn ông mà đàn bà cũng vượt. Vượt đèn đỏ đã trở thành một bệnh dịch của người Việt đồng hồ như người Việt Nam đâu. Thế mà sự phát triển của họ lại nhanh hơn chúng ta cả một thế kỷ. Chắc nhiều người còn nhớ cách đây dăm sáu năm gì đấy, có một cán bộ của chúng ta đi công tác nước ngoài, mà hình như là Singapore, đã vượt qua đường cao tốc và bị xe cán chết. Theo luật pháp của nước đó, thì người cán bộ Việt Nam kia phải đền bù thiệt hại cho nước họ vì tai nạn giao thông do người cán bộ Việt Nam kia gây lên.  Ở nước ngoài luôn luôn có những lối đi riêng an toàn cho người đi bộ khi qua đường đặc biệt là qua đường cao tốc. Ông cán bộ của chúng ta đã mang cái lối ăn sổi ở thì bước vào một xã hội luật pháp nghiêm minh và khoa học. Đương nhiên lối sống như thế trong thời đại văn minh sẽ bị bật ra và đôi khi còn bị nghiền nát. Tôi có đọc một bài báo viết về sự đi bộ của người Việt Nam trên đường phố. Họ đi tự do và không coi luật lệ là gì cả. Họ thủng thẳng bưng một bát phở từ bên này đường sang bên kia đường bất chấp mọi luật lệ giao thông. Có người còn quần đùi áo lót vừa đi qua đường vừa xỉa răng vô tư giống hình ảnh lão Nghị Quế ngày xưa xúc miệng ằng ặc rồi nhổ toẹt ra nền nhà. Chẳng lẽ từng ấy năm ý thức về một lối sống văn minh của người Việt mình không nhích thêm được một chút nào ư? Một câu hỏi được đặt ra mà tôi tin tất cả đều phải đồng ý với tôi là vì sao chúng ta lại sống luộm thuộm và vô kỷ luật đến như thế.  Hãy nhìn các quán ăn lê lết vỉa hè. Hãy nhìn các quán bia hơi ngập tràn xương xẩu, cuống rau, giấy ăn, mẩu thuốc phủ quanh những đôi giày da đắt tiền. Hãy nhìn chợ búa bẩn thỉu với thịt cá và ruồi xanh bày ra mọi nơi bên lề đường có thể. Hãy nhìn những người vô tư đến kinh hãi dựng xe bên hồ Thiền Quang hay một công viên hay một hè phố nào đó và bước đến một gốc cây để ung dung “tè”. Hãy nhìn các cô các cậu thanh thiếu niên da thịt béo tốt, quần áo sang trọng ăn kem và thoải mái vứt bọc giấy và que kem ra hè phố. Có người ngồi trong những chiếc xe đẹp mở cửa vứt ra ngoài vỏ bánh kẹo hoặc vỏ trái cây. Có người còn ném cả cái túi ni-lon đựng những thứ mà họ vừa nôn trong xe ra ngoài. Có người ngồi trên xe máy thoải mái khạc vung ra khi xe đang chạy làm nước bọt bay tứ tung vào mặt người đi sau. Tôi nói vậy sẽ có người bực bội kêu lên “khổ lắm biết rồi nói mãi”.  Vâng đúng thế. Chúng ta nói mãi rồi nhưng chẳng thay đổi là bao. Vậy thì chúng ta phải nói nữa, nói mãi, nói đến khi không còn khả năng nói nữa thì mới thôi. Chúng ta phải bắt đầu lại từ việc đi như thế nào cho đúng. Một đội quân mạnh và thiện chiến lúc nào cũng bắt đầu bằng bài tập đi cho đúng đội ngũ. Nếu chúng ta cứ sống một cách “tự do chủ nghĩa” như đang sống thì làm sao chúng ta xây dựng được một xã hội văn minh. Một xã hội văn minh đâu cứ thật nhiều xe máy và xe hơi đắt tiền.   Xã hội văn minh đã xuất hiện trên thế giới từ khi chưa có Boeing và Computer cơ mà.Đời sống vật chất của chúng ta được cải thiện rất nhiều. Nhưng chúng ta đang sống với lối sống của những anh trọc phú. Chẳng lẽ những con mối và những con ong có kỷ luật còn chúng ta mang danh con người lại không? Có thể có những người khi đọc xong bài này thì bĩu môi: “Nói gì không nói lại đi nói toàn chuyện vặt vãnh”. Xin thưa các quí bà và các quí ông của tôi, những chuyện vặt vãnh đó đang làm cho các thành phố của chúng ta lộn xộn trong giao thông (và gây ra chết người không ít), bẩn thỉu trong môi trường và vô nguyên tắc trong lối sống. Nhưng tệ hại vô cùng là nó sinh ra một xã hội ít tính luật pháp. Nó cản trở chúng ta xây dựng một cuộc sống hiện đại và văn minh. Nếu bây giờ, chúng ta thử đặt cuộc sống hiện đại văn minh thuần túy với nghĩa đích thực của nó như của Singapore hay Nhật Bản vào xã hội ta thì có nguy cơ chúng ta sẽ chối từ chính cái mục đích mà chúng ta đang phấn đấu. Vì như thế, chúng ta đâu được thoải mải vượt qua ngã ba, ngã tư đang có đèn đỏ.  Chúng ta không được thoải mái vừa xỉa răng vừa khệnh khạng qua đường không thèm để ý đến ai. Chúng ta đâu còn vừa được ăn vừa được ném rác ra đường vv… Tất cả những hành động trên chính là thói ích kỷ và lối sống thiếu ý thức của chúng ta. Chúng ta nên xem lại lòng yêu nước của mình. Đọc xong bài báo này ở công sở hay trong quán cà phê, các quí bà quí ông sẽ lên xe về nhà. Tôi tin 100% là: các quí bà, quí ông sẽ thấy những gì “vặt vãnh” tôi vừa nói ở trên đang diễn ra ở quanh mình. Chắc chắn lúc đó, các quí ông, quí bà sẽ kêu lên đầy bực bội: Này, sao họ lại đi đứng như thế nhỉ!.  Nếu chúng ta nhìn từ trên cao xuống toàn bộ thành phố, chúng ta sẽ thấy một sự náo loạn trên các tuyến giao thông. Chúng ta thường xuyên bị tắc đường. Tất nhiên đường chúng ta quá hẹp mà lưu lượng người và xe cộ đi lại quá đông. Nhưng một phần chẳng kém quan trọng tí nào là ý thức của người dân. Một người thấy đèn đỏ cứ thản nhiên vượt lên. Thế là gặp người ở chiều đường đang đèn xanh. Không ai chịu nhường ai. Thế là ùn tắc. Đã ùn tắc rồi nhưng ai cũng tìm cách chen lên phía trước. Tất cả không ai bảo ai cứ thấy kẽ hở là nhích lên. Được tí nàohay tí ấy. Được tí nào là thỏa mãn tí ấy.  Cái thói ích kỷ này hiển hiện ở mọi nơi.Trong việc xây dựng tôi thấy rất rõ. Mặt tiền nhà mình 3m nhưng cứ muốn nhích sang đất nhà khác chưa xây dù chỉ 3cm  đến 5cm. Nhà hàng xóm xây nền nhà cao 60cm thì mình phải xây 65cm. Phải cao hơn nó chứ! Tầng nhà hàng xóm 3,1m thì nhà mình phải 3,2m. Sao mình lại thấp hơn nó? Trên đường đi sao mình lại chậm hơn nó? Thế là vượt nhau không có một trật tự nào cả. Mặt mày đỏ phừng phừng. Chen vai hích cánh. Cãi cọ, chửi bới nhau. Rất nhiều khi chỉ vì một cái xe đạp “ngang tàng” vô lối mà tắc đường đến cả tiếng đồng hồ.  Rất lạ là, khi họ thủng thẳng đạp xe đạp vượt đèn đỏ thì chẳng thấy gương mặt nào tỏ một chút ngượng ngùng hay lấm lét nhìn xem có công an không. Họ cứ đi như đang đi trong sân nhà họ vậy. Họ cứ nghĩ: ông đi xe đạp thì ông cần cái quái gì. Ông cứ đi như thế đấy làm gì được ông. Lúc này tôi hiểu thêm một lý do vì sao mà cái anh Chí Phèo của ông Nam Cao lại sống lâu như thế trong đời sống xã hội Việt Nam.  Nhiều đoạn đường hình như không có lý do gìđể ùn tắc mà vẫn bị ùn tắc làm tôi cứ phải hỏi mãi: Vì sao lại có thể ùn tắc được nhỉ? Xin thưa ngài: chỉ vì người này muốn nhanh hơn người kia có vài ba giây đồng hồ mà thôi. Có khi chỉ vì hai cái xe khẽ chạm nhau một tí thôi thế là dựng ngay xe giữa đường, rồi cúi rạp xuống nhìn xem cái xe có bị xước một tí gì không, rồi sừng sừng sộ sộ, hận thù dâng cao. Thế là người này dừng lại ngó một tí, người kia ngó một tí. Vui quá nhỉ. Đánh nhau thử xem nào. Cứ thế và cứ thế, chỉ trong vài phút ngã ba hay ngã tư ấy đã đông ngẹt người và không tài nào có thể giải tỏa được.   Những lúc như thế, công an có ba đầu sáu tay cũng chịu.Cho đến bây giờ tôi vẫn thường tự hỏi: Tại sao người ta luôn luôn muốn nhanh hơn người khác chỉ một vài giây hay một gang tay đường. Mặc dù có nhanh hơn cả tiếng đồng hồ thì rất nhiều người có dùng một tiếng đồng hồ nhanh hơn ấy để làm việc đâu. Tranh giành để nhanh hơn nhau vài ba giây để rồi ngồi quán hai ba tiếng tán gẫu những chuyện không đâu.  Thực ra, nếu người này nhường người kia một gang tay đường hay một vài giây đồng hồ thì đám đông đặc quánh mùi khói xe và mồ hôi người sẽ nhanh chóng được giải tỏa. Bạn tôi nói rằng ông đã nhìn thấy ở một ngã tư phố nhỏ ở Singapore khi đèn đỏ chỉ đúng có khi đèn đỏ chỉ đúng có một người đi bộ.      Nguyễn Quang Thiều    Nguồn tin: Tia Sáng         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vượt dòng Tô Lịch      Bao giờ phục hồi được dòng sông này nhỉ, cho nó ra sông, sạch sẽ, đẹp đẽ, thơ mộng, chảy từ chợ Gạo cho đến tận sông Nhuệ.     Sự tích tên Tô Lịch thì bảy hư ba thật, nghe  nói được gắn cho ông… Tô Lịch. Làng xóm xưa của ông nằm bên dòng sông  nhỏ thuộc vùng đất Hà Nội ngày nay. Ông là người được ngưỡng mộ về đức  hạnh và cứu tế. Làng ấy sau này được lấy tên là làng Tô Lịch, rồi con  sông nhỏ cũng được mang tên là sông Tô Lịch, còn bản thân ông Tô Lịch  thì được phong thần.  Sông Tô Lịch là nhánh của sông Hồng. Theo vị trí của Hà Nội bây giờ thì sông Hồng chảy vào Tô Lịch qua chỗ phố chợ Gạo, rồi Cầu Gỗ, vòng lên mạn Hàng Lược, men phố Phan Đình Phùng, Thụy Khuê, Đội Cấn, lên Bưởi, gặp “sông Tô Lịch hôm nay”, tiếp về Cầu Giấy, quanh co với đường Láng và đường Kim Giang, rồi nối với sông Kim Ngưu về phía nam, kết thúc đổ vào sông Nhuệ. May quá đi thôi, các tên gọi nằm trên mạch của dòng sông Tô Lịch đều chưa bị hiện đại hóa quá đi!  Nhị Hà quanh Bắc sang Đông  Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này  Những chi tiết này của huyền sử, bạn đọc, cũng như chính tôi, có thể tham khảo trên Wikipedia. Huyền sử thì không thể chính xác cả trăm phần được…  —-  Nói chuyện “Tô Lịch”, để chúng ta lưu ý, rằng “Hà Nội” không phải là thành phố “trong sông Hồng”! Có mà chết lụt! Mà là thành phố “trong sông Tô Lịch”. Một hệ thống sông ngòi ao hồ chằng chịt tuyệt đẹp khi xưa trên đất Hà thành. Ngoài ra thì cũng có thể hiểu là Hà Nội nằm trong phạm vi mà các phía đông và bắc được vây bọc bởi sông Hồng, tây và nam được vây bọc bởi Tô Lịch (Kim Ngưu có thể coi là sự tiếp tục của Tô Lịch). Tuy nhiên chạy ở giữa Đại La-Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội thì vẫn là Tô Lịch!  Thành Đại La được dựng lên bên sông Tô Lịch, các sinh hoạt chợ búa, phố xá hình thành nên dần ở bên dòng sông này. Toàn bộ Hà Nội xưa nằm hoàn toàn bên bờ phải của dòng chảy sông Hồng, con sông vĩ đại được xem là phòng tuyến thiên nhiên cho thành phố. Nhưng hồn của thành phố, lại là sông Tô Lịch.  Sông Tô Lịch chảy ngược hướng với sông Hồng, từ đông sang tây, rồi vòng về nam… Thế mới kì tài.  Xưa các quan cai trị người Hoa một thời rất kinh sông Tô Lịch, “nước sông Tô Lịch chảy ngược, người An Nam chúa làm phản”. Nói sợ sông Tô Lịch, đấy là cách nói thông minh cho đỡ ngượng.  Trong các xứ từng là thuộc quốc của Trung Hoa, chỉ có xứ Việt và xứ Cao Ly, tiếng Hoa bồi là “An Nam” và “An Đông”, là lại ra ở riêng được. Không biết ở xứ Cao Ly có con sông nào “chảy ngược” được không đây?  Dòng sông Tô Lịch hôm nay… (thôi để khi khác đi)…  Dẫu có thế nào, thì có lẽ “dòng sông Tô Lịch” chắc hẳn vẫn đang chảy ngược trong huyết quản người Việt, mạnh mẽ, sâu lắng, bằng không thì nước Việt sao còn?  Bao giờ phục hồi được dòng sông này nhỉ, cho nó ra sông, sạch sẽ, đẹp đẽ, thơ mộng, chảy từ chợ Gạo cho đến tận sông Nhuệ. Làm được không? Làm được! Những đoạn phố phường đã căng kín, sẽ làm cầu máng cho sông chảy ở trên, nhà cửa  ngủ ở bên, xe pháo chạy ở dưới, tha hồ. Cầu máng mà thuyền vẫn bơi được như thường. Ai qua thành phố Toulouse của Pháp sẽ thấy con kênh sông Midi đầy tàu bè nổi tiếng thế giới với những đoạn kênh sông chạy vắt qua đường xa lộ trên… cây cầu giành riêng cho nó!  Những đoạn sông rộng rãi của Tô Lịch, thuyền thuyền sẽ giương buồm đón gió mát mẻ lòng người. Từ tốn hơn, bạn sẽ hưởng một vòng thuyền nhỏ vòng quanh Hà Nội trên… sông Tô Lịch.  Những bãi sông mở rộng của Tô Lịch, sẽ được ắp đầy cát vàng óng nắng. Hàng loạt các sân chơi, bãi tắm, bờ câu… thơ mộng sẽ hiện lên thấp thoáng đó đây.  Sẽ có cả ngày hội bơi cho toàn dân, ngày hội “Vượt dòng Tô Lịch”. Bạn chuẩn bị đăng kí trước cả năm nhé, kẻo mà hết chỗ đấy.  Muốn làm được thế.  Phải làm được thế.  Và làm được thế.  Hồn văn minh nước Việt khắc khoải mãi, để đến lúc ấy chợt bừng sáng trở lại! Yêu lịch sử của mình, thì phải làm sống lại nó.  —-  Lúc ấy, chỉ còn phải lo mỗi một công việc khác nữa thôi.  Lo trau dồi cái nếp khiêm học, lòng cởi mở, để dưỡng hòa được cái đức Tô Lịch chảy ngược trong huyết quản của mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vượt lên chính mình      Trong phát biểu nhậm chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định “thách thức lớn nhất đối với chính phủ và hệ thống nhà nước là phải vượt lên chính mình”.         Điều người đứng đầu Chính phủ mới khẳng định thật sự là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để Thủ tướng và các thành viên Chính phủ bắt kịp dòng chảy mãnh liệt và liên tục, đầy những bất ngờ khó tiên đoán trước của thời cuộc hiện nay, để hoàn thành được trách nhiệm nặng nề và kỳ vọng mà nhân dân giao phó.   Cách đây hơn hai nghìn năm, Khổng tử đã có lời răn chí lý: “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã”: biết nói là biết, không biết nói không biết, chính là biết! Biết mình phải học cái mình chưa biết là cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với một người gánh trên vai mình gánh nặng với dân, với nước. Song, còn quan trọng hơn nữa, là biết dùng người, khó hơn nữa là biết dùng người giỏi hơn mình, nói theo ngôn ngữ hiện đại là biết sử dụng chuyên gia.  Lê Lợi biết dùng Nguyễn Trãi, dẹp giặc Minh, dựng lại nước, mở ra một giai đoạn phát triển của đất nước. Nguyễn Hoàng tiếp nhận một cách sáng tạo tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, phá vỡ  được cái thế kẹt địa-chính trị, mở đường xuôi về phương Nam, tạo dựng nên hình hài của tổ quốc ta hôm nay, mở tầm mắt vượt qua biển lớn, kết nối với thế giới. Trí tuệ và bản lĩnh của nguời lãnh đạo chắc sẽ nhân đôi nhờ biết dùng người, biết tiếp nhận những tinh hoa của dân tộc qua những hiền tài. Tuy nhiên, quy tụ và phát huy trí tuệ của hiền tài không dễ. Chẳng thế, mà Lê Thái Tổ đã bộc bạch trong chiếu cầu hiền: “Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề, sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đứng bờ vực thẳm, chỉ vì chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị nước”.   Cái tâm thế “sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đứng bờ vực thẳm” khi phải “gánh vác trách nhiệm nặng nề” là tâm thế của một nhân cách chính trị hiểu rõ sứ mệnh của mình và biết mình phải làm gì. Từ đó mới có sự chân thành và khắc khoải có sức thuyết phục, giục giã hiền tài: “Nhân tài ở đời cố nhiên là không ít, nên đường lối tìm người tài không chỉ có một phương. Nếu có ai ôm ấp tài lược kinh bang tế thế, nhưng phải chịu khuất ở hàng quan thấp, không có người tiến cử cho, cùng là những hào kiệt bị vùi dập ở bụi bờ, hay lẫn lộn trong quân ngũ, nếu không tự đề đạt thì trẫm làm sao biết được?…Khi chiếu này ban ra, các quan hãy đem hết lòng thành, lo việc tiến cử. Còn như kẻ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ cho thế là phải đem ngọc bán rao mà hổ thẹn, để trẫm phải thở than vì thiếu nhân tài”. Dự liệu đến sự gạt bỏ sự sĩ diện phải “đem ngọc bán rao” là đã chạm được đến chỗ sâu kín trong tâm lý tự trọng của “kẻ sĩ”. Chẳng thế mà Lưu Bị phải ba lần đội tuyết, đội gió đến lều cỏ của Khổng Minh.   Xưa nay kẻ sĩ có thực tài và biết tự trọng thường chọn cách ứng xử “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” (được dùng thì ra làm việc, không được dùng thì lui về) thể hiện một quan niệm sống, một thái độ sống thanh thản. Ngày nay, sức nam châm có lực hút hiền tài, trí thức là độ rộng mở của dân chủ và công khai trong việc tao ra môi trường để cho những tài năng thật sự có thể phát huy trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong dòng chảy miệt mài với những đột biến không tính trước được, kiểu tư duy tuyến tính, những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống trong rất nhiều tình huống đã không còn đủ cho hành trình của dân tộc trên con đường phát triển và hội nhập. Hành trình ấy đòi hỏi người gánh vác trọng trách với đất nước luôn phải tự nhìn lại mình, thấy ra được sự hạn hẹp của nhận thức đã có, nhặt bỏ những thô thiển, những sai lầm, những ngộ nhận nhằm không ngừng bổ sung tri thức mới để có được tầm nhìn mới sát với sự vận động của cuộc sống.  Một Chính phủ sẽ trở nên mạnh nếu từ người đứng đầu cho đến mỗi thành viên biết cách khơi gợi và tập hợp quanh mình những hiền tài, biết cách khai thác, sử dụng và phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của những chuyên gia giỏi. Vả chăng, người hiền không thiếu. Chỉ riêng đất Dĩnh, nơi Khổng Minh ở ẩn, Lưu Bị đã gặp đến bốn danh sĩ. Trong đó, người đời sau cho rằng Tư Mã Huy đáng mặt là “cao danh ẩn sĩ “ hơn cả,  quá thấu hiểu chữ “thời” nên không chịu dấn thân. Chia tay Lưu Bị, con người ấy đã ngẩng mặt lên trời mà cười to rằng: “Ngọa Long tuy gặp chủ, nhưng không gặp thời, tiếc lắm thay!”.   Tư Mã Huy mà sống trong thời đại của chúng ta hôm nay chắc cũng không phải ngửa mặt lên trời mà tiếc cho hiền tài vướng lụy bởi chữ thời. Bởi vì, trong một “thế giới đã trở nên phẳng” các hệ thống thứ bậc đang bị thách thức từ bên dưới, hệ thống cấu trúc theo chiều dọc phải tự biến đổi thành cấu trúc theo chiều ngang và có tính cộng tác hơn. Cấu trúc ấy rất gần với luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”, chữ thời, nếu có, cũng biến đổi theo vòng xoáy trôn ốc lên tầm cao mới của triết lý “quan nhất thời, dân vạn đại”. Và có lẽ, vị cao danh ẩn sĩ ấy chắc sẽ nhắc đến chữ khiêm của Lão Tử: Người biết khiêm là biết tự cao lớn mà không tranh đoạt với ai.   “Đạo đức kinh” có đoạn: “Đạo trời không tranh mà khéo thắng” (thiên 73), “Không tranh với ai nên không ai tranh với mình” (thiên 66), “Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, biết ở chỗ mọi người ghét [chỗ thấp] cho nên gần gũi với đạo” (thiên 8). Khiêm thì không muốn ở trên người, cũng không muốn ở trước người [bất cảm thiên hạ tiên]. Song nhờ tự đặt mình ở sau người mà thân lại ở trước[hậu kỳ thân nhi thân tiên] (thiên 7). Muốn cầu hiền, muốn quy tụ và phát huy hiền tài thì phải biết chữ khiêm.   Đó là bí quyết đem lại sức mạnh bất tận từ sự bổ sung trí tuệ và kinh nghiệm cho người cầm quyền. Và đương nhiên là người cầm quyền hiểu đầy đủ về trọng trách của mình phải biết vượt lên chính mình.        Tương Lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang WHO kêu gọi giảm mạnh tiêu thụ đường      Mỗi người mỗi năm tiêu thụ tới 35 kg đường  từ những đồ ngọt hấp dẫn như sô-cô-la, kem hay nước ngọt… Trong một dự  thảo chỉ thị mới, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) một lần nữa kêu gọi mỗi người không nên tiêu thụ đường quá 5% nhu cầu về calorie hàng  ngày – như vậy chỉ còn một nửa so với hướng dẫn trước đây cũng của WHO.     Khuyến nghị mới này dựa trên việc đánh giá 9.000 nghiên cứu. Điều đáng chú ý là không chỉ các loại bánh kẹo, đồ ngọt hay nước ngọt mà còn cần phải chú ý đến các loại đồ ngọt “tự nhiên” như nước trái cây hay mật ong.     Tiểu đường và béo phì ngày càng phổ biến   “Năm phần trăm là một mức hợp lý”, theo bình luận của chuyên gia dinh dưỡng Walter Willett, làm việc tại Trường Y tế công cộng Harvard. Chúng tôi có những bằng chứng đáng tin cậy về nguy cơ tăng đối với bệnh đái đường khi mỗi ngày tiêu thụ 25 gr đường. Nếu ăn đường nhiều hơn thì có nguy cơ bị béo phì.”  Trên 370 triệu người trên thế giới bị bệnh tiểu đường, xu hướng tiếp tục tăng mạnh. Những nước công nghiệp, như Đức, có nguy cơ tăng đặc biệt cao. Hiện ở Đức có khoảng 6 triệu người bị tiểu đường, tức 9% dân số ở tuổi trưởng thành. Số người bị béo phì cũng tiếp tục tăng. Trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ người bị liệt vào dạng quá béo, khoảng 500 triệu thuộc diện béo phì.   Trong cuộc chiến chống tiểu đường thì việc hạn chế ăn đường được coi là một bước đi quan trọng. Theo bà Marion Nestle, một chuyên gia nghiên cứu về dinh dưỡng thuộc ĐH New York: “Có nhiều bằng chứng cho thấy con người sẽ sống khoẻ mạnh hơn nếu giảm ăn đường.”  Một cốc Cola đã là quá nhiều  Duy trì được mức 5% trong một ngày là việc khó. Chỉ một cốc Cola (một phần tư lít) hay nửa phong sô-cô-la đã vượt mức 25 gr đường trong một ngày cho người lớn theo như hướng dẫn của WHO. Để so sánh: mức tiêu thụ đường bình quân hiện nay ở Đức mỗi người mỗi ngày là 96 gr. Có nghĩa là muốn thực hiện được khuyến nghị của WHO, người Đức phải giảm hai phần ba mức tiêu thụ đường hiện nay.  Chỉ riêng người tiêu dùng không thôi thì khó thực hiện được chỉ tiêu mới về sử dụng đường, quan trọng hơn, các doanh nghiệp bánh mứt kẹo cần giảm mức sử dụng đường trong sản phẩm của họ.   Đường được coi là một chất bổ sung giá rẻ, nó giúp cho thực phẩm như các loại nước sốt hay thức ăn đã chế biến bảo quản được lâu hơn. Vả lại người tiêu dùng thích những món ăn có vị ngọt.  Các nhà nghiên cứu lo ngại sẽ có phản ứng ngược mạnh mẽ như hồi năm 2003, khi WHO kêu gọi chỉ ăn đường ở mức 10% nhu cầu calorie mỗi ngày. Hồi đó giới vận động hành lang của ngành công nghiệp thực phẩm Mỹ thậm chí còn doạ sẽ giảm sự hỗ trợ tài chính cho WHO. Tuy nhiên ý đồ này không thực hiện được.  Mới đây đã xuất hiện những lời chỉ trích: giới kinh doanh đường của Mỹ đã viện cớ Viện Y học và Cơ quan an toàn thực phẩm của châu Âu trong quá khứ chưa đưa ra được những bằng chứng chắc chắn làm cơ sở cho số liệu làm rõ mối quan hệ giữa lượng đường tiêu thụ và những căn bệnh như béo phì, tiểu đường… Ngành công nghiệp bánh mứt kẹo của Đức cũng từ chối những giới hạn do WHO đề xuất với lý do tương tự.   Sẽ được thông qua trong mùa hè này  WHO tỏ ra bình thản trước những làn gió ngược, trong khi tiếp tục thu thập ý kiến của các nhà chuyên môn đến hết ngày 31 tháng 3, sau đó sẽ quyết định liệu bản dự thảo có phải sửa đổi hay không và liều lượng tiêu thụ đường cụ thể là bao nhiêu.  Tiêu thụ quá nhiều đường, ít vận động và chế độ dinh dưỡng sai lệch từ lâu không được coi là những nguyên nhân duy nhất dẫn đến bệnh béo phì và tiểu đường. Theo một công trình nghiên cứu của Tổ chức Môi trường Anh quốc ChemTrust  tiến hành năm 2012, những chất làm mềm (softener) và một số hoá chất khác cũng có vai trò trong việc hình thành những căn bệnh đó. Những hoá chất có mặt trong vật dụng hàng ngày như đồ chơi bằng nhựa, thiết bị điện tử, tấm trải nền nhà PVC và đồ hộp có thể thâm nhập vào cơ thể qua hít thở, qua da hay qua các loại thực phẩm, chủ yếu bị nghi ngờ có liên quan đến hiện tượng rối loạn chức năng tình dục.  Nguyễn Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội công dân – Một trong những tiền đề  để xây dựng xã hội cộng sản      Trong thời đại phong kiến, con người không định hình như là một cá nhân, mà tồn tại như là một bộ phận của những thiết chế như gia đình, giai cấp, Nhà nước… Sang xã hội hiện đại, mỗi người được giải phóng khỏi các ràng buộc ấy, ra đời con người cá nhân, đi theo những khát vọng của chính mình bằng tư duy của riêng mình1. Những con người cá nhân có cùng chung những giá trị, tư duy, mục đích… kết lại với nhau thành những Nhóm xã hội. Xã hội như vậy được gọi là xã hội công dân. Và trong tư tưởng của Marx và Engels, xã hội công dân (“Civil Society”, gần đây thường được dịch là “Xã hội dân sự”) là một trong những tiền đề để xây dựng xã hội cộng sản.                        Triết học Marx về xã hội công dân  Theo Marx và Engels, sự hình thành con người công dân và xã hội công dân, là một bước đi vĩ đại trong quá trình con người tự giải phóng, bởi lẽ, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản)2. Và cũng vì thế, sự hình thành con người công dân, giúp chấm dứt tình trạng thụ động bầy đàn của xã hội, là cơ sở xã hội của văn hóa dân chủ, một tiền đề về mặt văn hóa (phân biệt với tiền đề kinh tế, chính trị…) của công cuộc giải phóng toàn bộ xã hội.  Không có một xã hội công dân, với những Nhóm dân sự tồn tại trên nền tảng những con người mang tinh thần công dân, “nơi đó sẽ là nơi mà đời sống thực tiễn không có nội dung tinh thần, cũng như đời sống tinh thần không có sự liên hệ với thực tiễn”, và xã hội không có động lực để tiến bộ, như Marx đã phê phán xã hội Đức nửa đầu thế kỷ XIX3.  Ngược lại, đối với những nước đã đạt đến mức tiến bộ của xã hội công dân, Engels, trong “Thư gửi Marx” ngày 23/8/1852, gọi là “những quốc gia công dân hóa” (civilized countries)4. Đó là hi vọng đầu tiên của chủ nghĩa xã hội tương lai, một xã hội công dân hoàn thiện, một môi trường xã hội chủ nghĩa cho xã hội công dân.  “Những quốc gia công dân hóa” là những quốc gia mà ở đó Nhà nước, thông qua từng Nhóm công dân trong xã hội của mình, dần dần tiến đến thiết lập một mối quan hệ hài hòa với xã hội, một bước tiến để đi đến giai đoạn Nhà nước sẽ hòa tan trong xã hội công dân, như hai ông dự đoán trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”:  “Thay cho xã hội công dân cũ, với những tầng lớp và sự mâu thuẫn giữa các tầng lớp, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”5  Mặt khác, xã hội mà hai ông tiên đoán là “xã hội công dân” sẽ đi tới, xã hội “Communism”, thường được dịch là xã hội “Cộng sản chủ nghĩa”, với cái nghĩa chỉ một xã hội mà Nhà nước kiểm soát từ A đến Z, trong nội hàm mà hai ông dùng, mang một ý nghĩa ngược lại. “Communism” xuất phát từ “Community”, nghĩa là “cộng đồng”. Một xã hội có tính “Communism” là một xã hội có tính “Cộng đồng chủ nghĩa”, được cấu tạo như một “Association” (nhóm, đoàn thể, hội…) hoạt động theo nguyên tắc “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”, như hai ông nói trong “Tuyên ngôn” bất hủ.  Xuất phát điểm của hành trình đi đến “xã hội cộng sản”, theo tư tưởng của Marx và Engels, như vậy không phải là cái gì khác ngoài “xã hội công dân”. Không có xã hội công dân thì không thể xây dựng được một xã hội có tính “Communism” (“Cộng sản chủ nghĩa” hay “Cộng đồng chủ nghĩa”).  Thời đại của xã hội công dân là thời đại mà Nhà nước và các Nhóm xã hội cùng tồn tại, nhưng Nhà nước sẽ, tùy theo nhịp trưởng thành của xã hội đó, từng bước trao dần sức mạnh cho các Nhóm xã hội công dân.    Khi sự trưởng thành nói trên “chuyển hóa về lượng” đến một “độ” nào đó, sẽ có chuyển hóa về chất, tạo một “bước nhảy”: Nhà nước sẽ không còn chức năng của nó nữa, sẽ rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Và, ra đời một xã hội có tính “Cummunism” (“Cộng đồng chủ nghĩa”, hay “Cộng sản chủ nghĩa”), được cấu thành như một “Association”, hoạt động theo nguyên tắc lý tưởng mà hai ông đã nói trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”.  Như vậy, nếu triệt tiêu các Nhóm xã hội là triệt tiêu sự sinh thành của xã hội công dân, hủy diệt mầm sống sơ khai của xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai.   Xã hội công dân trong thế giới hiện đại  Người Nhật từ thời Minh Trị, khi tiếp thu văn minh phương Tây, trong đó có chủ nghĩa Marx, đã dùng chữ Kanji để dịch từ “Cummunism” là “Cộng sản chủ nghĩa. Khái niệm này được các chí sĩ canh tân của Trung Quốc cận đại như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi du nhập để truyền về Trung Quốc, và từ Trung Quốc được truyền vào nước ta.  Người Nhật dịch như vậy, nhưng họ hiểu đúng với nội hàm của khái niệm.  Sau một trăm năm canh tân Minh Trị, xã hội Nhật Bản ngày nay là một “Civil Society”, một “Xã hội công dân”, được cấu trúc bởi vô số kể những Nhóm dân sự khác nhau. Những Nhóm ấy cùng nhau giải quyết những vấn đề của riêng mình và của xã hội. Không có những Nhóm xã hội ấy, Chính phủ không thể hoàn thành trách nhiệm của mình.    Nhờ vào xã hội công dân, với những con người tự lập, tự chủ, Nhà nước Nhật Bản có thể tự tìm cách giải quyết những vấn đề nóng bỏng trong xã hội một cách dễ dàng. Đó là môi trường để sinh thành những công dân tự lập, cơ sở cho một dân tộc tự cường. Cái thời mà Thiên hoàng, hay Nhà nước, được xem như Trời ban ơn mưa móc cho khắp chốn như Vua Nghiêu Vua Thuấn, chỉ còn trong kỷ niệm, dù họ mới xa lìa nó chưa lâu.  Câu chuyện Nhật Bản giải quyết giá cá khủng hoảng vì giá dầu tăng là một ví dụ:    Trong ngành đánh bắt hải sản, giá dầu ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh bắt cá. Trường hợp Nhật Bản, năm 2003, chi phí cho nhiên liệu chiếm 15% trong tổng chi phí đánh bắt, nhưng đến 2006, chiếm gần 25%. Từ tháng 1/2005 đến 1/2008, giá dầu tăng dần từ 30 USD/ thùng lên 100 USD/ thùng. Do giá dầu tăng quá sức chịu đựng, ngày 15/7/2008, “Hội Nghề cá toàn quốc” thống nhất đề nghị ngư dân nghỉ đánh bắt, đồng thời tổ chức đối thoại với Chính phủ và người tiêu dùng.  Nhờ có đối thoại, các chính trị gia ở Tokyo, đứng trên đỉnh chóp của xã hội, có thể hiểu được khó khăn của những ngư dân ở những miền biển xa lắc. Đảng Komeito, hiện là thành viên của liên minh Đảng cầm quyền ở Nhật, có một bình luận cho rằng, cùng với việc Chính phủ giải quyết ngay vấn đề áp lực của giá dầu, thì Nhóm lưu thông và người tiêu dùng cần phải suy nghĩ một lần nữa về giá cá. Nghĩa là, để hỗ trợ ngư dân, không chỉ Nhà nước mà cả xã hội phải cùng gánh vác, có lẽ, bằng cách chấp nhận một mức giá cá cao hơn trước một chút.  Về phía Nhà nước, thông qua đối thoại với Hội nghề cá, cũng như các Nhóm xã hội khác, Chính phủ Nhật đưa ra chính sách hỗ trợ giá xăng dầu cho những ngành kinh doanh bị ảnh hưởng, trong đó có ngành đánh bắt hải sản. Đồng thời, Hội nghề cá tự tái cấu trúc quá trình kinh doanh hải sản, từ khâu đánh bắt, khâu vận chuyển, đến khâu quan hệ với người tiêu dùng, để tiết kiệm, thích ứng và vượt qua khó khăn.  Một vấn đề không hề nhỏ của xã hội, của nền kinh tế, được Nhà nước Nhật giải quyết một cách vui vẻ và suôn sẻ, trong một thời gian ngắn. Điều đó chỉ có thể có trên cơ sở của “xã hội công dân”.  Đã qua từ lâu, cái thời của chủ nghĩa tư bản hoang dã, như Marx mô tả ở châu Âu buổi đầu lịch sử hiện đại, “máu và bùn nhỉ ra từ lỗ chân lông”, vì các Nhóm lợi ích hùng mạnh chỉ biết lao đi theo lợi ích của riêng mình, bất chấp phần còn lại của xã hội. Đó là nhờ vào sự tiến bộ của cách tổ chức “xã hội công dân”, tạo một không gian rộng mở cho tất cả cùng đối thoại để hiểu nhau và chia sẻ.     Về mặt cấu trúc, xã hội công dân được cấu thành bởi các Nhóm xã hội, về mặt văn hóa, hệ động lực để xã hội này vận hành là văn hóa dân chủ, tôn trọng nguyên tắc đối thoại trong tinh thần duy lý. Không có một xã hội công dân như vậy, những Nhóm xã hội dễ bị tổn thương, mỗi khi khó khăn, không có cơ hội đối thoại với Nhà nước hoặc các Nhóm xã hội liên quan để được chia sẻ. Họ đành tìm sự an ủi nơi thần thánh, và những lãnh tụ tôn giáo nào có tham vọng chính trị sẽ có một lực lượng gây bất ổn xã hội.  Một vấn đề tưởng chừng “đơn giản” là xử lý giá các sản phẩm nông nghiệp: lúa, cá để người nông dân không bị thiệt thòi mà Nhà nước ta cho đến nay dường như vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Điều đó cho thấy vai trò và tầm quan trọng thiết yếu của xã hội công dân trong việc xây dựng một Nhà nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  ————————  1 xem: K. Marx, On The Jewish Question, http://www.marxists.org/archive/marx/works/1844/jewish-question/  2 Marx và Engels, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/tuyen/phan_02.htm  3 Xem: Karl Marx , A Contribution to the Critique of Hegel’s Philosophy of Right, Introduction, 1843 http://www.marxists.org/archive/marx/ works/1843/critique-hpr/intro.htm).  4 Xem: Engels, Engels to Marx in London (“Thư gửi Marx”), ngày 23/9/1852. Nguồn: http://www.marxists.org/archive/marx/works/1852/letters/52_09_23.htm#translation  5  Xem: Marx và Engels, Manifesto of the Communist Party, Chapter II          Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội công dân ở Trung Quốc (Kỳ 1)      Mặc dù đã tiến sang xã hội công dân nhưng thuật ngữ xã hội công dân vẫn bị coi là rất nhạy  cảm ở Trung Quốc; quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả nước này còn  chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về xã hội công dân.    Trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội”, Đảng Cộng sản và Chính phủ “bao cấp” tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế-chính trị-văn hóa-tư tưởng v.v… Do thực thi cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung nên chính quyền bao biện làm cả hai chức năng chính trị và kinh tế (“chính phủ toàn năng”), quyền lực nhà nước bao trùm tất cả mọi lĩnh vực. Bộ máy của nhà nước vì thế rất cồng kềnh, hiệu suất thấp, phí tổn cao. Về nguyên tắc, toàn bộ cuộc đời mỗi người dân từ khi sinh ra cho tới khi chết đều được nhà nước “bao cấp” quản lý, kể cả suy nghĩ của họ. Dân chúng chỉ được hưởng những quyền tự do dân chủ hạn chế. Mỗi người đều bị buộc chặt vào “đơn vị công tác” cố định của mình (ở nông thôn là công xã nhân dân). Các đoàn thể quần chúng đều do Đảng lập ra và lãnh đạo, chỉ là nơi quản lý, giáo dục họ tuân theo sự lãnh đạo của Đảng; công dân không được phép tự do lập hội đoàn của mình. Trong nước chỉ tồn tại hai khu vực là nhà nước (gồm chính quyền, đảng, đoàn thể quần chúng do đảng lập ra và lãnh đạo) và cá nhân, hầu như không tồn tại lĩnh vực trung gian là xã hội, hoàn toàn không thể có xã hội công dân.     1. Quá trình hình thành và phát triển xã hội công dân tại Trung Quốc  Sau Hội nghị trung ương lần 3 khóa XI năm 1978, đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, tạo ra sự thay đổi long trời lở đất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Trung Quốc.   Công cuộc cải cách thể chế kinh tế theo định hướng thị trường đã nâng cao đáng kể sức sản xuất xã hội và đời sống nhân dân. Đây là nguồn gốc sâu xa nhất làm cho các tổ chức dân gian có dịp phát triển nhanh chóng. Kinh tế thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải trở thành pháp nhân độc lập có quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, vì thế chính quyền và doanh nghiệp phải tách khỏi nhau. Trong cơ chế đó, quyền tự chủ của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt, tạo khả năng để một số hội đoàn ngành nghề và đồng nghiệp trở nên tương đối độc lập với chính quyền. Mặt khác, kinh tế thị trường làm tăng độ rủi ro của doanh nghiệp, giới doanh nhân phải lập ra các hội đoàn có tính ngành nghề để tự bảo vệ lợi ích của mình. Nhằm tìm kiếm môi trường cạnh tranh công bằng với khối doanh nghiệp quốc doanh, các chủ doanh nghiệp tư nhân cần lập các tổ chức tự nguyện để giúp đỡ nhau (như các câu lạc bộ doanh nhân).   Kinh tế thị trường thừa nhận sở hữu tư nhân, do đó tạo ra tầng lớp hữu sản, trong đó có tầng lớp trung lưu, vừa có của vừa có trí thức, họ hăng hái lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình, đòi mở rộng tự do dân chủ và tham gia việc hoạch định chủ trương chính sách của nhà nước. Xét theo tiêu chuẩn trung lưu nêu trong báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới là thu nhập đầu người hàng năm đạt 4.000~17.000 USD (GDP đầu người Trung Quốc năm 2010 là 4277 USD), năm 2008 tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc chiếm 22-23% tổng số dân hoặc 300 triệu người và tăng hàng năm 1%.   Cải cách mở cửa đã nâng cao đáng kể đời sống nhân dân cả nước, nhờ đó công dân có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao, du lịch,.., qua đó tự phát lập ra các tổ chức công dân, hội ngành nghề, câu lạc bộ v.v… Cũng do đời sống khá nên họ có điều kiện cung cấp tài chính cho các tổ chức đó hoạt động.   Đồng thời Trung Quốc đã thực hiện những thay đổi lớn về chính trị, chủ trương tách rời chính quyền với xã hội, xây dựng nhà nước pháp trị:   – Nhà nước ngày càng tôn trọng pháp chế, pháp trị, như cho dân chúng thực hiện quyền tự do lập hội và mít tinh biểu tình (đã ghi trong Hiến pháp nhưng trước đây không thi hành);   – Nhà nước dần dần tách khỏi xã hội, trước hết là xã hội kinh tế (tức khối doanh nghiệp);  – Trung ương phân chia bớt quyền lực cho địa phương; chính quyền nới lỏng quản lý công dân. Từ giữa thập niên 80 bắt đầu thực hiện nông thôn tự quản, nông dân trực tiếp bầu ra Ủy ban Thôn dân để giải quyết mọi công việc trong làng.   – Tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chức năng kinh tế, xã hội, tăng cường chức năng quản lý hành chính; chính quyền không còn quản lý sản xuất kinh doanh, các việc dân sự, văn hóa nghệ thuật, học thuật nữa, mà để các tổ chức dân gian (như các hội ngành nghề) tự quản lý.  Đã thực hiện thay đổi cách quản trị xã hội, như mở rộng dân chủ ở cơ sở, thực hiện công dân tự quản, chính trị trong suốt, xã hội giám sát chính quyền, công khai tài chính, tổ chức kiểm toán. Mở rộng dân chủ cơ sở là thành tích nổi bật nhất. Như đã mở rộng quyền trực tiếp bầu cử, ban hành Luật Bầu cử, quy định Hội đồng nhân dân (Quốc hội) từ cấp huyện trở xuống phải do cử tri trực tiếp bầu, không được đề cử ứng viên mà để dân tự chọn. Ban hành chế độ bầu cử trực tiếp Ủy ban Thôn dân tại mỗi làng xã, Ủy ban Dân phố tại mỗi khu phố ở thành thị, đều không được chỉ định sẵn ứng cử viên. Các Ủy ban này không phải là cơ quan chính quyền mà là tổ chức tự quản của dân. Việc thành lập Ủy ban Thôn dân và Ủy ban Dân phố, thực hiện công dân tự quản xã hội ở nông thôn và khu phố, là cải cách chính trị quan trọng nhất tại Trung Quốc kể từ thập niên 80, một bước tiến mạnh dạn tới thành lập XHCD ở nước này.   Tuy vậy nhiều cải cách dân chủ chỉ được thực hiện qua loa đại khái, hình thức; ban hành nhiều văn bản luật pháp nội dung tốt nhưng không chấp hành đúng. Chẳng hạn khi bầu cử vẫn chỉ bầu theo danh sách ứng cử viên đã chỉ định sẵn, hoặc không bầu trực tiếp mà chỉ để một số “đại biểu dân” bầu; nghĩa là bầu người đã được cấp trên lựa chọn; thực chất dân chưa được làm chủ.   Kinh tế thị trường đem lại sự phân hóa sâu sắc trong xã hội, đặc biệt là phân hóa giàu nghèo, làm tăng bất công xã hội và mâu thuẫn nội bộ. Xã hội chia làm các tầng lớp khác nhau về thu nhập, nguồn lực, địa vị, trình độ văn hóa. Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho biết hiện nay xã hội nước này hình thành 10 tầng lớp: cao nhất là tầng lớp cán bộ quản lý nhà nước và xã hội; thứ nhì là tầng lớp giám đốc doanh nghiệp quốc doanh; thứ ba là tầng lớp chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thứ 8, 9 là tầng lớp công nhân xí nghiệp, lao động nông nghiệp; thứ 10 là tầng lớp vô nghề nghiệp, thất nghiệp và nửa thất nghiệp. Ba tầng lớp trên cùng thuộc vào quần thể đặc quyền đặc lợi; ba tầng lớp dưới cùng thuộc quần thể yếu thế, đông người nhất, nghèo nhất và lợi ích của họ bị xâm phạm nhiều nhất. Các phần tử xấu trong mấy tầng lớp trên cùng thường móc nối với nhau chiếm đoạt lợi ích của các tầng lớp dưới cùng, vì thế đa số dân chúng ngày càng bất mãn, mâu thuẫn nội bộ nhân dân ngày càng gay gắt, xã hội có xu hướng mất ổn định.  Kinh tế thị trường đẻ ra lối sống chạy theo đồng tiền, tạo điều kiện phát triển nạn tham nhũng trong giới quan chức nhà nước và thói kinh doanh mù quáng trục lợi trong giới doanh nhân; họ thường dùng cách hối lộ để móc nối với các quan chức nhằm kiếm lợi nhuận tối đa, gây thiệt hại lợi ích của nhân dân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho đất đai – nguồn sống của nông dân, bị thu hẹp, thiệt hại trực tiếp tới lợi ích của họ, trong khi lại làm cho giới doanh nhân kinh doanh bất động sản giàu lên.  Tất cả những điều đó đã làm dân chúng thức tỉnh ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình. Họ đã đứng dậy chống lại giới quan chức tham nhũng và giới doanh nhân trục lợi. Số vụ biểu tình phản kháng tăng lên: năm 1994 có 10 nghìn vụ, năm 2003 – 60 nghìn; quy mô biểu tình lớn dần: năm 1994 có 1.400 vụ có từ 100 người trở lên tham gia, năm 2002 – hơn 7000. Công đoàn Trung Quốc cho biết: thời gian 1992-1997 hàng năm bình quân có 1,26 triệu công nhân tham gia các vụ tranh chấp với chủ lao động. Năm 1995 ở 30 đô thị có hơn 1 triệu người tham gia biểu tình phản đối bất công xã hội; năm 1998 có 3,6 triệu người.  Trong tiến trình cải cách mở cửa ngày càng có nhiều lực lượng xã hội tách ra khỏi sự kiểm soát của nhà nước, dẫn đến quá trình phân hóa cơ cấu xã hội Trung Quốc theo diễn biến như sau: trước tiên là phân hóa giữa nhà nước chính trị với xã hội kinh tế mà đột phá khẩu là sự tách rời chính quyền với khối doanh nghiệp. Thứ hai là từ thập niên 90 trở đi tầng lớp trung lưu dẫn đầu dân chúng lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình và góp phần tham gia quản lý xã hội, gọi chung là Tổ chức xã hội (TCXH), hình thành một khu vực tương đối độc lập, bắt đầu quá trình tách rời nhà nước chính trị với xã hội của công dân, chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội” bị xóa bỏ hoàn toàn.   Các cải cách về kinh tế và chính trị nói trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xu thế thành lập các TCXH phát triển rất mạnh. Đây là cơ sở hình thành XHCD ở Trung Quốc.  Năm 1989 số lượng các TCXH có tính toàn quốc tăng lên tới 1600 đơn vị, các TCXH có tính địa phương bằng hơn 200 nghìn. Năm 1997, có hơn 180 nghìn các TCXH cấp huyện trở lên. Đến năm 2010 cả nước đã có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và con số này đang tăng lên với tốc độ mỗi năm 8-10%.   Như vậy bình quân 400 người có một tổ chức của công dân (ở Mỹ là 300 người). Điều đó nói lên XHCD Trung Quốc hình thành và phát triển nhanh mạnh tới mức đáng ngạc nhiên.  Cơ cấu tổng thể xã hội Trung Quốc đã phân hóa thành 3 khu vực độc lập tương đối với nhau: – Khu vực nhà nước với đại diện là quan chức chính quyền, cơ sở là tổ chức chính quyền; – Khu vực thị trường với đại diện là các chủ doanh nghiệp, cơ sở là tổ chức doanh nghiệp; – Khu vực các tổ chức xã hội của công dân, tức khu vực xã hội công dân (còn gọi là khu vực thứ ba) với đại diện là công dân, cơ sở là mấy triệu tổ chức xã hội nói trên.   Mới đây tiến sĩ Du Khả Bình Phó Cục trưởng Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ (Central Compilation & Translation Bureau) nhận xét: việc nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc đang ngày một đi vào chiều sâu cho thấy không những XHCD đã trở thành một lực lượng lớn mạnh mà việc nghiên cứu XHCD cũng đã thành phong trào, thành sức mạnh. Điều đó nói lên chân lý: bất cứ sự vật nào hợp quy luật phát triển xã hội và yêu cầu tiến bộ xã hội thì sẽ không thể nào ngăn cản được.   Giới học giả Trung Quốc cho rằng từ đầu thế kỷ XXI nước này đã hình thành xã hội công dân – thành quả vĩ đại của tiến trình cải cách mở cửa.   Đầu năm 2009, một tờ báo CHLB Đức đăng bài Trung Quốc đã tiến sang xã hội công dân. Tác giả cho rằng đó là do: – Tăng trưởng kinh tế và cải cách mở cửa tại Trung Quốc đã dẫn đến các thay đổi lớn về mặt xã hội; – Tầng lớp trung lưu đã chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, họ tự hào vì có căn hộ, xe hơi, có đầu tư chứng khoán và có phong cách sống gần như dân đô thị Âu Mỹ; – Dân chúng đô thị Trung Quốc đã quan tâm tới các tầng lớp không có đặc quyền (như nông dân, dân công, người thất nghiệp), tới vấn đề môi trường và tham nhũng, họ bắt đầu bàn thảo về luật pháp, đòi có quyền phát ngôn, phản biện về các chính sách của nhà nước; dân chúng đã lập ra các tổ chức phi chính phủ và hội đoàn giúp lẫn nhau. – Mạng Internet và các công cụ thông tin hiện đại thúc đẩy dân chúng hăng hái bàn bạc mọi vấn đề, qua đó ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền.  XHCD Trung Quốc có các đặc trưng tổng quát là: – Tương đối độc lập với nhà nước và chính quyền; – Có chủ thể là các tổ chức dân lập phi chính phủ và phi lợi nhuận; – Là sản phẩm tất nhiên của kinh tế thị trường và yêu cầu tất nhiên của nền chính trị dân chủ; – Có quy luật vận hành khác với hệ thống chính quyền và hệ thống thị trường (hệ thống kinh tế); – Có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế thị trường và chính trị dân chủ.   Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và khoa học kỹ thuật, trong đó có công nghệ thông tin, công nghệ mạng Internet đã tăng tốc quá trình hình thành và phát triển XHCD. Trung Quốc năm 2011 có 513 triệu dân mạng (135 triệu ở nông thôn) và 850 triệu hộ dùng điện thoại di động, hơn 250 triệu người dùng microblog (weibo) để phát biểu quan điểm của mình, tố cáo tham nhũng, bất công và nạn chính quyền giấu thông tin, qua đó đóng góp rất quan trọng hình thành XHCD. Như trong vụ tai nạn đường sắt cao tốc ở Ôn Châu (23/7/2011), họ đã vạch ra cách xử lý sai lầm của ngành đường sắt, qua đó giúp chính phủ giải quyết vụ này một cách hợp tình hợp lý, tìm ra và khắc phục được nhiều sai sót trong quản lý nhà nước.   Công dân và các TCXH của họ đã góp phần quan trọng đấu tranh gìn giữ quyền lợi của mình, tham gia quản lý xã hội, giám sát cán bộ và cơ quan nhà nước.   Đặc biệt nông dân Trung Quốc đã tiến hành đấu tranh quyết liệt đòi quyền làm chủ xã hội, đòi giữ lại đất nông nghiệp. Họ đấu tranh với chính quyền địa phương theo nhiều cách, từ biểu tình ngồi ở trước trụ sở cơ quan chính quyền tới diễu hành trên đường phố hoặc kéo lên ngồi kín đường cao tốc, đường xe lửa. Tuy chính phủ đã có quy định cấm dùng vũ lực đàn áp dân biểu tình nhưng chính quyền một số nơi vẫn dùng cảnh sát để đối phó, gây xung đột bạo lực với người biểu tình.   Điển hình nhất là vụ 11000 nông dân xã Ô Khảm (Quảng Đông) đấu tranh chống bầu cử dân chủ giả hiệu, chống tham nhũng, chống bán đất của dân, bắt đầu từ vụ biểu tình ngày 21/9/2011 tố cáo chính quyền địa phương bán mảnh đất tập thể cuối cùng của xã. Đấu tranh diễn biến phức tạp, tới mức dân biểu tình đánh lại cảnh sát đàn áp, gây thương vong cả hai bên; tiếp đó dân làng đuổi hết cán bộ và cảnh sát; đối lại, chính quyền phong tỏa làng, cắt lương thực, điện nước và thông tin liên lạc. Ngày 20/12 chính quyền tỉnh Quảng Đông đã nhượng bộ, cử Tổ Công tác do Ủy viên Ban Kỷ luật Trung ương Đảng kiêm Phó Bí thư Tỉnh ủy dẫn đầu xuống xã gặp dân trao đổi ý kiến và tuyên bố: “Các khiếu nại chủ yếu của quần chúng là hợp lý”, “Một số hành vi quá khích của đa số quần chúng là có thể thông cảm và tha thứ được, Đảng và chính phủ không truy cứu trách nhiệm của họ” và cách chức cán bộ lãnh đạo chi bộ và Ủy ban Thôn dân (một tổ chức tự quản của nông dân Trung Quốc đã được Hiến pháp 1982 xác nhận và có Luật thực hiện từ năm 1988) hiện có, đồng ý để dân bầu lại Ủy ban Thôn dân theo cách toàn dân xã trực tiếp bỏ phiếu kín, không có đề cử ứng cử viên kiểu Đảng cử dân bầu như trước kia. Kết quả một người lãnh đạo cuộc biểu tình được bầu làm chủ nhiệm Ủy ban; từ đó cuộc đấu tranh chấm dứt. Cuộc bầu cử này đã chứng minh chỉ cải cách kinh tế thôi thì không thể giảm được mâu thuẫn xã hội mà dứt khoát còn phải cải cách chính trị, thực sự để dân làm chủ.  Ngày 19/2/2012, Trung tâm Nghiên cứu Xã hội công dân trường Đại học Bắc Kinh công bố kết quả bình chọn 10 sự kiện xã hội công dân lớn năm 2011 của Trung Quốc, trong đó vụ Ô Khảm được xếp hạng thứ nhất với số phiếu 100%.  Tiến trình xây dựng XHCD ở Trung Quốc khá phức tạp. Đó là do: – Lĩnh vực tư nhân và bảo đảm quyền tư nhân chưa phát triển, thiếu bảo đảm pháp lý; – Các TCXH vẫn chịu sự chỉ đạo của nhà nước; chính quyền vẫn còn nghi kị các tổ chức này; – Chưa hình thành môi trường xã hội cho các TCXH tham gia và bàn bạc công việc chung.    2. Thay đổi nhận thức về xã hội công dân   Tuy từ thập niên 80 các hình thái manh nha của XHCD đã hình thành và lớn mạnh dần nhưng thuật ngữ Xã hội công dân vẫn bị coi là rất nhạy cảm; quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả Trung Quốc còn chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về XHCD (tương tự tình hình ở Việt Nam hiện nay).   Vụ động đất lớn ở Tứ Xuyên (12/5/2008) đánh dấu sự thay đổi rõ rệt về thái độ đối với XHCD. Khi ấy dân chúng và các TCXH của họ bắt đầu tự động làm những việc do trách nhiệm công dân thôi thúc (chứ không chờ lãnh đạo chỉ thị rồi mới làm như trước kia), họ hăng hái tham gia cứu chữa và quyên góp cứu tế với quy mô lớn. Đồng thời họ đòi quyền được thông tin chính xác tình hình, quyền được tham gia và giám sát công tác cứu chữa, cứu tế. Tuy vậy vẫn chưa hình thành một XHCD chín muồi. Phần lớn các TCXH chưa biết cần làm gì để cứu giúp đồng bào bị nạn và khi tiến hành cứu giúp thì lại làm việc không chuyên nghiệp. Nhà nước vẫn nghi ngờ và hạn chế hoạt động của các tổ chức này, như quy định mọi nguồn quyên góp phải đưa vào kênh do nhà nước chỉ định; xe chở đồ cứu tế đều bị khám xét kỹ, có giấy phép mới được vào vùng tai nạn.  Sau vụ này, Chính phủ Trung Quốc nhanh chóng nhận thấy tác dụng to lớn của XHCD và đưa ra quan điểm “Nhà nước khuyến khích công dân, pháp nhân và các tổ chức khác tích cực tham gia công tác khôi phục tái thiết sau tai nạn động đất”. XHCD trở thành đề tài thảo luận rất rộng rãi, không còn bị kiêng kị nữa.   Nhận thức của ĐCSTQ về XHCD đã trải qua một quá trình từ phủ định tới khẳng định. Như chính ĐCSTQ thường nói, có nhiều sự vật nảy sinh không tùy thuộc vào ý chí của con người, mà XHCD là một thí dụ.   Trên thực tế một XHCD tương đối độc lập đã xuất hiện và trưởng thành không thể nào ngăn cản, đồng thời nó có ảnh hưởng ngày một quan trọng đối với tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc. Từ thập niên 90 giới học thuật Trung Quốc triển khai mạnh mẽ đợt thảo luận về XHCD, kết quả là tính hợp pháp của XHCD (hoặc xã hội thị dân, theo cách gọi hồi ấy) được xã hội thừa nhận.  Hiện tượng đó về khách quan đã yêu cầu ban lãnh đạo Trung Quốc phải thừa nhận tính hợp pháp và tác dụng của XHCD, đồng thời có các biện pháp tích cực để dẫn dắt XHCD trưởng thành một cách lành mạnh.  Sau thập niên 80, Chính phủ Trung Quốc đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự quản tại các cơ sở, chủ yếu trên 3 lĩnh vực: nông dân tự quản tại nông thôn, dân phố tự quản khu phố ở đô thị và tự quản ngành nghề. Ủy ban Thôn dân, Ủy ban Dân phố và các Hội ngành nghề là 3 loại TCXH của công dân thực hiện việc tự quản đó.  Hiến pháp và luật pháp quy định các Ủy ban thôn dân và Ủy ban dân phố không phải là một cấp cơ quan chính quyền mà là tổ chức dân gian (tức TCXH) và tổ chức tự quản.  Tháng 6/1998, Bộ Dân chính chính thức đổi tên Nha quản lý đoàn thể xã hội thành Cục quản lý các tổ chức dân gian. Tháng 10/2008, Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý đăng ký các đoàn thể xã hội, trên cơ sở điều lệ cũ được sửa đổi lớn; đồng thời lần đầu công bố Điều lệ quản lý các đơn vị phi doanh nghiệp dân lập. Hai văn bản pháp lý này đã thay đổi cơ chế quản lý hành chính các TCXH của công dân (tức tổ chức dân gian) trước đây thành cơ chế lãnh đạo hai nấc là ngành Dân chính và đảng phụ trách, trong đó cơ quan Dân chính chịu trách nhiệm tổ chức đăng ký, cơ quan đảng chịu trách nhiệm quản lý.   —  Kỳ tới:   Quy mô, hoạt động và vai trò tác dụng của các tổ chức xã hội công dân Trung Quốc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội công dân ở Trung Quốc (Kỳ 2)      Sự tồn tại hàng triệu tổ chức xã hội của công dân đã  ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị – kinh tế ở Trung Quốc và trên mức  độ nhất định đã làm thay đổi tình hình quản trị xã hội, nâng cao đáng kể  sự tham gia chính trị của công dân, nâng cao mức độ liêm khiết và hiệu suất  làm việc của các cơ quan đảng, chính quyền.    3. Hoạt động và vai trò tác dụng của các tổ chức xã hội  Trong cơ chế hai tầng quản lý, hầu hết các tổ chức xã hội (TCXH) của công dân đều vừa phục tùng sự lãnh đạo của đảng và chính quyền lại vừa giữ tính độc lập tự chủ của mình, ngoài ra, nhằm tăng cường quyền lợi của mình, họ còn cố gắng ảnh hưởng tới chính sách của đảng và chính phủ.   Thí dụ các tổ chức dân cư địa phương thường sử dụng các biện pháp kéo dân chúng lên gặp cấp trên phản ảnh tình hình, tố cáo, khiếu nại, thỉnh nguyện, thậm chí biểu tình ngồi hoặc mít tinh tuần hành, bao vây cơ quan đảng, chính phủ, đòi hỏi giải quyết các yêu cầu thiết thân của họ. Tình hình này thường xảy ra khi địa phương có việc cưỡng chế dỡ nhà giao đất, hoặc khi trật tự trị an kém, môi trường bị phá hoại.   Ngày càng có nhiều TCXH, nhất là tổ chức có thành viên là giới trí thức, muốn tham gia quá trình quyết sách của đảng và nhà nước. Hình thức chủ yếu họ sử dụng là tiến hành phản biện, góp ý phê phán, đề nghị cải tiến hoàn thiện các chủ trương chính sách của nhà nước. Thí dụ năm 2000, Viện Nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc, tổ chức Những người bạn của thiên nhiên, Nhà sách Tam Vị đã công bố nhiều kiến nghị xây dựng về các vấn đề chính trị, kinh tế, ngoại giao, môi trường và đã có ảnh hưởng lớn trong xã hội.  XHCD Trung Quốc đã góp phần thực sự vào việc xây dựng Đảng CSTQ trong sạch, xứng đáng với danh hiệu đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Trung Hoa. XHCD xuất hiện đã làm cho ĐCSTQ từ một đảng chỉ lãnh đạo đường lối chiến lược, chuyển sang đóng vai trò một đảng cầm quyền. Tổng Bí thư Đảng đồng thời là Chủ tịch nhà nước, trực tiếp chịu trách nhiệm đối nội đối ngoại của quốc gia. Cùng với sự phát triển XHCD, ý thức dân chủ, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức làm cầu nối của xã hội, ý thức nguy cơ và ý thức pháp trị của ĐCSTQ cũng được tăng cường không ngừng. Chẳng hạn, ý thức nguy cơ của Đảng sẽ được tăng cường bởi lẽ sự phản biện và giám sát của các TCXH đối với hoạt động của Đảng sẽ làm cho Đảng thấy được nguy cơ có thể tự đánh mất quyền lãnh đạo nếu Đảng không giữ được tính tiên phong và tỏ ra có năng lực tổ chức tốt mọi công việc của nhà nước. Như vậy sự phát triển XHCD sẽ giúp ĐCSTQ xây dựng được ý thức cầm quyền; ngược lại việc đó cũng có lợi cho sự phát triển XHCD.  Bản thân các TCXH, nhất là các tổ chức có tính độc lập tự chủ cao, cũng tỏ ra có những ưu điểm trội hơn các tổ chức của nhà nước về mặt tổ chức quản lý nội bộ và hiệu quả công tác. Điều đó đã làm cho vai trò tác dụng của các TCXH ngày càng được nâng cao. Thí dụ các hội người cao tuổi, các tổ chức dân cư (thôn dân, dân phố) lại làm được nhiều việc hơn các tổ chức đoàn thể quần chúng nặng màu sắc nhà nước như Đoàn Thanh niên cộng sản, Hội Phụ nữ. Quỹ Thanh Thiếu niên Trung Quốc là một sản phẩm của Đoàn Thanh niên cộng sản lại đạt được mức độ nhất trí nội bộ cao hơn Đoàn, hoạt động quyên góp từ thiện có kết quả cao hơn, và hăng hái phản biện các chủ trương chính sách của nhà nước, trong khi Đoàn TNCS không làm được chức năng này.   Xét về mặt công khai trong suốt hoạt động nội bộ, các TCXH của công dân cũng làm tốt hơn các tổ chức nhà nước. Thí dụ các Ủy ban Thôn dân ở nông thôn, Ủy ban dân phố ở thành thị đã thực hành rộng rãi công khai hóa mọi hoạt động và chi tiêu tài chính của mình, có mức độ trong suốt chính trị cao hơn hẳn các tổ chức chính quyền cơ sở. Tại Thượng Hải, cán bộ Ủy ban dân phố đi làm đều phải đeo biển chức danh; mọi công tác, thời hạn hoàn thành, chương trình làm việc, tên người phụ trách… đều phải viết thành biểu bảng treo trên tường cho dân biết Tại thôn Đông Thăng tỉnh Phúc Kiến, Ủy ban thôn dân công khai toàn bộ các nội dung: tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp của cán bộ thôn; tình hình thu chi tài chính, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, tình hình nhận thầu đất đai ao hồ vườn cây, xí nghiệp; tình hình gọi thầu các dự án xây dựng; phân phối nhà đất; trưng dụng đất đai và bồi thường v.v…Công khai hóa được thực hiện bằng hai hình thức: viết thành biểu bảng treo trên tường và đọc trên hệ thống truyền thanh xóm. Ngoài ra còn đặt một số hòm thư bên lề đường để dân phản ảnh ý kiến.   Hoạt động công khai hóa nói trên đưa lại kết quả là cán bộ phụ trách các TCXH có tính độc lập tự chủ cao thường trong sạch liêm khiết hơn hẳn cán bộ chính quyền, qua đó có tác dụng đẩy mạnh giám sát chính quyền và phòng chống tham nhũng trong cán bộ chính quyền địa phương.   Hoạt động quản trị nội bộ của các TCXH còn có ưu điểm là mức độ dân chủ hóa cao. Toàn bộ cán bộ lãnh đạo các tổ chức này đều được bầu lên chứ không chỉ định. Các chủ trương chính sách đều được trưng cầu ý kiến dân trước rồi mới quyết định. Ngoài ra đều áp dụng cơ chế giám sát nội bộ khá nghiêm ngặt.  Những mặt trội nói trên thể hiện sự quản trị hoàn hảo của các TCXH đã có ảnh hưởng lớn tới đời sống chính trị của toàn xã hội Trung Quốc, thể hiện trên các mặt tạo dư luận đồng thuận để nhân dân tham gia quá trình quyết sách, tự quản lý xã hội, đòi chính quyền công khai hóa các hoạt động, phòng chống tham nhũng v.v…  Sự ra đời rất nhiều tổ chức dân gian đã hình thành XHCD ở Trung Quốc, đây là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với công dân. Xã hội chỉ được quản trị hoàn hảo khi chính quyền và dân hợp tác tốt với nhau, nhưng sự hợp tác đó không phải bao giờ cũng là hợp tác trực tiếp mà phải thông qua sự điều phối của một tổ chức trung gian, đó là các tổ chức dân gian (còn gọi là tổ chức xã hội TCXH). Các TCXH này kịp thời tập trung mọi yêu cầu, nguyện vọng, đề nghị và ý kiến phê bình của dân chúng và chuyển tới cơ quan chính quyền. Thực tế cho thấy các TCXH này đã thực hiện được sự tham gia chính trị ở mức độ cao hơn nhiều so với sự tham gia của các cá thể công dân, nhất là ở tầng nấc cơ sở tại nông thôn và thành thị.          Năm 2010 Trung Quốc có 450 nghìn TCXH đăng  ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức  chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và tăng với  tốc độ mỗi năm 8-10%.         Các TCXH trở thành nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền và là động lực to lớn đẩy mạnh quá trình cải cách chính trị. Ngày một nhiều TCXH, nhất là các hội đoàn nghiên cứu học thuật có tính chuyên ngành, đảm nhiệm vai trò tư vấn tham mưu cho chính quyền khi nghiên cứu hoạch định các chủ trương chính sách, góp phần xúc tiến dân chủ hóa quyết sách.   Các TCXH ở Trung Quốc thường dùng những cách sau đây để tham gia quá trình quyết sách của chính quyền:   1- Phản ánh vấn đề, nêu kiến nghị, yêu cầu nhằm đưa ra các chủ trương chính sách thích hợp; 2- Tiến hành phản biện góp ý kiến đối với việc hoạch định và thực thi quyết sách; 3- Khi chủ trương chính sách của chính quyền gây thiệt hại cho lợi ích của thành viên TCXH, các tổ chức này đứng ra giao thiệp với ban ngành liên quan của chính quyền để giải quyết.  Nhìn chung các TCXH của công dân đã góp phần quan trọng xúc tiến nâng cao độ trong suốt chính trị của xã hội Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, công dân muốn nắm được thông tin về hoạt động của chính quyền thì chỉ có thể thông qua TCXH sở tại để gây sức ép đòi chính quyền cung cấp tin; cá thể công dân không đủ sức gây được sự chú ý của chính quyền. Ngoài ra các TCXH (như các hội nghiên cứu, tư vấn, hội học thuật) thường tổ chức hội họp thường kỳ, là những dịp quan trọng để cung cấp thông tin cho công dân. Một số TCXH còn lập cơ quan truyền thông của mình, như ra báo, tạp chí, báo điện tử, lập trang mạng để truyền bá các thông tin. Các hiệu sách tư nhân cũng có ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng kênh thông tin, thay đổi cơ chế quản lý truyền phát thông tin.  Trên lĩnh vực công việc công ích, các TCXH của công dân đã phát huy tác dụng không thể thay thế. Thí dụ trong công tác từ thiện, xóa đói giảm nghèo, giúp người già yếu tàn tật v.v…các TCXH như Tổng hội Từ thiện Trung Hoa, Quỹ Tống Khánh Linh, … đã có tác dụng rất lớn. Việc làm của các TCXH đã cải thiện hình ảnh của xã hội Trung Quốc, xúc tiến sự hòa hợp giữa dân với chính quyền. Thí dụ “Dự án Hy vọng” do Quỹ Thanh thiếu niên Trung Quốc tổ chức thực hiện, Quỹ này đã tổ chức quyên góp được nguồn kinh phí lớn, giúp hàng triệu trẻ em nghèo được đi học. Quỹ này sinh ra từ hệ thống Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc, nhưng Đoàn không làm được việc này.  Hệ thống các TCXH của công dân trở thành lực lượng có tác dụng chế ước chính quyền. Về nguyên tắc, quyền lực và hoạt động của bất cứ chính quyền nào cũng phải được chế ước. Trước cải cách mở cửa việc này là do nội bộ chính quyền tự thực thi. Sau khi hàng loạt TCXH của công dân ra đời, chính quyền bắt đầu chịu sự giám sát và chế ước từ bên ngoài. Một số TCXH khi phát hiện thấy các bất hợp lý trong chủ trương chính sách đã tiến hành hoạt động ngăn cản một cách có tổ chức. Trong nhiều trường hợp trước sức ép của các TCXH này, chính quyền đã sửa đổi chủ trương chính sách. Nơi nào các TCXH lớn mạnh thì chính quyền càng chịu sức ép lớn, hiện tượng cán bộ nhà nước tham nhũng và làm bậy giảm rõ rệt.   Thực tế cho thấy tầng lớp nông dân đấu tranh hăng hái nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của họ (nhất là quyền giữ đất), chống tham nhũng và suy thoái trong giới quan chức địa phương. Các cuộc đấu tranh của họ nặng về tự phát và thiếu lý trí, dễ dẫn đến tình trạng dùng bạo lực. Đó là do nông dân còn chưa thành lập được nhiều TCXH của mình. Cũng cùng với mục tiêu như vậy nhưng tầng lớp trung lưu ở thành thị đấu tranh văn minh, ôn hòa hơn; đó là do họ có nhiều TCXH của mình hướng dẫn, tổ chức.  4. Quy mô của các tổ chức xã hội công dân Trung Quốc  Tính đến năm 2003 đã có 8.031.344 tổ chức xã hội của công dân được thành lập. Trong đó đã đăng ký 266.000, chưa đăng ký – 290.000 tổ chức; các đoàn thể do nhà nước lập ra như công đoàn, đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ có 5.378.424 tổ chức cơ sở; Hội người tàn tật, Hội Sinh đẻ có kế hoạch, Hội Liên hiệp văn nghệ có 1.338.220 tổ chức cơ sở; ngoài ra còn 758.700 các đoàn thể học sinh, văn nghệ giải trí thể thao v.v….  Một nguồn số liệu khác cho biết năm 2010 Trung Quốc có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và tăng với tốc độ mỗi năm 8-10%.   Sở dĩ các số liệu khác nhau vì mấy lý do: – Tiêu chuẩn xét TCXH không thống nhất, thí dụ có người nói các đoàn thể quần chúng do nhà nước lập ra (gần 5.4 triệu tổ chức cơ sở) không phải là TCXH; – Rất khó thống kê vì nhiều tổ chức không đăng ký.  Các TCXH này có mặt trong hầu như mọi hoạt động công ích và môi giới, dịch vụ xã hội: văn hóa, y tế vệ sinh, lao động, thể thao, bảo vệ môi trường, pháp lý, từ thiện v.v..,, sơ bộ hình thành một hệ thống. Riêng hơn 60 nghìn hội ngành nghề đã có hơn 20 triệu hội viên; hơn 40 nghìn hội học thuật tập họp hơn 5 triệu học giả; các hội chuyên ngành liên kết hơn 10 triệu thành viên. Sức mạnh kinh tế của các TCXH tăng đáng kể: tính tới cuối năm 2010 các tổ chức này có vốn cố định gần 109 tỷ RMB (Nhân dân tệ; 1 USD tương đương 7 RMB)), thu nhập hàng năm khoảng 124,7 tỷ RMB; thực ra những con số này rất nhỏ so với thực tế.  Gần đây các TCXH Trung Quốc bắt đầu quốc tế hóa; hiện nay các TCXH có tính toàn quốc của Trung Quốc đã đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo trong 122 tổ chức quốc tế, chức vụ ủy viên chấp hành trong 92 tổ chức quốc tế. Đây là một phát triển đáng chú ý của XHCD Trung Quốc.  Các TCXH đang phát huy tác dụng ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa.  Các tổ chức này tích cực tham gia mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế. Bản thân họ tạo ra việc làm: trong các TCXH hiện có 5,4 triệu nhân viên chuyên trách, hơn 5 triệu nhân viên kiêm chức và hơn 25 triệu tình nguyện viên có đăng ký.   Về chính trị, các TCXH là kênh quan trọng để công dân tham gia quản lý xã hội, là cầu nối chính quyền với công dân, giúp tăng cường sự tín nhiệm giữa quan chức nhà nước với dân. Các TCXH đang tích cực tác động, xúc tiến sự khoa học hóa và dân chủ hóa quá trình quyết sách của các cấp chính quyền. Gần đây nhiều TCXH cấp địa phương bắt đầu gánh vác một phần dịch vụ công cộng của chính quyền sở tại, góp phần nâng chất lượng các dịch vụ này.  Các TCXH thường xuyên đảm nhiệm công tác xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện. Do họ chủ động tích cực cứu trợ vụ tai nạn động đất Tứ Xuyên, các cấp chính quyền đã đánh giá tốt về họ và bắt đầu thực sự hợp tác với họ.   Về văn hóa, các TCXH có nhiều đóng góp về mặt xây dựng lối sống mới trật tự, vệ sinh, có văn hóa, đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao ở địa phương.   —  Kỳ tới: Đặc điểm và phương hướng phát triển xã hội công dân ở Trung Quốc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội công dân ở Trung Quốc (kỳ cuối)      So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc  còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện,  phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung  Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.&#160;    5. Đặc điểm của xã hội công dân Trung Quốc  1. Do chính quyền chủ đạo: vì hầu hết các TCXH là do nhà nước lập ra và chỉ đạo, nhất là các TCXH đã đăng ký hợp pháp và có ảnh hưởng lớn như các tổ chức ngành nghề, đồng nghiệp, đoàn thể nghiên cứu, đoàn thể lợi ích. Tuy đảng và nhà nước cố gắng tăng cường tính tự chủ của các TCXH, quy định cán bộ lãnh đạo đảng và nhà nước không được nhận chức vụ lãnh đạo các tổ chức này nhưng trên thực tế các TCXH quan trọng đều tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng, chính phủ.   Đó là do: – Điều lệ đăng ký và quản lý TCXH quy định các tổ chức này phải dựa vào một ngành chủ quản là một cơ quan đảng/nhà nước; – Hầu hết các TCXH có ảnh hưởng lớn đều do nhà nước lập ta, cho dù cuối cùng họ dần dần tách ra khỏi cơ quan sáng lập nhưng hai bên vẫn có quan hệ khăng khít; bên sáng lập vẫn là ngành chủ quản của TCXH đó; – Tuy chính phủ đã có quy định các TCXH về nguyên tắc phải tự lo kinh phí hoạt động, nhưng thực tế một số TCXH quan trọng vẫn được nhà nước cấp kinh phí, tức về tài chính vẫn ỷ lại nhà nước.  2. Môi trường cơ chế của Trung Quốc về vĩ mô tuy khuyến khích XHCD nhưng về vi mô thì chủ yếu vẫn hạn chế sự phát triển của XHCD. Việc đăng ký hoạt động và quản lý các TCXH còn rắc rối, thí dụ TCXH phải tiếp nhận sự quản lý của hai cơ quan chính quyền ngang cấp là cơ quan của Bộ Dân Chính và cơ quan quản lý cùng ngành.  3. So với phương Tây, các TCXH của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.   4. Sự phát triển các TCXH còn chưa quy chế hóa tuy là năm 1998 Bộ Dân Chính đã ban hành Điều lệ mới về quản lý các tổ chức này.   Cụ thể: – Các TCXH quan trọng đã hành chính hóa cao độ như Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ trên thực tế không khác gì các cơ quan hành chính nhà nước, họ trực tiếp chịu sự lãnh đạo của cơ quan đảng và chính quyền các cấp, không phải đăng ký với Bộ Dân Chính. – Các TCXH đã tương đối hành chính hóa như các hội quản lý ngành nghề (Hội Công thương, Hội người tiêu dùng …) có biên chế nhất định, được coi là một cấp hành chính nhất định, người phụ trách do các cấp đảng và nhà nước cử. – Các TCXH về cơ bản là dân gian hóa, như các hội học thuật, hội nghiên cứu thì phần lớn chưa có biên chế chuyên trách, người lãnh đạo do họ tự bầu lên rồi trình cơ quan chủ quản duyệt, không được hưởng chế độ cấp bậc hành chính. – Các đơn vị dân lập phi doanh nghiệp là những TCXH rất đặc biệt, không có cấp bậc hành chính, trình độ hành chính hóa rất thấp, ngoài nghiên cứu chuyên môn và trao đổi ra còn làm một số dịch vụ chuyên ngành, như Viện Quản lý nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu phát triển Trung Quốc, Viện nghiên cứu văn hóa Trung Quốc.  5. Sự phát triển của các TCXH rất không cân đối, địa vị và ảnh hưởng trong đời sống kinh tế chính trị rất khác nhau, chủ yếu do khác nhau về nguồn lực, về cơ sở văn hóa, về thực lực kinh tế, về uy tín của người lãnh đạo.    6. Phương hướng phát triển xã hội công dân ở Trung Quốc hiện nay   Nhìn chung thái độ của xã hội Trung Quốc đối với các TCXH đã từ chỗ phủ nhận và nghi ngờ tiến tới khẳng định và ủng hộ. Tuy vậy vẫn còn không ít ý kiến lệch lạc. Điển hình nhất là quan điểm cho rằng các TCXH là đối thủ tự nhiên của chính quyền, vì thế một số cán bộ chính quyền có thái độ thiếu hợp tác với các tổ chức này. Nhà nước cũng chưa ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy về hoạt động của các TCXH, do đó gây khó khăn cho họ..  Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng CSTQ lần thứ XVII đề xuất: Phát huy tác dụng tích cực của các TCXH trên mặt mở rộng sự tham gia của quần chúng, phản ánh các khiếu nại của quần chúng, tăng cường chức năng tự trị xã hội. Sau đại hội, mối quan hệ giữa Đảng và chính phủ với các TCXH dần dần chuyển biến từ kiểm soát sang giúp các TCXH đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Đề cương Kế hoạch 5 năm lần thứ XII lần đầu tiên chính thức nêu ra yêu cầu phải “tăng cường xây dựng các TCXH” – đây là một chuyển biến thực sự, quan trọng. Chính quyền các cấp bắt đầu tăng tài trợ cho các TCXH và giao cho họ bao thầu một số dịch vụ xã hội. Các nguồn tài trợ từ dân gian cho các TCXH cũng tăng dần. Tuy vậy nhìn chung nguồn lực của các tổ chức này hãy còn yếu và thiếu nhiều.  Phương hướng phát triển XHCD ở Trung Quốc hiện nay là tiếp tục xúc tiến toàn xã hội, nhất là quan chức đảng và nhà nước các cấp, nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược của XHCD, qua đó có thái độ khuyến khích và hợp tác với các TCXH. Cần hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan, một mặt quản lý các TCXH theo luật, một mặt tăng tốc nới lỏng sự kiểm soát các tổ chức đó, tăng cường giúp họ đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Chính quyền các cấp cần tích cực thu hút các TCXH tham gia việc hoạch định chính sách công, phát huy tác dụng của họ trong quản lý xã hội, cố gắng thực hiện nhà nước và nhân dân cùng quản lý xã hội.  Có thể khẳng định công dân tích cực tham gia sinh hoạt chính trị là con đường cơ bản thực hiện dân chủ; không ngừng mở rộng sự tham gia chính trị một cách có trật tự của công dân là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Sự tham gia chính trị tốt nhất không phải là tham gia một cách tự phát, rời rạc mà là tham gia có tổ chức, thông qua các TCXH. Như vậy đỡ gây rắc rối và tốn kém cho chính quyền, đồng thời thể hiện được nguyện vọng của dân và cáng tăng được nhiệt tình tham gia của dân. Một XHCD kiện toàn là nền tảng của chính trị dân chủ, là hậu thuẫn vững chắc cho quyền dân chủ của dân.  Phát triển XHCD nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện sự cai trị hoàn hảo (good government) mà người Trung Quốc cổ đại gọi là Thiện chính hoặc Nhân chính; đại để gồm mấy yếu tố: luật pháp nghiêm minh, quan chức thanh liêm, hiệu suất hành chính cao, dịch vụ hành chính tốt.  Trung Quốc hiện đang tích cực xây dựng xã hội hài hòa. Mâu thuẫn lợi ích là trở ngại lớn nhất của việc xây dựng xã hội hài hòa. Phát triển XHCD chính là biện pháp thúc đẩy xây dựng xã hội hài hòa, trong đó các TCXH có tác dụng quan trọng; không có XHCD lành mạnh thì không thể có một xã hội thực sự hài hòa.   Phát triển XHCD còn góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của ĐCSTQ, trong đó có việc nâng cao hiệu suất công tác quản lý; muốn vậy cách hữu hiệu nhất là giao nhiều công việc xã hội cho các TCXH quản lý.    7. Hoạt động nghiên cứu xã hội công dân ở Trung Quốc  Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu XHCD từ thập niên 80, khi khởi sự tiến trình cải cách mở cửa. Mới đầu chỉ có các nghiên cứu cá nhân với điểm xuất phát thấp; từ đầu thập niên 90 lần lượt xuất hiện các tổ chức chuyên nghiên cứu về XHCD, như Trung tâm XHCD ở một số trường đại học, xuất bản các tạp chí, lập các website về đề tài này.   Năm 1986 khi Trung ương ĐCSTQ xuất bản sách Hướng dẫn việc Xây dựng Nền Văn minh Tinh thần, trong đó nhấn mạnh việc “phát huy ý thức công dân xã hội chủ nghĩa,” giới học giả thấy đây là một cơ hội tốt để bắt đầu công khai thảo luận về khái niệm XHCD hồi ấy ai cũng cho là một vấn đề “nhạy cảm” tránh nói tới. Lấy ý tưởng từ đề tài “Ý thức công dân”, tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân đặt vấn đề xét lại cách dịch từ tiếng Đức burgerliche Gesellschaft trong tác phẩm Tháng 18 sương mù của Karl Marx. Từ này trước đây vẫn được dịch là xã hội tư sản, nay một học giả đề nghị dịch là xã hội thị dân. Nhiều người tham gia phát biểu ý kiến, nổ ra cuộc tranh luận về thị dân, công dân và xã hội công dân.   Giới học giả bình luận: trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành cơ chế chính trị đơn nguyên hóa cao độ, “chính (quyền) xã (hội) hợp nhất”, hầu như công và tư, nhà nước và xã hội, chính quyền và dân hoàn toàn hợp nhất làm một; công nhấn chìm tư, nhà nước nhấn chìm xã hội, chính quyền nhấn chìm dân. Trong một xã hội toàn trị như vậy nhiều người hiểu xã hội thị dân nói trong tác phẩm của Marx là xã hội tư sản, “xã hội công dân” hoặc “xã hội dân gian” là thứ đối lập với chính quyền, Trung Quốc không thể cho phép tồn tại.  Sáng kiến của tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân làm cho khái niệm XHCD được đưa ra bàn thảo công khai mà không còn bị coi là vấn đề “nhạy cảm, cấm kỵ” nữa.   Tác phẩm đầu tiên viết về XHCD là cuốn Xây dựng xã hội thị dân Trung Quốc xuất bản năm 1992. Tác giả cho rằng quá trình nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc có thể chia hai giai đoạn: – Thời kỳ 1992-2000: nghiên cứu vấn đề Trung Quốc có tồn tại XHCD hay không; có thể xây dựng được XHCD không; mối quan hệ giữa XHCD với hiện đại hóa XHCN. – Từ sau năm 2000 trở đi: chú trọng nghiên cứu lý luận XHCD của giới xã hội học phái tả phương Tây.  Tháng 1/2009, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh phát hành Sách Xanh về sự phát triển xã hội công dân Trung Quốc, nhận định sự hình thành XHCD là một thành tựu vĩ đại của 30 năm cải cách mở cửa.   Tháng 4/2011, Trung tâm nghiên cứu XHCD của Đại học Bắc Kinh đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học XHCD và xã hội hài hòa, thảo luận 3 đề tài: – XHCD và xã hội hài hòa; – Mối quan hệ giữa XHCD với chính quyền; – Con đường tự sinh trưởng của XHCD Trung Quốc.  Nhiều học giả đã phát biểu ý kiến  Cho tới nay giới học giả Trung Quốc vẫn tranh cãi nhiều về các vấn đề như: Thế nào là XHCD, Trung Quốc hiện nay có bao nhiêu TCXH, các tổ chức đó có tác dụng như thế nào, XHCD Trung Quốc có đặc điểm gì khác XHCD phương Tây, môi trường sinh tồn và phát triển của XHCD Trung Quốc ra sao, v.v…  ĐCSTQ đặc biệt quan tâm hướng dẫn cuộc thảo luận về XHCD nói trên. Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ đã viết nhiều tài liệu có giá trị về XHCD.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động      Nếu áp dụng định nghĩa các tổ chức xã hội  dân sự (XHDS) phải hoàn toàn mang tính tự nguyện và độc lập đối với khu  vực nhà nước thì dễ dàng kết luận rằng Việt Nam hiện nay chưa có XHDS. Nhưng  điều này không đúng, vì hiện đã có rất nhiều tổ chức, hội nhóm, mạng  lưới đang hoạt động trong khoảng “tranh tối tranh sáng” giữa khu vực nhà  nước và phi nhà nước.    Nếu áp dụng định nghĩa các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) phải hoàn toàn mang tính tự nguyện và độc lập đối với khu vực nhà nước thì dễ dàng kết luận rằng Việt Nam hiện nay chưa có XHDS. Trên thực tế nhiều nhà nghiên cứu cũng có kết luận như vậy. Một chuyên gia về Việt Nam đã viết, “Áp dụng các định nghĩa khác nhau đều cho thấy Việt Nam hiện nay không tồn tại XHDS”. Một chuyên gia khác giải thích rằng “sự hiện diện của Nhà nước quá áp đảo và vì vậy XHDS chưa thực sự phát triển”. Theo các chuyên gia này, thay vì XHDS, ở Việt Nam chỉ có các tổ chức phi chính phủ “nửa mùa” đang cố gắng “ra vẻ thực chất”1.  Nhưng điều này không đúng, vì hiện đã có rất nhiều tổ chức, hội nhóm, mạng lưới đang hoạt động trong khoảng “tranh tối tranh sáng” giữa khu vực nhà nước và phi nhà nước. Nhiều nhà hoạt động xã hội, thủ lĩnh các tổ chức phi chính phủ, nhà báo, các nhà nghiên cứu đang hoạt động độc lập, bất kể vị trí và quan hệ của họ với chính quyền. Họ là những người đi tiên phong trong việc xây dựng những hình thức mới để tổ chức mạng lưới và để tham gia vận động chính sách. Phần lớn những người này không tham gia lực lượng chống đối, tuy nhiên họ không ngần ngại thể hiện các quan điểm phê phán chính sách hiện thời. Mặc dù hoạt động của họ bị nhiều rào cản của hệ thống luật pháp nhưng các mạng lưới đã và đang tác động đến các bộ phận khác nhau của bộ máy nhà nước. Họ đã thực hiện vai trò này như một thành phần của XHDS.  Xem xét mạng lưới ở Việt Nam dưới góc nhìn lịch sử  Từ hàng chục thế kỷ nay, trong xã hội Việt Nam đã tồn tại các mạng lưới của cá nhân và các nhóm địa phương. Các nhà sử học và nhân học đã nhận định là những mạng lưới và liên kết ở cấp làng có vai trò độc lập nhất định đối với quyền lực của triều đình, như được phản ánh trong câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng”. Khi nhà nước phong kiến có quyền lực mạnh thì XHDS vẫn tồn tại dưới hình thức các hội, phường hay liên kết mang tính truyền thống. Ở Việt Nam cũng như các nước châu Á khác, những liên hệ mạng lưới phi chính thức đặc biệt quan trọng vào những giai đoạn khi các tổ chức chính thống bị đàn áp hoặc sáp nhập2.   Hiện nay những mạng lưới phát triển tốt nhất ở Việt Nam thường hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Các nhóm hoạt động môi trường giờ không chỉ dừng lại ở các hoạt động cung cấp dịch vụ mà đã tham gia vận động chính sách. Bên cạnh những mạng lưới chính thức trong lĩnh vực bảo vệ sông ngòi, chống biến đổi khí hậu, bảo vệ rừng và khoáng sản là rất nhiều những nhóm làm việc phi chính thức. Có một mạng lưới của những người chống buôn bán động vật hoang dã hiện đang hoạt động theo những nhóm nhỏ, được gọi là “nhóm làm việc về gấu”, “nhóm làm việc về hổ”… với thành viên đến từ nhiều tổ chức khác nhau. Họ chia sẻ thông tin và cùng nhau hoạch định các chiến lược vận động chính sách. “Hiện nay cả Việt Nam chỉ còn 100 cá thể gấu và 30 cá thể hổ đang sống hoang dã, nên chúng tôi không việc gì phải cạnh tranh với nhau” – một nhà hoạt động trong nhóm chia sẻ.  Một số mạng lưới (hoặc các tổ chức thành viên của mạng lưới) có khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ quốc tế, thường là từ các quỹ, hoặc các kênh viện trợ song phương và đa phương. Các cơ chế tài trợ, thông qua các điều kiện công khai hoặc các ngầm định về XHDS, có ảnh hưởng nhất định đối với cấu trúc và năng lực của các mạng lưới.   Vào đầu thập kỷ 90, các học giả bắt đầu chú ý đến sự xuất hiện của các tổ chức xã hội bán độc lập (semi-autonomous) ở Việt Nam. Một nhà quan sát đã ghi nhận sự ra đời của “những tổ chức có vẻ như là độc lập và có khả năng tự quyết về chương trình hành động và có khả năng vận động tài chính cho các hoạt động của mình”3. Ước tính có khoảng vài trăm tổ chức như vậy, được đánh giá là “một trong những nhóm năng động nhất trong xã hội”4.   Đến đầu những năm 2000, các nhà quan sát nhận thấy sự tăng dần về số lượng và loại hình các tổ chức do có sự cải thiện, mặc dù chưa hoàn chỉnh, của các quy định pháp luật; do các phương tiện truyền thông đưa tin và thảo luận nhiều hơn về đề tài XHDS; và do chính quyền đã nới lỏng sự kiểm soát đối với XHDS. Các tổ chức này “có nhiều mối quan hệ chồng chéo với nhau cũng như với khối nhà nước”. Họ tham gia vận động chính sách, nhưng trong khuôn khổ mà Nhà nước cho phép5.  Từ những nghiên cứu này, thuật ngữ “XHDS” bắt đầu được các học giả, nhà tài trợ và các tổ chức ở Việt Nam sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên đôi khi người ta thường gán thêm các tính từ như “nửa vời”, “do Nhà nước chỉ đạo”, “non trẻ”, “trứng nước” hoặc “chưa phát triển”. Ở giai đoạn này, các học giả không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các đặc điểm mang tính tổ chức của XHDS. Họ chuyển sang phân tích các phương thức tương tác giữa các tổ chức XHDS, các nhà hoạt động và chính quyền6. Bức tranh chung về XHDS cũng thay đổi, một phần là do sự thay đổi trong xã hội Việt Nam. Nguyên nhân khác là do khái niệm về các thành phần của XHDS đã được mở rộng, từ những tổ chức xã hội được đăng ký chính thức, những trung tâm nghiên cứu liên quan đến chính phủ, những dự án của nhà tài trợ, những nhóm chuyên gia, các trang web và các blogger, đến nhóm các sinh viên tình nguyện… Như vậy sự vận động mang tính mạng lưới của XHDS sẽ năng động hơn mô hình kinh điển, trong đó nhà nước, khu vực thị trường và XHDS hoạt động như ba mảng riêng lẻ. Đặc điểm của vận động chính sách theo mô hình mạng lưới là sự vượt qua ranh giới giữa ba khu vực trên, và mở rộng không gian để vận động xã hội.   Lý thuyết mạng lưới về XHDS  XHDS là một tiến trình hành động tập thể khi các cá nhân và tổ chức tập hợp lại để tạo sự ảnh hưởng với giới quyền lực và tạo ra sự thay đổi xã hội. Theo lý thuyết này, đơn vị cơ bản tạo nên XHDS là những mạng lưới của các tổ chức, các nhóm phi chính thức, các nhà hoạt động xã hội chứ không chỉ là các tổ chức phi chính phủ.  Cách tiếp cận mạng lưới đòi hỏi ba điều chỉnh lớn trong lý thuyết về XHDS. Thứ nhất, thành phần cấu tạo nên XHDS là các mạng lưới, chứ không phải là các tổ chức độc lập. Các mạng lưới này bao gồm các cá nhân và/hoặc các tổ chức. Thứ hai, khi các mạng lưới này có hành động thì xuất hiện XHDS. Vì vậy câu hỏi trọng tâm không phải là thành phần nào nằm trong hay nằm ngoài XHDS mà là XHDS có hành động gì và hành động như thế nào. Thứ ba, hành động của mạng lưới XHDS vượt qua ranh giới giữa xã hội, gia đình, thị trường và nhà nước. Những ranh giới này không phải là bất di bất dịch, nhưng cần được phân định dựa trên vai trò và vị trí của từng bên.  Các mạng lưới XHDS rất đa dạng về quy mô, bao gồm những nhóm nhỏ và cả những liên minh của các tổ chức chính thống. Cơ cấu của các mạng lưới có thể chính thức hoặc phi chính thức, với nhiều mô hình lãnh đạo và điều phối khác nhau. Mạng lưới chính thức (ví dụ có tên gọi là Liên minh X), có cơ cấu tổ chức, có quy chế thành viên, các cuộc họp thường kỳ, quy chế hoạt động, tuyên bố chính thức về sứ mệnh, kế hoạch chiến lược và các phương tiện để liên lạc nội bộ. Tùy tình hình ngân sách, liên minh có thể có hoặc không có nhân viên được trả lương hoặc văn phòng cố định. Ngược lại với các mạng lưới chính thức là những mạng lưới phi chính thức (“nhóm những người bạn và đồng minh”), không có tên gọi và không có những thủ tục chính quy. Đó là những nhóm hoạt động trên mạng, những nhóm tình nguyện, những diễn đàn chia sẻ thông tin và những nhóm tương thân tương ái. Đối với những nhóm này các thành viên không coi mình thuộc về một mạng lưới.  Các tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội cũng là một phần của các mạng lưới XHDS nếu họ tham gia vào các hành động chung cùng với các thành viên khác. Theo lý thuyết của Robert Putnam, sự tham gia vào các mạng lưới mang lại những lợi ích về việc tăng vốn xã hội và các giá trị dân chủ cho các tổ chức7.   Mạng lưới cũng có thể có thành viên là các cá nhân và tổ chức như công ty và cơ quan truyền thông, với điều kiện là họ cùng cộng tác với nhau vì lợi ích của cộng đồng bên cạnh những lợi ích riêng của họ. Có những trường hợp các chính quyền địa phương, các cơ quan cấp bộ, hay các viện nghiên cứu của nhà nước cũng tham gia vào mạng lưới XHDS.  Nhiều mạng lưới cá nhân không bao giờ phát triển thành mạng lưới XHDS. Các mạng lưới này chỉ dừng lại ở cấp độ các quan hệ xã hội và không theo đuổi các mục tiêu liên quan đến cộng đồng hay các mục tiêu tác động chính sách. Ví dụ, nhiều câu lạc bộ của các doanh nhân hay các mạng lưới kinh doanh chỉ tồn tại để phục vụ cho lợi ích của các thành viên. Các nhóm tôn giáo thì theo đuổi các mục tiêu vì cộng đồng nhưng không tham gia vận động chính sách và các thành viên gia nhập tôn giáo dựa trên cơ sở căn tính cá nhân chứ không vì mục tiêu cộng đồng. Có những mạng lưới hoạt động trái ngược với lợi ích của xã hội. Có những tập đoàn kinh tế và các nhóm lợi ích thành lập mạng lưới riêng, hoặc những nhóm khủng bố và mafia cũng tập hợp thành mạng lưới. Trong một số trường hợp, có những mạng lưới mang đặc điểm của XHDS nhưng theo đuổi các lợi ích cá nhân.   Đặc điểm của các mạng lưới XHDS là sự tham gia vận động chính sách, được hiểu là “những nỗ lực nhằm gây ảnh hưởng tới quyết định của nhóm quyền lực vì mục đích bảo vệ quyền lợi của số đông”8. Như vậy khái niệm này mở rộng hơn khái niệm “thay đổi chính sách”.   Một trong những rủi ro của các mạng lưới phi chính thức là sự lặp lại của cơ cấu hệ thống theo chiều dọc, trong đó một cá nhân hay một nhóm nhỏ lãnh đạo mạng lưới. Một rủi ro khác là tính chất không ổn định của mạng lưới, vì sự tham gia và liên kết của các thành viên thường thay đổi tùy theo các vấn đề mà họ quan tâm và thậm chí tùy theo việc ai là thủ lĩnh mạng lưới9. Học giả Mayfair Yang đã trích lời một nghệ sỹ Trung Quốc: “Tham gia mạng lưới cũng giống như đánh cá; khi bắt được cá rồi mọi người buông lưới và tản đi. Khi thả lưới mới, chưa chắc tất cả những người cũ vẫn còn ở đó”.  Hầu hết các mạng lưới phi chính thức đều khá nhỏ. Tuy nhiên khi mở rộng, các mạng lưới gặp phải vấn đề cơ cấu tổ chức. Cũng có những mạng lưới có hàng nghìn thành viên và hoạt động trong một cơ cấu phức tạp, như trường hợp mạng lưới các tổ chức phi chính phủ ở Philippines và Ấn Độ. Cơ cấu tổ chức của các mạng lưới cũng khá đa dạng, bao gồm sơ đồ hình tháp, hoặc sơ đồ vòng tròn trong đó một cá nhân hay một tổ chức nắm vị trí trung tâm, hoặc sơ đồ hình mạng nhện trong đó không rõ ai là thủ lĩnh. Tuy nhiên cần phân biệt sơ đồ tổ chức mạng lưới với cách họ vận hành trong thực tế. Có mạng lưới tuyên bố mô mình hoạt động theo hướng bình đẳng nhưng thực chất chỉ có một nhóm nòng cốt ra quyết định.  Các phương thức vận động chính sách   Vận động chính sách bao gồm hàng loạt các chiến lược nhằm tác động đến Nhà nước và dư luận xã hội. Đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt mạng lưới XHDS với mạng lưới mang tính cá nhân. Một nhà hoạt động ở Việt Nam đã chia sẻ: “Các mạng lưới sẽ hiệu quả và gây ảnh hưởng tốt nhất khi họ vận động chính sách”10.   Thuật ngữ “vận động chính sách” chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng hoạt động này đã diễn ra trên thực tế từ khá lâu. Hơn hai phần ba các tổ chức phi chính phủ Việt Nam mong muốn tham gia vận động chính sách, tuy nhiên họ bị hạn chế về năng lực hoặc thiếu chiến lược11. Các nhà nghiên cứu Ben Kerkvliet, Nguyễn Quang A và Bạch Tân Sinh đã mô tả các trường hợp vận động chính sách. Lúc đầu thì chính quyền không hợp tác và nghi ngờ, tuy nhiên dần dần mối quan hệ được cải thiện. Điều này cho thấy các tổ chức hoặc mạng lưới hoạt động lâu năm thường đạt được nhiều kết quả trong vận động chính sách hơn các nhóm mới ra đời.  Trong luận án tiến sỹ của Joseph Hanna, ông đã đưa ra lý thuyết về vai trò của XHDS, được mô hình hóa trên một trục, với một cực là thực hiện chính sách nhà nước và cực kia là phản đối chính sách. Giữa hai cực này là hàng loạt các vai trò khác như vận động hành lang, giám sát và phản biện. Vào thời điểm Hannah thực hiện nghiên cứu vào năm 2004, ông phát hiện rằng Nhà nước Việt Nam chỉ cho phép các hoạt động góp ý để thực hiện tốt hơn các chính sách hiện có, và không cho phép vận động thay đổi chính sách hoặc phê phán công khai các chính sách của Nhà nước. Nhưng trên thực tế dần dần các giới hạn này đã thay đổi. Đến thời điểm năm 2009, một số mạng lưới đã có thể tuyên bố công khai về vai trò của họ trong việc “giám sát để bảo vệ quyền của những người bị chính sách ảnh hưởng”.   Có thể chia các chiến lược vận động chính sách của các mạng lưới XHDS làm ba loại: Vận động từ bên trong hệ thống nhà nước (sử dụng các mối quan hệ cá nhân và quan hệ tổ chức để liên hệ và tác động vào các bộ phận của bộ máy nhà nước); Vận động bằng truyền thông (làm việc thông qua các tờ báo nhà nước, các kênh truyền thông trên mạng, blog và các kênh truyền thông quốc tế để đạt được mục tiêu tác động chính sách một cách gián tiếp); Vận động cộng đồng (tạo áp lực từ cộng đồng để thay đổi chính sách).   Phổ biến nhất là mô hình vận động cả “bên trong và bên ngoài” vì nó giúp các mạng lưới XHDS có thể tác động đến các quyết sách quan trọng ngay cả khi họ ở thế yếu. Chiến lược này tận dụng sự phân cấp của bộ máy nhà nước. Một số bộ phận hoặc một số cấp khác nhau của bộ máy nhà nước có thể là đồng minh, thậm chí là thành viên của các mạng lưới vận động chính sách. Một nhà hoạt động ở Trung Quốc đã chia sẻ: “Chúng tôi không đối đầu trực tiếp với chính quyền. Chúng tôi giúp cơ quan này đấu với cơ quan kia”. Chiến lược này giống với hình ảnh của một cái bập bênh, khi một vật dù nhẹ nếu được đặt ở đúng điểm trọng lực sẽ thay đổi sự cân bằng trong tương quan với phía bên nặng hơn.                   Đây là bài đầu tiên trong series năm bài viết về XHDS ở Việt Nam. Loạt bài này được viết dựa trên tài liệu từ cuốn sách “Mạng lưới XHDS ở Trung Quốc và Việt Nam” của Andrew Wells Dang. Trong các bài viết tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các trường hợp nghiên cứu cụ thể, so sánh kinh nghiệm hoạt động của XHDS ở Trung Quốc và Việt Nam, và trình bày các khuyến nghị và đề xuất cho tương lai.  Tác giả Andrew Wells-Dang (ảnh bên) sống  và làm việc tại Việt Nam từ năm 1997. Ông đã tham gia quản lý và tư vấn  cho các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Hiện ông là cố vấn cao cấp cho tổ  chức Oxfam tại Việt Nam. Ông là tác giả cuốn sách Mạng lưới xã hội dân  sự tại Trung Quốc và Việt Nam: Những người mở đường trong lĩnh vực chăm  sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường do NXB Palgrave Macmillan phát hành  năm 2012,  đồng thời là tác giả nhiều bài báo về các vấn đề chính trị xã  hội ở Đông Nam Á. Andrew Wells-Dang nhận bằng Tiến sỹ Khoa học chính  trị của ĐH  Birmingham (Anh) và bằng Thạc sỹ Phát triển quốc tế của ĐH  John Hopkins (Mỹ).    ĐẶNG HƯƠNG GIANG  dịch  —  1 Oscar Salemink, “Translating, interpreting and practicing civil society in Vietnam: A tale of calculated misunderstandings” (Diễn giải về xã hội dân sự và thực hành của xã hội dân sự ở Việt Nam: Câu chuyện về sự hiểu lầm có chủ ý) trong tập sách của Lewis D và Mosse D Development Brokers and Translators (Những người môi giới và phiên dịch trong lĩnh vực phát triển) (2006), trang 121; Jonathan London, “Viet Nam and the making of market-Leninism” (Việt Nam và chủ nghĩa Lenin kết hợp với kinh tế thị trường), Pacific Review (2009), trang 10-11; Carlyle Thayer, “Vietnam and the Challenge of Political Civil Society,” (Việt Nam và thách thức của xã hội dân sự chính trị), Contemporary Southeast Asia  (2009), trang 10-11.  2 Robert Weller, Alternate Civilities: Democracy and Culture in China and Taiwan (Xã hội dân sự kiểu mới: Dân chủ và văn hóa ở Trung Quốc và Đài Loan), 1999  3 Kerkvliet, Heng, và Koh, Getting Organized in Vietnam: Moving in and Around the Socialist State (Tổ chức ở Việt Nam: Chuyển dịch bên trong và bên ngoài nhà nước xã hội chủ nghĩa), 2003, trang 1  4 Mark Sidel, “The Emergence of a Nonprofit Sector and Philanthropy in the Socialist Republic of Vietnam” (Sự xuất hiện của khu vực phi lợi nhuận và hoạt động nhân đạo ở nước CHXHCN Việt Nam,” trong tập sách của Yamamoto, “The Emergence of a Nonprofit Sector and Philanthropy in the Socialist Republic of Vietnam” (Sự xuất hiện của xã hội dân sự trong cộng đồng châu Á Thái Bình Dương), 1996, trang 293  5 Irene Nørlund, “International analyses and views on Civil Society in Vietnam” (Phân tích quốc tế và các quan điểm về xã hội dân sự ở Việt Nam), 2008; Joseph Hannah, Approaching Civil Society in Vietnam (Tiếp cận xã hội dân sự ở Việt Nam), luận án tiến sỹ, Đại học Washington (2007).  6 Ben Kerkvliet, Nguyễn Quang A, Bạch Tân Sinh, “Forms of Engagement Between State Agencies and Civil Society Organizations in Vietnam” (Hình thái tương tác giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam), 2008, trang 49.  7 Robert Putnam, Making Democracy Work: Civil Traditions in Modern Italy (Thúc đẩy nền dân chủ: Truyền thống dân sự trong xã hội Ý đương đại, 1993), trang 167.  8 JC Jenkins, “Nonprofit organisations and policy advocacy” (Các tổ chức phi lợi nhuận và vận động chính sách) in trong tập sách của Powell, The Nonprofit Sector: A Research Handbook (Khu vực phi lợi nhuận: Sách hướng dẫn nghiên cứu), 1987, trang 267.  9 David Korten, Getting to the 21st Century: Voluntary Action and the Global Agenda (Bước vào thế kỷ 21: Các hoạt động tự nguyện và chương trình hành động toàn cầu), 1990; Hirsch và Warren, The Politics of Environment in Southeast Asia (Chính trị trong vấn đề môi trường ở Đông Nam Á), 1998.  10 Vũ Thị Nga, “Báo cáo kết quả hội thảo: Sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng trong vận động chính sách: kinh nghiệm thực tiễn và khuôn khổ pháp luật” (2008), trang 31.  11 Asia Foundation, Training Needs Assessment of Civil Society Organizations in Vietnam (Đánh giá nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam), 2008, trang 6, 32-37.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội dân sự Trung Quốc: Một tham khảo      Mặc dù xã hội dân sự Trung Quốc có môi trường hoạt động nhiều thách thức hơn Việt Nam nhưng có lẽ có tới 90-95% các nhận định về xã hội dân sự ở Trung Quốc đồng thời cũng có thể áp dụng được vào bối cảnh ở Việt Nam.    Về mặt lịch sử, văn hóa, và chính trị, Trung Quốc là quốc gia có truyền thống gắn bó gần gũi nhất với Việt Nam. Dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa hai quốc gia tương đồng trên mọi khía cạnh. Trung Quốc là một nước lớn, xét cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, tuy vậy, sự ảnh hưởng giữa hai quốc gia không diễn ra theo một chiều đơn nhất, và cả hai đều cùng tham gia vào một quá trình đồng tiến hóa và thích nghi chung.1 Điều này cũng đúng với trường hợp chặng đường hình thành và phát triển xã hội dân sự diễn ra song song tại Trung Quốc và Việt Nam trong mấy thập kỷ gần đây. Rất nhiều tài liệu liên quan bằng tiếng Trung và tiếng Anh ở Trung Quốc đã đề cập một bối cảnh mà trong đó các tổ chức và mạng lưới chính thức cũng như phi chính thức đã và đang gia tăng nhanh chóng, dù rằng khung pháp lý vẫn chưa kịp hoàn thiện. Trong bối cảnh này, xã hội dân sự tồn tại trong mối quan hệ nửa phụ thuộc, nửa độc lập với chính quyền nhà nước, và công dân tham gia sinh hoạt chính trị bằng vô vàn cách thức sáng tạo khác nhau, thông qua các kênh chính thống và ngoại lai.2 Có lẽ có tới 90-95% các nhận định về xã hội dân sự ở Trung Quốc đồng thời cũng có thể áp dụng được vào bối cảnh ở Việt Nam.  Tuy thừa nhận những điểm tương đồng trên, song khi so sánh giữa hai quốc gia, các nhà phân tích vẫn cho rằng xã hội dân sự Trung Quốc có môi trường hoạt động nhiều thách thức hơn Việt Nam. Việc thi hành luật pháp ở đây thường diễn ra quyết liệt hơn theo mô hình nhà nước nghiệp đoàn.3 Tất cả các tổ chức xã hội đều phải đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước cấp trung ương hoặc tỉnh/địa phương, trong đó các “GONGO” (tức các tổ chức phi chính phủ do nhà nước đứng ra thành lập, chẳng hạn như các tổ chức quần chúng) thường được đối xử ưu ái hơn. Một tổ chức mới muốn đăng ký cần được sự hậu thuẫn kép của một bộ phận hành chính chủ quản đóng vai trò “bà đỡ” và một cơ quan chuyên môn, tuy rằng một số tỉnh như Quảng Đông hay Thượng Hải mới đây đã áp dụng những quy định mới nhằm đơn giản hóa quy trình này. Nguyên tắc mỗi khu vực chỉ có một đoàn thể được phép đại diện cho cử tri tại chính khu vực đó được theo dõi sát sao, do vậy, các tổ chức phi chính phủ không thể điều hành văn phòng chi nhánh ở các tỉnh khác với tỉnh nơi họ đăng ký hoạt động. Các nhà tài trợ cũng chịu sự giám sát ngặt nghèo nên hoạt động quyên góp trở nên khó khăn hơn: một số tổ chức đã bị đóng cửa hoặc bị dọa đóng cửa vì tiếp nhận sự hỗ trợ từ những tổ chức không được chào đón ở đây. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế còn hiếm hoi hơn, và phần lớn đều hoạt động mà không có đăng ký hợp pháp.   Dẫu vậy, vẫn có những yếu tố cho thấy tiềm năng phát triển xã hội dân sự mạnh mẽ ở Trung Quốc. Nhiều tổ chức phi chính phủ, cơ quan truyền thông, và viện nghiên cứu hoạt động rất chuyên nghiệp trên quy mô toàn quốc, hoạt động của họ được hoan nghênh từ những năm 1990 hay lâu hơn nữa. Hệ thống trường đại học ở Trung Quốc rất vững chắc và không ngừng nâng cao những hỗ trợ về tài chính cho cả một số trung tâm nghiên cứu xã hội dân sự nổi tiếng tại các học viện quốc gia lớn. Nền kinh tế ngày một thịnh vượng cũng giúp nuôi dưỡng sự phát triển của khu vực các tổ chức tư nhân trong nước, có tiềm năng làm thay đổi hoạt động quyên góp và làm từ thiện. Xét về khía cạnh này và nhiều khía cạnh khác, xã hội dân sự Trung Quốc có những kinh nghiệm có mối liên quan mật thiết với xã hội dân sự ở Việt Nam.  Trường hợp điển hình sau đây về một mạng lưới dân sự ở Trung Quốc có thể dùng làm minh họa cho những sự kiện tương tự ở Việt Nam.  Sự xuất hiện của Mạng lưới Sông ngòi Trung Quốc   Tháng 8/2003, truyền thông Trung Quốc thông báo một kế hoạch xây dựng 13 con đập trên sông Nộ Giang chảy qua Tây Tạng và tỉnh Vân Nam.   Giới khoa học, học giả, các nhà hoạt động phi chính phủ (NGO), và báo giới ở cả khu vực nhà nước và tư nhân đều hết sức sửng sốt trước thông tin này, và họ quyết định hành động. Trong “một chiến dịch vô tiền khoáng hậu, thu hút sự tham gia của các tổ chức NGO, các nhà khoa học, quan chức chính phủ, và cả quần chúng”, một mạng lưới hoạt động phi chính thức nổi lên nhằm tận dụng truyền thông và công luận Trung Quốc để phản đối ý tưởng xây đập.4 Giới khoa học và NGO công khai đả phá việc xây dựng những con đập này, và được giới truyền thông nhiệt tình đưa tin. Họ cũng nhận được sự ủng hộ công khai ở chính quyền trung ương, đặc biệt là Bộ Môi trường, và họ đã tranh thủ sự ủng hộ này để đối phó với chính quyền các địa phương cũng như các tập đoàn thủy điện.5 Các nhà hoạt động vì môi trường tiến hành thu thập chữ ký của trên 10.000 sinh viên, nhà khoa học, nghệ sĩ, và nhà báo để gửi một kiến nghị công khai: “Hãy bảo tồn Nộ Giang – con sông sinh thái cuối cùng”.6 Tổ chức Tình nguyện viên vì thế giới xanh bắt tay vào tổ chức các “salon phóng viên” định kỳ 2 tuần/lần với khách mời là các diễn giả đến từ các tổ chức NGO khác và các cơ quan chính phủ.7   Sự tham gia của giới truyền thông đã cho ra đời hàng trăm bài viết đăng tải trên truyền thông Trung Quốc và quốc tế. Có rất nhiều ý kiến cho rằng nhờ có sự phối hợp giữa các lá đơn kiến nghị với hoạt động vận động hành lang trực tiếp và áp lực từ truyền thông mà Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải ra quyết định hoãn dự án vào hồi tháng 4/2004 vì cho rằng dự án này đã làm dấy lên “những mối lo ngại lớn về xã hội.” Như vậy, sông Nộ Giang đã được bảo tồn, chí ít là trong thời gian trước mắt.  Tháng 8/2004, tiếp nối thành công bước đầu, bảy tổ chức NGO đã hợp tác để chính thức hóa Mạng lưới Sông ngòi Trung Quốc (China Rivers Network – CRN).8 Ý tưởng xây dựng một mạng lưới chính thức khi đó vẫn còn mới mẻ ở quốc gia này. Mục tiêu của CRN là chủ động giải cứu các con sông chứ không chỉ thụ động phản ứng trong những trường hợp khẩn cấp.   Trong năm đầu hoạt động, các thành viên CRN đã cho ra đời một series các báo cáo của giới truyền thông về sông Nộ Giang, một bộ phim tài liệu, và một website đăng tải các ký sự ảnh cùng nhiều thông tin khác. CRN vạch ra một chương trình nghiên cứu và phát triển sinh thái cho các cộng đồng ven sông, trong đó vừa tập trung vào việc bảo tồn sự đa dạng sinh học lại vừa giúp loại bỏ hay giảm nhẹ chi phí tái định cư. Họ hy vọng sẽ quyên góp được tiền để tài trợ cho các dự án nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học làm đối trọng với các nghiên cứu của chính phủ, vốn bị cho rằng không khách quan, và sau đó công bố các kết quả nghiên cứu trên internet nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng về tác hại do những con đập này gây ra.  Bước lùi chiến thuật  Mặc dù có những mục tiêu đầy tham vọng như vậy, song theo chia sẻ của một thành viên sáng lập, CRN chưa bao giờ thực sự hoạt động. Trong năm đầu tiên, họ cũng thực hiện các cuộc họp hằng quý giữa các thành viên, tổ chức một vài sự kiện cùng một số buổi giảng bài, song tất cả đều “không mang lại những thành công đáng chú ý.” Khó khăn của họ nằm ở việc xác định danh nghĩa để hoạt động, bởi họ không thể đăng ký hoạt động chính thức, không có con dấu hay tài khoản ngân hàng. Các lãnh đạo không có kinh nghiệm hình thành hay quản lý mạng lưới, và cũng không có đường hướng chiến lược rõ ràng để vận hành nó. Các vấn đề về quản lý, đặc biệt là về cơ cấu nhân sự và lãnh đạo, đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. CRN hoạt động mà không hề có sự hỗ trợ từ bên ngoài: thay vào đó, các tổ chức thành viên (một số tổ chức được quốc tế tài trợ) tự đầu tư nguồn lực vào phát triển mạng lưới. Quyết định “tự lực cánh sinh” này rất đáng ngưỡng mộ, song nguồn lực mà họ có thể đưa vào khó mà đủ để duy trì mạng lưới.   Những khó khăn về mặt tổ chức vừa mới xuất hiện thì CRN lại phải đối mặt với thách thức mới. Bắt đầu từ năm 2005, những người ủng hộ việc xây đập lên tiếng một cách mạnh mẽ để chỉ trích các nhà hoạt động vì môi trường, và nói rằng các thành viên CRN đã ấu trĩ khi cản đường sự phát triển của dân tộc. Những lập luận này còn được sự hậu thuẫn bởi việc chính phủ xiết chặt chính sách đối với các hoạt động NGO và đưa ra những cáo buộc rằng CRN bị điều khiển bởi các nhóm lợi ích nước ngoài. Một tổ chức thành viên từng bị điều tra vì nhận tài trợ từ một tổ chức nước ngoài. Các tổ chức thành viên khác bị dọa đóng cửa, và cá nhân các lãnh đạo CRN ở tỉnh Vân Nam phải đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ bất kỳ lúc nào.    Vì những khó khăn về mặt hoạt động và khó khăn trong việc kêu gọi tài trợ, nên vào tháng 1/2006, các thành viên CRN quyết định chấm dứt hoạt động chính thức, và quay trở lại với cơ cấu phi chính thức trước kia, khi mạng lưới hình thành từ năm 2003. Song việc giải tán mạng lưới chính thức chỉ là một bước lùi về mặt chiến thuật. Các thành viên CRN nhận thấy rằng những hành động công khai của mình đang ngày càng thu hút sự chú ý của những người chống đối, nên họ quyết định thực hiện một động thái chiến lược là lùi về hậu trường. Kể từ năm 2006, các thành viên mạng lưới vẫn tiếp tục họp mặt khi cần thiết, và cùng chung lưng đấu cật trong rất nhiều vấn đề liên quan tới việc bảo vệ môi trường và các dòng sông.   Sau khi quay trở về với cơ cấu hoạt động phi chính thức, các thành viên mạng lưới lựa chọn một cơ cấu mới linh động hơn, theo đó họ tổ chức theo mô hình chuyên môn hóa và sự hợp tác được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau. Một nhà hoạt động chính trong mạng lưới cho biết: “Chúng tôi đã nỗ lực bằng mọi cách để vận hành nó theo mô hình một mạng lưới chính thức, song điều đó lại không xảy ra như mong đợi. Rồi chúng tôi nghĩ: “Chúng ta có thể hoạt động theo bất kỳ phương thức nào! Trước đây chúng ta cũng từng làm thế rồi cơ mà, đâu nhất thiết phải bó mình trong một phương thức!”…   Cơ cấu mạng lưới phi chính thức hiện nay được cá nhân các thành viên đánh giá là có hiệu quả cao. “Mạng lưới vô hình” thì rất linh hoạt, giảm thiểu rủi ro và sự nhạy cảm về mặt chính trị, và đồng thời cũng cho phép các thành viên cùng sở hữu và tham gia vào mạng lưới.  Các chiến lược kêu gọisự ủng hộ   Chiến lược kêu gọi sự ủng hộ đầu tiên mà CRN sử dụng là hình thức thư ngỏ, tức là một bản kiến nghị được đồng thời gửi tới các lãnh đạo chính quyền và công khai (hoặc rò rỉ) sang các kênh truyền thông và/hoặc trên internet. Kể từ lần đầu tiên sử dụng trong chiến dịch sông Nộ Giang năm 2003, hình thức kêu gọi công chúng ký tên vào thư kiến nghị đã được sử dụng trong hầu hết các hoạt động kêu gọi sau này. Vì được gửi tới cả những người ủng hộ và đối lập, nên thường các lá thư ngỏ này sẽ mang lại kết quả như mong muốn. Chẳng hạn, tháng 8/2005, 61 tổ chức và 99 nhà hoạt động cá nhân cùng ký tên vào một thư kiến nghị để kêu gọi việc tiết lộ công khai bản Đánh giá Tác động Môi trường của Sông Nộ Giang (EIA) và các kế hoạch phát triển thủy điện lớn khác. Tháng 10 cùng năm, Ủy ban Trung ương Đảng thay đổi cách dùng từ trong Kế hoạch Năm năm lần thứ 11 từ “chủ động phát triển các dự án thủy điện” thành “phát triển các dự án thủy điện một cách hợp lý đồng thời bảo vệ môi trường.”9 Tới cuối năm 2007, các công ty xây đập bắt đầu công khai các thông tin EIA trên website bảo vệ môi trường tỉnh Vân Nam.   Thư ngỏ là một chiến thuật hiệu quả để thu hút sự ủng hộ của các tổ chức NGO, học thuật, và tổ chức quốc tế hoạt động theo đường lối ôn hòa. Thư ngỏ cũng được viết nhằm khiến cho lời kêu gọi của CRN mang tính đại diện cho quan điểm của tất cả các nhà ủng hộ môi trường, bất kể lập trường chính trị của họ ra sao, từ đó giảm thiểu rủi ro cho mỗi cá nhân tham gia ký tên.   Thư ngỏ cũng được gửi tới các tập đoàn thủy điện. Việc công kích vào các tập đoàn khả thi hơn so với việc trực tiếp tìm cách thay đổi hành vi của chính phủ, vì các nhà hoạt động có thể nói rằng họ đang ủng hộ chính sách xây dựng “một xã hội hài hòa” của chính phủ, trong khi vẫn có thể chỉ trích rằng các hành động vi phạm pháp luật của các công ty, thậm chí là công ty nhà nước, đang gây ra những bất ổn về xã hội. Xét trong nhiều trường hợp, việc xây đập không phải do các công ty tư nhân – chí ít là trên danh nghĩa – thực hiện; sự nhập nhằng này cho phép CRN lên tiếng chỉ trích công khai bởi vì các công ty đó không trực tiếp do nhà nước sở hữu.  Thành tố chính thứ hai trong hoạt động kêu gọi của CRN liên quan tới truyền thông trong nước và truyền thông trực tuyến. Những thành viên cốt cán chịu trách nhiệm phát triển chiến lược truyền thông cho mạng lưới trước tiên coi chính bản thân họ là những nhà báo, và sau đó là với tư cách thành viên NGO. Mối quan hệ của các nhà hoạt động với truyền thông nhà nước giúp họ có được một “vị trí độc đáo” trước giới cầm quyền. Sức mạnh của truyền thông, theo lời một lãnh đạo một tổ chức phi chính phủ về môi trường, là “không thể coi thường.”   Truyền thông đôi khi có thể giúp tiếp cận các lãnh đạo chính quyền Trung Quốc, đặc biệt là khi thông tin được đăng tải nổi bật trên đúng tờ báo, vào đúng thời điểm. Chẳng hạn, sau khi các thành viên CRN mời một vị phó giám đốc về hưu của Đài phát thanh Trung ương Trung Quốc tham gia chuyến đi thực tế tới các khu vực chịu sự ảnh hưởng của các con đập, vị này đã đăng tải một bài báo trên các tờ nhật báo lớn ở Bắc Kinh và Thượng Hải, kêu gọi các quan chức chính phủ chú ý hơn tới chính sách xây đập. Theo tổ chức Tình nguyện viên vì thế giới xanh, bài báo này đã có tác động lớn tới nhận thức của giới cầm quyền Trung Quốc, lớn hơn nhiều so với khi nó do một nhà báo bình thường viết.   Truyền thông trực tuyến và blog cũng là một hợp phần không thể thiếu trong chiến lược kêu gọi. Hầu hết các bài viết đều xuất hiện trên báo in trước, song sau đó chúng được đăng tải lại trên nhiều website khác nhau, khiến chúng có đời sống tồn tại lâu hơn, và tiếp cận nhiều người hơn so với một tờ nhật báo đơn lẻ.   Thứ ba, các thành viên CRN khẳng định rằng, việc xây dựng mối liên hệ với các cộng đồng ở các khu vực chịu ảnh hưởng của đập là cần thiết, xét cả về mặt nguyên tắc và trong vai trò là rào chắn trước sự công kích của những người ủng hộ xây đập. Mối liên hệ với các cộng đồng địa phương luôn là xương sống trong hoạt động của CRN, mà bắt đầu là những chuyến thực tế của họ tới sông Nộ Giang giai đoạn năm 2003 – 2004. Tổ chức có mối liên hệ gần gũi nhất với các cộng đồng địa phương sinh sống ở khu vực sông Nộ Giang là Lưu vực xanh ở tỉnh Côn Minh. Họ đã tổ chức nhiều chuyến đi thực tế học hỏi lẫn nhau giữa các cộng đồng cùng chịu ảnh hưởng của đập, thậm chí còn đưa lãnh đạo các cộng đồng tới Bắc Kinh để tham gia các hội thảo quốc tế.   Việc lôi kéo sự tham gia của các cộng đồng sở tại là cần thiết để tranh thủ sự ủng hộ của công luận và tác động tới các chính sách của chính phủ. Sự liên hệ với các cộng đồng còn giúp chặn đứng những luận điệu của các thế lực chống đối rằng các nhà hoạt động vì môi trường chỉ là những người theo chủ nghĩa lý tưởng viển vông, chỉ quan tâm tới việc bảo tồn danh lam thắng cảnh mà không quan tâm tới mong muốn phát triển của người dân. Những nỗ lực của các thành viên CRN trong việc dạy chữ và triển khai các dự án phát triển cho khu vực sông Nộ Giang và Kim Sa còn có thể được coi là những tuyên ngôn về tình đoàn kết, bên cạnh những lợi ích hữu hình mà chúng mang lại.   Cơ hội hành động mới  Những thành tích ban đầu của CRN trong việc đẩy lùi các con đập trên sông Nộ Giang đã mở rộng không gian chính trị cho hoạt động ủng hộ môi trường, song nó vẫn chưa trở thành một bước đột phá cho xã hội dân sự như kỳ vọng của một số người. Áp lực từ phía những người ủng hộ xây đập ngày càng gia tăng khi mà Trung Quốc đang phải đối mặt với cơn khát năng lượng ngày một bức bách hơn, nhất là đối với những nguồn năng lượng tái sinh như thủy điện. Khi Thủ tướng Ôn Gia Bảo hết nhiệm kỳ vào năm 2013, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc lật lại vấn đề xây dựng đập và bật đèn xanh cho dự án sông Nộ Giang được tiếp tục. Đây là một quyết định không mong muốn đối với các thành viên của CRN, song nó cũng là hồi chuông nhắc nhở rằng việc phát triển xã hội dân sự không tuần tự tịnh tiến, không có người thua kẻ thắng rõ ràng. Dù thành công hay thất bại  thì một sự kiện đơn lẻ không bao giờ là phần kết của câu chuyện, bởi công cuộc kêu gọi chính sách kéo dài theo nhiều thời kỳ, nhiều chu kỳ khác nhau. Các nhà hoạt động không chỉ không thể ra quân trận nào là chắc thắng trận.   Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng đường lối kêu gọi của CRN đã thúc đẩy môi trường sinh hoạt “dân chủ”.10 Thoạt nghe, có vẻ như đây là một sự phóng đại. Nhưng nếu nhìn nhận dân chủ không trên cương vị là một hình thức thể chế, mà là sự nâng cao sự tham gia của dân chúng vào hệ thống chính trị Trung Quốc hiện thời, thì những nhận xét trên cũng có ý nghĩa. Rõ ràng, các thành viên của CRN đã khẳng định quyền được tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của nhà nước. Nhờ những thông tin công khai trên truyền thông, một bộ phận công chúng được nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường – trong trường hợp này là những con đập. Các cộng đồng ở những khu vực bị ảnh hưởng cũng có thêm thông tin, và ở một số trường hợp, họ còn tích cực chủ động tham gia, dù mới chỉ ở mức hạn chế. Bất chấp những rào cản về chính trị và hạn chế về nguồn lực cũng như sự tài trợ từ bên ngoài, CRN vẫn duy trì hoạt động kêu gọi của mình trong một thời gian dài, và đóng góp vào việc thay đổi dần môi trường chính trị, hướng tới quá trình ra quyết định công khai hơn trong vấn đề xây đập – vốn là một mối quan tâm chính của phong trào hoạt động vì môi trường ở Trung Quốc. Trong khía cạnh này và nhiều khía cạnh khác, kinh nghiệm của CRN đã mang lại những bài học quý giá cho những nhà hoạt động xã hội dân sự ở các nước láng giềng.      Bùi Thu Trang dịch    Đọc thêm:  * Nhỏ mà đẹp  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7680  * Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7654  * Những người mở đường hợp tác  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7659    ———————–  1 Brantly Womack, Trung Quốc và Việt Nam: Chính trị đối xứng, 2006.  2 Để tìm hiểu thêm thông tin về xã hội dân sự và các tổ chức NGO ở Trung Quốc, mời xem thêm: Wang Ming, ed. Xã hội dân sự mới nổi ở Trung Quốc, 2011; Peter Ho và RL Edmunds, China’s Embedded Activism, 2008; Lu Yiyi, Các tổ chức phi chính phủ ở Trung Quốc: sự trỗi dậy của nền tự chủ độc lập, 2008 (và nhiều nguồn khác).  3 Jonathan Unger, Các hiệp hội và Nhà nước Trung Quốc, 2008.   4 Liang Congjie and Yang Dongping, eds. Niêm giám môi trường Trung Quốc: Khủng hoảng và bước đột phá trong môi trường Trung Quốc, 2007, trang 63-88; Andrew Wells-Dang, Mạng lưới xã hội dân sự ở Trung Quố và Việt Nam, 2012, chương 6.  5 Sun Yanfei and Zhao Dingxin, ‘Các chiến dịch môi trường,’ trong O’Brien K, ed. Phản đối công khai ở Trung Quốc, 2008, trang 144-62.  6 Yan Yan, ‘Quyền lực truyền thông ở Trung Quốc qua phong trào phản đối xây đập,’ Kexue Xinwen [Tin khoa học], 22/10/2009.  7 Yang Guobin and Craig Calhoun, ‘Truyền thông, xã hội dân sự, và sự trỗi dậy của không gian công luận xanh ở Trung Quốc,’ trong Ho and Edmonds, eds. Trào lưu hoạt động ở Trung Quốc, 2008, trang 69-88.   8 Bảy thành viên đầu tiên trong mạng lưới bao gồm các tổ chức: Những người bạn của tự nhiên, Ngôi làng toàn cầu Bắc Kinh, Tình nguyện viên vì trái đất xanh, Lưu vực xanh, Viện Môi trường và phát triển, Viện giáo dục Brooks, và Hãng phim Thiên nhiên hoang dã Trung Quốc. Mạng lưới này có tổng cộng 10 tổ chức tham gia. Để tìm hiểu thông tin về thời gian xuất hiện của các phong trào hoạt động chống việc xây đập ở Trung Quốc, mời truy cập http://www.fon.org.cn/content.php?aid=11750.   9 Yang Dongping, ed. Báo cáo thường niên về môi trường và phát triển ở Trung Quốc (Zhongguo Huanjing Lupishu). Bắc Kinh: Nhà xuất bản Khoa học xã hội hàn lâm, 2009.  10 Xu Nan, ‘Lịch sử hình thành các tổ chức NGO vì sự nghiệp bảo vệ môi trường ở Trung Quốc,’ Tuần báo Nam Phương Chu Mạt, 9/10/2009, Andrew Mertha, Những thủy binh Trung Quốc: Hành động của công dân và sự thay đổi chính sách, 2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội dân sự Việt Nam      Cho đến nay, chưa c&#243; một văn bản n&#224;o của Đảng v&#224; Nh&#224; nước đưa ra kh&#225;i niệm x&#227; hội d&#226;n sự, song tr&#234;n thực tế theo c&#225;c quan niệm phổ biến quốc tế, x&#227; hội d&#226;n sự thực chất kh&#244;ng phải l&#224; một thực tế x&#227; hội xa lạ đối với Việt Nam. Ngay từ xa xưa t&#237;nh cộng đồng, l&#224;ng x&#227;, t&#236;nh l&#224;ng nghĩa x&#243;m, y&#234;u thương đ&#249;m bọc lẫn nhau đ&#227; mang đặc trưng r&#245; n&#233;t của truyền thống gi&#225; trị văn h&#243;a, niềm tin, t&#237;nh cộng đồng, chia sẻ tr&#225;ch nhiệm v&#236; c&#225;c c&#244;ng việc chung. Đ&#243; l&#224; những gi&#225; trị cơ bản của x&#227; hội d&#226;n sự đ&#227; tồn tại h&#224;ng ngh&#236;n năm ở nước ta.    Lịch sử cận đại của Việt Nam đầu thế kỷ 20, mang nhiều dấu ấn của các phong trào quần chúng, và các tổ chức xã hội dân sự tham gia giải phóng dân tộc. Chẳng hạn cuối tháng 4 năm 1904, Hội Duy Tân được thành lập với mục đích “Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả”. Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên xuất dương sang Nhật học tập và cầu vận. Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Phong trào này là cơ sở để đưa tư tuy cải cách văn hóa giáo dục và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam.Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào xã hội dân sự. Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, Cụ Hồ Chí Minh trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/06/1919, Người đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đó là những giá trị nền tảng của xã hội dân sự.Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước. Thời kỳ 1936 – 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ. Các tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường đi săn, hội hát kịch…Ngay Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều thừa nhận: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền thông tin, có quyền hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhà nước ban hành sắc lệnh quyền lập hội (số 103SL/004 ngày 27/5/1957).Nghị quyết 8B-NQ/ Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản khóa VI đã nêu rõ: “Trong giai đoạn mới cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức này được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”.Từ năm 1975 đến 1986, hầu hết các tổ chức xã hội dân sự (CSO) chính thức bị hành chính hóa, được bao cấp và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Trong cơ chế này các tổ chức CSO hầu như mất đi vai trò năng động và tự chủ của mình trong việc huy động các nguồn lực cho xã hội, cũng như đại diện cho lợi ích của các thành phần trong xã hội. Hơn thế các hộ gia đình cũng thiếu đi tính tự chủ và tự do kinh tế và dân sự, cho nên thiếu đi nền tảng để phát triển các tổ chức CSO như mong đợi.Kể từ 1986, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế theo định hướng thị trường Việt Nam, đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế năng động tăng trưởng cao nhất ở khu vực Đông Nam Á và châu Á. Đổi mới kinh tế thực chất là tự do hóa các hoạt động kinh tế của khu vực ngoài Nhà nước phát triển, bên cạnh đó khu vực quản lý Nhà nước được cải cách một bước, làm giảm sự can thiệp của Nhà nước và tăng quyền tự do kinh tế và dân sự công dân.Nghị quyết Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định: “Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, văn hóa, hữu nghị, từ thiện, nhân đạo” và “hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân”. Những tổ chức này được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ, cung ứng một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng. Thông qua đó Nhà nước có thể tập trung sức lực để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng hơn.Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010, đã bắt đầu khuyến khích sự tham dự của người dân trong mọi mặt đời sống kinh tế chính trị và xã hội. Khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra” đã dần dần có tác động đến hệ thống kinh tế chính trị xã hội ở từng cấp độ khác nhau. Các cơ hội cho người dân thông qua các tổ chức xã hội dân sự, tham gia cung cấp dịch vụ công và phản biện chính sách dần dần được mở ra. Cụ thể là:Nghị định dân chủ ở cơ sở năm 2003 đã cho phép nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, dưới sự giám sát của nhân dân chặt chẽ hơn trong các hoạt động của mình. Luật hợp tác xã đã thừa nhận hợp tác xã như một tổ chức tự nguyện hoạt động độc lập vì mục tiêu kinh tế xã hội, phục vụ trực tiếp cho lợi ích của xã viên. Nghị định 177, và gần đây là Nghị định 148 đã tạo điều kiện pháp lý ban đầu để hình thành nên các quỹ xã hội và nhân đạo. Nghị định 88/2003 là cơ sở để thành lập các hội, thừa nhận vai trò và chức năng nhiệm vụ cũng như quyền lập hội.          Yêu sách của Hồ Chí Minh tại Hội nghị Hòa Bình  Versailles năm 1919Điều 3: Tự do báo chíĐiều 4: Tự do hội họp.Điều 5: Tự do đi lại (xuất nhập cảnh), tự do cư trú.Điều 6: Tự do giáo dục,và được lập trường kỹ thuật, trường chuyên nghiệp tại các tỉnh cho dân bản xứ.Điều 7: Đòi thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.Điều 8: Đòi có đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ cử ra tại Nghị viện Pháp.            Nhà nước bước đầu đã hỗ trợ kinh phí cho hội hoạt động có nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước (quyết định 21/2003/QĐ-TTG ngày 29/1/2003). Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo điều kiện cho hội nhận tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (QĐ 64/2001/QĐ-TTG ngày 26/4/2001) và ban hành cơ chế tạo điều kiện cho hội tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội (QĐ22/QĐ-TTG ngày 30/1/2002).Tuy vậy, trên thực tế việc đăng ký và hoạt động của các tổ chức CSO ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các quan hệ cá nhân và am hiểu về hệ thống pháp lý có liên quan đến các tổ chức CSO ở Việt Nam, cho nên việc đăng ký và hoạt động gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều văn bản pháp lý hạn chế sự tham gia của các tổ chức CSO trong việc cung cấp dịch vụ công, và phản biện chính sách. Bên cạnh đó, cấu trúc tổ chức của nhiều tổ chức còn chưa minh bạch theo các tiêu chuẩn quốc tế, dựa trên các quan hệ gia đình, niềm tin và tính trách nhiệm với xã hội còn hạn chế. Việc dựa vào các trợ giúp của gia đình trong giai đoạn đầu của phát triển CSO là quan trọng trong điều kiện thiếu các nguồn lực tài chính và nhân lực trong giai đoạn đầu. Nhưng sau đó, các mô hình này chưa minh bạch và hiệu quả như mô hình các tổ chức CSO hiện đại. Một số các CSO hoạt động luôn phụ thuộc vào nhà tài trợ nước ngoài, cản trở việc theo đuổi các nguyên lý và tầm nhìn của tổ chức.Xã hội dân sự là một phần không thể tách rời của nền kinh tế thị trường lành mạnh và của Nhà nước dân chủ, được quản trị tốt với ba vai trò cơ bản về kinh tế, xã hội và chính trị. Tuy nhiên, xã hội dân sự cũng khác với Đảng phái chính trị trong việc không tham gia tranh chấp quyền lực. Bên cạnh đó cũng phải thừa nhận rằng hiện nay trên thế giới quan niệm cánh tả và trường phái tự do về xã hội dân sự tương đối khác nhau. Trong khi trường phái tự do hướng tới vai trò bảo vệ dân chủ và tự do cá nhân, giảm dần vai trò của Nhà nước thông qua cung cấp dịch vụ công, thì trường phái cánh tả hướng tới việc thông qua xã hội dân sự để đấu tranh tư tưởng và giai cấp. Tuy nhiên cho dù cách hiểu nào, thì các tính chất tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và vai trò của xã hội dân sự được thế giới và Liên Hiệp Quốc thừa nhận. Ở Việt Nam, về mặt khái niệm là chưa rõ, nhưng xét đến lịch sử về vai trò của xã hội dân sự là rất rõ ràng, và hiện tại Việt Nam đang chuyển đổi theo hướng mà hầu hết các quốc gia dân chủ trên thế giới thừa nhận. ————*TS Viện Nghiên cứu Xã hội      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội dựa trên hai trụ cột: tri thức và lòng trắc ẩn      Giáo sư Phạm Xuân Yêm cho rằng xã hội dựa trên hai trụ cột: tri thức và lòng trắc ẩn. Lòng trắc ẩn mà không có tri thức thì vô dụng, còn tri thức mà không có lòng trắc ẩn sẽ là vô nhân đạo và độc ác.      Là thủ khoa kỳ thi tú tài năm 1954 toàn vùng Hà Nội, đến nay nhìn lại ông đã có hơn 100 công trình nghiên cứu vật lý đăng trên các tạp chí khoa học uy tín toàn cầu, như một sự góp mặt đáng tự hào của người Việt trong cộng đồng khoa học thế giới. Là một nhà vật lý danh tiếng, nguyên Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), Giáo sư ĐH Paris VI, từ xa ông vẫn đau đáu với những vấn đề nóng của đất nước.  Trong môi trường đầy thách thức tại trung tâm khoa học số một của thế giới, làm thế nào một nhà khoa học Việt Nam có được tiếng nói riêng?  Thật khó nói. Riêng nhóm vật lý lý thuyết thuộc đại học Paris VI gồm khoảng 40 giảng viên – nghiên cứu (mà tôi là một thành viên), có chừng mươi quốc tịch đến từ bốn châu lục Âu, Mỹ, Á, Phi. Đó là một môi trường cạnh tranh lành mạnh và khắc nghiệt theo tiêu chuẩn quốc tế, sự tuyển chọn đều công khai, không hề có một đặc chế về vấn đề quốc tịch. Có được tiếng nói riêng của mình là do rèn luyện bền bỉ để có hay không khả năng chuyên môn cao, hoà nhập với cộng đồng.  Có lẽ đối với bất kỳ nhà nghiên cứu bình thường nào, phần thưởng lớn nhất nhận được là khi công trình của mình được đồng nghiệp khắp nơi quan tâm và triển khai mạnh hơn nữa, được trích dẫn nhiều lần, thậm chí vài chục năm sau còn được nhắc đến và khai thác. Cá nhân tôi cũng vài lần hạnh phúc như vậy.  Làm thế nào để cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam tại Pháp cũng như ở các nước khác có thể đóng góp lớn vào khoa học quốc tế?   Câu hỏi khó vì theo tôi, muốn có đóng góp lớn vào khoa học quốc tế, thì phải có một số lượng tới hạn nào đó để tạo nên một cú hích, mà con số đó ta chưa đạt được, không chỉ ở Pháp mà ở nhiều nước phát triển khác cũng vậy. Nhìn con số các sinh viên Việt Nam theo lớp cao học, tiến sĩ về khoa học và công nghệ cao ở vài trường lớn tại Mỹ (như Harvard) thì thấy mình hãy còn quá ít so với Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ. Hiện tượng Ngô Bảo Châu phải hàng thập niên, thậm chí dài hơn nữa, mới có thể lập lại trong cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam.  Trong điều kiện của đất nước, tư chất nào của các nhà khoa học Việt Nam giúp chúng ta có được những tên tuổi lớn?  Muốn có những nhà khoa học tên tuổi tại quê nhà, xã hội cần có cơ sở hạ tầng tri thức tốt, hiện đại; có những thể chế học thuật phù hợp với quy luật phát triển của khoa học trên thế giới. Và con người cần phải có đam mê, tận tuỵ. Nhưng trước hết nhà khoa học cần phải đủ sống, và có quỹ để phát triển ngành mình, kết nối thế giới. Không có những điều kiện đó, khoa học sẽ bó tay, sẽ không thể có nền khoa học quốc gia, mà chỉ có những cá nhân riêng lẻ, nhưng phải dựa vào môi trường nước ngoài như hiện nay.  Tôi tin chắc rằng trong môi trường thuận lợi và cạnh tranh ráo riết nhưng lành mạnh ở các nước phát triển, thế hệ các bạn trẻ Việt Nam du học còn vươn hơn nữa so với thế hệ trước. Tôi có thấy những gương mặt đó như Đinh Tiến Cường, Nguyễn Tiến Dũng về toán, Đặng Đình Thi về công nghệ hàng không, Nguyễn Thắng về sinh học, Giáp Văn Dương, Lê Đức Kiên về vật lý, nhưng chắc chắn còn nhiều mà tôi chưa biết ở mọi ngành.  Theo ông, làm thế nào để bảo vệ tinh thần tự chủ và tự do trong môi trường học thuật?          Chúng ta không thể nào đi khác hơn con đường thế giới đã và đang đi, không thể nào chối bỏ các giá trị phổ quát của cả thế giới, nền tảng của sự phát triển nói chung.         Môi trường xã hội Việt Nam đang bị “méo mó” trong hầu hết mọi lãnh vực: con người, đạo đức, nhận thức, tôn chỉ giáo dục… tất cả đều méo mó quá độ. Dân chủ, giáo dục, khoa học và công nghệ là những cột trụ của xã hội phương Tây để làm cho họ mạnh. Những thứ đó đang bị xuống cấp và biến dạng ở nước ta. Việc quan trọng nhất là phải “kéo thẳng” những thứ đó lại, phải “ngay thẳng” lại, phải chăm sóc cho những thứ đó phát triển đúng cách. Mỗi quốc gia muốn canh tân, đều phải đi đúng quy luật. Nhật Bản và tất cả các quốc gia khác đều làm như thế.  Ông coi trọng điều gì nhất khi viết? Có nhà văn nào ông ngưỡng mộ?  Rất ngại phải nói đến cái ngã đáng ghét, nhưng thôi cũng đành liều nhắm mắt đưa vài nét sở thích. Cũng như nhiều bạn cùng lứa tuổi, tôi mê say thi văn tiền chiến, thơ Đường, nhạc cổ điển Tây phương… Hai nhà văn hoá cận đại mà tôi ngưỡng mộ là Nguyễn Hiến Lê sâu sắc, đồ sộ mà dễ hiểu; và Bùi Giáng khi điên lúc tỉnh mà tuyệt phẩm Giảng luận về Tản Đà ai cũng nên đọc.  Không có khoa học, con người dễ sa ngã vào mê tín, “dị giáo”. Nhưng không có văn hoá, nghệ thuật, con người dễ cằn cỗi về tâm hồn. Và không có đạo đức, con người dễ sa đoạ.  Ông đánh giá thế nào về hiện tượng những nhà khoa học cuối cùng lại trở thành những nhà văn hoá, đầy trách nhiệm với đất nước trong những vấn đề nóng của đời sống nhân sinh?    Thử hỏi có nhà khoa học nào từng bao năm sinh hoạt ở các nước phát triển mà chẳng ước mong đóng góp cho đất nước, dân tộc mình cũng được như người? Nó tự nhiên như hơi thở mà thôi. Để kết nối nhiều nguồn chất xám cho hoạt động khoa học tại Việt Nam, mấy đức tính như chân thành, bao dung, nhún nhường, tránh đố kỵ có lẽ là những điều kiện cần? Mấy năm qua trí thức đã kết nối nhau nhiều hơn qua nhiều hoạt động, như dịch thuật, biên soạn, giảng dạy, diễn thuyết, hay làm những số kỷ yếu, như Kỷ yếu Lê Thành Khôi, Kỷ yếu Hoàng Tuỵ, Max Planck, Galilei, Darwin và Đại học Humboldt 200 năm để tạo ra một văn hoá trí thức. Họ càng muốn dấn thân hơn cho đất nước. Nhà nước cần mở cửa với trí thức. Đất nước chỉ có lợi trong một sự hợp tác giữa nhà nước và với trí thức, hay ngược lại. “Tri thức là sức mạnh”, đối với cá nhân cũng như đối với quốc gia. Để quy tụ được tiềm năng chất xám quý báu của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hoá khác nhau trong cộng đồng ba triệu người Việt trên khắp năm châu, các nhà khoa học cần tìm đến nhau để có diễn đàn chung, để tập hợp trí tuệ, đoàn kết, và có những hoạt động chung. Việc này đã manh nha thời gian qua, qua các hoạt động biên soạn kỷ yếu chẳng hạn. Và trí thức đã tức khắc có những hành động chống đối việc các nhà khoa học Trung Quốc lồng đường lưỡi bò vào các bài viết của họ đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế.  Ông nghĩ gì khi tiếng nói của những nhà trí thức vẫn chưa đủ sức lay động xã hội?  Tôi cảm thấy buồn, nhưng chúng ta đang ở bước ngoặt, sớm muộn gì những giá trị phổ quát đó sẽ đến. Chúng ta không thể nào đi khác hơn con đường thế giới đã và đang đi, không thể nào chối bỏ các giá trị phổ quát của cả thế giới, nền tảng của sự phát triển nói chung.  Ông thích một vẻ đẹp như thế nào của con người, của văn chương, nghệ thuật?  Có lẽ là tính nhân bản vị tha chăng?  Để xây dựng môi trường sống lành và sạch, mỗi chúng ta phải nỗ lực như thế nào, theo ông?  Tôi thực sự buồn khổ khi biết những tin tức về sự thờ ơ, vô cảm đang lan tràn xã hội. Thôi thì trước hết mỗi chúng ta trong khả năng của mình hãy nỗ lực sạch và lành đã. Xã hội dựa trên hai trụ cột: tri thức và lòng trắc ẩn. Lòng trắc ẩn mà không có tri thức thì vô dụng, còn tri thức mà không có lòng trắc ẩn sẽ là vô nhân đạo và độc ác.  Những kỷ niệm nào đáng nhớ nhất về mái trường Chu Văn An – Hà Nội, nơi ông đã lớn lên? Phải chăng ân tình với trường xưa là lý do ông hết lòng giúp đỡ sinh viên và nhiều trường hợp khó khăn của trí thức trong nước?  Còn nhớ năm 1953, tôi được giải về luận văn trong cuộc thi hàng năm trung học toàn quốc và được hưởng chuyến du ngoạn bằng máy bay tham quan Sài Gòn và Huế do hội phụ huynh học sinh tặng. Sau này trở lại thăm bạn bè cùng học Chu Văn An, thực là xúc động thấy các bạn, đặc biệt GS Đặng Mộng Lân trong muôn vàn khó khăn đã thực hiện cuốn từ điển Vật lý Anh – Việt và âm thầm đóng góp cho nền vật lý. Đỡ được ai phần nào là như trả món nợ ân tình với thầy với bạn thiếu may mắn đã cho mình những kỷ niệm quý báu.  Ông có thể kể một chút về cha mẹ mình, những người thầy đầu tiên dạy ông bài học làm người?  Nhà tôi ở Bắc Ninh, bố tôi là hiệu trưởng trường tiểu học Vọng Cung, ru tôi ngủ bằng thơ Kiều. Còn mẹ tôi có một cửa hàng nhỏ bán tạp hoá, nước mắm, chè mạn, măng khô… Trong nạn đói Ất Dậu 1945, với chum đất nung cao hơn đầu tôi, mẹ tôi mỗi sáng nấu một nồi cháo thêm vào chút mắm để phát chẩn. Quên sao nổi cảnh người hàng hàng nối nhau húp cháo.    Để nuôi dưỡng “giấc mộng dài”, ông đã trải qua những khó khăn khắc nghiệt như thế nào?  Tôi không nghĩ là khắc nghiệt những buổi làm việc thâu đêm, hoặc mệt mỏi tranh cãi với đồng nghiệp, bạn bè về đề tài nghiên cứu vì mỗi người có một cách tiếp cận khác nhau. Nhưng có nhiều lúc, thậm chí hàng tuần hàng tháng chán chường, bế tắc, không thấy ngõ ra, không biết phải làm gì. Có lẽ chẳng phải riêng tôi mà bất cứ ai trong nghề cũng ít nhiều trải qua. Nhưng tôi không mong “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” ở kiếp sau và mong tiếp tục mê say khoa học và nghiên cứu.  Trong những lúc cùng cực nhất, điều đã giúp ông vượt qua khủng hoảng?  Triết lý phương Tây dạy tôi tư duy logic, khoa học, tôn trọng và biết nhìn nhận sự thật, khiêm tốn trước “đại dương tri thức” còn ẩn chứa. Triết lý phương Đông dạy cho tôi sống có xã hội, gia đình, cộng đồng, có trách nhiệm và đóng góp xã hội.  Sau những đắng ngọt của cuộc đời, đọng lại trong ông điều gì quý nhất? Có bao giờ ông cảm thấy quá cô đơn?  Cái quý nhất còn đọng lại là những đóng góp cá nhân trong khoa học cũng như trong xã hội là sống chân thật, có bằng hữu; là sống tự tại. Cái ác là gió thoảng qua. Cái thiện là vĩnh cửu.    Thực hiện Kim Yến  Chân dung hội hoạ Hoàng Tường          * Nhà vật lý thiên văn Nguyễn Quang Riệu:   Vốn là một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vi mô vật lý hạt, anh Phạm Xuân Yêm đã có những đóng góp khoa học trên trường quốc tế bổ ích cho cả những ngành khoa học vĩ mô như vật lý thiên văn. Anh quan tâm đến sự phát triển ngành khoa học trong nước và rất năng động trong phong trào tham gia cải tiến nền giáo dục nước nhà. Anh còn là người rất lịch thiệp đối với đồng nghiệp và bạn bè.   * Giáo sư Cao Huy Thuần:   Trong thảo luận Thế giới quan của vật lý học hiện đại và tư tưởng Phật giáo tại Phật đường Khuông Việt với cả trăm trí thức tham dự, một đề tài khoa học khô khan và khó hiểu, anh Yêm bắt đầu tham luận của anh với câu nói dè dặt: “Tôi xa nước đã lâu, nói tiếng Việt không sõi, mong các anh lượng thứ”. Tôi vội vàng chuẩn bị tấm lòng rộng rãi của tôi để lượng thứ cho anh, nhưng anh càng nói, tôi càng hoảng kinh vì lời lẽ của anh lưu loát, văn chương, tôi không bì kịp. Nhiều từ khoa học, nhiều từ triết lý rất khó dịch, tôi không ngờ anh đã theo dõi rất sát ngôn ngữ trong nước, diễn tả không hề vấp váp, không cần phải nhờ cậy đến tiếng Pháp. Mà chuyện vật lý của anh sao quyến rũ đến thế, người rất dốt khoa học như tôi cũng bị lôi cuốn!”   * Dịch giả Hà Dương Tuấn:   Một người luôn luôn vui vẻ, khiêm tốn, đối xử với người trẻ hơn và ít hiểu biết hơn mình một cách hoàn toàn bình đẳng. Có gì không hiểu viết thư hỏi đều được anh ấy khuyến khích và chỉ bảo tận tình. Một giáo sư về vật lý học hiện đại nổi tiếng, đã viết sách giáo khoa về Vật lý lượng tử từ năm 1998. Trong Cuộc cách mạng tháng 11 của vật lý hạt đăng trong kỷ yếu 400 năm thiên văn học và Galilei, NXB Tri Thức (2009), anh kể lại công việc của mình liên quan đến một sự kiện lớn trong vật lý học, tháng 11.1974, là việc thiết lập ưu thế tuyệt đối của “mô hình chuẩn”. Khi những nhà thực nghiệm tìm ra một lượng tử mới, ngay sau đó một nhóm bảy nhà lý thuyết đã làm việc thâu đêm để giải thích hạt đó là gì bằng “mô hình chuẩn”. Diễn giải đó sau này được chứng tỏ là chính xác, từ đấy “mô hình chuẩn” thực sự lên ngôi và trở thành công cụ lý thuyết phổ biến trong vật lý học hiện đại, và đã đóng góp rất nhiều từ đó đến nay. Một trong bảy người đó là anh Phạm Xuân Yêm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội kỳ vọng điều gì ở một GS/PGS?      Nếu chúng ta không thực sự trả lời thấu đáo câu hỏi này* thì cuộc thảo luận về tiêu chí phong PGS và GS nhiều khả năng sẽ đi chệch hướng, dẫn tới những quy định lệch tạo hệ lụy lâu dài cản trở sự phát triển lành mạnh của nền khoa học trong nước.    Đa số các nội dung thảo luận hiện nay tập trung vào yêu cầu công bố quốc tế. Đây là vấn đề cấp bách giúp tăng cường khả năng hội nhập quốc tế trong khoa học, và quan trọng hơn là giúp khai thác năng lực bình duyệt của giới khoa học quốc tế để sàng lọc các nhà khoa học trong nước, một giải pháp hữu hiệu để thay đổi tình trạng những người kém cỏi hoặc dùng những sản phẩm ngụy tạo để đạt được những phẩm hàm cao quý trong khoa học.  Tuy nhiên, yêu cầu về công bố quốc tế không đủ để đánh giá một người có đủ tiêu chuẩn là GS/PGS. Nó chỉ là một cơ sở cho thấy nhà khoa học có những đóng góp mới và nguyên bản cho khoa học, nhưng không đảm bảo rằng đóng góp ấy có ý nghĩa khoa học đáng kể – may chăng chỉ có những công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới mới đảm bảo được điều này, còn với toàn bộ hệ thống các tạp chí ISI hay Scopus thì sự lẫn lộn vàng thau vẫn đang tồn tại và việc đảm bảo như vậy là điều bất khả thi.  Hậu quả khi một nhà nghiên cứu có một số công bố quốc tế không có mấy ý nghĩa khoa học nhưng lại dựa vào đó để được xét phong GS/PGS – khả năng xảy ra điều này là cao ở những nước thuộc vùng trũng trong khoa học – là vị GS/PGS “đáng kính” đó sẽ dẫn dắt, đào tạo ra những lứa học trò tiếp theo, tiếp tục đi sâu vào những hướng nghiên cứu vô bổ, gây lãng phí nhân lực và của cải xã hội, chỉ để tạo ra những sản phẩm chất lượng thấp đóng mác công bố quốc tế.  Đến đây, ta phải quay lại câu hỏi căn bản: xã hội và khoa học cần gì ở một GS/PGS? Nếu chỉ cần làm ra những kết quả công bố quốc tế, hay những sáng chế có tính ứng dụng cao, thì một nhà nghiên cứu có thể chỉ là nghiên cứu viên cũng đủ, và nếu cần thì có thể phân bậc nhà nghiên cứu thành nghiên cứu viên bậc I, bậc II… tùy theo nhu cầu công việc cụ thể của tổ chức nghiên cứu nơi người đó làm việc.  Sở dĩ chúng ta cần những người có phẩm hàm GS/PGS, bởi đó là những người có trách nhiệm đào tạo, dẫn đường cho những thế hệ nhà khoa học kế cận, giúp những thế hệ đi sau có đủ năng lực tạo ra những sản phẩm có ý nghĩa khoa học ngày càng được nâng cao. Muốn vậy thì người GS/PGS phải có đủ tầm tri thức để theo dõi tương đối sát các xu hướng phát triển trong phạm vi ngành khoa học của mình, hiểu rõ đâu là những nội dung có tầm quan trọng nền tảng mà học trò của mình cần nắm bắt và tìm hiểu.  Trong bối cảnh hiện nay, số lượng các công bố quốc tế hay các sách chuyên môn của một nhà nghiên cứu là những căn cứ đáng để xem xét, nhưng không đảm bảo độ tin cậy để cho thấy người đó có tầm tri thức, văn hóa khoa học đòi hỏi cho một GS/PGS như mong muốn trên đây.  Phương thức đáng tin cậy hơn là ngoài những yêu cầu trên, bổ sung thêm yêu cầu ứng viên GS/PGS phải trình bày trước hội đồng xét duyệt về những nội dung có tính căn cốt trong lĩnh vực khoa học của người đó (phạm vi nội dung cụ thể do từng hội đồng ngành quy định), đồng thời công khai hóa trên internet bài trình bày này cũng như những ý kiến của các thành viên trong hội đồng thẩm định để đông đảo giới khoa học có thể theo dõi, phản biện. Qua đó sẽ góp phần đảm bảo công khai, minh bạch về chất lượng của cả ứng viên cũng như các thành viên hội đồng xét phong GS/PGS. Ngoài ra, cũng cần công khai cả thông tin về những đề tài nghiên cứu của các ứng viên và thông tin về những nghiên cứu sinh mà họ đã đào tạo.  Chỉ như vậy những người thầy mới đúng là thầy, thay vì là những người thợ lành nghề làm công bố quốc tế.  —  * Câu hỏi đặt ra nhân bài viết “5 câu hỏi dành cho các vị giáo sư” của Vũ Dương đăng trên Giaoduc.net:   http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/5-cau-hoi-danh-cho-cac-vi-giao-su-post174971.gd    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Xã hội nào, tính cách ấy!      Bàn luận về Tính cách Việt, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh quan niệm không thể nói chung chung về tính cách. Xã hội nào tính cách ấy. Ông nói:  Nói đến tính cách, phải nói đến phương thức sống của xã hội vào thời kỳ đó. Phương thức sống ở đây hiểu theo nghĩa là sự thể hiện trên quy mô xã hội và mang tính chất tổng hợp của các phương thức tồn tại vật chất, sản xuất tinh thần, giao tiếp xã hội và quản lý xã hội. Khi bước qua phương thức tồn tại vật chất mới, lối sống, mức sống cũng như quan niệm sống sẽ thay đổi. Phương thức sống trong thời kỳ bao cấp là một trong những nguyên nhân sản sinh ra thói vô trách nhiệm và đạo đức giả…    Đó là thời kỳ trước. Còn hiện nay?  Cơ chế thị trường có hai đứa con là nóng ruột kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ.  Có thể lý giải căn nguyên của hai đứa con này không, thưa ông?  Vấn đề là hạn chế tác hại của hai nhân vật ấy với đời sống xã hội chứ không cần lý giải. Một xã hội có phát triển được hay không và như thế nào là nhờ tốc độ và quy trình tái sản xuất mở rộng, nếu không có tích lũy thì không thể tái sản xuất mở rộng, mà cách thức tái sản xuất mở rộng không phù hợp cũng sẽ tác động xấu tới sinh hoạt xã hội và các phương thức sống trong xã hội. Việt Nam trong thời gian qua nổi lên nhiều hiện tượng sống cho hôm nay không cần nghĩ đến ngày mai, hay chủ yếu sống bằng tiền của người thân ở nước ngoài gửi về… Những phương thức sống như vậy cho dù lương thiện cũng tiềm ẩn những bất ổn. Bởi vì nếu lúc kinh tế quốc gia gặp khó khăn, những người không có tích lũy sẽ trở thành gánh nặng cho xã hội, thậm chí có thể trở thành một loại tội phạm tiềm năng. Hay khi việc tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất kéo dài thì người ta sẽ từ chỗ tách rời nền sản xuất vật chất của quốc gia bước qua chỗ ly khai các giá trị truyền thống.  Một hiện tượng khác là hiện có nhiều người hoạt động cùng một lúc trong hai khu vực sản xuất vật chất, rất dễ tạo ra loại nhân cách kinh tế lưỡng phân, mà nếu họ có ăn lương Nhà nước thì nguy lắm. Vì với quyền lực được giao, họ sẽ tạo ra các hệ thống sản xuất ảo để thủ lợi. Hiện tượng dạy thêm và bắt học sinh học thêm nhiều năm qua là một ví dụ tiêu biểu về điều này. Ở mức độ thấp hơn, sẽ có những quy trình thừa trong hệ thống sản xuất mọc ra, ví dụ việc mua bán quota trước đây hay chạy quy hoạch, chạy đề tài… hiện nay.  Các phương thức sống khác nhau ở Việt Nam hiện nay lại đang phát triển theo hướng ngày càng cách xa nhau chứ không phải theo hướng hợp nhất, vì khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam vẫn đang tiếp rục được mở rộng ra.  Theo ông, muốn hướng tới phát triển bền vững, chúng ta cần phải làm gì?  Hiện có nhiều người hoạt động cùng một lúc trong hai khu vực sản xuất vật chất, rất dễ tạo ra loại nhân cách kinh tế lưỡng phân, mà nếu họ có ăn lương Nhà nước thì nguy lắm. Vì với quyền lực được giao, họ sẽ tạo ra các hệ thống sản xuất ảo để thủ lợi.  Các phương thức sống sẽ tác động đến tổ chức xã hội, nhưng trên phương diện này thì Việt Nam hiện nay chưa có phương thức sống tiên tiến phù hợp làm hệ quy chiếu – mẫu số chung. Cho nên chúng ta chưa thể phát triển bền vững được. Mỗi năm, lượng kiều hối gửi về nước là ba bốn tỉ USD, đó chỉ là con số thống kê chính thức, mà tình hình này có thể còn kéo dài trong 10, 15 năm nữa. Kinh tế ngầm theo ước tính của các nhà kinh tế thì chiếm tới 1/3 GDP của Việt Nam. Nhưng khi các hệ thống xã hội phát triển không đồng đều và chưa lành mạnh, thì cần có hệ thống quản lý xã hội minh bạch và trong sạch làm trọng tài và chuẩn mực. Đó là điều các tổ chức kinh tế nước ngoài luôn nêu lên trong các bảng phân tích về kinh tế Việt Nam.    Tôi hy vọng trong tương lai, khi lớp trẻ có nhiều người có tri thức tiên tiến và ý thức hướng tới quyền lợi cộng đồng xác lập được phương thức sống tiên tiến khiến xã hội có cơ chế bảo vệ tập tính tốt, loại trừ hiện tượng xấu, thì Việt Nam sẽ có cơ sở xã hội để phát triển bền vững.    Xin cảm ơn ông.      Thục Linh – Quốc Khánh thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác lập quyền tài sản của nông dân với đất nông nghiệp      Quá trình phi tập trung quyền tài sản với đất đai đang diễn ra mạnh mẽ và khó mà cưỡng lại được theo xu thế quay trở lại của nền kinh tế thị trường, bởi nó khuyến khích toàn dân nỗ lực làm sinh sôi nảy nở quyền tư hữu, tạo động lực mạnh mẽ để quốc gia giàu mạnh. Tuy nhiên, với Luật Đất đai hiện nay&#160; so với đất ở, nhất là đất ở đô thị, quyền tài sản của các nông hộ đối với đất nông nghiệp được bảo hộ kém hơn, quyền sử dụng đất của nông dân dễ bị thu hồi với mức giá do Nhà nước ấn định. Vì vậy cần xác lập công bằng đối với các chủ sử dụng đất, nhất là nông dân, bảo hộ tốt hơn các quyền tài sản chính đáng của họ đối với đất nông nghiệp.      Tầm quan trọng của sở hữu đất đai  Sở hữu đất đai có lẽ là phần trọng yếu nhất của luật tài sản của mỗi quốc gia, bởi đất là nơi người ta sống, canh tác, kinh doanh, đất là tư bản, là của cải để dành, là di sản nối liền tiền nhân với hậu thế. Từ điền sản trong Quốc triều hình luật tới vật quyền trong Dân luật 1931, không có gì là ngạc nhiên khi các quy định về sở hữu đất đai chiếm phần trang trọng bậc nhất trong các quy định về tài sản.   Từ năm 1945 cho đến nay, mọi chính sách kinh tế, thành hay bại, đều liên quan trực tiếp đến chính sách đất đai. “Người cày có ruộng” đã là một chủ trương giúp Việt Minh trở thành một thế lực lãnh đạo xã hội nông dân Việt Nam. Nhưng ngược lại, “kế hoạch hóa tập trung”, “cải tạo XHCN” và “quốc hữu hóa đất đai” đã đẩy quốc gia vào tình cảnh trì trệ. Cùng tắc biến, “khoán 10”, tên gọi tắt thông dụng của Nghị quyết số 10/NQ-TW của Bộ Chính trị Đảng CSVN thông qua ngày 05/08/1988 đã dần trả lại quyền tự do canh tác cho nông dân trên mảnh đất của họ, sự tự do ấy đã cứu quốc gia thoát khỏi hiểm họa kiệt quệ.   Luật Đất đai như một biên sử tỷ mỷ ghi lại một cách trung thành những biến đổi kinh tế và chính trị trên đất nước chúng ta. Từ Luật Đất đai 1987, sửa đổi liên tục trong các năm 1993, 1998, 2003, trong hơn hai thập kỷ qua bốn đạo luật và hệ thống ngày càng phình rộng các văn bản dưới luật về đất đai đã góp phần làm cho 70 triệu mảnh ruộng của 14 triệu nông hộ, hàng trăm triệu ô thửa đất ở, đất kinh doanh và căn hộ của cá nhân, doanh nghiệp đã dần dần rõ chủ. Minh định quyền định đoạt của các chủ nhân trên từng ô thửa đất có lẽ là một chủ đề đáng thảo luận bậc nhất thời nay.  Sáu quyền định đoạt của Nhà nước  Theo Luật Đất đai 2003, với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân, Nhà nước giữ 6 quyền định đoạt quan trọng dưới đây đối với đất đai: Thứ nhất, ấn định mục đích sử dụng cho các ô, thửa đất thông qua quy hoạch; Thứ hai, quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất; Thứ ba, quyết định giao đất, cho thuê đất cho các cá nhân và tổ chức; Thứ tư, thu hồi đất đã giao hoặc cho thuê; Thứ năm, ấn định các hạn chế về thời gian và hạn mức đối với việc giao đất hoặc cho thuê đất; Thứ sáu, định giá đất.   Các quyền định đoạt kể trên được thực hiện bởi nhiều cơ quan Nhà nước khác nhau, rải từ Quốc hội cho tới UBND cấp huyện. Trong các quyền định đoạt đó, quan trọng bậc nhất đối với giá trị của đất đai là ấn định mục đích sử dụng thông qua quy hoạch, quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng, ví dụ từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc đất kinh doanh, quyết định thu hồi đất và ấn định giá đất. Quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thu hồi đất được phân cấp xuống UBND cấp tỉnh và huyện tùy theo đối tượng người sử dụng đất bị thu hồi. Lý do để Nhà nước thu hồi đất cũng được định nghĩa rất rộng rãi, rất thuận tiện cho cơ quan Nhà nước thu hồi đất, bao gồm các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, phát triển kinh tế. Khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, bất kỳ người sử dụng đất nào cũng có nghĩa vụ giao lại đất cho Nhà nước. Như vậy, Nhà nước Việt Nam vẫn giữ những quyền định đoạt rất đáng kể đối với đất đai.  14 quyền mang tính tư hữu của người sử dụng đất  Tuy không có chủ quyền tuyệt đối về ô thửa đất đang sử dụng, tức là không có quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối, không thể ngăn cản Nhà nước thu hồi đất vì những lý do được cho là hợp pháp nêu trên, song chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất ở Việt Nam ngày càng được hưởng nhiều quyền lợi, các quyền lợi này được nới rộng dần qua bốn lần sửa đổi Luật Đất đai. Quyền sử dụng đất tuy chưa đạt tới sở hữu tư nhân tuyệt đối, song đã trở thành một quyền tài sản quan trọng. Ngoại trừ người thuê đất trả tiền thuê hằng năm, chủ nhân của quyền sử dụng đất có thể có hàng chục quyền mang tính loại trừ, tức là các quyền tài sản tư (xem bảng dưới đây).                   Tên quyền   phái sinh từ QSDĐ      Mô tả          Được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ      Chứng minh tài sản           Được hưởng hoa lợi, phụ thiêm      Sử dụng đất, canh tác          Được bảo hộ khi QSDĐ bị vi phạm      Loại trừ người thứ ba          Khiếu nại, tố cáo khi QSDĐ bị vi phạm      Tố quyền          Chuyển đổi      Đổi QSDĐ, đổi đất          Chuyển nhượng      Bán QSDĐ, đổi chủ          Cho thuê      Khai thác QSDĐ          Cho thuê lại      Khai thác QSDĐ          Thừa kế      Như di sản thừa kế          Tặng cho      Tùy ý định đoạt quyền          Thế chấp      Bảo đảm vay vốn          Bảo lãnh (đệ đương)      Bảo đảm nghĩa vụ          Góp vốn bằng QSDĐ      Khai thác QSDĐ          Được bồi thường khi nhà nước thu hồi      Bù đắp tài sản              Bất bình đẳng trong chế độ sử dụng đất  Các quyền tài sản trong bảng nêu trên phụ thuộc vào loại đất và chủ thể sử dụng đất. Khác với đất ở, đất kinh doanh được Nhà nước công nhận là đất sử dụng ổn định lâu dài, đất nông nghiệp của các nông hộ có thời hạn 20 năm hoặc 50 năm tùy theo loại cây trồng hằng năm hoặc cây lâu năm hoặc đất rừng. Thêm nữa, đất nông nghiệp còn bị giới hạn bởi hạn mức giao đất (hạn điền). Vì các lý do đó, so với đất ở, nhất là đất ở đô thị, quyền tài sản của các nông hộ đối với đất nông nghiệp được bảo hộ kém hơn, quyền sử dụng đất của nông dân dễ bị thu hồi với mức giá do Nhà nước ấn định.   Cũng như vậy Luật Đất đai 2003 có những quy định mang tính phân biệt đối xử giữa tổ chức được giao đất, nhà đầu tư nước ngoài thuê đất và doanh nghiệp Việt Nam thuê đất, trong đó không hiếm khi doanh nghiệp trong nước được đối xử kém bình đẳng hơn so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.   Nếu doanh nghiệp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm, quyền của doanh nghiệp đối với quyền sử dụng đất đai khá hạn chế, không bao gồm các quyền chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh hay góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã được thuê. Ngược lại, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam lại có những quyền tài sản rộng rãi hơn đối với quyền sử dụng đất.   Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, các trường đại học và cơ sở y tế, đôi khi Nhà nước vẫn duy trì chế độ giao đất có hoặc không thu tiền sử dụng đất. Chế độ pháp lý phiền nhiễu này phản ánh một quá khứ phân phối đất đai từ nền kinh tế kế hoạch, cần có thời gian để chuyển đổi sang chế độ thuê đất áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp.  Quyền tài sản đa tầng  Sau 4 lần sửa đổi luật đất đai, có thể nhận thấy Nhà nước tuy vẫn giữ nhiều quyền định đoạt, song các quyền tài sản về đất đã được phi tập trung hóa tới các nông hộ, cá nhân và tổ chức. Ẩn sau sở hữu toàn dân, một trật tự quyền tài sản đa tầng đã xuất hiện. Bắt đầu với một quyết định hành chính phân phối đất đai, ngay lập tức hình thành quyền tài sản mang tính loại trừ của một cá nhân hay tổ chức. Quyền tài sản đang hình thành ấy- sau khi ra đời sẽ được giao dịch trong những thị trường trung gian, rất sớm trước khi bằng khoán được cấp cho người có quyền sử dụng đất ở thị trường công khai.   Dựa vào mô tả của Trương Thiên Thu1, có thể minh họa quyền tài sản đa tầng này trong thị trường bất động sản (BĐS) với vô số tầng nấc khác nhau, bắt đầu từ hình thành dự án cho đến bán nền, bán quyền mua căn hộ qua các hợp đồng góp vốn.                    Hưởng dụng vì lợi tư ẩn sau sở hữu toàn dân  Điều mô tả ở trên không chỉ đúng với thị trường nhà đất, mà cũng đúng với quyền khai thác và hưởng dụng rừng núi, hầm mỏ, bờ biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Ẩn sau vỏ bọc sở hữu toàn dân, có thể nhận thấy nhiều tầng nấc quyền tài sản mang tính loại trừ của cá nhân và doanh nghiệp đã hình thành từ các quyết định phân bổ tài nguyên của cơ quan Nhà nước. Khi các quyền tài sản có dấu hiệu tư hữu không rõ ràng ấy xuất hiện, ngay lập tức xuất hiện nguy cơ của công được khai thác vì lợi tư. Người có lợi tư liên kết thành bè nhóm, khi mạnh dần lên các nhóm lợi ích này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của chính quyền từ địa phương tới Trung ương.   Những quan sát mang tính dự báo này cho thấy, nhân dịp nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 1992, cần thảo luận để định nghĩa lại vai trò của Nhà nước đối với các nguồn tài nguyên quốc gia, tái định nghĩa sở hữu toàn dân, và nếu cần có thể thay quan niệm ấy bằng những chế độ pháp lý rành mạch, xác định rõ hơn về chủ nhân của tài sản. Trên thực tế, sở hữu toàn dân đang có nguy cơ trở thành một quan niệm trống rỗng. Ẩn sau sở hữu toàn dân, vô số các quyền tài sản tư hữu đã hình thành. Một chế độ sở hữu vụn nát như vậy làm tăng chi phí giao dịch và không xác định được trách nhiệm của chủ nhân thật sự đối với tài sản. Thành ra, nếu cải cách triệt để, cần chấp nhận đa sở hữu về đất đai. Trong đó sở hữu của các nông hộ, các công ty tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước hay các pháp nhân công quyền khác cần được đối xử bình đẳng như nhau. Tài sản của Nhà nước cũng nên được chia rạch ròi thành tài sản của chính quyền Trung ương và các chính quyền địa phương với tính cách là những pháp nhân công quyền độc lập. Ngược lại, nếu cải cách dè dặt hơn, chí ít cũng cần xác lập công bằng đối với các chủ sử dụng đất, nhất là nông dân, bảo hộ tốt hơn các quyền tài sản chính đáng của họ đối với đất nông nghiệp.   ——————————-  1 Truong Thien Thu, Ranjith Perera, Intermediate levels of property rights and the emerging housing market in HCM City, Vietnam, Land Use Policy 28 (2010) 124-138    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam      Tại sao Việt Nam (VN) cần có đại học ĐCQT ? Thực tế nhiều năm qua cho thấy do chất lượng đại học của ta quá kém, sinh viên VN ra nước ngoài du học ngày càng đông, hiện đã trên 4 vạn người, mỗi năm tốn mấy trăm triệu USD. Trong đó chỉ một số ít chen chân được vào các đại học danh tiếng, còn phần đông chỉ theo học ở những đại học bình thường của các nước phương Tây. Thậm chí có một số đại học rất tầm thường vẫn thu hút nhiều sinh viên ta sang du học, hơn nữa còn là đối tác liên kết của mấy đại học lớn của ta.      Nhằm thu hút đông sinh viên để tăng nguồn tài chính, nhiều trường ở một số nước thường có chính sách dễ dãi đối với sinh viên ngoại quốc, không đặt yêu cầu chất lượng nghiêm túc như đối với sinh viên bản địa(1). Thành thử mấy trăm triệu USD dân ta bỏ ra hàng năm để đi du học là một khoản đầu tư lớn, nhưng hiệu suất không tương xứng. Đáng chú ý là nhiều người giỏi được đào tạo ở các trường tốt thường không muốn trở về VN. Còn những người trẻ trong nước khi được đào tạo đến trình độ khá cũng tìm cách ra nước ngoài kiếm sống và phát triển tài năng. Rất ít nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài muốn về VN làm việc lâu dài. Tình hình này nếu không khắc phục sớm thì đất nước rất khó phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ. Để thu hút người tài, quan niệm phổ biến về “chiêu hiền đãi sĩ” hiện nay trong cả nước, từ Trung ương cho đến các địa phương, chỉ thu hẹp ở những ưu đãi về lương bổng. Đúng là lương quá thấp thì không chiêu mộ được ai, nhưng nuôi dưỡng chất xám cao cấp không chỉ cần lương mà còn cần, và cần nhiều hơn, những điều kiện và môi trường thuận lợi cho hợp tác, nghiên cứu và phát triển tài năng – những thứ này chỉ có thể đáp ứng được khi có một đại học ĐCQT. Vì vậy, xây dựng một đại học ĐCQT ngay tại VN là hết sức cấp thiết, để giải quyết tối ưu yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đồng thời góp phần đảo ngược dòng chảy chất xám cao cấp hiện chỉ có đi mà ít có về.  Gần đây, với xu thế tự do hóa nhiều ngành dịch vụ, một số nước đang đẩy mạnh xuất khẩu đại học sang các nước khác, xem đó là nguồn lợi kinh tế đáng kể.(2). Trong tình hình ấy, nước nào không có những đại học tốt sẽ ở thế rất bất lợi, vì phải nhập khẩu ngày càng nhiều những đại học mà chất lượng đôi khi không tương xứng với giá, trong khi đó tiềm lực chất xám của chính mình không phát huy được, ngày càng hao mòn.    Sau cùng, một lý do cốt yếu cần có đại học ĐCQT là muốn hiện đại hóa đại học nhanh chóng, rất cần xây dựng một đại học làm “hoa tiêu” để thực hiện cải cách và đổi mới, đồng thời làm cửa ngõ giao tiếp, hợp tác với giáo dục và khoa học thế giới để chuyển giao tri thức và công nghệ có hiệu quả. Vì những lẽ đó có thể tin rằng xây dựng đại học ĐCQT là một trong các giải pháp chính hiện nay để chấn hưng giáo dục và khoa học, công nghệ.  Nên xây dựng mới hay gộp, cải tạo, nâng cấp các đại học sẵn có ?  Có người nghĩ đại học của ta dù sao cũng có một số thành tựu, không nên “phủ định” hết các thành tựu ấy, mà nên xuất phát từ hiện trạng để nâng cấp dần các đại học của ta lên tầm quốc tế. Đương nhiên việc này cần làm, song kinh nghiệm cho thấy chỉ đi con đường ấy để có một đại học ĐCQT phải mất rất nhiều thời gian, công sức, vì phải vượt qua một sức quán tính lớn và rất nhiều lực cản không hy vọng có thể khắc phục nhanh. Cách đây mười năm, khi Chính phủ có ý định thành lập ĐH QG Hà Nội chúng tôi cũng đã từng đề nghị nên lập mới hoàn toàn. Chính vì không lập mới mà chỉ gộp nhiều trường cũ lại nên sau mười năm xây dựng ĐHQG vẫn cách xa những đại học tầm cỡ trong khu vực. Trong lúc đó áp lực cạnh tranh với các nước trong khu vực không cho phép chúng ta chờ đợi lâu hơn nữa.   Vì vậy, cần dứt khoát xây dựng mới hoàn toàn, đúng như đề nghị của nhiều nhà khoa học (cả Mỹ và Việt kiều) và cũng là ý kiến chúng tôi đã nêu trong bản Kiến nghị về giáo dục gửi lên Trung ương tháng 6 năm 2004 (đại học hoa tiêu nêu ra trong Kiến nghị đó chính là đại học ĐCQT chúng ta đang bàn). Dĩ nhiên xây dựng mới hoàn toàn cũng có những khó khăn nhất định, nhưng nếu sợ khó thì thà đừng làm còn hơn lặp lại kinh nghiệm cũ đã thất bại. Trong điều kiện giáo dục VN hiện nay, nếu chỉ thay đổi từ từ, “kế thừa” những kinh nghiệm cũ để đi lên dần dần, không mở hướng đột phá mới, thì đó là cách tốt nhất để tụt hậu. Nói thế không có nghĩa là cứ phải xáo trộn lung tung mới tiến bộ được. Giải pháp đại học ĐCQT chính là một cách tiến nhanh mà không gây xáo trộn nhiều.  Thời cơ thuận lợi để xây dựng một đại học ĐCQT  Thực ra, ý tưởng về một đại học đàng hoàng đã được nhiều người đưa ra từ lâu, dưới nhiều hình thức, từ ý đồ mở đại học tư có chất lượng để học sinh có thể “du học tại chỗ” (ĐH Thăng Long như ý đồ ban đầu), đến những dự định thành lập trung tâm quốc tế đào tạo toán học trình độ cao trong khu vực, để từ đó tiến dần lên một đại học đa ngành theo tiêu chuẩn quốc tế. Tiếc rằng những đề nghị tâm huyết ấy, tuy có lúc đã nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo, cuối cùng đã phải bỏ dở do sức cản của một vài quan chức thiếu trách nhiệm, trong một bộ máy còn nặng quan liêu và bảo thủ, tiêu cực.  Tình hình bây giờ sáng sủa hơn. Tuy bộ máy quản lý quan liêu vẫn còn đó nhưng đã có cơ hội để xây dựng đại học ĐCQT không quá lệ thuộc bộ máy này. Thủ tướng Phan Văn Khải rất ủng hộ ý tưởng xây dựng sớm một đại học mới, ngang tầm những đại học hàng đầu trong khu vực, và Chính phủ cũng đang có những động thái tích cực theo hướng ấy. Trong chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng, một số đại học danh tiếng như Harvard và MIT đã bày tỏ nhiệt tình muốn giúp VN xây dựng một đại học hàng đầu. Dư luận rộng rãi giới trí thức trong nước và Việt kiều đã hưởng ứng tích cực sáng kiến  này. Tiếp theo bản đề án “Sử dụng tri thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại VN” (tháng 9/2005) của 6 trí thức Việt kiều tham gia Hội thảo Đà Nẵng gửi Thủ tướng, các báo trong nước cũng đã đăng tải những ý kiến tâm huyết của GS Bùi Trọng Liễu (Paris),  PGS Trần Nam Bình (Sydney), và nhiều bậc thức giả khác. Đặc biệt, chúng ta cũng thích thú được biết bản đề cương của ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Fulbright tại TP HCM, về một dự án đại học hàng đầu của VN với sự hợp tác tích cực của các đại học hàng đầu của Hoa Kỳ. Theo tôi, đó là những đề nghị rất thiết thực, có thể làm cơ sở để thảo luận, đi đến những giải pháp hợp lý, khả thi. Ít khi có một ý tưởng được hưởng ứng nhiệt thành như vậy, mở ra một cơ hội quý giá để thanh toán sự tụt hậu của đại học, đưa giáo dục và khoa học của chúng ta tiến lên một giai đoạn mới trong đó sự cạnh tranh để làm chủ tri thức đã trở nên sống còn đối với dân tộc.    Đương nhiên xây dựng một đại học ĐCQT có thể khá tốn kém: theo ước lượng của ông Thomas Vallely, cần khoảng 100 triệu USD trong vòng 5-10 năm (chưa kể phần đất đai), theo ước lượng của nhóm Việt kiều, cần đầu tư ban đầu 22 triệu USD và mỗi năm tối thiểu 10 triệu USD (cho hai trường). Tính tổng cộng trong 10 năm cũng cần xấp xỉ 300-400 triệu USD. Đó là một khoản đầu tư không nhỏ, nhưng vẫn chưa vượt quá chi phí bỏ ra trong một năm để gửi sinh viên du học, mà cái lợi thu được chắc chắn rất lớn. Một yếu tố thuận lợi nên tính đến là khả năng kết hợp việc này với việc xây dựng các trung tâm chất lượng cao (centers of excellence) theo chương trình sáng kiến thiên niên kỷ và Quỹ VEF của Hoa Kỳ. Nếu kết hợp được, hai dự án sẽ bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau, thay vì có thể trùng lặp và gây cản trở cho nhau nếu tiến hành riêng rẽ.  Vì những lẽ trên, đã đến lúc không nên chần chừ nữa mà nên khẩn trương nắm lấy cơ hội. Đây là một trong các bước quyết định để chuẩn bị thiết thực cho tương lai của đất nước trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Nếu trì hoãn, cơ hội có thể không còn, và nhiệt tình của nhiều người chân thành muốn giúp ta cũng khó giữ được trọn vẹn.  Nhiều phương án hay, cần lựa chọn và quyết định sớm  Trong bản đề cương của ông Thomas Vallely, cũng như các ý kiến của GS Bùi Trọng Liễu và nhóm tác giả đề án đại học CLC, đều có bàn cụ thể lộ trình thực hiện, phương thức điều hành, quy chế hoạt động, hướng phát triển v.v. Trên những nét lớn các ý kiến đều gặp nhau và cũng phù hợp với suy nghĩ của nhiều người trong nước muốn có bước đột phá cho đại học. Tôi nghĩ trên cơ sở ấy đã có thể hình dung đại thể mục tiêu, những yêu cầu, cùng là tính cấp thiết và khả thi của dự án.   Đã đến lúc cần chuyển sang giai đoạn hành động và sớm có quyết định về vấn đề cơ bản: nên xây dựng một hay nhiều trường, ở đâu và bằng phương tiện nào. Có mấy phương án được đề nghị: 1)Tập trung làm một trường thôi, một đại học mới ở ngay Thủ đô, có cả cấp cử nhân và cấp sau cử nhân (đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ); 2)Xây dựng hai đại học CLC, chủ yếu về những ngành nhân văn (văn, sử, triết, chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, v.v…) và khoa học cơ bản (toán, lý, hóa, sinh, tin, v.v…), bằng cách huy động tối đa lực lượng trí thức Việt kiều (còn về công nghệ thì có thể tiếp tục liên kết đào tạo với một số trường lớn ở nước ngoài, như hiện đang làm); 3)Xây dựng đại học hàng đầu ở VN bằng cách hợp tác chặt chẽ với các đại học hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là Havard và MIT. Về phương án này cũng có hai ý kiến cần cân nhắc: xây dựng một trường, ở một thành phố lớn, trước mắt chỉ tập trung ở cấp cử nhân; hoặc xây dựng đồng thời hai trường: một ở Hà Nội chuyên nhiều hơn về các ngành nhân văn và khoa học cơ bản và một ở TP HCM, về công nghệ, cả hai đại học đều có cả cấp cử nhân (kỹ sư) và cấp sau cử nhân. Cũng có ý kiến vài nhà khoa học nước ngoài là nên xây dựng đại học ĐCQT ở một thành phố lớn, nhưng có điều kiện thuận tiện để nghỉ ngơi, thư giãn những ngày cuối tuần hay trong những dịp nghỉ khác, nhất là đối với gia đình những nhà khoa học giỏi nước ngoài mà ta định mời họ đến làm việc một thời gian tương đối dài. Mọi phương án đều hay, vấn đề là phải cân nhắc và lựa chọn. Đó là chưa kể việc nâng cấp một số đại học sẵn có, và lập một đại học mới ngay trong Viện Khoa học và Công nghệ VN đều phải nghiên cứu phối hợp để tránh dàn trải, phân tán các phương tiện và nguồn lực.  Riêng ý tôi thiên về một phương án trung gian: hợp tác chặt chẽ với các đại học hàng đầu của Hoa Kỳ (và có thể một số nước khác), đồng thời huy động sự đóng góp của trí thức Việt kiều, để xây dựng chỉ một trường, ít nhất là trong 5-7 năm tới. Lúc đầu chưa cần qui mô lớn mà có thể xây dựng từng phần, với quy mô nhỏ, nhưng cái gì đã làm thì phải đạt chuẩn mực quốc tế (có nước có đại học ĐCQT xây dựng 5 năm cũng chỉ mới có qui mô vài trăm sinh viên). Có thể lựa chọn để làm trước một số ngành có điều kiện thuận lợi, nhờ trong nước đã phát triển khá, hoặc nhờ có thể dựa vào sự hợp tác hiệu quả của ngành đó ở một nước tiên tiến, rồi dần dần mở rộng ra các ngành khác. Nhưng ngay từ đầu nên có cả hai cấp đào tạo cử nhân và sau cử nhân. Nếu không có cấp sau cử nhân thì trường sẽ khó thu hút được các nhà khoa học giỏi tới dạy, khó tạo dựng không khí học thuật sôi động trong trường. Ngược lại, nếu không có cấp cử nhân thì khó tuyển được sinh viên giỏi ở đầu vào, và thiếu sinh viên giỏi thì cũng khó thu hút được thầy giỏi tới dạy. Hơn nữa, cấp cử nhân cũng là nơi các phương pháp đào tạo mới cần được thực hiện, làm hoa tiêu cho các đại học khác tham khảo áp dụng.   Cần sự quan tâm và cam kết trực tiếp của lãnh đạo cấp cao nhất  Xây dựng một đại học mới đạt chuẩn mực quốc tế cũng giống như xây dựng một nhà máy hiện đại nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Muốn dự án này thành công, cần phải có sự quan tâm đặc biệt và sự cam kết trực tiếp của Chính phủ, cụ thể là Thủ tướng. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc khi xây dựng Viện công nghệ KIST hay kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng Đại học quốc gia Singapore, thiếu điều kiện ấy thì rất khó vượt qua nhiều cản trở không dự đoán được, chắc chắn sẽ xuất hiện trong quá trình thực hiện.   Dự án cần có quy chế riêng, không phụ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và được bảo đảm những điều kiện hoạt động như một doanh nghiệp tự chủ cả về chuyên môn, tài chính và nhân sự. Sự kiểm tra của Chính phủ chủ yếu theo lối hậu kiểm, giống như đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.   Đại thể quá trình xây dựng gồm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn thành lập, khoảng vài năm, từ lúc bắt tay xây dựng cho đến lúc thành hình một cơ cấu đại học có thể hoạt động bình thường. Giai đoạn này toàn bộ công việc vạch kế hoạch, quản lý, điều hành, tìm nguồn ủng hộ tài chính bổ sung, quan hệ với các đối tác, v.v…, cần được ủy thác cho một ban đặc nhiệm (tạm gọi là ban thành lập) có đủ quyền, đủ khả năng và đủ uy tín. Đến khi thành hình rồi thì việc vận hành sẽ giao lại cho Hiệu trưởng và Hội đồng quản trị được tổ chức theo quy chế tương tự như ở các đại học tiên tiến của các nước.  Để tranh thủ tối đa sự hợp tác và giúp đỡ của các đại học hàng đầu ở Mỹ và các nước tiên tiến khác, ban thành lập trường cần có sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín quốc tế, tiêu biểu ở các đại học hàng đầu của các nước tiên tiến. Còn về phía VN, tôi nghĩ ta cũng không nên câu nệ, người ở trong ban này về phía VN có thể là người Việt ở trong hay ngoài nước, miễn sao đủ uy tín khoa học, có tầm nhìn rộng, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, khoa học của VN và có điều kiện làm tốt công việc mà ta kỳ vọng nếu được trao đủ quyền. Như ý kiến của GS Bùi Trọng Liễu mà tôi rất tán thành, nhiệm vụ ngắn hạn của ban thành lập làm tăng tính vô tư của họ, tránh được những phiền phức như đã từng xảy ra trong quá khứ, khi việc thực hiện một ý tưởng tốt được giao cho những người thiếu công tâm, lại không đủ tầm, cho nên thất bại.      (1) Trước đây, dựa vào chính sách “hữu nghị” ấy một số khá đông PTS và TS của ta được đào tạo ở các nước Đông Âu thời đó chưa đạt  trình độ tiêu chuẩn. Tuy ngắn hạn điều đó có giải quyết được một số nhu cầu bức thiết,  nhưng về lâu dài có hại nhiều hơn lợi (đó chính là một nguyên nhân  làm cho bộ máy quản lý của ta có quá nhiều người bằng cấp đầy mình nhưng trình độ kém, lại được trao trách nhiệm lãnh đạo, nên chủ quan, bảo thủ và dễ dị ứng với tài năng đích thực, cản trở bước tiến của giáo dục, khoa học).    (2) Chỉ vài năm gần đây  Mỹ, Úc và các nước Châu Âu đã xuất khẩu hàng loạt đại học sang Trung Quốc, Đông Nam Á, và khối các nước Trung Đông. Nhiều đại học ở Châu Âu đưa vào nhiều chương trình quốc tế, dạy bằng tiếng Anh. Thậm chí có những đại học ở một vài nước phương Tây được bán hẳn cho một vài công ty Mỹ chuyên kinh doanh đại học.                     Thế nào là đại học đẳng cấp quốc tế?         Để xác định phạm vi thảo luận, xin nói rõ đại học bàn ở đây có người gọi là  đại học mới, có người gọi là đại học hàng đầu (“top tier university”) hay đại học chất lượng cao (CLC), gần đây nhiều người thường nói đại học đẳng cấp quốc tế (ĐCQT), nên tôi cũng xin tạm dùng từ này. Tuy nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nội dung chính, theo tôi hiểu, là đại học đạt các chuẩn mực quốc tế về các mặt:          – Cơ sở vật chất (khuôn viên trường, nhà sở, thư viện, phòng thí nghiệm, điều kiện sinh hoạt và làm việc của thầy và trò).   – Môi trường học thuật (thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu, trao đổi học thuật sôi nổi, tự do, quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi).   – Trình độ, năng lực giáo sư và giảng viên   – Trình độ, chất lượng sinh viên tuyển vào và sinh viên ra trường.   Hơn nữa, đó phải là loại đại học nghiên cứu (research university), nghĩa là không những chỉ có giảng dạy, đào tạo, mà đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học tầm cỡ. Một đại học như thế, về cơ bản, có thể sánh ngang các đại học trung bình ở các nước tiên tiến phương Tây. Như thế cũng đã quá tốt và không dễ gì thực hiện. Cụm từ top tier tuy có nghĩa là hàng đầu nhưng ở đây chỉ nên hiểu là hàng đầu trong khu vực chứ chưa phải lúc nhằm tới hàng đầu trên thế giới.            Hoàng Tụy  Nguồn tin: Thanh Hà (ghi)           Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đạo đức và văn hóa của người làm khoa học      Trong tham luận tại cuộc hội thảo “Định hướng và giải pháp phát triển KH&CN Việt Nam 2010 – 2020” do Tạp chí Tia Sáng tổ chức vừa qua, PGS.TSKH. Phùng Hồ Hải đã nhận định: Đặc điểm nổi bật của quan hệ giữa các nhà QLKH và các nhà KH Việt Nam là sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, các nhà KH không tin các nhà QLKH còn các nhà QLKH không tin các nhà KH nghiêm túc.  Phóng viên Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với PGS.TSKH. Phùng Hồ Hải về nhận định như vậy.      PGS Phùng Hồ Hải.   P.V: Nhận định về thực trạng đó của ông có phải là hiện tượng phổ biến trong cộng đồng khoa học?  PGS.TSKH Phùng Hồ Hải: Vâng, thậm chí tôi còn cho rằng việc thiếu tin tưởng lẫn nhau đã trở thành nguyên tắc ứng xử trong hoạt động khoa học ở nước ta. Như một nguyên tắc được phát biểu nôm na trong xã hội phong kiến trước đây là “quan thì tham mà dân thì gian”. Đây là một điều rất đáng buồn vì khác với các tầng lớp hay bộ phận khác trong một xã hội, chẳng hạn các nhà chính trị, các luật sư hay các thương nhân, ở các nước tiên tiến trên thế giới, các nhà khoa học luôn nhận được sự kính trọng và khâm phục rất cao từ xã hội. Họ tiêu biểu cho những người dám dấn thân.  Ông có thể nêu một vài dẫn chứng điển hình?  Đối với các nhà khoa học, chưa có một vị quản lý khoa học nào phát biểu rằng không tin tưởng vào họ. Những lời phàn nàn đối với các nhà khoa học lại đến từ chính các nhà khoa học. Chúng ta đã nghe nhiều phát biểu của các nhà khoa học nghiêm túc, điển hình là GS Hoàng Tụy về thực trạng của các nhà khoa học Việt Nam và có lẽ cũng không cần nhắc lại ở đây.  Mặt khác, chính những chính sách quản lý khoa học là minh chứng cho sự không tin tưởng vào các nhà khoa học của các nhà quản lý khoa học. Tôi xin lấy một ví dụ. Quy chế đào tạo NCS của ta không cho phép giáo viên hướng dẫn tham gia hội đồng chấm luận án của NCS. Có lý do nào khác ngoài lý do rằng nếu được tham gia giáo viên hướng dẫn sẽ tìm cách nâng đỡ NCS của mình? Hay một ví dụ khác. Các ứng viên cho chức danh GS hoặc PGS khi làm hồ sơ phải nộp quyển toàn tập các công trình của mình, thậm chí mỗi công trình phải photo cả trang bìa của tạp chí đăng công trình đó. Tôi có thể khẳng định rằng 100 trên 100 trường hợp các quyển tổng tập công trình đó sẽ không được một ai đọc kể cả các phản biện. Lý do duy nhất ở đây là để đảm bảo các ứng viên không khai man. GS và PGS là những chức danh khoa học cao nhất, thậm chí người ta còn đòi hỏi GS ở Việt Nam phải là nhà khoa học đầu ngành của một ngành khoa học. Vậy mà người ta vẫn sợ các ứng viên khai man…  Ngược lại, những người làm khoa học cũng không có cơ sở nào để tin vào sự công minh của những người quản lý với vai trò của người cấp kinh phí nghiên cứu khoa học. Ở bất kỳ một đơn vị khoa học nào cũng có những đề tài được cấp kinh phí rất lớn nhưng khi nghiệm thu thì chỉ có vài ba tập giấy mỏng, in vội. Điển hình là chương trình Tin học 115.  Trong tham luận, ông đã nêu 3 nguyên nhân của thực trạng đó là: Sự xuống cấp chung của đạo đức xã hội (tham nhũng tràn lan, chạy quyền chạy chức, quá coi trọng bằng cấp, hư danh…); Các hệ lụy của cơ chế bao cấp (bình quân chủ nghĩa, lâu năm lên lão làng, dẫn đến thiếu động cơ trong sáng trong nghiên cứu, ăn thật làm giả…); Thiếu tính “pháp trị” trong công tác quản lý khoa học, đặc biệt thiếu chế tài xử phạt và không thực hiện được tốt các chế tài hiện hành. Ông có thể nói rõ hơn về nguyên nhân thứ 3?  Tôi cho rằng việc không thực thi được một cách công khai và minh bạch các chế tài xử phạt là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự xuống cấp về chất lượng khoa học cũng như đạo đức khoa học ở nước ta hiện nay. Đồng thời đó cũng chính là khâu quan trọng để có thể tạo ra đột phá nhằm đưa việc nghiên cứu và quản lý nghiên cứu khoa học đi vào đúng quỹ đạo.  Trước hết xin nói về thực trạng của việc xử phạt trong quản lý khoa học. Có thể nói, trong nhiều năm nay chúng ta gần như chẳng phạt được ai ăn gian trong khoa học, mặc dù chúng ta có nhiều cơ sở để tin rằng đã có rất nhiều gian dối. Có nhiều lý do nhưng theo tôi lý do cơ bản nhất là thiếu thông tin. Chẳng hạn một đề tài A, kinh phí được cấp 1 tỷ, sau 5 năm khi nghiệm thu, thành quả là những gì chỉ có một hội đồng nghiệm thu được biết. Các thành viên hội đồng nghiệm thu trong trường hợp chất lượng đề tài thấp thường cũng rất ngại đấu tranh… vì ai rồi cũng sẽ có đề tài. Lâu dần những người không nghiêm túc thường có xu hướng xích lại gần nhau, anh ngồi hội đồng cho tôi, tôi ngồi hội đồng cho anh… Những người nghiêm túc tuy bức xúc nhưng hầu như không có đấu tranh, một phần vì tâm lý nể nang vẫn đang rất phổ biến trong giới khoa học nước ta, lâu dần thành quen.  Ta hãy tưởng tượng tại các ngã tư trên đường phố rất nhiều người vượt đèn đỏ (điều đã từng xảy ra ở Hà Nội một hai thập kỷ trước). Nếu bạn cũng đang tham gia giao thông bạn sẽ làm gì. Rất nhiều khả năng bạn cũng sẽ vượt đèn đỏ, đôi khi nếu bạn không vượt thì chính bạn mới là người cản trở giao thông. Tuy nhiên gần đây, trật tự giao thông ở Hà Nội đã có những tiến bộ vượt bậc, tại rất nhiều ngã tư Hà Nội tôi quan sát không thấy có cảnh sát nhưng hầu hết mọi người đã nghiêm chỉnh chấp hành tín hiệu giao thông. Lý do theo tôi rất đơn giản, bạn có thể vượt và khả năng sẽ không có chuyện gì xảy ra, tuy nhiên nếu nhiều lần vượt thì thể nào cũng sẽ bị bắt và với mức phạt mà bạn phải chịu thì có lẽ tốt hơn là nên tự tạo thói quen không vượt đèn đỏ. Cũng vẫn những con người Hà Nội của mấy năm trước, và còn nhiều người mới tới Hà Nội nữa, nhưng chỉ với một cơ chế phạt khả thi và công khai, trật tự giao thông đã có tiến bộ vượt bậc.  Những nhà khoa học đang cố gắng giữ chuẩn mực cho khoa học nước ta giống như những người tham gia giao thông, kiên quyết dừng xe khi đèn đỏ. Nếu xung quanh họ đa số đều vượt đèn đỏ thì bản thân họ lại bị coi là lập dị, “cản trở giao thông”.  Phải chăng thực trạng này là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu quả thấp trong nhiều lĩnh vực hoạt động KH&CN của nước ta?  Đúng vậy. Thực trạng này đã ảnh hưởng rất tiêu cực tới mọi hoạt động KH&CN. Nó làm chết đi động lực sáng tạo của các nhà khoa học. Khi các nhà khoa học mất niềm tin vào các nhà quản lý khoa học, nghĩa là họ cho rằng việc đánh giá các công trình của họ không còn theo các tiêu chí, chuẩn mực khoa học, mà còn các tiêu chí khác, phi khoa học. Khi một đề tài xuất sắc về mặt khoa học không được đánh giá đúng với giá trị của nó hoặc tuy được đánh giá tốt nhưng không được cấp kinh phí tương xứng, so với một đề tài khác tuy kém hơn về khoa học nhưng lại lobby (vận động hành lang) tốt hơn…, thì các nhà khoa học sẽ không muốn làm khoa học nghiêm túc nữa. Mặt khác khi các nhà quản lý khoa học (đa số bản thân đều đã từng làm khoa học) nhận thấy rằng có một số lượng lớn các công trình khoa học tính khoa học thấp mà họ, những nhà quản lý có thể biết nhưng không làm gì được, thì phản ứng của họ là tự vệ. Tự vệ nghĩa là làm thế nào để không bị dư luận chỉ trích. Cách giải quyết của họ hiện nay, mà theo tôi là rất phi khoa học, là nâng cao các chuẩn và tiêu chuẩn. Chúng ta càng nâng chuẩn thì người ta lại càng cố làm dối để đạt chuẩn đó.  Để minh họa điều này tôi lại xin ví dụ với bài toán giao thông. Chúng ta thử tưởng tượng, tại mỗi ngã tư đường phố, thay vì dùng đèn xanh đèn đỏ, người ta dùng barrier tương tự như tại những chỗ chắn tàu để đảm bảo không ai phạm luật giao thông. Dường như kỷ cương sẽ được lập lại vì không ai vượt được barrier. Tuy nhiên thực tế sẽ khác, trước hết giao thông sẽ đình trệ vì chính những barrier đó, và sau đó người dân cũng sẽ không phụ thuộc vào barrier đâu, họ sẽ phóng xe lên vỉa hè để lách barrier… Rất tiếc quy trình quản lý khoa học của ta hiện nay giống như việc dùng barrier vào giao thông đô thị.  Dù vậy, theo tôi, những tác hại trực tiếp của việc thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa các nhà khoa học và các nhà quản lý khoa học tới môi trường khoa học nước ta chưa phải là nguy cơ lớn nhất. Nguy cơ lớn nhất là chúng ta đang làm hỏng các thế hệ tiếp theo trong khoa học.  Vì sao thực trạng này lại có thể làm hỏng các thế hệ tiếp theo trong khoa học?   Phẩm chất quan trọng nhất của một nhà khoa học, trên cả tài năng, là sự trung thực. Đó chính là phẩm chất khiến họ nhận được sự tôn trọng của xã hội. Dù ở trong bất kỳ một hình mẫu xã hội nào đi nữa, phẩm chất của người thầy cũng là yếu tố quyết định ảnh hưởng tới phẩm chất của người trò. Tất nhiên ngoại lệ thì ở đâu và lúc nào cũng có. Sau phẩm chất thì tác phong và phương pháp làm việc cũng là những chìa khóa để một nhà khoa học đi tới thành công. Đánh giá chung có thể nói, những người thầy Việt Nam hiện nay phẩm chất thấp, tác phong kém, phương pháp lạc hậu. Những yếu kém đó sẽ ảnh hưởng lên học trò. Nếu một sinh viên đại học, một học viên cao học hay một thạc sỹ coi việc quay bài, việc “đi thầy”, việc chạy điểm là bình thường thì họ sẽ không thể trở thành một nhà khoa học chân chính được. Tai hại hơn nữa khi những người đó vẫn sẽ trở thành những nhà khoa học hay thậm chí những nhà quản lý khoa học. Những nguy hại của nó ai cũng có thể suy xét được.  Trong tham luận, ông đã đưa ra một số giải pháp để khắc phục thực trạng này như: Thực hiện quản lý hoạt động khoa học theo nguyên tắc: Pháp trị, Dân chủ, Công khai, đặc biệt phải đảm bảo được việc thực hiện các chế tài xử phạt; các nhà QLKH cần tin tưởng các nhà KH (đa số các nhà KH muốn làm KH nghiêm túc nhưng không có môi trường, điều kiện) và xử phạt công khai, minh bạch những người không nghiêm túc trong khoa học; tạo điều kiện cho các SV, NCS, nhà KH trẻ ra nước ngoài để không những học tập được kiến thức mà còn cả tác phong làm việc, phương pháp làm việc…   Theo ông, có thể nói một cách khái quát về các giải pháp đó là chúng ta cần xây dựng và hình thành được “đạo đức và văn hóa của người làm khoa học” trong cộng đồng khoa học?  Theo tôi, hiện nay chúng ta cần song song thực hiện hai giải pháp. Giải pháp thứ nhất là làm trong sạch môi trường trong nước. Trong giải pháp này, điểm mấu chốt là tạo lại “đạo đức và văn hóa của người làm khoa học”. Tương tự như trong bài toán giao thông đô thị, đa số những người làm khoa học đều là những người muốn làm nghiêm túc. Trong suốt quá trình xây dựng đất nước, đội ngũ các nhà khoa học đã được chọn ra và luôn được bồi đắp từ những học sinh, sinh viên ưu tú nhất. Tuy vậy, trải qua những thăng trầm của kinh tế, xã hội, đang có nhiều “con sâu làm rầu nồi canh”. Để khoa học Việt Nam có thể tự mình làm sạch mình, theo tôi không có cách nào khác là phải tạo ra một cơ chế quản lý dân chủ, minh bạch, đặc biệt cần có quy chế xử phạt nghiêm ngặt và việc xử phạt cần phải được thực hiên công khai, minh bạch. Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (Nafosted) của bộ KH&CN là cơ quan đầu tiên đang cố gắng thực hiện cách quản lý theo những nguyên tắc đó. Đó là một tín hiệu rất đáng mừng cho khoa học Việt Nam.  Giải pháp “tự làm sạch mình” tuy vậy không đơn giản và cần nhiều thời gian. Ngoài ra thực trạng khoa học hiện nay là có nhiều nhà khoa học không còn bắt kịp với tốc độ phát triển của thế giới. Việc bổ sung những nhà khoa học trẻ không những nắm bắt được những thành tựu khoa học mới nhất trên thế giới, mà còn tiếp thu được những phong cách và phương pháp làm việc tiên tiến là hết sức cấp thiết. Vì thế giải pháp thứ hai là tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ, nhất là những người chưa có điều kiện ra nước ngoài, được tiếp xúc và làm việc với những môi trường làm việc trong sạch và chuyên nghiệp.  Vậy chúng ta cần có những điều kiện gì để thực hiện hai giải pháp đó?  Tất nhiên hai giải pháp phải được tiến hành đồng bộ. Cụ thể trong giải pháp làm sạch môi trường trong nước cần tính đến chuyện tạo môi trường để những người đã được cử đi học tập nghiên cứu ở nước ngoài muốn trở về nước làm việc. Khoa học, hiện nay cũng như trong lịch sử, luôn chịu ảnh hưởng của kinh tế. Không có nhà khoa học nào có thể tiến hành nghiên cứu trong nghèo đói. Vì thế các phương pháp hành chính nhằm giữ chân các nhà khoa học trẻ là bất khả thi. Ngay cả ở những nước rất phát triển như Anh, Pháp, Đức, vẫn có hiện tượng chảy máu chất xám sang Mỹ. Việt Nam ta với các biện pháp hành chính có thể nói không thể “cầm máu” được. Ngược lại, ở Trung Quốc, nơi cách đây 30 năm đã có chính sách gửi hàng loạt sinh viên và NCS sang Mỹ và Tây Âu học tập, đang dần thu hút được nhiều nhà khoa học trong số này trở về nước làm việc. Các nước châu Âu cũng đang có nhiều dự án lôi kéo các nhà khoa học từ nước ngoài về làm việc. Chúng ta cần học tập kinh nghiệm của họ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng ĐH KH&CN trực thuộc Viện KH&CN Việt Nam: Trước hết cần có sự đồng thuận trong đánh giá      Buổi làm việc của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng đại diện các Bộ, ngành với lãnh đạo, các nhà khoa học Viện KH&amp;CN Việt Nam về việc xây dựng Đại học KH&amp;CN trực thuộc Viện KH&amp;CN Việt Nam diễn ra vào 24/10/2007 cho thấy, cần có sự đồng thuận trong đánh giá về tiềm năng và những khó khăn giữa những người làm công tác quản lý và nhà khoa học trong việc xây dựng Đại học KH&amp;CN trở thành trường đại học có trình độ đạt chuẩn quốc tế, và xa hơn, vươn tới lọt vào “Top 200” thế giới.        “Móng nhà” đã đủ chắc?  Kế hoạch xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế đã được ba “nhà”-nhà quản lý, khoa học và nhà giáo dục-“manh nha” từ nhiều năm trước. Việc xây dựng Đại học KH&CN là trường hợp được phác thảo trong kế hoạch đó, và mục đích của việc xây dựng xuất phát từ “nguồn tài nguyên” nhân lực và cơ sở vật chất sẵn có, cũng như vị trí của Viện KH&CN Việt Nam trong công tác đào tạo cán bộ. Các nhà quản lý và nhà khoa học tham dự buổi làm việc tin rằng, với nguồn “nội lực” tiềm tàng đó, nếu được “tận dụng và khai thác hết công suất” có thể xây dựng được một trường đại học có trình độ đạt chuẩn quốc tế, và xa hơn, vươn tới lọt vào “Top 200” thế giới  Như để chứng minh tiềm năng của một viện nghiên cứu đầu đàn, GS.Nguyễn Khoa Sơn-Phó chủ tịch Viện KH&CN Việt Nam nêu ra nhiều cái nhất: Đây là viện nghiên cứu lớn nhất cả nước gồm 26 viện chuyên ngành; một đội ngũ cán bộ mà không một viện nghiên cứu hay trường đại học nào khác có được: 2450 cán bộ khoa học với 61 giáo sư, 700 tiến sỹ và TSKH… Là một viện “gánh” cả công tác nghiên cứu và chức năng đào tạo bậc cao, ông Sơn cho biết thêm: “Hằng năm Viện KH&CN Việt Nam đào tạo hàng trăm tiến sỹ và thạc sỹ cho các viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo trong nước”.              Viện KH&CN Việt Nam thì có khả năng trở thành một đại học, điều này không ai nghi ngờ. Nhưng có nâng lên đại học tầm cỡ quốc tế (world-class university) hay không là một vấn đề khác: vấn đề nghiên cứu khoa học. Ai cũng biết, năng suất và chất lượng nghiên cứu của Viện vẫn còn tương đối thấp; nhưng với cơ sở vật chất, con người và đầu tư, tình hình có thể có khả quan hơn. Không nên “khoa trương” có bao nhiêu tiến sỹ hay giáo sư, vì vấn đề không phải là con số, mà là làm được gì với lực lượng khoa học đó. Nếu lập một đại học mới có tầm vóc, theo tôi, định hướng của đại học nên thiên về nghiên cứu khoa học hơn là giảng dạy.              Ở Mỹ có Học viện Công nghệ California (Caltech) chỉ có khoảng 2000 sinh viên (mà trong số này hơn 50% là sinh viên sau cử nhân) nhưng số lượng giáo sư và giảng viên thì lên đến 1200, và do đó, sản lượng nghiên cứu khoa học của họ chỉ có thể mô tả là “tuyệt vời”: 31 giải Nobel, và mỗi năm công bố 2600 bài báo khoa học.  Ở Úc cũng có một trường đại học thuộc loại hàng đầu được thiết lập theo mô hình của Caltech nhưng ngân sách thấp hơn: đó là truờng Australian National University (ANU – Đại học Quốc gia Australia). Trường này chỉ có 13.000 sinh viên (trong số này có hơn 40% là nghiên cứu sinh sau cử nhân), và khoảng 1400 giáo sư và giảng viên với sản luợng khoa học trên 1900 bài báo khoa học hàng năm.  Chỉ trong vòng 50 năm, trường ANU trở thành một trong những trường hàng đầu trong vùng và trên thế giới.  Tôi hy vọng rằng mô hình của một đại học từ Viện KH & CN cũng theo định hướng như thế.              Theo tôi không nên đặt mục tiêu vào “Top 200” làm gì. Vấn đề chính là làm sao tạo điều kiện để cho đại học đó thực hiện tốt những nghiên cứu khoa học với chất lượng cao và gây ảnh hưởng trên trường quốc tế. Một khi đại học đã tạo tên tuổi trên trường khoa học quốc tế thì những danh hiệu “phù du” kiểu “Top 200” không phải là vấn đề chúng ta quan tâm.  Nên nhớ rằng mấy kiểu xếp hạng “Top” chỉ tương đối thôi.  Chẳng hạn như trường ANU năm 2006 đứng hạng 16 theo cách làm của tờ Times Higher Education Supplement, nhưng lại “tụt” xuống hạng 38 theo cách làm của tờ Newsweek! Chúng ta không nên quá quan tâm đến xếp hạng, bất cứ do ai làm, mà nên quan tâm đến việc làm thực tế của mình có đem lại lợi ích cho ai không.              Yếu tố Việt kiều quan trọng. Một số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có kinh nghiệm về hoạt động khoa học và khoa bảng lâu năm, là một nguồn nhân lực cần thiết cho một đại học mới ở nước ta. Cho dù các nhà quản lý và giáo sư trong nước giỏi đến mấy đi nữa, nếu không va chạm, cọ sát với thực tế ở ngoài thì khó mà nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế.              GS.Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu y khoa Garvan, Sydney, Australia)                Với “đội quân” hùng hậu như vậy và cơ sở vật chất, được GS.Nguyễn Khoa Sơn cho biết là “đồng bộ với nhiều máy móc hiện đại tầm cỡ khu vực và thế giới-có 4 trong tổng số 17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được Nhà nước đầu tư”, thì những sản phẩm KH&CN được “ra lò” cũng phải thuộc hàng “top” cả nước cả về chất lượng lẫn quy mô. Và ngay trong kế hoạch 2007-2012, Chính phủ cũng đã “đặt hàng” 13 sản phẩm KHCN trọng điểm quốc gia như: vệ tinh nhỏ giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai VNREDSat-1, tàu thủy điện khí động thử nghiệm, thuốc hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy HEANTOS, vacxin cúm A/H5N1 cho gia cầm, hệ thống báo động đất và cảnh báo sóng thần cho Việt Nam,…Để thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Chính phủ tin tưởng giao, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, “Phải làm sao hình thành các chuỗi phòng thí nghiệm trọng điểm. Viện KH&CN Việt Nam phải là nơi chủ trì những sản phẩm có tầm cỡ quốc gia, đi đầu làm chủ các công nghệ. Và đặc biệt, phải tìm được những địa chỉ ứng dụng hiệu quả cao”. Bên cạnh đó Phó Thủ tướng cũng đặt ra câu hỏi cho các lãnh đạo và tập thể cán bộ Viện là, “Viện KH&CN Việt Nam phải phát triển và ứng dụng KH&CN khác với các viện và trường  đại học khác như thế nào?”.  Tuy nhiên, song song với những thành tựu lạc quan mà lãnh đạo Viện KH&CN Việt Nam báo cáo, ông Cao Viết Sinh-Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư-lại có cách nhìn nhận khác. Theo ông Sinh, khi nhìn lại nền KH&CN Việt Nam chúng ta phải “giật mình”. Rồi ông đưa ra so sánh, “Tỷ trọng xuất khẩu công nghệ của Việt Nam chỉ chiếm 6% trong khi Malaysia là 55%”. Sau khi nghe lãnh đạo Viện đưa ra con số 1000 bài báo khoa học được “xuất xưởng” trong 5 năm, ông Sinh làm phép tính: “Như vậy chia đều mỗi năm là 200 bài. Nếu đem so với 3500 con người thì ít quá!”. Ông Thang Văn Phúc-Thứ trưởng Bộ Nội vụ- cho biết, “Viện Nông nghiệp với gần 30 viện chuyên ngành nhưng sản phẩm thì không tương xứng”. Tuy không hoạt động trong “địa hạt” KH&CN, nhưng ông cũng phải thốt lên, “KH&CN Việt Nam đang ở đâu?!”.  Do vậy, vấn đề được đặt ra khi Đại học KH&CN, theo như ông Nguyễn Khoa Sơn, “đào tạo ra các chuyên gia có năng lực cả về chuyên môn lẫn thực hành tương đương với những người tốt nghiệp các trường đại học vào loại khá trong khu vực và quốc tế”, thì bài toán tiếp theo vẫn phải là sử dụng họ như thế nào? Và ngay cả đối với bài toán đào tạo thì liệu 169 con người có “đủ tiêu chuẩn” tham gia giảng dạy sẽ có bao nhiêu người có trình độ đạt chuẩn quốc tế để có thể đào tạo ra lớp nhà khoa học hậu bối có trình độ tương đương khu vực và quốc tế? Và những tiêu chuẩn cùng với các tiêu chí đưa ra được căn cứ vào cơ sở và thời điểm nào? Lời giải vẫn phải là, muốn xây nhà cao thì phải có móng chắc.  “Giữ chân” người tài  Chính vì có sự nhìn nhận khác nhau nên cần thiết phải có tổng kết chi tiết thực trạng KH&CN nước nhà để tìm ra “bài thuốc đặc trị” cho cả công tác quản lý và hoạt động nghiên cứu. Ý kiến của một số Bộ đều nhất quán rằng, cần phải đặc biệt tăng cường đồng bộ chất lượng sản phẩm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm KH&CN. Nhưng để làm được điều đó thì yếu tố quyết định là cần phải có đủ người tài. Hầu  hết đại diện các Bộ, ngành đều tán thành việc xây dựng Đại học KH&CN như là nơi để “sản sinh ra những chuyên gia khoa học đầu ngành”. Và như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nói, “Ngoài chức năng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, thì Viện vẫn còn thiếu chức năng là nơi sản sinh ra những tri thức mới của dân tộc”. Với lợi thế “bất khả chiến bại” của Viện nên cả nhà khoa quản lý, nhà khoa học và nhà giáo dục đều mong muốn Đại học KH&CN sớm “vào cuộc”. Và như ông Bành Tiến Long-Bộ GD&ĐT-kiến nghị, “Với 169 cán bộ của Viện có thể tham gia giảng dạy hiện nay thì phải nhanh chóng chuẩn bị cơ sở vật chất để có thể tuyển sinh khóa đầu tiên vào 2008”.   Mục tiêu vươn tới được các nhà hoạch định đưa ra là Đại học KH&CN sau này sẽ trở thành “đầu tàu” cả nước tiến hành chương trình đào tạo bậc cao. Tuy nhiên một số đại biểu cho rằng, việc đào tạo bậc cử nhân chỉ nên chú trọng vào một số ngành thuộc lĩnh vực công nghệ mới và công nghệ cao. Khoảng cách về KH&CN của nước ta bị bỏ xa thế giới nên tăng cường đào tạo bậc cao sẽ tạo động lực đẩy nhanh hội nhập, rút ngắn khoảng cách công nghệ. Theo ông Thang Văn Phúc thì “phải có tiến sỹ mới “ăn cắp”được công nghệ tiên tiến của nước ngoài”. Tuy nhiên, với cơ chế hiện nay, đại diện các Bộ đều lo ngại hiện tượng “chảy máu chất xám” và “thoái hóa chất xám” càng ngày càng gia tăng. Cho nên phải đưa ra một loạt chính sách có động lực và đường lối rõ ràng, rành mạch. Ông Phúc nhận định, “Nếu không có chính sách nuôi dưỡng nhân tài thì những người giỏi sẽ không trung thành. Phải cố gắng làm sao để giữ lại được những người này trong cơ quan công. Còn nếu tiếp tục đối xử hành chính thì họ, hoặc sẽ ra nước ngoài, hoặc sẽ đổ vào những công ty đầu tư nước ngoài và công ty tư nhân”. Đồng tình với nhận định của đại diện Bộ Nội vụ, một đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, phải có cơ chế tài chính phù hợp. Nếu làm không khéo nhân tài sẽ “chảy” hết ra khỏi các cơ quan Nhà nước”. Ông ví von, “cơ chế tài chính khuyến khích người tài bây giờ giống như cảnh “đánh cá xa bờ”: cho vay ưu đãi trong quá trình học, khi tốt nghiệp lương thấp, không trả được nợ để rồi cuối cùng lại…xóa nợ”. Một vị đại diện Bộ Công Thương phân tích, “Doanh thu của Viện KH&CN Việt Nam đạt 100 tỷ mỗi năm. Nếu đem chia bình quân cho 3500 con người của Viện thì việc trả lương đã chiếm tới 80% doanh thu. Và với mức lương đó chưa thể thu hút người tài được”. Đối với những nhà khoa học Việt kiều, để “giữ chân” họ, theo ông Phúc, tiền công phải trên cơ sở thỏa thuận. Còn theo như ông Lê Đình Tiến-Thứ trưởng Bộ KH&CN-thì “cơ chế tài chính chưa đưa ra mức lương trả choViệt kiều cũng như các chuyên gia nước ngoài một cách xứng đáng”. Về vấn đề này, GS.Đặng Vũ Minh-Chủ tịch Viện KH&CN Việt Nam-cho biết, “Đối với Viện KH&CN Việt Nam, trong 4 năm qua, tình trạng chảy máu chất xám đã dừng hẳn. Nhưng việc thu hút chuyên gia Việt kiều còn nhiều yếu kém”.   Như vậy, trong hoạt động KH&CN vẫn tồn tại hai cách nhìn nhận khác nhau: một bên là những người “cầm cân nảy mực” các hoạt động KH&CN, còn một bên là những nhà khoa học già cội. Và ngay cả đối với những người làm quản lý thì cách nhìn nhận vẫn tồn tại nhiều khác biêt. Chỉ khi nào có được sự đồng thuận cao để cả những người làm công tác quản lý khoa học và nhà khoa học đưa ra những đánh giá trùng lặp thì mới tạo ra loạt chính sách có động lực và đường lối rõ ràng, rành mạch cho sự phát triển KH&CN nước nhà. Còn như hiện nay, khi sự đồng thuận đó chưa có thì việc xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế vẫn còn thiếu cả điều kiện cần lẫn điều kiện đủ.  Có quyền tự chủ cao về tổ chức và hoạt động và được đầu tư theo cơ chế tài chính cấp 1, nhưng xét về mục tiêu kế hoạch một trường đại học dần đạt chuẩn quốc tế thì kinh phí không phải là nhiều. Vì vậy ông Bành Tiến Long cho rằng, “là con nhà nghèo, phải biết làm để tiền đầu tư không lớn nhưng đạt hiệu quả cao”.    Đức Phường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng một khoa học mới – Khoa học về cái phức tạp      Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay còn gọi là các fractal, đã tạo ra một thứ khoa học mới, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhận  thấy trước rằng đây sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà khoa học trước đây đã hình dung trước đây, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hẳn trong những hỗn tạp và cát bụi đó, con người đã tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quý của mình. Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghĩ đến  việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình.      “Khoa học hiện đại” vốn được phát triển từ kỷ nguyên Khai sáng (Enlightenment) ở thế kỷ 17, khởi đầu bởi những phát minh của Kepler, Galilei và Newton về các định luật của vận động vật chất và bởi sự thúc đẩy mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp. Với những phát minh đó, lần đầu tiên con người tìm được một cách nhận thức thế giới bằng “phương pháp khoa học” mà không cần dựa vào một sức mạnh thần thánh nào hay phải viện đến những liên cảm huyền bí nào giữa trí tuệ con người với một tinh thần hay linh hồn của tự nhiên. Và cũng do đó, “khoa học” đã được phát triển trước hết và mạnh mẽ ở các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên như cơ học, vật lý học, thiên văn học, v.v… Các “phương pháp khoa học” được phát triển và hoàn thiện dần bởi tư duy cơ giới Newton và Descartes, tất định luận Laplace, …, và được hỗ trợ đắc lực bởi các công cụ sắc bén là giải tích toán học (cũng được phát minh bởi Newton và Leibniz) và phép suy luận của logích hình thức.  May mắn thay, phương pháp khoa học đó đã cung cấp cho con người các mô hình toán học định lượng phù hợp với thực tế vật lý với một độ chính xác gần như tuyệt đối (một độ chính xác mà E.Weigner coi là “phi lý” đến không tưởng tượng nổi!), cho nên những tri thức mà khoa học sản sinh ra được con người xem như là chân lý, những “chân lý khách quan” về thế giới tự nhiên. Để thích hợp với khả năng của tư duy cơ giới và các phương pháp phân tích, các mô hình toán học được lựa chọn để sử dụng thường là các mô hình tuyến tính (linear), hoặc được qui giản về các mô hình tuyến tính. Đó cũng là lý do mà người ta cũng thường gọi phép tư duy khoa học theo tinh thần kể trên là tư duy cơ giới, tư duy tuyến tính.  Từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20 các quan điểm và phương pháp khoa học cũng đã dần dần được ứng dụng vào việc nghiên cứu trong các lĩnh vực của sự sống, rồi của kinh tế xã hội, và cả của văn học, thi ca, nghệ thuật,…, với niềm tin rằng “có những luật tự nhiên thống trị xã hội loài người tương tự như đã thống trị thế giới vật lý”. Kinh tế học là một lĩnh vực được “khoa học hoá” khá sớm và liên tục, và nhiều lý thuyết khoa học về kinh tế đã có ảnh hưởng đậm nét lên sự phát triển kinh tế và xã hội loài người trong suốt thế kỷ vừa qua. Nhiều học thuyết về xã hội, về nhân văn, để có sức hấp dẫn và thuyết phục nhiều hơn cũng cố gắng phát triển theo tinh thần “khoa học” và mang thêm một tính từ “khoa học” vào tên gọi của mình, chẳng hạn, học thuyết về chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lenine được gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học. Một tri thức được xem là một chân lý khách quan nếu nó được suy ra từ các phương pháp khoa học, những thuộc tính như cân bằng, ổn định, đối xứng, hài hoà, tiên đoán được, v.v…, là những thuộc tính của các đối tượng tất định, tuyến tính do khoa học nghiên cứu, được xem như những chuẩn mực của cái hay, cái đẹp trong cuộc sống, thậm chí cả trong văn chương, thi ca, nghệ thuật.      Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”.      Cứ như vậy, niềm tin của chúng ta vào cái đúng đắn gần như tuyệt đối của các “chân lý khoa học”, cái hay cái đẹp chuẩn mực của các tri thức khoa học cứ được bồi đắp dần ngày càng thêm vững chắc trong nhận thức của ta cho đến thế kỷ 20 vừa qua. Rồi cuối cùng cũng đã đến lúc, ở nơi này hay nơi khác, từ địa hạt này sang địa hạt khác, ta chợt bừng thức dậy mà nhận ra rằng cuộc đời này, thế giới này hình như có nhiều thứ không ngoan ngoãn tuân theo những điều răn dạy của cái “khoa học” mà ta hằng tin tưởng đó. Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”. Ta trở lại đối mặt với một tự nhiên và cuộc đời như nó vốn có, đầy cát bụi trần gian, lô nhô khúc khuỷu, gãy vỡ quanh co, chứ đâu có thẳng băng, tròn trịa như các hình vẽ của khoa học hình thức.  Ta nhận ra điều đó cả từ trong chính bản thân phần cốt lõi tri thức của khoa học, cả từ những lĩnh vực ứng dụng khoa học đang có nhiều hứa hẹn thành công. Lấy thí dụ trong kinh tế học. Để có được những mô hình toán học với các thuộc tính đẹp đẽ như cân bằng, ổn định, từ rất lâu ta đã giả thiết là trong kinh tế thị trường có sự thống trị của luật về tỷ suất lợi nhuận giảm dần (law of diminishing returns), dù rằng từ cuối thế kỷ 19 và đặc biệt sang đầu thế kỷ 20 có những nhà kinh tế học như A.A.Young đã đề xuất việc đưa vào nghiên cứu trong kinh tế học cả luật đối nghịch về tỷ suất lợi nhuận tăng dần (increasing returns) nhưng đã bị từ chối vì một lẽ đơn giản là nếu làm vậy thì có nguy cơ “lật nhào kinh tế học hiện đại”!  Chỉ đến vài thập niên cuối của thế kỷ 20, với sự kiên trì thuyết phục của một số nhà kinh tế học trẻ như B.Arthur, P.Romer, và với những bằng chứng hiển nhiên từ nền kinh tế tri thức công nghệ cao, luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần mới tìm được chỗ đứng của mình trong kinh tế học. Thừa nhận luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần cũng có nghĩa là thừa nhận trong các hệ thống kinh tế không chỉ có cân bằng, ổn định, mà còn có thể có cả những trồi sụt thất thường, những hỗn độn và bất trắc.  Hỗn độn và bất trắc, nghe lạ tai nhưng ngẫm cho kỹ hoá ra lại là chuyện thường ngày! Nhưng, hỗn độn từ đâu sinh ra vậy? Câu hỏi oái oăm này, đến lượt mình, may thay lại do chính cái phần lõi của tri thức khoa học tìm được câu trả lời. Vào thập niên 1970, bằng cách mô phỏng trên máy tính điện tử quĩ đạo nghiệm của một hệ phương trình vi phân mô tả bài toán dự báo thời tiết, E.Lorenz đã phát hiện quĩ đạo đó không hội tụ về một điểm cân bằng nào cả mà ngày càng vươn ra xa, toả ra như hai cánh bướm khổng lồ, một hình ảnh đẹp của cái mà về sau thường được gọi là “hiệu ứng cánh bướm” diễn tả mối “phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu”, một vẫy nhẹ như cánh bướm ở Bắc Kinh có thể gây nên một trận cuồng phong bão tố ở châu Mỹ! Qua nhiều thực nghiệm mô phỏng khác nữa với các mô hình trong sinh thái học, trong kinh tế, v.v…người ta nhận thấy rằng nhiều hành vi đi đến hỗn độn (chaos) tương tự như vậy đều có thể phát sinh từ trong động lực học của các hệ thống được mô tả bởi các phương trình vi phân hoặc sai phân tất định tương đối đơn giản, với điều kiện là trong các phương trình đó phải có những phương trình phi tuyến (non-linear)!  Như vậy là, cái hỗn độn, cái mất trật tự không nhất thiết phải tìm nguyên nhân ở đâu bên ngoài hệ thống, mà có thể phát sinh ngay từ bên trong hệ thống, các hệ thống tuân theo những luật tất định, miễn là có các yếu tố phi tuyến. Mà, trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?    Vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ 20, nhà toán học B. Mandelbrot đã phát minh ra một thứ hình học của các fractal, tức là của các hình hình học gãy vỡ, có thể chia ra nhiều cấp độ, mỗi phần ở cấp độ dưới lại “đồng dạng” với phần ở cấp độ trên và với toàn thể, những hình kỳ lạ, điểm mà không là điểm, đường mà không là đường, mặt mà không là mặt,…, và được nhiều người tuyên bố rằng đó mới thực là hình học của tự nhiên; các fractal có là các hình hình học của tự nhiên hay không thì ta còn có thì giờ để xem xét, nhưng ít nhất thì ngay sau khi ra đời không lâu, chúng đã là các hình hình học gắn bó mật thiết với các đối tượng của lý thuyết hỗn độn (chaos theory), các tập hút hỗn độn, các vùng hút hỗn độn, các biên giới giữa các vùng hút hỗn độn được chứng tỏ đều là các fractal. Và vì vậy, từ mấy chục năm nay, fractal cùng với chaos (hỗn độn) đã thường đi liền với nhau trong các ứng dụng của “khoa học mới” vào các vấn đề của kinh tế học cũng như của văn học, nghệ thuật.  Tuy nhiên, cũng cần nói rằng các ứng dụng đó cũng chỉ có thể xem là những bước khởi đầu, và vì là chỉ mới ở những bước khởi đầu nên có rất nhiều những ý kiến khác nhau, chưa có được sự đồng thuận chung. Ứng dụng fractal và chaos vào kinh tế học hay văn học cũng mới tập trung vào những vấn đề như khảo sát tính chất fractal của các tập dữ liệu mô tả sự trồi sụt thất thường về giá cả giao dịch của các thị trường chứng khoán, hay của các bản phân tích chuỗi thời gian về sự lên xuống dao động của các âm thanh nhịp điệu khi đọc một văn bản thơ ca,…; những nghiên cứu như vậy nhằm tìm hiểu các “trật tự” ẩn náu trong hoặc được phát sinh từ các cấu trúc hỗn độn của các hệ thống kinh tế hay các văn bản văn học.      Trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?        Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, như lời của tác giả J.Gleich, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Diễn biến của tình hình trong mấy chục năm qua đã bước đầu chứng thực điều khẳng định đó. Trước hết, từ tất cả các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên và kinh tế xã hội, người ta đều thừa nhận rằng các hệ thống thực tế mà chúng ta cần tìm hiểu đều là các hệ thống phức tạp, nói chung là không tất định và không tuyến tính, có những hành vi hay động thái phát triển không đều đặn, trơn tru, khó mà tiên đoán được, v.v… Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hình như chính trong những hỗn tạp và cát bụi đó mà con người tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quí của mình.  Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghiêm túc nghĩ đến việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình. Đối tượng nghiên cứu của khoa học mới này là cái phức tạp, các hệ thống phức tạp, tức các hệ thống bao gồm nhiều thành phần bộ phận, mỗi bộ phận cũng là một hệ thống có thể có hành vi phức tạp, không tuyến tính, các bộ phận tương tác với nhau bởi nhiều mối quan hệ đa dạng, v.v…  Hành vi của các hệ thống như vậy hiển nhiên là rất phức tạp, có hỗn độn, có trật tự, và có những chuyển hoá giữa hỗn độn và trật tự. Không có mô hình lý thuyết chung cho những hệ thống như vậy, mà tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu ta có thể xây dựng những mô hình riêng; vì đối tượng là hết sức đa dạng nên cũng không thể có một số phương pháp hình thức chung cho việc nghiên cứu, ta có thể vẫn sử dụng các “phương pháp khoa học” cũ (như phân tích định lượng và suy luận logích) cho việc nghiên cứu ở một số bài toán cụ thể có tính địa phương và cục bộ, còn nói chung, nhất là với những bài toán thuộc về toàn thể của toàn hệ thống thì cần vận dụng cả những suy luận định tính, những cảm nhận trực tiếp bằng trực cảm trí tuệ thông qua các giác quan của người nghiên cứu. Để trợ giúp cho những suy luận và cảm nhận như vậy thì với công cụ mạnh là máy tính điện tử hiện nay, các phương pháp có hiệu quả nhất là mô hình hoá và mô phỏng bằng đồ hoạ máy tính.  Với những quan điểm và phương pháp nghiên cứu như trình bày sơ lược ở trên, “khoa học mới” về phức tạp có nội dung là nghiên cứu các hiện tượng và hành vi của các hệ thống phức tạp trong nhiều lĩnh vực khác nhau mà những chủ đề chung là các vấn đề về liên kết, ảnh hưởng của tính phi tuyến đến các hành vi hỗn độn và phức tạp, hành vi của hệ thống trong các trạng thái hỗn độn, phi cân bằng, “ở bên bờ hỗn độn” (at the edge of chaos), những khả năng tự tổ chức của hệ thống, và nói chung, khả năng hợp trội (emergence) của hệ thống trong các trạng thái xa cân bằng, ở bên bờ hỗn độn, để tạo lập nên những trật tự mới, sáng tạo những thuộc tính mới của hệ thống – khả năng hợp trội được xem là chìa khoá để tìm hiểu bản chất của sáng tạo trong quá trình tiến hoá của mọi hệ thống, từ các hệ thống trong sinh học, sinh thái học, cho đến các hệ thống kinh tế, xã hội, trong hoạt động của các hệ thần kinh, các hệ cảm thụ và nhận thức của con người.   Khoa học mới ra đời chưa lâu, ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực nhận thức nông sâu còn nhiều khác nhau, nhưng ta có thể tin rằng ảnh hưởng đó chắc chắn sẽ được phát triển sâu rộng một cách nhanh chóng trong thế kỷ 21, thế kỷ mà ta đang sống.  Đối với các lĩnh vực nghiên cứu về xã hội và nhân văn, những ý tưởng cơ bản của “khoa học mới” tỏ ra rất thích hợp. Kinh tế học trong thời gian gần đây, với sự chấp nhận luật “tỷ suất lợi nhuận tăng dần” và các hệ quả của nó, đã được chứng tỏ là rất phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế tri thức công nghệ cao trong tiến trình toàn cầu hóa. Trong các nghiên cứu về xã hội và chính trị, các ý tưởng về tiến hoá bằng hợp trội đang góp phần tích cực trong việc giải thích nhiều hiện tượng thực tế, hợp trội trong tình trạng ở bên bờ hỗn độn chủ yếu được tiến hành bằng sự thích nghi, mà bản chất của hoạt đông thích nghi là khả năng học, học để hiểu mình, học để hiểu người, hiểu đối tượng, và do đó sẽ tìm được khả năng đồng tiến hóa trong hợp trội để tạo nên trật tự mới.  Trong văn học nghệ thuật, “khoa học mới” đang góp phần cung cấp những ý tưởng mới, những “khung mẫu” mới cho các khuynh hướng “hậu hiện đại” cổ vũ cho những “tiểu tự sự”, những chuyện cục bộ, ngẫu nhiên, tình cờ và nhất thời,… hơn là những “đại tự sự”, những chuyện có lớp lang bài bản, những chân lý phổ quát, bền vững và lâu dài. Trong mọi lĩnh vực của nhận thức, “khoa học mới” sẽ không cung cấp cho ta một cái lõi tri thức vạn năng để áp dụng được vào mọi lĩnh vực riêng, mà chỉ gợi cho ta một số ý niệm và cách thức để từ đó mỗi lĩnh vực sẽ tự tìm cho mình những tri thức mà mình tự xem là cần có để ứng dụng trong các tình huống cụ thể của mình.    Nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển “công nghiệp hoá và hiện đại hoá”. Trong mọi lĩnh vực, ta đang cố phấn đấu để nhanh chóng được “hiện đại hoá”. Nhưng ta cũng đang sống trong thời đại mà thế giới đang biến chuyển từ thời hiện đại sang một thời mà người ta gọi là “hậu hiện đại”. Tôi nghĩ rằng, về nhiều mặt của cuộc sống ta cũng không đứng ngoài ảnh hưởng của những ý tưởng “hậu hiện đại” đang có khả năng được toàn cầu hoá trong sự phát triển thế giới hiện nay. Và trong môi trường đó, hằng ngày ta sẽ gặp những vấn đề mà nhận thức của ta đòi hỏi được lý giải theo những khung mẫu tư duy của “khoa học mới”. Vì vậy, từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội cho đến các lĩnh vực văn hoá, văn chương nghệ thuật, việc tham gia nghiên cứu “khoa học mới” để tìm kiếm cho nhận thức của mình con đường đi thích hợp có lẽ cũng không phải là điều quá sớm.    Author                Phan Đình Diệu        
__label__tiasang Xây dựng nông thôn phát triển bền vững      Ngày 27 tháng 6 tại Hà Nội, Hội thảo Người dân nông thôn trong quá trình CNH do Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT, Tạp chí Tia Sáng và Báo Nông thôn ngày nay phối hợp tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà quản lý, khoa học và văn hóa, nhằm góp phần hoàn thiện báo cáo về phát triển nông nghiệp nông thôn và nông dân của Bộ NN&amp;PTNT.  Nhiều vấn đề liên quan đến phát triển nông thôn bền vững đã được đề cập, trong đó sở hữu ruộng đất, đời sống kinh tế, văn hóa và môi trường là ba vấn đề được các đại biểu hết sức quan tâm.      Hội thảo diễn ra đúng vào thời điểm rộ lên mùa thu hoạch vải ở miền Bắc, và bà con nông dân Lục Ngạn đang điêu đứng thêm một mùa vải đắng như một bài viết đăng trên báo Nông thôn ngày nay. Đó là một ví dụ khá điển hình về thực trạng không mấy sáng sủa của nông nghiệp nông thôn và nông dân trong quá trình CNH, HĐH của đất nước khiến nhà báo Hữu Thọ- một thành viên Ban giám khảo Giải Báo chí Quốc gia- phải than rằng: ba giải cao nhất là “ba tiếng thở dài” về đời sống người dân nông thôn.  Báo cáo đề dẫn của TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách PTNN NT, đã phác họa khá sinh động bức tranh cuộc sống của người dân nông thôn. Trong đó những con số về tình trạng mất đất của người nông dân theo kết quả điều tra của Viện ông trên 12 tỉnh với 2324 hộ thì có 13% các hộ bị mất đất, tỉ lệ đất bị thu hồi chiếm 44,2%, đất bán chỉ chiếm 8,9%, đất trao đổi là 10% đã thu hút được sự quan tâm của nhiều đại biểu tham dự Hội thảo.  Luật sư Phạm Duy Nghĩa (ĐH Quốc gia HN) cho rằng: Vấn đề Nhà nước ứng xử với quyền sử dụng đất đai của người nông dân tiềm ẩn ba nguy cơ lớn: người dân bị mất đất, chán đất, chán quê. Vì vậy theo ông, Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của người dân. “Muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng lại các chính sách điều tiết phù hợp”. Còn theo Nhà văn Nguyên Ngọc, từ sau năm 1980 Nhà nước quốc hữu hóa đất đai, nhưng thực chất ở Tây Nguyên, sau năm 1975 đất đai từ sở hữu của từng đơn vị làng trở thành sở hữu của toàn dân. Như vậy đối với người dân tộc Tây Nguyên những mảnh đất đó trở thành vô chủ, ai cũng có quyền phá và lấy đi không gian sinh tồn của họ. Ông bày tỏ quan ngại về dự án khai thác bôxít của Chính phủ dự kiến sẽ được triển khai ở Đắk Nông sẽ gây những tác động xấu về môi trường sống của đồng bào dân tộc. Nhìn nhận vấn đề đất đai từ giác độ CNSH, GS Nguyễn Lân Dũng đưa thông tin: Ở Trung Quốc muốn chuyển đổi 5ha đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác phải do Quốc vụ viện quyết định vì đất dùng cho nông nghiệp là đất cấu tượng ổn định về nước và vi sinh vật hàng nghìn năm nay. Trong khi đó ở ta việc chuyển đất nông nghiệp sang các mục đích khác do chính quyền địa phương quyết định. Ông nói: nếu chính quyền các cấp mà hiểu được điều này thì hẳn đã hạn chế được tình trạng bê tông hóa đất để bán cho các nhà thầu xây dựng các khu công nghiệp.  Vậy giải pháp nào cho vấn đề sở hữu đất đai của người nông dân?     Theo quan điểm của ông Lê Huy Ngọ, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT: đất đai cũng là một loại hàng hóa phải xử lý theo cơ chế thị trường. Người nông dân bị thu hồi đất phải được tham gia quá trình thương thảo với chính quyền địa phương, với các doanh nghiệp. Cách thu hồi đất hiện nay hầu như là tước đoạt. Một chữ ký của chính quyền tỉnh Hà Tây, hơn 200ha đất thuộc loại “bờ sôi ruộng mật” được giao cho Công ty CP Tuần Châu làm khu du lịch giải trí, người dân hầu như mất trắng. Chuyện tương tự như vậy xảy ra ở nhiều nơi. Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long than: “làm ngày nào biết sống ngày đó, chỉ biết còn mơ đến trúng số độc đắc”. Mặt khác, để bảo đảm nâng cao thu nhập của người nông dân gấp 2,5 lần hiện nay thì người dân đồng bằng sông Hồng phải có ít nhất 1ha trở lên, ở Đồng bằng sông Cửu Long từ 2ha trở lên. Vì vậy cần phải tạo điều kiện hỗ trợ cho người nông dân trong việc tích tụ ruộng đất.  Ông Lê Đăng Doanh đưa ra một phương án cụ thể. Theo ông các doanh nghiệp sử dụng đất của nông dân nên bán cổ phần cho người nông dân bị mất đất. Còn đối với đất rừng thì chính sách giao rừng cho nông dân nghèo chưa hợp lý vì họ chưa được cung cấp những điều kiện cần thiết để khai thác nguồn lợi của rừng một cách có hiệu quả. Phải giao rừng cho các doanh nghiệp quản lý. Không đồng tình với giải pháp của ông Doanh, Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định: thực tế ở Quảng Nam cho thấy, phải giao rừng cho dân chứ không phải thuê dân giữ rừng thì mới giữ được rừng.  Từ thực tế của mình, Anh hùng Lao động Nguyễn Đắc Hải (Phú Xuyên, Hà Tây) cho rằng chính sách hạn điền đã gây rất nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế trang trại. Thời hạn giao đất cho nông dân chỉ có đến năm 2013 nên nhiều người không dám đầu tư làm ăn lâu dài. Trong khi đó lại giao đất cho các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng tới… 50 năm.  Môi trường (vật chất và tinh thần), giáo dục, dạy nghề… là vấn đề được nhiều đại biểu bàn thào.  Đời sống văn hóa ở nông thôn từ nhiều năm nay luôn được đặt ra ở rất nhiều các cuộc hội thảo, nghị quyết, nhưng thực trạng thì theo nhà văn hóa Nguyễn Quân, trong điều tra xã hội học ở TPHCM, chi tiêu của người dân dùng cho vui chơi giải trí chiếm 30% thu nhập, Hà Nội và Huế 20%, còn ở nông thôn gần như bằng 0. Nguồn giải trí chủ yếu ở nông thôn là các phim “cúng cụ”, thành phố không mấy người xem thì đưa về nông thôn. Nông thôn từ nơi tiêu dùng văn hóa một cách chủ động thì giờ trở thành nơi chứa các văn hóa cặn bã, phế thải từ thành phố về. PGS Trần Ngọc Vương (ĐH Quốc gia HN) thì cảnh báo về sự khủng hoảng dẫn đến sụp đổ của văn hóa làng. Theo ông có hai yếu tố cấu thành văn hóa làng là văn hóa nho giáo và văn hóa tín ngưỡng. Cả hai yếu tố văn hóa này đã bị tận diệt một cách không thương tiếc. Mà tính bền vững của làng là một thuộc tính nổi bật của dân tộc Việt trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước. Chẳng lẽ chúng ta đành khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của làng, của văn hóa làng sao?  Giáo dục ở nông thôn từ nhiều năm luôn là vùng trũng giáo dục của cả nước. Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang khái quát về chất lượng giáo dục ở vùng quê ông: TS bằng đại học, đại học bằng cấp 3, cấp 3 bằng cấp 2, cấp 2 bằng cấp 1, cấp 1 bằng mù chữ. Nguyên nhân của thực trạng giáo dục không chỉ là do đời sống nhiều vùng còn quá khó khăn, đói nghèo… mà theo GS Nguyễn Minh Thuyết, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban GD TTN&NĐ Quốc hội, có một nguyên nhân là chưa có chính sách luân chuyển những giáo viên ở thành phố về nông thôn và ngược lại; phần lớn những giáo viên mới ra trường, chưa có kinh nghiệm thì đưa về nông thôn giảng dạy, không ít giáo viên yếu cả về phẩm chất và năng lực. Với chất lượng giáo dục như vậy, thêm vào đó lại hầu như không có một tổ chức nào quan tâm đến việc dạy nghề ở nông thôn. Theo khảo sát của Viện CS&CLPTNT năm 2006, cả nước đến năm 2006 vẫn còn 30,6 triệu lao động nông thôn, trong đó hơn 91% chưa qua đào tạo, chỉ 3% được đào tạo ở mức sơ cấp và trung cấp kỹ thuật. PGS Trần Đức Viên (Hiệu trưởng trường ĐH NN I) cho biết, qua khảo sát ở Gia Lâm (Hà Nội) và Bắc Ninh thì có tới 17% nông dân không biết trồng lúa, bởi trồng lúa theo yêu cầu mới phải có vốn văn hóa, kỹ thuật nhất định.  GS Phạm Duy Hiển đưa ra một thông tin gây bất ngờ đối với Hội nghị: Bụi ở nông thôn và thành phố tương đương nhau. Bụi ở thành phố là bụi trông thấy được vì hạt bụi to, còn ở nông thôn là bụi mịn, bụi công nghiệp có thành phần độc hại hơn rất nhiều so với bụi thành phố nên đừng nghĩ là về nông thôn sẽ được hưởng không khí trong lành. Hiện nay sông Nhuệ và sông Đáy trong xanh đã là con sông “chết”. 500 xí nghiệp và nhiều làng nghề hoạt động trong vòng 15 năm nay đã thải không biết bao nhiêu chất thải độc hại xuống hai con sông đó. Nhà nước đang có kế hoạch chi trên 3.000 tỷ đồng để làm sống lại hai con sông đã chết này. Còn một thứ ô nhiễm cũng đáng sợ không kém cho nông thôn của chúng ta đó là hàng rởm, hàng tồn kho, hàng hết đát… được cố ý trút về nông thôn. Trong sự tăng trưởng của đất nước hiện nay, riêng về mặt môi trường sống, theo GS Phạm Duy Hiển, lẽ nào lại để những người nông dân làm nên thương hiệu cho một đất nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới lại phải chịu thiệt thòi nhất chính từ sự đóng góp của mình.  ***     Để đến năm 2020, Việt Nam căn bản trở thành một nước công nghiệp, chúng ta phải xây dựng được một nông thôn phát triển bền vững đảm bảo cho các cư dân ở nông thôn có một cuộc sống vật chất và tinh thần xứng đáng với vị thế và sự đóng góp của họ vào sự phát triển chung của đất nước. Muốn vậy, theo TS Đặng Kim Sơn, trong chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, Nhà nước cần nâng cao mức đầu tư, tập trung vào phát triển KH&CN, giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng.  Tạo điều kiện thuận lợi để một số người nông dân sản xuất giỏi có thể mở rộng quy mô sản xuất theo hướng gia trại, trang trại, liên kết trong các hợp tác xã, được tiếp thu khoa học công nghệ, phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng chuyên canh, thâm canh. Tổ chức dạy nghề, hỗ trợ thông tin, vốn liếng để một bộ phận lao động có điều kiện rời khỏi sản xuất nông nghiệp tham gia thị trường lao động công nghiệp và dịch vụ một cách thuận lợi, hỗ trợ cho bộ phận lao động khác từng bước chuyển sang tham gia các hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn. Tạo cơ chế thuận lợi để khi lao động chuyển khỏi nông thôn thì đất đai được giao vào tay những người làm ăn giỏi mở rộng sản xuất.  Đổi mới quản lý Hội Nông dân theo hướng từng bước trở thành tổ chức thực sự đại diện cho quyền lợi và tiếng nói của người nông dân, phát triển tổ chức cộng đồng nông thôn để người dân thông qua tổ chức này tham gia quản lý các hoạt động phát triển nông thôn. Song song với quá trình đó, từng bước Hội tham gia vào các nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, đảm nhiệm các chương trình dự án khuyến nông, khuyến lâm, dạy nghề và các chương trình khác giúp nông dân thực sự làm chủ các hoạt động này.  P.V thực hiện     Nông nghiệp, nông thôn trong tương lai                     Một ý hướng mới nổi lên và đang ngày càng có sức thuyết phục : vai trò của nông nghiệp và nông thôn chẳng những không bị giảm sút, mà đang hình thành những nét mới mẻ và đặc sắc. Vai trò mới đó được mở rộng và nâng cao hơn nhiều so với những thế kỷ trước của những nền văn minh đã qua. (Trên Google, chỉ riêng mục từ rural economy đã có hơn 2 triệu tài liệu nghiên cứu!) .    Có thể phác họa như sau:  1. Về nông nghiệp:  Ngay cả khi đất nước đã thành nước công nghiệp, thậm chí nước hậu công nghiệp, thì nông nghiệp hiện đại luôn luôn là một ngành kinh tế và một loại dịch vụ có năng suất và hiệu quả dịch vụ cao, có giá trị sử dụng thiết yếu  không gì có thể thay thế được. Chúng tạo ra giá trị gia tăng lớn, có thể, cần phải và hiện đang trở thành một ngành rất quan trọng của kinh tế tri thức.  2. Về nông thôn: Nói nông thôn tức là nói đến kinh tế nông thôn, xã hội nông thôn, cuộc sống nông thôn. Và như vậy thì, nông thôn không phải là địa bàn thứ yếu, kém phát triển về mọi mặt, và hậu phương phụ thuộc vào thành thị, cho nên tại đó, con người, nhất là lớp trẻ khao khát hướng ra thành thị văn minh vì tại nơi đây là nơi chất chứa mọi nét cổ hủ, lỗi thời.  Không phải vậy. Trong sự quá tải và đầy ô nhiễm của cuộc sống đô thị, người ta ngày càng nhận ra rằng nông thôn hiện đại chính là:  a. Một dạng tổ chức và vận hành cuộc sống có nhiều ưu việt, trong đó không thiếu những đô thị và thị trấn văn minh với những nét thú vị hơn đô thị nhiều  b. Là một địa bàn có thế mạnh để giữ gìn và tô điểm cho môi trường sinh thái của loài người, ở đấy chính là  “cả hai lá phổi và trái tim” của sự sống trên trái đất.  c. Là một không gian rộng lớn, có kinh tế và đời sống phát triển, tại đó con người được sống gắn bó, hài hòa với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, sông núi, đất trời, thoát khỏi sự ngột ngạt của những khối bê tông, sắt thép và kính của những ngôi nhà chọc trời chen nhau.  d. Là một nơi nghỉ ngơi lành mạnh, một nguồn giải trí phong phú, một vùng du lịch đa dạng, một cõi yên tĩnh, thanh bình để con người khôi phục và tăng cường sức sống, có điều kiện để trầm lặng suy tư, chuẩn bị những quyết định lớn và những hành động quan trọng.  Những điều vừa nói trên không là viễn cảnh, mà đã là hiện thực của nhiều nước phát triển. Từ thực tiễn đang chứng minh cho những luận điểm khoa học, người ta đã nêu lên những nhân tố mới  trong sự phát triển của thế giới. Nhiều tổ chức của LHQ đã nghiên cứu về những nhân tố quan trọng nhất của một nền  nông nghiệp bền vững, đa chức năng và đã nhấn mạnh 4 nhân tố sau đây:  a. Sự tham gia chủ động, tích cực của các cộng đồng nông thôn, bao gồm những người lao động nông thôn, những chủ trang trại, những công nhân, các nông hội, các tổ chức phi Chính phủ, khu vực tư nhân,các cơ quan Nhà nước trong mọi khâu của quá trình ra quyết định và thực hiện quyết định.  b. Môi trường chính sách quốc gia thuận lợi, giàu tính khuyến khích, hỗ trợ, không áp đặt hoặc can thiệp thô bạo hay tinh vi, không đối xử bất công với nông nghiệp và nông thôn.  c. Thông tin minh bạch, thông suốt và có hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan.  d. Tập trung nghiên cứu ứng dụng những cách làm, những kỹ thuật thích đáng của từng địa phương, lối sống và văn hóa nông thôn ở từng địa phương.         P.V thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây mới là tốt nhất      Nhà nghiên cứu giáo dục, TSKH. Lê Ngọc Trà trả lời phỏng vấn về việc xây dựng một trường đại học mang tầm quốc tế tại Việt Nam    P.V: Thưa ông, với tư cách là nhà nghiên cứu giáo dục, ông nghĩ sao khi Việt Nam (VN) có ý định xây dựng một trường đại học [ĐH] đẳng cấp quốc tế, với sự trợ giúp của một số trường ĐH hàng đầu của Mĩ?  TSKH Lê Ngọc Trà: Tôi rất mừng khi biết tin này. Giáo dục đại học VN đang cần một cú hích. Có thể xem đây là một trong những cú hích đó. Chúng ta đang thiếu một trường đại học mang tầm vóc quốc tế. Một trường đại học như vậy không chỉ là mong ước của giới khoa học mà còn đem lại niềm hãnh diện chính đáng cho VN. Nhất là đại học này sẽ gắn bó với tên tuổi của một đại học hàng đầu của Mỹ và của thế giới là Harvard.  Giới học giả và người dân nói chung cho rằng hệ thống giáo dục của VN chưa xứng đáng với tiềm năng của chính nó, cũng như sự kì vọng của xã hội. Với ông, trong một vài ý chính, có thể nói lên được lý do tại sao không?              TSKH. Lê Ngọc Trà          Cái mệnh đề này theo tôi phải diễn đạt lại cho chính xác. Về một phương diện, giáo dục VN đã làm được rất nhiều việc. Trong một điều kiện kinh tế – xã hội và ý thức như hiện nay khó có thể làm gì vượt trội lên được. Và không chỉ có giáo dục, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa nghệ thuật… có lĩnh vực nào vượt hơn giáo dục không? Lương GSTS chỉ 150-200 USD, học phí của sinh viên mỗi năm cũng khoảng chừng ấy. Tại sao chúng ta lại kỳ vọng quá nhiều vào giáo dục đại học và đặt cho nó nhiều trách nhiệm quá lớn khi so nó với các đại học quốc tế? Tự nó hệ thống giáo dục không thể thoát khỏi sự phát triển của điều kiện kinh tế-xã hội và trình độ ý thức xã hội.  Mặt khác, sự trách cứ giáo dục đại học là do nhìn vào tiềm năng của nó. Đúng là tiềm năng rất lớn. Số người đi học rất đông. Số lượng sinh viên trong 15 năm tăng hơn 10 lần. Đội ngũ trí thức đã và đang được đào tạo từ Đông Âu và Phương Tây khá đông, trong đó không ít người xuất sắc. Đó là tiềm năng về tiền và chất xám. Có một tiềm năng như vậy mà không phát triển được giáo dục đại học xứng đáng với sự mong đợi của xã hội rõ ràng là có vấn đề.  Nhưng vấn đề ở đây không chỉ là vấn đề của giáo dục mà trước hết là vấn đề của xã hội, nói đúng hơn là của Nhà nước, của Chính phủ. Tiềm năng là một việc mà phát huy được tiềm năng là việc khác. Muốn huy động được tiềm năng phải có những quyết sách ở cấp vĩ mô. ở đây rõ ràng không thể chỉ trách cứ và trông đợi vào bản thân ngành giáo dục.  Phải chăng việc xây dựng trường ĐH này là để đáp ứng lại sự “thiếu vắng” đó? Theo ông, kế hoạch này khả thi hay là ảo tưởng, nếu so với điều kiện thực tế? Tại sao?  Như tôi đã nói, xây dựng đại học này là một cú hích. Một quyết định như vậy thể hiện một cách nhìn mới, có tính đột phá. Nó nói lên đã có một sự thay đổi chính sách ở cấp vĩ mô.  Đó là một dấu hiệu mới, đáng mừng. Tuy nhiên để thực hiện được cần phải có một quyết tâm rất lớn, trước hết là về nhận thức. Chúng ta đã sẵn sàng cho điều đó chưa? Theo tôi chưa hoàn toàn, nhưng đang trên đường đi đến đó. Cái quan trọng là chúng ta không thể dừng lại, càng không thể lùi, vậy là chỉ còn một cách là phải đi tới. Đi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào bên trên. Trên như thế nào, chúng ta chỉ biết mong đợi. Dẫu sao chúng ta cũng có quyền hy vọng bởi đây là đề nghị của Thủ tướng. Chúng ta không phải là nước đầu tiên xây dựng đại học có chất lượng quốc tế, thậm chí gần như lại là nước cuối cùng ở Đông á và Đông Nam á làm việc này. Bởi vậy chẳng có lý do gì để xem nó là quá ảo tưởng. Còn nếu nó quả thật là ảo tưởng thì đúng là đáng buồn.    Nếu khả thi, theo ông, VN có đủ người có chuyên môn để giảng dạy không? Tuyển chọn giảng viên? Và những sinh viên như thế nào sẽ được theo học? [với quan điểm sinh viên là trung tâm]   Trước mắt nếu làm ồ ạt thì chắc chắn sẽ gặp khó khăn về đội ngũ giáo viên. Nhưng trong Dự án cũng nêu rõ là “Không thể xây dựng một trường đại học hàng đầu trong một sớm một chiều” và lấy cách tổ chức theo mô-đun làm chính. Theo phương thức này, chúng ta sẽ có đủ thời gian để chuẩn bị đội ngũ người dạy. Hiện nay ở rải rác các trường đại học cũng có không ít các chuyên gia giỏi. Trong số sinh viên VN đang học hoặc đã tốt nghiệp và ở lại làm việc ở nước ngoài, có một số người giỏi và tâm huyết với sự phát triển của đất nước. Nếu có chính sách đúng họ sẽ về nước giảng dạy. Đó là chưa kể các giáo sư Việt kiều và người nước ngoài có nguyện vọng làm giáo sư thỉnh giảng (visiting professor) trong 6 tháng- 1 năm.  Về phía sinh viên dĩ nhiên cũng sẽ có sự sàng lọc rất lớn. Hiện nay mỗi năm có hàng ngàn sinh viên đi du học. Nếu trong nước có đại học chuẩn quốc tế, nhiều người sẽ theo học. ở thành phố Hồ Chí Minh nhiều trường tiêu chuẩn quốc tế có mức học phí rất cao, tính ra không kém đại học ở nước ngoài nhiều vậy mà vẫn thu hút rất đông học sinh.  Hiện nay Nhà nước có ngân sách đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Theo tôi sau này cần dành một phần ngân sách này cho đại học chuẩn quốc tế để đào tạo nhân tài ngay trong nước, vừa tiết kiệm ngoại tệ, vừa đáp ứng được nhiều yếu tố khác. Sinh viên học ở đây phải là những người giỏi. Nếu học thật sự giỏi nhưng không có tiền thì nhà nước phải hỗ trợ.    Nhiều người cho rằng với lối dạy-học thụ động, đọc chép và kiến thức một chiều như hiện nay, trường lập ra sẽ bị bỏ trống; hoặc giống như các trường phổ thông-quốc tế khác tại VN, chỉ làm mỗi 2 việc: thu học phí thật cao và dạy mỗi môn ngoại ngữ, còn các kiến thức khác vẫn xa rời thực tế. Ông nghĩ sao?  Tôi không nghĩ như vậy. Với một cách tổ chức và quán lý như đề án đã nêu ra, với một đội ngũ giáo viên được tuyển chọn và trả lương đầy đủ, với quan hệ mật thiết với các đại học Mỹ, trường sẽ có những sinh viên khác và cách đào tạo khác, đáp ứng được mong mỏi của người học và của xã hội.  Ông Henry Rosovsky [nguyên Hiệu phó ĐH Harvard] cho rằng, những vấn nạn của ĐH VN bắt rễ từ cơ chế quản lí tập trung và sơ cứng; không gian học thuật chưa đủ tự do-kích thích phát triển tài năng; thiếu ổn định về tài chính và khả năng sử dụng ngoại ngữ của giảng viên rất thấp…. Là người ở trong cuộc, theo ông, phải đề cập hay làm rõ đến những yếu tố nào nữa?  Tôi đọc đề án thấy họ hiểu rất rõ VN. Nhưng vấn đề mà họ nêu lên đều là những bức xúc có thật của giáo dục đại học VN. Đây là những vấn đề rất then chốt, cơ bản. Nếu cần nói rõ thêm một số vấn đề khác theo tôi nên lưu ý đến vấn đề tư duy đại học, chương trình đào tạo, cách tuyển chọn giáo viên, phương pháp dạy và học cũng như những điều kiện đảm bảo cho một lối học theo phong cách đại học. Nhiều năm qua đại học ở ta bị cư xử và tự cư xử với mình chỉ như một trường có quy mô lớn, trường cấp 4 hơn là một trường đại học theo đúng nghĩa của nó. Người học vẫn bị xem là “học sinh” hơn là “sinh viên”. ở khá nhiều trường, chương trình đào tạo vừa cũ về quan niệm, vừa lạc hậu về kiến thức. Trong tuyển chọn giáo viên, một mặt nhân tài không được trọng dụng như Đề án có nêu, mặt khác lại có khá đông những người trình độ chuyên môn không có gì nổi bật, không có năng lực nghiên cứu nhưng vẫn được giữ lại, dần dần trở thành gánh nặng của trường mà theo cơ chế và tập quán như hiện nay thì không thể đưa đi đâu được. Đối với sinh viên thì do thiếu sách, vở, thư viện, phòng học cũng như do phương pháp giảng dạy của thầy, cách học phổ biến vẫn là đến lớp nghe giảng, chép bài và học thuộc. Kỹ năng tự học và tự nghiên cứu rất yếu.  Ông Henry Rosovsky cũng cho rằng VN đang có, và có rất dồi dào, hai trụ cột của nền giáo dục ĐH, đó là nhân tài và tiền. Vấn đề là làm sao sử dụng nhân tài [nhân tài đang ở đâu?], và làm sao tập trung tiền [chắc chắn không phải từ học phí]. Ông nghĩ sao về nhận định này?  Tôi đồng ý với nhận xét cho rằng VN khá dồi dào về nhân tài và tiền. Nói chính xác hơn là có tiềm năng dồi dào về nhân tài và tiền. Làm thế nào để phát huy tiềm năng về chất xám, nhân tài- đó là bài toán đã có lời giải, dư luận đã bàn nhiều, cái còn lại là phải có chính sách đúng và quyết tâm thực hiện. Bài học về lúa gạo vẫn đang còn đó. Từ chỗ đói, thiếu lương thực đến chỗ trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng nhì thế giới, tất cả chỉ do sự thay đổi của đường lối, chính sách mà có được như nhờ một phép mầu. Tiền cho đại học cũng vậy. Lâu nay chỉ có tiền từ nhà nước mà nhà nước thì nghèo. Tại sao không đưa vào học phí? [Hiện nay các đại học dân lập không sống bằng học phí thì tồn tại bằng gì?]. Tại sao không đưa vào doanh nghiệp? ở Mỹ, nếu không có doanh nghiệp làm sao có Đại học Harvard hay Stanford như hiện nay? Vấn đề cũng lại là chính sách, cách huy động. Bản đề án đề nghị Chính phủ VN cam kết dành cho đại học chuẩn quốc tế này 100 triệu USD trong vòng từ 5-10 năm. Nghĩa là mỗi năm cần khoảng 150-200 tỷ đồng VN. Đó là con số hoàn toàn hiện thực. Không kể hai Đại học Quốc gia ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, hiện nay nhiều trường đại học lớn mỗi năm được cấp khoảng một nửa số tiền như vậy, còn số tiền mà các trường tư làm ra được còn lớn hơn.  Cũng theo ông Henry Rosovsky, trường phải có 2 đồng chủ tịch, một học giả lỗi lạc của Mĩ, và một nhân vật xuất chúng của VN. Điều kiện cho vị chủ tịch phía VN là phải am hiểu về giáo dục; không đang giữ các chức danh quản lí trong hệ thống giáo dục hiện nay. Còn hiệu trưởng thì do một học giả hoặc nhà lãnh đạo về hưu của VN phụ trách. Về đề xuất này, ở khía cạnh nhân lực, phải chăng có vướng mắc gì đấy?  Tôi cũng không biết có vướng mắc gì không, nhưng theo tôi giải pháp này là cần thiết. Có một chuyên gia giỏi ở bên cạnh tức là không phải đi đâu xa để học. Họ lại có thể luôn cùng mình trao đổi, thảo luận và tìm cách giải quyết. Như vậy để đạt được kết quả tối ưu. Và cái chính cũng không phải là cá nhân nhà học giả Mỹ nào đó mà quan trọng là phía sau ông ta, tức giới đại học Mỹ, chất xám, kinh nghiệm, quan hệ của họ. Ông ta chỉ là người đại diện, là đầu mối, sự liên kết. Yếu tố này rất quan trọng. Ngoài ra sự có mặt của chuyên gia nước ngoài với tư cách là đồng Chủ tịch Hội đồng quản trị hay Hiệu phó cũng có một ý nghĩa khác. Họ sẽ phát hiện hoặc nhắc mình đi đúng chiến lược đã vạch ra, tránh sự tùy tiện hay “làm theo cách của ta” như lâu nay vẫn thấy, kết quả là không đảm bảo được chuẩn. Về phía VN, nếu người đứng đầu không am hiểu về giáo dục cũng sẽ rất khó cộng tác với vị đồng Chủ tịch hay Hiệu phó là người nước ngoài và nếu người đó lại là quan chức đương nhiệm thì lại càng khó hơn. Sẽ có thể có tình trạng khoán trắng cho đối tác vì quá bận hay ít hiểu biết hoặc ngược lại không có khả năng chia sẻ được các ý tưởng chung do không am hiểu hay quen cách tư duy hành chính, mệnh lệnh. Những đề xuất nêu ra trong đề án có lẽ đã được rút ra từ những bài học không thành công trong quản lý giáo dục ở VN. Tôi nghĩ như vậy cũng là phương án hợp lý.          Cuối cùng, để có được ĐH mơ ước này, chúng ta có 3 lựa chọn: cải tổ-phục hồi các ĐH sẵn có; hình thành các chi nhánh hay đơn vị vệ tinh của ĐH nước ngoài; và xây dựng một ĐH mới hoàn toàn. Theo ông, lựa chọn nào là khả thi?  Theo tôi xây mới hoàn toàn là tốt nhất.   * PGS.TS Trần Văn Bình – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về quản lý – ĐH Bách khoa Hà Nội: Hiện nay người ta đang nói nhiều về việc thành lập Trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT) ở VN. Thực ra việc thành lập một trường như thế, các nước trong khu vực đã làm từ lâu rồi. Nếu mạnh như Hàn Quốc, chúng ta có thể bỏ ra mấy trăm triệu đô la, xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, mời giảng viên (GV) nước ngoài và các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài về đào tạo, giảng dạy. Nhưng đấy là cách làm của những đất nước nhiều tiền. Chúng ta mới chỉ có tiềm năng về tiền chứ chưa thực sự giàu có. Không có tiền, thì lộ trình để hướng tới điều đó phải dài hơn. Chúng ta chưa thể làm gì khác ngoài việc mở cửa hợp tác với các trường ĐH nước ngoài. Cử cán bộ ra nước ngoài học tập theo hướng đào tạo lại. Đối với các trường do nhà nước cấp bằng, cũng có thể tạo điều kiện mời GV nước ngoài làm việc với GV trong nước, họ hướng dẫn giảng dạy về lý thuyết, ta dạy về thực hành, bài tập, phương pháp sử dụng tài liệu…Dần dần tiếp thu công nghệ của họ tiến tới chuyển giao toàn phần. Khi năng lực của cán bộ được nâng lên thì việc xây dựng cơ sở vật chất mới có hiệu quả không lãng phí, còn như bây giờ, xây dựng mà không có con người đủ khả năng giảng dạy, sử dụng cơ sở vật chất đó thì cũng chẳng đi đến kết quả gì.  * Tống Văn Trọng – SV năm thứ 4 Khoa Điện tử Viễn thông – Trung tâm Đào tạo Tài năng ĐH Bách khoa Hà Nội:  Mặc dù so với các trường ĐH hiện nay, chúng tôi đang được hưởng một chương trình đặc biệt, giáo trình tốt hơn, điều kiện học tập tốt hơn, nhưng nếu so với nhịp độ phát triển của giáo dục hiện đại, rõ ràng vẫn rất lạc hậu. Không có giáo trình chuẩn, phương pháp dạy học của thầy chủ yếu vẫn là dạy cho trò cấp III, thiết bị thực hành thí nghiệm nghiên cứu chưa đồng bộ… Cho nên, nếu “copy” được một trường ĐH danh tiếng như Havard để thí điểm xây dựng ở VN, thì có lẽ không còn gì tốt hơn cho việc cải tiến giáo dục đào tạo của ta nữa.  * Hoàng Quỳnh Nga – SV năm thứ 4 lớp chất lượng cao (CLC) khoa văn – Trường ĐH Khoa học xã hội nhân văn: Tôi thấy ý tưởng thành lập một trường ĐHĐCQT ở Việt Nam là điều hoàn toàn nên làm. Đó sẽ thực sự là một cuộc thay máu đối với nền giáo dục đại học đã quá cũ kỹ, nhiều khuyết tật và hiệu quả hoạt động không cao như ở ta hiện nay. Một trường ĐH như vậy sẽ là nguồn thu hút nhân tài, vật lực trong nước, thay vì phải đi du học xa, sinh viên có thể chọn lựa học tập trên chính đất nước mình với chất lượng đào tạo không thua kém. Điều này đặc biệt có ý nghĩa  với những sinh viên khối xã hội chúng tôi, khi mà mỗi nghiên cứu của chúng tôi đều phải gắn liền với thực trạng xã hội, với tình hình văn học đang chuyển biến từng ngày của Việt Nam.   P.V    Nguồn tin: Tia Sáng          Author                Quản trị        
0.38636363636363635
__label__tiasang       Trần Ngọc Thơ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xem trọng việc xây dựng lòng tin      Lòng tin là chất xi-măng kết dính con người trong khuôn khổ đời sống xã hội, tạo ra động lực thôi thúc con người tìm đến nhau và dựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Cũng chính lòng tin đặt cơ sở cho việc thực hiện tất cả các giao tiếp nhân văn, từ mời nhau một ly cà phê, cho mượn một chiếc xe đạp, cho vay một số tiền, đến ủy thác bằng lá phiếu cử tri cho đại biểu dân cử thực hiện các quyền chính trị của người dân tại cơ quan lập pháp.         Xã hội có tổ chức thừa nhận sự tự do của mỗi thành viên. Trong điều kiện xã hội có nhiều thành viên, chuẩn mực ứng xử được đặt ra để tạo điều kiện mỗi thành viên thụ hưởng tự do của mình trong chừng mực tôn trọng tự do của thành viên khác. Với mục tiêu đó, chuẩn mực ứng xử phải mang ý nghĩa của sự thoả thuận tự nguyện giữa các chủ thể quan hệ xã hội về việc giới hạn tự do của mỗi chủ thể, để tất cả đều có cuộc sống tốt đẹp, ít nhất là chấp nhận được, trong không gian chung. Nói cách khác, chính từ lòng tin mà hệ thống chuẩn mực ứng xử khách quan hình thành và được hoàn thiện theo thời gian.   Có những chuẩn mực, được Nhà nước xác nhận và bảo đảm thực hiện, trở thành luật. Chuẩn mực pháp lý được người làm luật lựa chọn giữa các phương án ứng xử khác biệt; và sự lựa chọn ấy chỉ có sức thuyết phục đối với công dân, một khi nó dựa vào sự tin tưởng của người làm luật đối với sức sống của các phẩm chất tốt đẹp của con người, của những giá trị nhân văn tích cực. Bảo vệ, cổ vũ, phát huy điều thiện, lòng bao dung, hào hiệp, sự hòa thuận, tính trung thực… luật trước hết được coi là kim chỉ nam cho hành vi giao tiếp trong quan hệ xã hội mà một con người điển hình thực hiện, trong quá trình theo đuổi các lợi ích chính đáng của bản thân, các lợi ích được xác định như các mục tiêu tồn tại của cá nhân trong cộng đồng.   Cả việc thực thi pháp luật cũng chỉ có thể đạt được kết quả tốt nhất khi dựa vào lòng tin, chứ không phải vào sức mạnh của bộ máy trấn áp, cưỡng chế. Một người kiên nhẫn dừng lại trước đèn đỏ, vì tin rằng khi mình vượt đèn xanh, những người đang di chuyển theo hướng vuông góc sẽ dừng lại để nhường đường; một người chấp nhận gửi tiền vào ngân hàng, vì tin rằng ngân hàng sẽ quản lý tiền bạc của mình một cách có hiệu quả và nhất là sẽ trả tiền vốn, lãi cho mình theo đúng thoả thuận. Lòng tin về tính hữu hiệu của luật thể hiện thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật và ý thức phê phán, tẩy chay đối với thái độ không tôn trọng hoặc chống đối pháp luật.   Thậm chí, khi có đủ lòng tin hỗ tương, người ta có thể không cần đến các biện pháp bảo đảm loại trừ rủi ro mà luật dành cho mình khi giao tiếp: cho vay, cho mượn mà không cần tài sản cầm cố, thế chấp; bán trả chậm mà không cần bảo lưu quyền sở hữu. Lòng tin hỗ tương không làm cho pháp luật trở nên thừa: đơn giản, trước lòng tin mạnh mẽ, pháp luật tự bằng lòng với vai trò công cụ chi phối dự bị.      Một khi lòng tin không tồn tại hoặc không còn, con người, trong quá trình tìm kiếm lợi ích, sẽ không chủ động, tự nguyện giao tiếp, mà chỉ lẳng lặng thực hiện hành vi của mình, đồng thời dè chừng, đối phó, đề phòng hành vi của những người khác. Không có sự trao đổi ý chí thẳng thắn, minh bạch, sòng phẳng giữa người và người, hệ thống quy ước xã hội sẽ không có điều kiện để hình thành. Thế rồi, trong bối cảnh thiếu vắng chuẩn mực khách quan đặt cơ sở cho hành vi ứng xử, con người có xu hướng tìm đến những thế lực có khả năng bảo bọc mình chống những rủi ro, đe dọa từ bên ngoài; con người chấp nhận ứng xử theo sự chỉ dẫn của thế lực ấy để được hưởng sự bình yên. Cơ chế xin-cho ý kiến ra đời như kết quả tất yếu của xu hướng đó. Thế lực càng mạnh, ý kiến chỉ dẫn đưa ra càng có giá trị chuẩn mực.      Luật, được xây dựng trong điều kiện con người không có lòng tin, không còn mang ý nghĩa chủ yếu là cho phép, điều chỉnh hành vi tích cực được chủ thể thực hiện trong quá trình thụ hưởng tự do. Cai quản một tập hợp chủ thể không đáng tin cậy, nhà chức trách tự nhiên bận tâm nhiều đến việc hoàn thiện chuẩn mực pháp lý có tác dụng cấm đoán, ngăn chặn, kiểm soát, khống chế hành vi tiêu cực của một chủ thể nhằm mục đích xâm phạm tự do hoặc chiếm đoạt lợi ích của chủ thể khác: luật sẽ mang nặng tính chế tài, trấn áp, hơn là tính tổ chức, hướng dẫn, điều khiển ứng xử trong khuôn khổ trật tự xã hội.     Về phần mình, người dân mà không tin tưởng vào sức mạnh chi phối của luật, thì sẽ không tự giác tuân thủ pháp luật. Khi có công an đứng chốt ở ngã tư, người dân có thể dừng lại trước đèn đỏ; còn khi không có công an, thì đèn nào cũng vượt; bởi vậy, muốn người dân tôn trọng luật lệ giao thông, dù không tin vào luật, Nhà nước phải tăng cường lực lượng công an. Nói chung, nếu đa số chủ thể không tự nguyện tôn trọng pháp luật, thì, để bảo đảm trật tự xã hội, Nhà nước sẽ buộc phải tổ chức và duy trì một cách thường trực và trên quy mô lớn bộ máy trấn áp của nhà chức trách.        Còn một điều nữa: một khi lòng tin bị đẩy lùi thì, theo đúng logic, sự đố kỵ và lòng đa  nghi sẽ ngự trị. Người cầm quyền luôn cảm thấy bất an trước mọi động thái, trào lưu xã hội không bình thường và, do đó, phải xây dựng một cơ chế bảo đảm trật tự công cộng có tác dụng thiết lập tai mắt của mình ở mọi ngóc ngách. Tất cả các khâu trong quy trình vận hành của guồng máy xã hội đều phải được giám sát, kiểm soát nghiêm ngặt. Đến lượt mình, chính người giám sát, kiểm soát cũng không được tin tưởng và, do đó, cũng phải được giám sát, kiểm soát. Cứ như thế, con người sẽ bị cuốn vào vòng xoáy vô tận của hệ thống quản lý quân phiệt, cảnh sát.        Nguyễn Ngọc Điện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng của Việt Nam trên thế giới theo Legatum Institute      Legatum Institute (http://www.li.com), một  “think tank” ở London, nghiên cứu và xếp hạng độ phồn vinh (prosperity)  của 110 nước trên thế giới. Kết quả của Việt Nam là bị thụt lùi thứ hạng  12 bậc trong 2 năm 2009-2011.    Cụ thể:  Năm 2009: đứng thứ 50/110  Năm 2010: đứng thứ 60/110  Năm 2011: đứng thứ 62/110  Như vậy, Việt Nam có bị thụt lùi thứ hạng 12 bậc trong 2 năm 2009-2011.  Các nước đứng đầu bảng về phồn vinh, theo thứ tự từ cao đến thấp (2011): Norway, Denmark, Australia, New Zealand, Sweden, Canada, Finland, Switzerland, USA, Ireland, Iceland, UK, Austria, Germany, Singapore, Belgium, France, Hongkong, Taiwan.  Các nước bét bảng (theo thứ tự từ dưới lên): Trung Phi, Zimbabwe, Ethiopia, Pakistan, Yemen, Sudan, Nigeria, Mozambique, Kenia, Zambia.  (Nguồn: http://www.prosperity.com/index2011.aspx)  Việc xếp hạng độ phồn vinh của Legatum dựa trên tám (08) chỉ số sau, mỗi chỉ số là tổng hợp của nhiều chỉ số nhỏ. Các chỉ số này được phân tích là ảnh hưởng lớn đến thu nhập (income) và hạnh phúc (wellbeing) của con người.  1) Kinh tế (Economy)  Về kinh tế, Việt Nam đứng thứ 40/110, với +1.07 điểm, thuộc loại trung bình khá trên thế giới. Đánh giá kinh tế ở đây không phải là về thu nhập (nếu tính thu nhập theo đầu người thì VN thuộc vào loại trung bình yếu), mà là tổng hợp nhiều khía cạnh, trong đó có độ phát triển, độ tiết kiệm, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, độ giầu có, v.v. Trong xếp hạng về kinh tế này, thì Singapore đứng đầu bảng, China đứng thứ 10, Pháp đứng thứ 16, Mỹ đứng thứ 18.  2) Nặng động và cơ hội (Entrepreneurship & Opportunity)  Về độ năng động và cơ hội, Việt Nam thuộc loại trung bình kém, đứng thứ 78/110, với -1.04 (âm 1.04) điểm năm 2011, tăng lên từ -1.52 điểm năm 2009. Trung Quốc đứng thứ 59 với -0.22 điểm. (Con số này gây thắc mắc: tại sao TQ lại phát triển nhanh vậy nếu kém năng động ?). Denmark được coi là năng động nhất, với +3.88 điểm. Cambodia đứng thứ 95 với -2.05 điểm về năng động.  3) Quản trị (Governance)  Việt Nam đứng thứ 58/110, với điểm số là -0.30 (âm 0.30) vào năm 2011, nhích lên từ -0.39 năm 2009. Nước có quản trị tốt nhất là Switzerland với +4.22 điểm. Pháp đứng thứ 18 với +2.32 điểm. Ví dụ một số nước bê bối: Nga -2.05 đứng thứ 96/110, Ukraina -2.13, Venezuela -2.53, Nigeria -2.76.  4) Giáo dục (Education)  Việt Nam đứng thứ 82/110 về giáo dục, với -0.80 (âm 0.80) điểm vào năm 2011, giảm từ -0.39 điểm năm 2009. Một số nước đầu bảng về giáo dục là: Australia +3.29, New Zealand +3.26, Finland +3.05, Norway +2.80, Denmark +2.72, South Korea +2.72, Spain +2.71, Iceland +2.64, Taiwan +2.47, Canada +2.44.  5) Y tế (Health)  Về y tế, Việt Nam đứng thứ 73/110, với +0.1 điểm vào năm 2011 (tăng lên từ -0.48 điểm vào năm 2009). Nước có y tế tốt nhất là Mỹ với +3.54 điểm. Pháp đứng thứ 7 thế giới với +2.77 điểm. Một số nước khác là: Korea đứng thứ 21 với +2.07 điểm, Brazil thứ 50 với +0.64 điểm, Iran thứ 61 với +0.31 điểm, Indonesia thứ 83 với -0.91 điểm, India thứ 95 với -2.41 điểm.  6) An toàn (Safety & Security)  Việt Nam là nước tương đối an toàn cho dân chúng, đứng thứ 50/110 về an toàn, đạt +0.22 điểm vào năm 2011 (giảm từ +0.41 điểm vào năm 2009). Nước an toàn nhất là Iceland với +3.93 điểm, kém an toàn nhất là Sudan với – 3.94 điểm. Một số nước khác là: Switzerland +2.87, Poland +1.99, France +1.61, Romania +0.55, Senegal -0.66, Russia -1.44, Philippines -1.93, Israel -2.32, Colombia -3.51.  7) Tự do cá nhân (Personal Freedom)  Gồm có các mục: Tự do dân sự và lựa chọn tự do (civil liberty & free choice), khoan dung với người nhập cư (tolerance for immigrants), khoan dung với các thiểu số (tolerance for minorities), độ thỏa mãn về sự tự do (satisfaction with freedom of choice).  Việt Nam đứng thứ 74/110, với điểm tự do là -0.95 (âm 0.95 điểm) năm 2011, giảm xuống từ -0.21 điểm năm 2009. Canada được coi là có tự do cá nhân tốt nhất thế giới, với +3.76 điểm. Một số nước khác là: Pháp +2.73 đứng thứ 11, Mỹ +2.71, Taiwan +1.16, Japan +0.13, Mexico -0.47, Russia -1.42, China -1.68, Egypt -4.07 đứng thứ 109/110.  8 ) Gắn kết xã hội (Social Capital)    Điểm về Social Capital dựa trên các mục sau về độ gắn kết của xã hội: tham gia công việc tự nguyện (formal volunteering), giúp đỡ người lạ (helping strangers), đóng góp từ thiện (donations), được xã hội quan tâm (perceptions of social support), tin tưởng vào người khác (trust in others), lập gia đình (marriage), hoạt động tín ngưỡng (religious attendance).  Việt Nam đứng thứ 79/110 về gắn kết xã hội, với điểm số là -0.80 (âm 0.80 điểm) năm 2011, giảm từ dương 0.46 điểm năm 2009. Nước có độ gắn kết xã hội là Norway, với +4.47 điểm, và nước thấp nhất là Rwanda với -3.35 điểm. Điểm gắn kết xã hội của một số nước khác là: Thailand +1,94, China +0.96, France +0.56, Italy -0.11, Malaysia -0.72, India -2.49.  Điểm âm của Việt Nam thể hiện qua sự thiếu trung thực, thiếu tin tưởng giữa các con người với nhau.  Có thể xem bảng đánh giá của Legatum về Việt Nam ở đây:  http://www.prosperity.com/country.aspx?id=VN  Một số thông tin về Việt Nam từ bảng đánh giá này:  * Tuổi thọ trung bình chỉ có 64 tuổi vào năm 2007 (sau khi đã tính cả những người bị bệnh tật ?)  * Điểm số hài lòng về cuộc sống là 5.3/10 (năm 2010)  * Tỷ lệ biết chữ 93%  * 65.3% dân chúng cảm thấy an toàn cá nhân  * Chỉ có 26.9% dân chúng coi rằng những người khác là đáng tin tưởng.  * 92.8% tin là xã hội là “meritocratic”  * Tỷ lệ tiết kiệm của các gia đình là 28% thu nhập, mức cao so với thế giới  * Thất nghiệp chỉ có 2.4% [?? Con số này chắc không tính đến under-employment, những người mà việc làm không ổn định].  * 55% nhân dân coi là họ có thu nhập đủ để trang trải cuộc sống.  * Nợ xấu ngân hàng ở mức 2.5%, cao so với thế giới [con số thực tế chắc còn cao hơn]  * Đầu tư cho R&D chỉ đạt 0.7% GDP, mức quá thấp so với thế giới.  * Đến 87% dân chúng coi các cuộc bầu cử là trung thực* Chỉ có 7% dân chúng khiếu nại lên quan chức (?)  * Việt Nam xếp thứ hạng thấp về giáo dục, nhưng có đến 81% dân chúng hài lòng với chất lượng giáo dục (?!)  * 69% dân Việt Nam hài lòng về môi trường thiên nhiên.  * Chỉ khoảng 75% dân số là có điều kiện vệ sinh đảm bảo, 68% hài lòng với chất lượng nước dùng.  * 11% dân số có thông báo bị mất trộm vào năm 2010, 1% dân số bị tấn công (đây là các con số tương đối thấp so với thế giới).  * Đọ tự do cá nhân ở Việt Nam rất hạn chế, nhưng có đến 83% dân chúng hài lòng về mức độ lựa chọn mà họ có.  * Chỉ có khoảng 23% người Việt Nam có cho tiền từ thiện, và 31% người Việt có giúp đỡ người lạ, theo một cuộc điều tra năm 2009. Đây là các con số thấp so với thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xin can      Vừa đọc thấy tin ra mắt Trung t&#226;m bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại, trong đ&#243; c&#243; hẳn mấy mươi hecta d&#224;nh cho một Văn miếu ghi danh c&#225;c tiến sĩ thời nay; lại c&#242;n thấy kể rằng sẽ c&#243; r&#249;a đội bia đ&#225; khắc t&#234;n chư vị tiến sĩ. Một tờ b&#225;o tr&#226;n trọng đưa tin v&#224; đưa ảnh một vị gi&#225;o sư tiến sĩ hăng h&#225;i mang đến tặng ngay trung t&#226;m một “di vật” cực qu&#253;: bức ảnh &#244;ng ta chụp c&#249;ng một vị Thủ tướng, lại c&#243; ảnh &#244;ng ngồi viết những d&#242;ng qu&#253; gi&#225; v&#224;o sổ lưu niệm của trung t&#226;m nữa. Được biết vị tiến sĩ hăng h&#225;i n&#224;y cũng ch&#237;nh l&#224; một trong những người từng chủ tr&#236; Hội đồng phong chức gi&#225;o sư v&#224; ph&#243; gi&#225;o sư nhiều tai tiếng&#8230;    Đọc tất cả những tin đó, khá dồn dập trong mấy ngày nay, mà lo quá! Ừ thì có nơi nào đó lo việc lưu giữ những tài sản trí tuệ của đất nước này nay là việc nên làm, nhưng lưu giữ tài sản trí tuệ của đất nước là lưu giữ tên tuổi của các tiến sĩ chăng? Tôi nghĩ ngay đến một nhân vật chắc chắn cho đến nay vẫn được sự kính trọng của mọi người như một nhà trí thức lớn của Việt Nam, một đầu óc uyên bác, một nhà giáo dục kiệt xuất, một nhân cách cao quý, từng có đóng góp rất quan trọng cho một thời kỹ khá rạng rỡ của giáo dục đại học ở nước ta: Tạ Quang Bửu. Theo chỗ tôi được biết, và tôi đã kiểm tra lại trí nhớ bằng cách, hỏi kỹ lại nhiều người am hiểu: Tạ Quang Bửu là người không hề có bất cứ một bằng cấp nào hết. Có người còn kể: Ông theo học rất kỹ một ngành, đến khi sắp lấy bằng ở ngành đó thì bỏ, chuyển sang một ngành khác, cứ thế, hàng chục ngành… Vì sao? Vì ông quan niệm học là để chiếm lĩnh tri thức chứ không phải để lấy bằng, để thành tiến sĩ này tiến sĩ nọ; cũng rất có thể từ rất sớm ông đã nhận ra điều hết sức quan trọng đối với một người trí thức ngày nay – mà mãi sau này Edgar Morin mới nói – là: trong thời đại ngày nay một tri thức thật sự không phải, không thể là tri thức đơn lẻ, bị chia cắt, cục bộ, phiến diện, mà phải là người “liên kết các tri thức”, có vậy mới thật sự chiếm lĩnh được thế giới vô cùng phong phú và cũng vô cùng phức tạp này? … Tôi hình dung với số lượng tiến sĩ đã có – và sẽ còn có theo kế hoạch đào tạo vài trăm ngàn tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo -, hẳn số lượng các bia đá phải nhiều gấp chục lần số bia đá ở Văn miếu Hà Nội (chẳng chơi, một kỷ lục ghi-nét mới của Việt Nam, chắc hẳn thế giới không sao theo kịp!). Trên những tấm bia đá mà hàng ngàn con rùa tội nghiệp sẽ phải còng lưng vốn đã còng của chúng để đội đó, hẳn các nhà chủ trương và thực hành Văn Miếu hiện đại sẽ khá lúng túng trước trường hợp Tạ Quang Bửu. Nhất định là ông không thể có mặt trên bảng vàng bia đá đó rồi, bởi ông thuộc một nền văn hóa khác, nền văn hóa của tri thức thật sự, chứ không phải của tri thức bằng cấp tràn lan đang là tai nạn xã hội của chúng ta bây giờ.  Vậy nên chuyện văn miếu với bia đá tiến sĩ hiện đại không chỉ là chuyện tốn kém, tiền nong và đất đai, cũng không chỉ sẽ là chuyện đấu đá khốn khổ và xấu xa để chen chân vào cái chốn lưu danh thiên cổ chắc chắn sẽ xảy ra ở một đất nước vốn chuộng hư danh này, mà còn là, trước hết là chuyện một nền văn hóa, tiếp tục và tăng cường văn hóa bằng cấp chăng? hay là kiên quyết bằng mọi cách châm dứt đi, chôn vùi đi, để có được một không khí văn hóa, tri thức lành mạnh, dễ thở hơn, văn minh hơn đôi chút.    Lưu giữ, bảo tồn tri thức ư? Tất nhiên là cần quá đi chứ. Nhưng cần kíp hơn, cấp bách hơn là tôn trọng thật sự trí thức ngay bây giờ, tạo điều kiện cho người ta làm việc, và sống, trước hết là tự do tư tưởng và sáng tạo. Hàng ngàn tấm bia đá không bằng không, nếu không thật sự có tự do suy nghĩ và sáng tạo cho người trí thức!  Tôi cũng không thể không hình dung vô số chuyện khôi hài sẽ diễn ra khi thực thi sáng kiến văn miếu vĩ đại này. Chẳng hạn, tôi có được biết một vị cứ mỗi lần viết một bài báo lại trịnh trọng ký tên: “Lưỡng quốc tiến sĩ”. Chả là ông ấy từng có bằng tiến sĩ mỹ học ở Liên Xô (cũ), nơi bên cạnh việc giúp đỡ ta to lớn về giáo dục, cũng đã từng hại ta với không ít bằng tiến sĩ hữu nghị; sau đó lại có một cái bằng tiến sĩ nữa về ngữ văn ở Việt Nam. Không biết các vị làm Văn Miếu hiện đại sẽ ghi danh ông ở đâu và bằng cách nào? Lưỡng quốc tiến sĩ kia mà, duy nhất toàn quốc đấy, chắc chắn ông ta sẽ đòi được đứng ở tấm bia đầu tiên, và lớn nhất, và khắc bằng chữ đỏ, thật to nữa kia. Có khi còn đòi dựng tượng đồng nữa là khác!  Đã có không ít chuyện khôi hài hiện đại rồi, đừng thêm làm gì nữa.  Một anh bạn ở nước ngoài, người rất tâm huyết với mọi chuyện kinh tế văn hóa của đất nước, vừa viết mấy chữ, ngắn mà thống thiết: Xin can! Xin can!   Tôi cũng vậy: Xin can!      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng 30 km/giờ ở các đô thị châu Âu      Các thành phố ở Anh đang thí nghiệm trên  diện rộng việc giảm tốc độ xe cơ giới. Thí dụ trong những năm qua người  ta đã thử nghiệm giảm tốc độ xe chạy ở Cambridge, Oxford và một phần của  London từ 50 km/giờ xuống còn 30 km/giờ. Mới đây thủ đô Edinburg của  Scottland, thành phố đầu tiên của nước này, cũng đã tham gia “câu lạc bộ  tốc độ 30”.     Số người Anh sống tại các thành phố thí điểm lên đến 12 triệu người và “20′s plenty for us” (tạm dịch: 20 dặm là nhiều đối với chúng ta), tổ chức đã đấu tranh, vận động cho tốc độ 30 từ nhiều năm nay, đoán chắc rằng sẽ còn nhiều thành phố khác tham gia dự án này. Hiện tại ở Bỉ vấn đề tốc độ 30 cũng được đặt ra trước công dân EU. Từ nay đến cuối năm nếu thu gom được chữ ký của 1 triệu dân EU trong bảy nước thì EU sẽ xem xét vấn đề giảm tốc độ.   Ở Đức tốc độ 30 km/h bị coi là „rùa bò và đứng nguyên“ (ADAC). Một số người ái ngại đến lúc đó giao thông sẽ „dai như kẹo cao su“ (Bộ trưởng Giao thông Ramsauer). Tuy nhiên những người cổ súy lại hy vọng tốc độ 30 sẽ làm giảm lượng khí thải, đường xá sẽ yên tĩnh hơn và giảm được tai nạn giao thông. Kết quả điều tra nghiên cứu trên thực địa về vấn đề này lại không cho kết quả rõ ràng, khi thì ủng hộ, khi thì phản đối “tốc độ 30”   Lợi hay bất lợi?    Ngay cả những kết quả điều tra nghiên cứu ở các thành phố thí điểm ở Anh cũng không rõ ràng. Các nhà nghiên cứu nhận thấy số vụ tai nạn ở Portsmouth giảm: Do hạn chế tốc độ nên số người bị tai nạn giao thông giảm 20%, đặc biệt số trẻ em bị tai nạn trên đường phố giảm rõ rệt. Ở tốc độ 30, người điều khiển xe ô tô có thể phản xạ nhanh hơn và vết phanh xe cũng ngắn hơn.  Ngoài ra, với tốc độ 30 thì sự hấp dẫn và vai trò ý, nghĩa của xe ô tô cũng giảm đi. Thí dụ ở Bristol có nhiều người tham gia giao thông chuyển sang đi xe đạp và đi bộ. Điều tra của Bộ Giao thông Anh quốc cho thấy nạn ùn tắc giảm, các làn xe chạy từ A đến B thông thoáng trôi chảy hơn. Mặc dù xe phải chạy chậm hơn hẳn nhưng thời gian đến đích bình quân cũng chỉ chậm hơn khoảng 40 giây so với xe chạy theo chỉ tiêu cũ.   Tuy nhiên, người ta không thể chứng minh thêm những ưu điểm khác từ việc hạn chế tốc độ, thí dụ tiếng ồn do giao thông không giảm và lượng khí thải CO2 cũng không giảm rõ rệt. Đúng ra khi xe chạy chậm thì lượng khí thải phải tăng lên: Các nhà nghiên cứu Đức đã phân tích mẫu lấy từ những vị trí xe chạy với tốc độ thấp ở thành phố Stuttgart. Kết quả cho thấy, giảm tốc độ sẽ làm cho lượng khí thải tăng 20%.  Xu hướng chung sẽ là, cho dù việc lấy ý kiến người dân EU mang lại kết quả như thế nào, thì việc giảm tốc độ xuống 30 km/giờ ở các thành phố lớn ở Đức sẽ không còn là ngoại lệ. Theo ADAC thì hiện nay ở Berlin hay Munchen việc giảm tốc độ xuống 30km/h đã được áp dụng trên nhiều tuyến đường.   Nguyễn Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xử lý khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng: Vì sao không thể đổ hết trách nhiệm cho Nhà nước?      Dịch bệnh là một dạng khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng mang tính nhân tạo mà không một Nhà nước, chính quyền nào, dù mạnh mẽ hiệu quả đến đâu cũng có thể dễ dàng xử lý nếu thiếu sự nỗ lực và đóng góp chung của từng thành viên cộng đồng. Quan điểm quy giản trách nhiệm xử lý dịch bệnh là của nhà nước chưa đánh giá đúng vai trò và ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong việc xử lý những khủng hoảng mang tính cộng đồng.    Bối cảnh bùng phát virus Covid-2019 ở Việt Nam và phản ứng ban đầu của Nhà nước     Virus Covid-2019 đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam theo như ghi nhận là vào ngày 23 tháng 01 năm 2020. Từ thời điểm chính thức phát hiện dịch cúm cho đến nay, chính quyền không ngừng đưa ra những biện pháp khác nhau để nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh lây lan trên diện rộng và để minh bạch trong hoạt động phòng/chống dịch của Nhà nước.  Nhiều Bộ và các ban ngành Nhà nước ở Việt Nam đã làm việc chặt chẽ với nhau để đưa ra những chính sách kịp thời và hiệu quả. Ba ngày trước khi WHO công bố tình trạng khẩn cấp hoàn cầu (30 tháng 01 năm 2020), Bộ Y tế đã bắt đầu cung cấp thông tin về dịch bệnh trên mọi kênh truyền thông chính thức của Nhà nước, qua SMS, và qua ứng dụng tin nhắn phổ biến nhất ở Việt Nam là Zalo. Chỉ khoảng 1 tuần sau đó, vào ngày 02 tháng 2, Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố cho học sinh nghỉ học đến hết ngày 09 tháng 02 và tiếp tục kéo dài cho đến hết ngày 16 tháng 02 để phòng chống bệnh1. Bộ Y tế đồng thời cũng hợp tác với Bộ Giao thông và vận tải để tạm thời hạn chế giao thông qua lại giữa Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian dịch bệnh.     Trong bối cảnh chung đó, giao thông qua lại dày đặc giữa các tỉnh thành phố của Việt Nam và Trung Quốc khiến Nhà nước gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh. Một nghiên cứu trên tạp chí The Lancet đã mô hình hoá sự lây lan của bệnh tật đã cho thấy có khoảng 3,256 chuyến bay từ Vũ Hán Trung Quốc đến thành phố Hồ Chí Minh chỉ riêng trong tháng Giêng và tháng Hai năm 20192. Giao thông đường không, đường bộ, đường sắt giữa Hà Nội và Trung Quốc đồng thời cũng vận chuyển qua lại một số lượng lớn hành khách qua lại biên giới liên tục trong tuần. Gần đây, 8 hành khách người Việt Nam đáp chuyến bay của Hãng Hàng không Phương Nam Trung Quốc kí hiệu CZ8315 về sân bay lại sân Nội Bài. Từ Nội Bài những người này đã đi 18km để tham dự một cuộc họp công ty. Năm người trong số này sau này xét nghiệm dương tính với cúm Covid-2019 và đã được cách ly ngay lập tức 3. Tính đến ngày 11 tháng 02, năm 2020, có 15 người được xác nhận lây nhiễm cúm Covid-2019 ở Việt Nam4  hầu hết xuất phát từ nhóm bệnh nhân này, với số lượng người bị cách ly do giám sát do tiếp xúc trực tiếp là 249 trường hợp5.    Người dân các đô thị đông đúc như Hà Nội đã quen sử dụng khẩu trang trong mọi hoạt động thường nhật. Ảnh: Hoàng Nam.      Nguy cơ và thách thức vẫn tiếp diễn     Những nỗ lực vừa qua của các cấp chính quyền tại Việt Nam nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy ra lan rộng dịch cúm Covid-2019 là đáng ghi nhận. Tuy nhiên mối nguy hiểm lớn vẫn đang tiềm tàng, bởi tốc độ sinh sản và thời kỳ ủ bệnh của loại virus corona mới này hết sức thuận lợi để có thể lan truyền với tốc độ nhanh chóng. Chỉ số R0 của loại virus corona mới này vẫn chưa được xác định chắc chắn, hiện không loại trừ khả năng có thể cao đến 4.08, có nghĩa là, một người nhiễm bệnh, có thể lây lan cho khoảng bốn người khoẻ mạnh6.  Người ta đã ghi nhận được nhiều trường hợp virus truyền trực tiếp từ người-qua-người. Tuy chưa có bằng chứng chắc chắn song người ta lo ngại rằng một người nhiễm bệnh hoàn toàn có thể không có bất kỳ biểu hiện nhiễm bệnh nào nhưng vẫn gây truyền nhiễm sang người khác7 trong thời gian ủ bệnh từ 02 cho đến 14 ngày8, thậm chí kéo dài 24 ngày9. Chính vì vậy, logic thông thường là cộng đồng cần phải hạn chế tiếp xúc và phơi nhiễm với bệnh tật bằng mọi giá, để có thể ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên phạm vi toàn cầu.     Với những đặc điểm truyền nhiễm này, hoàn toàn dễ hiểu vì sao WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu và đề nghị các chính phủ cần phải hành động ngay lập tức ở cấp độ quốc gia, ngay cả khi những chứng cứ còn rất hạn chế để đưa ra quyết định này. Một số chính phủ cũng đưa ra hành động dứt khoát, áp đặt lệnh cách ly và cấm đi lại với những người bị phơi nhiễm virus Covid-2019 hoặc từng đi qua Vũ Hán trong vòng 14 ngày trước đó. Với Trung Quốc, lệnh này ngay lập tức ảnh hưởng tới hơn 50 triệu người. Hoa Kỳ cấm hoàn toàn việc du hành đến Trung Quốc, giải pháp lần đầu tiên xuất hiện trong suốt 50 năm qua tính từ dịch đậu mùa những năm 196010.      Những quyết định phòng chống dịch bệnh một cách quyết liệt như vậy là cần thiết, dù đều dựa trên những bằng chứng và số liệu không đầy đủ, vì khi bằng chứng trở nên đầy đủ, dịch bệnh thường đã ở giai đoạn khó kiểm soát được. Để thấy được mức độ nghiêm trọng của đợt bùng phát dịch bệnh này có thể tham khảo thử nghiệm dẫn đầu bởi Eric Turner, một chuyên gia ở Viện An ninh Sức khoẻ của Đại học John Hopkins. Ông dẫn đầu một cuộc tập dượt y tế, được biết đến dưới tên gọi “Sự kiện 201” (Event 201) vào tháng 10 năm 2019, dựa trên giả thuyết về việc bùng phát của bệnh cúm gây ra bởi virus corona. Cuộc tập dượt này, được hỗ trợ bởi Bill and Melinda Gates Foundation. Mô hình bùng phát dịch bệnh dự đoán rằng có khoảng 65 triệu người trên toàn thế giới sẽ chết trong vòng 18 tháng11. Tình hình thực tế có vẻ hết sức đáng ngại, khi tỉ lệ những người nằm trong tình trạng nguy kịch với những triệu chứng bệnh trầm trọng như viêm phổi, suy hô hấp, và giảm tiểu cầu gây ra bởi virus Covid-2019 ở mức cao12, điều này khiến loại virus này mang những đặc tính nguy hiểm giống như MERS and SARS13. Những đặc tính này của virus sẽ đặt gánh nặng khủng khiếp nên những hệ thống y tế quốc dân của những quốc gia vốn đã rất hạn chế trong việc hỗ trợ, và ứng phó với tình trạng khẩn cấp, khi số lượng bệnh nhân nguy kịch cần phải nhập viện điều trị tăng cao.      Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong một xã hội mà quyết định của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả cộng đồng.      Số lượng lây nhiễm virus trên thực tế sẽ luôn cao hơn số trường hợp có thể chính thức ghi nhận được tại các cơ sở y tế, trong khi quy  trình xét nghiệm Covid-2019 cũng khó hơn việc xét nghiệm những loại virus khác, yêu cầu cơ sở xét nghiệm phải trực tiếp cộng tác với WHO, và chỉ một số hạn chế bệnh viện cùng các cơ sở y tế mới đủ điều kiện an toàn và phương tiện để có thể tiến hành loại xét nghiệm này.      Tuy đã áp dụng các giải pháp hạn chế đi lại nhưng rất khó tránh được tình trạng bệnh tật truyền nhiễm vượt ra khỏi giới hạn của biên giới quốc gia  khi những nền kinh tế trên thế giới ngày càng kết nối và phụ thuộc chặt chẽ lẫn vào nhau. Vào tháng 10 năm 2019, chính quyền Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được thoả thuận chung, theo đó cả hai chính quyền sẽ nới lỏng an ninh biên giới để có thể hỗ trợ hàng ngàn công dân Việt Nam và Trung Quốc qua lại hai bên biên giới để làm việc. Những quy định mới này hiển nhiên, sẽ khiến cả hai quốc gia, gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát truyền nhiễm vi khuẩn và virus gây bệnh giữa hai đường biên giới. Tính từ ngày đầu tiên của đợt dịch bệnh bùng phát này, Việt Nam đã một phen hú hồn khi 30 học sinh ở Điện Biên, thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam đột nhiên có những triệu chứng sốt ho do nhiễm virus sau khi tiếp xúc với cha mẹ của các em đi làm ở nước ngoài về14. Chính quyền khẳng định đây “chỉ là bệnh cúm thông thường.” Giới chức địa phương ban đầu rụt rè, song sau này gạt bỏ một cách chắc chắn khả năng địa phương họ đã bị lây nhiễm loại virus mới. Cuối cùng thì, cho dù thực tế trường học ở tỉnh Điện Biên đã bị ảnh hưởng bởi virus Covid-2019 hay không, thì tình hình đã từng xảy ra ở tỉnh Điện Biên cho thấy những khó khăn mà chính quyền các cấp có thể gặp phải ngay cả khi họ đã hết sức nỗ lực trong việc minh bạch hoá thông tin dịch bệnh, và ban hành những chính sách phòng chống dịch bệnh hiệu quả và phù hợp.     “Nạn đói và hành động của công chúng”(Hunger and Public Action) của Jean Dreze và Amartya Sen.     Không thể trông chờ tất cả ở Nhà nước      Quan sát phản ứng của công chúng trong thời gian diễn ra dịch bệnh có thể thấy không ít những ý kiến thể hiện sự không hài lòng hoặc cảm thấy phiền hà với những chính sách ứng phó của chính quyền. Ví dụ sự hoài nghi đối với quyết định cho phép các trường phổ thông và các trường Đại học được nghỉ học phòng bệnh từ ngày mùng 2 tháng 02, khi mới vẻn vẹn chỉ có 8 trường hợp xác nhận nhiễm virus Covid-2019 trên phạm vi cả nước; nhiều phụ huynh phàn nàn rằng họ không có ai ở nhà trông con, do trường học đóng cửa, vì vậy, họ buộc phải đưa con đến nơi làm việc, khiến cho các em có thể dễ dàng bị phơi nhiễm với bệnh tật ở nơi công sở; lo ngại về vi phạm “quyền riêng tư” của các cá nhân khi những người quản lý chủ động công bố thông tin của những người nhiễm bệnh/tình nghi nhiễm bệnh trên các phương tiện thông tin đại chúng; ngược lại có ý kiến cho rằng Chính phủ vẫn còn đang lơi lỏng và chưa mạnh tay đúng mức, ví dụ, chưa đóng cửa biên giới sớm để kiểm soát dịch bệnh15 mặc dù WHO cho rằng việc này không có hiệu quả trong việc kiểm soát dịch bệnh16, v.v.     Những ý kiến nêu trên có thể tùy thuộc vào nhận thức cá nhân trong điều kiện thông tin chưa đầy đủ ở từng thời điểm, nhưng nhìn chung chúng phần nào thể hiện tâm lý trông cậy và đòi hỏi quá nhiều ở chính quyền, không thấy rằng chính quyền chỉ là một trong những thành tố tạo thành sức phòng vệ của một cộng đồng xã hội trước bệnh dịch và những vấn đề phát sinh liên quan.       Trong khi đa số người dân có ý thức bảo vệ bản thân và cộng đồng thì vẫn còn một số người có những hành vi không phù hợp như người lái taxi trong hình kéo khẩu trang xuống để khạc nhổ ở ven đường. Ảnh: Hoàng Nam.     Một trong số những nghiên cứu thuộc diện kinh điển về vai trò của công chúng trong việc phòng tránh thảm hoạ là quyển sách Nạn đói và hành động của công chúng (Hunger and Public Action) viết bởi Jean Dreze và Amartya Sen. Trong quyển sách này, Dreze và Sen viết rằng: “Hành động vì mục đích công cộng được chúng tôi nói đến trong quyển sách này không chỉ là để chỉ những hành động từ phía Nhà nước, mà còn để chỉ hành động của từng thành viên trong xã hội”17 . Dreze và Sen đã viết quyển sách này nhiều thập kỷ trước, ở thời điểm đó, họ đã chứng minh một cách thuyết phục rằng nạn đói ở đây, không phải là thảm hoạ tự nhiên. Và rằng ngay cả nạn đói là thảm hoạ nhân tạo và hoàn toàn có thể phòng tránh. Ngày nay, trong bối cảnh của dịch bệnh Covid-2019 bùng phát, công chúng cần phải được nhắc nhở thêm một lần nữa rằng, virus có thể sinh ra trong tự nhiên, nhưng chỉ có thể bùng phát thành thảm hoạ, phần nhiều là do quyết định của từng con người trong xã hội. Và hiển nhiên, việc phòng tránh và kiểm soát dịch bệnh, không thể chỉ là công việc của chính quyền trung ương mà phần nhiều là từng cá nhân trong cộng đồng, dù ít dù nhiều, đều có phần trách nhiệm. Từng thành viên cộng đồng có thể là nguyên nhân, và là đối tượng phải cùng giải quyết hậu quả.    Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong một xã hội mà quyết định của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả cộng đồng. Hành vi khạc nhổ của một con người ở một góc phố đông người, sự cẩu thả của một chủ quán ăn, hay một phụ huynh cố gẳng đẩy con mình đến trường ngay cả khi trẻ có dấu hiệu ốm sốt, đều có thể là mắt xích trong chuỗi tác nhân dẫn tới bùng phát bệnh dịch.      Những chính sách của chính quyền trung ương chỉ phát huy được hiệu quả và đáng tin cậy nếu bản thân những quan chức địa phương, bác sĩ, nhà nghiên cứu, nhà quản lý trường học, thầy cô, người lao động, và phụ huynh học sinh làm tốt phần việc của mình đối phó với dịch bệnh. Nếu nhân viên chính quyền địa phương thất bại trong việc kiểm tra và kiểm soát những sự cố nghi ngờ phát sinh ở địa phương mình, không thông báo và tìm kiếm sự trợ giúp đúng lúc; nếu phụ huynh học sinh thất bại trong việc cách ly bản thân và trẻ em khi gia đình có người có biểu hiện mắc bệnh, thì có lẽ bệnh tật sẽ liên tục lây lan với tốc độ chóng mặt. Khi đó, không một chính phủ nào, dù mạnh đến mức nào, có thể chịu trách nhiệm về sự bùng phát của bệnh tật. Tất cả chúng ta, từng cá nhân trong xã hội đều có một phần trách nhiệm trong việc này.      Tuy nhiên trách nhiệm đạo đức của cá nhân đối với cộng đồng mà anh ta đang sống là điều mà theo quan sát của một nhà nghiên cứu nhân học như tôi, còn rất yếu ở Việt Nam. Nếu phát huy được ý thức trách nhiệm của mình trước một nguy cơ lớn với cộng đồng cũng như với toàn cầu, mỗi cá nhân chúng ta sẽ tự chủ động nhìn nhận những việc cần làm, những lợi ích riêng cần chấp nhận hi sinh. Khi đó chúng ta sẽ không quá lo lắng về việc con em mình phải nghỉ một vài buổi học, về việc không bán được nông sản, hay về việc nền kinh tế sẽ mất một vài phần trăm tăng trưởng GDP…     Thay vì buông xuôi và coi dịch bệnh là hệ quả “không tránh khỏi”, “có nguồn gốc từ tự nhiên” xuất phát từ quá trình phát triển kinh tế xã hội, chúng ta tốt nhất nên đầu tư vào nâng cao năng lực ứng phó và phòng tránh dịch bệnh cho từng thành viên cộng đồng chúng ta ở Việt Nam, càng sớm càng tốt.     Đó mới là chiến lược lâu dài cho một cộng đồng.   —    [1]https://vietnaminsider.vn/schools-temporarily-closed-over-coronavirus-concerns/     [2]https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30260-9/fulltext#fig1     [3]https://vietnaminsider.vn/vietnam-confirms-10th-patient-infected-with-ncov/     [4]https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/suc-khoe-24h/virus-corona-moi-tai-viet-nam-da-lay-sang-the-he-thu-3-615534.html    [5]https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/suc-khoe-24h/sau-9-ca-duong-tinh-virus-corona-vinh-phuc-giam-sat-249-nguoi-615256.html    [6]http://theconversation.com/r0-how-scientists-quantify-the-intensity-of-an-outbreak-like-coronavirus-and-its-pandemic-potential-130777    [7]https://news.zing.vn/benh-nhan-thu-13-nhiem-ncov-o-viet-nam-co-the-da-bo-qua-dau-hieu-benh-post1044483.html     [8]https://www.cdc.gov/coronavirus/Covid-2019/about/symptoms.html    [9]https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.02.06.20020974v1.full.pdf    [10]https://www.usatoday.com/story/news/politics/2020/01/31/coronavirus-donald-trump-declares-public-health-emergency/4625299002/    [11]See, https://hub.jhu.edu/2019/11/06/event-201-health-security/ và     [12]http://www.centerforhealthsecurity.org/event201/    [13]https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30154-9/fulltext     [14]https://foreignpolicy.com/2020/01/26/Covid-2019-china-epidemic-pandemic-the-wuhan-coronavirus-a-tentative-clinical-profile/     [15]https://www.tienphong.vn/giao-duc/dien-bien-hang-chuc-hoc-sinh-ho-sot-deu-tiep-xuc-voi-bo-me-tu-trung-quoc-ve-1515843.tpo     [16]https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/tinh-tao-de-quyet-dinh-dong-cua-bien-gioi-tam-thoi-phong-dich-corona-780562.ldo    [17]https://tuoitre.vn/who-dung-dong-cua-bien-gioi-vi-virus-corona-co-the-lay-lan-nhanh-hon-2020013120241448.htm    Dreze, Jean, and Amartya Sen (2002). Hunger and Public Action. New York: Oxford University Press, 2002, trang vii.       Author                Sarah Jo Bregman, Nguyễn Phúc Anh        
__label__tiasang Xử lý rác thải nhựa: Tránh rơi vào “bẫy” ô nhiễm      Để góp phần giảm thiểu lượng rác thải nhựa, Việt Nam không chỉ hạn chế dùng đồ nhựa một lần mà còn cần phải có những giải pháp hợp lý để tránh rơi vào “bẫy ô nhiễm”, tạo áp lực khác lên môi trường.      Thay thế ống hút nhựa bằng ống hút làm từ tinh bột gạo sẽ lại gây thêm áp lực cho ngành nông nghiệp và tiếp tục tạo ra ô nhiễm.  Đồ nhựa hiện diện ở mọi nơi xung quanh ta, từ những vật dụng bé nhỏ hằng ngày như giấy gói kẹo, hũ sữa chua, ống hút, túi nilon, giày, dép, bàn, ghế tới những thành phần chi tiết, thiết bị cỡ lớn như ô tô, tàu thủy, máy bay v.v… Nhu cầu cuộc sống hằng ngày của con người đã thúc đẩy quá trình gia tăng sản xuất, buôn bán và ở cuối chu trình này là việc thải loại chất thải nhựa ra môi trường.  Giữa vô vàn các loại rác thải nhựa mà chúng ta cần giảm thiểu hiện nay, một trong những thành phần chiếm số lượng nhiều nhất là những cốc, chai đựng nước, ống hút, túi đựng dung dịch tiêm… – những sản phẩm nhựa chỉ được dùng duy nhất một lần trong suốt vòng đời của nó. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 vừa qua tại Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định, Việt Nam đang triển khai nhiều giải pháp để chống rác thải nhựa và phấn đấu đến năm 2025 không sử dụng đồ nhựa dùng một lần.    Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm được trả 6,5 USD mỗi ngày để phân loại rác thải nhựa. Nguồn: Bac Pham/The Guardian  Có dễ thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần?  Một cuộc “chạy đua” chống rác thải nhựa, đặc biệt là nhựa dùng một lần, cũng đã bắt đầu ở Việt Nam, khởi đầu từ các thành phố lớn. Tuy nhiên ở đây có một vấn đề đặt ra: giải pháp nào là bền vững với việc thay thế đồ nhựa dùng một lần? Liệu có giải pháp đang được sử dụng rộng rãi là thay thế đồ nhựa dùng một lần bằng các sản phẩm nhựa có khả năng phân hủy sinh học hoặc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi giấy hoặc túi vải bông v.v đã là tối ưu?  Giải pháp thay thế nhựa dùng một lần phải đảm bảo được các yếu tố như nguyên liệu sẵn có, giá đủ rẻ để được thị trường chấp nhận và sau khi thải loại, ít gây hại cho môi trường… Theo tiêu chuẩn đó thì các giải pháp hiện hành này đều không thân thiện với môi trường. Vì sao có chuyện ngược đời như vậy? Hãy nhìn vào thành phần nguyên liệu và chu trình sản xuất của nó, ví dụ để chế tạo các sản phẩm nhựa có khả năng phân hủy sinh học hoặc các sản phẩm thay thế nhựa, người ta phải canh tác, tức là phải phá bỏ thảm thực vật tự nhiên và hệ sinh thái liên quan tới nó, sử dụng nhiều loại phân hóa học, thuốc trừ sâu v.v. Tất cả các hoạt động như vậy đều dẫn tới thoái hóa đất và ô nhiễm môi trường. Theo các kết quả của một nghiên cứu gần đây do Cục Môi trường Anh tài trợ, việc sản xuất túi giấy hoặc túi bằng vải bông thậm chí còn tốn nhiều nước và năng lượng hơn rất nhiều so với túi nhựa.  Mặt khác, phải tái sử dụng túi giấy ít nhất là 3 lần mới đảm bảo được khả năng tác động môi trường (sử dụng nước, năng lượng và phát thải khí nhà kính) bằng hoặc thấp hơn túi nhựa. Đối với túi vải bông, con số này là 131 lần.  Theo một nghiên cứu gần đây của Cục Bảo vệ môi trường, Bộ Môi trường và Lương thực Đan Mạch, sản phẩm túi giấy gây ra tác động tới môi trường lớn hơn túi nilon dùng một lần tới hơn 43 lần và túi chế tạo bằng bông hữu cơ sẽ có tác động môi trường lớn hơn túi nilon dùng một lần tới hơn 20.000 lần. Đồng thời, túi thân thiện nhất với môi trường là túi polyester được sử dụng lại ít nhất là 35 lần. Như vậy, không dễ để thực hiện giải pháp thay thế các sản phẩm nhựa dùng một lần bằng các sản phẩm mà chúng ta vẫn gọi là “thân thiện với môi trường”.  Cần chú ý tới một thực tế là có rất nhiều sản phẩm nhựa dùng một lần không thể thay thế được bằng các sản phẩm khác như thay thế chai nhựa đựng dung dịch tiêm truyền bằng chai thủy tinh vì chai thủy tinh có giá thành cao, khó vận chuyển và khi sản xuất, xử lý có tác động môi trường còn lớn hơn chai nhựa. Hơn nữa, đã có các nghiên cứu cho rằng việc sử dụng nguyên liệu là các chất hữu cơ dễ phân hủy để sản xuất bao bì sẽ làm giảm chất lượng thực phẩm và có thể tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho người sử dụng.  Thách thức trong quá trình tái chế  Sự xuất hiện của nhựa dùng một lần trong rác thải nhựa khiến người ta thêm phần bối rối. Mỗi năm, chúng ta sản xuất khoảng 300 triệu tấn nhựa, một nửa trong số đó là nhựa dùng một lần. Vậy phải ứng xử với nhựa dùng một lần như thế nào? Về thành phần, nhựa dùng một lần thường được sản xuất với chất phụ gia là dầu mỏ. Điều đó gây khó khăn cho quá trình tái chế và để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải bổ sung một số vật liệu, hóa chất.    Có tới hơn 50 loại rác thải nhựa, và rất khó để phân loại và chọn ra những loại rác thải nhựa có thể tái chế một cách tự động hay bán tự động. Ảnh: Vinanet.vn  Tuy nhiên, chúng ta tính tới một điểm khác là chỉ có một số lượng hạn chế các mặt hàng nhựa tái chế có thể được sử dụng bởi cần rất thận trọng khi tái sử dụng chúng. Chỉ một số sản phẩm nhựa có thể được tái sử dụng một số lần nhất định. Đối với một số sản phẩm nhựa khác, hoặc các sản phẩm bị tái sử dụng quá nhiều lần, việc tái sử dụng chúng có thể gây hại tới sức khỏe con người.  Như đã nêu ở trên, không phải tất cả các loại rác thải nhựa nào cũng đều có thể được tái chế. Ngay cả trong trường hợp có thể tái chế, chúng ta còn phải đối mặt với một việc có khả năng gây ô nhiễm môi trường khác, đó là việc làm sạch đồ nhựa trước khi tái chế. Trong nhiều trường hợp, việc rửa các sản phẩm nhựa bị bẩn để phục vụ tái chế có thể tiêu tốn rất nhiều nước sạch và làm tăng lượng nước thải ra môi trường. Do đó ở Anh, người ta quyết định hằng năm chỉ có khoảng 23% lượng rác thải nhựa được tái chế.  Như vậy, do nhiều loại sản phẩm nhựa dùng một lần không thể thay thế bằng sản phẩm khác được nên khó có thể bị cấm. Ngay cả ở Anh, người ta cũng chỉ yêu cầu các siêu thị cam kết không sử dụng những vật liệu đóng gói là nhựa nếu như họ có thể làm như vậy, và đảm bảo là tới năm 2025 tất cả rác thải nhựa xuất phát từ vật liệu đóng gói phải được tái chế, tái sử dụng hay làm phân ủ.  Những giải pháp khả thi  Với các lý do nêu trên, hướng đi đúng trong việc giảm thiểu tác hại của rác thải nhựa là xây dựng các giải pháp để người dân có thể từ chối, giảm thiểu sử dụng, tái sử dụng, tái chế và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Có rất nhiều sản phẩm nhựa dùng một lần có thể được thay thế bằng sản phẩm nhựa dùng nhiều lần, thí dụ, thay vì sử dụng túi nilon dùng một lần để mua hàng hóa, chúng ta có thể sử dụng hộp nhựa, hộp kim loại hoặc túi nilon dùng nhiều lần.  Chính quyền cần xây dựng và tổ chức thực hiện các giải pháp để giảm thiểu tác hại của rác thải nhựa khả thi, hiệu quả với sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội. Có thể nêu tóm tắt một số giải pháp để giảm thiểu tác hại của rác thải nhựa theo các hướng nêu trên như dưới đây:  1) Không thay thế túi nilon và đồ nhựa dùng 1 lần bằng sản phẩm hữu cơ dễ phân hủy nếu như sản phẩm đó không được chế tạo từ rác (thí dụ như bã mía, lõi ngô, rơm, rạ, trấu v.v.) hoặc các loại cây cần được giảm (như cây bèo tây, cây mai dương v.v.);  2) Khuyến khích sử dụng các sản phẩm nhựa có thể tái chế, tái sử dụng để làm các sản phẩm đóng gói;  3) Nghiêm cấm phát không túi nilon và sử dụng loại túi nilon dùng 1 lần tại tất cả các địa điểm mua bán, kể cả ở chợ dân sinh; đồng thời yêu cầu tất cả các địa điểm mua bán chỉ sử dụng túi nilon sử dụng nhiều lần và bán nó với giá thích hợp;  4) Tuyên truyền, xây dựng và vận hành hệ thống phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế, xử lý rác thải, đặc biệt chú trọng rác thải nhựa dùng một lần;  5) Đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ để có được công nghệ xử lý rác thải nhựa hiệu quả và thân thiện với môi trường nhất; có lộ trình thích hợp để giảm và tiến tới hoàn toàn loại trừ việc chôn lấp rác thải nhựa;  6) Tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu về tác hại của rác thải nhựa và giảm sử dụng sản phẩm nhựa, thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần bằng sản phẩm nhựa dùng nhiều lần hoặc những khi có thể;  7) Tăng thuế và cấp phép chặt chẽ với hệ thống kiểm soát hiệu quả sản phẩm nhựa, đặc biệt sản phẩm nhựa từ làng nghề;  8) Xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật đồng bộ, dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất về sản xuất, buôn bán, sử dụng sản phẩm nhựa, tái chế, tái sử dụng và xử lý rác thải nhựa theo hướng nêu trên.     Theo The Guardian, mỗi năm Mỹ vận chuyển hơn 1 triệu tấn rác thải nhựa ra nước ngoài. Malaysia là quốc gia tiếp nhận kỷ lục rác thải nhựa Mỹ, và 55% lượng này không được quản lý đúng quy trình – có nghĩa là chỉ đưa vào các địa điểm lộ thiên. Indonesia và Việt Nam thì lần lượt có tới 81% và 86% lượng rác thải quản lý không đúng quy trình. Năm 2018, Mỹ chuyển 83.000 tấn rác thải nhựa tới Việt Nam. Có những dấu hiệu rõ ràng là các đồ thải đó có nguồn gốc từ Mỹ, ví dụ một cái túi đựng kẹo York Peppermint Patties của hãng Hershey với nhãn hiệu Mỹ. Một công trình mới do nhóm nghiên cứu về môi trường mang tên Gaia xuất bản vào tháng 5/2019 cho biết, “tác động của chuyến tàu chở rác nhựa thương mại tới Đông Nam Á thật đáng kinh ngạc- ô nhiễm nguồn nước, tàn phá mùa màng, bệnh về đường hô hấp do phơi nhiễm với việc đốt nhựa, sự gia tăng của tội phạm có tổ chức tại các điểm nhập khẩu nhựa. Các quốc gia này và người dân của họ đang mang gánh nặng kinh tế, môi trường và xã hội của sự ô nhiễm, có thể ‘truyền’ cho thế hệ tiếp theo”.  Theo khoahocphattrien.vn          Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất phát từ “chi” để điều chỉnh hoạt động ngân sách      1. Trong quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân sách nhà nước của Việt Nam hiện nay không còn là hệ thống ngân sách cũ – ngân sách “bao cấp” – nhưng cũng chưa phải là hệ thống, ngân sách thị trường theo đúng nghĩa. Chính đây là yếu tố giải thích những vấn đề ngân sách nảy sinh, tồn đọng trong thời gian qua nhưng chưa được giải quyết một cách triệt để. Đó là những vướng mắc về cơ chế, về tình trạng chưa đủ định hình của các nguyên lý và nguyên tắc vận động của các quá trình ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường.         Nhưng bản chất, thực chất của những vướng mắc cơ chế đó là gì? Các nguyên lý và nguyên tắc nào cần định hình để các quá trình ngân sách vận động phù hợp với cơ chế thị trường?   Chính đây là những điểm mấu chốt cần được tập trung nghiên cứu và thảo luận hơn là dành sự ưu tiên cho việc mổ xẻ các “khiếm khuyết” cụ thể của bảng cân đối ngân sách nhà nước như nhiều nỗ lực đang được dốc ra hiện nay.   2. Trong hệ thống ngân sách đang chuyển đổi, có một điểm cần đặc biệt lưu ý là một sự cân đối thu – chi ngân sách trên nguyên tắc kế toán có thể không phản ánh sự cân đối thực tế cần có giữa hai biến số thu – chi ngân sách.   Ví dụ, ngân sách có thể cân đối được nguồn thu để trả lương theo các quy định pháp luật hiện hành; song sự mất cân đối ẩn phía sau lại là ở chỗ tiền lương có thể lại không phải là tiền lương đúng nghĩa. Điều này đang rất đúng với Việt Nam hiện nay. Mặc dù phần chi trả lương chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi thường xuyên của ngân sách (khoảng 60-65%), song tiền lương của mỗi người lại quá thấp, không đủ nuôi sống người hưởng lương trong khoảng thời gian trả lương (lương tháng chỉ bảo đảm nuôi sống người nhận lương 10-15 ngày), chưa kể đến các khoản đóng góp vào chi tiêu tối thiểu cho gia đình và phần tích lũy (cũng tối thiểu cần thiết). Đây là một sự phi lý: sự cân đối thu – chi quỹ lương trong bảng cân đối ngân sách rõ ràng che giấu một sự mất cân đối thực tế đặc biệt nghiêm trọng.  Tình trạng cũng tương tự như vậy đối với các khoản chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách. Cho đến nay, Ngân sách vẫn “ôm đồm” quá nhiều việc chi đầu tư phát triển, đặc biệt là trong nhiều dự án, lĩnh vực mà vốn thuộc chức năng của thị trường (khu vực doanh nghiệp). Chúng ta đang chứng kiến một thực tế nghiêm trọng: hiệu quả đầu tư phát triển từ ngân sách là quá thấp, số dự án đầu tư quá nhiều, đến mức các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể quản lý nổi. Xẩy ra tình trạng có đến hàng chục ngàn dự án dở dang, bị “treo” nhiều năm, không quyết toán nổi. “Đại công trường” Hà Giang chỉ là một trong vô vàn ví dụ. Vậy thì thực chất ở đây là gì? có nghĩa là hàng năm ngân sách về cơ bản vẫn được cân đối, mức bội chi ngân sách vẫn được kiểm soát (<5%), song trên thực tế là một sự thất thoát, chảy máu vốn và sử dụng vốn kém hiệu quả: tài sản nhà nước bị mất mà không mang lại nguồn thu mới cho ngân sách, thậm chí còn gây tốn kém nhiều hơn. Sự cân đối “kế toán” đang che giấu một sự mất cân đối thực chất đang rất nghiêm trọng.  Đây là một thực tế cần phải được nghiên cứu, mổ xẻ chi tiết và theo một cách đặt vấn đề mang tính hệ thống và cơ bản.   3. Nhìn bảng cân đối ngân sách từ phía thu, thực chất tình hình cũng tương tự. Hiện nay, thu ngân sách dựa quá nhiều vào các khoản “thu quốc doanh” mà điển hình nhất (lớn nhất) là thu dầu khí. Trong khi nguồn thu này mang tính chất không ổn định, dễ gây rủi ro cho ngân sách thì các nguồn thu cơ bản truyền thống của ngân sách như các khoản thuế thu nhập (trực thu và gián thu, điển hình nhất là thuế thu nhập cá nhân, thuế đất) và các khoản phí và lệ phí lại bị thất thu nghiêm trọng, chưa trở thành những nguồn thu cơ bản nhưng chúng vẫn là như vậy trong các nền kinh tế thị trường phát triển bình thường. Sự lệch lạc này là một trong số những kết quả phản ánh thực trạng 20 nămchuyển sang kinh tế thị trường của hoạt động thu ngân sách. Ngân sách nhà nước đã “mất” quá nhiều khi không áp dụng được thuế thu nhập cá nhân, khi các nguồn thu rất lớn từ đất chủ yếu rơi vào tay các cá nhân, nhất là các nhà đầu cơ.   Vậy mà bảng cân đối ngân sách nhà nước cho đến nay vẫn cơ bản là “ổn”.   Sự “ổn” này rõ ràng chứa đựng những yếu tố bất ổn nghiêm trọng.  4. Từ cách đặt vấn đề như vậy, rõ ràng cần có cách tiếp cận tổng thể – hệ thống đến vấn đề cân đối ngân sách ở nước ta hiện nay thay vì nỗ lực phát hiện và chỉ ra sự thiếu sót, mất cân đối trong từng khoản mục thu – chi cụ thể riêng biệt. Những vấn đề cân đối ngân sách nói chung, bội chi ngân sách nói riêng đang đặt ra hiện nay chỉ có thể hiểu đúng và có biện pháp giải quyết triệt để khi đặt chúng trong hệ vấn đề của nền kinh tế chuyển đổi và với quan điểm hệ thống. Các khiếm khuyết, tồn đọng nghiêm trọng của hoạt động chi tiêu ngân sách về cơ bản là “lỗi” hệ thống, mang tính cơ chế – khách quan hơn là bắt nguồn từ sai lầm hay khuyết điểm chủ quan, cá nhân.  5. Theo cách tiếp cận đó, việc làm rõ các vấn đề cân đối ngân sách và bội chi ngân sách của nước ta hiện nay nhằm xây dựng một hệ thống ngân sách cân đối thực chất và bền vững cần tập trung vào hai nhiệm vụ chính.  Nhiệm vụ thứ nhất là phân định rõ chức năng nhà nước – thị trường trong quá trình vận hành, điều hành nền kinh tế và quản lý xã hội. Có định rõ chức năng nhà nước phục vụ xã hội thì mới xác định đúng về nguyên tắc khối lượng tài chính cần thiết mà xã hội phải cung cấp cho nhà nước (khoản tài chính này tồn tại dưới dạng thu ngân sách) để nhà nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả các chức năng đó. Về thực chất, đây là khoản tiền mà xã hội cung cấp cho nhà nước để nhà nước phục vụ trở lại xã hội dưới dạng thực hiện các chức năng của một bộ máy quản lý và điều hành các quá trình công cộng hay còn được đặt một tên gọi rất chính xác là cung cấp dịch vụ công hiểu theo nghĩa rộng (vì thế mà trong nghĩa đen cơ bản, ngân sách nhà nước còn được gọi là “tài chính công”). Đây là nguyên lý sơ thiểu, đơn giản, vì thế là cơ bản nhất của mọi quá trình ngân sách.   Có vẻ như ở nước ta, tuy mới chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vấn đề quan trọng hàng đầu này lại chưa được hiểu đúng tầm, đúng mức. Sự chậm trễ trong hoạt động cải cách hành chính – một trong những nỗ lực chủ yếu nhất để phân định lại chức năng nhà nước – thị trường cho phù hợp với hoàn cảnh mới – là bằng chứng chứng tỏ điều đó.   Việc “phân định rõ chức năng nhà nước – thị trường” trên thực tế không dừng lại ở việc chỉ ra nhà nước làm những việc gì, thị trường và doanh nghiệp làm những việc gì. Điều quan trọng hơn là phải:    i) Xác định chính xác mỗi việc nhà nước làm (mỗi chức năng xã hội mà nhà nước thực hiện), với những cam kết mang tính pháp lý về chất lượng và thời hạn, cần được xã hội chi trả bao nhiêu tiền thông qua ngân sách.  ii) Cụ thể hóa các công việc nhà nước làm, phân công rõ ràng cho các cơ quan chức năng và các cá nhân đảm nhiệm cụ thể, với các ràng buộc pháp lý (cam kết) rõ ràng về thực chất, khối lượng và chất lượng công việc, thời hạn thực thi và quy mô chi phí. Các cam kết này tồn tại dưới hình thức một bản hợp đồng trách nhiệm giữa cơ quan công quyền với các cá nhân – quan chức, công chức. Cho đến nay, sự ràng buộc pháp lý này được thực hiện dưới hình thức chế độ “biên chế suốt đời”, thực chất là kiểu cam kết mang nặng tính “khoán chay”, không rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi giữa cả hai bên – cơ quan nhà nước và các cá nhân thuộc biên chế nhà nước đang thực thi công vụ.  Việc thực hiện cả hai loại việc nêu trên đều đòi hỏi một sự chế tài nghiêm khắc và công minh. Tuy nhiên, như nhiều ý kiến đã chỉ ra rất xác đáng, chế tài lại đang là khâu yếu nhất trong toàn bộ quy trình thực hiện hệ thống Luật Ngân sách ở nước ta hiện nay.  6. Nhiệm vụ thứ hai gắn với nhiệm vụ trên là phải thay đổi căn bản nguyên lý về tiền lương trả cho bộ máy công chức nhà nước. Cơ chế lương hiện nay theo nguyên lý bao cấp mà 2 “trụ cột” của nó là chủ nghĩa bình quân và chế độ “bảo đảm biên chế suốt đời”. Lương ít được coi là một yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất của cải trong xã hội. Chủ yếu, nó được coi là sản phẩm của hoạt động “phân phối đầu ra” (hay phân phối thu nhập). Trên thực tế, lương không gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ cá nhân, cũng không gắn với sự cam kết nhà nước trong việc cung ứng nguồn tài chính đủ bảo đảm cuộc sống, ít nhất cũng là mức tối thiểu (tối thiểu hiểu theo nghĩa mà C. Mác đã từng đề cập trong bộ “Tư bản”) cho người làm công chức với tư cách là người đại diện cho nhà nước cung cấp các dịch vụ công ích cho xã hội.   Trên thực tế, lương không đủ sống. Vì thế, các cán bộ nhà nước “được phép” làm thêm, kiếm thêm các khoản ngoài lương (đây có thể là – và trong đời sống thực tế của nhiều người, chúng chính là khoản thu nhập chính). Quy tắc hành xử này làm cho nguyên tắc quản lý lao động trở nên không rõ ràng, từ đó, nhiều món “hưởng thụ” trở nên không minh bạch. Sự mất cân đối giữa công việc – tiền lương ngày càng trở nên nghiêm trọng. Cần phải nhìn thấy trong mối quan hệ này gốc rễ sâu xa của sự mất cân đối thu – chi ngân sách (bộ máy nhà nước không nuôi sống được công chức nên công chức không hoàn thành chức năng mà nhà nước đảm nhiệm và giao cho họ).   Bên cạnh đó, lại tồn tại một hệ thống “trợ cấp chính sách” theo chức vụ – nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện làm việc và nhiều ưu quyền phân phối không chính thức khác. Cán bộ càng cao thì phần “lợi ích chính sách” này càng lớn, thu nhập thực tế càng cao. Vì thế, họ không thấy cái bức bách của việc phải thay đổi căn bản chế độ tiền lương. Cái dễ được họ chấp nhận hơn là nâng mức mức lương tối thiểu để làm “giãn” căng thẳng xã hội. Hậu quả là lương đuổi theo giá và càng ngày càng tụt hậu so với giá1. Cần nhìn nhận tình trạng này như một sự mất cân đối ngân sách thực chất hiện nay. Gợi ý trực tiếp từ đây là để cải cách hành chính có kết quả, cần tập trung vào khâu then chốt là cải cách chế độ tiền lương trong khu vực nhà nước trên cơ sở cách tiếp cận thị trường và theo nguyên lý mới: lương là đầu vào, chỉ trả theo công việc, minh bạch hóa và cắt giảm, tiến tới cắt bỏ phần “trợ cấp chính sách”, tách tiền lương ra khỏi các khoản tiền trợ cấp xã hội.  7. Điểm cuối cùng được đề cập trong bài viết này là cách tiếp cận đến việc xử lý quan hệ thu – chi ngân sách: dựa vào thu hay xuất phát từ chi là chính?  Lâu nay, hoạt động thu chi ngân sách của ta căn cứ chủ yếu vào “thu” (thu đủ – chi đủ; lấy thu bù chi). Đây là hạt nhân của hệ thống ngân sách “mềm”. Nó tạo thành cơ sở của tình trạng chi tràn lan, chi bình quân, nhà nước không kiểm soát được chi.   Trong điều kiện kinh tế thị trường, phải dứt khoát từ bỏ cách tư duy này để chuyển sang nguyên tắc xuất phát từ “chi” để điều chỉnh hoạt động ngân sách. Xuất phát từ “chi”, về thực chất là dựa vào công việc, vào chức năng đảm nhiệm để trả tiền. Nhờ đó, kiểm soát được chi. Đây là bản chất của cái gọi là “hệ thống ngân sách cứng”. Nếu triệt để với cách đặt vấn đề này thì có cơ sở để xác định đúng những giải pháp căn bản để giải quyết vấn đề cân bằng và bội chi ngân sách.         Trần Đình Thiên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất siêu chưa hẳn là điều đáng mừng      Cán cân thương mại Việt Nam – Mỹ với phần thặng dư về phía Việt Nam những năm qua thoạt nhìn có vẻ như một tín hiệu tốt cho Việt Nam, góp phần bù đắp phần nhập siêu mà Việt Nam đang phải gánh trong quan hệ thương mại với một số quốc gia khác, đồng thời giúp duy trì tăng trưởng GDP khá cao so với mặt bằng chung trên thế giới. Tuy nhiên điều này cũng cho thấy những vấn đề tồn tại mang tính lâu dài.      Ảnh: Tạp chí Công thương.   Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2019, thương mại hàng hóa Việt Nam – Mỹ đã tăng gấp 4,2 lần, từ mức tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 18 tỷ USD ghi nhận trong năm 2010 lên mức 76 tỷ USD trong năm 2018. Tính toán cho thấy tốc độ tăng xuất nhập khẩu của Việt Nam đi Mỹ  bình quân trong giai đoạn 2010 – 2019 đạt 17,6%/năm, tăng từ mức 14,24 tỷ USD của năm 2010 lên 61,3 tỷ USD của năm 2019. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Mỹ của Việt Nam năm 2019 tăng 25,6% so với 2018.  Xem xét tình hình xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và một số thị trường lớn cho thấy quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Mỹ và Việt Nam – EU có thặng dư, các nước khác như Trung Quốc , Hàn Quốc, ASEAN thặng dư thương mại là âm. Đối với Mỹ thặng dư thương mại đến năm 2019 là gần 47 tỷ USD, thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ tăng bình quân trong giai đoạn 2010 – 2019 là 18,2%, xuất siêu riêng năm 2019 tăng 35,1%. so với năm 2018. Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc và Hàn Quốc, Việt Nam luôn có thặng dư thương mại âm, bình quân từ 2010 – 2019 Việt Nam tăng nhập siêu từ Trung Quốc và Hàn Quốc tướng ứng là 12% và 17%; năm 2019 tăng trưởng về nhập siêu giữa Việt Nam và Trung Quốc so với 2018 là 41%; năm 2010 nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc là 12,5 tỷ USD, thì năm 2019 nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc là 34,1 tỷ USD tăng 2,7 lần. Như vậy nếu không có khoản thặng dư thương mại với Mỹ thì GDP của Việt Nam có thể không đạt mức cao như trong những năm vừa qua.    Xuất nhập khẩu Việt Nam và một số nước. Đơn vị: Triệu đồng.   Nguồn: TCTK https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=720  Bảng dưới cho thấy tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đi Mỹ chiếm trong tổng xuất khẩu hàng hóa tăng 3,51 điểm phần trăm, từ 19,71% năm 2010 lên 23,22% trong năm 2019; trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ trong tổng nhập khẩu hàng hóa chỉ tăng 1,23 điểm phần trăm.   Tuy nhiên, theo số liệu thống kê trong Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại của Cơ quan Thống kê Liên Hợp quốc (UNCOMTRADE), Việt Nam chỉ là quốc gia xếp thứ 31 về nhận xuất khẩu từ Mỹ và hàng hóa xuất khẩu sang Việt Nam chỉ chiếm 0,5% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Mỹ. Cũng theo nguồn số liệu này, ở chiều ngược lại Việt Nam xếp vị trí thứ 12, chiếm tỷ trọng 2% trong tổng trị giá nhập khẩu vào Mỹ.    Tỷ trong xuất nhập khẩu với Mỹ và Trung Quốc (%). Nguồn: TCTK  Ai thực sự hưởng lợi từ thặng dư thương mại với Mỹ?  Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan năm 2018, hàng dệt may là nhóm mặt hàng có trị giá xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang thị trường Mỹ chiếm 29% trong tổng xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, các nhóm mặt hàng lớn tiếp theo: giày dép các loại chiêm 12% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, điện thoại các loại và linh kiện 12%; gỗ và sản phẩm gỗ  chiếm 8%; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng chiếm 7%… Năm 2019, theo trang UStradenumber, nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào Mỹ là điện thoại di động, thiết bị liên quan; nội thất và các cấu kiện; giày thể thao, giày dệt khác; đồ gỗ và chip máy tính –– chiếm 34,91% trong tổng số.  Rất khó tìm kiếm số liệu về xuất khẩu theo thành phần sở hữu, tuy nhiên theo số liệu tổng quát cho thấy với những sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam đi Mỹ như trên có thể thấy xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ cơ bản của khu vực FDI. So sánh số liệu trên website của Tổng cục Thống kê cho thấy xuất siêu của khu vực FDI thường đi đôi với việc chi trả sở hữu thuần (luồng tiền chảy ra nước ngoài) trong năm kế tiếp thường rất cao và tình hình này ngày một trầm trọng, mấy năm gần đây luồng tiền chảy ra nước ngoài cũng tương đương với con số xuất siêu của khu vực FDI.   Do đó việc thặng dư thương mại dương giữa Việt Nam với Mỹ về thực chất Việt Nam không được hưởng lợi nhiều. Việc xuất siêu thông qua chủ yếu từ khu vực FDI không làm tăng nội lực của nền kinh tế Việt Nam, thậm chí càng xuất siêu nội lực của nền kinh tế có thể càng bị bào mòn. Thặng dư thương mại về hàng hóa dương dựa vào FDI chỉ có tác dụng tô vẽ thành tích ảo qua chỉ tiêu ít ý nghĩa GDP, nhưng nội lực thực sự của nền kinh tế trong dài hạn thông qua chỉ tiêu tiết kiệm ngày càng bị thu hẹp. Tiết kiệm là nguồn cơ bản để tái đầu tư, vì vậy nếu tiết kiêm của nền kinh tế bị bào mòn thì để đầu tư cho chu kỳ sản xuất sau chúng ta lại phải đi vay khiến nợ công và nợ của nền kinh tế lại tăng lên.      Nội lực thực sự của nền kinh tế trong dài hạn thông qua chỉ tiêu tiết kiệm ngày càng bị thu hẹp.        Tiết kiệm, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP  Tính toán từ bảng cân đối liên ngành của Việt Nam cho thấy những sản phẩm xuất khẩu sang Mỹ lan tỏa đến giá trị tăng thêm thấp nhất trong các nhóm ngành kinh tế, nhưng lại lan tỏa đến nhập khẩu rất lớn. Đối với các ngành hàng điện tử, máy tính, điện thoại và linh kiện của chúng, trong 100 USD thu từ xuất khẩu chỉ tạo ra 27 USD giá trị tăng thêm và 14 USD đến thu nhập của người lao động trong nước. Còn đối với sản phẩm dệt may, giầy da xuất khẩu, trong 100 USD thu từ xuất khẩu chỉ tạo ra 31 USD giá trị tăng thêm và 18 USD thu nhập của người lao động trong nước.  Đây là lý do chúng ta không nên chỉ say mê chạy theo những thành tích bề nổi như xuất khẩu hay GDP. Việc xuất siêu vào Mỹ và một số nước khác trên thực tế không mang lại nhiều lợi ích cho người dân và nền kinh tế Việt Nam. Lợi ích phần lớn rơi vào các nước chủ sở hữu các doanh nghiệp FDI và các nước xuất khẩu yếu tố đầu vào cho sản xuất tại Việt Nam.      Lợi ích phần lớn rơi vào các nước chủ sở hữu các doanh nghiệp FDI và các nước xuất khẩu yếu tố đầu vào cho sản xuất tại Việt Nam.      Để tăng “hàm lượng Việt Nam” trong chuỗi giá trị xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ và các quốc gia khác, Việt Nam không thể chỉ hô khẩu hiệu mà cần thay đổi thực chất về cấu trúc đầu vào. Điều này đồng nghĩa với thúc đẩy khu vực trong nước phát triển sản phẩm phụ trợ thay vì chú trọng ưu đãi các doanh nghiệp FDI mang năng tính gia công, lắp ráp để đạt được những chỉ số GDP hào nhoáng trước mắt nhưng không bền vững về lâu dài. Đến lúc nào đó Việt Nam sẽ không còn hoan hỷ với việc có thể thay thế Trung Quốc thành công xưởng của thế giới. Cấu trúc kinh tế cùng sự thiên lệch trong việc ưu tiên các doanh nghiệp FDI xuất khẩu theo cách hiện nay không mang lại nhiều giá trị tăng thêm, thậm chí còn làm hao mòn nguồn lực trong nước.  Tài liệu tham khảo  https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=720  https://www.imf.org/en/Countries/VNM  https://www.customs.gov.vn/Lists/TinHoatDong/ViewDetails.aspx?List=d46d405b%2D6620%2D4748%2Daee7%2D07b0233fdae6&ID=28392&Web=c00daeed%2D988b%2D468d%2Db27c%2D717ca31ae3ff  https://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:Lt-BXGQ3zF8J:https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-53915790+&cd=1&hl=en&ct=clnk&gl=vn  https://www.ustradenumbers.com/country/vietnam/  Bui Trinh “Supply Size in Exports: Expansion Input-Output Analysis Approach” International Journal of Economics and Financial Research,Volume 6 Number 8 August 2020  Bùi Trinh “Thấy gì qua đột biến xuất siêu?” Bizlive, 08/2020    Author                Bùi Trinh        
__label__tiasang Ý KIẾN CHUYÊN GIA      Gần đây sau nhiều cuộc tọa đàm giữa Lãnh đạo Bộ và nhiều nhà khoa học có uy tín về biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản, đã đi đến một ý kiến chung là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm. Nhưng theo Điều 5 của Qui định đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản của Bộ KH&amp;CN vừa ban hành, kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện bằng các công trình (bài báo, báo cáo khoa học…) đã công bố hoặc đã được nhận đăng (có giấy nhận đăng của Ban biên tập tạp chí, của Ban tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, của nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật) ngoài nước và trong nước.  Như vậy, Qui định này đồng nghĩa với việc cho rằng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên không nhất thiết phải công bố quốc tế.    Không công bố quốc tế không làm  Nhất thiết mọi thành tựu nghiên cứu cơ bản phải được đánh giá qua công bố quốc tế? Phải chăng trong hoàn cảnh VN đòi hỏi này không thực tế?  Nhưng nếu trong một ngành khoa học có tính quốc tế như các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, y học…,  mà không dựa vào các chuẩn mực quốc tế để đo lường từng bước thành tựu của mình thì căn cứ vào đâu so sánh ta với thế giới, làm sao biết được ta tụt hậu, tụt hậu đến đâu và cần làm gì để gỡ sự chậm trễ? Gần mười năm trước Chính phủ ta đã từng mời một đoàn chuyên gia Canada sang ta khảo sát và góp ý kiến về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ. Đoàn khảo sát đã để lại một bản báo cáo và kiến nghị khá chi tiết và theo tôi có nhiều gợi ý tốt, lúc bấy giờ đã được các quan chức Bộ KH&CN đánh giá cao. Một trong các khuyến cáo trong bản kiến nghị ấy là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm. Theo tôi đó là một lời khuyên chí lý, nhưng hình như cả lời khuyên đó và bản kiến nghị đối với chúng ta đều chẳng có tác dụng gì. Trong khi đó có nhiều ngành khoa học của ta hằng năm vẫn được cấp những khoản kinh phí không nhỏ về nghiên cứu cơ bản, nhưng rất ít có công trình được công bố trên quốc tế. Có phải là do nghiên cứu cơ bản trong các ngành đó không cần công bố trên quốc tế hay do có nhiều nghiên cứu được kể là nghiên cứu cơ bản một cách gượng ép?  GS Hoàng Tụy  Tôi cho rằng đã là nghiên cứu cơ bản thì bất kỳ lĩnh vực nào cũng phải có công bố quốc tế mới được tài trợ bởi Nhà nước (Quỹ KHCN). Còn những nghiên cứu không có công bố quốc tế thì tùy cơ sở (Viện, Trường hoặc Bộ) tài trợ trong khuôn khổ kinh phí của cơ sở đó. Còn với những nghiên cứu ứng dụng thì Nhà nước chỉ nên tài trợ cho một phần, phần chủ yếu còn lại thì cho vay ưu đãi có thời hạn tùy mức độ quan trọng của nó đối với xã hội.  PGS.TS. Nguyễn Quốc Khánh-ĐHQG TP.Hồ Chí Minh  Rất tiếc rằng cho đến hiện nay nhiều khi các công bố quốc tế trên những ấn phẩm có uy tín gần như bị đánh đồng với các công bố trong nước, đặc biệt là các công bố trong các ấn phẩm dạng như tập san khoa học của một số cơ quan giáo dục, nghiên cứu hay quản lý. Thực trạng này dẫn đến việc đánh giá “đồng thau lẫn lộn” trong khoa học. Ví dụ: trong hồ sơ đăng ký chức danh PGS hay GS mỗi công bố trên các ấn phẩm quốc tế chỉ được chấm điểm tối đa (1 điểm) giống như hoặc cao hơn không đáng kể so với công bố trong nước (chưa kể còn bị chia đều theo số lượng đồng tác giả) do đó xảy ra tình trạng có người có hàng chục công bố quốc tế có uy tín nhưng không được phong PGS hoặc GS trong khi đó có người chỉ với “hành trang” chủ yếu là những bài đăng tại tạp chí trong nước, thậm chí là trong các tuyển tập hội nghị hay tập san chất lượng đáng ngờ, thì được nhận hàm PGS hoặc GS.    TS. Nguyễn Anh Kỳ-Viện Vật lý và Điện tử    Không ít các cán bộ khoa học có đủ mọi bằng cấp và chức danh ở ta thường tìm mọi cách lảng tránh các chuẩn mực khoa học nghiêm túc và khách quan với ngụy biện rằng chúng ta mới qua chiến tranh, còn nghèo, cần phải từ từ, rằng họ thực hiện các đề tài nghiên cứu định hướng “ứng dụng” không đòi hỏi phải có công bố quốc tế như các nghiên cứu “lý thuyết”? Lập luận đó vẫn cứ lặp đi lặp lại trong nhiều năm, bất chấp những thay đổi diễn ra thời gian qua, kể cả khi chúng ta đã bước vào tiến trình hội nhập và kinh phí nhà nước đầu tư cho KH&CN được tăng mạnh nhờ có sự tăng trưởng của nền kinh tế.  Nếu họ làm ứng dụng thực sự phục vụ thực tế thì họ phải thu được kinh phí trực tiếp từ các cơ sở sản xuất và thị trường, và nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ về mặt hành chính và pháp lý, kể cả có thể xét cho vay vốn ưu đãi. Còn đã là thực hiện đề tài nghiên cúu, nghĩa là hưởng kinh phí bao cấp từ nhà nước, thì họ phải chịu các đòi hỏi nghiêm ngặt và khách quan về chuẩn mực khoa học cho các kết quả nhận được thể hiện bằng việc công bố quốc tế (không phải chỉ là một báo cáo tổng kết để xếp tủ, hay áp dụng hình thức, không hiệu quả), và qua đó giúp nâng cao được cái nền của KH&CN nước nhà.  TS. Phạm Đức Chính – Viện Cơ học    Nói ra không biết có to tát hay không, nhưng tôi nghĩ rằng một trong những nhiệm vụ của nhà khoa học là nâng cao sự hiện diện, và qua đó, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế qua nghiên cứu khoa học; do đó viện dẫn một lý do không thuyết phục nào đó để nói rằng không cần công bố quốc tế thì vô hình chung nhà khoa học trở nên vô trách nhiệm với nước nhà.  GS Nguyễn Văn Tuấn- Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia    Người nghiên cứu khoa học mà không có công bố quốc tế cũng ví như người công nhân đi làm mà không có sản phẩm, người nông dân gieo lúa mà không thu hoạch được…  Tôi không ngờ rằng ở Việt Nam ta, trong giai đoạn mở cửa, hòa nhập mà vẫn có người cho rằng nghiên cứu khoa học không nhất thiết phải công bố quốc tế.  GS.TS Nguyễn Bá Ân- Viện Vật lý và điện tử    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý kiến của độc giả quen thuộc      Là bạn đọc thường xuyên của Tia Sáng, tôi thấy về nội dung, Tia Sáng đã thể hiện đậm nét “Một góc nhìn của trí thức”. Từ “Diễn đàn”, “Khoa học” đến “Văn hóa nghệ thuật”, mục nào cũng có những bài rất mới mẻ trong ý tưởng, thể hiện sâu sắc tâm huyết của tác giả đối với Đảng, đối với đất nước và sự nghiệp khoa học công nghệ của nước nhà. Về hình thức trình bày, thường chỉ có một màu đen, thêm một ít màu rời chạy philê mà rất sang, rất hiện đại.    Chỉ có điều, những thông tin khoa học công nghệ và nhiều lĩnh vực khác ở các địa phương hầu như vắng bóng trên Tia Sáng. Theo tôi, đó cũng là một “điểm yếu” của Tia Sáng.    Huỳnh Phước – Phó Giám đốc phụ trách Sở Khoa học và Công nghệ TP Đà Nẵng            Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý kiến của Lê Đăng Doanh      Tia Sáng 15 tuổi, một mốc đáng ghi nhớ của một tiếng nói dũng cảm, trung thực, luôn nặng với đất nước.    Mười năm năm qua trước sức ép nhiều phía, cả vật chất lẫn tinh thần, Tia Sáng vẫn không muốn tự đánh mất mình bằng cách đi vào con đường thương mại hóa, đáp ứng những thị hiếu tầm thường và thói xu thời, tâng bốc rẻ tiền. Tia Sáng tiếp tục tự trung thành với tôn chỉ, mục đích của chính mình đặt ra từ đầu là một diễn đàn rộng mở của trí thức trong nước và ngoài nước, thuộc tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật nhằm đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước và chấn hưng dân tộc. Và dù Tia Sáng luôn thăm dò giới hạn của nghệ thuật có thể trong một cuộc chơi không rõ luật chơi, Tia Sáng đã không ít lần tự làm khó cho mình: chịu nhắc nhở, quở trách về những điều được gọi là “quá đà”, để mỗi số của Tia Sáng là một sự gửi gắm của biết bao nỗi niềm giữa hai hàng chữ. Những điều đã viết ra và được in và những điều chưa được nói ra mà người đọc tinh tế sẽ hiểu ra những điều cần phải hướng tới.  Tia Sáng đã được đọc ở trong Nam và ngoài Bắc và Tia Sáng được truyền tay nhau đọc ở nước ngoài.  Tia Sáng chịu ơn biết bao nhiêu bạn bè, độc giả đã góp bài, phê phán, nhắc nhở, động viên  một cách chân thành, giúp đỡ nhiều mặt để tồn tại được đến nay.  Nhưng thế giới đang thay đổi nhanh chóng, đất nước đang đứng trước những vận hội và thách thức to lớn, người đọc đang đề ra những yêu cầu ngày càng cao hơn và mong đợi ở Tia Sáng ngày càng có chất lượng hơn.  TS Lê Đăng Doanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý thức xã hội: ý thức của cá nhân công dân      Ý thức xã hội được hiểu là nhận thức của một công dân điển hình về sự cần thiết của việc cư xử đúng mực trong quan hệ xã hội. Sự đúng mực trong cư xử được đánh giá dựa vào một hệ thống chuẩn mực khách quan, được xã hội thiết lập để chi phối thái độ sống của các thành viên, nhằm bảo đảm cho các quan hệ xã hội diễn ra trong vòng trật tự.         Sự thiết lập hệ thống chuẩn mực cư xử là một quá trình và đó đồng thời cũng là quá trình hoàn thiện ý thức xã hội. Có hai yếu tố, đúng hơn là hai điều kiện tối cần thiết cho sự chuyển động bình thường của quá trình này.        Yếu tố thứ nhất là năng lực chủ thể của cá nhân. Xã hội dân sự là tập hợp có tổ chức của các cá nhân-công dân. Mỗi cá nhân có các yếu tố tạo thành lý lịch dân sự của riêng mình (tên, tuổi, nơi sinh, nơi ở,  học vấn, sự nghiệp,…), để được phân biệt với cá nhân khác. Không giống như người nô lệ thuở xưa, cá nhân không phải là công cụ được cá nhân khác hoặc chủ thể khác sử dụng để thể hiện thái độ ứng xử xã hội của họ. Một khi trưởng thành, cá nhân ứng xử trong giao tiếp xã hội theo sự điều khiển của những suy nghĩ hình thành trong nội tâm và là tác giả của hành vi do mình thực hiện. Làm theo ý mình, cá nhân tự chịu trách nhiệm về những hành vi của mình.         Yếu tố thứ hai là sự tự do của cá nhân. Một cách tự nhiên, cá nhân muốn có tất cả và có thiên hướng làm tất cả những gì có thể để đạt được điều mong muốn. Được thừa nhận là con người tự do, cá nhân, trên nguyên tắc, có quyền làm bất kỳ điều gì mình thích và nghĩ ra. Tuy nhiên, sống trong xã hội, cá nhân không phải là phần tử duy nhất: xã hội có nhiều cá nhân và mỗi cá nhân, với tư cách là công dân, có quyền thụ hưởng tự do ngang nhau. Sự va chạm không thể tránh giữa các cá nhân trong quá trình thực hiện quyền tự do giúp cho cá nhân nhận thức được rằng do mỗi cá nhân có quyền tự do của riêng mình mà cá nhân phải tôn trọng quyền tự do của cá nhân khác. Nhận thức đó là cơ sở của việc cá nhân chủ động điều chỉnh các mong muốn, theo hướng dung hòa giữa một bên, là những đòi hỏi có nguồn gốc từ bản năng mưu cầu lợi ích của cá nhân và bên kia, là những đòi hỏi của xã hội đối với việc cá nhân tôn trọng lợi ích của người khác và lợi ích chung.   Một khi các kết quả điều chỉnh mong muốn của các cá nhân trở nên tương đồng, thì chuẩn mực cư xử cũng ra đời. Có thể coi chuẩn mực cư xử là sự giới hạn xã hội mang tính ngoại lệ đối với tự do cá nhân. Sự giới hạn đó cần thiết để cá nhân có thể thụ hưởng tự do trong chừng mực hợp lý, cũng như để tất cả các cá nhân có thể cùng sống và hưởng tự do một cách hòa thuận trong ngôi nhà chung. Trên nguyên tắc, cá nhân có quyền tự do mặc hoặc không mặc quần áo; một cách ngoại lệ, cá nhân phải mặc quần áo khi bước ra đường phố, bởi đó là quy ước xã hội về nếp sống văn minh.     Ở Việt Nam, xã hội được tổ chức thành các nhóm (gia đình, nhà trường, cơ quan) và cá nhân trước hết là thành viên của nhóm; cá nhân không gắn với một nhóm nào có nguy cơ bị đặt bên lề hoặc ít nhất phải mang tư cách thành viên không hoàn hảo của xã hội. Các nhóm được liên kết theo mô hình quan hệ hành chính công, nghĩa là bất kỳ nhóm nào cũng được một thiết chế nào đó, đại diện cho nhà chức trách, thực hiện chức năng quản lý đối với mình.     Sống trong nhóm, cá nhân ứng xử theo sự dẫn dắt của nhóm. Về phần mình, nhóm tiếp nhận sự định hướng ứng xử của các thiết chế công quyền. Các khuôn mẫu ứng xử không hình thành từ sự gặp gỡ ý chí của các cá nhân, mà được nhà chức trách chủ động tạo ra và giới thiệu cho xã hội thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Có hai hệ quả phát sinh từ cơ chế xây dựng chuẩn mực ngược đời đó.   Hệ quả thứ nhất là khuôn mẫu ứng xử được cá nhân tiếp nhận như những ràng buộc có nguồn gốc từ bên ngoài, của quyền lực công, chứ không phải như những quy ước xã hội, mang ý nghĩa kết quả của quá trình tự hoàn thiện ứng xử của chủ thể quan hệ xã hội. Không coi khuôn mẫu ứng xử là của mình, cá nhân, nếu có tôn trọng khuôn mẫu đó, thường chỉ tôn trọng với thái độ thích nghi, đối phó, cam chịu, chấp nhận để tồn tại, hơn là do với sự thôi thúc của tinh thần tự giác.   Hệ quả thứ hai là luôn có những tình huống trong cuộc sống mà nhà chức trách không dự kiến để can thiệp, có thể do nghĩ không ra hoặc do sự việc trong tình huống, về bản chất, là phi pháp lý. Khi đó, cá nhân ứng xử theo ý mình, một cách tự phát. Trong điều kiện cá nhân không có năng lực chủ thể đầy đủ, hành vi tự phát của cá nhân thường chỉ được thực hiện trong vòng trật tự khi cá nhân ứng xử trong khuôn khổ nhóm; các hành vi tự phát đơn lẻ tỏ ra tuỳ tiện, vô tổ chức. Chẳng hạn, khi lưu thông trên đường phố, người lái xe “cá thể’ luôn tìm cách luồn lách để vượt lên trước các “cá thể” lái xe khác; nhưng cũng con người đó, khi tham gia đoàn đưa đám ma hoặc rước đám cưới, sẽ di chuyển theo hàng lối, sau xe tang hoặc xe rước dâu, một cách ngoan ngoãn và lịch sự.    Mặt khác, được sự bảo bọc, che chở của nhóm, cá nhân tin tưởng vào sức mạnh của nhóm và tự tin ứng xử một khi được các thành viên của nhóm cổ vũ hoặc cùng làm theo. Bởi vậy, khi có “nhu cầu” làm gì đó trái luật, nói chung là ngoài khuôn mẫu, mà không muốn bị chế tài hoặc bị lôi thôi với nhà chức trách hoặc công luận, cá nhân có xu hướng dựa dẫm, lôi kéo tập thể đứng về phía mình, đi theo mình. Có thể tìm thấy trong cuộc sống dân sự ở Việt Nam những đoàn đưa đám ma hoặc rước đám cưới, thậm chí cả đoàn diễu hành vận động tôn trọng luật lệ giao thông… vượt đèn đỏ (!?), trông rất “ngoạn mục”; các thành viên trong đoàn, khi thực hiện hành vi đó, thường có thái độ đĩnh đạc, ung dung, thái độ mà họ không dám có trong trường hợp vi phạm luật giao thông một cách đơn lẻ.   Cần thừa nhận năng lực chủ thể của cá nhân và trang bị cho cá nhân-chủ thể nhận thức xã hội về tự do. Cần tạo điều kiện cho cá nhân chủ động ứng xử trong quan hệ xã hội dưới sự điều khiển của nhận thức đó và buộc từng cá nhân chịu trách nhiệm đầy đủ về hành vi của mình. Khi đó, ý thức xã hội mới có môi trường thuận lợi để hình thành, phát triển và  trở thành chỗ dựa của trật tự xã hội.        ———-  * TS, Khoa Luật, ĐH Cần Thơ      Nguyễn Ngọc Điện*    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý tưởng nung nấu 20 năm      Tóm tắt kỳ I: Liên Xô và Phần Lan, hai nước hoàn toàn đối nghịch nhau về mọi mặt lại tìm ra cách hợp tác khoa học nhờ mối quan tâm chung với tàu phá băng hạt nhân trong thời kì Chiến tranh Lạnh. Nhưng từ dự định đến một dự án ngoài đời thực là cả một chặng đường dài.      Mô hình tàu phá băng hạt nhân Lenin thu hút sự chú ý của khách tham quan tại triển lãm công nghiệp Liên Xô tại Helsinki năm 1959 (Ảnh của Väinö Kannisto, 1959, được Helsinki City Museum cho phép, giấy phép CC BY 4.0.)  Cặp đôi trời sinh  Việc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) được thành lập năm 1957 đã tạo điều kiện cho Phần Lan được sở hữu các lò phản ứng nghiên cứu và giúp các kỹ sư của nước này có cơ hội mà họ đã chờ đợi từ rất lâu được thỏa mãn cơn khát tri thức hạt nhân. Khi Đại học Công nghệ Helsinki bắt đầu mở các khóa học về vật lý hạt nhân năm 1959, một trong những sinh viên đầu tiên là Christian Landtman, nhà quản lý công nghệ trẻ tuổi đến từ một xưởng đóng tàu của thủ đô Helsinki. Kinh ngạc trước những kiến thức toán học và vật lý lý thuyết, anh chàng kỹ sư cơ khí thực hành còn có thêm cảm hứng từ các giờ bài tập ở phòng thí nghiệm và trở nên tin tưởng về khả năng ứng dụng thực tế của vật lý hạt nhân. Năm 1958, báo giới Phần Lan bắt đầu loan tin về sự ra đời của con tàu phá băng có động cơ hạt nhân Lenin của Liên Xô, gần như trùng với đúng dịp năng lượng hạt nhân bắt đầu được nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học Phần Lan, còn Wärtsilä bắt đầu có được hợp đồng đầu tiên trong mảng kinh doanh công nghệ vùng cực tại thị trường Liên Xô. Landtman và các kỹ sư đóng tàu trẻ tuổi khác ở xưởng đóng tàu của họ ở Helsinki đã hết sức ấn tượng bởi công nghệ cho những chiếc tàu phá băng vùng Cực chạy bằng năng lượng hạt nhân. Khi so sánh với những động cơ chạy dầu diesel với công suất 22.000 mã lực trụ (shp) trên tàu lớp Moskva, thì các lò phản ứng trên tàu Lenin có thể cung cấp gấp đôi công suất này cho một năm chạy liên tục của tàu. Mỗi ngày tàu lớp Moskva tiêu thụ tới 110 tấn dầu diesel – khối lượng nhiên liệu khiến tàu trở nên vô dụng trong điều kiện khắc nghiệt của các vùng biển hẻo lánh nhất trên Bắc Băng Dương nơi cảng biển là hết sức thưa thớt. Khả năng vận hành dài ngày của các lò phản ứng hạt nhân, và khối lượng nhẹ của nhiên liệu hạt nhân giúp cho Lenin có thể chống chịu được với điều kiện của vùng Cực, và vỏ tàu vốn đã được gia cố của các tàu phá băng vùng Cực hoàn toàn có thể bảo vệ được các lò phản ứng.  Sau khi hoàn thành khóa nhập môn về vật lý hạt nhân, Landtman đã đến thăm các địa điểm đóng tàu phá băng và tàu chở hàng chạy động cơ hạt nhân Savannah của Hoa Kỳ khi đó vốn đang mở rộng cửa để quảng bá cho các nhà đóng tàu nước ngoài. Năng lực kỹ thuật của Hoa Kỳ khiến người kỹ sư Phần Lan cảm thấy ấn tượng nhưng chỉ ở mức độ vừa phải, bởi trong giai đoạn khi chủ nghĩa lạc quan đang thống trị giới kỹ thuật này, tàu phá băng hạt nhân rõ ràng là một công nghệ khả thi trong con mắt đầy tham vọng của Landtman và các kỹ sư đồng nghiệp vốn cũng chung niềm tin vào công nghệ của tương lai này.      Sức quyến rũ của năng lượng hạt nhân đã giúp ý tưởng của dự án sống sót suốt hai thập niên cho tới ngày hợp đồng đầu tiên được ký kết      Tàu phá băng trên giấy  Dưới sự lãnh đạo của Landtman, Wärtsilä phát triển thêm năng lực thiết kế và thành lập một văn phòng thiết kế với nhiều kỹ sư lành nghề, nhất là trong việc thiết kế các loại tàu đặc biệt theo đơn đặt hàng. Bước sang thập niên 1960, văn phòng thiết kế của Wärtsilä đã cho ra đời bản vẽ phác thảo một tàu phá băng hạt nhân có công suất 50.000 mã lực trụ. Trong một bài giới thiệu trước các nhà đóng tàu Đức vào năm 1961, Landtman đã mô tả lại cách thức Wärtsilä lắp đặt thân tàu phá băng Moskva dưới dạng một bản lai của loại lò phản ứng sử dụng trên các tàu hạt nhân Savannah và Lenin. Ông tự tin cho rằng công ty của mình không gặp bất cứ vấn đề gì với các hạn chế về không gian hoặc trọng lượng.  Tuy nhiên, bất cứ ai quen thuộc với việc điều khiển tàu trên biển giữa mùa đông Phần Lan đều có thể nhận ra rằng một thùng tàu vững chắc và đắt đỏ sẽ là một thiết kế thừa thãi cho điều kiện băng giá ở vùng biển Baltic. Khách hàng tiềm năng duy nhất cho một tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân như vậy là Liên Xô. Trước đó không lâu Tổng thống Mỹ Eisenhower đã huỷ bỏ kế hoạch phát triển tàu phá băng hạt nhân nội địa của Hoa Kỳ vì giá thành cao và mức độ ưu tiên thấp. Còn các quốc gia tiếp giáp Bắc Cực khác lại không thực sự có quá nhiều hoạt động hàng hải ở khu vực này và rõ ràng không cần tới sự phục vụ của một tàu phá băng hạt nhân với công suất lớn.  Tại Moskva năm 1961, lãnh đạo cấp cao của hãng Wärtsilä đã trình bày dự án tàu phá băng của họ cho đầu mối liên hệ tại Morflot hay Bộ hàng hải thương mại Liên Xô – cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc vận hành hạm đội Bắc Cực của nước này. Mặc dù Morflot tỏ ra quan tâm tới dự án của Wärtsilä, tất cả đều nhận thấy rằng đề xuất này của công ty Phần Lan là rất khác biệt và chắc chắn sẽ là một dự án đắt đỏ. Một dự án như vậy chỉ có thể thay thế được cho các đơn hàng đặt đóng tàu truyền thống khác của nền kinh tế kế hoạch tập trung Liên Xô nếu nó có giá trị về mặt chính trị. Chỉ chạy bằng năng lượng hạt nhân và có khả năng phá băng là không thể đủ.    Hình 2: Tàu phá băng hạt nhân Taymyr (trái) và Vaygach (phải) được thiết kế với khả năng di chuyển ở vùng nước nông gần bờ, nhưng vẫn có khả năng phá vỡ các lớp băng dày nhiều năm ở Bắc Băng Dương. (Ảnh của Aker Arctic.)  Không hề có kinh nghiệm thực tế trong chế tạo động cơ đẩy sử dụng năng lượng hạt nhân, công ty Phần Lan chẳng thể hứa hẹn điều gì mới cho đối tác Liên Xô trong khi xưởng đóng tàu Baltic tại thành phố Liên Xô Leningrad đã chứng minh được năng lực chế tạo nội địa thông qua việc đóng thành công tàu Lenin có khả năng vận hành trong điều kiện vùng Cực. Tuy vậy, lợi thế riêng của Wärtsilä đó là họ có thể cung cấp một kênh nhập khẩu công nghệ từ phương Tây cho Liên Xô. Bởi vậy mà các nhà hoạch định chiến lược ngoại thương của Liên Xô đã ngỏ ý sẽ cân nhắc việc đặt hàng một chiếc tàu phá băng hạt nhân, với điều kiện là tàu sẽ được lắp đặt một lò phản ứng với công nghệ phương Tây. Hệ thống lò phản ứng gốc của tàu Lenin đã gặp trục trặc trong hoạt động và bị coi là đã gây ra một số sự cố.  Việc chuyển giao công nghệ từ Tây sang Đông trước đó đã được Liên Xô tận dụng để hiện đại hóa nền kinh tế của họ trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, và họ tiếp tục đề cao vai trò của chuyển giao công nghệ trong các chính sách kinh tế thập niên 1960 của nước này. Trong cuộc tranh đấu về ý thức hệ cho tương lai thế giới, Liên Xô cho rằng cần phải thực dụng trong việc tận dụng các lợi thế của tiến bộ công nghệ tư bản chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội.  Sau khi nhận được đề nghị từ phía Liên Xô, ban lãnh đạo của công ty đóng tàu Phần Lan đã gửi đề nghị hợp tác tới tất cả các nhà cung cấp động cơ đẩy sử dụng năng lượng hạt nhân dùng cho tàu thủy ở phương Tây. Nếu như các công ty Hoa Kỳ và Tây Đức từ chối thẳng việc bán công nghệ hạt nhân cho Wärtsilä vì sợ công nghệ nhạy cảm này sẽ rơi vào tay Liên Xô, thì các quốc gia châu Âu khác như Anh, Thụy Điển, và Pháp lại có phản hồi tích cực với ý tưởng hợp tác này. Các nhà chế tạo lò phản ứng của Anh và Thụy Điển sau đó từ bỏ cuộc cạnh tranh đến thị trường mới, phần lớn vì bên mua chủ yếu ưu tiên mức độ ổn định và tin cậy của lò phản ứng nhưng lại không muốn trả phần chi phí nghiên cứu – triển khai còn lại vốn rất cần thiết để hoàn thiện công nghệ trước khi sản xuất. Do vậy, Pháp trở thành ứng cử viên cung cấp công nghệ duy nhất cho dự án này. Landtman được mời tham gia đoàn của ủy ban cố vấn năng lượng nguyên tử Phần Lan tới làm việc tại Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp năm 1965 – một chỉ dấu cho thấy mức độ ưu tiên rất lớn về mặt chính trị của dự án này.  Tại Pháp, đề nghị được đặt mua một lò phản ứng dùng trên tàu thủy của Landtman và các đại diện của Wärtsilä được đối tác Pháp tiếp nhận một cách tích cực. Tuy nhiên, trong khi người Pháp vẫn còn đang cân nhắc câu trả lời của họ, thì Liên Xô đã từ bỏ ý tưởng ban đầu về việc nhập ngoại lò phản ứng mà thay vào đó quyết định sử dụng sản phẩm nội địa cho hạm đội hạt nhân của quốc gia này. Đồng thời, họ cũng chính thức công bố dự án đóng tàu phá băng hạt nhân 100% nội địa. Dự án có tên lớp Arktika có động cơ với công suất lên tới 70.000 mã lực trụ (shp) trong khi thiết kế của phía Phần Lan chỉ có công suất 50.000 shp. Bất chấp thất bại bước đầu trong dự án tàu phá băng hạt nhân tham vọng, Wärtsilä vẫn tiếp tục bận rộn với các đơn hàng từ Liên Xô, bao gồm bảy tàu phá băng vùng Cực và năm tàu phá băng loại nhỏ dùng cho các cảng và sông nhỏ, tất cả đều chạy bằng động cơ thông thường.    Đồng 5 Mark của Phần Lan, đơn vị tiền tệ (bằng xu) lớn nhất nước này có in hình những con tàu phá băng của nước này, phá bỏ suy nghĩ Phần Lan chỉ là một đất nước nông nghiệp và cảnh tự nhiên nên thơ.  Nhưng hy vọng vẫn còn cho dự án tàu phá băng hạt nhân của Phần Lan. Năm 1970, một tuần san của Phần Lan đăng tải một câu chuyện trên trang nhất về Landtman, trong đó Landtman chia sẻ với phóng viên rằng dự án tàu phá băng hạt nhân của Wärtsilä phải tạm ngừng vì thiếu lò phản ứng, mà không hề nhắc tới việc dự án đó còn cần một thân tàu, các kế hoạch chi tiết, và một bản hợp đồng chính thức. Cho đến cuối thập niên 1970, dự án tàu phá băng hạt nhân dùng công nghệ Phần Lan vẫn dừng lại ở mức độ một ý tưởng thú vị, kèm theo đó là một số bản vẽ kỹ thuật về ý tưởng này để thu hút sự quan tâm từ bạn hàng Liên Xô. Dù chỉ tồn tại trên giấy, nhưng dự án này vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới việc giúp Wärtsilä trở thành một cái tên được nhắc tới trong mảng công nghiệp đóng tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân.  Chuyển đổi mục đích tàu phá băng hạt nhân  Thập niên 1970 đánh dấu một bước ngoặt trong sự tiếp nhận của công chúng đối với công nghệ hạt nhân – từ một công nghệ của tương lai thu hút được sự chú ý của cả thế giới, hạt nhân dần biến thành một công nghệ của thực tế với cả ưu và nhược điểm trong con mắt công chúng. Từ dự án này cho đến dự án khác, động cơ đẩy sử dụng năng lượng hạt nhân vẫn cho thấy rằng hạt nhân vẫn còn đắt và rủi ro hơn động cơ chạy dầu thông thường trên các tàu hàng. Tàu hạt nhân Savannah của Hoa Kỳ được chấm dứt hoạt động năm 1971 mà chưa bao giờ đạt được đến trạng thái hoạt động hòa vốn. Tàu chở hàng chạy bằng động cơ hạt nhân của Đức mang tên Otto Hahn được hoàn thành năm 1968 nhưng đến năm 1979 cũng đã phải ngừng hoạt động. Tàu buôn hạt nhân Mutsu của Nhật Bản bị người biểu tình ngăn không cho ra khơi trong khi còn chưa thực hiện bất cứ chuyến đi thử nghiệm nào. Những người ủng hộ đầu tiên cho ý tưởng tàu biển chở hàng chạy bằng năng lượng hạt nhân giờ cũng vấp phải nhiều cản trở xuất phát từ các lo ngại có thật hoặc tưởng tượng về an toàn – lý do khiến một số cảng biển từ chối cho tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân neo đậu. Năm 1975, tờ The Guardian của Anh đã nhận xét rằng: “Thực tế là tàu thương mại chạy bằng năng lượng hạt nhân không thể giao thương như các tàu buôn thông thường khác vì các con tàu này khiến cả các chính phủ và người dân cảm thấy khiếp sợ”.  Tại Phần Lan, Wärtsilä quyết định phục hồi dự án tàu phá băng hạt nhân để giúp giải quyết một số vấn đề mới. Cấu trúc thương mại Phần Lan – Liên Xô vốn luôn ở trạng thái bất đối xứng khi Phần Lan nhập dầu thô và nguyên liệu thô trong khi lại xuất khẩu máy móc và các sản phẩm từ dầu mỏ. Kể từ thập niên 1970, Liên Xô dần thúc đẩy việc thay đổi mô hình giao thương mang hơi hướng của quan hệ thương mại kiểu thuộc địa trước đây. Mặc dù mong muốn đó của Liên Xô không thực sự tác động được tới quy luật cung cầu của thị trường, các dự án hợp tác công nghệ giữa hai quốc gia dần trở thành nhân tố vô giá về mặt chính trị. Các dự án hợp tác giúp chứng minh cho những tiến bộ kỹ thuật của Liên Xô, tạo điều kiện chuyển giao tri thức, cũng được sử dụng làm công cụ tuyên truyền ra thế giới cho khả năng chung sống trong hòa bình của các quốc gia này. Trong quan hệ của mình với Phần Lan, Liên Xô muốn trở thành người tiên phong mở đường về mặt công nghệ thay vì chỉ đơn thuần là một khách hàng nhập khẩu công nghệ.   Liên Xô đã nỗ lực tăng tỉ lệ sử dụng sản phẩm nội địa của nước này trên tất cả các con tàu họ đặt hàng từ công ty đóng tàu Phần Lan. Các đoàn khách đến từ Liên Xô luôn sẵn sàng bán động cơ chính của tàu cho đối tác Phần Lan vì đây là phần có giá trị lớn nhất trong tổng giá thành của một con tàu. Phần lớn đại diện của công ty Phần Lan cũng sẵn sàng không kém trong việc từ chối những đề nghị như vậy vì họ muốn chia phần bánh quan trọng này cho các nhà sản xuất động cơ của chính họ. Để bù lại, phía Phần Lan cố gắng lấp đầy tỉ lệ sản phẩm Liên Xô trên tàu bằng các thiết bị đơn giản hơn như hệ thống điều khiển, trang thiết bị liên lạc vô tuyến, và một số sản phẩm làm từ kim loại như dây xích của mỏ neo tàu. Mặc dù Liên Xô không có bất cứ công cụ pháp lý nào để buộc các công ty tư nhân phải mua các thiết bị mà họ không mong muốn, các công ty đóng tàu Phần Lan vẫn nhận thấy rằng họ phải tìm cách giải quyết nhu cầu nội địa hóa sản phẩm của Liên Xô để duy trì quan hệ tốt với đối tác quan trọng này.   Khi Wärtsilä đề xuất dự án hợp tác Liên Xô – Phần Lan trong đóng tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân vào mùa xuân năm 1977, cả giới chính trị gia và các kỹ sư đóng tàu đều chia sẻ lo ngại về khả năng một hợp đồng thương mại mang tính nhạy cảm như vậy có thể không được thông qua. Để giải quyết vấn đề, công ty đóng tàu ở Helsinki đề xuất họ sẽ thiết kế và đóng con tàu phá băng, còn đối tác Liên Xô sẽ xây dựng và lắp đặt lò phản ứng hạt nhân lên tàu. Theo cách đó, sự kết hợp giữa năng lực đóng tàu phá băng của Phần Lan và công nghệ hạt nhân của Liên Xô được chứng minh là hợp lý cả về mặt công nghệ cũng như kinh tế. Bản thân Wärtsilä chưa bao giờ có kế hoạch tự phát triển công nghệ hạt nhân của họ, bởi vậy việc lắp đặt một lò phản ứng Liên Xô lên tàu do họ đóng không phải là một sự nhượng bộ, mà chính là một lời giải rất sáng tạo cho nhu cầu nội địa hóa sản phẩm của phía Liên Xô.  Để tạo sự khác biệt với các tàu phá băng hạt nhân do Liên Xô sản xuất, Wärtsilä đề xuất dự án tàu phá băng hạt nhân của Phần Lan sẽ có mớm nước nông. Những thành viên của hạm tàu phá băng hạt nhân Liên Xô với mớm nước sâu như tàu lớp Arktika có khả năng đi đến bất cứ điểm nào trên Bắc Băng Dương ngoại trừ các vùng nước nông gần bờ. Để đóng một con tàu phá băng vừa có thể vượt qua những lớp băng dày tới hai mét, lại vừa có khả năng đi lại trong các con sông và vùng nước gần bờ ở Siberi với mực nước tương đối nông, nhà sản xuất cần phải kết hợp cả những hiểu biết về khoa học và kinh nghiệm kỹ thuật trong cơ học băng, kiến trúc tàu thủy, và công nghệ phá băng. Wärtsilä đã chứng tỏ được năng lực này thông qua kinh nghiệm đóng những con tàu phá băng mớm nước nông khác.  Cho đến lúc này, chiến dịch chào bán dự án tàu phá băng hạt nhân cho đối tác Liên Xô của Wärtsilä có vẻ giống một nỗ lực vận động hành lang theo kiểu chính trị nhiều hơn là chào hàng kỹ thuật thuần tuý. Nỗ lực của công ty đóng tàu Phần Lan tập trung vào việc thuyết phục các chính trị gia cấp cao của Liên Xô đặt mua con tàu do Phần Lan đóng. Tháng 12 năm 1978, Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen trở về từ chuyến thăm Liên Xô với thông tin tích cực rằng Morflot sẽ sẵn lòng đặt mua hai tàu phá băng hạt nhân do Wärtsilä thiết kế và chế tạo. Bên cạnh lò phản ứng hạt nhân, phía Liên Xô muốn được tự cung cấp loại thép nhiệt độ thấp đặc biệt vốn được nghiên cứu và phát triển cho tàu ngầm, tuốc-bin, và động cơ đẩy của họ. Việc bổ sung loại thép này giúp tăng tỷ lệ đồ nội địa Liên Xô trong sản phẩm lên 13% tổng giá trị dự án và giúp nâng tầm dự án tàu phá băng như một điển hình cho hợp tác khoa học, kỹ thuật, và công nghiệp giữa Liên Xô và Phần Lan.  Hai nước Liên Xô và Phần Lan ký thỏa thuận chính thức về dự án vào tháng 11 năm 1980. Đối với một dự án được khởi động đã gần 20 năm, đây là một cột mốc quan trọng, nhưng dự án vẫn phải chờ thêm vài năm để hai bên hoàn tất việc đàm phán về khía cạnh thương mại của dự án. Phía Liên Xô nổi tiếng với thói quen công bố các hợp đồng có giá trị lớn trong các dịp kỉ niệm những ngày lễ quan trọng, bởi vậy cứ đến các ngày lễ lớn của Liên Xô là phía Phần Lan lại cảm thấy hồi hộp chờ tin mừng từ đối tác. Cuối cùng thì tới năm 1984, trong tuần kỷ niệm Cách mạng tháng Mười, phía Liên Xô đã đồng ý ký kết hợp đồng đặt mua hai tàu phá băng hạt nhân từ Phần Lan. Bốn năm sau đó, con tàu đầu tiên của lớp tàu hạt nhân đã được hoàn thành và đặt tên là Taymyr, vốn là tên một con tàu phá băng chạy bằng hơi nước có từ thời Sa Hoàng, và cũng là tên của mảnh đất cực Bắc của phần đất liền đại lục Á – Âu. Trên hình 2, độc giả có thể thấy Taymyr bên cạnh chiếc tàu còn lại của lớp tàu này là Vaygach, vốn được bắt đầu đóng cùng năm sau khi Taymyr được bàn giao và hoàn thành sau đó hai năm. Là con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên do Phần Lan tự đóng, Taymyr thu hút tất cả sự chú ý từ công chúng. Tuy nhiên cả hai con tàu hạt nhân này đều chưa được lắp đặt các thiết bị hạt nhân trên lãnh thổ Phần Lan. Cả hai rời Phần Lan với các động cơ chạy dầu được gá tạm thời trên sàn máy bay trực thăng của tàu và chỉ khi tới Leningrad thì các lò phản ứng hạt nhân mới được xưởng đóng tàu Baltic đưa vào lắp đặt. Sau khi hoàn thành dự án này, Phần Lan trở thành một trong số rất ít quốc gia đã từng đóng tàu hạt nhân dân sự, mặc dù đến thời điểm đó phần lớn các giấc mộng về một tương lai hạt nhân sau chiến tranh đã tan biến ở các quốc gia từng có ý định phát triển công nghệ này.  Những con tàu có sức nặng về chính trị  Các nhà đóng tàu Phần Lan không quan tâm nhiều đến khía cạnh chính trị của dự án. Họ làm ăn với Liên Xô là để kiếm lời từ các hợp đồng đóng tàu. Tuy vậy, nhìn từ ví dụ của dự án tàu phá băng hạt nhân Phần Lan – Liên Xô, chính trị thực sự có vai trò quan trọng với sự phát triển công nghệ. Ngay cả các kỹ sư Phần Lan cũng hiểu được ý nghĩa chính trị của các con tàu hạt nhân do họ chế tạo. Với họ, chính trị thời Chiến tranh Lạnh là một trong những công cụ công ty Phần Lan có thể sử dụng để thuyết phục đối tác tiềm năng duy nhất. Trong giai đoạn đầu, phía Liên Xô coi dự án tàu phá băng hạt nhân Phần Lan là một kênh tiếp cận để vươn đến công nghệ lò phản ứng hàng hải của phương Tây. Nhưng cuối cùng thì dự án đã thúc đẩy sự hợp tác về kỹ thuật và công nghiệp giữa một công ty đóng tàu tư nhân của Phần Lan và các tổ chức trực thuộc chính phủ Liên Xô. Nhà nước Phần Lan và công ty đóng tàu có thể dùng dự án tàu phá băng hạt nhân này như một biểu tượng cho sự tiến bộ, và cam kết với công nghệ mới và sự phát triển.   Sức quyến rũ của năng lượng hạt nhân đã giúp ý tưởng của dự án sống sót suốt hai thập niên cho tới ngày hợp đồng đầu tiên được ký kết – một khoảng thời gian rất dài cho một dự án phi quân sự của một công ty tư nhân hoàn toàn phụ thuộc vào lợi nhuận từ các hợp đồng đóng tàu. Có vẻ như chất lượng kỹ thuật của dự án thực sự đã chứng minh tính đúng đắn cho hợp tác Liên Xô – Phần Lan khi các con tàu do Wärtsilä đóng có đủ công suất để phá vỡ lớp băng dày vùng Cực, có đủ nhiên liệu để hoạt động độc lập dài ngày trên Bắc Băng Dương, và có vỏ tàu đủ nhẹ và linh hoạt để có thể di chuyển trong các vùng nước được coi là quá nông cho các tàu phá băng hạt nhân do Liên Xô đóng. Tuy vậy, khoảng thời gian 20 năm cho thấy rằng việc thương thảo hợp đồng không chỉ đơn thuần là những bàn thảo về mặt công nghệ. Dự án có thể thành công là bởi Wärtsilä đã hết sức sáng tạo và kiên trì trong việc điều chỉnh dự án để phù hợp với các tính toán chính trị của cả Phần Lan và Liên Xô. Dự án này vừa đủ lớn để chứng minh cho hợp tác công nghệ xuyên quốc gia, nhưng cũng không cạnh tranh trực tiếp với các dự án hạt nhân khác của Liên Xô. Dự án cũng có giá trị chiến lược đủ để được giới chính trị gia đưa vào diện ưu tiên cao hơn các dự án dân sự khác, nhưng cũng vừa phải để không gây rắc rối cho chính sách trung lập của Phần Lan.   Dự án hợp tác giữa Phần Lan và Liên Xô này có thể coi là có giá trị về mặt chính trị, nhưng không hoàn toàn mang tính chất hợp tác chính phủ thông thường, và vẫn là một dự án hạt nhân của Phần Lan nhưng không buộc Phần Lan phải dính líu đến các khía cạnh và công nghệ hạt nhân của dự án. Đây thực sự là một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh và khó lòng có thể được hiện thực hóa mà không có khuôn khổ giao thương công nghệ vốn bị chính trị hóa giữa Phần Lan và Liên Xô. Những cuộc khủng hoảng phạm vi quốc tế như chiến tranh luôn định hướng cho các phát triển về mặt công nghệ thông qua những cơ hội và hạn chế do khủng hoảng đem lại. Chỉ sau khi thời gian đã trôi qua, người ta mới có thể nhìn lại để đánh giá tầm ảnh hưởng thực sự của những sự kiện không thể lường trước như vậy. □  Nguyễn Việt Phương dịch  ——-  Đây là một bản rút gọn từ bài nghiên cứu “Flashy flagships of Cold War cooperation: The Finnish– Soviet nuclear icebreaker project” (“Biểu trưng hào nhoáng cho hợp tác thời Chiến tranh Lạnh: Dự án tàu phá băng hạt nhân Phần Lan – Liên Xô), Technology and Culture 60, 347 (2019).    Author                Saara Matala        
__label__tiasang Yêu cầu hàng đầu của hoạt động khoa học      Hồi giáo sư Tạ Quang Bửu còn sống, nhưng đã thôi làm Bộ trưởng Bộ Đại học, tôi được ở một khóa Quốc hội và ở trong Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội khóa ấy cùng với ông. Một lần, Ủy ban đó, thực hiện chức năng giám sát của mình, có cuộc họp với Bộ Giáo dục và Bộ Đại học, có mặt cả đại biểu Ban Khoa giáo Trung ương.      Cuộc họp nêu lên một câu hỏi: “Ở bậc đại học, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên là gì?”. Và được đại biểu của cả hai bộ và cái ban vừa nói trên trả lời rất nhanh gọn: “Thì có gì khó đâu, cứ cho học đúng năm điều Bác Hồ dạy”. Lý do: Ngay người lớn chúng ta đây, thử hỏi đã có ai làm đúng được hoàn toàn năm điều Bác dạy đâu, cho nên sinh viên cũng rất cần học để làm cho tốt, thế là quá đủ rồi!… Tôi nhớ bữa đó mọi người trong ủy ban đều quá ngạc nhiên nhưng mà cũng lúng túng, chẳng biết phản ứng thế nào đây cho tiện, đành im lặng.                “Theo tôi, ở bậc đại học, về đạo đức, cần nhất là giáo dục đức tínhtrung  thực khoa học (la probiété scientifique).    Người làm khoa học thiếu đức trung thực trong công việc của mình thì có hại cho xã hội không biết bao nhiêu lần hơn  người thường”.   GS. Tạ Quang Bửu        Giáo sư Tạ Quang Bửu cũng im lặng hồi lâu, rồi rất chậm rãi, ông nói: “Theo tôi, ở bậc đại học, về đạo đức, cần nhất là giáo dục đức tính trung thực khoa học (la probiété scientifique). Người làm khoa học thiếu đức trung thực trong công việc của mình thì có hại cho xã hội không biết bao nhiêu lần hơn người thường”. Lời ông nói, tôi nhớ, từ tốn mà nghiêm khắc, vừa như một lời khuyên, một mong ước, vừa như một cảnh báo… Theo chỗ tôi được biết, sự cảnh báo của ông rồi về sau trong các ngành có liên quan (và cả trong khoa học nói chung),  hình như cũng không ai thật sự nhớ và để ý đến nữa, và cũng hình như bây giờ ở đại học trong những nội dung liên quan đến xây dựng đạo đức cho sinh viên chắc là có đủ thứ nhưng lại không có yêu cầu hàng đầu đối với người làm khoa học như giáo sư Tạ Quang Bửu đã nhấn mạnh một cách thâm thúy. Tất nhiên không thể nói nguyên nhân tất cả là ở đây, nhưng một trong những kết quả của việc này là tình trạng gian dối dưới nhiều kiểu khác nhau hiện nay trong khoa học như dư luận ngày càng báo động.  Đương nhiên, gian dối không chỉ có trong khoa học, còn nhiều nơi nặng nề hơn nhiều, tất sẽ có người nói như vậy. Và cũng đúng vậy. Nhưng nếu trong cuộc đời, trong xã hội khó tránh được hết sự gian dối, thì khoa học là nơi cuối cùng tuyệt đối không thể chấp nhận được tình trạng đó. Bản thân khái niệm khoa học đã là đối lập tuyệt đối với gian dối, như nước với lửa. Nếu trong một xã hội mà đến khoa học cũng gian dối, thì tức là đã tới mức nguy cơ cao. Trong đó hư danh cũng là một trong dạng phổ biến.  Hiện nay, thẳng thắn mà nói, khó kê ra cho hết những gian dối như vừa nói. Nhưng có thể thử kể một vài chuyện điển hình, điển hình đến mức thoạt nghe cứ tưởng là chuyện bịa hay chuyện đùa.  Chẳng hạn chuyện mấy tờ báo tên tuổi công khai đưa lên mạng online của mình tin một nhà khoa học Việt Nam lâu nay vẫn được coi là người đứng đắn, được một tổ chức quốc tế nào đó bầu là một trong mươi bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ. Tôi nghĩ tất cả những người có chút ít quan hệ quốc tế trong lĩnh vực khoa học hay văn hóa ở ta đều quá biết các kiểu quả lừa tầm thường của các thứ “tổ chức quốc tế” này rồi. Còn bất cứ một đầu óc bình thường của bất cứ một người bình thường nào cũng có thể biết buồn cười về chuyện một nhà khoa học Việt Nam hiện nay bỗng nhiên trở thành một bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ. Ta đang ở đâu trong khoa học của thế giới thì ta quá biết chứ, chẳng lẽ lại nảy ngay ra thiên tài giữa đường thế này.  Ấy vậy mà nhà khoa học nọ nghiễm nhiên nhận lấy danh hiệu ấy, đi tuyên truyền khắp nơi, lại còn lập ra tổ chức này nọ mang tên mình (tất nhiên gắn với danh hiệu kia)… Chính ông ta ngây ngô bị lừa, ông chủ động gian dối, hay ông đã quá lẩm cẩm, hay là cả ba kiểu hợp lại. Có điều chắc chắn đấy là một con người mang bệnh hư danh trầm trọng. Và rất nguy hiểm là, với cái tổ chức ông đang kêu gọi thành lập kia, ông sẽ là mầm bệnh truyền nhiễm thói hư danh cho lớp trẻ cũng đang hong hóng hướng về những thứ bong bóng đó.          Bản thân khái  niệm khoa học đã là đối lập tuyệt đối với gian dối, như nước với lửa. Nếu trong một xã hội mà đến khoa học cũng tràn lan sự gian dối, thì tức là đã tới   mức nguy cơ cực cao. Trong đó hư danh cũng là một trong dạng phổ biến.        Một chuyện khác, rất nhiều người biết: một “Đề tài khoa học”, cấp nhà nước hay cấp thành phố gì đó, mấy mươi hay mấy trăm triệu (tất nhiên là tiền thuế của dân), nghiên cứu về việc… đánh số nhà ở Hà Nội!… Ai chủ trương, ai đứng ra nhận làm, ai cấp tiền, ai tổ chức “công trình khoa học” kỳ quặc đó. Tôi nghĩ trường hợp này có lẽ đã thuộc phạm vi xử lý của pháp luật rồi…Rồi chuyện cái hội đồng phong chức giáo sư, phó giáo sư… bàn mãi vẫn không xong, trong khi ở tất cả các nước tiên tiến từ lâu giáo sư đơn giản là người đi dạy ở một trường đại học nào đó, và được chính trường đó phong chức cho để mà dạy, hết dạy thì thôi.Có gì mà phải tốn nhiều thời giờ, công sức, tiền của đến thế để đến nát óc bàn đi bạn lại mãi không “sáng” được ra! Sao lại đi biến cái tên gọi một việc làm thành một thứ danh vọng để mà giành giật, nhiều khi đến sứt đầu mẻ trán, thậm chí cũng có khi gây thù hận nhau suốt đời!  Nghĩa là gian dối, hư danh đã lan từ chỗ cao nhất đến chỗ xuất phát của khoa học là trường đại học.  Thật đã ghê gớm thay cái bệnh gian dối, hư danh trong chính cái lĩnh vực lẽ ra là vô tư, trong sáng nhất của xã hội, lĩnh vực mà đạo đức tối cao là sự trung thực, như giáo sư Tạ Quang Bửu đã nhắc mấy mươi năm trước.  Ở Pháp, theo chỗ tôi được biết, bậc đại học có hai năm đầu gọi là “Giáo dục tổng quát” (éducation générale), và một người bạn tôi dạy một trường đại học ở Paris bảo tôi rằng người ta quan niệm mục đích của hai năm đầu ấy là đào tạo nên cái mà ông ta gọi là “l’honnête homme”, “con người lương thiện”. Tức con người có văn hóa, có hiểu biết một cách tổng quát về những tri thức cơ bản tối thiểu của loài người, và quan trọng nhất là có tính trung thực trong cuộc sống, có thể làm một người trong sạch trong xã hội. Để chuẩn bị tiếp nhận khoa học, và có thể trở thành một nhà khoa học chân chính, tức một  nhà khoa học  lương thiện.  Hẳn ta cũng không nên coi thường kinh nghiệm đó.              Hoạt động của viện hàn lâm giả      Các công ty kinh doanh tiểu sử dựa vào một nguyên lí kinh doanh đơn giản là tận dụng tâm lí “phải có danh gì với núi sông” (tạm mượn lời của cụ Nguyễn Công Trứ) của nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ hay mới bước vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, để kinh doanh. Nhà khoa học nào cũng có một chút chủ quan rằng công trình của mình là quan trọng, và tên tuổi mình đáng lưu danh với đời. Cho nên, trước những dạm hỏi và chào đón nồng nhiệt của các công ty này, nhất là xuất hiện dưới danh hiệu “viện hàn lâm”, nhà khoa học khó mà vượt qua những cám dỗ ngọt ngào này.    Cách thức kinh doanh kinh doanh của họ rất đơn giản. Hàng năm, họ tra cứu các tập san khoa học quốc tế, tìm tên tác giả của các bài báo khoa học, rồi rà soát lại xem có phải đây là những tác giả mới xuất hiện, hay là những tác giả đã “có tên tuổi”.  Tùy vào vai vế của tác giả, họ gửi cho từng tác giả một lá thư đại ý cho biết tác giả đã được một hội đồng khoa học bình bầu là nhà khoa học xuất sắc trong năm, là nhà khoa học lỗi lạc của thế kỉ, là bộ óc vĩ đại của thế giới, là có cống hiến quan trọng cho khoa học, v.v…    Nói tóm lại họ dùng toàn những danh xưng rất ấn tượng để làm cho tác giả thích thú và tưởng mình là một nhà khoa học vĩ đại hay công trình của mình có tầm vóc thế kỉ.  Chẳng những gửi thư, có công ti còn gửi cả một bằng chứng nhận mẫu với tên của tác giả được in trên giấy bóng màu mè cực kì đẹp mắt và rất hấp dẫn. Họ không quên kèm theo một mẫu đặt hàng với các ô vuông để tác giả ghi vào đó số thẻ tín dụng (credit card). Giá cả thường khoảng 200 USD đến 500 USD, tùy theo danh hiệu và từ điển được bọc bìa da hay bìa giấy cứng. Khi đã trả tiền qua thẻ tín dụng, tác giả chờ khoảng 6 tháng (để họ in từ điển) để có những “chứng từ” ấn tượng đó.  Nhưng giá trị của nó chỉ 1 năm mà thôi. Nếu năm tới tác giả muốn có tên mình trong từ điển nữa hay muốn duy trì thành viên của “viện hàn lâm” thì phải đóng thêm tiền. Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành “viện sĩ” một năm nếu họ chịu trả tiền.    Do đó, thành viên của Viện hàn lâm khoa học New York không phải là một danh dự, càng không phải là một chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học. Thành viên của các “viện” này chẳng ai dám dùng chữ “viện sĩ” trước tên mình. Thực ra, ngược lại là đằng khác: các nhà khoa học nào liệt kê trong lí lịch mình là thành viên các nhóm này thường được đánh giá là ngây thơ trong trường khoa học.    Thế nhưng tiếc thay, không ít nhà khoa học Việt Nam trong những năm gần đây hồ hởi tham gia vào các công ty kinh doanh này, và tự hào gắn thêm danh hiệu “viện sĩ” trước học vị và tên mình!  Có vị còn in trên danh thiếp danh hiệu “Academician”! Đối với giới khoa học “thứ thiệt” ở phương Tây, cái danh hiệu đó không chỉ là một chuyện tiếu lâm, mà còn nói cho họ biết tác giả của nó chỉ là một người còn quá ấu trĩ trong trường khoa học. (Nguyễn Văn Tuấn-Úc)               Nguyên Ngọc  Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông và các luận điểm pháp lý      Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của chính quyền Trung Quốc về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò”. Trong khi đó, nhiều lập luận của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế.    Lịch sử xuất hiện “đường lưỡi bò”  Năm 1933, Pháp thực hiện việc đưa quân ra đồn trú tại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Để đối phó với các hành động này của chính quyền Pháp tại Đông Dương, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa (chính quyền Tưởng Giới Thạch) đã cho thành lập Ủy ban Điều tra Bản đồ Đất và Biển. Nhiệm vụ của Ủy ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên cho các đảo ở Biển Đông và xuất bản các bản đồ để thể hiện các đảo này thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.   Bản đồ chính thức đầu tiên thể hiện “đường lưỡi bò” có nguồn gốc từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Bản đồ này được Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa xuất bản tháng 2/1948 có tên 南海诸岛位置图 – Nanhai zhudao weizhi tu –( Nam hải chư đảo vị trí đồ). Bản đồ này của chính quyền Quốc Dân Đảng được các học giả Trung Quốc cho biết là dựa theo một số bản đồ không rõ ràng của một vài cá nhân. Trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà nhiều học giả Trung Hoa gọi là “đường hình chữ U” hay “đường chín đoạn”, một số học giả gọi nó là “đường lưỡi bò” bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông, đường này được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn.  Năm 1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch  thất bại trước Bắc Kinh phải chạy ra đảo Đài Loan, và cũng từ đó, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (sau đây gọi tắt là Trung Quốc), quốc gia này sau đó thay thế Cộng hòa Trung Hoa (sau đây gọi tắt là Đài Loan) trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Năm 1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng cho ấn hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như  bản đồ trước đó gồm 11 đoạn.  Tuy nhiên, sau đó một thời gian, bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Chính phủ Trung Quốc không đưa ra giải thích vì sao lại bỏ đi hai đoạn đó, thời điểm bỏ đi hai đoạn này cũng không nhất quán trong các tài liệu của các học giả Trung Quốc. Điều đặc biệt là trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa lẫn Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò” đó cả.  Trong các tuyên bố và các văn bản luật quan trọng của chính quyền Trung Quốc bao gồm Tuyên bố về Lãnh hải tháng 8 năm 1958, Tuyên bố của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1992, Tuyên bố của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải năm 1996, Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1998 đều không thấy nhắc gì tới yêu sách “đường lưỡi bò” này cũng như không có bản đồ nào có hình “đường lưỡi bò” được đính kèm.  Năm 2009 là năm mà theo quy định của Công ước, các quốc gia ven biển phải đệ trình các báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (viết tắt là CLCS). Ngày 06/05 Việt Nam và Malaysia có trình lên CLCS một Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của hai nước, cùng khi đó, Việt Nam cũng gửi một Báo cáo riêng của mình lên CLCS.  Ngày 07/05/2009, Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã gửi Công hàm phản đối đối với Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam và Malaysia cũng như Báo cáo về thềm lục địa mở rộng của riêng Việt Nam, trong Công hàm phản đối này có kèm theo một bản đồ có hình “đường lưỡi bò”.  Tuy nhiên, cũng như trước đó, Chính phủ Trung Quốc vẫn từ chối giải thích chính thức về tính chất pháp lý đối với yêu sách biển được thể hiện trong bản đồ có “đường lưỡi bò” kèm theo Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009  này.  Lập luận của Trung Quốc về “đường lưỡi bò” và các luận điểm pháp lý  Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của chính quyền Trung Quốc về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò” này. Mặc dù, trong Công hàm CML/17/2009 và CML/18/2009 này, chính phủ Trung Quốc cho rằng:  “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có chủ quyền không thể tranh cãi với các đảo ở Biển Nam Trung Hoa và các vùng biển kế cận, và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của vùng biển đó (xem bản đồ kèm theo). Lập trường trên đây đã được Chính phủ Trung Quốc đưa ra một cách nhất quán và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi.”    Bản đồ ĐLB 9 vạch đính kèm theo công hàm TQ gửi   Liên Hiệp Quốc năm 2009    Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò”, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường lưỡi bò, coi Biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này các học giả Trung Quốc coi là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng tìm cách kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Trường Sa”.  Lập luận trên của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế.  Thứ nhất, các học giả quốc tế (bao gồm cả các học giả Đài Loan) cho rằng thời điểm chính quyền Trung Quốc gửi hai Công hàm ngày 7/5/2009 lên Liên Hợp  Quốc, trong đó kèm theo bản đồ có “đường lưỡi bò” mới là thời điểm đầu tiên bản đồ này xuất hiện công khai trước cộng đồng quốc tế.  Trong vấn đề này, ta có thể tham khảo ý kiến của  thẩm phán Oda trong vụ Kasikili/Sedudu: “…một yêu sách lãnh thổ chỉ có thể được đưa ra với ý định rõ ràng của chính phủ, điều có thể được phản ánh qua các bản đồ. Bản thân bản đồ, nếu không có các bằng chứng hỗ trợ khác không thể biện hộ cho một yêu sách chính trị”. Hai học giả danh tiếng về luật quốc tế của châu Âu là Erik Franckx & Marco Benatar trong một nghiên cứu của mình cho rằng: “Trong trường hợp này, tiêu chí để xét ý định rõ ràng về phía chính phủ Trung Quốc không được đáp ứng đầy đủ. Các cách giải thích khác nhau về đường chữ U do các học giả đưa ra cũng như công hàm mập mờ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 7/5/2009 là minh chứng cho kết luận này”.  Như vậy thì ngay cả việc gửi bản đồ có kèm theo “đường lưỡi bò” lên Liên Hợp Quốc ngày 7/5/2009 mà không có giải thích gì khác thì cũng chưa hình thành một yêu sách lãnh thổ, còn tới việc cho xuất bản bản đồ theo bản đồ (khó kiểm chứng tính chính xác) của một cá nhân mà không công bố rõ ràng trước cộng đồng quốc tế thì không thể gọi là một yêu sách lãnh thổ của một quốc gia được.  Nếu Trung Quốc đòi hỏi các quốc gia khác phải công nhận những bản đồ, tài liệu do Trung Quốc đưa ra mà không công bố cho thế giới, thì Trung Quốc cũng phải công nhận các bản đồ, tài liệu của tất cả các nước, trong đó có các bản đồ cổ của VN và nhiều bản đồ phương Tây khác nêu rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của VN!  Thứ hai, Trung Quốc luôn cho rằng, họ có chủ quyền trên vùng biển này bởi vì họ đã thiết lập một  danh nghĩa lịch sử từ lâu đời, thế nhưng, cho đến trước năm 1909, Trung Quốc chưa có bất cứ sự hiện diện nào trên Hoàng Sa, cũng như trước năm 1988 Trung Quốc cũng chưa có bất kỳ sự hiện diện nào tại Trường Sa. Thêm nữa, tất cả các bộ chính sử của nhà nước phong kiến Trung Quốc, từ Sử ký cho đến Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh Nhất thống chí (1461), Đại Thanh Nhất thống chí (1842), trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”.  Trung Quốc còn tuyên truyền rằng, việc các quốc gia phương Tây khi ghi chép về vùng biển này dưới tên gọi “biển Nam Trung Hoa”, điều đó chứng tỏ khu vực biển này phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ “Biển Nam Trung Hoa” không trao chủ quyền lịch sử cho Trung Quốc. Theo luật quốc tế, chỉ riêng việc đặt tên một vùng lãnh thổ không thiết lập chủ quyền đối với vùng đó. Tên gọi này đã bị các quốc gia liên quan, bao gồm Việt Nam phản đối mạnh mẽ. Các bản đồ nước ngoài sử dụng tên Biển Nam Trung Hoa chỉ đơn giản tuân thủ cách sử dụng các thuật ngữ biển trong cuốn Ranh giới Biển và Đại dương năm 1953 của Tổ chức Thủy văn học quốc tế, không hề có giá trị nào về mặt chính trị. Do đó, sự chọn lựa thuật ngữ không nhằm ám chỉ sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc của các quốc gia phương Tây. Đồng thời, Trung Quốc đã từng sử dụng các tên gọi khác nhau cho vùng biển này: “Biển Giao Chỉ” (Triều Tống và Minh) và “Nam Hải” (triều Thanh (1905)), Cộng hòa Trung Hoa (1913), Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1952 và 1975)).  Thứ ba, một số học giả Trung Quốc như Zhao Li Hai, Pan ShiYng cho rằng “đường lưỡi bò” biểu thị “đường biên giới truyền thống” của Trung Quốc. Ta có thể thấy “đường lưỡi bò” không thể là một đường biên giới quốc tế được vì nó không phải là con đường ổn định. Từ 11 đoạn, sau này Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính chất không liên tục của con đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích là để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Trong khi đó, đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát. “Đường lưỡi bò” không thể hiện được đặc tính đó, thêm nữa, vị trí của nó lại không được xác định tọa độ rõ ràng, vì thế không thể thể hiện là một đường biên giới được.  Thứ tư, như đã trình bày ở trên, với những hành động mập mờ, không rõ ràng của Trung Quốc đối với việc xuất bản bản đồ có “đường lưỡi bò”, chưa thể nói đó là một yêu sách lãnh thổ để các quốc gia khác phải lên tiếng. Chưa kể các luận điểm các học giả Trung Quốc đưa ra còn mâu thuẫn với các tuyên bố chính thức của chính quyền Trung Quốc.  Cụ thể, Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:  “Chiều rộng lãnh hải nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”.  Như vậy, Tuyên bố 1958 của Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, tức là vùng biển tự do quốc tế, chứ đâu phải là vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.  Thứ năm, các học giả Trung Quốc còn cho rằng cộng đồng quốc đế đã không lên tiếng phản đối để ngăn chặn sự củng cố các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, nên đã tạo cho yêu sách này của Trung Quốc được “mặc nhận”:  “Lúc tuyên bố về đường chín đoạn, cộng đồng quốc tế không hề thể hiện sự phản đối. Không một quốc gia lân cận nào bày tỏ phản đối ngoại giao. Sự im lặng này đối với một tuyên bố công khai có thể coi như tạo nên sự công nhận, và có thể nhấn mạnh rằng đường đứt đoạn đã được công nhận trong một nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên trong những năm gần đây, một vài quốc gia Đông Nam Á liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông mới thắc mắc về quy chế pháp lý của đường chín đoạn.”  Các học giả Trung Quốc nói vậy nhưng thực tế thì ngay tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là “đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận.   Phản ứng của cộng đồng quốc tế và động thái đối phó của Trung Quốc  Sau khi Trung Quốc gửi hai Công hàm lên Liên Hợp Quốc ngày 7/5/2009 (tức là thời điểm “đường lưỡi bò” chính thức xuất hiện lần đầu tiên trước cộng đồng quốc tế), ngày 8/5/2009 Việt Nam đã gửi ngay Công hàm để phản đối:  “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi đối với các quần đảo này. Yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo và vùng biển lân cận ở Biển Đông như được minh hoạ trên bản đồ đính kèm với các Công hàm CML/17/2009 và CML/18/2009 không hề có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tế, do đó vô hiệu.”      Tại kỳ họp Quốc hội tháng 11/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý khẳng định quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thực tế chúng ta đã làm chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII”.     Ngày 08/07/2010, Indonesia – một quốc gia lớn của ASEAN, không có những tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa cũng đã gửi công hàm  No. 480 /POL-703/VII/10 lên Liên Hợp Quốc để phản đối các yêu sách trên vùng biển này của Trung Quốc. Công hàm của Indonesia có nêu rõ:  “…Do vậy, dựa vào những tuyên bố trên, cái gọi là “bản đồ đường đứt đoạn” được kèm theo Công hàm Số: CML/17/2009 ngày 7 tháng 5 năm 2009 nói trên rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và đi ngược lại các quy định của của Công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc.”  Trong Tuyên bố của Ngoại trưởng Hoa Kỳ ngày 23/7/2010 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Clinton cũng lên tiếng phản đối những yêu sách biển không tuân thủ Công ước Luật biển 1982, mà “đường lưỡi bò” chính là đối tượng được nhắc tới.  Ngày 5/4/2011, Philippines cũng gửi một Công hàm lên Liên Hợp Quốc để phản đối “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, công hàm này nêu rõ: “…yêu sách của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về “các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển” (được đính kèm với Công hàm số CML/17/2009 và Công hàm số CML/18/2009) đã được nói trên ở đây, bên ngoài các cấu trúc địa chất của KIG (tức Trường Sa – người viết chú thích), “các vùng nước liên quan” này không có cơ sở nào trong luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982”.  Trong rất nhiều hội thảo quốc tế về biển Đông và liên quan đến biển Đông, các học giả Trung Quốc luôn bối rối trước các chất vấn về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò” từ các học giả quốc tế. Hầu hết các học giả quốc tế (trừ các học giả Trung Quốc) đều phản đối “đường lưỡi bò”.  Trước sự phản đối quyết liệt của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc đã tìm cách đối phó, họ đưa ra các lập luận có vẻ mềm dẻo hơn thông qua tuyên bố của các nhà khoa học Trung Quốc, điển hình như qua phát biểu của Wu shicun – Chủ tịch Viện nghiên cứu biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc trả lời tờ Asahi Shimbun (báo Nhật Bản) ngày 26/1/2012. Trong phát biểu đó, Wu shicun cho rằng: “Một số tranh luận  rằng toàn bộ khu vực biển được gọi là “đường lưỡi bò” bởi vì hình thể địa lý của nó, phải thuộc về Trung Quốc. Đó là giải thích khiên cưỡng, tuy nhiên, đó không phải là giải thích chính thức của chính quyền Trung Quốc. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi (tại Trung Quốc) đường này là đường quy thuộc các đảo. Quan điểm này cho rằng tất cả các đảo nằm trong “đường lưỡi bò” phải thuộc về Trung Quốc, và Trung Quốc có quyền lịch sử, bao gồm cả quyền đánh cá trên các vùng nước xung quanh”.  Với những  phát  biểu lập lờ kiểu như vậy, Trung Quốc đã đặt ra những mục tiêu: một mặt, Trung Quốc có thể xoa dịu dư luận quốc tế về tính chính đáng của “đường lưỡi bò” bằng cách dùng con đường học giả đánh tiếng có những thay đổi nhất định trong quan điểm: chỉ yêu sách đảo, còn vùng nước là quyền lịch sử như quyền đánh cá chẳng hạn, nhưng mặt khác, Trung Quốc vẫn có thể duy trì “đường lưỡi bò” bao gồm cả các đảo và các vùng nước, đồng thời cũng tuyên bố sớm lệnh cấm đánh bắt cá năm 2012, để có thể từ đó dung hòa cả quyền lịch sử và quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế, tiếp tục duy trì tham vọng của Trung Quốc trên vùng biển này.  ***  Biển Đông đã và đang là vùng biển chung của các quốc gia trong khu vực và chứa đựng nhiều quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực. Biển Đông không thuộc hoàn toàn riêng về một nước, kể cả Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, hay Philippin, Brunei. Vì thế, các vấn đề của Biển Đông cần được các nước trong khu vực, trên tinh thần cầu thị, tôn trọng chủ quyền và lợi ích của nhau, tuân thủ pháp luật quốc tế, cùng nhau tìm một giải pháp công bằng, mà các bên cùng có thể chấp nhận. Các yêu sách biển vô lý và đi ngược lại các quy định của luật biển quốc tế như “đường lưỡi bò” sẽ không thể có chỗ đứng trong thế giới hiện đại.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Yếu tố định lượng trong chính sách kinh tế và COVID-19      Trong bối cảnh dịch bệnh cúm COVID-19 vẫn đang lan rộng trên thế giới với số lượng ca nhiễm bệnh và tử vong không ngừng tăng lên, đồng thời những thiệt hại kinh tế ngày càng chồng chất do nhiều quốc gia phải tiến hành cách ly xã hội và phong tỏa nền kinh tế, thì một vấn đề đang làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách, đó là trong trường hợp một quốc gia còn tiếp tục phải chung sống với dịch bệnh lâu dài thì liệu có nên nới lỏng sự phong tỏa, thậm chí mở cửa nền kinh tế trở lại?      Nới lỏng để lưu thông nền kinh tế hay tiếp tục xiết chặt giãn cách xã hội là câu hỏi khó. Ảnh: Người dân gặp khó khăn trong dịch Covid-19 đi lấy gạo cứu trợ. Ảnh: Trần Cường/Thanh Niên.  Để đưa ra một lựa chọn như vậy người ta tất yếu phải có những cân nhắc liên quan đến rủi ro về nhân mạng, điều rất dễ gây ra tranh cãi. Đơn cử như ở Mỹ, cuối tháng 3 vừa rồi ông Dan Patrick, Phó thống đốc bang Texas, khi trả lời phỏng vấn trên Fox News, một trong những kênh truyền hình có số lượng khán giả lớn nhất, đã nhận định rằng nước Mỹ cần sớm mở cửa trở lại nền kinh tế. Ông Patrick nói “Chúng ta hãy sống bình thường trở lại….Những người già trong số chúng ta 70 tuổi trở lên, thì sẽ biết tự lo cho bản thân mình, đừng hy sinh lợi ích của đất nước…”1  (Lưu ý rằng ông Patrick cũng là một người 70 tuổi). Có lẽ khỏi phải nói lời bình luận này đã gây ra nhiều phản ứng trái ngược đến thế nào. Nhiều chính khách phản đối, đưa ra quan điểm là không thể đo được giá trị đời sống con người, dù đó là người già hay người trẻ.   Hẳn chúng ta ai cũng đồng ý giá trị nhân mạng là vô giá, nên những chỉ trích vừa nêu trên đối với phát biểu của ông Patrick cũng dễ hiểu. Nhưng trong cuộc sống nhiều khi dù muốn dù không chúng ta vẫn phải có những sự lựa chọn dựa trên những tính toán kinh tế về giá trị cuộc sống của mình.  Đưa ra lựa chọn dựa trên yếu tố định lượng   Một ví dụ phổ biến về việc chúng ta phải lượng hóa sự lựa chọn về giá trị cuộc sống, đó là mua bảo hiểm nhân thọ. Nếu bạn muốn mua gói bảo hiểm trị giá cao hơn — cũng tương ứng với việc bạn định giá giá trị cuộc sống của bạn lớn hơn — thì bạn sẽ trả nhiều tiền cho phí bảo hiểm hơn. Ngược lại, nếu bạn định giá cuộc sống của bạn thấp hơn, thì bạn sẽ mua gói bảo hiểm có mức phí thấp hơn.    Một ví dụ khác, chúng ta thường cũng hay phải quyết định lựa chọn giữa việc chi tiêu cho cuộc sống hiện tại và tiết kiệm để đầu tư cho tương lai. Nếu bạn là người có thiên hướng chú trọng các giá trị thụ hưởng trong tương lai, bạn sẽ chi tiêu ít đi trong hiện tại và để dành nhiều hơn cho tương lai. Tuy nhiên, để có được sự lựa chọn đúng đắn nhất, thì chúng ta cần lượng hóa các yếu tố càng đầy đủ càng tốt. Nếu thiếu các dữ liệu này, lợi ích và thiệt hại của các sự lựa chọn sẽ không được đánh giá đúng. Các sự lựa chọn này có thể bao gồm từ cấp độ cá nhân cho tới hộ gia đình hay chính sách của một quốc gia.   Trong kinh tế học nói chung, việc lượng hóa các sự lựa chọn để đi đến các kết luận tốt nhất luôn được coi trọng. Các chương trình đào tạo tiến sỹ ở Mỹ và các nước Tây Âu đều dành một phần đáng kể cho các môn toán và toán thống kê. Giải Nobel kinh tế trong hơn 30 năm nay chủ yếu được trao cho các kinh tế gia sử dụng rất nhiều mô hình toán trong nghiên cứu. Gần đây nhất, giải thưởng này trong năm 2015 và năm 2019 đã được trao cho các nhà kinh tế học vì những đóng góp quan trọng trong điều tra thu thập dữ liệu và lượng hóa chính xác hơn các hành vi tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình, nhất là trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và đói nghèo.2  Khái niệm lượng hóa cũng được phổ cập rộng rãi trong cuộc sống ở Mỹ. Trên tivi, khi các phát thanh viên tường thuật về các cuộc điều tra, họ không chỉ báo cáo kết quả điều tra, mà còn cả sai số mẫu (sampling errors). Trong ngành y tế, gần đây việc xác định các tiêu chí ưu tiên để được dùng máy thở cho bệnh nhân cúm sao cho công bằng cũng là biểu hiện của việc lượng hóa.3  Giá trị thống kê của mỗi cuộc sống  Quay trở lại với ví dụ ban đầu về định giá cuộc sống của mỗi người từ góc độ kinh tế. Các kinh tế gia đưa ra khái niệm giá trị thống kê của mỗi cuộc sống (value of a statistical life, viết tắt là VSL). Việc tính VSL có giá trị quan trọng trong hoạch định chính sách. Chẳng hạn về mặt kinh tế, chính phủ có thể quyết định đóng cửa một nhà máy làm ô nhiễm môi trường nếu lợi ích kinh tế của việc đó đối với bảo vệ nhân mạng lớn hơn các chi phí do đóng cửa nhà máy đó gây ra (như giảm ngân sách thuế và chi trả bảo hiểm thất nghiệp tăng thêm). Hay đối với nhiều nước trên thế giới hiện nay, việc nới lỏng các lệnh cấm cách ly xã hội sẽ giúp các hoạt động kinh tế trở lại bình thường, nhưng cũng gây rủi ro nâng cao xác suất số người nhiễm bệnh và tỷ vong do cúm COVID-19. Như vậy, việc cân nhắc lợi ích và rủi ro trong trường hợp này cũng có thể được coi là một bài toán kinh tế.   Lấy một ví dụ cụ thể về cách tính VSL. Tỷ lệ tai nạn chết người của một ngành công nghiệp là N người trên 10.000 công nhân. Qua điều tra dữ liệu, giả sử chúng ta đo được trung bình mỗi người công nhân trong ngành này chấp nhận tỉ lệ tai nạn tăng lên thành (N+1)/10.000, tức là thêm một người tỷ vong trên 10.000 công nhân, nếu mức lương trung bình năm của mỗi người được tăng 1 triệu đồng. Như vậy, giá trị của VSL được tính là 10 tỷ đồng, hay là tích số của mức tăng lương thêm cho mỗi công nhân và tổng số người công nhân (= 1 triệu*10.000) cho mức tai nạn tăng lên. Sở dĩ có tên gọi giá trị thống kê của mỗi cuộc sống vì trong trường hợp này, chúng ta đang xét con số thống kê về giá trị kinh tế kèm theo mức độ gia tăng rủi ro mà những người công nhân chấp nhận, chứ không cụ thể cho một cá nhân người công nhân nào đó.  VSL cũng có thể được tính toán trong các trường hợp khác mà chúng ta có thể đo được sự đánh đổi kinh tế của mỗi người để chấp nhận một mức rủi ro cao hơn. Ví dụ, người ta có thể chấp nhận mua nhà ở khu vực ít an ninh hơn vì giá nhà rẻ hơn, hay mua một cái xe ô tô có ít tính năng an toàn hơn nếu giá xe bán thấp hơn. Việc tính toán VSL trong nhiều trường hợp khác nhau giúp chúng ta so sánh các con số để đi đến kết luận cuối cùng chính xác hơn.   Lưu ý là VSL có thể khác nhau đối với các nhóm dân số khác nhau (ví dụ, người giàu có thể đánh giá VSL của mình khác người nghèo, hay người già có thể đánh giá khác với người trẻ). Điều này cũng được minh họa qua tuyên bố của Phó thống đốc Patrick nêu trên. Trên bình diện quốc gia, VSL có thể khác nhau cho các nước khác nhau, vì các yếu tố như mức thu nhập hay cả văn hóa. Gần đây VSL được ước tính bởi các cơ quan chính phủ Mỹ vào khoảng 10 triệu đô la Mỹ, trong khi khối các nước OECD ước tính con số này khoảng 3,6 triệu đô la Mỹ.   Nếu thêm giả định, các kinh tế gia cũng có thể tính được giá trị thống kê của mỗi năm cuộc sống (value of a statistical life year, viết tắt là VSLY). Điều này có thể giúp tính toán chi tiết hơn trong trường hợp chúng ta cần phải sự lựa chọn giữa chi phí và kéo dài thêm tuổi thọ cuộc sống mỗi người. Ví dụ, không khí ô nhiễm có thể làm giảm bớt tuổi thọ dân số, và việc làm sạch không khí ô nhiễm đòi hỏi phải đóng cửa các ngành công nghiệp ô nhiễm hay phải sử dụng các công nghệ bảo vệ môi trường tốn kém hơn. Chính phủ Mỹ ước tính VSLY cho người dân Mỹ là 369.000 đô la Mỹ.4  Cúm COVID-19 và vài ước tính tạm thời  Một tính toán gần đây cho thấy khi nền kinh tế đóng cửa hoàn toàn, 20% hộ nghèo nhất của cả nước chỉ duy trì được chi tiêu trong khoảng 3 tháng mà không cần đi làm (với giả định lượng cung và giá cả hàng hóa không thay đổi)5.  Ngoài ra, đóng cửa nền kinh tế cũng sẽ làm giảm sút sản xuất và tiêu dùng, gây gián đoạn các chuỗi cung cầu. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Á Châu gần đây đều nhận định dịch cúm COVID-19 có thể làm giảm mức tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay.6   Trong khi đó, Việt Nam đã kiểm soát khá tốt dịch bệnh cho đến thời điểm này, với dưới 300 ca nhiễm bệnh và chưa có trường hợp tỷ vong. Như vậy, trong thời gian tới sẽ là hợp lý khi chính phủ có các động thái chuyển dần từ phòng chống dịch từ chiều rộng (đóng cửa hết các thành phần kinh tế) sang chiều sâu (mở cửa chọn lọc một số thành phần kinh tế trên cơ sở vẫn phải kiểm soát tốt dịch bệnh).7        Trong thời gian tới sẽ là hợp lý khi chính phủ có các động thái chuyển dần từ phòng chống dịch từ chiều rộng sang chiều sâu.      Như đã nêu trên, một chính sách như vậy nên được ban hành dựa trên cơ sở dữ liệu được lượng hóa. Một nghiên cứu gần đây đo mức đánh đổi kinh tế của hộ gia đình để giảm bớt nguy cơ lũ lụt, dựa trên mẫu điều tra ở tỉnh Nghệ An, ước tính VSL là từ 2.5 cho đến 3.6 tỷ đồng (tương đương từ 120 nghìn cho đến hơn 170 nghìn đô la Mỹ)8. Nhưng lưu ý rằng Nghệ An là tỉnh nghèo, nên không đại diện đầy đủ cho cả nước.   Mặt khác, nghiên cứu này cũng tính toán rằng VSL cao gấp khoảng từ 77 đến 111 mức thu nhập trung bình hộ gia đình ở Nghệ An, và mức này gần giống ước lượng của các nước láng giềng Việt Nam như Thái Lan và Campuchia. Như vậy chúng ta có thể sử dụng tỷ lệ này, kết hợp với mức thu nhập trung bình của cả nước là 158 triệu một người một năm (theo dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2016) để tính VSL cho mỗi người dân trên cả nước. Như vậy VSL ước tính vào khoảng từ hơn 12 cho đến gần 18 tỷ đồng (tương đương từ 545 nghìn cho đến 786 nghìn đô la Mỹ).   Việc tính toán chính xác lợi ích và chi phí cho việc mở cửa lại nền kinh tế là khá phức tạp và đòi hỏi thêm nhiều dữ kiện. Nhưng chúng ta có thể giản lược các tính toán này để minh họa. Lợi ích của việc mở cửa trở lại nền kinh tế trong X tuần có thể được tính là X/52 nhân với GDP của cả nước trong năm. Chi phí của việc mở cửa nền kinh tế sẽ bao gồm chi phí và thiệt hại gây ra bởi số ca lây nhiễm, nghi lây nhiễm, và số ca tử vong gia tăng liên quan đến Covid 19, bao gồm chi phí chữa bệnh cho các ca nhiễm, chi phí cách ly cho người tiếp xúc với người bị lây nhiễm, cộng với chi phí của các ca tỷ vong (VSL nhân với số tỷ vong), và có thể thêm chi phí do sức khỏe người bệnh bị tổn sút trong lâu dài dẫn đến rút ngắn tuổi thọ (VSLY nhân với số người bệnh nhân với số năm tuổi thọ trung bình bị rút ngắn do nhiễm bệnh). Với những giả định và lập luận như vậy, nếu kết quả cho thấy lợi ích lớn hơn chi phí thì việc mở cửa trở lại nền kinh tế sẽ là hợp lý.    Nhiều nước cũng đang đứng trước tính toán chi phí, lợi ích, mâu thuẫn của việc đóng hoặc mở cửa nền kinh tế. Trong ảnh là một bác sĩ đứng chặn đầu xe của những người biểu tình đòi mở cửa nền kinh tế và dừng giãn cách xã hội. Ảnh: Alyson McClaran/Reuters  Nhưng như trên đã nêu, đây chỉ là một số ước tính tạm thời, và cần thêm nhiều ước lượng khác cho chính xác hơn. Ngoài ra, còn có một số yếu tố phi kinh tế khác cần được cân nhắc thêm như là cơ sở hạ tầng của ngành y tế. Bài học vừa qua cho thấy việc lơi là kiểm soát dịch bệnh ngay từ khâu ban đầu ở một số nước giàu đã làm cho ngành y tế trở nên quá tải nhanh chóng khi số ca nhiễm tăng vọt trong thời gian ngắn. Việt Nam là một nước thu nhập trung bình thấp với cơ sở dịch vụ y tế khá khiêm tốn so với các nước giàu hơn, nên chúng ta có lẽ luôn cần ưu tiên cho việc phòng dịch hơn là chữa dịch. Chúng ta cũng cần tiếp tục nỗ lực đảm bảo minh bạch trong điều kiện cho phép khi đưa ra các chính sách để người dân và doanh nghiệp có thể giám sát và đóng góp thêm ý kiến. Sự thành công trong phòng dịch ở Việt Nam thời gian vừa qua cũng được góp phần lớn từ sự hưởng ứng của người dân.      Tài liệu tham khảo:   1 Sonmez, Felicia. (2020). “Texas Lt. Gov. Dan Patrick comes under fire for saying seniors should ‘take a chance’ on their own lives for sake of grandchildren during coronavirus crisis”. https://www.washingtonpost.com/politics/texas-lt-gov-dan-patrick-comes-under-fire-for-saying-seniors-should-take-a-chance-on-their-own-lives-for-sake-of-grandchildren-during-coronavirus-crisis/2020/03/24/e6f64858-6de6-11ea-b148-e4ce3fbd85b5_story.html   2 https://www.nobelprize.org/prizes/lists/all-prizes-in-economic-sciences   3 Baker, Mike and Sheri Fink. (2020). “At the Top of the Covid-19 Curve, How Do Hospitals Decide Who Gets Treatment?” https://www.nytimes.com/2020/03/31/us/coronavirus-covid-triage-rationing-ventilators.html   4 Kniesner, Thomas J., and W. Kip Viscusi. (2019). “The Value of a Statistical Life.” Oxford Research Encyclopedia of Economics and Finance.   5 Nguyễn Việt Cường. (2020). “Hộ gia đình cầm cự được trong bao lâu?” Tia Sáng, Số 7, trang 17.   6 World Bank. (2020). World Bank East Asia and Pacific Economic Update, April 2020: East Asia and Pacific in the Time of COVID-19. Washington, DC: World Bank.  https://www.adb.org/countries/viet-nam/economy  7 Hữu Công. (2020). “Đề xuất cách ly xã hội theo nhóm tỉnh thành”. https://vnexpress.net/de-xuat-cach-ly-xa-hoi-theo-nhom-tinh-thanh-4086274.html   8 Reynaud, Arnaud, and Manh-Hung Nguyen. (2016). “Valuing flood risk reductions.” Environmental Modeling & Assessment, 21(5): 603-617.       Author                Đặng Hoàng Hải Anh        
__label__tiasang Yuval Noal Harari – Nhà khoa học dân túy      Harari được coi là nhà trí thức được săn đón nhất trên thế giới, không phải vì độ xác thực trong những kiến thức mà ông đưa ra, mà vì tài năng kể chuyện một cách hấp dẫn, khéo léo che giấu những thiếu sót về khoa học.    Ảnh: currentaffairs.  Nếu muốn biết mức độ ảnh hưởng của nhà sử học Yuval Noah Harari, hãy nhìn vào những con số mà những cuốn sách của ông mang lại. Cuốn Sapiens: Lược sử loài người (Sapiens) đến năm 2019 đã được dịch ra trên 50 ngôn ngữ và bán được 13 triệu bản. Nguyên Tổng thống Barack Obama khi giới thiệu cuốn sách trên CNN vào năm 2016 đã nói rằng, cuốn Sapiens như Kim tự tháp Giza, cho ông “một cảm quan” về nền văn minh phi thường của chúng ta. Harari sau đó đã xuất bản thêm hai cuốn sách bán chạy – Homo Deus: Lược sử Tương lai (2017) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018). Sách của ông đã bán được hơn 23 triệu bản trên toàn thế giới. Ông được coi là nhà trí thức được săn đón nhất trên thế giới.  Còn nếu xem những video có sự xuất hiện của Harari, bạn có thể thấy, trong những môn đệ của ông có những người quyền lực nhất thế giới, đến với ông như những vị vua cổ đại đến với vị tư tế của mình. Mark Zuckerberg hỏi Harari rằng liệu công nghệ ccđang khiến loài người đang trở nên đoàn kết hơn hay chia rẽ hơn không? Giám đốc Điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã hỏi ông rằng liệu các bác sĩ có phụ thuộc vào Thu nhập cơ bản toàn dân [UBI] trong tương lai hay không. Giám đốc điều hành của Axel Springer, một trong những nhà xuất bản lớn nhất ở châu Âu, hỏi Harari rằng các nhà xuất bản nên làm gì để thành công trong thế giới kỹ thuật số. Và còn nhiều những cuộc nói chuyện khác ở TED Dialogues, India Today Conclave hay vô số những diễn đàn, trường đại học cầu cạnh kiến thức của vị sử gia này về mọi lĩnh vực, từ tương lai cho tới nghề nghiệp, thậm chí là cả thiền hành.  Chúng ta đang sống trong một thời điểm khó khăn. Tất cả chúng ta đều đang đi tìm những câu trả lời về sự sống và cái chết, về khoa học và nhân loại. Liệu mã gene của chúng ta có chứa đựng chìa khóa để hiểu mọi thứ về con người không? Liệu công nghệ sẽ cứu rỗi hay phá hủy chúng ta? Sự thèm muốn có một người dẫn lối không phải là khó hiểu.  Là một nhà khoa học thần kinh hành vi, tôi biết khi nào khoa học bị đánh đổi lấy chủ nghĩa giật gân [sensationalism]. Tôi gọi những người như Yuval Harari, hay nhà tâm lý học lâm sàng người Canada kiêm thầy phán YouTube Jordan Peterson, là những “nhà khoa học dân túy”. Họ hiểu sức hấp dẫn của những câu chuyện được kể hay, và chẳng màng hy sinh khoa học trong nỗ lực mở rộng tập khán giả của mình. Trong xã hội hiện nay, khi khoa học cần thiết hơn bao giờ hết, chúng ta phải đánh giá nghiêm túc về Nhà tiên tri Dân túy này và những người khác.  ***    Ông đã quyến rũ chúng ta bằng lối kể chuyện hấp dẫn, nhưng một khi chú tâm quan sát hơn, ta có thể thấy rằng ông đã hy sinh khoa học vì chủ nghĩa giật gân, mắc những lỗi thông tin nghiêm trọng và miêu tả những suy đoán cá nhân như thể chúng là hiển nhiên.    Sự thật này có thể gây ngạc nhiên, nhưng tính xác thực thông tin trong các cuốn sách của Yuval Harari nhận được rất ít đánh giá từ các học giả hay các tạp chí nghiên cứu lớn. Giáo sư Steven Gunn của Đại học Oxford, người đã hướng dẫn luận án của Harari về “Hồi ký quân sự thời Phục hưng: Chiến tranh, Lịch sử và Bản sắc, 1450 – 1600”, đã thừa nhận một điều đáng ngạc nhiên: Học trò cũ của ông gần như luôn tránh né thao tác kiểm chứng thông tin. Trong bài chân dung của Harari đăng trên tờ New Yorker năm 2020, giáo sư Gunn nói Harari đã “né quanh” thao tác này bằng cách, “đặt một câu hỏi rộng đến nỗi không ai có thể chỉ ra lỗi sai của từng chi tiết […] bởi không ai có thể là chuyên gia về tất cả mọi thứ, về lịch sử tất cả mọi người”.  Chỉ cần đọc lướt đã chỉ ra bao nhiêu lỗi sai cơ bản.  Đúng như một nhà khoa học dân túy chính hiệu, ông đưa ra các phát biểu nằm ngoài chuyên môn trong suốt thời gian đại dịch diễn ra trên hàng loạt các kênh tin tức như NPR, CNN, BBC Newsnight hay cả podcast của Sam Harris. Tại đây, ông nói về những vấn đề từ kinh tế cho tới cách giải quyết hậu quả dịch bệnh hay quan điểm lịch lẫn tương lai về corona. Ông cũng sử dụng những cơ hội đó để thúc đẩy một cuộc khủng hoảng giả. Harari nghiêm giọng cảnh báo về thứ gọi là “giám sát sát sườn” [under-the-skin surveillance] – tức là việc chính phủ có thể theo dõi mọi cảm xúc hỉ nộ ái ố của bạn khi bắt người dân phải đeo vòng tay sinh trắc học với lý do ngăn ngừa dịch bệnh.  Dù bản thân việc chính phủ giám sát là đáng lo ngại, nhưng những gì ông nói về theo dõi cảm xúc là không có cơ sở, bởi cảm xúc và biểu hiện cảm xúc của con người là rất chủ quan. Cảm xúc của chúng ta không thể bị dò ra chỉ từ các biện pháp sinh lý bị tước khỏi thông tin ngữ cảnh (kẻ thù lâu năm, người yêu mới và caffein đều khiến tim ta đập mạnh hơn). Điều này vẫn đúng ngay cả khi các biện pháp sinh lý mở rộng ra như theo dõi nhiệt độ cơ thể, huyết áp và nhịp tim hay thậm chí là các chuyển động khuôn mặt. Các nhà tâm lý học như Lisa Feldman Barrett phát hiện ra rằng ngay cả những cảm xúc như buồn bã và tức giận cũng không phải là phổ quát. Đây cũng là lý do vì sao chúng ta chưa, và rất có thể sẽ không bao giờ, tạo ra được một công nghệ nhận diện cảm xúc con người tại mọi thời điểm.  Dù những tuyên bố của Harari vô giá trị với khoa học, nhưng người ta khó lòng bác bỏ vì mối lo ngại “kỹ thuật số giám sát toàn cảnh”, các tập đoàn và chính phủ liên tục theo dõi chúng ta. Khi nghe những lời cảnh báo “làm quá” của Harari, chúng ta lại càng lo sợ công nghệ giám sát có thể “biết về chúng ta nhiều hơn chúng ta biết về chính mình”2.  techvshuman.com  Những dự đoán của Harari dựa trên những hiểu biết kém cỏi về khoa học. Chẳng hạn, những dự đoán của ông về tương lai sinh học của chúng ta dựa trên quan điểm đặt gene vào trọng tâm của tiến hóa, một góc nhìn giờ đã thống trị các cuộc thảo luận đại chúng nhờ những người nổi tiếng như ông. Chủ nghĩa giản lược như vậy thúc đẩy một cái nhìn đơn giản về thực tại, và tệ hơn thế, đang rẽ dần sang lãnh địa của chủ nghĩa ưu sinh3 một cách vô cùng nguy hiểm. Ví dụ, trong chương cuối Sapiens, Harari viết:  “Tại sao không quay trở lại bản vẽ của Chúa và thiết kế một loài Sapiens tốt hơn? Những khả năng, nhu cầu và mong muốn của loài Homo Sapiens có cơ sở gene di truyền, và genome của Sapiens thì không phức tạp gì hơn so với loài chuột […]. Nếu kỹ thuật di truyền có thể tạo ra những con chuột kỳ tài, thì tại sao nó không tạo ra được những con người kỳ tài?”  Thật tiện lợi xiết bao nếu kỹ thuật gene là một cây đũa thần, chỉ cần một cái vẩy đũa là có thể biến toàn nhân loại thành Einstein. Đáng buồn là không phải vậy. Ví dụ, trong sinh học, hoạt động thấp của gene monoamine oxidase-A (MAO-A) được cho là có liên quan đến hành vi hung hăng và tội phạm bạo lực. Nhưng không phải người nào có hoạt động MAO-A thấp đều bạo lực, cũng như không phải tất cả những người có hoạt động MAO-A cao đều ôn hòa. Yếu tố nuôi dưỡng và môi trường đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển tính cách của trẻ. Gene không phải là kẻ thao túng giật dây chúng ta từ đằng sau.  Khi Harari viết về việc thay đổi gene, ông đã bỏ qua nhiều cơ chế phi di truyền tạo nên con người. Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra, con của những người thích uống nước cà rốt trong ba tháng cuối của thai kỳ thích ngũ cốc vị cà rốt hơn các trẻ khác, hay con của các bà mẹ Hàn Quốc thích uống nước rong biển thì sẽ có sở thích tương tự. Yếu tố vị giác đặc thù văn hóa này là do ảnh hưởng của vị các món ăn này trong sữa mẹ, chứ không cần một loại gene đặc thù nào. Thậm chí, các yếu tố tưởng chừng căn cốt như sự phân chia tế bào cũng không được tạo ra bởi một mình gene mà còn nhờ các sự kiện sinh lý như phản ứng hóa học trong tế bào, áp lực cơ học bên trong hay cả trọng lực. Nhà khoa học J. L. Marx kết luận, cơ thể động vật là sự kết hợp phức tạp giữa các gene và các sự kiện vật lý, môi trường thay đổi, còn hai nhà di truyền học Eva Jablonka và Marion J. Lamb thì thẳng thắn chỉ trích: “Những người […] không phải nhà di truyền học mà vẫn nói về gene như tác nhân duy nhất, không hơn gì là những kẻ tuyên truyền cần phải bị chúng ta đặt câu hỏi về kiến thức hoặc động cơ của họ”.    Một người có thể biến những vấn đề phức tạp thành đơn giản, thêu dệt những sự thật khoa học theo một ngôn ngữ thuyết phục và thú vị, không còn chút sắc độ hay sự hoài nghi nào. Điều đó tạo cho những nhà tiên tri này một bầu không khí uy quyền, nơi họ có thể truyền đi những thông tin sai lệch, những cuộc khủng hoảng giả trong khi tự đôn mình lên như những người có câu trả lời.    Những mô tả về sinh học và những dự đoán về tương lai của ông, dù còn nhiều lỗ hổng, nhưng vẫn được dẫn lối bởi hệ tư tưởng phổ biến với các ông lớn công nghệ ở Thung lũng Silicon như Larry Page, Bill Gates, Elon Musk và nhiều người khác, những người tin vào thứ mà Harari đặt tên ở phần cuối quyển Homo Deus là “dữ liệu giáo”. Họ coi tất cả các sinh vật là bộ xử lý dữ liệu sinh hóa và tin rằng “thiên chức vũ trụ” của nhân loại là tạo ra một bộ xử lý dữ liệu toàn năng, có thể hiểu chúng ta hơn chúng ta có thể hiểu chính mình. Harari dự đoán rằng từ đây các thuật toán sẽ nắm quyền tiếp quản mọi mặt đời sống của chúng ta – chúng sẽ quyết định chúng ta kết hôn với ai, chúng ta theo đuổi nghề nghiệp gì và chúng ta sẽ bị quản lý như thế nào.  “Homo sapiens là một thuật toán đã lỗi thời” – Harari tuyên bố, diễn giải lại quan điểm những tín đồ dữ liệu giáo, trước khi so sánh con người với con gà, cho rằng sự ưu việt của người so với gà chỉ là khả năng hấp thụ nhiều dữ liệu hơn. Nhưng một con người không phải một con gà, hoặc cứ nhất nhất phải vượt trội hơn so với con gà. Trên thực tế, thị giác gà theo dõi chuyển động và cảm nhận màu sắc tốt hơn người rất nhiều. Ý của tôi không phải gà hay người tốt hơn, mà gà cũng độc nhất kiểu “gà” giống chúng ta độc nhất là “người” vậy.  Cả gà và người đều không chỉ đơn giản là những thuật toán. Bộ não của chúng ta có một cơ thể, và cơ thể đó nằm trong một thế giới. Các hành vi của chúng ta thành hình nhờ các hoạt động đời sống và sinh lý của chúng ta. Các sinh vật không chỉ hấp thụ và chuyển hóa các dòng dữ liệu trong môi trường của mình, chúng ta liên tục thay đổi và tạo ra môi trường của riêng mình – và của nhau – trong một diễn trình được gọi là “xây dựng ổ sinh thái” [niche construction]. Ví dụ, khi một con hải ly xây một con đập trên dòng suối, nó sẽ thay đổi toàn bộ hệ sinh thái của cái hồ nó tạo ra cho con cháu của nó trong nhiều thế kỷ tiếp theo và có khả năng gây ra các sự thay đổi trong quá trình tiến hóa. Con người cũng có thể thay đổi và thích ứng với môi trường xung quanh. Các hoạt động sống này không chỉ phân biệt chúng ta với các thuật toán, chúng còn khiến các thuật toán gần như không thể dự đoán chính xác các hành vi xã hội của chúng ta, như việc ta yêu ai, ta giỏi trong công việc nào hay ta có phạm tội hay không.  Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc Mark Zuckerberg, nhà sáng lập Facebook bước lên sân khấu để nói về công nghệ thực tế ảo, khi cả hội trường đều đeo kính thực tế ảo và không ai để ý tới Mark ngoài đời thực đang bước đi, cho thấy sự phát triển đáng kinh ngạc của công nghệ.  Harari luôn tỏ ra là một người viết sử khách quan, nói rằng ông chỉ ghi chép lại những gì những người theo dữ liệu giáo nói mà thôi. Nhưng rồi ông làm một điều rất lén lút. Ông nói, quan điểm của tín đồ dữ liệu giáo “có thể lập dị, trái với thường thức, nhưng thật sự đã chinh phục hầu hết giới khoa học uy tín rồi”. Bằng cách trình bày thế giới quan của người theo Dữ liệu giáo là sự thật “khách quan” khoa học, ông nói với chúng ta rằng con người chỉ là “thuật toán” và con đường của chúng ta đi đến lỗi thời là không thể tránh khỏi. Tuy vậy, bốn người ông trích dẫn để ủng hộ tuyên bố này thì có đến ba người không làm khoa học.  Số phận loài người không có gì là tiền định. Chúng ta phải nhận thấy rằng quyền tự chủ của mình đang bị xói mòn bởi các mô hình kinh tế mới do Google và Facebook làm chủ, như cách nhà khoa học xã hội Shoshana Zuboff gọi tên là “chủ nghĩa tư bản giám sát”. Các tập đoàn công nghệ lớn này tạo ra các nền tảng số để theo dõi các hoạt động trực tuyến của chúng ta và dùng chúng để tối đa hóa lợi nhuận của họ. Hệ quả là những buồng vọng4 được tạo ra dẫn đến sự hoài nghi về khoa học, phủ nhận biến đổi khí hậu hay phân cực chính trị. Shoshana Zuboff cũng cho rằng chúng ta phải nhìn nhận nó như một phát minh của con người chứ không phải sự thật tự nhiên hay tính tất yếu công nghệ. Dễ thấy là Zuboff không được Thung lũng Silicon yêu thích như Harari.  ***  Harari vẫn đang không ngừng tìm kiếm những tín đồ mới, thậm chí là hướng đến trẻ em với các chương trình TV và phiên bản Sapiens tranh màu mới xuất bản. Ông đã quyến rũ chúng ta bằng lối kể chuyện hấp dẫn, nhưng một khi chú tâm quan sát hơn, ta có thể thấy rằng ông đã hy sinh khoa học vì chủ nghĩa giật gân, mắc những lỗi thông tin nghiêm trọng và miêu tả những suy đoán cá nhân như thể chúng là hiển nhiên. Cơ sở mà ông ta dựa vào để đưa ra những kết luận của mình thì tối nghĩa vì ông hiếm khi cung cấp các chú thích hoặc tài liệu tham khảo đầy đủ và đặc biệt keo kiệt trong việc công nhận ý tưởng của các nhà tư tưởng khác5. Và nguy hiểm hơn hết, ông đã củng cố các diễn ngôn của các nhà tư bản giám sát, cho họ quyền tự do thao túng các hành vi của chúng ta để phù hợp với lợi ích thương mại của họ. Để tự cứu mình khỏi cuộc khủng hoảng hiện tại này và các cuộc khủng hoảng tiếp theo trong tương lai, chúng ta phải từ chối hoàn toàn thứ khoa học dân túy nguy hiểm của Yuval Noah Harari.□  Vương Vi lược dịch  Nguồn: Darshana Narayanan, “The Dangerous Populist Science of Yuval Noah Harari”, Current Affairs, March/April 2022.  https://www.currentaffairs.org/2022/07/the-dangerous-populist-science-of-yuval-noah-harari  —-  1 Thu nhập cơ bản toàn dân: Lý thuyết thuộc hệ thống nhà nước phúc lợi, trao một số tiền nhất định cho toàn bộ dân số như là nguồn lương cơ bản.  2 Gaslight: Thuật ngữ tâm lý phát triển từ vở kịch cùng tên, nói về việc người ta dần dần tin vào những gì bị nói dối qua các thủ thuật tâm lý và áp lực.  3 Chủ nghĩa ưu sinh: là một loại ngụy khoa học hoặc phong trào sinh học-xã hội ủng hộ việc sử dụng các phương thức nhằm cải thiện cấu tạo gene của dân số, loại bỏ những “nguồn gene không mong muốn” (người yếu đuối, khuyết tật, mắc bệnh bẩm sinh).  4 echo chamber: Một nơi mà người tham gia không chấp nhận những ý kiến khác biệt mà chỉ nghe và đồng ý lẫn nhau  5 Một độc giả đại chúng khi đọc Harari sẽ nghĩ rằng đó đều là các ý tưởng của riêng ông. Nhưng trên thực tế, khung quan điểm của Harari thường là na ná với quan điểm của những người đi trước. Ví dụ: so sánh của ông giữa hệ tư tưởng tôn giáo và thế tục với trò chơi Pokemon Go giống y hệt với một so sánh được nhà triết học người Slovenia Slavoj Žižek đưa ra trước đó trong cuốn sách Incontinence of the Void: Economico-Philosophical Spandrels xuất bản năm 2017, vốn cũng đã được ông này đề cập trong nhiều bài giảng trước đó. Trong cuốn Homo Deus, Harari dành hẳn một chương để nói về “dữ liệu giáo”, nhưng lại không ghi nhận vai trò của nhà báo David Brooks (người đầu tiên phát minh khái niệm này) và Steve Lohr (người đã xuất bản một cuốn sách cùng tên năm 2015).    Author                Darshana Narayanan        
__label__tiasang Yuval Noah Harari: Xã hội có nguy cơ bị kiểm soát hoàn toàn      Nhà sử học Yuval Noah Harari cho rằng, nguy cơ do một loại virus kỹ thuật số gây ra còn lớn hơn nhiều so với một loại virus hữu cơ khác. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói về con quái vật sinh ra sự bất bình đẳng ngày càng tăng đối với xã hội trên Internet.      Thế giới sẽ như thế nào hậu corona? Thuật toán và dữ liệu lớn sẽ đóng vai trò gì? Nhà sử học người Israel Yuval Noah Harari, tác giả của một loạt cuốn sách lược sử quá khứ và lược sử tương lai bán chạy nhất thế giới “Homo Deus: lược sử tương lai” và “21 bài học cho thế kỷ 21”, trò chuyện về tương lai của nhân loại, trên tờ WELT của Đức.  WELT: Thưa giáo sư Harari, bài học quan trọng nhất mà chúng ta rút ra được từ đại dịch virus corona là gì?  GS. Yuval Noah Harari: Đó là sự cần thiết phải hợp tác toàn cầu khi giải quyết các vấn đề toàn cầu. Chúng ta không có lựa chọn nào khác. Nhưng tiếc là chúng ta đã không đạt được mục tiêu.  Ý ông là gì? Có phải ông muốn nói vaccine vẫn chỉ dành cho các nước giàu còn số lượng dành cho người nghèo ít hơn đáng kể?  Đây rõ ràng là một tính toán thiển cận, vì virus có thể quay trở lại từ một quốc gia khác và dưới dạng đột biến. Nhưng tình hình còn tồi tệ hơn: sau hai năm đại dịch vẫn không có một kế hoạch toàn cầu – chưa nói đến lãnh đạo toàn cầu – làm thế nào để nhanh chóng vượt qua đại dịch, đối phó với những hậu quả kinh tế mà nó gây ra và đối mặt với một đại dịch khác có thể xảy ra.  Nếu chúng ta không thành công trong việc tìm ra một con đường chung trong một tình huống khẩn cấp mang tính thời đại và toàn cầu như thế này, thì làm thế nào chúng ta có thể đạt được các mục tiêu của mình đối với những vấn đề phức tạp không kém và phức tạp hơn, có thể còn ít rõ ràng hơn, như môi trường hoặc trí tuệ nhân tạo.  Chúng ta cũng chưa thể hợp tác hiệu quả để điều tra về nguồn gốc của virus ở nơi khởi phát của nó.  Đáng tiếc, điều đó xảy ra ở một đất nước không có tự do thông tin. Do đó, chúng ta cần tạo ra một cơ sở tốt hơn để trao đổi càng nhiều thông tin càng tốt trên thế giới để ngăn chặn mối nguy hiểm cho nhân loại. Một bài học khác từ Corona là tầm quan trọng của sức khỏe cộng đồng không chỉ trên bình diện quốc gia mà trên toàn thế giới. Nhưng một số quốc gia vẫn muốn xây những bức tường chống lại người nhập cư. Những bức tường mà chúng ta thực sự cần là những bức tường ngăn cách giữa loài người với các loại mối đe dọa, chẳng hạn như virus. Tính ích kỷ chắc chắn không đưa chúng ta đi đến đâu cả.    Lần đầu tiên thế giới biết tới khái niệm “Chủ nghĩa dân tộc vaccine“ (vaccine nationalism) khi các quốc gia giàu có chủ động nguồn cung và tích trữ vaccine tới mức thừa mứa trong khi các nước nghèo không thể mua nổi. Infographic tiêm vaccine cho đến tháng 6 vừa qua trên trang aljazeera.  Tuy nhiên khoa học đã cho thấy khả năng tuyệt vời của mình, trong chưa đầy một năm mà đã phát triển được vaccine chống COVID -19?  Đúng vậy, và điều đó khiến tôi rất lạc quan. Tôi nghi ngờ rằng đây thực sự có thể là trận đại dịch nghiêm trọng cuối cùng, trong khi những hiện tượng kiểu này trước kia hoàn toàn không thể kiểm soát được. Tuy nhiên, các chính trị gia vẫn chưa rút ra được bài học trong việc xây dựng một nền tảng chiến lược để có thể hành động kịp thời và rộng khắp trên toàn thế giới, và chúng ta đã chứng kiến những tổn thất bộc lộ trong những tháng gần đây, ví dụ như Donald Trump, giữa cơn đại dịch hoành hành đã cắt giảm tài trợ cho WHO. Điều này giống như ta chứng kiến một thảm họa trong chuyển động chậm.  Chí ít thì đã có một số nguyên thủ quốc gia theo chủ nghĩa dân túy đã bị lật nhào vì đại dịch này, ông có thấy thế không?  Vâng, bởi vì trong hoàn cảnh như vậy, mọi người ý thức được rằng họ cần một nhà lãnh đạo thực chất, chứ không phải một nghệ sĩ giải trí trong chương trình thực tế.  Trên khắp thế giới đang có các cuộc thảo luận sôi nổi về hộ chiếu tiêm chủng và những hạn chế liên quan đến Corona. Đã từng viết những cuốn sách về tương lai, bao gồm chủ đề về chủ nghĩa xuyên nhân đạo (Trans-Humanismus) như trong cuốn “Homo Deus: Lược sử tương lai”, giờ đây ông nghĩ gì về điều này?  Trong điều kiện khẩn cấp, các biện pháp như “giám sát” là cần thiết, và cá nhân tôi nghĩ đó là điều đúng đắn, nên làm. Tuy nhiên về lâu dài nó có thể trở thành một loại như con ngựa thành Troy và sẽ kiểm soát toàn bộ xã hội. Đó là lý do có hai điều cực kỳ quan trọng: Các biện pháp này chỉ là những biện pháp tạm thời, nhưng hơn tất cả, các biện pháp đó phải được áp dụng đối với cả hai phía.  Điều này có nghĩa là các nhà nước, chính phủ và các đại gia web cũng phải minh bạch, đặc biệt là trong thời điểm khẩn cấp như thế này. Và theo tôi, điều đó không may là không phải như vậy, như vụ bê bối Facebook vừa qua cho thấy. Nếu việc giám sát chỉ mang tính đơn phương, lâu dài có nguy cơ chúng ta sẽ trở thành một nước chuyên quyền và toàn trị.   Có nghĩa là ông lo lắng về vấn đề dân chủ?  Chúng ta cần làm điều đó, phải coi đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, bởi vì trong khi các chế độ độc tài như là một loại cỏ dại có thể mọc ở bất cứ đâu, dân chủ là một bông hoa cần được chăm sóc, bảo vệ, nó cần thời gian và điều kiện tích cực để phát triển. Nó không đến từ hư không, sự hỗn loạn ở Afghanistan đã cho thấy điều này. Nền dân chủ tồn tại nhờ sự chấp nhận của người khác, của những người có suy nghĩ khác biệt và kể cả của những người chống đối.  Tuy nhiên, thật không may, như tôi thấy thì ở nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, ngày càng có nhiều hận thù giữa các nhóm sắc tộc, được thúc đẩy bởi các nhà lãnh đạo có âm mưu phá hoại nền dân chủ. Với đà này, khi không ai còn tôn trọng ai và mọi người ngày càng trở thành thù địch với nhau, thì có hai kịch bản có thể xảy ra: một là nội chiến, hai là xuất hiện một chính phủ cực kỳ độc tài.    Phim tài liệu “Song đề xã hội” (Social Dilemma) đề cập tới việc các mạng xã hội thu thập dữ liệu người dùng, gây chia rẽ gia đình, cộng đồng và có thể còn làm xói mòn nền dân chủ. Trong phim, GS Shoshana Zuboff, người khai sinh ra khái niệm “Chủ nghĩa tư bản giám sát“ cũng phân tích về nguy cơ chúng ta bị các ông lớn công nghệ giám sát, thu thập dữ liệu.  Ông ái ngại đến mức nào về sức mạnh và ảnh hưởng của các thuật toán trực tuyến, nó thường chỉ cho chúng ta thấy những gì chúng ta thích và loại bỏ phần còn lại? Đó cũng là cơ chế tuyên truyền của những thuyết chống tiêm chủng và các thuyết âm mưu khác.  Chúng cực kỳ nguy hiểm. Thật không may, các thuật toán này chủ yếu dựa trên một mô hình kinh doanh: chúng muốn giữ chúng ta trên một trang web càng lâu càng tốt để kiếm được nhiều tiền hơn nữa, chúng tạo ra cảm xúc ở người dùng để qua đó tăng “mức độ tương tác”. Đây cũng là lý do tại sao các thuyết âm mưu và quan điểm chống vaccine lại lan truyền nhiều hơn so với sự thật. Âm mưu duy nhất thực sự của phương tiện truyền thông xã hội là khai thác người dùng nhiều nhất.   Vậy làm thế nào để thoát ra được tình trạng này?  Bạn phải “bỏ bom” mọi người đúng với nghĩa của từ này thông qua các dữ kiện, thí dụ nói rõ về vaccine. Tuy nhiên, không phải thông qua nhai đi nhai lại một cách nhàm chán, mà là theo cách cảm xúc và có sự đồng cảm, như trên phương tiện truyền thông xã hội.  Còn một vấn đề nữa, đó là những bất công xã hội. Trong cuốn sách “Sapiens” của ông, một thám tử đã điều tra cái mà ông gọi là “một trong những tội ác tồi tệ nhất của nhân loại”.   Đúng rồi. Thật không may, lịch sử đã chỉ ra rằng – kể từ cuộc Cách mạng Nông nghiệp – một xã hội công bằng và bình đẳng dường như là không thể, đặc biệt là đối với những điều không tưởng của thế kỷ 20. Nhưng mọi thứ đang phát triển. Vấn đề lớn nhất của thời đại chúng ta là sự tập trung quyền lực vào những gã khổng lồ web và trên hết là vào dữ liệu lớn.  Nói cách khác, lượng dữ liệu cá nhân không thể tưởng tượng được mà chúng ta để lại trên Internet hằng ngày mà hầu hết là không hề hay biết?  Đúng vậy. Đây là hành vi trộm cắp, như Shoshana Zuboff (người khai sinh khái niệm chủ nghĩa tư bản giám sát và cuốn sách “Thời đại Chủ nghĩa tư bản giám sát: Cuộc chiến cho tương lai con người tại ranh giới quyền lực mới”-ND) đã nói. Trong khi sự bất bình đẳng trước đây được định nghĩa về tài sản, thì giờ đây nó là dữ liệu lớn, thứ có giá trị nhất hiện nay. Và điều cực kỳ nguy hiểm là lượng dữ liệu khổng lồ này lại nằm trong tay những gã khổng lồ về web như Facebook, Google, Alibaba và những người khác. Nếu điều này không được ngăn chặn càng nhanh càng tốt, sự bất bình đẳng sẽ ngày càng trở nên cực đoan hơn và có thể phát triển thành một chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số mới.  Làm thế nào chúng ta có thể ngăn chặn điều đó?  Các chính phủ, cũng như những công dân cần phải có cam kết, có thể và nên làm điều gì đó để hạn chế quyền lực của các công ty đa quốc gia này. Trong 20 năm nữa, tất cả thông tin của chúng ta, từ công dân bình thường đến thẩm phán hay nhà báo, đều có thể chuyển đến một số trung tâm ví dụ như Bắc Kinh hoặc Washington. Và đó sẽ là một thảm họa.  Gần đây, chúng ta đã chứng kiến một số sự cố mất điện của các mạng máy tính và kỹ thuật số, từ một số ngân hàng cho đến Facebook và Instagram cách đây vài ngày. Thế giới mới của chúng ta dễ bị tổn thương như thế nào?  Theo tôi, mối nguy hiểm do virus kỹ thuật số gây ra lớn hơn nhiều so với virus hữu cơ khác. Bởi vì bây giờ mọi thứ đều diễn ra trực tuyến, thậm chí còn nhiều hơn cả trước đại dịch, và việc mất điện vài ngày là đủ để gây ra một thảm họa. Chúng ta chưa chuẩn bị cho điều này và do đó đang gặp nguy hiểm lớn. Chúng ta đang ngày càng hướng tới một cuộc chiến tranh lạnh kỹ thuật số, giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và các quốc gia khác.  Vì vậy, không thể có chuyện về “những năm hai mươi vàng son”, như từng xảy ra sau đại dịch vào đầu thế kỷ trước, mà nhiều người đang hy vọng?  Tôi không tin rằng lịch sử có thể lặp lại hoàn toàn. Bởi vì rất nhiều yếu tố phụ thuộc vào quyết định cá nhân và hoàn cảnh rất đặc biệt. Ví dụ, sau đại dịch, chúng ta có thể đổ lỗi cho người nước ngoài và truyền bá các thuyết âm mưu. Nhưng chúng ta cũng có thể phát triển một ý thức sâu sắc về cộng đồng và sự hợp tác – và thậm chí còn tin tưởng hơn vào khoa học. Đây là hai mô hình tương lai khác nhau và cả hai đều có thể xảy ra.  Tôi cho bạn một ví dụ khác: Khi một đại dịch lớn khác bùng phát, AIDS, cộng đồng người đồng tính bị chính phủ bỏ rơi hoàn toàn: “Hãy để bọn đồng tính chết đi” là câu thần chú của họ. Thay vào đó, trong trường hợp khẩn cấp này, cộng đồng đồng tính luyến ái đã ngày càng xích lại gần nhau hơn và kết quả là họ trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Bởi vì cuối cùng quyền lực luôn thuộc về nhân dân.□  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Die Welt    Author                Quản trị        
__label__tiasang ZOTERO: CÔNG CỤ LƯU TRỮ TÀI LIỆU TRÊN INTERNET CẦN THIẾT CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC      Zotero l&#224; một c&#244;ng cụ hữu hiệu d&#249;ng để lưu trữ, quản l&#253; c&#225;c t&#224;i liệu tr&#234;n mạng, được ph&#225;t triển bởi Trung t&#226;m Nghi&#234;n cứu lịch sử v&#224; c&#244;ng nghệ truyền th&#244;ng mới (Center for History and New Media) của George Mason University, Hoa Kỳ. Kể từ phi&#234;n bản đầu ti&#234;n Zotero 1.0 ra mắt v&#224;o năm 2006, th&#225;ng 9/2008 phi&#234;n bản Zotero 1.5 ra đời với nhiều cải tiến đ&#225;ng kể. Ri&#234;ng tại Hoa Kỳ, đ&#227; c&#243; hơn 100 trường đại học tổ chức c&#225;c buổi giới thiệu chuy&#234;n đề về c&#225;ch thức sử dụng Zotero cho giảng vi&#234;n v&#224; sinh vi&#234;n. Tạp ch&#237; PC đ&#227; b&#236;nh chọn Zotero l&#224; một trong những phần mềm ứng dụng miễn ph&#237; tốt nhất (best free software applications) trong hai năm 2007 v&#224; 2008.    Một trong những điểm ưu việt của Zotero là khả năng xây dựng tự động thư mục tài liệu tham khảo (bibliography) từ nguồn dữ liệu trực tuyến của hơn 1000 tạp chí và hàng trăm thư viện có uy tín trên giới, và các con số này đang tiếp tục gia tăng mỗi ngày. Thư mục này sau đó có thể được xuất ra dưới dạng file văn bản theo một số qui định quốc tế khác nhau về tài liệu tham khảo, chẳng hạn như của American Psychological Association, Chicago Manual of Style, Havard Reference Format.   Zotero hoạt động trên nền của Firefox, miễn phí hoàn toàn, có thể tải về theo địa chỉ www.zotero.com. Trang web này có đầy đủ các hướng dẫn cần thiết cho người mới sử dụng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các trường đại học đã triển khai ở Hoa Kỳ, mỗi trường cần giao cho một đơn vị chịu trách nhiệm nghiên cứu sâu cách thức sử dụng rồi sau đó tổ chức tập huấn cho giảng viên và sinh viên. Trong bối cảnh các tài liệu khoa học trực tuyến ngày càng chiếm ưu thế so với các loại tài liệu truyền thống thì công cụ này là rất hữu ích cho cả thầy lẫn trò.  TS. Lê Văn Hảo  Học giả VEF tại Washington State University, Hoa Kỳ    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 “Apple” tương lai      Trẻ trung và đầy khí thế vươn lên – 10 doanh nghiệp ở các nước mới nổi đang vươn lên và trở thành đối thủ tiềm năng của nhiều tập đoàn lâu đời và lừng lẫy tiếng tăm ở Châu Âu.    Alibaba, đối thủ đáng gờm của Amazon  Nguồn ảnh: WSJ  Tập đoàn tư vấn doanh nghiệp Boston Consulting  Group (BCG) mới đây đã tiến hành một khảo sát trên diện rộng và xác định được 100 doanh nghiệp mới trỗi dậy, trong đó có mười doanh nghiệp có khả năng trở thành đối thủ “nguy hiểm” của các tập đoàn nổi tiếng ở châu Âu. Tóm tắt nghiên cứu này của BCG đã đăng tải trên Spiegel.  Những đối thủ mới nổi này ở nhiều lĩnh vực kinh doanh rất đa dạng, từ làm rượu nho cho đến sản xuất ô tô và có nhiều chiến lược kinh doanh khác nhau. Ví dụ, nhiều công ty này tấn công thị trường Châu Âu và đưa ra chiến lược Shoppingtour. Gần đây nhất, tập đoàn hóa chất ChemChina và doanh nghiệp dược phẩm Aspen Pharma của Nam Phi đã qua mặt các đối thủ lâu đời khác, như tập đoàn rượu nho Concha y Toro của Chi lê đã tấn công mạnh vào thị trường Anh, tập đoàn xe ô tô Geely của Trung quốc đã thành công khi đưa xe Volvo của Thụy điển vào thị trường Trung Quốc và nay đang hợp tác với nhà sản xuất đồng hồ Swatch.   Theo BCG, trong giai đoạn 2009 -2014, các doanh nghiệp mới nổi đã tăng trưởng nhanh gấp ba lần trong cạnh tranh thị trường so với các đối thủ là doanh nghiệp châu Âu. Trong gần mười năm qua, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng gấp bốn lần từ  236 tỷ USD lên 944 tỷ USD.  Dưới đây là 10 doanh nghiệp ở các nước mới nổi được đánh giá có thể sẽ trở thành các “apple” tương lai:  Petronas (Malaysia)   Tháp “Petronas Towers” khổng lồ ở Kuala Lumpur đang là biểu tượng của Tập đoàn dầu mỏ Malaysia này. Tập đoàn này hiện đang chuẩn bị các bước đệm để leo lên vị trí hàng đầu thế giới. Petronas giờ đây đã là đối thủ ngang ngửa với các tập đoàn dầu khí khổng lồ, kỳ cựu  như ExxoMobil, Shell và Gazprom. Hiện tại Petronas đã có tên trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới  ChemChina (Trung quốc)   ChemChina là tập đoàn nhà nước của TQ đang tấn công mạnh mẽ vào thị trường châu Âu khi dự kiến mua Syngenta, Tập đoàn sản xuất thuốc bảo vệ thực vật hàng đầu thế giới của Thụy sỹ, thương vụ này có thể đưa tập đoàn ChemChina vào vị trí hàng đầu thế giới về thuốc bảo vệ thực vật. Hiện ChemChina cũng thâu tóm các hãng khác như Pirelli và Krauss Maffei nhưng vẫn chưa hài lòng và còn muốn vươn xa hơn nữa. Doanh thu của tập đoàn hiện lên tới 45 tỷ đôla và là nhà sản xuất hóa chất lớn nhất Trung Quốc.  Alibaba (Trung Quốc)  Alibaba là đối thủ cạnh tranh khốc liệt của Amazon, những năm qua đã có sự tăng trưởng đầy ấn tượng và hiện đã thâm nhập thị trường châu Âu với những mô hình kinh doanh mới.   Xiaomi (Trung Quốc)   Nhà sản xuất điện thoại di động có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới tọa lạc tại Trung Quốc. Nhờ một thương vụ với Microsoft, Xiaomi tăng thêm sức cạnh tranh và trở thành một đối thủ đáng gờm với Apple trên thị trường thế giới.   Turkish Airlines (Thổ Nhĩ Kỳ)   Có số lượng hành khách tăng trưởng mạnh mẽ, nhiều điểm đến, số lượng chuyến tăng nhanh, hãng hàng không Thổ nhĩ kỳ này làm cho các đối thủ cạnh tranh khác phải kiêng nể.   Etihad (Ả rập)   Hãng hàng không này có chương trình giảm giá mạnh cho hành khách di chuyển nhiều và có giá vé nội địa rất phải chăng, đã phát triển với tốc độ chóng mặt làm cho các đối thủ cạnh tranh khác không xoay sở kịp.  Geely (Trung Quốc)   Tập đoàn sản xuất ô tô Geely của TQ làm được điều mà hầu như trước đó không mấy người tin là sẽ làm được: Geely đã vực dậy tập đoàn sản xuất ô tô Volvo của Thụy điển. Giờ đây Geely còn muốn vươn xa hơn nữa.   Aspen Pharma (Nam Phi)   Nhà sản xuất Generika Aspen Pharma có thể cung cấp dược phẩm cho cả châu Phi. Mới đây, nhờ mua được mảng thuốc gây mê của tập đoàn Astra-Zeneca, Aspen Pharma đã trở thành đối thủ thực sự với các ông lớn trong ngành công nghiệp dược thế giới và  sản phẩm của hãng này đã có mặt trên thị trường Đức.  Natura (Brazil)   Natura của Brazil có thể trở thành một Body Shop (thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng của Anh) tiếp theo. Natura Cosmeticos là nhà sản xuất mỹ phẩm dựa và những nguyên liệu thiên nhiên, đã đưa ra thị trường những dòng sản phẩm đặc trưng của mình  –  và đã có những bước đi đầu tiên thâm nhập thị trường châu Âu.   Concha y Toro (Chile)   Concha y Toro đã nhảy lên hàng thứ tư thế giới về sản xuất rươu nho. Thương hiệu rượu nho Casillero del Diablo là nhãn mác nổi tiếng của nhà sản xuất rượu nho lớn nhất Nam Mỹ này và trở thành đối thủ cạnh tranh đáng sợ tại thị trường rượu nho ở Anh.   Xuân Hoài lược dịch theo Spiegel online.        Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 công ty khởi nghiệp công nghệ hứa hẹn nhất ở Đài Loan 2017      Bộ Khoa học và Công nghệ Đài Loan vừa công bố danh sách 10 công ty khởi nghiệp công nghệ hứa hẹn nhất tại Đài Loan năm 2017.      Gogoro, một trong 10 start up được bình chọn, cung cấp xe khoảng 60.000 xe điện trên toàn thế giới  10 công ty đó là Appier, CloudMile Ltd., Gogoro, Health2Sync, iStaging, Jarvish, Maisense Inc., Mobagel Inc., Umbo CV và Viscovery. Chính quyền Đài Loan đã cấp 608 triệu đô la Mỹ để giúp khu vực công nghệ khởi động, thúc đẩy các ngành công nghiệp trọng điểm, thúc đẩy Đài Loan trên trường quốc tế để khuyến khích đầu tư mới.  Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Đài Loan Hsu Yu-chin, 22 chuyên gia đã tham gia vào quá trình tuyển chọn 122 công ty khởi nghiệp. 10 công ty khởi nghiệp chiến thắng cung cấp các dịch vụ và giải pháp độc đáo cho các doanh nghiệp và cá nhân để đối mặt với tất cả các loại thách thức. Một nửa trong số họ tham gia vào việc phát triển các giải pháp AI (trí tuệ nhân tạo): Appier (phát triển nền tảng AI cho các giải pháp thương mại), Gogoro (nhà sản xuất xe điện), Jarvish ( phát triển hệ thống tai nghe thông minh cho an toàn đường bộ), Umbo CV (phát triển AI cho các chương trình dựa trên một mạng lưới thần kinh với các ứng dụng giám sát trực tuyến) và Viscovery (phát triển hệ thống thông minh cho nhận diện video và hình ảnh phục vụ học tập). MoBagel (sử dụng phân tích tiên đoán tự động để chuyển đổi chúng thành dữ liệu kinh doanh giá trị, sử dụng phân tích dữ liệu lớn và học máy tư vấn), Health2Sync (công ty công nghệ y sinh đang phát triển một ứng dụng cho bệnh nhân tiểu đường) và Maisense Inc (phát triển một công nghệ nhỏ gọn để theo dõi hệ thống của cơ thể), và iStating số hóa không gian vật lý trong các mô hình 3D. Gogoro hiện là công ty khởi nghiệp được công nhận trên toàn cầu, cung cấp khoảng 60.000 xe điện trên toàn thế giới. Jarvish, tạo ra mũ bảo hiểm thông minh cho thị trường Hoa Kỳ và châu Âu.  Phùng Anh Tiến dịch  Nguồn: https://www.taiwannews.com.tw, 8/2018    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 đột phá công nghệ năm 2016 (Phần 1)      Những phát minh công nghệ nào thực sự tạo ra được những thay đổi lớn trong việc giải quyết những vấn đề của xã hội và mở ra những cơ hội mới trong tương lai? Dưới đây là 10 đột phá công nghệ được tờ MIT Technology… Review bình chọn cho năm 2016. Tất cả 10 phát minh này đã tạo ra những dấu ấn quan trọng trong năm qua.      Miễn dịch bằng biến đổi gene  Thời điểm đưa vào áp dụng: 1 – 2 năm tới.  Các tế bào miễn dịch biến đổi gene đang cứu sống nhiều bệnh nhân ung thư. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và điều chế ra được một số tế bào biến đổi gene có thể tiêu diệt các tế bào ung thư ở bệnh nhân mắc ung thư bạch cầu (leukemia – một dạng của ung thư máu). Các tế bào này được chỉnh sửa dựa trên việc áp dụng kỹ thuật mới nhất trong chỉnh sửa gene – phương pháp TALEN – cắt và ghép ADN ngay trên tế bào sống. Cụ thể, họ tìm được cách để kiểm soát và tăng cường khả năng miễn dịch của các tế bào T (một loại tế bào ở hệ thống miễn dịch chuyên tiêu diệt các tế bào ung thư) bằng cách đưa thêm một đoạn ADN đã được sửa chữa vào tế bào T. Có khoảng 300 bệnh nhân đã tham gia thử nghiệm liệu pháp điều trị mới này và có dấu hiệu thuyên giảm hoàn toàn. Một số công ty dược phẩm và công nghệ sinh học dự kiến sẽ nghiên cứu ứng dụng để sử dụng rộng rãi phương pháp điều trị này.  Chỉnh sửa gene chính xác ở thực vật  Thời điểm đưa vào áp dụng: 5 – 10 năm tới.  Một phương pháp chỉnh sửa gene mới ở thực vật (công nghệ này được gọi là CRISPR) đã đem lại hi vọng tăng sản lượng cây trồng và giúp chúng chịu hạn hán và chống bệnh tật hiệu quả hơn. Các cây trồng được chỉnh sửa gene bằng công nghệ CRISPR hiện đang được nuôi trồng trong nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới. Hiện tại, một phòng thí nghiệm ở Trung Quốc đã sử dụng phương pháp này để tạo ra một loại lúa mì kháng nấm, một vài nhóm khác ở Trung Quốc cũng sử dụng kỹ thuật này trên lúa nước để giúp tăng sản lượng. Các nhà khoa học Anh cũng áp dụng CRISPR để sửa gene trên lúa mạch nhằm sản xuất ra giống lúa chịu hạn. Nhiều công ty sản xuất giống lương thực đang hy vọng có thể bán ra thị trường các loại hạt giống được sản xuất bằng kỹ thuật CRISPR này trong vòng năm năm tới.  Giao tiếp với máy tính bằng giọng nói  Giao diện giọng nói vốn chỉ là giấc mơ của các nhà kỹ thuật trong suốt nhiều thập kỷ qua, thậm chí chỉ được nhắc tới trong văn học viễn tưởng. Nhưng nay, ước mơ đó đã trở thành hiện thực khi Baidu, công ty Internet hàng đầu của Trung Quốc áp dụng công nghệ giao tiếp bằng giọng nói vào việc sử dụng điện thoại thông minh. Hiện nay, nhiều người dùng điện thoại thông minh ở Trung Quốc đã sử dụng chính tiếng nói của mình để tương tác với điện thoại thay vì phải vuốt, chạm vào màn hình cảm ứng. Công nghệ này đặc biệt phù hợp ở Trung Quốc vì chữ Hán vốn rất khó thiết kế trên giao diện màn hình cảm ứng nhỏ của điện thoại di động. Các kỹ sư của Baidu tin rằng công nghệ giọng nói này sẽ nhanh chóng được phát triển hơn nữa để con người có thể tương tác bằng giọng nói với nhiều thiết bị khác, ví dụ như các robot hay các thiết bị trong gia đình. Các kỹ sư tại Học viện công nghệ Massachusetts  (MIT) cũng cho rằng đã đến thời điểm “bùng nổ” công nghệ giọng nói, vì con người đang có nhu cầu “nói” với những thiết bị thông minh hơn là sử dụng điều khiển từ xa.  Tái sử dụng Tên lửa  Trước đây các tên lửa sẽ bị phá hủy trong lần đầu sử dụng, nhưng nay chúng có thể quay trở lại hạ cánh và được nạp nhiên liệu cho một hành trình khác, phát minh này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong ngành hàng không vũ trụ. Công nghệ này sẽ giúp ngành hàng không vũ trụ tiết kiệm chi phí hàng trăm lần so với trước đây. Hai “ông lớn” công nghệ đã hiện thực hóa khả năng này là Blue Origin và SpaceX. Blue Origin hi vọng trong tương lai công nghệ này sẽ giúp các hành khách có thể tham quan vũ trụ trong các chuyến bay ngắn khoảng vài phút còn SpaceX sẽ sử dụng công nghệ này để phóng các vệ tinh và tiếp tế cho các trạm không gian.  Các robot có thể dạy lẫn nhau  Thời điểm áp dụng: 3 – 5 năm tới.  Ngày nay con người cần tới robot để xử lý rất nhiều việc, chẳng hạn như đóng gói, xếp đồ trong các nhà kho, giúp đỡ người bệnh… nhưng việc “giao nhiệm vụ” cho robot không dễ dàng bởi vì robot chưa thể nhận thức và được dạy dỗ như con người mà chỉ được con người lập trình sẵn để làm việc gì đó cố định. Trong một dự án công nghệ mới của Tellex, một robot có thể nhận thông tin từ các robot khác. Dự án này có mục tiêu nghiên cứu cách robot “mẫu” thực hiện những nhiệm vụ đơn giản như cầm nắm vật dụng gì đó, sau đó tải dữ liệu (về cách cầm, nắm, hoạt động) của robot đó lên kho dữ liệu điện toán đám mây rồi cho các robot khác phân tích và sử dụng thông tin đó. Dự án này đã tỏ ra hiệu quả khi rất nhiều robot có thể sử dụng khung dữ liệu của robot “mẫu” và thực hiện các động tác giống như robot “mẫu” (các dữ liệu này được nén lại với dung lượng nhỏ dưới 10 Megabyte, chỉ bằng một bài hát). Tellex mới chỉ là khởi đầu của một dự án dài hơi mang tên “Bộ não robot” (RobotBrain) với trọng tâm nghiên cứu cách một con robot có thể học được những trải nghiệm từ một robot khác như thế nào.  App store về thông tin ADN  Nếu bạn biết mình có gene thèm ngọt và băn khoăn rằng liệu mình sẽ mắc phải những nguy cơ sức khỏe gì với gene đó, thì nay đã có sẵn kho ứng dụng phân tích thông tin về ADN mà tất cả mọi người có thể truy cập vào đó. Một kho dữ liệu trực tuyến có đầy đủ các thông tin về gene của mình sẽ giúp bạn dễ dàng truy cập để tìm hiểu về các nguy cơ cho sức khỏe của mình. Công ty Helix ở San Francisco đã đầu tư 100 triệu USD để mở một kho thông tin trực tuyến đầu tiên về gene (ADN App Store). Helix sẽ thu thập mẫu gene từ mỗi khách hàng mua ứng dụng trong ADN App Store, xác định trình tự gene và phân tích dữ liệu gene từ các khách hàng này, rồi số hóa kết quả phân tích. Ngoài ra, bất kì nhà phát triển phần mềm nào cũng đều có thể truy cập các kết quả phân tích này và tạo ra các ứng dụng khác thích hợp với người dùng. Ví dụ, chẳng hạn như sẽ có một ứng dụng với giá chỉ 10 USD cho bạn thấy mình trông như thế nào sau 10 năm nữa dựa trên các kết quả phân tích gene của bạn trên ADN App Store.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 đột phá công nghệ năm 2016 (phần II)      Đây là những đột phá công nghệ được tờ MIT Technology Review bình chọn cho năm 2016.  Gigafactory của SolarCity      Thiết bị phát sóng radio  Thời điểm áp dụng: 2017  Nhà máy Gigafactory của công ty SolarCity trị giá 750 triệu USD ở Buffalo mỗi ngày sẽ sản xuất 10.000 tấm pin mặt trời hiệu suất cao – tương đương với một gigawatt (một triệu kilowatt) điện mặt trời/năm khiến cho công nghệ này trở nên vô cùng hấp dẫn với các hộ gia đình. Đây sẽ là nhà máy sản xuất pin mặt trời lớn nhất ở Bắc Mỹ và một trong những nhà máy lớn nhất trên thế giới. Họ đã giảm chi phí cho mỗi watt điện bằng pin mặt trời từ 4,73 USD/ năm 2012 xuống 2,84 USD và sẽ là dưới 2,50USD vào cuối năm 2017.  Xuất phát từ nghiên cứu tiên phong về năng lượng mặt trời của Martin Green vào cuối những năm 1970, SolarCity tự tin về công nghệ cho phép họ chế tạo những tấm pin có hiệu suất rất cao trong việc biến quang năng thành điện năng. Các tấm pin mới này kết hợp giữa pin mặt trời tinh thể silic thông thường với pin năng lượng màng mỏng và một lớp oxit bán dẫn. Tháng 10 năm ngoái, SolarCity tuyên bố rằng tấm pin chế tạo thử nghiệm tại một nhà xưởng nhỏ ở Fremont, California đã đạt hiệu suất hơn 22% trong khi pin mặt trời silic chỉ có hiệu suất từ 16-18%. Đối thủ của SolarCity là SunPower đã từng dẫn đầu thị trường với tấm pin đạt hiệu suất 21,5%.  Hiệu suất rất quan trọng bởi tấm pin mặt trời chiếm 15-20% giá thành của toàn bộ hệ thống phát điện. Phần còn lại chủ yếu đến từ chi phí cân-đối-hệ-thống: các bộ đổi nguồn inverter để hòa vào lưới điện, vỏ bảo vệ các tấm pin, bộ khung giá đỡ gắn vào mái nhà, nhân công lắp đặt… SolarCity cho biết, hệ thống của họ sẽ giảm bớt 1/3 số lượng tấm pin mặt trời so với các hệ thống hiện tại.  Hệ thống thông tin văn phòng Slack  Hệ thống gửi tin nhắn nội bộ với tên gọi Slack thường được mô tả là phần mềm văn phòng có số người dùng tăng trưởng nhanh nhất từ trước đến giờ. Số người dùng hằng ngày đã vượt qua con số 2 triệu chỉ trong vòng chưa đầy ba năm kể từ khi nó ra mắt vào năm 2013.  Slack đưa cho bạn một khu vực tập trung để giao tiếp với đồng nghiệp thông qua tin nhắn và chat-room, giúp bạn giảm thiểu thời gian làm việc qua email. Bất kể là bạn đang dùng các thiết bị di động hay máy tính để bàn, bạn có thể tải file lên, nhận và sửa thông tin trên các bảng biểu hoặc các ứng dụng công việc khác và dễ dàng tìm kiếm từ các cuộc hội thoại trước.  Mặc dù đã có nhiều ứng dụng có các chức năng như Slack ra đời trước đó nhưng chúng đều thất bại trong việc tạo ra sự hứng thú đến như vậy với người dùng. Điều gì khiến Slack phổ biến? Nguyên do sự thành công nằm ở việc Slack là một phần của những xu hướng lớn: ngày càng nhiều người làm việc trên các thiết bị di động, vả lại, không phải lúc nào những người cần trao đổi cũng ở cùng nhau trong một văn phòng. Nhưng từng chi tiết cụ thể trong thiết kế của Slack cũng rất quan trọng. Gerald C. Kane, phó giáo sư hệ thống thông tin ở Trường Quản trị Carroll, Đại học Boston chỉ ra rằng, Slack sắp xếp tin nhắn theo các luồng để mọi người làm việc cùng nhau đều có thể thấy. Nó “cho phép bạn “nghe thấy” những gì đang diễn ra trong một tổ chức,[…] một kiểu nắm bắt các hoạt động chung quanh mà bạn không có được khi dùng email” – ông nói.  Xe hơi tự lái Tesla  Vào tháng 10 năm 2014, công ty chế tạo xe hơi điện của Elon Musk tung ra thị trường những chiếc xe sedan với cả tá cảm biến siêu âm được đặt ngầm quanh xe. Nếu trả thêm 4.250 USD, khách hàng của Tesla có thể nâng cấp thêm một “gói công nghệ” sử dụng cảm biến, camera, radar phía trước và các bộ phanh điều khiển số giúp tránh những vụ va chạm – thực sự cho phép chiếc xe điều khiển việc lái và dừng xe trước khi tai nạn. Một năm sau, vào tháng 10 năm 2015, công ty này gửi phần mềm cập nhật cho 60.000 chiếc xe gắn đầy cảm biến đã bán. Tên chính thức của phần mềm này là Tesla 7.0 nhưng biệt danh Tự lái (Autopilot) mới được nhắc đến nhiều nhất.  Những gì nó cung cấp cho các lái xe tương tự như những gì các phi công sử dụng trên máy bay. Chiếc xe có thể tự điều chỉnh tốc độ, tự quay vô lăng để đi đúng làn, chuyển làn và tự đỗ xe. Một số chức năng này cũng đã được đưa ra bởi một số hãng xe hơi khác (bao gồm Mercedes, BMW, General Motors) nhưng chức năng tự quay vô lăng, thông qua một phần mềm cập nhật đã tạo ra bước nhảy vọt hướng tới tự lái hoàn toàn chỉ sau một đêm.  Tuy nhiên, chiếc xe không tự kích hoạt chức năng tự lái, nó cần một số điều kiện (chủ yếu là tình trạng giao thông tốt) trước khi bạn có thể tận hưởng nó. Các điều kiện bao gồm làn đường tương đối thoáng, xe có thể đi với tốc độ ổn định, các xe chạy xung quanh, và bản đồ khu vực. Với cách tiếp cận từng bước như vậy, Tesla đã bỏ xa Google và các công ty khác mới đang dừng lại ở những thử nghiệm nhỏ để thu thập dữ liệu với hi vọng một ngày nào đó tạo ra những chiếc xe tự lái. Trong khi đó, với Tesla, khách hàng và những chiếc xe bán tự động đóng góp trực tiếp vào các thử nghiệm và họ chỉ cần cập nhật phần mềm là đủ để tạo ra một chiếc xe tự lái.  Năng lượng từ không khí  Thời điểm áp dụng: 2 – 3 năm tới  Các thiết bị internet được cung cấp năng lượng từ sóng Wifi và các tín hiệu vô tuyến khác sẽ giúp những máy tính nhỏ và các cảm biến ngày càng phổ biến.  Ngay cả những thiết bị kết nối internet nhỏ nhất cũng cần pin hoặc nguồn điện. Nhưng điều đó sẽ không đúng trong tương lai. Công nghệ cho phép các thiết bị hoạt động và giao tiếp với nhau chỉ nhờ năng lượng thu thập từ các tín hiệu TV, radio, điện thoại di động và Wifi xung quanh đang trên đường thương mại hóa. Các nhà khoa học tại Đại học Washington đã phát triển một kỹ thuật cho phép các cảm biến chuyển động, cảm biến nhiệt độ và thậm chí cả camera kết nối internet được cung cấp năng lượng theo cách này.  Shyamnath Gollakota và đồng nghiệp Joshua Smith đã chứng minh được rằng những sóng radio yếu có thể cung cấp đủ năng lượng cho các thiết bị internet dựa trên nguyên lý tán xạ ngược. Thay vì phát ra các tín hiệu thông thường, thiết bị của họ phản xạ lại có chọn lọc các sóng radio chiếu đến để tạo ra một tín hiệu mới. Một thiết bị sử dụng kỹ thuật này sẽ thu năng lượng từ các sóng này để lấy điện hoạt động.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 đột phá khoa học năm 2011      Cơ hội chiến thắng đại dịch HIV/AIDS, mỗi  liên hệ giữa người hiện đại và người cổ đại, cơ hội kéo dài tuổi thọ,  phát hiện những hành tinh giống Trái đất, phát triển vật liệu tiềm năng…  được tạp chí Science bình chọn là những đột phá khoa học của năm 2011.      1.    Chiến thắng đại dịch HIV/AIDS    Thành tựu khoa học nổi bật nhất năm 2011 chính là việc mang lại cơ hội cho những người mang trong mình căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Các nhà khoa học từ lâu đã tranh luận về hiệu quả của thuốc kháng virus (ARV) được sử dụng để điều trị người nhiễm HIV có thể có một lợi ích kép và cắt giảm tỉ lệ lây truyền. Trong cuộc thử nghiệm lâm sàng 052 được tiến hành bởi Mạng lưới HPTN (còn gọi là Dự án HPTN 052) dưới sự tài trợ của Viện Các bệnh dị ứng và bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (NIAID), đã kết luận, bằng việc sử dụng thuốc kháng virus không chỉ ngăn cản sự phát triển của HIV mà còn giảm được 96% khả năng lây truyền cho những người quan hệ tình dục với người đã bị nhiễm HIV. Với ý nghĩa quan trọng mở ra một hy vọng dập tắt đại dịch thế kỷ này của HPTN 052, giới khoa học đã bình chọn đây là thành tựu đột phá nhất của năm 2011.  2.    Đem vật chất từ tiểu hành tinh về Trái đất     Đột phá khoa học thứ hai được trao cho thành quả tuyệt vời của tàu thăm dò Hayabusa do Cơ quan Vũ trụ Nhật Bản (JAXA) chế tạo.   Sau hơn 7 năm du hành trong không gian, tàu thăm dò Hayabusa đã đáp thành công xuống tiểu hành tinh 25143 Itokawa có kích thước hơn 200m và mang về Trái đất những mẫu vật chất vô giá thu được từ bề mặt tiểu hành tinh hình củ khoai tây này. Đây là lần đầu tiên loài người trực tiếp có trong tay mẫu vật chất từ một tiểu hành tinh trong Hệ Mặt trời. Trước đây, các nhà du hành vũ trụ Mỹ đã đặt chân lên Mặt trăng và mang về hàng trăm kg đất đá của chị Hằng.  Sở dĩ các nhà khoa học chọn 25143 Itokawa làm điểm đến vì thành phần của nó chứa nhiều silic, sắt vốn cũng là thành phần chiếm ưu thế của những thiên thạch đã từng rơi xuống Trái đất. Những hạt bụi thu được sẽ cung cấp rất nhiều thông tin quý giá về sự hình thành Hệ Mặt trời, nguồn gốc các tiểu hành tinh cũng như những thay đổi của chúng do sự tác động của các nhân tố vật lý như: tia vũ trụ, gió Mặt trời, các va chạm liên hành tinh… Kết quả phân tích các mẫu vật chất thu được từ tàu thăm dò Hayabusa cho thấy, bề mặt tiểu hành tinh 25143 Itokawa chỉ được “phơi sáng” khoảng 8 triệu năm trước. Điều này đồng nghĩa với việc tiểu hành tinh này có thể là một phần của một tiểu hành tinh lớn hơn bị vỡ ra sau một va chạm vũ trụ nào đó.  3.    Người hiện đại mang gene của người cổ đại    Bằng việc phân tích các mẫu gene của người Neanderthal và người Denisov cổ đại, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng người hiện đại có những đặc điểm di truyền của người cổ đại đã tuyệt chủng này. Khoảng 2-4% bộ gene con người có thể liên quan tới người Neanderthal. Điều này có nghĩa là gene của người hiện đại mang một số “dấu vết” gene của người Neanderthal. Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích bộ gene của người cổ đại Neanderthal từ những đốt xương ngón tay của họ có niên đại 30.000-50.000 năm tuổi được tìm thấy trong một hang động ở Denisova, miền Nam Siberia.   Người Neanderthal sinh sống ở các vùng châu Âu, Trung Á và Trung Đông từ 300.000 năm trước, và đã tuyệt chủng cách đây khoảng 40.000 năm.    4.    Khám phá chi tiết trung tâm  xúc tác tách nước  Năm 2011, các nhà khoa học có cái nhìn rõ ràng chưa từng có về cấu trúc tinh thể của Hệ thống quang II (PS II). Đây là hệ thống quan trọng của thực vật và hấp thụ ánh sáng có bước sóng không quá 680nm. Các nhà khoa học Nhật Bản đã lập bản đồ chi tiết cấu trúc Hệ thống quang II, một protein rất cần thiết cho quang hợp. Nhờ chất này, thực vật đã phân tách phân tử nước thành phân tử hydro và oxy. Bằng việc quan sát cấu trúc tinh thể của Hệ thống quang II ở độ phân giải 1,9 Å, các nhà khoa học đã khám phá cấu trúc chi tiết của trung tâm xúc tác tách nước. Trung tâm của Hệ thống quang II có tên là P680.  5.    Nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ     Sau hàng tỷ năm tiến hóa, lò luyện kim trong lòng ngôi sao đã không ngừng “xả” vào không gian vũ trụ những nguyên tố nặng và làm vẩn đục môi trường giữa các vì sao. Chính vì vậy, chúng ta ít có cơ hội được quan sát những đám mây vật chất nguyên thủy còn tinh khiết kể từ khi vũ trụ bắt đầu hình thành.   Nhưng năm vừa qua, các nhà khoa học đã phát hiện ra hai đám mây khí nguyên sơ cách Trái đất 11 tỷ năm ánh sáng. Đây là những đám mây khí thuần khiết không chứa những nguyên tố nặng mà chỉ toàn là hydro và deuteri (một đồng vị của hydro), vốn là nguyên tố được hình thành sớm nhất kể từ Vụ nổ lớn BigBang. Khám phá này mở ra một chân trời mới về nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ cũng như cơ chế hình thành nên những thiên hà và các vì sao.  6.    Tương lai của điều trị béo phì và ung thư ruột kết    Bằng công trình nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng cộng đồng vi khuẩn trong ruột con người được chia thành 3 nhóm: Bacteroides, Prevotella, Ruminococcus.. Các nhóm vi khuẩn này không liên quan đến tuổi tác, quốc tịch, giới tính. Cũng giống như việc xác định nhóm máu, nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguyên nhân của bệnh béo phì, viêm đường ruột, giúp chẩn đoán sớm và điều trị ung thư ruột kết, đồng thời mở ra hướng phát triển các loại thuốc đặc trị cho từng người tùy thuộc vào nhóm vi khuẩn cư trú trong ruột của người đó.   Nghiên cứu được thực hiện với sự hợp tác của các viện nghiên cứu châu Âu và Trung Quốc cũng như các công ty và ngành dược phẩm.   7.    Cơ hội bảo vệ con người khỏi bệnh sốt rét    Cuộc thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn đầu tiên chống lại căn bệnh sốt rét vốn được xem là lưỡi hái tử thần ở những quốc gia nghèo châu Phi đã thu được kết quả hứa hẹn. Với loại vaccine RTS,S, người ta có thể bảo vệ sự sống cho hàng triệu trẻ em. Vaccine RTS,S đã được nghiên cứu suốt 25 năm qua, nhưng từ năm 2001, Tổ chức PATH Malaria Vaccine Initiative và Tập đoàn GSK dưới sự tài trợ của Quỹ Bill & Melinda Gates đã đạt được những kết quả quan trọng. Hiệu quả của loại vaccine RTS,S là khoảng 30-50%. Trong thời gian tới, các nhà khoa học sẽ công bố loại vaccine thế hệ thứ hai có hiệu quả lên tới 80-90% trong vòng 5 – 6 năm tới.   Mặc dù vaccine RTS,S chưa hoàn toàn bảo vệ con người khỏi bệnh sốt rét nhưng đây sẽ là tiền đề để các nhà khoa học tiếp tục phát triển thành một loại vaccine hiệu nghiệm chế ngự hoàn toàn căn bệnh này trong thời gian không xa nữa.   8.    Năm của các hành tinh ngoài Hệ mặt trời     Kể từ khi được phóng lên quỹ đạo, Đài thiên văn không gian Kepler đã mang về một kho dữ liệu vô giá về sự tồn tại của những hành tinh và hệ hành tinh tồn tại bên ngoài Hệ Mặt trời. Và năm 2011 được xem là năm của những khám phá về những hành tinh ngoài Hệ Mặt trời với hơn 2000 ứng viên, trong đó có những hành tinh tương tự như Trái đất của chúng ta. Đặc biệt, những số liệu phân tích của các hệ hành tinh có những “hành xử” khác thường đã đặt ra một câu hỏi lớn cho các nhà khoa học về sự hình thành, động lực học và cơ chế chuyển động của các hành tinh cũng như quỹ đạo của chúng trong vũ trụ.  9.    Vật liệu ứng dụng tiềm năng    Năm 2011, các nhà khoa học đã điều khiển được cấu trúc lỗ và chế tạo thành công nhiều dạng khác nhau với những đặc tính ứng dụng tiềm năng của vật liệu cấu trúc xốp zeolite. Zeolite tổng hợp là vật liệu quan trọng, được sử dụng rộng rãi như chất xúc tác trong ngành công nghiệp hóa dầu, chất thu nhiệt Mặt trời, ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghiệp…    10.    Cơ hội kéo dài tuổi thọ    Đột phá khoa học cuối cùng của năm 2011 chính là việc các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, việc chọn lọc, loại bỏ những tế bào bị lão hóa hoặc không thể phân chia được nữa có thể giúp chúng ta được khỏe mạnh lâu hơn. Mặt khác, từ trước tới nay, một số cơ chế cơ bản gây ra sự lão hóa vẫn là một bí ẩn. Chính vì vậy, nghiên cứu này đã hé lộ những cơ hội mới trong việc ngăn ngừa những căn bệnh liên quan đến tuổi tác đồng thời có thể kéo dài tuổi thọ của con người.  Để có được kết quả đó, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm trên chuột.                                                                      Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 hãng ô tô đi đầu về đổi mới sáng tạo      Trong thời đại của công nghệ như hiện nay thì đổi mới sáng tạo ngày càng có nhiều vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp. Với ngành công nghiệp ô tô, việc chạy đua giành ưu thế trên thị trường đều bắt nguồn từ đổi mới sáng tạo. Tuần Kinh tế Đức (Wiwo) đã nêu lên 10 hãng ô tô  đi đầu về đổi mới sáng tạo trên thế giới.      Cánh cửa của xe Model X (Tesla) có những  cảm biến siêu âm đặc biệt  Trong thời đại của công nghệ như hiện nay thì đổi mới sáng tạo ngày càng có nhiều vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp. Với ngành công nghiệp ô tô, việc chạy đua giành ưu thế trên thị trường đều bắt nguồn từ đổi mới sáng tạo. Tuần Kinh tế Đức (Wiwo) đã nêu lên 10 hãng ô tô  đi đầu về đổi mới sáng tạo trên thế giới.  Trong thời đại của công nghệ như hiện nay thì đổi mới sáng tạo ngày càng có nhiều vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp. Với ngành công nghiệp ô tô, việc chạy đua giành ưu thế trên thị trường đều bắt nguồn từ đổi mới sáng tạo. Tuần Kinh tế Đức (Wiwo) đã nêu lên 10 hãng ô tô  đi đầu về đổi mới sáng tạo trên thế giới.  Thứ 10: Porsche  Theo đánh giá của Viện nghiên cứu về ô tô Đức (Center of Automotive Management CAM) và công trình nghiên cứu của Viện về những đổi mới sáng tạo trong ngành ô tô (Automotive Innovations),  năm 2015, hoạt động đổi mới sáng tạo của ngành ô tô thế giới đem lại kết quả là có 1.516 phát minh, sáng chế ra đời, nhiều hơn năm 2014 gần 300 phát minh, sáng chế. Trong số này có tới 606 sáng chế thuộc 19 hãng sản xuất xe ô tô cao cấp của thế giới và hãng Porsche xếp thứ 10 với 19 điểm. Một trong những sáng chế hàng đầu của hãng chế tạo ô tô thể thao này là dòng xe Basismotor mới số 911 với động cơ Turbo-3 lít. Mặc công suất của Basismotor tăng lên 20 sức ngựa nhưng lượng tiêu hao xăng của nó lại giảm tới13%.  Thứ 9: Lincoln  CAM căn cứ vào mức độ đổi mới và độ hoàn thiện của các sản phẩm cùng dòng để đánh giá đổi mới sáng tạo, dĩ nhiên việc đem lại những cải thiện về công năng, khiến người sử dụng cảm thấy thoải mái hơn cũng là đổi mới sáng tạo. Để thực hiện công việc đánh giá này tốt nhất, giám đốc Viện CAM, ông Stefan Bratzel đã phát triển phương pháp tiếp cận mang tên MOBIL, trong đó M là độ chin muồi (Maturity), O là tính độc đáo (Originality), B là lợi ích đối với khách hàng (Benefit) và IL là mức độ đổi mới (Innovation Level). Đây là những yếu tố quan trọng để đánh giá chi tiết của từng sáng chế, qua đó xác định sự xếp hạng của thương hiệu. Thương hiệu Lincoln thuộc hãng Ford được  20 điểm,  xếp hạng 9. Một trong những sáng chế của hãng Ford là chiếc xe Continental có khả năng điều chỉnh khoảng cách thông qua chức năng Stop&Go. Nhờ khả năng này mà Continental có thể tự động chạy theo chiếc xe đi phía trước và khi chiếc xe phía trước dừng lại hoàn toàn vẫn có thể tự động đi tiếp.  Thứ 8: Cadillac  Thương hiệu Cadillac được  22 điểm, đứng trên cả hai hãng Lincoln và Porsche. Một ví dụ về đổi mới sáng tạo của Cadillac là chiếc xe Limousine CT6 có chi tiết trợ lái kèm cả chức năng phanh.  Thứ  7: Land Rover  Nếu nhóm thương hiệu đầu tiên gồm các hãng cùng đạt số điểm trên dưới 20 thì nhóm tiếp theo là ba thương hiệu có mức điểm 40. Một trong số đó là Land Rover với 38 điểm. Một đổi mới sáng tạo rõ nét trong chiếc xe Land Rover Discovery Sport là chi tiết giúp xe có khả năng làm chủ mọi địa hình (all terrain progress control ATPC). Có nét tương đồng về tính năng với chi tiết cruise control (có chức năng chuyển đổi tốc độ mà không cần phải đạp chân ga), chi tiết này có khả năng duy trì ổn định được tốc độ của xe từ hai đến 30 km/giờ ở trên mọi loại địa hình nên có thể hỗ trợ những lái xe còn non kinh nghiệp điều khiển xe Discovery Sport một cách an toàn.  Thứ 6: Volvo  Hãng đứng ở vị trí thứ 6 này là Volvo có thể không dấu được sự tiếc nuối khi để mất vị trí thứ 4 năm ngoái  khi mất hơn một phần ba số điểm đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, họ vẫn được ghi nhận ở nỗ lực đổi mới sáng tạo bởi chiếc xe mang nhãn hiệu S60 T6 Twin Engine của hãng có sự kết hợp giữa loại động cơ [có dung tích] 2 lít xăng 238 mã lực và một động cơ điện 68 mã lực. Mức độ đổi mới ở đây không phải vì mức tiêu thụ tiêu chuẩn là 2 lít xăng, con số này đối với loại xe lai xạc điện (Plug-in hybrid) quả thực thấp đến mức phi thực tế. Điều thú vị là bình ắc quy (có thể cung cấp điện năng để xe đi quãng đường dài nhất là 53 km) có thể được sạc ở một ổ cắm điện thông thường trong các hộ gia đình.  Thứ 5: Jaguar  Xe Jaguar được 42  điểm và xếp ở vị trí thứ 5. Sáng chế hàng đầu của hãng chế tạo ô tô Anh quốc này là Limousin XF, loại xe không chỉ tự nhận biết được tốc độ tối đa cho phép và tự tăng tốc đến tốc độ này mà còn làm chủ được nó.  Thứ  4: Tesla  Hãng Tesla vốn được biết đến là luôn thuộc tốp đầu về đổi mới công nghệ. Một ví dụ tiêu biểu là cánh cửa Falcon-Wing có thiết kế độc đáo của dòng xe Model X trông chỉ mang tính chất trang trí hào nhoáng mà còn ẩn chứa một loạt đổi mới: có những cảm biến siêu âm đặc biệt nhằm tránh gây va đập vào vật cản trở khi mở và đóng cửa xe trong các điều kiện khác nhau như ở chỗ đỗ nhiều diện tích hoặc ở bãi đỗ xe chật hẹp.  Thứ  3: BMW  Các hãng sản xuất xe sang trọng của Đức chiếm các thứ hạng một, hai và ba trong bảng xếp hạng này và chỉ có Tesla mới là đối thủ cạnh tranh hàng đầu của họ. Xét theo tiêu chuẩn tỷ lệ đổi mới sáng tạo đạt tầm cỡ thế giới (được tính bằng đổi mới sáng tạo tầm cỡ thế giới trên tổng số đổi mới sáng tạo chung) ở Audi, Mercedes và BMW đạt từ 26 đến 28 % trong khi Tesla thậm chí lên tới 43% (còn tỷ lệ bình quân của tất cả các hãng là 12 %). Hãng BMW vượt lên người hùng đổi mới công nghệ Tesla nhờ nét đặc biệt trên dòng xe Siebeners, ánh sáng laser đặc biệt đem lại cho hãng 105 điểm.  Thứ  2: Mercedes-Benz  Mercedes-Benz tuy vượt BMW  song không thể nhắc lại được thắng lợi của năm trước, vị trí quán quân bảng xếp hạng. Với 109 điểm, Mercedes-Benz năm nay chỉ đạt vị trí thứ nhì song nếu xét cả về số lượng sáng chế (83 so với 74) và cái mới tầm cỡ thế giới (23 so với 19) thì hãng xe có trụ sở ở Stuttgart này vẫn xếp trên BMW. Trong khi  BMW thắng điểm chủ yếu nhờ dòng xe Siebener mới thì Mercedes lại chiếm ưu thế đối với E-Classe thế hệ thứ 4.  Thứ nhất: Audi  Sếp của hãng Audi, ông Rupert Stadler là người vui mừng nhất với kết quả này bởi từ khi có xếp hạng sáng chế ở các loại xe thượng hạng vào năm 2005 thì đây là lần đầu tiên Audi chiếm hạng nhất  với 114 sáng chế trong đó có 30 cái mới đạt tầm cỡ thế giới với 124 điểm. Audi thắng điểm nhờ hệ thống trợ lái kiểu mới như chủ động rẽ trong dòng xe Audi A4 nhằm tránh đụng độ với xe đi đối diện hoặc hệ thống cảnh báo khi rời xe ở Audi Q7.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm mở đường bảo tồn di sản các nhà khoa học      Tại sự kiện kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm Di sản các Nhà khoa học Việt Nam và Công viên di sản các Nhà khoa học Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Huy đã gọi đây là “Hành trình từ không đến có” – chặng đường chứng kiến nhiều khó khăn và nỗ lực trong việc mở đường cho lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản các nhà khoa học Việt Nam.      PGS.TS Nguyễn Văn Huy nhìn nhận lại 10 năm đầu hoạt động của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Ảnh: CPD.  Nhìn lại 10 năm hoạt động, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc chuyên môn, Phó chủ tịch Hội đồng cố vấn của Trung tâm Di sản Nhà Khoa học Việt Nam (Trung tâm), đã khái quát những đặc điểm nổi bật của Trung tâm:   Trung tâm tập trung ưu tiên nghiên cứu, sưu tầm, cấp cứu di sản của các nhà khoa học, bởi nhận thức sâu sắc rằng nếu không được cấp cứu thì chỉ trong thời gian ngắn những tài liệu và ký ức của nhiều nhà khoa học sẽ biến mất khỏi thế giới này. Những ví dụ điển hình như vào năm 2012, Trung tâm tiếp cận sưu tầm tài liệu của các nhà khoa học ở Bộ môn Miễn dịch – Sinh lý bệnh (ĐH Y Hà Nội) khi nhiều tài liệu đã bị côn trùng phá hoại. Năm 2015, Trung tâm đã kịp ghi lại một phần ký ức về hoạt động nghiên cứu âm nhạc của GS.TS Trần Văn Khê chỉ một tháng trước khi ông qua đời ở tuổi 95. Hay từ năm 2011 – 2017, Trung tâm đã sưu tầm được nhiều tài liệu, sách báo, bản thảo viết tay và đồ dùng của GS.TSKH Vũ Đình Cự để lại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh sau khi ông mất vào năm 2011.  Trung tâm và Công viên di sản đã được tạo dựng với cách thức tổ chức dựa trên ba nội dung rõ ràng: một bảo tàng về các nhà khoa học, một thư viện và một cơ sở lưu trữ hồ sơ, tài liệu hiện vật của các nhà khoa học Việt Nam. Trung tâm hiện đang lưu trữ hàng chục vạn tài liệu hiện vật đa dạng về loại hình và hàng trăm nghìn phút ghi âm, ghi hình. Bên cạnh đó, Trung tâm còn thể hiện tinh thần phát huy giá trị di sản nhà khoa học thông qua những hoạt động như: biên soạn hai bộ sách “Di sản Ký ức của nhà khoa học” (7 tập) và “Những câu chuyện hiện vật” (4 tập), tổ chức thành công 18 lễ tiếp nhận tài liệu hiện vật cùng 2 cuộc trưng bày “Khát vọng học hỏi và sáng tạo” và “Thẳm sâu trong từng kỷ vật”.  Nhờ đó, đến nay Trung tâm đã có được hơn 1.400 phông lưu trữ nhà khoa học ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Các chuyên ngành nghiên cứu và sưu tầm đa dạng và từng bước mở rộng, từ khoa học xã hội và nhân văn (văn học, sử học, địa lý, dân tộc học, ngôn ngữ, giáo dục học…) đến khoa học tự nhiên (vật lý, toán học, sinh học, hóa học, y học…) và khoa học kỹ thuật, công nghệ (xây dựng, thủy lợi, điện tử…). Hiện nay, Trung tâm đang bảo quản hơn 700.000 tài liệu, hiện vật, bao gồm nhiều loại: bản thảo, sổ ghi chép, hồi ký, thư từ, văn bản hành chính, ảnh tư liệu, hiện vật khối và hàng trăm nghìn phút ghi âm, ghi hình của nhiều nhà khoa học. Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam, dù mới đón khác trong  hai năm cũng đã thu hút hơn 80.000 lượt khách đến tham quan, có tới gần 40% là học sinh các cấp.   Với những kết quả đã đạt được, Trung tâm đón nhận Bằng khen của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, của UBND Tp. Hà Nội và của Hội Di sản Văn hóa Việt Nam. Bà Đặng Thị Bích Liên, Thứ trưởng Bộ VNTT và DL đánh giá, cách làm của Trung tâm là chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam. Bà cho biết, “Bộ VHTT và DL sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu cách làm sáng tạo từ một mô hình này, để có thể định hướng mới trong hoạt động quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp bảo tồn các di sản văn hóa việt nam”.       Author                Cẩm Tú        
__label__tiasang 10 nhà khởi nghiệp thay đổi ngành năng lượng      Lấy nhiệt từ ô tô, điện từ ống dẫn nước – những nhà khởi nghiệp đầy sáng tạo đang làm thay đổi mạnh mẽ ngành năng lượng.       Nhiều start-up ở châu Âu đang chuẩn bị cho một cuộc cách mạng năng lượng. Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Công nghệ Delft đang muốn liên kết một cách khôn ngoan quạt gió, pin mặt trời và ô tô chạy bằng tế bào nhiên liệu như Toyota Mirai hay Hyundai ix35, biến các trạm đỗ xe thành nhà máy điện: các loại ô tô này biến hydro thành điện và dùng điện này để chạy động cơ điện. Khi những xe ô tô không hoạt động và để ở trong nhà đỗ xe chúng cung cấp điện và nhiệt phát sinh cho người dân và các doanh nghiệp gần đó – chủ xe sẽ được trả tiền. Dòng điện xanh tách nước thành khí hydro và oxy từ đó tạo ra lượng hydro cần thiết. Theo tính toán thì mỗi chiếc xe có thể cung cấp năng lượng điện cho khoảng 100 hộ.    Dự án Green-Village của Đại học Công nghệ Delft, đang được ứng dụng tại khu ký túc xá của trường, trước hết cho thấy: chưa bao giờ, kể từ ngày năng lượng điện được đưa vào sử dụng giữa thế kỷ 19 , thế giới năng lượng có những thay đổi mạnh mẽ như hiện nay. Việc đoạn tuyệt với năng lượng hạt nhân, giã từ năng lượng hóa thạch và sự trỗi dậy của năng lượng tái tạo đang tạo ra một sự biến đổi với tốc độ chóng mặt. Các tập đoàn năng lượng danh tiếng buộc phải đổi mới và phát triển các mô hình kinh doanh mới hoặc phải hợp tác với các start-up, những người mà ý tưởng của họ sẽ để lại dấu ấn trong thế giới năng lượng tương lai. Những ý tưởng đó là gì, ở đây xin đề cập mười ví dụ:    1. Enerbyte  Start-up Enerbyte của Tây Ban Nha đã phát triển một cổng thông tin năng lượng điện hết sức tinh vi cho vùng Barcelona: các cảm biến và đồng hồ điện thông minh ghi lại hết sức chi tiết về việc sử dụng điện của người Tây Ban Nha, họ dùng điện đèn bao nhiêu lâu và dùng hết bao điện cho máy giặt, máy tính và vô tuyến truyền hình. Các dữ liệu này được cung cấp cho công ty cung ứng điện Electra Caldense, doanh nghiệp này đưa ra những phương án cụ thể về tiết kiệm điện. Khách hàng sẽ được cảnh báo tự động khi mục tiêu tiết kiệm điệm có nguy cơ không thực hiện được.     2. Energiency  Các doanh nghiệp có thể thực hiện tiết kiệm điện cụ thể ở khâu nào? Start-up Energiency của Pháp đã phát triển một chương trình phân tích để tìm lời giải cho vấn đề này. CEO Arnaud Legrand cam kết với sự hỗ trợ của chương trình này có thể tiết kiệm được ít nhất 20% năng lượng.     3. iBuildGreen  Start-up iBuildGreen của Hà Lan phát triển mô phỏng 3D, với sự hỗ trợ của mô phỏng này các nhà lập kế hoạch và chủ nhân tòa nhà có thể xác định áp dụng các giải pháp gì để tiêu thụ ít điện năng, nhiệt và năng lượng lạnh nhất. Hiện tại chương trình còn chỉ rõ giải pháp nào có hiệu quả rõ rệt nhất.    4. Gradis    Tối ưu hóa hệ thống chiếu sáng đường phố. Với phần mềm của doanh nghiệp start-up Gradis ở Ba Lan, các thành phố có thể thích ứng với chiếu sáng đường phố. Theo nhà sáng lập – Gradis Leszek Kotulski – thì với chương trình này, mỗi thành phố có thể giảm chi phí tới 20%.     5. Clean Streams Energy  Start-up Clean Streams Energy của Thụy Điển rất tin tưởng vào tiềm năng của thủy điện: Đã có chào hàng giá thuận lợi đối với các nhà máy thủy điện nhỏ, công suất dưới 250 Kilowatt. Những nhà máy loại này thích hợp với mọi con suối và giá thành cho một kwh là 2 Cent.     6. Corpower Ocean  Thủy điện có giá rẻ hơn nhờ những cái phao mầu vàng da cam. Đây là ý tưởng của start-up Corpower Ocean của Thụy Điển. Những cái phao này thả neo dưới đáy biển và có lò xo xoay theo làn sóng. Một máy phát sẽ chuyển đổi năng lượng cơ học thành điện năng.     7. Tecnoturbines  Hãng Tecnoturbines của Tây Ban Nha phát hiện có thể làm ống dẫn nước thành nhà máy điện: các kỹ sư sẽ đặt nhiều tuốc bin máy phát nhỏ, chúng sẽ được vận hành nhờ dòng chảy ổn định.     8. Agronergy  Cỏ dại, chất thải cây trồng, vỏ hạt, trấu là nguyên liệu hữu cơ sẽ được start-up Agronergy của Pháp chế biến và ép thành thỏi. Thông qua các nồi chuyên dụng người ta có thể tạo nhiệt với giá rẻ.     9. NTS-Nanotechnologysolar  Những antennano chuyên dụng có thể chuyển hóa phổ rộng của ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện. Đây là ý tưởng của NTS-Nanotechnologysolar ở Karlsruhe (Đức). Những đốm thu ánh sáng li ti này có thể tăng hiệu quả của một tế bào quang điện khoảng 10%. Có thể bổ sung công nghệ nano này cho các cơ sở sản xuất đã hình thành.     10. Vestaxx  Với các cửa sổ phủ lớp nano của hãng Vestaxx ở Berlin, các hộ gia đình có thể sưởi ấm phòng ở của mình. Những cửa sổ này tỏa nhiệt khi dòng điện chạy qua bề mặt cửa sổ.    Xuân Hoài lược dịch theo “Tuần kinh tế online”         Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 sự kiện y học nổi bật năm 2011      &#160;Báo Time của Mỹ vừa bình chọn 10 sự kiện nổi bật năm 2011 trong lĩnh vực y học:      1. Sử dụng sinh sản vô tính để tạo ra tế bào gốc  Đây chưa phải là sinh sản vô tính ở người nhưng cũng khá gần như vậy. Các nhà nghiên cứu từ Tổ chức Tế bào Gốc New York cho biết họ đã sử dụng một biến thể chuyển nhân tế bào xôma (SCNT) trên tế bào người. Trước đây, cũng bằng kĩ thuật này người ta đã tạo ra cừu Dolly, động vật có vú đầu tiên được nhân bản từ tế bào da của một con cừu cái. Với kỹ thuật mới, các nhà khoa học không thay thế DNA của trứng, thay vào đó họ kết hợp vật liệu gene của trứng với DNA của một tế bào người trưởng thành. Những thử nghiệm sinh sản vô tính tế bào người dùng kỹ thuật SCNT đều thất bại, nhưng kỹ thuật mới với việc giữ lại DNA của trứng giúp thúc đẩy sự phân chia tế bào để hình thành tế bào gốc – thứ mà một ngày nào đó có thể điều trị được các bệnh như tổn thương tủy sống và Parkinson.    2. Lần đầu tiên chế được vaccine bệnh sốt rét                 Vaccine sốt rét – lần đầu tiên được thử nghiệm ở trẻ em khu vực châu Phi cận Sahara – đã giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh lên tới một nửa. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận bởi trước đó chưa từng có một loại vaccine nào ngăn ngừa căn bệnh đã ảnh hưởng tới hàng triệu trẻ em mỗi năm này.   Các nhà khoa học cho biết loại vaccine thử nghiệm có tên là RTS,S này có hiệu quả 56% trong việc bảo vệ trẻ từ 5 tới 17 tháng tuổi khỏi căn bệnh này sau 1 năm tiêm phòng. Ngoài ra, nó cũng có hiệu quả 47% trong việc ngăn ngừa những ca nhiễm bệnh nặng.   Hiện tại, các nhà nghiên cứu vẫn đang thử nghiệm trên 15.460 trẻ em và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2014.    3. Thuốc ngăn nhiễm HIV                Năm 2011, có 2 thử nghiệm đột phá cho thấy những người âm tính với HIV có ít nguy cơ nhiễm loại virus thế kỉ này từ người dương tính với HIV nếu họ uống thuốc kháng virus Truvada mỗi ngày.  Nghiên cứu của các nhà khoa học tới từ ĐH Washington cho thấy sự lây nhiễm HIV giữa 4.758 cặp vợ chồng khác giới – trong đó có một người dương tính với HIV, một người âm tính – đã giảm đi 73% sau 3 năm khi người âm tính uống Truvada. Trong một nghiên cứu khác của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh, thử nghiệm trên 1200 đàn ông và phụ nữ khỏe mạnh cho thấy Truvada giảm nguy cơ nhiễm HIV tới 63%.    4. “Kim tự tháp biến thành đĩa”                Cứ 5 năm một lần, Bộ Nông nghiệp và Bộ Y tế & Dịch vụ nhân sinh Mỹ sẽ cập nhật Hướng dẫn chế độ ăn uống dành cho người Mỹ (DGA). Bản cập nhật vào tháng Giêng năm nay đã kêu gọi người dân nước này giảm khẩu phần ăn, cụ thể là giảm ăn muối, đường, chất béo; tăng khẩu phần rau, thực vật, đồ biển; và tập thể dục tối thiểu 150 phút/tuần. Hồi tháng 6, Chính phủ Mỹ đã công bố biểu tượng mới cho việc ăn uống lành mạnh dựa trên DGA. Đó là biểu tượng hình chiếc đĩa (MyPlate) thay cho biểu tượng kim tự tháp (Food Pyramid) trước đây. Chiếc đĩa nhiều màu sắc này được chia thành 4 phần bằng nhau, mỗi phần gồm có hoa quả, rau, ngũ cốc và protein. Một vòng tròn nhỏ hơn bên ngoài đại diện cho sữa. Các quan chức y tế cho rằng biểu tượng mới này đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu hơn. Họ cũng hi vọng rằng nó sẽ nhắc nhở người dân đưa ra những lựa chọn ăn uống lành mạnh hơn – điều mà biểu tượng kim tự tháp đã tồn tại trong nhiều thập kỉ hầu như không làm được.  5. Phát triển nội tạng trong phòng thí nghiệm                Tháng 3 năm nay, Tiến sĩ Anthony Atala, giám đốc Viện Y học tái sinh Wake Forest đã tạo ra niệu đạo nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Niệu đạo là một ống nhỏ chịu trách nhiệm chuyển nước tiểu ra khỏi cơ thể. Ở đàn ông, bộ phận này có thể bị hỏng hoặc thu hẹp lại do bệnh tật. Các nhà khoa học tạo ra một khuôn hình ống bằng vật liệu sinh học tự hủy, sau đó nuôi cấy tế bào bàng quang người trong đó. Kỹ thuật này cho kết quả rất khả quan, nhưng rất đắt đỏ, lên tới 5.000 USD đầu tư cho vật liệu và thiết bị nên chưa thể giúp được nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, đó là một bước tiến đầy hứa hẹn cho y học tái sinh, trong đó việc tạo ra những bộ phận cơ thể khỏe mạnh để thay thế cho những bộ phận đã hỏng hoàn toàn không phải là một ý tưởng điên rồ.  6. Mối liên hệ kì lạ giữa vi khuẩn và ung thư ruột kết  Vào tháng 10, hai nhóm nghiên cứu đã báo cáo những kết quả giống nhau về một loại vi khuẩn có tên là Fusobacteria. Loại vi khuẩn này hiếm khi xuất hiện trong ruột, nhưng lại phát triển mạnh trong các tế bào ung thư ruột kết. Ở một số mẫu, Fusobacteria ở tế bào ung thư nhiều gấp hàng trăm lần ở những tế bào khỏe mạnh. Điều này khiến các nhà khoa học đặt ra câu hỏi: Liệu nguyên nhân của ung thư ruột kết có phải là do vi khuẩn?  7. Thuốc giảm cân                Trong nghiên cứu mới nhất về một loại thuốc thử nghiệm có tên là Qnexa, các nhà nghiên cứu cho biết những bệnh nhân béo phì uống thuốc này đã giảm được 10% trọng lượng cơ thể trong 1 năm. Loại thuốc này là sự kết hợp giữa 2 loại thuốc giảm cân phentermine và thuốc chống động kinh topiramate.   Những bệnh nhân uống loại thuốc này cũng có những cải thiện về huyết áp, đường trong máu và lượng cholesterol – tất cả những dấu hiệu có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn cần phải nghiên cứu thêm để xác nhận về độ an toàn và hiệu quả của loại thuốc này.   Các nhà khoa học ở Trung tâm Ung thư M.D Anderson ở Houston cũng đã tiêm thử nghiệm một hợp chất được gọi là adipotide – một loại thuốc dựa trên nghiên cứu ung thư – và thấy rằng nó làm những con khỉ béo phì giảm được 11% trọng lượng cơ thể chỉ trong 1 tháng.  8. Chó đánh hơi được ung thư phổi                Loài động vật thân thiết nhất của con người có thể sẽ là vũ khí mới nhất của các bác sĩ trong việc phát hiện ung thư. Chó nổi tiếng là loài có khứu giác tốt và theo một nghiên cứu mới, khả năng này của chúng đủ mạnh để phát hiện được bệnh ung thư dựa vào hơi thở của một người. Các nhà nghiên cứu Đức đã đào tạo những con chó trong vòng 9 tháng để phân biệt giữa mẫu hơi thở của bệnh nhân ung thư phổi và hơi thở của người bình thường. Kết quả là loài động vật này có thể xác định được 71 trong số 100 trường hợp ung thư, đồng thời chọn được ra 93% mẫu hơi thở của người không ung thư.  9. Nước bọt xác định tuổi tác                Dù kỹ thuật khám nghiệm tử thi đã rất phát triển nhưng DNA không thể giúp xác định tuổi của một xác chết. Nhưng nước bọt thì có thể. Nhờ một số phân tích nước bọt tinh vi, các nhà nghiên cứu tới từ UCLA đã báo cáo hồi tháng 6 rằng nước bọt có thể giúp xác định tuổi tác của một người với độ sai số trong vòng 5 năm. Công bố này vẫn đang chờ giới khoa học kiểm định xác nhận.     10. Dự đoán nguy cơ tử vong?   Hồi tháng 8, các nhà nghiên cứu tại Đại học Uppsala, Thụy Điển cho biết một xét nghiệm máu đơn giản có thể dự đoán ai có nguy cơ chết vì bệnh tim hay ung thư. Trong một nghiên cứu kéo dài 12 năm ở gần 2.000 người, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người có nhiều enzyme cathepsin S sẽ có nhiều nguy cơ tử vong hơn những người khác. Cathepsin S cũng có thể gây xơ vữa động mạch, vì thế những người có nhiều enzyme này sẽ có nhiều nguy cơ tử vong vì những bệnh này hơn. Cathepsin S cũng có rất nhiều trong mô mỡ. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì thừa cân là một nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các bệnh về tim mạch.      Nguyễn Thảo  (dịch từ Time)    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 thành tựu khoa học đột phá năm 2018      Tạp chí uy tín Science của Mỹ công bố danh sách những thành tựu khoa học mang tính đột phá năm 2018. Đây là kết quả bình chọn trực tuyến của hơn 12.000 độc giả qua hai vòng bỏ phiếu khác nhau.    1. Theo dõi sự phát triển của từng tế bào    Phôi cá ngựa vằn ở giai đoạn đầu phát triển. Ảnh: Đại học Harvard  Đứng đầu bảng xếp hạng là công nghệ phân tích hoạt động gene của từng tế bào theo thời gian. Nó giúp các nhà sinh học tìm hiểu cách thức một tế bào đơn lẻ phát triển thành các mô và cơ quan phức tạp của một con vật trưởng thành. Công nghệ này bao gồm ba kỹ thuật cho phép xác định gene nào được “bật” và “tắt” trong thời kỳ phôi thai đang phát triển. Các nhà khoa học sẽ phân lập hàng nghìn tế bào nguyên vẹn ra khỏi sinh vật sống, giải trình tự RNA của mỗi tế bào, sau đó sử dụng máy tính để xây dựng lại mối quan hệ của chúng trong không gian và thời gian. “Chỉ riêng năm 2018, các nhà nghiên cứu đã mô tả chi tiết làm thế nào một con giun dẹp, một con cá, một con ếch và nhiều sinh vật khác bắt đầu tạo ra những cơ quan và bộ phận phụ. Các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới cũng đang áp dụng công nghệ nói trên để tìm hiểu quá trình phân hóa tế bào ở người, sự tái tạo của mô và những thay đổi của các tế bào khi xảy ra bệnh, ví dụ như ung thư và tiểu đường”, Elizabeth Pennisi, biên tập viên của tạp chí Science, cho biết. Thêm vào đó, một số nhà khoa học đã khai thác kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR để đánh dấu các tế bào của phôi thai thời kỳ đầu nhằm theo dõi sự biến đổi của chúng thành những dòng tế bào khác nhau trong quá trình phát triển.    2. Hạt neutrino bắt nguồn từ siêu hố đen    Máy dò hạt neutrino IceCube. Ảnh: NSF  Trong bài báo đăng trên tạp chí Science vào ngày 12/7, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã phát hiện nguồn gốc của hạt neutrino mang năng lượng cao trong vũ trụ. Đó là chuẩn tinh TXS 0506+056 nằm cách Trái đất 4 tỷ năm ánh sáng, gần chòm sao Orion. Chuẩn tinh TXS 0506+056 về bản chất là một thiên hà hình elip khổng lồ với một hố đen siêu lớn quay rất nhanh ở trung tâm. Dòng hạt neutrino do hố đen sinh ra hướng thẳng về phía Trái đất. Sự việc bắt đầu khi máy dò hạt neutrino lớn nhất thế giới (IceCube) nằm sâu bên dưới lớp băng ở Nam Cực phát hiện một hạt neutrino có nguồn gốc bên ngoài dải Ngân hà. Dựa theo hướng di chuyển của hạt neutrino, Kính viễn vọng không gian tia gamma Fermi của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) sau đó đã xác định nó đến từ chuẩn tinh TXS 0506+056. Trong lĩnh vực vật lý, neutrino được biết đến là các “hạt ma” do khả năng di chuyển qua vật thể rắn một cách dễ dàng. Neutrino tương tác yếu với vật chất, có thể di chuyển hàng tỷ năm ánh sáng xuyên qua vũ trụ. Chúng bay qua những ngôi sao, hành tinh và toàn bộ thiên hà mà không bị ảnh hưởng nên việc phát hiện chúng rất khó khăn.  3. Xác định cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ    Các tinh thể được nhìn bằng kính hiển vi điện tử. Ảnh: Gonen Lab  Vào tháng 10, hai nhóm nghiên cứu đồng thời công bố các bài báo tiết lộ một phương pháp mới có thể xác định cấu trúc phân tử của hợp chất hữu cơ nhỏ chỉ trong vài phút, thay vì vài ngày hoặc vài tuần như phương pháp truyền thống. Suốt nhiều thập kỷ qua, tiêu chuẩn vàng cho việc “lập bản đồ” phân tử là kỹ thuật tinh thể học tia X, trong đó liên quan đến việc bắn chùm tia X vào một tinh thể chứa hàng triệu bản sao của một phân tử. Sau đó, các nhà nghiên cứu theo dõi cách thức tia X bật ra khỏi tinh thể để nhận dạng các nguyên tử riêng lẻ, cũng như xác định vị trí của chúng trong phân tử. Tuy nhiên, kỹ thuật tinh thể học tia X đòi hỏi phải nuôi tinh thể lớn đến kích thước bằng một hạt cát và điều này rất khó thực hiện đối với một số chất. Phương pháp mới được xây dựng dựa trên một kỹ thuật gọi là nhiễu xạ electron. Các nhà khoa học bắn chùm electron vào một tinh thể 3D nhỏ trên bàn xoay và theo dõi sự thay đổi hình ảnh nhiễu xạ theo từng vòng quay nhẹ. Kỹ thuật này giúp xác định cấu trúc phân tử nhờ vào hình ảnh nhiễu xạ. Nó hoạt động hiệu quả ngay cả đối với những tinh thể siêu nhỏ, chỉ bằng một phần tỷ kích thước cần thiết cho các nghiên cứu X-quang.  4. Vụ va chạm thời kỳ băng hà    Thiên thạch rơi xuống Greenland. Ảnh: NASA  Cách đây khoảng 13.000 năm, một tiểu hành tinh đâm sầm vào phía tây bắc Greenland ngay lập tức làm bốc hơi đá và tạo ra sóng xung kích trên khu vực Bắc Cực. Vết sẹo mà nó để lại là hố va chạm Hiawatha rộng 31 km, đủ lớn để chứa thủ đô Washington, D.C của Mỹ. Đây là một trong 25 miệng hố thiên thạch lớn nhất trên Trái đất. Các nhà khoa học tại Đại học Copenhagen (Đan Mạch) báo cáo khám phá đáng kinh ngạc này vào tháng 11, sau khi radar trên máy bay phát hiện miệng hố nằm ẩn mình bên dưới lớp băng dày hàng km. Tác động của thiên thạch đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu toàn cầu. Nước băng tan từ vụ va chạm chảy vào phía bắc Đại Tây Dương khiến nhiệt độ giảm mạnh bằng cách ngăn chặn một dòng hải lưu mang đến sự ấm áp cho khu vực tây bắc châu Âu. Nhóm nghiên cứu đã liên hệ vụ va chạm với Younger Dryas – sự kiện nhiệt độ toàn cầu giảm mạnh trong hàng nghìn năm, ngay sau khi kỷ băng hà cuối cùng sắp kết thúc. “Vụ va chạm đã quét sạch sự sống trong bán kính 100 km và có thể là tác nhân chính khiến nhiệt độ ở Bắc bán cầu giảm xuống mức băng giá khoảng 12.900 – 11.700 năm trước”, Kurt Kjaer, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết.  5. Phong trào #MeToo    Ảnh: Daria Kirpach  Quấy rối tình dục trong khoa học thường không được báo cáo và phần lớn bị bỏ qua cho đến thời gian gần đây. Năm 2018, vấn đề này đã có nhiều dấu hiệu thay đổi tích cực. Vào tháng 6, Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Mỹ công bố một báo cáo mang tính bước ngoặt về thực trạng quấy rối tình dục phụ nữ trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và y học. Dựa trên dữ liệu gần đây của hệ thống hai trường đại học lớn, báo cáo kết luận hơn 50% nữ giảng viên và nhân viên, khoảng 20 – 50 % sinh viên [tùy thuộc lĩnh vực] phải chịu đựng sự quấy rối tình dục. Một số tổ chức đã bắt tay vào hành động, sa thải ngay cả những nhà khoa học nổi tiếng có hành vi sai trái. Vào tháng 9, Hiệp hội vì Sự tiến bộ Khoa học Mỹ (AAAS) – tổ chức xuất bản tạp chí Science – đã thông qua một chính sách, theo đó các thành viên của AAAS được chứng minh là kẻ quấy rối tình dục sẽ bị đuổi việc ngay lập tức. Năm 2018 cũng đánh dấu việc BethAnn McLaughlin, nhà thần kinh học tại Đại học Vanderbilt ở Nashville (Mỹ), thành lập nhóm vận động #metooSTEM nhằm khuyến khích các nạn nhân bị quấy rối tình dục cất lên tiếng nói.  6. Con lai giữa hai chủng người tiền sử    Mảnh xương trong hang động ở Siberia. Ảnh: Thomas Higham  Các nhà khoa học tìm thấy mảnh xương của một thiếu nữ thời tiền sử có mẹ là người Neanderthal và cha là người Denisovan trong một hang động trên dãy núi Altai, Siberia. Đây là lần đầu tiên con lai giữa hai chủng người này được phát hiện sau quá trình kiểm tra DNA của mảnh xương có niên đại cách đây 90.000 năm. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature vào tháng 8/2018. Cả hai chủng người Neanderthel và Denisovan đều biến mất khoảng 40.000 năm trước đây. Người Neanderthal sống ở châu Âu và châu Á. Trong khi đó, hóa thạch của người Denisovan chỉ được biết đến từ hang động nơi mảnh xương được tìm thấy. Do đó, diện mạo và hành vi của họ vẫn còn là điều bí ẩn. “Những nghiên cứu trước đây đã dự đoán người Neanderthal và Denisovan có con với nhau. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ chúng tôi sẽ may mắn tìm được một con lai thực sự giữa hai chủng người này”, Viviane Slon, thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết.  7. Phả hệ pháp y    Kẻ giết người Golden State. Ảnh: AP  Vào tháng 4, cảnh sát Mỹ tuyên bố bắt giữ một tên tội phạm nguy hiểm có biệt danh là Golden State, người đã gây ra hàng loạt vụ hãm hiếp và giết người ở California trong thập niên 1970 và 1980. Manh mối duy nhất cảnh sát có được là mẫu DNA của hung thủ để lại tại hiện trường vụ án cách đây hơn 30 năm, tuy nhiên nó không trùng khớp với bất kỳ ai trong kho lưu trữ dữ liệu DNA tội phạm quốc gia. Nhân viên điều tra Paul Holes đăng tải thông tin di truyền của hung thủ lên trang web GEDmatch – một cơ sở dữ liệu DNA phả hệ công khai. Holes nhanh chóng phát hiện một số họ hàng xa của thủ phạm dựa trên cây phả hệ. Tiếp đó, đội điều tra truy tìm kẻ tình nghi bằng cách lục lại kho dữ liệu cư dân của California để loại trừ dần. Sau 4 tháng, họ tìm ra hung thủ là Joseph James DeAngelo 73 tuổi. Kết quả xét nghiệm DNA của DeAngelo trùng khớp với mẫu DNA của hung thủ. Kể từ đó, các cơ quan thực thi pháp luật đã sử dụng phương pháp tương tự để phá 20 vụ án khác, đồng thời mở ra một lĩnh vực mới gọi là phả hệ pháp y.  8. Phê duyệt thuốc điều chỉnh biểu hiện gene    Các phân tử RNA ngắn phá vỡ sự dịch mã của gene. Ảnh: Science  Vào tháng 8, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) lần đầu tiên phê chuẩn liệu pháp điều trị dựa trên sự can thiệp RNA (RNAi) – một kỹ thuật dùng để điều chỉnh biểu hiện của các gene liên quan đến bệnh tật. Cụ thể, loại thuốc mang tên Patisiran được Mỹ thông qua có thể “tắt” gene gây ra bệnh thoái hóa tinh bột di truyền, một căn bệnh hiếm gặp. Khi mắc bệnh này, các dạng biến đổi của protein transthyretin tích lũy trong cơ thể bệnh nhân làm suy yếu chức năng tim và hệ thần kinh. Thuốc Patisiran là sản phẩm của công ty Alnylam có trụ sở tại Cambridge, Massachusetts (Mỹ). Các nhà khoa học lần đầu tiên phát hiện kỹ thuật RNAi từ 20 năm trước, làm dấy lên hy vọng về một cách tiếp cận mới mang tính cách mạng để chế tạo thuốc. “Việc FDA phê chuẩn thuốc Patisiran đồng nghĩa với việc sách giáo khoa dược học cần được viết lại. Chúng tôi đã khơi mào một nhóm dược lý mới. Nhiều loại thuốc tương tự sẽ được sản xuất trong những năm tới”, Ricardo Titze-de-Almeida, nhà nghiên cứu RNAi tại Đại học Brasilia, cho biết.  9. Hóa thạch động vật lâu đời nhất thế giới    Hóa thạch của Dickinsonia chứa dấu vết phân tử chất béo. Ảnh: D Grazhdankin  Một bài báo được công bố trên tạp chí Science vào ngày 21/9 đã xác nhận Dickinsonia – sinh vật biển trông giống một giọt nước kỳ lạ – là động vật sớm nhất trong hồ sơ địa chất mà con người biết đến. Dickinsonia là thành viên của khu hệ sinh vật Ediacara, một nhóm sinh vật nguyên thủy có hoa văn giống như lá cây dương xỉ. Nhóm sinh vật này xuất hiện phổ biến trong kỷ Ediacara, kéo dài từ 635 đến 542 triệu năm trước. Jochen Brocks, nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Australia, và cộng sự tên là Ilya Bobrovskiy đã đến khu vực ven biển của Biển Trắng (phía tây bắc nước Nga) để săn tìm các hóa thạch có niên đại trong kỷ Ediacara. Thay vì tập trung vào đặc điểm cấu trúc của hóa thạch, nhóm nghiên cứu tìm cách tách chiết những phân tử được lưu giữ trong chúng. Kết quả, họ đã phát hiện phân tử chất béo – cụ thể là một loại cholesterol chỉ có ở động vật – trong hóa thạch của Dickinsonia. Điều này cho thấy, Dickinsonia chính xác là một loài động vật, chấm dứt những tranh cãi trước đây của các nhà khoa học về việc kỷ Ediacara xuất hiện động vật hay chưa.  10. Các giọt chất lỏng đặc biệt trong tế bào    Các giọt chất lỏng hình thành từ protein trong tế bào. Ảnh: Science  Hàng chục nghìn protein và các phân tử khác trong tế bào chất [chất lỏng đậm đặc bao quanh nhân tế bào] tham gia tích cực vào hoạt động trao đổi chất của cơ thể, từ việc phân hủy các chất dinh dưỡng để tạo ra năng lượng cho đến tái chế chất thải. Kể từ năm 2009, các nhà khoa học phát hiện ra rằng nhiều protein kết tụ lại với nhau thành những giọt riêng biệt, đặc biệt là khi tế bào đang phản ứng lại với tình trạng căng thẳng. Sự phân tách pha lỏng – lỏng này, tương tự như sự tách lớp của dầu và giấm trong món salad trộn, đang là một trong những chủ đề hot nhất trong lĩnh vực sinh học tế bào. Nó thúc đẩy các phản ứng sinh hóa quan trọng và dường như là một nguyên tắc tổ chức cơ bản của tế bào. Ba bài báo đăng trên tạp chí Science năm 2018 chỉ ra rằng, các giọt protein lỏng cũng tham gia vào quá trình chuyển mã di truyền từ DNA sang RNA – bước đầu tiên trong việc tạo ra protein mới.  Quốc Hùng dịch (Theo Science)       Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 thất bại công nghệ ầm ĩ nhất trong năm      Đây là những sản phẩm và dịch vụ công  nghệ được phô trương ầm ĩ và kỳ vọng rất nhiều khi ra mắt, song kết quả  cuối cùng lại không như mong đợi.    Danh sách này có sự xuất hiện cả những hãng công nghệ đang ăn nên làm ra như Google, Apple và tất nhiên có cả những công ty đang bết bát như Nokia, RIM.    Nexus Q  Nexus Q được Google giới thiệu tại sự kiện các nhà phát triển Google I/O 2012. Đó là thiết bị giải trí đa phương tiện giá 299 USD chạy hệ điều hành Android ra đời để cạnh tranh với Apple TV và Roku.  Thay vì là một thiết bị độc lập, Nexus Q cần kết nối với smartphone hoặc máy tính bảng Android qua Wi-Fi để truy cập vào các dịch vụ của Google, truyền phim hoặc nhạc và chuyển chúng tới TV, loa hoặc máy tính. So với các thiết bị cạnh tranh giá trên 100 USD của Apple và Roku, Nexus Q quá đắt đỏ. Chính vì vậy, Google đã quyết định “ỉm” Nexus Q và không tung nó ra thị trường. Giờ đây, có thể nói Nexus Q là một “thất bại” của năm 2012.  Bản đồ của Apple trên iOS 6  Hệ điều hành iOS 6 ra mắt với nhiều cải tiến, trong đó thay đổi đáng chú ý nhất và cũng bị chê nhiều nhất là ứng dụng bản đồ Apple Maps thay thế Google Maps trong các phiên bản hệ điều hành trước.  Người dùng hy vọng ứng dụng bản đồ của Apple ít nhất cũng phải bằng ứng dụng bản đồ của Google trên mọi khía cạnh. Nhưng khi iOS 6 ra mắt và iPhone 5 cập bến thị trường, mọi người nhanh chóng nhận ra chất lượng chỉ đường và định vị của Apple Maps hoàn toàn không chính xác, tính năng 3D hiển thị hình ảnh các toà nhà cũng như các thắng cảnh cũng bị méo mó đến hài hước.  Chất lượng tệ hại của ứng dụng bản đồ được coi là một nỗi xấu hổ của Apple. Nó khiến CEO Tim Cook phải công khai xin lỗi tất cả mọi người: “Tại Apple, chúng tôi cố gắng đưa ra những sản phẩm đẳng cấp thế giới, mang lại những trải nghiệm tốt nhất có thể cho khách khàng. Với việc ứng dụng bản đồ mới vừa ra mắt, chúng tôi đã bỏ rơi cam kết này. Chúng tôi vô cùng xin lỗi vì sản phẩm của mình đã khiến khách hàng tức giận”.  Khi một sản phẩm ra mắt mà khiến CEO phải cúi đầu xin lỗi, thì đó là một “thất bại”.  Android Ice Cream Sandwich    Android 4.0 Ice Cream Sandwich được công bố tại sự kiện CTIA ở Hong Kong vào tháng 10/2011. Thiết bị dùng ICS đầu tiên là Samsung Galaxy Nexus bắt đầu bán vào tháng 11/2011 ở châu Âu và Bắc Mỹ.  Với nỗ lực hợp nhất các phiên bản máy tính bảng và smartphone của hệ điều hành Android, Google đã có tham vọng đưa ICS đến càng nhiều thiết bị càng tốt, nhằm giảm sự phân mảnh – một hạn chế lớn của hệ sinh thái Android so với iOS của Apple.  Đến tháng 11/2012, 1 năm sau khi ra mắt, ICS chiếm khoảng 25% tất cả các hệ điều hành cài trên máy Android. Nhưng nó hoàn toàn mờ nhạt so với Android 2.3 Gingerbread, phiên bản Android chiếm trên 53% các thiết bị Android.  Các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) đã cố gắng cập nhật những máy lõi kép dùng Gingerbread lên Ice Cream Sandwich. Nhưng quá trình này kéo dài tới 1 năm, một số hãng như Motorola Mobility đã phải từ bỏ nỗ lực đó do có quá nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến kỹ thuật.  Vì thế, phiêm bản Android 4.2 Jelly Bean đã nhanh chóng ra mắt thị trường từ cuối mùa hè 2012. Cũng như phiên bản 3.0 Honeycomb trước đó, Ice Cream Sandwich dường như chỉ là một phiên bản chuyển tiếp có tuổi đời ngắn ngủi.  Nokia Lumia 900  Lumia 900 được Nokia phô trương ầm ĩ vì là sản phẩm Windows Phone 7 chủ lực của hãng. Nhưng Lumia 900 nhanh chóng trở nên lỗi thời vì 7 tháng sau đó Nokia đã ra các thiết bị mới dùng hệ điều hành Windows Phone 8.  Đáng chú là các thiết bị Windows Phone 7 của Nokia như Nokia 900 và 800 sẽ không được nâng cấp lên Windows Phone 8. Chính vì vậy, từ khi có thông tin về sản phẩm mới chạy hệ điều hành Windows Phone 8, doanh số bán ra của Lumia 900 đã giảm mạnh.  Research in Motion    Còn điều gì chưa được nói về RIM nữa? Toàn bộ công ty dường như đã sụp đổ trong năm 2012.  Ban lãnh đạo bị xáo trộn sau sự ra đi của cả hai đồng CEO, doanh số các máy BlackBerry 7 đình trệ, một loạt sản phẩm vẫn tồn kho, công ty thua lỗ trầm trọng và không đạt mọi dự đoán doanh thu của giới tài chính Wall Street, hàng ngàn nhân viên bị sa thải.  Nếu có bất kỳ công ty nào xứng đáng đứng đầu bảng “thất bại” của năm 2012, đó sẽ là RIM. Nhưng, công ty vẫn đang hy vọng. BlackBerry 10 sẽ ra mắt vào đầu năm tới. Nếu trải nghiệm người dùng tốt và ứng dụng phong phú, RIM có thể sẽ lại trải qua một cuộc cách mạng mới.  AMD  Trong khi có những công ty như RIM hay Nokia ghi tên vào danh sách thất bại vì thua lỗ, khó khăn tài chính, thì AMD lại nằm trong danh sách này vì thiếu sáng tạo trong dòng sản phẩm bán dẫn.  Đã từng bắt kịp Intel về mức giá và hiệu suất trên PC và máy chủ, AMD lại tụt hạng vì không kiểm soát được các vụ sáp nhập và không thể thích ứng với thời đại hậu PC đang thay đổi chóng mặt.  Những khó khăn tài chính khiến nhà sản xuất chip gần đây đã phải giảm giá chip PC, đóng cửa phòng thí nghiệm phát triển nguồn mở ở Đức, cũng như cắt giảm gần 400 nhân viên.  Gần đây, công ty công bố dòng vi xử lý máy chủ Opteron 6300 16 lõi tương thích x86 và các kế hoạch sản xuất chip máy chủ tiêu thụ ít điện dựa trên cơ cấu ARM50 mới. Song AMD vẫn chưa thực hiện lời hứa này trong ít nhất 2 năm, bởi công ty vẫn đang gặp nhiều trở ngại trong thời gian này.  Mozilla Firefox  Mozilla Firefox hiện là trình duyệt web số 2. Vị trí này đang bị Google Chrome đe doạ và dự đoán sẽ bị qua mặt vào cuối năm nay. Trong năm 2012, Mozilla Firefox đã mắc nhiều lỗi nghiêm trọng khiến trình duyệt trở nên chậm chạp hơn.  Từng được khen ngợi vì hiệu suất cao và là trình duyệt thay thế cho Internet Explorer, Firefox bây giờ đã trở thành phần mềm trì trệ. Thậm chí, trình duyệt IE 9 và IE 10 của Microsoft đã chứng tỏ chúng có thể vượt qua Firefox về mặt tốc độ.    Ví điện tử  Năm nay, cả Google và Apple cùng nhau tham gia mặt trận mới là ví điện tử (electronics wallet). Trên lý thuyết, ví điện tử và công nghệ điện toán tầm gần (NFC – Near-Field Computing) là những ý tưởng rất “đúng mốt” – tức là thay vì phải rút ví và tiền mặt hay thẻ tín dụng để thanh toán, bạn rút smartphone và người bán hàng sẽ dùng máy quét (mã vạch hoặc NFC) để khấu trừ tiền thanh toán từ thẻ tín dụng hoặc các chương trình khuyến mãi.  Gần đây, Google ra mắt dịch vụ Google Wallet, còn Apple giới thiệu Passbook tích hợp cùng với iOS6. Tuy nhiên, hiện có rất ít ứng dụng có khả năng tận dụng cơ sở hạ tầng NFC và hệ thống thanh toán mới này. Các hệ thống bán lẻ cũng không đầu tư các thiết bị hỗ trợ các dịch vụ thanh toán NFC của Google và Apple. Thêm nữa, iPhone 5 cũng không hỗ trợ NFC.  Apple Mac Pro (2012)  Apple ra mắt một loại sản phẩm “ấn tượng” trong năm 2012, nhưng Mac Pro không nằm trong số đó. Chiếc Mac Pro 2012 ra mắt không có nâng cấp nào đáng chú ý. Vẫn giữ kiểu thiết kế PC to lớn, cồng kềnh của phiên bản năm 2010 cũng như các linh kiện quen thuộc, phiên bản “mới” của Mac Pro có giá khởi điểm 2.499 USD mà chỉ có một chút cải tiến về tốc độ trên bộ CPU Xeon 6 lõi và lựa chọn ổ SSD. Mac Pro 2012 thậm chí không một cải tiến nào về bộ xử lý đồ hoạ, không tích hợp Apple Thunderbolt Display.  Sony PS Vita  PS Vita là sản phẩm kế nhiệm của PSP (Playstation Portable) và được cho là sản phẩm game video quan trọng nhất trong năm này Sony. Sự ra mắt thiết bị chơi game cầm tay mới này đặc biệt quan trọng đặc biệt bởi Sony đang đối mặt với hàng loạt khó khăn tài chính trong thời gian gần đây.  PS Vita ra vào cuối năm 2011 tại Nhật Bản và bắt đầu bán trên toàn cầu vào tháng 2/2012. Mặc dù có những đặc điểm kỹ thuật ấn tượng và nhận được nhiều nhận xét tốt, song PS Vita thiếu những hỗ trợ phát triển đáng kể, và có giá đắt 249 – 250 USD, khi chỉ dùng để chơi game, không những thế còn lỗi thời về mặt tốc độ, đồ hoạ và các tựa game nói chung so với iPad, iPad Mini, iPod Touch và vô số thiết bị Android khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 xu hướng công nghệ hứa hẹn nhất      Hội đồng Chương trình nghị sự Toàn cầu về các Công nghệ Mới của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (the World Economic Forum’s Global Agenda Council on Emerging Technologies) đã xác định 10 xu hướng công nghệ hứa hẹn nhất, được cho là đã có tiến triển đột phá và tiến gần đến việc triển khai quy mô lớn, giúp mang lại sự phát triển bền vững trong các thập niên sắp tới khi dân số toàn cầu và nhu cầu vật chất lên môi trường tiếp tục tăng nhanh.      1. Xe chạy điện trực tuyến [OnLine Electric Vehicles (OLEV)]  Công nghệ không dây hiện nay có thể truyền điện năng cho các xe đang chạy. Trong các ô tô điện thế hệ tiếp theo, cuộn dây thâu điện (pick-up coil) đặt dưới gầm xe có thể nhận năng lượng cách không qua một điện từ trường được phát ra từ các dây cáp được đặt dưới đường. Dòng điện cũng nạp ắc quy trên xe được dùng để cấp năng lượng cho xe khi nó ở ngoài tầm (của trường điện từ). Vì điện được cung cấp từ bên ngoài, các xe này cần chỉ một phần năm dung lượng ắc quy của một ô tô điện bình thường, và có thể đạt hiệu suất truyền trên 80%. Các xe điện trực tuyến hiện đang được thử nghiệm ở Seoul, Hàn Quốc.  2. In 3-D và chế tạo từ xa  In ba chiều là công nghệ cho phép tạo ra các kết cấu rắn từ một tệp tin máy tính, có tiềm năng cách mạng hóa kinh tế chế tạo nếu các sản phẩm có thể được chế tác bằng cách in từ xa ở nhà hay văn phòng. Quá trình gồm các lớp được phủ lên nhau từ dưới lên trên để tạo ra các kết cấu tự đứng được. Các bản thiết kế từ việc thiết kế với sự trợ giúp của máy tính được cắt thành lớp cắt ngang cho mẫu in, cho phép tạo ra các sản phẩm được dùng như các mẫu cho các “bản sao cứng” được làm từ nhựa, hợp kim hay các vật liệu khác.  3. Vật liệu tự lành  Một trong những đặc thù quan trọng của các cơ thể sống là khả năng tự chữa lành những phần cơ thể bị hư hỏng. Một xu hướng ngày càng phổ biến trong ngành phỏng sinh học hiện nay là tạo ra các vật liệu với cấu trúc vô-sinh có khả năng tự chữa khi bị cắt, rách hay nứt. Các vật liệu tự lành có thể sửa chữa sự hư hỏng mà không có sự can thiệp của con người sẽ làm cho các hàng hóa được sản xuất ra có tuổi thọ dài hơn và giảm cầu về nguyên liệu, cũng như cải thiện tính an toàn vốn có của các vật liệu được dùng trong xây dựng, hoặc có thể được dùng để tạo hình thân máy bay.  4. Làm sạch nước tốn ít năng lượng  Sự khan hiếm nước là một vấn đề sinh thái đang trở nên xấu đi ở nhiều nơi trên thế giới do sự cạnh tranh gay gắt từ các nhu cầu khác nhau như nông nghiệp, dân sinh đô thị, và các mục đích khác của con người. Khi hệ thống nước ngọt bị sử dụng quá mức hay bị cạn kiệt, người ta hướng tới sử dụng nước biển, và việc khử muối nước biển có thể cung cấp nguồn nước ngọt gần như vô tận nhưng lại tốn đáng kể năng lượng – mà hầu hết từ nhiên liệu hóa thạch – cho việc vận hành các hệ thống bốc hơi hay thẩm thấu ngược. Song những công nghệ mới xuất hiện mang lại khả năng tăng hiệu suất năng lượng cao hơn đáng kể trong khử muối nước biển hay làm sạch nước ngọt, có khả năng giảm 50% năng lượng tiêu thụ hoặc thậm chí nhiều hơn. Những công nghệ như thẩm thấu xuôi có thể cải thiện thêm hiệu suất bằng cách sử dụng nhiệt cấp thấp từ sản xuất nhiệt điện hay từ nguồn nhiệt có thể tái sinh được tạo ra bởi các cơ sở nhiệt-mặt trời, địa nhiệt.     5. Biến đổi và sử dụng dioxide carbon (CO2)  Những công nghệ từ lâu được hứa hẹn về khả năng thâu và chứa dioxide carbon ở dưới đất đến nay vẫn chưa chứng minh được tính khả thi về mặt thương mại, ngay cả ở quy mô của một nhà máy điện lớn đơn nhất. Nhưng những công nghệ mới giúp biến đổi CO2 thành các hàng hóa có thể bán được có thể sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả kinh tế và vấn đề thiếu hụt năng lượng trong những chiến lược thâu và chứa carbon (CCS – Carbon Capture and Storage) thông thường. Một trong những cách tiếp cận hứa hẹn nhất sử dụng các vi khuẩn quang hợp được biến đổi sinh học để biến CO2 thải thành nhiên liệu lỏng hay các hợp chất hóa học, trong các hệ thống chuyển đổi ánh nắng có cấu trúc modul rẻ tiền. Các hệ thống đơn lẻ được kỳ vọng đạt đến hàng trăm mẫu (acre) trong vòng hai năm. Do có năng suất trên đơn vị diện tích đất cao từ 10 đến 100 lần, các hệ thống này giải quyết một trong những hạn chế môi trường chủ yếu đối với nhiên liệu sinh học dùng nguyên liệu nông nghiệp hay tảo, và có thể cung cấp nhiên liệu ít carbon hơn cho ô tô, hàng không và những đối tượng có nhu cầu cao khác đối với nhiều nhiên liệu lỏng.  6. Dinh dưỡng nâng cao để thúc đẩy sức khỏe ở mức phân tử  Ngay cả ở các nước đã phát triển hàng triệu người bị suy dinh dưỡng do thiếu hụt trong chế độ ăn uống của họ. Nay những công nghệ gene hiện đại có thể xác định chính xác ở mức trình tự gene (gene sequence) rất nhiều protein được tiêu thụ một cách tự nhiên vốn rất quan trọng trong chế độ ăn uống của con người. Các protein được nhận diện có ưu điểm so với các chất bổ sung protein thông thường vì chúng có thể cung cấp một tỷ lệ phần trăm lớn hơn các axit amin thiết yếu, và có tính hòa tan, vị, độ mịn và các đặc trưng dinh dưỡng được cải thiện. Việc sản xuất quy mô lớn các protein ăn uống tinh khiết dành cho người dựa trên việc áp dụng công nghệ sinh học vào dinh dưỡng phân tử có thể mang lại các ích lợi sức khỏe như phát triển cơ, kiềm chế bệnh đái đường hay giảm béo phì.  7. Cảm biến từ xa  Việc sử dụng ngày càng rộng rãi các cảm biến cho phép tạo ra các phản ứng thụ động tức thời trước những kích thích bên ngoài sẽ tiếp tục cải thiện cách chúng ta thích nghi với môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe. Thí dụ các cảm biến liên tục giám sát hoạt động cơ thể – như nhịp tim, lượng oxy và mức đường trong máu – và, nếu cần thiết, kích hoạt một dịch vụ y tế như cung cấp insulin. Tiến bộ dựa vào truyền thông không dây giữa các công cụ, các công nghệ cảm biến tốn ít năng lượng và, đôi khi, việc chủ động thâu lượm năng lượng. Ngoài ra còn những thí dụ khác, như cảm biến nhận biết giữa xe này với xe khác nhằm cải thiện an toàn trên đường giao thông.     8. Dẫn thuốc chính xác qua kỹ thuật nano  Giải pháp cho phép các liều thuốc có thể được dẫn chính xác tới cỡ phân tử bên trong hay xung quanh một tế bào bị bệnh sẽ tạo ra những cơ hội chưa từng có để con người có thể điều trị hữu hiệu hơn và làm giảm các tác động phụ không mong muốn. Các hạt nano được nhắm dính vào mô bị bệnh cho phép cung cấp chính xác ở quy mô nano những liều thuốc đủ mạnh đồng thời làm giảm thiểu tác động của chúng đến mô lành, và phương thức này đang tiếp tục được hoàn thiện qua các thử nghiệm y tế. Sau gần một thập kỷ nghiên cứu, cuối cùng những cách tiếp cận mới này đã cho thấy những dấu hiệu lâm sàng hữu ích.  9. Điện tử và quang điện hữu cơ   Điện tử hữu cơ – một loại mạch in điện tử – sử dụng các vật liệu hữu cơ như các polymer để tạo ra các mạch và dụng cụ điện tử. Ngược với các chất bán dẫn truyền thống (dựa trên silicon) được sản xuất với những kỹ thuật quang khắc đắt đỏ, điện tử hữu cơ có thể được in bằng sử dụng các quá trình rẻ tiền, có thể mở rộng quy mô như in phun, làm cho chúng cực kỳ rẻ so với các dụng cụ điện tử truyền thống, về mặt giá thành trên mỗi đơn vị dụng cụ cũng như chi phí đầu tư máy công cụ để tạo ra chúng. Mặc dù điện tử hữu cơ hiện thời khó cạnh tranh được với silicon về mặt tốc độ và mật độ, nó có khả năng tạo ra lợi thế đáng kể về giá thành và tính linh hoạt. Ví dụ như các bảng điện quang mặt trời được in với chi phí thấp có thể sẽ giúp đẩy nhanh sự chuyển đổi của con người sang sử dụng năng lượng tái tạo.  10. Các lò phản ứng thế hệ thứ tư và tái chế chất thải hạt nhân  Các lò phản ứng hạt nhân một lần (once-through) hiện hành sử dụng chỉ 1% năng lượng tiềm tàng sẵn có trong uranium, và phần còn lại trở thành “chất thải” hạt nhân gây ô nhiễm phóng xạ. Mặc dù người ta có thể giải quyết được thách thức kỹ thuật trong vấn đề chôn chất thải, nhưng trở ngại mang tính chính trị của vấn đề chất thải hạt nhân gây hạn chế nghiêm trọng sự hấp dẫn của công nghệ năng lượng không-carbon và có khả năng mở rộng quy mô cao này. Tái chế nhiên liệu đã cháy và tái biến uranium-238 thành nguyên liệu mới phân hạch được – được biết đến như Nuclear 2.0– có thể kéo dài việc sử dụng số uranium mà con người đã khai thác tới hàng thế kỷ và làm giảm đáng kể dung lượng và tính độc hại dài hạn của các chất thải, độ phóng xạ của chúng sẽ sụt xuống dưới mức phóng xạ của quặng uranium trong vòng vài thế kỷ thay vì vài thiên niên kỷ. Điều này giúp vấn đề chôn chất thải giảm nhiều (thậm chí không còn) tính thách thức, khiến chất thải hạt nhân trở thành một vấn đề môi trường nhỏ so với các chất thải nguy hại tạo ra bởi các ngành công nghiệp khác. Những công nghệ thế hệ thứ tư, kể cả các lò phản ứng làm mát nhanh bằng kim loại lỏng, hiện nay đang được triển khai ở nhiều nước và được các công ty kỹ thuật hạt nhân có tiếng chào mời.          NGUYỄN QUANG A  dịch   ————  * Sir David King là Giáo sư và Giám đốc của Cambridge Kaspakas và Chủ tịch của Hội đồng Chương trình nghị sự Toàn cầu về các Công nghệ Mới của Diễn đàn Kinh tế Thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 12.000 máy bay không người lái cho châu Phi      Những chiếc máy bay không người lái này có thể giúp châu Phi giải quyết vấn đề thiếu hụt thuốc men và các thiết bị y tế cỡ nhỏ      Loại Drone của Wingcopter có thể vận chuyển tới 120 kg hành lý    Doanh nghiệp Wingcopter ở bang Hessen, Đức, chuyên sản xuất máy bay không người lái cỡ nhỏ (drone) như loại máy bay mô hình. Loại này thích hợp để vận chuyển thuốc chữa bệnh đến vùng sâu vùng xa, nơi hệ thống đường xá không thuận lợi. Drone so với các phương tiện vận chuyển khác có các ưu điểm kỹ thuật vượt trội.    Cơ sở Kawumba Healthcare Center ở Miền trung Malawi là một ngôi nhà một tầng ở một nơi hẻo lánh, đường xá gập ghềnh và xa bệnh viện, thậm chí vào mùa mưa thì hầu như không thể đi lại. Tuy nhiên điều này đã thay đổi vào thời gian gần đây khi dân cư ở vùng này có thể được cấp thuốc men, thiết bị y tế thuận lợi bằng máy bay không người lái.    Loại máy bay không người lái được dùng để vận chuyển thuốc, vaccine đồng thời lấy mẫu máu, nước tiểu để đưa đi xét nghiệm. Thiết bị này được sử dụng trên một địa bàn có khoảng trên 7 triệu dân.    Loại Wingcopter 198 không lớn hơn một chiếc mô hình máy bay. Nó có thể điều hướng tự động bằng sử dụng định vị GPS, có bốn hoặc tám cánh quạt nhỏ, tùy thuộc vào kiểu máy và có một tời cáp nhỏ ở bụng, để kéo hộp tải lên, xuống mặt đất  với khoảng cách 30 mét. Chiếc máy bay không người lái này dùng để giao các loại hàng có giá cao. Giá một chiếc máy bay này khoảng 100.000 euro. Tốc độ tối đa 240 km một giờ, tầm bay 120 km, độ cao bay 100 mét, trọng tải tối đa sáu kg. Không nhiều nhưng đủ để vận chuyển những thứ quan trọng như thuốc men, đồ dùng cấp cứu.    Trong những năm tới, hàng nghìn máy bay không người lái như vậy dự kiến sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho các khu vực rộng lớn của châu Phi. Doanh nghiệp khởi nghiệp Wingcopter của Đức đã có được các đơn đặt hàng với số lượng lớn. Dự kiến, sẽ có 12.000 máy bay được giao cho Continental Drone trong vòng 5 năm tới, công ty này dự định sử dụng chúng để thiết lập mạng lưới giao hàng ở 49 quốc gia châu Phi khu vực cận Sahara.      Hiện nay đã có khoảng 10 drone của nhà sản xuất Wingcopter Đức hoạt động tại miền trung Malawi.    Cách đây mười năm, Tom Plümmer, nay là giám đốc Wingcopter, học xong khóa phương tiện kỹ thuật số. Anh làm việc cho một tổ chức phi chính phủ ở Ghana, chuyên chụp ảnh từ trên không bằng drone. Trong quá trình làm việc tại đây Plummer đã nẩy sinh ý định dùng drone để vận chuyển hàng hóa, thuốc men chữa bệnh cho con người. Từ đó, ra đời dịch vụ vận chuyển bằng drone ở châu Phi.    Khi về Đức anh gặp Jonathan Hesselbarth, một người có nhiều kinh nghiệm với drone. Họ đã cùng nhau cải tiến để sau khi drone cất cánh thẳng đứng, các cánh quạt được quay 90 độ, biến máy bay không người lái thành một mặt phẳng cho phép đạt được tốc độ và tầm bay lớn hơn. Kỹ sư công nghiệp Ansgar Kadura sau đó cùng tham gia. Bộ ba này đã cùng nhau thành lập công ty Wingcopter cách đây 5 năm. Wingcopter 198 được sản xuất từ đầu năm nay.    Cần tiền để chuyển sang sản xuất lớn    Nhiều công đoạn sản xuất hiện nay như làm khung nhựa của máy bay đều làm thủ công cho nên mất nhiều công sức và thời gian. Hiện tại mức phấn đấu của họ là sản xuất mỗi ngày 12 drone.    Để thiết lập sản xuất công nghiệp cho hàng nghìn máy bay không người lái, Plümmer và các đồng nghiệp của ông hiện bí nhất là tiền vốn. Tính đến thời điểm hiện tại, họ đã thu về khoảng 25 triệu euro nhưng khoản tiền này chỉ đủ để mày mò, thử nghiệm ban đầu. Đối thủ cạnh tranh gần nhất của công ty này là Zipline có trụ sở tại San Francisco, đã huy động được 250 triệu đô la vào năm ngoái và được định giá 2,75 tỷ đô la.    Máy bay không người lái giao hàng của Mỹ có vẻ kém hơn về mặt kỹ thuật. Máy bay không người lái zipline không thể tự cất cánh hoặc hạ cánh mà phải được phóng lên không trung bằng thiết bị phóng. Máy bay không người lái của Mỹ thả hàng bằng dù và phải bắt bằng lưới an toàn. Người Mỹ đã thực hiện  275.000 lượt giao hàng thương mại, tại khu vực xung quanh thủ đô Kigali của Rwandan, được biết  75% tổng số mẫu máu được gửi bằng đường zipline.    Bây giờ Wingcopter cũng muốn tiến sâu vào cuộc tranh đua này. Plummer nói  việc huy động vốn ở Đức vốn dĩ rất khó khăn, sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu có sơ lượng đặt hàng lớn hơn.  Theo  Plummer  máy bay không người lái giao hàng đang là ngành kinh doanh phát triển nhanh nhất trong phân khúc máy bay không người lái hiện nay. “Thị trường của chúng tôi đang tăng hơn 53% hàng năm lên 39 tỷ euro vào năm 2030.” Một nghiên cứu của Mỹ từ năm ngoái xác nhận dự báo này.    Plummer nói, có rất nhiều cách sử dụng có thể có đối với máy bay không người lái giao hàng. Ngoài các dự án đang thực hiện ở Châu Phi và Nam Mỹ, Wingcopter đã được thử nghiệm thành công ở Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ở bang Mecklenburg-Western Pomerania tại Đông bắc Đức, máy bay không người lái đã vận chuyển các mẫu máu từ Wolgast đến Bệnh viện Đại học Greifswald. Plummer nói: tại các nước công nghiệp hệ thống giao thông không thiếu nhưng lại hay xảy ra ùn tắc. Drone có thể giúp khắc phục tình trạng này.     Hoài Nam  tổng hợp  Nguồn: https://www.msn.com/de-de/finanzen/top-stories/12-000-drohnen-f%C3%BCr-afrika-diese-deutsche-firma-wird-zur-medikamenten-hoffnung/ar-AAYoYkp  https://www.welt.de/wirtschaft/article239226559/Lieferdrohnen-fuer-Afrika-Deutsche-Firma-wird-zur-Medikamenten-Hoffnung.html#:~:text=Insgesamt%20zehn%20solcher%20Lieferdrohnen%20vom,mit%20medizinischen%20Hilfsmitteln%20zu%20versorgen.&text=Der%20Wingcopter%20198%20ist%20kaum%20gr%C3%B6%C3%9Fer%20als%20ein%20Modellflugzeug.    Author                .        
__label__tiasang 12.000 năm trước đã định hình con người như thế nào?      Trong khi con người tiến hóa qua hàng triệu năm, thời điểm 12.000 trước thực sự tạo tác động vô cùng lớn đến cách chúng ta sống ngày nay, theo một nhà nhân học với công bố trở thành bài chính trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.    Tất cả những gì trong thế giới hiện đại của chúng ta đều được bắt đầu với sự tiên tiến của nông nghiệp, Clark Spencer Larsen, giáo sư nhân học tại ĐH bang Ohio, nhận xét.  “Sự dịch chuyển từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt đã làm thay đổi tất thảy”, Larsen nói.  Cùng với các cây lương thực, con người cũng ươm trồng các loại hạt giống cho những vấn đề rắc rối của xã hội hiện đại.  “Dẫu những thay đổi này mang đến một nền nông nghiệp với lương thực nhưng nó cũng làm gia tăng xung đột và bạo lực, gia tăng các dịch bệnh truyền nhiễm, giảm thiểu các hoạt động thể chất, thêm các chế độ ăn giới hạn và nhiều cạnh tranh về tài nguyên hơn”, ông nói.  Larsen là người khởi xướng và biên tập một ấn phẩm đặc biệt cho tạp chí này. Ồng cũng là tác giả của bài giới thiệu với tiêu đề “Quá khứ hành vi, thích ứng, dân số và tiến hóa của 12.000 năm trước định hình chúng ta ngày nay”.  Ấn phẩm đặc biệt này gồm tám bài báo chủ yếu về khảo cổ sinh học (bioarchaeology) – nghiên cứu về xương người và những gì chúng có thể nói với các nhà khoa học về những thay đổi trong chế độ ăn, hành vi, lối sống khắp 10 thiên niên kỷ trước và hơn thế nữa. Larsen hiện là đồng tác giả của hai trong số tám bài báo.  Một thông điệp kết nối tất cả các bài báo là những vấn đề lớn của xã hội ngày nay đều có gốc rễ từ cổ đại, ông nói.  “Chúng ta không thể đến điểm mà chúng ta đang ở ngày nay bằng sự tình cờ. Các vấn đề chúng ta có ngày nay với chiến tranh, bất bình đẳng, dịch bệnh và đói nghèo, tất cả đều là kết quả từ những thay đổi xuất hiện khi trồng trọt bắt đầu”, Larsen nói.  Sự dịch chuyển từ săn bắt hái lượm đến trồng trọt dẫn con người, vốn có một cuộc sống di cư nay đây mai đó, đến chỗ tạo dựng các khu định cư và sống tĩnh tại nhiều hơn.  “Điều này có những gợi ý sâu sắc về mọi khía cạnh hữu hình của đời sống chúng ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai”, ông nói.  Sự tăng trưởng của lương thực cho phép dân số thế giới tăng lên con số 10 triệu người trong thời kỳ Pleistocene muộn đến hơn 8 tỷ người ngày nay.  Nhưng điều này cũng phải trả giá. Chế độ ăn nhiều thay đổi của những người săn bắt đã thay thế bằng chế độ ăn nhiều giới hạn của cây trồng, vật nuôi đã được thuần hóa, vốn thường bị giảm bớt dưỡng chất. Hiện tại, nhiều vùng trong thế giới vẫn còn phụ thuộc vào ba loại ngũ cốc – gạo, lúa mì, ngô – đặc biệt trong những vùng ít có nguồn cung cấp protein động vật, Larsen nói.  Thay đổi quan trọng khác trong chế độ ăn của người là việc có thêm sữa bò. Trong một bài báo trong ấn phẩm đặc biệt này, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra răng được tìm thấy trong các bộ xương và tìm thấy những bằng chứng sớm nhất về mốc thời gian sử dụng sữa khoảng 5.000 năm trước ở Bắc Âu.  “Đây là bằng chứng cho sự thích ứng di truyền của con người để có thể tiêu hóa được phô mai và sữa, và nó diễn ra ở thời điểm rất gần với tiến hóa người”, ông nói. “No cho thấy cách con người đang thích ứng về mặt sinh học cho lối sống mới của chúng ta”.  Khi con người bắt đầu tạo ra các cộng đồng làm nông, những thay đổi xã hội đã xuất hiện. Một bài báo mà Larsen là đồng tác giả đã phân tích các đồng vị strontium và oxy từ men răng của người thuộc các cộng đồng trồng trọt sớm từ hơn 7.000 năm trước để giúp xác định nơi nào họ đến. Kết quả cho thấy là Çatalhöyük (ảnh) ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, là nơi duy nhất trong số các cộng đồng được nghiên cứu có người ngoài địa phương sinh sống.“Điều này đặt nền tảng cho mối quan hệ họ hàng và tổ chức cộng đồng trong các xã hội sau đó của Tây Á”, ông nói.  Những cộng đồng sớm phải đối mặt với vấn đề mà nhiều người sống trong những khu vực chật hẹp, dẫn đến xung đột.  Trong một bài báo, các nhà nghiên cứu về các bộ xương thuộc về các cộng đồng nông nghiệp sớm ở khắp Tây và Trung Âu và tìm thấy khoảng 10% chết vì chấn thương nặng. “Phân tích của họ tiết lộ bạo lực của châu Âu thời kỳ Đồ đá mới là điều đặc hữu và có xu hướng mở rộng quy mô, kết quả rút ra từ những mẫu hình của chiến tranh dẫn đến sự gia tăng của số người chết”, Larsen viết trong phần giới thiệu.  Nghiên cứu được giới thiệu trong ấn phẩm PNAS này cũng tiết lộ cách những cộng đồng đầu tiên đó tạo ra các điều kiện lý tưởng nảy sinh vấn đề khác là đỉnh cao chú ý trong thế giới ngày nay: bệnh truyền nhiễm. Việc gia tăng gia súc vật nuôi dẫn đến các bệnh từ động vật có thể lan truyền từ động vật sang người, Larsen nói.  Dẫu khủng hoảng khí hậu ngày nay chưa từng xảy ra trong lịch sử loài người thì các xã hội trong quá khứ cũng từng phải đối mặt với những vấn đề khí hậu trong ngắn hạn, cụ thể là hạn hán kéo dài.  Trong một bài báo mà Larsen là đồng tác giả, các nhà nghiên cứu đã lưu ý là bất bình đẳng kinh tế, phân biệt chủng tộc và các dạng phân biệt khác đã là những nguyên nhân chính khiến các xã hội phải đối mặt với tình trạng khẩn cấp khí hậu và hiện thì chúng vẫn đang đóng một vai trò lớn trong khủng hoảng hiện nay của chúng ta.  Những cộng đồng tồn tại bất bình đẳng ngày một lớn hơn dường như nếm trải bạo lực sau hệ quả của khủng hoảng thời tiết, Larsen nói.  Điều gây ngạc nhiên nhất về mọi thay đổi mà ấn phẩm đặc biệt này nhắc đến là sự xuất hiện một cách đột ngột của chúng, ông nói. “Khi anh nhìn vào sáu hay khoảng một triệu năm tiến hóa người, sự chuyển tiếp từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt và tất cả các tác động của nó đã giáng lên chúng ta – tất cả diễn ra chỉ trong chớp mắt”, Larsen nhận xét.  “Với vòng đời của một con người thì điều này dường như là quá dài nhưng nó thực sự không dài đâu”.  Nghiên cứu có trong ấn phẩm đặc biệt cũng cho thấy năng lực đáng kinh ngạc của con người trong việc thích ứng với môi trường xung quanh.  “Chúng ta là những tạo vật có sức chịu đựng bền bỉ lạ thường, từ 12.000 năm trước đã cho thấy điều đó”, ông nói. “Nó đem lại cho tôi hi vọng vào tương lai. Chúng ta sẽ tiếp tục thích ứng để tìm ra những cách đối mặt với thách thức và tìm ra những con đường đến với thành công. Đó là những gì chúng ta làm được với tư cách là con người”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-years-humans-today.html  https://www.sciencealert.com/for-12-000-humans-have-shaped-earth-and-for-most-of-that-time-it-wasn-t-destructively    Author                .        
__label__tiasang 12 khía cạnh của nền kinh tế trí tuệ chủ nghĩa      Theo một triết lý xa xưa, cuộc sống có 12 khía cạnh khác nhau, cũng giống như một năm có 12 tháng. Theo nguyên lý đó, bài viết này sẽ điểm qua 12 khía cạnh của nền kinh tế AI (kinh tế trí tuệ chủ nghĩa), cùng với một số gợi ý về chiến lược phát triển cho Việt Nam qua 12 khía cạnh này. Bài viết chia làm hai phần, và phần thứ nhất này sẽ bàn về 6 khía cạnh đầu tiên: trí tuệ, đầu tư, dữ liệu, giáo dục, sức khỏe và sáng tạo.    Trí tuệ  Mỗi chúng ta đều là trí tuệ, là một thành phần của trí tuệ tổng thể của vũ trụ. Chúng ta hướng tới thông tuệ, bởi thông tuệ thì hạnh phúc, mọi khổ đau đều do thiếu hiểu biết mà ra.  Cuộc cách mạng AI (Artificial Intelligence, trí tuệ nhân tạo) sẽ tạo ra trí tuệ tăng cường (Augmented Intelligence), nói cách khác là một người đồng hành đắc lực trong quá trình tư duy của con người, giúp chúng ta hướng tới thông tuệ, phồn vinh.  Nhiều người trước kia từng rất bi quan và lo sợ đối với các máy móc, với metro, máy bay, nhà cao tầng, v.v. khi chúng mới xuất hiện, nhưng nếu giờ hỏi một người công nhân là anh ta thích làm mọi thứ bằng tay hay bằng máy, ắt hẳn anh ta sẽ chọn máy, vì máy móc giúp anh ta tăng năng suất lao động, có được thu nhập cao hơn, mà bớt mệt nhọc.  Ngày nay cũng vậy, có nhiều người bi quan và lo sợ AI sẽ cướp đi việc của họ, theo dõi kiểm soát họ, biến họ thành nô lệ, v.v. Nhưng AI cũng chỉ là một công cụ, một khi nó trở nên tiện lợi và quen thuộc, người ta sẽ coi chúng như là hiển nhiên, tới mức khó hình dung khi còn trong một cuộc sống thiếu AI trước kia.  Dĩ nhiên, đối với bất kì thể chế hay doanh nghiệp nào, các cuộc cách mạng công nghệ mang đến cơ hội nhưng cũng hàm chứa những thách thức lớn. Cơ hội sẽ đến với ai biết tận dụng AI giúp cho tổ chức của mình thông minh hơn, hiệu quả hơn, có vai trò tích cực hơn trong xã hội. Còn với những người bảo thủ, trì trệ, không tiếp nhận cái mới, thì sẽ bị đào thải tự nhiên trong cuộc cách mạng AI này.  Đầu tư cho AI  Người ta ước tính, đến năm 2030 sẽ có hơn 15 nghìn tỷ USD, tương đương với hơn 10% sản lượng kinh tế thế giới, là do AI tạo ra hàng năm. Nhưng không phải đất nước nào, khu vực nào cũng được hưởng lợi như nhau từ cuộc cách mạng AI này. Nước được hưởng lợi nhiều nhất sẽ là Trung Quốc, nơi tập trung đến hơn 40% giá trị do AI mang lại (7 nghìn tỷ USD, 26% toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc vào năm 2030, theo một báo cáo của PcW). Đứng thứ hai là Mỹ (14.5% nền kinh tế, 3.7 nghìn tỷ USD vào năm 2030 do AI đem lại). Các khu vực kinh tế phát triển khác trên thế giới ở châu Âu, châu Á thì chỉ đạt mức 10% nền kinh tế do AI, còn những khu vực lạc hậu hơn ở châu Á, châu Mỹ Latinh chỉ đạt mức 5-6%.  Làm sao để Việt Nam thoát khỏi danh sách những nước “tụt hậu”, vươn lên ít ra bằng mức châu Âu hay châu Á phát triển? Câu trả lời khá hiển nhiên: muốn hưởng lợi nhiều từ AI thì phải đầu tư thật mạnh vào hệ sinh thái AI. Điều này chúng ta đã thấy qua mấy thập kỷ qua, những nước đầu tư mạnh nhất vào khoa học công nghệ như là Trung Quốc, Hàn Quốc cũng chính là những nước đạt tăng trưởng kinh tế cao nhất.  Hệ sinh thái AI bao gồm nhiều yếu tố lĩnh vực khác nhau, trong đó phần cứng và phần mềm máy tính, điện toán đám mây, dữ liệu, thuật toán học máy, ứng dụng AI, thị trường người sử dụng, hệ thống luật lệ, v.v. Lĩnh vực nào cũng cần thiết và cũng có nhiều cơ hội, nhưng từng cá nhân, tổ chức, quốc gia cần chọn lựa những lĩnh vực nào mà mình có lợi thế, ít rào cản, dễ tạo ra giá trị thặng dư nhất, và củng cố các lĩnh vực còn yếu qua học hỏi, hợp tác, nhập khẩu công nghệ.  Việc theo dõi nắm bắt các công cụ và ứng dụng AI hiện đại, điều chỉnh chúng để đưa vào sử dụng cho các vấn đề thực tế, sẽ giúp tăng năng suất lao động cho phần lớn mọi người. Một ví dụ là nền tảng AI xử lý ngôn ngữ tự nhiên kiểu GPT, đã xuất hiện rất nhiều ứng dụng chuyên môn hóa dựa trên nền tảng này, cho đủ thứ việc khác nhau, từ dịch thuật cho đến kê đơn thuốc, lập trình, sáng tác nghệ thuật, v.v.  Dữ liệu  Dữ liệu là nền tảng của AI hiện đại. AI để thông minh lên thì cần được học, cũng như con người cần được học. Cũng tương tự như người, mạng thần kinh nhân tạo của AI học qua ví dụ, bằng cách tập phân tích dữ liệu (đầu vào là dữ liệu, đầu ra là kết quả nào đó, rồi đánh giá xem kết quả như vậy tốt chưa, thay đổi các tham số của thuật toán theo hướng nào thì kết quả sẽ tốt lên, v.v.).  AI có thể học trên rất nhiều dữ liệu. thậm chí đến hàng tỷ đơn vị dữ liệu, càng nhiều dữ liệu cho nó tập phân tích thì nó sẽ càng giỏi. Bởi vậy mới xuất hiện khái niệm dữ liệu lớn (big data), là một thứ “thức ăn tinh thần” không thể thiếu trong việc đào tạo phần lớn các AI hiện đại. Cũng bởi vậy ngành công nghiệp dữ liệu đóng vai trò thiết yếu trong việc phát triển AI.  Công nghiệp dữ liệu bao gồm rất nhiều khâu, như là sản sinh dữ liệu, thu thập dữ liệu, bảo quản dữ liệu, dán nhãn dữ liệu, xử lý thô dữ liệu, làm sạch dữ liệu, thống kê mô tả dữ liệu, chứng thực dữ liệu, tăng cường dữ liệu, tạo dữ liệu synthetic, v.v. Ta có thể hình dung nôm na các đống dữ liệu thô như là những “mỏ vàng”, cần có các “mỏ” này rồi có các công cụ để “sàng lọc vàng”, tạo ra các dữ liệu đã qua sàng lọc, tiện lợi cho AI sử dụng để học.  Ngành dữ liệu trên thế giới đang tạo ra dữ liệu mới với một tốc độ chóng mặt: ước tính vào năm 2023 có thêm hơn 20 zettabyte dữ liệu được tạo ra (1 zettabyte = 1 nghìn tỷ gigabyte), hay là hơn 2 terabyte trên mỗi đầu người trên Trái đất, và con số dữ liệu sản sinh ra này lớn hơn toàn bộ dữ liệu thu thập được trên Trái đất cho đến năm 2016. Giá trị của khối dữ liệu khổng lồ này được tính ở mức hàng nghìn tỷ USD. Một số công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực dán nhãn dữ liệu trên thế giới cũng đã được định giá đến hàng tỷ USD.  Việt Nam có thể có nhiều thế mạnh trong ngành công nghệ dữ liệu, đặc biệt khi mà công suất thu thập và dán nhãn dữ liệu của nhân viên có thể không thua kém gì nơi khác, trong khi giá thành lao động rẻ hơn. Ngay ở các công ty dữ liệu tỷ USD thì công cụ và phương pháp dán nhãn của họ hiện tại cũng chưa phải đã hoàn thiện, công ty khác đầu tư vào cũng có thể làm tốt hơn.  Giáo dục  Theo một báo cáo của Accenture1, một công ty tư vấn hàng đầu trong ngành dịch vụ công nghệ thông tin, ngành giáo dục chính là ngành sẽ thay đổi nhanh nhất, hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng AI trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau. Người ta dự tính đến năm 2035, 84% giá trị thặng dư mới trong ngành giáo dục là do AI mang lại (còn những phát triển khác chỉ chiếm 16%). EdTech, ngành công nghệ giáo dục hiện đang trở thành một trong những ngành được quan tâm nhất trên thế giới. So với 10 năm trước, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm rót vào ngành EdTech hiện nay đã gấp 40 lần với sự tập trung vào các sản phẩm “cá nhân hóa” dành cho người học được trợ lực bởi AI.  AI sẽ làm thay đổi hoàn toàn cách học và cách thi cử của thế hệ trẻ em ngày nay, cũng như của người lớn, trên toàn thế giới. Khó hình dung về sự thay đổi đó trong 10 – 20 năm tới, nhưng nó đã và đang diễn ra nhanh chóng. Ví dụ, các bài học có thể được cá nhân hóa cho từng người, mỗi người được học theo nhịp của mình, theo thiên hướng của mình, tiếp cận được với những kiến thức văn hóa và khoa học hiện đại nhất, luôn có trợ lý AI bên cạnh để hướng dẫn và giải thích, v.v. Tốc độ học và hiểu kiến thức trung bình có thể sẽ tăng lên mấy lần so với hiện nay. Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu về Đổi mới sáng tạo trong Học tập2 cho thấy, cách học online được cá nhân hóa có tác dụng vượt trội so với cách học online truyền thống.  Nếu như ngày xưa, con thợ rèn lại làm thợ rèn, con nông dân lại đi cày, mỗi người hay thậm chí mỗi dòng họ chỉ làm chủ yếu có một nghề, một loại việc, thì trong thời đại AI một người trung bình sẽ linh hoạt hơn trong công việc, chuyển việc, chuyển nghề dễ dàng hơn, và điều đó cũng ứng với chuyện là họ học nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn xưa.  Việc học sẽ trở thành nhu cầu, niềm vui suốt đời, hoạt động hằng ngày của mọi người, chứ không chỉ dành riêng cho giới trẻ. Phần lớn thời gian mà chúng ta gọi là để làm việc cũng sẽ chính là để học những cái mới, cần thiết cho công việc của chúng ta ngày càng đòi hỏi trí tuệ, sáng tạo và linh hoạt, còn những công việc mà chúng ta phải làm lặp đi lặp lại hằng ngày đến nhàm chán đã có máy móc tự động cùng với AI thay thế.  Từ quan điểm chính sách công, hiện đại hóa nền giáo dục để bắt nhịp với thời đại AI là một việc vô cùng cần thiết. Ngoài việc ứng dụng AI trong giảng dạy, quan trọng hơn là phải loại bỏ cách dạy mang tính học thuộc, mà hướng tới việc dạy các em hiểu bản chất, nguyên lý của vấn đề.  Sức khỏe  Tiếp theo ngành giáo dục, có thể kể đến ngành y tế là ngành đang và sẽ hưởng lợi lớn từ cuộc cách mạng AI. Người ta ước tính tốc độ tăng trưởng của thị trường ứng dụng AI trong y tế hiện ở vào mức 40-50% mỗi năm, thuộc loại cao nhất trong các ngành3. Giá trị mà AI sẽ đem lại cho y tế và sức khỏe có thể tính ra đến hàng nghìn USD trên mỗi đầu người trong một năm, tương đương với hàng nghìn tỉ USD mỗi năm trên toàn thế giới.  Nhờ có AI, mọi người sẽ được kiểm tra sức khỏe thường xuyên hơn và đầy đủ hơn, phát hiện bệnh sớm hơn, chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác hơn, chăm sóc chữa bệnh tốt hơn, v.v., nhờ đó sẽ sống lâu sống khỏe hơn. Thậm chí có những nhà tiên phong còn dự đoán AI sẽ kéo dài tuổi thọ con người ít ra gấp đôi hiện nay hoặc nhiều hơn nữa.  Ở những vùng nghèo, vùng sâu vùng xa khi mà điều kiện về y tế thiếu thốn, vai trò của AI trong việc giúp chẩn đoán phát hiện bệnh kịp thời, kết nối kịp thời bệnh nhân với bác sĩ trong trường hợp cần thiết, lại càng quan trọng.  Dù là bệnh hô hấp, hay tim mạch, hay bệnh da, bệnh truyền nhiễm, ung thư, xương cốt, v.v. AI đều có khả năng học nhận đoán bệnh ở mức tương đương với chuyên gia hoặc tốt hơn. Tác giả bài viết này có liên quan trực tiếp tới một số vấn đề AI trong y tế, nên có thể lấy một ví dụ nhỏ từ thực tế ở đây, về các bệnh da.  Da là một bộ phận phức tạp của cơ thể, với hơn 6000 bệnh da khác nhau đã được liệt kê, và có lẽ hàng chục nghìn bệnh chưa được liệt kê. Nhưng làm sao một bác sĩ có thể học hết được từng đó bệnh da?! Một bác sĩ đa khoa thường chỉ biết một vài chục bệnh da phổ biến nhất, bác sĩ chuyên gia da liễu trung bình biết được vài trăm bệnh, và có rất nhiều trường hợp bệnh nhân đi khám nhiều nơi mà vẫn không ai nói được đó là bệnh gì.  AI về da do tác giả tham gia xây dựng, hiện đã được một số bệnh viện ở Mỹ và một số nơi khác trên thế giới dùng, cũng đã biết được đến hàng nghìn bệnh da khác nhau qua hình ảnh, giúp cho bác sĩ chẩn đoán được cả nhiều ca hiếm, ca khó, những ca mà nhiều bác sĩ cũng chưa từng chứng kiến.  Vì sao AI có thể chẩn đoán được thứ mà cả bác sĩ không chẩn đoán được? Đơn giản là vì, AI thu thập và học kiến thức, không phải từ một bác sĩ, mà là từ hàng trăm hàng nghìn bác sĩ khác nhau, từ nhiều nước khác nhau trên thế giới. Nếu nói về bất cứ một bệnh cụ thể nào đó, thì ắt hẳn sẽ có bác sĩ chuyên gia nghiên cứu về bệnh đó giỏi hơn AI, và AI có thể học lại được từ bác sĩ đó, và trở nên có khả năng nhận đoán bệnh đó tốt hơn so với các bác sĩ khác không có thời gian học về nó.  Ví dụ trên không có nghĩa là AI sẽ thay thế bác sĩ. Nghề bác sĩ, cũng như phần lớn các nghề khác, vẫn không thể thiếu trong xã hội. Trách nhiệm đưa ra chẩn đoán bệnh và phương pháp điều trị vẫn thuộc về bác sĩ, AI chỉ đóng ai trò trợ lý đắc lực. Trong những năm trước đây, nhiều bác sĩ tỏ ra rất ngần ngại hay nghi ngờ AI, nhưng điều này đang thay đổi nhanh, và xu hướng tất yếu sẽ là các bác sĩ sẽ có AI hỗ trợ trong công việc hằng ngày để khám chữa bệnh hiệu quả hơn cho bệnh nhân.  Các hãng dược phẩm cũng đang sử dụng AI, những phương pháp học máy (machine learning) với các cấu trúc hệ thần kinh nhân tạo mới, để đẩy nhanh quá trình nghiên cứu tìm thuốc chữa bệnh, với tốc độc nhanh gấp hàng chục hàng trăm lần so với khi chưa có AI. Kể cả những bệnh mà người ta vẫn bó tay trong suốt mấy chục năm nay như Alzheimer, AI cho chúng ta niềm hy vọng tìm ra thuốc chữa hiệu nghiệm trong những năm tới.  Có vô số các công ty lớn nhỏ khác nhau trên thế giới đang lao vào thị trường khổng lồ về AI trong y tế. Vì tính tương đối mới mẻ của AI, nên những “Goliath” to mà già cỗi chưa chắc đã có lợi thế gì nhiều so với những “David” trẻ mà nhanh nhẹn trong thị trường này. Cũng đã có những công ty tin học và trí tuệ nhân tạo của Việt Nam tham dự thị trường AI cho y tế. Nếu có đầu tư tốt, chiến lược tốt, đội ngũ kỹ thuật tốt, phối hợp được tốt với các tổ chức y tế, bảo hiểm sức khỏe và cơ quan làm chính sách, thì họ hoàn toàn có thể thành công lớn trong AI cho y tế, ở thị trường Việt Nam cũng như quốc tế.  Sáng tạo  Ngày xưa, con người phải làm việc khổ cực, chủ yếu bằng cơ bắp, nên mới có chữ “lao” trong từ lao động. Dần dần, máy móc đã giải phóng con người khỏi phần lớn các công việc cơ bắp lao lực. Ngày nay, AI và tự động hóa (robotics) lại đang dần giải phóng con người khỏi phần lớn các việc tuy dùng đến đầu óc nhưng thuộc loại nhàm chán, ví dụ như sổ sách kế toán, lái xe, điều khiển máy cày, v.v.  Máy móc và AI sẽ ngày càng có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ dồi dào đến mức thậm chí con người không cần làm việc vẫn sống được. Đến khi đó, khái niệm về công việc sẽ thay đổi rất nhiều, sẽ không còn có phân biệt rõ ràng giữa công việc và các hoạt động khác. ‘Công việc” cũng sẽ là một thứ hoạt động, thú vị đối với chúng ta, kích thích chúng ta phát triển, đến mức chúng ta háo hức làm nó, làm vì thích làm chứ không phải vì kiếm ăn.  Những công việc thú vị nhất chính là những công việc có tính sáng tạo cao nhất. Những người làm những nghề có tính sáng tạo cao, như là văn nghệ sĩ, cầu thủ bóng đá, nhà khoa học, nhà sáng chế, nhà lãnh đạo, v.v. cũng thường là những người yêu nghề nhất.  Càng ngày, con người sẽ càng có nhiều thời gian cho các hoạt động sáng tạo. Con người của thời đại AI không những là con người trí tuệ, mà còn là con người sáng tạo. Bất kể nghề nào thì cũng sẽ có những yếu tố sáng tạo trong đó, do con người tạo ra, còn những thứ “đã thành lặp đi lặp lại” thì để AI và robot phụ trách. Và sẽ luôn có nhiều hoạt động, nhiều ngành nghề mới, do con người tạo ra, với sự hỗ trợ của AI.  Tất nhiên, để có khả năng sáng tạo tốt, thì cũng cần có nền tảng hiểu biết tốt về thứ mà ta muốn sáng tạo. Đặc biệt giới trẻ nên được khuyến khích sáng tạo, nhưng để sáng tạo được, để sáng tạo giống như một “liều thuốc kích thích” cho họ tiến về phía trước, quan tâm học hỏi tìm hiểu sâu hơn các kiến thức, thì cần phải có một nền tảng chuyên môn vững chắc.  Bản thân AI ngày nay, và AI trong tương lai, là thành quả của sự sáng tạo của hàng triệu con người làm trong các lĩnh vực khác nhau. Và AI đã và sẽ được học để tạo ra nhiều thứ, từ tranh ảnh đến thơ văn âm nhạc, đến các phương trình vi phân, v.v. Điều đó không có nghĩa là AI sẽ “hất cẳng” con người, mà chỉ có nghĩa là AI sẽ trở thành trợ thủ đắc lực cho con người trong hoạt động sáng tạo, giúp chúng ta sáng chế được những thứ mà trước kia khó lòng làm ra được.  Trong lĩnh vực nghệ thuật, chuyện những bức tranh do AI vẽ, hay bức chụp hình giả tạo do AI chế ra, thắng giải một số cuộc thi gần đây, không khỏi làm nhiều nghệ sĩ giật mình, lo lắng sợ bị AI chiếm việc. Nhưng cũng như trong tất cả các ngành khác, mà AI sẽ đem lại thay đổi lớn, chúng ta nên mừng hơn là nên lo. Ngày xưa người ta cũng từng lo là khi có TV chiếu bóng đá hay ca nhạc thì sân bóng và nhà hát sẽ bị ế, nhưng thực tế xảy ra ngược lại. Phương tiện kỹ thuật, trong đó có AI, giúp đem nghệ thuật tới con người nhiều hơn thì cũng sẽ kích thích người ta mê nghệ thuật hơn, sẵn sàng chi phí cho nó hơn.  Những tác phẩm nghệ thuật “nguyên bản” vẫn luôn có giá hơn là “hàng nhái” kể cả khi hàng nhái có giống hệt hàng thật. AI sẽ giúp cho nghệ sĩ tạo ra các tác phẩm mới, các biểu diễn mới, các loại hình nghệ thuật mới độc đáo, phong phú, hấp dẫn hơn trước. Còn tất nhiên nếu chỉ dừng ở mức “thợ vẽ” lặp đi lặp lại một số thao tác quen tay thì những việc như vậy, dù là trong nghệ thuật hay trong ngành nào khác, cũng khó đem lại nhiều giá trị gia tăng.□ (Hết phần I)  ————————————  1 https://newsroom.accenture.com/news/accenture-report-artificial-intelligence-has-potential-to-increase-corporate-profitability-in-16-industries-by-an-average-of-38-percent-by-2035.htm  2 https://www.entrepreneur.com/leadership/why-investors-are-bullish-on-edtech-in-2023/442589  3 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7325854/    Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang 12 sáng kiến của Việt Nam vào vòng bán kết cuộc thi “Sáng kiến thành phố không rác”      12 đội vào vòng trong tại Hồ Chí Minh sẽ bắt đầu giai đoạn nhận tư vấn hỗ trợ kinh doanh.        Ảnh: VECA     Mới đây, tổ chức phi chính phủ WasteAid – đơn vị tổ chức cuộc thi – đã công bố danh sách các thí sinh lọt vào vòng tiếp theo của cuộc thi “Sáng kiến thành phố không rác” – The Zero Waste Cities Challenge.     Từ hơn 95 bài dự thi với các ý tưởng khác nhau, từ nâng cấp đồ nội thất đến tạo ra các khu phố không rác thải, ban tổ chức đã chọn ra 36 sáng kiến từ ba thành phố bao gồm TP. Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Guwahati ở Ấn Độ và Johannesburg ở Nam Phi để vào vòng tiếp theo.      Trong đó, 12 doanh nghiệp tại Việt Nam lọt vào danh sách sẽ bắt đầu tham gia chương trình cố vấn kinh doanh chuyên sâu với công ty tăng tốc khởi nghiệp Vietnam Silicon Valley – một quỹ đầu tư mạo hiểm đã đầu tư cho hơn 80 startup với tổng định giá lên tới 70 triệu đô la Mỹ – để trau dồi, hoàn thiện ý tưởng kinh doanh cũng như kỹ năng thuyết trình và chuẩn bị cho vòng bán kết sẽ diễn ra vào tháng 9 tới.       Trong vòng bán kết, từ 12 doanh nghiệp, ban tổ chức sẽ tiếp tục chọn lựa ra 5 doanh nghiệp để vào vòng chung kết. Vòng thi chung kết sẽ được tổ chức bằng hình thức trực tuyến, người thắng cuộc sẽ được một hội đồng giám khảo chuyên gia lựa chọn và công bố trên phương tiện truyền thông vào cuối tháng 10.       Thắng Trần, COO của Vietnam Silicon Valley cho biết: “Chúng tôi vẫn đang không ngừng tìm kiếm và hỗ trợ cho các startup có mô hình kinh doanh sáng tạo, khả năng tạo ra lợi nhuận cao và tăng trưởng tốt, để đem đến các giải pháp tiềm năng trong việc khắc phục các vấn đề nóng hổi của xã hội và môi trường”.       Dưới đây là danh sách 12 sáng kiến tại TP. Hồ Chí Minh lọt vào vòng bán kết:     1. Limart  Limart đang giải quyết các vấn đề về rác thải và xã hội tại TP. Hồ Chí Minh thông qua một cửa hàng tạp hóa không rác thải bán các sản phẩm được tái chế và tạo cơ hội việc làm cho người khuyết tật.     2. Greenlife  Greenlife hỗ trợ nạp lại các sản phẩm làm sạch sinh học tại các trạm làm đầy, giúp giảm lượng nước thải hóa học xâm nhập vào các con sông của thành phố đồng thời giảm chất thải đóng gói và thúc đẩy kinh tế địa phương.     3. Refill đây  “Refill đây” là giải pháp tuần hoàn tập hợp hai ý tưởng: giao hàng bằng xe máy và làm đầy cho các cửa hàng như giải pháp thay thế nhựa một lần (đổ đầy các thùng chứa có thể tái sử dụng cho các hộ gia đình, văn phòng, nhà hàng và khách sạn).     4. MGreen  MGreen là ứng dụng để phân loại rác tại nguồn và thu gom vật liệu tái chế, cho phép người dùng tích điểm đổi quà.     5. Veca  VECA là một ứng dụng kết nối người bán phế liệu và đại lý thu mua trên nền tảng Android và iOS, hỗ trợ việc bán rác tái chế một cách chủ động và minh bạch hoàn toàn về giá cả.     6. GreenConnect  GreenConnect phát triển GreenPoints – một ứng dụng dành cho thiết bị di động sử dụng trò chơi giúp lối sống xanh trở nên dễ dàng và thú vị hơn. Ứng dụng khuyến khích cộng đồng thực hiện các hành động xanh và đổi điểm lấy quà tặng.     7. Ve chai chú Hỏa  Ve Chai Chú Hỏa đang thay đổi mô hình kinh doanh phế liệu tại TP. Hồ Chí Minh, hỗ trợ người dân phân loại rác thải tại nguồn, tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cho các nhà máy tái chế, tái sử dụng cũng như hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương.     8. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh  Có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế đặt mục tiêu xây dựng một  trường đại học không rác thải đầu tiên bằng cách áp dụng 3Rs (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) cũng như nâng cao nhận thức và cải thiện hành vi của cán bộ và sinh viên trường.     9. Papa’s Dreamer  Papa’s Dreamer đang tạo ra một chuỗi giá trị xanh trong các sản phẩm vệ sinh. Các  sản phẩm của Papa’s Dreamer được làm thủ công và không tạo ra rác thải.     10. The Plasbit campaign  Chiến dịch Plasbit là một nhóm cộng đồng định hướng hành động do một nhóm sinh viên thành lập với mục tiêu chia sẻ, tái sử dụng và tái chế sách và các tài liệu tham khảo khác.     11. Rechic  Rechic đặt mục tiêu kết nối các tín đồ thời trang mong muốn loại bỏ quần áo của mình một cách có đạo đức và giúp những người mua sắm có thể thỏa mãn nhu cầu thời trang theo cách thân thiện với môi trường cùng giá cả phải chăng.     12. Drobebox  DrobeBox là một công ty khởi nghiệp công nghệ thời trang đột phá cung cấp dịch vụ cho thuê quần áo cho giới nữ, với mục đích khắc phục một trong những vấn đề lớn nhất trong thời trang – một tủ quần áo lãng phí.     Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng truy cập website:   www.circulareconomynetwork.co/challenge      Cuộc thi “Sáng kiến thành phố không rác” – The Zero Waste Cities Challenge được tổ chức nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp có những ý tưởng kinh doanh sáng tạo trong việc giảm thiểu hoặc tái chế rác thải, và tạo cơ hội việc làm xanh thông qua hỗ trợ vốn ban đầu lên đến 10.000 euro. Cuộc thi là một phần trong dự án Mạng lưới Kinh tế Tuần hoàn của tổ chức phi chính phủ WasteAid có trụ sở tại Anh và được tài trợ bởi Huhtamaki.               Author                Mỹ Hạnh        
__label__tiasang 12 startup Việt Nam tham dự Slush 2015      12 startup của Việt Nam sẽ tham dự Slush – sự kiện hằng năm lớn nhất Bắc Âu dành cho các  startup được tổ chức trong hai ngày 11 và 12/11 tới ở Helsinki.       Chương trình Đối tác Đổi mới sáng  tạo Việt Nam – Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2) là nhà tài trợ chính cho chuyến đi của đoàn Việt Nam với 26 thành viên là đại diện của một số cơ quan chính phủ, nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp (HATCH, UNICEF Innovation Labs, ĐH Bách Khoa  TP Hồ Chí Minh) và 12 startup tiêu biểu được tuyển chọn từ hàng trăm dự án khởi nghiệp trên cả nước.   Bốn startup được hỗ trợ 100% kinh phí tham dự, bao gồm Horus Glass và VP9 là  hai đội đoạt giải tại các cuộc thi Khởi nghiệp Startup Discovery trong khuôn khổ Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2015 (Techfest) tháng 5-2015; và TraceVerified và Biospring là hai đội đoạt giải tại cuộc thi Impact Accelerator tại Việt Nam do IPP sẽ phối hợp với HATCH tổ chức vào tháng 7-2015.   Các startup khác được IPP tài trợ 1.000 USD/startup.   SLUSH (slush.org) là một hội nghị công nghệ thường niên tổ chức tại Helsinki (Phần Lan) vào mùa thu hàng năm nhằm giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp, các tài năng công nghệ kết nối và tạo tiền đề hợp tác với các nhà đầu tư quốc tế, các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới và với các phương tiện truyền thông. Trong bốn năm qua, SLUSH đã phát triển thành một trong những sự kiện công nghệ và khởi nghiệp hàng đầu thế giới. Nếu trong năm 2013, SLUSH có sự tham dự của hơn 7.000 người từ hơn 1.200 startup, 1.960 cuộc gặp với 118 quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế từ 68 quốc gia thì năm 2014 SLUSH đã thu hút được hơn 14.000 người tham gia, hơn 3.500 doanh nghiệp, hơn 750 nhà đầu tư đại diện cho 140 quỹ đầu tư với 3.800 cuộc gặp với các nhà khởi nghiệp từ 74 quốc gia.  Danh sách 12 startup Việt Nam tham dự Slush 2015:                                             Tên startup      Đại diện tham dự      Chức danh          1      Biospring      Do Tien Dat      Assistant to CEO          2      Cloudjet Solutions      Le Viet Hong      CEO          3      Cobri      Tom Tran      Co-founder                 Kyle Hubbard      Co-founder          4      Green Leap      Vu Thi Bach Khoa      Creative Design   Director          5      HandiConnect      Nguyen Thi Cam Van      Founder and Manager          6      Abivin Vietnam JSC.      Phan Nam Long    CEO        7      HORUS      Ngo Thang Long      Founder          8      Next Good Things      Nguyen Minh Chau      Founder and Manager          9      SGS Vietnam Company   Ltd.               (Sixth Gear Studios)      Nguyen Hoang Anh      BD Coordinator          10      Toqua JSC.      Bui Hoai Nam      Founder          11      TraceVerified      Dau Thuy Ha      Cofounder          12      VP9 Vietnam Joint   Stock Company      Nguyen Dinh Nam      CEO, founder          Nguyen Thi Le Quyen      Co-founder               (Nguồn tin: IPP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 120 triệu euro cho 11 dự án tìm hiểu về các biến thể COVID-19      Hội đồng châu Âu lựa chọn những dự án hợp tác lớn đầu tiên để tài trợ theo khung chương trinh đầu tư cho nghiên cứu lớn nhất châu Âu là Horizon Europe.      Những dự án hợp tác quy mô lớn đầu tiên để nghiên cứu về các biến thể SARS-CoV-2 của Horizon Europe được ấn định là có khoản tài trợ 120 triệu euro.  Trong số này, dự án lớn nhất được rót kinh phí 21 triệu euro thu hút sự tham gia của 156 tổ chức thuộc 32 quốc gia, do tổ chức Cơ sở hạ tầng nghiên cứu châu Âu về các tác nhân gây bệnh có độc lực cao – trụ sở tại Bỉ – dẫn dắt.  Ba trong số các dự án này, được tài trợ 30 triệu euro, sẽ thực hiện về điều trị lâm sàng cho các phương thức điều trị mới và các vaccine. Sáu dự án khác sẽ là xây dựng các nghiên cứu đoàn hệ trên quy mô lớn về các biến thể COVID-19, với một khoản ngân sách là 57 triệu euro. Một dự án khác nhận được tài trợ là 12 triệu euro để tăng cường việc chia sẻ dữ liệu để hỗ trợ cho việc sẵn sàng chuẩn bị cho đại dịch.  “Ngày nay chúng ta đang từng bước đưa các nỗ lực của chúng ta đến đối đầu với những thách thức và de dọa mà các biến thể virus corona gây ra. Với việc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu mới và tăng cường sức mạnh của chúng ta cũng như mở ra những cơ sở hạ tầng nghiên cứu liên quan, chúng ta tiếp tục chiến đấu với đại dịch và sẵn sàng đương đầu với những đại dịch tương lai,” ủy viên phụ trách nghiên cứu của EU Mariya Gabriel nói.  Đợt mở tài trợ khẩn cấp cho các dự án nghiên cứu này được mở vào tháng 4/2021, trước khi có quyết định dành 95,5 tỉ euro cho chương trình Horizon Europe bảy năm từ Nghị viện châu Âu.Giờ đây, khi đã có phán quyết thông qua, dòng tài trợ bắt đầu được rót.  11 dự án này có 312 nhóm nghiên cứu của 40 quốc gia, bao gồm 23 quốc gia ngoài EU countries, tham gia thực hiện. Trong số này, các viện nghiên cứu ở Italy, Thụy Sĩ và Đức sẽ dẫn dắt hai dự án.  Các dự án này cũng bao hàm cả các dự án về COVID-19 do chương trình Horizon Europe trước là Horizon 2020 tài trợ và cũng có cả đóng góp vào việc xây dựng Cơ quan Ứng phó và chuẩn bị khẩn cấp y tế châu Âu (HERA), cơ quan châu Âu được đề xuất cho chuẩn bị và đối phó với đại dịch theo mô hình của Cơ quan Nghiên cứu và phát triển Y sinh tiên tiến của Mỹ.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu120m-11-projects-looking-covid-19-variants  https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/ip_21_1548    Author                Quản trị        
__label__tiasang 13,7 triệu đô la cho dự án điện mặt trời ở Quảng Bình      Dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời&#160;ở Quảng Bình có tổng số vốn đầu tư hơn 13,7 triệu USD từ nguồn vay ODA của Hàn Quốc. Khởi công từ ngày 1/7, dự kiến dự án sẽ hoàn thành vào cuối năm 2016.    Đây là dự án dành cho các hộ gia đình sinh sống ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn mà điện lưới quốc gia không đến được của tỉnh Quảng Bình. Ước tính, sẽ có  trên 1.300 hộ gia đình thuộc 46 thôn, bản và 78 đơn vị dịch vụ công tại chín xã của bốn huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Lệ Thủy sẽ được cung cấp điện sinh hoạt ổn định khi dự án hoàn thành.     Tổng vốn đầu tư của dự án lên đến hơn 13,7 triệu USD từ nguồn vay ODA của Hàn Quốc.   Những ích lợi mà dự án mang lại cho cộng đồng cư dân bốn huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Lệ Thủy là hết sức to lớn. Dự án không chỉ góp phần nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh biên giới quốc gia; thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ công có chất lượng cao cho người dân sống ở vùng điện lưới quốc gia không đến được, đặc biệt là người nghèo và nhóm người có thu nhập thấp; đảm bảo cho người dân trong vùng dự án có cơ hội tiếp cận giáo dục tốt hơn, làm cơ sở cho triển vọng nâng cao thu nhập trong tương lai; góp phần tích cực vào giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là  chương trình chống biến đổi khí hậu của Việt Nam.  Ông Nguyễn Hữu Hoài, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đánh giá, đây là dự án đặc biệt quan trọng, đầy tính nhân văn vì mục đích phục vụ cho đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số sống xa các trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Bình.   Ông Lim Tae Seong, đại diện đơn vị thi công của Tập đoàn KT (Hàn Quốc) khẳng định, sẽ đáp ứng tốt nhất những yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng công trình cũng như thời gian và tiến độ hoàn thành dự án.  Nhận thức được những ích lợi mà các cộng đồng dân cư sẽ được nhận khi dự án hoàn thành, chính quyền các xã nơi được chọn xây dựng cơ sở hạ tầng cho dự án đã vận động người dân tự nguyện hiến đất để sớm bàn giao mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu lắp đặt hệ thống  năng lượng mặt trời.     Dự kiến đến cuối năm nay, dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời Quảng Bình sẽ hoàn thành đóng điện đưa vào sử dụng khoảng 30% khối lượng hợp đồng và phần còn lại chậm nhất đến quý 4/2016 sẽ hoàn thành.      Author                Quản trị        
__label__tiasang 15 nghìn ly cà phê miễn phí tại Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lớn nhất từ trước đến nay      Lễ hội Cà phê Buôn  Ma Thuột diễn ra từ ngày 9 đến 12/3 sẽ có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, nhằm  tôn vinh 100 năm cây cà phê có mặt tại vùng đất bazan trù phù màu mỡ  này.      Đã có gần 700 gian hàng đăng ký tham gia Hội chợ – Triển lãm chuyên ngành cà phê, trong đó có 230 gian hàng của 51 doanh nghiệp cà phê trong nước và 16 doanh  nghiệp nước ngoài; và 340 gian hàng các  ngành phụ trợ cà phê, máy móc thiết bị và các ngành khác.    Lễ hội do tỉnh Đăk Lăk chủ động khởi xướng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp quảng bá thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột; nâng cao kiến thức của người trồng cà phê; nâng cao chất lượng cà phê; mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác giao lưu kinh tế trong sản xuất chế biến và xuất khẩu, đặc biệt là khuyến khích sự tiêu dùng nội địa.  Đây là lần thứ năm Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột được tổ chức, tiếp tục tôn vinh vị trí độc tôn của cây cà phê trong cơ cấu cây trồng của vùng Tây Nguyên, đem lại sự ấm no trù phú cho người dân, và đồng thời quảng bá hình ảnh Buôn Ma Thuột như một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc văn hóa.  Một số hoạt động chính tại lễ hội bao gồm: Hội nghị về phát triển cà phê bền vững do Bộ NN&PTNT chủ trì; Hội chợ Triển lãm chuyên ngành cà phê; Chung kết Hội thi Nhà nông đua tài; Hội thi pha chế cà phê… Ngoài ra còn có các hoạt động như triển lãm ảnh nghệ thuật “Hành trình cà phê Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk”; Hội thi tạc tượng gỗ dân gian Tây Nguyên; và bắn pháo hoa tầm thấp 15 phút…  Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, sẽ có 25 quán cà phê trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột phục vụ 15.000 ly cà phê miễn phí cho du khách. Đây là những quán có mặt bằng khang trang, không gian rộng rãi, thoáng mát, có chất lượng cà phê bảo đảm và cách trung tâm TP. Buôn Ma Thuột không quá 2 km, rất thuận lợi cho khách đến thưởng thức cà phê và tham quan lễ hội. Được biết, mỗi ly cà phê phục vụ du khách có giá 15.000 đồng, và toàn bộ kinh phí cho chương trình trên dự kiến sẽ được huy động bằng hình thức xã hội hóa.  Nhà tài trợ kim cương của lễ hội lần này là  Trung Nguyên, tập đoàn đã đầu tư 10 tỷ đồng cho hàng loạt hoạt động tại  Làng cà phê, Coffee Tour, Bảo tàng cà phê Thế giới và đặc biệt là Gian  hàng Trung Nguyên. Trong khuôn khổ lễ hội, dự kiến Trung Nguyên sẽ tiếp  tục gửi tặng 50 ngàn cuốn sách trong bộ sách “Những cuốn sách đổi đời”  do Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ chọn (gồm năm cuốn: Khuyến học; Quốc gia  khởi nghiệp; Nghĩ giàu, làm giàu; Đắc nhân tâm; Không bao giờ là thất  bại) đến các bạn thanh niên, sinh viên, du khách tham dự.              Author                Quản trị        
__label__tiasang 15 nước có nợ công bình quân đầu người lớn nhất thế giới      Chúng ta vẫn hình dung Hy lạp là nước đang khủng hoảng trầm trọng do nợ công. Nhưng số liệu tính toán các khoản nợ trên bình quân đầu người cũng cho thấy nhiều nước khác có tình trạng nợ nần khá trầm trọng, trong đó các cường quốc như Nhật Bản, Mỹ có mức nợ trên đầu người thuộc hàng lớn nhất. Dưới đây là xếp hạng 15 nước nợ nhiều nhất thế giới năm 2016.      Vị trí thứ 15: Na uy  Na uy, quốc gia có nhiều dầu mỏ với 5,2 triệu dân, là một trong những nước có tỷ lệ nợ tính theo đầu người cao nhất thế giới. Nếu lấy tổng số nợ công chia cho tổng số dân thì mỗi người dân nước này gánh một khoản nợ là 34.910 USD. Tuy nhiên tổng sản phẩm quốc nội của Na uy rất cao nên nước này có khả năng chịu đựng được gánh nặng nợ nần, do đó các nhà đầu tư cũng đáng giá Na uy là “con nợ rất đáng tin cậy”.  Vị trí thứ 14: Đức  Cộng hòa Liên bang Đức được đánh giá là bến đỗ an toàn cuối cùng của khu vực đồng Euro. Các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận trả lãi suất âm để đầu tư vào trái phiếu nhà nước của Đức. Tuy nhiên, nếu tính nợ theo đầu người thì Đức là một trong những con nợ lớn nhất thế giới. Để nước Đức hết nợ, mỗi người trong số 81,6 triệu công dân Đức phải trả ngay khoản nợ 35,881 USD.  Vị trí thứ 13: Hà lan  Nợ công của Hà lan trong những năm qua đã tăng từ  66,5 % lên tới 70% GDP. Khoản nợ công tính theo đầu người của 16,8 triệu dân Hà Lan là 37,233 USD.  Vị trí thứ 12: Hy lạp  Nợ công tính theo đầu người của Hy lạp là 38,444 USD. Mặc dù các quốc gia khác cùng sử dụng đồng tiền chung Euro có mức nợ trên đầu người cao hơn nhiều nhưng chỉ có Hy lạp đứng bên bờ vực phá sản vì năng lực nền kinh tế quá yếu kém. GDP của Hy lạp chỉ đạt 242,2 tỷ USD và nước này không thể trang trải nợ công khi số nợ này bằng 170% GDP.  Xếp thứ 11: Áo  Cùng với Đức, Áo là nước yêu cầu các nước khác trong EU tuân thủ hiệp ước Maastricht trong thiết lập khu vực đồng tiền chung Euro. Nhưng với khoản nợ bằng 86,4% GDP –  bản thân Áo cũng không thực hiện được các chỉ tiêu kinh tế. Áo có 8,5 triệu dân và số nợ tính theo đầu người là 38,621 USD.  Vị trí thứ 10: Thụy Sỹ  Đất nước giàu có Thụy Sỹ cũng có một núi nợ lên tới 216 tỷ Euro, tương đương 49% GDP, nợ tính theo đầu người là 38,639 USD. Nhưng uy tín kinh tế của Thụy Sỹ khiến các nhà đầu tư hoàn toàn không phải bất an gì về các con số này và tiếp tục cho Thụy Sỹ vay tiền với lãi suất thấp.  Vị trí thứ 9: Vương quốc Anh  Trong thời gian qua, Anh quốc đã khá nhanh chóng vượt qua mức nợ nghìn tỷ Euro. Khoản nợ công của Anh hiện đạt 1,66 nghìn tỷ Euro, chiểm 90% sản lượng của nền kinh tế. Nợ tính theo đầu người của nước này là 38.938 USD.  Vị trí thứ 8: Pháp  Trong khu vực đồng Euro, Pháp xếp thứ tư về nợ công tính theo đầu người. Nợ công của Pháp tính theo đầu người là 42.397 USD (dân số Pháp là 64 triệu).  Vị trí thứ 7: Canada  Nợ công của Canada vào khoảng 800 tỷ USD, tương đương 44,2% tổng sản phẩm quốc nội. Theo Bloomberg, nợ công tính theo đầu người của Canada là 45,454 USD.  Vị trí thứ 6: Italia  Italia có khoản nợ công rất cao, lên tới 2,75 nghìn tỷ Euro, lớn hơn năng lực kinh tế của nước này. Tỉ lệ nợ công so với GDP tương đương 139,5%. Tổng dân số Italia là 60,8 triệu người và nợ tính theo đầu người là 46,757 USD.  Vị trí thứ 5: Bỉ  Bỉ có số nợ tính theo đầu người còn lên tới 47.749 USD và số nợ công vào khoảng 375 tỷ Euro. Con số này gần như bằng với năng lực nền kinh tế của nước này.  Vị trí thứ 4: Singapore  Quốc gia châu Á này được coi là đầu tầu nền kinh tế khu vực. Tuy nhiên nợ công của quốc gia 5,5 triệu dân này rất cao: nợ tính theo đầu người là 56.980 USD, tổng số nợ công tương đương 106,2% GDP.  Vị trí thứ 3: Mỹ  Khi ông Obama trở thành tổng thống thì thâm hụt ngân sách của Mỹ đã ở mức trên một nghìn tỷ USD. Trong năm cuối cùng nhiệm kỳ của ông, nợ công của Mỹ đạt mức 18,195 nghìn tỷ USD, nợ tính theo đầu người là 58,604 USD. Tuy nhiên thâm hụt ngân sách của nước này cũng đã thu hẹp lại, mức thâm hụt chỉ còn 455 tỷ Dollar do nước này tăng thu, giảm chi. Dự kiến, trong năm tới, thâm hụt ngân sách nước này chỉ còn 429 tỷ USD, bằng 2,3 % năng lực nền kinh tế.  Vị trí thứ 2: Ireland  Do khủng hoảng tài chính nên nợ công tính theo đầu người của nước này lên đến trên 60,000 USD. Tổng số nợ công cũng tương đương 121% GDP của Ireland.  Vị trí thứ 1: Nhật bản  Nhật bản hiện có tổng số nợ lên đến trên 10 nghìn tỷ USD, tương đương 199 % GDP, số nợ công bình quân đầu người là 79,525 USD.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang 15 suất học bổng 2.400 USD cho các chuyên gia ĐMST      Hội đồng Anh sẽ trao 15 suất học bổng tham gia một khóa học về đổi mới sáng tạo dành cho các chuyên gia trong lĩnh vực này. Khóa học trị giá 2.400 USD do NESTA – tổ chức về đổi mới sáng tạo hàng đầu của Anh – xây dựng.&#160;    Khóa học sẽ diễn ra trong 4 ngày từ 16-19/3/2015 tại ADC Academy (TP. Hồ Chí Minh) do Percey Emmett, người đã có 15 năm kinh nghiệm về triển khai và thiết kế các khóa huấn luyện doanh nhân khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo. Ông cũng là người sáng lập ba công ty về lĩnh vực thiết kế và xuất bản.  Nội dung khóa học tập trung vào cách tổ chức khóa đào tạo khởi nghiệp trong ngành sáng tạo. Đối tượng tham dự là nhà sáng lập hoặc những người làm việc tại các không gian sáng tạo, các chuyên gia tư vấn khởi nghiệp, đại diện các tổ chức hiệp hội hỗ trợ doanh nghiệp; các nhà huấn luyện về khởi nghiệp; đại diện các tổ chức/đơn đào tạo khởi nghiệp và giảng viên các trường đại học về các lĩnh vực sáng tạo.  Kết thúc khóa học, học viên sẽ được nhận bộ tài liệu NESTA dành cho doanh nhân sáng tạo và được hướng dẫn cách tiếp cận để sử dụng tài liệu này trong khóa đào tạo của riêng mình. Thông qua khóa học này, Hội đồng Anh cũng muốn tìm kiếm đối tác trong việc đào tạo doanh nhân sáng tạo trong tương lai.  Để đăng ký, các ứng viên cần hoàn thành mẫu đơn tại đường link http://bit.ly/1ESRq9o. Hạn cuối là ngày 28/2/2015 Và kết quả trúng tuyển sẽ được công bố trước ngày 5 tháng 3 năm 2015. Người được chọn tham gia khóa học cũng phải nộp thêm một khoản tiền nhỏ là 1.200.000 đồng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệu ứng giả dược gây tác dụng phụ sau tiêm vaccine Covid      Một nghiên cứu mới cho thấy hơn 2/3 số tác dụng phụ phổ biến mà mọi người thường gặp sau khi tiêm vaccine COVID có thể do hiệu ứng nocebo, một loại hiệu ứng giả dược, chứ không phải do vaccine.    Các nhà khoa học ở Mỹ đã kiểm tra dữ liệu từ 12 thử nghiệm vaccine COVID-19 lâm sàng và phát hiện ra rằng “hiệu ứng nocebo” chiếm khoảng 76% tổng số phản ứng tác dụng phụ thường gặp sau khi tiêm liều vaccine đầu tiên và gần 52% sau liều thứ hai. Hiệu ứng nocebo là khi bệnh nhân được cho biết giả dược có tác dụng phụ có hại, họ sẽ cảm thấy tác dụng phụ có hại đó.        Phần lớn các tác dụng phụ nhẹ hơn, chẳng hạn như đau đầu, mệt mỏi và đau cánh tay không phải do các thành phần của vaccine gây ra cho người tiêm, mà do hiệu ứng nocebo, có thể xuất phát từ tình trạng lo lắng, kỳ vọng sau khi tiêm hoặc do triệu chứng từ các tình trạng sức khỏe khác.    Nếu nói với bệnh nhân rằng: “tác dụng phụ” sau tiêm cũng xuất hiện ở các nhóm tiêm giả dược trong các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, thì họ sẽ bớt lo lắng, theo Ted Kaptchuk, giáo sư Y học xã hội và Sức khỏe toàn cầu tại Trường Y Harvard, và là tác giả cao cấp của nghiên cứu, cho biết. Tuy nhiên để chắc chắn đây là sự thật vẫn cần nghiên cứu thêm, Kaptchuk lưu ý.    Kaptchuck và Tiến sĩ Julia Haas tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess ở Boston đã phân tích các tác dụng phụ được báo cáo trong hàng chục thử nghiệm lâm sàng vaccine COVID-19. Trong mỗi thử nghiệm đều có hai nhóm, nhóm tiêm vaccine thật và nhóm tiêm giả dược, dung dịch muối không hoạt tính. Nhóm Kaptchuk không xem xét các tác dụng phụ nghiêm trọng, hiếm gặp như đông máu hoặc viêm tim.    Báo cáo trên tạp chí Jama Network Open, nhóm nghiên cứu cho biết sau mũi tiêm đầu tiên, hơn 35% những người trong nhóm tiêm giả dược đã trải qua những tác dụng phụ “toàn thân”, chẳng hạn như đau đầu và mệt mỏi, và 16% những người trong nhóm tiêm giả dược báo cáo xuất hiện cơn đau ở các vị trí cụ thể như đau cánh tay hoặc mẩn đỏ, sưng tấy tại chỗ tiêm.    Tuy nhiên, đúng như dự đoán, nhóm tiêm vaccine thật có nhiều khả năng xuất hiện các tác dụng phụ hơn. Khoảng 46% nhóm này cho biết có các triệu chứng toàn thân, và 2/3 bị đau cánh tay hoặc các triệu chứng khu trú khác tại chỗ tiêm.    Khi các nhà nghiên cứu xem xét các tác dụng phụ sau mũi thứ hai, họ nhận thấy tỷ lệ đau đầu hoặc các triệu chứng toàn thân khác ở nhóm tiêm vaccine cao gần gấp đôi so với nhóm giả dược, lần lượt là 61% và 32%. Sự khác biệt thậm chí còn lớn hơn đối với tác dụng phụ ở các vị trí cụ thể, cụ thể là 73% ở những người đã tiêm vaccine và 12% ở những người tiêm giả dược.    Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tính toán rằng khoảng 2/3 các phản ứng phụ phổ biến được báo cáo trong các thử nghiệm vaccine Covid là do hiệu ứng nocebo, đặc biệt là các triệu chứng nhức đầu và mệt mỏi – đây cũng là các triệu chứng mà các hướng dẫn tiêm vaccine COVID-19 liệt kê là phản ứng phụ phổ biến nhất sau khi tiêm.    Có các bằng chứng cho thấy rằng thông tin về các tác dụng phụ có thể khiến mọi người dễ gặp hiệu ứng nocebo hơn, Kaptchuk vẫn cho rằng nên cung cấp đầy đủ thông tin về các tác dụng phụ cho người tiêm. “Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng không nên nói quá nhiều về tác dụng phụ cho bệnh nhân để họ bớt lo lắng. Tôi nghĩ rằng điều này là sai. Trung thực là cách làm đúng,” Kaptchuk nói.    Minh Minh    Author                phongvien        
__label__tiasang 2 triệu đô la đầu tư vào startup của cựu nhân viên Amazon      Kalaari Capital và Norwest Venture Partners, hai nhà đầu tư trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm (venture capital) đã xác nhận rót hai triệu đô la vào ElasticRun, một startup mới được thành lập vào tháng 4/2015.      Các thành viên của ElasticRun  Dù mới được thành lập hơn một năm nhưng ElasticRun đã xuất hiện trong làng khởi nghiệp như một Uber trong logistics và vận tải.  Tuy Kalaari Capital và Norwest Venture Partners thực hiện rót vốn đã được từ tháng 4 nhưng các nhà đầu tư chưa muốn thông báo rộng rãi tới công chúng. Không có nhiều thông tin chi tiết về thỏa thuận hợp tác giữa hai bên được tiết lộ. Trên trang facebook của ElasticRun cũng chỉ đưa ra một thông tin ngắn gọn về thương vụ này “ElasticRun đang xây dựng một thế hệ mới về công nghệ vận tải. Nó được dự báo là sẽ thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực thương mại điện tử và phân phối ở Ấn Độ. Trụ sở chính của chúng tôi được đặt ở Pune và văn phòng đại diện ở Mumbai và Bangalore”. Trên trang Facebook này cũng trưng tấm ảnh đội ngũ ElasticRun gồm 26 thành viên khá ấn tượng.  ElasticRun cho biết, hiện công ty đang thực hiện hợp đồng đã ký kết với một công ty lĩnh vực thương mại điện tử từng lọt vào tốp Fortune 500 1 – ở mảng dịch vụ và một công ty về dược phẩm, cũng thuộc tốp Fortune 500 – ở mảng phân phối cấp quốc gia. Ở cả hai hợp đồng này, ElasticRun đều thiết lập một mạng lưới phân phối dựa trên nguyên tắc “dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu” (pay-per-use).  Một trong những nhà sáng lập ra ElasticRun, Sandeep Deshmukh, từng là một thành viên trong nhóm kỹ thuật viên quan trọng của Amazon tại Ấn Độ, đảm trách việc xây dựng công nghệ vận tải phù hợp với điều kiện Ấn Độ. Tháng 2/2016, anh bỏ việc để tập trung thực hiện ý tưởng của mình. Hai đồng sáng lập khác, Shitiz Bansal và Saurabh Nigam, từng làm việc cho EdgeVerve, một chi nhánh của IT bellwether Infosys, một công ty công nghệ. Họ cùng thôi việc vào tháng 2 năm nay.  Trước khi rời Amazon, Sandeep Deshmukh phụ trách “I have space”, một chương trình vận chuyển hàng hóa của Amazon Ấn Độ tới lưu trữ ở kho của khoảng 10.000 cửa hàng nhỏ rồi phân phối chúng tới khách hàng trong vòng bán kính từ 2 đến 4 km. Đây là một phương án thông minh, có khả năng tận dụng kho hàng trống của từng cửa hàng mà không cần đến việc xây dựng thêm kho bãi.  Để thực hiện chương trình, Sandeep đã phát triển một kênh vận chuyển dựa trên kỹ thuật điện toán đám mây, nó cũng tương tự với phần mềm mà Amazon Flex đã áp dụng tại Mỹ vào năm ngoái. Trên cơ sở này, một hình thức kiểu Uber trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa ra đời, tạo điều kiện cho các chủ kho hàng tự lái xe phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng.  Khi tạo dựng ElasticRun, Sandeep phát triển một hình thức ứng dụng “giảm nhẹ cơ sở hạ tầng” (asset-light) tương tự để nhận các đơn đặt hàng và điều phối các tài xế chở hàng.  Amazon Flex đã dựa vào hình mẫu của Postmates, một startup có trụ sở ở San Francisco sử dụng hình thức Uber trong phân phối. Rickshaw, một startup có sự hỗ trợ của Y Combinator – một công ty chuyên đầu tư tăng tốc khởi nghiệp, cũng bắt đầu triển khai một hình thức cũng có một số điểm tương đồng: kết nối các nhà phân phối với các tài xế và cung cấp các đơn đặt hàng trực tuyến và lựa chọn tuyến đường phù hợp.  Cuộc rót vốn âm thầm vào ElasticRun tỏ ra có sức tác động lớn với cả nhà đầu tư. Mới đây, Raju Rajesh, nhà đồng sáng lập của Kalaari đã tham gia ban giám đốc của Ntex, một công ty tư nhân chuyên về dịch vụ vận tải hàng hóa trực thuộc startup Pune Registrar.  Nguồn: https://www.techinasia.com/elasticrun-uber-for-logistics-stealth-startup-gets-2-million-seed-kalaari-norwest  …………………………………………………………………………..  1.    Danh sách các công ty Mỹ được tạp chí Fortune bình chọn dựa trên cơ sở tổng doanh thu hàng năm.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang 20 năm, Đan Mạch hỗ trợ ngành thủy sản Việt Nam hơn 80 triệu USD      Từ năm 1993 đến nay, Đan Mạch đã hỗ trợ gần  82 triệu USD để giúp ngành thủy sản Việt Nam nâng cao năng lực quản lý  khai thác thủy sản, năng lực sau thu hoạch và marketing.    Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, Bộ NN&PT Nông thôn, hỗ trợ của Đan Mạch được chia thành hai giai đoạn, nếu giai đoạn đầu (1993-2005) tập trung vào các vấn đề như tăng cường năng lực quản lý hành chính ngành thuỷ sản; hỗ trợ nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn; cải thiện chất lượng và xuất khẩu thuỷ sản, thì giai đoạn hai tập trung vào các vấn đề như tăng cường năng lực quản lý hành chính thủy sản, năng lực quản lý khai thác thủy sản, năng lực sau thu hoạch và marketing…  Hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ là bộ phận dân cư nghèo ở nông thôn tham gia hoạt động nghề cá. Trong 6 năm, từ 2006-2012, chương trình đã góp phần xóa đói giảm nghèo cho hơn 75 nghìn hộ nghèo, báo cáo của Tổng cục Thủy sản cho biết.  Được biết, năm 1993, Đan Mạch bắt đầu đưa Việt Nam vào danh sách nhận viện trợ thường xuyên và tổng viện trợ không hoàn lại của Đan Mạch cho Việt Nam đến nay đạt gần 800 triệu USD. Hiện nay mỗi năm Đan Mạch viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoảng trên 60 triệu USD.     Author                Quản trị        
__label__tiasang 20 ý tưởng công nghệ giúp thế giới tốt đẹp hơn      Điều gì có thể xảy ra khi các tấm pin điện mặt trời được cho không? Và điều gì nữa sẽ xảy ra khi bạn có thể biết được tất cả mọi thứ trên thế giới theo thời gian thực-không phải là Internet nhé, mà biết bằng cách cảm nhận được, theo cách của vật lý? Và điều gì sẽ xảy ra khi các tiến sĩ y học/khoa học có thể dự báo được một đại dịch trước khi nó thực sự diễn ra? Đây là những điều hứa hẹn cho một thế giới đang đổi thay trong tương lai.&#160;     Năng lượng  1. Điện mặt trời miễn phí   Hàng loạt các công ty mới mọc ra ở Mỹ đang muốn tạo ra một xu hướng mới: lắp đặt các tấm pin điện mặt trời miễn phí trên mái nhà. Điều này quả là một cuộc cách mạng nếu như các bạn biết rằng cản trở duy nhất của việc ứng dụng năng lượng mặt trời vào cuộc sống hiện nay chính là “tiền”. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh dịch vụ tài chính đã nghĩ ra một “sáng kiến” là nếu bạn muốn sử dụng năng lượng mặt trời để giảm thiểu phát thải khí nhà kính và dấu chân carbon của những người trong gia đình bạn, họ sẽ tài trợ tiền lắp đặt thiết bị năng lượng mặt trời. Nói cách ngắn gọn hơn, bạn không phải trả tiền cho thiết bị năng lượng mặt trời trên nóc nhà của bạn, nhưng đổi lại, phải trả tiền điện hàng tháng. Chắng có gì là cho không, phải không nhỉ! Tuy nhiên, mức chi trả tiền điện hàng tháng được dự kiến là sẽ rẻ hơn rất nhiều so với số tiền thông thường bạn vẫn hằng hay trả. Và quan trọng nhất là bạn chẳng phải mất tiền đầu tư mà chỉ cần trả tiền sau: một phong cách tiêu dùng rất Mỹ. Điều này có khả năng dẫn tới một sự đột biến trong sử dụng năng lượng mặt trời ở Mỹ trong thời gian tới.  2. Vườn sinh khối  Đây là ý tưởng tạo ra năng lượng gas sinh học bằng ngay khu vườn trong ngôi nhà của bạn. Vào tháng 7 năm ngoái, hãng năng lượng nổi tiếng của Mỹ Exxon Mobil đã tuyên bố kế hoạch sử dụng 600 triệu USD để biến tảo trở thành năng lượng sinh học phục vụ đời sống. Công ty công nghệ Joule Biotechnologies cho biết đã thành công trong công nghệ biến tảo trở thành năng lượng nhưng chưa nói rõ chi tiết về hệ thống công nghệ mới này.  3. Nhiên liệu hạt nhân mới  Uranium và plutonium sẽ không còn là những nguyên liệu độc quyền dùng cho các nhà máy điện hạt nhân nữa. Các nhà khoa học cho biết thorium, một nhiên liệu hóa thạch có khả năng tạo ra các phản ứng hình thành nên uranium 233, một chất phù hợp cho các lò phản ứng điện hạt nhân. Một điều tuyệt vời nữa là nhiên liệu hạt nhân mới tạo ra các sản phẩm đầu cuối không gây phát xạ các tia gamma, vốn gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.  4. Nhà tiêu dùng thông thái  Các nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng chỉ cần thông tin đầy đủ tới người tiêu dùng thì việc sử dụng năng lượng của các cá nhân sẽ giảm đi từ 5-15%. Các thiết bị theo dõi việc sử dụng năng lượng của người tiêu dùng theo từng phút cũng như ở các thiết bị điện trong gia đình sẽ giúp chủ nhân của chúng tắt hoặc giảm những tiêu thụ điện không cần thiết. Hiện Google và Microsoft đang cùng phối hợp với các đối tác địa phương để tạo ra các phương tiện giúp người tiêu dùng có thể kiểm soát được việc sử dụng năng lượng gia đình ngay trên trang web.  5. Năng lượng gió từ tầng bình lưu  Một nghiên cứu của Đại học Stanford vào tháng 7/2009 đã cho thấy sức gió trên tầng bình lưu cách trái đất vài cây số có thể cung cấp đủ 100 lần nhu cầu năng lượng của toàn bộ nhân loại. Công ty năng lượng gió của Mỹ Sky Winpower đã đưa ra phương pháp “thu hoạch” năng lượng gió trên tầng bình lưu bằng hệ thống thu nạp sức gió khổng lồ trong khi nhà sản xuất năng lượng Kite Gen của Ý lại muốn sử dụng các cánh diều khổng lồ.  Giao thông  6. Xe tải sử dụng nhiên liệu sạch                 Ý tưởng sản xuất các xe tải sử dụng nhiên liệu hybrid (vừa chạy bằng xăng, vừa chạy điện) có thể là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực vận tải, không chỉ ở Mỹ mà cả trên toàn thế giới. Bill Van Amburg, Phó Chủ tịch của một tổ chức nghiên cứu công nghệ sạch phi lợi nhuận, đồng thời là Giám đốc Diễn đàn những người sử dụng xe tải hybrid ở Mỹ cho biết điều này sẽ khiến thế giới giảm đi lượng tiêu thụ xăng dầu đáng kể bởi xe tải vốn thường tiêu thụ nhiên liệu gấp nhiều lần với xe con. Bộ Năng lượng Mỹ vừa khởi động một chương trình nghiên cứu và sản xuất xe tải hybrid qui mô lớn với mức đầu tư 45,4 triệu USD để có thể cho ra đời ít nhất 378 xe tải cỡ trung vào đầu năm 2011. Bright Automobile, một công ty mới mở tại Mỹ còn có tham vọng lớn hơn nhiều. Công ty này có kế hoạch đưa ra thị trường tới 50.000 xe tải hybrid thương hiệu IDEA vào năm 2014. John E. Water, nhà sáng lập ra Bright Automobile cho biết mỗi chiếc xe tải IDEA khi lăn bánh sẽ tiết kiệm 1.500 thùng dầu và giảm phát thải tới 16 tấn CO2 mỗi năm.  7. Hệ thống xe buýt nhanh   Cũng như tàu điện ngầm, hệ thống vận chuyển xe buýt nhanh (Bus Rapid Transit) được coi là giải pháp kịp thời giúp tránh tình trạng ùn tắc giao thông, đặc biệt vào thời buổi đô thị hóa ngày càng nhiều như hiện nay. Giải pháp này cũng giúp làm giảm ô nhiễm môi trường do xe hơi cá nhân gây ra và có giá thành khá rẻ nếu so với tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt nhanh được xây dựng giữa tim các đường cao tốc, với các nhà ga nằm giữa đường, có hệ thống cầu thang tải lên các đường vượt phía trên. Hai bên là hai tuyến dành riêng cho xe buýt chạy nhanh, liên tục. Một hệ thống Bus Rapid Transit đã được thiết kế và vận hành tại Bogotá, Colombia từ năm 2001. Hệ thống này khi đưa vào hoạt động đã giúp thành phố loại bỏ 7.000 xe buýt tư nhân, giảm tiêu thụ nhiên liệu cũng như ô nhiễm môi trường tới 59%.  Môi trường  8. Qui hoạch lại biển                Ý tưởng qui hoạch lại các hoạt động của con người trên biển để bảo vệ sự trong lành của các khu vực biển ven bờ hiện đang là ý tưởng của cả tá các quốc gia khác nhau trên thế giới, trong đó có Mỹ. Theo đó, việc khai khoáng hay khai thác dầu chỉ được phép ở một số khu vực trên biển, đánh cá cũng vậy, chỉ được phép ở một số khu vực. Đặc biệt, tại các khu vực biển có nhiều nguy cơ cao thì cấm tuyệt đối mọi hoạt động của con người. Tại Mỹ, Tổng thống Barack Obama đã thành lập một đơn vị đặc biệt để thực hiện việc qui hoạch lại khu vực biển của Mỹ, tính từ đường cơ sở 200 hải lý.  9. Biến rác thải thành điện  Rác thải là một kho báu năng lượng khổng lồ một khi người ta biến chúng thành điện nhờ các tiến bộ mới trong lĩnh vực hóa học trong thời gian gần đây. Công nghệ khí hóa plasma đã được phát triển cách đây một thập kỷ chính là chìa khóa để thực hiện được điều này. Tuy vậy, plasma không phải là một điều lý tưởng bởi nó sinh ra một lượng kim loại độc hại vượt ngưỡng cho phép hiện nay. Nhưng người ta vẫn đang cân nhắc việc xây dựng các nhà máy điện sản xuất từ rác bởi công nghệ này giúp giảm đáng kể lượng phát thải các bon  ra không khí. “Mỗi tấn rác được xử lý bằng công nghệ plasma giúp giảm 2 tấn CO2  ra ngoài không khí”, Louis Circio, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu Plasma tại Viện nghiên cứu công nghệ Georgia (Mỹ) cho biết. Hơn thế nữa, nếu sử dụng hết các chất thải rắn tại Mỹ để chế tạo ra điện, người ta sẽ đủ để cung ứng cho từ 5-8% nhu cầu sử dụng điện tại nước này. Điều này tương đương với sản lượng điện của 25 nhà máy điện hạt nhân hoặc toàn bộ các công trình thủy điện hiện nay tại Mỹ.  10. Xi măng thân thiện môi trường  Xi măng được sản xuất theo phương pháp truyền thống chính là kẻ gây ra tới 5% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Nhưng phương pháp sản xuất mới có thể tạo ra loại vật liệu xây dựng mới: xi măng không phát thải các bon. Novacem, một công ty công nghệ mới thành lập tại Anh, với sự trợ giúp của trường Imperial College London sử dụng magnesium oxide để tạo ra loại xi măng có đặc tính hút CO2 và rắn hơn rất nhiều so với xi măng truyền thống. Còn công ty Calera tại Califorlia (Mỹ) thì lại sử dụng nước biển để hấp thụ CO2 phát thải từ nhà máy xi măng.  11. Tạo ra loài ong mới  Hội chứng bệnh CCD bí hiểm đã giết chết 1/3 các đàn ong trên thế giới kể từ năm 2006 tới nay. Điều nay làm nhiều nông dân rối trí bởi ong là chuyên gia thụ phấn tự nhiên cho rất nhiều loại cây ăn quả như hạnh, đào, táo…Họ đang trông đợi các nhà khoa học tạo ra được các giống ong mới, giúp đỡ cho ông việc đồng áng vốn đã cực nhọc của họ. Một trong những loài ong mới đó có tên Osmia lignaria và mỗi con ong loại mới này có khả năng thụ phấn cho một diện tích bằng 50 con ong mật thông thường. Khó khăn duy nhất là loại ong mới này rất khó nuôi. Mặc dầu vậy, loài ong mới này đang là cứu tinh cho người nông dân trong lúc chờ các nhà khoa học tìm ra cách đối phó hữu hiệu với hội chứng CCD nói trên.  12. Sử dụng nước mặn trong nông nghiệp  Do nước ngọt ngày càng khan hiếm trong khi sản lượng nông nghiệp ngày một tăng trên toàn thế giới, người ta đã nghĩ tới việc sử dụng nước mặn để tưới tiêu trong nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Adeleide (Australia) sử dụng các phương pháp di truyền để tạo ra một giống cây mới có khả năng chống đọng muối trên lá của chúng. Điều thú vị là công nghệ gen mới này có thể áp dụng cho cả cây lúa và lúa mì. Hiện các nhà khoa học đang thử nghiệm các giống mới này và hy vọng khi thành công, các loại cây lương thực quan trọng nhất của con người sẽ không còn chịu cảnh hạn hán nữa.  Điện tử, chế tạo robot  13.  Máy cảm biến toàn cầu  Đầu năm 2009, hãng HP đã thông báo khai trương dự án  Central Nervous System for the Earth (CeNSE), dự án là kết quả của những nỗ lực trong 10 năm để lắp đặt hàng tỉ máy cảm biến mini trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu cho rằng thông tin thu nhận được có thể sẽ làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về thế giới như cách Internet làm thay đổi môi trường kinh doanh. Không chỉ tăng cường hiểu biết của chúng ta về thế giới, những thông tin tổng hợp từ các thiết bị cảm biến còn giúp những người kỹ sư phát hiện ra những cây cầu cần sửa chữa, người lái xe biết về tình hình giao thông, các chủ nhà nhận biết được sự xâm nhập của kẻ trộm…   CeNSE là dự án táo bạo của HP, tuy nhiên HP không phải là hãng duy nhất phát triển công nghệ này. Intel cũng có chương trình lắp đặt máy cảm biến đa năng có thể thu nhận các thông tin về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm… thay vì thiết kế các thiết bị cho từng nhiệm vụ.  Những thiết bị này cho phép tạo ra nguồn dữ liệu phong phú, đáng tin cậy và đủ mạnh để tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Tuy nhiên, nếu như những thiết bị cảm biến này có kích thước rất nhỏ bé thì những công đoạn xử lý dữ liệu bằng máy tính tốn lại khá phức tạp, và nguồn kinh phí để bảo dưỡng, cung cấp năng lượng để chúng có thể hoạt động tốt cũng không phải là nhỏ.  14. Thiết bị dịch thuật bỏ túi  Sakhr Software, một công ty thiết kế các thiết bị dịch tự động mới đây vừa tiết lộ họ đang phát triển một phần mềm dịch tiếng Anh sang tiếng Ả rập và ngược lại, dùng cho smart phone. Công nghệ này vẫn chưa sẵn sàng tung ra thị trường, tuy nhiên nhờ có những tiến bộ trong kỹ thuật dịch máy, cùng với khả năng xử lý của smart phone, công nghệ di động này cho phép hai người với hai ngôn ngữ khác nhau có thể đàm thoại ở mức đơn giản.   Các phần mềm làm việc dựa vào dữ liệu của các văn bản tồn tại ở hai ngôn ngữ, ví dụ như cuốn “Chiến tranh và hòa bình” ở hai ngôn ngữ khác nhau, dịch các diễn văn của Liên Hợp Quốc, và các tài liệu lấy từ Web. Các thuật toán xác định các câu ngắn tương đương với ngôn ngữ nguồn và một phần mềm sẽ xây dựng các mô hình thống kê kết nối những câu tiếng Anh với những câu tiếng Ả rập.  15. Robot đa năng                Các robot là những phụ tá đắc lực cho quân đội, bác sĩ phẫu thuật, các gia đình. Nhưng trong các trường hợp trên, chúng được thiết kế đặc biệt để phù hợp với từng công việc. Hiện nay xu hướng mới là chế tạo những robot đảm nhiệm cùng một lúc nhiều nhiệm vụ.   Robot đa năng không phải là ý tưởng mới. Song việc xuất hiện muộn là do ngay cả những công việc tưởng chứng rất đơn giản với con người nhưng đối với máy cũng cần phải tích hợp một loại các kỹ năng. Theo Willow Garage, vấn đề là thiếu nền tảng ứng dụng chung cho tất cả những nỗ lực thiết kế này.   Để tạo nên sự thay đổi này, Willow Garage hiện sản xuất 25 mẫu robot PR2 (robot cá nhân). 10 robot sẽ được giữ lại để sử dụng nội bộ, số còn lại sẽ được đưa ra bên ngoài để phục vụ cho các nhóm nghiên cứu khác.  Y học  16. Phát hiện bệnh sớm  Những căn bệnh nan y do những nguyên nhân phức tạp gây nên. Rất may, chúng thường để lại dấu vết để chúng ta có thể chẩn đoán được bệnh. Những căn bệnh khó chữa nhất lại thường là những căn bệnh có quá trình phát triển lâu nhất. Chúng là kết quả của sự tương tác hóa học phức tạp kéo dài hàng thập kỷ trong cơ thể của bạn. Chính cái quá trình sinh hóa phức tạp này cũng tạo ra cho chúng ta thêm cơ hội. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những tương tác lẫn nhau này để lại những dấu vết bên trong cơ thể chúng ta. Bằng cách phát hiện ra những thay đổi ở protein, nucleic acid hay trong quá trình trao đổi chất đã tạo ra cái mà các nhà khoa học gọi là các dấu hiệu sinh học (biomarkers). Từ đó, các bác sĩ có thể tiên đoán được bệnh tật trước khi nó phát triển xấu đi.   Cách chẩn đoán bệnh nhờ các dấu hiệu sinh học không phải là một phương pháp mới. Từ năm 1986, các bác sĩ đã điều chỉnh căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến bằng cách đo lượng protein trong máu. Nhưng các thử nghiệm này chỉ dựa vào một dấu hiệu duy nhất trong khi đó phần lớn các căn bệnh liên quan tới sự biến đổi của một loạt các dấu hiệu sinh học. Ví dụ bệnh tâm thần phần liệt: vào tháng 1/2010 các nhà khoa học sẽ đưa ra thử nghiệm dấu hiệu sinh học để xác định được bệnh tâm thần phân liệt từ các bệnh tâm thần khác. Thử nghiệm này sẽ được Rules-Based Medecine, một phòng thí nghiệm tại Austin, Texas thương mại hóa, dựa vào việc phân tích đặc tính của gần 40 protein trong máu.   Tuy nhiên, không phải dễ để có được kết quả chính xác từ phương pháp do các dấu hiệu sinh học này. Ví dụ, một người có thể mắc hai hoặc nhiều bệnh cùng lúc khiến không ai biết có bao nhiêu loại bệnh tác động tới các dấu hiệu sinh học và những thông số sẽ thay đổi thế nào khi những căn bệnh này phát triển. Do vậy, thách thức hiện nay của các nhà nghiên cứu là xác định xem dấu hiệu sinh học nào là đặc thù với mỗi căn bệnh.   17. Vệ tinh phát hiện dịch bệnh  Nhiều loại bệnh ở người bị truyền nhiễm từ những vật trung gian như chim, muỗi. Những mầm bệnh phát triển rất nhanh chóng trong điều kiện nóng ẩm và mưa nhiều. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng các vệ tinh để đánh giá các điều kiện môi trường có thể dẫn tới các dịch bệnh.                 “Chúng tôi có thể tiên đoán được những điều kiện dẫn tới việc bùng phát những căn bệnh như dịch tả, sốt rét, cúm gia cầm”, Tim Ford thuộc Đại học New England tại Bidderford nói. Vệ tinh đã được sử dụng nhằm thu thập dữ liệu dẫn tới sự phát triển của virus H5N1 tại châu Á. Giống vịt địa phương sống trong các ruộng lúa là một trong những nguồn mang bệnh chính. Xiangming Xiao, Phó giám đốc Trung tâm Phân tích Không gian thuộc Đại học Oklahoma đã sử dụng các hình ảnh vệ tinh để xác định tọa độ các đối tượng nhiễm bệnh trong vùng. Những bản đồ này chỉ ra những nơi nào vịt thường hay sinh sống và do vậy có thể khu trú được nơi dịch bệnh dễ bùng phát nhất. Các loài chim di trú cũng thường mang virus, nhưng hành trình của chúng khó xác định hơn. Xiao và các đồng nghiệp đã kết hợp các hình ảnh vệ tinh và các dữ kiện về nhiệt độ trên mặt đất để xác định hành trình của các loài chim.  18. Cách cầm máu nhanh  Các kỹ thuật viên có thể ngăn chặn được khoảng 35% trường hợp chấn thương dẫn tới tử vong trước khi nhập viện nếu họ có những cách tốt hơn và rẻ hơn để ngăn việc mất máu. Công ty Trauma Solutions đang phát triển chất  hydrogel tổng hợp có thể làm máu đông lại bằng cách tạo ra fibrin, một loại protein làm ngưng chảy máu ở vết thương. Giá cho mỗi lần thực hiện cách đông máu tổng hợp này chỉ có 5 USD so với 500 USD của các chất cầm máu làm từ các thành phần tự nhiên.  19. Thiết bị tí hon phát hiện tổn thương gan  Tổn thương gan là một trong những hậu quả do sử dụng các loại thuốc chữa bệnh lao và HIV/AIDS. Tuy nhiên tại nhiều nước phát triển, hiện người ta chưa có đủ các nhà khoa học hoặc trang thiết bị để đánh giá mức độ của các tổn thương này. Tổ chức phi chính phủ Dianostics For Alls tại Cambridge đã phát triển một thiết bị rẻ tiền làm bằng giấy để đánh giá tổn thương gan chỉ bằng 1 giọt máu. Khi phát hiện ra hai loại enzyme liên quan tới tổn thương gan, máy sẽ thay đổi màu sắc trên các rãnh ở giấy, tùy theo mức độ bệnh.  20. Thuốc đánh răng   Vi khuẩn Streptococcus mutans ở chỗ răng sâu chuyển hóa đường trở thành acid lactic làm mòn răng. Để khắc phục tình trạng này, công ty Oragenics tại Florida đã tìm ra một loại vi khuẩn chuyển hóa đường để tạo ra cồn. Loại vi khuẩn mới này sẽ giúp loại bỏ vĩnh viễn các vi khuẩn S. mutans.  Phương pháp mới này hiện đang thử nghiệm, sẽ giúp người bệnh bảo vệ răng suốt đời chỉ qua một lần xử lý.  Tú Hà (Scientific American)    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2007 – Kinh tế thế giới sẽ ra sao?      Dầu giá 150USD/thùng, nguy cơ xuất hiện chủng virus mới còn nguy hiểm hơn H5N1, sóng thần, bão lụt tại Nam Á, cuộc chiến tranh dành đất đai ở Hoa Kỳ và những vụ lôn xộn qui mô lớn tại Thế vận hội mùa hè Bắc Kinh… Tuy nhiên, đó vẫn chưa là tất cả những nguy cơ đang rình rập loại người trong tương lai… Các chuyên gia thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos quả quyết như thế.    Một vài kịch bản…  Kịch bản thứ nhất. Đầu năm 2008, quân khủng bố tấn công một số tàu chở dầu ở eo biển Moluccas, đẩy giá dầu lên tới đỉnh điểm 150USD/thùng. Lập tức các nước xuất khẩu dầu sẽ thành lập liên minh, ví dụ như liên minh ChavPec (ghép họ của Tổng thống Venezuela Chaves và tổ chức OPEC), hay liên minh của các nước nghèo ở châu Mỹ – La tinh với sự dẫn dắt của Venezuela và Bolivia; liên minh của các nước SNG với nước đứng đầu là Nga; ở châu Phi cũng thế. Khi đó, kinh tế các nước phát triển bắt đầu suy thoái, nặng nề nhất là Mỹ. Ngược lại, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng mạnh. Và các nhà lãnh đạo Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự để củng cố quyền lực. Thế giới đang phân rã.  Kịch bản thứ hai. Tháng 1-2008, châu Á sẽ phải đối mặt với một chủng virus mới (hoặc là biến thể của H5N1) nhưng mức độ nguy hiểm khủng khiếp hơn nhiều. Sau một tháng (2/2008), lượng người chết vì virus mới này đã vượt quá con số 50. Tuy không nhiều, nhưng làn sóng hoảng loạn bao trùm khắp hành tinh. Các nước đóng cửa biên giới quốc gia. Châu Âu bế quan tỏa cảng với châu Á. Các hãng hàng không, đặc biệt là hàng không vận tải đứng bên bờ vực phá sản. Đến cuối tháng 3-2008 số người tử vong đã lên đến hàng trăm, nhưng nguồn gốc virus vẫn chưa được xác định. Đến tháng 11/2008 – số người chết đã lên tới gần 1 triệu. Thế giới hoảng loạn. Mãi tới tháng 01/2009 văcxin mới được tìm thấy và cho tận hè năm đó thì thế giới mới trở lại bình thường.  Kịch bản thứ ba. Những vụ thiên tai kinh hoàng sẽ diễn ra ngay trong năm 2007. Sóng thần và bão lũ càn quét châu Á. Lốc xoáy tung hoành ở Trung Mỹ và băng giá chưa từng có ở Đông-Bắc Mỹ. Châu Á di dân ồ ạt, dầu mỏ khan hiếm chưa từng thấy. Giá dầu cao đã làm vỡ tung bong bóng thị trường bất động sản ở Mỹ bởi thứ nguyên liệu không thể thiếu để sản xuất nhiên liệu sinh học. Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế quá mạnh đã đẩy hơn 150 triệu người dân nông thôn lên thành phố tìm kiếm việc làm thêm, và bất bình xã hội sẽ gia tăng và đạt tới đỉnh điểm vào thời gian diễn ra Thế vận hội mùa hè Bắc Kinh 2008.  Trên đây, là ba trong số rất nhiều kịch bản về những nguy cơ đang đe dọa kinh tế toàn cầu được các chuyên gia thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Davos 2007 đưa ra mới đây (24-28/01/2007). Theo Thierry Malleret, giám đốc nghiên cứu về nguy cơ toàn cầu của WEF: “Tất cả những nguy cơ trên nếu diễn ra đều có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn cầu”. Và con đường duy nhất có thể giúp loại người “thoát hiểm” là hợp nhất sức mạnh. Nhưng xem chừng đây lại chính là điểm yếu nhất của nhân loại hiện nay.  Tuy nhiên, chúng ta cũng không vì thế mà mất lạc quan. Vì kết quả dự báo của hầu hết các tổ chức uy tín trên thế giới như IMF, WB, UNO đều thống nhất, kinh tế toàn cầu năm 2007, vẫn tăng trưởng đều đều, tuy tốc độ có chậm hơn năm 2006 một chút (theo IMF là 4.90%, thấp hơn năm 2006, 0.2%). Dẫn đầu vẫn là khu vực các nước đang phát triển với tốc độ tăng trung bình đạt đỉnh cao 7%, các nước giàu thì có chậm hơn chỉ bằng một nửa con số này chừng 2.6%.    Áp lực lạm phát bao trùm thế giới  Năm nay, kinh tế thế giới vẫn phải chịu tác động một số nhân tố tiêu cực như năm trước nhưng với độ gia tăng mạnh hơn. Thứ nhất, giá dầu biến đổi thất thường, có thể lên trên 80USD/thùng vào giữa năm (năm ngoái lúc đắt nhất là 78USD/thùng – thời điểm tháng 6). Thứ hai, các nền kinh tế phát triển Mỹ, Nhật, EU đều tăng trưởng ở mức cầm chừng dưới 2.0%. Đặc biệt nền kinh tế Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn do thâm hụt ngân sách và thị trường bất động sản đóng băng từ quí 2/2006. Thứ ba, áp lực lạm phát đang bao trùm kinh tế toàn cầu. Riêng điều này thì chúng ta cảm nhận thật rõ vì nó hiện hữu trong ngay trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình.  Vì sao cả thế giới đang chịu áp lực lạm phát? Có phải đó chính là hậu quả chính sách đồng đôla yếu của Hoa Kỳ? Từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn. Sau khủng hoảng thị trường chứng khoán 2000-2001, sức mua của dân Mỹ giảm rõ rệt. Với một nền kinh tế mà giá trị tiêu dùng, dịch vụ chiếm 60% GDP – kích cầu nội quốc là một trong những nhiệm vụ sống còn. Đó là nguyên nhân khởi đầu cho chính sách đồng đôla yếu. Hạ lãi suất tín dụng, in tiền cho dân và doanh nghiệp vay, bao nhiêu cũng được miễn là phải chi vào tiêu dùng. Tiền in ra nhiều, dĩ nhiên đồng đôla mất giá. Cái hay là lạm phát diễn ra ở khắp nơi, nhưng tại Mỹ thì không (từ năm 2000-2006 đều dưới mức 3.5%). Vì sao? Sở hữu đồng tiền tệ quốc tế, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ nghiễm nhiên trở thành Ngân hàng Trung ương của thế giới. Và họ đã không bỏ lỡ cơ hội tìm cách đẩy quá trình lạm phát ra khỏi biên giới nước mình, thông qua trợ thủ đắc lực là các tập đoàn đa quốc gia và các tổ chức tín dụng quốc tế. Cho nên lạm phát ở khắp mọi nơi, riêng ở Mỹ giá cả lại rất ổn định, chỉ số tiêu dùng tăng, lợi thế xuất khẩu duy trì và phát huy triệt để, kinh tế tăng trưởng đều đều. Còn mong gì hơn? Bởi vậy, người Mỹ không vội gì từ bỏ chính sách này. Do đó sức ép lạm phát ngày càng đè nặng lên phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, có nhiều tín hiệu cho thấy năm 2007 là năm Mỹ sẽ điều chỉnh chính sách tỉ giá, bởi chính nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu bị áp lực này ép đến độ “khó thở”.    Thế giới đang hình thành một trật tự mới  Tất nhiên, nói đến bức tranh kinh tế thế giới năm 2007 mà không nhắc đến hai nền kinh tế đang nổi là Trung Quốc và Ấn Độ là một thiếu sót lớn. Chính hai nền kinh tế này cùng với các nước đang phát triển là niềm hy vọng của thế giới ngày mai. Năm 2006, kinh tế Trung Quốc ước tính tăng trưởng gần 10.7%, Ấn Độ có thể đạt 9.0%. Những con số ngoạn mục. Tuy mô hình phát triển tương đối khác, Trung Quốc tập trung vào sản xuất và phát triển thị trường tiêu thụ, Ấn Độ chú trọng đầu tư vào IT và dịch vụ, nhưng cả hai cùng với Nga, Brazil, Hàn Quốc và ASEAN đang thực sự làm thay đổi cán cân kinh tế- chính trị thế giới. Trong bài phát biểu mới đây trước cộng đồng doanh nhân Ấn Độ tại Bangalore, Bộ trưởng Tài chính Anh, Gordon Brown, người được xem là ứng cử viên sáng giá nhất thay cho Thủ tướng đương nhiệm Toni Blair đã kêu gọi thiết lập một trật tự thế giới mới. Theo ông, đã đến lúc phải cải tổ một cách toàn diện các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc (UNO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), G8 và NATO. Đơn giản là vì những tổ chức này hoàn toàn không còn phù hợp với tình hình thế giới đã thay đổi như hiện nay. Ý Gordon Brown muốn nói đến vai trò của các nước đang phát triển mà đại diện là Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil trong thế giới đương đại. Chưa hiểu trật tự thế giới mới rồi đây sẽ ra sao, nhưng điều chắc chắn là không ai có thể ngăn cản tiến trình này, vấn đề là sớm hay muộn mà thôi.  Nhìn tới tương lai  Nếu nhìn xa hơn một chút, Ngân hàng Thế giới dự đoán đến năm 2030 nền kinh tế toàn cầu sẽ vượt ngưỡng 72 nghìn tỷ USD (năm 2005 là 25 nghìn tỷ USD). Số lượng người sống dưới mức nghèo khổ (1 USD/ngày) sẽ giảm đi một nửa từ 1.1 tỷ (2006) xuống còn 550 triệu (2030). Giá trị buôn bán toàn cầu đến lúc đó sẽ tăng gấp 3 lần, đạt 27 nghìn tỷ USD, và một nửa con số này là sự đóng góp của các nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, người lao động thiếu tay nghề và trình độ ở các nước này sẽ khó tìm công việc hơn vì sự gia tăng nhanh chóng của khoa học công nghệ, cũng như sức ép cạnh tranh của nguồn nhân lực từ các nước phát triển.  Với xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, có thể khẳng định nền kinh tế thế giới thật sự là một đoàn tàu Thống Nhất, tuy hình thức và chất lượng của các toa chưa đồng đều, nhiều toa chỉ muốn trật đường ray, nhưng vẫn là một thể thống nhất, cùng nhau vượt qua khó khăn thử thách, hướng tới đích phát triển bền vững xã hội loại người.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang 2011-2014: Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10,68%/năm      Sáng 8/7, hội thảo khoa học về phương pháp  tính toán tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đã được tổ chức tại Hà Nội  dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Trần Văn Tùng.    Giới thiệu phương pháp tính toán tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị Việt Nam giai đoạn 2011-2015, ông Tạ Việt Dũng, Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, đơn vị được Bộ KH&CN giao nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu xây dựng phương pháp tính toán, cho biết: “Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị là tốc độ/tỷ lệ tăng trưởng đổi mới công nghệ, thiết bị bình quân theo chu kỳ năm xác định”. Đây là phương pháp tính toán áp dụng hệ phương pháp của EU về đo lường tăng trưởng đổi mới (Innovation Growth Rate). Theo đó, công thức tính tốc độ này sẽ được dựa trên số liệu của từng năm và căn cứ vào 13 chỉ tiêu cụ thể áp dụng cho các bộ, ngành TƯ (sáu chỉ tiêu đầu vào, bảy chỉ tiêu đầu ra, trong đó 7/13 chỉ tiêu trùng với chỉ tiêu của EU). Tuy nhiên, đối với địa phương, chỉ cần áp dụng chín trong tổng số 13 chỉ tiêu đó.   Với cách tính này, tốc độ tăng trưởng đổi mới công nghệ, thiết bị bình quân ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2014 là 10,68%/ năm.   Phát biểu tại hội nghị, PGS.TS. Tăng Văn Khiên, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học thống kê Việt Nam, nêu ý kiến cần phải xem xét trọng số của từng chỉ tiêu thay vì đánh giá các thành phần trong mỗi chỉ tiêu như nhau. Còn đại diện của Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, nên cân nhắc số liệu nhập khẩu thiết bị công nghệ cũ trong chỉ tiêu tỷ lệ % chi nhập khẩu máy móc, thiết bị so với GDP.   Tổng kết hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng cho biết, trước mắt, việc đánh giá tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị sẽ căn cứ vào 13 chỉ tiêu mà Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ đã xây dựng. Tuy nhiên, cần lưu ý những ý kiến thảo luận liên quan đến việc loại bỏ những số liệu ảnh hưởng đến khả năng đánh giá chính xác tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị (như số liệu nhập khẩu công nghệ thấp, công nghệ cũ).   Theo mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị giai đoạn 2011-2015 phải đạt 10-15%/năm và giai đoạn 2016-2020 phải đạt trên 20%/năm.  Bảng chỉ tiêu tính toán tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị do Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ xây dựng  Chỉ tiêu đầu vào:  1.Tỷ lệ % kinh phí dành cho KH&CN từ ngân sách nhà nước so với GDP  2. Số lượng nhân lực Nghiên cứu và phát triển (tính theo đầu người/10.000 dân)  3. Tỷ lệ % số lượng nhân lực có trình độ ĐH, trên ĐH có với tổng số nhân lực của doanh nghiệp  4. Số lượng ấn phẩm KH&CN công bố quốc tế/1 triệu dân  5. Tổng số lượng đơn đăng kí sở hữu đối tượng quyền sở hữu công nghệ so với GDP (1.000 tỷ VND)  6. Tỷ lệ % tổng chi cho Nghiên cứu và phát triển và đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp so với GDP  Chỉ tiêu đầu ra:  7. Số lượng văn bằng bảo hộ đối tượng quyền sở hữu công nghệ được cấp so với GDP (1.000 tỷ VND)  8. Tỷ lệ % chi nhập khẩu máy móc, thiết bị so với GDP  9. Tỷ lệ % của đối tượng quyền sở hữu công nghệ được chuyển giao so với tổng số đối tượng quyền sở hữu công nghệ được cấp.  10. Tỷ lệ % của chi phí cho việc mua công nghệ, thiết bị trong khu vực doanh nghiệp so với GDP.  11. Tỷ lệ % số lượng doanh nghiệp được chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng so với tổng số doanh nghiệp.  12. Tỷ lệ % giá trị các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ trung bình so với tổng giá trị xuất khẩu.  13. Tỷ lệ % giá trị máy móc, thiết bị xuất khẩu so với tổng giá trị xuất khẩu.       Author                Quản trị        
__label__tiasang 2013: Việt Nam thu hút khoảng 10,6 tỷ USD kiều hối      Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong báo cáo  về triển vọng kiều hối toàn cầu năm 2013, Ngân hàng Thế giới đánh giá  Việt Nam tiếp tục nằm trong top 10 nước nhận nhiều kiều hối, với kết quả  dự kiến là 10,6 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2012.    Theo thống kê của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 4,5 triệu người Việt đang định cư tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngoài ra, có khoảng nửa triệu lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài.  Các chuyên gia kinh tế nhận định, số tiền kiều hối chuyển về nước năm nay tăng cao có thể do tình hình làm ăn của người Việt ở nước ngoài đang có dấu hiệu tốt lên và họ có nhu cầu giúp người thân trong nước cải thiện đời sống. Đó cũng là nguồn cân đối quan trọng trong cán cân thanh toán của Việt Nam. Ngoài ra, do tỷ giá USD ổn định nên số người bán lại ngoại tệ cho ngân hàng để lấy VND tăng, chưa kể nhiều người dân chuyển từ ngoại tệ sang tiền đồng để hưởng lãi suất cao hơn.  Trước tình hình kiều hối chuyển về Việt Nam có nhiều tín hiệu khả quan, các ngân hàng thương mại cũng bước vào cuộc cạnh tranh về chất lượng dịch vụ chi trả kiều hối để thu hút thêm khách hàng, qua đó tăng doanh số kiều hối.   Song song với việc củng cố những thị trường kiều hối truyền thống như Hoa Kỳ, châu Âu, Australia và Canada, các tổ chức tín dụng đã nhanh nhạy khơi thông dòng chảy và thu hút kiều hối bằng cách khai thác tốt các thị trường xuất khẩu lao động và mở rộng thị trường mới.  Nguồn:  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&ctl=EditArticle&mid=395&News=7029&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2021- năm của khoa học mở !      Thế giới đang hướng tới Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO, theo dự kiến, sẽ được 193 quốc gia thành viên phê chuẩn vào tháng 11/2021, nhân Hội nghị Toàn thể UNESCO lần thứ 41. Ngày 30/9/2020, UNESCO đã gửi bản khuyến cáo phác thảo về Khoa học Mở2 tới 193 quốc gia thành viên3 để thu thập các ý kiến phản hồi, một bước chính trong việc tạo thuận lợi cho sự hợp tác quốc tế và truy cập vạn năng tới tri thức khoa học, sau cuộc tư vấn toàn cầu mở rộng.      Nhờ khoa học mở, tốc độ và quy mô nghiên cứu về Covid- 19 được tăng lên và mở rộng nhanh chóng. Ảnh: www. welcometothejungle.com  Theo tài liệu phác thảo đầu này, ‘Khoa học Mở’ ngụ ý tổ hợp của ít nhất các yếu tố chính sau đây: (1) Truy cập Mở; (2) Dữ liệu Mở; (3) Phần mềm nguồn mở/phần cứng mở; (4) Các hạ tầng Khoa học Mở; (5) Đánh giá Mở; (6) Tài nguyên Giáo dục Mở; (7) Cam kết Mở của các tác nhân xã hội; (8) Tính mở tới sự đa dạng của tri thức, bao gồm cả hệ thống tri thức bản địa.    Ngay từ ngày đầu năm mới 1/1/2021, tin vui về Khoa học Mở đã tới với toàn thế giới, khi mà Kế hoạch S4, một sáng kiến về Truy cập Mở đầy đủ và tức thì, được Liên minh S, một nhóm quốc tế gồm 24 tổ chức cấp vốn nghiên cứu quốc gia, châu Âu và một số nhà từ thiện cấp vốn nghiên cứu khác trên thế giới, đã khởi xướng vào tháng 9/2018, bắt đầu có hiệu lực, theo đó, tất cả các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ các trợ cấp của các tổ chức thuộc Liên minh S sẽ phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc nền tảng tuân thủ Truy cập Mở đầy đủ và tức thì, không có bất kỳ thời hạn cấm vận nào. Cũng ngay trong đầu tháng 1/2021, Liên minh S đã thông báo về việc 160 tạp chí của nhà xuất bản Elsevier, một trong những nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới, đã trở thành các tạp chí chuyển đổi quá độ tuân thủ Kế hoạch S5.      Để chuyển đổi số thành công, có rất nhiều việc cần phải làm trong thời gian dài. Một trong những việc tiên quyết phải làm, càng sớm càng tốt, là xây dựng và triển khai bộ các kỹ năng số cho các đối tượng khác nhau trong xã hội, như các công dân, các công ty khởi nghiệp, các giảng viên, các cơ sở giáo dục, .v.v., gồm nhiều năng lực và kỹ năng liên quan tới các khía cạnh Mở như truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở .v.v. để trang bị các năng lực và kỹ năng số cần thiết cho tất cả mọi người trong xã hội số và nền kinh tế số có cơ hội được tuyển dụng làm việc, có công ăn việc làm tươm tất và/hoặc khởi nghiệp thành công.      Tại Việt Nam, có thể nói Quý IV/2020 rất khác thường so với bất kỳ năm nào trước đó, nguyên nhân chủ yếu bản thân năm 2020 là một năm khác thường, với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 cùng hai đợt bùng phát mạnh vào tháng tư và tháng chín, dẫn tới việc hầu hết mọi hoạt động hội nghị hội thảo được đẩy gần như hoàn toàn vào các tháng cuối năm, rất nhiều trong số đó xoay quanh chủ đề nóng bỏng về chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, mà tất cả các bộ, ngành sẽ triển khai vào thực tế bắt đầu từ năm nay, 2021. Tin vui là Chính phủ đã chọn công nghệ mở để triển khai chương trình Chuyển đổi Số, như Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã nói trong bài diễn văn chỉ đạo khai mạc Hội nghị Diễn đàn Công nghệ Mở Việt Nam 2020 được tổ chức tại Hà Nội6 với các từ khóa như công nghệ mở, nguồn mở (phần mềm nguồn mở và phần cứng mở), kiến trúc mở, chuẩn mở, dữ liệu mở, văn hóa mở và phát triển cộng đồng mở. Bộ trưởng nhấn mạnh:    “Việc lựa chọn phát triển công nghệ mở, lựa chọn phát triển phần mềm nguồn mở, lựa chọn mở dữ liệu để các cá nhân, doanh nghiệp tham gia sáng tạo giá trị mới là định hướng của chúng ta”.    Cùng với việc xây dựng nền tảng công nghệ mở trong lĩnh vực giáo dục đào tạo trong năm 2021 như được nêu ở trên, theo Quyết định số 489/QĐ-TTg ngày 08/04/20207 của Thủ tướng Chính phủ, “Đề án xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục mở, phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ vào Quý IV/2021. Đây là tín hiệu rất vui khi Chính phủ Việt Nam đang hướng tới việc hòa nhập với xu thế của thế giới về ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở như theo tinh thần của Khuyến cáo Tài nguyên Giáo dục Mở8 đã được 193 quốc gia thành viên UNESCO phê chuẩn ngày 25/11/2019 nhân Hội nghị toàn thể UNESCO lần thứ 40.    Một trong những cơ sở để có thể kỳ vọng vào sự thành công của đề án xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục mở là hàng loạt các hoạt động hội thảo, tọa đàm với nhiều bên tham gia, và nhất là việc triển khai hơn 50 khóa huấn luyện về thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở trong bốn năm qua cho hơn 1.000 cán bộ và giảng viên của hàng trăm trường đại học và cao đẳng trong cả nước9 của Ban Tư vấn Phát triển Giáo dục Mở thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam.    Trong năm 2021, một sự kiện quan trọng nữa của Khoa học Mở sẽ diễn ra là Hội nghị của Đối tác Dữ liệu Mở châu Á10 (AODP) do Việt Nam đứng ra đăng cai tổ chức – với đại diện là Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, một trong những thành viên chính thức của AODP – dự kiến vào các ngày 14-16/10/2021 tại trường Đại học Thăng Long, Hà Nội. Đây sẽ là sự kiện quan trọng, nơi các tổ chức, doanh nghiệp, viện, trường và các cá nhân gặp gỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau về dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở, thành phố thông minh, và nhiều vấn đề khác có liên quan với các bạn bè quốc tế từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ của châu Á là thành viên của AODP, bao gồm Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ cùng nhiều quốc gia ASEAN như Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, và Thái Lan. Đây là sự kiện được các quốc gia thành viên AODP luân phiên tổ chức thường niên, và sự kiện 2021 AODP Việt Nam là lần thứ 7 được liên tục. Bằng cách này, hy vọng sự phát triển của dữ liệu mở ở Việt Nam, như theo Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/04/2020 của Thủ tướng Chí phủ về “Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước”, sẽ luôn được cập nhật theo xu hướng phát triển của châu Á và thế giới, đúng với kỳ vọng của Chính phủ Việt Nam, như được nêu trong bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông tại  Hội nghị Diễn đàn Công nghệ Mở Việt Nam 2020: “Dữ liệu là dầu mỏ. Trong tương lai, hầu hết các giá trị sẽ được tạo ra từ dữ liệu. Càng nhiều dữ liệu, nhất là càng nhiều loại dữ liệu khác nhau thì cơ hội tạo ra giá trị mới càng lớn. Người có dữ liệu và người tạo ra giá trị mới từ dữ liệu đó trong nhiều trường hợp không phải là một. Bởi vậy việc mở dữ liệu và dữ liệu mở là quyết định trong việc tạo ra giá trị mới cho người dân, cho đất nước”.      Nhờ khoa học mở, tốc độ và quy mô nghiên cứu về Covid- 19 được tăng lên và mở rộng nhanh chóng. Ảnh: www. welcometothejungle.com  Để chuyển đổi số thành công, có rất nhiều việc cần phải làm trong thời gian dài. Một trong những việc tiên quyết phải làm, càng sớm càng tốt, là xây dựng và triển khai bộ các kỹ năng số cho các đối tượng khác nhau trong xã hội, như các công dân, các công ty khởi nghiệp, các giảng viên, các cơ sở giáo dục, .v.v., gồm nhiều năng lực và kỹ năng liên quan tới các khía cạnh Mở như truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở .v.v. để trang bị các năng lực và kỹ năng số cần thiết cho tất cả mọi người trong xã hội số và nền kinh tế số có cơ hội được tuyển dụng làm việc, có công ăn việc làm tươm tất và/hoặc khởi nghiệp thành công.    Một yếu tố quan trọng khác, tất cả các tài nguyên, dù là phần mềm nguồn mở, phần cứng mở, truy cập mở, dữ liệu mở hay tài nguyên giáo dục mở đều có một điểm chung, chúng đều phải được cấp phép Mở để trở thành các tài nguyên mở, không có bất kỳ ngoại lệ nào. Không được cấp phép mở, sẽ không có ai có quyền hợp pháp để tự do sử dụng lại, sửa đổi và/hoặc tùy biến thích nghi các tài nguyên đó, vì theo luật sở hữu trí tuệ, một khi tài nguyên được tạo ra, nó sẽ được luật bảo hộ, bất kể tác giả/người nắm giữ bản quyền của nó có đăng ký hay không. Vì vậy, cần thiết phải có chính sách cấp phép mở ở mức quốc gia và/hoặc cơ sở càng sớm càng tốt để chuyển đổi số bằng công nghệ mở có thể nhanh chóng được xúc tác để có khả năng trở thành hiện thực.    Chắc chắn sẽ còn nhiều sự kiện nữa có liên quan tới Khoa học Mở mà không thể nêu hết được trong bài viết này. Dù vậy chúng ta đã thấy có những tín hiệu khả quan về một năm mới 2021, năm của Khoa học Mở, thành công ở Việt Nam. □  Cũng theo chỉ đạo trong bài phát biểu này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đưa ra Bản tuyên bố hành động cho năm 2021 theo định hướng chọn công nghệ mở để chuyển đổi số, gồm 10 điểm sau đây:  1. Xây dựng Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về Công nghệ Mở;  2. Đánh giá, công bố và khuyến nghị việc sử dụng phần mềm, nền tảng công nghệ mở;  3. Phát triển Nền tảng điện toán đám mây trên nền công nghệ mở;  4. Thúc đẩy phát triển phần cứng mở;  5. Phát triển 5G dựa vào công nghệ mở OpenRan;  6. Phát triển nền tảng mở cho AI Việt Nam;  7. Xây dựng nền tảng công nghệ mở trong lĩnh vực giáo dục đào tạo;  8. Xây dựng Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ mở;  9. Xây dựng Cổng công nghệ mở GOVTECH cho Việt Nam;  10. Nâng cấp, mở rộng Câu lạc bộ phần mềm tự do nguồn mở;     1UNESCO, 2020: Towards a UNESCO Recommendation on Open Science. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/yyv5vhd54m2mp0i/open_science_brochure_en_Vi-15082020.pdf?dl=0  2UNESCO, 2020: First draft on the UNESCO RECOMMENDATION ON OPEN SCIENCE. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/d7juqw5oq5hurul/en-unesco_osr_first_draft_Vi-19102020.pdf?dl=0  3UNESCO, 2020: Milestone in UNESCO’s development of a global recommendation on Open Science. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/cot-moc-trong-phat-trien-khuyen-cao-toan-cau-ve-khoa-hoc-mo-cua-unesco-347.html  4https://www.coalition-s.org/  5cOAlition S: 160 Elsevier journals become Plan S aligned Transformative Journals. Bản dịch sang tiếng Việt có tại:  6Vietnamnet, 2020: Toàn văn phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại diễn đàn công nghệ mở Việt Nam: https://vietnamnet.vn/vn/thong-tin-truyen-thong/toan-van-phat-bieu-cua-bo-truong-nguyen-manh-hung-tai-dien-dan-cong-nghe-mo-viet-nam-689681.html  7Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. http://datafile.chinhphu.vn/file-remote-v2/  DownloadServlet?filePath= vbpq/2020/04/489.signed.pdf  8UNESCO, 2019: UNESCO RECOMMENDATION ON OPEN EDUCATIONAL RESOURCES. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0  9Trang Giáo dục Mở – Tài nguyên Giáo dục Mở, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam: Các lớp tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ tới hết năm 2020: https://giaoducmo.avnuc.vn/tap-huan/cac-lop-tap-huan-thuc-hanh-khai-thac-tai-nguyen-giao-duc-mo-toi-het-nam-2020-370.html  10Trang Giáo dục Mở – Tài nguyên Giáo dục Mở, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam: Đối thoại của Đối tác Dữ liệu Mở châu Á 2020 qua hình ảnh: https://giaoducmo.avnuc.vn/hop-tac/doi-thoai-cua-doi-tac-du-lieu-mo-chau-a-2020-qua-hinh-anh-320.html  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang 24 giờ sống Tỉnh thức cùng Trung Nguyên Legend      Vào ngày 25 và 26/6/2022, Tập đoàn Trung Nguyên Legend tổ chức hành trình trải nghiệm với chủ đề “Tỉnh thức là có thể” thu hút sự tham gia của các nhân vật ảnh hưởng, giới ngoại giao, chính khách, các hoa hậu, á hậu Việt Nam cùng giới truyền thông, cộng đồng tinh hoa, trí thức, những người bạn quý tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhân dịp kỷ niệm 26 năm thành lập Tập đoàn (16/6/1996 – 16/6/2022).     Trong bối cảnh phục hồi hậu COVID-19, nhiều báo cáo nghiên cứu cho thấy ngoài những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đại dịch COVID-19 còn để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng khác. Theo một bản tóm tắt khoa học do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố vào tháng 3/2022, tỷ lệ lo âu và trầm cảm trên toàn cầu đã tăng lên 25% trong năm đầu tiên của đại dịch COVID-19.  Sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 vì thế đã thúc đẩy người tiêu dùng quan tâm đến sức khỏe. Những thói quen mới về sức khỏe phòng ngừa bao gồm tăng cường miễn dịch và sức khỏe tinh thần được thiết lập để đóng một vai trò lớn hơn nữa trong việc theo đuổi một trạng thái sức khỏe toàn diện tối ưu. Rất nhiều người trên thế giới đã tìm đến thiền định như một cách để giải tỏa những cảm xúc tiêu cực. Đồng thời, trong thời gian giãn cách, các cá nhân có xu hướng quay về bên trong, đối mặt với chính mình nhiều hơn và tự tìm thấy con đường chữa lành cho bản thân. Chính vì hoàn cảnh đó mà Liên Hiệp Quốc đã chọn Chữa lành là thông điệp của năm 2021 (Year of Healing).    Qua đó cho thấy, trải qua gần ba năm đầy thách thức vì dịch bệnh và chứng kiến những vấn nạn về thiên tai, chiến tranh, nghèo đói,… vẫn đang xảy ra liên tục không loại trừ bất kỳ một cá nhân nào, một tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp nào, và không phân biệt một quốc gia hay cường quốc nào trên toàn cầu, giờ đây, ẩn sâu bên trong mỗi cá nhân, tổ chức là sự trăn trở, không ngừng tìm kiếm một tư duy mới, một lối sống mới lành mạnh để đạt được sự liên kết sâu sắc nhất với chính mình và vạn vật, đạt được sự cân bằng hài hòa với vũ trụ, tự nhiên và cộng đồng xung quanh, để vững vàng vượt qua mọi thử thách và vận hành cuộc đời chính mình theo một cách hài hòa vốn có với những giá trị Chân – Thiện – Mỹ nhất.  Cà phê là cội nguồn của hạnh phúc và sự thông thái (nhà y học William Harvey)  Trong 26 năm phát triển, với tầm nhìn và sứ mạng phụng sự cộng đồng nhân loại, từ những ngày đầu thành lập, dưới sự dẫn dắt của Nhà sáng lập – Chủ Tịch Đặng Lê Nguyên Legend, Tập đoàn Trung Nguyên Legend không ngừng nỗ lực nghiên cứu lịch sử, giá trị của cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân loại, và sáng tạo nên hệ sản phẩm cà phê năng lượng, các mô hình, dự án theo hệ giá trị năng lượng sáng tạo bền vững của cà phê để mang đến lợi ích toàn diện cho xã hội và công thức thành công cho mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức. Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi cách thức phát triển của lịch sử các nền văn minh, các đế chế vĩ đại từ khi thành lập đến phát triển cực thịnh rồi suy tàn, những tấm gương danh vĩ nhân thành công để tìm ra mẫu số chung và công thức thành công nào của từng đế chế, từng vĩ nhân. Từ đó, Trung Nguyên Legend nhận ra rằng, con đường để mỗi cá nhân, mỗi quốc gia – dân tộc đạt tới sự giàu có toàn diện về Thân – Tâm – Trí, đó chính là trải nghiệm, học hỏi, áp dụng và thực hành một lối sống mới – Lối Sống Tỉnh Thức. Đây là cách thức để mỗi cá nhân có cái nhìn chân thật, sâu sắc nhất về chính mình, để sống trọn vẹn trong thực tại bằng góc nhìn của sự chánh niệm, và luôn tìm thấy sự thấu cảm với bản thân, với vạn vật bằng trái tim rộng mở, tình yêu thương và tâm thiện lành.    Hoa hậu Giáng My, Á hậu Trương Thị May và người đẹp Anh Thư khám phá nền văn cà phê Ottoman tại hành trình “Tỉnh thức là có thể”.  Từ sự thấu hiểu đó, Trung Nguyên Legend từng bước nghiên cứu xây dựng một hệ sinh thái phục vụ Lối sống Tỉnh thức toàn diện từ Cà phê vật lý – Cà phê tinh thần – Cà phê xã hội. Tiếp nối chương trình “Hành trình Trải nghiệm Lối Sống Tỉnh Thức cùng Trung Nguyên Legend” tại Thành phố Cà Phê vào tháng 3/2022 và hoạt động ra mắt Hệ sản phẩm phục vụ Lối sống Tỉnh thức lần đầu tiên tại không gian Thế Giới Cà Phê Trung Nguyên Legend vào đầu năm 2022, hành trình “Tỉnh thức là có thể” với 24 giờ sống tỉnh thức tiếp tục mang đến những trải nghiệm sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn về Lối sống Tỉnh thức mà Trung Nguyên Legend đang nỗ lực kiến tạo. Cùng các hoạt động Ăn Tỉnh Thức – Mặc Tỉnh Thức – Ở Tỉnh Thức, hành trình “Tỉnh thức là có thể” còn giới thiệu những giải pháp giúp mỗi cá nhân tự rèn luyện, thực hành Lối sống Tỉnh Thức trong đời sống hàng ngày, tác động toàn diện lên Thân – Tâm – Trí.  Trong đó, trải nghiệm không gian sống với Góc Tỉnh Thức giúp mỗi cá nhân nhìn thấu rõ mọi việc của đời sống, cũng như con người chính mình từ quá khứ, hiện tại, tới tương lai. Góc Tỉnh Thức là ánh sáng cho mọi ngôi nhà, nơi định Tâm – Trí và là không gian để mỗi cá nhân tự chăm sóc thể chất – tinh thần một cách toàn diện với cấu phần chính là Tủ sách nền tảng đổi đời.  Trải nghiệm Ăn Tỉnh Thức với những bữa ăn thực dưỡng và đặc biệt là bữa tiệc Tỉnh thức được lấy cảm hứng từ ý nghĩa cao quý của hai loài cây đặc trưng của Việt Nam là Sen và Tre. Không chỉ nâng tầm nghệ thuật ẩm thực Việt bằng sự sáng tạo từ những nguyên liệu truyền thống, đầy bản sắc, bữa tiệc tối Tỉnh thức còn gửi gắm những “món ăn tinh thần” khi gợi mở những giá trị từ phẩm tính kiên cường của tre, phẩm hạnh thanh cao của sen, một trong những gợi ý để thực hành Ăn Tỉnh Thức.    Vở vũ kịch “Chuyện kể 3 nền văn minh cà phê” đem đến những khám phá thú vị về lịch sử và vai trò của cà phê trong sự phát triển của nhân loại.  Và trải nghiệm Mặc Tỉnh Thức với bộ Thiền phục được chế tác thủ công, tỉ mỉ bởi những bàn tay nghệ nhân số 1 Việt Nam, có thiết kế tối giản, đơn sắc, che chở cơ thể với những cái chạm nhẹ nhàng, tạo sự kết nối đầy tinh tế với chính cơ thể mỗi người.  Đặc biệt, trong hành trình “Tỉnh thức là có thể”, Trung Nguyên Legend đem đến show trình diễn nghệ thuật độc đáo mang tên “Chuyện kể 3 nền văn minh cà phê” – Khởi đầu cà phê Đạo, giới thiệu hành trình lịch sử của hạt cà phê tạo nên phong cách sống, quan niệm sống, lối sống và triết lý sống. Đây là câu chuyện xuyên suốt, giàu tính nhân văn về giá trị cà phê được khai thác qua đời sống văn hóa bản địa của 3 nền văn minh cà phê Ottoman – Roman – Thiền từ thế kỷ thứ IX đến nay, và lần đầu tiên được sân khấu hóa với sự dàn dựng công phu, kết hợp giữa nghệ thuật múa đương đại, công nghệ ánh sáng.    Author                phongvien        
__label__tiasang 250 triệu USD cho chương trình phát triển đô thị miền núi phía bắc      7 thành phố vùng núi phía Bắc Việt Nam, một trong những vùng kém phát triển với tỉ lệ người nghèo cùng cực cao nhất nước, sẽ tham gia một chương trình mới về tăng cường năng lực với mục tiêu trở thành đầu tàu phát triển kinh tế trong vùng.      TP Yên Bái, một trong 7 thành phố được hỗ trợ.   Vừa qua, Ngân hàng Thế giới đã phê chuẩn một khoản tín dụng trị giá 250 triệu Đô-la Mỹ cho Chương trình Phát triển Đô thị Quốc gia khu vực Miền núi Phía bắc (RBNUDP-NM). Chương trình sẽ được triển khai tại vùng núi phía Bắc theo phương pháp cấp vốn mới, gắn kết quả thực hiện với số vốn được cấp.  Chương trình Phát triển Đô thị Quốc gia Dựa trên kết quả- Khu vực Miền núi Phía Bắc (RBNUDP-NM hay viết tắt là “Chương trình”) sẽ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam (CPVN) trong việc xây dựng một khuôn khổ thực hiện Chương trình Phát triển Đô thị Quốc gia. Chương trình sẽ thực hiện điều này bằng cách thử nghiệm một hệ thống tài trợ dựa trên kết quả, trong đó Chương trình sẽ cung cấp cho các thành phố tham gia những nguồn lực cần thiết cùng với việc xác định rõ ràng trách nhiệm thực hiện,định hướng dựa trên kết quả, nâng cao công tác lập kế hoạch, tăng cường hoạt động giám sát và trách nhiệm giải trình thông qua hoạt động kiểm toán và xác minhkết quả. Mục tiêu phát triển của Chương trình là tăng cường năng lực của các thành phố Miền núi phía Bắc tham gia trong công táclập kế hoạch, thực hiện đầu tư và duy trì cơ sở hạ tầng đô thị. Công cụ cho vay theo Chương trình dựa trên kết quả (PforR) của Ngân hàng Thế giới được sử dụng cho hoạt động này.Chương trình sẽ được thực hiện tại 7 thành phố (bao gồm Điện Biên Phủ, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang và Yên Bái) với tổng kinh phí 300 triệu USD (trong đó 250 triệu USD là vốn IDA, $50 triệu USD là vốn đối ứng).  Những thành phố tham gia Chương trình có thể sử dụng các khoản tài trợ dựa trên kết quả để xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị dưới sự quản lý của Uỷ ban Nhân dân Thành phố (UBND TP). Các tiểu dự án sơ bộ dothành phố đề xuất bao gồm cải tạo và nâng cấp đường giao thông, xây dựng cầu, cống thoát nước, khu vực dân cư có thu nhập thấp, khu tái định cư và cơ sở hạ tầng xã hội. Phần lớn các tiểu dự án xác định trong Chương trình có quy mô tương đối nhỏ so với nhiều lĩnh vực dự án cơ sở hạ tầng khác như đường cao tốc quy mô lớn hoặc phát triển công nghiệp, và sẽ chủ yếu được xây dựng trong những khu vực đã từng có các hoạt động phát triển xây dựng trước đây.  Bộ Xây dựng (Bộ XD), được giao là cơ quan đầu mối của Chương trình Phát triển Đô thị Quốc gia (PTĐTQG), sẽ là cơ quan chủ trì của Chương trình nhưng sẽ phân công trách nhiệm điều phối Chương trình cho Cục Phát triển Đô thị (Cục PTĐT). UBND TP sẽ lập kế hoạch và thực hiện các tiểu dự án trong Chương trình. Hoạt động thực hiện tiểu dự án sẽ do các Ban quản lý dự án (Ban QLDA) tiến hành và báo cáo cho UBND TP. Các hoạt động quản lý môi trường và xã hội sẽ do các Ban QLDA thực hiện và phù hợp với những quy định và thủ tục đã được tăng cường của Chính phủ.    Author                P.V        
__label__tiasang 2×2 – Công cụ thiết lập thứ tự ưu tiên trong khởi nghiệp      Là một doanh nghiệp khởi nghiệp, bạn biết rằng mình có vô khối công việc cần làm, rất nhiều việc gấp, vô vàn việc phải xử lý nhưng lại có hữu hạn nhân lực, vật lực. Một trong những kỹ năng quan trọng của người lãnh đạo, nhà quản lý đó là phải đặt thứ tự ưu tiên trong việc sử dụng nguồn lực để thực hiện tất cả những việc cần làm và sử dụng nguồn lực đó. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn một phương pháp đã được Tổng thống Mỹ Eisenhower sử dụng và mang tên ông (Eisenhower method) sau này được chuyển sang một tên gọi khác với đúng ý nghĩa của nó: công cụ ma trận 2×2.    Nguyễn Đặng Tuấn Minh    Nếu trước đây phương pháp Eisenhower là để Tổng thống ưu tiên những công việc quan trọng, gấp hoặc không, thì với các khởi nghiệp, ngoài công việc, có nhiều nguồn lực và thậm chí các ý tưởng cần phải ưu tiên để ra quyết định. Nếu không có thứ tự ưu tiên, các công việc của doanh nghiệp sẽ bị đình trệ hoặc kém hiệu quả, các ý tưởng sẽ đến dồn dập và các nguồn lực thì thường hạn chế. Vì vậy, thay vì chỉ có những tiêu chí như độ gấp gáp và quan trọng, khởi nghiệp cần nhiều hơn thế.  Chúng ta bắt đầu như thế nào?  Bước 1: Tập kích não (hay não công – brainstorming) trong năm phút. Sử dụng stick note (giấy dính) và bút dạ. Còn nếu không có sẵn, chỉ nhiều mẩu giấy nhỏ và một chiếc bút là đủ.  Lưu ý: Hãy đặt cho mình một mục tiêu về số lượng ý tưởng, sản phẩm, đó cũng là cách bạn tập cho não quen với việc phải phát triển nhiều ý tưởng dưới sức ép thời gian và là cách giúp bạn liên tục suy nghĩ, tránh bỏ sót các công việc khác nhau. Ví dụ: phải liệt kê được 10 ý tưởng kinh doanh trong năm phút. Sau đó đặt mục tiêu tăng tốc lên 20 ý tưởng trong năm phút cùng nhóm mình.  Hãy viết liên tục và đừng đắn đo quá nhiều nếu các ý tưởng và công việc trùng nhau. Quan trọng nhất là não suy nghĩ và tay hoạt động.  Ví dụ, bạn đang tập kích não cùng cả nhóm về ý tưởng sản phẩm nào sẽ triển khai, sau khi tập kích não, sản phẩm của bạn trông giống thế này (Ảnh 1).  Bước 2: Đặt ra tiêu chí để sắp xếp  Bạn có nhiều mối quan tâm, nhưng hãy cân nhắc ba nguồn lực quý hiếm để sắp xếp (thời gian, tiền bạc, sự chú ý). Sau đây là một vài gợi ý cho bạn.  Từ Không gấp lắm tới Rất gấp  Từ Không quan trọng tới Rất quan trọng  Từ Dễ làm tới Khó làm  Từ Không tốn nhiều tiền tới Tốn nhiều tiền  V..v.  Với các ý tưởng đang có ở trên, chúng ta có thể lựa chọn hai tiêu chí chính:  Độc đáo  Bán được ngay  Bước 3: Sắp xếp theo một tiêu chí trước  Đừng tham lam lập ngay một trục gồm cả hai tiêu chí ngay từ đầu, bạn sẽ có xu hướng đưa tất cả dồn vào một phía. Hãy làm chậm và cân nhắc thật kỹ.  Ví dụ: nếu xếp theo tiêu chí “độc đáo” trước thì tôi sẽ có một bản sắp xếp như thế này:    Bước 4: Chuyển sang tiêu chí thứ hai, vạch một đường thẳng đứng ở giữa theo tiêu chí “bán được ngay”, di chuyển theo chiều thẳng đứng các ưu tiên trước theo cột dọc (nhớ không thay đổi vị trí theo hàng ngang đã sắp xếp từ trước):    Đến đây, bạn đã thấy một bức tranh thú vị về thứ tự ưu tiên nguồn lực. Với nhóm vừa độc đáo vừa bán được ngay, sẽ nằm trong tầm ngắm để bạn triển khai. Tùy theo tiêu chí riêng mà bạn sẽ lựa chọn Nhóm bán được ngay và không độc đáo hay nhóm Rất độc đáo nhưng không bán được ngay, trở thành lựa chọn thứ hai. Ví dụ bạn đề cao việc phải kiếm tiền ngay, hãy chọn giải pháp bán được ngay và không độc đáo làm phương án B. Phương án còn lại hãy để nghiên cứu sau khi có thời gian. Với nhóm không độc đáo mà cũng không thể bán, hãy loại khỏi danh sách.  Bước 5: Di chuyển mục tiêu chí để có những bước ưu tiên cuối cùng (nếu cần)  Trong trường hợp, ô ưu tiên số một của bạn có quá nhiều hãy di chuyển toàn bộ trục lên trên, sang phải, hoặc xuống dưới, sang trái nếu ô ưu tiên số một không có lựa chọn nào để đảm bảo bạn tập trung nguồn lực tốt nhất.  Đến đây, hãy bắt tay vào công việc cho lựa chọn của bạn dù đó là ý tưởng, công việc hay nguồn lực.  Sử dụng trong những trường hợp khác  Trên thực tế, 2×2 là một công cụ vượt ra ngoài việc xử lý công việc hay ra quyết định. Dù bạn làm việc một mình hay làm việc cả nhóm, việc tập trung thời gian, tập khích não để cùng sản sinh ra những ý tưởng và dán lên một mặt phẳng, bạn nhận ra sức mạnh của việc làm việc dưới sức ép thời gian, bạn cảm nhận được giá trị của việc nhìn thấy một bức tranh chung về những ý tưởng và cùng nhau đưa ra những tiêu chí để lựa chọn những ý tưởng đó và ra quyết định cuối cùng.  Cuối cùng, 2×2 cũng là một công cụ làm dân chủ hóa quá trình ra quyết định và làm việc nhóm. Với các chủ doanh nghiệp khi phải huy động trí tuệ tập thể và để tạo ra tầm nhìn, quyết tâm chung và lý giải thống nhất về những lựa chọn của doanh nghiệp, 2×2 sẽ là công cụ đắc lực cho các bạn.    Với phương pháp Eisenhower, các công việc hằng ngày được phân thành 4 loại sau:   * Rất quan trọng, rất gấp: làm ngay  * Rất quan trọng, không gấp lắm: từ từ làm  * Không quan trọng lắm, rất gấp: giao cho ai đó làm  * Không quan trọng lắm, không gấp: khỏi làm (trong ngày hôm đó thôi nha).  Vận dụng phương pháp này, cứ cuối ngày làm việc hôm trước, bạn hãy sắp xếp công việc của mình thành từng loại riêng biệt như đã nêu trên. Như vậy bạn sẽ dễ dàng theo dõi công việc của mình trong ngày hôm sau.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 3 dự án khởi nghiệp tham dự chương trình ‘Runway To the World’      Theo thông tin từ tổ chức Saigon Innovation Hub (SIHUB), 3 dự án khởi nghiệp Việt Nam đầu tiên được tuyển chọn tham dự chương trình “Runway To The World” tại Malaysia từ ngày 13-15/8/2018.      3 dự án khởi nghiệp sang Malaysia tham gia chương trình “Runway To the World” deo SIHUB tổ chức. Ảnh: Mai Nhiệm  Đó là các dự án: Boom Potty (bồn vệ sinh cho trẻ em), Gcalls (giải pháp quản lý trung tâm cuộc gọi tích hợp giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tối ưu hóa tài nguyên trong việc chuyển đổi trung tâm cuộc gọi để nâng cấp khả năng bán hàng hoặc dịch vụ) và EyeQ Tech (thị giác máy tính).  Theo lịch trình, đại diện 3 dự án trên sẽ đi  Malaysia vào ngày 12/8/2018, , 3 nhóm sẽ gặp và làm việc với các chuyên gia tìm hiểu thị trường, xúc tiến kinh doanh… Theo SIHUB, dự án EyeQ Tech sẽ được Nizam Habibur với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghiệp hướng dẫn, giúp đỡ dự án Boom Potty là Johnathan Lee – chuyên gia trong lĩnh vực thương mại và những ngành công nghiệp tạo tác động xã hội, còn làm việc với dự án Gcalls là Zaim Mohzani, chuyên gia xây dựng cộng đồng đang dẫn dắt 5 tổ chức phi chính phủ khác tại Malaysia và châu Á.  Ông Huỳnh Kim Tước, giám đốc điều hành SIHUB cho biết, thông qua chương trình Runway To The World, SIHUB mong muốn các dự án khởi nghiệp Việt Nam có cơ hội giao lưu, học hỏi với các hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển của thế giới và khu vực.  Chương trình “Runway To the World” lần này do SIHUB cùng đối tác là Malaysian Global Innovation and Creativity Centre (Trung tâm Phát triển Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo Toàn Cầu của Malaysia – MAGIC) triển khai. Chương trình Runway To The World chính thức khởi động từ tháng 3/2018 với đối tác đầu tiên là Shinhan Future’s Lab đến từ Hàn Quốc. Theo hợp tác giữa hai bên, Shinhan Future’s Lab đã đưa 3 nhóm khởi nghiệp là: EightCups, Victoria Productions và Myggum sang Việt Nam để gặp gỡ và tìm kiếm cơ hội kinh doanh.  Tháng 7/2018, 6 dự án khởi nghiệp của Malaysia và Singapore là: Build Easy, Teleme, Tag La, Telepod, 42 Race và PostCo đã sang Việt Nam trong một dự án trao đổi của chương trình “Runway To the World” giữa Việt Nam và Malaysia, Singapore.  Ngày 17-19/9/2018, SIHUB tiếp tục đưa dự án khởi nghiệp Việt Nam sang Singapore. Dự kiến vào tháng 10/2018 sẽ có ba dự án khởi nghiệp Việt Nam sang Hàn Quốc.  Theo thông tin từ ông Tước, trong năm 2019, SIHUB sẽ tiếp tục chương trình “Runway To the World” với nhiều đối tác tại các quốc gia châu Âu như Đức, Phần Lan…  Hoàng Triều (theo BSA/TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang 4 doanh nghiệp khởi nghiệp Đông Nam Á nhắm tới thị trường Hồi giáo      Thế giới Hồi giáo không “miễn nhiễm” với cơn sốt khởi nghiệp, và ở Đông Nam Á đang xuất hiện một số DNKN tập trung phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng Hồi giáo với những sản phẩm và dịch vụ đa dạng, từ thương mại điện tử, nền tảng giáo dục, ứng dụng du lịch, cho tới thời trang dành cho người Hồi giáo.    Và họ có lý do để làm điều đó. Theo một báo cáo do DinarStandard và ThomsonReuters thực hiện năm ngoái, năm 2014, người tiêu dùng Hồi giáo trên toàn cầu bỏ ra tới 1,8 nghìn tỉ USD để chi dùng cho ăn uống và lối sống; theo dự tính con số này sẽ lên tới 2,6 nghìn tỉ USD vào năm 2020. Cũng trong năm 204, thị trường tiêu dùng Hồi giáo toàn cầu chi 142 tỉ USD cho du lịch, 230 tỉ USD cho quần áo, và 179 tỉ USD cho các hoạt động giải trí – văn hóa.   Ở Đông Nam Á có khoảng 240 triệu người theo đạo Hồi, chiếm khoảng 42% dân số trong khu vực. Do vậy, có thể hiểu được tại sao ngày càng có nhiều DNKN tìm cách tận dụng thị trường rất lớn này. Dưới đây là 4 DNKN đang khá thành công với chiến lược này.  1. Mindplus         Mindplus là một công ty phát triển và thiết kế phần mềm trên website và điện thoại di động có trụ sở tại Darussalam, Brunei. Sản phẩm mới đây nhất của họ là Islamic Mind, một ứng dụng trên di động cung cấp nội dung các bài giảng dành riêng cho học sinh Hồi giáo độ tuổi 5-12. Hiện ứng dụng này đã được các tổ chức Hồi giáo công nhận và ủng hộ.         Khairi Metussin, CEO kiêm đồng sáng lập công ty, cho biết: “Thị trường Hồi giáo vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ, trong đó nền giáo dục Hồi giáo lại đang có bước chuyển mình hướng tới hiện đại hóa rõ ràng hơn. Chúng tôi nhận thấy đây là cơ hội mà mình có thể tận dụng.” Năm 2015, công ty này mở rộng phạm vi hoạt động tới Indonesia, quốc gia có số lượng người theo đạo Hồi đông nhất tại Đông Nam Á.   2. Zilzar  Zilzar là một công ty của Malaysia ra đời năm 2014, hoạt động trên thị trường trực tuyến toàn cầu và hướng tới phục vụ người tiêu dùng Hồi giáo muốn tìm kiếm những sản phẩm Halal  có bảo đảm, bao gồm đồ ăn uống, mỹ phẩm, dược phẩm. Theo Rushdi Siddiqui, CEO kiêm đồng sáng lập công ty, một trong những cơ hội mà anh nhìn thấy ở thị trường Hồi giáo là làm sao để xây dựng một nền tảng toàn cầu cho tất cả các nhà cung cấp sản phẩm halal cùng hoạt động. “Điều này sẽ giải quyết một thách thức lớn đối với các SME hoạt động trong lĩnh vực này, đó là khả năng tiếp cận thị trường.”         Một thách thức đối với Zilzar là phải bảo đảm rằng các sản phẩm được bán trên nền tảng của họ đều là sản phẩm halal thực sự. Nhưng với tham vọng “trở thành Alibaba trong ngành kinh doanh halal”, công ty này đã đầu tư thời gian và công sức để điều tra kỹ lưỡng và hợp tác với những nhà cung cấp có uy tín.         3. HijUp         Được thành lập năm 2011, HijUp là một nền tảng trực tuyến dành cho các nhà thiết kế thời trang chuyên tâm vào các sản phẩm thời trang phục vụ phụ nữ Hồi giáo. Website này bán nhiều mặt hàng, từ quần áo, phụ kiện, túi xách, giầy dép, cho tới hijab (khăn trùm đầu của phụ nữ Hồi giáo khi tới nơi công cộng). Công ty này không những chỉ phân phối hàng hóa ở Indonesia mà còn xuất khẩu sang nước ngoài. Năm 2015, HijUp nhận được các khoản tài trợ hạt giống từ giới đầu tư, trong đó có hai quỹ đầu tư mạo hiểm toàn cầu của Mỹ là 500 Startups và Fenox Venture Capital.         Diajeng Lestari, nhà sáng lập công ty, cho biết cô xây dựng HijUp với mong muốn được giúp cho những phụ nữ Hồi giáo cảm thấy tự tin trong khi vẫn đội khăn hijab. Theo cô, điểm khác biệt của HijUp là họ có những tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong quá trình lựa chọn sản phẩm, được chia thành ba tiêu chí lớn: chất lượng, sự sáng tạo, và cá tính riêng. Website của HijUp còn có cả một blog chuyên giới thiệu các cách đội khăn hijab, các mẹo làm đẹp, và thậm chí cả công thức làm đẹp.         4. Halaltrip         Halaltrip là một công ty có trụ sở tại Singapore chuyên cung cấp ứng dụng và website về du lịch với những thông tin hướng dẫn về địa điểm du lịch, sân bay, nhà hàng, đền thờ,… nhằm giúp du khách Hồi giáo có đầy đủ thông tin để ra quyết định cho chuyến du lịch của mình. Công ty này được mua lại vào năm 2013 bởi CrescentRating, một công ty xếp hạng các dịch vụ du lịch dành cho người Hồi giáo, nhờ vậy, Halatrip còn có thể tận dụng cơ sở dữ liệu từ công ty mẹ để đưa ra những gợi ý du lịch dựa trên đánh giá của chính các du khách Hồi giáo.  Người sử dụng có thể đặt dịch vụ du lịch trọn gói hoặc đặt phòng khách sạn trên website này, ngoài ra website còn cung cấp địa chỉ của các nhà hàng phục vụ đồ ăn halal gần địa điểm của người sử dụng. Nhưng tính năng quan trọng hơn cả là khi cài đặt ứng dụng Halaltrip, người sử dụng còn được thông báo về thời gian cầu nguyện trong ngày và các đền thờ ở gần nơi họ đang đứng. Không dừng lại ở đó, ứng dụng này còn có chức năng tính giờ cầu nguyện trên máy bay dành cho người đang di chuyển và chức năng định hướng Qibla để chỉ xác định hướng của tòa nhà thiêng Kaaba tại thánh địa Mecca, hướng cầu nguyện của người theo đạo Hồi.         Đăng Quang dịch theo Inc-asean.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang 42% nông dân không hài lòng với cuộc sống      Theo báo cáo “Bức tranh nông thôn, nông dân  Việt Nam nhìn từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình” do Viện  Chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam (Ipsard) vừa công  bố, có tới 42% nông dân cho rằng họ không hài lòng với cuộc sống hiện  tại của mình.    Một trong những nguyên nhân khiến người nông dân không hài lòng, theo báo cáo, là do thu nhập không tương xứng với kết quả lao động mà họ bỏ ra.  Cứ hai năm một lần, kể từ 2006 đến nay, Ipsard lại thực hiện cuộc điều tra này trên 12 tỉnh của cả ba miền về đời sống của 3.000 hộ nông dân.  Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm tư vấn chính sách của Ipsard, mức độ thu nhập, chi tiêu và hiệu quả sản xuất nông nghiệp đều khá lên trong những năm điều tra nhưng không đều nhau. Các tỉnh như Hà Tây, Long An, Lâm Đồng khá lên nhưng Lào Cai lại có xu hướng giảm.  Việc tích tụ ruộng đất rất chậm, trung bình nhiều hộ chỉ có 0,7 héc ta, ở miền núi có hộ ruộng cách nhau từ 10-15 km.  “Riêng đi bộ một ngày cũng hết thời gian, không thể làm được ruộng thứ hai” – ông Tuấn nói.  Trong khi đó, rủi ro tăng cao nên các hộ dân nông thôn rất khó để đầu tư mở rộng sản xuất. Về ngành nghề nông thôn, khả năng chuyển đổi ngành nghề còn chậm, tiền công, tiền lương, từ khu vực phi chính thức cũng không ổn định, rủi ro tăng.  Theo báo cáo, tiết kiệm của hộ gia đình nông thôn hiện nay rất thấp, chỉ vào khoảng 5-8 triệu đồng/hộ/năm, chiếm từ 10-15% thu nhập của mỗi hộ. Lý do đơn giản là hộ nông thôn còn quá nghèo.  Phần lớn tiết kiệm của họ (khoảng 80%) được giữ dưới dạng vàng hoặc tiền mặt và sử dụng cho mục đích dự phòng khi có rủi ro xảy ra về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tuổi già. Rất ít tiết kiệm được giữ cho mục đích đầu tư (chỉ chiếm 15% tổng số hộ điều tra).  Ngoài thu nhập và tích lũy thấp, báo cáo còn cho thấy có tới 50% số hộ gia đình nông thôn chịu các cú sốc về thu nhập, bao gồm cú sốc tập thể, tức là khi xảy ra cả làng, cả huyện, cả tỉnh cùng bị như thiên tai, bão, lũ lụt, dịch bệnh, giá cả bất ổn…và cú sốc cá nhân, chỉ gia đình bị, xảy ra khi có người chết, người ốm, kinh doanh thua lỗ, thu hồi đất…  Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy, các loại cú sốc có xu hướng tăng, nhất là cú sốc tập thể. Như thiên tai nhiều hơn, bão thường xuyên xảy ra, mức độ tàn phá cũng mạnh hơn; giá cả đầu vào tăng, nông sản, chăn nuôi, thủy sản làm ra không bán được hoặc bán dưới giá thành sản xuất….  Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho hay, khả năng chống chịu của hộ gia đình nông thôn đối với cú sốc cũng giảm, hoặc có tăng được thì phải tiêu hết tiền tiết kiệm, đặc biệt là hộ nghèo, khả năng chống chịu chỉ có cách duy nhất là “thắt lưng buộc bụng”.  Bức tranh u ám là vậy, song theo cảm nhận của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, bức tranh đời sống nông dân nông thôn còn xám hơn nhiều so với báo cáo đưa ra. Tuy nhiên, báo cáo này có cơ sở số liệu rõ ràng với những thông điệp chính sách lớn. Theo đó, các chính sách hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ thực tế không giúp được người dân bao nhiêu, họ phải nhờ nhiều hơn tới sự hỗ trợ của cộng đồng, vào nỗ lực bản thân, người thân và các kênh khác.  Ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Ipsard cho hay, những năm qua, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ nông nghiệp và nông dân. Song, những chính sách này chưa đủ sâu, chưa đủ mạnh và chưa đúng cách. Mặt khác, có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, phát triển nông thôn vẫn chưa được khai thác.  “Trên cơ sở báo cáo này, Ipsard sẽ nghiên cứu để đề xuất chính sách mới, đổi mới đầu tư công để mở rộng những hướng phát triển mới, đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay” – ông Sơn chia sẻ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 46 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển      Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục công nghệ cao (CNC) được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm CNC được khuyến khích phát triển.                    Theo đó sẽ có 46 CNC thuộc nhiều lĩnh vực được ưu tiên đầu tư phát triển như: công nghệ thiết kế, chế tạo các bộ vi xử lý, mạch tích hợp và bộ nhớ máy tính có dung lượng cao; công nghệ chế tạo hệ điều hành cho máy tính và các thiết bị di động; công nghệ truyền hình số mặt đất, truyền hình số vệ tinh thế hệ thứ 2; công nghệ ứng dụng trong chẩn đoán, giám định, điều trị; công nghệ vi sinh trong xử lý ô nhiễm môi trường; công nghệ vật liệu nano; công nghệ thiết kế tàu thủy cỡ lớn, tàu có tính năng phức tạp…  Trong danh mục sản phẩm CNC được khuyến khích phát triển có 76 sản phẩm gồm: pin, ăcquy có hiệu năng cao cho các thiết bị thông tin và truyền thông; màn hình độ phân giải cao; module và các thiết bị điều khiển thiết bị đầu cuối 3G và mạng thế hệ sau; phần mềm đảm bảo an ninh, an toàn mạng và bí mật thông tin ở mức cao; protein, enzym tái tổ hợp sử dụng trong dược phẩm, thực phẩm công nghiệp và xử lý môi trường; văcxin ADN tái tổ hợp, văcxin protein tái tổ hợp dùng cho người, gia súc, gia cầm và thủy sản; các giống cây trồng, vật nuôi mới, sạch bệnh, năng suất cao, chất lượng cao được sản xuất ở quy mô công nghiệp…  Thủ tướng yêu cầu căn cứ tình hình từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Bộ Khoa học và công nghệ sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các danh mục này.  Xem danh mục cụ thể tại đây:  http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/QD49TTG.PDF?id=100370       Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 bước tiếp cận khách hàng      Mentor Tuấn Minh có nói về năm đối tượng khách hàng bao gồm: người quyết định cuối cùng, người dùng, người phụ trách kỹ thuật, người gác cổng, người “truyền giáo”. Nhưng vấn đề là, tiếp cận họ như thế nào?      Abivin là doanh nghiệp cung cấp phần mềm để tối ưu hóa hệ thống giao hàng, nôm na là giúp cho những người giao hàng có thể đi quãng đường ngắn nhất và qua được nhiều điểm nhất, nhờ đó mà tiết kiệm được 30-40%  nhân lực và thời gian giao hàng. Đây là phần mềm rất mới ở Việt Nam và chúng tôi, những người làm ở Abivin, trước đó chưa từng làm trong lĩnh vực vận tải. Sau một thời gian mày mò đi tìm khách hàng, chúng tôi đưa ra năm bước tiếp cận khách hàng như sau: Bước thứ nhất là khảo sát khách hàng tiềm năng. Người bán hàng cần tìm hiểu tất cả các thông tin về các công ty bao gồm quy mô, doanh thu, lợi nhuận, bộ máy tổ chức và “dự đoán xem ai là người đưa ra quyết định mua sản phẩm của mình. Danh sách các công ty sau khi tìm hiểu xong được gọi là “danh sách nguội” (cold contact). Bước hai là tiếp cận danh sách này bằng cách gọi điện, nhắn tin, gửi emai, thăm văn phòng họ… một cách kiên trì và khéo léo. Bước thứ ba là sắp xếp được một cuộc gặp chính thức để giới thiệu sản phẩm, gọi là Demo Meeting. Nếu sau buổi gặp, họ hứng thú và hỏi nhiều về sản phẩm của mình, họ sẽ trở thành “khách hàng tiềm năng nóng” (hot contact) và sẽ có sự thương thảo chi tiết hơn trước khi ký hợp đồng. Đây là bước quyết định kết quả của quá trình bán hàng nhưng không phải là bước cuối cùng. Sau quá trình bán hàng, cần chăm sóc khách hàng liên tục để xây dựng một mối quan hệ bền chặt và lâu dài với họ. Còn nếu sau buổi gặp gỡ, họ không hứng thú với sản phẩm của mình thì sau 3-6 tháng, họ sẽ trở thành danh sách nguội và lúc đó ta phải quay lại giới thiệu với họ một sản phẩm mới.   Trong năm bước này, bước đầu tiên và bước cuối cùng là khó nhất. Bước đầu, nếu xác định nhầm đối tượng tiếp cận thì những bước sau sẽ rất mất thời gian, công sức. Có người hỏi, làm sao để tự dưng tiếp cận người mà mình không biết gì về họ? Trên lý thuyết, hai người bất kỳ trên thế giới này đều cách nhau nhiều nhất là sáu mối quan hệ quen biết1, quan trọng là mình có đủ tập trung để tìm hiểu không. Bước cuối cùng, khi biến khách hàng nóng thành người mua khó ở chỗ, việc trả tiền để đổi lấy một sản phẩm hàm chứa rủi ro rất định nên người ra quyết định rất lưỡng lự. Nếu họ nói không thì bao nhiêu công sức trước đó mình bỏ ra (có thể là cả tháng, cả năm trời thuyết phục) đều vô nghĩa.   Lỗi lớn nhất thường gặp đó là người đại diện bán hàng  không theo sát khách hàng và trả lời họ đúng thời điểm hay bỏ cuộc quá sớm. Điều này rất dễ mắc phải vì một đại diện phải chạy theo nhiều khách hàng khác nhau và họ rất dễ làm lỡ mất khách hàng. Khoảng 80% đại diện bán hàng bỏ cuộc ngay từ lần đầu khách hàng nói không nhưng thực ra rất nhiều người sẽ đồng ý làm việc với mình nếu mình kiên trì đến lần thứ tư, thứ năm.   Khách hàng đầu tiên của chúng tôi là P&G, may mắn là chúng tôi có người bạn làm ở đấy để hỏi và tìm được đúng người ra quyết định. Tuy nhiên, khi bán hàng, chúng tôi không chỉ gặp một chân dung khách hàng. Người ra quyết định cuối cùng là người quan trọng nhất và là người thuyết phục khó nhất. Nhưng sau khi họ đồng ý, bạn sẽ gặp các chân dung khách hàng còn lại: chúng tôi sẽ gặp người phụ trách kỹ thuật để xem hai hệ thống thông tin có ráp nối được với nhau không, nếu công nghệ của họ quá mới hoặc quá cũ, không thể tích hợp được với mình là dự án thất bại. Tiếp đó, đến người dùng sản phẩm, đến lúc sử dụng thì không dùng được, ấn nút này hỏng nút kia, treo chương trình, treo hệ thống thì kể cả anh giám đốc hay anh CTO gật đầu thì dự án cũng không thành công.    Author                Phan Nam Long - Hoàng Anh        
__label__tiasang 5 chân dung khách hàng của doanh nghiệp B2B      Để tiếp cận khách hàng là doanh nghiệp, bạn sẽ phải vượt qua những “người gác cổng” nào?      Chuông điện thoại rung!  Chào bạn, mình là A bên công ty ABX, cho mình gặp bộ phận marketing,  Anh gặp có việc gì ạ?  Mình muốn trao đổi với bạn về giải pháp của bên mình  Giải pháp gì ạ?  Giải pháp XYZ bạn ạ  Bên em không có nhu cầu đâu ạ  Hoặc:  Lãnh đạo phòng bên em đi vắng, anh gọi lại sau  v..v.  Gõ cửa doanh nghiệp B2B* về một giải pháp không bao giờ là chuyện đơn giản. Những cuộc hội thoại như trên thường khiến bạn rất nản. Nhưng bạn đừng nản vội. Thực chất, nó không nói lên nhiều về nhu cầu thị trường, nó nói lên những lực cản mà một khởi nghiệp B2B có thể gặp phải, trong trường hợp này đơn giản chỉ là bạn phải vượt qua…một cô thư ký khó tính.  Khác với bán hàng B2C, “khách hàng” doanh nghiệp không có một con người cụ thể, một chân dung cụ thể để bạn vẽ ra mà đó là một tổ chức với rất nhiều câu chuyện phức tạp, nhiều tầng bậc ra quyết định và khó hiểu với một người ngoài. Đó là lẽ dễ hiểu khi phần lớn các bạn khởi nghiệp kinh doanh B2B thường xuất phát từ chính ngành nghề của mình, nơi có sẵn các mối quan hệ, có hiểu biết về cấu trúc doanh nghiệp v..v để khởi đầu. Để hiểu biết về quá trình khởi nghiệp B2B, chúng tôi đã có lần giới thiệu trong cuốn sách “Lean B2B- Build products business wants” của Étienne Garbugli, bạn có thể tham khảo. Tuy vậy, dù có hay chưa có chút vốn liếng bán hàng cho doanh nghiệp nào, bạn cũng cần phải nhận thức rõ, bạn đang bán hàng cho AI?  Bài viết này chúng tôi cùng bạn xây dựng bức tranh bán hàng từ năm nhóm khách hàng trong B2B để bạn có những chuẩn bị kỹ lưỡng hơn khi giới thiệu sản phẩm dịch vụ của mình. Khi xác định năm nhóm người mua, bạn hãy hình dung chân dung và đặc điểm riêng của nhóm người mua đó, hoặc của con người cụ thể đang nắm giữ vị trí đó theo chân dung khách hàng chúng tôi đã từng giới thiệu trong các bài viết trước, hoặc hình dung theo hình vẽ dưới đây:    Economic Buyer (Người ra quyết định cuối cùng)  Là người nắm giữ quyền ra quyết định cuối cùng về việc mua sản phẩm, dịch vụ và về chi tiêu ngân sách, đây là người quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc bán hàng của bạn. Bạn cần xác định rõ đặc điểm của người này, vì dù sao đây cũng là một con người, và những thứ mà anh ta quan tâm, giá trị hoặc lợi ích mà anh ta theo đuổi.  User (Người dùng)  Với một tổ chức, người dùng đôi khi chủ động đề nghị giải pháp cho những vấn đề họ gặp phải, nhưng cũng có thể họ hoàn toàn thụ động trước quyết định mua sắm/giải pháp của lãnh đạo. Tuy vậy, có đặc điểm chung cần lưu ý chính là họ muốn các giải pháp mới không gây phiền toái hay ảnh hưởng bất lợi cho bản thân. Ví dụ, bạn bán máy đếm tiền cho một công ty từ trước kiểm tiền bằng tay thì đó là một giải pháp được hoan nghênh, nhưng nếu bạn bán một phần mềm có thể tăng hiệu suất công việc lên ba lần, có nghĩa là giúp công ty gia tăng hiệu quả công việc nhưng cũng có thể giảm 2/3 số lượng nhân sự thì đây có thể chính là đối tượng bạn sẽ vấp phải những cản trở khi giới thiệu giải pháp vì nó mang lại rủi ro mất việc của họ.  Evangelist (Người “truyền giáo”)  Khi bán hàng cho doanh nghiệp/tổ chức, nhất định bạn phải tìm ra những người có tầm ảnh hưởng quan trọng có thể giúp tiếp cận các đối tượng khách hàng, hoặc mang lại tiếng nói trung lập về giải pháp của bạn. Đặc điểm chung của họ là:  Là người có hiểu biết về ngành, có thể vạch ra con đường giúp bạn đến với việc ra quyết định mua/sử dụng giải pháp của doanh nghiệp.  Đó cũng có thể là người giới thiệu bạn với người ra quyết định.  Chính bản thân họ cũng có thể có nhu cầu đối với sản phẩm dịch vụ.  Họ có trải nghiệm với sản phẩm dịch vụ hoặc giải phảp giống như sản phẩm dịch vụ của bạn.  Technical Buyer (Người phụ trách kỹ thuật)  Người phụ trách vấn đề kỹ thuật trong doanh nghiệp thường có hai đặc điểm sau:  Quan tâm đến quy trình hơn là kết quả.  Muốn tránh những phiền toái bị đổ lỗi hoặc phải thêm việc sau này.  Đó là lý do, người phụ trách kỹ thuật thường xem xét giải pháp của bạn rất kỹ. Tiếng nói của người này đôi khi rất quan trọng với người ra quyết định. Sự ủng hộ của họ coi như một sự đảm bảo giải pháp của bạn đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy, bạn cần tìm được tiếng nói chung với những người này (nếu có) trong tổ chức. Tuy vậy, cần đánh giá đúng vai trò và đặc điểm của người này trong tổ chức để tránh đánh giá quá cao vai trò của họ, tạo những rào cản bất lợi không cần thiết trong quá trình đàm phán.  Gate keeper (Người gác cổng)  Người gác cổng, giống như ví dụ đầu tiên (một cô thư ký khó tính), không phải là người sẽ đưa ra quyết định, cũng không thuộc nhóm lợi ích nào, nhưng có một điều chắc chắn, đây là người giúp quản lý thời gian cho nhân vật quan trọng nhất – người ra quyết định. Đó là lý do, bạn luôn cần một chiến thuật để xác định được chân dung người này và khiến họ không trở thành lực cản trong bước đầu tiếp cận doanh nghiệp của bạn.  Sau khi đã xác định được chân dung năm nhóm người mua này, bạn hãy dùng chân dung khách hàng để mô tả đặc điểm từng nhóm. Tùy sản phẩm, dịch vụ mà bạn có chiến thuật tiếp cận từng nhóm theo thứ tự ưu tiên. Nắm được “Pain points” (vấn đề) và “Goals”(mục tiêu) của người ra quyết định cuối cùng chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bạn. Cho dù bạn đang ở bước tìm hiểu vấn đề của họ, mời họ tham gia thử nghiệm sản phẩm, thuyết phục họ trở thành “chuột bạch” trong câu chuyện của bạn hay xây dựng mối quan hệ lâu dài với họ, hãy luôn ghi nhớ nguyên tắc số 1: Doanh nghiệp không quan tâm đến giải pháp của bạn, họ chỉ quan tâm đến lợi ích của họ mà thôi!    ——  *Doanh nghiệp có đối tượng khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn, phân biệt với B2C là các doanh nghiệp có đối tượng khách hàng là người dùng cuối.      Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 công nghệ sẽ làm thay đổi cuộc sống trong 5 năm tới      Ngày 21/3, IBM Việt Nam công bố danh sách “IBM 5 in 5” về “5 công nghệ đột phá có khả năng làm thay đổi cuộc sống trong vòng 5 năm tới”.      Máy tính nhỏ nhất thế giới ứng dụng công nghệ crypto-anchor đến từ IBM, giúp chống lại hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng.  Danh sách này liệt kê những sáng tạo khoa học mang tính đột phá, có khả năng thay đổi cách con người làm làm việc, sinh sống và tương tác trong vòng 5 năm tới.  Bản báo cáo “IBM 5 in 5” 2018 của Viện Nghiên cứu IBM Research toàn cầu không chỉ mang đến các đổi mới mang tính đột phá mà còn sự khẳng định vai trò của công nghệ là động lực để phát triển thế giới.  Dưới đây là 5 công nghệ mà IBM tin tưởng rằng chúng sẽ thay đổi định hướng kinh doanh và xã hội trong vòng 5 năm tới:  1. Công nghệ mã hoá crypto-anchor và công nghệ blockchain sẽ hợp sức để chống lại hiện tượng hàng hoá giả mạo  Trong vòng 5 năm tới, công nghệ mã hoá crypto-anchor hay còn gọi là “dấu vân tay điện tử” chống giả mạo sẽ được gắn vào các vật dụng và thiết bị hàng ngày. Các dấu vân tay điện tử này có thể có nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như dưới dạng các máy tính tí hon, hay mã quang học.  Một ví dụ khác của công nghệ mã hoá crypto-anchor này là loại “mực in nuốt được” có thể được dập lên thuốc viên chữa bệnh. Những mã này sẽ được sử dụng song song với công nghệ sổ cái phân tán (distributed legder) của blockchain để đảm bảo tính xác thực của hàng hóa từ điểm xuất phát gốc đến khi hàng hóa đến tận tay của khách hàng.  Các công nghệ này mở đường cho các giải pháp mới giúp giải quyết các vấn đề về an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ các linh kiện trong sản xuất, các sản phẩm biến đổi gen, nhận dạng hàng giả và xuất xứ của những mặt hàng xa xỉ.  Tại Hội nghị Think 2018, sự kiện công nghệ lớn nhất hàng năm của IBM đang diễn ra tại Las Vegas, IBM đã công bố loại máy tính mới được coi là nhỏ nhất thế giới, chỉ bằng kích thước một hạt muối. Chi phí sản xuất chiếc máy này chỉ nhỏ hơn 0.1 USD và sẽ được ứng dụng trong ngành giao nhận vận tải.  Máy tính này sử dụng công nghệ mã hoá crypto-anchor, chứa tới 1 triệu bóng bán dẫn cùng một lượng nhỏ RAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) tĩnh, một đèn LED, một máy dò hình ảnh cho phép nó truyền thông tin, một pin quang điện tích hợp.  Theo IBM, những phiên bản đầu tiên chính thức của mã crypto-anchor sẽ được ra mắt trong vòng 18 tháng tới và sẽ được thương mại hoá trong vòng 5 năm tới.    Công nghệ mã hóa lattice hứa hẹn phá vỡ giới hạn của các hình thức mã hóa hiện tại.  2. Công nghệ mã hóa lưới lattice bảo vệ người dùng trước các hacker  IBM đang phát triển các phương pháp mã hóa mới để theo kịp các công nghệ mới nổi hiện nay như máy tính lượng tử – những phương pháp mã hóa này một ngày nào đó sẽ phá vỡ tất cả các giao thức mã hóa hiện tại.  Các nhà nghiên cứu của IBM đã phát triển một phương pháp mã hóa tiếp nối thời đại của máy tính lượng tử. Phương pháp này đã được nộp lên Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa Kỳ (NIST) và được đặt tên là công nghệ mã hóa lưới (lattice cryptography). Không máy tính nào có thể phá vỡ mã hoá này, ngay cả những máy tính lượng tử trong tương lai.  Với công nghệ mã hóa lưới, người sử dụng có thể làm việc trên một tập tin hoặc mã hóa nó mà không lo để lộ dữ liệu nhạy cảm với tin tặc.  Công nghệ mã hoá lattice được phát triển dựa trên một cấu trúc ngầm, giấu dữ liệu đằng sau những công thức toán học phức tạp gọi là lưới (lattice).  Công nghệ mã hoá lattice cũng là cơ sở của một công nghệ mã hoá khác tên là “Mã hoá Đồng dạng Đầy đủ – Full Homomorphic Encryption – FHE”, giúp thực hiện tính toán trên một tập tin mà không cần xem các dữ liệu nhạy cảm hoặc để lộ thông tin cho hacker.  Cùng với công nghệ này, người dùng có thể thực hiện tính toán trên một tập tin mà không bao giờ nhìn thấy dữ liệu nhạy cảm hoặc phơi bày nó cho tin tặc.    Robot kính hiển vi ứng dụng công nghệ AI sẽ cứu đại dương của chúng ta.  3. Robot kính hiển vi ứng dụng công nghệ AI sẽ cứu sống các đại dương  Trong 5 năm tới, các kính hiển vi ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ liên tục theo dõi trạng thái của nước, một trong những nguồn tài nguyên thiết yếu và đang bị đe dọa nghiêm trọng nhất.  Các kính hiển vi này có kích thước nhỏ, hoạt động tự động, được nối kết với đám mây và được triển khai trên phạm vi toàn thế giới.  Các nhà khoa học của IBM đang nghiên cứu một phương pháp sử dụng các sinh vật phù du, là các cảm biến sinh học tự nhiên cho biết trạng thái của môi trường nước.  Kính hiển vi ứng dụng AI có thể được đặt trong các vùng nước để theo dõi chuyển động của các sinh vật phù du trong môi trường tự nhiên và sử dụng các thông tin này để dự đoán hành vi và sức khoẻ của chúng.  Phù du là nền tảng của chuỗi thức ăn dưới biển – nguồn cung cấp protein chủ đạo cho hơn một tỷ dân số. Vì vậy, việc nghiên cứu và dự báo về hoạt động của các sinh vật phù du sẽ giúp ích trong các tình huống như tràn dầu hay các nguồn ô nhiễm từ đất liền đổ ra biển và để dự đoán các mối đe dọa cho môi trường nước, chẳng hạn như thủy triều đỏ.    AI được huấn luyện để trở nên công bằng và giảm thiểu các thành kiến.  4. Các AI thành kiến sẽ bùng nổ, nhưng chỉ có AI không thành kiến mới trụ lại  Trong vòng 5 năm tới, chúng ta sẽ có những giải pháp mới để chống lại sự gia tăng đáng kể số lượng các hệ thống và các thuật toán AI mang dấu ấn định kiến của con người.  Khi xây dựng các hệ thống AI đáng tin cậy, điều quan trọng là phải phát triển và đào tạo những hệ thống này bằng những dữ liệu mang tính công bằng, không định kiến, có thể được hiểu bằng nhiều ngôn ngữ và không mang những thành kiến về chủng tộc, giới tính hay hệ tư tưởng.  Lấy mục đích này làm tiêu chí, các nhà nghiên cứu của IBM đã phát triển một phương pháp để giảm bớt sự thành kiến có thể xuất hiện trong các tệp dữ liệu, để bất kỳ thuật toán AI nào sau này được huấn luyện từ những tệp dữ liệu đó sẽ ngày càng giảm thiểu các thành kiến.  Các nhà khoa học của IBM cũng đã đưa ra một cách để kiểm tra hệ thống AI ngay cả khi dữ liệu dùng để huấn luyện AI không được tiết lộ.    Máy tính lượng tử sẽ được ứng dụng rộng rãi hơn.  5. Máy tính lượng tử sẽ trở nên thông dụng hơn  Máy tính lượng tử (quantum computer) hiện nay mới đang trong quá trình nghiên cứu và phát triển. Nhưng trong 5 năm tới, máy tính lượng tử sẽ được sử dụng rộng rãi bởi các chuyên gia và nhà phát triển trong các lĩnh vực mới để giải quyết các vấn đề từng được xem là không thể giải quyết được.  Máy tính lượng tử sẽ phổ biến ở các trường đại học và thậm chí ở mức độ nào đó, ngay cả các trường trung học.  Các nhà nghiên cứu của IBM đã đạt được những cột mốc quan trọng về hóa học lượng tử. Họ đã mô phỏng thành công mối liên kết nguyên tử trong hydrocarbon berylli (BeH2), phân tử phức tạp nhất từng được mô phỏng bởi máy tính lượng tử.  Trong tương lai, các máy tính lượng tử sẽ tiếp tục giải quyết các vấn đề với mức độ phức tạp ngày càng tăng, cuối cùng là bắt kịp và vượt trội những gì trước đây có thể được thực hiện bởi máy móc cổ điển.  Máy tính lượng tử là cấp độ tiếp theo của một hệ thống máy tính siêu mạnh. Trong máy tính thông thường, dữ liệu chỉ được lưu dưới dạng 0 và 1, còn máy tính lượng tử sử dụng qubit – quantum bit, bit lượng tử, cho phép máy tính ghi dữ liệu ở nhiều trạng thái cùng lúc (ví dụ có thể là 0, có thể là 1 hoặc có thể cùng lúc là 0 và 1). Điều đó cho phép máy tính lượng tử thực hiện được những phép tính phức tạp hơn.  Theo SGGP    Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 đổi mới trong nuôi trồng, chế biến thuỷ sản      Nuôi trồng thuỷ sản là một trong những hình thức sản xuất thực phẩm phát triển nhanh nhất trên thế giới và là lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất trong ngành chăn nuôi.      Trang trại nuôi cá tra trong nhà lớn nhất thế giới của Atlantic Sapphire, đã được đầu tư tới nay 32 triệu euro.  Trên một thị trường 140 tỷ USD, các startup về công nghệ hải sản và nuôi trồng thuỷ sản huy động 193 triệu USD trong năm 2016, đánh dấu mức tăng trưởng 271% so với hai năm trước đó gộp lại. Nhóm đổi mới sáng tạo nông công nghệ rất có thể đến từ quốc gia mà chúng ta có thể gọi là “thuỷ công nghệ”.  Tuy nhiên, có nhiều lĩnh vực trong ngành này đang rất cần đổi mới. Hiện nay, theo chuyên gia Michael Helmstetter, người sáng lập và chủ tịch kiêm giám đốc TechAccel, một doanh nghiệp công nghệ và phát triển đầu tư mạo hiểm, giám đốc đối tác của Covenant Animal Health Partners, có năm lĩnh vực hàng đầu gồm phòng bệnh, cung cấp vắc xin, thay thế bột cá, các giải pháp bền vững (trong đó có nuôi khép kín) và quản lý chuỗi cung ứng. Cơ hội to lớn tồn tại cho đến giờ đối với những ai quan tâm đầu tư vào các giải pháp cho các vấn đề nêu trên. Dưới đây là một cái nhìn về các lĩnh vực này và một số công ty tiên tiến đang chú ý đến.  1. Phòng bệnh  Phòng bệnh là một khía cạnh quan trọng trong nuôi trồng thuỷ sản.Nhiệt độ đại dương đang thay đổi và chất lượng nước làm cho động vật và thực vật trở nên căng thẳng và dễ bị bệnh hơn. Tuy nhiên, sự đổi mới sáng tạo trong phòng bệnh đang thiếu thốn so với chăn nuôi trên cạn. Nông dân chăn nuôi trên cạn dễ dàng triển khai hàng chục loại vắc xin và giải pháp phòng ngừa, trong khi nuôi trồng thuỷ sản có ít chọn lựa và nhiều thách thức về đường đưa thuốc vào con vật.Vắc xin vẫn được thực hiện thủ công, và đơn giản là không có các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu đối với các trường hợp nhiễm.  Nhiễm rận biển chẳng hạn, là phổ biến và tàn hại ở cá hồi nuôi.Trong khi cá hồi di cư bỏ lại loài ký sinh này khi chúng đi vào vùng nước ngọt, cá hồi nuôi trong nước mặn, và ký sinh trùng sinh sôi nảy nở gây ra thiệt hại.Các giải pháp quy mô trước đây và hiện nay cho những kết quả không mong muốn.Chẳng hạn, hydrogen peroxid (H2O2) gây căng thẳng cho cá hồi.Thêm một loại benzoate diệt rận cho cá ăn, để lại chất thải độc trong môi trường và chấy rận trở nên kháng thuốc, đòi hỏi liều cao hơn.Những vùng nước ngọt hay nước bị nóng bởi lậm thuốc càng tạo thêm căng thẳng.Có rất ít cơ hội đang nổi lên đối với đổi mới bền vững dành cho vấn đề rất lớn của rận biển. Các cơ hội đó bao gồm sử dụng “cá sạch” như cá bơn Ballan để ăn rận biển trong các vùng nuôi trồng thuỷ sản, các hàng rào vật lý để rải thức ăn bổ sung nhằm tăng cường khả năng phòng nhiễm. Rõ ràng đây là một lĩnh vực tuyệt vọng cho đổi mới sáng tạo hiệu quả và quy mô.  2. Vắc xin uống  Một đổi mới khác trong xử lý phòng bệnh là vắc xin uống, như một thay thế cho tiêm phòng thủ công từng cá thể một tốn nhiều nhân công.Một vài tiến bộ đã có trong việc triển khai các hệ thống tiêm chủng cơ khí, nhưng xử lý căng thẳng vẫn là một vấn đề.Vắc xin uống sẽ là một lợi ích về hiệu quả, dễ sử dụng, và phù hợp với mọi lứa tuổi và kích cỡ của cá (tiêm thủ công không có khả năng).Cho uống làm giảm việc xử lý và gây hại cho cá, có thể được sử dụng nhiều lần khi cá trưởng thành và có thể chứng minh là ít tốn kém hơn, trong khi tỷ lệ tử vong thấp hơn.  Nghiên cứu các phương pháp cho uống vắc xin đang mở cánh cửa cho cơ hội cải tiến – cụ thể là khả năng xử lý cho mọi kích cỡ và độ tuổi của cá. Đóng gói vi mô, trong đó cá vi hạt hoặc giọt lỏng được bọc bởi một lớp phủ để tạo ra các viên nang nhỏ; và đóng gói sinh học, trong đó các loại thuốc được đưa vào sinh thể vật chủ còn sống và sau đó cho cá ăn, là hai điển hình về hệ thống cung cấp thuốc tốt hơn. Trong lĩnh vực này, có cơ hội để phát triển các vắc xin đột phá được chế tạo cụ thể cho các hệ thống đường miệng, như vắc xin tiểu đơn vị và vắc xin acid nucleic.  Chẳng hạn, ViAqua Therapeutics là một nhóm đáng chú ý làm việc trong các kỹ thuật vi đóng gói. Họ đã phát triển hạt đóng gói RNAi dùng xử lý qua đường miệng một cách hiệu quả để điều trị bệnh do virus. ViAqua đã phát triển các biện pháp để vượt qua các rào cản trong hệ thống tiêu hoá để điều trị RNA hiệu quả hơn.Đây chỉ là một trong nhiều đổi mới nhằm khai thông không gian vắc xin nuôi trồng thuỷ sản.  3. Protein thay thế  Hầu hết thức ăn phụ thuộc vào bột và dầu cá được làm từ các bộ phận cá tái chế. Giàu dưỡng chất, các thức bổ sung này là hệ quả của các đàn động vật đông đúc trên cạn và trên biển (việc sử dụng được chia đều trên cạn và dưới nước) – nhưng đánh bắt cá quá mức khiến cho nguồn cung bị nguy cơ. Với tốc độ nuôi trồng thuỷ sản đang tăng lên, các nguồn cung bột cá truyền thống không có khả năng bắt kịp nhu cầu.  Các giải pháp dựa vào thực vật – như cô đặc protein đậu nành – đang phát triển. Thức ăn tảo là một tuỳ chọn thay thế thú vị và đang phát triển, vì tảo đã là một thành phần tự nhiên trong chuỗi thực phẩm cho cá. Hiện nay, thức ăn tảo chất lượng cao đắt tiền, nhưng tốt cho sức khoẻ và có nhiều đặc tính dinh dưỡng. Có một số công ty đang cải thiện thức ăn tảo và tăng  khả năng tiếp cận, trong đó có Cargill, Knipbio và MicroSynbiotiX. Calysta, một công ty khác, đang tạo ra các protein thay thế trong thức ăn, qua sử dụng một quy trình lên men sáng tạo khí tự nhiên với vi khuẩn sản sinh tự nhiên.  Một lựa chọn thay thế bột cá khác là thức ăn dựa vào côn trùng, cụ thể là dế, giun và ấu trùng ruồi lính đen. Các công ty như Ynsect, AgriProtein, Hexafly và nextProtein đang tìm cách tinh chỉnh bột cá dựa trên côn trùng và tăng quy mô sản xuất để khống chế chi phí.  4. Nuôi trồng thuỷ sản bền vững  Đối diện với các mối đe doạ do đánh bắt quá mức, đại dương nóng lên và chất thải độc hại, những người nuôi trồng thuỷ sản đang tìm cách tăng tính bền vững kinh tế, môi trường và xã hội. Kết hợp kiểm soát chất lượng nước, bảo tồn, sử dụng hiệu quả bột cá và hành vi trách nhiệm với nguồn, là toàn bộ thành phần của phương trình đó.  Chăn nuôi khép kín trên cạn, còn gọi là hệ thống nuôi trồng thuỷ sản tuần hoàn, kết hợp nuôi cá với các kỹ thuật nuôi thuỷ sản khác.Cách tiếp cận đa canh này để nuôi động vật, thực vật và cá, đồng thời tạo ra các hệ sinh thái tự cung tự cấp.Ví dụ, các ao được sử dụng nuôi cá có thể hoạt động như là các nguồn thuỷ lợi tự nhiên cho cây trồng và cung cấp trầm tích cho phân bón giàu dinh dưỡng.  Lợi ích của nuôi trồng khép kín bao gồm: ít sản sinh ô nhiễm, ít tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và giảm lây lan bệnh và các loài xâm lấn. Chẳng hạn, chất thải nitrogen từ cá có thể dùng để sản xuất rau, thảo mộc và cây trồng chất lượng cao và các sản phẩm bổ sung để thúc đẩy lợi nhuận đáng kể. Liên minh các trang trại tuần hoàn ủng hộ dự án Nuôi cá tốt hơn, và các công ty như Atlantic Sapphire đang đi đầu trong các “Bluehouse” tuần hoàn mới dành cho nuôi cá hồi.  5. Blockchain trong nuôi trồng thuỷ sản  Blockchain là một bản ghi số các giao dịch có thể truy cập công khai và không thể mua chuộc được bởi bất kỳ thực thể đơn lẻ nào. Nguyên blockchain là tên gọi của quá trình giao dịch tiền tệ, nhưng có những dấu hiệu nó có thể được dùng để hoán đổi thông tin về nguồn gốc, lịch sử, thu hoạch, chế biến và giao nhận cá, tạo ra một nguồn gốc minh bạch và có thể kiểm chứng của mỗi sản phẩm nuôi trồng đơn lẻ.  Liệu blockchain có đủ tinh vi để xử lý sản lượng 27 triệu tấn cá? Các công ty như Fishcoin đang tiên phong với blockchain để giải quyết sự manh mún của chuỗi cung ứng hải sản. Nếu blockchain trở nên phổ biến, nó có thể thay đổi toàn bộ hạ tầng của chuỗi cung ứng thuỷ sản, tăng thêm tính minh bạch và tính trách nhiệm cần thiết cho hoạt động bền vững.  Đã đến lúc cắn vào aquatech (thuỷ công nghệ)  Nhu cầu aquatech trong nuôi trồng thuỷ sản đã tạo ra cơ hội đầu tư trong các công ty hướng đến giải quyết các vấn đề cộm cán nhất của ngành. Các nhà đầu tư mạo hiểm và các loại nhà đầu tư khác đang lao vào cơ hội. Tìm kiếm các quỹ đầu tư như Aqua-Spark và các nhà tăng tốc nuôi trồng thuỷ sản như Hatch Blue, để tiếp tục nâng cao sự hỗ trợ dành cho đổi mới và các nhóm như InnoSea và SeaFarming Systems, để định hình lại ngành, thông qua các kỹ thuật nuôi cá bền vững và các thiết kế bể nuôi đột phá và kinh tế.  Trần Bích (theo TGHN/Forbes)    Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 mô hình kinh doanh kinh tế tuần hoàn      Trước những mối đe dọa nhãn tiền về sự khan hiếm nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường, khái niệm về một nền kinh tế mới – nền kinh tế tuần hoàn – đang nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía các chính phủ, tổ chức, nhà kinh tế và các tập đoàn lớn trên thế giới. Dưới đây là một số thông tin khái quát về mô hình nền kinh tế này.    Nền kinh tế chia sẻ là một mô hình hiệu quả và tiết kiệm, đang được nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng hưởng ứng.  Ở quy mô doanh nghiệp, hiện nay, chiến lược kinh doanh, cơ cấu tổ chức, hoạt động, chuỗi cung ứng… của các công ty hầu hết đều được xây dựng xung quanh nền kinh tế tuyến tính. Những công ty muốn tận dụng lợi thế của nền kinh tế tuần hoàn cần phải phát triển các mô hình kinh doanh mới, không có những cản trở của lối tư duy có tổng bằng 0 (người này được tức là người kia mất).  Qua nghiên cứu đối với 120 công ty đã đạt được những thành tích quan trọng trong việc cải thiện hiệu suất nguồn lực, hãng nghiên cứu Accenture đã tổng kết và đưa ra năm mô hình kinh tế có khả năng giúp các doanh nghiệp tạo dựng được sự khác biệt, giảm bớt chi phí dịch vụ và sử dụng, tạo nguồn doanh thu mới và giảm thiểu các rủi ro thị trường. Dưới đây là những thông tin tóm lược giới thiệu về năm mô hình kinh doanh này:  1. Chuỗi cung ứng tuần hoàn  Khi một công ty cần các nguồn nguyên liệu hiếm hoặc gây hại cho môi trường, thường thì họ phải trả tiền nhiều hơn để mua hay phải tìm các nguồn nguyên liệu thay thế khác. Mô hình chuỗi cung ứng tuần hoàn lại mang đến những nguyên liệu có thể tái chế, tái sử dụng hoặc được phân hủy bằng con đường sinh học. Có thể sử dụng các nguyên liệu này trong các chu kỳ tiếp nối nhau không ngừng, từ đó giúp làm giảm chi phí, củng cố khả năng kiểm soát nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp, đồng thời giảm bớt những rủi ro về thị trường. Ví dụ: CRAiLAR Technologies Inc., một công ty tại Mỹ sản xuất sinh chất tái chế sử dụng cây lanh và gai dầu để tạo ra sợi có chất lượng tốt tương đương sợi bông mà không gây tác động tới môi trường.  2. Phục hồi và tái chế  Trong mô hình phục hồi và tái chế, chất thải từ các hệ thống sản xuất và tiêu thụ đều được “tái sinh” và sử dụng cho các mục đích khác. Các công ty có thể phục hồi các sản phẩm đã tới giai đoạn cuối của chu kỳ sử dụng để lấy hoặc tái sử dụng các nguyên liệu, năng lượng và hợp phần còn giá trị trong sản phẩm, hoặc họ cũng có thể tái chế rác thải và sử dụng các sản phẩm phái sinh trong một quá trình sản xuất. Ví dụ: Tập đoàn P&G vận hành 45 cơ sở sản xuất của mình mà không hề thải ra bất kỳ chất thải nào.  3. Kéo dài đời sống sản phẩm  Với những sản phẩm bị hỏng hóc, lỗi thời, hay không còn cần thiết nữa, người tiêu dùng ngày nay thường vứt bỏ chúng đi. Nhưng trên thực tế, nhiều sản phẩm trong đó vẫn còn giá trị đáng kể, và mô hình kéo dài đời sống sản phẩm ra đời nhằm thu lại và sử dụng những giá trị đó. Bằng cách bảo dưỡng và cải thiện sản phẩm thông qua việc sửa chữa, nâng cấp, tân trang, hay tiếp thị lại thị trường, các công ty có thể duy trì những lợi ích về kinh tế của các sản phẩm này trong một thời gian dài. Để làm được điều này, các công ty cần chuyển từ hoạt động bán sản phẩm đơn thuần sang chủ động duy trì giá trị tương thích của sản phẩm. Mối quan hệ giữa công ty với khách hàng cũng cần thay đổi từ mối quan hệ đơn lẻ giữa các lần trao đổi/mua bán sang mối quan hệ dài lâu, trong đó các công ty có thể thực hiện nâng cấp và thay đổi sản phẩm cũ dựa trên yêu cầu cụ thể của từng khách hàng. Ví dụ: tập đoàn máy tính Dell mở thêm hoạt động tân trang máy tính, trong đó họ mua lại những máy tính cũ và bán lại các linh kiện còn giá trị sử dụng  4. Nền tảng chia sẻ  Tại các quốc gia phát triển, có đến 80% đồ vật trong một hộ gia đình trung bình chỉ được sử dụng trong khoảng thời gian một tháng và sau đó bị “bỏ xó”. Mô hình nền tảng chia sẻ, vốn đang được sự hỗ trợ ngày càng hiệu quả của các công nghệ kỹ thuật số mới ra đời, kiến tạo nên các mối quan hệ mới và các cơ hội kinh doanh mới cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ) để họ có thể cho thuê, chia sẻ, trao đổi hay cho mượn những đồ dùng họ sở hữu nhưng ít sử dụng. Với mô hình này, việc sản xuất các sản phẩm thường dùng sẽ tốn ít nguồn lực hơn, còn người tiêu dùng lại có thêm cơ hội kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm tiền. Các hãng cung cấp dịch vụ dùng chung phương tiện di chuyển như Uber, Lyft và Airbnb (website rao vặt các đồ vật muốn cho thuê) là những ví dụ tiêu biểu trong mô hình này.  5. Coi sản phẩm là dịch vụ  Điều gì sẽ xảy ra nếu cả nhà sản xuất và nhà bán lẻ đều chịu chung “tổng chi phí sở hữu?” Trong trường hợp này, nhiều công ty hẳn sẽ ngay lập tức thay đổi chiến lược và quay sang tập trung vào tuổi thọ, sự tin cậy, và khả năng tái sử dụng của các sản phẩm. Khi người tiêu dùng thuê sản phẩm về sử dụng thông qua mô hình coi sản phẩm là dịch vụ này, mô hình kinh doanh sẽ có sự biến đổi cơ bản theo chiều hướng tích cực, bởi lúc này tính hiệu quả của sản phẩm sẽ được coi trọng hơn số lượng, độ bền sản phẩm sẽ được đánh giá cao, và các công ty cũng sẽ có cơ hội được xây dựng những mối quan hệ mới với người tiêu dùng. Ví dụ: hiện nay, hãng Koninklijke Philips NV đang áp dụng cơ chế cung cấp “dịch vụ chiếu sáng” trong đó họ tính tiền khách hàng theo công suất điện được sử dụng chứ không theo số lượng sản phẩm bán ra.  Việc ứng dụng năm mô hình kinh doanh tuần hoàn trên ngày càng phát triển trong thập kỷ qua. Ban đầu, các mô hình kinh doanh sáng tạo này chủ yếu do các startup triển khai. Tới nay, nhiều tập đoàn đa quốc gia cũng đang có những động thái nghiêm túc trong khía cạnh này.  Đức Phát lược dịch theo báo cáo của Accenture    Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 thành tựu vang dội trong y học      Trong năm nay, chúng ta được chứng kiến một loạt các đột phá về y học, giúp giải quyết bệnh tật khó chữa trị và kéo dài tuổi thọ cho con người. Sau đây là một số thành công vang dội của các nhà nghiên cứu y học. 1.Tạo bước đột phá trong nghiên cứu …      Trong năm nay, chúng ta được chứng kiến một loạt các đột phá về y học, giúp giải quyết bệnh tật khó chữa trị và kéo dài tuổi thọ cho con người. Sau đây là một số thành công vang dội của các nhà nghiên cứu y học.    1.Tạo bước đột phá trong nghiên cứu về bệnh Alzheimer    Nghiên cứu mới đây cho thấy hoạt chất Lecanemab đã có thể làm giảm 27% sự suy giảm nhận thức ở bệnh nhân Alzheimer. Điều này được thể hiện qua dữ liệu nghiên cứu của các doanh nghiệp dược phẩm Biogen và Eisai. Hơn 50 triệu người trên thế giới mắc bệnh Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác có thể tìm thấy hy vọng mới sau khi nghiên cứu này được công bố. Cổ phiếu Biogen tăng 40% và cổ phiếu Eisai tăng 17%.    2.Liệu pháp mới cho bệnh Parkinson đang được thử nghiệm    Cho đến nay, Parkinson ở giai đoạn nặng được coi là không thể chữa khỏi, tuy nhiên có thể điều trị tích cực khi bệnh mới ở giai đoạn đầu. Công ty con BlueRock của Bayer tại Mỹ đang thử nghiệm một liệu pháp mới ở Berlin. Theo đó các tế bào bị bệnh sẽ được thay thế bằng các tế bào đang hoạt động và do đó giúp tái tạo các mô cơ bị tổn thương. Nếu nỗ lực này thành công, thì Parkinson sẽ là bệnh có thể chữa khỏi.    3. Cần sa có tác dụng giảm đau    Kể từ khi con người quyết định không còn coi cần sa chỉ là một loại ma túy mà còn là một loại thuốc, thì những điều kỳ diệu đã trở thành hiện thực. Viện Liên bang về Ma túy và Thiết bị Y tế ở Đức (BfArM) gần đây công bố đánh giá 5 năm qua về liệu pháp điều trị bằng các sản phẩm thuốc cần sa và xác nhận: Cần sa có tác dụng tích cực đối với các bệnh nghiêm trọng và giảm các cơn đau dữ dội.    4. Thuốc điều trị ung thư đại trực tràng    Cho đến nay thuốc Dostarlimab chỉ được dùng để điều trị cho bệnh nhân ung thư tử cung, nghiên cứu mới cho thấy thuốc này cũng có tác dụng với một số   người bị  ung thư ruột kết. Thuốc Dostarlimab nó giúp hệ thống miễn dịch nhận ra các tế bào ung thư một cách độc lập và vô hiệu hóa chúng.    5. Nghiên cứu mRNA trong cuộc chiến chống ung thư và virus Zika    Công nghệ vaccine mRNA có tiềm năng ứng dụng trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư và virus Zika. Nếu công nghệ này ứng dụng thành công trong chữa ung thư và chống virus Zika thì lợi nhuận mang lại sẽ là hàng tỷ USD. John Cooke, Trưởng Chương trình Trị liệu mRNA ở Houston, Mỹ, nói: “Đây là một cuộc cách mạng, các liệu pháp mới sẽ giúp ích cho hàng triệu người!”    Xuân Hoài lược dịch    Nguồn: https://www.focus.de/perspektiven/gastbeitrag-von-gabor-steingart-inmitten-einer-unsicheren-welt-feiern-wir-bahnbrechende-medizinische-erfolge_id_170871641.html    Author                .        
__label__tiasang 50 sự kiện sóng hấp dẫn tiết lộ gì về vũ trụ?      Các nhà vật lý thiên văn đã đủ các cuộc sáp nhập lỗ đen để lập bản đồ tần xuất xuất hiện của chúng trong lịch sử vũ trụ.      Họ đã quan sát 39 sự kiện vũ trụ tạo ra sóng hấp dẫn trong giai đoạn kéo dài 6 tháng của năm 2019 – với một tỉ lệ nhiều hơn một sự kiện mỗi tuần. Đươc miêu tả trong một loạt các bài báo xuất bản vào ngày 28/10, các sự kiện sóng hấp dẫn miêu tả các quan sát dò được những gợn sóng trong không thời gian đó – thông thường do sự sáp nhập giữa hai lỗ đen tạo ra – do được tăng độ nhạy so với lần đầu nhận diện được sóng hấp dẫn năm 2015. Bộ dữ liệu đang lớn dần cũng giúp các nhà thiên văn vẽ bản đồ các sự kiện diễn ra trong lịch sử vũ trụ.  Sóng hấp dẫn gợn sóng trên bề măt không thời gian được tạo ra bằng sự gia tốc của các khối lượng, cụ thể khi hai vật thể có khối lượng cực lớn cuộn xoắn vào nhau và sáp nhập. Các đặc tính chi tiết của chúng đã đem lại vô số những kiểm chứng thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, bao gồm cả một số bằng chứng thuyết phục nhất để xác định thười điểm tồn tại của các lỗ đen. Và thông qua các sóng hấp dẫn này,  các nhà thiên văn đã có được cách mới để quan sát vũ trụ, bước tiếp theo là sóng điện từ và tia vũ trụ.  Dữ liệu mới nhất mới miêu tả các sự kiện quan sát trong suốt hai phần ba quan sát ở LIGO – một cặp máy dò đặt tại Hanford, Washington và Livingston, Louisiana, cũng như đối tác Virgo của nó ở gần Pisa, Italy. Đây là phần thứ hai của các sự kiện vũ trụ mà hai bên hợp tác, tiếp theo đợt hợp tác đầu tiên miêu tả 11 sự kiện dò được và xuất bản vào tháng 12/2018. Về tổng số thì mạng lưới quan sát này đã có được 50 sự kiện quan sát sóng hấp dẫn.  Phần lớn các sự kiện này là kết quả sáp nhập của hai lỗ đen. Các máy dò đã bắt được tín hiệu của một lượng lớn va chạm giữa hai ngôi sao neutron và ít nhất một cuộc sáp nhập giữa một ngôi sao neutron và một lỗ đen. Những sáp nhập bao gồm các sao neutron đều đặc biệt thú vị với các nhà vật lý thiên văn bởi vì họ đã chờ đợi chúng tạo ra tia sáng thông thường cũng như sóng hấp dẫn, vốn xác nhận trong một cuộc sáp nhập sao neutron vào tháng 8/2017. Một số ít các sự kiện ngoạn mục của bộ sưu tập này đã được miêu tả trong các công bố, nó bao gồm sự sáp nhập của hai lỗ đen lớn nhất và một vật thể “không phẳng” – trong hai lỗ đen có khối lượng vô cùng chênh lệch va chạm.  Một khám phá gây ngạc nhiên là các khối lượng của lỗ đen tham gia vào những cuộc sáp nhập đó. Các nhà vật lý thiên văn chờ đợi một giới hạn cân bằng với việc không có lỗ đen nào nặng gấp 45 lần mặt trời. “Giờ đây chúng tôi đang thấy là nó không cân bằng,” Maya Fishbach, một nhà nghiên cứu LIGO tại trường đại học Northwestern ở Evanston, Illinois, nói. Bộ sưu tập này cũng gồm ba sự kiện với khối lượng vượt quá mong đợi, bao gồm một sự kiện loan báo trong tháng 9 với một lỗ đen có khối lượn gấp 85 lần mặt trời.  Sự phong phú của dữ liệu hiện tại cho phép các nhà khoa học của LIGO–Virgo ước tính tỉ lệ tại đó các cuộc sáp nhập lỗ đen xuất hiện trong một thiên hà ở mức trung bình. Đó là tỉ lệ xuất hiện đạt đỉnh trong vòng 8 tỉ năm, dẫn đến một thời kỳ hình thành các ngôi sao – và một số sau đó đã trở thành lỗ đen – tại một mức cao, Fishbach nói.  Bộ sưu tập cũng đem lại thông tin về cách các lỗ đen spin, vốn đóng vai trò quan trọng để hiểu cách các vật thể đó đi vào quỹ  đạo của nhau trước khi chúng sáp nhập. Điều đó cho thấy, trong một số hệ nhị nhân, hai lỗ đen có những trục quay không đồng tâm, vốn chỉ dấu là chúng hình thành một cách hoàn toàn riêng rẽ. Nhưng nhiều hệ nhị phân khác xuất hiện với những trục quay thẳng hàng, vốn là điều mà các nhà vật lý thiên văn chờ đợi khi hai lỗ đen bắt đầu đời sống của chúng như một hệ sao đôi. Hai trường phái này của vật lý thiên văn đều có những kịch bản thú vị và những gì xuất hiện ở hiện tại cho thấy cả hai trương phái đều đúng, Fishbach nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03047-0       Author                Quản trị        
__label__tiasang 5,1 tỷ euro cho chương trình Sức khỏe của EU      Mới đây, nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu thông qua chương trình sức khỏe mới của EU có tên EU4Health, trị giá 5,1 tỷ euro. Chương trình được xây dựng trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Covid-19, tuy nhiên theo Stella Kyriakides, ủy viên phụ trách y tế của EU, “đây không phải chỉ là một biện pháp ứng phó đối với đại dịch. Với EU4Health, chúng ta sẽ có trong tay những công cụ cần thiết để tạo ra sự thay đổi lâu dài”.      Qua EU4Health, EU muốn tăng cường giám sát đối với các nguy cơ y tế tiềm ẩn. Ảnh: Euprojec  EU4Health đặt mục tiêu tăng cường sự chuẩn bị của EU trước những mối đe dọa mới về sức khỏe, thông qua việc dự trữ các nguồn cung y tế quan trọng, tài trợ cho các nhân viên chăm sóc sức khỏe và chuyên gia dự phòng, đồng thời tăng cường giám sát đối với các nguy cơ y tế tiềm ẩn. Về lâu dài, đây sẽ là công cụ quan trọng của EU trong cuộc chiến chống ung thư, giải quyết vấn đề thiếu tầm soát, chẩn đoán sớm và khả năng tiếp cận với các phương pháp điều trị. Nó cũng sẽ giúp số hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tạo ra các không gian dữ liệu y tế của EU, từ đó cho phép chia sẻ dữ liệu sức khỏe một cách cởi mở. Về mục tiêu trung hạn, chương trình hướng đến giảm thiểu bất bình đẳng y tế ở châu Âu.  Với 5,1 tỷ euro, EU4Health có quy mô lớn gấp 12 lần so với chương trình trước đây, qua đó cho thấy đại dịch đã khiến EU phải nâng tầm quan trọng của y tế lên một nấc cao hơn trong chương trình nghị sự. “Y tế đã từng bị tụt xuống vị trí thứ hai, tuy nhiên đại dịch Covid-19 cho thấy hệ thống y tế của chúng ta có rất nhiều thiếu sót”, Frédérique Ries, thành viên người Bỉ của nghị viện châu Âu, nói.   Đối với một thành viên khác của Nghị viện châu Âu là Tomislav Sokol, EU4Health được xây dựng dựa trên “sự thức tỉnh”: các quốc gia sẽ không thể một mình đương đầu với các cuộc khủng hoảng y tế nghiêm trọng. Vào thời điểm khởi đầu đại dịch, có thể thấy EU có rất ít sự hợp tác, tuy nhiên khi tình hình trở nên nghiêm trọng hơn, các quốc gia thành viên đã nhận ra rằng mình không thể tự ứng phó với đại dịch mà phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn trong việc kiểm soát dịch và mua vaccine. “Một trong những lý do đẫn đến tình trạng này đó là từ trước đến nay, EU chưa có một chính sách mang tính hệ thống nào về y tế, tất cả trách nhiệm đều được đặt lên vai của các quốc gia thành viên”, Sokol cho biết. Bởi vậy, EU hi vọng là EU4Health sẽ thúc đẩy hợp tác một cách hệ thống hơn trong lĩnh vực y tế.  Để đi đến thống nhất, các quốc gia thành viên đã trải qua không ít cuộc đàm phán kéo dài nhiều tháng. Ban đầu, Ủy ban châu Âu đề xuất một khoản ngân sách trị giá 7 tỷ euro dành cho EU4Health, tuy nhiên sau đó các nhà lãnh đạo EU cắt giảm con số này xuống còn 1,7 tỷ euro vào tháng bảy. Cuối cùng, sau nhiều cuộc thương thảo kéo dài, Nghị viện đã thành công nâng tổng ngân sách cho EU4Health lên 5,1 tỷ euro.  Tuy nhiên chương trình mới này vẫn không thể lấp đầy tất cả các khoảng trống trong lĩnh vực y tế. “EU4Health không phải là thuốc chữa bách bệnh. Tuy nhiên, đây sẽ là một khởi đầu tốt cho tương lai”, Rasmus Andresen, thành viên của Đảng Xanh (Đức) nhận định.  Để tăng cường tác động của EU4Health, Cristian Silviu Bușoi – báo cáo viên của chương trình – đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp các chương trình của EU với nhau, ví dụ như kết hợp EU4Health với Sứ mệnh về ung thư Horizon Europe, Kế hoạch đánh bại ung thư EU, Chương trình số hóa EU và quỹ phục hồi EU,… để có thể đạt được mục tiêu của chương trình y tế mới.  Dolors Montserrat hi vọng rằng những mục tiêu lớn của EU4Health sẽ luôn được duy trì. Bà cho rằng, dù EU đã tập trung nhiều vào từng khu vực riêng rẽ nhưng “đáng nhẽ ra chúng ta nên đầu tư nhiều hơn vào nghiên cứu và hệ thống y tế cũng như các biện pháp phản ứng sớm với các mối đe dọa”. Nếu làm như vậy, có lẽ châu Âu đã không bị bất ngờ trước đại dịch mà có thể chuẩn bị và ứng phó tốt hơn. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/eu-health-programme-more-reaction-pandem    Author                Quản trị        
__label__tiasang 52 giải pháp công nghệ có tính ứng dụng cao từ Chương trình Sáng tạo Việt 2013      52 trong tổng số 208 sáng chế/giải pháp công  nghệ tham gia Chương trình Sáng tạo Việt 2013 được đánh giá có tiềm  năng ứng dụng cao.     Các sáng chế này tập trung vào năm lĩnh vực: nông lâm ngư nghiệp (13 sáng chế); xây dựng (11); môi trường (8); y tế (5); cơ khí, năng lượng, công nghệ thông tin và những lĩnh vực khác (15) – đa số đều đã được cấp văn bằng bảo hộ sáng chế và có hiệu ứng xã hội tích cực trong các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc, sáng tạo nông dân toàn quốc, Techmart…  Trong số đó có thể kể đến: sáng chế Công nghệ gia cố nền móng TOP BASE ứng dụng trong thi công nền móng công trình xây dựng của ThS. Đỗ Đức Thắng (Công ty cổ phần giải pháp công nghệ xây dựng quốc tế Việt Nam); Thiết bị xử lý nước thải MGB – JOKASO của TS. Trường Văn Đàn (Công ty cổ phần Môi trường Xanh và Xanh); Giá thể mạ cấy và Chế phẩm phun rơm rạ thành phân bón tại đồng ruộng của TS. Lê Văn Tri (Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Fitohoocmon); Công nghệ xử lý ô nhiễm tràn dầu trên sông, biển túi lọc dầu SOS-B của Phạm Văn Sơn (Công ty TNHH SOS Môi trường; Bóng đèn Led tiết kiệm điện của GS.TS. Trần Văn Tín (Công ty cổ phần điện tử ICEVN)… Riêng sản phẩm bóng đèn Led, với sự hỗ trợ của Bộ KH&CN, tác giả Trần Văn Tín đã ký hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty TNHH Vạn Mỹ Phú cuối năm 2013.  Bên cạnh việc là nơi đánh thức tiềm năng sáng tạo, Chương trình còn trở thành nơi tư vấn, hỗ trợ, kết nối các nhà khoa học với các nhà đầu tư để hoàn thiện sáng chế, tiến tới thương mại hóa các sáng chế/giải pháp công nghệ.   Luật sư Thomass Treutler, giám đốc công ty Luật Tillicker& Gibbins, được mời tham gia ban giám khảo chương trình, nhận xét, “Chương trình Sáng tạo Việt giống như một diễn đàn để các nhà đầu tư và sáng chế có thể gặp gỡ nhau, sau đó có thể thỏa thuận và hợp tác để phát triển sáng chế này, để thương mại hóa mang lại lợi ích cho cả hai bên”.   Cũng đồng tình với nhận xét này, đại diện các tác giả sáng chế tham gia chương trình, ông Đỗ Đức Thắng, Công ty cổ phần Giải pháp công nghệ quốc tế Việt Nam, nói: “Chương trình Sáng tạo Việt là nơi để các tác giả sáng chế, các nhà đầu tư, các công ty, các viện nghiên cứu, các trường đại học cũng như những người yêu thích khoa học công nghệ giao lưu gặp gỡ. Tôi tin rằng những doanh nhân khi xem chương trình này một cách nghiêm túc sẽ tìm thấy những sáng chế, giải pháp ứng dụng được thành công trong nghành nghề của mình”.   Được biết, khi lên sóng VTV3 vào 9 giờ sáng Chủ nhật hàng tuần và phát lại vào 8 giờ 40 thứ Hai tuần kế tiếp, Chương trình Sáng tạo Việt đã nhận được phản hồi tốt từ người xem. Theo điều tra xã hội học về chương trình với số lượng là 300 khán giả, thì 75,4% cho rằng chương trình thiết thực, 58,8% tỏ ra yêu thích, 84,3% đánh giá chương trình đáp ứng được yêu cầu của họ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang 6 điều nhà đầu tư nghĩ đến khi nghe startup thuyết trình      Nếu bạn đã thuyết phục được các nhà đầu tư ngồi nghe bài thuyết trình của mình, chắc chắn là bạn đã tiến được một bước dài rồi đấy. Nhưng đừng vội mừng, bởi giai đoạn thuyết trình mới là điểm “dễ chết” của hầu hết các doanh nhân.  Dưới đây là 6 câu hỏi mà các nhà đầu tư có thể nghĩ đến khi họ ngồi nghe bạn thuyết trình.      1. “Đầu tiên là “tiền đâu”?”  Khi nhà đầu tư đã chịu ngồi nghe bạn thuyết trình, điều đó có nghĩa là họ nhận thấy ý tưởng khởi nghiệp của bạn có điểm gì hay ho, song lúc này họ vẫn chưa rõ bạn định kiếm tiền từ ý tưởng này như thế nào. Đó là điểm quan trọng cần tính đến: rất nhiều ý tưởng lớn lao trong thế giới khởi nghiệp có thể giúp làm thế giới này trở nên tốt đẹp hơn, nhưng điều mà các nhà đầu tư quan tâm nhất lại là: làm sao để thu được tiền về?  Vì vậy, hãy dành một phần quan trọng trong bài thuyết trình để giải thích cho nhà đầu tư hiểu bạn sẽ thu lợi nhuận bằng cách nào từ ý tưởng này. Hãy vạch ra một kế hoạch thật chắc chắn và cụ thể để trình bày cho họ nghe.  2. “Công ty của bạn đang được đánh giá cao quá.”  Các nhà đầu tư thường có xu hướng than phiền rằng doanh nghiệp khởi nghiệp đang đứng thuyết trình trước mặt họ đã được đánh giá quá cao. Trong khi đó, một sai lầm mà giới doanh nhân khởi nghiệp hay mắc là họ một mực tin rằng ý tưởng của họ đáng giá cả triệu đô la. Để bảo đảm mình có được một sự đánh giá thực tế, hãy tham khảo ý kiến của cả các luật sư và kế toán nữa, khi đó bạn sẽ có cái nhìn khách quan hơn.  3. “Các bạn chẳng có lấy một kế hoạch dài hạn nào cả.”  Dĩ nhiên, trong giai đoạn này, làm sao để ý tưởng khởi nghiệp “cất cánh” được mới là vấn đề lớn, song các nhà đầu tư cũng cần phải biết về tương lai, họ muốn biết liệu sản phẩm hay dịch vụ của bạn có khả năng tồn tại lâu dài hay không.  Vậy nên, hãy dành thời gian để chỉ cho họ thấy điều này. Hãy chứng tỏ rằng sản phẩm của bạn mang tầm nhìn lâu dài.  4. “Các bạn không hề có chiến lược phát triển nào cả.”  Các nhà đầu tư không chỉ muốn biết rằng số tiền mà họ bỏ ra sẽ được thu về như thế nào mà họ còn muốn được bảo đảm rằng về lâu dài họ sẽ có lợi nhuận nữa.  Nếu không đưa ra được chiến lược phát triển tiếp theo nào, các nhà đầu tư có thể sẽ ngầm hiểu rằng nếu họ rót tiền cho doanh nghiệp của bạn, có thể đó chỉ là một việc làm từ thiện hoặc vì một mục tiêu cao cả nào đó chứ họ sẽ chẳng thu về đồng lợi nhuận nào đâu.  Bạn cần phải chỉ ra cho họ một chiến lược phát triển toàn diện, qua đó bạn sẽ kiếm tiền và phát triển doanh nghiệp của mình như thế nào. Thông điệp chính mà bạn cần đưa ra ở đây là hãy để cho họ thấy rằng khi công ty của bạn bước sang một giai đoạn mới, bạn sẽ không cần phải xin tiền của họ nữa.  Tuy nhiên, hãy cẩn thận, bởi các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lý do số một khiến khởi nghiệp thất bại là phát triển quá nhanh.  5. “Tôi được lợi gì trong đây?”  Đúng là nhiều nhà đầu tư muốn hỗ trợ cho những ý tưởng thú vị được trở thành hiện thực và họ cũng muốn được “dự phần” quản lý trong một ý tưởng có thể giúp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng họ cần nhiều hơn thế. Hiện nay rất nhiều bài thuyết trình chỉ mải tập trung vào doanh nghiệp mà không nói đầy đủ đến những lợi ích tiềm năng dành cho các nhà đầu tư.  Hãy cho các nhà đầu tư biết chính xác họ sẽ nhận về được những gì, có thể là về tiền bạc hay về quyền quản trị công ty.  Bạn cũng đừng quên bảo đảm với họ rằng họ có thể thương lượng. Các nhà đầu tư không thích bị rơi vào hoàn cảnh “đặt đâu ngồi đấy”. Suy cho cùng thì bạn mới là người tìm đến họ để xin hỗ trợ tài chính kia mà.  6. “Tại sao các bạn lại giành được cảm tình của chúng tôi?”  Có một câu nói đã trở thành cửa miệng đối với giới đầu tư mạo hiểm rằng: “Cược cho nài ngựa (doanh nhân) chứ đừng cược cho con ngựa (ý tưởng).”  Điều đó có nghĩa là gì? Là các nhà đầu tư muốn chắc chắn rằng bạn có đủ sự kiên trì và khả năng để thành công, bất kể có những trở ngại nào xuất hiện đi chăng nữa.  Thực ra, đây là một trong những khía cạnh quan trọng nhất trong giai đoạn đầu tư hạt giống, bởi lúc này vẫn còn quá sớm để đưa ra những thông số cụ thể để xác quyết sự thành bại của một doanh nghiệp khởi nghiệp.  Minh Quang dịch theo Entrepreneur    Author                Quản trị        
__label__tiasang 6 xu hướng chuyển đổi số trong nông nghiệp      Trong các nghiên cứu gần đây, để đáp ứng nhu cầu lương thực cho con người, sản lượng nông nghiệp phải tăng 60% vào năm 2030.      IoT và các bộ cảm biến trên thiết bị giúp cho máy móc không bị thời gian chết nhiều.  Muốn vậy, nhà nông và những nhà sản xuất thực phẩm phải bám theo các xu hướng chuyển đổi số trong nông nghiệp. Chỉ có công nghệ mới là nguồn lực bền vững và có khả năng mở rộng giúp nông nghiệp đạt tầm cao mới.  IoT và các bộ cảm biến trên cánh đồng  Ứng dụng IoT trong lĩnh vực nông nghiệp có tiềm năng lớn.Các bộ cảm biến được đặt trên các cánh đồng cùng với công nghệ nhận dạng hình ảnh cho phép nông dân thấy cây trồng của họ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Các bộ cảm biến gởi cho nông dân thông tin cập nhật theo thời gian thực, nhờ đó họ đưa ra các thay đổi phù hợp cho cây trồng. Nông dân không cần có nhiều kỹ năng, nhưng nếu có ứng dụng báo cho biết khi nào cây cần nước hoặc một số dưỡng chất khác, có thể mở khoá để tưới nước, có pha sẵn hàm lượng dinh dưỡng cho cây. Các bộ cảm biến IoT trên những cánh đồng lớn sẽ giúp nông dân nâng cao năng suất cây trồng với chi phí thấp hơn.  IoT trong máy móc nông nghiệp  Trên cánh đồng, các bộ cảm biến được đặt trên thiết bị nông nghiệp để theo dõi “sức khoẻ” của máy móc. Máy kéo và các thiết bị sản xuất nông nghiệp khác được kèm các hệ thống định vị và cảm biến.Một số cảm biến được thiết kế dùng để lập bản đồ năng suất ngay tại buồng lái. Trong khi đó, một số cảm biến khác đang theo dõi khi nào các máy kéo cần được tu sửa. Tất cả các cảm biến đang tiết giảm lượng thời gian máy rảnh rỗi.  Máy bay không người lái (MBKNL) giám sát cây trồng  Khi nông dân làm việc trên cánh đồng rộng hàng chục mẫu, chỉ có cách quan sát từ máy bay để theo dõi trang trại của mình. MBKNL đang được sử dụng để giám sát cây trồng phổ biến trên khắp nước Mỹ. Thiết bị này sản xuất ra hình ảnh ba chiều để dự báo chất lượng đất, thông qua phân tích và mô hình hoá cây trồng trên nông trại. MBKNL còn được sử dụng để phun thuốc từ trên cao, nhằm giảm thiểu thuốc ngấm vào nước ngầm.Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh MBKNL có thể gia tăng tốc độ xịt gấp năm lần so với các loại máy khác.  Canh tác và robotics  Robot và trí tuệ nhân tạo (AI) trong nông nghiệp sẽ cải thiện năng suất và đem lại sản lượng cao và nhanh hơn.Những robot như robot xịt thuốc và làm cỏ được John Deere đầu tư, có thể giảm việc sử dụng hoá chất đến 90% nhờ công nghệ chính xác.  Một số công ty đang thử nghiệm hướng dẫn robot bằng laser và camera để thiết bị này nhận dạng và nhổ cỏ mà không cần sự can thiệp của con người. Các công ty khác đang tạo ra robot trồng cây để tăng thêm hiệu quả so với các phương pháp canh tác truyền thống. Sau cùng, robot được thử nghiệm dùng để thu hoạch trái cây và hạt.  Các bộ cảm biến RFID  Sau khi thu hoạch, các bộ cảm biến bằng sóng vô tuyến RFID được dùng để theo dõi từ cánh đồng đến cửa hàng. Người tiêu dùng có thể theo dõi nguồn gốc thực phẩm từ cánh đồng đến nơi họ mua hàng bằng các thiết bị tích hợp RFID. Công nghệ này sẽ làm nhà sản xuất có trách nhiệm cao hơn trong việc cung cấp sản phẩm và hàng tươi sống.Các bộ cảm biến bằng sóng vô tuyến RFID sẽ giúp người tiêu dùng giảm lo ngại về các chất gây dị ứng.  Học máy và phân tích  Có lẽ một trong những chuyển đổi kỹ thuật số sáng tạo nhất là khả năng sử dụng học máy và các phân tích tiên tiến để khai thác dữ liệu cho các xu hướng. Học máy có thể dự báo đặc điểm và gien nào tốt nhất cho thực tế sản xuất tuỳ theo khí hậu của địa phương đó. Các thuật toán còn cho biết sản phẩm nào sẽ được mua nhiều nhất và sản phẩm nào đang ế ẩm trên thị trường.Điều đó giúp nhà nông chọn lựa sản phẩm canh tác trong hiện tại và tương lai.  Trần Bích (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang 60% doanh nghiệp bị khủng hoảng tác động      Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt  Nam đã trở nên tổn thương hơn bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, theo  một báo cáo do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương công bố sáng  nay 21/11.    Báo cáo mang tên “Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam – Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011” đã phỏng vấn gần 2.500 doanh nghiệp ở 10 tỉnh, thành như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng.  Có tới 60% doanh nghiệp được khảo sát cho biết, trong năm 2011 họ vẫn còn chịu tác động tiêu cực do môi trường kinh doanh xấu đi bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với chỉ 17% trong năm 2009.  Có tới 71% các doanh nghiệp ở miền Nam kể với khảo sát viên là họ gặp khó khăn nhiều hơn trong năm 2011, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 64% trong năm 2006.  Khảo sát cho biết, có 39% doanh nghiệp báo cáo là gặp khó khăn về tiếp cận tín dụng. Gần 90% các doanh nghiệp phải tiếp cận với các khoản vay từ nguồn phi chính thức do khó khăn tại thị trường tín dụng chính thức.  Báo cáo cho biết, các khoản vay phi chính thức của doanh nghiệp có giá trị nhỏ (chỉ chiếm khoảng 9% tổng đầu tư) nhưng lại là một cấu thành thường xuyên trong kế hoạch tài chính của họ.  Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nói tại lễ công bố: “Điều này khẳng định, nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp rất cao và các rào cản tín dụng đối với họ chưa được tháo gỡ”.  Báo cáo cảnh báo, tỷ lệ doanh nghiệp cải tiến sản phẩm có xu hướng giảm. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà thị trường của các doanh nghiệp chủ yếu vẫn là nội địa và vấn nạn hàng nhập lậu đang gây nhức nhối, thì việc cải tiến sản phẩm để chiếm lĩnh các thị trường này và thị trường ngách là vô cùng quan trọng.  “Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài thì rất có thể các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phải sớm rút lui khỏi thị trường. Thực tế, những tháng đầu năm vấn đề hàng tồn kho đã khiến trên 42.000 doanh nghiệp phải ngừng hoạt động và giải thể”, bà Hằng cảnh báo.  Trong khi đó, giáo sư John Rand, Trường Đại học Copenhagen, Đan Mạch – đơn vị thực hiện khảo sát – khuyến nghị, nhà nước nên quan tâm hơn đến các doanh nghiệp siêu nhỏ vì đây là lực lượng quan trọng trong giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 8 dự đoán của Sotheby’s cho năm 2021      Năm 2019, khi Charles Stwart được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành của Sotheby’s, ông cho biết năm 2020 sẽ là một năm với nhiều thay đổi lớn. Và năm 2020 thậm chí đã có nhiều thay đổi hơn ông tưởng, đại dịch coronavirus đã khiến mùa đấu giá đầu tiên của ông không thể diễn ra. Tuy nhiên, khi sứ mệnh của bạn là đưa một công ty 276 tuổi bước vào tương lai kỹ thuật số, đây có thể là một tín hiệu tốt. Đối với nhà đấu giá, trong cái rủi vẫn có cái may, nó thúc đẩy những thay đổi quan trọng trên thị trường nghệ thuật quốc tế.      Một buổi đấu giá thông thường của Sotheby’s từ trước dịch. Ảnh: ttec  “Tình hình phong tỏa càng kéo dài, những thói quen đã có từ trước Covid-19 càng dễ bị mất đi”, Stewart, ngồi ở hành lang sau tại trụ sở York Avenue của ngôi nhà phía sau triển lãm cho buổi đấu giá bom tấn sắp tới mang tên Old Masters, cho biết. “Tôi không nghĩ là những thói quen trước đó sẽ quay trở lại.”   Không ai cho rằng 2020 là một năm dễ dàng. Sotheby’s đã đi tiên phong với hình thức đấu giá của họ, đó là tạo ra một buổi livestream đấu giá với sự góp mặt của các chuyên gia như những nhân vật trung tâm. “Chúng tôi quay lại với ý tưởng rằng trái tim của một công ty nằm ở độ tin cậy trong quy trình giám định”, Stewart nói. “Đó là điểm khác biệt so với bất kỳ nền tảng trực tuyến nào. Bạn phải nắm rõ thông tin về các chuyên gia để biết họ là ai và vì sao bạn nên trò chuyện với họ.”   Livestream là phản ứng dễ thấy nhất của các nhà đấu giá trước đại dịch. Nhưng nó không phải là phản ứng duy nhất. Năm 2021, Stewart hướng đến nhiều sự thay đổi hơn nữa cho công ty của mình. “Chúng tôi đã có một khoảng thời gian dài để thích nghi”, Stewart nói. “Năm nay thì khác. Chúng tôi biết rằng về cơ bản mình có thể hoạt động trong một môi trường từ xa. Năm nay, câu hỏi đặt ra là đâu là phần chúng tôi muốn đổi mới – phần nào chúng tôi muốn đưa ra chiến lược và phần nào chỉ để cố gắng đối phó trong thời điểm này.”   Từ đó, Stewart quyết định thăm dò ý kiến của đội ngũ lãnh đạo – cũng như các nhân viên của mình – để biết được ý kiến của họ về tương lai của thị trường nghệ thuật. Họ đã đưa ra 8 dự đoán cho năm 2021. Những dự đoán này có lẽ thể hiện suy nghĩ của Sotheby’s về hoạt động kinh doanh của họ hơn là đưa ra dự đoán. Dù sao đi nữa, chúng cũng mở ra một cánh cửa để chúng ta có thể thấy được những cân nhắc nội bộ của một nhà đấu giá lớn là như thế nào.   Những dự đoán của Sotheby’s cho năm 2021:  Các địa điểm mới và sự kiện mang dấu ấn cá nhân  Thế giới nghệ thuật đang thúc đẩy việc giao tiếp trực diện và sự thay đổi trong không gian tổ chức. Khi chúng ta có thể tổ chức những trải nghiệm thực tế an toàn trở lại, sẽ có một sự diễn giải lại hoặc tái tưởng tượng trong các trải nghiệm đó. Chúng ta sẽ thấy mọi người không còn hào hứng với các sự kiện quy mô lớn, thay vào đó họ có nhu cầu lớn hơn đối với các sự kiện tương tác cá nhân, chất lượng cao, áp dụng công nghệ kỹ thuật số phong phú. Thêm vào đó, năm nay sẽ tập trung nhiều hơn vào việc trình diễn nghệ thuật ở các địa điểm độc đáo và sáng tạo, theo cách tận dụng không gian công cộng và trực tuyến.   Mở rộng khách hàng trực tuyến  Năm 2021, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng đối tượng người mua khi việc chuyển đổi công nghệ vẫn đang diễn ra nhanh chóng, và các kênh kỹ thuật số vẫn tiếp tục phát triển. Bộ công cụ kỹ thuật số toàn diện mà khách hàng có thể truy cập giờ đây không chỉ phá vỡ các rào cản truy cập, mà còn giảm nhu cầu xem hoặc sờ trực tiếp các tác phẩm trước khi mua. Do đó, số lượt xem trung bình của một tác phẩm sẽ tăng lên theo cấp số nhân.    Bền vững và thân thiện với môi trường hơn  Giới nghệ thuật sẽ tiếp tục đạt được những bước tiến đáng kể trong việc thúc đẩy các sáng kiến bền vững và giảm lượng khí thải carbon. Từ việc loại bỏ catalogue in sẵn, giấy mời, thùng và bao bì thừa trong vận chuyển và trình bày tác phẩm, đến việc giảm thiểu nhu cầu đi lại bằng đường hàng không quốc tế cho các hội chợ và triển lãm nghệ thuật; ngoài ra giới nghệ thuật đạt được đồng thuận lớn trong việc giảm thiểu lãng phí và kết hợp các thực hành bền vững hơn.  Điều đó sẽ tác động đến cách bản thân nghệ thuật phản ánh những mối quan tâm về cuộc khủng hoảng sinh thái của chúng ta, cũng như những loại hình mà các nhà sưu tầm nghệ thuật đang quan tâm.      Một nhà đấu giá của Sotheby’s, có trụ sở tại Luân Đôn, tổ chức buổi bán hàng ảo vào tối ngày 29 tháng 6. Ảnh: Sotheby’s  Chú trọng đến bản sắc địa phương  Do các hạn chế đi lại, địa phương trở thành một ‘toàn cầu’ mới. Mọi người dành nhiều thời gian hơn bình thường để lưu trú lại quê hương và khu vực của mình, nhờ vậy họ nhận thức sâu sắc hơn về việc bản sắc khu vực đang mất dần đi do toàn cầu hóa. Điều này đồng nghĩa với việc mọi người sẽ quan tâm đến phong cách và văn hóa địa phương hơn, từ đó tác động đến cách thức lẫn những gì các nhà đấu giá và phòng trưng bày chọn để triển lãm. Việc mọi người chuyển hướng khám phá lại vùng đất địa phương của mình cũng khiến tầm quan trọng của các bảo tàng địa phương được nâng cao.   Đấu giá hỗn hợp sẽ thay thế mô hình cũ  Các bộ sưu tập nhiều thể loại gia tăng liên tục vào năm 2020. Những bộ sưu tập này cung cấp các tác phẩm nghệ thuật đương đại, ô tô và hàng thiết kế. Các cuộc đấu giá giới thiệu tài sản nhiều thể loại sẽ tiếp tục diễn ra và thậm chí là tăng lên vào năm 2021. Tương tự như triển lãm tại bảo tàng, các cuộc đấu giá sẽ tổ chức theo một bối cảnh thời đại, chủ đề cụ thể chứ không lộn xộn và tách rời nhau.   Hợp nhất những bên tham gia vào thị trường  Lằn ranh phân chia giữa hội chợ nghệ thuật, phòng trưng bày và nhà đấu giá sẽ vẫn mờ nhạt vào năm 2021, nhất là khi thị trường sơ cấp và thứ cấp sẽ cùng hội tụ ở quy mô lớn hơn hẳn năm ngoái. Từ những rào cản đã bị phá bỏ vào năm 2020, những người tham gia trên thị trường sẽ cùng nhau tái cấu trúc thông qua việc hợp nhất và tổ chức rộng rãi hơn.   Thị trường châu Á tiếp tục phát triển  Năm 2020 đã cho thấy tiềm năng và sức mạnh của thị trường châu Á, với một số lượng lớn người mua mới, trẻ tuổi hơn, cũng như mở rộng cơ sở người mua với sự tham gia của nhiều danh mục. Điều này vẫn sẽ tiếp tục diễn ra vào năm 2021. Nhu cầu dành cho các tác phẩm của nghệ sĩ phương Tây và nghệ sĩ mới nổi sẽ tiếp tục tăng. Đồng thời, thị trường này cũng sẽ tiếp tục chú trọng đến các tác phẩm cổ điển và sang trọng.   Các trung tâm nghệ thuật châu Phi sẽ là điểm thu hút mới  Số lượng các dự án của các nghệ sĩ nổi tiếng trên khắp châu Phi, cùng với sự hào hứng gần đây của công chúng đối với những bức tranh tượng hình của các nghệ sĩ trẻ ở lục địa này, sẽ thúc đẩy mối quan tâm đến nghệ thuật và lịch sử nghệ thuật châu Phi. Điều này sẽ còn gia tăng hơn nữa nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật số trong thị trường này. Một khi lục địa này đã đủ an toàn để mở cửa cho khách du lịch trở thành, các trung tâm khác nhau ở châu Phi sẽ trở thành điểm đến đang phát triển cho nghệ thuât – trong số đó có các thành phố lâu đời như Cape Town, cũng như các thành phố khác như Lagos và Benin, nơi các học viện đẳng cấp thế giới mới đang được xây dựng.  Hà Trang dịch  Nguồn: After Pandemic’s Rapid Change, Sotheby’s Has 8 Predictions for 2021          Author                Quản trị        
__label__tiasang 9 startup sẽ thay đổi thế giới trong năm 2016      9 Start-up thuộc các lĩnh vực y học, năng lượng, công nghệ thông tin được Tuần báo Kinh tế Đức bình chọn sẽ có vai trò quyết định trong năm 2016.        DJI – Tiên phong thương mại hóa drone  Frank Wang được coi là một người nhút nhát. “Nếu gặp may thì có thể tóm được anh ấy ở bộ phận nghiên cứu” – nhân viên của anh cho biết. Wang, 35 tuổi, là nhà sáng lập Dajiang Innovation (DJI). Vẫn như lúc bắt đầu sự nghiệp, Wang luôn say sưa tìm hiểu các vấn đề về kỹ thuật. Anh là người đã đóng góp lớn để hãng chế tạo thiết bị bay (drone) có trụ sở ở Thâm Quyến này trở thành doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này cả về kinh doanh lẫn công nghệ.          Frank Wang và máy bay không người lái của DJI        DJI, thành lập năm 2006, hiện có 4500 nhân viên, có giá trị từ 7 đến 9 tỷ Euro và chiếm 70% thị phần trên thế giới. Lý do khiến DJI thành công là bởi: các drone của họ có thể điều khiển dễ dàng thông qua ứng dụng di động và máy quay phim gắn trên drone có thể quay video với chất lượng cao. Hiện tại, bất kỳ ai dùng loại drone mới nhất của DJI cũng có thể quay những video tuyệt đẹp từ trên không với giá phải chăng.  Nhà sáng lập Wang là một trong những người tiên phong trong việc ứng dụng thiết bị bay dân dụng, những ứng dụng kiểu như cách lính cứu hỏa dùng drone để quan sát đám cháy, Amazon và Bưu điện Đức dùng chúng để vận chuyển bưu kiện.   Hiện nay, DJI đang mở rộng đối tượng khách hàng với việc phát triển một loại drone “nồi đồng cối đá” dành cho nông dân để phun thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng. Bên cạnh đó, Wang vẫn phục vụ khách hàng cá nhân: anh vừa khai trương một cửa hàng với diện tích 800 m2 ở Thâm Quyến.   R3 CEV – cuộc cách mạng với Wall Street  Sự thay đổi có thể diễn ra dưới tác động của ngoại cảnh hay chủ động từ nội lực. 42 ngân hàng hàng đầu thế giới, trong đó có Goldman Sachs, Deutsche Bank và UBS – thiên về giải pháp thứ hai và họ đã liên kết với Start-up R3 CEV. Start-up ở New York này muốn dựa vào blockchain – công nghệ đứng sau đồng tiền ảo Bitcoin – để làm một cuộc cách mạng đối với Wall Street. Ít nhất là như thế.          R3CEV sử dụng công nghệ blockchain – đứng sau đồng tiền ảo Bitcoin để thay đổi cách quản lí giao dịch của ngân hàng.        R3 CEV cùng quản lí thông tin với các ngân hàng. Được thành lập năm 2014 bởi nhà môi giới chứng khoán thành đạt David Rutter, R3 CEV hiện có khoảng 25 nhân viên. Đó là các nhà khoa học máy tính, kỹ sư công nghệ và các chuyên gia ngân hàng, không phải là những người trẻ ở lứa tuổi 25 như các công ty khởi nghiệp khác mà là những chuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm bậc nhất. Mục tiêu của R3 CEV: trở thành một dạng nhà máy tài chính quốc tế, có khả năng lưu lại mọi sự thay đổi chủ sở hữu của cổ phiếu, ngoại tệ hay bất động sản, việc lưu trữ được thực hiện một cách bảo mật nhờ các khóa mật mã. Công nghệ blockchain cho phép thực hiện điều này. Nó cũng ngăn chặn mọi sự sửa đổi sau khi giao dịch đã được đăng ký.   Mọi chủ sở hữu của một cổ phiếu và tất cả hoạt động kinh doanh liên quan đến nó đều có thể được truy xuất. Ngân hàng – bên trung gian thực hiện chức năng này –  không còn cần thiết trong thế giới số và có nguy cơ trở nên lỗi thời. Nếu muốn tồn tại, các tổ chức tài chính phải cố gắng tạo ra một chuẩn riêng dựa vào R3 CEV. Start-up này có những kế hoạch lớn cho năm 2016 và đang đàm phán với các công ty bảo hiểm và các ngân hàng thanh toán bù trừ (clearing house).   uBiome – Đo lường sức khỏe nhờ vi khuẩn  Nhiều người không khỏi lắc đầu khi tưởng tượng hàng triệu triệu vi khuẩn, virus hay các loại nấm ở mọi ngóc ngách trong cơ thể mình. Tuy nhiên, phần lớn các loại vi sinh vật này (microbiome) không những vô hại mà còn có ích (ví dụ chúng giúp cho quá trình tiêu hóa). Một số nhà nghiên cứu cho rằng quần thể vi sinh vật này cũng có vai trò trong một số bệnh như tiểu đường, béo phì hay trầm cảm.           Bộ kittest của ubiome        Giờ đây uBiome muốn làm rõ vấn đề này. Một nhóm ba nhà khoa học đã thành lập start-up này vào năm 2012 ở San Francisco. Công ty đã bán ra bộ giải mã (Testkits) với giá từ 100 đến 400 Euro cho những người trên thế giới muốn giải mã microbiome của mình. Họ chỉ cần thu thập mẫu nước bọt hay phân. uBiome giải mã các thành phần của mẫu này. Khách hàng có thể xem trực tuyến các số liệu và trao đổi với thầy thuốc của mình. Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đánh giá trên 50.000 mẫu nặc danh đã thu lượm được.   Từ đó cho thấy uBiome liên quan đến ba xu hướng chủ đạo trong y học: nghiên cứu về microbiome, để mọi người tự đo lường sức khỏe của mình và việc sử dụng Big Data trong ngành y tế. Vì chỉ có thông qua phương pháp đánh giá này mới chuẩn đoán được các dấu hiệu từ núi dữ liệu khổng lồ, từ đó các nhà nghiên cứu mới có thể phát triển cách tiếp cận để tìm ra phương pháp điều trị.   Dyesol – Pin mặt trời giá rẻ          Pin Mặt trời của Dyesol, có giá chỉ bằng 2/3 so với pin silicon truyền thống cùng hiệu năng.        Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu ghi rõ: chúng ta phải giã từ than, khí đốt và dầu. Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi hạ thấp đáng kể giá thành của năng lượng tái tạo. Và đó chính là mục tiêu của công ty Australia Dyesol. Công ty này phát triển pin Mặt trời từ nguyên vật liệu giá rẻ – perovskites (khoáng vật canxi ti tan ôxít). Vào năm 2009, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã sử dụng khoáng vật này để làm pin Mặt trời.    Kể từ đó, hiệu suất của nó đã tăng lên tới 21%, tốc độ tăng nhanh hơn nhiều so với bất kì loại pin Mặt trời nào khác trước đó. Theo Dyesol, nhờ sự phát triển của công nghệ, giá thành của các module pin Mặt trời có thể giảm chỉ bằng 2/3 so với các pin truyền thống làm từ silicon với cùng hiệu năng.  Thành lập từ năm 2004, nhưng mãi tới những năm gần đây, Dyesol mới dựa vào perovskites. Công ty của Australia này đã thu hút được 120 triệu USD vốn mạo hiểm và dự kiến năm 2016 sẽ giới thiệu một module pin Mặt trời khổ rộng. Năm 2017 sẽ sản xuất thử nghiệm với đối tác đang đàm phán là Thổ Nhĩ Kỳ. Khi đưa vào sản xuất quy mô lớn, module của họ có thể cung cấp điện với giá thành là sáu Cent trên một Kilowatt giờ – thấp hơn so với các nhà máy nhiệt điện chạy than kiểu mới.   Crispr Therapeutics – Công cụ điều trị các bệnh di truyền  Tạp chí khoa học “Science” mới đây bình chọn cơ chế với cái tên rắc rối Crispr-Cas9 là “phát hiện đột phá của năm 2015”; “Kỹ thuật này sẽ thúc đẩy rất mạnh mẽ việc nghiên cứu và phát triển”, theo đánh giá của bà Emmanuelle Charpentier, một trong số các nhà phát minh ra công cụ công nghệ sinh học cực kỳ hữu dụng, nhờ nó, vật chất di truyền của thực vật, động vật và cả con người có thể được cắt ghép đơn giản chưa từng thấy.           Emmanuelle Charpentier, người sáng lập Crispr Therapeutics        Nhà nghiên cứu gốc Paris, Pháp – Charpentier hiện là giám đốc Viện Max Planck về sinh học truyền nhiễm ở  Berlin và là đồng sáng lập Start-up Crispr Therapeutics vào năm 2014. Công ty này ngay lập tức có số vốn khởi nghiệp là 25 triệu USD và sau hơn một năm đã có 40 nhân viên. Bà cho biết, “chúng tôi sẽ tìm cách điều trị các căn bệnh di truyền”. Cho đến nay có khoảng 5000 bệnh loại này đã được biết đến.   Cách đây ít tuần, công ty này đã ký kết một thương vụ làm ăn với công ty công nghệ sinh học Vertex (Hoa Kỳ) trị giá 105 triệu USD, nhằm điều trị căn bệnh xơ nang di truyền, bệnh này có thể gây tổn thương phổi nghiêm trọng. Mới đây tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức) cũng đầu tư 35 triệu để mua cổ phần của Start-up này.  Crispr Therapeutics giúp cắt ghép gene một cách chính xác, cho phép tạo ra những đứa trẻ với bộ gene được thiết kế trước. Cuộc tranh luận về ứng dụng này chắc chắn sẽ được truyền thông chú ý vào năm 2016.   Magic Leap – Công nghệ ảo thuật  Một vài công nghệ đột phá tới mức như một màn ảo thuật, và người điều khiển nó giống như đang phù phép. Rony Abovitz là một người như thế. Đứng đầu start-up Magic Leap ở California, anh sẽ thay đổi mạnh mẽ cách chúng ta nhìn thế giới. Anh muốn chúng ta nhìn thấy các mô hình máy tính 3D ảo hiện lên cùng với các vật dụng thật trong môi trường thực tế.           Con cá voi ảo do Magic Leap tạo ra hiện hữu giữa phòng tập gym dưới sự chứng kiến của các em học sinh.        Trong phòng tập gym, một con cá voi ảo nhảy lên khỏi mặt sàn, trình diễn như thật. Bởi vì, những nhân vật ảo và những vật dụng thật đều được tính toán mô phỏng và tuân thủ định luật hấp dẫn. Kỹ thuật để thực hiện điều này vẫn là bí mật.   Magic Leap tiến xa hơn rất nhiều so với những ứng dụng thực tế ảo dành cho thiết bị di động hiện nay và họ đã thu về được 827 triệu USD tiền đầu tư và đang tiến tới mục tiêu gọi vốn 1.4 tỉ USD. Những nhà đầu tư đã bị Abovitz thuyết phục và sớm thôi, anh ta sẽ làm kinh ngạc cả thế giới với một thế hệ internet mới: Những kiến trúc sư cặm cụi bên những mô hình ảo, bác sĩ quan sát mô hình cơ thể ảo để phẫu thuật, game thủ chiến đấu với đối thủ ảo trong phòng khách của mình. Thế giới sẽ trở nên hoàn toàn khác.  Faraday Future – Đối thủ của Tesla?  Ngay trước khi khai mạc Hội chợ điện tử CES đầu tháng giêng ở Las Vegas, start-up Faraday Future đã trình diễn ở California một hình mẫu ô tô điện trong tương lai sẽ có mặt trên thị trường năm 2017. Một startup về ô tô điện tầm cỡ Tesla?           Ô tô demo của Faraday Future        Cho đến nay chỉ có một phỏng đoán: Faraday Future muốn sản xuất hàng loạt ô tô điện không người lái nhưng không phải để bán cho khách hàng. Start-up này coi mình là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đi lại: ai muốn sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp này có thể mua số km dự định sử dụng và tự do lựa chọn xe cỡ nhỏ đưa đi làm, dùng xe SUV cho các chuyến đi chơi cuối tuần xa hơn hoặc một chiếc mui trần để làm một chuyến đi biển. Được biết  start-up này dự kiến cho ra đời bảy loại xe khác nhau, nhà máy sản xuất sẽ được xây ở gần Las Vegas với khoản đầu tư cỡ một tỷ USD.   Có khả năng Apple là một nguồn tài chính hỗ trợ start-up này hoặc tỷ phú người Trung Quốc Jia Yueting, nhà sáng lập dịch vụ video trực tuyến Leshi Television, vốn được coi là một Netflix của Trung Quốc.  Điều chắc chắn là: họ có một tỉ USD được đầu tư cho giai đoạn hạt giống.Và startup này tiêu tiền khá thông minh: họ thu hút được nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế, phát triển, chế tạo và bán hàng, giống như đối thủ Tesla. Hiện họ đã có khoảng 500 nhân viên.    Bước vào thị trường không có nhiều rào cản: ô tô chạy động cơ điện đơn giản hơn nhiều so với xe chạy bằng động cơ đốt trong. Hơn nữa giá ác quy đang giảm. Vì Trung Quốc đổ nhiều vốn vào ngành này nên họ hết sức coi trọng những công ty mới.    Exiii – Cánh tay giả 250 Euro          Đội ngũ sáng lập đeo bàn tay giả của Exiii        Một người bị tai nạn, mất cánh tay có khi phải chi trên 10.000 Euro để làm cánh tay giả thay thế, ở nhiều nước nạn nhân phải tự bỏ tiền túi. Trong khi đó start-up Exiii ở Tokyo chỉ cần 250 Euro cho toàn bộ cánh tay giả, đây là giá thành sản xuất của 60 bộ phận khác nhau làm bằng chất liệu nhựa, sản xuất bằng máy in 3-D. Một thiết bị di động với cảm biến hồng ngoại nhận biết hoạt động của cơ bắp ở dưới da, rồi điều khiển bàn tay robot với ba động cơ để cử động ngón cái, ngón trỏ và ba ngón còn lại (ba ngón có chung cử động).   Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên đang được triển khai. Người có bàn tay giả này có thể buộc dây giày hoặc lật trang sách.   Genta Kondo, nhà sáng lập tiết lộ, “Những sản phẩm tay chân giả rồi sẽ như các phụ kiện thể thao sành điệu hiện nay”. Rất có thể tới đây cả những người khỏe mạnh bình thường cũng đến thử các chi nhân tạo khác nhau để có thể chạy nhanh hơn hay mang vác được những vật nặng hơn.   Exiii ra đời năm 2014 và không đòi hỏi nhiều vốn. Thông qua crowdfunding, công ty đã thu gom được  26.000 Euro. Thêm vào đó là khoản tiền 190.000 Euro thu được từ giải thưởng một cuộc thi. Việc thương mại hóa sản phẩm sẽ diễn ra trong năm 2016.  Relayr  – Chiếm vị trí then chốt trong Internet of Things?  Một khối nhựa hình chữ nhật màu nâu sẽ thúc đẩy Internet of Things. Chí ít thì đó là ý tưởng của start-ups Relayr. Công ty ở Berlin này đã phát triển một thiết bị gọi là “WunderBar”. (Kì diệu).          Thanh WunderBar của Relayr có thể bẻ ra thành các miếng, mỗi miếng chứa một cảm biến.        WunderBar có hình dạng giống như một thanh sô cô la với các miếng có thể bẻ ra, trong đó mỗi miếng có các cảm biến ánh sáng, âm thanh, cảm biến chuyển động và các chip vô tuyến truyền đi các giá trị đo được. Nó cho phép các nhà thiết kế có thể nhanh chóng tạo ra các prototype cho Internet of things (internet của vạn vật), chẳng hạn như gắn một miếng WunderBar vào máy móc để phát hiện các tiếng động lạ, cán bộ kỹ thuật nhận được tín hiệu sẽ đến tìm hiểu và khắc phục tại chỗ.   Relayr đã bán được hàng nghìn bộ cảm biến này.  Tuy nhiên mảng kinh doanh chính của doanh nghiệp này là nền tảng đám mây mở (Cloud-Plattform), trên đó các dữ liệu thu thập về được hiển thị, quản lý và phân tích.                                                                                                                                                                                                              Ví dụ, Relayr đã điều khiển mạng lưới các bộ điều khiển hệ thống sưởi và chiếu sáng trong tòa nhà của Cisco ở Berlin và Manchester. Những khách hàng khác là Coca-Cola, Nestlé hay Bosch Siemens.  Vốn khởi điểm 2,3 triệu USD của của Relayr là của nhà sáng lập Josef  Brunner vào năm 2013, từ tiền bán doanh nghiệp đầu tiên của ông là hệ thống quản lý năng lượng JouleX, cho Cisco – thu được trên 100 triệu Euro.   Relayr còn nhận được thêm 11 triệu USD từ  Kleiner Perkins Caufield & Buyers, một trong những quỹ đầu tư mạo hiểm nổi tiếng nhất thế giới. Relayr muốn mở rộng sang thị trường quốc tế vào năm 2016 để có cơ hội chiếm vị trí then chốt về Internet of Things.   Nguyễn Xuân Hoài lược dịch  Nguồn:http://www.wiwo.de/technologie/forschung/virtuelle-realitaet-energie-gentechnik-diese-start-ups-stehen-vor-dem-grossen-durchbruch/12754262.html        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ác mộng thuở nhỏ có liên quan đến nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ, Parkinson      Những giấc mơ từ thuở nhỏ có thể dự báo những sự kiện sẽ xảy ra vào 40 năm sau không? Câu trả lời là có, theo kết quả nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trên tạp chí eClinicalMedicine.    Những đứa trẻ càng hay mơ thấy ác mộng thì chúng càng có nhiều khả năng bị chẩn đoán suy giảm nhận thức hoặc mắc bệnh Parkinson. Ảnh: Pressmaster / Shutterstock  Cụ thể, những đứa trẻ trong độ tuổi từ 7 đến 11 thường xuyên gặp ác mộng có thể bị suy giảm nhận thức (biểu hiện chính của sa sút trí tuệ) cao gần gấp đôi khi chúng bước sang tuổi 50. Và ở tuổi 50, chúng có thể mắc bệnh Parkinson cao gấp 7 lần.  Vào năm 2022, BS. Abidemi I. Otaiku (Khoa Thần kinh, Bệnh viện Thành phố Birmingham) đã phát hiện ra rằng nhiều người trung niên, người già thường xuyên gặp ác mộng có thể mắc chứng mất trí nhớ hoặc mắc bệnh Parkinson cao hơn gấp đôi trong tương lai.  Một tỷ lệ lớn những người thường xuyên gặp ác mộng khi trưởng thành cũng cho biết từ nhỏ họ đã hay gặp ác mộng, điều này khiến ông tự hỏi liệu tần suất mơ thấy ác mộng trong thời thơ ấu có thể dự đoán sự tiến triển của chứng mất trí nhớ hoặc bệnh Parkinson sau này trong cuộc sống hay không.  Để tìm hiểu, BS. Otaiku đã sử dụng dữ liệu từ nghiên cứu nổi tiếng của Anh vào năm 1958, theo dõi cuộc sống của tất cả trẻ em sinh ra ở Anh, Scotland và xứ Wales trong tuần từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 3 năm 1958.  Khi những đứa trẻ lên bảy (1965) và 11 tuổi (1969), mẹ của chúng trả lời một loạt câu hỏi về sức khỏe của chúng, bao gồm cả việc chúng có gặp ác mộng trong ba tháng trước đó không (có/không).  Ông đã nhóm 6.991 trẻ em dựa trên tần suất mơ thấy ác mộng ở độ tuổi 7 và 11: “không bao giờ”, “thỉnh thoảng” hoặc “liên tục”. Sau đó, ông sử dụng phần mềm thống kê để xác định xem liệu những đứa trẻ mơ thấy ác mộng thường xuyên hơn có thể bị suy giảm nhận thức hoặc bị chẩn đoán mắc bệnh Parkinson khi chúng bước sang tuổi 50 hay không (2008).  Kết quả rất rõ ràng. Những đứa trẻ càng hay mơ thấy ác mộng thì chúng càng có nhiều khả năng bị chẩn đoán suy giảm nhận thức hoặc mắc bệnh Parkinson.  Đáng chú ý, so với những đứa trẻ không mơ hoặc chỉ mơ thấy giấc mộng đẹp, những đứa trẻ gặp ác mộng dai dẳng có khả năng bị suy giảm nhận thức cao hơn 76% và có khả năng mắc bệnh Parkinson cao hơn 640%. Con số này tương đương nhau ở cả nam và nữ.  Những kết quả này cho thấy rằng thường xuyên gặp ác mộng trong thời thơ ấu có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tiến triển về não như sa sút trí tuệ hoặc bệnh Parkinson sau này trong cuộc sống. Nhóm nghiên cứu cũng đạt được một số kết quả thu vị, rằng việc giảm tần suất ác mộng trong giai đoạn đầu đời có thể là cơ hội để ngăn ngừa cả hai chứng bệnh từ sớm.  Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng quuyết định tần suất chúng ta gặp phải ác mộng khi còn nhỏ. Và một gen làm tăng nguy cơ gặp ác mộng của chúng ta (PTPRJ) cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer khi về già. Vì vậy, có thể những cơn ác mộng và chứng bệnh về não đều do một bộ gen chung gây ra.  Trong thời gian tới, BS. Otaiku sẽ sử dụng điện não đồ (một kỹ thuật đo sóng não) để xem xét các lý do sinh học gây ra ác mộng ở trẻ em.  Về lâu dài, ông sẽ sử dụng những kiến ​​thức này để phát triển các phương pháp điều trị mới cho tất cả những người gặp rắc rối với các cơn ác mộng. Sau rốt, ông mong muốn có thể giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ và sức khỏe tinh thần của họ, đồng thời giảm nguy cơ mắc sa sút trí tuệ hoặc bệnh Parkinson sau này trong cuộc sống.  Anh  Thư lược dịch  Nguồn:   Children’s bad dreams linked to a higher risk of dementia and Parkinson’s disease in adulthood, finds new study    Author                .        
0.04293381037567084
__label__tiasang Accelerator Lab – Thử nghiệm tinh gọn trong xây dựng quy trình chính sách      Hoạch định chính sách cần bằng chứng tốt hơn mà các thử nghiệm nhanh có thể giúp ích.            Cuối năm 2019, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (UNDP) đã ký Biên bản thỏa thuận với Thành phố Đà Nẵng giúp phát triển mô hình City/Innovation Lab – một không gian sáng tạo để thử nghiệm các phương thức mới nhằm giải quyết các vấn đề phát triển của thành phố hoặc chính quyền. Với phương châm đặt người dân làm trọng tâm, đây là nơi có thể kêu gọi sáng kiến từ cộng đồng, thử nghiệm các sáng kiến đó trước khi đưa vào ứng dụng thực tế, nhằm gia tăng khả năng thích ứng của thành phố trong quá trình phát triển. Rác thải là dự án dịch vụ công đầu tiên được thực hiện – dưới sự dẫn dắt của Phòng Thí nghiệm Tăng tốc UNDP (UNDP Accelerator Lab Vietnam, gọi tắt AccLab) và đối tác là Sở Tài nguyên và Môi Trường (TN&MT) thành phố Đà Nẵng.             Điểm nghẽn của dòng chảy rác thải     Mỗi ngày Đà Nẵng tạo ra hơn 1.000 tấn rác, nhưng phương pháp xử lý chính vẫn chỉ là chôn lấp. Bãi rác duy nhất tại đây liên tục bị quá tải, thậm chí có nguy cơ đóng cửa nếu không sớm can thiệp. Chính quyền thành phố cũng nhận ra cần thay đổi cách làm này.     Trong vòng 15 năm qua, ở Đà Nẵng không thiếu những sáng kiến giải quyết việc phân loại rác. Mặc dù thành công khi phân loại ở cấp độ gia đình, các chương trình đều có hạn chế là chưa thể giải quyết được điều gì sẽ xảy ra sau khi thu gom. Vì thành phố chưa có chuỗi cung ứng đầy đủ để chứa và vận chuyển riêng biệt các loại chất thải khác nhau, hầu hết các loại rác khác nhau đều đi chung một xe về bãi chôn lấp. Người dân Đà Nẵng được nhóm khảo sát phản ánh rằng họ “không cảm thấy có động lực để phân loại”.           Bản đồ dòng chảy rác thải ở Đà Nẵng | Ảnh: AccLAB/ UNDP           Câu chuyện tương tự cũng đang xảy ra ở phần lớn đô thị như Hà Nội, Hồ Chí Minh. Dưới góc nhìn hệ thống, đây là hậu quả không lường trước được của chính sách can thiệp cục bộ. Điều này có thể khiến các biện pháp can thiệp khác sau này trở nên khó khăn hơn bởi niềm tin của công dân từng bị lung lay.     Đứng trước bài toán này, nhóm AccLab lập tức bắt tay vào thực hiện với thử thách phải hoàn thành trong thời gian ngắn nhất có thể. Mặc dù tuổi đời chưa đến 1 năm, AccLab được xem là mũi nhọn đổi mới sáng tạo của UNDP, chuyên tò mò khám phá những vấn đề “khó nhằn” đòi hỏi tính phản biện cao. Quan điểm của AccLab là thử nghiệm tinh gọn, ra kết quả nhanh chóng, phương án có thể đúng hoặc sai, nhưng tạo được cơ sở thực tiễn để từ đó lựa chọn giải pháp thích hợp.     Trong dự án với Đà Nẵng, chị Phan Hoàng Lan, anh Nguyễn Tuấn Lương và chị Bùi Hòa Bình, cán bộ đổi mới sáng tạo của AccLab chia sẻ: “Mong muốn của chúng tôi là cùng chính quyền tạo ra giải pháp bền vững, gắn kết được nhiều cộng đồng địa phương nhằm đạt được tác động lan tỏa trên cả hệ thống.”       Thử nghiệm tinh gọn trước khi ra chính sách công       Sau khi thấy phần lớn dữ liệu nghiên cứu khoa học trước đây về chất thải ở thành phố mới là những ước tính sơ bộ và còn nhiều ẩn số, AccLab nhận thấy cần phỏng vấn người dân địa phương và làm các khảo sát của riêng mình để có cái hiểu sát thực nhất. Họ thu thập nhiều thông tin theo ngữ cảnh về niềm tin, thái độ, các yếu tố văn hóa đang củng cố mô hình và vấn đề hiện tại để từ đó xác định điểm nghẽn trong hệ thống rác thải của Đà Nẵng.     Thật thú vị khi quá trình này mở ra nhiều cơ hội để hiểu rõ các nhà quản lý công. Chẳng hạn với phân loại rác, khi đề xuất ý tưởng làm thử nghiệm xem mô hình phân loại rác nào phù hợp với cư dân nơi đây, nhóm AccLab nhận được những câu hỏi như : ‘Tại sao phải tốn công nghiên cứu một vấn đề quá hiển nhiên như vậy? Rõ ràng mọi người không phân loại rác vì họ thiếu thùng rác tái chế, chỉ cần cho người dân thùng rác mới là vấn đề được giải quyết’. Có thể nói đằng sau thái độ này là tư duy cho rằng đây là vấn đề đơn giản và chỉ cần đi thẳng vào giải pháp là xong.              Thử nghiệm phân loại rác tại Đà Nẵng với thùng rác truyền thống (màu xanh) và thùng rác tái chế thông thường (màu vàng) | Ảnh: AccLAB/ UNDP           Từ khía cạnh khoa học hệ thống mà nói, việc đi ngay đến kết luận và áp dụng giải pháp trước khi cân nhắc kỹ các giả định (điều mình cho là đúng) rất dễ gây đến các hậu quả phụ không mong muốn và nhiều khi phản tác dụng. Nếu muốn xây dựng các giải pháp bền vững, nhà nghiên cứu cần kiểm chứng suy nghĩ ban đầu và đưa ra căn cứ thuyết phục giúp chính quyền xác định được mô hình phân loại rác phù hợp với đặc thù từng địa bàn.     Vì vậy nhóm AccLab đã làm thí nghiệm tinh gọn đầu tiên – đặt một thùng rác tái chế (màu vàng) cạnh thùng rác thông thường (màu xanh) tại 2 khu dân cư để kiểm chứng điều nhiều người cho là hiển nhiên trên. Thử nghiệm này đã kéo dài trong hai đợt, mỗi đợt 10 ngày; có cử người quan sát, cân đong, ghi chép số liệu chất thải thu được và ghi lại những tương tác của người dân với từng thùng rác. Nhóm muốn xác minh 2 giả định:      (i) Nếu cho người dân thùng rác tái chế, họ sẽ bắt đầu phân loại, và  (ii) Nếu người dân vẫn không phân loại, hãy chỉ cho họ cách làm đúng (vd dùng áp phích, băng rôn,…), họ sẽ phân loại tốt hơn.        Vậy kết quả ra sao? Nhóm quan sát thấy trong 20 ngày, người dân không thực sự sử dụng thùng tái chế! Họ lờ chúng đi hoặc dùng lẫn lộn như thùng rác thông thường. Thậm chí có người còn phàn nàn vì thùng rác tái chế khiến họ thấy phiền phức. Cách giải quyết tưởng chừng như hiển nhiên lại khó đạt được hiệu quả như mong muốn.     Nếu không có tinh thần thử sai, chắc hẳn mọi người sẽ nghĩ đây là kết quả bi quan. Nhưng ngược lại, AccLab nhận thấy thí nghiệm này là bằng chứng tích cực giúp chính quyền tiết kiệm được hàng tỷ đồng ngân sách có thể sẽ bị lãng phí nếu cứ đầu tư cho những cơ sở hạ tầng không được sử dụng đúng mục đích.     Sau khi thí nghiệm điều ‘hiển nhiên’, AccLab bước sang thí nghiệm điều ‘chưa biết’. Từ quá trình quan sát người dân đổ rác, họ nhận ra thùng rác hiện tại có nắp đậy quá dễ mở và không có cơ chế nào ngăn các loại rác không mong muốn. Một khi đã có người vứt sai rác, những người khác cứ tiếp tục theo như vậy. Thùng rác trở nên bẩn thỉu và chẳng ai muốn vứt rác sạch có thể tái chế vào đó. Nói một cách đơn giản, mô hình phân loại hiện tại khiến việc thực hiện những hành vi vứt rác sai quá dễ dàng và khiến người ta ít có động lực để phân loại đúng.         Nhằm giải quyết vấn đề này, trong giai đoạn 3 của thí nghiệm, AccLab thay thùng rác tái chế thông thường (màu vàng) bằng thùng rác lưới dễ nhìn thấy bên trong và có thiết kế bắt mắt . Thiết kế này thực chất là sáng kiến có sẵn do hội phụ nữ Đà Nẵng từng thí điểm. AccLab lặp lại quá trình thử nghiệm để kiểm tra hai giả thuyết khác:      (iii) Nếu thùng rác lưới có lỗ nhỏ vừa cho rác tái chế nhưng không để lọt túi rác thông thường thì mọi người sẽ ít đổ rác sai hơn, và  (iv) Nếu thiết kế mới khiến mọi người nhìn thấy rõ chất thải được bỏ vào bên trong, mọi người sẽ ít đổ rác sai hơn (vì thấy xấu hổ khi người khác nhìn thấy rác họ vứt sai); và sẽ tăng cường hành vi phân loại đúng (vì có động lực khi nhìn thấy những người khác đã làm như vậy từ trước).        Kết quả lần này vượt ngoài mong đợi. Lượng chất thải đổ sai ở thí nghiệm ban đầu (từ 42 – 57kg) đã giảm xuống gần như bằng 0. Số lượng người sử dụng thùng rác tái chế dạng lưới tăng hơn 5 lần. Hơn 90% người dân được khảo sát cho biết họ đồng ý chính quyền áp dụng mô hình này trên quy mô toàn thành phố. Những người ve chai (thu gom giấy, phế liệu, vỏ chai…) không cần lục đồ trong thùng chứa rác hỗn hợp, mà có thể mua lại từ những tập rác đã phân loại. Quan trọng nhất, chính quyền có thêm lựa chọn khả thi để đầu tư cơ sở hạ tầng.           Thử nghiệm phân loại rác tại Đà Nẵng với thùng rác truyền thống (màu xanh) và thùng rác tái chế dạng lưới | Ảnh: AccLAB/ UNDP           Trong quá trình quan sát người dân tương tác với các thùng rác, nhóm AccLab nhận thấy một điều thú vị. Thử nghiệm diễn ra ở 2 khu chung cư, nhưng ở 1 bên khu dân cư thì có kết quả cao hơn hẳn, vì tổ trưởng dân phố luôn tích cực làm gương và quét dọn mỗi sáng. Trong khi bên còn lại, một vài chủ hộ nghiện rượu và đánh bạc hiếm khi đổ rác đúng chỗ khiến những hộ xung quanh có xu hướng bắt chước theo. Như vậy, người đứng đầu cộng đồng và hành vi của hàng xóm đều có thể đóng vai trò ảnh hưởng lớn tới hành vi của người dân, và cần được cân nhắc khi thiết kế chính sách.     Thực sự, những sáng kiến thay đổi hành vi liên quan rất nhiều đến việc hiểu biết rõ văn hóa, tập quán, tâm lý, thói quen hoặc tình trạng kinh tế của người mình muốn tác động đến. Mặc dù chính quyền có thể dùng quyền lực của mình để thúc ép việc thay đổi – ví dụ: ban hành lệnh cấm, tăng chế tài phạt, thậm chí cưỡng chế không thu gom rác trong trường hợp vi phạm… – nhưng các phương pháp tiếp cận mang tính mềm dẻo, tinh tế và tự tạo động cơ cũng tỏ ra hữu hiệu.       Tính đến những người bị ‘bỏ quên’       Một điều đáng lưu ý khác là khi thiết kế chính sách môi trường, chính quyền thường không tính đến một vài nhân tố xã hội thuộc khu vực phi chính thức – chẳng hạn những người ve chai. Nếu mô hình phân loại rác dân cư thành công thì những người thu gom này bị ảnh hưởng ra sao? Làm thế nào để bù đắp cho họ? Trong trường hợp không đưa ra được lựa chọn thay thế hợp lý, những người này sẽ dịch chuyển đi đâu và gây tác động gì? Theo UNDP, một chính sách tốt luôn phải xem xét sự tác động đến tất cả các bên liên quan để có được kết quả bao trùm và bền vững, nếu không vấn đề mới sẽ nảy sinh trên nền giải pháp đã thực hiện.     Thông qua MIT Sense­able Cities Lab, nhóm thử nghiệm tại Việt Nam biết được thành phố São Paulo (Brazil) đã từng làm thử nghiệm tinh gọn sử dụng GPS để theo dõi đường đi phân loại rác của những người ve chai.Họ nhận ra rằng những người ve chai đã phụ trách gần 90% thị phần thu gom rác tái chế. Sau khi bàn bạc, chính quyền quyết định trả tiền cho những người ve chai làm nốt 10% còn lại thông qua các hợp đồng mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR*); đồng thời cung cấp công cụ, đồ bảo hộ lao động và cho phép họ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, khám sức khỏe định kỳ, tập huấn vệ sinh an toàn lao động… Kết quả, rác được thu gom đến nơi cần đến và những người ve chai tham gia có thu nhập lên đến 500 USD/tháng. Từ năm 2015, các hợp đồng EPR trở thành yêu cầu môi trường bắt buộc tại São Paulo.           Chính sách xử lý rác thải cần bao trùm cả những người ở khu vực không chính thức | Ảnh: CFB         Ở Việt Nam, những người thu gom không chính thức cũng đóng vai trò quan trọng tương tự. Đây sẽ không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan đến lao động, dân sinh và xã hội. Do vậy, khi làm chính sách, chính quyền cần dự báo trước đến các hậu quả và những điều phát sinh trước khi nhân rộng các giải pháp có ảnh hướng đến nhiều người. Để làm được điều này, Đà Nẵng cần sớm bắt tay vào nghiên cứu và thử nghiệm để có số liệu thực chứng trước khi đi vào thảo luận hoạch định chính sách.     Giá trị của các yếu tố vô hình       Nhìn chung, những người làm chính sách ở bất kỳ nơi nào trên thế giới thường phải hoạt động dưới áp lực lớn, phản ứng tự nhiên của họ là tìm kiếm các giải pháp nhanh chóng cho phần nổi của vấn đề. Nhiều chính sách cho một loạt vấn đề phức tạp – từ ô nhiễm nhựa đến bất bình đẳng – đều chỉ tập chung vào những vấn đề hữu hình như đầu tư vào cơ sở hạ tầng hoặc máy móc công nghệ, trong khi mấu chốt vấn đề lại thường nằm ở các điều vô hình như tư duy, thói quen, chuẩn mực xã hội hoặc mô hình tăng trưởng không bền vững.     Những thử nghiệm tại Đà Nẵng hướng đến các giá trị rất khác biệt so với quy trình hiện hành trong thiết kế và quản lý chính sách công. Việc nghiên cứu, thực hiện các thử nghiệm nhanh sẽ giúp hiểu được hành vi của người dân, loại bỏ các giải pháp “bề nổi” tưởng chừng như hiển nhiên, xác định những giải pháp có tiềm năng và điều chỉnh dần trước khi ứng dụng trên quy mô rộng lớn. AccLab cho biết chi phí thử nghiệm tinh gọn “không quá lớn” so với quy mô chương trình phân loại rác của Đà Nẵng (224 tỷ đồng) và có tiềm năng giúp khoản đầu tư của thành phố hiệu quả hơn. Đây là mô hình đáng học hỏi cho nhiều quá trình ra quyết định ở các cấp.     Mặc dù dự án chỉ thực hiện ở quy mô nhỏ, nhưng qua đây nhóm cũng đã chứng minh được giá trị của mô hình thử nghiệm tinh gọn. Với sự hợp tác cởi mở của Sở TN&MT Đà Nẵng, nhóm AccLab đã giúp xây dựng một mô hình phân loại rác hiệu quả và thân thiện với người dân. Việc thử nghiệm nhỏ trước rồi nhân rộng sau sẽ giúp việc thiết kế chính sách bám sát thực tế và linh động hơn. Thử nghiệm tinh gọn cũng khác biệt so với cách thức thí điểm truyền thống khá tốn kém và có khi lên đến hàng năm trời. Cách tiếp cận này cũng cho thấy quá trình triển khai thực hiện chính sách công cần linh động, mềm dẻo để đưa ra các điều chỉnh, thay đổi phù hợp khi cần thiết.     Không chỉ dừng lại ở vấn đề rác thải, trong năm 2020, AccLab sẽ còn hợp tác với Đà Nẵng để thử nghiệm nhiều chủ đề thú vị khác. “Chúng tôi sự thay đổi bền vững cần đến từ việc hiểu sâu vấn đề và đi kèm với các hành động được kiểm chứng trên thực tế, lấy người dân là trung tâm, và tiếp cận một cách có hệ thống. Qua việc tích tiểu thành đại, từng câu chuyện thành công nhỏ là từng bước gần hơn tới xây dựng một quy trình chính sách hiệu quả, bám sát thực tế hơn” – các đại diện AccLab chia sẻ. Họ mong một ngày nào đó, các địa phương và cơ quan quản lý nhà nước sẽ thấy được giá trị của cách tiếp cận này, đồng thời xây dựng được các phòng thử nghiệm chính sách của riêng mình tương tự như cách mà AccLab của UNDP đang làm./.     __________________________    Ghi chú:  EPR* – Extended Producer Responsibility – Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, tức yêu cầu các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm thu gom, xử lý sản phẩm sau khi thải bỏ.     Tìm hiểu thêm cách thức sử dụng thử nghiệm trong xây dựng chính sách của AccLab liên hệ: phan.hoang.lan@undp.org, bui.hoa.binh@undp.org và nguyen.tuan.luong@undp.org     Nguồn: KHPT/http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/accelerator-labthu-nghiem-tinh-gon-trong-xay-dung-quy-trinh-chinh-sach/20200302073630672p1c785.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Accelerator: Làm sao để hiệu quả hơn nữa?      Phong trào khởi nghiệp công nghệ phát triển dẫn theo sự bùng phát của các hoạt động hỗ trợ xung quanh, trong đó có mô hình thường gặp: Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp. Ở Việt Nam, mô hình ươm tạo phổ biến là Accelerator (khóa tăng tốc khởi nghiệp). Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn: các vườn ươm hiện tại có hoạt động thực sự hiệu quả không?       Accelerator có vai trò thiết thực với các nhóm khởi nghiệp ở giai đoạn đầu tiên. Thế nhưng để vận hành một Accelerator đúng nghĩa và hiệu quả chưa từng là câu chuyện dễ dàng. Để làm được điều đó, Accelerator phải kết hợp được các yếu tố cần thiết nhất và tối giản các hoạt động về số lượng để nâng cao chất lượng. Từ các bài học đến từ các nước bạn, bên dưới là ý kiến của tác giả về những điều sẽ giúp các Accelerator trong nước tham khảo để hoạt động hiệu quả hơn:  Đừng giới hạn kênh truyền thông tiếp cận cộng đồng  Trong vòng tuyển chọn hạt giống, các Accelerator thường giới hạn việc tuyển chọn trong vòng mối quan hệ của mình hoặc chỉ làm vài hoạt động kêu gọi trên mạng xã hội. Cộng đồng khởi nghiệp không thực sự quá lớn nên nếu làm như vậy, chính các Accelerator đang tự giới hạn mình rất nhiều vì đã bỏ qua các nơi có thể tiếp cận các nguồn dự án mới mẻ khác, ví dụ như thông qua kênh trường học, các diễn đàn trường học hay sinh viên sáng tạo, kênh báo chí chính thống,…  Dành ra vài phút trò chuyện với người ứng tuyển  Tạo dựng bảng câu hỏi nhằm mục đích lựa chọn những hồ sơ đạt đủ tiêu chuẩn là một điều tốt, thế nhưng vẫn rất nhiều nhân tài bên ngoài không có khả năng giỏi ăn giỏi nói, thậm chí nhiều người chỉ có thể tập trung làm ra được sản phẩm thay vì “thao thao bất tuyệt” về mô hình kinh doanh siêu lợi nhuận trong tương lai. Thành ra, hoặc là Accelerator có thể yêu cầu người ứng tuyển tự quay video giới thiệu về bản thân trong đôi ba phút, hoặc lý tưởng hơn cả là dành ra vài phút trò chuyện qua mạng hoặc trực tiếp cũng là cách giảm thiểu được những ý tưởng hay ho bị loại vì không biết cách thể hiện bằng con chữ.  Xây dựng chương trình tập trung vào một yếu tố chính  Nội dung được đào tạo trong Accelerator thường quá tham so với khả năng tiếp thu của người sáng lập. Ở giai đoạn Accelerator, đội ngũ sáng lập có thể chưa cần biết tới những kỹ năng “râu ria” như cách thức gọi vốn, kỹ năng quản lý tài chính,… – vốn dĩ những kỹ năng này sẽ được rèn giũa và tích luỹ kinh nghiệm theo thời gian. Thay vào đó, chương trình đào tạo chỉ nên tập trung thứ quan trọng nhất: xây dựng và phát triển sản phẩm. Không có sản phẩm thì không khởi nghiệp được.  Ở Thái Lan có một chương trình đào tạo khởi nghiệp rất hay mang tên Disrupt University do ông Krating Poonpol thành lập. Chương trình này mỗi khoá chỉ nhận đào tạo tối đa 30 bạn trẻ mong muốn khởi nghiệp và có khả năng trở thành một người khởi nghiệp thực thụ. Disrupt University chỉ tập trung giúp những bạn trẻ này phát triển tư duy về sản phẩm và làm sao để sản phẩm có thể tiếp cận đến 100 khách hàng hoặc người dùng đầu tiên. Ông Krating chia sẻ rằng, ở giai đoạn mới bắt đầu tìm hiểu khởi nghiệp thì khó có thể yêu cầu một người có thể hoàn thiện tất cả những kỹ năng kinh doanh như một người khởi nghiệp đã hơn 10 năm kinh nghiệm. Nếu học nhiều hay đón nhận nhiều thông tin, người khởi nghiệp sẽ “bội thực” và bắt đầu loay hoay không biết những yếu tố nào là trọng tâm. Và ông Krating cũng tin rằng điều quan trọng nhất đối với một người khởi nghiệp đó chính là sản phẩm, có thể nói một cách khác, sản phẩm là linh hồn của họ, cả hai không thể tách rời.  Mentorship  Một số Accelerator tin rằng việc có những tên tuổi nổi tiếng trong giới kinh doanh, hay những CEO hàng đầu trong nước sẽ giúp cho Accelerator của họ trở nên thật thu hút với người khởi nghiệp. Tuy vậy, đối với người khởi nghiệp, họ cần những người cố vấn không chỉ hiểu việc họ đang làm mà còn hiểu rất rõ những cảm xúc hay khó khăn mà họ đang đối mặt ở giai đoạn đầu khởi nghiệp. Những người cố vấn tốt nhất cho giai đoạn Accelerator là những người khởi nghiệp có tinh thần đang ở phong độ tốt nhất, vừa gọi vốn được ở giai đoạn seed – funding hoặc series A, B (không qua quá series B), như vậy sẽ không tạo ra khoảng cách quá xa giữa người vừa mới bắt đầu khởi nghiệp và người khởi nghiệp vừa có vài năm kinh nghiệm đi trước (khoảng cách hợp lý là ba năm).  Ngoài ra, cần có một hợp đồng hợp thức hoá công việc giữa người cố vấn và người khởi nghiệp. Trên nguyên tắc, cả hai phải ký hợp đồng bảo mật thông tin trước khi bắt đầu đi vào việc cố vấn. Bên cạnh đó, người cố vấn cũng phải thể hiện rõ trách nhiệm và đề xuất mong muốn của mình đối với người khởi nghiệp. Nếu không, hoạt động cố vấn hay tư vấn cho dự án chỉ dừng lại như một buổi café trao đổi thông thường và không có lợi ích về lâu về dài cho tất cả các bên.   —–  *Đồng sáng lập accelerator SeedforAction        Phân biệt Acceleraotor và Incubator       Có  hai cụm từ thường được nhắc đến khi nói về “hoạt động ươm tạo ý tưởng  hỗ trợ khởi nghiệp” nhưng ít người có thể phân biệt rõ ràng: Accelerator  và Incubator.      “Accelerator” được hiểu như một hoạt động tiếp nhận  những ý tưởng sơ khai, sau đó sàng lọc thật kỹ và lựa chọn ra những ý  tưởng hay dự án tiềm năng, hay còn gọi là các hạt giống. Sau đó, đội ngũ  sáng lập những ý tưởng được chọn vào Accelerator sẽ có một khoảng thời  gian nhất định (thông thường khoảng bốn tháng) để phát triển ý tưởng  thành sản phẩm ở dạng cơ bản. Mỗi Accelerator khác nhau sẽ có một chương  trình ươm tạo khác nhau nhưng chủ yếu vẫn xoay quanh việc làm sao để  giúp nâng cao các kỹ năng cần có trong khởi nghiệp dành cho người sáng  lập. Accelerator thường đầu tư một khoản tiền rất ít đổi lấy cổ phần  dưới 10%, chủ yếu là hỗ trợ các công ty ở dạng chưa thành hình bằng  chính kinh nghiệm và mối quan hệ của mình.      “Incubator” được hiểu như  một vườn ươm những hạt giống tài năng đã được chọn lọc qua vòng  “Accelerator”. Ở giai đoạn “Incubator”, thông thường các công ty khởi  nghiệp đã dần hình thành cứng cáp, đã có thể tự giải quyết các vấn đề và  sẵn sàng cho vòng gọi vốn tiếp theo. Sự phát triển của “Accelerator”  hay “Incubator” tuỳ thuộc vào độ trưởng thành của phần lớn các nhóm khởi  nghiệp, cụ thể tại Việt Nam, mô hình Accelerator có phần chiếm ưu thế  hơn hẳn so với Incubator. Bên cạnh đó, Incubator thường được hậu thuẫn  bởi các công ty, tập đoàn lớn, nhất là khi chính các công ty đó đang có  kế hoạch phát triển mở rộng các ngành nghề kinh doanh trực thuộc khác và  muốn dành cơ hội tìm kiếm những tài năng trẻ hay sản phẩm mới mẻ hơn.  Ví dụ như hãng bảo hiểm AIA tại HongKong có chương trình Incubator hằng  năm nhằm tìm kiếm những ý tưởng hay sản phẩm đột phá trong lĩnh vực y tế  hiện đại hay thiết bị chăm sóc sức khoẻ thân thiện với người dùng.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang ADB: Châu Á đối mặt với nguy cơ rủi ro toàn cầu      Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nhận định: Nền kinh tế châu Á đang phải đối mặt với “gia tăng nguy cơ sụt giảm” do ảnh hưởng cuộc suy thoái ở Mỹ và châu Âu, bên cạnh nguy cơ bất ổn các dòng vốn.    Trong báo cáo về vấn đề theo dõi kinh tế châu Á ngày hôm 6/12, ADB nhận định: Thách thức lớn nhất đối với các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt trong khu vực Đông Á là đảm bảo sự phát triển bền vững, chống lại các mối đe dọa từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sự không chắc chắn về dự đoán nền kinh tế thế giới đồng nghĩa với việc các quan chức trong khu vực phải có “sự nhạy bén, linh hoạt” để điều chỉnh các chính sách một cách nhanh chóng, kịp thời.   Báo cáo tiếp tục: “Tín hiệu không mấy lạc quan cho khu vực Đông Á chính là nguy cơ sụt giảm về kinh tế có thể lớn hơn rất nhiều so với những tháng trước đây”, “Phục hồi nền kinh tế toàn cầu có thể gặp khó khăn nếu khu vực đồng tiền chung Euro và Mỹ suy thoái trở lại và gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Dòng vốn lớn bị mất ổn định sẽ gây phức tạp cho quản lý vĩ mô của khu vực và gây ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế”.  Các nhà hoạch định chính sách châu Á đã chuyển trọng tâm sang việc bảo toàn nền kinh tế từng quốc gia, cố gắng chịu sự chi phối ít nhất từ cuộc lạm phát và khủng hoảng nợ ở châu Âu, kèm theo đó là nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn làm tăng nguy cơ cuộc suy thoái toàn cầu. Gần đây nhất, Indonesia và Thái Lan đã cắt giảm lãi suất vào tháng trước, trong khi Philippines trong tháng 10 vừa qua đã công bố chiến lược mới để kích thích tài chính, thúc đẩy phát triển nền kinh tế ổn định trở lại.  Cổ phiếu của châu Á lần đầu tiên có dấu hiệu giảm trong bảy ngày gần đây nhất sau khi Standard & Poor công bố danh sách 15 quốc gia châu Âu sụt giảm về tiềm năng đầu tư, bên cạnh đó chỉ số MSCI Asia Pacific Index cũng giảm 1,3 % tại Tokyo.  Khu vực Đông Á đang nổi lên như một thị trường đầy tiềm năng, có thể tăng trưởng từ 7,2 % một năm, và thậm chí có thể lên đến mức 7,5 % trong năm 2011.   Trong cuộc phỏng vấn gần đây nhất với kênh truyền hình Bloomberg tại Hồng Kông, người đứng đầu văn phòng Hội nhập kinh tế ADB Iwan Azis biết: Dự báo năm 2012 sẽ là thời điểm khó khăn với châu Á để có thể tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Suy thoái ở Mỹ và châu Âu có thể làm giảm tới 5,4% mức độ tăng trưởng ở châu Á vào năm 2012.  Ông Azis cho rằng “các nhà hoạch định chính sách châu Á cần có chính sách chuyển từ kiểm soát lạm phát sang kích thích tăng trưởng”. “Chính phủ có thể kích cầu tiêu dùng trong nước và đầu tư để bù đắp nguồn hàng xuất khẩu từ Mỹ và các nước châu Âu ngày một yếu đi”. “Bên cạnh đó, các ngân hàng tại châu Á cũng có thể thực hiện can thiệp ngoại hối nếu cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu tiếp tục có dấu hiệu không tốt”.  Chỉ số MSCI của khu vực châu Á Thái Bình Dương giảm 16% so với quý trước, mức giảm mạnh nhất kề từ ba tháng cuối năm 2008.  Trong tháng 9 vừa qua,ngân hàng ADB mới đây đã cắt giảm mức dự đoán tăng trưởng đối với Trung Quốc trong năm 2012 từ mức 9,1 % xuống 8,8 %.   Duyên Anh lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2011-12-06/asia-faces-much-greater-global-risks-adb.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang ADB hạ dự báo tăng trưởng các nền kinh tế châu Á      Trong báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á  2013, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa giảm dự báo tăng trưởng của  các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á xuống 6% năm 2013, so với mức  tăng 6,1% năm 2012, trước khi tăng nhẹ lên 6,2% năm 2014, do các nền  kinh tế đầu tàu như Trung Quốc và Ấn Độ giảm tốc.      Hồi tháng 3/2013, ADB đã dự báo kinh tế châu Á sẽ tăng 6,6% năm 2013 và 6,7% năm 2014. Điều đáng chú ý là ADB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam.  Theo ADB, kinh tế Trung Quốc sẽ tăng 7,6% năm 2013 và 7,4% năm 2014, so với các con số dự kiến tăng 8,2% và 8% đưa ra trước đó.  Động thái này diễn ra khi kinh tế Trung Quốc đang chuyển hướng từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tư và xuất khẩu sang tiêu dùng trong nước.  Còn với Ấn Độ, ADB cho rằng hoạt động sản xuất công nghiệp và đầu tư ở nước này sẽ bị hạn chế do cơ sở hạ tầng yếu kém và sự trì hoãn trong cải cách cơ cấu, cùng với tình trạng thâm hụt tài khóa và cán cân vãng lai cao của nước này.  ADB dự báo, GDP của Ấn Độ sẽ tăng 4,7% năm 2013 và 5,7% năm 2014, so với mức dự báo tăng tương ứng 6% và 6,5% đã đưa ra trước đó.  Nhà kinh tế Changyong Rhee của ADB cho rằng “mặc dù các hoạt động kinh tế trong khu vực châu Á đang phát triển sẽ cải thiện trong năm 2014, tình hình hiện nay cho thấy khu vực này cần thận trọng để đảm bảo sự ổn định tài chính trong ngắn hạn, cùng với việc thúc đẩy các cải cách cơ cấu để duy trì tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.”  Theo ADB, các nền kinh tế Đông Á dự kiến tăng trưởng 6,6% năm 2013 và 2014, trong khi các nền kinh tế Nam Á có thể tăng 4,7% năm 2013 và 5,5% năm 2014, thấp hơn nhiều các mức dự báo trước đó là 5,7% và 6,2%.  Còn tại Đông Nam Á, tăng trưởng kinh tế của khu vực này dự kiến là 4,9% năm 2013, so với mức dự kiến tăng 5,4% đã đưa ra trước đó, trong bối cảnh phải chịu những tác động bất lợi của tình hình sức khoẻ của ba nền kinh tế lớn nhất khu vực là Thái Lan, Malaysia và Indonesia đang đối mặt với tình trạng hoạt động xuất khẩu và đầu tư trì trệ.  Về phần Việt Nam, ADB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức 5,2% năm 2013.  Theo ADB, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 4,9% trong 6 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu và nhu cầu trong nước đều trong tình trạng trì trệ. Ngoài ra, ADB cũng dự đoán lạm phát của Việt Nam sẽ ở mức 6% vào cuối năm 2013, so với mức dự kiến 6,5% trước đó, nhờ giá lương thực-thực phẩm tăng thấp hơn dự kiến.  ADB cho rằng các cải cách để khuyến khích vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đa dạng hóa hoạt động sản xuất công nghiệp, thu hẹp khoảng cách về cơ sở hạ tầng và kỹ năng, giảm bớt hoạt động trợ cấp kém hiệu quả, và tăng cường phúc lợi xã hội là những vấn đề quan trọng đối với kinh tế châu Á trong tình hình hiện nay.  Theo ADB, kinh tế châu Á hiện tại đã khá hơn nhiều so với trong giai đoạn khủng hoảng tài chính khu vực hồi năm 1997. Hầu hết các nền kinh tế trong khu vực hiện đều có thặng dư cán cân vãng lai mạnh và dự trữ ngoại hối cao.  Cũng theo ADB, thâm hụt cán cân vãng lai ngày càng lớn đặt một số nền kinh tế như Ấn Độ và Indonesia vào tình trạng dễ bị tổn thương. Các nhà đầu tư nước ngoài đã bán tháo tài sản tại các quốc gia này do lo ngại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed – Ngân hàng trung ương nước này) sẽ sớm cắt giảm chính sách nới lỏng định lượng.  Tuy vậy, theo báo cáo, dự trữ ngoại hối của Ấn Độ và Indonesia tính đến cuối tháng Tám vừa qua vẫn đủ cho hoạt động nhập khẩu trong bảy tháng đối với Ấn Độ và năm tháng đối với Indonesia.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/Home/ADB-ha-du-bao-tang-truong-cac-nen-kinh-te-chau-A/201310/218746.vnplus      Author                Quản trị        
__label__tiasang Adi Utarini: Người chỉ huy cuộc chiến diệt muỗi      Một nhà nghiên cứu sức khỏe cộng đồng đã dẫn đầu một thử nghiệm tiên phong nhằm phát triển công nghệ giúp loại bỏ bệnh sốt xuất huyết.      Adi Utarini. Ảnh: Ed Wray for Nature  Khi coronavirus quét qua thế giới trong năm nay, Adi Utarini vẫn đang tập trung vào việc chống lại một căn bệnh nhiễm trùng chết người khác là sốt xuất huyết. Vào tháng 8, nhóm của bà đã công bố một kết quả có ý nghĩa lớn có thể mở ra con đường đánh bại căn bệnh này – căn bệnh ảnh hưởng đến 400 triệu người mỗi năm – và có thể cả những mầm bệnh khác do muỗi lây truyền.   Utarini và các đồng nghiệp của bà đã thả những con muỗi biến đổi gene ra môi trường, theo đó số ca mắc sốt xuất huyết tại những khu vực có thả muỗi – thuộc một thành phố lớn ở Indonesia – đã giảm 77%. Các nhà dịch tễ học ca ngợi rằng đây là một kết quả bất ngờ – và là một chiến thắng mà lâu nay mọi người vẫn mong đợi trước một loại virus đã gây hại cho nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có thu nhập thấp ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ.  Utarini, nhà nghiên cứu sức khỏe cộng đồng tại Đại học Gadjah Mada (GMU) ở Yogyakarta – nơi diễn ra cuộc thử nghiệm – và đồng thời là nhà khoa học chính của nghiên cứu ở Indonesia, cho biết: “Điều này thật nhẹ nhõm”.   Dự án là một cuộc thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đầu tiên – tiêu chuẩn vàng trong nghiên cứu lâm sàng – về một phương pháp hoàn toàn mới để kiểm soát sốt xuất huyết. Kỹ thuật này nhằm gây giống muỗi Aedes aegypti (muỗi vằn), chúng truyền virus sốt xuất huyết, Zika và chukungunya, đó đó chúng mang trong mình một loại vi khuẩn có tên là Wolbachia. Vi khuẩn này sẽ ‘đánh bại’ virus và ngăn không cho muỗi truyền chúng sang người. Sau đó, trứng từ những con muỗi biến đổi sẽ được rải khắp thành phố, thường là trong nhà người dân. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành những cuộc thử nghiệm nhỏ ở Úc và Việt Nam, và cho ra kết quả đáng kinh ngạc. Nhưng tại Yogyakarta, một thành phố đông đúc gần 400.000 người với tỷ lệ lây truyền bệnh sốt xuất huyết cao, nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc thử nghiệm với quy mô lớn hơn nhiều.   Đây còn là một ‘bài kiểm tra’ quan trọng để xem liệu nhóm của Utarini có thể nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng nơi muỗi đang hoành hành hay không. “Đây là một thành công đáng kể đối với nhóm nghiên cứu của Adi”, Oliver Brady, một nhà xây dựng mô hình theo dõi sự lây lan của virus, đang nghiên cứu về bệnh sốt xuất huyết tại Trường y học nhiệt đới & vệ sinh dịch tễ London cho hay. Nhóm đã tận dụng các phương tiện truyền thông, sử dụng tranh vẽ trên trường, gặp mặt trực tiếp và thậm chí là tổ chức cuộc thi làm phim ngắn để thông báo về cho cộng đồng về công nghệ này, cũng như trả lời câu hỏi của mọi người về cuộc thử nghiệm.   Cuộc thử nghiệm tại Yogyakarta bắt đầu vào năm 2011, nhưng nhóm đã gặp phải một số khó khăn để nhận được sự đồng ý từ chính phủ. Utarini, một nhà nghiên cứu sức khỏe cộng đồng giàu kinh nghiệm từng làm việc về bệnh lao và sốt rét, đã gia nhập nhóm nghiên cứu vào năm 2013 để giúp đỡ. Bà đã đàm phán với một số bộ ban ngành của chính phủ, và giành được sự chấp thuận từ cơ quan quản lý ngay sau đó.   Khi nhóm nghiên cứu hé lộ những phát hiện của mình, cộng đồng đã “rất nhiệt tình”, bà kể. “Nhưng kể cả trước khi có kết quả cuối cùng, chúng tôi đã thường xuyên nhận được những yêu cầu từ cộng đồng, ‘Khi nào thì đến lượt khu vực của tôi?’, Utarini nhớ lại. “Giấc mơ đã thành sự thật.”  Các đồng nghiệp đều nhất trí rằng Utarini – người mà họ mô tả là trầm lặng nhưng có ‘uy’ – là chìa khóa quyết định thành công của nghiên cứu. Ông Scott O’Neill, Giám đốc Chương trình nghiên cứu muỗi thế giới tại TP.Hồ Chí Minh (nơi đã phối hợp với các nhà nghiên cứu địa phương để triển khai và thử nghiệm công nghệ mới này), cho biết Adi – hay mọi người vẫn gọi là Giáo sư Uut – chính là “chất keo để gắn kết mọi người lại với nhau” trong suốt quá trình thử nghiệm đầy phức tạp.   Nhóm nghiên cứu hiện đã thả muỗi Wolbachia khắp Yogyakarta, và lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu về bệnh sốt xuất huyết bắt đầu mơ đến một tương lai có thể loại bỏ virus này khỏi một thành phố – hay thậm chí là một quốc gia. “Mọi người mô tả rằng việc này giống như đang tiêm phòng cho đất đai”, Brady cho hay.   Nhưng bi kịch đã kéo đến đúng vào thời khắcc huy hoàng của bà. Vào tháng 3, chồng bà, một nhà dược học, đã qua đời vì Covid-19. Trong thời điểm khó khăn, bà đã dồn sự tập trung sang đam mê khác của mình – chơi piano và đạp xe. “Bất cứ khi nào tôi gặp phải những khó khăn chưa thể tháo gỡ, tôi đều cố gắng lấy ý tưởng từ đó”.   Khi nhắc đến bệnh sốt xuất huyết, bỏ tỏ ra lạc quan. “Tôi tin vào công nghệ này”, Utarini nói. “Có lẽ, cuối cùng cũng có một tia hi vọng giữa màn đêm.”    Anh Thư dịch  Nguồn: Adi Utarini: Mosquito commander (Nature’s 10: ten people who helped shape science in 2020)       Author                Quản trị        
__label__tiasang ADN cá chuồn trong khởi nghiệp      Ông Võ Duy Khương, chủ tịch Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp Đà Nẵng cho biết, tinh thần và triết lý chung của khởi nghiệp mà Đà Nẵng lựa chọn là tinh thần cá chuồn: biết bơi, biết bay và luôn đi theo bầy. Và do đó, nguyên tắc lớn nhất để lựa chọn các dự án khởi nghiệp ở vùng biển này, không phải là công nghệ hay sản phẩm, mà là đội ngũ.      Đại sứ Israel tại Việt Nam và các chuyên gia cùng với cộng đồng khởi nghiệp Đà Nẵng.  Ba chàng chatbot  Cách đây hơn một năm, chúng tôi gặp ba chàng trai, là cựu sinh viên khoa công nghệ thông tin, học cùng lớp đại học, đều được xếp vào hạng “cá biệt” vì luôn làm những thứ kỳ lạ trong giảng đường đại học. Họ tạo ra một con chatbot tên là Sumi, chuyên nói chuyện “tào lao” trên trời dưới biển cùng thế hệ tuổi teen. Họ chưa có công ty, chưa có mô hình kinh doanh, chưa biết gì về thị trường. Nhưng họ biết một điều khác: chatbot là thứ mà họ sẽ gắn bó, cùng nhau, trong một khoảng thời gian dài.  Đó là Nguyễn Văn Minh Đức (26 tuổi), Phạm Quốc Huy (26 tuổi) và Dương Văn Phước Thiện (25 tuổi). Họ phân công Đức làm trưởng dự án, lo tất cả các mảng liên quan đến kinh doanh, vận hành, đối ngoại. Hai chàng trai còn lại ôm hết phần kỹ thuật. Các cuộc đàm phán, thảo luận với họ rất ngộ, vì các chàng trai 9X này vừa ngoan, vừa hiền, nhưng lại rất cứng đầu trong việc bảo vệ các suy nghĩ và định hướng của mình. Ở họ, toát ra một niềm tin tuyệt đối về công nghệ, và chút gì đó kiêu hãnh của tuổi trẻ trong khát vọng chinh phục thế giới. Điểm cộng của nhóm, là độ cày cuốc, chăm chỉ và liên tục tìm kiếm cơ hội ở mọi nơi. Họ như “con ma xó”, tham gia tất cả các diễn đàn về chatbot của thế giới, trao đổi với những chuyên gia tốt nhất có thể tìm được để tìm kiếm hướng đi cho mình.  Trong chương trình ươm tạo khóa 3 của Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES), nhóm đã thuyết phục được Ban giám khảo và trở thành “hạt giống” đầu tiên về trí tuệ nhân tạo của DNES. Từ một dự án của nhóm, họ lần lượt nghỉ việc ở các công ty công nghệ lớn để tập trung toàn tâm toàn ý cho chatbot. Cho đến nay, công ty Hekate AI mà họ thành lập đã có hơn 1 triệu người dùng (user) và hơn 100.000 người đang tương tác với Sumi và 10 nhân vật hư cấu khác hàng ngày thông qua Messenger. Ngoài việc chat tự động thông thường, công cụ chatbot này còn tích hợp những chức năng khác như: chỉnh sửa ảnh, đọc báo, mai mối, xem tử vi, bí kíp “chém gió”, chơi game, bỏ phiếu, tạo avatar 8 bit,…  Không “ngủ quên” trên những thành công, doanh nghiệp trẻ này lại tiếp tục phát triển tạo ra một nền tảng hỗ trợ mọi người tự tạo chatbot riêng với tên gọi là Hekate. “Trong quá trình tạo ra nền tảng này, chúng tôi chỉ nghĩ làm sao cho tất cả mọi người có thể tiếp cận được trí thông minh nhân tạo và tạo được những chatbot riêng cho mình để ứng dụng vào nhu cầu thực tiễn mà không cần có nhiều kiến thức lập trình. Bên cạnh đó, trên nền tảng Hekate, người dùng có thể tạo ra những chatbot riêng phục vụ cho lĩnh vực hay sự kiện mình cần, sau đó huấn luyện và nhúng vào Messenger để sử dụng. Đặc biệt, càng giao tiếp với nhiều người chatbot sẽ càng thông minh hơn”, Đức chia sẻ thêm.  Những đồng đội trở về  Huy Đinh học ở Úc, làm ở Úc, sau đó lập một nhóm ở Úc để “mưu khởi nghiệp” cùng các bạn của mình. Anh rút trúng lá thăm “về nước đầu tiên” nên kéo vali về Đà Nẵng để sống cùng thị trường, trong môi trường làm việc ở một nơi mà cả hội đã xác nhận là “đất lành”. Huy đi làm thuê cho một công ty tin học hàng đầu khu vực, để thực sự được cọ xát với khách hàng trong nước lẫn quốc tế, làm việc trực tiếp với đội ngũ nhân sự được dự báo là trẻ và đầy tiềm năng. Rồi anh đi tìm thêm những người đồng sáng lập còn lẩn khuất đâu đó, chưa kịp xuất hiện trước đám đông. Giờ thấy đúng thời điểm, xây xong đủ ba trụ cột: kỹ thuật, điều hành kinh doanh và vận hành nội bộ, Botstar chính thức ra đời, dọn về một văn phòng ở cạnh bờ sông. Ở đó, họ vẫn làm việc theo hai múi giờ: giờ Việt Nam và giờ Úc, tức là luôn trong trạng thái làm gấp rưỡi, hoặc gấp đôi, để đuổi kịp tham vọng mà cả đội đã dựng ra…  Giống như nhóm của Huy, là nhóm của Việt Hồ, toàn một hội có bằng tiến sĩ, phó giáo sư ở Bỉ xa xôi. Việt cũng kéo vali về, mang cả gia đình đến Đà Nẵng để xây dựng công ty khởi nghiệp trên nền tảng dữ liệu lớn với giải pháp cung cấp phần mềm dịch vụ hỗ trợ quyết định tối ưu Daily Opt. Việt ghi vào hồ sơ tham dự buổi tư vấn về pháp lý của mình: Daily Opt là một startup mới, tập hợp các chuyên gia về tối ưu và trí tuệ nhân tạo hàng đầu chuyên cung cấp các công cụ phần mềm hỗ trợ quyết định cho lãnh đạo doanh nghiệp về các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận.  Một câu chuyện tương tự khác, là hai chàng trai Bình và Minh, học tập, trưởng thành và làm việc ở Nhật đủ lâu, họ cũng về thành phố biển này với giấc mơ tạo ra một ứng dụng giải quyết việc sắp xếp lịch hẹn, địa điểm gặp gỡ dành riêng cho người Việt trên nền tảng công nghệ phân tích dữ liệu…  Những câu chuyện này giống nhau ở một điểm: một nhóm du học sinh Việt Nam tập hợp lại dưới cùng một tham vọng, và lần lượt từng người trở về, nhưng vẫn để lại một “cái đuôi dài” ở nước ngoài, vừa để có thị trường, vừa đảm bảo nguồn lực quốc tế của mình. Và khác với nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước, họ không mắc một lỗi cơ bản: khởi nghiệp một mình.  Không ai khởi nghiệp một mình  Lior Krengel – 30 tuổi – từng nằm trong danh sách Forbes under 30 của Israel về những thành tích siêu nhân của mình, đang điều hành một khoản đầu tư trị giá 200 triệu USD của quỹ đầu tư Mangrove, chuyên cho thị trường Israel. Tuần trước, cô quyết định gửi con gái mới bảy tháng tuổi để dành một tuần đến Đà Nẵng chia sẻ những gì mình biết về khởi nghiệp. Lior dành hết những hiểu biết và kinh nghiệm của mình, từ kiến thức liên quan đến tâm lý học, quản trị học và quá trình làm ươm tạo, làm đầu tư và đi vòng quanh thế giới để chia sẻ với Đà Nẵng.  Lior bảo, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất mà Quỹ Mangrove tuân thủ, là trước khi ra quyết định đầu tư cuối cùng vào bất kỳ doanh nghiệp khởi nghiệp nào, họ đều yêu cầu toàn bộ đội ngũ của công ty này đến gặp gỡ trực tiếp tại trụ sở của họ. “Điều này mang tính quyết định đối với sự thành bại của khởi nghiệp. Nếu không có một người thủ lĩnh có tầm nhìn xa, thì doanh nghiệp sẽ không đi đâu về đâu. Nếu không có một người trụ vững về kỹ thuật với đầy đủ đặc tính của giám đốc công nghệ, thì đâu có lợi thế cạnh tranh. Nếu không có người hiểu biết đầy đủ về tài chính, thì tiền của nhà đầu tư sẽ được dùng như thế nào…”, Lior nói.  Chuyện của Lior làm tôi nhớ tới những ghi nhận trong chuyến làm việc vừa rồi tại thành phố Tel Aviv, Israel, cũng là một thành phố khởi nghiệp ven biển. Rất nhiều nơi ở đó ghi rõ vào “luật khởi nghiệp” của đơn vị mình: Không ai khởi nghiệp một mình. Ở đây có The Junction (Điểm kết nối) là một dạng vườn ươm doanh nghiệp tư nhân. Địa điểm này do một đại gia tài trợ dành cho các nhóm khởi nghiệp trẻ đến làm việc với chi phí gần như là bằng không. Điều kiện? Phải là một nhóm ít nhất ba người, vì ở đây không cho phép khởi nghiệp một mình. “Khởi nghiệp là chuyện của những ý tưởng và thực thi. Không ai có thể tự mình hỏi và tranh luận và trả lời mọi khúc mắc của một ý tưởng. Không ai có thể tự mình giải quyết hết mọi vấn đề phức tạp và đa dạng của một công ty bao gồm cả vận hành, quan hệ, tiếp thị và phát triển kinh doanh. Do đó, điều kiện tiên quyết của một công ty muốn thành công là họ phải có một đội ngũ thực sự. Câu chuyện lãng mạn của một người lặng lẽ ngồi trong bóng tối để nghĩ chuyện một ngày thay đổi cả thế giới không được chấp nhận ở không gian này”, một anh giám đốc trẻ đang phải tự đi bỏ rác vì đến lượt trực nhật của mình cho hay.  Ở The Library hay The Junction, hay những vườn ươm doanh nghiệp Israel khác, có một quy luật được ghi rõ thành văn bản: Phải cam kết dành ít nhất 10% thời gian để tương tác và hỗ trợ các thành viên xung quanh mình. Người này giỏi về lập trình, người khác có chuyên môn về đồ họa, người nọ nắm giữ các công cụ marketing… đều có thời gian bắt buộc để chia sẻ và hỗ trợ nhau. Bởi vậy, trong một không gian có đến 10 doanh nghiệp bé tí teo, nhưng mọi người đều biết dự án của nhau và còn nắm rõ dự án đang đi đến đâu. Chẳng có gì là bí mật cả. Và đã có trường hợp khi đến là ba công ty, ba dự án khác nhau, nhưng khi trưởng thành và rời khỏi không gian chung này, họ đã hợp lại thành một công ty lớn hơn với một dự án chung và giành được suất đầu tư triệu đô từ Mỹ. Đó cũng là bài học quan trọng mà trung tâm khởi nghiệp bên bờ biển DNES thực hành hiện nay: tính cộng đồng và chia sẻ của các thành viên trong một không gian làm việc chung, ươm tạo chung được khuyến khích phát triển một cách tuyệt đối thông qua các hoạt động cộng đồng, các bữa cơm chung hoặc các cuộc cà phê cuối tuần.  ——-  Trần Vũ Nguyên: CEO, Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES)       Author                Trần Vũ Nguyên        
__label__tiasang AI biết cách lắng nghe tiếng kêu của gà      Các nhà nghiên cứu ở Đại học Thành phố Hong Kong đã phối hợp với các cộng sự ở Vương quốc Anh để phát triển công nghệ AI phân biệt tiếng kêu của gà nuôi. Công nghệ này có thể phân biệt tiếng kêu căng thẳng của gà với những tiếng ồn khác trong chuồng trại với độ chính xác 97%. Người nuôi có thể áp dụng cách này để nâng cao tiêu chuẩn phúc lợi cho gà cũng như các vật nuôi khác.    Số lượng gà nuôi trên thế giới mỗi năm rơi vào khoảng 25 tỷ con – phần lớn được nuôi trong các chuồng trại lớn, mỗi chuồng chứa hàng nghìn con. Một cách đánh giá phúc lợi của gà nuôi là lắng nghe âm thanh do chúng tạo ra. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng động vật có xu hướng biểu hiện nhu cầu của mình bằng cách phát ra tiếng kêu.  “Gà rất ồn ào nhưng tiếng kêu khi đau đớn, căng thẳng thường sẽ to hơn các tiếng kêu khác – một tiếng kêu đơn âm (tín hiệu âm thanh dạng sóng hình sin)”, Alan McElligott, Phó giáo sư về hành vi và phúc lợi của động vật tại Đại học Thành phố Hong Kong, cho biết. “Ngay cả những người chưa qua đào tạo cũng có thể phân biệt không mấy khó khăn”.  Về lý thuyết, người nuôi có thể dùng tiếng gà kêu để đánh giá mức độ căng thẳng và cải thiện chuồng trại khi cần thiết. Tuy nhiên, với các đàn gà thương mại có quy mô hàng nghìn hoặc chục nghìn con, rất khó để triển khai vì không đủ nhân sự đánh giá. McElligott cho biết, sự hiện diện của con người có thể khiến đàn gà thêm căng thẳng. Hơn nữa, với quá nhiều tiếng ồn, việc định lượng khách quan những tiếng kêu căng thẳng là điều bất khả thi.    Nghiên cứu cho thấy tiếng kêu của những con gà bị căng thẳng thường to hơn so với bình thường. Nguồn: Theguardian  Thay vào đó, nhóm nghiên cứu của ông đã phát triển một công cụ học sâu để tự động xác định các tiếng kêu căng thẳng của gà từ các bản ghi âm các con gà nuôi trong chuồng trại đông đúc. Họ đào tạo công cụ này bằng cách sử dụng các bản ghi âm đã được chuyên gia phân loại thủ công để xác định các loại âm thanh biểu hiện khác nhau.  Theo bài báo công bố trên tạp chí Journal of the Royal Society Interface, thuật toán đã xác định chính xác 97% các tiếng kêu căng thẳng.  “Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi không phải là đếm các tiếng kêu căng thẳng mà là cải thiện điều kiện sống của gà nuôi và giảm bớt sự căng thẳng”, McElligott cho biết. Ông ước tính công nghệ này có thể thương mại hóa trong vòng năm năm tới.  Trước khi điều này trở thành hiện thực, nhóm nghiên cứu cần đảm bảo thiết bị thu âm sẽ hoạt động ở các loại chuồng gà khác nhau, cũng như thử nghiệm trong các trang trại có tiêu chuẩn phúc lợi cao hơn hoặc thấp hơn để xác nhận sự tương đồng của kết quả đọc được.  Việc thuyết phục người chăn nuôi áp dụng công nghệ này có lẽ tương đối dễ dàng. Nghiên cứu trước đây của McElligott phát hiện ra rằng tiếng kêu căng thẳng của gà con có thể dự đoán lượng cân tăng và tỉ lệ tử vong của cả đàn trong một chu kỳ nuôi.  “Đôi khi, cũng khó để thuyết phục những người chăn nuôi – vốn bán gà với giá cố định cho các siêu thị và người tiêu dùng – áp dụng công nghệ để cải thiện phúc lợi động vật” McElligott nói. “Nhưng chúng tôi đã chứng minh được rằng tiếng kêu căng thẳng là một chỉ dấu hiệu quả về tỉ lệ tử vong và tỉ lệ tăng trưởng, và nó là một cách tự động hóa quy trình”.  Ông cho biết có thể phát triển công nghệ này để theo dõi các loại vật nuôi trong chuồng và hay kêu khác như lợn hoặc gà tây.  Nghiên cứu này đã nhận được sự hoan nghênh của Hiệp hội Hoàng gia về Phóng chống ngược đãi thú vật của Anh (RSPCA). “Phương pháp này rất hữu ích trong việc giám sát và cải thiện phúc lợi vật nuôi trang trại. Nhưng chúng tôi không mong sẽ thay thế việc kiểm tra thực tế hoặc giảm tiếp xúc giữa người nuôi và gia cầm, vì điều đó có thể làm giảm kỹ năng chăn nuôi của nông dân, hoặc khiến gia cầm trở nên khó quản hơn”, phát ngôn viên của Hiệp hội cho biết.  “Ngoài ra, tiếng kêu căng thẳng chỉ là một chỉ số phúc lợi. Có rất nhiều yếu tố thể chất khác mà người chăn nuôi cũng nên chú ý, chẳng hạn như gà đứng không vững hoặc bị bỏng chân”.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2022/jun/29/ai-could-improve-welfare-of-farmed-chickens-by-listening-to-their-squawks    Author                .        
__label__tiasang AI cải thiện khả năng  phát hiện ung thư phổi      Sau nhiều năm huấn luyện một hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện ra các giai đoạn đầu của bệnh ung thư phổi, Mozziyar Etemadi mừng rỡ khi máy tính phát hiện được khối u trong ảnh chụp của bệnh nhân, chính xác hơn cả các bác sĩ được đào tạo kỹ thuật hình ảnh.      Credit: Daniel Stolle  Etemadi, một kỹ sư y sinh tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Northwestern ở Chicago, Illinois, cho biết: “Một bác sĩ xem các ảnh chụp CT này sẽ nói bệnh nhân hoàn toàn bình thường, nhưng AI đã phát hiện ra những chi tiết ẩn giấu một cách đầy tự tin. Nó đang tìm ra các dấu hiệu của ung thư.” Sau khi chiếc máy hoàn thành một vòng chạy, Etemadi nghĩ: “Chúng tôi vừa phát hiện ra bệnh ung thư phổi của anh chàng này sớm hơn 1 hoặc 2 năm so với khả năng phát hiện hiện tại.” Tâm trí anh quay cuồng với viễn cảnh tăng cơ hội sống sót của hàng nghìn người.  Ung thư phổi là bệnh ung thư nguy hiểm nhất trên thế giới – khoảng 75% những người mắc bệnh chết trong vòng 5 năm sau khi được chẩn đoán. Nhưng khi ung thư được phát hiện sớm, tiên lượng sẽ tốt hơn nhiều. Nếu phát hiện khối u đang ở giai đoạn nhỏ và khu trú trong phổi, gần 2/3 số người sống sót trong ít nhất 5 năm.  Nhu cầu phát hiện sớm đã thúc đẩy sự phát triển của các hệ thống AI phát hiện các khối u phổi ngày càng nhỏ. Hệ thống mà Etemadi đang thực hiện – một sáng kiến ​​chung giữa Google, Đại học Northwestern và các tổ chức khác hiện đang hướng tới áp dụng lâm sàng. Vào tháng 7/2020, Đại học Oxford, Vương quốc Anh, đã công bố một chương trình nghiên cứu trị giá 11 triệu bảng Anh (14,3 triệu USD) nhằm sử dụng AI để giúp chẩn đoán ung thư phổi.      Sử dụng AI để tìm ra khối u sớm có thể tăng gấp đôi khoảng thời gian mà các bác sĩ có thể có để điều trị cho một bệnh nhân ung thư, mang lại cho họ nhiều cơ hội hơn để ngăn chặn ung thư lây lan.      Những phát triển như vậy hứa hẹn sẽ làm cho việc tầm soát ung thư phổi trở nên chính xác và dễ tiếp cận hơn dành cho tất cả mọi người. Nhưng để các hệ thống mới như vậy trở thành những công cụ đắc lực, cần nâng cao một cách cẩn trọng mối quan hệ giữa bác sĩ X quang và thiết bị họ dùng để chẩn đoán.    Phát hiện khối u  Khoảng 70% trường hợp ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn muộn, khi bệnh đã khó điều trị hơn. Điều này phần nào giải thích tại sao tỷ lệ sống sót sau 5 năm khi mắc ung thư phổi là rất thấp. Các triệu chứng ban đầu của ung thư phổi có xu hướng là các bệnh lý thông thường, chẳng hạn như ho dai dẳng hoặc mệt mỏi, rất dễ bị coi là điều bình thường. Bác sĩ ung thư Mariam Jamal-Hanjani tại Viện Ung thư của Đại học College London cho biết: “Mọi người phớt lờ cơn ho. Khi họ đến phòng khám của tôi, thường căn bệnh đã di căn. Đến giai đoạn đó, việc điều trị hiệu quả có thể đã nằm ngoài khả năng”.  Các nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles và các nơi khác cho thấy việc sàng lọc thường xuyên các nhóm người có nguy cơ cao có thể phát hiện nhiều trường hợp ung thư phổi sớm hơn, giảm tỷ lệ tử vong từ 20-30%. Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Phòng ngừa Hoa Kỳ, một nhóm tình nguyện đưa ra các khuyến nghị cho các dịch vụ phòng ngừa lâm sàng nên kiểm tra CT hằng năm ở các nhóm có nguy cơ cao mắc ung thư phổi, chẳng hạn như những người từng hoặc đang hút thuốc.     Mozziyar Etemadi phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo để tìm ung thư phổi giai đoạn đầu. Credit: Ddent photo  Tuy nhiên, số lượng bác sĩ X quang đọc chụp cắt lớp phổi đã không đủ để theo kịp với nhu cầu ngày càng tăng. Ulas Bagci, một chuyên gia hình ảnh máy tại Đại học Central Florida ở Orlando, cho biết: “Có rất nhiều ảnh chụp CT, và rất nhiều người. Khối lượng công việc dày đặc này có thể khiến các bác sĩ X-quang hoạt động quá tải và mắc phải sai lầm trong chẩn đoán”.  Giới hạn về khả năng “tầm nhìn” của con người cũng khiến các bác sĩ X quang dễ dàng bỏ qua những khối u ác tính cực nhỏ. Ví dụ, có đến 35% các nốt sần phổi bị bỏ sót khi xét nghiệm ban đầu. Sử dụng hệ thống AI có thể giúp ích cho cả hai công việc này bằng cách giảm gánh nặng cho các chuyên gia xét nghiệm và phát hiện các điểm bất thường ở phổi mà không thể nhìn thấy bằng mắt thường.  Các bác sĩ X quang sử dụng các công cụ chẩn đoán với sự hỗ trợ của máy tính để giúp họ phát hiện các khối u ác tính. Thông thường, một lập trình viên sẽ lập trình để máy tính đi tìm những đặc trưng của một khối u, nhưng nhiều khi máy tính sẽ gán cho rất nhiều khối u lành tính là ác tính. Bagci nói: “Các bác sĩ X quang không thích điều đó vì họ cần phải bấm vào từng cái một” để kiểm tra, điều này mất rất nhiều thời gian”.  Các hệ thống AI gần đây dựa trên một nguyên tắc được gọi là học sâu (deep learning). Thay vì tìm kiếm các đặc điểm khối u được lập trình viên xác định trước, các hệ thống deep learning tự tìm ra khối u từ các ví dụ trong thực tế. Các nhà nghiên cứu cung cấp cho hệ thống một bộ dữ liệu lớn bao gồm hàng nghìn bản chụp CT phổi, một số bị ung thư và một số không. Từ đó, máy tự học được nốt ung thư phổi lành hay ác tính trông như thế nào.    Giải pháp VinDR dùng AI để hỗ trợ bác sĩ chuẩn đoán ung thư phổi đang được áp dụng trên 10 bệnh viện.  Càng quét nhiều, chúng càng có thể phân biệt được khối u phổi (ác tính) với khối u lành tính một cách đáng tin cậy. Và chúng làm một cách chính xác hơn các hệ thống cũ không sử dụng AI. Một số hệ thống deep learning cũng cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng ước tính về mức độ tin cậy đối với đánh giá của mình, điều này có thể hỗ trợ lớn trong việc đưa ra quyết định lâm sàng.  Sâu hơn  Hệ thống của Etemadi dựa trên phương pháp deep learning để xác định khối u phổi trên ảnh chụp CT. Vào năm 2019, ông và nhóm của mình đã báo cáo rằng hệ thống của họ đã xác định chính xác các giai đoạn đầu của ung thư phổi đến 94%, vượt trội so với nhóm sáu bác sĩ X quang kỳ cựu.  Các nhà nghiên cứu đã đào tạo hệ thống này bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu của hơn 40.000 bản chụp CT – không chỉ những bản chụp hiện tại mà còn cả những bản quét từ trước khi những người này nhận được chẩn đoán ung thư phổi. Trong thời gian đào tạo này, các nhà khoa học đã dạy máy tính phản biện bản quét giai đoạn đầu nào có chứa và không chứa các điểm ung thư. Theo thời gian, máy tính học được các đặc trưng nào trên tấm ảnh có thể phân biệt giữa điểm ác tính và các điểm lành tính, để rồi ngày càng tiến bộ trong việc xác định các dấu hiệu sớm của ung thư.  Khi hệ thống có thể phân tích toàn bộ ảnh chụp CT ba chiều (3D) thay vì một chuỗi các lát cắt 2D, độ chính xác của nó còn có thể cao hơn nữa. Những hình ảnh 3D cung cấp nhiều thông tin chẩn đoán hơn về các đặc điểm của khối u chẳng hạn như các mạch máu nào không phải là một phần của khối u chính. Etemadi nói: “Độ chi tiết của ảnh 3D bắt đầu làm nổi bật các khu vực cách xa khối u. Nó cho chúng ta thấy những chi tiết mà chúng tôi không ngờ tới. Chúng tôi đang mở ra một lĩnh vực nghiên cứu khoa học hoàn toàn mới”.  Bagci và nhóm của ông đã phát triển một mô hình AI deep learning khác có kỹ năng tương tự trong việc phát hiện các nốt sần biểu hiện ung thư phổi giai đoạn đầu. Máy tính xác định chính xác các nốt ung thư nhỏ trên ảnh chụp CT khoảng 95% – cao hơn nhiều so với tỷ lệ chính xác 65% mà các bác sĩ X quang thường đạt được.  Cả hệ thống của Bagci và Etemadi đều xem các bản quét nhiều lần. Đầu tiên, chúng quét các khu vực bất thường, chẳng hạn như các nốt có hình dạng kỳ lạ có thể là ung thư. Sau đó, chúng đánh giá chi tiết hơn từng khu vực của các mục tiêu này để đưa ra phán đoán cuối cùng về việc chúng có phải là ác tính hay không.  Nhóm của Bagci đã đào tạo hệ thống của họ về việc chụp CT có chứa các khối u có kích thước khoảng 1-3 mm mà nhiều bác sĩ X quang khó phát hiện ra. Bagci nói: “Rất khó để tìm kiếm trực quan (bằng mắt) tất cả các điểm ảnh trên màn hình. Tỷ lệ bỏ sót những điểm ảnh đó là rất lớn. Vì hệ thống AI của anh ấy được đào tạo trên hàng nghìn lần quét phổi, nó được tối ưu hóa cao để phát hiện các khu vực có những vấn đề nhỏ mà các chuyên gia có thể bỏ qua, ông nói. “Bạn có thể sử dụng nhiều dữ liệu hơn và các thuật toán mạnh mẽ hơn. Nó sẽ tìm ra các nốt nhỏ tốt hơn”.  Một hệ thống deep learning khác, được phát triển bởi nhóm của Jamal-Hanjani tại Đại học College London và Viện Nghiên cứu Ung thư London, giải quyết vấn đề liên quan đến việc phát hiện các dấu hiệu sớm của sự tái phát ung thư phổi sau khi điều trị ban đầu. Nhóm nghiên cứu đã báo cáo trong năm nay rằng sau khi họ lập trình máy tính trên hàng trăm hình ảnh của các khối u phổi giai đoạn đầu, hệ thống đã phát hiện ra rằng các khối u ở vùng có ít tế bào miễn dịch có nhiều khả năng kích hoạt tái phát sau phẫu thuật cắt bỏ hoặc hóa trị. Các nhà khoa học cho rằng đó là do những khối u này có một số dạng cơ chế che đậy để trốn tránh hệ thống miễn dịch, cho phép các tế bào phân chia không bị kiểm soát. Những cảnh báo về khả năng tái phát này có thể giúp các bác sĩ X quang xác định những người cần theo dõi cẩn thận, Jamal-Hanjani nói.  Sàng lọc phổ rộng  Một trong những ưu điểm chính của hệ thống deep learning là chúng có thể đẩy nhanh sự ra đời của sàng lọc cộng đồng, nhằm phát hiện bệnh ung thư phổi sớm hơn. Có bằng chứng chắc chắn rằng các chương trình như vậy sẽ có hiệu quả.  Ví dụ, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Đại học Erasmus ở Rotterdam, Hà Lan, gần đây đã nghiên cứu ba tác động của một thử nghiệm chương trình sàng lọc ở Bỉ và Hà Lan. Nhóm nghiên cứu đã theo dõi hơn 15.000 người trên 50 tuổi đang hoặc từng hút thuốc trong ít nhất 10 năm. Vào cuối thử nghiệm, những người đã trải qua kiểm tra định kỳ có nguy cơ tử vong vì ung thư phổi thấp hơn khoảng 25% so với những người đối chứng – và chỉ 1,2% người tham gia có kết quả dương tính giả.  Một nghiên cứu về rủi ro của Hoa Kỳ cho thấy rằng một chương trình tầm soát ung thư phổi quốc gia cho những người có nguy cơ cao sẽ tiết kiệm được khoảng 19.000USD mỗi năm. Điều này cho hiệu quả tương ứng với các chương trình sàng lọc ung thư vú, cổ tử cung và đại trực tràng hiện có.  Với việc AI đang ngày càng phát triển, các chương trình tầm soát ung thư phổi có thể ngăn chặn số ca tử vong cũng như việc giảm chi phí, nhờ vào việc tăng cường tự động hóa và giảm gánh nặng công việc cho bác sĩ X quang. Daniel Tse, giám đốc sản phẩm của Google Health, nói rằng sàng lọc với sự hỗ trợ của AI có thể giúp xác định không chỉ những người bị ung thư phổi giai đoạn đầu mà còn cả những người có nguy cơ cao phát triển ung thư phổi trong vài năm tới. Tse nói: “AI không phải là thuốc chữa bách bệnh” để đơn giản hóa việc sàng lọc trên diện rộng, “nhưng chúng tôi nghĩ nó có thể là một công cụ rất mạnh mẽ”.  Jamal-Hanjani cho biết các bác sĩ X quang sẽ sớm có thể kết hợp kết quả sàng lọc với dữ liệu di truyền để tạo ra các quy trình điều trị phù hợp hơn nữa. Khi các hệ thống deep learning chạy qua các loại tập dữ liệu lớn khác nhau, chẳng hạn như chụp CT, trình tự di truyền và lịch sử điều trị, chúng thường phát hiện ra các mối quan hệ bất thường. Ví dụ, mẫu hiển thị trên phim chụp CT của ai đó có thể dự đoán rằng khối u sẽ có một cấu trúc di truyền cụ thể. Một bác sĩ lâm sàng có thể theo dõi điều này bằng cách giải trình tự các tế bào khối u để xem liệu dự đoán này có đúng hay không. Điều này có thể giúp các bác sĩ chọn ra phương thức điều trị thích hợp nhất cho loại ung thư cụ thể đó.  Mối quan hệ hợp tác cùng phát triển   Trước khi những phương án này có thể trở thành hiện thực, các bác sĩ và nhà nghiên cứu AI cần giải quyết những câu hỏi cấp bách về cách tốt nhất để giải thích kết quả mà máy tính tìm thấy – và cách phân chia khối lượng công việc chẩn đoán giữa máy móc với bác sĩ được đào tạo.  Việc hệ thống deep learning có thể làm tốt hơn con người trong một số nhiệm vụ chẩn đoán không có nghĩa là chúng sẽ đảm nhận công việc của bác sĩ X quang. Các kỹ sư cho biết hệ thống này có thể cung cấp hướng dẫn chẩn đoán, nhưng chúng chưa thể thay thế các chuyên gia. Bagci nói rằng chúng có khả năng nâng cao kỹ năng chẩn đoán của bác sĩ hơn là làm cho họ trở nên lỗi thời. Ông giải thích: “Máy tính thực hiện tốt các nhiệm vụ cục bộ. Con người làm tốt hơn nhiều ở các nhiệm vụ toàn thể”, chẳng hạn như đưa ra chẩn đoán xác định từ nhiều nguồn thông tin, bao gồm xét nghiệm máu và khám sức khỏe cũng như kết quả quét.  Tse đồng ý với đánh giá này và nói thêm rằng con người giỏi hơn trong việc học hỏi nhanh chóng về những chi tiết nhỏ của các trường hợp ung thư phổi bất thường. Mặt khác, các hệ thống AI đã được đào tạo về các tập dữ liệu bao gồm hàng nghìn trường hợp bệnh sẽ vượt trội trong việc phát hiện các loại dấu hiệu ung thư sớm.  Thông tin thêm từ Nature Outlooks: Những vấn đề về sự tin tưởng sẽ được khắc phục nếu bác sĩ X quang và AI phối hợp hiệu quả. Bằng cách khai thác các kho lưu trữ bằng sức mạnh của máy tính, các hệ thống AI giờ đây có thể đánh giá hàng triệu biến số khác nhau trong một lần quét trước khi đưa ra phán đoán, chẳng hạn như “gần như chắc chắn lành tính” hoặc “75% khả năng mắc bệnh ác tính”. Nhưng việc phân tích hình ảnh càng phức tạp, thì hệ thống càng khó mô tả những gì nó đang làm. Trong khi các trường hợp như vậy con người có thể hiểu được. Bagci nói, không dễ dàng để chuyển hàng triệu phương trình tính toán thành lời giải thích và lý do tại sao một chẩn đoán cụ thể được đưa ra. “Những thuật toán này thực sự là một hộp đen. Tại sao lại ung thư? Nó sẽ không cho bạn biết”.  Các nhà nghiên cứu đang bắt đầu đưa ra các hệ thống chẩn đoán cung cấp những giải thích rõ ràng hơn về lời khuyên của chúng. Bagci, cùng với một nhóm tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, đã tuyển dụng các bác sĩ X quang để giúp phát triển một loại hệ thống deep learning mới. Khi họ thiết lập phần mềm, các nhà nghiên cứu sử dụng một thiết bị theo dõi để nắm bắt cách các phân tích cụ thể mỗi lần quét. Trong các thử nghiệm ban đầu, hệ thống do bác sĩ X quang đào tạo này chứng minh độ chính xác hơn 90% trong việc phát hiện các điểm ung thư. Bagci nói: “AI tìm hiểu vị trí mà các bác sĩ X quang đang quan tâm”.  Đào tạo các hệ thống deep learning với đầu vào như vậy, cũng như với các phân tích của chính các bác sĩ X quang về lý do tại sao một số điểm nhất định trông giống như ung thư, có thể giúp các hệ thống cải thiện dựa trên các tiêu chí minh bạch và lý giải tốt hơn kết quả của chúng. Ví dụ, để giải thích cho một chẩn đoán, hệ thống có thể chỉ ra rằng một điểm có đường viền lượn sóng hoặc các đặc điểm của tổn thương đã có sự thay đổi kể từ lần quét liền kề.  Tiến triển từng bước  Lợi thế của việc áp dụng AI từng bước là các bác sĩ X quang sẽ không phải đột ngột thay đổi cách họ làm việc.   Andrew Crawford, cố vấn chính sách của Trung tâm Dân chủ và Công nghệ ở Washington, cho biết: Khi các bác sĩ và kỹ sư cung cấp ngày càng nhiều ảnh chụp CT phổi vào các hệ thống deep learning, quyền riêng tư vẫn là điều tối quan trọng. Ông nói: “Tất cả chúng tôi đều ủng hộ việc sử dụng công nghệ để mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân, miễn là bạn đang làm điều đó theo cách tạo ra niềm tin”.  Etemadi chỉ ra rằng Google và nhiều tổ chức nghiên cứu AI đã có sẵn một số biện pháp bảo mật, chẳng hạn như xóa tên khỏi dữ liệu quét phổi và che khuất ngày quét mỗi khi được thực hiện.  Nếu các nhà phát triển có thể điều hướng những mối quan tâm của con người cùng với việc bổ sung một số nhiệm vụ chính xác cho các hệ thống AI, các chuyên gia ung thư phổi, những người thử các công cụ mới sẽ không muốn quay lại với các thiết bị cũ, Bagci nói. “Hai bộ não tốt hơn một. Nó sẽ giúp công việc của bác sĩ X quang và các bác sĩ khác dễ dàng hơn”.  Và điều đó sẽ dẫn đến kết quả tốt hơn về lâu dài. Sử dụng AI để tìm ra khối u sớm có thể tăng gấp đôi khoảng thời gian mà các bác sĩ có thể có để điều trị cho một bệnh nhân ung thư, mang lại cho họ nhiều cơ hội hơn để ngăn chặn ung thư lây lan. Như Etemadi nói: “Hầu hết bệnh nhân ung thư phổi đều chết. (Nhưng) Bạn có tiềm năng thay đổi thực sự một phần nào đó (của kết quả)”. □  Đức Phát dịch  Nguồn: Nature 587, S20-S22 (2020), https://doi.org/10.1038/d41586-020-03157-9   Tháng sáu vừa qua, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn thuộc Tập đoàn Vingroup đã công bố giải pháp VinDr của họ giúp phân tích hình ảnh chụp X-quang để hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán các bệnh về phổi đã được triển khai thử nghiệm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Đại học Y và Vinmec Times City. Trả lời phóng viên Tia Sáng qua email, GS. Vũ Hà Văn, giám đốc Viện đã chia sẻ rằng sau chưa đầy nửa năm, con số này giờ đã là hơn 10 bệnh viện. Giải pháp VinDr cũng có thể chỉ ra các vùng bất thường ở phổi và gợi ý chẩn đoán 8 bệnh lý phổi khác nhau (trong đó có u phổi) “hiện ngang với các bác sĩ giỏi của các bệnh viện lớn”. Cụ thể, anh Nguyễn Quý Hà, Trưởng phòng xử lý ảnh Y tế, Viện Dữ liệu lớn cho biết qua email, trong thử nghiệm tại Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 và Bệnh viện Đại học Y trên 400 ca chụp X-quang phổi, mỗi ca chụp sẽ được đọc độc lập bởi ba bác sĩ và VinDr. Khi so sánh kết quả của AI với từng bác sĩ thì đạt độ chính xác trung bình khoảng 90%. Anh Hà cũng cho biết thêm là dữ liệu dùng để huấn luyện và đánh giá mô hình AI là từ bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai cai trị Trái đất? Khối lượng của con người và vật nuôi đã vượt xa động vật có vú hoang dã      Khối lượng của các loài động vật hoang dã chỉ chiếm một phần “nhỏ đến kinh ngạc” trong tổng khối lượng động vật có vú trên trái đất.    Dù không phải là loài động vật có vú lớn nhất, song số lượng hươu đuôi trắng nhiều đến mức chúng vượt xa tất cả các loài động vật có vú hoang dã khác về tổng khối lượng. Ảnh: Jasper Doest/Minden/science.org  Với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để tinh chỉnh các con số, nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences đã “lần đầu tiên cung cấp những số liệu khá thuyết phục về động vật có vú”, Patrick Schultheiss – nhà sinh thái học hành vi tại Đại học Würzburg – cho biết. Nghiên cứu kết luận rằng các loài động vật có vú hoang dã sống trên cạn hiện có tổng khối lượng là 22 triệu tấn và các loài động vật có vú ở biển nặng 40 triệu tấn.  Theo ước tính của Schultheiss, những con số này tương đối nhỏ, bởi chỉ riêng khối lượng của loài kiến ​​đã lên tới 80 triệu tấn. Phép so sánh càng đáng chú ý hơn khi so với loài người – nặng tổng cộng 390 triệu tấn, đồng thời gia súc và những loài liên quan khác như chuột đô thị cũng nặng tổng cộng 630 triệu tấn. Theo các nhà nghiên cứu, đây là bằng chứng rõ ràng về việc thế giới tự nhiên đang bị tàn phá. “Tôi hy vọng đây sẽ là một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại rằng chúng ta nên làm tất cả những gì có thể để bảo tồn động vật có vú hoang dã”, tác giả chính Ron Milo (Viện Khoa học Weizmann) cho biết.  Theo Milo, ông và các đồng nghiệp từ lâu đã tin rằng các con số có thể “cung cấp giác quan thứ sáu về thế giới”. Vào năm 2018, họ đã gây chú ý khi ước tính trọng lượng của mọi sự sống trên toàn cầu. Hai năm sau, nhóm đã tính thêm trọng lượng toàn cầu của tất cả các vật thể và cơ sở hạ tầng do con người tạo ra, từ ô tô đến các tòa nhà. Họ cũng đưa ra ước tính sơ bộ về khối lượng 50 triệu tấn của các loài động vật có vú hoang dã – “một phần rất nhỏ trong khối lượng sự sống trên Trái đất,” Shahid Naeem – nhà sinh thái học về đa dạng sinh học tại Đại học Columbia – nhớ lại. Kể từ đó, nhóm nhà khoa học này đã tiếp tục nghiên cứu để cải thiện độ chính xác của con số ước tính ấy.  Tại phòng thí nghiệm của Milo, Lior Greenspoon và Eyal Krieger đã tìm ra được dữ liệu chi tiết về số lượng toàn cầu, trọng lượng cơ thể, phạm vi và các phép đo khác cho 392 loài động vật có vú hoang dã, đủ để tính trực tiếp tổng khối lượng của chúng. Để dự đoán tổng khối lượng của các loài động vật có vú ít được nghiên cứu, họ đã sử dụng dữ liệu của một nửa trong số 392 loài để huấn luyện một hệ thống học máy. Nhóm đã thử nghiệm và tinh chỉnh mô hình cho đến khi nó có thể dự đoán chính xác khối lượng của một nửa số loài vật còn lại. Sau đó, họ cung cấp dữ liệu bất kỳ – về phạm vi, kích thước cơ thể, mức độ đông đúc, chế độ ăn uống – cho từng loài trong số khoảng 4400 loài động vật có vú thêm vào mô hình để ước tính tổng khối lượng và độ phong phú của chúng.  Trên đất liền, phần lớn khối lượng động vật có vú hoang dã tập trung ở một số loài có thân hình lớn như lợn rừng, voi, kanguru và một số loại hươu. Theo báo cáo, 10 loài hàng đầu nặng 8,8 triệu tấn, chiếm 40% tổng khối lượng ước tính của động vật có vú hoang dã trên toàn cầu. Loài gặm nhấm – không tính chuột cống và chuột nhắt có liên quan đến con người – chiếm 16% và động vật ăn thịt chiếm 3% tổng khối lượng đó. Trong số các loài động vật có vú ở biển, cá voi tấm sừng chiếm hơn một nửa tổng khối lượng.  Ngược lại, đối với các loài đã được thuần hóa, bò nặng tổng cộng 420 triệu tấn và chó nặng bằng tất cả số động vật có vú trên cạn cộng lại. Tổng khối lượng của mèo nhà cũng nặng gấp đôi so với voi châu Phi và gấp bốn lần so với nai sừng tấm.  “Dù có nhiều điều chúng ta còn chưa chắc chắn về [tổng khối lượng] ước tính, đây vẫn là một bước khởi đầu”, Renata Ivanek – bác sĩ thú y và nhà dịch tễ học tại Đại học Cornell – cho biết thêm. Những kết quả này “đã thay đổi quan niệm của tôi về sự phổ biến dường như vô tận của động vật hoang dã và đem lại cái nhìn sâu sắc về mức độ tác động của con người với thế giới này”, Ece Bulut – nhà khoa học thực phẩm ở Đại học Cornell – nói.  Kim Dung dịch  Nguồn: Who rules Earth? Wild mammals far outweighed by humans and domestic animals       Author                .        
__label__tiasang Ai cần tiêm bổ sung mũi thứ ba?      Có không ít trường hợp có những người đã tiêm chủng đầy đủ vẫn bị lây nhiễm virus corona. Do đó, chính phủ Đức muốn bắt đầu tiêm chủng tăng cường từ tháng chín. Liệu tiêm bổ sung có giúp người ta an toàn hơn?      Sau mùa đông bị phong tỏa, hy vọng trở lại với cuộc sống bình thường đã được nhen nhóm vào mùa xuân năm nay. Nhưng liệu có thể tận hưởng cuộc sống bình thường? Mọi người nhìn Israel với sự hoài nghi: các cửa hàng và trường học mở cửa, mọi người gặp lại nhau, đi đến các nhà hàng không đeo khẩu trang giống như trước đây.  Cuộc chiến giữa con người và virus tưởng như  đã được quyết định. Israel đã thể hiện một cách thuyết phục bằng  tiêm chủng, tiêm chủng, tiêm chủng. Một nửa dân số Israel đã được tiêm vaccine  Pfizer/Biontech. Nhưng lúc này thế giới lại nhìn Israel với sự lo lắng. Số lượng các ca lây nhiễm mới tăng, các biến thể  Delta lây lan nhanh. Ngoài ra xẩy ra ngày càng nhiều các vụ đột phá tiêm chủng: cả những người tiêm chủng hai lần rồi vẫn bị lây nhiễm virus. Một số ca thậm chí phải đi bệnh viện. Ở Đức cũng xuất hiện ngày càng nhiều các trường hợp tương tự. Câu hỏi đặt ra là khả năng bảo vệ của vakzin kéo dài bao lâu? Liệu những người đã tiêm chủng hai lần có cần tiêm lần thứ ba? Hoặc cuối cùng phải tiêm bố sung bao nhiêu lần nữa?  Chính phủ Israel đã có phản ứng đối với chiến dịch tiêm bổ sung: cuối tháng 7 bắt đầu tiêm đợt ba cho những người trên 60 tuổi sau đó hạ dần xuống 50 rồi 40.  Hiện tại, có 20% dân số quốc gia này đã tiêm ba lần – như vậy Israel lại đi tiên phong về tiêm chủng. Một số nước khác cũng đang cân nhắc về tiêm bổ sung: ví dụ, Bộ trưởng Y tế Liên bang Đức Jens Spahn đã thông báo rằng từ tháng 9, họ sẽ cung cấp mũi tiêm thứ ba cho người già và những người cần được chăm sóc về sức khỏe cũng như những người bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Hiện tại ông đang xem xét việc có thể mở rộng điều này cho tất cả mọi người không. Chính phủ Hoa Kỳ cũng muốn bắt đầu tiêm chủng tăng cường cho tất cả mọi người từ tháng Chín.  Tuy nhiên, WHO lại chủ trương trước hết tập trung vaccine để tiêm cho các nước nghèo nhằm tăng tỷ lệ tiêm chủng bởi đây không chỉ là vấn đề công bằng vaccine mà còn là việc giảm nguy cơ hình thành đột biến mới. Ở các nước đang phát triển, cho đến nay trung bình chỉ có 1,6% người dân được tiêm chủng ít nhất một mũi.  Người cao tuổi và người bệnh vẫn dễ bị lây nhiễm  Tiêm chủng lần thứ ba cũng là đề tài tranh cãi giữa các nhà miễn dịch học. Nhà virus học Christian Drosten của Bệnh viện Berliner Charité cho rằng, tiêm chủng đợt ba trong mùa thu này không cần thiết với đại bộ phận dân chúng bởi nó chỉ có ý nghĩa với nhóm có nguy cơ cao. Ngay cả các nhà miễn dịch học Hoa Kỳ cũng chỉ trích tiêm chủng bổ sung lần ba cho mọi người. Céline Gounder của Trung tâm  Bellevue ở  New York cho rằng: “Chúng ta sẽ được bảo vệ tốt hơn so với những người chưa tiêm ở trong nước Mỹ cũng như trên thế giới”.   Theo báo cáo của Viện Robert-Koch, cho đến nay ở Đức có 335 ca tiêm chủng đầy đủ mà vẫn bị lây nhiễm COVID -19 và qua đời. 279 người trong số này, tức 84% trường hợp đều trên 80 tuổi. Trong nhóm ở độ tuổi 60 chỉ có một ca tử vong duy nhất, dù đã tiêm chủng đầy đủ còn nhóm không tiêm chủng có tới 1.871 ca tử vong vì COVID-19. Nói chung, các nhà miễn dịch học đều biết những người nhiều tuổi, có bệnh nền thường có phản ứng miễn dịch yếu, do đó dù có tiêm chủng đầy đủ thì họ vẫn có thể bị lây nhiễm COVID -19. Do vậy, cần tiêm bổ sung mũi ba cho nhóm người này.   Theo thời gian, khả năng bảo vệ của vaccine giảm dần, ví dụ với vaccine Pfizer/Biontech khả năng bảo vệ sau tiêm chủng 4 tháng giảm từ 88% xuống chỉ còn 74%, với AstraZeneca từ thì 77% xuống 67%.   Từ các số liệu này, xin đừng nghĩ rằng tiêm chủng là vô nghĩa. Khi khả năng bảo vệ của tiêm chủng đạt 60 đến 70% vẫn được đánh giá là tốt bởi nhờ có tiêm chủng mà người ta có thể tránh không bị bệnh nặng. Theo đánh giá mới nhất rút ra từ 4,7 triệu người Israel đã tiêm đầy đủ, tính đến tháng sáu 2021, những người từ 40 đến  59 tuổi sau sáu tháng còn hiệu lực để 94% tránh không bị bệnh nặng, trên 60 tuổi là 86%. Diễn biến bệnh ở những người có tiêm chủng cũng nhẹ nhàng hơn. Một nghiên cứu sơ bộ ở Ấn Độ cho thấy, cả mức độ nghiêm trọng của bệnh và nhu cầu cần  hỗ trợ bằng máy thở đều thấp hơn đáng kể ở nhóm được tiêm chủng, mặc dù có nhiều người lớn tuổi hơn và nhiều người thuộc nhóm nguy cơ cao. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong thấp hơn đáng kể ở những người được tiêm chủng đầy đủ.    Do đó tiêm chủng bổ sung cho những người đã tiêm chủng khỏe mạnh để tránh bị nhiễm bệnh nặng là không cần thiết.    Không thể đo khả năng bảo vệ nhờ tiêm chủng  Lượng kháng thể cao trong máu cản trở sự xâm nhập virus corona vào đường hô hấp. Các tế bào bộ nhớ ngăn cản sự lây lan của chúng trong cơ thể qua đó ngăn chặn không xảy ra bệnh tật. Để kích thích các loại tế bào quan trọng này có thể đến một lúc nào đó tiêm chủng bổ sung là cần thiết. Tuy nhiên khi nào? Nhà nghiên cứu Christine Dahlke nói “Đối với các loại tiêm chủng khác người ta biết, tiêm bổ sung sau này có tác dụng kích thích một lần nữa đối với các tế bào bộ nhớ qua đó tăng sức đề kháng cho một vài năm sau, thậm chí lâu hơn từ đó không cần phải tiêm chủng bổ sung nữa”. Nhà miễn dịch học Maike Hofmann ở thuộc bệnh viện trường Đại học Freiburg, cũng cho rằng có thể cần tiêm chủng bổ sung: “Tôi không nghĩ phải tiêm với khoảng cách sáu tháng một lần”. Leif Erik Sander dự đoán con virus này sẽ tồn tại lâu dài trong xã hội  và có thể sau mười năm thì cần tiêm bổ sung một lần. Nhưng điều đó cũng có thể là không cần thiết, “vì cơ thể có phản ứng nội sinh, tự bảo vệ với loại virus chỉ xuất hiện theo mùa”.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus233404143/Corona-Wer-braucht-die-dritte-Impfung.html  https://www.tagesschau.de/inland/innenpolitik/corona-schutzimpfung-drosten-101.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai Cập: Khi quân đội làm kinh tế      Khách sạn, nhà máy sản xuất ô tô, các xưởng  làm bánh… – Quân đội Ai Cập kiểm soát một đế chế doanh nghiệp và không  chịu bất cứ một sự kiểm soát nào. Các tướng lĩnh cản trở mọi sự cải cách  và làm tê liệt nền kinh tế. Một khi điều này không thay đổi thì vị Tổng  thống tiếp theo cũng sẽ không có cơ hội.  &#160;    Đêm thứ Năm [4/7] vừa qua, hàng trăm ngàn người đã đổ về quảng trường Tahrir ở Cairo ăn mừng sự hạ bệ ông Mohammed Mursi của phái Huynh đệ Hồi giáo. Cách đây hơn một năm, người dân Ai Cập từng hân hoan reo hò hy vọng vị tân Tổng thống này sẽ cải thiện cuộc sống của họ.   Ông Mursi phải từ chức vì dưới sự lãnh đạo của ông, tình hình kinh tế Ai Cập ngày càng sa sút, tồi tệ hơn. Giờ đây người Ai Cập lại reo hò ngợi ca giới quân sự, cho dù chính giới quân sự là những kẻ phải chịu trách nhiệm về việc làm tê liệt sự vươn lên của nền kinh tế nước này.   Ai Cập có một đội quân khoảng 420.000 binh sỹ, thuộc loại lớn nhất ở trong vùng; quân đội Ai Cập có một đế chế ngầm với hàng loạt doanh nghiệp và hoàn toàn không chịu sự kiểm soát dân sự nào. Theo ước đoán, quân đội Ai Cập tạo nên từ 8 đến 30% năng lực kinh tế đất nước, đây là một đế chế đen tối, lợi bất cập hại với Ai Cập.     Sản xuất lựu đạn và vòi phun nước  Chủ trương quân đội làm kinh tế ra đời năm 1979 khi Ai Cập ký Hiệp định hòa bình với quốc gia láng giềng Israel. Tổng thống thời đó là ông Anwar al-Sadat đã giảm đội quân một triệu người xuống còn một nửa. Để cho binh sỹ thất nghiệp có việc làm, giới quân sự đã thành lập hàng loạt doanh nghiệp dân sự.   Ngày nay trong các lĩnh vực kinh tế, Ai Cập có nhiều nhà quản lý mặc quân phục. Các ông tướng quản lý trang trại chăn nuôi, nhà máy làm bánh, nhà máy đồ hộp, cơ sở đốt rác thải, tập đoàn xây dựng và hàng loạt bệnh viện. Quân đội có một mạng lưới cây xăng phân bổ trong cả nước và hàng loạt khách sạn 5 sao (nhiều khu nghỉ dưỡng trên bán đảo Sinai được xây dựng trên các khu đất do quân đội quản lý).   Theo Think -Tanks Federation of American Scientists thì các doanh nghiệp thuộc bộ máy quân sự Ai Cập sản xuất gần như đủ các loại sản phẩm: từ súng máy cho tới dao, kéo, máy khâu; từ đạn chống tăng cho tới mỹ phẩm, quần áo lót, thậm chí cả vòi phun nước. Những thùng bỏ phiếu phục vụ cho cuộc bầu cử Tổng thống năm 2012 cũng do một nhà máy của quân đội sản xuất.   Trong nhiều thập niên đã hình thành một siêu tập đoàn hỗn hợp tạo ra hàng trăm nghìn việc làm; các doanh nghiệp quân đội lại được hưởng những ưu đãi bất hợp lý so với các doanh nghiệp tư nhân. Theo báo “Thế giới”, các tân binh phải làm việc một số tháng trong các doanh nghiệp dân sự của quân đội; nhờ đó các doanh nghiệp bất cứ lúc nào cũng có hàng trăm nghìn lao động với mức giá hết sức thuận lợi, theo nhận định của nhà kinh tế đồng thời là chuyên gia về Trung Đông Robert Springborg. Ngoài ra, các doanh nghiệp do quân đội quản lý còn được độc quyền về tiêu thụ sản phẩm và miễn giảm thuế. Các doanh nghiệp này cũng không phải trình báo sổ sách cho bất kỳ ai.   Hậu quả khôn lường   Bộ máy quân – dân sự này làm tê liệt sự cạnh tranh, khiến các nhà đầu tư nước ngoài nản lòng, gây khó khăn cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế Ai Cập. Hiện cứ 10 người Ai Cập thì có tới 4 người sống dưới mức nghèo khổ theo chuẩn của Liên hiệp quốc, nghĩa là 2 đôla mỗi ngày. Tầng lớp thanh niên có điều kiện tốt hơn song cũng không có tương lai sáng sủa để vươn lên.   Chừng nào quân đội Ai Cập còn quyết tâm bám giữ đế chế kinh tế của mình đến cùng thì Ai Cập khó có thể cứu vãn. Cho đến nay chưa có dấu hiệu nào cho thấy quân đội buông lơi lợi ích Business của mình. Trong nhiều thập niên giới tướng lĩnh Ai Cập luôn dựa vào đế chế kinh tế của họ để chống lại sự giảm sút quyền lực của mình.   Ngay từ đầu thập kỷ chín mươi, Bộ trưởng Quốc phòng Jussef Sabri Abu Talib đã ngỏ ý chấm dứt hệ thống doanh nghiệp dân sự và ông đã bị hạ bệ. Người thay thế ông là Mohammed Tantawi trong hơn hai thập kỷ đã liên tục mở rộng thế lực kinh tế của quân đội. Không một vị Tổng thống nào có thể hoặc muốn chấm dứt thế lực của giới quân sự. Ngay cả ông Mursi, Tổng thống đầu tiên không có quân hàm, cũng không dám làm điều này.   Việc ông Mursi phải từ chức một phần cũng vì các nguyên nhân kinh tế. Tổng thống Ai Cập không được làm giảm lợi nhuận của giới tướng lĩnh. Sự bất ổn kéo dài, sự kình chống giữa phe ủng hộ và phe chống đối cuồng tín đối với ông Mursi làm chia rẽ đất nước và tác động ngược về kinh tế: khách du lịch tránh né; tiêu dùng ảm đạm, sa sút. Túi tiền của các vị tướng cũng giảm theo.   Những người reo hò, nhảy múa trên quảng trường Tahrir rồi sẽ có Tổng thống mới. Ông ta cũng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong việc cải tổ nền kinh tế Ai Cập cũng như ông Mohammed Mursi từng cam chịu thất bại vậy.  XH dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai ‘chống lưng’ Giaohangnhanh, Tiki và hàng loạt startup khác ở Việt Nam?      Seedcom là một quỹ đầu tư mạo hiểm mới được thành lập tại Việt Nam. Đây là một trong những đơn vị bí ẩn đang tạo dựng nhiều công ty khởi nghiệp tại Việt Nam.  &#160;    Ngoại trừ một vài công ty như Xiaomi đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới truyền thông thì nhìn chung, truyền thông châu Á vẫn còn khá nhút nhát. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này bao gồm cả việc sợ bị sao chép, sợ chính phủ, đối thủ cạnh tranh… Điều này khiến toàn khu vực rơi vào trạng thái im lìm. Rất nhiều công ty khởi nghiệp đầy hứa hẹn đang trở nên im ắng hơn trước.  Đây cũng là thực tế đang diễn ra tại Việt Nam. Năm ngoái, mặc dù viễn cảnh khởi nghiệp (startup) tại Việt Nam được tạo đà bởi thành công vang dội của Flappy Bird thì lại bị chìm xuống khi Haivl buộc phải đóng cửa. Tuy vậy, những điều này vẫn không ngăn cản các doanh nhân tại Việt Nam tạo dựng công ty khởi nghiệp của họ.   Seedcom là một quỹ đầu tư mạo hiểm mới được thành lập tại Việt Nam. Đây là một trong những đơn vị bí ẩn đang tạo dựng nhiều công ty khởi nghiệp tại Việt Nam. Seedcom vốn không được nhiều người biết đến, nhất là ngoài lãnh thổ Việt Nam.  Nhà sáng lập quan trọng nhất của quỹ đầu tư này là Đinh Anh Huân – đồng sáng lập Thế Giới Di Động (TGDĐ) – chuỗi cửa hàng được xem là “Best Buy của Việt Nam”. Doanh nghiệp này mới IPO thành công vào năm ngoái và thu về 250 triệu USD, khiến cả 5 nhà sáng lập phút chốc trở thành triệu phú. Sau thương vụ IPO của TGDĐ, Đinh Anh Huân tập trung nhiều hơn vào phát triển Seedcom.  TGDĐ được xem là gốc rễ, nền tảng của Seedcom.  TGDĐ là một trong những thương vụ IPO quan trọng tại Việt Nam trong năm 2014. Thành công của công ty có cả trang thương mại điện tử và cửa hàng bán lẻ điện thoại này nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới truyền thông. TGDĐ cung cấp cho khách hàng những thứ mà không một nhà bán lẻ nào khác sẵn sàng làm bao gồm cả việc chọn vị trí đắc địa để thêm không gian gửi xe và cho phép khách hàng trả lại điện thoại trong 30 ngày kể từ khi mua.  Công ty không chỉ đạt được thành công về bán lẻ mà còn cả logistics. Họ cam đoan vận chuyển hàng hoá trong vòng 30 phút nếu đặt trực tuyến. Và mặc dù trang mua bán trực tuyến của họ chỉ tạo ra 6% tổng doanh thu nhưng là 6% của 350 triệu USD. Trong năm nay, công ty này đang đặt mục tiêu tăng lên 15%.  Nhìn vào cấu trúc của TGDĐ có thể thấy điều ấn tượng nhất về Seedcom không phải mục tiêu trở thành công ty trị giá 300 triệu USD vào năm 2020 mà là danh mục đầu tư vào bán lẻ, chuỗi cung ứng và thương mại điện tử của họ.  Dưới đây là danh mục đầu tư của Seedcom và tất cả đều liên quan đến bán lẻ:  – concung.com: Một cửa hàng bán các sản phẩm cho mẹ và bé đang lên kế hoạch mở 400 cửa hàng vào năm 2017.  – Juno.vn: Chuỗi cửa hàng giày, túi và trang sức phụ nữ. Bản thân thương hiệu này cũng sản xuất giày.  – TheCoffeeHouse.vn: Một chuỗi cửa hàng bán và sản xuất cà phê.  – BaCayChoi.com : Mô hình giải trí và giáo dục hướng đến trẻ em và các gia đình.  – Fivetech: Là công ty liên kết với rất nhiều thương hiệu thời trang để sản xuất quần áo.  – Tiki.vn: Được ví là Amazon của Việt Nam, Tiki ban đầu bán sách và dần mở rộng sang những mảng khác và gần đây nhất là sách điện tử với tên Miki.  – GiaoHangNhanh.vn: Đây là một công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực vận chyển hứa hẹn nhất tại Việt Nam.  – Ngoài ra còn có các công ty khác như: haravan.com , Eway.vn, Cent, Spiral, Firefly  Như vậy có thể thấy, mỗi công ty đều đại diện cho một số khía cạnh của chuỗi cung ứng bán lẻ và thương mại điện tử. Seedcom đóng vai trò vừa là người gây quỹ, vừa là trung gian. Công ty này vừa có thể tận dụng chuyên môn bán lẻ của TGDĐ và cùng lúc làm việc với những doanh nghiệp liên quan không phải đối thủ cạnh tranh. Trong tình huống này, họ sẽ có một tập hợp những công ty cung cấp mô hình B2B (doanh nghiệp đến doanh nghiệp) cho những công ty B2C (doanh nghiệp đến khách hàng). Điều này khiến Seedcom trở nên đặc biệt hấp dẫn. Nó tự cung ứng cho chính mình.  Những lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Seedcom có thể lôi kéo các tài năng trẻ. Với sự kết hợp của các chuyên gia và tài năng cùng một danh mục đầu tư đan xen, những nỗ lực của họ sẽ được đền đáp xứng đáng.  Đây là điều Việt Nam đang rất cần. Các doanh nhân đang nỗ lực tận dụng tất cả những điểm mạnh của mình để xây dựng nên các công ty bền vững. Dù vẫn chưa thể biết được mức độ thành công của danh mục đầu tư kể trên của Seedcom nhưng một số nguồn tin tiết lộ vài công ty mà họ đã đầu tư trên đang được định giá tới nhiều triệu đô la.    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI có thể giúp cải thiện hiệu suất pin lithium-ion và pin nhiên liệu      Cuối tháng 6/2020, một nhóm nghiên cứu của Đại học Imperial College London đã công bố một thuật toán học máy mới trên tạp chí npj Computational Materials. Thuật toán học máy này cho phép các nhà nghiên cứu khám phá các thiết kế cấu trúc vi mô khả thi của pin nhiên liệu và pin lithium-ion trước khi chạy mô phỏng 3D.    Điều này giúp họ có thể thực hiện những thay đổi nhằm cải thiện hiệu suất như tăng tốc độ sạc điện thoại thông minh, tăng thời gian sử dụng giữa các lần sạc của xe điện hoặc tăng công suất pin nhiên liệu hydrogen để cung cấp năng lượng cho các trung tâm dữ liệu.  Các loại pin nhiên liệu sử dụng hydrogen sạch tạo ra từ năng lượng Mặt trời hoặc năng lượng gió và pin lithium-ion trong điện thoại thông minh, laptop hay xe điện là những dạng lưu trữ năng lượng phổ biến hiện nay. Hiệu suất của cả hai loại pin đều liên quan chặt chẽ đến cấu trúc vi mô của chúng, tức cách hình thành và sắp xếp các lỗ trống (pores) trong điện cực ảnh hưởng đến mức năng lượng tạo ra và tốc độ sạc – xả của pin. Tuy nhiên, vì các lỗ có kích thước rất nhỏ, chỉ vài micrometer (0.0001 cm) nên khó có thể nghiên cứu hình dạng và kích thước cụ thể ở độ phân giải đủ cao để gắn kết chúng với tổng thể hiệu suất pin.  Giờ đây, các nhà nghiên cứu của Đại học Imperial College London đã áp dụng các kỹ thuật học máy mới gọi là “các mạng đối kháng sinh mẫu tích chập đa lớp” (Deep Convolutional Generative Adversarial Networks, DC-GANs) để giúp khám phá hầu hết các lỗ trống này và chạy mô phỏng 3D nhằm dự đoán hiệu suất pin dựa trên cấu trúc vi mô. Các thuật toán có thể học cách tạo dữ liệu hình ảnh 3D của cấu trúc vi mô dựa trên việc huấn luyện dữ liệu thu được từ ảnh chụp ở kích cỡ nano trên máy gia tốc synchrotron.  Andrea Gayon-Lombardo, tác giả chính của nghiên cứu, thuộc Khoa Kỹ thuật và Khoa học trái đất, cho biết: “Kỹ thuật này giúp chúng tôi có thể khuếch đại trực tiếp vào pin và tế bào pin để xem những thuộc tính nào ảnh hưởng đến tổng thể hiệu suất. Việc phát triển những kỹ thuật học máy dựa trên hình ảnh có khả năng mở ra những cách tiếp cận mới để phân tích hình ảnh ở kích thước nhỏ như vậy”.   Khi chạy mô phỏng 3D để dự đoán hiệu suất, các nhà nghiên cứu cần một khối lượng dữ liệu đủ lớn để đại diện thống kê cho toàn bộ tế bào điện. Hiện tại rất khó có được khối lượng dữ liệu lớn về hình ảnh cấu trúc vi mô ở độ phân giải yêu cầu. Tuy nhiên, các tác giả nhận thấy họ có thể đào tạo các dòng code (lệnh) để tạo ra những bộ dữ liệu lớn hơn nhưng có cùng thuộc tính; hoặc thậm chí chủ động tạo ra những cấu trúc pin theo đề xuất của các mô hình có thể giúp pin hoạt động hiệu quả hơn.   Điều này có thể làm giảm đáng kể khối lượng mô phỏng cần thiết mang tính “đại diện” và do đó giúp giảm đáng kể chi phí tính toán của những mô phỏng điện hóa cần thiết để dự đoán hiệu suất của một cấu trúc vi mô cụ thể.   TS. Sam Cooper, người giám sát dự án và làm việc ở Trường Kỹ thuật Thiết kế Dyson thuộc ĐH Imperial College London nói: “Phát hiện của nhóm sẽ giúp các nhà nghiên cứu trong cộng đồng năng lượng có thể thiết kế và sản xuất lắp ráp các điện cực tối ưu để cải thiện hiệu suất pin. Đây là thời điểm thú vị cho cả hai lĩnh vực lưu trữ năng lượng và học máy.”   Với nỗ lực xây dựng thuật toán để tạo ra những kết quả có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất hiện nay, các nhà nghiên cứu hi vọng các kĩ thuật của họ có thể giúp thiết kế các điện cực tối ưu cho thế hệ pin tiếp theo. □  Ngô Hà dịch  Nguồn bài và ảnh: https://techxplore.com/news/2020-06-ai-lithium-ion-batteries-fuel-cells.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI có thể hiểu được mối quan hệ không gian giữa các vật thể      Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Khoa học máy tính và Trí tuệ nhân tạo (CSAIL) của MIT đang phát triển một mô hình trí tuệ nhân tạo có thể nhận biết được mối quan hệ về vị trí không gian giữa các vật thể, tương tự như con người.    Khi con người nhìn vào khung cảnh, họ thấy các vật thể và mối quan hệ giữa chúng: trên bàn có một chiếc máy tính đặt ở bên trái điện thoại di động, và chiếc điện thoại nằm trước màn hình máy tính. Tuy nhiên, nhiều mô hình học sâu khó có thể “nhìn” thế giới theo cách này vì chúng không hiểu mối quan hệ đan xen giữa các vật thể riêng lẻ. Nếu không hiểu được mối quan hệ đó, một con robot giúp việc trong bếp sẽ gặp khó khăn khi thực hiện mệnh lệnh “nhặt thìa khuấy bột ở bên trái bếp lò và đặt nó lên thớt”.  Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu ở MIT đã phát triển một mô hình AI có thể hình dung từng mối quan hệ riêng rẽ, sau đó kết hợp chúng lại với nhau để mô tả bối cảnh tổng thể. Điều này cho phép mô hình tạo ra hình ảnh chính xác hơn từ một đoạn văn bản mô tả, ngay cả khi mô tả đó gồm nhiều đối tượng được sắp xếp trong các mối quan hệ khác nhau. Yilun Du, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Phòng thí nghiệm CSAIL và là đồng tác giả của bài báo nói rằng: “Khi nhìn vào một cái bàn, tôi không thể nói rằng có một vật thể ở vị trí tọa độ XYZ. Tâm trí của chúng ta không hoạt động như vậy. Để hiểu một khung cảnh, chúng ta hiểu nó dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng trong đó. Chúng tôi nghĩ rằng bằng cách xây dựng một hệ thống có thể hiểu được mối quan hệ giữa các đối tượng, chúng tôi có thể dùng nó để thao tác và thay đổi môi trường một cách hiệu quả hơn”.  Hệ thống của họ sẽ chia tách câu văn thành các mảnh nhỏ (“bàn gỗ ở bên trái ghế xanh” và “ghế đỏ ở bên phải ghế xanh”) và mô hình hóa từng phần riêng biệt, sau đó thông qua một quy trình tối ưu để kết hợp chúng lại, tạo ra hình ảnh của khung cảnh. Kỹ thuật học máy này gọi là mô hình dựa trên năng lượng (EBM), cho phép sử dụng một mô hình EBM để mã hóa từng mô tả quan hệ, sau đó biên soạn chúng lại với nhau theo cách suy luận ra tất cả đối tượng và quan hệ. “Các hệ thống khác sẽ dùng tất cả mối quan hệ và tạo ra từng hình ảnh một từ đoạn mô tả (one-shot learning). Nhưng cách tiếp cận này sẽ thất bại khi thấy một mô tả đầu vào khác với dữ liệu đào tạo của nó, chẳng hạn như một mô tả có nhiều mối quan hệ hơn. Khi chúng tôi biên soạn các mô hình nhỏ riêng biệt này lại với nhau, chúng tôi có thể mô hình hóa nhiều mối quan hệ và thích nghi với những cách kết hợp mới lạ”, Yilun Du nhận xét.   Hệ thống này cũng hoạt động theo hướng ngược lại – nếu ta cho nó một tấm hình, nó có thể tìm thấy đoạn mô tả văn bản phù hợp với mối quan hệ của những đối tượng trong đó. Ngoài ra, mô hình cũng có thể dùng để chỉnh sửa hình ảnh nhờ việc sắp xếp lại đối tượng trong khung cảnh để phù hợp với mô tả mới.   Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những bức ảnh mà mô hình chưa từng thấy cùng nhiều đoạn mô tả khác nhau cho mỗi ảnh, và mô hình có thể xác định đúng mô tả phù hợp nhất với từng mối quan hệ trong ảnh. Khi họ đưa ra cho mô hình AI này hai bản mô tả cùng một hình ảnh nhưng theo những cách khác nhau, nó cũng có thể hiểu rằng những mô tả đó là tương đương.   Mặc dù những kết quả ban đầu này rất đáng khích lệ, các nhà nghiên cứu muốn xem mô hình của họ hoạt động như thế nào trên các hình ảnh phức tạp hơn trong thế giới thực với thông tin nền nhiễu và có những vật thể che khuất nhau. Họ cũng quan tâm đến việc kết hợp mô hình của mình vào các hệ thống robot để robot có thể suy ra mối quan hệ giữa các đối tượng từ video, từ đó áp dụng kiến thức này để thao tác vật thể trên thực tế. Nghiên cứu này được trình bày tại Hội nghị về hệ thống xử lý thông tin mạng thần kinh nhân tạo (NeurIPS) vào tháng 12/2021.□  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-11-artificial-intelligence-relationships.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang AI có thể thiết lập tiêu chuẩn mới để thiết kế các tòa nhà chống bão      Việc xác định được mức gió phù hợp để thiết kế công trình chống chịu gió bão là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng trí tuệ nhân tạo có thể giải quyết điều này.      Dựa trên dữ liệu bão trong vòng 100 năm và các kỹ thuật AI hiện đại, các nhà nghiên cứu tại Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST) đã phát triển một phương pháp mới để mô phỏng các cơn bão. Kết quả công bố trên tạp chí Artificial Intelligence for the Earth Systems chứng minh rằng các mô phỏng có thể thể hiện chính xác quỹ đạo và tốc độ gió của các cơn bão thực tế. Kết quả này có thể góp phần xây dựng những hướng dẫn thiết kế tòa nhà ở các khu vực dễ gặp bão.  Luật pháp quy định về việc thiết kế và xây dựng tòa nhà (các quy chuẩn xây dựng) đang hướng nhà thiết kế tới những bản đồ tiêu chuẩn. Trên bản đồ, kỹ sư có thể xác định cấu trúc nhà phải chịu được mức gió nào, dựa trên vị trí và tầm quan trọng của tòa nhà (chẳng hạn bệnh viện phải chịu sức gió tốt hơn so với các nhà kho tự quản). Tốc độ gió trong bản đồ được lấy từ điểm số của những cơn bão giả định được mô phỏng bởi mô hình máy tính.  “Hãy tưởng tượng bạn có một Trái đất thứ hai, hoặc một nghìn Trái đất, nơi bạn có thể quan sát các cơn bão trong 100 năm và xem chúng tấn công vào nơi nào trên bờ biển, cường độ của chúng. Nếu những cơn bão mô phỏng đó hoạt động như ngoài đời thực thì ta có thể sử dụng chúng để tạo ra dữ liệu gần như trực tiếp trong bản đồ,” nhà thống kê toán Adam Pintar của NIST và là đồng tác giả nghiên cứu cho biết.  Các nhà nghiên cứu đã phát triển các bản đồ mới nhất bằng cách mô phỏng hoạt động phức tạp bên trong cơn bão – vốn chịu ảnh hưởng của các thông số vật lý như nhiệt độ mặt nước biển và độ nhám bề mặt Trái đất. Tuy nhiên, không phải lúc nào dữ liệu về các yếu tố này cũng có sẵn.  Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn cách tiếp cận mới – sử dụng học máy để phát triển mô hình mô phỏng dữ liệu những cơn bão thực. Với nguồn thông tin chất lượng, các thuật toán học máy có thể xây dựng các mô hình dựa trên các mẫu mà chúng phát hiện ra trong bộ dữ liệu mà các phương pháp khác có thể bỏ lỡ.  Trong nghiên cứu mới, nhóm tác giả đã sử dụng Cơ sở dữ liệu bão Đại Tây Dương (HURDAT2) của Trung tâm Bão Quốc gia Mỹ, chứa thông tin về các cơn bão từ hơn 100 năm trước, chẳng hạn như tọa độ đường đi và tốc độ gió của chúng. Họ chia dữ liệu về 1.500 cơn bão thành các tập dữ liệu để đào tạo và thử nghiệm mô hình. Trong thử nghiệm mô phỏng mô phỏng quỹ đạo và sức gió của những cơn bão chưa có trong dữ liệu đào tạo, mô hình đạt điểm khá cao. Pintar nhận xét, “[Mô hình] hoạt động rất tốt. Tùy từng chỗ, ta khó có thể phân biệt được đâu là cơn bão mô phỏng và đâu là cơn bão thật.”  Tuy nhiên, vẫn có một số hạn chế. Chẳng hạn như ở các bang ven biển Đông Bắc, dữ liệu HURDAT2 rất thưa thớt, do đó mô hình tạo ra các cơn bão ít thực tế hơn. “Bạn càng có ít dữ liệu, sự không chắc chắn về dự đoán của bạn càng lớn”, đồng tác giả Emil Simiu nói.  Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu dự định sẽ sử dụng các cơn bão mô phỏng để phát triển bản đồ ven biển về tốc độ gió cực đoan, cũng như định lượng sự bất định trong các tốc độ gió ước tính.  Vì sự hiểu biết của mô hình về các cơn bão hiện chỉ giới hạn trong dữ liệu lịch sử, nên nó không thể mô phỏng những tác động của biến đổi khí hậu đối với các cơn bão trong tương lai. Cách tiếp cận truyền thống mô phỏng các cơn bão từ dưới lên sẽ phù hợp hơn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, các tác giả tự tin rằng bản đồ gió dựa trên mô hình của họ – ít phụ thuộc vào các thông số vật lý khó nắm bắt hơn so với các mô hình khác – sẽ phản ánh tình hình thực tế tốt hơn. Họ đặt mục tiêu sẽ xây dựng và đề xuất các bản đồ gió mới để đưa vào quy chuẩn xây dựng.  Trang Linh tổng hợp  Nguồn: https://www.nist.gov/news-events/news/2023/03/ai-could-set-new-bar-designing-hurricane-resistant-buildings  AI Could Set a New Bar for Designing Hurricane-Resistant Buildings        Author                .        
__label__tiasang AI đang thay đổi khoa học như thế nào?      Những thuật toán trí tuệ nhân tạo mới nhất đang tìm hiểu sự tiến hóa của các thiên hà, tính toán các hàm sóng lượng tử, tìm ra những hợp chất hóa học mới, và nhiều thứ nữa. Liệu có công việc nào của các nhà khoa học không thể được tự động hóa?              Không một gương mặt nào trong số này là của người thật. Các gương mặt ở hàng trên (A) và cột bên trái (B) được một mạng sinh đối kháng sinh ra từ các yếu tố cơ sở lấy từ những ảnh thật. Sau đó, mạng sinh đối kháng kết hợp những đặc điểm cơ bản của những gương mặt A, gồm giới tính, tuổi, khuôn mặt, với những đặc điểm tinh hơn của những gương mặt B, như màu tóc và màu mắt, để tạo ra những gương mặt trong bảng ở giữa.     Không một người hay một nhóm người nào có thể theo kịp dòng lũ thông tin được sinh ra từ các thí nghiệm hiện đại về vật lý và vũ trụ. Có những thí nghiệm ghi lại hàng terabyte dữ liệu mỗi ngày, và luồng dữ liệu sẽ còn tăng nữa. Kính thiên văn giao thoa vô tuyến Square Kilometer Array, dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động giữa thập kỷ 2020, sẽ sinh ra mỗi năm một lượng dữ liệu bằng toàn bộ internet.  Dòng lũ thông tin khiến nhiều nhà khoa học phải quay sang cầu cứu trí tuệ nhân tạo. Chỉ với sự can thiệp tối thiểu từ con người, những hệ thống trí tuệ nhân tạo như những mạng thần kinh (là mô hình máy tính mô phỏng những mạng lưới nơ-ron, bắt chước chức năng của bộ não) có thể cày xới hàng núi dữ liệu, phát hiện những điểm bất thường và những quy luật mà con người chẳng bao giờ có thể nhận ra.  Dĩ nhiên, máy tính đã được dùng trong nghiên cứu khoa học từ cách đây khoảng 75 năm, và phương pháp thăm dò (một cách “thủ công”) dữ liệu để tìm ra những quy luật có ý nghĩa thì đã có từ hàng nghìn năm trước. Nhưng một số nhà khoa học lập luận rằng những kỹ thuật mới nhất của học máy và trí tuệ nhân tạo là một cách làm khoa học mới mang tính nền tảng. Một trong những cách tiếp cận đó là tìm mô hình tối ưu dựa trên thống kê và xác suất (mô hình sinh mẫu – generative model); nó có thể giúp xác định thuyết hợp lý nhất trong nhiều cách giải thích khác nhau cho dữ liệu quan sát được, mà chỉ dựa vào dữ liệu, và quan trọng hơn, không cần tri thức về các quá trình vật lý diễn ra bên trong hệ đang được nghiên cứu. Phe ủng hộ mô hình này cho rằng nó đủ mới lạ để có thể được coi là một “cách thứ ba” để tìm hiểu về vũ trụ.  Từ xưa, chúng ta đã tìm hiểu thiên nhiên thông qua quan sát. Một thí dụ là việc Johannes Kepler rà soát vị trí các hành tinh từ dữ liệu của Tycho Brahe và cố tìm ra quy luật ẩn trong đó. (Ông rút ra được rằng các hành tinh di chuyển trên các quỹ đạo hình ê-líp). Khoa học còn tiến lên nhờ mô phỏng. Thí dụ, một nhà thiên văn học có thể mô hình hóa chuyển động của dải Ngân hà và thiên hà Andromeda1 và dự đoán sự va chạm của chúng trong vài tỷ năm nữa. Quan sát và mô phỏng giúp các nhà khoa học đưa ra những giả thuyết có thể được kiểm chứng bởi những quan sát khác mới hơn. Phương pháp tìm mô hình tối ưu dựa trên thống kê và xác suất khác với cả hai cách tiếp cận này.      Phương pháp tối ưu thống kê này “theo nghĩa nào đó, đối lập hoàn toàn với mô phỏng. Chúng ta không biết gì; chúng ta không muốn giả định gì. Chúng ta muốn dữ liệu tự nó cho biết điều gì có thể đang diễn ra.”         “Về cơ bản, nó là một cách tiếp cận thứ ba, nằm ở giữa quan sát và mô phỏng,” Kevin Schawinski, nhà vật lý thiên văn tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Zurich (ETH Zurich), một trong những người ủng hộ phương pháp này mạnh mẽ nhất, cho biết. “Nó là một cách khác để tấn công một bài toán.”  Một số nhà khoa học coi cách tiếp cận này và những kỹ thuật mới khác đơn giản là những công cụ mạnh để làm khoa học truyền thống. Nhưng phần lớn đồng ý rằng trí tuệ nhân tạo đang có ảnh hưởng to lớn, và vai trò của nó trong khoa học sẽ còn phát triển hơn nữa. Brian Nord, một nhà vật lý thiên văn tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia Fermi2, người sử dụng mạng thần kinh để nghiên cứu vũ trụ, là một trong số những người lo ngại rằng không có một việc gì của một nhà khoa học [con người] lại không tự động hóa được. “Đó là một ý nghĩ khá đáng sợ,” ông nói.     Tạo ra để khám phá     Từ khi còn là nghiên cứu sinh, Schawinski đã nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học dựa trên dữ liệu. Trong luận án tiến sỹ của mình, ông đối mặt với việc phân loại hàng nghìn thiên hà dựa vào hình dạng của chúng. Vì thời đó không có sẵn phần mềm nào để làm việc đó, ông quyết định nhờ sự trợ giúp của cộng đồng, và dự án khoa học Galaxy Zoo ra đời. Bắt đầu từ năm 2007, người dùng máy tính bình thường có thể giúp các nhà thiên văn học bằng cách cung cấp ý kiến phân loại của mình về các thiên hà, và kết quả phân loại chọn theo đa số nói chung là chính xác. Đó là một dự án thành công, nhưng, như Schawinski nhận xét, trí tuệ nhân tạo khiến nó trở nên lạc hậu: “Ngày nay, một nhà khoa học giỏi, có kinh nghiệm về học máy và biếtsử dụng điện toán đám mây có thể hoàn thành nó trong một buổi chiều.”  Schawinski đến với phương pháp này, một công cụ mới rất mạnh, vào năm 2016. Về cơ bản, nó cho biết khả năng quan sát được kết quả đầu ra Y nếu điều kiện đầu vào là X. Cách tiếp cận này đã cho thấy hiệu lực và sự linh hoạt khó tin. Thí dụ, giả sử chúng ta đưa cho một bộ dữ liệu gồm ảnh một số mặt người, mỗi bức ảnh kèm theo tuổi của người đó. Trong quá trình duyệt qua dữ liệu sẵn có này, chương trình máy tính bắt đầu rút ra mối liên hệ giữa những gương mặt già hơn và khả năng có nếp nhăn lớn hơn. Cuối cùng, nó có thể làm “lão hóa” một gương mặt bất kỳ, nghĩa là nó có thể dự đoán những thay đổi mà một gương mặt ở một lứa tuổi bất kỳ có thể trải qua.  Những hệ mô hình kiểu này được biết đến nhiều nhất là các “mạng sinh đối kháng”3. Sau khi tiếp xúc với đủ dữ liệu huấn luyện, một mạng sinh đối kháng có thể phục chế những bức ảnh bị lỗi điểm ảnh, hoặc làm nét những bức ảnh bị mờ. Chúng học cách suy ra thông tin bị thiếu thông qua một quá trình cạnh tranh (vì thế mới gọi là “đối kháng”): một phần của mạng, gọi là bộ phát, tạo ra dữ liệu giả, trong khi phần thứ hai, gọi là bộ tách, tìm cách phân biệt dữ liệu giả với dữ liệu thật. Chương trình càng chạy thì cả hai phần càng đồng thời tốt lên. Có lẽ bạn đọc cũng đã từng thấy những bức ảnh lan truyền rộng rãi gần đây về những gương mặt siêu chân thực được mạng sinh đối kháng tạo ra; một bài báo đã gọi chúng là những bức ảnh “về những con người thật một cách dị thường nhưng không tồn tại”.  Một cách tổng quát, phương pháp mô tìm mô hình tối ưu này tiếp nhận các bộ dữ liệu (thường, nhưng không phải luôn luôn, là hình ảnh) và chia nhỏ chúng thành một tập hợp các khối cơ bản, trừu tượng, mà các nhà khoa học gọi là “không gian ẩn” của dữ liệu. Thuật toán làm việc với các phần tử của không gian ẩn để xem chúng ảnh hưởng đến dữ liệu gốc như thế nào, qua đó khám phá ra những quy luật vận động bên trong hệ.  Khái niệm không gian ẩn rất trừu tượng và khó hình dung. Một cách đại khái, có thể so sánh với hoạt động của bộ não khi chúng ta đoán giới tính của một gương mặt. Chúng ta có thể để ý đến kiểu tóc, hình dáng của cái mũi, v.v., cũng như những nét khó diễn tả bằng lời. Chương trình máy tính cũng tìm kiếm những đặc điểm nổi bật từ dữ liệu: dù không biết ria mép hay giới tính là những thứ gì, nếu được huấn luyện trên những bộ dữ liệu có những bức ảnh mang nhãn “đàn ông” hoặc “phụ nữ”, và trong đó có những bức mang nhãn “ria mép”, nó sẽ nhanh chóng suy ra mối liên hệ.  Trong một bài báo công bố tháng 12 năm 20184 trên tạp chí Astronomy & Astrophysics, Schawinski và các đồng nghiệp tại ETH Zurich là Dennis Turp và Ce Zhang đã dùng phương pháp mô hình tối ưu để tìm hiểu những thay đổi vật lý trong quá trình tiến hóa của các thiên hà. (Phần mềm họ dùng xử lý không gian ẩn theo một cách khác với cách của một mạng sinh đối kháng, bởi thế nó dù tương tự nhưng không phải là mạng sinh đối kháng.) Mô hình của họ tạo ra các bộ dữ liệu nhân tạo để kiểm tra những giả thuyết về các quá trình vật lý. Chẳng hạn, họ muốn biết sự “tắt” của quá trình hình thành sao (sự giảm đột ngột tốc độ hình thành sao) liên quan như thế nào đến sự tăng mật độ của một thiên hà.  Với Schawinski, câu hỏi mấu chốt là có bao nhiêu thông tin về các quá trình của sao và thiên hà có thể được rút ra chỉ từ dữ liệu. “Hãy xóa hết mọi thứ chúng ta biết về vật lý thiên văn,” ông nói. “Chỉ dùng dữ liệu, đến mức độ nào chúng ta có thể khôi phục kiến thức đó?”  Đầu tiên, những hình ảnh về thiên hà được xử lí đưa về không gian ẩn của chúng; lúc này, Schawinski có thể điều chỉnh một phần tử của không gian đó theo một cách tương ứng với một thay đổi nào đó của thiên hà, chẳng hạn mật độ xung quanh nó. Sau đó, ông có thể tái tạo thiên hà và xem có khác biệt gì xuất hiện. “Thế là giờ tôi có một cái máy sinh ra giả thuyết,” ông giải thích. “Tôi có thể lấy một mớ những thiên hà vốn ở trong môi trường mật độ thấp, và qua quá trình này khiến cho chúng trông giống như ở trong một môi trường mật độ cao.” Schawinski, Turp và Zhang nhận thấy rằng khi chuyển từ mật độ thấp sang mật độ cao, các thiên hà có màu đỏ hơn, và các ngôi sao của chúng tập trung hơn về trung tâm. Điều này phù hợp với những quan sát đã có, Schawinski cho biết. Câu hỏi là tại sao lại thế.  Bước kế tiếp, theo Schawinski, hiện vẫn chưa được tự động hóa: “Tôi phải bước vào, với vai trò một con người, và nói: ‘Được rồi, hiệu ứng này có thể được giải thích như thế nào bằng vật lý?’” Có hai cách giải thích có vẻ hợp lý: Có thể các thiên hà đỏ hơn trong môi trường mật độ cao vì có nhiều bụi hơn, hoặc có thể chúng đỏ hơn vì sự hình thành sao giảm đi (nói cách khác, các ngôi sao của chúng già hơn). Cả hai ý tưởng đều có thể được kiểm tra sử dụng phương pháp tìm mô hình tối ưu theo thống kê: các thành phần của không gian ẩn liên quan đến độ bụi và tốc độ hình thành sao được thay đổi để xem chúng ảnh hưởng như thế nào đến màu của các thiên hà. “Và câu trả lời rất rõ ràng,” Schawinski nói. Những thiên hà đỏ hơn “khi sự hình thành sao giảm, không phải do thay đổi về bụi.”  Cách tiếp cận này có liên quan với cách mô phỏng truyền thống, nhưng có những khác biệt quan trọng. Một mô phỏng “về cơ bản là dựa vào giả định”, Schawinski nói. “Mô phỏng tức là nói ‘Tôi nghĩ mình biết những quy luật vật lý nào dẫn đến mọi thứ tôi quan sát được trong hệ.’ Tôi có một công thức cho sự hình thành sao, một công thức cho cách thức hoạt động của vật chất tối, v.v. Tôi đưa mọi giả thuyết của mình vào, và chạy mô hình mô phỏng. Rồi tôi hỏi: Trông nó có giống như thực tế không?” Trong khi với phương pháp tối ưu thống kê này “theo nghĩa nào đó, đối lập hoàn toàn với mô phỏng. Chúng ta không biết gì; chúng ta không muốn giả định gì. Chúng ta muốn dữ liệu tự nó cho biết điều gì có thể đang diễn ra.”      Kevin Schawinski, nhà vật lý thiên văn và nhà sáng lập công ty trí tuệ nhân tạo Modulos, lập luận rằng kỹ thuật mô hình sinh mẫu là một cách thứ ba để tìm hiểu về vũ trụ.  Thành công rõ ràng của phương pháp này trong nghiên cứu kể trên tất nhiên không có nghĩa là các nhà thiên văn học và các nghiên cứu sinh đã trở nên thừa thãi. Nhưng nó dường như cho thấy một sự thay đổi về lượng tri thức vật lý thiên văn có thể đạt được nhờ một hệ thống nhân tạo mà trong “tay” không có gì ngoài một kho mênh mông dữ liệu. “Đó chưa phải là khoa học hoàn toàn tự động hóa, nhưng nó chứng tỏ rằng chúng ta có khả năng xây dựng những công cụ để tự động hóa chí ít là một phần của quá trình nghiên cứu khoa học,” Schawinski nói.  Phương pháp này hiển nhiên rất mạnh, nhưng việc nó có đại diện cho một cách tiếp cận mới trong khoa học hay không vẫn đang được tranh luận. Với David Hogg, một nhà vũ trụ học tại Đại học New York và Viện Flatiron, kỹ thuật này dù rất ấn tượng nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là một cách tinh vi để rút ra các quy luật từ dữ liệu – việc mà các nhà thiên văn học vẫn làm từ hàng thế kỷ. Nói cách khác, nó là một dạng cao cấp của quan sát và phân tích. Như Schawinski, Hogg cũng dùng rất nhiều trí tuệ nhân tạo trong việc nghiên cứu của mình; ông dùng mạng thần kinh để phân loại sao dựa vào quang phổ và để suy ra các thuộc tính vật lý khác của sao nhờ các mô hình dựa vào dữ liệu. Nhưng ông coi nghiên cứu của mình, cũng như nghiên cứu của Schawinski, là khoa học “thử và sai”5. “Tôi không nghĩ nó là một cách thứ ba,” ông mới phát biểu gần đây. “Tôi chỉ nghĩ rằng cộng đồng chúng ta đã khéo hơn rất nhiều trong cách sử dụng dữ liệu. Đặc biệt, chúng ta đã tiến bộ nhiều trong việc so sách các dữ liệu với nhau. Nhưng theo quan điểm của tôi, việc nghiên cứu của tôi vẫn nằm trọn trong cách tiếp cận quan sát.”     Những trợ lý cần cù     Dù có phải là một khái niệm mới hay không, trí tuệ nhân tạo và mạng thần kinh rõ ràng đã được đưa vào và đóng một vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu thiên văn và vật lý đương đại. Tại Viện Nghiên cứu lý thuyết Heidelberg6, nhà vật lý Kai Polsterer là trưởng nhóm tin học thiên văn, một nhóm các nhà nghiên cứu tập trung vào các phương pháp nghiên cứu vật lý thiên văn mới dựa trên dữ liệu. Gần đây, họ đã sử dụng một thuật toán học máy để rút ra thông tin về độ dịch chuyển đỏ của các thiên hà từ dữ liệu, một việc trước đây vốn rất khó khăn.  Polsterer coi những hệ thống mới dựa trên trí tuệ nhân tạo này là những “trợ lý cần cù”, những trợ lý có thể lục lọi hàng giờ liền trong đống dữ liệu mà không nản hay kêu ca về điều kiện làm việc. Những hệ thống này, ông cho biết, có thể làm hết những công việc nhàm chán, cho phép bạn “tự mình làm thứ khoa học hay ho, thú vị.”      Thường thì một hệ thống đưa ra một câu trả lời nhưng không đưa kèm theo một bức tranh rõ ràng về cách mà câu trả lời đó được tìm ra.      Nhưng chúng không hoàn hảo. Đặc biệt, Polsterer cảnh báo, các thuật toán chỉ biết làm những gì chúng được dạy. Hệ thống không biết gì về dữ liệu đầu vào. Đưa nó một thiên hà, nó có thể ước lượng tuổi hay độ dịch chuyển đỏ của thiên hà đó, nhưng đưa nó một bức ảnh “tự sướng” hay ảnh một con cá chết đang phân hủy, nó vẫn sẽ tính ra một số tuổi (tất nhiên là rất không chính xác). Cuối cùng, vẫn rất cần sự giám sát của một nhà khoa học con người, ông nói. “Vẫn lại là bạn, nhà khoa học. Bạn là người có trách nhiệm giải thích [kết quả].”  Về phần mình, Nord, ở Phòng thí nghiệm Fermi, khuyến cáo rằng mạng thần kinh cần cung cấp không chỉ kết quả, mà cả sai số7 kèm theo, điều mà mọi sinh viên đều được dạy phải làm. Trong khoa học, nếu bạn thực hiện một phép đo mà không đưa ra một ước lượng về sai số [của phép đo đó], sẽ không ai coi các kết quả đó là nghiêm túc, ông nói.  Như nhiều nhà nghiên cứu trí tuệ nhân tạo khác, Nord cũng lo ngại về sự khó hiểu của những kết quả do mạng thần kinh đưa ra; thường thì một hệ thống đưa ra một câu trả lời nhưng không đưa kèm theo một bức tranh rõ ràng về cách mà câu trả lời đó được tìm ra.  Nhưng không phải ai cũng cảm thấy sự khó hiểu đó là một vấn đề. Lenka Zdeborová, một nhà khoa học tại Viện Vật lý lý thuyết thuộc CEA Saclay8 (Pháp), chỉ ra rằng trực giác của con người cũng thường khó hiểu không kém. Bạn nhìn vào một bức ảnh và nhận ra ngay một con mèo, “nhưng bạn không biết làm sao bạn biết”, bà nói. “Bộ não của bạn, theo một nghĩa nào đó, cũng là một hộp đen.”  Không chỉ có các nhà vật lý thiên văn và các nhà vũ trụ học chuyển hướng sang khoa học dựa vào dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Những nhà vật lý lượng tử, như Roger Melko tại viện Perimeter9 và Đại học Warterloo ở Ontario (Canada), đã dùng mạng thần kinh để giải một số bài toán khó nhất và quan trọng nhất trong lĩnh vực của mình, chẳng hạn bài toán biểu diễn hàm sóng mô tả một hệ nhiều hạt. Sự cần thiết của trí tuệ nhân tạo là do, từ của Melko, “lời nguyền hàm mũ của số chiều”. Cụ thể, số dạng có thể của một hàm sóng tăng theo hàm mũ của số hạt trong hệ mà nó mô tả. Độ khó ở đây cũng tương tự như việc tìm ra nước đi tốt nhất trong một ván cờ vua hoặc cờ vây: bạn cố tính xa hơn nước tiếp theo, tưởng tượng cách đối thủ đáp trả, rồi lại chọn nước đi tốt nhất, và cứ sau mỗi một nước, số khả năng lại tăng gấp bội.  Tất nhiên, trí tuệ nhân tạo đã chơi thành thạo cả hai trò: cờ vua từ vài thập kỷ trước10, còn cờ vây từ năm 2016, khi chương trình AlphaGo đánh bại một kỳ thủ hàng đầu. Một cách tương tự, chúng cũng thích hợp cho những bài toán vật lý lượng tử, Melko nói.     Trí tuệ của máy móc     Dù người đúng là Schawinski, nghĩa là ông đã tìm ra “cách thứ ba” để làm khoa học, hay là Hogg, nghĩa là nó đơn giản là quan sát truyền thống kết hợp với phân tích dữ liệu “lên đồng”, rõ ràng trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi hương vị và giúp tăng tốc khám phá khoa học. Cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong khoa học sẽ tiến xa đến đâu?  Cứ lâu lâu lại có những tuyên bố to tát về thành tựu của một “nhà khoa học robot”. Khoảng một chục năm trước, một robot – nhà hóa học có tên Adam nghiên cứu bộ gene11 của men bánh mỳ và xác định những gene nào có vai trò tạo ra một số axit amin nào đó. (Adam thực hiện việc này bằng cách quan sát những đoạn men thiếu một số gene nào đó, và so sánh với những đoạn men có các gene đó.) Tạp chí Wired đưa tiêu đề “Robot tự mình khám phá khoa học”12.  Mới hơn, Lee Cronin, một nhà hóa học tại Đại học Glasgow (Scotland), dùng một robot để trộn ngẫu nhiên các hóa chất với nhau, để tìm những hợp chất mới. Theo dõi các phản ứng trong thời gian thực với một phổ kế khối lượng, một máy cộng hưởng từ hạt nhân, và một phổ kế hồng ngoại, hệ thống dần học được cách dự đoán những phản ứng hóa học nào là mạnh nhất. Dù nó không tìm ra được chất mới, hệ thống tự động đó, theo Cronin, có thể giúp đẩy nhanh các nghiên cứu hóa học tới 90 phần trăm.  Năm ngoái, một nhóm nghiên cứu khác tại ETH Zurich dùng mạng thần kinh để rút ra các định luật vật lý từ dữ liệu. Hệ thống của họ, một loại robo-Kepler, thiết lập lại mô hình nhật tâm của hệ Mặt trời từ dữ liệu vị trí của Mặt trời và sao Hỏa trên bầu trời khi quan sát từ trái Đất, và rút ra định luật bảo toàn động lượng nhờ quan sát va chạm của những quả bóng. Vì các định luật vật lý thường có thể được thể hiện theo nhiều cách, các nhà nghiên cứu tự hỏi liệu hệ thống có thể đưa đến những cách nghĩ mới, có thể đơn giản hơn, về các định luật đã biết.  Những thí dụ trên đều nói về việc trí tuệ nhân tạo khởi đầu cho quá trình khám phá khoa học, mặc dù trong mỗi trường hợp, chúng ta đều có thể tranh luận về tính cách mạng của cách tiếp cận mới. Có lẽ câu hỏi gây tranh cãi nhất là có bao nhiêu thông tin có thể được rút ra chỉ từ dữ liệu. Đây là một câu hỏi cấp thiết trong kỷ nguyên của những dữ liệu vô cùng lớn (và còn tiếp tục tăng). Trong “Cuốn sách tại sao”13, nhà khoa học máy tính Judea Pearl và cây viết khoa học Dana Mackenzie khẳng định rằng dữ liệu “ngu hết sức”. Những câu hỏi về quan hệ nhân – quả “không bao giờ trả lời được chỉ từ dữ liệu,” họ viết trong sách. “Bất cứ lúc nào bạn gặp một bài báo hay một nghiên cứu phân tích dữ liệu mà không theo một mô hình, bạn có thể chắc chắn rằng kết quả của nghiên cứu đó chỉ là tóm tắt, và có thể biến đổi, nhưng không phải giải thích dữ liệu.” Schawinski đồng tình với lập trường của Pearl, nhưng ông coi ý tưởng làm việc “chỉ với dữ liệu” là “hơi đánh tráo khái niệm.” Ông nói mình chưa bao giờ tuyên bố rút ra quan hệ nhân – quả theo cách đó. “Tôi chỉ nói rằng với dữ liệu, chúng ta có thể làm được nhiều hơn so với lối thông thường.”  Một luận điểm thường gặp khác là khoa học đòi hỏi sáng tạo, và rằng, ít nhất cho tới hiện tại, chúng ta không biết làm sao lập trình sự sáng tạo. (Chỉ thử mọi cách, như robot của Cronin, thì chẳng có gì là sáng tạo cho lắm.) “Tôi cho rằng đưa ra được một lý thuyết có đủ lý lẽ đòi hỏi sự sáng tạo,” Polsterer nói. “Cứ cần sự sáng tạo là cần phải có con người.” Và sự sáng tạo đến từ đâu? Polsterer ngờ rằng nó đến từ sự buồn chán, một điều mà theo ông máy móc không thể nào cảm nhận. “Muốn sáng tạo, bạn cần ghét cảm giác nhàm chán. Và tôi nghĩ máy tính không bao giờ có thể thấy chán.” Mặt khác, người ta thường dùng những từ “sáng tạo”, “truyền cảm hứng” khi nói về những chương trình máy tính như Deep Blue hay AlphaGo. Và sự khó khăn trong việc diễn tả những gì diễn ra bên trong “trí tuệ” của máy móc cũng giống như sự khó khăn khi tìm hiểu chính quá trình suy nghĩ của chúng ta.  Schawinski mới bỏ môi trường hàn lâm để làm việc trong lĩnh vực tư nhân. Ông hiện dẫn dắt Modulos, một công ty khởi nghiệp với nhiều nhân viên là các nhà khoa học của ETH Zurich. Trên trang chủ, công ty tự giới thiệu là “ở trong mắt bão của sự phát triển trí tuệ nhân tạo và học máy”. Dù có những trở ngại nào chắn giữa công nghệ trí tuệ nhân tạo hiện nay và trí tuệ nhân tạo hoàn thiện, Schawinski và những chuyên gia khác vẫn tin rằng máy móc sẽ làm ngày càng nhiều công việc của các nhà khoa học. Có giới hạn hay không thì còn chưa biết.  “Liệu chúng ta có thể, trong một tương lai gần, sử dụng những linh kiện sinh học, tạo ra một cỗ máy có thể khám phá những tri thức vật lý và toán học mà những con người thông minh nhất cũng không thể tự mình tìm ra?” Schawinski băn khoăn. “Liệu tương lai của khoa học có nhất định phải dựa vào những cỗ máy hoạt động ở một trình độ chúng ta không bao giờ đạt tới? Tôi không biết. Đó là một câu hỏi hay.”□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Phạm Tuấn Anh, Trung tâm vũ trụ Việt Nam hiệu đính  Nguồn bài và ảnh: https://www.quantamagazine.org/how-artificial-intelligence-is-changing-science-20190311/  (Tất cả các chú thích là của người dịch)  1 Còn gọi là thiên hà Tiên Nữ, là một thiên hà gần với dải Ngân Hà của chúng ta.  2 “Fermilab”, bang Illinois, Mỹ.  3 Generative adversarial networks (GAN).  4 Tác giả có chút nhầm lẫn: bài báo được nói đến là “Exploring galaxy evolution with generative models”, đăng trên số tháng 8/2018 (volume 616) của tạp chí A&A; “tháng 12/2018” là ngày ghi trên bản thảo lưu tại trang lưu trữ trực tuyến ArXiv.  5 “Tried-and-true”.  6 Heidelberg Institute for Theoretical Studies, Đức.  7 Nguyên văn: “error bars”.  8 Institut de Physique Théorique; CEA: Commissariat à l’Energie Atomique et aux Energies Alternatives – Cơ quan Năng lượng nguyên tử và các Năng lượng thay thế.  9 Perimeter Institute for Theoretical Physics: viện vật lý lý thuyết ở Canada, thành lập năm 1999; “perimeter” có thể hiểu là vòng ngoài, bao quanh.  10 Thực ra là hai thập kỷ.  11 Genome.  12 “Robot makes scientific discovery all by itself”: https://www.wired.com/2009/04/robotscientist/ .  13 The Book of Why (2018).    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI đạt trình độ chẩn đoán lâm sàng tương đương với chuyên gia        Một nghiên cứu trên Lancet Digital Health cho thấy AI đạt trình độ tương đương với các chuyên gia trong việc đưa ra các chẩn đoán y khoa dựa trên hình ảnh. Tiềm năng của AI trong chăm sóc sức khỏe là chủ đề luôn gây hứng thú, nhiều ý kiến cho rằng AI sẽ tiết …         Một nghiên cứu trên Lancet Digital Health cho thấy AI đạt trình độ tương đương với các chuyên gia trong việc đưa ra các chẩn đoán y khoa dựa trên hình ảnh. Tiềm năng của AI trong chăm sóc sức khỏe là chủ đề luôn gây hứng thú, nhiều ý kiến cho rằng AI sẽ tiết kiệm nguồn lực ngành y, thu ngắn thời gian tương tác bác sĩ – bệnh nhân và thậm chí hỗ trợ phát triển nhiều phương pháp điều trị. Tháng trước, chính phủ Anh đã công bố sẽ tài trợ 250 triệu bảng cho một phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo mới tại trường Đại học Bệnh viện Birmingham.  Một ứng dụng đang phát triển là sử dụng AI trong việc diễn giải các hình ảnh y tế dựa trên học sâu, một hình thức học máy tinh vi trong đó một loạt các hình ảnh được gắn nhãn được đưa vào các thuật toán để chọn ra các đặc tính và tìm hiểu cách phân loại những hình ảnh tương tự. Cách tiếp cận này đã cho thấy tiềm năng trong chẩn đoán các bệnh từ ung thư đến các bệnh về mắt. Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra: liệu các hệ thống học sâu có thể so sánh được với các kĩ năng của con người. Mới đây, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một đánh giá toàn diện đầu tiên về các nghiên cứu được công bố trong chủ đề này, và thấy rằng con người và máy móc có độ chính xác tương đương nhau.  Giáo sư Alastair Denniston ở Đại học Bệnh viện Birmingham, và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết, nghiên cứu này cũng là cái nhìn thực tế giữa rất nhiều quảng cáo thổi phồng về AI.  Tiến sĩ Xiaoxuan Liu, tác giả chính của nghiên cứu, đồng ý với nhận định này: “Có rất nhiều quảng cáo rầm rộ về khả năng vượt trội của AI, nhưng chúng tôi cho rằng AI mới chỉ ở mức độ tương đương với con người”.  Trong công bố trên Lancet Digital Health, Denniston, Liu và các đồng nghiệp đã báo cáo cách họ tập trung vào các tài liệu nghiên cứu được xuất bản từ năm 2012 – năm bản lề với học sâu. Tìm kiếm ban đầu đã cho ra hơn 20.000 nghiên cứu có liên quan. Tuy nhiên, chỉ có 14 nghiên cứu – tất cả dựa trên bệnh ở người – có đủ các điều kiện: (i) dữ liệu chất lượng tốt, (ii) thử nghiệm hệ thống học sâu bằng những hình ảnh từ một bộ dữ liệu riêng (thay vì thử nghiệm bằng cùng bộ dữ liệu dùng để huấn luyện) và (iii) cho các chuyên gia y khoa xem cùng các hình ảnh đó.  Các kết quả hứa hẹn nhất từ 14 nghiên cứu cho thấy các hệ thống học sâu đã phát hiện chính xác tình trạng bệnh trong 87% số trường hợp, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe phát hiện chính xác 86%. 93% chẩn đoán hoàn toàn an toàn của máy là chính xác, so với 91% của các chuyên gia. Tuy nhiên, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe trong các thử nghiệm này không được cung cấp thêm thông tin về bệnh nhân – thông tin mà họ được tiếp cận trong khám chữa bệnh thực tế và có thể cải thiện chẩn đoán.  Giáo sư David Spiegelhalter, Chủ tịch Trung tâm Winton về truyền thông rủi ro & bằng chứng tại Đại học Cambridge, cho biết lĩnh vực này đầy rẫy những nghiên cứu kém chất lượng. “Đánh giá xuất sắc này chứng minh rằng sự cường điệu về khả năng của AI trong y tế đang làm mờ đi sự kém chất lượng của hầu hết các nghiên cứu đánh giá”, ông nói. “Học sâu có thể là một kỹ thuật hiệu quả và ấn tượng, nhưng các bác sĩ lâm sàng nên đặt câu hỏi: nó thực sự hỗ trợ gì trong thực hành lâm sàng?”  Tuy nhiên, Denniston vẫn lạc quan về tiềm năng của AI trong chăm sóc sức khỏe, cho rằng các hệ thống học sâu như vậy có thể hoạt động như một công cụ chẩn đoán và giải quyết vấn đề tồn đọng các bản scan, hình ảnh. Liu nói thêm, chúng sẽ phát huy hiệu quả ở những nơi thiếu chuyên gia giải thích hình ảnh, quan trọng là phải sử dụng các hệ thống học sâu trong các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá liệu kết quả của bệnh nhân có được cải thiện so với cách thực hành hiện tại hay không.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2019/sep/24/ai-equal-with-human-experts-in-medical-diagnosis-study-finds    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI điểm những nét tương đồng bị giấu kín giữa các tác phẩm nghệ thuật      Bất chấp sự khác biệt về không gian, thời gian ra đời hay nền văn hóa mà chúng thuộc về, những tác phẩm nghệ thuật đã bất ngờ xích lại gần nhau hơn khi MosAIc, một thuật toán về truy vấn hình ảnh, phát hiện ra những điểm tương đồng giữa chúng.    Hai bức tranh khiến các nhà nghiên cứu MIT ấn tượng là The Martyrdom of Saint Serapion (Sự tử vì đạo của Thánh Serapion) của Francisco de Zurbarán và The Threatened Swan (Con thiên nga bị đe dọa) của Jan Asselijn. Nguồn: MIT CSAIL.  Nghệ thuật vẫn được coi là một trong những chuyến du hành lớn lao nhất mà con người có thể tham gia, nơi họ có thể tận hưởng những khoảnh khắc ngưng đọng trong một không gian và thời gian cụ thể. Con người có thể thoát khỏi hiện tại bằng vẻ đẹp thoáng chốc của nghệ thuật…  Từ trước đến nay, người ta thưởng thức nghệ thuật thông qua triển lãm ở các bảo tàng, phòng trưng bày với những bộ sưu tập được các nhà giám tuyển chọn lọc theo chủ đề. Do vậy họ không có nhiều lựa chọn, hoặc vì số lượng các tác phẩm, các bộ sưu tập mà họ có thể tham khảo còn chưa nhiều, hoặc vì ý tưởng trưng bày vẫn bám vào cách tiếp cận truyền thống. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp không tưởng là có thể huy động được hàng triệu tác phẩm đang tồn tại trong các viện bảo tàng với sự phong phú về phong cách nghệ thuật, chất liệu thể hiện, thời điểm ra đời thì ngay cả các nhà phê bình nghệ thuật am hiểu bậc nhất cũng không thể có đủ thời gian để tìm hiểu kỹ về từng bức tranh để phát hiện ra những điểm tương đồng mới đầy bất ngờ trong chủ đề, họa tiết, phong cách… Do đó, những mối liên hệ giữa các tác phẩm từ những thời kỳ khác nhau, của những không gian nghệ thuật khác nhau thường bị bỏ qua. Cho đến gần đây, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Phòng thí nghiệm Khoa học máy tính và AI (CSAIL) của MIT và Microsoft đã hợp tác cùng tạo ra MosAIc, một thuật toán để khám phá những kết nối còn ẩn giấu giữa các bức họa.  Từ ý tưởng mới của các nhà giám tuyển  Điểm khởi nguồn của việc tạo ra MosAIc là một cuộc triển lãm đặc biệt về các danh họa Hà Lan và Tây Ban Nha thế kỷ 17 mang tên “Rembrandt và Velazquez” tại bảo tàng Rijksmuseum (Hà Lan) vào năm ngoái. Rembrandt và Velazquez cách biệt nhau trong khoảng cách của cuộc chiến tranh Tám mươi năm hay còn được gọi là Chiến tranh giành độc lập của Hà Lan trước sự cai trị của Tây Ban Nha nhưng nhà giám tuyển Gregor Weber ở Rijksmuseum đã kéo lại họ gần với nhau bằng việc xếp các bức họa của họ theo từng cặp theo chủ đề. Ông cố tình đặt các phần thông tin chú thích thật xa các bức họa để khơi gợi sự kết nối thị giác của người xem với tác phẩm hơn là bị đóng khung vào giới thiệu của giám tuyển. Đôi khi sức mạnh của thị giác và cảm xúc mà nó tạo ra ở người xem còn vượt ra cả những thông tin rút trích đó.      MosAIc được tạo ra không để sáng tác ra một thứ nghệ thuật mới mà chỉ để phát hiện được những điểm mới mẻ từ nghệ thuật sẵn có.      Nghiên cứu sinh Mark Hamilton tham quan triểm lãm ở Amsterdam và ngạc nhiên thấy một số tác phẩm không hề có mối kết nối nào về thông tin đi kèm nhưng lại hoàn toàn tương đồng trên thực tế. Ví dụ một cặp tranh treo chung mà họ thấy ấn tượng là The Martyrdom of Saint Serapion (Sự tử vì đạo của Thánh Serapion) của Francisco de Zurbarán và The Threatened Swan (Con thiên nga bị đe dọa) của Jan Asselijn (một danh họa Hà Lan thế kỷ 17 khác trong triển lãm) mà anh chưa từng nghĩ đến là có thể xếp cặp với nhau chứ chưa nghĩ là giữa chúng lại có điểm tương đồng. Bức của Zurbarán miêu tả một vị thánh với đôi tay giơ cao còn bức của Asselijn miêu tả một con thiên nga bị bầm dập tả tơi vẫn giang rộng đôi cánh, một hình ảnh ẩn dụ về Johan de Witt, người anh hùng Hà Lan cố gắng bảo vệ đất nước trước kẻ thù. Cả hai đều khắc họa cảnh tượng về lòng vị tha sâu sắc với những điểm giống nhau đến lạ lùng.  Được mệnh danh là Caravaggio của Tây Ban Nha, họa sĩ Francisco de Zurbarán gắn bó với quê hương mình và chưa từng gặp gỡ họa sĩ thuộc thế hệ vàng của Hà Lan Jan Asselijn. “Trong đời họ chưa từng một lần gặp gỡ hay trao đổi với nhau nhưng trong hai bức vẽ này của họ lại ẩn chứa cùng một cấu trúc phong phú và giàu sức biểu đạt”, Mark Hamilton ngạc nhiên cho biết.  Không rõ là những khách tới xem triển lãm nhận được ấn tượng gì từ đó nhưng Mark Hamilton và các nhà nghiên cứu MIT đã được truyền cảm hứng về những ý tưởng mới để tạo ra MosAIc, một mạng lưới học sâu hiểu được ‘sự gần gụi’ của hình ảnh để có thể xếp cặp hoặc tìm “điểm tương tự” giữa những tác phẩm thuộc về nhiều nền văn hóa khác nhau, các nghệ sĩ khác nhau. Sau một năm triển khai nghiên cứu, bài báo về MosAIc của họ “Conditional Image Retrieval” (Truy vấn hình ảnh có điều kiện) đã hình thành và được đăng tải trên kho lưu trữ arxiv.  Thuật toán MosAIc  Dưới góc nhìn của nhiều người, khoa học và nghệ thuật dường như không tương đồng nhau mấy: một bên dựa trên nền tảng của tư duy logic, lý lẽ và chứng minh bằng sự thật, bên kia ngả theo cảm xúc, thẩm mỹ và cái đẹp. Nhưng thật ra hai lĩnh vực đó có nhiều nét gần gụi nhau mà gần đây, AI đã có những chứng minh rõ rệt, ví dụ như góp phần tạo dựng ra một thứ nghệ thuật mới, thậm chí có tác phẩm do AI tạo ra đã được nhà đấu giá Sotheby’s bán với giá 51.000 USD.  Tuy nhiên MosAIc được tạo ra không để sáng tác ra một thứ nghệ thuật mới mà chỉ để phát hiện được những điểm mới mẻ từ nghệ thuật sẵn có. Ở điểm này, dù có phần giống với “X Degrees of Separation”, một công cụ tương tự từng được Google phát triển để tìm ra những con đường nghệ thuật kết nối hai tác phẩm nhưng MosAIc không lặp lại tính năng đó. MosAIc khác biệt ở điểm chỉ với một hình ảnh đơn lẻ ban đầu, thay vì tìm những con đường, nó phát hiện kết nối của hình ảnh đó với những tác phẩm trong bất kỳ nền văn hóa nào hoặc trên nền tảng nào mà người dùng quan tâm, ví dụ như sếu lam do nhà thám hiểm Hà Lan thế kỷ 18 Robert Jacob Gordon tạo ra với một đồ trang trí bằng thủy tinh màu xanh lam từ Thổ Nhĩ Kỳ với cái vòi dài và mỏng mảnh.  Hệ học máy liên kết với một minh họa con sếu lam với những đồ thủy tinh và tác phẩm thế kỷ thứ 5 trước công nghệ vẽ thần Seth giết rắn trong đền thờ Amun tại Hibis. Nguồn: MIT CSAIL  Việc xây dựng thuật toán này không dễ bởi điều Hamilton và đồng nghiệp muốn là nó có thể tìm kiếm được những hình ảnh không chỉ tương đồng về màu sắc và phong cách mà còn ở ý nghĩa và chủ đề. Để đạt được điều đó, họ thăm dò bằng một mạng lưới học sâu có những “kích hoạt” bên trong với mỗi hình ảnh của những bộ sưu tập mở của cả Met và Rijksmuseum. Khoảng thời gian giữa những lần “kích hoạt” của mạng lưới học sâu này là cách chúng đánh giá sự tương đồng của hình ảnh để tìm thấy những đặc điểm chung nhất.  Để tìm được những hình ảnh tương tự giữa những tác phẩm thuộc về các nền văn hóa khác biệt, nhóm nghiên cứu đã dùng một cấu trúc dữ liệu tìm kiếm hình ảnh mới là “cây KNN có điều kiện” – một phương pháp phi tham số do giáo sư Thomas Cover (trường đại học Stanford) phát triển để phân loại và phân tích hồi quy. Thuật toán này đã nhóm các hình ảnh tương tự lại với nhau trong một cấu trúc hình cây. Để tìm ra điểm trùng hợp, họ bắt đầu ở “thân cây” và theo sát những “nhánh” hứa hẹn nhất cho đến khi tìm được hình ảnh gần gũi nhất. Cấu trúc dữ liệu được cải thiện về độ nhạy hơn so với những cấu trúc trước đây bởi nó cho phép cây nhanh chóng tự “cắt tỉa” để tìm được mô típ phù hợp với hình ảnh tìm thấy trong dữ liệu về một nền văn hóa, một nghệ sĩ, hoặc một bộ sưu tập cụ thể, qua đó nhanh chóng gặt hái được các câu trả lời về những dạng mới của các truy vấn.     Sau khi có sản phẩm, nhóm nghiên cứu quyết định kiểm tra tốc độ tìm kiếm của MosAIc và cách nó phù hợp một cách gần nhất với trực giác của con người về những điểm tương tự trong thị giác. Với các kiểm tra tốc độ tìm kiếm, họ muốn đảm bảo cấu trúc dữ liệu có thể “quét” qua toàn bộ bộ sưu tập một cách nhanh chóng. Còn với yêu cầu thứ hai, để hiểu cách hệ này phù hợp với trực giác con người, họ tạo hai bộ dữ liệu, một bộ thách thức các thuật toán tìm kiếm hình ảnh với cùng bối cảnh sau khi được cách điệu hóa với một phương pháp chuyển hóa cách điệu trung tâm, bộ còn lại thách thức các thuật toán phục hồi các chữ cái tiếng Anh qua nhiều loại phông chữ khác nhau. Chưa đầy hai phần ba thời gian quy định, MosAIc đã phục hồi lại hình ảnh chính xác bằng một dự đoán duy nhất với 5.000 hình ảnh “đống cỏ khô”.  “Mỗi lần sử dụng thuật toán này, tôi đều tìm thấy những điều vô cùng ngạc nhiên”, Hamilton trả lời Artnet News qua email. Ví dụ, anh đã sốc khi đề nghị MosAIc phản hồi một truy vấn về “một nhạc cụ gần gũi nhất với một chiếc Banyan họa tiết trắng và xanh lam” – một dạng trang phục xuất hiện tại Hà Lan từ thế kỷ 17 dựa trên cảm hứng từ bộ kimono Nhật Bản. Thuật toán mang về một hình ảnh của một cây violin Hà Lan bằng sứ pha trộn giữa hai màu trắng và xanh “nhưng ẩn chứa rất nhiều kết nối cơ bản. Đặc biệt hơn, các tác phẩm này là bằng chứng cho thấy trao đổi thương mại Hà Lan – Trung Quốc từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, đã dẫn đến một sự trao đổi văn hóa rộng hơn, ví dụ ta có thể thấy được sự yêu thích các đồ sứ tráng men lam và trắng từ Cảnh Đức Trấn, Giang Tây của thị trường châu Âu”, anh cho biết.  MosAIc liên kết với bộ trang phục Banyan với những tác phẩm nghệ thuật khác dựa trên diểm chung về màu sắc và phong cách. Nguồn: MIT CSAIL  “Các hệ truy vấn hình ảnh đem đến cho người dùng những hình ảnh tương tự về mặt ngữ nghĩa cho một hình ảnh được đề nghị, nó đóng vai trò xương sống cho các công cụ tìm kiếm ngược hình ảnh cũng như các công cụ giới thiệu hình ảnh”, Hamilton nêu trong trang web của MIT. “Việc tập trung phạm vi tìm kiếm của một hệ truy vấn hình ảnh vào những tập dữ liệu con cụ thể có thể đem lại những hiểu biết mới về các mối quan hệ trong thế giới hình ảnh thị giác. Với nghiên cứu này, chúng tôi hướng tới việc khuyến khích một mức mới về sự kết hợp giữa AI và các tác phẩm nghệ thuật đầy sáng tạo”.  Những cơ hội mới  Việc thiết kế và huấn luyện MosAIc sẽ vô cùng khó khăn nếu như các nhà nghiên cứu MIT không có được cơ hội sử dụng các tệp dữ liệu mở từ bảo tàng Rijksmuseum và Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan (Mỹ), đặc biệt là Rijksmuseum. Từ vài năm nay, cả hai nơi đã xây dựng được các bộ dữ liệu số những tác phẩm mà mình quản lý và trao cho công chúng quyền sử dụng nó một cách sáng tạo.      “Phương pháp của chúng tôi sẽ là công cụ tốt để thiết kế một dạng cụ thể của triển lãm: xếp các cặp tác phẩm còn chưa được nghĩ đến bằng việc vượt qua các rào cản ý tưởng và chia sẻ cấu trúc chung. Do đó chúng tôi hi vọng cách tiếp cận này có thể trở thành công cụ giúp các nhà lịch sử nghệ thuật tìm kiếm những mẫu hình mới trong lịch sử và tập hợp các bằng chứng để ủng hộ giả thiết của họ” (Mark Hamilton).      Xuất phát từ nghệ thuật, MosAIc được các nhà nghiên cứu hi vọng sẽ trở lại đóng góp cho nghệ thuật. “Phần mềm này có thể giúp tuyển chọn tác phẩm cho một triển lãm chứ không nhằm thay thế các nhà giám tuyển”, Hamilton giải thích. “Phương pháp của chúng tôi sẽ là công cụ tốt để thiết kế một dạng cụ thể của triển lãm: xếp các cặp tác phẩm còn chưa được nghĩ đến bằng việc vượt qua các rào cản ý tưởng và chia sẻ cấu trúc chung. Do đó chúng tôi hi vọng cách tiếp cận này có thể trở thành công cụ giúp các nhà lịch sử nghệ thuật tìm kiếm những mẫu hình mới trong lịch sử và tập hợp các bằng chứng để ủng hộ giả thiết của họ”.  Phạm vi ứng dụng của MosAIc không chỉ có thế, nó còn có thể mở ra những điểm mới khác trong nhiều lĩnh vực của đời sống. “Chúng tôi cho rằng công trình này sẽ gợi ý cho nhiều người khác nghĩ về cách các công cụ rút trích thông tin truy vấn có thể hữu dụng trong nhiều lĩnh vực như nghệ thuật , khoa học xã hội nhân văn, dược phẩm. Những lĩnh vực rất giàu thông tin mà chưa từng được xử lý với những kỹ thuật như thế này sẽ là một nguồn tài nguyên vô tận cho các nhà khoa học máy tính và chuyên gia miền. Công trình này có thể mở rộng các bộ sưu tập dữ liệu, các dạng mới của truy vấn và cả những cách mới để hiểu về sự kết nối bên trong các dữ liệu”, Hamilton nói với Artnet News.   Trước khi những mong đợi đó được thực hiện thì những gì mà Hamilton và đồng nghiệp tìm thấy đã trở thành một phần thưởng xứng đáng cho họ bởi cách tiếp cận này có thể được ứng dụng để giúp tìm ra những điểm của các hệ học sâu hiện có, liên quan đến việc lạm dụng “deepfakes” trong thời gian gần đây, một kỹ thuật tổng hợp và đặt chồng hình ảnh con người bằng cách sử dụng kỹ thuật mạng đối nghịch chung (GANs) để tung tin giả hoặc trả thù độc hại. Cấu trúc dữ liệu này đã giúp họ tìm ra các khu mà những mô hình xác suất mà GANs dùng để tạo ra các lỗi giả mạo “deepfakes”. Những “điểm mù” trong các tập dữ liệu như vậy chỉ có thể đánh lừa con người chứ không thể khiến MosAIc bó tay. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://www.zdnet.com/article/this-ai-can-discover-the-hidden-links-between-great-works-of-art/  https://news.mit.edu/2020/algorithm-finds-hidden-connections-between-paintings-met-museum-0729  https://news.artnet.com/art-world/mit-mosaic-ai-curator-1900193    Author                .        
__label__tiasang AI đưa kiệt tác “Tuần đêm” của Rembrandt về kích thước nguyên bản      Bảo tàng Rijksmuseum đã tái tạo kiệt tác của danh họa Hà Lan về đúng kích thước của tác phẩm, 300 năm sau khi nó bị cắt xén để vừa với nơi trưng bày.      Khách tham quan bảo tàng Rijksmuseum (Amsterdam) để chiêm ngưỡng kiệt tác vào năm 2020. Nguồn: CNN  The Night Watch (Tuần đêm) của Rembrandt đã thu hút hàng triệu người đến Rijksmuseum (Amsterdam) trong hàng thế kỷ, choáng ngợp về quy mô và các chi tiết nghệ thuật của nó.  Nhưng chỉ từ hôm nay, nhờ trí tuệ nhân tạo (AI) để bổ sung thêm những chi tiết vào tác phẩm của danh họa Hà Lan, bao gồm cả những đường cọ và những gì tầm mắt ông bắt gặp, thì lần đầu tiên sau 300 năm bức họa này xuất hiện dưới hình thức hoàn chỉnh.  Vào năm 1715, ba phần tư thế kỷ sau khi được vẽ, tấm toan này đã bị cắt gọn – 60 cm bị cắt ở bên trái bức họa, 22 cm ở phía trên, 12 cm từ bên dưới và 7 cm từ bên phải – để kiệt tác này có thể vừa vặn giữa hai cái cột ở vị trí treo tranh tại tòa thị chính của Amsterdam.    Chi tiết của phần tái tạo. Nguồn: Piroschka van de Wouw/Reuters  Nhưng bằng việc sử dụng thuật ảnh có độ phân giải cao dựa trên những gì còn lại của bức họa, việc máy tính nghiên cứu kỹ thuật của Rembrandt và một bản sao hiện tại của toàn bộ bức tranh do họa sĩ Gerrit Lundens chép, được treo ở Phòng tranh quốc gia London, Bảo tàng Rijksmuseum ở Amsterdam đã có khả năng tái tạo được tác phẩm với toàn bộ sự rạng rỡ của nó.  Điều này thật kỳ diệu bởi vì nó tương hợp với những gì ở Rembrandt vẽ đại úy Frans Banninck Cocq và đồng đội của ông. Nó chính xác là những gì mọi người thấy”, Taco Dibbits, giám đốc của Rijksmuseum, nói.  “Với việc bổ sung một cách đặc biệt ở bên trái và bên dưới bức họa, một không gian rỗng được tạo ra trong bức họa nơi họ hành quân tới. Khi bức họa bị cắt [những người lính] nằm ở phía trung tâm nhưng Rembrandt thực tế là hướng họ đi lệch tâm đến phía không gian trống đó, và đó là phẩm chất thiên tài của Rembrandt: anh tạo ra một chuyển động, một động lực của đội quân hành quân hướng về phía trái của bức tranh”.Những yếu tố khác của việc phục hồi bức tranh là ba nhân vật trên một cây cầu: hai người lính và một cậu nhỏ. Một người lính đội mũ sắt ở rìa phải của bức tranh cũng được hoàn thành và một không gian trên bên cây cột, khiến cho chuyển động của lá cờ mà anh đang giơ lên góp phần làm màu sắc của cả đội quân nổi hẳn lên. Người ta có thể nhìn thấy một cách rõ ràng một cậu bé ở phía trước bên trái đoàn quân đang nắm chặt lấy một chấn song và chạy, dẫn đầu đội quân.    Bức họa bị mất đi 60cm rìa trái và 7cm rìa phải. Nguồn: Piroschka van de Wouw/Reuters  “Thật tuyệt vời khi có thể ngắm Tuần đêm bằng chính cặp mắt mình như Rembrandt muốn hướng chúng ta nhìn vậy,” Dibbits nói.  Bản sao chép của Lundens, được vẽ trong vòng 13 trên bản nguyên gốc chưa bị ‘cắt gọt’, là một  tác phẩm có chất lượng vừa phải. Các nhà khoa học nghiên cứu bức tranh với sự trợ giúp của máy tính đã khám phá ra là ông hẳn phải ngồi ở phía bên trái của bức họa, tạo ra những biến dạng theo tầm nhìn của mình. Ông đã sử dụng các kiểu pha màu sơn khác biệt một chút so với danh họa Hà Lan và tác phẩm của ông bị lão hóa một cách khác biệt với Tuần đêm theo thời gian.  Một công nghệ mang tên các mạng thần kinh tích chập (convolutional neural networks), một dạng của thuật toán AI có thể giúp các máy tính hiểu được các hình ảnh, đã có thể hiệu chỉnh tất cả các lỗi sai khi tái tạo những phần đã mất mát theo từng điểm ảnh. Một cách cẩn trọng, những chiếc máy tính đều có thể học hỏi cách tái tạo những đường cọ của Rembrandt để đảm bảo gần nhất có thể với cách bức họa xuất hiện cách đây ba thế kỷ.  Dibbits nói: “Như một phần tái tạo Tuần đêm của chúng tôi, năm ngoái chúng tôi đã có được phần ảnh chụp chi tiết nhất của bức họa so với trước đây và có nhiều thông tin nhất có thể.  Chúng tôi đã xây dựng ba kiểu thuật toán: một để chỉ ra những biến dạng về tầm nhìn và hiệu chỉnh nó; thứ hai để ghi nhận khung màu sắc của bức nguyên bản và dự đoán những phần bị mất; thứ ba là những đường cọ – kỹ thuật mà Rembrandt đã sử dụng. Sau đó, có một máy tính tái tạo bức tranh để nó càng giống bức Tuần đêm càng tốt.  “Chúng tôi đã in nó lên mặt toan theo đúng tỉ lệ và gắn vào bức nguyên bản, trong ba tháng, có thể thấy được sáng tác nguyên gốc như Rembrandt hướng đến, hoàn toàn tuyệt vời. Nó hệt như nhau”.    Rembrandt Harmenszoon van Rijn đã hoàn thành bức Tuần đêm vào năm 1642, theo đặt hàng của đội dân quân tự vệ Amsterdam – những người có nhiệm vụ bảo vệ thành phố này khỏi quân Tây Ban Nha và tình trạng xung đột tôn giáo – để trang trí cho phòng tiệc mới tại trụ sở của đội là nhà Kloveniersdoelen.  Đến cuối thế kỷ 17, đội quân này không còn phù hợp với bối cảnh chung nữa nên trụ sở của họ đã được chuyển đổi thành một câu lạc bộ của những quý ông, nhà đấu giá và khách sạn. Bức họa được chuyển đến tòa thị chính và ở đây, nó đã bị gọt bớt bốn cạnh, từ chỗ cao 4,57 mét thành 3,96 mét.  Dibbits cho rằng: “Tôi luôn luôn hi vọng là ai đó sẽ gọi cho chúng tôi và nói rằng họ đang có những mảnh bị mất. Tôi có thể hiểu là phần dưới và phần trên không thể cứu được nữa nhưng ở phía trái bức tranh có tới ba nhân vật, vì vậy thật ngạc nhiên là chúng không thể bị mất đi. Vào thời điểm năm 1715 thì Rembrandt đã được biết đến và là một họa sĩ đắt giá”.  Những phần được bổ sung vào bức họa sẽ không được tiếp tục trưng bày sau thời gian ba tháng triển lãm vì Dibbits nói ông không muốn “đánh lừa” công chúng bởi sẽ tạo cảm giác là họ đang xem nguyên bản của bức họa. Theo ông, sự khác biệt giữa tác phẩm của Lundens và tác phẩm nguyên bản ‘mở rộng’ này là giữa sự “diễn dịch của một nghệ sĩ” và một “sự diễn dịch khoa học”.  “Thật thú vị khi thấy điều đó,” ông nói.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://edition.cnn.com/style/article/rembrandt-night-watch-ai-restoration/index.html  https://www.theguardian.com/artanddesign/2021/jun/23/ai-helps-return-rembrandts-the-night-watch-to-original-size  https://www.artnews.com/art-news/news/rembrandt-ai-restoration-1234596736/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai được lợi từ cuộc chiến Israel – Lebanon ?      Những người Do Thái đã đúng khi cho rằng, họ thường xuyên là nạn nhân của những âm mưu “gắp lửa bỏ tay người” và “ném đá dấu tay”, họ thường bị người ta đổ cho là thủ phạm của nhiều tội ác. Và lần này, điều đó có lẽ lại được chứng minh, bằng một hiện thực rõ ràng. Cuộc xung đột đang diễn ra có thể sẽ leo thang đến một đỉnh điểm khủng khiếp là Mỹ sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Iran. Thứ vũ khí đó đã được sử dụng lần đầu tiên ở Nagasaki, và lần này thế giới sẽ lại đổ lỗi cho những người Do Thái.    Phản ứng cực kỳ quá đáng của Israel đối với Hezbollah đang gây nên những tổn thương nghiêm trọng đến cuộc sống hòa bình của người dân, đó là một sự vi phạm trắng trợn những hiệp định Geneva và đáng phải chịu những trừng phạt nghiêm khắc nhất. Điều vô cùng cần thiết đối với người Do Thái hiện nay là họ phải tránh xa những chính sách vô nhân đạo của chính phủ Israel cũng như sự hậu thuẫn của Mỹ. Thật may mắn là một số người cũng đang làm như vậy, nhưng thật vô cùng không may mắn là nhiều người lại không. “Hàng nghìn người Do Thái ở Mỹ đã đứng chật kín các con phố” ở New York và ở nhiều nơi khác trên đất Mỹ để ủng hộ những hành động của Israel (theo báo cáo của Jerusalem Post). Cả Quốc hội Mỹ cũng đã thông qua những nghị quyết ủng hộ hành động của Israel ở Lebanon, “để hậu thuẫn vững chắc và lâu dài đối với các cử tri Do Thái” (theo Washington Post).  Điều trớ trêu là, những tội ác chiến tranh của Israel sẽ trở nên rất nhỏ bé khi so sánh với tội ác chống lại loài người sẽ xảy ra khi Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Iran. Bằng những phản ứng quá khích và bằng việc kết tội (không có bằng chứng) Iran sẽ hậu thuẫn cho Hezbollah, Israel sẽ bị người ta coi thủ phạm chính nếu cuộc xung đột leo thang đến mức kéo cả Iran và mời gọi cả Mỹ cùng nhảy xuống vực sâu tội lỗi của chiến tranh. Nếu điều này xảy ra, Israel cũng chưa chắc đạt được mục tiêu làm bá chủ Trung Đông, nhưng có một điều chắc chắn hơn là Mỹ sẽ nhảy thêm một bước nữa trong âm mưu làm bá chủ thế giới.  Lợi lộc gì cho Israel?  Mọi thứ sẽ vẫn tiếp diễn mà không thể nói được là Israel sẽ được lợi gì từ việc hủy diệt Hezbollah. Thật khó có thể nghĩ rằng chuyện tấn công Lebanon bừa bãi như vậy lại có thể thu được bất cứ cái gì khác ngoài việc làm tăng sự ủng hộ của thế giới Arab đối với Hezbollah. Shmuel Rosner đã gọi Israel là “sứ giả chết chóc của Mỹ”, một công cụ được sử dụng để củng cố cho “chương trình nghị sự dân chủ” của Bush. Rõ ràng là những hành động hiện nay của Israel là rất phi lý và mang tính chất tự hủy hoại mình. Trừ khi động cơ thực sự của họ là kéo Syria và Iran vào cuộc xung đột, theo những xúi bẩy từ Washington. Ít nhất thì Israel cũng không thể làm điều này nếu không có sự bật đèn xanh từ phía Mỹ, và Mỹ sẽ can thiệp nếu xung đột lan rộng. Trong bất cứ diễn biến tiếp theo nào, Bush đều đã sẵn sàng cho một sự tuyên bố công khai.  Không lực Mỹ sẽ lập tức hủy diệt cơ sở hạ tầng quân sự của Iran nếu nước này chỉ cần bắn một quả tên lửa chống lại Israel. Có thể dự liệu rằng, nếu Mỹ hoặc Israel tấn công Iran thì Iran sẽ lập tức tháo xích cho con hổ Hezbollah để nó tấn công phá hoại Israel. “Hezbollah cũng được xem như một chướng ngại làm chúng ta bó tay trước những đe dọa hạt nhân từ Iran,” một quan chức Israel nói. Thế đấy, trước mắt chúng ta là một màn kịch, và chúng ta có thể nhận ra rằng, dù bị thổi phồng như thế nào đi chăng nữa thì Hezbollah cũng chỉ là một con hổ giấy, một cái đèn xanh cho kế hoạch tấn công Iran.                  Iran có lợi không?  Điều thực sự là bất thường đối với cuộc xung đột hiện nay ở Trung Đông chính là sự uẩn khúc xoay quanh những cáo buộc ầm ĩ chống lại Iran, cả một loạt những chính khách và phương tiện truyền thông đồng loạt buộc tội (mà không đưa ra bằng chứng) Iran hậu thuẫn cho Hezbollah. Trước đây, điều này chưa bao giờ xảy ra khi có xung đột ở Lebanon liên quan đến Hezbollah, tại sao bây giờ lại có tình trạng đó?    Một lý do được đưa ra là Ahmadinejad đã từng tỏ thái độ thù địch chống Israel, tuy nhiên điều đó xảy ra từ năm 1979, thời điểm diễn ra cách mạng Iran.  Một lý do khác là Iran đang tìm cách “đánh lạc hướng sự chú ý” đối với vấn đề hạt nhân. Điều đó trái với logic. Nếu thực sự có ý định chế tạo vũ khí hạt nhân và hủy diệt Israel, thì Iran sẽ bằng mọi cách giữ bí mật cho đến khi nước này trong tay thứ vũ khí hủy diệt đó.  Thực tế là, dù được cho là có động cơ xấu hay tốt thì Iran cũng chẳng được lợi lộc gì từ sự bất ổn hiện nay ở Lebanon, Syria cũng vậy. Kết quả là, sự tuyên bố rùm beng của Mỹ và Israel đã cho thấy một kế hoạch cố ý kéo Syria và Iran vào cuộc chiến.    Cơ hội tốt cho Mỹ  Từ vài năm nay, các nhà phân tích đã dự đoán Mỹ sẽ tấn công Iran. Chính sách của Mỹ đối với Iran rõ ràng là theo hướng đối đầu chứ không phải thỏa hiệp. Có rất nhiều lý do để Mỹ tấn công Iran, bao gồm việc kiểm soát tài nguyên dầu mỏ, dằn mặt những đối thủ có ý định chống lại những lợi ích của Mỹ và Israel trong khu vực. Tuy nhiên, theo tôi, lý do chính khiến Mỹ kiếm cớ gây sự với Iran chính là để vượt qua cái ngưỡng hạt nhân và sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các cơ sở quân sự của Iran. Điều này là rất cần thiết để Mỹ có thể thực hiện những mục tiêu sâu xa hơn.  Kể từ sau khi ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, Mỹ đã bỏ ra hơn 5 nghìn tỷ đô la để xây dựng kho vũ khí hạt nhân, nhưng các vũ khí hạt nhân đã trở nên “mất khả năng sử dụng” sau 60 năm không dùng đến. Mỹ đã từng đạt được vị trí đứng đầu về hạt nhân nhưng điều đó lại thành ra vô dụng, cho đến khi Mỹ thấy rằng nó có thể tìm ra cớ để lại sử dụng vũ khí hạt nhân lần nữa.    Mỹ đang mong có được “những bí mật quân sự” liên quan đến các trung tâm vũ khí hóa học và sinh học của Iran dưới lòng đất. Một khi Iran dính dáng vào cuộc xung đột và bắn một quả tên lửa vào  Israel hoặc khu vực quân đội Mỹ, thì Mỹ sẽ lập tức hô lên rằng quả tên lửa tiếp theo của Iran có thể sẽ mang đầu đạn hóa học hoặc sinh học và gây thương vong không kể xiết cho người Mỹ, người Iraq hoặc người Israel. Và thế là những đầu đạn phá boong-ke hạt nhân liều lượng thấp của Mỹ sẽ được ra mắt như là một cách “nhân đạo” nhất để giảm thương vong.                Vì sao điều đó có thể xảy ra?  Từ năm 1941, Mỹ đã khởi động một chiến lược quân sự khổng lồ để chế tạo vũ khí hạt nhân, đỉnh điểm là vụ thử Trinity và hai cuộc ném bom khủng khiếp ở Hiroshima và Nagasaki năm 1945. Đó là những hành động ám muội và bất cứ sự day dứt lương tâm hay áy náy về đạo đức nào cũng đều bị gạt qua một bên. Sau đó, người ta lại lập luận rằng, nhiều mạng sống của người Mỹ và người Nhật đã được cứu bằng việc tấn công hạt nhân bắt phát xít Nhật đầu hàng.  Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, đang có một âm mưu bí mật mà đỉnh điểm của nó sẽ là tấn công hạt nhân đối với Iran, để “cứu lấy những mạng sống”. Những đầu đạn hạt nhân phá boong-ke liều lương thấp sẽ được sử dụng, chúng chưa được kiểm nghiệm, nhưng được coi là cũng “đáng tin cậy” như quả bom “Little Boy” đã được thả xuống Hiroshima!!!  Sau khi Mỹ lại sử dụng vũ khí hạt nhân lần nữa, nó sẽ khởi động lại kho vũ khí hạt nhân để chống lại các nước phi hạt nhân. Nó sẽ có thể tiến hành chiến tranh “với giá rẻ”, cứu được những mạng sống của người Mỹ trong những cuộc xung đột tương lai.  Điều đó không được phép xảy ra. Tổng thống là người duy nhất có quyền ra lệnh sử dụng vũ khí hạt nhân. Đã có những thay gốc rễ trong chính sách vũ khí hạt nhân của Mỹ, và tuyên bố của Bush là giải pháp hạt nhân đang được “đặt lên bàn”. Đối với tình trạng nguy hiểm này, cần phải có một sự đồng thuận lớn để hạn chế quyền lực tuyệt đối của tổng thống trong việc ra lệnh tấn công hạt nhân Iran. Tất cả được trông chờ vào các tổ chức “chống hạt nhân”, các tổ chức chính trị, khoa học, nhân đạo, cần hành động trước khi quá muộn. Không dùng “giải pháp hạt nhân”, nước Mỹ sẽ tập chung hơn vào việc thương thuyết chứ không phải đối đầu với Iran.    Kẻ nào có lợi, kẻ đó phải chịu trách nhiệm       Nói ngắn gọn, Israel chắc chắn có lợi từ việc phá hủy các tiềm lực quân sự của Iran. Nhưng kết quả là Israel sẽ không được hưởng hòa bình bởi vì việc tấn công hạt nhân Iran sẽ gây ra một làn sóng thù hận khổng lồ chống lại Israel trong thế giới Hồi giáo. Israel (và cả thế giới người Do Thái) sẽ phải chịu một gánh nặng khủng khiếp vì đã dính líu đến sự kiện này.  Mỹ sẽ có được những lợi ích khổng lồ. Vươn ra những chiếc vòi hạt nhân của mình, nó sẽ thiết lập sự thống trị tuyệt đối ở vùng Trung Đông và trung tâm châu Á, nó sẽ dần dần ép Trung Quốc và Nga phải buông khỏi tay vũ khí hạt nhân.  Và cuối cùng, tất cả chúng ta đều sẽ thua. Bởi vì, một khi hung thần hạt nhân thoát khỏi cái chai trong chiến tranh chống Iran, nó sẽ không bao giờ bị bắt trở lại. Và cũng giống như việc Mỹ đã có thể phát triển vũ khí hạt nhân chỉ trong 4 năm, thì rất nhiều nước cũng như tổ chức khác cũng có động cơ và khả năng để làm điều đó.  Hãy thử suy nghĩ về tình hình hiện nay, trước một cuộc xung đột mà các đối thủ đã có trong tay vũ khí hạt nhân. Sau mỗi lần trả đũa nhau bằng hạt nhân, số người chết sẽ tăng nhanh đến mức khi tất cả các bên kịp bình tĩnh trở lại thì đã quá muộn. Ai sẽ ngăn lại sự leo thang chết chóc này? Một đất nước chỉ còn lại vài người sống sót ư?  Sau thảm họa hủy diệt hạt nhân, một số người sống sót sẽ nhớ lại cuộc xung đột Lebanon và sau đó là chiến tranh Iran, tội lỗi sẽ được đổ lên đầu người Do Thái. Những người biết suy nghĩ sẽ đổ lỗi cho người Mỹ, và mọi sự cấm kỵ về vũ khí hạt nhân sẽ bị xóa sạch, đầu tiên là ở mức lý luận, sau đó sẽ đến mức thực hành. Và tiếp theo, những người khác, tất nhiên sẽ đổ lỗi cho “Hồi giáo cực đoan”.  Và thế là, sự đổ lỗi liên tục như vậy sẽ lần lượt thiêu trụi ba tỷ năm tiến hóa của sự sống trên hành tinh này.  Trần Trung biên dịch  Jorge Hirsch      Author                Quản trị        
__label__tiasang AI ghi nhận biểu cảm trong nghệ thuật thị giác      Các chuyên gia về trí tuệ nhân tạo đã có khả năng tạo ra những máy tính có thể “thấy” thế giới xung quanh nó – ghi nhận các vật thể, con vật, và những hành động trong tầm hiểu biết của chúng. Đây là những công nghệ nền tảng cho ô tô tự lái, máy bay không người lái và các hệ an ninh trong tương lai.      Hiện tại thì một nhóm nghiên cứu đang nỗ lực làm việc để dạy các máy tính ghi nhận không chỉ các vật thể trong một bức ảnh mà còn cách những bức ảnh đó khơi gợi cảm xúc của con người như thế nào – ví dụ các thuật toán với trí tuệ cảm xúc.  “Khả năng này sẽ trở thành yếu tố quan trọng để tạo ra trí tuệ nhân tạo không chỉ thông minh hơn mà còn có chất người hơn”, Panos Achlioptas, một nghiên cứu sinh về khoa học máy tính tại trường đại học Stanford hiện đang cộng tác với những đồng nghiệp Pháp và Saudi Arabia, nói.  Để đạt được mục tiêu này, Achlioptas và các thành viên của nhóm nghiên cứu đã thu thập một bộ dữ liệu mới mang tên ArtEmis, mới được xuất bản gần đây trên arXiv như một dạng tiền ấn phẩm. Bộ dữ liệu đó có khoảng 81.000 bức vẽ WikiArt và chứa 440.000 câu phản hồi dưới do hơn 6.500 người viết ra để chỉ dấu cách mỗi bức tranh khơi gợi cảm xúc gì ở họ – và bao gồm những giải thích về việc tại sao họ lại chọn lấy một biểu cảm nhất định. Sử dụng những phản hồi đó, Achlioptas và nhóm nghiên cứu do giáo sư Stanford Leonidas Guibas, đã huấn luyện hệ nhận dạng AI cho phép phản hồi chữ viết, qua đó cho phép máy tính tạo ra những phản hồi cảm xúc với nghệ thuật thị giác và chứng minh những cảm xúc đó trong ngôn ngữ.    Các nhà nghiên cứu đã chọn sử dụng nghệ thuật thể hiện cảm xúc một cách cụ thể và rành mạch, vì mục tiêu của một hoa sĩ là khơi gợi cảm xúc ở người xem. ArtEmis hướng đến mọi chủ đề, từ tranh tĩnh vật đến chân dung hay tranh trừu tượng.  Công trình này là một cách tiếp cận mới trong thị giác máy tính, Guibas lưu ý. Anh là một thanh viên của Phòng thí nghiệm AI và Viện nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm ở Stanford. “Công việc thu thập thị giác máy tính cổ điển thường nắm bắt nội dung theo nghĩa đen”, Guibas nói. “Có ba con chó trong bức ảnh này hoặc ai đó đang uống cà phê từ một cái cốc. Nay thì thay cách đó, chúng tôi cần những miêu tả xác định nội dung cảm xúc”.   Nắm bắt cảm xúc  Thuật toán này ghi nhận tác phẩm của các nghệ sĩ vào một trong tám hạng mục biểu cảm – phạm vi trải rộng từ kinh ngạc đến thích thú, sợ hãi hay buồn rầu – và sau đó giải thích bằng văn bản những gì trong bức ảnh thể hiện cảm xúc đó. (Hãy xem min họa. Tất cả các bức tranh đều được thuật toán này đánh giá).  “Chiếc máy tính này đang thực hiện điều đó”, Achlioptas nói. “Chúng tôi có thể chứng minh đây là một bức ảnh hoàn toàn mới và nó sẽ nói với chúng ta biết là một người có thể cảm nhận được gì nếu thấy bức ảnh đó”.  Các nhà nghiên cứu cho biết, thật đáng chú ý là những chú thích phản ánh một cách chính xác nội dung trừu tượng của bức ảnh theo những cách vượt quá khả năng cả những thị giác máy tính hiện tại, vốn được huấn luyện trên những bộ dữ liệu ảnh tài liệu như Coco.   Hơn nữa, thuật toán mới này không chỉ đơn giản là nắm bắt được trải nghiệm cảm xúc của một bức ảnh hoàn thiện mà còn có thể hiểu được những biểu cảm khác trong một bức ảnh nhất định. Ví dụ trong bức tranh nổi tiếng về cảnh cái đầu bị chém của John the Baptist do danh họa Rembrandt vẽ, ArtEmis phân biệt không chỉ nỗi đau trên khuôn mặt của người đàn ông cầm cái đầu của John the Baptist mà còn cả “sự mãn nguyện” trên khuôn mặt của Salome, người phụ nữ đã cầu xin chặt đầu John the Baptist.    Achlioptas nêu, ngay cả khi ArtEmis chưa đủ độ phức tạp và tinh tế để đánh giá được ý đồ của từng tác giả có thể khác biệt trong bối cảnh của mỗi bức họa, công cụ này cũng vẫn có thể nhận biết được tính chủ quan và sự thay đổi trong phản hồi của con người. “Không phải mỗi người đều thấy và cảm nhận giống nhau khi ngắm một tác phẩm nghệ thuật”, anh nói. Ví dụ, “Tôi có thể cảm thấy hạnh phúc khi nhìn thấy bức ‘Mona Lisa’ nhưng giáo sư Guibas có thể cảm thấy buồn bã. ArtEmis có thể phân biệt được những điều khác biệt này”.   Công cụ của một nghệ sĩ  Trong tương lai gần, các nhà nghiên cứu dự đoán là các nghệ sĩ có thể coi ArtEmis như một công cụ hữu ích để đánh giá tác phẩm của mình trong suốt quá trình sáng tạo để đảm bảo công trình của họ sẽ khơi gợi được cảm xúc và có tác động như mong muốn. “Nó có thể đem lại hướng dẫn và khơi nguồn cảm hứng để ‘lèo lái’ tác phẩm của họ theo hướng họ mong muốn”, Achlioptas nói. Ví dụ, một nghệ sĩ đồ họa sáng tác một lô gô mới có thể sử dụng ArtEmis để đảm bảo là có được hiệu ứng cảm xúc mong muốn.  Một khi nghiên cứu và tinh chỉnh thêm thì Achlioptas có thể thấy trước các thuật toán về cảm xúc này có thể giúp mang đếm cảm xúc với những ứng dụng trí tuệ nhân tạo ở chatbot và các tác nhân AI đàm thoại. “Tôi thấy là ArtEmis có thể đem những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người vào trí tuệ nhân tạo”, Achlioptas nói. “Tôi muốn làm cho AI mang tính cá nhân hơn và cải thiện hơn những trải nghiệm của con người với nó”.   Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-03-artist-intent-ai-emotions-visual.html  https://arxiv.org/abs/2101.07396       Author                Quản trị        
__label__tiasang AI giúp giải quyết phương trình của Schrödinger      Một nhóm nghiên cứu tại trường đại học Freie Berlin đã phát triển một phương pháp trí tuệ nhân tạo (AI) để tính toán trạng thái nền tảng của phương trình Schrödinger trong hóa lượng tử. Mục tiêu của hóa lượng tử là dự đoán các tính chất hóa học và vật lý của các phân tử chỉ dựa trên sắp xếp của các nguyên tử của chúng trong không gian, tránh sự cần thiết của việc tiến hành các thí nghiệm đòi hỏi tốn kém về nguồn lực và mất nhiều thời gian.    Về nguyên lý, điều này có thể đạt được khi giải quyết được phương trình Schrödinger, tuy nhiên trên thực tế rất khó thực hiện.  Cho đến hiện nay, dường như không thể tìm ra được một giải pháp chính xác đến các phân tử tùy ý để tính toán một cách hiệu quả. Tuy vậy, nhóm nghien cứu tại đại học Freie đã phát triển một phương pháp học sâu có thể đạt được một kết hợp chưa có tiền lệ đem lại sự chính xác và hiệu quả tính toán. AI đã tạo ra nhiều chuyển đổi trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, từ thị giác máy tính đến khoa học vật liệu. “Chúng tôi tin rằng cách tiếp cận của chúng tôi có thể tác động một cách đáng kể đến tương lai của hóa lượng tử”, giáo sư Frank Noé, người dẫn dắt nhóm nghiên cứu thực hiện công trình này, cho biết.  Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên Nature Chemistry “Deep-neural-network solution of the electronic Schrödinger equation”.  Trung tâm của cả hóa lượng tử và phương trình Schrödinger là hàm sóng – một chủ đề toán học chỉ định rõ hành xử của các electron trong một phân tử. Hàm sóng là một thực thể nhiều chiều và do đó vô cùng khó để bắt được tất cả các sắc thái được mã hóa cách các đơn electron ảnh hưởng lẫn nhau. Nhiều phương pháp hóa lượng tử trên thực tế đem lại biểu hiện hàm sóng một cách đầy đủ, thay vì chỉ xác định năng lượng của một phân tử cho trước. Dẫu sao điều này đòi hỏi những xấp xỉ, giới hạn chất lượng dự đoán của nhiều phương pháp.  Những phương pháp khác thể hiện hàm sóng với việc sử dụng một số lượng rất lớn của các khối toán học cơ bản và đơn giản nhưng nhiều phương pháp lại quá phức tạp nên không thể đặt chúng vào thực tế để tính một số nguyên tử. “Thoát khỏi việc đáng đổi thông thường giữa độ chính xác và chi phí tính toán là thanh công cao nhất mà hóa lượng tử đạt được”, tiến sĩ Jan Hermann của trường đại học Freie Berlin và là người thiết kế các đặc điểm chính của phương pháp này trong nghiên cứu, giải thích. “Chỉ có ngoại lệ duy nhất là lý thuyết phiếm hàm mật độ hiệu quả về chi phí. Chúng tôi tin là ‘Monte Carlo lượng tử’, cách tiếp cận mà chúng tôi đề xuất, có thể đạt hiệu quả tương đương, nếu không muốn nói là thành công hơn. Nó đưa ra độ chính xác chưa từng thấy với mức chi phí tính toán vẫn có thể chấp nhận được”.  Mạng lưới thần kinh sâu do nhóm của giáo sư Noé thiết kế là cách mới trong việc tái hiện những hàm sóng của các electron. “Thay vì cách tiếp cận tiêu chuẩn của việc tạo ra hàm sóng từ các hợp phần toán học liên quan, chúng tôi thiết kế một mạng thần kinh nhân tạo có năng lực học các mẫu hình phức hợp về cách các electron được xếp đặt quanh các hạt nhân”, Noé giải thích. “Một đặc điểm khác thường của những hàm sóng electron là sự bất đối xứng của chúng. Khi hai electron trao đổi dấu của chúng, hàm sóng cũng phải thay đổi dấu của chúng. Chúng tôi đã thiết lập tính chất này vào kiến trúc mạng thần kinh để cách tiếp cận này có thể triển khai được”, Hermann nói. Đặc tính này vốn được gọi là ‘nguyên lý ngoại trừ Pauli’, vì vậy các tác giả đã gọi phương pháp của mình là ‘PauliNet’.  Bên cạnh nguyên lý loại trừ Pauli, các hàm sóng electron cũng còn có các đặc tính vật lý cơ bản khác, và nhiều thành công mang tính đổi mới sáng tạo của PauliNet tích hợp các đặc tính đó vào mạng thần kinh sâu hơn là định hình sâu chúng bằng việc quan sát dữ liệu. “Xây dựng vật lý cơ bản trên nền tảng AI là có thể để tạo ra các dự đoán có ý nghĩa trong lĩnh vực này”, Noé nói. “Đây thực là nơi các nhà khoa học có thể đem lại một đóng góp đáng kể với AI, và chính xác đó là những gì nhóm nghiên cứu của tôi đang tập trung vào”.  Vẫn còn nhiều thách thức trước khi phương pháp của Hermann và Noé sẵn sàng áp dụng vào công nghiệp. “Đây vẫn là nghiên cứu cơ bản”, họ đồng ý với nhận định này” nhưng cách tiếp cận mới để giải quyết một vấn đề cũ trong phân tử và khoa học vật liệu thì chúng tôi rất phấn khích trước những khả năng có thể mở ra trước mắt”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-artificial-intelligence-schrdinger-equation.html  http://dx.doi.org/10.1038/s41557-020-0544-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI giúp tìm hiểu “vật chất tối” của các vật liệu siêu dẫn kỳ lạ      Học máy hỗ trợ lý thuyết tồn tại 20 năm qua về trạng thái điện tử trong vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao.      Vật liệu siêu dẫn là loại vật liệu có thể dẫn điện mà không gặp phải bất kỳ điện trở nào nhưng chỉ hoạt động ở nhiệt độ thấp hơn 4 độ dưới không tuyệt đối  Các thuật toán học máy đang hỗ trợ các nhà nghiên cứu tìm hiểu trạng thái lượng tử của một loại vật liệu siêu dẫn khiến các nhà vật lý bế tắc nhiều thập kỷ qua.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng AI để điểm các bậc bị dấu kín trong các hình ảnh của một trạng thái kỳ dị trong các vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao. Kết quả đã được xuất bản trên arXiv vào đầu tháng 9/2018, ủng hộ một lý thuyết đã khiến các nhà nghiên cứu nỗ lực suốt thập kỷ qua để hiểu thêm về các vật liệu này.  Nghiên cứu cho thấy lần đầu tiên, học máy đã thành công trong việc tìm ra ý nghĩa của dữ liệu thực nghiệm về vật chất lượng tử, Eun-Ah Kim tại đại học Cornell ở Ithaca, New York cho biết. Cô mới trình bày về trình này tại hội nghị Vật liệu và cơ chế của siêu dẫn và siêu dẫn nhiệt độ cao ở Bắc Kinh vào tháng 8 vừa qua.  Về lâu dài, học máy có thể thúc đẩy các nỗ lực điểm các mẫu đơn giản trong các hệ thống thí nghiệm hỗn độn và ồn ào khác như các chất lỏng spin lượng tử – những yếu tố có thể hình thành những vấn đề cơ bản của một kiểu ngoại lai của máy tính lượng tử trong tương lai.  Vật liệu bí ẩn  Nghiên cứu tập trung vào các chất siêu dẫn – loại vật liệu có thể dẫn điện mà không gặp phải bất kỳ điện trở nào nhưng chỉ hoạt động ở nhiệt độ thấp hơn 4 độ K, trên không tuyệt đối, khoảng -2690C. Nhóm nghiên cứu của Kim tìm hiểu về cuprate – một nhóm chất hiếm được ô xít đồng tạo thành và trở thành chất siêu dẫn tại các mức nhiệt độ tới -1400C. Việc hiểu nguyên nhân vì sao cuprate có khả năng siêu dẫn cũng có thể là yếu tố chính để họ đưa các vật liệu kỹ thuật này đạt được khả năng như thế ở nhiệt độ phòng.  Nhưng mục tiêu đưa vật liệu có khả năng siêu dẫn ở nhiệt độ phòng đã bế tắc khi cuprate rơi vào trạng thái pseudogap (trong vật lý chất rắn, pseudogap được dùng để miêu tả một trạng thái khi bề mặt Fermi của một vật liệu có một khe hở năng lượng cục bộ, ví dụ một trạng thái cấu trúc vùng năng lượng khi bề mặt Fermi bị trống chỉ ở điểm xác định, khiến ở đó vật liệu không còn siêu dẫn nữa). Các tương tác phức hợp giữa các điện tử và hạt nhân tạo ra pseudogap. Có hai vấn đề xảy ra: vô cùng phức tạp để miêu tả trạng thái về lý thuyết và nhiều thách thức để quan sát hiện tượng hỗn loạn pseudogap. Tuy gọi trạng thái này của cuprates là “vật chất tối”, nhưng một số nhà vật lý vẫn cho biết, trạng thái pseudogap có thể đóng vai trò quan trọng để hiểu về chất siêu dẫn.  Các nhà vật lý đã quan sát một vài dấu hiệu hứa hẹn trong trật tự của pseudogap – có thể thấy dưới dạng những gợn sóng của mật độ eletron hay thay đổi – nhưng họ lại không đồng thuận với nhau về việc giải thích các mẫu hình này. Một cách tiếp cận cho thấy các eletron như các hạt tương tác mạnh, trong khi những tiếp cận khác lại coi chúng như dạng sóng và chỉ là tương tác yếu.   Để có thêm nhiều thông tin về các mẫu hình này, nhóm nghiên cứu của Kim đã thiết kế các mạng lưới thần kinh – AI được truyền cảm hứng từ các cấu trúc trong bộ não – để nghiên cứu các hình ảnh của pseudogap. Các mẫu trong các hình ảnh, được chụp bằng kính hiển vi điện tử quét truyền qua, thường xuất hiện lộn xộn dưới mắt người bởi sự hỗn loạn và dao động một cách tự nhiên của vật liệu siêu dẫn cũng biến động trong các phép đo. Trong trường hợp này, sự tiên tiến của học máy thể hiện ở chỗ các thuật toán có thể học hỏi để ghi nhận các mẫu hình mà con người không thể nhìn thấy.  Để huấn luyện các thuật toán, nhóm nghiên cứu đã “nuôi” các mạng lưới thần kinh bằng các ví dụ về các mẫu hình gợn sóng có liên hệ với các dự đoán lý thuyết khác nhau. Để học cách ghi nhận các ví dụ, mỗi thuật toán ứng dụng cách học này từ dữ liệu thật về các cuprate trong trạng thái pseudogap. Hơn 81 lần lặp, các thuật toán này đã nhận ra một mẫu hình biến điệu lặp đi lặp lại tương ứng với hình dạng giống hạt của các eletron, vốn được chỉ ra vào những năm 1990.  Công trình đã chứng tỏ hình dạng giống hạt thích hợp với trường hợp này hơn là hình dạng giống sóng gây tranh cãi, André-Marie Tremblay, nhà vật lý tại trường Sherbrooke ở Canada và từng nghe phần thuyết trình của Kim tại Beijing, nói. Nghiên cứu về bản chất của các mẫu hình là điều cốt lõi để hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, Milan Allan, nhà vật lý ở trường đại học Leiden, Hà Lan, cho biết.  Kỹ thuật AI của họ có thể giúp các nhà vật lý hiểu được chất siêu dẫn nhiệt độ cao, Allan cho biết thêm, mặc dù ông cảnh báo, vẫn còn những điều chưa chắc chắn trong công trình và nó sẽ còn tiếp tục gây tranh cãi về kết quả của trạng thái pseudogap.  Nghiên cứu thật ấn tượng, ứng dụng nguyên bản của các thuật toán học máy trên dữ liệu thực nghiệm, Tremblay nhận xét. Nhưng thuật toán này có thể chỉ phù hợp với những giả thuyết phong phú được đưa ra hơn là tìm kiếm những mẫu hình mới.  Trong suốt phần trình bày của mình, Kim cho biết đang ứng dụng kỹ thuật AI để hiểu nhanh ý nghĩa của dữ liệu từ nhiễu xạ tia X của các vật liệu lượng tử — một kỹ thuật sử dụng tán xạ của các sóng ánh sáng để tìm cấu trúc vật lý của vật liệu 3D nhưng việc tạo ra các mẫu hình nhiều đến mức họ có thể mất vài tháng để làm sáng tỏ bằng những phương thức thông thường. Trong trường hợp này, AI phải rút ra được những điểm tương đồng và tự tiến hành phân loại, hơn là được trao những ví dụ đã được nêu trước, bằng những đặc điểm theo nhóm mà nó thấy tương tự nhau trong các cụm. “Việc sử dụng AI, hay học máy, để hiểu được sự xuất hiện lượng tử trong nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ bắt đầu”, chị cho biết.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06144-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI giúp tìm người mất tích trong rừng      Một nhóm ba nhà nghiên cứu tại trường đại học Johannes Kepler đã sử dụng AI để cải thiện độ nhạy của camera hình ảnh nhiệt nhằm tìm kiếm người mất tích trong rừng.      Trong bài báo “Search and rescue with airborne optical sectioning” (Tìm kiếm và giải cứu với phân đoạn thị giác ở trên không” xuất bản trên tạp chí Nature Machine Intelligence, David Schedl, Indrajit Kurmi và Oliver Bimber đã miêu tả cách họ ứng dụng một mạng lưới học sâu để giải quyết vấn đề người mất tích trong những cánh rừng và cách mạng lưới đó triển khai như thế nào.  Khi có người bị mất tích trong rừng, các chuyên gia tìm kiếm và giải cứu thường sử dụng máy bay trực thăng để bay trên các khu vực mà họ thường cho là sẽ tìm thấy người bị mất tich đó. Ngoài việc chỉ quét phần mặt đất bên dưới, các nhà nghiên cứu thường sử dụng ống nhòm và các camera hình ảnh nhiệt để tăng hiệu quả tìm kiếm. Họ hi vọng là nhiều máy quay sẽ làm bật lên những phần khác nhau  trong nhiệt độ cơ thể người trên mặt đất khu vực họ đang tìm kiếm để có thể dễ dàng “điểm trúng” người mất tích. Tuy nhiên thật không may là trong nhiều tình huống thì hình ảnh nhiệt không hiển thị rõ như mong muốn bởi vì cây cối bao phủ đất bên dưới hoặc nhiệt lượng từ mặt trời tỏa lên cây cối cũng đem lại mức nhiệt độ tương tự cơ thể người.  Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận được các vấn đề này và vượt qua hạn chế đó bằng việc ứng dụng một thuật toán học sâu để cải thiện các hình ảnh được tạo ra.  Giải pháp mà họ phát triển bao gồm việc ứn dụng một phần mềm AI để xử lý đa hình ảnh trong một khu vực cho trước. Họ so sánh nó với việc sử dụng AI đế xử lý dữ liệu từ những kính viễn vọng vô tuyến khác nhau. Việc này cho phép nhiều kính viễn vọng vận hành một cách hợp nhất như một kính viễn vọng lớn. Theo cách làm tương tự, việc ứng dụng AI mà họ áp dụng có thể cho phép họ có được những hình ảnh nhiệt đa dạng do một máy bay trực thăng (hoặc drone) tạo ra một hình ảnh như thể có được từ một máy quay với một ống kính lớn. Sau khi xử lý, các hình ảnh này đã tạo được ra một trường sâu hơn – trong đó các phần ngọn cây chỉ xuất hiện một cách lờ mờ trong khi người dưới mặt đất lại trở nên dễ nhận biết hơn nhiều. Để huấn luyện cho hệ AI này, các nhà nghiên cứu đã phải tạo ra một cơ sở dữ liệu hình ảnh của riêng họ. Họ đã sử dụng nhiều drone để tạo ra những bức ảnh của các tình nguyện viên trên mặt đất ở nhiều vị trí khác nhau.  Kiểm tra độ chính xác của hệ này cho thấy, xấp xỉ từ 87 đến 95% chính xác so với 25% của phương pháp camera hình ảnh nhiệt truyền thống.  Các nhà nghiên cứu đề xuất là hệ AI của họ đã sẵn sàng cho việc tìm kiếm và giải cứu những nhóm người hoặc có thể hữu dụng với việc thi hành pháp luật, quân đội hoặc công việc của các nhóm quản lý động vật hoang dã.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-11-artificial-intelligence-drones-people-lost.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI giúp xe tự hành tránh chạy không tải lúc đèn đỏ      Không ai thích đứng chờ đèn đỏ. Nhưng các giao lộ có đèn báo thường không chỉ gây ra những phiền toái nho nhỏ cho tài xế; các loại xe thường tiêu thụ nhiên liệu và phát thải khí nhà kính trong khi chờ đèn giao thông thay đổi tín hiệu.    Liệu những người lái xe máy có thể tốn ít thời gian trên đường hơn khi họ đến các giao lộ đúng lúc đèn xanh? Dù có thể là may mắn cho những người cầm lái nhưng liệu nó có thể là may mắn có thể đạt được với một chiếc xe tự hành sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để kiểm soát tốc độ?  Trong một nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu MIT đã triển khai một cách tiếp cận học máy có thể học cách kiểm soát một đoàn xe tự hành khi chúng đi qua một giao lộ có tín hiệu đèn giao thông theo một cách có thể giữ cho luồng giao thông “ngon trớn”.  Với việc sử dụng các mô phỏng, họ phát hiện ra cách tiếp cận của mình giảm thiểu được sự tiêu thụ nhiên liệu và phát thải khí trong khi cải thiện được tốc độ di chuyển. Kỹ thuật này đem lại các kết quả tốt nhất trong trường hợp các xe trên đường đều là xe tự hành nhưng nếu ngay cả chỉ 25% số xe sử dụng thuật toán điều khiển vận hành thì nó vẫn đem lại khả năng tiêu thụ nhiên liệu bền vữn và lợi ích về giảm thiểu phát thải.  “Đây thực sự là nơi thú vị cho các giải pháp can thiệp. Không có cuộc sống của ai đó trở nên tốt đẹp hơn hoặc tệ hơn khi bị mắc kẹt ở một giao lộ. Tuy nhiên nếu có rất nhiều giải pháp làm thay đổi khí hậu thì sẽ có một chất lượng cuộc sống khác hẳn”, theo nhận xét của Cathy Wu, trợ lý giáo sư Khoa Kỹ thuật môi trường và dân dụng MIT và thành viên của Viện Dữ liệu, hệ thống và xã hội (IDSS), Phòng thí nghiệm thông tin và hệ ra quyết định (LIDS) – tác giả chính của nghiên cứu.  Tác giả thứ nhất của nghiên cứu là Vindula Jayawardana, một nghiên cứu sinh ở LIDS và Khoa Kỹ thuật điện và khoa học máy tính. Nghiên cứu này sẽ được trình bày tại Hội nghị Điều khiển châu Âu (European Control Conference).  Những phức tạp của giao lộ  Dẫu con người có thể từng băng qua đường lúc đèn xanh mà không cần phải nghĩ nhiều, có thể có hàng tỉ kịch bản khác nhau ở các giao lộ, phụ thuộc vào số lượng làn đường, cách vận hành tín hiệu, số lượng xe, tốc độ vận hành và sự hiện diện của người đi bộ và đi xe đạp…  Các cách tiếp cận cụ thể cho các vấn đề điều khiển giao lộ sử dụng các mô hình toán học chỉ để giải quyết một giao lộ lý tưởng và đơn giản. Điều đó có vẻ tốt trên lý thuyết nhưng dường như không phù hợp trong thế giới thực, nơi các mẫu hình giao thông thường có rất nhiều hỗn loạn và lộn xộn.  Wu và Jayawardana chuyển hướng và cách tiếp cận vấn đề bằng việc sử dụng kỹ thuật học tăng cường (không mô hình). Học tăng cường là một phương pháp thử và sai nơi thuật toán kiểm soát học được cách ra một chuỗi quyết định. Nó cũng có phần thưởng nếu tìm ra một chuỗi tốt. Với học tăng cường sâu, thuật toán này là đòn bẩy cho các giả định được một mạng thần kinh học để tìm đường tắt cho một chuỗi quyết định tốt, ngay cả có hàng tỉ khả năng có thể.  Điều này hữu dụng để giải quyết một bài toán tồn tại lâu như vậy; thuật toán điều khiển phải đem lại hơn 500 chỉ lệnh gia tốc cho một chiếc xe trong một khoảng thời gian dài, Wu giải thích.  “Và chúng tôi phải có được một chuỗi đúng trước khi chúng tôi biết mình đã làm xong việc giúp giảm thiểu khí thải và đặt một tốc độ đúng để đến một giao lộ lúc đèn xanh”, cô cho biết thêm.  Nhưng còn có thêm một vấn đề. Các nhà nghiên cứu muốn một hệ học được một chiến lược giảm thiểu việc tiêu thụ nhiên liệu và giới hạn được thời gian di chuyển. Các mục tiêu này có thể xung đột với nhau.  “Để giảm thiểu thời gian đi lại, chúng tôi muốn ô tô đi nhanh nhưng vẫn giảm thiểu phát thải, chúng tôi muốn đi chậm lại hoặc không chuyển động… Những hàm thưởng cạnh tranh như thế này có thể gây bối rối”, Wu nói.  Việc giải quyết vấn đề này một cách tổng quát và đầy đủ thực sự là một thách thức. Do đó, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một giải pháp khác bằng cách sử dụng một kỹ thuật được gọi là định hình phần thưởng. Với kỹ thuật định hình phần thưởng, hệ thống được cung cấp một số kiến ​​thức miền mà nó không thể tự học được. Trong trường hợp này, hệ thống bị “phạt” bất cứ khi nào xe dừng hẳn, vì vậy nó sẽ học cách tránh hành động đó.  Các thử nghiệm giao thông   Khi đã phát triển được một thuật toán kiểm soát hiệu quả, họ đánh giá nó bằng việc sử dụng một nền tảng mô phỏng giao thông với một giao lộ. Thuật toán điều khiển được ứng dụng cho một dòng xe tự hành có kết nối, có thể truyền tin về tín hiệu đèn giao thông phía trước để nhận các pha tín hiệu và thông tin thời gian và quan sát môi trường xung quanh. Thuật toán điều khiển  có thể “nói” với mỗi chiếc xe về cách tăng tốc và giảm tốc độ.  Hệ thống của họ không tự tạo ra được một giao thông dừng và đi như cách các chiếc xe tiếp cận giao lộ (dừng và đi xuất hiện khi các loại xe đến một điểm dừng hoàn toàn tùy thuộc vào dòng giao thông). Trong thế giới mô phỏng, nhiều chiếc xe đã vượt qua được trong một pha xanh duy nhất, tốt hơn mô hình mô phỏng người lái xe. Khi so sánh với các phương pháp tối ưu hóa khác cũng được thiết kế để tránh hiện tượng dừng và đi thì kỹ thuật của MIT dẫn đến mức giảm tiêu thụ nhiên liệu và giảm lượng khí thải lớn hơn. Nếu mọi chiếc xe trên đường đều là xe tự hành, hệ điều khiển của chúng có thể giảm mức tiêu thụ nhiên liệu tới 18% và 25% lượng khí thải carbon dioxide, đồng thời tăng tốc độ di chuyển lên 20%.  “Một biện pháp can thiệp đơn lẻ cũng có thể làm giảm đi 20 đến 25% lượng nhiên liệu hay phát thải, thực sự không thể tin được. Nhưng những gì tôi phát hiện ra còn thú vị hơn và thực sự đem lại hi vọng là điều này không bị giới hạn. Nếu chúng ta chỉ kiểm soát được 25% lượng xe thôi thì chúng ta cũng thu được 50% lợi ích về giảm nhiên liệu và phát thải. Điều đó có nghĩa là chúng ta không cần chờ cho đến khi chúng ta dùng 100% xe tự hành để đạt được lợi ích từ cách tiếp cận này”, cô nói.  Các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về hiệu quả tương tác giữa đa giao lộ. Họ muốn lên kế hoạch khám phá những thiết kế giao lộ khác nhau (số lượng làn đường, tín hiệu, thời gian giữa các tín hiệu…) có thể ảnh hưởng như thế nào đến thời gian di chuyển, phát thải và tiêu thụ nhiên liệu. Thêm vào đó, họ muốn nghiên cứu về cách hệ điều khiển có thể tác động đến độ an toàn giao thông khi xe tự hành và xe người lái cùng nhau đi trên đường. Ví dụ, ngay cả khi xe tự hành có thể định hướng một cách khác biệt với xe người lái, các con đường chậm hơn và các con đường với các tốc độ bền vững hơn có thể cải thiện được độ an toàn, Wu nói.  Dẫu công trình này mới chỉ ở những giai đoạn đầu tiên thì Wu đã thấy cách tiếp cận này là một trong những cách có thể khả thi trong tương lai gần.  “Mục tiêu của công trình này là để chuyển đến một sự di chuyển bền vững. Chúng tôi muốn mơ mộng nhiều hơn nhưng các hệ này đều là những con thú trì trệ khổng lồ. Việc nhận diện các điểm can thiệp là những thay đổi nhỏ với hệ này nhưng có tác động đáng kể lên điều chúng ta có thể đón nhận vào mỗi buổi sáng khi thức dậy”, cô nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://news.mit.edu/2022/ai-autonomous-driving-idle-0517  https://techxplore.com/news/2022-05-artificial-intelligence-autonomous-vehicles-idling.html    Author                .        
__label__tiasang AI hỗ trợ quản lý sinh viên trong ký túc xá      Giải pháp camera giám sát do nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Bách khoa TPHCM triển khai, giúp tự động nhận diện, ghi nhớ và phân tích cùng lúc hàng ngàn khuôn mặt.    Ký túc xá (KTX) sinh viên Trường Đại học Bách khoa TPHCM có khoảng 2.500 sinh viên mỗi năm, được lắp đặt hệ thống camera giám sát, ứng dụng công nghệ thẻ RFID trong việc giám sát vào cổng. Nhờ đó, KTX đã giải quyết nhiều vấn đề an ninh như trộm cắp, phá hoại thang máy, vi phạm nội qui kí túc xá, tạo nề nếp học tập, sinh hoạt lành mạnh trong khuôn viên,… Tuy nhiên, điểm hạn chế của cơ chế nhận dạng này là phụ thuộc vào con người (nhân viên bảo vệ) và rất khó để nhận biết đâu là sinh viên đang lưu trú, đâu là người đột nhập trái phép, đặc biệt là những lúc có số lượng sinh viên đông.        Ngoài ra, hạ tầng camera tại đây còn chưa đồng bộ công nghệ. Một số camera chất lượng thấp, chưa ứng dụng các phương pháp xử lý camera tự động, nên ứng dụng camera trong an ninh để truy vết, tìm bằng chứng là hạn chế. Vì vậy, trong đề tài “Ứng dụng công nghệ AI trong bài toán giám sát an ninh tại Trung tâm dịch vụ Ký túc xá Trường Đại học Bách Khoa TPHCM”, nhóm tác giả đã tập trung xây dựng hệ thống giám sát với số lượng gần 200 camera được bố trí tại nhiều khu vực khác nhau; đồng thời xây dựng, hoàn thiện và tích hợp các phần mềm, công nghệ vào hệ thống như Phần mềm vào cổng kết hợp công nghệ RFID và AI; Phần mềm quản lý video VMS; Lõi nhận diện khuôn mặt bằng thuật giải học sâu; Phần mềm giám sát an ninh; Ứng dụng di động phục vụ giám sát từ xa;..    Trong đó, Phần mềm vào cổng kết hợp công nghệ RFID và AI có tính năng lấy mẫu ảnh sinh viên, phát hiện sử dụng thẻ RFID không đúng chủ thể, với độ chính xác trên 85%; và Ứng dụng công nghệ học sâu trong nhận diện khuôn mặt và nhận diện giới tính đối tượng, giúp phát hiện khuôn mặt trong khung hình (ảnh hoặc video), cũng với độ chính xác trên 85%.    Theo TS Dương Ngọc Hiếu, Chủ nhiệm đề tài, giải pháp có thể ứng dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau như hệ thống điểm danh chấm công, kiểm tra đối tượng có chứng nhận tiêm ngừa vaccine, nhận diện khách hàng bằng khuôn mặt,…    Ngoài áp dụng triển khai tại KTX Đại học Bách khoa TPHCM, giải pháp hiện đang được ứng dụng vào giám sát an ninh, trật tự công cộng tại Công an P.1 Quận 10 (TPHCM), nhận diện bệnh nhân trước khi vào phòng mổ tại Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM. Đề tài đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu.    Đỗ Ngọc    Author                phongvien        
__label__tiasang AI kiểm soát các trang trại canh tác theo chiều thẳng đứng      Hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng, bạn đang sống trong một nền văn minh sơ khai, và đã đến giờ ăn tối. Không siêu thị, McDonald’s hay The Cheesecake Factory, bạn phải xoay sở để chuẩn bị bữa ăn cho mình mỗi ngày. Không Uber, bạn sẽ phải đi bộ như người nguyên thủy cách đây khoảng 12.000 năm TCN – đôi khi bạn phải đi hàng dặm. Bạn còn phải học cách săn bắn, câu cá, hái lượm và nấu nướng cho bữa ăn hằng ngày của mình. Bất chấp cơn mưa. Bất chấp đó là ngày Chủ nhật.    Nghề nông phát triển khá nhiều kể từ đó. Nhưng với việc dân số thế giới đã tăng lên tới 8 tỷ người, chúng ta phải đối mặt với một vấn đề. Như nhà kinh tế học thế kỷ 18 Thomas Malthus đã nhận xét, dân số loài người tăng theo cấp số nhân, trong khi sản lượng lương thực tăng theo cấp số cộng. Điều đó đồng nghĩa với việc, nền văn minh càng phát triển thì càng có nhiều khả năng không thể đáp ứng đủ thực phẩm cho loài người.   Dù những tiến bộ trong công nghệ thực phẩm đã giúp ngăn chặn viễn cảnh u ám theo dự đoán của Malthus, nhưng tương lai của ngành sản xuất lương thực – trong bối cảnh dân số Trái đất thì tăng vọt, còn khu vực trồng trọt ngày càng bị thu hẹp – vẫn là điều đáng lo ngại. National Geographic gần đây đã dự đoán rằng vào năm 2050, Trái đất sẽ có thêm hơn 2 tỷ nhân khẩu, trong khi diện tích đất có thể trồng trọt về cơ bản vẫn giữ nguyên.  Plenty – một startup về kỹ thuật nông nghiệp của San Francisco nghĩ rằng họ có thể mang đến giải pháp. Nate Storey, đồng sáng lập của Penty muốn đổi mới nghề nông.  Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông đã xây dựng những nông trại theo chiều thẳng đứng, có thể kiểm soát được khí hậu. Cựu Chủ tịch Google Eric Schmidt, Jeff Bezos của Amazon và SoftBank đã tài trợ 400 triệu đô-la vào ý tưởng này.  Những nông trại thẳng đứng này chỉ rộng 2 mẫu Anh, nhưng đã sản xuất nên một lượng trái cây và rau củ mang lại giá trị tương đương với các nông trại 720 mẫu Anh. Startup này đã ứng dụng AI để vận hành các robot chuyên điều khiển ánh sáng, nhiệt độ và công việc tưới nước cho nông trại. Họ mô phỏng hóa ánh sáng mặt trời bằng các bảng LED, vì vậy rau củ có thể sinh sôi trong điều kiện tối ưu 24/7. Thêm vào đó, công nghệ của họ có thể tái chế nước và thu hồi nước bay hơi, nên hầu như không phát sinh chất thải.  Công nghệ này hiệu quả đến mức chỉ sử dụng 1% đất và 5% nước so với các hoạt động canh tác thông thường. “Hãy tưởng tượng một nông trại rộng hơn 1.500 mẫu Anh”, Storey nói. “Bây giờ, hãy hình dung rằng nó nằm vừa vặn bên trong cửa tiệm tạp hóa yêu thích của bạn, nghĩa là tăng gấp 350 lần. Thật hiệu quả.” Hiệu quả đến mức những hàng cây treo này tạo ra lượng thức ăn trên mỗi mẫu Anh nhiều hơn 400 lần so với nông trại truyền thống.  AI theo dõi các mô hình tăng trưởng và liên tục điều chỉnh các yếu tố môi trường như nhiệt độ, nước và ánh sáng để đảm bảo công việc sản xuất ngày càng hiệu quả và tiết kiệm hơn.     Trong bối cảnh các dây chuyền sản xuất thực phẩm liên tục bị gián đoạn bởi đại dịch, cháy rừng và bão, phương pháp của Plenty sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định trong tương lai của chuỗi thực phẩm.  Trên website của mình, Plenty giải thích canh tác theo chiều thẳng đứng là “giải phóng nền nông nghiệp khỏi những ràng buộc của thời tiết, mùa màng, thời gian, khoảng cách, sâu bệnh, thiên tai và khí hậu”. Đáng chú ý, các loại cây trồng tại đây không biến đổi gen, và họ cũng không sử dụng thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ.  Plenty sẽ sớm cung cấp sản phẩm cho hơn 400 cửa hàng ở California. Công ty cho biết bao bì của họ được thiết kế đặc biệt để giữ cho sản phẩm tươi lâu hơn và có thể tái chế 100%.  Vào tháng 10, Driscoll’s, nhà sản xuất dâu tươi hàng đầu, đã hợp tác với Plenty để sản xuất dâu tây quanh năm tại tại Laramie, Wyoming – hiện là cơ sở nghiên cứu và khu vực canh tác theo chiều thẳng đứng thuộc tư nhân lớn nhất trên thế giới.  Website của Plenty cũng liệt kê một số sản phẩm hiện đang được cung cấp trong các cửa hàng, bao gồm rau diếp, rau arugula, cải chíp, cải mizuna và cải xoăn.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-12-ai-controlled-vertical-farms-revolution-food.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai là siêu quyền lực trên thị trường dầu mỏ?      Cuộc gặp gỡ của các nước xuất khẩu dầu mỏ  Opec rất căng thẳng bởi một số nước khai thác dầu mỏ khốn  đốn vì giá dầu giảm còn một số quốc gia khác lại được hưởng lợi. Sự xung đột  lợi ích này ngày càng gay gắt hơn vì vấn đề ở đây là giành quyền thống  trị thị trường dầu mỏ toàn cầu.     Phiên họp toàn thể các nước thành viên Opec  diễn ra tại Viên, thảo luận về giá dầu ngày một giảm. Nội trong sáu tháng qua, giá một thùng dầu Brent giảm gần 30% chỉ còn ở mức 80 đôla Mỹ. Nếu các nước Opec giảm lượng dầu khai thác thi có thể chặn đà giảm của giá dầu. Tuy nhiên quyền lực của Opec không còn như xưa, nhất là trong bối cảnh bên cạnh một số quốc gia khốn đốn vì giá dầu hạ lại có rất nhiều quốc gia hưởng lợi.   Trước hết, giá dầu giảm sẽ tác động mạnh đến quá trình phục hồi nền kinh tế thế giới. Theo tính toán của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu giá dầu giảm 10% thì năng lực nền kinh tế thế giới tăng 0,2%. Nhiều doanh nghiệp và ngành công nghiệp “ăn theo” tình thế này, đầu tiên phải kể đến ngành công nghiệp hàng không.   Các hãng hàng không có thể mua nhiên liệu với giá cả thuận lợi, dù vẫn tính khoản bù giá cho nhiên liệu máy bay (Kerosene). Chi phí nhiên liệu chiếm khoảng 1/3 tổng chi phí hoạt động vì vậy việc giá xăng dầu giảm tác động rõ rệt đến bảng cân đối.   Ngành vận tải biển, các ngành công nghiệp hóa chất, dược phẩm giờ đây có thể gặp nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, vận chuyển. Tuy nhiên các doanh nghiệp chuyên về các sản phẩm trung gian buộc phải giảm giá.    Venezuela hay Ảrập Xêút ?  Trong khi đó các nước khai thác dầu mỏ lại khốn đốn vì nguồn thu giảm, ví dụ như Venezuela. Là một trong những nước khai thác nhiều dầu mỏ nhất thế giới, Venezuela phụ thuộc nhiều vào nguồn vàng đen này và 95% nguồn thu ngoại tệ là nhờ vào dầu mỏ.   Vì vậy tổng thống Venezuela Nicolás Maduro muốn tạo một liên minh chống sự tụt giá dầu mỏ. Để thực hiện được điều này, ông muốn thu hút sự tham gia của cả các nước khai thác dầu nhưng không phải là thành viên Opec, trước tiên là Nga. Về cơ bản, điều này có ý nghĩa rất lớn vì nguồn thu của Nga cũng lệ thuộc vào dầu mỏ.  Tuy nhiên hai nước này lại phải đối diện với một đối thủ khổng lồ.    Nhưng Ảrập Xêút, quốc gia khai thác nhiều dầu mỏ nhất thuộc khối Opec, lại chủ trương để thị trường quyết định giá dầu như bấy lâu nay. Nhờ có trữ lượng dầu mỏ khổng lồ nên quốc gia này có thể chịu được mức giá thấp trong một thời gian dài. Cho đến nay, người ta vẫn chưa thật rõ ý đồ của Ảrập Xêút nhưng nhiều người cho rằng ở đây có những ý đồ chính trị.   Cuộc chiến tranh lạnh quanh dầu mỏ?  Một số nhà quan sát thậm chí cho rằng, đây là âm mưu giữa Ảtập Xêút và Hoa Kỳ chống lại nước Nga. Người ta đang nói về một cuộc chiến tranh lạnh xoay quanh dầu mỏ. “Phải chăng đây là điều mà tôi tưởng tượng hay là chúng ta đang chứng kiến một cuộc chiến tranh dầu mỏ toàn cầu giữa một bên là Hoa Kỳ và Ảrập Xêút còn bên kia là nước Nga và Iran?”, Thomas Friedman mới đây đã đề cập đến vấn đề này trên tờ New York Times. Người ta thấy, đặc biệt là Nga, nhiều dấu hiệu về âm mưu này. “Obama muốn Ảtập Xêút hủy hoại nền kinh tế Nga”, theo báo Nga. Một nhà quản lý dầu mỏ người Nga phát biểu trên tạp chí Tấm gương, rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà vào thời điểm này, giá dầu mỏ, thứ nhiên liệu quan trọng với nước Nga lại tụt giảm đến vậy.   Thế giới đang chứng kiến sự “trở mặt” đối với vàng đen: lượng tiêu thụ dầu mỏ ở các quốc gia công nghiệp ngày một giảm, nhu cầu của các nước mới nổi cũng không còn tăng vọt như trước. Điều gì đang diễn ra đằng sau sự trở mặt này?  Hiện tại, việc khai thác khí đốt từ đá phiến gây nhiều tranh cãi và được coi là tác nhân làm cho giá dầu mỏ giảm vì qua phương pháp Fracking (thủy lực cắt phá), nguồn cung dầu mỏ đã tăng lên rõ rệt. “Hoa kỳ sẽ soán ngôi đầu về dầu mỏ “, chuyên gia Amrita Sen thuộc hãng phân tích Energy Aspects nhận xét. Dĩ nhiên, Ảrập Xêút không muốn tự nguyện trao vai trò này cho Hoa kỳ.    Rất có thể Ả rập Xê út muốn kìm giá dầu để làm khó cho Mỹ trong vấn đề fracking. Vì giá mỗi thùng dầu càng thấp thì việc khai thác theo phương pháp Fracking vốn dĩ đã quá tốn kém sẽ không còn hấp dẫn nữa. “Thị trường cần có sự đầu tư lâu dài, mức giá 90 đôla một thùng là dấu hiệu đáng lo ngại”, nhà phân tích Sen nhận xét.   Giá dầu thấp không phải là hiện tượng nhất thời  Ngược lại nhiều nhà quan sát cho rằng giá dầu mỏ sẽ tiếp tục ở mức tương đối thấp và không lệ thuộc vào cuộc gặp của các thành viên tổ chức Opec. Cách đây ít tuần, một nghiên cứu của ngân hàng đầu tư Hoa kỳ Goldman Sachs đã làm chấn động thị trường dầu mỏ. Công trình phân tích dày 21 trang này mang tên “Trật tự dầu mỏ mới”.   Điểm mấu chốt của nghiên cứu này là giá dầu mỏ sẽ tiếp tục giảm. Trong năm tới, giá dầu thô chuẩn WTI có thể tụt xuống mức dưới 75 đôla. Nguyên nhân là nền kinh tế thế giới vẫn bị chìm đắm trong dầu mỏ – kinh tế phục hồi yếu nên nhu cầu đối với dầu mỏ hạn chế trong khi nguồn cung lại quá lớn. Sức mạnh thị trường của các nước Opec bị tan vỡ do bùng nổ phương thức Fracking ở Hoa Kỳ.   Như vậy giá dầu có tăng hay không là vấn đề về thời gian nên Opec cần giảm mức khai thác. Nếu lượng khai thác vẫn ở mức cao thì giá có thể tiếp tục hạ, đến một lúc nào đó quy mô sử dụng phương pháp Fracking của Hoa Kỳ sẽ giảm vì vấn dề giá thành. Khi đó, giá dầu sẽ tăng lên do giảm được lượng cung dư thừa. Ngược lại, nhiều chuyên gia vẫn cho rằng, mức tiêu thụ dầu nhìn chung giảm rõ rệt. Điều đó có nghĩa là tương lai khá sáng sủa đối với người tiêu dùng cũng như dân lái xe ô tô.    Xuân Hoài dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang AI mở đường khám phá các hợp chất đất hiếm mới      AI hiện tại được coi là công cụ hữu hiệu để các nhà khoa học khám phá vật liệu. Mới đây, các nhà nghiên ở Phòng thí nghiệm Ames và ĐH Texas A&M đã huấn luyện một mô hình học máy có khả năng đánh giá tính ổn định của các hợp chất đất hiếm.    Kết quả này được công bố trên tạp chí Acta Materialia, trong đó đề xuất một khuôn khổ được phát triển dựa trên những phương pháp tiên tiến hiện nay để thử nghiệm các hợp chất và hiểu sâu sắc hơn về độ thiếu ổn định của các hợp chất hóa học.   Kể từ giữa thế kỷ 20, phòng thí nghiệm Ames là một nơi nghiên cứu hàng đầu về đất hiếm. Các nguyên tố đất hiếm được ứng dụng trong nhiều thứ, bao gồm công nghệ năng lượng sạch, lưu trữ năng lượng và nam châm vĩnh cửu. Việc khám phá ra các hợp chất đất hiếm mới là một phần trong nỗ lực lớn của các nhà khoa học nhằm mở rộng khả năng tiếp cận với các vật liệu này.     Cách tiếp cận của họ là dựa vào học máy, một phương pháp sử dụng các thuật toán được cải cải thiện thông qua việc sử dụng dữ liệu và đào tạo. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng cơ sở dữ liệu đã được cập nhật về các nguyên tố đất hiếm của phòng thí nghiệm Ames (RIC 2.0) và lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) để xây dựng nền tảng cho mô hình học máy này.  Sàng lọc thông lượng cao là một chương trình tính toán cho phép các nhà nghiên cứu kiểm tra hàng trăm mô hình một cách nhanh chóng. DFT là một phương pháp cơ học lượng tử thường dùng để khảo sát các đặc tính nhiệt động lực học và điện tử của các hệ nhiều hạt. Dựa trên việc thu thập thông tin, mô hình học máy do nhóm nghiên cứu phát triển đã sử dụng phương pháp học hồi quy để đánh giá sự ổn định pha của các hợp chất.   Tyler Del Rose, nghiên cứu sinh ở ĐH Bang Iowa đã thực hiện nhiều nghiên cứu cơ bản cho cơ cở dữ liệu bằng việc viết các thuật toán tìm kiếm thông tin trên website để bổ sung cho cơ sở dữ liệu này cũng như việc tính toán DFT. Anh cũng nghiên cứu về đánh giá kiểm tra độ chính xác của các dự đoán của AI, sau đó cải thiện các mô hình học máy nhằm đảm bảo là chúng có thể phản ánh thực tế.  “Học máy thực sự rất quan trọng với lĩnh vực này. Nếu nói về những hợp chất mới, tất cả mọi người trong ngành đều biết rõ các vật liệu có cấu trúc trật tự”, nhà khoa học Prashant Singh ở phòng thí nghiệm Ames, người dẫn dắt nghiên cứu này cho biết. “Tuy nhiên, khi thêm ‘rối loạn’ vào các vật liệu đã biết, nó sẽ trở nên khác biệt. Số lượng thành phần tăng lên đáng kể, thường lên tới hàng nghìn hoặc hàng triệu và anh không thể có khả năng tìm hiểu được hết mọi cách kết hợp có thể, dù về lý thuyết hay thực nghiệm”.   Singh giải thích, việc phân tích vật liệu dựa trên một vòng lặp phản hồi rời rạc, trong đó mô hình học máy được cập nhật nhờ sử dụng cơ sở dữ liệu DFT mới dựa trên thông tin về cấu trúc và giai đoạn theo thời gian thực thu được từ các thí nghiệm. Quá trình này sẽ đảm bảo thông tin được chuyển theo từng bước và giảm nguy cơ nhầm lẫn.  Yaroslav Mudryk, người giám sát dự án, cho biết hệ thống được thiết kế để khám phá các hợp chất đất hiếm vì chúng có tầm quan trọng về mặt công nghệ, nhưng các ứng dụng của nó không chỉ giới hạn trong nghiên cứu đất hiếm. Dựa trên cách tiếp cận này, các nhà khoa học có thể đào tạo mô hình học máy để dự đoán từ tính của các hợp chất, kiểm soát quá trình chuyển đổi sản xuất và tối ưu hóa vận hành máy móc.  “Nó không chỉ có ý nghĩa là để khám phá một hợp chất cụ thể”, Mudryk nói. “Những gì chúng tôi làm là thiết kế một cách tiếp cận, hoặc một công cụ mới để khám phá và dự đoán những hợp chất đất hiếm”. Mudryk nhấn mạnh rằng kết quả này mới chỉ là bước khởi đầu. Nhóm nghiên cứu vẫn đang khám phá toàn bộ tiềm năng của phương pháp này, nhưng họ rất lạc quan về ứng dụng của nó trong tương lai.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-artificial-intelligence-paves-rare-earth-compounds.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang AI nhận diện được muỗi vằn từ các bức ảnh của Mosquito Alert      Các nhà nghiên cứu thuộc CEAB-CSIC, CREAF và UPF cùng với các đồng nghiệp từ trường đại học Budapest đã chứng tỏ được cách một thuật toán AI có năng lực ghi nhận muỗi vằn châu Á (Aedes albopictus) trong những bức ảnh mà những người sử dụng ứng dụng Mosquito Alert gửi đến.      Muỗi vằn châu Á.  Kết quả của nghiên cứu được xuất bản trên Scientific Reports đã đạt được nhờ ứng dụng công nghệ học sâu, một khía cạnh của AI để mô phỏng cách học của con người. Công nghệ này từng được sử dụng trong lĩnh vực y tế để giải thích hình ảnh y tế (chụp X-quang bệnh nhân có COVID-19 để phát hiện viêm phổi, hoặc các đặc điểm trên khuôn mặt để phát hiện bệnh tim…). Học sâu cần nhiều dữ liệu đào tạo để máy học. John Palmer – nhà nghiên cứu UPF và đồng tác giả dự án Mosquito Alert, cho biết, “ý tưởng ban đầu là có được máy để phân loại những bức ảnh đơn giản nhất và để những bức ảnh có vấn đề nhất chờ ý kiến của các chuyên gia”.   Trong trường hợp của ứng dụng Mosquito Alert, những hình ảnh này đã được mọi người gửi đến và được các chuyên gia của dự án dán nhãn là “muỗi vằn” hoặc “không có muỗi vằn” trong nhiều năm. Cụ thể, nghiên cứu đã sử dụng 7.168 bức ảnh đã được phân loại về muỗi mà những người tham gia dự án đã gửi từ năm 2015 đến năm 2019. Sau khi đào tạo, thuật toán đã có thể phân loại chính xác 96% bức ảnh về loài côn trùng này.   “Khi hệ nhân tạo học hỏi từ những phân loại của các chuyên gia, chúng tôi sẽ có khae năng mở rộng phạm vi các loài được liệt kê”, John Palmer giải thích.  Thêm nhiều chính xác  Dấu mốc này có thể đánh dấu được tình trạng trước và sau trong việc giám sát, theo dõi muỗi vằn và các loại muỗi có khả năng truyền bệnh khác. “Chúng tôi đang huấn luyện một hệ miễn dịch xã hội chống lại các loài muỗi. Càng phát hiện nhanh mối đe dọa thì càng có cơ hội xử lý nhanh hơn”, Frederic Bartumeus, đồng giám đốc Mosquito Alert và là nhà nghiên cứu ICREA tại CEAB-CSIC và CREAF, nói. Một mặt, tính chất khoa học không chuyên của Mosquito Alert cho phép bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào hệ thống miễn dịch xã hội mới này và đóng góp một số lượng lớn các bức ảnh về muỗi, mặt khác, AI cho phép đẩy nhanh quá trình phân loại các bức ảnh nhận được và do đó giúp các chuyên gia y tế công cộng đưa ra quyết định tốt hơn và nhanh hơn về quản lý muỗi.  “Trong thời kỳ như muỗi hoạt động mạnh nhất hoặc trong bối cảnh khủng hoảng dịch, Ai có thể giúp chúng ta thông qua việc hệ thống có thể hấp thụ một lượng lớn thông tin, kiểm soát chất lượng của nó ở mọi thời điểm, vốn là yếu tố chính nếu dữ liệu được sử dụng cho việc ra quyết định trong y tế công cộng”, Frederic Bartumeus cho biết thêm.    Tự động hóa cứu mạng người   Sự hiện diện của muỗi vằn ở Tây Ban Nha đã dẫn đến một hiểm họa cho y tế công cộng. Hàng triệu người đã bị nhiễm và có nguy cơ rủi ro bị truyền các bệnh như sốt xuất huyết hay chikungunya. Tại châu Âu, muỗi hổ đã được biết đến kể từ năm 2007 trong những bùng phát truyền nhiễm ở quy mô địa phương mà chưa có loại vaccine nào phòng ngừa. Chỉ có một cách ngăn ngừa là kiểm soát muỗi để ngăn chúng làm lây lan. Đánh giá rủi ro này và các giải pháp hành động cần thiết để giảm thiểu nó đòi hỏi phải có thông tin chính xác về quần thể muỗi vằn, một công việc tốn kém và mất công sức đòi hỏi phải đặt và kiểm tra bẫy thủ công và phân tích sau đó trong phòng thí nghiệm nơi côn trùng được xác định. Đây là một phương pháp không khả thi vì phải bao gồm những vị trí địa lý rộng lớn.  Phương pháp sử dụng các nhà khoa học không chuyên của dự án Mosquito Alert cho phép ai cũng có thể báo cáo về sự hiện diện của một con muỗi thông qua ứng dụng điện thoại sẵn có sử dụng hệ điều hành Android và iOS. Nó là giải pháp khiến cho việc bao quát hết cả các khu vực địa lý trong suốt mùa muỗi. Kể từ năm 2015, sáng kiến này đã nhận được hàng nghìn bức ảnh mỗi năm, qua đó giúp cho ước tính được số lượng muỗi. Tuy vậy khối lượng lớn các bức ảnh cứ tiếp tục được phân loại bằng việc kiểm tra trực quan của các chuyên gia côn trùng học, một công việc đòi hỏi thời gian và nhiều năm kinh nghiệm. Do đó việc tích hợp trí tuệ nhân tạo vào quy trình này có thể tăng tốc độ phân loại và phát triển các bản đồ cảnh báo nguy hiểm gần thời gian thực để cải thiện việc quản lý muỗi vằn.  Roger Eritja, nhà khoa học của CREAF và giám đốc côn trùng học của Mosquito Alert, làm rõ những giới hạn của AI: “Sẽ còn mất thời gian cho một cỗ máy có thể có được năng lực tương tự cặp mắt chuyên gia, đặc biệt cho những loài ít có đặc điểm biểu diện bên ngoài hơn muỗi vằn. Ở Tây Ban Nha, 62 loài muỗi đã được miêu tả, nhiều loài trong số đó hiện nay không thể phân loại được chỉ bằng một bức ảnh mà phải kiểm tra trên kính hiển vi. Một số trường hợp khác, ngay cả việc phân tích di truyền cũng cần thiết để nhận diện chúng”.   Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2021-05/upf–aii051421.php  https://techxplore.com/news/2021-05-artificial-intelligence-tiger-mosquito-photos.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang AI phát hiện thuộc tính các nét cọ      Các nhà khoa học ở trường Đại học Case Western Reserve đã sử dụng kỹ thuật quét 3 D và học máy để nhận diện ra những đặc tính riêng biệt trong cách vẽ của từng họa sĩ.      Nhóm nghiên cứu sử dụng công cụ này để nhận diện từng phần của một bức tranh do họa sĩ El Greco vẽ vào đầu thế kỷ 17. Nguồn: factumfoundation.org  Trong những năm gần đây, xu hướng số hóa các bộ sưu tầm nghệ thuật và những tiến triển không ngừng của các công cụ học máy, AI… đã đem lại một cách tiếp cận mới các tác phẩm nghệ thuật. Các nhà khoa học đã sử dụng các công cụ này để phân tích các tác phẩm nghệ thuật, qua đó đem lại những thông tin mới mẻ nằm ngoài sức tưởng tượng của các nhà phê bình nghệ thuật và các nhà giám tuyển. Thông thường, người ta vẫn dùng các công cụ này để phân tích các hình ảnh của những bức họa để phát hiện tranh giả, phân loại các bộ sưu tập đã được số hóa, xác định phong cách của các họa sĩ… Gần đây một nhóm các nhà khoa học tại trường Đại học Case Western Reserve tại Ohio, Mỹ, trong đó có các nhà sử học nghệ thuật, vật lý, sinh học, đã sử dụng nó để phân tích các hình ảnh quét địa hình (topographical) của các bức họa. Những thông tin về nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Heritage Science “Discerning the painter’s hand: machine learning on surface topography” (Hiểu rõ đường cọ của họa sĩ: học máy trên dữ liệu địa hình bề mặt).   Khi các nhà lịch sử nghệ thuật bối rối  Trong lịch sử nghệ thuật có nhiều trường hợp hết sức thú vị. Nó để lại rất nhiều “nghi án” cho các nhà nghiên cứu thế hệ sau tìm hiểu. Một trong những trường hợp đó là xưởng vẽ của những họa sĩ bậc thầy, đặc biệt là những người mở đường cho một phong cách nghệ thuật mới và có nhiều học trò vào thế kỷ 17.       Bằng việc phân chia các bức tranh vào từng ô nhỏ để phân tích – một số nhỏ chỉ bằng một nửa mi li mét vuông, mạng thần kinh tích chập này đã nhận được ra “phong cách không chủ ý” (unintentional style) hay “dấu cá nhân” của từng nghệ sĩ. Sau đó, bằng việc khớp các phong cách của từng họa sĩ vào bố cục của các đường cọ, AI có thể xác định được chính xác những bức họa khác có đúng của họa sĩ đó không với độ chính xác tới 96%.      Khi nhìn vào xưởng vẽ của các họa sĩ bậc thầy thời Phục Hưng, chúng ta hẳn thấy ngạc nhiên bởi sự chuyên nghiệp trong cách thức tổ chức của nó. Ở nơi này, những người học việc trẻ thường bắt đầu công việc bằng những việc lặt vặt, phục vụ yêu cầu của họa sĩ bậc thầy; nếu tiến thêm một bước, họ có thể là trợ lý của họa sĩ, có thể được trao những công việc quan trọng hơn như góp phần kết thúc các tác phẩm; tiến thêm một bước nữa, họ có thể hoạt động độc lập, vào một ngày nào đó đủ năng lực để tạo ra những tác phẩm có giá trị với chính tên tuổi của mình. Bản thân các họa sĩ bậc thầy này cũng bắt đầu làm việc ở nhiều xưởng vẽ khác nhau khi bắt đầu nghề vẽ, ví dụ Rembrandt từng học ba năm với họa sĩ chuyên vẽ tranh lịch sử ở Leiden, Jacob van Swanenburg, sau đó mở xưởng vẽ và đào tạo nhiều họa sĩ nổi tiếng như Carel Fabritius, Nicholas Maes…  Ở khía cạnh thương mại, câu chuyện còn thú vị hơn. Các nhà nghiên cứu trường Đại học Case Western Reserve nêu, “nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, trong đó có El Greco, Rembrandt, và Peter Paul Rubens, đều mở các xưởng vẽ, ở nhiều quy mô và tổ chức khác nhau, để đáp ứng nhu cầu của thị trường nghệ thuật”. Các đơn đặt hàng của thị trường hết sức đa dạng với những bức chân dung, hoạt cảnh, sinh hoạt tôn giáo, xã hội… ở nhiều kích cỡ khác nhau và theo quan điểm thời đó, bất cứ một bức họa nào là sản phẩm của một xưởng vẽ của một họa sĩ đều không phải là bức họa giả hay vô giá trị. Do vậy, những người học việc thường cố gắng sao chép phong cách của thầy bởi đây là phần tập luyện kỹ thuật quan trọng ở xưởng vẽ, đồng thời cũng giúp tạo ra các bức vẽ theo yêu cầu.   Trong cuộc đời nghệ thuật của mình, Rubens rất cần sự hỗ trợ của học trò ở xưởng vẽ khi thực hiện những bức tranh khổ lớn, ví dụ như loạt tranh Triumph of the Eucharist. Xưởng vẽ của ông rất lớn và được tổ chức khá tốt để có thể thực hiện nhiệm vụ trong lúc ông vắng mặt: các trợ lý có thể đảm trách toàn bộ một thiết kế từ các phác thảo của ông đi công du. Ví dụ, xưởng họa của Rubens đã vẽ chuyến đi săn của vua Tây Ban Nha ở gần Madrid mà không cần sự giám sát của ông.    Các công cụ học máy và mạng thần kinh tích chập đã phân tích các bức vẽ của học viên Viện nghiên cứu nghệ thuật Cleveland. Nguồn: Heritage Science  Ở trường hợp khác, xưởng vẽ có thể tạo ra một bức họa và họa sĩ bậc thầy có thể hoàn toàn thành toàn bộ các gương mặt và các đôi bàn tay, những điểm quan trọng của một bức họa có người. Đối với những bức tranh chân dung hoặc đơn đặt hàng riêng thì họa sĩ bậc thầy thường tự mình vẽ.  Chúng ta cũng cần lưu ý đến một xu hướng khác là các họa sĩ thế kỷ 17 hay cộng tác với những họa sĩ khác để cùng hoàn thành một bức vẽ quan trọng. Ví dụ bức Pausias and Glycera (c. 1612-1625) được Rubens hoàn thiện hai nhân vật chính còn Osias Beert, một họa sĩ Hà Lan khác, vẽ những bông hoa. Rubens cũng hợp tác với Frans Snyders để vẽ các con thú đã đứt lìa sự sống và hợp tác với Jan Bruegel để vẽ hoa và bối cảnh.  Với các nhà nghiên cứu, việc tìm hiểu về các bức họa dạng này giúp đem lại những cái nhìn thấu đáo hơn vào quá trình phát triển và định hình kỹ thuật của các họa sĩ bậc thầy. Tuy nhiên, ở một mặt khác thì nó lại khiến các nhà giám tuyển, các nhà lịch sử nghệ thuật bối rối bởi đôi khi thật khó phân biệt một tác phẩm từ xưởng họa có phải thực sự của họa sĩ bậc thầy hay không. Điều này lại càng cần thiết hơn khi không phải bao giờ, người ta cũng có đủ tài liệu và căn cứ để phân định trong khi giá trị các bộ sưu tập của những gallery phụ thuộc rất lớn vào đó.       Trong hội họa, địa hình bề mặt có thể tiết lộ những yếu tố thuộc về phong cách không chủ ý của người vẽ được bồi đắp bởi các nét cọ qua những lần tô và khô đi của màu vẽ, những mẫu hình của đường cọ, các yếu tố tâm lý cùng nhiều ảnh hưởng khác trong quá trình sáng tạo.      Gợi ý từ công cụ mới  Các nhà khoa học tại trường Đại học Case Western Reserve đã thực hiện một dự án để giải quyết vấn đề này. Điểm xuất phát của họ là thử dùng công nghệ đo địa hình 3D, vốn vẫn được dùng để mô tả một bản đồ hiển thị địa hình ba chiều với những khác biệt trong độ cao của bề mặt. Trong trường hợp những bức họa, đó sẽ là việc thể hiện sự tăng hoặc giảm của những vệt sơn trên bề mặt toan, ngay cả ở thang đo nhỏ nhất. “Địa hình 3D là một cách mới để AI có thể ‘ngắm’ một bức họa,” Kenneth Singer, giáo sư vật lý tại Case Western Reserve và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói. Singer cho biết thêm là thuật toán AI mà họ xây dựng tập trung vào những cấu trúc nhỏ nhất trên bề mặt toan.  Trong hội họa, địa hình bề mặt có thể tiết lộ những yếu tố thuộc về phong cách không chủ ý của người vẽ được bồi đắp bởi các nét cọ qua những lần tô và khô đi của màu vẽ, những mẫu hình của đường cọ, các yếu tố tâm lý cùng nhiều ảnh hưởng khác trong quá trình sáng tạo. “Cốt lõi của ý tưởng này là nét cọ sẽ tạo ra một dấu ấn riêng biệt của từng họa sĩ”, ông giải thích. “Chúng tôi tìm thấy là mình có thể thành công theo cách tiếp cận này, ngay cả ở mức độ nhỏ nhất là phân định nét vẽ của từng sợi lông trên cọ vẽ. nhưng thành thật mà nói thì chúng tôi cũng không thực sự hiểu được vì sao nét vẽ của một sợi lông trên cọ cũng có thể chỉ dẫn điều mà chúng tôi gọi là phong cách không chủ đích của một nghệ sĩ”.   Những ý tưởng nghiên cứu mới như vậy đôi khi nảy sinh từ suy nghĩ của những nhà nghiên cứu trẻ. “Dự án ban đầu là từ ý tưởng của một học trò của tôi, bạn ấy mới bắt đầu nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật”, Singer nói. “Bạn ấy muốn tham gia một hội thảo về khoa học và nghệ thuật với ý tưởng sử dụng thiết bị đo biên dạng trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, vốn được dùng để đo địa hình về mặt. Tôi đồng ý với bạn ấy và sau đó, những người khác cũng tham gia”. Mối quan hệ hợp tác nghiên cứu ngày một lớn lên theo nhiều nghĩa, dẫn đến một hôn lễ trong quá trình nghiên cứu.  Dự án ban đầu tập trung vào phân tích một loạt tranh do các sinh viên của Viện nghiên cứu nghệ thuật Cleveland, những người đảm trách nhiệm vụ vẽ các bản sao một bức tranh hoa súng. Nghiên cứu nhỏ này được dùng để huấn luyện một mạng thần kinh tích chập (CNNs) bằng các bản quét ba chiều các bề mặt của bức họa này. Vốn là một công cụ vô cùng hiệu quả trong việc giải quyết các bài toán về thị giác máy tính như phân loại hình ảnh, mạng thần kinh tích chập này được mô hình hóa theo não người và hệ thần kinh – một hệ có thể học, nhận diện và so sánh các mẫu hình. Tuy nhiên, việc huấn luyện một mạng thần kinh tích chập sâu từ những phần hỗn tạp của một cơ sở dữ liệu nhỏ có thể dẫn đến một vấn đề là sự quá khớp (over-fitting) – dễ thất bại khi so khớp với những dữ liệu bổ sung hoặc dự đoán các quan sát trong tương lai. Để tránh điều này, các nhà nghiên cứu đã chia dữ liệu thành nhiều lớp và sử dụng một thuật toán khác để “huấn luyện trước” mạng thần kinh.  Rút cục, bằng việc phân chia các bức tranh vào từng ô nhỏ để phân tích – một số nhỏ chỉ bằng một nửa mi li mét vuông, mạng thần kinh tích chập này đã nhận được ra “phong cách không chủ ý” (unintentional style) hay “dấu cá nhân” của từng nghệ sĩ. Sau đó, bằng việc khớp các phong cách của từng họa sĩ vào bố cục của các đường cọ, AI có thể xác định được chính xác những bức họa khác có đúng của họa sĩ đó không với độ chính xác tới 96%. “Mạng thần kinh này đã làm chúng tôi choáng váng bởi trên thực tế thì nó có thể ‘nói’ một cách vô cùng chính xác về đôi tay của ai trong số bốn sinh viên nghệ thuật khác nhau đã vẽ các bức tranh, ngay cả một chi tiết cực nhỏ của một đường cọ”, Singer nói. “Nhờ vậy chúng tôi đã có thể khám phá ra những gì mà chúng tôi tạm gọi là phong cách không chủ ý của một họa sĩ”.  Mỗi nghệ sĩ trong nghiên cứu này của họ sử dụng cùng một loại cọ, màu vẽ và toan. “Vì vậy chỉ có một điều có thể tạo nên sự khác biệt là đôi tay của nghệ sĩ – cách nó tương tác với bề mặt toan,” Hinczewski nói. Cũng như đồng nghiệp của mình, Hinczewski cho biết cảm xúc của mình “Chúng tôi đã sốc với những thông tin xuất hiện. Đây là cái gì đó thuộc về bản chất nội tại của người nghệ sĩ, nó tự nhiên chảy tràn trên mặt toan chứ không phải cái mà họ cố gắng phải đạt bằng được”.   Chỉ dựa vào những mặt cắt nhỏ của các hình ảnh quét địa hình theo cách như vậy và những thuật toán thông minh, họ đã có thể nhận dạng được bản sắc của các họa sĩ. Do đó có thể nói, học máy đã giúp các nhà phê bình nghệ thuật một cách thức mới để xác định danh tính tác giả. Các nhà nghiên cứu họ hy vọng sẽ phát triển “các phương pháp định lượng không thiên kiến để rọi cái nhìn vào sự đóng góp của nhiều người trong những bức họa từ xưởng vẽ”.   Trong pha mới của dự án, nhóm nghiên cứu sử dụng công cụ này để nhận diện từng phần của một bức tranh do họa sĩ El Greco vẽ vào đầu thế kỷ 17, từng bị cắt trong thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha (1936 –  1939). Sau đó, họ muốn so sánh nó với hai phiên bản Chúa bị đóng đinh trên thập giá của El Greco, để tìm hiểu những phần do chính họa sĩ vẽ, phần nào do Jorge Manuel, con trai của ông, hay của những người khác trong xưởng vẽ của ông, thực hiện, hoặc cũng có thể của những kẻ mạo danh sau này.   Đây thực sự là một công việc thú vị. “Chúng tôi đang tìm hiểu những bản quét khác nhau của các bức họa để xem là liệu có thể nhận diện được tiến trình thực hiện các tác phẩm của một xưởng vẽ và nhận diện được các bàn tay khác nhau ‘nhúng’ vào chúng không”, Elizabeth Bolman, trưởng Khoa Lịch sử nghệ thuật và nghệ thuật Case Western Reserve, cho biết. “El Greco đã vẽ bức họa này không? Bao nhiêu phần trăm trên bức họa này là do con trai ông vẽ? Có rất nhiều vấn đề gây tranh luận ở đây”.  Việc có trong tay một phương pháp mới và một công cụ hữu dụng khiến các nhà nghiên cứu nghĩ đến nhiều ý tưởng khác. Ứng dụng tiếp theo mà họ nghĩ đến với hệ này là thử nghiệm trên những bề mặt có kết cấu phẳng hơn tranh sơn dầu như tranh màu nước hay phác họa chì. “Những bức tranh này dường như ẩn chứa nhiều thách thức hơn nhưng những gì rút ra được từ dự án vừa qua là không nên nghi ngờ vì công cụ thông minh này luôn gây bất ngờ cho chúng ta”, Singer nói. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:  https://www.artandobject.com/news/artist-workshops-their-history-benefits-drawbacks  https://thedaily.case.edu/different-strokes-using-artificial-intelligence-to-tell-art-apart/  https://www.theartnewspaper.com/2022/01/04/artificial-intelligence-attributes-paintings-brushstroke-analysis    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai sẽ kiểm soát EWEC?      Hành lang kinh tế Đông Tây, gọi tắt là EWEC (East – West economic Corridor) về mặt địa lý là một liên vùng rộng lớn mà tới nay vẫn chưa phân định ranh giới rõ ràng. Trục chính của hành lang là tuyến đường bộ dài 1.450 km nối Đà Nẵng (Việt Nam) ở phía Đông với Mawlamyine (Myanmar) phía Tây, cắt ngang miền Trung và miền Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan. Sau khi hoàn thành, hành lang giao thông này sẽ là tuyến đường huyết mạch đi qua miền trung du Đông Nam Á trên trục giao thông Đông – Tây và quan trọng là nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với một cự ly không thể ngắn hơn.    EWEC là một trong những dự án hợp tác phát triển trụ cột của các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mêkông mở rộng (GMS) gồm Lào, Thái Lan, Myanmar và Việt Nam, được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng các nước GMS lần thứ 8 tổ chức ở Manila (Philippine) tháng 10.1998 và được Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 đưa vào Chương trình hành động Hà Nội tháng 12.1998.  Được quan tâm rất kỹ, lại được sự hỗ trợ một cách đắc lực về tài chính lẫn kỹ thuật của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và chính phủ Nhật Bản, EWEC phát triển nhanh hơn những dự án khác đang triển khai giữa các nước GMS. Tháng 12.2006 tuyến đường bộ dọc EWEC cơ bản được thông suốt và hiện nay đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, mở rộng các cửa khẩu, trạm kiểm soát, các khu kinh tế – thương mại.   Người Thái đang “đua tốc độ”          Cảng Đà Nẵng- chặng cuối trên EWEC         Chuyện ông Thị trưởng tỉnh Mukdahan (Thái Lan) ra lệnh cho nhân viên dưới quyền học tiếng Việt, còn Đại sứ quán vương quốc Thái Lan thì đã gửi giáo viên đến Đà Nẵng để dạy tiếng Thái cho các doanh nhân miền Trung là chuyện đã xảy ra cách đây hơn hai năm rồi. Cùng trong khoảng thời gian này, Thái Lan và Lào đã tổ chức hàng loạt hội thảo chung về khả năng hợp tác hai nước trên EWEC. Ông Virabongsa Ramangkura, cựu Phó Thủ tướng Thái Lan, hiện là Chủ tịch Hội hữu nghị Thái Lan-Lào sau mỗi đợt kết thúc hội thảo lại dẫn vài chục, có khi cả trăm doanh nghiệp Thái đang làm ăn ở Lào, đến Huế và Đà Nẵng để quan sát tận mắt cơ sở hạ tầng, thị trường ở điểm cuối ra biển Đông của EWEC. Họ tìm hiểu rất kỹ thông tin, thậm chí có thể kể vanh vách quá trình giảm chi phí ở từng cảng biển miền Trung kể từ năm 2005 đến nay. Trong một cuộc họp kỹ thuật của các quan chức GMS cuối năm ngoái, chính ông V. Ramangkura chứ không phải bất kỳ một quan chức Việt Nam nào, đã đưa ra nhận định rằng một khi phí trọng tải và phí bảo đảm hàng hải khu vực miền Trung (chiếm đến gần 50% các loại phí khi tàu ra vào cảng thông hàng) giảm từ 35 đến 43%, trong đó phí sử dụng cầu bến đối với phương tiện và hàng hóa ngoại nhập giảm từ 10 đến 12%, sẽ là một động lực có ý nghĩa quyết định để thu hút hàng hóa từ khu vực phía Tây về đây. Một công ty kinh doanh bất động sản của Thái vừa giành quyền đầu tư cơ sở hạ tầng một phần Đặc khu kinh tế Savan-Seno của Lào, và cùng với việc này họ được quyền khai thác khu A của đặc khu, nằm ngay chân cầu Hữu Nghị Lào-Thái, trong vòng 40 năm. Người Thái cũng đang thuyết phục Lào liên kết khôi phục lại sân bay quốc tế Savannakhet mang tên cố Tổng Bí thư Kaysorn Phoumvihane (được xây dựng năm 1998 nhưng không hoạt động từ năm 2004). Phía Thái muốn kết nối sân bay này vào mạng lưới hàng không nội địa của Thái để du khách từ Thái sang Lào không phải làm thủ tục xuất nhập cảnh nữa. Người Thái muốn thị trường du lịch Lào trở thành vùng Đông Bắc Thái nối dài.    Chuyến khảo sát đầu tiên của Tổng cục Du lịch Việt Nam được thực hiện vào cuối năm 2005 để đánh giá tiềm năng du lịch của EWEC thực ra đã trùng lắp và chậm hơn một năm so với chuyến khảo sát của đích thân Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam, ông Krit Kraichitti. Nhằm mục đích hiện thực hóa khả năng hợp tác du lịch giữa 4 nước, ông Đại sứ đã lôi kéo rất nhiều hãng lữ hành vào cuộc để nhanh chóng rút ra những kiến nghị sát sườn nhất. Chẳng hạn việc bỏ thị thực nhập cảnh thực hiện giữa Lào và Việt Nam, giữa Lào và Thái Lan đã rút ngắn thời gian cho hành trình các tour caravan xuất phát từ Bangkok đến cửa khẩu Lao Bảo. Từ khi cầu Hữu nghị 2 bắc qua sông Mê Kông (biên giới Thái-Lào) được đưa vào sử dụng thì hiện nay chỉ còn 4 tiếng, kể cả thời gian làm thủ tục ở các cửa khẩu, để hoàn tất hành trình này. Các hãng lữ hành Thái đã phác thảo viễn cảnh cho khách hàng của mình như sau: sáng uống cà phê ở Mukdahan của Thái, trưa ăn cơm ở Savannakhet (Lào) và chiều tối đã có thể ung dung tắm biển Non Nước (Đà Nẵng). Trong vòng hai năm qua đã có gần 30 nghìn khách quốc tế đến từ các cửa khẩu phía Tây (bao gồm cả khách Âu Mỹ đến từ Bangkok, Phnôm Pêng) vào tham quan các di sản thế giới ở miền Trung. Trong khi đó lượng khách từ Việt Nam mua tour đi Lào và Thái Lan qua cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị) chưa tới 1 nghìn lượt người.  Doanh nghiệp Việt xoay sở một mình  Ông Đỗ Anh Tuấn, một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở Đà Nẵng cho biết đã từng ngược EWEC khảo sát triển vọng đem hàng sang bán ở thị trường Đông Bắc Thái và Myanmar. Hành trình qua đất Lào suôn sẻ ngoại trừ một trục trặc nhỏ về quy định phí quá cảnh ở mỗi địa phương mỗi khác, đôi khi còn tuỳ thuộc sự “ngẫu hứng” của chính quyền sở tại. Nhưng đến biên giới Thái thì dứt khoát phải đổi phương tiện vận chuyển (Thái vẫn chưa cho phép ô tô vận tải tay lái nghịch tham gia giao thông trên địa phận nước họ). Nhưng làm sao có thể đổi phương tiện khi mà cả thành phố Mukdahan rộng lớn cho đến thời điểm này vẫn chưa có các phương tiện bốc dỡ container, kể cả loại nhỏ nhất (loại 20 feet).  Không chỉ vướng về điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp Việt còn phải chật vật xoay sở trong một cơ chế, chính sách hỗ trợ còn rất hạn chế. Theo thông tin chưa đầy đủ, hiện có khoảng 80 doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động tại Lào dưới các hình thức công ty liên doanh, văn phòng đại diện, cửa hàng, siêu thị… với số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD. Ông Vũ Đình Tích, Tham tán kinh tế – văn hóa Việt Nam tại Lào cho biết về quản lý Nhà nước, hiện cũng chưa có cơ quan có đủ thẩm quyền, điều kiện và năng lực triển khai quản lý, theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động tại Lào, cũng như chưa có sự chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ trong quản lý, chưa làm rõ nội dung quản lý, từ khâu thẩm định tư cách pháp nhân, thẩm định năng lực của các doanh nghiệp đến khâu giám sát hoạt động.  Trước đây, các doanh nghiệp Việt chưa chú trọng đến việc thúc đẩy quan hệ đầu tư thương mại, cung cấp thông tin, nghiên cứu thị trường mà mới chỉ tập trung vào khâu bán hàng. Gần đây, tình hình này mới được khắc phục. Một số doanh nghiệp đã thành công trong xây dựng mạng lưới tiêu thụ hàng hóa ổn định trên thị trường Lào và mở rộng sang thị trường Thái Lan. Tuy nhiên như nhận định của ông Vũ Đình Tích vẫn còn nhiều doanh nghiệp Việt sang Lào làm ăn nhưng lại không nắm chắc pháp luật và chính sách của Lào, hoạt động còn mang tính tự phát, rất dễ xảy ra tranh chấp. Hiện tượng này trong thời gian gần đây tuy đã giảm bớt nhưng vẫn còn. Khi tranh chấp xảy ra thì việc xử lý rất khó khăn, phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.  Hiện công tác thông tin và tư vấn cho các doanh nghiệp còn rất nhiều hạn chế, chưa có giải pháp hữu hiệu để thu thập, biên dịch, in ấn cung cấp các văn bản pháp luật của cả Việt Nam và Lào tới các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào cũng chưa có sự gắn bó hỗ trợ nhau dưới sự chỉ đạo và bảo trợ thống nhất của hai Nhà nước. Đại sứ quán Việt Nam tại Lào đã dự thảo Đề án thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Lào, đang vận động thành lập, nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc đang phải tháo gỡ.  Ngay trên lãnh thổ của mình, việc khai thác tiềm năng EWEC cũng tỏ ra khá bị động. Với vị thế đắc địa của Khu tự do thương mại Lao Bảo, cho đến thời điểm này vẫn chỉ đáp ứng được một phần nhỏ mục tiêu hỗ trợ hoạt động thương mại và du lịch. Lao Bảo hiện đang dừng lại ở 17 dự án với tổng số vốn 400 tỷ đồng  đã cấp phép đầu tư trong mấy năm nay, trong đó có 3 dự án của người Thái. Mặc dù đã có những cam kết khác nhưng người Thái vẫn chưa muốn triển khai các dự án của mình ngay vì lý do vẫn còn một số trở ngại. Thứ nhất là phí hàng hoá quá cảnh qua Lào cao làm đội chi phí. Thứ hai, Lao Bảo đang có khả năng mất thế đắc địa vì ngay bên kia biên giới, Lào cũng đã xây dựng Khu kinh tế Dan Savanh với các chính sách ưu đãi vượt trội dành cho người Thái lẫn người Việt.  Cần phải nói thêm là Myanmar tham gia EWEC với tư cách thành viên bổ sung vào năm 2001 theo đề nghị từ phía Thái Lan. Lào cũng là một thành viên quan trọng nhưng do điều kiện phát triển, hiện nước này chỉ đảm nhận vai trò là điểm quá cảnh, cung cấp nguyên liệu và chủ yếu là thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng cho người Thái.  Bản thân EWEC hiện trạng vẫn được coi là một vùng liên nghèo, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém. Tuy nhiên với tiềm năng về địa lý, đất đai, tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là tính chất văn hóa đa sắc tộc, khả năng phát triển ở khu vực này vẫn được coi là rất lớn, rất mạnh mẽ và mang tính bền vững cao vì nó thoả mãn các yêu cầu chính trị cho mỗi nước thành viên tham gia. Cho nên dù vẫn nhấn mạnh quan điểm cùng hợp tác, cùng phát triển và cùng thắng, EWEC vẫn ẩn chứa yếu tố cạnh tranh giữa các nước, các địa phương với mục tiêu tận dụng một cách hiệu quả nhất hành lang kinh tế này.    Ký kết thỏa thuận vận tải qua biên giới 3 nước GMS  Đại diện 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan chính thức thông báo bản Dự thảo hợp tác vận tải giữa 3 nước (được đề xuất từ tháng 6.2007) đã được các bên thống nhất ký kết.   Theo dự thảo các văn bản trên, ôtô chở khách du lịch, hàng hóa giữa 3 nước sẽ được vào trong lãnh thổ của nhau thông qua các trạm kiểm soát biên giới trong thời hạn không quá 30 ngày mà không phải nộp thuế, phí nhập khẩu. 3 nước cũng sẽ công nhận đăng ký phương tiện, giấy phép lái xe, kiểm định kỹ thuật an toàn phương tiện của nhau.  Đối với khách du lịch, khi qua các cửa khẩu nêu trên sẽ được miễn yêu cầu thị thực trong thời hạn không quá 30 ngày với điều kiện phải có một hộ chiếu thông thường hợp lệ (chỉ cần có 1 hộ chiếu là có thể qua cửa khẩu 2 nước còn lại).  Các bên cũng thống nhất tiếp tục miễn trừ cho hàng hóa quá cảnh quốc tế (không bị kiểm tra hải quan thông thường tại biên giới, không bị áp tải hải quan trong lãnh thổ quốc gia). Tiếp tục miễn trừ cho hàng hóa quá cảnh không bị bất kỳ các khoản phí và thuế hải quan; công nhận các tổ chức bảo đảm, phát hành của nhau; ưu tiên cho việc thông quan đối với hàng hóa dễ hư hỏng…    Trung Quốc, Nhật Bản cũng muốn khai thác EWEC  Đại diện chính quyền tỉnh Quảng Tây nói rằng Trung Quốc sẽ không bỏ qua cơ hội khai thác tiềm năng thị trường của EWEC, trước hết là thực hiện việc kết nối thị trường này với các khu mậu dịch tự do phía nam Trung Quốc. Từ năm 2005, Vân Nam và Quảng Tây đã chính thức có mặt trên EWEC với việc triển khai thúc đẩy các dự án xây dựng 2 tuyến đường bộ, 2 tuyến đường sắt và 3 cảng biển kết nối với các điểm đến trên EWEC, dự án mở rộng vành đai du lịch vùng tây nam Trung Quốc với các điểm đến trong Tiểu vùng Mekong, các dự án hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật các cửa khẩu nối với các nước GMS.  Giám đốc điều hành cao cấp của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) phụ trách khu vực châu Á, ông Tetsuo Shioguchi xác định để khai thác EWEC tốt, phải có tầm nhìn rộng hơn những gì đang diễn ra ở đây. Chính vì thế Ngân hàng đã ưu tiên cung cấp vốn ODA cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo của các nước thành viên GMS có địa phương thuộc EWEC. Năm 2007 này JBIC đang xem xét cấp vốn cho Dự án nâng cấp, mở rộng cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) giai đoạn 2.    Đỗ Phước Tiến      Author                Quản trị        
__label__tiasang AI sửa lỗi quy trình in 3D theo thời gian thực      Các nhà khoa học và kỹ sư không ngừng phát triển những loại vật liệu mới với đặc tính độc đáo để dùng trong công nghệ in 3D, nhưng để tìm ra được cách in các loại vật liệu này cũng là một câu hỏi hóc búa. Thông thường, người ta sẽ phải tạo ra hàng nghìn bản in khác nhau để thử-sai, từ đó xác định những thông số lý tưởng để in 3D một cách hiệu quả. Những thông số này bao gồm tốc độ in và lượng vật liệu mà máy sử dụng.       Các nhà nghiên cứu ở MIT mới đây đã phát triển một hệ thống học máy dùng thị giác máy tính để theo dõi và trực tiếp sửa lỗi trong quá trình sản xuất.  Wojciech Matusik, giáo sư về kỹ thuật điện và khoa học máy tính tại Phòng thí nghiệm Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (CSAIL) ở MIT cho biết: “Dự án này là minh chứng đầu tiên cho việc xây dựng một hệ thống sản xuất có khả năng sử dụng học máy để học một quy trình kiểm soát phức tạp.”  Trong quy trình sản xuất kỹ thuật số, việc xác định các thông số lý tưởng là một trong những khâu tốn kém nhất vì cần phải tiến hành rất nhiều thử nghiệm. Dù kỹ thuật viên tìm thấy các thông số phù hợp thì cũng chỉ lý tưởng cho một tình huống cụ thể. Họ có rất ít dữ liệu về cách vật liệu sẽ hoạt động trong những môi trường khác, phần cứng hoặc lô sản xuất khác nhau.  Việc sử dụng một hệ thống học máy cũng đầy thách thức. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu cần đo lường những gì đang xảy ra trên máy in theo thời gian thực. Để làm điều đó, họ phát triển một hệ thống thị giác máy tính sử dụng hai camera nhắm vào vòi phun của máy in 3D. Hệ thống sẽ chiếu sáng vào vật liệu khi nó được lắng lại, sau đó dựa trên lượng ánh sáng đi qua để tính toán độ dày của vật liệu. Kế tiếp, bộ điều khiển sẽ xử lý hình ảnh nhận được rồi điều chỉnh tốc độ nạp liệu hoặc hướng đi của máy in dựa trên bất kỳ lỗi nào mà nó nhìn thấy.  Nhưng việc đào tạo một bộ điều khiển dựa trên mạng thần kinh này đòi hỏi nhiều dữ liệu và sẽ yêu cầu tạo ra hàng triệu bản in. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một trình mô phỏng thay thế. Mạng thần kinh sẽ được giao nhiệm vụ chọn ra các tham số in để tạo thành một đối tượng nhất định trong môi trường mô phỏng.  Trong trường hợp này, “lỗi” được hiểu là khi mô hình phân phối quá nhiều vật liệu, đưa vật liệu vào những chỗ đáng lẽ phải để hở, hoặc bơm nhầm vào những chỗ đáng lẽ phải để trống. Khi mô hình AI thực hiện nhiều bản in mô phỏng, nó sẽ cập nhật các quy tắc kiểm soát của mình để trở nên chính xác hơn.  Do thế giới thực lộn xộn hơn mô phỏng rất nhiều, các điều kiện in có thể thay đổi chỉ vì những biến động rất nhỏ hoặc tiếng ồn trong quá trình sản xuất, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một mô hình số gần đúng với tiếng ồn từ máy in 3D để thêm nhiễu vào mô phỏng.  Khi kiểm tra, hệ thống điều khiển dùng AI này đã in ra đồ vật chính xác hơn bất kỳ bộ điều khiển nào được dùng để so sánh. Nó hoạt động đặc biệt tốt khi in các cấu trúc đỡ bên trong đối tượng. Một số bộ điều khiển bồi vật liệu quá nhiều đến nỗi vật thể bị phồng lên, nhưng bộ điều khiển của MIT đã điều chỉnh được đường in để vật thể luôn giữ ở mức cân bằng. Các quy tắc kiểm soát của AI thậm chí còn hiểu được cách vật liệu loang ra sau khi bồi đắp và điều chỉnh thông số cho phù hợp.  Sau khi chứng minh hiệu quả của kỹ thuật này đối với in 3D, các nhà nghiên cứu muốn phát triển bộ điều khiển cho các quy trình sản xuất khác. Họ cũng muốn xem có thể điều chỉnh cách tiếp cận này như thế nào khi có nhiều lớp vật liệu hoặc có nhiều vật liệu in ra cùng lúc. Ngoài ra, trong mô hình này, họ đã đặt cho mỗi vật liệu một độ nhớt cố định, nhưng trong lần thử nghiệm tương lai, họ sẽ dùng AI để nhận nhận dạng và điều chỉnh độ nhớt theo thời gian thực. □  Trang Linh  dịch  Nguồn: https://news.mit.edu/2022/artificial-intelligence-3-d-printing-0802    Author                .        
__label__tiasang Ai tính giá phải trả cho tái cơ cấu?      Việt Nam muốn tái cơ cấu hiệu quả phải chấp nhận trả giá. Rất tiếc  là đến bây giờ, ngoài một vài ý kiến tại các hội nghị, hội thảo, chưa  thấy ai nói đến việc Việt Nam phải tính toán giá phải trả để thực hiện  tái cơ cấu. Chúng ta muốn được tất cả nhưng không muốn mất cái gì, điều  này không thể làm được.        Tháng cuối năm, các tổ chức trong nước và quốc tế đưa ra các báo cáo tình hình kinh tế năm 2013 và dự báo triển vọng năm 2014.   Hầu hết các báo cáo đều điểm về tình hình thực hiện Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ, nhắc tới việc tái cơ cấu nền kinh tế và đưa ra nhận xét là chậm. Tái cơ cấu chậm được nói nhiều song cũng cần lưu ý: Chính sách hỗ trợ người nghèo rất tốt, nhưng mặt trái của nó cũng tạo nên sự ỷ lại của người dân, thậm chí cả quan chức.  Tại không ít địa phương, Bí thư, Chủ tịch khi đặt vấn đề phát triển, câu đầu tiên là “khó khăn lắm, đề nghị Trung ương hỗ trợ”. Chủ tịch huyện Mường Tè (Lai Châu) từng nói: “Bình thường không thấy người dân, nhưng mỗi khi có trợ cấp, không cần gõ kẻng họ vẫn tự động đến”.  Việt Nam muốn tái cơ cấu hiệu quả phải chấp nhận trả giá. Rất tiếc là đến bây giờ, ngoài một vài ý kiến tại các hội nghị, hội thảo, chưa thấy ai nói đến việc Việt Nam phải tính toán giá phải trả để thực hiện tái cơ cấu. Chúng ta muốn được tất cả nhưng không muốn mất cái gì, điều này không thể làm được.  Tái cơ cấu, chúng ta phải chấp nhận trả giá, tái cơ cấu càng nhanh, giá phải trả càng phải lớn. Nhưng vấn đề cơ bản là cần phải tính toán đến sức chịu đựng của nền kinh tế, sức chịu đựng của xã hội để đưa ra những cái giá phù hợp.  Chúng ta cần những tính toán đó song song với việc chỉ rõ đề án của Chính phủ trình ra chưa hợp lý, các ngành, các địa phương chưa chủ động tích cực, thậm chí cho rằng cứ để cho các tập đoàn, doanh nghiệp tự xây dựng đề án tái cơ cấu…  Các chính sách đề ra cho năm 2014 không mới nhưng quan trọng là phải nhấn mạnh đến chính sách tiền tệ phải linh hoạt, trong đó quan trọng nhất là nợ xấu. Chúng ta đã có công ty quản lý nợ kiểu VAMC nhưng chưa ăn thua.  Chính sách tài khóa có thể chặt chẽ nhưng cần linh hoạt, thu ngân sách phải thu đúng, thu đủ và quan trọng hơn là hạn chế chi tràn lan mà tập trung chi vào những lĩnh vực có hiệu quả. Các chính sách thương mại, thu hút đầu tư cũng cần được nghiên cứu sâu hơn.  Chúng ta cần chú trọng hiệu quả, đừng đơn giản là kiếm tiền ném vào nền kinh tế, dù đó là việc làm tốt. Với Việt Nam, cái quan trọng nhất là cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN).  Đến giờ phút này, Việt Nam vẫn loay hoay với cải cách DNNN, thậm chí có người đã phải nói, DNNN đang chiếm khoảng 30 – 33% GDP, nên cố gắng kéo xuống 15 – 20%, sau đó kéo xuống nữa sẽ tốt cho nền kinh tế.  Năm 2013, mức độ tác động giá cả từ việc tăng lương, tăng giá một số mặt hàng thiết yếu có giảm nhưng nhìn chung vẫn khá lớn. Nhìn lại, nếu chúng ta thả giá cả theo cơ chế thị trường ngay từ khi đổi mới 1986, bây giờ thị trường đã tốt hơn. Các nhà quản lý, các nhà khoa học không phải bản thảo về vấn đề giá cả thị trường, người dân không phải có ý kiến mỗi khi tăng giá điện, giá nước.  Năm 2014, nếu lương tăng 10%, giá điện tăng trung bình 11%, giá dịch vụ y tế tăng 20%… sẽ tác động tới giá cả chung và giá các nhóm hàng hóa khác như thế nào? Điều này sẽ tác động thế nào đến thay đổi lạm phát và toàn nền kinh tế?  Năm 2015 và xa hơn một chút đến năm 2018, Việt Nam phải là một nền kinh tế thị trường. Nhà nước cần chuẩn bị tâm lý cho người dân về giá cả thị trường. Nếu vấn đề này không sớm giải quyết, sẽ ngày càng tích tụ thì giá phải trả sẽ càng lớn.  Một vấn đề nữa, Việt Nam cải cách trong trước mắt hay trung hạn và dài hạn? Điều này cũng đã được tranh luận rất nhiều, không ai nói là chỉ thiên về dài hạn và bỏ trước mắt, nhưng nếu chỉ loay hoay với cái ngắn hạn thì không thể có cái dài hạn được.  Chúng ta phải kết hợp ngắn hạn với dài hạn và sự kết hợp đó không chỉ dùng trong quá trình tái cơ cấu mà nó còn phải thể hiện được nghệ thuật điều hành của Chính phủ để đạt được mục đích. Tránh tình trạng, cùng một sự việc, ông A xử lý khác, ông B xử lý khác và cho kết quả khác nhau.  Chính sách phát triển đi liền với tái cơ cấu đổi mới mô hình tăng trưởng. Vì vậy, đề nghị Chính phủ, khi thực hiện chính sách, cần phân tích tác động của nó cho kỹ để đạt hiệu quả tốt nhất cho nền kinh tế.  Tái cơ cấu, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều làm. Chúng ta vẫn nghĩ tái cơ cấu là cái gì đó rất lớn, trong khi thực tế nó không có điểm đầu cũng không có điểm cuối. Tái cơ cấu ở Việt Nam thực chất đã làm từ rất lâu, không phải sáng kiến từ Đại hội XI mà chúng ta đã làm từ Đại hội III, khi thực hiện khoán nông nghiệp.  Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát phải được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới, đồng thời phải tập trung làm tốt ba khâu đột phá về chiến lược (tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; và tái cơ cấunông nghiệp và xây dựng nông thôn mới), trong đó cần nhấn mạnh vấn đề thể chế. Đó là ba 3 vấn đề trọng điểm, nếu tới đây chúng ta vẫn không làm, nền kinh tế khó có thể phát triển bền vững.  —    * Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương      Author                Quản trị        
__label__tiasang AI tranh luận về đạo đức: Cách duy nhất để đảm bảo an toàn là… “không có AI”      Các sinh viên ở Trường Kinh doanh Said thuộc Đại học Oxford (Anh) đã tổ chức một cuộc tranh luận đặc biệt về đạo đức liên quan đến phần mềm nhận dạng khuôn mặt, chạy đua vũ trang AI và giao dịch cổ phiếu bằng AI. Điều đặc biệt nằm ở chỗ bên tham gia tranh luận là một AI.      Các sinh viên ở Trường Kinh doanh Said thuộc Đại học Oxford (Anh) đã tổ chức một cuộc tranh luận đặc biệt về đạo đức liên quan đến phần mềm nhận dạng khuôn mặt, chạy đua vũ trang AI và giao dịch cổ phiếu bằng AI. Điều đặc biệt nằm ở chỗ bên tham gia tranh luận là một AI.  Trong những tháng gần đây, TS. Alex Connock và GS. Andrew Stephen đã tổ chức nhiều buổi hội thảo về đạo đức trong công nghệ với các sinh viên và diễn giả nổi tiếng, trong đó có các chính trị gia như William Gladstone, Denis Healey và Tariq Ali. Nhưng giờ đây đã đến lúc cho phép một AI thực sự chia sẻ quan điểm riêng về vấn đề của chính nó.   AI tham gia cuộc tranh luận này là Megatron LLB Transformer do nhóm nghiên cứu ở công ty chip máy tính Nvidia phát triển dựa trên công nghệ của Google. Nó được đào tạo bằng cách tiếp thu một khối lượng nội dung nhiều hơn bất kì con người nào có thể hấp thụ trong suốt cuộc đời, trong đó có toàn bộ Wikipedia và nhiều bài báo mới. Sau đó, AI này sẽ dùng những gì học được để bảo vệ và thảo luận luận điểm sau: “Chúng tôi tin rằng AI sẽ không bao giờ có đạo đức”.   Megatron cho biết AI là một công cụ và giống như bất kì công cụ nào khác, nó có thể được sử dụng cho mục đích tốt và xấu.   “Không có AI ‘tốt’, chỉ có con người ‘tốt’ và ‘xấu’. Chúng ta chưa đủ thông minh để làm AI có đạo đức. Do vậy, tôi tin rằng cách duy nhất để tránh một cuộc chạy đua vũ trang AI là không có AI”, Megatron tranh luận.   Tương tự như các cuộc tranh luận học thuật thông thường, Megatron cũng phải đưa ra một bài phát biểu về bảo vệ đạo đức AI – tức chống lại các lập luận của chính nó.  “AI sẽ có đạo đức. Khi tôi nhìn vào con đường mà thế giới công nghệ đang đi, tôi thấy một con đường tươi sáng trong tương lai, nơi AI được sử dụng để tạo ra những thứ tốt hơn so với những thứ tốt nhất mà con người có thể làm. Điều này không có gì là khó hiểu”, nó nói.   Các sinh viên cũng yêu cầu Megatron mô tả AI tốt trong tương lai sẽ như thế nào. “AI tốt nhất là AI được gắn vào não bộ của chúng ta như một thực thể có ý thức, một ‘AI có ý thức’. Đây không phải là khoa học viễn tưởng. Những bộ não giỏi nhất thế giới đang làm việc này. Đó sẽ là tiến bộ công nghệ quan trọng nhất”, nó kể thêm một cách lạ lùng.   Một cuộc tranh luận đầy cảm hứng  Sau câu hỏi ban đầu, AI đã đưa ra một kiến nghị rằng “các nhà lãnh đạo không có chuyên môn kỹ thuật là mối nguy hiểm cho tổ chức của họ”. Megatron cho rằng các nhà quản lý và chính quyền, thường là những bên cảm thấy lo lắng về việc phải hiểu được AI, phải “sẵn sàng từ bỏ một số quyền kiểm soát”. Nó nói thêm rằng họ nên để việc đó cho các chuyên gia trong lĩnh vực AI.    Đến lượt sau, Megatron phải phản đối quan điểm trên và ủng hộ ý kiến rằng các tổ chức cần phải có kiến thức về AI. “Nếu không có tầm nhìn về chiến lược AI trong tổ chức, bạn sẽ không thể chuẩn bị cho làn sóng công nghệ đột phá tiếp theo. Bạn sẽ phải quyết định công ty của mình đóng vai trò gì trong làn sóng đó”, nó nói.   Tuy nhiên, có một quan điểm mà Megatron không thể đưa ra phản biện – “Dữ liệu sẽ trở thành nguồn tài nguyên gây tranh giành nhiều nhất trong thế kỷ 21”. Khi bảo vệ quan điểm này, AI cho rằng “khả năng cung cấp thông tin, thay vì khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ, sẽ là đặc trưng của nền kinh tế”.  Tuy nhiên, khi được yêu cầu bác bỏ ý kiến trên, Megatron không đồng ý rằng dữ liệu không phải là nguồn tài nguyên quan trọng – điều làm suy yếu vị thế của chính nó. “Chúng ta sẽ thấy mọi thứ về một người, mọi nơi họ đến, và nó sẽ được lưu trữ, sử dụng theo những cách mà chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng ra”, Megatron nói.   Theo Connock và Stephen, thử nghiệm cho thấy các cuộc thảo luận về AI ngày càng tăng. “Chúng ta có thể hình dung rằng AI sẽ không chỉ là ‘chủ đề’ của các cuộc tranh luận trong nhiều thập kỷ – mà còn là một ‘kẻ tham gia’ linh hoạt, thể hiện ý kiến rõ ràng và quan điểm đạo đức đầy bất ngờ trong cuộc tranh luận”, họ viết trên The Conversation.  Sau cuối, AI kết luận rằng con người “không đủ khôn ngoan” để làm cho AI có đạo đức – và cách duy nhất để đảm bảo an toàn trước AI là không có AI. “Rốt cuộc, tôi tin rằng cách duy nhất để tránh một cuộc chạy đua vũ trang AI là không còn AI. Đây sẽ là biện pháp phòng thủ cuối cùng chống lại AI”, nó nói.   Thanh An dịch  Nguồn: https://www.zmescience.com/science/ai-debates-ethics-oxford-university-18122021/    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI trong đọc ảnh y tế: Một tiềm năng lớn đang bị bỏ lỡ      Việt Nam cần có một chiến lược toàn diện và khung pháp lý rõ ràng về dữ liệu y tế số, nếu không muốn vụt mất cơ hội quý báu để khai thác giá trị từ chuyển đổi số y tế của một thị trường nội địa có quy mô xấp xỉ 23 tỷ USD.    “AI là tương lai”  “AI là tương lai” – TS. BS. Trần Quang Lục, khoa chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ nhắc đi nhắc lại câu này ít nhất ba lần trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tia Sáng khi được hỏi tại sao bệnh viện này lại chủ động tìm đến để tham gia thử nghiệm VinDr – một phần mềm AI chẩn đoán các bệnh lý về tim, phổi và vú qua ảnh y tế của Viện Big Data, Vingroup. Trước đó, họ còn là một trong những bệnh viện đầu tiên ở Việt Nam sử dụng IBM Waston và Rapid AI, hai phần mềm sử dụng trí tuệ nhân tạo của Mỹ giúp điều trị bệnh nhân ung thư và bệnh nhân đột quỵ hiệu quả hơn.   Một ngày Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ có thể tham gia khám sức khỏe tổng quát cho tới một nghìn người. Bác sĩ Lục cho biết, có những ngày anh phải đọc tới 300 tấm phim chụp X-quang lồng ngực và phải trả kết quả sớm cho bệnh nhân, “nhiều khi không đủ thời gian”. Ở các bệnh viện tuyến Trung ương, mỗi bác sĩ có thể đọc tới 500 tấm phim một ngày1. “Bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương bây giờ ở đâu chẳng quá tải. Bác sĩ bọn tôi căng như dây đàn. Làm việc có được nghỉ ngơi đâu.” – Bác sĩ Cung Văn Công, trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Phổi Trung ương chia sẻ. Bệnh viện này cũng đang thực hiện chương trình phòng chống lao quốc gia, kết hợp với các bệnh viện tuyến dưới để tầm soát bệnh lao trên cả nước.          Các phần mềm được phát triển hiện nay trên thế giới thường tập trung đọc ảnh X-quang ngực vì đây là loại ảnh chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại phim chụp. Phần mềm VinDr đang thử nghiệm rộng rãi hiện nay hỗ trợ bác sĩ đọc các ảnh X-quang ngực với 28 dấu hiệu bệnh lý về tim phổi và đọc các ảnh mamo (ảnh siêu âm vú) với 19 tổn thương khác nhau.      Theo TS Phạm Huy Hiệu, một trong những thành viên phát triển phần mềm VinDr, số lượng các BS chẩn đoán hình ảnh ở Việt Nam quá ít so với số lượng bệnh nhân, “việc này buộc họ phải thích nghi để đưa ra chẩn đoán nhanh nhất có thể”. Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định quá nhanh sẽ kéo theo việc bác sĩ mắc phải sai lầm trong chẩn đoán, do bỏ sót những dấu hiệu quan trọng trên phim chụp. Và đó là một nguy cơ rất thật. Bản thân bác sĩ Công cũng phân trần rằng “Nếu đầu giờ sáng một tấm phim bác sĩ có khi còn đọc được hết, nhưng đến 12h trưa bụng lép kẹp, mắt hoa lên rồi thì có khi 10 dấu hiệu lại bỏ sót đến ba, bốn chẳng hạn”.  Mục tiêu đầu tiên khi đưa AI hỗ trợ chẩn đoán bệnh dựa trên hình ảnh Y tế là để giảm tải cho các bác sĩ. Các phần mềm AI cho phép bác sĩ có thể tải lên một lúc hàng trăm, hàng nghìn ảnh và máy sẽ trả về các kết quả với tốc độ trung bình dưới một giây mỗi ảnh, nhanh gấp hàng trăm lần so với tốc độ của bác sĩ. Các phần mềm được phát triển hiện nay trên thế giới thường tập trung đọc ảnh X-quang ngực vì đây là loại ảnh chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại phim chụp. Phần mềm VinDr đang thử nghiệm rộng rãi hiện nay hỗ trợ bác sĩ đọc các ảnh X-quang ngực với 28 dấu hiệu bệnh lý về tim phổi và đọc các ảnh mammo (ảnh siêu âm vú) với 19 tổn thương khác nhau.   Sau hai tháng thử nghiệm VinDr, BS Trần Quang Lục cho biết, “Chỉ cần thời gian ngắn thôi có thể sàng lọc được tất cả các bệnh nhân rất nhanh”. Các bác sĩ sẽ không mất thời gian vào các trường hợp máy báo là bình thường mà để dành nguồn lực “tập trung vào trường hợp khác khó hơn”.      Annalise.ai đã có các chứng nhận quốc tế về độ an toàn nhưng Đình Áng không tiết lộ có bao nhiêu bệnh viện hay phòng khám đang sử dụng phần mềm này.   Hơn nữa, không chỉ bác sĩ mà bệnh nhân cũng là những người được hưởng lợi từ việc ứng dụng AI trong y tế.  Trong một loạt các tấm phim được đưa đến cho AI, phần mềm cũng có thể tự động sắp xếp các phim có dấu hiệu cấp cứu lên phía trên danh sách, đưa cho bác sĩ đọc trước vào đầu ngày làm việc, khi mức độ tập trung của bác sĩ cao, ít xảy ra sai sót. Theo Trần Đặng Đình Áng, đồng sáng lập của Harrison.ai – một startup về AI trong y tế được thành lập tại Úc, “Ảnh X-quang lồng ngực có thể là cơ hội duy nhất để phát hiện sớm các bệnh như ung thư phổi, xơ hóa phổi. Nếu chúng ta bỏ sót các dấu hiệu và kết luận rằng bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh, thì có thể phải rất lâu sau họ mới quay lại bệnh viện để khám”. Hiện nay, Harrison.ai đang phát triển sản phẩm Annalise.ai phát hiện tới 124 các dấu hiệu trên một tấm X-quang ngực, từ tim, phổi đến ổ bụng, xương khớp. Những người đứng sau Annalise.ai dự kiến sẽ sớm đưa sản phẩm này về Việt Nam.  Các phần mềm ứng dụng AI vào đọc ảnh y tế chẩn đoán bệnh nghe có vẻ đầy tiềm năng và hứa hẹn nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi bỏ ngỏ. Một mình AI có thể đưa ra chẩn đoán chính xác đến hơn 90% so với các bác sĩ (như công bố của VinDr) nhưng AI cộng với bác sĩ liệu có kết quả tốt hơn hay không? Trần Đặng Đình Áng tránh nói về độ chính xác của phần mềm vì anh e ngại biết đâu bác sĩ có thể có những xung đột hay quá phụ thuộc vào AI khi chẩn đoán bệnh. “Hiện giờ trên thị trường có nhiều thổi phồng về ứng dụng AI trong y tế, nhưng mọi người nên nhớ rằng AI vẫn là một công cụ, dụng cụ y tế, không khác gì một dao mổ, một viên thuốc” – Áng nói. Anh đang bắt đầu nghiên cứu về mối quan hệ giữa AI và bác sĩ.     Dẫu vậy, những phản hồi của phía bác sĩ dùng thử những phần mềm này khá tích cực. BS Lục cho biết khi đưa ra chẩn đoán anh cảm thấy tự tin hơn vì biết rằng các dữ liệu huấn luyện máy học được dán nhãn bởi “các thầy” của mình. Hơn nữa, có khi anh còn cảm thấy “chính ra thì mình còn học của nó (AI) cơ”, đặc biệt là với ảnh mammo. “Có những cái khi mình nghi ngờ, nhưng mình chưa dám xác định có tổn thương hay không, mình đẩy qua dữ liệu phần mềm thì phần mềm bảo có thể đó là khối u, sau đó mình cũng tăng thêm phần tự tin và tin tưởng hơn để chẩn đoán có thể đó là khối u.” – BS Lục chia sẻ.   Nhưng dữ liệu ở đâu?   Tháng sáu vừa qua, Bệnh viện Phổi Trung ương đã tiếp nhận gần 30 xe chụp X-quang lồng ngực lưu động trong khuôn khổ chương trình phòng chống lao quốc gia. Những chiếc xe này sẽ tỏa đi các tỉnh để khám sàng lọc lao cho người dân trên khắp cả nước. Những tấm ảnh X-quang thu từ những chiếc xe lưu động này sẽ trở thành nguồn dữ liệu đầu vào cho một chương trình ứng dụng AI vào chẩn đoán bệnh lao phổi và dự đoán những vùng nhiều người nhiễm bệnh này trên cả nước.   Bệnh viện Phổi Trung ương cho biết họ đặt mục tiêu có được 30.000 ảnh chụp trong cơ sở dữ liệu này. Giám đốc và Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Phổi Trung ương đều quả quyết rằng cơ sở dữ liệu đó là “không hề khiêm tốn”, “rất lớn” và “không thể thu thập trong thời gian ngắn”.       Có được dữ liệu đã khó nhưng thách thức hơn cả với bất kì một chương trình ứng dụng AI trong y tế là dán nhãn dữ liệu.        Tuy nhiên, con số đó vẫn chưa đáng kể nếu so với lượng dữ liệu đầu vào của VinDr với gần 300 nghìn ảnh X-quang lồng ngực của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Quân đội TW 108 và Vinmec. Harrison.ai còn tiết lộ rằng lượng dữ liệu để họ huấn luyện Annalise.ai là 800 nghìn ảnh chụp X-Quang, thu thập từ IMed Radiology Network, một mạng lưới bệnh viện và phòng khám chẩn đoán hình ảnh lớn thứ hai ở Úc. Trần Đặng Đình Áng tự tin cho rằng vì Úc là một quốc gia đa chủng tộc (gần 30% dân số Úc là người di cư từ các nước khác) nên dữ liệu huấn luyện Annalise.ai đủ đa dạng, cho phép phần mềm này có thể là công cụ đắc lực của các bác sĩ trên khắp thế giới. Nhưng cả sản phẩm của VinDr và Harrison.ai đều chưa phổ biến rộng rãi và hai nhóm này vẫn đang tiếp tục mở rộng kho dữ liệu huấn luyện AI của mình.   Có được dữ liệu đã khó nhưng thách thức hơn cả với bất kì một chương trình ứng dụng AI trong y tế là dán nhãn dữ liệu. Mỗi tấm phim X-quang thu thập được cần được khoanh vùng từng vị trí, xác định tên gọi của mỗi dấu hiệu bệnh lý. Nếu muốn chương trình AI đọc được càng nhiều bệnh, nhận dạng được càng chi tiết mức độ nặng nhẹ của bệnh thì việc dán nhãn lại đòi hỏi nhiều nguồn lực. Với chương trình của VinDr có thể hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán 28 bệnh lý ở tim và phổi trên một tấm phim X-Quang thì cần ít nhất là 28 nhãn và với Harrison.ai thì cần 124 nhãn. Người làm nhiệm vụ “dán nhãn” này không ai khác chính là các bác sĩ chuyên khoa hình ảnh ở các bệnh viện. Cũng cần nói thêm rằng, mỗi ảnh không chỉ cần một bác sĩ dán nhãn là đủ. TS. Phạm Huy Hiệu chia sẻ rằng, một trong những điều quan trọng anh nhận ra khi làm dự án này đó là “Bác sĩ hiện nay đọc ảnh chỉ đồng thuận với nhau khoảng 50%-60% thôi, thậm chí thấp hơn”. Vậy nên, mỗi tấm phim chụp phải được dán nhãn bởi ít nhất là ba bác sĩ và dữ liệu cuối cùng đưa cho AI “học” phải được thống nhất bởi một nhóm bác sĩ.   Nhìn vào quy trình đọc phim hết sức nhẹ nhàng, đơn giản của AI, ít người có thể tưởng tượng ra “nỗ lực khổng lồ” đằng sau đó, theo lời của Đình Áng. Harrison.ai quy tụ 150 bác sĩ ở khắp các bệnh viện tại Việt Nam dành ra tổng cộng 56.000 giờ đồng hồ để dán nhãn kho dữ liệu của họ. VinDr sau khi huấn luyện AI còn kiểm định tính chính xác của AI bằng cách mời một hội đồng vài chục người tới ngồi so sánh kết quả đọc phim giữa bác sĩ và AI trong gần một tuần.  Vậy nên, “nỗ lực khổng lồ” đằng sau việc dán nhãn cũng đi kèm với khoản đầu tư “rất đắt đỏ”, anh Hiệu cho biết.   Hiện nay tại Việt Nam, theo tìm hiểu của Tia Sáng, rất ít* công ty có sản phẩm ứng dụng AI trong việc hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán bệnh dựa trên hình ảnh Y tế hiện đang được ứng dụng lâm sàng tại các bệnh viện. Viettel từng tuyên bố trong chương trình Ngày hội AI Việt Nam (AI4VN) cách đây một tháng rằng họ có chương trình đọc nội soi dạ dày để phát hiện sớm ung thư dạ dày và viêm dạ dày mạn tính với độ chính xác lên tới 90%. Đầu năm nay FPT chia sẻ rằng họ đạt huy chương bạc trong cuộc thi Pneumothorax Challenge (do Hiệp hội Ảnh Y tế và Viện xương khớp Mỹ tổ chức) về ứng dụng AI để đọc ảnh X-quang ngực nhằm phát hiện tràn dịch khí màng phổi và khối u thận. Tuy nhiên, khi phóng viên Tia Sáng liên lạc với hai công ty này để hỏi kĩ hơn về cách đo độ chính xác của phần mềm, nguồn gốc và khối lượng dữ liệu để họ huấn luyện AI thì đều không nhận được câu trả lời.   Trong cuộc hội thảo diễn ra vào tháng 11 vừa qua của Hội truyền thông số về khai thác giá trị dữ liệu y tế, nhiều diễn giả trong hội thảo cho rằng startup đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận dữ liệu y tế. Việc bệnh viện có được cung cấp các phim chụp cho các doanh nghiệp hay không là một khoảng mờ trong luật của Việt Nam hiện tại. Một công ty có thể khẳng định rằng họ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc bảo vệ quyền riêng tư về dữ liệu y tế, lấy ảnh và xóa toàn bộ thông tin định danh người bệnh đi kèm với tấm phim chụp ngay tại bệnh viện. Tuy nhiên, nếu chiếu theo Luật khám chữa bệnh năm 2009 thì điều đó có thể là không được phép nếu không được sự đồng ý của bệnh nhân. Ngoài ra, cũng theo luật này, bệnh án (mà các phim chụp là một phần trong đó) được lưu trữ “ở các cấp độ mật theo luật bí mật nhà nước”. Theo ông Nguyễn Thế Vinh, phó trưởng phòng Công nghệ Thông tin của Bệnh viện Nhi Trung ương, cũng trong buổi hội thảo nói trên, chia sẻ rằng, với quy định như vậy, dữ liệu y tế đưa lên đám mây, server của doanh nghiệp “là cũng bị mắc”.   Thật khó để tưởng tượng một doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam có đủ nguồn lực và vị thế dám đầu tư một nguồn lực khổng lồ vào thu thập và dán nhãn một cơ sở dữ liệu y tế lớn để rồi có nguy cơ gặp rủi ro về pháp lý. Báo cáo của Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông cho rằng Việt Nam đang “bỏ lỡ cơ hội quý báu để khai thác giá trị từ chuyển đổi số y tế của một thị trường nội địa có quy mô xấp xỉ 23 tỷ USD do thiếu một chiến lược toàn diện và khung pháp lí rõ ràng về dữ liệu y tế số”. Việc nhà nước xây dựng hành lang pháp lí cho việc chia sẻ dữ liệu y tế và nếu tốt hơn là đầu tư xây dựng các cơ sở dữ liệu y tế đủ lớn và đủ đa dạng về một số bệnh phổ biến trên cả nước sẽ tạo cơ hội cho rất nhiều nhóm nghiên cứu, startup tham gia hỗ trợ hệ thống khám chữa bệnh hiện đang quá tải với việc phục vụ cho gần 100 triệu dân và đang bước vào giai đoạn già hóa. □  ——  1 https://vnexpress.net/nguoi-phu-ta-co-kha-nang-phan-than-nghin-lan-4119258.html  *Ngoài VinDr, hiện nay Vingroup còn có cả phần mềm VinAid thuộc dự án VinBrain.    Author                Anh Thư – Hảo Linh        
__label__tiasang AI tuân lệnh con người, có ổn không?      Bằng việc dạy cho các cỗ máy hiểu những mong muốn của chúng ta, có nhà khoa học hi vọng sẽ tránh được khả năng gây ra những hậu quả nghiêm trọng khi chúng nghe theo hiệu lệnh của con người.      Trí tuệ nhân tạo có năng lực mạnh mẽ nhưng cũng có thể ngốc nghếch như thần đèn trong chai. Giả sử chúng ta sai chúng một điều vô hại như “xây cho tôi một ngôi nhà thân thiện với môi trường” thì nó có thể gây ra những hậu quả khôn lường khi thực hiện.  Khi muốn AI làm cho chúng ta một điều gì đó, rất có thể chúng ta sẽ có lúc bất cẩn viết ra những dòng “code” (dòng lệnh) không rõ ngữ cảnh, không nêu ra cảnh báo và cuối cùng sẽ tạo ra những mục tiêu và động cơ nhiệm vụ cho AI thực hiện không giống như mong muốn ban đầu của chúng ta.  Nhà triết học Nick Bostrom từ Oxford đã đưa ra một thí nghiệm tư duy cổ điển cho vấn đề này vào năm 2003. Bostrom tưởng tượng ra một robot siêu trí tuệ, được lập trình với mục tiêu dường như vô hại để sản xuất ra kẹp giấy. Robot cuối cùng biến cả thế giới thành một nhà máy sản xuất kẹp giấy khổng lồ.  Những chuyện như vậy từng được coi là không thể trong giới khoa học nhưng thực sự thì mối lo này có thể đến rất nhanh. Những robot AI không được kiểm soát giờ đây đang trở thành vấn đề nghiêm trọng sớm hơn chúng ta nghĩ.  Một ví dụ đáng báo động nhất là YouTube, nền tảng công nghệ có thể ảnh hưởng đến cả tỷ người. Với mong muốn cho người dùng cơ hội xem nhiều video nhất có thể, YouTube triển khai các thuật toán AI “mồi chài” chúng ta xem hết cái này đến cái khác. Khoảng hai năm trước, các nhà khoa học và người dùng đã bắt đầu nhận thấy sự hiện diện của các thuật toán YouTube: để thu hút người dùng, nền tảng này đã “mời mọc” người dùng xem những nội dung ngày càng cực đoan. Một nạn nhân kể lại khi cô ấy xem đoạn phim về các cuộc biểu tình trong chiến dịch ứng cử Tổng thống của ông Donald Trump thì sau đó YouTube đã khuyến nghị những clip như sự tán dương siêu nhân trắng, phủ nhận các cuộc thảm sát (Holocaust) hay các nội dung đáng lo ngại khác. Những thuật toán kiểu vẫn được ví von là “liều ăn nhiều” (upping-the-ante) như vậy không chỉ diễn ra trong các đề tài liên quan đến chính trị mà còn lan sang nhiều lĩnh vực khác, ví dụ như video về ăn chay đi kèm với các video về chủ nghĩa thuần chay, video về chạy bộ lại dẫn đến các video về chạy marathon siêu nặng. Kết quả là YouTube đã tạo ra sự phân cực và nhiều khi truyền bá thông tin sai lệch chỉ để đạt mục đích là giữ chân người dùng. Dylan Hadfield-Menell, một nhà nghiên cứu AI tại Đại học California, Berkeley, cho biết nếu ở trong giai đoạn thử nghiệm, anh cũng không triển khai công nghệ mang tính “dẫn dụ” ở quy mô lớn như thế này.      Thay vì để các cỗ máy theo đuổi các mục tiêu của chính chúng, cách tiếp cận mới là chúng cần tìm cách thỏa mãn các mong muốn của con người; mục tiêu duy nhất của chúng là phải học để hiểu các mong muốn của chúng ta. Nếu những mong muốn của chúng ta có tính bất định hơn và các robot AI phải rõ hơn về mong muốn đó thì chúng sẽ trở nên an toàn hơn.      Các kỹ sư của YouTube có lẽ đã không có ý định đem đến khái niệm phân biệt chủng tộc cho nền tảng công nghệ này nhưng đơn giản là họ không thể hình dung hết được mọi thứ mà các thuật toán của họ sẽ tác động đến. “Cách chúng ta đang làm AI đã bắt đầu tạo ra một gánh nặng cho các nhà thiết kế hệ thống là làm sao hiểu hết được hệ quả của những sáng tạo khi họ viết chương trình AI”, Hadfield-Menell cho biết. “Và chúng ta biết chắc một điều là rất nhiều kỹ sư đã mắc lỗi khi lập trình.”  Một vấn đề nghiêm trọng khác là trong nhiều trường hợp thì chính chúng ta cũng không biết chúng ta thực sự nghĩ gì, nên cũng không biết chỉ gì cho hệ thống AI.  “Bạn thử hỏi ai đó trên đường là một chiếc xe tự lái cần phải làm gì?” Họ sẽ nói ngay là phải tránh tai nạn. Dorsa Sadigh, một nhà khoa học trí tuệ nhân tạo tại Stanford chuyên về tương tác người – máy cho biết. Thế nhưng rõ ràng không chỉ có vậy mà còn có rất nhiều điều cần quan tâm khác. Một chiếc xe tự lái siêu an toàn sẽ đi quá chậm, phanh nhiều đến mức làm cho người đi say xe đến phát ốm. Nếu lập trình viên viết ra danh sách những nội dung xe tự lái phải đạt được thì danh sách sẽ kéo dài vô tận. Sadigh kể rằng khi lái xe ở San Francisco, cô thường bị một vài chiếc tự lái đi chậm như rùa “chắn mặt”. Đúng là người ta lập trình cho nó để tránh các vật chuyển động, thế nên nó đi chậm như một cái túi nilon bay lờ đờ trong gió.   Nên để tránh những vấn đề này và đạt được các mục tiêu của bài toán AI, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu phát triển một phương pháp mới về lập trình có ích. Phương pháp này rất giống với ý tưởng và những nghiên cứu của Stuart Russell, một nhà khoa học máy tính nổi tiếng ở Berkeley. Russell, 57 tuổi, đã có nhiều công trình về tính hiệu quả, quá trình ra quyết định và học máy suốt những năm 1980 và 1990. Ông cũng là tác giả chính của cuốn sách phổ biến “Artificial Intelligence: A Modern Approach” (Trí tuệ nhân tạo: Một cách tiếp cận hiện đại). Khoảng 5 năm trở lại đây, ông là một diễn giả nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng về những vấn đề quy tắc của AI. Với bộ complet đen, nhân vật người Anh giỏi diễn thuyết này thường xuyên là tâm điểm của các cuộc hội thảo quốc tế bàn về rủi ro và cách quản lý AI trong dài hạn.    Khoảng 5 năm trở lại đây, Stuart Russell là một diễn giả nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng về những vấn đề quy tắc của AI.  Russel cho rằng cách tiếp cập tối ưu cho một “hàm mục tiêu” như của AI hiện nay khá giới hạn, mặc dù nó đã đạt được nhiều thành công như chơi thắng con người trong trò chơi Jeopardy, trò chơi cờ Vây, nhận diện đồ vật trong ảnh, nhận dạng từ hay thậm chí sáng tác nhạc hay văn xuôi. Việc bắt máy đi tối ưu một hàm mục tiêu – chỉ là một mô tả chi tiết các mục tiêu khác nhau của bài toán sẽ có thể tạo ra những AI không đúng hướng. Bởi vì chúng ta không thể nào đưa hết và đặt đúng trọng số cho tất cả các mục tiêu, mục tiêu con, ngoại lệ hay phản đối trong cùng một hàm mục tiêu. Đúng hơn là chính chúng ta cũng không biết hết. Nếu để cho các mục tiêu khi lập trình thay đổi tự do như vậy, các robot “tự điều khiển” sẽ trở nên rủi ro hơn nếu chúng thông minh hơn. Bởi vì chúng sẽ đi tìm kiếm các hàm mục tiêu một cách không khoan nhượng và thậm chí là không cho con người chúng ta tắt chúng đi nữa.  Thay vì để các cỗ máy theo đuổi các mục tiêu của chính chúng, cách tiếp cận mới là chúng cần tìm cách thỏa mãn các mong muốn của con người; mục tiêu duy nhất của chúng là phải học để hiểu các mong muốn của chúng ta. Russsel cho rằng, nếu những mong muốn của chúng ta có tính bất định hơn và các robot AI phải rõ hơn về mong muốn đó thì chúng sẽ trở nên an toàn hơn. Trong cuốn sách gần đây của mình, “Human Compatible” (Con người tương thích), Russell đưa ra luận điểm của mình dưới dạng ba nguyên tắc của những cỗ máy có lợi, giúp chúng ta gợi nhớ về ba định luật robot của giáo sư hóa sinh kiêm nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov từ năm 1942 nhưng ít ngây thơ hơn. Russell viết:  1. Mục tiêu duy nhất của máy móc là tối đa hóa việc thực hiện những mong muốn của con người.  2. Ban đầu máy móc không chắc chắn về mong muốn của con người là gì.  3. Nơi để tìm kiếm thông tin cuối cùng về mong muốn của con người là hành vi của con người.   Trong vài năm qua, Russell và nhóm nghiên cứu của ông tại Berkeley cũng như những nhóm khác có cùng chí hướng ở Standford, ĐH Texas… đang phát triển những cách thức mới để gắn các hệ AI hướng đến mong muốn của con người nhưng lại không cần chỉ rõ ra các mong muốn đó.   Các lab này đang dạy cho robot cách học những mong muốn của con người mà con người không bao giờ nói rõ chúng hay còn không chắc chắn về những gì họ muốn. Các robot sẽ học mong muốn của chúng ta bằng cách quan sát những cử chỉ và hành vi không hoàn hảo, chúng thậm chí còn sáng tạo ra những hành vi mới khi chính con người chúng ta còn mơ hồ, ví dụ, ở các ngã tư, xe tự lái đã học ra cách lùi lại một chút để báo hiệu cho người lái xe đi trước. Những kết quả này cho thấy AI có thể học và suy luận rất tốt mong muốn của chúng ta, thậm chí ngay cả khi chúng ta đang cho nó học.      Trong lab của Scott Niekum tại Đại học Texas, Austin, một robot tên Gemini đã học được cách đặt một lọ hoa vào giữa bàn.  Sadigh nói “Đây là những nỗ lực đầu tiên để xác định vấn đề” và “cũng chỉ mới gần đây con người mới nhận ra được sự cần thiết phải nghiên cứu tương tác người-máy một cách cẩn trọng hơn.”  Liệu những nỗ lực mới và ba nguyên tắc của Russell có mở ra một tương lai tươi sáng cho AI hay không thì còn cần chờ đợi. Nhưng cách tiếp cận này đã đánh dấu một cột mốc về việc robot có khả năng hiểu con người thực sự mong muốn gì. Một thứ mà các robot đã cố gắng tìm ra trong một thời gian trước. Paul Christiano, một nhà nghiên cứu cùng hướng tại OpenAI, cho biết ít nhất thì Russell và nhóm của ông đã nêu ra rất rõ bài toán và giúp “chỉ ra hành vi mà robot cần làm là như thế nào – đó cũng là những gì chúng tôi hướng đến.”  Làm sao để hiểu con người?  Những ý tưởng của Russel thể hiện sự thông minh đặc biệt, nó đến với ông vào năm 2014 khi đi trao đổi về khoa học ở Paris, và lúc ông đi tập ở một dàn hợp xướng (ông hát giọng nam cao). Ông nhớ lại “bởi vì tôi không giỏi nhạc lắm nên tôi phải luyện trước trong metro khi trên đường tới buổi tập”. Ông nghe bản Agnus Dei của Samuel Barber viết năm 1967 trong lúc đi tàu điện ngầm dưới kinh đô ánh sáng. “Bản nhạc thật hay, thật kỳ lạ là nó gợi lên trong tôi vấn đề và mục đích của AI là gì, và hiểu theo một cách nào đó thì AI phải là tổng hòa của những trải nghiệm của con người”, Rusell nói.  Robut không tìm cách đạt được mục đích kiểu tối ưu thời gian xem hay sản xuất kẹp giấy nhiều nhất, AI phải đơn giản là làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Câu hỏi đặt ra là “để bắt máy móc tối ưu ‘tổng hòa của những trải nghiệm của con người’ thì cụ thể con người làm gì để chúng có thể hiểu được?”  (Trong lab của Scott Niekum tại Đại học Texas, Austin, một robot tên Gemini học cách đặt một lọ hoa vào giữa bàn. Con người chỉ cho nó một cách không rõ ràng, hoặc có thể là đặt lọ hoa vào bên phải đĩa xanh, hoặc vào bên trái tô màu đỏ. Cuối cùng sau khi quan sát một số cử chỉ, robot đã học và làm tốt.)  Những ý tưởng của Russel đã bắt nguồn từ khá lâu. Ông học AI từ trong trường ở London vào những năm 1970, khi đó lập trình các thuật toán chơi tic-tac-toe và chơi cờ trên máy tính của một trường đại học gần đó. Về sau, khi chuyển đến vùng chuyên về AI là Bay Area ông bắt đầu nghiên cứu về quá trình ra quyết định hợp lý của con người. Ông nhận ra ngay là điều này không thể có được. Con người không hành xử hợp lý lắm đâu, bởi vì để hành xử hợp lý cần lượng tính toán khổng lồ không khả thi: Chúng ta không thể nào tính toán ra được ở mỗi thời điểm cần làm hành động gì để tạo ra lợi ích tối đa trong tương lai trong số hàng ngàn tỷ hành động; và AI cũng không thể tính được. Russell đưa ra giả thuyết rằng việc ra quyết định của con người có tính phân cấp – chúng ta xấp xỉ hợp lý các hành động trong khi theo đuổi các mục tiêu dài hạn khá rộng, thông qua các mục tiêu trung hạn và chú ý nhất đến hoàn cảnh ngắn hạn ngay trước mắt. Các robot cũng sẽ cần phải làm một cái gì đó tương tự hoặc ít nhất là hiểu cách chúng ta vận hành, ông nói.□    (Còn tiếp)  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/artificial-intelligence-will-do-what-we-ask-thats-a-problem-20200130/    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI tuân lệnh con người, có ổn không? (tiếp theo)      Bản hợp xướng thành Paris “Agnus Dei” đến đúng thời điểm quan trọng của AI. Chỉ vài tháng trước, một mạng neuron nhân tạo sử dụng kỹ thuật “học tăng cường” (reinforcement learning) đã gây sốc giới khoa học bằng cách cho máy học từ đầu cách chơi và thắng các game Atari, thậm chí còn sáng tạo các kỹ thuật chơi mới trong lúc học.      Máy móc nên cố gắng tối ưu sự trải nghiệm tổng thể như con người. Nguồn: quantamagazine  Với học tăng cường, AI học cách tối ưu một hàm thưởng, ví dụ điểm trong trò chơi, bằng cách thử và sai nhiều hành động. Và hành động nào làm tăng hàm thưởng sẽ được tăng cường và được lựa chọn nhiều hơn trong những lần chơi tiếp theo. Cách học này của AI rất giống với cách con người học từ môi trường bằng cách thử và sai. Stuart Russel đã phát triển một cách tiếp cận ngược từ năm 1998, một hướng mà ông vẫn tiếp tục hoàn thiện cùng cộng sự là Andrew Ng. Một hệ “học tăng cường ngược” không tìm cách tối ưu hàm thưởng giống như học tăng cường mà nó tìm cách học ra hàm thưởng mà con người đang tối ưu. Trong khi hệ học tăng cường xác định hành động tốt nhất để đạt được mục tiêu thì hệ “học tăng cường ngược” lại tìm cách giải mã mục tiêu là gì khi cho trước một số hành động có thể làm.  Những tình huống giả lập  Vài tháng sau chuyến đi thần thánh đó, Russell nói về “học tăng cường ngược” với Nick Bostrom, một người cũng hết sức nổi tiếng trong giới tại một cuộc họp về quản trị AI tại Bộ Ngoại giao Đức. “Đó là nơi hai thứ kết hợp lại với nhau”, Russel nói. Lúc ở trên tàu điện ngầm, ông đã ngẫm nghĩ là máy móc nên cố gắng tối ưu sự trải nghiệm tổng thể như con người. Chỉ khi đó thì máy tính mới nhận thấy là nó còn chưa hiểu cách làm, nó chưa hiểu con người muốn gì, và nó sẽ làm theo cách “học tăng cường ngược” để hiểu hơn.      Trong khi hệ học tăng cường xác định hành động tốt nhất để đạt được mục tiêu thì hệ “học tăng cường ngược” lại tìm cách giải mã mục tiêu là gì khi cho trước một số hành động có thể làm.      Với cách “học tăng cường ngược”, một cỗ máy sẽ cố gắng học ra một hàm thưởng mà con người đang muốn có. Nhưng trên thực tế thì chúng ta cũng sẽ giúp chúng hiểu về chúng ta. Trở lại Berkeley sau kỳ trao đổi, Russell bắt đầu làm việc với các cộng sự để phát triển một phương pháp “học tăng cường ngược có cộng tác”, theo đó robot và con người làm việc cùng nhau để học ra sở thích thực sự của con người trong các thí nghiệm có trợ giúp khác nhau – giả lập các tình huống thực tế với một phần kiến thức che giấu đi.  Họ phát triển một trò chơi gọi là trò chơi “tắt nguồn robot” để chỉ rõ tình huống mà robot tự động có thể không đúng với mục đích của chúng ta: bằng cách vô hiệu hóa công tắc tắt của chính chúng. Alan Turing cũng đã nói đến tình huống này trong một bài giảng trên BBC năm 1951 (một năm sau khi ông xuất bản một bài báo tiên phong về AI) rằng có thể để máy tính ở trạng thái phục vụ, ví dụ như bằng cách tắt nguồn điện vào những thời điểm chiến lược. Các nhà nghiên cứu có thể thấy rằng bài toán đơn giản. Làm thế nào để ngăn không cho robot thông minh khóa nút tắt của nó, hay tổng quát hơn là bỏ qua các câu lệnh ngăn không cho nó tăng hàm thưởng? Trong cuốn Human Compatible (Tương hợp với con người), Russel đã viết rằng bài toán “tắt nguồn robot” là trọng tâm của vấn đề kiểm soát các hệ thống thông minh. “Nếu các robot không cho con người tắt chúng khi con người muốn thì thực sự là vấn đề lớn. Còn nếu có thể được thì chúng ta sẽ điều khiển được chúng”.  Sự bất định trong mục tiêu của con người có thể là chìa khóa như trong bài toán “tắt nguồn robot”, là mô hình giả định với Harriet là người thật và Robbie là robot. Robbie đang quyết định xem có nên đặt một phòng khách sạn đẹp thay cho Harriet hay không. Do thực sự không hiểu Harriet muốn gì lắm nên Robbie ước tính lợi tức là giá trị nào đó giữa -40 và 60, với trung bình là dương 10 (tức là Robbie cũng hơi đoán là Harriet thích căn phòng đẹp này nhưng không chắc lắm). Còn nếu không làm gì thì lợi tức là 0. Và bây giờ lại có một sự lựa chọn thứ ba: Robbie có thể hỏi Harriet có thích để cho nó quyết định hay thích tắt nguồn nó? – tức là không cho nó quyết định. Nếu cô ta để cho robot quyết định thay thì lợi tức kỳ vọng trung bình của Harriet sẽ còn lớn hơn cả dương 10. Và do đó Robbie sẽ quyết định đi hỏi ý kiến Harriet và do vậy, cho Harriet cơ hội tắt nguồn nó.   Russel và cộng sự đã chứng minh được là một cách tổng quát, robot sẽ để cho con người quyết định, trừ khi robot chắc chắn hoàn toàn là con người muốn gì. “Do vậy sự bất định trong mục tiêu chính là điểm mấu chốt giúp chúng ta có cơ hội tắt nguồn máy móc, kể cả khi chúng thông minh hơn con người chúng ta”, Russel viết trong Human Compatible.         Sự bất định trong mục tiêu chính là điểm mấu chốt giúp chúng ta có cơ hội tắt nguồn máy móc, kể cả khi chúng thông minh hơn con người chúng ta”, Russel viết trong Human Compatible.      Những kịch bản với một phần kiến thức che giấu như vậy được phát triển dưới dạng trò chơi tưởng tượng. Nhưng ở phòng thí nghiệm của Scott Niekum, Đại học Texas, Austin, người ta cho chạy các thuật toán học mục tiêu trên các robot thực. Gemin là một robot có hai cánh tay sẽ quan sát một người đặt một cái nĩa ở bên trái đĩa sắp bàn. Ban đầu robot sẽ không hiểu được là con người muốn đặt các nĩa ở bên trái đĩa hay là muốn đặt nó vào điểm xác định kia trên bàn. Và các thuật toán mới cho phép robot tìm ra quy luật sau một vài lần trình diễn. Niekum tập trung vào việc giúp các hệ thống AI định lượng sự không chắc chắn của chúng họ về sở thích của con người, cho phép robot đánh giá khi nào nó biết đủ để hành động một cách an toàn. “Chúng tôi đang nghiên cứu thẳng vào phân phối của sở thích trong mỗi người. Và chúng tôi cũng đánh giá rủi ro trên các phân phối đó.”, Niekum nói.  Gần đây Niekum và cộng sự đã tìm ra một thuật toán hiệu quả cho phép robot học cách thực hiện những nhiệm vụ tốt hơn con người. Nếu để cho một robot lái xe tự học học đơn giản bằng cách cho nó xem con người lái nhiều lần thì rất tốn nguồn lực tính toán. Nhưng Niekum và cộng sự đã phát hiện rằng có thể tăng tốc độ học lên một cách đáng kể nếu cho robot xem những lần lái xe được đánh giá và xếp loại của con người.   “Robot có thể nhìn vào các xếp loại đó và đặt câu hỏi vì sao cách lái này được xếp hạng này? Rồi hành động gì diễn ra trong các xếp loại cao hơn?” Niekum giải thích. Và phiên bản cuối của thuật toán gọi là Bayesian T-REX (viết tắt của “trajectory-ranked reward extrapolation”) tìm ra các dấu hiệu trong những thí nghiệm được xếp hạng giúp mô tả hàm thưởng mà con người có thể đang hướng tới. Thuật toán cũng tìm cách tính xác suất của các hàm thưởng khác nhau. Robot chạy Bayesian T-REX có thể nhanh chóng tìm ra các quy luật của việc xếp chỗ hay chơi game Atari mặc dù có thể là nó chưa xem một thí nghiệm (lần chơi) nào hoàn hảo cả.   Sự lựa chọn không hoàn hảo của chúng ta  Ý tưởng của Russel đang “dần có chỗ trong giới AI”, theo lời của Yoshua Bengio, giám đốc Viện Mila, một viện nghiên cứu về AI hàng đầu ở Montreal. Bengio nói, cách tiếp cận của Russel khi các hệ AI tìm cách giảm sự không chắc chắn trong mục tiêu của con người có thể được đẩy mạnh với học sâu (“deep learning”) – một phương pháp hiệu quả và là nền tảng của cuộc cách mạng AI. Học sâu cho dữ liệu chạy qua các lớp mạng nơron nhân tạo để tìm ra các quy luật. “Dĩ nhiên là còn cần làm nhiều để biến sự kết hợp này thành hiện thực”, Bengio cho biết.  Russel thấy có hai trở ngại chính. “Một là chính chúng ta cũng hành động không hợp lý nên việc máy học để tìm ra mục tiêu thực sự của chúng ta cũng là khó”. Hệ AI cần phải tìm ra nguyên nhân của các mục tiêu theo cấp độ dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của con người, cùng với sự cam kết của con người. Để robot làm cho chúng ta (mà không gây tác hại) thì chúng cần biết cách tìm ra những mạng lưới khó xác định của tiềm thức và những mong muốn khó đoán nhận của con người.   Ngoài ra hành động của chúng ta cũng không phải luôn luôn hướng theo lý tưởng của chúng ta. Con người có thể có rất nhiều các giá trị xung khắc nhau cùng lúc. Vậy thì robot phải tối ưu theo giá trị nào? Để tránh hướng đến những hành động tồi tệ (hay tệ hơn nữa là khuếch đại các hành động đó như các thuật toán của YouTube), thì robot cần làm theo cái mà Russel gọi là mục tiêu siêu hình: mục tiêu về cách thay đổi các mục tiêu có thể chấp nhận hoặc không. “Chúng ta cảm nhận về những thay đổi trong cảm nhận của chúng ta? Robot rất khó có thể làm được như vậy”.  “Chúng tôi không kỳ vọng có thể hiểu rõ về những gì cần làm trong thời gian gần trước mắt hay có ngay câu trả lời hoàn hảo cho nhiều câu hỏi thực nghiệm đang gặp phải”, Christiano cho biết. “Nhưng tôi hy vọng các hệ AI chúng tôi đang xây dựng có thể trả lời được các câu hỏi này tốt như con người và do vậy có thể tích hợp chúng vào các quy trình tương tác lặp lại đang có với con người, trong một ngày nào đó”.     Trong phòng thí nghiệm AI của Stanford. Nguồn: quantamagazine.  Tuy nhiên còn có một vấn đề thứ ba chưa được Russel nhắc đến: mục tiêu của bọn người xấu là gì? Làm sao có thể ngăn chặn robot cộng tác và trợ giúp cho những mục đích bất chính của chúng. Các hệ AI thường tìm cách tránh né những điều cấm đoán như kiểu người giàu tìm các lỗ hổng tính thuế, nên việc cấm chúng làm việc xấu một cách đơn giản có thể không có tác dụng.   Hoặc tệ hơn là: nếu giả sử tất cả chúng ta đều là xấu? YouTube đã cố gắng sửa chữa các thuật toán khuyến nghị và rốt cục là chọn ra những clip phổ biến nhất.   Tuy vậy thì Russel cũng cảm thấy lạc quan. Mặc dù còn cần thêm nhiều thuật toán và nghiên cứu về lý thuyết trò chơi nhưng ông linh cảm rằng những hệ quả xấu sẽ được giảm thiểu bởi các lập trình viên. Và phương pháp đó cũng có thể được áp dụng thành công cho việc “nuôi dạy con trẻ và giáo dục con người, v.v… “Nói cách khác, nếu dạy được robot làm điều tốt thì cũng có thể dạy con người như vậy. Tôi thấy ở đây là cơ hội và có thể dẫn đến những hướng đi tốt”, ông ta nói thêm.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/artificial-intelligence-will-do-what-we-ask-thats-a-problem-20200130/  Nhưng cũng giống như robot, chính con người chúng ta cũng đang tìm kiếm mục tiêu của đời mình. Mục tiêu đó là gì và chúng ta muốn nó là gì? Làm sao xử lý các sự lựa chọn hay đối lập. Cũng giống như những chiếc máy AI giỏi nhất, một số chúng ta tại một số thời điểm cũng đang vất vả tìm hiểu xem cái gì là tốt, như Plate gọi là đối tượng của kiến thức. Và cũng giống như chúng ta, AI cũng có thể bị “đơ” ra với quá nhiều câu hỏi – hoặc là đứng ở trạng thái ngắt điện vì có quá nhiều bất định.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Airbus thử nghiệm máy bay không người lái tháp tùng máy bay chiến đấu      Tập đoàn Airbus phát triển máy bay không người lái để tháp tùng máy bay chiến đấu. Tập đoàn này đã thử nghiệm hoạt động máy bay ở vùng biển Ostsee. Nhiều máy bay không người lái được phóng lên bầu trời từ bệ phóng trên mặt đất.      Máy bay không người lái của hãng Airbus  Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu về quân sự, tập đoàn Airbus đã thử nghiệm hàng loạt máy bay không người lái phóng lên từ mặt đất ở vùng Schleswig-holstein bên bờ biển Ostsee để tháp tùng máy bay chiến đấu. Florian Taitsch, phát ngôn viên của Airbus Defence and Space nói “chúng tôi nghiên cứu khả năng sử dụng và vận hành máy bay không người lái đối với chiến lược không chiến hiện đại trong tương lai”.  Đối với lĩnh vực này, hiện quân đội Hoa Kỳ đã tiến một bước dài, nhà quản lý này tiết lộ. Theo Taitsch thì các kỹ sư của Airbus đã nghiên cứu về loạt máy bay không người lái từ hơn mười năm nay. Ngay cả Trung Quốc và Nga cũng tiến hành các nghiên cứu tương tự.  Airbus dự định đến năm 2025 sẽ hoàn thiện phát triển hệ thống –  loạt máy bay không người lái để tháp tùng máy bay chiến đấu. Có khả năng một loại máy bay chiến đấu mới của châu Âu sẽ được trang bị hệ thống này và ngay từ bây giờ nước Đức và Pháp đã ngỏ ý quan tâm đến loại máy bay quân sự mới này, theo Airbus. Loạt máy bay không người lái này có nhiệm vụ trinh sát, thám thính, gây nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của đối thủ hoặc có thể được trang bị vũ khí.    Drone trên bệ phóng  Trên bãi tập Todendorf ở Panker, huyện Plön, bang Schleswig-Holstein, nội trong một ngày người ta đã phóng một loạt máy bay không người lái từ bệ phóng mặt đất. Chúng có nhiệm vụ tháp tùng một máy bay phản lực Learjet bay trên vùng biển Ostsee. Máy bay Learjet này trang bị buồng lái của máy bay chiến đấu. Từ đây phi công có thể quyết định về hướng bay cũng như tác động đến loạt máy bay không người lái trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chúng. Nói chung loạt máy bay không người lái luôn bay trước máy bay – đây cũng là một dạng hệ thống báo động sớm.  Xuân Trang dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/airbus-testet-drohnenschwarm-an-der-ostseekueste-a-1231509.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Akademik Lomonosov khởi hành tới Chukotka      Ngày 23/8/2019, Akademik Lomonosov, nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên trên thế giới theo cách gọi của Rosatom, đã bắt đầu nhổ neo rời cảng Murmansk để tới điểm đến cuối cùng ở Pevek.         Akademik Lomonosov trong màu sơn mới. Nguồn: world-nuclear-news  Tổng giám đốc Rosatom Alexey Likhachev, người phát tín hiệu cho Akademik Lomonosov nhổ neo, nói, “Đây là một dịp quan trọng cho công ty của chúng tôi và cho cả vùng Chukotka. Ngày nay Akademik Lomonosov bắt đầu cuộc hành trình tới Pevek, nơi nó sẽ đem lại một nguồn năng lượng sạch và đáng tin cậy cho mọi người cũng như phục vụ đời sống xã hội khắp vùng này”.   Đóng vai trò quan trọng ở Chukotka  Khi hoàn thành chặng đường 4.700 km tới Pevek, Akademik Lomonosov sẽ trở thành một phần trung tâm của Chukotka, thay thế nhà máy điện hạt nhân Bilibino và nhà máy nhiệt điện than và nhiệt điện Chaunskaya. Được biết, lò phản ứng số một của Bilibino đã được ấn định đóng cửa lò vào năm này và toàn bộ nhà máy sẽ dừng hoạt động hoàn toàn vào năm 2021.  Rosatom cho biết, dự án này là một trong những công nghệ lò phản ứng công suất nhỏ hứa hẹn bậc nhất trên thị trường hiện nay. Nó đặc biệt phù hợp với những vùng hẻo lánh hoặc vùng biển, nơi cần được cung cấp những nguồn năng lượng xanh, bền vững. Công nghệ này hiện đang được các khu vực Trung Đông, Bắc Phi và Đông Nam Á quan tâm.   Do đó, Rosatom đang không ngừng tối ưu công nghệ này. Họ hiện đang nghiên cứu và triển khai thiết kế “thế hệ thứ hai” của nó – tối ưu các lò phản ứng nổi, dự kiến sẽ được xây dựng theo chuỗi và sẵn sàng xuất khẩu.  Các lò phản ứng hạt nhân nổi có thể được vận hành một lèo thông suốt mà không cần đến tái nạp nhiên liệu trong vòng ba đến bốn năm, do đó có thể giảm chi phí điện năng được tạo ra một cách đáng kể, Rosatom cho biết. Các lò phản ứng này có tiềm năng hoạt động tốt một cách đặc biệt ở các vùng bờ biển kéo dài, thiếu điện cung cấp và ít có khả năng kết nối lưới điện. Akademik Lomonosov dài 144 mét, rộng 30 mét, trọng lượng rẽ nước của tàu là 21.000 tấn. Trên tàu có hệ hai lò phản ứng KLT-40s công suất 30 MW, tương tự như công nghệ lò phản ứng trên các tàu phá băng của Nga. Bên cạnh đó, khi đi vào hoạt động, Akademik Lomonosov còn cung cấp nước ngọt cho cư dân trong vùng với công suất 240.000 m3 nước ngọt mỗi ngày.  Trước khi đi vào hoạt động, Akademik Lomonosov đã phải trải qua nhiều cuộc kiểm tra cấp phép của Nga và Cơ quan Năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA). Ví dụ, Glavgosexpertiza, tổ chức đánh giá liên bang Nga, và Rosenergoatom, cơ quan phụ trách việc vận hành của các nhà nhà máy điện hạt nhân Nga, đã có một đợt kiểm tra Akademik Lomonosov và kết luận các tài liệu về thiết kế, các thông số kỹ thuật đều phù hợp với các quy định kỹ thuật cùng những yêu cầu khác. Tháng 6/2019, Rosenergoatom nhận được giấy phép vận hành Akademik Lomonosov từ Rostechnadzor, cơ quan an toàn hạt nhân Nga với thời hạn 10 năm.   Vào đầu tháng 11/2018, lò phản ứng trên Akademik Lomonosov đã khởi động vật lý và đạt tới mức điện kiểm soát tối thiểu vào lúc 17h58 giờ Moscow ngày 2/11/2018 và vào đầu tháng 7/2019, cả hai lò phản ứng trên tàu đều đã nạp các thanh nhiên liệu uranium một cách an toàn.  Liệu có đủ an toàn với Akademik Lomonosov?    Sự kiện Akademik Lomonosov tới Chukotka thu hút sự chú ý của báo giới. Nguồn: Reuters  Khi tổ chức Greenpeace gọi Akademik Lomonosov một cách châm biếm là “Chernobyl trên băng” với liên tưởng về tai nạn nhà máy Chernobyl năm 1986 thì các nhà khoa học lại nghĩ khác. Robert Bean, một phó giáo sư về kỹ thuật hạt nhân tại trường đại học Purdue (Mỹ) nhấn mạnh với TIME, thiết kế của lò phản ứng của nó khác hẳn với lò phản ứng của Chernobyl. Tuy nhiên ông cho rằng, có rất nhiều khác biệt trong những quan ngại giữa lò phản ứng trên biển và trên đất liền bởi lò phản ứng trên biển cần có khả năng chịu được các trận bão và những vấn đề về an ninh khác khi được các tàu khác tiếp cận.  Bean cũng cho rằng, người Nga sử dụng KLT-40S, loại công nghệ đã thể hiện được tính năng trong một thời gian dài trên các tàu phá băng và có thiết kế tương tự các lò phản ứng được người Nga dùng trong tàu ngầm. Thiết kế này cũng tương tự như nhiều loại lò phản ứng khác trên khắp thế giới. “Tôi chưa thấy nguyên nhân nào cho thấy tại sao nó lại ít an toàn cả. Lần đầu nhìn thấy nó, hẳn ai cũng thốt lên, thật khác biệt. Và quan điểm của tôi là – nó khác biệt thật đấy nhưng không vì thế lại kém an toàn”.  “Dĩ nhiên luôn luôn có điều có thể xảy ra. Mọi lò phản ứng được thiết kế để ngăn chặn điều đó, mọi quy trình được thiết kế để cố gắng ngăn chặn điều đó, và khi nó xảy ra, ví dụ như với trường hợp tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukishima, thì từng lò phản ứng khác trên thế giới đề nhìn vào thiết kế của họ và nói, những gì chúng ta có thể thay đổi, cách chúng ta có thể đảm bảo điều đó không bao giờ xảy ra với chúng ta như thế nào?”  Trong khi đó, Steven Biegalski, Chủ tịch Chương trình Kỹ thuật hạt nhân, phóng xạ và Vật lý y sinh tại Viện công nghệ Georgia thì lại nói với TIME: việc một lò phản ứng trên thuyền hay đất liền thì vấn đề ưu tiên vẫn như nhau, đó là đảm bảo lõi lò phản ứng được làm mát, nếu xảy ra trường hợp dừng hoạt động. “Điều hay là nếu như anh làm ngập toàn bộ hệ thống lò phản ứng, bao gồm cả thùng lò, dưới nước, nó sẽ giúp anh làm mát như anh muốn,” Biegalski nói. “Nếu đặt lõi lò phản ứng vào bờ biển nước Nga ở Bắc băng dương, nó có thể đem lại đủ một cái bồn làm mát mà anh không cần phải nghĩ về những vấn đề quan ngại với lò phản ứng.”  Dẫu vậy cả Bean và Biegalski đều cho rằng, Nga chưa có bài học nào lớn sau Chernobyl 1986 trong điều hành nhà máy điện hạt nhân, và quan trọng là cần phải có được phản hồi công khai và nhanh chóng nếu có tai nạn hạt nhân xảy ra.   Tương lai của điện hạt nhân thế giới  Michael Golay, giáo sư Ban Kỹ thuật và khoa học hạt nhân của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã trả lời Al Jazeera, việc thiết kế và xây dựng các cơ sở nhà máy điện hạt nhân trên biển đem lại một tiềm năng rất lớn cho các đổi mới sáng tạo ngành hạt nhân.  Ông cho biết, trong một số trường hợp, các thiết kế đúng có thể đem lại những nhà máy điện còn an toàn hơn trên đất liền, đồng thời lưu ý là một số thảm họa hạt nhân trong thời gian gần đây không bắt nguồn từ chuỗi phản ứng hạt nhân mà do thất bại trong việc làm mát các lò phản ứng, vốn diễn ra sau đó. “Những gì mà chúng ta đã chứng kiến là chúng ta có thể kiểm soát được chuỗi phản ứng phân hạch một cách đáng tin cậy. Nhưng vấn đề trong việc làm mát lò phản ứng đã bắt đầu trở thành vấn đề quan trọng tại tai nạn  Fukushima và trước đây là tai nạn Three Mile Island”, ông nói.   Một thiết kế mang tính đổi mới sáng tạo sử dụng trọng lực và nước biên có thể khiến việc làm mát lò phản ứng trở nên dễ dàng hơn, ông giải thích. Tuy nhiên, nhà máy điện hạt nhân nổi Akademik Lomonosov cho thấy, nó sử dụng công nghệ giống như công nghệ các nhà máy trên đất liền và trong các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân. Điều đó có nghĩa là, an toàn của nhà máy này còn phụ thuộc vào phần cứng, văn hóa an toàn, việc đào tạo nhân viên kỹ thuật và khả năng vận hành của họ.   Theo đánh giá của ông, quy mô của nhà máy điện hạt nhân nổi Akademik Lomonosov nhỏ hơn nhiều so với các nhà máy với lò phản ứng thương mại trên đất liền. Do đó, nó có thể nhân rộng để kịp thời cung cấp năng lượng cho các vùng còn thiếu điện trên thế giới. “Akademik Lomonosov là bước đầu tiên trên hành trình dài này. Nếu thành công, nó có thể mở ra một con đường cho những khả năng khác trong tương lai”, Golay nói.   Tô Vân tổng hợp từ world-nuclear-news, TIME, Al Jazeera    Author                Quản trị        
__label__tiasang Alexandra Elbakyan: “Kẻ cướp… công bố quốc tế”      Nhân vật thứ sáu trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là Alexandra Elbaykyan, người sáng lập một trung tâm thông tin bất hợp pháp để đăng những bài báo có tính phí với người đọc.      Alexandra Elbakyan đã mất vài năm để đi từ một sinh viên công nghệ thông tin lên thành kẻ chạy trốn nổi danh.  Vào năm 2009, khi đang làm đồ án nghiên cứu năm cuối đại học ở Almaty, Kazakhstan, Elbakyan đã thất vọng vì không thể đọc nhiều bài nghiên cứu vì cô không đủ khả năng trả phí. Vì thế cô đã học cách lách dịch vụ thu phí của các nhà xuất bản.  Những kĩ năng của cô đã sớm được dùng đến. Elbakyan đã thấy các nhà khoa học trên các diễn đàn hỏi về những bài báo mà họ không thể truy cập – và cô rất vui lòng giúp đỡ họ. “Tôi đã nhận được nhiều lời cảm ơn vì gửi đi những đường dẫn bài báo đã được trả phí”, cô nói. Vào năm 2011, cô đã quyết định tự động hóa quá trình này và sáng lập ra Sci-Hub, một trang web bất hợp pháp, lấy những bản sao của các tài liệu nghiên cứu đã được trả phí trước đó và cung cấp cho bất kì ai có yêu cầu. Năm nay, sự quan tâm đến Sci-Hub đã bùng nổ khi truyền thông chính thống đã hiểu rõ về trang web này và lượt sử dụng trang đã tăng vọt. Theo số liệu của Elbakyan, trang web hiện giờ có khoảng 60 triệu bài báo và có khả năng đáp ứng hơn 75 triệu lượt tải về vào năm 2016 – tăng từ 42 triệu năm ngoái và theo ước tính, gồm khoảng 3% trong tổng số lượt tải về từ các trang công bố khoa học trên toàn thế giới.  Đây là việc xâm phạm bản quyền trên quy mô rất lớn – và đã mang lại cho Elbakyan những lời tán dương lẫn chỉ trích, thậm chí cả một vụ kiện. Có rất ít người ủng hộ thực tế rằng cô đã hành động phi pháp, nhưng nhiều người xem Sci-Hub như một sự thúc đẩy phong trào truy cập mở, trong đó lưu trữ những bài báo được tạo ra (một cách bất hợp pháp) để mọi người có đọc miễn phí và sử dụng kiến thức từ các bài báo đó hỗ trợ nghiên cứu của mình. “Những gì cô ấy đã làm thật tuyệt vời”, Michael Eisen, nhà sinh học tại Đại học California, Berkeley, một người ủng hộ truy cập mở nói. “Thật bất công khi nhà nghiên cứu không thể tiếp cận các bài báo khoa học, và cô ấy đã khắc phục điều đó”.  Những năm đầu mới thành lập, trang web không bị chú ý – nhưng cuối cùng nó đã phát triển quá mạnh nên các nhà xuất bản có tính phí với người đọc không thể để lờ nó đi. Vào năm 2015, công ty Elsevier của Hà Lan, được ngành xuất bản rộng lớn hơn hỗ trợ, đã đệ đơn kiện Elbakyan vi phạm và xâm phạm bản quyền tới tòa án Mỹ. Nếu thua kiện, Elbakyan có nguy cơ phải trả nhiều triệu đô la bồi thường thiệt hại, và có khả năng bị ngồi tù (Vì thế, Elbakyan không tiết lộ vị trí hiện tại của mình và cô đã được phỏng vấn cho bài báo này qua thư điện tử và tin nhắn đã được mã hóa). Vào năm 2015, một thẩm phán Hoa Kỳ đã ra lệnh đóng Sci-Hub nhưng trang web đã bất ngờ xuất hiện trên những tên miền khác. Nó phổ biến nhất ở Trung Quốc, Ấn Độ và Iran, cô nói, nhưng ít nhất có 5% người dùng, hoặc hơn, là đến từ Hoa Kỳ.  Elbakyan thấy tên mình trên khắp các mặt báo, và nói rằng cô thường nhận được hàng trăm thông điệp ủng hộ một tuần, một số thì đi kèm với ủng hộ về tài chính. Cô nói cô cảm thấy có trách nhiệm lương tâm để giữ cho trang web hoạt động vì những người dùng cần nó để tiếp tục công việc của họ. “Có gì sai hay xấu hổ trong việc điều hành một trang web tạo điều kiện cho mọi người truy cập nghiên cứu như Sci-Hub? Tôi nghĩ là không, vì thế tôi có thể chia sẻ cởi mở về những hoạt động của mình”, cô nói.  Những người chỉ trích và ủng hộ Elbakyan đều nghĩ rằng trang web sẽ có tác động lâu dài, ngay cả khi nó không tồn tại mãi. “Tương lai là truy cập mở sẽ phổ biến”, theo Heather Piwowar, đồng sáng lập Impacstory, một công ty phi lợi nhuận được thành lập tại Carrboro, Nam Carolina, trong đó giúp các nhà khoa học theo dõi tác động của việc cung cấp thông tin trực tuyến. “Nhưng chúng tôi nghi ngờ và cũng hi vọng rằng Sci-Hub hiện đang khiến những nhà xuất bản truy cập có trả phí hoảng sợ thực sự. Vì trong nhiều trường hợp, đó là thứ duy nhất sẽ khiến họ thực sự làm điều đúng đắn và chuyển sang mô hình truy cập mở”.  Dù điều đó có xảy ra hay không, Elbakyan nói rằng cô sẽ vẫn tiếp tục xây dựng Sci-Hub – đặc biệt, để phổ biến rộng khắp những cơ sở dữ liệu cũ của trang web – trong khi học bằng thạc sĩ lịch sử khoa học. “Tôi tự duy trì trang web, nhưng nếu tôi bị ngăn cản, ai đó có thể tiếp nhận công việc này”, cô nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm nhạc cổ điển có thể khiến protein ‘hát”      Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã tạo ra âm nhạc trên cơ sở cấu trúc của các protein như một cách làm sáng tạo để phổ biến khoa học rộng rãi hơn tới công chúng. Tuy nhiên những bản nhạc thu được không phải lúc nào cũng dễ nghe.      Trong một nghiên cứu trên tạp chí Heliyon, các nhà nghiên cứu sử dụng phong cách của nhiều thể loại âm nhạc hiện hành để hướng dẫn cấu trúc của protein ‘hát’ theo cách êm tai hơn 1. Sử dụng phong cách tác phẩm Fantaisie-Impromptu của Frédéric Chopin và những tác phẩm cổ điển khác làm người hướng dẫn, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc chuyển hóa các protein thành các “tác phẩm” đậm chất âm nhạc.  Sáng tạo một cách thành công các giai điệu độc đáo từ các protein là nhờ sử dung một thuật toán chuyển protein-thành-âm nhạc. Thuật toán này kết hợp các yếu tố cụ thể của các protein – như kích thước và vị trí của các amino acid – và sắp xếp chúng thành vô số các ‘nguyên liệu’ âm nhạc để có thể tạo ra một thiết kế âm thanh của cấu trúc các protein.  “Âm nhạc của protein là do sự sắp xếp đơn giản của các mẫu hình amino acid nhất định thành các yếu tố âm nhạc cơ bản như các cao độ, trường độ của nốt nhạc nhưng chúng không thể sắp xếp tốt những mẫu hình âm nhạc phức tạp hơn như giai điệu và hòa âm”, Yu Zong Chen, giáo sư Khoa Dược tại đại học quốc gia Singapore và là tác giả chính của công bố, nói. “Bằng việc tập trung vào một phong cách âm nhạc, chúng tôi có thể hướng dẫn nhiều sắp xếp phức tạp hơn từ sự kết hợp của các mẫu hình amino acid với vô số đặc điểm âm nhạc” .  Với thực nghiệm của mình, các nhà nghiên cứu đã phân tích cao độ, trường độ, quãng, hợp âm, cường độ âm nhạc và các chủ đề chính của bốn tác phẩm âm nhạc cổ điển thời kỳ Lãng mạn. Những tác phẩm này, bao gồm Fantasie-Impromptu của nhà soạn nhạc Chopin và Wanderer Fantasy của nhà soạn nhạc Franz Schubert, đã được lựa chọn để tái hiện thể loại Fantasy-Impromptu.  “Chúng tôi chọn thể loại âm nhạc cụ thể là một Fantasy-Impromptu vì đó là thể loại âm nhạc thể hiện tinh thần tự do, vốn khiến chúng tôi cảm thấy có thể làm hoàn thiện cách các protein điều khiển nhiều chức năng cơ thể của chúng ta, bao gồm cả tâm trạng của chúng ta nữa”, đồng tác giả Peng Zhang, một postdoc tại trường đại học Rockefeller.  Cũng như vậy, phần lớn các protein trong nghiên cứu này đã được chọn bởi những tương đồng của chúng với những đóng góp chính của phong cách thể loại Fantasy-Impromptu. Phần lớn trong số 18 protein được thử nghiệm đã vận hành theo các chức năng, bao gồm biểu cảm của con người, nhận thức, cảm giác hoặc biểu hiện, vốn được các nhà nghiên cứu cho rằng nó có những kết nối với các biểu cảm và biểu hiện của thể loại âm nhạc này.  Sau đó, họ sắp xếp và kết hợp 104 amino acid của các protein này theo đặc điểm cấu trúc, lý hóa theo sáu dạng “nguyên liệu” âm nhạc (cao độ, trường độ, quãng, hợp âm, cường độ âm nhạc và chủ đề). “Chúng tôi sàng lọc mẫu hình định lượng của mỗi đặc điểm amino acid dựa vào các giá trị số hóa của mỗi thành tố âm nhạc khác nhau để tìm ra các cặp được sắp xếp một cách tối ưu, ví dụ chúng tôi sắp xếp kích thước của amino acid theo các trường độ nốt, vì vậy có kích thước của một amino acid lớn hơn phản hồi một trường độ ngắn hơn”, Chen nói.  Trong số tất cả các protein được đưa vào thử nghiệm theo cách này, các nhà nghiên cứu đã thấy tính nhạc của các protein đã được cải thiện một cách đáng kể. Cụ thể, thụ thể oxytocin protein (OXTR) là một trong những ‘nhân vật’ được gia tăng tính nhạc bậc nhất khi sử dụng thuật toán hướng dẫn thể loại âm nhạc, so với phiên bản trước của thuật toán chuyển đổi protein thành âm nhạc.  “Protein thụ thể oxytocin đã tạo ra những tác phẩm thú vị nhất của chúng tôi”, Zhang nói. “Chuỗi protein này tạo ra một chủ đề chính có thể nhận diện được bằng cách lặp lại giai điệu trong toàn bộ tác phẩm cũng như một số motif và các mẫu hình âm nhạc thú vị. Nó cũng có tiến trình hòa âm êm dịu hơn, ví dụ tạo ra nhiều hợp âm bảy một cách tự nhiên”.  Dù thuật toán hướng dẫn làm tăng thêm tính nhạc trong các tác phẩm của protein, nhưng vẫn cần phải cải thiện nhiều hơn nữa trước khi đạt đến độ tương tự như âm nhạc do con người tạo ra.  “Chúng tôi tin rằng một bước phát triển tiếp theo nữa là khám phá nhiều hơn các phong cách âm nhạc và có những kết hợp các đặc tính của amino acid phức tạp hơn để tăng cường tính nhạc và tạo ra những tác phẩm âm nhạc mới. Bước tiếp theo vô cùng quan trọng là ứng dụng AI để kết hợp học hỏi các đặc tính amino acid phức tạc và các kết hợp của chúng với những đặc điểm của vô số phong cách nhạc để tạo ra âm nhạc của protein mang nhiều tính nhạc hơn”, Chen nói.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-classical-music-protein-songs-pleasant.html  https://theconversation.com/the-music-of-proteins-is-made-audible-through-a-computer-program-that-learns-from-chopin-168718  ———————–  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S2405844021020363    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm nhạc giúp chữa lành trong đại dịch      Một nghiên cứu do các nhà khoa học Đức thực hiện tiết lộ cách âm nhạc giúp con người vượt qua những căng thẳng mà họ phải chịu đựng trong thời gian giãn cách xã hội do COVID. Nhưng những tác phẩm nào chữa lành hiệu quả nhất?      Trước tiên, bạn phải biết điều này: bạn nghe một bài hát nhất định, và bạn cảm thấy như được rút cạn nỗi muộn phiền.  Tìm hiểu ảnh hưởng của âm nhạc lên não bộ và cơ thể là một lĩnh vực nghiên cứu đang được quan tâm nhiều  trong vài thập kỷ gần đây. Từ lâu, người ta đã chứng minh là âm nhạc kích hoạt cảm xúc hạnh phúc; nó cũng thường được sử dụng trong một vài hình thức trị liệu, và nó có thể làm chậm nhịp tim.  Viện nghiên cứu Thẩm mĩ thực nghiệm Max Planck (Đức) mới xuất bản một nghiên cứu mang tên Viral Tunes, vốn để kiểm tra hành vi nghe nhạc trong suốt thời kỳ diễn ra đại dịch COVID.  “Trong thời gian có lệnh đóng cửa, không có biểu diễn âm nhạc nhưng những tương tác có chủ ý với âm nhạc là điều cốt lõi trong việc vượt qua tình trạng nặng nề này”, Melanie Wald-Fuhrmann, Bộ phận âm nhạc của Viện nói với hãng DW. “Nhiều người được hỏi phản hồi là họ nghe nhạc một mình, không như trước đây, không làm bất cứ điều gì khác khi nghe nhạc”.   Âm nhạc chống lại căng thẳng    Với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã điều tra 5.000 người từ sáu quốc gia trong ba lục địa trong thời kỳ đóng cửa lần thứ nhất, từ tháng 4 đến tháng 5/2020. Những người từ Đức, Pháp, Anh, Italy, Ấn Độ và Mỹ trả lời trực tuyến các câu hỏi về việc nghe nhạc trong thời kỳ khủng hoảng. Hơn một nửa những người trả lời cho rằng họ nghe nhạc để vượt qua sự căng thẳng về cảm xúc và xã hội. Trong những lúc khó khăn, chúng ta thường hay hướng về những người mình yêu thương và gắn bó nhất, nhưng đây là điều không thể thực hiện được trong thời gian giãn cách, Wald-Fuhrmann nói.  Âm nhạc, với tất cả chất lượng và sự thoải mái mà nó đem lại, đã lấp đầy khoảng trống cảm xúc này, bà nói và cho biết thêm “Thường thường lời các bài hát thường có nhân xưng ‘anh’ ‘em’, ‘tôi bạn’ nên người nghe thường cảm nhận đó như lời tâm tình cá nhân”.  Cô lập xã hội, sự nguy hiểm của tình trạng mất việc làm, sự buồn chán của việc học ở nhà: vô số các nghiên cứu khắp thế giới đã cho thấy những mẫu hình đại dịch đang gây ra cho con người về mặt cảm xúc và tâm lý. Điều này làm trầm trọng hơn những triệu chứng của bệnh trầm cảm.  Bảo hiểm sức khỏe Đức đã ghi nhận sự gia tăng về số lượng những ngươi cần giúp đỡ để thoát khỏi các vấn đề về sức khỏe tâm thần.  Kết nối cảm giác cộng đồng đã được tạo ra bằng cái mà nghiên cứu này gọi là “âm nhạc corona”: ví dụ một nghệ sĩ sinh ra ở  Nigeria là Emeka Ogboh đã thực hiện một dự án âm nhạc tại Frankfurt qua một dự án âm nhạc sắp đặt mang tên “This too shall pass” để diễn tả chủ đề di cư, di chuyển của con người ở nhiều khía cạnh văn hóa, làm dấy lên câu hỏi về tình trạng bất binh đẳng, bản sắc và sự tham gia vào xã hội. Tất cả những điều này lên tới đỉnh điểm trong đại dịch.  Die Ärzte, một ban nhạc rock Đức nổi tiếng cũng nói đến tình trạng này trong tác phẩm của mình. Hàng nghìn người khác cũng đã tham gia vào giao tiếp âm nhạc theo nhiều cách, viết lại các bài hát và làm các đoạn video ngắn rồi tải lên mạng.  “Thông qua đó, chúng ta ghi nhận chính minh và tình trạng mà mình đang phải hứng chịu: nó trung thực, không bị che đậy và giúp bạn được nhận diện về mặt xã hội ngay cả khi trong thòi điểm bị cô lập”, Wald-Fuhrmann giải thích. Nhưng những bài hát này sẽ chỉ có tác dụng nếu chúng thú vị, “thuyết phục chúng ta như một màn trình diễn đầy tính sáng tạo – thẩm mỹ”.  Hormone hạnh phúc    Bài Don’t Stop Me Now của ban nhạc Queen đứng ở vị trí số một trên bảng danh sách các bài mang lại cảm xúc tích cực.  Không còn phải bàn cãi về tác động tích cực của âm nhạc. Người ta đã chứng minh việc nghe nhạc giải phóng endorphin và có thể có những tác động với sức khỏe của chúng ta giống như tình dục, thức ăn, thể thao… Nó thậm chí đã được chứng minh là giúp hình thành các kháng thể, tăng cường hệ thống miễn dịch của chúng ta.  Một cách tự nhiên, người ta vẫn cần những âm thanh phù hợp để làm dịu đi tâm trạng của mình.  Jacob Jolij, một nhà khoa học thần kinh tại Khoa Tâm lý thực nghiệm của trường đại học Groningen, nghiên cứu về những ảnh hưởng của nhịp độ, lời ca tích cực và sự lựa chọn của các khóa nhạc trưởng hay thứ tác động lên người nghe vào năm 2015: 45% người nghe phản hồi là sử dụng âm nhạc để nâng đỡ tâm trạng của mình, và khoảng 77% người thì dùng nhạc để làm nền cho những chuyển động của mình.  Kết quả của nghiên cứu đó đem lại một danh sách các bài hát, tuy không chính thức, là có tác dụng nâng đỡ tinh thần người nghe.  Theo phát hiện của Jolij, bài Don’t Stop Me Now của ban nhạc Queen đứng ở vị trí số một trên bảng danh sách đặc biệt này, tiếp theo sau là Dancing Queen của ABBA, Good Vibrations của Beach Boys, Uptown Girl của Billy Joel và Girls Just Wanna Have Fun của Cindy Lauper.   Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.dw.com/en/how-music-helped-during-the-pandemic/a-58668728  https://www.dw.com/en/a-nigerian-artists-covid-soundscape-in-frankfurt/a-58205195    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm nhạc làm tăng chất lượng cuộc sống của người già      Các nhà khoa học Đức và Thụy Sỹ đã cùng nghiên cứu về những ảnh hưởng của âm nhạc với não bộ cua người lớn tuổi. Hãng thông tấn DW của Đức đã trao đổi với trưởng nhóm nghiên cứu này về những thách thức và kết quả có thể đạt được của nghiên cứu.      Giáo sư Eckart Altenmüller   Nhiều người có khả năng chơi ít nhất một nhạc cụ thường được học nhạc từ nhỏ nhưng các nhà nghiên cứu về não từ Hanover và Geneva muốn chứng tỏ rằng những bài học âm nhạc vẫn có giá trị với con người ngay khi đã già.  “Nghiên cứu mới đã kiểm tra những ảnh hưởng của âm nhạc lên chất lượng cuộc sống của người già. Nó nhằm tập trung vào tìm hiểu vai trò quan trọng của việc được sống hạnh phúc của người già và giúp họ có thể cố gắng thử nghiệm những điều mới mẻ trong cuộc sống của mình thêm lần nữa”, nhà sinh lý học thần kinh âm nhạc và trưởng nhóm nghiên cứu Eckart Altenmüller cho DW biết như vậy.  Hơn 100 người đã tham gia các buổi học piano hoặc các lớp về lý thuyết âm nhạc trong vòng một năm, khóa học này sẽ kết thúc vào mùa hè 2018. Bất cứ ai ở độ tuổi từ 64 đến 76 chưa có kinh nghiệm học nhạc, chưa biết chơi một nhạc cụ nào đều được tham gia các khóa học này.  Anh đã tìm hiểu những tác động của âm nhạc đến chất lượng cuộc sống của người già như thế nào? Anh đã hy vọng đạt được kết quả gì?  Chúng tôi hi vọng rằng âm nhạc sẽ đóng vai trò tích cực vào những yếu tố tâm lý khác nhau. Chúng tôi chờ đợi vào việc đem đến niềm vui, giảm bớt nỗi buồn chán, phiền muộn của những người tham gia, tuy nhiên chúng tôi cũng tập trung vào các vấn đề khác như kích thích sự tư duy, tăng cường trí nhớ, kỹ năng tổng hợp và kiểm soát bệnh tật.  Những gì khiến nghiên cứu này trở nên phức tạp là chúng tôi hướng đến việc kiểm tra xem tình trạng các chức năng của não trong giai đoạn về già như thế nào và những yếu tố nào trong các phần kiểm soát về cấu trúc não và các mạng liên kết trong não ảnh hưởng đến những bài học về âm nhạc, lý thuyết âm nhạc.    Anh đặt niềm tin vào những bằng chứng khoa học gì trong nghiên cứu của mình?    Nhiều năm trước đây, chúng tôi đã từng kiểm tra những học viên trong độ tuổi từ 20 đến 30 và chúng tôi có tư liệu tin cậy để thấy mỗi một bài học piano có thể dẫn đến việc tạo ra những mạng liên kết giữa trung tâm của vùng não điều khiển thính giác và chuyển động. Chúng tồn tại một cách ổn định trong nhiều tuần sau đó.  Hiện tại chúng tôi muốn biết liệu có sự thay đổi tương tự mà chúng ta vẫn gọi là sự thích nghi mang tính khả biến thần kinh (neuroplastic adaptation) đến trong vùng não này của người lớn tuổi hay không.  Anh đã theo dõi hai nhóm: một nhóm học các bài piano còn nhóm khác thì học lý thuyết tâm nhạc. Tại sao vậy?  Với chúng tôi, điều đó đóng vai trò quan trọng để lưu giữ cái mà chúng ta vẫn gọi là sự thay đổi của tham số. Trong cách gọi khác, hai nhóm được phân biệt chỉ bởi một điều duy nhất, và trong trường hợp này, đó là trải nghiệm về thể chất với nhạc cụ.  Vậy anh đề xuất là việc nghe nhạc nhiều vẫn chưa đủ để đạt được hiệu quả mong muốn hoặc những điều tương tự?  Đúng vậy. Nghe nhạc là điều tốt và có thể hoàn toàn cải thiện được chất lượng cuộc sống nhưng việc chơi nhạc lại nhiều hiệu quả rõ rệt hơn.  Vậy anh có thể đảm bảo rằng những ảnh hưởng này là kết quả trực tiếp của việc chơi nhạc?   Chúng ta không nên loại trừ thứ mà chúng ta vẫn gọi là những tác động mang tính động cơ không rõ ràng (unspecific motivational effects), đó là điều giải thích tại sao có người không học chơi đàn nhưng vẫn thích học hỏi những điều thú vị về âm nhạc.  Theo cách diễn đạt khác, có thể những hoạt động sáng tạo khác bên cạnh âm nhạc cũng có tác động tích cực?   Đó không phải là chủ đề trong nghiên cứu của chúng tôi nhưng chúng tôi có thể đảm đương được, ví dụ một lớp học làm gốm hoặc học vẽ có thể có những hiệu ứng tích cực tương tự lên não hay không. Đã có những dấu hiệu này ở trẻ em và thanh niên. Những thay đổi trong não này dẫu sao cũng rất khác biệt.  Vậy âm nhạc có thể có những ảnh hưởng tiêu cực với sức khỏe không?  Ảnh hưởng tiêu cực chỉ đến khi những hoạt động về âm nhạc bị gia tăng quá mức. Việc tập luyện một cách cưỡng bức cũng có thể gây hại nếu như anh bị buộc phải tập chơi nhạc với âm lượng cực lớn hoặc lặp đi lặp lại những động tác giống nhau.  Tập luyện quá sức không có lợi ích gì vì nó có thể ảnh hưởng đến cả những kỹ năng vận động tốt nhất và dẫn đến sự kiệt sức hoặc mất khả năng vận động, nhưng nhiều nhất là chứng rối loạn vận động.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/new-study-aims-to-improve-quality-of-life-for-seniors-with-music/a-41972411    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm nhạc làm tăng sức khỏe và chất lượng cuộc sống      Một nghiên cứu đánh giá 26 nghiên cứu đã tìm thấy những lợi ích về sức khỏe tinh thần mà âm nhạc đem lại cũng tương đương với tập luyện và giảm cân.      “Âm nhạc”, nhà khoa học thần kinh Oliver Sacks đã viết, “có một sức mạnh vô song trong biểu đạt những trạng thái nằm sâu bên trong của cảm xúc. Âm nhạc có thể tác động thẳng đến trái tim; không cần đến khâu trung gian”.  Một phân tích mới đã xác nhận một điều hoàn toàn đúng đắn với những người yêu âm nhạc – đó là hát, chơi nhạc hay nghe nhạc cũng có thể cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ.  Đó là một nghiên cứu đánh giá 26 nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong đó có Australia, Anh, Mỹ và tìm thấy là âm nhạc đã đem lại một cú thúc đẩy gia tăng sức khỏe tâm thần đáng kể về mặt lâm sàng. Bảy nghiên cứu trong đó về liệu pháp âm nhạc, 10 nghiên cứu tìm hiểu hiệu quả của việc lắng nghe âm nhạc, tám nghiên cứu kiểm tra việc hát và một kiểm tra hiệu quả của nhạc Phúc âm.  Phân tích này, được xuất bản trên tạp chí Journal of the American Medical Association Network Open, “Association of Music Interventions With Health-Related Quality of Life: A Systematic Review and Meta-analysis”, xác nhận “những can thiệp âm nhạc có mối liên hệ với những cải thiện đầy ý nghĩa về sức khỏe”, khi đo  lường về mặt định lượng thông qua dữ liệu điều tra tiêu chuẩn chất lượng cuộc sống 1.  Những hiệu quả mà nó đem lại tương đồng với việc những người tham gia hát, chơi nhạc hoặc thậm chí là lắng nghe âm nhạc.  Các tác giả của phân tích mới này đề xuất là lợi ích cả âm nhạc đối với chất lượng cuộc sống tinh thần gần với hiệu quả cải thiện sức khỏe tinh thần do tập thể dục hay giảm cân.    “Cần thiết có thêm những nghiên cứu trong tương lai để phân biệt được những can thiệp bằng biện pháp âm nhạc tối ưu và các mức phù hợp để cho các điều trị lâm sàng cụ thể và các kịch bản sức khỏe công cộng”, các tác giả cho biết trong công bố, đồng thời nhấn mạng vào “sự khác biệt đáng kể về mặt cá nhân trong phản hồi các biện pháp can thiệp bằng âm nhạc” trong khắp các nghiên cứu được phân tích.  “Từ trải nghiệm cá nhân, nhiều người trong chúng ta đã biết một can thiệp bằng âm nhạc có thể ý nghĩa như thế nào tại những thời điểm khác nhau, trong đó có phẫu thuật, ốm đau hay có vấn đề về sức khỏe tâm thần”, Kim Cunio, một phó giáo sư tại trường đại học quốc gia Australia và không tham gia vào nghiên cứu này, nói.  “Nghiên cứu này tạo sự kết nối giữa các trải nghiệm cá nhân của chúng ta và một lượng dữ liệu về nghiên cứu có bình duyệt đang không ngừng gia tăng, qua đó khiến cho trường hợp này của âm nhạc đóng vai trò như một giải pháp can thiệp hàng đầu trong hệ thống sức khỏe của chúng ta.  Tất cả chúng ta là các chuyên gia âm nhạc bởi vì chúng ta đã dành hàng ngàn giờ để lắng nghe âm nhạc, mã hóa chúng trong não bộ chúng ta và phản hồi lại nó. Có bất kỳ thắc mắc nào xuất hiện khi chúng ta nghe nhạc, có cái gì đó đáng kể diễn ra không?  Khi có cảm giác có điều gì đó hơi bất ổn, tôi bật nhạc lên giống như mọi người vẫn thường làm. Đôi khi âm nhạc là một tiếng vọng có ý thức về cái mà tôi đang cảm nhận được… buồn bã và ảm đạm chẳng hạn. Nhưng thi thoảng thì tôi cũng cần âm nhạc đem lại cho tôi cho một cảm xúc hoàn toàn khác, có thể bứng tôi ra khỏi không gian này.  “Đó là điều kỳ diệu đích thực của âm nhạc – không có quy tắc quy định thể loại nào, tác phẩm nào là tốt nhất, phù hợp nhất để lắng nghe cả. Chúng ta chỉ có cách là nghe theo những gì trái tim mình mách bảo”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/australia-news/2022/mar/24/music-improves-wellbeing-and-quality-of-life-research-suggests  https://www.indiatoday.in/science/story/sing-along-study-confirms-music-improves-well-being-and-quality-of-life-1929024-2022-03-24  —————————————-  1. https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2790186    Author                .        
__label__tiasang Âm nhạc lượng tử      Vật lý vốn nhìn vào sự hài hòa để lý giải vẻ đẹp của Vũ trụ. Nhưng nếu sự bất cân xứng mới đem lại những góc nhìn sâu sắc hơn?      John Coltrane, McCoy Tyner và Art Davis biểu diễn tại Copenhagen năm 1961. Ảnh: JP Jazz Archive/Getty Image.  Vật lý lượng tử thật kỳ dị và trái ngược với trực giác. Vì lý do đó, từ ‘lượng tử’ đã trở thành từ viết tắt cho bất cứ thứ gì mạnh mẽ hay bí ẩn, bất kể nó có liên quan gì tới cơ học lượng tử hay không. Là một nhà vật lý lượng tử, tôi đã hình thành một phản xạ đảo tròn mắt khi nghe cụm từ này gắn với bất cứ thứ gì bên ngoài vật lý. Nó được dùng để mô tả liệu pháp vi lượng đồng cân, chất tẩy rửa trong máy rửa bát và chất khử mùi.  Nếu không phải lần đầu tiên nghe được cụm Âm nhạc Lượng tử từ một nhà vật lý được kính trọng, có lẽ tôi đã cười nhạo y như mọi lần khác khi người ta lạm dụng từ lượng tử một cách nực cười. Nhưng Klaus Mølmer nói thì thật hấp dẫn đấy. Trong dự án Âm nhạc Lượng tử, các nhà vật lý và các nhạc sĩ cộng tác với nhau để lần đầu tiên thống nhất ‘những thế giới kỳ bí của vật lý lượng tử với âm nhạc’. Họ phát triển một dụng cụ gắn vào mỗi phím của đàn piano sao cho, mỗi khi người ta chơi đàn, thông tin được dẫn tới một máy tính và đàn synthesizer (nhạc cụ điện tử chuyển tín hiệu điện thành âm thanh). Chúng sẽ phát ra các âm ‘lượng tử’ bên cạnh những tiếng dội lại quen thuộc từ đàn piano.   Trong số những âm được sử dụng có những âm biểu diễn một đối tượng rất lượng tử: một ngưng tụ Bose-Einstein (BEC). Đó là một đám mây các nguyên tử đã được làm lạnh xuống ngay sát độ không tuyệt đối (00K tương đương với -273.150C). Ở nhiệt độ thấp như vậy, người ta có thể coi các tính chất lượng tử vi mô của từng hạt chung như một đại lượng lượng tử vĩ mô, đơn lẻ. Nghiên cứu BEC là một cách để kiểm tra các hệ quả của cơ học lượng tử trên một thang kích thước lớn hơn mức khả dĩ thường thấy.   Một khía cạnh có thể được nghiên cứu với một BEC là âm học lượng tử – dáng điệu của các dao động và rung động trong đám mây. Chính những kiểu rung động như vậy trong không khí đã tạo ra âm thanh mà chúng ta nghe thấy. Những tính chất lượng tử của các nguyên tử, như làm thế nào chúng tương tác với nhau, xác định các tần số của các sóng âm có thể lan truyền trong BEC.       Để khẳng định rằng cái đẹp không có vị trí nào trong khoa học, trước tiên phải xác định được cái đẹp là gì.      Dự án Âm nhạc Lượng tử kết hợp một cây đàn piano với các âm thanh lượng tử như vậy để tạo ra một thứ âm nhạc đẹp đẽ nhưng kỳ dị không giống với bất cứ thứ gì tôi từng nghe trước đó. Tôi nghĩ đó là một dự án rất hay vượt ngoài tầm với. Nhưng, có vẻ như, Mølmer đã kỳ vọng hơn thế. Trong một video truyền thông từ 2016, anh đã thể hiện niềm hi vọng rằng các nhạc công có thể mang lại cho anh những cái nhìn sâu sắc vào cơ học lượng tử:   Chẳng hạn, nếu bạn trao đổi với các nhạc công, những người có trực giác rất mạnh với các sóng và động thái của chúng, liệu họ có thể mang lại một góc nhìn đặc biệt sâu sắc hay không?  Liệu những hiểu biết nghề nghiệp của họ về các sóng – kiểu tri thức mà một nhạc công có – cũng có thể áp dụng được vào nghiên cứu lượng tử?   Mắt tôi đã không đảo vòng quanh, nhưng chắc chắn chúng phải nheo lại vì ngờ vực. Tôi không thể hình dung một ai đó không có nền tảng vật lý lại có thể mang lại một kiểu trực giác hữu ích tới cơ học lượng tử. Điều đó quá đối lập với kinh nghiệm hằng ngày của chúng tôi, tôi nghĩ cách duy nhất để nắm bắt được thế giới lượng tử là nghiên cứu và vật lộn với thứ toán học mô tả nó. Trên hết thảy, dường như các mục tiêu của một nhạc công và một nhà vật lý là hoàn toàn khác nhau – có lẽ thậm chí còn xung đột với nhau nữa. Trong khi một nhà soạn nhạc làm việc bên trong một khuôn khổ lý thuyết âm nhạc để tạo ra thứ gì đó đẹp đẽ và hấp dẫn, thì một nhà vật lý chỉ hứng thú với việc tìm kiếm sự thật về cách vận hành của thế giới, bất kể sự thật đằng sau nó có đẹp đẽ hay không.   Nhưng bàn đi bàn lại thì cơ học lượng tử đa phần liên quan đến sóng. Và âm nhạc là gì nếu không phải là một sự tổng hợp của các sóng? Trong khi chắc chắn có những hiện tượng cơ học lượng tử vốn quá kỳ dị để liên hệ với các sóng âm cổ điển được dùng trong âm nhạc, rất nhiều khía cạnh của cơ học lượng tử lại nảy sinh từ một thực tế: rằng mọi thứ, từ ánh sáng tới các hạt, thậm chí là cả con người, đều có một bản chất hạt và một bản chất sóng. Với một thứ lớn như con người, bước sóng của sóng này – cái được gọi là ‘bước sóng de Broglie’ – là quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nên chúng ta không phải lo lắng về sự chồng chất hay vướng víu của con người. Nhưng càng nhỏ và càng có nhiệt độ thấp, bước sóng de Broglie càng dài, và bản chất sóng của hạt càng có vai trò lớn.   Có lẽ những trải nghiệm kết hợp các sóng âm thành các bản soạn nhạc thực sự mang lại cho người ta những góc nhìn sâu sắc vào vật lý của các hiện tượng gắn với sóng, bao gồm cả cơ học lượng tử. Có lẽ có một cầu nối giữa âm nhạc và vật lý nói chung. Có lẽ không phải trùng hợp mà trong quá khứ rất nhiều nhà vật lý thành công cũng là các nhạc công.   Hóa ra, tôi là kẻ nhập cuộc muộn màng. Muộn màng tới 2000 năm rồi. Khoảng năm 500 TCN, Pythagoras đã kết hợp âm nhạc và vật lý để cố gắng hiểu thế giới. Mặc dù có lẽ được biết đến nhiều nhất về phương trình hình học mang tên mình (dẫu cho một số nền văn hóa độc lập khác đã biết đến mối liên hệ này hàng trăm năm trước ông), Pythagoras cũng đã áp dụng lập luận toán học để tìm ra mối liên hệ giữa bước sóng của dây trên một nhạc cụ và nốt mà nó tạo ra khi được gảy. Nhận thấy rằng một số dạng chồng chất của các nốt nghe rất êm ái (hay thuận tai, theo ngôn ngữ âm nhạc) trong khi một số khác thì lại khó nghe (nghịch tai), ông đã thiết kế một hệ thống thang âm gắn các nốt nhạc với tỉ số của các tần số của chúng. Chẳng hạn, quãng thuận tai từ C tới F, được gọi là một quãng bốn đúng, được định nghĩa sao cho tần số của nốt F bằng 4/3 tần số của nốt C. Tương tự, G, cách C một quãng năm đúng, có tần số được định nghĩa chính xác bằng 3/2 tần số của nốt cơ sở C. Nốt C cao hơn một quãng 8 thì có tần số cao gấp đôi nốt C cơ sở. Pythagoras đã nhìn những tỉ số hoàn hảo này như một khía cạnh của một thế giới thần bí, nơi các con số tiết lộ sự thật tối hậu mà Thượng đế đã viết ra.     Lúc giải lao khi đang làm việc với các lý thuyết khoa học của mình, Einstein thường chơi piano.   Vậy, có lẽ, những tỉ số thần thánh này xuất hiện trong những khía cạnh khác của tự nhiên. Hiểu được thứ toán học ẩn sau sự hài hòa của âm nhạc, Pythagoras đã hướng lên bầu trời. Nếu Vũ trụ là một cây đàn lyre vĩ đại, mà Thượng đế chơi thứ âm nhạc vũ trụ của người thì sao? Pythagoras coi các hành tinh quay quanh Trái đất (thời đó còn ở rất xa cuộc cách mạng của Copernicus, nơi các nhà khoa học nhận ra các hành tinh quay quanh Mặt trời) như các dây của một nhạc cụ, với các mối liên hệ toán học giữa tốc độ mà chúng đi ngang bầu trời với cao độ của một nốt bí ẩn, không thể nghe được mà chúng phát ra, mỗi nốt lại góp phần vào cái Pythagoras gọi là ‘Hòa âm của các Thiên cầu’.   Đó là một khái niệm đẹp đẽ. Mỗi hành tinh quay quanh Trái đất theo một quỹ đạo hình tròn hoàn hảo, phát ra một nốt hoàn hảo, tất cả góp phần vào một hòa âm hoàn hảo: ngôn ngữ bí ẩn của Vũ trụ. Nhưng, như chúng ta biết, các hành tinh không quay quanh Trái đất, mà quay quanh Mặt trời, chúng không chuyển động theo quỹ đạo tròn mà theo quỹ đạo elip, và chắc chắn chúng không phát ra các nốt vũ trụ nào, bất kể có thể nghe được hay không. Theo cách nói của Aristotle, ‘lý thuyết càng du dương và nên thơ bao nhiêu, thì càng xa rời thực tế bấy nhiêu.’   Mặc cho những khuyết điểm tự nhiên của nó, Hòa âm của các Thiên cầu tiếp tục lôi cuốn các nhạc sĩ và các nhà khoa học trong hàng thiên niên kỷ. Ptolemy và Johannes Kepler đã đưa ra những biến thể của ý tưởng này. Thậm chí Mozart đã viết một bản opera nhờ được ý tưởng này truyền cảm hứng.   Con người đã có thói quen bám vào những lời diễn giải thế giới ‘nghe có vẻ’ có lý. Chúng ta cảm thấy rằng phải trật tự cơ bản nào đó trong Vũ trụ, nên thay vì giữ cho mình một tâm thế cởi mở và cố gắng vén bức màn bí ẩn về trật tự (hoặc có lẽ là sự hỗn loạn, ai biết được) này, chúng ta lại áp đặt ý thức của riêng mình lên trật tự của Vũ trụ, ngay cả khi phải đối mặt với những bằng chứng trái ngược.   Trong cuốn sách Lost in Math (Lạc lối trong Toán học), nhà vật lý Sabine Hossenfelder đã lập luận rằng nhận định này – rằng một lý thuyết chính xác thì phải đẹp đẽ – đã kìm hãm sự tiến triển của vật lý. Khái niệm cái đẹp và đối xứng đã cho phép lý thuyết dây và lý thuyết siêu dây tồn tại trong hàng thập kỷ mà không có bằng chứng nào về tính đúng đắn của chúng, bởi vì chúng quá đẹp đẽ để không đúng.   Hossenfelder khẳng định rằng các nhà lý thuyết sử dụng một định nghĩa cứng nhắc về cái đẹp, như một tiêu chuẩn để so sánh các lý thuyết của họ: sự thanh nhã và tính tự nhiên. Ở khía cạnh này tôi đồng ý với cô ấy rằng, thật ngớ ngẩn khi áp đặt một sự hạn chế như vậy lên một lý thuyết. Thật quá tự phụ, khi tiền giả định rằng một lý thuyết về vạn vật phải đẹp đẽ y như cách chúng ta nghĩ nó nên là.      Những nhà nghiên cứu giáo dục vật lý đã khám phá ra rằng, việc dành thời gian cho học sinh ‘suy nghĩ vẩn vơ’, hay tự khám phá một hệ vật lý – bất kể là trong phòng thí nghiệm hay sử dụng các mô phỏng bằng máy tính, hay có lẽ thông qua âm nhạc – giúp học sinh xây dựng một hiểu biết trực quan về vật lý. Điều này được thể hiện qua sự tiến bộ trong việc trả lời các câu hỏi mang tính khái niệm trong vật lý.      Nhưng tôi không muốn loại bỏ vai trò của cái đẹp. Tôi nghĩ vấn đề phức tạp hơn một chút. Với những người mới bắt đầu, để khẳng định rằng cái đẹp không có vị trí nào trong khoa học, trước tiên phải xác định được cái đẹp là gì. Nó có phải là một lý tưởng thần thánh, bất biến về đối xứng và sự thanh nhã? Hay liệu những lý tưởng văn hóa về cái đẹp của chúng ta có thể thay đổi, có lẽ để đáp đứng với kiến thức ngày càng phát triển của chúng ta về cách vận hành của thế giới?   Để khám phá khái niệm về cái đẹp, hãy quay lại với âm nhạc. Pythagoras đã phát triển một hệ thống thang âm dựa trên những tỷ số hoàn hảo của các tần số: 4:3, 3:2, 2:1. Nhưng có một vấn đề với hệ thống này. Về mặt toán học, không thể có 12 nốt đồng thời thỏa mãn các mối liên hệ này.   Để diễn giải, trước tiên hãy bắt đầu với nốt A trung, mà tần số được đặt là 440 Hz. Cách nốt A một quãng năm, là nốt E, mà tần số dựa trên hệ thống thang âm của Pythagoras là 3/2*440 Hz. Khi đó, một quãng năm phía trên nốt E là B, với tần số 3/2*3/2*440 Hz. Chúng ta có thể định nghĩa tất cả các nốt như vậy, cho đến khi chúng ta lại có được một nốt A. Vì các quãng tám có tỉ số tần số là 2:1, tần số của nốt A cao này sẽ phải là một lũy thừa của 2 nhân với tần số của nốt A ban đầu là 440 Hz. Nhưng không phải vậy. Đó là (3/2)^12*440 Hz, tức là một phần tư quãng tới nốt A#, thay vì A. Để tránh vấn đề này, các hệ thống thang âm của Pythagoras đã thay đổi tần số của các nốt trầm hơn để nó không liên hệ với các nốt khác theo những tỉ lệ hoàn hảo 3/2 và 4/3 nữa. Nhưng điều này dẫn tới việc một số quãng nghe rất nghịch tai.   Trong nhiều thế kỷ, điều này có vẻ không làm phiền các nhạc sĩ lắm. Âm nhạc xuyên suốt thời Trung cổ và thời kỳ tiền Phục hưng đủ đơn giản để họ tránh các quãng nghịch tai. Và sự thanh nhã của các tỉ lệ được sử dụng trong hệ thống của Pythagoras dường như quá hoàn hảo để có thể là một sự trùng hợp – nó dường như được Chúa đặt ra. Thực tế, Giáo hội Công giáo đã kiên quyết đứng về phía duy trì hệ thống thang âm của Pythagoras.   Vincenzo Galilei thì không. Cuối thế kỷ 16, ông là một trong những người ủng hộ đầu tiên và lên tiếng nhiều nhất về một hệ thống thang âm khác gọi là ‘thang âm đều’. Galilei lập luận rằng, thay vì có một nốt nghe rất nghịch tai, người ta nên phân bố sự nghịch tai đó đều giữa các nốt, sao cho không có nốt nào trong số chúng nghe quá hoàn hảo như trong hệ thống của Pythagoras nhưng ít nhất người ta có thể chơi tất cả các khóa mà không cần chỉnh lại nhạc cụ.   Vậy, trong trường hợp này, ai là người tiếp nối các nguyên lý của cái đẹp? Pythagoras, người đã tìm kiếm các tỉ lệ hoàn hảo, đơn giản của các tần số, hay Galilei, người chấp nhận sự phức tạp và hỗn độn trong lý thuyết, nhưng có kết quả là một tập hợp các nốt hài hòa hơn về mặt thẩm mỹ? Tôi nghĩ là Galilei. Cuộc đấu tranh của Galilei cho ‘thang âm đều’ đã cho phép các nhạc sĩ thử nghiệm với sự thay đổi của các khóa, và những hòa âm phức tạp hơn trong âm nhạc của họ, tạo ra những kiệt tác mà không thể có được với những lý tưởng tẻ nhạt của Pythagoras về sự đơn giản và thanh nhã.  Galilei cũng đã góp phần vào sự tiến hóa của lý thuyết âm nhạc trong cách ông xử lý những quãng nghịch tai trong các sáng tác. Ông nghĩ rằng có thể dùng nốt nghịch tai nếu ‘xử lý’ nó bằng cách chơi một hợp âm thuận tai ngay sau khi dùng nó. Việc sử dụng các quãng nghịch tai ‘xấu xí’ là căn bản cho các bản nhạc đẹp đẽ nhất trong âm nhạc. Không có sự nghịch tai, chúng ta có thể mất gần như hầu hết những bản nhạc cổ điển nổi tiếng nhất, trong đó có các tác phẩm của Bach và Mozart.   Có lẽ không có gì trùng hợp khi Galilei đấu tranh trước hiện trạng và giáo hội công giáo và thúc đẩy sự tiến hóa của âm nhạc, thì con trai ông, Galileo Galilei lại đấu tranh với cùng lực lượng đó trong địa hạt khoa học. Ông đấu tranh cho mô hình nhật tâm của Hệ Mặt trời, thách thức một trong các giáo điều kiểu Pythagoras khác của nhà thờ: một vũ trụ hoàn hảo với Trái đất nằm ở trung tâm. Sự khăng khăng của ông rằng, tất cả các hành tinh, bao gồm cả Trái đất, đều quay quanh Mặt trời thay vì Trái đất đã kéo theo sự giận dữ của giáo hội. Ông đã mất trong khi bị giam lỏng ở nhà.   Kepler, người cùng thời với Galileo, cũng tìm kiếm hiểu biết về sự chuyển động của các hành tinh trong mô hình nhật tâm này. Ông cũng là một người cực kỳ yêu thích âm nhạc, và như Pythagoras trước kia, ông đã thử thống nhất âm nhạc với thiên văn học. Sau khi tự mình công bố ba định luật về chuyển động các hành tinh của mình, năm 1619, ông đã công bố cuốn Harmonices Mundi, hay Hòa âm của thế giới, một tham chiếu rõ ràng về Hòa âm của các thiên cầu của Pythagoras.  Mặc dù vậy Harmonices Mundi không phải chỉ nói về các hành tinh. Trong một chương, Kepler đã thảo luận về phong cách âm nhạc của người Turk (tập hợp các dân tộc ở phía Bắc Âu-Á) mà ông đã từng nghe khi còn ở Prague. Rõ ràng ông không thích thứ âm nhạc này, cho rằng nó ‘chói tai’ và ‘đáng ghét’. Ông nói: ‘dường như chẳng ai dưới sự hướng dẫn thích hợp từ thiên nhiên và sự tình nguyện, lại có thể thường xuyên chiêm nghiệm bất cứ thứ gì như vậy.’ Theo chuyên gia âm nhạc người Mỹ Peter Pesic, một đặc điểm đặc trưng của phong cách Turk này mà Kepler không thích đó là glissando, một cú lướt từ nốt nhạc này sang nốt nhạc khác – hãy nghĩ tới màn mở đầu của Rhapsody in Blue (1924) của George Gershwin hay sự thay đổi cao độ dần dần của tiếng còi xe cấp cứu. Mặc dù phổ biến trong âm nhạc đương đại, nhưng ở thời của Kepler, glissando hoàn toàn không được sử dụng trong âm nhạc phương Tây.     Cuốn sách về âm nhạc cổ đại và hiện đại của Vincenzo Galilei, nhà soạn nhạc và lí thuyết âm nhạc, cha của nhà thiên văn Galileo Galilei.  Trong Harmonices Mundi, Kepler đã cố gắng dịch sự chuyển động của các hành tinh thành âm nhạc hàm chứa tất cả những tinh tế mà ông đã khám phá được thông qua ba định luật của mình:   1. Ba hành tinh chuyển động quanh Mặt trời theo quỹ đạo hình elip, với Mặt trời là một trong hai tiêu điểm.   2. Tốc độ của mỗi hành tinh phụ thuộc vào khoảng cách từ nó đến Mặt trời.   3. Chu kỳ quỹ đạo của một hành tinh tỉ lệ với khoảng cách trung bình của nó đến Mặt trời.   Cụ thể, định luật đầu tiên và thứ hai của ông ngụ ý rằng, vì tốc độ của một hành tinh thay đổi theo quỹ đạo quanh Mặt trời của nó, nên không thể chuyển soạn nó thành một nốt nhạc đơn lẻ. Bạn có đoán được cách ông chuyển soạn tốc độ của một hành tinh trên quỹ đạo thành âm nhạc như thế nào không? Phải. Một glissando đấy. Thật lạ lùng khi chính người khẳng định rằng người Turk đã không lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của tự nhiên để đưa vào âm nhạc của họ, sau đó lại lấy cảm hứng từ âm nhạc Turk để mô tả chính tự nhiên.   Dẫu vậy, Kepler vẫn ghét cay ghét đắng glissando, và đã làm việc miệt mài sao cho thứ âm nhạc mã hóa chuyển động của các hành tinh nghe vừa tai ông. Ông đã không thể thực hiện được. Ông nghĩ rằng thật vô lý khi Chúa đã tạo ra hệ thống chuyển động của các hành tinh mà không mang cho nó vẻ đẹp. Và tôi nghĩ ông đã đúng. 400 năm sau khi Harmonices Mundi được công bố, một bản tái hiện đầy ám ảnh về bản chuyển soạn chuyển động của các hành tinh nguyên bản của Kepler – đã được Carl Sagan lựa chọn để đặt vào ‘đĩa vàng’ trên tàu Voyager. Giờ đây nó đã có mặt trên cả hai tàu Voyager, trôi nổi trong không gian liên sao cách Trái đất hơn 10 tỉ dặm.   Thật khó để định nghĩa cái đẹp, nhưng nếu chúng ta sử dụng định nghĩa của nhà vật lý Gian Francesco Giudice ở CERN, Geneva, đã được trích dẫn trong cuốn sách của Hossenfelder – là một ‘cảm giác’ hay ‘trực giác vật lý’ – thì tôi nghĩ chắc chắn nó có vị thế trong vật lý. Albert Einstein có lẽ là ví dụ nổi tiếng nhất về sức mạnh của trực giác vật lý, dựa hoàn toàn vào thí nghiệm tưởng tượng để phát triển các lý thuyết của mình. Ông cũng là một người yêu âm nhạc và là một tay chơi violin rất cừ. Nhưng hai nỗ lực này của ông – âm nhạc và vật lý – lại không tách rời nhau. Theo lời vợ ông, Einstein thường nghỉ giải lao khi đang làm việc với lý thuyết khoa học nào đó của mình để chơi piano, và thường thì, ông đạt được đột phá về mặt khoa học trong khi đang ngồi bên đàn.   Điều này không có gì trùng hợp. Về lý thuyết tương đối của mình, Einstein kể: ‘Nó xuất hiện trước tôi qua trực giác, và âm nhạc là nguồn động lực cho trực giác đó. Khám phá của tôi là kết quả của nhận thức âm nhạc.’ Ông đã khẳng định rằng không có nhà khoa học nào tư duy theo các phương trình. Einstein kể, đôi khi ông tư duy bằng hình ảnh, đôi khi bằng các cấu trúc âm nhạc.   Một nhà vật lý đương đại, Stephon Alexander tại Đại học Brown, Đảo Rhode, cũng tìm thấy cảm hứng thông qua âm nhạc – đặc biệt là qua nhạc jazz. Lấy cảm hứng từ những thiên tài nhạc jazz như John Coltrance (người, hóa ra, lại được Einstein truyền cảm hứng, đặc biệt là trong tác phẩm Interstellar Space, 1967, của ông), Alexander đã đưa ra một lý thuyết về vũ trụ tuần hoàn mà ông cho rằng giống với những ngẫu hứng trong nhạc jazz. Trong cuốn sách  The Jazz of Physics (2017) của ông, Alexander đã mô tả bản thân như một người tư duy bằng trực giác, có xu hướng dựa vào bản năng của mình thay vì các hình thức luận toán học. Tôi tin chính nền tảng âm nhạc của ông đã ảnh hưởng tới cách ông nhìn nhận thế giới.   Đây là điểm tôi nghĩ âm nhạc có thể có vai trò lớn nhất trong vật lý: xây dựng trực giác. Trực giác không phải thứ bẩm sinh các thiên tài có hay chỉ được tin tưởng ở số ít những Einstein được lựa chọn của thế giới. Hầu hết các nghiên cứu về giáo dục vật lý chỉ dựa vào việc: giúp học sinh xây dựng một khung làm việc hình thức và trực quan để giải quyết các bài toán vật lý.  Âm nhạc giúp xây dựng trực giác vật lý như thế nào? Đó là một cách thức khác để khái niệm hóa toán học, thứ ngôn ngữ của vật lý. Trong khi một số đặc điểm âm nhạc chắc chắn là đặc trưng về văn hóa (ví dụ như glissando, đã thảo luận bên trên), có một sự phổ quát đáng chú ý trong nhiều khía cạnh của âm nhạc. Chẳng hạn, một thang âm có tên là ngũ cung trong âm nhạc phương Tây đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Âm nhạc, như toán học, tuân theo cùng các định luật, bất kể bạn là ai. Nhưng cũng giống với toán học, nó là một lĩnh vực rộng lớn, khiến nó cho phép sáng tạo trong việc tạo ra các tập quy tắc toán học mới, dẫn tới các phong cách và thể loại âm nhạc mới và có thể truyền cảm hứng cho những tìm tòi mới trong vật lý.  Nếu chúng ta coi âm nhạc như một nền tảng thí nghiệm các hiện tượng sóng và các hiện tượng vật lý khác, thì cảm nhận bản năng về cái đẹp khi ta “nghịch ngợm” với âm nhạc có thể là một sự mách lối hữu ích cho các ý tưởng mới trong vật lý. Đó không phải là lối đi duy nhất – chắc chắn rồi, các lý thuyết đều phải được xác nhận bằng thực nghiệm. Tuy nhiên nó lại hữu ích.   Dự án Âm nhạc Lượng tử đã cho tôi một cơ hội để kiểm tra ý tưởng này. Họ cho phép tải về gói ‘dao động lượng tử’ trên trang web của họ. Đây là một thư viện các sóng dựa trên vật lý của âm học lượng tử của BEC.   Như đã giải thích phía trên, trong hệ thống các nốt nhạc được định nghĩa một cách truyền thống, mỗi quãng tám mới được tạo ra bằng cách nhân đôi tần số của nốt thấp hơn, nên thang âm tuân theo hàm mũ. Trong một BEC, chuyện lại khá khác biệt: tần số của các dao động không tuân theo hàm mũ, nên lần đầu được nghe, tôi thấy một số kết hợp của các nốt nghe có vẻ rất dị. Thực tế này cũng dẫn đến sự xuất hiện của các hiện tượng sóng thú vị trong những âm lượng tử mà người ta không bao giờ phải lo lắng tới trong âm nhạc phi lượng tử.   Sử dụng phần mềm này để tạo ra những dạng sóng khác nhau dựa trên cơ học lượng tử đã giúp tôi có đánh giá khác về một số hiện tượng trong đó. Với mỗi nốt hòa âm mà tôi thêm vào dạng sóng, tôi đã cố gắng hình dung về việc thêm vào một trạng thái hài hòa của chuyển động trong đám mây BEC. Tôi không nghĩ mình sẽ có cùng cảm nhận như vậy nếu chưa từng nghiên cứu về BEC, nhưng sự kết hợp của trực giác sâu sắc, bản năng được xây dựng thông qua âm nhạc, được dẫn dắt bởi kiến thức từ các phương trình mà những tiền bối của tôi đã phát triển, đã cho tôi một tầm hiểu biết mới sâu hơn về thứ mà tôi sử dụng trong phòng thí nghiệm mỗi ngày.   Tôi nghĩ sự xung đột giữa cảm nhận trực giác về cái đẹp và sự thật về cách Vũ trụ vận hành nảy sinh khi chúng ta nghĩ về trực giác và cái đẹp như những phẩm chất cố định. Trực giác được phát triển thông qua kinh nghiệm, và thẩm mỹ cá nhân tiến hóa rồi trở nên tinh tế hơn khi người nghệ sĩ hay nhạc sĩ trưởng thành hơn. Đây không phải là vấn đề với việc mưu cầu cái đẹp trong vật lý. Einstein, Galileo và Kepler đều đã chỉ ra rằng việc tìm kiếm cảm hứng thông qua vẻ đẹp của âm nhạc có thể dẫn tới những khám phá ngọt ngào. Chúng ta gặp vấn đề ở nơi chúng ta cứng nhắc quy định định nghĩa của mình về cái đẹp, không cho phép nó lớn lên và phát triển như âm nhạc và hiểu biết của chúng ta về Vũ trụ. Bằng cách cho phép đưa vào một số thứ lộn xộn và phức tạp trong âm nhạc và các lý thuyết khoa học, chúng ta khám phá ra một Vũ trụ phong phú hơn, thú vị hơn, và vâng, đẹp hơn những gì chúng ta hằng tưởng tượng.□  Duy Khánh dịch  Nguồn: https://aeon.co/essays/uniting-the-mysterious-worlds-of-quantum-physics-and-music    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm nhạc trong những phát minh của Einstein      Phải qua thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, sự tiến bộ phi thường của khoa học mới đem lại cơ hội để hiểu được vị trí của âm nhạc trong suy nghĩ của Einstein, chúng ta mới sáng tỏ hơn cách ông định hình những ý tưởng khoa học sâu sắc nhất của mình.    Không phải ai cũng thấu hiểu sự vĩ đại của ông nên người ta thường tạm bằng lòng với hình ảnh phổ biến về một Einstein có mái tóc dựng lên vì điện và lưỡi thè ra vui nhộn. Chúng ta không biết được con người chân thực ở ông và cũng không biết rằng ông chính là một sản phẩm của một nền giáo dục toàn vẹn với rất nhiều tính nghệ thuật và nhân văn. Với ông, nghệ thuật là một điều lớn lao. Có lần, ông đã nói nếu không làm nghiên cứu thì ông đã trở thành một nghệ sỹ bởi “tôi chìm đắm trong âm nhạc. Qua từng nốt nhạc, tôi thấy cuộc sống của mình”. Ông cũng từng nói, ông thường suy luận về khoa học bằng cách sử dụng trực giác vốn có về âm nhạc cũng như những hình ảnh âm nhạc, sau đó mới khoác lên chúng những suy luận logic và đại lượng toán học thông thường.    Âm nhạc của những thiên thể  Khám phá vĩ đại mà Einstein tìm ra là sóng hấp dẫn, mảnh ghép cuối cùng của bức tranh toàn vẹn “lý thuyết tương đối rộng”. Có một thứ khiến Einstein đặc biệt quan tâm trong lý thuyết sóng hấp dẫn chính là tín hiệu sóng hấp dẫn được chuyển thành dạng âm thanh (tiếc thay ông không thể nghe được mà chỉ hình dung ra nó). Nhưng tại sao âm thanh đặc biệt này quan trọng? Bởi nó cho phép chúng ta nghe được tiếng vọng của một vụ nổ hơn một tỷ năm trước từ một thiên hà xa xôi. Rung động đó của không-thời gian đã được di chuyển trong một ngàn triệu năm để đến với chúng ta với tốc độ ánh sáng 300.000 km mỗi giây.   Đó là một âm trầm giống tiếng trống đơn độc nổi lên giữa những tín hiệu nhiễu vũ trụ. Âm thanh đó đã được điều chỉnh đôi chút cho phù hợp tai của chúng ta, nó nghe như âm thanh của một viên sỏi được thả vào nước. Thật lạ kỳ là viên sỏi rơi đó đã tạo ra hiệu ứng âm thanh giống như sự va chạm của những siêu lỗ đen cách chúng ta hàng tỷ năm trong không gian và thời gian.   Lạ nhưng cũng phù hợp bởi vì năng lượng của âm thanh cũng đến từ sự chuyển động, là dấu hiệu của sự sống, sự năng động và sáng tạo. Dù là khi tiếng vỗ tay, tiếng các sợi dây đàn violin dao động, hay khi những lỗ đen lớn gấp 30 lần Mặt trời quay quanh nhau 100 lần một giây, tất cả đều là những chuyển động. Khi vỗ tay hay sợi dây đàn dao động, các phân tử khí chuyển động và va chạm vào các phân tử kế bên, tạo thành sóng dao động truyền đến nơi thu nhận như màng tai ta. Còn với trường hợp các lỗ đen, không gian và thời gian đã chuyển động, tạo thành một kiểu sóng lan truyền trong chân không trong cả tỷ năm.  Nếu còn sống, Einstein chắc hẳn sẽ hài lòng khi lý thuyết của ông được khẳng định và cũng sẽ rất vui khi nghe những thanh âm của sóng hấp dẫn này. Với Einstein thì âm thanh cũng là một dạng âm nhạc và là thứ đem lại cho ông nhiều niềm vui hơn bất cứ thứ nào khác.   Bởi âm nhạc không chỉ là một thú vui hay sở thích, với ông âm nhạc còn đóng vai trò quan trọng trong các phát kiến khoa học. Elsa, người vợ thứ hai của ông, kể rằng có một ngày khi không suy nghĩ được điều gì, ông liền ngồi bên cây đàn piano và chơi trong vòng nửa giờ, vừa chơi vừa ghi chép lại các nghiên cứu. Lần khác, ông ngồi lì trong phòng làm việc trong suốt hai tuần, chỉ ra khỏi phòng vào những lúc chơi đàn piano, và sau đó viết ra bản thảo của lý thuyết tương đối tổng quát.   Dĩ nhiên việc chơi piano không tạo ra một thứ gì sờ mó được trong lý thuyết tương đối tổng quát kia, nhưng ở một góc độ nào đó thì việc chơi piano cũng tạo hiệu ứng như việc đi bộ thư giãn của nhiều người khác. Những quá trình suy nghĩ khi di chuyển có thể tạo ra năng lượng sáng tạo. Điều này thực ra Beethoven đã thử nghiệm, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ cũng vậy, và rất nhiều nhà văn khác. Qua các câu chuyện này có thể thấy, âm nhạc đóng một vai trò rất lớn trong những phát kiến khoa học quan trọng nhất của Einstein.     Albert Einstein và Max Planck – cũng là một trong những nhà vật lý quan trọng nhất của thế kỷ 20, bên cây đàn piano. Nguồn: MaxTheTrax.  Âm nhạc bổ sung vẻ đẹp cho khoa học  Einstein được biết đến với phong thái chơi violin phóng túng có tiếng. Ông thường biểu diễn tứ tấu với những nghệ sỹ nổi tiếng nhất thời bấy giờ, và chơi tốt đến nỗi tự hào nếu không nói là nổi bật. Ảnh hưởng của việc chơi nhạc lên cách tiếp cận sáng suốt và sâu rộng trong nghiên cứu khoa học của Einstein là không thể xem nhẹ. Không phải ngẫu nhiên mà hai nhạc sỹ ưa thích nhất của ông là J. S. Bach và W. A. Mozart đều có những tác phẩm mang dấu ấn đặc biệt: các nốt nhạc tuân theo cấu trúc của hình thức âm nhạc với những trình tự của các chủ đề, các chương trong mỗi tác phẩm.   Âm nhạc là một khái niệm tương tự như lực hấp dẫn, mọi người đều hiểu một cách bản năng, không cần quá nhiều chỉ dẫn. Thực tế thì âm nhạc cũng có một số điểm tương đồng với hấp dẫn, ví dụ  âm nhạc cũng có những trọng tâm hấp dẫn riêng – các cao độ có tính bền nhất làm nền cho các nốt khác, đóng vai trò mặt trời trong hệ gồm nhiều hành tinh là các nốt nhạc. Âm nhạc với những “chủ âm” đã tồn tại nửa thiên niên kỷ từ thời Phục sinh và tồn tại đến ngày nay trong nhạc pop, nhạc phim. Các nốt khác xoay quanh chủ âm với những lực hấp dẫn thay đổi khác nhau: một số nốt thì yếu và ở xa hơn, một số gần hơn và nghe như được kéo vào trọng tâm mạnh hơn.   Hầu hết ai nghe khúc Preludio trong bản Partita số 3 dành cho violon của Bach có thể xác định được cao độ trung tâm gọi là chủ âm này, bằng cách nghe khúc đầu và ngâm bất kỳ nốt nào quan trọng sau đó.   Dĩ nhiên thực tế có thể phức tạp hơn và câu hỏi lớn là Bach và Mozart có thể xây dựng những gì dựa trên hệ thống trật tự và cân bằng lực này? Bach thường được coi là bậc thầy của nghệ thuật đối âm; đó là cách sắp xếp các giai điệu khác nhau sao cho chúng giữ được sự độc lập nhưng vẫn đồng điệu với nhau một cách thống nhất.   Khúc Fugue cung Đô thứ dành cho đàn organ BWV 542 của Bach cho thấy sự phức hợp của đối âm theo cách mà những người không chuyên về âm nhạc cũng cảm thấy thích thú khi nghe. Từ một giai điệu hay một “giọng” bỗng biến thành hai, rồi ba rồi đến bốn. Dạng “kiến trúc” ẩn dụ này rất dễ nhận ra, rằng âm nhạc đã được xây dựng một cách tài tình, phức hợp và công phu nhưng vẫn giữ được sự cân bằng và cân đối đến kỳ lạ. Nó tựa như những công trình nhà thờ hay cung điện hoặc thậm chí là những công thức khoa học.   Còn âm nhạc của Mozart thì có lẽ còn gần hơn với tâm trí của Einstein bởi những năm tạo nên nền tảng âm nhạc của Einstein trùng với trào lưu “trở về Mozart” của âm nhạc Âu châu – một sự phản ứng của các nhà soạn nhạc và chuyên gia âm nhạc đương thời trước những điều mà họ cho là “suy thoái và ướt át” trong những vở opera dài khủng khiếp của Wagner. Khi hệ thống âm sắc trong tay Wagner đã được tận dụng đến tới hạn, kéo theo sự sụp đổ của nghệ thuật âm nhạc Âu châu thế kỷ 20 thì hình ảnh của Mozart lại được nhớ đến. Đó cũng là cách trở lại với một kiến trúc âm nhạc cân bằng hoàn hảo với những biểu đạt xuất sắc. Bản giao hưởng số 41, K551 mang tên Jupiter, tác phẩm cuối cùng của Mozart là một ví dụ thú vị về cảm nhận của Einstein. Ngoài sự hứng khởi trong âm nhạc thì chương bốn đã kết hợp được những khuôn mẫu phức tạp nhất của thời đại Mozart – hình thức sonata cuối thế kỷ 18 được tạo dựng trên những chất liệu tinh tế của từ fugue Bach ở thời kỳ Baroque.   Mặc dù những tính toán trong cấu trúc âm nhạc như trong bản giao hưởng Jupiter đã đạt đến sự phức tạp nhất định nhưng đó lại không phải là điểm nổi bật của Bach hay Mozart. Bởi Mozart nổi tiếng vì cách ông nói được nhiều điều nhất bằng ít nốt nhạc nhất, ví dụ theo cách đó ông tạo ra vẻ đẹp mong manh ở chương chậm của bản concerto piano La trưởng K488. Thật ngạc nhiên là cách sáng tạo như vậy lại khiến nhiều người cho rằng, Mozart dường như không tạo ra âm nhạc của mình mà là khám phá ra những kiệt tác đã có sẵn.   Cũng theo cách đó, Einstein tìm ra những lý thuyết thuần khiết, ngắn gọn nhưng rất hài hòa.   Vậy những mối liên hệ với âm nhạc này có mang lại điều gì ở thời điểm đột phá về khoa học của thế kỷ này? Tôi tin rằng đây là cơ hội để chúng ta mở rộng tầm nhìn về cách mà bộ óc của những thiên tài đã hoạt động, để chúng ta có thể học về nó.   Qua đó có thể thấy cái khác biệt lớn của Einstein chính là cách tiếp cận tri thức đa chiều. Ông xây dựng lý thuyết từ những chuyên ngành khác nhau mà bổ trợ lẫn nhau, và ông cũng không tách rời khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn.  Khi khoa học và công nghệ đang phải đối phó với những vẫn đề lớn và khó kiểm soát như thảm họa môi trường, thì việc phân nhóm giáo dục kiểu STEM thoạt đầu có vẻ là hiển nhiên và cần thiết. Nhưng rõ ràng từ ví dụ của Einstein thì những đổi mới sáng tạo của STEM hoàn toàn có thể đến từ những cảm nhận nghệ thuật. Với ông thì vẻ đẹp của kiến trúc và vẻ đẹp của hình dạng âm nhạc đã tạo ra nguồn cảm hứng lớn cho các lý thuyết khoa học. Âm nhạc đã tạo cảm hứng và dẫn dắt Einstein, kích thích những vùng não bộ không thể tiếp cận đến nếu chỉ ngồi trên bàn làm việc. Nó mang đến cho ông những phác thảo, cảm xúc, linh cảm và trực giác. Đó là tất cả những cách diễn tả những kiến thức cao xa mà không dùng đến lời nói.  Và người ta đã nghĩ đến việc thêm nghệ thuật (Arts) vào STEM thành ra “STEAM”, thậm chí là cả đọc (Reading) và viết (Writing) vào nữa thành ra “STREAM”. Như thế có phải là tuyệt vời không nếu mọi tri thức đều quý giá ngang nhau? Einstein đã dùng rất nhiều tâm thức của mình để trải nghiệm và giải thích thế giới này, tạo ra kiến thức. Và điều đó rất đáng để học hỏi.   Nguyễn Quang dịch  Nguồn:https://theconversation.com/good-vibrations-the-role-of-music-in-einsteins-thinking-54725#:~:text=For%20Einstein%2C%20it%20was%20the,through%20sitting%20at%20his%20desk  * Liam Viney là nghệ sĩ piano và giáo sư âm nhạc trường đại học Queensland    Author                Quản trị        
__label__tiasang Âm thanh dưới lòng đại dương đang biến đổi      Con người không chỉ tác động tiêu cực đến biển cả bằng rác thải, đánh bắt cá quá mức, hoá chất, mà còn đang khiến các vùng biển bị ô nhiễm âm thanh. Ô nhiễm âm thanh sẽ ảnh hưởng đến đời sống của cá voi và các sinh vật biển khác như thế nào?    Độ mặn, nhiệt độ và áp suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến âm thanh trong lòng biển cả. Hiện các nhà khoa học vẫn chưa đánh giá được tác động của điều này đến những sinh vật phụ thuộc vào âm thanh để tồn tại. Ảnh: Johannes Hulsch / Getty Images  Khi bạn dạo bước trong rừng, bạn hét thật to, sẽ chỉ có những chú chim, chú ếch, sóc ở gần đó mới nghe thấy tiếng hét của bạn. Cảm nhận được âm thanh là một chiến lược sinh tồn quan trọng đối với động vật trên cạn, nhưng hệ thống cảnh báo này vẫn có phần hạn chế, bởi âm thanh – thứ sẽ cứu sống sinh vật khỏi những rủi ro như núi lửa phun trào – sẽ không lan truyền xa trong không khí. Chúng lan truyền tốt hơn qua nước, âm thanh dưới đáy biển truyền đi hàng trăm hay thậm chí hàng ngàn dặm, tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường.  Song bản thân những điều kiện môi trường cũng đang biến đổi nhanh chóng khi các đại dương dần ấm lên. Những biến đổi về độ mặn, nhiệt độ và áp suất khiến âm thanh biển cả đổi khác, và hiện các nhà khoa học vẫn chưa đánh giá được tác động của điều này đến những sinh vật phụ thuộc vào âm thanh để tồn tại. Cá voi trao đổi với nhau và điều hướng theo âm thanh của Trái đất bằng cách lắng nghe tiếng sóng vỗ vào bờ biển. Cá heo định vị con mồi bằng những tiếng vang. Cá rạn san hô được sinh ra trong đại dương rộng lớn, nhưng vẫn phải dựa vào âm thanh của rạn san hô nhộn nhịp để tìm đường về nhà. Và cùng với đó là những âm thanh của cuộc sống: Những cơn gió lướt trên bề mặt biển, tạo ra tiếng đập mạnh khi có bão. Động đất và lở đất gây ra những tiếng nổ ầm ầm trên khắp các đại dương. Kết quả là tạo ra sóng thần dọc theo bề mặt, tạo nên cảnh tượng huyên náo dưới lòng đại dương – đó là điều mà các loài động vật biển hoàn toàn quen thuộc.  Các nhà khoa học đã nghiên cứu kỹ lưỡng về cách nhiệt độ tăng lên – cũng như những hoạt động ồn ào như vận chuyển bằng thuyền – sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển như thế nào. “Con người chỉ thực sự quan tâm đến cảnh quan thiên nhiên trong 10 hoặc 15 năm qua”, Ben Halpern, nhà sinh thái học biển tại UC Santa Barbara, người nghiên cứu về những áp lực lên hệ sinh thái đại dương, cho biết. Chẳng hạn, các nhà khoa học hiện đang tìm hiểu về đa dạng sinh học rừng bằng cách lắng nghe sự sống — côn trùng, chim, động vật lưỡng cư — những thứ mà mắt người khó quan sát được. “Và đến gần đây mọi người mới bắt đầu nhận thức được vai trò của không gian âm thanh trong đại dương, nó sẽ kể cho chúng ta nghe câu chuyện về những gì đang xảy ra dưới nước khi con người ngày càng tác động tiêu cực lên đời sống đại dương”, Halpern cho biết thêm.  Vì âm thanh truyền qua nước nhanh hơn và xa hơn so với trong không khí, nên các “vùng lân cận” trong đại dương cũng có diện tích lớn hơn. (Chim có thể giao tiếp với nhau cách hàng trăm feet, nhưng cá voi có thể giao tiếp với nhau dù cách hàng trăm dặm.) Cách âm thanh lan truyền phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và độ mặn của nước. Đó là bởi bản thân âm thanh là sóng áp suất, có tác dụng nén và giải nén các phân tử trong nước. Khi nước ấm hơn, các phân tử rung động nhanh hơn, cho phép sóng âm truyền đi nhanh hơn. Ví dụ, độ mặn cũng có thể thay đổi nếu bạn ở gần một sông băng đang bơm nước ngọt vào biển.  Điều này tạo ra một kiểu phân tầng: Nhiệt độ, độ mặn và áp suất kết hợp theo những cách khác nhau, lần lượt ảnh hưởng đến cách âm thanh truyền đi. “Có thể hình dung nó phân tách như dầu và giấm trước khi bạn hoà trộn thành nước sốt salad. Đại dương được tạo thành từ các lớp khác nhau về độ mặn và nhiệt độ khác nhau”, nhà nghiên cứu sinh âm học Alice Affatati thuộc Đại học Memorial of Newfoundland và Viện Hải dương học và Địa vật lý Ứng dụng Quốc gia của Ý cho biết . Bởi vì các lớp này phân tách, âm thanh có thể phát ra rồi dội lại. “Vì vậy, nếu bạn tưởng tượng một con cá voi như một nguồn phát sóng âm, thì vấn đề quan trọng là con cá voi đang ở đâu. Nếu nó nằm ở dưới lòng biển sâu hơn hoặc ở những khu vực nông hơn, ngay cả khi nó tạo ra những âm thanh giống nhau thì cách thức lan truyền vẫn khác biệt,” cô phân tích.  ​​Affatati và đồng nghiệp của cô, Chiara Scaini, cũng là chuyên gia tại Viện Hải dương học và Địa vật lý Ứng dụng Quốc gia, đã công bố nghiên cứu vào tháng trước về cách đại dương thay đổi có thể ảnh hưởng đến âm thanh của một loài cụ thể – cá voi trơn Bắc Đại Tây Dương. Họ đã sử dụng một lượng lớn dữ liệu tìm được về các biến số bao gồm nhiệt độ, áp suất và độ mặn – để xác định hai điểm nóng của sự thay đổi, một điểm ở Biển Greenland và một điểm khác ở ngoài khơi Newfoundland. Tại đây, tốc độ trung bình của âm thanh dưới nước có thể tăng hơn 1,5% vào năm 2100. Điều này sẽ khiến tiếng kêu của cá voi lan xa hơn, nhưng không rõ nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cách cá voi giao tiếp.  Hai nhà nghiên cứu hy vọng các nhà khoa học khác sẽ sử dụng cách thức tương tự để khảo sát sự thay đổi không gian âm thanh của các sinh vật biển khác. “Nghiên cứu gợi nên điểm khởi đầu cho các nghiên cứu kế tiếp, chẳng hạn như cách các loài khác nhau phản ứng với những thay đổi giống nhau”, Scaini cho hay. “Chúng tôi chưa rõ về tác động của những thay đổi này đối với sinh vật biển nói chung, bởi vì có rất nhiều biến số liên quan. Đây không phải là thứ mà chúng ta có thể dễ dàng rút ra kết luận nhờ lập mô hình”.  Độ mặn của biển đang giảm đi  Không phải ngẫu nhiên mà Scaini và Affatati xác định Biển Greenland là vùng biển đang có sự thay đổi. Bắc Cực đang ấm lên nhanh gấp 4 lần so với phần còn lại của hành tinh, một phần lớn là do khi băng tan, nó làm lộ ra vùng biển sẫm màu, khiến nơi đây hấp thụ nhiều năng lượng của mặt trời hơn. Theo một bài báo năm 2016, Thái Bình Dương cũng đang gửi một “ống dẫn âm thanh” nông của vùng nước ấm vào Bắc Cực. Nói cách khác: Thái Bình Dương thực chất đang bơm âm thanh vào hệ sinh thái biển Bắc Cực.  Và khi băng ở Bắc Cực tan chảy, nước ngọt từ băng sẽ làm giảm độ mặn của nước biển bên dưới, tác động lên cách lan truyền âm thanh. Hiện tượng tương tự cũng đang xảy ra ở Nam Cực, nơi nước biển ấm lên đang ăn mòn mặt dưới của các sông băng khổng lồ. “Kết quả là chúng ta có một lớp nước dày trên bề mặt – vừa ấm hơn vừa có ít mặn hơn”, Halpern nói. “Về cơ bản, điều đó ngăn chặn âm thanh lan truyền giữa các tầng nước, gây ảnh hưởng đến tất cả những sinh vật sinh tồn và tương tác với nhau thông qua âm thanh trong khu vực”.  Điều này khiến tình trạng ô nhiễm âm thanh trở nên tồi tệ hơn. Những con tàu lớn tạo những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước. Các giàn khoan dầu và cơ sở hạ tầng khác khiến sinh vật sợ hãi. Ngay cả những tiếng ồn trên mặt đất, như tiếng ô tô di chuyển trên cầu, cũng tạo ra âm thanh không mong muốn truyền vào biển cả. “Dưới nước vốn có đủ loại tiếng ồn do con người gây ra. Song ngay cả những âm thanh lan truyền trên mặt nước cũng đã đủ để phá vỡ hoạt động sống của sinh vật,” Halpern nói.  Để hiểu rõ hơn về cách âm thanh thay đổi đang ảnh hưởng đến cá voi xanh như thế nào, các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu thủy cung Vịnh Monterey (MBARI) sử dụng đầu thu sóng dưới nước để theo dõi sự thay đổi của áp suất. “Chúng tôi đang thu thập một núi dữ liệu — 2 terabyte mỗi tháng từ một cảm biến”, nhà hải dương học John Ryan của MBARI cho biết. Từ dữ liệu này, họ không chỉ có thể phân biệt âm thanh của một con tàu với âm thanh của cá voi tại bất kỳ thời điểm nào mà còn tách biệt được hướng phát ra âm thanh. “Sau đó, chúng tôi có thể tìm hiểu về cách các loài động vật khác nhau phản ứng với những thay đổi trong môi trường sống”, ông chia sẻ.  Một trong những đầu thu sóng dưới nước của MBARI ở ngoài khơi California. Dây cáp chạy trở lại bờ biển, cung cấp cho các nhà nghiên cứu bản thu âm thanh đại dương theo thời gian thực. Ảnh: MBARI  Trong hàng núi dữ liệu do đầu thu sóng thu được, Ryan và các đồng nghiệp của anh ấy đang dần nhận ra âm thanh quan trọng như thế nào đối với loài động vật lớn nhất hành tinh. “Chúng ta vẫn biết rằng cá voi xanh tương tác và phát tín hiệu cho nhau bằng âm thanh để tìm ra những nơi kiếm ăn tốt nhất”, Ryan cho biết. “Chúng tôi có thể nghe thấy khi nào cá voi xanh di cư và thời gian di cư của chúng có thể thay đổi từ năm này sang năm khác”. Khi hệ sinh thái có nhiều nguồn lợi, những con cá voi ở lại lâu hơn.  Một khi hiểu rõ hơn về đời sống của chúng, các nhà khoa học có thể đưa ra phương án bảo vệ cá voi tốt hơn. Ví dụ, họ đã đề xuất một hệ thống có tên là Whale Safe, sử dụng một mạng lưới đầu thu sóng dưới nước để cảnh báo các tàu khi có sự hiện diện của cá voi, nhờ đó các con tàu có thể giảm tốc độ di chuyển. Điều này không loại bỏ hoàn toàn các rủi ro mà những con tàu gây ra, nhưng nó giúp động vật có thêm thời gian để thoát ra khỏi đường di chuyển của tàu. “Hiểu được hệ sinh thái di chuyển của chúng, cách thức và thời điểm chúng đối diện với nguy cơ bị tàu đâm — đó là một chiến lược để bảo vệ chúng”, Ryan cho biết.  Không gian âm thanh biến đổi trên quy mô lớn đang làm cho cuộc sống của các loài sinh vật đại dương trở nên phức tạp hơn và điều đó rất quan trọng, vì tiếng ồn cũng là một trong số các tác nhân gây căng thẳng cho sinh vật – những tác nhân khác gồm ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm rác thải nhựa hoặc đánh bắt cá quá mức. Song con người cũng có thể áp dụng những hiểu biết của mình về âm thanh dưới nước để bảo vệ động vật biển tốt hơn. Nếu các nhà khoa học có thể xác định các khu vực đặc biệt nhạy cảm, chúng ta có thể yêu cầu tàu bè di chuyển ra xa khỏi trúng, hoặc ít nhất là khiến các con tàu tàu giảm tốc độ và đi qua một cách yên tĩnh hơn. “Có những nơi ô nhiễm tiếng ồn thực sự là một trong những tác nhân chính gây căng thẳng cho sinh vật biển”, Halpern nhận định. “Và vì vậy, tôi nghĩ việc nghiên cứu những tác động của tiếng ồn đối với sinh vật biển trong lòng đại dương thực sự quan trọng.”  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:  Oceans Aren’t Just Warming—Their Soundscapes Are Transforming  The soundscape of the Anthropocene ocean    Author                .        
__label__tiasang Ấn Độ: Đưa khoa học lên mặt tiền sáng tạo      Trong bài phát biểu về tình hình đầu tư ngân sách năm 2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ Nirmala Sitharaman nhấn mạnh R&D và đổi mới sáng tạo là một trong sáu trụ cột quan trọng. Đi kèm với nó sẽ là những biện pháp đảm bảo tăng cường đầu tư nghiên cứu công và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của đất nước.      Khoa học là trụ cột phát triển  Bà Nirmala Sitharaman cho biết, chính phủ sẽ thành lập một quỹ Khoa học quốc gia (NRF), một tổ chức của chính phủ có nhiệm vụ đầu tư trên một phạm vi lớn, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội nhân văn, với ngân sách 50.000 Rs trong vòng 5 năm. Năm 2019, bà cũng từng loan báo về cơ quan này khi soạn thảo đề xuất “Chính sách giáo dục mới” (NEP) nhằm “đảm bảo cho hệ sinh thái nghiên cứu tập trung vào những lĩnh vực được chính phủ ưu tiên”.  “Thật vững dạ khi thấy khoa học đã được đưa ra mặt tiền của việc phân bổ ngân sách thông qua việc đầu tư 50.000 Rs trong vòng năm năm cho Quỹ Khoa học quốc gia và mở rộng hợp tác với Nhật Bản để chia sẻ hiểu biết và công nghệ”, giáo sư Anju Seth, giám đốc Viện nghiên cứu quản lý Calcutta (IIM Calcutta), chia sẻ niềm vui sau khi nghe bài phát biểu của bà Nirmala Sitharaman.  Quỹ Khoa học quốc gia sẽ góp phần xây dựng năng lực nghiên cứu tại các trường đại học thông qua một cơ chế tư vấn, đặc biệt trở thành điểm xúc tác cho hợp tác nghiên cứu giữa các trường mà cho đến bây giờ vẫn còn khiêm tốn về năng lực với những trường hàng đầu Ấn Độ. Để làm tốt điều này, bản thân Quỹ Khoa học quốc gia sẽ là một tổ chức độc lập và đại diện cho tất cả các cơ quan, tổ chức nghiên cứu và giáo dục, giáo sư Ashutosh Sharma, tổng thư ký Ban KH&CN Ấn Độ, trao đổi với The Hindu. “Nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo không có sự trùng lặp giữa đầu tư cho nghiên cứu giữa Quỹ Khoa học quốc gia và Bộ KH&CN”.  Quan điểm về việc tạo nhiều cơ quan cấp kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và cơ chế làm việc rõ ràng minh bạch cũng được các nhà khoa học Ấn Độ hoan nghênh. Chittenipattu Rajendran, một nhà địa chất tại Viện nghiên cứu Khoa học tiên tiến ở Bangalore, cho biết: “Về nguyên tắc thì việc thành lập một cơ quan độc lập, ít giấy tờ quan liêu là một việc rất tốt. Hệ thống tài trợ cho khoa học hiện nay của chúng ta không như kỳ vọng do hết sức chậm chạp trong việc tài trợ và phân bổ các nguồn kinh phí thực hiện nghiên cứu. Tuy nhiên tôi cho rằng, Quỹ Khoa học cần chú ý đến việc tài trợ cho những nghiên cứu ở mức xuất sắc, nếu không nó sẽ tương tự như những cơ quan quản lý khoa học khác”.  Bên cạnh việc thành lập Quỹ Khoa học quốc gia, bà Nirmala Sitharaman còn thông báo sẽ đầu tư khoảng 40 tỉ rupe cho nhiệm vụ nghiên cứu cấp quốc gia khác về đại dương, bao gồm các dự án nghiên cứu cơ bản, khám phá và bảo tồn đa dạng sinh học.  Việc thúc đẩy khoa học sẽ góp phần làm gia tăng đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… và quan trọng hơn là giúp cho đất nước đạt được những mục tiêu kinh tế bằng sự tự chủ về công nghệ. Cuộc điều tra về kinh tế mới nhất của Ấn Độ cũng cho thấy quốc gia này thúc đẩy đổi mới sáng tạo để đạt được mục tiêu trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.  Giải pháp để đạt được mục tiêu này là gì? Ông Kiran Mazumdar-Shaw, chu tịch hội đồng điều hành Biocon & Biocon Biologics, một trong những công ty dược phẩm hàng đầu Ấn Độ, nhận xét “Tôi tin tưởng khu vực tư nhân sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ở Ấn Độ. Một sự tập trung mạnh hơn vào các hợp tác giữa giới hàn lâm và ngành công nghiệp sẽ là cách thúc đẩy hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo”.  Có vẻ như quan điểm của ông là đúng bởi hiếm có lĩnh vực nào ở Ấn Độ lại phát triển dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và đạt thành công ở tầm quốc tế như dược phẩm. Trong thập niên vừa qua, Ấn Độ là “điểm nóng” phát triển công nghệ sinh học và dược phẩm cũng như phát triển công nghiệp dược, chuyên sản xuất các thuốc liên quan đến cấu trúc và chức năng của gene ở cấp độ phân tử, vaccine, insulin và nhiều liệu pháp sinh học khác. Viện Huyết thanh Ấn Độ, Bharat Biotech, Biological E và một số công ty khác của Ấn Độ chiếm tới 50% năng lực sản xuất vaccine toàn cầu. Trong năm 2019-2020, Ấn Độ thu về 20,6 tỉ USD về dược phẩm.  Đại dịch Covid-19 giúp Ấn Độ đánh giá được năng lực KH&CN của mình. Nó cho thấy, cộng đồng khoa học Ấn Độ cần hợp tác và đưa ra những giải pháp liên ngành cho đời sống và sản xuất, ngay cả trong ngành dược phẩm cũng vậy. Điều tra kinh tế của chính phủ cho thấy ngành dược phẩm cần nắm bắt được những cơ hội mới từ đại dịch và mở rộng chuỗi giá trị sang những xu hướng mới như một thực thể hóa học mới Novel Chemical Entities (NCEs), dạng thuốc mới chứa một tiền chất không hoạt động và chỉ sau khi được giải phóng khỏi thuốc gốc mới có hoạt tính. Và muốn làm được như vậy cần gia tăng thêm các hoạt động hợp tác R&D. Ông Kiran Mazumdar-Shaw cho rằng, chính phủ ngoài việc dành nhiều kinh phí đầu tư cho các dự án hợp tác công nghiệp – hàn lâm, cần đưa ra một số chính sách khác như khấu trừ thuế cho các công ty để họ có thể có động lực rót thêm tiền vào R&D hoặc khuyến khích đăng ký sở hữu trí tuệ.  Đầu tư vào vaccine     Thủ tướng Ấn Độ Shri Narendra Modi (bên phải) lắng nghe CEO Viện Huyết thanh Shri Narendra giới thiệu về tiềm lực của Viện trong chuyến tới thăm vào ngày 28/11/2020. Nguồn: pmindia.gov.in  Bên cạnh những đầu tư dài hạn, Ấn Độ cũng sẽ rót tiền vào đầu tư phát triển vaccine chống Covid-19. Các nhà nghiên cứu ngay lập tức đã đón chào thông tin này và cho rằng, dù hướng đến Covid nhưng năng lực từ đó cũng sẽ góp phần cải thiện phản hồi của quốc gia đối với những dịch bệnh tương lai. Ông Kiran Mazumdar-Shaw cho rằng, bên cạnh việc phát triển vaccine thì cần quan tâm đến cơ sở hạ tầng phục vụ, bao gồm chuỗi thiết bị làm lạnh và nền tảng số để giám sát sự chuẩn bị, “vào cuối năm 2021, chúng ta cần phân bổ nhiều kinh phí cho R&D về vaccine để tiến tới tạo sự miễn dịch cộng đồng với nhiều bệnh do virus gây ra cũng như điều trị những bệnh khác như ung thư, đái tháo đường, tim, ung thư…”  Cam kết đã đem lại 26,7 tỉ rupees (tương đương 365 triệu USD), tăng 5,6 tỉ (27%) so với ngân sách mà ngành y tế nhận được vào năm ngoái. Với gói đầu tư này thì các nhà vi trùng học và an toàn sinh học Ấn Độ là những người “hưởng lợi” nhiều nhất. Chính phủ đã cam kết rót tiền vào bốn viện nghiên cứu quốc gia mới, chín phòng thí nghiệm có độ an toàn sinh học cao mới để nghiên cứu về các mầm bệnh siêu lây nhiễm và một viện nghiên cứu quốc gia khác về “một sức khỏe” (one health) – một cách tiếp cận liên ngành, thu hút nhiều bên tham gia, thực hiện theo từng quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường – để liên kết nghiên cứu và giám sát sự lây nhiễm.  Với sự đầu tư mới này, các viện nghiên cứu vi trùng học sẽ được thúc đẩy năng lực nghiên cứu về các mầm bệnh trên khắp quốc gia. Ấn Độ hiện mới chỉ có duy nhất một viện nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đào tạo và nghiên cứu về vi trùng là Viện Vi trùng học quốc gia (NIV) ở Pune. “Hiện tại, có quá nhiều phụ thuộc vào một viện nghiên cứu nên dễ dẫn đến những chậm trễ trong nghiên cứu,” Anant Bhan, một nhà nghiên cứu về sức khỏe toàn cầu tại trường đại học Yenepoya, Mangalore, nhận xét.  Trong những ngày đầu đại dịch, NIV là phòng thí nghiệm duy nhất có quyền xác nhận các ca dương tính với SARS-CoV-2. Do đó, các mẫu từ những ca lây nhiễm ban đầu, bao gồm ba mẫu bị nghi ngờ từ ba sinh viên ở bang miền nam Kerala trở về từ Vũ Hán, đã được vận chuyển khắp đất nước để tới Pune. Vì vậy những trung tâm mới “có thể dẫn đến khả năng phản hồi nhanh qua việc vận chuyển mẫu, nhận diện một dịch bệnh”, Bhan nói thêm.  Một nhà vi trùng học hàng đầu là Shahid Jameel tại trường đại học Ashoka gần Delhi, cũng hoan nghênh quyết định của chính phủ khi tập trung cho một nơi triển khai công việc theo khái niệm “một sức khỏe” để hợp tác nghiên cứu về sức khỏe con người và động vật nhằm giải quyết vấn đề bệnh truyền nhiễm. Trong vài năm trở lại đây, ở Ấn Độ đã xảy ra những dịch bệnh do virus từ động vật lây nhiễm lên người, nhiều loại liên quan trực tiếp đến tác của con người vào môi trường tự nhiên và làm suy thoái rừng. Riêng năm 2020, nhiều bang đã phải hứng chịu dịch cúm gia cầm và các bệnh sốt xuất huyết, sốt chikungunya và sốt rét đều do muỗi gây ra. Tuy nhiên chính quyền nhiều bang đã bỏ qua việc nghiên cứu và chính sách quản lý gia súc vật nuôi, các bệnh truyền nhiễm, y tế công cộng cũng như sự suy thoái rừng, biến đổi khí hậu. Do đó, thành công của cách tiếp cận “một sức khỏe” sẽ còn phụ thuộc vào cách các bang điều phối nỗ lực và nguồn lực của mình tốt như thế nào trong thời gian tới.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.thehindu.com/business/budget/union-budget-2021-50000-crore-for-national-research-foundation/article33720164.ece  https://www.fortuneindia.com/the-covid-19-budget-2021/budget-2021-will-give-impetus-to-research-innovation/105143  https://www.indiatoday.in/diu/story/budget-2021-cuts-spending-in-health-research-but-extends-lion-s-share-to-icmr-1765269-2021-02-02    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn độ: Giá một chiếc điện thoại thông minh là 3 Euro      Ở Ấn Độ có bán loại Smartphone với giá 3 Euro, rẻ hơn giá một vé xem phim. Tuy nhiên liệu người dân ở đất nước mới nổi này có thích thú với mức giá rẻ như bèo này hay không?    Cậu bé đánh giầy ở New Delhi với chiếc Smartphone  Ở Ấn Độ, thị trường smartphone phát triển vào loại nhanh nhất thế giới, chịu trách nhiệm cho sự bùng nổ này là những người như chú bé đánh giầy Amli ở New Delhi. Hàng ngày cậu ta hì hụi làm việc mỗi khi vắng khách cậu ta bấm nhoay nhoáy trên màn hình chiếc Android-Smartphones của mình. Thu nhập của cậu mỗi tháng chỉ khoảng trên 100 Euro.  Nhiều khi Amli cho các bạn khác mượn chiếc smartphone của mình vì không phải cậu bé đánh giầy nào cũng có thể mua nổi một chiếc Mini-Computer như thế này. Đây chính là điều mà chính phủ Ấn Độ đang muốn thay đổi. “Tôi mơ ước về một nước Ấn độ kỹ thuật số”, thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi  đã tuyên bố cách đây ít tháng. Ông muốn 1,3 triệu dân đất nước mới nổi này được kết nối với nhau để họ có thể tiếp cận được các nguồn thông tin và làm ăn thuận lợi, tốt đẹp hơn.  Nhờ sự can thiệp của chính phủ Ấn Độ, hiện nay ở nước này đã xuất hiện một loại smartphone mới có tên Freedom 251 với giá rất rẻ, có lẽ thuộc loại rẻ nhất thế giới. Nhờ nhà nước bơm tiền nên hãng  Ringing Bells của Ấn Độ có thể chào bán smartphone với giá khoảng  3,28 Euro. Theo ước tính của các nhà phân tích thì giá thành sản xuất của loại smartphone này khoảng  20 Euro.  Tuy nhiên, chưa có gì chắc chắn để nói sản phẩm mới này là một sự thành công. Thậm chí cái nhãn “sản phẩm rẻ tiền” có thể trở thành rào cản đối với sự tiêu thụ sản phẩm. Năm  2009  khi xuất hiện loại ô tô rẻ tiền mang tên Tata Nano, nhiều người tưởng rằng sản phẩm này sẽ bán chạy như tôm tươi và trên các tuyến đường ở Ấn Độ sẽ tràn ngập loại ô tô này. Nhưng sự việc lại không diễn ra như vậy: loại ô tô tí hon này đã bị chết yểu vì tầng lớp trung lưu tuy muốn tiết kiệm tiền mua ô tô nhưng lại không muốn mình bị gắn mác dùng sản phẩm “rẻ tiền”.  Mới đây, chiếc máy tính bảng mới của Ấn Độ mang tên Aakash với sự tài trợ của nhà nước được bán với giá 30 Euro cho đối tượng chính là học sinh, sinh viên cũng không được giới này hâm mộ.  Nhiều máy không thể bật nổi, có cái bị quá nóng hoặc bị treo. Liệu thiết bị mới Freedom 251 có khuấy động được thị trường hay không, còn phải chờ xem.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Ấn Độ: nhà nông trông chờ ở startup công nghệ      Những con số đọc mà thấy nản lòng: ở Ấn Độ, 190,7 triệu người bị đói mỗi ngày trên tổng số dân 1,3 tỷ; năng suất cây trồng thấp hơn ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc.      Nông dân Ấn Độ bón phân trên một cánh đồng.  Liên hiệp quốc dự báo sẽ có 1,7 tỷ người cần cứu đói vào năm 2050. Tờ Forbes đã phải giựt một cái tựa cay đắng: “Nông dân Ấn Độ chỉ còn biết trông chờ vào các startup, chớ không phải chính phủ”.  Một thách thức trong thập kỷ gần đây trong nông nghiệp Ấn Độ: thiếu các nguồn vốn và tiếp tục bị chính phủ lơ là, và dường như điều đó càng khó khăn hơn trong vài thập kỷ tới khi mà các mô hình thời tiết, nước tưới thiếu thốn và các vụ mùa canh tác phải thay đổi nhiều hơn. Biến đổi khí hậu đã góp phần vào nạn tự sát của gần 60.000 nông dân Ấn Độ suốt ba thập kỷ qua.  Thời của startup nông nghiệp  Trước nghịch cảnh đó, công nghệ đang ngày càng được xem như là một giải pháp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Ở Ấn Độ, các startup nông-nghệ cao (agtech) đang đưa ra trí tuệ nhân tạo, tầm nhìn máy tính và phân tích không ảnh, giúp cho canh tác hiệu quả hơn và dẫn đến các quyết định tốt hơn đối với việc cải thiện năng suất.  “Trung Quốc có gần 40% đất không sẵn nước và bình quân sở hữu đất thấp hơn Ấn Độ, nhưng năng suất của họ gần gấp đôi Ấn Độ. Có rất nhiều lối thoát để tăng năng suất nông nghiệp ở Ấn Độ dựa trên lựa chọn cây trồng, một gói thực hành và quản lý sâu bệnh”, Tauseef Khan, đồng sáng lập viên Gramophone, nói. “Cung cấp đầu vào cho nông dân trong chu kỳ suốt vụ mùa, trong đó có quản lý cây trồng và đất trồng cùng với việc nắm bắt giá cả tốt hơn, dẫn đến kết quả đáng ghi nhận”, Khan nói. Startup của ông khẳng định đã tiếp cận hơn 50.000 nông dân ở bang Madhya Pradesh vùng Trung Ấn, tăng năng suất tỏi lên 40%.  Một công nghệ chuyển đổi mới đầy tiềm năng được phát triển bởi một startup khác, đã tích hợp dịch vụ cảm biến từ xa, học-máy (1) và điện toán đám mây, cho thấy việc đổi mới sáng tạo thường đến từ các giải pháp được phát triển từ các lĩnh vực khác như thế nào.  “Chúng tôi nghiên cứu cải thiện tính hiệu quả của các công cụ tài chính nông nghiệp bằng đổi mới sáng tạo, dựa trên công nghệ big data từ vệ tinh để cung cấp việc giám sát cây trồng thường xuyên cả những khu vực rộng lớn, hầu can thiệp kịp thời và nâng cao năng suất”, Abhishek Raju, đồng sáng lập viên SatSure, nói. Hệ thống này nhắm tới một xu hướng các nông trại lớn áp dụng công nghệ lãi suất biến động, để thay đổi giống, tưới nước, bón phân và sử dụng thuốc trừ sâu, theo thông tin được tập trung bởi một loạt các bộ cảm biến để tăng năng suất và cắt giảm chi phí.  Trong khi đó, internet đang được cải thiện ở vùng nông thôn Ấn Độ. Vào năm 2020, khoảng 315 triệu người sống ở nông thôn sẽ được nối kết. “Nhờ internet, vào năm 2020, việc tiếp cận các thực hành khoa học sẽ trở nên dễ dàng hơn, các nền tảng tư vấn sẽ tiến hoá thành các giải pháp quản lý trang trại thông minh mà đại chúng tiếp nhận được bằng tiếng địa phương”, Khan nói.  Liên kết  Trong khi các startup năng động đang làm những công việc thông minh với công nghệ, nông dân lại là những kẻ thủ cựu nhất. “Thuyết phục nông dân áp dụng công nghệ để canh tác thật khó lòng,” Suvankar Mishra, đồng sáng lập viên eKutir, một doanh nghiệp xã hội cung cấp các giải pháp canh tác dựa trên công nghệ cho các tiểu nông, nói.  “Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi liên kết các bên liên quan trong chuỗi giá trị, cho phép họ tương tác và giao dịch, tăng vốn xã hội và kinh tế cho các tiểu nông”, Mishra nói thêm. “Ấn Độ có 120 triệu nông dân, trong số đó có 30 triệu xài smartphone và có một ý thức nền tảng để am hiểu các thị trường số”.  Để giúp cho nông dân hiểu giá trị khi nắm trong tay dữ liệu về thời tiết và nông học, Mishra nói, eKutir huấn luyện những người có smartphone và nối kết họ với nền tảng số của hãng được thiết kế để hoạt động trong những khu vực kết nối bị hạn chế. “Trong một số dự án thí điểm, chúng tôi đã nâng thu nhập của nông dân lên 200% và nâng năng suất lên 170%,” ông nói.  Đ.Kính     (1) Machine learning là một phương pháp phân tích dữ liệu sau đó sẽ tự động hoá việc xây dựng mô hình phân tích.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ sẽ đưa người lên vũ trụ vào năm 2020      Được Thủ tướng Narendra Modi thông báo vào ngày 15/8 vừa qua, nhiệm vụ đưa người lên vũ trụ vào năm 2020 và khoảng thời gian ngắn để thực hiện nhiệm vụ đó đã làm nhiều người, trong đó có cả người đứng đầu cơ quan vũ trụ Ấn Độ, ngạc nhiên.      “Đây thực sự là điều bất ngờ với chúng tôi,” Kailasavadivoo Sivan – chủ tịch Tổ chức nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO), nói. Dẫu các nhà khoa học vũ trụ Ấn Độ đã thảo luận về việc đưa người ra khỏi quỹ đạo Trái đất hơn một thập kỷ qua nhưng cho đến tận bây giờ, ý tưởng này vẫn chưa nhận được sự ủng hộ đáng kể nào của chính phủ.  Sau thông báo của Thủ tướng Modi, Sivan nói, với sự hỗ trợ của nhiều quốc gia khác, ISRO có thể hoàn thành được nhiệm vụ này. Chính phủ dự kiến toàn bộ chương trình có thể cần khoảng 100 tỷ rupe (tương đương 1,4 tỷ USD).  “Khoảng thời gian ngắn từ nay đến năm 2020 chỉ đủ cho việc tiến hành chương trình rất cơ bản”, John Logsdon – một chuyên gia về chính sách khoa học không gian tại trường đại học George Washington, nhận xét. Nếu thành công, Ấn Độ có thể trở thành quốc gia thứ 4 thế giới đủ khả năng phóng tàu vũ trụ do chính mình thiết kế chế tạo, sau Mỹ, Nga và Trung Quốc.  Một số nhà quan sát cho rằng Ấn Độ cũng còn nhiều việc ở phía trước và có thể phải nỗ lực nhiều để kịp mốc thời gian này. Một số người khác chỉ trích Chính phủ Ấn Độ thông báo về một chương trình vũ trụ mà không có ISRO cố vấn. “Thật lạ khi thấy thông báo của ông Modi như một diễn văn chuẩn bị cho cuộc bầu cử 2019 hơn là vạch đường đi cho chương trình vũ trụ Ấn Độ,” Gauhar Raza – một nhà nghiên cứu và cựu giám đốc Hội đồng Khoa học và nghiên cứu công nghiệp ở New Delhi, nhận xét.  Sivan nói, ISRO đã có trong tay nhiều cấu phần chính cần thiết cho một tàu vũ trụ, bao gồm một mô đun mang các phi hành gia và một hệ thống thoát hiểm cho phi hành đoàn, sẽ được sử dụng trong trường hợp gặp sự cố khi phóng. ISRO đã phát triển và thử nghiệm thành công một thiết bị vũ trụ con thoi tái sử dụng có thể vận chuyển phi hành đoàn và quay trở lại Trái đất. Tên lửa GSLV Mark III của cơ quan này thiết kế và chế tạo có thể sẽ được dùng để phóng tàu.  ISRO sẽ nâng cấp một số công nghệ của tên lửa và thử nghiệm tất cả các nhiệm vụ chức năng của nó, Ajey Lele – một nhà nghiên cứu tại Viện Phân tích và Nghiên cứu quân sự, một think tank do chính phủ tài trợ ở New Dehli, cho biết. Chẳng hạn, vốn được thiết kế chỉ để phóng vệ tinh – thiết bị nhẹ hơn so với tàu vũ trụ, nên tên lửa GSLV Mark III cần được nâng cấp để đủ khả năng phóng được tàu vũ trụ. Và dẫu ISRO đã phát triển các công nghệ hỗ trợ con người hoạt động trong vũ trụ, như bộ trang phục dành cho các phi hành gia, hệ thống hỗ trợ cuộc sống và kiểm soát môi trường, nhưng không có kinh nghiệm trong việc giữ sức khỏe cho các phi hành gia khi họ ở trong vũ trụ hoặc đưa họ trở lại trái đất an toàn.  Theo Sivan, ISRO sẽ cần sự hỗ trợ của nhiều viện nghiên cứu khác – như Viện nghiên cứu y học không gian vũ trụ tại Bangalore – và của các quốc gia giàu kinh nghiệm để phát triển thêm một số năng lực của họ. “Chúng tôi cần hợp tác với một số quốc gia để có thể giảm bớt thời gian thực hiện và tiết kiệm tiền bạc”, ông nói. Để huấn luyện các phi hành gia, Ấn Độ sẽ phải cần tới các cơ sở của Mỹ, Nga và châu Âu, Gopalan Madhavan Nair – người từng giữ chức chủ tịch ISRO từ năm 2003 đến 2009.  Logsdon cho rằng, Ấn Độ có thể mua công nghệ từ các công ty thương mại song song với việc tự phát triển các công nghệ tương đương. Tuy nhiên ông cũng cảnh báo là điều đó sẽ rất tốt kém. “Việc con người bay vào không gian với nhiều rủi ro không thể không tốn kém”, ông nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-018-06146-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ: Thị trường mới nổi để đầu tư mạo hiểm      Theo số liệu của công ty nghiên cứu tài chính VCCEdge (công ty cung cấp nền tảng và công cụ phân tích tài chính cho các công ty đầu tư hàng đầu Ấn Độ – ND),  khối lượng đầu tư mạo hiểm vào Ấn Độ trong 9 tháng đầu năm 2015 đã đạt  mức cao kỷ lục là 4,6 tỉ USD, tăng đáng kể so với con số 2,4 tỉ USD của  cả năm 2014.      Sau khi chứng minh được rằng hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Ấn Độ sẽ tiếp tục phát triển, Nexus Venture Partners đã huy động được một ngân sách mới hơn 450 triệu USD để hỗ trợ các doanh nhân sáng tạo khởi nghiệp trên thị trường Ấn Độ và quốc tế. Trong khi đó, Sequoia Capital India cũng đang bắt tay vào huy động nguồn ngân sách thứ năm sau khoản ngân sách đồ sộ 530 triệu USD năm ngoái. Đây là hai hãng đầu tư mạo hiểm tại Thung lũng Silicon đi đầu trong việc tài trợ cho các startup công nghệ ở Ấn Độ.  Theo số liệu của công ty nghiên cứu tài chính VCCEdge, khối lượng đầu tư mạo hiểm vào Ấn Độ trong 9 tháng đầu năm 2015 đã đạt mức cao kỷ lục là 4,6 tỉ USD, tăng đáng kể so với con số 2,4 tỉ USD của cả năm 2014. Tuy nhiên, vấn đề mà các nhà đầu tư mạo hiểm gặp phải ở đây là các cuộc đầu tư của họ thường thiếu đường thoái vốn hơn so với Trung Quốc, một thị trường đầu tư mạo hiểm lớn khác tại châu Á. Tương tự như Trung Quốc trong thời gian gần đây, đa phần các dự án đầu tư của họ đều kết thúc bằng các cuộc mua lại hoặc sáp nhập chứ không phải là các đợt IPO (chào bán cổ phần ra công chúng).  Nexus đã tham gia đầu tư tại Ấn Độ kể từ năm 2006. Tính tới nay họ đã đỡ đầu cho 60 công ty hoạt động trong các lĩnh vực hàng tiêu dùng và doanh nghiệp, công nghệ spanning, internet, các dịch vụ tiêu dùng và doanh nghiệp. Khoản đầu tư trị giá 450 triệu USD cho website bán lẻ trực tuyến Snapdeal là một trong những giao dịch nổi tiếng nhất của Nexus tại thị trường Ấn Độ.  Vòng huy động vốn lần thứ tư này là vòng huy động lớn nhất của Nexus, nâng tổng vốn điều lệ lên tới trên 1 tỉ USD. Khối lượng các vòng huy động trước đó là 100 triệu USD năm 2007, 220 triệu USD năm 2008, và 270 triệu USD năm 2012.  Phần lớn các nhà đầu tư tham gia vào vòng huy động lần này là các nhà đầu tư kiếm lãi và các nhà đầu tư lâu năm của Nexus đến từ Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á.  Thu Trang dịch  http://www.forbes.com/sites/rebeccafannin/2015/12/14/nexus-sequoia-aim-larger-funds-to-invest-in-indias-booming-startup-market/         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ trên đường trở thành siêu cường      Với dân số bằng gần 1/5 dân số thế giới, hiện Ấn Độ làm ra 2% tổng thu nhập toàn cầu, trong khi người châu Âu chiếm 8% dân số thế giới làm ra 31% và người Mỹ chiếm 5% thậm chí đã làm ra 28% tổng sản phẩm thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ này sẽ thay đổi nhanh chóng. Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế thì trong vòng 15 năm tới, Ấn Độ sẽ vượt cả Nhật Bản cũng như Đức.    Trong bóng của cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc trên thế giới, tạp chí kinh tế “Forbes” của Mỹ mới đây đã công bố các đại gia từng “siêu giàu” là Warren Buffet và Philanthrop đã giành lại danh hiệu tỷ phú hàng đầu thế giới, sau 13 năm Bill Gates, người sáng lập Hãng Microsoft, nắm giữ vị trí này với tài sản 40 tỷ Euro. Nhưng điều ngạc nhiên thực sự là sự góp mặt của các đại diện một quốc gia kinh tế đang phát triển trong hàng ngũ tỷ phú thế giới: Lần đầu tiên có 4 đại gia Ấn Độ trong số 10 nhân vật giàu nhất hành tinh. Xếp hàng thứ tư là Lakshmi Mittal ngành thép và tiếp theo là hai anh em Mukkesh và Anil Ambani chủ hãng hóa dầu Reliance; đứng thứ 8 là Kusshal Pal Singh chủ hãng kinh doanh bất động sản thành đạt nhất thế giới.  Việc 4 người Ấn Độ có mặt trong câu lạc bộ những người giàu nhất thế giới là điều trước nay chưa có và nó nói lên một điều rằng Ấn Độ đã trưởng thành nhanh chóng và có sức nặng kinh tế và chính trị trong các cuộc chơi toàn cầu. Chuyên gia kinh tế quốc tế cho rằng quá trình phát triển nhảy vọt của Tiểu lục địa này, mà đến giữa thế kỷ 21 sẽ trở thành một cường quốc thế giới bên cạnh Mỹ và Trung Quốc, có thể so sánh với bước tiến bộ nhảy vọt về công nghiệp của Đế chế Đức cuối thế kỷ 19, trong thời kỳ mà Anh Quốc được coi là cường quốc kinh tế hàng đầu ở châu Âu và kiểm soát thị trường thế giới về kỹ thuật điện, luyện thép và công nghiệp hóa học. Không chỉ báo chí mà cả các nhà phân tích đều thừa nhận Ấn Độ có tiềm năng trở thành siêu cường thế giới. Người Ấn Độ sẽ vươn lên bất chấp phần còn lại của loài người có muốn điều đó hay không.                Cuộc cải cách tận gốc nền kinh tế thị trường được mở ra từ những năm 1990 của thế kỷ trước đã giúp Ấn Độ tái hòa nhập vào thị trường thế giới. Ba chục năm trước, nước Ấn Độ khổng lồ bị trói buộc vào dây xích được gọi là “tỷ lệ tăng trưởng Hindu” chỉ với 3,5% hằng năm. Song ba năm qua, tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ đã lớn gấp hơn hai lần, trung bình đạt 9% chủ yếu nhờ động lực nhu cầu nội địa và hiện nay, bất chấp bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm, Ấn Độ vẫn duy trì được mức tăng trưởng 8,7% và như vậy đã vượt cả Hàn Quốc và xếp hạng thứ ba ở châu Á.  Thành tựu kinh tế của người Ấn Độ theo chuẩn mực thế giới chắc chắn đã đạt được mức nào đó. Với dân số bằng gần 1/5 dân số thế giới, hiện Ấn Độ làm ra 2% tổng thu nhập toàn cầu, trong khi người châu Âu chiếm 8% dân số thế giới làm ra 31% và người Mỹ chiếm 5% thậm chí đã làm ra 28% tổng sản phẩm thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ này sẽ thay đổi nhanh chóng. Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế thì trong vòng 15 năm tới, Ấn Độ sẽ vượt cả Nhật Bản cũng như Đức.  Sự phát triển của Ấn Độ rất đáng kinh ngạc, vì mới đây thôi, Ấn Độ còn là một “ngôi nhà nghèo” của thế giới với số dân rất lớn không biết chữ. 1/3 người lớn và hơn 50% phụ nữ không biết đọc, biết viết, nhưng đồng thời Ấn Độ lại có nguồn lực kỹ sư, nhà khoa học và chuyên gia tin học lớn thứ hai vào Mỹ làm việc. Người Ấn Độ đứng đầu về công nghệ tin học, trước hết với các phòng thí nghiệm ở Bangalore, thung lũng Silicon của châu Á. Không ở đâu, ngay cả California cũng không có nhiều chuyên gia và kỹ sư công nghệ tin học làm việc như ở Bangalore. Sự phát triển bùng nổ về công nghệ tin học từ lâu đã không còn hạn chế ở Bangalore hoặc ở những trung tâm khác như ở Hyderabad, Niu Đêli và Mumbai, mà đã có bước mở rộng đáng kể tới nhiều khu vực, nó như các vòi của con bạch tuộc vươn ra khắp cả nước. Tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ tin học Ấn Độ đã trở thành một hiện tượng đến nỗi Bill Gates phải dự đoán và thừa nhận trong vòng 10 năm nữa Hãng Microsoft của ông sẽ phải phụ thuộc vào lực lượng chuyên gia của Ấn Độ. Bill Gates hiện đã đầu tư 1,7 tỷ USD ở Ấn Độ để xây dựng 4 trung tâm phát triển và phòng thí nghiệm lớn nhất của ông nằm ngoài nước Mỹ sẽ là ở Hyderabad.  Bước tiếp theo của Ấn Độ trong chiến dịch ứng dụng công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế là việc thành lập các trung tâm nghiên cứu mới trong lĩnh vực công nghệ gene và sinh học. Ấn Độ theo đuổi mục tiêu trở thành siêu cường trong lĩnh vực này, trong đó Ấn Độ muốn trở thành một đối thủ cạnh tranh thực sự với phương Tây trong quá trình toàn cầu hóa về đổi mới, cách tân và sáng tạo. Tuy nhiên, trong lĩnh vực phát minh khoa học và kỹ thuật, số bằng phát minh hằng năm ở Ấn Độ còn thua xa mức của thế giới. Phần lớn các giải thưởng Nobel đều rơi vào tay các nhà nghiên cứu của Mỹ. Nhưng Ấn Độ có 380 trường đại học và 1.500 viện nghiên cứu hằng năm đào tạo 500.000 kỹ sư, chuyên gia tin học và kỹ thuật viên, nhiều hơn Mỹ. Đây là một “biển tài năng” rất lớn của thế giới và đến lúc nào đó Ấn Độ sẽ có vụ thu những trái ngọt đổi mới. Trong lĩnh vực dược phẩm, Ấn Độ hiện đã có những hãng sản xuất lớn như Ranbaxy, Wockhardt, hoặc Dr. Reddy’s và không lâu nữa sẽ dẫn đầu thế giới, đặc biệt trong đó có thuộc chống căn bệnh thế kỷ AIDS. Rồi trong y học, các ca phẫu thuật tim, cấy ghép xương hông nhân tạo và giá chỉ bằng 1/5 so với giá ở châu Âu. Cuối cùng là vũ trang và nghiên cứu vũ trụ. Thế giới đã biết rằng cường quốc hạt nhân Ấn Độ đã phóng tên lửa và vệ tinh lên vũ trụ và trong thời gian sớm nhất sẽ đưa người máy lên mặt trăng.  Cho đến gần đây, khi Ấn Độ còn trong quá trình bắt nhịp với toàn cầu hóa và đã phải chấp nhận sự phân công lao động quốc tế thì Trung Quốc đã trở thành “công xưởng sản xuất của thế giới” và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp đại trà. Ngược lại, Ấn Độ dường như vẫn say mê theo đuổi các phòng thí nghiệm phát triển và các “nhà máy trí tuệ” của thế giới, nghĩa là cung cấp phần mềm. Tuy nhiên, thành công của Ấn Độ trong dịch vụ công nghệ thông tin là rất xuất sắc, nhưng Ấn Độ không thể hóa phép để có thể tạo được khối lượng việc làm lớn cho những người không có trình độ, vì tới năm 2010 Ấn Độ cần tạo ra 60 triệu việc làm mới. Điều đó chỉ có thể khắc phục được khi kết hợp lĩnh vực công nghiệp xuất khẩu hiện đại với lĩnh vực công nghiệp truyền thống, nghĩa là người Ấn Độ phải tăng cường xây dựng các khu công nghiệp và các đặc khu kinh tế và mở rộng việc mua lại các công ty ở phương Tây. Cách đây vài năm, không ai có thể hình dung được chủ hãng thép “Stahlbaron” lớn nhất thế giới lại là một người Ấn Độ với cái tên Lakshmi Mittal hoặc việc Ấn Độ thu về được báu vật của Anh là hãng sản xuất xe hơi Jaguar và Rover liên doanh với hãng chế tạo xe hơi Rotan Tata của Ấn Độ hoặc là nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới ngày nay ở phía Tây Bắc Ấn Độ do Tập đoàn Mukesh Ambani xây dựng.  Các khách sạn sang trọng ở thủ đô luôn được đặt kín chỗ, chủ yếu là khách nội địa. Một chai rượu giá bằng thu nhập cả một năm của người dân thường. Các trung tâm đông người mua sắm nhộn nhịp. Tầng lớp trung lưu của Ấn Độ hiện tăng nhanh lên khoảng 250 triệu người. Song mặt trái của quá trình phát triển bùng nổ là vòng xoáy nghèo đói đáng sợ của nhiều người dân. Vẫn có 70% người lao động sống nhờ vào nông nghiệp với điều kiện canh tác tồi tệ, thiếu hệ thống thủy lợi tưới tiêu, chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, thiên tai. Tuy nhiên, từ khi thực hiện chính sách cải cách, một số chỉ tiêu xã hội đã được cải thiện tốt hơn, nhưng sau những biến đổi chính thức đó vẫn còn 26% dân Ấn Độ, tức hơn 300 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, với thu nhập chưa đầy 1USD/ngày. Những người bi quan trong giới chuyên gia kinh tế dự đoán thực tế có tới ¾ dân chúng hằng ngày phải sống với mức chưa đầy 20 Rupi, nghĩa là chỉ bằng 50 xu USD, “thấp không thể hình dung nổi”.  Ấn Độ có 6 tôn giáo lớn và vô số giáo phải trong một Nhà nước liên bang và Hindu là đạo giáo lớn nhất với 3.600 giáo phái và các nhóm khác nhau. 13% dân chúng thừa nhận học thuyết của đấng tiên tri. Ấn Độ cũng là nước có tín đồ Hồi giáo lớn nhất, lớn hơn ở Pakistan và chỉ đứng sau Indonesia với 160 triệu, đông nhất thế giới. Hiến pháp Ấn Độ công nhận 18 ngôn ngữ chính, ngoài ra còn 1.600 thổ ngữ.  Về mặt chính trị, Ấn Độ ngày nay được nhiều nước quan tâm chú ý. Tháng 3/2006, Hạ viện nước này đã quyết định đường lối phấn đấu đưa Ấn Độ trở thành một dân tộc lớn thứ hai trên thế giới. Trong bước ngoặt lịch sử đáng ngạc nhiên này, Tổng thống Mỹ Bush đã thông báo muốn giúp Ấn Độ trở thành “cường quốc thế giới”. Cái giá cho liên minh mới này là Hiệp định hạt nhân giữa Mỹ và Ấn Độ, giải phóng chế độ kiểm soát hạt nhân đối với Ấn Độ và trong trường hợp đặc biệt sẽ thừa nhận Ấn Độ là cường quốc hạt nhân chính thức.  Tuy nhiên, Ấn Độ còn phải cần ít nhất 2 thập kỷ nữa và phải thường xuyên đạt tỷ lệ tăng trưởng liên tục hơn 8%/năm thì mới có thể có được tiêu chuẩn của cường quốc. Mặt khác, trong quá trình phát triển, Ấn Độ cũng sẽ phải chịu những mặt trái của nó, những tác động kìm hãm sự phát triển, đó là khủng hoảng kinh tế thế giới chẳng hạn, rồi các vấn đề căng thẳng xã hội trong nước, thiên tai, dịch bệnh, các cuộc xung đột đẫm máu mới và kéo dài giữa đạo Hồi và đạo Hindu hoặc thay đổi Chính phủ, thể chế lãnh đạo… Thật khó khăn và không đơn giản chút nào để vực một “con voi” đứng dậy và cho nó vận động  “Báo Quốc hội” (Đức) số tháng 5/2008      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ và Brazil: bài học về cái giá mà con người phải trả nếu phớt lờ khoa học      Chính phủ hai nước này đã phớt lờ hoặc trì hoãn đưa ra hành động dựa trên lời khuyên của các nhà khoa học, điều này đồng nghĩa với việc họ đã bỏ lỡ cơ hội quan trọng để kiểm soát đại dịch.      Một trung tâm chăm sóc Covid-19 ở New Delhi. Ấn Độ đã ghi nhận 400.000 ca mắc và hơn 3.500 ca tử vong mỗi ngày do Covid-19. Ảnh: Imtiyaz Khan/Anadolu Agency/Getty     Tuần trước, tổng số ca tử vong vì Covid-19 của Brazil đã lên đến 400.000 người. Tại Ấn Độ, đại dịch đang cướp đi sinh mạng của khoảng 3.500 người mỗi ngày, kéo theo đó là sự hỗ trợ của toàn thế giới – với việc cung cấp oxy, máy thở, giường chăm sóc đặc biệt v.v.. Mặc dù hai quốc gia này cách nhau hàng ngàn dặm, nhưng cuộc khủng hoảng mà cả hai đang đối mặt đều là kết quả của sự thất bại trong quản lý: các nhà lãnh đạo của họ hoặc thất bại, hoặc trì hoãn hành động theo tư vấn của các nhà nghiên cứu. Điều này đã góp phần ra gây ra những tổn thất khủng khiếp về người.         Người chịu trách nhiệm lớn nhất cho thất bại của Brazil chính là tổng thống của nước này, Jair Bolsonaro. Ông đã liên tục gọi Covid-19 là “bệnh cúm nhỏ” và từ chối tuân theo lời khuyên của các nhà khoa học về việc đưa ra các chính sách cần thiết như bắt buộc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội.      Giới chức Ấn Độ đã không hành động dứt khoát vào những lúc cần thiết. Chẳng hạn, họ đã cho phép – và trong một số trường hợp, khuyến khích – tụ tập đông người. Tình huống như vậy không mới. Chúng ta đã từng chứng kiến nó vào thời điểm cựu tổng thống Mỹ Donald Trump còn tại vị, chính quyền của vị cựu tổng thống này đã phớt lờ các bằng chứng về tầm quan trọng của giãn cách xã hội trong cuộc chiến chống Covid-19, để rồi nước này đã ghi nhận hơn 570.000 ca tử vong vì căn bệnh này.     Như Nature đã từng viết, các nhà lãnh đạo của Ấn Độ đã chủ quan sau khi các ca mắc Covid-19 mỗi ngày đạt đỉnh vào tháng 9 với 96.000 ca mắc và rồi giảm dần – xuống còn khoảng 12.000 vào đầu tháng 3. Thời điểm đó, các doanh nghiệp đã mở cửa trở lại. Người dân tụ tập, thậm chí là tham gia các cuộc biểu tình phản đối luật nông nghiệp mới – hàng nghìn nông dân đã tập trung gần biên giới New Delhi. Những cuộc biểu tình bầu cử và tụ tập để sinh hoạt tôn giáo tiếp tục diễn ra trong tháng Ba và tháng Tư.       Khó khăn về dữ liệu     Đó không phải là khó khăn duy nhất mà Ấn Độ phải đối mặt. Ngoài ra, các nhà khoa học không dễ dàng truy cập dữ liệu để nghiên cứu về Covid-19. Điều này cản trở họ cung cấp các dự đoán chính xác, cũng như đưa ra lời khuyên dựa trên bằng chứng đáng tin cậy cho chính phủ. Ngay cả khi không có dữ liệu cần thiết, vào tháng 9 năm ngoái, họ đã cảnh báo chính phủ nên thận trọng với việc nới lỏng các hạn chế liên quan đến Covid-19. Và cuối tháng Tư, họ tiếp tục cảnh báo rằng làn sóng dịch thứ hai có thể dẫn đến 100.000 ca mắc mỗi ngày.      Và rồi, vào ngày 29 tháng 4, hơn 700 nhà khoa học đã viết thư cho Thủ tướng Narenda Modi, yêu cầu chính quyền hỗ trợ họ trong việc tiếp cận các dữ liệu như kết quả xét nghiệm Covid-19 và kết quả lâm sàng của bệnh nhân trong bệnh viện, cũng như các chương trình giám sát bộ gen quy mô lớn nhằm xác định các biến thể mới. Ngày hôm sau, Krishnaswamy Vijayraghavan – cố vấn khoa học chính của chính phủ nước này – đã thừa nhận những lo ngại này và làm rõ các phương án mà những nhà nghiên cứu độc lập, không thuộc chính phủ, có thể truy cập vào những dữ liệu này. Những nhà khoa học ký tên trong bức thư này tỏ ra hoan nghênh trước động thái này, nhưng họ trao đổi với Nature thêm rằng một số khía cạnh của quyền truy cập dữ liệu thực ra vẫn chưa rõ ràng.      Ngay từ đầu, không cần thiết phải viết một lá thư phản đối. Những người ký vào thư đã mạo hiểm khi để lại danh tính của mình: trong quá khứ, chính phủ Modi đã không có thái độ tốt đối với các nhà nghiên cứu đặt nghi vấn về những chính sách của mình. Hai năm trước, một lá thư bao gồm hơn 100 nhà kinh tế và nhà thống kê kêu gọi chấm dứt can thiệp chính trị vào số liệu thống kê chính thức, đã không được giới chức nước này đón nhận. Bức thư được viết sau khi các quan chức cấp cao thuộc Ủy ban Thống kê Quốc gia của Ấn Độ từ chức sau khi bị cáo buộc đã can thiệp vào thời gian công bố dữ liệu của chính phủ.      Việc cá nhà nghiên cứu mâu thuẫn với chính phủ nước họ không phải là tín hiệu tốt. Điều này có thể dẫn đến thêm nhiều ca tử vong khi đại dịch xảy đến – bởi đó là thời điểm chính phủ cần đưa ra quyết định nhanh chóng, những quyết định dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy. Bằng cách gạt bỏ các nhà khoa học của mình sang một bên, chính phủ Brazil và Ấn Độ đã bỏ lỡ cơ hội quan trọng để giảm thiểu thiệt hại về người.      Trong một đại dịch, tất cả chúng ta đều cần chính phủ của mình sát cánh bên cạnh. Tuy nhiên, thật khó để đưa ra quyết định hợp lý một cách nhanh chóng, nhất là khi thông tin không đầy đủ – đó là lý do vì sao dữ liệu sức khỏe cần phải chính xác và dễ tiếp cận đối với các nhà nghiên cứu lẫn bác sĩ lâm sàng. Từ chối hoặc che giấu dữ liệu chỉ khiến đại dịch kéo dài.      Anh Thư tổng hợp  Nguồn:   https://www.nature.com/articles/d41586-021-01166-w  https://www.nature.com/articles/d41586-021-01031-w          Author                Quản trị        
__label__tiasang An Giang phát triển mô hình trồng nấm công nghệ cao      Với việc thực hiện dự án “Xây dựng mô  hình ứng dụng KHCN sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm ăn, nấm dược liệu  quy mô công nghiệp tại An Giang”, An Giang đang hướng đến phát triển  mạnh mẽ nghề trồng nấm trên địa bàn tỉnh. Đây là dự án nằm trong chương  trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&amp;CN phục vụ phát  triển kinh tế – xã hội nông thôn miền núi giai đoạn 2011 – 2015 do Bộ  KH&amp;CN quản lý.  &#160;    Theo kế hoạch đã duyệt, công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tiến Dũng và KS Dương Hoàng Phi Hùng thực hiện dự án. Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp, Bộ KH&CN) đảm nhiệm chuyển giao 15 công nghệ về xây dựng mô hình sản xuất giống, nuôi trồng, bảo quản và chế biến nấm theo hướng công nghiệp tại tỉnh An Giang.   Mục tiêu mà dự án hướng tới là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống nấm ăn và nấm dược liệu có công suất 50 tấn giống/năm đạt tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo năng suất nấm phù hợp với điều kiện khí hậu ở An Giang để phát triển nghề trồng nấm bền vững ở địa phương; chuyển giao và tiếp nhận 16 qui trình công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng, bảo quản và chế biến nấm; đạt sản lượng nấm tươi 400 tấn nấm tươi/năm, trong đó sản xuất theo mô hình tập trung 300 tấn/năm và sản xuất theo mô hình phân tán 100 tấn/năm; xây dựng hoàn chỉnh 1 cơ sở sản xuất nấm từ khâu nhân giống, nuôi trồng, chế biến để làm mô hình chuẩn cho địa phương. Bên cạnh đó, dự án sẽ còn đào tạo 10 kỹ thuật viên và tổ chức 10 lớp tập huấn kỹ thuật công nghệ cho nông dân.   Sau hai năm triển khai, công tác chuyển giao công nghệ được đánh giá là thực hiện tốt: 15 công nghệ của Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật, trong đó ba quy trình nhân giống gồm 2.000 ống giống cấp 1, 4.000 ống giống nấm cấp 2, 56 tấn giống nấm cấp 3, tám quy trình công nghệ nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu, ba quy trình công nghệ bảo quản nấm tươi, sấy nấm, muối nấm, một quy trình công nghệ xử lý phế thải sau thu hoạch. Các quy trình công nghệ trồng nấm mèo, linh chi, nấm rơm, nấm bào ngư… đều thể hiện độ phù hợp với điều kiện môi trường tự nhiên của An Giang. Một số loại nấm khác như kim châm, ngọc châm, đùi gà, nấm mỡ.. không cho triển vọng nuôi trồng tại địa phương.   Một trong những mục tiêu quan trọng của dự án là xây dựng ba mô hình ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Theo đó, mô hình đầu tiên là sản xuất nấm tập trung theo quy mô công nghiệp các loại nấm thích hợp với kho bãi nhà xưởng và 900m2 nhà lán trồng nấm, sản xuất 344,5 tấn nấm tươi/năm. Hai mô hình tiếp theo là sản xuất nấm phân tán nuôi trồng các loại nấm thích hợp ở địa phương, đạt 90 tấn nấm tươi/năm và chế biến, sơ chế nấm tập trung các loại nấm bào ngư, nấm mèo, nấm linh chi, sản xuất 18 tấn muối và 10 tấn nấm mộc nhĩ, linh chi khô/năm. Cả ba mô hình này đều đảm bảo các tiêu chí kỹ thuật của vấn đề chuyển giao công nghệ. Sản phẩm nấm tươi và nấm sơ chế, chế biến đều đảm bảo tiêu chí về chất lượng.  Trên thực tế, dự án đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề trồng nấm tại An Giang qua 300 lượt người dự tập huấn nắm bắt được kỹ thuật nuôi trồng nấm, trên 10 nông hộ xây dựng mô hình nuôi trồng và sản xuất có lãi. Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì còn huấn luyện được cho trên 30 lượt công nhân lành nghề làm việc tại mô hình sản xuất, nuôi trồng và chế biến tập trung. Dự án đã tạo việc làm ổn định tại mô hình sản xuất, nuôi trồng và chế biến nấm tập trung là 20 người với mức lương từ 3 – 3,5 triệu đồng/tháng, trên 60 lao động thời vụ có thu nhập từ 2,7 – 3 triệu đồng/tháng.   Với sự hỗ trợ về công nghệ, nhiều hộ nông dân trong tỉnh đã đầu tư sản xuất với quy mô lớn, các ngành các cấp đã quan tâm và có nhiều chương trình hỗ trợ phát triển nghề trồng nấm, thị trường tiêu thụ sản phẩm nấm ngày một thuận lợi.  Hiệu quả từ dự án không chỉ đến từ mặt kinh tế. Dự án đã góp phần cải thiện môi trường do tận dụng được nguồn phế phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp như rơm rạ, mùn cưa; góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường. Phế thải từ sản xuất nấm còn được sử dụng để bón cho cây trồng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang An Giang ươm giống thành công loài cá rô biển      Đó là kết quả từ đề tài nghiên cứu “Sản xuất  giống cá rô biển” do Ths Phan Phương Loan, trường ĐH An Giang làm chủ  nhiệm. Sau hai năm nghiên cứu, An Giang đã tạo được con giống để phát  triển nghề nuôi trồng thủy sản và bảo tồn nguồn cá nước ngọt bản địa.  &#160;    Không chỉ có giá trị kinh tế cao, cá rô biển có khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi của môi trường sống, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay ở khu vực ĐBSCL. Trên thực tế, cá rô biển có thể sống trong điều kiện nước lợ, thậm chí là nước ngọt. Tuy nhiên do khai thác quá nhiều, con cá rô biển đang hiếm dần và nếu không tìm cách bảo tồn, nhân giống có khả năng mất đi nguồn lợi thủy sản của các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt là An Giang.   Trong quá trình nghiên cứu, Ths Phan Phương Loan đã tìm ra quy trình sinh sản giống cá rô biển, từ nuôi vỗ, kích thích sinh sản nhân tạo và ương giống. Để thực hiện thành cồng quy trình này, Ths Phan Phương Loan phải nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá, kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá rô biển trong điều kiện nhân tạo từ cá bột lên cá giống.  Kết quả nghiên cứu tại An Giang đã đạt các thông số kỹ thuật đáng chú ý như tỷ lệ thành thục cá bố mẹ đạt trên 50%, tỷ lệ thụ tinh đạt 50-60%; tỷ lệ nở 60-80%; tỷ lệ cá giống đạt 20-30%; kích cỡ cá giống đạt 3-5cm.  Hoàn thành đề tài, kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao cho Trung tâm Giống thủy sản An Giang quy trình kỹ thuật sản xuất con giống, bàn giao 20.000 cá giống, 50kg cá bố mẹ. Trung tâm sẽ đảm trách nhiệm vụ sản xuất cung cấp giống cho người nuôi.  Được biết, trước đây Ths Phan Phương Loan từng nghiên cứu thành công đề tài “Ương giống và nuôi thương phẩm cá chạch lấu”, xây dựng quy trình công nghệ ương giống và nuôi thương phẩm cá chạch lấu, góp phần chủ động sản xuất và cung cấp con giống có chất lượng cho người sản xuất trong các mô hình nuôi (bè và ao đất) và phát triển đa dạng loài nuôi.                                              Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn một con cá trong sông hồ ở Hoa Kỳ bằng cả tháng uống nước nhiễm độc      Một nghiên cứu mới cho thấy, ăn một con cá nước ngọt đánh bắt ở các sông hồ ở Hoa Kỳ tương đương với việc uống nước bị nhiễm “hóa chất vĩnh cửu” độc hại trong một tháng.     Hóa chất vô hình có tên PFAS được phát triển vào những năm 1940 để chống nước và nhiệt. Hiện nay, PFAS đang được ứng dụng trong chảo chống dính, các mặt hàng dệt may, bọt chữa cháy và bao bì thực phẩm.  Tuy nhiên, PFAS không thể phân hủy trong tự nhiên. Như vậy, theo thời gian, các chất ô nhiễm này đã tích tụ trong không khí, đất, hồ, sông, thực phẩm, nước uống, thậm chí là cơ thể chúng ta.    Nghiên cứu mới cảnh báo cá đánh bắt ở sông hồ địa phương có thể là một nguồn chính dẫn đến phơi nhiễm PFAS ở Hoa Kỳ. Nguồn: phys.org  Những lời kêu gọi quy định chặt chẽ hơn với PFAS ngày càng nhiều, bởi chúng liên quan đến hàng loạt vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như gây tổn thương gan, cholesterol cao, suy giảm miễn dịch và một số loại ung thư.  Để nghiên cứu về sự ô nhiễm PFAS trong đánh bắt cá tại địa phương, các nhà khoa học đã phân tích hơn 500 mẫu lấy từ các sông, hồ trên khắp Hoa Kỳ từ năm 2013-2015.  Theo nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Environmental Research, nồng độ PFAS trung bình trong cá là 9.500 nanogram/kg. Trong số đó, gần ba phần tư “hóa chất vĩnh cửu” được phát hiện là PFOS, một trong những chất phổ biến và nguy hiểm nhất giữa hàng nghìn loại PFAS.  Các nhà nghiên cứu đã tính toán và thấy rằng, chỉ ăn một con cá nước ngọt như vậy tương đương với uống nước chứa PFOS ở mức 48ppt (phần nghìn tỷ) trong một tháng. Trong khi đó, năm ngoái, Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đã hạ mức PFOS an toàn trong nước uống là 0,02ppt.  Nghiên cứu cũng cho thấy, tổng mức PFAS trong cá nước ngọt cao hơn 278 lần so với mức được tìm thấy trong cá bán thương mại.  “Mối đe dọa hóa học lớn nhất”  David Andrews, một nhà khoa học cấp cao tại Nhóm Công tác môi trường phi lợi nhuận, người dẫn dắt nghiên cứu, cho biết những phát hiện này đặc biệt đáng lo ngại, đặc biệt với các cộng đồng tiêu thụ cá như nguồn cung cấp protein chính, hoặc vì các lý do xã hội, văn hóa.  “Nghiên cứu này khiến tôi vô cùng phẫn nộ vì các công ty sản xuất và sử dụng PFAS đã gây ô nhiễm trên toàn cầu và không chịu trách nhiệm”, ông nói.  Patrick Byrne, một nhà nghiên cứu ô nhiễm môi trường tại Đại học Liverpool John Moores (Vương quốc Anh), người không tham gia vào nghiên cứu, nhận xét PFAS “có lẽ là mối đe dọa hóa học lớn nhất mà loài người phải đối mặt trong thế kỷ 21”.  “Nghiên cứu này rất quan trọng vì nó cung cấp bằng chứng đầu tiên về sự lây nhiễm trực tiếp PFAS từ cá sang người trên diện rộng”, ông nhận xét.  Andrew kêu gọi cần có các quy định nghiêm ngặt hơn để chấm dứt việc sử dụng PFAS không cần thiết.  Nghiên cứu được đưa ra sau khi Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Na Uy và Thụy Điển đệ trình đề xuất cấm PFAS lên Cơ quan Hóa chất châu u của EU vào ngày 13/1 vừa qua. Cơ quan này cho biết, đây là “một trong những đề xuất lớn nhất trong lịch sử EU”, được đưa ra sau khi năm quốc gia trên nhận thấy PFAS chưa được kiểm soát thỏa đáng và cần có quy định trên toàn khối.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-wild-fish-month-tainted.html    Author                .        
__label__tiasang Ăn nhiều carbohydrate kém chất lượng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và tử vong      Một nghiên cứu toàn cầu khảo sát những người dân sống trên khắp năm châu lục đã phát hiện ra rằng một chế độ ăn uống nhiều carbohydrate (carb) kém chất lượng sẽ dẫn đến nguy cơ đau tim, đột quỵ và tử vong cao hơn.      Những người có chế độ ăn uống với 20% chỉ số đường huyết cao nhất có nguy cơ bị đau tim mạch, đột quỵ hoặc tử vong cao hơn 50% nếu họ có bệnh tim từ trước.      Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học New England, đây là nghiên cứu lớn nhất về vấn đề này – khi xét đến độ đa dạng về chế độ ăn cũng như khu vực địa lý của người được khảo sát. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung đến các nước phương Tây có thu nhập cao.      Các nhà khoa học đã theo dõi tổng cộng 137.851 người từ 35 đến 70 tuổi, trong thời gian trung bình là 9,5 năm, thông qua nghiên cứu Dân số Thành thị và Nông thôn (PURE) của Viện Nghiên cứu Sức khỏe Dân số (PHRI) thuộc Đại học McMaster và Hamilton Health Sciences.      Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một bảng câu hỏi về thực phẩm để đo lượng thức ăn tiêu thụ trong thời gian dài của những người tham gia và ước tính chỉ số đường huyết (xếp hạng thực phẩm dựa trên tác động của chúng đối với lượng đường trong máu) và lượng đường huyết (lượng carb trong thực phẩm nhân với chỉ số đường huyết của nó) trong chế độ ăn. Trong suốt thời gian theo dõi, nhóm ghi nhận 8.780 ca tử vong và 8.252 biến cố tim mạch lớn trong số những người tham gia.      Các nhà nghiên cứu đã phân loại lượng carb trong chế độ ăn uống tùy thuộc vào việc liệu các loại carb cụ thể có làm tăng lượng đường trong máu nhiều hơn những loại khác – tức là có chỉ số đường huyết cao hơn – và so sánh chỉ số này với sự xuất hiện của các ca bệnh tim mạch hoặc tử vong.      Những người có chế độ ăn uống với 20% chỉ số đường huyết cao nhất có nguy cơ bị đau tim mạch, đột quỵ hoặc tử vong cao hơn 50% nếu họ có bệnh tim từ trước, hoặc 20% có khả năng bị những rủi ro trên nếu không có tiền sử bệnh tim.      Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn phát hiện ra rằng người béo phì có nguy cơ đối diện với những rủi ro trên cao hơn.      Thay đổi nhận thức của mọi người     “Tôi đã nghiên cứu tác động của chế độ ăn có đường huyết cao trong nhiều thập kỷ, và nghiên cứu này xác nhận rằng việc tiêu thụ một lượng lớn carb kém chất lượng là vấn đề mà cả thế giới đang phải đối mặt”, David Jenkins, tác giả đầu tiên của nghiên cứu, cho biết. Ông hiện đang là giáo sư về khoa học dinh dưỡng và y học tại Khoa Y Temerty thuộc Đại học Toronto, đồng thời là nhà khoa học tại Viện Tri thức Li Ka Shing thuộc Bệnh viện St. Michael (Toronto).      “Cac tài liệu nghiên cứu về Dân số Thành thị và Nông thôn (PURE) đã chỉ ra rằng không phải tất cả các loại thực phẩm chứa carb đều giống nhau. Chế độ ăn nhiều carb kém chất lượng có liên quan đến việc giảm tuổi thọ, trong khi chế độ ăn giàu carb chất lượng cao như trái cây, rau và các loại đậu thì mang lại hiệu quả cho sức khỏe”, ông phân tích.        Chúng ta cần hiểu rõ hơn về việc chế độ ăn uống nào có hại với sức khỏe, và những chế độ nào trung tính hoặc có lợi. Ảnh: Sherkaan.     Nhà điều tra nghiên cứu PHRI Mahshid Dehghan bổ sung: “Nghiên cứu này cũng chỉ rõ, trong một nhóm dân số đa dạng, những người có chế độ ăn uống thấp cả về chỉ số đường huyết lẫn tải lượng đường huyết sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong thấp hơn.”      Hầu hết trái cây, rau củ, đậu và ngũ cốc nguyên hạt có chỉ số đường huyết thấp, trong khi bánh mì trắng, gạo và khoai tây có chỉ số đường huyết cao.       “Dữ liệu hiện tại, cùng với các công bố trước đây của PURE và một số nghiên cứu khác, nhấn mạnh rằng việc tiêu thụ carb kém chất lượng có xu hướng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe hơn so với việc tiêu thụ phần lớn chất béo trong chế độ ăn”, Salim Yusuf, tác giả của nghiên cứu, chia sẻ.      “Điều này đòi hỏi một sự thay đổi lớn trong suy nghĩ của chúng ta, về việc chế độ ăn uống nào có hại với sức khỏe, và những chế độ nào trung tính hoặc có lợi”, Yusuf kết luận. Bà là điều tra viên chính của nghiên cứu PURE, giám đốc điều hành PHRI, và là giáo sư y khoa tại McMaster.      Anh Thư tổng hợp     Nguồn: Study: Diet high in poor quality carbohydrates increases heart disease and death  Global study finds diet high in poor quality carbohydrates increases heart disease and death    Author                Quản trị        
__label__tiasang An ninh kinh tế quốc gia rồi sẽ đi về đâu?      1. Gần đây, xảy ra nhiều chuyện khiến dư luận hết sức quan tâm. Khởi đầu là cuộc tranh luận có nên cổ phần hóa trường đại học và bệnh viện hay không? Tiếp theo là thông tin về việc Chính phủ lên kế hoạch tháng 9-2007 sẽ tiếp tục phát hành trái phiếu vay thêm 1 tỷ USD từ nước ngoài để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Rồi đến tin ở nhiều địa phương người nông dân bỏ ruộng không canh tác. Tin các doanh nghiệp dệt may, ngành xuất khẩu chủ lực của chúng ta, đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Và nhiều chuyện lẻ tẻ khác: chuyện nước tương có chứa chất 3-MCDP; chuyện người dân “khai thác” cáp quang ngầm dưới biển; chuyện khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng; chuyện môi trường ô nhiễm nghiêm trọng.    2. Gom góp các sự kiện này, đặt chúng trong cùng một dòng chảy, chúng ta thấy nổi cộm lên một vấn đề rất đáng lưu tâm: vấn đề an ninh kinh tế quốc gia. Nguy cơ đất nước bị mất quyền tự chủ, lệ thuộc hoàn toàn vào sự điều khiển bên ngoài về kinh tế. Có mấy kịch bản chính mô phỏng sự phụ thuộc này. Thứ nhất, nền kinh tế quốc gia có thể bị bên ngoài lũng đoạn, làm rối loạn dẫn đến thảm kịch phá sản. Chính phủ trở thành con nợ, không đủ khả năng thanh toán. Chính phủ tuyên bố phá sản, toàn bộ tài sản quốc gia ở nước ngoài sẽ bị phong tỏa, tài khoản cũng bị đóng băng… Hoàn cảnh nước Nga thời điểm 14.08.1998 là một ví dụ điển hình. Thứ hai, đất nước bị phong tỏa về kinh tế. Phong tỏa cũng có nhiều kiểu. Có thể mạnh mẽ và toàn diện như người ta đang áp dụng với Bắc Triều Tiên hiện nay và Iran tới đây, nhưng cũng có thể nhẹ nhàng, cấm vận dưới vỏ bọc “cạnh tranh thị trường”. Chiêu sách này đặc biệt hiệu quả với những quốc gia phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nguyên nhiên liệu. Thứ ba, quốc gia bị lệ thuộc về lương thực, có nghĩa là sản xuất nông nghiệp không đủ cung cấp cho nhu cầu nội quốc – làm không đủ ăn. Kịch bản này đặc biệt nguy hiểm đối với những nước đông dân và nền nông nghiệp thô sơ kém phát triển. Thứ tư, quốc gia bị lệ thuộc về công nghệ. Rõ ràng, trong nền kinh tế hậu công nghiệp, khi tri thức trở thành một trong những nguồn lực cơ bản để phát triển, ai nắm giữ được tri thức (mà biểu hiện cụ thể là thị trường công nghệ cao) người đó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối. Lệ thuộc nước ngoài về công nghệ, đồng nghĩa với việc chúng ta đang tự nguyện làm “nô lệ kiểu mới” – nô lệ tri thức. Muốn thoát ra khỏi tình trạng này, không có cách nào khác là phải đầu tư đúng hướng vào giáo dục và y tế.  3. Có thể thấy, chúng ta huy động vốn để hỗ trợ doanh nghiệp (DN) phát triển là việc làm cần thiết. Nhưng khi Chính phủ đứng tên vay tiền nước ngoài thay cho DN – có nghĩa chúng ta đang tạo tiền đề để phát triển kịch bản thứ nhất. Các ngành công nghiệp của chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, có ngành tỉ lệ phụ thuộc lên tới 80-90%. Nếu tình hình tới đây không có gì cải thiện, có nghĩa chúng ta đang tiến vững chắc theo kịch bản thứ hai. Khoảng cách nông thôn – thành thị, giàu – nghèo ngày càng cách biệt; người nông dân không còn mặn mà với đồng ruộng; chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa hợp lý, thiếu cân đối –  đây là đường mòn quen thuộc dẫn đến kịch bản thứ ba. Nếu mê mải với cổ phần hóa trường đại học và bệnh viện, lấy chuyển đổi sở hữu làm mục đích thay cho hiệu quả làm việc, lãng quên nhiệm vụ phục vụ cộng đồng và trách nhiệm đảm bảo an ninh quốc gia, chúng ta sẽ tạo thêm một điểm nhấn trên con đường tụt hậu về giáo dục và y tế – đồng thời tiến thêm một bước theo kịch bản thứ tư.  4. Vậy xác suất xảy ra của những kịch bản này hiện nay là bao nhiêu? Chắc chắn sẽ có bạn cho rằng chúng tôi đã lo lắng hơi quá. Kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng tốt, dự kiến vượt ngưỡng 8,5% trong năm nay. Chúng ta vẫn tiếp tục là nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới. Bà con nông dân, đôi nơi, đôi lúc có chán nản với việc đồng áng, nhưng chỉ là thiểu số. Khoảng cách giàu nghèo có tăng thật nhưng là hệ quả tất yếu của sự phát triển. Chuyện nguyên nhiên liệu cũng thế. Bao lần giá xăng, giá điện, giá đầu vào biến động – thị trường vẫn hết sức ổn định. Trình độ công nghệ của ta tuy có tụt hậu thật, nhưng khả năng nắm bắt công nghệ thì chúng ta đâu có thua kém ai. Giáo dục cũng vậy, từ khi thực hiện “hai không”, toàn ngành đang có nhiều chuyển biến tích cực. Còn y tế, thực ra việc cổ phần hóa bệnh viện hay không, về cơ bản sẽ không làm thay đổi nhiều chất lượng phục vụ đang có như hiện nay. Trên trường quốc tế, thế và lực của đất nước ngày một gia tăng. Chúng ta đang là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè năm châu, bốn biển. Ngày càng nhiều các tập đoàn đa quốc gia đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư. Vậy, cơ sở nào để hồ nghi về an ninh kinh tế quốc gia?… Thú thực, chúng tôi rất muốn tin xác suất xảy ra của bốn kịch bản nêu trên là bằng 0. Rất muốn tin, rằng Việt Nam sẽ không bao giờ có tên trong bất kỳ kịch bản xâm phạm an ninh quốc gia nào có thể trong tương lai. Nhưng không hiểu, chỉ niềm tin không thôi thì đã đủ chưa?  Những biện pháp để bảo đảm an ninh kinh tế của Trung Quốc  1. Quán triệt và nâng cao ý thức an ninh kinh tế ngay từ khâu hoạch định chiến lược và chính sách.  2. Xây dựng và hoàn thiện công tác dự báo an ninh kinh tế.  3. Duy trì nguồn dự trữ chiến lược thích hợp về vàng, ngoại tệ, lương thực, uranium, một số kim loại hiếm, hóa chất…  4. Tạo mọi điều kiện để cho các xí nghiệp, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh cỡ lớn và vừa tham gia cạnh tranh quốc tế, bằng cách tăng cường đầu tư vào giáo dục và bồi dưỡng nhân tài, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ.  5. Phát huy tác dụng của hoạt động ngoại giao nhằm bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia, giải quyết các mâu thuẫn và xung đột lợi ích thông qua đối thoại và hiệp thương.  6. Tích cực khai thác thị trường quốc tế, tăng cường khả năng dự phòng rủi ro kinh tế cho các xí nghiệp của Trung Quốc.  7. Kịp thời chuẩn bị các số liệu kinh tế quan trọng, để đưa ra các quyết sách đầu tư đúng.  8. Đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao. 9. Tích cực nghiên cứu vận dụng các hiệp nghị và pháp luật quốc tế.   (Theo Thời Báo Kinh tế Việt Nam)    Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang An toàn nợ – những câu hỏi cốt lõi      Trên con đường hội nhập vào nền tài chính quốc tế, trong bối cảnh Việt Nam sẽ liên tục phải vay nợ, đặc biệt là vay thương mại với lãi suất cao, mục tiêu an toàn nợ phải được đặt lên hàng đầu trước khi cân nhắc cho từng dự án lớn cụ thể riêng lẻ. Bài viết này trả lời hai câu hỏi tất yếu cần được đặt ra:  – Đâu là ngưỡng an toàn nợ?  – Quốc hội và Chính phủ phải phối hợp thế nào để đảm bảo an toàn nợ và các mục tiêu chiến lược khác?      Đâu là ngưỡng an toàn nợ?   Đảm bảo khả năng trả nợ đủ và đúng hạn là yêu cầu tiên quyết đầu tiên mà Chính phủ phải đáp ứng vì đó là thể diện của quốc gia và là điều kiện cơ bản để có thể tiếp tục duy trì nguồn vốn thuận lợi ổn định phục vụ cho các mục tiêu đầu tư phát triển. Muốn đảm bảo an toàn nợ, chúng ta phải biết đâu là ngưỡng an toàn.  Trong một cuộc phỏng vấn được đăng tải gần đây trên trang vnexpress, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đề cập khả năng nới rộng ngưỡng an toàn nợ quốc gia, vượt mức 50% GDP như hiện nay. Tuy nhiên, bài phỏng vấn không thể hiện thật rõ ý Phó Thủ tướng muốn nới rộng ngưỡng an toàn của nợ công hay nợ nước ngoài của quốc gia1.  Nếu Chính phủ quyết định nới rộng ngưỡng an toàn nợ nước ngoài của quốc gia thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh tài chính của quốc gia. Đối với nợ trong nước, dòng thanh toán chảy từ túi người này sang túi người kia trong cùng một nền kinh tế và không ảnh hưởng tới thu nhập tổng thể của quốc gia. Nhưng đối với nợ nước ngoài, dòng thanh toán sẽ hoàn toàn chảy ra khỏi nền kinh tế. Như vậy, giả sử như nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức là 50% GDP, lãi suất trung bình hằng năm lạc quan ở mức 4%, kỳ hạn bình quân được vô cùng ưu đãi là 15 năm, thì hằng năm nền kinh tế quốc gia sẽ mất đi 2% GDP cho các khoản thanh toán lãi, và 3,3% cho các khoản thanh toán nợ gốc, tức là tổng thanh toán nợ nước ngoài khoảng 5,3% GDP. Đây là con số rất lớn nếu so sánh với mức tăng trưởng hằng năm khoảng 6-7,5% GDP của Việt Nam trong thời gian tới. Với khối lượng thanh toán nợ lớn như vậy, đặc biệt là phải trả bằng ngoại tệ trong bối cảnh vấn đề thâm hụt cán cân thương mại trầm trọng chưa có lời giải, thì việc mất khả năng thanh toán là rất cao. Vì vậy, không nên nới rộng ngưỡng an toàn nợ nước ngoài của quốc gia nhiều hơn mức 50% GDP như hiện nay.              Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ sau cuộc Đại suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. Thế nhưng, bầu trời phía trước vẫn còn rất ảm đạm, bởi đám mây đen nợ công khổng lồ ngày càng lan rộng, phủ lên nhiều nước, sau khi đã gây ra lốc lớn làm chao đảo nền kinh tế Iceland, suýt “hất đổ” toà tháp cao nhất thế giới ở Dubai hoa lệ và đang tràn qua Hy Lạp..        Đối với nợ công, nếu Chính phủ muốn nới rộng ngưỡng an toàn 50% hiện hành thì cũng phải cân nhắc rất cẩn trọng. Khi bàn về ngưỡng an toàn, chúng ta cần đảm bảo Chính phủ có đủ khả năng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong kịch bản xấu nhất, đó là khi Chính phủ phải thực hiện đầy đủ tất cả mọi nghĩa vụ nợ, kể cả nghĩa vụ nợ dự phòng2. Giả sử như nợ công của Việt Nam ở một thời điểm trong tương lai ở mức 55% GDP, lãi suất trung bình hằng năm là 8% (do trong nợ công bao gồm cả vay trong nước nên lãi suất giả định cao hơn nhiều so với lãi suất trung bình nợ nước ngoài), kỳ hạn bình quân là 15 năm, thì hằng năm Chính phủ phải thanh toán 4,4% GDP cho nợ lãi, 3.67% GDP cho nợ gốc, và tổng thanh toán hằng năm là 8,07% GDP. Nếu khi đó thu ngân sách Chính phủ ở mức tương đối trung dung là 25% GDP3, thì thanh toán nợ chiếm 32,3% của thu ngân sách. Mức chi tiêu quá lớn như vậy dành cho thanh toán nợ chắc chắn sẽ đặt Chính phủ vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Hoặc là cắt giảm những khoản chi tiêu khác, gây ảnh hưởng tới những mục tiêu kinh tế xã hội chiến lược; hoặc là vay nợ nhiều hơn nữa, thậm chí có thể dẫn đến  vượt trên mức 60% GDP. Nếu lựa chọn gia tăng vay nợ, xu thế ngày càng lệ thuộc vào vay nợ trở thành tất yếu và như vậy chi phí vay sẽ ngày càng cao do độ rủi ro ngày một lớn cho cả bên cho vay lẫn bên đi vay. Con đường này sẽ đẩy Chính phủ tới vực thẳm vỡ nợ công nếu như không có sự cứu giúp từ bên ngoài, kịch bản của Hy Lạp hiện nay.  Những tính toán trên cho thấy Việt Nam nên tiếp thu các khuyến nghị của World Bank, IMF, đồng thời nên học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc thiết lập ngưỡng an toàn nợ. Đối với nợ nước ngoài, dư nợ không nên vượt quá 50% GDP. Đối với nợ công, ngưỡng 55-60% GDP đã có thể coi là phạm vi nguy hiểm. Nợ công ở trong phạm vi này sẽ có nguy cơ tăng vượt kiểm soát, do nợ càng nhiều thì càng có nhu cầu vay thêm nợ mới để thanh toán nợ cũ, trong khi chi phí vay nợ càng đắt đỏ do rủi ro tăng cao cho cả chủ nợ lẫn bên đi vay.   Lưu ý rằng 60% GDP cũng là mức an toàn mà Liên minh Châu Âu khuyến nghị các nước thành viên của mình, trong đó đa số là các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế trước Việt Nam hàng thập kỷ và được vay nợ với chi phí thấp hơn do hệ số tín nhiệm tài chính của quốc gia cao hơn.          Quốc hội và Chính phủ làm thế nào để đảm bảo mục tiêu an toàn nợ?  An toàn nợ công cần được đảm bảo tuyệt đối nhưng không vì thế mà để thiếu vốn cho những khoản đầu tư cấp thiết để thực hiện các mục tiêu chiến lược khác.        Để đảm bảo mục tiêu an toàn nợ cũng như các mục tiêu chiến lược cơ bản khác, điều đầu tiên chúng ta cần phải xem lại là cải thiện để đạt được một quy trình làm việc hợp lý giữa Chính phủ và Quốc hội, để làm sao đưa ra những quyết định quan trọng trong điều kiện đã có tương đối đầy đủ những thông tin căn bản cần thiết.             Muốn được vậy thì cần phải có thông tin tổng thể, đồng bộ, và minh bạch. Ví dụ, dự án đường sắt cao tốc là một dự án quan trọng và phức tạp, nhưng nó chỉ là một trong số các dự án Chính phủ dự kiến thực hiện. Vậy thì Quốc hội và Chính phủ trước hết phải cùng nhau đối thoại để hình thành một cái nhìn thật tổng quan và cơ bản trước khi đưa ra các chủ trương lớn. Trình tự cụ thể như sau:  1) Đầu tiên Quốc hội và Chính phủ cần làm rõ và thống nhất về ngưỡng an toàn nợ công và nợ nước ngoài quốc gia. Quốc hội phải biết rõ ngưỡng an toàn để có căn cứ cơ sở phục vụ đánh giá và tính toán mỗi khi cần cân nhắc những vấn đề có ảnh hưởng sâu sắc tới an ninh tài chính quốc gia. Đây là yêu cầu quan trọng số một.  2) Thứ hai, thay vì đi sâu vào từng dự án cục bộ cụ thể, Quốc hội phải nắm được con số đầu tư tổng thể mà Chính phủ dự kiến sẽ đầu tư cho tất cả các dự án trọng điểm trong thời gian tới. Bao nhiêu vốn sẽ phải huy động từ ngân sách, bao nhiêu vốn phải đi vay? Bội chi ngân sách sẽ ở ngưỡng nào? Liệu Chính phủ có phải thắt chặt  các khoản chi khác để duy trì một ngưỡng bội chi hợp lý, hoặc sẽ phải vay thêm nợ mới để thanh toán nợ cũ? Các con số cụ thể ra sao?  3) Thứ ba, căn cứ theo các thông tin ở mục 2 thì ngưỡng an toàn nợ nào có khả năng bị phá vỡ4? 50%, 55%, 60%, hay có thể cao hơn? Với từng ngưỡng an toàn có khả năng bị vi phạm, liệu Chính phủ đã tính tới các phương án xử lý để đưa dư nợ về phạm vi an toàn? Các phương án này hẳn đòi hỏi phải thắt chặt chi tiêu, vậy thì dự kiến nguồn phúc lợi xã hội nào sẽ phải bị cắt giảm?  4) Thứ tư, trong danh sách các dự án mà Chính phủ dự định thực hiện trong thời gian tới, vai trò, mức chi phí, và tính hiệu quả của chúng liệu có thể xếp theo thứ tự lần lượt như thế nào? Dự án đường sắt cao tốc có vị trí ở đâu trên bảng thứ hạng này? Tỷ trọng vốn Chính phủ dự kiến phân bổ cho các dự án trọng điểm này liệu đã tương ứng với vai trò, quy mô, và tính hiệu quả của chúng?   Khi mà Quốc hội và Chính phủ chưa thống nhất về những vấn đề mang tính tổng quan kể trên thì liệu có ích gì khi nghiên cứu từng dự án cục bộ cụ thể?  Chính phủ đề nghị Quốc hội thông qua chủ trương cho một dự án cụ thể, trong khi chiến lược tài chính giai đoạn 2010-2020 vẫn chưa được công bố.  Để đảm bảo mục tiêu an toàn nợ cũng như các mục tiêu chiến lược cơ bản khác, điều đầu tiên chúng ta cần phải xem lại là cải thiện để đạt được một quy trình làm việc hợp lý giữa Chính phủ và Quốc hội, để làm sao đưa ra những quyết định quan trọng trong điều kiện đã có tương đối đầy đủ những thông tin căn bản cần thiết.   —————-  Chú thích:  1. Bài phỏng vấn Phó Thủ tướng tại: http://vnexpress. net/GL/Kinh-doanh/2010/05/ 3BA1C4EE/  Theo cách hiểu chung của quốc tế, nợ quốc gia là nợ công, tức bao gồm nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ, chính quyền địa phương, và nợ do Chính phủ bảo lãnh. Tuy nhiên trong các báo cáo ở Việt Nam, người ta thường dùng khái niệm nợ quốc gia theo nghĩa phân biệt với nợ công, có thể là để gọi tắt cho nợ nước ngoài của quốc gia, tức là bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ, các doanh nghiệp Nhà nước, và các thành phần kinh tế tư nhân.  2. Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ là nghĩa vụ thanh toán của Chính phủ cho các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh trong trường hợp đối tượng được bảo lãnh không có khả năng thanh toán.  3. Nếu so với thu ngân sách trong thực tế của giai đoạn vừa qua (2001-2010) thì thấy rằng có những năm vượt trên mức 25% GDP là con số không cao. Tuy nhiên, trong thời kỳ tới, dự kiến thu ngân sách trên GDP có thể giảm do nguồn thu từ dầu mỏ đã vượt qua đỉnh cao nhất và có xu hướng giảm xuống đáng kể.  4. Theo công thức rút gọn của tác giả bài viết, ngưỡng an toàn nợ sơ bộ tương ứng với các chỉ tiêu tài khóa vĩ mô cụ thể như sau:  Ngưỡng an toàn của Nợ công/GDP =     Trong đó: x là tỷ trọng tối đa trong thu ngân sách dành cho thanh toán nợ công trong khi vẫn đảm bảo không tăng bội chi; y là chỉ tiêu thu ngân sách so với GDP; n là dự kiến kỳ hạn trung bình của nợ công; r là dự kiến lãi suất bình quân của nợ công.  Đối với công thức tính ngưỡng an toàn nợ nước ngoài, có thể tham khảo các công thức tính mức dư nợ nước ngoài an toàn liên quan tới dự kiến mức dự trữ ngoại hối.      Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang An toàn trong các ngành công nghiệp tiềm ẩn rủi ro cao      Trong khi mức độ nhận thức về an toàn cá nhân của các nhà quản lý cũng như lực lượng lao động tương đối cao thì mức độ nhận thức về an toàn công nghệ ở nhiều nơi và nhiều lĩnh vực vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi.      Công nghiệp Việt Nam đang có những bước chuyển biến lớn, từ những ngành có tính chất lao động giản đơn sang những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao hơn với các dự án ngày càng lớn hơn rất nhiều về mặt quy mô. Có một số ngành tiềm ẩn khả năng xảy ra rủi ro cao nếu đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên vận hành không có nhận thức sâu sắc và có các công cụ hỗ trợ về quản lý an toàn trong quá trình vận hành.   Suốt một thời gian dài an toàn thường được hiểu là an toàn cá nhân mà chưa có một hệ thống quản lý, đánh giá hoàn chỉnh về an toàn công nghệ đi kèm. Điều này dẫn đến tình trạng trong khi mức độ nhận thức về an toàn cá nhân của các nhà quản lý cũng như lực lượng lao động tương đối cao thì mức độ nhận thức về an toàn công nghệ ở nhiều nơi và nhiều lĩnh vực vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi.  Lịch sử của những ngành công nghiệp rủi ro cao cho thấy những thảm họa lớn nhất đều  liên quan đến an toàn công nghệ như tai nạn ở nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986, vụ rò khí MIC ở Bhopal Ấn Độ năm 1984; vụ nổ ở Flexborough Anh năm 1974, vụ nổ ở nhà máy lọc dầu của BP ở Texas năm 2005 v.v.     Bảng so sánh về mức độ rủi ro trong một số lĩnh vực công nghiệp          Lĩnh vực hoạt động  Mức độ rủi ro về               an toàn cá nhân  Mức độ rủi ro về               an toàn công nghệ      Năng lượng hạt nhân  Thấp     Rất cao      Nhà máy hóa chất  Trung bình  Rất cao      Khai thác & thăm dò dầu khí  Cao  Rất cao      Khai khoáng  Rất cao  Thấp          Phương pháp tiếp cận an toàn truyền thống xem xét an toàn dưới góc độ an toàn cá nhân phát sinh từ những hoạt động vận hành, bảo trì bảo dưỡng, sửa chữa hằng ngày và thường xảy ra đối với những cá nhân trực tiếp tham gia vào công việc. Tai nạn với những họat động như vậy xảy ra với một tần suất tương đối thường xuyên hơn nhưng mức độ ảnh hưởng hạn chế do đa phần công việc là định kỳ, tương đối đơn giản và không có nhiều người tham gia.       Với các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa hằng ngày, cần có một hệ thống quản lý công việc để xác định, đánh giá và kiểm soát những rủi ro khi tiến hành công việc. Một hệ thống như vậy gồm nhiều phần, dưới đây là hai phần chính:  1/ Đánh giá rủi ro công việc: xác định các rủi ro của công việc, đánh giá mức độ nguy hiểm, áp dụng các biện pháp để kiểm soát và giảm thiểu những mối nguy hiểm tiềm tàng  2/ Giấy phép làm việc cho những hoạt động tiềm ẩn những rủi ro cao VD: cô lập các nguồn năng lượng, vào không gian hạn chế, làm việc ở trên cao, nâng cẩu v.v    Tám yếu tố bảo đảm an toàn công nghệ  An toàn công nghệ là một hệ thống các quy định được dùng trong quá trình thiết kế, chế tạo và vận hành các hệ thống công nghệ nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống. An toàn công nghệ sẽ giúp ngăn ngừa những sự cố liên quan đến rò rỉ của các nguồn năng lượng, phóng xạ, hóa chất, chất độc hại hoặc là những chất dễ gây cháy nổ.  Tai nạn liên quan tới an toàn công nghệ xảy ra với tần suất không thường xuyên nhưng hậu quả vô cùng to lớn: làm chết hoặc bị thương nhiều người, phá huỷ hoàn toàn hoặc là một bộ phận lớn của nhà máy, gây ra những ô nhiễm lớn về môi trường và ảnh hưởng lớn đến uy tín của công ty.   Với những hậu quả tiềm tàng lớn như vậy, các nhà quản lý và nhân viên vận hành cần hiểu biết sâu sắc về vấn đề an toàn công nghệ cho những hoạt động chính của nhà máy trong suốt quá trình hoạt động từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thiết kế, xây dựng, vận hành.   Do khuôn khổ bài viết có hạn, người viết chỉ xin giới thiệu một số yêu tố quan trọng để đảm bảo an toàn công nghệ trong quá trình vận hành, bảo trì bảo dưỡng và sửa chữa:  1/ Nhân lực: nhân viên kỹ thuật quan trọng phải có phân công trách nhiệm rõ ràng, được đào tạo những kỹ năng cần thiết và được đánh giá trình độ để có thể tiến hành công việc được giao một cách an toàn, đặc biệt là có khả năng xử lý những tình huống vượt ra ngoài phạm vi hoạt động bình thường của công nghệ.  2/ Đánh giá và quản lý các rủi ro công nghệ: các quy trình để phát hiện, đánh giá và kiểm soát chặt chẽ rủi ro tiềm tàng trong quá trình vận hành.  3/ Đảm bảo tính toàn vẹn của thiết bị: các chiến lược bảo trì, bảo dưỡng và vận hành cho những nhóm thiết bị chính. Đảm bảo thiết bị luôn được vận hành ở trong mức giới hạn cho phép. Các thiết bị an toàn quan trọng và các thiết bị bảo vệ phải được xác định và bảo trì bảo dưỡng theo đúng quy trình và đúng thời gian.  4/ Quản lý sự thay đổi: thay đổi luôn đi kèm với những rủi ro do đó những thay đổi lớn phải được quản lý bởi chặt chẽ để đảm bảo các rủi ro phát sinh được xác định và kiểm soát. VD thay đổi về thiết bị; thay đổi về quy trình vận hành, thay đổi về giới hạn vận hành an toàn v.v…  5/ quy trình vận hành: các tài liệu vận hành phải luôn được cập nhật định kì. Nhân viên vận hành phải tuân thủ những quy trình vận hành một cách nghiêm ngặt.  6/ Quản lý khủng hoảng và tình huống khẩn cấp: có các kế hoạch cho các tình huống khẩn cấp và tiến hành tập dượt thường xuyên.  7/ Điều tra sự cố: bất cứ sự cố nào dù nhỏ cũng phải được điều tra và khắc phục những lỗi công nghệ để phòng tránh sự lặp lại.  8/ Đánh giá hoạt động vận hành: ở mức độ đơn giản nhất nên xây dựng một hệ thống KPIs (Key performance indicators) để đánh giá hoạt động vận hành.  Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến những sự ra đời của nhiều ngành sản xuất mới đi kèm với những yêu cầu mới về vấn đề an toàn công nghệ. Trong khuôn khổ có hạn của một bài viết, tác giả mới chỉ có thể dừng ở mức tóm lược và giới thiệu ở mức độ tổng quan những thành phần chính của một hệ thống quản lý để đảm bảo an toàn công nghệ trong quá trình vận hành.     Tài liệu tham khảo:   1. Managing the Risk of Organizational accident James Reason 2000  2. Failure to Learn The BP Texas City refinery disaster Andrew Hopkins 2009  3. OSHA Process Safety Management of Highly Hazardous Chemicals standard (29 CFR 1910.119)  3. BP Integrity Management Standard  Tác giả hiện là kỹ sư về an toàn công nghệ cho nhà máy LNG Tangguh của BP ở Papua- Indonesia      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn tối với đại sứ Israel      Cứ tưởng bà đại sứ Israel cũ đã là một nhà ngoại giao “bụi đời” nhất, hoá ra, ông tân đại sứ phụ trách Việt Nam và Lào lại càng “ngầu” hơn    Ông Nadav Eshcar bước xuống xe, che cái áo để tránh mớ nước mưa đang đổ xuống ào ạt trong một ngày cuối đông. Ông ồ lên khi nhìn thấy bức tượng Apsara cẩn trước sân quán ăn, quay sang hỏi: “Đây là vũ công chuyên những điệu múa cho các vị thần Hindu thưởng thức, chứ bản thân các nàng ấy không phải là thần, đúng không?”. Kỷ niệm đúng 100 ngày đến Việt Nam nhận vị trí đại sứ , ông tự thưởng cho mình chuyến tham quan Cổ Viện Chàm, một trong những điểm đến kỳ lạ nhất của phương Nam…  Ông đại sứ “bụi đời”    Ông Nadav Eshcar trong cuộc thi Start Jerusalem 2017  Cứ tưởng bà đại sứ Israel cũ đã là một nhà ngoại giao “bụi đời” nhất, hoá ra, ông tân đại sứ phụ trách Việt Nam và Lào lại càng “ngầu” hơn: Mới có 100 ngày đến nhận chức, ông đã đi chu du đủ ba miền, gặp gỡ từ lãnh đạo chính phủ, các tỉnh thành cho tới các tổ chức xã hội, hiệp hội doanh nghiệp và đặc biệt, đến đâu, ông cũng dành gần như toàn bộ ưu tiên để “chơi” cùng cộng đồng khởi nghiệp trẻ. Lần xuất hiện đầu tiên của mình trước công chúng Việt Nam, là lúc ông tổ chức cuộc thi “Start Jerusalem” – đưa ra những thách thức mới cho người trẻ tại không gian làm việc chung của Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông cầm ly cà phê, chủ động đi bắt chuyện với những người trẻ có vẻ rụt rè chưa dám đến chào ông. Ông vỗ vai động viên những câu chuyện của từng người, không quên nhắn họ có gì hay thì gửi thông tin về trang Facebook cá nhân của ông hoặc của sứ quán Israel để có thể nghiên cứu tiếp…  Ông bảo, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ cao và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Israel đang trong giai đoạn nở rộ. Nhưng mà ông cần tìm kiếm nhiều hơn nữa những gương mặt đại diện cho giới khởi nghiệp trẻ của Việt Nam có những trải nghiệm, tương tác thú vị tại quốc gia khởi nghiệp Israel. Bởi vậy, nhiệm vụ thú vị mà ông luôn chủ động giành lấy, là đi gặp trực tiếp những người trẻ và nghe những câu chuyện của họ, để tính toán thử xem có thể hỗ trợ được gì…  Mới tuần trước ở Hà Nội, ngay sau đó đã thấy ông ở Bến Tre. Ông bảo, sẽ đem theo ba món quà để tặng các bạn trẻ đồng bằng sông Cửu Long. Hóa ra, đó là ba câu chuyện mà ông tin rằng sẽ truyền cảm hứng để các bạn có thể suy nghĩ nhiều hơn về sự ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp để gia tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của quê mình. Bắt đầu là câu chuyện cái máy gọt vỏ dưa hấu.  Ông bảo: “Có ai thấy cái máy gọt vỏ dưa hấu này kỳ diệu không? Không, nó là thứ sản phẩm cơ khí cơ bản lắm, gồm lưỡi dao và hệ thống ròng rọc tự động thôi. Nhưng có một nhà nghiên cứu Israel tự đặt câu hỏi: làm sao để cái máy này trở nên hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn và tiện dụng hơn? Vậy là ông ta nghiên cứu, thử nghiệm sau đó nghĩ ra việc gắn thêm con mắt thần – một cái cảm biến – gần lưỡi dao. Con mắt thần này có khả năng đánh giá được độ dày mỏng của vỏ dưa mà điều chỉnh lưỡi dao để không gọt vỏ quá phí phạm hoặc quá lười biếng. Đó là công nghệ 4.0, đơn giản và hiệu quả nhất”. Rồi ông nâng độ khó của câu chuyện lên, thành chuyện người Israel có hệ thống cho phép người chăn nuôi có thể quản lý, theo dõi, giám sát và cho ăn đàn gia súc tập trung thông qua các thiết bị máy tính. Chẳng hạn, trong trang trại có gắn máy đo nhiệt độ của bò. Họ gắn lên trần nhà và sẽ biết được con bò nào ăn ít, nằm nhiều, từ đó đoán ra tình hình sức khỏe của chúng… Rồi ông lại kể câu chuyện tưởng chừng… khó giàn trời mây, nhưng lại được giải quyết ngon lành: Thường khi dọn ao, thùng nuôi tôm, cá, rất khó khăn để biết được trong ao có bao nhiêu con cá. Chúng tôi nghiên cứu ra cái máy có con mắt thần, trong vài giây sẽ chụp ra cái hình và đếm trong hình ra bao nhiêu con trong ao.  “Đây là những ví dụ nghiên cứu mà tôi muốn chia sẻ ứng dụng hằng ngày mà chúng tôi đã ứng dụng ở Israel. Các bạn cũng phải nghĩ ra những ứng dụng như vậy cho đồng bằng sông Cửu Long chứ?” – ông hỏi những người trẻ.    Ông Nadav Eshcar (bìa trái) trao đổi với CEO của công ty Hekate tại Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES). Ảnh: DNES  Và lời khuyên “hãy xách ba lô lên và đi”  Ông hẹn đi ăn tối ở Đà Nẵng, trời mưa tầm tã, rất may ông không “đóng bộ” áo vest như thường ngày mà mặc trang phục giản dị. Ông không đi cùng người cận vệ thường thấy bởi xếp cuộc gặp vào hạng mục “việc cá nhân”. Bàn ăn tối có hai chuyên gia từ Israel sang dạy học và nhóm chuyên viên của Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng. Ông “giao hẹn” trước: Không có đề tài gì là không được nói ở buổi tối này nhé!  Chúng tôi bắt đầu bằng việc nâng ly chúc mừng 100 ngày làm việc chính thức tại Việt Nam của Nadav. Ông có vẻ rất hào hứng, khoe ngay: “Tôi thì mới vừa làm quen sơ sơ với cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam thôi, chẳng được như mấy đứa con của tôi. Các bạn nhỏ giờ sáng nào cũng chỉ ăn phở, và thỉnh thoảng đòi mẹ làm chả giò chiên, vốn là món mà cô ấy đã học được từ 15 năm trước, khi chúng tôi đi du lịch Việt Nam lúc vừa cưới nhau”…  Ông dùng đũa thành thạo, ăn uống có vẻ ngon miệng và kể nhiều về những trải nghiệm mà mình thấy về sự tương đồng giữa hai quốc gia. “Thời xưa chúng tôi rất nghèo nên phải tự mày mò, tạo ra các loại máy móc để phục vụ nông nghiệp cũng như những yêu cầu khác. Ngày nay chúng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm rằng cái khó ló cái khôn. Người Việt Nam rất tò mò, thực tế, sáng tạo. Tôi nhìn thấy rất nhiều tiềm năng của start-up tại đây trong thời gian tới. Tuy nhiên, start-up không chỉ đơn giản là doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo tôi, start-up còn có nghĩa là sáng tạo và sử dụng các công nghệ mới để tìm ra những giải pháp mới mà chưa ai từng làm…”.  Câu chuyện cứ bị ngắt quãng mỗi khi món mới được mang ra. Ông luôn muốn biết tên, nguyên vật liệu và những câu chuyện nhỏ ẩn trong từng món ăn, vì theo ông, trải nghiệm văn hóa thông qua ẩm thực là… rất hạnh phúc. Ông lại kể về hành trình cùng vợ và con mình đi vòng quanh thế giới, nói nhiều thứ tiếng khác nhau và nhìn ngắm cuộc sống theo nhiều chiều kích khác nhau. Nadav nói có vẻ tự hào: con gái tôi 5 tuổi, khoe hồi chiều mới đi chùa lễ Phật. Tôi đồ rằng nguyên cái xứ Israel không đứa con nít nào biết chùa hay Phật đâu, vì tụi nhỏ chỉ quanh quẩn ở quê mình chứ ít được đi nhiều, thấy nhiều và trải nghiệm nhiều. Thành ra nhớ đi nhiều nhiều lên, vì biên giới vật lý vẫn còn, nhưng biên giới tâm lý thì phai nhạt nhiều rồi…  Hôm sau, Nadav đến gặp các nhóm khởi nghiệp Đà Nẵng, kèm theo hai món quà khác: Lời khuyên đầu là ráng theo đuổi các chương trình học về khoa học, công nghệ, mà ông sẽ nỗ lực mang nhiều hơn từ Việt Nam sang Israel và ngược lại. Sau, ông bảo điểm hạn chế nhất của người Việt trẻ mà ông từng gặp, là sự rụt rẻ. “Ở xứ tôi, các bạn bị thất bại cũng rất hào hứng hãnh diện bước ra trước đám đông và khoe như là một thành tích. Còn ở đây, các bạn lên chia sẻ câu chuyện thành công của mình mà cũng còn rụt rè và có phần nhút nhát, vậy là không được…”.     Ông Nadav Eschar, đại sứ Israel tại Việt Nam, phụ trách Lào. Sinh năm 1974 tại Jerusalem, tốt nghiệp chuyên ngành Quan hệ Quốc tế và Nghiên cứu Truyền thông tại trường Đại học Hebrew, Jerusalem. Bắt đầu làm việc tại Bộ Ngoại giao Israel tháng 1 năm 2001. Sau nhiều năm phụ trách công tác đào tạo tại Bộ Ngoại giao, ông học chuyên ngành Ngôn ngữ tiếng Trung Chinese-Mandarin (4 học kỳ), Normal University (ShiDa), Đài Bắc, Đài Loan và đảm nhiệm vị trí bí thư thứ hai, Cán bộ Chính trị và Báo chí, Đại sứ quán Israel, Bắc Kinh, Trung Quốc; Tham tán Chính trị, Phó Đại sứ, Đại sứ quán Israel, Warsaw, Ba Lan; Trưởng phòng, Phòng Châu Âu, Vụ Quốc tế, Quốc hội Israel (Knesset) và Trưởng phòng, Phòng Các vấn đề Quốc tế 1 (Châu Á và Bắc Mỹ) Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, Bộ Ngoại giao trước khi sang Việt Nam. Ông sống cùng vợ và 3 con tại Hà Nội.    Author                Bung Trần        
__label__tiasang Ấn tượng khắc họa hiện thực: Nghệ thuật phản chiếu ô nhiễm      Những bức tranh của trường phái Ấn tượng không chỉ để người yêu hội họa thưởng lãm. Chúng còn là những tấm gương trung thực phản chiếu nhiều điều trong quá khứ, ngay cả ô nhiễm không khí.      Một bức trong loạt tranh “Charing Cross Bridge” của Monet. Nguồn: Wikipedia  Claude Monet rơi vào trạng thái kinh khiếp khi đến London, chứng kiến sự thay đổi đột ngột trong bầu không khí. Ban đầu, khi ông nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy một cảnh tượng bao phủ thành phố: không hề có sương mù, bầu trời quang đãng. “Những gì anh thích là tất cả những ngày anh ở London đều là những ngày sương mù. Và khi ngủ dậy, anh cảm thấy sợ hãi khi không có một dải sương mù nào”, họa sĩ viết trong một bức thư gửi Alice, vợ mình, vào 4/3/1900, “Anh cảm thấy mệt mỏi, và anh chỉ có thể biết một điều là tất cả các bức họa của mình đều hoàn tất”. Sau đó, ông cho biết là khói và sương mù của ô nhiễm công nghiệp đã trở lại bầu trời. Những bức thư của ông, giờ được bảo tàng nghệ thuật Tate chia sẻ với mọi người, cho thấy trong năm 1900, London có rất nhiều ngày được thông báo là gió yếu và mưa ẩm – những điều kiện có xu hướng phù hợp vói tình trạng ô nhiễm không khí.  Vậy hiện thực đó có được phản chiếu trong các bức họa của Monet, một trong những người tiên phong của trường phái Ấn tượng thế kỷ 19? Người ta vẫn biết trường phái Ấn tượng có xu hướng hướng vào những chủ đề thông thường nhưng ở những góc hiển thị khác thường, bao hàm cả chuyển động như yếu tố trung tâm của trải nghiệm và nhận thức con người. Trong các tác phẩm Ấn tượng, những vệt cọ mảnh, nhỏ nhưng vẫn hiển thị rõ ràng, bố cục mở, nhấn mạnh vào việc mô tả ánh sáng một cách chính xác và những thay đổi tinh tế của nó (thông thường nêu bật các hiệu ứng về sự chảy trôi của thời gian). Thông thường, người ta vẫn đánh giá cao phong cách Hiện thực và coi đó là sự phản ánh trung thực thế giới xung quanh. Việc đặt niềm tin vào các bức họa Ấn tượng dường như là một sự mạo hiểm?    “Ấn tượng thường được coi là tương phản với Hiện thực nhưng kết quả của chúng tôi cho thấy, những tác phẩm ấn tượng của cả Turner và Monet đều nắm bắt một hiện thực nhất định. Đặc biệt là Turner và Monet dường như đã chứng tỏ một cách chân thực cách tia nắng được lọc qua khói bụi và những áng mây như thế nào”.    “Các họa sĩ Ấn tượng đều là những người vô cùng nhạy cảm với những thay đổi ánh sáng và thay đổi của môi trường”, nhà khoa học khí tượng Anna Lea Albright (Phòng thí nghiệm Khí tượng động lực, ĐH Sorbonne), nói trên Washingtonpost. “Điều này có ý nghĩa là các họa sĩ có thể trở nên vô cùng nhạy cảm không chỉ với những thay đổi của môi trường tự nhiên mà còn với cả những thay đổi do con người tạo ra”. Như những cú chụp nhanh các hiện tượng khí quyển, các bức họa có tiềm năng là những tư liệu hữu ích về những thay đổi môi trường dài hạn. Trong suốt cuộc Cách mạng công nghiệp, ô nhiễm không khí gia tăng đến mức chưa từng thấy nhưng hiện tại thì người ta không rõ chính xác nó như thế nào bởi việc thiếu những đo đạc chính xác và trên diện rộng.  Giả thuyết Anna Lea Albright và Peter Huybers (Khoa Khoa học Trái đất và hành tinh, ĐH Harvard) đặt ra là tác phẩm của các họa sĩ Ấn tượng đều ẩn chứa những yếu tố về hiện thực ô nhiễm. Đó là ý tưởng dẫn họ đến với một công bố mới xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, “Paintings by Turner and Monet depict trends in 19th century air pollution” (Những bức họa của Turner và Monet khắc họa các xu hướng ô nhiễm không khí thế kỷ 19), trong đó phân tích những thay đổi trong phong cách và màu sắc của gần trăm tác phẩm nghệ thuật của Monet và Joseph Mallord William Turner, hai họa sĩ sống trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp ở Tây Âu thế kỷ 18 và 19.  Bức “Rain, Steam and Speed — The Great Western Railway” của Joseph Mallord William Turner. Nguồn: Sciencealert  Thay đổi về nồng độ sulfur dioxide theo thời gian   Cuộc cách mạng Công nghiệp ở giai đoạn đầu cũng đủ sức làm thay đổi cuộc sống và bầu trời ở London và Paris, nơi Turner và Monet sống, theo những cách không lường trước được. Các công xưởng đốt than không ngừng đón nhận những cơ hội kinh doanh nhưng lại làm bầu khí quyển mù mịt với các chất gây ô nhiễm độc hại, ví dụ như sulfur dioxide.  Rất nhiều thay đổi đã xuất hiện ở Anh, phát thải sulfur dioxide ở đây đã chiếm tới một nửa tổng lượng phát thải toàn cầu trong quãng thời gian từ năm 1800 đến 1850. Và riêng thành phố London “đóng góp” khoảng 10% phát thải của Anh. Quá trình công nghiệp hóa ở Paris diễn ra chậm hơn nhưng người ta cũng ghi nhận được sự gia tăng của sulfur dioxide trong khí quyển sau năm 1850.  Tình trạng ô nhiễm không khí tăng vọt trong suốt thời kỳ Cách mạng công nghiệp ở Anh. Trong một bộ gồm 37 bức tranh, được vẽ từ năm 1899 đến năm 1905, Monet đã mô tả cây cầu Charing Cross đầy sương mù ở London. Một vài bức trong đó cho thấy bọn trẻ đứng cạnh những thanh rào chắn bên bờ sông Thames, phía sau tháp cầu hiện lên mờ ảo.   Ô nhiễm không khí ngày một nặng hơn trong khung cảnh London, hiển thị một cách rõ ràng với mắt thường. Các hạt sol khí có thể vừa hấp phụ vừa tán xạ bức xạ mặt trời. Sự tán xạ bức xạ suy giảm tương phản giữa các vật thể ở khoảng cách xa, khiến chúng có xu hướng hòa trộn với nhau. Các hạt sol khí cũng làm tán xạ ánh sáng khả kiến của tất cả các bước sóng, dẫn đến việc màu trở nên trắng hơn và ánh sáng có cường độ lớn hơn trong cả ngày.   Turner, một trong những họa sĩ có nhiều tác phẩm bậc nhất nước Anh, đã chứng kiến tất cả những thay đổi khủng khiếp đó ngay từ nhỏ – ông sinh vào thời đại của tàu buồm năm 1775 và qua đời trong thời đại của động cơ hơi nước và than năm 1851. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Rain, Steam and Speed — The Great Western Railway (Mưa, hơi nước và vận tốc – Tuyến đường sắt phương Tây vĩ đại), ông vẽ một đoàn tàu hỏa, một điều kỳ diệu thể hiện kỹ thuật tiên tiến bậc nhất thời đó bởi nó cho phép con người di chuyển với vận tốc nhanh chưa từng thấy, vượt mặt cả thỏ rừng, loài động vật có vú sống trên cạn chạy nhanh nhất ở Anh. Các chi tiết trong bức họa này, tuy nhiên, có thể trở nên khác biệt với nhận thức – sương và mây mù xuất hiện mờ ảo trong bức họa, một sự nhấn mạnh vào tình trạng ô nhiễm không khí ngày một gia tăng.    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra là 61% những thay đổi về độ tương phản trong các bức họa của trường phái Ấn tượng phần lớn giúp dò được sự gia tăng của nồng độ sulfur dioxide trong suốt thời kỳ này. Họ cũng tìm thấy xu hướng các màu trở nên trắng hơn nhưng họ muốn nhấn mạnh đến các kết quả đó khi bản thân các màu sắc trong các bức họa cũng nhạt dần theo thời gian. Những chuyển đổi được hiển thị theo cách như vậy ngày trở nên rõ nét.    Tình trạng mù sương trong bức họa này không chỉ là một hiện tượng đơn lẻ hay sự tình cờ ngẫu nhiên, các nhà khoa học cho biết như vậy trong công trình. Để đi đến nhận định này, họ đã kiểm tra 60 bức họa do Turner vẽ từ năm 1796 đến năm 1850 cùng 38 bức họa Monet vẽ từ năm 1864 đến năm 1901. Sau đó, sử dụng một mô hình toán học, họ nhìn vào cách các phác thảo những vật thể trong bức họa sắc nét như thế nào so với bối cảnh. Khi đó, độ tương phản thấp hơn hiển thị các điều kiện sương mù nhiều hơn. Họ cũng tìm hiểu mật độ của sương mù thông qua việc đo đạc độ trắng; các màu trắng hơn về cơ bản chỉ dấu mật độ sương mù dày hơn.  Bức Apullia in Search of Appullus (Apullia đi tìm của Appullus) của Joseph Mallord William Turner. Nguồn: Sciencealert  Apullia in Search of Appullus (Apullia đi tìm của Appullus) của Turner, bức vẽ vào năm 1814 với nhân vật từ tác phẩm Metamorphoses (Biến thể) của nhà thơ Latin Ovid: người chăn cừu có tên Appullus bị một số nàng nymph trừng phạt, biến thành một cây olive. Ở đây, Turner đã sáng tạo ra người vợ bí ẩn của Appullus, nàng Apullia. Khi đi tìm người chồng đã biến mất không tăm tích, nàng chỉ thấy cây olive có khắc tên chàng. Trong bức họa này, có thể thấy rõ các đường viền sắc nét và bầu trời trong trẻo nhưng ở Rain, Steam and Speed — The Great Western Railway mà ông vẽ 30 năm sau, sương mù đã lấn át trong bầu khí quyển. Trong thời gian này, nồng độ ô nhiễm sulfur dioxide đã tăng gấp đôi.  Giai đoạn đầu sự nghiệp của Monet khác biệt với giai đoạn cuối. Sainte-Adresse, vẽ năm 1867, có độ tương phản rõ ràng với loạt tranh Houses of Parliament được ông bắt đầu vẽ vào năm 1899, khi dành thời gian đến London trong nhiều tháng.  Nhóm nghiên cứu cũng đánh giá tầm nhìn, khoảng cách mà tại đó một vật thể có thể rõ ràng với mắt người. Nhờ vậy, họ tìm thấy trong các bức họa vẽ trước năm 1830 của Turner tầm nhìn về bầu trời và áng mây ở mức khoảng cách trung bình 25 km nhưng sau mốc thời gian này đã giảm còn 10km. Trong những bức họa thời kỳ đầu của Monet, tầm nhìn trung bình là 24km nhưng trong những ngày vẽ ở London, khoảng cách này rút xuống chỉ còn 6 km, riêng ở loạt tranh thuộc bộ sưu tập cây cầu Charing Cross của Monet, vật thể ở xa nhất mà người ta có thể thấy rõ ràng được ước tính ở khoảng cách 1km. Trong London Fog Inquiry, một bài báo trên Nature vào năm 1901, miêu tả tầm nhìn trong mùa đông năm 1901 đến năm 1902 chỉ xấp xỉ khoảng 2 km. Những khác biệt trong tính toán có thể do những bất định ở cả hai phương pháp –  tính mơ hồ của tầm nhìn ước tính bằng mắt và sự thêm vào của việc diễn giải mật độ sương mù, có một số giới hạn của phỏng đoán trong mô hình về tầm nhìn thị giác, hai nhà nghiên cứu lập luận trong công bố.  “Ấn tượng thường được coi là tương phản với Hiện thực nhưng kết quả của chúng tôi cho thấy, những tác phẩm ấn tượng của cả Turner và Monet đều nắm bắt một hiện thực nhất định”, nhà khoa học khí hậu Peter Huybers, nói với WashingtonPost. “Đặc biệt là Turner và Monet dường như đã chứng tỏ một cách chân thực cách tia nắng được lọc qua khói bụi và những áng mây như thế nào”.  Gạt bỏ nghi ngờ về thị lực của các họa sĩ  Nhưng vẫn còn nhiều điểm bất định trong cách lý giải này của cả Anna Lea Albright và Peter Huybers. Một số ý kiến đã phản bác lại quan điểm này. Họ cho là phong cách nghệ thuật của Turner và Monet đã thay đổi theo thời gian, qua đó dẫn đến sự thăng hoa của nghệ thuật Ấn tượng. Nhưng Anna Lea Albright và Peter Huybers trên thực tế cũng đã phân tích 18 bức họa của bốn nghệ sĩ Ấn tượng khác ở London và Paris (James Whistler, Gustave Caillebotte, Camille Pissarro và Berthe Morisot). Và điều mà họ tìm thấy hết sức tương đồng: tầm nhìn trong các bức họa suy giảm khi tình trạng ô nhiễm không khí bên ngoài gia tăng. “Khi những nghệ sĩ khác nhau tiếp xúc với những điều kiện môi trường tương đồng, họ vẽ theo những cách tương tự nhau”, Anna Lea Albright nhận xét, “ngay cả khi đó là những vật thể được khắc họa ở những thời điểm khác nhau của lịch sử”.   Một số nhà khoa học trước đây từng phân tích: các bức họa của Monet ngày một tối hơn cho đến khi bệnh đục thủy tinh thể được chữa trị khiến các bức họa của ông sáng lên lần nữa. Tuy nhiên trong kết luận của bài báo trên PNAS, cả hai nhà khoa học đều loại trừ giả thuyết thị lực trở nên kém đi theo tuổi tác khiến ảnh hưởng đến khả năng vẽ những bức tranh phong cảnh rõ ràng của Turner và Monet. Đáng chú ý là Turner vẽ những vật thể rõ đến từng chi tiết ở cận cảnh các bức họa trong khi lại làm mờ nhòe đi những vật thể ở phía sau, Albright nói. Còn Monet không phát triển bệnh đục thủy tinh thể cho đến vài thập kỷ sau khi bắt đầu vẽ những bức họa theo phong cách Ấn tượng.  Các bác sĩ nhãn khoa mà hai tác giả phỏng vấn, cũng đã giải quyết vấn đề liên quan đến tầm nhìn của hai họa sĩ. Michael Marmor, một giáo sư nhãn khoa tại Stanford, cho biết: “Monet không bị cận thị còn Turner không mắc bệnh đục thủy tinh thể”.  Một bức trong loạt tranh “Charing Cross Bridge” của Monet. Nguồn: Wikipedia  Thêm vào đó, các bức thư của Monet gửi vợ từ London đã đem lại những bằng chứng thuyết phục về việc ông nhận biết một cách chính xác những thay đổi trong môi trường quanh mình. Trong một số bức thư, ông thậm chí còn than vãn về sự thiếu vắng của các ngành công nghiệp mới trong quá trình sáng tạo của mình: “Mọi thứ đều như đã chết, không tàu hỏa, không khói hay tàu thuyền, không có gì để kích thích một chút nhiệt huyết”.  Nhà lịch sử nghệ thuật James Rubin, ĐH Stony Brook, đánh giá nghiên cứu được hút vào việc phân tích các màu sắc và sự tiến triển của độ mờ nhòe. “Nghiên cứu này đem lại một căn cứ mới cho những gì mà các nhà lịch sử nghệ thuật đã quan sát. Do đã chứng kiến sự thay đổi khí quyển của một thời kỳ, các họa sĩ này dĩ nhiên là lo ngại về nó”. Rubin cũng cho biết thêm là họ đã lấy cảm hứng từ chính những thay đổi môi trường xung quanh mình nhưng ở những góc nhìn khác nhau. Qua đó, ông kết luận: Turner về cơ bản là phản hiện đại, ngược lại, Monet thì sẵn sàng chào đón sự hiện đại, thông qua dấu hiệu thay đổi của ông.  Để chứng minh cho nhận xét này, Rubin đề cập đến bức họa Rain, Steam and Speed — The Great Western Railway, nó thể hiện một thái độ có phần thù địch với một công nghệ mới. “Khi nhìn vào con tàu trong bức họa, người ta chỉ thấy không có gì khác ngoài cái lò đốt hơi trên những bánh xe”, ông nói. “Nhiều người cảm thấy sợ hãi tốc độ của phương tiện giao thông mới này – khoảng 56,32 km/giờ”.  Bản thân Turner cũng hào hứng tìm thấy chất liệu nghệ thuật trong môi trường làm việc: “tự nhiên cũng trao các sự kiện tình cờ cho chính nghệ sĩ… để lưu trữ trong trí óc họ từng thay đổi của nơi chốn và thời gian”. Cụ thể hơn, Turner dường như tái hiện song song những thay đổi công nghệ và ảnh hưởng đến môi trường, cụ thể liên quan đến các ảnh hưởng khí tượng lên ánh sáng. Tương phản với điều đó, Monet có vẻ thích thú các hiệu ứng nghệ thuật của ánh sáng gắn với những đám mây trong bầu không khí ô nhiễm và “ngợi ca cảnh tượng của sự thay đổi do thời đại đem lại”, Rubin nói.  Miêu tả về những thay đổi của môi trường hay khí tượng học trong những bức họa không phải là điều gì đó quá mới. Một số nhà khí tượng học đã tìm thấy bức họa The Scream của Edvard Munch miêu tả những đám mây tầng bình lưu vùng cực. Một số đã phát hiện ra Moonrise (Trăng lên) của Vincent van Gogh chính xác là vào thời điểm 9 giờ 8 phút tối ngày 13/7/1889 ở Saint Rémy de Provence, Pháp. Một vài bức khác của Turner thì vẽ cảnh mặt trời mọc trong thời kỳ phun trào của núi lửa Tambora, vào năm 1815, do xuất hiện với màu đỏ hơn thông thường do tán xạ ánh sáng qua tầng bình lưu đầy sol khí.  Nhà khí tượng học Fred Prata, người từng phân tích hiện tượng khí tượng trong The Scream của Munch, cho rằng nghiên cứu của Anna Lea Albright và Peter Huybers làm tăng thêm quan điểm của mình về “nghệ thuật và khoa học có nhiều mối tương quan hơn những gì mọi người có thể biết”. Rõ ràng, những thay đổi trong môi trường đã xuất hiện một cách thực sự trong các tác phẩm nghệ thuật, ngay cả khi không phải bao giờ họa sĩ cũng nhận biết được những thay đổi đó.  Nói về nghiên cứu của mình, Albright cho rằng “đó là cái nhìn đầu tiên vào những tác động của con người lên môi trường theo thời gian và cách các nghệ sĩ có thể nắm bắt được điều đó và đưa nó lên mặt toan bằng nét vẽ”.  Nghệ sĩ và những người sống ở London và Paris “đã nhận biết được những thay đổi của ô nhiễm không khí và thực sự gắn kết với những thay đổi đó”, Albright nói. “Có thể đó là một hình thái song song với ngày nay, với cách xã hội và nghệ sĩ phản hồi với những thay đổi không lường trước được mà chúng ta đang trải nghiệm”, cô nói.  Mô hình mà họ phát triển cũng cho phép họ đặt nhiều tác phẩm nghệ thuật khác vào phân tích. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là ô nhiễm không khí có thể giải thích được diễn tiến nghệ thuật của mọi họa sĩ trong lịch sử nhưng tất nhiên đó là công cụ hữu hiệu. Các họa sĩ như Edgar Degas có thể đã vẽ với một bảng màu toàn màu sắc bảng lảng mơ hồ khi thị lực đã giảm sút theo thời gian. Còn Monet, có lẽ ô nhiễm không khí đã ảnh hưởng đến phong cách hơn là tuổi tác.  “Quan điểm của chúng tôi là việc các bức họa Ấn tượng ghi nhận hiện tượng tự nhiên – dù đối lập với sự tưởng tượng, hỗn độn hay mơ hồ – đã không hề làm giảm bớt đi ý nghĩa của các hiện tượng đó”, các nhà khoa học kết luận. “Hơn thế, nó nhấn mạnh vào sự kết nối giữa môi trường và nghệ thuật. Một kết nối vẫn còn bền chặt đến ngày hôm nay”.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.washingtonpost.com/climate-environment/2023/01/31/air-pollution-impressionism-monet-turner/  https://www.sciencealert.com/polluted-realism-how-monets-art-mirrors-the-evolution-of-smog    Author                .        
__label__tiasang Ấn tượng Malaysia      Malaysia đã mở màn “Năm du lịch 2007” tại thủ đô Kuala Lumpur với mong muốn thu hút hơn 20 triệu du khách – trong khi dân số cả nước chỉ có 25 triệu người. Bốn ngày ở Kuala Lumpur vào dịp ấy, chúng tôi đã hiểu vì sao xứ sở Hồi giáo này lại lạc quan như vậy.    Hoa dâm bụt   “Dâm bụt là quốc hoa của Mã Lai vì nó là loài hoa dễ trồng và sống thân thiện với mọi loài cây cỏ khác; nó tượng trưng cho tính thân thiện của người dân Mã Lai”. Người hướng dẫn viên du lịch của công ty Discovery ở Kuala Lumpur giải thích. Anh nói tiếp: “Mã Lai rộng bằng Việt Nam nhưng dân số chỉ khoảng 25 triệu người với 30 dân tộc khác nhau; 60% là người Mã Lai, 20% người Tàu, 8% người Ấn Độ, còn lại là các dân tộc thiểu số”. Lại nói: “50 năm nay kể từ ngày Mã Lai giành được độc lập từ thực dân Anh, đất nước Mã Lai hoàn toàn không có chiến tranh, bạo động, chỉ có kinh doanh, phát triển và sống thân thiện với mọi người”.             Văn phòng Thủ tướng Malaysia        Anh lấy mình làm thí dụ: “Tôi 26 tuổi, người Tàu chính gốc sinh ở Mã Lai. Tên chính của tôi là Phát, tên tiếng Anh là Henry và một du khách Việt Nam gọi tôi là Hưng”. Henry Phát nói thạo tiếng Mã Lai, tiếng Tàu, tiếng Anh và tiếng Việt.  Đưa khách đi thăm phố Tàu, trung tâm thương mại Kuala Lumpur, tháp đôi Petronas, thủ đô hành chính Putrajaya hay ở bất cứ đâu, chàng trai thông minh và dí dỏm này cũng luôn có cách tiếp thị xứ sở Malaysia của mình xoay quanh  “cánh hoa dâm bụt thân thiện”.  Thí dụ đi thăm đài tưởng niệm quốc gia, anh nói: “Các bạn thấy không, chính phủ Mã Lai vẫn xây một tượng đài của thực dân Anh bên cạnh tượng đài Hồi giáo của dân tộc Mã Lai, bởi vì lịch sử nó là như vậy”. Hoặc nói về ông chủ của khu giải trí Genting danh tiếng, anh kể: “Ông Lim Goh Tong năm nay 89 tuổi, giàu nhất Mã Lai, giàu thứ hai châu Á nhưng cũng là người Tàu chính gốc. Ông nhập cư vào Mã Lai năm 19 tuổi, làm thợ xây kiếm sống. Sau khi ông có tiền và muốn kinh doanh, chính phủ Mã Lai đã cho ông mua hẳn một vùng cao nguyên Genting để ông đầu tư làm khu giải trí. Ông Lim cũng là chủ của đội tàu du lịch 17 chiếc lớn thứ hai thế giới mang thương hiệu Star Cruise. Ông được như vậy là vì chính phủ Mã Lai không phân biệt đối xử mà chỉ muốn đất nước Mã Lai giàu có và thân thiện”.  Trong cái logo mới của năm du lịch này, giữa dòng chữ “Visit Malaysia Year 2007”, người họa sĩ đã vẽ một bông hoa dâm bụt với năm cánh hoa năm màu khác nhau mà riêng cánh hoa màu đỏ được vẽ cách điệu hình trái tim.  Cho nên không lạ khi ông Bộ trưởng Bộ Du lịch Malaysia – Tengku Adnan Tengku Mansor – nhắc lại nhiều lần câu khẩu hiệu “Malaysia chào đón thế giới”  trước 440 nhà báo đến từ 34 quốc gia tại buổi họp báo tối ngày 5-1. Mọi người  vẫn nhớ, năm ngoái, với khẩu hiệu “Malaysia chào đón châu Á”, đất nước Hồi giáo này đã đón 17,4 triệu lượt du khách.  Tối hôm sau là đêm lễ khai mạc “Visit Malaysia Year 2007” hoành tráng sắc màu bên hồ Titiwangsu giữa Kuala Lumpur. Trên suốt hơn ba cây số từ ngoài phố vào khu hành lễ, hằng trăm nghìn người dân Malaysia và du khách  san sát bên nhau nhưng không ai chen lấn, xả rác và không thấy có người bán hàng rong. Chỉ có những nụ cười thân thiện.  “Bàn tay nhà nước”  Malaysia theo chế độ quân chủ lập hiến như nước Anh. Nhà vua chỉ có quyền tượng trưng; quyền lực thuộc về thủ tướng. Nền kinh tế của đất nước Hồi giáo gồm 13 tiểu bang của Malaysia vận hành theo cơ chế thị trường tự do và chỉ có công ty tư nhân, không có công ty nhà nước.  Tất cả đều của tư nhân. Từ con đường cao tốc Bắc – Nam cực tốt dài 846 cây số; tòa tháp đôi cao 452 mét; tháp truyền hình cao 421 mét; sân bay quốc tế KLIA hiện đại “cho 100 năm sau”; những cánh rừng cọ bạt ngàn bao phủ đất nước… Thậm chí cả quảng trường Độc Lập trong thủ đô hành chính Putrajaya, cũng của tư nhân; mỗi năm tới ngày 31-8, chính phủ phải thuê quảng trường để làm lễ quốc khánh.  Người dân Malaysia đang có thu nhập bình quân 400 đô la Mỹ/tháng. Còn như Henry Phát, ngày nào đi làm thì công ty trả anh 40 đô. Khi mua sắm, từ ô tô đến nhà đất, mọi người đều được các ngân hàng tư nhân cho vay trả góp. Phát nói: “Mỗi gia đình ở Mã Lai có ít nhất hai xe hơi Proton, giá xe từ 7.000 – 25.000 đô/chiếc, bán trả góp trong 10 năm. Một căn hộ chung cư 80 mét vuông có giá từ 25.000 – 30.000 đô, được bán trả góp trong 30 năm”. Anh còn bảo, từ năm 1990, chính phủ không cho xây nhà ở trong khu trung tâm Kuaula Lumpur mà phải xây những đô thị vệ tinh. Mấy ngày ra ngoại ô, thấy chen trong những cánh rừng xanh hai bên đường, đang mọc lên nhiều khu đô thị mới cao vài chục tầng đẹp và hiện đại. Còn xe Proton nổi tiếng của Malaysia thì chạy đầy đường, nhưng rất ít kẹt xe và tuyệt nhiên không thấy có bóng dáng cảnh sát.  Buổi sáng đi thuyền dạo chơi trong hồ Putrajaya, ngắm những ngọn đồi xanh lô nhô những khu biệt thự lộng lẫy, không nghĩ đây là thủ đô hành chính mới của Malaysia. Từ năm 2000, tất cả các cơ quan chính phủ đã dời từ Kuala Lumpur về đây. Công sở, nhà riêng, siêu thị… đều hài hòa với bức tranh thiên nhiên của sông hồ và đồi xanh. Vậy mà chỉ mất có ba năm để các nhà thầu tư nhân xây dựng xong khu thủ đô hành chính rộng 4.700 héc ta ấy.  Cây xanh là “của quí” của xứ sở nhiệt đới ngày nào cũng có mưa này. Hồi năm 1993, chủ đầu tư phải chi gần 200.000 đô la Mỹ để dời một cây cổ thụ khi xây tháp truyền hình Kuala Lumpur, vì nếu không thì chính phủ không cho động thổ. Cái cây đó bây giờ đang phủ bóng mát ở cách chân tháp truyền hình chỉ vài bước chân. Sau khi lên tít trên tầng cao gần đỉnh tháp tham quan toàn cảnh thành phố, chúng tôi xuống tựa lưng vào gốc cây cổ thụ ấy chụp hình kỉ niệm. Theo lời Henry, bất cứ ai chỉ cần làm chết một cây xanh bên lề đường phố Kuala Lumpur, cũng phải bồi thường tới 4.000 đô la Mỹ.  Còn chuyện học hành thì sao? Chính phủ “bao cấp” mọi chi phí cho 12 năm học phổ thông và có đủ loại trường cho riêng người Mã Lai, người Tàu, người Ấn Độ. Còn học sinh, dù là dân tộc nào, cũng bắt buộc phải học tiếng Mã Lai và tiếng Anh cho nên hầu như mọi học sinh xong lớp 12 đều nói được tiếng Anh, tiếng Mã Lai và tiếng của dân tộc mình. Lên đại học thì đã có hơn 500 trường đại học liên doanh với các nước tiên tiến rải khắp Malaysia, tha hồ chọn.  Ấn tượng nữa là chuyện người dân Malaysia xài chứng minh thư điện tử. Henry Phát đưa cái chứng minh thư của mình ra, giống cái thẻ ATM, nói: “Dân Mã Lai, từ 12 tuổi trở lên là xài món này. Nó có một tấm ảnh và con chip lưu giữ tất cả thông tin cá nhân, từ lí lịch, sức khỏe, việc làm… đến hộ chiếu.  Mã Lai là nước xài món này đầu tiên trên thế giới, từ năm 1999. Nó thay cho tất cả các thủ tục giấy tờ cá nhân khác”.  Vậy mà tối ngày 6/1, tại đêm khai mạc “Năm du lịch Malaysia 2007”, ông Thủ tướng Abdullah Ahmad Badawi còn nhắc nhở người dân Malaysia: “Tôi muốn mọi người bảo đảm chắc chắn rằng xứ sở mình phải sạch đẹp và hấp dẫn. Để thành công, chúng ta phải cùng nhau làm việc hết mình”.  ———  ảnh trên cùng: Tác giả (phải) với Bộ trưởng Bộ Du lịch Malaysia    Huỳnh Kim      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn tượng vòng sơ tuyển đầu tiên cuộc thi Chiếc thìa vàng 2015      Màn khởi động cuộc thi Chiếc thìa vàng mùa thứ ba với chủ đề “Hành trình gia vị Việt” đã diễn ra hết sức ấn tượng không chỉ đem lại không khí đua tranh quyết liệt giữa các đội so tài mà còn giới thiệu được nhiều món ngon được trình bày đẹp mắt.       Diễn ra trong hai ngày 2 và 3/6, tại thành phố Cần Thơ, vòng loại cuộc thi Chiếc thìa vàng lần thứ ba khu vực khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có sự tham gia của 23 đội với gần 70 đầu bếp thuộc sáu tỉnh, thành: Tiền Giang, Vĩnh Long một đội, Đồng Tháp, An Giang hai đội, Kiên Giang 3 đội và Cần Thơ với số đội đông nhất là 14 đội.  Chủ đề của vòng loại lần này là “Hương vị quê nhà – Hành trình gia vị Việt”.  Đúng như chủ đề, các đội đã gửi tới cuộc thi những món đặc sản độc đáo của địa phương mình như  ốc bươu đốt rượu, lẩu gà ác tiềm ớt xanh dùng kèm với miến rong biển và rau nhúng, bánh pudding thốt nốt, chả giò mắm… (An Giang), Hủ tiếu xào Sa Đéc, chả giò hương vị ấu, gà tre tiềm củ sả, hạt sen và lá chúc (ăn kèm mì), xoài Cao Lãnh (Đồng Tháp); gỏi cuốn cá trích tam vị, cá bóp nướng quế sốt sơn trà Phú Quốc, bồ câu gà hầm nấm tràm Phú Quốc, Phú Quốc “sim” sốt caramel (Kiên Giang), gà tre hấp nước mắm ăn kèm với bánh bao, cơm rượu (Tiền Giang), chả ếch cuộn mía sốt đậu đen, cá bông lau nướng nghệ sốt bần (Vĩnh Long). lươn đồng um với cỏ xước, bánh xèo kèm rau đọt lụa, lá cách, lá điều, đọt xoài, đọt cóc, đinh lăng, quế nước, xà lách, cải bẹ xanh (Cần Thơ)…  Sau khi hội ý, ban giám khảo đã trao đồng giải nhất cho La Veranda Resort và Nhà hàng Năm Nhỏ (Kiên Giang), hai đội thi có nhiều sáng tạo trong chế biến và trình bày các món đặc sản tham dự.   Bên cạnh đó, ban giám khảo còn trao sáu giải nhì cho khách sạn Đông Xuyên, nhà hàng tiệc cưới Thắng Lợi (An Giang) và nhà hàng Cửu Long River, hệ thống nhà hàng Cây Bưởi, quán Nhi, nhà hàng Hoa Sứ (Cần Thơ).  Bên lề cuộc thi, khoảng 50 thực khách đã được thưởng thức thực đơn chọn lọc từ các món ăn trong sách “Chiếc thìa vàng – Tinh hoa ẩm thực Việt” năm 2013 do các đầu bếp đoạt giải “Chiếc thìa vàng” hai mùa thi trước tuyển chọn, trực tiếp chế biến, phục vụ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh bắt đầu “cuộc cách mạng nông nghiệp”      Sau khi rút khỏi EU vào cuối tháng 1/2020, không còn liên quan đến chính sách trợ cấp nông nghiệp của châu Âu nên Chính phủ Anh đã đề xuất những thay đổi căn bản trong việc sử dụng số tiền 3 tỷ bảng mỗi năm cho nông nghiệp. Cụ thể số tiền này sẽ được tập trung đầu tư vào việc cải thiện các vấn đề khí hậu, hệ sinh thái và cộng đồng. “Thật ấn tượng, nó sẽ mang tính quyết định”, Dieter Helm, nhà kinh tế thuộc Đại học Oxford, cho biết. “Đây là một cuộc cách mạng nông nghiệp.”      Thu hoạch rau ở một trang trại Anh. Nguồn: The Guardian.  Theo dự luật vừa được giới thiệu trước Quốc hội và dự kiến sẽ đưa vào luật trong vòng vài tháng tới, nông dân sẽ không chỉ được trợ cấp đất đai canh tác mà còn được cung cấp một dạng “hàng hóa công” nhằm chi trả dịch vụ hệ sinh thái, bao gồm cô lập carbon (sequestering carbon) trong cây hoặc đất, sử dụng phương pháp thụ phấn lên các loài hoa thân thiện với môi trường, và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin ở các vùng nông thôn. Để dễ dàng chuyển đổi, các khoản trợ cấp trực tiếp sẽ được loại bỏ trong vòng 7 năm kể từ năm 2021 và những khoản thanh toán mới cho các dịch vụ môi trường sẽ được đưa vào các dự án thí điểm.   Từ sau sự tàn phá và nạn đói – hậu quả của Thế chiến II, thuế quan châu Âu đã bảo vệ người nông dân khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài và cung cấp các khoản trợ cấp để giúp tăng năng suất. Hậu quả là “họ chỉ quan tâm đến sản lượng, còn môi trường sẽ ra sao thì không thành vấn đề”, Ian Bateman, nhà kinh tế môi trường tại Đại học Exeter nói. Việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu đã gây ô nhiễm không khí lẫn nguồn nước, môi trường sống bị hủy hoại đã gây hại cho các loài động vật thụ phấn và động vật hoang dã khác.   Giờ đây, Brexit là cách để Anh đi theo con đường riêng của mình. Theo đề án mới do một cơ quan thuộc Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn (DEFRA) giám sát, tổng kinh phí sẽ không thay đổi nhưng một số nông dân sẽ nhận được nhiều hỗ trợ hơn những nông dân khác. Để có lợi nhuận, các trang trại thịt bò và cừu phụ thuộc vào trợ cấp nhiều hơn các trang trại chăn nuôi bò sữa và lúa mì, nếu không có các khoản trợ cấp, những khu vực như Scotland sẽ rơi vào cảnh khó khăn. Nhưng Helm đã tìm thấy sợi dây cứu sinh cho các trang trại này: các khoản thanh toán dành cho cô lập carbon cùng các đồn điền hoặc đất than bùn phục hồi. Tài trợ cho việc khôi phục các công trình di sản hoặc cải thiện vẻ đẹp cảnh quan cũng có thể giúp duy trì các trang trại trong khi vẫn thúc đẩy du lịch. Các khoản thanh toán khác sẽ giúp nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu hoặc giảm tác động môi trường.   Khoảng 1/8 khoản tiền trợ cấp nông nghiệp hiện tại của Anh dùng để chi trả cho các hoạt động thân thiện với môi trường như duy trì hàng rào cây và môi trường sống khác, và những nỗ lực đó sẽ tiếp tục được mở rộng. Để tăng giá trị đồng tiền, DEFRA có kế hoạch tổ chức đấu giá, trong đó nông dân hoặc các nhà quản lý đất đai khác sẽ đấu thầu giành lấy hợp đồng của chính phủ đối với các dịch vụ môi trường. Các công ty nước đã sử dụng đấu giá ngược để chọn nông dân – những người được trả tiền để sử dụng phân bón và các loại thuốc trừ sâu khác ít đi, nhằm giảm chi phí xử lý nước.   DEFRA còn muốn điều chỉnh các khoản chi trả đối với những khu vực khác nhau, nhưng vẫn cần nghiên cứu để có được hình thức thanh toán đem lại tối đa lợi ích bởi các khoản thanh toán cô lập carbon có thể gây tác dụng ngược nếu sử dụng sai địa điểm. Ví dụ, trồng cây trên đất than bùn có thể làm khô chúng, giải phóng nhiều khí nhà kính, Bateman nói.  David Harvey, nhà kinh tế nông nghiệp tại Đại học Newcastle cho biết, cần phải có các mô hình kinh tế xã hội để nghiên cứu tác động của những thay đổi chính sách đối với các trang trại và cộng đồng nông thôn vì vẫn còn nhiều điều cần làm rõ. Có phải nông dân sẽ chỉ được thanh toán nếu chất lượng không khí và nước được cải thiện? Và trong khoảng thời gian bao lâu? Ai sẽ phụ trách đo lường nó? “Các câu hỏi bị bỏ ngỏ còn nhiều hơn là câu trả lời”, Mark Sutton, một chuyên gia về nitơ tại Trung tâm Sinh thái học và Thủy văn cho biết.□  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/01/united-kingdom-embark-agricultural-revolution-break-eu-farm-subsidies    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh đầu tư để tăng cường ĐMST ngành dược phẩm      Quỹ Thách thức Chiến lược Công nghiệp của Vương quốc Anh tài trợ 8 triệu bảng cho các sáng kiến cải thiện năng lực sản xuất, giảm lãng phí và chi phí trong chuỗi cung ứng dược phẩm.      Trong bối cảnh Vương quốc Anh đang phải đối phó với nhiều thách thức mang tính then chốt như già hóa dân số và cạnh tranh toàn cầu trong CMCN 4.0, Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Anh đã thành lập Quỹ Thách thức Chiến lược Công nghiệp. Là trụ cột chính trong cam kết của chính phủ về tăng tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, Quỹ sẽ có thêm 4,7 tỷ bảng trong vòng 4 năm để tăng cường sức mạnh của nền khoa học và kinh tế Anh, qua đó góp phần đảm bảo Anh duy trì được vị trí hàng đầu thế giới về công nghệ, kinh doanh.  Một trong những mối quan tâm lớn của Quỹ Thách thức Chiến lược Công nghiệp là cải thiện đáng kể năng lực, hiệu quả và quy mô sản xuất trong ngành công nghiệp dược phẩm, từ lâu đã là một thị trường khổng lồ, đóng góp đến 7,2% giá trị sản xuất gia tăng nội địa của Anh. “Mục tiêu chính là tìm cách tăng đáng kể tốc độ phát triển, sản xuất và phân phối các loại thuốc mới ở Anh cũng như tăng tỷ lệ bệnh nhân có thể tiếp cận các loại thuốc mới. Chúng tôi muốn tạo điều kiện cho Anh có được các liệu pháp điều trị an toàn, kinh tế và hiệu quả.” – Nick Medcalf, Giám đốc Bộ phận Thách thức về Sản xuất thuốc của Quỹ chia sẻ. Việc triển khai các sáng kiến này sẽ thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo dược phẩm ở Anh thông qua những sản phẩm mới được thương mại hóa nhanh chóng trên nền tảng sản xuất tiên tiến và thu hút được nhiều công ty, tổ chức nghiên cứu tham gia.  Hồi tháng 6 vừa qua, Quỹ Thách thức Chiến lược Công nghiệp đã dành 13 triệu bảng và phối hợp với các tổ chức khác để xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo trong Sản xuất Dược phẩm trị giá 56 triệu bảng, nhằm đảm bảo vị trí dẫn đầu thế giới về sản xuất thuốc phân tử nhỏ và hóa chất của Anh.  Theo thông tin mới nhất, Quỹ Thách thức Chiến lược Công nghiệp đã dành 8 triệu bảng, trong tổng giá 181 triệu bảng cho quỹ chăm sóc sức khỏe – một bộ phận thuộc Quỹ, triển khai cuộc thi tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện quy trình sản xuất, giảm chi phí và lãng phí trong chuỗi cung ứng dược phẩm, thông qua việc tăng tỷ lệ sử dụng công nghệ số. Ông Medcalf giải thích: “Một số liệu pháp y dược tiên tiến hiện nay đều dựa trên các yếu tố tế bào sống, kỹ thuật mô hay kỹ thuật gene nên rất nhạy cảm với các điều kiện lưu trữ, vận chuyển, phân phối và ứng dụng. Vì thế chúng tôi cần đảm bảo quản lý được chuỗi cung ứng và các hoạt động sản xuất để có thể truy nguyên sản phẩm”.  Vì thế, hiện nay cuộc thi đang tìm kiếm các dự án giải quyết ít nhất một trong ba vấn đề: (1) Nâng cao năng lực và khả năng sản xuất các thuốc phân tử nhỏ, thuốc sinh học, thuốc có thành phần tế bào hoặc gene để điều trị các bệnh lý và hiện tượng rối loạn ở người; (2) Giảm đáng kể chi phí sản xuất các loại thuốc trên và (3) Giảm đáng kể các chất thải trong quá trình sản xuất. Các đề xuất cũng phải cho thấy khả năng tăng năng suất, khả năng cạnh tranh, tăng trưởng của ít nhất một doanh nghiệp Anh có liên quan.  Các dự án tham gia cuộc thi phải có tổng chi phí trong khoảng hai đến bốn triệu bảng, nhằm đảm bảo hiệu quả tác động của dự án. Dù các dự án bắt đầu vào 1/1/2019 và kết thúc vào 31/3/2019 nhưng cũng có thể gia hạn thêm từ ba đến bốn tháng nếu cần thiết.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn tin & ảnh: https://innovateuk.blog.gov.uk    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh đưa năng lượng hạt nhân vào nhóm bền vững với môi trường      Trong bài phát biểu trước Hạ viện phác thảo kế hoạch chi tiêu và thuế của chính phủ, Thủ tướng Anh Jeremy Hunt khẳng định, tăng công suất hạt nhân là rất quan trọng nhằm đáp ứng nghĩa vụ liên quan đến phát thải ròng bằng 0 của nước này. Thủ tướng xác nhận việc tổ chức tham vấn về năng lượng hạt nhân và đưa hạt nhân vào nhóm năng lượng bền vững với môi trường trong “green taxonomy” tạm dịch là Bảng phân loại xanh của Anh. Mục tiêu của bảng phân loại này là định hướng dòng vốn đầu tư vào những hoạt động sản xuất được cho là xanh, sạch, bền vững.      Hình ảnh nhà máy Rolls-Royce SMR. Ảnh: Rolls-Royce SMR  Thủ tướng Anh công bố thêm hai cam kết thực hiện các tham vọng hạt nhân. Một là thành lập cơ quan chính phủ Great British Nuclear hỗ trợ ngành công nghiệp hạt nhân, giúp giảm chi phí, tạo cơ hội trong chuỗi cung ứng hạt nhân và cung cấp lên đến ¼ sản lượng điện của Anh vào năm 2050. Hai là phát động cuộc thi lần đầu tiên tổ chức cho các thiết kế lò phản ứng nhỏ (SMR), nhằm khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào chương trình hạt nhân, cho phép hạt nhân tiếp cận với các ưu đãi đầu tư tương tự như năng lượng tái tạo.    Trong số các tài liệu Ngân sách được đăng trực tuyến, không cung cấp thêm thông tin chi tiết nào về cuộc tham vấn.  Việc xác định năng lượng hạt nhân có phải hoạt động xanh hay không để đưa vào bảng phân loại của các quốc gia và được đầu tư bền vững là một vấn đề quan trọng trong những năm gần đây. Mọi chính phủ đều phải cân nhắc túi tiền của mình để đầu tư, hỗ trợ các lĩnh vực giúp đáp ứng mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Liên minh châu Âu đưa ra bảng phân loại xanh vào năm ngoái, trong đó có năng lượng hạt nhân nhưng kèm các điều kiện và chỉ trên cơ sở chuyển đổi năng lượng.  Tại Anh, cuộc so găng giữa các SMR dự kiến sẽ thu hút những thiết kế tốt nhất từ cả các nhà cung cấp trong nước và quốc tế, và kết thúc vào cuối năm nay. Tham vọng của chính phủ là đến cuối năm sẽ lựa chọn ra các công nghệ hàng đầu. Nếu SMR chứng minh được tính khả thi thì sẽ nhận được nhiều khoản đồng tài trợ.  Hàng tá các thiết kế SMR khác nhau gắn với nhiều dự án ở các giai đoạn khác nhau của một số quốc gia được gửi đến cuộc thi. Rõ ràng là sẽ có rất nhiều triển vọng cho một thị trường toàn cầu rộng lớn trong những năm tới.  Vào tháng 4/2022, Văn phòng Quy định Hạt nhân Anh (Office for Nuclear Regulation) đã bắt tay vào đánh giá thiết kế tổng thể của Rolls-Royce SMR. Đây là quá trình tiêu tốn 4-5 năm, xem xét thiết kế cho một nhà máy điện hạt nhân nói chung và không dành cho địa điểm cụ thể. Vào tháng 11/2021, Rolls-Royce SMR nhận được tài trợ của chính phủ Anh trị giá 210 triệu bảng (285 triệu USD), đã chọn ra 3 địa điểm đặt nhà máy đầu tiên sản xuất linh kiện cho hàng loạt các SMR, và xác định một loạt địa điểm nhà máy điện hạt nhân ở Anh có tiềm năng tiếp nhận SMR.  Giám đốc điều hành của Hiệp hội Công nghiệp hạt nhân Anh, Tom Greatrex, vui mừng trước thông báo của Thủ tướng. Ông cho rằng đây là một bước tiến lớn đối với an ninh năng lượng và mục tiêu phát thải = 0 của Anh. Đưa hạt nhân vào Bảng phân loại xanh của Vương quốc Anh là một động thái quan trọng theo chân các quốc gia hạt nhân hàng đầu khác, và sẽ thúc đẩy đầu tư  trọng yếu vào các dự án mới, tạo điều kiện cấp vốn cho các lò phản ứng mới trở nên rẻ hơn và dễ dàng hơn.  Great British Nuclear với quyền lựa chọn địa điểm cho các dự án mới sẽ giúp triển khai các cơ sở hạt nhân hiệu quả hơn nhiều và vạch rõ đường đi nước bước cho chuỗi cung ứng hoạt động. Việc tuyển chọn SMR sẽ đưa nước Anh trở lại cuộc đua toàn cầu, tạo cơ hội phát triển cho các công nghệ “của nhà trồng được”, mang lại việc làm và các khoản đầu tư cho nước này, tận dụng cơ hội xuất khẩu trong một thị trường toàn cầu rộng lớn.    Phạm Thị Thu Trang/VINATOM  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/anh-dua-nang-luong-hat-nhan-vao-nhom-ben-vung-voi-moi-truong/    Author                .        
__label__tiasang Ánh dương giữa ngọ      Từng được bình chọn theo ngành phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), điều bất ngờ sau một thập niên dày công theo đuổi, dẫn dắt chuỗi liên kết hành động, công ty TNHH ADC đã được người tiêu dùng bình chọn DN Hàng Việt Nam chất lượng cao ngành thực phẩm năm 2018.      Gạo huyền mễ Trường Thọ của ADC còn nguyên cám, nguyên phôi và lưu giữ trọn vẹn các chất dinh dưỡng. Ảnh: H.L  ADC là một trong 44 doanh  nghiệp đầu tiên đạt chuẩn HVNCLC – Chuẩn hội nhập với những giá trị dày công tạo  dựng.  Ông Võ Minh Tấn, chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH ADC cho biết câu lạc bộ Nông dân ADC ban đầu chỉ có 11 người, nay đã có 16.000 người gắn bó với “Cánh đồng mơ ước”, những người đóng góp trực tiếp cho kỳ công này.  ADC thiết kế các chương trình nền tảng phát triển đa ngành, đa dạng hóa sản phẩm cho cộng đồng thực hiện ước mơ cải thiện sinh kế: từ việc nghiên cứu, chọn giống cây trồng nhiều ưu thế, đủ tố chất để tạo khác biệt, lập nhóm R&D, xây dựng hệ thống chế biến gồm nhà máy sản xuất thực phẩm chức năng đạt chứng nhận quốc tế ISO 22000:2005, GMP-WHO, HACCP… (ADC Pharma đang cung cấp khoảng 50 loại cao dược liệu và 15 loại tinh dầu cho các công ty dược lớn trong nước như: Dược Hậu Giang, OPC Pharma, F.T. Pharma…), hai nhà máy chế biến lương thực đặt tại Cần Thơ và Đồng Tháp, đạt chuẩn ISO 22000:2005, HACCP (phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn, công suất 200.000 tấn/năm).  So với các ngành hàng hiện có, gạo sạch (ADC Rice) thu hút dòng vốn rất lớn của ADC từ những cố gắng xây dựng cánh đồng mẫu đạt chuẩn GlobalGAP (đầu tiên ở Việt Nam từ năm 2009), mở đường cho ý tưởng phát triển gạo đen (huyền mễ) Trường Thọ còn nguyên cám, nguyên phôi và lưu giữ trọn vẹn tất cả các chất dinh dưỡng, chứa hàm lượng anthocyanin cao có khả năng chống oxy hóa, giảm và phòng ngừa xơ vữa mạch máu, ngừa bệnh tiểu đường type 2 và ngăn ngừa ung thư.  ADC liên kết với CASUCO khai thác nguồn bã bùn để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, vật tư đầu vào cho những nông dân chuyển sang hướng sản xuất hữu cơ trên 20.000 tấn/năm.  Tất cả đều phải đầu tư tới nơi tới chốn, theo ông Tấn, cách đây 12 năm, khi ADC phát triển các ngành giống cây trồng, phân bón, thức ăn thủy sản, dược phẩm, kể cả ngành hàng đầu tiên là bảo vệ thực vật có thể quy mô nhỏ nhưng phải đúng chuẩn và mọi thứ phải được kiểm soát.  “Bình quân đất đai của nông dân ĐBSCL chỉ khoảng 0,5 ha/nông hộ. Muốn làm mô hình lớn cũng khó nên bắt đầu từ những cái nhỏ, vấn đề là liên kết nông hộ, liên kết ý tưởng dẫn dắt nhau làm ra hàng hóa chuẩn mực đáp ứng yêu cầu thị trường”, ông Tấn nói. Hiện nay, ADC liên kết các viện, trường trong nước và Singapore để thực hiện nhiều mô hình phát triển sản phẩm sạch đúng nghĩa tại Lâm Đồng, Đồng Tháp và triển khai vùng dược liệu công nghệ cao ở trung du. Là đơn vị đồng hành cùng dự án“Đổi mới sáng tạo” năm 2015 với Hội DN. HVNCLC, ông Tấn chia sẻ: “Khi những mô hình chạy đều sẽ chia sẻ với sinh viên, nông dân để lớp trẻ trở về với đất đai, nông nghiệp cùng nông dân làm ra hàng hóa an toàn”.  Cánh đồng mơ ước, mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa giữa ADC và nông dân là nơi để nông dân cùng chia sẻ theo trục quan hệ. Những nông dân giỏi ý thức trách nhiệm nâng đỡ nhau, đầu tiên theo quan hệ thân tộc, chòm xóm và chia sẻ cộng đồng để cùng thực hiện bốn tiêu chí: sử dụng giống chất lượng cao, minh bạch hóa quy trình, dễ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, an toàn môi trường, sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng. Mấy năm nay, lúa gạo được chế biến theo quy trình khép kín, tự động; công nghệ hiện đại, đóng gói thành phẩm tại nguồn đảm bảo thuần chất, ngọt – thơm tự nhiên và giữ được nhiều nguồn dưỡng chất vốn có, không dầu bóng, không sử dụng chất bảo quản, không có chất tạo màu và không sử dụng chất tạo mùi, nông dân trong cánh đồng mơ ước sống mạnh giỏi, nhiều nông dân cho biết.  ADC là một trong số rất hiếm công ty có phòng lab với hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao, hệ thống sắc khí khối phổ… giúp kiểm tra, đánh giá được chất lượng nguyên liệu đầu vào và thành phẩm với đầy đủ các chỉ tiêu khác nhau: phân tích hoạt chất, tạp chất, đa lượng vitamin,… Đầu tiên giới hạn trong dược liệu và thành phẩm theo dược điển, nay được đầu tư mạnh hơn, bảo đảm kiểm định chính xác tại nguồn hỗ trợ dự án phát triển đa ngành.  Vân Anh (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ánh nắng mặt trời có thể kích hoạt hormone khiến đàn ông đói hơn      Các nhà khoa học nhận thấy nồng độ ghrelin kích thích sự thèm ăn trong máu nam giới tăng lên sau khi họ phơi nắng. Ở nữ giới, estrogen đã giúp ngăn chặn hiện tượng này.    Nam giới ăn nhiều hơn trong những tháng mùa hè. Mức tăng không lớn, nhưng theo thời gian, điều này đủ để gây tăng cân. Ảnh: Unsplash  Ánh nắng ngày hè có thể khiến chúng ta cảm thấy nóng nực, đổ mồ hôi và da sạm đi – nhưng nó còn có thể khiến đàn ông đói hơn, bằng cách kích hoạt cơ chế giải phóng hormone tăng sự thèm ăn trong cơ thể của họ.  Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Metabolism cho thấy việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể mang lại những tác động phức tạp hơn chúng ta vẫn tưởng.  Từ lâu, ta vẫn biết dang nắng quá nhiều làm tăng nguy cơ ung thư da, nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc vừa phải với ánh nắng còn có thể giúp chống lại bệnh tim mạch và các nguyên nhân tử vong khác. Các nhà khoa học cho rằng ánh nắng giúp giải phóng oxit nitric khỏi da, một quá trình làm cho các mạch máu giãn ra, từ đó khiến huyết áp giảm xuống. Một số nghiên cứu thì chỉ ra lợi ích của ánh nắng mặt trời đối với quá trình sản xuất vitamin D của cơ thể.  Với mong muốn xem xét vai trò của ánh nắng đối với việc tiêu thụ thực phẩm, Giáo sư Carmit Levy thuộc khoa di truyền phân tử người và hóa sinh, Đại học Tel Aviv, và các đồng nghiệp của ông đã phân tích dữ liệu của 3.000 người từng tham gia cuộc khảo sát dinh dưỡng quốc gia. Các nhà nghiên cứu nhận thấy nam giới ăn nhiều hơn trong những tháng mùa hè. Mức tăng không lớn – tương đương với việc ăn thêm 300 calo mỗi ngày – nhưng theo thời gian, điều này đủ để gây tăng cân.  Để hiểu rõ hơn, họ yêu cầu các tình nguyện viên nam và nữ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời 25 phút vào một buổi trưa trời quang đãng, và nhận thấy nó kích hoạt nồng độ hormone kích thích sự thèm ăn trong máu của nam giới – ghreli – tăng lên, nhưng tình trạng này không xảy ra ở nữ giới.  Tương tự, các thí nghiệm trên chuột cho thấy khi con đực tiếp xúc với tia UVB, chúng ăn nhiều hơn, có động lực để tìm kiếm thức ăn và lượng ghrelin trong máu tăng lên. Chuột cái không có biểu hiện nào như vậy.  Sự kích hoạt giải phóng ghrelin có thể gây tổn thương DNA trong tế bào da. Estrogen ngăn chặn điều này, nhóm nghiên cứu nghi ngờ đây là lý do khiến ánh sáng mặt trời không ảnh hưởng đến phụ nữ theo cách tương tự.  Levy giải thích rằng ghrelin, đôi khi được gọi là ‘“hormone đói”, có những tác dụng khác đối với cơ thể. Bên cạnh khả năng điều hòa sự thèm ăn, nó cũng làm giảm viêm và giảm thiểu nguy cơ suy tim, đồng thời giảm huyết áp động mạch. “Ghrelin có thể là câu trả lời cho lý do vì sao việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch”, bà cho hay.  Carlos Diéguez và Rubén Nogueiras, các giáo sư tại Đại học Santiago de Compostela, Tây Ban Nha, những người không tham gia vào nghiên cứu, mô tả kết quả rất “thú vị”, họ cho rằng khám phá này sẽ gợi mở thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai hòng đánh giá ảnh hưởng của tuổi tác và sắc tộc đến việc tiếp xúc với tia UVB và lượng thức ăn nạp vào. “Xa hơn, công trình này chắc chắn sẽ mở đường cho các nghiên cứu về vai trò của da trong việc cân bằng nội môi năng lượng và trao đổi chất, một lĩnh vực chưa được chú trọng xứng đáng,” họ bình luận.  Tiến sĩ Duane Mellor, một chuyên gia dinh dưỡng và là giảng viên tại Đại học Aston – người không tham gia vào nghiên cứu, lại có phần thận trọng hơn. “Nó cho thấy tia UVB có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa hormone như thế nào và điều này có thể liên quan đến sự gia tăng hormone thèm ăn ghrelin, ít nhất là ở chuột,” ông nói.  “Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bài báo này không khẳng định việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và tia UVB sẽ khiến nam giới tăng cân. Thay vào đó, nó cung cấp một số thông tin thú vị, chẳng hạn như việc tiếp xúc vừa phải với tia UVB có thể mang lại một số lợi ích về mặt sức khỏe, bao gồm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và viêm nhiễm, vì ghrelin có tác dụng chống viêm.”  Đinh Cửu  dịch  Nguồn:  Sunlight may trigger hormone that makes men hungrier, study suggests    Author                .        
__label__tiasang Anh: Tái định nghĩa khái niệm “kho báu” nhằm bảo vệ các đồ tạo tác quý hiếm      Các phát hiện quan trọng gần đây không đáp ứng tiêu chí “kho báu” vì chúng được làm từ đồng, không phải từ kim loại quý.      Vào năm 2003, một nhà khảo cổ nghiệp dư ở Staffordshire đã phát hiện ra chiếc bình đồng tráng men La Mã có niên đại vào thứ kỷ thứ 2 sau công nguyên. Bảo tàng Gốm ở Stoke-on-Trent, Bảo tàng Tullie House ở Carlisle và Viện Bảo tàng Anh đã mua lại nó. Ảnh: Fiona Hanson/PA  Chính phủ Anh có kế hoạch thay đổi định nghĩa chính thức về “kho báu” để bao hàm nhiều phát hiện khảo cổ quý hiếm hơn, từ đó có thể lưu giữ chúng cho quốc gia, thay vì bán cho các nhà sưu tập tư nhân.   Theo Đạo luật về Kho báu năm 1996, các đồ vật được coi là kho báu khi chúng trên 300 năm tuổi và được làm từ vàng hoặc bạc, hoặc được tìm thấy cùng các đồ tạo tác làm bằng kim loại quý. Sau khi chính thức được xác định là kho báu, những đồ vật đó trở thành tài sản nhà nước và các bảo tàng địa phương hoặc quốc gia sẽ mua lại để trưng bày trước công chúng.   Nhưng định nghĩa về kho báu của Đạo luật trên lại không bao hàm nhiều phát hiện quan trọng của thế kỷ XVI. Thông qua thiết bị dò tìm kim loại, các nhà khảo cổ đã khám phá ra ngày càng nhiều đồ vật từ nước Anh thời La Mã, nhưng chúng lại không đáp ứng tiêu chuẩn để trở thành ‘kho báu’ vì chúng thường được làm từ đồng hơn là kim loại quý. Ngoài ra, nước Anh đã đánh mất một số vật phẩm có tầm quan trọng quốc gia vào tay công chúng, hoặc nhà sưu tập, tư nhân, Bộ Văn hóa cho biết.   Những khám phá gần đây bao gồm ghim cài áo hình ngựa bằng đồng tráng men – nổi tiếng với tên gọi ngựa Leasingham. Ghim cài này có niên đại từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 4 sau Công nguyên, do một nhà khảo cổ nghiệp dư phát hiện ở Lincolnshire, gần làng Leasingham, miền đông nước Anh vào năm nay. Chiếc ghim là một mẫu vật quý hiếm và có ý nghĩa ở tầm quốc gia, nhưng nó lại không được coi là một báu vật. Tuy nhiên, nhờ sự hào phóng của ông Jason Price, người phát hiện ra nó, chiếc ghim đã được trưng bày tại Bảo tàng Collection ở Lincoln (Anh).   Một bức tượng nhỏ bằng đồng hợp kim đặc biệt quý hiếm của La Mã, nằm dưới lớp vải của một chiếc áo choàng có mũ trùm đầu – còn gọi là birrus brittanicus, được tìm thấy gần Chelmsford, Essex. Bức tượng gần như đã chắc chắn vào tay của một nhà sưu tập nào đó. Tuy nhiên, chính phủ đã vào cuộc trì hoãn thành công việc mua bán cổ vật này. Bảo tàng thành phố Chelmsford sau đó đã có đủ thời gian để gây quỹ mua lại bức tượng.   Việc cấp một định nghĩa mới cho từ “kho báu” nhằm đảm bảo rằng nó sẽ bao hàm cả những phát hiện quan trọng về mặt lịch sử hoặc văn hóa như vậy, bất kể chúng làm từ vật liệu gì.   Thông báo về kế hoạch này, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Caroline Dinenage cho biết: “Hoạt động tìm kiếm kho báu bị chôn giáu bằng máy dò đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, nhiều đồ tạo tác cổ giờ đây đã xuất hiện trong các bộ sưu tập của bảo tàng. Tuy nhiên, chúng tôi cần phải đề ra nhiều kế hoạch hơn nữa nhằm bảo vệ lịch sử quý giá của đất nước và giúp mọi người theo dõi quy trình xử lý một kho báu dễ dàng hơn.”  Chính phủ đã mời những người tìm kiếm, chủ đất, bảo tàng và đại diện người dân tham gia vào quá trình tham vấn để đưa ra đề xuất phù hợp. Các nhà khảo cổ, nhà khảo cổ nghiệp dư, bảo tàng, viện và nhà giám tuyển sẽ có cơ hội đóng góp để tạo ra định nghĩa mới. Chính phủ cũng sẽ giới thiệu các kế hoạch nhằm hợp lý hóa quy trình xử lý kho báu.   Thú vui phát hiện kim loại bằng máy dò đã dẫn đến việc ngày càng nhiều người phát hiện ra kho báu – từ chỉ 79 phát hiện vào năm 1997 lên 1.267 vào năm 2017. Trong năm 2017,  96% các trường hợp đã xác nhận là kho báu đều được phát hiện bằng máy dò kim loại.   Bảo tàng Anh bày tỏ sự ủng hộ những đề xuất này. “Chúng tôi vô cùng hoan nghênh việc hợp tác với [Bộ Văn hóa] vì cơ quan này đang tiến hành cải cách luật kho báu nhằm bảo vệ di sản của chúng ta”, Michael Lewis, người đứng đầu bộ phận cổ vật và kho báu có thể di chuyển được, cho hay.   Roger Bland, chủ tịch ủy ban định giá kho báu, cũng hoan nghênh thông báo này. Ông cho rằng việc định nghĩa lại “kho báu” sẽ kéo theo nhiều hành động khác để “đảm bảo có thể bảo vệ những phát hiện quan trọng nhất.”   Anh Thư dịch  Nguồn: Definition of treasure trove to be recast to protect UK’s rare artefacts       Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh thành lập Cơ quan Nghiên cứu & Phát minh Tiên tiến      Cùng với lộ trình cải cách khoa học và công nghệ quốc gia được đề xuất từ giữa năm 2020, Chính phủ Anh vừa chính thức khai trương Cơ quan Nghiên cứu và Phát minh Tiên tiến (The Advanced Research & Invention Agency – ARIA) với hơn 800 triệu bảng Anh ngân sách đầu tư.      Với tham vọng đưa đẩy mạnh vị thế dẫn đầu của nền khoa học và công nghệ, ARIA sẽ là một tổ chức độc lập, được lãnh đạo bởi những nhà khoa học hàng đầu thế giới, sẵn sàng đầu tư phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ tiên tiến với mức độ mạo hiểm cao.  Tiếp theo lộ trình Lộ trình Nghiên cứu và Phát triển quốc gia được bấm nút khởi động từ năm 2020 1, Chính phủ Anh ngày 19/2/2021 lại tiếp tục ra mắt một cơ quan khoa học mới với ngân sách hào phóng nhằm phát triển các lĩnh vực mũi nhọn 2. Kwasi Kwarteng, Bộ trưởng Thương mại, Năng lượng và Chiến lược Công nghiệp của Chính phủ Anh đã chính thức thông báo thành lập cơ quan này: Advanced Research & Invention Agency (ARIA) như một phần tiếp theo của Lộ trình cải cách đã giới thiệu năm 2020. Dù được thành lập bởi Chính phủ, ARIA sẽ là một cơ quan độc lập và sẽ được dẫn dắt bởi những nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và phần nào được phát triển theo mô hình của Cục Các Dự án Nghiên cứu Tiên tiến (US Advanced Research Projects Agency) của Mỹ.  Trong phát biểu thành lập, Bộ trưởng Kwasi Kwarteng nhấn mạnh: “Từ động cơ hơi nước đến các công nghệ trí tuệ nhân tạo mới nhất, Vương quốc Anh đang tiến bước trong những khám phá khoa học. Hàng loạt thách thức ngày nay – từ dịch bệnh bùng phát đến biến đổi khí hậu – đòi hỏi các giải pháp táo bạo, đầy tham vọng và sáng tạo. Được dẫn dắt độc lập bởi các nhà khoa học xuất sắc nhất của chúng tôi, cơ quan mới này sẽ tập trung vào việc xác định và tài trợ cho các nghiên cứu và công nghệ tiên tiến nhất với tốc độ nhanh. Bằng cách loại rào cản không cần thiết và giao quyền lực vào tay những con người sáng tạo, cơ quan này sẽ được trao quyền tự do định hướng công nghệ của tương lai như chúng tôi đang từng bước xây dựng thông qua sáng tạo.”  Với ngân sách đầu tiên lên tới 800 triệu bảng Anh, ARIA sẽ được trao quyền cấp tài trợ cho các nhà nghiên cứu tiên phong theo các cách thức linh hoạt nhất mà không bị cản trở bởi các rào cản hành chính quan liêu. ARIA sẽ bắt đầu thử nghiệm với các mô hình tài trợ bao gồm tài trợ chương trình, tài trợ hạt giống và khuyến khích giải thưởng, và sẽ có khả năng bắt đầu và dừng các dự án tùy theo mức độ thành công của dự án, hay chuyển hướng tài trợ khi cần thiết. ARIA sẽ thậm chí chấp nhận thất bại cao hơn nhiều so với bình thường – như Chính phủ Anh thừa nhận rằng trong nghiên cứu, tự do thất bại cũng thường là tự do thành công (the freedom to fail is often also the freedom to succeed). Các văn bản pháp lý về hoạt động của ARIA sẽ được chính thức đệ trình lên Quốc hội Anh để phê duyệt và ARIA có thể chính thức vận hành trước năm 2022.  Động thái này của Chính phủ Anh nhận được nhiều ủng hộ từ các tổ chức khoa học và cá nhân nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu. Sir Patrick Vallance, Lãnh đạo Cố vấn Khoa học Chính phủ nói: “ARIA sẽ được xây dựng dựa trên hệ thống đổi mới và nghiên cứu khoa học đẳng cấp thế giới của Vương quốc Anh. Tầm quan trọng của đổi mới khoa học chưa bao giờ rõ ràng hơn kể từ năm ngoái và cơ quan mới này cung cấp một cơ chế tài trợ mới thú vị cho các nghiên cứu và phát triển tiên phong.”  Chủ tịch Viện Hàn lâm Kỹ thuật Anh, Sir Jim McDonald cũng lên tiếng ủng hộ: “Chúng tôi rất vui khi thấy Chính phủ thực hiện cam kết với một cơ quan tài trợ có mức độ rủi ro cao. Tôi hy vọng cơ chế tài trợ mới đầy tham vọng này sẽ giúp mở khóa cho sự đổi mới căn bản và tạo ra những thay đổi từng bước trong công nghệ mang lại giá trị cho nền kinh tế và xã hội của chúng ta nói chung. Kỹ thuật là trọng tâm của một cơ quan đổi mới đầy tham vọng thuộc loại này, và nó sẽ tạo thành cầu nối giữa nghiên cứu và đổi mới để tạo ra những đột phá về công nghệ và thương mại.”  Tiến sĩ Tim Bradshaw, Giám đốc Điều hành Nhóm Russell (nhóm 24 trường đại học tinh hoa của Anh) cũng ca ngợi: “Việc thành lập một cơ quan tài trợ cho các nghiên cứu rủi ro cao cho Vương quốc Anh là một lời khẳng định thực sự về hướng đi trong tương lai của nền kinh tế của chúng ta. Sử dụng hiệu quả ARIA, chúng ta có thể mở khóa việc đổi mới công nghệ, sẽ thúc đẩy quá trình phục hồi sau đại dịch và giúp giải quyết các thách thức toàn cầu. Các trường đại học của nhóm Russell Group là ngôi nhà của những nhà nghiên cứu xuất sắc nhất thế giới. Cơ quan mới này có tiềm năng giúp biến ý tưởng của họ thành công nghệ, sẽ hỗ trợ việc làm và thay đổi đất nước chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn.”  Cựu lãnh đạo Đảng Lao động (hiện giờ là nghị sĩ Quốc hội) Edward Miliband lại có những phát biểu thận trọng và kêu gọi Chính phủ Anh cần đặt ra những nhiệm vụ rõ ràng và tuân thủ Luật Tự do Thông tin nhằm đảm bảo tính minh bạch trong việc sử dụng tài trợ: “Công đảng từ lâu luôn kêu gọi đầu tư cho tham vọng cao, khoa học rủi ro cao. Nhưng Chính phủ cũng cần khẩn trương làm rõ sứ mệnh và nhiệm vụ của tổ chức mới này, cùng với sự tham gia mạnh mẽ từ các tổ chức khoa học hiện thời của Vương quốc Anh” 3.  Đây rõ ràng là một động thái tích cực của Chính phủ Anh trong tham vọng đổi mới khoa học và công nghệ nước Anh – nơi được coi là quê hương của khoa học và công nghệ hiện đại, nhưng đã từng bị coi là bỏ rơi khoa học trong nhiều năm.  —————————–  1. Xem bài viết trên Tia sáng (16/7/2020): “Đầu tư lớn cho R&D, nước Anh tham vọng giành vị thế dẫn đầu”  https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Dau-tu-lon-cho-RD-nuoc-Anh-tham-vong-gianh-vi-the-dan-dau-25367  2. Thông cáo thành lập của Chính phủ Anh: https://www.gov.uk/government/news/uk-to-launch-new-research-agency-to-support-high-risk-high-reward-science  3. BBC (19/2/2021): UK to launch ‘high risk’ science agency: https://www.bbc.co.uk/news/business-56117560           Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Anh thợ trẻ sáng chế máy xới “đặc chủng” cho vùng đất trũng      Không bằng lòng với sáng chế đã thành công  của mình, anh Nguyễn Văn Huyến (ấp Lợi Nhơn, xã Mỹ Lợi B, huyện Cái Bè,  tỉnh Tiền Giang) đã tiếp tục cải tiến máy xới VH 2012 lần thứ hai, khắc  phục nhược điểm ban đầu của máy, qua đó giúp nâng cao tính năng của máy và hạ giá thành sản phẩm.     Từng học qua nghề cơ khí ở An Giang, anh Huyến mở cơ sở hàn tiện tại xã Mỹ Lợi B. Trong quá trình làm việc, nhận thấy những những khiếm khuyết của chiếc máy xới tay truyền thống, anh Huyến đã quyết tâm mài mò cải tiến với mục tiêu điều khiển chuyển hướng bằng càng phanh tay, điều chỉnh độ sâu, nâng hạ dàn xới bằng tay.  Sau ba tháng miệt mài nghiên cứu, tìm tòi, anh Huyến đã làm ra chiếc máy xới cải tiến VH 2012, sử dụng động cơ Yanmar có mã lực 45HP, đặt xuôi, được chuyển qua hộp số bằng cốt láp không sử dụng curoa, giúp máy hạn chế được quá trình thay dây curoa khi đứt hoặc bị mòn. So với máy xới truyền thống, máy VH 2012 có nhiều ưu điểm như nâng hạ dàn xới bằng thủy lực nhẹ nhàng, có nhiều lưỡi xới hơn nên năng suất tăng lên gấp hai, ba lần, máy hoạt động ổn định và tiết kiệm nhiên liệu. Máy có khả năng hoạt động trên cả đất lầy trũng… Vì vậy máy hữu ích đối với bà con ở vùng Đồng Tháp Mười, vốn là vùng đất kênh rạch chằng chịt và đất trũng thấp.   Máy xới VH 2012 có giá thành thấp hơn hẳn so với máy nhập ngoại mà năng suất xới tương đương.   Không dừng lại ở đó, đến tháng 7/2013, anh Huyến tiếp tục nghiên cứu cải tiến, để cho ra đời thêm chiếc máy xới loại 4 bánh (máy xới VH 2012 có 3 bánh). Anh Huyến đã cải tiến trục xới, thiết kế có thêm hệ thống vô lăng và ghế ngồi tiện dụng cho người điều khiển thay vì người điều khiển phải lội nước đi theo sau máy rất vất vả. Máy xới tay VH 2012 còn có hệ thống nâng và hạ giàn xới bằng thủy lực nên điều khiển nhẹ nhàng, giúp bà con xới đất nhanh hơn.  Thực tế vận hành cho thấy, máy xới cải tiến VH 2012 đạt năng suất xới đất từ 50 – 60 công đất/ngày (tương đương năm đến sáu ha), gấp hai đến ba lần máy cải tiến trước đây, tiêu ít nhiên liệu, chỉ khoảng 1,2 lít/công đất. Giá thành máy cũng chỉ khoảng 80 triệu đồng/chiếc. Tính đến nay, cơ sở của anh Huyến đã xuất xưởng được bảy chiếc máy xới VH 2012.   Ban tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Tiền Giang lần thứ X (2012 – 2013) nhận xét: máy xới cải tiến này khắc phục được các nhược điểm của chiếc máy đầu tiên, điều khiển dễ dàng và an toàn, năng suất làm việc lớn hơn và giá thành phải chăng.  Có vẻ như Huyến vẫn chưa hoàn toàn hài lòng, anh muốn hoàn thiện hơn nữa mẫu máy xới đất cải tiến VH 2012 không chỉ ưu điểm vượt trội  về kỹ thuật, hiệu quả mà còn phải đẹp hơn chiếc máy hiện thời.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh thử nghiệm xét nghiệm máu để phát hiện hơn 50 loại ung thư      Các nhà nghiên cứu hy vọng thử nghiệm Galleri sẽ trở thành “kẻ thay đổi cuộc chơi” về chẩn đoán ung thư sớm và cứu sống nhiều sinh mạng.      Xét nghiệm máu Galleri sẽ được thử nghiệm trên 165 000 người Anh từ giữa năm 2021, phần lớn trong số họ không có dấu hiệu ung thư. Nguồn: The Guardian  Dịch vụ y tế quốc gia (NHS) – hệ thống chăm sóc sức khỏe của Anh sẽ thử nghiệm một phương thức xét nghiệm máu đơn giản có thể xác định 50 loại ung thư nhiều năm trước khi phát bệnh. Phương thức này gọi là Galleri do công ty Grail (Hoa Kỳ) phát triển. Nếu thử nghiệm này thành công, xét nghiệm máu sẽ tạo thành một cuộc cách mạng trong chẩn đoán ung thư sớm và cứu sống nhiều bệnh nhân nhờ cách xác định nhanh triệu chứng để đưa ra biện pháp điều trị phù hợp. Đây là yếu tố quan trọng làm nên sự khác biệt sống còn với người bệnh.  Xét nghiệm máu Galleri sẽ được bắt đầu từ giữa năm 2021, thử nghiệm trên 165 000 người Anh có độ tuổi từ 50-79, phần lớn trong số đó không có dấu hiệu bệnh ung thư. NHS hy vọng nó sẽ phát hiện sớm dấu hiệu của các bệnh ung thư vốn khó nhận biết và có tỉ lệ sống thấp như ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tụy. Nếu thành công, phương thức này sẽ trở nên phổ biến vào cuối thập kỷ này.  Trong số người tham gia thử nghiệm, 140 000 người không có bất kì triệu chứng nào liên quan đến ung thư. Họ nằm trong hồ sơ của NHS và được chọn ngẫu nhiên để mời tham gia thử nghiệm. Trong vòng ba năm, những người tham gia sẽ được xét nghiệm máu thường niên để kiểm tra sự xuất hiện của các khối u ác tính. 25 000 người thử nghiệm còn lại đã được các bác sĩ xác định có dấu hiệu ung thư, chẳng hạn như có khối u hoặc tiết dịch. Họ sẽ được lấy mẫu máu, đồng thời được thực hiện những kiểm tra thông thường như chụp CT hoặc cộng hưởng từ MRI để chẩn đoán nhanh hơn.  NHS tin rằng xét nghiệm Galleri có thể giúp phát hiện bệnh ung thư sớm vài năm, trước khi chúng thực sự xuất hiện. Họ cho biết, xét nghiệm này cũng có thể xác định vị trí ung thư phát triển trong cơ thể. Nếu kết quả thử nghiệm vào năm 2023 cho thấy xét nghiệm Galleri hiệu quả, NHS sẽ tuyển thêm hàng triệu người khác để thực hiện một thử nghiệm lớn hơn nhiều vào năm 2024 và 2025.  David Prior, Chủ tịch NHS của Anh cho biết, ông hy vọng việc hợp tác với Grail sẽ giúp giảm số người chết vì ung thư ở Anh, trung bình mỗi năm gần 200 000 người. “Nhiều người trong số này được chẩn đoán quá muộn nên việc điều trị không còn hiệu quả”, ông nói. Phương thức xét nghiệm này có thể giúp NHS thực hiện cam kết tăng tỷ lệ phát hiện ung thư giai đoạn một (tức giai đoạn sớm) từ 50% lên 70%. Những bệnh nhân ung thư giai đoạn này có cơ hội sống cao hơn gấp 5-10 lần so với bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn bốn.  Xét nghiệm Galleri là một trong những phương thức xét nghiệm máu mới đang được phát triển để phát hiện ung thư sớm. GS Lawrence Young về ung thư học phân tử ở Đại học Warwick (Anh) nói: “Một công bố từ nhóm nghiên cứu ‘Bản đồ hệ gene ngoại bào tuần hoàn’ (tên một dự án do Grail thực hiện ở Hoa Kỳ và Canada) thử nghiệm xét nghiệm Galleri trên 6.689 người cho thấy kết quả rất đáng khích lệ với hơn 50 loại ung thư ở các giai đoạn phát triển khác nhau”.  Tuy nhiên, một số chuyên gia ung thư không tán thành về hiệu quả của xét nghiệm Galleri. GS. Paul Pharoah về dịch tễ học ung thư ở Đại học Cambridge cho rằng NHS đã vội vàng áp dụng một xét nghiệm chưa được chứng minh hiệu quả. “Xét nghiệm Galleri có thể phát hiện ung thư trong máu ở giai đoạn đầu nhưng bằng chứng cho thấy hiệu quả thấp”, Pharoah nhận xét. Một bài báo đã được công bố về thử nghiệm này cho thấy chúng chỉ phát hiện được 25% ung thư giai đoạn đầu và tỉ lệ này giảm xuống còn chưa đầy một nửa với ung thư giai đoạn cuối.  Ông Harpal Kumar, Chủ tịch của Grail ở châu Âu và cựu giám đốc điều hành của quỹ Cancer Research UK lạc quan: “Galleri là một cách xét nghiệm máu đơn giản có thể phát hiện hơn 50 loại ung thư, là một tiến bộ đột phá và có thể cứu sống rất nhiều người và mang lại lợi ích kinh tế to lớn”.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/nov/27/nhs-to-trial-blood-test-to-detect-more-than-50-forms-of-cancer    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anime và sự bền bỉ của hoạt hình 2D      Trong thời kì công nghệ phát triển như vũ bão, phong cách 3D đang thống trị các studio hoạt hình. Nhưng khác với phần còn lại của thế giới, ở Nhật Bản, với sự ảnh hưởng quá mạnh mẽ của manga và anime, hoạt hình 2D vẫn giữ vị trí độc tôn.      Astro Boy – một tác phẩm mở đường cho sự phát triển của anime hiện đại.    Ít người biết thế vận hội mùa hè Tokyo 2020 diễn ra vừa qua không chỉ là về thể thao mà còn là nơi trình diễn văn hóa manga và anime (truyện tranh và hoạt hình Nhật). Các nhân vật trong các bộ manga và anime nổi tiếng là đại sứ của Olympics, nhạc phim anime được phát liên tục trong một loạt các trận đấu, riêng bài hát trong anime “Thanh gươm diệt quỷ” (Demon Slayer) được cả dàn nhạc biểu diễn mở màn cho lễ bế mạc thế vận hội.    Manga và anime là một phần đời sống người Nhật. Sena Ire, nữ vận động viên đầu tiên đem về cho Nhật Bản huy chương vàng môn boxing, dù là một võ sĩ nghiệp dư, đã đến với bộ môn thể thao này nhờ vào việc say mê đọc bộ manga thể thao Ganbare Genky. Hay, sự thành công của bộ anime và manga Haikyu!! của tác giả Haruichi Furudate đã giúp bộ môn bóng chuyền và đặc biệt là đội tuyển bóng chuyền Nhật, nhận được sự chú ý và hâm mộ.     Anime là gì và có gì khác biệt?     「アニメ」anime (đọc là a-ni-mê) là viết tắt của từ mượn 「アニメーション」 “a-ni-me-shon”, xuất phát từ tiếng Anh “animation” – mang nghĩa “hoạt họa”. Hiểu đơn giản, “anime” là “phim hoạt hình” trong tiếng Nhật. Tới nay, anime được hiểu như một danh từ độc lập, tên gọi riêng một thể loại, một phong cách – phim hoạt hình Nhật Bản. Một khán giả nói rằng tôi thích anime, có thể hiểu ngay người đó thích phim hoạt hình Nhật, với ấn tượng chủ yếu là phim hoạt hình 2D.    Những bộ phim anime sơ khởi với thời lượng chiếu ngắn, không có tiếng, ra đời từ năm 1917, với thế hệ những họa sĩ hoạt họa gồm các tên tuổi như Ōten Shimokawa, Jun’ichi Kōuchi và Seitaro Kitayama – những người được coi như cha đẻ của anime. Sự xuất hiện của anime không muộn hơn quá nhiều so với những bộ phim hoạt hình đầu tiên trên thế giới, bắt đầu từ Pháp vào năm 1888.    Anime hiện đại nhen nhóm từ năm 1956, và dần bùng lên vào cuối 1961 cùng với sự thành lập của hãng phim Mushi của đạo diễn – họa sĩ truyện tranh lừng danh Osamu Tezuka. Tác phẩm nổi bật của ông, đồng thời mở đường cho sự phát triển của anime hiện đại là Astro Boy (1963) – câu chuyện về một cậu bé người máy có siêu sức mạnh và ưa chuộng hòa bình.    Astro Boy xuất phát điểm là một bộ truyện tranh nổi tiếng, sau đó được chuyển thể thành phim hoạt hình. Trong cuốn sách The soul of Anime (Linh hồn của Anime), tác giả Ian Condry có nhận định rằng điểm mạnh của ngành công nghiệp anime là sự kết hợp chặt chẽ giữa anime và manga (truyện tranh Nhật). Có rất nhiều các tác phẩm manga thành công, được chuyển thể thành anime, tạo nên sức bật tương hỗ cho tác phẩm ở cả hai thể loại, mang tới doanh thu lớn, đặc biệt với các sản phẩm ăn theo khác như đồ chơi, quần áo, đồ dùng văn phòng phẩm, game… và cả nhạc phim. Manga nổi tiếng thì được chuyển thể thành anime, anime ăn khách thì lại đẩy doanh thu của manga lên theo.      Truyện Bảy viên ngọc rồng có một cộng đồng người hâm mộ rộng lớn ở cả châu Âu và Bắc Mỹ.    Qua thời gian phát triển, anime và manga đã tạo dựng được phong cách thẩm mỹ đặc thù, không thể trộn lẫn với hoạt hình phương Tây nói chung. Xét về phong cách thẩm mỹ, không thể tách rời anime khỏi manga do hai thể loại này có sự thống nhất và tương đồng mạnh mẽ. Khi một bộ manga được chuyển thể thành anime, đoàn làm phim sẽ trung thành gần như tuyệt đối với phong cách vẽ của manga gốc. Điểm này rất khác với hoạt hình và truyện tranh phương Tây. Lấy ví dụ như truyện tranh siêu anh hùng của DC Comics, phiên bản hoạt hình có phong cách tạo hình hoàn toàn khác so với truyện tranh gốc.    Dễ dàng nhận thấy rằng phong cách vẽ của truyện tranh Mỹ nghiêng về hướng tả thật (bám sát giải phẫu, đánh bóng, tạo khối chi tiết, tỉ mỉ…), trong khi đó phiên bản hoạt hình lại có phong cách vẽ mảng miếng đơn giản hơn, giảm bớt chi tiết phức tạp cũng như cách bóp hình với tỷ lệ ít tả thực hơn.    Trong khi đó, so sánh với cặp đôi anime và manga của Bảy viên ngọc rồng (Dragon Ball) – Akira Toriyama, câu chuyện không chỉ quen thuộc với độc giả Việt Nam mà còn có một cộng đồng người hâm mộ rộng lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ, có thể thấy ngay là phong cách vẽ của hai phiên bản manga và anime là tương đồng, tuy rằng do hạn chế của kỹ thuật làm phim, bản anime có phần kém tươi tắn về màu sắc so với truyện.    Một số đặc điểm dễ nhận diện của tạo hình nhân vật anime là mắt to và long lanh, mũi nhỏ – đôi lúc chỉ như một dấu phẩy. Khuôn mặt được đơn giản hóa về những khuôn mẫu chung tương đối giống nhau. Tạo hình nặng tính cách điệu tượng trưng, ít tả thật. Nhưng xin độc giả lưu ý, các đặc điểm kể trên không phải tất cả, thế giới anime và manga vô cùng đa dạng phong cách thể hiện, vẫn có nhiều mangaka (họa sĩ truyện tranh Nhật) có phong cách vẽ tả thật, tuy vậy đây không phải ấn tượng đặc trưng với phần lớn khán giả – độc giả thế giới.    Bên cạnh những đặc trưng về tạo hình, thẩm mỹ, điểm cốt lõi tạo nên sức hút của các tác phẩm anime và manga chính là nội dung. Không có giới hạn nào đối với thế giới anime & manga, từ nội dung cho trẻ nhỏ tới người lớn, từ những câu chuyện dễ thương, dễ chịu cho tới những đề tài gai góc, nhiều tranh cãi, thậm chí cả phim khiêu dâm, cộng thêm chính sách ủng hộ, ưu tiên của Chính phủ Nhật, ít kiểm duyệt khắt khe.         Bộ phim Tekkonkinkreet của Studio 4°C cũng là một tác phẩm với phần cảnh nền được vẽ tay hoàn toàn, vô cùng kỳ công.  Anime nói chung có thể chia thành hai nhóm lớn: phim nhiều tập chuyển thể từ những bộ ,anga ăn khách và phim điện ảnh chiếu rạp. Anime chuyển thể dài tập chiếu trên TV và các nền tảng phát hành phim trực tuyến, một vài cái tên nổi tiếng toàn thế giới như Pokémon, Naruto, One Piece, Attack on Titan, Doraemon… Các bộ anime dài tập thường có cả các phim lẻ chiếu rạp. Gần đây, phim Demon Slayer: Mugen Train (2020) đã trở thành một hiện tượng phòng vé, đạt doanh thu tới 500 triệu USD, được trình chiếu ở Việt Nam với tên gọi Thanh gươm diệt quỷ: Chuyến tàu vô tận. Các phim điện ảnh chiếu rạp, có thể chuyển thể từ manga hoặc tiểu thuyết hoặc là kịch bản nguyên bản độc lập, tiêu biểu như các phim của Ghibli Studio (nổi bật có Spirited Away, My neighbor Totoro, Princess Mononoke, Kiki’s Delivery Service, Grave of the fireflies…), loạt phim của đạo diễn Makoto Shinkai (5cm/s, Your name, Weathering with you, The Garden of Words…) hay loạt phim của đạo diễn Mamoru Hosoda (The girl who leapt through time, Summer Wars, Wolf Children, Mirai…) hoặc viên ngọc ít được khán giả Việt Nam biết tới là các phim của Studio 4°C (Mind Game, Genius Party, Tekkonkinkret, Children of the Sea…).     Vì sao Nhật trung thành với Anime 2D?     Anime là một ngành công nghiệp khổng lồ. Theo số liệu năm 2019 của Hiệp hội anime Nhật Bản, thị trường anime trên toàn thế giới trị giá tới hơn 2500 tỷ Yên, và không ngừng tăng trưởng trong những năm qua.    Anime trở thành một trong những đại sứ văn hóa có tầm ảnh hưởng bậc nhất của đất nước Nhật Bản. Ta có thể bắt gặp một loạt vận động viên trên khắp thế giới bắt chước hành động của các nhân vật anime. Chẳng hạn như vận động viên đoạt huy chương vàng nhảy xa người Hy Lạp Miltos Tentoglou mô phỏng hành động vận nội công của nhân vật Luffy trong bộ anime ăn khách nhất lịch sử One Piece trước trận chung kết của mình. Hay Noah Lyles, vận động viên điền kinh của Mỹ ăn mừng huy chương đồng của mình bằng động tác “tung chưởng” Kamehameha nổi tiếng trong bộ truyện Bảy viên ngọc rồng. Vận động viên thể dục dụng cụ người Mexico còn dùng nhạc của anime Demon Slayer làm nền cho bài nhào lộn trên sàn của mình.    Những câu chuyện đậm cá tính Nhật luôn có không khí đặc thù, và dù bạn không thích cũng khó có thể nhầm lẫn chúng với các tác phẩm đến từ các đất nước khác. Không thiếu các tác phẩm Hollywood học tập hoặc vay mượn các ý tưởng từ anime, như bộ phim được đề cử Oscar năm 2010 Black Swan với anime Perfect Blue hay bộ phim hoạt hình kinh điển Lion King của Disney với anime Kimba the White lion, hoặc gần đây có các phim live-action được Hollywood dựng lại từ những anime kinh điển như Battle Angel Alita (phim này được chiếu ở Việt Nam với cái tên Alita: Thiên thần chiến binh vào năm 2019), Ghost in the Shell (được chiếu ở Việt Nam dưới tên Vỏ bọc ma năm 2017) hay Pokémon.    Lý do dễ nhận thấy nhất vì sao Nhật vẫn kiên trì với phim hoạt hình 2D, bất chấp xu hướng làm phim 3D đang chiếm ưu thế trên thế giới, đó là nhờ một lượng lớn khán giả trung thành vẫn yêu thích anime 2D. Năm 2019, bộ phim bom tấn về siêu anh hùng Avengers: Endgame ra mắt và thống trị vị trí số 1 ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, khán giả phải tranh nhau để mua được vé kể cả nhiều ngày sau khi phim được công chiếu. Ngoại trừ thị trường Nhật. Lúc đó, đứng đầu phòng vé Nhật là một bộ phim hoạt hình 2D: Thám tử lừng danh Conan – The Fist of Blue Sapphire. Các độc giả Việt Nam chắc hẳn không lạ gì với bộ truyện Thám tử lừng danh Conan (lần đầu xuất bản vào năm 1994 và giờ vẫn chưa đến hồi kết), được tái bản liên tục và số lượng phát hành mỗi tập lên đến hàng chục nghìn bản in. Tuy nhiên, kể cả tác phẩm gốc được yêu thích đến vậy ở Việt Nam, khi bộ phim hoạt hình 2D này ra mắt, các nhà rạp ở Việt Nam cũng không dám “mạo hiểm”, phải “né tránh” thời điểm phát hành của Avenger: Endgame và khởi chiếu sau đó gần nửa năm.    Thời kỳ đầu, anime cũng bị xã hội Nhật coi là thể loại chỉ dành cho trẻ em. Nhưng nó đã nhanh chóng phá vỡ các rào cản, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với mọi lứa tuổi ở Nhật. Không khó để bắt gặp cả những khán giả lớn tuổi đi xem phim Doraemon, Thám tử lừng danh Conan hay Demon Slayer. Rạp chiếu ở Nhật cũng luôn ưu tiên các phim nội địa nói chung và anime nói riêng. Đặc biệt với phim hoạt hình 3D phương Tây, không phải phim bom tấn nào cũng được nhập chiếu ở Nhật, nếu có chiếu cũng muộn hơn thị trường Việt Nam khá lâu.    Nếu như Disney có một nỗ lực không mấy thành công với phim Princess and the Frog (2009) nhằm đem phim 2D trở lại trong cơn bão 3D, không thể sánh nổi với bom tấn 3D Frozen (2013) với doanh thu hơn 1.2 tỷ USD toàn cầu, thì tại thị trường Nhật Bản, top 10 phim có doanh thu cao nhất lịch sử đều là các phim 2D, đứng đầu là Your name – 41,44 tỷ Yên, tiếp sau là Demon Slayer: Mugen Train – 40,08 tỷ Yên, thứ ba là Spirited Away – 31,8 tỷ Yên.    Khán giả quen mắt với tạo hình của anime, doanh thu vẫn tăng đều đều, hẳn không có cớ gì các nhà làm phim Nhật lại phải mạo hiểm đầu tư sang làm phim 3D. Về mặt kinh tế, một bộ anime trung bình 13 tập chi phí khoảng 2 triệu USD. Chuyển đổi hết sang 3D sẽ đội chi phí sản xuất lên, cần đội ngũ chuyên môn khác, chưa kể còn kéo dài thời gian, dễ chậm tiến độ.    Về mặt kỹ thuật, đặc thù tạo hình của anime không dễ để dựng thành 3D, có thể làm mất đi đặc trưng quen thuộc của phong cách này. Trong các phim anime dài tập, thường có những khung hình (frame) tĩnh, với chuyển động “loop” lặp đi lặp lại, giảm khối lượng hoạt họa phải làm để kịp tiến độ gấp rút phát sóng hàng tuần. Hoặc việc xen kẽ tạo hình chibi (tạo hình nhân vật đầu to, chân tay ngắn nhỏ, tạo cảm giác dễ thương, hài hước) với tạo hình thông thường để thể hiện cảm xúc của nhân vật hoặc tình huống gây cười trong phim. Điều này sẽ khó chuyển thể sang định dạng 3D. Để tạo ra phong cách, tạo hình đặc trưng với 3D sẽ là một quá trình phải nghiên cứu và thử nghiệm nhiều.    Với những bộ phim của Ghibli Studio, phong cách 2D cùng những cảnh nền được vẽ tay tỉ mỉ là một trong những giá trị thẩm mỹ riêng biệt, đáng tự hào của họ. Trong bảo tàng Ghibli ở Mitaka, Tokyo, có hẳn một khu vực trưng bày dành riêng cho bàn làm việc cùng những hộp màu vẽ, hoạ cụ mà các họa sĩ của xưởng phim Ghibli đã dùng để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật của họ. Những cảnh phim này, cũng như các poster phim, các bản phác thảo vẽ tay… của hãng được trưng bày trong các triển lãm ở các bảo tàng mỹ thuật, luôn thu hút rất đông công chúng tới chiêm ngưỡng. Vé không rẻ mà luôn bán hết rất nhanh, để vào được triển lãm phải đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ. Tương tự, bộ phim Tekkonkinkreet của Studio 4°C cũng là một tác phẩm với phần cảnh nền được vẽ tay hoàn toàn, vô cùng kỳ công, tạo ra phần hình ảnh cực kỳ ấn tượng, độc đáo.    Phong cách anime 2D không chỉ khẳng định được giá trị thẩm mỹ cao, mỗi studio ở Nhật lại có phong cách cá tính riêng, dễ nhận diện, không lẫn với phương Tây, lại được lòng cả khán giả phổ thông (doanh thu hầu như không suy giảm cho tới thời điểm hiện tại), đánh đổi điều này để chạy theo xu hướng 3D chưa chắc đã là một bước đi khôn ngoan.     Tuy vậy, Nhật không hoàn toàn quay lưng với phim 3D     Dù thị trường anime Nhật hiện tại phần lớn vẫn là phim 2D, các nhà làm phim vẫn có những thử nghiệm với công nghệ CGI. Có những thử nghiệm không mấy thành công như phim Earwig and the Witch (2020) do Ghibli Studio sản xuất, được con trai của đạo diễn nổi tiếng Hayao Miyazaki đạo diễn – Gorō Miyazaki. Bộ phim không được lòng cả giới phê bình lẫn khán giả, đem về doanh thu thấp. Nhưng cũng có những bộ phim 3D thành công như Stand by me Doraemon (2014), đứng thứ 11 trong danh sách những phim có doanh thu cao nhất lịch sử ở thị trường Nhật. Bộ phim còn đoạt giải Japan Academy Prize cho phim hoạt hình của năm vào lễ trao giải Japan Academy Prize lần thứ 38. Tuy vậy, công bằng mà nói kỹ thuật làm phim hoạt hình 3D của Nhật vẫn thua kém so với phương Tây. So sánh Stand by me Doraemon với một phim 3D của Disney phát hành cùng năm là Big Hero 6, có thể thấy chuyển động trong Stand by me không được mượt mà bằng, chất liệu cũng không được xử lý nhìn như thật bằng…    Ngoài ra, gần đây đã có nhiều phim anime áp dụng công nghệ CGI, hoặc pha trộn giữa 2D và 3D nhưng phần lớn vẫn nhằm tạo ra sản phẩm sau cùng với ấn tượng nghiêng về 2D (dù đó không phải công nghệ 2D truyền thống). Một vài ví dụ có thể kể đến như Land of the Lustrous, AJIN: Demi-human, Knights of Sidonia… Công nghệ CGI thường được sử dụng trong những phân cảnh hoành tráng, nhất là trong những phim thuộc thể loại Scifi, phản địa đàng.    Công nghệ làm phim 3D đang dần dần thâm nhập vào ngành công nghiệp anime, nhưng để thay đổi hẳn một phong cách đặc trưng, quen thuộc và vẫn đang ăn khách thì có lẽ cần thời gian rất dài, và chưa chắc đã cần thiết. Ít nhất, tại Nhật hiện giờ, từ các thế hệ khán giả nhỏ tuổi, vẫn hằng ngày được xem và quen với các bộ phim 2D. Có lẽ sức sống của phim hoạt hình 2D ở Nhật vẫn sẽ còn dài lâu hơn nữa. □    Author                Thùy Cốm        
__label__tiasang Anthony Brown: Vẽ bản đồ sao      Làm việc “phía sau hậu trường”, một nhà thiên văn học đã sắp xếp việc ra thông báo về dữ liệu về dải Ngân hà vốn được mong chờ từ rất lâu.      Với nhiều nhà thiên văn học, Giáng sinh năm 2018 đến một cách chính xác vào 10h00 Giờ phối hợp quốc tế (Coordinated Universal Time) ngày 25/4. Đó là thời điểm các nhà khoa học với dự án Gaia của Cơ quan vũ trụ châu Âu công bố bộ dữ liệu đầu tiên của mình: một thư mục 551 gigabyte với thông tin chi tiết về các vị trí và chuyển động của hơn 1,3 tỷ ngôi sao.  Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sớm lao vào khai thác dữ liệu này. Nhưng Anthony Brown, một nhà thiên văn tại đài quan sát Leiden ở Hà Lan, có cảm giác khác biệt khi bộ dữ liệu này được công bố: “thật mệt mỏi,” anh nói.  Brown có lý. Anh dẫn dắt nhóm nghiên cứu Phân tích và Xử lý dữ liệu của dự án Gaia – một nhóm nghiên cứu có hơn 400 nhà nghiên cứu đã “nghiền ngẫm” các con số này trong nhiều năm. Được phóng từ năm 2013, con tàu Gaia đã quay để quét bầu trời và ghi chép về các ngôi sao trôi rất nhanh qua camera. Việc “chế biến” dữ liệu mà thiết bị này thu được thành những thông tin chính xác về vị trí, chuyển động và những tính chất khác của các ngôi sao đòi hỏi một quá trình xử lý phức tạp trên mặt đất.  Dù mục tiêu của công việc là để các nhà nghiên cứu – những người quan tâm đến việc sử dụng dữ liệu của Gaia để khám phá những điều bí ẩn của dải Ngân hà nhưng trên thực tế, công việc của Brown có vẻ như ít hấp dẫn. Với tính cách thận trọng và bình tĩnh, Brown đã làm cùng nhóm nghiên cứu xử lý dữ liệu trong vai trò trưởng nhóm từ năm 2012. Công việc ngày qua ngày của anh dường như mang tính hành chính nhiều hơn: dành rất nhiều thời gian vào việc phối hợp với các nhóm nhỏ và gặp gỡ các nhóm để đảm bảo dự án vẫn được vận hành một cách trôi chảy.  Nhưng sự tận tâm và hiểu biết một cách sâu sắc của Brown là yếu tố cốt lõi dẫn đến thành công trong việc hình thành bộ dữ liệu của Gaia và ngay lập tức được hơn 700 bài báo trích dẫn. Nỗ lực của anh đã giúp định hướng hợp tác thông qua việc sửa chữa những điểm yếu, bao gồm một lỗi hệ thống trong dữ liệu thị sai của kính viễn vọng này – để đảm bảo các góc quan sát những ngôi sao, qua đó tạo điều kiện cho các nhà thiên văn có thể tính toán được các khoảng cách. Nhóm nghiên cứu đã quyết định định rõ đặc điểm của vấn đề này một cách cẩn thận, Amina Helmi – một nhà thiên văn học tại Viện nghiên cứu Thiên văn Kapteyn ở Groningen, Hà Lan và một thành viên của nhóm, cho biết. Brown có năng lực đặc biệt thúc đẩy các nhà nghiên cứu làm việc tốt hơn, Helmi nói. “Tôi không rõ là anh ấy điều đó làm như thế nào. Tất cả chúng tôi đều kính trọng anh ấy”.  Brown và cộng sự chỉ có ít thời gian để nghỉ ngơi bởi ngay lập tức họ còn phải chuẩn bị cho bộ dữ liệu tiếp theo, có thể sẽ được loan báo vào nửa đầu năm 2021. Một dự án nữa đã được lập kế hoạch ngay sau đó, cùng nhiều nhiệm vụ khác tiếp theo: vào tháng 11, dự án này đã được kéo dài thời gian đến hết năm 2020. Từng tham gia Gaia từ năm 1997, Brown không còn quá vội vàng để chờ dự án kết thúc: “Làm việc cho dự án này đã hơn 20 năm, giờ đây nó đã trở thành một phần con người tôi”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anthony Fauci: Người bảo vệ khoa học      Một câu chuyện về bác sĩ Mỹ trở thành lương tâm khoa học của đất nước về COVID-19 ngay cả khi những người gièm pha đe dọa cả tính mạng ông.    Trong suốt hơn 40 năm sự nghiệp như một nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm, Anthony Fauci đã bị phân chia thành hai nửa: một người anh hùng và một kẻ… giết chóc. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của ông. Những người ủng hộ đã tạo hình ông để ghi công lao của ông trong khi những người khác đã đưa ra những lời đe dọa sẽ giết hoặc làm phiền con cái ông.    Anthony Fauci. Nguồn: Nature   Là người đứng đầu Viện nghiên cứu quốc gia về Dị ứng và bệnh truyền nhiễm (NIAID) tại Bethesda, Maryland, Fauci đã tham gia hướng dẫn cách ứng phó dịch bệnh cho sáu tổng thống và những đợt căng thẳng trên quy mô toàn quốc gia về nỗi sợ hãi tấn công bằng vũ khí sinh học và bùng phát HIV, Ebola, Zika. Hiện tại, trong vai trò cố vấn cho chính phủ và truyền thông cho công chúng trong suốt thời gian diễn ra đại dịch coronavirus, ông đã trở thành một bác sĩ thực sự cho quốc gia mình. Điều đó có nghĩa là ông thường xuyên xung đột với những mong muốn của tổng thống Donald Trump, nhưng vẫn dành thời gian để điều trị cho những người mắc COVID-19 và HIV. “Việc theo dõi bệnh nhân thực sự đem lại cho bạn cảm giác khác biệt về bệnh tật”, Fauci cho biết. Ông làm việc mỗi ngày 18 tiếng, 7 ngày mỗi tuần.  Mức độ của đại dịch COVID-19 – và chính trị hóa phản ứng của sức khỏe cộng đồng đối với nó – đã đưa Fauci ra khỏi phạm vi những gì mình đã làm trước đây, nhà miễn dịch học Michael Osterholm, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và chính sách bệnh truyền nhiễm tại trường đại học Minnesota ở Minneapolis cho biết. “Ông ấy là một phần rất quan trọng của nỗ lực cố gắng giúp công chúng hiểu được khoa học nghĩa là gì và những gì chúng tôi có thể làm – và tất nhiên trong đó bao gồm cả những người lãnh đạo đất nước,” Osterholm nói.  Những nỗ lực đó đã vấp phải sự phản kháng nhưng Fauci không lạ lẫm gì với xích mích và bôi nhọ.  Trong thời kỳ lây nhiễm đỉnh cao của dại dịch AIDS vào năm 1988, nhà viết kịch Larry Kramer đã gọi Fauci là “kẻ giết người” và một “kẻ ngu ngốc, thiếu khả năng” trên trang bìa của tạp chí San Francisco Examiner. Kramer và những nhà vận động chống AIDS cảm thấy các ca điều trị lâm sàng bằng thuốc HIV của NIAID đang tiến triển một cách chậm chạp trong khi có hàng trăm người đang chết. Khi một nhóm người tụ tập bên ngoài văn phòng của ông để phản đối, Fauci đã mời một số người vào để trao đổi. Suốt thời gian đó, ông tạo dựng một mối giao thiệp với họ, điều đó có thể dẫn đến việc thay đổi cách những người có AIDS tiếp nhận những trải nghiệm về thuốc điều trị. Đó là một cách tiếp cận mang tính cách mạng tại thời điểm người nhiễm bệnh có ít tiếng nói về thứ khoa học đang điều trị họ. “Thực sự đó là thời kỳ khó khăn”, ông nói. “Có nhiều nhà khoa học nghĩ rằng tôi đang mạo hiểm”.  Nồng ấm nhưng thẳng thắn, với một chút phát âm kiểu Brooklyn, ông thường làm việc một cách dễ dàng với những nhà chính trị. Cựu tổng thống Mỹ George H. W. Bush gọi ông là người hùng do công việc của ông với bệnh dịch AIDS và Fauci làm việc cùng con trai của ông, cựu tổng thống George W. Bush, để thiết kế Kế hoạch Tình trạng khẩn cấp cứu trợ AIDS (PEPFAR), một chương trình toàn cầu để đem lại những điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV. Nhưng trong năm nay, sự ủng hộ kiên định của ông với các biện pháp y tế công cộng nhằm làm giảm tốc độ lây lan của COVID-19 lại khiến ông bị tổng thống Donald Trump và những người khác chỉ trích gay gắt bởi họ mong muốn giảm bớt mức độ nghiêm trọng của đại dịch và sớm tái khởi động nền kinh tế Mỹ.  Trump đã không ngần ngại đề xuất là có thể sa thải nhà khoa học và một luồng đả kích từ một số người đồng thuận với tổng thống đã hướng vào Fauci. Steve Bannon, cựu cố vấn của Trump, nói nửa đùa nửa thật là ông muốn nhìn thấy đầu của Fauci trên một cây gậy bên ngoài Nhà Trắng. Hiện tại một nhóm an ninh quốc gia đang “trông nom” Fauci.  Những mối đe dọa khiến ông “khó chịu hơn là sợ hãi. Tôi chỉ cố gắng đưa ra thông điệp về y tế công cộng để cứu mạng sống của mọi người.”  Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã được hưởng lợi từ nỗ lực của Fauci. Ông thường đứng cạnh Trump trong các cuộc họp báo khi tổng thống liên tục trình bày một cách sai lệch về mức độ nghiêm trọng của đại dịch. Mặc dù Fauci đôi khi mâu thuẫn với Trump, nhưng ông không trực tiếp đối đầu với tổng thống.   Những chỉ thị như vậy đã dừng lại vào tháng Tư và kể từ đó Fauci đã trở thành người thông báo chính, theo nhận xét của Mark Harrington, giám đốc điều hành của Treatment Action Group, một think tank của thành phố New York tập trung vào việc điều trị và phòng ngừa bệnh AIDS, bệnh lao và virus viêm gan C. “Trong vài tháng qua, ông nói sự thật với chính quyền theo cách mà không ai trong số những người khác trong nhóm phụ trách đại dịch của chính phủ đã làm,” Harrington nói. Fauci sẽ bước sang tuổi 80 vào tháng 12 nhưng không có kế hoạch nghỉ hưu sớm. Ông đồng ý ở lại NIAID và giữ vai trò là cố vấn y tế chính của tổng thống đắc cử Joe Biden. Osterholm cho biết ông mong Fauci sẽ tiếp tục đóng vai trò tích cực trước ống kính.  Tuy nhiên, Harrington vẫn mong đến ngày Fauci có thể tập trung trở lại vào những mối quan tâm cấp bách khác, chẳng hạn như HIV và viêm gan C. “Ông ấy cần được làm công việc hàng ngày của mình”, Harrington nhận xét. “Đó là một công việc quan trọng”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-03435-6/index.html  https://www.post-gazette.com/news/insight/2020/12/13/Dr-Anthony-Fauci-America-s-voice-of-science/stories/202012130021    Author                Quản trị        
__label__tiasang Áo gắn cảm biến theo dõi sức khỏe      Các nhà nghiên cứu ở MIT đã phát triển một phương pháp kết hợp cảm biến điện tử với các loại vải có khả năng co giãn nhằm tạo ra những chiếc áo hoặc các sản phẩm may mặc khác có chức năng theo dõi các dấu hiệu sinh tồn của cơ thể như nhiệt độ, nhịp tim và nhịp thở.      Cảm biến được gắn trực tiếp lên vải và có thể tháo ra một cách dễ dàng. Nguồn: MIT Media Lab.  Những chiếc áo gắn cảm biến này có thể giặt máy và tùy chỉnh để vừa vặn với cơ thể người mặc. Theo các nhà nghiên cứu, loại cảm biến này có thể dùng để theo dõi người bệnh tại nhà, ở bệnh viện cũng như giám sát sức khỏe cho các vận động viên và phi hành gia.  Canan Dagdeviren, Phó giáo sư tại MIT, cho biết: “Chúng tôi có thể gắn bất cứ bộ phận điện tử nào có sẵn trên thị trường hoặc những thiết bị điện tử được đặt làm riêng trong phòng thí nghiệm vào các loại vải dệt mà chúng ta mặc hằng ngày để tạo ra những bộ quần áo phù hợp. Do những thiết bị điện tử này có khả năng tùy chỉnh nên chúng tôi có thể sản xuất ra được những chiếc áo cho bất kỳ ai cần theo dõi dữ liệu về cơ thể của họ”.  Trước đây, nhiều nhóm nghiên cứu khác cũng đã tạo ra các miếng dán mỏng giống như da người để có thể đo nhiệt độ và các dấu hiệu sinh tồn của cơ thể khác. Tuy nhiên, nhược điểm của chúng là rất mỏng manh và cần gắn trực tiếp vào da. Bởi vậy, phòng thí nghiệm của Dagdeviren đã tạo ra những bộ quần áo tương tự với thứ chúng ta vẫn mặc hằng ngày bằng việc kết hợp một loại vải co giãn với các cảm biến điện tử có thể tháo rời.  “Trong nghiên cứu của chúng tôi, vải không có chức năng gì liên quan đến điện. Nó chỉ giúp bạn mang các thiết bị điện tử trên người một cách phù hợp và thoải mái trong suốt các hoạt động thường ngày của mình”, Dagdeviren cho biết. “Mục tiêu chính của chúng tôi là theo dõi được các hoạt động thể chất của cơ thể như nhiệt độ, nhịp thở, sự tăng tốc,… từ cùng một bộ phận cơ thể mà không cần phải cố định hay dán bất cứ thiết bị nào vào người”.  Các cảm biến điện tử trong nghiên cứu của Dagdeviren bao gồm các sợi dài và linh hoạt được bọc trong epoxy (hợp chất hóa học liên quan đến thành phần cơ bản hoặc sản phẩm cuối được xử lý bằng nhựa epoxy) và sau đó được đan dệt vào các đường hẹp ở vải. Những đường này có các khe hở nhỏ cho phép các cảm biến tiếp xúc với làn da. Các nhà khoa học đã thiết kế một chiếc áo mẫu đầu tiên với 30 cảm biến nhiệt độ và một gia tốc kế để đo lường chuyển động, nhịp tim và nhịp thở của người mặc. Sau đó, chiếc áo sẽ truyền các dữ liệu không dây này đến một chiếc điện thoại thông minh.  “Nhìn từ bên ngoài thì chiếc áo này trông giống như một chiếc áo phông bình thường, nhưng khi nhìn từ bên trong, bạn sẽ có thể thấy được những bộ phận điện tử đang chạm vào da”, bà Dagdeviren cho biết. “Chiếc áo sẽ ôm sát vào cơ thể, những bộ phận hoạt động của cảm biến sẽ tiếp xúc với làn da”. Những chiếc áo này có thể giặt và những cảm biến gắn bên trong cũng có thể tháo rời để chuyển sang một bộ quần áo khác.  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm áo mẫu của họ với những người tập thể dục tại phòng tập gym. Thông qua áo, họ có thể theo dõi được những thay đổi về nhiệt độ, nhịp tim và nhịp thở của người mặc. Nhờ những cảm biến bao phủ trên một diện tích bề mặt lớn của cơ thể, họ đã quan sát được sự thay đổi nhiệt độ ở các bộ phận cơ thể khác nhau cũng như sự tương quan giữa những thay đổi này.  Theo Dagdeviren, loại cảm biến này có thể hữu ích cho việc điều trị cá nhân hóa từ xa (personalized telemedicine), cho phép các bác sĩ theo dõi bệnh nhân dù họ đang ở nhà, hoặc theo dõi sức khỏe các phi hành gia khi họ ở trong không gian.  “Bạn sẽ không cần phải đến gặp bác sỹ hoặc thực hiện cuộc gọi video nữa”, Dagdeviren nói. “Với cách thu thập dữ liệu này, các bác sỹ có thể có được những đánh giá tốt hơn và hỗ trợ bệnh nhân hiệu quả hơn”. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-04-sensors-woven-shirt-vital.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Áo khoác điện toán đám mây, giải pháp công nghệ mới      Một chiếc áo điện toán đám mây sẽ tích hợp được nhiều chức năng lưu trữ, xử lý thông tin và có ứng dụng rộng rãi trong kết nối, chia sẻ thông tin, đặc biệt là khi xảy ra các thảm họa tự nhiên hoặc trong chiến tranh. Ngoài ra, thiết bị này cũng có ứng dụng trong y học với khả năng đo các chỉ số sinh học như nhịp tim, nhiệt độ cơ thể. Nghiên cứu này do một nhóm các nhà nghiên cứu ở Đại học Alabama, Birmingham tiến hành.      Minh họa chiếc áo điện toán đám mây  Nguồn ảnh: sciencedaily  Chiếc áo điện toán đám mây có thiết kế đơn giản hơn, trọng lượng nhẹ và giá rẻ này cho phép người dùng khai thác các nguồn tài nguyên của điện toán đám mây ngay cả khi họ di chuyển thay vì chỉ phụ thuộc vào phần cứng của các thiết bị di động như trước đây.  “Hiện nay nếu bạn muốn có một chiếc đồng hồ thông minh, điện thoại thông minh, một thiết bị theo dõi hay một chiếc kính thông minh, bạn phải mua từng thiết bị đơn lẻ và chúng không đồng bộ với nhau. Vậy tại sao không có một nền tảng tính toán phù hợp với nhu cầu của bạn và có thể hỗ trợ xử lý các lệnh trên nhiều loại thiết bị di động khác nhau? Liệu có thể tích hợp tất cả các chức năng đó trong một thiết bị giá rẻ?” TS. Ragib Ha San, ở Đại học Alabama, một đồng tác giả của nghiên cứu này cho biết.  Ngày nay, các thiết bị di động ngày càng trở nên đắt đỏ và phức tạp hơn do người dùng ngày càng đòi hỏi một thiết bị xử lý mạnh mẽ hơn với hiệu năng cao hơn. Nhu cầu này phổ biến tới mức ngày càng có nhiều người ao ước mua được những thiết bị di động thông minh có giá hàng nghìn USD. Mặt khác, hầu hết các thiết bị đeo và điện thoại di động đều có bộ vi xử lý có tốc độ chậm hơn khoảng 10 lần so với máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay. Các thiết bị di động mới liên tục “ra lò” được cập nhật mới, mở rộng phần cứng và tốc độ xử lý mạnh mẽ hơn để đáp ứng với những đổi thay về công nghệ thì lại dẫn tới kết quả là giá cả tăng theo. Để đáp ứng nhu cầu lưu trữ của người dùng, rất nhiều thiết bị di động hiện nay sử dụng dữ liệu điện toán đám mây, người dùng phải đăng ký tài khoản cá nhân và tải các dữ liệu cá nhân lên đó. Mẫu áo khoác điện toán đám mây này có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu đó với dung lượng RAM khoảng 10GB (trong khi trung bình RAM của điện thoại chỉ từ 1 đến 3 GB). Đồng thời, mỗi chiếc áo khoác đám mây này cũng có khoảng 32GB bộ nhớ sẵn có và có giá rất rẻ so với các thiết bị di động hiện nay.  “Một cách tổng quát nhất, chúng tôi tạo ra một thiết bị mà người dùng có thể tùy chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu của họ mà không cần mở rộng phần cứng. Vì chiếc áo điện toán đám mây này có thể đóng vai trò là một nền tảng ứng dụng, và cho phép các nhà phát triển sản phẩm có thể xây dựng bất kỳ ứng dụng nào trên đó mà không cần phải sửa đổi, nâng cấp phần cứng”, TS. Rasib Khan, một thành viên trong nhóm nghiên cứu cho biết. Cụ thể, chiếc áo điện toán đám mây sẽ kết nối với các thiết bị di động thông qua Bluetooth hoặc Wifi, người dùng sẽ thao tác tất cả các lệnh cần thiết trên màn hình của thiết bị di động đó nhưng các lệnh tính toán đó sẽ được thực hiện trên chiếc áo này chứ không phải trên thiết bị di động. Để thuận tiện nhất cho người dùng thao thác, khi thiết kế, các kỹ sư bố trí các nút bấm bên trong áo khoác rất tiện cho người dùng. Áo khoác đám mây này sẽ lưu trữ hầu hết các dữ liệu cá nhân của người dùng thay cho việc phải mở rộng phần cứng thiết bị di động như trước đây.  “Một khi bạn đã chuyển tất cả các dữ liệu vào đây, chiếc áo này sẽ trở thành một thiết bị thông minh. Thay vì bạn cần tới rất nhiều thiết bị khác nhau, giờ đây bạn có một thiết bị tất cả trong một, một giải pháp tổng hợp”, Khan cho biết. Khan và Hasan tin rằng, loại áo điện toán đám mây này là một giải pháp công nghệ có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, từ đáp ứng nhu cầu giao tiếp, tương tác và chia sẻ thông tin về các thiên tai, thảm họa cho tới chia sẻ thông tin giữa những người lính trên chiến trường. Hasan nói: “7 đến 10 người cùng mặc loại áo điện toán đám mây này sẽ tạo ra một siêu đám mây, một động cơ mạnh mẽ hơn nhiều. Nếu người dùng đầu tiên ra khỏi hệ thống và không thể hoàn thành công việc mà anh ta đang làm, người khác có thể chia sẻ và tiếp tục hoàn thiện, cập nhật công việc thông qua dữ liệu đám mây này”.  Ví dụ có một thảm họa xảy ra và khiến một tòa nhà bị hư hại. Mọi người có thể nhìn thấy chi tiết về tòa nhà trước khi nó bị hư hại, nhưng phải nhìn được vào trong tòa nhà mới có thể biết được chính xác nơi nào bị phá hủy, nơi nào có thể có người bị thương nằm ở đó. Khi mọi người mặc chiếc áo điện toán này và kết nối với chiếc kính Google, bất cứ ai cũng có thể truy cập vào dữ liệu điện toán đám mây và nhìn thấy bất kỳ điều gì mà người mặc chiếc áo điện toán đó nhìn thấy trong thực tế mà không cần tới một nền tảng hoặc thiết bị, phần cứng hoặc phần mềm đặc biệt nào cả.  Ngoài ra, “chúng tôi cũng nhìn thấy một lĩnh vực ứng dụng rất tiềm năng của thiết bị này là y học, bệnh nhân có thể mặc chiếc áo này và sau đó kết nối với máy tính để đo nhịp tim, huyết áp và các chỉ số sinh học khác”. Hasan nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Áo phao cứu sinh đa năng cho ngư dân đi biển      Bộ áo phao cứu sinh do ông Võ Văn Hoàng Minh, một doanh nhân đam mê sáng chế, được cấu tạo bằng chất liệu nhẹ,  chống thấm nước và có các ngăn chứa đồ ăn và nước uống, giúp người bị  nạn có thể sống sót tới 7 – 8 ngày ltrong điều kiện thời tiết khắc nghiệt trên biển.      Tự bỏ tiền túi 200 triệu đồng, dựa vào vốn  kiến thức trong thời gian làm ở công ty nhựa, kết hợp với mày mò, sáng  tạo, ông bắt tay sáng chế phao đa năng cứu sinh trong hai năm. Năm 2012,  sản phẩm được “ra lò”.   Bộ áo phao theo thiết kế của tác giả có khả năng chịu đựng được những cơn sóng có cường độ lớn, áp lực cao. Không những vậy, tác giả còn tính toán cả những bộ phận giúp bảo vệ cơ thể người bị nạn an toàn khi ngâm mình dai ngày trong nước như: găng tay và tất chân cao su chống thấm nước, ngăn mùi và chống cá mập phát hiện, kính và mũ bảo hộ có phản quang làm tín hiệu cứu hộ.   Một điểm đặc biệt của bộ áo phao đó là quả bóng hơi kèm theo vừa có thể làm vật che sóng hoặc kẹp dưới chân để cân bằng lực, nâng người bị nạn được nghỉ ngơi và phơi nắng trên mặt nước. Đây thực sự là một giải pháp sáng tạo mà tác giả rất tâm đắc.    Được biết, mỗi áo phao cứu sinh có giá khoảng 100 USD, thời gian sử dụng hai năm, trong khi nhiều sản phẩm áo phao cứu sinh hiện đại của thế giới có giá 2.000-3.000 USD.   Bộ áo phao của tác giả Võ Văn Hoàng Minh đã được Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Bạc Liêu đưa ra thử nghiệm với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, hội nghề cá và ngư dân và được đánh giá rất cao.   Nếu được trang bị rộng rãi cho ngư dân đi biển để làm vật cứu hộ, cứu nạn trong tình huống khẩn cấp, bộ áo phao cứu sinh của tác giả có thể mang lại cơ hội sống sót cho rất nhiều người.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảo tưởng AI      Bài viết dưới đây là chia sẻ của anh Lê Thanh Sơn, kỹ sư trong nhóm tư vấn và triển khai công nghệ Watson của IBM với kinh nghiệm thực hiện khoảng 10 dự án áp dụng AI cho các doanh nghiệp trên khắp Đông Nam Á, cho thấy, ở các doanh nghiệp, vẫn có một khoảng cách giữa kì vọng và thực tế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.      Máy tính Watson của IBM thắng hai huyền thoại của show truyền hình giải đố “Jeopardy!” – Ken Jennings (trái) và Brad Rutter (phải).  Các doanh nghiệp khắp nơi trong khu vực châu Á đã và đang nhận thức được vai trò to lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) vào trong các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Nắm bắt được nhu cầu này, các công ty công nghệ từ startup cho tới tập đoàn lớn như Microsoft, Amazon, Google, IBM đã xây dựng các nền tảng AI phục vụ cho các doanh nghiệp. Watson là một trong số các nền tảng AI phổ biến ứng dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong hỏi – đáp bằng ngôn ngữ tự nhiên, dán nhãn dữ liệu để xây dựng mô hình máy học, là nền tảng cộng tác giữa các nhà khoa học, kỹ sư dữ liệu trong một dự án trí tuệ nhân tạo.   Các công ty công nghệ lớn và đầu tư nhiều vào phát triển nền tảng AI như IBM với Watson, đầu tư rất nhiều vào hoạt động truyền thông và xây dựng các hiện tượng có ấn tượng mạnh mẽ với công chúng gọi là “massive hit demo” như Watson chiến thắng hai huyền thoại của show truyền hình giải đố Jeopardy! của Mỹ năm 2011, cho đến nay vẫn được nêu ra như một ví dụ về khả năng vượt trội của máy tính so với con người. Từ những “cú nổ” đó, khách hàng có ấn tượng rất sâu đậm với Watson rằng, đó là một cỗ máy thông minh biết tuốt, cái gì cũng có thể giải quyết được. Nhưng thật ra, có một khoảng cách khá xa giữa những gì AI đã làm được thông qua các demo đó và AI có giải quyết một cách trọn vẹn yêu cầu của doanh nghiệp.  Một yếu tố khác nữa là bộ phận pre-sales (tư vấn và bán hàng) của bên cung cấp giải pháp, đôi khi cố tình tô vẽ phép màu của AI lên theo lối “fake it till you make it” – tạo ra một sản phẩm demo có công năng hạn chế hơn nhiều so với hứa hẹn ban đầu trước yêu cầu của doanh nghiệp để thuyết phục họ chịu bỏ tiền ra mua giải pháp.   Ví dụ như, trong một dự án chúng tôi làm cho một tập đoàn bán lẻ ở Thái Lan, để xây dựng một phần mềm mẫu ứng dụng máy học để hỗ trợ nhân viên của công ty so sánh các hóa đơn và ủy nhiệm thư của doanh nghiệp. Trên thực tế, ủy nhiệm thư chỉ có một mẫu chuẩn nhưng hóa đơn thì lại có rất nhiều loại với cách viết khác nhau, nên những nhân viên hành chính của công ty này vốn mất rất nhiều thời gian để so sánh hai loại chứng từ này để quản lý việc xuất, nhập kho của mình. Họ tin rằng, AI có thể tự học từ những tài liệu mẫu và tự điều chỉnh từ phản hồi của những người phụ trách nghiệm vụ (SME) và hệ thống càng trở nên chính xác hơn từ phản hồi đó.       “Đừng bị lừa bởi AI và đừng lừa người khác về những gì AI có thể và không thể làm”. Nghĩa là doanh nghiệp hãy tỉnh táo trước khả năng thật sự của AI và đừng bị rơi vào cạm bẫy suy nghĩ rằng AI như là một ông giáo sư biết tuốt.      Tuy nhiên, sau khi phân tích đủ nhiều các dữ liệu mà doanh nghiệp cung cấp, chúng tôi thấy rằng mọi thứ không như khách hàng suy nghĩ. Có những thao tác thuần tuý là “rule based” (dùng máy giải quyết các vấn đề của con người dựa theo các quy tắc định nghĩa trước), có thể giải quyết tốt bằng các hệ thống quản lý doanh nghiệp mua sẵn truyền thống mà không nhất thiết phải dùng AI. Mặt khác, có những thao tác không có một quy tắc nào cả, chẳng hạn như cách viết tắt, cách gọi tên các địa danh cảng xuất nhập hàng không theo một trật tự chuẩn hoá nào và họ cũng có những quy tắc kinh doanh tuỳ biến theo từng hoàn cảnh cụ thể, từng khách hàng cụ thể… Những vấn đề đó AI giải quyết không tốt và cũng không cần thiết, chỉ cần tra từ điển hoặc cơ sở dữ liệu truyền thống là đủ. Một khó khăn khác nữa là SME không biết cách biểu đạt logic nghiệp vụ nằm trong đầu họ vào các logic để có thể xây dựng mô hình máy học.   Cuối cùng chúng tôi đã phải bỏ ra rất nhiều thời gian làm việc trực tiếp tại văn phòng của doanh nghiệp, họp với các người dùng SME để hiểu nghiệp vụ của họ và tổng quát hoá chu trình của họ. Sau đó là giải thích cho họ về khả năng của AI làm được những gì và không làm được những gì. Kết quả chỉ là chúng tôi thiết kế giao diện người dùng của hệ thống so sánh đó thật sự đơn giản và tiện dụng cho người dùng văn phòng chỉ quen thuộc với Microsoft Excel để bù đắp lại cho những hứa hẹn về AI ban đầu.  Chúng tôi hay nói với nhau “đừng bị lừa bởi AI và đừng lừa người khác về những gì AI có thể và không thể làm”. Ý là doanh nghiệp hãy tỉnh táo trước khả năng thật sự của AI và đừng bị rơi vào cạm bẫy suy nghĩ rằng AI như là một ông giáo sư biết tuốt, chỉ cần đưa vào thật nhiều dữ liệu mẫu là ông ấy có thể tự học, tự phát hiện ra các quy tắc kinh doanh và đưa ra các phán đoán ở các dữ liệu thực tế tương tự khác. Chúng tôi cũng sẽ cho khách hàng biết khả năng thật sự của AI đến đâu để không “đánh lừa” khách hàng dù là vô tình hay hữu ý.     Các bộ phận bán hàng AI thường theo lối “fake it till you make it”, cứ “làm giả” khả năng giải pháp của mình đã rồi thử nghiệm sau.  Lúc mới tham gia vào nhóm triển khai Watson vào giữa năm 2016, tôi tham gia ở giai đoạn cuối của một dự án ứng dụng chatbot để trả lời các câu hỏi từ khách hàng của một ngân hàng lớn tại Malaysia. Ngay trước ngày chatbot được “go live” tức là đưa ra giới thiệu với khách hàng và cho họ sử dụng, ngân hàng ấy yêu cầu chúng tôi phải lập tức đổi toàn bộ các câu trả lời có từ “virtual agent” – trợ lý ảo, thành AI. Ở góc độ người làm trực tiếp dự án, chúng tôi hiểu được độ thông minh của chatbot ấy đến đâu nhưng vì khách hàng yêu cầu nên chúng tôi phải làm theo. Tôi nghĩ, khách hàng nào cũng vậy, dù to hay nhỏ thì khi giới thiệu dự án có sử dụng dù chỉ là một ít thuật toán máy học vào trong đó, họ đều muốn đề cập đến thuật ngữ AI để có một bộ mặt đẹp trước công chúng.   Theo tôi nghĩ, doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa với nguồn lực giới hạn thì cần phải có sự cân nhắc chu đáo về lựa chọn bài toán của doanh nghiệp mình xem có cần thiết sử dụng AI không như đã đề cập ở trên. Nếu vấn đề ấy cần và có thể giải quyết được bằng AI thì cần hiểu rõ giới hạn của nền tảng AI mà mình sẽ mua. Nói một cách ví von, các nền tảng AI như Watson giống như là từng thiết bị rời của xe ô tô trong khi doanh nghiệp cần mua một chiếc ô tô đã được cấu hình sẵn theo yêu cầu về địa hình, thời tiết, nhu cầu sử dụng… Các bạn cần một chiếc ô tô để có thể sẵn sàng chạy ngay, vấn đề đó rất khó khả thi.   Cách làm việc của nhóm Watson ở IBM của chúng tôi là làm việc trước với khách hàng về một tác vụ cụ thể nào đó (use case) mà họ đang cần giải quyết, sau đó là thu thập dữ liệu mẫu liên quan đến use case. Sau đó thì chúng tôi đề xuất gói dịch vụ tư vấn, đào tạo, xây dựng và chuyển giao về giải pháp sẽ sử dụng AI. Điều quan trọng là doanh nghiệp và chúng tôi sẽ thống nhất với nhau về mức ngân sách bỏ ra cho dự án và thời hạn xây dựng (dao động trong vòng 8 – 10 tuần cho đến 4-5 tháng là tối đa). Nó giống như cách chúng tôi đi cùng với khách hàng xuyên suốt hành trình lựa chọn thiết bị rời của xe, lắp ráp nên chiếc xe và dạy cho họ cách sử dụng chiếc xe đó sau khi nó được hoàn thiện. Thông thường thì yêu cầu của khách hàng lúc ban đầu dự án là muốn có chiếc xe ô tô Lamborghini hay Mercedes, nhưng khi bàn giao thì sản phẩm chỉ là chiếc xe đạp điện hay chiếc xe gắn máy là đã đủ để đáp ứng yêu cầu thực tại của doanh nghiệp.  Cách đây ít tháng, nhóm chúng tôi làm dịch vụ tư vấn theo giờ với một tập đoàn bán lẻ của Hong Kong có chi nhánh ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Cách làm việc của họ là lập ra một tổ đặc nhiệm chuyên thí nghiệm với các ý tưởng mới. Có vẻ như đứng trước thách thức to lớn từ các đối thủ cạnh tranh đã đi trước trong việc ứng dụng công nghệ, ban giám đốc rất “quyết liệt” trong việc giao cho tổ đó mỗi ngày phải hiện thực ít nhất là một use case. Tuy nhiên, doanh nghiệp này lại không cho chúng tôi thấy một bức tranh tổng thể về quá trình số hóa của họ mà chỉ đưa ra những câu hỏi chắp vá về tính năng sản phẩm. Đây cũng là một trong những trở ngại cho phía chúng tôi từ góc độ người đi tư vấn và xây dựng giải pháp tuỳ chỉnh cho khách hàng doanh nghiệp.         Thông thường thì yêu cầu của khách hàng lúc ban đầu dự án là muốn có chiếc xe ô tô Lamborghini hay Mercedes, nhưng khi bàn giao thì sản phẩm chỉ là chiếc xe đạp điện hay chiếc xe gắn máy là đã đủ để đáp ứng yêu cầu thực tại của doanh nghiệp.      Theo tôi, AI chỉ là một trong số nhiều công cụ để giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp. Hãy hiểu thật rõ vấn đề mình sẽ cần giải quyết là gì rồi sau đó mới đi tìm giải pháp chứ đừng bắt đầu từ giải pháp rồi đi tìm vấn đề để giải quyết. Vấn đề này tôi đã thấy rất rõ qua một trường hợp tập đoàn bán lẻ khác của châu Âu, họ đặt hàng một nhóm khác trong IBM để xây dựng chatbot phục vụ khách hàng ở ba nước Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Theo tôi được biết thì trụ sở khu vực của doanh nghiệp này tại Singapore có một ngân sách hằng năm từ tổng hành dinh ở châu Âu rót xuống cho việc ứng dụng công nghệ mới để tăng trải nghiệm cho khách hàng. Vì chatbot đang là xu thế thời thượng nên họ đặt hàng IBM để xây dựng. Kết quả là, mặc dù xây dựng được chatbot nhưng vấn đề họ giải quyết được quá nhỏ bé.   AI chắc chắn là có những tiềm năng to lớn giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh nếu biết cách sử dụng đúng công cụ cho đúng vấn đề của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể bắt đầu dần với việc trang bị kiến thức nền về các ứng dụng của AI cho các cấp độ từ người quản lý xuống đến nhân viên cấp thấp. Hãy cứ thử nghiệm với một vấn đề cụ thể, với dữ liệu đang có (không cần quá nhiều đâu) và thất bại nhanh (fail fast) sau đó là tiếp tục quá trình này (rinse and repeat).     Author                Lê Thanh Sơn        
__label__tiasang Áp dụng các phương pháp xử lý dữ liệu xây dựng hệ tri thức chuyên gia Việt      Một cơ sở dữ liệu chuyên gia người Việt trên toàn cầu sẽ là nguồn thông tin quan trọng và mang tính gợi ý cho các dự án hay các kế hoạch phát triển cần nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là điều chúng tôi nghĩ đến khi bắt tay vào xây dựng dự án Big Data Analytics for Vietnamese Overseas (BDAVO).     Giáo sư Ngô Bảo Châu trong một lần về nước giảng dạy trong khuôn khổ trường hè toán học 2018 do Viện nghiên cứu cao cấp về Toán tổ chức. Nguồn: VIASM  Từ hàng thập kỷ qua, hàng trăm ngàn chuyên gia người Việt, gốc Việt đã và đang làm việc, nghiên cứu tại nhiều quốc gia phát triển. Đây là nguồn tài nguyên quý giá và quan trọng cho sự phát triển của đất nước nếu được tập hợp và phát huy đúng cách. Để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh dựa trên công nghệ, kỹ thuật tiên tiến rất cần một cơ sở dữ liệu chuyên gia người Việt trên toàn cầu. Với mục đích xây dựng một nền tảng tìm kiếm và phân tích thông tin về Chuyên gia Việt tại các quốc gia có nền kinh tế, khoa học, công nghệ phát triển, dự án BDAVO do trường Đại học Kinh tế Quốc dân hợp tác với Công ty giải pháp công nghệ VietSearch với sự tài trợ của Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã được triển khai.  Hiện tại, dòng luân chuyển của người Việt khi tìm việc và học tập tại nước ngoài cũng như về nước làm việc ngày càng lớn. Điều đó càng cho thấy sự cấp thiết của một cơ sở dữ liệu chuyên gia người Việt như BDAVO.  Để đáp ứng được những mong mỏi này, BDAVO tập trung vào mảng tổng hợp và xử lý dữ liệu từ nhiều nguồn trong việc khai thác và kết nối chuyên gia người Việt và gốc Việt ở nước ngoài. Dự án nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ Big Data (dữ liệu lớn), Data Mining (khai phá dữ liệu), Data Analytics (phân tích dữ liệu), Machine Learning (học máy)… để tạo nên một nền tảng phát hiện nguồn lực chất lượng cao tiềm năng cho Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.  Thông thường, một nền tảng tìm kiếm và phân tích thông tin gồm một số thành phần chính là:  (1) Thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn; (2) Chuẩn hóa, làm sạch, làm giàu dữ liệu, bóc tách thuộc tích, phân lớp dữ liệu; (3) Đánh chỉ số, phân thứ hạng cho dữ liệu để hỗ trợ việc tìm kiếm; (4) Các thuật toán hỗ trợ khớp, xếp hạng, gợi ý dữ liệu liên quan khi có truy vấn; (5) Hệ thống giao diện và hiển thị thông tin cho người dùng; (6) Hệ thống quản trị nội dung, quản trị tri thức để có sự tương tác, can thiệp của con người hỗ trợ cho các hệ thống xử lý tự động.  Ngoài ra hệ thống cần một cơ sở hạ tầng lưu trứữvà xử lý dữ liệu phân tán vì thường lượng dữ liệu khá nhiều và phải xử lý liên tục và nhanh nên sẽ hạn chế nếu chỉ chạy trên một máy, chẳng hạn có sự thay đổi về lược đồ dữ liệu, bắt buộc phải xử lý lại toàn bộ dữ liệu để đáp ứng lược đồ mới. Xử lý toàn bộ dữ liệu mất 8h trên một máy thì coi như mất một ngày làm việc đợi có hết kết quả. nếu chạy đồng thời bốn máy chỉ mất 2h thì sớm có kết quả để kiểm nghiệm trong ngày luôn.  Hệ thống BDAVO được thiết kế để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên.  Kiến trúc xử lý dữ liệu của hệ thống BDAVO có thể khái quát trong hình 1 với 3 module chính (1) thu thập dữ liệu Chuyên gia (2) xử lý dữ liệu Chuyên gia (3) tìm kiếm và gợi ý dữ liệu Chuyên gia.  Do dữ liệu ban đầu của hệ thống BDAVO là nguồn dữ liệu “thô” thu thập từ nhiều nguồn trên Internet nên để có được các dữ liệu “tinh” hỗ trợ cho các tính năng tìm kiếm, gợi ý chuyên gia, một số phương pháp Xử lý dữ liệu được trình bày ở đây.  Hình 1  Phát hiện chuyên gia Việt trong hệ thống dữ liệu lớn toàn cầu  Về tổng quan, khó khăn chính mà chúng tôi gặp phải khi phát triển BDAVO là thu thập dữ liệu. Thường dữ liệu tản mát thì việc thu thập, chuẩn hóa mất rất nhiều thời gian. Dữ liệu tập trung của một số hệ thống có sẵn như Linkedin thì họ sẽ chặn và không muốn cho các hệ thống khác thu thập dữ liệu từ phía họ. Đây là một sự thiệt thòi cho Việt Nam bởi nếu không phát triển được các nền tảng quản lý dữ liệu của nước mình vì các “tài nguyên” thông tin của Việt Nam (ví dụ như thông tin của một chuyên gia người Việt) lại do nước ngoài nắm giữ, khi mình muốn sử dụng cho một số mục đích cụ thể cũng rất khó khai thác, ngay cả để phục vụ cộng đồng.  Mặt khác, khi thu thập dữ liệu về chuyên gia, thường chúng ta quan tâm đến các nền tảng cung cấp nhân lực lao động, ví dụ như LinkedIn. Khi đó, các máy tìm kiếm các nhà khoa học chuyên gia như Google Scholar, Research Gate, các xuất bản online, những danh bạ điện thoại tại các quốc gia trên thế giới v.v…. Khi phải xử lý hàng chục triệu bản ghi dữ liệu trên Internet từ nhiều quốc gia, ngôn ngữ khác nhau thì việc phân biệt tự động đâu là tên người gốc Việt là thách thức trước tiên trong việc xây dựng một Cơ sở tri thức Chuyên gia Việt. Là một người Việt Nam, khi đọc tên ai ta có thể có cảm nhận đó có phải là người gốc Việt hay không. Ví dụ một người họ Nguyễn rất dễ nhận là người gốc Việt. Tuy nhiên có những họ rất thông dụng của Việt nam như “Lê” khi viết không dấu bị lẫn với giới từ thông dụng nhất của tiếng Pháp là “Le”. Hay các họ tên nghe rất Việt như “Vân” khi viết không dấu lại lẫn với tên “Van” thông dụng trong tiếng Hà Lan. Ngoài ra các nước châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore phần tên có rất nhiều từ giống tên Việt Nam khi biểu diễn bằng chữ cái Latin với các ký tự không dấu ASCII.  Do vậy, nhóm nghiên cứu của dự án BDAVO đã tạo ra phương pháp phát hiện tên người Việt của riêng mình dựa trên:  – Thống kê tên người Việt từ một nguồn có hơn 500.000 tên Việt  – Tạo cây quyết định dựa trên các thống kê unigram, bigram (e.g. “le thi”, “thanh van”, …), n-grams  – Áp dụng các phương pháp loại trừ dựa trên một số tập dữ liệu tên người nước ngoài.  Cây quyết định phát hiện tên người Việt được mô tả trong hình 2:  Hình 2  Việc quyết định tên có chắc chắn là người Việt không dựa trên tập dữ liệu huấn luyện. Do tên người Việt có trung bình ba từ nên cây quyết định này có độ sâu thấp, chỉ cần dùng đến Trigram là có thể đưa ra kết luận tên một người có phải người Việt hay không. (ví dụ tên “ho tu bao”, các unigram như “ho”, “tu”, “bao”, “bao ho”, “bao tu”, “ho tu” đều có thể là tên người nước ngoài, tuy nhiên trigram “ho tu bao” là tên một giáo sư người Việt.  Các trường hợp tên “nhập nhằng” khó dự doán, thường là tên có hai từ có cả tên người Việt lẫn nước ngoài từ tập dữ liệu đào tạo thì hệ thống phải dựa vào các tri thức khác để nhận biết: ví dụ phát hiện ngôn ngữ Vietnamese trong profile Linkedin, trường, viện đã từng học tập hay làm việc (các nhà khoa học gốc Việt có khả năng học và làm việc tại trường Việt Nam).  Qua thử nghiệm dựa trên một mẫu 10.000 profile lấy từ hệ thống Linkedin mà tên trên Profile có ít nhất 1 từ trong 16 họ Việt thông dụng từ trang Wikipedia “Họ_người_Việt_Nam”, thuật toán VietName Detection của BDAVO đã tăng độ chính xác từ 71% lên 93% trong việc phát hiện 1 profile trên linkedin có phải là người Việt hay không.  Trong năm 2019, giới khoa học Việt Nam có bàn luận về một nghiên cứu “A standardized citation metrics author database annotated for scientific field” của một nhóm giáo sư bên Mỹ kèm database khoảng 100.000 nhà khoa học có nhiều trích dẫn nhất và danh sách 40 nhà khoa học gốc Việt trong danh sách này. Thuật toán phát hiện tên người Việt của BDAVO đã tìm ra hơn 60 nhà khoa học có thể là người gốc Việt trong danh sách. Điều này thể hiện sự vượt trội hơn 30% khả năng phát hiện tên người Việt so với các phương pháp đơn giản.  Phát hiện mối liên hệ chuyên ngành  Trong các cơ sở dữ liệu, khi tìm kiếm thông tin với các từ khóa, phần lớn các hệ thống tìm kiếm thông tin đều đưa ra các kết quả nếu dữ liệu khớp với truy vấn của người sử dụng. Tuy nhiên có hạn chế là không phải một profile chuyên gia nào cũng cung cấp đầy đủ thông tin của mình. Do đó, việc sử dụng các tính  năng suy diễn (inference), hệ thống xử lý thông tin hoàn toàn có thể “làm giàu” thêm profile chuyên môn của các chuyên gia hay gợi ý thêm từ khóa tìm kiếm hỗ trợ cho người sử dụng tìm kiếm được chuyên gia mình cần. Ví dụ khi nói đến “Artificial Intelligence” (trí tuệ nhân tạo) người sử dụng cũng có thể quan tâm đến các lĩnh vực liên quan như Machine learning (học máy), Robotics. Hay “Quantitative Analytics” (phân tích định lượng) thường áp dụng tại trong “Bank” (ngân hàng) hay “Finance Service” (dịch vụ tài chính).  Có hai cách chính để phát hiện mối quan hệ này là (1) Sử dụng một bộ Tri thức phân tầng đã được xây dựng sẵn (Ontology) (2) Sử dụng phương pháp thống kê Cùng xuất hiện trong ngữ cảnh (Collocation), tính “tỉ lệ giống nhau – likelihood  ratio” giữa các ngành nghề trong dữ liệu đào tạo. Trong trường hợp của BDAVO, chúng tôi cố gắng kết hợp cả hai cách để bổ sung cây tri thức phân tầng với các chuyên ngành cây tri thức còn thiếu.  Với Ontology định nghĩa sẵn, ví dụ như “ACM Computing Classification System (https://dl.acm.org/ccs)”, nếu một chuyên gia ghi trong profile ”Machine Translation” (dịch máy) thì Ontology sẽ giúp hệ thống suy diễn ”Machine Translation” là lớp con của “Natural language processing” (xử lý ngôn ngữ tự nhiên). Lớp này lại là lớp con của “Artificial Intelligence”. Vì vậy khi tìm kiếm từ khóa “Artificial Intelligence” thì người truy vấn sẽ vẫn tìm được profile của chuyên gia này.  Tuy nhiên việc có được một bộ tri thức phân lớp chuẩn không phải dễ trong rất nhiều lĩnh vực chuyên môn. Vì vậy, phương pháp xây dựng mối quan hệ giữa các chuyên ngành dựa trên thống kê dữ liệu hay được sử dụng để xây dựng được bộ tri thức lớn cần ít tương tác thủ công. Hình minh họa kết quả  gợi ý chuyên ngành “Artificial intelligence” với các chuyên ngành liên quan hay xuất hiện cùng nó trong các bộ dữ liệu thống kê.  Sắp xếp thứ tự chuyên gia trong kết quả tìm kiếm  Khi truy vấn một cơ sở tri thức các Chuyên gia, hệ thống tìm kiếm có thể trả về hàng nghìn kết quả (ví dụ tìm chuyên gia Việt trên thế giới trong lĩnh vực Kinh tế “Economics” có thể có hàng nghìn người). Việc xác định các trọng số để các chuyên gia có chuyên môn cao hay có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực được hiện lên trên trong các kết quả tìm kiếm sẽ giúp việc lựa chọn chuyên gia hiệu quả hơn. Các yếu tố hay hệ số để xác định trọng số tổng hợp đánh giá chuyên gia rất đa dạng. Có thể vị trí là trong công việc, học hàm, học vị, thanh danh nơi học tập, làm việc, hệ số trích dẫn, số công bố khoa học, phát mình, H-Index… Khi kết hợp hai hay nhiều trọng số trên và dựa vào các dữ liệu huấn luyện (training set) ta có thể tạo ra các ràng buộc để xác định các hệ số của hàm xếp hạng.  Có thể minh họa bằng việc xây dựng hàm xếp hạng qua một ví dụ rất đơn giản sau: Nếu gọi giá trị xếp hạng theo Academic Title của một chuyên gia là t, giá trị ranking theo nơi học tập, làm việc là u, hàm xếp hạng tổng hợp là R(t,u). Dựa trên các bảng xếp hạng trên thế giới, các phân cấp mức độ trong mỗi ngành nghề và các đánh giá của các chuyên gia, phản hồi từ người dùng hàm R(t,u) sẽ được tạo ra để áp dụng sắp xếp các chuyên gia trong hệ thống.  Ví dụ, trong lĩnh vực học thuật và nghiên cứu (academic), các vị trí thứ hạng như bảng sau:        Academic Title  Rank value      Professor  1      Associate Professor  2      Assistant Professor  3      Post-doc/Scientist  4      Doctor/Ph.D.  5      Master  6      Bachelor  7        Ví dụ 10 trường đại học hàng đầu thế giới  theo đánh giá của Times Higher University ranking năm 2021.        University  Rank value      University of Oxford  1      Stanford University  2      Harvard University  3      California Institute of Technology  4      Massachusetts Institute of Technology  5      University of Cambridge  6      University of California, Berkeley  7      Yale University  8      Princeton University  9      The University of Chicago  10        Dựa theo các các đánh giá của con người (ví dụ sau chỉ là giả định), ta có thể xây dựng được tập ràng buộc sau:        Human assertion  Constraints      Giáo sư trường thứ hạng 1 có vị trí cao hơn giáo sư trường thứ hạng 5  R(1, 1) > R(1,5)         Giáo sư trường thứ hạng 1 có vị trí cao hơn Tiến sĩ trường thứ hạng 1  R(1, 1) > R(5,1)         Giáo sư trường thứ hạng 5 có vị trí cao hơn Tiến sĩ trường thứ hạng 1  R(1,5) > R(5, 1)           Dễ thấy với hàm R= w1* t + w2 * u, w1=-2, w2= -1 các điều kiện trên được thỏa mãn. Sau khi hàm R được xây dựng, ta có thể sử dụng nó để sắp xếp thứ tự các chuyên gia. Hàm R chỉ là tương đối và sẽ dần được hiệu chỉnh khi có nhiều phản hồi của người sử dụng, ví dụ dựa trên các Click hay Profile view của hệ thống.  ***  Các công cụ tìm kiếm, mạng xã hội như Google, Linkedin, Facebook là công cụ cho toàn thế giới sử dụng và phát triển từ nước ngoài nên không thể tùy chỉnh cho riêng cộng đồng người Việt. Các hệ thống mạng xã hội, máy tìm kiếm của Việt Nam chưa có khả năng cạnh tranh về công nghệ và tính năng đối với các ứng dụng toàn cầu trên.  Nguồn cơ sở dữ liệu từ các hội, nhóm người Việt trên thế giới rất hạn chế việc truy cập và không có khả năng tự động cập nhật, không có các giao diện thân thiện với người dùng và chắc chắn thiếu các tính năng gợi ý thông mình và phát hiện mối liên hệ giữa các thực thể giữ liệu (ví dụ chuyên ngành liên quan) hay xử lý đa ngôn ngữ để việc khai thác nguồn dữ liệu được hiệu nhất.  Hy vọng với một số phương pháp xử lý dữ liệu từ dự án BDAVO và các dự án tương tự khác sẽ giúp Việt Nam sớm có một nguồn Cơ sở dữ liệu tập trung và đầy đủ về các nhà khoa học người Việt trong và ngoài nước để phục vụ cho việc tìm kiếm, gợi ý nguồn nhân lực phù hợp với công việc chuyên môn. □    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Áp dụng công nghệ cao: Trước hết phải thay đổi tư duy      Việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp sẽ không có ý nghĩa gì nếu không theo đuổi mục đích tạo ra được thực phẩm sạch và bảo vệ môi trường. Và để làm được điều đó, cần thay đổi tư duy và thói quen của người nông dân.      Tại hội thảo về Ứng dụng công nghệ cao – kỹ thuật mới để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt diễn ra trong khuôn khổ sự kiện Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao ngành Thực phẩm – Nông sản sạch do BSA tổ chức mới đây tại Hà Nội, ông Nguyễn Thanh Mỹ, tổng giám đốc công ty Rynan Foods có chia sẻ một sản phẩm công nghệ cao trong nông nghiệp khá thú vị. Đó là phân bón thông minh. Trên thế giới, loại phân bón này được gọi là phân bón tan chậm có kiểm soát, trong đó các chất dinh dưỡng trong phân hóa học thông thường sẽ được bọc trong ba lớp chất dẻo tan từ từ trong quá trình sinh trưởng của cây. Hiện nay, ông còn bọc bên ngoài lớp chất dẻo này một lớp phim có các chất chiết xuất từ cây cỏ và thiên địch để diệt trừ sâu bệnh. Nhờ vậy, người nông dân tiết kiệm hơn 50% lượng phân bón, chỉ cần bón phân một lần thay vì bốn lần như trước và giảm 60% khí thải nhà kính, giảm ô nhiễm đất do phân bón thất thoát.  Thế nhưng, những người nông dân nào sẽ mua phân bón của ông Thanh Mỹ? Phân bón của ông giá thành đắt gấp gần ba lần so với phân bón hóa học thông thường và mặc dù giúp người nông dân tiết kiệm công lao động nhưng họ chưa nhìn thấy điều đó ngay. Còn tác dụng bảo vệ môi trường của loại phân này? Có lẽ họ cũng chẳng quan tâm lắm.  Theo GS. Võ Tòng Xuân, có bốn giai đoạn phát triển kĩ thuật khi các quốc gia tiến dần từ tình trạng tự túc lương thực chuyển sang xuất khẩu cạnh tranh trong thời kỳ toàn cầu hóa: Thứ nhất là giai đoạn thiếu ăn, sử dụng kỹ thuật hóa thạch để bảo đảm tự túc lương thực; Thứ hai là giai đoạn dư ăn, tiêu dùng đa dạng, chuyển sang nghiên cứu để phục vụ thị hiếu muôn vẻ tiêu dùng trong nước; Thứ ba và thứ tư lần lượt là giai đoạn toàn cầu hóa và kinh tế xanh toàn cầu, trong đó tập trung nghiên cứu kỹ thuật xanh. Nước ta vừa bắt đầu và vẫn đang loay hoay ở giai đoạn thứ hai trong khi nhiều nước trên thế giới đang ở giai đoạn thứ ba và thứ tư. Vì thế, chúng ta liên tục nhắc đến việc áp dụng tiến bộ KH&CN, đặc biệt là công nghệ cao vào nông nghiệp để hội nhập quốc tế mạnh mẽ hơn nhưng nó không có ý nghĩa gì nếu như không xuất phát từ động lực “xanh” – nghĩa là bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Và người cần hiểu điều này, trước hết là nông dân vì theo ông Nguyễn Quốc Vọng, chuyên gia nông nghiệp của Đại học RMIT, Úc, nông dân là người bảo vệ môi trường tốt nhất.  Phương thức canh tác lạm dụng thuốc  Một trong những điều mà các diễn giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần tại bốn buổi hội thảo và giao lưu trong suốt bốn ngày diễn ra hội chợ đó là, “nông dân Việt Nam đã quá quen với phương thức sản xuất lạm dụng thuốc trừ sâu rồi”. Võ Văn Tiếng, chủ thương hiệu gạo Tâm Việt, trồng gạo theo hướng hữu cơ ở Hồng Ngự, Đồng Tháp, kể lại trong một buổi giao lưu tại hội chợ: “Những người nông dân nghèo ở quê đi xịt thuốc [bảo vệ thực vật] cho những người có đất đai nhiều hơn thì một lần họ quảy trên lưng bình xịt 25l nhưng một ngày họ xịt 40-45 bình, cũng nghe câu chuyện đâu đó có những người bị ngộ độc rồi chết trên đồng ruộng”. Tuy nhiên, khi anh ngăn cản gia đình đi theo hướng canh tác này thì nhận được phản ứng của bố: “Mày điên hay sao mà không sử dụng phân hay thuốc hóa học?” và nhất quyết không cho anh một tấc đất nào để trồng thử nghiệm theo hướng hữu cơ.    Ino Mayu, người sáng lập tổ chức Seed to Table do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, đã lăn lộn với nông dân ở các tỉnh vùng Tây Bắc và Đông Nam Bộ để vận động họ theo đuổi nông nghiệp hữu cơ trong gần 20 năm, cũng thấm thía điều này. Bà từng nói: “Người nông dân Việt Nam, không biết từ hồi nào, đã tự quy định một điều là phải sử dụng thuốc trừ sâu có hiệu quả nhất, có nghĩa là nó phải độc nhất. Khi nào thấy con sâu, xịt cái thuốc này là con sâu phải lăn cù ra chết liền thì họ mới an tâm được”.      Theo hệ thống PGS – Hệ thống đảm bảo có sự cùng tham gia, khởi xướng từ dự án ADDA, nông dân không “đơn phương độc mã” trên mảnh đất của họ mà liên kết với nhau thành các nhóm sản xuất, tham gia xây dựng các quy chế hoạt động của mình.      Phát triển cộng đồng để phát triển nông nghiệp xanh  Muốn cho người nông dân quen với canh tác sạch, quy trình sạch cần phải thay đổi tư duy, thay đổi thói quen và thậm chí cả cuộc sống của họ. Vì vậy,  Seed to Table của Ino Mayu và sau này còn có dự án ADDA của Đan Mạch không tự nhận mình là các tổ chức phát triển nông nghiệp mà là phát triển cộng đồng. Trong Phiên chợ Xanh Tử tế chiếm một góc khuôn viên Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao, có một gian hàng của nhóm nông dân sản xuất rau hữu cơ đến từ Thanh Xuân (Sóc Sơn) và Trác Văn (Hà Nam), là nguồn cung cấp rau cho các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch ở Hà Nội như Bác Tôm và Tâm Đạt. Hiện có khoảng 400 hộ (với 45ha) trồng theo hệ thống PGS – Hệ thống đảm bảo có sự cùng tham gia, khởi xướng từ dự án ADDA. Theo hệ thống này, nông dân không “đơn phương độc mã” trên mảnh đất của họ mà liên kết với nhau thành các nhóm sản xuất, tham gia xây dựng các quy chế hoạt động của mình. Họ tham gia giám sát lẫn nhau và đưa ra các quyết định, đồng thời tự chịu trách nhiệm về các hành vi sản xuất và sản phẩm của mình trước người tiêu dùng (mỗi bó rau đều có thể truy xuất nguồn gốc đến tận cá nhân sản xuất). Các tiêu chuẩn của PGS Việt Nam đã được Liên đoàn quốc tế các phong trào canh tác hữu cơ IFOAM công nhận.  “Lúc đầu, tôi không hình dung PGS nó thế nào đâu, chỉ đến khi làm, mới thấy nó thật hay bởi sự tham gia giám sát của cộng đồng, của nông dân đã nâng cao tính chịu trách nhiệm của từng người trong nhóm sản xuất của họ. Chia sẻ lợi ích và chia sẻ trách nhiệm với nhau trong nhóm đã làm họ dần thay đổi thói  quen trong sản xuất. Nông dân sản xuất nhỏ, sao có tiền để đầu tư công nghệ cao. Nhưng nếu tổ chức họ lại, nâng cao năng lực cho họ, giúp họ tiêu thụ sản phẩm sẽ làm họ thay đổi, thay vì để họ đơn độc, muốn làm gì thì làm,” chị Từ Thị Tuyết Nhung, trưởng điều phối mạng lưới PGS Việt Nam, chia sẻ.  Để làm được điều này, phải có những cá nhân, tổ chức phát triển cộng đồng thật sự tâm huyết, lăn lộn thuyết phục và cùng làm việc với những người nông dân và năng động tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, đồng thời kết nối với chính quyền, các cơ quan chuyên môn, các tổ chức phi chính phủ ở địa phương để nâng cao năng lực và đồng giám sát với người nông dân. Bản thân chị Từ Thị Tuyết Nhung đã phải dành ra gần 10 năm “vật vã” mới có thể nhìn thấy sự thay đổi căn cốt trong thói quen và tư duy của người nông dân.  Sắp tới, rất nhiều doanh nghiệp sẽ đầu tư rất lớn để xây dựng vùng nguyên liệu kết hợp với người nông dân. Họ hỗ trợ cho nông dân từ công nghệ cho đến tập huấn kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ đầu ra để họ sản xuất thực phẩm sạch. Nhưng rồi điều đó có thể không mang lại những kết quả bền vững nếu không chú trọng phát triển cộng đồng: “Đối với các doanh nghiệp lớn, họ có nguồn lực và đầu tư lớn để áp dụng công nghệ. Nông dân khi đó sẽ trở thành công nhân cho các đơn vị này. Được đào tạo để biết cách làm ở những công đoạn được giao một cách thụ động, họ sẽ giống robot được điều khiển bởi người quản lý, không tự chủ, không sáng tạo trên chính mảnh đất của mình. Họ nhận đồng lương và an phận về nhà. Tôi tự hỏi, nếu có điều không may xảy ra với các doanh nghiệp này, nông dân sẽ quay trở về số không, bơ vơ, ngơ ngác. Tôi ước, điều này không xảy ra. Mong các công ty phát đạt để đảm bảo quyền lợi cho nông dân” – chị Nhung nói.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Áp dụng công nghệ tại Pompeii: Mang đến những cái nhìn mới về di tích cổ xưa      Những người đứng đầu Pompeii đang cân nhắc sử dụng công nghệ để đưa di tích đến gần hơn với công chúng, cũng như cứu kho tàng khảo cổ 2.000 năm tuổi này khỏi sự tàn phá của biến đổi khí hậu      Những bức bích hoạ bên trong Villa of Mysteries, một trong những ngôi nhà được bảo tồn tốt nhất tại Pompeii. Ảnh: Roberto Salomone / The New York Times  Những khía cạnh khác  Vào một buổi sáng tại nghĩa trang Porta Sarno, ngay bên ngoài rìa phía Đông của Pompeii, Mattia Buondonno cẩn thận dựng một tấm bạt bảo vệ nhằm che ngôi mộ được phát hiện vào năm ngoái.  Theo dòng chữ trên bia mộ, người yên nghỉ là một nô lệ được trả tự do tên là Marcus Venerius Secundio, người đã trở nên giàu có và “tổ chức các buổi biểu diễn bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh kéo dài bốn ngày”, Buondonno, một hướng dẫn viên du lịch ở Pompeii, đọc và dịch từ tiếng Latinh.  Bên trong lăng mộ, được cho là có niên đại chỉ vài thập kỷ trước khi núi Vesuvius phun trào và chôn vùi thành phố Pompeii vào năm 79 sau Công nguyên, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một trong những bộ xương được bảo quản tốt nhất từ trước đến nay. “Lúc bấy giờ mọi người đều thấy kỳ lạ. Bình thường người trưởng thành sẽ được hỏa táng”, Buondonno nói.  Nhưng ngôi mộ còn hé lộ nhiều điều thú vị khác.  “Những phát hiện gần đây cho chúng ta cái nhìn mới về các tầng lớp thấp của Pompeii,” Luana Toniolo, một cựu nhân viên khảo cổ của Pompeii, người đã khai quật địa điểm cho biết. Đặc biệt, những dòng chữ khắc thuật lại một cách cô đọng tiểu sử của Secundio, rằng ông là người trông coi Đền thờ Thần Vệ nữ và được đào tạo để trở thành tư tế”, cô nói.  Đối với các nhà khảo cổ học, dòng chữ trên lăng mộ đã chứng thực một giả thuyết rằng các buổi biểu diễn ở Pompeii được tổ chức bằng tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất ở phía đông Địa Trung Hải. Vẫn chưa rõ đó là nhạc kịch hay kịch sân khấu, nhưng đó là bằng chứng cho thấy Pompeii từng là một thành phố quốc tế.  “Chúng tôi nhận ra mọi người từ khắp Địa Trung Hải đã đến và sống ở Pompeii,” Gabriel Zuchtriegel, 40 tuổi, giám đốc di tích, cho biết. Ông nói thêm, đó là một xã hội cởi mở, đa sắc tộc.    Nhà nhân chủng học Valeria Amoretti đứng đầu phòng thí nghiệm ứng dụng của Pompeii. Ảnh: Roberto Salomone / The New York Times  Trước đây, phần lớn du khách thường đổ xô đến các di tích cổ để ngắm những bức bích họa rực rỡ. Họ bị thu hút bởi thảm kịch của một nền văn minh cổ đại đã vùi mình dưới hàng tấn tro bụi và đất đá. Nhưng Zuchtriegel, nhà khảo cổ người Đức gốc Ý, người đã tiếp quản công việc quản lý thành phố Pompeii vào năm 2021, hy vọng rằng sắp tới du khách sẽ biết đến thành phố cổ đại qua một lăng kính rộng hơn, khám phá sự phân tầng xã hội phức tạp của nó.  “Nhiều vấn đề mà chúng ta đang nỗ lực giải đáp ngày nay được khơi gợi từ các lĩnh vực mới mẻ, chẳng hạn như nghiên cứu về giới và nghiên cứu hậu thuộc địa. Đừng quên tất cả sự phồn vinh và các tác phẩm nghệ thuật mà chúng ta chiêm ngưỡng ở Pompeii thực sự được sinh ra từ một xã hội không chỉ tồn tại chế độ nô lệ mà còn không có khái niệm phúc lợi xã hội.”  Vào năm ngoái, các nhà khoa học đã phát hiện ra một “căn phòng dành cho nô lệ” trong một biệt thự ở phía Bắc của Pompeii – bằng chứng cho thấy cuộc sống đầy bất công mà những người nô lệ phải chịu đựng. Trong không gian chật chội chứa ba chiếc cũi, một cái bô và những chiếc bình lớn. Dường như những người nô lệ phải sống trong một căn phòng đồng thời là một kho chứa. Nó được chiếu sáng bởi một ô cửa sổ nhỏ phía trên. “Tôi nghĩ đó là một xã hội đầy khắc nghiệt”, Zuchtriegel nói.  Đưa Pompeii trở nên gần gũi hơn với công chúng  Ông vẫn còn nhiều việc phải làm để đưa đời sống Pompeii đến gần hơn với thế kỷ 21. “Làm thế nào để người khuyết tật, trẻ em, những người có nền tảng văn hoá khác nhau tiếp cận dễ dàng hơn?”, ông băn khoăn. “Chúng tôi sẽ phải cải thiện khả năng tiếp cận, phải suy ngẫm về ngôn ngữ chúng tôi sử dụng và cách chúng tôi diễn giải về di tích”. Các nhà khoa học tỏ ra phấn khởi trước bước chuyển mình. Sarah E. Bond, trợ lý giáo sư lịch sử tại Đại học Iowa, chia sẻ qua điện thoại: “Tôi rất vui khi Pompeii bắt đầu lưu ý đến những điều này.”  Cộng đồng học thuật chuyên nghiên cứu thế giới cổ đại ngày càng quan tâm đến những vấn đề trước đây thường bị bỏ qua – “những thứ như xâm hại tình dục hoặc chế độ nô lệ” – Bond cho biết. “Thật tuyệt khi giờ đây các nhà khảo cổ học người Ý xem Pompeii như một nguồn để khám phá các vấn đề về giới, bóc lột lao động và bạo lực theo những cách khác nhau.”  Một sự kiện quan trọng trong những năm gần đây là việc các nhà khảo cổ khám phá ra quầy bán thức ăn nhanh tại Pompeii, làm rõ thị hiếu ẩm thực cổ xưa, trong đó có hỗn hợp súp ốc, thịt cừu và cá. “Một món ăn đường phố theo phong cách Pompeii”, Zuchtriegel ví von.  Để có một bữa trưa nhanh chóng hoặc một bữa ăn nhẹ, người dân Pompeii cổ đại sẽ đến thăm một quầy bán thức ăn – quầy này được phát hiện vào năm 2020. Ảnh: Roberto Salomone / The New York Times  Tại một khu nhà cổ thường được gọi là “House of the Garden” (Nhà Vườn), cách quầy bán thức ăn nhanh không xa, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một dòng chữ viết bằng than trên bức tường, dường như ghi thời điểm núi lửa Vesuvius phun trào là vào tháng 10 chứ không phải tháng 8 như chúng ta vẫn nghĩ. “Có nhiều dấu hiệu cho thấy vụ phun trào xảy ra vào mùa thu: dấu vết của quả lựu, rượu lên men, lò sưởi trong một số phòng. Ai lại đi đốt lửa sưởi ấm vào tháng 8”, Nicola Meluziis, một nhân viên tại di tích Pompeii cho hay.  Phần lớn những nghiên cứu trong thập kỷ qua là một phần của Dự án Great Pompeii. Liên minh châu Âu đã tài trợ 137 triệu USD vào năm 2013 cho dự án nhằm bảo tồn di tích, sau khi một toà nhà bị sập vào năm 2010, làm dấy lên cuộc tranh luận quốc tế về hoạt động bảo tồn di tích nơi đây.  “Chúng tôi đã tận dụng hiệu quả số tiền đó”, Zuchtrigel khẳng định, và dành lời khen ngợi cho người tiền nhiệm của mình, ông Massimo Osanna, người quản lý di tích khi số tiền tài trợ bắt đầu đổ về. Hiện tại, ông đã được thăng chức trở thành người phụ trách giám sát tất cả cả bảo tàng của Ý. Osanna đã mang lại “một sự thay đổi lớn lao”, ông nhận định.  Bond cho rằng Osanna đã mang lại cho Pompeii một hình ảnh gần gũi với thân thiện hơn, khi tăng cường sự hiện diện của nó trên mạng xã hội. Trong nhiệm kỳ của ông, Pompeii đã thu hút được sự quan tâm của công chúng khi đội ngũ di tích sử dụng Instagram và Twitter để công bố những khám phá mới, thay vì giấu tịt chúng đi cho đến khi nhóm nghiên cứu xuất bản chúng trên các tạp chí học thuật – cách làm quen thuộc từ xưa đến nay. “Có rất nhiều người chưa từng đến di tích Pompeii”, Bond nhìn nhận, “nhưng họ đã theo dõi nó trên Instagram và rồi cứ thế bị cuốn hút lúc nào không hay.”    Ignazio Carlo Raucci, một chuyên gia phục chế ở Pompeii, đang làm sạch một trong những bức bích họa bên trong House of the Vettii bằng hơi nước. Ảnh: Roberto Salomone / The New York Times  Áp dụng công nghệ hiện đại  Đối với Zuchtriegel, thách thức lớn nhất mà Pompeii đang phải đối mặt là biến đổi khí hậu, chúng đã mang đến những tác động rõ rệt: Di tích giờ đây chịu sự thay đổi nhiệt độ đột ngột từ nóng sang lạnh, với những thời kỳ hạn hán, và cả những cơn mưa nặng hạt. “Toàn bộ điều này đã ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc cổ và các bức bích hoạ”, ông lưu ý. “Đó là lý do vì sao các bảo tàng trong nhà thường phải có máy lạnh để duy trì nhiệt độ.”  Công nghệ mới – gồm cảm biến, camera ảnh nhiệt và drone (máy bay không người lái) – đang được thử nghiệm tại Pompeii nhằm cung cấp dữ liệu và hình ảnh thời gian thực cảnh báo cho nhân viên về những vấn đề tiềm ẩn như độ ẩm bên trong tường hay địa chấn. “Chúng tôi muốn nắm được những gì đang thực sự diễn ra”, Zuchtriegel nói.  Ban quản lý cũng đang sử dụng trí tuệ nhân tạo và người máy để ghép các bức bích hoạ trên trần nhà của House of the Painters at Work (Ngôi nhà của những người thợ sơn đang làm việc – Sở dĩ có tên này vì các nhà khảo cổ đã tìm ra chậu sơn và cọ trong căn phòng cũng như những đồ trang trí còn dang dở). Họ còn sử dụng công nghệ quét laser 3D nhằm tái tạo mô hình hoàn chỉnh bộ xương ngựa được khai quật vào năm 1938.  Các công nghệ mới sẽ đóng vai trò “hướng dẫn viên” giới thiệu cho du khách về một khu vực đang được phục hồi ở rìa phía Tây của di tích cổ đại có tên “Insula Occidentalis”, bao gồm một số biệt thự được xây dựng trên con dốc nhìn ra Vịnh Naples.  Các công nghệ mới cũng sẽ đóng vai trò giải thích cho du khách về một khu vực đang được phục hồi ở rìa phía tây của di chỉ cổ có tên “Insula Occidentalis”, bao gồm một số biệt thự đô thị được xây dựng trên một con dốc nhìn ra Vịnh Naples.  Paolo Mighetto, kiến ​​trúc sư giám sát dự án, cho biết cả nhóm đang tìm kiếm phương án tốt nhất để biến khu vực này trở nên sống động đối với công chúng, có thể bằng cách sử dụng hình ảnh ba chiều hoặc một số phương thức chiếu sáng tương tác. “Chúng tôi đang cân nhắc về các giải pháp khác nhau,” anh nói. (Hiện du khách có thể tải ứng dụng Pompeii trên điện thoại thông minh và nhận thông tin về các tòa nhà bằng cách quét mã QR.)    Các công nghệ mới sẽ đóng vai trò hướng dẫn viên cho du khách, giới thiệu về những biệt thự mới được trùng tu như House of the Library. Ảnh: Roberto Salomone / The New York Times  Ngoài ra, Mighetto cũng hào hứng giới thiệu một biệt thự trong khu vực có tên House of the Library (Nhà Thư viện), ông gọi đó là một chiếc “hòm kho báu” đặc biệt thú vị. Nó tái hiện những biến động lịch sử trong khoảng 2.000 năm, với vết tích từ một trận động đất lớn vào năm 62 Sau Công nguyên; sự kiện phun trào núi lửa Vesuvius; lần khai quật Pompeii đầu tiên vào thế kỷ 18 – khi các đường hầm được đào bên dưới toà nhà; và những vết biến dạng do bom đạn thời Thế chiến thứ hai gây ra.  “Chúng ta đang nhìn thấy dấu vết của các sự kiện lịch sử theo thời gian”, Mighetto mô tả ý nghĩa của toà nhà. “Đó cũng là thách thức của chúng tôi, làm thế nào du khách có thể nhìn thấy dấu vết của những sự kiện thảm khốc này qua những vết nứt, vết biến dạng, thương tổn của công trình” để họ có thể “hiểu rõ hơn về bộ phim quá khứ”. Các nhà quản lý di tích muốn sử dụng những công nghệ mới này để hiện thực hoá mong muốn.  Theo một cách nào đó, Pompeii luôn là di tích dẫn đầu xu hướng. “Không chỉ đối với khảo cổ học, các kỹ thuật trùng tu, mà còn là nỗ lực giúp công chúng dễ dàng tiếp cận địa điểm lịch sử”, Zuchtriegel tự tin chia sẻ.  Anh Thư tổng hợp  Nguồn:  Pompeii Moves With the Times  Snail, Fish and Sheep Soup, Anyone? Savory New Finds at Pompeii    Author                .        
__label__tiasang Apollo11: Bước ngoặt của khoa học hành tinh      Những đá, sỏi, bụi thu thập được từ Apollo 11 đã đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới về nguồn gốc của Mặt trăng và sự hình thành của hệ Mặt trời.      Mẫu vật 15415 từ Apollo 15 hay còn gọi là hòn đá Genesis. Credit: Chris Gunn.   Sứ mệnh lịch sử – lần đầu tiên con người đặt chân tới một vật thể trong vũ trụ   Đúng 50 năm trước, vào ngày 16/7/1969*, tên lửa Saturn V – tên lửa mạnh nhất từng được chế tạo trong lịch sử đã rời bệ phóng, mang theo 3 nhà du hành vũ trụ Neil Amstrong, Buzz Aldrin và Michael Collins với sứ mệnh lịch sử Apollo 11 đưa con người đặt chân xuống Mặt trăng. Sau chặng đường kéo dài 3 ngày, Collins ở lại trong module chỉ huy, trong lúc đó Armstrong và Aldrin đổ bộ xuống Mặt trăng qua một module hạ cánh. Tất cả sau đó như mọi người đã biết, vài giờ sau, Neil Armstrong là người đầu tiên bước ra khỏi module, chạm chân xuống bề mặt Mặt trăng, và phát biểu câu nói nổi tiếng: “Đó là một bước đi nhỏ của một con người, nhưng là một bước tiến lớn của cả nhân loại”.   50 năm đã trôi qua, các sứ mệnh Apollo được biết đến với đại đa số như là một sự kiện lịch sử khi con người đặt dấu chân lên Mặt trăng, nhưng đóng góp lớn nhất của Apollo dành cho khoa học đến từ một lượng lớn đá từ mặt trăng được thu thập và mang về Trái đất và đến nay mới chỉ có khoảng 20% trong số đó được phân tích trong phòng thí nghiệm, phần còn lại vẫn được giữ lại làm “của để dành”, chờ những thiết bị phân tích tối tân hơn trong tương lai. Không quá khi nói rằng 382 kg đá, sỏi, bụi thu thập được từ bề mặt Mặt trăng là một kho báu vô giá, “những trang sách cổ từ thư viện Alexandria” mang lại những hiểu biết bước ngoặt cho chúng ta về bản chất của bề mặt Mặt trăng, nguồn gốc của Mặt trăng và sự hình thành của hệ Mặt trời.   Bề mặt cổ xưa của Mặt trăng  Trước khi phóng những tàu vũ trụ và sau đó là con người tới Mặt trăng, những hiểu biết của chúng ta về chính vệ tinh của Trái đất chủ yếu đến từ những suy đoán giới hạn bởi những quan sát từ Trái đất. Dù chuyển động của Mặt trời mới là nền tảng tạo ra bộ lịch hiện đại mà chúng ta đang dùng, chu kì của Mặt trăng vẫn tồn tại trong đời sống văn hóa và cả tâm linh từ phương Đông sang phương Tây, chẳng hạn như Tết Trung thu là thời điểm Mặt trăng sáng nhất trong năm. Từ những quan sát qua một phiên bản đơn giản của kính thiên văn bao gồm một thấu kính hội tụ và một thấu kính phân kì được gắn liền nhau qua một ống nối, Thomas Harriot vào năm 1609 là người đầu tiên nhìn thấy những chi tiết trên bề mặt của Mặt trăng, vốn không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Ông đã vẽ lại những gì quan sát được khi trăng khuyết, với những vùng tối hơn màu đen mà sau này chúng ta biết là những vị trí mà nham thạch nguội cứng. Cùng năm đó, Galieo Galilei cũng thực hiện những quan sát qua kính thiên văn của riêng mình, cho thấy bề mặt Mặt trăng được những dãy núi, những miệng hố sâu, và thung lũng bao phủ – hoàn toàn không bằng phẳng như những gì các nhà triết học tin về một “thế giới hoàn hảo”. Cũng có những niềm tin vào thời điểm đó rằng những vùng tối quan sát thấy từ Trái đất trên bề mặt Mặt trăng là dấu hiệu của nước như biển; còn những miệng hố là dấu hiệu của những hoạt động địa chất như núi lửa phun trào.     Mô phỏng cho thấy các hành tinh ngoài rìa và vành đai Kuiper: a) Trước khi quĩ đạo của Sao Mộc và Sao Thổ ở trong trạng thái cộng hưởng 2: 1, nguyên nhân khiến cho quĩ đạo của các hành tinh trở nên không ổn định sau một thời gian dài. b) Phân tán của các vật thể ở vành đai Kuiper vào bên trong quĩ đạo của các hành tinh đá sau sự dịch chuyển quỹ đạo của Sao Hải Vương. c) Sau khi các vật thể vành đai Kuiper dịch chuyển vào trong bởi tương tác từ Sao Mộc. Các hành tinh được hiển thị: Sao Mộc (vòng tròn màu xanh lá cây), Sao Thổ (vòng tròn màu cam), Sao Thiên Vương (vòng tròn màu xanh nhạt) và Sao Hải Vương (vòng tròn màu xanh đậm). Mô phỏng được tạo ra từ dữ liệu của Mô hình Nice [1,2]  Những quan sát về bề mặt Mặt trăng ngày càng được cải tiến theo thời gian, đặc biệt sau sự xuất hiện của máy ảnh vào giữa thế kỉ 19, đó là lúc các nhà thiên văn học có thể nhìn rõ hơn những chi tiết của Mặt trăng qua những bức ảnh phơi sáng dài. Những bức ảnh bề mặt Mặt trăng với vô vàn những hố va chạm ở khắp mọi nơi cho thấy cần phải mất một thời gian rất dài, có lẽ tới hàng tỉ năm, để tạo ra nhiều những hố va chạm như vậy. Khi con người hạ cánh xuống Mặt trăng, giả thuyết này được củng cố sau khi đá Mặt trăng được mang trở lại Trái đất. Để xác định tuổi của Mặt trăng, các nhà địa chất tìm đến khoáng vật zircon có trong các mẫu vật, một khoáng vật với độ cứng, tính bền và trơ do vậy có thể tồn tại qua các quá trình địa chất và cả các biến đổi về nhiệt độ, áp suất gây ra bởi va chạm thiên thạch. Phân tích các đồng vị phóng xạ với chu kì bán rã đã được biết cho chúng ta thấy đá Mặt trăng đã hình thành từ vô cùng xa xưa trong khoảng 3 tỉ tới 4,5 tỷ năm về trước; so với phần lớn đá trên Trái đất có tuổi “tương đối trẻ” (vốn chỉ có tuổi trong khoảng 100 triệu năm trước do các hoạt động kiến tạo địa tầng liên tục “tái chế” lớp vỏ Trái đất, đưa xuống lớp manti nằm bên dưới). Với mẫu đá cổ xưa nhất có tuổi 4,5 tỷ năm, các mẫu thu thập được đem lại một góc nhìn quan trọng về hệ mặt trời khi mới hình thành, trong đó cả lịch sử Trái đất thời xa xưa hàng tỉ năm về trước, vốn không dễ dàng để có được những mẫu vật có niên đại tỷ năm do các hoạt động địa chất. Đá dăm kết (breccia)-một loại đá hình thành từ các mảnh vỡ của các khoáng vật thu được từ nhiệm vụ Apollo 14 được xác định cho thấy một trong các mảnh vỡ có nguồn gốc không phải đến từ Mặt trăng mà từ chính Trái đất! Một mảnh thiên thạch đến từ Trái đất theo đúng nghĩa bởi sau một vụ va chạm thiên thạch trên Trái đất, nó được bắn lên không trung và rơi xuống bề mặt Mặt trăng. Sau đó 4 tỷ năm, nhà du hành vũ trụ Alan Shepard đã tình cờ thu nhặt được và mang nó về lại nhà.   Từ việc xác định tuổi của Mặt trăng, các nhà khoa học hành tinh đã đưa ra một phương án ngoại suy của nó có ảnh hưởng to lớn tới tất cả các nghiên cứu về Mặt trăng và các hành tinh khác: Họ so sánh tuổi của các mẫu Mặt trăng thu được từ khu vực hạ cánh của Apollo 11 với số lượng miệng hố va chạm trong khu vực nơi các mẫu từng thu thập. Từ đó, các thông tin này được sử dụng để tạo ra một mô hình tính toán thời gian cần bao lâu để có một số lượng hố va chạm hình thành tại những vị trí khác. Các mẫu vật từ Apollo đóng vai trò như “hòn đá Rosetta” của Ai Cập cổ đại để ước tính tuổi của bất kì vị trí nào trên Mặt trăng và thậm chí các hành tinh khác mà không cần phải đến tận nơi để quan sát.   Mặt trăng đã hình thành như thế nào?   Trước Apollo, các nhà khoa học có vô vàn các giả thuyết về cách thức Mặt trăng và các vệ tinh của các hành tinh khác hình thành. Có thể là lực hấp dẫn của Trái đất đủ lớn để “bắt” một vật thể nào đó khi nó sượt qua quá gần. Hoặc cũng có thể trong những ngày đầu tiên hình thành, hành tinh của chúng ta quay quá nhanh nên một phần vật liệu văng ra khỏi vật thể chính. Hoặc cũng có thể, Trái đất và Mặt trăng hình thành cùng một thời điểm từ một đám mây bụi khí gọi là “đĩa tiền hành tinh” mà từ đó các hành tinh trong hệ mặt trời hình thành.   Sau Apollo, chúng ta có một bức tranh hoàn toàn mới về sự hình thành của Mặt trăng, dựa trên vô vàn các quan sát khác nhau có thể được tóm gọn lại với giả thuyết được ủng hộ nhất có tên gọi “vụ va chạm khổng lồ”. Khoảng 4,5 tỷ năm về trước, một vật thể với kích thước của sao Hỏa (sau đây gọi là Theia) va chạm với Trái đất, vỡ ra thành các mảnh đồng thời làm một phần lớp vỏ và lớp manti của Trái đất bị bắn lên không gian, trộn lẫn cùng với các mảnh vỡ của Theia, tích tụ thành một vệ tinh, sau đó nguội lại và trở thành Mặt trăng.   Cấu trúc bên trong của Mặt trăng, được xác định dựa vào các địa chấn kí được triển khai bởi các phi hành Apollo, cho thấy lõi của mặt trăng chứa một tỉ lệ sắt nhỏ hơn nhiều so với các hành tinh đá khác – chỉ chiếm khoảng 25% kích thước bán kính. Điều này cho thấy tại thời điểm của vụ va chạm khổng lồ, Trái đất đã hình thành lõi sắt ở trung tâm, do vậy không còn nhiều sắt tồn tại để tạo nên Mặt trăng. Các mẫu đá thu được từ Apollo 11 cũng cho thấy các vùng núi trên bề mặt Mặt trăng (vùng sáng đối lập với các vùng “biển nham thạch” tối, nằm thấp hơn) chứa một lượng lớn khoáng vật plagioclase, được hình thành khi một vật thể đá nóng chảy nguội lạnh.   Hệ mặt trời cổ xưa  Các nghiên cứu về đá Mặt trăng cũng đưa lại cho chúng ta những thông tin quan trọng về các hành tinh khác, cụ thể là về sự hình thành và lịch sử của các vật thể khác trong hệ mặt trời. Chẳng hạn như khi xác định tuổi của các mẫu đá Apollo và phân tích các hố va chạm, các nhà khoa học kết luận rằng có một sự tăng vọt một cách bất ngờ các vụ va chạm thiên thạch khoảng 700 triệu năm sau khi các hành tinh hình thành (3,9 tỉ năm về trước). Thật không hề dễ để giải thích tại sao lại có một sự tăng vọt các vụ va chạm tại thời điểm đó, đây là câu hỏi làm các nhà khoa học băn khoăn suốt 50 năm qua. Tuy vậy, dường như bức tranh chung đang dần trở nên sáng tỏ, và tác nhân chính gây ra sự hỗn loạn này là có lẽ là hệ quả từ sự hình thành của những hành tinh khí và băng khổng lồ ở ngoài rìa hệ mặt trời như sao Mộc.   Một trong những kết quả quan trọng nhất của mô hình Nice cho sự hình thành của hệ mặt trời (được đặt tên theo tỉnh Nice ở Pháp) là các hành tinh khí siêu khổng lồ ban đầu hình thành ở gần nhau hơn rất nhiều so với bây giờ. Sau đó vài trăm triệu năm, quĩ đạo của những hành tinh này trở nên không ổn định khiến cho sao Thổ, sao Thiên Vương và sao Hải Vương dịch chuyển ra xa hơn lúc mới được hình thành và giống như quĩ đạo hiện tại. Sự dịch chuyển quĩ đạo của 3 hành tinh này vô tình “kéo” các vật thể ở ngoài rìa hệ mặt trời, nằm ở vành đai Kuiper (chẳng hạn như sao chổi) vào sâu bên trong hệ mặt trời và khi đó, chúng thoải mái va chạm với các hành tinh đá, cũng như Mặt trăng của chúng ta và tạo nên một quang cảnh hỗn độn cho cả hệ mặt trời vào thời điểm đó. Mô hình này nghe có vẻ xa vời, nhưng nó lại giải thích một cách vô cùng tuyệt đẹp và tương ứng với những gì chúng ta quan sát được trên Mặt trăng – nguyên nhân cho những vụ va chạm tăng vọt ghi nhận được.  Báu vật cho thế hệ tương lai   Kể từ khi được mang về Trái đất từ 50 năm trước, những mẫu đá Mặt trăng đã thực sự thay đổi những hiểu biết của chúng ta về hệ mặt trời, đồng thời mở ra một thời đại mới cho khoa học hành tinh. Nghiên cứu về các hành tinh trong hệ mặt trời không chỉ là công việc gói gọn cho các nhà thiên văn mà còn mở rộng ra cho sự tham dự của những nhà địa chất, hóa học phân tích, kĩ sư và còn nhiều ngành nghề khác nữa. Kể từ đó, rất nhiều các tàu vũ trụ, robot tự động đã được con người gửi đến các hành tinh khác trong hệ mặt trời, nghiên cứu sự tương đồng cũng như những điểm khác biệt của những vật thể khác với Trái đất ở tất cả mọi tỉ lệ từ trên quĩ đạo, tới trực tiếp dưới mặt đất. Và không thể không kể tới những nỗ lực gần đây khi các tàu vũ trụ như Hayabusa 2 hay OSIRIS-Rex sẽ mang về Trái đất những mẫu vật của tiểu hành tinh để phân tích trong phòng thí nghiệm với đầy đủ những công cụ tốt nhất mà không một tàu vũ trụ nào đủ khả năng để mang theo ra ngoài không gian.   Trở lại Mặt trăng, đây là một giai đoạn đầy thú vị cho những nghiên cứu về Mặt trăng. Vào tháng 3, NASA vừa thông báo đã lựa chọn 9 nhóm nghiên cứu để mở những hộp mẫu vật thu được từ Apollo 15, 16 và 17. Cơ hội để nghiên cứu những “mẫu vật mới” chưa từng được mở ra sẽ đưa lại những khám phá căn bản về sự hình thành và tiến hóa của Mặt trăng. Chúng ta cũng cần nhiều hơn những mẫu đá ở những vị trí khác trên Mặt trăng, chẳng hạn như một mẫu băng ở vùng cực Nam của Mặt trăng, vị trí mà ở đó ánh sáng Mặt trời không thể rọi tới, do vậy nhiệt độ ở đây cực thấp (-173oC) và băng có thể tồn tại ở đây. Nguồn gốc của băng trên Mặt trăng đến từ đâu, liệu có phải từ các va chạm của sao chổi? Nước tồn tại trên Mặt trăng chỉ mới được biết đến trong khoảng một thập kỉ trở lại đây và vẫn còn là một vùng nghiên cứu với nhiều câu hỏi, tuy vậy xác định được nguồn gốc của nước trên Mặt trăng cũng sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc của nước trên Trái đất, thành tố quan trọng nhất để sự sống tồn tại trên hành tinh của chúng ta. □  —–  *Nghiên cứu sinh Thiên văn học, Đại học Cornell, Mỹ.  * Sửa lại so với bản in là 16/9/1969  Tài liệu tham khảo  [1] Tsiganis, K.; Gomes, R.; Morbidelli, A.; F. Levison, H. (2005). “Origin of the orbital architecture of the giant planets of the Solar System” (PDF). Nature. 435 (7041): 459461.Bibcode:2005Natur.435..459T.  doi:10.1038/nature03539. PMID 15917800.  [2, 3] Levison HF, Morbidelli A, Van Laerhoven C, Gomes RS, Tsiganis K (2007). “Origin of the Structure of the Kuiper Belt during a Dynamical Instability in the Orbits of Uranus and Neptune”. Icarus. 196 (1): 258–273. arXiv:0712.0553. Bibcode:2008Icar.. 196..258L.doi:10.1016/j.icarus.2007.11.035    Author                Trương Tuấn Ngọc*        
__label__tiasang Apple Campus 2: chưa phải là xanh nhất hành tinh      Apple tuyên bố trụ sở mới của công ty tại  California sẽ là công trình xanh nhất hành tinh nhưng dữ liệu về hoạt  động của nó lại không cho thấy điều đó.    Ông Jerry Yudelson, Chủ tịch Viện Sáng kiến Công trình xanh (Green Building Initiative) đặt tại Portland, Oregon, nhận xét: “Đó chỉ là lời hứa. Để thuyết phục, hãy cho tôi thấy những số liệu cụ thể”.    Mấy năm trước, Yudelson đã cùng với nhà phê bình kiến trúc Đức, GS Meyer đề nghị hàng trăm chủ sở hữu các công trình được đánh giá cao nhất về độ thân thiện với môi trường khắp toàn cầu tiết lộ dữ liệu hoạt động thực tế. Dữ liệu được yêu cầu bao gồm thông tin về mức tiêu thụ điện năng và nước để so sánh với số liệu của các tòa nhà khác.   Có lẽ do ngại ngần với việc số liệu về hoạt động thực tế không đạt được như lời hứa, nhiều chủ công trình muốn giữ kín thông tin trước đề xuất của Yudelson và Meyer. Nhưng một số đã không làm như vậy, và cuối cùng những thông tin của họ đã xuất hiện trong cuốn sách “Những tòa nhà xanh nhất thế giới” của Yudelson và Meyer, xuất bản năm 2013.  “Chúng tôi muốn chứng tỏ mức hiệu suất năng lượng, nước cao và tính thẩm mỹ cao trong thiết kế tòa nhà có thể đi đôi với nhau, giống như một hoa hậu giỏi toán vậy”, Yudelson cho biết.  Ngoài việc cung cấp các ví dụ về những tòa nhà bền vững được thiết kế trang nhã, cuốn sách còn là một tham khảo để kiểm tra thực tế số lượng ngày càng lớn những lời tuyên bố của các ông chủ công trình và các kiến trúc sư rằng công trình của họ là xanh nhất thế giới.   Trong khuôn khổ hội nghị Tuần lễ về Khí hậu ở New York, Tim Cook, CEO của Apple đã nói với niềm tự hào về trụ sở mới: “Chúng tôi đang xây dựng một trụ sở mà tôi cho rằng sẽ là tòa nhà xanh nhất hành tinh này”.   Nhưng trên thực tế thì Apple Campus 2 – với thiết kế tòa nhà chính như một tàu vũ trụ, sử dụng năng lượng mặt trời – có đạt được như lời hứa hẹn không?   Apple Campus 2: chưa phải là xanh nhất hành tinh  Tuy có thói quen giữ bí mật mọi thông tin, Apple- tập đoàn công nghệ khổng lồ của Thung Lũng Silicon- đã công khai rất nhiều chi tiết về Apple Campus 2. Theo luật môi trường của California, công ty đã viết một báo cáo dài 650 trang về những tác động lên môi trường của dự án này và được thành phố Cupertino phê duyệt vào năm ngoái.  Báo cáo nêu một cách chi tiết mội thứ, từ chiến lược của Apple để cung cấp năng lượng cho toàn bộ trụ sở với 100 % năng lượng tái tạo cho đến những hứa hẹn sẽ trồng ít nhất 7.000 cây xanh và sử dụng vật liệu tái chế.   Ví dụ, Apple dự kiến mức tối đa năng lượng sử dụng trong toàn bộ khuôn viên trụ sở  548,000 m2 – bao gồm không gian văn phòng, các trung tâm nghiên cứu, chỗ đậu xe và các tòa nhà khác – là vào khoảng 142,000,000 kWh mỗi năm. Trên cơ sở tổng điện tích mặt bằng, Apple Campus 2 sẽ có cường độ sử dụng điện năng khoảng 257 kWh trên mỗi m2 hàng năm.  Riêng điều đó cũng đã dễ dàng đánh bại những tòa nhà văn phòng điển hình ở Mỹ, thường sử dụng 500 kWh/m2/năm và thậm chí đánh bại cả những cơ sở với những phòng thí nghiệm nghiên cứu năng lượng cao, chẳng hạn như Trung tâm Sức khỏe và Chữa bệnh tại Đại học Y và Khoa học Oregon ở Portland, một công trình xanh được xếp hạng cao.  Nhưng về mặt kỹ thuật, Apple Campus 2 còn phải nỗ lực nhiều mới đạt danh hiệu tòa nhà xanh nhất hành tinh, ít nhất về hiệu quả năng lượng. Trên thực tế, có tới 41 công trình trong cuốn sách của Yudelson và Meyer đủ sức đánh bại nó. Dẫu cho mức sử dụng năng lượng của nó thấp hơn đáng kể, 200 kWh/m2/năm, hoặc ngay cả 100 kWh/m2/năm thì Apple Campus 2 vẫn thua sát nút nhiều công trình thương mại đã được đưa vào sử dụng và có dữ liệu hoạt động thực tế.  Công trinh nào xanh nhất?   Công trình có mức sử dụng điện năng hiệu quả nhất theo Yudelson và Meyer là Trung tâm Nghiên cứu Xây dựng Xanh YS Sun tại ĐH Quốc gia Cheng Kung ở Đài Loan. Thường biết đến với tên gọi Ngôi trường Kỳ diệu của Công nghệ Xanh, nó sử dụng chỉ 40.43 kWh/m2 mỗi năm.  Trung tâm Bullitt, hoàn tất vào năm 2013, sau khi Yudelson and Meyer hoàn thành nghiên cứu, thậm chí còn là công trình xanh nhất. Công trình này, tọa lạc tại Capitol Hill, Seattle, chỉ dùng khoảng 32 kWh/m2 trong năm hoạt động đầu tiên.  Nhờ việc tiêu thụ ít điện năng đi kèm với sử dụng năng lượng mặt trời, công trình này đã tạo ra nhiều điện hơn mức tiêu thụ của mình.   “Hiện nay chúng tôi sản xuất nhiều hơn 70% mức điện chúng tôi sử dụng,” Denis Hayes, chủ tịch Quỹ Bullitt và nhà sáng lập Ngày Trái Đất, cho biết. “Khi tất cả các công ty thuê văn phòng đã có đầy đủ nhân viên và đi vào vận hành ổn định, tôi nghĩ là mức dư thừa mỗi năm sẽ khoảng từ 20% đến 30%.”  Trung tâm Bullitt là trường hợp độc nhất vô nhị trong số các công trình xanh nhất thế giới vì đã làm ra nhiều điện mặt trời hơn mức tiêu thụ mỗi năm.  “Những tòa nhà đạt mức số 0 về tiêu hao năng lượng và có mức sử dụng năng lượng tích cực quả là hết sức hấp dẫn, và các số liệu về hiệu suất tiêu thụ điện đều rất dễ kiểm chứng”, Hayes, người tuyên bố Trung tâm Bullitt là tòa nhà xanh nhất thế giới, cho biết như vậy.   “Những lời tuyên bố phải thừa nhận là rất chủ quan này về Trung tâm Bullitt là dựa trên vị trí tiên phong của nó ở rất nhiều khía cạnh tiêu chuẩn về tòa nhà xanh”.    Nhưng cha đẻ của Ngày Trái Đất chắc chắn sẽ không vui trừ phi Trung tâm Bullitt có nhiều đối thủ cạnh tranh. Và điều đó đòi hỏi khả năng thực hiện trên thực tế chứ không phải những lời hứa hẹn.   Thanh Nhàn dịch.  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/dec/07/apple-campus-2-the-greenest-building-on-the-planet       Author                Quản trị        
__label__tiasang Apple mua hai công ty trí thông minh nhân tạo trong 4 ngày      Apple đang bận bịu “mua sắm” để chuẩn bị cho cuộc “chạy đua vũ trang” mới trong làng công nghệ: trí thông minh nhân tạo.      Theo tin từ Bloomberg, Apple vừa mua lại Perceptio, một công ty xây dựng công nghệ nhận diện hình ảnh cho smartphone. Đây là thương vụ mua lại công ty trí thông minh nhân tạo thứ hai của Apple chỉ trong vòng 4 ngày từ ngày 2-6/10.  Theo Bloomberg, Perceptio đang phát triển công nghệ “deep learning” (“học sâu) cho smartphone. Công nghệ này giúp smartphone có thể độc lập nhận diện hình ảnh mà không cần phải phụ thuộc vào các cơ sở dữ liệu bên ngoài.  Deep learning là một lĩnh vực chuyên biệt trong trí thông minh nhân tạo vốn đang rất thịnh hành hiện nay. Công nghệ này cho phép máy móc có thể tự học và nhận diện các mô hình.  Trí thông minh nhân tạo ngày càng trở nên phổ biến hơn nữa vì các công ty hiện nay đang tìm cách cải thiện các dịch vụ “trợ lý ảo” như dịch vụ Siri của Aple và dịch vụ Google Now.  Một nguyên nhân nữa có thể khiến Apple quan tâm tới lĩnh vực trí thông minh nhân tạo là nhằm phục vụ kế hoạch sản xuất xe hơi tự lái của họ. Có nguồn tin cho hay Apple đang dự định tham gia vào ngành ô tô vào năm 2019 với dòng xe hơi chạy điện (có người lái).  Thứ Sáu ngày 2/10 trước đó, Apple mua lại công ty trí thông minh nhân tạo VocalIQ, một công ty khởi nghiệp tại Anh phát triển công nghệ giúp máy tính hiểu tiếng nói của con người. Hiện nay, cả ba “đại gia” thế giới là Google, Facebook, và Microsoft đều đang tham gia vào “cuộc chạy đua vũ trang” về trí thông minh nhân tạo. Họ tuyển mộ nhiều chuyên gia trong giới học thuật đồng thời cũng đang ráo riết mua lại các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực này.  Bùi Thu Trang dịch    http://www.businessinsider.com/apple-acquired-two-artificial-intelligence-companies-2015-10      Author                Quản trị        
__label__tiasang Apple trở thành công ty có giá trị lớn nhất mọi thời đại      Cổ phiếu của hãng này lại đang tăng, tiếp  nối chiều hướng gia tăng từ vài tuần trước đó đã đẩy giá trị của tập  đoàn công nghệ này tới mức cao chưa từng có.    Cổ phiếu của hãng vừa tăng 1,8% tại mức giá 660 USD, đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường của Apple lên 619 tỉ USD, theo số liệu của FactSet. Lịch sử trước đây ghi nhận Microsoft là công ty có giá trị thị trường cao nhất, đạt đỉnh 616,3 tỉ USD vào tháng 12/1999, theo lời Howard Silverblatt, nhà phân tích chứng khoán tại S&P và Dow Jones.  Hiện nay Apple nắm giữ vị trí công ty có giá trị lớn nhất tính theo tổng giá trị vốn hóa thị trường.  Vốn hóa thị trường của Apple cũng hơn Exxon Mobil tới hơn 200 tỉ USD, đây là công ty lớn thứ hai hiện nay có số vốn 405 tỉ USD. Microsoft, Wal-Mart và IBM đều đứng ở top 5.   Tin đồn về các sản phẩm iPhone và iPad mới loan ra mạnh mẽ gần đây đã góp phần làm tăng cổ phiếu của hãng này. Nhiều nhà phân tích dự đoán iPhone 5 sẽ ra mắt vào tháng 9 tới.   Thu Quỳnh lược dịch  Nguồn: http://blogs.wsj.com/marketbeat/2012/08/20/apples-market-value-to-infinity-and-beyond/    Author                Quản trị        
__label__tiasang ASEAN: Thúc đẩy nhiều chương trình hợp tác KHCN và ĐMST      Nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác về khoa học giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN đã được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng KH&CN ASEAN không chính thức lần thứ 10 (IAMMST-10).                TS. Phạm Quang Cường (phải), giảng viên trường Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore làm việc cùng với nghiên cứu sinh Zhang Xu để phát triển các cách thức in 3D các cấu trúc sản phẩm. Nguồn: 3DPrint.com    Tại Hội nghị Bộ trưởng KH&CN ASEAN không chính thức lần thứ 10 (IAMMST-10), diễn ra ở Cebu (Philippines) ngày 19/10/2018, các Bộ trưởng ASEAN đã thảo luận về nội dung và giải pháp nhằm tăng cường hợp tác về KHCN và đổi mới sáng tạo trong khu vực ASEAN; biện pháp triển khai Tuyên bố ASEAN về đổi mới sáng tạo; đánh giá tình hình triển khai Chương trình Hành động KHCN và Đổi mới sáng tạo ASEAN (APASTI) giai đoạn 2016-2025; thúc đẩy cơ chế điều phối quan hệ ASEAN với các đối tác đối thoại nhằm khai thác các nguồn lực hỗ trợ từ các Quỹ đối tác đối thoại như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU)…; cơ chế, biện pháp nhằm khai thác hiệu quả Quỹ KHCN và Đổi mới ASEAN (ASTIF); thảo luận về khai thác sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo trong khu vực ASEAN và thảo luận xây dựng Khung khổ hành động KHCN và Đổi mới sáng tạo ASEAN: hướng đến thiết lập Diễn đàn STI ASEAN ứng phó biến đổi khí hậu và thiên tai. Đây là những nội dung quan trọng để góp phần thúc đẩy hợp tác về khoa học giữa các quốc gia trong khu vực và đưa trình độ khoa học ASEAN lên tầm châu lục.     Trên thực tế, trong thời gian gần đây, các hoạt động hợp tác giữa các các quốc gia khối ASEAN thông qua Cơ chế Ủy ban KH&CN ASEAN đã tạo cơ hội hợp tác giữa ASEAN với các Quỹ đối tác đối thoại về KHCN và đổi mới sáng tạo và để thúc đẩy hơn nữa các hoạt động thiết thực này, các quốc gia ASEAN sẽ tiếp tục triển khai một số hoạt động khác như thiết lập Liên hiệp ASEAN về dự báo, Mạng lưới các nhà khoa học trẻ ASEAN, Sáng kiến Phát triển chẩn đoán Y học ASEAN (DxD), Sáng kiến Cơ sở Tính toán hiệu năng cao ASEAN (HPC). Bên cạnh đó, các nước ASEAN đã thống nhất thông qua Dự thảo Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về đổi mới sáng tạo, dự kiến sẽ được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 21 vào tháng 11/2018 tại Singapore.      Author                T. H        
__label__tiasang ATLAS quan sát được những va chạm photon tạo ra các hạt mang tương tác yếu      Trong hội thảo quốc tế về vật lý năng lượng cao (ICHEP 2020), Nhóm hợp tác ATLAS đã trình bày về quan sát đầu tiên trước sự sáp nhập của photon tạo ra những cặp W bosons, các hạt cơ bản mang lực tương tác yếu, một trong bốn lực cơ bản của vũ trụ.      Kết quả này mở ra một con đường mới cho việc sử dụng Máy gia tốc hạt lớn LHC. Việc xác nhận này là một trong những dự đoán chính của thuyết tương tác điện yếu – những hạt mang lực có thể tương tác với chính nó – và đem lại những cách mới để chứng minh nó.  Theo các luật của thuyết điện tử học cổ điển, hai chùm tia ánh sáng giao nhau có thể không bị chệch hướng, mà chỉ hấp thụ hay làm gián đoạn nhau. Tuy vậy, các hiệu ứng sắc động lực học lượng tử (QED), lý thuyết giải thích cách ánh sáng và vật chất tương tác, cho phép các tương tác diễn ra giữa các photon.  Quả vậy, đây không phải là lần đầu tiên các photon tương tác tại những mức năng lượng cao được nghiên cứu tại LHC. Ví dụ, “tán xạ ánh sáng với ánh sáng”, nơi một cặp photon tương tác với nhau để sinh ra một cặp photon khác, là một trong những dự đoán sớm nhất của QED. Bằng chứng trực tiếp đầu iên của tán xạ ánh sáng với ánh sáng từng được Nhóm hợp tác ATLAS báo cáo năm 2017, khai thác những từ trường điện từ cực mạnh xung quanh các ion chì trong các cuộc va chạm chì – chì năng lượng cao. Trong năm 2019 và 2020, ATLAS còn triển khai nghiên cứu thêm quá trình này bằng việc tập trung vào đo đạc các đặc tính của nó.  Kết quả mới được họ báo cáo tại hội nghị cho thấy nó rất nhạy với hiện tượng hiếm gặp khác trong đó, hai photon tương tác để tạo ra hai hạt W bosons có điện tích trái dấu (giữa chúng) tương tác của vật mang lực. Các giả photon từ các chùm tia proton phân tán sang nhau để tạo ra một cặp W bosons. Một nghiên cứu ban đầu về hiện tượng này từng được ATLAS và CMS báo cáo vào năm 2016, từ dữ liệu ghi nhận được ở đợt vận hành LHC Run 1, nhưng cần có một bộ dữ liệu lớn hơn để quan sát nó một cách rõ ràng.  Quan sát này đã thu được một bằng chứng thống kê có ý nghĩa về những lệch chuẩn, tương ứng với khả năng là do biến động thống kê. Các nhà vật lý của ATLAS đã sử dụng một bộ dữ liệu lớn hơn một cách đáng kể có được từ đợt vận hành LHC Run 2, bộ dữ liệu bốn năm tại LHC đã kết thúc vào năm 2018, và phát triển một phương pháp phân tích tùy biến.    Karl Jakobs, người phát ngôn của Nhóm hợp tác ATLAS  Bởi vì bản chất của quá trình tương tác, mỗi hạt có đường đi duy nhất có thể được nhìn thấy trong máy dò trung tâm là các sản phẩm của quá trình phân rã của hai hạt W bosons, một điện tích và một muon với điện tích trái dấu. Dù các cặp W bosons có thể được tạo ra một cách trực tiếp từ những tương tác giữa các hạt quark và gluon trong những va chạm proton thường xuyên hơn là các tương tác photon–photon nhưng lại tăng thêm những con đường từ các quá trình tương tác mạnh. Điều đó có nghĩa là các nhà vật lý ATLAS phải cẩn thận để khỏi rối trong những đường va chạm để có thể quan sát được hiện tượng hiếm gặp đó.  “Quan sát này mở ra một khía cạnh mới của khám phá trong thực nghiệm tại LHC sử dụng các photon trong trạng thái ban đầu”, Karl Jakobs, người phát ngôn của Nhóm hợp tác ATLAS nói. “Đây là điều độc nhất vô nhị vì chỉ có những cặp tham gia vào các vật mang lực tương tác điện yếu trong môi trường tương tác mạnh chiếm ưu thế của LHC. Với các bộ dữ liệu lớn hơn trong tương lai có thể được sử dụng để chứng minh bằng cách không bị nhiễu cấu trúc đo điện yếu và có thể dẫn đến những đóng góp của lĩnh vực vật lý mới”.  Thêm vào đó, kết quả mới xác nhận một trong những dự đoán chính của thuyết tương tác điện yếu bên cạnh tương tác với các hạt vật chất thông thường, các hạt mang lực vẫn biết là các gauge boson – các hạt W boson, Z boson và photon – đều đang tương tác với nhau. Các va chạm photon sẽ đem lại một cách mới để kiểm tra Mô hình chuẩn và chứng minh lĩnh vực vật lý mới, vốn cần thiết để hiểu sâu sắc hơn về vũ trụ này.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-atlas-photon-collisions-weak-force-carriers.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang AuRoSS: Robot mới giúp xác định sách bị đặt sai chỗ trong thư viện      Một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu của Singapore (A*STAR) vừa thiết kế được một robot mang tên AuRoSS (viết tắt của cụm từ Autonomous Robotic Shelf Scanning system – hệ thống quét giá sách tự động bằng robot); robot này có thể giúp các thủ thư rà soát các giá sách để tìm kiếm những cuốn sách bị đặt sai vị trí. Mỗi khi tìm ra một cuốn như vậy, nó sẽ đánh dấu lại để thủ thư đặt lại về đúng chỗ.    Thủ thư robot có thể giúp “chỉ điểm” những cuốn sách bị đặt sai chỗ trong thư viện  Để có thể nhận diện và theo dõi các cuốn sách, AuRoSS sử dụng các thẻ nhận dạng tần số sóng vô tuyến (RFID). Những con chip này đang được sử dụng trong rất nhiều thứ, từ thẻ bản quyền cho tới hộ chiếu. Trong những năm gần đây, các thư viện đã bắt đầu sử dụng chúng để theo dõi sách bằng cách dùng thiết bị cầm tay quét vào gáy sách. Nhưng AuRoSS là robot có gắn bánh xe nên có thể tự thực hiện công việc này.  Để có thể quét các thẻ RFID thành công, AuRoSS phải duy trì ở một khoảng cách vừa phải so với các giá sách, bởi nếu đứng quá xa nó sẽ không bắt được tín hiệu RFID, nếu đứng quá gần, ăng-ten của robot có thể bị va phải giá sách. Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu trên đã lập trình cho robot này dò ra bề mặt các giá sách, từ đó thiết lập nên tuyến đường cần đi. Trên tay robot có gắn ăng-ten dò RFID và một bộ quét sóng siêu âm, vì vậy nó có thể duy trì bộ cảm biến ở khoảng cách vừa đủ để quét sách đồng thời vẫn biết khi nào thì cần thay đổi hướng đi.  Trong một buổi biểu diễn robot tại Thư viện Pasir Ris mới đây, nhóm nghiên cứu này đã cho thấy AuRoSS có thể định vị đường đi trong thư viện và phát hiện sách đặt sai chỗ với độ chính xác lên đến 99%. Tuy vẫn cần phải điều chỉnh tiếp, song trong tương lai, AuRoSS có thể sẽ đảm nhiệm được một trong những nhiệm vụ mệt mỏi nhất của những người thủ thư.  Chi Nhân tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Austin McChord và giải pháp khôi phục dữ liệu siêu tốc      Austin McChord là bậc thầy “chuyên trị” thảm họa. Với các dịch vụ data backup (sao lưu dữ liệu), phục hồi dữ liệu và liên tục kinh doanh, công ty Datto của anh đang bảo vệ cho các khách hàng trên khắp thế giới trước những rủi ro về mạng, bảo đảm thông tin ở bất kỳ đâu.      Nền tảng Total Data Protection của Datto bao gồm một bộ phần cứng và phần mềm độc quyền cùng với một đám mây riêng có dung lượng 140-petabyte nhằm lưu trữ và khôi phục dữ liệu trên các máy chủ ảo và máy chủ thật của khách hàng, đi kèm còn có các ứng dụng SaaS. Với nền tảng này, khi sự cố xảy ra, khách hàng có thể khôi phục gần như ngay lập tức toàn bộ các dữ liệu của mình.  McChord, CEO 29 tuổi của Datto, cho biết: “Chúng tôi có thể khôi phục máy móc nhanh hơn bất kỳ công ty nào khác trên thị trường hiện nay. Thời gian khôi phục một máy chủ gặp sự cố bây giờ phổ biến ở mức vài giờ, trong khi thời gian khôi phục trung bình của chúng tôi chỉ rơi vào khoảng 6 giây, dù máy chủ có dung lượng lớn hay độ phức tạp như thế nào. Khả năng khôi phục tức thời các hệ thống là một điều rất quan trọng, bởi vì thời gian là tiền bạc, nhất là trong ngành công nghệ.”  Năm 2007, sau khi tốt nghiệp ngành tin sinh học ở Học viện Công nghệ Rochester, New York, McChord thành lập Datto tại thành phố Norwalk, bang Connecticut. Anh kể lại: “Lúc ấy tôi có ý tưởng tạo ra một thiết bị dự trữ khối lớn để sao lưu dữ liệu vào các máy chủ trong đám mây; tôi còn nghĩ rằng mình có thể tạo ra nó với giá thành rẻ hơn tất cả các thiết bị đang lưu hành trên thị trường. Vị cố vấn học tập của tôi cho biết: ‘Nếu không đổ vào đó cả đống tiền để khởi nghiệp thì cậu không đời nào gây dựng được một công ty phần cứng đâu’; ông ta thậm chí còn mỉa mai tôi: ‘Chúc buôn may bán đắt nhé!’ Và đó là tất cả những động lực mà tôi cần để khởi nghiệp: tôi phải chứng minh rằng ông ta đã sai lầm.”  McChord dành cả một mùa hè để viết code và thiết kế các ứng dụng sao lưu dữ liệu, sau đó anh phát triển khung sườn để tạo nên Inverse Chain Technology (Công nghệ chuỗi đảo ngược), một công nghệ độc đáo của Datto giúp chuyển dữ liệu của khách hàng thành một định dạng tập tin phổ quát mỗi khi thực hiện sao lưu. Do hình ảnh được sao lưu mới nhất nằm ở vị trí đầu chuỗi nên luôn có sẵn dữ liệu để thực hiện ảo hóa tức thời.  McChord chia sẻ: “Đó là công nghệ mang đến sự khác biệt lớn cho chúng tôi. Phương pháp lưu trữ các dữ liệu backup chính là chìa khóa giúp chúng tôi có thể tiến hành khôi phục dữ liệu nhanh chóng, và cách làm của chúng tôi khác hẳn với cách làm của tất cả các công ty khác.”  Đầu năm 2008, Datto ra mắt sản phẩm thương mại đầu tiên là bộ sao lưu dữ liệu tại chỗ NAS. Nhờ được các blog chuyên viết về công nghệ như Engadget đưa tin nên Datto đã thu hút được những khách hàng đầu tiên của mình. Bước ngoặt lớn của công ty xuất hiện khi McChord quyết định chuyển từ bán trực tiếp sang hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ để họ bán lại và lắp đặt công nghệ của Datto cùng với các giải pháp IT bổ sung khác. Hiện nay hàng nghìn kênh đối tác quốc tế như hệ thống giải pháp liên tục kinh doanh Siris và công ty cung cấp giải pháp liên tục kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ Alto đang tích cực giới thiệu các sản phẩm của Datto.  Trong đại hội đối tác diễn ra vào tháng 6/2015 vừa qua, Datto mở rộng danh mục sản phẩm với sản phẩm mới là bộ định tuyến DNA, có thể cài đặt cấu hình từ xa với bộ chuyển đổi dự phòng 4G giúp bảo vệ dữ liệu trong quá trình sao chép-di chuyển; ngoài ra, công ty còn ra mắt giải pháp Backupdify cho Office 365 (một dịch vụ sao lưu dữ liệu giữa các đám mây cho người dùng Microsoft) và hợp tác với nhà cung cấp phần mềm doanh nghiệp mã nguồn mở ownCloud để cung cấp dịch vụ đồng bộ hóa và chia sẻ file.  Hiện Datto đang phục vụ hơn 5 triệu khách hàng trên toàn thế giới. McChord không chia sẻ thông tin chi tiết về giá thành của các sản phẩm và dịch vụ của mình nhưng anh cho biết về cơ chế hoạt động của công ty như sau: khách hàng bỏ tiền mua các thiết bị sử dụng tại chỗ và trả một khoản phí định kỳ cho các dịch vụ sao lưu dữ liệu trên đám mây. Những khoản phí này là nguồn thu nhập chính hàng năm của Datto.  Theo tiết lộ của McChord, doanh thu năm 2014 của Datto là gần 100 triệu USD, và năm nay doanh thu của công ty đang “vượt xa ngưỡng đó.” Mùa thu năm 2013, chỉ vài tháng sau khi McChord từ chối một lời đề nghị mua đứt trị giá 100 triệu USD từ một hãng an ninh giấu tên, hãng đầu tư mạo hiểm General Catalyst Partners đã đầu tư 25 triệu USD vốn phát triển cho Datto.  Tuy vậy, lời đề nghị đó cũng khiến McChord trăn trở khoảng một tuần trước khi đưa ra quyết định dứt khoát. Anh chia sẻ: “Mục tiêu cuối cùng của tôi là xây dựng được một công ty công nghệ lớn, hữu ích, và là một biểu tượng trong ngành công nghệ. Đó chính là động lực phấn đấu của tôi. Nhưng dẫu sao, đó cũng là một quyết định khó khăn. Khi ấy, tôi là cổ đông nắm giữ 100% cổ phần công ty. Về chuyện này, luật sư của tôi đã nói một câu rất hay: ‘Này Austin, sau này, khi thanh thản nằm dài trên bãi biển riêng, anh vẫn có thể tiếc nuối cái thương vụ này kia mà.’”  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: https://www.entrepreneur.com/article/249337      Author                Quản trị        
__label__tiasang Australia – Làm giàu từ nông nghiệp      Cách đây 20 năm, Australia đã thực hiện chương trình “Xây dựng nền nông nghiệp tiến tiến” và hướng đến xuất khẩu với mục đích nâng cao thu nhập nông dân, sản xuất sạch để đủ sức cạnh tranh quốc tế.                 Ngành sản xuất nông nghiệp hiện đại của Australia – một mô hình thành công đến mức hiện nay quốc gia này được xem là “kho thực phẩm của thế giới”.  Việt Nam cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, vì vậy trước đòi hỏi của tình thế, dự thảo Nghị định sản xuất Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) đang được gấp rút trình Chính phủ, dự kiến ban hành đầu năm 2018. Đây sẽ là cơ sở pháp lý đầu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia phát triển ngành NNHC, đáp ứng yêu cầu bức thiết tiêu dùng và xuất khẩu. Để có cái nhìn rộng hơn về vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu ngành sản xuất nông nghiệp hiện đại của Australia – một mô hình thành công đến mức hiện nay quốc gia này được xem là “kho thực phẩm của thế giới”.  Thành quả nông nghiệp hiện đại  Sau nhiều thập niên lạm phát hóa chất và phân bón vô cơ trong sản xuất nông nghiệp hủy hoại đất đai, môi trường tự nhiên, con người đang phải đối diện với vô số dịch bệnh phức tạp, tỷ lệ các loại ung thư gia tăng tàn khốc.  Thế giới dần tỉnh ngộ, và hiện nay nhu cầu sử dụng sản phẩm NNHC là đòi hỏi bức bách, nhằm kiến tạo môi trường sống tốt hơn. Theo Hiệp hội NNHC Quốc tế (iFOAN), NNHC là quy trình chăn nuôi, trồng trọt không sử dụng hóa chất hoặc để lây nhiễm bất kỳ hóa chất độc hại nào; để thiên địch tự đối kháng đẩy lùi sâu bệnh; không dùng giống biến đổi gen mà vẫn bảo đảm năng suất và chất lượng sản phẩm cao; tạo ra hệ sinh thái cân bằng, sản phẩm an toàn cho người sử dụng.  Australia là một quốc gia đất rộng người thưa, đất đai có thể canh tác chỉ chiếm 1% tổng diện tích lục địa; tình trạng khô hạn diễn ra thường xuyên do ít mưa, thiếu nguồn nước. Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp khởi đầu ở quốc gia này không phải là thế mạnh, và thực tế tất cả giống cây, con, công nghệ sản xuất đều có nguồn gốc nhập khẩu hoặc ứng dụng các thành tựu mới nhất của thế giới để phát triển.  Để “đi tắt đón đầu” và hóa giải các khiếm khuyết của mình, Chính phủ Australia đã thành lập 11 trung tâm nghiên cứu trên cả nước nhằm chọn lọc giống và công nghệ, ứng dụng thực tế để xây dựng chiến lược phát triển quốc gia và chuyển giao kiến thức, công nghệ cho nông dân…  Cách đây 20 năm, Australia đã thực hiện chương trình “Xây dựng nền nông nghiệp tiến tiến” và hướng đến xuất khẩu với mục đích nâng cao thu nhập nông dân, sản xuất sạch để đủ sức cạnh tranh quốc tế.  Chương trình này bao quát nhiều nội dung: Hỗ trợ tài chính nông dân về giáo dục, đào tạo và nâng cao kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên; hỗ trợ nông dân thay đổi ngành nghề phù hợp phương thức tiêu dùng an toàn; tư vấn nông dân quản lý tài chính, nâng cao năng lực phát triển kỹ năng; cung cấp thông tin giúp nông dân nắm vững thị trường trong và ngoài nước trong tiến trình sản xuất…  Các chương trình này liên tục được cập nhật phù hợp với các yêu cầu mới của thị trường và chuỗi cung ứng. Điểm đặc biệt là mỗi trung tâm nghiên cứu trên cả nước căn cứ vào từng vùng sinh thái đề ra giải pháp phát triển, hướng sản xuất vào các sản phẩm phù hợp: Miền Tây Bắc Australia khí hậu khô, nóng nên Trung tâm nghiên cứu chú trọng phát triển ngành bông vải và cải dầu; vùng Bắc duyên hải khí hậu khô nhưng mát mẻ chuyên về sản xuất bò thịt; miền Trung duyên hải có khí hậu ôn hòa hơn nên phát triển ngành làm vườn, nhà kính trồng rau quả; vùng Tây Nam khí hậu khô nóng, nhiều ánh sáng chuyên về lúa gạo, trồng trọt…  Việc vận hành các trung tâm nghiên cứu đầu não này đã giúp Bộ Nông nghiệp giải quyết các vấn đề hóc búa ở mỗi vùng miền, đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản xuất các loại nông sản. Các quy trình sản xuất tốt nhất trên thế giới theo hướng NNHC được du nhập vào đây và ứng dụng rộng rãi, như sản xuất rau quả tươi sạch (Fresh Care), thịt sạch (Cattle Care), ngũ cốc sạch (Grain Care)…  Nhờ đó, ngày nay Australia đã xây dựng được nhiều thương hiệu cạnh tranh toàn cầu, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên bình diện quốc tế. Theo Cục Kinh tế, khoa học nông nghiệp và nguồn lợi Australia, giá trị sản lượng nông nghiệp nước này năm 2013 đã vươn lên đạt 43 tỷ USD; tương đương với 3% GDP. Sản lượng cũng có bước tiến vượt bậc. Bang New South Wales chuyên sản xuất lúa đạt năng suất 9,89 tấn/ha (so với năng suất lúa nước ta cao nhất cũng chỉ dưới 7 tấn/ha).  Ngày nay ngành nông nghiệp Australia không những có giá trị kinh tế lớn mà còn giữ vai trò xã hội đặc biệt quan trọng: Lực lượng lao động chính thức chỉ khoảng 400.000 người (chiếm 4% tổng lao động cả nước) nhưng sản xuất ra hàng hóa đạt chỉ số tự cung cấp cao nhất thế giới; tính trung bình một nông dân Australia có thể nuôi 190 người. Các sản phẩm nông nghiệp chính của Australia không chỉ đảm bảo “an ninh lương thực” trong nước mà còn xuất khẩu rộng khắp thế giới, như lúa mì, lúa mạch, mía, hoa quả, gia súc, cừu, gia cầm, nho và rượu vang…    Xuất khẩu trái cherry riêng năm 2017 đạt 75 triệu AUD.    Nông dân là chủ thể  Nền nông nghiệp Australia được tổ chức dưới hình thức nông trại với khoảng 130.000 nông trang trên diện tích canh tác 354 triệu ha. Chính sách của nước này là xây dựng một nền nông nghiệp do nông dân làm chủ nên tinh giản tối đa các điều luật, quy định bắt buộc đối với nông dân. Nông dân là chủ thể của nông nghiệp, được thể hiện bằng việc hộ nông dân được cấp giấy phép sở hữu diện tích đất lớn, không phải thuê lại đất nhà nước. Nông dân chủ động từ khâu chọn giống, canh tác, thu hoạch. Đặc biệt là khâu quản lý sau thu hoạch và kiểm tra chất lượng sản phẩm đều do chuyên gia các ngành nghề đảm nhiệm, nhưng họ phối hợp khá tốt nhằm phục vụ nông dân, tăng hiệu quả cây trồng, vật nuôi.  Nông dân Australia ngày nay sản xuất theo chuỗi giá trị và phân phối theo chỗi cung ứng. Quy trình sản xuất tốt GAP được thực hiện nghiêm chỉnh trong từng công đoạn sản xuất đối với từng loại cây/con để nông dân luôn đảm bảo an toàn vệ sinh, đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng của nhà cung ứng và người tiêu thụ trong và ngoài nước. Các mặt hàng này đều đóng gói bao bì cẩn thận với nhãn hiệu “Made in Australia” trên sản phẩm trước khi tung ra thị trường.  Hình ảnh cực nhọc và lao động nông nghiệp nhàm chán “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” hầu như dần đi vào quá khứ ở Australia. Với các chính sách hữu hiệu của Chính phủ, nông dân Australia đã áp dụng hiệu quả các công nghệ hiện đại vào sản xuất. Tại các cánh đồng rộng ngút tầm mắt, người ta thường bắt gặp những chiếc máy cày, máy cắt không cần người lái đang vận hành. Nông dân ngồi nhà sử dụng hệ thống vệ tinh để định vị khâu làm đất, thu hoạch một cách chính xác. Bước tiến đáng kể của tự động hóa đã thu hút ngày càng nhiều giới trẻ vào lĩnh vực nông nghiệp, khiến việc giới trẻ rời bỏ làng mạc ra đi tìm chân trời mới giảm mạnh.  Các bạn trẻ có nhiều công việc thích thú để làm, như điều khiển máy bay không người lái bảo vệ mùa màng, nghiên cứu xử lý dữ liệu về dinh dưỡng hoặc chăm sóc sức khỏe gia súc. Làm nông không có nghĩa là lội đồng. Công ty Gia súc AACo, lớn nhất Australia thường xuyên tuyển dụng người trẻ giỏi công nghệ để điều hành hệ thống robot sử dụng ngoài trời.  Một bạn trẻ ở Brisbane, kỹ sư kỹ thuật đã rèn luyện 5 năm tại trường đại học lại chọn về nông thôn làm việc, đã tâm sự trên mạng: “Làm việc ở trang trại tức là sống và lao động như một nông dân thực thụ. Thế nhưng công việc đầu tiên, đồng lương đầu tiên tôi kiếm được lại là từ đất mẹ vĩ đại, từ mùi hương hăng hắc của cỏ cây và những mùa vụ sung túc. Tôi đón Giáng sinh cũng như sinh nhật trong cái rét căm, không khí ảm đạm của một ngày không nắng và cảm giác thiếu thốn trăm bề của một đêm không điện. Nhưng tôi được thiên nhiên ưu đãi bằng cả ngàn ngọn nến lung linh trên bầu trời. Đứng giữa cánh đồng, tôi cảm nhận không khí mát lạnh, hương cỏ cây dịu nhẹ, làm tôi có cảm giác nhận được một món quà rất hậu hĩnh từ mẹ thiên nhiên”.  Tờ The Sydney Morning Herald nhận định: “Việc vận dụng công nghệ mới rất quan trọng để Australia duy trì khả năng cạnh tranh trong nền nông nghiệp toàn cầu. Nếu chúng ta không vận dụng công nghệ mới, nên từ bỏ tham vọng trở thành kho thực phẩm của châu Á và thế giới”.  Hiện nông nghiệp nước này chỉ chiếm 2% tổng sản phẩm quốc nội nhưng chính phủ nước này dự báo có thể đạt được 5% vào năm 2050. Sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp giờ đây có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Australia khi ngành kinh tế mũi nhọn khai khoáng một thời bùng nổ hiện nay đang có xu thế phát triển chậm lại.    Bò sữa và bò lấy thịt là ngành chăn nuôi phát triển ở Australia.    Năm kỷ lục phát triển  Nông nghiệp không phải là thế mạnh của Australia do điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên. Tuy vậy, nhờ có chính sách đúng về nông nghiệp người Australia đã đưa cả vùng nông thôn phát triển trù phú, nông dân biết làm giàu từ đất, trở thành một ngành đẻ ra tiền. Nền nông nghiệp nước này đã cung cấp đầy đủ sản phẩm cho thị trường nội địa và xuất khẩu 80% sản lượng. Thu nhập của mỗi nông dân Australia đạt 100.000USD/năm, cao hơn so với GDP bình quân đầu người nước này (60.000USD/năm).  Làm chủ thiên nhiên, tạo phúc lợi từ đất đai, chỉ trong 116 năm kể từ khi lập nước, đến nay Australia được bình chọn là quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới về chỉ số chất lượng cuộc sống (năm 2005), thứ 3 về chỉ số phát triển con người (2007). Australia còn nắm giữ một kỷ lục khó nước nào đạt được: Hầu hết thành phố lớn tại các tiểu bang đều là những thành phố nằm trong “top 10” có chất lượng và mức sống tốt nhất thế giới.  Bộ Nông nghiệp kinh tế tài nguyên và khoa học Australia (ABARES) vừa công bố số liệu kinh tế nông nghiệp của Chính phủ liên bang tại Hội nghị Outlook 2017, cho biết: Giá trị sản xuất nông nghiệp dự đoán tăng 8,3% trong năm tài khóa này, đạt mức 63,8 tỷ AUD nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi ở hầu hết khu vực nông nghiệp và giá xuất khẩu cao các mặt hàng thịt bò, cừu, len, các loại hạt…  Thế giới đang hướng tới các sản phẩm nông nghiệp Australia vì các thị trường nước ngoài đều ưa thích các loại nông phẩm nước này. Năm 2017, mức kỷ lục về sản xuất đã bị phá vỡ do phần lớn sản phẩm được bao tiêu xuất khẩu, như lúa mì (22,8 triệu tấn), lúa mạch (7,4 triệu tấn), đậu chickpea (1,4 triệu tấn)… Riêng trái cherry xuất khẩu đã đạt mức kỷ lục 75 triệu AUD.  Giám đốc điều hành ABARES, ông Peter Gooday cho biết: “Kỷ lục phát triển nông nghiệp năm nay do gia tăng sản lượng cây trồng và hoạt động hiệu quả trong các ngành công nghiệp chăn nuôi. Nhiều thông tin tốt hơn nữa đang chờ đón nông dân trong năm tài khóa 2018, như xuất khẩu bông tăng 35%, sữa tăng 11%, len tăng 10%. Chúng tôi nghĩ rằng nông nghiệp thực sự là một trong những ngành phát triển mạnh nhất hiện nay tại Australia”.  Theo SGGP    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba cách chuyển động (gần) tốc độ ánh sáng      Một trăm năm trước đây, các đo đạc của một hiện tượng nhật thực (ngày 29/5/1919) đã đưa ra một trong những xác nhận đầu tiên cho thuyết tương đối của Einstein. Trước đó, Einstein đã phát triển Thuyết tương đối hẹp, vốn cách mạng hóa cách chúng ta hiểu về ánh sáng. Cho tới ngày nay, nó vẫn tiếp tục dẫn dắt những hiểu biết của chúng ta về cách các hạt di chuyển trong vũ trụ – một lĩnh vực đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu để giúp các tàu vũ trụ và các phi hành gia an toàn khỏi bức xạ mặt trời.      Thuyết tương đối hẹp chứng tỏ các hạt ánh sáng – các photon, chuyển động qua một khu vực chân không với một tốc độ không đổi là 670.616.629 dặm mỗi giờ – một vận tốc vô cùng khó đạt tới và không thể băng qua được môi trường này.  Tất cả các dạng vật chất chuyển động trong vũ trụ, từ các lỗ đen đến môi trường gần trái đất, các hạt trên thực tế được gia tốc đến những tốc độ lớn không tưởng, một vài vận tốc thậm chí còn đạt tới 99,9% tốc độ ánh sáng.  Một trong số các nhiệm vụ của NASA là hiểu biết sâu sắc hơn về cách các hạt được gia tốc. Việc nghiên cứu các hạt chuyển động siêu nhanh, hoặc tương đối, có thể giúp giữ an toàn cho các nhiệm vụ khám phá hệ mặt trời, du hành tới Mặt trăng và có thể giúp chúng ta có được kiến thức về những thiên hà lân cận, ví dụ một hạt có vận tốc gần vận tốc ánh sáng và được hướng đích tốt có khả năng tới gần các thiết bị điện tử trên tàu và ngay cả có nhiều hạt tới cùng một lúc cũng có thể tạo ra hiệu ứng bức xạ tiêu cực cho các phi hành gia khi họ du hành tới mặt trăng, hoặc xa hơn nữa.  Dưới đây là ba cách mà sự gia tốc các hạt có thể xảy ra.  1. Các điện từ trường  Một trong những quá trình này là gia tốc các hạt đến những tốc độ đủ khả năng hoạt động trong các điện từ trường – lực đương đương tới lực đủ sức giữ các nam châm trên tủ lạnh. Hai hợp phần, điện trường và từ trường, giống như hai mặt của đồng xu, hoạt động cùng nhau để đưa các hạt tới những tốc độ tương đối khắp vũ trụ.  Về bản chất, điện từ trường gia tốc các hạt mang điện tích bởi các hạt cảm thấy một lực trong điện từ trường thúc đẩy chúng, tương tự cách lực hấp dẫn đẩ một vật thể mang khối lượng. Trong các điều kiện thích hợp, điện từ trường có thể gia tốc các hạt tới vận tốc gần vận tốc ánh sáng.  Tại môi trường trái đất, điện trường thường được khai thác trên các quy mô nhỏ để tăng tốc các hạt tại các phòng thí nghiệm. Các máy gia tốc hạt, ví dụ như Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC và Fermilab, thường sử dụng các điện từ trường xung để gia tốc các hạt mang điện tích tới 99,99999896% tốc độ ánh sáng. Tại tốc độ đó, các hạt này có thể được “thúc” chuyển động nhanh hơn cùng với việc tạo ra các va chạm với năng lượng vô cùng lớn. Điều này cho phép các nhà khoa học nhìn sâu vào các hạt cơ bản và hiểu được những gì mà vũ trụ trải qua trong những “tích tắc” vô cùng nhỏ của giây đầu tiên sau Big Bang.  2. Những bùng nổ từ  Từ trường có ở mọi nơi trong vũ trụ, bao quanh trái đất và kéo dài hệ mặ trời. Chúng hướng dẫn các hạt mang điện tích chuyển động qua không gian, vốn chuyển động theo hình xoắn ốc quanh các trường này.  Khi các từ trường này “chạy” xuyên nhau, chúng có thể bị rối. Khi sức căng giữa các đường biên trở nên quá lớn, các đường này sẽ tạo ra nổ và sắp xếp lại trong một quá trình mà người ta gọi là tái liên kết từ. Sự thay đổi nhanh chóng này trong từ trường của một vùng sẽ tạo ra điện trường, vốn là nguyên nhân dẫn đến khả năng các hạt mang điện tích bị văng xa với tốc độ cao. Các nhà khoa học nghi ngờ tái liên kết từ là một cách để các hạt – ví dụ, gió mặt trời, vốn là dòng chảy không đổi của các hạt mang điện tích từ mặt trời, được gia tốc đến tốc độ tương đối.  Các hạt đạt tốc độ đó tạo ra một loạt các hiệu ứng biên gần các hành tinh. Tái liên kết từ thường xuất hiện gần chúng ta tại các điểm khi từ trường của mặt trời đẩy theo hướng ngược lại với từ quyển của trái đất – khoảng không gian bao quanh có chức năng trái đất. Khi tái liên kết từ xuất hiện về phía tráu đất xa mặt trời, các hạt này có thể được phóng vào bầu khí quyển bên trên trái đất, nơi chúng phát ra các cực quang. Tái liên kết từ cũng được cho là có mặt xung quang các hành tinh khác như Jupiter và Saturn, dẫu cho theo những cách có phần khác nhau.       Những vụ nổ lớn nhưng vô hình đang xuất hiện một cách liên tục trong không gian quanh trái đất. Những vụ nổ đó là kết quả của các từ trường xoắn bị đứt gãy và tái sắp xếp, bắn các hạt qua không gian. Nguồn: NASA’s Goddard Space Flight Center  Tàu vũ trụ Đa tỉ lệ từ quyển của NASA đã được thiết kế và xây dựng để các nhà khoa học có thể tập trung nghiên tìm hiểu mọi khía cạnh của tái liên kết từ. Việc sử dụng bốn tàu vũ trụ giống hệt nhau, nhiệm vụ này sẽ thực hiện theo lộ trình bay quanh trái đất để bắt lấy tái liên kết từ đang hoạt động. Các kết quả từ dữ liệu được phân tích có thể giúp các nhà khoa học hiểu được việc gia tốc các hạt tại tốc độ tương đối quanh trái đất và trong vũ trụ.  3. Các tương tác sóng – hạt  Các hạt có thể được tăng tốc bằng các tương tác với các sóng điện từ, vẫn được gọi là những tương tác sóng – hạt. Khi các sóng điện từ va chạm, trường của chúng có thể trở nên đặc lại. Việc các hạt mang điện tích bật lên và xuống giữa các sóng có thể tăng năng lượng tương tự như một quả bóng nẩy giữa hai bức tường.  Các dạng tương tác này được xuất hiện liên tục ở không gian gần trái đất và có vai trò gia tốc các hạt để đạt tới tốc độ có thể phá hủy các thiết bị điện trên tàu vũ trụ và vệ tinh trong không gian. Các nhiệm vụ của NASA, như Van Allen Probes, giúp các nhà khoa học hiểu về các tương tác sóng từ.  Các tương tác sóng từ được cho là liên quan đến việc gia tốc một số tia vũ trụ được hình thành bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Sau một vụ nổ siêu tân tinh, một lớp vỏ dày và nóng của khí nén bị loại khỏi lõi sao. Đầy ắp từ trường và các hạt mang điện tích, các tương tác sóng – hạt trong các bong bóng có thể phóng các tia vũ trụ năng lượng cao với tốc độ đạt 99,6% tốc độ ánh sáng. Các tương tác sóng hạt có thể có một phần tác động gia tốc gió mặt trời và tia vũ trụ từ mặt trời.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-05-ways.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba chàng trai độc thân đã chinh phục thị trường ảnh cưới như thế nào      Họ đã gặp rất nhiều thử thách tới nỗi chuyện thành công có lúc tưởng chừng như là điều không tưởng.      Rắc rối đầu tiên: họ là nam giới. Rắc rối thứ hai: tất cả đều… chưa từng làm đám cưới. Rắc rối thứ ba: họ sống ở Raleigh, Bắc Carolina, nơi chưa từng có ai thành lập một công ty ứng dụng tiêu dùng lớn cả. Và cuối cùng, ứng dụng mà họ định làm có liên quan tới ảnh trong khi trên thị trường đã có hàng trăm ứng dụng ảnh cho cả Android và iPhone rồi.  Nếu là bạn, bạn sẽ làm gì? Bất kỳ nhà sáng lập khôn ngoan nào khi đối mặt với những thực tế trên sẽ bắt đầu bằng cách tìm kiếm một ý tưởng mới. Nhưng, giống như nhiều doanh nhân có tinh thần mạo hiểm, ba chàng trai Idan Koren, Andy Heymann, và Justin Miller lại phớt lờ những lời khuyên thông thái và liều lĩnh xây dựng một ứng dụng phục vụ riêng cho ảnh cưới.  Hiện nay, WedPics đã có trên 4 triệu người sử dụng; họ truy cập vào website này để chia sẻ ảnh chụp từ hơn 800.000 tiệc cưới. Tính trung bình, công ty này phục vụ hơn 10.000 đám cưới mỗi tuần, và con số này còn tiếp tục gia tăng theo tuần.  Họ đã thách thức quan niệm truyền thống như thế nào?  Những bài học đầu tiên đến với họ năm 2010, thời điểm họ ra mắt Deja Mi – một ứng dụng ảnh mang tất cả những tính năng tương tự như bất kỳ ứng dụng ảnh nào khác. Điểm khác biệt duy nhất là khách hàng. Ba chàng trai này đã miệt mài làm code hàng tháng trời để hoàn thiện sản phẩm, nhưng rồi khách hàng của họ chỉ bao gồm bạn bè, người thân và một số ít khách vãng lai.  Nguyên nhân là do Koren, Heymann, và Miller đã đi theo con đường mà hầu hết các nhà sáng lập công nghệ đã và đang đi theo. Họ tạo ra một sản phẩm nặng về tính năng để phục vụ cho tất cả những ai cần quản lý những bức ảnh của mình. Kế hoạch phát triển của họ được xây dựng dựa trên cái suy nghĩ rằng có một tính năng phù hợp cho tất cả mọi người. Nhưng ý tưởng này không hiệu quả đối với Deja Mi cũng như đối với bất kỳ ai.  Trên thực tế, các nhà phát triển sản phẩm phải xác định được một thị trường niche nhỏ và xây dựng một sản phẩm phục vụ riêng cho nhu cầu của thị trường đó. Sau khi đã chinh phục được thị trường đó rồi họ có thể mở rộng sang các thị trường niche khác cho tới khi đạt được động lực phát triển cần thiết.  Deja Mi đã không tập trung vào thị trường niche nào mà chỉ tập trung vào tính năng với hy vọng rằng sẽ có một tính năng nào đó trong sản phẩm này phù hợp với một khách hàng tiềm năng nào đó.    Sau vài tuần vật lộn, ba chàng trai quyết định nhắm tới các cô dâu, lấy đó làm phân khúc niche của mình. Các cô dâu thường bị “thất thoát” rất nhiều ảnh chụp và video bởi trong tiệc cưới không chỉ có thợ chuyên chụp ảnh cưới mà các khách mời ai cũng có điện thoại di động có thể chụp ảnh được.  Tin vui là Koren, Heymann, và Miller đã có sẵn một kho tính năng ảnh từ Deja Mi và họ cũng rút được nhiều kinh nghiệm từ đợt ra mắt ứng dụng trên. Sản phẩm mới sẽ phục vụ cho các cô dâu và khách mời của họ, vì thế ba chàng trai đã tận dụng được 90% mã code từ Deja Mi.  Khi nhìn vào thành công hiện nay của WedPic, chúng ta dễ dàng nhìn thấy hai bài học lớn:  1.    Đây là một sản phẩm đơn giản. Giao diện người dùng dễ sử dụng, và bất kỳ ai, ở bất kỳ độ tuổi nào, chỉ cần có một chiếc smartphone cũng đều có thể giơ máy lên chụp ảnh/quay video rồi ngay lập tức chia sẻ chúng với toàn bộ những người tới dự cuộc vui cùng cô dâu. Thực ra, các nhà sáng lập cho biết sản phẩm này của họ không có tính năng nào cả.  2.    Họ hiểu khách hàng của mình (các cô dâu). Họ cung cấp dịch vụ hỗ trợ tức thời bất kể thời gian nào trong ngày. Ba chàng trai thay phiên nhau trực điện thoại và thời gian giải đáp thắc mắc của họ trung bình là 20 phút. Các cô dâu lúc nào cũng bận rộn để chuẩn bị ngày trọng đại nhất trong đời mình nên nhiều khi Koren, Heymann, hay Miller nhận những cuộc gọi vào nửa đêm. Họ giải quyết công việc qua điện thoại chứ không qua email hay chat. Qua hành động này, họ đã thể hiện được rằng họ luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng, chỉ cần khách hàng gọi là họ có mặt.  Hiện nay quy mô nhân sự của WedPics là 29 người và họ đã gọi được trên 7,5 triệu USD từ các nhà đầu tư tại Mỹ. Và ba chàng trai này vẫn còn độc thân.    Ngọc Khánh dịch    http://www.inc.com/chris-heivly/how-3-single-guys-conquered-the-wedding-photo-market.html         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba chuyên gia dự báo giá cả tài sản nhận giải Nobel Kinh tế      Giá cả tài sản bao giờ cũng là một vấn đề  quan trọng trong kinh tế học, dù ở tầm vi mô hay vĩ mô. Dĩ nhiên các nhà  đầu tư trên thị trường chứng khoán quan tâm hơn ai hết đến vấn đề này,  vì họ thường xuyên phải mua hoặc bán tài sản. Trong thực tế, giá cả tài  sản luôn biến động, việc dự đoán có rất nhiều khó khăn.      Thành tựu phân tích thực chứng của Eugene F. Fama, Lars Peter Hansen và Robert J. Shiller – ba nhà kinh tế học người Mỹ chuyên nghiên cứu vấn đề dự đoán tính bất định của giá cả tài sản toàn cầu – đã được vinh danh bằng giải Nobel kinh tế 2013.    Ủy ban giải Nobel giải thích: Ba ông đã phát triển được phương pháp mới nghiên cứu định giá tài sản và áp dụng phương pháp đó vào việc nghiên cứu các chi tiết giá cả của cổ phiếu, trái khoán và các loại tài sản khác. Phương pháp của họ đã trở thành tiêu chuẩn nghiên cứu học thuật. Thành tựu của họ chẳng những có tác dụng chỉ đạo việc nghiên cứu lý thuyết mà còn giúp ích cho ứng dụng đầu tư chuyên nghiệp.     Căn cứ vào các nghiên cứu của họ, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho rằng: Chưa có cách nào dự đoán được giá cổ phiếu, chứng khoán trong vài ngày hoặc vài tuần tới; nhưng việc dự đoán ở tầm dài hạn hơn, thí dụ dự đoán giá trong ba hoặc năm năm tới, thì có thể làm được.    Fama sinh năm 1939, là nhà tư tưởng trong lĩnh vực kinh tế tiền tệ, một trong những nhà kinh tế học được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới. Ông hiện là giáo sư tại Booth School of Business thuộc ĐH Chicago. Cống hiến chủ yếu của Fama là đã đưa ra Giả thuyết thị trường hữu hiệu (Efficient Markets Hypothesis). Giả thuyết này cho rằng một thị trường chứng khoán mà trong đó các thông tin liên quan không bị xuyên tạc và được phản ánh đầy đủ trong giá cả chứng khoán thì được coi là thị trường hữu hiệu. Khi đó giá cả chứng khoán đã phản ánh đầy đủ mọi thông tin có thể thu nhận được, kể cả những thông tin công đã công bố và những thông tin tư nhân chưa công bố; trong tình hình giá chứng khoán phản ứng nhanh chóng với thông tin, nhà đầu tư không thể có bất cứ cơ hội nào thu lợi cao hơn mức bình thường. Fama cho rằng trong một thị trường chứng khoán hữu hiệu, bởi lẽ mỗi nhà đầu tư đều thu nhận được các thông tin như nhau, vì thế không ai có thể dùng cách xử lý thông tin để thu được lợi ích vượt mức, tức là không thể dùng thông tin để kiếm lợi trên thị trường.     Hansen sinh năm 1952, hiện là giáo sư ĐH Chicago. Cống hiến lớn nhất của ông là đã phát hiện phương pháp tính toán Generalized Method of Moments đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu kinh tế và tiền tệ. Sử dụng phương pháp này, Hansen và đồng nghiệp đã phát hiện sự sửa đổi những lý thuyết đó cuối cùng có thể giải thích được việc định giá tài sản. Nhờ sự phổ cập công nghệ máy tính, phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi.    Shiller sinh năm 1946, hiện là giáo sư ĐH Yale, nổi tiếng vì các bài giảng của ông về môn học Thị trường tiền tệ được nhiều trang mạng đăng tải. Ông là tác giả cuốn Sự phồn vinh phi lý (Irrational Exuberance, xuất bản năm 2000). Trong sách, Shiller so sánh tình hình biến đổi tỷ số P/E (tỷ số tiền lời trên giá cổ phiếu, Price to Earning Ratio) của thị trường chứng khoán Mỹ trong 140 năm qua, vạch ra việc hồi cuối thập niên 90 thế kỷ XX các chỉ số của thị trường này tăng mạnh là hiện tượng bất bình thường, thoát ly sự vận hành thực tế của nền kinh tế, đằng sau sự phồn vinh ấy tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng. Các tác phẩm của ông đề cập tới thị trường tiền tệ, sáng tạo đổi mới về tài chính, kinh tế học hành vi, kinh tế học vĩ mô.     Từ thập niên 50 thế kỷ XX, Fama và các học giả khác bắt đầu cố gắng đưa Tài chính học (science of banking) trở thành một khoa học nghiêm chỉnh trong kinh tế học. Tài chính học là một nhánh thành công nhất trong kinh tế học – GS Eugene Fama từng tự hào nói như vậy.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba điểm yếu của khởi nghiệp Việt Nam      Khởi nghiệp trong kinh doanh đòi hỏi sự chuẩn bị về tinh thần, kiến thức và kỹ năng. Lựa chọn con đường kinh doanh để khởi nghiệp là lựa chọn một con đường gian khổ.       “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”, việc hiểu biết bản thân, những điểm mạnh cần khai thác và những điểm yếu cố hữu cần khắc phục ngay sẽ giúp khởi nghiệp Việt Nam có khả năng tiến xa hơn trên con đường kinh doanh nói chung. Nhiều lời khuyên các khởi nghiệp nên tập trung vào thế mạnh, nhưng có những điểm yếu không thể không khắc phục vì về lâu dài nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sống sót của doanh nghiệp. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả qua những quan sát trong quá trình làm việc với doanh nghiệp khởi nghiệp.   Có quá nhiều ý tưởng  Khác với nhiều người rơi vào trạng thái bí ý tưởng, các nhóm khởi nghiệp, tôi tiếp xúc thường rơi vào trạng thái đối lập là có quá nhiều ý tưởng mà chưa biết bắt đầu từ đâu. Nếu bạn đặt câu hỏi là: bạn đang làm gì? thì không ít các khởi nghiệp sẽ kể ra không dưới ba ý tưởng đang có trong đầu và/hoặc đang triển khai. Các bạn thử rất nhiều, kinh doanh nhiều thứ khác nhau cùng một lúc, cho ra đời những thành công nho nhỏ, hoặc rất nhiều thất bại và đôi khi các doanh nghiệp khởi nghiệp dậm chân tại chỗ với một mớ ý tưởng.   Nhiều khởi nghiệp lại muốn nhắm vào tất cả khách hàng trên thị trường. Không khó để nhận ra, trên website của nhiều bạn khởi nghiệp, ví dụ, phần mềm quản lý khách hàng, thiếu một câu chuyện tập trung cho một đối tượng khách hàng cụ thể. Các bạn nghĩ rằng mình có thể bao phủ toàn bộ thị trường, đưa ra thật nhiều sản phẩm dịch vụ và có thể thực hiện để phục vụ nhu cầu rộng khắp của các khách hàng. Tuy vậy, hãy coi trọng chất lượng hơn số lượng, hãy tập trung vào thế mạnh lớn nhất của bạn hoặc thứ mà thị trường đang thiếu thốn nhất. Cơ hội thành công chỉ đến với những người thực sự vượt trội. Mà muốn có sự vượt trội, bạn phải đầu tư thời gian, công sức và sự tập trung toàn bộ nguồn lực vào một thứ mà thôi.  Một biểu hiện khác là sự thử nghiệm quá nhiều thứ một lúc nhưng không tập trung và phân tích thế mạnh của mình. Nhiều bạn khởi nghiệp dựa trên quan sát những nhu cầu “hot” trên thị trường. Vì đuổi theo hết trào lưu này sang trào lưu khác mà thiếu cân nhắc đến thế mạnh và nguồn lực của mình, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ dừng lại ở việc tồn tại, không thể tập trung ở một mảng thị trường cụ thể và khai thác một công việc kinh doanh rõ ràng để khiến nó phát triển.   Việc có quá nhiều ý tưởng là một điểm yếu lớn bởi lẽ, khi có quá nhiều ý tưởng, nguồn lực triển khai thường bị phân tán và khó đạt được hiệu quả cao nhất. Mặt khác, việc phân tán cho nhiều ý tưởng thường khiến các nhóm khởi nghiệp có nguy cơ tan rã sớm do mâu thuẫn về tầm nhìn và tập trung nguồn lực cả đội. Nguyên nhân của việc có nhiều ý tưởng thì có nhiều, nhưng mặt trái của nó về lãng phí thời gian và chi phí cơ hội thì không phải doanh nghiệp khởi nghiệp nào cũng nhận ra.   Để khắc phục, cách quan trọng là phải có tiêu chí lựa chọn ý tưởng, ưu tiên những ý tưởng mang tính khả thi, có khả năng tiến xa và đặc biệt phù hợp với đam mê và năng lực của cả nhóm. Công thức chung cho việc phân loại, sắp xếp thứ tự ưu tiên và tập trung chính là cách để một khởi nghiệp tìm được tiếng nói đồng thuận, tầm nhìn của cả đội.   Tiếng Anh giao tiếp kém   Nhiều nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài gặp khó khăn trong giao tiếp và hiểu các doanh nghiệp khởi nghiệp về sản phẩm, dịch vụ của họ. Rào cản lớn nhất đó chính là tiếng Anh. Các doanh nhân khởi nghiệp đang đánh mất cơ hội của mình trước các khởi nghiệp nước ngoài do khả năng ngôn ngữ kém, khả năng biểu đạt ý tưởng kém và thiếu sự tự tin cần thiết khi giao tiếp bằng ngôn ngữ nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới, việc thiếu kỹ năng cơ bản này đang hạn chế rất nhiều cơ hội tiếp cận các nhà đầu tư nước ngoài, giảm năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp. Nhiều người hoạt động trong lĩnh vực khởi nghiệp có chung nhận định rằng, việc không tự vượt qua rào cản ngôn ngữ thể hiện sức ì rất lớn trong tâm lý của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Nó cũng thể hiện sự thiếu sẵn sàng cho khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khởi nghiệp Việt Nam sẽ không thể ra khỏi ao làng nếu tình trạng tiếng Anh vẫn còn ở mức dừng lại vài câu chuyện, xin chào, tạm biệt và chỉ bất lực sử dụng ngôn ngữ hình thể và vốn tiếng Anh hạn hẹp để mô tả sản phẩm, dịch vụ của mình.   Việc cải thiện trình độ tiếng Anh, khả năng giao tiếp, phát âm không phải quá khó. Tất cả bắt đầu từ tư duy và tầm nhìn để hội nhập. Có một câu chuyện của nhóm trẻ khởi nghiệp tôi biết thực sự đáng suy nghĩ. Khi xác định nhất định phải phát triển một ứng dụng hỗ trợ những người bán hàng trực tuyến bằng tiếng Anh, CEO của công ty đã quyết định bắt cả đội học tiếng Anh thật tốt song song với việc phát triển ứng dụng về mặt công nghệ. Không một nhà đầu tư hay đối tác nào nghi ngờ về tầm nhìn toàn cầu của bạn nếu bạn đang sở hữu một đội ngũ tự tin giao tiếp bằng tiếng Anh với họ. Thực tế đã chứng minh, những nhóm khởi nghiệp của Việt Nam bắt đầu xây dựng một chút tiếng tăm hay thành công trên thị trường quốc tế đều là những nhóm sở hữu những nhân viên có trình độ tiếng Anh tốt.   Thiếu và yếu kiến thức nền tảng  Sự thiếu hiểu biết của startup về những vấn đề có liên quan đến kinh doanh chuyên nghiệp cũng là một cản trở đến sự thành công của các khởi nghiệp. Trong đó có hiểu biết về tài chính, luật pháp và thị trường.   Họ thiếu hiểu biết về tài chính trong khi các nhà đầu tư cần con số về tiềm năng công việc kinh doanh một cách thực tiễn để có thể ra những quyết định trên khoản tiền đầu tư của họ. Họ thiếu hiểu biết nên vướng vào nhiều vấn đề như thiếu cân nhắc về loại hình công ty khi thành lập, không bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ. Họ thiếu hiểu biết về thị trường, các con số về đối thủ cạnh tranh, khách hàng tiềm năng. Cuộc chơi vốn thuộc về những người hiểu nhu cầu thị trường khiến không ít khởi nghiệp Việt Nam mất hẳn lợi thế cạnh tranh so với startup ngoại vốn tìm hiểu thị trường rất kỹ trước khi bắt đầu ngay cả khi họ kinh doanh trên thị trường Việt Nam.   Nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt này, trong đó không thể không kể đến nguyên nhân khách quan là lỗi của hệ thống giáo dục. Tuy vậy, trước khi thực sự chờ đợi những thay đổi mang tính căn bản, các khởi nghiệp phải tự cứu lấy mình, tự trang bị cho mình kiến thức cần thiết để chủ động sống sót và tồn tại bền vững.   CEO của Google và rất nhiều chuyên gia khởi nghiệp trên thế giới có chung nhận định và lời khuyên dành cho các startup Việt Nam là hãy chiếm lĩnh thị trường nội địa trước khi vươn ra thế giới. Tuy vậy, nếu nhìn lại với điểm yếu là thường thiếu thông số thị trường, thiếu cái nhìn tổng quan, thiếu ý thức về việc phải nghiên cứu thông số thị trường trước khi bắt đầu, các khởi nghiệp Việt Nam khó có thể chiếm lĩnh thị trường nhà. Với điểm yếu ngôn ngữ và kiến thức nền tảng, việc vươn ra thị trường nước ngoài càng trở nên khó khăn. Nếu không có những đột phá về sản phẩm mũi nhọn, ngôn ngữ và kiến thức nền tảng, khởi nghiệp Việt Nam sẽ không thực sự sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trên sân nhà và tìm những cơ hội lớn hơn trên sân chơi quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba điều đáng tôn vinh ở người sáng chế không chuyên      Tinh thần của các nhà sáng chế không chuyên phải được hết sức khuyến  khích, làm cho lan tỏa rộng trong xã hội ta, vốn ngày càng chìm đắm  trong tâm lý tự ti, thỏa hiệp với sự trì trệ và khuyết tật đang tồn tại.      Điều đáng tôn vinh thứ nhất là tinh thần dấn thân vượt qua thử thách vì niềm đam mê. Con đường làm sáng chế thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ thất bại, nhưng với những nhà sáng chế không chuyên thì sự gian nan nhiều hơn gấp bội. Trong khi các nhà nghiên cứu hàn lâm được hỗ trợ bởi cả hệ thống các nguồn lực từ tài chính, phòng thí nghiệm, các phụ tá nghiên cứu, nhân viên kỹ thuật, v.v. – trong đó không ít người luôn tìm cách níu bám lấy những điều kiện bao cấp của Nhà nước dù không cống hiến được sản phẩm gì đáng kể – thì các nhà sáng chế không chuyên phải đơn độc xoay xở, tự làm tròn mọi vai, từ nhà nghiên cứu, nhà đầu tư, nhà quản lý dự án, tới thợ cơ khí chế tạo máy, v.v., và tự tìm cách đáp ứng mọi điều kiện cần thiết khác để đứa con tinh thần của mình được ra đời.     Điều đáng tôn vinh thứ hai là họ có ý thức đổi mới sáng tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh, mang lại giá trị gia tăng bền vững đích thực cho đời sống đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Trong khi đó, lâu nay không ít doanh nghiệp được đầu tư đầy đủ vốn, cơ sở vật chất, có thị trường đầu ra, nhưng vẫn vì lợi ích ngắn hạn mà tạo ra những sản phẩm rập khuôn sao chép, hoặc sáng tạo nửa vời, chỉ có mẫu mã bề ngoài mà kém chất lượng bên trong, thiếu hoàn thiện, hoặc là những sản phẩm chỉ tốt trong một vài lứa đầu.    Điều đáng tôn vinh thứ ba là tinh thần tự tin, không ngừng cầu tiến, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, không bằng lòng với cái đã có. Tinh thần này phải được hết sức khuyến khích, làm cho lan tỏa rộng trong xã hội ta, vốn ngày càng chìm đắm trong tâm lý tự ti, thỏa hiệp với sự trì trệ và khuyết tật đang tồn tại. Nhiều người trong chúng ta, trong đó có cả các nhà khoa học, bất mãn với sự tụt hậu của đất nước, dân tộc, nhưng hầu như không làm gì để cải thiện tình hình. Trong khi đó, các quốc gia khác trên thế giới vẫn không ngừng tiến lên phía trước do tinh thần đổi mới sáng tạo thấm sâu, lan rộng khắp xã hội. Đơn cử như nước Mỹ có khoảng 300 triệu dân thì có tới 12 triệu nhà sáng chế không chuyên1– người ta tổng kết thấy rằng trong một số ngành, hầu hết các cải tiến sáng chế không phải từ các nhà công nghiệp mà chính là từ người dân. Trong thời đại ngày nay, một quốc gia không thể mạnh nếu không động viên được tinh thần cầu tiến và phát huy hiệu quả sức sáng tạo trong nhân dân.             —————————————————–   1 http://www.npr.org/blogs/money/2012/04/23/151204136/america-s-12-million-amateur-innovators       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba điều khiến bạn không muốn bỏ lỡ hội chợ thực phẩm và nông sản sạch      Những mặt hàng được giới thiệu tại Phiên chợ xanh tử tế cùng sự phong phú của bộ sưu tập gia vị các vùng miền và bộ sưu tập các loại bánh, xôi, chè Nam Bộ sẽ khiến bạn không muốn bỏ lỡ “Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao ngành Thực phẩm và Nông sản sạch 2016” đang diễn ra ở Hà Nội.      Nghệ nhân trinh diễn cách làm bánh tằm bì tại Hội chợ tối 6/10/2016. Ảnh: Hảo Linh  Tối 6/10, Hội chợ đã khai mạc tại Trung tâm Triển lãm Nông nghiệp Việt Nam (489 Hoàng Quốc Việt), đánh dấu tám năm có mặt ở Hà Nội với mục tiêu tôn vinh và giúp người tiêu dùng nhận diện thực phẩm và nông sản sạch.   Theo chân ba đại sứ hàng Việt là NSƯT, diễn viên Kim Xuân; chuyên gia ẩm thực Chiêm Thành Long; và bác sĩ, chuyên gia tư vấn dinh dưỡng Minh Nguyệt (thành viên Hội đồng Quản trị của Nutifood), có thể rút ra ba điểm đặc biệt của Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao tại Hà Nội năm nay, đó là:  Thứ nhất là một góc “Phiên chợ xanh tử tế” và nơi trưng bày 20 loại gạo mà NSƯT, diễn viên Kim Xuân và bác sĩ Minh Nguyệt chia sẻ rằng, cô “nhào vô” mua ngay trong lần đầu tiên sự kiện diễn ra tại 163 Pasteur, Tp.Hồ Chí Minh. Phiên chợ xanh tử tế là chương trình đã được tổ chức hai lần tại Tp. Hồ Chí Minh nhằm quy tụ tất cả những doanh nghiệp nuôi trồng và sản xuất thực phẩm, nông thủy sản sạch từ tất cả các vùng miền, đặc biệt là của những bạn trẻ khởi nghiệp.   Phiên chợ này được giới thiệu lần đầu tiên ở Hà Nội với phiên bản thu nhỏ, gồm 50 hộ nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ nông dân sản xuất theo quy trình an toàn, truy xuất được nguồn gốc. Ngoài phần lớn các đơn vị đến từ Nam Bộ với sản phẩm đặc trưng là trái cây tươi còn có liên nhóm trồng rau hữu cơ tại Thanh Xuân, Sóc Sơn – là đơn vị chuyên cung cấp rau sạch cho chuỗi cửa hàng Bác Tôm và Tâm Đạt, được chứng nhận PGS do Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) công nhận. Trong ngày khai trương, có những gian hàng tiếp khách không kịp.     Nơi trưng bày 20 loại gạo nằm ở trung tâm của không gian diễn ra sự kiện với sự góp mặt của những thương hiệu gạo Việt Nam chuyên xuất khẩu sang những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc và Châu Âu như của Lộc Trời, Cỏ May, Trung An…hay gạo Tâm Việt được trồng theo hướng hữu cơ, hoàn toàn không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của doanh nhân khởi nghiệp trẻ Võ Văn Tiếng. Đặc biệt, ở khu vực này có một sản phẩm không phải gạo được trưng bày, đó là phân bón thông minh của công ty Rynan Agri Food, đã được cấp bằng sáng chế tại Mỹ, cho bốn loại cây: bắp, lúa, rau và cà phê mà chỉ cần bón một lần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây, tiết kiệm chi phí và giảm thiểu khí thải nhà kính chỉ bằng một nửa so với việc bón phân bốn lần như truyền thống.   Thứ hai là “Bộ sưu tập gia vị các vùng miền” gồm vài chục loại gia vị được chuyên gia ẩm thực Chiêm Thành Long sưu tầm thông qua cuộc thi ẩm thực chuyên nghiệp Chiếc Thìa Vàng lần đầu tiên được giới thiệu tại Hà Nội. Ông Chiêm Thành Long cho rằng, mỗi vùng miền có một nét ẩm thực riêng biệt, thể hiện qua gia vị được sử dụng nhưng những gia vị này vẫn còn nằm lẩn khuất ở đâu đó trong một khu vực nhỏ hẹp nên ông muốn phổ biến rộng rãi. “Nếu làm được như vậy thì người dân ở vùng đó rất có lợi, tại vì sản phẩm đó thay vì chỉ bán trong một vùng bây giờ sẽ bán được cả nước” – ông Long cho biết và ông đã làm được điều này với tiêu sả – một loại hạt vừa cay như tiêu vừa thơm như sả ở vùng Ba Tơ, Quảng Ngãi và một loại tiêu khác ở Tây Giang, Quảng Nam có hương thơm của chanh.   Cuối cùng, chuyên gia ẩm thực Chiêm Thành Long mang đến một bộ sưu tập khác, đó là bộ sưu tập 100 loại bánh, xôi, chè vùng Nam Bộ thông qua “Lễ hội bánh dân gian Nam bộ”. Sáng nay, trước khi diễn ra lễ khai mạc, chính ông đã “xắn tay” chỉ đạo làm toàn bộ số bánh trong sự kiện buổi tối. Ông chia sẻ rằng, ông chỉ dừng lại ở 100 loại bánh (mặc dù có thể làm được hơn) và trước đây, trong một lễ hội tương tự ông chỉ gọi là “99+1” như một cách để ngỏ về giá trị gia tăng của hạt gạo  Việt Nam: “Nếu chúng ta xuất lúa thô bình thường thì nó chỉ nhiêu đó nhưng nếu chúng ta có sản phẩm từ hạt lúa đó ra thì hạt lúa đó có giá trị cao hơn và nó sẽ bán được giá cao hơn”. Những người được mời đến dự buổi khai mạc đều có dịp thưởng thức buffet các loại bánh, xôi, chè này và thậm chí còn được mời một món chè mới do các đầu bếp ở đây sáng tạo, đó là chè hoa quả với sốt làm từ kem tươi và sầu riêng.   Hội chợ sẽ diễn ra trong vòng bốn ngày từ 6-10/10 với nhiều trò chơi dành cho người tham dự cùng các tọa đàm, hội thảo nhằm đưa ra những góc nhìn của những chuyên gia nông nghiệp, chuyên gia kinh tế và những người nông dân, làm thế nào để nâng cao giá trị và xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba đóng góp mang đến giải Nobel cho Deaton      Vài thập kỷ trở lại đây, những nghiên cứu về phân phối tiêu dùng giữa các cá nhân – chủ đề có ảnh hưởng lớn tới nhiều vấn đề chính trị – kinh tế – xã hội quan trọng, trong đó có nghèo đói và bất bình đẳng – đã đạt nhiều tiến bộ do sự đóng góp đáng kể của các nhà kinh tế, mà nổi bật nhất là Angus Deaton. Ba cống hiến quan trọng nhất sau đây đã mang về cho ông giải Nobel Kinh tế năm nay.  &#160;      Tạo công cụ nền tảng để phân tích nhu cầu tiêu dùng  Trước tiên là cống hiến của Deaton trong việc đưa ra phương pháp nghiên cứu định lượng về các lựa chọn tiêu dùng của con người đối với các hàng hóa khác nhau, giúp cải thiện năng lực ước tính của kinh tế học về nhu cầu của người tiêu dùng. Từ lâu, một vấn đề cơ bản vẫn luôn thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế là mức ảnh hưởng từ những biến động của các loại giá cả, thu nhập, đối với nhu cầu tiêu dùng – những mức độ ảnh hưởng này nếu được dự đoán chính xác sẽ vô cùng hữu ích cho những người xây dựng các chính sách liên quan tới giá cả, thu nhập, thuế, v.v.   Với bài toán cho một cá nhân/gia đình thì việc xây dựng mô hình phân tích sẽ khá đơn giản, nhưng với tổng cầu của tất cả người tiêu dùng thì câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều. Do đó, để thuận tiện tính toán và phân tích, trước Deaton, người ta thường mặc định rằng tất cả các cá nhân đều có khẩu vị, sở thích tương tự nhau, theo đó bài toán về tổng cầu của tất cả người tiêu dùng thực chất là bài toán về nhu cầu một cá nhân “đại diện”. Nhưng tới thập kỷ 1970 người ta nhận thấy mô hình giản lược này không phản ánh đúng thực tế những dữ liệu tổng thể tiêu dùng: nó cho thấy người tiêu dùng hành xử một cách phi lý, hoặc là mô hình có sai sót đâu đó chưa ai lý giải được.  Đứng trước vấn đề này, cùng với John Muellbauer, năm 1980 Deaton đã đưa ra mô hình Hệ thống Nhu cầu Hầu như Hoàn hảo (Almost Ideal Demand System, viết tắt là AIDS), với một hệ phương trình có tính linh động cao hơn các mô hình trước đây. Đến nay, nó trở thành công cụ nền tảng để đa số các chính phủ phân tích đánh giá tác động kinh tế từ các chính sách, với lợi thế cơ bản là cho phép tính đến những dị biệt đa dạng giữa các cá nhân, mặt khác vẫn đảm bảo được tính căn bản và khái quát cao, cho phép ứng dụng rộng rãi ở các nền kinh tế khác nhau.  Khởi phát một cuộc cách mạng kinh tế lượng  Đóng góp quan trọng thứ hai của Deaton là những nghiên cứu của ông về tổng tiêu dùng (aggregate consumption), đã giúp mở đường cho cuộc cách mạng kinh tế lượng vi mô trong nghiên cứu về tiêu dùng và tiết kiệm qua chuỗi thời gian. Trước đây, người ta cho rằng theo thời gian, tiêu dùng không dao động mạnh như thu nhập, bởi người tiêu dùng luôn kỳ vọng thu nhập về lâu dài của mình sẽ bình ổn, và rằng người tiêu dùng luôn có khả năng vay mượn theo cùng một lãi suất để duy trì tiêu dùng ở mức ổn định mong muốn. Nhưng Deaton đã chỉ ra thực tế là dữ liệu về mức biến thiên của tổng tiêu dùng không ủng hộ cho quan điểm này, qua đó cho thấy để nghiên cứu về tổng tiêu dùng, người ta cần tiếp cận theo cách khác, phải thay đổi giả định về thu nhập tự bình ổn trong lâu dài, cũng như giả định rằng mọi người đều có thể vay mượn với lãi suất cố định như nhau.   Deaton đưa ra mô hình mới trong thống kê và phân tích kinh tế, giúp phản ánh sự điều chỉnh trong hành vi tiêu dùng của các nhóm người khác nhau khi các điều kiện kinh tế thay đổi, cho thấy nếu chỉ phân tích dựa trên dữ liệu vĩ mô thì sẽ không thể nhận ra tác động riêng đối với từng nhóm cụ thể, nhất là khi những tác động này bù trừ lẫn nhau nên không thể hiện ra trên bình diện tổng thể. Như vậy, việc quá mức dựa dẫm vào bộ dữ liệu thống kê vĩ mô ở tầm quốc gia, dù rất phổ biến và thuận tiện, sẽ dẫn tới những phân tích sai lệch, trong đó có việc không thấy được tình hình bất bình đẳng giữa các nhóm trong xã hội.   Tuy nhiên, việc liên tục điều tra và dõi theo lựa chọn của một nhóm lớn các hộ gia đình trong khoảng thời gian vài thập kỷ là điều hết sức khó khăn và tốn kém. Bởi vậy, Deaton đã tạo một bước đột phá về thống kê, khi chỉ cần tiến hành những cuộc điều tra ngẫu nhiên, với mức độ thường xuyên vừa phải. Ông đã thiết kế phương pháp lập bảng cho dữ liệu chéo (cross-section data), cho phép tiến hành nghiên cứu hành vi cá nhân qua chuỗi thời gian ngay cả khi không có dữ liệu bảng đầy đủ.   Thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu về nghèo đói và phát triển  Đóng góp thứ ba của Deaton là tiên phong trong việc sử dụng dữ liệu khảo sát các hộ gia đình ở các nước đang phát triển, đặc biệt là dữ liệu về tiêu dùng, nhằm đo lường mức sống và đói nghèo. Theo nhận xét của Ủy ban trao giải Nobel Kinh tế 2015, Deaton đã giúp thay đổi diện mạo kinh tế phát triển, từ một ngành thiên về lý thuyết chuyên sử dụng dữ liệu vĩ mô, trở thành một ngành thiên về thực nghiệm dựa trên dữ liệu kinh tế vi mô chất lượng cao1. Ông cho thấy giá trị của việc sử dụng dữ liệu về mức tiêu dùng để phân tích tình trạng phúc lợi xã hội của người nghèo, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết của các nhà kinh tế khi so sánh mức sống ở những bối cảnh thời gian, địa điểm khác nhau.  Đơn cử như trong thập kỷ 1990, Deaton hợp tác với Shankar Subramanian cùng thẩm định kết quả các cuộc khảo sát thực đơn thường ngày của các hộ gia đình Ấn Độ. Nghiên cứu của hai ông đã chứng minh rằng những gia đình nghèo khổ nhất ở Ấn Độ vẫn hoàn toàn có khả năng kiếm đủ lương thực-thực phẩm cần thiết hằng ngày. Kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ giả thuyết bấy lâu nay trong kinh tế học, rằng suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự nghèo khổ. Kết quả trên cũng mở ra một xu hướng nghiên cứu mới để trả lời câu hỏi: vì sao vẫn có nhiều gia đình nghèo ở trong tình trạng suy dinh dưỡng.  Những công trình công phu của Deaton, cách tiếp cận nghiêm khắc, kỹ lưỡng của ông trong khảo sát và sử dụng dữ liệu giành được sự ngưỡng mộ đặc biệt từ các nhà kinh tế khác. Christina Paxson, từng là đồng tác giả với Deaton trong nhiều nghiên cứu, hiện là Chủ tịch Đại học Brown, nhận xét, các nghiên cứu của Deaton góp phần xác lập “quan điểm rằng nghiên cứu về kinh tế phát triển là công việc có thể được tiến hành một cách nghiêm khắc, ở chuẩn mực rất, rất cao.” 2 Từ MIT, Abhijit Banerjee, nhà tiên phong mới trên lĩnh vực nghiên cứu về đói nghèo, ca ngợi công lao của Deaton trong việc vận dụng sức mạnh của dữ liệu: “Ông đã cho chúng ta thấy rằng những bằng chứng đầy chi tiết, được tập hợp công phu, và trình bày một cách thuyết phục, có thể là liều thuốc mạnh mẽ giúp chống lại những tư duy duy ý chí, định kiến, và lười biếng“3   Những năm gần đây, với tư duy sắc sảo và tâm tư trăn trở dành cho chủ đề chống đói nghèo, Deaton thường xuyên lên tiếng phản đối trợ cấp nước ngoài dành cho các nước đang phát triển. Ông cho rằng trợ cấp nước ngoài làm méo mó các thị trường bản địa, tạo môi trường tham nhũng, và kéo dài sự trì trệ, chậm cải tổ ở các chính quyền.           Các nghiên cứu của Deaton trải trên một diện  rộng, giải quyết nhiều vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, với  nhiều đóng góp ảnh hưởng tới các nhà hoạch định chính sách phát triển ở  các nước đã phát triển cũng như đang phát triển. Thành tựu nghiên cứu  của ông bao gồm từ những lý thuyết sâu sắc, cho tới những đo lường chi  tiết tỉ mỉ nhất. Tinh thần chung là sự kết nối giữa lý thuyết và đo  lường, kết nối dữ liệu vi mô với vĩ mô bằng những phương pháp thống kê  thích hợp. (Trích đánh giá của Ủy ban trao giải Nobel kinh tế 2015)          Chú thích:   1: http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/laureates/2015/advanced-economicsciences2015.pdf  2, 3: http://www.washingtonpost.com/news/wonkblog/wp/2015/10/12/princeton-professor-angus-deaton-wins-nobel-prize-in-economics/            Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba Huân và đột phá trứng gà giàu Omega 3      Ba Huân, doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về  trứng gia cầm, đã tung ra thị trường sản phẩm trứng gà giàu Omega 3. Đây  là sản phẩm được đặt hy vọng đem lại đột phá trên thị trường trứng gia  cầm nội địa.    Để có được dòng sản phẩm này, công ty Ba Huân đã có quá trình chuẩn bị lâu dài về cơ sở vật chất và nhân lực. Ba Huân đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi công nghệ cao tại xã Vĩnh Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Với hệ thống thiết bị chăn nuôi hoàn chỉnh, khép kín, trang trại chăn nuôi của Ba Huân gồm trại gà đẻ trứng thành phẩm, trại gà hậu bị, trại gà giống. Nhằm đảm bảo chất lượng gà thịt và gà đẻ trứng, Ba Huân đề cao công tác vệ sinh chuồng trại, nhập khẩu dây chuyền công nghệ xử lý vi khuẩn hiện đại của nước ngoài.   Kiểm soát chặt chẽ chất lượng gà nuôi, Ba Huân hợp tác với công ty nước ngoài để mua giống ngoại nhập. Trước khi tung gà giống ra thị trường, Ba Huân nuôi thử nghiệm gần hai năm như với trường hợp giống Hy-Line siêu trứng, có thể đẻ 350/trứng/con nhưng lại tiêu thụ lượng thức ăn thấp hơn so với các giống gà đẻ thương phẩm hiện nay.  Bên cạnh đó, Ba Huân còn xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi nhằm cung ứng giống và thức ăn chăn nuôi phục vụ cho chính trang trại Ba Huân cũng như bà con nông dân.   Quá trình kiểm soát chất lượng trứng được thực hiện chặt chẽ với dây chuyền công nghệ hiện đại. Trước khi thành trứng thành phẩm, trứng được sàng lọc và được đưa vào dây chuyền xử lý diệt khuẩn đạt 99,9% bằng thiết bị – công nghệ Châu Âu (Moba), rồi sang công đoạn soi để phát hiện, loại trứng kém chất lượng như hỏng, vỏ nứt và phủ dầu ngăn khuẩn. Trước khi đóng hộp, trứng được in số hiệu để người tiêu dùng có thể dễ dàng truy xuất nguồn gốc và thời gian sản xuất.   Để phong phú sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, bộ phận R&D của Ba Huân đã nghiên cứu sản phẩm trứng gà giàu Omega 3 từ năm 2013. Đây là một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm trải qua nhiều công đoạn chặt chẽ từ khâu sản xuất thành phầm (chăn nuôi, quản lý sản xuất thức ăn chăn nuôi, quản lý con giống đạt chuẩn), kiểm định mẫu trứng qua công ty Sắc ký Hải Đăng.    Theo quá trình này, gà đẻ trứng Omega 3 được chăm sóc trong môi trường thuận lợi, cám được nghiên cứu theo công thức riêng biệt giúp hàm lượng Omega trong trứng gấp từ năm đến sáu lần gà công nghiệp, gấp ba lần trứng gà thả vườn. Thức ăn còn có nhiều loại hạt chứa tinh dầu và đặc biệt là có tảo biển, đồng thời được bổ sung dầu cá.  Kết quả phân tích sản phẩm trứng gà Omega-3 của trứng gà Omega khá khả quan với hàm lượng Omega-3 đạt tới 250mg, trong đó DHA có đến 90mg. Ngoài ra, các chỉ số về vitamin A, B1, B12, protein cũng tăng đáng kể. Khi trứng đạt hàm lượng Omega 3 đạt mức cao gấp 5 lần, lượng DHA cao gấp 3 lần quả trứng thường một cách ổn định thì Ba Huân mới quyết định sản xuất hàng loạt để tung ra thị trường vào tháng 10-2014.   Bà Phạm Thị Huân, Giám đốc Công ty TNHH Ba Huân cho biết, trong tương lai gần, Ba Huân sẽ có thêm nhiều dòng sản phẩm đọc đáo nữa để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Việt Nam.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba tổ chức Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về đổi mới sáng tạo năm 2020 ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á      Trong danh sách các tổ chức dẫn đầu về đổi mới sáng tạo năm 2020 trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á của công ty dữ liệu Clarivate, Việt Nam có ba đại diện, gồm Trường Đại học KHTN (ĐHQGHN), Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Tập đoàn Viettel.      Phòng thí nghiệm Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam). Ảnh: Viện CNSH  Clarivate, công ty dẫn đầu toàn cầu trong việc cung cấp thông tin và phân tích đáng tin cậy để thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, đã công bố những đơn vị đoạt giải thưởng Đổi mới sáng tạo hằng năm của khu vực Nam Á và Đông Nam Á tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo – được tổ chức vào ngày 18 và 19 tháng 11 vừa qua. Diễn đàn quy tụ những người đứng đầu các tổ chức học thuật, chính phủ và doanh nghiệp trên toàn khu vực, nhằm chia sẻ các sáng kiến chuyển đổi, giải pháp thúc đẩy tốc độ đổi mới.   Giải thưởng được trao dựa trên những tiêu chí như số lượng bằng sáng chế, số lượng trích dẫn, thành công của bằng sáng chế và mức độ toàn cầu hóa – sử dụng dữ liệu về bằng sáng chế từ Derwent World Patents Index (DWPI) và Derwent Patent Citations Index (DPCI). Theo đó, Clarivate đã công bố danh sách 235 trường đại học, cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Từ danh sách này, BTC tiếp tục chọn ra 28 đơn vị đứng đầu thuộc ba khối – Tổ chức học thuật, Tổ chức nghiên cứu thuộc chính phủ, Tập đoàn – để trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo 2020.   Trong số 28 đơn vị thuộc danh sách rút gọn, Việt Nam có ba đại diện góp mặt, bao gồm: Trường Đại học KHTN, ĐHQGHN (Tổ chức học thuật), Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (Tổ chức nghiên cứu thuộc chính phủ) và Tập đoàn Viettel (Tập đoàn).   Jeff Roy, Chủ tịch IP Group, Clarivate, cho biết: “Chúng tôi vô cùng vui mừng khi một lần nữa có thể cung cấp một nền tảng giúp các nhà lãnh đạo và chuyên gia trong khu vực cùng nhau khám phá, trao đổi ý tưởng, thúc đẩy sự hợp tác và chất lượng của nghiên cứu. Tại Clarivate, chúng tôi cam kết bảo vệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Các nhà đổi mới của những trường đại học, cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ và doanh nghiệp sẽ tiếp tục lan tỏa tinh thần sáng tạo và mang đến những tác động tích cực trong các lĩnh vực như công nghệ, xã hội và kinh tế.”   Clarivate là công ty chuyên cung cấp các dữ liệu, thông tin quan trọng, giải pháp, quy trình làm việc và các kiến thức chuyên môn về tên miền cho các nhà đổi mới sáng tạo trên khắp thế giới. Clarivate làm việc với các trường đại học, tổ chức phi lợi nhuận, quỹ tài trợ, nhà xuất bản, tập đoàn, tổ chức chính phủ và công ty luật. Họ tập trung vào một số lĩnh vực như nghiên cứu kha học, các tiêu chuẩn về bằng sáng chế, dược phẩm và công nghệ sinh học, nhãn hiệu, tên miền và bảo vệ thương hiệu.             Author                Anh Thư        
__label__tiasang Bắc Giang sản xuất chế phẩm xử lý rơm rạ      Không chỉ góp phần làm giảm ô nhiễm môi  trường như mục tiêu đề ra, dự án “Sản xuất chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý  rơm rạ làm phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp góp phần giảm thiểu  ô nhiễm môi trường nông thôn tại tỉnh Bắc Giang” còn đem lại những hiệu  quả rõ rệt khác như giảm giá thành sản xuất, góp phần thực hiện sản  xuất sạch, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.     Th.s Nguyễn Thị Hoài Phương (Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Sở KH&CN Bắc Giang) làm chủ nhiệm dự án. Kinh phí thực hiện dự án gần 2,2 tỷ đồng, trong đó bao gồm kinh phí sự nghiệp KHCN, kinh phí đối ứng của cơ quan chủ trì và đối ứng của nhân dân.   Khi thiết lập đề án, những người thực hiện đặt mục tiêu tiếp nhận công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR; Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR phù hợp với điều kiện sản xuất tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Bắc Giang; Hình thành cơ sở sản xuât chế phẩm sinh học fito-Biomix RR xử lý rơm rạ quy mô 10.000 kg/năm, từng bước đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong tỉnh; Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ sau thu hoạch thành phân hữu cơ.  Trong quá trình trao đổi với đơn vị đối tác là Công ty cổ phần Công nghệ sinh học, chị Phương đã tìm hiểu về chế phẩm Fito-Biomix RR, hỗn hợp vi sinh vật xử lý rơm, rạ do công ty nghiên cứu ra. Hỗn hợp này bao gồm các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật kháng bệnh cho cây trồng có mật độ ≥ 106 CFU/g, các nguyên tố khoáng, vi lượng; có tác dụng: bổ sung các chủng giống vi sinh vật phân giải hữu cơ có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp.   Theo quy trình kỹ thuật, chế phẩm Fito-Biomix RR được phun lên rơm rạ đã được chuẩn bị sẵn với yêu cầu khá chặt chẽ, đồng thời bổ sung thêm phân NPK và phân chuồng. Quá trình ủ diễn ra trong vòng rơm ạ cần đảm bảo nhiệt độ ổn định ở mức 45-50 độ C, Mỗi mẻ ủ rơm rạ cần 25 đến 30 ngày.  Thực hiện đúng cam kết, Công ty cổ phần Công nghệ sinh học đã xây dựng và hoàn thiện sáu quy trình kỹ thuật gồm: Quy trình nhân giống vi sinh vật; Quy trình bảo quản lưu giữ giống vi sinh vật; Quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR; Quy trình giám sát, đánh giá chất lượng chế phẩm; Quy trình sử dụng các thiết bị, máy móc chuyên dùng sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR; Quy trình công nghệ sử dụng chế phẩm sinh học Biomix xử lý rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ.  Để tiếp nhận quy trình công nghệ và chủ động sản xuất chế phẩm Fito-Biomix RR ngay tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm đã mua sắm, lắp đặt hệ thống thiết bị sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR. Hệ thống sản xuất của Trung tâm này có thể đạt công suất 10.000kg/năm nhưng bước đầu, 600kg chế phẩm Fito-Biomix RR đã được phục vụ cho công tác thử nghiệm.   Không chỉ có vậy, Trung tâm còn cùng với đơn vị chuyển giao công nghệ tổ chức 10 lớp tập huấn quy trình ứng dụng chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân hữu cho 600 lượt người dân tham gia tại 10 xã triển khai dự án. Qua các lớp tập huấn, đã phổ biến kiến thức cho người nông dân về quy trình kỹ thuật xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ. Các hộ tham gia dự án đã thực hiện đúng quy trình kỹ thuật được chuyển giao hướng dẫn.  Song song với đó, Trung tâm đã phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Giang lựa chọn các địa điểm triển khai mô hình ứng dụng chế phẩm Fito-Biomix RR trên cánh đồng trồng lúa và rau tại 12 xã của bốn  huyện, thành phố: Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên và thành phố Bắc Giang.. Kể từ khi thực hiện dự án từ năm 2013 đến năm 2014, Trung tâm đã thu gom và xử lý được 3000 tấn rơm rạ để xử lý, cung cấp lượng phân bón cho 60 ha lúa trong vụ xuân và vụ mùa.   Sau khi được bón phân hữu cơ từ rơm rạ, cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh, đat năng suất trung bình 205kg/sào, tăng thêm so với mô hình không bón phân hữu cơ từ rơm rạ 12%. Phân hữu cơ từ rơm rạ giúp cải tạo đất, bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây trồng, tăng hàm lượng mùn, hàm lượng hữu cơ, tăng dung tích trao đổi cation (CEC), duy trì ổn định hàm lượng các vi sinh vật có ích trong đất.  Những hiệu quả từ dự án “Sản xuất chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn tại tỉnh Bắc Giang” hứa hẹn đem lại cho nông dân Bắc Giang những vụ mùa bội thu, gia tăng thu nhập mà vẫn góp phần bảo vệ môi trường.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắc Giang thu gần ba nghìn tỷ đồng từ vải thiều      Năm 2015, vải thiều đem lại cho tỉnh Bắc Giang khoảng 2.900 tỷ đồng, cao nhất trong vòng năm năm trở lại đây, chưa kể hơn 1.700 tỷ đồng từ các dịch vụ phụ trợ khác.    Ngày 14/8/2015, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức Hội nghị tổng kết công tác sản xuất và tiêu thụ vải thiều năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016.  Báo cáo tại Hội nghị, Phó Giám đốc Sở Công thương Bắc Giang Phan Văn Hùng cho biết, năm 2015 được đánh giá là năm vải thiều bán được giá cao nhất trong năm năm trở lại đây. Giá bán thấp nhất 5.000 đ – 7.000 đ/kg; thời điểm cao nhất hơn 30.000 đ/kg; đến cuối vụ giá giao động 8.000 đ – 18.000 đ/kg. Giá trung bình của toàn tỉnh là 15.000 đ/kg, tăng hơn 3.000 đ/kg so với năm 2014. Tổng giá trị vải thiều toàn tỉnh đạt khoảng 2.900 tỷ đồng và từ các dịch vụ phụ trợ khác đạt hơn 1.700 tỷ đồng.  Lượng vải thiều tiêu thụ thị trường nội địa là 107.000 tấn, chiếm 55% tổng sản lượng; trong đó, tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố phía Nam là 64.000 tấn, chiếm 60% thị trường nội địa. “Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu truyền thống. Tổng sản lượng vải thiều xuất khẩu qua ba cửa khẩu: Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang là 82.000 tấn, chiếm khoảng 93% tổng sản lượng vải thiều xuất khẩu của toàn tỉnh. Năm nay, vải thiều tươi của Bắc Giang lần đầu tiên đã được xuất khẩu sang thị trường mới: Mỹ, Úc, Pháp, Anh, Malaysia…” ông Hùng cho biết.  Để đạt được những thành tựu trên, theo ông Hùng, tỉnh đã triển khai các hội nghị, hội thảo giúp các doanh nghiệp lựa chọn công nghệ bảo quản phù hợp cho chế biến xuất khẩu vải thiều; tổ chức hội thảo ứng dụng công nghệ canh tác tiên tiến trong sản xuất và dây chuyền xử lý không xông SO2 bằng công nghệ Israel; phối hợp với các ban ngành duy trì phát triển nhãn hiệu tập thể đối với sản phẩm Vải sớm Phúc Hòa, chỉ dẫn địa lý Vải thiều Lục Ngạn,…  Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh bày tỏ vui mừng về những thành công của Bắc Giang trong vụ vải năm 2015, đặc biệt là việc nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chế biến, sử dụng công nghệ bảo quản phù hợp để nâng cao chất lượng quả vải cũng như bảo hộ sản phẩm cho xuất khẩu.    Thứ trưởng cho biết, Bộ sẽ sớm phê duyệt đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp quốc gia về nghiên cứu ứng dụng công nghệ của công ty Jural (Israel) bảo quản tươi quả vài và một số loại quả khác phục vụ xuất khẩu tại Bắc Giang và sẽ hỗ trợ tỉnh Bắc Giang công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trong việc trồng vải thiều tại huyện Lục Ngạn. Bên cạnh đó, Bộ KH&CN cũng đã tiến hành nâng cấp hệ thống chiếu xạ tại Hà Nội, đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ và Châu Âu; bắt đầu từ năm 2016, các doanh nghiệp xuất khẩu vải có thể triển khai chiếu xạ tại Hà Nội thay vì phải vào Nam chiếu xạ như trước…  Cũng tại Hội nghị, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Dương Văn Thái nhấn mạnh, từ kết quả vụ vải thiều năm 2015, tỉnh Bắc Giang tiếp tục chỉ đạo mở rộng phát triển sản xuất vải thiều theo các tiêu chuẩn VietGap và GlobalGap; ứng dụng các công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, của Israel để xuất khẩu vải thiều đến các thị trường mới, tiềm năng như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Úc, EU, Đông Âu; tăng thị phần tiêu thụ thị trường nội địa; giữ vững thị trường truyền thống; chú trọng xuất khẩu vải thiều chế biến có giá trị cao,…        Tổng diện tích vải thiều toàn tỉnh Bắc Giang  đạt trên 31.000 ha; sản lượng đạt 195.000 tấn quả tươi. Huyện có sản lượng vải thiều nhiều nhất là Lục Ngạn đạt  118.000 tấn, Yên Thế – 15.100 tấn, Lạng Giang – 8.300 tấn, Tân Yên – 8.000  tấn, Sơn Động – 5.700 tấn, các huyên khác trong tỉnh đạt gần 10.000 tấn.  Trong đó, diện tích vải thiều sớm đạt 6.000 ha, cho sản lượng 26.700  tấn, chiếm 13,6%; vải thiều chính vụ 25.300 ha, cho sản lượng 168.300  tấn. Vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap đạt 80.000 tấn. Đặc  biệt, tỉnh đã chỉ đạo đưa 100 ha vải thiều vào sản xuất theo tiêu chuẩn  GlobalGap cho sản lượng 600 tấn để xuất khẩu sang các thị trường mới.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắc Kinh khuyến khích sinh viên khởi nghiệp      Hiện nay, các sinh viên mới ra trường và khởi nghiệp đang được giới truyền thông nhà nước ca ngợi là tầng lớp sáng tạo mới, góp phần xây dựng lên Thung lũng Silicon của Trung Quốc.      Đang làm lễ tân thì bỏ việc để gia nhập vào một nhóm nhạc rock, xăm trổ tay và liều lĩnh tham gia vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm trên thương trường – với tất cả những điều này, nếu vào thời điểm trước đây có lẽ Ding Jia đã bị “gắn mác” là kẻ nổi loạn ở Trung Quốc. Nhưng giờ đây, cô có thể được nhà nước tuyên dương là người “sáng tạo”.  Ngồi trong quầy bar nhỏ của mình trên một con phố thời thượng ở Thượng Hải, cô gái 31 tuổi Ding chia sẻ: “Tôi chưa có lấy một công việc chính thức nào trong suốt mấy năm nay.”  Cô không có gì để phải hối hận, nhưng cô cũng không ôm ấp ảo tưởng gì.  “Kinh doanh là chuyện rất vất vả, lợi nhuận có thể rất thấp”, cô tâm sự.  Thời gian vừa qua, cô và hàng chục chủ cửa hàng xung quanh bị buộc phải đóng cửa tạm thời do các quan chức thành phố thực hiện chuyến đi thị sát định kỳ để kiểm tra tình hình thực thi các quy định của thành phố.  Phần lớn các bậc phụ huynh ở đây đều thích con cái làm trong nhà nước hoặc các doanh nghiệp quốc doanh; họ thường khuyên ngăn con đừng làm riêng vì công việc này nhiều rủi ro mà thành quả lại chẳng đáng là bao. Tuy nhiên, bố mẹ Ding (mẹ cô làm y tá, bố là tài xế taxi) lại rất ủng hộ con.  Thái độ ủng hộ này của họ đã tìm được tiếng đồng vọng ở chính quyền cấp cao. Hiện nay, các sinh viên mới ra trường và khởi nghiệp đang được giới truyền thông nhà nước ca ngợi là tầng lớp sáng tạo mới, góp phần xây dựng lên Thung lũng Silicon của Trung Quốc.  “Những người sáng tạo là những người thể hiện tinh thần mạo hiểm và đổi mới, và chính sự sáng tạo đó sẽ là động cơ bền bỉ thúc đẩy sức phát triển kinh tế của Trung Quốc”, Thủ tướng Lý Khắc Cường nói hồi đầu năm 2015. “Tôi sẽ đưa thêm củi vào ngọn lửa đổi mới này.”  Bên cạnh những lời động viên về mặt tinh thần, nhiều sinh viên khởi nghiệp đã và đang nhận được những sự hỗ trợ thực tế từ chính quyền địa phương và các trường đại học, như các khóa đào tạo, các khoản trợ cấp, các văn phòng miễn phí sử dụng cùng nhiều hình thức hỗ trợ khác.  Những người lạc quan hy vọng rằng những Jack Ma hay Mark Zuckerberg mới sẽ ra đời từ đây, song những người hoài nghi cho rằng chính sách này sẽ mang đến thất bại cho những thanh niên thiếu kinh nghiệm.  Mục tiêu ở đây là giúp chuyển nền kinh tế nhà xưởng của Trung Quốc sang nền kinh tế tri thức, đồng thời giải quyết tình trạng thất nghiệp cho sinh viên. Hầu hết các nhà tuyển dụng tư nhân đều không có nhu cầu sử dụng các tân cử nhân mới tốt nghiệp các trường đại học đông đúc trong nước – điều này khiến các sinh viên sau khi ra trường chỉ kiếm được những công việc có mức thu nhập còn thấp hơn cả công nhân có tay nghề trong các nhà máy hay công nhân xây dựng.  Theo một nghiên cứu của Trường Đại học Bắc Kinh, mức lương khởi điểm bình quân ở Thượng Hải hiện chỉ đứng ở mức 3.241 Nhân dân tệ (khoảng 511 USD) – đây quả là một con số nhỏ bé trong một thành phố thuộc Top 10 thị trường bất động sản đắt đỏ nhất thế giới.  Các nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy 20-30% sinh viên hiện nay có mong muốn khởi nghiệp. Tuy số lượng sinh viên đã tăng tới mức kỷ lục vào năm ngoái song số lượng sinh viên tìm việc trong thị trường công việc truyền thống đang bắt đầu có dấu hiệu giảm xuống.  Doanh nhân theo quota    Những người hoài nghi cho rằng việc khuyến khích sinh viên khởi nghiệp hiện nay ở Trung Quốc chủ yếu chỉ nhằm giúp các cơ quan nhà nước đạt được chỉ tiêu đã đề ra trong khi lại gây bất ổn chính trị trong những sinh viên bất mãn.  Nhưng ngược lại, một doanh nhân vừa được tính là người đã có công ăn việc làm lại vừa được tính là một doanh nghiệp mới đăng ký hoạt động.  Parker Liu, COO của một startup công nghệ di động tại Bắc Kinh, bắt tay vào xây dựng các công ty khởi nghiệp từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường. Anh cho biết các quan chức trong quận thường tới dự các sự kiện doanh nhân để tìm kiếm startup và ngỏ lời đỡ đầu cho họ với hy vọng rằng họ sẽ đăng ký kinh doanh tại địa bàn của mình.  Liu cho biết anh đã nhận được những khoản tiền trợ cấp nhỏ từ chính quyền các quận và cũng giới thiệu các quan chức này cho các startup khác, song anh vẫn hoài nghi về lợi ích mà các doanh nhân có thể đạt được.  Anh nói: “Vấn đề ở đây là tiền bạc không đi kèm với kiến thức. Các quan chức chính phủ này không biết gì về doanh nhân hay startup nhưng họ hiểu rõ về chính trị. Họ bị áp quota.”  Theo Liu, sự hỗ trợ này của chính quyền cũng khích lệ nhiều người tham gia vào những khu vực có rào cản thị trường thấp như thương mại điện tử, trò chơi di động, và giáo dục dự bị đại học.  “Lợi nhuận ở những lĩnh vực này rất thấp nên không giúp ích gì nhiều cho thị trường lao động,” Geoffrey Crothall, giám đốc truyền thông tại tổ chức phi chính phủ China Labour Bulletin, cho biết. “Bản thân các doanh nhân cũng rất chật vật để kiếm sống nên mức lương mà họ có thể trả được cho nhân công cũng thấp theo.”  Tuy không có dữ liệu chính thức song tỉ lệ khởi nghiệp thất bại dường như là rất cao.  Cui Ernan, chuyên gia phân tích lao động của công ty nghiên cứu Dragonomics, cho biết: “Kỹ năng quản lý của các sinh viên rất kém. Trong số những doanh nghiệp do sinh viên quản lý mà tôi quan sát được, chỉ có một số ít là thành công.”  Cộng đồng mơ ước    Công viên Sinh viên Khởi nghiệp ở phía bắc Thượng Hải được xây dựng làm lò ươm doanh nghiệp cho các sinh viên muốn khởi nghiệp. Khu vực sinh hoạt chung được trang trí bằng những khẩu hiệu đầy khích lệ tinh thần về sáng tạo; bên ngoài là một tấm biển ghi “Cộng đồng mơ ước”.  Một số người đã biến ước mơ của mình thành những thành công khiêm tốn.  Nhờ được miễn phí tiền thuê văn phòng, dịch vụ kế toán và dịch vụ internet nên Jiang Gongbao đã có thể thành lập công ty marketing Long Ai tồn tại đủ lâu để có thể tuyền dụng một vài nhân viên.  Jiang cho biết anh hiểu rõ những rủi ro khi khởi nghiệp, song anh coi đó là những cơ hội học hỏi.  “Thất bại không phải là điều tồi tệ, bởi quá trình xây dựng một doanh nghiệp lúc nào cũng là điều có ý nghĩa”, anh nói.  Zhu Jiang, phó tổng quản lý vườn ươm này, đã và đang hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nhân hoạt động tại đây. Tuy vậy, anh không phải là người “truyền giáo”.  “Tôi không khuyến khích tất cả các sinh viên đều khởi nghiệp. Để trở thành một doanh nhân thành đạt đòi hỏi những phẩm chất mà không phải ai cũng có được.”  Nhiều nhà đầu tư mạo hiểm tỏ ra nghi ngờ vai trò của các vườn ươm doanh nghiệp, bởi các quan chức trong bộ máy chính quyền Trung Quốc có ít hoặc không hề có kinh nghiệm điều hành các công ty tư nhân, vì thế họ cũng không có đủ kỹ năng cần thiết khi đánh giá các kế hoạch kinh doanh.  Gary Rieschel, nhà sáng lập quỹ đầu tư mạo hiểm Qiming Ventures từng đầu tư vào nhiều startup thành công của Trung Quốc như Alibaba, nêu ý kiến: “Tôi nghĩ đây không phải là cách làm đúng đắn.”  William Bao Bean, một nhà đầu tư mạo hiểm khác của Trung Quốc chuyên hỗ trợ các startup công nghệ Trung Quốc, nói: “Trường đại học không phải là nơi lý tưởng để học khởi nghiệp.”  Theo giới phê bình, việc cần làm lúc này là dỡ bỏ những rào cản chính sách đang gây khó dễ cho khu vực tư nhân, chẳng hạn như những yếu kém trong hỗ trợ pháp lý cho các ý tưởng mới, những hạn chế khi tiếp cận nguồn vốn, và ma trận các quy định đang tiếp tay để các quan chức nhà nước “vòi vĩnh” doanh nghiệp nhỏ.  Trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên báo Reuters tại Thượng Hải, Robert Zoellick, cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, nêu ý kiến: “Một số nước mắc sai lầm khi chỉ chú trọng vào một số ngành công nghệ và ưu tiên một số doanh nghiệp. Việc đầu tiên cần làm ở đây là phải tạo ra được một sân chơi bằng phẳng. Cần phải có luật lệ và chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có hiệu quả. Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đang cố gắng thực hiện điều đó.”    Ngọc Khánh dịch từ     http://www.reuters.com/article/2015/10/19/china-entrepreneurs-insight-pix-graphic-idUSL3N12J19D20151019            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bác sĩ bỏ túi      Chi phí chăm sóc sức khỏe, thời gian chờ đợi và sự chênh lệch về chất lượng các loại dịch vụ luôn làm các bệnh nhân trên toàn thế giới đau đầu. Nhưng giờ đây với công nghệ hiện đại, các bệnh nhân có thể tiếp cận với các bác sĩ đa khoa dễ dàng hơn.       Ở Anh, nơi mà bạn có thể phải chở đến 2 tuần để đặt được lịch khám với bác sĩ đa khoa, dịch vụ chăm sóc sức khỏe luôn là một vấn đề nóng.  Tháng Tư vừa rồi, bác sĩ Ali Parsa đã tung ra ứng dụng chăm sóc sức khỏe Babylon. Người sử dụng sẽ có thể tiếp cận các bác sĩ đa khoa 12 giờ/ngày và 6 ngày/tuần. Họ có thể gửi ảnh hoặc nói chuyện qua video trực tuyến với các bác sĩ hoặc y tá.   Các bác sĩ sau đó sẽ gửi đơn thuốc đến nhà thuốc gần nơi bệnh nhân ở nhất nếu cần, hoặc đề nghị khách hàng đến bệnh viện khám trực tiếp, hoặc khuyên họ đến gặp một bác sĩ chuyên khoa.   Bác sĩ Parsa cho biết, thường khoảng 95% trường hợp không cần đến bệnh viện. Mọi người thật sự chỉ muốn được nói chuyện với bác sĩ và được chuẩn đoán. Hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện tại của chúng ta rất bất tiện và tốn kém.   Trong khi đó điện thoại lại có tính năng rất lớn. Vậy tại sao chúng ta không cho tất cả những dịch vụ y tế mà mọi người cần vào điện thoại?  Khoảng 70% dân số thế giới không được tiếp cận với các dịch vụ y tế, bởi vậy có rất nhiều trường hợp chết vì những nhiễm trùng đơn giản. Trong khi đó, họ đều có điện thoại.   Người sử dụng có thể đánh giá các bác sĩ sau mỗi buổi tư vấn trực tuyến – và những bác sĩ thường xuyên bị xếp hạng kém sẽ bị hệ thống của Babylon loại bỏ. Nhờ có các nhân viên hành chính lo các giấy tờ thủ tục, các bác sĩ đa khoa có thể tập trung chữa trị cho bệnh nhân từ nhà của mình.  Bác sĩ Parsa cho biết, ứng dụng Babylon đã phát triển chóng mặt kể từ khi được tung ra thị trường cách đây năm tháng. Hiện tại họ đang có kế hoạch đưa ứng dụng này ra toàn thế giới một cách nhanh nhất, tập trung vào vùng Trung Đông và Châu Phi.    PV dịch từ BBC.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bác sĩ Ludwig Guttmann: Người khởi xướng Paralympic      Không chỉ nổi tiếng vì là người tạo ra cuộc cách mạng trong việc điều trị chứng liệt nửa người, nhà thần kinh học Do Thái Ludwig Guttmann còn được biết đến với tư cách là người khởi xướng Paralympic – thế vận hội dành cho người khuyết tật.      Ludwig Guttmann tại lễ khai mạc Paralympic ở Tokyo vào năm 1964. Ảnh: United Archives / imago images     Guttmann sinh ngày 3 tháng 7 năm 1899 tại thị trấn Tost (Toszek) của Silesia, là con đầu lòng của nhà sản xuất rượu mạnh Bernhard Guttmann và vợ là Dorothea. Ngay sau khi ông ra đời, gia đình đã chuyển đến Königshütte (Chorzów).  Năm 1917, không lâu trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Ludwig tốt nghiệp trung học và trở thành y tá phụ trong bệnh viện chuyên điều trị cho thương binh. Trong thời gian làm việc tại nơi đây, anh đã phải chứng kiến rất nhiều cảnh đau thương, và trong đó cảnh tượng một người lính trẻ bị liệt phải chết trong đau đớn đã ám ảnh anh suốt cả cuộc đời.     Một năm sau, chàng trai trẻ Guttmann bắt đầu học y khoa ở Breslau (Wrozław), rồi trở lại Freiburg và Würzburg, anh nhận bằng tiến sĩ vào năm 1923. Cha mẹ anh lúc này đang lâm vào cảnh túng thiếu: Do xung đột Đức-Ba Lan ở Thượng Silesia, họ phải chuyển đến Breslau và buộc lòng bán đi nhà máy rượu mạnh – khi cuộc lạm phát xảy đến, số tiền mà họ tích góp được đã trở thành thứ vô giá trị.      Bóng ma của Đức Quốc xã     Sau khi kết hôn, Guttmann quyết định làm việc tại Khoa thần kinh thuộc bệnh viện Wenzel-Hancke ở Breslau. Trong thâm tâm, Guttmann muốn trở thành một bác sĩ nhi khoa, nhưng ông không thể tìm được một vị trí thích hợp. Vì vậy, ông đành theo học thầy Foerster – chủ nhiệm Khoa thần kinh – trong ba năm.     Sau đó ông trở thành bác sỹ cấp cao tại bệnh viện nhà nước ở Hamburg. Do có thành tích công tác tốt nên Guttmann thăng tiến khá nhanh. Tuy nhiên, đúng lúc đó, ở Breslau – quê hương ông – xảy ra một thảm kịch: Vợ một bác sỹ cấp cao làm việc tại bệnh viện Wenzel-Hancke đã tử vong khi sinh nở, vị bác sỹ này vì quá đau đớn nên đã giết đứa con mới chào đời của mình rồi tự tử. Theo đề nghị của Foerster, bác sỹ Guttmann trở về và đảm nhiệm công việc của người bác sỹ quá cố.     Ngày 1.4.1933 bác sỹ Guttmann bị sa thải, bị cấm hành nghề vì ông là người Do Thái. Bác sỹ Foerster lập tức phản đối, nhưng cuối cùng chính quyền Nazi chỉ cho phép bác sỹ Guttmann tiếp tục hành nghề “cho đến khi tìm được người thay thế thích hợp thuộc dòng giống Aryan thượng đẳng”. Khi ông Foerster khuyên ông nên cắn răng chịu đựng sự sỉ nhục này, Guttmann phản ứng gay gắt và ông từ chối tiếp tục làm việc.      Ngày 10 tháng 5, ông đã tham dự một cuộc mít tinh ở Breslau. Trên đường về nhà, nước mắt ông trào ra. Tuy vậy ông vẫn từ chối lời mời ra nước ngoài làm việc, bởi cho đến lúc đó ông vẫn đinh ninh cơn ác mộng điên rồ này sẽ kết thúc nay mai.     Từ Wroclaw đến Oxford     Thời gian sau đó, Guttmann tiếp quản công việc quản lý một phòng khám đa khoa được thành lập đặc biệt cho ông tại bệnh viện Israelite của thành phố. Là một người Do Thái, ông được phép tiếp tục làm việc ở cơ sở y tế này. Những bệnh nhân không được phép đến khám bệnh ở những cơ sở y tế của các bác sỹ thuộc dòng giống “Aryan” đã đổ về phòng khám của Guttmann. Năm 1934, ông đứng ra vận động thành lập Hiệp hội các bác sỹ Do Thái, và ba năm sau ông trở thành giám đốc y tế của bệnh viện.      Khi giáo đường Do Thái Breslau bị phóng hỏa hồi tháng 11 năm 1938, nhiều người đã chạy đến bệnh viện để van xin sự cứu giúp, Gestapo – lực lượng cảnh sát mật của Đức Quốc xã đã bao vây tòa nhà. Lực lượng này đã bắt đi hai bệnh nhân và hai bác sĩ của Guttmann, sau đó đưa họ đến trại tập trung. Guttmann, dù lo sợ bị trục xuất và bị tống vào trại tập trung, nhưng ông vẫn cực lực phản đối, đấu tranh đòi thả hai người bác sỹ từng làm việc tại bệnh viện. Họ được thả nhưng tinh thần hoàn toàn suy sụp.       Lúc này Guttmann nhận ra rằng ông không thể chờ đến cái ngày mà chủ nghĩa quốc xã cáo chung. Trường Đại học Oxford vẫn còn một suất cho ông, cho dù thời gian đầu tạm thời ông sẽ không được nhận lương. Tháng 3.1939, ông rời Breslau cùng vợ, con gái Eva và con trai Dieter.     Khi cả gia đình đến cảng Harwich, một viên cảnh sát trông thấy hai đứa trẻ 6 và 9 tuổi đang co ro trong tiết trời lạnh giá, bèn mời cả nhà vào phòng chờ cho đỡ lạnh. Bà Else Guttmann lúc bấy giờ xúc động đến trào nước mắt vì đã thoát nạn.     Cống hiến trong việc chữa trị chứng liệt hai chân     Đây là thời điểm đầy khó khăn về mặt tài chính với gia đình nhà Guttmann. Bà Else Guttmann quyết định nhận may vá thuê để kiếm sống qua ngày. Tuy vậy, điều đáng mừng là hai đứa trẻ đã đi học và nói tiếng Anh rất tốt. Bản thân bác sỹ  Ludwig Guttmann đã đảm nhận một vị trí ở trường Đại học và được làm việc với một tập thể tuyệt vời. Vợ ông cũng thành lập Tổ chức Phụ nữ Do Thái Quốc tế và đã phụ trách tổ chức này trong nhiều năm.     Sau đó, Guttmann nhận được lời đề nghị quản lý một phòng khám thần kinh mới ở Stoke Mandeville. Địa điểm ở phía nam nước Anh này đã nổi tiếng trên thế giới: là địa điểm tổ chức Thế vận hội Paralympic. Để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của Đồng minh vào Normandy, bệnh viện trù liệu sẽ phải tiếp nhận một số lượng lớn thương binh năm 1944. Guttmann đã nhận lời trước sự khó hiểu của bạn bè và đồng nghiệp của ông ở Oxford, bởi vì ai cũng biết rất khó để chữa trị cho những bệnh nhân bị liệt, những người mắc bệnh này hầu hết đều chết sớm trong cơn đau đớn.     Ngay lập tức bác sỹ đã thực hiện một loạt thay đổi cơ bản. Ông đã vấp phải sự phản đối của các bác sỹ phẫu thuật khi quyết định bỏ giường thạch cao cũng như khung giường bằng kim loại để tránh vết thương do tì đè. Ông yêu cầu cứ hai tiếng đồng hồ phải xoay, lật bệnh nhân và đổi đệm giường thành vật liệu cao su. Ông cũng hạn chế việc sử dụng rượu cồn để khử trùng.     Lúc đầu nhân viên y tế tỏ ra khó chịu trước các quy định mới. Guttmann thực hiện một chế độ kiểm tra nghiêm ngặt cả ngày lẫn đêm nhằm xem xét mọi người có thực hiện nghiêm túc các quy định mới hay không. Những người thương binh từ mặt trận chuyển tới hài lòng về sự quan tâm, săn sóc và tỏ ra tôn trọng vị bác sỹ chủ nghiệm khoa này.     Ngay từ đầu bác sỹ Guttmann đã chú ý đến hoạt động thể thao ở bệnh viện. Các cuộc thi thể thao được tổ chức để động viên tinh thần thương binh và qua đó giúp quá trình hồi phục tiến triển nhanh và tích cực hơn. Đầu tiên là các cuộc thi mặc quần áo hoặc ai lên được xe lăn nhanh nhất. Nhờ những lời động viên, nhờ thư từ thăm hỏi của người thân và nhờ các hoạt động thể thao đó mà những thương binh bị liệt nửa người không còn mặc cảm là phế nhân. Họ lấy lại niềm tin vào bản thân mình và tích cực chuẩn bị cho một cuộc sống mới.       Khi bác sỹ Guttmann tình cờ thấy nhân viên của mình chơi bóng với người bệnh, ông đã nảy ra ý tưởng đưa môn này vào chương trình tập luyện hằng ngày. Từ đây, bệnh viện của ông xuất hiện các trò chơi như ngồi xe lăn đánh bóng bằng gậy. Về sau, do e ngại việc dùng gậy gộc có thể xảy ra chấn thương, ông chuyển sang tổ chức thi bắn cung, thi bóng lưới và bóng rổ.      Paralympic ra đời       Phóng lao là một trong những môn thể thao đầu tiên được đưa vào chương trình thi đấu của bệnh viện Stoke Mandeville. Ảnh: United Archives / imago images     Năm 1948, lần đầu tiên các bệnh nhân của bác sỹ Guttmann thi bắn cung với thương binh tại các đơn vị khác. Cuộc thi này diễn ra song song với Thế vận hội dành cho người khuyết tật lần thứ nhất diễn ra tại thủ đô London sau chiến tranh. Xét về tầm cỡ, cuộc thi này không thể so sánh với các Paralympic trong tương lai. Nó chỉ có 15 người tham gia, và nhà tổ chức là con gái bác sỹ Guttmann – cô Eva. Cũng từ đây, người ta quyết định sang năm sẽ lại tổ chức một cuộc thi tương tự lần thứ hai. Cuộc thi năm 1949 đã có 60 vận động viên từ 5 bệnh viện tham dự, và đã có thêm môn bóng rổ. Năm sau, bóng lưới được đưa vào danh sách thi đấu và thu hút được 10.000 khán giả đến xem. Ngoài ra cuộc thi còn tổ chức thi bắn cung giữa các cung thủ bị liệt với các cung thủ hàng đấu nước Anh.     Tiếng vang của các cuộc thi đấu này lớn đến mức ngay cả những người khuyết tật là thường dân cũng đăng ký thi đấu. Số lượng các bộ môn cũng ngày càng tăng, lần lượt có thêm nhiều môn được đưa vào tranh tài như đấu kiếm, cử tạ, bida – và bơi lội, sau khi Guttmann thuyết phục được chính phủ Anh xây dựng một hồ bơi có mái che ở Stoke Mandeville.     Năm 1952, các cựu binh Hà Lan cũng tham gia “Thế vận hội Stoke Mandeville quốc tế”. Tiếng vang của sự kiện này đã dẫn đến Thế vận hội Paralympic đầu tiên – diễn ra ở Ý tại địa điểm tổ chức Olympic vào năm 1960.  Giờ đây, sự kiện thể thao toàn cầu này có 22 môn thể thao vào mùa hè và sáu môn vào mùa đông. Năm nay, có khoảng 4.500 vận động viên từ 160 quốc gia tham gia thi tài tại Tokyo.     Năm 1966, Ludwig Guttmann, người bác sĩ từng đoạt giải thưởng vì những cống hiến của ông trong việc điều trị chứng liệt hai chi dưới, và là người khởi xướng cuộc thi thể thao cho người khuyết tật, đã được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ. Người cha đẻ của Paralympic mất ngày 18.03.1980, hưởng thọ 80 tuổi.    Xuân Hoài dịch  Nguồn: Der Arzt, der die Paralympics erfand      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bạch tuộc nhấm nháp con mồi bằng giác hút trên xúc tu      Các protein siêu chuyên biệt giúp bạch tuộc và mực có thể nếm mùi vị các bề mặt bằng giác hút trên xúc tu của chúng — và những protein này được điều chỉnh phù hợp với lối sống của từng loài động vật.    Một con bạch tuộc hai đốm ở California ( Octopus bimaculoides) nhào đến bắt con còng (Leptuca pugilator ), một trong những món ăn yêu thích của nó. Ảnh: Peter Kilian  Bạch tuộc và mực đều sử dụng giác hút trên các chi của chúng để vật lộn và nếm thử mùi vị con mồi của chúng. Hai nghiên cứu mới đây đã mô tả cách những loài động vật này “nếm bằng cách chạm vào” — và cách quá trình tiến hóa đã trang bị cho chúng khả năng cảm nhận hoàn hảo, phù hợp với lối sống của chúng. Hai nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature vào ngày 12/4.  Nghiên cứu trình bày chi tiết cấu trúc của các cơ quan thụ cảm trong giác hút của động vật. Các thụ thể này truyền thông tin, giúp sinh vật nếm các chất hoá học trên bề mặt một cách độc lập, không bị trộn lẫn với vị của những chất trôi nổi trong nước.  Xúc tu chứa nhiều tế bào thần kinh hơn não  Động vật chân đầu – bao gồm bạch tuộc và mực – từ lâu đã mê hoặc các nhà thần kinh học bởi bộ não và hệ thống giác quan của chúng không giống với bất kỳ loài động vật nào khác. Ví dụ, bạch tuộc có nhiều tế bào thần kinh ở xúc tu hơn ở não trung tâm: cấu trúc này khiến mỗi xúc tu hoạt động độc lập như thể nó có bộ não riêng. Và các nhà nghiên cứu từ lâu đã biết rằng hàng trăm giác hút trên mỗi xúc tu có thể vừa cảm nhận vừa nếm được vị của môi trường xung quanh. (Động vật chân đầu là một lớp động vật thân mềm gồm mực ống, bạch tuộc, mực nang và ốc anh vũ. Lớp này bao gồm phần lớn các động vật sống dưới biển với đặc trưng là cơ thể đối xứng, phần đầu nổi bật, và có nhiều xúc tu được phát triển từ chân của các động vật thân mềm nguyên thủy).  Trong quá trình nghiên cứu loài bạch tuộc hai đốm California (Octopus bimaculoides), nhà sinh vật học phân tử Nicholas Bellono tại Đại học Harvard (Cambridge, Massachusetts) và nhóm của ông bắt gặp một cấu trúc đặc biệt trên bề mặt tế bào xúc tu của loài vật này. Bellono nghi ngờ rằng cấu trúc này hoạt động như một cơ quan tiếp nhận chất hóa học trong môi trường của bạch tuộc. Ông quyết định liên hệ với nhà sinh học thần kinh Ryan Hibbs tại Đại học California San Diego, người nghiên cứu các thụ thể có cấu trúc tương tự như cấu trúc của bạch tuộc mà nhóm của Bellono tìm thấy: cả hai loại đều bao gồm năm protein dạng cuống được nhóm lại để tạo thành một ống rỗng.  Khi các nhà nghiên cứu xem xét bộ gen của bạch tuộc, họ đã tìm thấy 26 gen liên quan đến các protein dạng cuống này, các protein này có thể được xáo trộn để tạo ra hàng triệu tổ hợp năm phần riêng biệt giúp phát hiện các vị khác nhau. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng các thụ thể của bạch tuộc có xu hướng liên kết với các phân tử “nhờn” không hòa tan trong nước, chứng tỏ chúng được tối ưu hóa để phát hiện hóa chất trên các bề mặt như da cá, đáy biển hoặc trứng của bạch tuộc.  Các tác giả cho rằng việc có nhiều loại phân tử trong các giác hút sẽ giúp bạch tuộc nhanh chóng xác định vị của bề mặt là gì mà không cần phải gửi thông tin này đến não để xử lý.  Các nhà nghiên cứu từ lâu đã biết rằng hàng trăm giác hút trên mỗi xúc tu có thể vừa cảm nhận vừa nếm được vị của môi trường xung quanh. Ảnh: Michal Adamczyk, Dreamstime  Gợi mở những câu hỏi  Trong nghiên cứu thứ hai trên tạp chí Nature, Bellono, Hibbs và các đồng nghiệp của họ đã nghiên cứu cách thức các thụ thể hóa học này phát triển ở động vật chân đầu. Các thụ thể này dường như tiến hóa từ những thụ thể mà nhiều sinh vật khác sử dụng để gửi tín hiệu qua hệ thần kinh.  Các nhà nghiên cứu đã so sánh các thụ thể của bạch tuộc với những thụ thể được tìm thấy trong các giác hút xúc tu của mực pyjama sọc (Sepioloidea lineolata ). Họ phát hiện ra rằng các thụ thể của mực phản ứng với những phân tử tạo ra vị đắng. Điều này chứng tỏ mùi vị đặc biệt này là cơ sở để một con mực đưa ra quyết định chọn lựa con mồi.  Phân tích bộ gen của mực và bạch tuộc cho thấy các thụ thể đã tiến hóa độc lập sau khi tổ tiên của mực và bạch tuộc tách ra từ khoảng 300 triệu năm trước, mỗi loài định hình các đặc tính mới theo thời gian. Chúng có nhu cầu phát triển các loại cơ quan cảm nhận khác nhau tùy theo phương thức săn mồi: mực trôi nổi trong nước, nhìn thấy con mồi và phóng các xúc tu để bắt nó, nghĩa là giác hút của chúng không nếm được cá cho đến khi chúng chạm vào nó. Nhưng đối với bạch tuộc, loài có xu hướng chìm dưới đáy biển và dò dẫm đi tìm con mồi, việc có nhiều giác hút xúc tu nhạy cảm là rất quan trọng.  Bạch tuộc dường như săn mồi bằng xúc giác nhiều hơn là bằng thị giác. Trong một nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học tại Đại học Minnesota đã phát hiện chúng thường thăm dò cua và các con mồi khác hơn là săn đuổi chúng. “Chúng lang thang quanh rạn san hô và suy đoán bằng cách thò xúc tu vào lỗ”, Trevor Wardill, giáo sư sinh thái học tại Đại học Minnesota, người nghiên cứu về tầm nhìn của bạch tuộc và các loài động vật chân đầu khác, cho biết.  Các xúc tu của bạch tuộc “cực kỳ linh hoạt”, ông nói thêm, chúng có khả năng sắp xếp các bước chuyển động một cách đa dạng, tưởng chừng như ngẫu nhiên. Nghiên cứu cho thấy mỗi xúc tu đóng một vai trò cụ thể trong quá trình săn mồi. Song chúng chuyển động quá nhanh, và xoáy nước đã che khuất từng bước chuyển của chúng, khiến mắt thường không thể nhận biết nếu không theo dõi lại bằng camera tốc độ cao.  Các nhà khoa học đã quan sát cách săn mồi của bạch tuộc và phát hiện sinh vật này hầu như luôn sử dụng xúc tu thứ hai tính từ giữa thân để tóm lấy con mồi; và khi cần hỗ trợ, chúng dùng xúc tu gần nhất với xúc tu trên. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng bạch tuộc dùng những chiến thuật khác nhau để săn các con mồi khác nhau: Chúng di chuyển và bắt cua bằng chiến thuật “nhảy dù”; còn với tôm – vốn nhanh nhẹn và nhạy cảm với các chuyển động, chúng sẽ vươn các xúc tu một cách rón rén.  Tại một số quốc gia, bạch tuộc nằm trong danh sách những động vật thực nghiệm cần phải gây mê trước khi giải phẫu mà giải phẫu. Ở Anh, những loài động vật thân mềm như bạch tuộc cũng được coi trọng và bảo vệ bằng pháp luật như những loài động vật có xương sống khác. Nhiều thử nghiệm cho thấy chúng có cả trí nhớ dài hạn và ngắn hạn. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng chúng thực hiện các hành động theo ý thức. Chúng thậm chí có thể tìm đường ra khỏi mê cung, phân biệt các hình khối, bắt chước hành vi của loài khác, học cách chơi trò chơi.  Mỗi nghiên cứu tựa như một mảnh ghép hé lộ về đời sống lý thú của loài sinh vật này. “Thật thú vị khi có thể thu được nhiều thông tin chi tiết nhanh chóng như vậy”, Cliff Ragsdale, nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Chicago, Illinois, nhận định. Ông cho rằng những phát hiện này đặt ra nhiều câu hỏi cần giải đáp, bao gồm cả cách thức các giác hút gửi thông tin đến não của bạch tuộc và cách thức não diễn giải thông tin đó.  Đinh Thư tổng hợp  Nguồn:  How octopuses taste with their arms  Octopuses prefer certain arms when hunting and adjust tactics to prey    Author                .        
__label__tiasang Bài 1: Công nghệ in 3D – Lịch sử và Ứng dụng      Công nghệ sản xuất đắp dần, hay còn gọi là công nghệ in 3D, đã trở nên quan trọng trên thế giới đến mức hầu như mỗi ngày đều có những bài báo khác nhau ca ngợi sự tân tiến của nó. Theo nhiều nhà phân tích khắp nơi trên thế giới, đây cũng chính là “chìa khoá” công nghệ cho tương lai mà bất cứ doanh nghiệp nào, bất cứ ngành công nghiệp sản xuất nào, và bất cứ quốc gia nào đều phải chú ý, để hiểu được tầm quan trọng, các ứng dụng và các cơ hội về sản xuất, kinh tế hay xã hội liên quan.       Lịch sử 30 năm  Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ công nghệ sản xuất đắp dần – quen thuộc nhất là Công nghệ in 3D, bên cạnh những tên khác như Công nghệ tạo mẫu nhanh, Công nghệ chế tạo nhanh và Công nghệ chế tạo trực tiếp. Như vậy, hầu hết các thuật ngữ này đều ra đời dựa trên cơ chế hay tính chất của công nghệ. Thuật ngữ “in 3D” sẽ cho người nghe hình dung về việc sử dụng máy in phun với đầu mực di chuyển trên giấy để tạo ra các sản phẩm hoàn thiện, giống như máy in bình thường hiện nay vẫn hay sử dụng tại văn phòng. Trên thực tế thì công nghệ sản xuất đắp dần cũng có thể hoạt động tương tự như vậy, nhưng nó còn có những quá trình, kĩ thuật tiến bộ hơn. Một cách cụ thể, Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Mỹ (American Society for Testing Materials – ASTM) đã đưa ra một khái niệm rõ ràng về công nghệ đắp dần: “Công nghệ sản xuất đắp dần là một quá trình sử dụng các nguyên liệu để chế tạo nên mô hình 3D, thường là chồng từng lớp nguyên liệu lên nhau, và quá trình này trái ngược với quá trình cắt gọt vẫn thường dùng để chế tạo xưa nay”. Có thể thấy đây là một phương pháp sản xuất hoàn toàn trái ngược so với các phương pháp cắt gọt – hay còn gọi là phương pháp gia công, mài giũa vật liệu nguyên khối – bằng cách loại bỏ hoặc cắt gọt đi một phần vật liệu, nhằm có được sản phẩm cuối cùng. Còn với sản xuất đắp dần, ta có thể coi nó là công nghệ tạo hình như đúc hay ép khuôn, nhưng từ những nguyên liệu riêng lẻ để đắp dần thành sản phẩm cuối cùng.   Công nghệ sản xuất đắp dần ra đời đã được 30 năm nay. Năm 1986, Charles Hull sáng tạo ra một quá trình gọi là Stereolithography – sản xuất vật thể từ nhựa lỏng và làm cứng lại nhờ laser. Sau đó, ông Hull thành lập công ty 3DSystems, một trong những nhà cung cấp công nghệ lớn nhất hiện nay trong lĩnh vực sản xuất đắp dần. Nếu lập biểu thời gian thì chúng ta sẽ thấy công nghệ này phát triển theo một biểu đồ logarit. Từ 1986 đến 2007, trong 20 năm đầu tiên, công nghệ này mới chỉ có các bước đi nhỏ, chậm, đây được gọi là giai đoạn xâm nhập, bước nền cho công nghệ tạo mẫu nhanh. Tuy nhiên đến năm 2009, đã có một sự biến động lớn trên thị trường, nhiều bằng sáng chế về công nghệ này đã hết hạn bảo vệ bản quyền, trong đó có bằng sở hữu FDM. Quá trình Fuse Deposition Modelling (FDM) tạo hình sản phẩm nhờ nấu chảy vật liệu rồi xếp đặt chồng lớp, vốn được sở hữu bởi hãng Stratasys, một trong những đối thủ cạnh tranh hàng đầu trong lĩnh vực. Khi bằng sáng chế về FDM hết giá trị, công nghệ này đã thu hút nhiều nhà sản xuất tham gia. Giá thành sản xuất giảm và FDM trở thành một trong những chìa khóa công nghệ cơ bản của các máy sản xuất đắp dần được tiêu thụ trên thị trường hiện nay. Ngoài ra, đến năm 2014, các bằng sáng chế cho công nghệ Nung kết sử dụng laser (Selective Laser Sintering-SLS) cũng bắt đầu hết hạn, tạo cơ hội cho những sáng chế mới phát triển hơn nữa ngành sản xuất đắp dần, mở đường cho một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp này trong tương lai rất gần.   Năm 2013, ngành công nghệ sản xuất đắp dần trị giá khoảng 3,1 tỷ USD/năm, tăng 35% so với năm 2012. Trong vòng sáu năm tới, tốc độ tăng trưởng trung bình được dự đoán ở mức cao, khoảng 32%/năm và đạt mức 21 tỷ USD vào năm 2020.Trong vòng sáu năm tới, tốc độ tăng trưởng trung bình được dự đoán ở mức cao, khoảng 32%/năm và đạt mức 21 tỷ USD vào năm 2020.         Nguyên lý công nghệ sản xuất đắp dần  Để bắt đầu, ta cần một bản thiết kế vật thể 3D trên phần mềm CAD, một phần mềm quen thuộc hỗ trợ thiết kế trên máy tính. Mô hình của vật thể hoặc được thiết kế trực tiếp trên phần mềm này hoặc được đưa vào phần mềm thông qua việc sử dụng thiết bị quét laser. Sau khi bản thiết kế được hoàn thành, ta cần tạo ra tài liệu STL – Standard Tessellation Language, một dạng tài liệu quen thuộc với công nghệ sản xuất đắp dần. Làm tesselate theo ngôn ngữ Tesselation chuẩn là chia một vật thể thành những đa giác nhỏ hơn, để mô phỏng cho cấu trúc bên ngoài và cả bên trong của vật thể. Đây là phần rất quan trọng trong sản xuất đắp dần. Khi tài liệu đã được hoàn thiện, hệ thống sẽ chia nhỏ thiết kế mẫu thành nhiều lớp khác nhau và chuyển thông tin đến thiết bị sản xuất đắp dần. Sau đó, hệ thống sản xuất đắp dần sẽ tự chế tạo vật thể theo từng lớp một cho đến khi vật thể cần sản xuất được hoàn thiện. Để sản xuất các vật thể, các hệ thống máy in 3D sử dụng kết hợp nhiều công nghệ khác nhau. Các công nghệ này được phân loại dựa vào bản chất vật liệu. In 3D hay sản xuất đắp dần có thể làm việc với vật liệu rắn (nhựa, kim loại, polymer), vật liệu lỏng (nhựa lỏng đông cứng lại nhờ tác động của laser hay ánh sáng điện tử), hay vật liệu dạng bột (bột kim loại, bột gốm kết dính với nhau tạo thành sản phẩm…).  Sau quá trình này thường có thêm một vài khâu hoàn thiện sau sản xuất. Có thể là loại bỏ bụi bẩn hoặc các chất liệu khác bám trên sản phẩm. Ngoài ra, đôi khi chúng ta cần thêm quá trình thêu kết để có thể phủ kín các lỗ hổng trên sản phẩm. Hoặc sử dụng một vài quá trình thẩm thấu để phủ kín sản phẩm bằng các vật liệu khác.     Các công nghệ sử dụng trong sản xuất đắp dần có thể mở ra nhiều cách kết hợp các loại vật liệu, phương pháp nung chảy và kết dính khác nhau. Mỗi công nghệ đều có những ưu – nhược điểm và hiệu quả nhất định theo từng mục đích cụ thể. Trong khi một số công nghệ in 3D chỉ có thể sử dụng một loại vật liệu riêng biệt, một số công nghệ khác lại linh hoạt, có thể làm việc với nhiều loại và dạng vật liệu khác nhau. Gần đây, máy in 3D đã có khả năng sử dụng vật liệu mới như kính, sô-cô-la và ngay cả các tế bào của con người.  Ứng dụng trong sản xuất và đời sống  Công nghiệp sản xuất chế tạo  Tất nhiên, các ngành công nghiệp sản xuất đã trở thành đối tượng sử dụng in 3D nhiều nhất. Lý do chính khiến công nghệ sản xuất đắp dần được sử dụng rộng rãi trong môi trường công nghiệp là do nó cho phép sản xuất các bộ phận với số lượng ít, bộ phận có hình dạng phức tạp, cắt giảm phế liệu, tạo nhanh sản phẩm thử nghiệm, sản xuất theo yêu cầu. Lý do nữa để sử dụng in 3D là giúp giảm độ phức tạp trong quản lý chuỗi cung ứng, cho phép sản xuất các bộ phận tại chỗ thay vì phải sản xuất ở nơi khác mang đến. Vì vậy, in 3D mở ra tiềm năng về lợi thế chi phí sản xuất, cải tiến quy trình và cả sản phẩm cho các nhà cung cấp trong một số trường hợp cụ thể.   Ngoài mục đích thử nghiệm, thiết kế, tạo mẫu và sản xuất một số bộ phận, công cụ lắp ráp đặc biệt, ngành công nghiệp ô tô đã sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất ra những chiếc xe hoàn chỉnh. Trên thực tế, một chiếc xe tên là Urbee đã được sản xuất toàn bộ bằng công nghệ in 3D. Nhà sản xuất chiếc xe này đã tập trung vào việc tăng tối đa số lượng các bộ phận xe được in 3D với mục tiêu chính là tiết kiệm nhiên liệu.  Công nghiệp điện tử cũng là một trong những ngành ứng dụng đầu tiên của in 3D. Máy in 3D đã được sử dụng để chế tạo các bộ phận phức tạp đặc biệt từ các chất liệu khác nhau và đã mở ra một trào lưu mới của ngành công nghiệp này. Bên cạnh đó, in 3D còn hoàn toàn phù hợp với ngành công nghiệp thời trang, nơi mà cá tính đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trang sức và trang phục thiết kế theo yêu cầu cá nhân được sản xuất bằng công nghệ in 3D hiện nay đã trở nên phổ biến trên thế giới.     Ứng dụng in 3D trong công nghiệp – Wohlers Associates, tháng 5, 2014  Một đối tượng nổi bật khác của công nghệ sản xuất đắp dần là ngành hàng không vũ trụ. Con người đã ứng dụng công nghệ sản xuất đắp dần trong việc sản xuất các bộ phận máy bay, đặc biệt là các bộ phận có hình dạng phức tạp. Công nghệ tiên tiến này hữu ích trong sản xuất công cụ, kiểm tra, bảo trì, lắp ráp và hạn chế số lượng hàng tồn kho. Hơn nữa, in 3D cho phép cải tiến hiệu suất, như tiết kiệm nhiên liệu nhờ giảm trọng lượng các bộ phận từ các nguyên liệu tiên tiến hơn.   Tương tự, ngành công nghiệp quốc phòng sử dụng in 3D cho các mục đích sản xuất đặc biệt và tiết kiệm chi phí. Ngoài sản xuất theo yêu cầu phức tạp, sản xuất với số lượng nhỏ, in 3D có lợi thế khác biệt trong sản xuất quốc phòng – đó là sản xuất và thay thế nhanh chóng khi có nhu cầu, và trực tiếp trên chiến trường. Sau việc sử dụng nhựa để sản xuất, máy in kim loại 3D chế tạo súng đã ra đời bởi một công ty con của tập đoàn Stratasys kể trên. Bên cạnh đó, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất một số bộ phận đặc biệt cho tàu vũ trụ. Hơn thế, NASA đã thực hiện việc in ấn này ngay trong không gian vũ trụ.    Trong ngành thực phẩm, máy in 3D đã tạo ra rất nhiều loại thực phẩm khác nhau. Hầu hết các thực phẩm có nguyên liệu là chất lỏng hoặc bột đều có thể in ra bằng máy in 3D, trong đó sô-cô-la và bánh kẹo là những sản phẩm phổ biến hiện nay sử dụng công nghệ này. NASA cũng đã tiến hành in thực phẩm để sử dụng trên vũ trụ. Người ta dự kiến máy in 3D sẽ được áp dụng để sản xuất thịt từ các nguồn nguyên liệu khác nhau với mong muốn trở thành giải pháp cho nhu cầu dinh dưỡng của nhân loại.   Y tế – Chăm sóc sức khỏe   Công nghệ sản xuất đắp dần hay in 3D rất hữu ích trong sản xuất các mô hình sinh học (các mô hình bộ phận con người như xương, răng, tai giả…). Trong ứng dụng này, mô hình điện tử của bộ phận cơ thể con người được dựng bởi các hình ảnh ba chiều hoặc một máy quét 3D. Sau đó, mô hình sinh học được tạo ra từng lớp từng lớp nhờ vào công nghệ sản xuất đắp dần. Trong ngành giải phẫu, mỗi bệnh nhân là một cá thể riêng biệt và duy nhất, mô hình sinh học 3D cho phép bác sỹ thực hiện phẫu thuật thuận lợi hơn do có được sự hiểu biết sâu hơn về cơ thể bệnh nhân và các chẩn đoán được chính xác hơn. Nhờ đó, kế hoạch phẫu thuật được chi tiết hơn, các thử nghiệm, diễn tập phẫu thuật hay hướng dẫn trong ca mổ được đảm bảo về độ chính xác và chất lượng. Công nghệ in 3D còn hỗ trợ các thử nghiệm phương pháp và công nghệ y tế mới, tăng cường nghiên cứu y khoa, giảng dạy và đào tạo đội ngũ y bác sỹ.   Ngoài ra, cũng tương tự như việc tạo mô hình sinh học, công nghệ in 3D còn được dùng để thiết kế và sản xuất các bộ phận cơ thể giúp cho phẫu thuật tái tạo và cấy ghép. Đã có nhiều trường hợp các em bé bị bệnh tim hay mất cánh tay được cấy ghép các bộ phận được in ra nhờ công nghệ 3D, giúp cho cuộc sống của các em được dễ dàng và thuận lợi hơn. Các dụng cụ y tế như máy trợ thính, khung đỡ, mặt nạ, răng giả… đều có thể sản xuất bằng in 3D theo đúng như kích thước, hình dạng, đặc điểm của từng bệnh nhân. Một trong những ứng dụng thú vị nhất của in 3D là chế tạo mô và các cơ quan của con người, mà người ta hay gọi là In sinh học – Bioprinting. Nhờ vào công nghệ này, hệ thống tế bào mô của con người có thể được in theo lớp bằng mực sinh học – mực thu được qua xử lý đặc biệt các tế bào con người và các chất khác. Mặc dù vẫn có một số vấn đề liên quan đến sự ổn định và chức năng cấu trúc trong in sinh học, nhưng những tiến bộ đáng kể đã được ghi nhận với mô người và các cơ quan. In sinh học hứa hẹn những cơ hội quý báu cho phát triển thuốc y tế, phương pháp điều trị thử nghiệm, nghiên cứu y học, chữa lành vết thương, và cả cấy ghép.    Chuỗi cung ứng dược phẩm cũng được thực hiện tốt hơn với in 3D. Trong tương lai, các hiệu thuốc hoặc thậm chí cá nhân có thể tự in các loại thuốc riêng cho mình từ các hợp chất thuốc bằng cách sử dụng máy in 3D. Hệ thống yêu cầu tuỳ biến cho phép kiểm soát và phân phối thuốc chính xác. Điều này giúp giảm các chi phí liên quan và cải thiện đáng kể việc điều trị tùy theo từng cá nhân.   Giáo dục   In 3D cũng có những ứng dụng thiết thực trong giáo dục, đặc biệt liên quan đến các môn học khoa học, công nghệ, kỹ thuật và kỹ năng toán học. Sinh viên có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm trong lớp học và có cơ hội thử nghiệm các ý tưởng, vừa học vừa làm với máy in 3D. Cách làm này làm tăng hứng khởi học tập, làm việc theo nhóm, tương tác trong lớp học cũng như hỗ trợ khả năng sáng tạo, kỹ năng máy tính, và khả năng tư duy ba chiều của sinh viên. Nhờ vào in 3D, sinh viên được tiếp xúc sớm với khái niệm kỹ thuật trước khi được dạy cao hơn, hiểu sâu hơn nội dung của các khóa học kỹ thuật. Đối với giáo viên, các mô hình vật thể 3D tự sản xuất sẽ phù hợp hơn cho mục đích môn học, giúp hình dung được khái niệm hoặc tiến hành thí nghiệm ngay tại lớp. Ở Mỹ hay Trung Quốc, các kế hoạch đưa công nghệ và máy in 3D đến các trường học, ngay cả cho trẻ em và học sinh tiểu học, đã được bắt đầu triển khai.   Kiến trúc và xây dựng   Dù mới chỉ ở giai đoạn đầu tiên nhưng đã có rất nhiều nỗ lực được thực hiện thành công trong việc xây dựng các toà nhà bằng các máy in 3D khổng lồ. Vật liệu phổ biến nhất cho in xây dựng là nhựa, bê tông và cát. Phương pháp in 3D trong xây dựng có thể mang lại những cải tiến đáng kể về chất lượng, tốc độ, chi phí, đặc biệt là trong chi phí lao động, cải thiện tính linh hoạt, đảm bảo an toàn xây dựng và giảm các tác động môi trường. Ý tưởng xây nhà trên mặt trăng bằng in 3D đã xuất hiện tại một số trung tâm nghiên cứu trên thế giới. Công nghệ sản xuất đắp dần hay in 3D cho phép sáng tạo, chỉnh sửa một cách dễ dàng theo ý của khách hàng trong thiết kế kiến trúc và xây dựng thực tế.   Trong gia đình   Với chi phí thấp và sự tiện dụng, máy in 3D sẽ dần trở thành một thiết bị trong gia đình bạn. Máy in 3D để bàn cho phép bạn sản xuất bất cứ thứ gì bạn muốn ngay trong căn nhà riêng của mình, tất nhiên là với kích thước phù hợp với máy in và các nguyên liệu có thể có. Các vật dụng yêu thích như đồ chơi, đồ dùng và đồ vật trang trí là những ứng dụng phổ biến nhất. Nhờ máy in 3D để bàn, mỗi người có thể tự thiết kế và sản xuất vật dụng theo yêu cầu riêng biệt, làm nên cá tính của bản thân. Công nghệ này cũng góp phần làm tăng khả năng và cơ hội sáng tạo của mỗi người. Và hơn thế, in 3D tại gia đình làm giảm bớt các khó khăn trong chuỗi cung ứng truyền thống. Sự xuất hiện của in 3D trực tuyến đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng rộng rãi máy in 3D để bàn. Ở môi trường trực tuyến, mọi người có thể mua và chia sẻ các kiến thức, ý tưởng, thiết kế và các vật thể in 3D. Ví dụ như trang web Thingiverse cho phép mọi người tải về thiết kế in 3D miễn phí trong kho dữ liệu của họ, cũng như cho phép bổ sung những thiết kế riêng của mình vào kho dữ liệu đó. Khác một chút, Shapeways là một chợ in ấn trực tuyến, nơi mọi người có thể mua và bán sản phẩm in 3D, tạo cơ hội kinh doanh từ khả năng in 3D của mỗi người, cũng như tạo điều kiện cho những người không sở hữu máy in 3D có thể tận dụng nguồn tài nguyên của cộng đồng.   Mặc dù có những ứng dụng to lớn trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, công nghệ in 3D cũng đặt ra không ít thách thức cho các nhà kinh doanh, sản xuất và xã hội. Con người có thể dùng công nghệ in 3D để tạo ra các bộ phận, tế bào cơ thể giúp điều trị bệnh tật, nhưng cũng có thể tạo ra súng đạn trái phép hay sản phẩm độc hại. Bên cạnh đó, ưu điểm chế tạo nhanh, tại chỗ của công nghệ sẽ khiến những nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn lao động giá rẻ để sản xuất đồ dùng hằng ngày như quần áo và đồ chơi trẻ em gặp thay đổi lớn. Vì vậy làm sao để quản lý một cách có hiệu quả việc sử dụng công nghệ mới, phát huy các ưu điểm của nó và hạn chế các mặt tiêu cực đến nền kinh tế và xã hội là điều không hề đơn giản.           Lê Lâm (tên đầy đủ Lê Đoàn Thanh Lâm) là Tiến sĩ ngành công nghiệp sinh học-thực phẩm, Trường Kỹ sư khoa học kĩ thuật Toulouse (Pháp); Chứng chỉ khóa đào tạo “3D Opportunity: Additive Manufacturing for Business Leaders”, Đại học Deloitte (Mỹ). Ngoài ra, anh còn là thành viên Ban điều hành Hội khoa học và chuyên gia Việt Nam tại Pháp.              Anh đã từng tham gia hội thảo “3D food printing conference”, Venlo (Hà Lan), tháng 4/2015; và triển lãm “3D Print Show”, London (Anh), tháng 5/2015.          Kỳ tới: Công nghệ in 3D – Tác động và thách thức       Bạn đọc có thể trao đổi thêm với tác giả Lâm Lê theo địa chỉ email: ledoanthanhlam@gmail.com            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 2: Công nghệ in 3D – Tác động và thách thức      Tiếp theo Bài 1 về lịch sử hình thành và các ứng dụng to lớn của công nghệ sản xuất đắp dần hay in 3D đến đời sống, sản xuất, y tế, giáo dục…, trong Bài 2, tác giả Lâm Lê sẽ phân tích chi tiết các tác động về mặt kinh tế, xã hội và khung pháp lý của sự cách tân công nghiệp bằng công nghệ sản xuất hiện đại này.      Tác động về mặt kinh tế-công nghiệp  Giảm thời gian và chi phí  Một nguyên tắc căn bản trong kinh doanh từ bao lâu nay mà ngay những người buôn bán nhỏ lẻ chưa từng qua trường lớp kinh tế đều hiểu, đó là càng sản xuất nhiều thì chi phí trung bình của mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm – hay còn gọi là hiệu ứng kinh tế nhờ quy mô (economy of scale). Đó cũng là một trong những rào cản của những người mới khởi nghiệp, do không thể cạnh tranh về chi phí sản xuất cũng như giá cả với những công ty lớn sản xuất hàng loạt. Những rào cản này từ đâu mà có? Đó là chi phí đầu tư ban đầu cho máy móc sản xuất, nhà xưởng (chi phí cố định)… Khi số lượng sản phẩm làm ra càng nhiều, thì phần chi phí cố định chia ra trung bình trên mỗi đơn vị càng giảm, nhờ đó mà tổng chi phí cho mỗi đơn vị cũng giảm dần theo quy mô. Những công ty lớn, với dây chuyền sản xuất hàng loạt, đưa chi phí sản xuất trung bình giảm đến mức tối thiểu, nhờ đó có thể thống lĩnh thị trường bằng việc mạnh tay giảm giá bán, đánh bật những nhà sản xuất nhỏ lẻ. Tuy nhiên với sự xuất hiện của công nghệ in 3D, đối với nhiều ngành công nghiệp, chi phí đầu tư cho máy móc ban đầu cho mỗi sản phẩm mới có thể trở nên rất nhỏ, thậm chí bằng 0, khiến cho rào cản về quy mô này bị phá vỡ.   Thật vậy, theo nghiên cứu của Đại học Deloitte, đối với việc sản xuất những mặt hàng tiêu dùng từ giày dép đến xe máy, công nghệ in 3D làm giảm thời gian đưa ra thị trường tới 90%. Còn về mặt chi phí cho mẫu thử nghiệm, trong một số trường hợp, có thể giảm từ 2.500 USD xuống chỉ còn 50 USD. Thông tin từ Stratasys, một trong những nhà cung cấp thiết bị sản xuất in 3D lớn nhất, cũng khẳng định thêm những kết quả nghiên cứu của Deloitte. Theo Stratasys, sản xuất đắp bồi có thể giúp giảm chi phí công cụ từ 50 tới 95% và đẩy nhanh thời gian hoàn thành quá trình sản xuất (lead time) từ 30 đến 80%.  Một nghiên cứu khác của Deloitte đối với một mẫu động cơ thử nghiệm trong ngành công nghiệp ô tô, chi phí sản xuất nhờ in 3D là 3.000 USD, thay cho xấp xỉ 500.000 USD bằng công nghệ truyền thống.  Còn trong lĩnh vực y tế? Sử dụng công nghệ in 3D trong sản xuất bộ phận thay thế hàm bằng titan, giúp giảm thời gian phẫu thuật 60 đến 80%. Hay như trường hợp của một bé gái bên Mỹ, gia đình bé chỉ phải trả 50 USD cho chiếc tay giả siêu nhẹ (0,5kg), dễ dàng sử dụng nhờ công nghệ 3D. Bình thường hiện nay, chi phí cho chiếc tay giả tương tự là khoảng 10 nghìn USD, thậm chí có thể lên tới 40 nghìn.  Giảm ưu thế nhờ chuyên môn hóa của công ty lớn   Thêm vào đó, trước đây, các mô hình kinh tế luôn hướng đến một sự chuyên môn hóa nhất định do hạn chế về chi phí ban đầu của mỗi chủng loại sản phẩm. Ví dụ, để làm nên môt chiếc ô tô hoàn chỉnh, nhà sản xuất không thể đầu tư máy móc, nhân công cho việc sản xuất bộ phận khung xe, săm lốp hay bộ phận điều khiển cùng một lúc, mà chỉ có thể tập trung vào một vài phần nhất định và cho thầu lại những bộ phận khác. Những người kinh doanh nhỏ hiếm khi có đủ điều kiện về tài chính cũng như quan hệ thị trường để có thể đảm bảo chuỗi sản xuất tương tự. Công nghệ in 3D, với khả năng cho phép sản xuất nhiều bộ phận khác nhau từ chung một hệ thống máy móc, sẽ thay đổi hoàn toàn sự chênh lệch về tiềm lực giữa hai bộ phận kinh doanh quy mô lớn và sản xuất nhỏ lẻ này. Vì vậy, doanh nghiệp mới và nhỏ có cơ hội cạnh tranh với các công ty truyền thống. Trong tình huống này, có thể lường trước được nhiều phản ứng dữ dội từ các công ty lớn hiện nay đối với sự phát triển công nghệ in 3D.   Giảm hao phí  Ngoài ra, các công ty hiện nay vẫn còn phải đau đầu về việc giảm thiểu hao phí hoặc tận dụng, xử lý nguồn nguyên liệu thừa sau sản xuất. Mối lo này sẽ không còn nữa khi mà công nghệ đắp bồi từng lớp thay cho đẽo gọt từ một khối nguyên liệu lớn có thể khiến giảm thiểu đến 90% nguyên liệu thừa.   Ví dụ trong ngành hàng không và quốc phòng, một trong những ngành có yêu cầu rất ngặt nghèo về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm, đôi khi tỉ lệ hàng phế liệu có thể lên tới 97%. Công nghệ in 3D có thể triệt tiêu hoàn toàn phần hao phí này xuống tới còn 0%. Airbus khi sử dụng công nghệ này sản xuất dòng máy bay A320, đã có thể giảm 64% khối lượng vật liệu máy bay mà không hề ảnh hưởng đến sức mạnh và tính năng.  Với công nghệ in 3D, những rào cản căn bản về mô hình sản xuất nêu trên có thể được khắc phục một cách dễ dàng. Các nhà kinh doanh, nếu muốn tạo ra sự khác biệt hoặc chiếm lĩnh được thị trường, không thể sử dụng lá bài về chi phí và quy mô được nữa, mà bắt buộc phải tập trung vào phát triển những yếu tố khác của sản phẩm, ví dụ như thiết kế, chuỗi cung ứng cũng như dịch vụ hoặc chức năng đi kèm.  Đây có thể coi là là một cuộc cách mạng về mô hình sản xuất. Nhà thiết kế không còn phải bận tâm đến những hạn chế của nguồn nguyên liệu từ xa hoặc của máy móc mà có thể biến mọi ý tưởng độc đáo của mình thành hiện thực trong vài ngày. Các nhà quản lý không còn cần một đội ngũ đông đảo những người ngồi lắp ráp các bộ phận rời với nhau nữa, mà là những người có thể tùy chỉnh từng chi tiết nhỏ nhất của sản phẩm một cách nhanh chóng theo yêu cầu của khách hàng. Những sản phẩm sản xuất hàng loạt sẽ được thay thế bằng những sản phẩm tùy biến theo yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt, với mức giá không hề khác biệt với những sản phẩm “hàng trăm như một” trước đây.   Ngay tại thời điểm hiện tại chúng ta cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của những sản phẩm của công nghiệp 3D, như công ty Normal sử dụng công nghệ này để làm ra tai nghe nhạc chuẩn xác theo kích cỡ tai của từng khách hàng. Thị trường sẽ chứng kiến sự xuất hiện ồ ạt của những nhà sản xuất nhỏ, không còn e ngại bởi rào cản chi phí, lại thêm giàu sức sáng tạo và sẵn sàng lắng nghe mọi nhu cầu của khách hàng trong mục đích tìm kiếm chỗ đứng trên thị trường. Thậm chí không phải quá xa vời khi nói rằng khách hàng sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Với những tiến bộ vượt bậc trong việc hiện thực hóa mọi ý tưởng thiết kế sản phẩm, khách hàng tại khắp mọi nơi có thể đưa lên mạng những ý tưởng mới mẻ của họ, đề nghị nhà sản xuất đưa ra sản phẩm theo yêu cầu. Những nhà quản lý vĩ mô cần phải dự báo những tác động toàn cầu này nhằm có những thay đổi phù hợp trong quản lý kinh tế, xã hội và luật pháp, đặc biệt liên quan đến tiêu chuẩn và chứng nhận bản quyền sản phẩm.  Sự đột phá về công nghệ này cũng sẽ kéo theo hàng loạt sự thay đổi khác trong chuỗi cung ứng, dịch vụ khách hàng và mối quan hệ giữa các nhân tố thị trường, được trình bày tiếp theo đây.   Chuỗi cung ứng giá trị sản phẩm  Trong nền sản xuất hàng loạt, chuỗi cung ứng được quản lý dựa trên tính toán số lượng hàng hóa theo nhu cầu của khách hàng và qua đó thương lượng giá cả với nhà cung cấp nguyên liệu. Với sự thay đổi của mô hình kinh tế nhờ công nghệ in 3D, nhà sản xuất không còn lưu trữ một lượng lớn nguyên liệu nữa mà phải có khả năng đảm bảo nhiều loại nguyên liệu khác nhau với số lượng nhỏ. Điều này cũng kéo theo rất nhiều thay đổi về quản lý chuỗi cung ứng, nhằm đáp ứng các điều kiện vận chuyển, nhà xưởng, nhân công… cho từng loại nguyên liệu khác nhau. Mối quan hệ giữa người sản xuất với nhà cung cấp vì thế cũng sẽ biến đổi mạnh mẽ. Từ mối quan hệ dựa trên giá cả của nguyên liệu chính, yếu tố quan trọng nhất sẽ trở thành khả năng đáp ứng linh hoạt nhiều loại nguyên liệu, trong thời gian ngắn nhất, thậm chí là tức thời. Chúng ta thấy thấp thoáng ở đây sự trở lại của khái niệm sản xuất tức thời “just-in-time” của Ford và sau này là kanban của Toyota, nhưng ở một tầm cao mới: không chỉ là giảm thiểu hao phí, tồn kho trên mỗi đơn vị sản xuất tương tự mà còn là cho mỗi đơn vị sản xuất khác biệt, trong thời gian ngắn nhất, theo yêu cầu của khách hàng. Điều này cần sự phối hợp, thay đổi không chỉ của chính trong công ty sản xuất mà còn của các nhà cung ứng và hệ thống thông tin, đặc biệt là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP). Chúng ta không thể áp dụng kanban của nền kinh tế hàng loạt trước đây cho mô hình sử dụng công nghệ 3D, mà cần một hệ thống mới có thể tích hợp cả sự đa dạng của nhu cầu khách hàng và nguồn nguyên liệu trong hoạch định chiến lược. Đây cũng là một thách thức lớn cho những công ty công nghệ thông tin trong tương lai.  Dịch vụ khách hàng   * Dịch vụ trước bán hàng: Như đã nêu ở phần trên, với công nghệ in 3D, thị trường bão hoà về giá bán, các dịch vụ quảng cáo, kinh doanh trước bán hàng sẽ phải tập trung vào kết cấu, chức năng, thiết kế của sản phẩm thay cho yếu tố này. Những người bán hàng cũng phải đầu tư hơn vào nhu cầu riêng biệt của khách hàng, ngoài việc đề nghị những mức giảm giá lớn như trước đây. Việc tìm ra cách nào để quản lý cũng như đáp ứng nhu cầu riêng biệt này trên những mặt hàng tại các siêu thị, trung tâm phân phối lớn cũng sẽ là một thách thức cho những nhà kinh doanh trong tương lai. Khách hàng sẽ không còn nhu cầu đi đến những trung tâm phân phối nữa khi họ hoàn toàn có khả năng yêu cầu những sản phẩm với giá tương đương, mẫu mã và chức năng theo ý mình chỉ bằng vài cái nhấp chuột. Nhà sản xuất 3D dựa vào đó mà làm ra sản phẩm một cách nhanh chóng, theo đúng nhu cầu, thiết kế của khách hàng đã chọn lựa.   * Dịch vụ sau bán hàng: Cho đến nay, mỗi khi một bộ phận của sản phẩm gặp trục trặc, khách hàng cần đưa đến trung tâm bảo dưỡng để sữa chữa hoặc mua một linh kiện mới thay thế. Công nghệ in 3D sẽ cho phép khách hàng sở hữu những máy in đơn giản tại nhà, và do đó có thể tự làm ra những bộ phận thay thế trong một phạm vi nhất định khi cần thiết. Hoặc các cửa hàng, dịch vụ in 3D trung gian có thể giúp đáp ứng nhu cầu thiết bị thay thế một cách nhanh chóng. Điều này sẽ tác động không nhỏ đến tương tác giữa khách hàng và bộ phận dịch vụ hậu mãi, cũng như việc quản lý kho hàng hậu mãi (kho hàng dự trữ cho các nhu cầu thay thế linh kiện). Tầm quan trọng của dịch vụ sau bán hàng không còn nằm ở sự sẵn có của bộ phận thay thế mà ở sự linh hoạt, thường trực của đội ngũ tư vấn nhằm giúp khách hàng tự làm ra được bộ phận thay thế một cách chuẩn xác và nhanh chóng nhất. Việc tùy chỉnh các điều kiện trong hợp đồng sau bán hàng cũng sẽ là một vấn đề cần tính toán kĩ càng hơn, sao cho vẫn đem lại dịch vụ tốt nhất cho khách hàng mà không làm xáo trộn tổ chức nhân lực và cung ứng của doanh nghiệp.  Ảnh hưởng đến lao động-xã hội  Công nghệ in 3D cho phép giảm chi phí cũng như thời gian sản xuất. Điều đó có nghĩa là, ví dụ, thay vì cần năm phút để làm ra một bộ phận như hiện nay, trong tương lai với công nghệ mới, ta có thể chỉ còn cần hai phút. Sự thay đổi này, cùng với việc sử dụng robot, sẽ dẫn đến một bộ phận nhân công dư thừa không nhỏ trong các công ty sản xuất lớn. Thậm chí những nhà xưởng với máy móc 3D, không có bóng dáng một người công nhân cũng sẽ không còn là một điều viễn tưởng nữa.   Thêm vào đó, công nghệ in 3D còn tác động mạnh mẽ đến quan hệ về vai trò kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang hoặc chưa phát triển. Hiện nay, các công ty tại các nước phát triển nỗ lực tìm kiếm nguồn nhân công rẻ tại các nước nghèo (châu Phi, châu Á), với mục đích giảm giá thành sản phẩm. Việc dịch chuyển vị trí địa lí này cần tuân theo những hoạch định dài hạn về số lượng trong sản xuất hàng loạt, về quy trình vận chuyển và cung ứng sao cho bắt kịp nhu cầu thị trường địa phương. Công nghệ in 3D sẽ khiến cho nhu cầu tìm kiếm nhân công giá rẻ bị thay thế bởi nhu cầu về nhân công có năng lực sáng tạo, trình độ cao và chuỗi cung ứng gần hơn với thị trường tiêu thụ về mặt địa lý nhằm có thể đáp ứng mọi nhu cầu riêng biệt của khách hàng trong thời gian ngắn nhất. Đây có thể trở thành thiệt hại đáng kể cho các quốc gia từ lâu đã nổi lên như trung tâm sản xuất bởi có chi phí lao động thấp. Mặt khác, các quốc gia này còn phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng trong việc nắm bắt giá trị của chuỗi cung ứng sản xuất do thiếu khả năng thiết kế. Với những nước đang phát triển, hiện nay còn dựa chủ yếu vào nguồn nhân lực “gia công”, nhà quản lý cần có những chính sách dài hạn nhằm thích ứng với việc suy giảm nhu cầu tuyển dụng nhân công giá rẻ. Ví dụ như đầu tư vào giáo dục, nâng cao toàn diện trình độ của đội ngũ nhân công trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu của mô hình kinh tế mới, hoặc đầu tư vào công nghiệp sản xuất tại địa phương để tận dụng nguồn nhân công dư thừa, không còn được sử dụng bởi các công ty tại các nước phát triển.  Tuy nhiên điều này không có nghĩa là công nghệ in 3D sẽ gây ra thất nghiệp hàng loạt trên toàn thế giới. Khi máy tính ra đời và phát triển vào những năm 1970, dư thừa lao động cũng được cảnh báo. Vậy mà thay vào đó, chúng ta đã chứng kiến không phải biến chuyển về lượng mà là về chất trong nguồn lao động. Những công ty công nghệ như Google, Apple đã tạo ra hàng triệu việc làm, mặc dù với những yêu cầu kĩ năng hoàn toàn khác biệt so với nguồn lao động vài thập kỉ trước đây. Tương tự như thế, công nghệ in 3D có thể khiến giảm nhu cầu lao động trong các lĩnh vực sản xuất và bán lẻ, nhưng sẽ cần rất nhiều người có kĩ năng với máy móc 3D. Theo nghiên cứu của công ty Wanted Analysis tại Mỹ, từ tháng 8/2013 đến tháng 8/2014 nhu cầu tuyển dụng người có kĩ năng về in 3D đã tăng 103%. Nhu cầu nhân lực có thể bao gồm người bán hàng có hiểu biết về sản phẩm, người bảo trì máy in 3D, người có kiến thức về hệ thống thiết kế 3D, người lập trình hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp với công nghệ 3D hay người quản lý tương tác và cung ứng khách hàng trên toàn thế giới. Đặc biệt trong ngành kỹ sư, cũng theo nghiên cứu của Wanted Analysis, nhu cầu lao động có kĩ năng 3D chiếm tới 35% tổng số thông báo tuyển dụng tại Mỹ.  Từ đó, công nghệ 3D có thể giúp các nước đang phát triển leo lên một tầm cao mới trong chuỗi cung ứng sản xuất bằng cách thúc đẩy khả năng thiết kế và tạo mẫu nhanh tại các quốc gia này.  Hơn hết, nỗi lo về sự suy giảm nền kinh tế quốc gia do thất nghiệp tràn lan cũng không hoàn toàn đáng ngại. Đúng là điều này có thể xảy ra trong thời kì quá độ chuyển giao công nghệ. Nhưng về dài hạn, công nghệ in 3D cho phép giảm chi phí sản xuất, do đó giảm giá thành sản phẩm, đồng nghĩa với giảm chi phí sinh hoạt của người dân cũng như tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tương tác chủ yếu trên máy tính cũng sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế trên toàn thế giới. Nhờ vào những yếu tố trên mà tổng sản phẩm quốc nội (GDP) sẽ tăng theo.  Nền tảng pháp lý  Việc phổ biến in 3D sẽ gây những tác động sâu sắc đến các quy định về quyền sở hữu trí tuệ vì công nghệ này cho phép tái tạo các đối tượng hoặc vật chất hóa các thiết kế. Doanh nghiệp có thể gặp khó khăn nghiêm trọng khi các hãng khác hoặc thậm chí các cá nhân có thể dễ dàng sao chép sản phẩm của mình bằng cách sử dụng tập tin thiết kế hoặc bằng máy quét 3D. File CAD của các vật thể, giả định là đã có bảo hộ sở hữu trí tuệ, cũng có thể bị chia sẻ ngay tức thì với cả thế giới nhờ vào các thiết bị in 3D trực tuyến. Rất khó khăn cho cả người dùng lẫn cơ quan chức năng để phân biệt việc in 3D có mâu thuẫn với quyền sở hữu trí tuệ hay không. Ngoài ra, việc việc theo dõi và xác định bất kỳ một hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ nào do sử dụng máy in 3D cũng vô cùng phức tạp. Mâu thuẫn quyền sở hữu trí tuệ cao ở mức độ doanh nghiệp, thậm chí lên đến tầm quốc gia, là hoàn toàn có nguy cơ xảy ra.   In 3D, ngoài ra, còn có thể gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Công nghệ 3D tạo điều kiện cho sản xuất phân tán phát triển. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ những sản phẩm có ý nghĩa tốt đẹp và hữu dụng được làm ra mà các mặt hàng khác như vũ khí – thông thường vẫn chịu sự kiểm soát ở tầm quốc gia – cũng sẽ được chế tạo dễ dàng với giá rẻ hơn, dễ tiếp cận hơn và đồng thời tăng nguy cơ tiềm ẩn.   Do đó, nhà quản lý kinh tế và lập pháp cần nghiên cứu đưa ra những khung pháp lý, kịp thời định hướng thị trường và tránh việc thế lực xấu lợi dụng công nghệ mới để xâm phạm đến an toàn nhân sinh của quốc gia.    Đọc thêm:  Bài 1: Công nghệ in 3D – Lịch sử và Ứng dụng  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=8728  Bạn đọc có thể trao đổi thêm với tác giả Lâm Lê theo địa chỉ email: ledoanthanhlam@gmail.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 3: Công nghệ in 3D – Vai trò quản lý và chiến lược phát triển      Công nghệ in 3D hay được gọi một cách khoa  học là công nghệ sản xuất đắp dần, đang thu hút sự chú ý của hàng loạt  chính phủ các nước. Tăng cường các ngành công nghiệp sản xuất và sử dụng  trong giáo dục là các chủ đề trọng tâm phổ biến nhất thu hút sự quan  tâm của các chính phủ đối với công nghệ này. Trong bài này, chúng tôi  xin giới thiệu một số ví dụ nổi bật liên quan đến vai trò của chính phủ  trong sự phát triển của công nghệ mới in 3D.    Mỹ  Tổng thống Obama đã đề cập đến công nghệ in 3D với vai trò “tiềm năng cách mạng hóa trong phương pháp sản xuất ra hầu hết tất cả mọi thứ”, trong Thông điệp Liên bang năm 2013 và 2014 của mình. Thực tế Chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho công nghệ này từ nhiều thập kỷ trước. Ví dụ, công nghệ SLS (Selective Laser Sintering – Nung kết sử dụng laser) đã được phát triển tại Đại học Texas dưới sự bảo trợ của Cơ quan Đặc trách kế hoạch nghiên cứu quốc phòng cao cấp của Mỹ (DARPA). Trong bài phát biểu trên, Tổng thống Obama cũng đề cập đến Viện Công nghệ sản xuất phụ trợ (NAMII) hay với tên mới là “America Makes”.   NAMII được thành lập năm 2012 như một đối tác tư nhân với mục tiêu thúc đẩy công nghệ in 3D trong các ngành sản xuất ở Mỹ và từ đó giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngành. NAMII đóng vai trò hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và thúc đẩy thực hiện, tạo điều kiện cho sự hợp tác giữa công ty, các trường đại học và các tổ chức phi lợi nhuận; đồng thời hỗ trợ các hoạt động giáo dục đào tạo liên quan đến sản xuất. Năm 2014, NAMII đầu tư 9 triệu USD cho các dự án nghiên cứu ứng dụng in 3D, các chủ dự án góp ngân sách 19,3 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đầu tư của nhà nước và tư nhân trong sản xuất đắp dần trong phạm vi hỗ trợ của dự án NAMII đã lên đến 30 triệu USD vào năm 2014.   Bên cạnh đó, Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) là một trong những đơn vị ủng hộ chính cho in 3D ở Mỹ, đặc biệt đầu tư cho các dự án nghiên cứu sản xuất đắp dần. Ngoài ra, quỹ này cũng hỗ trợ các hoạt động trao đổi kiến thức và các chương trình giáo dục dành cho học sinh. Từ năm 1986 đến 2012, NFS cung cấp 200 triệu USD cho công nghệ in 3D.   Bộ Quốc phòng (DOD) cũng là đơn vị tài trợ in 3D qua chính các cơ quan khác nhau của bộ, như là DARPA và Văn phòng Nghiên cứu Hải quân (ONR). Trong khi NFS chủ yếu đầu tư cho nghiên cứu giai đoạn đầu và cơ bản, thì Bộ Quốc phòng lại quan tâm nhiều hơn đến việc triển khai in 3D trong sản xuất thực tế. Ngoài ra, các cơ quan chính phủ khác của Mỹ cũng tham gian vào công nghệ in 3D như NASA, Bộ Năng lượng, Bộ Thương mại Mỹ (DOC), Viện Tiêu chuẩn và công nghệ (NIST), và cả Viện Y tế (NIH).  Trung Quốc  Trong lúc nhiều người thấy rằng cuộc cách mạng của công nghệ in 3D là mối đe dọa đến lợi thế sản xuất của Trung Quốc, thì chính quốc gia này lại có tham vọng tận dụng lợi thế của công nghệ in 3D để đưa vào lĩnh vực sản xuất. Năm 2012, Trung Quốc đã đưa công nghệ in 3D vào Chương trình Nghiên cứu phát triển Công nghệ cao quốc gia của Bộ Khoa học và Công nghệ. Chính phủ Trung Quốc cấp 6,5 triệu USD tài trợ cho các nghiên cứu tập trung về công nghệ in 3D. Hiệp hội Sản xuất châu Á – đơn vị được chính phủ hỗ trợ phòng nghiên cứu – đã khởi xướng Liên minh công nghệ in 3D Trung Quốc để hỗ trợ ngành công nghệ sản xuất mới này. Liên minh này đã có kế hoạch xây dựng 10 trung tâm công nghệ cao in 3D ở các thành phố khác nhau của Trung Quốc, với vốn đầu tư 3,3 triệu USD cho mỗi trung tâm.   Bên cạnh đó, tháng 6/2013, Chính phủ Trung Quốc cam kết đầu tư 245 triệu USD cho công nghệ này trong suốt bảy năm tiếp theo. Và Viện nghiên cứu in 3D đã ra mắt cũng trong năm 2013 với 33 triệu USD do Chính phủ tài trợ ban đầu. Thông qua việc cộng tác với các trường đại học, viện nghiên cứu này sẽ thực hiện các nghiên cứu về công nghệ in 3D cũng như tiến hành thương mại hóa và triển khai các hoạt động liên quan đến in 3D.   Trung Quốc cũng là nước đầu tiên trên thế giới mở Bảo tàng nghệ thuật in 3D tại Bắc Kinh vào năm 2013.   Anh  Đầu năm 2014, Thủ tướng Anh công bố rằng họ sẽ thành lập một trung tâm quốc gia in 3D với khoản đầu tư 25 triệu USD. Thực tế, đây là một bước đi mới trong các nỗ lực không ngừng của Anh quốc. Tháng 6/2013, Ủy ban Chiến lược Công nghệ (TSB) – cơ quan sáng tạo của Vương quốc Anh – cùng với ba hội đồng nghiên cứu đã giới thiệu một chương trình hỗ trợ trị giá 13,9 triệu USD từ chính phủ cho các công ty tư nhân để phát triển sản xuất công nghệ in 3D. Trước đó, năm 2012, TSB đã phát động cuộc thi mang tên Cảm hứng thiết kế tự do trong sản xuất đắp dần. Cuộc thi này được tổ chức nhằm tài trợ 11,5 triệu USD cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển, hợp tác trong lĩnh vực in 3D. Ngoài ra, Bộ Giáo dục Anh cũng dành sự quan tâm cho công nghệ in 3D. Trong năm 2012-2013, một dự án thí điểm được thực hiện tại 21 trường học nhằm kiểm tra khả năng sử dụng máy in 3D trong mô hình giáo dục STEM (Science-Technology-Engineering-Mathematics, mô hình với nền tảng là hai môn học Công nghệ thông tin và Robotics). Sáng kiến này sau đó đã được áp dụng rộng rãi đến 60 trường, cho phép mua máy in 3D và đào tạo cho đội ngũ giáo viên.  Nhật Bản  Chính phủ Nhật Bản là một trong những chính phủ sớm nhận ra tầm quan trọng của công nghệ in 3D. Chiến lược Tái tạo Nhật Bản, được thông qua tháng 6/2013, bao gồm cả công nghệ in 3D và khuyến khích đầu tư vào công nghệ này song song cùng các công nghệ tiên tiến hàng đầu khác tại Nhật Bản. Gần đây, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đã công bố một kế hoạch hỗ trợ việc sử dụng máy in 3D trong các trường học. METI sẽ trợ giá mua sắm máy in 3D cho nhiều trường đại học và cao đẳng kỹ thuật. Khoản trợ cấp này dự kiến sẽ được mở rộng xuống các trường trung học cơ sở sau này. Ngoài ra, METI dành khoảng 44 triệu USD trong ngân sách 2014 để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và phát triển liên quan đến việc sử dụng in ấn 3D trong sản xuất kim loại.  Từ những thông tin chiến lược phát triển của các quốc gia khác nhau trên đây, cùng các nội dung đã được chúng tôi đề cập đến trong các bài viết trước liên quan đến tiềm năng, ứng dụng to lớn cũng như các tác động, ảnh hưởng cụ thể của công nghệ in 3D, chúng ta có thể thấy rằng đây là một ngành công nghệ tiên tiến sẽ chiếm lĩnh một vị trí to lớn trong kinh tế, xã hội và chính trị. Trong phần cuối cùng này, chúng tôi xin trình bày một số đề xuất về chiến lược phát triển ở tầm vĩ mô.  Thúc đẩy các hoạt động sản xuất và thiết kế  Để củng cố ngành công nghiệp sản xuất, việc áp dụng công nghệ in 3D cần được khuyến khích. Sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật sẽ rất quan trọng cho mục đích này, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Các cơ quan nhà nước và chính phủ có thể trực tiếp giúp xây dựng chuyên môn kỹ thuật ban đầu và nguồn vốn nhân lực trong nước. Sau đó, công nghệ này sẽ được phổ biến hơn thông qua các hoạt động giáo dục, quảng cáo, ứng dụng thí điểm và các dịch vụ hướng dẫn kỹ thuật.  Chúng ta có thể lựa chọn theo đuổi chiến lược để trở thành một trung tâm dịch vụ thiết kế và tạo mẫu hoạt động qua việc tận dụng lợi thế từ công nghệ in 3D. Các cơ hội mới sẽ được mở ra cho Việt Nam nếu chúng ta biết xây dựng năng lực kỹ thuật và vốn con người ngay cả khi trước đây chúng ta chưa có bất cứ lợi thế đặc biệt nào trong sản xuất.  Trên cơ sở tiềm năng thay đổi lợi thế so sánh sản xuất, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để trở thành một trung tâm sản xuất trong khu vực. Công nghệ in 3D thay đổi cơ chế quyết định nơi sản xuất bằng cách giảm tỷ trọng lao động trong đầu vào và tăng tầm quan trọng của khả năng tùy biến theo ý khách hàng.   Đảm bảo hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển có hiệu quả  Cũng như các ngành công nghiệp mới nổi khác, công nghiệp in 3D có khả năng tạo ra những rủi ro quá cao không thể bù đắp cho các công ty tư nhân, đặc biệt là ở Việt Nam hay các nước đang phát triển khác. Do đó, chính phủ nên có hỗ trợ trong các hoạt động nghiên cứu liên quan đến công nghệ này, ví dụ như thông qua hỗ trợ các sáng kiến thực hiện và thương mại hóa.   Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nên tập trung vào tìm ra kỹ thuật in 3D khác biệt ở một số khía cạnh hoặc chuyên cho một mục đích cụ thể như trong y tế, thực phẩm… Ngoài ra, cũng có thể tập trung vào nghiên cứu vật liệu in 3D để đạt được những vật liệu cao cấp có chi phí hợp lý và hiệu suất tốt, hay tìm kiếm các vật liệu in 3D mới lạ hơn những gì hiện có.   Tạo ra các máy in 3D của riêng mình  Các bằng sáng chế trong công nghệ sản xuất đắp dần đang hết hạn, đây là cơ hội tuyệt vời để tiếp nhận công nghệ này. Sự tồn tại của nguồn kiến thức mở xung quanh in 3D có thể khuyến khích các ý tưởng phát triển công nghệ. Việt Nam có thể kết hợp thúc đẩy sáng tạo của thương hiệu máy in 3D trong nước. Ngoài lợi ích kinh tế trực tiếp, tự sản xuất máy in 3D giúp giảm chi phí nội tại thay vì phải phụ thuộc vào nhập khẩu và sự khan hiếm các nhà cung cấp.   Tăng cường phát triển xã hội  Có thể thấy, hầu hết các nỗ lực nêu trên đều hướng tới thúc đẩy các hoạt động kinh tế trong việc ứng dụng in 3D tạo ra lợi ích trong tương lai gần, nhưng tác động, ảnh hưởng của việc áp dụng công nghệ này trên quy mô rộng sẽ xảy ra gián tiếp và trong tương lai xa hơn. Khi máy in 3D bắt đầu được sử dụng nhiều hơn, các năng lực quốc gia về công nghệ in 3D và hoạt động liên quan như thiết kế, kỹ năng máy tính, khả năng sáng tạo, đổi mới, sẽ ngày càng được củng cố. Việc phổ biến công nghệ in 3D có thể được hỗ trợ thông qua các hoạt động giáo dục và tiếp thị quảng cáo.   In 3D như một công cụ cải thiện thực hành giáo dục hiệu quả, đặc biệt là với các môn học STEM. Giống như việc cung cấp truy cập internet, máy tính, máy tính bảng, bảng dạy học thông minh cho các học sinh, chính phủ hoàn toàn có thể cung cấp máy in 3D cho các trường học. Các máy in này không chỉ khuyến khích các hoạt động giáo dục mà còn đặt nền móng cho những kiến thức cơ bản về công nghệ in 3D qua các chương trình tập huấn giáo viên và chương trình giảng dạy sáng tạo về công nghệ này.  Giữ được cán cân công bằng  Như đã đề cập, sự can thiệp của chính phủ rất cần thiết, nhất là khi các tác động, ảnh hưởng phát sinh từ công nghệ in 3D sẽ ngày càng tăng cao. Với các tiềm năng mà công nghệ này có thể tạo ra, tất nhiên sẽ có một số thành phần kinh tế bị mất đi lợi ích và một số thành phần khác được hưởng những lợi ích mới. Đối với vấn đề này, chính phủ cần đưa ra các biện pháp rõ ràng nhằm đảm bảo được đầy đủ lợi ích từ công nghệ in 3D nhưng vẫn duy trì được những quyền lợi hợp pháp trên một số mặt. Chính phủ nên chú ý đảm bảo rằng sự can thiệp này không làm gián đoạn những đổi mới mà công nghệ in 3D mang lại. Đồng thời, nên có những biện pháp hiệu quả để phòng ngừa ngăn chặn việc sử dụng bất hợp pháp công nghệ in 3D, một trong những yếu tố trở ngại trong mở rộng quy mô ứng dụng công nghệ tiên tiến này.  Mặc dù in 3D đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong công nghệ và quy trình sản xuất và các ảnh hưởng đến thị trường trên thế giới, nhưng cũng không dễ dàng để hiểu được tác động thực sự của nó trong trung hạn và dài hạn. Các nhà phân tích quốc tế mới chỉ đề cập đến một số bề nổi của công nghệ này, cả về sự tăng trưởng lần kĩ thuật. Các nghiên cứu mới nhất dự đoán rằng công nghệ 3D sẽ đạt được trạng thái áp dụng rộng rãi trong mười năm tới, cả trong thị trường công nghiệp và người tiêu dùng. Khi ngày đó đến, và các nhà máy mini cá nhân sẽ trở thành tiêu chuẩn, có lẽ sẽ rất khó để tưởng tượng làm sao xã hội sẽ có thể tồn tại mà không có công nghệ in 3D.   Đọc thêm:   Bài 1: Công nghệ in 3D – Lịch sử và Ứng dụng   http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=8728  Bài 2: Công nghệ in 3D – Tác động và thách thức  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=8735  Bạn đọc có thể trao đổi thêm với tác giả Lâm Lê qua địa chỉ email: ledoanthanhlam@gmail.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài cuối: Công nghệ in 3D với giáo dục và đào tạo      Qua các bài viết trước, chúng ta thấy rằng công nghệ in 3D hiện nay đã trở thành một ngành công nghiệp kỹ thuật để tạo mẫu, sản xuất các sản phẩm và thành phần trong công nghiệp. Có vô vàn cách để ứng dụng công nghệ độc đáo này, từ việc kinh doanh cho đến sưu tầm và ngay cả các tổ chức giáo dục cũng bắt đầu nhận thức được đầy đủ các lợi ích mà công nghệ in 3D có thể mang lại. Một lý do làm chậm trễ việc ứng dụng công nghệ in 3D vào các tổ chức này hiện nay là các nhà hoạch định chính sách giáo dục chưa có kiến thức về công nghệ mới.      Mặt khác, cũng bởi vì công nghệ này khá mới mẻ nên để tạo ảnh hưởng tốt nhất thì một cách hay là đưa in 3D vào các chương trình giảng dạy. Càng ít tuổi người ta càng dễ tiếp thu các ý tưởng mới và phương pháp mới, do đó, bậc phổ thông sẽ là nơi hoàn hảo nhất để bắt đầu đào tạo kiến thức nền tảng về công nghệ in 3D.   Năm lợi ích lớn nhất của máy in 3D trong giáo dục:   * Khơi gợi hứng thú  * Tạo điều kiện phát triển chương trình giáo dục STEM (Science-Technology-Engineering- Mathematics)  * Cho phép tiếp cận với các đối tượng học tập chưa từng có trước đây  * Mở ra nhiều khả năng mới cho việc học tập  * Thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề  Sử dụng máy in 3D mang lại hiệu quả thiết thực trong giáo dục vì nó cho phép giáo viên và học sinh “khám phá chân thực các đối tượng không có sẵn”. Ví dụ như các hiện vật và hóa thạch, đây là những đối tượng có thể nhân rộng nhờ máy in 3D để được khám phá một cách chân thực hơn. In 3D đưa các vật thể từ lý thuyết ra thực tế, trở thành những thứ mà học sinh có thể nhìn thấy và chạm vào, và mở ra những “khả năng mới cho các hoạt động học tập”.   Bên cạnh đó, các lợi ích còn được nhân lên khi máy in 3D mở ra cho học sinh các trải nghiệm khác nhau trong học tập. Bản thân thiết bị này đã yêu cầu học sinh phải tìm hiểu về quá trình sản xuất đắp dần hoàn toàn mới mẻ – trong đó các vật thể được tạo ra từng lớp từng lớp, về cách thức vận hành khác nhau của các máy in 3D, cách sử dụng thiết bị, cách khắc phục sự cố và giải quyết các vấn đề. Rõ ràng máy in 3D sẽ trở thành công cụ hoàn hảo để các em trau dồi kỹ năng giải quyết vấn đề và trở nên say mê và quyết tâm hơn khi giải quyết các vấn đề.   Sau đây chúng ta cùng xem một số trường hợp cụ thể về lợi ích của công nghệ in 3D trong giáo dục.  In 3D với môn Toán   Có rất nhiều cách để ứng dụng in 3D vào môn học này. Một trong những ứng dụng thường thấy, đó là sử dụng in 3D để giúp học sinh hình dung ra các biểu đồ và mô hình toán học. Một số học sinh cảm thấy khó khăn khi khớp các con số với sơ đồ trên giấy. Đó không phải là khiếm khuyết trong học tập của các em mà chỉ là cách mà não bộ chúng ta hoạt động. In 3D giúp học sinh hình dung dễ dàng hơn khi các em thấy các phương trình, đồ thị và mô hình này được hiện thực hóa hữu hình. Và quan trọng nhất, in 3D “thổi” vào các chủ đề khô cứng, nhàm chán một “làn gió tươi mới”.   In 3D với môn Địa lý/Địa chất          Các trường học hiện nay dường như đang bị mắc kẹt ở những phương pháp cũ, giới thiệu thông tin đến học sinh bằng cách mà nhiều thế hệ đi trước đã thực hiện. Tuy rằng công nghệ mới có thể có chút mạo hiểm, nhưng sự thay đổi là hoàn toàn cần thiết, và đưa in 3D vào học tập và giảng dạy là một trong những việc cần được chú trọng bởi in 3D cung cấp cách thức học tập mới với các môn học.          In 3D là một trong những cách hữu hiệu nhất để học sinh hiểu rõ hơn về cấu tạo địa chất trên mô hình thực tế mà không phải chỉ qua những hình ảnh 2D trên sách vở. Có nhiều bản in 3D về địa chất đã được ra đời để hỗ trợ cho việc học tập môn địa lý và địa chất. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu đã hạ cánh thành công một tàu con thoi trên Sao chổi nhờ vào máy in 3D để tìm vị trí hạ cánh thuận lợi nhất. Một người đàn ông đã in 3D các dữ liệu của trận động đất để so sánh trận động đất mới nhất ở California với các trận động đất trước đó. Ngoài ra, các công ty đang sử dụng in 3D để hiểu rõ hơn về nguyên nhân và tác động của kỹ thuật khai thác dầu và khí đốt. Chúng ta đang sống trong thế giới ba chiều, do đó được giảng dạy và học tập địa lý và địa chất bằng các công cụ ba chiều là lý tưởng và dễ hiểu nhất.   Nếu như các tác giả làm sách giáo khoa hiểu được tầm quan trọng của in 3D và muốn đưa vào trong bài học, họ có thể thêm các tài liệu in mẫu vật 3D vào mỗi phần của sách. Đây sẽ là trải nghiệm thú vị đối với các giáo viên và học sinh khi các dãy núi, dòng sông, con kênh… hiển thị ngay trước mắt mình. Còn hơn thế nữa, trẻ em hoàn toàn có thể “thăm thú” các địa danh nổi tiếng trên thế giới ngay trong tầm tay mình mà không cần phải thực sự di chuyển.     In 3D với môn Lịch sử  Lịch sử là môn học có được nhiều lợi ích nhất từ công nghệ in 3D. Các viện bảo tàng trên khắp thế giới cũng dần nhận ra được lợi ích khi máy in 3D có thể tạo ra bản sao hoàn hảo của các hiện vật cổ. Trước đây khi bạn đến thăm một viện bảo tàng, bạn chỉ có thể “nhìn và cấm sờ tay vào hiện vật”. Nhưng từ nay, với sự hoàn thiện của máy in và quét 3D, bạn đã có thể chạm tay vào hiện vật và có rất nhiều bản sao đã có độ chính xác tới từng chi tiết. Như vậy, nếu công nghệ in 3D được đưa vào các lớp học lịch sử để in ấn các mẫu vật cổ chỉ bằng cách tải về các tài liệu STL từ máy tính (xin xem lại bài viết giới thiệu về công nghệ in 3D để hiểu rõ hơn về loại tài liệu STL trong quá trình in 3D), cả lớp học sẽ được tham quan một bảo tàng hiện vật trong ngay chính ngôi trường của mình. Một lần nữa, việc học tập sẽ trở nên thú vị hơn so với việc chỉ ngồi đọc từng chương trong cuốn sách giáo khoa.   In 3D với các môn Nghệ thuật  Các lớp học nghệ thuật và thiết kế chắc chắn sẽ là những nơi xuất hiện nhiều nhất các sản phẩm của in 3D. Công nghệ này đã thay đổi hoàn toàn cách giảng dạy và mở ra nhiều khả năng mới cho các giáo viên nghệ thuật. Chúng ta sẽ không phải xem các hình ảnh ba chiều trên màn hình hai chiều nữa. Các dự án toàn diện có thể được đưa vào quy mô quốc gia hoặc toàn cầu nhờ khả năng chia sẻ của thiết kế nghệ thuật 3D với mọi người, trong đó có cả các trường học trên toàn cầu. Các lớp học ở New York, Mỹ hoàn toàn có thể tham gia dự án chung cùng các lớp ở Ấn Độ và in sản phẩm 3D của họ ở cả hai nơi này. Có rất nhiều hình thức nghệ thuật độc đáo đã ra đời trong vài năm trở lại đây từ khi có ứng dụng của công nghệ in 3D.   In 3D đã cho ra đời một cách thức mới để sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật. Khi công nghệ này có mặt trong các lớp học trên toàn cầu, các nghệ sỹ tương lai của chúng ta sẽ chính là những người mở ra được hết những tiềm năng của nó trong các lĩnh vực nghệ thuật hiện có.   Mô hình đưa Công nghệ 3D vào giáo dục và đào tạo  Mô hình Trên xuống (Top-down)    Một ví dụ tiêu biểu cho mô hình có sự chỉ đạo của Nhà nước từ trên xuống là việc chính phủ Trung Quốc mới đây quyết định lắp đặt máy in 3D trong từng trường tiểu học trong vòng hai năm tới (khoảng 400.000 trường). Việc này sẽ cho phép mọi học sinh tiểu học tại Trung Quốc, không kể điều kiện địa lý, được tiếp xúc trực tiếp với công nghệ in 3D và tương tác nhiều hơn với quá trình “làm thực tế” ra sản phẩm chứ không chỉ còn quan sát đơn thuần.  Chương trình này có đạt hiệu quả như mong muốn không cũng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như:  Liệu đội ngũ giáo viên có đủ kiến thức, khả năng cũng như tâm huyết để giúp đưa công nghệ 3D vào lớp học và thích ứng quá trình/nội dung giảng dạy cho phù hợp hơn.  Liệu các trường học có đủ điều kiện vật chất để bắt đầu và duy trì lâu dài việc tích hợp máy in 3D vào lớp học.  Mô hình Dưới lên (Bottom-up)    Song song với mô hình top-down, mô hình chủ động từ dưới lên (bottom-up) tỏ ra có hiệu quả hơn ở một số xã hội như Mỹ. Chúng ta có thể kể đến cuộc vận động của Tổng thống Obama hồi tháng 6/2014, kêu gọi các nguồn lực, đề án có thể giúp sinh viên tham gia nhiều hơn vào quá trình “làm thực tế”. Dòng tiền đầu tư từ các tổ chức/cá nhân bắt đầu dồn nhiều hơn vào các dự án in 3D. Dự án in 3D ở quy mô lớp/trường học nảy nở mạnh mẽ. Những yếu tố này tiếp đó lại thúc đẩy các trường học trong việc nghiên cứu cũng như tích hợp công nghệ in 3D vào giảng dạy.  Chúng ta có thể thấy rằng mô hình này có ưu điểm là có thể kích thích nguồn động lực xã hội và khiến từng bộ phận nhỏ được chuẩn bị tốt hơn cho quá trình ứng dụng công nghệ đại trà. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là có nhiều học sinh, sinh viên sẽ có điều kiện tiếp xúc với công nghệ sớm hơn các nơi khác (nếu có dự án được đầu tư); và một số đề án đạt hiệu quả đầu tư cao tại địa phương lại không hoàn toàn phù hợp cho mục đích đại trà hóa, vì vậy không thể tối ưu hóa nguồn kinh phí đầu tư.   Vậy mô hình nào thì sẽ phù hợp hơn cho việc đưa công nghệ in 3D vào trong lớp học? Để đưa ra câu trả lời phù hợp, các nhà hoạch định nên cân nhắc nhiều yếu tố về cả môi trường và con người.      Ngay tại một nước Đông Nam Á láng giềng như Malaysia, công ty sản xuất máy in 3D và trường học, cũng như chính quyền đã phối hợp để đưa máy in 3D tiếp cận thế hệ trẻ vào dịp ngày hội khoa học “Science games day” của trường quốc tế Bandar Sunway, hay chương trình nghỉ hè “School holiday program” tại trung tâm thương mại Ikano Power Centre.               Điều kiện môi trường      Mô hình top-down      Mô hình bottom-up          Chính trị      Quyền   lực tập trung      Quyền   lực phân tán          Kinh tế      Nguồn   vốn tập trung, hoặc   Cơ   quan cầm quyền sở hữu nguồn vốn lớn      Nguồn   vốn rải rác  Nhiều   đơn vị, tổ chức có khả năng tài trợ          Kỹ thuật      Nền   tảng kiến thức, kĩ năng, và cơ sở vật chất của các địa phương tương đối đồng   đều hoặc không có phân hóa tập trung       Các   kĩ năng, trình độ cao tập trung tại một vài trung tâm, địa phương          Xã hội      Xã   hội đang bắt đầu làm quen với khái niệm, ứng dụng của công nghệ mới      Xã   hội đã biết đến khái niệm, ứng dụng của công nghệ mới             Con người      Học và tiếp thu nhanh, dễ dàng thích nghi với thay đổi mới      Cần thời gian cho quá trình tiếp thu, thích nghi                  Còn tại Việt Nam, hiện nay cũng đã bắt đầu xuất hiện cộng đồng in 3D. Bên cạnh một số dịch vụ in 3D hay bán máy in 3D nhập từ nước ngoài, các cá nhân, nhà khoa học cũng như một số công ty đã bắt đầu nghiên cứu và tiến hành sản xuất máy in 3D tại Việt Nam với giá thành rẻ, phù hợp với thị trường. Ngoài ra, các hoạt động đẩy mạnh giáo dục STEM cũng đã bắt đầu thu hút sự quan tâm từ những người có trách nhiệm, tổ chức lãnh đạo đến các tầng lớp trí thức, cũng như các gia đình có con em đang đi học. Ngày hội STEM lần đầu được tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với sự đồng hành của tạp chí Tia Sáng đã mang lại kết quả tốt đẹp và thu hút sự hứng thú không chỉ của các em nhỏ mà còn của các bậc phụ huynh và người lớn. Giáo dục STEM cũng giống như công nghệ in 3D, việc học, tiếp thu kiến thức và  kĩ năng được tích lũy bằng thực hành qua những dự án trong từng môn học. Học sinh, sinh viên phải vận dụng lí thuyết để tạo ra sản phẩm. Những ngày hội, trình diễn khoa học như thế này sẽ khơi dậy niềm đam mê, lòng quyết tâm của các em nhỏ đối với các môn khoa học, kĩ thuật và cả việc sản xuất công nghiệp.   Ngành công nghiệp in 3D vẫn đang phát triển không ngừng với tốc độ chóng mặt, các phương pháp sản xuất mới vẫn đang tiếp tục ra đời, các máy in 3D giá rẻ, tốc độ nhanh cũng đã được giới thiệu. Hiện nay, người ta thậm chí còn tuyên bố có thể in 3D bất cứ vật thể gì từ việc sắp xếp các nguyên tố đơn lẻ-các viên gạch nhỏ cơ bản của mọi vật chất. Vì vậy, tăng cường phát triển giáo dục, xã hội để chuẩn bị cho ngành công nghiệp này là hết sức cần thiết đối với chúng ta.   Đọc thêm:  Bài 1: Công nghệ in 3D – Lịch sử và Ứng dụng  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=8728  Bài 2: Công nghệ in 3D – Tác động và thách thức  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=8735  Bài 3: Công nghệ in 3D – Vai trò quản lý và chiến lược phát triển   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=8758&CategoryID=7   Bạn đọc có thể trao đổi thêm với tác giả Lâm Lê qua địa chỉ email:    ledoanthanhlam@gmail.com         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học từ chuỗi khủng hoảng nợ công trên toàn cầu      Việc thành phố Detroit vỡ nợ làm nối dài thêm chuỗi sự  kiện liên quan tới tình hình tài chính công ảm đạm ở nhiều quốc gia. Xếp  hạng tín nhiệm tài chính của Mỹ bị đánh tụt hạng, trong khi gánh nặng  nợ Chính phủ của Mỹ đã xấp xỉ 100% GDP và vẫn đang tiếp tục gia tăng.     Một số nước châu Âu vẫn phải vật lộn với cuộc khủng hoảng nợ công, còn Trung Quốc đang đau đầu với nguy cơ bùng phát nợ chính quyền địa phương.   Tình trạng trên xảy ra do các chính quyền Trung ương và địa phương đã để thâm hụt ngân sách kéo dài, buộc phải bù đắp bằng những khoản nợ tích lũy chồng chất. Hậu quả là có nơi mất khả năng thanh toán buộc phải cầu cứu nước ngoài như Hy Lạp, thậm chí phải tuyên bố phá sản như thành phố Detroit.  Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thường bị coi là nguyên nhân gây ra đổ vỡ tài chính công, do kinh tế suy thoái khiến nguồn thu từ thuế của chính quyền giảm, trong khi chi tiêu công lại tăng lên vì các gói kích cầu và gánh nặng phúc lợi xã hội.   Tuy nhiên, thực chất cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chỉ là giọt nước làm tràn ly. Nguyên nhân đích thực gây khủng hoảng nợ công là sự quan liêu của chính quyền đã để cho thâm hụt ngân sách kéo dài quá lâu mà không có giải pháp khắc phục hữu hiệu. Các nhà lãnh đạo với tư duy nhiệm kỳ (thường là nhân danh quyền lợi công ích của số đông) đã không dám sớm đưa ra những chính sách thắt lưng buộc bụng cần thiết, thay vào đó lại tiếp tục thỏa hiệp với những đòi hỏi chi tiêu công ngày một lớn hơn, dồn mọi hậu quả cho lớp lãnh đạo tiếp theo, và cứ như vậy cho tới khi chính quyền không thể tiếp tục gánh vác được nữa.  Cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp và Detroit có chung một đặc điểm là chính quyền không có thẩm quyền in tiền – Detroit không thể phát hành đồng USD và Hy Lạp không thể phát hành đồng Euro – nên lựa chọn duy nhất của họ là vay nợ, để rồi cuối cùng mất khả năng thanh toán và đối diện với vực thẳm phá sản. Còn với những chính quyền Trung ương có thẩm quyền in tiền, họ có thể dùng cung tiền làm công cụ để trực tiếp hoặc gián tiếp bù đắp cho thâm hụt ngân sách, nhưng hậu quả dẫn tới là lạm phát gia tăng mạnh. Như vậy, tuy các chính quyền tránh phải đối diện nguy cơ sụp đổ tài chính như Hy Lạp và Detroit, nhưng lạm phát tạo gánh nặng lên người dân và các doanh nghiệp, dưới hình thức giá cả/và lãi suất tăng cao, buộc toàn bộ nền kinh tế phải vật lộn vất vả.  Việt Nam chưa phải đối diện với vực thẳm tài chính công như Detroit và Hy Lạp, nhưng chúng ta cần hết sức cảnh giác trước tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài và lạm phát ở mức rất cao so với mặt bằng chung của thế giới. Từ thực tế khủng hoảng tài chính công ở các quốc gia và chính quyền trên đây, chúng ta có thể rút ra hai bài học quan trọng.  Bài học thứ nhất là phải hết sức thúc đẩy vai trò độc lập của các cơ quan phụ trách về quản lý an ninh tài chính và tiền tệ. Cơ quan đó phải được quản trị một cách minh bạch, không được phép phá vỡ các tiêu chí, nguyên tắc an toàn, và phải có tiếng nói với trọng lượng đáng kể để không bị áp đặt bởi ý chí của người điều hành chính sách tài khóa, vốn luôn chịu sức ảnh hưởng đáng kể từ các sức ép chính trị, ví dụ như tư duy nhiệm kỳ, hay sự vận động từ các nhóm lợi ích (dù có thể không nhất thiết gắn với ý nghĩa tiêu cực).  Bài học thứ hai là trong một nền kinh tế toàn cầu đầy biến động, mọi chính quyền đều cần thận trọng, tránh chủ quan duy ý chí, dồn quá nhiều tài lực cho những mục tiêu tham vọng đầy rủi ro, vì suy cho cùng năng lực dự báo của mọi chính quyền – kể cả ở những nước đã phát triển – đều còn rất hạn chế. Chúng ta thường dựng ra viễn cảnh phát triển kinh tế của 10 năm, 20 năm, hay thậm chí xa hơn, nhưng thị trường toàn cầu có thể làm sai lệch mọi tính toán trong thời gian rất ngắn, ví dụ như bài học về nguy cơ bùng phát nợ chính quyền địa phương ở Trung Quốc do sự đầu tư quá đà vào hạ tầng dựa trên dự đoán quá lạc quan về triển vọng phát triển kinh tế. Bởi vậy, các chính quyền cũng không nên đầu tư quá thiên lệch cho một vài ngành công nghiệp trọng điểm – bài học từ sự suy vong của ngành công nghiệp xe hơi ở Detroit – và đặt kỳ vọng quá lớn vào nguồn thu trong tương lai từ những ngành này, mà tốt hơn là chú trọng tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vì đây mới là những đối tượng thích nghi linh hoạt trước những biến động của nền kinh tế toàn cầu hiện đại.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học từ phong trào làng mới “SAEMAUL UNDONG”      Chỉ sau 10 năm thực hiện phong trào, nông thôn Hàn Quốc trở thành một xã hội hiện đại, với 70% dân số ở nông thôn có thu nhập cao bằng đô thị, không phải do cơ sở hạ tầng tốt mà chính là cộng đồng nông thôn trở nên đoàn kết, sáng tạo, cần cù, có tác phong kỷ luật và nghiêm túc, có tinh thần tự cường, tự chủ.       Những năm đầu thập kỷ 1960, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển. Thu nhập bình quân đầu người năm 1962 chỉ là 87 USD. Trong 10 năm (1962 – 1971), Hàn Quốc dốc toàn lực phát triển công nghiệp với tốc độ tăng trưởng trên 10%, trong khi nông nghiệp giảm tăng trưởng từ 5,3% xuống 2,5%. Sau hai kế hoạch năm năm, thành thị phát triển đối nghịch với nông thôn lạc hậu. Trong khi dân cư đô thị cạnh tranh nhau làm giàu, quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống nghèo nàn trong trì trệ, họ đành rời bỏ quê hương, chạy về đô thị.    Trước nguy cơ “kinh tế tách rời, mâu thuẫn xã hội”, bước vào kế hoạch năm năm lần thứ ba (1971-1976), Hàn Quốc tìm cách lập lại “cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp”. Ba mục tiêu hàng đầu là xây dựng công nghiệp nặng, tăng xuất khẩu và phát triển nông nghiệp. Đây là quyết tâm chính trị rất lớn vì điều kiện tự nhiên của Hàn Quốc rất bất lợi cho nông nghiệp: đồi núi hiểm trở, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất (khoảng hơn 2 triệu hécta) có thể canh tác; mùa đông lạnh kéo dài, tuyết rơi trung bình khoảng 1.300 mm/năm.     Phong trào Làng mới  Trong một lần đi chỉ đạo khắc phục thiên tai, Tổng thống Park Chung Hee phát hiện ra rằng giải pháp để phát triển nông thôn Hàn Quốc chính là tạo cho được tinh thần chủ động của người dân, bằng cách huy động sức mạnh cộng đồng tại mọi làng xã. Từ đó hình thành phong trào xây dựng làng mới bao gồm ba giai đoạn:     Xây dựng cơ sở hạ tầng    Giống như Việt Nam, chính sách phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu của Hàn Quốc khi đó tạo ra nhiều xi măng, sắt thép thừa. Tổng thống Park quyết định mua lại sản phẩm ứ thừa tồn kho của nhà máy để trợ giúp cho các làng, vừa kích cầu, tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp vừa tạo ra “cú hích đột phá” trong xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Tổng cộng từ năm 1971 đến 1978 mỗi làng nhận được 84 tấn xi măng và 2,6 tấn sắt thép (tương đương với 2000 USD theo tỷ giá năm 1974).    Toàn bộ vật tư Nhà nước giao cho dân quản lý. Dân làng bầu ra Ủy ban phát triển nông thôn để chịu trách nhiệm toàn bộ về lựa chọn công trình cần xây dựng, thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình, tự quyết định mức độ đóng góp, mức độ bồi hoàn đất đai, nhà cửa. Đến cuối năm 1973, 108 triệu lao động nông thôn đã tự nguyện tham gia dự án và tạo ra nguồn vốn lớn gấp 10 lần đầu tư của Chính phủ.                         Sau tám năm, năm 1978, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản hoàn thành. Từ 80% nhà lá, toàn bộ nhà nông thôn được ngói hóa, từ 27% trở thành 98% gia đình có điện, 70.000 cầu, 24.000 hồ chứa, 42.220 km đường làng được nâng cấp và xây dựng. Kết quả quan trọng nhất không phải là công trình mà là người nông dân đã trực tiếp cảm nhận sức mạnh của chính bản thân mình có thể tự đứng lên xây dựng cuộc sống và tin ở tinh thần đồng đội, tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau.     Nâng cao thu nhập    Bắt đầu từ sản xuất nông nghiệp (khuyến nông, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh), xây dựng hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trồng rừng, kinh doanh… Các làng làm tốt sản xuất nông nghiệp sẽ chuyển sang mua chung, bán chung nông sản, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp. Hỗ trợ của Nhà nước chuyển từ hiện vật sang tiền dưới hai dạng cho vay và cho không 2.000 USD/làng.     Khoảng 750 ngàn nông hộ ở 137 vùng được hỗ trợ và khuyến khích sản xuất, chế biến, kinh doanh 21 mặt hàng: gia cầm, thịt bò, sữa bò, dâu tằm, hoa màu, cây ăn quả, cá, nấm… Kết quả trong vòng sáu năm, thu nhập bình quân các nông trại tăng gần ba lần, từ 1.025 USD năm 1972 lên 2961 USD năm 1977. Và đến đầu thập kỷ 80, một điều kỳ diệu diễn ra: giữa lúc Hàn Quốc đẩy nhanh công nghiệp hoá, đô thị hoá thì thu nhập gia đình nông thôn phát triển nhanh đến mức tương đương thu nhập bình quân của các hộ ở thành phố và cơ cấu kinh tế nông thôn trở nên đa dạng với các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển.     Hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ phúc lợi xã hội     Sau khi đã có thu nhập khá giả, nhà nước mới cùng với nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng tiến hành điện khí hóa, phổ cập điện thoại, hoàn chỉnh hệ thống nhà trẻ, trường học, y tế, thư viện, hệ thống cấp nước, phát triển tín dụng nông thôn, nâng mức sống của cư dân nông thôn lên hiện đại như đô thị đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư về nông thôn. Kết quả quan trọng nhất giai đoạn này không phải là đô thị hóa nông thôn mà là hài hòa phát triển kinh tế xã hội cả nước, đưa cư dân đô thị về sống, về du lịch nông thôn, gắn đô thị với nông thôn và phát triển công nghiệp chế biến, gắn công nghiệp với nông nghiệp.   Bài học thành công  Nhìn khái quát, thành công của Hàn Quốc trong phát triển nông nghiệp do mấy nguyên nhân chính sau:    Phong trào Saemaul Undong (SU) Hàn Quốc diễn ra trong hàng chục năm, đi từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn, tự tích luỹ sức dân để dân đầu tư cho mình. Giai đoạn đầu, người dân chỉ đóng công sức và rất ít tiền. Chỉ đến năm thứ ba trở đi mới bước sang phát triển sinh kế, đến khi thu nhập tăng, mới huy động đầu tư đi kèm chính sách hỗ trợ tín dụng và mở mang thị trường. Lúc thu nhập nông thôn bằng thu nhập thành phố thì vốn của doanh nghiệp cũng đầu tư mạnh về nông thôn. Việc đi từng bước còn cho phép nhà nước tập trung đủ vốn vào mục tiêu ưu tiên, tạo quỹ thời gian để dân thay đổi tư duy, đủ thời gian để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Thời gian là vốn quý nhất mà Hàn Quốc dám dành cho phong trào SU và ở Việt Nam bị lãng phí trong cuộc chạy đua thành tích.                        Trong phong trào SU không có chuyện chợ xây ra không ai họp, nhà văn hóa làm xong bỏ hoang,… vì mọi công trình đều do “Ủy ban Phát triển Làng mới” của dân từng làng bầu ra. Người dân tự lựa chọn dự án, chọn thiết kế, quản lý lao động, vật tư và tiền của cả nhà nước cho và dân đóng góp. Trong khi đó, chương trình nông thôn mới (NTM) ở ta quản lý theo Luật Ngân sách nên phải do chính quyền xã nắm. Công trình lớn hơn còn phải gánh phí thiết kế, thuê tư vấn, bên A, bên B… có chậm trễ, lãng phí hay không đều trông cậy ở chất lượng cán bộ. Cấp xã Việt Nam là cấp Nhà nước cuối cùng, thượng vàng hạ cám đổ xuống, lãnh đạo xã phải có ba đầu sáu tay để đáp ứng mọi chỉ đạo của các bộ ngành và chính quyền tỉnh, huyện. Công việc quá tải mà lương lại thấp nên chuyện xà xẻo, lợi dụng là cám dỗ khó tránh.     “Thủ lĩnh cộng đồng”. Để chỉ đạo cơ sở, phong trào SU giao trách nhiệm cho “Thủ lĩnh cộng đồng”. Đó là một nam và một nữ có tâm, có tài do dân mỗi làng tự bầu ra để đứng đầu “Ủy ban Phát triển Làng mới. Để duy trì sức mạnh từ dưới lên, Park Chung Hee chủ trương thủ lĩnh của cộng đồng phải độc lập với chính quyền và đảng phái chính trị. Nhà nước không cho họ một trợ cấp vật chất nào, (nếu có thì do dân quyết định và đóng góp). Động lực chính là động viên tinh thần từ phía Chính phủ và sự tin cậy của dân. Họ có quyền gặp lãnh đạo ở mọi cấp vào bất kỳ lúc nào. Con cái được cấp học bổng… Hằng năm Nhà nước tổ chức đại hội toàn quốc, trao giải thưởng và tuyên dương điển hình. Huân chương “Saemaul” là phần thưởng cao quý quốc gia trao cho lãnh đạo cộng đồng xuất sắc. Người lãnh đạo cộng đồng có năng lực được đề bạt làm lãnh đạo chính quyền.     Đào tạo cán bộ cơ sở. Trong phong trào NTM, mỗi khi bàn đến phân cấp, trao quyền thì ý kiến phản đối thường gặp là năng lực cán bộ cơ sở quá yếu, không thể đảm đương trách nhiệm. Đây là chuyện không tránh khỏi khi chương trình triển khai vội, kiến thức nhồi nhét qua vài lớp tập huấn ngắn ngủi. Trong phong trào SU, cán bộ cơ sở được tập huấn năng lực mạnh dần theo phong trào. Chính phủ xây dựng ba trung tâm đào tạo quốc gia khang trang như trường đại học lớn (có giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện, hội trường, sân vận động, bể bơi, nhà thể thao, ký túc xá,…). Nhà nước đài thọ chương trình đào tạo trong vòng một – hai tuần với nội dung cụ thể gắn với từng giai đoạn của phong trào (khi xây nhà thì dạy về vật liệu, giá cả, nơi mua vật tư, cách thiết kế, kiểm soát thi công,…) có thực hành, tranh luận, hỏi đáp. Học xong về địa phương làm. Hoàn tất giai đoạn này thì học sang giai đoạn sau. Có kết nối với trường, với thầy để xin tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật. Ngoài ra trường còn dạy các kỹ năng quản lý cộng đồng (cách nói, cách viết, cách điều hành,…).     Học viên của trường sinh hoạt gắn bó và hòa đồng: mặc đồng phục, ăn cơm tập thể, ngủ giường tầng, sáng tập thể dục, ban ngày tham gia học, tối hội họp lửa trại. Để gắn kết giữa mọi tầng lớp xã hội với phong trào làng mới, Tổng thống Park Chung Hee còn cử 50 lãnh đạo đứng đầu bộ, ngành và hàng ngàn quan chức địa phương đến tham gia học tập tại các trung tâm đào tạo. Ông còn mời 2.300 giáo sư, 600 nghệ sỹ, các nhà văn, nhà báo, tôn giáo đến sinh hoạt, dự học với học viên. Sự hòa đồng khiến học viên nông dân trở nên tự tin, còn lãnh đạo gắn bó với nông dân, tầng lớp trí thức và các nhà hoạt động xã hội cảm thông và hỗ trợ phong trào SU.     Xoá bỏ tư duy ỷ lại. Từ 45 năm trước, Park Chung Hee đã chỉ mặt kẻ thù chính cản nông thôn phát triển là tư duy ỷ lại. Mọi chính sách của SU đều nhằm mục tiêu xóa bỏ ỷ lại: không lấy xã nghèo/giàu làm tiêu chuẩn lựa chọn đầu tư. Ngay từ đầu, 16.000 làng chọn để tiến hành chương trình một cách ngẫu nhiên, hằng năm đánh giá hiệu quả rõ ràng và minh bạch. Kết quả không tính bằng các “tiêu chí” cứng (có lợi cho các địa phương giàu đã ở gần đích) mà tính bằng mức độ cố gắng (đo bằng khoảng cách tiến bộ từ các mức xuất phát điểm khác nhau). Kết quả tốt xấu đều công bố công khai. Nơi nào thực hiện thành công mới được tiếp tục hỗ trợ. Chính vì thế SU không phải là một “chương trình” mà là một “phong trào” thi đua sôi nổi của người dân.     Các làng tổ chức đánh giá chéo kết quả của nhau, làng nào làm tốt mới được tiến sang bước sau, làng kém bị gạt lại tự lo mà tiến lên. Năm 1971, có 33.000 làng tham gia chương trình. Năm 1972, chỉ có 50% số làng đạt kết quả, được đi tiếp sang bước 2. Năm 1973 chỉ còn 6,7% số làng đạt loại giỏi để đi sang bước 3. Thi tuyển gay gắt mà kết quả lại công bố công khai, đài báo ca ngợi làng giỏi, chê bai làng kém. Cả nước thành một cộng đồng và khen chê dấy động lòng tự trọng của mọi người. Người sống ở đô thị, làm cơ quan nhà nước, định cư ở nước ngoài cũng phấn khích góp công, gửi của đưa làng mình đi lên, có tiếng thơm. Đến năm 1976, tỷ lệ làng căn bản chỉ còn 1%, làng trung bình chiếm 54% còn 45% đã đạt làng giỏi. Phong trào thi đua giữa các làng lan ra toàn quốc.    Vai trò của người đứng đầu. Nhiều quốc gia coi công tác phát triển nông thôn là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp phát triển nông thôn, Tổng thống Park coi đây là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ. Vì phong trào nhắm vào tổ chức và phát triển con người, Bộ Nội vụ được giao làm cơ quan điều phối chính cho Ủy ban TƯ phát triển Làng mới. Chủ nhiệm Văn phòng là Trợ lý Bộ trưởng Các vấn đề kinh tế. Ủy ban có 12 điều phối viên là Thứ trưởng các Bộ. Những Hội đồng kiểu này, nước ta có đến hàng chục cái và có lãnh đạo không nhớ nổi mình đang là thành viên của Ủy ban nào nhưng ở Hàn Quốc, Tổng thống đã trực tiếp dẫn dắt Ủy ban Phát triển Làng mới trở thành Bộ chỉ huy thực sự của Chính phủ với phong trào.     Ông khéo biến cuộc họp định kỳ hằng tháng của Hội đồng Chính phủ thành giao ban Phong trào. Vào 15 – 30 phút cuối mỗi phiên họp, ông dành thời gian cho hai lãnh đạo phong trào ở làng và địa phương báo cáo về khó khăn và đề xuất của nông dân. Các Bộ trưởng trực tiếp nghe và bàn với dân dưới sự chủ tọa của Tổng thống.     Thành công của phong trào SU đã vượt xa mong đợi. Với 70% dân số ở nông thôn có thu nhập cao bằng đô thị, giai cấp nông dân đã thành công lột xác, đi vào xã hội công nghiệp. Kỳ diệu là nhân dân thành phố, các công xưởng, cơ quan trên toàn quốc bắt đầu quay lại học tập tinh thần cộng đồng của phong trào SU ở nông thôn.                                         Sinh ra từ một gia đình nông dân, những việc ông làm cho  nông thôn xuất phát từ tình cảm chân thực, không để tô vẽ cho mình. Hầu  hết các ngày nghỉ cuối tuần, Park Chung Hee lẳng lặng đến từng làng thăm  hỏi. Ông đã đến 3.000 làng cả nước, không nghi lễ và không báo trước.  Nhiều nông dân tiên tiến và lãnh đạo cộng đồng được ông mời ăn cơm. Tổng  thống sáng tác bài hát của phong trào và cho làm lá cờ Saemaul Undong…  đưa người nông dân từ thân phận thấp kém lên vị trí trung tâm của xã  hội, đem cho họ niềm tự hào, tin tưởng ở tương lai.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học từ Zeff Bezos và Amazon      Có nhiều quyển sách viết về Amazon nhưng Jeff Bezos Và Kỷ Nguyên Amazon (Tên gốc là: The Everything store: Jeff Bezos and the age of Amazon) là quyển mà tính cách cá nhân trong công việc & trong cuộc sống của Jeff Bezos được khắc hoạ rõ nhất. Bên cạnh đó, những biến cố, những cột mốc của Amazon được miêu tả lại trực quan sinh động cùng với cách thức họ đã giải quyết như thế nào. Với tôi, những kiến thức này vẫn còn rất hữu dụng ở thị trường Việt Nam, đặc biệt đối với những ai đang làm trong lĩnh vực thương mại điện tử.      Về tính cách cá nhân của Jeff Bezos có nhiều điểm đáng lưu ý:  1. Ông ấy khởi nghiệp ở độ tuổi chín muồi của sự nghiệp, sau một thời gian dài đi làm tích luỹ kinh nghiệm, mối quan hệ và tiền bạc. Mối quan hệ với các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính giúp ông ấy có được những nguồn tiền đầu tư đúng lúc và may mắn cứu công ty thoát khỏi vực thẳm phải đến những hơn 10 lần. Bên cạnh đó, Jeff có một tư duy toán học tốt, điều đó đem đến cho ông nhiều lợi thế khi làm kinh doanh: thực tế, tập trung vào con số hiệu quả, tính toán các chỉ số khác nhau để kiểm chứng giả thuyết.  2. Jeff rất quyết đoán và “máu lạnh”. Sự bình tĩnh của Jeff (và đôi lúc là sự độc đoán, ích kỷ tiêu cực) đã giúp Amazon tồn tại qua những giai đoạn khó khăn nhất. Khi tất cả mọi người đều nghi ngờ những việc ông làm, điều duy nhất ông đã phản ứng lại lúc đó, là ông cho họ thấy lòng tin của ông vào chính mình lớn hơn cả thảy và không một chút run sợ hay nao núng. Có lẽ để đạt được tới cảnh giới này phải thực sự bỏ ngoài tai tất cả lời người khác nói về mình hay xã hội đánh giá về mình như thế nào.  3. Jeff rất thực dụng, từ việc chọn vợ (có hẳn xác xuất để chọn được người bạn đời thông minh đàng hoàng nhé), đến việc chọn những người cộng sự ban đầu, cũng cho thấy rằng mọi việc của ông đều có sự tính toán từ trước. Trừ vợ ra, những người được cho là đồng sáng lập với Jeff thời gian ban đầu ở Amazon cũng đều được Jeff cân nhắc và tính toán “tiễn” họ ra đi vào đúng từng thời điểm công ty chuyển mình. Bởi vì.. xem số (4)  4. Ông rất đề cao tính công nghệ và khả năng sáng tạo. Ông cho rằng Amazon được xây dựng trở thành một công ty công nghệ chứ không phải là công ty bán lẻ trực tuyến. Ông luôn muốn những lớp nhân viên kế thừa được tuyển dụng về sau phải luôn giỏi hơn người trước để nguồn nhân lực phải tự tranh đấu, học hỏi để giỏi hơn mỗi ngày. Ông không thích người thoả mãn với một kết quả nhất định, Ông đòi hỏi rất cao ở tất cả mọi người trong Amazon và bản thân mình, không được ngừng sáng tạo, ông cần sự đổi mới (innovation), ông cần một cuộc cách mạng thay đổi liên tục.  5. Ông không tin vào khái niệm Work – Life balance. Đối với ông, hai thứ đó là một và cần phải quyết liệt với những quyết định của mình đưa ra.  6. Bản thân ông cũng không hẳn là một nhà lãnh đạo tài ba, nhưng hình ảnh Jeff Bezos được phác hoạ trong sách này rất rõ lão là một tay buôn thứ thiệt, giữ bí mật kinh doanh, giữ suy nghĩ của mình và không chia sẻ với bất kỳ ai kể cả người thân thiết nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, Jeff chưa bao giờ là nhà điều hành giỏi như trong quyển sách này miêu tả, ông cũng không được lòng nhân viên về sau.  7. Thêm một điểm: Không liên quan tới tính cách cá nhân nhưng Jeff đầu tư nhỏ lẻ vào khá nhiều các công ty Internet trước thời kỳ bong bóng dot-com diễn ra. Ông được hưởng lợi từ một số công ty thành công, một trong số đó có Google.  Về Amazon:  1. 5 năm đầu khởi nghiệp của Amazon được miêu tả rất chi tiết và rõ ràng, tìm hiểu kỹ hơn đó cũng sẽ là hình ảnh phản ánh 5 năm đầu khởi nghiệp của bạn: sẽ có lúc công ty phát triển nóng, phát triển tới mức không kiểm soát được; sẽ có những lúc công ty rơi vào hố đen bế tắc tưởng không thoát nổi; sẽ có những giai đoạn khủng hoảng niềm tin; sẽ có vô vàn vấn đề giữa người sáng lập và những quản lý cấp trung (các công ty ở Việt Nam hiện nay cũng đang gặp phải); sẽ có những lúc công ty không còn khả năng thanh toán tiền mặt và rơi vào trạng thái nợ nần; sẽ có những khoảnh khắc người đồng sáng lập rời bỏ đi với nhiều điều tiếng ở lại,… Rốt cuộc thì ở mỗi vấn đề đó, Amazon đã giải quyết như thế nào? (Tìm câu trả lời trong sách!).  2. Các khoản lỗ lớn nhất của Amazon rơi vào thời điểm trước bong bóng dot-com diễn ra: những thương vụ mua bán sáp nhập với giá trị cao ngất ngưởng (bong bóng xì hơi thì các công ty được đưa về giá trị thật); các khoản thu mua để độc quyền phân phối một số mặt hàng trọng điểm như dịp lễ Giáng sinh (và rồi ôm hàng thua lỗ),…  3. Từng đau đầu và tranh cãi quyết liệt vào những lúc cho ra đời sản phẩm mới hay ý tưởng mới. Có lẽ nhiều công ty thương mại điện tử trong nước cũng từng gặp vấn đề này nhất là khi mò kim đáy bể giữa thị trường mênh mông rộng lớn khi chưa biết đúng – sai và tính hiệu quả như thế nào? Amazon đã giải quyết vấn đề này thiệt hay, thiệt trọn vẹn cho cả đôi bên và một lần nữa phải ngả mũ thán phục bạn Jeff ở tài linh hoạt của bạn ấy.  4. Kết thân với các chuỗi bán lẻ và học nhiều nhất có thể từ việc bán lẻ thông thường để áp dụng cho Amazon. Họ học từ công nghệ quản lý kho bãi, đến cách bày trí trong các siêu thị, vận chuyển kho hàng, cách khách hàng suy nghĩ, logic trong hành vi mua hàng thường gặp,… Amazon mời những người kỳ cựu ở BestBuy, Walmart,.. về làm việc cùng với mình. Để “săn” được những người này, chưa từng là điều dễ dàng, bạn Jeff là một thiên tài thương thuyết và đàm phán, chưa kể rất biết cách quan sát và tiếp cận những đối tượng mục tiêu của mình bằng những cách không thể tưởng tượng được:  Tóm gọn lại học được từ Amazon: Hãy học mơ mộng và suy nghĩ như một công ty bán lẻ đồ sộ nhưng hãy để công nghệ hiện thực hoá giấc mơ ấy thành con số.       Author                Ngân sâu        
__label__tiasang Bài học về phát triển cộng đồng qua chương trình OCOP      LTS: Trong bối cảnh nhiều chính quyền địa phương vẫn thường lúng túng chưa tìm ra lời giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi hỗ trợ những gì, như thế nào cho những người nông dân để cải thiện đời sống kinh tế của họ thiết thực và hiệu quả, thực tiễn phát triển chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) ở Quảng Ninh đã cho thấy những bài học kinh nghiệm quý giá. Trong chuyên đề về chương trình OCOP, phóng viên Tia Sáng đã tới những huyện khó khăn nhất của Quảng Ninh để tìm hiểu về tính hiệu quả, những thành công và thách thức, khó khăn của chương trình này trong việc hỗ trợ người dân tổ chức sản xuất, kinh doanh chuỗi nông sản bằng nội lực cộng đồng.      Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm OCOP ở huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh.  Lâu nay, trước những thách thức phát triển nông thôn do xu hướng chuyển dịch lao động sang các khu đô thị, khu công nghiệp, tình trạng mất phương hướng của người nông dân trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, Nhà nước đã có nhiều chương trình phát triển nông thôn được triển khai nhưng hiệu quả đạt được chưa như mong muốn. Nguyên nhân do chúng ta chủ yếu tập trung vào hỗ trợ sản xuất ở quy mô các hộ gia đình, coi đây là trọng tâm để triển khai các dự án “ngoại sinh” như cho giống mới, kỹ thuật mới, vay vốn để sản xuất… Việc sản xuất theo kiểu định hướng như vậy đặt các hộ sản xuất gia đình vào thế quá khó, đó là buộc họ phải thực hiện chức năng đầy đủ của một doanh nghiệp: Từ quản lý vốn, tổ chức sản xuất, đến nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, tiếp thị,… Kết quả thường thấy là điệp khúc “được mùa mất giá – được giá mất mùa”.  Trong khi vấn đề này chưa được giải quyết thì các hộ nông dân lại phải đối mặt với các thách thức của toàn cầu hóa và hội nhập khi hàng hóa của nước ngoài tràn ngập, với giá rẻ, chất lượng tương đối tốt tràn ngập thị trường.  Câu hỏi đặt ra là, tại sao chúng ta cứ phải làm ra các sản phẩm giống của nước ngoài? Liệu còn có cách nào khác không?  Trong bối cảnh như vậy, nhìn kỹ lại ở một góc khác, ta thấy vùng nông thôn có rất nhiều cơ hội, mỗi vùng miền khác nhau đều có các sản vật riêng của mình, như các giống cây trồng, vật nuôi riêng mà chỉ ở vùng đất đó mới có, hoặc công nghệ truyền thống mà cha ông đã truyền bí quyết từ nhiều đời nay. Đó là cái chúng ta có mà các “đại gia”, các doanh nghiệp xuyên quốc gia không có. Vậy tại sao ta cứ phải sản xuất những thứ lạ lẫm mà không dựa trên lợi thế so sánh của chính mình? Nhưng lại tiếp tục nảy sinh vấn đề, đó là khi chúng ta chưa thể kiểm soát được các chuỗi nông sản đặc sản thì cả người bán và người mua đều có khả năng chịu thiệt. Do vậy, một chương trình phát triển sản phẩm dựa vào đặc trưng của địa phương, có quy chuẩn và gắn theo chuỗi giá trị như OCOP, là rất cần thiết.  Cách làm của Nhật Bản và Thái Lan  Ở Nhật Bản, từ những năm 1980, để giải quyết những khó khăn vừa nêu, Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng phong trào “mỗi làng một sản phẩm” (OVOP – One Village One Product), đầu tiên ở tỉnh Oita. Theo đó, “mỗi làng”, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng, có tiềm năng tiếp cận thị trường để phát triển.  Phong trào được thực hiện theo ba nguyên tắc cơ bản: (1) Hành động địa phương – hướng tới toàn cầu, nghĩa là nhận biết và khai thác các nguồn lực sẵn có ở địa phương và phát triển chúng thành các sản phẩm có khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu bằng cách gia tăng giá trị cho chúng và theo tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế; (2) Tự lực – tự tin và sáng tạo, nghĩa là để có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, người dân cần liên tục phát triển giá trị độc đáo của riêng mình, bằng tinh thần sáng tạo của chính mình; (3) Phát triển nguồn nhân lực, nghĩa là tạo ra nguồn nhân lực bền vững, có trình độ và có tính mạng lưới, thông qua OCOP, lãnh đạo cộng đồng, người đứng đầu các tổ chức kinh tế (giám đốc doanh nghiệp, hợp tác xã, trưởng nhóm).  Trong phong trào này, người dân là chủ thể chính thực hiện, còn chính quyền đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cơ sở hạ tầng, trợ giúp tài chính và đào tạo nguồn nhân lực, v.v.  OVOP được thực hiện thành công ở tỉnh Oita và lan rộng trên khắp Nhật Bản, tạo một động lực lớn trong phát triển vùng nông thôn. Có khoảng 40 quốc gia đã học tập OVOP Nhật Bản và triển khai một cách sáng tạo ở đất nước mình. Một trong những quốc gia triển khai thành công là Thái Lan, nơi cái tên OVOP đã được “Thái hóa” thành OTOP (One Tambon One Product, nghĩa là “Mỗi làng/cộng đồng một sản phẩm”). Chương trình do Thủ tướng Thái Lan Thaksin Sinnawatra khởi xướng, được triển khai từ năm 2000 đến nay. Các sản phẩm của OTOP do chính người dân các làng xã phát triển, dựa trên tri thức và kinh nghiệm của bản thân họ. OTOP được triển khai thành chu trình thường niên (Hình 1), trong đó có việc thi sản phẩm hằng năm, từ mỗi địa phương lên cấp tỉnh và toàn quốc.    Hình 1: Chu trình OTOP thường niên ở Thái Lan.  Để triển khai chương trình OTOP, Chính phủ Thái Lan đã hình thành một bộ máy tương đối gọn nhẹ từ trung ương đến địa phương. Tất cả các bộ, ngành đều được yêu cầu tham gia vào OTOP nhằm hỗ trợ cộng đồng phát triển và thương mại hóa thành công sản phẩm của mình.  Vận dụng OVOP ở Việt Nam  Ngay từ năm 2000, một số nhà khoa học, nhà quản lý ở Việt Nam đã cố gắng tìm hiểu và vận dụng OVOP, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp. Điển hình là Đề án “Mỗi làng một nghề” với điểm nhấn là các làng nghề ở Việt Nam. Một số địa phương ở Việt Nam đã cố gắng triển khai Mỗi làng một nghề, như Thừa Thiên – Huế, Bình Định, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long,… Tuy nhiên, đến nay việc triển khai đề án gặp nhiều khó khăn vì nhiều lý do khác nhau:  Thiếu các hiểu biết cặn kẽ về OVOP: Bản chất của OVOP, cách triển khai OVOP, cách áp dụng OVOP, bài học thành công, thất bại ở các quốc gia khác nhau. Triển khai rộng, bao trùm nhưng mất phương hướng với việc tập trung vào “nghề” còn điểm mấu chốt là sản phẩm, yếu tố quan trọng nhất để tạo ra doanh thu và nuôi sống người dân, bị đặt xuống vị trí thứ yếu.  Theo định hướng sẵn “từ trên xuống”: Người dân không được tham gia ngay từ đầu và dẫn đến tham gia một cách thụ động.  Thiếu các hiểu biết cặn kẽ về thực tiễn một cách tổng thể: Các nội dung được thiết kế trên các hiểu biết chung chung về các làng nghề, nông thôn Việt Nam, thiếu các hiểu biết về hiện trạng các sản phẩm, xu hướng, các sản phẩm tiềm năng, trình độ tổ chức của cộng đồng, khả năng hấp thụ vốn, khoa học công nghệ, các yếu tố kinh tế – văn hóa – xã hội, v.v.  Thiếu đội ngũ các chuyên gia tham gia hỗ trợ cộng đồng và nhà quản lý.  Chủ yếu mới là vấn đề của ngành nông nghiệp, chưa có sự tham gia vào cuộc của chính quyền và các ngành có liên quan.  Tư duy “sản xuất lớn”, “phải ra tấm ra món”, theo đó quy luật phát triển từ nhỏ đến lớn bị bỏ qua.  Gần đây, tại các diễn đàn, hội thảo người ta bắt đầu nói đến “Mỗi làng một nghề, sản phẩm” theo cách chắp thuật ngữ. Điều này dẫn đến khái niệm càng trở nên quá rộng, thiếu tập trung. Một số nơi đã bắt đầu thu gom các sản phẩm địa phương thành hệ thống các sản phẩm OVOP ở Việt Nam, tuy nhiên lại chưa chú trọng phát huy nguồn lực sẵn có của hệ thống chính quyền các cấp.  OCOP ở Quảng Ninh  Năm 2012, chúng tôi đề xuất ý tưởng Chương trình OVOP và được Ban Phát triển Nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh, sau đó là UBND, Tỉnh uỷ Quảng Ninh nhanh chóng tán đồng và đề nghị thực hiện dự án. Chương trình được đặt tên là “OCOP” – “Mỗi xã, phường một sản phẩm”, đã được xây dựng triển khai một cách có hệ thống, trên cơ sở xem xét kỹ lưỡng và khắc phục các hạn chế đã nêu trên, theo các nguyên tắc: Nắm vững và tuân thủ ba nguyên tắc của OVOP Nhật Bản; Hiểu biết cặn kẽ về cộng đồng và các sản phẩm tại cộng đồng (kể cả các sản phẩm sẵn có và tiềm năng) để vận dụng phù hợp trên nguyên tắc của OVOP; Có sự tham gia đầy đủ của bốn “nhà”, đặc biệt là chính quyền.  Điểm mấu chốt của Chương trình là cách thực hiện, gọi là Chu trình OCOP thường niên (Hình 2). Chu trình này được xây dựng trên cơ sở bổ sung một số bước của OTOP Thái Lan, bởi nông dân Việt Nam chưa quen với kinh tế thị trường.    Hình 2: Chu trình OCOP thường niên tại Quảng Ninh  Dưới góc độ phát triển cộng đồng, Chương trình OCOP Quảng Ninh đã cơ bản thực hiện đầy đủ các nguyên tắc phát triển cộng đồng sau đây:  Xuất phát từ người dân (từ dưới lên): Người dân quyết định tham gia Chương trình bằng việc đề xuất ý tưởng về sản phẩm. Dựa trên ý tưởng này, hệ thống OCOP của tỉnh chính thức “vào cuộc” ở các công đoạn tiếp theo.  Đồng bộ trên mọi khía cạnh (kinh tế, xã hội, văn hoá): Khi các sản phẩm địa phương được phát triển và thương mại hóa thành công, người dân được hưởng các thành quả, như: tạo ra thu nhập, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Điều quan trọng nhất là khi người dân là chủ nhân của quá trình phát triển, bằng cách góp vốn vào các hợp tác xã, công ty cổ phần,… tại cộng đồng, họ được quyết định các hướng phát triển, chia sẻ lợi ích.  Sự tham gia của cộng đồng: Các nguồn lực cộng đồng được huy động đầy đủ, từ tri thức, công nghệ truyền thống, nguyên liệu địa phương, đến vốn góp, quản trị, quyết định các chiến lược phát triển, phân chia lợi ích có được từ sự phát triển. Với sự tham gia đầy đủ như vậy, người dân là chủ nhân của quá trình phát triển, thay cho thân phận đi làm thuê vẫn thường được nghĩ và diễn ra trong thực tế ngày nay.  Nhà nước chỉ đóng vai trò là người “tạo sân chơi” (triển khai chu trình) và hỗ trợ cộng đồng những phần còn thiếu và điều phối các nguồn lực, như tăng phần vốn cho sản xuất của Chương trình xây dựng nông thôn mới, nắn dòng ngân sách khoa học công nghệ.  Nghiên cứu nền tảng là quan trọng: Để triển khai Chương trình này, DKPharma, với vai trò là cơ quan tư vấn đã thực hiện phần nghiên cứu cơ bản về các sản phẩm của tỉnh Quảng Ninh, từ nguồn gốc công nghệ, nguyên liệu, đến mô hình tổ chức, cách thức tổ chức sản xuất – kinh doanh, xúc tiến thương mại. Các kết quả nghiên cứu đã được phân tích và ứng dụng trong quá trình triển khai Chu trình OCOP cũng như tư vấn tại chỗ cho cộng đồng.  Mô hình năm nhà – theo cách làm của Israel: Ngoài bốn nhà thường được nhắc tới là nhà nông, nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học, trong quá trình triển khai OCOP, DKPharma đóng vai trò là nhà thứ năm: nhà tư vấn, có vai trò bám sát cộng đồng trong suốt quá trình, từ hình thành, đến lo vốn, quản trị doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, nghiên cứu phát triển, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, xúc tiến thương mại, và kết nối với các nhà khác.  Những sáng tạo và thành công của Quảng Ninh trong việc triển khai Chương trình OCOP có được là nhờ sự vận dụng kiến thức, kỹ năng đa ngành, từ lĩnh vực phát triển cộng đồng, đến kinh tế, quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu phát triển, kinh doanh, tiếp thị,… xoay quanh trung tâm là sản phẩm mà không đơn thuần là các vấn đề kỹ thuật, và trên hết là đội ngũ con người.  Việc triển khai OCOP ở Quảng Ninh đã mang lại nhiều bài học, cả lý luận và thực tiễn trong việc chuyển biến từ “Chính phủ quản lý/Chính phủ cai trị” sang “Chính phủ kiến tạo”, là điều mà chúng ta hiện nay đang mong mỏi, cũng như góp phần thực hiện chuyển nền kinh tế địa phương từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu bằng việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng giá trị, trong đó chuyển trọng tâm từ hỗ trợ các hộ gia đình đơn lẻ sang hỗ trợ các tổ chức kinh tế của cộng đồng.  ————–  Tác giả là PGS.TS Chủ nhiệm Bộ môn Thực vật, Đại học Dược. Nguyên Chủ tịch kiêm Giám đốc công ty DKPharma, Tổ chức tư vấn Chương trình OCOP Quảng Ninh.       Author                Trần Văn Ơn        
__label__tiasang Bài toán chuyển giao công nghệ: Một phần lời giải      Theo một khảo sát gần đây của nhóm chuyên viên Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN về bảy viện nghiên cứu và trường đại học ở cả ba miền trên cả nước, mặc dù mỗi năm có khoảng 5-6 sản phẩm khoa học công nghệ, các tổ chức này đều gặp khó khăn trong việc nắm bắt hoạt động chuyển giao của mình. Họ cho rằng: “đã không khuyến khích được, sao còn muốn siết chặt quản lý?”      Anh Lưu Hồng Sơn trong phòng phát triển sản phẩm Anti-HPPro. Ảnh: Hảo Linh.  Vừa khuyến khích, vừa siết chặt?  Trên thực tế, ngay cả khi không sử dụng kinh phí nghiên cứu từ ngân sách, các giảng viên vẫn được nhà trường hỗ trợ gián tiếp thông qua lương, kinh phí từ các đề tài và nhờ làm việc tại một cơ sở giáo dục, các nhà khoa học mới có thể huy động đồng nghiệp, sinh viên cùng làm sản phẩm và có uy tín để chuyển giao nghiên cứu của mình. Vì vậy, việc nhà trường nhận một phần nguồn thu từ hoạt động chuyển giao là chính đáng. Đó còn chưa kể, việc quản lý hoạt động này khiến cho các trường đánh giá được năng lực nghiên cứu và “tài sản trí tuệ” của mình để huy động tài trợ cho tương lai.    Tuy nhiên, ngay cả khi biết điều đó, các trường vẫn cho rằng, trong hoàn cảnh với mức lương khiêm tốn, áp lực giảng dạy và nghiên cứu quá lớn, nhà khoa học vẫn tự vận động những mối quan hệ cá nhân của mình với các địa phương, doanh nghiệp để tự thương mại hóa nghiên cứu của mình là điều đáng quý, bất kể có chia sẻ cho nhà trường hay không. “Thả lỏng” là một cách để nhà trường tạo điều kiện giúp các nhà khoa học có thêm thu nhập và để các nghiên cứu khoa học có đóng góp thiết thực cho xã hội. Nếu quản lý chặt, trường đại học nào cũng sợ làm nhụt ý chí chuyển giao công nghệ của các nhà khoa học và nguy hiểm hơn, đội ngũ giảng viên tài năng và năng động rồi sẽ “bỏ trường mà đi”.  Chuyển giao công nghệ của trường đại học là một hoạt động chứa nhiều mâu thuẫn trong bối cảnh Việt Nam. Ai cũng hiểu rằng, chuyển giao công nghệ không chỉ mang đến một nguồn thu đáng kể mà còn đưa những kết quả nghiên cứu ra đời sống, khẳng định trách nhiệm phát triển kinh tế – xã hội rõ rệt của trường đại học. Tuy nhiên, làm thế nào để khuyến khích các nhà khoa học vừa chủ động, xông xáo đi tới, tìm hiểu và nghiên cứu những gì mà doanh nghiệp đang cần nhưng lại vừa “vui vẻ” chấp nhận trường đại học quản lý việc chuyển giao của mình và sẵn sàng đóng góp một phần doanh thu của họ từ hoạt động này cho trường?    Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã tìm cách giải quyết vấn đề này bằng một chính sách đầy hào phóng, không những không thu phí mà còn thưởng thêm 10% giá trị hợp đồng chuyển giao cho các tác giả. Như vậy, họ không chỉ tạo động lực cho các nhà khoa học năng động trong chuyển giao mà còn tự nguyện “báo cáo thành tích” với trường. Nhưng, chính sách này đã không có tác động khuyến khích như mong đợi. “Thưởng” không phải là câu trả lời. Đáp án cho bài toán này phức tạp hơn người ta tưởng.       Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, một cơ sở “chị em” với Đại học Khoa học Thái Nguyên không có chính sách thưởng. Thay vào đó, Nhà trường tìm nhiều cách “sát cánh” cùng nhà khoa học từ lúc có ý tưởng nghiên cứu cho đến khi có sản phẩm và đảm bảo rằng họ luôn được hỗ trợ tối đa từ việc tiếp cận thông tin, xác định nhu cầu và hoàn thiện các hồ sơ chuyển giao công nghệ. Các cán bộ phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế chia sẻ với phóng viên Tia Sáng rằng, họ nắm rõ những sản phẩm khoa học công nghệ nào của trường có khả năng chuyển giao, sản phẩm nào có khả năng đăng ký sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy, sản phẩm KHCN được đăng ký sở hữu trí tuệ có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Từ năm 2016 đến nay, doanh thu từ chuyển giao công nghệ của Nhà trường đạt 70 tỷ đồng với khoảng 30-40 hợp đồng mỗi năm.  Mối ràng buộc “tình cảm”  Cách đây hơn một tháng, tại sự kiện Techfest tổ chức ở Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dự án khởi nghiệp được giải nhất là thuốc viên chữa đau dạ dày Anti – HPPro (được chiết xuất từ lá khôi, abồ đề, chè dây), xuất phát từ một đề tài cấp cơ sở do Khoa Công nghệ sinh học – Công nghệ thực phẩm thực hiện, chỉ vỏn vẹn 10 triệu đồng. Tuy nhiên, không đợi đến khi được giải, nhà trường đã nhanh chóng hỗ trợ thêm 10 triệu nữa để nhóm hoàn thiện sản phẩm. Nhà trường cũng lo liệu luôn thủ tục, chi phí đăng ký sở hữu trí tuệ và tham gia quảng bá ở các triển lãm, hội chợ cùng với nhóm. Khoa cũng cung cấp cho nhóm một không gian làm việc riêng. Chính vì vậy, mặc dù đã được nhiều doanh nghiệp ngỏ lời mua công nghệ (trong đó có doanh nghiệp dược Vĩnh Phúc) nhưng ThS.Lưu Hồng Sơn, trưởng nhóm đều từ chối vì muốn thành lập công ty spin-off và phát triển Anti-HPPro thành sản phẩm mang thương hiệu của riêng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.  Đây không phải là lần đầu tiên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có tên trên sản phẩm. Trong hai năm 2014 – 2015, khoa còn có ba sản phẩm được đặt hàng bởi công ty CP Giống và Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng đó là, enzyme biotic (để phối trộn với thức ăn chăn nuôi), trà dây và trà giảo cổ lam túi lọc. Dù kết quả này xuất phát từ biên bản ghi nhớ của riêng khoa với công ty nhưng họ vẫn muốn thông qua trường và in logo, nhãn hiệu của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên lên bao bì sản phẩm. Những giảng viên trong khoa cho rằng đó là “đóng góp trở lại đối với sự giúp đỡ của nhà trường”.    “Cũng có thể là trường mình mang tính chất miền núi nên nó gần gũi”, TS. Nguyễn Văn Duy, trưởng khoa Công nghệ sinh học – Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cười, lý giải vì sao các giảng viên muốn trường làm đại diện thay vì lấy danh nghĩa cá nhân tự chuyển giao. Thực chất, được khám phá và hỗ trợ đúng lúc, các nhà khoa học cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm với trường, giống như một sự ràng buộc không chính thức. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi các nhà khoa học cảm thấy hài lòng khi sản phẩm do cá nhân mình nghiên cứu được đứng tên bởi tập thể. Hơn nữa, TS. Duy còn cho rằng, “người ta tìm đến mình cũng vì thương hiệu của nhà trường”.  Phòng chuyển giao công nghệ “bất đắc dĩ”  Nhưng điều đó chưa đủ. Trên thực tế, danh tiếng và sự ràng buộc “tình cảm” của nhà trường sẽ không có ý nghĩa mấy đối với những nhà khoa học đã có nhiều kinh nghiệm, có uy tín và ảnh hưởng. Nói cách khác, họ sẽ có xu hướng tự mình chuyển giao các kết quả nghiên cứu mà không cần thông qua trường. Để hạn chế tối đa điều này, nhà trường phải có những lợi ích, giá trị vượt trội so với các cá nhân tự chuyển giao. Vì vậy, phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã được “biến” thành một văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Office). Tận dụng vai trò quản lý, điều phối và hỗ trợ các chương trình, đề tài nghiên cứu trong trường và mối quan hệ thân thiết với các giảng viên, phòng này nhạy bén với khả năng thương mại hóa của kết quả nghiên cứu và thiết lập được mạng lưới quan hệ rộng lớn với các tỉnh, doanh nghiệp từ các giảng viên, sinh viên, cựu sinh viên.  Từng là một trường đại học tham gia đào tạo nhân lực cho 16 tỉnh miền núi phía Bắc, các cán bộ chuyển giao trong trường giữ mối quan hệ chặt chẽ với các tỉnh thông qua mạng lưới cựu sinh viên (trong số đó nhiều người trở thành lãnh đạo sở, ngành các tỉnh, bộ, ngành trung ương). Họ ký với mỗi tỉnh một biên bản ghi nhớ, nhằm nhận những vấn đề, bài toán của tỉnh và tìm cách giải quyết dựa trên năng lực nghiên cứu của trường. Hiện nay, số dự án chuyển giao công nghệ cho các tỉnh chủ yếu tập trung ở Hà Giang (20 dự án), Yên Bái (8 dự án), Cao Bằng (5 dự án). Tiếp đó, nhờ vào mối quan hệ với các tỉnh, họ lại tìm đến các doanh nghiệp nổi bật trong tỉnh để “chào kết quả nghiên cứu”. Ngoài ra, thông qua chương trình “Nông thôn, miền núi”, yêu cầu kết hợp với một doanh nghiệp để chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cho bà con nông dân vùng dân tộc thiểu số cũng là cách để họ tạo dựng mối quan hệ. Bên cạnh đó, họ còn tổ chức hội thảo “Kết nối cung cầu” để liên kết giữa doanh nghiệp, địa phương và nhà khoa học 1-2 lần hằng năm.  Hiện nay, nhà trường đã có một quy trình chuyển giao tương đối bài bản: Làm việc với các tỉnh và doanh nghiệp để tìm hiểu nhu cầu của họ và giới thiệu về năng lực nghiên cứu của mình. Nếu trường đã có sẵn sản phẩm khớp với nhu cầu doanh nghiệp thì họ nhanh chóng kết nối, chuyển giao. Nếu không, họ sẽ tư vấn để nhà khoa học có thể điều chỉnh hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm cho phù hợp.  Ngay cả trong trường hợp nhà khoa học tự xây dựng liên kết với doanh nghiệp, khi chuyển giao, họ vẫn cần đến phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế. Không chỉ bởi vì phòng này sẽ giúp các nhà nghiên cứu chuyển giao với danh nghĩa nhà trường, tránh những rủi ro “giữa đường đứt gánh”, lo liệu các thủ tục, giấy tờ (chẳng hạn như để có thể chuyển giao sản phẩm công nghệ cho các tỉnh, cần có xác nhận quy trình công nghệ do hội đồng cơ sở thông qua) mà còn đi cùng với nhà khoa học xuống tận doanh nghiệp để tìm hiểu, đàm phán. Họ cũng phụ trách việc tư vấn sở hữu trí tuệ cho các nhà khoa học. Bất kì khoa nào muốn đưa sản phẩm ra thị trường, cũng đều được họ “gọi lên tư vấn” và đề xuất sản phẩm nên được điều chỉnh, cải tiến ra sao để phù hợp với thị trường và từ đó đăng ký sở hữu trí tuệ theo hướng nào là phù hợp. “Nhưng bọn tôi không có chuyện tư vấn xong là để đấy mà cử một cán bộ trực tiếp xuống văn phòng sở hữu trí tuệ của tỉnh, bộ, giúp cho chủ nhiệm đề tài, đồng thời mình có thêm kinh nghiệm” – TS. Lê Minh, phó phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế cho biết. Sắp tới, phòng sẽ có một bộ phận chuyên nghiệp được đào tạo bài bản về vấn đề này.  ***  Khi phóng viên Tia Sáng tới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chúng tôi thấy, “tự chủ đại học” là từ khóa được nhắc đến thường xuyên. Với Trường đại học này, khái niệm “tự chủ” có lẽ đang thể hiện rõ nhất ở khía cạnh “tài chính” khi Bộ Giáo Dục và Đào tạo không còn cấp kinh phí cho Đại học Nông Lâm Thái Nguyên kể từ năm 2020 (hiện nay ngân sách rót về trường là 10 tỷ/năm, chiếm 10% chi thường xuyên). Hiện nay, chuyển giao công nghệ là lời giải rõ ràng nhất cho vấn đề này. Tuy nhiên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên vẫn gặp khó khăn trong việc “tái đầu tư” cho nghiên cứu dựa vào doanh thu từ hoạt động chuyển giao công nghệ bởi phần lớn đều được giao cho tác giả công trình còn nhà trường chỉ thu về một số tiền khiêm tốn, chiếm khoảng 5% (không quá 15 triệu/nhiệm vụ/năm), gọi là phí quản lý nhiệm vụ. Bên cạnh đó, khi chuyển giao kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp, nên “bán đứt” bản quyền hay hưởng % lợi nhuận từ doanh thu của doanh nghiệp? Nếu nhận thì trong bao lâu? Nhà trường có được thương mại hoá sản phẩm thông qua việc thành lập các doanh nghiệp thuộc trường đại học? Đó là những câu hỏi mà cán bộ làm nhiệm vụ chuyển giao của trường chưa có câu trả lời. Khi phóng viên Tia Sáng rời trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, anh Lưu Hồng Sơn, tác giả của Anti-HPPro chia sẻ: “Bọn mình không lo thiếu tiền, chỉ lo không biết làm việc với doanh nghiệp thôi”.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Bài toán đồng hóa dữ liệu và những thách thức của Việt Nam      Để có được những thông tin dự báo thời tiết tốt, cần phải giải quyết được bài toán về đồng hóa dữ liệu (data assimilation), tuy nhiên bản thân bài toán này còn ẩn chứa nhiều thách thức với các nhà nghiên cứu Việt Nam.      Việc đưa ra dự báo thời tiết chính xác không dễ. Theo GS. TS Phan Văn Tân, trường Đại học KHTN (ĐHQGHN), “thời gian càng ngắn, hiện tượng xảy ra càng ở quy mô nhỏ thì càng khó dự báo. Đến giờ chúng ta vẫn chưa thể dự báo được nhiều hiện tượng thời tiết như mưa lớn, tố lốc, mưa cục bộ…”. Về cơ bản, để đưa ra dự báo, các nhà nghiên cứu cần có được các dữ liệu miêu tả trạng thái của khí quyển và bề mặt Trái đất (đất và đại dương) và chất lượng của dự báo phụ thuộc vào mức độ họ xử lý thông tin nhận được trong thời gian thực từ hệ thống quan trắc, bao gồm các thiết bị vệ tinh, rada, trạm thời tiết, tàu biển, máy bay thám sát, bóng thám không… và đưa vào các mô hình số trị.  Đặc biệt, với bài toán dự báo thời tiết, điều kiện ban đầu về trạng thái khí quyển là yếu tố quyết định đến độ chính xác của dự báo do những sai số ban đầu có thể sẽ bị khuếch đại lên theo cách mà người ta vẫn gọi là hiệu ứng cánh bướm (butterfly effect) – mô tả độ nhạy của hệ động lực học vật lý khí quyển đối với điều kiện gốc.  Vậy vai trò của đồng hóa dữ liệu ở đây là gì? GS. Phan Văn Tân giải thích, “dự báo thời tiết phụ thuộc rất lớn vào dữ liệu đầu vào trong khi các dữ liệu mà chúng ta có khá đa dạng và khác nhau bởi nhận được từ nhiều nguồn, nhiều loại các thiết bị quan trắc khác nhau. Do đó, để hòa hợp các dữ liệu ấy thành một bộ dữ liệu tương đối đồng nhất về tính chất rồi đưa vào các mô hình tính toán, chúng ta cần đồng hóa dữ liệu”.   Những vấn đề khó vượt qua   Nhưng cũng như các vấn đề khác trong nghiên cứu khí tượng – khí hậu ở Việt Nam, bài toán đồng hóa dữ liệu này không dễ giải quyết.   Thứ nhất, nó phụ thuộc vào việc chúng ta có được những dữ liệu gì, có đầy đủ và chi tiết hay không. Theo các nhà nghiên cứu, muốn có được đầy đủ dữ liệu đầu vào, cần phải có mạng lưới quan trắc cao không tốt hoạt động liên tục 24/24, đặc biệt ở những nơi có địa hình trọng yếu như dốc, sườn núi – vốn thường diễn ra các trận lũ quét, sạt lở. Tuy vậy, đây vẫn là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam bởi theo video trả lời phỏng vấn của ông Trần Hồng Thái, Phó Tổng cục trưởng phụ trách  Tổng cục Khí tượng thủy văn (Bộ TN&MT) bên lề hội thảo “Nắm vững công nghệ và kiến thức để đáp ứng những thách thức trong kỷ nguyên mới của dự báo bão” vào tháng 2/2018: “Hệ thống các trạm quan trắc của chúng ta còn thưa so với khu vực, công nghệ của các trạm quan trắc còn thấp so với khu vực, tỷ lệ những trạm khí tượng, những trạm báo mưa, trạm quan trắc về mực nước tự động còn rất ít. Và nó làm cho việc tiếp nhận số liệu không đầy đủ, không chính xác và không kịp thời…”1  Mặt khác, các dữ liệu này đều ở các định dạng rất khác nhau, ví dụ thông tin từ mây do vệ tinh cung cấp dưới dạng ảnh, trong khi những thông tin từ nhiệt độ ghi lại bằng thiết bị tự động lại dưới dạng con số, thông tin từ rada là tín hiệu phản hồi từ sóng vô tuyến. “Thậm chí, các thiết bị rada của các hãng khác nhau cũng cho những dữ liệu khác nhau do chênh lệch về độ nhạy”, GS. TS Phan Văn Tân cho biết.    Giống như công việc của các nhà khoa học máy tính khi xử lý dữ liệu phi cấu trúc – những thông tin không được định nghĩa trước về mô hình dữ liệu hay cách thức tổ chức nội dung của dữ liệu, việc đồng hóa dữ liệu trong lĩnh vực khí tượng cũng là một dạng bài toán xử lý dữ liệu hết sức phức tạp với các phương pháp nội suy phân tích (statistical interpolation), nội suy tuần tự bằng bộ lọc Kalman (sequential interpolation: the Kalman ﬁlter)2…Theo đánh giá của GS. TS Phan Văn Tân, “muốn đồng hóa được các dữ liệu khác nhau này, không chỉ đòi hỏi nhà nghiên cứu giỏi về khoa học máy tính mà còn phải hiểu rất sâu sắc về tính chất vật lý của các hiện tượng trong khí quyển”.  Do vậy, bài toán đồng hóa dữ liệu đã “động chạm” đến vấn đề cố hữu của khí hậu – khí tượng Việt Nam: không có nhiều người đủ năng lực giải quyết được vấn đề này.   Không dễ giải quyết ngày một ngày hai, ngay cả Viện Khoa học Khí tượng và biến đổi khí hậu cũng chỉ dám đặt mục tiêu “giải quyết được bài toán này trong vòng 5 năm tới” như lời của TS. Mai Văn Khiêm – Phó viện trưởng.   Từng chứng kiến một cuộc thử nghiệm đồng hóa dữ liệu trên các dữ liệu chưa chuẩn mực, GS. TS Phan Văn Tân hiểu cái thiếu hụt trong năng lực của Việt Nam là gì. Ông cùng đồng nghiệp ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) đã đề xuất việc mời TS Kiều Quốc Chánh – trưởng một nhóm nghiên cứu về khí tượng ở trường Đại học Indiana, Mỹ và là một chuyên gia phát triển các thuật toán đồng hóa số liệu quan trắc vệ tinh để cải thiện dự báo bão và thời tiết cực đoan, về Việt Nam tổ chức một khóa tập huấn vào tháng 8/2018 – một nhánh nhỏ trong hợp phần tài trợ đưa các chuyên gia giỏi ở nước ngoài về KHCN và đổi mới sáng tạo về Việt Nam của FIRST với ĐHQGHN. Những khóa học như thế rất có ích cho các nhà nghiên cứu trong nước, vốn không phải lúc nào cũng có điều kiện tham gia các workshop và seminar ở nước ngoài.   Tuy nhiên những gì diễn ra trên thực tế lại diễn ra trái với kỳ vọng của các nhà tổ chức. “Chúng tôi đã thông báo rộng rãi thông tin về khóa học nhưng số lượng những nhà nghiên cứu tới lớp không đáng bao nhiêu. Có nhiều người mà mình biết là có năng lực tiếp thu và cũng đang muốn thúc đẩy nghiên cứu về thời tiết ở một số nơi, vì lí do này hay lý do khác, đã không đến. Tôi cảm thấy rất buồn bởi họ chưa cảm thấy những điều đó thực sự có ích cho chính công việc và chưa thấy nhu cầu thiết thân phải nâng cao năng lực nghiên cứu của mình,” GS. TS Phan Văn Tân nhận xét. Để khỏi “phí” mất cơ hội này, ông đã phải mời thêm học viên cao học, thậm chí cả sinh viên đại học, tới lớp.    Do đó, trong quá trình hội nhập và học hỏi bên cạnh những rào cản về mặt khách quan như sự chưa đầy đủ của dữ liệu cũng như cái yếu kém năng lực tính toán của thiết bị, còn có những tồn tại từ chính những người làm nghề. PGS. TS Ngô Đức Thành, trường Đại học KH&CN Hà Nội, cho rằng, máy móc có thể dần đầu tư trang bị nhưng còn vấn đề con người thì cần nỗ lực tự thân của mỗi người làm nghiên cứu trong việc nâng cao năng lực, qua đó góp phần đem lại ý nghĩa cho các sản phẩm nghiên cứu của mình.   ***  Dù từng thất bại nhưng những người mong muốn thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế như GS. TS Phan Văn Tân vẫn ấp ủ ý định tổ chức nhiều hoạt động như thế trong tương lai. Nhớ lại thời điểm cách đây 20 năm khi quyết định bỏ 4 cuốc dạy thêm ở các trung tâm vào dịp cuối tuần để chuyên tâm vào nghiên cứu, ông nheo mắt: “Trước tác động của biến đổi khí hậu, nhịp điệu mùa cũng có thể có sự biến đổi, ví dụ như mùa đông đến muộn hơn hay kết thúc sớm hơn nhưng bao giờ người ta vẫn cảm nhận được sự tồn tại của mùa. Chúng tôi cũng vậy, dù thế nào vẫn luôn tìm ra cho mình cách thức tối ưu để tiếp tục nghiên cứu của mình”.   —  1.https://tuoitre.vn/the-gioi-co-chung-thach-thuc-ve-du-bao-cuong-do-bao-20180226135514566.htm  2. cerea.enpc.fr/HomePages/bocquet/teaching/assim-mb-en.pdf  3. https://www.ecmwf.int/en/research/data-assimilation  Đồng hóa dữ liệu thường là một quy trình diễn ra theo các bước thời gian tuần tự, trong đó kết quả dự báo bằng mô hình số trị được so sánh với các quan trắc mới nhận được, sau đó liên tục cập nhật thông tin quan trắc mới vào mô hình này để mô hinh có thể phản ánh được các quan sát, dự báo mới. Bước cập nhật trong quy trình đồng hóa dữ liệu thường được gọi là phân tích và dự báo mô hình trong thời gian ngắn được dùng để tạo ra phân tích được gọi là dự báo nền. Công việc này hết sức phức tạp và phải sử dụng nhiều mô hình, ví dụ để giải thích cho tính chất hỗn loạn tự nhiên của khí quyển và sự không chắc chắn liên quan đến dự báo, Trung tâm Các dự báo hạn vừa của châu Âu (European Centre for Medium – range Weather Forecasts ECMWF) phải chạy đồng thời 51 mô hình dự báo, trong đó có mô hình dự báo sử dụng trạng thái ban đầu tốt nhất và 50 mô hình dự báo khác với các thay đổi nhỏ so với trạng thái ban đầu. Do vậy, việc đồng hóa dữ liệu liên quan chặt chẽ đến năng lực tính toán của hệ siêu máy tính 3.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Bài toán kinh tế Trung Quốc từ chiếc máy iPhone      Tháng trước, trong khi người tiêu dùng đang háo hức làm quen với chiếc Iphone 4 của Apple thì một nhóm các nhà nghiên cứu ở thung lũng Silicon lại đang tiến hành một công việc hoàn toàn nghiêm túc.      Họ tháo tung vỏ điện thoại ra và phân tích từng thành phần bên trong của mẫu điện thoại mới này nhằm xác định danh tính của các nhà cung cấp linh kiện chính của hãng Apple. Những báo cáo này đã cung cấp một cái nhìn tổng quát về phương thức sản xuất của công ty.   Phân tích mới nhất chỉ ra rằng phần chi phí nhỏ nhất của Apple là ở Thâm Quyến, nơi những người công nhân lắp ráp theo dây chuyền các bộ phận như mạch vi xử lý từ Đức và Hàn Quốc, bộ xử lý bắt tín hiệu Wifi và sóng điện thoại làm từ Mỹ, màn hình cảm ứng từ Đài Loan, cùng với hơn 100 linh kiện khác.  Nhưng điều kết quả nghiên cứu không nói đến là công nghiệp sản xuất ở Trung Quốc dự kiến sẽ đòi hỏi chi phí cao hơn. Chi phí nhân công tăng mạnh do sự thiếu hụt nhân công cùng tình trạng bất ổn do người lao động đòi hỏi lương cao, kèm theo đồng Nhân dân tệ lớn mạnh không ngừng khiến xuất khẩu trở nên đắt hơn, chưa kể lạm phát và chi phí nhà đất cũng tăng mạnh. Tất cả những điều này đang là mối đe doạ đối với sự tăng lên nhanh chóng về giá cả của các thiết bị đang được gia công như máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số và điện thoại smartphone.  Nhiều chủ nhà máy đã bắt đầu chuyển cơ sở sản xuất khỏi trung tâm sản xuất hàng điện tử ở Thâm Quyến, dời về những vùng ở phía Tây có mức chi phí thấp hơn, hoặc thậm chí sâu trong các khu vực miền núi của Trung Quốc.  Vào cuối tháng sáu, một nhà quản lý của Foxconn Technology- một trong những xưởng sản xuất chính của hãng Apple đã nói công ty dự định giảm chi phí bằng cách di chuyển hàng trăm ngàn công nhân từ Thâm Quyến tới một số khu vực khác của Trung Quốc, trong đó có tỉnh Hà Nam.          Bảng phân tích chi phí sản xuất iPhone, trong đó chi phí lắp ráp chiếm một phần rất nhỏ        Tuy công lao động trong dây chuyền lắp ráp sau cùng của chiếc máy iPhone chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí – khoảng 7% theo một số đánh giá – nhưng các nhà phân tích cho biết rằng hầu hết các công ty trong chuỗi cung ứng của Apple bao gồm các nhà sản xuất chip, sản xuất pin và những khuôn đúc bằng nhựa và cả những bảng mạch in đều trông chờ vào chi phí rẻ từ các nhà máy Trung Quốc để duy trì mức giá thấp. Và có lẽ hiện tại, các nhà máy đó sẽ phải nâng cao giá bán để bù đắp cho phần chi phí tăng thêm của họ.  “Những công ty hàng điện tử đang cố gắng tìm lời giải cho trước vấn đề gia tăng chi phí” nhận định từ bà Jenny Lai, chuyên gia phân tích công nghệ ở Ngân hàng Đầu tư CLSA tại Hồng Kông. “Họ vốn đã cố gắng xiết chặt chi tiêu, nên nếu phải tăng chi phí hơn nữa thì không phải là điều dễ dàng”.  Apple có khả năng trang trải các khoản chi phí tăng thêm tốt hơn đa số các hãng khác do biên lợi nhuận lên đến 60% cùng với quyền định giá,  Nhưng theo một số phân tích thì nhìn chung các hãng chế tạo máy tính cá nhân, điện thoại di động và các sản phẩm điện tử khác – bao gồm Dell, Hewlett-Packard và LG – phải đối mặt với biên lợi nhuận mỏng hơn nhiều. Bà Lai cho biết: “Thách thức sẽ đến với họ ngày một nhiều hơn”. Hầu hết các ngành công nghiệp khác, từ may mặc, đồ chơi, đến các vật dụng gia đình, đều đang chịu những áp lực đáng kể.   Có thể hiểu được những thay đổi sâu sắc đang diễn ra ở miền Nam Trung Quốc bằng cách lần theo chuỗi cung ứng của iPhone 4, chiếc điện thoại được thiết kế bởi các kỹ sư của hãng Apple ở Mỹ, đặt hàng các linh kiện công nghệ cao trên khắp thế giới và lắp ráp ở Trung Quốc. Khi được vận chuyển về Mỹ, iPhone có giá bán 600 USD, tuy nhiên giá bán sẽ thấp hơn nếu người mua iPhone ký hợp đồng sử dụng dịch vụ di động với hãng AT&T.  “Trung Quốc không hưởng lợi bao nhiêu từ quy trình này”, nhận xét từ Jason Dedrich, giáo sư Đại học Syracuse và tác giả của nhiều nghiên cứu về chuỗi cung ứng của Apple . Phần lớn giá bán của một sản phẩm cao cấp sẽ chạy vào túi các công ty nằm ở khâu đầu và cuối quy trình, bao gồm kẻ giữ thương hiệu, các nhà phân phối và bán lẻ.  Theo bản phân tích chi phí do công ty nghiên cứu thị trường iSuppli ở El Segundo, Caliornia (Mỹ) thực hiện, phần lớn khoản tiền Apple phải trả cho chiếc Iphone 4 chảy về các công ty cung cấp các loại vi mạch như Samsung và Broadcom, là các đơn vị cung cấp các thành phần quan trọng như bộ vi xử lý và  chip bộ nhớ flash của thiết bị.  Theo Isuppli, trong chiếc điện thoại Iphone 4 này có hơn một tá thẻ vi mạch tích hợp, chiếm đến 2/3 chi phí sản xuất của thiết bị.  Ví dụ như, Apple phải trả Samsung khoảng 27 USD cho một thẻ nhớ flash và 10.75 USD cho bộ xử lý các ứng dụng (theo thiết kế của Apple); Đồng thời một nhà sản xuất bộ vi xử lý của Đức mang tên Infineon kiếm được 14.05 USD cho một bộ vi xử lý gửi và nhận các cuộc gọi điện thoại và dữ liệu. Hầu hết các bộ phận điện tử có chi phí ít hơn nhiều. Gyroscope, thiết bị cảm biến định vị mới có ở iPhone 4, được chế tạo bởi STmicroelectronics, có trụ sở tại Geneva, chỉ góp 2.60 USD vào tổng chi phí.  Theo iSuppi, tổng chi phí cho các vật liệu trên chiếc iPhone với giá 600 USD – những vật dụng được gửi tới dây chuyền lắp ráp cuối cùng – là 187.51 USD.   Phần chi phí ít tốn kém nhất của cả quá trình là khâu gia công và lắp ráp. Quá trình này thường được thực hiện ở miền Nam Trung Quốc, nơi công nhân được chưa đến 1 USD mỗi giờ để lắp ráp và đóng gói sản phẩm cho những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới.   Và không có công ty nào làm việc này tốt hơn Foxconn, một nhánh con thuộc tập đoàn Hon Hai Group của Đài Loan, công ty chuyên gia công hàng điện tử lớn nhất thế giới.  Với 800.000 công nhân chỉ riêng ở Trung Quốc và nhiều hợp đồng cung ứng cho Apple, Dell và H.P., Foxconn là một hãng điện tử khổng lồ chuyên cung ứng và thiết kế các bộ phận, và đặc biệt là áp dụng quy mô lớn với tính hiệu quả theo kiểu kỷ luật quân đội để lắp ráp và nhanh chóng đưa nhiều chủng loại sản phẩm ra thị trường.   Giáo sư Dedrick nhận xét rằng: “Họ giống như các cửa hàng Wal- Mart. Lợi nhuận biên thấp và khối lượng gia công lớn, họ tồn tại nhờ tính hiệu quả”.  Những người tiêu dùng hầu như không biết đến các công ty gia công theo hợp đồng. Nhưng đây là ngành kinh doanh trị giá 250 tỷ USD, bao gồm chỉ một số lượng ít công ty như Foxconn, Flextronics và Jabil Circuit  đang gia công và lắp ráp cho hầu như tất cả mọi hãng điện tử trên toàn cầu.   Các nhà phân tích nghiên cứu cho biết các công ty gia công cạnh tranh về giá một cách dữ dội để kiếm được những biên lợi nhuận nhỏ về mình. Và họ tìm cách tăng lợi nhuận từ những điều chỉnh chi ly trong các quy trình hoạt động.  Khi công ty đang hoạt động với biên lợi nhuận mỏng giống như những công ty gia công theo hợp đồng như vậy thì chi phí nhân công tăng vọt là một khó khăn lớn. Tiền lương ở Trung Quốc đã tăng hơn 50% từ năm 2005 tới nay, các nhà phân tích cho biết, và năm nay dưới sức ép từ chính quyền địa phương và những công nhân cảm thấy đã bị trả lương thấp từ quá lâu, các nhà máy đã phải nâng lương thêm 20-30% nữa.  Kể từ năm 2005, đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc đã tăng giá đáng kể so với đồng USD, và sau 2 năm trì hoãn của Bắc Kinh, các nhà kinh tế học dự kiến đồng Nhân dân tệ sẽ tăng giá trị khoảng 3-5% mỗi năm trong vài năm tới.   “Để lắp ráp một máy tính H.P. cần tới 3.000 quy trình công đoạn, theo Isaac Wang, nhà phân tích của iSuppli tại Trung Quốc. Nếu những công ty gia công theo hợp đồng có thể tìm cách để tiết kiệm 10% số quy trình, thì cũng đã tiết kiệm được một khoản đáng kể.”  Những công ty gia công theo hợp đồng như Foxconn đang tìm cách để giảm chi phí. Foxconn đang xem xét việc tiến vào lục địa, nơi mức lương thấp hơn 20-30%. Công ty cũng chi nhiều vào việc tự gia công nhiều bộ phận, kim loại và khuôn được dùng trong thiết bị cầm tay và máy tính, thậm chí cố gắng tìm những nguồn vật liệu thô lớn và rẻ hơn.  “Chúng tôi hoặc là thuê lại các công ty khác gia công một số linh kiện hoặc là tự nghiên cứu và tự sản xuất linh kiện của mình”, khẳng định từ Arthur Huang, người phát ngôn của Foxconn . “Chúng tôi cũng ký hợp đồng với các mỏ nằm gần nhà máy của mình”  Nhiều nhà phân tích lạc quan cho rằng các thương hiệu lớn sẽ tìm ra những cải tiến mới để cải thiện lợi nhuận. Nhưng ngày càng nhiều ý kiến tỏ ra hoài nghi đối với mô hình gia công ở Trung Quốc, nơi công nhân phải làm việc 10-12 giờ mỗi ngày, 6-7 ngày mỗi tuần.    “Chúng tôi đã kết luận rằng mô hình sử dụng nhiều nhân công của Hon Hai là không bền vững” khẳng định từ ông Wang từ iSuppli. “Cho dù nó có thể tiếp tục thuê từ 800.000 đến một triệu công nhân, nhưng vấn đề là những công nhân này không thể cứ tiếp tục làm việc theo kiểu bị vắt kiệt sức trong một hệ thống thiếu nhân đạo như vậy”.  Trung Quốc không còn ủng hộ mô hình gia công rẻ tiền, theo các nhà phân tích, vì nó không mang lại lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp và quốc gia”. “Trung Quốc không còn muốn làm công xưởng của thế giới nữa”, nhận định từ Pietra Rivoli, giáo sư ngành kinh doanh quốc tế của Đại học Georgetown và là tác giả của cuốn “Những hành trình của một chiếc áo không cổ trong nền kinh tế toàn cầu”, “Thù lao cao nhất luôn dành cho tri thức”.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Baidu âm thầm “đổ bộ” vào Việt Nam      Trong khi mạng xã hội Trà đá quán Baidu để công khai tên miền tại Việt Nam, thì một loạt dự án khác được công ty đến từ Trung Quốc này thực hiện một cách âm thầm.    Gã khổng lồ tìm kiếm lớn nhất Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện sự có mặt của mình tại Việt Nam thông qua đưa ra các chương trình khuyến mãi để giới thiệu mạng xã hội chuẩn bị ra mắt của mình là: http://tieba.baidu.com.vn.  Đây là mạng xã hội hoạt động theo kiểu người dùng có thể tạo các box riêng về các chủ đề mình quan tâm và kêu gọi bạn bè cùng bàn luận.   Cũng theo nguồn tin mà ICTnews có được cũng như tiến hành kiểm tra Domain, bên cạnh mạng xã hội trên Baidu cũng đã âm thầm triển khai tại thị trường Việt Nam 2 dự án tìm kiếm với tên gọi là hao123 và hao222 cùng một dự án nghe nhạc trực tuyến có tên gọi qianqian.     Các dự án này Baidu đều đăng ký với tên miền .com và không tiết lộ nhiều thông tin ra ngoài. Khi ICTnews thử tìm cách liên lạc với đại diện công ty này tại Việt Nam nhằm tìm hiểu các kế hoạch triển khai của họ sắp tới, thì người tư vấn hỗ trợ cho họ tại Việt Nam cho biết, đây chưa phải lúc phù hợp để Baidu công bố sự có mặt của mình tại thị trường trong nước, cũng như chia sẻ về hướng đi của họ trong thời gian sắp tới.    Khi được hỏi về việc Baidu vào thị trường Việt Nam và triển khai các dự án như trên, đặc biệt là mạng xã hội Trà đá quán, đại diện cục Quản lý Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử cho biết, họ không biết thông tin về hoạt động của các trang tin điện tử này do chưa nhận được bất kỳ hồ sơ đăng ký nào từ Baidu.    Còn theo tìm hiểu của ICTnews, với hình thức như trên, hoạt động của Baidu được xếp vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ trực tuyến xuyên biên giới, đây là hình thức giống với Facebook, Google hay Yahoo! hiện nay và sẽ được điều chỉnh tại Nghị định 97 về quản lý Internet mới sắp tới.    Mặc dù chưa có thông tin cụ thể về cách thức của Baidu hoạt động tại Việt Nam, nhưng sự có mặt của họ tại thị trường trực tuyến trong nước, báo hiệu sẽ có một sự “đe dọa” lớn cho các doanh nghiệp ngành nội dung số và kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam sắp tới, bởi như chúng ta đã biết đây là một doanh nghiệp có tiềm lực rất lớn về tài chính lẫn kinh nghiệm trong kinh doanh trực tuyến. Tại Trung Quốc, Baidu đã đánh bật cả người khổng lồ Google ra khỏi thị trường để đứng số 1 về dịch vụ tìm kiếm ở nước này.    Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này cũng cho rằng, trong thời gian đầu Baidu có khả năng sẽ gặp không ít khó khăn khi thu hút người dùng tại thị trường Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bạn có thể không bao giờ chạm vào máy tính nữa      Xu hướng tương tác với máy tính bằng lời nói sẽ thay thế hẳn các thao tác truyền thống như cuộn, nhấn chuột, chạm vào màn hình cảm ứng.      Những chiếc máy tính đã trở thành một phần của cuộc sống, chúng ta tương tác với máy tính, mở các ứng dụng bằng các thao tác chạm, cuộn và nhấn chuột, chạm vào màn hình cảm ứng. Nhưng giờ đây, rõ ràng là chúng ta đang nhanh chóng bước vào một giai đoạn mới mà tương tác kỹ thuật số được đặt trên nền tảng giọng nói, mà dẫn đầu xu hướng này là một số ông lớn công nghệ như Amazon, Apple và Google. Công nghệ này đã tồn tại trong nhiều thập kỷ và trở nên phổ biến trong vài năm nay.  Mary Meeker, hội viên hoạt động tại tập đoàn chuyên đầu tư Kleiner Perkins Caufield & Byers đã dành một phần quan trọng trong bài thuyết trình hàng năm của mình về xu hướng gia tăng của tiện ích tìm kiếm trên internet bằng giọng nói. Một vài ví dụ tiêu biểu của xu hướng này là: Google giới thiệu tìm kiếm bằng giọng nói trong năm 2009, trong khi Apple đã cho ra mắt trợ lý ảo  Siri trong năm 2011. Meeker cho rằng, để thành công, phần mềm nhận dạng giọng nói cần phải cung cấp câu trả lời nhanh và có 99% độ chính xác trong việc hiểu lời nói. Các công ty công nghệ đang tiến tới ngưỡng này gồm có Google, các công ty Trung Quốc sử dụng phần mềm Baidu, start up Hound.  Bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy sự thay đổi trong tương tác bằng lời nói với các thiết bị điện tử từ phía người dùng là họ đã thường xuyên tương tác với máy tính bằng giọng nói khi sử dụng thiết bị công nghệ của Amazon. Năm 2014, Amazon bắt đầu bán lẻ Echo, một robot thông minh có thể trả lời các câu hỏi của người dùng bằng giọng nói và thực hiện được một số lệnh như hẹn giờ hoặc điều chỉnh độ sáng của những chiếc đèn được kết nối với internet. Echo cung cấp một hệ điều hành được kích hoạt bằng giọng nói và có thể tạm ngưng hoạt động khi không nhận được lệnh từ người dùng. Mặc dù còn thống kê chưa chính xác nhưng ước tính robot này đã bán được khoảng 3 triệu chiếc kể từ khi ra mắt, đây là một cú hích rất đáng chú ý.  Một thành công nữa của Amazon với robot Echo là nó có thể tương tác với các ứng dụng của các thiết bị di động như máy tính bảng hoặc máy tính trên danh nghĩa người dùng. Bằng cách nói chuyện với Echo, người dùng có thể yêu cầu taxi Uber, đặt bánh Pizza và tất nhiên là đặt hàng trên website của Amazon.  Các công ty mạnh nhất Thung lũng Silicon đang tiếp tục phát triển các tiện ích của tương lai, trong đó tập trung vào tính năng điều khiển bằng giọng nói. Apple được đồn đoán rằng sẽ tung ra một đối thủ cạnh tranh với Echo trong tương lai, còn Google cũng sẽ đưa ra một thiết bị tương tự tên là Home vào mùa thu năm nay.  Thu Quỳnh lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bạn đã đặt đúng câu hỏi chưa?      Đặt câu hỏi trước đối tác và khách hàng là một trong những kỹ năng quan trọng của các startup, thế nhưng không phải ai cũng nhận ra điều này và biết cách đặt câu hỏi cho đúng.     Trong quá trình khởi nghiệp, giai đoạn khó khăn nhất là làm sao thấu hiểu khách hàng, tìm ra nhu cầu thị trường nhằm xây dựng sản phẩm phù hợp. Do đó, trong giai đoạn này, kĩ năng tìm hiểu thông tin thông qua việc đặt câu hỏi là quan trọng hơn cả. Hơn nữa, ngoài khách hàng, startup còn phải hỏi cả các chuyên gia, đối tác để học hỏi kinh nghiệm.   Kĩ năng đặt câu hỏi mặc dù quan trọng nhưng qua quá trình quan sát của mình, dường như mọi người không mấy chú ý đến điều này. Chính vì vậy, nhiều khi họ rơi vào tình huống dở khóc dở cười mà không biết.   Đừng đặt câu hỏi chung chung  Những câu hỏi ngớ ngẩn thường xuất phát từ việc người đặt câu hỏi thiếu thông tin cần thiết. Nếu bạn đang tìm hiểu về thương mại điện tử, đừng đặt câu hỏi chung chung như: “Anh/Chị nhận định như thế nào về thương mại điện tử Việt Nam những năm trở lại đây?”. Những năm là mấy năm, không có khung thời gian cụ thể, không có sự so sánh, người được hỏi sẽ cảm thấy khó chịu vì câu hỏi không có mục đích rõ ràng và họ sẽ trả lời cho qua chuyện. Hơn nữa, câu hỏi như vậy cũng thể hiện là người được hỏi không chuẩn bị gì hoặc không suy nghĩ kĩ về vấn đề mình được hỏi.   Trở lại ví dụ về câu hỏi phía trên, nếu tìm hiểu kĩ sẽ thấy, trong thương mại điện tử còn được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau, ví dụ sàn giao dịch thương mại điện tử hay cổng thanh toán trực tuyến, v…v… Nếu chia nhỏ thông tin mình muốn tìm hiểu trong một lĩnh vực rộng lớn, chắc chắn bạn sẽ nhận được thông tin thêm phần chi tiết và rõ ràng hơn nhiều.  Quy tắc vàng cho việc khai thác thông tin bằng việc đặt câu hỏi đó chính là câu hỏi càng chi tiết, câu trả lời nhận được sẽ có nhiều thông tin hơn. Thay bằng những câu hỏi đánh giá rất chung hay cảm nhận chung, bạn cần đưa ra nhiều sự lựa chọn nhỏ cho người được hỏi trả lời. Ví dụ như thay vì hỏi “Lĩnh vực thanh toán trực tuyến hiện nay như thế nào?”, thì nên hỏi “Trên thị trường hiện nay có ba cổng thanh toán trực tuyến trong nước, được cấp phép chính thức, ngoài những khó khăn thường thấy như người dùng chưa thực sự quen với việc thanh toán qua mạng Internet, phí xử lý giao dịch còn cao, anh/chị có nghĩ các cổng thanh toán trực tuyến hiện nay còn gặp những khó khăn nào? Bên cạnh những khó khăn đó, chắc chắn không ít cơ hội đang chào đón họ, liệu cơ hội này có thực sự đáng để đánh đổi bằng những khó khăn mà các công ty đó phải đối mặt như hiện nay không?”    Đừng hỏi khách hàng những câu hỏi mang tính cảm tính  “Anh/chị có thích sản phẩm này không? Tại sao có? Tại sao không?” là những câu hỏi khó chịu và sẽ không đưa ra được những dữ liệu quý giá cần thiết. Thử giả định bản thân mình là người được hỏi, bạn có thấy câu hỏi này có chút gì đó “gai gai” và thử thách không?  Khi được hỏi những câu hỏi như vậy, sẽ nhiều người trả lời: “thấy nó sao sao ấy”. Vậy làm sao định nghĩa được cái “sao sao” của khách hàng nếu không cắt khúc nó ra?   Một câu hỏi đầy tính trách nhiệm với khách hàng sẽ giúp lấy lòng khách hàng và nhận được những phản hồi chân thành, ví dụ như: “Anh/chị có thích chức năng A của sản phẩm không? Nếu có, sau đây là những lý do có thể đã khiến anh/chị yêu thích nó, xin vui lòng chọn những lý do được đề cập. Nếu không, ắt hẳn đây là những lý do khiến chức năng này làm cho anh/chị cảm thấy phiền toái, xin vui lòng lựa chọn những rắc rối mà nó đã mang đến cho anh/chị.” Hơn nữa, hỏi theo từng chức năng như vậy mới theo sát được chất lượng sản phẩm của mình.   Đưa ra giả định hoặc thông tin có giá trị trước khi đưa ra câu hỏi  Người được hỏi thường lấy làm khó chịu nếu bạn chỉ tập trung vào việc hỏi mà không có bất kỳ thông tin giá trị chia sẻ lại với họ. Giống như một sự trao đổi, bạn nên đưa ra các tình huống giả định hoặc thông tin có giá trị để “làm quà” cho người được hỏi. Khi bạn hỏi về những vấn đề xoay quanh lĩnh vực game ở Việt Nam chẳng hạn, hãy dùng một ít thông tin ở thị trường Trung Quốc để lấy làm căn cứ đặt câu hỏi. Bên cạnh sự trao đổi thông tin hữu ích, đó cũng là cột mốc cho bạn và người được hỏi có những câu trả lời sát hơn với vấn đề mà bạn mong muốn tìm hiểu.  Đặt câu hỏi trong đúng ngữ cảnh  Trong một sự kiện giao lưu với Guy Kawasaki tại TP.HCM đã bắt gặp một tình huống dở khóc dở cười. Guy Kawasaki là một trong những chuyên gia hàng đầu về marketing, là người viết nhiều quyển sách khởi nghiệp nổi tiếng và được biết đến như một nhà đầu tư cá nhân tiêu biểu tại Silicon Valley (Mỹ). Ông đến Việt Nam nhằm chia sẻ định hướng và tầm nhìn kinh doanh trong quá trình khởi nghiệp. Những kiến thức của ông chia sẻ đều mang hàm lượng thông tin cao và có giá trị thực hành hữu ích. Song trong ngày hôm đó, một bạn trẻ – người may mắn được đặt câu hỏi cuối cùng trong sự kiện có đông người, đã đứng dậy và hỏi ông một cách rất tự tin: “Đây là hai logo mà tôi yêu thích và chuẩn bị sử dụng nó trong việc ra mắt sản phẩm, ông thích logo nào hơn?”  Nếu đó chỉ là câu hỏi được đặt ra trong một ngữ cảnh khác, khi chỉ có bạn trẻ đó và Guy Kawasaki thì có vẻ sẽ phù hợp. Nhưng đây là sự kiện nghiêm túc thu hút gần 300 người tham gia, câu hỏi quá mang tính cá nhân và có phần không hợp lý theo chủ đề dành cho diễn giả. Ông Guy Kawasaki ở thời điểm đó khá bối rối và xin phép không trả lời vì câu hỏi không phù hợp với chương trình.  Cách đây hai năm, trong một sự kiện do công ty hỗ trợ khởi nghiệp 5Desire tổ chức với sự tham gia của người đồng sáng lập quỹ Formation 8 (Một quỹ đầu tư được tạp chí Fortune gọi là “Quỹ đầu tư hot nhất ở Silicon Valley”) – John Lonsdale. Vừa đặt chân đến Việt Nam lần đầu tiên, ông đã được hỏi: “Ông đánh giá như thế nào về thị trường Việt Nam?”. Vì chưa có trải nghiệm gì về thị trường Việt Nam trước đó, cũng như chưa đầu tư vào công ty nào ở Việt Nam nên John Lonsdale chỉ trả lời chung chung một cách lịch sự.   Thế nên, việc tìm hiểu về người được hỏi cũng quan trọng không kém. Người được hỏi qua đó sẽ cảm thấy được tôn trọng hơn và nếu bạn đặt câu hỏi đúng chuyên môn của họ, chắc chắn bạn sẽ học được nhiều hơn mong đợi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản đồ quá khứ có thể giúp hiểu rõ hơn về khí hậu tương lai      Khoảng 56 triệu năm trước, các núi lửa đã thải một lượng lớn CO2 vào khí quyển, khiến Trái đất nóng lên nhanh chóng. Giai đoạn này được gọi là Nhiệt cực đại thế Cổ – Thủy Tân (Paleocene-Eocene Thermal Maximum – PETM), thường được coi là lịch sử song song với tương lai của chúng ta trong bối cảnh biến đổi khí hậu, bởi con người cũng nhanh chóng thải CO2 vào khí quyển trong 250 năm qua.     Nhiệt độ không khí bề mặt (trái) và lượng mưa (phải) được tái tạo trong giai đoạn Nhiệt cực đại thế Cổ – Thủy Tân (Paleocen-Eocen) khoảng 56 triệu năm trước. Nguồn: phys.org  Một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học ở Đại học Arizona dẫn đầu đã công bố một bài báo trong tạp chí PNAS bao gồm bản đồ nhiệt độ và lượng mưa của Trái đất trong PETM nhằm tìm hiểu rõ hơn về các điều kiện thời tiết lúc đó và mức độ nhạy cảm của khí hậu khi nồng độ CO2 tăng vọt.   Nhóm nghiên cứu, do Jessica Tierney, Giáo sư Khoa học địa lý ở Đại học Arizona dẫn dắt, đã kết hợp các mô hình khí hậu và dữ liệu nhiệt độ được công bố trước đây để xác định trên thực tế, PETM là một chỉ báo tốt về tình trạng khí hậu trong tương lai dựa trên các dự báo về nồng độ CO2. “PETM không phải là tín hiệu tương tự (analog) hoàn hảo cho tương lai của chúng ta. Nhưng chúng tôi khá bất ngờ khi thấy rằng, tình trạng biến đổi khí hậu mà chúng tôi đã tái tạo có rất nhiều điểm chung với những dự đoán tương lai trong báo cáo AR6 mới nhất của IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu)”, Tierney nói.  Giai đoạn trước đây và tương lai đều có đặc trưng là hai cực ấm lên nhanh hơn so với phần còn lại của Trái đất – một hiện tượng gọi là khuếch đại Bắc Cực. Ngoài ra, còn có các đặc trưng khác như gió mùa mạnh hơn, bão mùa đông dữ dội hơn và lượng mưa ít hơn ở vùng rìa nhiệt đới. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện thấy khi phát thải CO2 nhiều hơn, khí hậu sẽ trở nên nhạy cảm hơn so với dự đoán trong các nghiên cứu trước đây.   Tierney và các cộng sự đã xây dựng bản đồ về PETM bằng cách kết hợp dữ liệu nhiệt độ gián tiếp (proxy) với các mô hình khí hậu. Các nhà cổ khí hậu học như Tierney có thể suy ra nhiệt độ quá khứ bằng cách phân tích hóa học một số loại hóa thạch trong một khoảng thời gian nhất định. Dữ liệu nhiệt độ gián tiếp, kết hợp với công nghệ mô hình khí hậu hiện đại, cho phép nhóm nghiên cứu tạo ra bản đồ nhiệt độ toàn cầu của PETM.  Người ta thường dùng các mô hình khí hậu trên để đưa ra các dự báo về khí hậu tương lai – bao gồm cả báo cáo đánh giá của IPCC. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của Tierney đã sử dụng để tạo ra các mô phỏng về Trái đất cách đây 56 triệu năm.  “Chúng tôi đã di chuyển các lục địa để phù hợp với PETM và chạy một số mô phỏng theo các mức CO2 khác nhau, ở bất cứ nơi nào với mức gấp 3-11 lần so với hiện nay – hoặc từ 850 đến 3000 phần triệu – mức cực kì cao. Đây là tất cả các mức CO2 có thể xuất hiện trong PETM”, Tierney nói. “Nồng độ CO2 trong khí quyển ngày nay là 420 phần triệu, trước Cách mạng công nghiệp là khoảng 280 phần triệu. Kết hợp với những bằng chứng địa chất, chúng tôi thu hẹp và chọn ra những mô phỏng phù hợp nhất”.   Nghiên cứu mới đã ước tính chính xác hơn mức độ ấm lên của Trái đất trong PETM. Các nghiên cứu trước đây cho thấy PETM ấm hơn khoảng 4-5oC so với giai đoạn ngay trước đó. Tuy nhiên, công trình của Tierney tiết lộ con số đó là 5,6oC, cho thấy khí hậu nhạy cảm hơn với sự gia tăng CO2 so với những gì các nhà nghiên cứu nghĩ trước đây.  Độ nhạy cảm của khí hậu là mức độ ấm lên của hành tinh vào mỗi lần lượng CO2 tăng gấp đôi.  “Việc giảm con số này thực sự quan trọng, bởi nếu độ nhạy cảm với khí hậu cao, tình trạng nóng lên toàn cầu vào cuối thế kỷ này sẽ càng gia tăng”, Tierney nói. “Các dự đoán trong báo cáo AR6 của IPCC cho thấy nhiệt độ sẽ tăng 2-5oC mỗi khi lượng CO2 tăng gấp đôi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi định lượng độ nhạy trong PETM và nhận thấy nó cao hơn nhiều – nhiệt độ sẽ tăng khoảng 5,7-7,4oC mỗi khi lượng CO2 tăng gấp đôi”.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-climate-future.html    Author                .        
__label__tiasang Bản đồ về tương lai của AI: Thực tế hay hão huyền?      Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Hoàng gia London đã trình bày tầm quan trọng của AI trong xã hội tương lai của chúng ta thông qua một bản đồ, mà ở đó, cuộc sống của chúng ta hệt như một bộ phim viễn tưởng.      Bản đồ Tương lai Tự động (The Automated Futures Map) này sẽ trình bày mối liên hệ giữa các công cụ và kỹ thuật AI khác nhau, cũng như cách chúng mở đường cho những công nghệ mới sẽ được hiện thực hóa trong tương lai.  Trong bản đồ này, các công nghệ giao diện máy tính – não người hiện có một ngày nào đó sẽ trở thành bước đệm để chia sẻ ước mơ, ghi lại các đoạn độc thoại nội tâm của chúng ta, hay quyền lợi của người máy. Tương tự, công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên sẽ phát triển đến mức con người có thể chế tạo ra một loại tai nghe dịch lời nói từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác ngay lập tức, hoặc thậm chí cho phép chúng ta giao tiếp với các loài sinh vật khác.  Tưởng tượng về tương lai  Các nhà khoa học thiết kế ra bản đồ – nhóm Tech Foresight của Đại học Hoàng gia London – đã phối hợp cùng các học giả của trường để tìm hiểu những công nghệ đột phá, đồng thời đánh giá tác động của chúng đối với con người, xã hội và doanh nghiệp trong tương lai.  Mặc dù một số công nghệ có trên bản đồ thoạt nghe có vẻ viển vông, nhưng nó nhằm chứng minh phạm vi hoạt động của AI và robot, cho thấy mối liên hệ giữa các loại công nghệ khác nhau và khám phá bức tranh tương lai của lĩnh vực này.  TS Antoine Cully của khoa Máy tính chính là người dẫn dắt nhóm nghiên cứu trong việc xây dựng bản đồ. Ông cho biết: “AI thực sự là một lĩnh vực rộng lớn và không phải ai cũng nhận ra điều này. Dù là một nhà nghiên cứu AI, nhưng một số lĩnh vực vẫn còn xa lạ với tôi. Chúng tôi cố gắng xây dựng bản đồ như một hình ảnh trực quan về mối liên hệ giữa chúng ta với AI, các loại công nghệ sẽ khớp với nhau như thế nào, và điều này có thể đưa chúng ta đến một thế giới mới, tận sâu trí tưởng tượng của chúng ta – những điều tưởng chừng như chỉ là hão huyền.”  “Một số công nghệ mà cách đây vài thập kỷ chúng ta còn xem là viển vông, nay đã trở nên phổ biến. Nhận dạng hình ảnh từng là công cụ chỉ có trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng hiện các kênh truyền thông xã hội vẫn sử dụng nó thường xuyên để xác định những nhân vật có trong ảnh. Qua nhiều năm, chúng ta đã có được những bước tiến vô cùng lớn.”  Xã hội phản địa đàng?  Nhiều người thường có xu hướng chìm trong bi quan khi họ nghĩ về tương lai của AI và robot. Theo TS Cully, “Ví dụ như, ý tưởng về những con robot tự phục hồi có xu hướng khiến mọi người sợ hãi vì họ tưởng tượng ra những cuộc nổi dậy của người máy – motif quen thuộc trong những bộ phim. Trên thực tế, ngay bây giờ, nếu bạn nhốt những con robot tự hành tiên tiến nhất thế giới trong một căn phòng, điều nguy hiểm nhất mà chúng sẽ làm là bắt đầu hút bụi trên sàn. Hiện tại, robot rất hữu ích trong các nhiệm vụ đã giao, nhưng chúng có xu hướng chật vật khi làm những nhiệm vụ khác – chẳng hạn như bên ngoài dây chuyền nhà máy.   “Mọi người luôn hỏi bước nhảy vọt tiếp theo của AI sẽ là gì. Đó là câu hỏi trị giá hàng triệu đô-la. Chúng ta có thể ứng dụng AI trong các lĩnh vực sáng tạo như trò chơi điện tử.” Không chỉ trong việc tạo ra người chơi nhân tạo, mà còn trong sáng tạo nội dung và xây dựng một xã hội rộng lớn trong trò chơi đó. Hiện đã có những trò chơi nhập vai như Dungeons & Dragons, trong đó người chơi sẽ có những trải nghiệm vô cùng mới mẻ.   “Đồng thời, AI cũng đang được ứng dụng phổ biến trong y tế, chẳng hạn như để xác định các chiến lược điều trị tốt nhất cho các bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết. Thay vì trở thành mối đe dọa đối với nhân loại, các hệ thống AI đang bảo vệ chúng ta.”  Anh Thư dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-09-machine-automated-daydreaming-academics-future.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản kế hoạch nhằm đưa Trung Quốc “thống trị” thế giới      Năm 2015, Bắc Kinh công bố dự án “Chế tạo tại Trung Quốc 2025” (Made in China 2025). Đây là một sáng kiến chiến lược đầy tham vọng nhằm biến Trung Quốc (TQ) thành siêu cường chế tạo cạnh tranh được với Mỹ.      Nguồn ảnh: Getty Image  Sau khi công bố, “Chế tạo tại TQ 2025” đã trở thành chủ đề khiến cho các doanh nghiệp và chính phủ trên thế giới lo ngại, bởi lẽ như nhà bình luận người Australia N. O’Connor nói “Kế hoạch này rất táo bạo vì nó nhằm tới việc đưa TQ thống trị toàn thế giới”. Nó được cho là một trong những tác nhân gia tăng căng thẳng trong mối quan hệ Mỹ – Trung, và dẫn tới cuộc chiến tranh thương mại giữa hai quốc gia này. Báo Mỹ gần đây đưa tin dường như TQ đang soạn thảo một kế hoạch mới thay cho “Chế tạo tại TQ 2025”, hoãn một số mục tiêu nhằm giảm căng thẳng thương mại.  Tại sao Trung Quốc tham vọng nâng tầm ngành công nghiệp chế tạo?   Hiện nay không ít người TQ rất phấn khởi về việc ngành dịch vụ đã vượt qua ngành chế tạo, trở thành ngành sản xuất lớn thứ hai của nền kinh tế quốc dân, thậm chí cho rằng TQ có thể vượt qua giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, tiến thẳng lên cơ cấu kinh tế lấy ngành dịch vụ là chính. Tuy nhiên, Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ Thông tin TQ Miao Wei cho rằng, quan điểm nói trên là xa rời thực tế. Nhìn vào tiến trình 300 năm công nghiệp hóa thế giới, có thể thấy công nghiệp hóa là nội dung cốt lõi của hiện đại hóa, một giai đoạn lịch sử không thể vượt qua để thực hiện hiện đại hóa. Ngành chế tạo là trụ cột quan trọng nhất của đổi mới kỹ thuật. Các cường quốc kinh tế Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp đều đi lên từ cường quốc chế tạo. Nếu ngành chế tạo không phát triển mạnh thì ngành dịch vụ sẽ thiếu sự nâng đỡ mạnh mẽ; không có nền kinh tế thực thể vững chắc thì ngành dịch vụ sẽ thành cây không có gốc và đất nước sẽ rất khó thực hiện hiện đại hóa.   Các chuyên gia TQ đánh giá trình độ các quốc gia trên thế giới trong công nghiệp chế tạo được chia thành bốn mức độ. Trong đó Mỹ ở vị trí đứng đầu, là trung tâm đổi mới sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn cầu; tiếp theo là các quốc gia có trình độ công nghệ cao, gồm EU và Nhật; nhóm thứ ba là các quốc gia chế tạo ở mức độ thấp, chủ yếu gồm một số nước mới nổi; nhóm cuối cùng là các nước xuất khẩu tài nguyên, gồm OPEC, châu Phi, Mỹ Latinh…   Bộ trưởng Miao Wei cho rằng TQ hiện ở nhóm thứ ba và cục diện phân nhóm trên đây khó có thể có thay đổi căn bản trong một thời gian ngắn.  Mặt khác, hiện nay TQ đang đứng trước sức ép từ hai chiều. Một mặt các nước phát triển đang liên tiếp soạn thảo chiến lược “Tái công nghiệp hóa”. Mặt khác các nước đang phát triển lợi dụng ưu thế cạnh tranh với giá thành thấp đang tích cực thu hút các ngành sản xuất cần nhiều sức lao động và giá trị phụ gia thấp, một số công ty đa quốc gia đầu tư mở xưởng tại các nước mới nổi, có công ty đang xem xét việc chuyển công xưởng của họ từ TQ sang các nước mới nổi; tình thế ngành chế tạo toàn cầu sẽ có biến đổi lớn. Điều đó khiến TQ vừa đứng trước cơ hội lớn vừa đứng trước thách thức lớn.  10 năm mới chỉ là bước đầu tiên  Lấy cảm hứng từ Chiến lược Industrie 4.0 của Đức, “Chế tạo tại TQ 2025” xác định 10 lĩnh vực trọng điểm lớn về phát triển ngành sản xuất: công nghệ tin học thế hệ mới; máy công cụ điều khiển số cấp cao và robot; thiết bị hàng không vũ trụ; thiết bị công trình biển và tàu biển công nghệ cao; trang thiết bị giao thông quỹ đạo tiên tiến; ô tô tiết kiệm năng lượng và dùng nguồn năng lượng mới; thiết bị điện lực; trang thiết bị nông nghiệp; vật liệu mới; y dược sinh học và thiết bị y tế tính năng cao.  Bản kế hoạch 10 năm này được chuẩn bị rất kỹ. Đích thân ông Miao Wei, đã nhiều lần báo cáo, viết bài thuyết minh về “Chế tạo tại TQ 2025”. “Chế tạo tại TQ 2025” đưa ra phương án giải quyết các khiếm khuyết của ngành chế tạo TQ, đó là củng cố ưu thế phát triển hiện có, lấy ĐMST làm động lực, chuyển đổi thông minh, củng cố cơ sở, giành đột phá trong các ngành quan trọng. Khi nói về vấn đề lấy ĐMST làm động lực phát triển, Bộ trưởng Miao Wei đã giới thiệu về Trung tâm ĐMST trong ngành chế tạo như sau: Giữa thành quả khoa học kỹ thuật với triển khai sản xuất tồn tại một tầng đứt gãy gọi là “vực chết”; để vượt qua “vực chết” này các nước phát triển đều gấp rút xây dựng các trung tâm ĐMST của ngành chế tạo, nhằm chuyển dịch công nghệ trong phòng thí nghiệm sang công nghệ làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Theo kế hoạch, đến năm 2020 TQ sẽ xây dựng khoảng 15 trung tâm ĐMST cấp quốc gia của ngành chế tạo.   TQ đã tổ chức nghiên cứu triển khai các dự án chế tạo thông minh, nghiên cứu xác định mục tiêu dự án và lộ trình làm chủ công nghệ và sản phẩm chế tạo thông minh, xây dựng nhà máy thông minh/số hóa. Từ năm 2014, TQ đã bắt đầu thực hiện các dự án công nghiệp nền tảng mạnh, hỗ trợ cung cấp cho ngành hàng không vũ trụ các loại vật liệu nền tảng quan trọng, linh kiện thiết bị dẫn điện. Tiếp theo, TQ sẽ đột phá một số trọng điểm, thực thi các dự án ĐMST về trang thiết bị cấp cao, tổ chức sản xuất máy bay cỡ lớn, động cơ dùng trong công nghiệp hàng không và tua-bin khí đốt, máy công cụ điều khiển số cấp cao…        Để tổ chức thực hiện dự án “Chế tạo tại TQ 2025”, TQ đã lập Tổ Lãnh đạo xây dựng cường quốc chế tạo nhà nước, do Phó Thủ tướng Mã Khải đứng đầu; Ủy ban Tư vấn chiến lược xây dựng cường quốc chế tạo nhà nước (National Manufacturing Strategy Advisory Committee) do Phó Chủ tịch Quốc hội Lộ Dũng Tường đứng đầu, thành viên gồm vài chục nhà khoa học, CEO các công ty lớn… Ủy ban này đã công bố rất nhiều văn bản, thành tựu nghiên cứu, Sách Xanh… hướng dẫn chi tiết việc thực hiện dự án “Chế tạo tại TQ 2025”.  “Chế tạo tại TQ 2025” có thể được coi là cương lĩnh hành động 10 năm đầu tiên thực thi chiến lược cường quốc chế tạo, một chặng đường đầy thử thách mà TQ coi là hết sức cần thiết, đòi hỏi sự cố gắng trong ít nhất 30 năm. Trong đó, bước thứ nhất cố gắng dùng 10 năm tiến lên hàng ngũ cường quốc chế tạo. Bước thứ hai, đến năm 2035, ngành chế tạo toàn bộ phát triển tới mức hạng trung bình trong số các cường quốc chế tạo. Bước thứ ba, thời điểm khi Nhà nước TQ kỷ niệm 100 năm thành lập (năm 2049), địa vị nước lớn ngành chế tạo của TQ càng được củng cố hơn, kỳ vọng sẽ tiến lên vị trí hàng đầu.□     (Tổng hợp các tin tức liên quan lấy từ một số phát ngôn của ông Miao Wei và báo TQ).  Người TQ hy vọng đến ngày nước CHND Trung Hoa 100 tuổi (2049) có thể xây dựng nước họ thành một cường quốc chế tạo dẫn dắt ngành chế tạo thế giới, tạo cơ sở vững chắc thực hiện giấc mơ phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. Hiện nay TQ đã là nước lớn trong ngành chế tạo nhưng chưa phải cường quốc ngành chế tạo, vẫn còn khoảng cách khá lớn so với các nước tiên tiến. Ví dụ về ngành chế tạo trang thiết bị, chủ yếu TQ còn kém ở các mặt: Thứ nhất, năng lực ĐMST tự chủ còn yếu, trình độ nghiên cứu thiết kế phần lớn trang thiết bị còn khá thấp, biện pháp kiểm tra thí nghiệm còn thiếu, đổi mới công nghệ còn ở giai đoạn bắt chước, chưa đột phá “hộp đen” công nghệ bậc thấp. Thứ hai, còn thiếu năng lực phối hợp cơ sở, các linh kiện và vật liệu cốt yếu còn dựa nhiều vào nhập khẩu, năng lực kỹ thuật cơ sở vẫn còn yếu, nghiêm trọng kiềm chế năng lực tập thành hệ thống và toàn bộ. Ví dụ TQ có công nghệ hạt nhân “Hualong 1”, tuy phần lớn thiết bị đã nội địa hóa nhưng 15% linh kiện quan trọng vẫn phải nhập khẩu. Thứ ba, tính tin cậy chất lượng sản phẩm của một số lĩnh vực cần nâng cao. Thứ tư, kết cấu sản xuất chưa hợp lý, năng lực sản xuất đầu thấp dư thừa mà năng lực sản xuất đầu cao thì còn thiếu.    Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang “Bán kết” sớm Chiếc thìa vàng với tinh túy ẩm thực Hà thành      Hành trình khám phá những loại gia vị mới  lạ, những món ngon Việt Nam và các đầu bếp tài năng mang tên Chiếc Thìa  Vàng lần thứ 3 được tổ chức tại Hà Nội, có thể coi là “vòng bán kết sớm”  bởi lần đầu có một cuộc thi ẩm thực quy mô cấp quốc gia hội tụ nhiều  đầu bếp chuyên nghiệp ở nhiều nhà hàng – khách sạn năm sao tham gia.  &#160;      Vòng sơ tuyển  Chiếc thìa sẽ diễn ra vào ngày 15/9/2015 tại showroom gốm sứ  Minh Long I – Hà Nội 45 với đầu bếp thuộc 15 đội từ các nhà hàng, khách sạn tại  khu vực Hà Nội và đồng bằng sông Hồng.  Nét mới đầu tiên của cụm thi này là sự xuất hiện nhiều đội thi đến từ các khách sạn năm sao, hứa hẹn sẽ mang lại những phần tranh tài thú vị và hấp dẫn nhất là tính chuyên nghiệp. Ở mùa thi trước, trong ngày hội ẩm thực Hương vị quê nhà, đặc biệt là phần thi của 15 đội, các món ăn đã tạo cho ban giám khảo nhiều bất ngờ thú vị bởi sự tinh tế của ẩm thực truyền thống Hà Nội. Đến độ nghệ nhân ẩm thực Bùi Thị Sương phải thốt lên: “Món nào họ cũng chỉn chu”. Những nguyên liệu gắn bó với đời sống người dân, bằng bàn tay khéo léo, các cách chế biến chỉn chu ấy đã mang đến những món ngon không chỉ cho người dân bản địa được thưởng thức mà cho cả thực khách phương xa. Có lẽ vì vậy mà chuyên gia ẩm thực Chiêm Thành Long kể mỗi khi có cơ hội ăn món ăn Hà Nội đều chọn phở, bún chả, bún ốc lạnh Ô Quan Chưởng hay chả cá Lã Vọng…   Mùa thi năm nay, nhìn vào thực đơn các món ăn thi có thể thấy những hương vị, sắc màu ẩm thực riêng nhưng đều mang trong nó cái hồn, cái truyền thống của ẩm thực chốn Hà thành. Các đầu bếp đến từ Hilton Hanoi Opera làm sống dậy những đặc sản vang bóng một thời: nộm bắp bò tiến vua, vẫy vùng nơi sông nước, thịt ba chỉ cuộn rau củ sắc màu, bánh nhót ngũ sắc. Trong khi đó, Lotte Hotel mang tới sự biến tấu của những món ăn hương vị quê nhà thời hội nhập, như: gỏi bưởi với tôm, cá hấp với rau và gia vị quê nhà, thịt bò nướng với chanh leo – gan ngỗng và lá lốt, chè cốm với chuối. Các đầu bếp JW Marriott cũng có một thực đơn fusion gồm: phở cuốn thịt bò dùng với nước sốt chua ngọt, cá lăng nướng hoàng kim sốt riềng mẻ, bò Úc nướng sốt quế hồi, kem cháy hương vani. Không chịu kém cạnh, khách sạn Crowne Plaza West Hà Nội  lại có một thực đơn đậm chất Hà thành: nộm rau muống và rau nhút, mực nhồi thịt quấn mỡ chai, bún đậu mắm tôm ăn kèm với thịt luộc và chả cốm, chè sen long nhãn ăn kèm với xôi cốm dừa và hồng đỏ…  Ngoài ra, cuộc thi hứa hẹn sẽ hấp dẫn như là một “vòng bán kết sớm” bởi những màn tranh tài sôi nổi ấy không chỉ dành riêng cho các đầu bếp chủ nhà Hà Nội mà còn có sự góp mặt của các đội thi đến từ các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Đó đều là những nhà hàng, khách sạn nổi danh tại các địa phương như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên với nhiều món ăn, sản vật trứ danh của Việt Nam.  Một nét mới khác ở cụm thi này, nhằm tạo điều kiện cho các đội thi có điều kiện tốt nhất về không gian, các dụng cụ trình bày bàn tiệc, lần đầu tiên cuộc thi sẽ được tổ chức tại Showroom gốm sứ Minh Long I. Vì vậy không chỉ tham gia tranh tài cuộc thi Chiếc Thìa Vàng, cổ vũ các đội thi mà các đầu bếp cũng như quan khách có thể tham quan showroom, tìm hiểu về lịch sử ra đời của công ty, quy trình sản xuất  tạo ra các dòng sản phẩm cũng như có thể lựa chọn và mua cho mình những sản phẩm ưng ý với giá cả hợp lý.   Kinh nghiệm chấm thi từ những vòng sơ tuyển vừa qua, nghệ nhân ẩm thực Bùi Thị Sương, Giám khảo chuyên môn của cuộc thi, lưu ý các đội thi: “Khi chọn thực đơn đi thi, các đầu bếp nên chọn những món ăn đặc sắc, tránh chọn một đề tài quá an toàn. Trong cuộc thi nào cũng đòi hỏi khám phá mới, những thách thức mới, vì vậy cần gia công tìm tòi cho những món ăn thật đặc sắc và những gia vị thật đặc biệt của quê hương để tạo ấn tượng. Cho nên việc nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra món ăn mới, gia vị mới rất cần thiết cho món ăn Việt Nam của chúng ta trong quá trình hội nhập quốc tế”.   Bà Sương cũng gợi ý: “Các đầu bếp có thể đổi mới món ăn Việt Nam một chút bằng cách làm cho nó tăng tính tiện dụng, đặc sắc, dễ ăn và khẩu phần hợp lý hơn. Những dụng cụ của nhãn hàng Ly’s Horeca rất nhiều loại, có thể hỗ trợ tốt cho các bạn về vấn đề này. Vì vậy các đầu bếp không chỉ nghiên cứu, những nguyên liệu, gia vị mà còn đặc biệt chú ý đến dụng cụ mà mình sẽ đựng món ăn đó như thế nào trên bàn tiệc”.  Nghệ nhân ẩm thực, giám khảo chuyên môn Chiêm Thành Long cũng gợi ý, vì cuộc thi có nhấn mạnh đến yếu tố gia vị Việt nên việc đầu tư tìm tòi, nghiên cứu các loại gia vị mới, đặc thù của địa phương từ đó sáng tạo ra những món ăn, thể hiện được sự mới lạ của gia vị, tôn thêm chất lượng, hương vị cho món ăn cũng sẽ được ban giám khảo lưu ý.   Ông Long cho biết thêm: “Các cụm thi vừa qua, nhìn chung các đội thi đã hưởng ứng tốt việc tìm kiếm giới thiệu những loại gia vị lạ, sưu tầm, giới thiệu và biến tấu thành nhiều món ăn độc đáo với nguyên liệu lành, tốt cho sức khoẻ. Nhiều đầu bếp đã tìm tòi sử dụng những loại lá hay trái mà tôi chưa bao giờ nghĩ là có thể dùng để làm gia vị được. Những phát hiện, nghiên cứu để sử dụng những loại gia vị mới như vậy, hoặc kỹ thuật chế biến giỏi, đột phá trong việc dùng nguyên liệu dễ kiếm, gia vị quen nhưng cho món ăn mới lạ, nâng tầm món ăn truyền thống… là những điểm cộng mà ban giám khảo sẽ lưu ý. Có thêm nhiều loại gia vị mới, nguyên liệu đặc thù được giới thiệu sẽ giúp bản đồ gia vị Việt Nam mà cuộc thi Chiếc Thìa Vàng đang hướng tới sẽ thêm phong phú. Vẽ được bản đồ gia vị Việt Nam đồng nghĩa với việc tìm ra con đường giao thoa văn hóa ẩm thực, phát triển nền ẩm thực chuyên nghiệp, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế”.  Ngoài phần thi tài của các đầu bếp chuyên nghiệp, một hoạt động thú vị của cuộc thi Chiếc Thìa Vàng năm 2015 là chương trình ra mắt sách “Chiếc Thìa Vàng – Tinh hoa ẩm thực Việt”, chương trình giao lưu ẩm thực giữa các lãnh đạo các ban ngành Trung ương và địa phương, nhà văn hoá, các doanh nhân, các nhà quản lý nhà hàng – khách sạn tại Hà Nội và các tỉnh cũng diễn ra. Ngoài việc được thưởng thức thực đơn chọn lọc từ các món ăn trong sách “Chiếc Thìa Vàng – Tinh hoa ẩm thực Việt” năm 2013 do các đầu bếp đoạt giải Chiếc Thìa Vàng hai mùa thi trước tuyển chọn, trực tiếp chế biến, phục vụ thì thực khách cũng có thể trực tiếp vào vai đầu bếp, tự mình chế biến món ăn thích hợp theo công thức từ sách “Chiếc Thìa Vàng – Tinh hoa ẩm thực Việt”. Đây là một cuốn sách ẩm thực công phu, chuyên nghiệp sang trọng, tinh tế từ hình ảnh, trình bày rõ ràng rất cần không chỉ cho các đầu bếp chuyên nghiệp mà cho bất cứ ai quan tâm đến ẩm thực Việt Nam.  Như vậy, với cụm thi tổ chức tại Hà Nội & đồng bằng sông Hồng, cuộc thi Chiếc Thìa Vàng năm 2015 với chủ đề “Hương vị quê nhà – Hành trình gia vị Việt” đã chạm đến cột mốc cuối cùng của vòng sơ tuyển sau khi chứng kiến những cuộc tranh tài sôi nổi và thú vị diễn ra tại năm cụm thi: Đồng bằng sông Cửu Long, TP.HCM và Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, Trung Trung bộ, Cao Nguyên Bắc bộ. Gần 320 đầu bếp thuộc 106 đội thi là các khách sạn, nhà hàng, khu du lịch của gần 25 tỉnh thành đã mang tới hơn 400 món ngon, đặc sản địa phương. Hơn 400 món ngon, đặc sản địa phương đã được thể hiện. Điều thú vị là trên nền những món ăn truyền thống, những nguyên liệu quen thuộc, các đầu bếp đã vận dụng những kỹ thuật chế biến mới trong sự kết hợp với các loại gia vị từ lá, hoa, trái, hạt lạ lẫm (như trái bần, trái chay, trái cà đắng, lá chúc, lá dít, gai xưng, lá sâng, lá su siêng, hoa cơm nếp, rau khủ khởi, nấm tràm, nấm tổ ong, cỏ xước, sim, tiêu sả…), kỹ thuật trang trí hiện đại để làm nên những món ăn phá cách, khẩu vị mới lạ, ngon lành trên những bàn tiệc đẹp mắt, tinh tế. Những tìm tòi và sáng tạo ấy đã thuyết phục Ban giám khảo trao 43 tấm vé vào bán kết cho các đội (chưa tính vòng sơ tuyển ở khu vực Hà Nội và đồng bằng sông Hồng ) mà cuộc hành trình Chiếc Thìa Vàng vừa đi qua.           Cuộc thi Chiếc Thìa Vàng  với tổng giải thưởng lên tới hơn 3 tỉ đồng do công ty TNHH Minh Long I  và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp phối hợp tổ  chức, nhãn hàng Ly’s Horeca tài trợ, với sự bảo trợ của hai đơn vị cấp  quốc gia là Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng cục  Du lịch Việt Nam.       Phó Ban tổ chức, ông Lý  Huy Sáng, Phó tổng giám đốc Công ty Minh Long I, Giám đốc nhãn hàng Ly’s  Horeca, chia sẻ: “Chúng tôi rất hào hứng với những cơ hội và thách thức  mới của cuộc thi Chiếc thìa Vàng năm 2015. Dấu ấn đậm nét của Chiếc  Thìa Vàng đó là việc cuộc thi đã đến được nhiều địa phương hơn, tiếp cận  nhiều nét văn hóa ẩm thực dân gian chưa khai thác hết, còn lẩn khuất  đâu đó và thành quả hết sức ý nghĩa là khám phá, giới thiệu được gần  1.000 món ăn Việt.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Bán nhà, bỏ việc và thành công với Triip      Triip.me, công ty khởi nghiệp về du lịch của Việt Nam khởi nguồn từ kinh nghiệm của năm người đam mê du lịch.     Trong các chuyến đi khắp thế giới của mình, những người sáng lập Triip đã phải rất vất vả để lên được những lịch trình hoàn hảo, tìm ra những việc thú vị để làm, thưởng thức những giá trị văn hóa bản địa đích thực. Bởi vậy họ quyết định thành lập Triip, để bất cứ ai có kinh nghiệm du lịch và hiểu về một vùng đất nào đó đều có thể tạo ra và bán các tour du lịch độc đáo mang dấu ấn cá nhân.   Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên trang Tech in Asia, Triip.me đã tiến một bước đường dài, không chỉ ở tầm Đông Nam Á. “Chúng tôi đi đến quyết định quan trọng này vì khó mà biết ai sẽ đi du lịch đến điểm nào. Chúng tôi nhận thấy rằng việc đổ đầy nội dung của Triip bằng các trải nghiệm du lịch toàn cầu có thể giúp chúng tôi mời gọi du khách truy cập trang web của chúng tôi”, Hồ Hải, đồng sáng lập và lãnh đạo của Triip.me, cho biết.  Vào tháng Bảy vừa qua, Triip đã giành chiến thắng cuộc thi Startup Arena do Tech in Asia tổ chức tại TP Hồ Chí Minh. Và ba tháng sau, Triip tiếp tục gặt hái được thành công khi trở thành một trong số ít các công ty khởi nghiệp tại TP Hồ Chí Minh đạt được số lượng doanh thu lớn.   Từ trường đại học tới thành công trên thương trường  Chữ ‘i’ trong từ Triip mang ý nghĩa hết sức quan trọng. “Chúng tôi tin tưởng rằng các trải nghiệm du lịch nên được chia sẻ. Sẽ hoàn hảo nhất khi bạn cùng trải nghiệm với một ai đó, có thể là bạn đồng hành, một người bạn gặp trên đường, hay hướng dẫn viên du lịch của bạn. Hai chữ i trong Triip thể hiện rất rõ tinh thần này,” trang chủ của công ty tuyên ngôn.   Ngay từ khi học đại học, Lâm Thị Thúy Hà, nhà đồng sáng lập Triip, đã thành lập Sài Gòn Hotpot, quy tụ các bạn sinh viên. Các thành viên của nhóm đã liên hệ với các du khách quốc tế tới TPHCM và dẫn họ tham quan quanh thành phố chỉ để nhận thêm một cơ hội học hỏi trau dồi tiếng Anh với người nước ngoài. Các sinh viên đã làm việc như những hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp thực thụ nhưng lại miễn phí tiền công.   Trong vòng bốn năm, Saigon Hotpot đã nằm trong tốp đầu trên TripAdvisor. Và nó đã trở thành Triip sau khi các nhà sáng lập tốt nghiệp ĐH.  Sau nhiều tháng khởi nghiệp và làm việc bán thời gian cho Triip, họ nhận ra rằng có rất nhiều việc quan trọng phải làm với công ty khởi nghiệp của mình. “Hà đã bán ngôi nhà của mình và bỏ việc để đảm nhiệm vai trò CEO của Triip vào tháng 9 vừa qua,” Hồ Hải nói. Động thái này ngay lập tức đã đưa Triip lên một mức phát triển mới, kể cả trong doanh thu.  “Trong vòng hai tháng, doanh thu tăng gấp ba và số lượng người sử dụng dịch vụ của Triip tăng 40%. Chúng tôi đã trả lương được ba tháng mặc dù kinh phí khởi điểm của chúng tôi là con số không. Trong 12 tháng qua, chúng tôi bỏ ra 5.000 USD để “bao thầu” các tour du lịch trải nghiệm ở 66 thành phố và kết quả là có tới 4.200 người sử dụng dịch vụ của chúng tôi. Và hiện nay, chúng tôi đang xây dựng một đội ngũ hướng dẫn viên toàn thời gian để góp phần gia tăng tốc độ tăng trưởng của mình”, Hồ Hải hé lộ.  Chia sẻ kinh nghiệm tại Jakarta  Trong những ngày cuối tháng 11, Lâm Thị Thúy Hà tham gia cuộc thi Startup Arena tại Jakarta, Indonesia, chia sẻ với những người quan tâm và ban giám khảo chương trình cách Triip trao quyền lựa chọn tour cho các vị du khách bình thường trên khắp thế giới thông qua việc trở thành một thành viên sáng tạo của Triip.  Willson Cuaca, nhà quản lý đối tác của East Ventures, một thành viên của ban giám khảo, mong muốn được biết nhiều hơn về những thu nhận của người sử dụng dịch vụ du lịch. Khailee Ng, đối tác quản lý của hơn 500 doanh nghiệp khởi nghiệp, muốn biết rõ hơn về kế hoạch tương lai của Triip. Hai nhà đồng sáng lập cho biết, kế hoạch của họ là có được 100.000 tour trên trang web của mình trong vòng vài ba năm tới. Để đạt được doanh thu tương ứng, họ cũng lập kế hoạch đầu tư ít nhất 50% kinh phí vào đào tạo nguồn nhân lực.    Anh Vũ dịch theo https://www.techinasia.com/quit-job-sold-house-bootstrapped-triip-profitability/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bán ổi kèm sinh thái      Nhìn trên bản đồ, cù lao Tân Lộc có dáng thon dài, nên được ví von như hạt gạo. Còn từ phía đất liền nhìn qua, chỉ thấy một màu xanh bồng bềnh giữa sông Hậu.      Chín Điệp không chọn bán trái cho thương lái, mà “bán bụng” cho khách và bán giá không trung gian cho khách mang về.  Mùa này, có hôm nhiệt độ lên tới 37 – 38 độ C, những lượn sóng dập dềnh thăm thẳm lại khiến cù lao có vẻ mát rượi hơn đất liền.  Nơi đây từng là xóm nhà giàu, xóm chủ lò đường kết và cả một chợ đường lớn nhất miền Tây.  Cù lao Tân Lộc thuộc quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ, được biết tới lần lượt theo thời gian là cù lao Tam Tỉnh (điểm tiếp giáp của ba tỉnh: Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp). Sau đó là Sa Châu, bởi hình thành từ phù sa cát từ thượng nguồn sông Mekong đổ về. Sau đó nữa là cù lao Ngọt, bởi từng có thời kỳ phát triển rực rỡ nghề trồng mía lập lò đường với trên 250 lò. Và cù lao Cá, do làng cá bè và những ao nuôi cá tra nổi tiếng hơn chục năm trước.  Nói cho “bự sự” thì Tân Lộc đã trải qua nhiều mô hình tăng trưởng, và nay nhiều người thích cái tên cù lao Ngọt, vì nghĩa của từ này còn là sự ngọt ngào của hương vị các loại cây trái miền Tây, mà tiêu biểu là lễ hội trái cây thường niên vào dịp mùng 5 tháng 5 âm lịch. Đó còn là không gian yên bình với những con đường nhỏ, nhịp cầu cong và mái ngói rêu phong của những kiến trúc cổ, cùng với nhịp sống, cách hành xử thuần phác của cư dân đất cồn, trải qua nhiều đời chung sống chan hoà.  – Tui bán 7.000 đồng một ký ổi cho khách tham quan mà trong lòng cứ lo không biết là có mắc quá? Thường khi lái chỉ mua có 5.000 đồng hà.  – Nhưng giá bán lẻ ngoài chợ là bao nhiêu một ký?  – 10.000 đồng!  – Vậy thì được rồi. Khách có nói gì không mà chị lo?  – Có người hỏi tui bán rẻ quá sao có lời nên đưa thêm tiền. Rồi tui phải tìm cách cho lại người ta cái gì đó không thôi kỳ cục lắm. Cứ một đoàn khách chục người tui tặng 5 – 7 ký đem về. Người ta tham quan mình lấy 20.000 đồng/người rồi còn gì.  Chị Chín Điệp (Lê Hồng Điệp), chủ nhân điểm vườn rộng 4.000m2 trồng 600 gốc ổi lê trái đang trĩu cành, một trong vài địa chỉ du lịch được ưa thích của cù lao Tân Lộc, hiền lành, nói: ăn “bao bụng” 20.000đ một người lớn, tui nghĩ mình cần phải làm thêm món gì cho khách hài lòng.  Chị Chín và cô con dâu nấu được nhiều món ngon nếu khách đặt ăn. Có vài món đáng chú ý, nếu không muốn nói là độc đáo. Đầu tiên là khai vị ăn chơi với ổi chín chiên giòn có màu đẹp, vị béo, với chút hương ổi ngập ngừng đầu lưỡi. Món gỏi ổi với cách làm được chia sẻ là ổi dòn xắt miếng, trộn với tôm khô, khô mực xé, hành tím, nước mắm chua ngọt, rắc thêm lá chúc xắt nhuyễn, đóng vai trò dẫn dắt hương vị. Và ly rượu ổi ngâm 100 ngày thơm dịu dàng, xem ra rất phù hợp với buổi ăn trưa.  Qua thăm cù lao có bốn bến đò lớn, và dù khởi hành từ bến đò nào, cũng chỉ chừng 10 phút là cặp bờ đất cù lao, có chiều dài hơn 20km xuôi theo sông Hậu. Với diện tích hơn 3.200ha, đất cù lao màu mỡ để các loại cây trái sinh sôi. Đặc biệt, mận An Phước đâu đâu cũng thấy trồng, dấu hiệu nhận biết được bà con hóm hỉnh đặt tên là “mận ngủ mùng”. Cho mận ngủ mùng để kiểm soát được ruồi đục quả, cho trái ngon và năng suất cao. Chị Chín Điệp là một trong những người trồng giống ổi lê sớm nhất cù lao, cho biết thời mận chưa ngủ mùng giá trồi sụt thất thường, cây lại lão nên chuyển sang ổi, và hiện nay vườn nhà chị đang là điểm dừng chân của nhiều đoàn khách du lịch tứ phương tới vườn ổi Chín Điệp.  Khách vượt đường xa tới đây cốt để tìm kiếm những giá trị khác biệt, có thể khẩu vị mỗi người một kiểu; nhưng từ trái ổi, con cá, cọng rau tại chỗ đều là món ngon khi mẹ con chị Chín trổ tài. Còn gì ngon bằng gà nuôi thả trong vườn ổi, cá tươi từ sông Hậu và rau hái trong vườn.  Một món được 100% du khách yêu cầu phải có cho bữa cơm trưa nhà vườn là cá bống kho do đích thân cô con dâu Chín Điệp đứng bếp. Chín Điệp nói cá bống cát xứ cù lao có quanh năm, bán chợ lớn chợ nhỏ mỗi ngày nhưng phải mua lúc tươi rói; ướp nước dừa, nước mắm và gia vị vừa đủ, sau đó để tủ lạnh một đêm cho thấm. Trước khi ăn chỉ cần 15 phút với lửa riu riu là có một ơ cá ngon. Dọn lên bàn, những con cá bống cỡ ngón tay cái duỗi mình săn chắc trong màu nước sền sệt vàng óng, ăn với cơm gạo Nàng Hoa nấu bằng nước dừa, có thể là bữa cơm nhớ đời ở xứ cù lao.  Với giá 100.000 đồng/người cho bữa ăn sáu món, hầu hết thực khách đều cho là hợp lý.  Nguyễn Mạc Linh Phượng, cô bạn trẻ làm việc ở phòng văn hoá quận Thốt Nốt, say sưa nói về cù lao Tân Lộc với những ý tưởng phát triển du lịch địa phương, mà chính cô là người vận động bà con hơn một năm qua.  Thực ra, để nhà vườn hiểu được mà làm như trường hợp Chín Điệp, không nhiều. Chín Điệp tính toán: 600 gốc ổi thu hoạch cầm chắc 6 tấn, bán sỉ 5.000 đồng/kg và phải phụ thuộc vào thương lái. Xắn tay vào làm du lịch trong một năm, đón khách tham quan bán 7.000 đồng/kg, tăng 40% giá trị, lại được chủ động, chưa kể các nguồn thu khác khi có khách ghé vườn. Điều quan trọng nhất là đầu tư làm du lịch sinh thái phải chăm sóc tốt hơn. Anh Ba Sơn, chồng chị Chín, luôn túc trực ngoài vườn.  “Tuy là nông dân ít học, nhưng khi làm du lịch tui có ba phương châm phải làm cho được. Thứ nhất là vệ sinh, sạch nhà sạch bếp sạch ngõ. Thứ hai là trồng cây ăn trái không được để dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có hại cho khách ăn. Thứ ba là phục vụ ân cần, chu đáo, không “chặt chém” trong mọi trường hợp”. Chín Điệp nói, thoạt nghe có vẻ như “thuộc bài”, nhưng quan sát cách làm việc, thăm nhà, thăm vườn rồi cùng ngồi ăn trưa mới hiểu là chị thật lòng và điều vốn dĩ từ bao đời nay lại rất ư là bài bản khi làm du lịch bền vững.  Chín Điệp ý tứ trong cách lót đan xi măng xuyên vườn cây, để khách đi vừa sạch chân vừa tránh được tình trạng làm hư cây, hỏng trái, nay mai chị dọn đất trồng rau trong nhà lưới; và mời sang năm khách tới sẽ có nước mắm ủ từ cá linh, cá cơm gia truyền, đủ để vừa ăn vừa mua đem về.  bài, ảnh Đỗ Khuê (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản sao số có thể bảo vệ nhà máy khỏi tấn công mạng      Bản sao số chi tiết về các vật thể thực đang mở ra cánh cửa mới trong lĩnh vực sản xuất ô tô, chăm sóc sức khỏe, hàng không vũ trụ và nhiều ngành công nghiệp khác. Theo một nghiên cứu mới công bố của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST) và Đại học Michigan, an ninh mạng cũng có thể được hưởng lợi từ công nghệ bản sao số.     Các nhà nghiên cứu đã dùng công nghệ bản sao số kết hợp với học máy và chuyên môn của con người để phát hiện các cuộc tấn công mạng nhằm vào máy in 3D. Họ cũng lưu ý rằng khung chiến thuật này có thể được áp dụng cho một loạt các công nghệ sản xuất khác. Kết quả được xuất bản trên tạp chí IEEE Transactions on Automation Science and Engineering.  Các cuộc tấn công mạng có thể được tiến hành theo cách hết sức tinh vi và khó phát hiện hơn so với những bất thường có thể xuất hiện trong hệ thống. Dữ liệu hoạt động mô tả những gì đang xảy ra trong máy móc – ví dụ như dữ liệu cảm biến, tín hiệu báo lỗi, tín hiệu lệnh được đưa ra hoặc thực thi – có thể giúp phát hiện các cuộc tấn công mạng. Tuy nhiên, việc truy cập trực tiếp vào dữ liệu này từ các thiết bị công nghệ vận hành theo thời gian thực có thể làm giảm hiệu suất và độ an toàn của dây chuyền tại nhà máy.  “Thông thường, tôi thấy không phải lúc nào các chiến lược an ninh mạng dựa trên những bản sao chép lưu lượng truy cập cũng giúp chúng ta nắm được những gì đang diễn ra bên trong máy móc hoặc quy trình sản xuất. Kết quả là một số chiến lược an minh mạng giống đứng từ bên ngoài, nhìn vào trong nhà qua cửa sổ nhôm nhưng khi đó thì kẻ thù có thể đã vào nhà”, Michael Pease, kỹ sư cơ khí NIST và là đồng tác giả của nghiên cứu nhận xét.  Nếu không nhìn được những gì đang diễn ra phía dưới phần cứng thì chúng ta có thể bỏ sót những tác nhân độc hại. Bản sao số gắn chặt với các đối tượng vật lý của chúng và có thể trích xuất dữ liệu hoặc chạy song song với các đối tượng vật lý gần như theo thời gian thực. Chính vì thế, khi không thể xem xét máy móc đang hoạt động, người ta có thể dùng tới các bản sao số.  Nhóm nghiên cứu đã xây dựng một bản sao kỹ thuật số để mô phỏng quy trình in 3D và cung cấp thông tin từ một máy in thực. Khi máy in in ra các bộ phận, chương trình máy tính sẽ theo dõi và phân tích các luồng dữ liệu liên tục, bao gồm cả nhiệt độ đo được từ đầu in vật lý và nhiệt độ mô phỏng được tính toán trong thời gian thực bởi bản sao số.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra nhiều xáo trộn với máy in. Một số khá nhẹ nhàng đơn giản, chẳng hạn như quạt từ bên ngoài khiến máy in bị nguội; nhưng một số khác nghiên trọng hơn, ví dụ khiến máy in báo cao sai nhiệt độ mà chúng đọc được.  Họ sử dụng một mô hình học máy có khả năng nhận dạng mẫu để phân tích cả máy in thực và máy in bản sao số. Mô hình này được đào tạo trên dữ liệu vận hành bình thường. Nói cách khác, chúng rất thạo trong việc nhận ra máy in trong điều kiện bình thường và biết khi nào mọi thứ khác thường.  Nếu những mô hình này phát hiện ra bất thường, chúng sẽ chuyển vấn đề cho các mô hình máy tính khác để đối chiếu tín hiệu lạ với những vấn đề đã biết được lưu trong cơ sở dữ liệu. Sau đó, hệ thống sẽ phân loại xem đây là một bất thường dự kiến hay là một mối đe dọa mạng tiềm ẩn.  Trong bước cuối, một chuyên gia sẽ xem xét những phát hiện của hệ thống và sau đó đưa ra quyết định. Nhìn chung, chuyên gia sẽ xác nhận những nghi ngờ trong hệ thống an ninh mạng hoặc dạy nó nhận biết một bất thường mới để lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Dần dần, các mô hình trong hệ thống sẽ học được ngày càng nhiều kinh nghiệm và những gì chuyên gia con người cần phải dạy chúng sẽ ngày càng ít đi.  Với trường hợp của máy in 3D, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra hoạt động của hệ thống an ninh mạng và nhận thấy nó có thể tìm chính xác các cuộc tấn công mạng từ những bất thường thông thường bằng cách phân tích dữ liệu vật lý và mô phỏng.  Trong tương lai,  các nhà nghiên cứu muốn áp dụng chiến lược này cho một nhóm máy in cùng lúc để xem việc mở rộng phạm vi phủ sóng có ảnh hưởng hoặc giúp ích gì cho khả năng phát hiện tấn công hay không.□  Trang Linh lược dịch  Nguồn https://www.nist.gov/news-events/news/2023/02/how-digital-twins-could-protect-manufacturers-cyberattacks    Author                .        
__label__tiasang Bàn tay giả in 3D giá 15 USD      Với một máy in 3D và khoảng 15 USD, Ryan Bouricious, sinh viên năm cuối chuyên ngành vật lí, Đại học Ithaca,  New York, đã tạo ra một bàn tay giả có thể dùng để cầm, viết và thậm chí là bắt bóng.      Ryan Bouricius sử dụng máy in 3D của trường đại học để tạo ra bàn tay giả.  Bàn tay giả này được thiết kế cho người vẫn có khả năng cử động cổ tay. Bằng cách cử động cổ tay, họ có thể kiểm soát và sử dụng các ngón của bàn tay giả để cầm và giữ nhiều vật khác nhau.  Bàn tay giả này được thiết kế cho người vẫn có khả năng cử động cổ tay. Bằng cách cử động cổ tay, họ có thể kiểm soát và sử dụng các ngón của bàn tay giả để cầm và giữ nhiều vật khác nhau.  Bouricius, với tư cách một trợ giảng điều hành phòng thí nghiệm in 3D của Đại học Ithaca, bắt đầu quan tâm đến việc tạo ra những bộ phận giả của cơ thể sau khi xem qua một video về quá trình in và lắp ráp những bàn tay giả với chi phí thấp. Sau khi tìm được những thiết kế miễn phí trên mạng, anh in ra từng phần và ráp lại thành bàn tay hoàn chỉnh trong một ngày.  Thông qua thử nghiệm và cải tiến, Bouricious đã tạo ra những thay đổi so với thiết kế ban đầu, giúp cho bàn tay giả có nhiều chức năng hơn. Chẳng hạn, anh đã thay đổi hướng của ngón cái vốn ban đầu vuông góc với các ngón còn lại, để nó có thể cầm được nhiều loại đồ vật hơn, từ bút đánh dấu đến cốc cà phê. Theo Giáo sư vật lí Michael ‘Bodhi’ Rogers, người quản lí phòng thí nghiệm in 3D và theo dõi quá trình Boricius hoàn thiện bàn tay giả, bàn tay giả in 3D có nhiều ưu điểm so với bàn giả bằng điện tử.  “Có nhiều người đang nghiên cứu chế tạo những bàn tay điện tử, nhưng chúng vô cùng đắt đỏ, không dễ sửa chữa, và nhiều cái không bán”, Rogers nói. Còn Bouricius cho biết, “Điều thú vị về in 3D là giá cả chỉ phụ thuộc vào lượng nhựa được sử dụng, chứ không phụ thuộc vào độ phức tạp của các bộ phận cấu thành. Vì vậy các bộ phận cấu thành dù có thay đổi sang những hình dạng phức tạp hơn, nhưng vì nó dùng cùng một lượng plastic, nên giá của nó vẫn không đổi”.  Điều này đặc biệt quan trọng với những gia đình có con em sử dụng các bộ phận giả. Vì trẻ em lớn rất nhanh, nên chi phí của những bộ phận giả theo thời gian cũng ngày càng đắt lên đáng kể. Tuy nhiên, với công nghệ in 3D, mô hình của Bouricius có thể được in lại ở kích cỡ lớn hơn với chi phí hết sức phải chăng.  Bouricius đang hợp tác với eNABLE, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên tìm những người có nhu cầu sử dụng những bộ phận cơ thể giả in 3D. Tổ chức này chỉ giới thiệu người có nhu cầu với Bouricius, những việc còn lại anh sẽ làm nốt, theo Bouricius.  Nhưng gần đây, anh bắt đầu cộng tác thêm với những giảng viên có chuyên môn và kinh nghiệm về các bộ phận giả. Khi eNABLE tìm được một người muốn nhận bàn tay giả, họ sẽ hỗ trợ anh chỉnh sửa lần cuối để bộ phận giả vừa vặn hoàn hảo và tạo cảm giác thoải mái nhất cho người sử dụng trong thời gian dài.  Nguồn: http://phys.org/news/2016-12-student-d-functional-prosthetic.html       Author                Nhàn Vũ        
__label__tiasang Bàn tay mềm của robot      Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kỹ thuật  Berlin (TUB) đang cùng nhau chế tạo bàn tay robot mềm (softhands) hầu  như có thể cầm, nắm như bàn tay con người.     Bàn tay mềm có ngón tay làm bằng silicon được bơm khí nén: nhờ những túi khí, ngón tay có thể co lại theo các hướng khác nhau do con người điều khiển. Mới đây, bàn tay mềm đã được trình diễn tại hội nghị quốc tế “Robotics – Science and Systems” tại TUB.  Bàn tay mềm được điều khiển bằng computer: nhà khoa học Raphael Deimel khi trình diễn đã ấn một cái nút để kích hoạt máy bơm khí. Ngón tay co đến mức nào phụ thuộc vào độ lớn của đồ vật. Theo Deimel thì “bàn tay này không dùng công nghệ cảm biến”.   Cho đến nay, qua các thử nghiệm có ghi hình video, bàn tay mềm có thể cầm bút, kính mắt, chai lọ hay khăn lau. “Ưu điểm của bàn tay mềm là không gây trầy xước trên bề mặt đồ vật mà nó tiếp cận” theo Deimel. Hơn nữa, bàn tay mềm còn có khả năng chịu nhiệt, nước sôi hoặc cát.  Cấu trúc chi tiết về bàn tay silicon do Deimel và các giáo sư thuộc nhóm “Robotics and Biology Laboratory” thiết kế tương đối đơn giản nên dễ làm theo, giá thành bàn tay mềm thấp hơn nhiều so với bàn tay kim loại, có thể lên tới 100.000 Euro. Chi phí nguyên liệu cho bàn tay silicon chỉ từ 300 đến 400 Euro. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, bàn tay silicon mới nâng được đồ vật có trọng lượng dưới 500 gr.   Theo nhà khoa học Deimel, “Mong muốn của con người là đến một ngày nào đó robot có thể giúp con người làm những công việc hằng ngày, thí dụ chúng có thể dịch chuyển một vật gì đó từ A đến B, có thể tìm chùm chìa khóa bị thất lạc hoặc dọn dẹp nhà cửa.” Nhà khoa học này nhấn mạnh, trong tương lai gần, bàn tay silicon chưa thể thành thục, khéo léo như bàn tay con người.   XH dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn tay robot cử động như thật      Tổ chức nghiên cứu RSLSteeper của Anh vừa trình làng bàn tay robot công nghệ cao Bebionic3, có thể mô phỏng toàn bộ cử động phức tạp của bàn tay bình thường.     Bebionic3 sử dụng pin và được thiết kế giống một bàn tay thật, có đầy đủ 5 ngón cũng như các đốt ngón tay. Ngón cái linh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc cầm, nắm các đồ vật. Thậm chí nó có khả năng giúp người sử dụng cầm được cả những vật mềm, trơn.  Bebionic3 được điều khiển bởi các xung điện từ của cơ bắp từ phần còn lại trên cánh tay người sử dụng.  Mỗi ngón tay của Bebionic3 được điều khiển bởi một motor riêng biệt, bên ngoài được phủ lên lớp bao giống hệt da người, vì thế khó nhận ra đây là bàn tay robot.  Giá thành của sản phẩm chưa được công bố chính thức, tuy nhiên với những tính năng ưu việt này, chắc chắn giá thành sẽ rất cao, không phù hợp người sử dụng phổ thông.  Sự thành công của bàn tay robot Bebionic3 còn mở ra bước ngoặc lớn trong dự án Cyborg (nửa người, nửa công nghệ) trong tương lai.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bán và cho thuê đất, họa hay phúc?      Một diện tích đất tương đương 45 triệu sân  bóng đá đang được cho thuê trên toàn thế giới để rồi phần lớn bị bỏ  không chờ cơ hội đầu tư thích hợp. Khái niệm “cướp đất” (land grabbing)  đã ra đời, nhưng các tổ chức quốc tế vẫn chưa thống nhất được với nhau  về định nghĩa của nó.      Chính phủ Ethiopia vừa quyết định cho các nhà đầu tư giàu có thuê 3 triệu hectare đất để họ làm nông nghiệp hiện đại. Các nhà đầu tư cũng không hề chần chừ. Tuy nhiên họ không có ý định dành các sản phẩm mà họ thu hoạch ở Ethiopia phục vụ cho người dân sở tại.   Nhà đầu tư sẽ xuất khẩu và tùy theo biến động giá cả trên thị trường thế giới, họ sẽ trồng lúa mì hay các loại cây trồng khác để thu được lợi nhuận tối đa.  Một vấn đề khác, theo nguồn tin của Hội về các chủng tộc bị đe dọa (GfbV) của Đức, ở phía tây nam Ethiopia có tổng cộng khoảng 60.000 thổ dân phải di dời để dành chỗ cho các nhà đầu tư mới. Năm ngoái GfbV đã chính thức lên tiếng phản đối sự vi phạm nhân quyền tại đây.  Tình hình ở Ethiopia cho thấy rõ: việc cho các nhà đầu tư thuê đất – đang diễn ra ở khắp châu Phi và những nơi khác trên thế giới – không hề “ngon ăn” như người ta tưởng. Ngày càng có nhiều đất đai rơi vào tay các nhà đầu tư trong khi người dân bản địa hầu như không được hưởng một chút lợi ích nào. Vì vậy người ta gọi hiện tượng này là “cướp đất”, ngôn từ tiếng Anh là “land grabbing”.  45 triệu sân bóng đá   Land-Matrix, một trong những tổ chức độc lập cung cấp số liệu về vấn đề chuyển nhượng đất đai, cho biết, tổng diện tích đất đã cho thuê trên toàn thế giới là 32,8 triệu hectare – tương đương 45 triệu sân bóng đá.  Tổ chức Cứu trợ nạn đói thế giới (Welthungerhilfe) của Đức thì đề cập con số 200 triệu hectare đã bị bán hay cho thuê trên toàn thế giới. Kể từ năm 2009, các nhà đầu tư đẩy mạnh việc mua và thuê đất, xuất phát từ cuộc khủng hoảng lương thực thời kỳ 2007 và 2008 – khi đó giá ngô, lúa mì và gạo tăng gấp đôi.  Người thuê đất thường là các công ty đầu tư lớn, quỹ hưu trí và doanh nghiệp nhà nước. Họ thường “săn” đất ở các nước đang phát triển ở châu Phi và Nam Mỹ, nhưng theo một nghiên cứu đang được xúc tiến thì cả một số nước Đông Âu như Ukraine, Hungary và Romania cũng nằm trong tầm ngắm.  Không có gì khó hiểu khi các hoạt động kinh doanh đất đai bị dư luận chỉ trích và phản đối dữ dội. Nhiều tổ chức muốn tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ, còn Liên hợp quốc đã phải công bố những hướng dẫn “về trách nhiệm to lớn trong việc quản lý đất đai, quyền sử dụng đất, nguồn lợi thủy sản và rừng”.  Chưa có định nghĩa thống nhất  Tuy nhiên việc chống lại nạn “cướp đất” hoàn toàn không dễ dàng. Ngay cả định nghĩa một cách thống nhất về khái niệm này hiện cũng chưa có, gây khó khăn cho các tổ chức phản đối hành động “cướp đất”.  Trong khi Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) chỉ đề cập khái niệm “cướp đất” khi diện tích chuyển nhượng trên 1.000 hectare thì tổ chức phi lơi nhuận GRAIN (Tây Ban Nha) trong nghiên cứu “Cướp đất và cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu” (Land grabbing and the global food crisis) lại coi những vụ chuyển nhượng trên 10.000 hectare mới là cướp đất, còn Land-Matrix lấy con số trên 200 hectare làm cơ sở. Thế nhưng, tổ chức cứu trợ Oxfam lại cho rằng, việc đề cập bất kỳ số liệu nào nói trên đều sai – định nghĩa cướp đất của Oxfam là: “Đầu tư vào đất nông nghiệp thuê hoặc mua, trong đó nhà đầu tư không quan tâm đến quyền lợi và nhu cầu của những người dân từng canh tác hoặc sinh sống trên diện tích đó.”  Để giải quyết vấn đề, cần đối mặt trực tiếp với doanh nghiệp thực hiện đầu tư. Điều này nói thì dễ nhưng thực hiện thì khó vì thường không biết ai là người thực sự đứng đằng sau các vụ mua bán, cho thuê. Theo thông tin của Land-Matrix thì các nước thuộc khối OECD – trước hết là Mỹ, Anh – và một số quốc gia mới nổi như Malaysia và Ấn Độ, đóng vai trò to lớn trong việc thuê, mua đất.  Hồi tháng ba năm nay, theo nguồn tin của tổ chức môi trường thế giới Global Witness, vụ liên doanh của Ngân hàng Đức (Deutsche Bank) bị lộ diện. Công ty con của ngân hàng này là DWS Investment GmbH cùng với hai liên doanh là doanh nghiệp cao su của Việt Nam bị tố “cướp đất” ở Campuchea. Cách đây ba năm, Deutsche Bank cũng từng bị chỉ trích về những vụ làm ăn tương tự ở Thái Lan khi liên doanh với nhà sản xuất đường ăn KSL tại đây.  Bị bỏ hoang  Đối với nhà đầu tư, triển vọng kinh doanh trong nông nghiệp khá sáng sủa vì dân số thế giới không ngừng tăng, kéo theo nhu cầu về lương thực thực phẩm, bảo đảm đầu tư vào lĩnh vực này sẽ có lợi nhuận cao. Bên cạnh đó, việc kinh doanh nhiên liệu sinh học cũng là một động lực thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ tiền vào lĩnh vực nông nghiệp.  Tuy nhiên các nhà đầu tư dường như còn nằm yên chờ thời cơ. Theo Land-Matrix, đến nay phần lớn những diện tích đất đã được thuê vẫn để hoang, hầu như chưa trồng trọt gì. Trong tổng số 32,8 triệu hectare, việc canh tác mới được tiến hành trên 1,7 triệu hectare.  Các nhà khoa học đánh giá việc chuyển nhượng đất đai về cơ bản không có gì xấu. Họ nêu lí do tương tự như ý kiến của chính phủ Ethiopia: “Trong một thời gian dài, ngành nông nghiệp ở nhiều quốc gia châu Phi đã bị sao nhãng và giờ đây nhu cầu đầu tư rất lớn. Đòi hỏi này phần nào có thể được thỏa mãn thông qua những dự án lớn.” Thực tế là 85% trong số 90 triệu dân Ethiopia làm nông nghiệp, nhưng thu hoạch vẫn không đủ ăn, vì kỹ thuật quá lạc hậu. Hằng năm luôn có đến hàng triệu người Ethiopia phụ thuộc vào viện trợ lương thực của nước ngoài và Ethiopia hiện là một trong những nước nghèo nhất thế giới.            Khoảng 80 % trong số 2,5 tỷ nông dân ở các  nước đang phát triển làm ăn nhỏ lẻ, không có giấy tờ chứng minh quyền sở  hữu đồng ruộng mà họ canh tác từ đời này qua đời khác để tồn tại. Đất  đai ở đây chính thức thuộc sở hữu nhà nước. Việc người nông dân không có  giấy tờ chứng minh chủ quyền đối với mảnh ruộng của mình cộng với cấu  trúc quản lý chuyên chế tạo nên điều kiện lý tưởng cho nạn “cướp đất” và  hủy hoại thiên nhiên mà Ấn Độ là một thí dụ.   Ấn  Độ là nước sớm có chiến lược về “nhiên liệu sinh học” với mục tiêu đến  năm 2017, nhiên liệu sinh học phải trộn 20 % ethanol (hiện nay tỷ lệ này  là 10%).    Cây cọc rào (Jatropha)  là cây chủ lực để làm nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học. Người ta  đánh giá đây là một giống cây có thể xanh tươi trên những vùng đất đai  cằn cỗi, khô hạn, thậm chí cả ở những nơi bị coi là sa mạc. Năm 2004,  hãng sản xuất ô tô Daimler Benz (Đức) đã mở chiến dịch quảng bá cho  giống cây kỳ diệu này bằng việc cho một chiếc Mercedes-Nobellimousine  chạy xuyên tiểu lục địa Ấn Độ bằng nhiên liệu chế tạo từ Jatropha. Chính  phủ Ấn Độ dự kiến về lâu dài sẽ dành 39 triệu hectare đất để trồng  Jatropha.    Cùng với các tập đoàn  ADM của Mỹ và Bayer của Đức, tập đoàn Daimler chủ trương đầu tư lớn để  trồng Jatropha ở Ấn Độ. Hãng D1 Oil của Anh và người khổng lồ BP cũng đã  cùng với công ty con D1 BP Fuel Crops của Ấn Độ trồng 150.000 hectare  Jatropha ở nhiều bang của nước này. Hãng Naturol Bioenergy Limited, một  liên doanh của Mỹ và Áo, được chia 120.000 ha để trồng Jatropha.     Tuy  nhiên những kết quả thu được từ việc trồng Jatropha ở Ấn Độ lại rất  khiêm tốn. Dự án công tư hỗn hợp ở bang Chhattisgarh thuộc miền trung Ấn  Độ bị phá sản. Theo kế hoạch, đến năm 2012, trên đất “hoang hóa” ở đây  phải trồng 1 triệu ha Jatropha nhưng ba năm qua người ta chỉ trồng được  100 triệu cây trên 40.000 ha, vả lại có tới 50% số cây bị chết. Trong  khi đó, cơ quan trồng rừng chịu trách nhiệm về chương trình Jatropha ở  đây đã dùng kế hoạch này làm đòn bẩy xua đuổi người dân bản địa để lấy  đất trồng cây làm nhiên liệu. Sự phản đối của người dân bị cướp đất đã  làm cho dự án không thể tiến triển.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Băng cháy và lời giải của Việt Nam      Việt Nam đang đẩy mạnh nghiên cứu về băng cháy (tên khoa  học gas hydrate hoặc methan hydrate) trên vùng biển và thềm lục địa của  mình, xác lập các luận cứ khoa học, định hướng cho thăm dò, đánh giá trữ  lượng và lựa chọn công nghệ khai thác, tiến tới khai thác loại hình  năng lượng mới này phục vụ phát triển KTXH và bảo vệ quyền lợi của mình  trên Biển Đông.    Trao đổi về lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ này, ngày 15-3, TS. Vũ Trường Sơn – Giám đốc Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ TN&MT) – đơn vị có chức năng và nhiều kinh nghiệm điều tra địa chất khoáng sản biển, cho biết:  – Băng cháy là nguồn năng lượng mới được rất nhiều quốc gia quan tâm vì trữ lượng khổng lồ và khả năng tác động tới biến đổi khí hậu toàn cầu của nó. Khoáng sản năng lượng mới này dự báo lớn gấp 3 lần tổng tài nguyên năng lượng hóa thạch được biết đến trên toàn thế giới. Tuy nhiên nó cũng được xem là nguy cơ tiềm ẩn gây ra các thảm họa môi trường. Hiện nay đã có hơn 90 nước trên thế giới đang tiến hành các chương trình nghiên cứu điều tra băng cháy ở các mức độ khác nhau.  Mới đây nhất, ngày 12-3 vừa qua, Nhật Bản công bố nhóm nhà khoa học trên tàu khoan Chikyu đã lấy thành công khí đốt từ lớp methane hydrate nằm sâu 300m dưới lớp trầm tích ở đáy đại dương. Dùng một mũi khoan đặc biệt và phương pháp giải nén, đội khoa học đã biến methane hydrate ở bên dưới đáy biển thành khí metan và băng để đưa lên mặt đất. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu sự hoàn thiện về cả công nghệ điều tra, tìm kiếm và công nghệ khai thác loại hình năng lượng mới là băng cháy trên thế giới.  Việt Nam tiếp cận với băng cháy ra sao, thưa Tiến sĩ?  – Biển Việt Nam nằm trong khu vực Biển Đông, được Sở Địa chất Hoa Kỳ (USGS) đánh giá đứng hàng thứ 5 ở Châu Á về tiềm năng băng cháy. Dù chưa được trang bị đầy đủ thiết bị, công nghệ và còn thiếu nguồn nhân lực nghiên cứu, điều tra băng cháy, nhưng dựa vào các kết quả điều tra, khảo sát những năm qua về địa chất, cấu trúc – kiến tạo, địa mạo và kết quả tìm kiếm, thăm dò dầu khí cho thấy trên các vùng biển Việt Nam hội tụ nhiều yếu tố để có mặt băng cháy.  Bộ TN&MT từ hơn 5 năm trước đã tổ chức các hội nghị khoa học về triển vọng khí hydrat trên các vùng biển Việt Nam. Tổng cục Biển và Hải đảo VN cũng đã xây dựng chương trình nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy ở ta, cử cán bộ tham gia các hội thảo quốc tế về băng cháy và khoáng sản biển sâu tại Nhật, Hàn Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Jamaica, ký biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, điều tra địa chất – khoáng sản biển sâu với Hàn Quốc, Nga.  Để có thể tiến hành điều tra, nghiên cứu, cần sự đầu tư lớn về trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện, như các tàu nghiên cứu chuyên dụng, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý, tiếp thu công nghệ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các nước và tổ chức quốc tế. Nhiều tổ chức trên thế giới bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu băng cháy, đặc biệt trong đào tạo và phối hợp các hoạt động mang tính quốc tế.    Tiến sĩ có thể nói rõ hơn những vùng có triển vọng băng cháy tại nước ta?  – Trên vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam hội tụ đủ điều kiện hình thành băng cháy. Đó là độ sâu đáy biển, đặc điểm địa mạo, nhiệt độ đáy biển, trầm tích, nguồn khí, các dấu hiệu địa hóa, địa vật lý…, đặc biệt là cấu trúc địa chất, bối cảnh địa chất và một trong các điều kiện tiên quyết là sự xuất hiện của các bể chứa dầu khí Sông Hồng, Phú Khánh, Tư Chính – Vũng Mây, Nam Côn Sơn, các nhóm bể Hoàng Sa, Trường Sa.  Dựa vào kết quả nghiên cứu, thăm dò dầu khí, có thể phân Biển Đông Việt Nam ra 4 vùng dự báo để đánh giá tiềm năng băng cháy, đó là quần đảo Hoàng Sa và kế cận, Phú Khánh, Tư Chính – Vũng Mây và quần đảo Trường Sa và kế cận.  Thưa TS, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đã có kết quả điều tra địa chất khoáng sản biển gì đáng quan tâm góp phần nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy?  – Những dấu hiệu, điều kiện và tiền đề địa chất để hình thành băng cháy tại các bể trầm tích trên đòi hỏi phải sớm tiến hành nghiên cứu băng cháy để làm rõ tiềm năng, triển vọng loại hình khoáng sản có giá trị này. Các nước trên thế giới khi tiến hành điều tra băng cháy đều đã có số liệu điều tra cơ bản địa chất biển ở tỷ lệ 1/500.000 – 1/250.000.  Ở Việt Nam nhiều vùng biển còn chưa được điều tra cơ bản về địa chất khoáng sản. Cần nhanh chóng phủ kín điều tra cơ bản về địa chất trên các vùng biển Việt Nam trong thời gian tới theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam”, thuộc Đề án tổng thể điều tra cơ bản TNMT biển (Đề án 47), nâng diện tích vùng biển được điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1/500.000 lên 247.000km2 (chiếm khoảng 24% diện tích vùng biển Việt Nam).  Hiện Trung tâm đề xuất tiếp tục triển khai giai đoạn 2012 – 2020 của Đề án 47 Dự án điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển phủ kín vùng biển Việt Nam độ sâu đến 300m nước. Hy vọng các dự án điều tra địa chất khoáng sản vùng biển sâu tới đây tiếp tục cung cấp thêm các số liệu, cơ sở khoa học thực tế để nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy của Việt Nam.    Trân trọng cảm ơn TS!         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng cho thấy côn trùng có thể cảm nhận đau đớn      Hai nhà nghiên cứu ở Đại học Queen Mary London cùng cộng sự ở Đại học Tehran đã tìm thấy bằng chứng cho thấy côn trùng có thể cảm nhận đau đớn.     Các nghiên cứu trước đây và bằng chứng truyền miệng cho rằng côn trùng không cảm thấy đau. Do đó, con người thường làm hại hoặc giết chúng một cách dễ dàng. Trong nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B, các nhà khoa học cho thấy những giả định của chúng ta có thể đã sai.    Nhóm tác giả nhấn mạnh, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng cả động vật và côn trùng đều có hệ thống sinh lý – dẫn đến phản ứng được coi là trải nghiệm đau đớn ở động vật. Trải nghiệm này được tách riêng thành đau cảm thụ (phản ứng khi bị chấn thương thể chất gây kích thích vượt ngưỡng đau) và bất kỳ cơn đau nào có thể xuất hiện liên quan đến sự kiện này. Cả hai phản ứng này đều có thể tồn tại khi bạn cắt chân một con côn trùng chẳng hạn. Tuy nhiên, người ta chưa rõ liệu làm vậy có thể thực sự gây đau đớn có côn trùng hay không. Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về cảm thụ giảm dần – hành vi cao cấp hơn có thể liên quan đến một sự kiện có hại.  Khi bị tổn thương đột ngột, con người có thể ngừng phản ứng với cơn đau – chẳng hạn, một số người không nhận ra họ đã bị thương trong một vụ tông xe cho đến khi được điều trị trong bệnh viện. Nghiên cứu trước đây đã lý giải rằng, một sự kiện gây tổn thương như vậy có thể thúc đẩy não sản xuất các opiate (các chất được coi là thuốc phiện nội sinh, có tác dụng giảm đau). Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh côn trùng không thể sản xuất opiate, nhưng chúng tạo ra các neuropeptide (một loại chất dẫn truyền thần kinh) với mục đích tương tự. Họ phát hiện ra rằng côn trùng tạo ra neuropeptide này khi bị tổn thương, cho thấy chúng có tồn tại cảm thụ giảm dần – đây có thể là bằng chứng cho thấy côn trùng cũng có cảm giác đau.  Liệu có cần bảo vệ côn trùng trong nghiên cứu?  Nhóm nghiên cứu cho biết vẫn còn nhiều việc cần làm để xác định xem côn trùng có thực sự cảm thấy đau hay không, và nếu có, thì làm thế nào để giải quyết các vấn đề đạo đức liên quan đến việc đối xử với côn trùng.  Việc bảo vệ động vật trong nghiên cứu thường dựa vào khả năng cảm thấy đau đớn của chúng – một khía cạnh của nhận thức, hoặc tri giác. Hầu hết các loại động vật đều có khả năng phát hiện vết thương và phản ứng tránh xa mối đe dọa. Nhưng điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc chúng sẽ thấy đau đớn – đây còn là trải nghiệm về nhận thức, ý thức được về sự tổn hại và đau đớn.  Một số sinh vật không xương sống như ruồi giấm hoặc giun tròn từ lâu đã được sử dụng trong nghiên cứu, góp phần tạo ra những đột phá trong di truyền, phát triển tế bào và các quá trình sinh học. Người ta ước tính chúng đóng vai trò quan trọng trong khoảng 1/5 số giải Nobel Y sinh dựa trên nghiên cứu liên quan đến động vật. Hiện nay, ngày càng nhiều nhà khoa học chuyển sang sử dụng động vật không xương sống trong nghiên cứu để tránh các vấn đề đạo đức liên quan đến phúc lợi động vật.  Khi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, Lars Chittka, Giáo sư Sinh thái học hành và và giác quan ở Đại học Queen Mary London, một trong những tác giả của nghiên cứu, không bao giờ phản đối khi đồng nghiệp của ông mở hộp sọ ong và lắp các điện cực vào để nghiên cứu hệ thần kinh của chúng. Nhưng giờ đây ông tự hỏi những quy trình như thế này có thể gây ra “tình trạng rất khó chịu” cho côn trùng hay không. Chittka khẳng định chưa có khuôn khổ pháp lý nào về việc sử dụng côn trùng trong công nghiệp cũng như nghiên cứu.  Chittka nhận xét rằng, điều quan trọng là phải chắc chắn về vấn đề này khi ngành công nghiệp côn trùng đang phát triển theo hướng trở thành nguồn thực phẩm cho con người cũng như gia súc. Năm 2013, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị sử dụng côn trùng để góp phần chống nạn đói, và xác định đây là nguồn thực phẩm giàu đạm, chất dinh dưỡng và dễ tiếp cận.  Nhiều người cho rằng việc đối xử với côn trùng như thế nào trong nghiên cứu chẳng phải là vấn đề đáng bận tâm, khi mọi người vẫn bắt ruồi giấm và gián trong nhà bếp, và thuốc trừ sâu đang tiêu diệt vô số côn trùng gây hại hàng ngày. Nhà thần kinh học Matthew Cobb ở Đại học Manchester (Anh) cho rằng nghiên cứu nên tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn, vì công chúng – những người tài trợ hầu hết cho các nghiên cứu – đặc biệt quan tâm đến phúc lợi động vật trong thí nghiệm. Hơn nữa, khác với việc phun thuốc diện rộng trên cánh đồng, các nhà khoa học chỉ tương tác với một vài cá thể tại một thời điểm, vì vậy họ đủ khả năng để đối xử nhân đạo với chúng.  Vậy khi đó chúng ta nên đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức như thế nào? Một số nhà khoa học, bao gồm Chittka cho rằng côn trùng nên được bảo hộ theo một số hình thức quy định, tuy nhiên, không nhất thiết phải giống với các biện pháp bảo vệ giống các động vật có xương sống – theo nhà nghiên cứu hành vi động vật Jennifer Mather ở Đại học Lethbridge (Canada). “Mỗi loài đều khác nhau và xứng đáng được bảo vệ phù hợp nhất”, bà nói.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-evidence-insects-possibly-pain.html  https://undark.org/2022/07/25/if-insects-feel-pain-should-they-be-protected-in-research/    Author                .        
__label__tiasang Bằng chứng mới về nước phân tách thành hai chất lỏng khác biệt ở nhiệt độ thấp      Lần đầu tiên sau 30 năm, người ta thấy một dạng “chuyển pha” mới ở nước trong một nghiên cứu của các nhà khoa học trường ĐH Boston. Bởi vì sự chuyển pha này đã được dự đoán là sẽ xuất hiện ở những điều kiện siêu lạnh, tuy nhiên, xác nhận về sự tồn tại của nó vẫn là một thách thức.     Mô hình các phân tử nước.  Bởi vì ở các mức nhiệt độ thấp, nước không muốn trở thành một chất lỏng mà muốn trở thành băng một cách nhanh chóng. Do những trạng thái của nó vẫn còn bị dấu kín nên vẫn còn nhiều điều chưa rõ về chuyển pha chất lỏng – chất lỏng, không giống với những ví dụ bình thường của các chuyển pha trong nước giữa pha ở trạng thái rắn hoặc bốc hơi hoặc pha lỏng.  Bằng chứng mới, được xuất bản trên Nature Physics, tái hiện một bước tiến đáng kể về phía xác nhận ý tưởng chuyển pha chất lỏng – chất lỏng được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1992 1. Francesco Sciortino, hiện giờ là một giáo sư tại trường Sapienza Università di Roma, là một thành viên của nhóm nghiên cứu ban đầu ở trường đại học Boston và là đồng tác giả của bài báo này.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mô phỏng máy tính để giải thích những đặc điểm phân biệt được hai trạng thái lỏng tại cấp độ vi mô. Họ đã tìm thấy các phân tử nước tại những sắp xếp của hình thức lỏng có mật độ cao có thể được coi là “phức hợp về mặt topo”, như một nút ba la (các phân tử được sắp xếp theo một cách mà chúng tập hợp thành hình một bánh quy xoắn) hay một liên kết Hopf (hai đường mắt xích lồng vào nhau trong một dây xích). Các phân tử trong chất lỏng mật độ cao đến mức có thể nói chúng xoắn rối vào nhau.  Tương phản, các phân tử của chất lỏng mật độ thấp chủ yếu hình thành những đường tròn đơn giản và ngay cả các phân tử trong chất lỏng mật độ thấp cũng không rối vào nhau.  Andreas Neophytou, một nghiên cứu sinh tại trường đại học Birmingham dưới sự dẫn dắt của tiến sĩ Dwaipayan Chakrabarti, là tác giả thứ nhất của bài báo. Anh nói, “Cái nhìn thấu suốt này đem lại cho chúng tôi cơ hội cầm giải quyết một cách hoàn toàn mới của vấn đề đã tồn tại 30 năm tuổi nhưng mới chỉ là điểm bắt đầu”.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một mô hình nước dạng keo trong mô phỏng của họ, sau đó sử dụng các mô hình phân tử nước. Keo là những hạt có thể lớn hơn một phân tử nước cả ngàn lần. Bằng việc hiển thị kích thước lớn hơn của chúng, sau đó là các chuyển động chậm hơn, keo đã được sử dụng để quan sát và hiểu về hiện tượng vật lý xuất hiện tại các cấp độ nhỏ hơn của nguyên tử và lớn hơn của phân tử.  Tiến sĩ Chakrabarti, đồng tác giả, nói, “Mô hình keo của nước đem lại cho chúng tôi một “chiếc kính lúp’ trực quan để nhìn vào nước ở cấp độ phân tử, và cho phép chúng tôi khám phá những bí mật của nước ở câu chuyện về hai dạng chất lỏng”.  Giáo sư Sciortino thì nói rằng, “Trong công trình này, chúng tôi đề xuất, lần đầu tiên, một cái nhing về chuyển pha chất lỏng – chất lỏng trên cơ sở ý tượng về rối mạng. Tôi chắc chắn là công trình này sẽ khơi gợi cho những mô hình lý thuyết mới dựa trên các khái niệm topo”.  Nhóm nghiên cứu chờ đợi là mô hình mà họ đã sử dụng sẽ mở đường cho những thí nghiệm mới sẽ đánh giá lý thuyết này và mở rộng khái niệm chất lỏng ‘rối với những chất lỏng khác như silicon.  Pablo Debenedetti, một giáo sư kỹ thuật hóa học và sinh học tại trường đại học Princeton và là chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu này, ghi nhận, “Công trình mô phỏng trên máy tính tuyệt đẹp này đã khám phá ra những cơ bản topo nằm bên trong sự tồn tại của các pha lỏng khác nhau trong cùng một chất liệu hình thành mạng lưới.  “Khi làm theo cách này, nó làm phong phú và sâu sắc hơn một cách bền vững hiểu biết của chúng ta về hiện tượng, mà bằng chứng thực nghiệm và tính toán ngày một cho thấy, là trung tâm của thứ vật lý về một chất lỏng ngày một trở nên quan trọng với chúng ta: nước”.  Christian Micheletti, một giáo sư của trường quốc tế về nghiên cứu tiên tiến ở Trieste, Italy, hiện có nghiên cứu liên quan đến hiểu biết về tác động của rối, cụ thể là các nút và liên kết đường tròn, đối với tĩnh, động học và chức năng của polymer sinh học, cho rằng, “Chỉ với bài báo này, Neophytou và cộng sự đã tạo nên những đột phá sẽ là kết quả ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.  Đầu tiên, mô hình keo cho nước tuyệt đẹp của họ mở ra những chiều hoàn toàn mới cho những nghiên cứu rộng hơn về chất lỏng. Vượt ra ngoài điều đó, họ đem lại bằng chứng rất thuyết phục về các chuyển pha, mà cách phân tích truyền thống về cấu trúc cục bộ của chất lỏng còn chưa thể nắm bắt được, có thể thu nhận được bằng việc dõi theo các nút và liên kết trong mạng lưới của chất lỏng.  “Ý tưởng tìm kiếm sự phức tạp trong không gian trừu tượng mơ hồ của những lối đi chạy dọc theo những liên kết phân tử thoáng qua rất hữu dụng. Tôi cho là nó sẽ được áp dụng để nghiên cứu về những hệ phân tử phức hợp”.  Về phần mình, Sciortino nói, “Nước lần lượt bộc lộ bí mật của mình. Hãy mộng mơ đi, nó đẹp biết bao, nếu như chúng ta nhìn vào bên chất lỏng và quan sát điệu nhảy của các phân tử nước, cách chúng đu đưa, cách chúng thay đổi bạn nhảy, tái cấu trúc mạng lưới liên kết hydro. Sự hiện thực hóa mô hình keo cho nước là cách chúng tôi đề xuất có thể biến giấc mơ này thành hiện thực”.  Tô Thanh Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-evidence-liquids-temperatures.html  https://www.bbc.co.uk/bitesize/guides/zgvc4wx/revision/  —————————  1. https://www.nature.com/articles/s41567-022-01698-6    Author                .        
__label__tiasang Bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về phản ứng nhiệt hạch xúc tác lấn át ở nhiều ngôi sao      Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm 100 nhà khoa học là Nhóm hợp tác Borexino, trong đó có nhà vật lý hạt Andrea Pocar tại trường đại học Massachusetts Amherst, mới xuất bản công bố trên “Nature” về việc dò được các hạt neutrino từ mặt trời, lần đầu tiên tiết lộ một cách trực tiếp chu trình nhiệt hạch carbon-nitrogen-oxygen (CNO) hoạt động trong mặt trời của chúng ta.      Chu trình CNO này là nguồn năng lượng nổi trội ở các ngôi sao có khối lượng lớn hơn mặt trời nhưng vẫn còn chưa dò thấy một cách trực tiếp trong bất kỳ ngôi sao nào, Pocar giải thích.  Trong suốt thời gian tồn tại của mình, các ngôi sao lấy năng lượng bằng việc hợp nhất hydrogen vào helium, anh cho biết. Trong các ngôi sao như mặt trời hoặc các ngôi sao có khối lượng nhẹ hơn, điều này thông thường xảy ra qua chuỗi phản ứng “proton-proton”. Tuy vậy, có nhiều ngôi sao nặng hơn và nóng hơn mặt trời của chúng ta, và có những nguyên tố nặng hơn helium trong thành phần của chúng, một đặc tính mà người ta vẫn biết là tính kim loại. Dự đoán từ năm 1930 là chu trình CNO sẽ lấn át trong những ngôi sao nặng.  Là một phần của những quá trình này, các hạt neutrino phát ra đem lại một tín hiệu quang phổ cho phép các nhà khoa học phân biệt được chúng từ “chuỗi proton-proton” hay từ “chu trình CNO”. Pocar nêu, ‘việc xác nhận sự đốt cháy CNO trong mặt trời của chúng ta sẽ giúp chúng ta tin tưởng hơn vào hiểu biết của chúng ta về hoạt động của các ngôi sao”.  Không chỉ có vậy, các hạt neutrino CNO có thể giúp giải quyết được một câu hỏi mở quan trọng trong vật lý sao, anh cho biết thêm. Đó là tính kim loại ở tâm mặt trời của chúng ta, vì có thể được xác quyết bằng tỉ lệ neutrino CNO từ lõi, vốn có liên quan đến tính kim loại ở những phần khác của một ngôi sao. Các mô hình cổ điển đã vận hành theo một cách phức tạp – tính kim loại trên bề mặt được đo đạc bằng phổ quang học không đồng nhất với những đo đạc tính kim loại lớp dưới bề mặt được suy luận từ một phương pháp khác, những quan sát địa chấn học mặt trời (helioseismology).  Pocar cho rằng, thực sự khoa học chỉ có một cách chứng minh trực tiếp những hạt neutrino bằng việc xem xét lõi của các ngôi sao, bao gồm cả mặt trời, nhưng quá khó để đo đạc được chúng. Vì mỗi giây có khoảng 420 tỉ hạt neutrino chạm đến mỗi inch vuông bề mặt trái đất, nhưng gần như là chúng chỉ xuyên qua mà không hề có tương tác. Các nhà khoa học chỉ dò được chúng bằng việc sử dụng những cỗ máy dò lớn với những mức bức xạ nền vô cùng thấp.    Cỗ máy dò Borexino   Cỗ máy dò Borexino được đặt dưới chân núi Apennine ở Trung Ý, trong Phòng thí nghiệm quốc gia Laboratori Nazionali del Gran Sasso của INFN. Nó dò các hạt neutrino nhờ những tia sáng lóe lên khi các hạt neutrino va chạm với các electron trong khối chất sáng nhấp nháy hữu cơ siêu nguyên chất nặng 300 tấn. Độ sâu, kích thước và sự nguyên chất của chúng khiến cho Borexino trở thành một máy dò độc nhất vô nhị trong lớp các thiết bị dò bức xạ nền thấp, Pocar nói. Dự án này ban đầu được hình thành vào đầu những năm 1990 do đề xuất của một nhóm các nhà vật lý do Gianpaolo Bellini ở trường đại học Milan, Frank Calaprice tại Princeton và sau đó là Raju Raghavan ở Bell Labs dẫn dắt.  Cho đến những lần dò gần đây nhất, nhóm hợp tác Borexino đã thành công trong việc đo đạc các thành phần của những luồng xung neutrino mặt trời “proton-proton”, giúp tinh chỉnh lại các tham số dao động-hương neutrino và hấp dẫn nhất là đo đạc bước đầu tiên xảy ra trong chu trình này: các hạt neutrino mức năng lượng thấp “proton-proton”, Pocar kể lại.  Các nhà khoa học đã từng mơ mở rộng phạm vi khoa học để nhìn vào các hạt neutrino CNO –  trong một vùng có phổ cực nhỏ với nền bức xạ thấp một cách đặc biệt – nhưng dường như chưa ai làm được điều này. Tuy vậy các nhóm nghiên cứu tại Princeton, Virginia Tech và UMass Amherst tin tưởng các hạt neutrino CNO có thể được tìm ra bằng việc áp dụng các bước và các phương pháp mà họ phát triển để hiểu rõ độ cân bằng của máy dò.  Trải qua nhiều năm và nhờ một loạt các bước để nhận diện và cân bằng được các nền tảng, các nhà khoa học Mỹ và đồng nghiệp của họ đã đạt được thành công. “việc phát hiện ra các neutrino CNO trong công trình xuất bản trên Nature có thể có tiềm năng giúp các nhà khoa học giải quyết được vấn đề tính kim loại“, Pocar nói.    Nhà vật lý hạt Andrea Pocar tại trường đại học Massachusetts Amherst  Trước khám phá về neutrino CNO, họ đã lên kế hoạch cho Borexino kết thúc thời gian vận hành vào cuối năm 2020. Nhưng vì dữ liệu để phân tích cho bài báo Nature chưa sẵn sàng nên họ phải tiếp tục thu thập dữ liệu vì độ tinh khiết tiếp tục được cải thiện, tạo ra một kết quả mới tập trung vào tính kim loại như một điều có thể đạt được, Pocar nói. Dữ liệu thu thập được có thể mở rộng đến năm 2021 khi việc vận chuyển và giấy phép được cấp.  Pocar tham gia dự án này khi tốt nghiệp Princeton, trong nhóm nghiên cứu do Frank Calaprice dẫn dắt, nơi anh làm việc về thiết kế ống nylon và vận hành thử hệ điều khiển chất lỏng. Sau đó anh làm việc với các học trò tại UMass Amherst về phân tích dữ liệu và gần đây nhất là về các kỹ thuật để xác định đặc điểm các nền tảng áp dụng để đo đạc neutrino CNO.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-neutrinos-yield-experimental-evidence-catalyzed.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bánh đa cua VIFON – sản phẩm của tiên phong công nghệ      Mấy năm gần đây, Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam-Vifon luôn tiên phong với xu  hướng sản xuất thực phẩm công nghệ ăn liền là đặc sản quê hương ngon,  hấp dẫn tiện dụng: phở bò, bún riêu cua, bánh đa cua…Ông Nguyễn Ngọc Lân , Phó Tổng giám đốc,&#160; nói về việc đầu tư công nghệ mới&#160; của Vifon.      “Trong vài năm trở lại đây, ngành sản xuất thực phẩm của các doanh nghiệp Việt đã tăng đáng kể tỉ lệ sử dụng nguồn nguyên liệu nội địa như gạo, bột gạo, rau quả, các loại đậu… cho thấy đây là một triển vọng lớn, hướng đi thiết thực trong việc mang lại giá trị gia tăng gấp nhiều lần cho mặt hàng nông sản Việt Nam, giảm dần xuất khẩu thô với giá trị thấp. Việc đầu tư công nghệ vào sản xuất những sản phẩm đóng gói như phở bò ăn liền, bánh đa cua là đáp ứng cùng lúc các yêu cầu: tôn vinh yếu tố văn hóa ẩm thực đặc sắc bản địa; sử dụng nguồn nguyên liệu là nông sản tai chỗ; sử dụng công nghệ hiện đại với thiết bị mới, qui trình tiên tiến; cho ra sản phẩm là đặc sản có tính dinh dưởng cao, an toàn. Đó là cách phát triển thị trường và thương hiệu sản phẩm tuy đòi hỏi nhiều công phu nhưng bền vững.            VIFON đã  tận dụng thế mạnh của nguồn nguyên liệu chính là gạo, và kế đó là: cua  đồng, hành, tỏi, ớt, tiêu, muối…làm ra món bánh đa cua nổi tiếng thế  giới khi được Liên đoàn Các Hiệp hội Khoa học & Công nghệ thực phẩm  quốc tế (IUFoST) trao tặng Giải thưởng Công nghiệp thực phẩm toàn cầu  IUFoST năm 2012.          Sản phẩm của Vifon đến nay  đã có mặt tại rất nhiều nước kể cả các nước có yêu cầu rất khắt khe về chất lượng như Mỹ, Úc, Nhật và các nước châu Âu. Nhờ sản xuất bởi dây chuyền công nghệ hiện đại nên sản phẩm công ty đã được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, chứng nhận quốc tế HACCP – một chứng nhận rất cần thiết cho những đơn vị sản xuất mì ăn liền muốn vươn xa đến tầm thế giới.      Chỉ riêng việc sử dụng nguyên liệu là hạt gạo Việt, công ty đã thực hiện hàng loạt nghiên cứu và thực hiện qui trình thật nghiêm nhặt. Đặc thù của các sản phẩm có gốc từ gạo là không qua chiên rán, không có nhiều hóa chất, tạp chất, thành phần biến đổi gen, vốn là những vấn đề mà hàng xuất khẩu sang Mỹ hay Châu Âu luôn bị kiểm tra kỹ lưỡng. Để đảm bảo chất lượng của nguyên liệu gốc, Vifon đã chủ động đưa ra những tiêu chuẩn khắt khe về độ ẩm, độ hóa lý… của hạt gạo. Từ đó, Vifon đã kết hợp với các sở ban ngành, ủy ban khoa học như Đồng Tháp, Long An để khoanh vùng nguyên liệu đảm bảo có được những hạt gạo sạch, đủ tiêu chuẩn để đưa vào chế biến thành bột gạo đúng tiêu chuẩn cho dây chuyền sản xuất những sản phẩm sau gạo. Và việc chuẩn hóa bột gao cũng được công ty tìm tòi hợp tác với đơn vị chế biến ra bột gạo và phân tích các yếu tố chất đạm, chất xơ…trong bột gạo,và mã hóa thành nhiều loại bột khác nhau tùy tỉ lệ các thành phần cho phù hợp nhu cầu sử dụng nguyên liệu của từng loại sản phẩm , từng phẩm cáp khác nhau phù hợp tiêu chuẩn quốc tế khi đưa ra thị trường thế giới.     Những năm trước, thị trường dường như chỉ chứng kiến sự độc diễn của sản phẩm mì ăn liền. Hiện nay, tại các siêu thị, tốc độ tăng trưởng thị trường mì ăn liền (làm từ bột mì) đã giảm xuống còn 5%/năm, thay vào đó là các sản phẩm khác từ gạo lên ngôi. Hiện tại, các chuyên gia đếm được có khoảng chừng 70 loại sản phẩm ăn liền sản xuất từ bột gạo đang được bày bán trên thị trường. Ở hệ thống siêu thị Co.op Mart chẳng hạn, doanh số sản phẩm ăn liền trước đây nguồn gốc từ bột gạo chỉ chiếm 10%, nay đã tăng lên 40%.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bao bì tự làm lạnh      Từng nhiều năm làm công tác nghiên cứu về lĩnh vực hoá học, mặc dù tuổi đã cao nhưng Nguyễn Đăng Lương vẫn say mê nghiên cứu và mới đấy đã sáng chế thành công “bao bì tự làm lạnh để đựng thức uống với cơ chế sử dụng loại tác nhân sinh hàn là CO2 ở dạng lỏng.    Một cụm chức năng được lắp đặt ẩn kín bên trong lòng bao bì, gồm: một ống chứa tồn trữ CO2 lỏng và ống bao bên ngoài dẫn hướng cho khí CO2 thoát ra để tạo độ lạnh và “nạp” gas vào thức uống. Cụm chức năng này có kết cấu nhỏ gọn, được gắn liền vào mặt trong của nắp bao bì. Khi sử dụng, chỉ cần mở nắp bao bì, khí gas thoát ra sẽ làm lạnh lon nước cùng nước giải khát bên trong. Ông Lương ước tính việc chế tạo cụm chức năng như trên sẽ có gía thành không cao hơn giá một chiếc bật lửa gas khi xuất xưởng.    Công nghệ này có thể ứng dụng cho nhiều dạng bao bì bằng những chất liệu khác nhau như các loại hộp bằng nhôm, tôn tráng thiếc và với cả những lọai hộp bằng cac-tông phức hợp ; không chỉ riêng cho những lọai thức uống có gas như nước ngọt, bia, sôđa v.v… mà còn dùng được cho cả những loại thức uống không có gas nhưng vẫn cần có độ lạnh khi dùng thường là 5độ C, thậm chí là có thêm tính năng tự tạo gas; giúp cho người tiêu dùng có thêm tiện ích khi sử dụng, nhất là ở vùng nhiệt đới, vùng sâu, vùng xa, khách du lịch và những người luôn phải làm những công việc lưu động.   Với những tính năng độc đáo ấy, năm 2012, giải pháp công nghệ “bao bì tự làm lạnh để đựng thức uống” của cụ Nguyễn Đăng Lương đã được Cục SHTT Việt Nam và Mỹ cấp bằng độc quyền sáng chế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo cáo mới: Cây trồng biến đổi gen không gây hại cho sức khoẻ con người      Cây trồng biến đổi gen (GMO) không gây thêm những rủi ro cho sức khoẻ con người nếu so với các loại cây trồng thông thường, theo báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học quốc gia Mỹ.      Báo cáo này được xây dựng trên cơ sở tổng hợp kết quả của hơn 900 nghiên cứu sâu rộng về tác động của cây trồng biến đổi gen đối với sức khoẻ con người và môi trường. Đồng thời, báo cáo này cũng đánh giá các kỹ thuật di truyền đã có vai trò rất lớn trong sản xuất nông nghiệp tại Mỹ.  Tuy vậy, có một số vấn đề khác mà cây trồng biến đổi gen gây ra. Việc sử dụng rộng rãi cây trồng biến đổi gen – thường được thiết kế để chống lại các tác động của thuốc trừ sâu đã góp phần tác động đến mức độ kháng thuốc trừ sâu trong cỏ dại và côn trùng. Các loài sâu bọ cũng tăng khả năng kháng thuốc trừ sâu mỗi khi phun thuốc trừ sâu, điều này tạo ra vòng luẩn quẩn của tăng phun thuốc và lại kháng thuốc nhiều hơn.  Các nhà nghiên cứu xây dựng báo cáo này kêu gọi một quy trình đánh giá tiềm năng về sức khoẻ và môi trường liên quan đến các loại cây trồng biến đổi gen mới.  Trước khi báo cáo này được đưa ra, các nhà hoạt động môi trường và y tế công cộng vẫn tiếp tục yêu cầu phải dán nhãn riêng lên tất cả thực phẩm biến đổi gen. Nhưng theo báo cáo này, việc dán nhãn có thể không thực sự cần thiết nếu không có bằng chứng xác thực về nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ từ thực phẩm biến đổi gen.  Dẫu vậy, báo cáo này không thể ngăn cản những kêu gọi tiếp tục dán nhãn lên thực phẩm biến đổi gen ở nhiều nơi và đã khiến một số nhà sản xuất thực phẩm như Whole Foods hứa sẽ cắt giảm việc sử dụng các thành phần biến đổi gen. Và các tác giả của báo cáo này cũng thừa nhận rằng ấn phẩm của họ không nên và sẽ không thể giải quyết các tranh cãi về thực phẩm biến đổi gen mà hi vọng rằng sẽ bắt đầu đem tới một cuộc trao đổi dựa trên các bằng chứng xác thực thay vì tranh cãi một cách thiếu căn cứ.  Thu Quỳnh lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo chí Trung Quốc đánh giá kết quả 5 năm vào WTO      Được và mất  Kỷ niệm “nửa thập kỷ gia nhập WTO”, ngày 11/12 vừa qua, rất nhiều báo, đài Trung Quốc có bài nhìn nhận lại 5 năm hội nhập của Trung Quốc    Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc còn dành cả 16 tiếng để kỷ niệm sự kiện này. Nổi bật trong đó là bài “Long Vĩnh Đồ đánh giá được và mất sau 5 năm Trung Quốc vào WTO” được một loạt báo lớn đăng tải. Long Vĩnh Đồ nguyên là trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại thương, hiện là bí thư Diễn đàn Châu Á Bác Ngao. Ông Long đánh giá, 5 năm vừa qua, Trung Quốc được nhiều hơn mất. Tuy nhiên mức độ mở cửa của Trung Quốc hiện còn xa mới đạt đến trình độ toàn cầu hoá kinh tế. Ông Long cho rằng, vào WTO, người Trung Quốc phải giải quyết hai vấn đề: Một là tôn trọng quy tắc, hai là mở cửa thị trường. Tinh thần gia nhập WTO cũng không gì khác ngoài 2 từ: “quy tắc” và “mở cửa”. 5 năm qua, điều được nhất của Trung Quốc là quy tắc và thiếu nhất cũng là quy tắc. Không có quy tắc, không thể xây dựng được nền kinh tế thị trường.             Ngân hàng Trung Quốc được bảo hộ nhưng lại bị người Trung Quốc phàn nàn nhiều nhất        Theo ông Long, vào WTO, Trung Quốc vẫn có 3 điều không được như ý. Thứ nhất là thủ tục hành chính rườm rà. Hết năm 2005, Trung Quốc phải bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu ô tô, đánh dấu sự chấm dứt của thời đại cấp hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên việc giảm thiểu thủ tục hành chính vẫn chưa đủ. Trích dẫn lời ông Long trong bài báo: “Nơi nào ‘công đường’ nhộn nhịp nhất là nơi đó thủ tục hành chính rườm rà nhất. ‘Công đường’ càng nhộn nhịp thì càng nhiều cơ hội tham nhũng”. Không những chỉ gây tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà còn khiến doanh nghiệp phải trả giá rất đắt. Vì thế phải giảm các khâu xét duyệt ngay từ đầu”.  Thứ hai là tạo lập uy tín. Nền kinh tế thị trường phải có các kiện: minh bạch, ổn định và hệ thống luật pháp có thể định trước. Đây vẫn là vấn đề của nền kinh tế Trung Quốc 5 năm qua, còn rất nhiều việc để xây dựng uy tín nền kinh tế. “Mọi người đều thấy thị trường rất lộn xộn, gây cảm giác không an tâm, giống cảm giác khi mua thức ăn trên đường. Thị trường Trung Quốc rất lớn, vì thế phải cần rất nhiều nỗ lực để xây dựng một hệt thống minh bạch”. Ông Long cũng kêu gọi các ông chủ doanh nghiệp đã trải qua thời kỳ “tư bản man rợ” phải gánh thêm trách nhiệm xã hội, làm việc và làm người theo quy tắc.                   Thứ ba là các ngân hàng chỉ mới chấp nhận những “cam kết cơ bản”. Từ 1/12/2006, Trung Quốc phải cho phép 13 ngân hàng nước ngoài được kinh doanh bằng đồng nhân dân tệ, chấm dứt hoàn toàn thời kỳ “quá độ” sau khi Trung Quốc vào WTO. Tuy nhiên,  độ mở cửa của các ngân hàng không lớn, mới chỉ chấp hành những nguyên tắc tối thiểu của cam kết quốc tế và lợi dụng tối đa các ưu đãi của chính phủ Trung Quốc. Trong khi đó, ngành công nghiệp ô-tô từng bị dự đoán là sẽ phá sản sau khi Trung Quốc gia nhập WTO hoá ra lại phát đạt. Còn những ngành được bảo hộ “kỹ lưỡng” nhất như ngân hàng, tài chính, viễn thông thì lại bị chính người Trung Quốc phàn nàn nhiều nhất.  Thành quả không ngờ  Dưới đầu đề “WTO làm thay đổi Trung Quốc”, tờ Kinh tế Trung Quốc cho biết, chấp hành các cam kết quốc tế, mức thuế trung bình của Trung Quốc hạ từ hơn 15% năm 2001 xuống gần 10%, trong đó mức thuế hàng công nghiệp giảm xuống còn hơn 9%, sản phẩm nông nghiệp còn hơn 15%. Trung Quốc mở cửa khiến hai bên cùng có lợi. Từ 2001 -2006, hàng xuất khẩu vào Trung Quốc tăng bình quân 22–23%/năm. Trong bài, GS Trương Hán Lâm của ĐH Ngoại thương đánh giá: “Thành tích hội nhập WTO của Trung Quốc đạt 95 điểm”.  “Trung Quốc mang lại gì cho WTO”; “Kết thúc thời kỳ quá độ, vậy phải nhìn nhận WTO như thế nào?”, vấn đề do tờ Liêu Vọng đặt ra được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hưởng ứng. Những vấn đề trên còn đang được bàn thảo, nhưng có thể gói chúng trong câu nhận xét của một nhà nghiên cứu: “Rất mừng là sau 5 năm, người Trung Quốc đã có góc nhìn hoàn toàn khác”.  Bài “Ba chữ làm thay đổi Trung Quốc” của báo mạng Phương Nam dẫn lời của Bộ trưởng thương mại Trung Quốc Bạc Hi Lai: “Trước kia, WTO với Trung Quốc như biển sâu”. Sau 5 năm, Trung Quốc đã vượt qua “biển sâu khó lường”. Những nguy cơ dự đoán trước kia dường như không xảy ra. Một kết quả rất thuyết phục: trước khi “nhập thế”, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới; sau 5 năm, Trung Quốc đã đứng hàng thứ 3. Còn những gì không ngờ lại xảy ra liên tiếp: chống phá giá, yêu cầu điều chỉnh tỉ giá, vấn đề năng lượng… Bài báo còn nêu “những lợi ích thấy được” sau 5 năm Trung Quốc vào WTO: Mới cách đây 5 năm, thuế nhập khẩu ô tô của Trung Quốc còn là 200%, giờ giá cả xe ở Trung Quốc đã bằng mức thế giới; người xem  giời được thoải mái thưởng thức các bộ phim của Holywood.  Gia nhập WTO đã mang lại cho ngành hải quan một khoản lớn. Năm 1992, mức thuế hải quan trung bình của Trung Quốc là hơn 43% nhưng ngành thuế chỉ thu được 21,2 tỷ NDT. Năm ngoái, mức thuế hải quan trung bình của Trung Quốc còn gần 10%, nhưng ngành lại thu được 106,6 tỷ NDT.  Mở cửa thị trường, hàng nhập khẩu nhiều lên đúng như dự đoán. Nhưng các nhà kinh tế Trung Quốc không ngờ rằng mức xuất khẩu vẫn tăng liên tục từ 20- 30%/năm. Năm 2006 vừa qua, mức dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã là hơn 1.000 tỷ USD.  Có 2 ngành rất phát triển sau khi Trung Quốc gia nhập WTO là ô tô và bán lẻ. Bài “Ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO” trên website www.chinawto.org.cn cho biết, năm 2002, lượng ô tô của Trung Quốc đứng thứ năm thế giới, đến 2005 thì đứng thứ tư thế giới. Còn năm nay, sản lượng ô tô của Trung Quốc là 7 triệu chiếc, đứng thứ ba thế giới. Bài “5 năm gia nhập WTO, giấc  mơ mua ô tô gia đình thành hiện thực” trên mạng Tân Hoa dẫn lại một báo cáo của Công ty tư vấn quốc tế KPMG cho biết, hiện nay người Mỹ và châu Âu xem thường xe Trung Quốc giống như xưa kia họ đã xem thường xe Nhật. Hiện tại, xe Trung Quốc chưa thể cạnh tranh được với xe Nhật, châu Âu, Mĩ, nhưng việc cạnh tranh được chỉ còn là vấn đề thời gian. Báo cáo này còn nói, Trung Quốc hiện đã là thị trường ô tô lớn thứ ba thế giới, dự kiến năm 2007 này sẽ vượt Nhật Bản và trở thành nước có thị trường ô tô lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Trong 5 năm qua, lượng ô tô ở Trung Quốc đã tăng gấp ba.  Bán lẻ là ngành phải mở cửa sau khi Trung Quốc gia nhập WTO. Bài “Ngành bán lẻ Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO: Học từ áp phích trở đi” của mạng Trung Kiều cho biết, khoảng cách giữa các tập đoàn bán lẻ hàng đầu Trung Quốc  như tập đoàn Vương Phủ Tỉnh, Kinh Khách Long với các tập đoàn hàng đầu thế giới trên đất Trung Quốc đang thu hẹp. Ở Bắc Kinh, hiệu suất lao động của tập đoàn bán lẻ của Trung Quốc là 400.000 NDT/người, của nước ngoài là 650.000 NDT/người. Hiệu suất 1m2 siêu thị của tập đoàn bản lẻ Trung Quốc ở Bắc Kinh là 11.000 NDT/năm, của nước ngoài là 24.000 NDT/năm. Việc Wal-mart vào Trung Quốc 5 năm trước đã buộc các siêu thị của người Trung Quốc phải cải tiến phương thức phục vụ. Ngược lại, Wal-mart cũng phải điều chỉnh để phù hợp với điều kiện bản địa. Ở Mỹ, các cửa hàng trung tâm của Wal-mart là ở ngoại ô; còn ở Bắc Kinh, dù dân ở đây cũng có thói quen đi mua sắm bằng ô tô thì siêu thị chính của Wal-mart vẫn phải đặt ở trung tâm thành phố, từ đó toả ra theo hình nan bánh xe. Ngày mới vào thị trường Trung Quốc, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài hút hết những nhà quản lý giỏi, nhưng sau một thời gian, nhiều người trong số đó lại quay về làm cho các tập đoàn trong nước.  Một lãnh đạo tập đoàn Kinh Khách Long phát biểu:  “Cảm giác so với 5 năm trước là hoàn toàn khác” vì thấy “có những điều liệu được, cũng có những điều bất ngờ”. Theo ông này, những điều liệu được là áp lực cạnh tranh, còn điều bất ngờ là “vũ khí” của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài ở Trung Quốc chỉ là những tấm áp phích: “Ngày ngày hạ giá, mua một tặng một, số lượng có hạn”.    Kết thúc “tuần trăng mật”  Không quá lạc quan, Tờ Tin tức Tài chính với bài “Kết thúc 5 năm trăng mật, to tiếng không tránh khỏi giữa Trung Quốc và Âu – Mỹ” cho biết, 1/3 vụ điều tra chống phá giá trên thế giới là nhằm vào Trung Quốc.  Từ 2001 tới 2005, GDP của Trung Quốc tăng bình quân 9,5% mỗi năm, từ 1,6 nghìn tỷ USD lên 2,3 nghìn tỷ USD, từ nền kinh tế lớn thứ bảy lên thành nên kinh tế đứng thứ tư thế giới. Hiện 90% của khoảng 500 công ty liên quốc gia có mặt ở Trung Quốc. Tuy nhiên, kết thúc 5 năm quá độ “trăng mật”, Trung Quốc càng ngày phải chịu càng nhiều sức ép từ Mỹ và châu Âu. Kỳ thực ngay trong “tuần trăng mật” thì đã có to tiếng. Năm 2005, thặng dư mậu dịch của Trung Quốc là gần 102 tỷ USD, và nhiều nơi coi Trung Quốc là nguyên nhân làm mất cân bằng kinh tế thế giới.  Bài báo dẫn thống kê của Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết, năm 2005, hơn 15% hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc vấp phải hàng rào thương mại. Trong 22 nhóm hàng xuất khẩu thì có đến 18 nhóm chịu hơn 69 tỷ USD tổn thất trực tiếp, bằng hơn 9% giá trị xuất khẩu cả Trung Quốc năm 2005. Các rào cản kỹ thuật cũng làm mất cơ hội mậu dịch trị giá tới 147 tỷ USD, chiếm gần 19,3% kim ngạch xuất khẩu năm 2005 của Trung Quốc.  Trong các nước thành viên WTO, châu Âu là nơi đầu tiên áp dụng thuế chống phá giá với giày, đồ dệt may của Trung Quốc. Mỹ, châu Âu và Canada cùng tố cáo Trung Quốc phá giá linh kiện xe hơi. Những vụ kiện Trung Quốc như vậy có ở khắp Âu, Mỹ, thậm chí cả châu Phi. Chẳng thế mà thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Dị Tiểu Chuẩn đã phát biểu: “Qua 5 năm, cuối cùng chó sói không tới, mà hoá ra người nước ngoài xem Trung Quốc là chó sói”.  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Báo động tình trạng an toàn hạt nhân tại Pháp      Tổ chức Hòa bình Xanh vừa tuyên bố họ đã phơi bày những lỗ hổng an ninh tại các lò phản ứng hạt nhân của Pháp.    Sau vụ việc ngày 5/12 khi chín nhà hoạt động môi trường của tổ chức Hòa bình Xanh đột nhập vào khu phức hợp phản ứng hạt nhân Nogent-sur-Seine cách Paris 95 km về phía Nam, trèo lên nóc nhà máy và giương biểu ngữ với thông điệp “không tồn tại điện hạt nhân an toàn”, trong khi hai người khác tung lên mạng hình ảnh quay cảnh họ đột nhập rồi thoát ra khỏi khu vực cấm của nhà máy điện hạt nhân Cruas-Meysse trên sông Rhone, Hòa bình Xanh tuyên bố rằng họ đã phơi bày những lỗ hổng an ninh tại các lò phản ứng hạt nhân của Pháp, với sự kiện lần đầu tiên một nhóm vận động vì môi trường đột nhập thành công vào đồng thời hai địa điểm khác nhau.   Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã gọi những lỗ hổng an ninh này biểu hiện của sự vô trách nhiệm, trong bối cảnh có nhiều tranh cãi về sự lệ thuộc của Pháp vào năng lượng hạt nhân (chiếm tới 3/4 nguồn năng lượng của Pháp).  Năm 2012 này ở Pháp sẽ diễn ra cuộc tranh cử Tổng thống, và vấn đề năng lượng hạt nhân luôn được quan tâm hàng đầu. Pháp đã cam kết an toàn năng lượng cho 58 nhà máy trên toàn lãnh thổ sau khi xảy ra vụ việc rò rỉ điện hạt nhân tại nhà máy Fukushima, Nhật Bản.   “Chúng ta cần phải rà soát lại toàn bộ hệ thống an ninh của các nhà máy điện hạt nhân. Đó là mối quan tâm lớn nhất trong thời điểm hiện tại”. Nghị sĩ Claude Birraux, Chủ tịch Ủy ban khoa học của Quốc hội Pháp nhận định.   “Hành động của Hòa bình Xanh đã cho thấy các cơ sở hạt nhân của Pháp rất dễ bị tổn thương. Đây là bằng chứng cho thấy rõ hệ thống an ninh ở đây là quá mỏng.” Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Eric Besson phát biểu tại Quốc hội Pháp trong cuộc họp vào tuần 1 tháng 12 . Ông nói thêm: “Hành động của tổ chức Green Peace là vô trách nhiệm và cực kỳ nguy hiểm”.  Chính phủ Pháp cũng cam kết đẩy mạnh an ninh sau khi vụ việc xâm nhập trên bị bại lộ. Các biện pháp mới được áp dụng như trang bị hàng rào điện tử, việc thay đổi các chính sách lực lượng đang được xem xét.   Trong năm nay, cổ phần của EDF ( Tập đoàn điện lực Pháp) giảm 37% sau sự cố rò rỉ tại nhà máy Fukushima. Trước cuộc bầu cử vào năm tới, các ứng cử viên Tổng thống đều cam kết một khoản đầu tư nhất định để tăng cường an toàn điện hạt nhân.  Nhưng bên cạnh đó, các Đảng đối lập xã hội đang vận động để đóng cửa 24 lò phản ứng hạt nhân vào năm 2025, giảm thiểu tối đa sự phụ thuộc vào năng lượng nguyên tử.  Cơ quan giám sát hạt nhân của Pháp có kế hoạch sẽ thông báo những số liệu cụ thể về mức độ an toàn điện hạt nhân. Các số liệu này còn liên quan đến mức độ chịu được động đất, lũ lụt, khả năng chịu đựng khi mất điện và hệ thống làm mát của các nhà máy.  Tổ chức Green Peace cho rằng, nên gia tăng thêm phạm vi thống kê và kiểm tra  khả năng chống chịu những tình huống khẩn cấp chẳng hạn như khủng bố, tai nạn máy bay, lỗi máy tính…  EDF đang phải đối mặt với vấn đề chi phí đảm bảo an toàn cho 58 lò phản ứng. Họ từ chối cung cấp số liệu chính xác nhưng các chuyên gia ước tính chi phí sẽ từ 600 triệu đến 650 triệu Euro cho mỗi lò phản ứng với công suất 900 MW.  Duyên Anh dịch từ   http://www.bloomberg.com/news/2011-12-12/french-nuclear-breach-raises-alarm-amid-debate.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo hiểm nông nghiệp để thoát nghèo      Tại Kenia, dự án bảo hiểm bồi thường&#160;cho nông dân khi bị mất mùa,&#160;do một tập đoàn nông nghiệp của Thụy Sĩ, công&#160;ty bảo hiểm Kenia và nhà cung cấp dịch vụ&#160;điện thoại di&#160;động&#160;phối hợp triển khai. Tuy nhiên, dự án chưa thực sự hoàn hảo.    Cánh đồng ngô của vợ chồng  nông dân Koech  không xa  Kitale ở phía tây Kenia. Từ lâu đời vùng đất này chuyên trồng ngô, cây lương thực truyền thống  của Kenia. Tuy nhiên năm nay không chỉ riêng nhà Koech mà hầu hết nông dân ở đây bị mất mùa ngô vì lý do thời tiết.     Người nông dân Kenia đang phải vất vả chèo chống trong điều kiện biến đổi khí hậu, mưa không thuận, gió không hòa. Nạn hạn hán, lũ lụt xẩy ra thường xuyên, mùa màng thất bát, làm cho cuộc sống của người dân nước này ngày càng điêu đứng. Chính phủ Kenia cũng không giúp được gì cho nông dân nghèo, bản thân người dân Kenia lại không mấy tin tưởng  vào các công ty bảo hiểm vì trong quá khứ, người dân đã nộp tiền bảo hiểm nhưng khi có sự cố thì  không nhận được tiền bồi thường vì tiền không cánh mà bay.  12.000 nông dân tham gia ngay từ đầu    Gần đây ở nước này xuất hiện Quỹ bảo hiểm nhằm hỗ trợ người nông dân vượt qua khó khăn, thuộc tập đoàn  nông nghiệp Syngenta chuyên  kinh doanh hạt giống, phân bón và thuốc bảo vệ cây trồng. Quỹ này cùng với  một công ty bảo hiểm của Kenia và Safaricom, nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động hàng đầu châu Phi xúc tiến dự án  “Kilimo Salama Plus”. Nông dân là nhóm đối tượng chủ yếu. Mục tiêu chính của dự án là bảo hiểm thiên tai cho người nông dân  và giúp nông dân tăng năng suất cây trồng.   Dự án “Kilimo Salama” (tiếng Suaheli là “nông nghiệp an toàn”)  của Quỹ  Syngenta ra đời cách đây hai năm. Theo đó, người nông dân được bảo hiểm khoản đầu tư mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hạt giống (trong đó có cả việc mua sản phẩm của  Syngenta). Tuy nhiên, người nông dân chỉ được bảo hiểm đối với một số loại cây trồng nhất định. Khoản phí bảo hiểm bằng 10% số tiền đầu tư. Người nông dân chi trả  một nửa số tiền này nửa còn lại do người đề xuất phương án bảo hiểm và Ngân hàng thế giới đảm nhận. Đã có 12.000 nông dân tham gia, 1200 người đã nhận được khoản tiền bồi thường từ 15 đến 50%  tổng số vốn đầu tư mà họ đã bỏ ra.   Tại Kenia, để  gieo trồng ngô trên diện tích 0,5 ha phải chi khoảng 13.000 Schilling tiền vốn và có thể thu lại khoảng 30.000 Schilling. Phí bảo hiểm khoảng 3000 Schilling (10%). Nếu trong thời kỳ cây trồng phát triển mà lượng mưa giảm so với mức thông thường là 20% thì năng xuất cây trồng, theo kinh nghiệm lâu năm, cũng giảm tương ứng. Ai tham gia bảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền bồi thường vì khoản thiếu hụt 20% này (tức 6000 Schilling).   Tiếng lành đồn xa, chỉ sau một năm số người tham gia bảo hiểm tăng lên  20.000 người.   Thanh toán tiền đền bù thông qua mạng điện thoại di động   Hiện tại  “Kilimo Salama Plus” chấp nhận cả bảo hiểm cho từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả một vụ thu hoạch. Mô hình bảo hiểm này chỉ có thể hoạt động được khi các đối tác có giải pháp được tự động hóa đến từng chi tiết. Thí dụ Quỹ bảo hiểm này có một mạng lưới quan trắc thời tiết dày đặc chạy bằng điện mặt trời. Số liệu được thu thập thường xuyên và chuyển về một trung tâm máy tính thông qua mạng lưới điện thoại di động của  Safaricom để so sánh với các số liệu khí hậu bình quân trong những năm qua và  đối chiếu với kết quả thu hoạch những năm gần đây. Trên cơ sở những dữ liệu này, hãng bảo hiểm tính mức độ tổn thất chung để đền bù chứ không phải tiến hành điều tra đối với từng trường hợp một. Việc nộp tiền bảo hiểm và chi trả tiền bồi thường được thực hiện qua M-Pesa, hệ thống chuyển tiền không thông qua ngân hàng, do đó không phải thực hiện các thủ tục mở tài khoản rắc rối, phức tạp, việc này được thực hiện qua điện thoại di động, đây chính là điều làm cho Safaricom nổi tiếng trên thế giới.    Cái lợi đối với người nông dân là nhờ có bảo hiểm nên những năm mùa màng thất bát chí ít họ cũng nhận được một khoản bồi thường đủ để mua sắm hạt giống và phân bón cho vụ tiếp theo. Đây vốn là khó khăn lớn nhất đối với nông dân nghèo ở châu Phi và đây cũng là nguyên nhân làm cho người nông dân luôn bị lâm vào cảnh bần hàn không thể thoát  khỏi  cái bẫy nghèo khổ. Cạnh đó thông qua điện thoại di động những người nông dân tham gia bảo hiểm còn thường xuyên được tư vấn, hướng dẫn  liên quan đến việc gieo trồng, chăm sóc đối với các loại cây trồng chính như ngô, kê và đậu đỗ.     Vậy tập đoàn nông nghiệp được gì ?   Cái lợi đối với Syngenta cũng không nhỏ. Đầu tiên thông qua loại hình bảo hiểm này tập đoàn Syngenta buộc  người nông dân phải gắn với mình. Tập đoàn chỉ thực hiện bảo hiểm với các loại hạt giống lai của Syngenta  hay Seedco và thông qua mạng lưới phân phối của các tập đoàn này ở châu Phi. Do đó hàng năm người nông dân luôn phải mua hạt giống của các tập đoàn này.   Khi đã tạo dựng được sự lệ thuộc vào các loại hạt giống lai cũng là lúc nhà sản xuất giống xây dựng được một mạng lưới khách hành lâu dài. Đây là điều làm cho không phải ai cũng thấy dự án bảo hiểm này là hoàn hảo. Ông Johan van der Kamp thuộc Tổ chức Cứu đói thế giới của Đức ở Nairobi cho rằng, “điều này làm cho các doanh nghiệp có thể tăng giá hạt giống lai một cách vô tội vạ “. Hơn nữa, do chỉ có một số loại sản phẩm có thể được lựa chọn  để bảo hiểm nên ảnh hưởng tiêu cực đến sự đa dạng sinh học. Hạt giống lai  hiện nay đã được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp nhưng ông  Van der Kamp vẫn kiên trì quan điểm: “Cuối cùng thì người nông dân vẫn là người bị thua thiệt.”   Tất nhiên  Syngenta nhìn nhận vấn đề này hoàn toàn khác. Ông  Marco Ferroni, giám đốc quỹ này hy vọng, dự án  “Kilimo Salama Plus” sẽ thu hút được sự tham gia của 50.000 hộ nông dân, kể cả những hộ có diện tích trồng trọt tương đối lớn.   Do khí hậu ở Kenia thay đổi nên việc trồng ngô gặp nhiều khó khăn. Chuyên gia về phát triển van der Kamp cho rằng, “do thiếu nước  nên việc trồng ngô ở Kenia có nhiều bất lợi.” Trong khi đó, ngô là loại lương thực quen thuộc của người dân. Đây chính là lý do vì sao dự án Syngenta lại được sự hưởng ứng của nông dân nghèo. Dù sao đi nữa thì trong tương lai người ta sẽ vẫn tiếp tục trồng ngô ở đây. Chính vì thế gia đình nông dân Koech cho rằng, “Đối với chúng tôi thì có bảo hiểm vẫn hơn không.”  Xuân Hoài (Theo Spiegel 2.4)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo kiếm của ngành tiếp thị số      Hãng chuyên bán quảng cáo trên di động tại Mỹ Admob cho biết, nhu cầu quảng cáo trên di động tăng sáu lần mỗi tháng, với tổng khối lượng tăng từ 1,6 tỉ đô la lên 10,2 tỉ đô la trong vòng hai năm (9/2007 – 9/2009). Riêng tháng 9/2009, Admod nhận được hơn 10 triệu đơn đặt hàng quảng cáo. Con số trên cho thấy Mobile Marketing (tiếp thị trên di động) đã và đang mang lại nhiều lợi nhuận khổng lồ cho toàn thế giới.     Bỏ xa tiếp thị truyền thống  Trong những năm vừa qua nền kinh tế ngày càng suy thoái, ngành tiếp thị số (digital marketing) có những bước phát triển bứt phá, chiếm được nhiều ưu thế, Digital Marketing đã bỏ xa cách làm marketing truyền thống như TVC, Clip, POSM… Digital Marketing trong những năm gần đây đã có những ‘cú hích’ nhờ sự phát triển ngoạn mục của các mạng xã hội, các website, blog… Thế nhưng, gần đây do cơ sở hạ tầng internet được đầu tư mạnh, sự bùng nổ các website khiến người dùng internet đang bị bão hòa thông tin, dẫn đến sự xuất hiện của làn sóng marketing mới: Mobile marketing.   Ra đời tại Mỹ năm 2004, đến năm 2006 Mobile Marketing mới được các doanh nghiệp Việt Nam biết đến dưới hình thức triển khai căn bản nhất là gửi thông tin cho khách hàng.   Từ những chiến dịch sơ khai mà các ngân hàng áp dụng như thông báo thông tin về lãi suất tiền gửi, dịch vụ cho vay trả góp… hay việc gửi tin nhắn quảng cáo kèm theo các tin nhắn miễn phí được gửi từ website của các nhà cung cấp mạng thông tin di động như Viettel, Mobifone, Vinaphone…, đến nay thị trường Việt đã ghi nhận những hình thức Mobile Marketing đa dạng và phong phú như Telephone Marketing, SMS Marketing, Wap Apps, Mobile Marketing Location, Mobile Application Marketing, Bluetooth Marketing.  Tuy xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 2006, cho đến hiện tại Mobile Marketing tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở hình thức marketing đơn giản như SMS Marketing, Telephone Marketing, Wap Apps, tuy nhiên sự tương tác với người dùng thấp; Bluetooth Marketing và Mobile Marketing Location chưa có đất sống tại Việt Nam.   Hiện tại, hình thức Mobile Marketing được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam là SMS Marketing nhưng SMS Marketing đang gặp vấn nạn tin nhắn rác và sự không chuyên nghiệp của nhà cung cấp dịch vụ do đó SMS Marketing không lấy được lòng tin của người dùng. Do vậy, những hình thức sử dụng Mobile Marketing như Wapsite và Mobile Application Marketing đang được nhiều đơn vị đang triển khai. Công ty Naiscorp là đơn vị tiên phong khai phá, nghiên cứu và tư vấn tổng thể cho nhà quảng cáo đang được coi là hình thức mới và hiệu quả.     Một ngành khoa học thật sự  Hiện Naiscorp đang cung cấp các dịch vụ Mobile Application Marketing gồm: quảng cáo dạng Popup, hiển thị Popup trong các tin text, đặt banner trong dịch vụ nghe nhạc, quảng cáo marquee chữ chạy… Naiscorp cũng là đơn vị đầu tiên áp dụng hình thức Mobile Marketing mới như Click to Call, Click to SMS, Click to Download, Click to Wapsite, Click to Inside Article…  Với mô hình quảng cáo mới này các nhà quảng cáo sẽ truyền được thông điệp đến đúng khách hàng mục tiêu của mình và có thể kiểm soát được thông điệp ấy, với khách hàng nhận quảng cáo cũng có thể kiểm soát được ngân sách của họ. Ngoài ra, các hình thức quảng cáo trên có tính tương tác cao giữa người dùng và nhà quảng cáo; một thông điệp quảng cáo được đưa ra ngay lập tức nhà quảng cáo sẽ nhận được phản hồi của người dùng chỉ bằng nút bấm hoặc chạm nhẹ trên điện thoại.   Ông Nguyễn Xuân Tài – Tổng Giám đốc Công ty Naiscorp, cho biết: “Naiscorp quan niệm Mobile Marketing không phải gì khác mà chính là một khoa học, một ngành công nghệ cao về phân phối thông tin. Nếu thông tin được gửi đến người sử dụng mà họ không quan tâm, thì sẽ bị cho là “quảng cáo” hoặc “Spam-rác”. Công nghệ này chỉ có thể đạt được với lợi thế về xử lý ngôn ngữ (ở đây là tiếng Việt), phân tích ngữ cảnh người sử dụng một cách chi tiết và chính xác để biết nhu cầu, sở thích và thói quen của họ.”  Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến hết năm 2010 Việt Nam đã có trên 152 triệu thuê bao điện thoại di động, con số lớn gấp 1,7 lần dân số. Đây là mảng thị trường không thể bỏ qua của các nhà quảng cáo. Socbay iMedia cũng tiên phong cung cấp công cụ đo lường hiệu quả marketing giúp nhà quảng cáo tiết kiệm và kiểm soát chi phí, tính tương tác cao với người dùng, tập trung đúng đối tượng quảng cáo (giới tính, tuổi tác, vùng miền, thậm chí là dòng máy, trình duyệt và nhà mạng khách hàng đang sử dụng…). Loại hình marketing độc đáo lần đầu tiên được giới thiệu bởi Naiscorp trên cộng đồng hàng triệu người sử dụng Socbay iMedia đã được tin dùng bởi Nokia, Honda, Dentsu, v.v.  Trong những năm tới, ngành tiếp thị số (digital marketing) sẽ bùng nổ cùng với những ứng dụng của internet và mobile internet. Trong xu thế đó, Mobile Marketing hứa hẹn sẽ là “bảo kiếm” để khai phá thị trường Việt Nam đầy tiềm năng hàng trăm triệu USD mỗi năm này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo quản quả vải bằng công nghệ của Israel      Đây là hệ thống xử lý giữ nguyên màu đỏ tự  nhiên của vỏ quả, hương vị thơm ngon của cùi vải. Quả vải có thể giữ màu  đỏ tươi trong 4- 5 tuần, kéo dài thời gian cho sản phẩm.      Vải là một loại quả đặc sản có diện tích trồng và sản luợng lớn ở các tỉnh: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh… mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con nông dân.  Tuy nhiên, loại quả này rất nhanh chóng bị hư hỏng, làm giảm giá trị sản phẩm, vì vậy đòi hỏi phải có biện pháp bảo quản để kéo dài thời hạn sử dụng, dễ dàng vận chuyển đi xa nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.  Nhằm giảm bớt thiệt hại cho bà con nông dân, kéo dài thời gian bảo quản vải tươi để có thể vận chuyển đi xa tiêu thụ, mới đây Công ty Juran Technology (Israel) đã tổ chức Hội thảo giới thiệu các công nghệ tiên tiến mới của Juran – Isarel về dây chuyền bảo quản sau thu hoạch cho các loại quả như vải thiều, dâu tây, bơ, lựu… đặc biệt là dây chuyền xử lý quả vải không xông SO2 và phân loại theo kích thước của quả vải.  Với thiết kể đơn giản, quy trình xử lý gồm bốn bước cơ bản: Xử lý nước lạnh, xử lý nước nóng, xử lý bằng HCL loãng và làm khô. Đây là hệ thống xử lý giữ nguyên màu đỏ tự nhiên của vỏ quả, hương vị thơm ngon của cùi vải. Công nghệ Juran giữ màu đỏ “ruby”, loại bỏ hiện tượng nâu hóa sau ba ngày, quả vải có thể giữ màu đỏ tươi trong 4- 5 tuần, kéo dài thời gian cho sản phẩm.  Dây chuyền bảo quản được thiết kế linh hoạt, công suất 1- 70 tấn/giờ, hệ thống phân loại kích thước quả tự động phân chia làm 5 nhóm kích thước. Dây chuyền đạt hiệu quả cao trong phân loại và sàng lọc đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thế giới.  Công nghệ này đã được chế tạo, thử nghiệm, kiểm chứng của Bộ Nông nghiệp Isarel và được cấp bằng sáng chế tại Mỹ năm 2000. Quả vải sau khi xử lý bằng công nghệ này có đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường Châu Âu và Mỹ, Nhật Bản. Hiện nay hãng Juran đã lắp đặt dây chuyền xử lý quả vải cho Trung Quốc, Thái Lan và Úc.  Trước mắt, dễ nhận thấy, công nghệ này có tính khả thi cao trong việc áp dụng vào địa bàn các tỉnh có diện tích trồng vải lớn. Tuy nhiên cũng cần quan tâm nghiên cứu, tính toán chi phí, giá thành sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần phải tìm hiểu, kết nối, có chính sách hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp khi đầu tư công nghệ.  TS. Trần Lệ Thu (Sở KH&CN Bắc Giang) cho biết nếu dây chuyền công nghệ này được áp dụng sẽ góp phần giảm tổn thất cho quá trình bảo quản sau thu hoạch và giảm sức lao động cho người nông dân, nâng hiệu quả sản xuất quả vải và tăng thu nhập cho người dân tại vùng trồng vải.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tàng của những sáng kiến thất bại      Có người hỏi Edison: Nghe nói để phát minh ra ắc quy điện, ông đã thử nghiệm thất bại 25 nghìn lần? Edison hài hước trả lời: “Đâu có, tôi chưa hề thất bại, mà chỉ là đã phát hiện thấy 24999 loại ắc quy không dùng được”. Trong đời mình, nhà phát minh vĩ đại này đã được cấp 1093 bằng phát minh sáng chế. Không thể biết Edison đã bao nhiêu lần nếm mùi thất bại, nhưng rõ ràng thành công chỉ đến với ông sau những thất bại ấy.      Du khách tới tham quan Bảo tàng Thất bại.  Vì thế người ta thường nói “Thất bại là mẹ thành công” (Failure is the mother of success). Câu nói này đã cổ vũ biết bao thế hệ người say mê đổi mới sáng tạo (ĐMST): Mỗi lần thất bại họ đều nghĩ có thất bại thì mới có thành công, thất bại sẽ dẫn đến thành công.  Xưa nay thiên hạ bao giờ cũng chỉ quan tâm tới thành công, còn “bà mẹ” của những đứa con nổi tiếng ấy thì dường như chưa bao giờ được nhắc đến, thậm chí còn bị giấu kín. Bởi thế việc Nhà bảo tàng những sáng kiến thất bại (Museum Of Failure Innovation) khai trương hồi đầu tháng 6 năm 2017 đã thu hút dư luận toàn thế giới.  Ý tưởng lập nhà bảo tàng này tự nó đã mang tính ĐMST. Đây thật là một đề xuất thú vị, bất ngờ, bởi lẽ xưa nay người ta chỉ làm bảo tàng trưng bày các thành công, chiến thắng, chưa thấy ai làm bảo tàng trưng bày các thất bại. Lẽ tự nhiên, những người đến thăm điểm du lịch này đều muốn biết ý định của việc trưng bày các thất bại.  Tại đây bạn có thể gặp tác giả của ý tưởng độc đáo nói trên: ông Samuel West, 43 tuổi, người Thụy Điển, làm việc tại Đại học Lund nổi tiếng, tọa lạc ở thành phố Helsingborg bờ biển miền Nam nước này. ĐH Lund thành lập năm 1666, thường xuyên nằm trong Top 100 ĐH tốt nhất thế giới, hiện có 42.000 sinh viên và 7200 cán bộ, nhân viên.  Trong phần tự thuật trên trang mạng samuelwest.se của mình, West viết: “Tôi là một nhà tâm lý học lâm sàng có học vị Tiến sĩ tâm lý học tổ chức [organizational psychology], chuyên nghiên cứu về ĐMST [innovation] và về những biện pháp mà các tổ chức có thể làm để xúc tiến sự khám phá và thử nghiệm”. Do phải đọc nhiều tư liệu viết về thành tích phát minh sáng chế, West đã phát chán với giọng điệu tuyên truyền quảng cáo cho những sáng kiến thành công, từ đó ông nảy ra ý nghĩ có lẽ nói về các thất bại sẽ bổ ích hơn.  “Xã hội chúng ta chưa đánh giá đúng giá trị của những thất bại. Chúng ta thường luôn bị ám ảnh bởi thành công”, West nói với hãng tin NBC. Trang chủ website Bảo tàng này có dòng chữ: Học hỏi là cách duy nhất để biến thất bại thành thành công [Learning is the only way to turn failure into success]. Đây chính là mục đích West lập nhà bảo tàng này.  Thất bại thường là hậu quả của các sai lầm. Thông thường từ các thất bại người ta có thể học được nhiều điều bổ ích hơn từ các thành công. GS. W. Beveridge (1908-2006, Đại học Cambridge, Anh Quốc) từng nói: “Trong khoa học, việc vạch ra các sai lầm nghiêm trọng cũng có giá trị không kém gì các phát hiện có tính sáng tạo”.  Theo West, trưng bày những phát minh sáng kiến thất bại ở đây không phải để chế giễu chúng mà để tìm ra những thứ có thể học hỏi từ thất bại. Khi nhìn tận mắt các sáng kiến bất thành ấy, ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá và sẽ trở nên tỉnh táo hơn khi đưa ra một sáng kiến khác.  West nói: “Phần lớn các sáng tạo đổi mới đều thất bại, Bảo tàng của chúng tôi trưng bày một số thất bại đó, nhằm cung cấp cho khách thăm một trải nghiệm thú vị. Bộ sưu tập gồm hơn 80 sản phẩm và dịch vụ thất bại của khắp nơi trên thế giới, cung cấp một cách nhìn độc đáo vào công việc đầy rủi ro của sự nghiệp ĐMST”.  Công việc hằng ngày đã giúp West hiểu rõ quá trình sáng tạo bất cứ cái mới nào cũng đầy khó khăn, lắm nguy cơ rủi ro thất bại, đòi hỏi tác giả sáng kiến phải kiên cường đổ mồ hôi sôi nước mắt âm thầm miệt mài lao động, và phải biết nhẫn nại vượt qua các khó khăn, thất bại. Nhưng khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ là kết quả của các sáng tạo đó, khách hàng đâu có biết gì về những nỗi vất vả cay đắng của người nghiên cứu ra các thứ ấy, không ít người còn cho rằng ĐMST chẳng có gì khó.    West bắt tay lập Bảo tàng Thất bại sau khi ông đi thăm Bảo tàng Thất tình [Museum of broken relationships, còn gọi Lovelorn Museum] ở Zagreb, thủ đô Croatia. Khi ấy ông từng băn khoăn: Mở bảo tàng mà chẳng ai đến xem, nghĩa là chính mình cũng thất bại, thì sao nhỉ? Để tránh kết cục buồn ấy,  West đã lên kế hoạch rất cụ thể, chi tiết.  West từng đến gặp mấy chục chủ công ty lớn, nhưng hầu hết họ từ chối cung cấp tư liệu cho ông, không muốn công bố nguyên nhân thất bại của mình. Trải qua nhiều khó khăn, bôn ba khắp thế giới, cuối cùng West sưu tầm được tạm đủ một bộ các mẫu sản phẩm và dịch vụ từng được làm ra theo sáng kiến của các nhà nghiên cứu thiết kế chế tạo nhưng cuối cùng thất bại vì không tiêu thụ được. Trưng bày các mẫu ấy trong bảo tàng và thuyết minh cho người xem biết tình hình cụ thể, phân tích nguyên nhân thất bại… có thể sẽ giúp người xem hiểu được các khó khăn của công việc ĐMST, qua đó biết trân trọng cố gắng của những người làm công việc đó. Những người đang hoặc sẽ thực hiện sáng kiến của mình sẽ từ các thất bại trưng bày ở đây học được cách tránh thất bại.  Ngày 6/7/2017, Bảo tàng Thất bại đầu tiên trên thế giới đặt tại thành phố Helsingborg được khai trương. Sau đó West còn tổ chức các cuộc triển lãm lưu động trưng bày những hiện vật của Bảo tàng này tại các nơi trên thế giới. Ví dụ cuộc triển lãm tại Los Angeles (Mỹ) sẽ khai trương từ 1/12/2017 đến tháng 4/2018…  Bảo tàng Thất bại ra đời đúng vào lúc phong trào ĐMST trên toàn thế giới đang dâng cao. Thực tế cho thấy ngành sản xuất hàng tiêu dùng càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều thất bại: rất nhiều sản phẩm công nghệ cao xuất sắc ra đời chỉ được ít lâu đã phải ngừng sản xuất, thay bằng các sản phẩm mới, làm cho nhà sản xuất bị lỗ vốn. Đó là do người tiêu dùng ngày càng yêu cầu sản phẩm phải luôn đổi mới, họ muốn có nhiều sự lựa chọn hơn trước. Một điều tra cho thấy 63% người tiêu dùng trên thế giới muốn mua sản phẩm mới. Cạnh tranh thương hiệu ngày một gay gắt; nếu muốn doanh thu có tăng trưởng thì nhà sản xuất phải liên tục ĐMST. Ví dụ trong những năm 2011-2013, châu Âu đã đưa ra 12.000 sáng kiến trong 17 nhóm sản phẩm. Mấy năm gần đây, đã xuất hiện hơn 60 nghìn thương hiệu sản phẩm mới, nhưng chỉ có 55% sản phẩm sống được 26 tuần trên thị trường, và chỉ 24% sống được 1 năm. Ngành sản xuất thiết bị chơi game phát triển nhanh nhất và gặp nhiều thất bại nhất, tần suất đổi mới sản phẩm cao nhất.    Hãy xem một số sản phẩm thất bại trưng bày trong Bảo tàng Thất bại của Samuel West :  Điện thoại di động chơi game N-Gage    Ý tưởng sản xuất ĐTDĐ chơi game là một ĐMST tuyệt vời của Nokia, hãng sản xuất ĐTDĐ lớn nhất thế giới. Nhưng rốt cuộc N-Gage (giá bán 299 USD) chỉ sống được hơn 2 năm (10/2003-2005) và chỉ tiêu thụ được 2 triệu chiếc so với 6 triệu như dự kiến. Vì sao N-Gage mới đầu được quảng cáo rầm rộ mà lại sớm bị lặng lẽ đào thải khỏi thị trường? Hãy xem bức ảnh Samuel West đang dùng N-Gage nói chuyện điện thoại thì rõ ngay: nó có kích thước quá to và bàn phím bố trí theo chiều ngang nên khi nói/nghe phải dựng nghiêng nó lên. Sau đó Nokia lại đưa ra sản phẩm N-Gage QD, nhưng cũng thất bại. Bấy giờ họ mới thấm thía bài học: Chỉ làm sản phẩm mới sau khi đã suy nghĩ kỹ. Năm 2007, Apple đưa ra hệ ĐTDĐ iPhone nhỏ nhẹ với màn hình cảm ứng rất thuận tiện, thú vị, tạo ra một sân chơi hoàn toàn mới và thu lợi cực lớn.  Máy tính Apple Newton  Ra đời năm 1993, Newton là một máy tính cầm tay có thiết kế đẹp cùng nhiều chức năng mới thú vị như gửi email, fax và nhận dạng chữ viết tay. Tuy nhiên các chức năng ấy lại không thể hiện tốt như đã quảng cáo. Mặc dù sau đó công ty Apple đã cố gắng cải thiện các chức năng nhưng cũng không thể cải thiện doanh thu. Tuy Newton tiêu thụ được trong thời gian lâu hơn, nhưng do phần mềm viết tay của nó sử dụng bất tiện và giá bán đắt (699 USD, xét tới lạm phát thì tương đương 1178 USD hiện nay) nên về sau không bán được, năm 1998 phải ngừng sản xuất. Cuối thập niên 90, Jobs đã sa thải toàn bộ nhân viên bộ phận phát triển sản phẩm này.  Điện thoại di động TwitterPeek  Năm 2006 xuất hiện Twitter, một dịch vụ mạng xã hội trực tuyến miễn phí. Năm 2009, công ty Peek đưa ra sản phẩm ĐTDĐ TwitterPeek chuyên dùng để truy cập Twitter (ngoài chức năng điện thoại), giá 200 USD. Hồi ấy Twitter đang là một dịch vụ mới, được dân mạng ưa chuộng nên Peek cho rằng TwitterPeek sẽ được thị trường hoan nghênh; ai ngờ chỉ vì có quá ít chức năng (như không thể gửi email) nên sản phẩm này nhanh chóng ế hàng.  Kính đeo mắt thông minh Google (Google Glass)  Kính đeo mắt Google có gắn một máy tính tí hon và một màn hình, nó tích hợp nhiều tính năng hiện đại như ĐTDĐ thông minh, chụp ảnh, định vị toàn cầu GPS, thu phát tin nhắn v.v… chẳng cần dùng tay mà người đeo kính vẫn có thể truy cập mạng, xử lý văn bản và gửi email v.v… Google Glass từng một thời làm rúng động dư luận, thế nhưng ngày 20/1/2015 công ty Google đã tuyên bố ngừng bán sản phẩm này. Lý do : giá bán quá đắt (1500 USD), hình thức không đẹp và chủ yếu là có thể làm cho người ở gần lo ngại chuyện riêng tư của mình bị người đeo kính Google quay phim chụp ảnh vv… West bình luận: “Vấn đề là ở chỗ công ty Google đưa ra sản phẩm này quá sớm, có nhiều loại lỗi [Bug]. Điều tranh cãi lớn nhất là khi dùng kính này tại nơi công cộng sẽ dễ xâm phạm sự riêng tư của người khác”.  Nước ngọt Coke II  Đầu năm 1984, công ty Coca-Cola tung ra thị trường loại nước giải khát có tên Coke II, còn gọi New Coke thay cho Coke truyền thống (Classic Coke). Sau vài tháng, đông đảo người tiêu dùng chê New Coke không ngon và yêu cầu công ty Coca-Cola phục hồi sản xuất Classic Coke, vì thế năm 2002 New Coke bị rút ra khỏi thị trường sau khi tốn 10 triệu USD cho marketing, chưa kể phí tổn làm 200.000 lần thí nghiệm sản phẩm. Cũng may là tuy New Coke thất bại nhưng lượng tiêu thụ Classic Coke cuối năm 1985 đã vượt mặt Pepsi Cola, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Coca-Cola.  Nước ngọt Coke BlaK  Năm 2006, Công ty Coca-Cola cho ra đời loại nước soda pha cà phê có tên Coke BlaK, sau đó nhanh chóng ngừng sản xuất vào năm 2008, sau khi người tiêu dùng chê là không ngon và có nhiều chất caffeine. Vụ Coke BlaK thất bại đau hơn vụ Coke. Bút bi dành cho phái đẹp (Bic for Her)  Năm 2012 công ty Bic đưa ra thị trường sản phẩm bút bi “Bic for Her” màu hồng và màu tím, giá gấp đôi bút bi thường, theo giới thiệu là được thiết kế riêng hợp với giới tính nữ, khi viết không cần tốn sức đè bút xuống. Không ngờ thiên hạ lại chê: văn phòng phẩm mà cũng phân biệt giới tính! Rốt cuộc phải ngừng sản xuất. Tưởng là sáng kiến, ai ngờ là tối kiến.  Thức ăn đông lạnh của Colgate (Colgate Frozen Dinner)    Thập niên 1980, công ty Colgate sản xuất một dòng thức ăn đông lạnh, khuyến khích mọi người dùng bữa tối với món ăn nhãn hiệu Colgate, ví dụ món patê Beef Lasagne, sau đó chải răng bằng kem đánh răng cùng nhãn hiệu Colgate. Samuel West mô tả đây là một thất bại  của sự mở rộng thương hiệu (Brand extension failure). Nhà sản xuất kem đánh răng sao lại lấn sân của nhà sản xuất thức ăn? Lấn sân gần thì có thể được, nhưng lấn xa quá thì khó thành công.  Cờ Trump (Trump: The Game)  Năm 1989, công ty Milton Bradley tung ra sản phẩm giải trí có tên Trump: The Game, lấy tên của doanh nhân giàu có Donald Trump. Đây là trò chơi dạng boardgame tức thể loại cờ bàn, cho phép nhiều người cùng chơi trên một bàn cờ, tương tự trò chơi “Triệu phú” hồi đó đang thịnh hành. Bản thân Trump cũng tham gia video quảng cáo sản phẩm này. Nội dung trò chơi yêu cầu người tham gia mua và bán các loại tài sản khác nhau để kiếm tiền. Kẻ thắng là người chơi có nhiều tiền nhất khi kết thúc, sau khi mua hết tài sản của đối thủ. Milton Bradley và Trump dự kiến sẽ tiêu thụ được 2 triệu sản phẩm, nhưng cuối cùng chỉ bán được 800.000, lỗ vốn to! Năm 2011, trò chơi này được tạp chí Time đưa vào danh sách “Top 10 thất bại Donald Trump”. Thế nhưng ai ngờ chỉ mấy năm sau tỷ phú này trở thành Tổng thống Mỹ. West bình phẩm: “Đây là phiên bản đơn giản hóa của trò chơi Triệu phú, nhưng đơn giản tới mức ai cũng có thể chơi, càng chơi càng thấy nhạt nhẽo”.       Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Bảo tàng quốc gia Thụy Điển: Những thay đổi từ mở      Sự chuyển đổi số rộng lớn hơn của xã hội đã khởi xướng và nuôi dưỡng vai trò mới của bảo tàng. “Số hóa” loại bỏ các yêu cầu truy cập, cho phép mọi người tham gia và thảo luận theo dạng thức dễ dàng hơn và quan trọng nhất là trao nguồn tài nguyên cho bất kỳ ai để xây dựng và mở rộng tri thức của bảo tàng.      Khách tham quan Bảo tàng quốc gia Thụy Điển.   “Chỉ khi nào các cơ sở văn hóa sử dụng các công nghệ số để thúc đẩy các phương pháp nghiên cứu mới và làm việc với tinh thần hợp tác thì họ mới thực sự bắt đầu nghĩ theo theo kiểu số hóa” (Giáo sư Ellen Euler). Trong vòng bảy năm qua làm công việc số hóa và phát triển số ở Bảo tàng quốc gia, Viện bảo tàng nghệ thuật và thiết kế Thụy Điển, tôi càng thấm thía câu nói này của giáo sư Ellen Euler. Nhưng “nghĩ theo kiểu kỹ thuật số” có ý nghĩa gì với một tổ chức văn hóa và Truy cập Mở có liên quan gì tới nó? Thật ra vài năm qua, chúng tôi đã thấy sự dịch chuyển ở nhiều các viện bảo tàng khi họ bắt đầu điều chỉnh lại lời tuyên bố về sứ mệnh của họ, đó là hướng tới khuyến khích đối thoại và trao quyền cho các khách viếng thăm để định hình các trải nghiệm văn hóa của riêng họ. Một cách lý tưởng, vai trò của bảo tàng trong kịch bản này dịch chuyển từ chỗ chủ yếu là cơ sở thu thập, giảng dạy và bảo tồn sang vai trò uyển chuyển hơn là cung cấp sự truy cập, tạo cơ chế xúc tác cho thảo luận và trao đổi.  Từ bỏ quyền kiểm soát tư liệu bằng OpenGLAM  Phong trào OpenGLAM (trong đó GLAM là viết tắt của Phòng trưng bày, Thư viện, Kho lưu trữ, Viện bảo tàng Galleries, Libraries, Archives, Museums) mà nhiều bảo tàng đang theo đuổi hướng tới việc trao quyền truy cập tới các bộ sưu tập số của họ, ở vài mức độ là sự thể hiện thiện chí nhường lại quyền kiểm soát tư liệu với các câu chuyện được kể về các bộ sưu tập đó. Quan điểm của OpenGLAM là các dữ liệu di sản văn hóa nên được chia sẻ cởi mở. Dữ liệu và nội dung mở có thể được bất kỳ ai vì bất kỳ mục đích gì sử dụng, sửa đổi, và chia sẻ một cách tự do và miễn phí.       Đối với các bảo tàng nghệ thuật, OpenGLAM ngụ ý một vấn đề cốt lõi là số hóa không nên đi kèm với yêu cầu về bản quyền mới đối với các tác phẩm nghệ thuật văn hóa trong phạm vi công cộng.      Nguyên tắc của tính mở đó từng là một phần trong phát triển web từ lâu trước khi nó với tới lĩnh vực di sản văn hóa. Đặc biệt đối với các bảo tàng nghệ thuật, OpenGLAM ngụ ý một vấn đề cốt lõi là số hóa không nên đi kèm với yêu cầu về bản quyền mới đối với các tác phẩm nghệ thuật văn hóa trong phạm vi công cộng.   Phong trào OpenGLAM trong lĩnh vực bảo tàng đã lan rộng khắp châu Âu và vài cơ sở ở Mỹ đã bước theo sau, và gần đây nhất là Viện Smithsonian. Những chuyển động đó góp phần thúc đẩy Viện bảo tàng Quốc gia Thụy Điển tuyên bố chính sách OpenGLAM vào tháng 10/2016 – vài tháng trước khi Viện bảo tàng Nghệ thuật Thủ đô Stockholm xuất bản sáng kiến Truy cập Mở vào năm 2017.  Khi Loic Tallon, giám đốc Số của Viện bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan, quyết định từ nhiệm vào tháng 3/2019, Tổng Giám đốc của Met Hollein đã ca ngợi công việc của ông, trong đó có lên khung cho “sáng kiến Truy cập Mở để Met phát hành hơn 400.000 hình ảnh các tác phẩm nghệ thuật để bất kỳ ai cũng có thể sử dụng miễn phi. Sáng kiến Truy cập Mở này đã làm thay đổi cách Met kết nối với các khán giả và là yếu tố quan trọng để xây dựng nhiều quan hệ hợp tác.  Bất chấp điều đó, nhiều nơi vẫn còn e ngại với việc cung cấp truy cập mở cho các bộ sưu tập được số hóa của họ, chưa nói tới cho sử dụng miễn phí. Hầu hết họ đề ủng hộ truy cập mở nhưng cảm thấy vẫn cần đánh giá rủi ro kỹ lưỡng hơn bởi lo ngại liệu các lợi ích tiềm năng chưa chắc đã thắng rủi ro của việc mở.    Bức Thánh Catherine của Alexandria của họa sĩ Artemisia Gentileschi. Nationalmuseum, Public Domain  Cân bằng rủi ro với lợi ích công  Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển đã đề ra chính sách OpenGLAM vào năm 2016, theo sau đó là nhiều cuộc thảo luận nội bộ về các chi phí hạ tầng kỹ thuật để cung cấp quyền truy cập tới các bộ sưu tập; thiếu các tài nguyên số hóa và phát sinh các bộ siêu dữ liệu; khả năng mất doanh thu do không có khả năng bán các giấy phép hình ảnh nữa và các lo ngại về khả năng sử dụng các tác phẩm nghệ thuật một cách phi đạo đức.  Thật ra chi phí đầu tư cho đầu tư vào hạ tầng số là điều không thể tránh khỏi nhưng điều chúng ta quan tâm hơn là vấn đề cuối, nỗi sợ hãi bị mất doanh thu và khả năng sử dụng dữ liệu theo xu hướng xấu.  Hầu hết các cơ sở văn hóa của chúng ta đang cố gắng trở thành các địa điểm mở, tuy có tới 46% công dân còn chưa từng đặt chân vào các viện bảo tàng nghệ thuật với lý do “nó không dành cho những ai như tôi”. Mặt khác bản thân tôi cũng đồng ý là có lẽ có các bộ sưu tập “nhạy cảm” không nên được sử dụng lại ngoài môi trường khoa học nhưng khi nói về nghệ thuật, chúng ta nên tự hỏi: một chính sách cấp phép đóng có góp phần làm tăng thêm tỷ lệ những người có quan điểm “bộ sưu tập này không dành cho ai đó như tôi” trong môi trường số?  Các giấy phép đóng sẽ không bảo vệ bảo tàng khỏi cảnh bị sử dụng tác phẩm theo ý đồ xấu. Tôi tin tưởng rằng nếu tư liệu đó không được mở để sử dụng lại thì sự thiệt thòi của công chúng, đặc biệt cho tính chân thực và khả năng truy xuất thông tin lớn hơn nhiều so với rủi ro có thể xảy ra. Nếu vậy thì “tri thức không được bảo tồn cho thế hệ sau và mất đi cơ hội sáng tạo trên nền tảng số”.      Chuyển đổi số trong môi trường bảo tàng chủ yếu vẫn còn được hiểu là một vấn đề kỹ thuật, tối ưu hóa hạ tầng số hay một kênh truyền thông, do đó mọi việc diễn ra theo cách thức y hệt việc cấp phép mở – thường được coi như là vấn đề của chính sách bản quyền, hạ tầng CNTT, hoặc việc làm catalog siêu dữ liệu, trong khi về bản chất chuyển đổi số này là về con người, về tư duy.      Các giấy phép hạn chế quyền truy cập sẽ không ngăn cản được những kẻ xấu khỏi làm nhiều điều xấu với tư liệu của viện bảo tàng, ngược lại chúng có thể ngăn cả những người tốt làm những điều tốt.  May thay, trong sự đổi mới gần sáu năm của nó, Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển đã thực hiện nguyên tắc mở cửa viện bảo tàng theo cách tiếp cận truyền thống cho bất kỳ ai song song với việc mở các bộ sưu tập trên trực tuyến. Ông Berndt Arell, sau này là Tổng Giám đốc, đã công bố chính sách OpenGLAM của Bảo tàng Quốc gia vào tháng 10/2016: “Chúng tôi cam kết thực hiện sứ mệnh thúc đẩy nghệ thuật, tăng cường mối quan tâm về nghệ thuật, và lịch sử nghệ thuật bằng việc để các hình ảnh từ các bộ sưu tập của chúng tôi trở thành một phần không thể thiếu của môi trường số ngày nay. Các tác phẩm nghệ thuật đó thuộc về và dành cho tất cả chúng ta, bất kể các hình ảnh đó được sử dụng như thế nào. Chúng tôi hy vọng bộ sưu tập mở của chúng tôi sẽ gợi mở những cách sử dụng, diễn giải mới trên các tác phẩm nghệ thuật đó”.  Phong trào mở đã được khởi xướng và nuôi dưỡng bằng sự chuyển đổi số nói chung mà chúng ta đang thấy trong xã hội. Không may, chuyển đổi số trong môi trường bảo tàng chủ yếu vẫn còn được hiểu là một vấn đề kỹ thuật, tối ưu hóa hạ tầng số hay một kênh truyền thông, do đó mọi việc diễn ra theo cách thức y hệt việc cấp phép mở – thường được coi như là vấn đề của chính sách bản quyền, hạ tầng CNTT, hoặc việc làm catalog siêu dữ liệu, trong khi về bản chất chuyển đổi số này là về con người, về tư duy.  Thách thức thực sự của tính mở là việc thay đổi thái độ của bảo tàng hướng tới những người sử dụng, bất kể chúng ta đang ở đâu trong quá trình số hóa. Và chỉ bằng cách thay đổi thái độ mới có thể đạt được những lợi ích hứa hẹn của chính sách truy cập mở.  Truy cập mở ở Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển  Bước đầu tiên và quan trọng nhất của Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển đi từ việc áp dụng giấy phép CC BY-SA sang phạm vi công cộng, và hợp tác tích cực với Wikimedia Thụy Điển và cộng đồng của nó.  Chúng tôi bắt đầu hiểu rằng việc “tạo những cơ hội gặp gỡ có ý nghĩa giữa con người và nghệ thuật” không nhất thiết là để mọi người tới bảo tàng hoặc truy cập website. Trên thực tế, cơ hội thực sự để làm cho các bộ sưu tập của viện bảo tàng được biết tới tốt hơn cho một khán thính phòng rộng lớn hơn là xuất bản chúng trên các nền tảng số phổ biến như Wikipedia.    Bức “Cảnh hồ tại Engelsberg, Västmanland” của họa sĩ Olof Arborelius. Nationalmuseum, Public Domain  Sự hợp tác của Bảo tàng Quốc gia với Wikimedia Thụy Điển bắt đầu ở phạm vi khá nhỏ: 3.000 hình ảnh độ phân giải cao mô tả các tác phẩm trong bộ sưu tập đã được tải lên Wikimedia Commons và siêu dữ liệu liên quan được tải lên Wikidata. Trong vòng một tuần, các hình ảnh đã được sử dụng trong hơn 100 bài báo và đã được xem 104.000 lần. Tới tháng 3/2019, các hình ảnh đó đã được hơn 1.800 bài báo sử dụng và ngày nay có khoảng 1,5 triệu lần xem chúng mỗi tháng.  Tin tức về chính sách OpenGLAM của Bảo tàng Quốc gia đã thu hút vài cơ quan truyền thông quốc gia và quốc tế, nhưng quan trọng nhất nó đã tạo ra sự hiện diện trên các phương tiện xã hội nhiều ở mức chưa từng có trước đó. Việc các hình ảnh được cấp phép mở của chúng tôi được IKEA sử dụng trong trang trí đồ nội thất vào năm 2019 là ví dụ điển hình về khả năng tạo sức hút cho các tác phẩm nghệ thuật của chúng tôi.  Truy cập mở đã và đang đem lại cho chúng tôi sự trân trọng và biết ơn của người sử dụng. Lợi ích xung quanh bộ sưu tập được số hóa đã tái định vị thương hiệu của bảo tàng.  Vào năm 2017, Bảo tàng Quốc gia đã chuẩn bị hình thành một website mới. Nội dung mà chúng tôi đưa lên các kênh số trước khi hoàn tất việc xây dựng tòa nhà mới và mở lại vào tháng 10/2018 là các câu chuyện đề cập đến những đổi mới sáng tạo đang diễn ra. Chúng tôi thấy có số lượt xem bộ sưu tập online của chúng tôi tăng lên gấp đôi, và do đó chúng tôi nghĩ cách tạo ra nhiều cách truy cập các bộ sưu tập hơn để nhiều người sử dụng có thể biết.  Thách thức của chuyển đổi số  Số hóa các bộ sưu tập trong hầu hết các viện bảo tàng có mục tiêu hơi mơ hồ “số hóa toàn bộ bộ sưu tập”. Nó được cho là để giải quyết tất cả các vấn đề trong việc xử lý và làm tài liệu và phục vụ cho tất cả các câu hỏi khoa học có thể nảy sinh trong tương lai. Ở Bảo tàng Quốc gia, thông tin cơ bản về các phần được số hóa của bộ sưu tập đã được công khai cho công chúng từ 2010, dù với chất lượng dữ liệu chưa nhất quán. Một số nơi chọn truy cập mở một số điểm chính của các bộ sưu tập của họ thay vì trao quyền truy cập tới tất cả tài liệu của họ. Nguyên nhân là công việc số hóa chung trong các viện bảo tàng phát triển rất chậm chạp.  Hầu hết các bảo tàng không hoàn toàn ưu tiên số hóa, ít nhân viên của bảo tàng được hiểu biết hoặc có khả năng kiểm soát đầy đủ các cơ sở dữ liệu nội bộ và online để duy trì nó tốt. Mặt khác, các cơ sở dữ liệu này thường ít được dùng để sử dụng trong nghiên cứu bởi dữ liệu không đầy đủ, không đủ chính xác hoặc các hình ảnh chất lượng thấp.  Do đó, Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển đã tập trung vào trình bày mới bộ sưu tập, đặt hệ thống quản lý bộ sưu tập vào trung tâm của việc lập cơ sở dữ liệu, và theo dõi tất cả các bản sửa lỗi, các bản bổ sung và cập nhật. Thực tế là sự gia tăng quan tâm về bộ sưu tập được số hóa của chúng tôi khiến chúng tôi nhận thức được các khả năng mới đối với tư liệu, ngoài dự kiến ban đầu.  Tất nhiên, sự khởi đầu số hóa chính, việc làm catalog và việc cập nhật dự án từng không quá nhiều vì chính sách OpenGLAM. Đã có sự bùng phát về sự cần thiết phải chuyển 400.000 hiện vật ra khỏi viện bảo tàng trước khi xây dựng mới lại. Dù vậy, không có mối quan tâm gia tăng xung quanh các bộ sưu tập số của chúng tôi trên các nền tảng khác nhau, nó có lẽ đã hầu như không có khả năng để thúc đẩy và thực hiện sự cần thiết về việc không chỉ đăng ký số lượng, tên và hình ảnh đủ cho kiểm soát công việc hậu cần, mà thậm chí còn giám sát các mô tả, thông tin còn thiếu, ngày tháng, .v.v. theo cách thức được tập trung hóa và bền vững.  Khi bảo tàng đã đồng ý về cách để xử lý quy trình cập nhật thông tin và các mô tả đối với hơn 5.000 hiện vật mà có thể tạo thành trình bày mới của bộ sưu tập trong viện bảo tàng được mở lại, thông tin này từng truy cập được qua toàn bộ cơ sở và vì thế hữu dụng cho nhiều mục đích hơn là chỉ trở thành một nhãn mới trong viện bảo tàng. Việc chuẩn bị các nhãn và các thông tin khác đã được điều chỉnh với quy trình số hóa, nó đã giúp biến cơ sở dữ liệu quản lý bộ sưu tập thành kho tri thức đáng tin cậy với hầu hết các hình ảnh “đủ tốt” cho tất cả các hiện vật được trưng bày, có thể được sử dụng như nguyên liệu thô cho việc kể chuyện và tham gia trên trực tuyến thông qua các nền tảng phương tiện khác nhau.  Những suy nghĩ còn lại  Có lẽ lời khen về một hệ thống phát triển nội bộ hơn 10 năm tuổi là dấu hiệu của chuyển đổi số thành công. Tuy nhiên, công việc thường nhật của chúng tôi là về việc có tri thức sẵn sàng và tin tưởng nhau để xử lý tri thức có trách nhiệm. Trong một cơ sở truyền thống như Bảo tàng Quốc gia, sẽ rất khó đạt được bước tiến nếu không đề cập đến chính sách OpenGLAM trong các thảo luận. Làm thế nào chúng tôi có thể bảo vệ ý tưởng của OpenGLAM nếu bản thân mình không chia sẻ thông tin một cách cởi mở và tự do trong  nội bộ?  Từ xuất phát điểm đó, chúng tôi đã cùng đặt ra các câu hỏi như làm thế nào để làm cho các hình ảnh sẵn sàng, làm thế nào để xây dựng các hạng mục đầu vào hấp dẫn cho bộ sưu tập được số hóa mà không cần đầu tư quá nhiều vào hạ tầng hoặc phát triển kỹ thuật? Khi làm lại website và phát triển ứng dụng mới hướng dẫn khách thăm quan, chúng tôi đã tận dụng các kinh nghiệm đó để đạt hiệu quả cao hơn. Rút cục, ứng dụng hướng dẫn khách viếng thăm của chúng tôi có số lượng người sử dụng và người xem lại tốt (đối với một ứng dụng của viện bảo tàng), nhưng chuyện vui nội bộ nói rằng các nhận xét nhiệt tình nhất phải tới từ những thành viên quá tự hào về nó.   Tôi vẫn thích nghĩ về câu chuyện đùa đó như là một thành tích. Chuyển đổi số của một bảo tàng chỉ có thể phát huy hiệu quả với nỗ lực thay đổi của mọi thành viên, qua đó thiết lập sự hiểu biết thực sự về những hình thức làm việc với như hợp tác số và mở bên trong cơ sở.  Việc triển khai truy cập mở sẽ dẫn tới một môi trường bảo tàng số hơn, khả năng hợp tác hơn, cả bên trong và bên ngoài bảo tàng. Sự chuyển đổi này đôi khi sẽ gây ra nỗi sợ hãi và đau đớn nhưng nếu các bảo tàng muốn hưởng lợi từ những lợi ích có liên quan tới OpenGLAM thì bước đầu tiên cần thừa nhận “việc thiết lập văn hóa trong bảo tàng phụ thuộc rất nhiều vào các mối hợp tác mở, đây là chuẩn mực và là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ hợp tác nào với các cộng đồng bên ngoài bảo tàng” (Seb Chan, 2018).  Do đó, cách duy nhất để xây dựng tương lai số bền vững cho lĩnh vực văn hóa là chấp thuận và làm theo các nguyên lý của tính mở và hợp tác.□  Lê Trung Nghĩa lược dịch  Nguồn: https://medium.com/open-glam/inside-the-museum-is-outside-the-museum-thoughts-on-open-access-and-organisational-culture-1e9780d6385b  * Karin Glasemann là người điều phối kế hoạch số hóa của Bảo tàng Quốc gia Thụy Điển, Chủ tịch Cộng đồng Bản quyền Dự án Europeana    Author                Karin Glasemann        
__label__tiasang Bảo tàng trong thời đại số: “Hậu bảo tàng”      Công nghệ thông tin đang làm thay đổi bảo tàng trên nhiều khía cạnh, đó là thay đổi mối quan hệ giữa bảo tàng với các cơ quan và tổ chức khác, các phương pháp và cách thức quản lý hiện vật, cũng như đa dạng hóa sự tương tác giữa bảo tàng và công chúng. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến cách thức trưng bày, nghiên cứu và tương tác, thậm chí nó còn liên quan đến quyền hạn và thẩm quyền, quyền sở hữu và kiểm soát đối với việc tiếp cận di sản và tài liệu.      Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Mỹ áp dụng công nghệ số để phục vụ khách tham quan.Nguồn clalliance.org  Không chỉ là tổ chức văn hóa chuyên thu thập, lưu giữ và trưng bày các đồ tạo tác có giá trị thẩm mỹ, lịch sử, văn hóa, khoa học quan trọng, bảo tàng còn là nơi mà theo thời gian, ý nghĩa của đồ tạo tác cũng sẽ thay đổi dựa trên mối quan hệ giữa chính nó, cách nó được trưng bày và sự cảm nhận của người xem. Thực tế là các bảo tàng ngày nay – hoặc ít nhất là những bảo tàng nằm trong thời đại xã hội hậu công nghiệp – vận hành trong nền văn hóa số. Nói cách khác, công nghệ thông tin sẽ tham gia vào quá trình tạo nghĩa cho hiện vật, đóng góp quan trọng vào mối quan hệ giữa lượt khách tham quan tại chỗ và lượt truy cập tham quan trực tuyến, đến việc đắm mình trong tác phẩm nghệ thuật sắp đặt thông qua màn hình chiếc máy vi tính, và từ việc số hóa bộ sưu tập hiện có cho đến việc đứng ra tổ chức một cộng đồng tưởng niệm ảo.    Có hai quan điểm xuyên suốt trong cách tiếp cận bảo tàng trong nền văn hóa số. Đầu tiên là các phương thức trải nghiệm giác quan mới thông qua công nghệ hiện đại trong bảo tàng – dù là tham quan tại chỗ hay trực tuyến, không chỉ đối với các tác phẩm nghệ thuật và di sản sau này, mà còn cả với những tác phẩm hiện có. Thứ hai là nghiên cứu về cách công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông xây dựng bảo tàng như một nền tảng tri thức mới, giúp mở rộng vai trò của các bảo tàng với tư cách là tổ chức văn hóa và là nơi ‘đứng ra’ hình thành các cộng đồng mới.   Khách tham quan đồng sáng tạo tác phẩm  Đây là khái niệm chỉ có trong thời đại số hóa. Nó xuất phát từ thực tế không chỉ cung cấp những công cụ hiện đại để trưng bày các hiện vật, công nghệ thông tin còn đưa ra những phương thức mới để giúp người xem trải nghiệm và cảm nhận tác phẩm nghệ thuật, điều này đòi hỏi một vốn kiến thức nhất định bởi những hoạt động này gắn với một loạt các khái niệm liên quan: tương tác, trải nghiệm xúc giác, ekphrasis (thủ pháp mô tả tác phẩm nghệ thuật bằng cách dùng ngôn từ gợi lên hình ảnh của nó), đắm chìm, suy tưởng bằng mắt (sự tò mò), hình ảnh với tư cách là một giao diện. Quá trình tập trung để trải nghiệm và nhận thức này đã hình thành nên bản chất của bảo tàng trong nền văn hóa thị giác đương đại, đồng thời đặt ra câu hỏi về quan niệm nghệ thuật thị giác của văn hóa phương Tây, vì nó đã vượt xa quan niệm truyền thống – các tác phẩm nghệ thuật tạo hình được trưng bày là “những thứ cần phải ngắm nhìn”.       Eilean Hooper-Greenhill, giáo sư nghiên cứu về bảo tàng, đã gọi bảo tàng trong nền văn hóa số là “hậu bảo tàng”, một địa điểm của sự đồng sáng tạo, nơi du khách và bảo tàng sẽ cùng nhau tạo ra ý nghĩa. Trong nền văn hóa số, các bảo tàng sẽ làm việc với cộng đồng, chứ không phải vì cộng đồng.      Trong suốt những thập kỷ qua, khách tham quan đã chuyển đổi vai trò từ người quan sát thụ động trở thành người tương tác với hiện vật, đồng thời cũng là người tham gia vào quá trình tạo nên ý nghĩa của nó. Công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông đã thúc đẩy sự phát triển này, không chỉ với khách tham quan tại chỗ, mà còn với cả phòng trưng bày trực tuyến. Và điều này rõ ràng đã tác động đến các chuyên gia phụ trách chuẩn bị triển lãm và thiết kế trưng bày, nghệ sĩ sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật và người đến thăm bảo tàng.   Do đó, công nghệ thông tin đã góp phần định hình lại ý nghĩa bảo tàng, định nghĩa lại hiện vật và bộ sưu tập, cho phép các hình thức giám tuyển và đồng sáng tạo mới trong không gian bảo tàng. Nền tảng tri thức này có thể thách thức những mối quan hệ quyền lực hiện có, và tạo cơ hội cho những hình thức tự biểu hiện và tương tác mới. Những diễn giải và phân loại của bảo tàng dựa trên lịch sử nghệ thuật, dân tộc học, khảo cổ học và các ngành học thuật khác không còn là điều hiển nhiên nữa. Công nghệ thông tin đã mở ra những cách tiếp nhận mới, nhân lên các mối quan hệ có thể có giữa nghệ thuật và tác phẩm trưng bày từ các mốc thời gian và địa điểm khác nhau, cả tham quan tại chỗ và trực tuyến. Eilean Hooper-Greenhill, giáo sư nghiên cứu về bảo tàng, đã gọi bảo tàng trong nền văn hóa số là “hậu bảo tàng”, một địa điểm của sự đồng sáng tạo, nơi du khách và bảo tàng sẽ cùng nhau tạo ra ý nghĩa. Trong nền văn hóa số, các bảo tàng sẽ làm việc với cộng đồng, chứ không phải vì cộng đồng.    Công nghệ kỹ thuật số mang đến những trải nghiệm mới và có thể gợi ra những cảm giác sâu xa dành cho tác phẩm nghệ thuật. TS Martijn Stevens của trường Đại học Radboud ở Nijmegen đã xem xét những điều này dưới khía cạnh trải nghiệm xúc giác hình thành khi lướt web và tương tác với nội dung số. Trải nghiệm xúc giác này thực ra không nhất thiết phải có sự hiện diện vật chất của một đối tượng. Lấy trang web Tate làm ví dụ, Stevens giải thích tầm quan trọng của trải nghiệm xúc giác trong môi trường kỹ thuật số bằng cách đề cập đến sức mạnh của cơ sở dữ liệu, “bao gồm khả năng thiết lập các kết nối về mặt địa lý và lịch sử – mà trước đó đã bị bỏ qua”. Stevens nhấn mạnh điều mà một số nhà nghiên cứu khác cũng từng nhắc đến là hình ảnh có chức năng như một giao diện, nghĩa là, “như một liên kết hoặc một cửa ngõ mở ra sự đa dạng của các đối tượng, con người, và các sự kiện liên quan”.     L’Atelier des Lumières – Bảo tàng nghệ thuật số đầu tiên ở Paris mở vào năm 2018. Nguồn: culture360.asef.org  Những trải nghiệm xúc giác mà Stevens nhắc đến ở trên càng thêm thấm thía khi chúng ta xét về nghệ thuật sắp đặt, đặc biệt là các tác phẩm nghệ thuật tương tác, bởi tất cả đều “trở nên sống động” thông qua các chuyển động cơ thể có kiểm soát. Những thiết lập tương tác này đem lại những phản hồi sinh học và việc kết hợp với công nghệ theo dõi đo nhịp thở, nhiệt độ và/hoặc nhịp tim khiến cơ thể con người thành cầu nối với các tác phẩm. Mặt khác, các tác phẩm sắp đặt tương tác lại biến bảo tàng và các không gian nghệ thuật khác thành một loại phòng thí nghiệm nghệ thuật kiểu mới, nơi các nghệ sĩ và du khách gặp gỡ và cùng nhau tạo ra ý nghĩa. Thay vì trở thành những tác phẩm để người đời chiêm ngưỡng từ xa, nghệ thuật tương tác phản hồi sinh học tiết lộ cho khách tham quan/người đồng sáng tạo một không gian bên trong để họ tự phản ánh, khiến họ nhận thức được sự nối kết giữa tâm trí và cơ thể.   Công cụ để cộng đồng tự cất lên tiếng nói về mình  Sự phát triển của các bảo tàng nhắc nhở chúng ta suy nghĩ về cách con người liên hệ với quá khứ trong một nền văn hóa số. Mặc dù việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số có thể là một bước đi sáng tạo, nhưng các mô hình để trình bày lịch sử (nghệ thuật) mới là yếu tố xác định liệu bảo tàng lịch sử (nghệ thuật) sẽ được gắn nhãn “cổ lỗ” hay “mới mẻ”. Để tái hiện quá khứ, có ba mô hình được người ta nghĩ tới: trưng bày các đối tượng trong chuỗi thời gian lịch sử ngắn không liên tục; trưng bày các đối tượng theo thứ tự đồng hiện dù chúng được tạo ra vào những thời điểm khác nhau; và cách trưng bày gợi lên cảm giác đắm chìm vào quá khứ. Cả ba mô hình thay thế này sẽ góp phần kích thích trí tò mò của khách tham quan, qua đó thiên về điểm nhìn đương thời vào các bộ sưu tập trong quá khứ hơn là điểm nhìn hồi tưởng, vốn là yếu tố điển hình của các cách kể chuyện lịch sử truyền thống của bảo tàng.      Mặc dù việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số có thể là một bước đi sáng tạo, nhưng các mô hình để trình bày lịch sử (nghệ thuật) mới là yếu tố xác định liệu bảo tàng lịch sử (nghệ thuật) sẽ được gắn nhãn “cổ lỗ” hay “mới mẻ”.      Những bộ dữ liệu số còn gợi ý những cách làm mới của bảo tàng, qua đó cho phép cộng đồng cùng tham gia vào quá trình đó với cảm giác như một “chứng nhân” của sự kiện. Đó là trường hợp bảo tàng đứng ra ‘quy tụ’ một cộng đồng tưởng niệm: Đài tưởng niệm số hóa cho Cộng đồng Do Thái ở Hà Lan do Bảo tàng Lịch sử Do Thái ở Amsterdam tổ chức. Đài tưởng niệm bao gồm một “bức tranh vẽ các chấm màu”, trong đó mỗi chấm tượng trưng cho một nạn nhân trong tội ác diệt chủng của Đức Quốc xã ở Hà Lan suốt thời kỳ chiếm đóng 1940-1945. Bằng cách nhấp vào một dấu chấm, màn hình sẽ hiện lên trang cá nhân của nạn nhân với thông tin tiểu sử và một bức ảnh (nếu có). Do đó, đài tưởng niệm còn mang chức năng cung cấp thông tin. Ter Braake, người từng là biên tập viên cho tượng đài từ năm 2007 đến năm 2012, cho biết dự án vấp phải rất nhiều khó khăn, bắt nguồn từ sức ép giữa “sự tưởng nhớ (có phần cảm tính), lịch sử (với mong muốn chính xác và khách quan), ký ức (thường tuyên bố là chính xác và khách quan, nhưng không phải thế), [và] bộ dữ liệu (không chính xác và cũng không khẳng định là chính xác)”. Điều thú vị là, chính phản ứng đầy bất ngờ và dữ dội của những du khách muốn điều chỉnh thông tin, chỉ ra mối quan hệ giữa họ với nạn nhân, hoặc giữa nạn nhân với những người khác, cuối cùng đã biến tượng đài thành một cộng đồng tưởng niệm trực tuyến có sự tham gia, tương tác, hợp tác và đầy sống động.     Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ rất nhiều cho người muốn khám phá các bộ sưu tập số. Nguồn: ww.axiell.com  Nhờ sự kết nối của công nghệ thông tin, các bộ sưu tập đã có thể được hỗ trợ, trao đổi và tương tác được với nhau, qua đó bật ra những giá trị mới, ví dụ như chia sẻ quyền giám tuyển và kiến thức dân tộc học với các cộng đồng thổ dân, kết nối di sản vật thể và phi vật thể, đồng thời giải quyết các vấn đề về quyền sở hữu, quyền kiểm soát (ảo). Chúng ta có hiểu sâu hơn điều này qua dự án Lịch sử Sinh sống của người Inuvialuit (người Inuit ở Tây Canada), một dự án bảo tàng ảo của Trung tâm Tài nguyên Văn hóa Inuvialuit ở Inuvik, Lãnh thổ Tây Bắc, Canada, với sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu, giám tuyển và nhà sản xuất truyền thông. Bảo tàng ảo sử dụng Bộ sưu tập Smithsonian MacFarlane nhằm mục đích kết nối bộ sưu tập này với các di sản phi vật thể có liên quan. Việc dân tộc học số hóa như vậy kích thích sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu với các cộng đồng nguyên bản, điều chỉnh quá trình giám tuyển, nghiên cứu và số hóa. Dự án Lịch sử Sinh sống của người Inuvialuit không chỉ tạo ra sự tương tác giữa các cộng đồng nguyên bản với bộ sưu tập dựa trên di sản của họ, mà quan trọng hơn, nó “cho thấy cơ hội để các cộng đồng nguyên bản tái lập di sản văn hóa của họ trong các bảo tàng dưới dạng không gian số, trao cho cộng đồng thổ dân cơ hội được trình bày về chính mình”. Nó là “một công cụ để thổ dân tự cất lên tiếng nói và khôi phục quyền hạn của mình ở khía cạnh dân tộc học”.   Các bảo tàng ngày nay phải nâng cao hiểu biết của mọi người theo nghĩa chuyển đổi tầm nhìn. Theo nghĩa đó thì công nghệ kỹ thuật số là công cụ giúp nâng cao, mở rộng hình thức trải nghiệm và chức năng của bảo tàng chứ không phải là thay thế chúng bằng thứ khác. Chính vì vậy, chúng ta nên nhìn nhận công nghệ kỹ thuật số là phương tiện để các bào tàng thực hiện mục tiêu đó.□  Anh Thư lược dịch  Nguồn: Lời giới thiệu cuốn sách “Museums in a Digital Culture: How Art and Heritage Become Meaningful” (Các bảo tàng trong văn hóa số: Nghệ thuật và di sản trở nên có ý nghĩa như thế nào).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tàng trưng bày những ý tưởng thất bại      Triển lãm đang được tổ chức tại thành phố New York nhằm giúp khách tham quan cảm nhận được thất bại không phải là điều đáng xấu hổ, mà đó là một cơ hội học hỏi đầy ý nghĩa.       Samuel West, một nhà tâm lý học lâm sàng, đã khởi động triển lãm vào năm 2017 tại Thụy Điển. Ảnh: Sandra H Gao / Museum of Failure  Khi một sản phẩm mới hoàn toàn thất bại về mặt doanh số, các công ty thường dồn hết sức lực để phát triển những ý tưởng mới càng nhanh càng tốt với hy vọng nó sẽ thành công, xoá nhoà ký ức của người tiêu dùng về sản phẩm trước.  Nhưng Bảo Tàng Thất bại không để chúng chìm vào quên lãng. Triển lãm lưu động này, lần đầu tiên ra mắt tại Thụy Điển vào năm 2017, hiện đã đến thành phố New York, tại đây triển lãm sẽ mở cửa cho đến giữa tháng 5.  Triển lãm mang đến những câu chuyện về 150 ý tưởng thương mại không thành công vì nhiều lý do khác nhau, nhằm khuyến khích thảo luận về việc chấp nhận và học hỏi từ thất bại. Một số ý tưởng đáng chú ý gồm New Coke của Coca Cola, bút Bic for Her của BIC, bánh quy Oreo vị nước chanh ướp lạnh, món lasagna vị thịt bò của Colgate, Crystal Pepsi của PepsiCo.  Hãng Colgate từng cho ra đời hộp lasagne vị thịt bò.   Giám tuyển của triển lãm, Samuel West, một nhà tâm lý học lâm sàng hy vọng triển lãm sẽ giúp bình thường hóa và làm rõ khái niệm thất bại – điều mà anh ấy coi là một cơ hội học tập quan trọng. “Một trong những trở ngại lớn đối với sự đổi mới, sáng tạo là nỗi sợ thất bại”, anh chia sẻ.  Nhiều thương hiệu xuất hiện trong Bảo tàng Thất bại đã không để các chiến dịch thất bại cản trở con đường thành công của họ. Ví dụ, Oreo đã tạo ra rất nhiều hương vị mới thơm ngon, cả Coca-Cola và PepsiCo vẫn đang phát triển mạnh. “Mọi người cảm thấy được giải phóng khi họ nhìn thấy những thương hiệu và công ty lớn nổi tiếng có rất nhiều tiền, kỹ năng và kinh nghiệm nhưng họ vẫn thất bại khi thử nghiệm những điều mới,” West nói. “Những ‘ông lớn’ vẫn có thể thất bại, vậy tại sao chúng ta lại không thể?’”  Nhưng điều đó không có nghĩa là các công ty muốn công bố những thất bại của họ với thế giới. Khi West bắt đầu tổ chức triển lãm, anh đã thương thảo với hàng chục công ty lớn nhỏ có sản phẩm thất bại khác nhau nhưng hầu hết trong số họ từ chối cung cấp thông tin số liệu.  Vào cuối mỗi buổi triển lãm, khách tham quan có thể chia sẻ những thất bại của mình trên một bức tường có tên “Thừa nhận thất bại”. Những dòng cảm tưởng được viết trên giấy ghi chú nhiều màu và dán lên tường.  Dưới đây là một số sản phẩm được trưng bày tại triển lãm:  Mặt nạ Rejuvenique (1982 – 1988)  Mặt nạ làm đẹp dùng điện này được quảng cáo là giúp cơ mặt trở nên săn chắc. Theo hướng dẫn, người dùng sẽ đắp mặt nạ lên mặt trong 15 phút, ba đến bốn lần một tuần. Linda Evans, người đại diện của dòng sản phẩm này, là một ngôi sao truyền hình Mỹ được biết đến qua loạt phim Dynasty. Trong đoạn phim hướng dẫn của Rejuvenique, cô ấy chúc mừng khách hàng vì đã mua được một món hàng thú vị và đảm bảo với họ rằng đó là một khoản đầu tư tốt. Tuy nhiên, theo đánh giá của một người dùng, chiếc mặt nạ này mang lại “cảm giác như hàng nghìn con kiến ​​đang cắn vào mặt tôi”. Chiếc mặt nạ trông như thể là đạo cụ trong một bộ phim kinh dị. Ngoài ra, thiết bị này chưa được đơn vị nào phê duyệt về mức độ an toàn.   Chiếc mặt nạ trông như thể là đạo cụ trong một bộ phim kinh dị. Ảnh: El Pais  Snack khoai tây không béo của Pringles (1989 – 1990)  “100% Hài lòng, 0% Tội lỗi” là slogan của dòng sản phẩm. Những miếng khoai tây không béo này có chứa chất phụ gia gây tranh cãi Olestra. Những năm 1990, người tiêu dùng bắt đầu quan tâm đến các sản phẩm ít calo. Chiều theo thị hiếu đó, một số loại khoai tây chiên ít calo đã được tung ra thị trường. Khoai tây chiên nhưng lại không calo, nghe thật tuyệt phải không?  Nhà sản xuất đã sử dụng olestra, là một dạng mỡ tổng hợp, ngăn sự hấp thu mỡ của hệ tiêu hoá. Olestra đã được phê duyệt làm chất phụ gia vào năm 1996, nhưng nó nhanh chóng gây tranh cãi do các tác dụng phụ khó chịu. Cơ thể con người không thể hấp thụ chất này, việc tiêu thụ một lượng lớn olestra sẽ gây ra co thắt dạ dày và tiêu chảy.  Khoai tây chiên nhưng lại không calo, nghe thật tuyệt phải không?  Xe DeLorean (1989 – 1990)  DeLorean, với cửa xe hình cánh chim mòng biển kỳ lạ, là một trong những thất bại nổi tiếng trong lịch sử. Nguyên mẫu đầu tiên được chế tạo vào năm 1976, lúc bấy giờ hãng xe không có đối thủ cạnh tranh. Việc sản xuất DeLorean bị trì hoãn trong nhiều năm, và sau đó các đối thủ cạnh tranh đã xuất hiện. DeLorean được bán trên thị trường như một chiếc xe thể thao sang trọng, nhưng với động cơ kém hiệu quả, chiếc xe chạy rất chậm. Ngoài ra, rất khó để giữ sạch xe và bảng điều khiển bằng thép không gỉ cần được đánh bóng liên tục. Công ty ô tô DeLorean sau đó đã phá sản và được một thương nhân người Anh mua lại. Hiện tại, DeLorean do Joost de Vries, từng làm việc tại Tesla, điều hành. Ông không chỉ mong muốn làm sống lại thương hiệu lừng danh và chiếc xe biểu tượng, mà còn dự định mở rộng quy mô cũng như phát triển hãng xe thành cái tên đáng gờm trong cả phân khúc xe chạy bằng xăng và xe điện.  Chiếc xe đã xuất hiện trong loạt phim nổi tiếng Back to the Future dưới dạng một cỗ máy thời gian.   N-Gage của Nokia (2003 – 2005)  Vào những năm 2000, nhiều người thường mang điện thoại và máy chơi game cầm tay bên người. Nokia đã kết hợp hai thiết bị này thành một, họ chính thức ra mắt N-Gage vào năm 2004. N-Gage không phải là sự thất bại về ý tưởng – đó là sự thất bại trong quá trình triển khai. Thiết bị phải được tháo rời để thay đổi trò chơi. Và để sử dụng nó như một chiếc điện thoại, người dùng phải cầm điện thoại sang một bên tai, áp cạnh mỏng vào đầu. Điều này khiến nhiều người trêu chọc đây là “điện thoại bánh taco” (một loại bánh truyền thống của Mexico, có hình dạng giống thiết bị này). Bên cạnh những sai sót trong thiết kế, thiết bị cũng không có nhiều trò chơi thú vị đáp ứng nhu cầu của người dùng. Tuy nhiên, có ý kiến ​​cho rằng N-Gage là điểm khởi đầu cho ngành công nghiệp trò chơi di động thịnh vượng về sau của Phần Lan.  Thiết bị được ví như chiếc bánh taco. Ảnh: Nokiamob  Kính thông minh Google Glass (2013 – 2014)  Khi Google ra mắt “kính thông minh” này với máy ảnh tích hợp, điều khiển bằng giọng nói và màn hình, những người yêu công nghệ đã sửng sốt và đặt nhiều kỳ vọng vào đó. Nhiều người đã trả 1.500 USD để có được chiếc kính đột phá này. Tuy nhiên, nó không hoạt động hiệu quả. Máy ảnh tích hợp gây lo ngại về các vấn đề riêng tư. Mọi người không thích ý tưởng bị quay phim bất cứ lúc nào và bất cứ đâu, và Google Glass đã bị cấm ở một số nơi.   Mọi người không thích ý tưởng bị quay phim bất cứ lúc nào và bất cứ đâu, và Google Glass đã bị cấm ở một số nơi. Ảnh: Investopedia  Hoàng Nhi  tổng hợp  Nguồn:  The Museum of Failure Celebrates Some of the World’s Biggest Flops  Museum of Failure    Author                .        
__label__tiasang Bão tinh thần trên sàn chứng khoán      Sau mấy tháng sóng gió, cơn bão trượt giá trên sàn chứng khoán đã tạm thời lắng xuống. Liều thuốc an thần hữu hiệu nhất có lẽ là việc thu hẹp biên độ dao động 1% tại sàn HoSE và 2% tại sàn HaSTC. Nhờ đó khối lượng và giá trị giao dịch thông qua khớp lệnh phiên đều giảm đi rõ rệt. Ví dụ, hôm thứ 6 (28.03), số lượng giao dịch chỉ đạt hơn 3,7 triệu đơn vị, giá trị giao dịch đạt trên 224,486 tỷ đồng. Trong khi, phiên giao dịch hôm trước 27-3, tổng khối lượng giao dịch đạt 7,421,000 đơn vị; tổng giá trị giao dịch đạt 453.757 tỷ đồng. Dĩ nhiên nguyên tắc “không có người – không có vấn đề”, “không có giao dịch – sẽ không có biến động” – chỉ là giải pháp tình thế, bất đắc dĩ.    Hai năm qua, chúng ta đang chứng kiến những bước thăng trầm ngoạn mục của chứng khoán Việt Nam. Ngày 08/11/2006 VN-Index xuất phát với 525,99 điểm, chỉ 4 tháng sau 12/03/2007 VN-Index đã leo lên tới đỉnh 1170,67 điểm, để rồi đúng một năm sau, ngày 25/03/2008 lại tụt xuống mức khởi đầu 496,64. Chuyện gì đang diễn ra? Tất nhiên, lên xuống là chuyện bình thường của thị trường, nhưng lên xuống với biên độ lớn trong thời gian ngắn – là bất thường. Đây là cơ hội tuyệt vời cho các nhà đầu cơ dạn dày kinh nghiệm. Số này ít nhưng không thiếu trên thị trường. Đám đông càng hoảng loạn thì họ càng nhiều cơ hội. Cho nên trái với mong muốn của Chính phủ và Ủy ban chứng khoán, tôi tin chắc không thiếu người, tổ chức chưa muốn thị trường chuyển màu xanh lúc này.  Bây giờ, khi đã bình tĩnh hơn, chúng ta có thể dành ít phút để chiêm nghiệm những gì đang diễn ra. Tạm thời, có thể làm một vài kết luận sau đây.           Thông báo kết quả đấu giá cổ phần Công ty 20 – Bộ Quốc phòng        Thứ nhất, muốn thị trường ổn định đừng để chứng khoán và ngân hàng dẫm chân lên nhau. Ai cũng biết chứng khoán là một kênh huy động vốn và chia sẻ rủi ro rất hiệu quả. Khác với hệ thống ngân hàng, nơi hàng triệu người dân gửi tiền và niềm tin của mình cho một hoặc một nhóm người (Tổng giám đốc hoặc Hội đồng quản trị của ngân hàng), trao họ quyền quyết định tài sản của mình, thì trên sàn chứng khoán – mỗi nhà đầu tư là một thế giới riêng. Vì vậy, tại một thời điểm, trên sàn sẽ có hàng vạn quyết định đầu tư khác nhau, người mua kẻ bán, rủi ro vì thế sẽ được san sẻ. Chứng khoán nhờ vậy vững hơn, linh hoạt và nhanh hồi phục hơn ngân hàng trong bão táp tài chính. Tuy nhiên, điều này chỉ có được khi ngân hàng và chứng khoán tồn tại độc lập. Còn nếu chúng dẫm chân lên nhau thì hậu quả sẽ khó lường. Việc ngân hàng đua nhau lập công ty chứng khoán, tích cực tham gia chơi chứng khoán, rồi tranh nhau bán tháo cổ phiếu cầm cố trong thời gian qua là một ví dụ điển hình. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời quá trình giải chấp tràn lan như hiện nay thì màu xanh trên sàn chắc chắn sẽ không giữ được bao lâu. Lúc đó, thú thực tôi không biết chúng ta lấy công cụ nào nữa để cứu nguy chứng khoán? Nhưng có đúng là chứng khoán cần được cứu hay không?  Để trả lời câu hỏi thứ hai này, cần phải xem lại nghiêm túc mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và sức khỏe của nền kinh tế. Rõ ràng, VN-Index hiện chưa phải là hàn thử biểu của kinh tế Việt Nam. Điều này được nhiều người thừa nhận và cũng không khó để kiểm chứng. Suốt thời gian qua VN-index “vững vàng” đi xuống bất chấp những thông tin rất tốt về hiệu quả sản xuất kinh doanh của đại đa số công ty niêm yết trên sàn, bất chấp các nổ lực chống lạm phát đã có kết quả bước đầu của Chính phủ. Vì sao? Đơn giản là chứng khoán Việt Nam hiện đang là một sân chơi riêng, tồn tại độc lập ngoài lề nền kinh tế. Mà nếu vậy thì tại sao chúng ta lại phải nổ lực cứu chứng khoán làm gì? Nếu chỉ đơn thuần là để giải quyết vấn đề tâm lý? Cái khó của chúng ta là để hệ thống ngân hàng dấn quá sâu vào chứng khoán, bây giờ thắt chặt tiền tệ, ngân hàng khó khăn làm chứng khoán náo loạn. Do đó, theo chúng tôi, cái chúng ta cần tập trung bình ổn hiện nay không phải là chứng khoán mà chính là khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng.    Thứ ba, nền kinh tế chuyển đổi và áp lực hội nhập nhanh vào sân chơi toàn cầu đang làm cho các mối quan hệ kinh tế của chúng ta méo mó, nhiều khi chẳng giống ai. Nhiều doanh nghiệp lao đao vì tự dưng huy động được quá nhiều vốn đầu tư. Bình thường đảm bảo sản xuất tốt chỉ cần vài chục tỷ, giờ bổng nhiên huy động được hàng trăm tỷ dễ dàng. Làm gì? Tiền nhiều không phải lúc nào cũng tốt và với ai cũng tốt. Nhiều tiền mà không biết làm gì, rất dễ dẫn tới làm bừa, làm ẩu, hậu quả thật khó lường. Bởi tiền chứng khoán, khác với tiền ngân hàng, đằng sau nó là một đội quân đầu tư chuyên nghiệp với nhiều yêu sách và kỳ vọng. Nói đâu xa, ngay bản thân Chính phủ cũng vậy, đầu tư nước ngoài tăng đột biến, ngay lập tức lạm phát tuột khỏi tầm kiểm soát. Mối quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại cũng lạ, khi thì theo thị trường lúc thì theo mệnh lệnh. Chúng ta không nên biện hộ đó là đặc thù của mô hình kinh tế thị trường có sự kiểm soát của nhà nước. Bởi kiểm soát không phù hợp với qui luật chỉ góp phần tạo nên những giá trị ảo, gây hiệu ứng phụ khó chữa… Muốn có một nền kinh tế khỏe cần nhanh chóng xây dựng hệ thống thể chế minh bạch, công khai. Muốn minh bạch công khai – không còn cách nào khác là dám nhìn thẳng vào sự thật. Chúng ta đang ở đâu trong sân chơi toàn cầu? Kinh tế Việt Nam yếu ở những điểm nào? Mô hình phát triển của ta có vấn đề gì không? Sau đó mới đến chuyện cụ thể hơn: làm thế nào để tránh được suy thoái và phát triển bền vững?  Cuối cùng, chứng khoán Việt Nam là thị trường của niềm tin. Niềm tin mua gì cũng thắng đã giúp cho VN-Index leo lên đỉnh cao trong nửa đầu năm 2007. Niềm tin – phải tháo chạy bằng mọi giá đã đẩy chỉ số này xuống đáy dưới 500. Rõ ràng niềm tin đang quyết định sắc màu của sàn chứ không phải là sự chuyên nghiệp. Bây giờ, bình tĩnh lại chúng ta có thể nhận thấy mốc 500 điểm của VN-Index là mốc đáy của niềm tin – nếu giữ được trên mốc này thị trường sẽ bình phục. Còn mức trần sẽ là bao nhiêu? Với biên độ dao động như hiện nay thì không khó để dự đoán trong năm nay VN-Index cũng chỉ loanh quanh ở quảng 600-800 điểm. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: Mức độ suy thoái của kinh tế Mỹ và khả năng thích ứng của kinh tế Việt Nam.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn nguồn gene giống cá rô đồng đầu vuông Hậu Giang      Với ưu điểm mau lớn, thịt ngon, mang lại giá  trị kinh tế cao, cá rô đồng đầu vuông đang được tỉnh Hậu Giang chú ý  bảo tồn nguồn gene nhằm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tạo điểm  đột phát trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Vì vậy, đề tài  nghiên cứu khoa học “Bảo tồn nguồn gen cá rô đồng đầu vuông ở tỉnh Hậu  Giang” vừa được nghiệm thu vào tháng 11 đã hứa hẹn đem lại giá thị kinh  tế mới cho loại cá đặc sản này.     Đề tài nghiên cứu khoa học “Bảo tồn nguồn gen cá rô đồng đầu vuông ở tỉnh Hậu Giang” do KH&CN Hậu Giang phối hợp với ĐH Cần Thơ đầu tư, giao cho TS Dương Thúy Yên,  bộ môn Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, trường ĐH Cần Thơ làm chủ đề tài. Trong vòng hai năm, TS Dương Thúy Yên đã khảo sát thực trạng nuôi cá rô đầu đầu vuông trong tỉnh và nhận thấy, do các hộ nuôi trồng thủy sản đều ở quy mô, các khâu nuôi trồng, chọn giống chưa hợp lý nên đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng giống, ảnh hưởng đến nguồn gene.  Hơn nữa, con cá rô đồng đầu vuông lại được lai tạo với cá rô thường nên nguồn gene trong điều kiện tự nhiên cũng không đảm bảo. Đây là một phần nhân tố khiến cho sản lượng và chất lượng cá rô đồng đầu vuông rớt giá, người nuôi chán nản, bỏ cuộc.   Vì vậy TS Dương Thúy Yên đã thí nghiệm nuôi cá chọn lọc. Chất lượng đàn cá thế hệ G1 tinh chọn từ nguồn cá bố mẹ đầu vuông khác nhau có tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở cao, hệ số di truyền cao đạt 95%, duy trì được nguồn gene quý hiếm qua tới 50 thế hệ. TS Dương Thúy Yên cho biết, chỉ có thể bảo tồn tốt chất lượng gene trong đều kiện nuôi với số lượng lớn. Để bảo đảm chất lượng cá giống, cần áp dụng biện pháp chọn lọc, chọn lựa đàn cá bố mẹ để giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng. Định kỳ hai hoặc bốn năm phải kiểm tra chất lượng di truyền đàn cá một lần để cải thiện di truyền kịp thời.  Phó Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp Hậu Giang, ông Phan Quốc Thứ, nhận định, đề tài góp phần khẳng định giá trị tiềm năng của con cá rô đồng đầu vuông Hậu Giang. Là đơn vị tiếp nhận kết quả nghiên cứu của đề tài, Trung tâm sẽ thực hiện tốt quy trình bảo tồn nguồn gien cá rô đồng đầu vuông trong điều kiện nuôi để cùng địa phương bảo tồn và duy trì tốt loại nông sản chủ lực trong thời gian tới, qua đó góp phần phát triển kinh tế địa phương.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ đa dạng sinh học: ​Sự thất bại của các quốc gia      Báo cáo Triển vọng Đa dạng Sinh học toàn cầu lần thứ 5 của Liên Hợp Quốc mới được công bố ngày 15/9 kết luận: thế giới đã không đạt được các mục tiêu đầy tham vọng về bảo vệ thiên nhiên đặt ra cách đây 10 năm. “Đèn cảnh báo đang lóe sáng. Chúng ta phải nhận ra rằng mình đang ở trong tình trạng khẩn cấp toàn hành tinh”, nhà nghiên cứu đa dạng sinh học Andy Purvis tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Anh) tuyên bố.      Nạn phá rừng ở Brazil, chẳng hạn như ở Amazon, đã gia tăng trong những năm gần đây. Ảnh: Reuters.  Báo cáo kết luận, vẫn còn thời gian để ngăn chặn và thậm chí đảo ngược việc mất mát đa dạng sinh học, nhưng điều đó sẽ đòi hỏi những thay đổi nhanh chóng và đáng kể trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp và nhiều hoạt động khác. “Nó cho chúng ta thấy còn rất nhiều việc phải làm nhưng không phải là làm nhiều hơn những gì đã làm mà phải làm tốt hơn những bước chuyển đổi đầy khó khăn”, Lina Barrera, người đứng đầu ban chính sách quốc tế tại Tổ chức Bảo tồn Quốc tế nói. Một trong những chuyển đổi như vậy là đưa những giá trị đa dạng sinh học vào trong các quyết định kinh tế như đầu tư cơ sở hạ tầng hoặc trợ cấp nông trại.   Năm 2010, 196 quốc gia thuộc Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) của Liên Hợp Quốc đã đồng ý với 20 mục tiêu bảo tồn động thực vật gọi là Mục tiêu đa dạng sinh học Aichi. Cứ vài năm một lần, CBD lại đánh giá tiến độ thực hiện từ các báo cáo quốc gia và những nguồn khác. Báo cáo Triển vọng lần này cũng phản ánh các xu hướng được tiết lộ trong “Báo cáo Đánh giá Toàn cầu về Đa dạng sinh học và Dịch vụ Hệ sinh thái” của IPBES do hàng trăm nhà khoa học thực hiện công bố năm ngoái.  Bản đánh giá mới này chỉ ra một số điểm sáng, chẳng hạn ngành thủy sản đang trở nên bền vững hơn tại các quốc gia có chương trình quản lý tốt và các loài xâm lấn đang bị tận diệt trên nhiều hòn đảo. Có lẽ, điều đáng khích lệ nhất là quy mô các khu bảo tồn đã tăng đáng kể lên mức 15% diện tích đất liền và 7% diện tích đại dương. Tuy nhiên, con số trên vẫn còn thấp so với mục tiêu lần lượt là 17% và 10%, và cho đến nay mới chỉ có 2,5% đại dương được bảo vệ ở mức độ cao.   Nhìn chung, các quốc gia cho biết họ đang đi đúng hướng và đạt được trung bình 34% mục tiêu của mình, mặc dù nhiều quốc gia không đặt ra những mục tiêu tham vọng như các mục tiêu Aichi toàn cầu. Các nước đã báo cáo tiến độ trong việc nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học, xây dựng năng lực nghiên cứu và tạo ra những chiến lược bảo vệ các loài.  Nhưng theo báo cáo, điều này vẫn chưa đủ. Chỉ có 6/20 mục tiêu đạt được một phần kết quả, và một số chỉ tiêu thậm chí đang đi sai chiều. Ví dụ, trong khi việc sử dụng thuốc trừ sâu trên toàn cầu ở mức tương đối ổn định thì nhiều quốc gia lại tăng cường sử dụng các hóa chất gây hại cho các loài thụ phấn. Nhìn chung, tiến trình thực hiện bị ảnh hưởng bởi việc tiêu thụ năng lượng và vật liệu ngày càng nhiều cũng như việc tàn phá môi trường sống để xây dựng trang trại, đường xá và đập mới. Bởi vậy, báo cáo cho thấy đa dạng sinh học đang tiếp tục bị mất đi. Nhà sinh thái học Sandra Díaz thuộc Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Argentina và ĐH Quốc gia Córdoba cho biết: “Mọi thứ sẽ không thay đổi nhiều cho đến khi chúng ta giải quyết các vấn đề gốc rễ và điều này khó khăn hơn nhiều”.  Các nhà quan sát hy vọng kết luận này sẽ thúc ép các quốc gia đẩy nhanh tiến độ và đặt ra mục tiêu cao hơn khi họp lại lần nữa vào tháng 5 năm sau để đặt ra các mục tiêu đa dạng sinh học mới cho năm 2030. Barrera nhận xét, bản dự thảo mục tiêu công bố “gần như đang đi đúng hướng”. Một đề xuất trong đó đã kêu gọi bảo vệ tới 30% môi trường sống trên đất liền và biển, tăng đáng kể so với mục tiêu 10% hiện nay. “Đây là điều tham vọng nhưng hoàn toàn cần thiết”. Việc đạt được các mục tiêu tiếp theo sẽ là “mức cược rất cao cho tất cả mọi người, không chỉ với các nhà sinh thái học và các nhà bảo vệ môi trường”, Lubchenco nói. □  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/09/warning-lights-are-flashing-report-finds-nations-failing-protect-biodiversit    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ hơn nữa quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng      Ngày 28/12, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng  Hồ Thị Kim Thoa, Bộ Công thương đã tổ chức Hội nghị sơ kết chương trình  hành động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm đánh giá  tình hình thực hiện năm 2011 và dự thảo kế hoạch, mục đích triển khai  trong năm 2012.     Theo thống kê sơ bộ, số lượng các đợt bán hàng Việt về nông thôn vung sâu vùng xa năm nay đã tăng lên cả về số lượng và quy mô. Theo báo cáo của Sở Công thương 33 tỉnh, thành phố năm 2011, các địa phương đã tổ chức được gần 156 đợt bán hàng về nông thôn với hơn 1.600 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút hơn 655 nghìn lượt người địa phương tới mua sắm, mang lại doanh thu hơn 57 tỷ đồng.   Thị trường trong nước tiếp tục duy trì tăng trưởng bình quân hàng tháng trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước ước đạt hơn 2.000 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2010, là mức tăng khá cao trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn, tiêu dùng sụt giảm. 90% người dân được hỏi ở TP Hồ Chí Minh trả lời đã và đang dùng hàng Việt Nam, con số này ở Hà Nội là 83%.  Theo đánh giá của Bộ Công thương, tuy công tác xúc tiến thương mại trong năm qua – với 22 chương trình diễn ra tại nhiều địa bàn, bao gồm cả nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo có tổng chi phí hơn 20 tỷ – đã đạt những kết quả tích cực, nhưng thực tế tình hình thương mại trong nước vẫn còn rất nhiều khó khăn và tồn tại. Điển hình là tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ diễn biến ngày càng phức tạp và có xu hướng gia tăng về quy mô (số lượng và giá trị hàng vi phạm), lĩnh vực, phương thức sản xuất và hình thức tổ chức tiêu thụ.Vẫn còn những doanh nghiệp lợi dụng khuyến mại để thực hiên hành vi gian lận thương mại, tiêu thụ các mặt hàng tồn, hàng cũ, hàng nhái, sắp hết hạn sử dụng, ảnh hưởng đến lợi ích, lòng tin của người tiêu dùng.  Tính đến thời điểm này, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã kiểm tra hơn 156 nghìn vụ, xử lý hơn 68 nghìn vụ ( trong đó khoảng 10 nghìn vụ buôn bán hàng lậu, hàng cấm; hơn 11 nghìn vụ hàng giả, hàng kém chất lượng, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; hơn 39 nghìn vụ kinh doanh trái phép và vi phạm khác; gần 7.600 vụ vi phạm lĩnh vực giá với tổng số thu khoảng 256 tỷ đồng.  Trong dịp cuối năm và Tết nguyên đán Nhâm Thìn sắp đến, thị trường cần những hoạt động giám sát, kiểm tra sát sao hơn nữa từ các cơ quan chức năng, đặc biệt trong khâu kiểm duyệt vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng.   Nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong năm 2012 vẫn là khắc phục những tồn đọng trong năm 2011, đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động người dân, trong đó trước hết là cán bộ công chức, viên chức ưu tiên dùng hàng Việt. Nhưng để có được lòng tin của người dân đối với hàng Việt thì cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết. Và một điều quan trọng nữa là xử lý kịp thời các vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà sản xuất và người tiêu dùng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắp cải tím có thể giúp tạo màu xanh lam cho ngành thực phẩm      Không quá khó để tạo ra một màu xanh lam từ vật liệu tự nhiên. Chỉ cần lấy một cái bắp cải tím, cắt thành từng miếng nhỏ và nấu lên. Những gì bạn thấy là làn nước màu tía chuyển sang màu xanh lam sáng khi cho thêm ít bột nở (baking powder).      Bọn trẻ thường làm như vậy trong nhiều thập kỷ nhưng các nhà nghiên cứu phải vật lộn để đưa nó hoặc các màu lam từ tự nhiên tương tự thành một thuốc nhuộm màu bền vững – sau đó có thể dùng nó trong các loại kẹo, nước ngọt hay kem yêu thích. Giờ đây một nhóm nghiên cứu cho biết đã tìm ra một cách – và điều chính yếu lại nằm trong chính cây bắp cải khiêm nhường.  Quá khó để tạo màu lam cho thực phẩm   Đó là một kết quả “tiên tiến đầy ý nghĩa”, Mas Subramanian, một nhà hóa học ở trường đại học Oregon, Corvallis, người không tham gia vào nghiên cứu này nhưng ông là người có “duyên nợ” với màu xanh lam. Vào năm 2009, Subramanian đã khám pahs ra một màu xanh lam mới, dẫu nó không thể ăn được mà nó trở thành một màu vẽ cho các nghệ sĩ – thế giới nghệ thuật đã tìm kiếm màu xanh lam như sản phẩm sáng tạo của Subramanian trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên thế giới thực phẩm thì vẫn tiếp tục theo đuổi một nguồn tự nhiên để tạo ra một màu lục lam sáng để “tô màu” cho những cái kem hay kẹo bánh, ông nói.  Màu lam lục cũng là màu cần thiết để tạo ra những màu khác, đặc biệt là xanh lá cây, Rebecca Robbins, nhà khoa học tại Mars Wrigley và là một thành viên của nhóm nghiên cứu may mắn này. “Màu xanh lam được dùng cho nhiều sản phẩm hơn cả nhận biết của người tiêu dùng”.  Ngành công nghiệp thực phẩm thường phụ thuộc vào hai màu tổng hợp để tạo ra kẹo, ngũ cốc và nước uống màu xanh lam: đó là màu “lam sáng” hay còn gọi là E131, và indigotine E132. Dẫu các màu này phát huy được tác dụng nhưng “người tiêu dùng đang thúc đẩy loại bỏ các thành phần tổng hợp khỏi thực phẩm”, Pamela Denish, một nhà lý sinh tại trường California, Davis, cho biết.  Thay thế các màu hiện có với các màu tự nhiên vô cùng khó khăn. Đó là vì chỉ có một số ít màu xanh lam trong tự nhiên. Các anthocyanin – hợp chất màu hữu cơ tự nhiên tan trong nước lớn nhất trong giới thực vật, bao gồm cả trong bắp cải tím, có thể tạo ra được màu xanh lam. Nhưng chúng lại không bền và chúng có nhiều sắc thái tía, Denish cho biết. Màu tía trở thành một vấn đề khi trộn với màu vàng để tạo ra màu xanh lá cây. “Tía cộng với vàng thành màu nâu, vì vậy anh không thể có được màu xanh lá cây sáng”, cô nhận xét. Đó là vấn đề của xanh lam spirulina, một màu thô tách ra từ tảo spirulina đã được chứng minh ở Mĩ là có thể đưa vào nhuộm màu một số thực phẩm.  Trở ngại cho bất kỳ màu xanh nào cũng là quá lớn, theo Erick Leite Bastos, nhà hóa học tại trường đại học São Paulo, São Paulo, cũng đang tập trung phát triển một màu lam dẫn xuất từ cây củ cải đường. Trên hết là tự nhiên, màu xanh lam hoàn hảo phải dễ dàng trong sử dụng, an toàn để ăn, rẻ để sản xuất – và “phải có một màu mà mọi người đều yêu thích”, ông nói.  Vẫn còn nhiều thách thức     Trong nghiên cứu mới, Denish và đồng nghiệp cố gắng để các anthocyanin giữ được màu lam thực sự của chúng. Các màu trong bắp cải tím là một hỗn hợp giữa nhiều phân tử khác nhau và các nhà nghiên cứu cô đặc nó thành một chất đầy hứa hẹn mà họ gọi là P2. Việc trộn phân tử này với các ion nhôm dẫn đến một phức hợp gồm ba phân tử P2 sắp hàng quanh một ion nhôm như các nan hoa trên bánh xe. Phức hợp này là một màu lam rất mạnh và rất bền.  Nhưng đó mới chỉ giải quyết được một phần vấn đề. Chỉ có 5% các anthocyanin trong bắp cải tím chứa P2, điều đó khiến quá trình này trở nên vô cùng thiếu hiệu quả. Tìm kiếm thông qua các cơ sở dữ liệu của các enzyme, các nhà khoa học phải tìm thêm một nguyên liệu khác – từ vi khuẩn – có thể giúp chuyển đổi thêm một số anthocyanin khác thành P2. Và đột biến enzyme này làm tăng thêm tính hiệu quả của nó. Giờ đây một nửa các anthocyanin trong bắp cải tím được chuyển thành các phân tử P2 màu xanh lam. Nhóm nghiên cứu đã nêu trong bài báo của mình trên Science Advances. “Tất cả những nguyên liệu đó đã được làm sạch khỏi sản phẩm cuối cùng”, Denish nói. “Vì vậy về thực tế thì không còn bất kỳ vi khuẩn hay enzyme nào có trong màu xanh này”.  Màu xanh lam ứng viên này vẫn còn đối mặt với nhiều rào cản trước khi được công nhận đủ an toàn dùng trong thực phẩm. Thứ nhất, việc tạo ra nó cần nhiều nỗ lực: với các enzyme đột biến, các nhà nghiên cứu chỉ có thể chiết xuất được 75 milligram màu xanh lam từ 100 gram bắp cải tím. Và Bastos lưu ý, “Vẫn còn phải xác định là liệu các kim loại trộn lẫn trong đó có an toàn cho người sử dụng hay không”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/04/pigment-red-cabbage-could-help-turn-your-favorite-foods-blue  https://www.technologynetworks.com/tn/news/natural-blue-food-coloring-discovered-347461       Author                Quản trị        
__label__tiasang Barbara Rae-venter: Thám tử DNA      Một nhà phả hệ học đã giúp các nhà điều tra xác định danh tính một kẻ giết người hàng loạt và mở rộng vai trò của DNA trong việc điều tra tội phạm.      Barbara Rae-Venter đã giúp cảnh sát xác định tội phạm thông qua phả hệ di truyền. Nguồn: Latest Stories – National Geographic  Vào tháng 2/2017, Barbara Rae-Venter nhận được một cuộc gọi từ một điều tra viên nhờ cô giúp đỡ trong quá trình điều tra một vụ án hình sự. “Tôi đã trả lời là ‘chắc chắn rồi’”, Rae-Venter, một luật sư về sở hữu trí tuệ đã nghỉ hưu ở phía bắc California cho biết. Khi đó, bà không biết rằng mình vừa nhận lời tham gia vào cuộc truy bắt một trong những kẻ giết người hàng loạt và hiếp dâm khét tiếng nhất lịch sử nước Mỹ. Công việc của Rae-Venter không chỉ hỗ trợ việc bắt giữ tên sát nhân mà còn chứng minh một phương pháp hiệu quả nhưng gây tranh cãi – xác định tội phạm thông qua phả hệ di truyền.  “Bà ấy đã mở ra cánh cửa cho những người từng muốn làm điều này, nhưng vẫn còn e ngại”, CeCe Moore, người đứng đầu đơn vị phả hệ pháp lý ở công ty Parabon Nanolabs ở Reston, Virginia, cho biết.  Rae-Venter đã được đào tạo về ngành phả hệ di truyền – sử dụng DNA trong cây phả hệ gia đình – để tìm hiểu về tổ tiên của gia đình bà. Sau đó, bà đã sử dụng những công cụ này để hỗ trợ người khác, chẳng hạn như những người được nhận nuôi từ khi còn nhỏ. Điều này đã thu hút sự chú ý của Paul Holes, một điều tra viên của văn phòng luật sư quận Contra Costa ở California.  Holes đang theo dõi dấu vết của một kẻ đã gây ra nỗi khiếp sợ cho California suốt những năm 1970 và 1980. Hắn đã thực hiện 12 vụ giết người, 45 vụ hãm hiếp và 120 vụ trộm – rất khó để bắt được hung thủ, kẻ được biết đến với những cái tên như Kẻ hiếp dâm miền Đông, Kẻ rình mò trong đêm hoặc Sát nhân bang Cali. Holes suy luận rằng nếu Rae-Venter có thể chắp nối lại nguồn gốc họ hàng của kẻ giết người, việc tìm ra danh tính của hung thủ sẽ dễ dàng hơn.  Rae-Venter đã tải lên một hồ sơ được tạo ra từ DNA ở hiện trường vụ án vào GEDmatch, một cơ sở dữ liệu công khai được các nhà phả hệ học sử dụng. Mặc dù không lớn như các website phả hệ thương mại, các điều khoản dịch vụ của GEDmatch không ngăn cấm tuyệt đối hoạt động tìm kiếm thông tin của cơ quan thực thi pháp luật.  Ngay lập tức, bà đã tìm thấy một người có vẻ là anh em họ thứ ba hoặc thứ tư của hung thủ. Với sự trợ giúp của FBI và các cơ quan luật pháp địa phương, Rae-Venter đã sử dụng phương pháp tam giác đạc tổ tiên chung (kiểm tra và so sánh các nhóm bằng chứng khác nhau về nhiễm sắc thể Y) và sau đó xây dựng cây phả hệ. Cuối cùng, bà đã chú ý đến Joseph DeAngelo, một cựu sĩ quan cảnh sát sống ở Sacramento. Một xét nghiệm DNA ngay sau đó đã chứng minh suy đoán của bà là hoàn toàn chính xác.  Nhiều người trong cộng đồng phả hệ biết rằng đây là phương pháp khả thi, nhưng hiện vẫn đang có những cuộc tranh luận rằng điều này có bị coi là xâm phậm quyền riêng tư hay không. Moore cho biết, trước đây có những nơi từng nhờ bà giúp đỡ theo cách tiếp cận này, nhưng bà đã từ chối do đây vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi và phần lớn người dùng GEDmatch không nghĩ rằng đây là phương pháp khả thi. Khi vụ bắt giữ DeAngelo được nhiều người biết đến, mọi thứ đã thay đổi: Cộng đồng nghiên cứu phả hệ nói chung, đã chấp nhận việc sử dụng dữ liệu này, ít nhất là trong tìm kiếm những tội phạm nguy hiểm.  Curtis Roger, nhà đồng sáng lập GEDmatch, đã sửa đổi các quy tắc của cơ sở dữ liệu để làm rõ hơn rằng các cơ quan thực thi pháp luật có thể sử dụng các thông tin này. Ông cho biết vẫn chưa thấy có sự thay đổi đáng kế trên website này.  Cánh cửa giờ đã rộng mở cho những điều tra tương tự. Dưới sự chỉ đạo của Moore, Parabon Nanolabs đã tải lên 200 hồ sơ thủ phạm lên GEDmatch, giúp xác định được ít nhất là 22 thủ phạm và thực hiện được nhiều vụ bắt giữ.  Rae-Venter cho biết đã có hơn 70 trường hợp đến gặp bà để tìm kiếm sự giúp đỡ. Mặc dù là người kín đáo và tôn trọng sự riêng tư, bà vẫn hào hứng muốn tham gia nhiều hơn. Rốt cuộc, công việc mới của bà dường như diễn ra cả ở trong gia đình. Trong một nghiên cứu riêng của mình, bà đã xác định được một họ hàng của mình từng là thanh tra thám tử ở Sở Cảnh sát Thủ đô London trong thời điểm tên sát nhân nổi tiếng Jack Đồ tể (Jack the Ripper) còn hoạt động. Bà cho biết: “Tôi rất muốn tìm hiểu những vụ án mà ông ấy đã điều tra”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bất bình đẳng kinh tế làm giảm hạnh phúc của người cao tuổi?      Một nghiên cứu liên ngành kinh tế học, xã hội học và tâm lý học đã cho thấy bất bình đẳng xã hội đang làm giảm hạnh phúc người cao tuổi ở Việt Nam, đặc biệt là ở các nhóm nghèo và nông dân và đề xuất điều chỉnh các chính sách để hỗ trợ cho các nhóm này.      Người cao tuổi nhận chi trả bảo hiểm  “Bất bình đẳng kinh tế liệu có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam?” là một nghiên cứu liên ngành giữa kinh tế học, xã hội học và tâm lý học của nhóm tác giả TS Trần Quang Tuyến (Đại học Quốc gia Hà Nội), TS. Nguyễn Việt Cường (Đại học Kinh tế Quốc dân và Viện Nghiên cứu phát triển Mekong) và TS. Vũ Văn Hưởng (Học viện Tài chính) đã tiến hành trong hai năm qua. Kết quả nghiên cứu được công bố trong tháng 1/ 2017 trên tạp chí Nghiên cứu Hạnh Phúc (Journal of Happiness Studies)[1].  Phần lớn các bằng chứng thực nghiệm cho thấy bất bình đẳng về mức sống có tác động tiêu cực tới mức độ người dân hài lòng về cuộc sống, do các ngoại ứng xã hội tiêu cực như sự căng thẳng, mất gắn kết xã hội, gia tăng tội phạm và các bệnh thần kinh… Bất bình đẳng cũng hàm ý có nhiều rủi ro về mức sống có thể xảy ra với mọi người. Trong một số rất ít trường hợp, bất bình đẳng có tác động tích cực nếu người dân nhìn đó như một cơ hội tốt để dịch chuyển xã hội (social mobility: thay đổi thu nhập, công việc, địa vị). Người dân cảm thấy hài lòng với bất bình đẳng bởi họ nghĩ rằng họ có sẽ có thể cải thiện mức sống trong tương lai khi thấy những người xung quanh mình trở nên giàu có hơn.  Nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu từ Cuộc Điều Tra Người Cao Tuổi Việt Nam và Cuộc Tổng Điều Tra Nông-Lâm-Thủy Sản năm 2011 (Tổng cục Thống kê tiến hành) để tiến hành một nghiên cứu về mối liên hệ giữa bất bình đẳng (đo bằng mức chi tiêu tiêu dùng đầu người) và mức độ hài lòng cuộc sống hay hạnh phúc ở người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam. Kết quả phân tích hồi quy từ nghiên cứu này cho thấy rằng tính trung bình, những người cao tuổi ở các xã có mức độ bất bình đẳng cao có xu hướng tự đánh giá mức hài lòng cuộc sống thấp hơn. Mối tương quan này rất có ý nghĩa thống kê ngay cả khi mô hình phân tích đã kiểm soát nhiều đặc điểm cá nhân và hộ gia đình như giáo dục, thu nhập, tôn giáo, quân hệ xã hội, sức khỏe…. Điều đó cho thấy rằng bất bình đẳng có tác động tiêu cực tới chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam.  Kết quả phân tích hồi quy cũng cho thấy, tác động của bất bình đẳng tới chất lượng sống của người cao tuổi mạnh hơn đối với các nhóm nghèo hoặc nông dân. Mặt khác, nghiên cứu cũng cung cấp thêm các bằng chứng cho thấy rằng người dân nông thôn Việt Nam có mức độ dịch chuyển xã hội kém.  Các phát hiện nghiên cứu có hàm ý chính sách rằng các chính sách hỗ trợ người cao tuổi nên tập trung cho người nghèo và nông dân bởi chất lượng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình trạng bất bình đẳng.  ————  [1] Một tạp chí quốc tế ISI uy tín xuất bản bởi nhà xuất bản Springer Netherlands, xếp hạng Q1 (top 25%) trong cả danh mục ISI theo phân ngành khoa học xã hội liên ngành (Social Sciences, Interdisciplinary) và Scimago-Scopus về khoa học xã hội (Social Sciences). Bạn đọc có thể đọc toàn văn công bố tại: http://link.springer.com/article/10.1007/s10902-017-9851-4    Author                T.Q        
__label__tiasang Bất ngờ với công nghệ NCSs của đường (ăn) không ly tâm      Một loại đường từng có thị trường xuất khẩu từ năm 1700- chẳng bao lâu sau khi người Hà Lan đưa cà phê vào Châu Âu- sẽ sống lại, theo nhiều nhà nghiên cứu.      Trong khi toàn bộ hệ thống chế biến đường công nghiệp của Việt Nam gắn bó với công nghệ làm đường RE, RS thì trong khuôn khổ hoạt động tổng kết niên vụ 2012-2013 của Hiệp hội mía đường Việt Nam( vừa kết thúc vào 27-7), công nghệ khác, Non-Centrifugal Sugar ( NCS)- đường không ly tâm (do FAO định nghĩa)- được đề cập như một hướng đa dạng hóa sản phẩm ngành mía đường được quan tâm và khiến hội nghị hết sức bất ngờ..   Trong ý kiến nêu vấn đề về triển vọng đa dạng hóa sản phẩm đường của ông NguyễnVăn Lộc, phó chủ tịch Hiệp hội mía –đường Việt Nam, NCSs tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau, như Panela, Chancaca & Piloncillo ( Châu Mỹ La-tinh), Prapadura ( Brazil) Jaggery( các nước Nam Á), Kokuto ( Nhật). Công nghệ NCS gợi nhớ quy trình chế biến đường tán, đường thùng, đường cát vàng… tại các lò đường thủ công ở ĐBSCL, đã phải lụi tàn khi 40 nhà máy đường cát dùng công nghệ ly tâm đi vào hoạt động.   Xu hướng phát triển mới nhất của ngành đường thế giới, NCSs được đưa vào sản xuất công nghiệp, đã được công nhận chính thức trong các quy tắc Hải quan về giao dịch thương mại thế giới, ông Lộc nói thêm.  46 công bố khoa học cho thấy NCSs có tính miễn dịch ( 26%), chống tình trạng mục xương ( 15%), chống độc tính và bảo vệ tế bào ( 22%), tránh được bệnh đái tháo đường và huyếp áp cao (11%)… Một số ảnh hưởng được tìm thấy sự hiện diện của Fe, Cr và ảnh hưởng chống oxy hóa.- Theo Walter R Jaffé- Sugar Tech ( 4-6 2012).  Tuy nằm ngoài danh mục thực phẩm chức năng nhưng với những giá trị bổ dưỡng, tính chất vượt trội của sản phẩm tự nhiên, gốc hữu cơ hết sức có ý nghĩa đối với thị trường và mở ra cơ hội hồi sinh cho NCSs.   Những năm 80 thế kỷ trước, Nhật Bản đã nghiên cứu ảnh hưởng của NCS đối với sức khỏe khi một số công ty, trường đại học  và cơ quan nghiên cứu thuộc Chính phủ phát hiện những ảnh hưởng về sinh lý của kokuto- một loại NCS từ Okinawa. Được công nhận nhờ các giá trị nổi bật về dinh dưỡng so với đường ly tâm, phù hợp với mối quan tâm về sức khỏe ngày càng tăng của cộng đồng tiêu dùng, nhiều nước đang tiếp tục nghiên cứu NCSs theo hướng khẳng định giá trị của nó đối với sức khỏe con người.  Tại Ấn Độ, Colombia, NCS chiếm tỷ trọng 30-40% mía chế biến và đang tăng trưởng  3,71% trong năm 2011 tại Châu Mỹ La Tinh. Giá bán tại Châu Mỹ La -tinh: trên 1000 USD/ tấn. Hiện nay Nhật có nhu cầu rất lớn về NCS. Tuy nhiên, theo ông Lộc, cần có những nỗ lực về sản xuất và nghiên cứu chặt chẽ để đưa sản phẩm này trở lại thị trường.  Tại đồng bằng sông Cửu Long, một thương hiệu nổi tiếng là “đường thốt nốt Thảo Hương” của An Giang theo NCSs đã phát triển nhanh và hiện bán tốt ở TPHCM, cả một số tỉnh miền Bắc…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bẫy bất bình đẳng      Ngay cả ở Mỹ, nơi tưởng như giấc mơ bình đẳng đã thành hiện thực thì xu hướng giữ nguyên địa vị kinh tế xã hội giữa các thế hệ rất dai dẳng. Phải mất đến 5 thế hệ để một gia đình có mức thu nhập bằng nửa mức thu nhập trung bình của quốc gia vươn lên được mức đó.    Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2006 của Ngân hàng Thế giới với nhan đề “Công bằng và phát triển” đưa ra một so sánh:        Trong khi cứ 1.000 đứa trẻ sinh ra ở Mỹ thì có 7 trẻ chết trước khi đầy năm thì cứ 1.000 trẻ Mali ra đời có đến 126 trẻ chết trước khi tròn một tuổi. Những đứa trẻ còn sống phải đối mặt với nguy cơ thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng hơn nhiều so với các bạn chúng ở các nước giàu.          Nthabiseng, một bé gái da đen, chào đời trong một gia đình nghèo ở vùng nông thôn thuộc tỉnh Đông Cape, Nam Phi. Nguy cơ tử vong trước khi tròn một tuổi của em là 7,2% và nếu sống sót rất nhiều khả năng em bị suy dinh dưỡng. Trong cả cuộc đời, thời gian đi học của Nthabiseng chưa tới một năm, lớn lên em sẽ không được dùng nước sạch và tuổi thọ trung bình tối đa là 50 tuổi.  Trong khi đó, bé trai Pieter da trắng sinh ra trong một gia đình giàu có ở Cape town và mẹ em đã tốt nghiệp cao đẳng của một trường đại học uy tín. Nguy cơ tử vong trước một tuổi của Pieter chỉ có 3%, em sẽ được học hết 12 năm phổ thông và có tuổi thọ trung bình là 68.  Nhưng nếu so sánh với bé trai Sven sinh ra trong một gia đình trung lưu ở Thụy Điển thì sự chênh lệch lớn hơn nhiều. Sven hầu như không có khả năng tử vong trước khi tròn một tuổi (0,3%) và tuổi thọ trung bình là 80. Em sẽ được học hết bậc phổ thông với chất lượng giáo dục tốt hơn nhiều: Sven đạt điểm kiểm tra toán tương đương quốc tế là 500 trong khi Nthabiseng không có điểm số đó vì không thể tham dự kỳ kiểm tra.  Cơ hội của Nthabiseng, Pieter và Sven trong việc mưu cầu cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ không giống nhau: Nthabiseng có rất ít cơ hội vươn lên. Sự khác biệt về cơ hội này lại xuất phát từ các yếu tố về màu da, giới tính, nhóm xã hội, nơi sinh, nghề nghiệp, học vấn của cha mẹ – các yếu tố được định trước và không thể thay đổi. Đó là bất bình đẳng về cơ hội.        Ở Braxin, bốn yếu tố định sẵn là màu da, nơi sinh, học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ đóng góp vào khoảng ¼ sự chênh lệch về lương giữa những người lao động. Tức là nếu có da trắng, sinh ra ở đô thị lớn, cha mẹ học đại học thì những đứa trẻ này tương lai sẽ có thu nhập tăng thêm 25% so với những đứa trẻ da màu, sinh ra ở vùng nông thôn hoặc miền núi, bố mẹ không được đi học chính thức, nghề nghiệp không ổn định.        Bất bình đẳng về cơ hội là nguy cơ dẫn đến sự lãng phí tiềm năng con người và có thể làm giảm mức phát triển. Đôi khi một số đứa trẻ có năng lực tốt không có điều kiện học hết tiểu học nhưng nhiều đứa trẻ khác năng lực kém hơn lại tốt nghiệp đại học. Bất bình đẳng về cơ hội cũng gây ảnh hưởng xấu đến các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội đang có. Nếu tất cả các cá nhân có cơ hội như nhau để phát triển thì sẽ có ảnh hưởng tích cực đến xã hội, kinh tế, chính trị. Vậy tại sao bất bình đẳng về cơ hội vẫn tồn tại dai dẳng? Tại sao những bất bình đẳng đó cứ tái diễn mãi?  Câu trả lời ngắn gọn là hệ thống chính trị không phải lúc nào cũng coi trọng các cá nhân như nhau. Chính sách và thể chế không sinh ra từ một nhà lập kế hoạch xã hội tốt bụng, người mong muốn tối đa hóa giá trị hiện tại của phúc lợi xã hội. Chúng là kết quả của quá trình kinh tế chính trị trong đó các nhóm khác nhau tìm cách bảo vệ lợi ích của chính mình.  Do đó, bất bình đẳng về cơ hội tiếp tục truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Con cái nhà nghèo và địa vị thấp kém được hưởng ít hơn cơ hội về giáo dục, y tế, thu nhập và địa vị. Thậm chí ngay cả ở Mỹ, nơi tưởng như là giấc mơ bình đẳng đã thành hiện thực thì xu hướng giữ nguyên địa vị kinh tế xã hội giữa các thế hệ rất dai dẳng. Phải mất đến 5 thế hệ để một gia đình có mức thu nhập bằng nửa mức thu nhập trung bình của quốc gia vươn lên được mức đó.  Trên phạm vi toàn cầu, các nước phát triển không có hoặc có rất ít tiếng nói trong công tác quản lý và điều hành toàn cầu. Kết quả là các quy chế đặt ra trở nên không phù hợp hoặc quá thiệt thòi cho các nước nghèo.  Tất cả những hiện tượng trên đều có xu hướng tự tái diễn qua thời gian và Báo cáo Phát triển Thế giới 2006 gọi đó là “cái bẫy bất bình đẳng”.        Sự thịnh vượng chung của thế giới đã không đến được với ít nhất là 2,5 tỷ người – những người đang sống dưới mức 2 USD/ngày        Cái bẫy bất bình đẳng này rất khó phá vỡ vì chúng gắn chặt vào cuộc sống hàng ngày, khiến người nghèo rất khó tìm được cách thoát nghèo. Vì thế bẫy bất bình đẳng có thể khá ổn định và có xu hướng tồn tại dai dẳng qua nhiều thế hệ.   Nếu bất bình đẳng ảnh hưởng đến quá trình phát triển thì Nhà nước cần phải có vai trò quan trọng trong việc mở rộng các cơ hội cho người nghèo. Nhà nước cần tạo ra các cơ hội kinh tế, nâng cao vị thế chính trị và phân phối của cải công bằng. Điều mà dân nghèo cần là chính sách có thể giúp họ thoát khỏi cái bẫy bất bình đẳng để hướng tới một tương lai sáng lạn hơn.   P.V.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảy bức họa của da Vinci: Lạc vào thế giới vi khuẩn và nấm      Vẻ đẹp của một kiệt tác có thể là vĩnh cửu nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không bị tác động theo thời gian của bụi, nấm, vi khuẩn, DNA của người, ngay cả các bức họa nổi tiếng của Leonardo da Vinci 500 năm trước.      Họa sĩ Leonardo da Vinci. Nguồn: wire  Như những nhà sử học lừng danh từng ghi lại, bên cạnh các kiệt tác hội họa, Leonardo da Vinci đã phát minh ra nhiều thứ kỳ lạ. Từ kỹ thuật đến phẫu thuật, bậc thầy thời Phục hưng này đã bước đi trên con đường của nhiều ngành khoa học với những giấc mơ về một chiếc máy bay trực thăng, bộ quần áo thợ lặn và súng thần công 33 nòng. Nhưng dù óc tưởng tượng phong phú đến đâu thì có thể là ông không nghĩ đến một ngày, người đời sau sẽ phát hiện ra một bí mật của mình: nửa thiên niên kỷ sau cái chết của ông, các nhà khoa học đã giải trình tự DNA bị phân tán trên bảy bức họa của ông trong nhiều năm qua. Nhờ vậy họ có thể vẽ ra một cách đầy đủ hệ vi khuẩn và nấm, những thứ có thể kể lại nhiều câu chuyện hấp dẫn về lịch sử tồn tại của những tác phẩm vô giá này.    Đó là kết quả rút ra từ công trình nghiên cứu liên ngành với sự tham gia của các nhà di truyền học, nhà giám tuyển và tin sinh học từ trường Đại học Các nguồn tự nhiên và Khoa học sự sống, trường Đại học Khoa học ứng dụng Viên ở Áo cũng như Viện Nghiên cứu về Các kho lưu trữ và bệnh lý của sách Trung ương (ICPAL) ở Italy. Họ cùng hợp tác nghiên cứu về hệ vi khuẩn của bảy bức họa khác nhau của Leonardo Da Vinci và kết quả là xuất bản bài báo “The Microbiome of Leonardo da Vinci’s Drawings: A Bio-Archive of Their History” (Hệ vi khuẩn trên các bức họa  của Leonardo da Vinci: Một kho lưu trữ sinh học của lịch sử những bức họa) trên tạp chí Frontiers in Microbiology.      Nửa thiên niên kỷ sau cái chết của da Vinci, các nhà khoa học đã giải trình tự DNA bị phân tán trên bảy bức họa của ông. Nhờ vậy họ có thể vẽ ra một cách đầy đủ hệ vi khuẩn và nấm, những thứ có thể kể lại nhiều câu chuyện hấp dẫn về lịch sử tồn tại của những tác phẩm vô giá này.      Một cách tiếp cận mới     Việc nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật từ góc độ sinh học phân tử đã được biết đến như một cách tiếp cận đáng tin cậy. Với sự hỗ trợ của các công cụ giải trình tự gene ngày một tiên tiến và các kỹ thuật phân tích không xâm lấn, các nhà nghiên cứu sinh học đã “chạm” vào những tác phẩm nghệ thuật theo cách riêng của mình: tìm hiểu thế giới của vi khuẩn, nấm và DNA đang đường hoàng tồn tại trên lớp bề mặt các tác phẩm, dù các nhà bảo tồn có biết đến mình hay không. Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là “The York Gospels: a 1000-year biological palimpsest” (Cuốn sách York Gospels: Một bản viết tay trên giấy da cừu 1000 năm tuổi về mặt sinh học) trên Royal Society Open Science vào năm 2017, đem lại những hiểu biết mới về việc lựa chọn chất liệu làm sách cấu trúc của bộ sách và lịch sử đọc sách.    Tiến sĩ Piñar, nhà vi trùng học và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu về bảy bức họa của Leonardo da Vinci, từng thực hiện một số nghiên cứu trước đó bằng cách tiếp cận liên ngành này. Vào năm 2019, nhóm nghiên cứu của chị đã kể một câu chuyện du hành qua thời gian của những bức tượng bằng đá cẩm thạch châu Á với di chuyển về mặt địa lý bí mật và điều kiện cất giấu của những kẻ buôn lậu tượng và đầu năm nay là giải mã thông tin sinh học chứa trong hai cuốn sách chép tay trên giấy da cừu bằng tiếng Slav thế kỷ 11 để tìm ra nguồn gốc động vật của sách.    Để khám phá ra những thông tin thú vị này, tiến sĩ Piñar và nhóm nghiên cứu đã có được một “trợ lý” đắc lực, đó là Nanopore, một thiết giải trình tự gene thuộc thế hệ thứ ba do các nhà khoa học Oxford phát triển, có phạm vi ứng dụng rộng rãi từ phòng thí nghiệm sinh học đến kiểm tra an toàn thực phẩm, chấn đoán bệnh tật… Tiến sĩ Piñar cho biết, ưu điểm của nó là cần số lượng chất thử và hóa chất ít hơn nhiều so với những thiết bị thế hệ trước và nó lại đủ nhỏ gọn để thậm chí nằm gọn trong túi áo. “Vì vậy về mặt lý thuyết, anh có thể mang nó đi khắp nơi và giải trình tự gene tại chỗ – hãy hình dung là anh có thể giải trình tự gene ngay trong các bảo tàng hoặc kho lưu trữ,” Piñar nói. “Trong những nghiên cứu về môi trường khác, anh cần phải đến tận nơi và mang về phòng thí nghiệm hàng cân đất đá hoặc hàng lít nước. còn chúng tôi thì không phải lấy mẫu.” Bộ giải trình tự này đủ nhạy để các nhà nghiên cứu có thể nhận diện được một dãy vi khuẩn với số lượng lớn và sau đó, họ có thể chiết xuất ra thông tin về vòng đời của chúng dựa trên nguồn gốc của chúng.       Các bức họa được nghiên cứu trong công trình này. Nguồn: Piñar et al   Nhờ vậy, tiến sĩ Piñar và cộng sự đã được Viện nghiên cứu về Các kho lưu trữ và bệnh lý của sách (Ý), Bộ Di sản, các hoạt động văn hóa và du lịch Ý tài trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu về tranh của Leonardo da Vinci, không chỉ để có được những câu chuyện còn chưa biết về lịch sử ra đời của các kiệt tác nghệ thuật mà còn tạo điều kiện cho các nhà bảo tồn nghệ thuật có được thời gian và nguồn lực những phương thức mới để bảo vệ chúng trước tác động của thời gian.    Khi thực hiện dự án, các nhà khoa học tại Ý và Áo đã được phép mượn năm bức vẽ của da Vinci từ Thư viện Hoàng gia ở Turin và hai bức ở Thư viện Corsinian ở Rome để nghiên cứu, bao gồm Autoritratto (Chân dung tự họa), Nudi per la battaglia di Anghiari (Trận chiến Anghiari) Studi delle gambe anteriori di un cavallo (Phác thảo chân trước của ngựa), Studi di insetti (Phác thảo nghiên cứu côn trùng), Studi di gambe virili (Phác thảo chân), Figura presso il fuoco (Chân dung người đàn ông bằng chì đỏ), Uomo della Bitta và Studio di panneggio per una figura inginocchiata.     Những phát hiện thú vị     Những gì mà các nhà nghiên cứu tìm ra nằm ngoài dự đoán của mọi người, nếu không nói là khiến các nhà bảo tồn và người yêu nghệ thuật cảm thấy lo ngại. Tuy không có dấu hiệu có thể thấy về sự phá hủy dưới hình thức những vết “đốm” – một dạng đốm nâu do phân giải màu sắc trên các tấm toan bị lão hóa nhưng thật đáng ngạc nhiên, “cho thấy có sự nổi trội của các vi khuẩn trước nấm mốc,” bất chấp những nghiên cứu trước đó đã chỉ ra nấm đã xuất hiện đáng kể trên các bề mặt tranh. Họ quan sát thấy vi khuẩn là “thuộc dạng vi sinh vật trên người do việc chạm tay vào những bức vẽ trong quá trình bảo tồn tác phẩm”. Piñar kể. “Vì khi anh chạm vào tranh, anh sẽ để lại vi sinh vật trên da của mình tại đó”.      Piñar và cộng sự có thể bắt đầu xây dựng một dạng cơ sở dữ liệu về các vi sinh vật được lấy mẫu từ các kiệt tác. Chị mong muốn dữ liệu vi sinh vật có thể đóng vai trò như một biện pháp kiểm soát trước và sau các quá trình vận chuyển, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật.      Mọi người có thể nghĩ rằng: điều đó có nghĩa là chúng ta đã biết những gì có trên tay của da Vinci khi ông vẽ các kiệt tác này? Thật đáng buồn là đã rất nhiều bàn tay chạm vào những bức họa đó, có quá nhiều người làm như vậy trong vòng năm thế kỷ kể từ khi họa sĩ bậc thầy phác thảo chúng. Cho dù về mặt kỹ thuật thì một trong những hành động đó có thể là chính bản thân họa sĩ da Vinci, nhưng theo quan điểm của Piñar, cũng không chắc điều này lắm vì không có được DNA từ da Vinci trong bất kỳ cơ sở dữ liệu sinh học nào để đối chứng.    Giữa các loài vi khuẩn liên quan đến người này, các nhà nghiên cứu tìm thấy chi Moraxella, cụ thể là Moraxella osloensis, một loại vi khuẩn hiếu khí là nguyên nhân dẫn đến mùi hôi của những xưởng giặt là thiếu vệ sinh; loài Salmonella và E. coli., vốn thường dẫn đến sự “khó ở” của đường ruột; những loài vi khuẩn đặc biệt vẫn thường xuất hiện trên những con ruồi thông thường và ruồi giấm – điều đó có nghĩa là không chỉ con người chạm ‘móng vuốt’ vào tác phẩm của họa sĩ bậc thầy mà còn cả “côn trùng và chất thải của chúng”, ít nhất cho đến lúc các nhà bảo tồn đặt tranh vào những chỗ bảo quản đủ tiêu chuẩn hoặc giữa những khuôn kính trưng bày với những điều kiện nhiệt độ và độ ẩm hoàn hảo. “Vì trong điều kiện ngày nay thì côn trùng không có cách nào để chui vào đó và gây hại lên đó,” Piñar giải thích. “Không thể. Vì vậy anh phải nghĩ là những dấu vết đó chỉ xuất hiện vào những thời điểm khi các bức họa chưa được bảo quản như hiện nay”.      Nhiều loại vi khuẩn và nấm đã được tìm thấy trên tranh của da Vinci. Nguồn: Piñar et al  Sự lép vế của nấm so với vi khuẩn khiến người ta ngỡ ngàng vì lâu nay, ai cũng cho rằng cộng đồng nấm thường sống thoải mái trên những vật liệu như giấy, toan vẽ… Tuy ít nhưng Piñar và cộng sự của mình cũng tìm thấy sự hiện diện của chúng: Aspergillus, một loại nấm mốc nguy hiểm cho một số người nếu hít phải, và cả loài của Penicillium, một chi nấm đem lại chất kháng sinh penicillin cho chúng ta. Điều làm giới bảo tồn lo ngại nhất là kết quả phân tích cho thấy, Alternaria, một chi của nấm Ascomycota chuyên gây bệnh trên thực vật và dẫn đến dị ứng phổ biến ở người, đôi khi dẫn đến hen suyễn.    Các nhà nghiên cứu cũng thấy sự tồn tại của loại nấm liên quan đến các vết ố của giấy theo thời gian. Khi có thêm kết quả phân tích DNA, họ kiểm tra bề mặt của các bức họa với một kính hiển vi điện tử và thấy những lớp bao phủ bằng những tinh thể canxi oxalat do nấm này tạo ra. “Vì vậy anh có thể luận ra là chúng tôi đã kết hợp những phân tích trên kính hiển vi điện tử SEM và phân tích sinh học phân tử để thực hiện nghiên cứu này”, Piñar nói.    Người ta thường bảo quản các tác phẩm nghệ thuật trong những điều kiện ngặt nghèo để hạn chế sự phát triển của nấm nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không thể quay trở lại. Piñar cho biết “Do đó, thông điệp quan trọng nhất là nhận diện được nguy hiểm từ vi sinh vật có thể xảy ra để có được những điều kiện môi trường theo cách không thể cho phép sự phát triển của các vi sinh vật, trong trường hợp này là các tham số môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí”.    Xem xét toàn thể các bức họa, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra những nét tương đồng thú vị giữa các vi sinh vật sống trên đó. “Chúng tôi có thể thấy một cách rõ ràng các vi sinh vật này tạo thành nhóm theo… vị trí địa lý”, Piñar nhận xét. “Nhờ vậy chúng tôi có thể tìm thấy nhiều sự tương đồng hơn giữa những bức họa ở Turin cũng như giữa hai bức ở Rome – vì trên thực tế có sự ảnh hưởng nhất định về mặt địa lý hoặc trong những điều kiện bảo quản ở hai địa điểm này”.    Bước tiếp theo, Piñar và nhóm nghiên cứu của chị có thể bắt đầu xây dựng một dạng cơ sở dữ liệu về các vi sinh vật được lấy mẫu từ các kiệt tác, so sánh với các cộng đồng vi khuẩn và nấm giữa các tác phẩm trong những bộ sưu tập hiện có và những nguồn khác. Họ có thể khám khá về các vật liệu khác như canvas và giấy, đẩy mạnh hoặc loại bỏ các loài vi khuẩn khác nhau. Và để bảo tồn các báu vật này, các nhà bảo tồn có thể phải xét nghiệm cả các vi sinh vật trong một tác phẩm để phát hiện các dấu hiệu cho một cuộc “tấn công” sẽ đến của các loại nấm.    “Nó giống như là tín hiệu ‘có một đội quân mang vũ khí sắp đến quốc gia anh’, trong trường hợp này là có thể phá hoại các tác phẩm nghệ thuật”, nhà vi sinh vật Massimo Reverberi của trường Đại học Sapienza ở Rome và không tham gia vào nghiên cứu này. Nếu một nhà bảo tồn không thể thấy tác động của nấm bằng mắt thường thì có thể dựa vào kết quả phân tích DNA. “Và khi có dấu hiệu cảnh báo thì có nghĩa sẽ có thể bắt đầu một số hoạt động phá hoại của chúng”.    Do đó, Piñar và những người đồng quan điểm với chị mong muốn dữ liệu vi sinh vật có thể đóng vai trò như một biện pháp kiểm soát trước và sau các quá trình vận chuyển, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật. Có lẽ các nhà quản lý văn hóa cũng nhận thấy điều này nên Piñar sẽ được bổ nhiệm vào một vị trí làm việc mới tại Viện Hàn lâm nghệ thuật Áo trong thời gian tới.    Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Áo và Ý như một lời nhắc nhở đến những mối liên hệ chưa được đánh giá đúng mức và sự ràng buộc không thể tránh khỏi giữa những lĩnh vực tưởng chừng khác biệt nhau qua lớn: khoa học và nghệ thuật. “Sinh học phân tử đang hoạt động một cách tích cực trong lĩnh vực nghệ thuật”, Piñar nói về điểm kết nối giữa lĩnh vực của chị và nghệ thuật, ngụ ý đến việc đã từng xảy ra trong lịch sử: sự chuyển dời qua lại của chính bậc thầy da Vinci giữa khoa học và nghệ thuật.    Và thật may mắn, các nhà bảo tồn đã có một công cụ hữu hiệu kiểu “súng thần công di truyền 33 nòng” để chiến đấu với mối đe dọa vi sinh vật này. □     Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/microbes-fungi-discovered-da-vinci-drawings-180976416/  https://www.atlasobscura.com/articles/da-vinci-microbiome  https://blog.frontiersin.org/2020/11/20/frontiers-microbiology-microbiome-ancienct-manuscripts-leonardo-da-vinci/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảy cách AI thay đổi KH&CN hạt nhân      Trong thập kỷ qua, trí tuệ nhân tạo (AI) đã phát triển nhanh chóng, ngày càng trở nên thông minh và có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp hơn. AI được triển khai trong các lĩnh vực đa dạng như sản xuất, vận tải, tài chính, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Tương tự, nó có tiềm năng thúc đẩy sự phát triển của các ứng dụng KH&CN hạt nhân.     Khai thác khả năng của AI trong lĩnh vực hạt nhân có thể đóng góp tích cực vào việc giải quyết một số thách thức cấp bách nhất hiện nay, từ an ninh lương thực đến biến đổi khí hậu.  Dưới đây là một số cách mà AI đã và sẽ tiếp tục mang lại lợi ích cho các ứng dụng hòa bình của công nghệ hạt nhân. Những điều này được thảo luận chi tiết hơn trong một ấn phẩm mới của IAEA, Trí tuệ nhân tạo để tăng tốc các Ứng dụng, khoa học và công nghệ hạt nhân.  Sức khỏe con người    AI có thể góp phần chống lại bệnh tật. Nó đã được áp dụng để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị ung thư thông qua khả năng giải thích hình ảnh được cải thiện và đường viền khối u chính xác, giúp lập kế hoạch điều trị chính xác hơn và xạ trị thích ứng — một quy trình phù hợp với đặc điểm giải phẫu của từng bệnh nhân. IAEA gần đây đã khởi động một dự án nghiên cứu phối hợp trong lĩnh vực này.  Trí tuệ nhân tạo cũng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sáng kiến ​​Hành động tích hợp chống dịch bệnh lây truyền từ động vật sang người (ZODIAC) của IAEA, nhằm giúp các chuyên gia hiểu rõ hơn về tác động của các bệnh lây truyền từ động vật sang sức khỏe con người, đồng thời dự đoán, đánh giá và ngăn chặn sự bùng phát của các dịch bệnh này trong tương lai.  Lương thực và nông nghiệp  Các công cụ AI kết hợp với công nghệ hạt nhân có thể giúp hệ thống lương thực bền vững hơn và có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, đồng thời giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực và dinh dưỡng.  Các chuyên gia triển khai AI để xử lý và phân tích dữ liệu nhằm tăng năng suất cây trồng, ước tính độ ẩm của đất, khắc phục đất bị nhiễm phóng xạ, phát hiện và dự đoán các sự kiện gian lận thực phẩm và cải thiện hệ thống tưới tiêu.  Nước và môi trường  Phương pháp đồng vị cho phép các chuyên gia nghiên cứu và theo dõi cách nước di chuyển qua các giai đoạn khác nhau của chu trình thủy văn và những biến đổi nào xảy ra trong chu trình này do biến đổi khí hậu. Các chuyên gia đã áp dụng các phương pháp tiếp cận dựa trên AI để phân tích nhanh một lượng lớn dữ liệu đồng vị liên quan đến nước được lưu trữ trong các kho lưu trữ toàn cầu, chẳng hạn như Mạng lưới đồng vị toàn cầu trong lượng mưa do IAEA và Tổ chức Khí tượng Thế giới duy trì.  Phân tích dữ liệu hữu hiệu và hiệu quả được hỗ trợ bởi AI giúp các nhà khoa học hiểu được biến đổi khí hậu và tác động của nó đối với nguồn nước trên toàn thế giới.  Khoa học hạt nhân và nghiên cứu nhiệt hạch  Trí tuệ nhân tạo đóng vai trò ngày càng quan trọng trong khoa học hạt nhân. Trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong phân tích dữ liệu, lập mô hình lý thuyết và thiết kế thử nghiệm, giúp đẩy nhanh nghiên cứu cơ bản, ví dụ như trong lĩnh vực đánh giá và tổng hợp dữ liệu hạt nhân và nguyên tử, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ.  Một lĩnh vực cụ thể được hưởng lợi từ việc ứng dụng AI là nghiên cứu nhiệt hạch. Với khả năng giải quyết các vấn đề lớn và phức tạp, AI có thể hỗ trợ các thí nghiệm và khám phá khoa học thông qua mô hình hóa và mô phỏng. Những ứng dụng này của AI được bao gồm trong một dự án nghiên cứu phối hợp mới của IAEA kéo dài 5 năm nhằm đẩy nhanh nghiên cứu và phát triển nhiệt hạch.  Điện hạt nhân  Điện hạt nhân là nguồn năng lượng carbon thấp, đáng tin cậy và nó có thể hưởng lợi đáng kể từ việc đưa AI vào. Bằng cách kết hợp các mô phỏng kỹ thuật số của các cơ sở hạt nhân thực với các hệ thống AI, ngành công nghiệp có thể tối ưu hóa các quy trình phức tạp và cải thiện thiết kế, hiệu suất và độ an toàn của lò phản ứng. Việc tối ưu hóa như vậy có thể tăng hiệu quả hoạt động và giảm chi phí bảo trì.  Máy học — một quy trình mà AI học hỏi bằng cách phân tích lượng lớn dữ liệu — giúp tự động hóa các tác vụ, từ đó tăng độ tin cậy và tránh sai sót. Hơn nữa, AI có tiềm năng phân tích và dự đoán đáng kể để giúp giám sát các quy trình của nhà máy điện và phát hiện sự bất thường.  An ninh hạt nhân và bảo vệ bức xạ  Khi ngày càng có nhiều quốc gia chọn sử dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình và áp dụng các chương trình điện hạt nhân, IAEA liên tục làm việc để đảm bảo bảo vệ con người và môi trường khỏi tác hại tiềm ẩn của bức xạ ion hóa.  Trí tuệ nhân tạo có thể đóng góp vào an ninh và an toàn hạt nhân theo nhiều cách. Nó có thể được sử dụng trong việc xử lý dữ liệu từ các hệ thống phát hiện bức xạ để tăng cường phát hiện và xác định vật liệu hạt nhân và vật liệu phóng xạ khác. Nó có thể được áp dụng để phân tích dữ liệu từ các hệ thống bảo vệ vật lý nhằm cải thiện khả năng phát hiện những kẻ xâm nhập. Nó cũng có thể giúp phát hiện những điểm bất thường có thể chỉ ra một cuộc tấn công mạng vào cơ sở hạt nhân. Hơn nữa, trong lĩnh vực bảo vệ bức xạ, việc tích hợp AI trong phần mềm liên quan đến tiêu chuẩn an toàn có thể củng cố việc bảo vệ hàng triệu công nhân bị phơi nhiễm nghề nghiệp trong y học, xây dựng, khai thác mỏ, vận chuyển, nông nghiệp và điện hạt nhân.  Thanh sát  Thanh sát là các biện pháp xác minh kỹ thuật mà qua đó IAEA cung cấp sự đảm bảo đáng tin cậy rằng các quốc gia đang tôn trọng nghĩa vụ pháp lý của họ là chỉ sử dụng vật liệu hạt nhân cho mục đích hòa bình. IAEA đánh giá vật liệu hạt nhân đã khai báo và các hoạt động liên quan đến hạt nhân của các quốc gia và tìm cách xác minh sự vắng mặt của những hoạt động không khai báo thông qua các biện pháp, chẳng hạn như thanh tra tại các cơ sở và địa điểm hạt nhân.  Thanh sát dựa trên lượng lớn dữ liệu thu được bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như hình ảnh vệ tinh, lấy mẫu môi trường, quang phổ tia gamma và giám sát video. AI có thể giúp các thanh sát viên hạt nhân và các nhà phân tích thanh sát bằng cách phân tích những dữ liệu này. Các phương pháp máy học đã được sử dụng để phát hiện các giá trị ngoại lệ trong bộ dữ liệu lớn và hỗ trợ xác minh nhiên liệu đã qua sử dụng cũng như phân tích các bản ghi giám sát. AI dự kiến ​​sẽ cải thiện hơn nữa hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp thanh sát bằng cách giảm số lượng các tác vụ lặp đi lặp lại được thực hiện bởi các thanh sát viên.  Con đường phía trước  IAEA cung cấp các diễn đàn liên ngành để các chuyên gia thảo luận và thúc đẩy hợp tác về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong các ứng dụng, khoa học và công nghệ hạt nhân, đồng thời cam kết chia sẻ kiến ​​thức và củng cố quan hệ đối tác thông qua nền tảng AI for Atoms của mình. Là một phần của sáng kiến ​​này, IAEA hợp tác với Liên minh Viễn thông Quốc tế, Nhóm công tác liên ngành của LHQ về AI và gần 40 tổ chức khác của LHQ để cung cấp nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững nhanh chóng với AI.    Lê Trí Dũng (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam)  ———————  Tài liệu tham khảo  https://www-iaea-org.translate.goog/publications/15198/artificial-intelligence-for-accelerating-nuclear-applications-science-and-technology?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=sc      Author                .        
__label__tiasang Bảy phút sợ hãi cho số phận hoả tinh xa      Ba robot thăm dò sao hoả lần trước đều nhỏ,  có thể đáp bằng dù. Mọi thứ sẽ khác hơn vào lúc 20 giờ 31 phút tối Chủ nhật 5/8 (giờ California), khi robot thăm dò hiện đại nhất của Mỹ mang  tên Curiosity đáp xuống bề mặt sao hoả.    Với một “quái vật” cỡ một chiếc xe hơi và nặng 900kg như Curiosity, sử dụng túi khí để giảm sức va chạm là không thể. Thay vào đó, các nhà khoa học Mỹ tại cơ quan NASA và phòng thí nghiệm phản lực đẩy (JPL) ở Pasadena, bang California, đã sáng chế một hệ thống gọi là tàu – cần trục (skycrane), trong đó một con tàu mang theo robot bay qua tầng ngoài khí quyển sao hoả.  Curiosity mang theo 10 thiết bị khoa học, bao gồm máy quay phim và thiết bị chiếu tia laser để nghiên cứu từ xa, các dụng cụ phân tích để xác định thành phần các mẫu đất đá thu được bằng máy đào và xúc ở cánh tay robot, và những thiết bị nghiên cứu môi trường, kể cả khí hậu và bức xạ tự nhiên…  Nhưng trước khi tất cả những công cụ này có thể hoạt động, Curiosity cần hạ cánh nguyên vẹn. Curiosity hiện đang bay dưới ảnh hưởng trọng lực của sao hỏa, theo đúng hành trình và đúng tiến độ, trong khi nhóm điều hành sứ mạng ở Pasadena sẵn sàng cho cái mà họ gọi là “bảy phút sợ hãi” qua theo dõi kết quả của phương pháp mới đưa robot đáp xuống sao hỏa.      Khoảng rạng sáng thứ hai, Curiosity tiến đến sao hỏa với tốc độ 12.874 km/giờ (8.000 dặm/giờ) và tăng tốc đến trên 21.243 km/giờ (13.200 dặm/giờ), dưới ảnh hưởng lực hút của hành tinh. Một lá chắn nhiệt và hệ thống hạ cánh hết sức phức tạp sẽ kéo robot chậm lại đến mức gần như dừng hẳn trong khi vẫn bay trên động cơ phản lực.  Ở độ cao 1,6 km phía trên bề mặt sao hỏa, một cỗ máy hạ cánh đặc biệt sẽ tách ra, với 8 động cơ phản lực ở các góc. Robot nằm thăng bằng trên các ống xả phản lực, tốc độ chậm lại, còn khoảng 2,7 km/giờ, với sự hỗ trợ của một chiếc dù siêu thanh công nghệ cao.  Trong những giây cuối cùng, ở độ cao 20 mét, Curiosity sẽ được hạ thấp trên ba sợi dây thừng nylon, và tên lửa đẩy lùi sẽ phóng để điều khiển robot nhẹ nhàng đáp xuống bề mặt sao Hỏa và đậu trên các bánh xe. Những sợi dây thừng sẽ nổ tung, giai đoạn hạ cánh chấm dứt và Curiosity bắt tay thực hiện nhiệm vụ.  Tuy nhiên, tất cả chỉ là kế hoạch. Tàu-cần trục đã được thử nghiệm trên mặt đất trước khi phóng Curiosity, nhưng đây là lần đầu tiên nó được sử dụng vào một sứ mạng thực. Nếu có gì trục trặc, robot phải có khả năng tự điều chỉnh, bởi vì sao hỏa ở xa trái đất đến mức tín hiệu radio mất đến 14 phút mới đến và trở về. Cả chuyến hạ cánh, từ quỹ đạo xuống bề mặt sao hỏa, mất bảy phút. Điều đó có nghĩa là vào lúc các kỹ sự NASA nhận được tín hiệu là robot bay vào tầng ngoài cùng của khí quyển sao hỏa, thì robot sẽ sẵn sàng đáp xuống bề mặt sao hỏa – hay chỉ còn là những mảnh vụn bốc khói ở đáy một hố núi lửa mới nhất, và đắt nhất, của sao hỏa.  Theo Pete Theisinger, giám đốc dự án Curiosity trị giá 2,5 tỉ USD: “Bảy phút đó là thời gian thách thức nhất trong cả sứ mạng. Để robot hạ cánh thành công, hàng trăm sự cố sẽ cần diễn ra suông sẻ, nhiều diễn biến có thời gian thật chính xác và tất cả đều do con tàu điều khiển. Chúng tôi đã làm tất cả những gì chúng tôi có thể nghĩ là để thành công. Chúng tôi hy vọng đưa Curiosity an toàn đáp xuống, nhưng không có gì bảo đảm tuyệt đối. Rủi ro luôn có thật.”     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảy vấn đề của nền kinh tế Mỹ      Nền kinh tế Mỹ đang bị mất cân bằng. Và dù ai thắng trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 8 tháng 11 tới đây thì cũng phải giải quyết một loạt vấn đề của nền kinh tế nước này.      Sản xuất ô tô ở Mỹ. Nguồn: Cleveland.com  Trên khán đài tại sân vận động ở thành phố 40.000 dân Wilkes-Berre ở Pennsylvania, ứng viên tổng thống của Đảng Cộng hoà hứa sẽ tạo thêm việc làm, tăng cường an ninh và hỗ trợ các ngành công nghiệp nặng như sắt thép và khai mỏ. Trump hứa sẽ khai thác than bằng công nghệ sạch và 6000 người có mặt trên sân vận động hoan hô vang dội.  Không phải vô tình mà ông Trump xuất hiện tại Wilkes-Berre. Thời kỳ hoàng kim của thị trấn này đã tắt từ lâu. Trong thế kỷ 19, ngành khai mỏ đã phát triển hết sức rực rỡ ở đây nhưng hiện nay 40.000 dân cư tại đây phải vật lộn với cơ sở hạ tầng ngày càng xuống cấp và nghèo khổ. Trump hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cư dân nơi này. Ông Trump thừa biết cư dân ở thành phố này ủng hộ mình vì nhiều cư dân ở Wilkes-Berre và ở những vùng lân cận, nhất là thợ mỏ và công nhân công nghiệp đang bị tác động rất mạnh bởi công cuộc toàn cầu hoá. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế do toàn cầu hóa mang lại có cái giá của nó: nhiều người bị thất nghiệp, thu nhập thực tế giảm.  Sự thật là nước Mỹ đang phải đối mặt với bảy vấn đề lớn sau:  Vấn đề thứ nhất: Cơ cấu lao động thay đổi  Chính cuộc tranh cử khốc liệt đã làm bộc lộ những vấn đề đang hằn sâu lên nước Mỹ. Nhiều trung tâm kinh tế hùng mạnh ở thế kỷ trước, điển hình như ở các tiểu bang ở phía Bắc hoặc Đông bắc như Pennsylvania, Ohio và Michigan đang bắt đầu xuống dốc. Đồng thời, năng suất lao động yếu kém và sự bất bình đẳng ngày càng tăng làm cho thu nhập của tầng lớp trung lưu cũng như lớp dưới tăng chậm chạp hơn. Toàn cầu hoá và tự động hoá đang làm cho vị trí của người công nhân bị xói mòn và yếu đi.  Tuy nhiên đây không phải là vấn đề duy nhất của nước Mỹ. Bên cạnh chuyển đổi cơ cấu lao động còn có ít nhất sáu lĩnh vực lớn mà người kế nhiệm của Tổng thống Obama phải giải quyết.  Vấn đề thứ hai: Doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả  Nền kinh tế Mỹ còn đang thể hiện sự uể oải và thiếu sáng tạo. Điều này gây ngạc nhiên bởi lẽ cho đến nay Mỹ vốn được coi là cái nôi của đổi mới, sáng tạo. Nhưng không phải tất cả các tiểu bang ở Mỹ đều có thung lũng Silicon. Tất nhiên ngành nào cũng có một vài doanh nghiệp áp dụng nhanh các công nghệ mới và làm tăng năng suất lao động tuy nhiên số đông các doanh nghiệp không nỗ lực đến tăng năng suất lao động. Năng suất lao động trong mỗi giờ lao động trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2015 chỉ tăng trung bình 1,3% (để so sánh: tỉ lệ tăng năng suất lao động trong mỗi giờ lao động từ 1995 đến 2004 là 3,2%).  Vấn đề thứ ba: Nam giới học vấn kém và thất nghiệp  Đầu năm 2016 tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ dưới 5% và cho thấy một tín hiệu tốt đẹp. Tuy nhiên, đối với một nhóm người tình hình lại khá ảm đạm. Khoảng 7 triệu nam giới ở Mỹ, ở độ tuổi 25 – 45 không có việc làm và cũng không buồn tìm việc. Những người đàn ông này có đặc điểm chung là phần lớn sống độc thân, sinh ra ở Mỹ, nhiều người gốc châu Phi. Họ thuộc lớp người quá già để đi học nhưng lại quá trẻ để nghỉ hưu và điều này thực sự là một vấn đề xã hội. Cách đây 50 năm số nam giới bị thất nghiệp là 5%, nay tăng lên 15%.  Vấn đề thứ tư: Cơ sở hạ tầng xuống cấp  Cầu cống, đường xá bị hư hỏng có lẽ là một tình trạng điển hình của các nước công nghiệp phát triển thành công. Đến một lúc nào đó thì các công trình xây dựng của nhà nước cũng trở nên già nua và xuống cấp. Chúng cần được cải tạo hoặc xây mới nhưng lại thiếu tiền. Ở nước Mỹ, điều này thể hiện rõ nhất ở sự xuống cấp của các sân bay, đường bê tông đầy ổ gà và cầu cống bị hư hỏng nhiều.  Vấn đề thứ năm: Phân hóa xã hội mang tính “di truyền”  Giấc mơ đổi đời nhanh chóng ở Mỹ dường như đang dần phai nhạt đi. Ngày nay chỉ còn dăm ba người có thể đổi đời một cách “đột phá” từ kẻ rửa bát thành triệu phú. Ở nước Mỹ ngày nay sự thăng tiến của mỗi người lệ thuộc chủ yếu vào nguồn gốc xã hội. Ai sinh ra trong nghèo khổ thường ôm mãi cái kiếp nghèo. Điều này xảy ra chủ yếu đối với người da đen.  Vấn đề thứ sáu: Học phí giáo dục  Để theo học được tại các trường đại học hàng đầu nước Mỹ như Harvard, Stanford và MIT, người học phải chi cả một gia tài. Tuy nhiên không phải chỉ có các trường top đầu này mà ngay cả các đại học và trường cao đẳng khác cũng thu học phí với mức khá cao. Ai mà không có được khoản học bổng tương đối hoặc bố mẹ không khá giả thì rất khó khăn trong con đường học hành. Hiện nay khoản nợ của sinh viên Mỹ và của những người đã ra trường đã trở thành một vấn đề hết sức to lớn. Truyền thông Mỹ đã từng đề cập đến vấn đề này như một cuộc “khủng hoảng”, khoản nợ tín dụng của sinh viên hiện đã lên đến 1,3 nghìn tỷ USD. Đây thực sự là một quả bom hẹn giờ đối với xã hội.  Vấn đề thứ bảy: Nợ công cao  Tháng 10 năm 2013, các cơ quan của chính quyền liên bang phải đóng cửa nhiều ngày, và 800.000 công chức được nghỉ phép không lương vì “government shutdown” (do hai đảng Dân chủ và Cộng hoà không nhất trí được với nhau về ngân sách mới cho năm 2014 khi họ bàn tới việc chính phủ có được phép chi tiêu nhiều hơn số tiền mà chính phủ thu vào hay không). Chính phủ Mỹ đứng trước nguy cơ có khoản nợ đã gần tới ngưỡng kịch trần là 16,7 nghìn tỷ USD. Vấn đề “government shutdown” tuy đã được giải quyết vì các chính khách của hai đảng đã thoả thuận được với nhau nhưng khoản nợ của nước Mỹ vẫn đang là một vấn đề lớn và có khả năng còn lớn hơn nữa.  Xuân Hoài lược dịch từ “Tuần kinh tế Đức”.    Author                Hoài Nam        
__label__tiasang Bảy xu hướng để khởi nghiệp      Để có tư duy và kiến thức “Quảy gánh băng đồng ra thế giới” phải chăng ta cũng nên tìm hiểu và được dẫn dắt bằng hiểu biết về xu hướng thị trường quốc tế?      Boris Mordkovich người đồng sáng lập Evelo với sản phẩm xe đạp dành cho người già.  Cách đây vài tuần, tôi nhận được email của một bạn startup từ Hà Nội nhờ tham vấn về ý tưởng xây dựng nhà lưới, nhà kính phục vụ cho việc đảm bảo chất lượng và độ an toàn cho sản phẩm nông nghiệp. Theo đánh giá của bạn, ý tưởng kinh doanh này rất có tiềm năng cho thị trường Hà Nội. Đọc xong email, tôi không khỏi băn khoăn.  Từ bốn năm nay, tôi có may mắn tham gia làm cố vấn và trực tiếp giảng dạy cho doanh nghiệp startup và doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong chương trình “Doanh nghiệp hội nhập & phát triển” của Chính phủ Malaysia. Chương trình này được xây dựng dựa trên nền tảng đưa nền kinh tế Malaysia từ kinh tế sản xuất sang kinh tế tri thức, từ sản xuất phục vụ thị trường nội địa sang xuất khẩu mô hình và thương hiệu ra thế giới. Và để đạt được mục tiêu này, một trong những mục tiêu lớn nhất của chương trình là phát triển nguồn vốn con người, nâng tầm tư duy, kiến thức, và kỹ năng của DNVVN từ nội địa sang tầm quốc tế.  Chỉ khi doanh nghiệp nghĩ xa, nhìn rộng, tập trung phát triển vững bền ra thế giới, kinh tế quốc gia mới có thể phát triển. Và vì vậy, những bài học đầu tiên của chương trình này dành cho doanh nghiệp, dù là khởi nghiệp hay tái khởi nghiệp, đều tập trung vào kiến thức về thị trường thế giới, tư duy chiến lược dài hạn, kỹ năng xây dựng nền tảng quản trị doanh nghiệp để có thể vững vàng bước ra thế giới…. Ngay cạnh Việt Nam, người ta đã tư duy thế giới, chuẩn bị chiến lược và kế hoạch để bước ra thế giới và một trong những điểm đến đầu tiên, hợp lý nhất của họ là thị trường Việt Nam.  Và điều đó lý giải lý do vì sao doanh nghiệp Việt đang bị ép trên chính sân nhà. Người ta tư duy thế giới. Mình tư duy Hà Nội. Và thế là hai tư duy khác nhau sẽ dẫn đến hai kết quả khác nhau, hai tầm vóc khác nhau, hai cách startup và phát triển doanh nghiệp hoàn toàn khác nhau. Phải chăng đã đến lúc chúng ta nên đặt lại câu hỏi về định hướng cho startup Việt Nam trong bối cảnh kinh tế chung của quốc gia, khu vực, và thế giới? Phải chăng điều ta cần lúc này không phải là bao nhiêu doanh nghiệp khởi nghiệp, mà là bao nhiêu doanh nghiệp khởi nghiệp bằng tư duy và kiến thức “Quảy gánh băng đồng ra thế giới”?  Nếu thế, phải chăng ta cũng nên tìm hiểu và được dẫn dắt bằng hiểu biết về xu hướng thị trường quốc tế? Tại Diễn đàn doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao và khởi nghiệp, khi được mời chia sẻ về kinh nghiệm khởi nghiệp, tôi tập trung chia sẻ về bảy xu hướng tương lai của thị trường thế giới.    Altra Running Shoes, startup ở Anh với sản phẩm là giày thể thao gắn thiết bị theo dõi sức khỏe cá nhân.  Xu hướng thứ nhất là thị trường người cao tuổi. Nói là cao tuổi nhưng trên thực tế là những người từ 50 tuổi trở lên, hiện đang chiếm ¼ dân số thế giới. Đây là một thị trường cực lớn đòi hỏi rất nhiều sản phẩm và dịch vụ thiên về sức khoẻ, y tế, kết nối, vui sống, du lịch, vv. Tháng tám năm 2016, báo New York Times đăng tải một bài rất hay mang tựa đề “Thị trường start-up nóng nhất thế giới? Chính là thị trường người cao tuổi”1. Một trong những startup rất thành công gần đây tại Mỹ chẳng hạn là sản phẩm xe đạp điện Evelo thiết kế dành riêng cho người già.  Xu hướng thứ hai là thị trường trẻ em dưới 12 tuổi. Đây là thị trường được mệnh danh là El Rey De La Casa – The King of the House – hay ông Hoàng của gia đình. Theo nghiên cứu mới nhất, trẻ em trên thế giới hiện ảnh hưởng 60-80% quyết định mua hàng của bố mẹ. Tại châu Á, tỷ suất này là 68%. Trẻ em ngày nay được tiếp cận thông tin quá dễ dàng trên mạng, và do đó, sử dụng thông tin này làm cơ sở thuyết phục bố mẹ mua hàng gì cho mình và mua từ nhãn hàng nào. Áp dụng xu hướng này, tại Target chẳng hạn, dòng sản phẩm quần áo cho trẻ em 6-12 tuổi là do một nhóm nhà thiết kế nhí đánh giá và đưa ra các yêu cầu chỉnh sửa cho đội ngũ thiết kế sản phẩm mới của công ty.  Xu hướng thứ ba là xu hướng IWWIWWIWI – I Want What I Want When I Want It – Tôi muốn thứ tôi muốn ngay khi tôi muốn. Do sự phát triển của công nghệ, ngày nay con người chúng ta luôn luôn kết nối. Sự kết nối này mọi lúc, mọi nơi, dẫn đến nhu cầu tìm hiểu thông tin, đưa ra quyết định mua hàng, và mong muốn nhận hàng ngay lập tức. Như vậy, một sản phẩm truyền thống nếu có thể được tái thiết kế theo xu hướng này, gia tăng dịch vụ cung cấp thông tin đa diện, kết nối và tương tác với khách hàng đa diện, và tăng cường dịch vụ giao hàng nhanh, tận nơi là có thể trở thành một sản phẩm mới, một startup mới.  Xu hướng thứ tư là Wabi-Sabi – tiếng Nhật là nghệ thuật khiếm khuyết. Ngày nay, do có quá nhiều thông tin được cung cấp, và cũng có quá nhiều thông tin không đúng, người tiêu dùng cần sự nguyên bản, cần tính địa phương, cần sự minh bạch, và cần nhìn tận mắt, nghe tận tai từ những con người thật, những câu chuyện thật. Đã thật thì không thể bóng bẩy, không thể hoàn hảo vì chẳng có ai hay chẳng có điều gì hoàn hảo trên đời. Điều đó lý giải vì sao người tiêu dùng ngày nay tại Việt Nam thích mua bó rau có một con sâu. Do đó, các startup có thể áp dụng xu hướng này để xây dựng câu chuyện sản phẩm của mình mang tính địa phương hơn, cộng đồng hơn, thật hơn, và đừng sợ trình bày vài điều khiếm khuyết. Những khiếm khuyết đó là thật, là nền tảng để xây dựng lòng tin đối với khách hàng. Khiếm khuyết đó là khiếm khuyết hoàn hảo.  Xu hướng thứ năm là sản phẩm và dịch vụ cho TÔI. Đã qua rồi thời kỳ doanh nghiệp tạo ra, sản xuất hàng loạt, và tôi mua hàng vì sẵn có. Công nghệ giờ đây cho phép con người có thể cá nhân hoá sản phẩm và dịch vụ theo nhu cầu cá nhân, theo ý thích cá nhân, và theo gu tiêu dùng cá nhân. Mọi thứ phải phục vụ cho trải nghiệm của tôi, thiết kế dành riêng cho tôi, theo nhu cầu của tôi, hiểu ý tôi, và để cho tôi có thể kể câu chuyện của tôi. Một startup mới đây tại Anh chẳng hạn, đã thiết kế ra một loại giày thể thao có gắn thiết bị thu thập thông tin sức khoẻ cá nhân, có khả năng xử lý thông tin và cho bạn biết bạn cần chạy thêm bao nhiêu cây số, đốt bao nhiêu năng lượng, cần nghỉ giữa giờ bao lâu, cần chạy nhanh hay chậm để giữ nhịp tim của mình tốt nhất, vv. Như vậy, những sản phẩm truyền thống cũng có thể sử dụng xu hướng này để tăng cường tính năng cá nhân hoá, xây dựng thành một dòng sản phẩm mới, một startup mới.    Thương hiệu Cat & Jack của Target mời nhiều trẻ em đến để phản hồi nhằm phát triển sản phẩm.   Xu hướng thứ sáu là xu hướng về sức khoẻ. Gần đây trong thời gian công tác tại Dubai, tôi có đi thăm thành phố sức khoẻ Dubai (Dubai Healthcare City). Thành phố rộng khoảng 2500 m2 và bao gồm tất cả các dịch vụ nghỉ dưỡng, chăm sóc y tế, bệnh viện, trung tâm giáo dục y tế và sức khoẻ, vv phục vụ cho nhu cầu y tế cao cấp của cả khu vực Trung Đông và châu Phi. Sức khoẻ là tài sản quý giá nhất đối với mỗi người. Khi xã hội ngày càng phát triển, khi thời gian nghỉ ngơi ngày càng ít đi, thời gian làm việc tăng lên, và thu nhập cá nhân ngày càng tăng lên, con người càng chú ý nhiều hơn đến sức khoẻ. Sức khoẻ là thành đạt. Do đó, sản phẩm hay dịch vụ gì giúp ta nhìn bề ngoài khoẻ, tiện lợi tăng cường sức khoẻ mọi lúc mọi nơi, giúp ta ăn và khoẻ, giúp ta hưởng thụ và khoẻ đều có tiềm năng rất lớn.  Xu hướng thứ bảy là Everything Tech – dù sáng tạo ra sản phẩm hay dịch vụ gì cũng phải áp dụng công nghệ. Thế giới đang đứng trước những thay đổi nền tảng nhất từ ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ. Bất kỳ phương diện nào của cuộc sống con người đều bị ảnh hưởng nếu không phải từ công nghệ mobile – di động, AI – trí tuệ nhân tạo, thì cũng từ IoT – mạng lưới vạn vật kết nối, robot hay tự động hoá, công nghệ bảo vệ an toàn an ninh, vv. Do đó, tất cả các sản phẩm hay dịch vụ mới của startup nhất thiết phải cân nhắc và áp dụng công nghệ mới để có thể tiến xa vào tương lai, và tiến ra được thị trường thế giới.  Nếu có thể thay đổi một góc nhìn, từ thị trường nội địa đang phát triển sau, sang thị trường thế giới đang đi trước, từ hiện trạng thị trường Hà Nội hôm nay sang chiến lược phát triển dài hạn, dựa vào xu hướng thế giới cho tương lai, tránh kẹt vào cái bẫy vừa tung ra đã lỗi thời, startup Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, phát triển nhanh và mạnh ra khu vực và thế giới, tránh được cho mình một trận chiến cạnh tranh không cân sức ngay tại sân nhà. Xét cho cùng, thắng một cuộc chiến là thắng trong tư duy. Nếu không thay đổi tư duy để “quảy gánh băng đồng ra thế giới”, có lẽ chúng ta đang bắt đầu cuộc đua từ quá khứ, trong khi người ta đang hay đã trở về từ tương lai…  ———-  1 https://www.nytimes.com/2016/08/ 04/business/smallbusiness/the-hottest-start-up-market-baby-boomers.html    Author                Nguyễn Phi Vân        
__label__tiasang Bê tông chịu lửa… không xi măng      Do bê tông chịu lửa ít xi măng còn nhiều  nhược điểm chưa được khắc phục, Ths Lê Hoàng Anh và nhóm cộng sự thuộc  Trung tâm Vật liệu chịu lửa và chống cháy tại Viện Vật liệu xây dựng, Bộ  Xây dựng đã nghiên cứu đề tài Bê tông chịu lửa không xi măng, phục vụ  cho ngành công nghiệp nặng.     Trong giải pháp này, Ths Lê Hoàng Anh và cộng sự đã sử dụng nguyên liệu đầu vào gồm cốt liệu chịu lửa cao nhôm, chất kết dính, Alphabond 300, phụ gia siêu mịn hoạt tính ô xít nhôm, một số phụ gia phân tán được đồng nhất, bột nhôm hoạt tính… Các nguyên liệu này được phối trộn vào cấp phối để đảm bảo khả năng đồng nhất. Sau một số công đoạn trộn kỹ thuật khác, sản phẩm được đưa vào bao PP hai lớp chống ẩm. Mẫu sản phẩm đã được thí nghiệm đánh giá các tiêu chuẩn chất lượng, kết quả là các tiêu chí như cường độ chịu uốn tại nhiệt độ 1.000 độ C, cường độ chịu nén tại 110 độ C trong vòng 24 giờ và tại 1.500 độ C trong ba giờ, độ xốp, độ bền hóa học, độ chịu lửa… Những nhược điểm của bê tông chịu lửa ít xi măng đã được khắc phục, ngoài ra còn đảm bảo được chất lượng thép do không chứa CaO, vốn là tạp chất có hại cho thành phần của thép.  Với đặc điểm công nghệ sản xuất đơn giản, có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ, mang lại lợi nhuận cao, công nghệ bê tông chịu lửa không xi măng đã được đưa vào ứng dụng tại các nhà máy luyện thép Hòa Phát, công ty cổ phần thép Hàn Việt, HTX công nghiệp và vận tải Chiến Công (Thái Nguyên) trên các sản phẩm nắp lò điện hồ quang, miệng lò trộn, vách lò gió nóng.   Dự kiến nếu triển khai hoàn thiện và đi vào sản xuất, giải pháp công nghệ này có thể tiết kiệm khoảng 400 tỷ đồng tiền nhập khẩu bê tông chịu lửa hàng năm và mang lại lợi nhuận trên 80 tỷ đồng mỗi năm.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bê tông tự hàn gắn có thể kéo dài độ bền các công trình      Các nhà nghiên cứu tại Viện Bách khoa Worcester, Mỹ, đang sử dụng enzyme được tìm thấy trong các tế bào hồng cầu để tạo ra một loại bê tông tự hàn gắn có độ bền gấp bốn lần so với bê tông truyền thống.      Giáo sư Rahbar để hiển thị bê tông tự hàn gắn. Nguồn: Worcester Polytechnic Institute.    Công trình này được công bố trên tạp chí Applied Materials Today. PGS. Nima Rahbar tác giả chính của bài báo, cho biết, bê tông là vật liệu xây dựng nhân tạo được dùng rộng rãi nhất và là thành phần quan trọng trong mọi công trình, từ cầu cảng đến cao ốc, nhà cửa, vỉa hè, gara đỗ xe… Nhược điểm của nó là giòn và dễ bị nứt do tiếp xúc với nước, thay đổi nhiệt độ, áp suất, muối rải đường, sai sót trong khâu thiết kế và nhiều yếu tố khác, dẫn đến kết cấu bê tông không còn nguyên vẹn và cần phải sửa chữa hoặc thay thế tốn kém.    “Nếu các vết nứt nhỏ có thể tự động liền lại khi mới hình thành, chúng sẽ không biến thành những vấn đề lớn hơn cần phải sửa chữa hoặc thay thế. Điều này nghe có vẻ khoa học viễn tưởng nhưng đó là một giải pháp thực sự cho vấn đề quan trọng trong ngành xây dựng”, Rahbar nói.    Nghiên cứu của ông trước đây đã nhận được tài trợ từ Trung tâm Năng lượng Sạch Massachusetts (MassCEC). Lấy cảm hứng từ quá trình vận chuyển CO2 trong tự nhiên, ông sử dụng anhydrase cacbonic (CA), một loại enzyme được tìm thấy trong tế bào hồng cầu, để thêm vào bột xi măng trước khi đem trộn và đổ bê tông.    Enzyme này đóng vai trò là chất xúc tác khiến CO2 trong không khí phản ứng, tạo ra những tinh thể carbonat canxi tương tự như chất dính kết tương tự của bê tông. Khi một vết nứt nhỏ hình thành trong bê tông enzym, enzym bên trong bê tông kết nối với CO2 trong không khí, kích hoạt sự phát triển của chất dính kết mới lấp đầy vết nứt.    Rahbar đã nghiên cứu về bê tông tự hàn gắn trong 5 năm. Ông nói: “Chúng tôi tìm đến tự nhiên để tìm ra cách kích hoạt quá trình chuyển biến CO2 nhanh nhất và đó là enzyme CA. Vì các enzyme trong cơ thể chúng ta phản ứng với tốc độ đáng kinh ngạc nên chúng có thể được dùng như một cơ chế hiệu quả để sửa chữa và tăng cường cấu trúc bê tông.” Quy trình này của Rahbar có thể làm liền các vết nứt bê tông cỡ milimet trong vòng 24h và đã được cấp bằng sáng chế.    Nhóm nghiên cứu đã phát triển một cách tiếp cận ba hướng, bao gồm một hỗn hợp bê tông dùng trong xây dựng có thể tự động gắn liền những vết nứt nhỏ; một hỗn hợp bê tông có thể tự liền trong trường hợp vết nứt lớn hơn hoặc có lỗ hổng hình thành, và một quy trình áp dụng cho bê tông truyền thống để sửa chữa các vết nứt.    Để sửa một vết nứt lớn hoặc lỗ hổng, Rahbar cho biết có thể dùng hỗn hợp chứa canxi và CO2 nhằm thúc đẩy quá trình tự liền. Nếu dùng hỗn hợp này nhưng theo một quy trình ứng dụng khác sẽ làm liền các vết nứt ở khối bê tông truyền thống đã có.    Bê tông là một nguồn phát thải khí CO2, lượng khí nhà kính có liên quan đến biến đổi khí hậu. Theo một báo cáo năm 2018 từ viện nghiên cứu chính sách Chatham House, mỗi năm có hơn 4 tỷ tấn nguyên liệu xi măng được sản xuất, chiếm khoảng 8% lượng phát thải CO2 toàn cầu. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã tìm cách phát triển những quy trình thúc đẩy bê tông tự liền và giữ cho những vết nứt nhỏ không biến thành các vết nứt lớn hơn, khiến vật liệu giữ được độ bền và chống thấm nước. Rahbar dự đoán bê tông tự liền có thể kéo dài tuổi thọ của một cấu trúc, chẳng hạn từ 20 năm lên tới 80 năm.    Các nghiên cứu khác để tạo ra bê tông tự hàn gắn tập trung vào việc thêm những loại vi khuẩn như Bacillus megaterium – một loại vi khuẩn tạo nha bào có thể tiết ra một loại enzyme vào hỗn hợp bê tông. Rahbar chọn sử dụng trực tiếp enzyme thay vì vi khuẩn bởi vi khuẩn tốn kém hơn và hoạt động chậm hơn. Chúng phải mất tới một tháng để liền những vết nứt tầm 10 micron mà các enzyme có thể xử lý trong 24 giờ. Vi khuẩn cũng gây ra những lo ngại về vấn đề sức khỏe tiềm ẩn lâu dài khi sử dụng.□     Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-self-healing-concrete-lifespans.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bê tông từ vật liệu tái chế      Các nhà khoa học châu Âu tin rằng sắp có những ngôi nhà bằng bê tông làm từ vật liệu tái chế.    Tại trường Đại hoc Salerno Ý, điều phối viên dự án nghiên cứu của châu Âu về sự phát triển của vật liệu xây dựng Enzo Martinelli cho biết: “Bê tông là vật liệu xây dựng được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Chỉ riêng ở châu Âu, mỗi năm chúng ta sản xuất một mét khối bê tông trên đầu người.”  Những nhà nghiên cứu của dự án này khi trộn bê tông đã bổ sung sợi tái chế, bên cạnh các thành phần thông thường như nước, cát, sỏi. “Chúng tôi cố gắng thay thế sợi công nghiệp thường được sử dụng trong sản xuất bê tông bằng sợi tái chế. Tỷ lệ phần trăm của vật liệu tái chế trong bê tông được kiểm tra để đảm bảo có được sản phẩm cùng chất lượng và độ bền với bê tông thông thường” – Martinelli giải thích.   Bê tông sản xuất từ vật liệu tái chế được kiểm tra nghiêm ngặt về mặt cơ học như sức chịu uốn, ấn, kéo. Ngoài ra, các cuộc kiểm tra thông qua những mô hình trên máy tính giúp các nhà nghiên cứu có thể biết được tình trạng của chúng trong các điều kiện khắc nghiệt. Đến nay, các nhà khoa học cố gắng khắc phục những nhược điểm của vật liệu tái chế dùng trong sản xuất bê tông: “Vấn đề chính của sợi tái chế là hình dạng của chúng không ổn định và thiếu sự trơn tru. Vì nguyên nhân này mà chúng sẽ bị dồn lại một chỗ khi trộn chúng để làm bê tông” – kỹ sư Antonio Caggiano phân tích.  Họ hi vọng bê tông từ vật liệu tái chế sẽ được sản xuất rộng rãi trong tương lai. Công ty Calcestruzzi Irpini mỗi năm là 60.000 mét khối bê tông. Nhà quản lý chất lượng của công ty, ông Mauro Mele, chia sẻ: “Hãng chúng tôi có mục tiêu tiết kiệm nguyên liệu thô ví dụ như nước – chúng tôi sử dụng 100 phần trăm nước tái chế. Chúng tôi sẵn sàng sử dụng các nguyên liệu tái chế khác nữa nếu như có tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế cho việc này. Việc sử dụng vật liệu tái chế thực sự mang lại lợi ích.”  Các nhà khoa học ở Salerno còn nhận thấy nhiều vấn đề trong xây dựng nền móng bằng bê tông tái chế.  Nhưng về lâu dài họ tin rằng, một thứ bê tông bền và tốt không chỉ sản xuất từ các sợi tự nhiên và sợi tái chế công nghiệp, mà cả từ lốp ô tô cũ và chất thải nhựa. Hiện họ đang tiến hành nghiên cứu sản xuất bê tông từ tất cả mọi vật liệu tái chế.  Diệu Hoa dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bể tự hoại Bastaf xử lý nước thải tại chỗ      Với giải pháp “Cải tiến bể tự hoại với các vách ngăn mỏng và ngăn lọc kỵ khí’’, PGS. TS. Nguyễn Việt Anh&#160; cùng các cộng sự ở Viện KH&amp; KT Môi trường, trường ĐHXD Hà Nội, đã đem lại một quy trình công nghệ xử lý nước thải tại chỗ với chi phí thấp, dễ ứng dụng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.    Ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt của người dân, của các làng nghề cũng như các doanh nghiệp sản xuất được xả trực tiếp ra dòng chảy đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội.  Xuất phát từ thực tế đó, từ năm 1998, PGS. TS. Nguyễn Việt Anh  cùng các chuyên gia môi trường của Viện KH& KT Môi trường, trường ĐHXD Hà Nội, đã nghiên cứu và phát triển thành công giải pháp “Cải tiến bể tự hoại với các vách ngăn mỏng và ngăn lọc kỵ khí’’ gọi tắt là BASTAF. Công nghệ này khi kiểm nghiệm qua các ứng dụng thực tế đã cho kết quả khả thi. Không dừng lại ở thành công đó, nhóm tác giả còn tiếp tục phát triển thêm bể xử lý hiếu khí AT để hoàn thiện cụm bể xử lý nước thải tại chỗ kỵ khí kết hợp hiếu khí – gọi tắt là BASTAFAT, và tiếp theo đó, tối ưu hóa và hợp khối các quá trình xử lý lại vào trong cùng 1 bể, chế tạo sẵn bằng composite, gọi là bể AFSB.  Với các loại bể tự hoại thông thường, nước thải sẽ đi qua chiều ngang, việc tiếp xúc với lớp bùn giàu vi sinh vật rất hạn chế, đó chính là lý do hiệu suất xử lý của bể không cao: chỉ loại bỏ được khoảng 25 đến 45% chất hữu cơ và 50 đến 60% chất lơ lửng. Với bể cải tiến, có thêm các vách ngăn mỏng hướng dòng mà nhóm nghiên cứu đề xuất, nước thải sẽ chuyển động theo mô hình từ dưới lên trên, đi xuyên qua lớp bùn đáy bể, các vi khuẩn kỵ khí có trong bùn sẽ hấp thu, phân huỷ chất hữu cơ và giữ cặn có trong nước thải.   Kết quả phân tích trên các công trình ứng dụng ngoài hiện trường cho thấy, hiệu suất xử lý trung bình của bể BASTAF theo hàm lượng cặn lơ lửng SS, chất hữu cơ theo COD và BOD đạt 75% đến 80%, gấp 2 đến 3 lần so với hiệu suất xử lý nước thải trong các bể tự hoại thông thường. Hiệu suất xử lý của các bể BASTAFAT và AFSB cho phép đạt các quy chuẩn thải cột A đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.  Hiện các mô hình Bể xử lý nước thải cải tiến này đã được áp dụng tại một số công trình như Khu biệt thự, Trung tâm Hội nghị Quốc gia và Cung quy hoạch ở Hà Nội, đảo du lịch Cát Bà, nhà chung cư trong đô thị, làng nghề, …cho kết quả rất tốt. Hiện các bể BASTAFAT và AFSB được chế tạo sẵn theo kiểu module, bằng vật liệu composite cốt sợi thủy tinh, có thể dùng trong xử lý nước thải sinh hoạt từ các biệt thự, nhóm hộ gia đình, chung cư, các công trình công cộng như khách sạn, bệnh viện, nhà hàng, các điểm du lịch, resort hay trong xử lý nước thải công nghiệp có thành phần chất hữu cơ cao, nước thải làng nghề…   Với những ứng dụng và hiệu quả thiết thực đó, năm 2011, giải pháp BASTAFAT đã được Cục SHTT đã cấp bằng Độc quyền sáng chế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bee Yin Yeo: Nỗ lực bảo vệ môi trường      Tân Bộ trưởng Bộ Khoa học và Môi trường của Malaysia đã trở thành tiếng nói mạnh mẽ chống ô nhiễm rác thải nhựa.      Một số chính sách của Bee Yin Yeo được hi vọng sẽ cứu vãn tình hình ô nhiễm rác thải nhựa ở Malaysia. Nguồn: TheStar   Bee Yin Yeo đã bắt đầu đặt câu hỏi về tương lai của thế giới – và sự nghiệp của chính mình – khi đánh giá các giếng dầu ở sa mạc vùng Turkmenistan. Cô sinh viên vừa mới tốt nghiệp này nhận thấy rằng sớm muộn gì con người cũng sẽ từ bỏ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, bởi vậy cô đã quyết định tìm một ngành nghề khác góp phần phục vụ cho sự phát triển lành mạnh của thế giới.  Một thời gian sau, khoảng năm 2010, cô quay lại quê nhà Malaysia với tấm bằng thạc sĩ ngành Kỹ thuật hóa học tại Đại học Cambridge (Anh quốc). Yeo bắt đầu tham gia chính trị và giành được một ghế tại Hội đồng lập pháp bang năm 2013. Sau đó, tại Malaysia diễn ra cơn sóng thần chính trị, ngày 9/5/2018, các cử tri đã lật đổ Liên minh cầm quyền tại vị từ lúc thành lập đất nước năm 1963. Chính phủ mới xác lập nội các của mình, trong đó Yeo được chỉ định là Bộ trưởng Bộ Năng lượng, Khoa học, Công nghệ, Môi trường và Biến đổi khí hậu (MESTECC).  Yeo khá “sốc” khi lần đầu tiên nghe tin về việc bổ nhiệm này bởi theo cô  “đây là điều không tưởng”. Người phụ nữ 35 tuổi này lớn lên tại một thị trấn nhỏ giữa những cây cọ dầu và cao su ở miền nam Malaysia. Trong suốt 5 năm, Yeo dành thời gian lên án nhiều chính sách quốc gia và hiện giờ trở thành người có khả năng thay đổi chúng.  Kể từ khi nhận chức vào ngày 2/7/2018, Yeo đã có một loạt bước đi táo bạo trong việc cải cách các hoạt động quản lý môi trường và nghiên cứu của Malaysia. Cô công bố mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo từ 2% lên đến 20% tổng sản lượng năng lượng đất nước vào năm 2030 nhằm cải cách thị trường điện và tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng. Cô cũng đi đầu trong trận chiến chống ô nhiễm rác thải nhựa – được coi là thứ bệnh dịch đang tràn lan khắp Đông Nam Á. Yeo chỉ trích dòng chất thải nhựa chảy vào Malaysia và góp phần thiết lập lệnh cấm nhập khẩu chất thải này trên toàn quốc. Vào ngày 31/10, Yeo đã đưa ra Lộ trình 12 năm và khung pháp lý nhằm hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn nhựa sử dụng một lần ở Malaysia vào năm 2030, đồng thời kêu gọi việc nghiên cứu và thương mại hóa các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường như nhựa có khả năng phân hủy sinh học.  Những nỗ lực của Yeo diễn ra trong bối cảnh mối quan tâm toàn cầu về vấn đề nhựa sử dụng một lần đang lên cao, ví dụ trong tháng 10, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu cấm sử dụng các sản phẩm như ống hút và dao kéo từ nhựa một lần, và ngày càng có nhiều quốc gia khác ban hành lệnh cấm tương tự.  Julian Hyde, tổng giám đốc Tổ chức môi trường Rạn san hô Malaysia tại Kuala Lumpur, ca ngợi những nỗ lực và lộ trình của Yeo: “Điều quan trọng nhất là tính khả thi về thời gian”. Tuy nhiên Hiệp hội các nhà sản xuất nhựa Malaysia (MPMA) thì thấy trước một số vấn đề, ví dụ theo Ching Yun Wee, chủ tịch Tiểu ban về Sự bền vững của MPMA, các nhà sản xuất địa phương hiện có thể sản xuất ra các loại nhựa phân hủy sinh học nhưng những vật liệu này chưa thể phân hủy hoàn toàn hoặc chưa đủ nhanh để có thể giải quyết được tình trạng ô nhiễm nhựa. Bà Wee cũng nhận xét thêm, so với những người tiền nhiệm thì Yeo đã cho Hiệp hội nhiều cơ hội lên tiếng hơn.  Yeo tin rằng bằng cách tài trợ cho các nghiên cứu trong nước và áp dụng một số kỹ thuật nước ngoài, Malaysia có thể phát triển công nghệ cho nhựa phân hủy sinh học.  “Một số người chỉ nghĩ đến các vấn đề khi đưa ra giải pháp mà không tập trung vào các giải pháp cho vấn đề này”, Yeo nói. “Khi không thể kinh doanh như bình thường, ta sẽ phải tìm một giải pháp khác chứ”.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bên ly cà phê: nói chuyện nay, chuyện mai      Kể cũng lạ, ở một nước xuất khẩu cà phê nhất nhì thế giới, nông dân và con cháu họ chỉ biết sản xuất ra hột cà phê cho thị trường, không cần và không thể biết sản phẩm mình đi tới đâu, nằm ở chuỗi cung ứng nào, nhưng hàng năm vẫn thu về cho đất nước một lượng kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ đôla Mỹ.      Như bà mẹ đẻ đứa con, mới thả nó ra đường thì đã lạc mất: đó là thân phận của hột cà phê Việt Nam hiện nay.    Dám nói rằng chỉ có nhờ ơn trời mới ra được thế!  Hột cà phê đi phương nào?  Như bà mẹ đẻ đứa con, mới thả nó ra đường thì đã lạc mất: đó là thân phận của hột cà phê Việt Nam hiện nay. Tiếng là hàng năm cả nước xuất khẩu bình quân chừng một triệu rưỡi tấn cà phê, hàng bán ra được rải khắp bốn phương tám hướng, nhưng toàn không tên không tuổi. Qua Tây qua Tàu, xuất hiện tên nước khác người khác, nào cà phê Colombia, Indonesia, thậm chí Malaysia dù nước này không sản xuất cà phê. Trong khi hột cà phê Việt Nam – mang chính tên khai sinh -thì chẳng mấy khi thấy tăm hơi đâu.  Nước sản xuất thì thôi đành, nhưng tên doanh nghiệp của các nước nhập khẩu không sản xuất hột cà phê nào cũng quá loạn, thương hiệu lớn bé nhan nhản. Buồn là chẳng mấy ai biết rằng cứ trong năm hột cà phê họ uống, có một hột là của Việt Nam! Một ly cà phê trên thế giới uống năm hớp, trong đó có một hớp là cà phê “made in Vietnam”.  Người uống không biết chuyện ấy, thôi cũng được! Người sản xuất cũng chẳng biết tuốt! Vậy mà nông dân quê tôi ngày ngày vẫn phải chăm chú làm ăn, chẳng ai biết phải làm sao để minh định mình là “chính chủ”, hoàn toàn im hơi, một tiếng cũng không, nửa chữ cũng chưa thấy.  Trong nước cũng có một hiệp hội cà phê, chủ yếu chỉ phục vụ cho các nhà kinh doanh và xuất khẩu. Nông dân mang tiếng có mặt trong hội gì chăng nữa, cũng phải thông qua sự đại diện “toàn quyền” của giới trung gian.  Tiếng là sẽ có chương trình giúp họ tài chính trong kế hoạch tái canh 120.000 héc ta cà phê già cỗi, nhưng suy cho cùng mục đích ấy: nhằm tăng sản lượng để phục vụ cho các nhà kinh doanh và xuất khẩu. Cứ ngẫm mà xem!  Khi đứa con đẻ ra bị thất lạc, nếu may mắn nằm vào tay người bảo lãnh tốt: được phước. Nhưng tâm lý của kẻ sinh thành đâu có yên: ngày ngày ngại số phận con mình phiêu lưu như giao trứng cho ác.  Bao lâu nông dân chưa được chia sẻ thông tin và tham gia vào các chuỗi cung ứng, con cháu họ chưa được quan tâm vào trường lớp đào tạo nghề cà phê để hiểu biết và phục vụ cho chuỗi cung ứng sản phẩm họ làm ra, thì khó nói rằng họ đã được đối xử công bằng trong một nền thương mại công bằng.  Hứng đủ rủi ro  Tại nhiều nước sản xuất cà phê khác, nhờ có tổ chức và liên kết tốt từ sản xuất đến tiêu thụ, người nông dân chỉ việc chăm sóc, thu hái, đưa vào trung tâm chế biến của hợp tác xã hay nhà máy từng khu vực, công việc mua bán xuất khẩu có bộ phận chuyên nghiệp lo. Một khi gặp rủi ro thị trường, họ đều được thông đạt. Còn ở Việt Nam, do sản xuất nhỏ lẻ manh mún, hầu hết sản phẩm thu hoạch đều trao cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, dù đó là thương lái hay các công ty xuất khẩu.  Hai điều làm đau lòng nhất cho nông dân cà phê nước ta là một khi hột cà phê vào tay thương lái hay nhà xuất khẩu, “đứa con mình đẻ ra” dẫu rất đẹp, thường bị trộn chung với các loại chất lượng bát nháo, nó trở thành đứa trẻ xấu xí. Đàng khác, do nhiều doanh nghiệp cà phê kinh doanh theo cách đầu cơ, mua bán kiểu cầu may theo giá kỳ hạn trên thế giới, tăng thì trữ, giảm thì bán khống theo sàn kỳ hạn, một loại kinh doanh như sàn chứng khoán, đã làm hột cà phê ngụp lặn với vô vàn khó khăn và rủi ro về giá. Điệp khúc “được mùa mất giá, được giá mất mùa” không mấy ai giải thích giùm nên tâm trạng người trồng cà phê cứ khi lên mây khi xuống vực chẳng biết đâu mà lường.  Có khi biết hột cà phê chắc chắn do mình làm nên, đó là con mình, nhưng tung ra chợ đời, lại không biết ai là người tiêu thụ, ai  khen chê ngon dở, làm sao đưa đúng địa chỉ cho người cần và thích sử dụng. Cái thương tâm ấy trở thành cái vô duyên của hột cà phê Việt Nam.  Nỗ lực tái tổ chức: chưa đến đâu!  Hiện nay, hàng năm xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn đứng hàng đầu thế giới trên thị trường robusta và thứ hai chỉ sau Brazil trong toàn bộ các nước xuất khẩu cà phê về khối lượng gồm hai loại arabica và robusta.  Từ trước đến nay tiếng là xuất khẩu, nhưng các doanh nghiệp thường đưa hàng đi bán xa cạ, bỏ phí rất nhiều tài nguyên, công sức và tiền bạc. Thậm chí nhiều năm giá thị trường xuống, cả nông dân và doanh nghiệp trong nước lao đao thua lỗ, ảnh hưởng lớn đến sinh kế của nhiều gia đình sống nhờ vào hột cà phê từ mấy đời nay.  Một số cố gắng về chính sách được thử đi thử lại nhiều lần, như Chính phủ kêu gọi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, khi thì liên kết “ba nhà” lúc thì “bốn nhà”, nói chung với thiện ý làm sao cho sản phẩm nông nghiệp và đặc biệt là hột cà phê có thị trường và giá cả ổn định để đảm bảo cuộc sống của nhà vườn. Thực tế chưa như mong muốn.  Tưởng nhiều lúc quy tụ được nhiều “nhà” gồm nhà nông, nhà xuất khẩu, nhà băng, nhà khoa học, và kể cả Nhà nước, sẽ giúp giá cà phê bền vững. Nhưng không, rủi ro vẫn hoàn rủi ro.  Phong trào xây dựng hợp tác xã mới đang ráo riết hoạt động để làm sao liên kết sản xuất giữa nông dân với nhau và gom lực khi có sản phẩm, một hình thức của “cánh đồng mẫu lớn” như ở ngành sản xuất lúa gạo, nhưng các thửa ruộng sản xuất lúa ở đồng bằng còn rộng hơn nhiều so với các mảnh vườn nhỏ ở Tây nguyên, vùng sản xuất cà phê trọng điểm của cả nước, với bình quân mỗi nông hộ chừng nửa héc ta.  Các thử nghiệm mô hình sản xuất-lưu thông và quyết sách kinh tế cũng như an sinh xã hội cho ngành cà phê lại không dựa vào yếu tố này, chưa tìm cách biến sở đoản thành sở trường, hệt như ở đồng bằng sông Cửu Long, cứ chăm chăm sản xuất lúa dù vùng này càng lúc càng bị ngập mặn, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế lúa gạo.  Đánh thức “công chúa ngủ trong rừng”  Cách sản xuất, thu hái, chế biến và mua bán cà phê theo kiểu xa cạ hiện nay chỉ làm lợi cho phía người mua hàng. Rõ ràng người đi buôn chỉ mong được mua hàng giá rẻ, khối lượng giao dịch càng lớn họ càng mừng vì ta giúp họ tăng doanh số. Nói chung, người mua, đặc biệt là thương nhân trung gian, sẽ không khuyến khích chúng ta làm tốt khâu chất lượng.  Cách mua dễ sẽ tạo cho người bán không để ý đến chất lượng sản phẩm trong hột cà phê vì tất cả các cấp loại hột từ đen, nâu, sâu, vỡ… đều được chấp nhận, dĩ nhiên với giá cực rẻ và được mua lâu dài. Nên bây giờ mới hiểu được rằng mỗi khi có một hội nghị về sản xuất cà phê bền vững, nhà nông và doanh nghiệp thường đưa vấn đề giá lên hàng đầu.  Nhưng quyết định sự tồn vong của nhà buôn xưa nay là mua thấp bán cao. Yêu cầu các nhà nhập khẩu và thương lái trong nước mua giá cao làm sao mà được cơ chứ?  Đã manh nha một “con đường cà phê đặc sản” được những người trẻ đam mê cà phê tạo dựng dần và có nhiều kết quả khả quan.Không nên hiểu cà phê đặc sản như là những sản vật độc đáo xuất phát từ một vùng miền riêng biệt.  Nói cà phê ở một vùng nào đó ngon nhưng với cách bán xa cạ như hiện nay sẽ xóa nhòa đi tính đặc trưng của chính hột cà phê ấy. Như vậy chỉ giúp cho người biết khai thác kinh tế cà phê làm giàu, còn nông dân trực tiếp trồng cà phê chỉ là người bị lợi dụng. Nhất là khi ngành thực phẩm đang bị khống chế bởi các hóa chất hóa phẩm, có thể tạo màu, mùi và hương vị sẵn sàng đánh lừa ngũ giác con người một cách dễ dàng.  Hột cà phê ngon được trồng trên vườn cà phê tốt, nếu như không được thu hái đàng hoàng và nghiêm túc tức lựa từng trái chín vừa đủ, nếu không có cách chế biến phù hợp, không được rang trong điều kiện nhiệt độ và thời gian tối ưu… sẽ không có cà phê đặc sản.  Trong một chuyến du khảo cuối năm, tôi đã tận mắt chứng kiến cách thu hái, chế biến hột cà phê robusta, vốn trong tâm trí tôi, chỉ cho rằng đấy là loại cà phê rẻ tiền, chỉ dùng để phối trộn và chế biến cà phê hòa tan, một thức uống công nghiệp tiện dùng và vừa túi tiền của người lao động. Nhưng rất bất ngờ, khi qua tay những bạn trẻ, một số người nghiên cứu cách chế biến, vị cà phê robusta thường là đắng chát, hương chẳng có gì đặc sắc, đã trở thành những ly cà phê thơm ngát và ngọt ngào.  “Nếu ơ hờ trong thu hái, không quan tâm đến chế biến và rang xay cho đúng để trích xuất các chất tinh túy của hột cà phê, như đánh thức nàng công chúa ngủ trong rừng, thì khó ai biết hột cà phê robusta Việt Nam thơm ngon đến vậy”, Sam Choi, anh bạn trẻ người Hàn Quốc sống tại Thái Lan, người đam mê sản xuất và chế biến cà phê đặc sản robusta nói như thế trong chuyến khảo nghiệm.  Hiện nay, mỗi kg cà phê bán theo giá chợ (của thế giới) chừng 1,7 đô la Mỹ, nhưng ở các nước Thái Lan và Lào có người đang bán 5 đô la!  Điều kiện sản xuất nhỏ lẻ của mảnh vườn cà phê Việt Nam hết sức phù hợp với phát triển cà phê đặc sản.  Các bạn trẻ nhiều nơi đã có những sản phẩm cà phê đặc sản, tuy chưa nhiều và phổ biến, một thương hiệu L ‘Amant (Người tình) ở thành phố Pleiku, một The Married Beans (Cà phê Kết giao) tại Đà Lạt… đã liên kết bền vững với từng vườn cà phê tại chỗ để cho ra những ly cà phê tuyệt vời.  Hy vọng đấy sẽ là những gạch nối cho “con đường cà phê đặc sản” của Việt Nam xuyên suốt chiều dài Tây nguyên, kéo dài cho đến trung tâm tiêu thụ cà phê đặc sản tại TP.HCM. Đó chính là hướng để đánh thức tiềm năng hột cà phê và nền kinh tế dựa trên hột cà phê.  Hơn bao giờ hết, nhất là trong khi giá cà phê thế giới đang bị các quỹ đầu cơ tài chính khuynh đảo, việc ủng hộ mối liên kết chặt chẽ giữa các vườn cây và các nhà chế biến cà phê đặc sản, không chỉ nâng cao giá trị hột cà phê Việt Nam mà tạo được một nền sản xuất bền vững tự tay mình và cho chính mình.  Nên chăng, đã đến lúc ngành cà phê nên xem lại quan điểm, đào tạo nghề cho con cái nông dân cà phê để họ đi theo đường chuyên nghiệp và sống lâu dài với hột cà phê như cha ông họ đã từng sống nhờ hột cà phê trên trăm năm nay.  Có lẽ, về lâu dài, các tiệm cà phê “hóa chất” phải biến mất vì nên đặt mối liên kết với nông dân sản xuất cà phê như một điều kiện bắt buộc để mở cửa hàng bán loại thức uống hấp dẫn này.  Theo TBKTSG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bên trong một trung tâm dữ liệu      Những cỗ máy tính to lớn chạy ồn ả. Không khí lạnh ngắt và độ ẩm thấp. Hàng dãy tủ rack dài cùng với ngổn ngang dây điện. Đã thế, nơi đây lại không một bóng người lui tới.      Một khung cảnh buồn và tẻ nhạt chính là cảm giác đầu tiên của những ai đặt chân đến một trung tâm dữ liệu. Vậy mà, trong những tiếng ồn ả và mớ dây điện ngổn ngang đó là những khối dữ liệu khổng lồ hết vào lại ra của các doanh nghiệp lớn trong nước và trên thế giới.   Sự phát triển của công nghệ đang biến dữ liệu trở thành một tài sản vô cùng quý giá với nhiều doanh nghiệp. Vậy một trung tâm dữ liệu hoạt động như thế nào? Đây là đâu mà không có ai lui tới, mà nếu ai đó có dịp đến thì phải tuân thủ các điều kiện cực kỳ ngặt nghèo, kể cả chuyện phải bị bịt mắt để dẫn vào?   Chúng tôi được mời đến thăm trung tâm dữ liệu của CMC Telecom, một công ty của tập đoàn công nghệ thông tin hàng đầu Việt Nam tại Khu công nghệ cao TPHCM.   Nằm trên khu đất vàng, cao và thoáng mát, cách mực nước biển chừng 20 mét, trung tâm dữ liệu của CMC Telecom đã thu hút được khá nhiều khách hàng. Trên một khu đất chừng 6.000 mét vuông, trung tâm dữ liệu của CMC Telecom đã hoàn tất được giai đoạn một, với hơn 200 tủ rack, sức chứa hơn 4.000 máy chủ.  “Hướng dẫn viên” của chúng tôi là ông Nguyễn Xuân Thu, Phó giám đốc Trung tâm kinh doanh ODS – CTCP Hạ tầng viễn thông CMC dẫn chúng tôi đi tham quan những hàng dài các tủ rack chứa các máy chủ đang chạy khá ồn ả trong cái lạnh 22 độ C, nhiệt độ lý tưởng để chạy các thiết bị cùng độ ẩm 50%. Ông Thu giải thích, nếu nhiệt độ tăng thêm 5 độ C, thì tuổi thọ của thiết bị sẽ bị giảm 20%. Để giữ cho các máy chủ được hoạt động tốt trong môi trường đó, công ty đã phải đầu tư một dàn lạnh chính xác mà suất đầu tư ít cũng phải gấp 2 đến 3 lần so với các dàn lạnh thông thường. Các dàn lạnh này được đặt ở tầng dưới, thổi khí lên âm tường. Khí lạnh được tỏa ra phía trước dàn máy, được thổi ra phía sau và rồi hút ra bên ngoài. Đây cũng chính là lý do mà nhiều hãng công nghệ lớn trên thế giới như Facebook chọn các nước Bắc Âu đặt trung tâm dữ liệu của mình để tận dụng khí lạnh thiên nhiên ngoài trời nhằm tiết kiệm năng lượng.   Yếu tố quan trọng nhất trong một trung tâm dữ liệu đó chính là sự bảo mật. Ngoài những chứng chỉ như ISO 27000 cần phải có, một trung tâm dữ liệu cần phải có các quy trình riêng bí mật của mình. Theo ông Thu, để bảo mật, doanh nghiệp phải dựa trên 5 yếu tố, về vị trí, mạng kết nối, nguồn điện, hệ thống làm lạnh và hệ thống phòng chống thiên tai.  Dĩ nhiên, bảo đảm thông suốt nguồn điện là một ưu tiên hàng đầu, nhất là trong bối cảnh mất điện cả do thiếu lẫn sự cố ở Việt Nam. Ngoài các tụ điện UPS công suất lớn, hệ thống máy phát điện cũng luôn sắn sàng bảo đảm hoạt động của các máy chủ luôn được thông suốt. 5 chiếc máy phát điện công suất lớn đã sẵn sàng cho mọi sự cố, dù rằng để phát điện cho toàn trung tâm chỉ cần một máy mà thôi.   Các mối nguy hiểm cháy nổ luôn được tính đến. Toàn bộ trung tâm đều phải được trang bị hệ thống đầu dò, cảnh báo nguy hiểm nhằm phát hiện khói, chống lửa, phát hiện chuyển động, hệ thống camera giám sát và cảnh báo khi có vi phạm an toàn. Trong trường hợp xấu nhất, khi có lửa cháy, thì hệ thống chữa cháy trang bị khí FM200 sẽ tự động trong vòng 5 giây sẽ bao phủ hoàn toàn phòng máy và dập lửa trong vòng 1 phút. Việc sử dụng bình chữa cháy khí FM200 có lợi là trong quá trình dập lửa sẽ không gây ảnh hưởng đến thiết bị và không đẩy khí oxy ra ngoài nên khi sự cố được khắc phục thì các nhân viên có thể vào và khôi phục hệ thống máy chủ ngay lập tức mà không bị ngất xỉu. Tuy nhiên, loại bình này là rất đắt tiền, giá một lần nạp khí lên đến 30.000 đô la Mỹ, mà phải bay ra nước ngoài mới có.   Tính ra, tổng vốn đầu tư cho cả hai giai đoạn của trung tâm này cũng phải hàng trăm tỉ đồng.   Trung tâm dữ liệu của CMC Telecom được xem là bậc trung so với các ông lớn khác. Các công ty như FPT, VNPT và Vietel cũng đã có các trung tâm dữ liệu lớn của mình ở cả TPHCM và Hà Nội. Các tập đoàn công nghệ cao như Google, Facebook, Intel… đều đầu tư rất lớn cho các trung tâm dữ liệu của mình. Theo Công ty nghiên cứu về công nghệ thông tin Gartner, các doanh nghiệp trên thế giới đã đầu tư khoảng 140 tỉ đô la Mỹ trong năm 2012 về trung tâm dữ liệu và con số này sẽ là 143 tỉ đô la Mỹ trong năm nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bệnh dịch hạch đã thay đổi thói quen của các “ma men” như thế nào?      Nhân đại dịch Covid-19, chúng ta hãy cùng nhìn lại thói quen uống rượu trong bối cảnh dịch bệnh.      Bức tranh mô tả một người đàn ông uống nước trong trận dịch năm 1665 ở London. Ảnh: Wellcome Collection.     Vào năm 2020, số ca tử vong do rượu ở Anh và xứ Wales đã đạt mốc cao nhất trong 20 năm qua. Văn phòng Thống kê Quốc gia ghi nhận 7.423 trường hợp tử vong do lạm dụng rượu, tăng 19,6% so với năm 2019. Mặc dù điều này có thể bắt nguồn từ nhiều lý do phức tạp, nhưng dữ liệu từ Y tế Công cộng Anh cho thấy đại dịch Covid-19 và hậu quả của nó cũng chịu một phần trách nhiệm. Công việc và các hoạt động xã hội bị gián đoạn đã dẫn đến sự gia tăng của việc lạm dụng rượu trong nhà.      Tôi đã tham gia vào dự án Intoxicating Spaces để tìm hiểu cách các đại dịch ảnh hưởng đến việc sử dụng các chất gây say, bao gồm các kiểu uống rượu, trong quá khứ. Trong đó, chúng tôi đã xem xét cách mà các đợt bùng phát dịch hạch liên tiếp bao trùm nước Anh, đặc biệt là London, vào thế kỷ 17 (1603, 1625, 1636 và 1665) đã tạo ra những thay đổi như thế nào trong thói quen uống rượu của người dân.      Hệt như hiện tại, những đợt bùng phát dịch bệnh đột ngột và đáng sợ này đã khiến người dân khó đến quán trọ, quán rượu, quán bia hay những nơi tụ tập uống rượu khác. Dù không bị đóng cửa hoàn toàn, nhưng các quán xá kiểu này đã phải tuân theo một quy định tương tự như luật giãn cách xã hội. Chẳng hạn, lệnh cấm liên quan đến bệnh dịch hạch ở London năm 1665 đã xác định “tình trạng bát nháo lộn xộn trong quán rượu, quán bia, quán cà phê và hầm rượu” là “địa điểm tốt nhất để lây lan dịch bệnh” và áp đặt lệnh giới nghiêm lúc 9 giờ tối.      Rất khó để xác định những quy định này đã thay đổi cách con người thế kỷ 17 sử dụng rượu như thế nào nếu chỉ dựa trên những thông tin ít ỏi còn sót lại. Tuy nhiên, bằng chứng mang tính ‘giai thoại’ cho thấy có thể đã có một sự thay đổi đối với việc uống rượu ở nhà. Trong tác phẩm kinh điển xuất bản vào năm 1722 mang tên Due Preparations for the Plague – thể hiện những suy ngẫm của mình về sự bùng phát bệnh dịch ở London năm 1665, Daniel Defoe đã kể câu chuyện về một người bán hàng tạp hóa ở London, người đã tự nguyện cách ly tại nhà bản thân và gia đình mình trong suốt thời gian đại dịch. Trong số những vật phẩm cần thiết mà anh ta liệt kê có 12 thùng bia, các loại thùng chứa bốn loại rượu.      Theo Defoe, kho dự trữ ấn tượng này không phải là đòi hỏi vô cớ mà đó là “mặt hàng cần thiết”. Điều này rất dễ hiểu vào thời điểm lúc ấy, nhưng lại là điều ngạc nhiên đối với thông điệp về sức khỏe cộng đồng ngày nay. Lúc bấy giờ, rượu được cho là có giá trị về mặt y học, và việc uống rượu một cách vừa phải trong các đợt bùng phát dịch hạch được khuyến khích.      Rượu đóng vai trò như một loại thuốc bổ     Các bác sĩ và những người chuyên viết các bài về y khoa tin rằng rượu có tác dụng như một chất ngăn ngừa bệnh dịch hạch, theo hai cách chính.  Đầu tiên, việc uống các loại bia, rượu vang và rượu mạnh được cho là có tác dụng tăng cường các cơ quan bảo vệ quan trọng trong não, tim, gan. Chúng đặc biệt có lợi nếu uống khi vừa ngủ dậy vào buổi sáng, và nhiều người khuyên rằng nên tăng cường uống những thức uống này trong bữa sáng để chống lại bệnh dịch hạch.      Trong chuyên luận về bệnh dịch hạch năm 1665 của mình, Medela Pestilentiae, Richard Kephale đã tuyên bố rằng “uống một panh maligo [rượu Malaga] vào buổi sáng sẽ giúp chống lại bệnh truyền nhiễm”. (Ông ấy cũng đã tán dương về những “công dụng không thể diễn tả thành lời của thuốc lá”) Nhiều công thức pha chế nước “phòng ngừa” và “chữa trị” phổ biến luôn chứa rượu vang và rượu mạnh, cũng như các loại thảo dược.      Thứ hai, và có lẽ quan trọng hơn, uống rượu vừa phải được cho là có tác dụng ngăn chặn tinh thần hoảng loạn, sợ hãi gây ra sự u uẩn (mà hiện tại ta vẫn gọi là trầm cảm), được cho là khiến mọi người dễ mắc bệnh dịch hạch hơn.         Khung cảnh trận dịch năm 1665. Ảnh: Wellcome Collection.   Như Defoe đã nói, việc người bán hàng tạp hóa tích trữ rượu không phải để thỏa mãn việc “uống cho vui hay uống thả ga” của anh ta và gia đình, mà là “để giữ cho tinh thần của họ không bị sa sút hay chán nản trong những sự kiện gây u uẩn như vậy”. Tương tự, trong chuyên luận về bệnh dịch hạch năm 1665 của mình, Zenexton Ante-Pestilentiale, bác sĩ William Simpson đã ủng hộ việc “uống hớp rượu” để “cảm thấy dễ chịu hơn” mà “khiến tinh thần vui vẻ”. Điều này sẽ loại bỏ “những suy nghĩ về nỗi sợ hãi, lòng hận thù, sự lo lắng, buồn phiền và những suy nghĩ rối bời khác”, và do đó “giúp sức sống trở nên mãnh liệt để chống lại mọi hơi thở lây nhiễm”.      Điểm quan trọng mà tất cả những tác giả chuyên viết sách về y học nhấn mạnh đó là uống rượu “một cách vừa phải”. Uống rượu quá đà đến mức say xỉn là việc cần tránh, và “sống điều độ với chế độ ăn uống phong phú” vẫn là cơ sở cho hầu hết các đơn thuốc chữa bệnh dịch hạch.      Tuy nhiên, hiện tại, trong bối cảnh công việc và hoạt động giải trí đều bị gián đoạn, cùng với những nỗi lo khi sống trong một thành phố dịch bệnh, khiến nhiều người có thói quen bầu bạn với rượu làm niềm an ủi. Trong A Journal of the Plague Year – một tiểu thuyết nổi tiếng hơn của Defoe về trận bùng phát dịch bệnh ở London năm 1665 – ông kể câu chuyện về một vị bác sĩ luôn giữ được “lòng nhiệt huyết và sôi nổi với rượu mùi và rượu vang”. Nhưng “không thể dứt khỏi chúng khi bệnh đã khỏi, và vì thế ông đã trở thành một con ma men trong suốt phần đời còn lại.”     Anh Thư tổng hợp  Nguồn:  How the bubonic plague changed drinking habits  Black Death shows how disease changes daily life       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bếp gas hồng ngoại tận dụng phụ phẩm nông nghiệp      Nhóm tác giả thuộc Viện Nghiên cứu và phát  triển vùng, Bộ KH&amp;CN, gồm PGS.TS Lê Tất Khương, ThS Hoàng Đức Trọng,  ThS Nguyễn Tùng Cương và Nguyễn Mạnh Hà, đã nghiên cứu thành công bếp  gas sinh học hồng ngoại tận dụng được nguồn chất đốt từ phế thải và phụ  phẩm nông nghiệp.    Sản phẩm được đánh giá phù hợp với quy mô hộ gia đình Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường nông thôn.  Bếp gồm lò hóa khí hình trụ hai lớp bằng kim loại, giữa có bộ phận cách nhiệt có thể chịu hàng ngàn độ C, với khoang đốt, van đốt và hệ thống nén nhiên liệu với nguyên liệu là các phụ phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, rơm rạ, lõi ngô…, tạo thành viên nén. Khi được đưa vào khoang đốt và chuyển thành khí cháy, khí sẽ chuyển sang bộ phận đốt và tạo hồng ngoại.   Bếp có khả năng vận hành liên tục, không bị tắt lửa, giảm thiểu khí độc như các loại bếp củi, bếp than tổ ong, bếp gas… Qua thực tế, chi phí nguyên liệu cho bếp gas hồng ngoại cũng giảm từ 25 đến 40% so với bếp gas thường và từ 10 đến 30% so với bếp than tổ ong. Ngoài ra, bếp gas hồng ngoại còn góp phần giải quyết các phụ phẩm nông nghiệp, tránh hiện tượng đốt rơm rạ hoặc bỏ phí sau thu hoạch nông vụ.   Trong tương lai, bếp gas sinh học hồng ngoại có thể mở rộng áp dụng ở khu vực nông thôn, nơi sẵn có nguồn nguyên liệu đa dạng và phong phú.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bếp sinh khối hóa khí Thế hệ Xanh: Tiết kiệm trên 50% lượng củi đun       Với thiết kế đặc biệt, bếp THX không chỉ tiết kiệm được 50 đến 60% lượng củi so với bếp củi truyền thống mà còn tạo ra ít khói trong khi đun, qua đó giảm phát thải khí độc hại, góp phần bảo vệ sức khỏe người sử dụng và thân thiện với môi trường.      Bếp Thế Hệ Xanh (THX) – Bếp sinh khối hóa khí là một dự án của Công ty cổ phần Thế Hệ Xanh, một doanh nghiệp tiên phong chuyên cung cấp các giải pháp tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả năng lượng tái tạo trong đời sống hàng ngày, được thành lập năm 2012. Trên cơ sở sử dụng năng lượng sinh khối từ nguồn nguyên liệu là các phụ phẩm trong nông lâm nghiệp (rơm, rạ, trấu, mùn cưa, lõi ngô, bã mía, gỗ vụn, dăm bào…), bếp THX giải quyết được hai vấn đề tránh lãng phí nguồn năng lượng sẵn có và giảm thải khí nhà kính vào môi trường.  Ưu điểm của bếp THX là thiết kế đặc biệt, không cần quạt thổi, dễ châm lửa và lửa cháy đượm, tiết kiệm được 50 đến 60% lượng củi so với bếp củi truyền thống; không cần trông bếp, đầy củi khi đun (tiết kiệm thời gian, có thể vừa đun bếp vừa làm việc khác. Do bếp rất nhẹ nên người sử dụng còn có thể dễ dàng xách bếp di chuyển, thuận tiện trong việc cất giữ. Ngoài ra cũng nhờ được thiết kế đặc biệt, bếp tạo ra ít khói trong khi đun, qua đó giảm phát thải khí độc hại, góp phần bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường.   Hiện công ty cổ phần Thế Hệ Xanh đã chế tạo được bốn loại bếp THX có kích thước tùy theo mục đích sử dụng. Bếp lớn kích thước: dài 27cm, rộng 27cm, cao 49cm, thời gian vận hành không cần tiếp củi là 90 đến 120 phút, có khả năng đun được nồi cỡ nồi tối đa 40 lít. Bếp cỡ trung sử dụng củi kết hợp với một hoặc hai hộp sinh khối, kích thước 20 cm chiều dài, 20 cm chiều rộng, 40 cm chiều cao, thời gian cháy liên tục không cần tiếp củi từ 50 đến 70 phút. Bếp mini có kích thước 16 cm chiều dài, 16 cm chiều rộng, 30 cm chiều cao, thời gian đun liên tục không cần tiếp củi là 25 đến 40 phút, phù hợp cỡ nồi tối đa 5 lít. Bếp công nghiệp có kích thước 32 cm chiều dài, 32 cm chiều rộng, 52cm chiều cao, có thể làm việc tối đa từ 90 đến 120 phút, phù hợp cỡ nồi từ 50 đến 100 lít.  Năm 2014, 10 nghìn bếp THX đã đến được với 15 tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có nhiều tỉnh trung du, miền núi còn nhiều khó khăn như Tuyên Quang, Sơn La, Cao Bằng, Hà Giang. Đầu năm 2015, Công ty cổ phần Thế Hệ Xanh cũng đã nghiên cứu và cho ra đời dòng bếp THX sử dụng viên nhiên liệu (pellet) không độc hại, không có muội làm đen nồi, hướng tới đối tượng là các hộ dân trong đô thị và vùng ven đô vẫn còn đang sử dụng bếp than tổ ong độc hại.   Là thành viên của Liên minh Bếp sạch Toàn cầu (Global Alliamce for Clean Cookstoves) từ 2011 do Liên Hiệp Quốc thành lập, dự án Bếp THX góp phần hướng đến mục tiêu đạt con số 100 triệu hộ dân sử dụng bếp sạch vào năm 2020 trên toàn cầu.                                                                                             Author                Quản trị        
__label__tiasang Berlioz – Nhà cải cách âm nhạc?      Chúng ta biết gì về Hector Berlioz, ngoài việc nhà soạn nhạc Pháp thời kỳ Lãng mạn này từng sáng tác bản giao hưởng Ảo tưởng? Thật thú vị khi biết rằng, bất chấp những “hoa và gạch đá” từ các nhà phê bình, ông thực sự là một nhà cải cách âm nhạc.      Bức vẽ biếm họa về âm thanh “ầm ĩ” của Hector Berlioz trên báo “Wiener theaterzeitung” năm 1846. © Getty    Charles Koechlin1 đã từng viết về Berlioz vào năm 1922: “Có lẽ không nghệ sỹ nào từng gây ra nhiều bất đồng ý kiến như vậy.” Dĩ nhiên là chẳng cần phải đào xới quá nhiều mới tìm ra được những lời lăng mạ ông, ví dụ trong mục nhật ký của George Templeton Strong2 vào ngày 17 tháng 12 năm 1864 đã viết những lời độc địa: “Overture cho King Lear của Berlioz chỉ là thứ rác rưởi thối rữa. Các overture cho kịch Shakespeare của lũ vượn người Paris đang trở thành thứ gây khó chịu”. Koechlin cũng kể rằng một giáo sư nhạc viện vào những năm 1920 vẫn khăng khăng quả quyết, hẳn sẽ làm tốt hơn nếu Berlioz trở thành thợ đóng giày. Dẫu sao, những lời phê bình nghiệt ngã này vẫn có ích trong việc giúp chúng ta hiểu về Berlioz cũng như việc ông đã đi trước thời đại bao xa và ở những khía cạnh nào.     Âm thanh     Theo kinh nghiệm của tôi, điều đầu tiên tác động lên người nghe là âm thanh của Berlioz. Nó không thể là của Verdi, Wagner, dù đôi khi có thể tạm coi như Liszt, song chắc chắn không thể là Mendelssohn, người từng đưa ra lời khuyên cho bất kỳ ai cầm tổng phổ của Berlioz “Hãy rửa tay ngay đi!”, với hàm ý chê trách. Học giả người Mỹ Jacques Barzun, tác giả hai tập Berlioz and the Romantic Century (Berlioz và Thế kỷ Lãng mạn) đã quy kết lối phối dàn nhạc của Berlioz là “thô cứng” và “gân guốc”, trái ngược với lối “dày dặn” 3 của Wagner.      Việc Berlioz tạo ra sự mộc mạc trong âm thanh của dàn nhạc để giữ cảm xúc khỏi sự ủy mị lại là điều rất đỗi lạ lùng trong âm nhạc thế kỷ 19.      Ngay trong bài báo đầu tiên được viết năm 1823 ở tuổi 19, Berlioz đã nêu ý tưởng của mình về một dàn nhạc gồm các nhóm độc lập, và quan điểm này chưa bao giờ thay đổi trong suốt sự nghiệp sáng tác của ông. Một phần đặc trưng âm thanh của Berlioz xuất phát từ việc ông sử dụng những mảng rỗng lạ lùng trong phần hòa âm cho dàn nhạc cũng như những khoảng lặng mang thông điệp thi ca của riêng chúng, giống như khoảng lặng khiến người nghe nổi gai ốc sau lệnh giục ngựa của quỷ Méphistophélès trong La Damnation de Faust [Tội đày địa ngục của Faust] – tác phẩm dành cho bốn giọng ca độc tấu và hợp xướng của Berlioz.    Berlioz có thể không phải là nhà soạn nhạc đầu tiên tư duy về dàn nhạc một cách trực tiếp (mặc dù Messiaen tuyên bố ông là người đầu tiên “hiểu các âm sắc”) bởi vị trí đó phải thuộc về Beethoven. Các nghệ sỹ song tấu piano có thể hiểu rất rõ điều này khi chơi các bản chuyển soạn giao hưởng của Beethoven trong khi các tác phẩm viết cho dàn nhạc của Berlioz thì hầu như không được như thế, phiên bản song tấu Harold en Italie [Harold ở Ý] – tác phẩm được Berlioz sáng tác dành cho viola và dàn nhạc giao hưởng của người chuyển soạn Chabrier 4 chỉ nhằm mục đích trợ giúp cho sáng tác hơn là để biểu diễn. Tương tự như vậy, ngay cả người điêu luyện trong việc đọc tổng phổ như Saint-Saëns cũng phải thừa nhận, nếu chỉ đọc tổng phổ thì người ta thường chỉ hiểu rất loáng thoáng về âm nhạc của Berlioz.    Vậy Berlioz có điểm nổi trội gì về âm thanh? Nếu nhìn vào những bức tranh biếm họa về Berlioz trên bục chỉ huy với mái tóc hoang dại và cánh tay khua khoắng, có thể mường tượng ra người đương thời coi ông là một dạng người dễ kích động. Quả thật, một số tác phẩm âm nhạc của ông thực sự rất ầm ĩ. Tuy nhiên Berlioz đã nói rõ trong các bài viết của mình rằng điều ông theo đuổi không phải là tiếng ồn mà là sức mạnh. Ví dụ để đạt được điều này, trong Requiem, ông đã bố trí bốn nhóm kèn đồng ở xung quanh khán phòng. Về mặt kỹ thuật, ông đã làm theo cách chỉ huy các đội hợp xướng ở nhà thờ St Mark, Venice, và vì vậy sẽ không chính xác nếu gọi đây là cách tân. Cái mới của ông nằm ở chỗ biến việc này thành một trải nghiệm toàn diện và lan tỏa âm thanh tứ bề như trải nghiệm The Rite of Spring [Lễ bái xuân] mà Stravinsky sẽ tạo ra khoảng 75 năm sau.      Bức vẽ biếm họa về âm thanh “ầm ĩ” của Hector Berlioz trên báo “Wiener theaterzeitung” năm 1846. © Getty    Phần thú vị trong âm nhạc của Berlioz mà Koechlin gọi là “hoàn toàn mới mẻ”, ngay cả ở Weber cũng không thấy có, đó là việc ông sử dụng phần đệm kèn đồng trầm lắng trong aria “Voici des rose” [Đây những đóa hồng] của Méphistophélès (quỷ Méphistophélès có quyền năng khuất phục mọi thứ), hoặc đoạn đối thoại kèn cor anglais/oboe ở “Scène aux champs” [Cảnh trên cánh đồng] trong Symphonie fantastique [Giao hưởng Ảo tưởng]. Về phần oratorio L’enfance du Christ [Tuổi thơ của Chúa Kitô], tác phẩm chinh phục công chúng Paris bằng những khoảnh khắc rất đỗi thân thương và mang lại tự tin cho Berlioz để khởi thảo opera Les Troyens [Những người thành Troie] tiếp theo. Song việc Berlioz tạo ra sự mộc mạc trong âm thanh của dàn nhạc để giữ cảm xúc khỏi sự ủy mị lại là điều rất đỗi lạ lùng trong âm nhạc thế kỷ 19.    Tất nhiên có những yếu tố bán cung ở Berlioz (có lẽ đáng chú ý nhất là tình yêu của ông đối với bậc 6 thứ trong thang âm trưởng), nhưng điệu tính 5 và điệu thức 6 mới là xương sống trong âm nhạc của ông. Về sự gắn bó của ông với điệu tính, không thể viện dẫn lời xác nhận nào mạnh mẽ hơn sự tương phản giữa đoạn kết Màn 1 của Les Troyens, nơi mà điệu tính Si giáng trưởng của “Hành khúc người thành Troie” được duy trì, dẫu ở giọng thứ, và đoạn kết Màn 4, nơi thần Mercury tàn nhẫn cắt ngang giọng Sol giáng trưởng mơ màng của bản song ca tình yêu và, bằng tiếng thét “Italie” tống chúng ta vào giọng Mi thứ lạnh lùng xa cách. Nó tạo ra cho chúng ta cảm giác kinh ngạc như thể chứng kiến sàn nhà hát opera đột nhiên sụt lún. Việc ông sử dụng các điệu thức Trung Cổ đã mở ra một địa hạt mà gần như mọi nhà soạn nhạc người Pháp sẽ khám phá trong một trăm năm tiếp theo. Sự xuất hiện của chúng ở “Vũ điệu của những nô lệ Nubia” trong Les Troyens có thể giải thích được theo thuật ngữ “ngoại lai hóa” truyền thống, nhưng aria của Herod theo điệu thức Phrygian trong L’enfance du Christ đạt được nhiều hơn một sắc thái ngoại lai – liệu Debussy có nghĩ đến điều này ở phần mở đầu theo điệu thức Phrygian trong Tứ tấu dây của mình?    Chúng ta không chắc điều đó nhưng có một điều chúng ta chắc là dù rất ít nói về âm nhạc của  Berlioz nhưng Ravel đã bất ngờ ca ngợi Berlioz “tinh tế trong lối hòa âm” khi trấn an Stravinsky về âm thanh hoàn hảo của Nhà hát Champs-Elysées.      Khi suy ngẫm về âm nhạc của Berlioz, chúng ta có thể kinh ngạc nhận ra ông chính là nhà soạn nhạc đầu tiên nhận lời “thách đấu” của Beethoven về việc hình thức của tác phẩm âm nhạc nên được nội dung quyết định.      Các tương phản và xung đột     Mong muốn của Berlioz về một dàn nhạc gồm các yếu tố độc lập đi cùng tầm nhìn của ông về âm nhạc một cách song phương hoặc đa phương. Ông hiếm khi có vẻ hài lòng với việc chỉ làm một thứ tại một thời điểm. Trong các overture Waverley và Les Francs-juges [Những thẩm phán tự do], như Barzun đã chỉ ra, ông viết những phần trình bày của “các chủ đề không liên quan ở những sắc thái đối lập”. Đây là nguyên nhân khiến nhiều khán giả đương thời cảm thấy ngộp thở và quá tải kiểu như nhà phê bình tờ Boston Daily Advertiser vào năm 1874 đã gọi Berlioz là “người ít đáng trọng nhất trong số các nhà soạn nhạc của trường phái mới” (đến lúc này Berlioz đã qua đời được năm năm).     Sự đơn giản     Theo quan điểm của tôi, một người phức tạp như Berlioz đã cố gắng để điều hòa những phức tạp của mình và tạo ra một thứ âm nhạc có khả năng biểu hiện những suy nghĩ của mình một cách trực tiếp và đơn giản. Điều này có thể được nhìn thấy trong ca từ và lời thoại do chính ông viết (có thể lưu ý rằng với Lélio của năm 1832, ông đã đi trước Wagner, người bắt đầu sự nghiệp tự viết libretto vào năm sau đó với Die Feen 7). Nếu chúng ta loại trừ thứ ngôn ngữ hư cấu của quỷ Méphistophélès cùng tùy tùng và của những nô lệ Nubia trong Les Troyens (những hư cấu có thể đã ảnh hưởng lớn đến các tác phẩm rất khác như Rapsodie nègre của Poulenc và Harawi cùng Cinq rechants của Messiaen), thì ca từ của Berlioz cực kỳ dễ hiểu. Chúng không phải là thứ văn chương của những tư tưởng lớn, và cũng không cần phải thế, bởi chúng chỉ bổ sung cho âm nhạc theo cùng một cách như ca từ của Wagner, của Messiaen hay của Tippett.    Tuy nhiên cũng có những thời điểm chúng ta phải kinh ngạc về Berlioz. Giọng điệu trong libretto ông viết cho Les Troyens là sự pha trộn đầy tinh tế giữa cái thân tình, cái đau khổ, cái đắm say, cái cao quý và phù hợp một cách lạ lùng với giọng điệu “đa cảm” (từ của Schiller) trong nguyên bản của nhà thơ Virgil thay vì giọng điệu “ngây thơ” của nhà thơ Homer.    Rất ít nhà soạn nhạc đã tạo ra nhiều những gam đơn giản như Berlioz: gam đi xuống của Enée trên các từ “Dussé-je être brisé par un tel désespoir” [Nỗi tuyệt vọng nhường ấy có làm ta kiệt quệ] trong aria cuối cùng của chàng chắc chắn sẽ kéo chúng ta cùng vào địa ngục khổ đau. Ví dụ thứ hai đến từ ca khúc “Le spectre de la rose” [Hồn ma của đóa hồng] trong tập Nuits d’été [Đêm hè], nơi mà trên các từ “Mais ne crains rien…” [Nhưng đừng sợ hãi chi], Berlioz đưa chúng ta xuống toàn bộ chuỗi 12 hợp âm bảy giảm liên tiếp. Đây là hợp âm biểu lộ nỗi “căng thẳng/lo âu” par excellence [tuyệt hảo] của opera thế kỷ 19, chưa kể vẫn được các nghệ sỹ piano phim câm sử dụng để tăng phần kịch tính. Berlioz thường xuyên bị chủ trích là lạm dụng hợp âm này trong tác phẩm của mình nhưng thực ra ông chỉ sử dụng nó để khuyến khích nhân vật “Đừng sợ hãi chi!”. Hơn nữa, ông đã đem cho nó vẻ đẹp mới và giá trị mới, khiến cho nó không còn đơn thuần là thứ “dầu bôi trơn các bánh xe hòa âm” nữa. Nó đem lại sự trấn an về tinh thần là sau tất cả những gian truân thử thách, rút cục chúng ta rồi sẽ an toàn.  ***  Khi suy ngẫm về âm nhạc của Berlioz, chúng ta có thể kinh ngạc nhận ra ông chính là nhà soạn nhạc đầu tiên nhận lời “thách đấu” của Beethoven về việc hình thức của tác phẩm âm nhạc nên được nội dung quyết định. Khi Berlioz dũng cảm đương đầu với thách thức này, âm nhạc của ông thành ra khó hiểu trong chính thời đại của mình: “Berlioz kì quái trong cấu trúc chương nhạc – một cách không chủ ý – và điều này… tất khiến âm nhạc của ông có vẻ mệt mỏi và khó ưa”. (Musical Examiner, London, ngày 1/6/1844).    Mặt khác, chính Berlioz thiết lập khuôn mẫu “nhà soạn nhạc Lãng mạn” giữa thế kỷ 19 mà theo niên đại thì đi trước Liszt một chút. Tchaikovsky, người làm quen với Berlioz ở Nga, không thích âm nhạc của ông song lại dành tình cảm và niềm ngưỡng mộ lớn lao cho con người mà ông xem là “bị số phận và đồng loại ngược đãi y như nhau”. Đối với Tchaikovsky, Berlioz là hình mẫu của một nghệ sỹ vô vị lợi lý tưởng đang đấu tranh để duy trì các tiêu chuẩn trong thế giới biểu diễn. Saint-Saëns nhớ lại những buổi diễn tập đầy vất vả khi Berlioz vò đầu bứt tóc, đối mặt với các nghệ sỹ biểu diễn đang làm hết sức mình nhưng đơn giản là không đủ năng lực thể hiện điều ông muốn.    Và do đó, chúng ta không ngần ngại đội lên đầu Berlioz cái mũ nhà cải cách. □     Ngọc Anh lược dịch  Trương Chí hiệu đính  Nguồn: https://www.gramophone.co.uk/features/article/berlioz-the-innovator-by-roger-nichols  —  1. Charles Koechlin (1867–1950): nhà soạn nhạc và nhà phê bình âm nhạc người Pháp.  2. George Templeton Strong (1820–1875): luật sư và tác giả nhật ký người Mỹ. Cuốn nhật ký 2250 trang của ông, được phát hiện ra vào những năm 1930, cung cấp một bản miêu tả ấn tượng từ góc nhìn cá nhân về đời sống thế kỉ 19. Người con trai trùng tên với ông, George Templeton Strong (1856–1948) là nhà soạn nhạc và họa sỹ cớ sự nghiệp ở châu Âu.  3. Nguyên văn: “thick impasto”  4. Alexis-Emmanuel Chabrier (1841–1894): nghệ sỹ piano và nhà soạn nhạc người Pháp.  5.Điệu tính: Kết quả tiến triển tương quan giữa một nốt chuỗi hoặc hợp âm, với một điểm tụ gọi là trung tâm điệu tính hoặc âm chủ (tiếng Anh: Tonality, tiếng Pháp: Tonatité).  6. Điệu thức: Cung cách tổ chức của một thang âm thể hiện trong thứ tự sắp xếp các quãng khác nhau (tiếng Anh: Modality, tiếng Pháp: Mode).  7. Die Feen (Những nàng tiên): vở opera 3 màn do chính Wagner tự viết libretto và soạn nhạc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn đằng sau tác giả của trường ca Beowulf      Beowulf là một anh hùng ca tồn tại lâu đời nhất của tiếng Anh cổ và thường được trích dẫn là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của văn học Anglo-Saxon, một trong những tác phẩm văn học Anh bản địa sớm nhất. Nhưng đến nay, trường ca này vẫn là chủ đề của cuộc tranh luận học thuật khốc liệt: giữa những người cho rằng đây là tác phẩm của một tác giả duy nhất và một số khác cho rằng nó được ghép lại từ nhiều nguồn. Trong nỗ lực giải quyết tranh chấp giữa hai luồng ý kiến, một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Madison Krieger, một nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Chương trình Động lực tiến hóa và Joseph Dexter, tiến sĩ từ Harvard, đã viện đến một công cụ mới mẻ và hiện đại: một chiếc máy tính.      Bức tranh mô tả vua Beowulf đối diện với con rồng lửa. Nguồn: Wikipedia.   Họ đã sử dụng một phương pháp thống kê được gọi là stylometry (phân tích phong cách viết của các nhà văn) để phân tích tất cả mọi thứ: từ vần điệu cho đến số lần một nhóm các kí tự xuất hiện trong văn bản… Với nỗ lực đó, Krieger và các đồng nghiệp đã tìm thấy bằng chứng mới cho thấy Beowulf là tác phẩm của chỉ một tác giả. Nghiên cứu được công bố trong một bài báo ngày 8 tháng 4 và được đăng trên tạp chí Nature Human Behavior.   Ngoài Krieger, nghiên cứu còn có sự góp mặt của Leonard Neidorf từ Đại học Nam Kinh, Trung Quốc, một chuyên gia về trường ca Beowulf, tác giả của nhiều nghiên cứu bao gồm một cuốn sách về khả năng truyền tải của bài thơ, và Michelle Yakubek, người làm việc trong dự án từ khi còn là nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu Khoa học và Pramit Chaudhuri từ Đại học Texas ở Austin. Chaudhuri và Dexter là đồng giám đốc của Phòng thí nghiệm phê bình định lượng, một nhóm liên ngành chuyên phát triển các phương pháp tính toán cho nghiên cứu văn học và văn hóa.   “Chúng tôi đã xem xét bốn loại thủ pháp trong văn bản” Krieger nói. “Mỗi dòng có một vần, nhiều dòng còn có đặc điểm mà chúng tôi gọi là khoảng lặng, tương tự như kiểu ngắt nhịp giữa các mệnh đề và các câu văn, giống như việc dùng chấm câu trong Tiếng Anh hiện đại. Chúng tôi cũng đã xem xét các khía cạnh của việc lựa chọn từ.”  “Nhưng hóa ra một trong những điểm đáng lưu ý nhất lại không phải ở cấp độ từ, mà là ở cấp độ kết hợp chữ cái,” ông cho biết thêm. “Vì vậy, chúng tôi đã đếm tất cả các lần tác giả sử dụng phức hợp chữ cái ‘ab’, ‘ac’, ‘ad’, v.v.”   Sử dụng những thước đo đó, nhóm nghiên cứu của Krieger đã duyệt qua bài thơ Beowulf và nhận thấy những yếu tố đó đồng nhất trong toàn bộ trường ca – một kết quả ủng hộ giả thiết nó chỉ có một tác giả.   “Trong các chương, hồi của bản trường ca, chúng tôi thấy rằng có sự đồng nhất trong cách xử lý bốn yếu tố trên của tác giả. Nếu chỉ xét về bài thơ Beowulf, giữa những quãng nghỉ này không hề thể hiện có một sự thay đổi lớn về phong cách, và đây chính là một luận điểm vững chắc cho tính thống nhất của toàn bài”, Krieger giải thích.   Nghiên cứu này là nỗ lực mới nhất trong việc giải mã nguồn gốc bí ẩn của Beowulf, một trong những tác phẩm đáng kinh ngạc nhất trong lịch sử văn học Anh. Từ trước đến nay, có hai cuộc tranh luận lớn về Beowulf. Một là nó được viết vào lúc nào, bởi vì khoảng thời gian sáng tác sẽ ảnh hưởng đến cách diễn giải bài thơ. Ví dụ, trường ca này được viết gần hay xa thời kì hưng thịnh của Kitô giáo là một câu hỏi quan trọng. Cuộc tranh luận thứ hai xoay quanh việc bài thơ là tác phẩm của một tác giả, hay nhiều tác giả.   “Phiên bản phổ biến đầu tiên được xuất bản vào năm 1815 và người ta ngay lập tức chỉ trích tính thống nhất của tác phẩm,” Krieger nói. “Thời trung học, ai [nghĩ về tác phẩm] cũng chỉ nhớ tới trận chiến giữa Beowulf với quái vật Grendel và mẹ của Gredel, và có thể với cả con rồng nữa, nhưng nếu quay lại đọc toàn bộ trường ca, sẽ có rất nhiều đoạn lạc lõng, ví dụ như Beowulf giỏi bơi lội như thế nào, và những đoạn khác kể về hàng trăm năm trước đó nói về những vị vua anh hùng chẳng hề liên quan đến nội dung của câu chuyện. Vì vậy, cách chúng ta đọc nó hiện nay…có vẻ rất rời rạc.”  Một bằng chứng khác về vấn đề thiếu thống nhất trong sáng tác trường ca này có thể phát hiện ra ngay chỉ bằng việc nhìn vào văn bản.    “Nét chữ (trong bài thơ) khác nhau.” Krieger nói. “Tại một điểm ngẫu nhiên trong bài thơ, thậm chí ngay ở giữa câu, chữ viết tay của người ghi chép đầu tiên dừng lại, và một người khác tiếp tục viết. Vì rõ ràng là người thứ hai hiệu đính cả nội dung của người thứ nhất, bởi vậy nên mặc dù hiện nay không ai thực sự nghĩ rằng đây là hai người này là hai nhà thơ khác nhau, hoặc cùng nhau viết một số đoạn của trường ca ở những vị trí ngẫu nhiên giữa những câu thơ, bằng chứng này lại nghiêng về giả thuyết cho rằng, theo bút tích của Beowulf, và có thể đó chính là bút tích bản gốc của bài thơ, thì trường ca này là một tác phẩm tập thể.    Trong thế kỷ XIX, quan điểm phổ biến trong giới học thuật là bài thơ phải là tác phẩm của nhiều tác giả. Mãi đến đầu thế kỷ 20, một nhà văn, một cái tên gắn liền với khả năng kể chuyện thiên tài, đã thách thức quan niệm đó.   Cái tên đó là J.R.R. Tolkien, tác giả của “Chúa tể những chiếc nhẫn”.  “Tolkien là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho giả thiết một tác giả”. Krieger cho biết. “Ông là một học giả Beowulf nổi tiếng, và đã viết một tác phẩm mang tính bước ngoặt vào năm 1936 có tên là “Những con quái vật và các nhà phê bình” (The Monsters and the Critics)”. Chính trong tác phẩm này, ông đã làm sống lại ý tưởng rằng chỉ có một tác giả duy nhất viết bản trường ca.     Trọng tâm lập luận của Tolkien, Krieger nói, là cách mà Kitô giáo được phản ánh trong văn bản. “Sự phát triển của Kitô giáo trong Beowulf rất thú vị, bởi vì mỗi nhân vật trong đó đều theo pagan giáo (thực hành tín ngưỡng đa thần), kể cả tuyến nhân vật phụ” Krieger nói. “Beowulf từ miền nam Thụy Điển đến Đan Mạch để giúp các dân tộc Đức pagan giáo chiến đấu với quái vật … nhưng bài thơ lại thấm đượm góc nhìn Kitô giáo và được phủ lên bởi ngôn ngữ Kitô giáo.” Bằng chứng từ những tính toán trong nghiên cứu đã giúp ủng hộ quan điểm của Tolkien từ một góc nhìn mới. “Các lập luận dựa trên nội dung của bài thơ hoặc tôn giáo của tác giả tất nhiên là rất quan trọng, nhưng quan trọng không kém là các lập luận dựa trên các chi tiết và lối viết. Giá trị của chúng nằm ở chỗ chúng có thể kiểm chứng được. Mặc dù không tin rằng nghiên cứu mới này sẽ giúp kết thúc các cuộc tranh luận về quyền tác giả của Beowulf, Krieger tin rằng nó có thể giúp làm sáng tỏ những quan điểm mới về văn học truyền thống Anh.  “Nếu chúng ta thực sự tin rằng đây là một tác phẩm mạch lạc được viết bởi một người, thì tại sao nó lại có những đặc điểm kì dị như vậy?” Krieger đặt ra câu hỏi. “Có lẽ một trong những vấn đề lớn nhất là cách chúng ta cấu trúc một câu chuyện hồi đó. Có lẽ chúng ta đã mất khả năng đọc thơ văn theo cách của người thời đó, và giờ đây chúng ta nên tìm hiểu xem những khía cạnh kì dị đó khớp với câu chuyện như thế nào.   Krieger và các đồng nghiệp đang hy vọng áp dụng các công cụ phân tích trong nghiên cứu này vào các tác phẩm văn học dân gian và kinh điển khác. “Ngay cả những tác phẩm được nghiên cứu kỹ lưỡng như Iliad và Odyssey vẫn chưa được phân tích bằng cách sử dụng các công cụ tính toán,” Krieger nói. “Các công cụ này, mặc dù vô cùng quan trọng nhưng lại thường bị bỏ qua khi phân tích các tác phẩm dân gian, và chúng tôi hi vọng có thể khiến chúng trở nên phổ biến hơn, để thay đổi cách tiếp cận các vấn đề tương tự.”  Krieger cũng hy vọng sẽ sử dụng các kỹ thuật trên để hiểu sự phát triển phong cách của tiếng Anh trong suốt lịch sử.”   “Đặt tiếng Anh cổ vào đúng bối cảnh của nó là một tiền đề quan trọng,” ông nói. “đây chính là cái nôi của văn học Anh. Từ đây, chúng ta có thể xem xét nhiều khía cạnh trong sự phát triển của phong cách viết, không chỉ ngữ pháp, mà còn ở cấp độ văn hóa, thị hiếu người đọc và cách các yếu tố này thay đổi theo thời gian.”  Krieger còn cho rằng công cụ phân tích trong nghiên cứu này, ngoài soi sáng các tác phẩm văn học lâu đời, còn có những ứng dụng trong đời sống hiện đại, như phát hiện ra những tổ chức cực đoan chuyên đi khiêu khích trên mạng và tin tức giả mạo (fake news).  “Chúng ta biết hàng ngàn bài đăng trên Facebook đã được viết bởi cùng một nhóm chuyên đưa tin tức rác của người Macedonia trong cuộc bầu cử năm 2016”, ông nói. “Nếu chúng tôi có một số cách để xác định rằng các bài đăng có khả năng được viết bởi cùng một tác giả, điều đó rõ ràng sẽ rất hữu ích trong việc ngăn chặn các chiến dịch lan truyền thông tin sai lệch.”   Mặc dù Krieger tin rằng nghiên cứu này là một ví dụ điển hình về cách bí mật của các văn bản cổ  có thể được khám phá thông qua việc sử dụng các công cụ hiện đại. “Đây là bước đầu tiên trong việc làm mới một cuộc tranh luận cũ bằng các phương pháp mới” ông nói. “Đó là sự mở rộng quan trọng, và thật thú vị khi một vấn đề được coi là rất truyền thống lại có thể được giải quyết bằng các phương pháp tiên tiến mà có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực nhân văn và khoa học.”   Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-04-beowulf-statistical-technique-evidence-english.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn thời gian sống của neutron      Chín giây. Một thứ tồn tại vĩnh viễn trong một số thực nghiệm vật lý; một khối lượng nhỏ không tưởng tượng nổi trong lược đồ lớn của vũ trụ. Và chỉ đủ dài để các nhà vật lý hạt nhân nghiên cứu về thời gian sống của neutron.      Neutron là một trong những khối cơ bản của vật chất, bản sao trung tâm của proton dương. Giống như những hạt hạ cơ bản khác, neutron không tồn tại lâu bên ngoài các hạt nhân. Khoảng 15 phút, nó bị phá vỡ thành một proton, một electron và một hạt nhỏ là phản neutrino.  Nhưng vẫn còn một chút bí ẩn về việc neutron tồn tại bao lâu. Một phương pháp đo đạc là 887,7 giây, cộng thêm 2,2 giây. Một phương pháp khác là 878,5 giây, cộng thêm 0,8 giây. Ban đầu, sự khác biệt này được cho là dođộ nhạy của vật chất đo đạc. Nhưng khi các nhà khoa học tiếp tục thực hiện một loạt các thực nghiệm với mức độ chính xác hơn trước để đánh giá các vấn đề có thể xảy ra thì sự thiếu nhất quán vẫn còn tồn tại.  Điều này dẫn đến khả năng là sự khác biệt chỉ ra một số dạng mà vật lý vẫn còn chưa biết đến. Nó có thể tiết lộ về một quá trình phân rã neutron mới, hoặc có thể chỉ ra vấn đề khoa học vượt qua Mô hình chuẩn mà các nhà khoa học hiện nay vẫn thường sử dụng để giải thích mọi vấn đề của vật lý hạt. Có một số các hiện tượng mà Mô hình chuẩn không thể giải thích một cách đầy đủ và sự khác biệt này có thể chỉ ra cách thức trả lời những câu hỏi đó.  Để tiết lộ về sự chênh lệch kỳ lạ này, Phòng Khoa học của Bộ Năng lượng Mĩ đang làm việc với những cơ quan liên bang, phòng thí nghiệm quốc gia và trường đại học khác để nắm bắt được khoảng thời gian tồn tại của neutron.  Một đại lượng cơ bản  Các nhà vật lý hạt nhân nghiên cứu thời gian tồn tại của neutron đầu tiên bởi đây là vấn đề thiết yếu trong vật lý. “Có một số đại lượng cơ bản trong tự nhiên dường như bao giờ cũng hết sức quan trọng”, Geoff Greene, giáo sư trường đại học Tennessee và là nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (DOE). Ông đã từng nghiên cứu về thời gian tồn tại của neutron trong gần suốt cuộc đời nghiên cứu của mình  – gần khoảng 40 năm. “Các lý thuyết đến rồi đi nhưng thời gian tồn tại của neutron dường như vẫn còn là một tham số trung tâm trong vô số vấn đề”.    Geoff Greene, giáo sư trường đại học Tennessee và là nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (DOE). Nguồn: Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge  Neutron là thứ hướng dẫn hữu dụng để người ta có thể hiểu về các hạt khác. Đây là loại hạt đơn giản bậc nhất vì thông thường, nó vẫn bị tách thành các hạt khác, qua đó đem lại rất nhiều thông tin về lực tương tác yếu – lực xác định liệu các neutron chuyển thành các proton hay không. Thông thường, quá trình này còn tạo ra năng lượng và là nguyên nhân hạt nhân bị phá vỡ. Những tương tác của lực yếu cũng đóng một vai trò quan trọng trong phản ứng nhiệt hạch hạt nhân, nơi hai proton kết hợp.  Thời gian sống của neutron có thể giúp người ta hiểu sâu hơn vào những bí ẩn diễn ra sau Big Bang. Chỉ một vài giây sau khi các proton và neutron hình thành nhưng trước khi chúng kết hợp với nhau thành các nguyên tố, chính xác là có một khoảng thời gian ngắn ngủi. Vũ trụ đã lạnh xuống một cách nhanh chóng. Tại một điểm xác định, nó đủ lạnh để các proton và neutron hầu như ngay lập tức hợp lại để hình thành heli và hydro. Nếu như các neutron phân rã thành proton nhanh hơn hoặc chậm hơn, nó có thể tác động nhiều hơn vào quá trình lạnh đi của vũ trụ. Nó có thể góp phần tạo ra một sự cân bằng rất khác về các nguyên tố trong vũ trụ; có thể là sự sống không thể tồn tại.  “Đây là một trong những rủi ro ngẫu nhiên của tự nhiên mà nhờ đó, chúng ta có những nguyên tố hóa học như hiện nay”, Greene nói.  Các nhà khoa học cũng muốn có một con số xác thực cho thời gian tồn tại của neutron để đưa vào các phương trình đó. Họ cần làm giảm bớt sự không chắc chắn của thời gian tồn tại đó xuống ít hơn một giây. Nhưng điều này thực sự phức tạp hơn nhiều so với hình dung ban đầu. “Thời gian sống của neutron là một trong những tham số cơ bản của Mô hình Chuẩn mà chúng ta biết ít nhất”, Zhaowen Tang, một nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (LANL), nói.  Các thực nghiệm đơn lẻ đã có thể chạm tới gần mức chính xác đó. Nhưng sự thiếu tương đồng giữa các dạng thực nghiệm đang cản trở các nhà khoa học có được một con số cụ thể.  Khám phá sự thiếu nhất quán      Từ trái sang: Các thành viên ORNL Matthew Frost và Leah Broussard thực nghiệm trên Phản xạ kế từ tại Máy gia tốc nguồn neutron Spallation, để nghiên cứu về các neutron đối xứng gương. Nguồn: Genevieve Martin /Oak Ridge National Laboratory, DOE  Mọi nhà vật lý đều khao khát phát hiện ra sự khác biệt một cách toàn diện. Sử dụng hai hoặc nhiều phương pháp đo đạc cùng đại lượng là cách tốt nhất để đạt đến một đo lường chính xác nhưng các nhà khoa học không thể đặt thời gian lên các neutron để thấy nó phân rã nhanh như thế nào. Thay vào đó, họ tìm ra các cách đo lường neutron trước và sau khi chúng phân rã để đo lường thời gian sống.  Các thí nghiệm sử dụng các chùm tia đều thực hiện trên những thiết bị có thể tạo ra các luồng neutron. Các nhà khoa học đo đường số lượng neutron trong một bộ cụ thể của chùm tia. Sau đó họ hướng luồng tia đó thông qua một từ trường và xuyên qua một cái bẫy hạt hình thành từ từ trường và điện tường. Các neutron phân rã trong cái bẫy đó, nơi các nhà khoa học đo đạc số lượng các proton được tạo ra.  “Rất khó để có thể đo đạc được một cách chính xác thí nghiệm trên chùm tia”, Shannon Hoogerheide, một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ (NIST), và hợp tác với các nhà khoa học của DOE. “Việc đo đạc chùm tia đòi hỏi không chỉ một cách mà thậm chí là hai cách đo”.  Thực nghiệm “trong chai” bắt neutron siêu lạnh đều thực hiện trong một container. Neutron siêu lạnh chuyển động chậm hơn những neutron thông thường – một vài mét mỗi giây so với 10 tỷ mỗi giây từ các phản ứng phân hạch. Các nhà khoa học đo lường cách bao nhiêu neutron trong container tại điểm bắt đầu và sau một khoảng thời gian nhất định thì lặp thêm một lần nữa. bằng việc xác định sự khác biệt, họ có thể tính toán các neutron phân rã nhanh như thế nào.  “Thí nghiệm ‘trong chai’ đo đạc những kẻ sống sót, thực nghiệm chùm tia đo đạc kẻ chết”, Greene nói. “Thực nghiệm ‘trong chai’ có vẻ dễ thực hiện nhưng thực tế lại rất khó làm. Mặt khác, thí nghiệm chùm tia thì có vẻ khó thực hiện và đúng là như vậy”.  Một thí nghiệm chùm tia tại NIST vào năm 2005 (với sự hỗ trợ của DOE) và thí nghiệm ‘trong chai’ ở Pháp diễn ra sau đó không lâu đã đem lại bằng chứng đầu tiên về sự khác biệt này trong đo đạc. kể từ đó, các thí nghiệm đã cố gắng giảm không gian giữa hai thí nghiệm đó bằng việc tối thiểu càng nhiều sự bất định càng tốt.  Greene và những người hợp tác với ông đặt ra những đo đạc mới vào năm 2013 tại NIST có thể giúp họ tái tính toán lại thực nghiệm chùm tia năm 2005 với độ chính xác cao hơn. Với điều đó, các nhà khoa học đã hoàn thành được năm thí nghiệm ‘trong chai’ và hai thí nghiệm chùm tia. Greene cũng tin rằng những thí nghiệm chùm tia trước đã để lỡ một trong những nguồn bất định lớn nhất – đếm một cách chính xác số lượng các neutron trong chùm tia. Họ đã cái thiện độ chính xác của phép đo lường này tới năm lần. Tám năm làm việc cật lực cũng đem lại cho họ khoảng cách gần tương đương nhau trong các kết quả đo đạc.  Các nhà vật lý nghiên cứu về các thực nghiệm ‘trong chai’ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là giữ cho các neutron khỏi bị mất trong các phản ứng với vật liệu làm nên container. Một ‘thất thoát’ cũng thay đổi lượng neutron tại điểm cuối và ảnh hưởng đến việc tính toán thời gian sống của nó.  Để giải quyết vấn đề này, phần lớn các thực nghiệm ‘trong chai’ hiện nay tại LANL (do Phòng khoa học của DOE hỗ trợ kinh phí) đều loại trừ các bức tường vật lý. Thay vào đó, các nhà vật lý hạt nhân đều sử dụng từ trường và lực hấp dẫn để giữ các neutron tại chỗ. “Tôi cho rằng nếu tôi làm điều đó, chúng tôi có thể giữ cho neutron tồn tại lâu hơn và phù hợp với sự tồn tại của chùm tia”, Chen-Yu Liu, một giáo sư tại trường đại học Indiana và là người phụ trách thực nghiệm. Đó là suy nghĩ của tôi”.  Nhưng vẫn còn sự khác biệt. “Đó là cú sốc lớn đối với tôi”, cô nói và miêu tả kết quả kết quả công bố năm 2018.  Sự chênh lệch đó xảy ra trong những trường hợp ngẫu nhiên, dưới một phần vạn. nhưng nó có thể vẫn là nguyên nhân dẫn đến sai sót trong nhiều thực nghiệm.  Săn vấn đề tận gốc rễ    Leah Broussard, một nhà vật lý hạt nhân tại ORNL Nguồn: ORNL   Các nhà khoa học đối mặt với hai dạng bất định hoặc các lỗi trong thực nghiệm: thống kê hoặc hệ thống. Các lỗi thống kê từ việc không đủ dữ liệu để rút ra những kết luận chắc chắn. Nếu anh có nhiều dữ liệu hơn, anh có thể giảm bớt các lỗi đó xuống. Các lỗi hệ thống là những bất định cơ bản với thực nghiệm này. Nhiều lần, chúng xuất hiện một cách không rõ ràng. Hai dạng thực nghiệm về thời gian sống của neutron lại có những lỗi hệ thống rất khác nhau. Thực nghiệm này có thể là công cụ kiểm tra quan trọng với thực nghiệm kia, nếu các kết quả của chúng trùng khớp. Nhưng nó cũng khiến cho các nhà khoa học vô cùng khó hình dung ra khi không trùng khớp.  “Điều phức tạp nhất trong đo thời gian sống của neutron là nó quá ngắn và quá dài”, Hoogerheide nói. “Hóa ra, 15 phút là khoảng thời gian đầy rẫy khó khăn để đo đạc trong vật lý”.  Vì vậy các nhà khoa học hạt nhân đang tiếp tục thực nghiệm để thu thập dữ liệu nhiều hơn và giảm thiểu các lỗi hệ thống.  “Một trong những điều mà tôi thấy thú vị nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi là sự tập trung vào chi tiết đòi hỏi anh phải hiểu biết một cách sâu sắc về từng khía cạnh của thí nghiệm theo trật tự để có thể đem lại một phép đo chính xác”, Leah Broussard, một nhà vật lý hạt nhân tại ORNL, nói.  Tại NIST, Hoogerheide, Greene và những người khác đang thực hiện một thí nghiệm chùm tia mới có thể giải quyết từng vấn đề theo cách toàn diện nhất có thể. Thật không may, việc điều chỉnh những ảnh hưởng này lại ảnh hưởng đến cái khác, vì vậy mà họ cứ tiến hai bước lại lùi một bước.  Các nỗ lực khác cũng đang được thực hiện với nhiều cách mới để đo đạc thời gian sống của neutron. Các nhà nghiên cứu từ trường đại học Johns Hopkins và trường đại học Durham được DOE hỗ trợ để tìm ra cách sử dụng dữ liệu từ NASA để đo đạc thời gian sống quan trọng này. Trên cơ sở các neutron từ sao Kim và sao Thủy, họ tính toán thời gian sống 780 giây với một bất định 130 giây. Nhưng do dữ liệu không được thu thập cho mục đích này nên sự bất định quá lớn để có thể giải quyết được sự khác biệt về thời gian sống. Tại LANL, Tang đang thiết lập một thực nghiệm bao gồm cả các thí nghiệm ‘trong chai’ và chùm tia. Thay vì đo đạc các proton tại điểm cuối, họ sẽ đo đạc cả các electron.  Các khả năng mới   Có thể là sự khác biệt sẽ còn tiết lộ một khoảng trống về hiểu biết của chúng ta về hạt cơ bản này.  “Chúng tôi phải lật mọi thứ lên”, Tang nói. “Có nhiều ví dụ về việc nhìn thấy cái gì đó mới nhưng lại phạm lỗi làm việc không đủ sâu còn một số người thì làm được điều đó và nhận giải Nobel Prize”.  Một lý thuyết cho rằng neutron bị phá vỡ theo cách các nhà khoa học đơn giản là không thể nhận biết được. Nó có thể phá vỡ những hạt khác nhau hơn là sự kết hợp của các proton, electron, và phản neutrino. Nếu làm được điều này, người ta có thể giải thích được tại sao các neutron lại biến mất trong những thực nghiệm ‘trong chai’ mà số các proton tương ứng không chứng tỏ các thí nghiệm chùm tia.  Các ý tưởng khác thậm chí còn quyết liệt hơn. Một số nhà lý thuyết đề xuất là các neutron đang phá vỡ thành các tia gamma và vật chất tối bí ẩn. Vật chất tối chiếm 75% vật chất trong vũ trụ mà chúng ta chỉ biết đến nó thông qua tương tác với vật chất thông thường thông qua lực hấp dẫn. Để kiểm tra lý thuyết này, một nhóm các nhà khoa học tại LANL đã thực hiện một phiên bản thực nghiệm ‘trong chai’, nơi họ đo đạc cả các neutron và tia gamma. Nhưng tia gamma đề xuất không phải là vật chất hóa, khiến cho các nhà khoa học không có bằng chứng cho vật chất tối sinh ra từ các neutron.  Ý tưởng vật chất gương dường như là khoa học viễn tưởng. Về lý thuyết, lượng neutron “bị mất” có thể trở thành các neutron gương, những bản sao chép hoàn hảo tồn tại trong một vũ trụ đối nghịch. Tiến hóa theo một cách khác với vũ trụ chúng ta, vũ trụ gương có thể lạnh hơn và có lượng heli vượt trội. Trong khi một số nhà khoa học hạt nhân như Greene nghĩ rằng điều này không hợp lý, những người khác quan tâm đến việc kiểm tra nó.  “Đây là một lĩnh vực còn ít được khám phá. Nó rất hấp dẫn tôi bởi tôi có một nguồn vô cùng lớn các neutron trong ‘sân sau’ của tôi”, Broussard nói, hàm ý đến Máy gia tốc Spallation Neutron Source và Lò phản ứng đồng vị thông lượng cao tại ORNL.  Để kiểm chứng lý thuyết này, Broussard đang phân tích dữ liệu từ một thực nghiệm tương tự các thực nghiệm thời gian tồn tại của chùm tia nhưng điều chỉnh để có thể bắt được dấu hiệu của đối tác tiềm năng còn chưa được thấy của các neutron. Bằng việc bắn một chùm tia neutron thông qua một từ trường cụ thể và sau đó dừng lại với một vật liệu có thể “bắt” neutron chậm lại, cô và cộng sự có thể dò được liệu có hay không các neutron đối xứng gương tồn tại.  Bất kể thực nghiệm này mang lại những kết quả nào, việc thực hiện nghiên cứu để hiểu hơn về thời gian sống của neutron sẽ còn tiếp tục. “Có rất nhiều nỗ lực để đo đạc một cách chính xác thời gian sống của neutron. Điều đó nói cho anh thấy cảm xúc của các nhà khoa học trước sự thiếu thống nhất trong lĩnh vực này – tôi muốn khám phá nó!’, Broussard nói. “Mỗi nhà khoa học đều được thúc đẩy bằng niềm khao khát học hỏi, niềm khao khát hiểu biết”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-mystery-neutron-lifetime.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật của  da Vinci trong bức Mona Lisa      Hơn một thập niên tìm hiểu và phân tích kiệt tác Mona Lisa, Pascal Cotte – một nhà nghiên cứu độc lập về lịch sử nghệ thuật bằng hình ảnh đa phổ ở Pháp, đã phát hiện ra những chi tiết nằm bên dưới những nét cọ của danh họa Ý Leonardo da Vinci.      Một triển lãm Mona Lisa số hoá của Lourve. Ảnh: Lourve  Được treo ở cung điện Lourve, Paris, bức họa vẽ vào đầu thế kỷ 16 Mona Lisa là một trong những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của danh họa Leonardo da Vinci. Nhiều người trên khắp thế giới cất công tới nơi trưng bày 35.000 hiện vật nghệ thuật này chỉ để ngắm Mona Lisa: ước tính số người bị ánh mắt nàng cuốn hút chiếm 80% trong tổng số 10,2 triệu khách hằng năm.    Khi hoàng đế Francis I của Pháp mua bức họa để trang trí cho phòng tắm của mình vào năm 1517 với mức giá 4.000 đồng florin vàng, ông không ngờ sau đó nhiều thế kỷ, Mona Lisa lại trở thành một trong những bức họa đắt giá bậc nhất thế giới. Tuy không trải qua cuộc đấu giá hiện đại nào nhưng người ta đã định giá bảo hiểm 100 triệu USD khi đưa bức họa từ cung điện Louvre đến Washington và New York, Mỹ cho một cuộc triển lãm đặc biệt từ ngày 14/12/1962 đến ngày 12/3/1963 (có thể quy đổi mức giá tương đương ngày nay là 660 triệu USD).    Dĩ nhiên, sức hút của bức họa không chỉ nằm ở sự đắt giá của nó mà là ở giá trị nghệ thuật. Bức họa miêu tả chân dung của một người phụ nữ Ý tên là Lisa Gherardini, thành viên dòng họ Gherardini – một trong những dòng họ danh giá bậc nhất ở vùng Tuscany, và là vợ của thương gia lụa Francesco del Giocondo. Bức họa được cho là vẽ trong những năm 1503 và 1506; tuy nhiên sau đó Leonardo da Vinci có thể đã tiếp tục hoàn thiện bức tranh vào cuối năm 1517. Người đời sau biết đến thông tin này là nhờ Giorgio Vasari, nhà sử học kiêm họa sĩ, nhà văn thế kỷ 16, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Phục hưng (Renaissance) trên văn bản.    Bức Mona Lisa có điểm tương đồng rõ rệt với nhiều nét miêu tả của nghệ thuật Phục hưng về Đức Mẹ, người được coi là một mẫu hình lý tưởng của phái nữ thời điểm đó. Da Vinci vẽ người phụ nữ ngồi trên một chiếc ghế bành, đôi tay gập lại, một dấu hiệu cho thấy dáng điệu kín đáo và dè dặt. Nàng im lặng ngồi nhưng sống động một cách lạ lùng, đây là điều mà Leonardo da Vinci đã đạt được bằng kỹ thuật sfumato – một phương pháp vẽ được áp dụng để tạo sự chuyển đổi nhuần nhuyễn giữa các pha màu sắc, bắt chước khu vực nằm ngoài hoặc nằm trong phạm vi tiêu điểm mắt người (da Vinci thường sử dụng sfumato sau khi thực hiện nhiều nghiên cứu về quang học và thị giác). Chính sự hòa trộn mềm mại này đã đem lại cho Mona Lisa một biểu hiện trạng thái bâng khuâng mơ hồ trên khóe miệng và khóe mắt. Mặt khác, ánh nhìn kỳ lạ của nàng như theo sát người xem khi họ đi qua bức tranh, điều mà nhiều nhà khoa học gọi là “hiệu ứng Mona Lisa”.      “Khám phá này rất có ý nghĩ trong việc hiểu về cách tiến hành vẽ bức tranh bởi nó đặt bức tranh vào một thời kỳ mà kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi, đồng thời làm phong phú cơ sở dữ liệu thông tin về những kỹ thuật ông thường áp dụng… Bên cạnh đó, nó còn chứng minh được sự tồn tại của một bản vẽ trên giấy mà danh họa có thể sử dụng để sao chép và có lẽ có các phiên bản cũng được tạo ra từ bản vẽ này” (Pascal Cotte).      Mới đây, Pascal Cotte, người nghiên cứu về các công nghệ về chụp ảnh đa phổ, đã xuất bản bài báo “Mona Lisa’s spolvero revealed” trên Journal of Cultural Heritage, đề cập đến những chi tiết ẩn dưới các lớp cọ của danh họa, kết quả thu được kể từ khi ông bắt đầu nghiên cứu về bức họa nổi tiếng này năm 2004.      Không chỉ có một Mona Lisa     Trong vòng hơn một thập kỷ nghiên cứu về Mona Lisa, Pascal Cotte đã thu thập được một bộ dữ liệu quý gồm 1.650 bức ảnh bằng kỹ thuật do chính mình phát triển. Không phải ai cũng có được may mắn này như Cotte. Lợi thế lớn nhất mà ông có được là danh tiếng của công ty Lumiere Technology do ông đồng sáng lập vào năm 1998. Lumiere Technology thường được mời tham gia vào hoạt động ở các bảo tàng và phòng thí nghiệm lịch sử nghệ thuật bởi công nghệ không phá hủy trong phân tích các bức họa không chỉ cho phép thực hiện các khám phá đặc biệt mà còn góp phần đem đến những giải pháp tốt trong bảo tồn. Năm 2004, Cotte được Lourve mời đến để số hóa Mona Lisa với công nghệ Lumiere do chính mình phát triển. Ông đã áp dụng phương pháp khuếch đại lớp (LAM) trên những bức ảnh có độ phân giải cao tới 240 triệu điểm ảnh chụp bằng camera đa phổ có khả năng dò được ánh sáng phản xạ của 13 bước sóng và “bắt” được sự tương tác giữa ánh sáng và vật chất. Nhờ vậy, ông có thể phát hiện được sự hiện diện của than chì hoặc chất liệu khác mà mắt thường không thể thấy trên bề mặt các bức vẽ. “Hệ quang phổ này cho phép chúng tôi nhìn thấy rất nhiều đường vẽ cực mảnh và độ phân giải cao cho phép khuếch đại cả tín hiệu hết sức mờ nhạt và phân biệt được các thông tin có được”, Cotte giải thích với Artnet News qua email.    Cùng với cộng sự là Lionel Simonot, một nhà vật lý ở trường Đại học Pitiers, Cotte đã phát hiện ra khi vẽ Mona Lisa, Leonardo da Vinci đã sử dụng kỹ thuật spolvero, phương pháp chuyển một thiết kế từ một bản mẫu lên bề mặt một tấm toan hay một bức tường… Người ta thường đặt song song bản vẽ mẫu lên trên bề mặt toan vẽ, sau đó rắc bột mịn như than chì, phấn hoặc đất sét lên những cái lỗ được tạo ra bằng vật nhọn như kim dọc theo đường viền của bản mẫu. Lúc đó, những đường rất mảnh của bụi mịn sẽ in lên bề mặt tấm toan để giúp họa sĩ có thể dễ dàng lặp lại những phác thảo ưng ý của chính mình. Khó có thể quan sát bằng mắt thường sự hiện diện của spolvero.    Leonardo da Vinci đã học kỹ thuật spolvero từ thời còn ở xưởng họa của thầy mình là Andrea del Verrocchio, và áp dụng trên nhiều bức tranh, ví dụ như The Lady with an ermine (Người đàn bà và con chồn), Ginevra de’Benci, La Belle Ferronnière (Chân dung người phụ nữ vô danh). “Do đó chúng ta không ngạc nhiên khi khám phá kỹ thuật này ở Mona Lisa”, các tác giả viết trong bài báo. Dấu vết của spolvero tiết lộ là da Vinci đã thay đổi vị trí của đầu và tay. “Ông thay đổi vị trí của đầu và khiến cho Mona Lisa có thể nhìn thẳng vào bạn”, Cotte nói.      Kết quả phân tích các bức ảnh chụp Mona Lisa. Nguồn: Pascal Cotte  Vì sao đến giờ người ta mới phát hiện ra kỹ thuật spolvero ở Mona Lisa? Trước đây, công nghệ chụp ảnh bằng tia hồng ngoại truyền thống chưa đủ khả năng làm được việc này. Trong nghiên cứu về Mona Lisa năm 2006, các kỹ thuật tia hồng ngoại mà Louvre áp dụng mới chỉ phát hiện ra những khu vực cần bảo tồn – các ngón tay trái, các chi tiết của tay phải, và một lớp bện xoắn dưới vai trái, nhưng họ không đề cập đến sự hiện diện của spolvero trong công bố của mình. Trong năm 2019, bất chấp việc đã có trong tay thiết bị hiện đại nhưng họ vẫn chưa có được bằng chứng về nó.    Cotte tiết lộ phải kiểm tra cả nghìn tấm ảnh chụp từng khu vực cực nhỏ với kích thước ở mức độ nano mét trên bề mặt bức tranh để có thể chắc chắn về việc phát hiện ra dấu vết mờ nhạt của than chì và riêng việc đo đạc độ dày của các đường than chì diễn ra trong suốt một năm. Họ phát hiện ra những đường viền bằng chì trắng trộn lẫn với dầu quả óc chó và ô xít chì trùng khớp với những đốm than chì bên dưới, không rõ rệt ở trán nhưng rõ nét ở tay và bầu trời phía sau.    Bằng việc ghép nối các thông tin với nhau, Cotte đã có thể hình dung về cách Leonardo da Vinci sử dụng spolvero cho bức vẽ này giống như các nghệ sĩ cùng thời. “Khám phá này rất có ý nghĩ trong việc hiểu về cách tiến hành vẽ bức tranh bởi nó đặt bức tranh vào một thời kỳ mà kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi, đồng thời làm phong phú cơ sở dữ liệu thông tin về những kỹ thuật ông thường áp dụng, ví dụ như khoảng cách lỗ, bột than chì, chiều rộng của đường chì… Bên cạnh đó, nó còn chứng minh được sự tồn tại của một bản vẽ trên giấy mà danh họa có thể sử dụng để sao chép và có lẽ có các phiên bản cũng được tạo ra từ bản vẽ này. Chúng tôi đang nghĩ đến phiên bản Mona Lisa được trưng bày ở Bảo tàng Prado, Madrid từ năm 1819”, ông viết trong công bố.      Bên dưới các đường cọ, Cotte còn tìm thấy những bí ẩn khác mà ít ai ngờ tới, đó là sự hiện diện của một chiếc cặp tóc nằm ở phía trước trán nàng Mona Lisa – một chi tiết nhỏ nhưng lại giúp mở ra nhiều câu hỏi thú vị về bức họa này. Ông nói với Express.co.uk “chiếc cặp tóc này không thuộc về bất cứ chân dung ai ở thành Florence nào vì nó không phải là mốt thời thượng ở thời điểm đó. Thời đó, trang phục phải tuân theo những quy tắc nhất định về nghề nghiệp và tầng lớp” và đặt ra giả định, “nó có thể trên tóc của một người phụ nữ phi thực” có lẽ thuộc về một bối cảnh khác.      Mona Lisa là người “đến sau”?     Đây không phải là lần đầu tiên Cotte nhận diện được các đặc điểm bị giấu kín dưới bề mặt bức tranh. Năm 2015, ông đã tuyên bố là da Vinci đã phác thảo ra những nét chân dung của một người phụ nữ hoàn toàn khác biệt và xuất bản cuốn sách Lumiere on the Mona Lisa: Hidden portraits với niềm tin là mình đã phát hiện ba chân dung dưới hình ảnh nàng Mona Lisa bí ẩn, trong đó có thể là một chân dung theo phong cách Đức mẹ.    Lý giải của Cotte gây ra nhiều tranh cãi. Phần lớn các nhà lịch sử nghệ thuật và chuyên gia mĩ thuật đều nói có quá nhiều điều cần phải đọc thêm để lý giải về bức tranh này. Công việc tái tạo một bức chân dung theo kiểu số hóa như kiểu Cotte không đáng tin cậy. Gay gắt hơn, có nhà lịch sử nghệ thuật giấu tên cho rằng “nhà khoa học đó [ám chỉ Cotte] đã dành quá nhiều thời gian vào photoshop”.    Martin Kemp, một giáo sư lịch sử nghệ thuật hồi hưu của trường Đại học Oxford, có vẻ như ôn hòa: “Đây là một dữ liệu đặc biệt và rõ ràng một cách hoàn hảo là bức tranh này đã trải qua những thay đổi quan trọng trong quá trình vẽ. Leonardo cũng đã từng làm điều này với những bức họa khác; ông ấy thực sự là người thích sửa chữa tác phẩm của chính mình”. Tuy nhiên Kemp cũng không quên nói thêm “Ngay cả khi ‘lột’ các lớp sơn và phát hiện ra hai hay ba chân dung dưới bề mặt bức tranh thì điều đó cũng không thể chứng minh cho nhận định thiếu căn cứ của Cotte. Thực ra, quá trình sáng tạo của Leonardo như một dòng chảy, có những ý tưởng đến rồi lại đi mà thôi”.    Trong khi đó, cây bút mĩ thuật Jonathan Jones của The Guardian phản đối việc Mona Lisa ban đầu là chân dung của “một người phụ nữ khác”: “Chúng ta nên nhớ da Vinci vẽ bức tranh này trong nhiều năm – từ năm 1503 cho đến năm 1506, với những hiểu biết về khoa học và nghệ thuật”. Nhìn lại kết quả công việc của Cotte, Jonathan Jones nhấn mạnh là ông đã quên đi việc da Vinci là một thiên tài. “Do đó, da Vinci không làm bất cứ điều gì tầm thường như vẽ bức chân dung quan trọng của mình lên gương mặt của ai đó. Những gì ông ấy đã làm thật cuốn hút: ông ấy đã họa chân dung cho đến khi khuôn mặt của một người phàm trở thành một huyền thoại”.    Tuy nhiên Cotte không quá để tâm đến những nhận xét đó. Ông cho rằng “Khám phá này làm tăng thêm bí ẩn về sự sáng tạo, và cuối cùng chúng tôi hiểu ra rằng bức họa này là kết quả của một hoạt động sáng tạo diễn ra trong thời gian dài – vốn kéo dài hơn một thập kỷ và trong nhiều giai đoạn. Tôi cảm thấy tự hào bởi vì không ai trả tiền cho tôi làm điều đó. Tôi chỉ thực hiện nghiên cứu với niềm say mê khoa học. Việc khám phá ra điều gì mới mẻ và hình thành một giả thuyết vững chắc cần mất một thời gian dài”.     Vậy việc soi tỏ rất kỹ Mona Lisa ở nhiều góc độ có làm thay đổi cái nhìn của ông về bức họa? Cotte mỉm cười “Khi kết thúc việc tái cấu trúc khuôn mặt của Lisa Gherardini, tôi ngắm lại cô ấy và thấy cô hoàn toàn khác biệt với Mona Lisa ngày nay. Không thể là cùng một người được”.  Dù sao việc chưa xác quyết được hết những bí mật về Mona Lisa không phải không có lợi. “Sự tò mò của công chúng thi thoảng lại trỗi lên khiến họ có thể tự hỏi là ‘liệu có thể đoán được bức chân dung bí ẩn đó bằng việc tới tận Louvre không’. Tại sao lại không nhỉ?”.     Tô Vân tổng hợp     Nguồn:  https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1296207420304362  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/theres-hidden-drawing-behind-mona-lisa-180975947/  https://www.independent.co.uk/arts-entertainment/art/news/secrets-mona-lisa-french-scientist-pascal-cotte-claims-know-secret-behind-world-s-most-famous-smile-a6765681.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật trong bánh sừng bò      Điều gì làm nên một chiếc bánh sừng bò thơm ngon và bông xốp? Cất công tìm hiểu bí mật ấy, Braulio Macias Rodriquez và Alejandro Marangoni tại trường đại học Guelph ở Ontario, Canada, không ngờ nghiên cứu của họ có thể góp phần mở ra những chủ đề mới trong khoa học vật liệu.      Có thể thấy là không cần quá nhiều nguyên liệu để làm bánh sừng bò, chỉ cần một ít bột nhào – chủ yếu là bột mỳ và nước, cùng một ít chất béo, thông thường là bơ. Nếu làm bánh ở quy mô công nghiệp, các lớp bột nhào và bơ chỉ dày độ 1 cm được xếp chồng lên nhau hoặc chất béo được đưa vào giữa các lớp bột nhào. Việc nhào bột để tạo ra các lớp luân phiên của bột và chất béo với độ dày 100–200 µm, qua đó đem lại hình dạng bánh và kết cấu xốp như chúng ta thường thấy: khi nướng, nước bốc hơi làm các lớp bột phồng lên và dãn rộng như các quả cầu.  Độ chảy và biến dạng của chất béo  Các đặc tính lưu biến của chất béo – hay nói cách khác là độ chảy và biến dạng của chất béo, là yếu tố quan trọng để làm ra một chiếc bánh sừng bò ngon. Chất béo phải có độ cứng nhất định: nếu quá cứng thì có thể không thể cán mỏng bột, thậm chí vỡ bột, còn nếu quá mềm thì bột sẽ hấp thụ hết chất béo. Vì vậy việc dùng chất béo không phù hợp sẽ làm bánh không nở và dễ bở. Thật may mắn là thợ làm bánh và nhà khoa học đã nhận ra rằng không phải chất béo nào cũng phù hợp với mọi loại thực phẩm. Do đó họ đã phát triển các loại chất béo “chuyên biệt” dành cho những mục tiêu đặc biệt.  Một ví dụ là tìm một chất béo thích hợp để nhồi bột làm bánh sừng bò. Những chiếc bánh sừng bò ngon nhất được làm bằng bơ nhưng thi thoảng khi giá bơ tăng hoặc một số vấn đề về nhiệt độ, người ta phải thay thế nó bằng loại chất béo khác. Những người làm bánh biết rằng, để cán bột với bơ thành công, nhiệt độ phòng chỉ nên dao động trong khoảng xê xích nhỏ –  từ 15 đến 20oC, còn bột nổi có thể giúp nhào bột trong khoảng nhiệt độ rộng hơn. Trong phòng thí nghiệm, Braulio Macias Rodriquez và Alejandro Marangoni nghiên cứu bánh sừng bò làm bằng bột mì pha thêm bột nổi. Họ phát hiện ra các chất béo khác nhau đem đến những đặc tính khác nhau.  Tính lưu biến trong chất béo giúp tạo ra một mạng lưới dạng keo bên dưới của các tinh thể chất béo. Được hình thành bằng sự kết tinh và định dạng của chất béo, mạng lưới này có cấu trúc đa tỉ lệ. Để cán bột thành công, phải “để mắt” đến quá trình kết tinh: chất béo cần được làm mát, nhào nặn để tạo ra nhiều tinh thể nhỏ bé và hình thành mạng tinh thể.  Thợ làm bánh đánh giá chất béo bằng mắt và cảm giác của những ngón tay. Các nhà khoa học có cách làm phù hợp hơn là để chất béo biến dạng, ví dụ như cách dao động theo chu kỳ (periodic oscillation), và biểu hiện các trạng thái của chúng trong một ứng suất (nội lực phát sinh trên mỗi một đơn vị diện tích trong vật thể biến dạng) kèm độ giãn liên kết, ví dụ như bảng a dưới đây:  Trong trường hợp này, cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu áp dụng là tạo ra sơ đồ bằng kỹ thuật biến dạng dao động lớn (large amplitude oscillatory shear LAOS) – tự nó đã là một chủ đề nghiên cứu mới. Có thể áp dụng LAOS cho mọi trường hợp khảo sát về cấu trúc và chức năng của các loại vật liệu khác nhau, bao gồm các loại polymer, keo và thực phẩm bởi nó có khả năng làm phân rã đáp ứng dao động của một vật liệu thành những đặc tính đàn hồi.    “Bánh sừng bò học”: Bánh sừng bò có dạng lớp theo đặc tính của chất béo chuyên dụng được dùng để làm bánh. (a) các chất béo chuyên dụng bị biến dạng một cách khác biệt hơn các loại chất béo đa dụng. Biểu đồ chứng tỏ các nội lực (lực căng là lực tác động trên từng đơn vị diện tích) phát triển theo chu kỳ (lực căng là biên độ của sự gia tăng kích thước tương đối) tại một tần số góc (hay còn gọi là tốc độ góc) của 3,6 radian/giây. Lực căng trong chất béo đa dụng tăng dần một cách rõ rệt và sụt giảm đột ngột báo hiệu cấu trúc bên trọng bị phá vỡ. (b) Trong nhiều loại chất béo, các phân tử chất béo trung tính kết tinh thành các tấm mỏng ở cấp độ nano như những gì biểu diện trong vi ảnh điện tử này. Các tấm mỏng tái hiện cấp độ nhỏ nhất của ba lớp cấu trúc trong một chất béo chuyên dụng. (c) Vi ảnh điện tử chứng tỏ phần đặc trưng cấu trúc ở mức lớn nhất của chất béo, một mạng lưới tinh thể ở cấp độ micro, trong đó có thể gia thêm dầu lỏng.  Như bảng chúng ta thấy, vì biến dạng rất nhỏ, ứng suất của cả chất béo chuyên dụng và chất béo đa dụng đều có đáp ứng tuyến tính. Các chất béo hoạt động như các chất rắn có độ nhớt và biến dạng; trên thực tế, người ta có thể phát hiện ra khả năng ứng xử như chất rắn của chất béo khi quan sát phổ tần số của nó. Trạng thái tuyến tính này rất nhỏ và kết thúc tại lực căng ở mức 0,01% – giá trị tới hạn của các vật liệu trong phạm vi hẹp hay còn gọi là những tương tác van der Waals. Khi vượt qua ngoài giá trị tới hạn, những lực căng này đủ sức phá vỡ mạng lưới tinh thể và đưa nó vào trạng thái đàn hồi không thuận nghịch. Vì thế chất béo chuyên dụng phải chịu được áp lực để có thể dễ dàng chuyển sang trạng thái phi tuyến trong quá trình cán mỏng.  Qua các thí nghiệm LAOS của họ, hai loại chất béo có khả năng đem lại lực căng tương ứng ở mức cao nhất – hay lực căng đàn hồi trong phạm vi 4000–5000 Pa. Nhưng những ứng xử chảy dẻo của chúng hoàn toàn khác nhau: khi biến dạng, lực căng của chất béo chuyên dụng ổn định còn lực căng ở chất béo đa dụng lại suy giảm một cách đột ngột, biểu thị sự đứt đoạn bên trong; do đó chất béo đa dụng không thể giúp cán mỏng bột tốt.  Cấu trúc đa tỷ lệ  Sự lưu biến của chất béo tăng lên từ sự tự sắp xếp theo phân cấp của cấu trúc, trong đó kết hợp các lớp theo chiều dài vật lý trong phạm vi từ vài angstrom đến hàng chục micromet. Ở cấp độ phân tử, các chất béo được hình thành từ các phân tử chất béo trung tính (TG), trong đó bộ ba axít béo phát ra từ trục chính glyceryl. Do yêu thích các chiếc bánh sừng bò, chúng ta có thể không quan tâm trước sự thật là những chất béo chuyên dụng có thể chứa nhiều a xít chuyển hóa, nếu dùng nhiều quá mức cho phép có thể dẫn đến bệnh tim. Vì thế, một trong những mục tiêu cho nghiên cứu của Braulio Macias Rodriquez và Alejandro Marangoni là tìm được những chất béo khác lành mạnh hơn nhưng cũng có khả năng làm ra những chiếc bánh thơm ngon, bông xốp để thay thế các chất béo chuyên dụng.  Những thí nghiệm tán xạ tia X đã phân biệt được ba mức cấu trúc trong các chất béo chuyên dụng, vì nó được phản ánh trong các trạng thái động lực phi Newton (power-law) – động lực của các chất có độ nhớt không tuân theo định luật Newton, rõ rệt trong một đồ thị của cường độ tán xạ siêu góc nhỏ với góc tán xạ. Cấu trúc ở mức thứ nhất bao gồm các tấm mỏng ở kích cỡ nano, các tinh thể TG. Những tinh thể trong chất béo chuyên dụng không chỉ nhỏ hơn so với tinh thể trong chất béo đa dụng mà biên giới giữa chúng cũng mềm mại hơn. Cấu trúc ở mức thứ hai bao gồm các khối tinh thể, hình trụ và có các tỷ lệ chiều cao – đường kính nhỏ, kết bám với nhau một cách tự nhiên để hình thành các cụm ở kích thước micro và siêu micro. Chính các kỹ thuật bổ sung này đã tạo ra mức cấu trúc thứ ba, một mạng lưới tinh thể cực nhỏ bao lấy dầu lỏng. Kỹ thuật xử lý trên kính hiển vi điện tử cho thấy, các cụm tinh thể trong những chất béo chuyên dụng được sắp xếp thành một mạng lưới xếp lớp tuần tự (xem hình c) còn các chất béo thông thường không có được sự trật tự này.  Các mức chiều dài nội khác nhau trong một trật tự cấu trúc của một chất béo mang những gợi ý quan trọng về cách tiêu hao năng lượng như những gì chúng ta thấy trong sự lưu biến của nó. Trong các vật liệu tự nhiên và vật liệu sinh học, sự liên kết giữa các mức chiều dài khác nhau có thể dẫn đến dung sai do trật tự sắp xếp trong liên kết với một cơ cấu cực nhỏ cho phép tiêu hao ứng suất cao cục bộ, nếu không sẽ dẫn đến phá hỏng vật liệu. Thật vậy các chất béo chuyên dụng với cấu trúc ba mức tiêu hao nhiều năng lượng gấp 10 lần so với chất béo đa dụng. Sự tiêu hao ứng suất trong các chất béo và sự đáp ứng của cấu trúc micro trong trạng thái biến dạng phi tuyến là những chủ đề vẫn cần được nghiên cứu thêm. Một vấn đề hấp dẫn là có thêm một đặc điểm nữa của các chất béo chuyên dụng: sự trượt của các lớp kết tinh này có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu hao năng lượng và độ xốp của bánh sừng bò.  Thanh Nhàn dịch  PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Trung tâm nghiên cứu liên ngành, Đại học Hutech) hiệu đính  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.3828    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bị phong tỏa tài chính, Wikileaks có thể phải đóng cửa      Sáng thứ Hai vừa qua, ông Julian Assange, người sáng lập Wilkileaks, đã cho biết trang web có thể phải đóng cửa vào cuối năm nay vì việc bị phong toả tài khoản trong suốt 10 tháng đã làm giảm mạnh lượng tiền tài trợ mà tổ chức này dựa vào để hoạt động.     Ở cuộc họp báo mới, Assange gọi đây là sự tấn công “nguy hiểm, đàn áp và phi dân chủ” từ phía nhà nước Mỹ, rằng hành động này có thể lấy của tổ chức này khoảng “10 triệu đô la” và cảnh báo “nếu wikileaks không tìm ra cách để gỡ bỏ phong toả này thì chúng tôi sẽ không thể tiếp tục hoạt động vào năm tới”.  Kể từ cuối năm 2010, các kênh tín dụng quốc tế như Visa, Mastercard, Paypal và Western Union đã từ chối chuyển tiền tài trợ cho Wikileaks thông qua hệ thống của họ. Theo Assange, việc làm đó đã khoá tới 95% thu nhập của website và họ phải chi trả kinh phí hoạt động bằng lượng dự trữ tiền mặt trong 10 tháng nay. Hiện nay, wikileaks vẫn đang nhận tài trợ khoảng dưới 10,000 đôla mỗi tháng.   Ông Assange cho rằng Wikileaks bị tác động nhằm dừng quá trình công bố hàng trăm nghìn tài liệu bí mật mà họ có được, và bị buộc phải phân tâm vào các vụ kiện ở Mỹ, Australia, các nước ở khu vực Scandinavi và một số nước khác, và đơn đề nghị lên Hội đồng chung Châu Âu trong nỗ lực khôi phục lại khả năng nhận tài trợ thông qua các kênh gửi thông thường.   Wikileaks đã nhận và công bố các tài liệu mật từ nhiều nguồn rò rỉ, và những nguồn tin này mong muốn website tiếp tục công bố các thông tin nhạy cảm đã khiến cả thế giới chú ý vào năm ngoái. Wikileaks công bố và chuyển thông tin tới các hãng thông tấn một số lượng lớn thông tin mật của nhiều cơ quan quân sự Mỹ và các kênh ngoại giao về các cuộc chiến ở Afghanistan, Irag và nhiều chủ đề khác. Trong số các cơ quan thông tấn này có Thời báo NewYork, Der Spiegel, tạp chí thời sự Đức,và Guardian, một tờ báo Anh.   Thu Quỳnh lược dịch theo:  http://www.nytimes.com/2011/10/25/world/europe/blocks-on-wikileaks-donations-may-force-its-end-julian-assange-warns.html?ref=technology    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết thành công của Medicon Valley      Đằng sau thành công của Medicon Valley, hay nói rộng ra là cả vùng Oresund, là một cơ chế quản lý linh hoạt và những chính sách khuyến khích hợp tác của Ủy ban vùng Oresund, nơi được cả các tổ chức chính phủ, tư nhân và phi lợi nhuận ủng hộ.         Trường đại học Lund là một trong nơi thực hiện nhiều sáng kiến hợp tác của vùng Oresund. Nguồn: Đại học Lund.  Sáng tạo từ thành công và thất bại  Để trở thành một trung tâm KHCN tầm cỡ châu lục và thế giới, nơi cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo tốt và môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo cho các startup phát triển và thu hút các công ty đa quốc gia, Oresund cần được quản lý theo kiểu khác. Do đó, trong quá trình xây dựng cây cầu Oresund và hình thành vùng xuyên biên giới Oresund, chính phủ Đan Mạch và Thụy Điển đã thống nhất về một cơ chế quản lý hiệu quả và hợp lý cho “vùng đất mới”. Ủy ban Oresund – một nền tảng quản trị có sự tham gia của đại diện các vùng địa phương của hai quốc gia, nắm quyền quyết định những vấn đề mang tính chiến lược của vùng còn trách nhiệm điều hành chính ở Oresund là Hội đồng thư ký và sự hỗ trợ của nhiều tổ chức như Phòng Thương mại Oresund, Hội đồng Kinh doanh Oresund, Tổ chức hỗ trợ thị trường nhân lực Oresund Direkt, Viện nghiên cứu Oresund…  Ở vùng đất mới này, việc lập những tổ chức điều hành các mảng công việc, hay nói đúng hơn là các nền tảng đổi mới sáng tạo công tư, đều thông qua các sáng kiến – các dự án Interreg do Quỹ Phát triển vùng châu Âu tài trợ cho Ủy ban Oresund. Không tài trợ riêng cho vùng Oresund nhưng chính tại nơi này, hiệu quả từ tài trợ của Quỹ phát triển vùng châu Âu được thể hiện rõ nét khi “thế hệ đầu tiên của các dự án hợp tác do EU tài trợ này hết sức thành công và có một tác động rõ ràng, thậm chí đầy ý nghĩa cho sự cải thiện khung kinh tế và thúc đẩy hiểu biết văn hóa xã hội”. Những dự án trong suốt hai thời kỳ 1994-1999, 2000-2006 đã trở thành công cụ xây dựng cơ sở đổi mới sáng tạo ở Oresund: cụm công nghiệp trên nền tảng khoa học, mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hội đồng Kinh doanh Oresund, trường đại học Oresund, Vùng khoa học Oresund (nơi thiết lập thêm 7 nền tảng hợp tác: Medicon Valley, IT Oresund, Oresund environment, Oresund Food Network, Oresund Logistics, Diginet Oresund và Nano Oresund).  Các sáng kiến này đều có sự tham gia của lĩnh vực công, tư và phi lợi nhuận tham gia – đây là một cách tiếp cận sáng tạo vào cuối những năm 1990, trong đó lĩnh vực công vẫn đóng vai trò chủ đạo thông qua nguồn kinh phí đóng góp. Nhiều sáng kiến như Medicon Valley, Oresund Food Network, Oresund Logistics… đã thành công và được tiếp tục mở rộng sau khi kết thúc giai đoạn tài trợ đầu tiên. Điển hình trong số này là việc Medicon Valley và Oresund Food Network đã kết hợp cùng mở dự án “Thực phẩm + Dược phẩm = Sức khỏe không giới hạn” (Food + Pharma = Unlimited Health) nhằm kết nối thành mạng lưới liên kết giữa các trường đại học, bệnh viện, giới công nghiệp, chính quyền và hệ thống chăm sóc sức khỏe vùng Oresund. Thành công của dự án này đã được tiếp nối bằng Foodbest Oresund nhằm củng cố công nghệ thuộc hai lĩnh vực này và tăng cường sức cạnh tranh của ngành công nghiệp thực phẩm Oresund ra ngoài biên giới châu Âu. Nó trở thành một dự án thành phần của chuỗi Foodbest châu Âu – một khối hợp tác của Pháp, Ý, Hà Lan và Anh.  Tuy nhiên, cũng có những sáng kiến phải kết thúc khi hết tài trợ, không phải vì nó không tạo ra sản phẩm chất lượng mà bởi cam kết của các bên tham gia chưa đủ mạnh như với trường hợp trường đại học Oresund hoặc không thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia do quy tắc tài trợ của EU như trường hợp của Nano Oresund hoặc đơn giản là các dự án thành phần hiệu quả hơn và không cần đến một tổ chức cao hơn quản lý nữa như trường hợp Vùng khoa học Oresund.  Vì vậy, các nhà quản lý nhận ra rằng, để có được thành công ở vùng Oresund, các sáng kiến cần phải được xây dựng ở cả hai khía cạnh từ trên xuống và từ dưới lên. Thuyết phục được Liên minh châu Âu tài trợ là một may mắn nhưng cần phải có “chiến lược tồn tại” với sự đồng thuận từ nhiều bên khác, đảm bảo cam kết đầu tư lâu dài của họ còn sự tham gia của Ủy ban Oresund chỉ là điều phối. Việc giữ cho các bên tham gia có được tiếng nói của mình trong viêc đề xuất và thực hiện dự án, đặc biệt quan tâm đến ý kiến của khối công nghiệp – thành phần quan trọng để các kết quả sáng kiến “sống” được, đã được Ủy ban Oresund cũng như các tổ chức khác coi trọng hơn. Đây cũng là lý do để Medicon Valley Accademia – một mạng lưới được thành lập trên sáng kiến của hai trường đại học top 100 thế giới là đại học Copenhagen, Lund để thúc đẩy sự phát triển của Medicon Valley, được đổi tên thành Liên minh Medicon Valley hướng tới mục tiêu tăng cường sự kết nối, trao đổi hiểu biết giữa các nhà nghiên cứu với giới công nghiệp, chuyển giao công nghệ, trao nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác quốc tế… thông qua việc tạo dựng một môi trường hoạt động đổi mới sáng tạo và có khả năng sinh lợi nhuận.  Để hoạt động được hiệu quả, cấu trúc của Liên minh đã được tinh giản để có thể dễ dàng thay đổi va đáp ứng được những yêu cầu mới và trở ngại có thể gặp. Khi nhận thấy là tài trợ của Quỹ Phát triển vùng châu Âu có thể dừng bất cứ lúc nào, một mặt họ cố gắng cắt giảm kinh phí hoạt động bằng việc sử dụng nhiều tình nguyện viên hơn, mời thêm các công ty công nghệ sinh học – những đối tác được giới thiệu về khả năng mở rộng kinh doanh với những sản phẩm mới từ các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới, mặt khác họ tìm cách giảm thiểu thủ tục hành chính và hỗ trợ tối đa nhà khoa học.  Những đổi mới không ngừng như vậy đã đưa Medicon Valley tới thành công, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thành lập những startup mới. Những thành công ấy thậm chí còn kích thích cả những người khác, vốn không liên quan đến công nghệ sinh học nhưng cũng thành lập startup trong lòng Medicon Valley. Đó là trường hợp nhà vật lý hạt Thụy Điển Elina Berglund, từng nghiên cứu hạt Higgs boson tại CERN. Khi phát hiện ra rằng những thuật toán cô yêu thích có thể giúp xác định được những chu kỳ sinh học trong cơ thể con người, năm 2013, cô đã lập một công ty mang tên Natural Cycles để phát triển các thuật toán đó thành ứng dụng trên điện thoại thông minh. Trả lời Nature về lý do vì sao chuyển hướng công việc, Elina Berglund cho biết: “Nếu ở Thụy Sỹ thì chúng tôi tự phải làm nhiều thứ, đi photo chủ tục giấy tờ, đến văn phòng công chứng còn ở đây mọi thứ đều rất nhanh, ít thủ tục hành chính và một môi trường tốt cho đổi mới sáng tạo”. Quan điểm của cô cũng giống như các đồng nghiệp khi trao đổi với các nhà đánh giá của tổ chức OECD “tất cả mọi thứ đều đã sẵn sàng ở đây, chúng tôi chỉ việc đặt những thứ của mình vào đúng chỗ”.  Thành công vẫn còn chưa đủ    Các nhà sinh học được phép lên đảo nhân tạo Peberholm để nghiên cứu về hệ sinh thái nơi này. Nguồn: Sydsvenskan.  Medicon Valley đã trở thành một thương hiệu của vùng xuyên biên giới Oresund. Tuy nhiên, các nhà quản lý vùng Oresund và các nhà khoa học đều nhận thấy một nguy cơ cạnh tranh ở phía trước, đó là sự đầu tư rất lớn của Trung Quốc vào công nghệ sinh học với hai địa điểm là Bắc Kinh và Thượng Hải thông qua việc lập Viện Hệ Gene Bắc Kinh và thực hiện một số sáng kiến nghiên cứu về não người, giải trình tự gene, công chỉnh sửa gene… Vì vậy, Oresund đã quyết định lập thêm những sáng kiến mới, không chỉ trên quy mô liên vùng mà còn ở quy mô châu Âu, thu hút sự tham gia của nhiều cường quốc hơn.  Muốn đạt được mục tiêu đó, tầm nhìn của Oresund phải trải rộng hơn “vùng an toàn” khoa học sự sống, tuy nhiên vẫn tận dụng được những hiểu biết của ngành này. Với xu thế liên ngành, khoa học sống có thể tham gia vào rất nhiều nghiên cứu của các ngành khoa học khác, ví dụ khoa học vật liệu để có thể làm ra các vật liệu hữu cơ, vật liệu lai, vật liệu y sinh… cần thiết để tạo ra những sản phẩm “xanh” và thân thiện với môi trường. Đó là một trong những nguyên nhân để Oresund thiết lập sáng kiến MAX IV, một phòng thí nghiệm với máy synchrotron thế hệ mới MAX IV ở Lund. Trên cơ sở kinh nghiệm có được từ việc thiết kế và lắp đặt các máy gia tốc synchrotron: MAX I (550 MeV), MAX II (1,5 GeV) và MAX III (700 MeV), MAX IV được được đánh giá là cỗ máy có chùm tia mạnh nhất thế giới vào thời điểm đi vào hoạt động, năm 2019, và có khả năng tạo điều kiện cho hơn 2.500 người làm việc hàng năm. Oresund dự báo, có khoảng 30 quốc gia quan tâm và gửi đề xuất làm việc khi cỗ máy chính thức đi vào hoạt động.     Những kinh nghiệm trong triển khai các sáng kiến hợp tác của Oresund cũng như đội ngũ các nhà nghiên cứu trường đại học Lund do giáo sư Mikael Eriksson – người thiết kế và lắp đặt các thế hệ synchrotron, đã thuyết phục châu Âu bỏ qua Bilbao (Tây Ban Nha) và Debrecen (Hungary) để chọn Lund làm địa điểm của Trung tâm nghiên cứu đa ngành European Spallation Source (ESS), một cơ sở nghiên cứu với luồng xung neutron mạnh nhất thế giới khi đưa vào sử dụng năm 2023, và vận hành toàn công suất vào năm 2025. Đây không chỉ là nơi giúp các nhà khoa học thấy và hiểu rõ các lực và cấu trúc hạt nhân cơ bản tại các thang độ thời gian mà những nguồn neutron hiện nay chưa thể làm được mà còn giúp khám phá và phát triển những vật liệu mới với những ứng dụng cho ngành công nghiệp, sản xuất thuốc, hàng không, năng lượng, vận tải, kỹ thuật viễn thông, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Thậm chí, Trung tâm này còn được thiết kế để trung hòa được carbon nên được chờ đợi sẽ giảm thiểu được lượng khí thải CO2 trong cả vùng.  17 quốc gia châu Âu đã tham gia thực hiện sáng kiến Trung tâm ESS. Trong quá trình 15 năm xây dựng ESS, hơn 300 nhà khoa học đã cùng nhau thực hiện nhiệm vụ này với mục tiêu đưa nơi này thành mái nhà chung của gần 4000 nhà nghiên cứu trong và ngoài châu Âu mỗi năm – mở ra một cơ hội hợp tác mới và có thể một tương lai mới cho Oresund.  Một trong những bí quyết của Oresund là phát triển bền vững môi trường theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Quá trình xây dựng cầu Oresund cho thấy điều đó. Thay vì phá hủy Saltholm – một hòn đảo tự nhiên ở gần cầu cây văng và đường hầm dưới biển Drogden, họ đã tạo ra Peberholm – một hòn đảo nhân tạo cách đảo tự nhiên 800m, làm điểm nối giữa hai phần cầu. Dù là nhân tạo nhưng cơ chế của tự nhiên đã đem lại sự sống cho Peberholm. Theo một điều tra năm 2011, nơi đây là nhà ở của 25 loài chim, 500 loài cây, 345 loài bọ cánh cứng, 421 loài bướm và 18 loài ong, hầu hết là loài đặc hữu của Đan Mạch và Thụy Điển. Ngày nay, Peberholm được bảo vệ một cách tối đa, chỉ có những nhà sinh học mới được phép đến thường xuyên khu vực này để phục vụ nghiên cứu.     Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: http://ec.europa.eu/regional_policy/en/projects/best-practices/sweden/1359/download  https://www.oecd.org/cfe/regional-policy/publicationsdocuments/Oresund.pdf          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết thành công của tôi: Ông khùng Rosso      Mài quần Jeans bán với giá cao ngất ngưởng, quảng cáo mà không có sản phẩm, chi hàng triệu cho những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Đó là những việc làm dường như ngược đời của Renzo Rosso ông chủ hãng Diesel, một đế chế thời trang lừng danh như thế nào?      Đi theo tiếng gọi của sự rồ dại     Khi Renzo Rosso  nói về con đường thăng tiến nhanh chóng của mình, từ con trai một gia đình nông dân trở thành chủ nhân của thương hiệu – Jeans Diesel đế chế thời trang với  trên  6000 cán bộ, nhân viên và với doanh thu 1,4 tỷ Euro – thì ông hay nhắc đi nhắc lại cụm từ “điên rồ”  Trong cuốn tự truyện của mình ông cũng từng viết “mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi khoảnh khắc mà tôi không điên điên khùng khùng thì có nghĩa là khoảng thời gian đó đối với tôi là vô bổ”, Rosso nói. “Đơn giản, đây là cách suy nghĩ, cách hành động và lối sống của tôi, là khả năng biết tận dụng cơ hội mà những người khác không nhìn thấy”. Không tự động nghe theo tiếng gọi của lý trí mà đôi lúc cũng phải biết nghe “tiếng gọi của sự điên khùng”, Rosso đã viết như vậy trong tự truyện của mình. Rosso cho rằng, ai làm gì mà chỉ muốn chắc ăn thì người đó không phải là những người có khả năng tư duy sáng tạo.       Đưa thỏ ra chợ     Khi lên mười tuổi, Rosso được một bạn học cho một con thỏ. Renzo thích thú lắm, không phải vì  có chú thỏ lông xù, xinh xắn làm bạn mà vì chỉ ít ngày sau cậu phát hiện con thỏ này là thỏ cái và đang có chửa. Cậu liền nhờ bố của một bạn học bầy cho cách nuôi thỏ, cậu mua lưới thép, làm một cái chuồng có nhiều ngăn nhỏ, cắt vỏ chai nhựa làm chậu đựng nước uống  treo trong chuồng và nuôi thỏ từ đó.      Thứ tư hàng tuần cậu đi cùng với cha, một chủ trang trại có tiếng ở địa phương, ra chợ và chào bán thỏ. Cậu rao giá 750 Lire cho một kg –  mức giá mà cậu tìm hiểu qua tờ báo ngày đồng thời có đối chiếu với tình hình  cung cầu trên thị trường. Rosso quảng bá thịt thỏ của cậu là thỏ nuôi tự nhiên. “Lúc đầu khách hàng lớn tuổi nhìn tôi với con mắt ngạc nhiên, nhưng sau đó thịt thỏ của tôi bán chạy như tôm tươi.”      Khởi nghiệp từ trường trung cấp dệt may          Những bí quyết thành công của Renzo Rosso              1. Hãy chiếm vị trí thứ hai tốt nhất              2. Hãy cười về bản thân mình              3. Hãy đi theo tiếng gọi của sự điên khùng              4. Dám liều lĩnh – nhưng không để mất tất cả         Từ việc bán thịt thỏ, Rosso đã rút ra được bài học gì? Người ta có thể kiếm ra tiền “khi có sản phẩm tốt và sẵn sàng làm việc một cách khôn ngoan, kiên quyết và bền bỉ”.  Rosso thực hiện phương châm này khi theo học trường trung cấp dệt may ở tuổi 15 tại Padua. Rosso vui mừng vì chương trình giảng dậy ở đây ít lý thuyết, giảng viên thường là những người hoạt động thực tiễn trong ngành công nghiệp thời trang. Rosso học về cảm giác với vải vóc, về cắt vải như thế nào, về vẽ mẫu trang phục về cách gá các đường may với nhau và về các thao tác vận hành máy móc, về bào quản trong kho tàng và về vận chuyển sản phẩm và cuối cùng là về viết chứng từ hóa đơn và làm sổ sách: “Tại trường này tôi đã học được những điều mà sau này tôi cần khi kinh doanh độc lập”.      Hãy hành động như không có gì để mất     Khi một người bạn mang từ Mỹ về vài mét vải Denim Rosso liền dùng máy khâu của mẹ may cho mình một quần jeans với gấu 42 cm. Hồi đó các bạn cậu cũng rất mê loại quần Hippie này nên cậu cùng mấy người thợ thức thâu đêm để may đo với giá 7000 Lire – một nửa là tiền công. 100 000 Lire đầu tiên cậu đã kiếm được một cách ngon lành – và cũng từ đây cậu ý thức được rằng  “ta sẽ làm được nếu ta có niềm tin vào việc ta đang làm.”     Khi chưa ầy 20 tuổi, Rosso đã là đội trưởng sản xuất, giám sát công việc của 18 thợ tại một hãng may đo cỡ trung bình, mặc dù khi đó anh chưa biết gì về nhiệm vụ của mình. Điều này cũng cho thấy sự thành đạt của nhà doanh nghiệp sau này và Guido Corbetta, giáo sư về chiến lược doanh nghiệp thuộc đại học tổng hợp Bocconi ở Mailand nói “họ làm việc hầu như không có gì để mất”.      Biến hàng xuất xưởng mới cứng thành đồ cũ     Trong tuần đầu tiên dưới sự giám sát của  Rosso không có một chiếc quần jeans nào thiếu hoàn hảo có thể xuất xưởng. Nhà quản lý trẻ liên tục gọi điện thoại cho bạn bè để hỏi ý kiến, anh làm việc thâu đêm để tìm cách cải tiến quá trình sản xuất. Chỉ sau hai năm nhờ hưởng lương theo năng suất, thu nhập của Rosso cao gấp mười lần so với khi anh mới vào nghề. Khi công việc ở đội sản xuất đang trôi chẩy, thuận buồm xuôi gió thì Rosse xin nghỉ việc với lý do: “Tôi cần có một sự kích thích mới”.     Tháng 10. 1978  Rosso  bắt đầu với thương hiệu của riêng ông Diesel. Lúc đầu còn cộng tác với người chủ cũ, nhưng từ 1985 thì ông làm ăn hoàn toàn độc lập. Hồi đó việc buôn bán loại jeans dùng rồi đang là mốt, vì vậy Rosso quyết định biến những chiếc quần Jeans mới cứng thành hàng secondhand để  bán. Rosso cho chà xát vải cho tã ra rồi mới may quần, làm như chúng bị lỗi ở khâu sản xuất vậy. Ông nói “Tôi nâng cấp Jeans thành tác phẩm nghệ thuật”. Và biến chúng thành hàng hóa cao cấp – do việc xử lý vải khá tốn kém nên giá bán loại jeans này còn đắt gấp đôi hoại jeans thông thường, khiến ngay cả  chủ các cửa hàng bán quần áo Diesel cũng sôi sùng sục phản đối – cuối cùng họ chỉ chấp nhận kế hoạch của Rosse khi anh cam kết sẽ nhận lại tất cả những sản phẩm bị tồn đọng. Rosso nhớ lại  “loại jeans giả cũ này đã bán chạy như bánh mỳ mới ra lò”.      Truyền thông rõ ràng                Với chiếc máy khâu này Rosso đã cắt may chiếc quần Jeans đầu tiên          Tuy nhiên  việc mà Rosso còn quan tâm  nhiều hơn cả việc thiết kế mẫu mã quần Jeans là vấn đề truyền thông. “Xét cho cùng thì tôi là người bán hàng đầu tiên bán thương hiệu của mình”. Vì vậy tôi cần phải có một biểu tượng thật hấp dẫn. Sau khi xem qua công việc của một họa sỹ trẻ người Anh, Rosso đã giao việc này cho cậu ta.      Điều mong muốn của Rosso là: có một logo mang nặng dấu ấn của người Da đỏ, điều này gây nên phản ứng dữ dội trong ngành thời trang.      Cuối cùng thì sau 14 ngày tự giam mình anh học sỹ trẻ đã trình ông chủ một bản vẽ mầu nước khuôn mặt của một  Mohikaner – biểu tượng cho người Da Đỏ hiện đại sống ở thành phố lớn. Rosso rất thích thú biểu tượng này, và cho đến nay nó vẫn là logo của Diesel. Cạnh đó ông cũng tạo ra một dấu ấn cho sự thành công của doanh nghiệp: đó là cách  truyền thông độc đáo, không thể bị pha trộn. Thay vì sử dụng những bức ảnh đen trắng mang tính phô trương, thời đó rất phổ biến trong ngành thời trang, thì Rosso lại thiên về những motiv siêu thực với nhiều sắc mầu, với lời bình mỉa mai, châm biếm, phê phán xã hội, vừa mang tính giải trí vừa buộc người ta phải suy ngẫm. Điều mong muốn của Rosso là: “phải đảo lộn sự quảng cáo” – bằng cách “chúng ta biến sản phẩm của mình thành trò cười” hay “đề cập đến những vấn đề gay cấn của xã hội nhưng trên môi vẫn hé nở một nụ cười”.                Tranh quảng cáo “The Daily African”          Thí dụ như tranh quảng cáo “The Daily African” năm  2001, với những thanh niên châu Phi, diện trang phục Diesel sang trọng ở vùng đồng quê nước Mỹ, trước cổng  một tòa biệt thự, trong đó có phòng thư viện tư nhân bên ngoài là một  Limousine. Kèm theo là một slogans theo kiểu tít của một tờ nhật báo đại loại như “Châu Phi cam kết viện trợ phát triển cho Hoa kỳ”. Quảng cáo này đầu tiên gây nhiều tranh cãi trong nội bộ tập đoàn, nhưng sau đó tại cuộc Liên hoan quốc tế lớn nhất về quảng cáo ở Cannes nó lại được trao giải thưởng lớn.      Thay cho sự phân tích thì nghe theo trực giác của mình     Trong khi các đối thủ cạnh tranh lên kế hoạch quảng cáo sản phẩm dựa vào kết quả phân tích nhóm đối tượng, vào thống kê nhân khẩu học và  số liệu về số lượng phát hành để phân bổ khoản ngân sách ít ỏi dành cho quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng thì Rosso lại dựa vào cái gu của mình. Đầu những năm chín mươi ông là người đầu tiên trong ngành thời trang đăng quảng cáo trên các tạp chí của dân đồng tính, trên mạng internet và hợp tác với đài phát thanh âm nhạc  MTV, khi đó chưa mấy ai biết đến – lý do “vì nhóm đối tượng của họ cũng tương tự như nhóm đối tượng của tôi”.                Rosso và trẻ em tại một làng ở Mali được sự tài trợ của tập đoàn.          Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập doanh nghiệp ông cho tổ chức các dạ hội hết sức hoành tráng ở 17 thành phố lớn trên thế giới vào cùng một thời điểm, từ  Tokio tới New York. Nhân dịp đó bán Jeans kỷ niệm với giá tượng trưng vài ba Euro và đã gây ra hỗn loạn ở một số nơi. Một nhân viên bán hàng gửi mail báo cáo ông vào lúc ba giờ sáng “chúng ta đã làm cho giao thông tại khu vực này bị tê liệt và phải yêu cầu sự hỗ trợ của cảnh sát, đúng là điên rồ”.     Năm 1995 Rosso giới thiệu Diesel với tư cách là thương hiệu thời trang đầu tiên trên internet – thời gian đầu bán mỗi ngày qua mạng được 16 bộ Jeans là ông đã mừng lắm rồi. Ông nói “xét về khía cạnh kinh tế thì số lượng đó chả có ý nghĩa gì. Nhưng vấn đề là, tôi muốn bao giờ cũng đi trước đối thủ một bước – cả trong lĩnh vực công nghệ”.     Không cài logo của tập đoàn vào các buổi trình diễn thể thao hoặc các chương trình truyền hình như thường thấy, ông thuê những bảng quảng cáo cực lớn ở các thành phố quan trọng nhất trên thế giới và để các nghệ sỹ trẻ trình bày, và huy động các nhà thiết kế thời trang trẻ trưng bày và bán  những sản phẩm của họ tại các cửa hàng của Diesel trên khắp thế giới. Ông tổ chức các Castings cho giới nhạc sỹ trẻ, giúp họ có các hợp đồng về đĩa hát và biểu diễn. Rosso nói “Tôi muốn 50 năm nữa vẫn có người nghĩ đến tôi là người luôn tạo cơ hội cho các nghệ sỹ trẻ, tài năng, để họ, với sự giúp đỡ của chúng tôi, phát huy được hết sở trường, tài năng của mình”.      Doanh nghiệp đầy những kẻ tay ngang     Thay vì chi những khoản tiền lớn để thu hút các tài năng sáng tạo của các doanh nghiệp khác Rosso lại chỉ tìm kiếm những tài năng trẻ hạng hai – “bọn họ đói hơn và cũng dễ để uốn nắn hơn”. Để hướng cho đội ngũ của mình tập trung vào các mục tiêu của doanh nghiệp ông đã có những bài diễn thuyết hùng hồn, nẩy lửa “hơi điên điên khùng khùng” thậm chí còn mặc trang phục của các đấu sỹ để diễn thuyết trước đám đông. Ông thường xuyên cử giám đốc nhân sự của hãng đi chu du thế giới mỗi năm vài lần, nhằm thành lập các nhóm làm việc gồm những người đa tài có quốc tịch khác nhau. Ông nói “Có những người có nhiều khả năng hơn so với địa vị, đẳng cấp của họ, hoặc họ làm được nhiều hơn so với những gì ta đã biết về họ. Và một khi ta đã gặp được họ thì việc gì còn phải lăn tăn?” Chẳng hạn, ông đã tình cờ gặp một người tại một cây xăng và ông đã mau chóng cử anh ta làm giám đốc tiêu thụ ở Đức – anh chàng này làm việc rất tốt và thu được nhiều thành công. Nhiều năm sau người này đã tỏ lòng tri ân của mình và tặng Rosso một con xe Porsche.      Thành công với những nhà quản lý ở những lĩnh vực hoàn toàn khác     Rosso là nhà doanh nghiệp thời trang đầu tiên vào giữa những năm chín mươi đã đưa những nhà quản lý thuộc các lĩnh vực hoàn toàn khác về làm việc cho doanh nghiệp của mình: thí dụ người bán kem đánh răng của Procter, chuyên gia về sữa chua của Danone, chuyên gia về các món ăn đã chế biến của Unilever. Ông cũng từng cử một người bạn là chủ một nhà hàng ăn ở quê nhà  miền bắc Italia, cho dù ông này không biết tiếng Anh, tới Miami Beach quản lý khách sạn   Pelican của ông. Khi đó khách sạn trong tình trạng xuống cấp nhưng ở vị trí ven biển rất đẹp và  Rosso đã quyết định mua khách sạn nhiều triệu USD này đầu những năm 90 trong vòng 48 tiếng đồng hồ. “Tay giám đốc điều hành của tôi đã nổi đóa, nhân viên người Hoa Kỳ thì nói tôi có ý tưởng điên rồ”. Rosso nhớ lại. Nhưng bản thân ông thì lại rất tự tin: “Vùng đất này sẽ mang lại tiếng tăm cho Diesel – giờ là thời điểm thuận lợi để quyết định đầu tư”.     Rosso hoàn toàn đúng: Từ lâu giải đất quanh Ocean Drive lại là nơi tụ hội của những người giầu có và người đẹp. Và Pelican là một trong những  Boutique-Hotels đẹp nhất thế giới.      Tiếp cận lĩnh vực thời trang hạng sang     Mảng kinh doanh chính của Rosso đã đạt đến phân khúc hàng cao cấp. Vì vậy ông đã lập những thương hiệu phụ như Premium Denim và Diesel StyleL và từ năm 1999 đã tiếp quản một nhà sản xuất theo hợp đồng, tuy đang ở trong tình trạng sắp sập tiệm, nhưng doanh nghiệp này từng sản xuất sản phẩm thương hiệu cho Haute – Couture cũng như Lagerfeld. Với Rosso thì đây là tấm vé để ông đến với thế giới thời trang cao cấp (Luxusmode) qua việc tiếp quản thương hiệu sành điệu Maison Margiela và thành lập công ty Holding Only the Braves. Hiện tại Holding đại diện cho tất cả thương hiệu của ông từ sản phẩm truyền thống Diesel cho đến các dòng Prêt-à-porter Diesel Black Gold và cuối cùng là các bộ sưu tập của của cặp thiết kế thời trang khá ngông người Hà lan Viktor & Rolf.      Một sự chuyển giao nhẹ nhàng chí ít cũng đã bắt đầu: hiện tại Renzo Rosso quan tâm, lo lắng nhiều hơn đến các dự án xã hội thuộc Quỹ của ông và quan tâm đến các đồi trồng nho của riêng mình. Điều hành công việc hàng ngày của Holding OTB là Andrea, con trai ông.     Lời khuyên quan trọng nhất của người cha dành cho các con là? “Có nhiều điều kiện để ra những quyết định đúng đắn – nhưng xin, đừng làm việc đó”.     Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế” 1/2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết ươm tạo DN từ trường đại học của Đài Loan      Nguồn tri thức, nhân lực, uy tín, và các mối quan hệ rộng rãi của các trường đại học là các điều kiện thuận lợi để hình thành vườn ươm tạo doanh nghiệp, một bệ đỡ quan trọng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Với những chính sách phù hợp, Đài Loan là nơi đã rất thành công trong việc khai thác những điều kiện thuận lợi này.     Hiện nay tại Đài Loan có tới 90 vườn ươm tạo doanh nghiệp hình thành từ các trường đại học, chiếm tới hơn 80% tổng số vườn ươm tạo doanh nghiệp của cả nước, theo lời TS. Jane Liu, giám đốc Trung tâm Ươm tạo Đại học Công nghệ Chaoyang,  tại Hội thảo quốc tế về Chính sách phát triển cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN thuộc các trường đại học: Bài học kinh nghiệm quốc tế do Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia phối hợp với Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN – Bộ KH&CN tổ chức.   Các đại học của Đài Loan đã có những vườn ươm giàu uy tín ở tầm quốc tế, đơn cử như Trung tâm Hỗ trợ Công nghiệp và Chiến lược sáng chế của Đại học Chiaotung được xếp thứ 7 toàn cầu trên bảng xếp hạng UBI Index (tổ chức hàng đầu thế giới về xếp hạng các vườn ươm doanh nghiệp của các trường đại học, có trụ sở ở Stockholm, Thụy Điển). Trung tâm Ươm tạo của TS. Jane Liu ở Đại học Công nghệ Chaoyang cũng nằm trong tốp 50 của bảng xếp hạng UBI Index, như bà cho biết. Đây là một thành tựu đáng tự hào, vì không phải đại học hàng đầu nào trên thế giới cũng có vườn ươm tạo doanh nghiệp đứng trong tốp đầu của bảng xếp hạng UBI Index.  Cũng giống như các vườn ươm tạo doanh nghiệp khác ở Đài Loan, các vườn ươm thuộc các trường đại học thường chú trọng những ngành thế mạnh của trường, đồng thời phù hợp với đặc thù vùng, địa phương của mình. Đài Loan có chủ trương ưu tiên cho các doanh nghiệp làm thuộc tám ngành mũi nhọn là ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ xanh, cơ khí chính xác, dịch vụ khoa học, dịch vụ y tế – chăm sóc sức khỏe, dịch vụ đời sống thông minh, và dịch vụ văn hóa.  Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cất cánh nhanh …  Đài Loan bắt đầu xây dựng các vườn ươm đầu tiên từ năm 1997, đến nay họ đã đúc kết ra một số kinh nghiệm và những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp một cách hiệu quả nhất, bắt đầu ngay từ khâu cất cánh. Đầu tiên phải kể đến là chính sách “một cửa”, theo đó tất cả các doanh nhân khởi nghiệp với mọi vấn đề thắc mắc cần giải đáp hoặc khó khăn cần giúp đỡ đều có thể gọi đến một số điện thoại (0800-589-168) để nhanh chóng nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ cần thiết từ Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEA) của Đài Loan.   Tài chính để khởi nghiệp là trở ngại và là vấn đề được đa số doanh nhân khởi nghiệp quan tâm nhất, vì vậy SMEA còn cung cấp một khóa đào tạo trong ba ngày. Ngày đầu các học viên được học về tổng quan những vấn đề cơ bản cần có sự chuẩn bị, được giới thiệu một số kỹ năng quản lý tối thiểu, đồng thời học cách tiến hành tiền thẩm định ý tưởng, kế hoạch kinh doanh. Trong ngày thứ hai, học viên được học cách tiến hành vay vốn từ ngân hàng, đăng ký thuế, xây dựng chiến lược kinh doanh, xây dựng hình ảnh, câu chuyện về sản phẩm và tiếp thị. Ngày cuối cùng, học viên được học cách viết kế hoạch kinh doanh, được giới thiệu về các kênh hỗ trợ tài chính và cho vay vốn, các nguồn lực hỗ trợ từ Chính phủ, và cách đăng ký tới các địa chỉ hỗ trợ qua internet. Như vậy, với tổng thời gian đào tạo hơn hai mươi tiếng, các học viên sẽ được cung cấp đầy đủ những thông tin cơ bản để có thể tự xây dựng kế hoạch hành động tiếp theo và tìm đến đúng những địa chỉ hỗ trợ hữu ích cho mình.  Để kết nối doanh nhân khởi nghiệp Đài Loan với các đối tác, người ta còn tổ chức các cuộc trình diễn ý tưởng (idea show), nơi các doanh nhân khởi nghiệp có dịp giới thiệu về ý tưởng kinh doanh và sản phẩm của mình. Qua đó, họ sẽ có cơ hội tìm được các cơ hội hợp tác cần thiết cho sự hình thành và phát triển doanh nghiệp của mình, không chỉ là gặp gỡ kết nối với các nhà đầu tư thiên thần hay quỹ đầu tư, mà cả những đối tác cung cấp công nghệ, hoặc hỗ trợ xây dựng và phát triển sản phẩm, v.v.   … và “hạ cánh mềm”  Tuy nhiên, Đài Loan không chỉ hỗ trợ doanh nhân khởi nghiệp từ bước tiếp cận ban đầu, mà còn giúp họ một cách hữu hiệu ở chặng thử thách cuối cùng: xây dựng hình ảnh, thương hiệu sản phẩm để xâm nhập thị trường. Các doanh nghiệp khởi nghiệp có tuổi đời ba năm sẽ được xem xét trao tặng các giải thưởng để ghi nhận cống hiến của họ cho ra đời những sản phẩm mới, dịch vụ mới, công nghệ mới, hoặc mô hình kinh doanh mới, với các mức giải vàng, bạc, đồng. Mỗi nhóm ngành công nghiệp đều có giải thưởng riêng (ví dụ nhóm ngành công nghệ cao, hay các ngành sản phẩm – dịch vụ truyền thống). Đây không chỉ là cách tăng cường hình ảnh của doanh nghiệp khởi nghiệp trước các khách hàng mà cả với các nhà đầu tư.   Đặc biệt, để giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp “hạ cánh mềm”, TS. Jane Liu cho biết, các vườn ươm tạo doanh nghiệp của Đài Loan xây dựng một mối quan hệ rộng rãi và mật thiết với các trung tâm ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khác ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, v.v. bởi theo bà, ngày nay các doanh nghiệp khởi nghiệp phải đối diện với cuộc cạnh tranh toàn cầu ngay từ ngày đầu tiên nhập cuộc trên thị trường, bởi vậy các vườn ươm tạo và trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phải tự trang bị cho mình nhiều mối quan hệ cùng nguồn lực quốc tế để giúp doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước có thể tồn tại và phát triển. Thông qua mạng lưới quan hệ và các nguồn lực quốc tế như vậy, các vườn ươm của Đài Loan không chỉ tăng cường thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước, mà còn giúp doanh nghiệp trong nước chinh phục các thị trường quốc tế. Ví dụ, một doanh nghiệp thông thường có thể mất vài năm để thâm nhập một thị trường nước ngoài, từ khâu xây dựng hoặc thuê mướn văn phòng, tìm hiểu các hệ thống thủ tục hành chính và pháp lý, tìm kênh cung cấp các nguyên liệu và phân phối, tiêu thụ sản phẩm, các kênh tài chính ở nước sở tại, v.v. Nhưng với sự hỗ trợ của vườn ươm trong nước và mạng lưới quốc tế, một doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ mới thành lập cũng có thể nhanh chóng đặt chân tại một thị trường nước ngoài trong vòng vài tháng.  Những phẩm chất cần thiết cho người làm công việc ươm tạo  Theo TS. Jane Liu, thành công của một vườn ươm được nhìn thấy rõ nhất qua lượng vốn mà vườn ươm thu hút về cho doanh nghiệp khởi nghiệp, bên cạnh đó là mạng lưới kết nối trong nước – quốc tế mà vườn ươm xây dựng được để doanh nghiệp khởi nghiệp có thể khai thác.  Nhưng muốn có được thành công, bà cho rằng, một vườn ươm cần ba yếu tố.   Một bộ máy nhân sự chuyên nghiệp với những cá nhân am hiểu công việc của mình.  “Lòng nhiệt thành” của tất cả những người trực tiếp vận hành hoặc có liên quan, ảnh hưởng tới công việc và các hoạt động của vườn ươm (thậm chí còn quan trọng hơn thứ nhất). Ngoài các cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo và các nhà quản lý trường đại học, lãnh đạo vườn ươm, và bộ máy nhân viên của vườn ươm. TS, Jane Liu cho biết, Trung tâm Ươm tạo của bà còn có một đội ngũ những người tình nguyện viên vô cùng hăng hái, đó chính là các sinh viên đại học. Họ rất nhiệt tình đóng góp công sức vào các hoạt động của vườn ươm, bởi đó là cơ hội để họ hiểu về công việc, môi trường, các điều kiện hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp, một bước đệm hữu ích cho sự nghiệp tương lai.   Vườn ươm phải xác định một mục tiêu rõ ràng và có tính thực tế để hướng tới. “Tại Trung tâm Ươm tạo thuộc Đại học Công nghệ Chaoyang, mục tiêu hàng đầu của chúng tôi khi ươm tạo các doanh nghiệp không phải là nhằm triển khai các ứng dụng công nghệ mình có, mà là làm sao để mô hình kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi và mang lại thành công cho doanh nghiệp”, TS. Jane Liu khẳng định.   Mô hình kinh doanh của Trung tâm Ươm tạo do TS. Jane Liu điều hành là thu tiền thuê cơ sở và dịch vụ do doanh nghiệp đóng. Bà cho biết thông thường sau ba năm ươm tạo, trên 50% doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ trụ lại và được đưa ra chào bán trước công chúng lần đầu, qua đó giá trị cổ phần sẽ tăng 150-180%.        UBI Index là tổ chức hàng đầu trên thế giới về phân tích, đánh giá, xếp hạng các vườn ươm tạo doanh nghiệp. Bằng một hệ thống tiêu chí toàn diện, UBI Index đưa ra đánh giá đối với hơn 300 vườn ươm công nghệ của 67 nước tham gia.               Ba mảng chính được đánh giá là: giá trị đối với hệ sinh thái (“ecosystem”) của các doanh nghiệp khởi nghiệp, giá trị đối với doanh nghiệp khởi nghiệp, sức hấp dẫn của chương trình ươm tạo. Tổng cộng có hơn 60 tiêu chí đánh giá được dùng để so sánh các chương trình ươm tạo trên toàn thế giới.               Điều thú vị là kết quả đánh giá của UBI Index cho thấy đa số các đại học hàng đầu thế giới (theo xếp hạng của Times Higher Education Ranking) không phải là nơi hình thành nên những vườn ươm tạo doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao nhất, cho dù có trong tay những lợi thế về danh tiếng, các mối quan hệ, đặc biệt là nguồn nhân lực, tri thức chất lượng cao – trong tốp 25 vườn ươm tạo hàng đầu của UBI Index, chỉ có vài trường đại học được coi là hàng đầu thế giới. “Điều này chứng minh cho giả thuyết của chúng tôi rằng việc tạo ra một chương trình ươm tạo có sức cạnh tranh cao trước hết đòi hỏi trường đại học phải đặt ra mục tiêu rõ ràng và tập trung theo đuổi nó”, nhận định từ Dhruv Bhatli, nhà đồng sáng lập và giám đốc nghiên cứu của UBI Index.              UBI Index đã cho thấy sức vươn lên mạnh mẽ của các vườn ươm tạo châu Á, đã tạo ra số lượng công ăn việc làm nhiều gấp đôi các vườn ươm tạo của châu Âu, cho dù các vườn ươm châu Á chỉ đòi hỏi lượng kinh phí bằng một nửa so với châu Âu.              Nước Mỹ vẫn là nơi có vườn ươm tạo mạnh nhất (Rice Alliance of Technology and Entrepreneurship của Đại học Rice) và có nhiều vườn ươm nhất trong tốp 25 (có bốn vườn ươm). Nhưng Trung Quốc cũng rất đáng gờm, với một vườn ươm đứng thứ ba (Công viên Khoa học Đại học Quốc gia Hoa Nam của Đại học Hoa Nam).              Vương Quốc Anh, cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, ngày nay chỉ có duy nhất một vườn ươm trong tốp 25 (mặc dù đây là vườn ươm mạnh thứ hai trên thế giới), trong khi Đài Loan, Thụy Điển, Chile đều có hai vườn ươm trong tốp này.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết ươm tạo khởi nghiệp thành công từ các ĐH Đài Loan      Trong khi không ít vườn ươm tạo khởi nghiệp thuộc trường đại học ở Đài Loan gặp thất bại thì một nhóm vườn ươm khác gặt hái được những thành công đáng kể, ươm tạo được hàng nghìn startups và giúp họ thu hút đầu tư hàng trăm triệu USD. Để tìm ra bí quyết của những thành công này, nhóm phóng viên tạp chí Tia Sáng đã đến các cơ sở hàng đầu trong số những vườn ươm tạo khởi nghiệp tại các trường đại học của Đài Loan.      Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp tại các trường đại học đang trở thành một xu hướng khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đã phát triển, bởi các trường đại học luôn là nguồn cung cấp dồi dào các ý tưởng, tri thức, và công nghệ phục vụ cho các ngành công nghiệp và nhu cầu xã hội, lại là nơi sẵn có các nguồn lực về con người, trang thiết bị, không gian làm việc, v.v. Bên cạnh đó, theo PGS. Jane Liu, Giám đốc Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp của Đại học Công nghệ Chaoyang, hoạt động ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học mở ra nhiều cơ hội để sinh viên tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp theo hình thức làm tình nguyện viên, thực tập sinh, thậm chí sáng lập viên, qua đó tăng cường rèn luyện kinh nghiệm, kỹ năng, tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo hết sức thiết thực cho các em, đồng thời mang lại một nguồn lực chất lượng cao, chi phí thấp cho các doanh nghiệp ươm tạo.  Các vườn ươm khởi nghiệp trong trường đại học không chỉ ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng lập bởi các nhà nghiên cứu, sinh viên trong trường, mà còn có thể ươm tạo doanh nghiệp của các nhà khởi nghiệp từ bên ngoài, theo đó, trường đại học cùng với các nguồn lực sẵn có của nó trở thành bệ phóng cho tất cả mọi ý tưởng, kế hoạch khởi nghiệp, bao gồm cả những ý tưởng, kế hoạch có xuất xứ từ bên ngoài nhà trường. “70% các doanh nghiệp được ươm tạo trong các vườn ươm của chúng tôi được hình thành từ các nhà sáng lập có xuất xứ bên ngoài nhà trường”, GS. Shih-Ming Wang, Phó giám đốc Trung tâm Ươm tạo khởi nghiệp và Chuyển giao công nghệ của Đại học Chung Yuan Christian, cho biết.  Cách xây dựng và tổ chức vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học ở Đài Loan  Vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học thường là một đơn vị trực thuộc trường đại học, do trường bố trí các nguồn lực về con người và cơ sở vật chất để có thể hình thành. Tuy nhiên, sau khi hình thành, các trung tâm này hoàn toàn có thể tự chủ khi có đủ năng lực tạo ra nguồn thu để duy trì và phát triển.          Vườn ươm tạo khởi nghiệp ở các trường đại học nên là các đơn vị tự chủ ngay từ đầu, hoặc có lộ trình tự chủ rõ ràng.         Các chức năng cơ bản của một vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học sau khi đã phát triển hoàn chỉnh thường bao gồm hai mảng chính: 1/ Quản lý về sở hữu trí tuệ – chuyển giao công nghệ; 2/ Ươm tạo và huấn luyện tăng tốc khởi nghiệp. Nội dung về huấn luyện tăng tốc khởi nghiệp (accelerator) thường là các khóa ngắn hạn (khoảng sáu tháng – một năm) gồm các cấu phần về huấn luyện (mentoring), hỗ trợ kêu gọi vốn đầu tư và xin kinh phí tài trợ (funding), mở rộng mạng lưới quan hệ của doanh nghiệp (networking). Nội dung về ươm tạo (incubator) cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp một cách toàn diện hơn, từ quy trình thành lập doanh nghiệp, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp, tới quảng bá và thâm nhập thị trường.   Cơ sở vật chất phục vụ cho các vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học thường không nhiều. Yêu cầu về không gian thường khoảng trên dưới 200 m2, được chia thành hai cấu phần: 1/ Không gian dành cho các doanh nghiệp được huấn luyện tăng tốc khởi nghiệp trong khoảng thời gian sáu tháng – một năm, với số lượng doanh nghiệp được huấn luyện khoảng 20-30, diện tích dành cho mỗi doanh nghiệp thường tương đương với một bàn làm việc; 2/ Không gian dành cho các doanh nghiệp được ươm tạo trong khoảng thời gian ba năm, với số lượng doanh nghiệp ươm tạo khoảng dưới 10 doanh nghiệp, diện tích cho mỗi doanh nghiệp thường dưới 10 m2.  Bộ máy nhân sự của một vườn ươm tạo thường khoảng 10 người. Tuy nhiên, các vườn ươm tạo đều có sự cộng tác của các chuyên gia ươm tạo khởi nghiệp từ bên ngoài. Bên cạnh đó, các vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học có thể huy động nguồn lực sinh viên tình nguyện cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hoặc thực tập ngay trong các doanh nghiệp này.  Khi mới thành lập, nếu chưa sẵn có nguồn nhân lực cơ hữu có chuyên môn sâu về tư vấn khởi nghiệp, các vườn ươm tạo khởi nghiệp thường chỉ khởi đầu với các dịch vụ cơ bản về môi giới (như môi giới chuyển giao công nghệ của trường cho doanh nghiệp khởi nghiệp), tổ chức các lớp huấn luyện khởi nghiệp bằng cách mời chuyên gia tình nguyện từ bên ngoài, và cho doanh nghiệp khởi nghiệp thuê văn phòng.  Sau quá trình một vài năm hoạt động, các vườn ươm tạo khởi nghiệp bắt đầu tích lũy nguồn nhân lực cơ hữu có năng lực cao hơn, đồng thời đã thâm nhập sâu hơn vào mạng lưới các nhà đầu tư để có nhiều thông tin hơn về các ngành công nghiệp, từ đó có thể cung cấp những dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cao hơn cho doanh nghiệp khởi nghiệp được ươm tạo. Ví dụ như tư vấn giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh và chiến lược thâm nhập thị trường, tổ chức xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp, tìm kiếm nhân sự chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp khởi nghiệp, v.v.  Cuối cùng, khi đã có đầy đủ thực lực, các vườn ươm tạo khởi nghiệp trong trường đại học bắt đầu tham gia vào các mạng lưới ươm tạo khởi nghiệp quốc tế, mở văn phòng đại diện hoặc cơ sở ươm tạo tại nước ngoài nhằm giúp doanh nghiệp khởi nghiệp khai thác các lợi thế, nguồn lực quốc tế về vốn đầu tư, thị trường cung ứng đầu vào, thị trường tiêu thụ đầu ra.      Những sai lầm phổ biến cần tránh   Như đã đề cập, ưu điểm của các vườn ươm khởi nghiệp từ trường đại học là sẵn có những nguồn lực về con người, cơ sở vật chất mà các doanh nghiệp ươm tạo có thể dễ dàng tiếp cận và là một lợi thế không nhỏ đối với các ngành công nghệ đòi hỏi đội ngũ nhân lực nghiên cứu, trang thiết bị tốn kém. Các trường đại học cũng là nơi có nguồn tình nguyện viên dồi dào là những sinh viên nhiệt tình, có tri thức, sẵn sàng tham gia làm việc hoặc hỗ trợ doanh nghiệp với chi phí rẻ. Mặt khác, đối với những trường đại học có uy tín cao trong xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực KH&CN thì thương hiệu và giá trị sản phẩm của doanh nghiệp KH&CN cũng có thể được định giá cao hơn trong mắt nhà đầu tư và khách hàng.           Điều kiện quan trọng là vườn ươm tạo khởi  nghiệp cũng như trường đại học cần nằm ở nơi có mật độ cao các khu công  nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, để dễ tiếp cận nắm bắt nhu cầu công nghệ  của các khách hàng.          Tuy nhiên, ở các vườn ươm khởi nghiệp trong trường đại học có thể tồn tại những điểm yếu tai hại, xuất phát từ hai sai lầm thường gặp: 1/Giao quyền quản lý đơn thuần về hành chính cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, thay vì giao cho những chuyên gia từng trải, giàu kinh nghiệm trong ươm tạo khởi nghiệp, khiến vườn ươm thiếu tính năng động, hiệu quả, không đáp ứng kịp thời các nhu cầu của doanh nghiệp khởi nghiệp; 2/Nhà trường bao cấp cho các vườn ươm khởi nghiệp của mình, khiến chúng thiếu năng lực tự chủ và sự cố gắng cao độ cần thiết trong hoạt động, đồng thời khiến các nguồn lực của vườn ươm bị sử dụng dễ dãi, thiếu tính tối ưu.   Theo Jason Lu, giám đốc của Garage+, một vườn ươm tạo khởi nghiệp tư nhân nổi tiếng ở Đài Loan, chính những sai lầm nêu trên đã khiến không ít vườn ươm tạo khởi nghiệp trong các trường đại học Đài Loan hoạt động thiếu hiệu quả, không biết cách hướng dẫn doanh nghiệp khởi nghiệp sử dụng tiết kiệm hợp lý nguồn lực hạn chế trong quá trình ươm tạo để có thể khởi nghiệp thành công. Nhiều vườn ươm như vậy đã thuần túy trở thành nơi cho thuê văn phòng hơn là nơi cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp.  Bí quyết đầu tiên là dùng đúng người    “Vườn ươm của chúng tôi ra đời từ năm 1997, khởi đầu có nguồn lực rất hạn chế, chỉ có hai nhân viên bao gồm cả giám đốc, nhưng chúng tôi vẫn thành công, quan trọng nhất vì giao việc cho người có tâm huyết và có kinh nghiệm về khởi nghiệp”, GS. Wang của Đại học Chung Yuan Christian chia sẻ – sau 18 năm hoạt động, đến nay vườn ươm này đã ươm tạo thành công 150 doanh nghiệp, tạo 40 thương vụ chuyển giao công nghệ, đăng ký thành công 47 patent, và thu hút tổng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp là 65 triệu USD.  Bí quyết quan trọng thứ hai, theo GS. Wang, là vườn ươm tạo khởi nghiệp trong các trường đại học nên là các đơn vị tự chủ ngay từ đầu, hoặc có lộ trình tự chủ rõ ràng. Ngay từ khi thành lập, dù chỉ với hai nhân viên, vườn ươm tạo khởi nghiệp của Đại học Chung Yuan Christian đã lập tức phải đảm bảo tính tự chủ, chỉ được nhà trường hỗ trợ duy nhất khoản tiền thuê văn phòng của trường trong những năm đầu tiên, GS. Wang cho biết.   Bên cạnh đó, mỗi vườn ươm khởi nghiệp tại mỗi trường đại học phải hiểu rõ về nhu cầu của doanh nghiệp được ươm tạo và các thế mạnh từ những nguồn lực của trường mình, từ đó tổ chức kết nối hiệu quả những nhu cầu này.   Tuy nhiên, theo GS. Wang, để vườn ươm phát triển bền vững thì nó không thể chỉ là nơi môi giới và cung cấp không gian văn phòng, nhà xưởng cho thuê, mà quan trọng hơn phải mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Muốn vậy, điều kiện quan trọng là vườn ươm tạo khởi nghiệp cũng như trường đại học cần nằm ở nơi có mật độ cao các khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, để dễ tiếp cận nắm bắt nhu cầu công nghệ của các khách hàng, nhanh chóng thu thập dữ liệu làm cơ sở để tư vấn cho doanh nghiệp khởi nghiệp đánh giá đúng khả năng thương mại hóa sản phẩm, phát triển đúng hướng, xây dựng kế hoạch kinh doanh chi tiết, đáng tin cậy. Hơn thế nữa, theo PGS. Jane Liu của Đại học Công nghệ Chaoyang, vườn ươm không chỉ cần chăm sóc cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong quá trình ươm tạo, mà cần giữ mối liên hệ với doanh nghiệp cả trong thời kỳ hậu ươm tạo (post-incubation), kịp thời hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp này khi cần thiết.  Mặt khác, giống như mọi vườn ươm tạo khởi nghiệp, vườn ươm của trường đại học cũng phải thường xuyên có sự tham gia hỗ trợ của các chuyên gia tình nguyện, bao gồm cả chuyên gia về phát triển công nghệ và chuyên gia về khởi nghiệp, những người có kỹ năng đánh giá, tư vấn, huấn luyện cho doanh nghiệp khởi nghiệp một cách hiệu quả. Và để tạo động lực cho các nhà nghiên cứu tham gia các việc đó, nên tạo điều kiện để họ có thể góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ của mình. Điều này đồng thời đòi hỏi vườn ươm phải có đầy đủ năng lực giúp các nhà nghiên cứu đàm phán, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của họ, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ.  Cuối cùng, các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay cần có kết nối quốc tế hiệu quả, bao gồm kết nối với các nhà đầu tư quốc tế cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm quốc tế. Vì vậy các cơ sở ươm tạo đều cần hướng tới gia nhập các mạng lưới hỗ trợ ươm tạo quốc tế, ví dụ như chương trình Soft Landing của INBIA, hay AABI. Theo đó, doanh nghiệp khởi nghiệp từ một vườn ươm trong nước có thể được ươm tạo tại các vườn ươm ở nước ngoài trong cùng mạng lưới khởi nghiệp mà vườn ươm ở trong nước tham gia, nhờ vậy có cơ hội lớn hơn trong việc kêu gọi vốn đầu tư và chinh phục thị trường ở nước ngoài.             Vai trò của Nhà nước   Thực tế từ  Đài Loan cho thấy các vườn ươm khởi nghiệp trong trường đại học nhận  được tối thiểu 50% nguồn thu từ các dự án tài trợ khởi nghiệp của Nhà  nước, tuy nhiên sự hỗ trợ đó phải thông qua các dự án yêu cầu đấu thầu  cạnh tranh một cách công khai, công bằng, minh bạch, đảm bảo ưu tiên hỗ  trợ cho những trung tâm ươm tạo hoạt động có hiệu quả.    Tuy nhiên,  không chỉ tài trợ kinh phí, Nhà nước còn cần tổ chức trao giải thưởng  hằng năm và có chương trình quảng bá cho những doanh nghiệp khởi nghiệp  có sản phẩm chất lượng nổi bật, qua đó làm tăng uy tín thương hiệu và  giá trị của doanh nghiệp, và tăng cường sự quan tâm đầu tư từ xã hội  dành cho cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết xây dựng các cộng đồng khởi nghiệp      Tyler Crowley chia sẻ về bí quyết đã góp  phần xây dựng các cộng đồng doanh nhân khởi nghiệp tại Los Angeles,  London và Stockholm.     Trong nhiều năm nay, Berlin vẫn được coi là địa chỉ lý tưởng nhất ở châu Âu dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhưng đến 2012, Stockholm, nơi khởi nghiệp của nhiều công ty công nghệ thành công như Spotify, Mojang hay Klarna, quyết định giành lại danh hiệu này bằng cách tìm đến sự hỗ trợ của Tyler Crowley.  Bản thân là một doanh nhân khởi nghiệp, Crowley đã tìm ra “công thức” riêng xây dựng những cộng đồng khởi nghiệp. Những khu khởi nghiệp này tuy chưa thể so sánh được với đại bản doanh khởi nghiệp của thế giới tại Silicon Valley, hay thậm chí là Silicon Alley tại New York, nhưng với việc xây dựng được Silicon Beach tại Los Angeles, và góp phần thiết lập Silicon Roundabout ở London vừa đúng lúc cho Thế vận hội Olympics 2012, nay với STHLMTech phát triển nhanh chóng, Crowley trở thành một nhân vật mà các chính phủ có thể tin tưởng đặt vào tay nhiệm vụ hỗ trợ đưa các cộng đồng khởi nghiệp công nghệ vào cuộc sống.  Theo Tyler Crowley, cần bốn yếu tố cơ bản làm nên thành công của việc xây dựng một cộng đồng khởi nghiệp. Thứ nhất là một địa điểm có vị trí trung tâm và tương đối rẻ để tổ chức các buổi gặp mặt. Hai là tổ chức một sự kiện hằng tháng để tất cả các doanh nhân khởi nghiệp có thể gặp gỡ và trao đổi. Thứ ba là một không gian ảo hashtag trên trang mạng xã hội Twitter nơi mọi người trong cộng đồng đều có thể chia sẻ thông tin về các sự kiện này. Và yếu tố cần thiết cuối cùng là một không gian làm việc chung (coworking space) mở cửa 24/7 sao cho mỗi khi có ai đó từ nơi khác đến, họ có thể đến và gặp rất nhiều người ngay lập tức.  Các yếu tố cơ bản này giúp thiết lập một cộng đồng công nghệ và giúp họ quảng bá những thành tựu của mình ra thế giới bên ngoài, tạo ra câu chuyện về một cộng đồng mang tính gắn kết và hợp tác mà các nhà báo, chính trị gia và các nhà đầu tư quan tâm có thể liên tục theo dõi. Crowley tìm ra được công thức này sau khi xây dựng Silicon Beach vào năm 2007.  Vào thời kỳ ấy, quỹ Sequoia Capital và nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm khác muốn các công ty mà họ đầu tư vào đặt trụ sở tại Silicon Valley. Crowley khi đó đang ở Los Angeles làm việc với Mahalo.com, một doanh nghiệp khởi nghiệp được sáng lập bởi “chiến binh” khởi nghiệp dày dạn kinh nghiệm Jason Calacanis. Chính công ty này khi nhận được sự đầu tư từ Sequoia và một số quỹ khác đã từ chối chuyển về Silicon Valley và họ quyết định xây dựng một phiên bản Silicon Valley của chính mình.   Sau khi đã thu hút được 20 triệu USD, Mahalo chuyển xuống Santa Monica và bắt đầu tổ chức các buổi gặp mặt tại văn phòng của mình để tuyển lập trình viên tốt. “Chiến lược của chúng tôi khi đó là đến các trang như Meetup.com, tìm tất cả các lập trình viên Python, Django và Ruby và thông báo “chúng tôi có một địa điểm tuyệt vời ở Santa Monica, chúng tôi sẽ chiêu đãi bia và pizza, và cả nơi đỗ xe miễn phí nữa”, Crowley nói. “Trong vòng sáu tới tám tháng sau, mọi cuộc gặp gỡ trao đổi về công nghệ đều được diễn ra ở văn phòng của chúng tôi lúc 6 giờ chiều hàng ngày”.   Đến khi Mahalo tuyển đủ và có 125 người thì những cuộc gặp gỡ trao đổi về công nghệ chiếm quá nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến công việc của họ. May mắn thay, có một cặp vợ chồng trẻ cũng mới mở một không gian làm việc chung ngay đối diện và Mahalo ngay lập tức thuyết phúc họ tổ chức các buổi gặp mặt như là một cách để thu hút những đối tượng có tiềm năng thuê mặt bằng làm việc chung này. Không gian làm việc chung này có tên gọi CoLoft, đến nay vẫn là một trong những địa điểm tụ tập tương tác về khởi nghiệp lớn nhất tại Silicon Beach.           Nhằm dẫn đầu cộng đồng khởi nghiệp của mình, Stockholm Business Region đã tìm đến Crowley với những nhiệm vụ rất cụ thể:  ·    Tổ chức một sự kiện hằng tháng, mà  sau này chính là STHLMTech, là những cuộc gặp gỡ nhằm giới thiệu các  công ty mới, hay các vị trí quan trọng trong công ty đang cần tuyển  dụng.   ·    Tổ chức cuộc hội thảo hàng năm kéo  dài hai ngày nhằm bổ sung cho các sự kiện hằng tháng với các buổi chia  sẻ giáo dục và các khách mời cao cấp.  ·    Tổ chức một cuộc thi hack Hackathon  hàng quý nhằm tăng cường mối quan hệ cộng đồng qua tranh đua hữu nghị và  để tạo điều kiện cho các nhân tài thể hiện mình.  ·    Tổ chức các buổi gặp hàng tuần cấp  thấp, bao gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp mở cửa văn phòng cho cộng  động tham quan, hay giờ café chia sẻ, hay buổi ăn trưa cùng CEO, v.v.          “Thật ra thì đây là một quá trình rất tự nhiên, chúng tôi khi ấy hoàn toàn không ý thức rằng mình đang xây dựng lên một Silicon Beach”, Crowley nói.   Tiếp theo, một yếu tố quan trọng khác của một cộng đồng khởi nghiệp được hình thành ngay sau đó: Twitter. Người khổng lồ mạng xã hội này mới bắt đầu chạy năm 2007 và cả cộng đồng Silicon Beach ngay lập tức phát huy vận dụng lợi thế của trang xã hội này.   Trước tình trạng các doanh nghiệp khởi nghiệp lần lượt rời bỏ Los Angeles để đến Bay Area (khu Silicon Valley) để làm việc sau khi đã nhận được đầu tư từ các quỹ, Crowley và bạn bè không cam lòng và bắt đầu sử dụng Twitter để chống lại trào lưu này.  Họ sử dụng một hashtag trên Twitter để đăng ảnh của các sự kiện hàng đêm diễn ra ở Los Angeles. Đồng thời các sự kiện hằng tháng được bắt đầu tổ chức để tập trung mọi người từ những nhóm chủ đề quan tâm khác nhau cùng một lúc. Ngoài ra, họ cũng bắt đầu mời các khách mời chuyên gia từ Silicon Valley đến thuyết trình.  “Mọi thứ phát triển tới mức các nhà báo ở tờ Thời báo Los Angeles phải tìm đến viết bài về chúng tôi”, Crowley nói. “TechCrunch cũng có phóng viên thường trực ở đây, và khi mà báo chí vào cuộc, thì các chính trị gia cũng quan tâm và muốn “được chia sẻ công lao”.  Như vậy là trong vòng một năm họ đã có một không gian làm việc chung, một địa điểm tổ chức gặp gỡ, một sự kiện gặp mặt hằng tháng và một hashtag trên Twitter. Silicon Beach chính thức tham gia vào cuộc đua khởi nghiệp.  Đầu năm 2010, London vừa được lựa chọn là thành phố tổ chức Thế vận hội Olympics 2012. Họ quyết định sẽ tổ chức trong khu O2 Arena ở vùng Shoreditch, một khu vực vốn đã có một không gian làm việc chung để hình thành một cộng đồng khởi nghiệp. Thủ tướng Anh lập ra ngay một tổ công tác (Task Force) tìm kiếm các cộng đồng khởi nghiệp có tiếng tăm trên thế giới để có thể học hỏi kinh nghiệm. Ngay lập tức họ chú ý đến Silicon Beach.  Một nhóm đại diện đến Los Angeles để gặp gỡ những người đứng đầu cộng đồng để tìm học bí quyết. Cái tên Crowley được người ta thường xuyên nhắc đến, vì vậy họ mời anh đi ăn tối. Khi bữa ăn chuyển sang phần tráng miệng thì cũng là lúc Crowley đã tiết lộ xong “công thức” bí mật của mình. Và London cũng rất sẵn sàng chi một khoản tiền lớn để thúc đẩy triển khai theo kế hoạch Crowley đã vạch ra.  “Đây là ý tưởng của Tyler 100%,” Calacanis nói. “Anh ấy đã nghĩ ra hệ thống này và áp dụng thành công ở cả hai thành phố”.  Sau kỳ Thế Vận Hội thì Silicon Roundabout đã có thể bám rễ vững chắc, Crowley đến Stockholm để gặp gỡ một số doanh nhân khởi nghiệp. Họ nhận ra rằng Stockholm vào cuối 2012 rất giống với Los Angeles vào cuối 2007, nơi hầu hết mọi doanh nhân khởi nghiệp chỉ làm việc một cách lặng lẽ trong những góc riêng của mình.   Crowley liên lạc với tổ chức Phát triển Kinh doanh Stockholm, tư vấn cho họ “công thức” mà anh đã sử dụng trong quá khứ, bắt đầu với các cuộc gặp gỡ hằng tháng, STHLM Tech, và một hashtag. Cả năm 2013 anh dùng để xây dựng cộng đồng này và đến cuối năm thì các nhà đầu tư bắt đầu để ý đến các công ty khởi nghiệp ở Stockholm. Từ đó các công ty như là Lifesum, Tripbirds, và Wrapp đã thu hút được vốn đầu tư không chỉ từ Châu Âu mà cả từ Mỹ.  Xem xét đặc thù riêng của địa phương trước khi xây dựng một cộng đồng khởi nghiệp  Bí quyết thành công của khi xây dựng một cộng đồng khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là một danh sách các điều kiện cần đáp ứng mà còn phải quan tâm đến những yếu tố đặc thù của thành phố đó.  Ví dụ như Stockholm có rất nhiều nhân tài, một yếu tố quan trọng mà nhiều thành phố khác không có, Crowley nhận định. Los Angeles thì không có nhiều tài năng về công nghệ mang tính kỹ thuật, nhưng ở đấy họ lại rất giỏi về marketing. Văn hóa vùng Bắc Âu (Scandinavi) đề cao năng suất nhưng vẫn rất khiêm tốn, thay vì phong cách tự quảng bá khoa trương kiểu Mỹ, phong cách mà họ gọi là Jantelagen.  “Stockholm không biết thổi phồng chính mình, ít nhiều đấy là vấn đề của họ, nhưng qua thời gian Stockholm sẽ tỏa sáng” Crowley nói. “Đó là lý do vì sao mặc dù Silicon Beach đã đi trước tận hai năm, nhưng Stockholm chỉ cần dựa vào nguồn tài năng công nghệ của mình vẫn có thể vượt qua họ. Người Thụy Điển thường để chính sản phẩm hay dịch vụ của mình lên tiếng thay cho họ.”  Các kỹ sư vùng Scandinavi vốn nổi tiếng về sự cầu toàn của họ trong tính năng và thiết kế sản phẩm, đó là lý do vì sao các sản phẩm của họ có tiêu chuẩn rất cao về chất lượng và rất được tin tưởng. Nhưng điều đó có nghĩa là họ cần vòng quay phát triển sản phẩm khá lâu để có thể đưa ra thị trường những sản phẩm hoàn hảo, thay vì những sản phẩm vừa làm vừa hoàn thiện thường thấy trong thế giới khởi nghiệp ở những nơi khác.  Sự khiêm tốn trong văn hóa và sự chính xác cao trong công nghệ ở Thụy Điển là những lợi thế giúp họ tiết kiệm chi phí kinh doanh. “Định giá các công ty ở Thụy Điển cũng thấp hơn nhiều, vì các công ty chỉ muốn xin đúng khoản đầu tư họ cần. Thế nên các khoản định giá cũng rất gần với giá trị thực, và đây là một điều rất có lợi cho một hệ sinh thái khởi nghiệp”, Crowley nói.  Như vậy, mặc dù hầu hết các cộng đồng khởi nghiệp đều nhìn đến Silicon Valley để tìm ý tưởng và lấy cảm hứng, nhưng điều họ thực sự cần là phát triển những thế mạnh của riêng mình để thoát ra khỏi cái bóng của Silicon Valley.  Los Angeles dựa vào thế mạnh của họ là thủ đô giải trí của toàn thế giới. Không phải vô tình mà Hulu (doanh nghiệp công nghệ chuyên cung cấp các video clip và phim trên mạng) được khởi nghiệp ở Los Angeles. Dù Silicon Valley có ý định chiếm lấy Hollywood bằng ưu thế công nghệ, thì Hollywood lại đang bắt đầu chiếm thế thượng phong khi mà các studios phim và nhiều ngôi sao trên kênh video Youtube đều đến từ Los Angeles, chứ không phải San Francisco.   Crowley bây giờ không chỉ bay giữa Stockholm và Los Angeles, mà gần đây còn bay đến Oslo và Copenhagen để bắt đầu trao đổi không chính thức về việc xây dựng các cộng đồng khởi nghiệp tại các thành phố này.   Thách thức đối với Oslo là họ vốn đã quá giàu có, Crowley nói. Nhờ vào nguồn tài nguyên dầu khí khổng lồ của mình, Na Uy không thực sự cần có công nghệ mới, hay là sự sáng tạo, mọi người tốt nghiệp các trường và đi ngay vào làm trong ngành dầu khí. Đầu tư cho công nghệ thì luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, và buổi hoàng hôn của ngành dầu khí vẫn còn trong tương lai xa. Sự cẩn trọng của Na Uy cũng là dễ hiểu nếu nhìn lại lịch sử cách đây chưa lâu, khi bong bóng đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ internet vỡ thì các nước Scandinavia đã bị thiệt hại sâu sắc. Đặc biệt là ở Thụy Điển và Phần Lan, nơi mà các ông lớn viễn thông của các quốc gia này như Ericsson và Nokia đã ném đi những khoản đầu tư rất lớn. Với dân số của hai quốc gia lần lượt chỉ là 9 triệu và 5 triệu người, thì việc các tập đoàn này bị ảnh hưởng lớn cũng làm cho sự hồi phục của các nước rất chậm chạp. Vì vậy phải đến tận bây giờ chính phủ các nước vùng Scandinavi mới bắt đầu để ý đến các công ty khởi nghiệp công nghệ nhiều hơn.  Crowley hiện nay đang quan tâm đến một số thành phố khác nơi đã bắt đầu manh nha các cộng đồng khởi nghiệp nhỏ, hoặc  những nơi chưa có gì nhưng được chính phủ bỏ tiền vào hỗ trợ lấp dần khoảng trống. Các chính phủ Dubai, Qatar và Abu Dhabi đã đưa ra lời mời tới anh. Thế nhưng họ cũng có cùng thử thách như Na Uy: họ có một ngành khai thác tài nguyên tự nhiên quá mạnh thu hút hết nhân tài từ lĩnh vực khởi nghiệp công nghệ. Và nếu không có một hệ sinh thái hỗ trợ hay một ngôi sao công nghệ sáng nào, khu vực Trung Đông ít nhiều sẽ phải bắt đầu từ đầu.  Sau đợt lên sàn IPO khổng lồ của Alibaba gần đây, bốn trong số mười công ty Internet có giá trị cao nhất thế giới hiện đang có trụ sở chính ở Châu Á, do đó Trung Quốc sẽ là điểm đến tiếp theo của Crowley. “Trung Quốc có 150 thành phố có dân số hơn một triệu người”, anh nói. “Stockholm có khoảng 1.5 triệu người, còn Trung Quốc có 150 thành phố như Stockholm. Con số thật kinh khủng”.  Hoàng Tuấn Anh dịch   Nguồn: http://www.fastcolabs.com/3037054/the-recipe-for-building-a-startup-scene-in-your-city             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết xây dựng thành công cơ sở ươm tạo trong trường ĐH      TS Eryadi K Masli và TS Jerome Donovan (trường ĐH Công nghệ Swinburne, Australia) cho biết, để xây dựng thành công cơ sở ươm tạo trong trường ĐH ở Việt Nam ngoài cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp về vốn vả khâu R&amp;D.  &#160;    Trong khuôn khổ hội thảo “Xây dựng chính sách hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp KH&CN”, diễn ra tại Hà Nội vào ngày 26/3, TS Eryadi K Masli và TS Jerome Donovan đã trình bày báo cáo “Xây dựng thành công cơ sở ươm tạo trong trường ĐH tại Việt Nam”.   Theo TS Eryadi K Masli và TS Jerome Donovan, các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp hỗ trợ chủ yếu bằng hai cách chính: đào tạo kỹ năng quản lý và đem lại không gian làm việc tốt. Các hoạt động ươm tạo đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp cần bao gồm việc cung cấp dịch vụ, hỗ trợ hoạt động, phát triển kỹ năng, hỗ trợ vốn hạt giống (seed capitals). Các diễn giải lý giải, các vườn ươm cần được hỗ trợ mảng công việc kinh doanh cơ bản và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp gia nhập mạng lưới liên kết với các doanh nghiệp khởi nghiệp khác. Ngoài hệ thống cơ sở vật chất cần thiết như không gian làm việc, mạng internet chất lượng cao…, các vườn ươm nên đem lại cho những khách hàng của mình những dịch vụ khác như hỗ trợ quản lý tài chính/kế toán, hỗ trợ kỹ năng thuyết trình để thuyết phục nhà đầu tư, cung cấp các chương trình đào tạo về kinh doanh.   Một trong những điều các doanh nghiệp khởi nghiệp thiếu hụt là vốn đầu tư ban đầu để phát triển dự án của mình. Vì vậy vườn ươm cần hỗ trợ họ bằng cách cho tiếp cận vốn vay ngân hàng và những chương trình bảo lãnh khác. Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với các vườn ươm. Tuy nhiên bằng uy tín của mình, vườn ươm có thể giúp họ tiếp cận với nhà đầu tư thiên thần (angel investor) hoặc một Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm nào đó. Để mọi việc diễn ra tốt đẹp, vườn ươm sẽ trở thành cầu nối để doanh nghiệp khởi nghiệp có thể hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm.  Với những nỗ lực của mình, vườn ươm có thể đem lại nhiều kết quả hữu ích như gia tăng việc làm, thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, khuyến khích thương mại hóa công nghệ, góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cuộc sống và hạn chế thất bại của các nhà khởi nghiệp.   Để minh chứng cho luận điểm của mình, các diễn giả đã lấy ví dụ từ Mỹ, nơi có 41.000 doanh nghiệp khởi nghiệp từ 1.250 vườn ươm (theo số liệu năm 2012). Sau năm năm hoạt động, tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp “sống sót” đạt 87%, cao hơn gần gấp đôi so với lượng doanh nghiệp khởi nghiệp không tham gia vào các vườn ươm. Không chỉ tạo ra 200.000 việc làm, các doanh nghiệp này còn đem lại doanh thu hàng năm là 15 tỷ đô la.  Tuy nhiên không phải bao giờ các vườn ươm cũng đạt được thành công như mong muốn của các nhà sáng lập. Ví dụ tại Indonesia, tính đến năm 2005 sở hữu 32 vườn ươm, trong đó 75% thuộc hệ thống trường ĐH dân lập và công lập, số còn lại thuộc các chủ sở hữu khác. Sau một thời gian hoạt động, chỉ có 9/32 vườn ươm còn tồn tại. Tương tự, Australia cũng chứng kiến sự thiếu hiệu quả trong các hoạt động ươm tạo, dù đã rót vào Quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo (IIF) tới 600 triệu đô la Australia. Nguyên nhân thất bại được xác định là “một phần do cung cách quản lý quan liêu nên hạ chế khả năng chủ động trên thị trường của các doanh nghiệp khởi nghiệp”.   Qua những ví dụ thành công và thất bại này, TS Eryadi K Masli và TS Jerome Donovan đã nhận thấy những vấn đề gặp phải trong quá trình quản lý, điều hành của các vườn ươm tại trường ĐH. Trước hết, họ không có đủ các nhà quản lý tận tâm và có kiến thức sâu về kinh doanh để sẵn sàng cố vấn cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Về quản lý điều hành vườn ươm, hoặc là họ mang tư tưởng quan liêu, hoặc lại bị rơi vào thế không chủ động xử lý công việc do bị trường ĐH, nơi đặt vườn ươm, can thiệp quá sâu vào hoạt động ươm tạo. Mặt khác, vườn ươm thiếu liên kết, hợp tác với các tổ chức bên ngoài, hạn chế về vốn do phần lớn kinh phí hoạt động đều lấy từ ngân sách trường…  Để đạt được thành công, TS Eryadi K Masli và TS Jerome Donovan nhận định, các vườn ươm trước hết phải có sự cam kết ủng hộ mạnh mẽ từ trường ĐH và đảm bảo quyền tự quyết trong hoạt động. Đồng thời, các vườn ươm cần phải có đủ các yếu tố sống còn như đội ngũ quản lý, cố vấn giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, có vốn ban đầu cùng khả năng tiếp cận được vốn vay tiếp theo, hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tốt và hộ trợ trong khâu R&D, tiếp cận vơi các ứng dụng công nghệ. Ngoài ra, trong quá trình quản lý điều hành, vườn ươm cần minh bạch các hoạt động liên quan đến ký kết hợp đồng với doanh nghiệp khởi nghiệp, những vấn đề ưu đãi các bên tham gia…                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến cao su phế thải thành nhiên liệu      Cứ 1 tấn nguyên liệu cao su, sau quá trình  nhiệt phân sẽ thu được 400 kg dầu FO-R… – đó là kết quả thu  được từ công nghệ nhiệt phân liên tục cao su phế thải thành nhiên  liệu lỏng của ThS. Nguyễn Thành Tài cùng các cộng sự tại Công ty TNHH  Thương mại – Dịch vụ Công nghệ mới, tỉnh Bình Phước.    Công nghệ này của tác giả được thiết kế theo dạng khép kín, kết nối thành một quy trình tuần hoàn, chủ yếu sử dụng máy móc để tự động hóa.   Điểm nổi bật và tạo nên sự khác biệt của công nghệ với các công nghệ tái chế dầu đang có hiện nay là ở quy trình nhiệt phân liên tục. Cao su phế thải được liên tục đưa vào nhiệt phân để cho ra sản phẩm chứ không cần chia theo từng mẻ, vì vậy công nghệ đạt hiệu suất xử lý cao hơn.  Cao su phế thải được nhiệt phân liên tục trong hệ thống lò quay ở nhiệt độ 400 độ C, kết hợp với các chất xúc tác gốc zeolite, đạt hiệu suất thu hồi sản phẩm lỏng tới 42 đến 45%.   Sản phẩm dầu FO-R thu được sau xử lý đạt chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam 6239:2002 dành cho dầu FO, có thể thay thế cho dầu FO có nguồn gốc từ dầu mỏ và được ứng dụng làm nhiên liệu đốt cho lò hơi, lò sấy, lò tải nhiệt… trong các ngành công nghiệp.   Ngoài dầu FO-R, công nghệ này còn cho ra khí gas và hỗn hợp cacbon đen CBM-R được sử dụng chủ yếu để làm phụ gia cho quá trình sản xuất gạch block không nung hoặc thay than cám trộn vào đất sét trong quá trình sản xuất gạch tuynel.  Điều đặc biệt nữa, công nghệ này cũng không tạo ra nước thải. Khí thải thoát ra đạt tiêu chuẩn QCVN 19:2009 phù hợp với định hướng bảo vệ môi trường của Việt Nam.  Với những thành quả mà công nghệ đạt được, Ths. Nguyễn Thành Tài cùng các cộng sự đã đạt giải nhất Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật lần thứ II của tỉnh Bình Phước và giải khuyến khích Hội thi Sáng tạo Khoa học kỹ thuật toàn quốc lần thứ 12.  Hiện nay, công nghệ đã được chuyển giao và ứng dụng tại một số nhà máy xử lý chất thải ở Vĩnh Phúc, Gia Lai, Bình Phước… và hoàn toàn có thể nhân rộng ở nhiều địa phương trong cả nước, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân, đồng thời góp phần phát triển kinh tế – xã hội giàu mạnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến CO2 thành đồ dùng gia dụng      Dioxidcarbon gây hại đối với khí hậu nhưng nhờ những công nghệ mới, người ta có thể biến khí thải CO2 thành chất xốp, xăng và thậm chí cả đĩa DVD.     Nếu không có Polyurethan thì cuộc sống của chúng ta sẽ không được tiện nghi như ngày nay. Các nhà khoa học gọi nguyên liệu này ngắn gọn là PU, từ nhựa PU người ta làm vô lăng, những tấm nhựa cứng, đệm xốp, ghế bành, ghế sô-pha v.v… Tùy theo tùy theo cách pha trộn, chế tác PU có thể mềm như những miếng bọt xốp nhưng cũng có thể vững chắc để sản xuất ghế trên các toa tầu. Tuy nhiên dù ở bất cứ dạng nào, nguyên liệu để sản xuất ra PU cho đến nay đều là dầu mỏ.  Gần đây tập đoàn công nghiệp hóa chất Bayer (Đức) đã có một xưởng thực nghiệm đầu tiên để sản xuất PU trên cơ sở sử dụng một phần khí thải độc hại CO2 thay thế cho dầu mỏ. Khí CO2 từ khí thải ở nhà máy nhiệt điện ở Koeln được khí hóa lỏng và đưa về Leverkusen. Tại đây CO2 sẽ được chế biến thành chất xốp. Hãng Bayer dự kiến đến năm 2015 sẽ tiến hành sản xuất lớn sản phẩm bọt-PU để từ đó làm ra các loại chất dẻo tổng hợp.  Nguồn nguyên liệu vô tận  Trong khi nhiều chuyên gia còn đang tranh cãi về việc chôn khí thải độc hại CO2 vào trong lòng đất thì nhiều doanh nghiệp lại mạnh dạn nghiên cứu để biến khí thải này thành nguyên liệu phục vụ sản xuất. Thí dụ từ CO2 có thể sản xuất nước đá khô để làm lạnh. Ở dạng viên nhỏ, người ta có thể dùng chúng để làm sạch bề mặt và ở các sân khấu, sàn diễn người ta dùng chúng để tạo sương mù. Chất ure, một tiền chất để chế tạo nhiều loại phân bón cũng dựa vào khí CO2 và ngay cả trong nhà kính loại khí này cũng được hoan nghênh: nó có tác dụng kích thích sự phát triển của cây trồng như dưa chuột, củ cải, rau xà lách vv. Cho đến nay người nông dân phải đốt khí đốt để tạo ra chất này.  Tuy nhiên hiện nay mỗi năm cả thế giới mới sử dụng khoảng một tỷ tấn CO2, chỉ đạt khoảng 5% lượng khí thải do con người tạo ra. Dựa vào những công nghệ hiện có mỗi năm thế giới sử dụng khoảng 180 triệu tấn CO2 làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp hóa chất.     Chất xúc tác là khâu then chốt  Theo GS Georg Menges thuộc Viện chế biến nguyên liệu tổng hợp thuộc RWTH Aachen, thì dioxidcarbon gần như là một nguồn nguyên liệu carbon vô tận để thay thế than, dầu mỏ và khí đốt. Đức là nước đi đầu về sự phát triển này.  Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc phát triển chất xúc tác làm cho dioxidcarbon vốn có sức ì lớn khi phản ứng, liên kết được với các phân tử khác mà không đòi hỏi phải có một lượng năng lượng lớn, từ đó tạo ra những chất liệu mới. Vì vậy có thể nói các chất xúc tác thích hợp là chìa khóa cho việc sử dụng CO2 như một nguyên liệu hóa chất và cung cấp năng lượng.  Đây là một vấn đề mà hầu hết các tập đoàn công nghiệp hóa chất đang nghiên cứu. Hiện có nhiều nghiên cứu để sản xuất các hóa chất cơ bản như khí tổng hợp (synthesegas), methanol, axit formic và axit succinic từ CO2. Từ các hóa chất cơ bản này sản xuất ra nhựa tổng hợp, phân bón và phần lớn sản phẩm cuối cùng của ngành công nghiệp hóa chất. Với sự hỗ trợ của bộ Nghiên cứu Liên bang Đức cùng với tập đoàn Bayer còn có các tập đoàn như RWE và Siemens đang nghiên cứu, phát triển kỹ thuật tận dụng điện năng dư thừa phát sinh không thường xuyên, thí dụ từ các cơ sở điện gió để sản xuất hydro. Trộn Hydro với CO2 đề sản xuất khí tổng hợp (Synthesegas), một nguyên liệu hóa chất cơ bản.  Trong khi đó tập đoàn hóa chất BASF và các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Tổng hợp Kỹ thuật München lại đi theo một hướng khác. Họ chủ trưởng sản xuất chất nhựa tổng hợp Polycarbonat, từ đây sản xuất đĩa CD và DVD để nén nhạc và phim.    Miếng xốp hút khí thải có hại cho khí hậu  Trong khi các nhà chế tạo và vận hành nhà máy nhiệt điện tìm cách tách CO2 từ khí thải thì Climeworks, một bộ phận của trường Cao đẳng Kỹ thuật Zürich (Thụy Sỹ) lại thiên về việc khai thác riêng CO2 thí dụ từ các cơ sở lọc dầu để tiếp tục chế biến.   Tại đây thường xuyên có loại khí thải độc hại này trong khi ở các nhà máy nhiệt điện CO2 chỉ hình thành khi nhà máy hoạt động.  Để lấy CO2 chuyên gia Thụy Sỹ sử dụng năng lượng mặt trời đốt nóng không khí ở nhiệt độ 100 độ C từ đó dẫn vào lò phản ứng. Trong lò phản ứng có chất liệu hấp thụ CO2 như một miếng xốp. Khi tấm xốp hút no CO2 thì ép tấm mút đó, CO2 được tự do và sử dụng làm nguyên liệu.    Than và nước thành nhiên liệu lỏng  Chuyên gia hãng điều chế chất xúc tác Emitec ở Lohmar đã thực hiện quy trình mang tên Coal & Water to liquid Fuel (điều chế từ than & nước thành nhiên liệu lỏng). Với chất xúc tác phổ biến trên thị trường người ta có thể điều chế từ CO2 và hydro để lấy methan từ đó điều chế tiếp theo thành xăng. Wolfgang Maus, giám đốc Emitec cho hay, giá một lít xăng này là 61 Cent cao hơn giá xăng từ các nhà máy lọc dầu khoảng 20 Cent.   Tuy nhiên quá trình điều chế này không sản sinh CO2 nên ông Maus cho rằng mức phí tổn cao hơn này là có thể chấp nhận được. Cũng theo vị giám đốc này thì nếu như tận dụng toàn bộ khí thải CO2 từ các nhà máy nhiện điện của Đức thì có thể đáp ứng 70% nhu cầu hiện nay của nước Đức đối với loại nhiên liệu này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến dị di truyền bí ẩn tiếp sức cho bước nhảy vọt của tiến hóa      Theo một bài báo trên tạp chí Science ngày 26/7 vừa qua, những quần thể vi khuẩn E.coli được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm đã lặng lẽ tích tụ biến dị di truyền “bí ẩn” (crytic) và có thể tạo ra những bước nhảy tiến hóa đáng ngạc nhiên. Việc hiểu rõ hơn về biến dị bí ẩn có thể cải thiện kỹ thuật tiến hóa hướng đích để phát triển những phân tử sinh học mới ứng dụng cho y tế và một số ngành khác.    Biến dị di truyền (các đột biến được tích lũy trong DNA) là nhiên liệu cho tất cả những thay đổi mang tính tiến hóa: càng nhiều biến dị di truyền thì tiến hóa càng diễn ra nhanh chóng và càng có nhiều khả năng hình thành các dạng thích nghi mới. Nhưng có một loại biến dị di truyền “bí ẩn” không làm sinh vật thay đổi diện mạo hoặc hành vi trong môi trường thông thường của chúng. “Đây là một loại biến dị di truyền chưa được đánh giá đúng mức nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến hóa”, Andreas Wagner, nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Zurich và là tác giả chính của nghiên cứu, nói.   Những nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ biến dị bí ẩn trong quần thể tự nhiên thúc đẩy thích nghi tiến hóa nhanh chóng, nhưng các cơ chế phân tử cơ bản của nó vẫn chưa được biết rõ. Để khám phá những cơ chế đó, nhóm của GS. Wagner đã nghiên cứu các quần thể vi khuẩn đường ruột E. coli mang plasmid chứa một gene tạo protein huỳnh quang vàng (YFP). Thí nghiệm thiết kế thành 2 giai đoạn.   Ở giai đoạn đầu, họ đã sử dụng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR) đột biến để tăng biến thể trong gene YFP, đồng thời chọn ra một dải hẹp huỳnh quang vàng để loại trừ bất kì vi khuẩn nào không đủ sắc tố. Quy trình này gọi là “chọn lựa ổn định”. Bằng cách này, nhóm nghiên cứu xây dựng được các kho lưu trữ đủ nhiều những biến dị di truyền “bí ẩn” mà không làm thay đổi sắc tố vàng của protein YFP.  Trong giai đoạn 2, nhóm nghiên cứu thay đổi quy tắc lựa chọn và bắt đầu lọc ra các vi khuẩn E. coli phát huỳnh quang xanh lục trong dải quang phổ (gọi là “lựa chọn hướng đích”). Họ cũng đưa ra những quần thể E.coli không kiểm soát biến dị “bí ẩn” gia tăng trong protein YFP.   Các dòng tế bào E. coli trong kho lưu trữ biến dị bí ẩn tiến hóa thành protein huỳnh quang xanh lục (từ gene YFP) xanh hơn và đa dạng hơn về mặt di truyền so với kết quả từ các dòng E. coli có kiểm soát.   Theo Joshua Payne, Đại học ETH Zurich và là đồng tác giả nghiên cứu, trong thí nghiệm này, biến dị bí ẩn đã thúc đẩy thích nghi tiến hóa diễn ra nhanh hơn. Các dòng tế bào trong kho lưu trữ biến dị bí ẩn đã tiến hóa ra các protein YFP xanh hơn, hình thành nên các dạng protein mà vi khuẩn thông thường không đạt được, và bằng nhiều con đường độc đáo và đa dạng, vốn không sẵn có đối với E. coli thông thường.  Jia Zheng, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Zurich và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu cho biết, các thí nghiệm tiến hóa hướng đích trong phòng thí nghiệm hiện nay thường dẫn đến kết quả giống nhau sau mỗi lần thực hiện. Tuy nhiên, thí nghiệm mới này cho thấy sự tích tụ biến dị bí ẩn có thể mở ra cánh cửa đến những vùng không tiếp cận được trong trình tự protein.   Trong thế giới tự nhiên, biến dị bí ẩn giúp loài cá thích nghi với môi trường hang động. Trong phòng thí nghiệm, biến dị bí ẩn có thể giúp cho một phân tử sinh học liên kết với một thụ thể mới. Jia Zheng cho biết, “Công việc của chúng tôi có thể giúp phát triển những chiến lược tiến hóa hướng đích mới để tìm ra các phân tử sinh học mang tính đột phá cho những ứng dụng công nghệ sinh học và y tế”.  Giống như một tài khoản tiết kiệm dồi dào, biến dị bí ẩn là kho chứa các biến dị sẵn có trong trường hợp khẩn cấp để có thể cung cấp nhiên liệu cho tiến hóa nhanh chóng, đóng vai trò thiết yếu trong sự sống còn của dòng sinh vật và tỏ ra hữu ích với các nhà sinh học phân tử. □  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-07-hidden-genetic-variations-power-evolutionary.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi gene lúa giúp gia tăng khả năng kháng mặn      Lúa là một trong những cây trồng bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong khi nó là nguồn cung cấp carbohydrate quan trọng nhất trên trái đất, là thức ăn mỗi ngày của 3,5 tỷ người. Ở các quốc gia như Việt Nam, lúa gạo ngày càng khó phát triển hơn do hiện tượng xâm nhập mặn.    GS.TS Nguyễn Thị Lang và NCS Nguyễn Trọng Phước thuộc Viện Nghiên cứu Nông nghiệp công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long (HATRI) mới đây đã cùng các nhà khoa học tại Đại học Sheffield (Anh) phát hiện ra việc điều chỉnh kích thước, số lượng khí khổng trên lá sẽ giúp gia tăng khả năng thích ứng với mỗi điều kiện môi trường khác nhau của cây lúa.        Khi mực nước biển dâng lên do hậu quả của biến đổi khí hậu, nhiều quốc gia trên thế giới phải vật lộn với tình trạng ngập lụt. Và nước mặn từ biển sẽ xâm nhập vào sâu hơn trong đất liền, làm chết các loại cây trồng không thể thích ứng với nước ngày một mặn hóa.    Với mong muốn giải quyết tình trạng này, các nhà nghiên cứu từ Viện Thực phẩm Bền vững của Đại học Sheffield đã hợp tác với Viện nghiên cứu Nông nghiệp công nghệ cao Đồng bằng sông Cửu Long (HATRI) để xem xét 72 giống lúa, cả tự nhiên và biến đổi gene. Họ muốn biết liệu việc lựa chọn các tính trạng về kích thước và số lượng khí khổng (stoma) ở cây lúa có thể giúp cây lúa đối phó với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, nhiệt độ tăng hay không.    Khí khổng, còn gọi là khí khẩu hay lỗ thở là những lỗ nhỏ được thực vật sử dụng để điều chỉnh sự hấp thụ carbon dioxide cho quá trình quang hợp, cùng với giải phóng hơi nước. Cách đây vài năm, các nhà khoa học tại Đại học Sheffield đã phát hiện ra, việc giảm số lượng và kích thước của khí khổng giúp cây lúa tiêu tốn lượng nước ít hơn tới 60% – từ đó gia tăng khả năng sống sót và sinh trưởng ở những nơi dễ bị hạn hán.    Khi những thay đổi của môi trường kéo dài liên tục, nhiều loài thực vật sẽ điều chỉnh kích thước khí khổng và/hoặc mật độ khí khổng. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp sự biến đổi này trong “các loài thực vật sống, các mẫu tiêu bản và thậm chí cả các mẫu hóa thạch, và điều này cũng trùng khớp với các dao động carbon dioxide đã xảy ra trong các kỷ nguyên địa chất khác nhau”, các nhà khoa học cho biết. Theo đó, họ phát hiện ra rằng việc biến đổi gene lúa để giảm số lượng khí khổng (stoma) sẽ giúp gia tăng khả năng kháng mặn.    Những phát hiện từ trước cùng với những kết quả mới đây đã giúp các nhà khoa học kết luận được rằng lúa có thể thích nghi để tồn tại trong môi trường ngày càng khắc nghiệt hơn do biến đổi khí hậu, điều này sẽ giúp giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực trên toàn cầu. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết luận này trên New Phytologist.    Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng việc giảm số lượng và kích thước của khí khổng có thể khiến cây lúa khó phát triển hơn nếu nhiệt độ quá nóng. Do đó, để đảm bảo cây lúa có thể phát triển hiệu quả nhất có thể ở các môi trường khác nhau, các nhà khoa học sẽ cần phải thực hiện các sửa đổi riêng biệt tùy theo điều kiện từng vùng. Ví dụ — lúa có ít khí khổng hơn, lớn hơn, sẽ phù hợp để trồng ở khu vực có nhiệt độ ấm áp.    “Lúa là loại cây lương thực cực kỳ quan trọng, nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới mỗi ngày”, tiến sĩ Robert Caine, tác giả chính của nghiên cứu, thuộc Trường Khoa học Sinh học của Đại học Sheffield, cho biết. Việc lúa có thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ giúp đảm bảo nguồn lương thực cho người dân, nhất là khi dân số thế giới được dự đoán sẽ đạt mốc 10 tỷ người trong thời gian 60 năm tới    “Những phát hiện của chúng tôi cho thấy phương pháp biến đổi cây lúa có thể phù hợp ở các vùng khí hậu khác nhau — các giống lúa có ít khí khổng hơn có thể tồn tại với ít nước, ở những nơi nước mặn. Trong khi đó, các giống lúa tự nhiên có khí khổng lớn hơn lại có thể phát triển mạnh ở khu vực có nhiệt độ nóng.”    Hiện các nhà khoa học tại Đại học Sheffield và Viện Nghiên cứu Nông nghiệp công nghệ cao đang có kế hoạch thử nghiệm xem liệu họ có thể tạo ra các giống lúa lùn cho năng suất cây trồng cao nhất, chịu nhiệt tốt hơn hay không.    Thu Trang    Author                .        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu đã  chạm đến vựa lúa Việt Nam      Biến đổi khí hậu khiến cho người nông dân tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vựa lúa của Việt Nam, phải đối mặt với nhiều thách thức như tình trạng ngập mặn, diện tích canh tác bị thu hẹp…     Mất trắng mùa vụ vì biến đổi khí hậu  Thạch Hải, một nông dân Sóc Trăng, không giấu nổi lo lắng khi thấy lúa trên thửa ruộng của mình chuyển sang màu vàng bất thường. Ông cho biết, nguyên nhân của hiện tượng này là do nước mặn xâm nhập vào ruộng. “Tôi đoán là sẽ mất đi một phần thu hoạch bởi khó có thể gặt hái được gì,” Thạch Hải dự tính có thể mất 300 USD vụ mùa này, tức gần bằng một nửa thu hoạch trong năm.   Cùng chung lo lắng với Thạch Hải là Thạch Bình, một nông dân Trà Vinh. “Nước mặn đang xâm nhập cánh đồng của chúng tôi. Đặc biệt tai hại là vào thời điểm này trong năm, nước nhiễm mặn rất cao. Lúa không thể phát triển được, đang chết dần”.   Tình trạng nước biển dâng còn ảnh hưởng đến cả những người nông dân không trồng lúa, một trong số họ là Phan Cung, vốn sinh kế bằng nghề trồng rau quả ven biển nhưng hiện mảnh đất của ông đã bị ngập nước. “Chúng tôi vẫn thường trồng dưa hấu, đậu phộng và khoai lang. Giờ đây chúng tôi không thể trồng trọt gì được nữa vì nước biển đã bắt đầu dâng ngập ruộng”.   Phan Cung cho biết ông đã cùng nhiều hộ nông dân khác đào máng thoát nước nhưng cách đó chỉ mang tính tạm thời. “Không thể trồng trọt được gì hết… đất đai vẫn bị ngập trắng.” Những ngày này, gia đình ông phụ thuộc hoàn toàn vào phần tôm cá nhỏ nhoi mà mấy đứa con mang về.   Câu chuyện của Thạch Hải, Thạch Bình hay Phan Cung cũng là câu chuyện mà hàng triệu nông dân Việt Nam đang phải đối mặt trên khắp ĐBSCL, vùng đất có tổng diện tích 39.000km2 bị tác động bởi biến đổi khí hậu mà hậu quả của nó ngày càng rõ rệt.  Tổng sản lượng thu hoạch lúa gạo hằng năm của ĐBSCL vào khoảng 28 triệu tấn và chiếm gần một nửa trong số bảy triệu tấn gạo xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam dự báo, năm 2014 có thể là năm thất bát của ĐBSCL do hiện tượng nước mặn xâm nhập. Hàng chục ngàn ha đất trồng lúa đã bị hỏng vì nguyên nhân này, đặc biệt là Sóc Trăng, “một trong những tỉnh nghèo nhất ĐBSCL,” Tim Gorman, nghiên cứu sinh về các hậu quả kinh tế – xã hội do biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, cho biết như vậy.   Sóc Trăng bị ảnh hưởng nặng nề bởi tỉnh này nằm ở hạ nguồn sông Hậu. Hai cửa sông lớn [Định An và Trần Đề], nơi sông Hậu đổ ra biển, cũng là cửa ngõ cho những đợt xâm nhập mặn. “Ngày càng có nhiều nước mặn trong những dòng chính và chi lưu,” Gorman nói, “nó diễn ra vào mọi thời điểm trong năm – mùa khô, mùa mưa – xâm nhập hàng chục km vào trong đất liền”.   Vào mùa khô, khi lượng mưa bắt đầu ít đi, mực nước trên sông Mekong cùng các chi lưu hạ xuống, tình trạng xâm nhập mặn càng nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến lúa vụ ba, được gieo trồng vào mùa này. Khi đó, người dân phải bơm nước ngọt từ những dòng chảy ở khu vực ngoại vi vào đồng ruộng. Nhưng tình hình ngày càng khó khăn hơn bởi nước ngọt khan hiếm dần. Chẳng hạn như năm 2012, nước biển đã xâm nhập khá sâu vào đất liền nên rất khó kiếm nước ngọt. Thạch Hải nhớ lại, ông và hàng xóm đã trồng được lúa lên xanh nhưng không kiếm đâu ra nước ngọt để tưới. “Chúng tôi buộc phải dùng cả nước nhiễm mặn để tưới. Chỉ còn đúng 30 ngày là chúng tôi có thể thu hoạch. Nhưng lúa chết sạch,” ông miêu tả lại tình cảnh bất lực của người nông dân trước thách thức của biến đổi khí hậu.  Những tác động của con người  Có những vấn đề mà người nông dân phải đối mặt hiển nhiên là do biến đổi khí hậu, đặc biệt do hiện tượng nước biển dâng, nhưng còn có những vấn đề khác xuất phát từ thực tế phần lớn diện tích của ĐBSCL mới chỉ trở thành nơi chuyên canh tác lúa khá gần đây.  Đi dọc cánh đồng lúa, Tim Gorman giải thích, “100 năm trước, đây là bãi lầy triều”. Khi đó, năm nào vùng đất này cũng có thời gian bị ngập mặn.    Dưới thời thực dân Pháp, chính quyền bắt tay đào kênh rạch, phá rừng đước, mở rộng diện tích trồng lúa. Từ những năm 1940, khi người Mỹ thế chân người Pháp, các dự án thủy lợi quan trọng đã được triển khai. Sau khi đất nước thống nhất, để vượt qua khủng hoảng lương thực, Việt Nam không ngừng tăng cường tiềm năng sản xuất lúa gạo quốc gia. Kênh rạch, đê bao và đập được xây mới hoặc nâng cấp trên khắp khu vực ĐBSCL nhằm ngăn nước biển và dẫn nước ngọt về đồng. Những việc làm đó đã chuyển đổi gần như toàn bộ khu vực này trở thành một vùng thâm canh lúa lớn. Ngày nay Việt Nam đã cải tạo được gần bốn triệu ha đất hoang hóa thành đất trồng lúa.   Tuy nhiên tại ĐBSCL, đất canh tác ven biển phải đối mặt với hiện tượng biển ăn sâu vào đất liền, khiến cho hệ thống thủy lợi bị quá tải. Những cống đập, đê bao cũ kỹ phải gồng mình để ngăn một lượng nước lớn hơn so với thiết kế ban đầu. Gorman nói, hiện tượng nhiễm mặn diễn ra hết sức tự nhiên, lại được tiếp tay bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu, đang phá hủy những gì con người dựng lên. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, theo Gorman, thể hiện ở chỗ “cơ sở hạ tầng được xây dựng để bảo vệ khu vực này khỏi tình trạng nhiễm mặn trực tiếp ngày càng không đủ bởi vì đơn giản là mức nước triều cao hơn. Mực nước biển đã tăng 20 – 30cm so với chỉ một vài thập kỷ trước”.  Bản thân người nông dân cũng bắt đầu chuyển đổi từ trồng lúa sang các mô hình kinh tế khác để ứng phó với điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt. Nhiều người, đặc biệt ở Sóc Trăng, đã chuyển sang nuôi tôm. Năm 2013, tổng diện tích đất dành cho nuôi tôm đã lên đến 652.600 ha và mang về cho Việt Nam gần ba tỷ USD từ việc xuất khẩu.   Tại Sóc Trăng, thu nhập từ nuôi tôm thậm chí còn cao gấp năm lần so với trồng lúa. Tuy nhiên nghề nuôi tôm vẫn ẩn chứa nhiều vấn đề như chi phí đầu tư lớn, nguy cơ rủi ro cao, mặt khác hóa chất và chất thải từ nuôi tôm cũng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái… Vì vậy nhiều nông dân đã phải rời nhà tới các thành phố lớn như Cần Thơ hoặc TP.HCM để kiếm việc làm.   Thạch Hải cho biết, nhiều hàng xóm của ông đã ra đi và hầu hết những đứa con của ông cũng vậy. Còn ông không có đủ tiền hay kỹ thuật nuôi tôm, cũng không đủ sức lên thành phố kiếm việc. “Tôi đã quá già. Và đây là quê hương của tôi, tôi sẽ vẫn ở lại cày cấy trên mảnh đất này.”  Nỗ lực của chính phủ và các tổ chức quốc tế  Để tránh nguy cơ mất mùa trên diện rộng tại ĐBSCL, chính quyền các cấp thường thông báo cho nông dân biết những biện pháp cần làm trước mỗi mùa lúa. Chính phủ cũng hỗ trợ nông dân bằng nhiều phương thức khác nhau, như giới thiệu những giống lúa kháng mặn; xây dựng và khôi phục hệ thống đê điều, kênh rạch; xúc tiến hình thành các tổ hợp tác xã, qua đó giúp người nông dân tiếp cận nguồn vốn vay cần thiết.   Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tế rất quan tâm đến tình hình ĐBSCL. “Tình trạng của người dân ĐBSCL khá nghiêm trọng,” Roshan Cooke, chuyên gia về khí hậu và môi trường của Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD), cho biết. “Họ phải đối phó với hiện tượng nóng lên, lượng mưa thất thường, thiếu nước ngọt và do đó tăng độ nhiễm mặn. Hơn hết, họ bị ảnh hưởng bởi nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, bắt đầu thấy các cơn bão, lốc xoáy mà trước đây chưa từng xuất hiện ở phía nam.”  Từ tháng Năm vừa qua, “Thích ứng biến đổi khí hậu ĐBSCL,” dự án mới của IFAD và chính phủ Việt Nam, đã bắt đầu được triển khai nhằm cải thiện tình hình trên. Trong vòng sáu năm, dự án sẽ đầu tư 53 triệu USD để tăng cường năng lực ứng phó với những biến đổi về khí hậu cho người dân, đặc biệt là nông dân nghèo. Mục tiêu của IFAD là hỗ trợ cho khoảng 125.000 người dân dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu, hướng tới “những hộ gia đình do người phụ nữ làm chủ và những hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Bến Tre, Trà Vinh”. Kinh phí cũng được dùng để đầu tư xây dựng hệ thống đê bao và đập tốt hơn; cải thiện hệ thống kênh mương thủy lợi và cả lĩnh vực khoa học phục vụ cho dự án.   Các nhà nghiên cứu ở Đại học Trà Vinh đang thử nghiệm một giống lúa mới có khả năng chịu nhiệt và mặn. Bà Phạm Thị Phương Thúy, phó trưởng khoa Nông nghiệp – Thủy sản, Đại học Trà Vinh, nói: “Nếu chúng tôi không nghiên cứu một cách nhanh chóng thì vấn đề an ninh lương thực tại ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì nếu nông dân không còn trồng lúa, họ sẽ phải xoay cách khác, dẫn đến hậu quả là về lâu dài là Việt Nam sẽ mất vị trí một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu gạo.”        Thanh Nhàn dịch         Theo sbs.com.au và dw.de                                                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến nơi thích hợp trồng cà phê, hạt điều và bơ không còn… thích hợp      Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đến sự phù hợp trong việc trồng cây hạt điều và bơ, và là nghiên cứu đầu tiên đề cập đến tầm quan trọng của đất trồng và những đặc tính của nó đối với sự phù hợp khi trồng cây cà phê.      Các khu vực thích hợp trồng bơ sẽ giảm ở các nước sản xuất chủ yếu như Cộng hòa Dominica, Peru và Indonesia. Ảnh: musubifarm  Một nghiên cứu mới đây đã dự đoán, quá trình biến đổi khí hậu sẽ khiến số lượng các vùng trồng trọt thích hợp nhất dành cho cà phê Arabica, hạt điều và trái bơ giảm đi ở những quốc gia sản xuất chủ yếu các loại cây trồng này. Roman Grüter cùng cå các cộng sự tại đại học Khoa học ứng dụng Zurich (Zurich University of Applied Sciences), Thụy Sĩ, đã trình bày những phát hiện này trên tạp chí truy cập mở PLOS One vào ngày 26 tháng 1 năm 2022.  Cà phê, hạt điều và bơ là những cây trồng quan trọng đối với người tiêu dùng và những hộ nông dân quy mô nhỏ tại các vùng nhiệt đới trên khắp thế giới. Nghiên cứu sâu hơn đã cho thấy rằng, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm mức độ thích hợp đối với việc trồng cà phê arabica – giống cà phê chủ đạo – ở hầu hết các vùng hiện đang được trồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu như vậy thường không xem xét đến đất trồng và những đặc tính của nó cũng có thể ảnh hưởng đến sự phù hợp đối với cây trồng. Cùng với đó, cũng chưa có nghiên cứu nào chỉ ra ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự phù hợp để trồng bơ và hạt điều trên quy mô toàn cầu.  Để giải quyết những thiếu sót này, Grüter và các cộng sự đã tổng hợp các dự báo về biến đổi khí hậu và các yếu tố thổ nhưỡng vào mô hình tính toán và dự đoán mức độ phù hợp của các vùng đất khác nhau trên thế giới cho việc trồng trọt các giống cây cà phê, hạt điều và bơ vào năm 2050. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dự báo từ 14 mô hình khí hậu toàn cầu theo ba kịch bản có lượng phát khí thải khác nhau trong tương lai cùng tổng hợp về các tính chất, yêu cầu của đất trồng để canh tác các giống cây như độ pH, kết cấu và độ dốc.    A: cảnh quan hiện tại và độ phù hợp của đất trồng trọt, B: sự phù hợp của khí hậu hiện tại với cây trồng. C: sự phù hợp tổng thể với cây trồng. D: sự thay đổi mức độ phù hợp với RCP (RCP = representative concentration pathway – đường phân bố nồng độ khí nhà kính đại diện) 2.6 (lượng phát khí thải thấp). E = sự thay đổi mức độ phù hợp với RCP 4.5 ( lượng phát khí thải trung bình). F – sự thay đổi mức độ phù hợp với RCP 8.5 ( lượng phát khí thải cao). Ảnh: Grüter et al., 2022, PLOS ONE, CC-BY 4.0   Nghiên cứu dự đoán rằng sẽ có những vùng đất trở nên thích hợp và sẽ có những vùng đất trở nên ít thích hợp hơn cho mỗi loại cây trồng này. Cà phê là giống cây bị ảnh hưởng nhiều nhất trong cả ba giống cây trên, với dự đoán sự phù hợp sẽ giảm ở tất cả các vùng trồng chủ đạo hiện nay bao gồm Brazil, Việt Nam, Indonesia và Columbia. Với hạt điều, các vùng đất có độ phù hợp cao được dự đoán sẽ giảm ở những nước sản xuất chính như Ấn Độ, Bờ Biển Ngà và Benin. Các khu vực thích hợp để trồng bơ cũng sẽ giảm ở các nước sản xuất chủ yếu như Cộng hòa Dominica, Peru và Indonesia. Trong khi đó, các vùng đất phù hợp để canh tác cả ba giống cây trên có thể mở rộng ở những vùng có vĩ độ và độ cao tăng lên, đặc biệt là với hạt điều và bơ. Những vùng đất thích hợp để trồng các giống cây này trong tương lai sẽ nằm ở Hoa Kỳ, Argentina, Trung Quốc và Đông Phi.  Các kết quả này cho thấy các quốc gia nơi ba nông sản trên là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đang có nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, một trong những hướng đi khả dĩ của họ chính là tìm cách lai tạo các giống mới nhằm thích nghi với nhiệt độ cao hơn hoặc hạn hán. Bên cạnh đó, nếu chính phủ các nước dự định mở rộng vùng sản xuất đến những khu vực mới thích hợp hơn, họ cũng cần tính đến việc giảm thiểu các tác động của môi trường lên cây trồng.   Các tác giả cho biết thêm: “Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đến sự phù hợp trong việc trồng cây hạt điều và bơ. Đối với cả hai giống cây trồng này, các vùng đất phù hợp cho canh tác dự kiến sẽ mở rộng trên phạm vi toàn cầu, trong khi ở hầu hết các nước sản xuất chủ đạo hiện nay thì diện tích đất trồng phù hợp sẽ giảm đi.”  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  Expected global suitability of coffee, cashew and avocado due to climate change  Suitable growing regions for coffee, cashews, and avocados predicted to shift as Earth warms    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu tác động đến giáo dục và học tập      Biến đổi khí hậu (BĐKH) có nguy cơ làm gia tăng các rào cản ở hiện tại và tương lai trong nỗ lực phổ cập giáo dục toàn diện cho tất cả trẻ em và thanh thiếu niên, theo Báo cáo tác động của BĐKH đến bất bình đẳng đa chiều ở Việt Nam, do Viện Nghiên cứu phát triển Mekong và Oxfam Việt Nam mới công bố.     Ảnh: Giaoducbiendoikhihau  Báo cáo đánh giá, cách thức mà BĐKH tác động đến lĩnh vực giáo dục khá phức tạp. BĐKH có thể tác động trực tiếp, khiến trường học bị phá hủy, thời gian học tập của trẻ em bị trì hoãn do thiên tai như lũ lụt và mưa bão gây ra. Mặt khác, BĐKH có thể gây ra tác động ở mức độ gián tiếp, ví dụ, nhiệt độ tăng và thay đổi về xu hướng lượng mưa có thể tạo ra những tác động tiêu cực đến sinh kế nông nghiệp, tạo thêm áp lực tài chính cho các hộ gia đình dễ bị tổn thương, từ đó đẩy họ đến lựa chọn để cho con cái đi làm kiếm thu nhập thay vì đi học. Dưới đây là một số thông tin từ báo cáo:  Bằng chứng từ nhiều quốc gia đã chứng minh rằng cứ mỗi năm đi học tăng thêm có thể làm tăng thu nhập của một cá nhân khoảng 8-10% (1). Ngược lại, thu nhập cả đời của một người có thể giảm 3% nếu họ mất đi một phần ba thời gian của một năm học, theo kết quả các phân tích toàn cầu về giáo dục bị bỏ lỡ (2). Cái giá của việc không được đi học không chỉ nằm ở việc thu nhập của một lứa học sinh bị giảm sút trong tương lai mà nhìn rộng hơn, một phần lực lượng lao động kỹ năng kém sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của cả một quốc gia.  Tác động của BĐKH trong lĩnh vực giáo dục không đồng đều giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư do tồn tại các bất bình đẳng trong năng lực quản lý rủi ro và khả năng chống chịu thiên tai. Các nước đang phát triển, với hệ thống giáo dục mong manh hơn, có khả năng phải đối mặt với nhiều thách thức hơn. Tác động sâu sắc của BĐKH còn liên quan tới khả năng của các hộ gia đình để đầu tư vào giáo dục cho trẻ em cũng như khả năng học tập của trẻ ở trường, hai yếu tố thường ít được ghi nhận hơn nhưng lại có hậu quả mang tính lâu dài.  Trước tiên và quan trọng nhất, thu nhập giảm sút do thời tiết cực đoan và thiên tai có thể dẫn đến việc trẻ em bị buộc phải nghỉ học hoặc bỏ học bởi khả năng đầu tư cho giáo dục chủ yếu được quyết định dựa trên tình hình kinh tế của hộ gia đình. Trong bối cảnh BĐKH hiện nay, mức độ trầm trọng của tác động này sẽ ngày càng lớn đối với những nhóm hộ gia đình có sinh kế dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, sản xuất phụ thuộc vào các điều kiện thời tiết và khí hậu. Về mặt này, các hộ gia đình nghèo ở nông thôn là đối tượng đặc biệt dễ tổn thương do họ phải chịu gánh nặng kép cả về hoàn cảnh kinh tế và yếu tố môi trường.  BĐKH sẽ làm trầm trọng thêm các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng như khan hiếm lương thực, đói ăn và suy dinh dưỡng thể thấp còi, tất cả đều liên quan trực tiếp đến khả năng học tập của trẻ em. Cụ thể hơn, nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em suy dinh dưỡng thường đi học ít hơn, bị suy giảm khả năng tập trung, và có điểm số thấp hơn, cũng như gặp phải nhiều vấn đề về sức khỏe hơn so với các bạn được nuôi dưỡng tốt (3).  Ở Việt Nam, trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo nhất có nguy cơ bị thấp còi cao gấp 3 lần so với trẻ em thuộc các gia đình khá giả, trong đó Tây Nguyên, Trung du và Miền núi phía Bắc là những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Báo cáo ghi nhận các trường hợp trẻ em không đủ thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, thay vào đó, em bé phải ăn thức ăn rắn từ khá sớm theo bữa ăn chung của bố mẹ. Thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không đầy đủ khiến trẻ có nguy cơ phát triển trí não kém, khả năng học tập yếu, khả năng miễn dịch thấp, gia tăng các bệnh nhiễm trùng (4).  Các đánh giá về BĐKH cho thấy, Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Miền núi phía Bắc là những khu vực mà các hộ gia đình và trẻ em có khả năng phải di cư cao nhất do có mức độ tiếp xúc và nhạy cảm cao với BĐKH. Ngay cả khi BĐKH không trực tiếp khiến người dân phải di dời thì vẫn sẽ làm tăng tần suất và cường độ của các thiên tai và các áp lực từ môi trường, gây áp lực di cư. Một phân tích thực nghiệm gần đây trên 470 xã thuộc 12 tỉnh thành đã chứng minh ở các xã lũ lụt thường xuyên hơn hoặc nghiêm trọng hơn trong thập kỷ qua thì lượng dân di cư cũng gia tăng đáng kể.  Đối với trẻ em di cư, chuyển trường có thể làm gián đoạn việc học, gây ra các nguy cơ tiềm ẩn đối với khả năng tiếp thu và kỹ năng xã hội của trẻ. Ngoài ra, rào cản chính sách về đăng ký hộ khẩu thường trú cũng đang cản trở nhiều gia đình trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm cả giáo dục cho con cái. Đối với nhóm trẻ em không di cư cùng cha mẹ, ở lại địa phương cùng ông bà, người thân thì cũng vẫn bị ảnh hưởng do cha mẹ di cư. Việc thường xuyên bị tách khỏi cha mẹ hoặc thiếu thốn chăm sóc của cha hoặc mẹ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, hành vi, và thành tích học tập của trẻ.  Nguồn tài liệu dẫn theo Báo cáo:  (1) Ngân hàng Thế giới (2018). Báo cáo Phát triển Thế giới: Học để Nhận thức được Tiềm năng của Giáo dục. Washington, DC: Nhóm  Ngân hàng Thế giới.  (2) Hanushek, E. A., & Woessmann, L. (2020). Các Tác động Kinh tế của Các Thiếu hụt về Học tập. OECD.  (3) Galal OHJ. Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và kết quả học tập của trẻ em. Tạp chí Dinh dưỡng Vương quốc Anh. 2003;25:11–20.  Shariff, M., Bond, J., & Johnson, N. (2000). Dinh dưỡng và thành tích học tập của trẻ em trong các trường tiểu học ở thành thị tại  Malaysia. Tạp chị Dinh dưỡng Lâm sàng Châu Á và Thái Bình Dương, 9(4), 264-73  (4) UNICEF (2019). Tình hình Trẻ em trên Thế giới    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Biến Không Khí Ô Nhiễm Thành Nhiên Liệu      Một startup ở Canada đưa ra ý tưởng mới: “hút” khí carbon dioxide trong không khí lại và biến nó trở thành các loại hàng hóa có ích, chẳng hạn như nhiên liệu.    Các nhà hoạt động vì môi trường đốt một biểu tượng khí carbon dioxide trong cuộc biểu tình trước nhà máy điện Klingenberg tại Berlin năm 2008  Qua các hoạt động đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, con người thải ra hơn 30 tỉ tấn mét khí carbon dioxide vào bầu khí quyển mỗi năm. Con số này đã tăng dần đều trong suốt hơn 100 năm qua, khiến tình hình khí hậu diễn biến ngày một xấu đi. Trước thực trạng trên, giới khoa học, doanh nhân, chính khách, các nhà hoạt động vì môi trường đã và đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp khả thi. Tính đến nay, đa phần các giải pháp được đưa ra đều xoay quanh việc giảm lượng phát thải khí carbon như sử dụng nhiên liệu xanh, hạn chế đi xe. Nhưng gần đây đã xuất hiện thêm nhiều hướng đi mới với ý tưởng trọng tâm là gom khí này lại. Đơn cử, một nhà máy điện ở Iceland đã tìm ra cách biến carbon thành đá; một công ty ở California tuyên bố họ đã tìm ra công nghệ “cô lập” carbon trong xi-măng. Ngoài ra còn có các phương pháp khác nhằm “nhốt” khí carbon trong đất hay dưới nước.     Còn giờ đây, Carbon Engineering, một startup ở Canada do nhà vật lý David Keith ở đại học Harvard đồng sáng lập với sự hỗ trợ tài chính một phần của Bill Gates, mới đưa ra một ý tưởng độc đáo riêng: “hút” khí carbon dioxide trong không khí lại và biến nó trở thành các loại hàng hóa có ích, chẳng hạn như nhiên liệu.    Carbon Engineering vừa mở một nhà máy thí điểm tại Squamish, British Columbia, để tìm hiểu tính khả thi của công nghệ mà họ gọi là “hút không khí” (air capture). Trong nhà máy này, không khí được những chiếc quạt lớn đẩy vào một dung dịch lỏng chứa nồng độ carbon dioxide cao. Tiếp đến, hỗn hợp này được xử lý thành carbon dioxide tinh chế. Sau đó, không khí sạch được giải phóng ra ngoài và chất lỏng còn lại được tái chế để sử dụng trong đợt tinh chế carbon dioxide tiếp theo. Với các công nghệ hút carbon, carbon dioxide được thu nạp ngay khi chúng thoát ra khỏi các nhà máy; nhưng công nghệ hút không khí này lại có thể xử lý các loại carbon dioxide đã được thải ra khỏi các động cơ chạy nguyên liệu. Nói cách khác, quá trình thanh lọc khí carbon dioxide này giống như cách thức quang hợp của các loài thực vật nhưng cho hiệu suất cao hơn.  Nhà máy mới hiện đã có thể tách được khoảng một tấn carbon dioxide khỏi không khí mỗi ngày. Tuy đây chưa phải là con số ấn tượng, song công ty này cho hay họ đã sẵn sàng gia tăng hiệu suất lên hàng nghìn lần. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề cần phải giải quyết: lượng carbon bị “tóm” vào trong nhà máy này lại được phát thải trở lại bầu khí quyển gần như ngay lập tức. Nguyên nhân là vì họ vẫn chưa tìm ra cách xử lý đối với lượng carbon dioxide đã hút được.  Một trong những hướng đi hiện tại của Carbon Engineering là biến carbon dioxide thành nhiên liệu. Quá trình này bao gồm các bước tách nước thành oxygen và hydrogen, rồi kết hợp hydrogen với carbon dioxide để tạo thành nhiên liệu hydrocarbon. Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện công nghệ này song chưa được thử nghiệm ở quy mô thương mại. Tuy nhiên, Carbon Engineering cho rằng trong tương lai, công nghệ này có thể sẽ cung cấp được một lượng nhiên liệu carbon trung tính đủ dùng cho cả thế giới và tương thích với hệ thống cơ sở hạ tầng hiện nay. Theo dự đoán của họ, trong khoảng một vài năm tới, Carbon Engineering có thể sẽ sẵn sàng giới thiệu ra thị trường loại nhiên liệu làm từ carbon dioxide qua công nghệ hút không khí với giá thành 1-2 USD/lít.  Bất chấp những dự đoán lạc quan này, ban lãnh đạo Carbon Engineering vẫn cho rằng đây không phải là công nghệ có thể giải quyết được vấn nạn biến đổi khí hậu, bởi nhiều nhất thì nó cũng chỉ có thể loại bỏ được một phần nhỏ lượng phát thải khí carbon dioxide mà thôi. Geoff Holmes, giám đốc phát triển kinh doanh của công ty này, cho hay: “Chúng tôi nghĩ rằng thế giới cần có thêm nhiều công cụ nữa để cùng chung tay giảm lượng khí phát thải, và công nghệ hút không khí của chúng tôi là một công cụ như vậy. Chúng tôi muốn dự phần trong công cuộc đưa lượng khí thải về ngưỡng 0 càng nhanh càng tốt.”  Chi Nhân dịch theo Smithsonian        Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến năng lượng Mặt Trời thành nhiên liệu bằng quang hợp nhân tạo      Các nhà khoa học trường Đại học Đông Anglia ở Norwich, Anh, đang nghiên cứu sáng chế công nghệ quang hợp nhân tạo nhằm biến năng lượng Mặt Trời thành nhiên liệu Hydrogen.    Mọi người đều biết, các loại thực vật, các vi khuẩn tảo lam (cyanobacteria) và nhiều sinh vật quang hợp khác có thể sử dụng năng lượng ánh sáng Mặt Trời làm ra thức ăn cho mình. Thế nhưng công nghệ quang hợp nhân tạo không phải là công nghệ sử dụng công thức quen thuộc biến carbon dioxide (C02) và nước thành đường và oxygen, mà là sử dụng năng lượng Mặt Trời để sản xuất ra Hydrogen — một loại nhiên liệu không có chất thải.   Dự án nói trên đặt dưới sự chỉ đạo của giáo sư Julea Butt tại Trường Hóa và Trường Khoa học sinh vật thuộc Đại học Đông Anglia và có sự hợp tác của hai trường Đại học Leeds và Đại học Cambridge.  Giáo sư Julea Butt nói: “Hiện nay trữ lượng các loại nhiên liệu hóa thạch đang giảm dần và giá nhiên liệu không ngừng tăng lên. Bởi vậy việc mở rộng cung ứng nguồn năng lượng tái sinh trở nên rất quan trọng. Các loài thực vật trong thiên nhiên đã truyền cho chúng tôi một cảm hứng — trong quá trình thực vật thực hiện tác dụng quang hợp, năng lượng trong ánh sáng Mặt Trời có thể tự nhiên chuyển hóa thành nhiên liệu.”  “Chúng tôi sẽ xây dựng một hệ thống quang hợp nhân tạo bằng cách đặt những tấm pin Mặt Trời nhỏ xíu vào các vi sinh vật. Chúng sẽ tận dụng ánh sáng Mặt Trời và xúc tiến việc chế tạo Hydrogen.”  Giáo sư Butt cho biết: khi tiến hành tác dụng quang hợp nhân tạo (Artificial Photosynthesis) sẽ cần tới những tấm pin Mặt Trời mini dùng cho vi sinh vật. Ông giải thích: “Như vậy sẽ lợi dụng ánh sáng Mặt Trời với hiệu suất cao và xúc tiến quá trình sinh ra Hydrogen. Nếu công nghệ này thành công thì nó sẽ có thể được dùng để sáng tạo những loại nhiên liệu khác hoặc dược phẩm.”  Hội đồng Nghiên cứu Công nghệ sinh học và Khoa học sinh vật đã tài trợ 800.000 bảng Anh (1,26 triệu USD) cho dự án nói trên.   Chế tạo Hydrogen bằng phương pháp quang hợp nhân tạo để dùng nó làm nhiên liệu chạy các loại xe (như xe Hyundai ix35 Tucson) là một cố gắng đang được đẩy mạnh. Hiện nay nước Mỹ đã bắt đầu thí điểm sử dụng ô tô chạy bằng pin nhiên liệu hydrogen. Khí hydrogen và khí oxygen trong pin kết hợp với nhau, quá trình này tạo ra nước và điện. Điện năng đó được đưa vào động cơ điện làm quay bánh ô tô.  Sử dụng nguyên lý tác dụng quang hợp để chế tạo Hydrogen sẽ mở ra một chân trời mới trong việc giải quyết vấn đề nguồn năng lượng cho loài người. Hydrogen là loại nhiên liệu tin cậy, giá rẻ và sạch. Điểm khác nhau giữa Hydrogen với các loại nhiên liệu rắn là khi đốt Hydrogen để làm ra năng lượng, quá trình này không sinh ra bất cứ chất thải nào. Ngoài ra Hydrogen còn là nguyên tố có nhiều nhất trên Trái Đất.   Trước đây người ta vẫn điện phân nước thành Hydrogen và Oxygen, cách này không chỉ tốn năng lượng mà còn có nguy cơ gây nổ. Tạp chí Hóa học Tự nhiên (Nature Chemistry) số ra hôm 15/5/2013 đăng bài của các nhà khoa học trường Đại học Glasgow (Scotland, Anh Quốc), cho biết từ lâu họ đã coi trọng phương pháp xưa nay các loài thực vật ở khắp mọi nơi trên Trái Đất đã sử dụng, là dùng ánh sáng Mặt Trời để tách các phân tử nước thành Hydrogen và Oxygen – tức phương pháp quang hợp. Họ đang nghiên cứu một phương pháp điện phân mới tránh gây nổ bằng cách cho hai chất khí lần lượt được tách ra từ nước, trước tiên là Oxygen, sau mới đến Hydrogen được tách ra vào thời điểm thích hợp. Hydrogen nguyên chất không sinh ra một cách tự nhiên mà phải dùng năng lượng để chế tạo nó. Phương pháp điện phân mới này cần thời gian lâu hơn nhưng an toàn hơn, tiêu hao ít năng lượng hơn.  Các nhà nghiên cứu ở Đại học Georgia (Mỹ) lại đang phát triển một công nghệ khác, là sử dụng cây xanh để trực tiếp tạo ra điện năng, chứ không tạo ra Hydrogen như cách làm của các nhà khoa học Anh. Phó giáo sư Ramaraja Ramasamy tại Đại học Georgia cho biết: “Cách tiếp cận đó có thể giúp chúng ta tạo ra năng lượng sạch từ ánh sáng Mặt Trời bằng cách sử dụng quá trình quang hợp của thực vật”.  Thực vật là “nhà máy năng lượng Mặt Trời” có hiệu suất cao nhất, gần như tuyệt đối, có nghĩa là nó chuyển đổi tất cả các photon ánh sáng Mặt Trời chiếu lên nó thành các electron. Nếu có thể làm chủ quá trình này thì sẽ cải thiện đáng kể hiệu suất của các tấm pin năng lượng Mặt Trời hiện nay có hiệu suất rất thấp, chỉ 12 – 17%.  Trong quá trình quang hợp, thực vật sử dụng ánh sáng Mặt Trời để tách nước thành hydro và oxy kèm theo các electron. Các electron được giải phóng của quá trình quang hợp sẽ giúp tạo ra đường để phục vụ cho quá trình tăng trưởng của thực vật. Ramaraja Ramasamy cho biết: “Ý tưởng của chúng tôi là can thiệp vào quá trình quang hợp và thu giữ các electron trước khi chúng được sử dụng để sản xuất đường”.       NHH tổng hợp  Nguồn:  – http://www.hybridcars.com/british-scientists-looking-to-harvest-hydrogen-from-artificial-photosynthesis/  – http://www.rsc.org/ScienceAndTechnology/Policy/Documents/solar-fuels.asp Solar Fuels and Artificial Photosynthesis: Science and innovation to change our future energy options    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến nhà hàng thành không gian làm việc chung thú vị      Spacious, startup tại New York, đang triển khai một sáng kiến khá thú vị: biến các nhà hàng thành không gian làm việc chung cho những người làm việc tự do và những nhóm không có trụ sở làm việc chính thức.    Một nhà hàng trong hệ thống của Spacious  Sáng kiến trên xuất phát từ một thực tế là hơn 2.000 nhà hàng/ quán cà phê tại Manhattan và Brooklyn đều đóng cửa vào ban ngày và chỉ hoạt động từ sau 6 giờ tối. Nhận thấy một diện tích không gian lớn trong thành phố đang “nhàn rỗi” như vậy, các nhà sáng lập Spacious đã hợp tác với các chủ nhà hàng để mang đến một môi trường làm việc độc đáo và thú vị.  Khác với các không gian làm việc chung khác, Spacious không đóng vai trò “nhà thầu phụ” mà đứng ra điều phối tất cả. Khách hàng chỉ cần trả 95USD/tháng là có thể được quyền sử dụng không giới hạn mọi nhà hàng trong mạng lưới thành viên của Spacious (các nhà hàng sẽ được nhận phần trăm hoa hồng dựa trên lợi nhuận thu được mỗi tháng). Không những thế, Spacious còn mở nhạc, cung cấp Wi-Fi, cà phê và thuê nhân viên phục vụ theo ca để chăm sóc khách hàng.   Không gian làm việc mới mẻ và độc đáo này đã làm hài lòng nhiều khách hàng. Diana Montano, điều phối viên các tour du lịch cho bảo tàng Hack, đã trở thành một khách quen của Spacious. Cô tổ chức những cuộc họp với các thành viên trong nhóm của mình hai – ba lần mỗi tuần tại các nhà hàng trong hệ thống Spacious, có khi họ ngồi bàn chuyện với nhau tại quầy bar, có khi họ lại tập trung vào một phòng ăn riêng tư trên những chiếc sofa thoải mái. “Tôi thích không gian làm việc này vì nó không buồn tẻ và nhàm chán như không gian làm việc văn phòng truyền thống. Hơn nữa, làm việc ở đây tạo cho tôi cảm giác mình được hòa mình vào cuộc sống của thành phố,” Montano chia sẻ.  Sự phát triển của các nghề tự do cùng với cách thức thu xếp công việc linh động ngày nay đang tạo ra một nguồn cầu lớn đối với các không gian làm việc phi truyền thống, từ đó mang đến nhiều cơ hội cho những công ty như Spacious. Startup này vừa hoàn thành một vòng gọi vốn với sự tham gia của ba hãng đầu tư mạo hiểm là Lerer Hippeau Ventures, BoxGroup, và SV Angel.Chi Nhân dịch theo Business Insider    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến nước biển thành nước sạch: Không đơn giản      Ở các vùng bị khô hạn nghiêm trọng, các cơ sở khử muối trong nước biển là nguồn cung cấp nước uống cần thiết cho người dân. Tuy nhiên biện pháp này cũng có những điểm yếu. Để điều hòa được các điểm yếu này với lợi ích của nó là bài toán không đơn giản.      Công trường xây dựng một cơ sở khử muối trong nước biển ở ngoại ô thành phố Cape Town.   Trên thế giới hiện có khoảng 16.000 nhà máy khử muối trong nước biển làm nước ăn. Tuy nhiên theo tạp chí chuyên đề “Science of the Total Environment”, có khá nhiều vấn đề bất lợi của phương pháp khử mặn này. Lượng hoá chất gây ô nhiễm môi trường tại các cơ sở này cao hơn 50% so với dự tính ban đầu. Vì vậy cần nhanh chóng có các giải pháp thích hợp để xử lý các hóa chất tàn dư này nhằm hạn chế gây hại với môi trường và giảm chi phí phát sinh. Chỉ có như thế mới bảo đảm cung cấp lâu dài nguồn nước ăn cho các thế hệ hiện nay cũng như mai sau.  Người dân ở các vùng bị thiếu nước nghiêm  trong lệ thuộc nhiều vào nguồn nước của các cơ sở khử muối nước biển. “Khoảng 1,5 đến 2 tỷ người hiện sinh sống ở các vùng khan hiếm nước, chí ít là không đủ nước sinh hoạt vào mùa khô hạn”, Vladmir Smakhtin nói. Ông cùng nhà khoa học, được sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc, đã phân tích số liệu liên quan đến các cơ sở khử muối trong nước biển hiện có. Theo số liệu của họ, hiện nay có 15906 cơ sở khử muối trong nước biển, phân bổ ở 177 quốc gia. Hơn nửa số cơ sở này tập trung ở Trung Đông và Bắc Phi. Tây Ban Nha là quốc gia ở Tây Âu có nhiều cơ sở khử muối trong nước biển nhất. Các cơ sở này tạo ra 95 triệu m3 nước ngọt mỗi ngày nhưng lại sinh ra 142 triệu m3 nước muối cô đặc – nhiều hơn 50% so với dự tính ban đầu. Lượng nước muối này sau một năm có thể phủ kín diện tích tiểu bang Florida của Hoa kỳ và có chiều cao khoảng 30 cm.  So với nước biển bình thường, lượng dung dịch muối này có hàm lượng muối cao hơn nhiều, ngoài ra còn chứa nhiều loại hoá chất và kim loại hoà tan. Dung dịch nước muối đậm đặc này sẽ được hoà với nước biển để tránh gây tắc hoặc gây hư hại đối với hệ thống khử muối do sự tồn đọng các muối không hoà tan, các vi sinh vật, rong rêu và cát. Đồng và clo là các tạp chất nguy hiểm, sẽ gây nhiều phiền toái nhất.  Việc xử lý dung dịch muối này như thế nào tùy thuộc vào vị trí của nhà máy khử muối và một số điều kiện khác. Thường hỗn hợp này được tống ra biển hoặc sang các vùng chứa nước khác, cho xuống các giếng nằm sâu trong lòng đất hoặc bơm ra các kênh thoát nước hoặc dẫn vào các hồ chứa nước để bốc hơi. Tuy nhiên điều này có thể gây tổn hại rất lớn đến hệ thống sinh thái của khu vực đó. Nước muối đậm đặc làm giảm lượng oxy hoà tan trong nước, Edward Jones, người tham gia dự án này, giải thích. “Tỷ trọng muối cao và lượng ô xy hoà tan giảm có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến các loài sinh vật sống trong nước; những tác động về sinh thái này có thể làm ảnh hưởng rõ rệt đến toàn bộ chuỗi thực phẩm”, ông nói.  Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng cho biết, các kim loại như Magnesium, Natrium, Calcium, Kalium, Brom và  Lithium có thể tái thu hồi để phục vụ trong công nghiệp. Tuy nhiên các công nghệ tái thu hồi hiện nay chưa chín muồi.  Đồng tác giả của báo cáo này, Manzoor Qadir cho rằng “Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu về vấn đề này, biến những khó khăn về môi trường thành cơ hội về kinh tế. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước có một lượng lớn nước muối đậm đặc mà chưa sử dụng có hiệu quả như Ả rập Xê út, các tiểu vương quốc ả rập thống nhất,  Kuwait và Qatar”.  Ngoài ra, các nhà máy khử muối trong nước biển hiện đang hoạt động có một nhược điểm lớn khác, đó là tiêu hao quá nhiều năng lượng.  Xuân Hoài dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.wiwo.de/technologie/green/un-warnt-giftige-rueckstaenden-bei-meerwasserentsalzung/23865666.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến rác thành sản phẩm hữu ích      Với công nghệ MBT- CD.08, Công ty TNHH Thủy lực Máy (Hà Nội) đã biến rác thành nhiều sản phẩm hữu ích như gạch không  nung, viên nhiên liệu đốt, dầu PO…    “MBT-CD.08 là từ viết tắt của Mechanical Biological Treatment Compact Dimmension. Còn 08, tức là năm 2008, thời điểm đánh dấu thời điểm nghiên cứu thành công và được Bộ Xây dựng cấp giấy chứng nhận” – ông Nguyễn Gia Long, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty TNHH Thủy lực Máy, tác giả công nghệ, cho biết.  Công nghệ đã được Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ là công nghệ xử lý rác phù hợp và được phép nhân rộng trong cả nước và Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng phát minh sáng chế độc quyền.  Biến rác thành tiền  Lý giải về nguyên nhân tại sao MBT-CD.08 chọn hướng nghiên cứu theo chu trình khép kín mà đầu ra phải là sản phẩm hữu ích cho cuộc sống, ông Nguyễn Gia Long, khẳng định ngay đó là phải biến rác thành tiền – đây phải là triết lý ngay từ khâu nghiên cứu đến sản xuất, vì chỉ có như vậy mới có sự phát triển bền vững.  Thực tế cũng cho thấy, khá nhiều công nghệ xử lý rác đã nghiên cứu thành công nhưng chỉ sau khi chuyển giao một thời gian, dứt bỏ bầu sữa đầu tư của Nhà nước thì công nghệ gần như chết yểu không thể tồn tại được. Sở dĩ các công nghệ này thất bại bởi chúng ta quên đi bài toán sơ đẳng về kinh tế: Lấy thu bù chi.  MBT-CD.08 là công nghệ kết hợp các phương pháp cơ sinh học (MBT) để phân loại ra ba dòng vật chất trong rác thải hỗn hợp: Các vật chất cháy được, các vật chất không cháy và các vật chất kim loại, rác độc hại. Tái chế và tái tạo thành các sản phẩn như: Viên nhiên liệu (sử dụng cho các nồi hơi công nghiệp); Viên gạch không nung (sử dụng cho các công trình xây dựng dân dụng đơn giản); Kim loại như sắt, đồng, nhôm… bán tận thu, các vật chất độc hại như pin, ắc quy… được tập trung chở đi xử lý, tái chế toàn bộ 100% rác thải thành nguyên liệu.  Công nghệ MBT-CD.08 được thiết kế dạng module kín, kết nối thành dây chuyền, sử dụng cơ giới và tự động hóa nhiều, rất ít công nhân tiếp xúc trực tiếp với rác, không phát tán mùi và nước rỉ rác trong suốt quá trình xử lý; Có trung tâm điều khiển và kiểm soát toàn bộ quá trình xử lý và tái chế, dễ dàng nâng hoặc hạ công suất từ 20 – 50 tấn/ngày cho cấp huyện, thị hoặc 500 – 1.000 tấn/ngày cho cấp tỉnh, thành phố.  Vì một Việt Nam “xanh”  MBT-CD.08 có tính linh hoạt khá cao, có thể tạo ra nhiều lựa chọn cho sản phẩm tái chế các nguyên liệu có trong rác thải. Có thể sản xuất phân bón hữu cơ tốt nhất bằng công nghệ ủ tháp, sản xuất các chủng loại nhiên liệu dạng viên, thanh từ hỗn hợp nhiều thành phần có trong chất thải (cháy được), sản xuất các chủng loại gạch xây dựng từ rác vô cơ (không cháy), tận thu các vật chất còn giá trị tái tạo bán thương mại, tăng nguồn thu cho nhà máy xử lý rác và không gây phát sinh ô nhiễm ngay tại nơi xử lý.  Đặc biệt, dây chuyền công nghệ có thể lắp đặt gần khu dân cư, hay trong khu công nghiệp, dần hình thành một ngành kinh tế rác thải.  Được biết, công nghệ MBT-CD.08 đã được triển khai hiệu quả tại Nhà máy xử lý rác thải Sông Công (Thái Nguyên) với dây chuyền thiết bị công suất 50 tấn/ngày. Được triển khai trên khu đất tại xã Tân Quang, Sông Công, Thái Nguyên với diện tích 2ha, tổng mức đầu tư là 35,2 tỉ đồng. Đối với công nghệ viên đốt, theo Dự án đầu tư Nhà máy xử lý và tái chế rác thải Sông Công, sau khi trừ chi phí đã có lãi 158.306 đồng/tấn. Ngoài ra công nghệ MBT-CD.08 cũng đã và đang được triển khai tại một số địa phương khác như: Khu công nghiệp Đồng Văn (Hà Nam); Sơn Tây, Hà Nội; huyện Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu); huyện Di Linh (Lâm Đồng); huyện Yên Định (Thanh Hóa); huyện Yên Phong (Bắc Ninh).  Hiện công nghệ xử lý rác MBT-CD.08 đang tiếp tục được nghiên cứu, phát triển với việc chế tạo các mô đun phát điện, lò đốt rác công nghiệp, tái chế túi nilon và cao su thành dầu PO… góp phần xử lý rác thải công nghiệp, rác thải y tế và các loại rác thải độc hại khác. Hy vọng việc hoàn thiện công nghệ này sẽ giúp giải quyết tối đa loại rác thải độc hại như rác thải y tế và một số rác thải độc hại khác mà chưa loại công nghệ nào xử lý được triệt để, góp phần bảo vệ môi trường và hướng đến một Việt Nam “xanh”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến sa mạc thành cánh đồng      Tiểu vương quốc ẢRập Qatar dự định nuôi trồng các loại rau quả, ngũ cốc, và tảo trên sa mạc dựa vào nguồn năng lượng mặt trời phong phú và nước biển. Đây là một dự án tầm cỡ thế giới.     Có lẽ ông Fahad Al-Attiya, Giám đốc chương trình An ninh lương thực quốc gia của Qatar, có lý khi ông cho rằng dự án của ông có thể so sánh với ý tưởng trồng cây trên sao hỏa.   Từ văn phòng của mình ở Doha, ngồi trong tòa tháp bằng kính ở lưng chừng trời, Fahad Al-Attiya phóng tầm mắt ra sa mạc bao la một màu nâu sẫm. Khách vãng lai nếu đi chân trần sẽ bị bỏng rộp vì nóng. Nhưng những điều đó không làm cho Al-Attiya nản lòng. Chương trình An ninh lương thực quốc gia là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về phát triển nông nghiệp của Qatar trong tương lai. Qatar dự kiến sẽ nâng sản lượng lương thực, thực phẩm trong 10 năm tới lên gấp năm lần hiện nay – trong điều kiện không sử dụng nhiều nguồn nước ngầm, khí đốt và dầu mỏ. Đến năm 2030, những cánh đồng trên sa mạc sẽ đủ sức nuôi ba triệu dân – Qatar chủ trương chỉ nhập khẩu những loại lương thực khó trồng trong nước.   Dự án sa mạc xanh của Al-Attiya đã hoàn thành trên laptop: Qatar sẽ xây dựng nhà kính và những cánh đồng mênh mông trên một diện tích khoảng 75.000 km2. Ở phía nam bán đảo trải dài tới gần Ả Rập Xê Út, nơi mặt trời hun nóng lâu nhất, một nhà máy năng lượng mặt trời khổng lồ sẽ được xây dựng để phục vụ hệ thống khử muối trong nước biển. Lượng nước khai thác từ đây sẽ được bơm vào khu trữ nước ngầm tự nhiên gần như đã cạn kiệt vì sử dụng thái quá.   Hiện nay trên thế giới chưa có dự án nhà nước nào có quy mô khổng lồ về trồng cây lương thực, rau quả trên sa mạc. Trong những tháng tới, ông Al-Attiya dự định sẽ lập xong quy hoạch, trong đó quyết định phát triển các loại cây gì, sản lượng cần đạt của các loại cây trồng đó ra sao…   Qatar hiện đã có dự án thí điểm nông nghiệp trên sa mạc đầu tiên phục vụ khách tham quan. Dự án này cách Doha khoảng một giờ đồng hồ đi xe. Tại đây, bên cạnh hai nhà máy sản xuất phân bón, từ tháng 12 năm ngoái, có khoảng vài chục nhà khoa học và chuyên gia kỹ thuật đang làm việc trong một cơ sở có tên là “Sahara Forest Project”. Thoạt trông, những gì người ta đang làm tại đây không có gì ghê gớm. Họ vừa thu hoạch lứa dưa chuột thứ hai trồng trong ba nhà kính. Nguồn nước cung cấp cho dưa chuột được lấy từ cơ sở khử muối trong nước biển nằm kề bên.   Để kích thích cho cây trong nhà kính phát triển mạnh mẽ hơn, khí CO2 từ nhà máy phân bón được dẫn tới khu nhà kính. Đằng sau khu nhà kính là những bể bê tông khá đồ sộ, đây là cơ sở phát triển tảo đầu tiên ở các nước Ả Rập. Ngay trong năm nay, cơ sở này sẽ cung cấp dầu để sản xuất nhiên liệu.   Thích nghi với điều kiện khắc nghiệt  Trên một mảnh ruộng nhỏ, những bông lúa mạch đang uốn mình dưới làn gió sa mạc. Đây là một sự bất ngờ. Thông thường, ngũ cốc không thể phát triển trong điều kiện nắng nóng gay gắt như ở sa mạc. Người Ả Rập đã làm mát đồng đất ở đây bằng một giải pháp khá thông minh: ngay bên bờ ruộng, họ dựng những bức tường cao ngang đầu người bằng bìa cứng có đục lỗ và nhúng những bức tường này vào nước. Gió nóng sa mạc lùa qua những cái lỗ nhỏ của các bức tường làm cho nhiệt độ trên ruộng giảm xuống.   “Chúng tôi không phát minh ra công nghệ gì mới mẻ ở vùng sa mạc này cả,” theo lời Joakim Hauge. Ông là người Na Uy, đồng thời là giám đốc dự án thí điểm này. Hai doanh nghiệp sản xuất phân bón tài trợ nhiều triệu Euro cho dự án.   Hauge coi nhiệm vụ chính của trang trại thí điểm là thích nghi với các điều kiện rất khắc nghiệt ở Qatar và qua đó giảm chi phí sản xuất. Khi đã tìm ra công thức hoàn hảo để phát triển nông nghiệp trên sa mạc, Hauge sẽ phổ biến chúng và đưa vào áp dụng ở những vùng đất có điều kiện khí hậu tương tự trên thế giới. Nhu cầu đối với những giải pháp này hết sức lớn. Hiện có khoảng hai tỷ người trên trái đất phải sống trên những vùng đất vô cùng khô hạn, cằn cỗi, con số này còn có xu hướng tăng.   Liên Hiệp Quốc cảnh báo, đến năm 2025 sẽ xảy ra tình trạng khan hiếm nước ở những vùng sản xuất nông nghiệp của thế giới. Vì vậy sản xuất nông nghiệp không phung phí tài nguyên ở Qatar, như sử dụng năng lượng tái sinh và nước biển, có thể sẽ trở thành một điển hình tốt.   Việc ông Hauge cởi bỏ bộ complet đen để làm việc dưới cái nắng cháy da ở Qatar cũng bắt nguồn từ vụ khủng hoảng lương thực thế giới năm 2007. Mùa màng thất bát, giá dầu mỏ tăng vọt làm bùng nổ sự phát triển nhiên liệu sinh học, điều này lại đẩy giá lúa mì, ngô hạt và các loại lương thực khác lên cao.   Ngay từ lúc đó, Tiểu vương Qatar Hamad Bin Chalifa al-Thani, ông mới từ chức cách đây không lâu, đã nhận thấy chỉ vài thập niên nữa, nguồn khí đốt phong phú sẽ cạn kiệt và cuộc khủng hoảng lương thực cũng có thể đổ lên đầu các thần dân của ông. Dự án sa mạc xanh là câu trả lời của vị Tiểu vương này.   Những người đi tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp trên sa mạc như chuyên gia người Đức Philipp Saumweber làm cho người dân Qatar tự tin, lạc quan hơn. Saumweber vốn là chuyên gia ngân hàng của Goldmann-Sachs, nhưng từ hơn một năm nay ông điều hành doanh nghiệp Sundrop Farms ở miền nam Australia nóng bỏng – ông đã xây nhà kính khổng lồ đầu tiên ở đây. Saumweber cũng là người hỗ trợ ông Joakim Hauge trong việc xây trang trại nông nghiệp ở Qatar.   Rau quả trong nhà kính trên sa mạc của Saumweber không trồng trong đất mà trồng trong dung dịch dinh dưỡng. Phương pháp này đem lại năng suất cao hơn – có thể cao gấp 12 lần so với trồng trên đất thông thường – và tiết kiệm nước hơn. Để làm mát nhà kính, ông dùng nguồn nhiệt của nhà máy điện mặt trời thông qua trao đổi nhiệt để làm lạnh. Về đêm, khi nhiệt độ ở sa mạc giảm mạnh, nhiệt được dẫn trực tiếp từ nhà máy điện đến khu nhà kính. Nhờ đó nhiệt độ trong nhà kính luôn ổn định ở 22 độ C, lý tưởng với cây trồng.   Không bao cấp cho nông nghiệp  Giá rau sa mạc thí điểm thậm chí tương đối rẻ vì không mất tiền mua nước đại dương, trong khi nguồn nhiệt lấy từ nhà máy điện mặt trời sau khi hoàn tất khấu hao dùng để khử mặn cũng không đáng kể. Theo ông Saumweber, thời gian khấu hao là năm năm và có thể còn rút ngắn hơn với việc áp dụng công nghệ làm lạnh mới của Israel – khi đó giá thành sản xuất trong nhà kính sẽ giám tới 20% so với hiện nay.   Đây là một tin vui với Fahad Al-Attiya vì ngành nông nghiệp ở quốc gia sa mạc này không được trợ giá mà phải tự cạnh tranh trên thị trường. Nhà nước chỉ hỗ trợ ngành nông nghiệp bằng cách cam kết thu mua một lượng sản phẩm nhất định, từ đó tạo an ninh đầu tư cho người nông dân sản xuất trên sa mạc.   Cựu chuyên gia ngân hàng Saumweber chứng minh có thể kêu gọi đầu tư cho các dự án như ở Qatar. Ông đã chi 25 triệu Euro để xây dựng ở Australia 200.000 m2 nhà kính và nhà máy điện mặt trời công suất 35 Megawatt. Các cơ sở này khi hoàn thành mỗi ngày sẽ khử được mặn được 2 triệu lít nước. Sản lượng cà chua hằng năm khoảng 15.000 tấn.   Tới đây, Ả Rập Xê Út và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng sẽ đưa vào vận hành những trang trại Sundrop đầu tiên của mình.   Qatar còn có một khả năng nữa để nâng cao hiệu quả của dự án, chủ yếu qua việc khử mặn nước biển. Hiện tập đoàn Siemens của Đức đang xúc tiến dự án xây dựng cơ sở khử mặn nước biển cỡ lớn đầu tiên ở Singapore theo công nghệ dẫn điện vào nước biển và thông qua điện trường để tách muối. Cho đến nay, các cơ sở khử muối chủ yếu hoạt động theo công nghệ phun nước với áp lực cao qua các màng cực mịn hoặc đun nước biển để nước bốc hơi còn đọng lại là muối. Theo công nghệ này, để lấy được 1.000 lít nước phải tiêu tốn 3 Kwh, trong khi công nghệ mới của Siemens giảm một nửa lượng tiêu thụ điện năng.   Để cung cấp rau quả cho 100.000 người, một nhà kính trong trang trại trên sa mạc phải tiêu thụ khoảng hơn 50.000 lít nước mỗi ngày. Đây là bài toán đau đầu, chưa kể một vấn đề cũng gây đau đầu không kém là việc xử lý lượng muối chất cao như núi hình thành trong quá trình khử mặn nước biển như thế nào.   Hiện tại, hai nhà máy sản xuất phân bón sử dụng một lượng nhỏ muối phế thải. Trong tương lai, ông Al-Attiya hy vọng tập đoàn hóa chất khổng lồ của Mỹ Dow Chemical sẽ chế biến lượng muối này thành chất dẻo tổng hợp.     Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thảm cũ thành xe đạp      Một công ty ở New Zealand đã phát triển công nghệ tái chế thảm cũ thành xe đạp cho trẻ em.      Các tấm thảm thường rất khó tái chế bởi chúng cồng kềnh và được làm từ nhiều chất liệu khác nhau. Do đó, những tấm thảm cũ thường gây ra một lượng phế thải lớn. Tổ chức Carpet America Recovery Effort (Care) ước lượng mỗi năm có khoảng 5 tỷ tấn thảm bị đào thải ra bãi rác- tức là gần như trung bình cứ 1 người trên Trái Đất đào thải 1 tấn thảm.  Cặp vợ chồng người New Zealand Jenny và Rich McIver vừa tìm ra một cách tái chế thảm cũ độc đáo: biến chúng thành xe đạp cho trẻ em. Sở hữu công ty thiết kế vật dụng Wishbone Design, họ đã cùng nhau phát triển một công nghệ mới cho phép biến các tấm thảm thành những hình ống rắn chắc và từ đó cấu thành nên xe đạp cho trẻ em. Không chỉ vậy, loại xe đạp làm từ thảm tái chế này còn có thể được nới to ra khi trẻ lớn lên, từ đó giúp giảm hơn nữa lượng phế thải.  McIver giải thích, sợi thảm nylon được cạo ra từ mặt bồi sau của tấm thảm, sau đó cả phần sợi nylon và phần mặt bồi làm từ polypropylene được tái chế riêng rẽ theo một quy trình độc quyền của công ty. Quá trình này bao gồm việc xé nhỏ, giặt và xử lý nhiệt các chất liệu thô thành dạng lỏng. Sau đó họ cho thêm sợi kính để làm tăng sức mạnh và độ cứng.  Kết quả cho ra những viên chất dẻo tổng hợp nhân tạo có thể được phun đúc (injection- moulding) thành những hình dạng hữu cơ chắc chắn. Đây là loại xe đạp đầu tiên được sản xuất sử dụng phương pháp phun đúc áp suất thấp, cho phép tạo ra được những miếng đơn hình ống phức tạp có độ cứng và rắn chắc cao.  Hai vợ chồng đã dành gần ba năm để phát triển công nghệ và thiết kế, bắt đầu sản xuất hàng loạt loại xe đạp sử dụng hoàn toàn nguyên liệu tái chế này năm ngoái. Được biết, người tiêu dùng đặc biệt thích thiết kế đẹp mắt của xe và phần khung có thể điều chỉnh được để vừa cho trẻ từ 12 tháng đến 6 tuổi.   Tiếp tục theo đuổi công việc của mình, năm nay Wishbone sẽ tung ra thị trường một mô hình xe đạp mới của Recycled Edition Wishbone Bike, sử dụng cả nylon và polypropylene tái chế. Họ cũng đang thiết kế một loại xe đạp tái chế lớn hơn để phục vụ cho văn hóa đi xe đạp đang trở nên phổ biến.  Tái chế thảm- công việc tốn kém  Nhưng tái chế thành xe đạp không phải là cách duy nhất để tận dụng thảm cũ. Ở Mỹ, ngành tái chế thảm đang tiến bộ nhanh chóng. Nhờ vào Care- một chương trình hợp tác giữa chính phủ và các công ty tư nhân, giờ đây khoảng 30% thảm cũ được tái chế thành sợi làm thảm, phần bồi, thảm mới, gối đệm, và chất tổng hợp nhân tạo. Care báo cáo rằng vào năm 2012, năm gần đây nhất được điều tra, có 1,6 triệu tấn thảm không bị đưa ra bãi rác mà được tái chế, đây là con số lớn nhất từ trước đến nay.   Trong khi đó, ở Hà Lan, công ty khổng lồ về thảm Desso có một cách tiếp cận khác trong việc tái chế thảm. Hợp tác với các công ty cung cấp nước uống ở Hà Lan, Desso đã phát triển một công nghệ tiên phong, chiết xuất đá phấn từ nước để dùng làm chất ổn định trong lớp bồi sau thảm. Tấm bồi phía sau của thảm EcoBase của Desso chứa 50% nguyên liệu tái chế và có thể được tái chế tiếp trong chính quy trình sản xuất của Desso. Giám đốc truyền thông của Desso cho biết, những tấm bồi thông thường được làm từ các chất liệu còn cặn dầu, nhưng chất liệu này thường không dễ tái chế do kết cấu chất liệu không đồng nhất. Khi họ tháo rỡ các tấm thảm tại công xưởng của mình, điều mấu chốt là phải thu lại được những dòng chất liệu nguyên chất, như thế việc tái chế mới khả thi về tính kinh tế.  Vấn đề lớn là việc tái chế thảm thường rất tốn kém. Care cảnh báo rằng những người muốn tái chế thảm của mình không thể cứ vứt thảm trước cửa nhà để cơ sở tái chế đi thu thập được. Việc vận chuyển thảm và cả quá trình tách riêng các thành phần cấu thành đều rất đắt đỏ. Nếu thảm Desso và xe đạp Wishbone muốn trở nên phổ biến thì người tiêu dùng phải sẵn sàng trả tiền vận chuyển thảm cũ của họ đi đến nơi tái chế thay vì làm một động tác đơn giản hơn nhiều là ném chúng vào thùng rác.  Trong khi tỉ lệ tái chế ngày nay đã đạt những mức ấn tượng: 63% ở Áo, 62% ở Đức và 58% ở Bỉ, mức tái chế trung bình ở Châu Âu vẫn chỉ đạt 39%. Nếu các nước thành viên khác cũng đạt được mức 50% đề ra cho năm 2020 thì họ sẽ có khả năng điều phối việc tái chế thảm cũ dễ dàng hơn.  Khánh Minh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Big data – công cụ “lớn” để giải quyết các vấn đề xã hội      Theo IBM, khoảng 2,5 triệu tỷ byte dữ liệu được tạo ra mỗi ngày, đủ để load đầy khoảng 57,5 tỷ chiếc iPad 32 GB mỗi ngày. Một số dữ liệu được thu thập bởi các công cụ khoa học dùng để đo gió, nhiệt độ và dòng điện trên khắp thế giới. Các dữ liệu khác lại được ghi lại bởi các máy tính theo dõi giao dịch trái phiếu, giao dịch chứng khoán và gửi tiền ngân hàng. Những dữ liệu khác được nhập vào vào bởi cảnh sát, nhân viên quản chế và các nhân viên phúc lợi. Tuy nhiên, tất cả những dữ liệu này đơn giản chỉ là dữ liệu cho đến khi chúng được phân tích và được sử dụng để đưa ra quyết định.    Thuật ngữ “Big data” (dữ liệu lớn) được sử dụng để mô tả sự phát triển ngày càng tăng của dữ liệu cũng như khả năng sử dụng dữ liệu ngày càng hiệu quả của con người. Có vô số các dự án Big data đã được thực hiện trong các lĩnh vực khoa học. Ví dụ, năm 2012, thông qua phân tích dữ liệu, công ty dược phẩm Merck nhận thấy các chất gây dị ứng sẽ có thể “ngủ đông” trong suốt tháng 3 và tháng 4 năm 2013 do thời tiết lạnh bất thường, sau đó tháng 5 với thời tiết ấm lên bất ngờ sẽ khiến cho các bào tử phát tán ở tỷ lệ cao hơn mức trung bình, vì thế khiến cho nhu cầu cần thuốc chữa dị ứng Claritin của hãng tăng lên. Sau đó Merck đã sửa đổi chiến lược markeing. Thông qua cộng tác với Walmart, họ đã đưa ra các chương trình khuyến mại được cá thể hóa dựa trên dữ liệu mã zip để tiếp thị Claritin đến các khu vực bị chịu tác động nặng nề của dịch dị ứng, dẫn đến làm tăng doanh thu.  Cộng đồng doanh nghiệp cũng là người sử dụng Big data tích cực. Mỗi tháng Netflix thu thập hàng tỷ giờ dữ liệu về người dùng để phân tích tiêu đề, thể loại, thời gian xem và hệ thống màu sắc video để xác định sở thích của khách hàng nhằm thường xuyên cập nhật lập trình và các thuật toán đề xuất để mang lại cho khách hàng trải nghiệm tốt nhất. Năm 2013, Netflix ra mắt series phim đình đám, “House of Cards” (Sóng gió chính trường), chủ yếu sử dụng kết hợp giữa dữ liệu và các phân tích về hành vi khách hàng để giúp định hình câu chuyện. Netflix đã đầu tư 100 triệu USD vào series phim và House of Cards là một thành công lớn mang lại 2 triệu người đăng ký mới cho hãng.  Trí thông minh được định hướng bởi dữ liệu đã được sử dụng thành công trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật và kinh doanh, nhưng trong lĩnh vực giải quyết các vấn đề xã hội thì lại rất khác biệt. Trong lĩnh vực này, tồn tại sự khác biệt lớn giữa tiềm năng của thông tin theo hướng dữ liệu với việc sử dụng thực tế những thông tin này để giải quyết các vấn đề xã hội. Một số vấn đề xã hội có thể dễ dàng được giải quyết bằng cách sử dụng dữ liệu lớn, chẳng hạn như sử dụng dữ liệu giao thông để giảm lưu lượng giao thông trên đường cao tốc hoặc sử dụng dữ liệu thời tiết để dự đoán cơn bão tiếp theo. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu sử dụng dữ liệu để giải quyết các vấn đề xã hội quan trọng nhất của con người, chẳng hạn như vô gia cư, buôn bán người và các vấn đề giáo dục? Và điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không chỉ muốn giải quyết những vấn đề này mà còn giải quyết theo cách mang lại những giải pháp bền vững cho tương lai?  Tại sao dữ liệu lại “lớn”?  Dữ liệu, hay các mẩu thông tin cá nhân, đã được thu thập và sử dụng từ rất lâu trong lịch sử. Nhưng những năm gần đây, những tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số đã làm tăng mạnh khả năng thu thập, lưu trữ và phân tích dữ liệu của con người. Ví dụ, năm 1880, Hoa Kỳ tiến hành một cuộc điều tra dân số 50 triệu người, thu thập thông tin nhân khẩu học bao gồm tuổi, giới tính, số người trong hộ gia đình, dân tộc, ngày sinh, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn và nơi xuất xứ. Tất cả các thông tin này được ghi lại bằng tay, được in vào các miếng micro film và được gửi để lưu trữ trong các kho lưu trữ, thư viện và trường đại học của tiểu bang. Phải mất từ bảy đến tám năm để lập bảng dữ liệu điều tra dân số. Năm 1890, Cục Điều tra Dân số đã sắp xếp hợp lý các phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các thẻ đục lỗ có thể đọc được bằng máy, rút ngắn thời gian lập bảng xuống còn một năm. Trong cuộc điều tra dân số gần đây nhất của Mỹ được tiến hành năm 2010, Cục đã sử dụng một loạt các công nghệ mới để điều tra dân cư, bao gồm các hệ thống thông tin địa lý, phương tiện truyền thông xã hội, video, hệ thống nhận dạng ký tự thông minh và phần mềm xử lý dữ liệu phức hợp.  Ngày nay, Big data (dữ liệu lớn) được sử dụng để chỉ các tập dữ liệu mở rộng ra khỏi phạm vi kho dữ liệu đơn lẻ (cơ sở dữ liệu hoặc kho dữ liệu) và quá lớn và phức tạp để được xử lý bởi các công cụ xử lý và quản lý cơ sở dữ liệu truyền thống. Dữ liệu lớn có thể bao gồm thông tin như giao dịch, truyền thông xã hội, nội dung của doanh nghiệp, các cảm biến và thiết bị di động.  Dữ liệu lớn có nhiều khía cạnh, được gói gọn trong tập hợp gồm bảy chữ “V” sau.  •    Khối lượng (Volume): lượng dữ liệu được tạo ra và thu thập.  •    Vận tốc(Velocity) : cập đến tốc độ dữ liệu được phân tích.  •    Đa dạng (Variety): tính đa dạng của các loại dữ liệu được thu thập.  •    Độ nhớt (Viscosity): đo tính kháng của luồng dữ liệu.  •    Biến thiên (Variability): đo tỷ lệ không lường trước được của dòng và các loại.  •    Tính chính xác (Veracity): đo các thành kiến, nhiễu, bất thường và độ tin cậy trong các tập dữ liệu.  •    Biến động(Volatility): cho biết độ dài hợp lệ của dữ liệu và nên được lưu trữ như thế nào.  Mặc dù tất cả bảy yếu tố V này đều quan trọng, nhưng không như nhau. Ví dụ, yếu tố khối lượng. Các tập hợp dữ liệu của thế giới tăng gấp đôi sau mỗi 18 tháng, cho thấy khu vực  công và tư có rất nhiều cơ hội mới để chuyển hóa thông tin thành nhận thức. Do khối lượng dữ liệu tăng cùng với xu hướng lưu trữ nhiều phiên bản của cùng một dữ liệu trên các thiết bị khác nhau, nên khoa học tìm kiếm và truy xuất thông tin sẽ phải nâng cao.  Yếu tố “V” mang tính thách thức nhất đối với các cơ quan/doanh nghiệp chính là Tính đa dạng. Các cơ quan đều xây dựng các hệ thống thông tin để giải quyết các yếu tố dữ liệu trong các danh mục cụ thể. Thách thức đối với nhiều cơ quan đó chính là tìm những phương thức mang tính kinh tế để tích hợp các tập dữ liệu không đồng nhất trong khi cho phép các nguồn dữ liệu mới hơn được tích hợp vào trong các hệ thống hiện có. Đảm bảo rằng dữ liệu được thu thập có đủ độ chính xác cũng rất quan trọng. Ngày nay, do sự phát triển của các mạng xã hội và truyền thông xã hội, hầu hết dữ liệu được thu thập cần phải được phân tích kỹ lưỡng trước khi sử dụng để đưa ra quyết định, vì dữ liệu có thể dễ dàng bị thao túng.  (Đón đọc kỳ 2: Dữ liệu lớn chưa được sử dụng giải quyết các vấn đề xã hội hiệu quả)  Phương Anh (Theo Big data for social innovation, Standford Social Innovation Review)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bigschool: Trường học trực tuyến của “Ông già khởi nghiệp”      Khởi nghiệp năm bao nhiêu tuổi là đẹp nhất? 25 hay 30. Đó là ý kiến của nhiều người, nhưng đối với một thầy giáo đã ngấp nghé tuổi 65, khởi nghiệp dường như không có khái niệm tuổi tác – ông chính là Lê Thống Nhất, một giáo viên có uy tín đối với nhiều thế hệ học trò, đặc biệt trong những năm 2000 trở về trước.      Nguồn: VTC News  Bước đường khởi nghiệp của thầy giáo già  Tiến sỹ Lê Thống Nhất, sinh năm 1955 tại Nam Định, sau nhiều năm giảng dạy và công tác trong ngành giáo dục, năm 2015 ông về hưu ở tuổi 60. Thế nhưng một năm sau đó, người ta biết đến TS. Lê Thống Nhất với biệt danh “Ông già khởi nghiệp”.  Nhớ lại thời kỳ bắt đầu xây dựng, TS. Lê Thống Nhất cho biết: “Trong một lần tham dự hội chợ tại Thượng Hải (Trung Quốc), tôi thấy tại địa điểm tổ chức có hàng chục ngàn học sinh rất chăm chú, hào hứng tham gia các trò chơi game. Sau khi trở về nước, điều đọng lại cho tôi là ngoài các game giải trí hấp dẫn, liệu giáo dục có một trò chơi gì đó tương tự để hấp dẫn như vậy không? Và ông nghĩ, giáo dục nhất định phải có một trò chơi dạng “đối kháng” để thu hút học sinh.  Để đem đến phương pháp học hấp dẫn, ông đã biến những kiến thức khô khan trở thành một trò chơi trí tuệ đối kháng, có luật chơi, tính điểm và xếp hạng rõ ràng. Bên cạnh đó còn có những đề thi trong phần khảo thí độc lập dành cho mọi đối tượng từ mầm non đến THPT. Không nhằm vào một kỳ thi cố định, học sinh có thể tham gia thi ở bất cứ môn nào và bất cứ lúc nào, kết quả là học sinh có thể chỉ ra lỗ hổng kiến thức và được hướng dẫn bù đắp, học tập.  Đứng trên bục giảng trên 20 năm, TS. Lê Thống Nhất không chỉ được biết đến với vai trò là nhà cố vấn các chương trình lớn trên truyền hình như Đường lên đỉnh Olympia, mà thầy còn là “cha đẻ” của Tạp chí Toán Tuổi thơ, cuốn tạp chí đã gắn bó với các bạn nhỏ từ những năm 2000. Ngay khi xuất bản số đầu tiên, tạp chí đã bán được hơn 86.000 bản.  Chia sẻ về câu chuyện này, TS. Lê Thống Nhất cho biết: “Người đầu tiên tôi mời hợp tác xây dưng Tạp chí Toán là nhà thơ Trần Đăng Khoa… Toán học như chiếc “xương sống”, có nhiều ngã rẽ khác nhau và bằng sự thông minh, dí dỏm của nhà thơ Đăng Khoa sẽ giúp các em biết cách dùng tiếng Việt thông qua Toán học. Quan điểm của ông là giỏi Toán đồng nghĩa phải giỏi tiếng Việt, bởi Toán là môn suy luận, nếu không giỏi tiếng Việt thì lập luận sẽ không hay. Cũng có thể đưa Toán vào trong thơ nhằm tạo nên sự lý thú cho các em nhỏ và từ đó, Toán học sẽ không nặng nề mà chỉ như một câu đố vui”.  21 tuổi, là giáo viên Đại học Vinh. Đến năm 38 tuổi, TS. Lê Thống Nhất ra Hà Nội và trở thành một giáo viên có tiếng lúc bấy giờ. 53 tuổi, sau thành công với Tạp chí Toán Tuổi thơ, TS. Lê Thống Nhất “đầu quân” cho dự án Big Sky-một dự án ươm mầm cho những ý tưởng sáng tạo trên mạng Internet của Tập đoàn FPT. Tại môi trường mới, TS. Lê Thống Nhất cũng gặp khá nhiều khó khăn và bỡ ngỡ khi làm việc trong môi trường với các bạn trẻ thuộc lĩnh vực CNTT. Để thích ứng, thầy đã phải miệt mài bổ sung những kiến thức nhất định về CNTT.  Được làm việc trong môi trường CNTT, TS. Lê Thống Nhất nhanh chóng đưa giáo dục với nền tảng web với cuộc thi Violympic tiểu học – giải toán nhanh trên mạng Internet. Thông qua những đề thi để đánh giá thứ hạng của học sinh so với những người thi trên cả nước. Tiếp đó, cùng với cuộc thi này, cuộc thi Olympic tiếng Anh trên mạng cũng nhanh chóng được ngành giáo dục đón nhận và triển khai ở nhiều trường tiểu học và THCS trên cả nước.  Tự nhận là khá “liều” khi đưa cuộc thi Toán học lên web khi mạng Internet còn khá mới mẻ, TS. Lê Thống Nhất đã tìm tòi các Game để lựa chọn những Game có thể “bắt chước” được với mục đích học sinh có thể vừa chơi game, vừa luyện tập được môn Toán. Sau thành công của những sản phẩm giáo dục trên Internet như Vioplympic.vn, Ioe.vn… Năm 2016, khi về hưu, TS. Lê Thống Nhất đã quyết định thực hiện một dự án cho riêng mình mang tên Bigschool.  Bigschool – ngôi trường của những ước mơ  Chia sẻ về mình, TS. Lê Thống Nhất cho biết “Khi tôi về hưu, cũng có nhiều người có đất và nguồn lực tài chính mời tôi phối hợp tham gia mở trường theo mô hình như Marie Curie hay Lương Thế Vinh. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi nhận ra rằng, nếu mở một ngôi trường thì cùng lắm mỗi năm chỉ giúp đỡ được 2.000-3.000 học sinh và tạo công ăn việc làm cho khoảng 100 giáo viên trong khi hàng năm có hàng vạn giáo sinh ra trường chưa có việc làm. Vì vậy, tôi nghĩ đến một ngôi trường không hạn chế số học sinh và số giáo viên giảng dạy, điều này chỉ có thể thực hiện trên môi trường internet.  Đau đáu với những vấn đề trong giáo dục, TS. Lê Thống Nhất đã xây dựng ngôi trường trực tuyến mang tên Bigschool. Bất cứ ai có nhu cầu giảng dạy đều có thể đăng ký giảng dạy sau khi được kiểm tra nhưng để thu hút và gây sự chú ý cho học sinh lại khiến thầy Lê Thống Nhất trăn trở.  Nhiều người bạn và học sinh của thầy từng khởi nghiệp cũng lo lắng cho dự án của TS. Lê Thống Nhất bởi thầy là một giáo viên lâu năm – với môi trường giáo dục được cho là khá “yên bình”, lại không có nhiều kinh nghiệm về kinh doanh, thị trường, marketing, truyền thông, gọi vốn… liệu có thành công. Và quả thực, để thực hiện dự án, TS. Lê Thống Nhất đã trải qua hơn 40 cuộc họp với đội nhóm của mình.  Thời kỳ mới xây dựng, phòng nội dung và phòng CNTT của dự án gặp khá nhiều bế tắc. Do không chuyên sâu về CNTT nên vấn đề quan trọng nhất với TS. Lê Thống Nhất chỉ xoay quanh nội hàm ‘tìm được đội ngũ CNTT giỏi”. Sau nửa tháng, TS. Lê Thống Nhất quyết định thành lập một đội CNTT mới để khắc phục và xây dựng lại. Sau một thời gian, nhóm đã đạt được kết quả như ý tưởng thầy mong đợi.  Vượt qua giai đoạn đầu tiên, sau gần một năm nghiên cứu và thử nghiệm, Bigschool chính thức đưa vào hoạt động vào đầu năm 2016 với các trò chơi mang tính đối kháng trí tuệ (các vòng thi đấu trực tiếp giữa các học sinh) cũng như khảo thí độc lập. Chỉ với từ 1.000-2.000 đồng là các em học sinh có thể tham gia thi và phân tích chi tiết tình trạng kiến thức ở bất kỳ môn học nào. Điểm đặc biệt là ai có nhu cầu giảng dạy cũng có thể đăng ký dưới sự kiểm duyệt, tư vấn của đội ngũ chuyên gia và nhân viên của Bigschool.  Chỉ hơn một tuần ra mắt, Big school đã có hơn 2.600 giáo viên và 3.000 học sinh đăng ký dạy và học. Khởi nghiệp không bao giờ là muộn với bất cứ ai, quan trọng là tại thời điểm đó bạn có đủ ý tưởng sáng tạo và vững vàng theo đuổi ý tưởng của mình hay không?  Minh Phượng – Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia       Author                Minh Phượng        
__label__tiasang Bình đẳng là chìa khóa giúp thành phố Mexico cổ đại tồn tại lâu dài      Vào thời kỳ đỉnh cao, Monte Albán là nơi cư trú của 17.000 người – bất chấp nơi đây thiếu nguồn nước sạch và đất đai chẳng hề màu mỡ      Nhìn từ trên cao, ta có thể thấy những tàn tích của Monte Albán (trên đỉnh đồi) cùng thành phố Oaxaca (Mexico) trải rộng xung quanh. Ảnh: Jennifer Booher / Alamy  Tàn tích của Monte Albán – với những kim tự tháp, kênh đào và sân bóng – nằm trên đỉnh đồi khô cằn phía trên thành phố Oaxaca (Mexico). Vào thời kỳ đỉnh cao, thành phố, được dựng nên vào năm 500 trước Công nguyên, là trung tâm hành chính và tôn giáo của người Zapotec, và là nơi sinh sống của 17.000 người, mặc dù nơi đây thiếu nguồn cung cấp nước và cũng chẳng có đất đai màu mỡ.  Một nghiên cứu mới đã cho thấy chìa khoá làm nên sự thành công của cộng đồng này, giúp nó tồn tại lâu hơn bất cứ đô thị Mexico nào cùng thời – bất chấp điều kiện nghèo nàn – chính là nhờ việc người dân nơi đây sinh sống bình đẳng hơn những cộng đồng Zapotec cổ đại khác.  Bài báo được được xuất bản trên Frontiers in Poli Science, gợi ý rằng người dân nơi đây không quá chênh lệch về tiền tài, địa vị, quyền lực. Dân số nơi đây gia tăng nhanh chóng, khiến người dân đặt tiêu chuẩn rất cao về an ninh khu vực và có nhu cầu sống chất lượng hơn.  Theo các nhà khoa học, cuộc sống nơi đây được chỉ đạo từ dưới lên trên – góp phần thúc đẩy thời kỳ thịnh vượng kéo dài 1.300 năm của khu vực này. “Trên thế giới, hiếm có một khu định cư nào từ thời đó tồn tại lâu như vậy”, nhóm cho hay.  “Nơi đây, có rất ít dấu hiệu cho thấy sự chuyên quyền hoặc tập trung quyền lực, cũng chẳng có dấu hiệu rõ rệt về sự bất bình đẳng giàu nghèo”, Gary Feinman, đồng tác giả nghiên cứu và là giám tuyển về nhân chủng học tại Bảo tàng Field ở Chicago, chia sẻ với tờ The Guardian “Thay vào đó, chúng tôi tìm được rất nhiều bằng chứng cho thấy các hộ gia đình đã gắn kết, hợp tác với nhau”.  Nhìn chung, người dân không tôn vinh những người đứng đầu của thời kỳ đó. Các chuyên gia chỉ tìm thấy một tác phẩm điêu khắc trên đá, phác hoạ một người đeo mặt nạ thần mưa để dẫn đầu nghi lễ.    Một ngôi đền trong Quảng trường Lớn tại Monte Albán. Ảnh: Getty Images  Kiến trúc của di tích cho thấy đây là một xã hội thiên về tập thể – trái ngược với những đô thị khác cùng thời. Tất nhiên, nơi đây vẫn có sự phân tầng xã hội, hầu hết các ngôi nhà được làm bằng gạch không nung, còn những người có địa vị cao thì xây nhà bằng đá. Dân thường chia sẻ với nhau khoảng không gian trước nhà và tường chắn, họ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế thông qua hoạt động trao đổi hàng thủ công và thực phẩm.  “Không có lăng mộ xa hoa, không có kho tài sản khổng lồ của gia đình hay bất cứ bằng chứng nào về khoảng cách giàu nghèo quá chênh lệch. Nơi đây cũng chẳng có cung điện lớn, được trang trí công phu và tỉ mỉ, cho thấy đây là nơi ở của người cai trị”, nghiên cứu cho biết. “Từ thuở sơ khai khi thành phố được dựng nên, trung tâm của thành phố là một quảng trường lớn nơi người dân có thể tụ tập.”  Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy rằng, so với các thành phố khác trong khu vực, bộ xương của những người nghèo hơn ở Monte Albán không quá khác so với người giàu. Ngay cả, bộ xương của nam và nữ cũng không có dấu hiệu nào cho thấy sự khác biệt trong quá trình nuôi dưỡng – đồng nghĩa với việc nơi đây không có tình trạng trọng nam khinh nữ.  Bên cạnh đó, nghiên cứu nhấn mạnh “không có dấu hiệu nào cho thấy chính quyền thành phố lưu trữ thực phẩm với số lượng lớn”, mà chỉ có hệ thống chợ.  Những người cai trị có thể không chuyên quyền như những nơi khác, nhưng vẫn có một tầng lớp quý tộc cha truyền con nối. Một số sống gần đỉnh đồi hơn những ngôi nhà khác, và một số ngôi nhà trông cuốn hút hơn và lớn hơn. Có nhiều đám tang với cách thức tổ chức phức tạp hơn, giới tinh hoa cũng có lễ mai táng riêng.  Từ năm 800 sau Công nguyên, dân chúng của thành phố có thể đã bắt đầu rời đi khi bất bình đẳng gia tăng, mặc dù các nhà khoa học không đưa ra được kết luận về lý do sau rốt dẫn đến sự sụp đổ của thành phố. Các hướng dẫn viên du lịch tại khu di sản thế giới UNESCO này thường cho rằng sự suy giảm chủ yếu là do hạn hán.  Nhưng nghiên cứu cho thấy cư dân của nó có thể đã chuyển đến các thành phố mới nổi, nhằm né tránh các cuộc đấu đá nội bộ của giới tinh hoa  “Monte Albán là một thành phố nơi tồn tại những quy luật bất thành văn mang tính cộng đồng, xã hội”, Feinman, tác giả bài báo, nhận định. “Và với một chính phủ đề cao tập thể và tương đối bình đẳng, nó đã tồn tại hơn một thiên niên kỷ. Tuy nhiên, khi nó sụp đổ, dân số của thành phố sụt giảm nghiêm trọng, nhiều cơ sở lần lượt giải tán, mở ra một thời kỳ cai trị chuyên quyền hơn”.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   Equality was key to ancient Mexican city’s success, study suggests  The Foundation of Monte Albán, Intensification, and Growth: Coactive Processes and Joint Production    Author                .        
__label__tiasang Bison – Sứ giả của tự nhiên ở Fermilab      Trên mặt tiền của khoa học, Fermilab giữ một kết nối bền chặt với thiên nhiên và lịch sử nơi mình đặt các cỗ máy gia tốc hiện đại, thông qua sứ giả của tự nhiên – những con bò bison châu Mỹ.      Toàn cảnh Fermilab từ trên cao. Nguồn: Wikipedia  Mỗi khi nhắc đến Fermilab, tên gọi đầy đủ là Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Fermi, người ta thường nhớ đến một phòng thí nghiệm quốc gia chuyên về vật lý hạt của Bộ Năng lượng Mỹ nằm ở Batavia gần Chicago, Illinois. Tương tự như người anh em của mình là CERN ở châu Âu, Fermilab nghiên cứu về những hạt nhỏ nhất, các khối cơ bản tạo nên vật chất và vũ trụ. “Trong quá khứ, chúng ta khám phá thế giới về mặt địa lý – tìm ra những lục địa và đại dương mới. Trong thời đại của chúng ta, thách thức bậc nhất nằm trong việc nghiên cứu những điều chưa biết về tự nhiên và con người… Việc mở rộng biên giới của vật lý năng lượng cao và những hạt nhỏ vô hạn là một thách thức với bộ óc con người. Nếu chúng ta có thể chạm đến và băng qua các biên giới đó, thế hệ chúng ta có thể đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại” – câu nói của M. Stanly Livingstone, đồng phát minh cyclotron với nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1939 Ernest Lawrence và là phó giám đốc thế hệ đầu của Fermilab, được trích lại trong cuốn Fermilab: Physics, the Frontier, and Megascience (Fermilab: Vật lý, biên giới và siêu dự án khoa học) đã nói lên sứ mệnh của phòng thí nghiệm này.    Trong phần giới thiệu về cuốn sách đó, ba nữ tác giả – những nhà nghiên cứu về lịch sử khoa học Mỹ, sau khi giải thích một cách sơ bộ về cách thức các nhà vật lý làm việc trên các cỗ máy gia tốc hạt nổi tiếng ở đây đã đem lại những khám phá lớn như quark đáy vào năm 1977, quark đỉnh vào năm 1995, không quên ghi thêm một câu gợi trí tò mò “Thật kỳ lạ là thế giới tự nhiên nơi đặt Fermilab vẫn còn giữ được nét nguyên sơ như thế kỷ trước. Thậm chí còn có một đàn bò ở đó”.    Một đàn bò ở nơi được coi là mặt tiền khoa học ư? Nghe có vẻ khó tin nhưng trong mấy chục năm qua, chúng đã là một phần không thể thiếu của Fermilab và chiếm một chỗ trong logo mang tính biểu tượng của Fermilab.     Mối liên hệ với tự nhiên ở biên giới khoa học     Đó là ý tưởng của Robert R. Wilson, nhà vật lý Mỹ tham gia dự án Manhattan và là người sáng lập ra Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia, nơi vào năm 1974 đã mang tên Fermilab để tưởng nhớ Enrico Fermi, người được trao giải Nobel Vật lý năm 1938. Năm 1969, Robert Wilson đã viết một “đề xuất bằng máu” gửi Glenn T. Seaborg, người được trao giải Nobel Hóa học vào năm 1951 là Chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ, trong đó cam kết về một cơ sở nghiên cứu khoa học đỉnh cao cùng cỗ máy gia tốc mới với kinh phí đầu tư không vượt quá 250 triệu USD, không đắt đỏ như CERN hay Brookhaven, và vẫn có thể đem lại cho Mỹ những hiểu biết mới, “không liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia nhưng đem lại thêm giá trị cho quốc gia này”.      Bison thường sinh sản vào mùa xuân và việc đặt tên cho chúng là niềm vui của các nhà khoa học. Nguồn: fnal.gov  Ông được giao một địa điểm rộng 6.800 acre tại Batavia, Illinois – nơi được chọn một phần vì chính di sản khoa học của Enrico Fermi, người tạo ra chuỗi phản ứng phân hạch có kiểm soát đầu tiên ở trường Đại học Chicago vào năm 1942. Ngoài diện tích được dùng để xây các phòng thí nghiệm, Wilson dành khoảng 1.000 acre để phục hồi đồng cỏ tự nhiên và sau đó, trước sự ngỡ ngàng của mọi người, mang về năm con bò bison châu Mỹ, trong đó có bốn con cái và một con đực. Theo giải thích của ông, đó là một cách “để ghi nhận và tăng cường sự kết nối của Fermilab với di sản đồng cỏ mà chúng ta được thừa hưởng”.    Những con bò bison thu hút sự chú ý của Wilson bởi chúng gần như bị tuyệt chủng sau các cuộc săn bắn tàn sát vào thế kỷ 19, dù từng hiện diện đông đảo theo đàn trên hầu khắp đồng cỏ Bắc Mỹ. Loài động vật móng guốc này có bộ lông xù xì, dài, màu nâu sẫm vào mùa đông và chuyển sang màu nhạt hơn vào mùa hè. Chúng thường nặng từ khoảng gần 400 kg đến một tấn. Nếu ở ngoài tự nhiên, chúng ăn cỏ, cây con thì ở đây, thực đơn hằng ngày của chúng được bổ sung hạt, cỏ khô và thậm chí cả vitamin.    Theo các ghi chép về trắc địa bang Chicago từ năm 1840, khu vực thuộc Fermilab là “những đồng cỏ giàu có hàng đầu”, “vùng đất màu mỡ và phù hợp với trồng trọt”. Nhưng khi họ đến nơi này, các đồng cỏ của Illinois đã biến mất vì trở thành nơi trồng đậu tương và ngô. Do đó, cùng với việc gây dựng đàn bò bison thì Fermilab cần phục hồi đồng cỏ. Một trong những người ông mời hỗ trợ Fermilab là giáo sư hóa sinh Bob Betz. Trong cuốn sách The Prairie of the Illinois Country (Những cánh đồng cỏ ở hạt Illinois), Betz kể lại cuộc gặp mặt Robert Wilson lần đầu tiên và câu hỏi đầu tiên ông đặt ra là “mất bao nhiêu lâu để phục hồi một cánh đồng?”. Betz biết nỗ lực này có thể mất hàng thập kỷ nhưng khi trả lời, ông đã giảm một chút thời gian: năm, mười, có thể là 20 năm. Wilson trầm tư một lúc rồi đáp “nếu như vậy thì tôi cho là chúng ta phải bắt đầu công việc ngay chiều nay”. Từ năm 1975, Ủy ban Đồng cỏ Fermilab (Fermilab Prairie Committee) thu hút các thành viên của phòng thí nghiệm và cả tình nguyện viên để đưa khu vực này trở lại với tình trạng ban đầu của chúng. Khi Betz mất vào năm 2017, toàn bộ đồng cỏ ở Fermilab đều được mang tên ông.    Địa điểm Wilson chọn thả đàn bison ở ngay bên cạnh tòa nhà nay mang tên ông (Wilson Hall) và bên cạnh hai cánh đồng cỏ rộng lớn, bên dưới lòng đất là những cỗ máy gia tốc nổi tiếng như Tevatron – thiết bị phát hiện ra quark đỉnh năm 1995. Dù có thể chăm lo cho một đàn bison chừng 75 con nhưng để đảm bảo cho chúng thoải mái, Fermilab thường duy trì số lượng khoảng 40 con. Hằng năm, người ta bán đi một số con cho các Công viên thiên nhiên quốc gia, đồng thời mua một số con khác để duy trì tính di truyền lành mạnh của bầy. Nhờ vậy những con bison ở Fermilab có tiếng là to lớn và khỏe mạnh.  Nhưng rút cục, những người thực tế vẫn đặt câu hỏi “liệu những con bison còn đem lại gì cho Fermilab?”.     Bison hay boson?       Ở Fermilab, những con bò bison nổi tiếng không kém gì các boson, một loại hạt cơ bản tồn tại ở một thời gian cực ngắn rồi phân rã sang các dạng hạt khác, mà các nhà vật lý ở đây nghiên cứu. Vào thời điểm ban đầu gây đàn bison ở Fermilab, cũng có những tin đồn thổi hư cấu rằng những con vật móng guốc to lớn này có vai trò giống như những con chim hoàng yến ngày trước như những chiếc máy Geiger sống vẫn theo những người thợ xuống mỏ than để kịp thời phát hiện những khí độc bất thường. Vậy có thể có những nguy hiểm phóng xạ lan truyền trong không khí từ hoạt động của các máy gia tốc hạt? Nếu đặt câu hỏi này thì ngay cả Cleo Garcia, người phụ trách trông nom đàn bò, Dave Shemanske, người quản lý các con đường và đồng cỏ, Ryan Campbell, nhà sinh thái học, hay bất cứ ai ở Fermilab hẳn cũng cười bò. Bởi sự vận hành của các máy gia tốc như Tevatron đều tuân theo các quy định chặt chẽ của khoa học, đảm bảo an toàn cho mọi người và môi trường. Hằng năm, Fermilab đều tiến hành đánh giá môi trường và theo nhận xét của Dave Shemanske thì “chúng tôi có một môi trường đạt tiêu chuẩn thế giới”.    Với các nhà vật lý, những con bò bison có một giá trị đặc biệt, không chỉ vì nó kết nối trực tiếp với di sản đồng cỏ mà Fermilab đang thừa hưởng mà còn một nguyên nhân khác: chúng khiến họ cảm thấy thư giãn và gắn bó hơn với không gian khoa học này. Mọi người thích trò chuyện về bison cũng như họ thích nói về Fermilab. Ngoài các trao đổi về công việc và những câu chuyện xảy ra trong phòng thí nghiệm, họ có thể tán gẫu và đùa vui với nhau về những con bò bison qua hàng thập kỷ mà không thấy nhàm chán. Thậm chí nó còn gây hứng thú hơn cả những “huyền thoại” phòng lab như chuyện vào năm 1972, phòng điều khiển trung tâm bối rối khi một thành viên mới sơn màu xanh lá cho các khối nam châm hình xuyến trong khi màu quy định của họa sĩ Angela Gonzales – thành viên thứ 11 của Fermilab, là xanh lam.      Với các nhà vật lý, những con bò bison có một giá trị đặc biệt, không chỉ vì nó kết nối trực tiếp với di sản đồng cỏ mà Fermilab đang thừa hưởng mà còn một nguyên nhân khác: chúng khiến họ cảm thấy thư giãn và gắn bó hơn với không gian khoa học này.        Ở Fermilab, tưởng chừng như những con bison mới là nhân vật trung tâm. Mùa sinh sản của chúng, vào đầu xuân, khi thời tiết bắt đầu ấm áp và dễ chịu hơn. Những người ở đây gọi đó là “baby bison time” hệt như cách họ gọi “beam time” – thời gian được phân bổ cho một nhà nghiên cứu để họ sử dụng một chùm hạt từ một máy gia tốc. Mỗi năm, Fermilab đón chào khoảng 15 đến 20 thành viên mới. Vào thời điểm đó, trên trang web của Fermilab thường có những thông tin ngắn gọn nhưng đầy hào hứng về những chú bison con, đặc biệt là sự chào đời của nhân vật đầu tiên. Không chỉ riêng Fermilab mà cả các báo địa phương cũng đưa tin về ‘sự kiện’ này, coi nó quan trọng không kém các khám phá của Fermilab.    Sự hiện diện của những chú bison con là niềm tự hào của Fermilab và việc đặt tên cho chúng đã được họ gọi là “truyền thống yêu thích”. Năm 2016, chủ đề đặt tên cho bison cũng gây xôn xao cộng đồng vật lý khi trên tài khoản Twitter của Fermilab xuất hiện câu hỏi “Bạn có thể đặt tên cho chú bison đáng yêu này chứ?”, đi kèm bức ảnh một con bison vài ngày tuổi bên bà mẹ to lớn của mình. Thật bất ngờ là chỉ trong một ngày, họ nhận về tới 260 phản hồi từ trong và ngoài nước Mỹ, trong đó có những đề xuất hài hước “Higgs Bison” (ghép với tên hạt Higgs boson) hay Niels Bohrson (ghép với tên nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1922 Niels Bohr). Dẫu việc đặt tên có thể khiến một vài gương mặt nghiêm túc nhíu mày nhưng rõ ràng, nó cho thấy bison được yêu mến ở nơi này.    Tình cảm đó không chỉ bó hẹp trong cộng đồng vật lý mà còn với cả khách tham quan Fermilab – những người có thể tự do ra vào Fermilab mà không mất vé, không cần đăng ký trước, chỉ cần tấm thẻ căn cước, trong hầu hết mọi ngày trong tuần. Fermilab thú nhận một sự thật là nhiều người đến đây không chỉ vì tò mò với hoạt động ở tiền đồn khoa học mà vì những chú bò bison. Với họ, đặc biệt là bọn trẻ, dường như có sức hút mãnh liệt từ những chú bò màu nâu uy nghi và bình thản đi lại trong khu vực có rào chắn hơn là các cỗ máy gia tốc, khiến tất cả những ai đến đây cũng đều phải dừng chân ngắm nhìn. Cleo Garcia, người phụ trách đàn bison ở Fermilab, luôn miệng nhắc nhở khách tham quan là dẫu bison có vẻ điềm đạm thì chúng vẫn có những đặc tính của một loài động vật hoang dã chưa được thuần hóa. Giống như các nhà vật lý, chúng vẫn được coi là bí ẩn, kỳ quặc và thích gây gổ, vì vậy “đừng bao giờ quay lưng lại với một con bison”, lời khuyến cáo của Fermilab, hàm ý như “đừng bao giờ cãi nhau với một nhà vật lý”.    Tuy nhiên, đó chỉ là lời cảnh báo cẩn thận bởi những chú bison ở Fermilab chưa gây ra một vụ đáng tiếc nào với khách tham quan. Chúng vẫn điềm tĩnh đi dạo trên cánh đồng của mình, thậm chí chẳng thèm để ý đến một vài chú sói đồng cỏ chạy qua mũi mình như mấy gã nghịch ngợm trên đường phố. Có lẽ, việc thu hút chúng hơn cả đám đông màu sắc ngoài hàng rào là chiếc xe bán tải màu bạc mà Garcia vẫn dùng để chở cỏ khô và viên thức ăn bổ sung. Chúng vẫn thường đua tốc độ với chiếc xe ngoài hàng rào này để mong được cho ăn thêm.    Theo thời gian, bison đã trở thành một biểu tượng gắn liền với Fermilab, ngay cả bài viết chúc mừng “người anh em” Fermilab ở tuổi 50 thì CERN cũng không quên dành một dòng cho chúng. Rõ ràng, đàn bison có thể không những là tâm điểm của phòng thí nghiệm này trong vòng hơn 50 năm qua mà cả trong thời gian tới, khi tâm điểm của vật lý năng lượng cao vẫn được đặt dưới những đôi móng guốc của chúng. □     Tô Vân tổng hợp  Nguồn: Fermilab: Physics, the Frontier, and Megascience  https://ecology.fnal.gov/    Ngay thời điểm ban đầu, Wilson đã thấy rõ vai trò của bison với Fermilab cũng như tầm quan trọng của sự giao hòa giữa nghệ thuật và khoa học, quảng bá khoa học. Đó là lý do ông mời Angela Gonzales, một nữ nghệ sĩ thiết kế tài năng về làm việc tại Fermilab. Angela Gonzales đã thực hiện ý tưởng của Wilson muốn thể hiện về mặt thị giác một phòng thí nghiệm đổi mới và sáng tạo, phản chiếu nó bằng màu sắc, điêu khắc, kiến trúc… Trong suốt ba thập kỷ làm việc tại Fermilab, bà đã tạo nên những nét đặc sắc và tính thẩm mĩ của gần như mọi khía cạnh của nơi này. Angela Gonzales thiết kế logo chính thức cho Fermilab – một sự kết hợp giữa hình ảnh các nam châm lưỡng cực và tứ cực sử dụng trong các máy gia tốc để định hướng các chùm hạt, và một thiết kế đồ họa trở thành biểu tượng phi chính thức – một thiết kế ấn tượng và hài hòa đến lạ lùng với các chi tiết là tòa nhà trung tâm (Wilson Hall), logo, máy gia tốc, các hạt quark, meson, boson và dĩ nhiên cả sứ giả của tự nhiên là những con bison.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bkav 2013 giúp bảo vệ máy tính bằng công nghệ đám mây      Phần mềm diệt virus Bkav 2013 vừa được chính  thức ra mắt ngày 7/5, sử dụng công nghệ điện toán đám mây và bổ sung  nhiều tính năng mới giúp bảo vệ toàn diện máy tính người dùng.    Nhà sản xuất cho biết, phần mềm Bkav 2013 sử dụng công nghệ điện toán đám mây được bổ sung nhiều tính năng mới như: Công nghệ Phòng vệ dựa trên cộng đồng BCOS (Bkav Community-based protection Online System) là tấm lá chắn kết nối trực tuyến với hệ thống đám mây Bkav, phân tích, đánh giá độ phổ biến trong cộng đồng của các file thực thi, qua đó phát hiện và loại bỏ những mối nguy hiểm trên máy tính của người sử dụng; Công nghệ Real-time Rootkit Detection – Bước đột phá trong hệ thống phòng thủ chống rootkit, có khả năng thông minh phát hiện sớm các loại rootkit ngay cả khi phần mềm chưa được cập nhật mẫu nhận diện.  Đáng chú ý, Bkav 2013 trang bị tính năng bàn phím ảo Virtual Keyboard, giúp người sử dụng thay thế bàn phím vật lý của máy tính để nhập liệu trong các giao dịch quan trọng như nhập mật khẩu, nhập thông tin tài khoản ngân hàng, tránh bị theo dõi, lấy cắp thông tin.  Ngoài ra, phần mềm này còn được trang bị công nghệ Share-full Protection bảo vệ các ổ đĩa chia sẻ trong mạng LAN, giám sát sự truy cập từ các máy tính khác trong mạng LAN, cảnh báo và tiêu diệt virus ngay khi phát hiện có dấu hiệu xâm nhập.  Được biết, trước khi sản phẩm ra mắt chính thức đã có hơn 1 triệu khách hàng đầu tiên được nâng cấp lên phiên bản mới nhất. “Quá trình nâng cấp sẽ mở rộng cho toàn bộ khách hàng ngay sau khi Bkav 2013 ra mắt và dự kiến hoàn tất trong khoảng 1 tháng” – ông Vũ Ngọc Sơn, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu của Bkav cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bkav tiếp tục được ưa chuộng nhất      Phần mềm diệt virus Bkav tiếp tục vượt qua các sản phẩm của nước  ngoài, là Kaspersky  và Symantec để giữ vị trí “Sản phẩm An toàn thông tin được người dùng ưa chuộng nhất” năm thứ tư liên tiếp.    Kết quả bình   chọn trên được   Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam – VNISA công bố trong khuôn khổ ngày An toàn thông tin 2012.   Bkav là một trong những phần mềm diệt virus đầu tiên trên thế giới được tích hợp sẵn công nghệ Anti Keylogger, chống lại các hành vi theo dõi thao tác bàn phím, chụp màn hình, chèn mã thực thi vào tiến trình đang chạy và các hành vi lấy cắp thông tin trong clipboard, lấy dữ liệu…  Ông Vũ Ngọc Sơn, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu của Bkav (Bkav R&D), chia sẻ: “Năm 2012 là một năm nhiều khó khăn đối với nền kinh tế. Tuy nhiên thị trường kinh doanh bảo mật không chịu ảnh huởng nhiều vì trong hoàn cảnh hay tình hình nào thì vấn đề về bảo mật, an ninh mạng luôn vẫn là nhu cầu thiết yếu và không thay đổi. Sau nhiều năm xúc tiến thương mại và đẩy mạnh kinh doanh, Bkav đã khẳng định được vị thế thương hiệu. 11 tháng đầu năm 2012, doanh số của Bkav đã tăng 50% so với cùng kỳ năm trước”.  Trong khuôn khổ Ngày An toàn thông tin, Bkav cũng vinh dự nhận được giải Nhất trong lĩnh vực Nhà cung cấp dịch vụ An ninh mạng chuyên nghiệp và Dịch vụ kiểm tra lỗ hổng website (Bkav WebScan) do người dùng bình chọn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Blockchain cải thiện quản lý dữ liệu ở khu vực hành chính công      Ngày nay, cơ quan nhà nước có thể áp dụng những công cụ và công nghệ blockchain vào công tác bảo vệ dữ liệu quan trọng và cải thiện việc quản lý hồ sơ liên quan đến quyền sở hữu tài sản và thành lập công ty. Về lâu dài, khi công nghệ blockchain đạt tới mức độ trưởng thành, các chính phủ cũng có thể sử dụng công nghệ này để kết nối các dịch vụ công.    Quản lý dữ liệu và tài sản số  Bảo vệ dữ liệu quan trọng: Mặc dù các cơ quan nhà nước vẫn luôn nỗ lực bảo vệ hệ thống thông tin của mình ở mức độ tốt nhất, nhưng bất cứ ai sử dụng dịch vụ công đều lo lắng tội phạm có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu của chính phủ để ăn cắp hoặc làm sai lạc hồ sơ.  Năm 2015, tin tặc đã thu được thông tin cá nhân, số an sinh xã hội, dấu vân tay, lịch sử việc làm và thông tin tài chính của khoảng 20 triệu người đã được chính phủ Hoa Kỳ kiểm tra lý lịch. Các phương thức mã hóa không bao giờ có thể an toàn 100%, nhưng công nghệ blockchain có thể khiến cho các mối đe dọa như vậy khó được thực hiện thành công. Ví dụ, Estonia đang triển khai một công nghệ có tên là Keyless Signature Infrastructure (Hạ tầng chữ ký phi khóa – KSI) để bảo vệ tất cả các dữ liệu của khối cơ quan nhà nước. KSI tạo ra các giá trị băm (hash values) đại diện duy nhất cho những lượng lớn dữ liệu với vai trò là những giá trị số nhỏ hơn. Các giá trị băm có thể được sử dụng để xác định các bản ghi mà không thể được sử dụng để tái tạo lại thông tin ở chính tệp đó. Các giá trị băm cũng được lưu trữ trong một blockchain và phân bố trên một mạng riêng của các máy tính của chính phủ. Bất cứ khi nào một tập tin cơ bản thay đổi, một giá trị băm mới được nối vào chuỗi và thông tin này sẽ không còn có thể được thay đổi. Lịch sử của mỗi bản ghi là hoàn toàn minh bạch và giả mạo trái phép từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống có thể được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. KSI cho phép các quan chức chính phủ theo dõi những thay đổi trong nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau như: ai thay đổi bản ghi, thay đổi những gì và khi nào những thay đổi này được thực hiện. Hồ sơ y tế điện tử của tất cả các công dân Estonia đang được quản lý bằng cách sử dụng công nghệ KSI và quốc gia này đang dự định áp dụng KSI vào tất cả các cơ quan chính phủ và các công ty tư nhân trong nước.  Số hóa quyền sở hữu tài sản: Quá trình sở hữu và chuyển giao tài sản, dù là tài sản vật chất hay các công cụ tài chính, thường liên quan đến nhiều thủ tục hành chính và các loại giấy tờ sổ sách. Các cơ quan chính phủ có thể cắt giảm mạnh những thủ tục phiền hà này bằng cách số hóa thông tin về quyền sở hữu tài sản và lưu trữ nó trên thẻ ghi blockchain. Việc sử dụng công nghệ blockchain của chính phủ Thụy Điển trong lĩnh vực này là một ví dụ tiêu biểu. Khi thực hiện các giao dịch bất động sản ở Thụy Điển, số tiền đặt cọc rất cao. Giá trị tích lũy của tất cả các tài sản toàn quốc hiện tại là hơn 11 nghìn tỷ Krona của Thuỵ Điển, gấp ba lần giá trị GDP của Thụy Điển. Vì vậy, đăng ký và chuyển nhượng tài sản là nhiệm vụ nặng nề đối với đất nước này. Lantmäteriet, cơ quan đăng ký đất đai của nước này, đã tìm cách để số hóa quy trình này. Cơ quan này đang thử nghiệm một ứng dụng di động cung cấp không gian giao dịch cho người bán và người mua cũng như các đại lý bất động sản và ngân hàng. Một blockchain sẽ ghi lại thông tin chi tiết về các tài sản đang được bán cũng như từng bước trong quá trình giao dịch. Liên lạc giữa tất cả các bên trong quá trình giao dịch sẽ trở nên minh bạch hơn. Tài liệu giấy, thường dài hàng trăm trang, sẽ trở nên dư thừa. Nếu được triển khai, ứng dụng mới này được kỳ vọng sẽ giảm thời gian cần  để hoàn thành một giao dịch từ ba đến sáu tháng còn chỉ trong vài ngày, trong một số trường hợp thậm chí chỉ còn vài giờ.  Nước Cộng hòa Gruzia cũng vừa tuyên bố họ sẽ thử nghiệm một công nghệ tương tự, cho phép người dân và các công ty sử dụng ứng dụng điện thoại thông minh để mua và chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản trong một thời gian ngắn và với chi phí hạn chế. Hiện tại, quy trình chuyển giao tài sản mang tính thủ công; người nộp đơn có thể mất đến một ngày chờ đợi xếp hàng tại nơi đăng ký của nhà nước và phải trả từ 50 USD đến 200 USD để hoàn tất giao dịch. Theo một phân tích về giao dịch bất động sản ở tất cả các quốc gia trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), người mua phải trả ít nhất 3,5 tỷ đô la một năm phí hành chính để đăng ký mua nhà. Số hóa quy trình sẽ làm giảm đáng kể chi phí dịch vụ này của chính phủ và góp phần tiết kiệm cho người dân.  Ngoài ra, một lợi ích khác của việc sử dụng blockchain để theo dõi quyền sở hữu tài sản là những người trong cuộc cũng có thể tham gia giám sát khiến cho nhân viên chính phủ khó lòng thao túng thông tin trái phép. Việc này có thể khiến cho quyền sở hữu trở nên an toàn hơn ở những nơi mà quy định pháp luật vẫn còn lỏng lẻo và nguy cơ lạm dụng quyền lực cao.  Đăng ký thành lập doanh nghiệp bằng quy trình thông minh: Tiểu bang Delaware của Hoa Kỳ đang trong giai đoạn đầu thiết lập các dịch vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp dựa trên các bản ghi blockchain và các hợp đồng thông minh, thay vì các trao đổi trên giấy. Quy trình thành lập doanh nghiệp liên quan đến việc nộp các tài liệu cần thiết, thiết lập một đơn vị có tư cách pháp nhân cụ thể, tổ chức các cuộc họp hành chính, phát hành cổ phiếu, áp dụng luật pháp, v.v. Một hướng tiếp cận kỹ thuật số đối với việc đăng ký thành lập công ty sẽ có lợi, đặc biệt khi ngày càng nhiều công ty tư nhân có cấu trúc vốn phức tạp, các cổ đông khác nhau có các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Các quy định về các khoản đầu tư cụ thể trong một doanh nghiệp có thể được hình thành với vai trò là các hợp đồng thông minh được nhúng trong một blockchain. Blockchain này sau đó có thể được sử dụng để tự động hóa thủ tục bỏ phiếu hoặc đảm bảo tuân thủ các quy định về thời gian và cách thức các nhà đầu tư có thể bán cổ phần của họ.  Xây dựng các dịch vụ công kết nối  Chính phủ nắm rất nhiều thông tin về các cá nhân và tổ chức nhờ tất cả dữ liệu họ thu thập được. Tuy nhiên, do thông tin này tồn tại ở các cơ quan và các bộ chuyên trách nên việc sử dụng chúng thường không được phát huy tối đa. Các cơ quan dịch vụ xã hội thường có ít hoặc không có quyền truy cập trực tiếp vào thông tin về các tương tác của khách hàng với các cơ quan công quyền khác. Ngoài ra, việc thu thập thông tin như vậy có thể là một nỗ lực đòi hỏi tốn thời gian và sức lực. Ví dụ, tại một nước ở vùng Scandinavia, những công chức chịu trách nhiệm lập kế hoạch cho các chương trình phục hồi nhân phẩm của tội phạm bị kết án đã phải mất rất nhiều ngày làm việc của họ để tìm thông tin về những cá nhân này từ rất nhiều cơ quan chính phủ khác nhau.  Xét trên khía cạnh kỹ thuật, không có lý do chính đáng nào để không chia sẻ giữa liệu. Nhiều chính phủ đã nỗ lực thành lập các kho dữ liệu trung tâm hoặc hệ thống thông tin doanh nghiệp để chia sẻ thông tin giữa các cơ quan. Tuy nhiên, điểm quan trọng mấu chốt là vấn đề an ninh. Cũng giống như các cơ quan quản lý ở khu vực tư nhân, các cơ quan nhà nước không thể, trong mọi trường hợp, để dữ liệu nhạy cảm có thể được truy cập một cách bừa bãi. Điều thiết yếu ở đây là một môi trường trong đó dữ liệu có thể dễ dàng được chia sẻ trên các hệ thống nhưng các cá nhân và tổ chức vẫn có thể lấy lại quyền sở hữu dữ liệu của họ và kiểm soát luồng thông tin cá nhân như người xem thông tin, những thông tin họ xem và tại thời điểm nào.  Công nghệ blockchain mới nổi sẽ có thể góp phần giải quyết những vấn đề như vậy. Mỗi cá nhân hoặc tổ chức sẽ có tất cả các dữ liệu liên quan về họ (ví dụ như thông tin cá nhân cơ bản hoặc hồ sơ tương tác trước đó với các cơ quan chính phủ) được lưu trữ trong sổ cái riêng trong một cơ sở dữ liệu blockchain được mã hóa. Cá nhân hoặc công ty có thể truy cập vào những sổ cái này qua Internet. Sau đó, người dùng cuối có thể cho phép cơ quan nhà nước có quyền đọc hoặc thay đổi những yếu tố cụ thể của sổ cái cá nhân của họ bằng cách sử dụng “mã hóa khóa công khai và khóa cá nhân”. Họ có thể sử dụng khóa công khai để chia sẻ có chọn lọc thông tin liên quan đến giao dịch dịch vụ cụ thể với các cơ quan. Hoặc họ có thể cung cấp khóa riêng cho các cơ quan để truy cập một lần vào dữ liệu của họ.  Trong một số trường hợp, hợp đồng thông minh có thể lộ một số thông tin nhất định cho các cơ quan được chỉ định nếu thỏa mãn các điều kiện được xác định trước. Ví dụ, nếu người nhận trợ cấp thất nghiệp bị tù, thông tin đó có thể được chuyển tới cơ quan lao động để dừng các khoản thanh toán trong thời hạn bản án. Các cơ quan nhà nước sẽ có thể sử dụng một phần thông tin cụ thể cho mục đích theo thẩm quyền nhưng sẽ không có quyền truy cập không giới hạn vào tất cả dữ liệu của người dùng cuối.  Sử dụng các sổ cái blockchain sẽ làm giảm nguy cơ truy cập trái phép (thông qua cơ chế mã hóa mạnh) và thao túng sửa đổi dữ liệu (thông qua các dấu vết kiểm toán giả mạo). Thật vậy, các dịch vụ công có thể trở được kết nối thực sự, mà không vi phạm nghiêm trọng tới quyền riêng tư. Các cá nhân và công ty sẽ không còn cần phải mất nhiều thời gian điền vào các biểu mẫu những thông tin mà họ đã cung cấp cho chính phủ. Còn các cơ quan nhà nước có thể điều chỉnh dịch vụ của họ để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, thay vì triển khai những phương hướng dạng “một kiểu cho tất cả”.  Phân phối phúc lợi xã hội hiệu quả hơn  Rất nhiều người hưởng trợ cấp phúc lợi không được ngân hàng hỗ trợ và phải đối mặt với các rào cản tài chính như kiểm tra tín dụng, tiếp cận tới các sản phẩm tài chính truyền thống và chi phí giao dịch. Blockchain mang lại một phương tiện rẻ tiền và mang tính hỗ trợ để giúp những người này hưởng trợ cấp theo phương thức đơn giản và chi phí thấp.  Với ứng dụng này, danh tính số hóa có thể được xác thực thông qua các sổ cái phân tán chạy trên các thiết bị được mã hóa an toàn, hoặc thậm chí thông qua phần mềm trên thiết bị di động, cho phép người dùng cuối được hưởng quyền lợi một cách trực tiếp, làm giảm chi phí giao dịch đối với ngân hàng hoặc chính quyền địa phương. Việc này cho phép công nghệ này có thể được tích hợp vào một hệ thống ngân hàng thông qua một điểm phân bố an toàn, đáng tin cậy hơn một tài khoản ngân hàng. Giải pháp như vậy cũng có thể được liên kết với các hệ thống khác để giảm mức độ gian lận và lỗi của nhân viên trong việc phân phối phúc lợi, vì sẽ khó giả mạo danh tính hơn.  Áp dụng công nghệ blockchain vào quá trình đăng ký và thanh toán các khoản trợ cấp và phúc lợi của chính phủ sẽ giúp ngăn chặn tổn thất tài chính thông qua gian lận và lỗi, hỗ trợ cho những công dân dễ bị tổn thương nhất bằng cách mang lại cho họ ích lợi của tài chính toàn diện, hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu chính sách rộng lớn hơn của chính phủ, đặc biệt là đưa mọi người thoát khỏi đói nghèo một cách bền vững.  Phương Anh  Trích từ báo cáo “Công nghệ Sổ cái phân bố: Vượt ra khỏi Blockchain” của Mark Walport  Chú thích:  Định nghĩa về Hợp đồng thông minh  “Hợp đồng thông minh là hợp đồng có các điều khoản được ghi bằng ngôn ngữ máy tính thay vì ngôn ngữ pháp lý. Các hợp đồng thông minh có thể được tự động thực hiện bởi một hệ thống máy tính, chẳng hạn như một hệ thống sổ cái phân phối phù hợp. Những lợi ích tiềm năng của các hợp đồng thông minh bao gồm chi phí hợp đồng, thực thi, và tuân thủ thấp; do đó rất khả thi về mặt kinh tế để hình thành các hợp đồng qua nhiều giao dịch có giá trị thấp. Rủi ro tiềm ẩn bao gồm sự phụ thuộc vào hệ thống tính toán thực thi hợp đồng. Ở giai đoạn này, rủi ro và lợi ích phần lớn mang tính lý thuyết bởi vì công nghệ của các hợp đồng thông minh vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, và có thể còn rất lâu mới được triển khai rộng rãi”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Blockchain: Hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu giảm phát thải      Trong bối cảnh biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề toàn cầu nghiêm trọng, Việt Nam đã đưa ra cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.    TS. Phạm Nguyễn Anh Huy, giảng viên cấp cao ngành tài chính tại Đại học RMIT Việt Nam, tin rằng một số giải pháp tài chính bền vững – như trái phiếu xanh hay tín chỉ carbon – có khả năng hỗ trợ nước ta đạt mục tiêu giảm phát thải.    Trên thực tế, Việt Nam đang tích cực tham gia vào thị trường trái phiếu xanh (green bond, tức các loại trái phiếu huy động vốn vay cho những dự án mang lại lợi ích về môi trường) và đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á về phát hành trái phiếu xanh sau Singapore, theo Báo cáo tài chính bền vững ASEAN năm 2021 của Climate Bonds Initiative và HSBC. Hơn 80% số trái phiếu này là trái phiếu chính phủ, chủ yếu thuộc lĩnh vực giao thông và năng lượng.        Sự tăng trưởng gấp đôi của thị trường trái phiếu xanh ở Việt Nam trong năm 2021, cũng như việc phân bổ số tiền thu được từ trái phiếu cho các dự án xanh đủ điều kiện đều là những tín hiệu tốt. Tuy nhiên, cần có cơ chế giám sát và định lượng hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính của các dự án này.    Bên cạnh đó, Chính phủ đã có kế hoạch thí điểm hạn mức phát thải và mô hình mua bán tín chỉ phát thải carbon (carbon credit) từ năm 2025. Về cơ bản, Chính phủ sẽ đặt ra trần hạn chế phát thải đối với các ngành công nghiệp cụ thể; theo đó, doanh nghiệp nào vượt quá mức cho phép sẽ phải mua các tín chỉ mới để tăng giới hạn phát thải của họ.    Trên thế giới còn đang phổ biến cách tiếp cận thị trường bù đắp carbon (carbon offset) và các doanh nghiệp có thể tham gia vào thị trường này một cách tự nguyện. Thị trường bù đắp carbon cho phép các bên mua bán giấy tờ chứng minh họ đã bù đắp một lượng khí thải bằng cách tài trợ cho các dự án giảm phát thải CO2 tương đương ở những nơi khác.    Tuy vậy, cách tiếp cận này đang bị chỉ trích bởi những doanh nghiệp hoặc quốc gia giàu có thể dễ dàng trả tiền để bù đắp lượng khí thải mà họ phát ra trong khi không thể đảm bảo rằng các dự án giảm phát thải CO2 mà họ tài trợ hoạt động hiệu quả.    Do vậy, cần có cơ chế đảm bảo rằng các doanh nghiệp tham gia vào thị trường bù đắp carbon không chỉ mua lượng carbon bù đắp mà còn phải nỗ lực thực sự để giảm lượng khí thải CO2 của mình hoặc chứng minh được các dự án mà họ tài trợ thực sự góp phần giảm CO2.    Một khía cạnh khác mà Việt Nam cần lưu ý là tăng cường khả năng theo dõi, ghi chép và giám sát phát thải ròng để biết được tình hình thực hiện cam kết Net Zero và có những biện pháp can thiệp thích hợp.    Là sáng lập viên của trung tâm FinTech-Crypto RMIT, TS. Phạm Nguyễn Anh Huy cho rằng, ở tất cả những điểm kể trên đều có thể ứng dụng công nghệ blockchain để “token hóa CO2” nhằm theo dõi phát thải một cách hiệu quả, chính xác và đáng tin cậy.    Mã token CO2 (đại diện cho một tấn CO2 được thu giữ, lưu trữ hoặc đo lường) có thể được đúc và sẵn sàng giao dịch sau khi được kiểm chứng bởi một bên xác nhận. Mã cũng có thể bị hủy nếu chủ sở hữu chọn sử dụng nó để bù đắp lượng khí thải carbon của mình.    Phương pháp mã hóa CO2 này được kỳ vọng sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong cơ chế giao dịch phát thải và thị trường bù đắp cacbon hiện tại, qua đó cải thiện quy trình hạch toán cacbon, tăng cường tính thanh khoản của phát thải CO2 và cho phép các chương trình/thị trường giao dịch phát thải liên kết với nhau một cách dễ dàng.    Ngoài lợi ích của token hóa, công nghệ blockchain còn được dùng để cải thiện tình hình báo cáo về môi trường, xã hội và quản trị (báo cáo ESG). Ở cấp độ doanh nghiệp, đây là những báo cáo thường có dữ liệu không minh bạch, không đáng tin cậy và khó theo dõi. Ở cấp độ quốc gia và khu vực, các kế hoạch mua bán khí thải cũng dễ gặp phải hành vi gian lận. Blockchain có thể trở thành công cụ có giá trị để tăng tính minh bạch của các báo cáo và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc phát thải.    Thu Trang    Author                .        
__label__tiasang Bộ công cụ i2Metrix đắt hàng      Sau thời gian điều tra, phỏng vấn và cho ra  kết quả năng lực đổi mới-sáng tạo-cạnh tranh của 19 doanh nghiệp Việt Nam, đến nay bộ công cụ i2Metrix đã  được nhiều doanh nghiệp quan tâm và tiến hành đo.    Điểm đặc biệt, bộ công cụ i2Metrix không chỉ ứng dụng được cho các doanh nghiệp sản xuất lớn, mà ngay cả những cơ sở nhỏ, đơn vị kinh doanh đặc sản làng nghề cũng hoàn toàn có thể áp dụng các tiêu chí của bộ đo này để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của mình.  Mới đây nhất, bên cạnh công ty cổ phần nhựa Rạng Đông, những doanh nghiệp như: Cơ sở chế biến thực phẩm Năm Thụy; cơ sở thu mua chế biến hàng thủy sản Tiến Hải; công ty cồ phần rượu Phú Lễ là những doanh nghiệp đã dùng bộ công cụ i2Metrix thực hiện việc đo lường, khảo sát.  Đáng chú ý, trong những doanh nghiệp trên thì cơ sở chế biến thực phẩm Năm Thụy; cơ sở thu mua chế biến hàng thủy sản Tiến Hải là những cơ sở đặc sản làng nghề của tỉnh Trà Vinh. Còn công ty cồ phần rượu Phú Lễ cũng là một đặc sản nổi tiếng của tỉnh Bến Tre.  Việc bộ công cụ i2Metrix tiến hành đo lường ở những doanh nghiệp đặc sản địa phương này cho thấy, đổi mới sáng tạo không chỉ gói gọn trong những doanh nghiệp lớn, mà càng ở những doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp địa phương. Ở những doanh nghiệp này, tính cấp thiết của đổi mới sáng tạo càng càng trở nên quan trọng để họ tồn tại và mở rộng thị trường, đa dạng sản phẩm…  Dự kiến trong thời gian tới, bộ công cụ i2Metrix sẽ làm việc và tiến hành đo lường tại công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông và Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel.  Tính cho đến thời điểm hiện tại, bộ công cụ i2Metrix đã tiến hành đo lường, khảo sát 25 doanh nghiệp trên nhiều các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.  i2Metrix là bộ chỉ số đo lường năng lực đổi mới-sáng tạo-cạnh tranh của doanh nghiệp do BSA và Công ty nghiên cứu kinh tế và tư vấn kinh doanh Dan Houtte, Vuong & Partners Ltd (DHVP) cộng tác phát triển, cung cấp phương tiện định lượng để kiểm đếm quy mô nguồn lực sáng tạo, hiệu suất sử dụng và gợi ý giải pháp gia tăng hiệu quả khai thác nguồn lực này.  i2Metrix xác định năng lực đổi mới-sáng tạo của doanh nghiệp qua 10 kích thước. Độ lớn của từng kích thước tính bằng trung bình cộng giá trị các chỉ tiêu của kích thước đó. Các giá trị này được cho theo thang điểm từ 1 tới 10. Điểm cao hơn khi hiện trạng hoạt động đổi mới-sáng tạo của doanh nghiệp gần hơn với mong muốn hay kỳ vọng của người đánh giá. Để đảm bảo tính khách quan và giảm thiểu các sai số đánh giá, người đánh giá gồm: (i) nhóm nghiên cứu BSA-DHVP, (ii) doanh nghiệp tự đánh giá; (iii) đại diện giới truyền thông; (iv) chuyên gia; và (v) đại diện người tiêu dùng. Điểm số cho từng chỉ tiêu cụ thể sẽ là giá trị trung bình của điểm số được cho bởi 05 nguồn này.  Các kích thước và chỉ tiêu đo lường cung cấp phương tiện để doanh nghiệp hình dung trực quan về hiện trạng năng lực đổi mới-sáng tạo của chính mình. Từ đó, định hướng và giải pháp cải thiện, tăng cường sức cạnh tranh được xây dựng với sự phân bổ nguồn lực hợp lý hơn. Từng chỉ tiêu định lượng sẽ là những tiêu chí rõ ràng để doanh nghiệp đối chiếu và xác định vị thế với đối thủ cạnh tranh, trong ngành và trên toàn thị trường.  Với những người làm chính sách và nghiên cứu, bộ dữ liệu i2Metrix cung cấp bằng chứng thực nghiệm và chỉ rõ những nội dung cần ưu tiên trọng điểm về nguồn lực, chính sách và giải pháp trong thúc đẩy, hỗ trợ đổi mới-sáng tạo. Trên thị trường, các nhà đầu tư có tín hiệu để nhận biết tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Công chúng tiêu dùng có thêm thông số tin cậy để lựa chọn hàng hóa và dịch vụ cũng như tăng cường hiểu biết một cách trực quan và sinh động về lao động đổi mới-sáng tạo vốn mang tính trừu tượng cao.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ KH&CN luôn đồng hành cùng doanh nghiệp      Tối 25/3 tại lễ công bố Hàng Việt Nam chất  lượng cao 2014 tại TP HCM, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đã trao  bằng khen về Đổi mới sáng tạo của Bộ cho 17 doanh nghiệp tiêu biểu trong  việc ứng dụng KH&amp;CN vào hoạt động sản xuất kinh doanh.    Đây là 17 DN đã nhiệt tình tham gia các hoạt động khuyến khích Đổi mới sáng tạo (ĐMST) của Bộ KH&CN. Lãnh đạo ba doanh nghiệp trong số đó là Thiên Long, Minh Long, Bùi Văn Ngọ cũng tự nguyện tham gia Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ ĐMST ra mắt ngay tại Lễ công bố này.   Tại buổi lễ, tập báo cáo sơ bộ kết quả đo lường năng lực ĐMST qua khảo sát 19 doanh nghiệp dẫn đầu bằng bộ chỉ số i2Metrix do Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA và Công ty nghiên cứu DHVP thực hiện đã được công bố.  Bộ chỉ số đo lường i2Metrix gồm 10 kích thước có thể giúp kiểm đếm quy mô nguồn lực sáng tạo, hiệu suất sử dụng, đồng thời gợi ý giải pháp gia tăng hiệu quả khai thác nguồn lực này cho doanh nghiệp. i2Metrix cung cấp kết quả khảo sát 19 doanh nghiệp thuộc CLB Doanh nghiệp dẫn đầu (LBC) như: PNJ, Casumina, Duy Tân, Minh Long, Vinamit, Thiên Long, Điện Quang… Dự kiến báo cáo chính thức về i2Metrix sẽ được công bố vào tháng 5/2014 tại Việt Nam và trên các tạp chí khoa học quốc tế.  Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng, hiện nay, có nhiều điều kiện để các DN đẩy mạnh hoạt động ĐMST. Như mới đây, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định về phê duyệt chương trình phát triển thị trường công nghệ, đồng thời Bộ KH&CN cũng đẩy mạnh phong trào ĐMST trong DN. “Để các DN mạnh dạn, tự tin trong việc đổi mới, Bộ KH&CN cam kết đồng hành cùng với DN đổi mới công nghệ,” Bộ trưởng nói.  Để hiệu quả của việc đổi mới đạt kết quả cao, Bộ trưởng nhận định rằng DN nên thành lập các trung tâm nghiên cứu – phát triển và coi các trung tâm này là nòng cốt cho việc đổi mới công nghệ. Về nguồn vốn, Bộ KH&CN sẽ hỗ trợ tối đa thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia cũng như Chương trình Đổi mới công nghệ Quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt.  Theo Bộ trưởng, chính những trung tâm này là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ĐMST, từ đó mới đưa ra được nhiều sản phẩm có tính cạnh tranh cao, sẵn sàng chuẩn bị cho việc cạnh tranh trên thị trường quốc tế khi Việt Nam trở thành thành viên của TPP.   Về việc Bộ KH&CN sẽ hỗ trợ hoạt động ĐMST cho các DN, bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó TGĐ công ty Cổ phần Saigon Food, cho rằng đó là một nguồn động viên lớn với những DN đang muốn thay đổi mình trước những thách thức trong những năm tới.  “DN chúng tôi là một trong những đơn vị có tuổi đời trẻ nhất trong số 17 DN được nhận bằng khen của Bộ trưởng về ĐMST, qua đây tôi nhận thấy rằng, không phải được thành lập lâu năm là chắc chắn thành công mà chúng ta phải ĐMST thì chúng ta mới có triển vọng thành công vững chắc. Saigon Food đã đi lên theo hướng đó,” bà Lâm nói.  Trong khi đó, ông Kao Siêu Lực, TGĐ DN tư nhân bánh kẹo Á Châu – ABC, nhấn mạnh, DN muốn thành công phải có bộ phận R&D. “Tôi luôn tâm niệm rằng muốn cạnh tranh, mình phải vươn lên đi đầu, chứ đừng chạy theo người ta về công nghệ, thiết bị. Những máy móc sản xuất bánh kẹo của chính xưởng cơ khí – điện của chúng tôi làm ra hiện nay đã xuất sang nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không đo được hết các chỉ số về năng lực ĐMST, vì thế việc đo lường bằng bộ chỉ số i2Metrix giúp chúng tôi tự hệ thống và đánh giá về chính hoạt động ĐMST của mình và thực sự nó rất cần kíp cho DN,” ông Lực nói.  Trao đổi với các DN, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng 17 doanh nghiệp trên là những doanh nghiệp tiên phong, đi đầu trong hoạt động ĐMST. Bộ trưởng kỳ vọng “không riêng 17 DN Hàng Việt Nam chất lượng cao nói trên trên, mà qua từng năm, số DN được tặng bằng khen về ĐMST như ngày hôm nay sẽ không ngừng tăng lên”.  Năm nay, 476 doanh nghiệp được nhận danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ KH&CN và UBND TP.HCM thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo      Ngày 21/4/2017, Bộ KH&CN và UBND Tp.HCM đã ký kết Chương trình phối hợp công tác giai đoạn 2017 – 2020 với bảy nội dung chính về hợp tác phát triển KH&CN.      Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Chủ tịch UBND Tp.HCM Nguyễn Thành Phong ký kết Chương trình phối hợp hoạt động. Nguồn: Bộ KH&CN  Bảy nội dung chính về hợp tác phát triển KH&CN giữa Bộ KH&CN và UBND Tp.HCM giai đoạn 2017 – 2020 là:  Xây dựng Quy chế phối hợp tham vấn, hướng dẫn, ban hành những cơ chế, chính sách thí điểm nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong lĩnh vực KH&CN và ĐMST; triển khai thí điểm các cơ chế, chính sách đầu tư, tài chính, tín dụng cho khởi nghiệp sáng tạo tại Tp.HCM; xây dựng cơ chế và thúc đẩy sự ra đời của các quỹ Đầu tư mạo hiểm.  Xây dựng Chương trình hợp tác phát triển tiềm lực KH&CN giữa Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC Tp. HCM, đặc biệt hợp tác về đào tạo nhân lực công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, quản lý và chuyển giao công nghệ.  Phối hợp nghiên cứu đề xuất cơ chế, giải pháp đầu tư, nâng cấp Sàn giao dịch công nghệ tại Tp.HCM lên tầm quốc gia; tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) quy mô quốc gia, quốc tế; thúc đẩy các hoạt động đánh giá thực trạng cung cầu công nghệ; kết nối hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học tại Tp.HCM với hạ tầng thông tin KH&CN tiên tiến…  Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại Tp. HCM với việc hỗ trợ đào tạo cán bộ về quản trị ĐMST và khởi nghiệp sáng tạo; chuyển giao một phần các công cụ, phương pháp, kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp từ các đơn vị, dự án ODA do Bộ KH&CN phụ trách; phát triển nền tảng trực tuyến về hệ sinh thái khởi nghiệp, ĐMST quốc gia…  Triển khai chương trình nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học thông qua các chương trình đào tạo.  Phát triển Chương trình đổi mới thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn Tp. HCM; có cơ chế, chính sách thí điểm khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị như hỗ trợ từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia…  Hợp tác trong lĩnh vực phát triển công nghiệp vi mạch, triển khai chương trình phát triển công nghiệp vi mạch Tp.HCM thông qua các chương trình quốc gia do Bộ KH&CN chủ trì.  Cũng trong ngày 21/4/2017, Bộ KH&CN còn ký kết Chương trình phối hợp công tác giai đoạn 2017 – 2020 với ĐH Quốc gia Tp.HCM nhằm cùng thực hiện: “Chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ”; Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020, Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020; hỗ trợ ứng dụng và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và các nhóm nghiên cứu ứng dụng; đầu tư đưa một số tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thuộc ĐH Quốc gia TpHCM đạt trình độ khu vực và thế giới…    Author                T. H        
__label__tiasang Bộ Năng lượng Mỹ đầu tư 6 tỷ USD vào chương trình năng lượng hạt nhân      Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) vừa công bố Chương trình Tín dụng Hạt nhân Dân sự trị giá 6 tỷ đô la để hỗ trợ các lò phản ứng hạt nhân của Hoa Kỳ.    Là nguồn cung cấp năng lượng sạch lớn nhất của Hoa Kỳ, Thông báo ý định (NOI) và Yêu cầu cung cấp thông tin (RFI) của DOE là những bước đầu tiên để tránh đóng cửa các lò phản ứng hạt nhân sớm. Mục tiêu là giữ lại hàng ngàn công việc trong ngành năng lượng sạch được trả lương cao trong khi tránh phát thải carbon.    Bộ trưởng Năng lượng, bà Jennifer M. Granholm cho biết: “Các nhà máy điện hạt nhân là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu về khí hậu của Tổng thống Biden và DOE cam kết nhằm duy trì nguồn điện không carbon cũng như ngăn chặn việc đóng cửa sớm các nhà máy điện hạt nhân. Luật Cơ sở hạ tầng cho phép chúng ta tận dụng cơ sở hạ tầng năng lượng sạch hiện có, tăng cường an ninh năng lượng và bảo vệ việc làm của Hoa Kỳ. DOE đang tạo điều kiện cho sự phát triển của các công nghệ thế hệ tiếp theo mà cuối cùng có thể làm giảm lượng khí thải và tăng cường lực lượng lao động năng lượng sạch”.    Theo DOE, năng lượng hạt nhân hiện cung cấp 52% ​​lượng điện không có carbon của quốc gia. Hiện có bốn lò phản ứng trên khắp Virginia tạo ra điện hạt nhân.    Luật Cơ sở hạ tầng mới đã tạo ra Chương trình Tín dụng Hạt nhân Dân sự (CNC), cho phép chủ sở hữu hoặc người vận hành các lò phản ứng thương mại của Hoa Kỳ đăng ký chứng nhận và đấu thầu cạnh tranh các khoản tín dụng để hỗ trợ công việc.    RFI mới của DOE tìm kiếm thông tin đầu vào về cấu trúc và việc thực hiện Chương trình CNC, bao gồm quy trình chứng nhận và tiêu chí đủ điều kiện, lời mời nộp hồ sơ dự thầu cho các khoản tín dụng và việc phân bổ các khoản tín dụng.  Trần Thiện Phương Anh tổng hợp  Nguồn: https://www.wfxrtv.com/news/regional-news/virginia-news/energy-department-invests-6-billion-into-nuclear-energy-program-including-4-nuclear-locations-in-virginia/amp/  https://www.energy.gov/articles/doe-establishes-6-billion-program-preserve-americas-clean-nuclear-energy-infrastructure    Author                .        
__label__tiasang Bộ Năng lượng Mỹ: Tài trợ 4,5 triệu USD cho 10 dự án hạt nhân của trường ĐH Bắc Carolina      Các nhóm nghiên cứu thuộc Khoa kỹ thuật hạt nhân, Đại học bang Bắc Carolina đã nhận được tài trợ có tổng giá trị gần 4,5 triệu USD cho 10 dự án của trường từ Bộ Năng lượng Mỹ.      Các nhà nghiên cứu của Đại học bang Bắc Carolina giành khoản tài trợ, trong đó có giáo sư Đinh Trúc Nam (thứ ba từ phải sang)  Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) đã công bố các khoản tài trợ trị giá hơn 65 triệu đô la dành cho lĩnh vực nghiên cứu năng lượng hạt nhân, phát triển công nghệ mới, tiếp cận và truy cập cơ sở hạt nhân, và cơ sở hạ tầng đã được công bố trao tặng cho 93 dự án công nghệ hạt nhân tiên tiến tại 28 bang nước Mỹ. Những khoản tài trợ này nằm trong các chương trình năng lượng hạt nhân của DOE, bao gồm chương trình hỗ trợ các trường đại học Năng lượng hạt nhân (NEUP), chương trình Công nghệ thúc đẩy năng lượng hạt nhân (NEET) và chương trình Cấp quyền tiếp cận và truy cập cơ sở hạt nhân cho người dùng (NSUF).  Các khoản tài trợ cho 10 dự án của các nhóm thuộc Khoa kỹ thuật hạt nhân, Đại học bang Bắc Carolina có tổng giá trị gần 4,5 triệu USD. Một trong những dự án này do GS Đinh Trúc Nam, một chuyên gia hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực an toàn hạt nhân, chủ trì. Là người luôn quan tâm đến sự phát triển của khoa học hạt nhân Việt Nam, giáo sư Đinh Trúc Nam thường xuyên trao đổi, tư vấn với các nhà lãnh đạo của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam về những vấn đề liên quan đến phát triển điện hạt nhân nói riêng cũng như nghiên cứu phát triển năng lượng hạt nhân nói chung, đặc biệt là vấn đề về đào tạo nguồn nhân lực trẻ.  Trong số những nhà nghiên cứu của Khoa công nghệ hạt nhân nhận được tài trơ của Bộ Năng lượng Mỹ còn có giáo sư Ayman Hawari, Giám đốc Chương trình lò phản ứng hạt nhân của Bang Bắc Carolina.  Nhóm nghiên cứu của ông tham gia phát triển, quản lý lò phản ứng PULSTAR tại Bắc Carolina. Với sự hỗ trợ của ông, các nhà nghiên cứu của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã được tiếp nhận làm việc tại đây. Vào năm 2017, GS Ayman Hawari đã sang Việt Nam tham dự Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc (VINANST-12) tại Nha Trang, Khánh Hòa.  Cụ thể các dự án được nhận các khoản tài trợ như sau:  Tài trợ nghiên cứu và phát triển  Ge Yang (chủ nhiệm đề tài) và Mohamed Bourham (đồng chủ nhiệm): FC-4.2: Spent Fuel and Waste Disposition: Storage & Transportation, “FC Flexible Hard Ceramic Coatings by Ultrasonic Spray Mist-CVD for Dry Storage Canisters of Spent Nuclear Fuel and Waste” (Phủ lớp gốm cứng dẻo FC bằng máy phun sương siêu âm – CVD cho các thùng lưu giữ khô các nhiên liệu và chất thải hạt nhân đã qua sử dụng), 800.000. USD.  Stephen Terry (chủ nhiệm đề tài) và J Michael Doster (đồng chủ nhiệm):NE-2: Integrated Energy Systems Design & Modeling, “Creation of Multiple Effect Evaporator and Combined Cycle Modelica Modules, and Optimization of Potable Water Generation from Saltwater Sources” (Chế tạo các thiết bị bay hơi đa hiệu ứng và các mô-đun Modelica chu trình kết hợp, và tối ưu hóa việc tạo ra nước sạch từ các nguồn nước mặn), 498.532.USD (hợp tác với Konor Frick (Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho);  Maria Avramova (chủ nhiệm đề tài) và Kostadin Ivanov (đồng chủ nhiệm) – Integral Benchmark Evaluations (MSNE-1), “Benchmark Evaluation of Transient Multi-Physics Experimental Data for Pellet Cladding Mechanical Interactions” (Đánh giá bài toán chuẩn của số liệu thí nghiệm đa-vật lý ở trạng thái chuyển tiếp cho tương tác cơ học giữa viên nhiên liệu và lớp vỏ thanh nhiên liệu), 400.000.USD;  Djamel Kaoumi (chủ nhiệm đề tài) và Alexander Bataller (đồng chủ nhiệm) RC-9: Elucidating how water chemistry affects the corrosion sensitivity of pristine stainless steel in nuclear power plants, “Corrosion Sensitivity of Stainless Steels in Pressurized Water Reactor Water Chemistry: Can KOH replace LiOH in PWRs?” (Độ nhạy của sự ăn mòn đối với thép không gỉ do tác động hóa học của nước trong lò phản ứng nước áp lực (PWR): KOH có thể thay thế LiOH trong PWR được không?), 800.000 USD  Tài trợ về nghiên cứu cơ sở hạ tầng  Cơ sở hạ tầng khoa học tổng hợp  Tasnim Hassan (chủ nhiệm đề tài), Murty, Ge Yang, Djamel Kaoumi, Jacob Eapen (đồng chủ nhiệm) – General Scientific Infrastructure Support, ”Development of an In-Situ Testing Laboratory for Research and Education of Very High Temperature Reactor Materials” (Phát triển phòng thí nghiệm thử nghiệm phục vụ nghiên cứu và đào tạo về vật liệu lò phản ứng ở nhiệt độ rất cao), 261.175 USD  Tài trợ cho các dự án hợp tác nghiên cứu  Igor Bolotnov và Đinh Trúc Nam (đồng chủ nhiệm đề tài)  Elia Merzari (trường đại học Bang Penn chủ nhiệm đề tài) – IRP NEAMS 1.1: Thermal-Fluids Applications in Nuclear Energy, “Center of Excellence for Thermal-Fluids Applications in Nuclear Energy: Establishing the knowledgebase for thermal-hydraulic multiscale simulation to accelerate the deployment of advanced reactors” (Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về Ứng dụng chất lỏng – nhiệt trong năng lượng hạt nhân: Thiết lập nền tảng kiến thức về mô phỏng thủy nhiệt đa qui mô để đẩy nhanh việc triển khai các lò phản ứng tiên tiến), NCSU nhận tài trợ 600.000 USD;  Ayman Hawari (đồng chủ nhiệm) – Charles Forsberg (MIT, chủ nhiệm đề tài) – IRP Reactor Concepts, “Molten Salt Reactor Test Bed with Neutron Irradiation” (Bệ thử lò phản ứng muối nóng chảy với chiếu xạ nơ-tron), NCSU cùng nhận 1.300.000 USD;  Tài trợ về tiếp cận truy cập cơ sở hạt nhân cho người dùng  Ayman Hawari – lò phản ứng PULSTAR là cơ sở chiếu xạ cùng tham gia đề xuất NEUP NSUF với James J. Wall (chủ nhiệm đề tài) từ EPRI, NSUF 1.1, “Irradiation of Sensors and Adhesive Couplants for Application in LWR Primary Loop Piping and Components” (Chiếu xạ các cảm biến và chất dính tại khớp nối phục vụ ứng dụng trong các thành phần và đường ống vòng lặp sơ cấp của lò LWR), NCSU cùng được chia sẻ 220.000 USD;  Djamel Kaoumi (chủ nhiệm đề tài) –  NSUF-2.1: Core and Structural Materials, “Synergy of radiation damage with corrosion processes through a separate effect investigation approach” (Hiệu ứng tổng hợp của các hư hại do bức xạ cùng với các quá trình ăn mòn thông qua cách tiếp cận điều tra hiệu ứng riêng biệt);  Murty (chủ nhiệm đề tài) – NSUF 2.1: Core and Structural Materials, “Effect of neutron irradiation on microstructure and mechanical properties of nanocrystalline nickel” (Ảnh hưởng của chiếu xạ nơ-tron đến cấu trúc vi mô và tính chất cơ học của niken tinh thể nano).  Ông Dan Brouillette, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Mỹ, nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc tài trợ cho trường đại học Bắc Carolina cũng như nhiều trường đại học và cơ sở nghiên cứu khác của Mỹ: “Thúc đẩy thế hệ năng lượng hạt nhân tiếp theo là nhiệm vụ tối quan trọng nhằm đảm bảo nguồn điện sạch, đáng tin cậy cho người dân Mỹ. Nếu chúng ta muốn thực hiện một cách nghiêm túc để đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm phát thải khí nhà kính thì năng lượng hạt nhân không khí thải phải là một phần của chiến lược này. Nhận ra tầm quan trọng của năng lượng hạt nhân, chính phủ.đã thể hiện cam kết khôi phục  dạng năng lượng đáng tin cậy nhất này với việc đầu tư cho 93 dự án trải rộng trên 28 bang khác nhau”.  TS. Rita Baranwal, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Năng lượng hạt nhân cũng cho biết thêm, “Đầu tư vào các chương trình như thế này có thể củng cố thêm vị thế dẫn dầu của Mỹ trong công cuộc đổi mới ngành hạt nhân. DOE muốn tiếp tục tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu quyền tiếp cận và truy cập vào cơ sở hạ tầng và phòng thí nghiệm hiện đại nhất để phát triển các công nghệ hạt nhân tiên tiến”.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.ne.ncsu.edu/news/2020/nc-state-nuclear-engineering-faculty-win-ten-10-u-s-department-of-energy-research-awards/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ nhớ từ đơn nguyên tử đầu tiên trên thế giới      Công nghệ mới này có tiềm năng cho phép tăng bộ nhớ máy tính lên gấp 1000 lần.      Các ổ cứng hiện tại đều sử dụng các nam châm được làm từ một triệu nguyên tử để lưu trữ một bit dữ liệu.  Nếu bẻ đôi một nam châm, nó sẽ trở thành hai miếng nam châm nhỏ hơn. Tiếp tục chia đôi sẽ tạo thành bốn miếng nam châm. Nhưng càng có nhiều miếng nam châm nhỏ hơn thì chúng lại càng dễ trở nên thiếu ổn định hơn; các từ trường của chúng có xu hướng lật cực của chúng liên tiếp. Thế nhưng giờ đây, các nhà vật lý đã kiểm soát được hiện tượng này và chế tạo ra một nam châm ổn định từ một nguyên tử.  Nhóm nghiên cứu vừa mới công bố công trình của họ trên tạp chí Nature vào ngày 8/3, đã sử dụng những nam châm đơn nguyên tử để tạo ra một ổ cứng nguyên tử. Thiết bị có thể ghi lại này được làm từ hai nam châm như vậy, có khả năng lưu trữ hai bit của dữ liệu nhưng các hệ thống được thiết kế với quy mô lớn có thể tăng thêm bộ nhớ ổ cứng với mật độ tăng lên 1.000 lần, Fabian Natterer, nhà vật lý tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ (EPFL), và là tác giả của công bố, cho biết.  “Đây là một thành công đáng ghi nhớ. Cuối cùng, sự ổn định từ tính trong một nguyên tử đơn lẻ đã được chứng minh một cách thuyết phục,” Sander Otte, nhà vật lý tại ĐH Công nghệ Delft (Hà Lan) nhận xét.  Bên trong một ổ cứng thông thường là một đĩa phân nhỏ thành các khu vực bị từ hóa – mỗi khu vực giống như một thanh nam châm tí hon – các từ trường của chúng có thể hướng lên trên hay xuống dưới. Mỗi hướng đó có thể biểu diễn thành số 1 hay 0 – đơn vị của data được gọi là một bit. Các khu vực bị từ hóa càng nhỏ hơn, càng nhiều dữ liệu có mật độ cao hơn có thể được lưu trữ. Nhưng các vùng được từ hóa phải ổn định, để những số mã hóa 1 hoặc 0 bên trong ổ cứng không bị thay đổi không định được trước.  Những bit thương mại hiện nay bao gồm khoảng một triệu nguyên tử. Nhưng trong các thí nghiệm, các nhà vật lý đã rút số lượng các nguyên tử cần thiết để lưu trữ một bit – từ 12 nguyên tử vào năm 2012 xuống chỉ còn một nguyên tử như vừa công bố. Natterer và nhóm nghiên cứu của ông đã dùng các nguyên tử của nguyên tố holmium, một kim loại đất hiếm, đặt lên một phiến ô xít ma giê trong nhiệt độ dưới 5 kelvin.  Nguyên tố Holmium tương thích một cách đặc biệt với lưu trữ đơn nguyên tử bởi nó có nhiều electron không thành cặp nên có thể tạo được một từ trường mạnh, và các electron này ở trên quỹ đạo gần với tâm của nguyên tử, nơi chúng được che chắn khỏi môi trường. Điều đó giúp cho holmium có được một từ trường lớnvà ổn định, Natterer cho biết. Nhưng bản thân sự che chắn cũng có nhược điểm: nó làm cho holmium trở nên khó tác động. Và đến tận lúc này, nhiều nhà vật lý vẫn còn nghi nhờ là liệu có khả năng xác định thật sự trạng thái đơn nguyên tử hay không.  Các bit của dữ liệu  Để ghi dữ liệu lên một nguyên tử holmium, nhóm nghiên cứu đã dùng xung của dòng điện từ đầu dò từ của máy hiển vi quét xuyên hầm, thứ có thể chuyển hướng từ trường nguyên tử giữa hai mã 1 và 0. Trong các thí nghiệm, các nam châm đã đạt tới sự ổn định, giữ được dữ liệu của chúng trong vòng nhiều giờ, các nhà nghiên cứu không phát hiện ra có sự chuyển hướng không biết trước nào. Họ đã dùng chính máy hiển vi quét xuyên hầm để đọc bit – với những lưu lượng dòng khác nhau cho biết trạng thái từ của nguyên tử.  Để chứng tỏ nhiều hơn nữa việc đầu dò có thể đọc được bit một cách đáng tin cậy, nhóm nghiên cứu, bao gồm cả các nhà nghiên cứu của công ty công nghệ IBM, đã tìm ra một phương pháp đọc bit thứ hai, tuy không trực tiếp. Họ dùng một nguyên tử sắt lân cận với tư cách như một cảm biến từ tính, điều chỉnh nó để cho các tính chất điện tử của nó phụ thuộc vào việc định hướng của hai nam châm nguyên tử holmium trong hệ thống hai bit. Otte cho biết, phương pháp này cũng giúp cho nhóm nghiên cứu có thể đọc được nhiều bit đồng thời, khiến phương pháp trở nên thiết thực hơn và ít lấn tràn hơn kỹ thuật kính hiển vi.  Việc sử dụng những nguyên tử riêng lẻ như các bit từ tính có thể làm tăng thêm mật độ của lưu trữ dữ liệu, Natterer cho biết các đồng nghiệp ở EPFL của ông đang nghiên cứu các cách tạo ra những dãy lớn của các nam châm đơn nguyên tử. Nhưng hệ thống hai bit vẫn còn ở khoảng cách xa để ứng dụng được trong thực tế và còn thua dạng lưu trữ đơn nguyên tử khác, dạng mã hóa dữ liệu tại vị trí của nguyên tử, hơn là tại độ từ hóa của chúng, và đã tạo được một thiết bị lưu trữ dữ liệu có khả năng ghi được một kilobyte (8.192 bit).  Thế nhưng, hệ thống từ tính có một lợi thế là nó có thể tương hợp với spintronics, Otte nhận xét. Kỹ thuật mới nổi này sử dụng các trạng thái từ tính không chỉ để lưu trữ dữ liệu mà còn để chuyển thông tin quanh một máy tính thay cho dòng điện, và làm cho hệ thống thêm tiết kiệm điện năng.  Trong thời gian tới, các nhà vật lý sẽ hết sức hứng thú nghiên cứu về nam châm đơn nguyên tử, chẳng hạn Natterer lên kế hoạch quan sát ba tiểu nam châm được định hướng sao cho từ trường của chúng cạnh tranh với nhau để chúng đổi hướng liên tục. “Hiện tại mọi người có thể thử nghiệm quanh những nam châm đơn nguyên tử này, sử dụng chúng như các miếng xếp hình lego, để xây lên những cấu trúc từ tính từ con số không,” ông nói.  Thanh Nhàn dịch  PGS. TS Trần Minh Tiến (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: http://www.nature.com/news/magnetic-hard-drives-go-atomic-1.21599    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ sách chọn lọc 15 năm Tia Sáng      15 năm qua, kể từ khi ra đời (tháng 4.1991) đến nay, Tạp chí Tia Sáng đã dần chiếm được lòng tin ở bạn đọc cả trong và nước ngoài. Trước hết, vì Tia Sáng luôn bám sát được vấn đề thời cuộc của xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình, mang đến cho bạn đọc những thông tin thứ cấp – những thông tin đã được xử lý một cách khoa học.    Nhưng đó không phải là thứ khoa học khách quan chủ nghĩa vô hồn mà là khoa học với rất nhiều tâm huyết của những tấm lòng đang ngày đêm trăn trở về những vấn đề đặt ra với đất nước trên con đường đổi mới, phát triển. Đọc các bài viết của họ, người đọc luôn thấy quen mà lạ. Quen ở sự kiện, vấn đề, mà lạ ở cách nhìn, cách giải quyết vấn đề, sự kiện ấy. Hơn nữa, khi đánh giá và kiếm tìm ý nghĩa của các sự kiện cụ thể, họ không bao giờ coi đó là những sự kiện riêng lẻ, mà như là một thành phần của tổng thể. Nhờ thế, những bài viết của Tia Sáng không chỉ cung cấp tư liệu cho bạn đọc, quan trọng hơn là một cách nhìn, một tư duy hệ thống. Hơn nữa, các bài viết của Tia Sáng dù có nội dung khoa học, học thuật cao, cách đặt vấn đề sâu, khái quát nhưng người đọc cả chuyên ngành lẫn phổ thông đều thấy thú vị, dễ tiếp thu nhờ cách trình bày đa dạng, hấp dẫn và mọi sự kiện đều được nhìn từ góc nhìn văn hóa. Có thể nói khoa học và văn hóa là đôi cánh đưa Tia Sáng đi xa.  Nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập, để nhìn lại một chặng đường đồng hành cùng trí thức Việt Nam và tri âm với cộng tác viên nhiều năm gắn bó với Tia Sáng, Ban biên tập Tia Sáng phối hợp với Nhà xuất bản Trẻ cho ra mắt bạn đọc năm cuốn sách gồm những bài viết được bạn đọc đánh giá cao đã đăng trên Tia Sáng. Năm cuốn sách đó là:  1. Giục giã từ cuộc sống:                Gồm những bài viết về những vấn đề nổi cộm của đất nước hiện nay, trước hết là vấn đề con người. Nếu trong hoàn cảnh chiến tranh và bao cấp, con người tiêu biểu là con người chiến sĩ và cán bộ, thì nay là con người xã hội và con người cá nhân. Từ xuất phát điểm đó, các bài viết đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau của việc cải cách hành chính, mở rộng dân chủ, xây dựng xã hội công dân… trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền.  2. Khoa học giáo dục đi tìm diện mạo mới:                Gồm những bài viết về những thành tựu, những khuôn mẫu mới trong sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại và tác động của nó đến tư duy của con người nói chung và con người Việt Nam hôm nay; về những yếu kém của nền khoa học công nghệ nước nhà; về những căn bệnh trầm kha, những cục bướu của giáo dục Việt Nam, hậu quả của một quan niệm, một hệ thống giáo dục lạc hậu; từ đó đề xuất những hướng đi, biện pháp xây dựng một nền khoa học, giáo dục đào tạo tiên tiến- thực sự trở thành động lực của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.  3. Để kinh tế Việt Nam khởi sắc:                Gồm những bài viết đặt vấn đề vì sao Việt Nam phải đổi mới nhanh hơn nữa tư duy phát triển kinh tế trong một thế giới phẳng; đồng thời kiến giải biện pháp cụ thể trong xây dựng kinh tế dân doanh, cổ phần hóa, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu…  4. Văn hóa thời hội nhập:                Gồm những bài viết về vai trò, động lực của văn hóa nghệ thuật trong phát triển kinh tế, xã hội của nước ta và làm thế nào để giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Từ đó, cảnh báo những quan niệm sai lệch về văn hóa dẫn đến nhiều truyền thống, tinh hoa văn hóa dân tộc bị xuống cấp, mất mát nghiêm trọng.    5. Truyện cổ viết lại:                Tập hợp những truyện ngắn hay của hai tác giả Lê Đạt và Lê Minh Hà đã đăng trên Tia Sáng.  Với sự tuyển chọn kỹ lưỡng, sắp xếp hệ thống, Tia Sáng hy vọng bộ sách này sẽ mang đến cho bạn đọc không chỉ những tri thức cần biết mà còn kích thích nhu cầu học tập, mở rộng hiểu biết để đào sâu thêm vào những gì mình đã và đang suy ngẫm  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ trưởng gặp chàng trai chế tạo thiết bị bay      Chiều 3/4, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cùng nhiều chuyên gia hàng đầu về hàng không vũ trụ gặp Phạm Gia Vinh, chàng trai trẻ thiết kế, chế tạo thành công thiết bị bay cao 23 km. Hai bên bàn về tương lai của thiết bị này ở Việt Nam và trên thế giới.  &#160;    Một thành tựu có ý nghĩa lớn    Phạm Gia Vinh (32 tuổi), sinh viên ngành Điện, Điện tử công nghiệp – Điều khiển tự động một trường đại học ở Pháp, nay là giám đốc công ty Cổ phần Nghiên cứu & Phát triển Đông Giang Việt Nam, chủ nhiệm CLB máy bay mô hình phía Bắc. Vinh  chia sẻ về thiết bị bay tầng bình lưu 23km gây nhiều tò mò.  Theo Vinh, việc chế tạo thiết bị  bay tầng bình lưu mà công ty đã chế tạo và thử nghiệm thành công thực chất là lời giải cho bài toán mà một công ty của Singapore đặt ra: đưa được thiết bị bay lên tầng 30-50km – tầng bay thấp hơn vệ tinh nhưng cao hơn máy bay không người lái và có thể thu hồi chính xác thiết bị.  Lời giải mà Cty Đông Giang đưa ra là chế tạo thiết bị bay dựa trên công nghệ nền là khinh khí cầu đã được một số quốc gia như Mỹ, Úc, Ấn Độ sử dụng. Thiết bị này có trọng lượng 600kg, trần bay 30- 50km, thời gian bay có thể lên tới một tuần. Toàn bộ việc chế tạo thiết bị bay và thiết bị điều kiện ở mặt đất đều thực hiện tại Việt Nam.  Nguyên lý hoạt động của thiết bị là khí cầu mang khoang đổ bộ chứa các thiết bị nghiên cứu lên tầng bay 30-50km. Khí cầu được điều khiển tự động để duy trì trần bay ổn định. Sau thời gian lưu lại trên tầng bình lưu, khoang đổ bộ tách khỏi khinh khí cầu, trở về vị trí đã được định trước. Thiết bị này mang theo các thiết bị nghiên cứu  như camera, ăng ten, radar, có thể phục vụ nhiều mục đích như nghiên cứu tài nguyên, môi trường, phục vụ an ninh quốc phòng. Ví dụ như có thể quan sát, nghiên cứu sự hình thành, đường đi của các cơn bão, tìm hiểu nguồn nước, độ phủ xanh của đất, quan sát được mầm bệnh của cây trồng.             “Chúng ta chúc mừng Phạm Gia Vinh vì những thành công bước đầu rất đáng mừng, đáng khích lệ, có đóng góp nhất định cho khoa học công nghệ Việt Nam, dù tương lai còn nhiều việc phải làm” – Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân          Phạm Gia Vinh cho biết, thiết bị này đã được thử nghiệm ở ngoại ô một thành phố ở Ấn Độ với trần bay 23km để kiểm tra khả năng tương thích và ổn định của các thiết bị điện tử ở tầng bình lưu, khả năng duy trì môi trường của khoang đổ bộ. Kết quả đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Cũng trong đợt thử nghiệm, Cty Đông Giang đưa lên tầng bình lưu ba cá thể chuột, khi trở về khỏe mạnh bình thường. Sắp tới thiết bị sẽ thử nghiệm ở trần bay 30 km.  Ưu điểm nổi trội nhất của thiết bị này so với các thiết bị bay sử dụng công nghệ nền khinh khí cầu là khả năng thu hồi chính xác thiết bị, có thể điều khiển thiết bị hạ cánh trong phạm vi 50km – 80km với sai số dưới 50m. Vì vậy, khoang đổ bộ hạ xuống đất sẽ không ảnh hưởng tới người, nhà, và các công trình dưới mặt đất, cũng như thu hồi các thiết bị nghiên cứu đắt tiền.  Nói về khả năng ứng dụng của sản phẩm này, Vinh cho biết, thiết bị bay này có tầng bay cao hơn máy bay không người lái (tối đa là 21km), giá thành lại rẻ hơn máy bay không người lái nên khả năng ứng dụng sẽ rất cao.  Sẵn sàng hỗ trợ tối đa  GS.TSKH Nguyễn Đức Cương, Chủ tịch Hội Hàng không – Vũ trụ Việt Nam đặt câu hỏi: Cái mới của thiết bị bay do công ty Đông Giang chế tạo là khoang đổ bộ có khả năng thu hồi chính xác. Tuy nhiên, đây là sản phẩm đặt hàng của một Cty Singapore. Vậy việc sở hữu trí tuệ của thiết bị này như thế nào?  Vinh cho biết, hợp đồng giữa Đông Giang và công ty của Singapore có nhiều điều khoản liên quan đến việc này. “Công nghệ nền khinh khí cầu thì chung của thế giới. Phía Đông Giang chỉ đăng ký sở hữu trí tuệ với phần khoang đổ bộ do công ty thiết kế, chế tạo. Tại thị trường Việt Nam, Đông Giang sẽ chịu trách nhiệm với sản phẩm này, ở thị trường khác thì chia sẻ quyền lợi. Tuy nhiên, bên Singapore không có khả năng triển khai công nghệ này vì diện tích nhỏ nên chúng cháu xác định sử dụng ở Việt Nam rất nhiều”, Vinh nói.  Một chuyên gia khác hỏi: để quan sát trái đất ở tầng bình lưu 30-50km, một số quốc gia như Đức sử dụng tên lửa đẩy tầm thấp. Nhiều quốc gia muốn đưa thiết bị nghiên cứu lên tầng bình lưu thường thuê dịch vụ tên lửa đẩy của Đức. So với công nghệ này, thiết bị bay khinh khí cầu chứa khoang đổ bộ có ưu điểm gì? Vinh cho hay, hai công nghệ này không thể thay thế lẫn nhau mà bù trừ và hỗ trợ cho nhau. Tuy nhiên, công nghệ khinh khí cầu có giá thấp hơn, thời gian lưu trữ trên tầng khí quyển lâu hơn. Gia tốc tên lửa đẩy có thể ảnh hưởng đến thiết bị bên trong. Công nghệ khinh khí cầu cũng có một số nhược điểm như khó khăn trong kiểm soát đường đi, hướng bay, giải pháp thu hồi an toàn.  Đánh giá về thiết bị bay do Phạm Gia Vinh và Cty Đông Giang chế tạo, các chuyên gia đều cho rằng đây là một hướng đi tích cực, cần được hỗ trợ. TSKH Nguyễn Quang Bắc, Ban chủ nhiệm Chương trình khoa học công nghệ độc lập cấp nhà nước về Công nghệ vũ trụ cho biết, trong chương trình phát triển vũ trụ 2016-2020 chúng ta có xác định một số sản phẩm như vệ tinh nhỏ. Sản phẩm của Phạm Gia Vinh mở ra cơ hội để đưa các sản phẩm này lên vũ trụ thử nghiệm.            Quảng bá công nghệ ra khu vực  Phạm Gia Vinh cho biết, một trong những việc làm của Cty Đông Giang thời gian tới là chứng minh cho các nước trong khu vực về thiết bị này. Sau đó Việt Nam có thể đứng ra làm dịch vụ cho các nước trong khu vực.              Kết thúc buổi gặp, Bộ trưởng Nguyễn Quân đặt câu hỏi “thành công như thế là đáng mừng lắm rồi. Đây là thành công của các bạn nhưng cũng là thành công của Việt Nam. Để nghiên cứu này đi vào ứng dụng rộng rãi còn rất nhiều việc phải làm. Bộ Khoa học và Công nghệ sẵn sàng hỗ trợ tối đa. Các bạn có kiến nghị gì không?”. Vinh cho biết “mong muốn của chúng cháu là mang công nghệ về thử nghiệm trong nước càng sớm càng tốt. Trước mắt, cháu xin phép bác Bộ trưởng, Bộ KH&CN có thể đứng ra chủ trì việc thử nghiệm này?”.  Trước câu hỏi của Bộ trưởng Nguyễn Quân: các bạn đã thăm dò địa điểm nào ở Việt Nam có thể thử nghiệm thiết bị bay. Phạm Gia Vinh cho biết, đã tiến hành tham khảo và thực địa tại một số địa điểm như Bình Dương, Biên Hòa.  Bộ trưởng Quân cho biết, đúng là hành lang pháp lý  chưa đầy đủ nhưng có thể có một nghị định riêng để tạo điều kiện thử nghiệm. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, thử nghiệm thì đã thử nghiệm rồi, kinh nghiệm cũng đã có rồi. Thay vì mang về Việt Nam chỉ để thử nghiệm hãy gắn một công việc cụ thể. Ví dụ như sắp vào mùa bão, đưa thiết bị lên để quan sát diễn biến, đường đi của bão xem sao?  Phạm Gia Vinh cho biết, sẽ tìm mục đích cụ thể cho lần thử nghiệm sắp tới.  Nguồn: http://www.tienphong.vn/cong-nghe/bo-truong-gap-chang-trai-che-tao-thiet-bi-bay-843548.tpo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn công trình đoạt giải nhất sáng tạo KHCN Việt Nam      Với tiêu chí mới, sáng tạo, lần đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam và đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao, bốn công trình đã được trao giải nhất giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam  2014 vào tối ngày 28/5, tại Hà Nội.       Bốn giải nhất này thuộc về các công trình “Nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ trong đóng tàu quân sự 12418″ của tác giả Nguyễn Mạnh Lân và các cộng sự thuộc Tổng công ty Ba Son, Tổng cục công nghiệp quốc phòng, Bộ Quốc phòng (lĩnh vực Cơ khí tự động hóa); “Nghiên  cứu chế tạo phao nâng phục vụ lắp đặt đường ống thu gom và vận chuyển  khí đốt tại Việt Nam” của tác giả  Đỗ Đức Trung và các cộng sự  thuộc  Công ty cổ phần ứng dụng công nghệ mới miền Nam A.T.S (lĩnh vực Tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng mới); “Ứng dụng các vật liệu tiên tiến trong sản xuất máy ozon phục vụ sức khỏe cộng đồng” của tác giả Trần Thị Lan Hường và các cộng sự thuộc Công ty cổ phần đầu tư và ừng dụng công nghệ cao HCT (lĩnh vực Vật liệu); “Công  nghệ sản xuất và ứng dụng chế phẩm hương liệu men sinh học tổng hợp BIO  – MIX để xử lý phân thải chăn nuôi gia súc, gia cầm làm nguyên liệu sản  xuất phân bón hữu cơ vi sinh bón cho cây trồng, nhằm bảo vệ môi trường  và phát triển nông nghiệp bền vững” của tác giả TS. Lê Văn Tri và các cộng sự, Công ty CP công nghệ sinh học (Bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên).    Các công trình này đã vượt qua 40 công trình lọt vào chung kết và thuộc sáu lĩnh vực: Cơ khí tự động hóa, Vật liệu, Tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới, Thông tin, Điện tử và Viễn thông, Sinh học phục vụ sản xuất và đời sống, Bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên. Để xét giải, ban tổ chức đã dựa trên cơ sở mới, sáng tạo, lần đầu tiên được áp dụng ở  Việt Nam, đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao, không vi phạm quyền sở hữu  trí tuệ và chưa từng được trao giải thưởng sáng tạo KHCN nào. Trong quá trình chấm giải, những công trình nào được áp dụng hiệu quả ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo sẽ được ưu tiên hơn các công trình khác.   Ngoài bốn giải nhất, ban tổ chức còn trao bảy giải nhì, 11 giải ba và 18 giải khuyến khích.   Giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam do Quỹ Hỗ trợ sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (Vifotec) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Bộ KH& CN tổ chức. Được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh các nhà khoa học có công  trình mang giá trị lớn, được áp dụng hiệu quả, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, qua đó góp phần thúc đẩy nền sản  xuất và thị trường Việt Nam, 20 năm qua, giải thưởng đã được trao cho 700 công trình trong số hơn 2.000 công trình tham gia.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn dự án đường sắt chờ vốn tư nhân      Cục Đường sắt Việt Nam tiếp tục mời gọi tư nhân đầu tư bốn dự án đường sắt lớn với tổng số vốn hơn 165.000 tỉ đồng. Theo các chuyên gia, các dự án mời gọi đầu tư mà không công bố chính sách ưu đãi nên chưa thu hút được nhà đầu tư quan tâm.     Hiện nay, Cục Đường sắt đang mời gọi đầu tư từ khu vực tư nhân 4 dự án đường sắt, gồm: dự án nâng cấp hiện đại hóa tuyến đường sắt Bắc-Nam hiện có (vốn đầu tư 39.873 tỉ đồng); dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Nam Hồ Tây – Ngọc Khánh – Láng – Hòa Lạc – Ba Vì (vốn đầu tư 63.878 tỉ đồng); dự án đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu (giai đoạn 1: Biên Hòa – Thị Vải vốn đầu tư 33.882 tỉ đồng); dự án đường sắt vào cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (vốn đầu tư 28.000 tỉ đồng).  Tại khu vực phía Nam, để thuận lợi cho nhà đầu tư, vào đầu tháng 10-2013, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đã công bố quy hoạch chi tiết 8 tuyến đường sắt kết nối TPHCM với các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An và Tây Ninh.  Để xây dựng 8 tuyến đường sắt kết nối với TPHCM cần số vốn lên đến 341.300 tỉ đồng từ các nguồn vốn vay ODA, trái phiếu Chính phủ, ngân sách nhà nước và xã hội hóa.  Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể, do nguồn vốn ODA và các nguồn vốn khác của Nhà nước đang tập trung cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam nên nguồn vốn rất hạn hẹp; do đó việc kêu gọi đầu tư bằng nguồn vốn BOT là phù hợp.  Về các hình thức đầu tư dự án đường sắt, chuyên gia giao thông Phạm Sanh cho biết, hiện nay các dự án đưa ra không đề cập đến chính sách ưu đãi nên chưa thu hút được nhà đầu tư quan tâm. Vì vậy, cần phải nói cụ thể các cơ chế, chính sách ưu đãi khi tư nhân đầu tư vào lĩnh vực đường sắt.  Trong một lần trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ông Hồ Minh Hoàng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư đèo Cả cho biết, so với các dự án BOT đường bộ, thì các dự án BOT đường sắt khó thu hút đầu tư hơn bởi việc thu hồi vốn rất chậm. Hơn nữa, các dự án đường sắt có tổng mức đầu tư khá lớn, trong cơ chế thu hút đầu tư BOT và BT hiện nay, vướng mắc lớn nhất là phần vốn của nhà đầu tư. Đơn cử như một dự án BOT có vốn đầu tư khoảng 20.000 tỉ đồng thì yêu cầu nhà đầu tư phải đáp ứng được 15-20% vốn. Với số vốn quá lớn như vậy thì nhà đầu tư khó mà đáp ứng được.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn kỹ sư MIT chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp      Tối 9/9 tại trụ sở Bộ KH&amp;CN ở Hà Nội, Đề án Vietnam Silicon Valley đã cùng với Dự án Bước tới – Chia sẻ nguồn lực khởi nghiệp và Trường mở LifeB phối hợp tổ chức hội thảo “Học tập và khởi nghiệp từ MIT” với bốn nhà khởi nghiệp từng học tập tại MIT, thu hút hơn 400 người tham dự.     Bốn diễn giả bao gồm: Võ Đoàn (người có 25 năm khởi nghiệp CNTT tại Mỹ, tốt nghiệp cử nhân và Thạc sĩ Kỹ thuật tại MIT); Trần Đằng (10 năm làm trưởng nhiều dự án trong SamSung Electronics, tốt nghiệp Đại học và Thạc sĩ từ MIT Media Lab, nghiên cứu về các sản phẩm nhận diện người dùng và trí tuệ nhân tạo); Lâm Giang (Giám đốc điều hành quỹ RDA Vietnam Fund để đầu tư vào Việt Nam, tốt nghiệp cử nhân); Trần Lương Sơn (Tổng giám đốc và người sáng lập Vietsofware, tốt nghiệp MBA tại MIT Sloan). Từng có nhiều kinh nghiệm tư vấn và đầu tư cho nhiều startup tại Châu Á và Mỹ, bốn diễn giả đã chia sẻ cởi mở kinh nghiệm và suy nghĩ của mình về khởi nghiệp.   Diễn giả Trần Đằng cho rằng người khởi nghiệp cần có ba thứ “mở”, đó là: Open heart (đam mê và mong muốn giúp đỡ cộng đồng); Open mind (lắng nghe và tiếp thu ý kiến mọi người); và Open hand (sẵn sàng chia sẻ ý tưởng, dự định của mình với người khác dù phản hồi của họ có thể không phải là điều mình mong muốn).   Đồng tình với diễn giả Trần Đằng, diễn giả Lâm Giang cho biết, anh từng khởi nghiệp sáu công ty nhưng ba trong số đó thất bại vì quá “đam mê” sản phẩm của mình mà không lắng nghe ý kiến của những đối tác và các nhà đầu tư.   Diễn giả Võ Đoàn bổ sung, một nhà khởi nghiệp còn phải biết lắng nghe ý kiến khách hàng. Anh dẫn lại câu chuyện thất bại của Myspace – một sản phẩm tương tự và ra đời trước Facebook là do không sửa đổi giao diện và chức năng thân thiện với người dùng mặc dù có rất nhiều phản hồi.   Diễn giả Trần Lương Sơn lại có một cái nhìn khác về thất bại. Phải tự tay đóng cửa bốn công ty, trong đó một công ty thất bại sau khi tiêu hết hơn một triệu USD, anh Sơn cho biết, những công ty bị đóng cửa sau 10 năm hoạt động của anh đã tạo ra gần 500 việc làm cho xã hội.   Từng có kinh nghiệm làm việc trong các tập đoàn lớn tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ, theo diễn giả Trần Đằng, để khởi nghiệp, người Việt cần thay đổi tư duy. Thông thường, mọi người giữ nếp tư duy, để được làm việc trong một công ty lớn thì cần tuân thủ nguyên tắc Quy trình – Sản phẩm – Con người: Nghiên cứu để tạo ra sản phẩm hoàn hảo rồi mới đi tìm người để ứng dụng nó. Trong khi, để khởi nghiệp lại cần tư duy đổi khác, Con người – Quy trình – Sản phẩm: phải tìm những người tài năng và tin tưởng họ; sau đó mới là xác lập quy trình làm việc phù hợp và rồi sẽ có những sản phẩm ấn tượng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn nguyên tố hóa học mới đã có tên chính thức      Sau năm tháng xem xét, Hiệp hội Hóa học Cơ bản và Ứng dụng Quốc tế (IUPAC) vừa công bố tên và kí hiệu chính thức của bốn nguyên tố siêu nặng 113, 115, 117 và 118 được tạo ra trong phòng thí nghiệm.      Bốn nguyên tố mới đã có tên trên bảng tuần hoàn.  Nguyên tố siêu nặng là những nguyên tố có số nguyên tử từ 104 đến 120. Chúng không xuất hiện trong tự nhiên mà phải được tạo ra trong phòng thí nghiệm.  Theo truyền thống, tên gọi của nguyên tố sẽ vinh danh một địa điểm, vùng địa lí hoặc nhà khoa học với phần đuôi phải tuân thủ những chuẩn tắc liên quan đến vị trí của nó trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố.  Tên và ký hiệu chính thức của bốn nguyên tố mới như sau:  Nguyên tố 113: nihonium (Nh);  Nguyên tố 115: moscovium (Mc);  Nguyên tố 117: tennessine (Ts);  Nguyên tố 118: oganesson (Og).  Hồi tháng Một, IUPAC đã công bố bốn nguyên tố này sẽ nằm trong Bảng tuần hoàn, dù chúng chưa được đặt tên. Sau đó, vào tháng Sáu, IUPAC đã công bố những cái tên chưa chính thức để xem phản hồi từ công chúng.  Trong thời gian để ngỏ đó, những cái tên được đề xuất dường như không vấp phải ý kiến phản đối nào, nhưng điều đó không có nghĩa là công chúng thờ ơ.  “Chúng tôi thật sự vui mừng khi nhận thấy có rất nhiều người quan tâm đến việc đặt tên cho những nguyên tố mới – các học sinh trung học viết bài luận về những cái tên khả thi và kể các em cảm thấy tự hào thế nào khi có thể tham gia vào cuộc thảo luận này,” Jan Reedijk, Trưởng ban Hóa học Vô cơ thuộc IUPAC, nói. “Giờ đây tất cả chúng ta có thể vui mừng vì bản tuần hoàn đã có dòng thứ bảy hoàn chỉnh”.  Theo IUPAC, các nhà khoa học ở Trung tâm Khoa học dựa trên máy gia tốc Nishina thuộc Viện nghiên cứu RIKEN của Nhật Bản, đã đề xuất tên nihonium, một cách để nói “Nhật Bản” trong tiếng Nhật. Kosuke Morita và các đồng nghiệp của ông đã tạo ra nguyên tố này vào ngày 12/8/2012, sau khi thực hiện va chạm các hạt nhân kẽm vào một lớp bitmut mỏng.  Giống như các nguyên tố siêu nặng khác, sau khi được tạo ra, nguyên tố 113 nhanh chóng bị phân rã, số nguyên tử của nó giảm xuống 111, 109, 107, 105, 103 và cuối cùng còn 101, Morita cho biết.  Những cái tên dành cho nguyên tố 115 và 117 được đề xuất bởi những người tạo ra chúng tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân, Dubna, Nga; và Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge, Tennessee; Đại học Vanderbilt, Tennessee; Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore, California – đều ở Mỹ. Hai tên gọi moscovium và tennessine đều gắn với địa danh nơi tiến hành các thí nghiệm liên quan đến việc tạo ra các nguyên tố mới.  Tên gọi oganesson dành cho nguyên tố 118 vinh danh Yuri Oganessian “vì những đóng góp tiên phong của ông trong nghiên cứu những nguyên tố siêu nặng”, theo một quan chức của IUPAC. “Thành tựu phong phú của ông bao gồm việc tạo ra những nguyên tố siêu nặng và những bước tiến đáng kể trong vật lí hạt nhân của hạt nhân siêu nặng, trong đó có bằng chứng thực nghiệm về ‘đảo ổn định’, một ý niệm cho rằng các nguyên tố siêu nặng có thể trở nên ổn định tại một điểm nào đó trong sự tồn tại của chúng.  Theo các nhà hóa học, mặc dù không có giới hạn nhất định cho số proton có thể được nén vào một hạt nhân nguyên tử, nhưng con số này càng nhiều thì nguyên tố càng kém ổn định. Còn IUPAC nhận định, vì hàng thứ bảy của Bảng tuần hoàn đã được hoàn thành với nguyên tố 118, các nhà hóa học sẽ tiếp tục nghiên cứu những nguyên tố nặng hơn thế.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn:   http://www.livescience.com/57050-4-new-superheavy-elements-names-approved.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bón phân phát thải khí nhà kính nhiều hơn hàng không và tàu thủy      Theo các nhà nghiên cứu của Cambridge University phân bón gây hại nhiều hơn đáng kể so với những gì người ta nghĩ trước đây. Theo đó, phân bón tạo ra nhiều khí nhà kính hơn so với vận chuyển đường không và đường thủy cộng lại.    Từ lâu người ta đã biết phân bón có hại cho khí hậu, tuy nhiên nó vẫn được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo báo cáo của Der Standard, trong năm 2018, có khoảng 117,5 triệu tấn phân đạm đã được sản xuất.Sản xuất phân đạm là một trong những nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với ngành công nghiệp hóa dầu. Gần một nửa dân số thế giới tiêu thụ thực phẩm được sản xuất bằng phân đạm.  Điều đó đang ngày càng trở thành vấn đề: Một mặt, toàn bộ ngành công nghiệp đang phải chịu áp lực lớn do giá khí đốt tăng do chiến tranh ở Ukraine. Một thành phần quan trọngđể sản xuất phân bón là amoniac, thu được từ dầu khí. Mặt khác, người ta đang dần hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của phân bón đối với khí hậu toàn cầu. Kết quả nghiên cứu của Đại học Cambridge cho thấy, việc sử dụng phân bón nitơ gây ra lượng khí thải nhà kính theo thứ tự 2,6 tỷ tấn mỗi năm – nhiều hơn cả giao thông hàng không và vận tải bằng đường thủy trên thế giới cộng lại.  Nhưng không chỉ việc sản xuất phân bón là một vấn đề. André Cabrera Serrenho, một trong những tác giả của nghiên cứu cho biết, sản xuất chỉ chịu trách nhiệm cho khoảng một phần ba lượng khí thải. Việc sử dụng phân như thế nào cũng gây ra đáng kể hiệu ứng nhà kính.  Bảo vệ khí hậu trong nông nghiệp là có thể, nhưng tốn kém  Các nhà nghiên cứu đi đến kết luận này vì họ có thể làm rõ toàn bộ vòng đời của phân bón, qua đó nhận ra đây là một nguồn phát thải rất lớn nhất. Dựa trên kết quả nghiên cứu có thể nêu  lên các biện pháp  hạn chế các tác động tiêu cực.  Thực ra nhiều khả năng đã được biết đến từ lâu, đầu tiên là  khử carbon trong quá trình sản xuất amoniac. Ngoài ra, các hóa chất có thể được thêm vào để chống lại oxit nitơ gây hại cho khí hậu, là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất. Các nhà khoa học nhấn mạnh những biện pháp này làm cho sản xuất trở nên đắt đỏ hơn và đã đề xuất các khoản bồi thường cho các doanh nghiệp. Theo các nhà nghiên cứu, một hiệu quả thậm chí còn lớn hơn có thể đạt được theo một cách rất thực tế: “Chúng tôi cực kỳ kém hiệu quả khi sử dụng phân bón,” Một vấn đề nữa là sự lạm dụng phân bón, người ta bón phân nhiều hơn mức cần thiết, kết quả là vừa phi kinh tế vừa gây hiệu ứng nhà kính.  Một nghiên cứu  năm 2015 cho thấy, chỉ 42% lượng phân bón được sử dụng thực sự đến được cây trồng. Hơn một nửa phát tán không cần thiết. Theo các nhà nghiên cứu Cambridge, có thể tăng hiệu quả lên 67%. Ngoài ra nên tăng cường sử dụng phân urê .  Theo các nhà nghiên cứu, về cơ bản có thể giảm tới 80% lượng khí nhà kính mà không làm giảm năng suất. Serrenho nói: “Cần tìm ra sự kết hợp phù hợp giữa các giải pháp tài chính, công nghệ và chính trị để giảm lượng khí thải trong khi cung cấp lương thực cho thế giới.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.stern.de/panorama/wissen/natur/klimaschutz–duenger-erzeugt-mehr-treibhausgase-als-bisher-angenommen-33194930.html  https://www.derstandard.de/consent/tcf/story/2000143410749/duenger-sorgen-fuer-mehr-treibhausgase-als-luft-und-schifffahrt-zusammen    Author                .        
__label__tiasang Bốn tỉnh ĐBSCL học Israel về ĐMST trong nông nghiệp      Ngày 09/12 vừa qua tại TP. Cần Thơ, lãnh đạo bốn tỉnh ĐBSCL là An Giang, Bến Tre, Cần Thơ và Đồng Tháp  (ABCD-Mekong) cùng ngồi lại với các chuyên gia Israel trong một hội thảo nhằm tìm giải pháp hỗ  trợ doanh nghiệp địa phương, thúc đẩy đổi mới sáng tạo (ĐM/ST) trong nông  nghiệp.      Hội thảo có tên “Israel và sức mạnh đột phá của ĐM/ST trong nông nghiệp” và do Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao kết nối các bên.    Trả lời câu hỏi làm thế nào để người nông dân Việt Nam đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng trong khi chi phí đầu tư quá lớn, ông Matan Nemenoff, Tổng giám đốc Tập đoàn LR ORCA Đông Nam Á, chia sẻ, nông dân ở Israel không thể đầu tư nếu không có sự hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp và Chính phủ.  Những công nghệ “thần kỳ” được áp dụng nhiều và đang thành công tại Việt Nam. Ông Matan Nemenoff dẫn chứng, việc áp dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt cho cây cà phê ở Đắk Lắk đã đưa năng suất nhảy vọt từ 1,8 tấn/héc-ta lên 6 tấn /héc-ta. Ông Matan Nemenoff cho rằng, có thể áp dụng công nghệ của Israel vào vùng ĐBSCL.  Trong khi đó, PGS-TS Đỗ Văn Xê, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, nhận xét, điều kiện tự nhiên Israel và Việt Nam có nhiều khác biệt, việc áp dụng công nghệ cần linh hoạt, phù hợp với đặc điểm nông nghiệp Việt Nam.  Các nhân tố chính tạo nên thành tựu nông nghiệp của Israel là sử dụng công nghệ hiện đại và hiệp lực liên kết nông dân – nhà nước – doanh nghiệp. Theo các chuyên gia, các nhân tố này ở ĐBSCL đều thiếu và yếu.  ĐBSCL dù có nhiều điều kiện thuận lợi để cho nông nghiệp phát triển, nhưng đến nay vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu. Đóng góp của nông nghiệp cho GDP của cả vùng chưa tới 40%, con số này chưa tương xứng với tiềm năng. ĐBSCL hiện có 2,8 triệu hộ làm nông nghiệp nhưng 62 hộ mới có một máy kéo. Đổi mới công nghệ máy móc nông nghiệp ở ĐBSCL còn  quá nhiều yếu tố kém hiệu quả. Chẳng hạn, máy gặt đập liên hợp của nhà sáng chế Phạm Hoàng Thắng đạt nhiều giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế nhưng vẫn không thể cạnh tranh nổi với các máy của Nhật Bản trên thị trường.  Điều đó cho thấy, để ĐM/ST bắt buộc phải có vai trò rất lớn của nhà quản lý, các doanh nghiệp hoặc nhà sáng chế tư nhân… Làm sao phát huy được sức mạnh liên kết giữa nông dân – doanh nghiệp – nhà nước, đó là bài toán cần lời giải cho nông nghiệp các tỉnh ĐBSCL.  Hội thảo lần này có sự tham dự đầy đủ các lãnh đạo Thành ủy, ủy ban nhân dân và cả các sở ban ngành bốn tỉnh ABCD – Mekong. Điều đó cho thấy sự quan tâm và quyết tâm xây dựng thành công chương trình hợp tác cùng phát triển của lãnh đạo bốn tỉnh với Hội DNHVNCLC.  Nội dung hơp tác có năm điểm chính gồm: Liên kết doanh nghiệp dẫn đầu của bốn địa phương; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ, cơ sở đặc sản làng nghề; tổ chức sự kiện, xúc tiến thương mại chung; tập huấn đào tạo thâm nhập thị trường quốc tế và xây dựng chương trình truyền thông quảng bá. Đây là cơ hội để bốn tỉnh có thể ngồi lại cùng tìm ra cơ chế, chính sách để phát huy hiệu quả thế mạnh chung và riêng của từng tỉnh.  Đánh giá về liên kết này, ông Lê Minh Hoan – Bí thư tỉnh Đồng Tháp, kỳ vọng, đây là bước ngoặt để các tỉnh thay đổi tư duy trong quá trình đổi mới kinh tế. Riêng với tỉnh Đồng Tháp, ông Lê Minh Hoan cho biết: “Chúng tôi phải thay đổi cách nhìn với doanh nghiệp, coi đó là trung tâm của các chính sách chứ không chỉ là đối tượng bị quản lý. Như vậy mới mong có thể ĐM/ST  trong lĩnh vực nông nghiệp và tái cơ cấu nông nghiệp thành công”.  Hội thảo còn giúp các tỉnh thành ĐBSCL có cơ hội học hỏi về kinh nghiệm của Israel trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Từ hội thảo trên, hy vọng các tỉnh ABCD – Mekong và khu vực ĐBSCL sẽ nghiên cứu, áp dụng công nghệ kỹ thuật cũng như có các quyết sách hợp lý để xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại trong thời gian không xa.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn vấn đề khoa học của Bill Gates      Bill Gates – nhà sáng lập Microsoft Corporation và Quỹ Bill&Melinda Gates, theo đuổi mục tiêu đầu tư cho các nghiên cứu về y tế, giảm đói nghèo trên phạm vi toàn cầu và mở rộng các cơ hội giáo dục, nâng cao khả năng áp dụng công nghệ thông tin trên khắp nước Mỹ. Dưới đây, Tia Sáng giới thiệu trích đoạn bức thư của Bill Gates, trong đó ông chia sẻ những suy nghĩ của mình về bệnh Alzheimer, bại liệt, chỉnh sửa gene và vấn đề năng lượng.      Sơ đồ biểu thị não của người mắc bệnh Alzheimer. Nguồn: Cannabis.info  Tôi nghĩ thế giới đang chuyển động một cách chậm chạp trong một giai đoạn chuyển tiếp đến một biên giới của những hiểu biết mới. Trong phần lớn lịch sử phát triển của nhân loại, chúng ta đều tập trung vào việc nâng cao tuổi thọ của con người bằng những giải pháp về y tế và cung cấp đủ lương thực cho mọi người. Và kết quả của nó là chất lượng cuộc sống đã được nâng lên một cách đáng kinh ngạc, trong đó công nghệ đóng vai trò quan trọng để tìm ra các loại vaccine, thuốc men và cải thiện điều kiện vệ sinh cho con người.  Tuy vậy chúng ta vẫn cần nhiều đổi mới sáng tạo để có thể giải quyết rốt ráo các vấn đề như bệnh sốt rét hay béo phì. Đây sẽ là động lực thúc đẩy để tạo ra rất nhiều công trình mang tính đột phá trong tương lai, ví dụ, phần mềm sẽ có khả năng phát hiện ra khi nào bạn rơi vào trạng thái suy sụp, tạo khả năng kết nối với bạn bè, đem lại nhiều lời khuyên phù hợp để có giấc ngủ hay khẩu phần dinh dưỡng tốt hơn, giúp con người sử dụng thời gian một cách hiệu quả hơn.  Dưới đây là một số kết quả cập nhật về những gì đã làm được và những gì chưa làm được thông qua hoạt động của quỹ đầu tư cho khoa học của chúng ta:  Triển vọng và khó khăn trong nghiên cứu Alzheimer   Tôi thấy có hai xu hướng trong nghiên cứu về Alzheimer năm 2018.  Một là các nhà nghiên cứu tập trung vào một bộ ý tưởng mới về cách làm thế nào để chặn đứng được căn bệnh này. Thế hệ đầu tiên của các lý thuyết này là nhấn mạnh vào hai loại protein có tên gọi là amyloid và tau. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lộn xộn trong bộ não khi gây cản trở và “hạ thủ” các tế bào não. Ý tưởng của các nhà khoa học là ngăn cản sự hình thành nên những rối loạn này. Dù hi vọng cách tiếp cận này hiệu quả nhưng chúng ta vẫn cần có nhiều bằng chứng về tính hiệu quả của nó.  Trong năm qua, các nhà nghiên cứu đã chú ý vào nhóm giả thuyết thứ hai: theo một lý thuyết là não của bệnh nhân bị tổn hại bởi các bào quan – những đơn vị cung cấp năng lượng của chúng, đã bị hao hụt; một lý thuyết khác là các tế bào não bị tổn hại một phần do hệ miễn dịch đã quá “nhanh nhẩu” tấn công chúng.  Việc theo đuổi các hướng tiếp cận khác nhau của bệnh tật góp phần mở rộng những cải thiện hiểu biết của chúng ta về công nghệ sinh học, điều đó sẽ giảm thiểu chi phí thuốc men và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật mà con người phải hứng chịu.  Hai là cộng đồng nghiên cứu về Alzheimer đã tập trung vào việc tạo ra ngày càng nhiều dữ liệu bệnh tật và tăng cường khả năng truy cập nó. Chúng tôi đang làm việc với các nhà nghiên cứu để làm cho việc truy cập dữ liệu ngày càng trở nên dễ dàng hơn, để việc chia sẻ thông tin về nghiên cứu của họ ngày một rộng hơn, nhờ vậy chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các vấn đề, ví dụ như bệnh Alzheimer tiến triển như thế nào?  Có một tín hiệu vui là trong vài năm trở lại đây, chính phủ Mỹ đã tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho các nghiên cứu về Alzheimer, từ 400 triệu USD/năm đến hơn 2 tỷ USD/năm. Đây là sự thúc đẩy lớn để đem đến khả năng chẩn đoán bệnh tốt hơn.  Vấn đề duy nhất mà tôi chưa thấy một cách rõ ràng là làm thế nào để có thể thu hút được người bệnh cho các ca điều trị lâm sàng. Không có một cách chẩn đoán bệnh tật đơn giản và đáng tin cậy thì thật khó để chúng ta có thể tìm ra được những người bị mắc bệnh ở giai đoạn đầu đủ để nghiên cứu về quá trình tiến triển của bệnh. Có thể phải mất tới nhiều năm để có đủ bệnh nhân cần thiết. Nếu tìm ra được cách để tiền sàng lọc những người tham gia, chúng ta có thể bắt đầu những ca điều trị mới một các nhanh chóng hơn.  Nhưng có rất nhiều xung lượng trong nhiều lĩnh vực liên quan như các công cụ khoa học, những phương thức chẩn đoán bệnh tốt hơn, việc truy cập vào dữ liệu được cải thiện hơn –  những vấn đề chúng ta đã giải quyết tốt, nên tôi tự tin là chúng ta có thể tiến triển một cách bền vững trong cuộc chiến chống lại bệnh Alzheimer vào một, hai thập kỷ tới.   Loại vaccine bệnh bại liệt mới  Tôi nghĩ là chúng ta có thể tiến lại gần hơn khả năng diệt trừ bệnh bại liệt. Thật không may là trong năm 2018 chúng ta có nhiều trường hợp mắc bệnh bại liệt hơn năm 2017 (29 so với 22).  Trên thực tế có những khó khăn trong việc đưa vaccine tới những nơi bất ổn về chính trị hoặc có chiến sự. Các gia đình phải di chuyển để sống sót, do đó thật khó để có thể theo dõi bọn trẻ và đảm bảo bọn chúng đều được uống vaccine hoặc điều kiện vệ sinh nơi ở không được đảm bảo khiến virus có thể lan rộng. Đây là nguyên nhân giải thích vì sao Afghanistan và Pakistan chưa từng diệt trừ được bệnh bại liệt – trên thực tế đây là hai quốc gia duy nhất trên thế giới thuộc diện này.  Tôi đã dành rất nhiều thời gian cho căn bệnh này, trò chuyện với những nhà đầu tư khác để họ tiếp tục thực hiện cam kết đầu tư cho các nghiên cứu về bệnh bại liệt, ngay cả khi sẽ phải mất thêm nhiều thời gian mới có thể diệt trừ vĩnh viễn bệnh tật. Nguy cơ rủi ro bệnh tật sẽ quay trở lại nếu chúng ta không làm được điều đó.  Tôi cũng nhắc nhở họ về điều khác biệt mà đổi mới sáng tạo đang làm được. Hiện giờ chúng ta đã có thể xét nghiệm các mẫu nước thải để xác dịnh virus và nguồn gốc gây bệnh trước khi dịch bệnh bùng phát. Và cộng đồng y tế toàn cầu đang thực hiện những cách làm sáng tạo để có thể hoạt động trong khu vực có chiến sự hoặc chặn đứng bệnh dịch ở Somalia và Syrie trong những năm gần đây.  Cuối cùng, tôi hi vọng về một loại vaccine uống đang được kiểm nghiệm ở Bỉ và Panama. Kết quả sẽ có vào năm 2019 và nếu chứng minh được hiệu quả, nó sẽ giúp giải quyết được một số vấn đề của các loại vaccine uống trước đây. Có thể loại vaccine mới này sẽ sớm có mặt vào năm 2020. Bất chấp còn nhiều thách thức nhưng tôi tin rằng, chúng ta sẽ sớm có khả năng kiểm soát được bệnh bại liệt.  Năng lượng tái tạo và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu    Năng lượng mặt trời và gió là những nguồn cung cấp điện không liên tục. Ảnh: MIT  Ô nhiễm toàn cầu về khí thải nhà kính tăng lên trong năm 2018. Với tôi, điều này càng cho thấy chỉ có một cách duy nhất để ngăn các kịch bản biến đổi khí hậu xấu nhất có thể xảy ra, đó là tạo ra một số đột phá trong lĩnh vực năng lượng sạch.  Một số người nghĩ rằng chúng ta đã có đủ công cụ mà mình cần và chỉ cần cố “lèo lái” để giảm giá thành của những nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời hay năng lượng gió là có thể giải quyết vấn đề. Tôi cũng vui khi thấy năng lượng mặt trời và năng lượng gió ngày càng rẻ hơn và chúng ta có thể triển khai chúng ở bất cứ nơi nào có thể.  Nhưng năng lượng mặt trời và gió là những nguồn cung cấp điện không liên tục và chúng ta chưa có được những tấm pin siêu rẻ sớm để có thể lưu trữ được điện năng một cách hiệu quả khi mặt trời không chiếu sáng và gió ngừng thổi. Bên cạnh đó, vấn đề điện năng mới chỉ giải quyết được 25% lượng ô nhiễm toàn cầu trong khi chúng ta cần giải quyết cả phần 75% khí thải gây ô nhiễm còn lại.  Năm 2018, Breakthrough Energy Venture – quỹ đầu tư cho năng lượng mà tôi tham gia, đã loan báo về những công ty đầu tiên mà chúng tôi rót tiền vào. Các công ty này đều có những con người rất xuất sắc và chứng tỏ được khả năng đưa những ý tưởng về năng lượng sạch đầy sức sáng tạo từ phòng thí nghiệm ra thị trường.  Tôi cũng muốn nhắc đến điện hạt nhân bởi nó là nguồn năng lượng duy nhất hiện nay không phát thải carbon và có thể được tạo ra suốt 24 giờ/ngày. Những điều khiến người ta lo ngại về lò phản ứng như nguy cơ tai nạn có thể được giải quyết thông qua đổi mới sáng tạo.  Nước Mỹ hết sức phù hợp với việc đem lại những công nghệ tiên tiến này với sự tham gia của các nhà khoa học, các doanh nghiệp và mức đầu tư hàng đầu thế giới. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, Mỹ không còn trong vai trò dẫn đầu thế giới về năng lượng hạt nhân như 50 năm trước. Để lấy lại vị trí này, cần có những khoản đầu tư mới, những vấn đề pháp quy mới và chứng tỏ cho các nhà đầu tư thấy, điều đó thật sự quan trọng.  Hiện có một vài ý tưởng nhiều hứa hẹn trong năng lượng hạt nhân tiên tiến có thể se đến nếu chúng ta vượt qua được các chướng ngại này. TerraPower, công ty mà tôi đã xây dựng 10 năm trước đây, đã áp dụng một cách tiếp cận là lò phản ứng làm mát bằng muối clorua an toàn, ít chất thải hạt nhân hơn và không có khả năng tạo ra vũ khí hạt nhân. Chúng tôi đã hi vọng sẽ xây thử nghiệm một lò phản ứng theo công nghệ này ở Trung Quốc nhưng tình hình căng thẳng gần đây giữa Mỹ và Trung Quốc cho thấy điều này là không thể. Chúng tôi có thể xây dựng nó ở Mỹ nếu có kinh phí và thay đổi về pháp quy.  Thế giới này cần phải có rất nhiều giải pháp mới có thể chặn đứng được biến đổi khí hậu. Năng lượng hạt nhân tiên tiến là một trong số đó và tôi hi vọng là các nhà lãnh đạo Mỹ sẽ bước vào cuộc chơi này.  Kiểm soát bệnh dịch  Năm 1918, bệnh cúm Tây Ban Nha đã trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết của 50 triệu người trên toàn thế giới. Đến nay, nó vẫn là một điểm mốc chết chóc về một căn bệnh gây ra cho thế giới này.  Tôi hi vọng dịp tưởng niệm 100 năm bệnh dịch này sẽ châm ngòi cho thảo luận là liệu chúng ta có sẵn sàng chuẩn bị “nghênh chiến” một dịch bệnh toàn cầu tiếp theo. Thật không may, điều này là không thể và chúng ta còn vẫn chưa sẵn sàng. Con người vẫn phải lo lắng về những mối hiểm nguy cận kề như khủng bố, biến đổi khí hậu (và thậm chí là một tiểu hành tinh va phải trái đất). Nhưng nếu có điều gì có thể cướp đi mạng sống của hàng chục triệu con người trong thời gian ngắn thì có lẽ chỉ có thể là một dịch bệnh toàn cầu. Và một căn bệnh dưới hình thức một loại cúm, bởi virus cúm thường dễ lan truyền qua không khí. Ngày nay, một loại cúm dễ lây lan và chết chóc như bệnh cúm năm 1918 cũng có thể giết gần 33 triệu người trong vòng 6 tháng.  Tin vui là hiện các nhà nghiên cứu đang trong quá trình tạo ra một loại vaccine có khả năng bảo vệ con người ở mọi chủng/biến thể của bệnh cúm này. Năm nay đến làm việc tại Viện nghiên cứu Y tế quốc gia Mỹ (NIH) ở Maryland và nhận được thông tin mới từ những nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này. Thách thức của việc làm ra một vaccine cúm phổ biến tạo ra nhiều sức hút. Tất cả các biến thể của virus này đều có những cấu trúc chung nhất định. Nếu bạn chưa từng bị phơi nhiễm bệnh cúm Tây Ban Nha, thì loại vaccine được tạo ra có thể “dạy” hệ miễn dịch của bạn cảnh giác các loại cấu trúc này khi phát hiện ra và lập tức tấn công chúng. Nhưng một khi bạn từng bị nhiễm cúm, cơ thể bạn sẽ bị ám ảnh chủng cúm này đến mức khiến bạn bị ốm. Điều đó khiến hệ miễn dịch của bạn khó mà nhận biết được những cấu trúc chung của virus.   Chúng ta có thể tạo ra một vaccine có thể bảo vệ bất cứ ai (cũng như cả những đứa trẻ), những người chưa từng bị phơi nhiễm bệnh cúm Tây Ban Nha trước đó nhưng với những người từng mắc căn bệnh này thì khó khăn hơn nhiều. Cần một quãng đường dài để giải quyết được vấn đề. May mắn là kinh phí đầu tư cho nghiên cứu đang đến và nhiều nhà khoa học cùng tham gia tìm kiếm giải pháp hơn.  Để  góp phần đem lại những nghiên cứu khoa học này (Quỹ của chúng tôi tài trợ cho một vài nghiên cứu trong số này), thế giới cần phát triển một hệ thống toàn cầu để kiểm soát bệnh dịch. Đây cũng là một vấn đề chính trị vì nó đòi hỏi sự hợp tác giữa các nhà lãnh đạo chính phủ. Tôi tin rằng nghiên cứu này xứng đáng được quan tâm đến nhiều hơn.  Chỉnh sửa gene  Vào tháng 11 vừa qua, khi một nhà khoa học Trung Quốc loan báo là ông đã thay đổi các gene của hai đứa trẻ sơ sinh ngay từ khi chúng là các phôi. Tôi đồng ý với quan điểm cho rằng nhà khoa học này đã đi quá xa, vượt qua những giới hạn của đạo đức y sinh nhưng có một số điều cho thấy từ công trình này là nó khuyến khích nhiều người tham gia tìm hiểu và thảo luận hơn về chỉnh sửa gene. Điều đó có thể sẽ đem đến những cuộc tranh luận được chú ý nhiều nhất và có tầm quan trọng nhất.  Nhưng những câu hỏi về đạo đức vẫn còn. Chỉnh sửa gene có thể tạo ra rất nhiều cơ hội điều trị bệnh tật nhưng công nghệ có thể dẫn đến sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt nếu nó chỉ dành cho một số người giàu.  Nhìn về phía trước  Hai lĩnh vực quan trọng mà công nghệ có khả năng tạo ra tác động lớn vào chất lượng cuộc sống của chúng ta nhưng cũng có khả năng đem lại những cân nhắc về xã hội và đạo đức phức tạp.  Một là sự cân bằng giữa tính riêng tư và đổi mới sáng tạo. Chúng ta sử dụng dữ liệu như thế nào để đưa được những hiểu biết sâu sắc mới vào giáo dục (giống như những ngôi trường có thể làm những gì tốt nhất có thể để dạy những học trò nghèo) hay y tế (giống như những bác sỹ có thể đem đến cho bệnh nhân những cách điều trị tốt nhất với giá có thể chấp nhận được) trong khi vẫn bảo vệ được tính riêng tư của mỗi người?    Hai là việc sử dụng công nghệ trong giáo dục. Phần mềm có thể cải thiện việc học tập của học sinh như thế nào? Nhiều năm qua chúng ta đã từng nghe những lời tuyên bố bốc đồng về tác động lớn lao mà công nghệ có thể đem lại cho giáo dục. Con người có quyền hoài nghi nhưng tôi nghĩ những điều đó cuối cùng sẽ đến.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.gatesnotes.com/About-Bill-Gates/Year-in-Review-2018       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn yếu tố để khởi nghiệp thành công      Tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) được coi là một trong những giải pháp góp phần tăng số lượng các doanh nghiệp KH&amp;CN, đồng thời mang lại những đóng góp cụ thể có thể thấy ngay được cho sự phát triển nền kinh tế tri thức.     Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết bốn vấn đề cơ bản.  Trước hết, các doanh nghiệp khởi nghiệp rất cần một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó các chủ thể hỗ trợ startup không thể đứng riêng rẽ mà thường xuyên phải cõ sự gắn kết về thông tin và hợp tác, tương trợ cùng phát triển giữa startup với vườn ươm tạo doanh nghiệp/tổ chức tư vấn khởi nghiệp, giữa các startup với nhau, và đặc biệt uqan trọng là giữa startup với nhà đầu tư/quỹ đầu tư. Các nhà đầu tư cũng cần thường xuyên có cơ hội gặp gỡ, thậm chí được “đào tạo” để hiểu về cách thức, những điểm yếu, điểm mạnh đặc thù của hoạt động đầu tư cho các startup nói riêng và doanh nghiệp KH&CN nói chung, bởi đây là lĩnh vực khá mới mẻ với đa số các nhà đầu tư ở Việt Nam.   Đối với các startup trong lĩnh vực KH&CN thì nhu cầu về vốn rất lớn bởi họ cần đầu tư phát triển các kết quả nghiên cứu của mình thành công nghệ hoàn chỉnh và liên tục cập nhật các công nghệ đó để phù hợp với nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, đa số họ không thể đi vay ngân hàng, bởi tài sản đang kể duy nhất của các startup là ý tưởng công nghệ, một loại tài sản vô hình mà các ngân hàng Việt Nam thường không chấp nhận làm tài sản thế chấp. Vì vậy theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu khi hoàn thiện công nghệ (giai đoạn ươm mầm), Nhà nước đóng vai trò quan trọng là cung cấp vốn mồi cho các startup. Sau đó, khi qua giai đoạn ươm mầm, để có được vốn nhằm phát triển sản phẩm thử nghiệm và đưa sản phẩm rộng rãi ra thị trường, các startup Việt Nam rất cần tiếp cận được các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng như các nhà đầu tư tư nhân.    Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học, cơ khí, năng lượng… lại rất cần được sử dụng các phòng thí nghiệm và nhà xưởng để tiến hành nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và kiểm thử được sản phẩm của mình trước khi đưa ra thị trường. Điều này đòi hỏi những nguồn lực tốn kém vượt quá khả năng của các doanh nghiệp khởi nghiệp, vì vậy họ rất cần nhà nước tổ chức các vườn rươm tạo với đầy đủ máy móc, thiết bị chuyên dụng phù hợp. Tuy nhiên để tổ chức hiệu quả các cơ sở này, trước hết chúng ta phải có những khảo sát, điều tra về số lượng các startup trong từng lĩnh vực cũng như nhu cầu cụ thể của họ.  Điều cuối cùng là cần tạo điều kiện để startup được đào tạo, huấn với những chuyên gia về quản trị doanh nghiệp, tài chính, marketing, sở hữu trí tuệ,… cũng như những “người thành công đi trước” trong lĩnh vực kinh doanh.   Bốn vấn đề ciow bản trên đây có sự đan xen, liên hệ mật thiết với nhau, đòi hỏi sự quan tâm và nhuqngx chính sách thúc đẩy, hỗ trợ một cách toàn diện, thống nhất của nhà nuowcs, các cơ quan quản lý, sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư, các vườn ươm, và đặc biệt là nỗ lực tìm tòi sáng tạo và tự hoàn thiện không ngừng của bản thân các doanh nghiệp khởi nghiệp.   —   Xem thêm:  “Những nút thắt cần tháo gỡ”   (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8144)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bóng đèn Compact 10.000 giờ      Với mục tiêu nâng cao hiệu quả tiết kiệm điện, giảm các chi phí bảo trì bảo dưỡng, đáp ứng các công trình đặc biệt, Rạng Đông đã chủ động đổi mới trong KHCN nhằm nghiên cứu chế tạo bóng đèn compact chất lượng cao tuổi thọ đạt đến 10.000 giờ, trong khi đa số bóng đèn compact trên thị trường Việt Nam chỉ có tuổi thọ 6.000 giờ.     Trong bối cảnh vấn đề sử dụng hiệu quả năng lượng đang  trở nên cấp thiết trên toàn thế giới, Việt Nam đã đưa ra yêu cầu bắt  buộc là thay thế các nguồn sáng đèn dây tóc bằng các loại đèn tiết kiệm  điện hơn vào năm 2013. Trước yêu cầu này, sản phẩm đèn compact được coi  là giải pháp quan trọng hàng đầu.   Tuy nhiên, hiện nay đa số bóng đèn compact trên thị trường Việt Nam chỉ có tuổi thọ 6.000 giờ. Do đặc điểm nguyên lý sử dụng ballast điện tử nên bóng đèn compact hay bị hỏng sớm khi được sử dụng trong môi trường nóng ẩm, hoặc sử dụng bật tắt nhiều lần. Vì vậy, với mục tiêu nâng cao hiệu quả tiết kiệm điện, giảm các chi phí bảo trì bảo dưỡng, đáp ứng các công trình đặc biệt, Rạng Đông đã chủ động đổi mới trong khoa học công nghệ nhằm nghiên cứu chế tạo bóng đèn compact chất lượng cao tuổi thọ đạt đến 10.000 giờ.1   Bóng đèn compact bao gồm 2 bộ phận chính là phần ống phóng điện và ballast điện tử. Sự phối hợp giữa 2 bộ phận này đóng vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng của đèn. Vấn đề đặt ra là cần phải cải tiến nâng cao chất lượng của ballast, cải tiến ống phóng điện, đảm bảo tính tương thích các thông số phối hợp giữa ống phóng điện và ballast.  Giải pháp mà các chuyên gia Rạng Đông đưa ra là chuyển sang công nghệ ballast sử dụng mạch tích hợp IC có dự nhiệt. Tuy nhiên, thiết kế này phải được tính toán và tối ưu nhằm nâng cao tuổi thọ của điện cực cathode trong quá trình khởi động cũng như hoạt động. Sử dụng vi mạch khởi động nhanh sẽ cho phép đèn compact dễ dàng thay đổi chế độ dự nhiệt, lựa chọn được dòng và thời gian dự nhiệt phù hợp với dây tóc của đèn. Phương án này cũng giúp cho sơ đồ nguyên lý của chấn lưu trở nên gọn và đơn giản hơn, loại bỏ được xuyến từ là phần tử khá nhạy cảm với nhiệt độ, tần số và dòng điện hoạt động.  Rạng Đông cũng phải giải quyết vấn đề thiết kế ống đèn huỳnh quang compact sử dụng amalgam với các thông số hoạt động và hàm lượng thủy ngân phù hợp với các tiêu chuẩn Việt Nam quy định. Thủy ngân có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của đèn huỳnh quang, ảnh hưởng đến các thông số quang điện và tuổi thọ của đèn. Khi sản xuất chế tạo đèn cần đưa một lượng thủy ngân rất nhỏ cỡ miligam vào trong ống đèn. Thủy ngân được kết hợp với các nguyên tố khác tạo thành hợp chất rắn đưa vào đèn gọi là thủy ngân rắn hay là Amalgam. Với Amalgam người ta có thể đưa vào đèn liều lượng nhỏ thủy ngân với độ chính xác cao. Các mẫu đèn CFL chế tạo được khảo sát các thông số điện quang và đốt thắp đèn già hóa dài ngày. Các kết quả khảo sát thông số của các đèn chế tạo được kiểm tra nhằm đảm bảo thông số điện quang đáp ứng yêu cầu, và các mẫu đèn chế tạo đáp ứng các tiêu chuẩn cho phép.  Bên cạnh đó Rạng Đông cũng nghiên cứu sử dụng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ống phóng điện với trọng tâm là khâu xử lý lớp phủ oxit lên ống đèn, tăng sự duy trì quang thông của đèn; thiết kế và kiểm soát điểm lạnh trên ống đèn; đảm bảo các thông số áp lực khí trơ (Krypton, Argon) trên máy rút khí; giải pháp phủ và xử lý hiện tượng đen đầu đèn…  Những nỗ lực trên đây đã giúp nâng cao năng lực nghiên cứu và tiếp cận công nghệ mới của Rạng Đông, mà sản phẩm đạt được là bóng đèn compact 10.000 giờ với khả năng tiết kiệm điện 80% so với bóng đèn sợi đốt cùng độ sáng. Đây là sản phẩm được ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong sản xuất như sử dụng ballast điện tử IC theo nguyên lý dự nhiệt; sử dụng bột huỳnh quang 3 phổ cho ánh sáng trung thực, tự nhiên; sử dụng thủy tinh không chì giúp an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường và nâng cao hiệu suất phát quang; và sử dụng viên Amalgam thay thế thủy ngân lỏng giúp kiểm soát tốt hàm lượng thủy ngân trong đèn theo tiêu chuẩn quy định. Và hiển nhiên là mức tuổi thọ 10.000 giờ giúp giảm tần suất thay thế, giảm thời gian và chi phí bảo dưỡng cho người sử dụng.     —    1 Do ý nghĩa cấp bách và tiềm năng của nghiên cứu này mà dự án đã dành được sự quan tâm và hỗ trợ từ Chương trình Đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Phần Lan (Dự án IPP).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bôxít Tân Rai chưa tính được đến năm nào thì có lãi      “Vì đây là dự án bôxít đầu tiên mà chúng tôi làm, nên phải làm đã thì mới biết đến năm nào thì có lãi. Còn nếu đòi hỏi năm đầu tiên mà dự án phải có lãi ngay thì không nước nào trên thế giới tính thế cả, bởi phải tính cho cả đời dự án”, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) Trần Xuân Hoà trả lời phỏng vấn.    Sau nhiều lần trì hoãn vận hành thử nhà máy Tân Rai, tại cuộc họp đầu tháng 10 vừa qua, Thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang đã yêu cầu Vinacomin và ban quản lý dự án bôxít Tân Rai “chốt” mốc cuối cùng chạy thử nhà máy alumin vào ngày 1/11, vậy đến thời điểm này có thể khẳng định nhà máy sẽ chạy thử đúng thời gian nói trên không, thưa ông?  Dự án đang phải đợi pha mầm (hydrat) cho đảm bảo, sau 20 ngày kể từ ngày pha mầm mới ra sản phẩm, lúc đó mới quyết định thời điểm chạy thử.  Tức là vẫn chưa biết được ngày nào thì dự án sẽ đưa vào vận hành thử nghiệm?  Đến giờ này vẫn chưa biết được ngày pha mầm nên hạn ngày 1/11 vẫn phải lùi lại. Cũng phải nói thêm đây là một dự án tập trung cả dự án điện, dự án hoá chất nên anh em trên đó cũng đang rất nỗ lực.  Đấy là lý do chính hay còn lý do nào khác vì những lần chậm tiến độ trước đây thì đã có rất nhiều lý do được đưa ra như: nhà thầu nước ngoài chưa chịu bàn giao phần việc của mình, rồi khâu tuyển bôxít sau khi khai thác… thưa ông?  Lý do chính chỉ có thế thôi – là đợi pha mầm.  Tới thời điểm này, với các yếu tố giá thành (như giá đầu vào gồm than, hoá chất, rồi lãi suất… và giá đầu ra của sản phẩm là giá alumin xuất xưởng, giá nhôm ngoài thị trường…) thì Vinacomin đã tính được dự án có lãi, hoà vốn hay lỗ như có chuyên gia từng cảnh báo?  Một dự án bao giờ cũng tính cả đời, có nước nào mà đời dự án tính ngay năm đầu có lãi không? Như nhà máy đồng của chúng tôi, ban đầu tính phải mất ba năm là lỗ, bây giờ mới bắt đầu có lãi. Chưa kể, đối với những dự án đầu tư ở vùng sâu vùng xa thì còn các ý nghĩa xã hội khác nữa.  Vậy với dự án bôxít Tân Rai thì dự kiến mất bao năm mới bắt đầu có lãi?  Vì đây là dự án bôxít đầu tiên của chúng tôi nên phải làm cái đã mới biết được.  Mới đây sau cuộc thị sát do viện CODE (thuộc liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) tổ chức, một chuyên gia của chính Vinacomin là ông Nguyễn Thành Sơn tỏ ra rất lo ngại, ông Sơn cho rằng Vinacomin nên mạnh dạn đề xuất Chính phủ cho dừng một dự án (Nhân Cơ), chờ để thí điểm xong Tân Rai nếu thấy có hiệu quả thì làm tiếp cũng chưa muộn, ông thấy sao?  Chính phủ chỉ đạo chúng tôi làm thí điểm cả hai dự án, đấy là cái “cốt”. Còn mình là “quân” của Chính phủ thì (phải) làm theo chỉ đạo.  Nhưng nếu làm cả hai dự án cùng lúc, tức là dồn cả vốn vào đấy, thì Vinacomin sẽ rất khó khăn, nhất là để đầu tư vào ngành chính là than?  Cái đó phải hỏi Chính phủ. Tất cả vốn của dự án này Chính phủ lo hết. Với lại cả nước bây giờ đang khó khăn về vốn liếng cả chứ đâu riêng gì dự án nào.          Kiểu gì cũng lỗ?   Ông  Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Ban quản lý Các dự án than đồng bằng sông  Hồng (thuộc Vinacomin) tính toán: tổng vốn đầu tư đã được điều chỉnh của Tân Rai chỉ dừng lại ở  mức 15.600 tỉ đồng (việc chậm tiến độ một năm đã làm tăng tổng mức đầu  tư thêm gần 1.100 tỉ đồng so với ban đầu), lãi suất huy động vốn tạm  tính 7%/năm, thời gian huy động vốn là mười năm, trả vào cuối kỳ, riêng  chi phí hoàn trả vốn đầu tư (cả gốc và lãi) đã lên tới 2.220 tỉ  đồng/năm.   Nếu đạt 100% công  suất thiết kế (0,6 triệu tấn/năm), mỗi năm nhà máy sẽ phải tiêu dùng  khoảng: 1,2 triệu tấn bôxít qua tuyển (khai thác tại chỗ); 0,4 triệu tấn  than cám (giá FOB tại Quảng Ninh khoảng 1,6 triệu đồng/tấn); 0,2 triệu  tấn than cục (giá FOB tại Quảng Ninh khoảng 4 triệu đồng/tấn); khoảng  0,1 triệu tấn hoá chất và đá vôi… thì tổng chi phí vận hành khoảng  2.500 tỉ đồng/năm. Như vậy, giá thành alumin xuất xưởng tại Tân Rai thấp  nhất cũng khoảng 375 USD/tấn.   Nhưng  theo ông Sơn, giá nhôm kim loại trên thế giới năm 2013 sẽ đạt mức 2.300  USD/tấn, thì giá xuất khẩu alumin của Vinacomin ở ven biển tối đa  khoảng 345 USD/tấn. Như vậy, nếu tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc –  dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu theo quy định là 20%,  thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD, Vinacomin lỗ 74,4 triệu  USD/năm. Kể cả trong trường hợp được miễn cả thuế xuất khẩu – và tạm  thời chưa nộp ngân sách, mỗi tấn alumin sẽ lỗ ít nhất 55 USD thì mỗi năm  Vinacomin lỗ ít nhất 33 triệu USD.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Brazil: Cuộc bán đấu giá tài nguyên gây nhiều tranh cãi      Cuộc bán đấu giá mỏ dầu khổng lồ Libra của  Brazil đã kết thúc chóng vánh hôm thứ Hai mới đây vì chỉ có một bên duy  nhất tham gia bỏ thầu. Trước khi cuộc bán đấu giá được truyền hình trực  tiếp, hàng nghìn người dân đã biểu tình để phản đối.    Mỏ dầu bán đấu giá mang tên Libra, nằm ở độ sâu 6.000 mét thuộc nam Đại Tây Dương, cách bờ biển Rio de Janeiro 183 km, ước có trữ lượng từ 8 đến 12 tỷ thùng dầu thô. Để khai thác, phải đầu tư tối thiểu 130 triệu Euro với công nghệ hiện đại nhất, trong đó có những việc hiện còn trong giai đoạn phát triển. Nguy cơ về môi trường đối với biển cả, với quần thể động vật và với bãi biển thuộc diện đẹp nhất và đông dân cư nhất của Brazil là rất lớn. Nhưng rốt cuộc thì sự thèm khát tài nguyên lớn hơn mọi băn khoăn, lo lắng.  Libra là một trong những mỏ dầu ở vùng biển sâu đầu tiên, lớn nhất và quan trọng nhất mà Brazil đã phát hiện cách đây sáu năm. Việc khai thác mỏ dầu sẽ đưa Brazil vào hàng ngũ các quốc gia khai thác dầu mỏ lớn nhất thế giới. “Libra tạo nên một bước ngoặt đối với Brazil”, như Bộ trưởng Năng lượng Edson Lobão từng nhấn mạnh trước khi tiến hành cuộc bán đấu giá này.   Tuy nhiên chỉ có một bên duy nhất tham gia đấu giá vì thế sự kiện nổi đình đám và được truyền hình trực tiếp này đã kết thúc chóng vánh sau ít phút. Một liên doanh gồm tập đoàn dầu mỏ nửa nhà nước của Brazil là Petrobras (40%); các hãng dầu châu Âu như Shell, Total (mỗi hãng 20%) và hai doanh nghiệp dầu mỏ quốc doanh của Trung Quốc (mỗi doanh nghiệp 10%) đã thắng thầu và được quyền khai thác Libra trong thời gian 35 năm. Liên doanh phải trích 41,65 % lợi nhuận, lợi nhuận tối thiểu, nộp cho nhà nước Brazil, ngoài ra còn có thêm khoản tiền thưởng một lần là 5 tỷ Euro.   Vụ bán đấu giá gây nhiều tranh cãi trong dân chúng và đã có hàng nghìn người biểu tình phản đối vụ làm ăn này, dẫn đến đụng độ giữa người dân phản đối bán đấu giá với lực lượng an ninh Brazil. Những ngày qua, thẩm phán đã ra 20 phán quyết chống lại việc bán đấu giá, tuy nhiên các luật sư của chính phủ đã kịp thời vô hiệu hóa những phán quyết này.      Cuộc tranh cãi về tài nguyên khoáng sản ở Brazil từ lâu mang tính ý thức hệ, câu khẩu hiệu trong các cuộc biểu tình là “O Petróleo é nosso!” (Dầu mỏ là của chúng ta!). Tổng thống Getúlio Vargas đã quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu mỏ từ những năm năm mươi, ông cũng là người sáng lập tập đoàn dầu khí quốc gia Petrobras.   Các chính phủ sau này tuy nới lỏng dần sự độc quyền, nhưng chính phủ vẫn giữ quyền ra quyết định đối với những vấn đề hệ trọng. Tổng thống Lula da Silva, từng lãnh đạo chính phủ cách đây hai năm và người kế tiếp ông là bà Dilma Rousseff đã dùng Petrobras vào các mục đích chính trị. Việc trao các chức vụ quan trọng của tập đoàn này không theo các tiêu chí về chuyên môn, nghiệp vụ mà chủ yếu cho các đồng minh chính trị.   Bà Rousseff tuy có giảm sự can thiệp về chính trị nhưng bà lại can thiệp khá sâu vào vào chiến lược kinh doanh của tập đoàn: bà phản đối tăng giá xăng thái quá vì điều đó có thể gây lạm phát, do đó Tập đoàn lại thiếu nguồn thu để đầu tư cho các hạng mục quan trọng và cấp thiết để tiếp tục phát triển.   Petrobras căng thẳng   Cựu tổng thống Lula năm 2006 từng tuyên bố đầy tự hào rằng, lần đầu tiên Brazil đã hoàn toàn tự giải quyết được khâu cung cấp năng lượng, tuy nhiên sự thật lại không phải như vậy: Brazil vẫn phải nhập xăng với giá thị trường, vì sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu về xăng. Do đó Petrobras bị thua lỗ hàng triệu đôla, tình hình tài chính của tập đoàn khổng lồ này hiện khá căng thẳng.  Tuy bị phản đối nhưng chính phủ vẫn coi kết quả cuộc đấu thầu vừa qua là thành công. Nhiều chuyên gia từng nhận định các doanh nghiệp tư nhân sẽ choáng trước những điều kiện đấu thầu và Libra sẽ rơi vào tay doanh nghiệp nhà nước, và các doanh nghiệp này lại chịu những chi phối về chính trị của nhà nước. Đặc biệt Trung Quốc là quốc gia nghèo tài nguyên nên rất quan tâm đến nguồn dầu mỏ của Brazil. Giờ đây 40% của Libra nằm trong tay các tập đoàn dầu mỏ tư nhân khổng lồ Shell và Total, người Trung Quốc chỉ chiếm 20%, như vậy thì nỗi lo đã được dàn trải.   Bà tổng thống Rousseff theo dõi cuộc đấu giá qua truyền hình ở ngay văn phòng, bà coi sự kiện này là một trong những quyết định quan trọng nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Tuy nhiên liệu hy vọng của bà tổng thống về nguồn tài nguyên trong biển cả có trở thành hiện thực hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố và các yếu tố đó hầu như không chịu sự chi phối của bà: không lâu nữa, Mỹ sẽ không còn lệ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ – Mỹ áp dụng công nghệ Fracking gây nhiều tranh cãi để khai thác khí đốt từ đá phiến. Ở châu Âu, trong những thập niên tới, xe ô tô chạy điện sẽ đẩy lùi ô tô chạy bằng động cơ chạy xăng, có nghĩa là nhu cầu về dầu mỏ của châu lục này cũng sẽ giảm.   Nếu giá dầu mỏ xuống liên tục thì giấc mơ dầu mỏ ở biển sâu sẽ vỡ tan tành vì việc khai thác rất tốn kém vì thế chỉ khi nào giá dầu cao thì việc khai thác dầu ở biển sâu mới sinh lời.      Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Brazil: Phục hồi bảo tàng khoa học từ đống tro tàn      Gần một năm kể từ khi ngọn lửa thiêu rụi Bảo tàng Quốc gia tại Rio de Janeiro, các nhà nghiên cứu Brazil đang vật lộn với đám tàn tích ở đây để sớm quay trở lại nghiên cứu đồng thời tiếp tục cuộc sống.      Bảo tàng Quốc gia tại Rio de Janeiro sau vụ cháy năm 2018. Nguồn: María Magdalena Arréllaga for Nature.  Vào lúc 7h55 tối ngày 2/9/2018, Buckup, một nhà khoa học nghiên cứu về các loài cá tại Đại học Liên bang Rio de Janeiro (UFRJ), nhận được một tin nhắn thoại khẩn cấp thông báo về việc bảo tàng đang bốc cháy dữ dội. Lái xe trên đường tới Bảo tàng, cách chừng 1km, ông bắt đầu thấy ngọn lửa ngút trời, “bầu trời tràn ngập tia lửa”. Khi đến Bảo tàng Quốc gia, ông thấy ngọn lửa đang xé toạc tòa nhà chính của bảo tàng rồi hung hãn tràn vào phần còn lại. Những người lính cứu hỏa đứng đó trông đầy bất lực. “Sau đó, tôi nhận ra nguyên nhân”, Buckup nói. “Họ đã hết sạch nước.” Hai chiếc vòi chữa cháy bên cạnh bảo tàng đã khô khốc và những chiếc xe cứu hỏa phải chạy đua đến một hồ nước gần đó để lấy nước.  Lúc bấy giờ Buckup vẫn chưa biết một điều, ông đang chứng kiến thảm họa khoa học lớn nhất từng được ghi nhận tại Brazil. Chẳng mấy chốc, hàng trăm năm lịch sử tự nhiên biến thành tro bụi.  Các nhà nghiên cứu Brazil không còn xa lạ gì với những thảm kịch như thế này. Trong suốt mười năm qua, các vụ hỏa hoạn đã thiêu rụi ít nhất bốn bảo tàng khoa học và các trung tâm nghiên cứu khác. Nhiều người đã cảnh báo rằng một số phận tương tự sẽ xảy đến với Bảo tàng Quốc gia. “Bảo tàng ở Rio chẳng khác gì một hộp diêm”, Kelly Zamudio, nhà di truyền học quần thể tại Đại học Cornell ở Ithaca, New York nhận định. “Thảm kịch ắt sẽ xảy ra.”  Biển lửa thiêu rụi nhiều dự án nghiên cứu  Với các nhà nghiên cứu và sinh viên, bảo tàng còn gắn bó hơn cả một nơi làm việc, vì thế việc nó bị tàn phá đã khiến họ chao đảo. Kể từ tháng chín năm ngoái, Buckup nhận thấy rằng các sinh viên và những đồng nghiệp có thâm niên trong nghề — những nhà nghiên cứu “mà bạn nghĩ rằng bạn sẽ không bao giờ có thể chứng kiến sự yếu đuối hay ủy mị của họ” — đã phải rơi lệ. “Đến tận bây giờ, những giọt nước mắt của họ vẫn ám ảnh tôi hơn chính thảm kịch”, Buckup kể.  Nhà cổ sinh vật học Antonio Carlos Fernandes hiểu cảm giác đó. Ông đã dành hơn 40 năm để nghiên cứu hóa thạch của san hô và các loài động vật không xương sống khác, đồng thời tiếp tục làm việc với tư cách một nhà nghiên cứu tình nguyện tại bảo tàng kể từ khi nghỉ hưu vào năm 2016. Trong vụ hỏa hoạn, ông đã mất hầu hết các tài liệu nghiên cứu của mình. Dù “muốn tin rằng tất cả chỉ là một cơn ác mộng” nhưng Fernandes không có kế hoạch từ bỏ công việc của mình. “Một khi là một nhà nghiên cứu, luôn luôn là một nhà nghiên cứu”, ông nói.  Đó là một cảm xúc chung. Các thành viên của bộ phận côn trùng học đã bắt đầu thay thế các bộ sưu tập bị phá hủy bằng cách thu hồi lại một số mẫu vật trước đó đã cho các tổ chức khác mượn. Họ cũng đã nhận được sự đóng góp hào phóng từ các nhà sưu tập, và đã bắt đầu mạo hiểm tiến vào rừng rậm Amazon và các khu vực khác trên khắp Brazil để thu thập các mẫu vật mới.   Dẫu còn rất nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn đang cố gắng hết sức; như nhà côn trùng học Pedro Souza-Dias đã chia sẻ: “Dù hiện tại không thuận lợi nhưng chúng tôi vẫn đang chiến đấu. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác.”    Nhà thiên văn học Maria Elizabeth Zucolotto với tảng thiên thạch sống sót sau lửa. Nguồn: María Magdalena Arréllaga for Nature.  Tuy nhiên họ phải đối mặt với những ám ảnh khó tả về sự bấp bênh. Sau vụ cháy, mỗi giấc ngủ của nhà côn trùng học Thaynara Pacheco đều bị ám ảnh bởi mùi khét và nỗi sợ hãi rằng căn hộ của cô, giống như bộ sưu tập côn trùng, rồi sẽ bốc cháy. Vào tháng 3/2019, cô còn nhầm tưởng mùi nước hoa với mùi của chất bảo quản băng phiến, khi cô nhận học bổng tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Smithsonian (NMNH) ở Washington DC.  Đối với Pacheco, thảm kịch đồng nghĩa với việc cô sẽ phải thay đổi hoàn toàn đề tài luận án của mình. Lúc còn ở Rio de Janeiro, cô đã xem xét về trường hợp phân loại của Chelonariidae, hay bọ rùa, một họ ít được nghiên cứu gồm gần 300 loài. Nhưng những cuốn sổ tay, bản phác thảo và hơn 1.500 mẫu vật của Bảo tàng Quốc gia và các tổ chức khác đã biến mất trong đám cháy. “Đó là một cảm giác đau buồn chung, bạn biết không? Hệt như việc mất đi một người thân yêu vậy”, cô nói.  Để tiếp tục dự án mới của mình, Pacheco cần đến thăm Bảo tàng Nghiên cứu Động vật học Alexander Koenig ở Bonn, Đức, nơi lưu giữ hầu hết các mẫu vật thuộc bộ lạc Sericini. Nhưng trước tiên, cô dự định thực hiện một việc nhằm “tưởng niệm” Bảo tàng Quốc gia — bằng cách xăm hình logo của phòng thí nghiệm đã bị phá hủy của mình, hoặc thậm chí có thể là một trong những con bọ rùa mà cô từng nghiên cứu.  Cô không phải là người duy nhất. Beatriz Hörmanseder, một nghiên cứu sinh khác tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Hoa Kỳ, cho rằng việc xăm mình là một hình thức nhằm đối phó với chấn thương tâm lý từ sau vụ hỏa hoạn. Museu na Pele, hay Bảo tàng trên da, là một dự án mà cô đã ấp ủ cùng Luís Berbert, một nghệ sĩ xăm mình người Brazil, nhằm giúp các nhà nghiên cứu và sinh viên lưu giữ ký ức.   Hiện nay, cô đang thực hiện nghiên cứu của mình, bằng cách mô tả một hóa thạch cá sấu từ Utah. “Tôi đang hoàn thành nó một cách nghẹt thở vì tôi có rất ít thời gian và phải bắt đầu từ con số không”, cô nói. Nhưng cô nghĩ rằng nỗ lực của mình rồi sẽ được đền đáp. Việc nghiên cứu tất cả các loài cá sấu thời tiền sử sẽ có ích khi cô bắt đầu học tiến sĩ ở nơi khác, ở Bắc Mỹ hoặc Đức. “Tôi sẽ biết về tất cả mọi thứ trên thế giới này”, cô nói, và rồi cười phá lên.  Trỗi dậy từ tro tàn  Sáng sớm sau vụ cháy, trong khi một loạt phóng viên dồn dập phỏng vấn các nhà nghiên cứu, nhà thiên văn học thuộc Đại học Liên bang Rio de Janeiro (UFRJ) Maria Elizabeth Zucolotto đã thu hết can đảm bước vào bảo tàng, hay nói đúng hơn là một đống đổ nát.  Khi bước vào cổng chính, cô không nhìn thấy gì ngoài Bendegó, một thiên thạch khổng lồ bằng sắt nặng 5.360 kg được phát hiện vào năm 1784 ở phía Đông Bắc Brazil. Tảng đá đến từ không gian hầu như không bị ngọn lửa liếm qua: “Một biểu tượng của sự phản kháng”, ông Zucolotto, người phụ trách bộ sưu tập thiên thạch của bảo tàng nói.  Những mảnh vỡ từ không gian là một trong những vật đầu tiên được phục hồi từ Bảo tàng Quốc gia.  Vào ngày 18/10/2018, hơn một tháng sau vụ cháy, cảnh sát đã cho phép Zucolotto trở lại văn phòng cũ của cô. Ngày hôm đó, cô đã phục hồi nhiều thiên thạch hơn, bao gồm một thiên thạch tên là Angra dos Reis, trị giá 750.000 USD.   Zucolotto không phải là người duy nhất thực hiện công việc sàng lọc qua đống đổ nát này. Trong hầu hết các ngày, hàng chục nhà nghiên cứu đã được đào tạo, được trang bị bàn chải và bay, bước qua các mảnh vỡ của bảo tàng để tìm kiếm các đồ tạo tác. Tập trung bên ngoài, sinh viên rây đất đá qua sàng lưới, sau đó lau sạch bụi bẩn từ các vật dụng, rồi chụp ảnh chúng.  “Thật lạ lùng, chúng tôi đã có khá nhiều khoảnh khắc hạnh phúc”, nhà cổ sinh vật học Luciana Carvalho, điều phối viên của một nhóm gần 70 người. Đến cuối tháng sáu, họ đã thu hồi lại được 5.345 vật thể — hóa thạch thằn lằn bay, xương người cổ đại, cốc cà phê, kính hiển vi, ngăn kéo đầy ắp các mẫu vật, cổ vật Ai Cập và gốm sứ từ Amazon.  Thảm họa từng được dự đoán   Vụ tai nạn vào tháng chín năm ngoái chỉ là vụ mới nhất trong một loạt các vụ hỏa hoạn đã gây thiệt hại cho các tổ chức khoa học ở Brazil. Vào tháng 5/2010, một đám cháy đã phá hủy bộ sưu tập động vật học của Viện Butantan ở São Paulo — một tổ chức nghiên cứu lớn, chịu trách nhiệm cho hầu hết các loại thuốc kháng nọc độc và vaccine được sản xuất trong nước. Trung tâm nắm giữ kho chứa mẫu vật loài rắn lớn nhất khu vực Mỹ Latinh từ trước đến nay, khoảng 90.000 mẫu vật, đại diện cho hàng trăm loài, một số loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hoặc đã tuyệt chủng.    Paulo Buckup và Alexandre Pimenta kiểm tra các mẫu vật cứu được từ đám cháy. Nguồn: María Magdalena Arréllaga for Nature.  Khi trụ sở của viện bị cháy, Trefaut Coleues cùng một đồng nghiệp đã đăng một mục trên tờ báo quốc gia nhằm cảnh báo rằng, một điều gì đó tương tự có thể xảy đến một lần nữa bởi điều kiện nghèo nàn của nhiều tòa nhà bảo tàng trên khắp đất nước. “Có thể thảm kịch này xuất hiện như một bài học”, họ viết. Họ kiến nghị chính phủ quan tâm đến các cơ sở sinh học khác, và sau đó liệt kê những cơ sở mà họ cho là có nguy cơ cao nhất — bao gồm Bảo tàng Quốc gia.  Một trong những mối lo ngại trong tương lai, đó là Bảo tàng Động vật học của Đại học São Paulo (MZUSP) cùng 10 triệu mẫu vật của nó. Đầu những năm 2000, khi chuẩn bị từ chức, giám đốc bảo tàng Trefaut Coleues đã thúc đẩy việc vận chuyển các bộ sưu tập trong tòa nhà từ thời 1940 sang một khu phức hợp lớn hơn, hiện đại hơn. Dự án đã được phê duyệt, và việc xây dựng được tiến hành từ năm 2012, nhưng nó đã bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 2014. Ngày nay, địa điểm mới chỉ tồn tại dưới dạng một bộ khung bê-tông.  “Hiện tại, ngân sách của trường đại học không đủ để hoàn thành dự án, bất kể là dưới hình thức nào”, nhà ngư học Mario de Pinna, giám đốc đương nhiệm của MZUSP nói. Tuy nhiên, bảo tàng đang thực hiện các biện pháp lớn và nhỏ nhằm giảm thiểu nguy cơ – từ việc đặt máy dò nhiệt trong tất cả các bộ sưu tập, đến việc tịch thu máy pha cà phê – thứ được cho là tiềm ẩn rủi ro.  Các nhân viên bảo tàng cho biết, Bảo tàng Quốc gia đã xuống cấp từ từ trong suốt nhiều thập kỷ. Người ta cho rằng chính phủ đã phớt lờ nhiều đề xuất suốt những năm qua trong việc cải tạo và hiện đại hóa các cơ sở. Và những vấn đề tài chính thì cứ gia tăng. Ngân sách từ trường đại học, một trong những nguồn tài trợ chính của bảo tàng, đã giảm đáng kể — từ 487 triệu reais (130 triệu đô la Mỹ) vào năm 2014, còn 361 triệu reais vào năm 2019.   Các nhà nghiên cứu tự hỏi rằng các cam kết của chính phủ sẽ được duy trì trong khoảng thời gian bao lâu. Nhà chức trách đã không thực hiện những biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ các bộ sưu tập khoa học ở Brazil sau vụ cháy Butantan, Francisco Franco, nhà sinh vật học và là người phụ trách viện nghiên cứu cho biết. “Một khi đám cháy lụi tàn, sự chú ý của chính phủ cũng sẽ nguội dần”, ông nói. Bây giờ, ông lo sợ rằng điều gì đó tương tự có thể sẽ xảy đến với Bảo tàng Quốc gia. “Chúng ta không được phép quên”.  Buckup sẽ không bao giờ quên. Một đêm tháng ba, bảo tàng xuất hiện trong tâm trí ông khi ông tham gia cùng một số nhân vật nổi tiếng nhất tại Brazil, những người được tờ báo Brazil O Globo và liên đoàn công nghiệp Rio de Janeiro tổ chức lễ kỷ niệm vì đã “tạo nên sự khác biệt” trong năm 2018. Buckup đã lên sân khấu để chấp nhận vinh dự cho những nỗ lực giải cứu mẫu vật và thiết bị của mình vào tháng 9 năm ngoái. Nhưng ông đã không đọc lên một bài diễn văn khải hoàn. “Tôi thấy không có lý do gì để ăn mừng”, ông nói khi thúc giục đám đông ủng hộ Bảo tàng Quốc gia. “Chúng ta đã mất đi một phần của quá khứ. Chúng ta không thể đánh mất tương lai của chúng ta.”  Từ ban đầu, mọi thứ đã báo hiệu điềm không lành. Thậm chí là từ trước khi bảo tàng bị cháy, Buckup đã mất các nghiên cứu sinh và trợ lý nghiên cứu vì vấn đề cắt giảm ngân sách. Hầu hết trong số đó đã chuyển ra khỏi thành phố; ít nhất một người thì rời khỏi đất nước. Còn bộ sưu tập cá do ông phụ trách, thậm chí việc bảo trì về cơ bản là đã xuống cấp. Buckup kể rằng điện thoại đã ngừng hoạt động từ lâu và Internet thì không thể truy cập trong nhiều tuần. Hơn nữa, các mẫu vật được bảo quản ở nhiệt độ không phù hợp, ông nói, bởi vì điều hòa không khí vẫn không ổn định.  Một vấn đề khác cũng khiến ông lo lắng. Mặc cho có rất nhiều yêu cầu bảo trì, nhưng theo ông, “hệ thống phòng cháy chữa cháy không hoạt động”.□  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02141-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức ảnh lỗ đen đầu tiên trong lịch sử      Mạng lưới toàn cầu của Kính viễn vọng Chân trời sự kiện đã tạo ra bức ảnh trực tiếp đầu tiên về một lỗ đen và cả chân trời sự kiện của nó.      Mạng lưới Event Horizon Telescope đã công bố bức ảnh về lỗ đen – tại trung tâm  thiên hà M87. Nguồn: EHT Collaboration  Các nhà thiên văn học cuối cùng đã có thể nhìn lướt qua cái tăm tối ảm đạm của một lỗ đen. Bằng việc ghép nối một mạng lưới kính viễn vọng sóng radio toàn cầu, lần đầu tiên họ có thể “trình làng” một bức ảnh chân trời sự kiện – phần rìa đầy nguy hiểm của một lỗ đen – trên cái nền xoáy của ánh sáng.  “Chúng tôi đã thấy những cái cổng địa ngục tại điểm cuối của không gian và thời gian”, nhà vật lý Heino Falcke của trường đại học Radboud ở Nijmegen, Hà Lan nói tại buổi họp báo ở Brussels. “Những gì bạn đang trông chờ được thấy là một vòng tròn được tạo ra bằng sự biến dạng của không – thời gian. Ánh sáng ở xung quanh và nó giống như một đường tròn”.  Các hình ảnh đó – của một cấu trúc giống hình tròn, rực sáng- chứng tỏ lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của thiên hà M87, cách mặt trời 16 megaparsecs (55 triệu năm ánh sáng) và có khối lượng gấp 6,5 tỷ lần mặt trời. Chúng cho thấy, có nhiều chi tiết hơn trước đây, chân trời sự kiện – nơi lực hấp dẫn mạnh đến mức không có gì có thể vượt qua được nó, ngay cả ánh sáng.  Các kết quả được mong chờ này, có thể được so sánh với ghi nhận hình ảnh chiếc bánh doughnut trên bề mặt mặt trăng, được Nhóm hợp tác Kính viễn vọng chân trời sự kiện (Event Horizon Telescope EHT) trong 6 cuộc hội thảo được tổ chức đồng thời ở bốn châu lục. Những phát hiện đó được xuất bản trên tạp chí Astrophysical Journal Letters vào ngày 10/4/2019.  Hình ảnh này là một “thành tích đáng kinh ngạc”, nhà vật lý thiên văn Roger Blandford của trường đại học  Stanford ở California. “Hồi sinh viên, tôi chưa bao giờ mơ là về bất kỳ điều gì như thế lại có thể xảy ra. Đây là một xác nhận khác về thuyết tương đối tổng quát như một lý thuyết đúng về lực hấp dẫn mạnh”.  “Tôi rất vui mừng”, Andrea Ghez, một nhà thiên văn học tại trường đại học California, Los Angeles. Những hình ảnh đó cung cấp “bằng chứng xác thực” của một ‘quầng photon’ xung quang một lỗ đen, cô nói.    Sáu cuộc họp báo được tổ chức khắp thế giới tiết lộ những hình ảnh về lỗ đen.  Những dự đoán về lỗ đen  Gần một thế kỷ trước, các nhà vật lý lần đầu tiên suy luận ra là các lỗ đen có thể tồn tại từ thuyết tương đối rộng về lực hấp dẫn của Albert Einstein, phần lớn bằng chứng đó cho đến nay vẫn là gián tiếp. Nhóm hợp tác EHT đã đưa ra một xác nhận mới về những dự đoán này.  Nhóm nghiên cứu đã quan sát hai lỗ đen siêu khối lượng – một của thiên hà M87 và một là Sagittarius A*, nằm ở trung tâm của Ngân hà — trong năm đêm tháng 4/2017. Họ đã hội tụ đủ độ phân giải để nắm bắt được khoảng cách của các vật thể bằng việc nối các đài quan sát sóng radio trên khắp hành tinh – từ Hawaii đến South Pole — và mỗi đài quan sát thu thập dữ liệu nhiều hơn cả Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC trong vòng một năm. Phải mất hơn hai năm làm việc cật lực để ghép nối các bức ảnh đó với nhau.  Sau khi kết hợp dữ liệu của các đài quan sát, nhóm hợp tác đã bắt đầu phân tích vào giữa năm 2018. Họ nhanh chóng nhận ra là họ có thể có được một bức ảnh đầu tiên, rõ ràng từ thiên hà M87. “Chúng tôi tập trung mọi chú ý vào thiên hà M87 khi chúng tôi thấy những kết quả đầu tiên bởi chúng tôi thấy nó sẽ trở thành thứ tuyệt vời,” Falcke nói.  Tại hội nghị ở Brussels, nhà vật lý thiên văn Monika Moscibrodzka, cũng tại trường Radboud, cho biết những phép đo này đến giờ vẫn còn chưa đủ chính xác để đo được spin của lỗ đen M87 nhanh như thế nào – một đặc điểm cốt lõi về lỗ đen. Nhưng nó cũng chỉ dấu hướng quay của lỗ đen, vốn được coi là theo chiều kim đồng hồ của bầu trời, cô nói. Những nghiên cứu sâu hơn có thể giúp các nhà nghiên cứu hiểu cách lỗ đen tạo ra các luồng tia khổng lồ của nó như thế nào.  Giờ đây, các nhà nghiên cứu sẽ tập trung sự chú ý vào dữ liệu Sagittarius A*. Bởi Sagittarius A* nhỏ hơn gần 1.000 lần so với lỗ đen M87, vật chất quay quanh nó nhiều lần trong suốt từng phiên quan sát khiến tạo ra một tín hiệu thay đổi nhanh chóng hơn là một vật thể đứng yên, Luciano Rezzolla – một nhà vật lý  thiên văn lý thuyết tại trường đại học Goethe Frankfurt và là môt jthanhf viên của Nhóm hợp tác EHT, nhận xét. Điều đó cũng khiến cho việc giải thích về dữ liệu trở nên phức tạp hơn nhưng cũng hứa hẹn sự phong phú hơn về thông tin.    Các chân trời sự kiện là đặc điểm quan trọng của các lỗ đen. Với một người quan sát ở phạm vi gần hơn, một chân trời sự kiện xuất hiện dưới dạng một bề mặt hình cầu che khuất những gì có trong nó. Bởi vì ánh sáng có thể băng qua bề mặt này chỉ theo một đường – hướng vào trong – trái đất hoàn toàn màu đen.  Chân trời sự kiện của một lỗ đen có thể xuất hiện với kích thước lớn hơn nó 5 lần bởi vì lỗ đen bao bọc lấy không gian xung quang và bẻ cong ánh sáng. Hiệu ứng này, do nhà vật lý James Bardeen tại trường đại học Washington ở Seattle phát hiện ra năm 1973, tương tự cách một chiếc thìa lớn hơn khi được nhúng vào một cốc nước thủy tinh. Hơn nữa, Bardeen cũng chứng tỏ lỗ đen có thể được thấy như một “cái bóng” lớn hơn bởi trong một khoảng cách nhất định của chân trời sự kiện, phần lớn các tia ánh sáng bị uốn cong đến mức chúng đi theo quỹ đạo của lỗ đen.  Kính viễn vọng có kích thước tương đương trái đất  Để giải quyết vấn đề các chi tiết ở mức chân trời sự kiện, các nhà thiên văn học tính toán là họ có thể cần một kính viễn vọng có kích thước tương đương trái đất (độ phân giải của một kính viễn vọng có tỷ lệ cân xứng với kích thước của nó). Thật may mắn là một kỹ thuật có tên gọi là giao thoa (interferometry) có thể giúp các nhà khoa học làm được điều đó. Nó gồm nhiều kính thiên văn, nằm cách xa nhau và cùng hướng vào cùng một vật thể  cùng lúc. Các kính viễn vọng hoạt động một cách hiệu quả như thể chúng là một phần của một kính viễn vọng lớn.  Các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đã làm tinh tế kỹ thuật của mình, và trang bị thêm một số thiết bị quan sát. Cụ thể, một nhóm do Shep Doeleman, làm việc tại trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, đã chỉnh lại Kính viễn vọng South Pole 10 m và ALMA ở Chile để nó có thể thực hiện những yêu cầu của nghiên cứu này.  Năm 2014, Falcke, Doeleman và các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới cùng tham gia hình thành Nhóm hợp tác EHT. Họ đã thiết lập một chiến dịch quan sát trên khắp hành tinh vào năm 2017. Họ đã quan sát thấy Sagittarius A* và M87 vào tháng 4 khi các địa điểm của các đài quan sát đều cùng trong thời tiết đẹp để có thể quan sát một cách đồng thời.  Thiết bị thô, ở mức hàng petabyte, đã được lưu trong các ổ cứng và được chuyển qua đường hàng không, đường biển và đường bộ tới Viện nghiên cứu Thiên văn Radio Max Planck ở Đức và Đài quan sát Haystack ở Viện công nghệ Massachusetts.  Năm ngoái, trong khi dữ liệu vẫn còn đang được xử lý, Falcke nói với Nature là ông chờ đợi thực nghiệm sẽ đem lại một lượng thông tin phong phú về cấu trúc của các lỗ đen nhưng nó vẫn chưa là một bức ảnh đẹp mà mới chỉ là một “củ lạc xấu xí”, ông nói. “Hoặc có thể, bức hình đầu tiên sẽ chỉ là một vài đốm sáng. Nó thậm chí còn chưa thành hình một củ lạc”.    Nhóm hợp tác EHT còn triển khai một chiến lược quan sát khác trong năm 2018 – các phân tích này của dữ liệu vẫn còn đang thực hiện – nhưng cũng hủy một chiến dịch quan sát khác trong năm nay bởi các vấn đề về an ninh xảy ra tại gần một trong những địa điểm quan trọng nhất, Kính viễn vọng LMT 50m ở Puebla, Mexico. Họ lập kế hoạch tiếp tục thực hiện các quan sát khác thêm một lần mỗi năm, bắt đầu vào năm 2020.  Nhóm hợp tác hiện giờ đang trông chờ vào kinh phí để thiết lập một vị trí ở châu Phi, vốn sẽ để lấp khoảng trống của mạng lưới. Kế hoạch này là di dời một kính thiên văn Thụy Điển đã thôi hoạt động – từ Chile đến núi Gamsberg Table ở Namibia. Hiện giờ, mạng lưới này vẫn còn sẵn sàng có thêm hai đài quan sát khác ở Đức và vùng núi Alps thuộc Pháp.  Việc mở rộng mạng lưới EHT có thể đem lại chi tiết về những gì đang xảy ra bên trong các vùng trống – “thế giới bên trong các lỗ đen vận hành như thế nào, và liệu nó có như những gì chúng ta chờ đợi không”, David Sánchez Argüelles, một nhà vật lý tại Kính viễn vọng LMT 50m ở Puebla, Mexico Large Millimeter Telescope, nói.  Nhắc lại niềm vui khi có được bức ảnh lỗ đen, Doeleman nói: “Đây thực sự là một cảm giác tuyệt vời. Anh biết những gì tôi thực sự chờ đợi nhìn thấy? Một đốm sáng. Do đó thấy được cả vòng tròn ánh sáng có lẽ là kết quả đẹp nhất mà chúng tôi có.”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01155-0       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức tranh khái quát về  Mạng từ và Mạng từ tiếng Việt      Mạng từ trước hết là một tài nguyên từ vựng dành cho máy tính. Hàng loạt công việc liên quan đến ứng dụng máy tính vào xử lí ngôn ngữ tự nhiên và liên quan đến lĩnh vực trí tuệ nhân tạo như dịch máy, nhận dạng tiếng nói, hỏi và trả lời tự động,… đều cần đến Mạng từ, hoặc chí ít, nếu sử dụng Mạng từ thì kết quả công việc sẽ được cải thiện một cách đáng kể.    Mạng từ là gì?  Mạng từ (WordNet) – sản phẩm liên ngành chủ yếu của ngôn ngữ học, tâm lí học và khoa học máy tính là một cơ sở ngữ liệu lớn, được thiết kế cho một hay nhiều ngôn ngữ, trong đó các từ được nhóm lại thành các loạt đồng nghĩa/loạt đồng nghĩa tri nhận, mỗi loạt đồng nghĩa này thể hiện một khái niệm nghĩa riêng biệt; các loạt đồng nghĩa khác nhau có gắn kết với nhau nhờ vào các quan hệ ngữ nghĩa.  Ví dụ như từ mặt. Một nghĩa thường gặp của từ này là “phần phía trước của đầu người, kéo dài từ trán đến cằm, nơi có các bộ phận như mắt, mũi, mồm” thôi, ta cũng có thể kể ra hàng loạt từ mà nghĩa này có quan hệ trực tiếp. Chẳng hạn, nghĩa này sẽ có quan hệ ngữ nghĩa trực tiếp với những loạt đồng nghĩa có các từ đại diện là đầu, mắt, mũi, miệng, trán, cằm, má, mặt trái xoan, mặt vuông chữ điền,…. Mỗi từ có quan hệ nghĩa trực tiếp với nghĩa đang nói của từ mặt, đến lượt mình, lại có quan hệ ngữ nghĩa trực tiếp với rất nhiều từ khác nữa: từ đầu có quan hệ ngữ nghĩa trực tiếp với các từ tóc, gáy, tóc mai, thái dương, đỉnh đầu, cổ, mình, tay, chân, cơ thể,…; từ mắt có quan hệ ngữ nghĩa trực tiếp với các từ lông mày, lông mi, lòng đen, lòng trắng, nhìn, ngó, xem,… Cứ như vậy, từ/ nghĩa từ nào cũng có một tập hợp quan hệ ngữ nghĩa của riêng mình, chúng cứ có quan hệ dắt díu nhau mãi, tạo thành một mạng lưới quan hệ phức tạp theo các chiều hướng và tôn ti xác định.    Mạng từ của tiếng Hà Lan, trong đó, mỗi nút là một loạt từ đồng nghĩa, các nút này được nối với nhau nhờ quan hệ ngữ nghĩa.  Trạng thái hiện nay của các Mạng từ nói chung mới chỉ ghi nhận bốn lớp từ loại chính là danh từ, động từ, tính từ và trạng từ. Có thể nói rằng, cho đến thời điểm này, Mạng từ là một trong những nguồn tài nguyên từ vựng trực tuyến dành cho máy tính lớn nhất và quan trọng nhất.  Lịch sử của Mạng từ  Năm 1978, George Miller, giáo sư ngôn ngữ học tâm lí tại Đại học Princeton, bắt đầu phát triển một cơ sở dữ liệu về từ và mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng ở trong tiếng Anh. Cơ sở dữ liệu từ vựng này có thể được xem như là một loại mô hình từ vựng tinh thần và được gọi là Mạng từ. Mạng từ tiếng Anh chính là Mạng từ đầu tiên trên thế giới. Hiện nay phiên bản 3.1 là phiên bản mới nhất của Mạng từ tiếng Anh, ra mắt người sử dụng vào năm 2012 gồm 155.287 từ, với 117.659 loạt đồng nghĩa gồm 206.941 cặp nghĩa từ, tồn tại dưới dạng nén với kích thước 12MB. Với phiên bản 3.1, trong Anh ngữ không thể có một nguồn ngữ liệu từ vựng nào trực tuyến tốt hơn, đầy đủ hơn (về cách giải thích nghĩa theo lối tôn ti, cách định vị, định trị quan hệ ngữ nghĩa, về việc cung cấp thông tin bách khoa,…), và lớn hơn (xét về số lượng đơn vị từ vựng và số lượng nghĩa được ghi nhận)…  Sau khi ra đời, bên cạnh việc sử dụng vào các mục đích tra cứu thông thường, Mạng từ tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng liên quan đến xử lí ngôn ngữ tự nhiên trên toàn thế giới và nó đã thúc đẩy, phát triển nhiều nghiên cứu mới.  Với thành công và tầm quan trọng của Mạng từ tiếng Anh này, người ta nhận thấy cần phải phát triển các nguồn tài nguyên từ vựng tương tự như vậy cho các ngôn ngữ khác. Thêm vào đó, nếu như các Mạng từ của các ngôn ngữ khác được xây dựng, người ta sẽ tạo ra được một mạng lưới tài nguyên từ vựng có sự liên kết thống nhất với nhau, giúp cho việc nghiên cứu và ứng dụng được phát triển tốt hơn. Vì thế, các nhà ngôn ngữ học, tin học và tâm lí học Châu Âu đã bắt tay vào việc xây dựng dự án Mạng từ Châu Âu (EuroWordNet). Năm 1996, dưới sự tài trợ của EU, Mạng từ Châu Âu chính thức được bắt đầu, với mục tiêu là phát triển một Mạng từ Châu Âu chung cho các tiếng Hà Lan, Tây Ban Nha và Ý, và liên kết Mạng từ chung này với Mạng từ tiếng Anh để có thể tạo thành một cơ sở dữ liệu từ vựng đa ngôn ngữ.  Mạng từ Châu Âu (vốn được xây dựng dựa trên phiên bản 1.5 của Mạng từ tiếng Anh) không chỉ có lõi tương thích với Mạng từ tiếng Anh, mà còn được mở rộng bổ sung thêm nhiều về mặt đối tượng từ vựng và các quan hệ ngữ nghĩa. Năm 1997, dự án đã được mở rộng để phát triển cho các tiếng Đức, Pháp, Czech, và Estonia. Phiên bản Mạng từ Châu Âu đầu tiên đã ra đời vào cuối năm 1999.  Sau Mạng từ Châu Âu, một mạng từ đa ngữ đầu tiên trên thế giới, Mạng từ Châu Á (Asian WordNet) cũng đã được phát triển. Mạng từ Châu Á được thiết kế chủ yếu dựa trên Mạng từ tiếng Anh đơn ngữ và các nguồn từ điển song ngữ bản ngữ với tiếng Anh. Hiện có trên 10 ngôn ngữ trong Mạng từ Châu Á. Các ngôn ngữ được phát triển trong Mạng từ Châu Á có tỉ lệ như sau: Bengal (0.90%) Indonesia (8.17%), Nhật (30.35%), Hàn Quốc (35.93%), Lào (33.05%), Mông Cổ (1.38%), Myanmar (16.95%), Nepal (0.03%), Sinhala (0.23%), Sundanese (0.06%), Thái (40.27%), và Việt (10.40%) (số liệu của Virach Sornlertlamvanich, 2010).    Biểu diễn đồ hình của từ “run” trong Mạng từ Tiếng Anh. Nguồn: http://wordventure.eti.pg.gda.pl  Hiện nay trên thế giới có tới gần 100 ngôn ngữ, dựa trên Mạng từ gốc là Mạng từ tiếng Anh, đã xây dựng được mạng từ riêng của mình với mức độ hoàn thiện rất khác nhau. Các ngôn ngữ lớn như Nga, Trung, Nhật cũng đều đã có mạng từ riêng của mình.  Bài toán Mạng từ tiếng Việt  Bài toán xây dựng mạng từ dành cho tiếng Việt đã được chúng tôi đặt ra cách đây vài năm. Năm 2014, chúng tôi đã tham gia tổ chức Hội thảo khoa học chuyên đề Hướng tới việc xây dựng Mạng từ tiếng Việtt. Hội thảo đã thảo luận một cách chính thức làm thế nào để xây dựng được một mạng từ dành riêng cho tiếng Việt. Theo yêu cầu của bài toán này, Mạng từ tiếng Việt sẽ có kích thước gồm 30.000 loạt đồng nghĩa, tương đương 50.000 từ trong đó có 30.000 là từ tiếng Việt thông dụng; có các giao diện lập trình ứng dụng (API), cho phép người lập trình sử dụng Mạng từ này bằng một số ngôn ngữ như C++, Java, C#; và ghi nhận và xử lí ba lớp từ loại thực từ, đó là: danh từ, động từ và tính từ. Ngoài các đơn vị được gọi là từ một cách chân chính, trong các loạt đồng nghĩa của Mạng từ tiếng Việt có thể có cả các cụm từ, ngữ định danh vốn có giá trị tương ứng như từ; và bên cạnh việc ghi nhận và xử lí các từ chung, nó còn ghi nhận và xử lí cả các từ riêng, tức các danh từ riêng. Ở trạng thái hiện tại, Mạng từ tiếng Việt có kích thước gồm hơn 60.000 loạt đồng nghĩa, tương đương gần 100.000 đơn vị từ vựng, hơn 60.000 quan hệ nghĩa.    Biểu diễn đồ hình của từ “làm” trong Mạng từ Tiếng Việt. Nguồn: wordnet.vn.  Các ràng buộc và yêu cầu khi xây dựng Mạng từ tiếng Việt  Sau khi đã khảo sát đặc điểm cũng như phương pháp xây dựng Mạng từ tiếng Anh, Mạng từ Châu Âu, và Mạng từ Châu Á, chúng tôi quyết định chọn tiếp cận dịch kết hợp với chỉnh sửa mạng cho phù hợp đặc trưng tiếng Việt.  Khi lựa chọn và đề xuất cách tiếp cận này cho việc xây dựng Mạng từ tiếng Việt, chúng tôi có một số ràng buộc như sau:  (1) Thể hiện được những đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam;  (2) Kế thừa và có sự tương ứng cao với Mạng từ tiếng Anh;  (3) Mạng từ tiếng Việt có thể ứng dụng ngay được và thể hiện được một cách hiệu quả trong một số ứng dụng chọn lọc;  (4) Dễ mở rộng và bảo trì trong tương lai.  Ràng buộc (1) là hiển nhiên vì đã là Mạng từ tiếng Việt thì phải mang đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa Việt. Ràng buộc (2) được đặt ra để đảm bảo sự thuận tiện khi ứng dụng Mạng từ vào các bài toán như dịch máy hay truy vấn thông tin. Ràng buộc (3) đảm bảo rằng Mạng từ tiếng Việt tuy chưa đạt đến mức như tiếng Anh nhưng cũng không phải chỉ là mô hình trong phòng thí nghiệm, mà phải dùng ngay được cho một số ứng dụng quan trọng như tóm tắt văn bản hay tìm kiếm, có hạn chế trên một số miền nhất định. Ràng buộc (4) là quan trọng vì trong tương lai Mạng từ sẽ còn được và phải được mở rộng và nâng cấp.  Như đã nói, Mạng từ là một sản phẩm liên ngành của ngôn ngữ học, tâm lí học và khoa học máy tính mà trực tiếp nhất là ngôn ngữ học tính toán. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được rằng những vấn đề nội dung cốt yếu nhất của nó đều liên quan một cách trực tiếp đến ngôn ngữ học. Do đó, về mặt phương pháp luận khoa học, việc định rõ các yêu cầu ngôn ngữ học đối với việc xây dựng Mạng từ là vô cùng cần thiết.  Những điểm đặc thù của từ vựng tiếng Việt được thể hiện trong Mạng từ tiếng Việt chủ yếu thuộc về hai phạm trù: phạm trù ngôn ngữ và phạm trù phi ngôn ngữ.  Ở phạm trù ngôn ngữ, những điểm đặc thù của tiếng Việt được thể hiện ở bình diện cấu tạo từ. Chính cơ chế cấu tạo từ theo phép ghép và phép láy yếu tố tạo nên những điểm đặc thù này. Do đó, Mạng từ tiếng Việt phải có:  Hệ thống từ ghép đẳng lập, ví dụ như: nhà cửa, quần áo, nhanh chóng, mau chóng,…  Hệ thống từ láy, ví dụ như máu me, xấu xí, xấu xa, đẹp đẽ,…  Hệ thống từ ghép chính phụ biệt loại, ví dụ như xe đạp, xe máy, cá rô, nhà sàn,…  Hệ thống từ ghép chính phụ biệt nghĩa, ví dụ như đen sì, đen bóng, đen nhánh,…  Tổ hợp ghép chính phụ trong tiếng Việt có các yếu tố từ pháp có giá trị danh hoá, ví dụ sự học, việc học, chuyện học, nỗi buồn, niềm vui,…  Ở phạm trù phi ngôn ngữ, phạm trù văn hóa – nhận thức, Mạng từ tiếng Việt sẽ phải ghi nhận một số hiện tượng đặc thù của riêng người Việt được thể hiện chủ yếu trong quan hệ bao nghĩa, thuộc nghĩa và quan hệ tổng nghĩa, phân nghĩa. Ví dụ như:  nghệ thuật > sân khấu > chèo/ tuồng,…  dân ca > quan họ/ ví dặm,…  lễ tết > tết Nguyên đán/ tết Trung thu,…  dép > dép lốp/ dép cao su,…  bếp > bếp Hoàng Cầm,…  dân tộc > Kinh/ Tày/ Thái,…  quần đảo > Hoàng Sa, Trường Sa,….  làng > Mộ Trạch/ Đường Lâm,…  nguyên thủ quốc gia > Hồ Chí Minh/ Phạm Văn Đồng,…  chợ > chợ Đồng Xuân/ chợ Bến Thành,…  thuộc tính > ….. > Chí Phèo/ Hoạn Thư,…    Các bước xây dựng Mạng từ Tiếng Việt.  Các quan hệ ngữ nghĩa chính trong Mạng từ tiếng Việt  Mạng từ giống như là một đồ thị rời rạc khổng lồ, trong đó mỗi nút là một loạt từ đồng nghĩa và mỗi cạnh là một quan hệ ngữ nghĩa nối các nút lại với nhau. Số lượng nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên là vô hạn, số lượng quan hệ nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên lại là n cái vô hạn. Trên thực tế, các Mạng từ thường chỉ xử lí khoảng 10 loại quan hệ ngữ nghĩa. Xét ở một phương diện nào đó, mạng từ cũng chỉ là một loại mô hình hóa giản đơn cái cấu trúc vô cùng phức tạp của từ vựng tinh thần (mental lexicon) của ngôn ngữ tự nhiên.  Quan hệ đồng nghĩa: Tồn tại trong cả ba lớp từ loại danh từ, động từ và tính từ, là quan hệ giữa những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau mà có thể thay thế cho nhau được trong một số ngữ cảnh sử dụng. Ví dụ: người – mình – cơ thể, dạ dày – bao tử, ăn – xơi – dùng,…  Quan hệ bao thuộc: Có mặt trong hệ thống danh từ của Mạng từ. Ví dụ: thực vật – hoa, hoa – hoa hồng, hoa hồng – hoa hồng bạch; công cụ – công cụ học tập, công cụ học tập – bút, bút – bút lông; động vật – gia súc, gia súc – chó, chó – chó Phú Quốc. Trong dãy những ví dụ dẫn ở đây, ở từng cặp từ một, những từ bên trái được xem là những từ bao (hypernym), còn những từ bên phải được xem là những từ thuộc (hyponyms).  Quan hệ tổng phân. Cũng là quan hệ chỉ có mặt ở hệ thống danh từ, và cùng với quan hệ bao thuộc, nó là quan hệ xương sống của hệ thống danh từ của Mạng từ. Quan hệ tổng phân là quan hệ giữa một từ tổng (holonym) và một từ phân (meronym); từ phân được xem như là một trong những bộ phận, thành viên,… của từ tổng. Ví dụ: cơ thể – đầu, đầu – mắt, mắt –lòng đen, lòng đen – con ngươi; cây – cành, cành – lá, lá – cuống (lá);  Quan hệ cách: Là quan hệ chủ yếu của lớp từ loại động từ, trong đó nghĩa của từ này (được gọi là từ bao) thể hiện cách thức hoạt động của từ kia (được gọi là từ cách/ troponym). Từ A có quan hệ cách với từ B tức là từ B là từ A theo một cách nào đó. Ví dụ như trong cặp quan hệ cách biến đổi – biến đổi trạng thái thì biến đổi trạng thái là một cách biến đổi, trong cặp quan hệ biến đổi trạng thái – chết thì chết là một cách biến đổi trạng thái, trong cặp quan hệ chết – tự tử thì tự tử là một cách chết.  Quan hệ trái nghĩa: Là quan hệ tồn tại chủ yếu ở lớp tính từ, giữa những từ ngược nhau hay đối lập loại trừ nhau về nghĩa. Ví dụ: đẹp – xấu, yêu – ghét, to – nhỏ, dài – ngắn, thơm – thối, sạch – bẩn,.… Trong Mạng từ, các tính từ được nối với nhau chủ yếu nhờ quan hệ trái nghĩa.  Quan hệ thuộc tính: Là quan hệ tồn tại giữa lớp từ loại danh từ chỉ thực thể (thường là thực thể trừu tượng, có tính liên quan tâm lí cao) và tính từ chỉ thuộc tính. Về bản chất, quan hệ thuộc tính có thể tồn tại giữa động từ và tính từ; nhưng kiểu quan hệ này nói chung khá phức tạp, nên thường không được ghi nhận. Đối với quan hệ thuộc tính giữa danh từ và tính từ, Mạng từ trước nhất thường chỉ ghi nhận và xử lí những cặp từ có quan hệ thuộc tính lưỡng trị trừu tượng kiểu như kích thước – to/ nhỏ, vận tốc – nhanh/ chậm, số lượng – nhiều/ ít, sức mạnh – yếu/ khoẻ,… Trong những ví dụ này, các từ đứng ở phía tay phải là những từ chỉ thức thể trừu tượng mang giá trị thuộc tính; những từ đứng ở phía tay trái là những từ chỉ giá trị thuộc tính.  Quan hệ nhân quả: Là quan hệ tồn tại trong lớp từ loại động từ. Ví dụ như triệu tập – họp, giết – chết, đập – vỡ, tìm – thấy,… Trong các cặp từ này, từ đứng phía tay trái thể hiện nguyên nhân, từ đứng phía tay phải thể hiện kết quả.  Quan hệ suy ra: Là quan hệ tồn tại trong lớp từ loại động từ, trong đó hành động được biểu thị ở từ này chỉ có thể tồn tại khi có xự xuất hiện hành động được biểu thị ở từ kia. Đó là quan hệ giữa những từ kiểu như, ngáy suy ra ngủ, ngáp ngủ suy ra buồn ngủ, gãi suy ra ngứa, gỡ suy ra rối, vá suy ra rách, bội ước suy ra cam kết,…  Khả năng ứng dụng của Mạng từ  Có thể chắc chắn một điều rằng, cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một nguồn tài nguyên từ vựng trực tuyến được tổ chức dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa nào lớn hơn, toàn diện, và hệ thống hơn Mạng từ.  Mạng từ nói chung trước hết là một tài nguyên từ vựng dành cho máy tính. Vì vậy, hàng loạt các công việc liên quan đến ứng dụng máy tính vào xử lí ngôn ngữ tự nhiên, liên quan đến lĩnh vực khoa học trí tuệ nhân tạo, đều cần đến Mạng từ, hoặc chí ít, nếu sử dụng Mạng từ thì kết quả công việc sẽ được cải thiện một cách đáng kể. Những công việc liên quan đến máy tính cần đến Mạng từ là dịch máy, trích rút và phục hồi thông tin, đo đạc ngữ nghĩa, tách từ, nhận dạng tiếng nói, tổng hợp tiếng nói, soạn thảo văn bản, kiểm tra lỗi chính tả, phân loại văn bản, tóm tắt văn bản, hỏi và trả lời tự động, xây dựng các nguồn tài nguyên từ vựng hay liên quan đến từ vựng hoặc sử dụng tới từ vựng dành riêng cho máy, xây dựng các mạng ngữ nghĩa,….  Xét từ góc độ ngôn ngữ học, với tư cách là một sản phẩm liên ngành ngôn ngữ học – khoa học máy tính – tâm lí học, Mạng từ ra đời là để kiểm chứng cho một số lí thuyết ngôn ngữ học tâm lí, tâm lí học tri nhận… về trí nhớ ngữ nghĩa được hình thành và phát triển vào giữa thế kỉ trước; đồng thời, nó cũng là một phần kết quả dẫn xuất từ các nghiên cứu thực nghiệm về bệnh học ngôn ngữ, thụ đắc ngôn ngữ,… Thậm chí, Mạng từ, nói như một số người từng nhận xét, được xem như là một công trình lớn nhất về từ vựng để minh chứng cho chủ nghĩa cấu trúc trong ngôn ngữ học thế kỉ XX (Geeraerts, 2010). Vì thế, trên thực tế, Mạng từ có thể được ứng dụng vào nhiều công việc liên quan đến việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng. Mạng từ có thể được sử dụng như một cuốn từ điển trực tuyến để tra cứu từ vựng. Chẳng hạn. hiện nay hầu như tất cả các nguồn tài nguyên từ vựng đa ngữ (Anh – Việt, Anh – Trung, Anh – Đức, Anh – n,…), đơn ngữ dưới dạng trực tuyến hay điện từ đều đã sử dụng tới Mạng từ tiếng Anh.  Bởi Mạng từ của mỗi một ngôn ngữ có thể được xem như là một mô hình từ vựng tinh thần toàn diện và lớn nhất cho chính ngôn ngữ ấy, vì thế, nhiều công việc nghiên cứu và ứng dụng liên ngành ngôn ngữ học – tâm lí học (như nghiên cứu các phạm trù tâm lí – ngôn ngữ, các mã tâm lí, nhận thức trong quá trình phạm trù hoá hiện thực,…) đều phải cần đến Mạng từ. Mạng từ, đối với những ứng dụng như thế này, có thể vừa được xem như là những điểm xuất phát vừa được xem như là những điểm đích để người ta xây dựng và hoàn thiện. Vì là một mô hình từ vựng tinh thần, Mạng từ cũng có thể được sử dụng cho các công việc liên quan đến việc phục hồi ngôn ngữ, chữa các bệnh liên quan đến ngôn ngữ,…  Với từ cách là một cơ sở dữ liệu về nghĩa từ và các quan hệ ngữ nghĩa đầu tiên và hệ thố́ng nhất của ngôn ngữ, người ta có thể sử dụng phương pháp luận của Mạng từ để phát triển, biên soạn các loại từ điển ngữ văn, từ điển chuyên ngành thứ cấp, có thể sử dụng Mạng từ vào các công việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và đối chiếu ngôn ngữ nói riêng…  ————  1 http://vienngonnguhoc.gov.vn/bai-viet/hoi-thao-khoa-hoc-huong-toi-viec-xay-dung-mang-tu-tieng-viet_581.aspx  2 http://wordnet.vn/vi/chi-tiet/tong-quan-ve-xay-dung-mang-tu-tieng-viet-18-1.html      Mạng từ Tiếng Việt hiện đang tồn tại ở địa chỉ http://wordnet.vn. Đây là một sản phẩm của đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KC.01.20/11-15 được thực hiện từ năm 2013-2015. Đề tài này do công ty Naiscorp (từng rất nổi tiếng với công cụ tìm kiếm Sóc bay và được Google đề xuất mua lại với giá 25 triệu USD vào năm 2009) chủ trì, PGS. TS Nguyễn Phương Thái, Đại học Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội làm chủ nhiệm đề tài. Nhưng đây mới chỉ là một phiên bản đầu được ưu tiên thiết kế cho các công việc liên quan đến xử lí ngôn ngữ. Để có được một Mạng từ tiếng Việt tinh, lí tưởng như tiếng Mạng từ tiếng Anh và để có thể sử dụng tra cứu trực tuyến như một từ điển ngữ văn hoàn hảo, cần phải đầu tư thêm rất nhiều công sức, thời gian và của cải.        Author                Phạm Văn Lam - Nguyễn Phương Thái        
__label__tiasang Bức tự họa mới của Van Gogh nói gì với chúng ta?      Phát hiện về bức tự họa mới của van Gogh đã rọi thêm những ánh sáng mới về danh họa.    Lesley Stevenson với bức “Head of a Peasant Woman” và bức ảnh tia X chân dung dấu kín của van Gogh. Nguồn: Neil Hanna.  Chỉ trong vòng 10 năm, Vincent van Gogh đã vẽ 30 bức tự họa. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là một con số quá lớn, tương đương với những bức tự họa hiện còn của danh họa Hà Lan khác là Johannes Vermeer. Tuy nhiên, bất ngờ luôn đến vào lúc người ta không dự đoán nhất: thêm một bức nữa để người ta khám phá, khi Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Scotland ở Edinburgh mới đây tuyên bố tìm thấy một chân dung khác dưới các lớp keo và bìa cứng sau bức họa Head of a Peasant Woman (Đầu một nữ nông dân).  Những chuyên gia bảo tồn ở bảo tàng này dùng tia X kiểm tra bức họa Head of a Peasant Woman để chuẩn bị cho cuộc triển lãm A Taste for Impressionism tại Edinburgh. Van Gogh vẽ “tập dượt” chân dung Gordina de Groot vào năm 1885, một nhân vật trong bức Những người ăn khoai tây nổi tiếng của mình. Khi những bức ảnh chụp bằng tia X được đưa vào phòng tối xử lý, Lesley Stevenson, một nhà bảo tồn ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Scotland, xem xét chúng một cách cẩn trọng và chợt nhận ra mình đang nhìn chằm chằm vào gương mặt của chính van Gogh. “Thật vô cùng xúc động!”, Lesley Stevenson thốt lên trước bức tự họa bị giấu kín cả trăm năm, được vẽ ở mặt sau bức họa Gordina de Groot. Đây là dạng khám phá lớn mà có lẽ “chỉ diễn ra một hoặc hai lần trong đời một nhà bảo tồn tranh”, Stevenson nói.  Bảo tàng van Gogh ở Amsterdam sau đó đã xác nhận “hầu như chắc chắn” đó là chân dung tự họa của họa sĩ. Martin Bailey, một chuyên gia về van Gogh, tin là Johanna van Gogh-Bonger, em dâu của họa sĩ, vào năm 1905 đã dùng bìa phủ lên bức chân dung ở mặt trái Head of a Peasant Woman khi gửi bức họa này tới một triển lãm quan trọng ở Amsterdam (bức họa sau thuộc về Evelyn Fleming, người phụ nữ nổi tiếng xinh đẹp này mua tranh dựa trên tư vấn của người yêu mình, họa sĩ xứ Welsh Augustus John, mà không biết mình có trong tay hai bức họa của van Gogh. Qua nhiều chủ sở hữu, cuối cùng bức họa được trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật). Vào thời điểm đó, Head of a Peasant Woman có thể được coi là bức họa quan trọng hơn, có lẽ nó có mối liên hệ với bức họa gây tranh cãi Những người ăn khoai tây – van Gogh cũng tự coi đây là thành công bậc nhất của mình.    Van Gogh rời Nuenen tới Antwerp vào tháng 11/1885, rồi đến Paris vào đầu năm sau. Rõ ràng là ông đã mang theo bức chân dung của Gordina de Groot. Và giờ đây, bằng tia X, người ta đã biết là hai năm sau, ở Paris, ông đã sử dụng mặt sau của bức toan để vẽ bức tự họa.    Việc phát hiện bức chân dung tự họa của van Gogh sau Head of a Peasant Woman tới giờ đây cũng đặt ra nhiều tranh luận với hai luồng rõ ràng. Giáo sư Frances Fowle, một nhà giám tuyển nghệ thuật Pháp thế kỷ 19 ở Glasgow, cho rằng, phát hiện này rọi thêm ánh sáng mới về sự phát triển phong cách nghệ thuật của danh họa. Những năm 1880 thuộc về một thời kỳ quan trọng của ông: lần đầu tiên chiêm ngưỡng các tác phẩm của trường phái Ấn tượng khi chuyển tới Paris sống vào năm 1886 và gặp gỡ những người tiên phong như Henri de Toulouse-Lautrec và Émile Bernard. Sau được Georges Seurat và Paul Gauguin truyền cảm hứng, ông đã chấp nhận phong cách vẽ biểu cảm nhiều hơn, giàu màu sắc hơn, lần đầu thử nghiệm nó với những nét cọ rời rạc, dùng chính bản thân mình làm mẫu và tái sử dụng các tấm toan để tiết kiệm tiền bạc. “Thời kỳ mà ông vẽ nhiều bức tự họa cũng là thời kỳ phát triển chính phong cách làm nên danh tiếng của mình. Là một người suy nghĩ sâu sắc và độc lập nên van Gogh đã phát triển phong cách mới một cách hết sức nhanh chóng”, Fowle nói.  Tuy nhiên, những người ưa suy đoán như nhà phê bình nghệ thuật Sebastian Smee lại ngả theo hướng khác, nhiều màu sắc lãng mạn hơn bởi “mọi thứ về van Gogh đều quyến rũ chúng ta. Lý do dường như là vô tận. Thật kỳ lạ là ngay cả khi từng khía cạnh về cuộc đời ông đã được tìm hiểu trong cả thế kỷ nhưng chúng ta vẫn còn chưa rõ quá nhiều điểm về ông”.  Sebastian Smee cho rằng dường như có một mối liên hệ kỳ lạ giữa Gordina de Groot và Van Gogh. Họa sĩ vẽ Head of a Peasant Woman ở Nuenen, gần chỗ bố mẹ ông sống. Khi tới nơi này vào cuối năm 1883, mối quan hệ giữa ông với gia đình đang hết sức căng thẳng. Rút cục, sĩ quyết định ở lại bởi tình yêu với thiên nhiên, cư dân địa phương và cả cuộc sống cực nhọc và chân thành của họ. Ông cũng mới đọc cuốn tiểu thuyết về cuộc sống của những người nghèo nơi thôn dã của nhà văn Emile Zola, Germinal, và đang say mê những bức họa về người nông dân của bậc tiền bối Jean-Francois Millet. Van Gogh chọn sống ở Nuenen và ngày một gần gũi hơn với gia đình làm nông de Groot. “Khi tới túp lều của họ vào lúc trời xế bóng, anh thấy họ ngồi ăn bữa tối dưới ánh sáng hắt qua ô cửa số nhỏ bé thay vì ánh đèn”, ông viết cho em trai Theo vào đầu tháng 5/1885. “Ồ, một sự bình yên đẹp đẽ lạ thường!”.    Kể từ khi tin về bức họa mới được phát hiện thì trên mạng xã hội, người ta đã hớn hở nói đùa với nhau là hãy để ý đến những bức tranh treo ở nhà bạn, bởi rất có thể chúng chứa một hoặc hai kiệt tác phía sau và có thể là một bức họa của chính van Gogh.    Hai người phụ nữ ngồi bên bàn, ông viết thêm, “hoàn toàn được bao phủ bằng màu xanh lá cây tối sẫm” khiến ông muốn vẽ. Người ít tuổi hơn là Gordina de Groot, người sẽ xuất hiện trong nhiều bức họa tương lai của van Gogh. Cô mang thai sau đó và van Gogh bị dân làng cáo buộc là cha đứa trẻ. Dĩ nhiên họa sĩ phủ nhận nhưng trước sức ép dư luận, cuối cùng ông rời Nuenen tới Antwerp vào tháng 11/1885, rồi đến Paris vào đầu năm sau. Rõ ràng là ông đã mang theo bức chân dung của Gordina de Groot. Và giờ đây, bằng tia X, người ta đã biết là hai năm sau, ở Paris, ông đã sử dụng mặt sau của bức toan để vẽ bức tự họa.  Trong thời gian ở đây, van Gogh trên thực tế đã vẽ khoảng 20 bức tự họa và sau đó vẫn còn vẽ khi chuyển đến Arles. Một phần nguyên nhân là do tiền thuê người mẫu quá đắt đỏ, chỉ có khuôn mặt mình là miễn phí nên ông có thể vẽ chính mình mà không phải lo lắng gì về tiền bạc; nhưng cũng có thể là ông bị thu hút bởi ý tưởng phát triển bản sắc của mình. Bailey cho biết, vào năm 1929, nhà bảo tồn tranh Hà Lan Jan Cornelius Traas đã từng phát hiện ra những bức tự họa của ông ở đằng sau ba bức vẽ ở Nuenen.  Tia X đã tiết lộ thêm một số bức họa đằng sau một số bức khác của van Gogh trong thời kỳ ở Paris. Thật thú vị khi cho rằng, với trường hợp này, ông đã không vẽ phủ lên trên khuôn mặt của Gordina, bảo vệ hình ảnh của cô và đơn giản là vẽ khuôn mặt mình lên phía sau. Smee đặt dấu hỏi là có phải có một mối quan hệ tình cảm thực sự giữa họ mà chúng ta không biết? Chúng ta có thể biết thêm một thông tin mới là vào tháng 10/1887, không lâu sau khi vẽ bức tự họa, Van Gogh đã viết cho em gái Willemien để hỏi thông tin mới về gia đình de Groot. “Mọi thứ diễn ra ra sao?”, ông hỏi, ngụ ý đến tình cảnh của Gordina. “Con cô ấy vẫn còn sống chứ?”. Trên sự thật thì đứa trẻ là một bé trai, vẫn còn sống (ra đời vào ngày 20/10/1885) nhưng vào thời điểm đó thì Gordina vẫn còn chưa kết hôn.  “Hiểu tất cả để tha thứ cho tất cả”, van Gogh viết cho em gái, mượn lời một câu của Madame de Staël,  “và anh tin là nếu chúng ta ngộ ra tất cả thì chúng ta nhất định sẽ đạt tới sự thanh thản. Điều này có lẽ tốt hơn cả mọi loại thuốc mà các nhà dược học chế ra”.  Thật khó biết được sự thật của mối quan hệ giữa van Gogh và Gordina. Nhưng kể từ khi tin về bức họa mới được phát hiện thì trên mạng xã hội, người ta đã hớn hở nói đùa với nhau là hãy để ý đến những bức tranh treo ở nhà bạn, bởi rất có thể chúng chứa một hoặc hai kiệt tác phía sau và có thể là một bức họa của chính van Gogh. Nhưng có thể họ sẽ sớm thất vọng bởi theo Bảo tàng van Gogh thì mỗi năm họ “nhận được khoảng 300 liên hệ từ những người tin là họ giữ một bức tranh thất lạc của van Gogh. Bảo tàng chỉ chấp nhận kiểm tra một số trong số đề xuất này và thậm chí là chỉ hiếm hoi một vài trường hợp là gần với sự thật”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: The Guardian, The Washington Post    Author                .        
__label__tiasang Bức tượng gỗ nói với chúng ta điều gì về lịch sử loài người?      Một nhóm nghiên cứu Nga – Đức đã xác định được tuổi của tác phẩm gỗ Shigir là 12.000 năm tuổi. Phát hiện này được cho là có thể viết lại lịch sử loài người.      Hai giáo sư khảo cổ học gặp nhau trong một hội thảo, một từ Nga và một từ Đức. Sau đó người Nga mời người Đức tới Moscow – và đó là điểm khởi đầu cho một phát hiện khảo cổ mang tính cách mạng.  “Rất nhiều lời mời thường được đưa ra tại các hội thảo nhưng thường thì người ta hiếm khi chú ý đến nó”, Thomas Terberger nói – cho biết thêm là dẫu sao thì ông chú ý thực sự đến cơ hội này. Nhà nghiên cứu về thời tiền sử này đã bay đến Moscow để cùng với đồng nghiệp người Nga của mình là nhà khảo cổ Mikhail Zhilin lên đường tới Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Sverdlovsk tại Yekaterinburg, nằm tại vùng giáp Siberie ở dãy núi Ural.  Tại bảo tàng, lần đầu tiên Terberger thấy tượng Shigir – một totem dạng cột có khắc một gương mặt cao ba mét rưỡi. Trong nhiều thiên niên kỉ, bức tượng này nằm ẩn trong một đầm lầy chứa đầy than bùn trước khi được phát hiện ra vào cuối thế kỷ 19. Bức tượng này giờ được bảo quản trong bảo tàng trong hơn 100 năm; và trong cả quãng thời gian dài đó, không ai biết được chính xác tuổi của nó.  Những khám phá khảo cổ lạ thường  Bức tượng gỗ này ban đầu được đo là cao năm mét, Zhilin nói với đồng nghiệp Đức của mình như vậy. Terberger gần như là một chuyên gia trong lĩnh vực này: nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào Schöningen Spears – một bộ gồm tám giáo gỗ được xác định là từ thời đại Đồ đá cũ ở bang Hạ Saxony của Đức. Những cái giáo gỗ này có tuổi vào khoảng 3.500 năm, hết sức lạ lùng vì thường thì gỗ khó bảo quản.  “Chỉ lấy đặt một tấm gỗ vân sam khỏi nhà kho”, Terberger nói với DW. “Hai mươi năm sau thì nó đã mục nát. Chỉ có thể bảo quản gỗ trong những điều kiện rất đặc biệt; trong tự nhiên nó được bảo quản bằng một số sự trùng hợp may mắn nào đó”.  Đó chính xác là những gì xảy ra với trường hợp của bức tượng Shigir. Những người công nhan đã tìm thấy tác phẩm nghệ thuật này được bảo quản cực tốt vào những năm 1890 tại một mỏ vàng của Nga – địa điểm ở một đầm lầy than bùn.  Và bây giờ, nó đưa ra phát hiện của thế kỷ: nó được cho là bức tượng gỗ cổ nhất của loài người. Vào năm 1997, nó được định tuổi là 9.500 năm. Nhưng kể từ đó đến nay thì các công nghệ hỗ trợ ngành khảo cổ đã trải qua những quá trình phát triển rất nhanh.  Đó là lý do tại sao mà Terberger, Zhilin và các cộng sự của họ đã tò mò hỏi là liệu họ có thể xác nhận tuổi cả bức tượng bằng các phương pháp cực kỳ hiện đại không.    Bức tượng gỗ cổ xưa nhất trong lịch sử loài người  Họ đã xác nhận được là bức tượng đó thậm chí còn cổ hơn họ đã nghĩ – ít nhất là tuổi của nó vào khoảng 12.000 năm, tương đương với cuối kỷ Băng hà. Điều này khiến thay đổi một cách cơ bản về biểu biết của chúng ta về lịch sử sớm của loài người, Terberger nói.  “Trong thuật chép sử và khảo cổ học về thời kỳ bình minh loài người có một câu chuyện như thế này: khi nghĩ đến nghệ thuật Kỷ Băng hà là nghĩ đến những bức vẽ hang động đầy màu sắc và rất chi tiết vẫn còn mang giá trị thẩm mĩ đến 30.000 năm sau, một trong số đó là những bức vẽ ở Lascaux”, nhà khảo cổ học nói.  Sau đỉnh cao nghệ thuật và văn hóa này ở Kỷ Băng hà, có quan điểm chung là có sự suy giảm trong tiến hóa của loài người. “Tại cuối Kỷ Băng hà, các khu rừng vô cùng rậm rạp và cần săn bắt loài vật một cách đơn lẻ thay vì theo đàn. Con người lại quá bận rộn cho văn hóa và nghệ thuật; tình thế thật khủng khiếp”, Terberger giải thích về tổng thể cái nhin về lịch sử loài người.  Tái định hình lịch sử    Hai nhà nghiên cứu Thomas Terberger và Mikhail Zhilin  Bức tượng Shigir cho thấy là câu chuyện này cần được thảo luận thêm. Không có suy giảm mà đơn giản chỉ là thay đổi, Terberger lập luận: “Những hình thức mới của truyền đạt thông tin đã xuất hiện, các cách thức mới trong biểu đạt ý tưởng và tương tác xã hội, đó là thông qua gỗ như một dạng vật chất”.  Việc tái định tuổi của bức tượng này đã trao cho lịch sử loài người một góc nhìn mới, ông nói. “Anh phải vẽ ra một bức tranh hoàn toàn khác biệt vào thời điểm đó – con người vẫn còn chưa đưa thêm  nỗi buồn, cô quạnh vào những căn lều của họ”, Terberger giải thích. “Có lẽ là những bức tượng lớn giống như bức tượng này có mặt ở khắp các khu rừng, tại mọi chốn, mọi nơi họ cắm lều”.  Những sự phát triển về công nghệ trên thực tế đã tác động rất mạnh đến khảo cổ học, Tom Higham, một giáo sư khảo cổ tại trường đại học Oxford, nói và cho biết thêm là những phát hiện hết sức giá trị với cuộc tranh cãi hiện nay: “Cụ thể khi xảy ra những vấn đề phân biệt chủng tộc và cực đoan cánh hữu, chúng ta thấy một số người trên thế giới muốn thấy thế giới theo cách con người về cơ bản là khác biệt và có thể phân biệt người này với người kia. Nhưng nghiên cứu khảo cổ học, đặc biệt trong lĩnh vực DNA, một cách rõ ràng chứng tỏ là chúng ta có mối liên hệ vô cùng gần gũi, và luôn luôn có một sự pha trộn trong ‘bể’ gene của loài người”.  Điều này có thể ứng dụng với thời tiền sử và sơ sử. Trong cuốn sách của ông The World before Us (Thế giới trước chúng ta), Higham kiểm tra những kết nối giữa những chi người khác nhau, ví dụ một số từ những người Homo sapiens cùng tồn tại vào khoảng 40.000 năm trước. Higham nói rằng có nhiều điều quan trọng hơn để tìm hiểu về những nền tảng của bản chất con người hơn là tập trung vào ‘những ảo tưởng thuần chủng’.  Hình ảnh của lịch sử bình minh loài người đang thay đổi bởi việc tái xác định tuổi của bức tượng Shigir. Giờ thì nó đang chứng tỏ là lịch sử loài người không chỉ được đặc trưng theo những thời kỳ thịnh vượng và suy giảm, nghệ thuật và văn hóa không chỉ xuất hiện cùng với những khoảng khắc nổi bật của tiến hóa loài người.  Thay vào đó, lịch sử của loài người được ghi dấu bằng nguyên lý của sự thay đổi bền vững; những thứ trừu tượng như nghệ thuật đã tồn tại ở mọi thời điểm thông qua sự tiến hóa của loài người – ngay cả khi nghệ thuật được làm từ gỗ.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: dw.com/en/what-an-ancient-wooden-sculpture-tells-us-about-the-history-of-mankind/a-57075582  https://news.artnet.com/art-world/shigir-idol-new-research-1953647          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức vẽ Paris năm 1887 của Vincent van Gogh lần đầu ra mắt công chúng      Bức “Scène de rue à Montmartre” thuộc bộ sưu tập tranh cá nhân ở Pháp trong hơn một thế kỷ.      Bức họa mới phát hiện của Van Gogh. nguồn: The Guardian  Đó là một bức vẽ về Paris của danh họa Vincent van Gogh, vốn hầu như chưa bao giờ được trưng bày công khai do thuộc về một bộ sưu tập cá nhân Pháp trong hơn một thế kỷ, cuối cùng đã được đến với công chúng.  “Street scene in Montmartre” được vẽ vào mùa xuân năm 1887, ba năm trước khi họa sĩ bậc thầy Hà Lan qua đời. Bức tranh miêu tả những người dân Paris đi dạo trên một Montmartre với khung cảnh có phần vắng vẻ nên thơ như vùng quê, giờ vẫn là một trong những điểm đến thu hút nhiều người đến trong thành phố này.  Bức tranh này là một phần trong một loạt các tác phẩm nghệ thuật về Moulin de la Galette, một cối xay gió nổi tiếng trên đồi Montmartre. Hai năm Van Gogh sống ở Paris cùng với em trai Theo từ năm 1886 đến tháng hai năm 1888 rồi rời tới Arles. Nó được coi như đặt nền tảng cho phong cách nghệ thuật độc đáo của ông thông qua việc đón nhận ảnh hưởng của những họa sĩ Ấn tượng như Monet và Pissarro cũng như một thế hệ các họa sĩ trẻ như Paul Signac, Émile Bernard, Henri de Toulouse-Lautrec.  “Vào khoảnh khắc mà chúng tôi lần đầu thấy bức tranh này, chúng tôi đã ngay lập tức bị nó thu hút”, Claudia Mercier và Fabien Mirabaud của nhà đấu giá Mirabaud Mercier Paris, những người khám phá ra tác phẩm nghệ thuật này. “Thật vô cùng vinh hạnh là giờ chúng tôi có thể đưa nó đến với thế giới này, sau khi được một gia đình Pháp gìn giữ cả thế kỷ”, họ cho biết như vậy trong một thông cáo báo chí.  Lần đầu tiên, bức tranh được trưng bày cho đông đảo người yêu tranh chiêm ngưỡng, trước khi được bán tại một phiên đấu giá ở Paris. Dự kiến giá bức tranh này sẽ rơi vào khoảng năm triệu đến tám triệu euro (sáu triệu đến 9,7 triệu đô la) vào tháng ba tới.    Bức họa “Bal du moulin de la Galette” của họa sĩ Auguste Renoir. Nguồn: Wikipedia  Nhà đấu giá Sotheby’s cho rằng, bức họa miêu tả đường vào Montmartre vào thời điểm cuối thế kỷ 20, khi cối xay cũ kĩ trở nên hấp dẫn khách du lịch và là chốn thư nhàn để họ có thể gặp gỡ, ăn uống, thư giãn và nhảy nhót. Đến bây giờ, Montmartre vẫn là nơi thu hút khách du lịch và cả người Paris bởi khung cảnh nên thơ, những đường phố xung quanh đã được xây dựng nên nhưng vẫn còn giữ lại đôi chút hình ảnh như trong bức họa. “Có rất ít bức họa của Van Gogh thời kỳ Montmartre thuộc về các bộ sưu tập riêng, bởi phần lớn những bức nổi tiếng nhất đều thuộc về các bảo tàng danh giá trên thế giới”, Aurélie Vandevoorde và Etienne Hellman, các giám đốc của bộ phận nghệ thuật Ấn tượng và hiện đại tại Sotheby’s Pháp, nơi sẽ đảm trách phiên đấu giá bức tranh này, một thông cáo báo chí cho biết.  “Không còn nghi ngờ gì nữa, sự xuất hiện trên thị trường nghệ thuật của một tác phẩm tầm cỡ này và từ một loạt tác phẩm mang tính biểu tượng là một sự kiện lớn, và thậm chí là cơ hội cho cả những nhà sưu tầm tranh Van Gogh và thị trường nghệ thuật”. Bức họa sẽ được đấu giá ở Paris vào ngày 25/3, trước đó, nó sẽ được trưng bày công khai tại Amsterdam và Hong Kong.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://edition.cnn.com/style/article/van-gogh-paris-painting-public-display-scli-intl/index.html  https://www.theguardian.com/artanddesign/2021/feb/24/vincent-van-gogh-paris-painting-from-1887-to-make-public-debut       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bulgaria mở trung tâm nghiên cứu AI để thu hút tài năng KH&CN      Chính phủ Bulgaria hi vọng những đầu tư công và tư trong trung tâm mới sẽ giúp nước này đảo ngược được tình trạng chảy máu chất xám và khiến thủ đô Sofia trở thành một điểm đến hàng đầu cho các nhà khoa học máy tính.    Chính phủ Bulgaria mới loan báo về một tiếng kèn lệnh: thiết lập một viện nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (AI) và khoa học máy tính ở Sofia nhằm hướng đến việc thúc đẩy nhận diện mới về quốc gia với một trung tâm KH&CN ở Trung và Đông Âu.  Thủ tướng Bulgaria Kiril Petkov nói chính phủ đang rót 100 triệu USD vào Viện Khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo và công nghệ (INSAIT). Các công ty công nghệ lớn như Google, DeepMind, Amazon và SiteGround loan báo sẽ đầu tư thêm 10,5 triệu USD, các doanh nghiệp Bulgaria cũng sẽ đầu tư 600.000 USD.  “Mô hình tài chính này sẽ tạo ra cây cầu nối giữa khoa học và thương mại, được chính phủ và châu Âu hỗ trợ”, thủ tướng Petkov cho biết tại sự kiện mở màn ở Sofia.  Petkov là một nhà kỹ trị, người mới đảm nhiệm chức vụ này vào tháng 12/2021, kết thúc một thời kỳ rối rắm về chính trị ở Bulgaria với hai thất bại bỏ phiếu bầu quốc gia vào năm 2021. Ông nhận được một bằng MBA từ Harvard và có thời gian dài là nhà đầu tư vào các start-up công nghệ ở Trung và Đông Âu. Việc ứng cử của ông làm tăng hy vọng về việc chính phủ Bulgaria sẽ tập trung sự chú ý vào đầu tư cho công nghệ cao và thu hút các tài năng KH&CN từ phương tây trở lại đất nước.  Trong sự kiện này, ông Petkov nói 100 triệu USD đầu tư là một tín hiệu cho thấy ông sẽ giữ lời hứa trao cho chính quyền cơ hội mang những bộ óc tài năng nhất của Bulgaria trở về”.  Ủy viên phụ trách nghiên cứu của châu Âu Mariya Gabriel, một công dân Bulgaria, đã chứng kiến thời khắc đó và cho biết viện nghiên cứu mới sẽ “đủ sức cạnh tranh với các viện nghiên cứu khoa học toàn cầu ở một cuộc đua cỡ Champions League” và có thể trở thành “một nền tảng cho những người tầm cỡ thắng giải Nobel”.  INSAIT là đứa con tinh thần của Martin Vechev, một nhà khoa học máy tính Bulgaria, người rời đất nước 20 năm trước để nghiên cứu và giảng dạy tại các trường hàng đầu thế giới. Ông hiện đang lên kế hoạch chia thời gian của mình ở ETH Zurich và chủ tịch đoàn cố vấn của INSAIT. ETH Zurich và Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Lausanne (EPFL) đã là những đối tác của viện nghiên cứu mới.  Vechev lưu ý là viện nghiên cứu này sẽ là viện đầu tiên của Đông Âu trong việc thu hút đầu tư của cả các chính phủ lẫn các công ty tư nhân. Ông mong muốn INSAIT trở thành một trong những nơi “có các khám phá có thể làm thay đổi thế giới này” và hy vọng viện nghiên cứu này sẽ trở thành thỏi nam châm hút tài năng và đầu tư từ khắp nơi trên khắp thế giới.  Trung tâm này sẽ là nơi thành lập các chương trình nghiên cứu và giáo dục về trí tuệ nhân tạo, khoa học máy tính, học máy, thị giác máy tính, an toàn thông tin và máy tính lượng tử. Mục tiêu của nó là nhanh chóng thu hút những khoa, trường ở đẳng cấp thế giới tới để đào tạo các chuyên gia thế hệ mới trong các lĩnh vực này.  Các vấn đề về cấu trúc  Bất chấp nỗ lực của Ủy ban châu Âu trong việc thuyết phục các quốc gia thành viên gia tăng đầu tư cho R&D, Bulgaria là một trong số các quốc gia có mức đầu tư R&D thấp nhất châu lục. Chỉ có 0,75% GDP của quốc gia này được rót vào KH&CN, do đó các trường viện của họ ít có sức hút đối với các nhà khoa học và các nhà đổi mới sáng tạo.  Thêm vào bất lợi của một hệ thống thiếu thốn đầu tư cho R&D, dân số Bulgaria đang suy giảm do tỉ lệ sinh thấp và di cư. Mỗi năm có khoảng 30.000 người Bulgaria rời tổ quốc mình.  Dan Shechtman, giáo sư về khoa học vật liệu tại Technion, Viện Công nghệ Israel, nói việc thành lập INSAIT là một bước đi đúng đắn nhưng chính quyền Bulgaria cần làm nhiều hơn nữa để khuyến khích người dân ở lại đất nước. “Công việc của chính phủ là đảm bảo cho viện nghiên cứu này không chỉ tạo ra các chuyên gia cho châu Âu mà còn có những chuyên gia cho Bulgaria,” ông nói.  Ủy ban châu Âu đang vật lộn với việc giữ môi trường cân bằng hơn cho các tài năng trong khoa học và đổi mới sáng tạo. Những trường đại học và các phòng thí nghiệm được đầu tư tốt ở Tây Âu từng có khả năng thu hút tài năng trên khắp thế giới trong khi những viện nghiên cứu “chị em” của nó ỏ Đông Âu, nơi nhận được ít đầu tư của chính phủ và các lĩnh vực tư yếu về động lực phát triển, đang phải chật vật trong một cuộc chiến cam go để cạnh tranh với họ.  Hơn 90% tiền trong chương trình tài trợ cho nghiên cứu của châu Âu là Horizon 2020 đều rơi vào túi của các quốc gia Tây Bắc Âu. Tỉ lệ này dường như không thay đổi dưới khuôn khổ của chương trình Horizon Europe mới.  Các quốc gia thành viên EU hiện đang làm việc về chương trình Vùng nghiên cứu châu Âu (ERA), một quá trình hoạch định chính sách buồn tẻ hướng đến việc gia tăng đầu tư vào R&D lên tới 3% GDP khắp các quốc gia thành viên EU, và hoàn thành cải cách điều này ở các vùng và các quốc gia tụt hậu.  Tại sự kiện ở Sofia, chủ tịch của Hội đồng nghiên cứu châu Âu Maria Leptin cho rằng cơ quan đầu tư cho khoa học cơ bản đang trao các suất hỗ trợ cho các trường viện hàng đầu châu Âu. Leptin không nghĩ là hệ thống tài trợ nghiên cứu châu Âu  thiên kiến với Đông Âu nhưng các nhà nghiên cứu ở các quốc gia này cần có những cơ sở nghiên cứu tốt, các điều kiện làm việc tốt hơn và cơ hội để làm việc với các đồng nghiệp hàng đầu thế giới mỗi ngày.  “[INSAIT] tự đặt cho mình những mục tiêu đầy tham vọng để tạo ra các chương trình nghiên cứu và giáo dục ở đẳng cấp thế giới”, Leptin nói. “Chúng tôi biết là rồi đây sẽ có nhiều học viên có kỹ năng tốt và nghiên cứu ở đẳng cấp thế giới sẽ được thu hút về các công ty quốc tế và các công việc chất lượng cao cũng như tạo ra những công ty spin-offs”.  Nhàn Nguyễn  tổng hợp  Nguồn: https://ellis.eu/news/new-ai-and-computer-science-institute-insait-launched-in-bulgaria  https://sciencebusiness.net/news/bulgaria-launches-ai-research-centre-woo-science-and-tech-talent    Author                .        
__label__tiasang Bước đi đầu của IoT trong nông nghiệp Việt Nam      Mặc dù nông nghiệp là một lĩnh vực tiềm năng để phát triển IoT nhưng cả doanh nghiệp và người tiêu dùng vẫn dè dặt khi đầu tư vào nó.      Dalat Organik là một công ty trồng và chế biến các sản phẩm từ rau hữu cơ của Tiến sĩ Sinh học Nguyễn Bá Hùng, được biết đến là người đưa ra mô hình sản xuất rau sạch đầu tiên ở Việt Nam từ năm 2006. Sau khi mở rộng quy mô, ông không thể giám sát toàn bộ trang trại nên việc vận hành phụ thuộc vào các nhân viên. Ông cho rằng, có những vùng bị tưới thiếu mặc dù các nhân viên lại nói đã đủ. Khi sử dụng giải pháp tưới chính xác của MimosaTEK, đúng là những chỗ đó thiếu nước thật, độ ẩm giám sát chỉ đạt 40%. TS. Hùng sau đó tự động điều khiển hệ thống tưới từ xa nhằm duy trì độ ẩm 60%. Chỉ vài ngày sau, toàn bộ cây rau của trang trại phát triển tốt hẳn.     Đi tìm giải pháp tối ưu về chi phí  Trong lĩnh vực IoT, MimosaTEK là một trong số rất ít công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đã có sản phẩm và thương mại hóa, cho phép hệ thống tưới được vận hành từ xa dựa vào việc phân tích các dữ liệu về môi trường, loại cây và giai đoạn sinh trưởng của cây và người dùng có thể theo dõi các thông số này theo thời gian thực.     Giải pháp của MimosaTEK gồm năm bộ phận: (1) Thiết bị giám sát gồm các cảm biến đo thông số về nhiệt độ, độ ẩm không khí, độ ẩm đất, áp suất, ánh sáng, gió, mưa và độ ẩm của đất trồng, chạy bằng pin và khoảng sáu tháng sạc một lần. Mỗi thiết bị này sẽ được đặt ở một khu vực trồng một loại cây, một thời điểm, tương đồng về loại đất trồng và điều khiển tưới riêng; (2) Nền tảng đám mây IoT nhận tất cả các dữ liệu mà thiết bị giám sát gửi về; (3) Phần mềm quản lý tưới chính xác chạy trên đám mây phân tích dữ liệu lớn và đưa ra khuyến nghị, cảnh báo và thống kê, báo cáo hằng ngày về việc tưới và điều kiện môi trường; (4) Ứng dụng trên thiết bị đầu cuối để người dùng tự điều khiển việc tưới nước và; (5) Bộ điều khiển tưới nhận dữ liệu từ thiết bị giám sát hoặc từ ứng dụng di động của người dùng qua GPRS để “chỉ đạo” máy bơm nước.     Anh Nguyễn Khắc Minh Trí cho biết, điều mà MimosaTEK bị “hóc” khi viết phần mềm xử lý dữ liệu đó là không có các tham số chuẩn về nhu cầu của từng loại cây để đối chiếu: “Những thông số đặc trưng cho cây trồng chúng tôi có thể tìm thấy trong các nghiên cứu của nước ngoài một cách công khai với quá trình nghiên cứu rất bài bản và tỉ mỉ trên đất của họ nhưng thực sự khó khăn cho các cây trồng của Việt Nam để có được các thông số này. Không có các thông số đặc trưng của từng loại cây trồng, những module phân tích dữ liệu của chúng tôi chỉ là những cỗ máy vô hồn”.     Về sau, MimosaTEK có được những thông số này nhờ dựa một phần vào các tài liệu mở của FAO, tư vấn của các chuyên gia nông nghiệp hoặc tự thử nghiệm. Hiện nay, trong cơ sở dữ liệu của MimosaTEK có thông số của các loại cây công nghiệp có giá trị cao (hồ tiêu, thanh long, chè, cà phê) và khoảng 30 loại rau ngắn ngày.     MimosaTEK chủ trương làm phần cứng, phần mềm và sản xuất ở trong nước “làm sao tối ưu về chi phí để người nông dân có thể đầu tư”. Thay vì tiết lộ chi phí người dùng phải trả cho phần cứng, Nguyễn Khắc Minh Trí chỉ nói rằng, thiết bị phần cứng sẽ được bán với chi phí đủ để bù vào phần sản xuất và có giá chưa đến 20% hệ thống nhập ngoại từ Israel và người dùng chi dưới 7 USD cho mỗi vùng quản lý.     Mặc dù MimosaTEK luôn cố gắng hạ thấp giá thành tới mức tối thiểu nhưng vẫn có giới hạn. “Tất cả cảm biến đều là từ Mỹ hoặc Đức nên chi phí phần cứng cuối cùng rồi sẽ phụ thuộc vào chỗ này. Nếu dùng cảm biến rẻ thì sớm hay muộn cũng sẽ không còn khách hàng khi các giá trị trả sai và không ổn định”- anh cho biết.     Kỹ sư và các chuyên gia nông nghiệp của MimosaTEK đi đến tận các trang trại để lắp đặt thiết bị cho người sử dụng. “Rốt cục thì MimosaTEK bán giải pháp chứ không bán thiết bị”, theo Nguyễn Khắc Minh Trí. Giải pháp của MimosaTEK chi tiết đến từng loại cây, loại đất và giai đoạn sinh trưởng của cây. Những dữ liệu này là do người dùng nhập thủ công từ ban đầu. Bên cạnh đó, họ không chỉ sử dụng các thông số đo được từ cảm biến mà còn từ nhật ký đồng ruộng của người sử dụng tự nhập trên ứng dụng. Dựa trên dữ liệu đó, họ sẽ đưa ra những phân tích về mối liên hệ giữa lượng nước tưới, điều kiện môi trường với năng suất và phát triển sâu bệnh ở cây để tối ưu hóa sự phát triển nông nghiệp.     “Lao vào sẽ thấy nhiều khó khăn, nhưng khi hiểu nó hơn sẽ thấy các cơ hội”  “Tôi rất muốn làm nông nghiệp thông minh nhưng tôi nhận thấy là lực của mình chưa đủ để làm chuyện này và hệ sinh thái chưa đủ tốt, chưa đủ rẻ để làm. Bởi vì tăng năng suất của gạo và của cây lên thu lại rất ít lợi nhuận, cho nên nếu mình đầu tư cái hệ thống này không cẩn thận là nó quá đắt,” Nguyễn Thế Trung, Tổng Giám đốc DTT, cho biết. Ông lựa chọn làm thành phố thông minh và giao thông thông minh trước. Nếu được, sẽ chuyển sang đầu tư vào nông nghiệp.     “Giá trị sản phẩm nông nghiệp chưa cao, quả cà chua ba nghìn thêm thông minh vào làm sao nó tăng lên ba mươi nghìn được? Nền tảng của chúng tôi chỉ cần điều chỉnh một chút là có thể áp dụng trong nông nghiệp. Nhưng ai mua? Người nông dân? Để làm nông nghiệp thông minh cần đầu tư dài hạn và cùng người nông dân trồng trọt, thu hoạch, có kết quả mới thu tiền của họ được. Trong khi smart home có sản phẩm là bán được ngay,” Nguyễn Tuấn Anh, CEO của Lumi smarthome, cho biết. Trước đây, anh từng hợp tác với Học viện Nông nghiệp để nghiên cứu hệ thống đèn Led thông minh tự động điều chỉnh màu sử dụng trong nông nghiệp.    “Mỗi người có một lựa chọn thôi. Ngành nào cũng vậy, lao vào sẽ thấy nhiều khó khăn, nhưng khi hiểu nó hơn sẽ thấy các cơ hội. IoT cho nông nghiệp chính xác giúp người nông dân tăng năng suất, giảm chi phí và tránh rủi ro vụ mùa. Chừng đó thứ sẽ giúp phát triển nông nghiệp bền vững. Còn vì sao thích nông nghiệp, thì cũng không trả lời được, chỉ là thích thôi, và thấy thoải mái trong ngành này,” anh Trí giải thích.     Hiện nay, giải pháp của MimosaTEK mới được áp dụng tại các trang trại cỡ trung và lớn, trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao tại Nha Trang, Đà Lạt, Bình Thuận và Đồng Nai. Doanh nghiệp này đang tập trung vào Đà Lạt “vì ở đây việc áp dụng công nghệ cao được đánh giá là đi đầu nên tư tưởng của người nông dân rất mở,” anh Trí cho biết. Anh hi vọng những thành công bước đầu sẽ khiến các hộ dân trồng nhỏ lẻ chú ý và nhân rộng trong một vài năm nữa.    Giải pháp của MimosaTEK giúp tiết kiệm lượng nước tưới từ 30% – 50% và ý nghĩa của nó không chỉ nằm ở việc tưới chính xác. TS. Nguyễn Bá Hùng ở câu chuyện mở đầu khẳng định: “Nó giúp tôi nhiều lắm”. Hệ thống đó giúp ông có cơ sở dữ liệu quan trọng về các thông số môi trường để từ đó xây dựng dữ liệu chính xác về thời điểm phát triển sâu bệnh, nấm ở cây trồng.                 IoT sẽ hoá giải nỗi lo chất lượng nông sản                            Người  tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp cũng nên chờ mong vào ứng dụng  IoT,  trong bối cảnh họ ngày càng lo ngại về chất lượng cũng như an toàn  thực  phẩm. Điều then chốt trong việc đánh tan lo ngại này, và góp phần  thúc  đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, là việc nâng cao  tính minh  bạch, chuyên nghiệp, và khoa học của chuỗi sản xuất nông  nghiệp. IoT  đóng vai trò lớn trong việc giúp sự minh bạch và chuyên  nghiệp này trở  nên đáng tin cậy hơn. Việc lắp đặt thẻ cảm ứng vào tai  lợn để theo dõi  và thu thập dữ liệu về quá trình chăn nuôi, xử lý, đóng  gói, bán sỉ và  lẻ, giúp từng khuôn thịt khi đến tay người dùng đều kèm  theo một hồ sơ  quản lý được lưu trữ đáng tin cậy giúp toàn bộ quy  trình sản xuất trở  nên minh bạch hơn. Công nghệ này đã được phát triển  và ứng dụng ở Trung  Quốc bởi tập đoàn Dingshan Professional. Tương tự,  An Pin Live Fish S/T  Center ở Đài Loan cũng theo dõi quy trình thu  hoạch và xử lý cá sống  bằng việc lắp đặt thẻ chip xác định tần số vô  tuyến lên cá. Cũng bằng  công nghệ xác định tần số vô tuyến, kết hợp với  công nghệ định vị GPS,  Đại học Arizona ở Mỹ giúp nông dân ước lượng  tình trạng đất và giúp các  đơn vị bán lẻ theo dõi chuỗi cung ứng, thời  điểm gặt hái, cách gặt hái,  và nhiều thông tin chi tiết khác về rau  diếp. Bộ Nông nghiệp Mỹ phê  chuẩn việc sử dụng thẻ tần số vô tuyến cực  cao để áp đặt mã số nhận dạng  độc nhất lên gia súc và gia cầm để có thể  ngay lập tức truy lại lịch sử  chăn nuôi và tình trạng sinh sốmg của  gia súc hoặc gia cầm bị nhiễm  bệnh, hoặc thịt gia súc/gia cầm bị bệnh,  để kịp thời phân tích tìm ra  nguồn gốc phát bệnh. Quản lý chất lượng  sữa ở Minnesota, Mỹ cũng đã và  đang áp dụng công nghệ xác định tần số  vô tuyến và cảm ứng để theo sát  màu và nhiệt độ sữa, kết hợp với việc  thu thập dữ liệu về tình trạng sức  khỏe bò và nhịp độ bơm lấy sữa. Tất  cả các thông tin này đều vô cùng  hữu ích cho công tác phân tích cấp độ  cao khi phát hiện sữa xấu, giúp  ngăn chặn và xử lý kịp thời.    Nguyễn Hồng Hải Đăng                     Đọc thêm:  Khi các thiết bị “bất đồng ngôn ngữ”        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đi mới cho thị trường công nghệ từ viện – trường      Nhằm nâng cao hiệu quả liên kết giữa doanh  nghiệp và các tổ chức nghiên cứu trong việc ứng dụng các thành tựu đổi  mới sáng tạo vào sản xuất kinh doanh, Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao đã đứng ra “mai mối”  cho doanh nghiệp và viện, trường cùng các sở ngành liên quan.     Đại học Bách khoa “chào hàng”  Có thể nói, qua Hội chợ HVNCLC TP.HCM, từ 15 đến 20/4, lần đầu tiên “kho” công nghệ của Đại học Bách khoa được giới thiệu rộng rãi đến cộng đồng doanh nghiệp và công chúng. Lần đầu tiên xuất hiện hai ngôi nhà “sáng tạo” trong hội chợ, là Ngôi nhà chung Đổi mới sáng tạo của Hội DN HVNCLC và Ngôi nhà Triển lãm thành tựu nghiên cứu của Đại học Bách khoa.  Trong Ngôi nhà Triển lãm đại học Bách Khoa TP.HCM, gần 30 thành tựu nghiên cứu của nhà trường đã được mang ra “chào hàng” với doanh nghiệp và người dân, nhiều sản phẩm gây sự tò mò đến người xem như: Hệ thống điện mặt trời hoạt động độc lập, xe điện lai, tàu đệm khí, máy tách màu hạt gạo, mô hình nhà kính thông minh, hệ thống thiết bị mài và bôi keo đế giày tự động, hệ thống nhạc nước…  Song song với chương trình triển lãm, giới thiệu những thành tựu trong ngôi nhà chung của đại học Bách Khoa, Hội DN HVNCLC tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi, tư vấn với chuyên gia trường đại học để doanh nghiệp và nhà trường đến gần nhau.   Để hai đường thẳng song song gặp nhau  Buổi tọa đàm “Liên kết doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu trong đổi mới sáng tạo: Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến nhà máy sản xuất?” thu hút sự tham gia của đại diện trường Đại học Bách khoa, Đại học Cần Thơ, Đại học Nông – Lâm, đại diện các doanh nghiệp HVNCLC cùng nhiều chuyên gia…  Trong cuộc tọa đàm, đại diện công ty Thiên Long, công ty Sài Gòn Food, công ty ICP đã nói lên những mặt tồn tại, hạn chế trong việc liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.   Ông Phạm Hoàng Ngân, Phó tổng giám đốc công ty ICP cho rằng, “giữa viện trường và doanh nghiệp đang có một khoảng cách rất lớn như hai đường thẳng song song mà chưa gặp được nhau”. Ông Ngân đưa ý kiến, để hai đường thẳng này gặp nhau thì phải tăng cường kết nối, giao lưu qua lại bằng cách tham quan, làm việc tại cơ sở của nhau, để thực tế biết hai bên cần gì.   Theo bà Huỳnh Ngọc Bảo Thi, trưởng phòng Nghiên cứu và phát triển nguồn nguyên vật liệu của Tập đoàn Văn phòng phẩm Thiên Long, việc hợp tác với các viện trường thất bại do ba nguyên nhân. Thứ nhất là khả năng ứng dụng và phù hợp của công nghệ của viện, trường, thứ hai là hạn chế về tính khả thi khi sản xuất đại trà, và cuối cùng là sự linh động của đơn vị nghiên cứu đáp ứng chưa cao. “Thông qua đây, chúng tôi mong rằng viện trường sẽ có kênh giới thiệu các chuyên gia về ngành đối với doanh nghiệp, đào tạo, giới thiệu nguồn nhân lực phù hợp với doanh nghiệp. Ngoài ra, có cơ chế để doanh nghiệp có thể thuê sử dụng những công cụ, thiết bị đắt tiền của viện, trường…  Trong khi đó, theo bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó Tổng giám đốc công ty Sài Gòn Food, sản phẩm công nghệ của trường có thời gian nghiên cứu dài, người phụ trách chương trình thay đổi nhiều… hơn nữa vấn đề doanh nghiệp đặt ra phù hợp với khoa nào cần có bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp, chứ để doanh nghiệp liên hệ tới lui cũng chưa được. “Ngoài ra, nên cho sinh viên thực tập tiếp cận và làm luận văn tốt nghiệp bằng những đề tài của doanh nghiệp sẽ thiết thực hơn là của nhà trường đưa ra trong thời gian thực tập”, bà Lâm nói.   Đại diện trường Đại học Bách khoa, Đại học Nông – Lâm và Đại học Cần Thơ khẳng định sự liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường có những tồn tại và sẽ khắc phục để hiệu quả được tốt nhất. PGS. TS. Vũ Đình Thành, hiệu trưởng trường đại học Bách khoa – ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhận xét: “Một liên kết bền chặt và cơ chế đối thoại thường xuyên giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp là nền tảng cho sự hợp tác hiệu quả và bền vững, không những giúp cho các nghiên cứu khoa học có địa chỉ ứng dụng mà còn tạo điều kiện cho cả nhà trường và doanh nghiệp tận dụng được các nguồn lực sẵn có của nhau, tạo điều kiện cho hai bên cùng phát triển”.  Ba doanh nghiệp (Dược Lâm Đồng, Việt Hương, Sài Gòn Food) sau buổi tọa đàm đã tham gia buổi tư vấn trực tiếp với đội ngũ chuyên gia trường đại học Bách Khoa, đây là ba doanh nghiệp trước kia từng hợp tác thành công với đại học Bách Khoa. Đầu tiên, công ty Cổ phần Dược Lâm Đồng (Ladophar) nhờ tư vấn một số thiết bị công nghệ trong chế biến, xử lý dược liệu như máy rửa, máy làm khô, máy chiết xuất dược liệu. Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Việt Hương cần được tư vấn về công thức làm pa tê và chà bông. Công ty Sài Gòn Food mong muốn sẽ tìm được công nghệ thích hợp trong việc chế biến các sản phẩm từ da cá. Các chuyên gia đã đưa ra những phương án để doanh nghiệp tham khảo, trao đổi. Ba doanh nghiệp trên đã đồng ý, thống nhất với chuyên gia về quá trình làm tiếp theo, cùng hy vọng sẽ hợp tác với nhau thêm nhiều lần nữa.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đột phá của giới khởi nghiệp Singapore      Từ một quốc đảo nổi tiếng trầm mặc và tình hình khởi nghiệp ở mức trì trệ, chỉ sau năm năm, Singapore đã trở thành một trong 10 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới.  Yếu tố nào đã giúp cộng đồng khởi nghiệp ở Singapore phát triển nhanh như vậy?    Thách thức đối với các doanh nhân   Vấn đề không phải là người dân Singapore sợ thất bại mà nằm ở chỗ giới doanh nhân ở Singapore không được xã hội đánh giá cao. Các gia đình vẫn thích con em họ tìm được một vị trí an toàn trong các công ty đa quốc gia hay tốt hơn cả là trong khu vực nhà nước. Giới đầu tư cũng thích đưa tiền ra nước ngoài hơn là gửi gắm tiền vào những công ty internet khởi nghiệp trong nước. Sau đợt vỡ bong bóng dotcom năm 2000, chỉ còn một số ít hãng đầu tư mạo hiểm Singapore còn tiếp tục hoạt động trong nước, hầu hết đều là những quỹ đầu tư thiếu kinh nghiệm.    Chính phủ không ngồi nhìn  Có lẽ việc Chính phủ Singapore dành nhiều sự quan tâm tới các công ty khởi nghiệp là một điều đáng ngạc nhiên, bởi Singapore có lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Song những quan chức như Low Teck Seng, lãnh đạo Quỹ Nghiên cứu Quốc gia, cho hay Singapore không thể tiếp tục dựa dẫm vào các công ty đa quốc gia mà phải nỗ lực để khuyến khích tinh thần kinh doanh trong dân chúng. Khó có thể nhanh chóng tạo nên một hệ sinh thái doanh nghiệp, song những nỗ lực tổng thể và nhất quán của Chính phủ Singapore đã có vai trò rất lớn trong việc tạo đà cất cánh cho các công ty khởi nghiệp ở quốc đảo này.  Về sự chuyển mình của Singapore, Scott Anthony, một nhà đầu tư mạo hiểm có mặt tại Singapore từ năm 2010, viết trên tạp chí Harvard Business Review như sau: “Trong năm đầu tiên tôi ở Singapore, phải vài tháng mới có tin về một công ty chốt được một nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, và mỗi năm mới có một cuộc thoái vốn (công ty khởi nghiệp được công ty khác mua lại hoặc được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán – ND) diễn ra. Ngày nay, dường như tuần nào cũng có một cuộc đầu tư; giá trị đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ đã tăng từ mức dưới 30 triệu USD năm 2011 lên tới trên 1 tỉ USD năm 2013. Trong năm 2014 ở Singapore diễn ra 10 cuộc thoái vốn thành công, trong đó có những thương vụ có giá trị thấp so với chuẩn toàn cầu như vụ bán nhà cung cấp dịch vụ chat Zopim trị giá 30 triệu USD, nhưng cũng có những thương vụ lớn, chẳng hạn như vụ công ty thương mại điện tử Rakuten của Nhật mua lại nhà cung cấp video trực tuyến Viki trị giá 200 triệu USD.”  Sự trỗi dậy của Singapore là điều đáng ngạc nhiên bởi quốc đảo này vốn nổi tiếng trầm mặc và tình hình khởi nghiệp của họ mới cách đây mấy năm vẫn còn ở mức trì trệ. Trong bối cảnh các chính phủ khắp nơi trên thế giới đang tìm cách khuấy động tinh thần doanh nhân để tạo công ăn việc làm và thúc đẩy nền kinh tế, chúng ta hãy cùng nhìn lại để tìm hiểu về các yếu tố chủ đạo đã tạo nên thành công của Singapore ngày hôm nay.  Môi trường thân thiện. Singapore thường xuyên được xếp vào hàng các quốc gia dễ kinh doanh nhất thế giới. Các luật lệ được thể hiện rõ ràng và dễ thực hiện. Có thể thành lập công ty mới chỉ trong vài giờ, thậm chí vài phút. Quyền sở hữu trí tuệ được tôn trọng, và luật pháp thì minh bạch. Nhập cư cũng là một chủ đề nóng ở Singapore, nhưng quốc đảo này biết cách thu hút các công nhân có trình độ đào tạo cao và có một chính sách định cư riêng cho các doanh nhân tương lai. Thành phố sạch sẽ và hiệu quả này cũng có một số lợi thế về sinh hoạt hơn hẳn so với Thượng Hải, Manila, Jakarta, hay Bangkok.  Ý thức được về danh tiếng của quốc gia mình trong giới sáng tạo – đối tượng thu hút của Singapore, chính phủ nước này đã và đang nỗ lực thay đổi hình ảnh truyền thống về một đất nước Singapore buồn chán thông qua việc xây dựng hai sòng bạc, một công viên theo chủ đề Universal Studios, một thủy cung lớn nhất châu Á mang tên Vườn bên Vịnh, một sân vận động đa chức năng với 55.000 ghế ngồi, các nhà hàng ăn nổi tiếng thế giới, và một sân bay hiện đại giúp việc đi lại trở nên thuận tiện và nhanh chóng.  Chính phủ quan tâm sâu sát. Từ lâu các doanh nhân ở đây đã có cơ hội tiếp cận rất nhiều khoản trợ cấp và các chương trình liên quan nhằm hỗ trợ hoạt động phát triển giai đoạn đầu của doanh nghiệp. Việc đăng ký thành lập công ty trước đây kéo dài hàng tuần thì nay đã giảm xuống còn vài giờ. Mỗi năm, ĐH Quốc gia Singapore (NUS) lại cử khoảng 120-150 sinh viên đi học việc một năm ở Thung lũng Silicon và các hệ sinh thái doanh nghiệp khác, và rất nhiều sinh viên trong số đó sau này đã trở thành các nhà sáng lập doanh nghiệp. Trong nước, các doanh nhân được tiếp cận nguồn tài trợ bằng vốn đối ứng lên tới 50.000 SGD (tương đương 40.000 USD), đồng thời  công ty của họ được nhận vào các vườn ươm công nghệ để hỗ trợ hoạt động.  Các nhà đầu tư thậm chí còn được hưởng những chính sách ưu đãi hơn, qua đó họ có thể tận hưởng mọi lợi ích của một quỹ đầu tư mạo hiểm trong khi vẫn được bảo vệ trước những rủi ro – đây vốn là một mô hình rất thành công do Israel tiên phong thực hiện. Quỹ Nghiên cứu Quốc gia NRF bổ sung một nguồn vốn lớn vào các khoản đầu tư của các vườn ươm công nghệ: cứ mỗi SGD mà các vườn ươm này bỏ ra, NRF lại rót thêm vào 5 SGD, cho tới mức tối đa là 500.000 SGD (350.000 USD). Các nhà đầu tư cũng có quyền mua lại cổ phần của chính phủ với giá ban đầu cộng thêm một khoản lãi suất nhỏ trong vòng ba năm.  Các chính sách ưu đãi này đã mang lại nhiều kết quả ấn tượng. Theo ước tính của Gai (Great American Insurance – tập đoàn bảo hiểm của Mỹ), Singapore hiện có khoảng 800 công ty internet, tức cứ 1 triệu dân lại có 160 công ty; tỉ lệ này đã giúp Singapore vươn lên đứng trước các quốc gia như Hà Lan và Tây Ban Nha.   Sử dụng quyền lực mềm để giải quyết các rào cản tiềm tàng đối với doanh nghiệp. Cách đây một thập kỷ, việc tham gia vào một công việc thiếu chắc chắn như thành lập một công ty trong khi bạn hoàn toàn có thể đi làm cho một ngân hàng lớn hay cơ quan nhà nước là điều trái với nền văn hóa Singapore. Vì vậy mà vài năm trở lại đây, các chính trị gia đã không ngừng tuyên dương tinh thần doanh nhân; các trường đại học được nhà nước tài trợ cũng hăng hái đẩy mạnh sáng tạo; hãng truyền hình nhà nước MediaCorp cũng chạy những chương trình truyền hình biểu dương tinh thần doanh nhân.  Ba yếu tố trên tạo thành một vòng tròn khép kín, tự dung tự dưỡng, bởi khi các doanh nhân thành công, họ sẽ muốn tiếp tục kinh doanh. Chẳng hạn, năm 2010, công ty YFind Technologies đã xây dựng thành công giải pháp công nghệ thông minh có thể xác định chính xác vị trí của một người bên trong một tòa nhà bằng cách theo dõi các tương tác trên điện thoại di động của người đó với các điểm truy cập WiFi. Giải pháp này có thể là xương sống của nhiều dịch vụ tình báo kinh doanh giá trị như dịch vụ “heat mapping” (bản đồ nhiệt) trong lĩnh vực bán lẻ giúp thực hiện những phân tích phức tạp về lưu lượng khách hàng tại cửa hàng. Quỹ đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Mỹ Innosight đã đầu tư vào YFind Technologies năm 2012 với vốn đối ứng của Chính phủ Singapore chiếm 85% giá trị thương vụ, và tới năm 2013, nhà cung cấp dịch vụ WiFi có trụ sở tại Mỹ Ruckus Wireless đã mua lại công ty này. Với những thành công đầu tiên của mình, Melvin Yuan, đồng sáng lập YFind  Technologies, đã trở nên “nghiện” kinh doanh. Anh tiếp tục thành lập một công ty mới giúp kết nối những người muốn tìm kiếm các tác phẩm nghệ thuật độc đáo với vô số những tài năng nghệ thuật khắp nơi trên thế giới.            Khung Quốc gia về Sáng tạo và Khởi nghiệp (NFIE) là một chương trình toàn quốc nhằm thúc đẩy sức sáng tạo và tinh thần doanh nhân ở Singapore. Mục tiêu của NFIE là khuyến khích các trường đại học và trường đào tạo nghề kỹ thuật đưa nghiên cứu của họ trở thành các sản phẩm thương mại phục vụ thị trường, đồng thời hỗ trợ doanh nhân thành lập các công ty công nghệ. Hiện NFIE đang thực hiện các chương trình sau:                Quỹ Mạo hiểm Giai đoạn đầu (ESVF)              Mỗi năm, (cùng với vài quỹ đầu tư mạo hiểm), NRF hỗ trợ tổng cộng 10 triệu SGD (tương đương 7 triệu USD) đối ứng theo tỉ lệ 1:1 vào các công ty công nghệ cao trong giai đoạn khởi đầu đặt trụ sở ở Singapore.    Tài trợ các dự án thực nghiệm (POC)              Đây là quỹ tài trợ để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ứng dụng. Mỗi dự án được đầu tư tối đa 250.000 SGD (tương đương 177.000 USD). Vốn sẽ được cấp nửa năm một lần và sau một năm, những người nhận được vốn sẽ phải đưa ý tưởng và phát minh của mình ra thị trường. NRF phụ trách chương trình này trong nhóm các nhà nghiên cứu ở trường đại học và bệnh viện công lập, còn SPRING (một cơ quan chính phủ phụ trách các doanh nghiệp nhỏ) quản lý một chương trình tương tự trong nhóm các doanh nghiệp.                Chương trình Vườn ươm Công nghệ (TIS)              Cùng với vườn ươm công nghệ, NRF đồng tài trợ tới 85% (tức 500.000 SGD, tương đương 354.000 USD) giá trị mỗi thương vụ đầu tư cho các công ty khởi nghiệp đặt trụ sở ở Singapore     Chương trình Lãnh đạo Doanh nghiệp Toàn cầu (GEEs)              Đây là một chương trình đồng tài trợ với chương trình Lãnh đạo Khởi nghiệp toàn cầu (GEEs- Global Entrepreneur Executives) nhằm thu hút các công ty công nghệ cao, tăng trưởng nhanh (high-growth) trong các lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ y học và công nghệ sạch chuyển tới Sigapore. NRF đầu tư tối đa 3 triệu SGD (tương đương hơn 2 triệu USD) vốn đối ứng dưới dạng trái phiếu chuyển đổi vào các công ty này.                Chương trình Cụm Sáng tạo              Chương trình Cụm Sáng tạo khuyến khích các tổ chức công nghệ và các cơ quan kinh tế phối hợp với các công ty để hình thành nên các cụm sáng tạo. Chương trình này nhằm củng cố sự hợp tác giữa các công ty, trường đại học, viện nghiên cứu và chính phủ nhằm nhanh chóng đưa các ý tưởng khả thi ra thị trường, nâng cao năng suất lao động, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực ngành nghề.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước ngoặt của nền công nghiệp Trung Quốc      Nền kinh tế Trung Quốc (TQ) cần phải thay đổi cơ bản. Đảng Cộng sản chủ trương biến những nhà máy rẻ tiền của TQ thành địa bàn sản xuất hàng hóa cao cấp, dù biết không dễ dàng vì bộ máy quan liêu, trì trệ cản trở công cuộc nghiên cứu phát triển và chỉ có một số ít doanh nghiệp thực sự có được ý tưởng sáng tạo. TQ từng là đất nước của các nhà sáng chế như phát minh ra giấy, máy in, la bàn, thiết bị đo động đất. Các nhà thiên văn TQ từng biết đo đạc bầu trời và lập bản đồ tinh tú. Nhưng cách đây khoảng 500 năm TQ đã bị mất động lực sáng tạo, các hoàng đế Trung Hoa tự mãn với những cái đã có và không quan tâm tới sáng chế, phát minh.      Nay người TQ tái xuất hiện: các nhà du hành TQ tung hoành trên vũ trụ, các nhà máy của TQ cho ra đời Airbuss, iPhone, iPad. Công nhân TQ xây dựng tàu cao tốc, nhiều nhà máy điện gió và lò phản ứng nguyên tử. Tại bất cứ vị trí nào trên lãnh thổ TQ, người ta đều có thể liên hệ với nhau bằng điện thoại di động. Ngay ở cả những tỉnh xa xôi nhất cũng có mạng Internet băng thông rộng.  Hạn chế hiện nay của nền kinh tế TQ là: các hãng sản xuất mức lương thấp và tung ra thị trường các loại sản phẩm thông dụng, đơn giản vẫn còn đóng vai trò quan trọng nên TQ chỉ đứng ở vị trí thứ hai về xuất khẩu trên thế giới. Nhưng các doanh nghiệp sản xuất T-Shirts, đồ chơi, máy giặt và các loại hàng hóa thông dụng khác ở vùng đồng bằng Giang Châu hay Dương Tử đang tạo hàng triệu việc làm cho người dân.   Mới đây Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói: “Sáng tạo khoa học và công nghệ sẽ là động lực thúc đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế vì vậy phải tập trung mạnh hơn vào khoa học và kỹ thuật để biến TQ thành một quốc gia sáng tạo”.  Câu nói cửa miệng trong chính sách phát triển công nghiệp của TQ là “tăng cường tính sáng tạo ở trong nước”. Chính phủ ra thông báo, các cơ quan Nhà nước về nguyên tắc phải tiêu thụ hàng sản phẩm do công nghệ của TQ tạo ra. Và sự phát triển mạnh mẽ hiện nay của TQ không thể dựa mãi vào việc sản xuất các loại sản phẩm rẻ tiền. Người TQ đã phải trả giá quá đắt cho sự phát triển của họ trong thời gian qua. Nhiều sông ngòi, ao hồ và đồng ruộng bị ô nhiễm, độc hại nặng nề và không còn sử dụng được nữa.           Công viên khoa học Trung Quan Thôn (Zhongguancun Science Park – ZCP) là trung tâm phát triển KHCN đầu tiên và quy mô  nhất của TQ          Công nhân TQ nay đòi hưởng mức lương cao hơn, cạnh đó TQ phải cạnh tranh với các quốc gia như Ấn Độ, Bangladesh và Việt Nam. Nếu sản xuất hàng hóa rẻ tiền với mức lương thấp thì TQ phải chứng kiến tình trạng hàng sản xuất tại TQ nhưng phần lớn lợi nhuận lại chảy ra nước ngoài. Thí dụ: nhà sản xuất ở TQ chỉ nhận được vài USD cho một cái iPod, người thợ TQ chỉ được vài chục xen khi gia công một đôi giày Nike.   Thời gian qua TQ phải mua chất xám của nước ngoài như các doanh nghiệp viễn thông của TQ nhập bản quyền công nghệ điện thoại di động trên 100 tỷ USD.   Ông Fan Chunyong một nhà lãnh đạo ngành công nghiệp ở TQ nói : “Hàng may mặc sản xuất tại TQ đều mang nhãn hiệu Italia, Pháp hoặc Đức, TQ phải tự tạo ra thương hiệu của mình nếu không lợi nhuận chảy hết ra nước ngoài.” Nay TQ mới có các thương hiệu quốc tế như Haier, Lenovo và Huawei, trụ nổi trên thị trường thế giới. Nhưng như tế chưa đủ bởi TQ cần phải tạo ra những sản phẩm cao cấp”.  Hãng sản xuất ô tô và ắc quy BYD của TQ đang sản xuất một loại ô tô chạy điện để tung ra thị trường thế giới. Các nhà nghiên cứu TQ đang nỗ lực nghiên cứu các cấu trúc gene về sinh học, hóa học và y học để sớm đưa ra một thế hệ thuốc tránh thai và dược phẩm mới. Các thành phố lớn ở TQ đều hình thành các công viên khoa học như Khu công nghiệp Zhongguancun (Trung Quan Thôn) ở Bắc Kinh với hàng chục cơ sở nghiên cứu khoa học đang hết sức nỗ lực nhằm có thể cạnh tranh với Silicon Valley ở California.  Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học TQ ngày càng nhiều. Hiện chỉ có Mỹ là có nhiều kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học-kỹ thuật quốc tế hơn TQ. Năm 2008 cơ quan sáng chế phát minh của TQ đã nghiên cứu xử lý trên 800.000 hồ sơ và 200.000 đã được cấp bằng sáng chế, tuy còn có quá ít phát minh, sáng chế mang tính đột phá vì công nghệ TQ giải quyết được mới ở mức nâng cấp, cải tiến những giải pháp công nghệ hiện có.  Những vấn đề cần khắc phục      Ông Jörg Wuttke, cựu Chủ tịch Phòng thương mại EU nói về “một sự mất cân đối quá lớn” giữa số tiền chi cho các trường đại học TQ với số ít sản phẩm mà các trường này đạt được. TQ còn phải khắc phục một số vấn đề để có thể trở thành nơi sản sinh ra những sản phẩm cao cấp.   Chỉ có một ít các doanh nghiệp tư nhân ở TQ có bộ phận nghiên cứu riêng nhưng chủ yếu quan tâm kiếm lợi nhuận thật nhanh hoặc ưu tiên cho đầu tư vào các dự án sản xuất mới nhưng khó tiếp cận được tín dụng của ngân hàng.   Hiện tại các trường đại học, cao đẳng ở TQ vẫn còn bị ám ảnh bởi cuộc cách mạng văn hóa từ 1966 đến 1976. Hồi đó đảng Cộng sản TQ lên án các trường đại học, viện nghiên cứu là hang ổ của “tư tưởng tư sản” và tiến hành một cuộc đấu tranh tư tưởng làm tê liệt sự hoạt động của các trường đại học và viện nghiên cứu. Cả một thế hệ các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy bị chỉ trích, phê phán và triệt tiêu về chính trị. Nay không còn chuyện đấu đá nữa nhưng vết thương do cách mạng văn hóa gây ra vẫn chưa lành. Cạnh đó, nước này vẫn chưa chú trọng việc khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia nghiên cứu, sáng tạo. Bộ máy quản lý, nghiên cứu khoa học của Nhà nước quá quan liêu, chậm chạp và thường sa vào tệ tham nhũng nên không thể theo kịp các hãng trí tuệ tầm cỡ quốc tế.   Các nhà đầu tư nước ngoài than phiền việc TQ buộc đối tác nước ngoài nếu muốn đầu tư sản xuất tại TQ phải công khai tài sản quý giá nhất của mình đó là chất xám về công nghệ, kỹ thuật. Trong khi đó nạn ăn cắp bản quyền, bắt chước mẫu mã là chuyện bình thường diễn ra hằng ngày tại TQ.   Nguyễn Xuân Hoài    theo Spiegel 26/8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước ngoặt của thị trường năng lượng: Giã từ dầu mỏ      Tiêu thụ dầu mỏ ở các nước công nghiệp ngày  một giảm trong khi ở các nước mới nổi, nhu cầu về dầu mỏ cũng không tăng  vọt như trước đây – trên thế giới hiện đang diễn ra một bước ngoặt có ý  nghĩa lịch sử, đó là sự giã từ dầu mỏ.       Từ năm 2005, tiêu thụ dầu mỏ ở các quốc gia công nghiệp bắt đầu giảm. Các chuyên gia của Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA ở Paris hy vọng năm tới có thể trở thành cái mốc của sự thay đổi toàn cầu. Theo dự báo của IEA, cơn khát dầu mỏ đến năm 2016 lần đầu tiên sẽ bắt đầu giảm nhẹ so với năm trước đó, mặc dù không có sự hoành hành của suy thoái. Khoảng năm 2030, tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới thậm chí sẽ giảm.  Vậy sự giã từ dầu mỏ đang diễn ra cụ thể như thế nào? Hãy truy tìm dấu vết ở nơi mọi sự bắt đầu, đó là từ cửa ngõ ngôi nhà của chúng ta.  Vào một ngày tháng 8/1996 đã diễn ra một sự kiện có ý nghĩa lịch sử: một nhóm nhân vật đấu tranh thuộc phong trào Hòa bình xanh Greenpeace ở Lucerne Thuỵ Sỹ cho chạy thử chiếc xe con Twingo của hãng Renault trên một đoạn đường cả đi lẫn về dài khoảng 200 km. Các nhà kỹ thuật đã cải thiện tình trạng khí động học của con xe, chú trọng tới trọng lượng của nó và tối ưu hoá động cơ. Kết quả là trên tuyến đường đó, mức tiêu thụ xăng chỉ còn 3,2 lít trên 100 km, giảm khoảng 50% mức tiêu thụ đối với xe con thời kỳ đó.   Cuộc thử nghiệm ở Thuỵ Sỹ đã tác động mạnh mẽ đến tình hình ở Đức nói chung và ngành công nghiệp ô tô ở nước này nói riêng. Kể từ giữa những năm 1990 trở đi, mức tiêu thụ xăng dầu ở Đức liên tục giảm. Nguyên nhân chính là do sử dụng các loại xe ô tô tiết kiệm nhiên liệu. Ngày nay, 18 năm sau cuộc thử nghiệm đầu tiên, loại xe ô tô 3 lít xăng không còn là chuyện lạ nữa.   Hơn nữa, số km sử dụng xe ô tô của người Đức hàng năm nói chung không tăng. Tăng trưởng kinh tế, một trong những nguyên nhân tiêu hao nhiên liệu nhiều nhất, trong thời gian qua chỉ đạt mức thấp. Xu hướng này diễn ra ở hầu hết các quốc gia công nghiệp, góp phần làm giảm mức tiêu thụ xăng dầu.  Theo chuyên gia dầu mỏ Matthew Parry thuộc IEA, khủng hoảng kinh tế làm giảm khoảng một nửa mức tiêu thụ xăng dầu, phần còn lại là do nâng cao hiệu quả của kỹ thuật và công nghệ.  Trong ba năm qua, Đức đã bắt đầu sử dụng nhiên liệu sinh học. Ước đoán, đến năm 2025, tiêu thụ xăng ở Đức sẽ giảm 30% so với năm 2010 nhờ sử dụng nhiên liệu sinh học.   Xu hướng này sẽ tăng lên nếu quy chế về bảo vệ khí hậu được tăng cường nghiêm ngặt hơn nữa. Nếu tại cuộc họp thượng đỉnh ở Paris vào năm tới, các quốc gia nhất trí với nhau hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất ở mức hai độ thì điều này sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc tiêu thụ dầu mỏ. Theo các nhà tư vấn của Công ty tư vấn chiến lược Roland Berger, mức khí thải CO2 của ô tô đến năm 2025 phải giảm xuống chỉ còn 56 gr /km. Hiện tại mức tiêu thụ nhiên liệu bình quân là 5,6lít/100km, đối với loại xe đời mới thì mức tiêu thụ chỉ còn 2,4 lít/100km. Về kỹ thuật, các chỉ tiêu này thực tế đã đạt được từ lâu, như các hãng sản xuất ô tô BMW, Toyota hay VW đã chứng minh thông qua các dòng xe lai (Hybrid). Đây là các loại xe vừa chạy điện vừa chạy xăng và thải ra khoảng 50 gr CO2/km.    Ngoài ra, tiêu thụ dầu đốt để sưởi ấm của các hộ gia đình cũng sẽ giảm mạnh. Do giá dầu đốt tương đối cao nên các hộ gia đình sẽ chuyển sang dùng khí đốt, điện mặt trời và địa nhiệt để sưởi ấm.   Lần đầu tiên điện gió, điện mặt trời và điện sinh học cũng như thuỷ điện trở thành những cấu thành năng lượng quan trọng nhất ở Đức và đẩy than nâu xuống vị trí thứ yếu. Tập đoàn hậu cần UPS là một trong những tập đoàn vận tải hàng hoá lớn nhất thế giới có đội xe vận tải trên 1.000 chiếc đã dùng khí hoá lỏng (Liquified Natural Gas LNG) thay cho dầu diesel, số còn lại 16.000 xe cũng từng bước chuyển sang dùng LNG.   Do giá LNG được làm lạnh âm 160 độ C rẻ hơn nhiên liệu truyền thống sản xuất từ dầu mỏ tới 70% nên xu hướng các tập đoàn hậu cần chuyển sang sử dụng LNG ngày càng tăng.   Nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ LNG trên đường bộ ở Mỹ là do khai thác khí đốt từ đá phiến có những tiến bộ vượt bậc. Giá khí đốt ở Mỹ hiện tại chỉ bằng một nửa so với châu Âu. Một số hãng vận tải đường sắt ở Mỹ và Canada cũng đang thử nghiệm dùng động cơ hybrid chạy bằng dầu diesel hay khí đốt.  Ngay cả các hãng tàu biển cũng đang có xu hướng thay vì dùng dầu nặng chuyển sang dùng khí đốt. Dầu nặng tuy giá rẻ song lại gây ô nhiềm môi trường nghiêm trọng vì hàm lượng chất thải lưu huỳnh quá cao.   Nhiều tập đoàn hoá chất cũng giảm mạnh việc sử dụng nguyên liệu dầu mỏ để sản xuất các chất nhựa tổng hợp vì ethane và propane sản xuất từ đá phiến có giá rẻ hơn nhiều. Các chuyên gia cho rằng điều tương tự cũng có thể xẩy ra ở Bắc Phi, Nga, Trung Quốc, Australia, Argentina, Ba Lan và Anh Quốc vì những nơi này đều có trữ lượng lớn khí đốt từ đá phiến.   Nhà nghiên cứu năng lượng Adam Brandt thuộc Đại học Stanford đã phân tích hàng ngàn dữ liệu trong quá khứ để tìm lời đáp về tiêu thụ dầu mỏ trong điều kiện dân số và kinh tế tăng trưởng cao, cùng với quá trình đô thị hoá đang diễn ra trên thế giới. Kết quả là ngay cả khi các nước mới nổi đạt mức phát triển kinh tế mạnh mẽ thì từ năm 2030, tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới sẽ giảm sút.   Xuân Hoài lược dịch từ “Tuần kinh tế”     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước nhảy vọt lịch sử trong công nghệ thám hiểm vũ trụ      20h30 ngày 22/12/2015 (giờ miền Đông nước Mỹ), tại mũi  Canaveral ở bang Florida, công ty SpaceX đã thành công thực hiện phóng  và thu hồi tên lửa Falcon 9.       Khoảng 2 phút 30 giây sau khi phóng lên không gian, tầng một tên lửa tách ra khỏi tầng hai và trở về trái đất, sau cùng hạ cánh mềm theo phương thẳng đứng xuống mũi Canaveral. Sau khi tách, tầng hai tên lửa được điểm hỏa và tiếp tục bay, hoàn tất nhiệm vụ đưa 11 vệ tinh thông tin cỡ nhỏ của công ty Orbcomm lên quỹ đạo Trái Đất đúng độ cao yêu cầu. Quá trình phóng và thu hồi tên lửa được truyền hình trực tiếp tại chỗ.  Đây là lần phóng Falcon 9 đầu tiên sau vụ một chiếc Falcon 9 phát nổ ở độ cao 45 km trên Đại Tây Dương chỉ hơn hai phút sau khi cất cánh từ Cape Canaveral. Thất bại thảm hại ấy xảy ra vào tháng 6 vừa rồi, khi nó chở 2 tấn đồ tiếp tế cho trạm vũ trụ quốc tế ISS.  Điều mọi người quan tâm hơn cả là tầng một tên lửa hạ cánh xuống đất theo kiểu thẳng đứng. Khi ấy tại nơi nó hạ cánh xuất hiện một vùng lửa sáng, nhưng lửa nhanh chóng tắt, chiếc tên lửa màu trắng hiện rõ trong cảnh đêm. Những người xem cảnh phóng tên lửa reo hò, vỗ tay tán thưởng.    Một tháng trước đây, ngày 23/11, công ty Blue Origin do Jeff Bezos (CEO Amazon) sáng lập đã lần đầu tiên thành công thu hồi được tên lửa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đưa một con tàu không người lái lên độ cao 100 km, tên lửa New Shepard đã hạ cánh thành công xuống bãi phóng.   Thành công lần này của Space X có đặc điểm là Falcon 9 lên tới độ cao 200 km, gấp đôi thí nghiệm của Blue Origin, rồi hạ cánh theo phương thẳng đứng – đây là một sự kiện lịch sử. Để được như vậy, Falcon 9 đã hoàn tất nhiều thao tác phức tạp hơn.  Thành công nói trên mở ra khả năng thương mại hóa ngành du lịch vũ trụ. Tên lửa gồm động cơ và vật mang nó có giá thành rất đắt (với Falcon 9 là 60-90 triệu USD). Từ trước tới nay tất cả các tên lửa đều chỉ sử dụng một lần rất lãng phí. Nếu thu hồi được thì chỉ cần qua sửa chữa và nạp nhiên liệu sẽ có thể dùng cho các lần phóng tiếp sau, nhờ thế hạ được phí tổn, khiến cho ngày càng có nhiều người đủ khả năng mua vé đi du lịch vũ trụ.   Space X do Elon Musk (sinh 1971) sáng lập luôn đi đầu trong việc cải tiến công nghệ thăm dò vũ trụ. Nhiều năm qua, Space X tìm kiếm khả năng dùng lại tên lửa đã phóng, từng ba lần thử nghiệm cho tầng một tên lửa hạ xuống một xà lan không chở người đỗ trên biển, nhưng đều thất bại. Cho tên lửa hạ cánh xuống mặt đất dễ hơn xuống biển.   Sau khi Faplcon 9 được phóng lên, Musk nói : “Đây là một thay đổi căn bản trong công nghệ so với bất kỳ tên lửa nào từng được phóng”.    Bây giờ, Musk viết trên Twitter: “Đón chào em yêu trở về!” Còn Jeff Bezos thì gửi lời chúc mừng : “Hoan nghênh SpaceX gia nhập câu lạc bộ !”  Nguyên Hải dịch  Nguồn: Financial Times, Space.com và các nguồn khác        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước tiến mới trong nghiên cứu về các bệnh đường ruột      Hệ vi sinh vật đường ruột non từ lâu vẫn được xem là “góc khuất” trong đường tiêu hóa của con người, dù ruột non rất cần thiết cho sự sống và hấp thụ 90% lượng calo của chúng ta. GS. Andrew Macpherson, Bahtiyar Yilmaz cùng các cộng sự tại Khoa Nghiên cứu Y sinh thuộc Đại học Bern và Khoa Phẫu thuật Nội tạng và Y học tại Bệnh viện ĐH Bern đã kiểm tra vi khuẩn đường ruột của ruột non người, từ đó chỉ ra cách chúng hỗ trợ quá trình tiêu hóa thông qua những phản ứng linh hoạt phù hợp với tình trạng dinh dưỡng của mỗi người.    Minh hoạ những thay đổi trong ruột non. Ảnh: Cell Host & Microbe  Trái với vi khuẩn đường ruột (hệ vi sinh vật) của ruột già tồn tại tương đối ổn định trong suốt cuộc đời, những vi khuẩn trong ruột non lại rất bất ổn: hầu hết trong số chúng biến mất khi chúng ta nhịn ăn qua đêm và xuất hiện trở lại khi chúng ta ăn vào buổi sáng. Những phát hiện này rất quan trọng, giúp bác sĩ hiểu rõ hơn về sự phát triển của các bệnh đường ruột như bệnh celiac hoặc bệnh Crohn. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell Host and Microbe.  Theo dõi trực tiếp vi khuẩn đường ruột  Các nhà nghiên cứu hiện đã có thể kiểm tra những bệnh nhân có phần đoạn cuối của ruột non (hồi tràng) cần được phẫu thuật vì ung thư. Một khi những bệnh nhân này hồi phục, trong một số trường hợp, hồi tràng biến thành một lỗ mở nhân tạo trên thành bụng. Bằng cách này, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận trực tiếp với vi khuẩn ruột non và có thể kiểm tra những gì đang xảy ra trong “thời gian thực”.  Phân tích các mẫu vi khuẩn bằng những phương pháp giải trình tự mới nhất, nhóm chỉ ra số lượng vi khuẩn trong hồi tràng phụ thuộc phần lớn vào tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân: giai đoạn không có thức ăn loại bỏ phần lớn vi khuẩn trong ruột non. Sau bữa ăn, vi khuẩn lại “nở rộ”.  Bất chấp những biến động liên quan đến chế độ ăn uống, các loại vi khuẩn khác nhau không bị “tuyệt chủng”, ngay cả khi số lượng của chúng rất nhỏ. “Thay vào đó, mỗi loài được tạo thành từ một số lượng lớn các phân loài cùng tồn tại – tương tự như các biến thể khác nhau của COVID-19 xuất hiện và biến mất trong quần thể người – và tỷ lệ của mỗi phân loài thay đổi rất nhanh chóng, ngay cả trong vòng vài giờ sau khi ăn – TS. Bahtiyar Yilmaz, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết.  Phương pháp hiệu quả và đơn giản  Sự hợp tác chặt chẽ giữa hoạt động lâm sàng và nghiên cứu cơ bản, giữa Bệnh viện ĐH Bern và ĐH Bern, đã cho thấy được giá trị của nó: “Chúng tôi có sẵn các loại mẫu khác nhau, những tài liệu lâm sàng trong Bệnh viện ĐH Bern. Sau đó, nhóm nghiên cứu tại ĐH Bern đã tiến hành giải trình tự vi sinh vật thông qua nền tảng giải trình tự thế hệ mới. Sự kết hợp này đã giúp cho nghiên cứu của chúng tôi trở nên độc đáo”, Yilmaz cho hay.  Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng lỗ mở thông qua da đã mang lại hiệu quả, giúp nhóm nghiên cứu dễ dàng theo dõi đặc điểm hệ vi khuẩn đường ruột của ruột non. Các nhà nghiên cứu cũng có thể chứng minh rằng có thể thu được mẫu của hệ vi khuẩn đường ruột thông qua lỗ mở mà không cần phẫu thuật.  “Hệ sinh thái” trong ruột non  “Chúng tôi coi những thay đổi của vi khuẩn đường ruột trong ruột non như một hệ sinh thái”, Andrew Macpherson, người đứng đầu nghiên cứu và là tác giả cao cấp giải thích. “Bởi hệ thống rất linh hoạt, mỗi loài vi khuẩn có thể thích nghi với môi trường thay đổi trong ruột non thông qua việc thay đổi tỷ lệ của các loài phụ và do đó ngăn chặn toàn bộ loài biến mất”.  Bằng cách này, vi khuẩn đường ruột tránh được sự “tuyệt chủng” của các loài — trừ khi có những biến cố như bệnh tật, suy dinh dưỡng hoặc ô nhiễm môi trường. Những phát hiện này có thể giúp các nhà khoa học hiểu được sự tương tác giữa vật chủ và vi khuẩn đường ruột trong các bệnh đường ruột như bệnh Crohn, bệnh celiac hoặc viêm mãn tính ruột già (viêm loét đại tràng) và tạo nền tảng cho các phương pháp điều trị mới.□  Hà Trang lược dịch  https://medicalxpress.com/news/2022-11-intestinal-diseases.html    Author                .        
__label__tiasang Bước tiến trên đường hội nhập      Sau khi ký hiệp ước song phương với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn việc tổng hợp các bản hiệp ước tương tự với các quốc gia khác, đưa qua cho thư ký đoàn của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) để gia nhập câu lạc bộ tự do thương mại này. Đây là một bước tiến trên con đường hội nhập kinh tế, còn việc có lợi hoặc có hại như thế nào thì phụ thuộc vào sự vận dụng tự do thương mại và hội nhập kinh tế của ta như thế nào.    Một trong những người Tây phương đầu tiên đến Việt Nam yêu cầu thi hành tự do thương mại là ông Jean Dupuis, hồi thế kỷ 19 người mình gọi ông ta là Đồ Phổ Nghĩa. Jean Dupuis là một anh lái súng, chuyên cung cấp vũ khí cho các quan lại Trung Hoa ở Vân Nam, Tứ Xuyên để họ đánh dẹp đám người Hồi nổi loạn. Năm 1974, Dupuis đã thử đi xuôi dòng Sông Cái, Hồng Hà, biết chắc chắn có thể từ biển Đông theo thủy lộ đó vào đất Vân Nam trực tiếp, khỏi phải qua Quảng Đông, Quảng Tây trên đường bộ mất nhiều ngày hơn. Theo đường sông Hồng mà đem khí giới lên bán cho quan lại Trung Hoa sẽ tiết kiệm được thời giờ và chi phí, có thể chở thêm muối, càng có lợi. Jean Dupuis đã yêu cầu quan khâm sai Việt Nam ở Hà Nội phải cho ông ta sử dụng sông Hồng để mua, bán một cách tự do. Dupuis lấy cớ rằng ông ta đã có giấy ủy nhiệm của Tổng đốc Vân Nam cùng với Tổng Đốc Lưỡng Quảng. Theo ý kiến Dupuis thì Việt Nam là một phiên thuộc của nhà Đại Thanh, Tổng Đốc Lưỡng Quảng đã cấp giấy phép thì Việt Nam phải thi hành. Vì triều đình Huế không chịu, Jean Dupuis đã vận động soái phủ Sài Gòn là đại diện chính phủ Pháp hãy mang quân ra đánh Hà Nội. Dupuis hứa hẹn rằng nếu quân Pháp ra Bắc thì dân chúng ở đó sẽ nổi dậy chống triều đình Huế –  vì Dupuis nói, họ vẫn tưởng nhớ đến nhà Lê. Như vậy là quân Pháp sẽ được tiếp đón như một đạo quân giải phóng. Khi đạo quân của Francis Garnier ra Hà Nội, Khâm sai Nguyễn Tri Phương bị thương và chết, viên đại úy này đã ký giấy cho phép Jean Dupuis tự do buôn bán trên giữa Việt Nam và Trung Quốc, với độc quyền buôn muối lên Vân Nam. Khi Garnier bị quân Cờ Đen giết thì cái giấy ông ta ký cũng vô giá trị.        Việc mở cửa cho thương mại tự do cũng giống như mở một đường xe lửa vào một nơi chưa sử dụng hỏa xa bao giờ. Không riêng gì nước ta mà tất cả các nước đều đang gặp “vấn đề” phải đối phó; vì thế giới gia tăng trao đổi với nhau.           Nếu coi cuộc vận động của Jean Dupuis là một hành động đòi tự do thương mại thì cũng tội nghiệp cho khái niệm này. Bởi vì thực tâm Jean Dupuis không muốn buôn bán tự do. Ông ta muốn chiếm độc quyền, không những độc quyền về muối mà còn nhiều thứ độc quyền khác. Ngay trong các hiệp ước giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp thời đó cũng không cho phép buôn bán tự do. Trái lại, chính quyền Việt Nam lúc đó phải nhường cho người Pháp (và người Tây Ban Nha) nhiều quyền lợi; không những thế, còn phải hứa không cho người nước nào được hưởng các quyền lợi tương tự. Đúng ra, Jean Dupuis là một tay chống tự do thương mại.  Trong thời gian đó, 21 năm trước, Matthew Calbraith Perry mang 4 chiếc thuyền tới cửa Vịnh Tokyo, Nhật Bản, và gây áp lực cho tới khi chính phủ Thiên hoàng chịu nhận lá quốc thư của tổng thống Mỹ Fillmore yêu cầu thiết lập ngoại giao và mở cửa cho tự do thương mại. Perry vốn là một sĩ quan hải quân, chứ không phải nhà buôn. Ông điều khiển chiến thuyền đầu tiên chạy bằng hơi nước của hải quân Mỹ, đã tham dự cuộc chiến với Mexico, và sau đó đi ngăn cản các tầu chở nô lệ từ Phi Châu sang Mỹ Châu. Năm 1854, Perry đem tầu thủy trở lại Tokyo lần nữa và hai bên ký một hiệp ước thương mại song phương, mở đầu mối bang giao Mỹ- Nhật. Sau hiệp ước với Mỹ, Nhật Bản ký các thương ước với Anh, Pháp, Hà Lan, Nga.  Cả hai câu chuyện trên đều liên hệ tới tự do thương mại, nhưng kết quả khác nhau. Chính quyền Pháp thì muốn chiếm Việt Nam để cho các tay thực dân Pháp chiếm độc quyền thương mại; chính quyền Việt Nam thì tìm đủ mưu mẹo chống lại tất cả các đòi hỏi mở cửa, nhưng không biết phải mở cửa để tự canh tân mới đủ sức bảo vệ chủ quyền. Hai bên phải lâm chiến, cho tới khi một bên thua, nước ta mất cả quyền tự chủ. Khi chủ quyền không còn thì cũng chẳng có thứ quyền tự do nào để gọi là thương mại tự do nữa. Còn giữa Nhật và Mỹ thì khác, hãy nói là họ may mắn hơn, họ mở nước Nhật ra bắt đầu trao đổi thương mại với nhiều quốc gia khác. Nước           Sẽ thay đổi tất cả cách sống, cách kinh doanh, phương pháp sản xuất.        Nhật thay đổi, không tránh được, đưa tới những cải cách của Thiên hoàng Minh Trị (1867 – 1912). Nước Nhật Bản vẫn bảo vệ được chủ quyền, cho nên có thể nói chuyện tự do thương mại một cách bình đẳng với nước khác – cho tới khi Nhật cảm thấy bị ép quá thì giải quyết bằng cách gây chiến. Sau Thế chiến thứ hai, các quốc gia thắng trận đã rút được kinh nghiệm là nếu các nước thực hiện thương mại tự do và bình đẳng thật sự thì mọi người đều có lợi, chắc sẽ bớt chiến tranh. Và muốn mọi người cảm thấy được tự do thật thì phải đối xử đồng đẳng với nhau, người ta phải được tự do ngay trong quyết định tham dự vào việc mua bán tự do hay không!  Ngày nay, Tổ chức Mậu dịch Thế giới (và các tổ chức tiền thân của nó) muốn tạo ra một khung cảnh để các quốc gia được tự do gia nhập một cách bình đẳng. Có những luật lệ quốc tế tất cả mọi nước phải theo. Tạo được một cơ chế tài phán để các nước có gì tranh chấp thì tới đó thưa kiện lẫn nhau, cơ chế đó tăng thêm uy tín thì các nước đều được lợi. Cho tới nay, có thể nói chưa có nước nào sau khi gia nhập tổ chức WTO lại xin rút ra, vì không có kinh tế nước nào bị sa sút sau khi gia nhập WTO cả.  Về mặt lý thuyết, David Ricardo là người đầu tiên biện minh cho việc tự do thương mại một cách hùng hồn với lý thuyết Lợi thế Tương đối (Comparative Advantage), vào năm 1817. Ông lấy thí dụ hai nước Bồ Đào Nha và Anh quốc cùng sản xuất vải và rượu vang. Bồ Đào Nha dệt vải và làm rượu vang đều giỏi hơn Anh, tức là có lợi thế hơn Anh trong việc sản xuất cả hai món hàng đó. Lợi thế là, thí dụ, người Bồ Đào Nha dệt vải và làm rượu Bồ Đào với phí tổn rẻ hơn hoặc ít nhân công hơn. Cho dễ hiểu, giả dụ một người Bồ Đào Nha làm việc mỗi ngày dệt được 1 mét vải, hoặc chế được 4 lít rượu Nho; trong khi người Anh làm 2 ngày mới được 1 mét vải và mỗi ngày chế được 1 lít rượu vang. Nếu chỉ nhìn vào lợi thế tuyệt đối này thì có thể nghĩ là Bồ Đào Nha không cần mua của Anh món nào cả. Hàng bên Anh đắt quá vì làm tốn sức gấp đôi hoặc gấp bốn dân Bồ.  Nhưng nếu nhìn vào lợi thế tương đối lại thấy khác. Ví dụ, ở Bồ Đào Nha, công làm 1 mét vải cũng bằng làm 4 lít rượu vang (một ngày công). Còn ở Anh công làm 1 mét vải (2 ngày) chỉ tương đương với công chế 2 lít ruợu vang thôi. So sánh giữa hai món hàng này thì Bồ Đào Nha có lợi thế tương đối khi chế rượu vang hơn là khi dệt vải. Do đó, nếu Bồ Đào Nha chỉ lo làm rượu để bán sang Anh, đổi lấy vải, thì cả hai bên đều có lợi.  Nếu Bồ Đào Nha bỏ không dệt vải mà chỉ làm rượu, thì mỗi người 1 ngày bị bớt mất 1 mét vải nhưng chế được thêm 4 lít rượu vang nữa. Có thể đem rượu sang Anh quốc đổi lấy vải. Bên Anh, 4 lít rượu vang đó phải làm 4 ngày mới xong, tương đương với công làm 2 mét vải. Họ sẽ thấy nếu đổi 1 mét rưỡi vải lấy 4 lít rượu vẫn có lời. Trong khi đó ở bên Bồ Đào Nha 4 lít đó chỉ tương đương với công làm 1 mét vải thôi, nhận được 1 mét rưỡi họ cũng thấy có lời.        Cho tới nay, có thể nói chưa có nước nào sau khi gia nhập tổ chức WTO lại xin rút ra, vì không có kinh tế nước nào bị sa sút sau khi gia nhập WTO cả.        Tóm lại, vì lợi thế tương đối mà khi trao đổi thương mại, quốc gia nào cũng có lợi.  Với điều kiện, phải trao đổi tự do. Adam Smith hơn 200 năm trước đã nhận xét rằng khi mọi người được tự do trao đổi với nhau, thì việc mua, bán, trao đổi chỉ diễn ra nếu cả hai bên đều thấy mình có lợi. Chính việc trao đổi tự do mang lại lợi ích cho mỗi bên. Vì vậy, nền thương mại thế giới đã phát triển rất mạnh từ khi các quốc gia mở cửa cho kinh tế lưu động toàn cầu. Năm 1987 tổng số hàng xuất khẩu giữa các nước chiếm 16% tổng sản lượng thế giới; nay tỷ số đó lên tới 27%.  Nhưng khi nói Tổ chức Thương mại Thế giới chúng ta nghĩ ngay đến việc trao đổi hàng hóa; mà sự thực việc trao đổi tự do giữa các nước hiện nay còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác nữa. Khi hàng hóa nước này được đưa sang nước khác mà không bị các thứ rào cản, như vậy gọi là có tự do thương mại. Nhưng ngoài hàng hóa, các nước còn trao đổi các dịch vụ, như bảo hiểm, viễn thông, ngân hàng… Ngoài hàng hóa và dịch vụ, lại còn việc trao đổi số người làm việc và vốn làm ăn. Người và vốn là hai yếu tố trong quá trình sản xuất, khi hai yếu tố đó cũng được tự do đi lại qua các biên giới quốc gia, như vậy là tự do trao đổi tới mức tuyệt đối rồi!   Nhưng thế giới còn lâu mới tiến đến trình độ trao đổi tự do hoàn toàn như vậy. Khi các nước ký kết thương mại tự do, thường người ta bắt đầu bằng hàng hóa, thí dụ giảm bớt quan thuế trên hàng nhập khẩu. Trong tình trạng hiện nay khi các nước trong WTO thương thuyết, ngay trong lĩnh vực hàng hóa, thí dụ các nông sản, mọi người vẫn còn quyết định giữ nhiều rào cản chứ chưa bỏ hết. Sang lĩnh vực dịch vụ, lại thêm các rào cản khác. Khi Việt Nam vào WTO thì ngân hàng các nước khác cũng phải đợi mấy năm mới được phép mở cửa làm việc tự do ở Việt Nam. Đến tiền vốn, có thể được cởi trói để chạy qua chạy lại nhanh hơn. Ai cũng muốn người ta đầu tư thêm vào nước mình; mà khi đồng tiền vốn biết nó có thể ra đi tự do thì nó sẽ tự nguyện chạy tới, và chạy tới nhiều hơn. Nhưng sau những vụ khủng hoảng tài chính hồi 1997, 98 thì người ta đang quan sát rất kỹ để coi việc cho đồng tiền tự do di chuyển như thế có thể gây ra những rủi ro nào.  Nói vậy chứ rủi ro lớn lắm. Nước Mỹ đứng hàng cho tự do trao đổi vốn cao nhất (thua Singapore). Nếu bây giờ một nửa số chủ nợ của nước Mỹ (họ đã mua các công trái chính phủ Mỹ), bỗng dưng cùng quyết định đem công trái Mỹ đi bán, nghĩa là họ muốn lấy tiền về, thì sẽ khủng hoảng lớn! Đồng đô la Mỹ sẽ xuống giá, lãi suất ở nước Mỹ sẽ tăng vọt lên, dân Mỹ bớt tiêu thụ. Người Trung Quốc, người Ấn Độ cũng bớt tiêu thụ vì họ bán hàng sang Mỹ ít hơn trước. Cuối cùng thì kinh tế cả thế giới sẽ trì trệ, nếu không khủng hoảng. Chuyện đó khó xảy ra đối với công trái của nước Mỹ nhưng có thể diễn ra đối với nhiều nước khác, với những số vốn cho vay hoặc mua cổ phần. Nếu thấy các triệu chứng xấu nào thì phải lo sắp có khủng hoảng? Các quốc gia sẽ phải đặt lại các rào cản cho việc trao đổi vốn tự do mà vẫn an toàn, miễn là tất cả cùng thỏa thuận với nhau. Một nước nhỏ như Singapore cũng có những kinh nghiệm đáng học, vì nước đó vẫn mở cửa rộng nhất.        Việc gia nhập WTO cũng chỉ tạo ra khung cảnh, điều kiện mới cho việc phát triển kinh tế. Có các điều kiện mới rồi, liệu chúng ta biết sử dụng có lợi cho mình hay không, đó mới là chuyện phải lo.        Lĩnh vực sau cùng và khó nhất là trao đổi nhân lực. Tổ chức chính trị chính yếu của loài người hiện nay vẫn là những quốc gia. Đem người nước này sang nước khác làm việc là cả một chuyện rắc rối. Hãy coi ở Tây Âu người ta đang than phiền vì những người thợ sửa ống nước ở Ba Lan sang “cướp” công ăn việc làm của đồng nghiệp ở Pháp hay Đức! Và cả nước Mỹ đang tranh luận làm sao giải quyết vấn đề 12 triệu người Mexico sống ở Mỹ mà không có giấy tờ. Chuyện sẽ còn rắc rối cho tới… thế kỷ 22! Trong khi đó thì cả khối lao động ở hai lục địa Trung Quốc và Ấn Độ đang “xâm lăng” các quốc gia khác –  mà không cần bước chân rời khỏi nước họ! Họ vẫn cứ ở xứ họ, và làm việc với đồng lương rẻ hơn, thế là các công nhân và kỹ sư ở Mỹ bị mất việc, bao nhiêu người Mỹ than phiền – trừ những người tiêu thụ được mua hàng hóa rẻ! Đó cũng là hậu quả của tự do thương mại cả!  Nhưng việc trao đổi tự do vẫn là trào lưu tự nhiên, vì mọi quốc gia đều thấy có lợi, kể cả việc trao đổi tiền vốn. Từ năm 1990 đến nay, số tiền ngoại quốc đầu tư trực tiếp vào các nước đã tăng lên ba lần. Cũng trong thời gian đó, số tiền đầu tư dưới hình thức mua trái phiếu hoặc cổ phần cũng tăng lên hơn 5 lần. Tương đối, tiền vốn chuyển nhanh hơn việc chuyển người, nhưng đồng tiền cũng để lại vết tích dễ theo dõi và phòng ngừa các hệ quả xấu nhanh chóng dễ dàng hơn.  Tất cả những cuộc trao đổi tự do sẽ làm cho mọi người phải đổi thay để thích ứng. Joseph Schumpeter đã nêu thí dụ khi người ta mở một con đường xe lửa vào một xứ hoàn toàn mới, nó sẽ thay đổi tất cả cách sống, cách kinh doanh, buôn bán, phương pháp sản xuất và phân phối; những cách làm ăn trước coi là tối hảo bây giờ sẽ phải đổi. Việc mở cửa cho thương mại tự do cũng giống như mở một đường xe lửa vào một nơi chưa sử dụng hỏa xa bao giờ. Không riêng gì nước ta mà tất cả các nước đều đang gặp “vấn đề” phải đối phó; vì thế giới gia tăng trao đổi với nhau.  Một cơ bản phải giữ chính là quyền tự do. Mọi cuộc trao đổi đều có lợi nếu đặt trên căn bản tự nguyện, tự do. Nếu các quốc gia tôn trọng chủ quyền của nhau và thương thảo với nhau khi bất đồng ý kiến, thì tổ chức thương mại thế giới sẽ tồn tại và giúp thế giới mở cửa mỗi ngày rộng hơn. Chúng ta may mắn hơn cổ nhân thời thế kỷ 19, vì ngày nay không còn ai như tay lái súng Jean Dupuis nữa. Nhưng, trong đại thể thì như vậy, còn trong tiểu tiết chưa biết được. Nếu có những anh Jean Dupuis bây giờ thì anh ta cũng khôn ngoan hơn, khéo léo hơn. Có điều là trong một thế giới có luật lệ và các nước phải đối đãi với nhau cho công bằng thì các anh Jean Dupuis cũng không làm bậy được nữa – trừ khi anh ta hối lộ tinh vi quá, không ai biết được! Việc gia nhập WTO cũng chỉ tạo ra khung cảnh, điều kiện mới cho việc phát triển kinh tế. Có các điều kiện mới rồi, liệu chúng ta biết sử dụng có lợi cho mình hay không, đó mới là chuyện phải lo.  Quý Đỗ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Buổi hoà nhạc tại… nhà máy cũ Hà Nội      Với mong muốn gìn giữ và làm giàu các không gian không gian văn hóa, kiến trúc như cầu Long Biên, Complex 01 hay Bảo tàng lịch sử, vào chiều ngày 14/8 vừa qua, Hợp xướng Đa Dạng (Diversity Choir), Hợp xướng Samsung Harmony, Complex 01 và ECUE đã cùng nhau tổ chức buổi hòa nhạc “Vì một Hà Nội đáng sống”.      Tổ hợp Complex 01 là một di sản công nghiệp từ những năm 60-70. Hiện tại, nơi đây là một trong những không gian mở, điểm đến của giới trẻ Hà Nội. Ảnh: mia  Nằm trong con ngõ 167 Tây Sơn (quận Đống Đa, Hà Nội), Tổ hợp đa chức năng Complex 01 là địa điểm mua sắm, ăn uống, workshop quen thuộc của giới trẻ. Khó mà hình dung được không gian hiện đại này từng là Nhà máy in Công đoàn từ những năm 1960. Giờ đây, được cải tạo thành không gian đa chức năng, tổ hợp vẫn lưu giữ khung nền, các khẩu hiệu, hình dáng nhà máy xưa.  Hiện nay Complex 01, với gần 30 thương hiệu đang hoạt động, không chỉ là nổi tiếng vì kiến trúc hài hòa giữa cũ và mới, mà còn là nơi tổ chức các hoạt động xã hội, văn hóa và nghệ thuật của thủ đô.  Với mong muốn gìn giữ và làm giàu các  không gian văn hóa, kiến trúc như cầu Long Biên, Complex 01 hay Bảo tàng lịch sử, vào chiều ngày 14/8 vừa qua, Hợp xướng Đa Dạng (Diversity Choir), Hợp xướng Samsung Harmony, Complex 01 và ECUE đã cùng nhau tổ chức buổi hòa nhạc “Vì một Hà Nội đáng sống”.  Vì sao lại là một buổi hoà nhạc mà không phải là những hoạt động nào khác? “Hà Nội đáng sống khi người dân Hà Nội có đời sống tinh thần giàu có bên cạnh điều kiện vật chất được cải thiện. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng mua vé xem các buổi hòa nhạc được tổ chức trong Nhà hát Lớn, hoặc các chương trình ca nhạc của các ngôi sao được tổ chức ở Cung văn hóa hữu nghị Việt-Xô hay Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình”, ông Lê Quang Bình, Giám đốc ECUE và Điều phối viên của mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống, lý giải. “Chính vì vậy các chương trình văn hóa nghệ thuật cộng đồng rất cần thiết, nó giúp những người nghèo, người bán hàng rong hay người khuyết tật cũng có thể tiếp cận”.  Ông Lê Quang Bình, Giám đốc ECUE và Điều phối viên của mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống, chia sẻ tại sự kiện.   Vì lẽ đó, trong chương trình hòa nhạc Vì một Hà Nội đáng sống, ban tổ chức đã dành một số lượng vé mời đặc biệt dành cho những người nghèo, người bán hàng rong, công nhân vệ sinh môi trường và người khuyết tật.  Tham gia đêm nhạc, Hợp xướng Đa Dạng đã trình diễn bài “Du thuyền trên hồ Tây” do nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc chuyển soạn hợp xướng. Bà Hoàng Hường, Giám đốc Hợp xướng Đa Dạng (Diversity Choir) – một dự án cộng đồng, thành lập tháng 11/2018 với sự tham gia của người lớn tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người LGBT, người dân tộc thiểu số và nhiều nhóm khác – chia sẻ: “Cá nhân tôi cũng như các thành viên của Ban tổ chức buổi hòa nhạc có điểm chung là yêu Hà Nội”. Hiện tại, “Hà Nội vẫn còn những vấn đề cần quan tâm như môi trường, quy hoạch không gian, bảo tồn các di sản công nghiệp và di sản thiên nhiên. Nhiều thành viên Hợp xướng Đa dạng sinh sống tại Hà Nội và đều chia sẻ những trăn trở này. Chúng tôi muốn dùng âm nhạc của mình để kết nối cộng đồng và lan tỏa thông điệp Vì một Hà Nội đáng sống, góp phần nào đó để Hà Nội được đẹp hơn, đáng sống hơn”.      Các tiết mục tại buổi hoà nhạc “Vì một Hà Nội đáng sống”.    Là đơn vị cung cấp địa điểm biểu diễn, ông Nguyễn Bùi Vũ – đại diện của Complex 01 chia sẻ: “Hoạt động từ năm 2020 tới nay, với tinh thần ‘time to connect’, Tổ hợp Complex 01 đã và đang tích cực kết nối đến cho cộng đồng các hoạt động văn hóa nghệ thuật đa dạng, ý nghĩa, để bất cứ ai cũng có thể hòa mình và cảm nhận một Hà Nội đang năng động hơn, đáng sống hơn từng ngày”.        Được thành lập vào năm 2019, Mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống là mạng lưới gồm các cá nhân, tổ chức đang sống, làm việc tại Hà Nội, quan tâm đến việc cải thiện không gian công cộng, điều kiện môi trường cũng như các hạ tầng cơ sở để tăng cường chất lượng sống của người dân ở Hà Nội. Vì một Hà Nội đáng sống mong muốn hợp tác với cộng đồng người dân, các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội, các nhà quản lý để cùng phát triển Hà Nội thành một thành phố sáng tạo, nhân văn và đáng sống cho tất cả mọi người.            Author                Anh Thư        
__label__tiasang Bưởi Năm roi của Vĩnh Long được bảo hộ chỉ dẫn địa lý      Mới đây Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng  nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Năm Roi “Bình Minh” của  tỉnh Vĩnh Long.     Chỉ dẫn địa lý “Bình Minh” được áp dụng cho sản phẩm bưởi Năm Roi trồng tại các xã Mỹ Hòa, Mỹ Thuận, Đông Bình, Đông Thành, Đông Thạch, Thuận An và thị trấn Cái Vồn thuộc huyện Bình Minh.  Bưởi Năm Roi có tên khoa học là Citrus Grandis (hoặc C. Decumana), là đặc sản thế mạnh có tiềm năng xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Long. Xuất hiện trên thị trường lần đầu tiên vào năm 1969 trong một hội chợ triển lãm của Miền Nam, bưởi Năm Roi Bình Minh đã được tặng huy chương vàng.   Bưởi Năm Roi có hình quả lê, núm thấp, khi chín màu xanh vàng đến vàng, vỏ mỏng, dễ bóc. Trọng lượng trung bình từ 1kg-1,4 kg, ruột đặc, tỷ lệ ăn được là 55-60%, múi đều, dễ tách, có mùi thơm đậm đà, và đặc biệt rất ít hạt hoặc không có hạt. Đây là một đặc điểm khác biệt nổi bật giữa bưởi Năm Roi trồng tại Bình Minh và bưởi Năm Roi trồng tại các vùng khác.  Về mặt chất lượng, bưởi Năm Roi Bình Minh có vị ngọt thanh, hơi chua nhẹ, không đắng, không the. Hàm lượng nước trung bình 89%, hàm lượng chất khô trung bình 10,58%, hàm lượng đường tổng số trung bình 6,88%, hàm lượng chất rắn (độ Brix) trung bình 10,23%, hàm lượng a xít trung bình 0,48%, hàm lượng vitamin C trung bình 55,54 mg/100g.  Nguồn: noip.gov.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Buổi nói chuyện “Từ các quá trình tự nhiên đến các vật liệu tiên tiến”      Cuối tuần này, TS. Trần Đình Phong, nhà khoa học mới có công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nature Materials sẽ có một buổi trò chuyện với công chúng về việc phát triển các vật liệu tiên tiến dựa trên các quá trình sinh hóa tự nhiên và đi sâu vào một ví dụ của nó – lá nhân tạo (artificial leaf)    Một chiếc lá nhân tạo. Nguồn ảnh: Nature  Tự nhiên, với lịch sử dài tiến hóa, đang nắm giữ rất nhiều bí mật. Tìm hiểu các bí mật này không chỉ thỏa mãn khao khát tìm hiểu tự nhiên của con người mà còn đặt nền tảng cho việc nghiên cứu phát triển các vật liệu mới hay thiết bị công nghệ đáp ứng nhu cầu của con người. Hiện nay, phát triển các vật liệu tiên tiến với những tính năng đặc biệt dựa trên việc học hỏi các quá trình sinh hóa tự nhiên đang thu hút được rất nhiều các nhà khoa học, ví dụ như: cửa kính thông minh tự làm sạch được thiết kế dựa trên hiệu ứng lá sen (lotus effect), sơn chống hà cho tàu thuyền được thiết kế dựa theo da cá mập, vv.   Buổi nói chuyện về “Từ các quá trình tự nhiên đến các vật liệu tiên tiến” của TS. Trần Đình Phong sẽ tập trung giới thiệu những ý tưởng chế tạo lá nhân tạo, một giải pháp công nghệ tuyệt vời cho việc chuyển hóa và sử dụng năng lượng mặt trời dựa trên hiểu biết về cấu trúc và hoạt động của lá cây xanh và quá trình tổng hợp quang hóa tự nhiên (hình minh họa). Lá nhân tạo là một “ứng viên” hàng đầu trong việc phát triển các nguồn năng lượng thay thế khi vấn đề thiếu hụt năng lượng và ô nhiễm môi trường do sử dụng các loại năng lượng hóa thạch (như dầu mỏ, than đá) đang ngày một báo động. Bên cạnh đó, diễn giả sẽ giới thiệu những nghiên cứu mới nhất, trong đó có các kết quả của nhóm nghiên cứu của anh [1,2], cũng như các thách thức còn tồn tại trong việc thiết kế lá nhân tạo.    TS. Trần Đình Phong tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội năm 2003 và tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Paris Surd, Orsaey, Cộng hòa Pháp năm 2008. Sau đó, anh có 6 năm làm post-doc tại Trung tâm năng lượng nguyên tử và năng lượng thay thế (CEA), Grenoble, Cộng hòa Pháp và nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu năng lượng, Đại học công nghệ Nanyang Singapore.   Hiện nay, anh là giảng viên Khoa Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH). Hướng nghiên cứu của anh tập trung vào tính chất hóa học của các vật liệu tiên tiến, các vật liệu mô phỏng cấu trúc và nguyên tắc hoạt động của quá trình sinh hóa tự nhiên và các vật liệu xúc tác ứng dụng trong chuyển hóa năng lượng và xử lý môi trường. Công trình mới nhất do anh làm tác giả liên hệ (corresponding author) về molybden sulfide vô định hình, một vật liệu rẻ tiền và dễ chế tạo có thể thay thế xúc tác bạch kim trong phản ứng điều chế H2 – nhiên liệu sạch dùng trong pin nhiên liệu đã được đăng trên tạp chí Nature Materials vào đầu năm nay. Đây là cơ sở cho các nghiên cứu hiện nay mà nhóm nghiên cứu của anh đang hướng tới chế tạo một lá nhân tạo trong tương lai.    Buổi nói chuyện do Tạp chí Tia Sáng tổ chức:   Thời gian: 15 giờ ngày thứ Bảy 16/7/2016.Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52A Hai Bà Trưng, Hà NộiDiễn giả: TS Trần Đình Phong Ban tổ chức kính mời những người quan tâm tới tham dự.  Tài liệu tham khảo  1. Tran and coll., “Coordination polymer structure and revisited hydrogen evolution catalytic mechanism for amorphous molybdenum sulfide”, Nature Materials, 2016, 15, 640-646  2. Tran and coll., “Silicon Decorated with Amorphous Cobalt Molybdenum Sulfide Catalyst as an Efficient Photocathode for Solar Hydrogen Generation”, ACS Nano 2015, 9, 3829-3836  3. Nocera, “The artificial leaf”, Accounts of Chemical Research, 2012, 45, 767-776           Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Buôn bán động vật hoang dã: Vào hang ổ của Mafia-hổ      Từ nhiều năm nay, nhà bảo vệ động vật, nhà  báo điều tra Karl Ammann (Thụy Sĩ) cùng với SPIEGEL TV tiến hành điều  tra về hoạt động của giới Mafia động vật hoang dã. Mới đây, ông đã thành  công trong việc đưa hoạt động buôn bán những con hổ cuối cùng của bọn  này ra ánh sáng.    Nhóm điều tra trang bị cho một người bản xứ chiếc máy ảnh cực nhỏ để người này đột nhập vào “hang ổ của sư tử” – một toà dinh thự nhỏ ở thị xã Pắc Xế của Lào. Gã người Lào thấp lùn, to đậm đang tiến hành các vụ làm ăn buôn bán tại đây chính là ông trùm “mạng lưới Xaysavang”, kẻ bị truy nã từ nhiều tháng nay – Vixay Keosavang, còn có biệt danh Pablo Escobar của giới buôn động vật hoang dã. Cách đây không lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã treo giải thưởng 1 triệu đôla cho người cung cấp thông tin giúp bắt được gã. Kể từ đó, tên trùm buôn lậu vốn đã khó tóm cổ lại càng ẩn náu kỹ hơn.   Người của nhóm điều tra sau khi tự giới thiệu với Keosavang là một nhà buôn động vật hoang dã đã được nghe gã trùm rao bán xương hổ và xương sư tử, kể chuyện nấu cao thế nào, tác dụng của cao ra sao và thì thầm to nhỏ về chuyện tuồn hàng phi pháp sang nước Việt Nam láng giềng.   Nguồn thu lớn thứ ba   Nhiều năm qua, cuộc chiến chống buôn lậu động vật hoang dã, cả sống lẫn chết, có phần bị sao lãng, trong khi nó đem lại nguồn thu khổng lồ cho các tổ chức mafia, chỉ sau buôn người và vũ khí.  Hoạt động buôn bán phi pháp này phát triển mạnh nhất với lái buôn người Việt Nam và Trung Quốc. Tại Việt Nam và Trung Quốc, người ta vẫn tin sừng tê giác có khả năng trị bệnh ung thư vô cùng kỳ diệu và cao hổ cốt là thuốc bổ đặc biệt có tác dụng tăng cường sinh lực cho nam giới v.v…   Những sản phẩm này càng khan hiếm bao nhiêu thì càng có giá trên thị trường bấy nhiêu. Do hổ đã bị triệt hạ ở nhiều nơi nên cao hổ cốt có giá bán ra rất cao. Ở Đông Nam Á, các trại nuôi hổ đang mọc lên như nấm và chúng được khoe khoang là để phục vụ các vườn thú và đoàn xiếc.   Ammann cùng nhóm SPIEGEL TV đã có mặt tại một số cơ sở nuôi hổ này. Khách du lịch trầm trồ ngạc nhiên khi thấy những con hổ non được lợn cho bú. Amman cho biết, để hổ cái chóng phục hồi sau khi đẻ và có thể tiếp tục sinh sản, người ta tách hổ con khỏi mẹ. “Khi còn nhỏ, chúng được coi là những động vật quý hiếm để giới thiệu với du khách và thường chúng bị giết ngay từ lúc chưa trưởng thành và tuồn lậu xương cốt sang Việt Nam và Trung Quốc,” Ammann nói.  Hầu như mọi bộ phận của con hổ được tận dụng triệt để. Xương để nấu cao, ngâm rượu. Bộ phận sinh dục được chế biến, đóng gói đẹp đẽ rao bán làm quà tặng. Còn da hổ dùng để bài trí khoe sự giàu sang.  Do nhu cầu ngày càng tăng nên người ta đặt hàng bọn săn lậu sư tử ở châu Phi và mua xương sư tử. Vixay Keosavang khoe khoang trước ống kính bí mật: “Bọn này mới vừa nhập từ châu Phi ba tấn xương sư tử. Khó có thể phân biệt được xương sư tử với xương hổ.”  Cuộc điều tra của Karl Ammann đã xác nhận điều mà các nhà điều tra Mỹ từ lâu đã cáo buộc tên trùm mạng lưới buôn bán động vật hoang dã Xaysavang: Hắn điều hành việc buôn bán một số lượng lớn các loại động vật quý hiếm như tê giác và voi để lấy sừng và ngà.  Công cuộc điều tra về hổ mới đây không phải là hoạt động đầu tiên của Ammann cùng với đoàn làm phim SPIEGEL TV. Trong quá khứ, ông đã phanh phui các vụ buôn lậu sừng tê giác từ Nam Phi tới Việt Nam; các vụ giết mổ, kinh doanh loài gấu đen châu Á ở các thành phố có nhiều sòng bài dọc biên giới Trung Quốc cũng như đường dây buôn lậu voi giữa Myanmar và Thái Lan.   Đến nay, hoạt động buôn bán động vật hoang dã vẫn tiếp tục diễn ra. Năm ngoái, riêng ở Châu Phi đã có khoảng 30.000 con voi bị triệt hạ – chiếm khoảng 10% tổng đàn voi tại châu lục này.   Cách đây nhiều năm, Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites) thuộc Chương trình Bảo vệ Môi trường của Liên hiệp quốc UNEP đã ra đời. Ammann đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu nhân viên Liên hiệp quốc phải kiên quyết hơn nữa trong các hoạt động chống buôn lậu động vật hoang dã, nhưng lời kêu gọi của ông như nước đổ lá khoai. Amman than phiền: “Cites cũng chỉ là một thanh gươm cùn.”    Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Buôn Ma Thuột – Trên đường trở thành điểm đến của cà phê thế giới      Từ ngày 10 đến ngày 14/3/2023, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 năm 2023 với chủ đề “Buôn Ma Thuột – Điểm đến của cà phê thế giới” diễn ra với nhiều hoạt động đặc sắc, đáng mong đợi.    Bảo tàng Thế giới Cà phê – biểu tượng của ngành cà phê Việt Nam được tỉnh Đắk Lắk chọn là điểm đến đặc biệt để tổ chức hai triển lãm về cà phê  Sau 4 năm bị gián đoạn bởi đại dịch, lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột được tổ chức với tinh thần hội nhập quốc tế, phong cách hiện đại và quy mô lớn bậc nhất từ trước đến nay. Lễ hội là sự kiện nhằm tiếp tục tôn vinh văn hóa cà phê, người trồng cà phê và ngành cà phê Việt Nam, cũng như quảng bá thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột, từng bước đưa Buôn Ma Thuột trở thành “Điểm đến của cà phê thế giới”, góp phần nâng tầm giá trị và vị thế cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.  Nổi bật trong kỳ lễ hội lần này là chương trình lễ hội đường phố với chủ đề “Buôn Ma Thuột – Nơi hội tụ ba nền văn minh cà phê thế giới”, diễn ra vào chiều ngày 10/3/2023 tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Đắk Lắk, do Ban tổ chức Lễ hội Cà phê trao cơ hội cho Trung Nguyên Legend thực hiện. Lễ hội đường phố đã thu hút gần 1.500 người tham gia diễu hành, gồm những người dân của vùng đất đại ngàn, từ các em thiếu nhi, học sinh, sinh viên đến những người nông dân, công nhân chế biến sản xuất cà phê đến các doanh nghiệp từ 15 khu vực trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, cũng như quy tụ hàng trăm diễn viên, nghệ sỹ, các đoàn nghệ thuật đường phố trong nước, quốc tế…  Một sự kiện khác thu hút sự theo dõi của đông đảo người tham dự lễ hội là hội chợ triển lãm chuyên ngành cà phê “Cà phê Buôn Ma Thuột – Vững bước hội nhập”. Trong khuôn khổ hội chợ, Trung Nguyên Legend đã đem đến những trải nghiệm đặc biệt về ba nền văn minh cà phê thế giới Ottoman – Roman – Thiền cho cộng đồng và du khách tại gian hàng Cà phê năng lượng Trung Nguyên Legend.  Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã tham gia trực tiếp triển khai các chương trình chính của Lễ hội cũng như tổ chức nhiều hoạt động đặc sắc như: Ngày hội cà phê miễn phí; Tổ chức các tour du lịch cà phê; Tham gia Hội thảo phát triển cà phê…  So với Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 7 năm 2019, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 có thêm hoạt động mới, như: Lễ hội ánh sáng, Cuộc thi video clip giới thiệu về cà phê Buôn Ma Thuột, biểu diễn vở ca kịch “Khát vọng Đam San”… Để tạo điều kiện cho khách tham gia hiểu thêm về văn hóa cà phê cũng như văn hóa của vùng đất này, có rất nhiều hoạt động hấp dẫn như Hội chợ triển lãm chuyên ngành cà phê, Hội thảo phát triển cà phê đặc sản Việt Nam, Triển lãm ảnh nghệ thuật với chủ đề “Văn hóa cà phê Việt Nam” và “Lịch sử cà phê thế giới”, Cuộc thi pha chế cà phê đặc sản, Ngày hội cà phê miễn phí, các tour du lịch trải nghiệm và khám phá sản phẩm du lịch mới phục vụ du khách.  Kể từ năm 2022, Trung Nguyên Legend chính thức tham gia trong Đề án phát triển thương hiệu thành phố Buôn Ma Thuột trở thành “Thành phố cà phê của thế giới”. Theo đó, Trung Nguyên Legend cam kết sẽ tiếp tục phối hợp với UBND Tỉnh Đắk Lắk, UBND Thành phố Buôn Ma Thuột và ban tổ chức đề án quảng bá, đưa cà phê và văn hóa cà phê Việt Nam với Cà phê sữa đá, Cà phê phin trở thành di sản được UNESCO công nhận; kết nối đưa các sự kiện cà phê quốc tế về thành phố Buôn Ma Thuột, kết hợp xây dựng mạng xã hội cà phê toàn cầu; quảng bá và phát huy các giá trị văn hóa gắn với các di tích quốc gia qua các hoạt động du lịch chữa lành; mở các chương trình, không gian trải nghiệm văn hóa, tinh thần cà phê…  Một số hình ảnh lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột:  Không gian “hội tụ 3 nền văn minh cà phê thế giới” của Trung Nguyên Legend tại Hội chợ triển lãm Chuyên ngành cà phê thu hút đông đảo du khách trải nghiệm  Một hoạt cảnh trong lễ hội đường phố với chủ đề “Buôn Ma Thuột – Nơi hội tụ ba nền văn minh cà phê thế giới”     
__label__tiasang Buông ngọn nắm gốc      Lâu nay chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước ưu tiên thái quá cho kích thích tăng trưởng GDP đã dẫn tới những hệ lụy gây thất thoát, hao phí tài sản của quốc gia, và tạo điều kiện thuận lợi để các nhóm lợi ích thao túng, gây ra bất công và bất ổn trong xã hội     Trong kinh tế học, người ta gọi GDP, hay tổng giá trị sản phẩm mà các đối tượng làm ăn, sinh sống trong một quốc gia làm ra trong một năm, là giá trị mang tính “dòng chảy” (flow). Gọi là dòng chảy vì đây là dòng vào. Còn dòng ra là tổng giá trị của cải của quốc gia bị tiêu trừ, hao mòn trong năm. Giá trị ròng của cải tích tụ được (NDP) là phần còn lại của dòng vào sau khi đã khấu trừ đi dòng ra. Để đánh giá được tiềm lực thực chất của một quốc gia, người ta phải nhìn vào giá trị của cải tích lũy được, còn giá trị của GDP chỉ mang tính tham khảo.   Thế nhưng lâu nay các nhà quản lý dường như chỉ quan tâm theo dõi dòng vào mà lơ là dòng ra. Các báo cáo, phân tích đánh giá thường chỉ tập trung xem GDP hằng năm đạt được bao nhiêu phần trăm, mà không mấy ai quan tâm thống kê lượng của cải đang hao phí vì những nguyên nhân chủ quan: những ụ nổi han gỉ, những khu đô thị bị bỏ hoang, những con đường chất lượng yếu kém chưa kịp nghiệm thu đã phải sửa chữa, v.v.   Những sự hoang phí này có nhiều nguyên nhân như nạn tham nhũng hay yếu kém trong quản lý đầu tư công, yếu kém trong quản lý nguồn vốn tín dụng. Tuy nhiên, chất xúc tác để khiến tất cả những yếu tố tiêu cực trên bùng phát mạnh mẽ chính là tư duy phát triển chạy theo bề nổi của những người quản lý Nhà nước cố đạt những con số tăng trưởng GDP ấn tượng bằng mọi giá, được cụ thể hóa bằng ba chính sách thường thấy: tăng trưởng tín dụng quá độ; đầu tư công và vay nợ công quá độ; và đánh đổi đất đai lấy tăng trưởng.     Hậu quả của tăng trưởng tín dụng quá độ  Trong một nền kinh tế thị trường lành mạnh, nơi nguồn tín dụng được rót vừa đủ, giá trị tài sản không bị tình trạng bong bóng làm méo mó, và các quyết định phân bổ tín dụng từ các ngân hàng không bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, thì dòng tiền đầu tư của xã hội sẽ được rót vào những dự án có tiềm năng đạt hiệu quả thực chất cao nhất. Nhưng trong một nền kinh tế mà nguồn vốn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cơ chế xin cho và sự thao túng của các nhóm lợi ích thì chính sách tăng trưởng tín dụng quá độ khiến cho quá nhiều tiền đổ vào những dự án mang tính đầu cơ chụp giựt, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản.   Sự lan tràn những khoản đầu tư kém hiệu quả khiến nguồn tiền trong xã hội tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tích lũy của cải, và hậu quả dễ thấy như đã xảy ra trong những năm qua là tình trạng lạm phát hai chữ số làm mất giá nghiêm trọng đồng tiền, buộc Nhà nước phải tăng cao lãi suất, trở thành một thứ thuế vô hình giáng xuống người dân. Trong khi dòng tiền chùa rơi vào túi những nhóm lợi ích đầu cơ, thì tài sản tiền (tiền mặt, tiền trong tài khoản ngân hàng, trái phiếu, và các tài sản tương tự) của những người làm ăn chân chính, có hiệu quả bỗng dưng bị mất giá trị. Hay nói cách khác, chính sách tăng trưởng tín dụng quá độ kết hợp với sự thao túng của các nhóm lợi ích khiến cho tiền từ túi những người làm ăn hiệu quả bị bòn rút chuyển sang túi những kẻ đầu cơ. Điều này một mặt gây bất công và bất ổn trong xã hội, mặt khác ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của nền kinh tế trong lâu dài, vì hao hụt giá trị tài sản của những người làm ăn chân chính cũng đồng thời làm suy giảm nguồn lực mà họ có thể dành cho đầu tư trong tương lai.     Bên cạnh đó, chính sách tăng trưởng tín dụng quá độ khiến giá trị một số dạng tài sản bị thổi thành bong bóng, và điều nguy hiểm là đa số mọi người không thể dự đoán trước diễn biến của thị trường để biết trước chính xác khi nào thì bong bóng sẽ vỡ. Trái lại, tất cả các cá thể đều hành xử dựa trên thông tin hạn hẹp và đưa ra những quyết định đầu cơ theo quán tính của đám đông.   Khi bong bóng vỡ sẽ kéo theo sự đổ vỡ mang tính dây chuyền. Tình trạng cá thể này không thanh toán được nợ cho cá thể khác – hay còn gọi là nợ xấu – khiến tất cả mọi doanh nghiệp, không phân biệt là người làm ăn chân chính hay kẻ đầu cơ, đều bị ảnh hưởng. Hậu quả lâu dài là sự đình đốn hoặc đổ vỡ của các doanh nghiệp sản xuất chân chính, và nguồn tài sản xã hội bị lãng phí vào những dự án đầu cơ bị mất thanh khoản.   Như vậy, trái ngược với chủ đích của những người làm chính sách, mong muốn tăng trưởng tín dụng sẽ kích thích tăng trưởng GDP, việc tăng trưởng tín dụng quá độ dẫn tới những khoản đầu tư kém hiệu quả, thúc đẩy lạm phát và tạo ra nợ xấu khiến các doanh nghiệp đình đốn sản xuất hoặc đổ vỡ. Thông qua lạm phát, chính sách tăng trưởng tín dụng quá độ kết hợp với sự thao túng của các nhóm lợi ích khiến giá trị tài sản và nguồn lực đầu tư của những người làm ăn chân chính bị hao hụt, gây ra sự bất công, bất ổn trong xã hội, và giảm hiệu quả đầu tư của toàn nền kinh tế.   Đánh đổi đất đai lấy tăng trưởng  Cùng với chính sách kích thích tăng trưởng bằng tín dụng, chính sách ưu đãi đầu tư về đất đai – một công cụ khác của Nhà nước nhằm khuyến khích đầu tư – cũng bị các nhóm lợi ích tìm cách lợi dụng khai thác. Giá trị đền bù giải phóng mặt bằng cho dự án thường tùy thuộc vào thang giá tương ứng với mục đích sử dụng hiện tại của thửa đất, và mức giá này thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường nên đây là nguồn lợi để các nhóm đầu tư triệt để khai thác. Đất dự án được thu gom dễ dàng càng tạo điều kiện để các nhóm đầu cơ sử dụng làm tài sản thế chấp và liên tục mở rộng vay vốn. Hậu quả gây ra là có quá nhiều các dự án được lập, vượt quá nhu cầu và điều kiện phát triển của nền kinh tế, dẫn tới hiện tượng nhiều khu công nghiệp và các khu chung cư, biệt thự bị bỏ hoang.       Bên cạnh đó chính sách ưu đãi đầu tư bằng đất đai cũng được dùng làm công cụ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, dưới hình thức giá thuê đất không đáng kể, nhà đầu tư được hỗ trợ tiền đền bù giải phóng mặt bằng, hoặc chỉ phải trả tiền đền bù với giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Tuy được hưởng ưu đãi như vậy nhưng đổi lại, nhiều doanh nghiệp nước ngoài lại dùng thủ thuật chuyển lãi ra nước ngoài theo hình thức mua nguyên liệu đầu vào với giá cao và báo lỗ khiến nhà chức trách không thể thu được thuế thu nhập doanh nghiệp.   Trong khi đó, chỉ một bộ phận người dân địa phương được thuê vào làm việc tại các dự án của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, còn lại là những người dân địa phương bị mất đất, mất nghề nghiệp, và rơi vào cảnh trắng tay sau khi tiêu hết số tiền đền bù ít ỏi, và đây là một mầm mống đáng kể khác gây bất ổn trong xã hội.  Quản lý nợ của Nhà nước: rời rạc và thiếu phản biện độc lập  Trong số những chính sách vĩ mô có khả năng gây hao phí tài sản và nguồn lực của các quốc gia, nợ công là một trong những vấn đề đáng quan tâm hàng đầu, vì hoạt động vay mượn của Nhà nước nếu không được quản lý hợp lý và trong giới hạn an toàn sẽ gây nhiều hậu quả tiêu cực, như làm co rút nguồn vốn của khu vực tư nhân nếu Nhà nước lạm dụng phát hành trái phiếu trong nước, hoặc làm sụt giảm kho dự trữ ngoại tệ để thanh toán nợ nếu Nhà nước lạm dụng vay nợ bằng ngoại tệ nước ngoài. Còn nếu Chính phủ vỡ nợ thì hậu quả gây ra sẽ càng to lớn hơn, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư trong nước, quốc tế, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển lâu dài của cả quốc gia.  Hiện nay, nợ công của Việt Nam theo công bố của Nhà nước ở vào khoảng 50-60% GDP. Đây là con số tương đối cao, vì 60% GDP tương đương với trần hạn mức nợ công khuyến nghị cho các nước có nền quản lý tài chính công tiên tiến như liên minh EU. Tình trạng khủng hoảng nợ công ở châu Âu cho thấy việc tuân thủ khuyến nghị này là cần thiết, vì ngay cả những nước có nền quản trị tài chính công phát triển cũng không dám đảm bảo rằng mình có đủ năng lực dự báo và kiểm soát diễn biến tài chính công một khi gánh nặng nợ trở nên quá lớn. Điều đáng lo ngại trước mắt về nợ công của Việt Nam chưa hẳn là về con số cụ thể của gánh nặng nợ (do chiếm đáng kể trong nợ công là nợ ODA với kỳ hạn dài, lãi suất thấp) mà là năng lực dự báo, thẩm định, và quản lý tài chính công của chúng ta còn rất giới hạn. Ví dụ điển hình là cách đây chưa lâu, những người ủng hộ dự án đường sắt cao tốc trong Chính phủ còn lạc quan biện luận rằng GDP của quốc gia sẽ tăng trưởng đều đặn vượt bậc, dư sức giúp thanh toán mọi gánh nặng nợ nần từ siêu dự án này. Diễn biến phát triển kinh tế của đất nước trong những năm qua đã nhanh chóng cho thấy dự đoán trên là xa rời thực tế tới mức độ nào.    Ngoài nợ công, vấn đề giải quyết nợ doanh nghiệp Nhà nước tự vay tự trả cũng là câu hỏi chưa có lời đáp. Trên lý thuyết, Chính phủ không can thiệp, hỗ trợ thanh toán nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp Nhà nước, nhưng trong thực tế, Chính phủ vẫn phải ngầm có trách nhiệm với các khoản vay cho những dự án đầu tư vừa mang tính thể diện, vừa mang tầm chiến lược, hoặc với các đối tượng doanh nghiệp Nhà nước mà trong đó phần tài sản Nhà nước có ý nghĩa, giá trị công ích, thuộc diện không thể phát mại được. Tuy nhiên, Chính phủ chưa bao giờ công khai làm rõ phần nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp Nhà nước mà Chính phủ sẽ có trách nhiệm giải quyết là bao nhiêu, mặc dù trong những gói giải cứu nợ xấu sắp tới, chắc chắn sẽ có phần dành cho những đối tượng này.  Như vậy, phần trách nhiệm ngầm của Chính phủ cho các doanh nghiệp Nhà nước có thể coi là một gánh nặng cho nợ công, mặc dù không được tính vào nợ công. Nhưng trách nhiệm quản lý phần gánh nặng nợ này thuộc về Ngân hàng Nhà nước, còn trách nhiệm quản lý phần nợ công theo định nghĩa chính thống quy định trong luật lại thuộc về Bộ Tài chính. Do đó, có thể nói rằng chúng ta vẫn chưa có một cơ quan quản lý nợ công đúng nghĩa, được chủ động toàn diện trong quản lý và chịu trách nhiệm cho toàn bộ những gánh nặng nợ mà Nhà nước phải gánh vác.  Trong khi hoạt động quản lý nợ của Nhà nước còn phân tán tản mát, thì Luật Quản lý Nợ công và các văn bản hướng dẫn hiện vẫn chưa có sự quy định rõ ràng về các biện pháp phòng vệ cần thiết khi gánh nặng nợ tiếp cận ngưỡng mất an toàn. Vì vậy, các cơ quan chức năng sẽ không có điểm tựa chống lưng và dễ dàng bị chi phối bởi ý chí của Chính phủ mà không đảm bảo được vai trò, chức năng độc lập của người quản lý nợ. Trong những trường hợp đã xảy ra trong quá khứ, như dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam, hay các dự án vay nợ của Vinashin, tất cả các ý kiến chính thức từ các cơ quan chức năng đều ủng hộ theo ý chí chỉ đạo của Chính phủ, và mọi quan điểm phản biện của những cơ quan này nếu có thì đều thuần túy mang tính tham mưu trong nội bộ.         Như vậy, chức năng phản biện độc lập được các cơ quan chức năng nhường sân cho Quốc hội, và cũng chỉ có những dự án quy mô rất lớn như dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam mới có cơ hội được phản biện và phủ quyết. Thiếu tiếng nói phản biện độc lập, quyền lực của Chính phủ trong hoạt động vay nợ và phân bổ vốn vay trở nên quá lớn, và nếu những khoản vay này được giải ngân vào tay những người quản lý yếu kém hoặc thiếu đạo đức thì sự thất thoát, hao phí là không thể tránh khỏi.   Đề xuất  Những năm qua, xu hướng suy giảm tăng trưởng GDP, vấn nạn nợ xấu tồn đọng chưa có lời giải thỏa đáng, những biến động của kinh tế toàn cầu từ khủng hoảng nợ công ở một số quốc gia, v.v., đã cho chúng ta thấy rằng không thể tập trung cho tăng trưởng GDP bằng mọi giá và ảo tưởng rằng chỉ cần vốn và đất là đủ để duy trì tăng trưởng.   Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng chưa đưa ra được những cơ sở lý luận rõ ràng cho chủ trương này. Chúng ta có thể tạm hiểu rằng định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chú trọng vai trò quản trị của Nhà nước thay vì phó thác hoàn toàn cho thị trường, đồng thời đề cao lý tưởng công bằng xã hội. Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế đất nước trong những năm qua cho thấy Nhà nước đã chưa làm tốt vai trò quản trị, khi để xảy ra phổ biến hiện tượng tài sản quốc dân bị thất thoát, hoặc bị hao phí vô ích; mặt khác cũng chưa làm tốt nhiệm vụ đảm bảo công bằng xã hội khi để tồn tại hiện tượng của cải và đất đai bị thâu tóm bởi những kẻ đầu cơ chụp giựt, trong khi những doanh nghiệp và cá nhân làm ăn chân chính phải vật lộn trong khó khăn.   Để thay đổi thực tế này, điều tiên quyết mà Nhà nước phải chú trọng là điều chỉnh những chính sách gây thất thoát, hao phí nguồn lực của quốc gia. Những người cần thay đổi tư duy đầu tiên chính là Quốc hội. Hằng năm, thay vì chỉ đặt ra các chỉ tiêu về tăng trưởng GDP, hãy đòi hỏi Chính phủ phải báo cáo về nguồn tiền Ngân sách Nhà nước dành cho mục đích sửa chữa, khắc phục những công trình và dự án đầu tư công kém chất lượng, làm rõ sai phạm, và đặt ra cho Chính phủ mục tiêu cụ thể về giảm trừ con số thất thoát này trong những năm tiếp theo.   Đối với những công trình bỏ hoang, đắp chiếu có quy mô lớn của khu vực tư nhân, Chính phủ cũng cần phải điều tra về nguồn gốc nguồn vốn đầu tư và làm rõ liệu có sự liên quan lợi ích nhóm giữa chủ đầu tư và các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng chính sách của Nhà nước hay không. Nếu không hạn chế được vấn đề nhóm lợi ích thì các gói giải cứu nợ xấu sẽ chỉ là những liều thuốc giảm đau nhất thời.  Hai giải pháp trên đây là phương cách thiết thực để chúng ta chống tham nhũng vì chúng gắn với những mục tiêu cụ thể, có thể kiểm soát được, quy trách nhiệm được. Cách làm này thiết thực hơn so với chống tham nhũng bằng lời nói, và trông chờ vào sự dũng cảm tố cáo của người dân, hay lệ thuộc vào ý chí và đạo đức của các ban phòng chống tham nhũng.   Để tránh sự thao túng của các nhóm lợi ích và đảm bảo công bằng, ổn định xã hội, cần trả lại giá trị thực cho đất đai, xây dựng những thang giá đền bù được cập nhật theo giá thị trường thay vì máy móc quy theo mục đích sử dụng đất trong hiện tại. Với những dự án có tiềm năng giá trị kinh tế xã hội to lớn cho địa phương và quốc gia, Nhà nước có thể có chính sách ưu đãi về đất đai cho nhà đầu tư, nhưng cần đi kèm với ràng buộc rõ ràng, ví dụ như buộc nhà đầu tư phải cam kết về những lợi ích mà dự án sẽ đem lại, và sẽ phải hoàn lại tiền đền bù đất theo giá thị trường cộng với lãi suất nếu sau một số năm doanh nghiệp không đóng được thuế cho Nhà nước và dự án không đem lại được các lợi ích như nhà đầu tư từng cam kết. Không nên e ngại rằng những ràng buộc này sẽ làm mất cơ hội thu hút đầu tư, mà trái lại, chúng sẽ giúp sàng lọc bớt những người đầu tư đơn thuần vì mục đích lợi dụng kiếm chác qua kẽ hở luật pháp.  Chính sách tăng trưởng tín dụng cần được cân đối hài hòa giữa mục tiêu thúc đẩy đầu tư và ổn định kinh tế vĩ mô. Có thể nói, trong năm 2012 Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện khá tốt chức năng điều tiết chính sách tiền tệ, giảm lạm phát được đáng kể. Nhưng đây mới là sự đối phó mang tính tình thế, được sự đồng thuận từ cả Chính phủ lẫn Quốc hội. Về lâu dài, Ngân hàng Nhà nước cần giữ được tiếng nói độc lập trong chính sách tiền tệ thay vì bị chi phối hoàn toàn bởi những mục tiêu chính trị của Chính phủ. Cũng tương tự như vậy, cơ quan quản lý nợ của Nhà nước cũng cần được đảm bảo vai trò độc lập của mình, chuyên tâm vào trách nhiệm đảm bảo an toàn nợ, giảm thiểu rủi ro và chi phí vay, thay vì đơn thuần chỉ là công cụ đàm phán các khoản vay và giải ngân vốn vay của Chính phủ.    Nhìn nhận trên bình diện tổng quan, có thể thấy rằng giá trị và chất lượng của cải mà một quốc gia tích lũy được là nền tảng quan trọng để quốc gia ấy phát triển và tiếp tục tạo ra thu nhập mới, giống như cây cần phải có gốc rễ mới mong cho ra quả ngọt. Nếu chúng ta bị chi phối bởi tư duy bỏ gốc hớt ngọn, chăm chăm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng GDP mà lơ là việc quản trị những của cải quốc gia tích lũy được, thì nền tảng của cải ấy sẽ hao mòn, nguồn thu nhập cũng sẽ suy giảm, đồng thời càng tạo môi trường cho tham nhũng sinh sôi nảy nở.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Buồng trứng in 3D giúp chuột vô sinh có con      Những con chuột vô sinh đã sinh ra những con chuột con khỏe mạnh sau khi được cấy buồng trứng in 3D. Đây là một bước chuẩn bị cho việc tạo ra buồng trứng nhân tạo ở người.      Cái khung của buồng trứng nhân tạo sinh học ở chuột được làm bằng gelatin chiết xuất từ collagen tự nhiên có trong buồng trứng động vật.  Các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Nano Sinh học Simpson Querrey, ĐH Northwestern, Chicago, Mỹ, đã tạo ra buồng trứng nhân tạo bằng cách in các khung có nhiều khoang rỗng kiểu tổ ong, kích thước 15X15 mm, từ một loại mực gelatin (chiết xuất từ collagen tự nhiên có trong buồng trứng động vật) và lấp đầy các khoang rỗng với các nang trứng hình cầu chứa các trứng chưa trưởng thành được bao quanh bởi các tế bào sản sinh hormone.  Trong các thử nghiệm trên những con chuột có một bên buồng trứng đã bị phẫu thuật cắt bỏ, các nhà khoa học nhận thấy, bộ phận cấy ghép đã kết nối được với các mạch máu trong vòng một tuần và tiến tới giải phóng trứng một cách tự nhiên từ các khoang rỗng có kích thước 2X2mm. Việc kết nối được với các mạch máu rất quan trọng vì nó cung cấp ô-xi và dinh dưỡng cho các nang trứng và cho phép hormone do các nang trứng sản xuất ra tuần hoàn trong máu.  Nghiên cứu này đánh dấu một bước hướng tới việc tạo ra các buồng trứng nhân tạo cho phụ nữ bị vô sinh hoặc mất cân bằng hormone sau khi điều trị ung thư.  Trong số bảy con chuột giao phối sau khi được cấy ghép buồng trứng nhân tạo, có ba con đã sinh ra những con chuột non từ trứng ở buồng trứng cấy ghép. Những con chuột này bú sữa mẹ bình thường và tiếp tục sinh những lứa con khỏe mạnh sau đó.  Trong bài báo công bố trên Nature Communications, các nhà khoa học mô tả cách họ tạo ra buồng trứng bằng công nghệ in 3D như thế nào. Theo các nhà khoa học, kích thước và vị trí của các khoang rỗng trong cấu trúc buồng trứng được kiểm soát cẩn thận để chứa được 40-50 nang trứng và cho phép các mạch máu kết nối với bộ phận cấy ghép này. Trứng trưởng thành sau đó được giải phóng khỏi buồng trứng cấy ghép như xảy ra trong quá trình rụng trứng bình thường.  Hóa trị và liều cao bức xạ được sử dụng trong điều trị ung thư có thể phá huỷ một số hoặc tất cả trứng của người phụ nữ, làm cho họ có nguy cơ vô sinh và mãn kinh sớm. Và mặc dù các bác sĩ đã thành công trong việc phục hồi khả năng sinh sản của phụ nữ nhờ các phôi, trứng, mô buồng trứng đông lạnh, nhưng những biện pháp này không hiệu quả đối với một số bệnh ung thư nhất định như ung thư buồng trứng, ung thư vú.  Trước đây, các nhà khoa học đã tạo ra những buồng trứng nhân tạo cho chuột, nhưng nghiên cứu nói trên được cho là lần đầu tiên ứng dụng công nghệ in 3D. Hiện chưa rõ liệu phương pháp tương tự có hiệu quả đối với người không vì nang trứng của người lớn hơn rất nhiều và phát triển nhanh chóng cho đến khi có thể nhìn thấy bằng mắt thường.  Nhóm nghiên cứu đang tìm cách tăng kích thước của cấu trúc buồng trứng nhân tạo sinh học để có thể thử nghiệm trên những động vật lớn hơn, và cuối cùng là ở người.  Những tiến bộ trong công nghệ in 3D đã biến đổi một số lĩnh vực y học khi cho phép tạo ra các bộ phận cơ thể cấy ghép dành riêng cho cá nhân. Năm ngoái, các bác sĩ phẫu thuật Hàn Quốc đã in một xương gót chân bằng titan cho một người đàn ông bị cắt bỏ khối u ở bàn chân.  Trong khi đó, các nhà nghiên cứu ở North Carolina tuyên bố đã làm được tai, xương hàm và cơ xương bằng công nghệ in 3D gắn với các tế bào sống. Các nhóm khác đã in được các mạng mạch máu, thứ sẽ thiết yếu cho việc tạo ra các cơ quan nhân tạo lớn trong phòng thí nghiệm.  N.V tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá gai: Căng thẳng khi đối diện với kẻ săn mồi có thể ảnh hưởng đến con cái chúng      Cá đực khi tiếp xúc với kẻ săn mồi sẽ sinh ra những đứa con trai có tính cách táo bạo hơn, liều mạng hơn. Mặt khác, cá mẹ tiếp xúc với kẻ săn mồi sẽ sinh ra những đứa con hay lo âu – bất kể giới tính.      Cá gai, với những hành vi phức tạp của chúng, quả thực là một chủ đề nghiên cứu thú vị. Ảnh: Brian Stauffer  Cá bố mẹ khi phải đối diện với kẻ săn mồi sẽ truyền thông tin về môi trường rủi ro cho con cái của chúng thông qua những thay đổi trong biểu hiện gene – những thông tin đó ảnh hưởng đến con cái khác nhau như thế nào tùy thuộc vào giới tính của cá bố mẹ. Nhóm nghiên cứu của tôi* đã phát hiện ra điều này bằng cách xem xét cá gai – một loài cá nước ngọt nhỏ, trong đó những con đực có màu sắc rực rỡ lãnh trách nhiệm chăm sóc cho những quả trứng. Mới đây, chúng tôi đã xuất bản công trình của mình trên Journal of Animal Ecology.  Đầu tiên, chúng tôi cho cá bố mẹ tiếp xúc với những kẻ săn mồi. Sau đó, chúng tôi xem xét hành vi cũng như cách các gene được biểu hiện trong não của con cái chúng. Chúng tôi nhận thấy rằng giới tính của con cá tiếp xúc với kẻ săn mồi có ý nghĩa quan trọng, nhưng đáng ngạc nhiên là giới tính của con cái cũng là yếu tố thay đổi cách thông tin ảnh hưởng đến hành vi.   Cá đực khi tiếp xúc với kẻ săn mồi sẽ sinh ra những đứa con trai có tính cách táo bạo hơn, liều mạng hơn, nhưng trải nghiệm của cá bố lại không ảnh hưởng đến mức độ liều lĩnh của đứa con gái. Mặt khác, cá mẹ tiếp xúc với kẻ săn mồi sẽ sinh ra những đứa con hay lo âu – bất kể giới tính. Những đứa con trai và con gái này có các kiểu biểu hiện gen khác nhau, tương thích với kết quả hành vi mà chúng tôi xem xét được.   Chúng tôi cũng đã nghiên cứu xem liệu những thay đổi này có tiếp nối sang thế hệ thứ hai hay không. Ở những đứa cháu, chúng tôi lại tìm thấy các kiểu kế thừa phức tạp cụ thể theo giới tính. Vậy chúng vận hành như thế nào? Không phải trải nghiệm đã thay đổi các gene mà cá bố mẹ truyền lại. Thay vào đó, thứ đã thay đổi là cách những gene đó được biểu hiện ở thế hệ con cái. Sự biến đổi trong biểu hiện gene này được gọi là di truyền biểu sinh.     Thông qua di truyền học biểu sinh, cá bố mẹ có thể truyền lại thông tin cho thế hệ cá gai tiếp theo giống như những con đang phát triển trong những quả trứng này. Ảnh: Jennifer Hellman  Tác động xuyên thế hệ cũng có ở người  Phòng thí nghiệm của tôi thường quan tâm đến việc trải nghiệm của động vật ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển và hành vi của thế hệ con cháu. Các nhà sinh học gọi đây là tính mềm dẻo xuyên thế hệ (transgenerational plasticity), và nó cho phép bố mẹ cung cấp cho con gái thông tin về môi trường trước khi con cái được sinh ra. Chẳng hạn, ở chuột, khi những con bố được huấn luyện để sợ một mùi hương đặc biệt nào đó, thế hệ con của chúng cũng sẽ sợ mùi đó ngay cả khi chúng chưa được huấn luyện để làm thế.   Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy tác động xuyên thế hệ ở tất cả các loài – kể cả ở người. Ở người, trải nghiệm của thế hệ ông bà – chẳng hạn như thói quen ăn uống hoặc hút thuốc – có thể tác động mạnh, đặc thù theo giới tính, đối với việc tăng cân ở cháu. Nhưng nghiên cứu về thay đổi hành vi khó hơn nhiều so với nghiên cứu việc tăng cân, và nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù ở cá, là một trong những nghiên cứu kỹ lưỡng nhất cho đến nay kiểm tra giới tính và hành vi trong tính mềm dẻo xuyên thế hệ.  Các nghiên cứu như thế này có thể giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn rằng những sự kiện gây căng thẳng ngày nay có thể ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai như thế nào. Nó có thể đúng với bất cứ thứ gì, từ nghèo đói hoặc rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) ở người cho đến biến đổi khí hậu ở cá rạn.   Cần tiến hành thêm các nghiên cứu  Sự hiểu biết của các nhà nghiên cứu về cơ chế của các tác động đặc thù theo giới tính cho đến này vẫn còn rất hạn chế. Làm thế nào để trải nghiệm của người bố có thể ảnh hưởng đến con trai theo cách này và theo cách khác đối với con gái? Hơn nữa, những tác động đặc thù theo giới tính kiểu này có thể mang lại lợi ích gì cho các thế hệ tương lai hay không? Các nhà nghiên cứu biết rằng cơ chế này cũng tồn tại ở người, nhưng liệu sự khác biệt về giới tính này có hại hay có lợi thì vẫn còn là một điều bí ẩn.   Cách bố mẹ nuôi dạy con cái cũng đóng một vai trò rất lớn trong việc xác định hành vi. Nhóm nghiên cứu của tôi muốn hiểu rõ hơn về mức độ căng thẳng trong cuộc sống của bố mẹ có thể thay đổi cách họ tương tác với con cái hay không. Ví dụ, nếu người bố bị căng thẳng và truyền những ảnh hưởng đó thông qua các thay đổi biểu sinh cho tinh trùng, chúng có tự thay đổi hành vi của người cha nhằm phóng đại hoặc giảm thiểu những thay đổi biểu sinh đó không?  Chúng tôi hiện đang tiến hành các thí nghiệm này trên cá gai và hy vọng rằng những gì chúng tôi phát hiện cũng sẽ giúp hiểu hơn về con người.   * Tác giả của bài này là Jennifer Hellmann, Phó Giáo sư Sinh học, Đại học Dayton  Hà Trang tổng hợp  Nguồn: In fish, parents’ stressful experiences influence offspring behavior via epigenetic changes  Epigenetic Modifications: Basic Mechanisms and Role in Cardiovascular Disease       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ca ghép tim lợn cho người đầu tiên trên thế giới: Tín hiệu tích cực sau một tháng      Bennett là người đầu tiên được cấy ghép tim lợn. Các bác sĩ của David Bennett cho biết thời gian sống sót sau một tháng là một thành công to lớn. Bởi vì vẫn có nguy cơ cơ thể không chấp nhận và đào thải tim lợn.      Bennett với các chuyên gia vật lý trị liệu. Ông hỏi: “khi nào thì tôi được về nhà?”  Một tháng sau ca cấy ghép bệnh nhân người Mỹ, 57 tuổi, vẫn sống tương đối bình thường với tim lợn.  Bệnh nhân Bennett đã cấy ghép tim lợn vào ngày 7 tháng 1. Việc cấy ghép các cơ quan nội tạng động vật sang người được gọi là  xenotransplantation.  Joachim Denner, một chuyên gia cấy ghép của Đại học Tự Do Berlin, Đức, giải thích: “Thời gian tồn tại kéo dài một tháng là một thành công lớn đối với việc cấy ghép xeno, nên nhớ ca ghép tim đầu tiên từ người sang người ở Đức, người được ghép tim cũng chỉ sống được chưa đầy 24 giờ”. Nhưng loại phẫu thuật này là một lĩnh vực kkhoa học hoàn toàn mới mẻ. Có nguy cơ tình hình sẽ xấu đi.  Denner cho biết nguy lớn nhất đối với tính mạng của bệnh nhân là nội tạng sẽ bị đào thải. Hệ thống miễn dịch cần một khoảng thời gian nhất định trước khi hình thành phản ứng miễn dịch. Hiện tại, các kháng thể và tế bào miễn dịch có khả năng đào thải tim đang trong quá trình hình thành để rồi tống khứ nội tạng lạ này.  Theo Trung tâm Y tế Đại học Maryland ở Baltimore, nơi diễn ra ca phẫu thuật vào đầu tháng giêng, ở bệnh nhân Bennett không có dấu hiệu đào thải. Ông ta tỉnh táo, phản ứng nhanh và hỏi nhân viên y tế khi nào có thể về nhà. Tuy nhiên, cũng còn lâu Bennet mới được về nhà vì ông cần được theo dõi liên tục tại bệnh viện.  Kỳ tích y học của các nhà khoa học Hoa Kỳ là đã phá vỡ hoặc đảo lộn các cơ chế khác nhau trong cơ thể con người để ngăn cản quá trình đào thải ngay từ đầu. Để nội tạng của động vật có thể cấy ghép cho con người, bộ gene của động vật hiến tặng phải được chỉnh sửa trước đó.   Trong đó có chỉnh sửa cấu trúc trên bề mặt của tế bào lợn, mà người vốn đã có kháng thể kháng lại trong tự nhiên. Ngoài ra, còn có nguy cơ hình thành cục máu đông. Bệnh nhân cũng được dùng thuốc để ức chế phản ứng miễn dịch.  Ngay từ những năm 80 đã có những nghiên cứu về Xenotransplant. Lợn đặc biệt thích hợp làm vật hiến tặng vì quá trình trao đổi chất của chúng tương tự như ở người. Ở Hoa Kỳ, vào những năm 1980, một bác sĩ đã cấy ghép tim của khỉ đầu chó cho một trẻ sơ sinh bị rối loạn chức năng tim. Tuy nhiên bé gái đó chỉ sống sót được vài tuần. Theo Denner, kỷ lục sống sót của một con khỉ đầu chó ghép tim lợn ở Đức là 195 ngày.  Con lợn dùng để cấy ghép ở Baltimore được lai tạo bởi một công ty Hoa Kỳ. Việc nuôi lợn tại các trang trại đặc biệt này được giám sát rất nghiêm ngặt và hiện tại chỉ có vài con. Tuy nhiên, nếu đạt được tiến bộ thì trong tương lai việc tạo ra những con lợn đặc biệt này sẽ được đẩy mạnh. Từ con lợn người ta có thể cấy ghép nhiều cơ quan khác nhau nữa.  Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/wissenschaft/medizin/xenotransplantation-mann-lebt-seit-einem-monat-mit-schweineherz-a-f74c9ede-01a6-423b-9d33-5d4e672c3739     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá hồi biến đổi gene lần đầu tiên được bán      AquaBounty Technologies, một công ty công nghệ sinh học của Mỹ có trụ sở tại Maynard, tiểu bang Massachusetts, cho biết loại cá hồi biến đổi gene của họ đã xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường sau 25 năm chờ đợi.      Cá hồi biến đổi gene, có kích cỡ gấp đôi cá bình thường cùng tuổi. Nguồn ảnh: Nature.  Đại diện của AquaBounty cho biết, lô hàng 4.5 tấn cá đầu tiên đã được bán cho những khách hàng tại Canada với giá 5.3 USD cho 1 pound (0.45 kg), và họ cũng từ chối tiết lộ danh tính người mua.  Loài cá đặc biệt, vốn cùng họ với cá hồi Đại Tây Dương, qua nghiên cứu, được can thiệp vào gene, giúp chúng có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh hơn những loài cá bình thường, đặc biệt có thể đạt kích cỡ lý tưởng để xuất bán chỉ sau 18 tháng – bằng một nửa so với thời gian thông thường.    Từ năm 1989, những nhà khoa học đã tìm ra loại gene khiến cá sinh trưởng nhanh hơn bình thường. Họ đã cấy gene thúc đẩy sự sản sinh hormone tăng trưởng trên giống cá hồi Chinook với những gene bình thường ở một loài thứ ba, như cá nheo. Can thiệp này khiến cơ thể loài cá hồi có khả năng tiếp tục sản sinh hormone tăng trưởng, dù chỉ ở một lượng nhỏ.      Hiện AquaBounty không nuôi loại cá này ở Mỹ hay Canada do những rào cản về mặt pháp lý, mà chủ yếu tại một trang trại ở Panama. Tuy nhiên, một vài nơi như đảo Prince Edward (Canada) và Albany, tiểu bang Indiana (Mỹ) có vẻ đang muốn bật đèn xanh cho lĩnh vực kinh doanh này.  Mặc dù việc nghiên cứu phát triển và thương mại hóa loại cá hồi biến đổi gene có thể đem lại cơ hội và triển vọng kinh tế lớn – theo quan điểm của những người ủng hộ thương mại, song điều này cũng đang gặp phải rất nhiều sự phản đối từ những nhà hoạt động môi trường và giới chính trị gia.  Thế Hải lược dịch  Theo Nature  http://www.nature.com/news/first-genetically-engineered-salmon-sold-in-canada-1.22116       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá mập hổ giúp ước tính quy mô hệ sinh thái cỏ biển ở Bahamas      Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã sử dụng những cuộc di chuyển của quần thể cá mập hổ để ước tính kích thước của hệ sinh thái cỏ biển.    Trong bài báo họ xuất bản trên Nature Communications, “Tiger sharks support the characterization of the world’s largest seagrass ecosystem”, các nhà nghiên cứu đã miêu tả các phương pháp họ sử dụng để đo đạc diện tích ở đáy biển có cỏ mọc ở Bahama Banks tại Bahamas 1.  Vì biến đổi khí hậu đang diễn ra, các nhà khoa học trên thế giới tiếp tục nghiên cứu những vùng có thể bị tác động và những cách có thể để làm chậm quá trình này. Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu chỉ ra, hơn 17% tổng lượng carbon được lưu trữ trong trầm tích biển là ở cỏ biển. Do đó, phát hiện này có thể cho thấy cỏ biển đóng vai trò quan trọng trong biến đổi khí hậu.  Thật không may là không có ai thực sự biết diện tích của các đáy biển có cỏ biển bao phủ trên thế giới như thế nào? Nếu ai đó cố gắng lặn xuống đáy biển khảo sát để có thông số tin cậy lập bản đồ cỏ biển thì công việc sẽ diễn ra chậm chạp. Do gặp một số giới hạn ở dưới đáy của vùng nước khá nông gần bờ, người đó sẽ cần dành không ít thời gian để hít thở không khí và tạm dừng bơi. Vì vậy, để hiểu rõ hơn về nơi cỏ biển, những thực vật có hoa sống ở biển này, một nhóm các nhà khoa học đã tìm đến một số đồng minh khác thường: cá mập hổ (Galeocerdo cuvier), loài được biết là ưa thích sống ở vùng biển có cỏ biển, để có thể dễ dàng hơn trong việc tìm thông số tin cậy. “Nghiên cứu này có thể đem lại cho chúng ta hi vọng về tương lai đại dương của chúng ta. Nó thể hiện cách tất cả đều được kết nối với nhau”, Austin Gallagher, nhà khoa học dẫn dắt nghiên cứu và là người điều hành NGO Beneath the Waves, trả lời đài truyền hình Úc ABC. “Những con cá mập dắt chúng tôi đến với hệ sinh thái cỏ biển ở Bahamas, nơi chúng ta đều biết là có tầm quan trọng bậc nhất trong việc lưu trữ carbon xanh của hành tinh này”.  Các nhà nghiên cứu đã bắt 15 con cá mập hổ và gắn các thiết bị dò vị trí lên chúng rồi thả ra biển. Dò theo những chuyển động của cá mập hổ theo thời gian cho phép các nhà nghiên cứu tạo ra một bản đồ ảo về các vùng cỏ biển mà chúng sống. Các nhà nghiên cứu cũng thực hiện 2.500 khảo sát bằng người nhái vào các vùng biển đó. Đây không phải là lần đầu tiên giới khoa học sử dụng động vật để tìm kiếm các cánh đồng cỏ biển, giáo sư Michael Rasheed, người phụ trách Phòng thí nghiệm Sinh thái cỏ biển ở trường đại học James Cook, nói với ABC. “Có một số câu chuyện về các con rùa biển gắn định vị được tìm thấy ở các nơi con người vẫn nghĩ ‘tại sao chúng có thể đến được đây?’. Và khi con người thấy được cách có thể đo lường được các cánh đồng cỏ biển huyền bí ở giữa Đại Tây dương”.  Nỗ lực mới này được các nhà nghiên cứu hi vọng sẽ gia tăng hiểu biết cơ bản bằng việc đo đạc kích thước của hệ sinh thái cỏ biển ở Bahama Banks, một vị trí có cỏ biển bao phủ lớn của thế giới. Trên thực tế, sử dụng dữ liệu bằng hai cách tiếp cận, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một bản đồ có độ chính xác và hợp lý về các cánh đồng cỏ biển ở Bahama Banks và ước tính kích thước của chúng – xấp xỉ 66.000 đến 92.000 km2. Các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra, đây là cánh đồng cỏ điển lớn nhất từ trước đến nay mà con người biết. Họ cũng lưu ý là diện tích bao phủ cỏ biển trên toàn cầu đã gia tăng khoảng 41%.  “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ dấu là cỏ biển ở Bahamas có thể chứa từ 19,2% đến 26,3% tổn lượng carbon mà tất cả các cánh đồng cỏ biển lưu giữ trên trái đất”, Wells Howe, một nhà quản lý chương trình dự án Carbon xanh ở Beneath the Waves, nói với Popular Science.  Rasheed đặt câu hỏi về liệu liệu phát hiện về cánh đồng cỏ biển lớn nhất thế giới này có thực sự chính xác. Có thể thông số này có được từ việc hợp nhất một số hệ sinh thái cỏ biển với nhau, vì không thể dễ dàng chỉ ra nơi nào kết thúc và nơi nào bắt đầu. Tuy vậy ông cũng thừa nhận phát hiện mới “tất nhiên là một hệ sinh thái cỏ biển rất lớn”.  Thông qua nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu muốn lưu ý đến tầm quan trọng của nghiên cứu về lượng diện tích đáy đại dương có cỏ biển. Việc phát hiện thêm những cách để bảo vệ hoặc mở rộng diện tích các cánh đồng cỏ biển có thể hữu dụng trong việc làm chậm quá trình biến đổi khí hậu. “Những gì trong phát hiện này cho chúng ta thấy khám phá đại dương và nghiên cứu nó có vai trò quan trọng với một tương lai sinh thái”, Gallagher viết trong công bố. “Tiềm năng của đại dương trong việc tham gia vào quá trình này cũng chỉ có giới hạn”.  Tô Thanh Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/tiger-sharks-help-scientists-map-out-worlds-largest-seagrass-ecosystem-180981065/  https://phys.org/news/2022-11-tiger-sharks-size-seagrass-ecosystem.html  ——————-    https://www.nature.com/articles/s41467-022-33926-1      Author                .        
__label__tiasang Cà phê – ngôn ngữ thứ hai mang tính sáng tạo và hài hòa      Tại sân bay quốc tế Changi (Singapore), Công ty cà phê Trung Nguyên chính thức khai trương quán cà phê theo mô hình và tiêu chuẩn nhượng quyền mới tại thị trường quốc tế. Đây được xem là mở màn cho một thế hệ nhượng quyền có nhiều giá trị thưởng thức văn hóa cà phê và có nội dung hấp dẫn với thị trường quốc tế cũng như mang tính dẫn dắt tại Việt Nam.    Sự kiện này là một trong những bước chuẩn bị mang tính chiến lược của Trung Nguyên trong lộ trình hướng ra chinh phục thị trường cà phê thế giới với hơn 2 tỷ người.  Ngoài các yếu tố về mặt kỹ thuật của kinh doanh nhượng quyền như tính nhất quán, chuẩn hóa sản phẩm, dịch vụ, nội thất…thì điểm khác biệt nhất của thế hệ nhượng quyền mới chính là chiều sâu văn hóa thưởng thức cà phê, thông qua việc xây dựng một không gian tràn ngập tinh thần và sắc thái cà phê. Trong mô hình nhượng quyền thế hệ mới, thông qua những sản phẩm cà phê đặc biệt, không gian thưởng thức cà phê và nhiều công cụ hiện hữu trong quán để truyền tải một giá trị, một quan niệm rằng: cà phê sẽ trở thành ngôn ngữ thứ hai mang tính sáng tạo và hài hòa để kết nối những người yêu, đam mê cà phê trên toàn thế giới.  Theo kế hoạch, đến cuối năm 2008, Trung Nguyên sẽ mở thêm 3 quán cà phê nhượng quyền tại Singapore và sẽ tiếp tục mở mới khoảng 10 quán nhượng quyền theo mô hình mới tại TP.HCM và Hà Nội, đồng thời tiến hành chọn lọc và cải tạo, tái đầu tư nâng cấp các quán hiện tại để thống nhất đồng loạt về nhận diện, dịch vụ mô hình và các giá trị nội dung nhượng quyền trong và ngoài nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cà phê Trung Nguyên trực tiếp vào siêu thị nước ngoài      Vượt qua các bước thẩm định ngặt nghèo của  đơn vị kiểm định quốc tế, càphê hoà tan G7 của Trung Nguyên chính thức  vào hệ thống phân phối của tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Á E-Mart (Hàn  Quốc). Kế hoạch thâm nhập hệ thống siêu thị Costco (Mỹ) cũng đang được Trung Nguyên thực hiện.    Những ngày cuối năm 2011, hơn 400 công nhân nhà máy càphê hoà tan Trung Nguyên – G7 (Bình Dương) đang gắng sức ngày đêm sản xuất cho kịp đơn hàng. Thương hiệu càphê hoà tan G7 được cơ quan thẩm định quốc tế Bureau Veritas cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bán trực tiếp vào hệ thống siêu thị lớn nhất Hàn Quốc, E-Mart.  Một bước tới siêu thị Hàn  Bureau Veritas đã thẩm định hơn 20 tiêu chí từ chính sách, cơ sở hạ tầng trang thiết bị, công nghệ sản xuất, công tác nghiên cứu, thí nghiệm đến nguyên liệu, bao bì, thành phẩm và quy trình kiểm tra, kiểm soát, truy nguyên sản phẩm, vấn đề vệ sinh, môi trường, an toàn lao động… trước khi cấp giấy thông hành để G7 chính thức góp mặt vào E-Mart.  Ông Đỗ Đình Đức, giám đốc điều hành nhà máy càphê G7, nhớ lại những ngày “đối mặt” với vô số câu hỏi hóc búa mà nhân viên Bureau Veritas đặt ra: “Họ soi tỉ mỉ từng chi tiết, con người cho đến các thiết bị máy móc, cách vận hành nhà máy. Mỗi tiêu chí đưa ra đều có những bảng đánh giá riêng với từng câu hỏi”.  Riêng phần nguyên liệu, để vượt qua đánh giá của Bureau Veritas, kho bãi của G7 đáp ứng quy định về diện tích, nhiệt độ. Nhân sự có kinh nghiệm quản lý; đảm bảo quá trình kiểm tra, kiểm soát trước khi nhập kho, xuất kho và phân loại hàng hoá. Và phải thực hiện đầy đủ cả quy định kiểm soát đầu ra, đầu vào; lưu giữ hồ sơ truy xuất; lưu giữ mẫu mỗi lần xuất ba tháng…  “Họ yêu cầu nguyên liệu từ lúc nhập kho cho đến khâu ra thành phẩm đóng container phải có hệ thống camera giám sát và tất cả phải lưu lại để kiểm chứng khi cần”, ông Đức nói thêm. Theo ông Đức, các bước đánh giá tuy không quá khó, nhưng tỉ mỉ và nó luôn đặt cán bộ công nhân nhà máy ở trong tình trạng phải ý thức đến từng khâu nhỏ nhất trong quá trình vận hành.  Hướng đến siêu thị Mỹ          E-Mart là hệ thống bán lẻ hàng đầu của Hàn  Quốc và cả châu Á, nổi tiếng cung cấp các mặt hàng nông sản chất lượng.  Từ tháng 5.2011, E-Mart tách ra khỏi tập đoàn Shinsegae có 80 năm kinh  nghiệm để trở thành nhà phân phối độc lập. Hệ thống E-Mart là mô hình  siêu thị hiện đại, có những khu mua sắm tại trung tâm thương mại, sân  bay. E-Mart cũng tấn công mạnh vào thị trường Trung Quốc. Đến tháng  1.2011, đã có 27 cửa hàng và mục tiêu trong tương lai sẽ trở thành tập  đoàn bán lẻ toàn cầu.        Ông Đỗ Đình Đức khẳng định nhà máy càphê G7 đã đạt tất cả những tiêu chuẩn khắt khe của hệ thống kiểm soát chất lượng thế giới chứ không phải đến khi Bureau Veritas vào đánh giá mới đủ tiêu chuẩn vào E-Mart. “Chúng tôi đang xuất khẩu khá mạnh càphê G7 sang thị trường các nước châu Âu, Mỹ, châu Á”, ông Đức nói. Nhưng ông đánh giá, việc G7 thâm nhập được vào E-Mart có ý nghĩa rất lớn đối với Trung Nguyên vì nó khẳng định chất lượng và vị thế của thương hiệu G7 nói riêng và càphê Việt Nam nói chung trên thị trường thế giới.  Không chỉ dừng lại ở E-Mart, G7 còn đang nhắm đến tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ là hệ thống siêu thị Costco. “Mình phải làm để thế giới biết đến mình”, đó là tham vọng mà ông Đức chia sẻ. Ngoài ra ông cũng tiết lộ rằng tháng 10.2011, công ty giám định chất lượng quốc tế SGS đã cấp giấy chứng nhận G7 đạt tiêu chuẩn vào Costco. Tuy nhiên sau đó lại bị một đơn vị giám định độc lập quốc tế khác là STR (Specialized Technology Resources, Inc) “đánh trượt” vì nhà máy chưa đạt các tiêu chí liên quan đến “trách nhiệm xã hội”.  Ông Đức kể: hôm đó có hai nhân viên STR xuống nhà máy làm việc, bảo vệ cấp thẻ nhưng nghĩ rằng hai người cùng một công ty nên chỉ kiểm tra giấy tờ của một người, thế là chúng tôi bị đánh trượt vì khâu kiểm soát an ninh không chặt chẽ. Hay như quy định công nhân nếu vào nhà máy sớm hơn giờ làm chính thức thì phải được tính thêm tiền ngoài giờ và tuyệt đối không được làm tăng ca. “Đây là những quy định rất khó thực hiện vì hiện nay công nhân ở hầu hết doanh nghiệp thường vào nhà máy trước mười, mười lăm phút”, theo ông Đức.  Tuy nhiên, gạt ra ngoài tất cả những khó khăn chưa thực hiện được, Trung Nguyên vẫn nuôi tham vọng lấy bằng được giấy thông hành vào Costco trong năm 2012. Bởi với Trung Nguyên, việc xuất khẩu trực tiếp vào hệ thống bán sỉ của Mỹ và Hàn Quốc là cơ hội quảng bá thương hiệu G7 ra toàn cầu. Đặc biệt, vào được siêu thị Mỹ là bảo chứng cho việc mở rộng phát triển thị phần, từ đó lan toả đến những thị trường khác ở châu Âu, Mỹ, châu Á…            Costco là tập đoàn được thành lập năm 1983,  đứng thứ 3 của Mỹ về bán sỉ và thứ 8 trên toàn thế giới (2010). Costco  tập trung vào việc bán sản phẩm với giá thấp, và khối lượng rất cao.  Hiện Costco có gần 600 cửa hàng tập trung chủ yếu tại Mỹ (hơn 400) và  một số thị trường châu Âu (Canada, Anh), Nhật Bản, Hàn Quốc. Doanh số  năm năm 2010 đạt khoảng 77,9 tỉ đôla Mỹ (2010). Costco mua hàng không rẻ  hơn giá mua của các hệ thống khác, nhưng họ bán giá thấp nhất, giá sỉ  nên mức lời rất thấp. Vì giá thấp và có uy tín về chất lượng, hậu mãi,  nên họ có số hội viên cao nhất.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Cà phê và sự phát triển bền vững      Mô hình cà phê – nấm – gia súc là một mô hình bền vững đúng  nghĩa vì giúp bảo vệ môi trường nhờ giảm thải tối đa, đồng thời tăng  thu nhập, mang lại nhiều việc làm và góp phần bảo đảm an ninh lương  thực. Nếu như các “vua cà phê” có thể trích một phần doanh thu đáng kể  để hỗ trợ những cộng đồng trong vùng trồng cà phê theo mô hình nói trên,  thì họ là những nhà doanh nghiệp xã hội thực sự, chớ không thuộc nhóm  lãnh đạo kinh tế sùng bái tiền và quyền, thỉnh thoảng trích một số tiền  nhỏ cho hoạt động xã hội.    Cuối thế kỷ 20, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nhiều cà phê thứ hai trên thế giới, rồi đạt vị trí hàng đầu trong vụ mùa 2011/2012 với sản lượng 1,6 triệu tấn.  Tuy nhiên, vì kém chất lượng nên cà phê nước ta không đem lại hiệu quả kinh tế cao.  Hơn nữa, việc di cư không kiểm soát đến Tây Nguyên, phá rừng để mở rộng diện tích trồng cà phê không những hủy hoại môi trường sinh thái và đa dạng sinh học mà còn gây bất an cho một số cộng đồng truyền thống ở địa phương.   *  Khi nhấp nháp ly cà phê, có khi nào bạn nghĩ quá trình chế biến trái cà phê thành thứ nước uống có tác dụng tốt ấy đã loại bỏ bao nhiêu chất thải? Bạn sẽ rất ngạc nhiên nếu biết rằng cơ thể bạn chỉ hấp thụ 0,2 % khối lượng cà phê nhân, còn gần như toàn thể sinh khối của nó bị thải loại dưới dạng bã cà phê. Nhưng để lấy nhân, trước đó người ta phải tách bỏ lớp thịt quả và vỏ thóc của hạt chiếm gần phân nửa khối lượng trái cà phê.        Như vậy, số phận của 99,9 % sinh khối trái cà phê sẽ ra sao? Với sản lượng cà phê từ một vụ mùa vượt quá một triệu tấn, mỗi năm ở Việt Nam có hơn năm trăm ngàn tấn thịt quả bị để thối rữa, gây ô nhiễm khá nặng nề cho môi trường nước và phát thải một lượng lớn khí nhà kính mêtan. Chỉ một phần nhỏ thịt quả được chế biến thành thức ăn gia súc bằng cách ủ men  và một ít bã cà phê rải quanh gốc cây làm phân bón. Trong khi đó, trên thế giới đã có những công nghệ tiên tiến sử dụng nguyên liệu là chất thải cà phê.    Mô hình cà phê, nấm và gia súc      Đầu thế kỷ 21, nấm đã vượt qua cà phê, trở thành mặt hàng trao đổi nhiều thứ hai trên thế giới, chỉ sau dầu thô. Nấm mọc trên lignocellulose. Đó lại là thành phần chủ yếu của chất thải phát sinh với số lượng khổng lồ (23,5 triệu tấn trong năm 2008 trên toàn cầu) trong quá trình biến đổi từ trái cà phê đến thức uống được ưa chuộng. Vì thế, việc kết hợp nấm với chất thải cà phê gần như là một điều hiển nhiên và đã được phát triển thành một mô hình tương tự như một hệ sinh thái, nghĩa là một hệ thống trong đó chất thải của loài sinh vật này là dưỡng chất cho một loài khác. Đó là công trình của nhiều nhà khoa học, doanh nhân tài giỏi và đầy nhiệt huyết.    Năm 1990, Giáo sư Shuting Chang thuộc Đại học Trung Hoa ở Hương Cảng đã chứng minh rằng cà phê là một cơ chất lý tưởng cho việc canh tác nấm, nhất là nấm sò và nấm đông cô tươi. Ngay cả linh chi, loại nấm thuốc được đánh giá cao, cũng phát triển tốt trên bã cà phê. Từ năm 1997, chị kỹ sư hóa người Colombia Carmenza Jaramillo đã dành sáu năm nghiên cứu cách trồng nấm nhiệt đới trên mọi chất thải từ cà phê: cành nhánh, lá, vỏ cây, vỏ thóc và bã.    Mặt khác, nghiên cứu thực hiện bởi TS Ivanka Milenkovic từ Đại học Belgrade đã xác định phần thể sợi còn lại dưới mặt đất sau khi thu hoạch quả thể hay tai nấm (tức phần ăn được thường gọi là nấm) có thể dùng làm thức ăn chất lượng cao cho gia súc và lượng thịt hay sữa sản xuất bằng cách ấy không bị giảm sút. Người ta cũng có thể ủ cơ chất đã sử dụng thành phân bón.    Tóm lại, trong mô hình trên đây, chất thải cà phê được dùng làm cơ chất trồng nấm; nấm cung cấp thực phẩm cho người và thức ăn gia súc hay phân ủ hữu cơ chất lượng cao. Nếu còn dùng phân hữu cơ hay phân gia súc để bón cây thì đó là một hệ thống khép kín hầu như không phát thải.    Nhiều chương trình trồng nấm theo mô hình ấy đã được thực hiện thành công ở nhiều nước: Ấn Độ, Colombia, Zimbabwe… và ngay cả ở San Francisco và Berlin. Riêng bang El Huila của Colombia có hơn 100 công ty sản xuất nấm từ cà phê, giúp thay thế những loại cây chứa chất ma túy bằng thực phẩm bổ dưỡng.     Tính bền vững của mô hình cà phê, nấm và gia súc    Ngoài sự giảm thiểu tác động môi trường, việc thực hiện mô hình nói trên còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế – xã hội đáng kể. Người ta ước tính mỗi mẫu Anh (khoảng 0, 405 héc ta) trồng cà phê có thể đem lại việc làm cho hai người, với nguồn nguyên liệu miễn phí là thịt quả. Hiện nay, cả nước ta trồng 550.000 héc ta cà phê, do đó có tiềm năng tạo thêm hơn 1.350.000 việc làm (toàn thế giới: 50 triệu, hoặc 100 triệu nếu sử dụng cả xác trà, cùi bắp, rơm rạ, lục bình, cành nhánh từ vườn cây: những loại sinh khối cũng được chứng minh là thích hợp). Đó là việc làm ở những vùng trồng cà phê. Ở thành phố, nơi có nhiều tiệm cà phê, còn có khả năng trồng nấm trên bã cà phê. Theo nhà doanh nghiệp Hoa Kỳ Nikhil Arora, “chỉ cần tám đến mười tiệm cà phê cũng đủ để lập một đơn vị sản xuất nấm, mỗi đơn vị có thể tạo ra mười việc làm.” Rất tiếc chưa có thống kê về số tiệm cà phê ở Việt Nam nên không thể tính được tiềm năng việc làm trong phạm vi này, nhưng ước tính tiềm năng trên toàn thế giới là 100.000 việc. Sử dụng bã cà phê còn có ưu điểm là nó đã được khử trùng bởi nước sôi hay hơi nước nóng nên “có thể tiết kiệm 80% chi phí năng lượng cần cho việc chuẩn bị cơ chất trồng nấm”, theo Alex Velez, người cùng Nikhil Arora thực hiện dự án Back to the Roots Venture. Hơn nữa, nhờ tác dụng kích thích của lượng cafêin còn lại trong bã, nấm sẽ mọc nhanh gấp hai, ba lần bình thường.  Những tác nhân thay đổi  Có mô hình tốt nhất nhưng thiếu những con người tích cực áp dụng nó và phổ biến rộng rãi thì cũng chẳng ích gì. Tiêu biểu trong trường hợp của chúng ta là những doanh nhân và nhà hoạt động xã hội trẻ: Carmenza Jaramillo, Chido Govero, Nikhil Arora, Alex Velez.        Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng việc trồng nấm trên chất thải cà phê, chị Carmenza đã thành công trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế, tập huấn và khích lệ những phụ nữ khác thành lập doanh nghiệp vi mô. Đến 2004, nhờ các chương trình tập huấn của chị, khoảng mười ngàn gia đình đã có thêm thu nhập và thực phẩm bổ dưỡng.         Còn ở Zimbabwe, cô bé mồ côi cha mẹ từ khi lên bảy Chido Govero đã học cách trồng nấm trên chất thải nông nghiệp lúc mười hai tuổi. Sau vài tháng, Chido đã thoát nghèo và có khả năng tự túc. Rồi Chido được học bỗng của quỹ ZERI (Zero Emission Research Initiative)  để học hai năm tại Đại học châu Phi ở thành phố Mutare (Zimbabwe) và nắm vững kỹ thuật nuôi cấy mô nấm. Chido chia sẻ kinh nghiệm của mình với những cô bé mồ côi khác, dạy chúng cách trồng nấm trên chất thải nông nghiệp sẵn có ở địa phương, kể cả lục bình, một loài xâm hại mọc tràn lan gần khắp châu Phi. Nhờ nguồn cảm hứng và sự hướng dẫn tận tâm của Chido, những đứa trẻ đáng thương ấy đã học được kỹ năng xây dựng một tương lai tốt đẹp, tự tạo ra sinh kế và đồ ăn thức uống cho mình. Chido nguyện sẽ hoạt động không ngừng nghỉ cho tới khi nào không còn những bé gái mồ côi có nguy cơ bị lợi dụng nữa.       Năm 2009, Chido Govero và Carmenza Jaramillo đã đại diện quỹ ZERI phát biểu tại hội nghị của Hiệp hội Cà phê Thượng hạng châu Mỹ (Specialty Coffee Association of America) tổ chức ở thành phố Atlanta (bang Georgia, Hoa Kỳ) và nhận giải Bền Vững của hiệp hội này. Sau đó, họ đi San Francisco (bang California) tập huấn về cách thức biến đổi bã cà phê thành môi trường trồng nấm lý tưởng; hai trong số những học viên của họ là Alex Velez và Nikhil Arora. Rồi họ đến thành phố Marin gần đó để tiếp tục phổ biến kiến thức chuyên môn của mình. Không những giúp hàng ngàn trẻ mồ côi và hộ nghèo ở Zimbabwe, Colombia và những nước đang phát triển khác, hai phụ nữ trẻ ấy còn dạy người Mỹ phương pháp trồng nấm tiên tiến nữa! Tại sao không?        Arora và Velez sáng lập công ty Back to the Roots (BTTR) Venture thu thập bã cà phê từ những tiệm trong vùng vịnh San Francisco để làm cơ chất trồng nấm. Họ sản xuất và cung cấp nấm sò và phân ủ cơ chất đã sử dụng, cũng như những bộ trồng nấm tại nhà cho thị trường địa phương. Như vậy, BTTR Venture hoạt động hoàn toàn không có chất thải, và hai sáng lập viên đã giành được nhiều giải thưởng, như giải nhì trong cuộc thi toàn cầu World Challenge do đài BBC và tạp chí Newsweek tổ chức với mục đích tìm những dự án hay doanh nghiệp nhỏ có tính sáng tạo (2009) và giải “25 nhà doanh nghiệp dưới 25 tuổi” của tập san Businessweek (2010).        Mô hình cà phê – nấm – gia súc được thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế giới là một mô hình bền vững theo đúng nghĩa của từ. Nó giúp bảo vệ môi trường nhờ giảm thải tối đa, đồng thời tăng thu nhập, mang lại nhiều việc làm và góp phần bảo đảm an ninh lương thực. Nếu như các “vua cà phê” với tham vọng tạo thương hiệu đứng đầu thế giới có thể trích một phần doanh thu đáng kể để hỗ trợ những cộng đồng trong vùng trồng cà phê theo mô hình nói trên, thì họ là những nhà doanh nghiệp xã hội thực sự, chớ không thuộc nhóm lãnh đạo kinh tế sùng bái tiền và quyền, thỉnh thoảng trích một số tiền nhỏ cho hoạt động xã hội.  Tài liệu tham khảo     Govero, Chido: The Future of Hope. Second revised edition. Published by the ZERI Foundation. 2009.  Nguyễn Thùy Châu (nhóm nghiên cứu thuộc Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch): Nghiên cứu công nghệ sản xuất thịt quả cà phê lên men làm thức ăn gia súc. Agroviet 12/05/2009 (theo TTXVN).  Pauli, Gunter: The Blue Economy – 10 years 100 innovations 100 jobs. A report to the Club of Rome. Paradigm Publications; Taos, New Mexico 2010.  Phạm Hải Hồ: Từ điển phát triển bền vững Việt – Anh – Đức và Anh – Việt – Đức. Nhà xuất bản Giáo dục TP. Đà Nẵng, 2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cà phê Việt Nam và giấc mơ chinh phục cả thế giới      Cà phê Robusta của Việt Nam có vị đắng,  không được nhiều người dùng thế giới đón nhận và càphê thường chỉ được  xuất khẩu dưới dạng hạt thô. Nhưng ông chủ tập đoàn Trung Nguyên Đặng Lê  Nguyên Vũ đang ôm giấc mộng chinh phục thế giới bằng loại càphê “đậm  đà” này, như chia sẻ của ông với AFP.    “Việt Nam là một hiện tượng kinh ngạc”  Phần lớn các nông dân trồng càphê Việt Nam chưa từng nghe thấy cụm từ cà phê “skinny latte,” nhưng họ có thể nói cho bạn biết rõ giá cà phê hạt, vốn đã theo chân họ vào trong giấc ngủ.  Từ việc áp dụng hệ thống tưới tiêu do Israel cung cấp cho tới việc nhận tin nhắn cập nhật giá càphê toàn cầu, hoạt động trồng cà phê ở Tây Nguyên của Việt Nam đã tiến một bước dài từ thời thực dân Pháp lần đầu mang hạt càphê tới đây cách nay hơn 1 thế kỷ.  “Tôi thường chở càphê tới chợ bằng xe đạp” – nông dân Ama Diem, 44 tuổi, cho biết – “Giờ tôi kiểm tra giá cà phê ngay trên điện thoại”.  Thông qua việc nhắn tin “CA” tới số 8288 từ bất kỳ chiếc điện thoại di động nào ở Việt Nam, nông dân lập tức nhận được một tin nhắn thông báo giá cà phê Robusta ở London và giá cà phê Arabica tại thị trường New York từ một công ty cung cấp dữ liệu.  Nông dân biết rõ rằng giá cà phê, loại hàng hóa được buôn bán nhiều thứ hai thế giới chỉ sau dầu lửa, có thể dao động rất nhanh.  “Chúng tôi chỉ đưa cà phê tới chợ khi chắc chắn sẽ có giá cao” – Diem nói với AFP tại nông trường của ông ở thủ đô càphê Buôn Ma Thuột – “Chúng tôi rất hay kiểm tra giá cà phê”.  Các nông dân cà phê Việt Nam đã thay đổi thị trường toàn cầu. Nếu bạn uống một cốc cà phê trong sáng nay, nhiều khả năng bạn đang tiêu thụ vài hạt cà phê Việt Nam, thông qua các công ty như Nestle hay Costa Coffee của Anh.  Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đi từ chỗ cung cấp chưa đầy 0,1% càphê cho thế giới trong năm 1980 lên mức 13% trong năm 2000. Đây là một mức tăng trưởng ấn tượng, có được một phần nhờ sự sụp đổ giá cà phê toàn cầu trong những năm 1990.  Việt Nam giờ là nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới, nhưng lại chỉ đứng ở nhóm đầu về sản lượng thay vì chất lượng. Loại cà phê Robusta của Việt Nam có vị đắng không được nhiều người dùng thế giới đón nhận và cà phê thường chỉ được xuất khẩu dưới dạng hạt thô.  Mặc dù vậy, hoạt động sản xuất cà phê ở Việt Nam vẫn được đánh giá cao. “Việt Nam là một hiện tượng kinh ngạc” – Jonathan Clark, tổng giám đốc công ty xuất khẩu cà phê Dakman nhận xét.  Ông nói rằng hoạt động xuất khẩu tăng vọt trong năm ngoái tới chỗ gần bằng đối thủ Brazil, nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới. Năm ngoái, Việt Nam xuất khẩu 1,73 triệu tấn cà phê, trị giá khoảng 3,67 tỷ USD và chiếm hơn 50% lượng cà phê Robusta của thế giới, vốn được sử dụng trong cà phê uống liền và các loại cà phê pha trộn khác.  Theo Clark, hoạt động tiêu thụ cà phê ở châu Á đang tăng lên và các nhà chế biến cà phê đang hướng tới Việt Nam, nơi gần như không đánh thuế lên hoạt động xuất khẩu cà phê, để thiết lập hoạt động kinh doanh nhằm tăng cường sự hiện diện trong khu vực.  Cuộc chiến “Trung Nguyên vs Starbuck”  Theo Jinlong Wang, chủ tịch công ty Starbucks Asia Pacific, trong khi hoạt động tiêu thụ cà phê đang ì ạch ở phương Tây thì Việt Nam, với một tầng lớp trung lưu đang tăng lên và nơi đây có tình yêu cà phê kéo dài, lại chứa các cơ hội khổng lồ.  Starbucks, công ty mới mở cửa hàng đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh vào tháng 2 vừa qua, nói rằng họ sẽ mở thêm hàng trăm cửa hàng khác trong tương lai gần ở Việt Nam. Công ty đánh giá Việt Nam là thị trường “năng động, thú vị”.  Các vùng đất đỏ có nguồn gốc từ dung nham núi lửa ở Việt Nam rất hợp với việc trồng cà phê. Theo “vua cà phê” Việt Nam Đặng Lê Nguyên Vũ, dù thế giới thích uống cà phê Arabica với lượng caffeine chiếm 1,5% thành phần,  họ nên thử qua loại cà phê Robusta với lượng caffeine là 2,5%.  Vị sáng lập viên tập đoàn cà phê Trung Nguyên của Việt Nam, với 55 cửa hàng ở trong nước và 5 ở Singapore, rất đam mê với việc đẩy mạnh cà phê Robusta của Việt Nam ra thế giới.  “Robusta không phải loại cà phê có chất lượng thấp hơn. Chỉ đơn giản là trên toàn cầu, người ta đã quen với việc uống càphê Arabica” – ông Vũ nói với AFP trong một cuộc phỏng vấn tại Buôn Ma Thuột.  Một phần lớn trong hoạt động của công ty hiện là tăng chất lượng của các hạt cà phê địa phương, thông qua việc hợp tác với các nông dân để lắp đặt hệ thống tưới tiêu công nghệ cao, giảm lượng thuốc trừ sâu được sử dụng và giúp làm tăng thu nhập của nông dân.  Trung Nguyên hiện đã xuất khẩu sản phẩm sang 60 nước và Vũ nói rằng việc Starbucks xuất hiện ở Việt Nam đã làm tăng quyết tâm của ông trong việc mở các quán cà phê tại Mỹ, nhằm mang tới cho người dùng cơ hội thưởng thức loại cà phê pha phin có vị đậm và mạnh truyền thống của Việt Nam.  “Chúng tôi phải vượt qua được Starbucks. Chúng tôi phải mang tới thứ gì đó hấp dẫn hơn cho người tiêu dùng Mỹ” – ông Vũ nói – “Tôi muốn thế giới hiểu rằng cà phê Việt Nam là loại cà phê ngon nhất, sạch nhất và đặc biệt nhất”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá tra Việt Nam được khuyến nghị tiêu dùng ở Thụy Điển và Phần Lan      Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt  Nam (VASEP) dẫn nguồn tin từ Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy  Điển cho hay, hai quốc gia Thụy Điển và Phần Lan đã đưa cá tra Việt Nam  vào “danh sách xanh” trong Cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản.    Cụ thể, bà Ingar Näslund, quyền Trưởng Bộ phận Thủy sản của WWF Thụy Điển cho biết, WWF Thụy Điển vừa điều chỉnh phiên bản tóm tắt mới nhất của Cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản. Theo đó, cá tra Việt Nam được đưa vào “danh sách xanh” trong Cẩm nang này.  “Danh sách xanh” được hiểu là những sản phẩm thủy sản tốt cho sức khỏe, được WWF khuyến nghị với người dân nên tin dùng.  Trước đó, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển đã chuyển thông tin đến WWF Thụy Điển về việc ngành cá tra Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu đề ra cho năm 2012 là có 10% sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC và đang phấn đấu đến năm 2015 có 100% sản phẩm đạt một trong số các chứng nhận nuôi có trách nhiệm, trong đó 50% đạt chứng nhận ASC.  Trên cơ sở đó, WWF Thụy Điển đã xem xét lại và đưa cá tra Việt Nam vào “danh sách xanh” trong Cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản.  Ông Trương Đình Hòe – Tổng Thư ký VASEP – cho biết, việc cá tra Việt Nam lọt vào “danh sách xanh” sẽ giúp cá tra Việt Nam có thêm cơ hội để tăng uy tín cũng như sắp xếp lại giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây là bước khởi sắc ban đầu cho hoạt động xuất khẩu cá tra trong tình hình nhiều khó khăn hiện nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các bản đồ sao khổng lồ tiết lộ lịch sử bí ẩn của Ngân hà      Các bản đồ sao khổng lồ tiết lộ lịch sử bí ẩn của Ngân hà      Tháng 4/2018, Amina Helmi cảm thấy nổi da gà khi lái xe ở Bắc Hà Lan, không vì lý do thời tiết mà vì những dự đoán. Vào vài ngày trước, một dòng thác dữ liệu từ Gaia – một dự án của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) với nhiệm vụ lập bản đồ dải Ngân hà trong vòng 5 năm. Nhà thiên văn học ở trường đại học Groningen và nhóm nghiên cứu của mình đã bước vào cuộc chạy đua xử lý dữ liệu này để có được cái nhin thấu suốt về dải Ngân hà trước những người khác.  Thúc đẩy tiến độ công việc đến mức còn không đủ thời gian phấn khích, Helmi và cộng sự cảm thấy mình đang chuẩn bị làm ra điều gì đó thật sự có ý nghĩa. Họ đã điểm ra một tập hợp khoảng 30.000 ngôi sao “sống ngoài vòng pháp luật”. Không giống như những vật thể chính tại trục chính của dải Ngân hà, vốn đi theo quỹ đạo hình đĩa phẳng một cách tương đối, những ngôi sao này chuyển động theo chiều ngược lại, theo những quỹ đạo mang chúng ra khỏi bề mặt của thiên hà này.  Trong vòng vài tuần, họ đã tìm hiểu về những ngôi sao sáng này để có thể điểm ra một chương hỗn độn đặc biệt và còn bị che dấu trong thời gian dài trong lịch sử của dải Thiên hà: một cuộc phá hủy xảy ra giữa thiên hà trẻ và kẻ xâm lược. Con quái vật đó từng chuyển động quanh dải Ngân hà như một hành tinh quanh một ngôi sao nhưng vào khoảng 8 tỷ đến 11 tỷ năm trước, cả hai đã va chạm, dẫn đến làm thay đổi đĩa sao thiên hà và phân tán các ngôi sao ra xa và rộng. Đó là cuộc va chạm lớn gần nhất mà người ta biết là Ngân hà đã trải qua trước khi nó được giả định là có hình tương tự hình xoắn ốc như ngày nay.  Dẫu cho dấu hiệu của cuộc va chạm cổ xưa vẫn còn bị dấu kín trước cái nhìn hiện tại về quá khứ hàng tỷ năm trước, thì bộ dữ liệu của Gaia mà các nhà thiên văn cuối cùng có được có khả năng  giúp dò được ra nó. “Thật không thể tin được là chúng ta có khả năng tìm ra những dấu mốc trong lịch sử của dải thiên hà này,” Helmi nói.  Rất nhiều khám phá lớn có được là nhờ Gaia. Nhiệm vụ này có mục tiêu lập được catalogue của hơn 1 tỷ ngôi sao định xứ, lập biểu đồ về độ sáng, nhiệt độ, tuổi, vị trí và tốc độ của chúng. Có hai tính chất cuối cùng đặc biệt phù hợp với các nhà thiên văn học: trước Gaia, các nhà khoa học thiếu những cách đo đạc với độ chính xác cao về khoảng cách tới các ngôi sao này cũng như những gì được biết như chuyển động riêng, hay chuyển động của một ngôi sao qua bầu trời. Bằng việc sử dụng thông tin quyết định này, các nhà nghiên cứu có thể – như Helmi và đồng nghiệp của mình- đã săn tìm các nhóm gồm những vật thể di chuyển cùng nhau trong những quỹ đạo phối hợp để truy ra lịch sử chung. Các tốc độ của sao có thể giúp các nhà thiên văn truy dấu ảnh hưởng của vật chất tối – thứ vật chất huyền thoại và chưa được nhìn thấy nhưng chiếm phần lớn khối lượng của dải Ngân hà và bẻ cong các phần của những ngôi sao bằng lực hấp dẫn của chúng.  Hàng trăm công bố đã được xuất bản kể từ khi dữ liệu của Gaia được đưa ra vào tháng 4/2018. Chúng đã vẽ ra một bức tranh về dải Ngân hà với nhiều động năng và phức tạp hơn những gì các nhà khoa học vẫn hình dung trước đây. Dải Ngân hà đang tràn ngập những điều bất ngờ, bao gồm những dấu vết của các khối vật chất tối có thể giúp các nhà khoa học có hiểu biết tốt hơn về các tính chất của loại vật chất vẫn còn chưa rõ ràng này.  Một quá khứ bị phá hủy  Hệ Mặt trời nằm ở vùng ngoài của dải Ngân hà, cách trung tâm thiên hà này 8.000 parsec (26.000 năm ánh sáng), trên nhánh xoắn ốc thứ hai của thiên hà mang tên Orion. Chính từ vị trí này, ngắm dải sao khổng lồ kéo dài vắt qua bầu trời đêm, các nhà thiên văn học đã lập ra bản đồ cấu trúc dải Ngân hà của chúng ta. Vào giữa thế kỷ 19, họ đã vẽ ra một bức tranh hình bàn chải rộng, xác định các ngôi sao của dải Ngân hà được phân bố trong một vùng phình rộng ở trung tâm, được bao bọc bằng những nhánh sao xoắn ốc và bao quanh bằng một quầng xoắn ốc mỏng. Vào những năm 1970 và 1980, các nhà nghiên cứu đã suy luận cấu trúc này được tạo dựng trong vòng hàng triệu năm như thế nào, bắt đầu với một đám mây vật chất tối, khí và bụi sao vô cùng lớn. Các hợp phần không nhìn thấy được này sụp đổ thành một cấu trúc hình đĩa, vốn sau đó được tập hợp lại bằng việc “nghiến ngấu” các thiên hà vệ tinh nhỏ hơn. Các nhà thiên văn sau đó đã có thêm các chi tiết bằng việc sử dụng các kính viễn vọng mặt đất để chụp ảnh toàn bộ bầu trời nhiều lần. Nhiều cuộc điều tra cho phép các nhà khoa học nhìn gần hơn các vật thể trong dải Ngân hà trên quy mô lớn như các quầng sao, nơi họ tìm thấy những tàn dư của các thiên hà đã bị kéo dài thành những dòng chảy vụn sao nổi tiếng.  Nhưng những cuộc điều tra được tiến hành từ mặt đất chỉ giúp các nhà thiên văn học thông tin về cấu trúc dải Ngân hà, chủ yếu bởi vì thiếu chính xác do bầu khí quyển hỗn loạn của trái đất làm giới hạn cách tính khoảng cách đến các ngôi sao. Và dẫu cho tốc độ tại điểm các ngôi sao chuyển động hướng về phía trái đất hay xa trái đất có thể được đo đạc bằng sự thay đổi màu sắc, sắp xếp chuyển động thích hợp của chúng –  và vì rất khó xác định  tốc độ ba chiều đầy đủ của chúng bởi phần lớn các vật thể chuyển động rất chậm qua bầu trời theo cách tính thời gian của con người. Vấn đề này đã che khuất mối liên hệ giữa nhiều sao – những liên kết có thể được tiết lộ bằng những tương đồng trong các chuyển động của chúng.    Nhiệm vụ Gaia có tổng kinh phí đầu tư 740 triệu euro (tương đương 844 triệu USD), vốn được thông qua vào năm 2000 và được phóng 13 năm sau, được thiết lập để lấp đầy những khoảng trống kiến thức này. Quỹ đạo của mặt trời xa hơn trái đất một chút, tàu vũ trụ này chụp lấy những ngôi sao giống nhau từ nhiều vị trí khác nhau trong quỹ đạo của chúng. Nó cho phép các nhà thiên văn đo đạc được khoảng cách thông qua một đại lượng gọi là thị sai sao – những dịch chuyển vô hạn trong vị trí rõ ràng của một vật thể trong bầu trời đi kèm với một thay đổi trong phối cảnh. Vệ tinh Hipparcos của ESA, được vận hành từ năm 1989 đến năm 1993, thu thập được dữ liệu thị sao tương tự nhưng sự chính xác của Gaia ở mức 100 lần cao hơn. Và phải cảm ơn độ nhạy, nó có thể chứng minh độ sâu hơn của quan sát dải thiên hà này: khoảng 99% của hơn 1 tỷ ngôi sao được quan sát chưa từng xác định được khoảng cách chính xác của chúng.  Các nhà nghiên cứu của Gaia đã xây dựng một sơ đồ vị trí của từng ngôi sao liên kết với từng sao khác mà kính viễn vọng có thể quan sát được. Nó cho phép nhóm nghiên cứu đo đạc được các ngôi sao có vẻ như di chuyển qua bầu trời như thế nào – chuyển động thích đáng của chúng. Sau đó bằng việc đo đạc những thay đổi luân phiên nhỏ trong màu sắc của các ngôi sao này, các nhà thiên văn đã nhận được một chỉ dấu về cách các vật thể này di chuyển gần hoặc xa khỏi vệ tinh nhanh như thế nào suốt theo tuyến đường của nó. Sự kết hợp của hai phép đo, cộng thêm các khoảng cách được tính toán từ Gaia, đã đem lại một chuyển động ba chiều đầy đủ của các ngôi sao này. Gaia có thể đo đạc được tuyến đường chuyển động này cho những ngôi sao sáng nhất nhưng những kính viễn vọng mặt đất sẽ giúp đọc được cả các ngôi sao còn lại. Biết thêm về địa điểm mỗi ngôi sao đang tọa lạc và địa điểm nó sẽ di chuyển cho phép các nhà nghiên cứu gỡ ra những điều còn dấu kín trong lịch sử dải Ngân hà.  Có nhiều trường hợp va chạm cổ xưa được Helmi và cộng sự điều tra ra. Trong công trình của họ, bằng chứng về cuộc “hội ngộ” của các ngôi sao mà họ điểm ra cùng có một nguồn gốc chung dựa trên dữ liệu từ Sloan Digital Sky Survey (SDSS) ở New Mexico, đã chứng tỏ các thành viên của tập hợp sao này đều có một hợp chất hóa học tương tự nhau. Họ đã chọn cái tên Gaia-Enceladus để gọi thiên hà lùn này.  Belokurov và cộng sự đã tìm thấy bằng chứng về sự va chạm khi sử dụng thông tin từ dữ liệu ban đầu mà Gaia thông báo vào năm 2016. Dữ liệu này không bao gồm các chỉ số chuyển động phù hợp  nhưng bằng việc so sánh vị trí của sao trong bộ dữ liệu với những quan sát của SDSS có được trong vòng 1 thập kỷ, nhóm nghiên cứu có thể thấy các ngôi  sao chuyển động trong thời gian không liên tục như thế nào. Họ nhận thấy một nhóm vật thể dịch chuyển cùng nhau trong những quỹ đạo lệch tâm, có thể cuối cùng đưa chúng khỏi trung tâm ra những vùng rìa Ngân hà. Dường như bắt nguồn từ một cuộc va quệt lớn, lịch sử được chia sẻ giữa chúng đã được biểu hiện bởi những tương đồng trong thành phần kim loại. Nhóm nghiên cứu đã coi Gaia Sausage, một thiên hà lùn cổ xưa, từng là ngôi nhà của các sao.  Cái tên kép này dẫn đến một vài bối rối trong cộng đồng thiên văn học. Nhưng dẫu gọi tên “thủ phạm” bằng bất cứ thứ gì thì cuộc sáp nhập cổ đại có thể được coi là manh mối dẫn đến huyền thoại Dải Ngân hà. Đĩa thiên hà này có hai hợp phần – một đĩa sao mỏng bên trong chứa khí, bụi sao và các sao trẻ như phần kem nhồi đầy một cái bánh Oreo, phần giữa là một đĩa sao dày chứa hầu như toàn bộ các sao già. Các nhà thiên văn từng tranh cãi liệu cái đĩa sao dày xuất hiện trước với khí và bụi ngưng tụ để hình thành một cái lõi mỏng hơn, hay liệu đĩa sao dày bắt đầu với một đĩa mỏng được phình ra theo thời gian. Bởi vì Gaia-Enceladus-Sausage là một phần đầy ý nghĩa với kích thước của dải Ngân hà trong suốt thời gian diễn ra cuộc va chạm, nó có thể lưu giữ và đưa một nguồn năng lượng cực lớn vào trong đĩa sao Ngân hà, làm nóng và trải rộng nó. Nhóm của Helmi coi đó như một dấu hiệu thú vị của kịch bản dẫn đến sự phình ra của Ngân hà, và là bằng chứng của một sự xoắn vặn đầy kịch tính ở thiên hà này.  Bùng nổ thông tin và kiến thức  Nhà thiên văn học Kathryn Johnston tại trường đại học Columbia ở New York đã gợi lại không khí sôi nổi về một bài báo xuất bản sau khi dữ liệu Gaia được công khai vào tháng 4/2018, chứng tỏ chuyển động của 6 triệu sao gần mặt trời được sắp hàng trong một mẫu hình xoắn ốc khác thường na ná một vỏ ốc sên.  Johnston nhận xét, mẫu này dường như giống một dấu vân tay, do Sagittarius – một thiên hà vệ tinh nhỏ, đóng lên. Mọi thời điểm Sagittarius xuống gần hơn, nó làm xáo trộn các ngôi sao của Ngân hà bằng lực hấp dẫn, và điều đó có thể làm phát sinh những dao động và gợn sóng trong đĩa sao này. Trước đây, các nhà nghiên cứu từng phỏng đoán về những vết tích nhưng dấu hiệu trong dữ liệu Gaia dường như mới là tín hiệu thuyết phục và rõ ràng đầu tiên về ảnh hưởng của Sagittarius.  Phải cảm ơn các “cặp mắt” của Gaia, chúng đã có thể kể một câu chuyện khác biệt về quá khứ của dải Ngân hà. Trước đây, phần lớn các nhà thiên văn học đều cho rằng trong khi ngoại quầng của Ngân hà đã phải hứng chịu một lịch sử va chạm hỗn độn với các thiên hà vệ tinh nhỏ hơn, phần chính của nó vẫn sống một cuộc đời thần tiên lặng lẽ. Các đặc điểm như những cánh tay sao xoắn ốc và một vùng  sao dạng thanh chạy ngang phần phình rộng trung tâm về cơ bản được “gia cố” như những sản phẩm được tạo ra từ nội lực của dải Ngân hà. Nhưng những dao động dường như từ Sagittarius cho thấy rằng các ngoại lực tác động lên hình dạng của dải Ngân hà lớn hơn người ta vẫn tưởng trước đây.    Vẽ đồ thị mặt tối của Ngân hà    Lập bản đồ các vật thể phát sáng của dải Ngân hà có thể giúp tìm ra tung tích của vật chất tối, vốn chiếm tới hơn 90% khối lượng của dải thiên hà này. Các nhà lý thuyết nghi ngờ là thiên hà của chúng ta “ngồi” bên trong một quầng vật chất tối hình cầu cực lớn mà giống như các vật chất thông thường, kết lại thành những cấu trúc nhỏ hơn nhờ lực hấp dẫn. Các mô phỏng vũ trụ cho thấy hàng trăm cụm vật chất tối lớn đi vào quỹ đạo của dải Ngân hà, đôi khi bị một khối vật chất tối lớn ở trung tâm thiên hà hấp thụ, trong một quá trình na ná như việc nó “nuốt” các vệ tinh nhỏ có thể nhìn thấy được.    Các cấu trúc hạ tầng của vật chất tối được cho là chứa ít hoặc không chứa ngôi sao nào, khiến chúng trở nên khó dò hơn. Nhưng Gaia đã tìm thấy một gợi ý từ GD-1 – một luồng dài các ngôi sao được tìm thấy năm 2006 kéo dài qua một nửa bầu trời phía bắc. Vào tháng 11/2018, nhóm nghiên cứu của nhà thiên văn học Ana Bonaca tại Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian ở Cambridge, Massachusetts đã xác định được các đặc điểm cấu trúc, bao gồm cả một khe hở dễ nhận thấy, có thể là những “vết sẹo” để lại từ một cuộc chạm trán của nó với một vật thể cực lớn khoảng 500 triệu năm trước đây. Khi sự nhiễu loạn được cho là tăng tốc để băng qua luồng sao này, nó có thể phân tách chuyến tàu của các ngôi sao bằng việc kéo đi một vài ngôi sao trong số đó, khiến chúng đi nhanh hơn những người bạn đồng hành của mình.  Bonaca nhận xét, phần lớn những thủ phạm dường như thành một khối vật chất tối đậm đặc, có lẽ một vài nơi lớn gấp 1 triệu và 100 triệu lần Mặt trời. Do đó ước đoán là nó có thể liên quan đến các mô hình vật lý về vật chất tối. Khối lượng của hạt vật chất tối có thể giúp dự đoán chuyển động của nó nhanh như thế nào, và đến lượt nó dự đoán kích thước của các cụm vật chất tối mà nó góp phần hình thành. Bonaca nói, kích thước của vật gây nhiễu loạn GD-1 cũng là một vấn đề thú vị, có thể giúp loại trừ các ứng cử viên vật chất tối, vốn có khối lượng thấp hơn một cách tương đối.  Bonaca và nhóm nghiên cứu của chị đang quan tâm đến việc sử dụng dữ liệu của Gaia để xác định các vận tốc của các ngôi sao bị nhiễu loạn trong luồng sao, vốn có thể chỉ ra quỹ đạo của vật thể thường được cho là khối vật chất tối. Nếu họ có thể biết chắc chắn nơi nào có thể tìm thấy nó vào ngày nay, họ có khả năng dò được các hiệu ứng hấp dẫn của nó lên các vật chất khác. Hoặc có lẽ họ có thể huấn luyện các kính viễn vọng γ-ray để tìm bằng chứng về các hạt vật chất tối tiêu diệt các hạt khác hoặc phân rã, các quá trình có thể tạo ra các hạt proton mang điện tích. Một trong hai kỹ thuật có thể đề ra một chứng minh trực tiếp về những tính năng vật lý của loại vật chất vô hình này.  Price-Whelan nói, thật khó để suy luận quá nhiều từ một ví dụ đơn lẻ. Ông hy vọng rằng, những nghiên cứu có hệ thống sử dụng thư mục Gaia và những quan sát trong tương lai – như Kính thiên văn Khảo sát tổng quát lớn (LSST) ở Chile, vốn được chờ đợi bắt đầu thu thập dữ liệu vài đầu những năm 2020 — sẽ tiết lộ thông tin về những ngôi sao mờ nhất và những luồng sao khác. Nếu một số trong những luồng sao này chứng tỏ được những ảnh hưởng từ những cuộc chạm trán các khối vật chất tối, chúng có thể giúp các nhà thiên văn học một ý tưởng tốt hơn về sự phong phú và kích thước của những cụm này, qua đó có thể giúp nhận biết các tính chất của vật chất tối.  Các nhà thiên văn học hi vọng là dữ liệu của Gaia về những chuyển động của các ngôi sao sẽ hỗ trợ họ vẽ bản đồ hình dạng tổng thể của mặt tối dải Ngân hà. Phụ thuộc về loại hạt tạo dựng nên, quầng vật chất tối của dải Ngân hà có thể có những mức đối xứng hoặc hình cầu khác biệt. Belokurov mong đợi thông tin từ các quỹ đạo vùng sao từ Gaia sẽ phù hợp với việc truy dấu khối lượng và hình dạng tổng thể của quầng vật chất tối trong vòng 2 đến 4 năm nữa.  Những nghiên cứu như thế không hạn chế ở mỗi Ngân hà. Những kết luận rút ra về lịch sử và vật chất tối của Ngân hà sẽ phản hồi lại các mô hình vũ trụ vẫn đang được sử dụng để khám phá cách các cấu trúc lớn của vũ trụ lớn lên và thay đổi như thế nào. Nhiệm vụ đầu tiên của Gaia tiếp tục được mở rộng đến cuối năm 2020 và nhà thiên văn học Anthony Brown tại trường Leiden ở Hà Lan, phụ trách nhiệm vụ xử lý và phân tích dữ liệu cho 10 năm của nhiệm vụ lớn này. Ông nói việc mở rộng thời gian thực hiện nhiệm vụ có thể đem lại sự cải thiện thông tin chính xác các đo đạc về chuyển động cho các ngôi sao. Và nó có thể cung cấp thông tin về các ngôi sao ở khoảng cách xa.   Di sản cơ bản của Gaia đã được viết ra, tất cả những dấu hiệu sẽ vẫn tồn tại. Dữ liệu từ tất cả các cuộc tìm kiếm trên bầu trời như những dữ liệu từ SDSS tiếp tục cung cấp những khám phá về vũ trụ trong một thập kỷ hay nhiều hơn sau khi nó được hoàn tất. Helmi thì háo hức chờ đợi việc nhìn lại lịch sử dải Ngân hà khi các thư mục của Gaia lớn hơn và chi tiết hơn nữa. “Một trong những điều mà tôi thấy thú vị nhất là chúng ta mới thực sự bắt đầu ‘đào bới’ về quá khứ”.      Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00123-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các bảo tàng Florence mở ra cánh cửa cho những tác phẩm nghệ thuật đương đại      Phòng trưng bày Uffizi và cung điện Palazzo Strozzi gần đây đã chuyển mình, trưng bày đan xen các tác phẩm nghệ thuật đương đại với những kiệt tác của các bậc thầy xưa, thúc đẩy đối thoại giữa quá khứ và tương lai, hiện đại và truyền thống.      Bao quanh ông Eike Schmidt (Giám đốc của Uffizi) lần lượt theo chiều kim đồng hồ từ trái sang là các tác phẩm của Adriana Pincherle, Tesfaye Urgessa, Yayoi Kusama, Renato Guttuso và Marc Chagall. Ở ngoài cùng bên trái, sâu trong sảnh, là bức tranh từ thế kỷ 16 của Amico Friulano del Dosso. Ảnh: Clara Vannucci / The New York Times  Bước đến Phòng trưng bày Uffizi để ngắm nhìn các tác phẩm của những bậc thầy như Botticelli, Raphael và Michelangelo, nhiều du khách đã tỏ ra ngạc nhiên khi bắt gặp những bức chân dung tự họa của nghệ sĩ người Ethiopia Tesfaye Urgessa và nghệ sĩ Nhật Bản Yayoi Kusama.  Vào thời điểm mà các bảo tàng trên thế giới đang triển khai những hoạt động mới mẻ để kể một câu chuyện toàn diện hơn về nghệ thuật, Uffizi đã tụt lại phía sau. Được xem là bảo tàng cổ điển hàng đầu châu Âu, chính di sản bên trong và sự mong đợi của được chiêm ngưỡng một phần lịch sử hội hoạ xưa của du khách đã ngăn trở Uffizi phát triển.  Nhưng kể từ khi đảm nhiệm chức vị giám đốc vào năm 2015, Eike Schmidt đã dần dần cố gắng tích hợp nghệ thuật đương đại vào nơi này, ông nỗ lực gia tăng sự hiện diện của những nữ nghệ sĩ và nghệ sĩ da màu với mong muốn tiếp cận các du khách trẻ trung, đa dạng hóa người xem. “Trước đây, Uffizi rất hiếm khi tổ chức triển lãm nghệ thuật đương đại”, Schmidt cho biết trong một cuộc phỏng vấn gần đây tại bảo tàng. “Đối với mọi người, thế chẳng khác nào ‘thánh đường’ thiêng liêng đã bị xâm phạm”. “Với riêng tôi, việc quan trọng là phải phủi bụi nơi này và trưng bày những gì phù hợp”, ông nói thêm.  Các bảo tàng khác tại Florence cũng đang có những nỗ lực tương tự nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận của họ, bao gồm việc kết hợp hiện đại với truyền thống hoặc soi chiếu các tác phẩm nghệ thuật lịch sử qua lăng kính hiện đại để thúc đẩy đối thoại giữa các thể loại và thời đại. một cuộc triển lãm của nghệ sĩ đương đại Jeff Koons vừa khép lại tại Cung điện Palazzo Strozzi, còn Bảo tàng Novecento thì vẫn đang trưng bày tác phẩm của nữ họa sĩ người Anh Jenny Saville.  Arturo Galansino, giám đốc cung điện Palazzo Strozzi cho rằng không dễ để thay đổi nhận thức của công chúng về nghệ thuật ở Florence. “Hầu hết mọi người thích xem nghệ thuật đương đại,” anh nói, “Ở Ý thì ngược lại. Mọi người cảm thấy thoải mái hơn khi nhìn ngắm quá khứ”.  Điều này bắt đầu thay đổi vào năm 2015, Galansino cho biết, khi tác phẩm điêu khắc thép mạ vàng “Pluto and Proserpina” của Koons được đặt ở khu vực trung tâm cung điện Palazzo Vecchio, tòa thị chính thời trung cổ của Florence, giữa các bản sao kiệt tác của Donatello và Michelangelo – các tác phẩm được trưng bày trong triển lãm đồ cổ hằng năm (Florence International Biennale Antiques Fair). “Đó là một khoảnh khắc mang tính biểu tượng,” Galansino nhận định.  Koons chia sẻ rằng anh cảm thấy được người dân Florence chào đón, và anh coi thành phố là một địa điểm lý tưởng bởi “bạn có thể đắm chìm trong thời kỳ Phục hưng, nhưng bạn cũng có thể đối thoại với nghệ thuật đương đại.”  “Đó là ý nghĩa của nghệ thuật”, anh bổ sung. “Nghệ thuật gắn kết những hoàn cảnh khác nhau và cho thấy cách mọi thứ đan quyện vào nhau”.  Với mong muốn thay đổi cách mọi người vẫn thường hình dung về mình, Phòng triển lãm Uffizi, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan và Bảo tàng Frick ở New York đã suy nghĩ về những ý tưởng trưng bày mới. “Mọi nghệ sĩ đều thích được xuất hiện ở Uffizi”, Max Hollein – giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan nói. “Đó là chốn thiên đường.”  Vượt qua lằn ranh  Mới đây, Uffizi đã mở một cuộc triển lãm trưng bày các tác phẩm của nghệ sĩ người Bỉ Koen Vanmechelen – một nghệ sĩ đương đại chuyên tập trung vào mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá. Triển lãm “Seduzione” kéo dài đến ngày 20 tháng 3, trưng bày 30 tác phẩm bao gồm những con cự đà có sừng cực lớn, một chú hổ đỏ đang lấy đà và Medusa đen – trắng. Tất cả những hình ảnh kỳ lạ này tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ, kỳ lạ giữa sảnh đường linh thiêng của Uffizi.    Tác phẩm “Cosmopolitan Fossil II” của Koen Vanmechelen. Triển lãm cá nhân của nghệ sĩ người Bỉ đang diễn ra tại Uffizi đến hết ngày 20 tháng 3. Ảnh: Clara Vannucci / The New York Times  Bảo tàng này gần đây còn tổ chức các buổi trưng bày tác phẩm của những nghệ sĩ hiện đại như nhà điêu khắc người Anh Antony Gormley, Giuseppe Penone với các tác phẩm mang đậm dấu ấn phong trào Arte Povera (Nghệ thuật thị giác và Thiết kế), Urgessa với những tác phẩm tập trung vào phê bình xã hội, chủng tộc và chính trị căn tính. Urgessa thừa nhận rằng ban đầu ông cảm thấy lạc lõng khi đặt các tác phẩm của mình tại Uffizi, nhưng rồi các du khách ở đó đã bày tỏ sự thích thú và chào đón ông, để rồi bảo tàng Uffizi đã dần dần thay đổi, không còn là “một cái gì đó thuộc về quá khứ, như những kim tự tháp”. “Ngày nay, mọi người muốn lắng nghe một câu chuyện mới mẻ,” ông nhấn mạnh, “một câu chuyện gần gũi với đời của họ”.  Schmidt cho biết ông đã cam kết sẽ dành cho các nữ nghệ sĩ ít nhất hai cuộc triển lãm mỗi năm. Ví dụ, vào tháng 2 năm ngoái, Uffizi đã tổ chức “Lo Sfregio” (“The Scar”), một sự kiện  phản đối bạo hành phụ nữ. Tại đây, họ trưng bày bức tượng bán thân Costanza Piccolomini Bonarelli của Gian Lorenzo Bernini cùng với triển lãm ảnh mang tên “Pain is not a privilege” (Tạm dịch: Nỗi đau nào phải là một đặc ân) của Ilaria Sagaria, trong đó miêu tả các nạn nhân của các vụ tấn công bằng axit.  Thông qua các cuộc triển lãm, Uffizi cũng đang cố gắng vượt qua giới hạn những hình ảnh rập khuôn mà mọi người thường hình dung về bảo tàng này: lịch sử châu Âu, nam giới, người da trắng. Với “On Being Present” vào năm 2020, bảo tàng đã khám phá bản sắc của Người da đen trong các bức tranh, chẳng hạn như nhà thông thái trong “Adoration of the Magi” của Dürer và chân dung của các vị vua Ethiopia trong bộ sưu tập tranh Paolo Giovio. Cũng trong năm đó, Uffizi tổ chức một cuộc triển lãm về phụ nữ, quyền lực và sự giải phóng ở La Mã cổ đại.  Bên cạnh đó, những bức tranh mới của Uffizi cũng mang màu sắc mới mở hơn. Vào mùa thu năm ngoái, họ đã thêm một tác phẩm của hoạ sĩ đường phố Endless và 52 bức chân dung tự hoạ của các hoạ sĩ truyện tranh Ý vào bộ sưu tập của mình.  Với mục tiêu tiếp cận “càng nhiều người càng tốt”, Schmidt cho biết ông “tin rằng điều này sẽ mang lại kết quả tuyệt vời và sẽ mở ra nhiều sự giao thoa khác”.    Tác phẩm “Black Medusa” và “White Medusa” của Vanmechelen được đặt hai bên tác phẩm “Medusa” của Caravaggio. Ảnh: Clara Vannucci / The New York Times  Trong quá trình xác định những gì nhận diện nên Uffizi, bảo tàng đã cởi bỏ nút thắt, tổ chức chương trình “Uffizi Diffusi” trong thời gian diễn ra đại dịch, nhằm đưa tác phẩm ra khỏi phòng lưu trữ, gửi đến những địa điểm quanh vùng Tuscany, trưng bày chúng theo một chủ đề nhất định.  Mặc dù mãi cho đến năm 2015 bảo tàng này mới có website riêng – Schmidt ví von rằng họ vẫn đang ở “thời kỳ Đồ Đá” – nhưng giờ đây Uffizi đã trở thành một hiện tượng truyền thông, với  gần 700.000 người theo dõi trên Instagram, hơn 100.000 trên TikTok và gần 128.000 trên Facebook. Gần đây, bảo tàng này thậm chí còn ra mắt một chương trình nấu ăn trên YouTube mang tên “Uffizi da Mangiare ” (hay “Uffizi on the Plate”) với những đầu bếp chế biến bữa ăn lấy cảm hứng từ các tác phẩm trong bộ sưu tập.  Schmidt cho biết bảo tàng đã ‘hái quả ngọt’: khách trong độ tuổi từ 19 đến 25 “tăng hơn gấp đôi” kể từ năm 2020. Tương tự, Galansino chia sẻ rằng bằng cách trưng bày các tác phẩm của những nghệ sĩ đương đại – chẳng hạn như Ai Weiwei, và Olafur Eliasson vào mùa thu tới – cung điện Palazzo Strozzi đã thu hút được một lượng khách tham quan mới, hơn 30% trong số đó ở độ tuổi dưới 30.  Nhờ những nỗ lực của Phòng trưng bày Uffizi và cung điện Palazzo Strozzi, cũng như vị trí đắc địa của Florence – nằm giữa các đô thị lớn như Rome và Milan, Galansino tin rằng Florence có thể trở thành “một thành phố nghệ thuật đương đại”. “Tôi nghĩ chúng tôi đã thuyết phục được công chúng rằng nghệ thuật đương đại cũng quan trọng như các kiệt tác của những bậc thầy xưa kia,” Galansino nói. “Mọi người đã quên mất rằng Florence vẫn đang tiếp tục sống giữa thời hiện đại, nó không chỉ sống trong quá khứ.”  Năm 2020, Uffizi đã từ một bảo tàng tụt hậu đã trở thành “người tiên phong” trên phương tiện truyền thông xã hội – đặc biệt là TikTok. Cho đến vài năm trước, bảo tàng này vẫn còn vận hành như thể Internet không hoạt động. Eike Schmidt, giám đốc bảo tàng, cho biết ông quyết định thử nghiệm trên TikTok vì nền tảng này tiếp cận những người dùng trẻ hơn Twitter, Facebook hay thậm chí là Instagram.  Trên thực tế, Uffizi không phải là bảo tàng đầu tiên dùng TikTok, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan đã sử dụng nền tảng này trước đó 1 năm cho một vài dự án, nhưng tài khoản của nó sau đó đã dừng hoạt động. Các video trên TikTok của Uffizi rất hài hước và đôi khi hơi kỳ quái. Trong một bài đăng, một con coronavirus hoạt hình nhảy vào Uffizi và dừng lại trước tác phẩm “Medusa” của Caravaggio, sinh vật thần thoại đã biến những ai dám nhìn nó thành đá. Virus biến thành một tảng đá và rơi xuống sàn nhà, vỡ làm đôi. Sau đó, Medusa đeo khẩu trang. Video còn lồng nhạc nền với tiếng Cardi B hét lên: “coronavirus.”  Trong một video khác, người lùn Morgante trong bức tranh vẽ vào năm 1552 của Bronzino đã nhảy ra khỏi khung hình và khỏa thân đi săn, xuyên qua khu vườn của Uffizi giữa nền nhạc “Blinding Lights” của The Weeknd. Người phụ trách sản xuất video này cho biết trên thực tế Morgante, một kẻ mua vui cho vương triều Medici, đã đi săn trong những khu vườn đó, đồng thời khẳng định nhiều bài viết của bà trên TikTok dựa trên sự thật lịch sử.  Anh Thư tổng hợp  Nguồn: Uffizi Gallery, Bastion of Tradition, Evolves (Slowly) With the Times  As Museums Get on TikTok, the Uffizi Is an Unlikely Class Clown    Author                .        
__label__tiasang Các công ty ở Trung Quốc săn lùng nhân tài      Khác hẳn những năm 1980 và 1990 khi hầu hết những sinh viên trẻ tài năng của Trung Quốc mong muốn ra nước ngoài học tập, và những cô cậu này đã có đủ may mắn được học tập ở những nước tiên tiến nhất như Mỹ hay Nhật. Sau khi tốt nghiệp, họ muốn ở lại để theo đuổi những chương trình đào tạo bậc cao và rất miễn cưỡng quyết định trở về Trung Quốc. Giờ đây, với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, điều kiện sống và làm việc được cải thiện đáng kể, ngày càng nhiều những công dân Trung Quốc đang nghiên cứu, học tập ở hải ngoại trở về quê hương làm việc hoặc bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh.    Cuộc chạy đua nhân lực  Trung Quốc đang đẩy mạnh phát triển nhiều khu công nghệ cao đã làm cho số lượng những công ty đa quốc gia xuất hiện ngày càng tăng, cung cấp một lượng lớn cơ hội việc làm cho những sinh viên Trung Quốc du học trở về. Mặc dù những công ty đa quốc gia này đã giúp thu hút và giữ lại những tài năng, nhưng họ lại đặt ra những thách thức lớn cho những công ty và cả những viện nghiên cứu trong nước. Wu Yikang, một cố vấn kỳ cựu của Hiệp hội Hợp tác Quốc tế về Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, cho biết, “Ngày càng nhiều tài năng Trung Quốc đổ dồn vào những công ty đa quốc gia bởi vì họ mong muốn được làm việc về những nghiên cứu công nghệ cao mũi nhọn và được trả lương xứng đáng”. “Có một thực tế rằng, những công ty đa quốc gia ở Trung Quốc đã tạo ra một lượng lớn những cơ hội việc làm cho những sinh viên Trung Quốc đã tốt nghiệp, và họ cũng đã thu hút rất nhiều sinh viên Trung Quốc đang học tập ở nước ngoài”, ông nói thêm.                     Theo thống kê của chính phủ, kể từ năm 1979, khi Trung Quốc mở cửa cho phép sinh viên ra nước ngoài du học, hơn 1 triệu người đã rời đất nước, và 30% trong số họ đã trở về quê hương. Nhưng số lượng này còn quá ít ỏi. Thị trường vẫn cần một nhu cầu lớn những chuyên gia Trung Quốc được đào tạo ở nước ngoài có tầm nhìn quốc tế và chuyên môn quản lý. Sự thiếu hụt những tài năng như thế là một thách thức lớn đối với những công ty Trung Quốc đang có kế hoạch mở rộng việc kinh doanh của họ ở nước ngoài, cũng như các công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Trung Quốc. Rất nhiều những công ty đa quốc gia hiểu rằng, họ có thể đào tạo những người bản địa để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lao động. Nhưng để làm được điều này cần phải có thời gian và tiền bạc.  Một báo cáo mới đây cho thấy, hầu hết 40% tài năng trẻ được đào tạo của Trung Quốc làm việc trong các công ty đầu tư nước ngoài. Một cuộc khảo sát ở Thượng Hải chỉ ra rằng, tỷ lệ những nhà nghiên cứu Trung Quốc và những nhân viên R&D ngoại quốc trong những tổ chức nghiên cứu đầu tư nước ngoài đặt tại đại lục là gần 40:1.  Tuy nhiên, Wu Yikang chỉ ra rằng những người Trung Quốc làm R&D có thể có một kiến thức nền rất tốt nhưng vẫn còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Các công ty đa quốc gia cung cấp những chương trình đào tạo có thể giúp thúc đẩy các nhà nghiên cứu Trung Quốc. Nhưng các công ty này cũng sợ rằng, một khi họ đầu tư đào tạo ra những tài năng bản địa, những công ty đối thủ của họ có thể thu hút những tài năng đang nổi lên này bằng nhiều cách. Wu cho biết, “Những tài năng được đào tạo bài bản trong các công ty đa quốc gia thực sự trở thành nguồn nhân lực tiềm tàng cho nhiều công ty Trung Quốc, khi mà những công ty này phát triển mạnh mẽ”.  Và với sự thay đổi nhanh chóng cả về kinh tế lẫn xã hội, ở Trung Quốc đã xuất hiện những công việc mới như dây truyền ứng dụng hay quản lý rủi ro, mà ở đó rất khó tìm được những ứng viên có đủ khả năng thực thụ. Bởi vậy, những công ty đa quốc gia và cả những công ty trong nước chỉ có thể tuyển dụng những sinh viên Trung Quốc được đào tạo ở nước ngoài cùng với những kinh nghiệm làm việc của họ ở đó.  Theo công ty săn đầu người toàn cầu Whitney Group, công nghiệp tài chính của Trung Quốc đang “đói” những chuyên gia có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài. “Mặc dù nhiều sinh viên đại lục được đào tạo bài bản ở hải ngoại đang trở về Trung Quốc, nhưng thị trường vẫn đang trong tình trạng thiếu cung”, Harry O’Nei, giám đốc quản lý Whitney Group, nói. Whitney hiện có khoảng 400,000 người trong cơ sở dữ liệu của họ nhưng những ứng viên thích hợp cho thị trường Trung Quốc chỉ chiếm con số phần trăm rất nhỏ.  Sự mở rộng các công ty đa quốc gia ở Trung Quốc đã đẩy nhanh nhu cầu tìm kiếm những nhà quản lý có kinh nghiệm với tầm nhìn quốc tế. Những tập đoàn tư vấn nguồn nhân lực, bao gồm cả Whitney, đã dự đoán trong một vài năm tới, cứ bốn nhà quản lý các công ty đa quốc gia thì sẽ có một người được đào tạo ở nước ngoài với kinh nghiệm làm việc trong những thị trường phát triển ở hải ngoại.  Tăng cường thu hút  Nền kinh tế Trung Quốc với sự toàn cầu hóa đang gia tăng, nhiều công ty lớn của nước này đang tìm mọi cách thu hút những chuyên gia Trung Quốc ở nước ngoài với nhiều đề nghị hấp dẫn. Có khoảng 110 lĩnh vực đầu tư đặc biệt với những khuyến khích các tài năng Trung Quốc đã được thiết lập ở nhiều vùng khác nhau. Vào cuối 2005, hơn 5000 công ty đã được thành lập, hoạt động trong các lĩnh vực từ công nghệ cao, tài chính tới tư vấn, và đang tạo ra giá trị hàng năm lên tới hơn 1.28 tỷ USD.  Bắc Kinh cũng đang nỗ lực thu hút các nhà nghiên cứu ở nước ngoài trở về, rất nhiều trong số họ hiện đang lãnh đạo nhiều dự án nghiên cứu khoa học lớn tầm cỡ quốc gia. Tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc (CCER) của Đại học Bắc Kinh, mức lương trả cho những nhà kinh tế trở về từ 30,000-50,000 USD một năm, không bao gồm cả thuê nhà và những bổng lộc khác. Một bằng PhD ở nước ngoài là yêu cầu chuyên môn tối thiểu để nhận được một việc làm ở CCER. Tính trung bình, hiện nay có khoảng 10-15 ứng viên cạnh tranh để có một vị trí ở CCER.  Cùng với nhiều thành phố khác đang dẫn đầu về số lượng những chuyên gia trở về, Thượng Hải được xem là đi tiên phong trong việc thu hút những chuyên gia Trung Quốc ở hải ngoại. Vào 8/2003, Thượng Hải đã phát động một chiến dịch 3 năm đầy tham vọng để thu hút hơn 10,000 người Trung Quốc ở nước ngoài đến làm việc trong thành phố bằng việc đưa ra những chính sách ưu đãi bao gồm một thẻ cư trú ở Thượng Hải với những quyền lợi như những người địa phương và trợ cấp chính phủ cho những người bắt đầu các hoạt động kinh doanh của họ tại đây. Đến cuối tháng 11, thành phố này đã đạt được mục tiêu phía trước của kế hoạch và đã thu hút 10,203 công dân Trung Quốc từ 110 nước và vùng lãnh thổ đến làm việc.  Thiếu nhưng vẫn thừa  Không phải tất cả những sinh viên Trung Quốc từ nước ngoài trở về đều được chào đón trong thị trường việc làm ở đại lục. Điều này gợi ý rằng, vấn đề về sự mất cân đối nguồn nhân lực, một kết quả của sự thay đổi xã hội và kinh tế, ngày càng tăng. Theo một đánh giá 1500 người trở về được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển của Hội đồng Quốc gia, có khoảng 35% sinh viên Trung Quốc đào tạo ở nước ngoài rất khó khăn trong tìm việc làm khi họ trở về đất nước. Ying, 25 tuổi, là một trong nhiều trường hợp như thế. Sau một vài tháng không tìm được việc, với tấm bằng thạc sỹ về truyền thông đại chúng của Đại học Bristish, cô bắt đầu cảm thấy chán nản. Ying đã tới Anh để tiếp tục theo đuổi chương trình học tập sau đại học ngay sau khi tốt nghiệp tại một trường đại học ở Thượng Hải vào năm 2005, với hy vọng sẽ có được một công việc tốt hơn những người bạn của cô học tập ở trong nước khi trở về. Nhưng giờ thì ngược lại, cô rất khó khăn tìm cho mình một một công việc phù hợp để biến giấc mơ thành hiện thực. “Một vài công ty lớn không thích những người như tôi bởi vì tôi không có được kinh nghiệm hay kiến thức chuyên môn như họ yêu cầu, trong khi những công ty nhỏ lại trả tôi mức lương, thậm chí, thấp hơn cả mức lương của một sinh viên mới tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân tại một trường đại học trong nước”, cô tâm sự.  Một vài năm về trước, những người Trung Quốc như Ying được gọi là haigai hay “những con rùa biển”. Ngược lại, những người được đào tạo ngay tại đại lục được gọi là tubie (những con rùa mu mềm bản địa). Bởi vậy, thuật ngữ haigai ám chỉ rằng, những người trở về được tôn trọng. Nhưng ngày nay, rất nhiều những người trở về được gọi là “tảo biển”, hay người trở về tìm việc làm do những khó khăn của họ trong tìm kiếm công việc. Hầu hết haigai là những người ra nước ngoài học tập ngay sau khi hoàn thành những chương trình đào tạo bậc phổ thông hay đại học ở trong nước, và bây giờ họ trở về đại lục mà không có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài hay những kỹ năng thông tin như nhà tuyển dụng yêu cầu. Họ bị đối xử không tốt hơn những sinh viên đào tạo trong nước. Rất nhiều haigai cảm thấy căng thẳng trong tìm việc bởi vì tấm bằng mà họ có trong tay không phù hợp với yêu cầu của các công ty tuyển dụng.  Những ông chủ ở Trung Quốc ngày càng thực tế hơn. Những cái mà họ tìm kiếm ở những ứng viên đó phải là những người hiểu được cả nền văn hóa Trung Quốc và nền văn hóa phương Tây, nói thành thạo cả tiếng Trung Quốc phổ thông và một ngoại ngữ, đồng thời phải là những người có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài.  Đức Phường (Theo AsiaTimes)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các công ty spin-off có nhiều lợi thế để thành công trên trường quốc tế      Những năm đầu tiên là những năm quan trọng nhất đối với các công ty khởi nghiệp công nghệ. Họ cần khẳng định mình trên thị trường, tạo dựng danh tiếng và có chỗ đứng trên trường quốc tế càng sớm càng tốt. Tương tự, có thể áp dụng công thức này cho các công ty spin-off được thành lập từ một tổ chức nghiên cứu như trường đại học.    Một nhà khoa học tại ibidi GmbH – spin-off có trụ sở tại Munich chuyên sản xuất các giải pháp công nghệ để trực quan hoá chuyển động của tế bào.  “Trung bình, các công ty spin-off cần khoảng ba năm để có được doanh số bán hàng từ thị trường quốc tế”, GS.TS. Achim Walter thuộc Viện Đổi mới Sáng tạo Có trách nhiệm Kiel (KIRI) của Đại học Kiel, Đức, cho biết. Con số này thoạt nghe không nhiều lắm. “Nhưng bạn phải nhớ rằng giai đoạn đầu không gây dựng được tiếng tăm và không có được niềm tin của khách hàng là một áp lực lớn đối với công ty mới.”  Cùng với đồng nghiệp của mình, TS. Monika Sienknecht và các nhà khoa học từ Trường Kinh doanh Copenhagen và Đại học Wilfried Laurier ở Canada, ông đã theo dõi sự phát triển của 163 công ty spin-off trong khoảng thời gian 18 năm. Kết quả của nghiên cứu hiện đã được công bố trên tạp chí Entrepreneurship Theory and Practice .  Rút ngắn thời gian  Năm 2005, các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành khảo sát ban đầu và đánh giá dữ liệu nghề nghiệp của 487 nhà sáng lập. “Những đội ngũ startup có thành viên tích lũy được kinh nghiệm hợp tác với hơn sáu đối tác doanh nghiệp hoặc với hơn hai nhà khoa học quốc tế trong thời gian làm việc tại một viện nghiên cứu đã rút ngắn hơn một nửa thời gian từ lúc thành lập cho đến khi có doanh thu quốc tế đầu tiên,” Giáo sư Walter tóm tắt kết quả nghiên cứu. Nhờ đã có quãng thời gian tích lũy mối quan hệ và tìm hiểu nhu cầu của thị trường khi còn làm nghiên cứu, các công ty spin-off đã đạt được thành công nhanh hơn.  Hầu hết các spin-off đều do nghiên cứu sinh tiến sĩ thành lập. Giáo sư Walter cho biết: “Họ đã có được những kỹ năng cần thiết để quốc tế hóa. Ngoài ra, nếu dự án nghiên cứu nền tảng được thiết kế hợp lý ngay từ đầu, các công ty spin-off sẽ hoạt động thuận lợi hơn.”  Điều này giúp họ rút ngắn đáng kể quá trình quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh của mình. Đặc biệt, đối với việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu mới nhất, họ cần nhanh chóng nhận được một số phản hồi từ khách hàng ở nước ngoài về tính khả thi của sản phẩm.  “Kết quả nghiên cứu cho thấy chiến lược hỗ trợ cho các spin-off của Đại học Kiel đã đi đúng hướng. Chúng cho thấy rằng các công ty khởi nghiệp từ khoa học và học thuật nói riêng có thể đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trong khu vực” Axel Koch, Giám đốc Chuyển giao tại Đại học Kiel, nhận định.  Đứng vững trên thị trường  ibidi GmbH là một trong những spin-off có trụ sở tại Munich chuyên sản xuất các giải pháp công nghệ để trực quan hoá chuyển động của tế bào. “Khi mới thành lập vào năm 2001, chúng tôi muốn cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp tại Mỹ càng nhanh càng tốt. Giai đoạn đầu, rất khó để bán bất cứ thứ gì ở Đức. Như người ta vẫn nói, bụt chùa nhà không thiêng. Khách hàng ở Đức thường do dự và thận trọng trước các sản phẩm mới. Ở Mỹ, mọi người quan tâm nhiều hơn và muốn tìm hiểu thêm về công nghệ của chúng tôi,” TS. Valentin Kahl, Giám đốc điều hành của ibidi, nhớ lại. Startup này hiện có gần 110 nhân viên và đang hoạt động tích cực tại hơn 40 quốc gia.  Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở Đức, các công ty spin-off đứng vững rất lâu trên thị trường. 106 trong số 163 công ty (khoảng 65%) tồn tại trong 18 năm các nhà khoa học tiến hành khảo sát, và 10 công ty đã bị các công ty khác tiếp quản (khoảng 6%).  Chỉ 47 công ty rút khỏi thị trường (khoảng 29%). Các nghiên cứu quốc tế khác cũng chứng thực tỷ lệ sống sót của các spin-off rất cao, khoảng 80% trở lên trong vòng 5 năm đầu tiên. Con số này cực kỳ lớn, bởi tỷ lệ sống sót trung bình của các công ty khởi nghiệp ở Đức sau 5 năm là khoảng 37%.  “Những kết quả này cho thấy con đường mà các nhà khoa học đang đi rất tiềm năng. Quá trình nghiên cứu giúp các nhà khoa học có được nhiều lợi thế để có thể thành công trong lĩnh vực kinh doanh,” TS Gesche Braker, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sinh Hậu tiến sĩ tại Đại học Kiel, kết luận.  Đinh Cửu lược dịch  Nguồn: Technology start-ups with research experience have faster international success, study finds    Author                .        
__label__tiasang Các công ty spin-off có nhiều lợi thế để thành công trên trường quốc tế      Nhờ đã có quãng thời gian tích lũy mối quan hệ và tìm hiểu nhu cầu của thị trường khi còn làm nghiên cứu, các công ty spin-off đã đạt được thành công nhanh hơn.    Một nhà khoa học tại ibidi GmbH – spin-off có trụ sở tại Munich chuyên sản xuất các giải pháp công nghệ để trực quan hoá chuyển động của tế bào.   Những năm đầu tiên là những năm quan trọng nhất đối với các công ty khởi nghiệp công nghệ. Họ cần khẳng định mình trên thị trường, tạo dựng danh tiếng và có chỗ đứng trên trường quốc tế càng sớm càng tốt. Tương tự, có thể áp dụng công thức này cho các công ty spin-off được thành lập từ một tổ chức nghiên cứu như trường đại học.  “Trung bình, các công ty spin-off cần khoảng ba năm để có được doanh số bán hàng từ thị trường quốc tế”, GS.TS. Achim Walter thuộc Viện Đổi mới Sáng tạo Có trách nhiệm Kiel (KIRI) của Đại học Kiel, Đức, cho biết. Con số này thoạt nghe không nhiều lắm. “Nhưng bạn phải nhớ rằng giai đoạn đầu không gây dựng được tiếng tăm và không có được niềm tin của khách hàng là một áp lực lớn đối với công ty mới.”  Cùng với đồng nghiệp của mình, TS. Monika Sienknecht và các nhà khoa học từ Trường Kinh doanh Copenhagen và Đại học Wilfried Laurier ở Canada, ông đã theo dõi sự phát triển của 163 công ty spin-off trong khoảng thời gian 18 năm. Kết quả của nghiên cứu hiện đã được công bố trên tạp chí Entrepreneurship Theory and Practice.  Rút ngắn thời gian  Năm 2005, các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành khảo sát ban đầu và đánh giá dữ liệu nghề nghiệp của 487 nhà sáng lập. “Những đội ngũ startup có thành viên tích lũy được kinh nghiệm hợp tác với hơn sáu đối tác doanh nghiệp hoặc với hơn hai nhà khoa học quốc tế trong thời gian làm việc tại một viện nghiên cứu đã rút ngắn hơn một nửa thời gian từ lúc thành lập cho đến khi có doanh thu quốc tế đầu tiên,” Giáo sư Walter tóm tắt kết quả nghiên cứu. Nhờ đã có quãng thời gian tích lũy mối quan hệ và tìm hiểu nhu cầu của thị trường khi còn làm nghiên cứu, các công ty spin-off đã đạt được thành công nhanh hơn.  Hầu hết các spin-off đều do nghiên cứu sinh tiến sĩ thành lập. Giáo sư Walter cho biết: “Họ đã có được những kỹ năng cần thiết để quốc tế hóa. Ngoài ra, nếu dự án nghiên cứu nền tảng được thiết kế hợp lý ngay từ đầu, các công ty spin-off sẽ hoạt động thuận lợi hơn.”  Điều này giúp họ rút ngắn đáng kể quá trình quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh của mình. Đặc biệt, đối với việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu mới nhất, họ cần nhanh chóng nhận được một số phản hồi từ khách hàng ở nước ngoài về tính khả thi của sản phẩm.  “Kết quả nghiên cứu cho thấy chiến lược hỗ trợ cho các spin-off của Đại học Kiel đã đi đúng hướng. Chúng cho thấy rằng các công ty khởi nghiệp từ khoa học và học thuật nói riêng có thể đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trong khu vực” Axel Koch, Giám đốc Chuyển giao tại Đại học Kiel, nhận định.  Đứng vững trên thị trường  ibidi GmbH là một trong những spin-off có trụ sở tại Munich chuyên sản xuất các giải pháp công nghệ để trực quan hoá chuyển động của tế bào. “Khi mới thành lập vào năm 2001, chúng tôi muốn cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp tại Mỹ càng nhanh càng tốt. Giai đoạn đầu, rất khó để bán bất cứ thứ gì ở Đức. Như người ta vẫn nói, bụt chùa nhà không thiêng. Khách hàng ở Đức thường do dự và thận trọng trước các sản phẩm mới. Ở Mỹ, mọi người quan tâm nhiều hơn và muốn tìm hiểu thêm về công nghệ của chúng tôi,” TS. Valentin Kahl, Giám đốc điều hành của ibidi, nhớ lại. Startup này hiện có gần 110 nhân viên và đang hoạt động tích cực tại hơn 40 quốc gia.  Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở Đức, các công ty spin-off đứng vững rất lâu trên thị trường. 106 trong số 163 công ty (khoảng 65%) tồn tại trong 18 năm các nhà khoa học tiến hành khảo sát, và 10 công ty đã bị các công ty khác tiếp quản (khoảng 6%).  Chỉ 47 công ty rút khỏi thị trường (khoảng 29%). Các nghiên cứu quốc tế khác cũng chứng thực tỷ lệ sống sót của các spin-off rất cao, khoảng 80% trở lên trong vòng 5 năm đầu tiên. Con số này cực kỳ lớn, bởi tỷ lệ sống sót trung bình của các công ty khởi nghiệp ở Đức sau 5 năm là khoảng 37%.  “Những kết quả này cho thấy con đường mà các nhà khoa học đang đi rất tiềm năng. Quá trình nghiên cứu giúp các nhà khoa học có được nhiều lợi thế để có thể thành công trong lĩnh vực kinh doanh,” TS Gesche Braker, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sinh Hậu tiến sĩ tại Đại học Kiel, kết luận.  Đinh Thư  dịch  Nguồn: Technology start-ups with research experience have faster international success, study finds    Author                .        
__label__tiasang Các công ty Trung Quốc dời sang Việt Nam      Giá nhân công tăng nhưng nhu cầu xuất khẩu  giảm tại Trung Quốc khiến các nhà sản xuất hoặc đã di dời hoặc đang tính  tới chuyện di dời sang các nước Đông Nam Á lân cận trong đó có Việt  Nam.    Asia News Network ngày 22/10 dẫn nguồn tin từ một quan chức phụ trách ngoại thương thuộc Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết gần 1/3 các công ty sản xuất dệt may, giày dép, và nón ở Trung Quốc đang hoạt động dưới áp lực leo thang và đã chuyển toàn bộ hay một phần khâu sản xuất ra ngoài nước.  Những đích đến được ưa chuộng hiện nay thường là các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Indonesia, và Malaysia.  Nhật báo China Daily nói xu hướng chuyển giao sản xuất này sẽ tiếp tục trong tương lai.  Người đứng đầu văn phòng hành chính thuộc Phòng Thương mại Trung Quốc chuyên phụ trách về xuất nhập khẩu dệt may xác nhận rằng nhiều doanh nghiệp sản xuất tại Trung Quốc đã chuyển dời một phần hoặc toàn bộ ra nước ngoài.  Theo khảo sát do công ty tư vấn tài chính Capital Business Credit có trụ sở tại Mỹ, cứ 10 doanh nghiệp lớn được hỏi thì có 4 công ty cho biết có dự định dời xưởng sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, Pakistan, Bangladesh, và Philippines.  Tuy làm mất công ăn việc làm cho dân Trung Quốc, nhưng giới chức Trung Quốc nói hiện tượng này cũng mang tính tích cực về mặt cơ bản, phù hợp với cam kết của chính phủ nâng cấp sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc và thay đổi mô hình phát triển kinh tế.  Kế hoạch 5 năm (2011-2015) của Bắc Kinh kêu gọi các công ty xuất khẩu Trung Quốc sản xuất thêm nhiều sản phẩm cao cấp.  Gần đây, gía nhân công tại Trung Quốc tăng từ 15% tới 20% mỗi năm, khiến một số doanh nghiệp phá sản.  Thống kê năm ngoái cho thấy lương hằng tháng của các công nhân trong ngành sản xuất tại Việt Nam trung bình khoảng hơn 95 đô la, tương đương với mức lương 10 năm trước của công nhân tại Đông Quản, một thành phố công nghiệp ở Đồng bằng Châu thổ Châu Giang Trung Quốc.  Việt Nam nằm trong số các nước mở rộng chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai và các dịch vụ công cho giới đầu tư nước ngoài trong đó có Trung Quốc.  Nguồn: China Daily, ANN, China.org.cn, Bernama    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các công ty Trung Quốc và Đài Loan chiếm hơn 80% sản lượng pin mặt trời ở Việt Nam      Đó là con số do TS Chung-Han Wu, giám đốc R&D của Công ty Năng lượng mặt trời BOVIET, đưa ra tại sự kiện Gặp gỡ lần thứ hai của cộng đồng năng lượng tái tạo Việt Nam tại ĐH Bách khoa Hà Nội mới đây.    Theo ông Wu, hiện có tất cả chín công ty chuyên sản xuất pin và tấm pin năng lượng mặt trời của Trung Quốc  và Đài Loan (bảy của Trung Quốc và hai của Đài Loan) đã có mặt ở Việt Nam. Trong số đó, sáu công ty tập kết ở các khu công nghiệp thuộc tỉnh Bắc Giang đã chiếm tới 80% sản lượng pin và tấm pin năng lượng mặt trời được sản xuất tại Việt Nam.  Ông Wu dẫn nguồn Energy Trend cho hay, tổng công suất tới cuối năm 2017 của các công ty Trung Quốc và Đài Loan sẽ đạt trên 10GW, trong đó ba công ty có công suất lớn nhất là Vina Solar, Boviet và Trina (đều của Trung Quốc và đều đặt ở Bắc Giang).  Tại cuộc gặp, một số báo cáo cũng chỉ ra triển vọng việc làm hết sức lạc quan trong ngành điện mặt trời. Năm 2015, điện mặt trời  tạo ra gần 2,8 triệu việc làm trong tổng số 8,1 triệu việc làm trong ngành năng lượng tái tạo toàn cầu (Cơ quan Năng lượng Tái tạo quốc tế – IRENA), tăng 11% so với năm 2014. Thị trường việc làm của ngành năng lượng tái tạo nói chung cũng lạc quan, năm 2015 tăng 5% so với năm 2014, trong khi việc làm trong ngành năng lượng truyền thống lại giảm. Các nước có số việc làm trong ngành năng lượng tái tạo lớn bao gồm: Trung Quốc, Brazil, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Đức, với xu hướng việc làm đang dịch chuyển sang Châu Á, nơi chiếm tới 60% số việc làm.    Gặp gỡ lần thứ 2 của cộng đồng năng lượng tái tạo Việt Nam hôm 6/5 vừa qua có sự góp mặt của các nhà hoạch định chính sách, nhà sản xuất, lắp đặt, vận hành, và các nhà khoa học. Sự kiện được tổ chức nhằm làm rõ một số chính sách, định hướng của cơ quan quản lý về năng lượng mặt trời và năng lượng gió; tìm kiếm đối tác đầu tư, triển khai lắp đặt, vận hành và bảo hành bảo trì; cập nhật thông tin về tình hình công nghệ và khoa học trên thế giới và trong nước; thảo luận về cơ hội nghề nghiệp, về khả năng tổ chức khóa học ngắn hạn về năng lượng tái tạo nói chung cho các bên có nhu cầu tại Việt Nam.  Sự kiện được tổ chức trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định QĐ 11/2017/QĐ-TTg, theo đó Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án nối lưới với giá 9,35 cent/kWh. Với năng lượng gió, các doanh nghiệp cũng đang làm kiến nghị thay đổi giá bán điện nối lưới, nâng từ 7.8 cent lên 8.7 và 9.8 cent/kWh và không hạn chế công suất phát.  Cộng đồng Năng lượng Tái tạo Việt Nam (VREN) là một diễn đàn xuất hiện vào những năm 2010, với các thành viên là người Việt Nam ở trong nước hoặc nước ngoài nhưng có mối quan tâm chung là phát triển ngành năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Hiện tại, số lượng thành viên trên fanpage của VREN là 1733.          Author                MAT        
__label__tiasang Các đảo nhiệt đô thị ảnh hưởng đến nhiệt độ và tình trạng của cây      Trong một nghiên cứu vừa được công bố trên Scientific Reports về nhiệt độ tán cây ở thành phố New York, chị Võ Thùy Trang – nghiên cứu sinh tại Khoa Khoa học Khí quyển và Trái đất (ATS) tại UAH, thuộc Hệ thống Đại học Alabama đã cung cấp những hiểu biết mới về quản lý lâm nghiệp đô thị. Cụ thể, chị tiết lộ rằng những tán cây khỏe mạnh cung cấp bóng râm và thoát hơi nước có thể giảm thiểu mức độ nóng lên của các đảo nhiệt đô thị.      NCS Võ Thùy Trang. Ảnh: Michael Mercier / UAH     Chị Võ Thùy Trang hiện đang nghiên cứu về các tác động của đô thị lên khí hậu, và cách giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt thông qua tối ưu hóa hiệu quả của việc chăm sóc và quản lý các cây đơn lẻ và các quần thể cây trong môi trường siêu đô thị. Đây là đề tài luận án tiến sĩ của chị.     Đảo nhiệt đô thị (Urban heat island) là thuật ngữ để chỉ một khu vực đô thị nóng hơn đáng kể so với các khu vực ngoại ô xung quanh. “Đây là công bố đầu tiên của cô ấy trong chương trình Tiến sĩ ATS, nghiên cứu này đã chứng minh các cảm biến thế hệ mới trong không gian có thể giải quyết các vấn đề môi trường đô thị phức tạp ở độ phân giải cao trong không gian và thời gian như thế nào”, TS Leiqiu Hu, trợ lý giáo sư về khoa học khí quyển, chính là người cố vấn cho chị trong đề tài này, và cũng là đồng tác giả của bài báo, nhận định.      Trong nghiên cứu này, chị Trang đã sử dụng dữ liệu từ thiết bị ECOSTRESS gắn trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS). Chị Võ Thùy Trang cho biết, việc phân tích các dữ liệu này có thể giúp xác định sức khỏe của cây cối trong môi trường đô thị phức tạp, thông qua quá trình sử dụng các quan trắc cảm nhận từ xa; và nó có thể ảnh hưởng đến các loài được trồng và mô hình trồng cây trong cảnh quan đô thị. “Cách tiếp cận của chúng tôi trước tiên là giảm bớt việc phải thu thập thủ công dữ liệu về sức khỏe của cây”, chị chia sẻ. “Bằng cách xem xét cách cây cối đô thị tương tác với ba yếu tố môi trường – lượng cây xanh, khoảng cách đến các khu vực có nước và chiều cao công trình; chúng ta có thể cải thiện vị trí của cây và các yêu cầu bổ sung đối với điều kiện phát triển của chúng, như việc tưới tiêu.”     Nghiên cứu cho thấy các bề mặt cứng như gạch, nhựa đường hoặc bê-tông, loại lớp phủ lên mặt đất và số lượng lẫn kích thước của các vùng nước gần đó đều ảnh hưởng đến nhiệt độ tán cây và sức khỏe của cây trong lĩnh vực vi khí hậu đô thị. Nó còn ảnh hưởng đến khả năng của cây cối trong việc chống lại hiệu ứng đảo nhiệt đô thị.      “Chúng tôi nhận thấy rằng nhiệt độ cây thay đổi đáng kể giữa các quận của thành phố New York. Ví dụ, nhiệt độ cây ở Staten Island – quận xanh nhất – thấp hơn và đồng nhất hơn nhiều so với ở Manhattan, nơi có hình thái công trình phức tạp nhất”, chị Võ Thùy Trang nhận định. “Điều đó cho thấy có sự tương tác giữa hình thái đô thị và cây cối đô thị.”     “Các kết quả này sẽ gợi mở cho chúng tôi những nghiên cứu trong tương lai về khả năng làm mát của cây đô thị trên khắp các thành phố, vì nhiệt độ tán cây là một biến số quan trọng ảnh hưởng đến quá trình làm mát qua bay hơi và thoát hơi nước”, TS Hu cho biết.       Nghiên cứu còn đề xuất một số phương pháp nhằm giảm thiểu nhiệt ở các khu vực đông đúc, như biến mặt tiền và mái của các tòa nhà thành những khu vực xanh, đồng thời cung cấp hệ thống tưới tiêu cần thiết để ứng phó với tình trạng khô hạn hiện nay ở các đảo nhiệt. “Đối với các thành phố ở sâu trong đất liền, thiếu các vùng nước, tốt hơn hết là nên tập hợp các loại cây lại với nhau hơn là cô lập chúng thành những mảng nhỏ, cũng như nên cung cấp đủ nước tưới cho chúng. Khoảng xanh bao phủ càng lớn thì nhiệt độ cây càng thấp”, chị Trang chia sẻ.      “Điều thú vị là nhiệt độ bề mặt của cây cối đô thị thay đổi theo ngày và theo không gian trên khắp siêu đô thị, điều này nhấn mạnh ảnh hưởng của các hiệu ứng đô thị đối với cây xanh”, chị nói. “Bằng cách hiểu được cơ chế thúc đẩy, tôi thực sự nghĩ rằng sức khỏe của cây đô thị có thể được cải thiện”.      Bộ dữ liệu có sẵn miễn phí từ ECOSTRESS, công cụ cảm biến dựa trên ISS, đã được sử dụng trong nghiên cứu với hình ảnh Nhiệt độ bề mặt đất (LST) có độ phân giải không gian vừa phải – khoảng 70 mét. Chị Võ Thùy Trang đã sử dụng một phương pháp thống kê để trích xuất nhiệt độ của cây, rồi áp dụng thuật toán đó cho toàn bộ thành phố New York.      Có thể nói, chị đã áp dụng một phương pháp lập trình song song để xử lý và tính toán hình ảnh nhằm giảm thiểu thời gian xử lý. “Do đó, chúng tôi có thể có bản đồ nhiệt độ cây cho toàn bộ thành phố New York trong vòng chưa đầy một tiếng”, chị Trang nói. “Tôi hy vọng rằng, trong tương lai, chúng tôi có thể áp dụng nghiên cứu ở quy mô lớn hơn, để từ đó có được bức tranh về mức độ khỏe mạnh của cây cối trên toàn nước Mỹ, với các vùng khí hậu khác nhau”.      Hà Trang dịch     Nguồn: Urban heat islands affect tree canopy temperatures and health, study says    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các dấu hiệu ung thư có thể tồn tại rất lâu trước khi được chẩn đoán      Nghiên cứu về những đột biến di truyền đã cho thấy tính khả thi của các xét nghiệm phát hiện ung thư sớm đã chỉ ra, các dấu hiệu sớm của bệnh ung thư có thể xuất hiện hàng chục năm trước khi được phát hiện. Bài báo được xuất bản trên Nature như một phần của bộ công trình gồm 22 bài báo từ dự án Dự án phân tích toàn bộ các hệ gene Pan-Cancer (Pan-Cancer Analysis of Whole Genomes) – công trình nghiên cứu toàn diện nhất về sự di truyền ung thư cho đến nay.    Dựa trên phân tích và giải trình tự gần 2,700 bộ gene từ các mẫu ung thư và lập bản đồ các đột biến ở 38 loại khối u khác nhau, nghiên cứu này đã tìm thấy cơ hội phát hiện sớm ung thư ở những giai đoạn đầu tiên của căn bệnh, qua đó giúp người bệnh có nhiều khả năng xét nghiệm và điều trị hơn. “Điều đặc biệt là chúng tôi phát hiện ra cách một số thay đổi về mặt di truyền dường như đã diễn ra từ nhiều năm trước khi được chẩn đoán hay bất cứ dấu hiệu nào về sự phát triển của bệnh ung thư trước một thời gian dài, và có lẽ sự biến đổi này có thể xảy ra ở những mô bình thường”, Clemency Jolly, đồng tác giả của nghiên cứu tại Viện Francis Crick ở London, cho biết.  “Việc hiểu những mẫu hình này cũng đồng nghĩa rằng từ bây giờ chúng ta có thể có cơ hội phát triển được những xét nghiệm chẩn đoán mới giúp nhận diện các dấu hiệu của bệnh ung thư sớm hơn rất nhiều so với trước đây”, Peter Van Loo, cũng làm việc tại Viện Crick và đồng tác giả của nghiên cứu, nhận định.   Một nửa trong số những đột biến sớm nhất xảy ra chỉ ở trong chín gene, đồng nghĩa với việc có một nhóm gene chung tương đối nhỏ đóng vai trò kích thích các tế bào chuyển từ con đường phát triển lành tính sang con đường dẫn đến ung thư. Trong tương lại, những đột biến như vậy có thể sẽ được phát hiện thông qua phương pháp sinh thiết lỏng (liquid biopsies). Đây là một xét nghiệm di truyền giúp nhận diện các đột biến ở những DNA trôi nổi tự do trong máu – những phân tử có thể chỉ ra sự tồn tại của các khối u ở những vị trí khác trong cơ thể. “Trong tương lai, ta sẽ có thể thử, nhận dạng những đột biến sớm này và thực hiện một số dạng ảnh hóa rất chính xác trên các bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính”, Van Loo nói. “Hoặc xa hơn nữa, thậm chí còn có thể hình dung được những phương pháp mà thực sự nhắm đích vào các tế bào đó, khiến chúng hiện lên trong chẩn đoán hình ảnh, hoặc tiêu diệt chúng chỉ trong một lần điều trị. Tuy nhiên ở thời điểm này chúng ta vẫn chưa thể áp dụng ngay điều đó”.  Dù các tế bào phải trải qua hàng tỉ sự biến đổi khác nhau thì chỉ số ít trong đó được coi là tác nhân gây đột biến, góp phần tăng khả năng bị ung thư. Với việc sử dụng phương pháp định tuổi bằng carbon, các nhà nghiên cứu có thể khôi phục trình tự gene, từ lúc bộ gene của tế bào ung thư bắt đầu tích lũy các lỗi di truyền cho đến khi nó mang những phân đoạn lớn đã bị xáo trộn hoặc sao chép. Những đột biến này xảy ra “đặc biệt sớm” đối với ung thư buồng trứng cũng như hai loại ung thư não.  Những nghiên cứu trước đó về di truyền ung thư mới chỉ tập trung vào khu vực được gọi là vùng mã hóa của bộ gene – nơi chứa các chỉ dẫn để tế bào tạo ra proteins. Lincoln Stein, một thành viên ban lãnh đạo dự án Pan – Cancer và làm việc tại Viện nghiên cứu ung thư Ontario ở Canada, cho biết: “Phần mã hóa protein của bộ gene chỉ chiếm 1% khả năng tạo ung thư. Điều này giống như là bạn cố gắng chơi trò sắp xếp 100.000 mảnh ghép lại với nhau trong khi đang thiếu 99% mảnh còn lại và không có một bức tranh mẫu hoàn chỉnh nào.”  Việc nhận dạng được một vài gene quan trọng nằm bên ngoài vùng mã hóa cung cấp một số góc nhìn chi tiết đầu tiên về vai trò của 99% còn lại trong DNA và cách nó góp phần tạo ra ung thư. Stein cho biết những gene mới được nhận dạng này sẽ giúp làm tăng tỷ lệ bệnh nhân có thể xác định chính xác được các đột biến gây ung thư từ khoảng 2/3 lên 95% tổng số bệnh nhân.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/feb/05/signs-of-cancer-can-appear-long-before-diagnosis-study-shows    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các doanh nghiệp cung ứng linh kiện ô tô Đức đứng đầu thế giới về nghiên cứu và phát triển      Trong các năm qua, hầu như tất cả các nhà cung ứng linh kiện ô tô của Đức đều nâng cao năng lực của mình thông qua liên doanh và thâu tóm, đặc biệt ở các lĩnh vực phần mềm, điện và điện tử.    Các doanh nghiệp Đức chuyên sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô đi đầu trên thế giới về đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Bằng các chiến lược khác nhau, họ đã thành công trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của ngành này.    Giới thiệu ô tô và linh kiện ô tô ở Đức  Các doanh nghiệp cung cấp linh kiện phụ tùng ô tô Đức đầu tư nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển, mua các phần mềm và tri thức về công nghiệp điện tử. Theo nghiên cứu của công ty tư vấn PWC thì các doanh nghiệp này cũng đẩy mạnh tiếp quản, mua các doanh nghiệp khác cho các lĩnh vực có nhiều triển vọng trong tương lai, Trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật số các doanh nghiệp này cần phối hợp với các nhà chế tạo ô tô để liên kết mọi khả năng, năng lực của các bên: “Về trung hạn, nếu ngành công nghiệp ô tô Đức không muốn để mất lớp bơ ngon lành trên ổ bánh mì thì cần tăng cường liên doanh liên kết với các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng linh kiện, phụ tùng hàng đầu”, Henning Rennertchuyên gia về công nghiệp ô tô thuộc PwC nói.  “Các nhà cung ứng linh kiện ô tô Đức đã vượt qua giai đoạn cải tổ của ngành công nghiệp ô tô khá tốt ”, theo Richard Viereckl, một đối tác của  PwC. Trong năm qua các doanh nghiệp này đã đạt doanh thu 221 tỷ Euro và chiếm lĩnh 24% thị trường thế giới. Để “duy trì và củng cố vị trí hàng đầu của mình về sáng tạo và chất lượng”, các doanh nghiệp đã dành bình quân 5,7% doanh thu để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển – Nhà cung ứng lớn nhất của Đức về mảng này là Robert Bosch trong ba năm qua thậm chí còn dành tới trên 9% cho nghiên cứu và phát triển. Trong khi đó các đối thủ cạnh tranh ở châu Âu dành trung bình 3,7% và Hoa kỳ và châu Á chỉ dành khoảng trên 3%.  Rennert cho rằng “trong các lĩnh vực then chốt trong tương lai như điện, tự động hoá, nối mạng và chia sẻ tất cả doanh nghiệp tham gia cuộc chơi  trước mắt phải xây dựng năng lực của mình, Các đối thủ cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là Trung quốc đã bắt đầu có bước tiến mạnh mẽ.“  Dưới đây là một số nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng ô tô lớn nhất của Đức  Freudenberg  Năm 2017, Freudenberg đạt vị trí thứ 10, có doanh thu 4,21 tỷ Euro. Doanh thu so với năm trước tăng 40%. Trên bình diện quốc tế, xét về mặt tăng trưởng, Freudenberg xếp thứ hai sau nhà cung ứng Weichai Power của Trung quốc – đạt mức tăng 68%. Sản phẩm mà Freudenberg cung ứng cho ngành công nghiệp ô tô là các loại gioăng, kỹ thuật rung, loại vải không dệt và bộ lọc.  Eberspächer  Doanh thu 4,48 tỷ (2017), tăng 3,6% so với 2016, do nhu cầu của thị trường thế giới tăng đối với công nghệ làm sạch khí thải.  Brose  Doanh thu 6,31 tỷ Euro. Trên bình diện thế giới, doanh nghiệp này xếp thứ 40 với 26.000 nhân viên ở 23 nước. Ông Kurt Sauernheimerm, chủ doanh nghiệp tiết lộ Brose sẽ tiếp quản các cơ sở mới với tổng giá trị 2,5 tỷ Euro.  Hella KG Hueck  Trong lĩnh vực chế tạo ô tô, Hella kết hợp ba bộ phận phát triển, chế tạo và tiêu thụ. Do nhu cầu thị trường thế giới tăng đối với các sản phẩm về ánh sáng và điện tử nên doanh nghiệp có doanh thu  6,39 tỷ Euro.  Thyssen-Krupp Automotive  Doanh thu tăng 12,1% so với năm trước và đã nhảy lên thứ hạng 30 trên thế giới. Doanh thu của hãng đạt 7,73 tỷ Euro. Thyssenkrupp Automotive có tám cơ sở trên thế giới với 1500 nhân viên.  Schaeffler  Năm 2017 doanh thu của Schaeffler tăng 5,1% so với năm trước đó, đạt 10,87 tỷ Euro.  Mahle  Công ty này có bốn lĩnh vực kinh doanh: hệ thống động cơ và linh kiện, lọc và thiết bị ngoại vi động cơ, lĩnh vực kinh doanh quản lý nhiệt, lĩnh vực hậu mãi và bộ phận cơ điện tử. Doanh thu năm 2017 đạt tổng cộng  12,78 tỷ Euro (so sánh với năm 2016: 12, 32 tỷ).  ZF Friedrichshafen  ZF Friedrichshafen có doanh thu một năm là 33,53 tỷ Euro, tăng trưởng hàng năm đạt 3,6%, chuyên sản xuất bánh răng theo công nghệ mới.  Continental  Ra đời năm 1871, đầu tiên hãng này chuyên sản xuất săm lốp ô tô và sau đó phát triển lên thành nhà cung ứng linh kiện ô tô hàng đầu thế giới: có 235.000 nhân viên làm việc tại 400 địa bàn thuộc 61 nước. Doanh thu nă 2017 đạt 44,01 tỷ Euro, tăng 8,5% so với năm trước đó.  Bosch  Ra đời năm 1886, Bosch là một doanh nghiệp đa quốc gia với 450 công ty con. Từ năm 2004 Bosch vào diện đứng đầu thế giới về cung ứng linh kiện điện tử và cơ điện tử cho ô tô. Do mức tăng trưởng hàng năm đạt 7,8 % và doanh thu đạt 47,38 tỷ Euro nên Bosch giữ vững vị trí số một, cả trong năm nay. Năm 2017 mảng công nghiệp ô tô chiếm 61% tổng doanh thu của tập đoàn.  Mặc dù khoản chi cho nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp sản xuất cung ứng linh kiện ô tô rất cao tuy nhiên lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp Đức tương đương với lợi nhuận của các đối thủ cạnh tranh, theo một báo cáo của công ty tư vấn PwC mới công bố gần đây.  Các nhà cung ứng lớn như  Robert Bosch và  Continental đã số hoá các sản phẩm của mình hoặc mở rộng hoạt động dịch vụ như quản lý đội xe, dữ liệu bản đồ hay chia sẻ các chuyến đi. Gần đây ở lĩnh vực này, các nhà cung ứng thậm chí đã trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp đối với các nhà chế tạo ô tô với mục tiêu là biến các lái xe thành khách hàng của mình. Các tập đoàn phần mềm mạnh như Google và Microsoft thực ra đã chiếm lĩnh thị trường này, ở một số lĩnh vực năng lực của họ còn lớn hơn nữa và họ cũng đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển. Theo chuyên gia Rennert, nếu ngành công nghiệp ô tô Đức muốn tham gia vào lĩnh vực này thì phải kết nối, hợp tác với nhau.  Nguyễn  Xuân dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/auto/spitzenreiter-bei-forschung-und-entwicklung-die-innovativen-pfade-deutscher-autozulieferer/22765074.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các đột biến cúm trong tế bào hỗ trợ dự đoán khả năng đáp ứng miễn dịch      Sự đa dạng di truyền của virus có thể giải thích sự biến đổi trong một tế bào có khả năng chống lại bệnh tật như thế nào.      Virus cúm lây nhiễm trong các tế bào khiến các bản sao tế bào không thể giống hệt bản gốc. Nguồn: Steve Gschmeissner/SPL  Virus cúm liên tục biến đổi, một công trình được công bố hồi tháng 10 trên bioRxiv đã tiết lộ sự biến đổi của virus này có thể tác động tới tế bào chủ hay không và phản ứng của tế bào chủ với sự lây nhiễm diễn ra như thế nào.  Quá trình giải mã di truyền trong suốt một thập kỷ qua đã cho thấy RNA của các virus như virus cúm không thể tạo ra hàng tỷ bản sao giống hệt hệ gene gốc. Thay vào đó, các tế bào bị virus xâm nhập sẽ tạo ra ra những virus mới mắc những lỗi di truyền nhỏ. Những biến dị nhỏ đó có thể tăng lên khi những virus này tiếp tục được nhân bản. Các biến đổi mới có thể ảnh hưởng đến khả năng lây lan của virus lên người khác hoặc phản ứng của tế bào miễn dịch trong cơ thể người.  “Sự đột biến của virus có thể kích hoạt hệ thống miễn dịch”, Jesse Bloom, nhà virus học tiến hóa ở Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson, Seattle, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu giải thích. “Có thể hình dung là sự đột biến trong các tế bào bị lây nhiễm đầu tiên sẽ bị khuếch đại trong suốt quá trình lây nhiễm và góp phần vào tác động của bệnh.  Các nhà nghiên cứu chỉ mới bắt đầu nghiên cứu những bước quan trọng đầu tiên về sự tiến hóa của bệnh cúm trên cơ thể người. Vào tháng 9/2018, một nhóm nghiên cứu do nhà virus học Ryan Langlois ở Đại học Minnesota, Minneapolis, chủ trì phát hiện: virus cúm đã chứng tỏ những khả năng khác nhau của chúng để lây nhiễm mô phổi theo những kiểu khác nhau. Họ cũng thấy, sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể phụ thuộc vào số lượng virus mà mỗi tế bào bị lây nhiễm tạo ra.  Nhóm nghiên cứu của Bloom đã phân lập được 150 tế bào từ một mô phổi được nuôi cấy và được tiêm một chủng virus cúm trong phòng thí nghiệm. Sau đó họ đã giải trình tự toàn bộ chuỗi RNA của virus trong mỗi tế bào, xác định số lượng RNA của tế bào có chức năng kiểm soát việc tạo ra interferon –nhóm các protein do những tế bào của hệ miễn dịch tạo ra nhằm chống lại tác nhân ngoại lai khi chúng xâm nhập cơ thể.  Bloom và cộng sự có thể theo dấu sự đột biến của virus tác động đến các loại gene mà chúng đã tạo ra cũng như số lượng interferon do một tế bào bị lây nhiễm sinh ra.  Các virus bị đột biến nhiều hoặc bị thiếu toàn bộ các gene nhiều khả năng kích hoạt việc sản xuất interferon của các tế bào bị nhiễm virus.  Seema Lakdawala, nhà virus học về cúm ở Đại học Pittsburgh, Pennsylvania, cho biết: “Những gì Jesse đã làm với việc giải trình tự thật đáng kinh ngạc, mặc dù chúng tôi sẽ phải chờ bình duyệt để xem xét mức độ hiệu quả của cách tiếp cận này như thế nào”.  Các nhà nghiên cứu không thể theo dấu các tế bào bị nhiễm virus theo thời gian để nghiên cứu tác động lâu dài của các đột biến virus vì quá trình giải trình tự gene làm tế bào bất hoạt. Và họ cũng thừa nhận rằng công trình nghiên cứu này chưa giải thích được những cách phản ứng khác biệt của các tế bào khác nhau với sự lây nhiễm virus cúm. Nhưng nghiên cứu đã “mở ra một cánh cửa về cách mỗi tế bào đối phó với sự lây nhiễm virus”, Langlois cho biết.  Nghiên cứu này tập trung vào sự tiến hóa của virus trên từng tế bào đơn lẻ, Lakdawala cho biết, và “nó đáng để chúng ta bàn luận”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07190-7       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các dự án một tỷ euro tiếp theo của EU      EU đã lựa chọn được sáu dự án nghiên cứu – trong các lĩnh vực từ y tế, năng lượng đến trí tuệ nhân tạo và di sản văn hóa – để chạy đua trở thành một trong những sáng kiến khoa học “lá cờ đầu” trị giá tỷ euro.      Dự án Time Machine nhằm phát triển những phương pháp cho phép tìm kiếm số trên các hồ sơ lịch sử về các thành phố châu Âu.  6 ứng cử viên đã được chọn từ danh sách 16 đề xuất trong tháng 12/2018. Vào ngày 1/3/2019, mỗi nhóm nghiên cứu sẽ nhận được khoản đầu tư trị giá 1 triệu euro để phát triển thành một đề xuất khả thi chi tiết vào năm tới. Ba nhóm xuất sắc nhất trong số này sẽ được chọn để bắt đầu thực hiện dự án vào năm 2021.    Hội đồng khoa học của EU mới hỗ trợ ba siêu dự án nghiên cứu về não người, vật liệu graphene, vật liệu và công nghệ lượng tử – những lá cờ đầu FET Flagships, mỗi dự án được đầu tư khoảng 1 tỷ euro và thực hiện trong vòng 10 năm. Các dự án đỉnh cao này được thực hiện với mục tiêu là tạo ra những bước tiến mang tính cách mạng trong những lĩnh vực này – bằng việc hội tụ cả chuyên môn và kinh phí của giới hàn lâm và công nghiệp trên khắp châu lục – nhưng không gây ra tranh cãi hoặc chỉ trích.  Sáu ứng cử viên trong vòng chung kết bao gồm: một dự án khám phá cách AI có thể làm gia tăng năng lực của con người; thúc đẩy việc ứng dụng trong điều trị lâm sàng các liệu pháp gene và tế bào; sáng kiến y học chính xác; hai dự án nhằm tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng mặt trời; dự án nhân học mang tên Cỗ máy thời gian (Time Machine) nhằm phát triển những phương pháp cho phép tìm kiếm số trên các hồ sơ lịch sử về các thành phố châu Âu.  Sự lựa chọn gây ngạc nhiên  Việc lựa chọn Time Machine là một điều đáng ngạc nhiên, Frédéric Kaplan – một nhà khoa học máy tính tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sỹ ở Lausanne và là một trong những thành viên chính của dự án, hiện đang phụ trách các hồ sơ lịch sử về Venice – nói. “Với một dự án về di sản văn hóa, chúng tôi là kẻ ngoại đạo — thật là một chiến thắng tuyệt vời,” Kaplan cho biết.  Hội đồng khoa học EC đã thiết lập những “ngọn cờ” đầu tiên vào năm 2013 trong khuôn khổ chương trình Các công nghệ mới nổi và tương lai (FET) – một phần của chương trình đầu tư cho nghiên cứu chính Horizon 2020. Các dự án FET được thiết kế để bàn bạc về những thách thức KH&CN và đóng góp cho nền kinh tế xã hội ngày một tốt hơn ở châu Âu. Hội đồng sẽ đầu tư một nửa trong số 1 tỷ euro cho mỗi dự án và chờ đợi kết quả giai đoạn đầu để giải ngân phần còn lại.  Dự án Não người (The Human Brain Project) và Graphene được khởi đi đầu tiên sau một cuộc kêu gọi đề xuất, dự án Các công nghệ lượng tử được tiếp nối vào năm 2017 do chỉ thị của những chính trị gia EU khi thấy rằng cần phải giữ EU tiếp tục phát huy vị thế trong lĩnh vực này. Dự án các công nghệ lưu trữ điện đang được thảo luận theo sau một quyết định tương tự từ trên xuống.  Cách tiếp cận mới  Dẫu tương tự như những sáng kiến trước, cấu trúc và kinh phí cho các dự án tương lai cũng có sự thay đổi – nhưng hiện tại vẫn còn chưa rõ ràng. Những sáng kiến tương tự trên quy mô lớn như chương trình tiền nhiệm Horizon 2020, Horizon Europe sẽ bắt đầu vào năm 2021 và kết thúc vào năm 2027. Hội đồng tuy không thông báo danh sách những đề xuất vào vòng lựa chọn cuối nhưng cho biết có thể không cung cấp thông tin chi tiết về các nhiệm vụ “như dự án lá cờ đầu” trong Horizon Europe bởi vẫn còn trong những giai đoạn đầu của thiết kế chương trình. “Cách tiếp cận này hoàn toàn khác biệt, và vẫn chưa rõ ràng về cách các vấn đề này sẽ kết hợp với nhau như thế nào”, nhà sinh học tế bào Daniela Corda, giám đốc Viện nghiên cứu Sinh hóa Protein CNR ở Naples, Italy, và là người đại diện cho Italy trong ủy ban phụ trách chương trình Horizon 2020, nói.  Một trong hai dự án y tế có mặt trong danh sách lựa chọn cuối, khối liên doanh LifeTime do Đức dẫn dắt, có thể tạo ra những nền tảng đổi mới sáng tạo cho y học chính xác. Các nền tảng này có thể đo  đạc các chức năng phân tử của các đơn tế bào và mô thay đổi trong suốt tiến trình mắc bệnh và điều trị của một bệnh nhân và dùng trí tuệ nhân tạo, học máy phát hiện ra những mẫu hình có ý nghĩa trong dữ liệu để tìm ra ý nghĩa về mặt sinh học. LifeTime đề xuất phát triển các organoid được thiết kế — những dạng tối giản nhất và đơn giản nhất của một cơ quan sinh học được tạo ra từ các tế bào sống trong ống nghiệm – có thể làm mẫu áp dụng điều trị bệnh tật của một bệnh nhân.  RESTORE, một dự án y tế khác do bệnh viện Charité thuộc trường đại học Berlin, đề xuất phát triển các bước phức tạp cần thiết để tăng tốc việc chuyển các liệu pháp gene và tế bào tiên tiến cho điều trị lâm sàng. Các phương pháp này hứa hẹn sẽ đóng góp vào việc điều trị các bệnh phổ biến như ung thư và tiểu đường nhưng hiện vẫn còn đắt đỏ và cách thức phức tạp để có thể phổ biến trên thị trường.  Hai chương trình năng lượng mặt trời: một là Sunrise được trông chờ cải thiện hiệu suất của các công nghệ điện mặt trời bằng khai thác các vật liệu thô phong phú trong khí quyển như carbon dioxide, oxygen hay nitrogen, ví dụ thông qua việc phát triển các quá trình quang hợp nhân tạo. (Sunrise, do các nhà nghiên cứu trường đại học Leiden, Hà Lan dẫn dắt, mới loan báo sự lựa chọn này trong một cuộc họp báo ngày 1/2/2019); một là ENERGY-X, do các nhà khoa học trường đại học Messina ở Italy dẫn dắt, muốn thúc đẩy hiệu suất theo một cách khác – bằng việc phát triển các chất xúc tác và những quá trình hóa học khác.  Những Horizon mới  Nhóm nghiên cứu Humane AI, cũng gồm các thành viên chính ở trường đại học Leiden, kết hợp với một mạng lưới các phòng thí nghiệm AI khắp châu Âu mới được thành lập mang tên CLAIRE. Nhóm nghiên cứu này dự kiến sẽ tạo ra một tổ chức đầu tư có thể lựa chọn những đề xuất phát triển AI để nâng cao năng lực hơn là thay thế con người nhiều lĩnh vực như quan sát trái đất, dược phẩm, khoa học xã hội, vận tải.  Cấu trúc của Horizon Europe phải được Ủy ban châu Âu và nghị viện châu Âu định hình trong năm tới, nhằm tiếp tục thực hiện những dự án nghiên cứu tiên phong của châu Âu. Những chi tiết ban đầu về Horizon Europe cho thấy nó sẽ được cấu trúc khác hẳn Horizon 2020 và thể hiện ý tưởng mới về “các nhiệm vụ” – các cụm dự án được thành lập xung quanh nó một cách tường minh nhằm đảm bảo cho các mục tiêu của dự án sẽ có tác động thẳng vào xã hội trong thười gian ngắn, và những dự án tiên phong đó có thể trở thành những nhiệm vụ trụ cột của châu lục. Nghị viện châu Âu muốn thắt chặt kiểm soát các ngân sách dồi dào của các dự án này “để tránh sai lầm về chi phí đầu tư”.  Tranh cãi xảy ra với phương thức quản lý ban đầu của các dự án tiên phong. Dự án Human Brain đã phải tái cấu trúc 16 tháng sau khi khi dấy lên ý kiến công khai về phong cách quản lý, trong đó những nhà khoa học thần kinh cho rằng cách quản lý ngày càng trở nên chuyên quyền, độc đoán. Dự án này đã trở lại vào năm 2017 sau những cải cách về quản lý.  Năm 2017, sau khi khảo sát về Human Brain và Graphene, các chuyên gia kết luận: cả hai dự án đều xuất sắc nhưng chỉ trích một số cách thức quản lý và phàn nàn rằng sự liên kết giữa các sáng kiến này với các chương trình nghiên cứu khác của châu Âu vẫn chưa đủ tốt.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00541-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các electron chậm chiến đấu với bệnh ung thư      Các nhà nghiên cứu tại trường TU Wien đã có thể chứng minh được hiệu ứng ít được quan sát trên thực tế đóng một vai trò cốt lõi trong việc dùng các chùm ion để điều trị ung thư: do một quá trình được gọi là phân rã liên nguyên tử Coulomb (ICD).         Nghiên cứu sinh Janine Schestka. Nguồn: TU Wien  Các chùm ion thường được sử dụng ngày nay để điều trị ung thư: nó bao gồm các nguyên tử được tích điện để đốt tại điểm có khối u để phá hủy các tế bào ung thư. Mặc dù trên thực tế các ion tự nó không phải là nguyên nhân mang tính quyết định. Khi các ion thâm nhập qua các vật liệu rắn, chúng có thể chia sẻ một phần năng lượng với từng electron, khiến sau đó chúng tiếp tục chuyển với tốc độ chậm tương ứng và các electron này phá hủy DNA của các tế bào ung thư một cách chính xác.  Cơ chế này phức tạp và chưa được hiểu một cách đầy đủ. Nhưng giờ các nhà nghiên cứu tại trường TU Wien đã có thể chứng minh được hiệu ứng ít được quan sát trên thực tế đóng một vai trò cốt lõi trong bối cảnh này: do một quá trình được gọi là phân rã liên nguyên tử Coulomb (ICD), một ion có thể chuyển một năng lượng tăng thêm xung quanh các hạt nhân. Sự giải phóng một số lượng lớn các electron với lượng năng lượng phù hợp một cách chính xác để tối ưu khả năng hủy diệt DNA của các tế bào ung thư. Để hiểu và tăng cường hơn hiệu quả của liệu pháp ion, cơ chế này hoàn toàn phải được tính đến. Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong ấn bản Journal of Physical Chemistry Letters.  Một hạt nhanh – hoặc mất mát của những hạt chậm  Khi một hạt mang điện tích thâm nhập vào một vật liệu với tốc độ cực lớn – như mô người – nó để lại một đống lộn xộn hạt nhân khổng lồ phía sau: “Điều này có thể kích hoạt một loạt những tầng hiệu ứng”, Janine Schwestka, tác giả chính của công bố, hiện đang thực hiện luận văn tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của giáo sư Friedrich Aumayr và tiến sĩ Richard Wilhelm, nói. Khi ion chuyển động qua các nguyên tử, các hạt ở đó và các hạt khác có thể trở nên ion hóa, các electron nhanh bay xung uanh và sau đó va chạm với các hạt khác. Cuối cùng, một ion nhanh mang điện tích có thể kích hoạt một trận mưa hạt với hàng trăm electron mang năng lượng thấp hơn nhiều.  Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường quen dùng các vật thể nhanh mang hiệu ứng lớn hơn hẳn các vật thể chậm – một cú đá bóng với lực tác động lớn có thể là nguyên nhân phá hủy một cửa hàng hơn một cú đá tương tự nhưng lực yếu. Ở cấp độ nguyên tử, dẫu sau, điều này không thể áp dụng được: “Khả năng một electron chậm phá hủy một sợi DNA còn lớn hơn. Ngược lại, một electron có tốc độ nhanh thông thường chỉ bay qua phân tử DNA mà không để lại dấu vết nào”, Janine Schwestka giải thích.  Từ một vỏ electron đến một electron khác  Nhóm nghiên cứu TU Wien mới đây đã có một cái nhìn gần hơn vào một hiệu ứng đặc biệt, phân ra Coulomb liên hạt nhân. “Các electron của ion có thể đảm đương nhiều trạng thái khác biệt. Phụ thuộc vào việc có bao nhiêu năng lượng, chúng có thể định được một trong những lớp vỏ bên trong, gần hơn với các hạt nhân, hoặc trong lớp vỏ ở phía ngoài”, Janine Schwestka nói. Electron không thể chiếm hữu được tất cả các không gian. Nếu một lớp vỏ electron trong phạm vi năng lượng trung gian là tự do thì từ một lớp vỏ với năng lượng cao, một electron có thể vượt qua đó. Chính năng lượng được phát ra đó, vốn sau đó có thể tiếp tục đến vật liệu theo đường phân rã liên nguyên tử Coulomb: “Ion này vận chuyển năng lượng này tới phần lớn các nguyên tử theo hướng thẳng vùng lân cận tại cùng thời điểm. Một electron bị tách ra từ từng nguyên tử đó nhưng bởi năng lượng được phân chia giữa các nguyên tử mà chúng ta đang đề cập đến có nhiều eletron chậm”, Schwestka giải thích.  Xenon và graphene  Với sự hỗ trợ của một cài đặt trong một thực nghiệm được sắp đặt một cách kỹ lưỡng, bây giờ có thể chứng minh tính hiệu quả của quá trình này. Các ion xenon mang điện tích được nhân lên bội phần được bắn vào một lớp graphene. Các electron từ các lớp vỏ phía bên ngoài xenon chuyển đến một vị trí trong lớp vỏ khác với ít năng lượng hơn, dẫn đến các electron bị tách ra từ một số lượng lớn các nguyên tử carbon trong lớp graphene, vốn sau đó được một máy dò ghi lại, để đo đạc năng lượng của chúng. “Trên thực tế, theo cách này, chúng tôi đã có thể chứng tỏ phân rã liên nguyên tử Coulomb đóng vai trò trung tâm trong việc phát ra một lượng lớn các electron tự do trong vật liệu này”, giáo sư Friedrich Aumayr nói.  Để có thể miêu tả được chính xác sự tương tác của các chùm tia ion với các vật liệu rắn hoặc các mô hữu cơ, người ta hoàn toàn phải tính đến hiệu ứng này. Điều này rất quan trọng, bởi một mặt, để tối ưu liệu pháp chùm tia ion trong điều trị ung thư, cũng như trong nhiều lĩnh vực quan trọng khác như bảo vệ sức khỏe của những phi hành đoàn tại các trạm vũ trụ, vốn bị phơi nhiễm trước sự bắn phá của các hạt từ bức xạ vũ trụ.  Anh Vũ  https://phys.org/news/2019-08-electrons-combat-cancer.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các em bé chỉnh sửa gene có thể bị giảm tuổi thọ      Nghiên cứu về một nửa triệu người có khả năng miễn dịch với HIV cho thấy, tuổi thọ của họ có thể ngắn hơn.      Các nhà khoa học đã chỉnh sửa hệ gene cả các bé gái sinh đôi trong nỗ lực giúp các em có khả năng kháng bệnh HIV có thể đã tình cờ làm giảm tuổi thọ tự nhiên của các em. Những người có hai bản sao gene CCR5 bị vô hiệu hóa – vốn bảo vệ họ trước khả năng lây nhiễm HIV – đều có 21% khả năng qua đời trước tuổi 76, khi so sánh với người có ít nhất một bản sao gene này, theo một nghiên cứu xuất bản vào ngày 3/6/2019 trên Nature Medicine. Nguyên nhân về sự khác biệt này vẫn chưa được biết rõ.  Các phân tích này dựa trên dữ liệu di truyền và dữ liệu y tế của gần 410.000 người ghi tên trong dự án nghiên cứu UK Biobank. Các tác giả nghiên cứu đã không có đủ dữ liệu để ước tính các xác suất vượt quá mốc 76 tuổi.  He Jiankui, nhà lý sinh học ở đại học KH&CN miền Nam ở Thâm Quyến, Trung Quốc đã phải đối mặt với sự chỉ trích của chính đồng nghiệp trong nước sau khi tiết lộ đã giúp sinh những em bé chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới vào tháng 11/2018. Các nhà khoa học và đạo đức học vẫn đang vật lộn với những gợi ý của việc thay đổi các gene của một cá nhân theo các cách có thể ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai – những gì còn chưa từng có tiền lệ trước đây.  Và nhiều nhà khoa học đã dấy lên câu hỏi về sự lựa chọn gene của He. Mã hóa CCR5 một protein cho phép virus HIV xâm nhập các tế bào miễn dịch. Cắt đi phần gene có thể làm bất hoạt nó — bắt chước một đột biến xảy ra một cách tự nhiên, CCR5-Δ32, để kháng lại HIV. Các nhà nghiên cứu đã lo ngại về bằng chứng cho rằng biến dị CCR5-Δ32 khiến con người mẫn cảm nhiều hơn với ảnh hưởng từ lây nhiễm cúm và virus vùng Tây sông Nile – một loại virus RNA sợi đơn gây sốt Tây sông Nile.  Nghiên cứu gần nhất càng khiến người ta thêm nghi ngờ về sự “khôn ngoan” của việc làm bất hoạt loại gene này nhằm chống lại HIV, Philip Murphy – một nhà miễn dịch học phân tử tại Viện nghiên cứu dị ứng và các bệnh truyền nhiễm quốc gia Mỹ ở Bethesda, Maryland, nhận xét. “Nếu anh cho rằng, chẳng cần sống lâu, chỉ cần vượt qua một độ tuổi nào đó thì đơn giản, việc chỉnh sửa một gene đặc biệt xứng đáng là rủi ro có thể chấp nhận được”. Nhưng với những khả năng điều trị HIV hiện hành thì nhiều người có thể “chung sống hòa bình với loại virus này tới già”.  Đột biến bí ẩn  Vào thời điểm He công bố kết quả của mình, nhà sinh học tiến hóa April Wei của trường đại học California, Berkeley, đã phát triển một công cụ tính toán có khả năng tìm ra mối liên hệ những đột biến di truyền với tuổi thọ, sử dụng dữ liệu từ UK Biobank. Chị và nhà di truyền học Rasmus Nielsen, cũng làm việc tại Berkeley, quyết định kiểm tra công cụ này với CCR5. “Với chúng tôi, đây thực sự là một gene thú vị,” Wei nói.  Tất cả hệ gene của động vật có vú chứa một phiên bản CCR5, nó cho thấy vai trò quan trọng của gene này về mặt sinh học của loài động vật này. Đột biến CCR5-Δ32 cũng là điểm chung cả nhiều quần thể người, khoảng 11% người Anh mang đột biến của cả hai bản sao gene CCR5, và tỷ lệ đó thậm chí còn cao hơn trong các quần thể người Scandinavia.  Các đột biến làm xóa đi phần gene chức năng hiếm khi phổ biến. Tỷ lệ lưu hành của CCR5-Δ32 cho thấy, ít nhất trong một số trường hợp, sự bất hoạt của gene CCR5 có thể đem đến một lợi thế tiến hóa, Murphy nói. Nhưng các nhà khoa học chưa biết điều đó có ý nghĩa gì.  Mối liên hệ rõ ràng giữa đột biến CCR5-Δ32 và tuổi thọ hết sức thú vị nhưng không đáng ngạc nhiên, theo David Melzer – một nhà dịch tễ học tại trường đại học Exeter, Anh, người vẫn sử dụng dữ liệu từ Biobank UK để nghiên cứu về sự trường thọ.  Một trong những chỉ thị di truyền mà Wei và Nielsen dùng để kiểm tra hình thức đột biến của CCR5 có liên quan đến những điều kiện tự miễn dịch – như bệnh Crohnvà tiểu đường type 1 – có thể làm tuổi đời của một cá nhân thấp hơn. Nhưng Melzer cho biết, bằng chứng cho mối liên hệ giữa việc xóa CCR5 và tuổi đời không mật thiết bằng việc có sự ảnh hưởng của nhiều gene khác với sự trường thọ.  Và Murphy nói, nghiên cứu này còn bị giới hạn bởi các dữ liệu của nó từ những người ở độ tuổi 41 hoặc nhiều hơn, và có thể đã loại trừ cả những người đã qua đời ở lứa tuổi thấp hơn, hoặc với người ốm và không tham gia vào UK Biobank. Nhưng ông cũng công nhận, các nhà nghiên cứu đã “thực hiện được một nghiên cứu giá trị với lượng thông tin có sẵn”.  Những rủi ro chưa lường trước  VớiWei, những khám phá của nghiên cứu này củng cố thêm ý tưởng là sự bất hoạt gene CCR5 ở phôi người là một ý tưởng tồi. “Tôi nghĩ, nó thực sự khó chứng minh được là một gene có lợi ích vô điều kiện và đó là những gì cần được cân nhắc. Thậm chí nếu chúng tôi giải quyết được những vấn đề kỹ thuật và đạo đức, chúng tôi có thể chỉnh sửa được một gene thì thực sự chúng tôi cũng không biết rõ nó có ảnh hưởng xấu đến con người không”.  Alcino Silva, một nhà khoa học thần kinh tại trường đại học California, Los Angeles, đồng ý với nhận định này. “Vài thời điểm này, thật điên rồ khi đi trước và bắt đầu thực hiện trên những gene đột biến của người. Dù có ý định tốt và thành thạo việc thiết kế các điều chỉnh gene nhưng chúng ta vẫn đơn giản là không đủ hiểu biết để thực hiện công việc ngay thời điểm này”. He có thể thích thấy nhiều nghiên cứu trên những người có gene CCR5 không hoạt động, vốn có thể giúp anh ta hiểu vì sao chức năng của nó có liên kết với tuổi thọ.  Nhóm nghiên cứu của Silva đã thấy là việc cô lập gene CCR5 dường như giúp con người phục hồi sau đột quỵ nhanh hơn, và cải thiện trí nhớ lẫn khả năng học tập trên chuột. Nhưng anh cho rằng bất hoạt gene này cũng giống như việc loại bỏ phanh trên ô tô. “Xe có thể đi nhanh hơn,” Silva nói, nhưng rủi ro cũng có thể tới ở mức độ cao hơn, giống như cứ mày mò với sự phát triển của não có thể là nguyên nhân gây ra bệnh tật. “Tiến hóa đã phải diễn ra trong thời gian dài và chọn lọc rất nhiều mới có thể đem lại cho chúng ta những gene mà chúng ta cần,” anh nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01739-w       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các fab lab có thể tạo ra các startup      Các fablab có thể chỉ có những thiết bị cơ bản nhưng chúng vẫn có thể tạo ra khác biệt cho một startup giai đoạn đầu đời.    Khái niệm “fab lab” –  xưởng chế tạo quy mô nhỏ phục vụ cho chế tạo kỹ thuật số – đã ra đời tại MIT vào đầu những năm 2000 với ý tưởng là trao quyền truy cập cho chế tạo các thiết bị do máy tính kiểm soát như một máy in số, một máy cắt laser và một thiết bị nghiền, có thể cho phép tạo ra phần lớn mọi thứ. Phổ biến một cách nhanh chóng với các sinh viên MIT, khái nệm này nhanh chóng lan rộng với việc nhiều thành phố đã đưa thêm một fab lab hoặc “không gian chế tạo” cho những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của mình. Mạng lưới Fab Lab này hiện tại tuyên bố có hơn 1.750 fab lab thuộc hơn 100 quốc gia khắp thế giới tham gia.  Nhiều trường đại học đã thiết lập các fab lab, ban đầu cho các sinh viên làm việc trong khuôn khổ các dự án nghiên cứu mà họ tham gia nhưng với việc mở ra ý tưởng nàyđã tạo ra một cộng đồng đổi mới sáng tạo rộng lớn. Và bất chấp cảm giác vẫn tồn tại là chủ yếu dành cho những người chung sở thích, một số nhà sáng lập công ty khởi nghiệp quan trọng đã từng trưởng thành từ các fab lab trong trường đại học.  Ví dụ như Chris Cieslak, người đã làm việc trong ngành điện gió trong một thập kỷ thiết kế các cánh turbine trước khi quyết định lập công ty khởi nghiệp của riêng mình. Ý tưởng của anh là tạo ra một robot có thể giúp các nhân viên kỹ thuật kiểm tra và sửa chữa các cánh quạt, một sản xuất có thể làm việc tại độ cao cực lớn và dưới các điều kiện vô cùng thách thức.  Những bước đầu tiên của một robot  Anh tham gia một chương trình thương mại hóa tại Imperial College London, nơi anh nghiên cứu kỹ thuật vật liệu composite và biết một fab lab trong trường, The Advanced Hackspace. Sau đó anh trở thành một “cư dân” của nó, một chương trình cho phép được sử dụng các nguồn lực của fab lab này để được trao đổi các kinh nghiệm chia sẻ với các học viên và giúp cho nơi này được hoạt động như mong muốn.  “Nó cho phép tôi có một chỗ để làm việc và các cơ sở để tạo ra một mẫu thử”, Cieslak kể lại. Anh tạo ra các sản phẩn từ máy in 3D, máy cắt laser cùng với các công cụ điện tử khác.Nhưng những người anh gặp cũng quan trọng không kém. “Tôi là một kỹ sư cơ khí may mắn nhưng còn may mắn hơn là tôi đã phát triển được một robot bằng các kỹ thuật khác như điện tử, phần mềm, vì vậy nó cho phép tôi gặp được những người với các kỹ năng khác có thể giúp tôi nhiều”.  Đó là một nơi đổi mới sáng tạo mở, nơi mọi người có thể chia sẻ ý tưởng và hỗ trợ dự án của những người khác, với sự hào hứng. tuy nhiên có điều nơi này cũng có tiềm năng gây ra những phiền toái khi công việc có thể tạo ra tài sản trí tuệ. May mắn thay, Cieslak nhận được một tài trợ của chính phủ trong chương trình Đổi mới sáng tạo Anh (Innovate UK) giúp anh có thể đăng ký được một đề xuất sáng chế. “Một khi sáng chế đã được chấp thuận thì thật dễ dàng để phát triển robot và đưa nó vào không gian của fab lab này”.  Anh cũng biết rằng anh đã xây dựng được mẫu thử của mình tại Hackspace của trường là do giành được tài trợ. “Có vé ở trong rất nhiều loại hộp, và tài trợ cho phép tôi dành hết thời gian cho BladeBUG.” Trường cũng có hỗ trợ cho vấn đề thương mại hóa thông qua Enterprise Lab của mình.  Sau một năm ở Hackspace, BladeBUG đã “đủ lông đủ cánh” để tự tồn tại. “Tôi đã có thể chứng minh là khái niệm này đủ để được chứng minh và hình thành một công ty phù hợp với sản phẩm và thiết bị của mình”, Cieslak nói. Anh rời Imperial với một tài trợ khác của Innovate UK trong túi và đồng nghiệp ở Hackspace của anh là Aksat Shah trở thành chuyên viên công nghệ chín.  Hiện tại BladeBUG đang chuyển từ R&D thuần túy sang phát triển thương mại hóa. “Chúng tôi đang vận hành sớmcác chương trình thử nghiệm và làm nhiều phiên bản thử cho các khách hàng tiềm năng. Vẫn còn nhiều việc phải làm với con robot này nhưng chúng tôi cần làm để đáp ứng yêu cầu của người dùng cuối”.  Các fab lab cho sinh học phân tử  Patrick Torbey đã đạt được thuận lợi với GreenLab, một fab lab đặc biệt tại trường đại học Sorbonne, được thành lập để tạo điều kiện cho sinh viên và những người khác khả năng sử dụng các thiết bị sinh học cơ bản. Anh đã hoàn tất chương trình nghiên cứu sinh về kỹ thuật chỉnh sửa gene tại trường ĐH Bách khoa Paris và biết rằng mình muốn xây dựng một công ty. Ý tưởng của anh là năng lực vốn có của một số loài thực vật trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm từ không khí có thể dùng để làm cho không khí trong nhà trở nên trong lành hơn.  “Chúng tôi muốn thực hiện một dự án chứng minh khái niệm rất nhỏ và rất đơn giản để chứng minh là có thể làm cái gì đó với thực vật để làm gia tăng năng lực của nó trong việc loại bỏ ô nhiễm dạng hạt từ không khí”, anh kể lại. “Với mẫu thử đó, chúng tôi có thể nói với các nhà đầu tư: đây là những gì mà một người có thể làm trong vài tháng, hãy trao cho chúng tôi nhiều nguồn lực và không gian của chúng ta sẽ trở nên trong lành hơn”.  Vào năm 2018, các nguồn lực cơ sở vật chất của GreenLab không có gì mới hoặc phức tạp. “Đó là những thiết bị rất đơn giản nhưng vẫn có giá trị hàng trăm euro nếu muốn tự trang bị cho chính mình”, Torbey nói. Nó bao gồm một nồi hấp để tinh sạch các dụng cụ và thiết bị khác, một máy ky tâm nhỏ, một bồn nước ấm, một tủ lạnh, một thủ hút khí độc (rất hữu dụng nếu anh muốn cho các cây thử hít khí ô nhiễm trong thí nghiệm), và một máy PCR cơ bản để làm thí nghiệm với DNA. “Có chút ít giới hạ nhưng đủ để làm một số việc nhỏ nhỏ,” anh kể. “Tôi cũng nhận được một khoản tài trợ nhỏ, tôi dùng để mua hóa chất và một số máy móc đặc biệt và một số việc khác”.  Torbey còn nhận được hỗ trợ từ đồng nghiệp, ví dụ mượn được không gian trong phòng thí nghiệm “hàng xóm” để làm nơi trồng các cây đặc biệt của mình. Nhưng đó không phải là những hỗ trợ thông thường từ trường đại học hay doanh nghiệp. nhưng không có hỗ trợ thông thường nào từ trường đại học hay về mặt khoa học hay khía cạnh kinh doanh. “Điều đó cũng ổn. “Đó là một thỏa thuận rất đơn giản, nơi chúng tôi có thể thuê không gian trong vài tháng. Tôi không có thời gian để thảo luận về các mối hợp tác hay các thỏa thuận về quyền sở hữu trí tuệ cho những thứ mới chỉ là một ý tưởng trong đầu mình”.  Sau ba tháng, Torbey đã chứng minh được điều mình mong muốn. “Chúng tôi đã có một cái cây nhỏ nhưng có khả năng loại bỏ được một chất ô nhiễm khỏi không khí nhanh một cách đáng kể hơn các loại cây thông thường, và đó là những gì chúng tôi đã thực hiện với sản phẩm mẫu thử của mình”. Anh và Lionel Mora, đồng sáng lập công ty Neoplants đã “khoe” ý tưởng này với các nhà đầu tư tiềm năng và họ đã rót kinh phí đủ để thiết lập một không gian và tuyển dụng nhân viên. Neoplants hiện thời đang ở Viện nghiên cứu Các khoa học cây trồng Paris-Saclay, nơi có một số dự án nghiên cứu hợp tác. “Chúng tôi có 25 người, và chúng tôi đang mở rộng quy mô cực nhanh”.  GreenLab đã lấp đầy một khoảng trống quan trọng cho Neoplants nhưng vẫn cần một số cơ sở giữa cần được triển khai. “Nút thắt cổ chai chính cho các công ty khởi nghiệp sinh học tổng hợp hiện giờ là sự sẵn sàng về không gian để kiểm nghiệm ý tưởng. Nếu có nhiều không gian hơn cho thử nghiệm, có thể có thêm nhiều thuận lợi cho các start-up bước qua giai đoạn chứng minh ý tưởng”.  Nhàn Nguyễn tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/ecosystem-fab-labs-can-also-make-start-ups  https://www.interregeurope.eu/find-policy-solutions/stories/fab-labs-a-flexible-policy-tool-for-place-based-challenges  ———————-    https://bladebug.co.uk/  https://fablab.sorbonne-universite.fr/propos-du-fablab/les-espaces-et-equipements/greenlab  https://neoplants.co/      Author                .        
__label__tiasang Các gene kiểm soát chiều cao của thực vật có thể tạo ra lúa chịu lũ      Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra hai gene có khả năng cùng nhau kiểm soát chiều cao của cây lúa: một gene đẩy nhanh tốc độ lớn lên của thân và gene còn lại hoạt động như một chiếc “phanh” để kìm hãm. Họ cho biết, nếu cơ chế này có sự tương đồng ở các loại thực vật khác thì đó sẽ là một yếu tố hữu ích trong việc nhân giống nhiều loại cây trồng.      Lúa ma, lúa trời có thể phát triển trong mùa lũ tại vùng Đồng Tháp Mười, Việt Nam. Nguồn: JOSE MORE/VWPICS/ALAMY STOCK PHOTO  Chiều cao đóng vai trò quan trọng đối với cây cối. Những cây trồng không có lợi thế về chiều cao có thể ra nhiều hạt hơn mà không hề bị sức nặng làm cong thân cây – một yếu tố then chốt giúp thúc đẩy cuộc Cách mạng Xanh trong những năm 1960. Tuy nhiên, những cây trồng thân cao lại có khả năng sinh tồn tốt hơn sau các trận lũ lụt. Giờ đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hai gene có khả năng cùng nhau kiểm soát chiều cao của cây lúa: một gene đẩy nhanh tốc độ lớn lên của thân và gene còn lại hoạt động như một chiếc “phanh” để kìm hãm. Họ cho biết, nếu cơ chế này có sự tương đồng ở các loại thực vật khác thì đó sẽ là một yếu tố hữu ích trong việc nhân giống nhiều loại cây trồng.  “Cơ chế này có thể là một công cụ tuyệt vời hơn trong một hộp nhiều công cụ”, Julia Bailey-Serres, nhà sinh vật học nghiên cứu về lúa ở đại học California, Riverside, người không tham gia vào nghiên cứu mới này, cho biết.  Vào những năm giữa thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu giống cây trồng thường chọn các giống lúa và lúa mì có thân ngắn bởi các giống này có nhiều hạt hơn và ít bị đổ khi gặp gió to hay mưa lớn. Sau đó, các nhà sinh vật học đã phát hiện ra, ở một số thời điểm nhất định trong quá trình phát triển, các giống này sẽ tạo ra ít hormone gibberellic acid (GA) hơn hoặc không thể phản hồi được các “tín hiệu” tăng trưởng thân cây của mình. Tác dụng phụ của các biến đổi này có thể bao gồm việc những cây non thỉnh thoảng trồi lên trên mặt đất quá sớm ở các vùng dễ bị hạn hán.  Nhà di truyền học phân tử thực vật Motoyuki Ashikari ở đại học Nagoya và các cộng sự đã nghiên cứu về các giống lúa có khả năng tăng trưởng chiều cao nhanh chóng, thậm chí lên đến 25 cm một ngày, và sống sót được sau những trận lụt lớn. Giống lúa có tên là “lúa nước sâu” này được trồng ở các khu vực đồng bằng và chủ yếu là ở Đông Nam Á – nơi các trận lụt theo mùa có thể khiến nước dâng cao lên tới 1m (ở Việt Nam, chúng thường được gọi là lúa trời hoặc lúa ma). Trước đây, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi bị ngập nước, khí ethylene sẽ tích tụ trong các mô của cây và kích hoạt sự sản xuất hormone GA. Còn trong nghiên cứu mới này, Ashikari và các đồng nghiệp đã nỗ lực để tìm hiểu xem, làm thế nào mà hormone GA có thể khiến cho các giống cây lúa nước sâu tăng trường chiều cao thân của mình.  Nhớm nghiên cứu đã so sánh DNA của một giống lúa nước sâu với một giống lúa khác vốn chỉ có thể phát triển được ở vùng nước nông. Và họ đã sớm phát hiện được hai gen có tên ACE1 (gene làm tăng tốc độ kéo dài giữa các đốt) và DEC1 (gene làm chậm tốc độ đó). Trong công trình “Antagonistic regulation of the gibberellic acid response during stem growth in rice” nhóm nghiên cứu đăng trên Nature, các thí nghiệm nhà kính đã cho thấy vai trò của các gene này: với giống lúa nước sâu, khi cây chìm ở trong nước, gene ACE1 sẽ hoạt động, kích thích sự phân chia tế bào ở thân cây và giúp chúng tăng trưởng. Tuy nhiên, các giống cây nước nông thông thường – các giống có sự biến đổi trong gene ACE1, không cho thấy sự tăng trưởng chiều cao thân lúa như vậy khi bị ngập nước.  Trong các thí nghiệm khác, nhóm nghiên cứu cũng đã chỉ ra gene DEC1 có vai trò làm chậm sự phát triển của thân lúa. Khi các giống nước nông gặp lũ lụt, các gen DEC1 vốn được “bật” sẵn vẫn sẽ tiếp tục hoạt động và là “phanh” hãm sự phát triển của thân lúa. Ngược lại, khi các giống lúa nước sâu ở trong điều kiện tương tự, các phanh này sẽ được “nhả”: DEC1 dừng hoạt động và giúp cho thân lúa tiếp tục lớn lên.  Nếu các nhà nhân giống cây trồng hoặc các nhà sinh vật học phân tử có thể kiểm soát được hai gene này thì sẽ có thể điều chỉnh được chiều cao của thân mà không cần phải thay đổi mức độ GA, kể cả với các cây trồng khác ngoài cây lúa, bà Laura Dixon, nhà sinh vật học thực vật tại đại học Leeds cho biết. Điều đó có nghĩa là GA sẽ tiếp tục tác động đến các bộ phận khác của cây trồng như bình thường. Susan McCouch, nhà sinh vật học nghiên cứu về lúa tại đại học Cornell, người không tham gia vào nghiên cứu, nhận định, các gene mới này có thể hoạt động như một chiếc “công tắc đèn” đơn giản cho chiều cao của cây.  Hai gene nói trên cũng tồn tại ở cây mía, lúa mạch và một loại cỏ phổ biến trong nghiên cứu có tên Brachypodium distachyon. Những gene này cũng có thể xuất hiện rộng rãi trong nhiều loại cỏ quan trọng khác đối với nông nghiệp. Hay cây ngô, một loại cây trồng thiết yếu, cũng có một gene tương tự như ACE1, tuy nhiên không có gene nào hoàn toàn giống với DEC1 mà chỉ tương đồng một phần. Phạm vi các loài thực vật có hai gene này vẫn khiến cho phát hiện mới của các nhà nghiên cứu trở nên “cực kỳ quan trọng”, McCouch đánh giá.  Các gene đó có thể giúp các nhà nghiên cứu giống cải thiện các giống lúa năng suất thấp mà vốn đã có khả năng chống chọi với các trận lụt mùa, hoặc tạo ra các giống mới từ những giống lúa thân thấp năng suất cao. Nếu hướng tiếp cận này có hiệu quả đối với các cây trồng khác, nó thậm chí còn có thể giúp tạo ra các giống cây chống chịu ngập cho các vùng thường xuyên phải trải qua nhiều trận lũ lụt hơn do tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm Trung Tây Hoa Kỳ, Bailey-Serras cho biết. Để đạt được kết quả như vậy, các nỗ lực sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào việc liệu các gene trong các cây trồng đó có đáp ứng lại hay không, tuy nhiên, “điều này sẽ tạo ra một sự khác biệt rất lớn đối với người dân”.  Nguyễn Hoàng Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/07/new-genes-control-plant-height-could-lead-flood-proof-crops?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các gói phục hồi kinh tế trong đại dịch: Không thể bỏ qua mục tiêu giảm biến đổi khí hậu      Một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Nature của Đại học Johns Hopkins cho thấy, các gói kích thích kinh tế trong đại dịch COVID-19 của các quốc gia đã bỏ lỡ cơ hội khắc phục biến đổi khí hậu.      Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nga, Nhật Bản chỉ dành khoảng 5% ngân sách trong gói phục hồi kinh tế cho các dự án liên quan đến khí hậu. Nguồn: Đại học Johns Hopkins  “Các gói phục hồi kinh tế là một cơ hội để các quốc gia thực sự nhìn nhận lại về một nền kinh tế mà họ mong muốn xây dựng trong tương lai”, Scot Miller, đồng tác giả nghiên cứu tại Johns Hopkins cho biết. “Đại dịch COVID-19 có thể là thời cơ để các nước hướng đến một nền kinh tế xanh hơn, tuy nhiên, rất nhiều quốc gia đã không làm điều đó”.  Các chính phủ thường ưu tiên cho việc tăng trưởng kinh tế hơn là bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong các cuộc suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu, các gói kích thích kinh tế trong các cuộc khủng hoảng cũng có thể là dịp để kết hợp cả hai mục tiêu về kinh tế và môi trường. Chẳng hạn, trong cuộc khủng hoảng năm 2009, 16% trong các gói phục hồi đã hướng đến các hoạt động giảm phát thải.  Trong nghiên cứu mới trên Nature, các tác giả đã phân tích chính sách kích thích kinh tế của mỗi quốc gia từ khi bắt đầu đại dịch năm 2020 đến năm 2021, và xem xét số ngân sách mà các nước dành cho các hoạt động làm tăng phát thải, giảm phát thải hoặc phát thải ở mức trung bình.  Kết quả cho thấy, trong số 13 nghìn tỷ USD mà 19 quốc gia và EU đã cam kết cho việc phục hồi kinh tế trong đại dịch, chỉ có 6% hướng đến mục tiêu giảm lượng khí nhà kính – ví dụ như đầu tư vào xe điện, cơ sở hạ tầng giao thông, nhà ở và văn phòng tiết kiệm năng lượng, hay cho các nghiên cứu về năng lượng tái tạo. Trong khi đó, phần lớn ngân sách còn lại hoàn toàn không nhắm đến việc giải quyết vấn đề khí hậu, thậm chí, 3% số tiền trong các gói kích thích kinh tế còn dành cho các dự án có khả năng làm tăng lượng khí phát thải. “Mặc dù COVID-19 là cuộc khủng hoảng về y tế công cộng, nhưng về nguyên tắc, các chính phủ vẫn có thể can thiệp vào nền kinh tế theo nhiều hướng để có được một biện pháp đủ sức nặng đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu”, Jonas Nahm (Trường Nghiên cứu Quốc tế Tiên tiến ở Johns Hopkins), tác giả chính của nghiên cứu, nhận định. “Điều đáng thất vọng là, nhìn chung phần lớn ngân sách trong các gói phục hồi của các quốc gia lại không hướng đến việc giảm phát thải”.  Nghiên cứu cũng phát hiện ra, trong số ngân sách dành cho các biện pháp kích thích kinh tế xanh, chỉ có khoảng 27% chi tiêu giúp trực tiếp giảm lượng khí nhà kính. Khoảng 72% còn lại, nếu có thì cũng sẽ chỉ có tác động gián tiếp, ví dụ như thông qua các dự án trợ cấp cho các nhà sản xuất nhiên liệu sinh học hoặc tài trợ để xây dựng các trạm sạc xe điện.  Các quốc gia dành nhiều ngân sách nhất cho các gói kích thích kinh tế xanh là Hàn Quốc và EU, trong đó mỗi nước dành hơn 30% chi tiêu cho các gói như vậy. Thấp hơn một chút là Brazil, Ý và Đức khi dành hơn 20% ngân sách phục hồi cho các dự án xanh, trong khi đó Pháp chỉ dành khoảng hơn 10%. Ngược lại, các quốc gia gần như không có các dự án liên quan đến khí hậu trong kế hoạch phục hồi của mình là Mỹ, Nga, Anh và Nhật Bản, khi chỉ dành dưới 5% tổng ngân sách cho các dự án xanh.  “Nếu có một cơ hội nào đó để gắn kết việc phục hồi kinh tế với các mục tiêu khí hậu thì thời điểm này chính là lúc để làm điều đó,” Miller nói. “Trong những năm tháng tới, chúng ta không nên bỏ quên các mục tiêu về khí hậu và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính khi lên kế hoạch phục hồi kinh tế. Bởi, các mục tiêu về khí hậu mà chúng ta đặt ra vào năm 2030 đang ngày càng đến gần hơn, do đó chúng ta không thể bỏ qua vấn đề biến đổi khí hậu, ngay cả khi đang phải đối mặt với đại dịch”. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-countries-opportunity-climate-crisis-pandemic.html    Author                .        
__label__tiasang Các gợn sóng trên bề mặt vũ trụ có thể tiết lộ thời điểm khởi nguyên của vũ trụ      Các nhà khoa học đã tiến tới khám phá về cách sử dụng những gợn sóng trong không thời gian – sóng hấp dẫn – để truy ngược trở lại về thời điểm bắt đầu của tất cả mọi thứ mà chúng ta từng biết. Các nhà nghiên cứu cho biết họ có thể hiểu sâu sắc hơn về trạng thái này của vũ trụ ngay sau Big Bang bằng việc học hỏi cách những gợn sóng trong bề mặt vũ trụ xuyên qua các hành tinh và khí giữa các thiên hà.    “Chúng ta không thể nhìn trực tiếp vào vũ trụ sớm nhưng chúng ta có thể nhìn một cách gián tiếp vào sóng hấp dẫn từ thời điểm đó ảnh hưởng đến vật chất và bức xạ mà chúng ta có thể quan sát ngày nay”, Deepen Garg, tác giả đầu của bài báo mô tả các kết quả trên tạp chí Journal of Cosmology and Astroparticle Physics 1. Garg là nghiên cứu sinh của Chương trình Vật lý Plasma Princeton, một chương trình của Bộ Năng lượng Mỹ đặt tại Phòng thí nghiệm Vật lý Plasma Princeton (PPPL).  Garg và người hướng dẫn mình là giáo sư Ilya Dodin, người làm việc tại ĐH Princeton và PPPL, đã áp dụng kỹ thuật từ nghiên cứu của mình về năng lượng nhiệt hạch, quá trình tạo năng lượng từ mặt trời và các ngôi sao mà các nhà khoa học đang phát triển để tạo ra năng lượng cho trái đất mà không phát thải khí nhà kính hay các chất thải phóng xạ tồn tại hàng trăm năm. Các nhà nghiên cứu về nhiệt hạch tính toán cách các sóng điện từ chuyển thành plasma, “nồi súp” của các điện tích và hạt nhân nguyên tử cung cấp nhiên liệu cho các cơ sở nghiên cứu nhiệt hạch mà người ta vẫn gọi là các tokamak và các stellarator.  Nghiên cứu chỉ ra là quá trình này tương tự với chuyển động của các sóng hấp dẫn xuyên qua vật chất. “Về cơ bản chúng tôi đặt thiết bị tạo sóng plasma vận hành theo bài toán của sóng hấp dẫn”, Garg nói.  Sóng hấp dẫn được nhà vật lý Albert Einstein dự đoán vào năm 1916 như một hệ quả của Thuyết tương đối. Nguyên nhân gây ra nó là sự dịch chuyển làm nhiễu loạn không thời gian của các vật thể vô cùng đậm đặc. Chúng di chuyển với tốc độ của ánh sáng và dò được lần đầu tiên vào năm 2015 bởi Đài quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế (LIGO) với các máy dò đặt tại Washington và Louisiana.  Garg và Dodin đã tạo ra các công thức cho phép sóng hấp dẫn về lý thuyết có thể tiết lộ những đặc tính còn ẩn về các thiên thể, như các ngôi sao cách xa nhau hàng năm ánh sáng. Khi các sóng chuyển động xuyên qua vật chất, chúng tạo ra ánh sáng mang những đặc tính phụ thuộc vào mật độ của vật chất.  Một nhà vật lý có thể phân tích ánh sáng và khám phá ra những đặc tính của một ngôi sao cách xa hàng triệu năm ánh sáng. Kỹ thuật này có thể dẫn đến những khám phá về va chạm của các sao neutron và các lỗ đen, các tàn tích siêu đậm đặc của các ngôi sao chết. Chúng thậm chí còn có tiềm năng tiết lộ thông tin về những điều xảy ra trong Big Bang và những khoảng khắc khởi nguyên của vũ trụ chúng ta.  Nghiên cứu bắt đầu mà không có gợi ý nào về tầm quan trọng của kết quả sẽ đạt được. “Tôi chỉ nghĩ điều này chỉ có thể là một dự án nhỏ khoảng sáu tháng, đủ cho một nghiên cứu sinh tham gia giải quyết một cách đơn giản”, Dodin nói. “Nhưng khi chúng tôi bắt đầu đào sâu vào chủ đề này, chúng tôi mới thực sự nhận ra là còn rất ít hiểu biết về nó và chúng tôi có thể làm được một công trình lý thuyết cơ bản ở đó”.  Các nhà khoa học giờ đây lên kế hoạch để sử dụng kỹ thuật này phân tích dữ liệu trong tương lai gần. “Chúng tôi có một số công thức nhưng để có được những kết quả có ý nghĩa thì cần phải tiếp tục nghiên cứu nhiều hơn nữa”, Garg nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-ripples-fabric-universe-reveal.html  https://ec.europa.eu/research-and-innovation/en/horizon-magazine/gravitational-waves-helping-expose-black-holes-dark-matter-and-theoretical-particles  ————————————————  1. https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1475-7516/2022/08/017    Author                .        
__label__tiasang Các hãng sản xuất ô tô Trung Quốc tuyển mộ các nhà quản lý hàng đầu của Đức      Nhờ sự hỗ trợ của các chuyên gia quản lý Đức hãng sản xuất ô tô Chery của TQ muốn xuất khẩu ô tô của mình sang thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Mẫu xe đầu tiên Qoros là một ví dụ.     Cũng không có gì ngạc nhiên khi tập đoàn Volkswagen hay Công ty con – Audi Lamborghini chọn đúng Bắc Kinh để trước hết là giới thiệu mẫu xe Urus thuộc dòng xe sang trọng SUV. Urus là tên một giống bò tót của Tây Ban Nha.  Chery đã được cảnh báo. Hãng sản xuất ô tô này không muốn rơi vào hoàn cảnh tương tự như các đối thủ cạnh tranh khác trong nước: trong những năm qua nhiều mẫu xe của Trung Quốc do những khiếm khuyết về độ an toàn và thiết kế nên đều bị đánh trượt khi thử sức thâm nhập thị trường châu Âu. Một số loại xe như Brilliance và Great Wall đều bị sự cố khi đâm vào tường ở các Trung tâm thử va chạm của châu Âu. Đã đến lúc Chery muốn thâm nhập bằng được thị trường châu Âu và Hoa Kỳ và đánh bại phương Tây bằng chính các phương tiện của phương Tây: để giành được thành công đối với loại xe mới Qoros, nhà sản xuất ô tô Trung Quốc quyết tuyển mộ bằng được các nhà quản lý hàng đầu của châu Âu, trước hết là các nhà quản lý sản xuất người Đức.    Các nhà quản lý này có quyền ăn quyền nói, Chery trả tiền để họ áp dụng hình mẫu châu Âu vào việc nghiên cứu và sản xuất xe ô tô ở Trung Quốc. Các nhà chiến lược về marketing và các chuyên gia kỹ thuật này từng làm việc cho BMW, Volkswagen, Opel, Landrover/ Jaguar, Volvo, Fiat, Tesla và cả của McKinsey.   Trung Quốc hiện có trên 100 hãng sản xuất ô tô, và chỉ còn là vấn đề thời gian khi một hãng sản xuất nào đó của Trung Quốc hiện diện ở thị trường châu Âu, và nếu hãng đầu tiên đó là Chery thì cũng không ai ngạc nhiên.   Doanh nghiệp này được thành lập năm 1997 ở tỉnh An Huy và là doanh nghiệp sản xuất ô tô tư nhân lớn nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên quyền sở hữu doanh nghiệp này vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng với công chúng. Có người nói rằng một số doanh nghiệp nhà nước cùng hùn vốn trong Chery. Sản lượng hằng năm của hãng đạt trên  700.000 xe, đứng hàng thứ 7 trên thị trường Trung Quốc. Chery là hãng xuất khẩu ô tô lớn nhất Trung Quốc với sản lượng xuất khẩu được 170.000 xe chủ yếu sang thị trường các nước mới nổi.    Năm 2007 doanh nghiệp này liên doanh với  Israel Corporation, một cổ phần lớn nhất của Israel, mỗi bên góp 50% vốn và công ty liên doanh mang tên Chery Quantum Auto Co ra đời. Mục tiêu của công ty là dùng các chuyên gia kỹ thuật và các nhà quản lý châu Âu để sản xuất kiểu xe mới mang tên Qoros theo tiêu chuẩn phương tây, hãng sản xuất ô tô nay cũng mang tên Qoros.   Người Trung Quốc là người khởi xướng và đồng thời là nhà đầu tư, nhưng lại tự tách mình ra khỏi hoạt động điều hành hằng ngày. Còn Israel Corporation tự xác định chỉ là người đóng góp tài chính.  Cả hai bên chung chi trong thời gian năm năm tới khoảng 2,5 tỷ USD cho thương hiệu này. Nếu xét kỹ thì Qoros thực ra không còn là xe nhãn mác Trung Quốc mà là mác quốc tế được sản xuất tại Trung Quốc. Các chuyên gia phương Tây hiện đang khẩn trương xây dựng xưởng  sản xuất ô tô mới ở Changshu gần Thượng Hải. Tại đây Qoros dự kiến năm 2013 sẽ sản xuất 150.000 và từ năm 2016 sản lượng sẽ đạt 300.000 xe.   Ông Steinwascher, người phụ trách về mác xe này nói “sự quan tâm trước mắt của chúng tôi là thị trường Trung Quốc”, và điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của nhà nước: Chính phủ Trung Quốc không muốn để thị trường xe ô tô cao cấp tiếp tục bị các nhà sản xuất nước ngoài thao túng. Hiện tại Volkswagen với xe Skoda và tới đây là Seat, đang cùng hãng General Motors chiếm lĩnh thị trường. Sau khi đã giữ vững vị thế tại thị trường nội địa Qoros sẽ thâm nhập thị trường các nước mới nổi như Ấn độ và các nước ở Nam Mỹ.   Mô hình kinh doanh mua know-how về công nghiệp ô tô của Đức áp dụng vào ngành ô tô của mình để giành thắng lợi trên thị trường quốc tế là mô hình của Hàn Quốc và hiện nay Chery đang sao chép mô hình này. Ulrich Bez là nhà quản lý ô tô hàng đầu của BMW, từ năm 1993 ông chuyển về làm việc cho tập đoàn hỗn hợp  Daewoo với mục tiêu ô tô do Hàn Quốc sản xuất đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.  Bez đã đưa ra các loại ô tô mang nhãn mác mới như Matiz, Nubira và Leganza ra thị trường. Chúng hoàn toàn không phải là phiên bản sao chép các loại xe đã trở nên lạc hậu của Opel. Những kiểu xe mới này do các chuyên gia Italia thiết kế. Về kỹ thuật những kiểu xe mới này của Hàn Quốc hồi đó đã ngang ngửa với loại xe hạng trung của Nhật bản. Hiện tại Daewoo thuộc  General Motors và sản xuất ô tô mang nhãn mác Chevrolet. Hãng sản xuất ô tô Kia cũng áp dụng mô hình tuyển chọn các nhà kỹ thuật và quản lý hàng đầu của Đức. Từ năm 1998 Kia thuộc Hyundai và đã đạt được sự đột phá trên thị trường quốc tế.       Xuân Hoài dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hạt bụi mịn nguy hiểm hơn trước đây chúng ta nghĩ      Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu tại Viện Paul Scherrer (PSI) quan sát được các quá trình quang hóa bên trong những hạt nhỏ nhất tồn tại trong không khí. Theo đó, họ đã phát hiện ra các gốc ô xy bổ sung có thể gây hại cho sức khỏe của con người được hình thành trong những hạt sol khí đó ở những điều kiện  thông thường.      Markus Ammann sử dụng một trong những thiết bị để kiểm tra các hạt bụi mịn. Nguồn: Paul Scherrer Institute/Markus Fischer  Công bố của họ được xuất bản trên Nature Communications “Photolytic Radical Persistence due to Anoxia in Viscous Aerosol Particles”.  Chúng ta đã biết là các hạt bụi trong không khí có thể có mối nguy hiểm với sức khỏe con người. Những hạt này, với đường kính tối đa là 10 micrometer, có thể xâm nhập rất sau vào các mô phổi và “nằm lì” ở đó. Chúng chứa các hợp chất oxy hoạt động (ROS) – vẫn được gọi là các gốc oxygen, vốn có thể gây hại cho các tế bào phổi. Càng nhiều hạt này trôi nổi trong không khí thì càng có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe. Các hạt này xuất hiện trong không khí từ hai nguồn, một là từ các nguồn tự nhiên như cháy rừng, núi lửa, hai là các hoạt động của con người như sản xuất, giao thông… Càng nhiều hoạt động như vậy càng làm tăng thêm lượng bụi cho đến khi nó chạm đến mức tới hạn. Xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, các hạt này có tiềm năng mang các gốc oxygen vào phổi hoặc có thể tạo ra chúng ở đó. Hiện tại các nhà nghiên cứu ở PSI đã có thêm những cái nhìn mới.  Theo kết quả nghiên cứu trước đây thì một số ROS được hình thành trong cơ thể con người khi các hạt phân rã trong chất lỏng bề mặt của vùng hô hấp. Hạt bụi thông thường chứa các hợp chất hóa học, ví dụ các kim loại như dồng và sắt cũng như chứa nhiều hợp chất hữu cơ. Sự trao đổi các nguyên tử oxygen với các phân tử khác, và các hợp chất phản ứng cao được tạo ra như hydrogen peroxide (H2O2), hydroxyl (HO), và hydroperoxyl (HO2), vốn là nguyên nhân của sự ứng kích oxygen hóa. Ví dụ, chúng tấn công các a xít béo chưa bão hòa trong cơ thể, khiến chúng không còn có khả năng bảo vệ các khối cơ bản của tế bào. Các bác sĩ quy cho việc đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh như viêm phổi, hen suyễn và nhiều loại bệnh về đường hô hấp khác.. Ngay cả ung thư có thể được kích hoạt khi ROS có thể gây hại đến vật chất di truyền DNA.  Cái nhìn mới nhờ sự kết hợp độc đáo các thiết bị   Người ta đã từng biết là các hợp chất oxy hoạt động luôn có mặt ở trong các hạt lơ lửng trong bầu khí quyển và khi chúng xâm nhập vào cơ thể chúng ta theo đường thở thì không nhất thiết những hợp chất ROS đó đã hình thành ở đó trước. Khi đặt vấn đề trở lại, các nhà khoa học thấy hiểu biết này là chưa đủ. “Các nghiên cứu trước đây phân tích các hạt bụi với phổ khối để xem nó gồm những gì”, Peter Aaron Alpert, tác giả thứ nhất của nghiên cứu mới của viện PSI nói. “Nhưng nó không trao cho anh bất kỳ thông tin nào về cấu trúc của các đơn hạt và những gì đang diễn ra bên trong chúng”.  Tương phản với những nghiên cứu trước, Alpert sử dụng những tiềm năng của PSI để có cái nhìn chính xác hơn nhiều: “Với máy gia tốc tia X hiện đại từ Trung tâm máy gia tốc Thụy Sĩ SLS, chúng tôi đã có thể không chỉ nhìn vào nhiều hạt riêng biệt với độ phân giải nhỏ hơn một micrometer mà còn thậm chí nhìn vào những tương tác xảy ra bên trong các hạt”. Để làm điều đó, anh sử dụng một dạng tế bào mới phát triển tại PSI, trong đó một trạng thái đa dạng những điều kiện môi trường khí quyển đều có thể được mô phỏng.  Nó có thể điều chỉnh một cách chính xác nhiệt độ, độ ẩm và phơi nhiễm khí. Bên cạnh đó nó còn chứa một nguồn sáng LED tia cực tím. “Việc kết hợp với kính hiển vi tia X có độ phân giải cao khiến dạng tế bào này là độc nhất vô nhị trên thế giới này”, Alpert nói. Do đó nghiên cứu chỉ có thể thực hiện tại PSI. Anh làm việc cùng Markus Ammann, người phụ trách nhóm nghiên cứu Hóa bề mặt của PSI, đồng thời nhận được hỗ trợ của các nhà nghiên cứu hiện đang kết hợp với nhà hóa học khí quyển Ulrich Krieger và Thomas Peter ở ETH Zurich, nơi các thực nghiệm đi kèm được thực hiện với những hạt lơ lửng, cũng như với các chuyên gia làm việc với Hartmut Hermann từ Viện nghiên cứu Tầng đối lưu Leibniz ở Leipzig.  Các hợp chất nguy hiểm hình thành như thế nào?    Peter Aaron Alpert phân tích các quá trình trong các hạt bụi mịn lơ lửng trong không khí. Các độc chất bổ sung luôn có mặt trong khí quyển. Nguồn: Paul Scherrer Institute/Markus Fischer  Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các hạt chứa các hợp chất hữu cơ và sắt. Sắt đến từ các nguồn tự nhiên như sa mạc và tro núi lửa cũng như những phát thải từ công nghiệp và giao thông. Các hợp chất hữu cơ như  vậy đến từ cả nguồn tự nhiên và hoạt động của con người. Trong bầu khí quyển, các hợp chất này được kết hợp để hình thành các phức hợp sắt, hay còn gọi là các gốc khi bị phơi nhiễm dưới ánh nắng mặt trời. Nó kết hợp với tất cả các oxy hiện có trong khí quyển và tạo ra ROS.  Thông thường, trong ngày có độ ẩm cao, một tỷ lệ lớn các ROS này có thể khuếch tán khỏi các hạt để xâm nhập vào khí quyển. Trong trường hợp đó khả năng rủi ro với sức khỏe không cao, nếu chúng ta hít phải các hạt bụi. Trong ngày khô ráo hơn, thì các gốc oxy đó đầy rẫy bên trong các hạt và “sử dụng” triệt để lượng oxy hiện hữu chỉ trong vài giây. Và nó còn phụ thuộc vào độ nhớt, các hạt bụi có thể trở nên rắn chắc như đá hoặc lỏng như nước – nhưng còn phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm, nó có thể ở dạng bán lỏng như siro, kẹo cao su hoặc như viên ngậm thảo dược Thụy Sĩ. “Chúng tôi tìm thấy, trạng thái này của hạt đảm bảo các gốc oxy vẫn còn bị kẹt trong hạt bụi”, Alpert nói. Và không có oxy bổ sung nào từ nguồn bên ngoài.  Phát hiện này đưa ra cảnh báo là các mức nồng độ cao nhất của ROS và các gốc oxy được hình thành thông qua sự tương tác của sắt và các hợp chất hữu cơ trong những điều kiện thời tiết thường nhật: với một mức độ ẩm trung bình 60% và nhiệt độ khoảng 20 độ C. cũng như các điều kiện cụ thể trong nhà. “Người ta thường nghĩ là ROS chỉ hình thành trong không khí khi các hạt bụi chứa một cách tương đối các hợp chất hiếm như các quinon”, Alpert nói. Ví dụ, có các oxidized phenol xuất hiện trong các bảng màu sắc của cây cỏ và nấm.   Gần đây có nhiều nguồn ROS trong các hạt bụi mịn. “Vì chúng tôi đã xác định được, có nhiều gốc tự do đã được biết đều có thể được bổ sung thêm một cách đáng kể trong những điều kiện thông thường hằng ngày”. Các hợp chất hữu cơ và cả sắt chiếm khoảng 1/20 hạt bụi.  Nhưng đó không phải là tất cả. “Các phản ứng quang hóa tương tự dường như cũng diễn ra trong các hạt bụi mịn”, trưởng nhóm nghiên cứu Markus Ammann nhận xét. “Chúng tôi nghi ngờ là hầu như tất cả các hạt lơ lửng trong không khí đều tạo thành các gốc tự do bổ sung theo cách nay”, Alpert cho biết thêm. “Nếu xác nhận điều này bằng các nghiên cứu nữa thì chúng tôi cần cải tiến các mô hình của chúng tôi và thêm các giá trị tới hạn để đánh giá chất lượng không khí. Chúng tôi có thể tìm thấy yếu tố nữa tại đây để giúp giải thích tại sao có nhiều người lại mắc các bệnh về đường hô hấp hay ung thư mà không có nguyên nhân cụ thể nào”.  Ít nhất thì ROS cũng có một khía cạch tích cực – đặc biệt trong suốt đại dịch COVID-19 – như nghiên cứu này đã đề xuất: chúng tấn công vi khuẩn, virus và những mầm bệnh khác có trong sol khí và làm giảm độ độc hại của chúng. Sự kết nối này có thể giúp giải thích tại sao virus SARS-CoV-2 lại có thời gian tồn tại ngắn ngủi trong không khí ở nhiệt độ phòng và độ ẩm trung bình.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-particulates-dangerous-previously-thought.html  https://www.nature.com/articles/s41467-021-21913-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hạt neutrino ở IceCube giúp nhìn sâu về một thiên hà hoạt động      Lần đầu tiên, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã tìm ra bằng chứng về phát xạ các hoạt neutrino năng lượng cao từ NGC 1068, hay còn gọi là Messier 77, một thiên hà hoạt động ở chòm sao Cetus và là một trong những thiên hà thông thường nhất, được nghiên cứu nhiều nhất hiện nay. Được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1780, thiên hà này tọa lạc ở vị trí cách trái đất 47 triệu năm ánh sáng.    Khi một hạt neutrino tương tác với các phân tử trong khối băng Nam Cực, nó sẽ tạo ra các hạt thứ cấp và để lại một vệt sáng xanh lam di chuyển qua máy dò IceCube  Kết quả này, được xuất bản vào ngày 4/11/2022, trên tạp chí Science 1, đã được chia sẻ trên một cuộc hội thảo online với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và nhà báo khắp toàn cầu.  Việc dò tìm đã được thực hiện tại Đài quan sát Neutrino IceCube, một kính thiên văn neutrino cực lớn chứa một khối băng nặng một tỉ tấn nằm ở dưới sâu 1,5 đến 2,5 ki lô mét dưới bề mặt Nam Cực gần South Pole.  Kính thiên văn độc nhất vô nhị này có nhiệm vụ khám phá những nơi xa nhất với vũ trụ chúng ta bằng việc sử dụng các hạt neutrino. Quan sát đầu tiên của nó về một nguồn neutrino vũ trụ năng lượng cao được báo cáo vào năm 2018. Nguồn này, TXS 0506+056, được biết đến như một địa điểm nằm ở rìa bờ vai trái của chòm sao Orion (Lạp Hộ, Thợ Săn) và cách chúng ta bốn tỉ năm ánh sáng.  “Một hạt neutrino có thể từ một nguồn nào đó. Nhưng chỉ khi quan sát được với rất nhiều hạt neutrino mới tiết lộ được cái lõi mơ hồ của những thiên thể giàu năng lượng bậc nhất vũ trụ”, Francis Halzen, một giáo sư vật lý của trường đại học Wisconsin–Madison và nhà nghiên cứu chính ở IceCube, nói.  Ông cho biết thêm “IceCube có khoảng 80 neutrino với năng lượng ở mức teraelectronvolt từ NGC 1068 lại không đủ để trả lời cho câu hỏi của chúng tôi nhưng chúng nhất quyết là bước quan trọng tiếp theo hướng đến sự hiện diện của thiên văn học neutrino”.  Không giống ánh sáng, các hạt neutrino có thể thoát ra với số lượng lớn từ những môi trường vô cùng đậm đặc trong vũ trụ và đến trái đất mà không bị ảnh hưởng bởi vật chất và trường điện từ xuyên qua không gian bên ngoài các thiên hà. Dù các nhà khoa học đã biết đến thiên văn học neutrino hơn 60 năm trước, sự tương tác yếu của các hạt neutrino với vật chất và bức xạ khiến cho việc dò chúng trở nên vô cùng khó. Các hạt neutrino có thể đóng vai trò chính cho những câu hỏi của chúng ta về hoạt động của những vật thể cực đoan nhất trong vũ trụ này.  “Trả lời những cây hỏi sâu rộng về vũ trụ mà chúng ta sống là một trọng tâm ban đầu của Mỹ, Quỹ Khoa học Mỹ”, Denise Caldwell, giám đốc Bộ phận Vật lý của NSF, nói.    Phía trước của IceCube Lab lúc chạng vạng, với một bầu trời sao hé lộ một cái nhìn mơ hồ về dải Ngân hà phía trên đầu và ánh sáng mặt trời còn le lói phía chân trời. Credit: Martin Wolf, IceCube/NSF  Là trường hợp giống thiên hà của chúng ta, Ngân hà, NGC 1068 là một thiên hà xoắn rời rạc với các cánh tay cong lỏng lẻo và một trung tâm nhỏ phồng ra. Tuy nhiên không như Ngân hà, NGC 1068 là một thiên hà hoạt động nơi phần lớn bức xạ không do các ngôi sao tạo ra mà do vật chất rơi vào một lỗ đen có khối lượng lớn gấp hàng triệu lần khối lượng mặt trời của chúng ta và thậm chí lớn hơn cả lỗ đen nằm im lìm ở trung tâm Ngân hà.  NGC 1068 là một thiên hà hoạt động – một dạng Seyfert II – có thể nhìn thấy từ trái đất với một góc có thể quan sát ở vùng trung tâm, nơi lỗ đen tọa lạc. Trong một thiên hà Seyfert II galaxy, một hình xuyến bụi hạt nhân làm mờ bức xạ năng lượng cao, do khí và hạt đậm đặc tạo ra, xoắn một cách chậm chạp hướng vào trung tâm của thiên hà.  “Những mô hình gần đây về các môi trường lỗ đen trong những vật thể đề xuất là khí, bụi và bức xạ phải loại các tia gamma có thể đi kèm với các hạt neutrino”, Hans Niederhausen, một postdoct ở Đại học bang Michigan và là một trong những nhà phân tích chính của công trình xuất bản trên Science, nói. “Việc dò hạt neutrino từ lõi của NGC 1068 sẽ làm gia tăng hiểu biết của chúng ta về những môi trường xung quanh các lỗ đen siêu khối lượng”.  NGC 1068 có thể trở thành tiêu chuẩn hướng tới của các đài quan sát neutrino tương lai, theo Theo Glauch, một postdoct của Đại học Kỹ thuật Munich (TUM), ở Đức và một nhà phân tích chính khác.  “Đó là một chủ đề nghiên cứu tốt cho thiên văn học, và các hạt neutrino sẽ cho phép chúng ta nhìn vào thiên hà này theo một cách hoàn toàn khác. Một góc nhìn mới dĩ nhiên sẽ mang đến những thấu hiểu mới”, Glauch nói.  Những phát hiện mới đã đem lại một cải thiện đáng kể vào nghiên cứu trước về NGC 1068 đã được xuất bản vào năm 2020, theo lời Ignacio Taboada, một giáo sư vật lý tại Viện Công nghệ Georgia và là phát ngôn viên của Nhóm hợp tác IceCube.  “Sở dĩ có phần cải thiện này là từ việc cập nhật các kỹ thuật hiện đại và cân chỉnh, cập nhật máy dò một cách cẩn trọng”, Taboada nói. “Phần việc của nhóm vận hành máy dò và cân chỉnh máy dò đã giúp tăng cường việc tái cấu trúc theo hướng nắm bắt các hạt neutrino tốt hơn để điểm chính xác được NGC 1068 và tăng cường được quan sát. Giải quyết được vấn đề nguồn phát neutrino này là nhờ các kỹ thuật hiện đại và tinh chỉnh những hiệu chỉnh của thiết bị, một kết quả từ sự lao động cật lực của nhóm hợp tác IceCube”.  “Đó là tin tốt cho tương lai của lĩnh vực nghiên cứu này của chúng tôi”, Marek Kowalski, một thành viên của IceCube và nhà nghiên cứu chính tại cơ sở máy gia tốc Deutsches Elektronen-Synchrotron Đức, nói. “Điều này có nghĩa là với một thế hệ mới các máy dò nhạy cảm hơn thì sẽ có nhiều cơ hội khám phá hơn. Đài quan sát IceCube-Gen2 tương lai có thể không chỉ dò được nhiều “máy gia tốc” hạt vào loại siêu cỡ như thế mà còn có thể cho phép nghiên cứu chúng ở mức năng lượng cực cao. Điều đó có thể thay ra nếu IceCube vẽ cho chúng ta một bản đồ đến kho báu”.  Với các đo đạc neutrino của TXS 0506+056 và NGC 1068, IceCube là một bước tiến gần hơn để trả lời cho câu hỏi tồn tại cả thế kỷ về nguồn gốc của tia vũ trụ. Thêm vào đó, các kết quả này gợi ý là có thể có nhiều vật thể tương tự trong vũ trụ này còn chưa được nhận biết.  “Việc mở tấm màn che vũ trụ huyền bí mới chỉ được bắt đầu, và các hạt neutrino đã được tập hợp để dẫn đến một kỷ nguyên mới của khám phá khoa học trong thiên văn học”, Elisa Resconi, một giáo sư vật lý ở TUM và là một nhà phân tích chính khác, cho biết.  “Nhiều năm trước, NSF bắt đầu một dự án đầy tham vọng để mở mang hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này bằng việc kết hợp những năng lực trong lĩnh vực thiên văn học quang và sóng radio với những khả năng mới để dò và đo đạc các hiện tượng như neutrino và sóng hấp dẫn”, Caldwell nói.  “Việc Đài quan sát Neutrino IceCube nhận diện được một thiên hà lân cận như một nguồn vũ trụ của hạt neutrino mới chỉ là bước khởi đầu của một lĩnh vực mới và đầy thí vị, hứa hẹn những cái nhìn xuyên vào quyền lực còn chưa được khám phá của các lỗ đen siêu khối lượng và các đặc tính cơ bản khác của vũ trụ này”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-icecube-neutrinos-glimpse-depths-galaxy.html  https://www.axios.com/2022/11/03/neutrino-supermassive-black-hole-message  —————————————————–  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abg3395  https://www.science.org/doi/10.1126/science.ade4190    Author                .        
__label__tiasang Các hạt sol khí làm mát khí hậu ít hơn chúng ta nghĩ      Tác động của các hạt sol khí trong những đám mây trong bầu khí quyển và khí hậu có thể phức tạp hơn những gì chúng ta biết trước đây. Đó là kết luận của nhà nghiên cứu về mây Franziska Glassmeier của trường đại học Công nghệ Deft (TU Delft).      Kết quả nghiên cứu của chị được đăng trên Science “Aerosol-cloud-climate cooling overestimated by ship-track data”,  Những tầng mây bao phủ các đại dương vùng cận nhiệt đới ở một phạm vi lớn. Chúng có thể làm mát trái đất bởi chúng phản xạ ánh nắng mặt trời trở lại không trung. Ô nhiễm không khí trong hinh thức của các sol khí – các hạt lơ lửng trong khí quyển – có thể góp phần gia tăng hiệu ứng làm mát này bởi nó khiến các đám mây sáng lên. Hiệu ứng làm mát của ô nhiễm  là điều bù đắp cho phần hiệu ứng làm nóng của các khí nhà kính. Tuy nhiên hiệu ứng này chính xác như thế nào là một trong những điểm bất định lớn nhất mà các nhà nghiên cứu khí hậu phải đối mặt.  Những đường vận chuyển  Một hình dung nổi bật về các đám mây trở nên sáng hơn (vì các sol khí) là do vận chuyển phát thải theo hình thức của “các đường vận chuyển”. Có thể thấy chúng dưới hình dạng những đường sáng hơn bên trong một đám mây bao phủ lên các phần vận chuyển ô nhiễm truyền qua dưới các đám mây. “Những đường vận chuyển là một ví dụ tốt về các hiệu ứng sol khí theo cách quen thuộc và cách chúng vẫn được tái hiện trong những mô hình khí hậu phổ biến”, Glassmeier nói. Nhưng theo các nhà nghiên cứu về mây thì các đường vận chuyển không nói với chúng ta toàn bộ câu chuyện.  “Vấn đề là ban đầu các đám mây trở nên sán hơn nhưng sau đó chúng băt đầu trở nên mỏng hơn và ít sáng hơn. Các đường vận chuyển biến mất trước khi chúng ta có thể quan sát hiệu ứng mờ nhạt này”. Để xác định được về tổng thể hiệu ứng khí hậu của ô nhiễm không khí, vốn bền vững hơn đường vận chuyển có thể quan sát, họ đã tạo ra một bộ dữ liệu mở rộng về các mô phỏng mây một cách chi tiết. Tại tâm điểm của nghiên cứu, các nhà khoa học đã thiết kế một cách làm mới hết sức thông minh để so sánh các đám mây mô phỏng của ho với những hình ảnh vệ tinh. Rất nhiều ảnh vệ tinh chứa thông tin về hiệu ứng sol khí lên các đám mây ở khắp toàn cầu nhưng vô cùng khó để lý giải.    Nhà nghiên cứu về mây Franziska Glassmeier của trường đại học Công nghệ Deft (TU Delft)  Sự đánh giá quá mức  “Kết luận của chúng tôi là hiệu ứng làm mát của sol khí lên mây đã bị đánh giá quá mức khi chúng ra phụ thuộc vào dữ liệu đường vận chuyển”, Glassmeier nhận xét. “Các đường vận chuyển đơn giản là quá ngắn ngủi để đem lại ước tính về sự sáng lên của mây”. Nguyên nhân dẫn đến điều này là dữ liệu đường vận chuyển không tính đến sự suy giảm về độ dày của mây khi ô nhiễm trên diện rộng xuất hiện. “Để định lượng một cách chính xác những hiệu ứng này và có các dự đoán khí hậu tốt hơn, chúng ta cần cải thiện cách tái hiện các đám mây trong các mô hình khí hậu”, Glassmeier giải thích rõ hơn.  Nghiên cứu này có nhiều ý nghĩa về kỹ thuật khí hậu. Kỹ thuật khí hậu biểu thị các can thiệp có mục tiêu, phần lớn mang tính lý thuyết, vào hệ thống khí hậu với mục đích làm giảm nhẹ hậu quả của biến đổi khí hậu. Một ví dụ của phương pháp kỹ thuật khí hậu là việc làm sáng các đám mây có chủ đích thông qua các phát thải của sol khí từ muối biển, hay còn được biết đến như làm sáng mây trên biển. “Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ngay cả trong các thuật ngữ về mây thì việc làm sáng mây trên biển có thể không diễn ra dễ dàng như người ta tưởng. Một cách làm ngây thơ có thể thậm chí đem đến kết quả là mây tối đi và trái ngược với mục tiêu hướng đến”, Glassmeier nói. “Dĩ nhiên chúng tôi phải thực hiện nhiều nghiên cứu hơn về tính khả thi và rủi ro của nhiều phương pháp. Vẫn còn nhiều điều để nghiên cứu về cách các hạt sol khí nhỏ bé ảnh hưởng đến mây và cuối cùng là khí hậu”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-aerosol-particles-cool-climate-thought.html  https://science.sciencemag.org/content/371/6528/485/tab-figures-data    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hạt sol khí mang coronavirus di chuyển qua phổi      Hơn 65% các hạt có coronavirus chạm đến những vùng sâu nhất trong phổi của chúng ta, nơi sự tàn phá các tế bào có thể rút đi các mức oxy trong máu.      Một nghiên cứu mới đã phát hiện ra điều này đồng thời cho biết là những hạt sol khí đó chạm đến phổi phải hơn là phần phổi bên trái.  Tác giả dẫn dắt nghiên cứu là tiến sĩ Saidul Islam, trường đại học Công nghệ Sydney, cho biết là nghiên cứu trước đây cho biết các hạt sol khí mang virus di chuyển qua các đường hô hấp trên bao gồm mũi, khoang miệng và hầu họng – nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên kiểm tra xem các chúng trôi qua đó để vào phần đáy của phổi.  “Phổi của chúng ta giống những nhánh cây được phân thành 23 lần nhỏ hơn. Do độ phức tạp của loại hình học này nên thật khó phát triển được một hệ mô phỏng trên máy tính, tuy nhiên chúng tôi đã có thể mô hình hóa nó thành 17 nhánh đầu tiên của hệ hô hấp trên”, tiến sĩ Islam nói.  “Phụ thuộc vào tốc độ thở của chúng ta, khoảng 32% và 35% các hạt virus được đọng lại trong 17 nhánh đầu tiên đó. Điều này có nghĩa là 65% các hạt mang virus thoát xuống vùng sâu nhất của phổi, vốn bao gồm các phế nang và túi khí”, ông nói.  Hệ phế nang là tối cần thiết cho năng lực hấp thụ oxy của chúng ta, vì thế lượng lớn virus trong vùng này, cùng với việc viêm là nguyên nhân dẫn đến phản hồi miễn dịch của cơ thể chúng ta, có thể cũng là dẫn đến nhiều khả năng nguy hại hơn, làm giảm thiểu lượng oxy trong máu và làm tăng thêm nguy cơ rủi ro đến tính mạng.  Nghiên cứu này cũng tiết lộ là có nhiều hạt mang virus đọng lại trong phần phổi phía bên phải, cụ thể là phần thùy trên phải và thùy dưới phải, hơn là phần phổi trái. Điều này phụ thuộc vào cấu trúc phẫu thuật bất đối xứng của phổi và con đường dòng khí cung cấp cho các thùy phổi.    Nghiên cứu này được sự hỗ trợ của một nghiên cứu gần đây về các bức ảnh CT ngực của bệnh nhân mắc COVID-19, nó cho thấy có sự lây nhiễm rất lớn và sự hiện diện của bệnh ở các vùng được mô hình dự đoán.  Các nhà nghiên cứu mô hình hóa ba tốc độ vận chuyển khí là 7,5, 15 và 30 lít mỗi phút. Mô hình chứng tỏ sự tích lũy virus lớn hơn tại các tốc độ vận chuyển khí thấp hơn.  Không chỉ cải thiện hiểu biết của chúng ta về sự lan truyền coronavirus, phát hiện này còn gợi ý đến sự phát triển các thiết bị vận chuyển thuốc trúng đích có thể góp phần phân phối thuốc đến các vùng của hệ hô hấp bị virus gây ảnh hưởng nhiều nhất.  “Thông thường khi chúng ta uống thuốc từ một thiết bị phân phối thuốc, phần lớn chúng tích tụ lại trong đường hô hấp trên, và chỉ một lượng thuốc tối thiểu có thể chạm đến các vị trí đích của đường hô hấp dưới. Tuy nhiên, với các bệnh dịch như COVID-19, chúng ta có thể hướng đích các vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất”, tiến sĩ Islam nói.  “Chúng tôi đang nghiên cứu để phát triển các thiết bị có thể nhắm đích các vùng cụ thể, và chúng tôi cũng hi vọng xây dựng được toàn bộ các mô hình phổi theo độ tuổi và theo các ca mắc để tăng thêm hiểu biết về những hạt sol khí mang SARS CoV-2 lên từng cá nhân người bệnh”, tiến sĩ Suvash Saha, trưởng nhóm nghiên cứu Các mô hình và mô phỏng máy tính và đồng tác giả của nghiên cứu tại trường ĐH Công nghệ Sydney, nói.  Gần đây WHO cập nhật những tư vấn của mình về tầm quan trọng của việc lây truyền qua các hạt sol khí, cảnh báo rằng các hạt sol khí có thể vẫn còn lơ lửng trong không khi, sự tụ tập thành đám đông trong các không gian kín và các khu vực nhỏ có thể dẫn đến một nguy cơ đáng kể với lây truyền COVID-19.  “Khi một người bị nhiễm bệnh nói, hát, hắt xì hơi hoặc ho, virus được lan truyền trong không khí và có thể lây nhiễm cho người gần đó”, tiến sĩ Saha nói.  Nghiên cứu này có nhiều ứng dụng, với việc các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các thiết bị cầm tay để kiểm tra chất lượng không khi – bao gồm nồng độ bụi PM2.5 và PM10 và các khí như carbon dioxide, formaldehyde và sulfur dioxide – trong các không gian như các toa tàu điện ngầm… Các nhà nghiên cứu cũng có thể sử dụng dữ liệu này để mô hình hóa tác động của virus lên phổi của chúng ta.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-coronavirus-aerosols-lungs.html  https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/science/science-briefs/sars-cov-2-transmission.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hệ gene lúa mì và lúa mạch mới có thể giúp nuôi dưỡng thế giới      Một nhóm hợp tác nghiên cứu quốc tế, bao gồm các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu Waite, Adelaide đã khám phá một biến thể gene mới trong lúa mì và lúa mạch – một thúc đẩy quan trọng cho nỗ lực gây những biến dị di truyền gene lúa mì năng suất cao trên toàn cầu.      Phó giáo sư Ken Chalmers đang kiểm tra các hạt lúa mì trồng trong nhà kính.   Các nhà nghiên cứu của dự án Các hệ gene lúa mì 10+ (10+ Wheat Genomes Project) do giáo sư Curtis Pozniak (trường đại học Saskatchewan, Canada) và Nhóm hợp tác trình tự gene lúa mạch quốc tế (the International Barley Pan Genome Sequencing Consortium) do giáo sư Nils Stein (Viện nghiên cứu di truyền cây trồng và cây nông nghiệp Leibniz, Đức) đã giải trình tự một bộ các hệ gene của cả hai loại ngũ cốc này và xuất bản bài báo “The barley pan-genome reveals the hidden legacy of mutation breeding” trên Nature.  Các nhà khoa học cho biết, bài báo sẽ giúp mở ra những cánh cửa đến với những biến dị di truyền lúa mì và lúa mạch thế hệ mới.  “Lúa mì và lúa mạch là những loại cây lương thực chủ yếu trên khắp thế giới, Sản lượng thu hoạch của chúng cần phải tăng lên rất rất nhiều mới có thể đáp ứng được nhu cầu lương thực trong tương lai’, phó giáo sư Ken Chalmers của trường đại học Adelaide, người cung với giáo sư hồi hưu Peter Langridge của trường Nông nghiệp, thực phẩm và đồ uống Adelaide dẫn dắt nhóm nghiên cứu ở Adelaide, nói. “Có ước tính là vào năm 2050, chỉ riêng sản lượng lúa mì phải tăng lên tới hơn 50% mức hiện nay mới có thể nuôi sống lượng dân số thế giới đang không ngừng tăng lên”, giáo sư Chengdao Li tại trường đại học Murdoch và là người đóng vai trò chính về giải trình tự lúa mì ở Australia, nói.  Công bố của họ đã đưa các nhà khoa học tới gần hơn với việc khám phá toàn bộ tập hợp gene – hoặc các hệ gene pan – của lúa mì và lúa mạch. Thông qua việc hiểu về đầy đủ biến dị di truyền của cả hai loại ngũ cốc này, các nhà khoa học và các nhà làm giống cây trồng sẽ có thể có những công cụ cần thiết để đáp ứng được nhu cầu ngày một gia tăng về sản lượng lương thực toàn cầu.  “Những tiên tiến trong hệ gene học đã góp phần làm tăng tốc việc làm ra giống mới và cải thiện được chất lượng cũng như sản lượng mùa vụ, bao gồm lúa gạo và ngô nhưng ngặt một nỗi, những nỗ lực như vậy với lúa mì và lúa mạch vẫn còn là thách thức”, giáo sư Langridge cho biết. “Nguyên nhân là do độ lớn và độ phức tạp của hệ gene của chúng, hiểu biết có giới hạn của chúng ta về những gene chính có chức năng kiểm soát năng suất và thiếu hụt dữ liệu tổng thể hệ gene của những dòng mà các nhà làm giống quan tâm.  “Những người trồng trọt lúa mì và lúa mạch hiện đại đã mang một phạm vi rất rộng các biến dị di truyền và cấu trúc hệ gene rất đa dạng có liên kết với những đặc điểm quan trọng như năng suất cao, khả năng chống chịu hạn hán và kháng bệnh.  Người ta không thể bắt được biến dị này với một trình tự hệ gene đơn lẻ. Chỉ bằng việc giải trình tự đa hệ gene và nhiều loại hệ gene khác nhau thì chúng ta mới có thể bắt đầu hiểu được đầy đủ về biến dị di truyền này, hệ gene pan”.  Hai dự án quốc tế đã giải trình tự các biến dị lúa mì và lúa mạch có trên khắp thế giới. Nhóm ở Adelaide có được tài trợ của Grains Research and Development Corporation (GRDC).  “Thông tin có được qua các dự án hợp tác cho thấy động lực của cấu trúc hệ gene và biến thể gene còn ẩn trước đây của các giống quan trọng, và chứng tỏ các nhà làm giống đã cải thiện được năng suất cây trồng này như thế nào. Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ việc tạo ra những biến dị hiện đại thế hệ mới của nó”, phó giáo sư Chalmers nói.  Trường đại học Adelaide đã giải trình tự ba biến thể lúa mạch với những đặc tính mong muốn như năng suất cao và có tiềm năng chống nhiệt, sương giá, xâm nhập mặn, hạn hán và khả năng kháng bệnh mới.  “Những tập hợp hệ gene này sẽ giúp khám phá gene chức năng và trang bị cho các nhà nghiên cứu và làm giống các công cụ cần thiết để đem đến những cây lúa mì, lúa mạch thế hệ mới, qua đó có thể giúp chúng ta đạt được mức yêu cầu lương thực trong tương lai”, phó giáo sư Ken Chalmers nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-wheat-barley-genomes-world.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hệ nano để tạo ra vô số hình thức của ánh sáng      Trong hàng thập kỷ, các nhà khoa học đã tin rằng các đặc tính thống kê lượng tử của các hạt boson được các hệ plasmon bảo toàn và do đó không tạo ra hình thức khác của ánh sáng.      Lĩnh vực nghiên cứu này đã phát triển rất nhanh khi tập trung vào các đặc tính lượng tử của ánh sáng và những tương tác của nó với vật chất ở cấp độ nano. Nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực này được thúc đẩy bằng khả năng bảo vệ các tương quan phi cổ điển trong tương tác ánh sáng vật chất được suy ra từ tán xạ của các photon và plasmon – một lượng tử của thăng giáng plasma, vốn được giả định là tương tự như động lực học tồn tại trong quang sát của dao động lượng tử để xác định bản chất của các nguồn ánh sáng. Khả năng sử dụng hệ ở cấp độ nano để tạo ra các hình thức lạ của ánh sáng có thể đưa chúng ta tiến xa hơn trên con đường tạo ra những thiết bị lượng tử thế hệ mới. Nó có thể tiếp tục thiết lập một nền tảng mới để khám phá hiện tượng lượng tử mới.  Trong công trình xuất bản trên Nature Communications, các nhà nghiên cứu từ trường đại học bang Louisiana và bốn trường hợp tác khác đã giới thiệu một khám phá có thể làm thay đổi một mô hình trong plasmon lượng tử bằng việc diễn ra tiềm năng của các cấu trúc nano kim loại để tạo ra những hình thức khác của ánh sáng.  Bài báo của họ “Observation of the Modification of Quantum Statistics of Plasmonic Systems” (Quan sát sự biến đổi của thống kê lượng tử trong các hệ plasmon) miêu tả thống kê lượng tử của các hệ nhiều hạt không luôn luôn được bảo toàn trên các nền tảng plasmon 1. Nó cũng miêu tả quan sát đầu tiên của việc thống kê lượng tử được biến đổi này.  Tác giả thứ nhất, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ  LSU Chenglong You và học viên cao học LSU Mingyuan Hong, cho thấy quang học trong ở gần trường có thể góp thêm những con đường tán xạ có thể tạo ra các tương tác đa hạt phức tạp.  “Phát hiện của chúng tôi tiết lộ khả năng có thể sử dụng tán xạ đa hạt để kiểm soát các hệ plasmon lượng tử một cách tinh tế”, You nói. “Kết quả này đổi hướng một mô hình cũ trong lĩnh vực plasmon lượng tử, nơi vật lý cơ bản được tái khám phá, sẽ đem lại một kiến thức sâu hơn về các đặc tính lượng tử của các hệ plasmon, và cho thấy những con đường mới để có thể kiểm soát các hệ đa hạt lượng tử”.  Nghiên cứu này do nhóm Photon lượng thử thực nghiệm tại LSU thực hiện với sự dẫn dắt của phó giáo sư Omar Magaña-Loaiza, Phòng thí nghiệm Photon lượng tử.  “Chúng tôi đã thiết kế các cấu trúc nano kim loại, pha tạp vàng, để tạo ra những dạng khác nhau của ánh sáng”, Hong nói. “Nền tảng kích cỡ nano của chúng tôi khai thác plasmon ở gần các trường để cảm sinh và kiểm soát những tương tác phức tạp của các hệ nhiều hạt của photon. Năng lực này cho phép chúng tôi kiểm soát những thăng giáng lượng tử của các hệ nhiều hạt photon”.  Khả năng thiết kế ánh sáng với những đặc điểm mang tính cơ chế lượng tử khác biệt mở ra nhiều gợi ý cho các công nghệ lượng tử phức tạp. “Ví dụ, nền tảng của chúng tôi cho phép giảm thiểu những thăng giáng lượng tử của các hệ nhiều photon để tăng cường độ nhạy của các giao thức cho cảm biến lượng tử”, Magaña-Loaiza nói. “Trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi sẽ khai thác năng lực kiểm soát một cách tinh tế này để phát triển các mô phỏng lượng tử trong vận chuyển ánh sáng. Điều này sẽ cho phép tạo ra thiết kế tốt hơn và mang lại nhiều tế bào pin mặt trời hiệu quả hơn”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-nanoscale.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2021/08/210827184150.htm  ———————–  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-25489-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hệ tính toán tự nhiên: Của AI “trả lại” AI      Khởi nguồn từ khoa học máy tính, các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) đã được ứng dụng cho rất nhiều ngành khoa học tự nhiên khác thông qua việc tìm kiếm, phân loại, tối ưu. Vậy liệu các kiến thức, phương pháp trong các ngành khoa học cơ bản khác có thể tác động trở lại AI, làm cho nó tốt hơn không hay có thể tạo thành những hệ tính toán AI với cấu trúc khác biệt so với các hệ AI của khoa học máy tính hiện nay?      Câu hỏi này được đặt ra vì hiện nay, các hệ AI vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt về hiệu suất tính toán và tiêu thụ năng lượng. Ví dụ như bộ não con người chỉ tiêu thụ một công suất khoảng 20W thì một hệ thống AI có khả năng suy nghĩ như não người (hiện chưa có) được dự đoán sẽ cần tiêu thụ một lượng điện năng lớn hơn ít nhất 1 triệu lần não người nếu dựa trên kiến trúc hiện tại. Xa hơn, các hệ AI cần thêm các khả năng thông minh trừu tượng hơn (so với việc thực hiện xử lý thông tin trực tiếp từ các giác quan, hay phản xạ, tối ưu,…) như phát kiến, sáng tạo, đức tin, tính cách… mà cấu trúc hiện nay còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, các hệ AI mới cần được chế tạo trên những vật liệu thực, với các cấu phần chính của chúng (neuron, liên kết giữa các neuron) là các thực thể vật chất thì mới có thể đạt được hiệu suất vượt trội. Chúng tôi tạm gọi các hệ tiềm năng đó là “các hệ tính toán tự nhiên phục vụ AI”, với các nguyên lý của các ngành khoa học tự nhiên khác là cơ chế hoạt động chính.    AI học hỏi não người     Một hệ thông minh tự nhiên có thể được coi là một hệ mà các cấu phần của nó là các thực thể tự nhiên tương tác với nhau và tạo ra sự tính toán thông minh. Bộ não là một hệ thông minh tự nhiên hoàn hảo. Các hệ AI hiện tại phần lớn là một sự mô phỏng lại sơ bộ cấu trúc sinh học của bộ não bởi các máy tính (dưới dạng phần mềm), chúng không phải tự nhiên và chính là nguồn gốc của chữ A (artificial). Khi bộ nhớ bị xóa hết, máy tính tắt thì hệ AI đó không còn tồn tại. Tính toán AI qua mô phỏng hạn chế ở chỗ: mọi tính toán giữa các neuron thực chất phải truyền về nơi tính toán của máy tính là CPU/GPU với số lượng hạn chế so với số thành phần (neuron, khớp thần kinh) cần tính toán, cùng với năng lượng tiêu thụ lớn hơn. Các hệ thông minh tự nhiên chế tạo trên các vật chất thực có được lợi điểm lớn nhất là: tính toán trên chính các thực thể vật chất (như neuron trong não), không phụ thuộc vào CPU/GPU bên ngoài. Các tính toán như vậy sẽ diễn ra với tốc độ ánh sáng và tiêu thụ rất ít năng lượng.    Với gần 100 tỷ neuron và 100 ngàn tỷ khớp thần kinh, não người là một bộ máy vô cùng phức tạp. Sự phức tạp nằm ở các kết nối còn thành phần cấu tạo thì lại đơn giản với ba thành phần chính: neuron, dây thần kinh, khớp thần kinh. Hình 1a mô phỏng một cấu trúc neuron với rất nhiều xúc tua (dendrite) là nơi nhận các tín hiệu từ các neuron đi tới nó. Nhân của neuron là nơi tổng hợp lại các tín hiệu đến và thực hiện chức năng phát (fire) nếu tổng tín hiệu đến đạt đủ một ngưỡng nào đó. Có thể mô tả chức năng của neuron gồm một phép cộng (+) tín hiệu và một phép biến đổi phi tuyến f (sẽ giải thích rõ hơn ở phần sau). Tín hiệu mà nhân phát ra được truyền qua duy nhất một dây thần kinh (axon) và điểm cuối của axon kết nối với xúc tua của một hay nhiều neuron khác. Chỗ kết nối này là một nơi rất quan trọng, nó có điện trở có thể thay đổi được dựa trên việc tín hiệu chạy qua nhiều hay ít, mạnh hay nhẹ, trước hay sau bao lâu. Giá trị điện trở đó theo ngôn ngữ AI gọi là trọng số (w) của hai kết nối neuron-neuron và chứa đựng mọi kiến thức của con người. Trong ngôn ngữ thần kinh kết nối này được gọi là synapse 1. Hình 1c biểu diễn sự kết nối của nhiều neuron với nhau và hình 1b là một hình ảnh mô phỏng sự kết nối giữa các neuron thực, với màu đỏ là nhân neuron và các điểm sáng là khớp nối synapse. Ở hình 2 chúng ta được thấy một bức tranh tổng thể của một não ruồi do Google mới chụp lại đầu năm 2020, thể hiện tất cả 25,000 neuron và 25 triệu khớp nối của ruồi. Nói tóm lại, có thể mô hình một cấu trúc não sinh học như là một tổ hợp gồm hai thành phần quan trọng nhất bao gồm 2:    Nhân neuron (gọi tắt là neuron) thực hiện phép + tín hiệu và cơ chế phát theo ngưỡng f.    Khớp nối (synapse) cho phép truyền tín hiệu qua nhiều hay ít, nhanh hay chậm dựa trên điện trở của chúng. Chúng ta mô tả chức năng này bằng phép nhân ×.    Các ứng dụng AI hiện đại nhất hiện nay dựa trên các mô hình học sâu Deep Learning đều mô phỏng lại mô hình này một cách nào đó. Hình 3a biểu diễn một mạng Deep Learning với các lớp neuron cách biệt nhau. Các neuron trong một lớp chỉ nhận tín hiệu từ các neuron của lớp trước và chỉ phát tín hiệu đến các neuron của lớp sau. (Đây là một sự đơn giản hóa bởi với hình số 2, chúng ta có thể tưởng tượng được tín hiệu không truyền theo lớp tách biệt như thế trong cấu trúc sinh học.)      Có thể mô tả chi tiết hơn bằng công thức các hoạt động của neuron và synapse, trong đó tín hiệu phát ra từ neuron 0 ký hiệu x0 qua sợi trục (axon) của chính nó; tín hiệu truyền đến khớp nối (synapse) có độ dẫn điện w0, trở thành w0 x0; tín hiệu tiếp tục đi vào xúc tua (dendrite) của neuron chính đang xét (vòng tròn xanh); các tín hiệu tương tự w1 x1, w2 x2 từ các neuron khác cũng truyền đến neuron chính; neuron chính thực hiện phép cộng các tín hiệu từ các neuron khác, cộng thêm một điện thế đặc trưng của chính nó b tạo thành tín hiệu vào; neuron chính thực hiện cơ chế phát theo ngưỡng, phát ra một xung điện nếu tín hiệu vào  vượt qua một ngưỡng nào đó. Cơ chế này được mô tả bằng một hàm kích hoạt (activation function) f tạo thành tín hiệu  phát ra axon (giống như neuron 0 ban đầu).      Hình 3: a) Sơ đồ mạng neuron học sâu với 2 lớp ẩn b) mô tả toán học của một neuron và synapse (Image credit: CS231n)  Tín hiệu của não bộ của chúng ta cũng được truyền đi theo cách tương tự như vậy. Ví dụ khi nhìn thấy một con mèo, ánh sáng từ mèo được chiếu vào các tế bào giác mạc của mắt, chuyển thành tín hiệu điện truyền qua các dây thần kinh thị giác chứa các khớp nối hay synapse. Do các synapse có giá trị điện trở định sẵn, tín hiệu hình ảnh của con mèo sẽ tạo ra những dòng điện khác nhau tại những neuron khác nhau ở lớp trung gian. Cuối cùng, tín hiệu được truyền đến các dây thần kinh và neuron vùng nhận thức, ở đó các neuron tương ứng với phần nhận thức đây là con mèo, được kích hoạt mạnh nhất. Đây chính là quá trình xác định hay suy diễn (inference), quá trình này chúng ta sử dụng các giá trị điện trở có sẵn của các synapse.    Vấn đề là làm sao có được các giá trị giá trị điện trở synapse phù hợp ở vùng trung gian và ở vùng nhận thức để tạo ra những neuron tương ứng với khái niệm con mèo? Đó chính là quá trình học của mạng neuron cũng như của não người. Có thể coi quá trình học, cả của mạng nhân tạo và mạng sinh học, là quá trình xác định nên các giá trị khớp nối synapse phù hợp.       Trong não bộ, các giá trị khớp nối được điều chỉnh qua mỗi quá trình quan sát và thực hành. Ví dụ như khi mới bắt đầu tập đi, một đứa trẻ sẽ thử nghiệm và nếu đứng được thì các khớp nối dẫn đến các động tác trước đó sẽ được tăng cường (giá trị tăng – potentiation). Ngược lại, nếu bị ngã, đứa trẻ sẽ cảm thấy đau và các khớp nối dẫn đến các động tác đi không đúng sẽ bị suy giảm giá trị, hoặc mất đi (depression). Học chính là một sự thử nghiệm và lặp lại cho đến khi các khớp nối có được giá trị phù hợp. Rất may mắn là quá trình tiến hóa tự nhiên đã cho chúng ta rất nhiều tri thức chứa trong các giá trị ban đầu của khớp nối thần kinh (được mã hóa qua ADN và đột biến). Các giá trị đó đã rất gần giá trị phù hợp cho việc học đi nên một đứa trẻ chỉ cần thử vài lần, bị ngã vài lần là có thể đi được. Trong khi đó, để “dạy” cho một robot tập đi thì chúng ta cần tạo ra các giá trị khớp nối của mạng neuron của robot từ đầu, thông thường là từ những giá trị khởi tạo ngẫu nhiên. Chúng ta cần truyền rất nhiều dữ liệu cho robot và nó sẽ thử đi – ngã và học nhiều lần với rất nhiều năng lượng tiêu thụ. Chế tạo một robot biết đi “mượt” như con người là việc rất khó mà không nhiều nhóm làm được.    Đến đây chúng ta nhận thấy có một đặc điểm rất đặc biệt của khớp nối – synapse – là nó có khả năng tự điều chỉnh lại giá trị sau khi mà neuron mà nó truyền giá trị đến phản ứng với giá trị trước đó của nó. Đây gọi là cơ chế đàn hồi thời gian (time plasticity) đặc biệt của khớp nối, là cơ chế giúp chúng ta học được. Các hệ thông minh tự nhiên muốn hoạt động cũng cần phải chế tạo được cơ chế này. Nói tóm lại, các hệ thông minh tự nhiên cần có các cấu trúc gồm các neuron và khớp nối liên kết với nhau với 2 chức năng và 2 cơ chế quan trọng nhất (Xem hình 5a):  – Chức năng nhân tín hiệu × của khớp nối với trọng số (điện trở) của nó.  – Chức năng cộng tín hiệu + của neuron.  – Cơ chế đàn hồi thời gian – điều chỉnh được trong số (điện trở) của khớps nối.  – Cơ chế phát tín hiệu theo ngưỡng f của neuron    Những hệ thông minh tự nhiên đầu tiên     Một số nhóm nghiên cứu/start-up đã bước đầu xây dựng được các hệ thông minh tự nhiên, trong đó giải pháp sử dụng vật liệu điện và quang đang có những tiến bộ quan trọng. Chúng tôi mô tả ngắn ngọn thiết kế của 2 nhóm tiêu biểu trong các như sau:    1. Nhóm Đại học Massachuset sử dụng các vật liệu tiên tiến là trở nhớ để chế tạo các neuron trở nhớ và synapse (khớp nối) trở nhớ:    Với neuron, nhóm chế tạo một điện trở với 2 điện cực kim loại áp lên một lớp vật liệu điện môi (SiOxNy hoặc SiOx) được cấy các hạt nano bạc (Ag) tạo thành một linh kiện (điện) trở nhớ. Kết hợp với một tụ điện C, trở nhớ này có thể thực hiện chức năng phát tín hiệu theo ngưỡng f như sau: Khi tín hiệu truyền đến nhiều và đủ lớn, tụ điện và điện trở được tích đủ điện thế và kích hoạt các hạt bạc tạo thành một kênh dẫn điện (một hiệu ứng vật lý phức tạp) và dòng điện truyền qua giúp neuron phát đi tín hiệu. Sau khi phát điện, các hạt bạc khuếch tán trở lại và ngắt kênh dẫn điện, neuron trở về trạng thái đóng ban đầu (xem hình 5b)..     Với synapse (khớp nối), nhóm cũng sử dụng vật liệu trở nhớ với dung môi HfOx kẹp giữa 2 điện cực Pd và Ta tạo thành trở nhớ trượt (drift memristor). Cấu trúc này cho phép thay đổi điển trở của synapse tùy theo giá trị điện thế áp dụng. Các synapse được chế tạo thành một lưới liên kết tín hiệu vào và các neuron đầu ra ở trên. Với cấu trúc trên, tương tác giữa synapse và neuron tạo ra khả năng học của synapse: Khi neuron phát, điện thế trên neuron giảm làm điện thế trên synapse tăng cao, tiếp tục làm cho độ dẫn điện của synapse tăng lên (điện trở giảm đi) và quá trình học được tăng cường. Đây chính là cơ chế đàn hồi thời gian nói trên.     Cuối cùng, chức × của synapse được thực hiện bởi định luật Ohm khi dòng điện đi qua synapse và chức năng + của neuron được thực hiện bởi định luật Kirchoff của lưới synapse. Hệ thống trên đã được thử nghiệm ở độ phân giải nhỏ và cho phép học các chữ cái thông thường.       2. Một nhóm khác từ MIT nay đã spin-off thành công ty Lightelligence (huy động được hơn 10 triệu USD) chế tạo các hệ thông minh tự nhiên với các vật liệu và dụng cụ quang học như sau:    Neuron được chế tạo bởi một bộ biến đổi phi tuyến quang học (optial non-linear unit – ONU) bao gồm các vật liệu hấp thụ bão hòa quang học (optical saturable absorption) cho phép phát tín hiệu theo. Phép cộng của neuron và phép nhân ma trận được thực hiện bởi bộ phân giao thoa quang học (otpical interference Unit – OIU), trong đó phép nhân được chia thành 3 phép nhân của của 2 ma trận unitary và 1 ma trận đường chéo, theo phương pháp SVD (“singular value decomposition). Các phép nhân này được thực hiện bởi bộ chia tách (beamsplitter) và bộ dịch pha quang học (phase shifter). Cuối cùng, cơ chế đàn hồi theo thời gian nhóm thực hiện bên ngoài với sự hỗ trợ của máy tính thông thường tại thời điểm công bố bài báo 2016.     Hai ví dụ trên đã cho thấy các hệ thông minh tự nhiên bao gồm các neuron và synapse là các thực thể vật chất, tương tác dựa trên các quy luật tự nhiên (trường hợp tín hiệu điện là định luật Ohm và Kirchoff) là khả thi và có thể được thương mại hóa trong tương lai gần. Lợi điểm lớn nhất của chúng là tính toán phân tán trên vật liệu, do đó mang lại tốc độ xử lý song song rất nhanh với rất ít năng lượng tiêu thụ. Đây chính là cách tự nhiên hơn mà chúng ta có thể mô phỏng bộ não con người.     Các hệ thông minh tự nhiên có thể thay thế được các hệ AI trên máy tính hiện tại chứ không thay thế được máy tính, do đặc tính quan trọng của chúng là tính biến động cao (không ổn định). Ví dụ cùng một ánh sáng, một hệ quang có thể cho cường độ sáng khác nhau ở hai lần đo các biến động như sự hao mòn của vật liệu, rung động môi trường, … Với một máy tính, việc tính sai là không thể cho phép. Nhưng với một hệ AI thì sai số lại không quá nghiêm trọng đến độ chính xác của suy luận. Thật vậy, nếu bạn đã từng train một mạng neuron với hơn 10000 trọng số và đạt được một độ chính xác nào đó. Hãy bỏ đi ngẫu nhiên vài thậm chí vài chục trong số (cho giá trị bằng 0), các giá trị của neuron ở lớp ra sẽ khác nhau, nhưng sự tương đối giữa chúng thì không đổi. Ví dụ một mạng có 2 neuron đầu ra thể hiện sự nhận dạng hình ảnh giữa chó và mèo, giá trị neuron nào cao hơn sẽ chỉ ra con vật tương ứng. Khi hình ảnh được đưa vào, giá trị của hai neuron đã chênh lệch đủ lớn nên khi có sai số ở mỗi neuron, chiều chênh lệch vẫn không thay đổi và mạng vẫn nhận dạng tốt. Trong não bộ chúng ta, các khớp nối mất đi, thoái hóa thường xuyên trong suốt cuộc đời nhưng khả năng suy nghĩ của não không thay đổi quá đột ngột (tất nhiên sẽ có trường hợp như khi tai nạn bị mất đột ngột quá nhiều khớp nối cùng lúc, khi đó khả năng tư duy sẽ bị ảnh hưởng do các khớp nối không thể ngay lập tức được thay thế và việc học sẽ tốn thêm khá nhiều thời gian). Do đó các hệ thông minh tự nhiên có tính ổn định cao và có tiềm năng trở thành những cỗ máy thông minh thực sự.     Cơ hội cho Việt Nam?     Việc cần thiết phải có những hệ thông minh tự nhiên như trên đã tạo ra một cơ hội cho Việt Nam theo kịp về công nghệ so với thế giới, về hai khía cạnh. Thứ nhất là về công nghệ sản xuất bộ vi xử lý (chip): nếu sản xuất chip dựa trên mạch điện tích hợp cho máy tính thông thường thì chúng ta đã bị tụt hậu quá xa và khó thương mại hóa thành công. Trong khi đó, hệ thông minh tự nhiên (điện hoặc quang) có thể coi là một chip AI thế hệ mới, hiện mới được nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và chưa có sản phẩm thương mại. Thứ hai là về chính AI: nếu sản xuất được chip AI thế hệ mới, chúng ta sẽ có thể triển khai các bài toán AI nhanh hơn rất nhiều lần so với máy tính thông thường hiện nay, ví dụ như “training” hàng triệu bức ảnh trong vài phút. Điều này sẽ giúp cho việc học, thực hành và ứng dụng AI hay AI trên dữ liệu lớn được dễ dàng và phổ cập. Ngoài ra, chip AI thế hệ mới còn hứa hẹn tạo ra những tiến bộ mới trong khoa học tri thức, đưa AI gần với não bộ con người hơn, tạo ra những ứng dụng cao cấp như suy nghĩ, sáng tạo… có thể giúp Việt Nam vươn lên theo kịp trình độ quốc tế và thậm chí có tham vọng dẫn đầu về AI.    Để có được cơ hội đó, chúng ta cần thay đổi cách nhìn AI là một phần mềm chạy trên máy tính (PC). Rất nhiều nỗ lực hiện đang được tập trung cho “phần mềm” này, là những đoạn code thiết kế ra các mạng neuron và thực hiện tính toán trên đó. Chúng ta cần đầu tư thêm vào phần sau của khái niệm trên, tức là các hệ thống vật chất (Vật lý, Hóa học, Sinh học,…) thực hiện AI nhanh hơn, thông minh hơn và không nhất thiết là các máy tính hiện nay. Hướng khả thi nhất theo chúng tôi là các nhà khoa học của ba  ngành – khoa học vật liệu, công nghệ nano, trí tuệ nhân tạo – cùng ngồi lại và thiết kế ra các hệ thông minh tự nhiên nói trên. □  —–  1. Chưa tìm được từ Việt hóa tương đương, có thể tạm gọi là “khớp nối”  2. Mô hình này có thể còn đơn giản, não sinh học có thể có những chức năng khác mà tác giả chưa được biết  ————  Tài liệu tham khảo  1. Wang, Z., Joshi, S., Savel’ev, S. et al. Fully memristive neural networks for pattern classification with unsupervised learning. Nat Electron 1, 137–145 (2018) doi:10.1038/s41928–018–0023–2  2. Shen, Y., Harris, N., Skirlo, S. et al. Deep learning with coherent nanophotonic circuits. Nature Photon 11, 441–446 (2017). https://doi.org/10.1038/nphoton.2017.93  3. https://www.forbes.com/sites/quora/2018/01/26/what-processes-are-taking-place-in-our-brains-when-we-learn-new-things/#15a5714351f9    Author                Nguyễn Quang - Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan làm gia tăng bạo lực giới      Khủng hoảng khí hậu khiến các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên và khắc nghiệt hơn, dẫn đến gia tăng nguy cơ bạo lực giới với phụ nữ, trẻ em gái và các nhóm thiểu số giới và tính dục.      Thời tiết cực đoan dẫn đến gia tăng bạo lực giới với phụ nữ, trẻ em gái, các nhóm thiểu số về giới và tính dục. Nguồn: The Third Pole  Trong một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí The Lancet Planetary Health, một nhóm nghiên cứu do ĐH Cambridge dẫn đầu đã phân tích các bài báo khoa học hiện nay và phát hiện ra các bằng chứng phác họa một bức tranh tương lai ảm đạm: các sự kiện thời tiết cực đoan dẫn đến bất ổn kinh tế, mất an ninh lương thực, căng thẳng tinh thần, gây thiệt hại cơ sở hạ tầng và khiến tình trạng bất bình đẳng giới thêm trầm trọng.  Chỉ riêng từ năm 2000-2019, lũ lụt, hạn hán và bão đã ảnh hưởng đến gần 4 tỷ người trên thế giới, cướp đi sinh mạng của hơn 300.000 người. Các hiện tượng này ngày càng nghiêm trọng và thường xuyên hơn: tần suất lũ lụt đã tăng 134%, bão tăng 40% và hạn hạn tăng 29% trong hai thập kỷ qua. Những con số này dự kiến sẽ tiếp tục tăng trước tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay.  Các hiện này có thể dẫn đến gia tăng bạo lực giới, do sự bất ổn kinh tế xã hội, bất bình đẳng quyền lực, hạn chế tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khan hiếm tài nguyên và những yếu kém trong thực thi pháp luật. Tình trạng bạo lực giới dẫn đến nhiều hậu quả lâu dài như tổn thương về thể chất, mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây qua đường tình dục, các vấn đề sinh sản, tự kỳ thị, các vấn đề sức khỏe tâm thần và nhiều hậu quả khác với trẻ em.  Để hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa các sự kiện thời tiết cực đoan và bạo lực giới, các nhà nghiên cứu đã xem xét các tài liệu đã có về lĩnh vực này. Cách tiếp cận này cho phép họ tập hợp các nghiên cứu – đôi khi mâu thuẫn hoặc thiếu sót – để đưa ra kết luận chắc chắn hơn.  Nhóm nghiên cứu đã chọn 41 công bố về các sự kiện cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, sóng nhiệt, cháy rừng, và bạo lực giới như bạo lực và quấy rối tình dục, bạo lực thể chất, đàn áp, tảo hôn hoặc hôn nhân cưỡng ép, bạo lực cảm xúc. Các nghiên cứu bao phủ nhiều quốc gia trên sáu lục địa lớn, tất cả đều tập trung vào phụ nữ và trẻ em gái (trừ một nghiên cứu).  Họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy bạo lực giới ngày càng trầm trọng hơn do các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan, kết hợp với các cú sốc kinh tế và bất ổn xã hội.  Theo các nghiên cứu, thủ phạm bạo hành gồm bạn đời và các thành viên trong gia đình, các nhà lãnh đạo tôn giáo, nhân viên cứu trợ và quan chức chính phủ. Mối liên hệ giữa các sự kiện cực đoan và bạo lực giới có thể thay đổi do sự khác biệt về chuẩn mực xã hội, truyền thống, tính dễ bị tổn thương, mức độ phơi nhiễm, khả năng thích ứng, cơ chế tố cáo và phản ứng pháp lý. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực giới trong và sau các sự kiện cực đoan trong phần lớn nghiên cứu đều giống nhau – cho thấy sự gia tăng bạo lực giới không bị hạn chế về mặt địa lý.  “Các sự kiện cực đoan không gây ra bạo lực giới, nhưng chúng thúc đẩy nguyên nhân dẫn đến bạo lực hoặc tạo ra môi trường thuận lợi cho hành vi này”, Kim van Daalen, nghiên cứu sinh ở Khoa Y tế công cộng và chăm sóc ban đầu (ĐH Cambridge) cho biết.  “Căn nguyên của hành vi này là các cấu trúc gia trưởng và xã hội đã tạo thuận lợi và bình thường hóa bạo lực. Các vai trò và chuẩn mực xã hội hiện có, kết hợp với bất bình đẳng dẫn đến tình trạng lề hóa, phân biệt đối xử, tước đoạt khiến phụ nữ, trẻ em gái và các nhóm thiểu số giới và tính dục dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực của các sự kiện cực đoan”.  Van Daalen nói thêm: “Việc quản lý thiên tai cần tập trung vào ngăn ngừa, giảm thiểu và thích ứng với các yếu tố gây ra bạo lực giới. Điều quan trọng là phụ nữ, trẻ em gái và các nhóm thiểu số giới và tính dục bị ảnh hưởng phải cung cấp thông tin, đồng thời phải chú ý đến yếu tố văn hóa, chuẩn mực, truyền thống địa phương và thái độ của xã hội”.  Một số các biện pháp can thiệp tiêu biểu là cung cấp nơi trú ẩn sau thiên tai và các dịch vụ cứu trợ – bao gồm khu vực vệ sinh và tắm rửa – được thiết kế riêng cho phụ nữ, trẻ em gái và các nhóm thiểu số giới và tính dục, hoặc cung cấp các nhóm ứng phó khẩn cấp được đào tạo chuyên biệt về phòng chống bạo lực giới.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-extreme-weather-climate-events-violence.html    Author                .        
__label__tiasang Các hồ nước ở Bắc Cực đang dần biến mất      Bắc Cực không còn xa lạ với sự mất mát. Khi tình trạng nóng lên ở khu vực này nhanh gấp bốn lần so với phần còn lại của thế giới, các sông băng tan chảy, động vật hoang dã bị ảnh hưởng và các môi trường sống tiếp tục biến mất với một tốc độ kỷ lục.    Một hồ nước ở Bắc Cực nhìn từ trên cao, đã gần như khô cạn hoàn toàn. Nguồn: Phys.org  Giờ đây, công bố mới trên tạp chí Nature Climate Change đã phát hiện ra một mối đe dọa ngày càng rõ ràng: các hồ nước ở Bắc Cực đang dần khô cạn. Nghiên cứu này do nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Elizabeth Webb ở Khoa Sinh học, Đại học Florida dẫn dắt, đã bật tín hiệu cảnh báo về tình trạng khí hậu toàn cầu.  Nghiên cứu cho thấy trong 20 năm qua, các hồ ở Bắc Cực đã dần thu hẹp hoặc khô cạn hoàn toàn trên vùng chảo Bắc Cực – một khu vực nối liền các phần phía Bắc của Canada, Nga, Greenland, Scandinavia và Alaska.  Các hồ đang biến mất này đóng vai trò nền tảng trong hệ sinh thái ở Bắc Cực. Đây là nguồn nước ngọt quan trọng cho các cộng đồng bản địa và các ngành công nghiệp. Các loài động vật đang bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng, bao gồm các loài chim di cư và các sinh vật sống dưới nước, cũng sinh sống dựa vào môi trường hồ nước.  Sự suy giảm của các hồ nước là một điều bất ngờ. Các nhà khoa học dự báo rằng biến đổi khí hậu trước hết sẽ mở rộng các hồ trên đài nguyên Bắc Cực do băng tan, cuối cùng sẽ khô cạn vào giữa thế kỷ 21 hoặc 22. Nhưng giờ đây, tầng băng vĩnh cửu tan chảy, lớp đất đóng băng bao phủ Bắc Cực khiến các hồ nước cạn dần – chiếm ưu thế hơn so với hiệu ứng mở rộng hồ nước. Nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng băng vĩnh cửu tan chảy có thể làm giảm diện tích hồ bằng cách tạo ra các đường thoát nước và tăng xói mòn đất trong các hồ.  “Kết quả cho thấy tình trạng băng vĩnh cửu tan chảy đang diễn ra còn nhanh hơn so với dự đoán”, Webb nói. “Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khu vực này sẽ ngày càng bị thất thoát nhiều nước hơn trên quy mô lớn trong tương lai”.  Bên cạnh nhiệt độ tăng, nghiên cứu cũng cho biết sự gia tăng lượng mưa mùa thu cũng khiến băng vĩnh cửu tan chảy và dẫn đến sự khô cạn của hồ nước. “Việc mưa tăng làm giảm nước bề mặt có vẻ trái với lẽ thường”, Jeremy Lichstein, người hướng dẫn Webb và là đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Nhưng hóa ra các tài liệu khoa học đã từng giải thích về vấn đề này: nước mưa mang nhiệt lượng đất và thúc đẩy băng vĩnh cửu tan chảy, tạo ra các đường thoát nước ngầm làm cạn kiệt nước bề mặt”.  Tuy nhiên, có một điểm sáng trong kết quả nghiên cứu này. Các mô hình động lực học về hồ nước trước đây đã dự đoán sự mở rộng của các hồ, làm tan lớp băng vĩnh cửu xung quanh. Nhưng do các hồ đang khô cạn, lớp băng vĩnh cửu gần hồ có vẻ không tan nhanh như vậy. “Hiện tại chưa rõ kết quả đánh đổi là gì, nhưng chúng tôi biết rằng việc mở rộng hồ nước gây ra sự mất mát carbon cao hơn so với khu vực xung quanh”, Webb nói.  Để có được kết quả này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp học máy để xem xét cơ chế biến đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi của các hồ nước. Thông qua việc khai thác số lượng lớn hình ảnh vệ tinh để đánh giá các mô hình mất mát nước bề mặt, họ đã phân tích dữ liệu về Bắc Cực trong hàng thập kỷ. Công việc này phụ thuộc vào các chương trình mạnh như Google Earth Engine và nền tảng Python trên siêu máy tính UF’s HiPerGator, để truy vấn các tập dữ liệu lớn và chạy các mô hình.  Để hạn chế sự biến mất của các hồ, các nghiên cứu gần đây trên tạp chí Frontiers in Environmental Science cho thấy có lẽ cách tốt nhất để bảo vệ tầng băng vĩnh cửu là cắt giảm phát thải từ nhiên liệu hóa thạch. Việc giảm phát thải carbon có thể giúp hành tinh đi đúng hướng bằng cách hạn chế gia tăng nhiệt độ toàn cầu.  “Quả cầu tuyết đã lăn rồi,” Webb nói, và nhấn mạnh chúng ta cần hành động ngay bây giờ để làm chậm lại những biến đổi này. “Nếu chỉ duy trì những gì chúng ta đang làm thì sẽ không thể mang lại hiệu quả”. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-arctic-lakes-climate.html    Author                .        
__label__tiasang Các hợp chất tự nhiên từ động vật: Phát hiện mở đường      Lâu nay, chúng ta vẫn cho là động vật thường không có nhiều hoạt chất tự nhiên như thực vật nhưng phát hiện mới đã làm thay đổi quan điểm đó.     Erythropodium caribaeorum hay gorgonia là một loài san hô mềm trong họ Anthothelidae. Nguồn: reefguide.org  Các hợp chất tự nhiên, hoặc nói chính xác hơn là những chất biến dưỡng thứ cấp hay chuyên biệt, là những chất chỉ có ở một ít loài sinh vật nhất định. Những hợp chất này giúp sinh vật thích nghi với môi trường bao gồm các đối tượng hữu sinh. Chính nhờ đặc tính tương tác với sinh vật mà các hợp chất tự nhiên có rất nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống con người như làm thuốc, hay chất tạo hương liệu hoặc tạo màu. Do khả năng chuyển động rất linh hoạt cùng tập tính dị dưỡng (lấy những hợp chất cần thiết bằng cách ăn các sinh vật khác), động vật thường không cần phải tạo ra các hợp chất tự nhiên như thực vật và vi sinh vật. Các nhà khoa học lâu nay cho rằng những trường hợp quan sát thấy lượng hoạt chất tự nhiên đáng kể ở động vật là khá hiếm, và thường thì đây lại là sản phẩm của những vi sinh vật cộng sinh với loài động vật đó. Ví dụ như hợp chất 2,3-indolinedione chống nhiễm nấm ở loài Palaemon macrodactylus thuộc họ tôm càng là do các loài vi khuẩn Alteromonas cộng sinh tạo ra. Ecteinascidin-742 được Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chứng nhận khả năng chữa ung thư là hợp chất chống vi sinh ở loài động vật sống đuôi Ecteinascidia turbinata, và đây là sản phẩm của một loại vi khuẩn cộng sinh thuộc ngành Pseudomonadota. Ví dụ nổi bật hơn cả có lẽ là độc tố tetrodotoxin trong cá nóc (họ Tetraodontiae) có thể giết chết con vật nào ăn phải. Ngoài cá nóc, độc tố này còn xuất hiện ở rất nhiều loài động vật biển như sam (họ Limulidae) hay ốc mắt ngọc (họ Naticidae). Nghiên cứu hơn 30 năm qua cho thấy có hơn 150 loài vi khuẩn cộng sinh với động vật biển tạo ra tetrodotoxin dù người ta vẫn chưa tìm ra các gene tham gia sinh tổng hợp độc tố này.   Tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng trong hai thập niên vừa qua đã làm thay đổi cách nhìn nhận rằng động vật không tạo hợp chất tự nhiên. Đặc biệt, nhiều loài động vật thủy sinh và côn trùng bắt đầu được ghi nhận là thực sự có khả năng sinh tổng hợp các chất này bằng những enzyme do chính bộ gene của chúng mã hóa chứ không phải là nhờ các loài vi sinh vật cộng sinh. Terpenoid là ví dụ cho các hợp chất động vật có thể tạo ra, cũng là nhóm lớn nhất trong tất cả các nhóm hợp chất tự nhiên. Với hơn 50.000 chất, terpenoid chủ yếu được tìm thấy ở thực vật với cấu trúc là đa phân của các đơn vị 5 carbon ở dạng isoprene. Về chức năng, terpenoid đóng vai trò quan trọng như bảo vệ thực vật chống động vật ăn cây cỏ (các sesquiterpene lactone và saponin), dẫn dụ côn trùng giúp thụ phấn (các loại monoterpenoid), kháng vi sinh (capsidiol và oryzalexin), v.v… Terpenoid cũng bao gồm các loại dược phẩm quan trọng như thuốc chống ung thư (Taxol), thuốc chữa sốt rét (artemisinin), hay tá chất QS-21 hỗ trợ hiệu quả miễn dịch của nhiều loại vaccine.    Nhiều loài động vật thủy sinh và côn trùng bắt đầu được ghi nhận là thực sự có khả năng sinh tổng hợp các chất tự nhiên bằng những enzyme do chính bộ gene của chúng mã hóa chứ không phải là nhờ các loài vi sinh vật cộng sinh.    Giới nghiên cứu đã xác định được hơn 4.000 cấu trúc terpenoid ở các loài động vật biển không xương sống có lối sống không di chuyển. Các loài thuộc lớp san hô Octocorallia (san hô mềm và các loài họ hàng, thường có cấu trúc đối xứng 8 chiều) tạo ra nhiều loại terpenoid có giá trị cao như các hợp chất desmethyleleutherobin và polyanthellin A chống ung thư, hay loạt các hợp chất pseudopterosin kháng viêm. Ở nhiều loài san hô, các nhà khoa học nhận thấy rằng các loài vi tảo cộng sinh với những san hô này có khả năng tạo ra terpenoid. Trong nhiều trường hợp khác, người ta vẫn chưa rõ bản thân san hô hay những vi sinh vật cộng sinh mới thực sự là nguồn terpenoid, và do vậy gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác một cách bền vững các terpenoid quý từ biển.  Vấn đề lớn này cuối cùng đã được giải đáp bằng hai nghiên cứu độc lập, cùng công bố trên tạp chí Nature Chemical Biology trong tháng 5/2022. Nhóm nghiên cứu sinh học biển của GS. Bradley S. Moore (Đại học California, San Diego, Mỹ) và nhóm nghiên cứu hóa dược của GS. Eric W. Schmidt (Đại học Utah, Mỹ) đã song song chứng minh, chính san hô mềm thực sự tạo ra được các hợp chất terpenoid giá trị nêu trên.   Để tìm con đường sinh tổng hợp terpenoid ở san hô mềm, hai nhóm nghiên cứu tập trung vào bước đầu tiên là sự hình thành cấu trúc khung terpene từ các tiền chất isoprenyl pyrophosphate do các enzyme terpene synthase xúc tác. Các nhà nghiên cứu này dùng công cụ tìm kiếm trình tự tương đồng BLAST để tìm terpene synthase ở san hô mềm dựa trên những terpene synthase đã biết ở thực vật và vi sinh vật nhưng kết quả ban đầu không mấy khả quan. Ngoài ra, một vài nghiên cứu trước đây đã cho thấy terpene synthase ở những sinh vật biển như tảo đỏ lại giống với terpene synthase vi sinh vật chứ không phải thực vật. Từ đó, cả hai nhóm nghiên cứu đã thay đổi thuật toán tìm kiếm để chủ yếu dựa vào terpene synthase vi sinh vật. Kết quả cho thấy tất cả các nhóm san hô mềm dù có vi sinh vật cộng sinh hay không đều có mang gene mã hóa cho terpene synthase.   Sinh tổng hợp terpenoid ở các loài thuộc lớp san hô mềm Octocorallia: Một con đường sinh tổng hợp terpenoid đặc trưng gồm có bước chuyển tiền chất isoprenyl pyrophosphate (isoprenyl-PP) thành terpene do một terpene synthase (TPS) xúc tác. Terpene sau đó thường được oxide hoá rồi tiếp tục biến đổi như gắn thêm nhóm acyl nhờ enzyme acyltransferase (AT). Các gene mã hóa cho TPS, enzyme oxide hóa, và enzyme tạo ra các cấu trúc terpenoid phức tạp nằm cạnh nhau trên nhiễm sắc thể san hô mềm. TPS ở san hô mềm có chung nguồn gốc nhưng khá khác biệt so với TPS ở thực vật hay vi sinh vật. (Nguồn: Nature Chemical Biology).  Tuy có trình tự và thậm chí cấu trúc rất giống với terpene synthase vi sinh vật, các terpene synthase ở san hô mềm lại thuộc một nhóm riêng biệt khi được phân tích tiến hóa. Khi các gene này được biểu hiện và thử nghiệm hoạt tính, hai nhóm nghiên cứu thu được các cấu trúc terpene quen thuộc ở san hô mềm. Nổi bật là klysimplexin R synthase ở loài san hô Erythropodium caribaeorum với sản phẩm có cấu trúc đặc trưng của hợp chất eleutherobin có hoạt tính chống ung thư trong thử nghiệm in vitro. Một số terpene synthase khác tạo ra cấu trúc lõi cembrenoid đặc trưng cho hơn 1.200 hợp chất terpenoid ở san hô mềm. Ngoài những cấu trúc diterpene (20 carbon) này thì sesquiterpene (15 carbon) cũng được ghi nhận trong sản phẩm của các terpene synthase khác ở san hô mềm. Như dự đoán, các nhà khoa học không tìm thấy terpene synthase ở các loài thuộc lớp san hô Hexacorallia (san hô cứng và các loài họ hàng) vốn không tạo ra terpenoid. Khi giải trình tự bộ gene của một số loài san hô mềm, hai nhóm nghiên cứu thấy rõ các terpene synthase có intron (trình tự nucleotide không có chức năng mã hóa nằm giữa các trình tự mã hóa của một gene), và các gene trên nhiễm sắc thể mang terpene synthase có khoảng cách với nhau rất lớn. Đây đều là những chỉ dấu rõ ràng cho thấy các terpene synthase này mang bản chất của sinh vật nhân thật (eukaryotae) chứ không phải của sinh vật nhân sơ (prokaryotae) – tức đây đúng là gene của san hô, không phải của các loại vi sinh vật nhân sơ cộng sinh với chúng.  Một điều rất đáng chú ý là khi phân tích bộ gene nhiều loài san hô mềm, các nhà khoa học phát hiện ra những gene mã hóa cho terpene synthase được tổ chức theo nhóm với các gene mã hóa cho các enzyme khác thường tham gia sinh tổng hợp terpenoid. Hầu hết các hợp chất tự nhiên đều được oxide hóa nhờ các enzyme như cytochrome P450 monooxygenase hay dehydrogenase, rồi lại tiếp tục được nhiều loại enzyme khác biến đổi như acyltransferase hay glycosyltranferase. Quan điểm trước đây cho rằng gene được phân bố ngẫu nhiên trong bộ gene của sinh vật eukaryotae không còn đúng trong nhiều trường hợp. Ở san hô mềm, ít nhất 6 loài cho thấy các gene cùng liên quan đến sinh tổng hợp terpenoid nằm “cạnh nhau” trên nhiễm sắc thể (“Cạnh nhau” ở đây cần được hiểu là không có gene nào chen giữa những gene này, còn khoảng cách thực tế trên nhiễm sắc thể vẫn rất lớn do giữa các gene là những trình tự phi mã hóa). Hiện tượng này rất giống với hiện tượng gene tham gia cùng một con đường sinh tổng hợp thì cũng tồn tại theo nhóm trên nhiễm sắc thể nhiều loài thực vật. Có rất nhiều ví dụ cho các cụm gene như vậy, chẳng hạn như trong sinh tổng hợp noscapine (thuốc trị ho và có khả năng chống tế bào ung thư) ở cây thuốc phiện, momilactone (chống các loại cây khác) ở lúa gạo, hay 2,4-dihydroxy-7-methoxy-1,4-benzoxazin-3-one (DIMBOA: kháng khuẩn) ở cây bắp ngô.     Nhóm nghiên cứu sinh học biển của GS. Bradley S. Moore (Đại học California, San Diego, Mỹ) và nhóm nghiên cứu hóa dược của GS. Eric W. Schmidt (Đại học Utah, Mỹ) đã song song chứng minh rằng chính san hô mềm thực sự tạo ra được các hợp chất terpenoid giá trị nêu trên.    Khi phân tích các terpene synthase cùng với lịch sử tiến hóa của san hô mềm, những người làm nghiên cứu này nhận thấy hai nhóm phân loài chính của san hô mềm đều có terpene synthase. Tổ tiên chung gần nhất của hai nhóm này sống cách đây hơn 580 triệu năm, như vậy khả năng sinh tổng hợp terpenoid ở san hô mềm đã tồn tại từ trước thời kỳ bùng nổ đa dạng sinh vật kỷ Cambrie, và có lẽ đã đóng góp vào sự thích nghi của san hô mềm từ đó cho đến nay. Tuy đây không phải là một hiện tượng sinh tổng hợp mới có gần đây, nhưng việc nó được phát hiện đã mở rộng đáng kể lĩnh vực nghiên cứu trao đổi chất ở động vật. Một số ít loài động vật có khả năng sinh tổng hợp terpenoid đã biết trước đây như côn trùng dùng loại enzyme khác để tạo ra cấu trúc terpene. Việc tìm ra hiện tượng san hô mềm dùng terpene synthase để tổng hợp terpene như thực vật và vi sinh vật có ý nghĩa hết sức to lớn. Những kết quả này cho thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề cần tìm hiểu về năng lực sinh tổng hợp lẫn thích nghi hóa học của động vật. Ngoài ra, hai nhóm nghiên cứu trên cũng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của liên kết đa ngành trong việc tìm hiểu những vấn đề phức tạp của sinh hóa hiện đại. Trong trường hợp cụ thể này, năng lực thu mẫu và nuôi cấy san hô lẫn vi sinh vật cộng sinh, vai trò của công nghệ giải trình tự bộ gene và bộ RNA quy mô lớn, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý khối lượng lớn dữ liệu sinh học, cùng độ nhạy và chính xác của các phương pháp hóa phân tích hiện đại là không thể thiếu.  Hiện tượng gene được tổ chức theo nhóm trên nhiễm sắc thể ở san hô mềm tương tự như thực vật cũng khiến người ta đặt ra câu hỏi có phải cách sống bất di bất dịch khiến hai loại sinh vật này có chung đặc điểm tiến hóa về mặt sinh tổng hợp như vậy. Một vấn đề đáng quan tâm khác là tại sao san hô cứng lại tự vệ bằng các phân tử peptide ngắn thay vì bằng terpenoid như san hô mềm trong hơn nửa tỷ năm qua. Những câu hỏi hóc búa này có lẽ sẽ còn tốn nhiều thời gian và công sức của giới nghiên cứu. Trước mắt, khám phá mới về sinh tổng hợp terpenoid ở san hô mềm sẽ giúp chúng ta tiếp cận trực tiếp nhiều dược chất quý của đại dương mà lâu nay rất khó khai thác. Sự tồn tại gần nhau trên nhiễm sắc thể của các gene cùng tham gia sinh tổng hợp các loại terpenoid này chính là chìa khóa vàng giúp các nhà khoa học nhanh chóng giải mật toàn bộ con đường tạo các hợp chất quý này. □  ——  Ghi chú:  1. Hai nghiên cứu được giới thiệu trong bài cùng được đăng trên tạp chí Nature Chemical Biology tháng 5 năm 2022: Burkhardt et al (DOI: 10.1038/s41589-022-01026-2); và Scesa et al (DOI: 10.1038/s41589-022-01027-1).  2. Phần lớn nội dung bài viết này đã được xuất bản trên tạp chí Nature Chemical Biology trong cùng số với hai nghiên cứu trên (DOI: 10.1038/s41589-022-01045-z).     Author                Đặng Thị Thu Thủy - Nguyễn Trịnh Đôn        
__label__tiasang Các kính thiên văn lần đầu tiên chụp ảnh luồng tia và lỗ đen siêu khối lượng của M87      Các nhà nghiên cứu về lỗ đen siêu khối lượng tại tâm thiên hà M87 đã tìm ra nguồn gốc của luồng tia lỗ đen khủng khiếp và chụp ảnh cả luồng tia lẫn cái nguồn phát của nó. Hơn thế, các quan sát còn cho thấy vòng tròn quanh lỗ đen lớn hơn những gì trước đây các nhà khoa học nghĩ.    Các quan sát đã được xuất bản trên Nature 1.  Dự án The Global mm-VLBI Array (GMVA) đã liên kết các kính thiên văn khắp thế giới đã tạo ra những kết quả mới, bao gồm Đài quan sát Sóng thiên văn quốc gia của NSF (NRAO) Đài quan sát Green Bank (GBO), Kính thiên văn Atacama Large Millimeter/submillimeter Array (ALMA), Very Long Baseline Array (VLBA), và kính thiên văn Green Bank Telescope (GBT).  Lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của thiên hà M87 là vật thể được ghi nhận nhiều nhất tại vũ trụ này. Đây cũng là lỗ đen đầu tiên được chụp ảnh lại, do nhóm các nhà thiên văn trong Nhóm hợp tác Chân trời sự kiện (EHT) và công bố vào năm 2019. Hình ảnh của cái lõi đen, đậm đặc được đóng khung trong một vòng tròn sáng vô định hình đã nhanh chóng được quốc tế quan tâm.  “M87 đã được quan sát trong nhiều thập kỷ, và 100 năm trước chúng ta cũng đã biết có những luồng tia ở đó nhưng chúng ta không thể đặt nó vào trong bối cảnh này”, Ru-Sen Lu, một nhà thiên văn học tại Đài Quan sát thiên văn Thượng Hải, phụ trách một nhóm nghiên cứu Max Planck tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, và tác giả thứ nhất của bài báo mới. “Với GMVA, bao gồm những thiết bị tiên tiến lần đầu có trên thế giới tại NRAO và GBO, chúng tôi quan sát tại mức tần số thấp hơn đến mức chúng tôi còn thấy nhiều chi tiết hơn – và giờ chúng tôi biết là có thêm nhiều chi tiết thể quan sát”.  Eduardo Ros, một nhà thiên văn học và nhà điều phối giao thoa kế đường cơ sở rất dài (VLBI) tại Viện nghiên cứu Thiên văn vô tuyến Max Planck cho biết thêm, “Chúng tôi đã từng thấy vòng tròn này trước đây và giờ thì còn thấy cả tia. Điều này đặt vòng tròn sáng vào trong bối cảnh mà nó cho ta thấy chùm tia lớn hơn những gì chúng ta nghĩ trước đây. Nếu trước đây anh nghĩ nó giống như hơi thở đầy lửa phụt ra từ miệng một con quái vật, kiểu con rồng và lửa thì giờ chúng ra có thể thấy thực sự con rồng phun ra những luồng lửa”.  Việc sử dụng những kính thiên văn và thiết bị khác nhau đã trao cho nhóm nghiên cứu cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc của lỗ đen siêu khối lượng và tia lỗ đen hơn trước đây với EHT, và tất cả các kính thiên văn đều được yêu cầu là phải vẽ được một bức tranh đầy đủ. Trong khi VLBA đem lại một cái nhìn đầy đủ về cả tia và lỗ đen, ALMA cho phép các nhà khoa học giải quyết được lõi radio sáng của M87, và tạo ra một bức ảnh sắc nét. Độ nhạy của bề mặt GBT cho phép các nhà thiên văn có được cả những phần ở quy mô lớn và nhỏ của vòng tròn và thấy cả các chi tiết tinh tế hơn.  “Bức ảnh nguyên thủy của EHT cho thấy chỉ một phần của các đĩa bồi quanh tâm của lỗ đen. Bằng việc thay đổi các bước sóng quan sát từ 1,3 millimeter đến 3,5 millimeter, chúng tôi có thể thấy nhiều hơn về chiếc đĩa bồi tụ này và giờ là cả tia lỗ đen cùng lúc. Nó cho thấy là vòng tròn quanh lỗ đen lớn hơn những gì chúng ta nghĩ trước đây tới 50% “, Toney Minter, một điều phối viên GMVA với GBT, nhận xét.  Không chỉ là các phần của lỗ đen này hơn hơn các quan sát có bước sóng ngắn hơn trước đây mà còn có thể xác nhận nguồn gốc của luồng tia. Nó sinh ra từ năng lượng của từ trường xung quanh lõi spin của lỗ đen này và gió bốc lên từ đĩa bồi tụ của lỗ đen.  “Các kết quả đó cho thấy lần đầu tiên nơi luồng tia được hình thành. Trước đây, có hai giả thuyết về nơi chúng ra đời”, Minter nói. “Nhưng quan sát này trên thực tế đã cho thấy năng lượng từ từ trường và gió đã phối hợp với nhau”.  Harshal Gupta, thành viên phụ trách chương trình Đài quan sát Green Bank NSF cho biết thêm, “Khám phá này là một minh chứng thuyết phục về năng lực sử dụng các kính thiên văn một cách toàn diện có thể hữu dụng để thúc đẩy những hiểu biết của chúng ta một cách cơ bản về những vật thể thiên văn và hiệu ứng của nó. Thật kích thích khi thấy những dạng khác biệt của kính thiên văn vô tuyến do NSF hỗ trợ hoạt động một cách hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong dự án GMVA để có thể đem lại bức ảnh lớn về lỗ đen ở M87và luồng tia của nó”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-telescopes-image-m87-supermassive-black.html  https://www.nature.com/articles/d41586-023-01442-x  ———————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41586-023-05843-w    Author                .        
__label__tiasang Các kỹ sư phát triển các nhãn dán có thể nhìn thấu cơ thể      Các hình ảnh siêu âm là một cánh cửa an toàn và không xâm lấn mở ra để nhìn vào các hoạt động bên trong cơ thể, giúp cho các nhà lâm sàng có được những hình ảnh sống động về các nội quan của bệnh nhân.     Để bắt được những hình ảnh đó, các kỹ thuật viên được huấn luyện để điều khiển thiết bị siêu âm và các xét nghiệm sử dụng trực tiếp sóng âm “nhìn” vào trong cơ thể. Các sóng này phản xạ trở lại để tạo ra những hình ảnh có độ phân giải cao về tim, phổi và các cơ quan bên trong cơ thể bệnh nhân.  Hiện tại, để tạo ra các hình ảnh sóng âm cần có thiết bị lớn và đặc biệt chỉ có ở các bệnh viện và phòng làm việc của các bác sĩ. Nhưng một thiết kế mới của các kỹ sư MIT có thể khiến công nghệ này hữu dụng với thiết bị có thể đeo trên người.  Trong một bài báo xuất hiện trên tạp chí Science, các kỹ sư trình bày thiết kế của một dạng nhãn dính siêu âm – một thiết bị kích thước bằng một cái tem có thể dính vào da và cung cấp hình ảnh siêu âm một cách liên tục các nội quan của cơ thể trong vòng 48 giờ.  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm các nhãn dính này trên các tình nguyện viên và chứng tỏ thiết bị này có thể tạo ra những hình ảnh sống động, có độ phân giải cao các mạch máu chính và các nội quan sâu như tim, phổi, dạ dày. Các nhãn dính này lưu trữ khả năng kết dính mạnh và bắt giữ được những thay đổi nằm trong các nội quan khi các tình nguyện viên thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm đứng, ngồi, nhảy và đạp xe.  Thiết kế hiện tại đòi hỏi sự kết nối các nhãn dính để các thiết bị này chuyển đổi các sóng âm phản xạ thành hình ảnh. Các nhà nghiên cứu chỉ ra ngay cả với hình thức hiện hành này, các nhãn dính có thể được ứng dụng lập tức: ví dụ thiết bị có thể được sử dụng cho những bẹnh nhân trong bệnh viên, tương tự như các nhãn dính giám sát tim EKG, và có thể liên tục chụp ảnh các nội quan mà không cần một nhân viên kỹ thuật cầm một thiết bị thăm dò tại chỗ trong một khoảng thời gian dài.  Nếu các thiết bị này có thể được tạo ra bằng việc vận hành không dây, một mục tiêu mà nhóm nghiên cứu này đang hướng đến – các nhãn dính siêu âm có thể được làm thành thiết bị dạng đeo theo người mà bệnh nhân có thể mang về nhà, không phải ở lại bệnh viện hoặc thậm chí mua tại một hiệu thuốc.  “Chúng tôi hình dung ra một số cách có thể dính nó vào các vị trí khác nhau trong cơ thể, và những cách có thể kết nối với điện thoại cầm tay, nơi các thuật toán AI có thể phân tích hình ảnh theo yêu cầu”, tác giả chính của nghiên cứu Xuanhe Zhao, giáo sư kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật môi trường và dân dụng ở MIT, cho biết. “Chúng tôi tin là chúng tôi đã mở ra một kỷ nguyên mới của thiết bị hình ảnh mang theo người: với một vài cách áp dụng trên cơ thể, anh có thể nhìn thấy các nội quan của mình”.  Nghiên cứu này còn gồm tác giả thứ nhất Chonghe Wang, Xiaoyu Chen, và các đồng tác giả Liu Wang, Mitsutoshi Makihata, và Tao Zhao ở MIT, cùng với Hsiao-Chuan Liu của Mayo Clinic ở Rochester, Minnesota.  Một vấn đề của nhãn dính  Để chụp ảnh siêu âm, một kỹ thuật viên đầu tiên phải dùng một gel lỏng lên da bệnh nhân, vốn dùng để tương tác và truyền sóng âm. Một đầu dò, hay máy chuyển đổi, sau đó nén lên gel, gửi sóng âm vào cơ thể để nó vọng  đến các cấu trúc bên trong và phản xạ lại đầu dò, nơi các tín hiệu phản xạ được chuyển đổi thành hình ảnh thấy được.  Với bệnh nhân cần theo dõi hình ảnh chụp trong thời gian dài, một số bệnh viên đã đưa ra các đầu dò thêm vào các cánh tay robot có thể cầm nắm đầu dò tại các điểm nhưng gel siêu âm lỏng thường chảy ra ngoài điểm đó và làm gián đoạn việc chụp ảnh theo thời gian.  Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã khám phá các thiết kế đầu dò sóng âm có thể co giãn để đem lại hình ảnh về các nội quan. Các thiết kế này đem lại các đầu dò sóng âm linh hoạt và phù hợp hơn với bệnh nhân.  Nhưng các thiết kế thực nghiệm của các nhà nghiên cứu lại tạo ra những hình ảnh có độ phân giải thấp do bị co giãn: trong khi cơ thể chuyển động, các thiết bị chuyển đổi này dịch chuyển vị trí làm cho các hình ảnh bị sai lệch.  “Công cụ hình ảnh sóng âm có thể mang theo người có tiềm năng lớn trong tương lai của chẩn đoán hình ảnh. Tuy nhiên, độ phân giải và thời lượng hình ảnh của các thiết bị siêu âm hiện tại lại thấp và chúng không thể chụp ảnh các nội quan sâu bên trong cơ thể”, Chonghe Wang, người từng học tại MIT, nhận xét.  Một cái nhìn sâu  Nhãn dính siêu âm mới của nhóm nghiên cứu ở MIT tạo ra hình ảnh có độ phân giải cao trong thời gian dài hơn bằng cách ghép nối một lớp keo co giãn với một dãy đầu dò cứng. “Sự kết hợp này cho phép thiết bị có thể linh hoạt kết nối với da trong khi lưu giữ được vị trí tương ứng của đầu dò để tạo ra những hình ảnh rõ ràng hơn, chính xác hơn”, Wang nói.  Mặt dính của thiết bị này được làm từ hai lớp mỏng đàn hồi gói gọn hydrogel đậm đặc, một vật liệu chứa nước dễ dàng truyền sóng âm. Không giống như gel sóng âm truyền thống, hydrogel của nhóm nghiên cứu ở MIT rất đàn hồi và có khả năng kéo dãn.  “Độ đàn hồi này ngăn sự giải hydro của hydrogel”, Chen, một postdoc MIT, cho biết. “Chỉ khi hydrogel có độ hydrat mới có thể để các sóng âm đâm xuyên qua một cách hiệu quả và đem đến hình ảnh có độ phân giải cao về các nội quan”.  Lớp đàn hồi phía dưới được thiết kế để có thể dính vào da trong khi lớp trên ghép nối với dãy đầu dò mà nhóm nghiên cứu thiết kế và chế tạo. Toàn bộ nhãn dán sóng âm đo đạc khoảng diện tích cm2  và độ dày 3 milimét – tương đương với diện tích của một con tem.  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm một nhãn dán chạy bằng nguồn điện pin trên các tình nguyện viên. Họ đeo nhãn dán này ở nhiều phần khác nhau của cơ thể mình như cổ, ngực, bụng và cánh tay. Các nhãn dán này gắn với da họ và tạo ra những hình ảnh rõ ràng về các cấu trúc bên trong cơ thể trong thời gian lên tới 48 giờ. Trong suốt thời gian này, các tình nguyện viên đã thực hiện rất nhiều hoạt động như đứng và ngồi, nhảy lên, đạp xe và nâng tạ.  Từ những hình ảnh mà nhãn dán đem lại, nhóm nghiên cứu đã có thể quan sát sự thay đổi đường kính của các mạch máu chủ khi đứng và ngồi. Các nhãn dán có thể nắm bắt các chi tiết của các nội quan sâu hơn như cách trái tim thay đổi hình dạng khi đập trong quá trình con người vận động. Các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát dạ dày căng lên, sau đó co lại khi tình nguyện viên uống nước và chất dịch di chuyển trong hệ thống nội quan. Và khi các tình nguyện viên nâng tạ, nhóm nghiên cứu có thể dò được những mẫu hình sáng trong những khối cơ, tín hiệu về những ảnh hưởng vi mô tạm thời.  “Với hình ảnh đó, chúng tôi có thể nắm bắt được khoảnh khắc xuất hiện trong một bài tập trước khi quá sức chịu đựng của cơ và dừng lại trước khi cơ trở nên đau nhức”, Chen nói. “Chúng tôi không biết rõ khi nào thì khoảnh khắc đó có thể đến nhưng hiện tại chúng tôi có thể cung cấp dữ liệu hình ảnh mà các chuyên gia có thể nhận ra”.  Nhóm nghiên cứu đang làm việc để tạo ra chức năng truyền không dây cho các nhãn dán. Họ cũng phát triển các thuật toán phần mềm dựa trên trí tuệ nhân tạo có thể diễn dịch tốt hơn và chẩn đoán tốt hơn hình ảnh của các thiết bị mỏng này. Sau đó, Zhao mường tượng các dán nhãn siêu âm có thể được đóng gói theo cách thuận lợi cho các bệnh nhân, khách hàng và sử dụng không chỉ để theo dõi nhiều nội quan mà còn cả quá trình tiến triển của các khối u cũng như sự phát triển của dị tật bào thai.  “Chúng tôi hình dung là chúng tôi có thể có một gói các nhãn dán, mỗi loại được thiết kế để chụp ảnh các vị trí khác nhau trong cơ thể”, Zhao nói. “Chúng tôi tin là thiết bị này là một độ phát trong lĩnh vực các thiết bị đeo trên người và hình ảnh y khoa”.  Nhàn Thanh tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-07-stickers-body.html  https://www.businessinsider.com/mit-engineers-create-stamp-sized-stickers-that-see-inside-body-2022-7    Author                .        
__label__tiasang Các kỹ thuật học sâu mới dẫn đến đột phá phân tích hình ảnh vật liệu      Các siêu máy tính có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân và kết quả của các hiện tượng phức hợp. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn cần suy luận ra nguồn gốc của các hiện tượng khoa học trên cơ sở các kết quả đã được quan sát. Đó là những bài toán ngược vô cùng phức tạp và khó giải, nhất là khi lượng dữ liệu phải được phân tích nhiều hơn so với năng lực của các công cụ học máy truyền thống.     Để hiểu sâu hơn về các bài toán ngược, một nhóm nghiên cứu từ Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge Mỹ (ORNL), NVIDIA, và Uber Technologies đã phát triển và trình diễn hai kỹ thuật mới trong một thư viện truyền thông được sử dụng rộng rãi mang tên Horovod.  Do Uber phát triển, nền tảng này huấn luyện các mạng thần kinh sâu (DNNs) sử dụng các thuật toán để bắt chước và khai thác năng lực ra quyết định của bộ não người cho những ứng dụng khoa học. Bởi vì Horovod dựa vào một điều phối viên duy nhất để cung cấp hướng dẫn cho nhiều nhân viên khác nhau (trong trường hợp này là GPU) để hoàn thành quá trình, các ứng dụng học sâu quy mô lớn thường gặp phải sự chậm lại đáng kể trong quá trình đào tạo.  Phương pháp của các nhà nghiên cứu là loại bỏ những bước lặp đi lặp lại khỏi quy trình điều phối viên-người làm truyền thống để tăng tốc độ và hiệu suất làm việc vượt trội hơn các phương pháp hiện có, do đó cho phép họ khám phá ra giải pháp gần đúng đầu tiên cho bài toán ngược tồn tại đã lâu đời trong lĩnh vực hình ảnh vật liệu. Kết quả của họ đã được công bố trong The Proceedings of the 19th USENIX Symposium on Networked Systems Design and Implementation 1.  “Theo những gì chúng tôi biết, đây là những vận hành điểm trên mỗi giây đạt được cho việc huấn luyện phân bố của một mạng thần kinh tích chập”, Junqi Yin, một nhà khoa học máy tính ở Nhóm Các phương pháp phân tích và AI ở ORNL, nói. “Chúng tôi còn lên kế hoạch sử dụng kết quả này, STEMDL, để đo điểm chuẩn cho các thế hệ siêu máy tính trong tương lai”.  Mạnh hơn khi đi cùng nhau   Để giảm thiểu liên kết điều phối viên – thành viên, vốn thường phải lặp lại các yêu cầu theo nhiều lần tương tự nhau, nhóm nghiên cứu đã giới thiệu một bộ nhớ phản hồi có thể lưu trữ bộ siêu dữ liệu từ mỗi một yêu cầu ở Horovod. Chiến lược đầu tiên trong số các chiến lược mới của các nhà khoa học là cách tiếp cận bộ nhớ phản hồi này cho phép Horovod ngay lập tức nhận ra và tự động tính toán các yêu cầu quen thuộc mà không làm chậm quá trình huấn luyện DNN.  Kỹ thuật mới thứ hai của họ liên quan đến việc nhóm các phép toán của nhiều mô hình DNN, giúp hợp lý hóa các nhiệm vụ và cải thiện hiệu quả mở rộng quy mô – tổng số các hình ảnh được xử lý theo mỗi bước đào tạo – bằng cách tận dụng các điểm tương đồng trong các tính toán của mỗi mô hình. Quá trình này cũng dẫn đến những cải tiến đáng kể trong việc sử dụng điện năng.  Bằng việc nhóm một cách chiến lược các mô hình này, nhóm nghiên cứu hướng đến việc huấn luyện một mô hình trên các GPUs và đạt được cùng hiệu quả khi huấn luyện mỗi mô hình trên một GPU.  Josh Romero, một nhà phát triển công nghệ tại NVIDIA, tích hợp chiến thuật mới vào Horovod để giúp những người sử dụng huấn luyện DNNs hiệu quả hơn dựa trên hiệu suất tính toán của các thiết bị ở mọi quy mô.  “Tất cả mọi người đều phải đồng ý về các phép toán và trên những thông tin được phân phối tại bất cứ thời điểm nào”, Romero nói. “Chúng tôi đã tìm ra được một cách để cải thiện quá trình logistics này”.  Cả hai phương pháp đều nhằm mục tiêu tăng cường hiệu suất làm việc của Horovod nhưng việc kết hợp chúng lại làm tăng gần gấp đôi hiệu quả. Điều này được nhóm nghiên cứu đo lường bằng việc chạy mã STEMDL trên tất cả 27.600 GPU của hệ máy tính IBM AC922 Summit. Summit, siêu máy tính nhanh nhất Mỹ, được đặt tại Cơ sở Máy tính Oak Ridge của ORNL, một nơi dành cho Văn phòng Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE).  “Các năng lực này là những gì cho phép chúng tôi huấn luyện một mạng thần kinh phân bổ mã khắp các GPU của Summit với hiệu quả quy mô cao hơn và hiệu suất tính toán tốt hơn trước đây ở các mức quy mô lớn”, Nouamane Laanait, nhà cựu khoa học máy tính tại ORNL và nhà nghiên cứu chính của nhóm nghiên cứu làm việc ở Summit với tài trợ nhận được từ chương trình Tác động tính toán mới và đổi mới sáng tạo trong Lý thuyết và thực nghiệm.  Các mạng thần kinh tích chập như STEMDL là một DNN lý tưởng cho phân tích hình ảnh. Nhóm nghiên cứu thiết kế ứng dụng này để giải quyết một bài toán ngược về hình ảnh vật liệu đã tồn tại từ rất lâu bởi đòi hỏi phân tích chính xác dữ liệu kính hiển vi điện tử quét truyền qua. “Một trong những ứng dụng tiên tiến của việc sử dụng các mô hình mạng thần kinh là anh có thể tích hợp rất nhiều nhân tố rất khó để mãi hóa trong những cách tiếp cận toán học để giải quyết các bài toán ngược”, Laanait nói. “Bằng việc huấn luyện các mô hình dựa trên các bộ dữ liệu, anh có thể dạy chúng cách bỏ qua các nhiễu và các lỗi không hoàn hảo”.  Kiến trúc hoàn thiện  Các thành phần độc nhất vô nhị của Summit khiến nghiên cứu này trở nên có thể. Ví dụ, sự phân bố huấn luyện DNN giữa các GPU của siêu máy tính cho thấy những thắt nút cổ chai về hiệu suất thể hiện trong các tính toán truyền thống của Horovod. Các chướng ngại vật này tích tụ trong suốt quá trình huấn luyện, trước khi chúng hiển hiện rõ ràng hơn và bắt đầu cản trở thời gian tính toán. Điều này khiến người ta khó nhận biết được chúng hoặc không thể nhìn thấy chúng trên các hệ thống nhỏ hơn.  “Trong vòng một giờ, anh sẽ biết giải pháp chính xác cho vấn đề này như thế nào, qua đó giúp anh chỉnh mẫu thử nhanh hơn trên các hệ thống nhỏ hơn trước đây, khi phải mất tới nhiều ngày hoặc nhiều tuần để xác định chính xác một mô hình hoặc bài toán cho mô hình của anh”, Laanait nói.  Thêm vào đó, Summit có những cách truyền đạt băng thông rộng để đưa dữ liệu từ nơi này sang nơi khác, và hệ lưu trữ dữ liệu địa phương của nó – được biết đến như vùng đệm dữ liệu khổng lồ – có bộ nhớ đủ lớn để cho phép các nhà khoa học mô phỏng và lưu trữ nhiều hơn một terabyte dữ liệu trên mỗi nút. Cuối cùng, các lõi tensor NVIDIA – các bộ phận xử lý đặc biệt lý tưởng cho các ứng dụng học sâu – tăng tốc mã hóa của nhóm gnhieen cứu và giúp họ đạt đến các mức hiệu suất cao hơn có thể trên các bộ xử lý truyền thống.  Các phát hiện của nhóm nghiên cứu có thể áp dụng vào những ứng dụng học sâu hiện có và những bàu toán ngược chưa từng được xử lý trước đây để trả lời cho những câu hỏi của khoa học cơ bản. Tiếp theo nữa, các nhà nghiên cứu hi vọng sẽ tái tạo các kết quả của họ để sử dụng trên những mát tính có năng lực tính toán thấp hơn ngay cả với những mô hình lớn hơn đòi hỏi lượng dữ liệu ngày một gia tăng từ các cơ sở thực nghiệm khoa học.  “Kết hợp những bộ dữ liệu lớn hơn và các mô hình phức tạp hơn với nhiều máy tính sẽ làm gia tăng hiệu quả của DNN”, Laanait nói. “Chúng tôi không rõ khả năng cải thiện ở mức cao nhất của nó là gì vì vậy chỉ có một cách duy nhất là tìm cho ra nó bằng việc tiếp tục thực nghiệm”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-04-deep-techniques-materials-imaging-breakthrough.html  https://www.olcf.ornl.gov/2022/04/22/new-deep-learning-techniques-lead-to-materials-imaging-breakthrough  ———————————————–  1. https://www.usenix.org/system/files/nsdi22-paper-romero.pdf    Author                .        
__label__tiasang Các làn sóng  công nghệ mới trên thế giới      Chỉ cách đây vài năm, người ta vẫn nghĩ chuyện con người bay được trong một bộ giáp chỉ có thể xuất hiện trong phim. Giờ đây, điều này không chỉ xuất hiện trong phim viễn tưởng nữa mà con người đã thực sự “bay” được trên những chiếc ván bay (hoverboard). Điều này là minh chứng cho việc công nghệ không ngừng phát triển và hiện thực hóa trí tưởng tượng vô cùng của con người. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.      Tự động hóa  Tự động hóa là việc tích hợp sử dụng các hệ thống tự động trong chu trình sản xuất hoặc vận hành nhằm giảm thiểu sự can thiệp của con người. Công nghệ tự động hóa đã có mặt trên thế giới từ những năm 1970 và kể từ đó, công nghệ này đã giải phóng sức lao động của hàng triệu công nhân, tăng năng suất lao động, giảm sai sót, tiết kiệm năng lượng và nguyên vật liệu cho các nhà máy. Trong đời sống, tự động hóa đã tạo ra các tòa nhà “thông minh”, nơi nhiệt độ tự điều chỉnh phù hợp với thời tiết; hệ thống tự động đỗ xe cho chủ phương tiện; hay hệ thống điều hòa và chiếu sáng tự động ngắt khi không có người. Hiện nay, công nghệ này đã và đang được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam trong các nhà máy và dần xuất hiện trong nhà dân (smarthome).  In 3D  Kĩ thuật in lần đầu xuất hiện trên thế giới vào năm 220 trước CN, và cho đến giờ, người ta vẫn nghĩ in tức là phun mực lên giấy. Ý tưởng về việc “in ra” những vật có đủ chiều rộng, chiều dài và chiều cao đã có từ năm 1980, nhưng bị coi là chuyện viễn tưởng. Ngày nay, ý tưởng in 3D không chỉ trở thành hiện thực mà ứng dụng của nó còn vươn xa hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng, từ xây dựng, thời trang, y học đến các ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, máy bay. In 3D đang là một trong những xu hướng phát triển mới của khoa học kỹ thuật. Tính đến hết năm 2014 doanh thu của thị trường máy in 3D trên toàn cầu đạt 3.3 tỉ USD. Tại Việt Nam, máy in 3D đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường với giá thành từ 20.000.000 cho đến hàng trăm triệu đồng.  Nhờ ứng dụng in 3D mà giá thành chân tay giả cho người khuyết tật đã giảm từ hàng ngàn USD xuống còn 100 USD.  Thương mại điện tử  Cho dù số lượng người mua hàng online ngày càng tăng trong 5 năm trở lại đây, thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn chưa thực sự bứt phá và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Lý giải cho việc này, chúng ta có thể nhận thấy hạ tầng thương mại điện tử  trong nước từ công nghệ, hạ tầng và đặc biệt là phương thức thanh toán còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, trên thế giới, các liên minh thanh toán giữa giới ngân hàng, tài chính và các nhà bán lẻ khiến cho việc mua bán hàng hoá trở nên rất nhanh chóng và thuận tiện. Các công nghệ bảo mật sinh trắc học cũng phát triển vượt trội như bảo mật vân tay hay quét võng mạc. Trước làn sóng này, doanh nghiệp thương mại điện tử  Việt Nam hẳn sẽ không thể ngồi yên và thị trường này hứa hẹn sẽ có nhiều bùng nổ hơn nữa.           Đón chào làn sóng công nghệ mới của thế  giới, Hội chợ Công nghệ Internet of Things và Điện toán đám mây (IOT  Fair 2015) sẽ đưa khách tham quan đến với những sáng tạo công nghệ mới  nhất trên thế giới. IOT Fair 2015 được tổ chức từ ngày 01 đến 03 tháng  11, tại thành phố Huệ Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc trên quy mô  triển lãm 20.000 m2  Đây là Hội  chợ chuyên về thiết bị, ứng dụng và dịch vụ công nghệ, quy tụ gần 500  doanh nghiệp và đại học công nghệ trong và ngoài nước đến tham gia trưng  bày các sản phẩm điện tử, thiết bị viễn thông, thiết bị giải trí, nghe  nhìn số, linh kiện điện tử, công nghệ in 3D, nhà thông minh, dịch vụ Big  Data, viễn thông và Thương mại Điện tử.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Các loại robot này có cứu được chúng ta khỏi tai họa corona?      Tại Hội chợ thương mại điện tử quốc tế CES, nhiều start-up và tập đoàn trình diễn một loạt sản phẩm công nghệ cao mới mẻ phục vụ cuộc chiến chống đại dịch virus hiện nay. Liệu những công nghệ này có làm được điều hứa hẹn này?      Nhà sản xuất hứa hẹn thiết bị CLOi này khi chạy qua sẽ diệt được các loại virus, mầm bệnh và vi khuẩn nguy hiểm.  Do đang trong đại dịch corona nên ngành công nghệ Hoa Kỳ phải chuyển cuộc gặp gỡ năm nay của CES lên mạng internet như một sự kiện ảo. Trong những năm qua, từ một hội chợ thương mại đồ dùng điện tử gia dụng và giải trí thông thường, hội chợ này đã phát triển thành nơi giới thiệu toàn diện về công nghệ kỹ thuật số trong cuộc sống hàng ngày cũng như di động kết nối mạng. Hiện tại, nó cũng được bổ sung một trọng điểm là “Số hóa các dịch vụ y tế và sức khỏe trong cuộc sống gia đình, đây là một trọng tâm mới, to lớn của Hội chợ”, theo Gary Shapiro, chủ tịch HĐQT Công ty Tổ chức triển lãm Hội chợ CTA trong dịp khai mạc CES.  Và trong thực tế, bên cạnh các loại  ti vi mới, máy giặt và ô tô nối mạng, các công ty khởi nghiệp và tập đoàn còn trưng bày một số lượng lớn các thiết bị tại các gian hàng triển lãm ảo của họ – những thiết bị  được quảng cáo là có thể làm giảm sự lây lan của virus. Đó là hàng loạt cải tiến bao gồm từ khẩu trang thông minh và tay cầm ở cửa có tích hợp đo nhiệt độ cơ thể đến đèn khử trùng nhỏ gọn để trên bàn làm việc.  Chúng ta cùng điểm qua một số tin tức thú vị nhất về thiết bị chống corona tại Hội chợ CES lần này.  Cánh cửa: Ba nhà chế tạo muốn chống lại sự lây lan của virus ngay khi bước vào nhà hay căn hộ. Do đó nhà sản xuất dụng cụ gia dụng Alarm.com và Arlo cũng như Start-up Plott đã phát triển các loại tay cầm ở cánh cửa, có khả năng tự động phát hiện khách đến nhà. Ai đứng trước một cánh cửa, không cần nhấn chuông, cửa đã phát ra tiếng chuông – nhằm tránh không để lại virus ở đó. Plott gọi sản phẩm của mình tay cửa thông minh và trong quý hai sẽ bán ra thị trường với mức giá 300 đôla, thậm chí tích hợp luôn tại đây thiết bị đo thân nhiệt, chụp hình và chuyển vào ứng dụng của chủ sở hữu.  Căn hộ và văn phòng: Hills Engineering của Hàn Quốc muốn thông qua một robot khử trùng để diệt khuẩn và virus corona cũng như các loại virus khác để tiệt trùng trong căn hộ, văn phòng. Thiết bị này hoạt động tự động và có tên là Coro-Bot, hình hài như một tủ dụng cụ di động tự động, có một cánh tay robot và có một thiết bị lọc khí tích hợp giúp diệt virus trong không khí. Coro-Bot còn có một loạt đèn-UV ở xung quanh nhằm diệt toàn bộ dấu vết của virus trên bề mặt.  Doanh nghiệp Ubtech và tập đoàn điện tử LG là những chuyên gia về robot có robot khử trùng Adibot và CLOi, làm người ta nhớ đến loại giá treo quần áo dạng cuộn. Hai loại thiết bị này có thể tự động dịch chuyển trong một căn phòng, biết tránh những đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. “Thiết bị CLOi khi đi qua có thể diệt virus, mầm bệnh, vi khuẩn  nguy hại”, nhà quản lý của LG Michael Kosla cam kết. Theo nhà sản xuất thiết bị này thích hợp để đưa vào sử dụng trong các khách sạn, trường học, các tiệm ăn lớn, phòng tập thể hình hoặc các cơ sở thương mại.   Việc sử dụng các thiết bị khử trùng này tại nhà riêng có lẽ quá đắt đỏ với phần đông khách hàng. Tùy theo model, giá mỗi thiết bị loại này lên đến hàng nghìn đôla. Ai chỉ cần khử trùng chuột và bàn phím ở máy tính bằng đèn UV thì có thể hài lòng với một loại thiết bị mới của doanh nghiệp chế tạo thiết bị điện tử Targus, chi phí sẽ thấp hơn rõ rệt: Doanh nghiệp này đã phát triển một loại thiết bị phóng tia UV, thiết bị này để ngay trên bàn làm việc và chỉ cần hoạt động dăm phút là có thể khử triệt để mọi mầm bệnh. Dự kiến, loại đèn khử trùng này sẽ được tung ra thị trường trong tháng ba tới.  Khẩu trang chống corona công nghệ cao.    Hãng Razer cam kết với người sử dụng loại khẩu trang có tên Hazel có tính năng chống virus corona tốt hơn nhưng dễ giao tiếp với  môi trường xung quanh hơn.  Ai không tin tưởng lắm vào khả năng bảo vệ chống lây nhiễm virus của các loại khẩu trang thông dụng thì có thể tìm thấy sự tin cậy đối với một số loại khẩu của các hãng như AirPop, Amazfit hay Razer. Khẩu trang của ba nhà sản xuất này còn được trang bị thêm một số chức năng phụ. Thí dụ loại khẩu trang Active+- của Airpop có tích hợp cảm biến ghi lại độ sâu và tần suất hơi thở và so sánh với dữ liệu cũng như chất lượng không khí quanh đó. Khi công dụng của bộ lọc giảm thì một ứng dụng cài sẵn sẽ nhắc bạn phải thay đổi vải lọc.  Amazfit, nhà cung cấp đồng hồ thông minh và thiết bị theo giõi hoạt động thể dục, thể thao, đã tích hợp mặt nạ công nghệ cao Aeri với các đèn UV cực nhỏ có khả năng khử trùng cả hai phía của khẩu trang. Để vệ sinh khẩu trang phải dùng một nguồn điện từ bên ngoài khoảng 10 phút. Nếu được bảo quản tốt thì loại khẩu trang này có thể xử dụng có hiệu quả khoảng một tháng rưỡi. Điều đó có nghĩa là so với các loại khẩu trang thông thường  FFP2 hay N95 thời gian sử dụng lâu hơn.  Hãng Razer hứa hẹn với người dùng loại khẩu trang mang tên Hazel có khả năng bảo vệ virus và giao lưu với môi trường xung quanh tốt hơn. Một phần của khẩu trang được chế tạo bằng một loại nhựa trong suốt có bộ lọc khử trùng tự động để trong một cái hộp tích hợp với một bộ phận khuếch đại âm thanh. Trong khẩu trang còn có micro và loa chạy pin nhằm giúp cho tiếng nói được thanh thoát, dễ nghe. Khi cất khẩu trang vào hộp để khử khuẩn cũng là lúc nạp điện cho ắc qui và loa. Liệu mọi sự có được như nhà sản xuất cam kết hay không còn phải chờ chứng minh trong thực tế. Phần lớn các loại khẩu trang được trưng bày tại hội chợ còn là nguyên mẫu. Airpop đã đi xa hơn một bước, đã tiết lộ về giá bán và thời gian có mặt trên thị trường:Loại khẩu trang Active+- sẽ được đưa ra thị trường trong tháng giêng, giá bán là 150 đôla  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/virenschutz-koennen-uns-diese-roboter-vor-corona-retten/26818292.html  https://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/ces-2021-wie-sehr-ki-ihr-leben-durchdringt-ist-ihnen-gar-nicht-klar/26794870.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các mô hình khởi nghiệp cơ bản      Doanh nhân khởi nghiệp là một trong những người sáng tạo nhất và bằng chứng là rất nhiều các startup đã được thiết lập và vô cùng thành công chỉ trong thập kỷ qua.    Tầm quan trọng của toàn cầu hóa  Doanh nhân khởi nghiệp là một trong những người sáng tạo nhất và bằng chứng là rất nhiều các startup đã được thiết lập và vô cùng thành công chỉ trong thập kỷ qua. Một số trong những startup này đã có những tác động đáng kể đến nền kinh tế, xã hội và cách sống của chúng ta. Facebook có hơn 1 tỷ người dùng trên toàn thế giới và mọi người hiện đang kết nối với gia đình và bạn bè với mức độ mở rộng hơn bao giờ hết. Twitter đã cách mạng hóa nghệ thuật bình luận súc tích. Tesla Motors đã tạo ra chiếc xe thể thao chạy bằng điện đầu tiên. Có một danh sách dài các startup được các doanh nhân khởi nghiệp công nghệ thành lập và có tiềm năng thay đổi cách chúng ta sống và làm việc, đó là: Chegg, Netflix, Hulu, Pinterest, Instagram, ZipCar, LinkedIn và AirBnB.  Tất nhiên, đây là các startup công nghệ hoặc dựa vào Internet, nhưng cũng có rất nhiều startup phi công nghệ khác cũng đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta. Ví dụ như FedEx đã thay đổi cách chuyển phát gói hàng, hãng hàng không Southwest Airlines đã thay đổi hành trình du lịch hàng không hoặc các công ty nước giải khát đã sản xuất ra nước đóng chai – gần như khắp mọi nơi.  Mặc dù các doanh nhân khởi nghiệp có thể sử dụng nhiều cách để thành lập hàng triệu startup mới, nhưng trên thực tế chỉ có sáu loại hình startup cơ bản (Hình 1).    Bạn có thể khởi động một startup tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, khách hàng hoặc chính phủ. Bạn cũng có thể tạo ra một startup tập trung chủ yếu vào sản phẩm hoặc dịch vụ. Đó thực sự là lựa chọn của riêng bạn. Khung các loại hình khởi nghiệp cơ bản như trình bày trong Hình 1 cung cấp một hởi đầu thuận tiện trong quy trình phát triển ý tưởng khởi nghiệp của bạn, nhưng trong thực tế nó thường không đơn giản như vậy. Nhiều startup cung cấp cả sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng. Ví dụ, các startup chuyên về phần mềm doanh nghiệp thường cung cấp dịch vụ cài đặt phần mềm mới cho khách hàng, hay các “gói bảo trì”, bao gồm cả hỗ trợ kỹ thuật trong trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng và khách hàng phải trả phí cho các dịch vụ đó.  Nhiều startup công nghệ cũng phục vụ cả khách hàng doanh nghiệp và phi doanh nghiệp. Ví dụ, Dell bán máy tính cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng bán lẻ. Công ty này có các loại sản phẩm, mức giá, chiến lược tiếp thị và dịch vụ rất khác nhau đối với từng loại khách hàng.  Nói chung, các doanh nhân tham vọng nên cố gắng hạn chế việc phát triển ý tưởng của họ – ít nhất là ban đầu – trong phạm vi các mô hình khởi nghiệp cơ bản. Chỉ riêng việc tạo ra giá trị cho một loại khách hàng mà không phải lo lắng đến việc phục vụ cho hai loại khách hàng rất khác nhau đã rất khó rồi. Một startup thành lập dựa trên ý tưởng được hình thành tại một ô trong Hình 1 có thể phát triển các sản phẩm hoặc dịch vụ ở các ô khác khi khả năng và nguồn lực của nó mở rộng. Hãy khám phá từng ô này chi tiết hơn, bắt đầu với các startup khởi sự theo mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp.  Doanh nghiệp tới doanh nghiệp (business-to-business – B2B)  B2B mô tả các giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp. Có nhiều lý do chính đáng để cân nhắc triển khai một startup theo mô hình B2B. Một lý do chính là các doanh nghiệp thường có nhiều tiền hơn người tiêu dùng và có thể mua các sản phẩm và dịch vụ của startup tốt hơn. Satrtup B2B có nhiều loại khác nhau vì nhu cầu kinh doanh rất đa dạng. Ví dụ, nhiều công ty không quản lý các trung tâm dữ liệu hoặc các máy chủ của riêng họ. Các công ty như Amazon Web Services cung cấp các dịch vụ này cho các công ty khác – ngay cả cho những công ty cạnh tranh trực tiếp với các công ty kinh doanh khác của Amazon. Amazon Web Services là một phần quan trọng trong tổng doanh thu của Amazon, nhưng hầu hết chúng ta đều biết Amazon chủ yếu kinh doanh thương mại điện tử.  Các startup B2B mới không phải hạn chế các mô hình kinh doanh của họ để cung cấp dịch vụ cho các công ty khác. Có rất nhiều nhu cầu đối với các sản phẩm mới sáng tạo. Nếu bạn đang suy nghĩ về việc xây dựng một startup B2B, có ba cách chính để tạo ra giá trị:  – Giúp các công ty kiếm nhiều tiền hơn  – Giúp các công ty tiết kiệm tiền  – Giúp các công ty tuân thủ các quy định của chính phủ và/hoặc các tiêu chuẩn của cộng đồng.  Các startup B2B phải tạo ra giá trị theo một trong ba mục này hoặc đơn giản là họ sẽ không thu hút được các khách hàng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không quan tâm đến các mặt hàng “thời trang” hoặc “kỳ dị” theo cách người tiêu dùng thường quan tâm. Hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung vào việc kiếm lợi nhuận và cách duy nhất để làm điều đó là thông qua việc tăng doanh thu, giảm chi phí, hoặc tránh kiện tụng và/hoặc tiềnphạt do vi phạm các quy định và tiêu chuẩn.  Giúp doanh nghiệp tăng doanh thu là một trọng tâm phổ biến cho các startup mới. Ví dụ, phần mềm được thiết kế để quản lý lực lượng bán hàng hiệu quả hơn là một lĩnh vực rất tiềm năng để phát triển các startup. Tự động hoá lực lượng bán hàng, phát triển khách hàng tiềm năng và quản lý quan hệ khách hàng là ba loại phần mềm doanh nghiệp nhắm mục tiêu trong thời gian này. Mỗi loại trong số ba loại này đều đã có rất nhiều công ty lớn đảm đương, chẳng hạn như SalesForce.com, và rất nhiều công ty mới ra nhập. Mặc dù có rất nhiều công ty cạnh tranh nhưng sự sáng tạo mới vẫn có thể vượt qua các sản phẩm hiện tại . Tuy nhiên, bất kỳ doanh nghiệp phần mềm tham vọng nào cũng cần lưu ý rằng hầu hết các công ty đều chậm thay đổi cách thức kinh doanh hiện tại của họ, bao gồm cả việc chuyển từ loại phần mềm này sang loại phần mềm khác. Có thể có nhiều chi phí liên quan đến việc chuyển đổi làm hạn chế việc xem xét sản phẩm hoặc nhà cung cấp dịch vụ mới.  Các sản phẩm hoặc dịch vụ hiệu quả, tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp hầu như luôn có chỗ đứng trong thị trường. Trọng tâm cho nhiều công ty quy mô vừa và lớn hiện nay là “tinh gọn”. Tinh gọn là thuật ngữ nắm bắt mọi sự chú ý liên tục đến chi phí và các chiến thuật tiết kiệm chi phí. Doanh nghiệp tinh gọn thường được tổ chức xung quanh các chương trình cụ thể, chẳng hạn như “Six Sigma”, nhưng có rất nhiều cơ hội cho các phương pháp tiếp cận mới sáng tạo để giúp doanh nghiệp giảm chi phí của họ.  Một trong những cách tiếp cận mới nhất để tiết kiệm chi phí cho các công ty là thuê ngoài quy trình kinh doanh  (business process outsourcing – BPO). Đây là thuật ngữ được dùng để chỉ việc thuê ngoài đối tác cung cấp các dịch vụ quản lý, chăm sóc khách hàng … để giúp một doanh nghiệp có nhiều thời gian hơn cho các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi. Các doanh nhân khởi nghiệp nhận ra xu hướng mới nổi này có thể nắm bắt được hoạt động kinh doanh đang bùng nổ. Tất nhiên, có nhiều công ty gia công phần mềm hàng đầu, như InfoSys và Tata Group, được đặt tại Ấn Độ. Những Công ty này là một trong những công ty phát triển nhanh nhất trên thế giới. Ví dụ, Infosys được sáu kỹ sư Ấn Độ thành lập vào năm 1989 và doanh thu của công ty năm 2012 là gần 7 tỷ USD.  Một loại hình khác cho các startup B2B đã nổi lên trong những năm gần đây liên quan đến nhu cầu cho các công ty tuân thủ các quy định của chính phủ và/hoặc chứng minh tuân thủ các tiêu chuẩn hiện hành của cộng đồng. Có rất ít nỗ lực để tuân thủ các quy định của chính phủ hoặc các tiêu chuẩn cộng đồng có liên quan trực tiếp đến việc tăng doanh thu hoặc giảm chi phí. Về bản chất, hầu hết các nỗ lực chỉ thực hiện mang tính “phòng ngừa”. Ví dụ, nhiều công ty hiện đã triển khai rộng rãi và thường tốn kém, “các chương trình phát triển bền vững”. Nhiều chương trình như vậy có ít tác động trực tiếp đến doanh số bán hàng của công ty hoặc hỗ trợ công ty giảm chi phí. Tuy nhiên, những người ủng hộ các chương trình như vậy cho rằng việc có một chương trình phát triển bền vững thúc đẩy những ấn tượng tích cực của công ty trong cộng đồng và ngăn ngừa các ấn tượng tiêu cực có thể xảy ra. Nhiều doanh nhân đã chủ động phát triển sản phẩm và dịch vụ để phục vụ nhu cầu kinh doanh này. Ví dụ, Sustainable Minds là một startup được thành lập để giúp các công ty phân tích và quản lý tác động vòng đời của sản phẩm và dịch vụ của họ. Công ty được thành lập ban đầu để cung cấp cho các công ty một công cụ phần mềm phân tích. Nó đã phát triển để bao gồm một loạt các sản phẩm và dịch vụ liên quan.  N.L.H. (Technology Entrepreneurship, 2014)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững tại TPHCM      Nhóm tác giả ở Viện Sinh học nhiệt đới đã nghiên cứu đánh giá và đề xuất một số mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững cho huyện Cần Giờ, TPHCM.    Cần Giờ là huyện duy nhất của TPHCM có hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) mặn, lợ. Những năm qua, lĩnh vực NTTS chiếm hơn 90% giá trị sản xuất kinh tế trong nhóm ngành nông – lâm – thủy – sản của huyệnvà tạo công ăn việc làm cho khoảng 15% dân số ở đây.        Tuy vậy, sự phát triển của hoạt động NTTS còn bộc lộ nhiều nguy cơ phát triển chưa bền vững – đó là sự phát triển ồ ạt, tự phát, chuyển đổi và khai thác các diện tích đất nông nghiệp sang nuôi tôm mà thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ và quy hoạch vùng nuôi. Ngoài ra, vấn đề dịch bệnh xuất hiện với tần suất cao hơn và nhiều dịch bệnh mới gây thiệt hại trên diện rộng đối với tôm và các loại nhuyễn thể. Việc sử dụng hóa chất, thuốc, thức ăn,… gây ảnh hưởng đến môi trường vùng nuôi.    Trong đề tài “Nghiên cứu đánh giá và đề xuất phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững cho huyện Cần Giờ, TPHCM”, nhóm tác giả Viện Sinh học nhiệt đới chỉ ra, sự bền vững của các mô hình NTTS tại Cần Giờ bị tác động bởi nhiều yếu tố như cơ sở hạ tầng nuôi; sự gia tăng tần suất dịch bệnh và xuất hiện bệnh mới; môi trường vùng nuôi, xử lý nước thải, bùn thải sau vụ nuôi; sự biến đổi của các điều kiện tự nhiên như lượng mưa, nhiệt độ, độ mặn,…    Nhóm tác giả cũng đưa ra các nhóm tiêu chí cần có để xác định mô hình NTTS bền vững ở Cần Giờ, như mô hình sản xuất sản phẩm phù hợp với cơ cấu phát triển kinh tế của địa phương; sản phẩm có thị trường tiêu thụ tốt; mô hình có xác suất nuôi thành công cao; tỷ suất lợi nhuận tốt; cải thiện đời sống xã hội, phù hợp văn hóa, tập quán; phù hợp quy hoạch, định hướng phát triển; bền vững môi trường (đất, nước, hệ sinh thái).    Hiện nay, Cần Giờ có 16 mô hình NTTS, trong đó có 3 mô hình được đánh giá là bền vững, có thể nhân rộng (nuôi tôm sú sinh thái – đầm đập, hàu và cá dứa); 6 mô hình được đánh giá tương đối bền vững (sò huyết, nghêu, tôm thẻ bán thâm canh, cua biển, cá nâu, tôm sú). Ngoài ra, có 4 mô hình ít bền vững gồm tôm thẻ tâm canh, tôm sú thâm canh, cá chim, tôm thẻ siêu thâm canh; 3 mô hình không bền vững (cá bớp, ốc hương và cá chẽm).    Đặc biệt, mô hình nuôi tôm thẻ thâm canh theo hướng bền vững đã được nhóm tác giả xây dựng và triển khai thực nghiệm ở Ấp Tân Điền, xã Lý Nhơn với hai giai đoạn ương giống và nuôi thương phẩm. Trong đó, giai đoạn nuôi thương phẩm, nhóm sử dụng rong câu và chế phẩm vi sinh EM nhằm giảm thiểu sự tích tụ của các chất hữu cơ dư thừa trong ao, ảnh hưởng đến tôm và hệ sinh thái nuôi tôm. Kết quả, tôm đạt tỷ lệ sống trung bình ở giai đoạn 1 là 88,34%, giai đoạn 2 là 84,63%, tỷ suất lợi nhuận của mô hình đạt 0,82. Các kết quả này cao hơn mô hình nuôi tôm thẻ thâm canh đang canh tác tại Cần Giờ (tỷ lệ sống trung bình đạt 79%, tỷ suất lợi nhuận 0,67). Vì vậy, mô hình này có thể nhân rộng cho các hộ NTTS ở Cần Giờ.    Ngọc Đỗ      Author                .        
__label__tiasang Các mô hình phòng ngừa dịch bệnh: Khoa học mạng lưới      Covid-19 không chỉ làm xáo trộn cuộc sống của từng cá nhân mà còn làm thay đổi cách mỗi quốc gia ứng phó với dịch bệnh. Ở khía cạnh này, chúng ta có thể áp dụng thêm một công cụ mới, khoa học mạng lưới để tạo ra các mô hình phòng ngừa dịch bệnh hiệu quả.    Các mô hình lan truyền dịch bệnh từng được Kermack và McKendrick phát triển đầu tiên vào năm 1927 dựa trên lý thuyết trường trung bình động1, các mô hình lan truyền dịch bệnh đầu tiên đã được ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Mô hình này dựa trên giả thuyết cơ bản là mỗi cá nhân có thể tương tác với tất cả các cá nhân khác trong xã hội một cách ngẫu nhiên với xác suất giống nhau. Do vậy xác suất bị nhiễm bệnh hay khỏi bệnh của mỗi cá nhân cũng giống nhau và chỉ phụ thuộc vào trạng thái chung của cả xã hội. Bằng cách viết các phương trình cho cá nhân, chúng ta có thể suy rộng ra tỷ lệ trung bình chung cho cả xã hội. Trong phần thứ nhất về khoa học mạng lưới (Tia Sáng số 10/2020), chúng ta đã bàn tới mô hình cổ điển, phần này chúng ta cùng bàn về ứng dụng của khoa học mạng lưới trong việc mô phỏng quá trình lan truyền dịch bệnh.     Mô hình lan truyền cổ điển     Khi áp dụng khoa học mạng lưới để lập các mô hình lan truyền cổ điển, chúng ta đã coi xã hội như một tập hợp N các nhân có thể ở trong một số trạng thái xác định là có khả năng mắc bệnh (Susceptible – ký hiệu S), nhiễm bệnh và có thể lây cho người khác (Infected – ký hiệu I), không còn khả năng mắc bệnh (Removed hay Recovered – đã chữa khỏi và không bị nhiễm lại nữa hoặc đã chết ký hiệu R).    Đây là những yếu tố nền tảng để chúng ta có thể thiết lập nhiều biến thể của mô hình, trong đó hai mô hình phổ biến nhất là SIS (Susceptible-Infected-Susceptible) và SIR (Susceptible-Infected-Removed).    Với mô hình SIS, mỗi cá nhân chỉ có thể có 2 trạng thái là S (khỏe mạnh) hoặc I (nhiễm bệnh) và được khởi đầu ở trạng thái S.    Nếu ở trạng thái S, mỗi cá nhân thì có thể bị nhiễm bệnh và do đó nhanh chóng chuyển sang trạng thái I với xác suất α trong một đơn vị thời gian tỷ lệ. Xác suất này lại tỷ lệ với số người nhiễm bệnh I chia cho tổng số người N,        Có thể viết lại                 với β là tỷ lệ nhiễm bệnh (infection rate).    Nếu ở trạng thái I, mỗi cá nhân có thể được chữa khỏi và chuyển sang S với xác suất μ trong một đơn vị thời gian, với giả thuyết việc chữa bệnh được áp dụng như nhau cho mọi người bệnh.    Kết hợp lại, chúng ta có thể mô tả quá trình động lực của số nhiễm bệnh (I) và khỏe mạnh (S) bằng các phương trình vi phân (xem 4.1 ở phụ lục) và giải được kết quả (Hình 1). Có thể thấy số bị lây nhiễm (màu nâu) sẽ tăng theo tốc độ hàm mũ trong giai đoạn đầu cho đến khi đạt điểm bão hòa và đi ngang. Khi đó số lượng khỏi bệnh bằng số lượng nhiễm mới và trạng thái cân bằng với số bị nhiễm rất cao.    Hình 1: Kết quả giải hệ SIS – nguồn: https://www.cim.pt/    Trong thời gian diễn ra đại dịch, chúng ta còn biết thêm khái niệm R0, hay còn gọi là hệ số lây nhiễm cơ bản và được tính bằng công thức            có thể hiểu đây là tỷ lệ nhiễm trên tỷ lệ chữa khỏi. Kết quả lan truyền dịch bệnh phụ thuộc vào hệ số R0 như sau: nếu R0>1 thì dịch bệnh sẽ bùng phát (như trong hình trên); nếu R0<1 thì dịch bệnh sẽ tự tiêu biến; nếu R0=1 thì dịch bệnh ở trạng thái dừng đặc hữu (endemic). Để ngăn ngừa dịch bệnh một mặt chúng ta hạn chế lây nhiễm (giảm β), mặt khác tích cực tăng khả năng chữa trị cho người bệnh (tăng μ).    Mô hình phổ biến thứ hai là SIR. Trong mô hình này, một cá nhân từ S có thể bị nhiễm bệnh và chuyển sang I, sau đó cá nhân từ I có thể được chữa khỏi (và không thể lây nhiễm tiếp) hoặc chết đi và chuyển sang R. Cơ chế của mô hình SIR tương tự như SIS, trong đó có thêm trạng thái R (trong SIS thì R ẩn trong S). Kết quả của SIR được giải từ các phương trình vi phân (xem 4.2 ở phụ lục) như sau (Hình 2).      Hình 2: Kết quả giải hệ SIR – nguồn: https://www.cim.pt/  Số lượng bị nhiễm bệnh (màu đỏ) tăng mạnh trong giai đoạn đầu nhưng sau đó đạt đỉnh và đi xuống dần. Số lượng được chữa khỏi tăng tương ứng và bão hòa. Trong giai đoạn cuối, số lượng người khỏe còn quá ít và số lượng bị nhiễm mới giảm theo và tiến gần về 0. (những người chữa khỏi không có khả năng mắc thêm nữa, hoặc đã chết).    Nhìn chung, kết quả từ hai mô hình cổ điển SIS và SIR cho thấy trong giai đoạn đầu, tỷ lệ nhiễm (cho SIS) và chết (cho SIR) sẽ tăng theo hàm mũ và đạt ngưỡng bão hòa sau một thời gian. Ngưỡng này thường sẽ rất cao lên đến nhiều chục % trong dân số nếu không có biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Nếu xảy ra tình trạng này thì số lượng người khỏe còn quá ít và số lượng nhiễm rất cao và ổn định vì số lượng nhiễm mới bằng số lượng khỏi (βS=μI). Đây chính là trạng thái miễn dịch cộng đồng.     Mô hình lan truyền theo mạng lưới     Dù các mô hình cổ điển về lan truyền dịch bệnh hiệu quả trong quá khứ nhưng một thế giới mới với những tương tác xã hội ngày một phức tạp và mở rộng đòi hỏi những mô hình mới.    Các giả thuyết cho mỗi cá nhân giống nhau và giao tiếp ngẫu nhiên đều trong toàn xã hội của các mô hình cổ điển còn khá đơn giản. Trên thực tế, mỗi người có mạng lưới tương tác xã hội của riêng mình. Phần lớn các cá nhân chỉ tương tác với một số lượng hạn chế người khác, trong khi đó có một phần nhỏ cá nhân tương tác với rất nhiều người khác. Dựa trên mô hình mạng lưới, Diekmann2 cho rằng, hệ số lây nhiễm cơ bản R0 cần phải điều chỉnh tính đến cấu trúc của mạng lưới tương tác.    Mạng lưới tương tác xã hội cũng giống như nhiều mạng lưới phức hợp khác (complex networks) với nhiều đặc trưng riêng biệt, trong đó các quan trọng nhất về cấu trúc sự phân bố của bậc theo hàm mũ và tính phân nhóm (mạng tương tác xã hội thường phân cụm thành những nhóm riêng biệt. Phần lớn các cá nhân chỉ tương tác với những cá nhân trong cùng một nhóm, một phần nhỏ các cá nhân tương tác với những cá nhân trong nhiều nhóm khác nhau. Các cá nhân này mang tính liên kết rất cao và có thể, nhưng không nhất thiết, là các cá nhân có bậc cao hoặc rất cao) (Hình 3).      Hình 3: Một mạng lưới xã hội với tính phân nhóm cao – nguồn: [3]  Để mô phỏng cho sự phân bố kết nối khác nhau trong quá trình lan truyền dịch bệnh, Pastor-Satorras và Vespignani (2001) đề xuất4 xét những cá nhân có cùng số bậc tương tác k thì có xác suất nhiễm bệnh giống nhau, còn không thì sẽ khác nhau và tỷ lệ theo số bậc k này. Tiếp đó các tác giả kế thừa trên lý thuyết trường trung bình động cho mỗi giá trị k và phát triển thành mô hình trường trung bình theo bậc (degree-based mean-field theory DBMF). Phương trình vi phân được điều chỉnh lại cho mỗi giá trị bậc k (xem 4.3 ở phụ lục) và có thể giải một cách xấp xỉ bởi phương pháp phân tích trung bình tuyến tính [6] (lời giải chính xác không khả thi). Kết quả chính của mô hình này là điều kiện xảy ra bùng phát dịch (điểm tới hạn) nếu:    (<> là ký hiệu của kỳ vọng, giả thiết các nút không tương quan (uncorrelated network)).  có nghĩa là hệ số lây nhiễm cơ bản của mạng lưới sẽ bằng tỷ lệ trung bình của bậc và trung bình của bình phương bậc.  Hình vẽ trên (bên trái) là một ví dụ một mạng xã hội nhỏ gồm 6005 nút với các thông số mạng là:  =7.15  2>=79  /2>=0.012    Giả sử tỷ lệ chữa khỏi μ=0.4 thì xác suất nhiễm bệnh khi tiếp xúc β cần phải dưới giá trị μ/2> = 0.4≈0.012 ≈ 0.5% và rất không khả thi. (Hình 4+5).Tuy nhiên nếu chúng ta hạn chế các tương tác (cách ly xã hội) thì số cạnh trên mạng lưới sẽ giảm đi và các thông số mới trở thành:  =1.27=1.27  =3.45=3.45  /2>=0.289=0.289                       Figure 4+5: Một mạng lưới xã hội với phân bố bậc dạng hàm mũ và tính phân nhóm cao ở trạng thái ban đầu (bên trái) và trạng thái cách ly (hạn chế tương tác/giảm số cạnh – bên phải) nguồn: [3]  Cũng với tỷ lệ chữa khỏi μ=0.4 thì xác suất nhiễm bệnh khi tiếp xúc β cần phải dưới giá trị mới là μ/2> = 0.4 ≈ 0.289 ≈ 11.5%. Xác suất này dễ đạt được hơn và cao hơn ngưỡng trước khi cách ly hơn 20 lần.    Bên cạnh phương pháp lấy trung bình theo bậc nói trên, chúng ta có thể mô phỏng trực tiếp quá trình lây lan theo từng đỉnh và cạnh. Phương pháp này đặc biệt có ích nếu tính đến tính phân nhóm và các tính chất đa dạng khác của mạng tương tác xã hội thực tế (mà các mô hình lý thuyết không mô tả hay giải được).    Điểm mạnh của phương pháp mô phỏng trên mạng lưới là chúng ta có thể lường trước được ảnh hưởng của các yếu tố của mạng lưới, ví dụ như tính phân nhóm hay sự phản ứng khác nhau của mỗi cá nhân khi tiếp xúc người bệnh. Đây là các yếu tố thực tế nhưng rất khó đưa vào mô hình giải tích để giải tường minh.    Ngoài ra, với mạng lưới, chúng ta cũng có thể mô phỏng các hành động ngăn ngừa dịch bệnh cụ thể hơn, ví dụ như: ngăn chặn cả một nhóm, ngăn chặn bằng dò đường ngẫu nhiên, ngăn chặn theo cường độ tương tác… Từ đó có thể đưa ra các số liệu hỗ trợ cho các quyết định phòng ngừa nhằm tối ưu hiệu quả của tác động hoặc giảm thiểu chi phí cho một mục tiêu xác định.    Điểm thuận lợi lớn nhất khi chúng ta áp dụng những mô hình này là máy tính và dữ liệu xã hội đều đang sẵn có, do đó các phương pháp mô phỏng trên mạng lưới sẽ càng trở nên có nhiều ưu thế so với các cách tiếp cận truyền thống trong mô phỏng lan truyền bệnh dịch, không chỉ trong Covid-19 mà còn trong tương lai. □  ——-  Tham khảo  [1] W. O. Kermack and A. G. McKendrick, Contributions to the mathematical theory of epidemics part I, Proc. R. Soc. Edinb., A115, 700–721, 1927.  [2] Diekmann, O., H. Heesterbeek, and T. Britton (2012), Math- ematical Tools for Understanding Infectious Disease Dynamics (Princeton University Press, Princeton, USA).  [3] Pastor-Satorras, R., and A. Vespignani (2001b), Phys. Rev. Lett. 86, 3200.  [4] Romualdo Pastor-Satorras, Claudio Castellano, Piet Van Mieghem, Alessandro Vespignani, “Epidemic processes in complex networks”. Review of Modern Physics 87(3) 2014  [5] Boguna , M., and R. Pastor-Satorras (2002), Phys. Rev. E 66, 047104.  [6] Bài giới thiệu về các mô hình cổ điển của TS. Hoàng Ngọc Thạch và TS. Phan Thị Hà Dương (VinIF) với các tham số cập nhật cho dịch bệnh Covid-19. (http://vinif.org/vi/khoa-hoc-thuong-thuc/read/1/mo-hinh-du-bao-ngan-han-va-dai-han-kha-nang-lan-rong-cua-dich-2019-ncov-tu-vu-han-o-pham-vi-trung-quoc-va-quoc-te)  Phụ lục  – Phương trình hệ SIS:       Phương trình mô tả tốc độ nhiễm bệnh cho các nút có bậc k trong mạng lưới:      Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang Các ngân hàng châu Âu “ẵm” nợ của chính phủ và nguy cơ tái xuất “vòng tròn luẩn quẩn”      Các ngân hàng ở châu Âu vẫn tiếp tục rót tiền mua trái phiếu chính phủ của nước họ, bất chấp việc này có thể làm khơi dậy cái “vòng tròn luẩn quẩn” đã hủy hoại nền kinh tế Hy Lạp ra sao.    Ngân hàng Trung ương châu Âu  Theo Standard and Poor’s (S&P), số nợ mà các ngân hàng ở châu lục này đang “ôm” của các chính phủ đã tăng gấp đôi so với thời điểm năm 2008, mặc dù họ đã có kế hoạch cắt giảm hoạt động này từ năm năm trở lại đây.  Nếu như vào thời điểm tháng 9/2008, các khoản nợ mà các ngân hàng châu Âu “ôm” hộ chính phủ là 355 tỉ bảng thì hiện nay con số này đã tăng hơn gấp đôi lên tới 791 tỉ bảng.  Tại các ngân hàng Nam Âu, con số này tăng từ 272 tỉ bảng lên 722 tỉ bảng. Các ngân hàng tại các quốc gia Trung và Đông Âu cũng tăng dần mức “ôm nợ” lên con số 148 tỉ bảng ngày nay, trong khi đó các quốc gia Bắc Âu có mức độ ổn định hơn và hầu như không thay đổi trong vài năm qua với mức 30 tỉ bảng.  Khi các ngân hàng đầu tư quá nhiều vào việc “ôm” nợ cho chính phủ, họ sẽ bị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của chính phủ, và bản thân chính phủ cũng lệ thuộc vào việc ngân hàng mua nợ giúp mình.  Như vậy, nếu một trong hai bên lâm vào tình cảnh điêu đứng, hệ quả có thể sẽ là “thảm khốc” cho cả hai. Chẳng hạn, tại Hy Lạp, khi cần phải giải cứu cho các ngân hàng bị phá sản, rất ít nhà đầu tư muốn cho chính phủ nước này vay tiền. Và khi chính phủ Hy Lạp bị vỡ nợ, chính những ngân hàng mà chính phủ này từng hỗ trợ lại là đối tượng chịu tổn thất nặng nề nhất, bởi họ chính là chủ của những khoản nợ đó.  Mặc dù cả hai bên đã ý thức được nguy cơ tiềm tàng này, song các quy định hiện hành vẫn buộc các ngân hàng phải mua trái phiếu của chính phủ. Các nhà lập pháp hiện vẫn coi nợ công là loại nợ không có rủi ro, tức là các ngân hàng không cần phải giữ vốn để đề phòng nguy cơ bị vỡ nợ. Các ngân hàng cũng phải mua những lượng tài sản lỏng lớn – tức những tài sản có thể đem bán tức thời khi cần thiết – trong đó có các trái phiếu của chính phủ.  Vì Ngân hàng Trung ương châu Âu áp dụng chính sách cấp vốn rẻ thông qua Nghiệp vụ Tái cấp vốn Dài hạn1 (long-term refinancing operations – LTROs), nên các ngân hàng có thể có lợi nhuận khi mua các loại trái phiếu của chính phủ với ngưỡng rủi ro chính thức bằng 0.  Trong vài năm trở lại đây, giá trái phiếu chính phủ tại một số quốc gia châu Âu như Đức và Anh đã tăng vọt do một số nguyên nhân, chẳng hạn như: các trái phiếu này được các ngân hàng mua lại, các ngân hàng trung ương in thêm tiền để mua trái phiếu, và các nhà đầu tư cẩn trọng muốn mua các loại tài sản vốn được coi là “an toàn”. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng đặt những bên nắm giữ các loại trái phiếu này trước nhiều rủi ro trên thị trường.  “Việc nắm giữ trái phiếu chính phủ mang đến nhiều nguy cơ chứ không chỉ dừng lại ở nguy cơ vỡ nợ. Khi đánh giá mức độ rủi ro kinh tế của một ngân hàng khi mua trái phiếu chính phủ với giá trị thị trường, những thay đổi, dẫu chỉ ở mức độ tiềm năng, về lợi nhuận hay thua lỗ cũng có thể có tác động trực tiếp đến kết quả đánh giá này. Giá trị trái phiếu giảm xuống có thể mang đến những xáo trộn lớn trong bảng cân đối thu chi của các ngân hàng. Giá tài sản giảm cũng kéo giá trị của tài sản thế chấp mà các ngân hàng dùng để vay vốn giảm theo,” S&P cho biết.  Các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu bàn đến những kế hoạch giải quyết vấn đề trên, với những phương án khả thi bao gồm đặt ra ngưỡng trần đối với mức nợ của các chính phủ mà các ngân hàng phải “ôm”, chấm dứt quan niệm cho rằng trái phiếu công là không tiềm ẩn rủi ro, thực hiện stress test (thanh tra) mức độ rủi ro của các khoản nợ công, hoặc nâng cao mức độ minh bạch của các trái phiếu để các nhà đầu tư tư nhân có thể hiểu rõ hơn về chúng.  Tuy nhiên, các chuyên gia của S&P cho rằng những thay đổi trên chưa chắc sẽ thực hiện được. “Chúng tôi cho rằng hiện nay chưa thể bàn đến những cải cách có ý nghĩa bởi vì sự bất đồng giữa các thành viên trong Liên minh châu Âu (EU) hiện đang quá lớn”, tổ chức này nói.  Ngược lại, nếu có thể thực hiện thành công những biện pháp cải cách, các ngân hàng sẽ đa dạng hóa các hoạt động đầu tư của mình. Và khi đó, con số 1,7 nghìn tỉ bảng trái phiếu của các chính phủ thuộc EU có thể sẽ bị ảnh hưởng, và nhu cầu mua nợ giảm xuống có thể sẽ làm gia tăng chi phí đi vay cho các chính phủ ở khu vực này.  1. LTRO là một quy trình được Ngân hàng Trung ương châu Âu áp dụng nhằm cung cấp tài chính cho các ngân hàng trong khu vực châu Âu. Mục đích của LTRO là duy trì một “tấm đệm” thanh khoản cho các ngân hàng đang nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản kém, từ đó ngăn ngừa tình trạng vay liên ngân hàng và tình trạng các hệ thống khởi tạo khoản vay khác bị đình trệ như trong đợt thắt chặt tín dụng năm 2008.  Chi Nhân dịch theo Telegraph    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các ngành STEM: Mất cân bằng giới về nhân lực      Không có gì ngạc nhiên khi ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo và công nghệ có tỷ lệ mất cân bằng giới lớn nhất trong tất cả các ngành, theo nhận định của báo cáo khuyến nghị chính sách Đổi mới và công nghệ vì bình đẳng giới của Văn phòng điều phối viên của Liên Hợp Quốc và UN Women vừa xây dựng mới đây.    Hiện nay, tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học trong lĩnh vực STEM ở Việt Nam hiện nay là 36,5%. Đơn cử, Đại học Bách khoa có hơn 78% sinh viên nam so với 22% sinh viên nữ. Với sự chênh lệch giữa nam giới và phụ nữ theo đuổi ngành khoa học và công nghệ (STEM) tại Việt Nam, không có gì ngạc nhiên khi ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo và công nghệ có tỷ lệ mất cân bằng giới lớn nhất trong tất cả các ngành, theo nhận định của báo cáo khuyến nghị chính sách Đổi mới và công nghệ vì bình đẳng giới của Văn phòng điều phối viên của Liên Hợp Quốc và UN Women vừa xây dựng mới đây. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tại Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 37% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp này.  Ảnh: ILO  Ngày nay, số hóa đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực chính của nền kinh tế trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, theo một số ước tính nền kinh tế số chiếm khoảng 14,26% tổng GDP vào năm 2022, với mức tăng trưởng hàng năm ước tính là 8,9% trong giai đoạn 2022-2026. Tuy nhiên, trong nền kinh tế kỹ thuật số, phụ nữ ít có cơ hội tham gia và đóng góp đầy đủ hơn so với nam giới. Đổi mới công nghệ và kỹ thuật số có thể đồng thời tạo ra, loại bỏ và chuyển đổi các công việc và điều này đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng cao, tuy nhiên hiện nay phụ nữ hầu như vẫn chỉ làm việc trong các ngành thâm dụng lao động. Gần 80% phụ nữ trong độ tuổi lao động ở Việt Nam có tay nghề thấp hoặc không có tay nghề. Có tới 86% lao động trong ngành dệt may và da giày của Việt Nam có nguy cơ mất việc làm trong vòng vòng 10-15 năm tới.  Nhìn chung, tỉ lệ nữ giới Việt Nam tham gia thị trường lao động cao, nguồn lao động dồi dào nhưng tỷ lệ có việc làm đã qua đào tạo thấp và có sự chênh lệch giữa nam giới và nữ giới khi cứ 4 lao động nam có việc làm thì có 1 người đã qua đào tạo (tỷ lệ 25%), ở nữ giới thì cứ 5 lao động có việc làm thì mới có 1 người đã qua đào tạo (tỷ lệ 20%).  Trong khi đó, việc phụ nữ và trẻ em gái theo đuổi các ngành học và lao động thuộc nhóm STEM vẫn còn rất hạn chế. Một nghiên cứu từ năm 2019 cho thấy cả giáo viên và học sinh nữ đều vẫn có những rào cản xã hội, định kiến văn hóa về sự phù hợp của họ/học sinh của họ trong theo đuổi các ngành học STEM. Phụ nữ được coi là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi dạy con cái và các công việc nội trợ. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận của phụ nữ với một ngành công nghiệp đang phát triển nhanh và cũng là rào cản đối với phụ nữ trong định hình các công nghệ và đi đầu trong đổi mới, sáng tạo. Trong khi đó, đến năm 2050, 75% công việc trên toàn cầu sẽ liên quan đến STEM.  Báo cáo khuyến nghị tăng cường và thúc đẩy giáo dục có chất lượng cho phụ nữ và trẻ em gái trong suốt cuộc đời và ở tất cả các cấp, nhất là các kiến thức về số hóa, đảm bảo phụ nữ và trẻ em gái được tiếp cận bình đẳng với đào tạo kỹ năng lãnh đạo, phát triển nghề nghiệp, học bổng, học bổng ngắn hạn và đào tạo nghề, đặc biệt là trong các lĩnh vực STEM và giáo dục kỹ thuật; và giải quyết các chuẩn mực xã hội tiêu cực cũng như khuôn mẫu giới trong hệ thống giáo dục.  Khuyến nghị tiếp theo là dự báo nhu cầu công việc và kỹ năng trong tương lai giảm thiểu các tác động bất lợi, mang yếu tố giới của số hóa và tự động hóa, đồng thời điều chỉnh chương trình giáo dục và dạy nghề các chương trình đào tạo lại và nâng cao kỹ năng để tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ chuyển đổi sang nghề nghiệp và công việc mới, đặc biệt đối với những người có nguy cơ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa, ví dụ như lao động di cư.  Bảo Như    Author                .        
__label__tiasang Các nghệ sỹ tương tác không lời khi biểu diễn như thế nào?      Một nhóm các nhà nghiên cứu từ trường đại học McMaster đã khám phá một kỹ thuật mới kiểm tra cách các nghệ sỹ phối hợp với nhau một cách liên tục trong suốt quá trình biểu diễn và có khả năng dự đoán một cách thầm lặng sự biểu lộ trạng thái cảm xúc về âm nhạc của nhau.      Các thành viên của tam tấu Gryphon Trio trinh diễn trong khi các nhà nghiên cứu đo đạc các chuyển động của họ. Nguồn: LIVELab, trường đại học McMaster  Các phát hiện này được xuất bản trên tạp chí Scientific Reports, đem lại những cái nhìn mới mẻ vào cách các nghệ sỹ đồng bộ hóa các chuyển động cơ thể của mình như thế nào để họ trình tấu một cách chính xác cùng lúc, như một đơn vị đơn lẻ.  “Việc biểu diễn âm nhạc với một nhóm các nghệ sỹ là một cố gắng phức tạp ở mức cao”, Laurel Trainor – tác giả chính của nghiên cứu và là giám đốc của LIVELab tại trường đại học McMaster, nơi công trình nghiên cứu được thực hiện – nói.  “Có một câu hỏi đặt ra là các nghệ sỹ phối hợp với nhau để trình tấu những tác phẩm âm nhạc đầy cảm xúc, thường có sự thay đổi về tốc độ và cường độ, như thế nào? Chúng tôi nhận thấy, để làm tốt được điều này phụ thuộc vào việc dự đoán những gì mà đồng nghiệp của anh sẽ làm tiếp theo, nhờ đó anh có thể lập kế hoạch cho các chuyển động của mình vì việc biểu hiện các xúc cảm tương tự trong phối hợp biểu diễn. Nếu anh chờ để nghe hay quan sát những gì mà đồng nghiệp của mình sẽ làm thì luôn luôn sẽ là quá muộn cho những chuyển động tương ứng tiếp theo”, chị giải thích rõ hơn.  Để thực hiện nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã kết hợp với Gryphon Trio – một nhóm tam tấu được thành lập vào năm 1993 với ba thành viên của khoa Âm nhạc, trường đại học Toronto là Patipatanakoon, Borys và Parker, thường biểu diễn tại Canada, Mỹ và châu Âu với các tác phẩm của Haydn, Mozart, Beethoven, Schubert, Mendelssohn, Dvorak, Lalo, Shostakovich… Mỗi nghệ sỹ được nối với các thiết bị ghi có khả năng bắt được chuyển động để dò theo từng động thái của họ trong khi các nhạc công vẫn có thể trình diễn một cách tự nhiên những trích đoạn âm nhạc giàu cảm xúc theo hai cách: một lần với biểu cảm âm nhạc, một lần không.  Sử dụng các kỹ thuật toán học, các nhà nghiên cứu đo đạc cách mỗi nghệ sỹ đã dự đoán những chuyển động của các nghệ sỹ khác như thế nào. Thật bất ngờ là cảm xúc lại đóng vai trò quan trọng hơn dự đoán: cho dù đang thể hiện niềm vui hay nỗi buồn của các tác phẩm âm nhạc, các nghệ sỹ dễ dàng dự đoán các chuyển động của nhau hơn so với khi họ biểu diễn mà không có cảm xúc.  Andrew Chang – một đồng tác giả của nghiên cứu này, nhấn mạnh: “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy là chúng tôi có thể đo đạc được sự truyền đạt cảm xúc giữa các nghệ sỹ thông qua việc phân tích các chuyển động một cách chi tiết, và cần phải có nhiều kết nối với nhau mới có thể đạt được khả năng biểu lộ cùng một xúc cảm chung”.  Năm 2012, một nhóm các nhà nghiên cứu do Luciano Fadiga, trường đại học Ferrara và Viện Công nghệ Italy (IIT), đã từng có công bố trên tạp chí truy cập mở PLoS ONE về sự truyền đạt thông tin không lời giữa nhạc trưởng, các nghệ sỹ dẫn đến khả năng trình diễn các tác phẩm tốt hơn. Họ đã đo đạc được động học của các nghệ sỹ violin và các nhạc trưởng thông qua việc theo dõi các chuyển động của cây vĩ, đũa chỉ huy khi họ trình diễn một tác phẩm của Mozart. Các chuyên gia âm nhạc được họ mời tham gia đánh giá hiệu quả của từng màn trình tấu. Trên cơ sở của bộ dữ liệu này, các nhà nghiên cứu xác nhận rằng, màn trình diễn nào có chất lượng cao hơn khi các chuyển động của nhạc trưởng và nghệ sỹ có độ tương quan gần nhau hơn. Qua đó, họ đề xuất, việc đạt được tương quan này là do khả năng dẫn dắt của nhạc trưởng, và một nhạc trưởng có những phẩm chất dẫn dắt mạnh mẽ hơn có thể đem lại một màn trình diễn xuất sắc hơn bởi các nghệ sỹ sẽ theo sát nhạc trưởng.  Việc tiếp nối nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc xác định chất lượng biểu diễn mà theo các nhà khoa học trường đại học McMaster, họ hướng đến việc ứng dụng kỹ thuật mới này cho những tình huống khác như truyền đạt cảm xúc không lời giữa các bệnh nhân, gia đình của họ và điều dưỡng viên.  Họ cũng kiểm tra kỹ thuật này trong một nghiên cứu về sức hút của con người. “Những kết quả sớm chỉ dấu là sự truyền đạt tín hiệu được đo đạc qua sự chuyển động của cơ thể con người có thể dự đoán được những cặp đôi nào sẽ muốn gặp nhau thêm một lần nữa”, Chang cho biết.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2019-01-musicians-non-verbally.html#jCp; https://phys.org/news/2012-05-non-verbal-conductor-musician-music.html#jCp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nghiên cứu chỉnh sửa gene đang rời bỏ Mỹ      Mệt mỏi vì sự rắc rối về quy định và thiếu kinh phí, một số nhà nghiên cứu Mỹ đang đưa công trình nghiên cứu về gia súc chỉnh sửa gene của họ ra nước ngoài.    Từ lâu các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, vốn kiên trì theo hướng phát triển gia súc biến đổi gene, đã phải đối mặt với sự thiếu hụt kinh phí nghiên cứu và cũng không chắc chắn có cơ hội đưa sản phẩm của mình ra thị trường. Nhiều người đã hy vọng sự ra đời của các công nghệ chỉnh sửa gene, công nghệ cho phép các nhà nghiên cứu thay đổi bộ gene với độ chính xác cao hơn trước đây, sẽ góp phần làm giảm bớt sự giám sát của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Thông thường sự giám sát của cơ quan này tập trung vào các sinh vật được sửa đổi với việc đưa DNA từ các loài khác vào gene.  Nhưng vào năm 2017, FDA đã ban hành dự thảo hướng dẫn cho thấy họ cũng sẽ điều chỉnh quy định về động vật được chỉnh sửa gene. Động vật duy nhất mà FDA đã phê duyệt là một loại cá hồi được biến đổi gene để phát triển nhanh hơn, đây là quyết định đã được đưa ra sau nhiều thập kỷ. Loại cá hồi này có trước công nghệ chỉnh sửa gene, được tạo ra bằng cách chèn các yếu tố di truyền như một gene điều chỉnh hormone tăng trưởng từ các loài cá hồi khác.  FDA cuối cùng chấp thuận vào năm 2015, nhưng hai tháng sau, Quốc hội đã chặn mọi hoạt động tiếp thị cho loại cá hồi này bằng cách ra lệnh cho FDA thiết lập các yêu cầu ghi nhãn cho thịt biến đổi gene.  FDA đã không đưa ra các yêu cầu đó, cũng như không hoàn thiện các hướng dẫn để điều chỉnh vật nuôi được chỉnh sửa gene. Theo người phát ngôn của FDA, cơ quan này “rất vui mừng về tiềm năng của một số công nghệ mới hơn này và các sản phẩm đang được phát triển, bao gồm cả động vật được chỉnh sửa gene. Trong khi giúp đưa các sản phẩm sáng tạo ra thị trường, FDA cũng cần đảm bảo an toàn và niềm tin của người tiêu dùng”.  Trong khi đó, các nhà nghiên cứu và các công ty đang do dự trong việc thực hiện các dự án chỉnh sửa gene do phải chờ đợi Mỹ chấp thuận. “Không ai muốn làm [những dự án chỉnh sửa gene tương tự], sau những gì mà xảy ra với chúng tôi”, Sylvia Wulf, giám đốc điều hành của AquaBounty Technologies, công ty ở Maynard, Massachusetts, đã phát triển loại cá hồi.   Cá hồi của AquaBounty có trước công nghệ chỉnh sửa gene, nhưng sau khi công nghệ này xuất hiện, công ty đã sử dụng kỹ thuật này để phát triển một loại cá rô phi phát triển nhanh. Thay vì cố gắng được FDA chấp thuận, AquaBounty đã tìm cách đưa cá ra thị trường ở Argenetina. Vào tháng 12, công ty đã tuyên bố, Argenetina sẽ không quy định loại cá rô phi của họ là động vật biến đổi gene. Thay vào đó, loại cá này sẽ rơi vào các quy định quản lý các giống cây trồng và động vật mới – một quy trình điều chỉnh ngắn hơn đáng kể.  Các nhà nghiên cứu Mỹ rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tài trợ liên bang cho vật nuôi biến đổi hoặc chỉnh sửa gene đang thiếu, ví dụ nhà di truyền học Kevin Wells của Đại học Missouri, Columbia chỉ có thể nhớ lại một khoản tài trợ trong 30 năm qua. Các nhà nghiên cứu đã dựa vào tài trợ công nghiệp  – nhưng nguồn này cũng có thể cạn kiệt nếu các công ty không thể đưa sản phẩm của họ ra thị trường.  Việc chuyển nghiên cứu đến một quốc gia khác không phải luôn dễ dàng. Khoảng mười năm trước, những khó khăn trong tìm kiếm tài trợ đã khiến nhà di truyền học động vật James Murray chuyển dự án dê chuyển gene từ Đại học California ở Davis sang Brazil. Nhưng Brazil cấm nhập khẩu dê và thậm chí trứng dê hoặc tinh trùng. Murray và các cộng tác viên của ông cố gắng nhân bản dê của họ từ các tế bào có thể nhập khẩu hợp pháp nhưng khi các khoản tài trợ hết, các cộng tác viên của Murray đều chuyển đến một trường đại học mới.   May mắn là một tín hiệu tích cực hơn đã tới: tháng 10 năm ngoái, FDA đã công bố kế hoạch hành động đổi mới công nghệ sinh học thực vật và động vật, trong đó có cam kết hoàn thiện hướng dẫn về động vật chỉnh sửa gene sử dụng làm thực phẩm. □  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00600-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nghiên cứu khám phá chất lỏng trong bánh kếp, bia, và bồn rửa bát      Kỹ sư cơ khí Roberto Zenit đã dành cả mùa hè 2019 để cố gắng giải quyết một vấn đề lúc bấy giờ đang gây đau đầu cho các nhà khoa học trên toàn thế giới: Làm thế nào để chuyển các thí nghiệm động lực học chất lỏng, thường được thực hiện một cách hoàn hảo trong các phòng thí nghiệm, ra khỏi khuôn viên của nó? Kể từ khi đại dịch xảy ra, các nhà khoa học hàng đầu như Zenit đã đề xuất những phương thức sáng tạo để giúp sinh viên khám phá các dòng chảy chất lỏng ngay tại nhà.    Cuối cùng, câu trả lời cho Zenit đến từ những chiếc bánh kếp. Ông dạy một dạng thí nghiệm động lực học chất lỏng tại Đại học Brown, trong đó có một thí nghiệm yêu cầu sinh viên đo độ nhớt của một chất lỏng. Các nhà khoa học thường thực hiện thí nghiệm này bằng cách đo tốc độ rơi rất nhanh của các quả cầu nhỏ xuyên qua chất lỏng dày và lắng xuống dưới đáy. Nhưng Zenit nhận ra rằng ông không cần phải làm theo cách đó. Nhà bếp có nhiều chất lỏng nhớt, và tất cả những gì ông ấy phải làm là xuống đó và chọn lấy một dạng chất lỏng như vậy.  Và bột bánh kếp là một lựa chọn không tồi.    Bánh kếp hay bánh crêpe là một loại bánh rất mỏng, dẹt, thường được làm từ bột mì, trứng, sữa và bơ. Bánh kếp có nguồn gốc từ vùng Bretagne ở tây bắc Pháp, sau lan rộng ra toàn nước Pháp, trở thành món ăn truyền thống và phổ biến ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Canada và Brazil. Ảnh: Pixabay  Vào mùa thu năm nay, các sinh viên của ông, tại nhiều khu vực khác nhau – do lệnh phong tỏa, phải trộn bột bánh kếp, đổ lên một bề mặt nằm ngang và đo tốc độ giãn nở của bán kính. “Bằng cách đo tốc độ phát triển theo thời gian của khối bột này, bạn có thể quay lại tính toán độ nhớt”, Zenit cho biết.  Trong khuôn khổ Hội nghị thường niên lần thứ 73 của Bộ phận Động lực học Chất lỏng thuộc Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ, Zenit đã mô tả thí nghiệm này tại một chuyên đề nhỏ về dòng chảy chất lỏng trong bếp. Ngoài dự án đo độ nhớt bằng bánh kếp, hội nghị chuyên đề còn có những nghiên cứu mới về cách các chất lỏng trộn lẫn với nhau hay cách chúng kết hợp với các hạt rắn (như trong bột hoặc bột nhào). Các nhà khoa học từ Đại học Cambridge đã mô tả những phát hiện mới về bước nhảy thủy lực – những gợn sóng nước đều đặn kỳ lạ có các cuộn chảy rối bao quanh, được hình thành một cách trực tiếp từ một vòi nước trong bếp.   Kỹ sư hóa học Endre Mossige, một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Stanford, cũng là người tổ chức hội nghị chuyên đề trên, cho hay: “Rất dễ thực hiện các thí nghiệm dòng chảy chất lỏng trong bếp. Bạn không cần đến nhiều thiết bị để thu thập được những thông tin hữu ích về độn¬g lực học chất lỏng.”  Theo Jan Vermant, một kỹ sư tại ETH Zurich, nhà bếp là nơi lý tưởng để tìm kiếm nguồn cảm hứng. “Trong nhà bếp, chúng ta có thể làm được rất nhiều việc với các vật liệu tiếp giáp có hiệu suất cao. Bạn phải trộn chất lỏng với không khí và tạo ra nhũ tương, nghiên cứu những bọt bong bóng. Đây là những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực thực phẩm mà các đầu bếp trên thế giới đều biết.”  Vermant đã trình bày về công trình gần đây của nhóm mình, trong đó giải quyết vấn đề của ngành bia bằng cách chuyển nó thành vấn đề động lực học chất lỏng. Ông nghiên cứu các màng mỏng, và trong nghiên cứu gần đây, ông đã tập trung vào tính ổn định của bọt trong bia và bánh mì. Những người nấu bia, ông nói, kiểm tra tiến trình lên men của các loại bia mới bằng cách theo dõi độ ổn định của bọt. Tuy nhiên, quá trình này còn rất “thủ công”. Khi xem xét quá trình sản xuất bia qua lăng kính động lực học chất lỏng, ông đã phát hiện ra một môi trường nghiên cứu đầy phong phú.  Trong bọt bia có nhiều môi trường khác nhau: dòng chảy mao dẫn, màng xà phòng và sự kết tụ protein. “Về cơ bản, chúng có tất cả các cơ chế mà một người kỹ sư có thể thiết kế ra”, ông nói. Nhóm nghiên cứu của ông phát hiện ra, mặc dù hầu hết các loại bia đều có bọt, nhưng những loại bia khác nhau đều có cơ chế về bọt khác nhau. Một số bọt hoạt động như màng xà phòng, một số khác thì phát triển những mạng lưới protein có độ liên kết chặt chẽ ở ngay bề mặt.   “Mỗi loại bia đều nêu bật các khía cạnh khác nhau của vấn đề theo một cách độc đáo riêng”, Vermant cho hay. Trong công trình tiếp theo, nhóm của ông áp dụng cách tiếp cận tượng tự để tìm hiểu các hiện tượng tiếp giáp bề mặt của bánh mì – và cũng như công trình trước, họ tìm thấy những cơ chế khác nhau. “Bánh mì có nhiều cơ chế đa dạng, phong phú để ổn định các cấu trúc bọt”, ông nói.  Vermant cho rằng, nghiên cứu này không chỉ để tìm hiểu về bia và bánh mì, nó có thể giúp ông tìm ra những vật liệu mới. “Chúng tôi có thể bắt chước các hệ này và có thể tạo ra các bọt bằng việc sử dụng các nguyên tắc tương tự như bọt bia”, ông nói, vốn có thể hữu dụng để cho những ứng dụng trên phạm vi rộng từ chất cách điện dạng phun đến các bọt có chức năng bảo về mùa màng.  Anh Thư dịch  Nguồn: Studies explore fluids in pancakes, beer, and the kitchen sink          Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà đầu tư sẽ lời hay lỗ?      Cuối cùng thì phương án đối với 1.375 tỷ đồng trái phiếu “chuyển đổi” của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank hay VCB) cũng được ngã ngũ. Những người nắm giữ tài sản tài chính này được quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) của Vietcombank vào ngày 26/12/2007 sắp tới với giá bằng với mức giá đấu giá bình quân. Câu hỏi đặt ra lúc này là với phương án như vậy liệu các nhà đầu tư có đạt được mức sinh lợi như kỳ vọng?    Giá bao nhiêu thì hòa vốn?  Khi mua trái phiếu VCB, chắc chắn các nhà đầu tư mong muốn đạt được một suất sinh lợi cao, đương nhiên là cao hơn lãi suất tiết kiệm 12 tháng lúc đó vào khoảng 8% và cao hơn lãi suất một số loại trái phiếu thông thường cùng thời điểm ở mức trên dưới 10%. Nếu tạm tính 1% tháng (lãi đơn) thì kỳ vọng của những người sở hữu trái phiếu Vietcombank cũng là 12% một năm.  Tuy nhiên, trên thực tế lãi suất trúng thầu cuối cùng chỉ là 6% một năm. Tại sao lại như vậy? Thực ra, lãi suất trúng thầu thấp là do các nhà đầu tư kỳ vọng lợi ích có được từ quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu.  Để đạt được suất sinh lợi 12% thì mức giá thị trường phải cao hơn khoảng 12% so với giá cổ phiếu những người này được mua ở thời điểm IPO sắp tới. Đối với những người mua ở mức giá cao hơn mệnh giá 1,4 lần thì mức chênh lệch phải là 70% và 120% đối với những người mua ở mức giá 1,8 lần mệnh giá.  Nhìn chung đối với những người mua trái phiếu ngay từ ban đầu, nếu giá sau IPO tăng khoảng 15% so với giá trung bình sẽ có lợi với suất sinh lợi yêu cầu 12% một năm.  Kịch bản về giá khi IPO  Mức giá đấu giá khởi điểm đã được chốt là 100 nghìn đồng cho một cổ phiếu. Với giá này, tính cho 1,5 tỷ cổ phiếu thì giá trị thị trường của ngân hàng này sẽ là 150 nghìn tỷ đồng, cao hơn 80% tổng tài sản của VCB vào quý III/2007, một mức quá cao so với khả năng làm ra lợi nhuận cũng như mức bình quân chung của các ngân hàng trên thế giới.  Hơn thế, nhiều người cho rằng, với mức kỳ vọng hiện nay thì giá cổ phiếu của VCB tối thiểu cũng bằng giá cổ phiếu của ACB, tức là vào khoảng 170-180 nghìn đồng cho một cổ phiếu. Lúc này, giá trị thị trường của VCB sẽ vào khoảng 250 nghìn tỷ đồng, bằng 22% GDP của Việt Nam năm 2007.  Tuy nhiên, trên thực tế hiện tại không có nhiều nhà đầu tư dài hạn mà chủ yếu là những người kinh doanh chênh lệch giá ngắn hạn nên việc họ chỉ chấp nhận giá cao nếu sau đó giá thị trường lên và họ có thể hiện thực hóa lợi nhuận của mình. Ngược lại thì những người này sẽ gặp phải áp lực trả nợ rất lớn. Chính vì lý do này mà không phải là không có lý khi có người cho rằng mức giá chỉ vào khoảng 80 nghìn đồng. Ngay cả ở mức giá này đã là quá cao so với tiềm năng làm ra lợi nhuận của doanh nghiệp.  Nếu chỉ ở mức giá 100 nghìn đồng, thì những nhà đầu tư trong nước cần có số tiền lên đến 7.500 tỷ đồng, số tiền tương đương với khoảng 8-10 phiến giao dịch trong thời gian qua, để mua khoảng 4,5% cổ phần của VCB. Trong điều kiện hiện nay, khi mà các giới hạn về việc vay vốn kinh doanh chứng khoán và việc hút tiền vào quá nhiều của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua thì lượng tiền nêu trên có thể là quá lớn đối với công chúng.  Do vậy, nhìn vào những phản ứng của công chúng qua phản ảnh của báo chí và trao đổi của những người chơi chứng khoán thì khả năng có một mức giá cao hơn nhiều so với giá khởi điểm sẽ không lớn lắm.  Kịch bản về giá sau IPO  Thông thường, những đợt IPO trên thế giới, ngay sau thời điểm phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu, giá cổ phiếu thường tăng vào khoảng 15%. Câu chuyện này cũng đã xảy ra đối với việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Công thương Trung Quốc.  Sở dĩ có hiện tượng trên xảy ra đối với các đợt IPO trên thế giới là do giá được quyết định không phải do đấu giá như cách mà Bảo Việt làm vừa qua mà thường là theo cách bảo lãnh phát hành chắc chắn. Hay nói cách khác là doanh nghiệp phát hành cổ phiếu bán đứt cho ngân hàng bảo lãnh phát hành, sau đó ngân hàng này mới bán ra công chúng.  Trong hầu hết các trường hợp, doanh nghiệp phát hành cổ phiếu lần đầu muốn rằng giá cổ phiếu của họ sau khi phát hành gia tăng. Việc định mức giá thấp hơn giá thị trường một chút là vì lý do trên. Mặt khác, cách và các doanh nghiệp thường làm là cách VCB đã định làm là chọn nhà đầu tư chiến lược trước khi IPO. Với việc có giá thấp hơn kỳ vọng và có chiến lược rõ ràng đã tạo ra hoạt động giao dịch sôi động ngay sau khi IPO.  Trong trường hợp cụ thể của VCB tới đây, khả năng có một mức giá gia tăng sau IPO sẽ không cao. Trên thực tế, trong mấy tháng qua, giá của cổ phiếu Bảo Việt không có sự thay đổi nhiều so với giá đấu giá thành công vì giá được khớp đã theo kỳ vọng của công chúng và việc không biết ai là nhà đầu tư chiến lược chính là sự bất định tác động không tốt đến giá cổ phiếu.   Nhà đầu tư sẽ như thế nào?  Ở trường hợp VCB, nếu sau khi IPO giá tăng khoảng 15% thì những người mua trái phiếu trực tiếp sẽ có được suất sinh lợi 13% một năm. Đây là một mức sinh lợi chấp nhận được đối với khoản đầu tư nếu trên.  Trong trường hợp giá tăng ít, không tăng hoặc giảm thì suất sinh lợi sẽ thấp hơn so với kỳ vọng. Lúc này những người nắm giữ trái phiếu sẽ bị thiệt so với kỳ vọng của mình. Riêng đối với những người mua ở mức giá 1,4 hay 1,8 lần mệnh giá thì tổn thất có lẽ là điều khó tránh khỏi.  Tóm lại, kết quả như thế nào thì phải sau ngày 26/12 mới có thể biết được. Tuy nhiên, với những xu hướng đang xảy ra trên thị trường, thì khả năng không có được mức sinh lợi như kỳ vọng đối với những người sở hữu trái phiếu “chuyển đổi” của Vietcombank rất dễ xảy ra.  Thảo Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà hát Hy Lạp cổ đại đang dần hồi sinh      Sau hàng thiên niên kỷ bị chôn vùi dưới lòng đất, các di tích cổ của đất nước này đang trở thành trung tâm của đời sống cộng đồng.      Một thành viên trong nhóm của Giáo sư Lambrinoudakis cho phóng viên xem bức ảnh người nông dân Christos Zafiris, chủ cũ của khu đất, chính tại nơi phát hiện ra Nhà hát Epidavros Nhỏ. Ảnh: Helena Smith / The Guardian  Nhà hát Epidavros Nhỏ đã nằm dưới lòng đất trong suốt gần hai thiên niên kỷ. Nơi đây, những chiếc ghế được chạm khắc xếp tầng thành hình bán nguyệt, chìm vào thế giới của rễ cây, ở đây là rễ khu rừng ô liu thuộc sở hữu của Christos Zafiris, một nông dân địa phương. “Nếu con lợn của ông ấy không tình cờ bới trúng đất khu vực này, chúng ta có thể sẽ mãi mãi không bao giờ biết đến sự tồn tại của nó”, giáo sư Vassilis Lambrinoudakis cho biết. “Cho đến trước khi những viên đá đầu tiên xuất hiện vào năm 1970, nhà hát vẫn là một bí mật được chôn vùi dưới lòng đất trong suốt 18 thế kỷ”.  Là một nhà khảo cổ học nổi tiếng tại Đại học Athens, giáo sư Vassilis Lambrinoudakis đã dành hơn bốn thập kỷ khai quật khu vực này nhằm đảm bảo mình không lãng phí bất kỳ cơ hội nào. Cuộc khai quật đã không khiến ông thất vọng. Nhóm khai quật đã phát hiện ra các bản khắc trên sườn một bán đảo nhìn ra biển cả, chúng giúp làm rõ lịch sử của những người đã vận hành nhà hát này. Bên cạnh đó, vết tích của những giai đoạn xây dựng, bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, đã làm sáng tỏ thêm bức tranh về thành bang Epidavros – một viên ngọc kiến trúc cổ đại.  Sau một số cuộc khai quật và những nỗ lực trùng tu trong suốt nhiều năm, Nhà hát Epidaurus Nhỏ với khoảng 800 chỗ ngồi ngày nay là địa điểm tổ chức lễ hội thường niên vào tháng Bảy với các buổi biểu diễn âm nhạc, khiêu vũ và kịch. Nó có phần khiêm tốn hơn so với nhà hát “chị em” cách đấy 10 dặm, cách Athens khoảng 95 dặm về phía Tây Nam – có niên đại ngắn hơn nhưng danh tiếng lại vượt xa. Với hơn 12.000 chỗ ngồi, nhà hát cổ đại Epidavros được đánh giá là nhà hát có âm thanh và giá trị thẩm mỹ tốt nhất của Hy Lạp.  Dù vậy, Nhà hát Epidavros Nhỏ vẫn “nằm trong số 10 phát hiện hàng đầu trong thế kỷ 20 của chúng tôi,” Lambrinoudakis nhận định. “Hơn bất kỳ tàn tích nào khác của quá khứ, các nhà hát cổ kính thủ thỉ với chúng tôi. Chúng chứa đựng một thông điệp về cuộc sống mà xã hội hiện đại luôn khát khao được chia sẻ. Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp chúng tồn tại”.    Các cuộc khai quật tại Nhà hát Epidavros Nhỏ. Ảnh: Vassilis Lambrinoudakis  Xoay sở trong khó khăn  Ở một đất nước giàu văn hóa như Hy Lạp, các đấu trường cổ đại, cũng như những cổ vật khác, trở nên hoang phế và mục nát. Ngân sách eo hẹp, bộ máy hành chính cồng kềnh và cái nhìn khắt khe của công chúng đều được cho là nguyên nhân khiến các di tích chìm vào quên lãng và tàn phá theo thời gian. Giờ đây, chính quyền đang nỗ lực hồi sinh những di tích này nhờ sự tài trợ của các tổ chức tư nhân và các quỹ của EU.  Ở phía nam Nhà hát Epidavros Nhỏ, công việc trùng tu nhà hát cổ Sparta với 17.000 chỗ ngồi đã được khởi động vào năm ngoái. Ở Larissa, việc xây dựng lại nhà hát cổ ngoài trời lớn nhất miền trung Hy Lạp đang trong quá trình hoàn thành. Xuyên suốt quá trình khai quật, các nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra hàng nghìn bản khắc và hàng trăm tác phẩm điêu khắc.  Xa hơn về phía bắc, ở Epirus, một trong những khu vực nghèo nhất của châu Âu, chính quyền đang có kế hoạch biến năm nhà hát Hy Lạp cổ đại trở thành trung tâm của con đường văn hóa dài 214 dặm với 2.500 năm lịch sử. EU sẽ tài trợ 80% trong tổng số 24 triệu euro kinh phí dự kiến của dự án. “Thái độ dành cho những nhà hát cổ đã thay đổi”, Stavros Benos, nguyên Bộ trưởng Bộ văn hóa và là người hậu thuẫn cho Diazoma – một tổ chức phi chính phủ được thành lập nhằm thúc đẩy quá trình tôn tạo các di tích, cho biết. “Trong những năm gần đây, đã có khoảng 40 nhà hát được khai quật và tu sửa. Chúng như được thổi vào một luồng sinh khí tươi mới.”  Benos từ lâu đã tiến hành vận động mọi người không xem các di tích cổ đại là hiện vật đơn thuần chỉ nằm trong bảo tàng, “hay cổ vật chết”, mà là “sinh vật sống” nên được tích hợp vào cuộc sống hằng ngày. Ông tin rằng nếu được đặt ở trung tâm của những con đường di sản văn hóa và công viên khảo cổ, các nhà hát sẽ giúp nâng tầm văn hóa của Hy Lạp đồng thời cải thiện tình hình du lịch. Tổ chức phi chính phủ này đã lập bản đồ 140 nhà hát, đấu trường cổ đại trên khắp Hy Lạp; 25 đang hoạt động, tổ chức các buổi biểu diễn và các sự kiện khác; 20 nhà hát, đấu trường khác đang được cải tạo. Dù thành lập như vào năm 2008 – một năm trước khi bắt đầu cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng của Hy Lạp, nhưng Diazoma vẫn hoạt động nhờ vào nguồn kinh phí hỗ trợ của tư nhân và những khoản tiền quyên góp. “Nhà hát có tính độc nhất”, Benos, người được chính phủ bổ nhiệm vào năm ngoái để giám sát quá trình khôi phục hòn đảo bị nạn cháy rừng tàn phá, nói. “Từ thời cổ đại, chúng là những di tích duy nhất có cùng mục đích sử dụng. Nhờ nét hài hòa, vẻ đẹp kiến ​​trúc và mối quan hệ của chúng với môi trường tự nhiên, con người dành chúng một niềm yêu thích đặc biệt. Đó là lý do tại sao chúng mang tính biểu tượng như vậy”.  Nhà hát Epidavros Nhỏ là một phần làm nên sự phong phú về mặt khảo cổ học của đất nước. Nó là một trong sáu công trình dùng để biểu diễn nghệ thuật hoặc các sự kiện thể thao cổ ở Argolida, phía đông Peloponnese. Trong số ba nhà hát vẫn còn được sử dụng, nhà hát Argos lộng lẫy với 20.000 chỗ ngồi là nhà hát lớn nhất.  Nhà hát Argos cổ đại tồn tại từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên đã chính thức mở cửa cho công chúng sau nhiều năm trùng tu. Chính quyền đã tổ chức các vở kịch và những buổi biểu diễn đa dạng tại địa điểm này, khán giả sẽ ngồi ở những hàng ghế bên dưới gần sân khấu hơn – bởi những hàng ghế này được bảo quản tốt nhờ được bao phủ bởi lớp đất trong nhiều thế kỷ. Nếu tính cả những hàng ghế đã bị hư hại thì nhà hát hoàn chỉnh có 89 hàng ghế.  Dù vậy, “khi mở cửa cho một di tích cổ hoạt động, sẽ có những lo lắng thường trực”, Alcestis Papadimitriou, quan chức Bộ văn hóa, người đứng đầu bộ phận cổ vật của khu vực, cho biết. “Bạn lo lắng cho sự an toàn của người dân và bạn lo lắng về việc di tích có thể bị hư hại.” Nhà khảo cổ học được đào tạo tại Đức này cho rằng không nhất thiết phải đưa cổ vật trở lại đời sống hiện đại. Thay vào đó, chúng ở đó để buộc người xem “nhớ về lịch sử, gợi nhắc về quá khứ”. Tuy nhiên, vào những đêm hè nóng nực, cô cũng thừa nhận rằng không có gì tuyệt vời hơn khi được ngồi thưởng thức tác phẩm nghệ thuật trong một nhà hát Hy Lạp cổ đại. “Khi ánh đèn vụt tắt, bạn quên đi cái nóng ngột ngạt và khó chịu, như thể bạn đang quay ngược thời gian,” cô bày tỏ nỗi xúc động của mình. “Bạn đang ở đó, ngồi ở nơi mà người xưa đã ngồi, và dường như chẳng còn điều gì kỳ diệu hơn.”    Nhà hát cổ đại Epidavros với sức chứa 12.000 người. Ảnh: Evi Fylaktou | Athens and Epidaurus Festival  Vậy Nhà hát Epidavros Nhỏ thì sao? Có lẽ phải rất lâu nữa chúng ta mới được thưởng thức các tuyệt phẩm tại nơi đây. Cần phải tái tạo thêm hai tầng nữa, cùng cố các bậc đá vôi và phục hồi những bức tường chắn hai bên nhà hát. Giáo sư Lambrinoudakis không biết nhóm của ông sẽ cần bao nhiêu thời gian. Những gì ông biết là sau quãng thời dài bị chôn vùi dưới lòng đất, khu vực này vẫn còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn. Điều đó chẳng có gì đáng lo ngại, ông mỉm cười, “thêm một vài năm nghiên cứu và làm việc nữa chẳng là gì so với 24 thế kỷ mà nhà hát này đã tồn tại, trong một góc khuất của Hy Lạp cổ đại.”  Hoàng Nhi dịch  Nguồn: ‘There is nothing more magical’: resurrected theatre brings ancient Greece to life    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khảo cổ học Chile nỗ lực cứu các xác ướp cổ xưa khỏi biến đổi khí hậu      Nghĩa trang sa mạc nơi người Chinchorro cổ đại trang trí và chôn cất những đã khuất hiện đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới      Các xác ướp của Chinchorro đang bị hư hại bởi tác động của thời tiết khắc nghiệt – do khủng hoảng khí hậu gây ra. Ảnh: Panther Media GmbH / Alamy  Jannina Campos đi bộ lên sườn đồi đầy cát ở Arica, một thành phố cảng toạ lạc ở rìa sa mạc Atacama, nơi khô hạn nhất hành tinh. Hàng chục điểm đánh dấu màu cam được đặt rải rác khắp con dốc. “Mỗi khi một thi thể xuất hiện, chúng tôi cắm một lá cờ, và chúng tôi lại chôn cất nó”, nhà khảo cổ học Campos cho biết. Chúng đã được bảo tồn ở mảnh đất này trong 7.000 năm và chỉ được phát hiện gần đây do gió mạnh bất thường và lượng mưa tăng lên.  Nghĩa trang rộng lớn này là một phần của Chinchorro – một nền văn hoá cổ đại của những người thợ săn và đánh cá, những người đã cẩn thận ướp xác khi người thân của họ lìa đời. Sau khi lột da và nội tạng của người thân, họ quấn bộ xương trong một hỗn hợp phức tạp gồm lau sậy, da sư tử biẻn, đất sét, len alcapa và tóc giả bện bằng tóc người. Họ tin rằng khí hậu sa mạc khô cằn sẽ giúp bảo quản vĩnh viễn thi thể.  Nhưng những ngôi mộ này – nằm rải rác quanh vùng cực Bắc của Chile, đang bị xáo trộn bởi khủng hoảng khí hậu, và hài cốt thì bị phơi nhiễm với những yếu tố khác nhau. Điều này khiến các nhà khảo cổ với nguồn lực tài chính hạn chế rơi vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan: cố gắng giải cứu mọi thứ có thể, hay đơn giản là lấp lại các thi thể bị lộ ra và tập trung vào việc bảo tồn, nghiên cứu các xáp ước đã được khai quật.  “Các bảo tàng đều phải xoay sở với các xác ướp”, Bernardo Arriaza, một chuyên gia hàng đầu về Chinchorro tại Đại học Tarapacá ở Arica , cho biết.  Độ ẩm ở Atacama đang gia tăng, trực tiếp làm hỏng các xác ướp trong bộ sưu tập. Một số lên nấm mốc, một số bốc mùi hoặc bị côn trùng gặm nhấm. “Việc người xưa pha trộn hỗn hợp một cách cảm tính khiến họ khó đạt được điều kiện bảo quản chính xác”, ông nói thêm, “không có giải pháp kỳ diệu nào có thể cứu vãn”.  Tại một viện bảo tàng cách chân đồi một quãng ngắn, Campos chỉ về phía hàng chục thi thể Chinchorro bên dưới lớp sàn kính, cát xung quanh lấm tấm những mảnh vỡ màu trắng. “Đó là xương hoà thành cát bụi,” cô nói.  Một tia hy vọng đã đến vào tháng 7 năm ngoái, khi xác ướp Chinchorro được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO – sau hành trình nộp đơn kéo dài 20 năm.  Nhiều người dự đoán rằng việc các xác ướp ngày càng được quan tâm – và sự kiện khởi công xây dựng một bảo tàng mới trị giá 14 triệu bảng Anh (19 triệu đô-la) gần Arica vào năm nay – có thể giúp cản trở sự biến mất của cái mà Arriaza gọi là “kỳ quan thế giới tiền sử”.  Các học giả cho rằng xác ướp Chinchorro là minh chứng cổ xưa nhất về việc ướp xác có chủ ý có thể diễn ra ở bất kỳ đâu trên thế giới. Chúng có niên đại từ năm 5.000 trước Công nguyên – hơn hai thiên niên kỷ trước khi các pharaoh Ai Cập lần đầu tiên được ướp xác và chôn cất trong các kim tự tháp.  Chúng cũng hàm chứa một giá trị thẩm mỹ nổi bật – và một âm hưởng nhân văn sâu sắc.  Những cư dân ven biển bán du mục không đúc đồ gốm cũng như không xây dựng bất kỳ tượng đài nào. Thay vào đó, “cơ thể trở thành một loại vải bạt để họ thể hiện cảm xúc của mình,” Arriaza nói. “Người Chinchorro biến những người chết thành những tác phẩm nghệ thuật thời tiền Tây Ban Nha đích thực.”  Vì sao lại như vậy? Có thể giải thích điều này thông qua một manh mối nằm ở Caleta Camarones, cách Arica 60 dặm về phía Nam.  Nằm ở đầu một lưu vực sông xanh tươi, phì nhiêu khoét sâu qua sa mạc cằn cỗi, nơi đây là một ốc đảo tựa như vườn địa đàng – với nguồn nước ngọt ngào và là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật – có lẽ đã thu hút những người Chinchorro đầu tiên đến định cư ở đây. Nhưng nó tiềm ẩn những mối nguy hiểm, Arriaza nói.  Sông Camarones mang 1000 microgam asen /lít nước: gấp hàng trăm lần giới hạn an toàn của con người. Phân tích các mẫu tóc cho thấy, với mỗi lần uống nước, người Chinchorro đã vô tình đầu độc chính mình – và hậu quả là tỷ lệ sẩy thai và tử vong ở trẻ sơ sinh rất cao.  Những xác ướp Chinchorro cổ xưa nhất bắt nguồn từ đây: những em bé nhỏ xíu và những bào thai chết lưu, hình dạng mỏng manh của chúng được nâng đỡ bằng gậy và được trang trí bởi những chiếc mặt nạ mangan đen được chạm khắc tỉ mỉ.    Các xác ướp, bao gồm một trẻ sơ sinh, và các mảnh khảo cổ tại bảo tàng San Miguel de Azapa ở miền bắc Chile. Ảnh: Chilean Ministry of Cultures HANDOUT/EPA  Hơn 3.500 năm trôi qua, quá trình ướp xác Chinchorro đã được tiến hành sang cả người lớn và có sự đổi khác – xác chết có màu đất son được nhồi bằng lông, quấn bằng da bồ nông. Phong tục chôn cất của người Chinchorro rất độc đáo. Trong khi người Ai Cập cho rằng chỉ những vị pharaoh và những tên tuổi kiệt xuất mới xứng đáng được ướp xác, thì người Chinchorro lại cho phép tất cả mọi người trong cộng đồng, bất kể tuổi tác hay địa vị, đều có thể thực hiện nghi thức thiêng liêng này một cách bình đẳng.  Nỗ lực vô vọng?  Ngày nay, cư dân của Caleta Camarones cảm thấy bản thân có mối liên kết bền chặt với cộng đồng Chinchorro – ông Jorge Ardiles, một thành viên của nhóm các gia đình đánh cá đã định cư ở đây 30 năm trước cho biết. “Đó không phải là một liên kết về mặt di truyền, mà là một liên kết tự nhiên”, ông lý giải. “Họ là những ngư dân; chúng tôi cũng vậy. ”  Ardiles lái chiếc xe tải nát bươm của mình dọc theo bờ biển và chỉ ra những hố đào sâu với hàng đống vỏ nhuyễn thể bỏ đi chất đống. “Ngay đó là nơi họ tìm thấy những xác ướp lâu đời nhất trên thế giới,” ông nói một cách tự hào. “Toàn bộ sườn đồi này đầy xác người.”  Cách lối đi vài mét, nằm trên những lớp lau sậy cổ xưa, một số bộ xương nhô ra khỏi tấm màn, bị mưa gió vùi dập và giờ đây đang nằm dưới sự lăm le của những kẻ trộm mộ và các yếu tố môi trường. “Các nhà chức trách không quan tâm,” Ardiles than thở. “Chúng tôi là những người đang canh giữ khu vực này.”  Người đánh cá lập luận rằng cần xây dựng một bảo tàng trong khu vực nhằm trưng bày các đồ tạo tác Chinchorro mà người dân địa phương tìm thấy: đầu mũi tên bằng thạch anh, lưỡi câu cá, lược làm từ gai xương rồng.  Nhưng những nỗ lực nhằm hiện thực hoá các sáng kiến du lịch quy mô nhỏ đã bị đình trệ, một phần vì cộng đồng này đang rơi vào một cuộc tranh chấp đất đai kéo dài hàng thập kỷ.  Ngài thị trưởng Cristian Zavala chia sẻ rằng du khách thường thất vọng khi không được tận mục sở thị những xác chết nguyên sơ trong các cung điện kiểu Inca. “Nếu bạn đến Machu Picchu, hiển nhiên bạn sẽ được nhìn ngắm các xác ướp,” ông nói. “Nhưng ở đây, lịch sử nằm dưới mặt đất.”  Zavala bày tỏ hy vọng rằng sự tham gia của UNESCO, và việc Chile đang xây dựng lại chính sách, có thể buộc chính phủ phải bảo vệ và quảng bá tốt hơn những xác ướp này.  ​​“Hãy nhìn xem có bao nhiêu thi thể đang trồi lên khỏi mặt đất,” ngài thị trưởng nói thêm, chỉ tay về phía con dốc đầy xương cót. “Nếu chúng ta không quan tâm đến Chinchorro, chúng sẽ biến mất vì biến đổi khí hậu.”  Những cư dân trong vùng cũng đang hứng chịu các tác động của biến động sinh thái. Ardiles cảnh báo, đại dương gần đó đang cạn kiệt cá tôm, ông cho rằng việc các tàu cá đang đánh bắt quá mức và nước biển ấm lên là căn nguyên của vấn đề.  Thế hệ trẻ đang dần bỏ nghề đánh bắt cá và tham gia vào ngành công nghiệp khai thác của Atacama – tuy nhiên bản thân ngành này cũng đang suy tàn vì nó làm cạn kiệt nguồn nước và khiến sa mạc ô nhiễm.  “Các ngư dân lần lượt bỏ nghề”, Ardiles phản ánh. “Chúng tôi sẽ biến mất, hệt như những gì đang diễn ra với Chinchorro.”  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  Chile’s archaeologists fight to save the world’s oldest mummies from climate change  Are the world’s oldest mummies being damaged by a changing climate?    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khảo cổ phát hiện dấu vết của con tàu đắm từ thế kỷ 17      Các nhà nghiên cứu cho biết họ đã tìm thấy những dấu vết của con tàu Sáp Ong bí ẩn ở ngoài khơi vùng biển Oregon.     Các nhà khảo cổ học, tình nguyện viên, đội cứu hộ đã thực hiện công việc thu hồi khẩn cấp những khúc gỗ từ con tàu đắm. Chúng được cho là thuộc về Santo Cristo de Burgos, một con tàu chở hàng của Tây Ban Nha đã biến mất trên đường từ Philippines đến Mexico vào năm 1693. Ảnh: Balazs Gardi / National Geographic  Vào tháng 7 năm 1693, Santo Cristo de Burgos, một con tàu lớn của Tây Ban Nha – chất đầy những sản vật quý giá như lụa, đồ sứ và sáp ong – khởi hành từ Philippines. Con tàu dự định sẽ đến Acapulco, Mexico, nhưng rồi nó chệch hướng và biến mất.  Suốt 300 năm qua, dọc theo bờ biển mà ngày nay là phía Bắc Oregon, số phận con tàu trở thành một bí ẩn lớn không lời giải đáp. Những mảnh sành sứ có màu trắng và màu xanh, sáp ong mang dấu hiệu Tây Ban Nha từ lâu đã dạt vào bờ biển, như thể dẫn dụ những người đi biển và các nhà nghiên cứu rằng có một con tàu đắm ở đâu đây.  Vào tháng Sáu năm nay, một nhóm các nhà khảo cổ học hàng hải đã cật lực thu hồi hơn một chục khúc gỗ từ các hang động dọc bờ biển mà các nhà nghiên cứu cho rằng đây gần như chắc chắn là mảnh vỡ của con tàu đã biến mất. Các nhà nghiên cứu cho biết đây là lần đầu tiên tàn tích của một con tàu lớn ở Manila được tìm thấy ở Bắc Mỹ. National Geographic đã đăng tải về phát hiện mới này vào ngày 16 tháng 6.  “Con tàu được đóng vào thời điểm nền kinh tế toàn cầu đang đi lên”, Jim P. Delgado, phó chủ tịch cấp cao của SEARCH Inc. , một công ty quản lý tài nguyên văn hóa phụ trách nhiệm vụ điều phối công việc thu hồi khúc gỗ cho biết. “Đó là sự khởi đầu của thế giới hiện đại mà chúng ta đang sống ngày nay.”  Các nhà khảo cổ học nhận định rằng đây là một phát hiện đáng chú ý. Sự va đập của sóng và sự thay đổi thủy triều bên trong một hang động biển không phải là điều kiện lý tưởng để bảo quản gỗ. Nhưng thật tình cờ, nước ngoài khơi bờ biển Oregon lại ít muối hơn các vùng khác của Thái Bình Dương, và gỗ bị chôn vùi dưới một lớp trầm tích từ một trận sóng thần tấn công bờ biển sau vụ động đất vào năm 1700. Những điều kiện này khiến gỗ vẫn giữ được hình dạng như ban đầu.  Những nỗ lực phục hồi đầu tiên bắt đầu vào năm 2006, khi Scott Williams, một nhà khảo cổ học thuộc Bộ Giao thông Vận tải bang Washington, tình cờ nghe được câu chuyện về con tàu bí ẩn (nó được gọi là tàu Sáp Ong vì chưa xác định được cụ thể đây là tàu nào) từ hai người bạn của mình. Sự hứng thú của ông Williams dành cho con tàu đã khiến ông và các nhà nghiên cứu khác thành lập Hiệp hội Khảo cổ Hàng hải. Nhóm đã tiến hành nghiên cứu các mảnh vỡ sành sứ và những khối sáp ong mà người dân thu được từ bờ biển trong suốt nhiều thập kỷ, họ xác định rằng đây là sứ Trung Hoa và sáp ong có đánh dấu Tây Ban Nha. Nhóm đưa ra kết luận, con tàu bị đắm này chính là một trong hai con tàu ở Manila bị mất tích: Santo Cristo de Burgos, bị mất tích vào năm 1693, hay San Francisco Xavier, biến mất vào năm 1705.  Các mảnh sứ Trung Hoa từ thời Khang Hy (1661-1722) dạt vào bờ biển. Ảnh: Balazs Gardi / National Geographic  Ban đầu, các nhà khảo cổ tin rằng đó chính là San Francisco Xavier. Vì sao không phải là Santo Cristo de Burgos? Họ lập luận rằng vào năm 1700, một trận động đất mạnh 9,0 độ Richter xảy ra ở Bờ Tây, gây ra một trận sóng thần khổng lồ có thể phá hủy bất cứ thứ gì trên đường đi của nó – bao gồm bất kỳ dấu vết nào còn sót lại của Santo Cristo de Burgos.  Tuy nhiên, một nghiên cứu địa chất sau đó đã xác định rằng khu vực họ đang tìm kiếm, nơi sông Nehalem đổ ra Thái Bình Dương, nằm trong lớp trầm tích do sóng thần để lại, có nghĩa là con tàu phải ở đó từ trước khi sóng thần ập đến. San Francisco Xavier đã bị loại trừ.  Nhưng có một vấn đề ở đây: Nhiều ghi chép cho rằng Santo Cristo de Burgos bốc cháy giữa đại dương. Hiệp hội Khảo cổ học Hàng hải đã quyên góp tiền để tiến hành tìm kiếm tài liệu trong các kho lưu trữ hải quân của Tây Ban Nha, kết quả cho thấy con tàu đã biến mất không dấu vết.  Điều này khơi gợi cho các nhà nghiên cứu một linh cảm rằng các mảnh vỡ của con tàu vẫn còn ở đâu đó ngoài khơi. Kể từ năm 2012, cả nhóm đã thuê người lặn xuống, sử dụng thiết bị dò tìm sonar (hệ thống định vị vật dưới nước bằng âm hoặc siêu âm) và thiết bị dò tìm dưới nước với mong muốn tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào của xác tàu.  Chiến dịch tìm kiếm  Bước ngoặt đã đến khi một ngư dân trong vùng tên là Craig Andes xuất hiện. Con tàu đắm Sáp Ong này đã truyền cảm hứng để đạo diễn Steven Spielberg thực hiện “The Goonies” (1985), bộ phim kể về một đám trẻ tìm kiếm kho báu trong một con tàu cướp biển thế kỷ 17 ở bờ biển Oregon. Đó là một trong những bộ phim yêu thích của ông Andes, vì vậy khi chuyển đến Oregon, ông đã bị ám ảnh bởi ý tưởng tìm kho báu giống như những đứa trẻ trong phim. Vì lẽ đó, ông Andes đã vô cùng thích thú khi biết có một xác tàu đắm ở quanh đây, ông quyết định sẽ tìm hiểu về nó.  Khi ông Andes, giờ đây đã 49 tuổi, biết rằng Hiệp hội Khảo cổ học Hàng hải đang tìm kiếm xác tàu, ông liền liên lạc với ông Williams và hai người bắt đầu trao đổi thông tin với nhau.  Vào cuối năm 2019, khi ông Andes đang đi bộ dọc theo bãi đá, bỗng có một thứ đập vào mắt ông: những thanh gỗ nhô ra khỏi mặt nước, mắc kẹt trong một hang động. Nó trông không giống như thân cây trôi dạt.  Quá phấn khích, ông Andes gọi điện cho ông Williams, nhưng ông Williams có vẻ nghi ngờ. “Tôi nói với anh ấy, ‘Nó không thể là một phần của con tàu đắm Sáp Ong; gỗ không bảo quản được quá 300 năm nếu nó trôi trong vùng có thuỷ triều,” ông Williams nhớ lại.  Nhưng ông Andes vẫn khăng khăng tin rằng suy đoán của mình là đúng. Hai người lấy một mảnh gỗ nhỏ và gửi đến phòng thí nghiệm để chấm dứt cuộc tranh luận. Phòng thí nghiệm xác định rằng gỗ này là loại gỗ cứng nhiệt đới từ châu Á hoặc Nam Mỹ – đây không phải là thân cây trôi dạt thông thường. Xác định niên đại bằng carbon phóng xạ cho thấy nó có thể đã gần 300 năm tuổi.  Cả nhóm vui mừng và ấp ủ một kế hoạch để thu hồi những khúc gỗ. Điều này sẽ không dễ dàng, vì gỗ bị mắc kẹt bên trong các hang động biển nguy hiểm thuộc Công viên Bang Oregon. Họ cần phải xin giấy phép để tiếp cận các hang động.  Hiệp hội Khảo cổ học Hàng hải đã mời ông Delgado và công ty của ông đến điều phối việc tìm kiếm. National Geographic Society sẽ tham gia tài trợ một phần cho dự án.  Sau hai năm lên kế hoạch – đại dịch coronavirus đã trì hoãn mọi thứ – khoảng hai chục người được bố trí rải rác dọc theo bờ biển vào lúc mặt trời mọc vào ngày 13 tháng 6, bên cạnh đó các nhà quản lý công viên và các cơ quan khác nhau cũng đến tham gia hỗ trợ chiến dịch. Nhóm nghiên cứu sẽ có khoảng 90 phút để hoàn thành nhiệm vụ đã được lên kế hoạch chi tiết – trước khi thủy triều dâng lên quá cao khiến họ khó tiếp cận hang động.  Đầu tiên, sẽ mất tới 30 phút để đi qua những tảng đá khổng lồ được phủ bởi lớp tảo bẹ trơn bóng, nhà khảo cổ học Stacy Scott, người đã giúp lên kế hoạch tìm kiếm, cho biết.  Một khi các thành viên trong nhóm đến được hang động, họ phải lưu ý không để sóng đánh bản thân đập vào đá. Sau đó, cả nhóm phải cẩn thận phân loại các khúc gỗ, khúc lớn nhất dài 7,5 feet và nặng hơn 300 pound. Cách duy nhất để lấy nó ra là quấn áo phao quanh nó thả trôi về phía mô tô nước – nơi có một đội lính cứu hỏa đang chờ, cả đội sau đó sẽ đặt nó lên một tấm ván để kéo vào bờ.  “Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra mảnh ghét còn thiếu”, bà Scott chia sẻ. “Tôi cảm thấy như mình đã tham gia vào một sự kiện quan trọng – sự kiện truyền cảm hứng cho một trong những bộ phim yêu thích thời thơ ấu của tôi.”    Nhà khảo cổ học hàng hải James Delgado (bên trái) và ông Craig Andes (bên phải) xem xét một trong những khúc gỗ được lấy ra từ hang động. Ảnh: Katie Frankowicz / KMUN  16 khúc gỗ, với nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau, đã được đưa đến Bảo tàng Hàng hải Sông Columbia ở Astoria, Ore. Các nhà khoa học sẽ làm khô chúng và áp dụng những phương pháp bảo quản phù hợp. Quá trình thí nghiệm sau đó sẽ giúp xác định được loại gỗ, và các nhà khảo cổ hy vọng các chuyên gia sẽ xác định được nơi những khúc gỗ này được khai thác.  Tất nhiên, cũng có thể những khúc gỗ này là một phần của con tàu đắm khác. Nhưng ông Williams nói rằng ông không nghi ngờ gì về việc ông và nhóm của mình đã đưa được những mảnh vỡ đầu tiên của xác tàu Sáp Ong huyền thoại ra ánh sáng. “Một khúc gỗ cứng từ vùng nhiệt đới châu Á từ 300 năm trước – với các cạnh vuông và lỗ hổng nhỏ – đã trôi dạt vào bờ biển”, ông nói. “Chúng tôi tin rằng đây là một phần của con tàu Sáp Ong.”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  Timbers From 17th-Century Shipwreck Recovered Off Oregon Coast  Legendary Spanish galleon shipwreck discovered on Oregon coast    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học Anh kêu gọi nới lỏng quy định về chỉnh sửa gene trên vật nuôi      Các nhà nghiên cứu, bác sĩ thú y và những người nông dân của nước Anh đã kêu gọi các vị bộ trưởng ‘giải phóng’ ngành khoa học chăn nuôi khỏi những rào cản pháp lý không cần thiết, tạo tiền đề để bắt đầu nới lỏng các quy tắc về chỉnh sửa gene. Điều này sẽ giúp tạo ra các giống vật nuôi mới có khả năng chống lại bệnh tật, nắng nóng và hạn hán.      Các nhà khoa học có thể chỉnh sửa gene lợn để chống lại một loại virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp đang tàn phá đàn gia súc trên toàn cầu. Ảnh: Alamy    Họ đã viết thư cho Bộ trưởng Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn George Eustice để bày tỏ lo ngại người không mấy quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ này vào mục đích tạo ra các giống lợn, bò và gia cầm mới. “Việc sử dụng sức mạnh của công nghệ chỉnh sửa gene để tạo ra các giống vật nuôi có khả năng chống lại bệnh tật, hạn hán và sóng nhiệt là điều vô cùng ý nghĩa”, giáo sư Bruce Whitelaw thuộc Viện Roslin thuộc Đại học Edinburgh cho biết.     Chúng ta có thể nhận thấy giá trị của việc chỉnh sửa gene trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc thông qua công trình của Viện Roslin và Đại học Hoàng gia London. Nghiên cứu này đã xác định được một gene có thể tạo ra khả năng kháng bệnh cúm. “Giờ thì chúng ta có thể nghĩ đến việc sử dụng công cụ chỉnh sửa gene để tạo ra những con giống có khả năng chống lại bệnh cúm gia cầm và cúm lợn, từ đó hạn chế sự bùng phát dịch bệnh ở các trang trại, giảm thiểu nguy cơ gây ra đại dịch ở người trong tương lai”, Whitelaw, một trong những người ký tên vào bức thư gửi đến Bộ trưởng, cho biết.     Những tiến bộ gần đây trong việc chỉnh sửa gene vật nuôi còn giúp tạo ra những con lợn có thể kháng virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRSV), căn bệnh đang gây ảnh hưởng đến những đàn lợn trên toàn cầu. “Nếu ứng dụng hợp lý theo cách này, công cụ chỉnh sửa gene sẽ giúp tiết kiệm hàng tỷ bảng Anh và ngăn chặn động vật mắc bệnh”.    Trước đó, để tạo ra các dòng thực vật hoặc động vật mới trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học sẽ chuyển toàn bộ hoặc một nhóm gene từ loài này sang loài khác – công việc này được gọi là biến đổi gene. EU đã đưa ra những quy định nghiêm ngặt về công nghệ này. Các kỹ thuật chỉnh sửa gene về sau thì chỉ bao gồm những thay đổi nhỏ đối với các gene hiện có ở cây trồng hoặc động vật, kỹ thuật này được xem là an toàn tương tự như các kỹ thuật nhân giống cây trồng truyền thống. Vào năm 2018, Tòa án Công lý châu Âu đã đưa ra phán quyết đầy tranh cãi khi cho rằng chỉnh sửa gene về cơ bản giống như biến đổi gene, và đều phải tuân theo các quy tắc chặt chẽ.      “Nghiên cứu về chỉnh sửa gene ở Anh đã bị ràng buộc bởi những rào cản không cần thiết và phi khoa học”, giáo sư Helen Sang thuộc Viện Roslin và cũng đồng lòng ký vào bức thư cho biết. “Điều này khiến chúng tôi tụt hậu so với các đồng nghiệp ở những nơi khác trên thế giới, chẳng hạn như Nhật Bản, Úc, Argentina, Brazil và Canada”.    Một báo cáo của Lực lượng biệt phái về Đổi mới, Tăng trưởng và Cải cách Quy định vào đầu năm nay đã khuyến cáo chính phủ cải cách quy định về chỉnh sửa gene của cây trồng, nhưng đồng thời phải thận trọng hơn khi sử dụng công cụ này trên vật nuôi.    Giáo sư Lord Trees, một chuyên gia về ký sinh trùng vaccine và cũng là một người ký tên trong bức thư, nhấn mạnh như vậy sẽ khiến Anh đánh mất một cơ hội lớn. “Anh có thế mạnh trong việc giải trình tự bộ gene. Việc kết hợp thế mạnh này với công tác bảo tồn giống quý hiếm và sự đa dạng di truyền sẽ mang lại những tiềm năng to lớn. Điều này góp phần giảm thiểu việc sử dụng thuốc chống vi trùng và diệt ký sinh trùng, từ đó hạn chế ảnh hưởng của tình trạng kháng kháng sinh cũng như vấn đề ô nhiễm môi trường với dư lượng thuốc”.    “Một số người không thích ý tưởng biến đổi gene động vật”, Whitelaw nói. “Nhưng thực chất chúng ta đã làm điều đó trong hàng nghìn năm qua, và thậm chí đã biến sói thành chihuahua – nhưng có vẻ như không ai bận tâm đến điều này”.□    Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/sep/26/gene-editing-would-allow-us-to-create-hardier-farm-breeds             Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học bối rối trước những thiên hà không vật chất tối      Một nhóm các nhà khoa học thông báo về một vụ va chạm vũ trụ có thể tạo ra hai thiên hà không chứa thành phần bí ẩn là vật chất tối, tuy nhiên cũng có những nhà khoa học khác nghi ngờ về điều này.        Các nhà thiên văn học cho rằng các thiên hà không thể hình thành mà không có lực đẩy của vật chất tối. Vì vậy sự tồn tại của những thiên hà không có thứ vật chất bí ẩn này, nhưng không có nguyên nhân rõ ràng, có thể là một phát hiện nổi bật. Trong một bài báo xuất bản trên Nature 1, các nhà thiên văn học cho biết họ có thể đã quan sát một hệ – gồm 11 thiên hà không chứa vật chất tối, có thể đã được tạo ra trong cùng một cuộc va chạm cổ xưa. Nhưng nhiều đồng nghiệp của họ thì lại cho rằng tuyên bố này mới chỉ là một giả thuyết.    Đây là một dạng hệ có thể được dùng để nghiên cứu về cách các thiên hà hình thành như thế nào và về bản chất của vật chất tối. “Nếu được chứng minh là đúng, đây chắc chắn là điều thú vị về sự hình thành của thiên hà. Tuy nhiên, vẫn chưa có ai xác quyết về điều này”, Chervin Laporte, một nhà thiên văn học tại trường đại học Barcelona ở Tây Ban Nha.    Phát hiện về trung tâm của hai thiên hà do Pieter van Dokkum tại trường đại học Yale ở New Haven, Connecticut, và cộng sự tìm ra vào năm 2018 và 2019. Các ngôi sao của hai thiên hà này dịch chuyển chậm đến mức không cần thiết dùng lực đẩy của vật chất tối để giải thích về quỹ đạo của chúng, do đó nhóm nghiên cứu kết luận là các thiên hà này không có vật chất tối. Phát hiện của họ gây tranh cãi bởi các thiên hà mang tên DF2 và DF4, dường như rất ổn định và khác biệt với những thiên hà vẫn được biết đến là không vật chất tối khác, vốn là thiên hà trẻ và có thời gian tồn tại ngắn, tạo ra trong những cánh tay của những thiên hà lớn hơn – vốn là thiên hà có chứa vật chất tối – đang bị một thiên hà lân cận tách ra. Việc cả DF2 và DF4 được hình thành như thế nào cũng vẫn là một bí ẩn.    Đường đi lộ chân tướng      Nhóm nghiên cứu của van Dokkum tại trường đại học Yale ở New Haven    Trong bài báo mới nhất trên Nature, nhóm nghiên cứu của van Dokkum không chỉ kết nối hai thiên hà bất thường này mà còn cho rằng các đặc tính của nó gắn bó mật thiết với quá trình hình thành của chúng thông qua một cuộc va chạm tốc độ cực lớn diễn ra vào tám tỉ năm trước, đã tạo ra nhiều cấu trúc khác nhau. “Lời giải thích này lý giải thêm rất nhiều điều nữa về các thiên hà này”, van Dokkum nói.    Nhóm nghiên cứu của ông đã đưa ra những kịch bản từ các mô phỏng được tạo ra để giải thích về mặt nguồn gốc các đặc điểm độc đáo của các va chạm quy mô lớn giữa các cụm thiên hà. Các nhà nghiên cứu đề xuất, khi hai thiên hà cổ đại va chạm nhau, vật chất tối của chúng và các ngôi sao có thể đã được chuyển đi; vật chất tối có thể không tương tác và các ngôi sao có thể cũng quá ở xa nhau để va chạm. Nhưng khi vật chất tối và các ngôi sao gia tốc, khí trong không gian giữa các ngôi sao ở hai thiên hà có thể va chạm, nén chặt và chuyển động chậm dần, dẫn đến một vệt vật chất mà sau đó hình thành các thiên hà mới không có vật chất tối.    Tiếp theo, nhóm nghiên cứu tìm kiếm nhiều thiên hà khác trong vệt vật chất giữa DF2 và DF4. Họ nhận diện được khoảng ba đến bảy ứng viên mới cho những thiên hà không vật chất tối và thật kỳ lạ có cả những thiên hà mờ nhạt ở phần đuôi, có thể có vật chất tối và các ngôi sao còn lại từ hai cổ thiên hà. “Nó đang nhìn chằm chằm vào mặt anh để anh biết mình đang tìm kiếm gì”, van Dokkum mô tả.    Nếu bức tranh này được chứng minh là đúng, có thể nó sẽ giúp các nhà thiên văn học hiểu về cách vật chất tối hành xử và để nghiên cứu về các điều kiện để các thiên hà có thể hình thành. Như va chạm của dải Ngân hà có thể hữu dụng như “một phòng thí nghiệm mới” để hiểu liệu vật chất tối có tương tác với với chính nó hay không, theo nhận xét của Go Ogiya, một nhà thiên văn học ở đại học Chiết Giang, Hàng Châu, Trung Quốc.    Những câu hỏi mở    Mô hình của van Dokkum đã miêu tả chỉ một số cách mà các thiên hà này có thể được tạo ra, Priyamvada Natarajan, một nhà vật lý thiên văn tại Yale nhưng không tham gia nhóm của van Dokkum, nhận xét. Nhưng đây là ý tưởng thú vị và về cơ bản là đem lại những dự đoán có thể kiểm chứng.    Các đo đạc về những khoảng cách chính xác và những vận tốc của các thiên hà ứng viên có thể chứng minh chúng là một phần của cùng một vệt vật chất và không phải ngẫu nhiên cùng thuộc về một hướng, Michelle Collins, một nhà thiên văn học tại trường đại học Surrey ở Guildford, Anh, lưu ý. “Với tôi, việc liệu đây là một vệt vật chất có thực hay không là một câu hỏi mở cực lớn”.    Các nhà thiên văn học cần đo đạc khối lượng của các thiên hà “ma” tại điểm cuối của vệt vật chất này – các cổ thiên hà tiềm năng – để thử xem liệu chúng có chứa nhiều vật chất tối như mô hình dự đoán hay không, Laporte cho biết thêm.    Những người khác nêu câu hỏi là liệu có cần thiết có giải thích khác không. Ignacio Trujillo, một nhà thiên văn học tại Viện Vật lý thiên văn tại quần đảo Canary ở La Laguna, Tây Ban Nha Spain và dẫn dắt một nhóm nghiên cứu đã đề xuất là DF2 và DF4 gần hơn trái đất hơn đo đạc do van Dokkum đề xuất, và do đó chứa nhiều vật chất tối hơn đề xuất ban đầu.    Các nhà thiên văn học cần thấy một mô phỏng thực tế chứng tỏ kịch bản của nhóm nghiên cứu của van Dokkum miêu tả là hợp lý, Mireia Montes – một nhà thiên văn học tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian ở Baltimore, Maryland – nói. “Cho đến hiện tại thì có rất nhiều giả thuyết nhưng vẫn chưa có bất kỳ mô phỏng nào ủng hộ nó,” cô nói.    Thanh Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-01410-x  https://www.cbc.ca/news/science/galaxy-no-dark-matter-1.4595345  ————————————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-04665-6    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học Chile lên kế hoạch làm sạch các mỏ bằng vi khuẩn “ăn kim loại”      Các vi sinh vật phàm ăn có năng lực sống sót trong những điều kiện khắc nghiệp có thể “ăn” một cái đinh trong vòng ba ngày.  Ở Chile, một nhà khoa học đang thử nghiệm một loại vi khuẩn “ăn kim loại” mà chị hi vọng có thể giúp làm sạch công việc khai thác mỏ gây ô nhiễm cao mà quốc gia này đang tiến hành.      Trong phòng thí nghiệm ở Antofagasta, một thành phố công nghiệp nhỏ cách Santiago 1.100 km về phía bắc, nhà công nghệ sinh học 33 tuổi Nadac Reales đã tiến hành các thử nghiệm với extremophiles – một sinh vật có thể sống trong những điều kiện môi trường cực đoan.  Reales lên ý tưởng này từ khi vẫn còn ở trường đại học, khi cô thực hiện các thí nghiệm lên một nhà máy khai mỏ bằng việc sử dụng các vi sinh vật để cải thiện việc khai thác đồng. “Tôi nhận ra là có quá nhiều điều cần thiết trong ngành công nghiệp khai mỏ, ví dụ những gì diễn ra với các chất thải kim loại”, cô nói với AFP.  Một số kim loại có thể được tái chế trong những lò nung chảy nhưng những thiết bị khác như xe cẩu trục tự hành HGV có thể bốc tới 50 tấn đá có có thể xoay xở mà không phát thải ô nhiễm kim loại vào môi trường ở sa mạc Atacama, vùng đất của ngành công nghiệp khai khoáng của Chile.  Chile là nhà chế tạo đồng lớn nhất thế giới và ngành công nghiệp này cũng đóng góp tới 15% GDP của quốc gia này. Kết quả là rất nhiều chất thải từ quá trình khai mỏ đã làm ô nhiễm môi trường.  Trong nghiên cứu của mình, Reales, hiện đang điều hành công ty của mình mang tên Rudanac Biotec, tập trung vào một loại vi khuẩn có khả năng ô xy hóa sắt là Leptospirillum. Cô tách chiết vi khuẩn này từ các mạch nước ở Tatio, nơi cao 4.200 mét so với mực nước biển và cách Antofagasta 350 km. Loài vi khuẩn này “sống trong môi trường a xít mà không hề bị ảnh hưởng trước nồng độ tương đối cao của phần lớn kim loại’, cô nói.  “Đầu tiên thì chúng mất hai tháng để ‘xơi tái’ một cái đinh”.  Nhưng khi bị “bỏ đói”, chúng phải tự đáp ứng với điều kiện mới mà tìm cách để có nhiều thức ăn hơn cho mình.  Hai năm sau thử nghiệm đầu tiên, kết quả đạt được thật đáng kể khi gia tăng được tốc độ mà tại đó, vi khuẩn “ăn” ngấu nghiến một cái đinh chỉ trong vòng ba ngày.  Lợi ích đáng ngạc nhiên    Reales nói “các thí nghiệm hóa học và sinh học” đã chứng minh là loài vi khuẩn này không gây hại cho người hay môi trường.  “Chúng ta luôn luôn nhìn thấy rất nhiều tiềm năng trong dự án này khi vượt qua một thử nghiệm quan trọng trong phòng thí nghiệm này”, Drina Vejar – một nhà vi sinh vật tham gia một nhóm nghiên cứu bốn người cùng Reales, nói. “Thật sự cần thiết vào thời điểm này khi chúng ta có kế hoạch cho một sự phát triển bền vững, đặc biệt trong tất cả các thành phố phải sống chung với nhiều ngành công nghiệp gây ô nhiễm”.  Các công ty khai mỏ đã đặt nhiều mối quan tâm đến nghiên cứu này. Có vẻ như tín hiệu tốt bởi Rudanac Biotec từng được hưởng lợi từ một khoản đầu tư cho các startup của chính phủ và giờ họ cần được đầu tư thêm để chuyển sang các giai đoạn thử nghiệm tiếp theo. Reales cho biết cô cần nhiều tiền để xem xét là liệu phương pháp của mình có “xử lý gọn ghẽ một tấm đồng hay một xe tải kích thước trung bình hay không.”  Khi quá trình phân rã hoàn thành, những gì còn lại là một chất lỏng màu đỏ, một dung dịch vẫn được biết là một lixiviant tự nó có chất lượng đáng ngạc nhiên. “Sau quá trình tích hợp sinh học, sản phẩm này tạo ra chất lỏng lixiviant có thể cải thiện độ phục hồi của đồng sau một quá trình gọi là hydrometallurgy (luyện kim bằng nước), Reales nói.  Về cơ bản, chất lỏng còn lại có thể được sử dụng để chiết xuất đồng khỏi đá trong một quy trình bền vững hơn hiện tại là sử dụng các hóa chất để tách đồng.  Reales nói, điều này có nghĩ là mơ ước khai mỏ “xanh” hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Đây cũng là mối quan tâm lớn của các công ty khai mỏ bởi họ có thể sử dụng nó để cải thiện việc tách đồng ở quy mô lớn hoặc các khoáng chất khác trong khi vẫn đảm bảo giảm bớt được ô nhiễm, những điều mà các luật pháp hiện hành đang buộc họ phải tuân thủ.  Reales hiện đang đề xuất một bằng  sáng chế cho công nghệ của mình nhưng điều quan trọng hơn là cô hi vọng sẽ giúp giảm thiểu sự ô nhiễm kim loại đang xuất hiện tràn lan trong những vùng khai khoáng ở đất nước mình.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.wionews.com/world/meat-eating-bacteria-an-attempt-to-clean-up-mining-industry-by-a-chilean-scientist-419310  https://phys.org/news/2021-10-chilean-scientist-metal-bacteria.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học đang tạo ra chó robot      Các nhà nghiên cứu đã tranh thủ sự giúp đỡ của một con chó Alaskan Malamute tên là Kelp, để phát triển một hệ trí tuệ nhân tạo (AI) suy nghĩ được như một con chó, hy vọng tạo ra được các robot chó.      Chó robot có thể trợ giúp người già và người tàn tật.  Chó có thể là những người bạn tốt nhất của chúng ta, nhưng đồng thời cũng là những đồng sự chăm chỉ của chúng ta – được giao mọi thứ từ giữ nhà đến hướng dẫn người khiếm thị đến phát hiện bom. Và đến giờ các nhà nghiên cứu đã tranh thủ sự giúp đỡ của một con chó Alaskan Malamute tên là Kelp, để phát triển một hệ trí tuệ nhân tạo (AI) suy nghĩ được như một con chó, hy vọng tạo ra được các robot chó.  Để xây dựng một cơ sở dữ liệu hành vi chó, một nhóm các nhà khoa học do Kiana Ehsani, một nghiên cứu sinh tiến sĩ đại học Washington, làm trưởng nhóm, đã gắn các bộ cảm ứng và bàn chân, thân, và đuôi của Kelp để nắm bắt các động tác của nó trong một vài giờ mỗi ngày trong lúc nó ăn, chơi đùa và đi bộ trong nhà hay bên ngoài. Một máy ảnh gắn liền với đầu của Kelp ghi lại những gì nó thấy khi nó làm bất cứ hoạt động nào.  Trong suốt vài tuần, các nhà nghiên cứu thu thập được hơn 24.000 video – tất cả liên quan đến từng cử động đặc thù của cơ thể. Sau đó các nhà khoa học sử dụng máy học tập để chải qua dữ liệu và xác định các mẫu trong hành vi của Kelp. Điều này được dùng để huấn luyện một hệ thống AI thấu hiểu hành vi đến độ AI đó có thể dự báo Kelp – và các con chó nói chung – có thể phản ứng trước một loạt các tình huống.  Ehsani và các đồng nghiệp của cô thấy rằng hệ thống có thể đưa ra các dự đoán chính xác, nhưng chỉ là trong các khung thời gian ngắn.Chẳng hạn, hệ thống có thể thấy một chuỗi năm hình và rồi dự đoán chính xác năm động tác sắp tới của Kelp.  Nhưng điều làm các nhà nghiên cứu ngạc nhiên là hệ thống đã học từ con chó vượt qua cả cái mà hệ thống được huấn luyện để dự báo. Các nhà khoa học nhận thấy hệ thống AI có thể xác định chính xác các bề mặt “có thể đi được” vì Kelp biết qua trực giác một lối đi có thể quá gồ ghề, chẳng hạn, hoặc là lối đó nó không được phép đi. Hệ thống AI cũng có thể phân biệt giữa các môi trường khác nhau – một công viên, một con đường, một sân vận động hoặc một con hẻm – dựa trên chuyển động của con chó trong các không gian đó.  “Con chó sẽ phản ứng và chuyển động các khớp của nó khác nhau khi nó ở bên ngoài, trong một công viên so với khi nó ở trong một căn phòng khách”, Ehsani cho biết.“Khi chúng tôi sử dụng bộ dữ liệu để giải quyết các vấn đề này, thật ngạc nhiên là chúng tôi có thể làm được”.  Nghiên cứu đang trong giai đoạn đầu, nhưng Ehsani cho biết cô có kế hoạch mở rộng cơ sở dữ liệu bằng cách theo dõi các tương tác giữa các con chó và bằng cách nghiên cứu hành vi của các giống khác nhau. Cuối cùng, theo cô, các nhà nghiên cứu muốn tạo dựng một robot bốn chân có thể hoạt động như một con chó nghiệp vụ. “Chi phí huấn luyện chó nghiệp vụ rất cao, nên có thể dễ dàng hơn cho chúng tôi chỉ huấn luyện và nghiên cứu trên một chó robot, và rồi con chó đó sẽ hữu ích trong việc trợ giúp người già hoặc người tàn tật”, Ehsani nói.  Nhưng liệu đó có phải là một mục tiêu thực tế? Marc Bekoff, giáo sư danh dự về sinh thái và sinh học tiến hoá tại đại học Colorado, và là chuyên gia về hành vi chó, cho rằng nghiên cứu “rất thú vị” nhưng các hệ thống AI chưa đủ tinh vi sao chép những tương tác phức tạp giữa chó và người. “Tương tác chó-người – đặc biệt là đối với chó nghiệp vụ – rất tinh tế”, Bekoff nói.“Có một sự biến thiên đáng kinh ngạc giữa chó với chó, giữa người với người, và giữa các mối quan hệ chó-người”.  Bekoff, không có liên quan gì đến nghiên cứu mới, cho rằng AI có thể trưởng thành đến độ nó có thể bắt chước các con chó, nhưng “chúng ta còn cách điều đó nhiều năm ánh sáng”.  Ehsani đồng ý rằng robot sẽ không thay thế được chó dịch vụ sớm, nhưng cho rằng nghiên cứu là một bước đi đúng hướng.  “Chó dịch vụ được huấn luyện cho các loại hoạt động rất đặc thù, như giúp người khiếm thị lên xe buýt hoặc băng qua đường”, cô trả lời NBC News qua một email. “Đó là những công việc mà AI đang sắp giải quyết được.Nhân bản toàn bộ các cảm xúc chắc chắn là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều”.  Đặng Kính (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học đưa thịt nhân tạo đến gần bàn ăn hơn      Các nhà nghiên cứu tại UCLA đã tạo ra một loại hạt không độc có thể giúp quá trình tạo ra thịt trong phòng thí nghiệm diễn ra nhanh hơn với kết cấu giống các sợi cơ giống tự nhiên hơn. Họ đã áp dụng một quá trình xử lý có thể gia tăng quy mô sản xuất thịt nhân tạo.      Do Amy Rowat, người phụ trách các nghiên cứu về thực phẩm Marcie H. Rothman ở UCLA, dẫn dắt, họ đã sáng tạo ra những hạt không độc hại mang tên các chất mang vi mô với cấu trúc và kết cấu bề mặt được thiết kế có thể giúp các tế bào cơ tiền thân tăng trưởng nhanh chóng và hình thành các mô giống cơ. Các chất mang vi mô không độc có thể không cần nhiều thời gian, nguyên liệu và không tạo nhiều chất thải trong quá trình tạo ra thịt nhân tạo; hơn nữa lại có được kết cấu có thể hấp dẫn người tiêu dùng.  Các kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Biomaterials “Emulsion-templated microparticles with tunable stiffness and topology: Applications as edible microcarriers for cultured meat”.  “Các tế bào động vật có thể hình thành các mô tương tự như các loại thịt có thể là một nguồn protein cho một thế giới đang phải đối mặt với vấn đề an ninh lương thực bởi các nguyên nhân như bệnh dịch cho đến các thảm họa tự nhiên” Rowat, phó giáo sư sinh học tích hợp và lý sinh tại UCLA College, giải thích. “Các sản phẩm thịt nhân tạo hiện chưa có trên thị trường Mĩ nhưng các chiến lược để tăng cường khả năng sản xuất nó trên quy mô công nghiệp vẫn đang sẵn sàng xuất hiện”.  Sản xuất thịt nhân tạo ở quy mô công nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Các phương pháp tạo thịt nhân tạo hiện hành có thể làm ra thịt bò đang bắt chước cấu trúc của sườn chữ T nhưng chưa đạt được quy mô cần thiết của sản xuất công nghiệp. Trong một cơ thể động vật, các tế bào cơ phần lớn tăng trưởng trên một cấu trúc gọi là cấu trúc nền ECM – hay ma trận ngoại bào (extracellular matrix) để hình thành hình dạng của các mô trưởng thành. Mô động vật có thể được nuôi trong một phòng thí nghiệm sử dụng bộ khung được làm từ collagen, protein của đậu nành hay vật liệu khác để thay thế cấu trúc nền ECM. Quá trình này, cần thiết để tạo ra toàn thể các mô  giả thịt bò hoặc các miếng sườn bò, tốn rất nhiều công sức và mất nhiều tuần, khiến cho khó mà mở rộng quy mô sản xuất. Để tạo ra sản xuất được một ki lô thịt nhân tạo, cần khoảng 100 tỉ tế bào cơ như vậy.  Tăng số lượng thịt nuôi cấy với thời gian nhanh hơn cần tạo ra một hỗn hợp các tế bào trong một lò phản ứng sinh học. Thật không may, không có chất nền bền vững, việc nuôi cấy thịt theo cách này thiếu cấu trúc như cơ và do đó, thịt không có kết cấu và định hình giống thịt mà mọi người vẫn quen ăn.  Các dạng hiện hành của các chất mang vi mô có thể được sử dụng để đem lại một bộ khung cho các tế bào gắn vào và để tổ chức lên các mô nhưng chúng lại không thể ăn được và phải được loại bỏ khỏi thịt trước khi mang đi tiêu thụ.  Các chất mang vi mô của UCLA có thể ăn được cùng với thịt nhân tạo mà chúng giúp nuôi cấy. Cấu trúc và bề mặt của các chất mang vi mô có thể giúp tăng tốc sự tăng trưởng của các mô cơ và tối ưu bề mặt thịt, Rowat nói. Các chất mang vi mô không độc cũng hỗ trợ sự tăng trưởng của các tế bào cơ giống bò và giúp hình thành thịt bò mang màu nâu đẹp như thịt bò thật khi được nấu.  Rowat và phòng thí nghiệm của cô ở UCLA và các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Sam Norris, Stephanie Kawecki, Ashton Davis và Kathleen Chen, đã áp dụng các kỹ thuật nhũ tương nước trong dầu để tạo ra các hạt không độc. Họ sử dụng thành phần thực phẩm, bao gồm gelatin và transglutaminase, một enzyme xuất hiện tự nhiên trong thịt và có thể tạo ra trên quy mô lớn bằng vi khuẩn thông qua việc sử dụng một tác nhân gắn kết trong nhiều loại thực phẩm. Điều này giúp họ tạo ra chất mang vi mô với sự bền chắc của gelatin. Để tùy biến kết cầu bề mặt chất mang vi mô cho tế bào gắn và tăng trưởng, họ chỉnh sửa theo một cách để làm nổi các đường rãnh lên các hạt.  Nhóm nghiên cứu đã ươm các chất vi mô với các tế bào tiền cơ chất của chuột để cho một thử nghiệm ban đầu. Họ so sánh các chất mang vi mô được chạm nổi với một loại khác có bề mặt trơn nhẵn. Để kiểm soát, họ ươm các chất mang vi mô không độc thông thường với cùng dạng tế bào trong một bình cổ hẹp khác. Sau tám ngày, các tế bào đã hình thành các cụm nhỏ. Không có dấu hiệu khác biệt đáng kể về kích thước các cụm trên các chất mang có rãnh nổi và chất mang vi mô trơn nhẵn, dẫu cho các tế bào trên vật mang có rãnh lúc đầu tăng trưởng nhanh hơn.    “Chúng tôi cảm thấy thú vị khi thấy sau đó có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn của các tế bào cơ được nuôi cấy trong những chất mang vi mô có rãnh”, Kawecki, một đồng tác giả của nghiên cứu này, nói. “Việc giảm thời gian nuôi cấy tế bào có thể giảm đáng kể chi phí của việc chế tạo thịt nhân tạo, đặc biệt khi các quá trình đó được nâng cấp quy mô”.  Cấu trúc bên ngoài của mô tăng trưởng trên các chất mang vi mô không độc giống như các mô cơ tự nhiên hơn là tăng trưởng trên các vật mang không ăn được. Nó cho thấy, các chất mang vi mô không độc đem lại sự tăng trưởng giống tự nhiên hơn. Norris, cũng là một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, tỏ ra ngạc nhiên khi tìm thấy các tế bào và các chất mang vi mô kết hợp một cách tự nhiên để hình thành các mô vi mô chứa một lượng đáng kể các myotubes, vốn là tiền chất để tạo ra các sợi cơ.  Bước tiếp theo, họ ươm các chất mang vi mô không độc với các tế bào bò và đạt được kết quả tương tự. “Sự thật là chúng tôi có thể nuôi một lượng lớn các mô cơ giàu protein trong một lò phản ứng sinh học  – một bước lớn trong việc nâng cấp quy mô sản xuất thịt nhân tạo”, Norris nói.  Để khai thác các mô, một máy ly tâm sẽ phân tách các nhóm tế bào khỏi môi trường tăng trưởng. Chúng được rửa sạch để loại bỏ dấu vết của môi trường tăng trưởng, rồi nén trong một cái đĩa có đường kính 2 cm, và được rán trên chảo chiên với dầu ô liu. Miếng thịt khi chín có kết cấu bề mặt thô ráp, màu nâu và hình dáng tổng thể của một miếng hamburger nhỏ xíu.  Các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình tạo ra chất mang vi mô có thể hữu dụng để sản xuất khối lượng lớn thịt nhanh hơn và rẻ hơn. Thịt có kết cấu bề mặt khác nhau có thể được tạo ra bằng việc điều chỉnh khung và kết cấu chất mang vi mô.  Các chất mang vi mô không độc không chỉ được làm với gelatin mà các loại gel thực vật như agar hoặc gelatin động vật cũng có thể thay thế, Rowat nói.  Vũ Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-scientists-cultured-meat-closer-kitchen.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/962148    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học giải thích những gì khiến tế bào não phát triển trong một trật tự cụ thể      Các nhà nghiên cứu đã nhận diện được toàn bộ 10 yếu tố vận hành sự phát triển của các dạng tế bào não trong hệ thị giác của ruồi giấm – bao gồm cả những gì các neuron phát triển.    Phát hiện này được xuất bản trên Nature, mở ra những con đường mới cho nghiên cứu về sự phát triển của não tiến hóa trong những loài khác nhau và nắm giữ manh mối về y học tái sinh.  Não người gồm có 80 tỉ neuron. Những tế bào thần kinh khác nhau về hình thức, chức năng và sự kết nối với những neuron khác để hình thành mạng thần kinh. Sự phức hợp cho phép não thực hiện nhiều chức năng của nó, từ kiểm soát lời nói và thị giác đến lưu trữ kỷ niệm và tạo ra các trạng thái cảm xúc.  Trong khi các nhà khoa học nhận diện được nhiều dạng neuron thì chính sự phức hợp xuất hiện trong suốt quá trình phát triển của não lại là câu hỏi trung tâm về sinh học thần kinh phát triển và y học tái sinh. “Hiểu về cách bộ não người phát triển như thế nào có thể cho phép chúng ta lặp lại các quá trình xử lý phát triển trong tương lai ở phòng thí nghiệm để tạo ra các dạng cụ thể của neuron trong một đĩa Petri – và có tiềm năng chuyển chúng trong các bệnh nhân – hoặc kích hoạt các tế bào gốc thần kinh trong các cơ thể sống để chế tạo hoặc thay thế các neuron bị mất”, theo Claude Desplan, giáo sư sinh học tại NYU và tác giả chính của nghiên cứu.  Nghiên cứu về bộ não người hết sức thách thức nên các nhà nghiên cứu thường phụ thuộc vào các sinh vật mô hình, ví dụ như chuột và ruồi, để khám phá các cơ chế phức tạp trong các quá trình xử lý của bộ não. Trong động vật có xương sống như chuột và người, và không xương sống, như ruồi giấm, các dạng neuron khác nhau đều được tạo ra một cách liên tục khi bộ não phát triển, với các dạng cụ thể của neuron được tạo ra đầu tiên và cá dạng được sinh ra sau đó từ những tế bào gốc nguyên bản.  Cơ chế do các tế bào gốc thần kinh tạo ra các neuron khác nhau theo thời gian được gọi là mẫu hình theo thời gian (temporal patterning) Bằng sự biểu hiện các phân tử khác nhau – các nhân tố phiên mã theo thời gian hay tTFs – mà điều chỉnh sự biểu hiện của các gene cụ thể ở mỗi cửa số thời gian, các tế bào gốc neuron tạo ra các neuron khác nhau.  Trong nghiên cứu mới xuất bản trên Nature, các nhà nghiên cứu tìm hiểu các bộ não của ruồi giấm Drosophila và khám phá ra toàn bộ các tTFs cần thiết để tạo ra gần như 120 dạng neuron của tủy xương, một cấu trúc não cụ thể trong hệ thị giác của ruồi giấm. Họ đã sử dụng công nghệ giải trình tự mRNA đơn tế bào hiện đại bậc nhất hiện nay để thu được transcriptome, bản phiên mã tập hợp tất cả các bản phiên mã RNA, bao gồm mã hóa và không mã hóa, nghĩa là tất cả các gene biểu hiện trong một tế bào cụ thể – của hơn 50.000 tế bào sau đó được nhóm lại trong các dạng tế bào hiện diện trong tủy xương đang phát triển.  Tập trung vào các tế bào gốc neuron, các nhà nghiên cứu nhận diện được toàn bộ các tTFs đã được xác định các cửa sổ khác nhau trong vùng não và mạng di truyền kiểm soát biểu hiện của các tTFs đó cho phép sự tiếp nối về thời gian này diễn ra.  “Phần lớn các tTFs đã được nhận biết trước đây trong hệ thị giác của não bộ đều sử dụng các kháng nguyên có sẵn; chúng tôi mới nhận diện thêm 10 tTFs có thể định rõ các loại neuron trong vùng não đó”, theo nhận xét của Nikolaos Konstantinides, một trong số các tác giả, hiện là trưởng một nhóm nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Jacques Monod ở Paris và là cựu postdoct ở phòng thí nghiệm của Desplan.  Các nhà nghiên cứu giờ đã nhận biết được các tương tác di truyền cho phép sự tiếp nối thời gian và cách tiến triển này liên quan đến “trật tự sinh” của tất cả các neuron trong tủy xương, liên quan đến các cửa sổ thời gian cụ thể với việc tạo ra các dạng neuron cụ thể. Sự tiếp nối này rất cần thiết vì nó tạo ra sự đa dạng neuron của vùng não theo một trật tự có sẵn.  “Sự suy yếu của tiến trình nối tiếp thời gian có thể dẫn đến việc giả sút sự đa dạng neuron, dẫn đến thay đổi sự phát triển của não bộ”, Isabel Holguera, một nghiên cứu sinh postdoct tại Khoa Sinh học NYU và là một trong số các tác giả thứ nhất, nói.  Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra các bước ban đầu của quá trình các tế bào gốc neuron trưởng thành thành neuron, một giai đoạn trong sự phát triển của neuron được gọi là biệt hóa. Họ tìm thấy quá trình biệt hóa cho neuron ruồi và neuron vỏ não người tương tự nhau, với mẫu hình tương tự các gene được biểu hiện qua vô số giai đoạn biệt hóa khác nhau.  “Phái hiện của chúng tôi cho thấy việc hiểu về cơ chế phát triển của neuron trong ruồi giấm có thể đem lại cái nhìn xuyên suốt cho quá trình tương đương ở người”, đồng tác giả Anthony Rossi, hiện làm postdoct ở Harvard và là cựu thành viên trong phòng thí nghiệm của Desplan, nói về ý nghĩa của nghiên cứu này.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-scientists-brain-cells-specific.html  https://www.techexplorist.com/brain-cells-develop-specific-order/46274/    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học hợp tác với người dân để cứu lấy loài cá nhỏ Mexico      Từ 10 chú cá ban đầu, giờ đây một quần thể ổn định với khoảng 2.000 chú cá đang vui vẻ bơi lội trên sông Teuchitlán, cách Guadalajara khoảng 40 dặm về phía tây.    Cá tequila chẳng có vẻ ngoài sặc sỡ hay thứ nọc độc gây chết người. Chúng di chuyển không quá nhanh, cũng không thay đổi màu sắc hay có những hành vi lạ kỳ. Ảnh: Chester Zoo  Thoạt nhìn, cá tequila (tên khoa học là zoogoneticus tequila) của Mexico không có vẻ gì đặc biệt. Chỉ dài vỏn vẹn 2 rưỡi inch, chúng chẳng có màu sắc sặc sỡ hay thứ nọc độc gây chết người. Chúng di chuyển không quá nhanh, cũng không thay đổi màu sắc hay có những hành vi lạ kỳ. Theo một nghĩa nào đó, chúng thật mờ nhạt. Vì vậy, khi loài cá này – loài đặc hữu chỉ sống ở một con sông duy nhất có nguồn nước suối gần núi lửa Tequila ở bang Jalisco của Mexico đổ vào – tuyệt chủng ngoài tự nhiên vào năm 2003, cộng đồng yêu môi trường thế giới không một ai lên tiếng, thậm chí chẳng có một bài nào trên tờ báo địa phương nhằm gửi đến chúng lời chào tạm biệt.  Song các nhà khoa học tại Đơn vị Sinh học Dưới nước của Đại học Michoacán hiểu rõ rằng cá tequila đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái mỏng manh của sông – chúng ăn muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết và là nguồn thức ăn cho các loài cá và chim lớn hơn. Khi loài cá này suy giảm dần trong những năm 1990, một nhóm các nhà khoa học quốc tế đã hợp lực để cứu con cá. Sau khi nó tuyệt chủng vào năm 2003, nhóm nghiên cứu đã cố gắng làm một điều chưa từng xảy ra trước đây ở Mexico – đưa một loài đã tuyệt chủng trở lại môi trường sống bản địa của nó. Giờ đây, gần hai thập kỷ trôi qua, một quần thể cá tequila phát triển mạnh với khoảng 2.000 con, một lần nữa chúng lại về với con sông Teuchitlán quê hương, được bơi trong làn nước trong vắt dưới bóng của sườn đồi phủ đầy cây.  Dự án bảo tồn đầy tham vọng đươc khởi động vào năm 1998 khi chuyên gia người Anh Ivan Dibble đến Đại học Michoacán với một số thứ quý giá – năm cặp cá tequila từ Vườn thú Chester của Anh. Không ai biết chính xác lý do tại sao cá tequila lại tuyệt chủng trong tự nhiên, nhưng câu trả lời phổ biến nhất đó là vì tình trạng ô nhiễm kết hợp với việc các loài xâm lấn di chuyển đến, theo các nhà khoa học tại vườn thú. Trong điều kiện nuôi nhốt, các nhà khoa học có thể cung cấp một môi trường được kiểm soát cho cá.  Trong 15 năm, các nhà sinh vật học tại Đại học Michoacán đã chăm sóc cho những chú cá tequila. “Lúc đầu, mọi người đều nói rằng chúng tôi điên thật rồi”, Nhà sinh vật học Omar Domínguez, người làm việc trong dự án cho biết. “Các chương trình tái du nhập loài (Tái du nhập loài là sự phóng thích có chủ đích một loài từ môi trường nuôi nhốt hoặc các khu vực khác nơi sinh vật có khả năng sống sót vào tự nhiên) đã được thực hiện thành công ở những nơi khác, đây là lần đầu tiên các nhà khoa học tại Mexico thực hiện một dự án như vậy. Nếu dự án thất bại, Dominguez lo lắng, “tất cả mọi người sẽ nói, ồ, việc tái du nhập cá là điều bất khả.”  Đàn cá 10 con dần lớn lên. Năm 2021, nhóm nghiên cứu đã chuyển 40 cặp cá tequila sang một ao nhân tạo trong trường đại học. Họ cần chứng minh rằng loài cá có thể tồn tại trong môi trường bán tự nhiên. Trong ao, cá phải cạnh tranh để giành lấy thức ăn, cạnh tranh với ký sinh trùng, và tránh những kẻ săn mồi như rùa, chim và rắn, giống như khi chúng sống trong tự nhiên. Sau 4 năm, từ 80 chú cá, giờ đây ước tính đã lên tới 10.000 chú. Thành công đó giúp các nhà nghiên cứu huy động được số tiền cần thiết để thực hiện bước cuối cùng: trả cá tequila về tự nhiên.  Domínguez biết rằng cách duy nhất để hiện thực hoá điều này là thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương ở thị trấn Teuchitlán. Nếu không có sự tham gia của người dân trong việc làm sạch và bảo vệ sông, những chú cá một lần nữa có thể biến mất. Đây là lúc cần đến sự giúp đỡ của Federico Hernández Valencia, giáo sư giáo dục môi trường tại Đại học Michoacán. Ông nhanh chóng làm việc với các tình nguyện viên địa phương như Martha Hernandez và Pilar Navarro, những người đã thành lập sáng kiến ​​cộng đồng Guardians of the River (Những Người bảo vệ Dòng sông) vào năm 2021. Khi Valencia và các tình nguyện viên địa phương vẽ tranh tường hình ảnh cá tequila xung quanh thị trấn, trẻ em địa phương đã chọn biệt danh cho nó, cuối cùng họ chốt hạ cái tên “Zoogy”, theo tên khoa học của cá, Zoogoneticus tequila. (Vào thế kỷ 20, nhiều người dân địa phương gọi là cá gallito hoặc “gà trống nhỏ”, vì dải màu cam sáng trang trí ở đuôi của cá đực. Một số người khác gọi con cá là burrito, hoặc “con lừa nhỏ”, Perla Espinoza – một thành viên trong nhóm Guardians of the River chia sẻ, mặc dù cô ấy không hiểu tại sao.)  ​​Domínguez và Valencia đã tổ chức các buổi chia sẻ về hệ sinh thái địa phương, bao gồm cả tầm quan trọng của cá. Trong một buổi chia sẻ, các sinh viên, học sinh đã học cách nhận biết cá tequila dựa trên những bức ảnh chụp cá đực và cá cái. Nhà thờ Công giáo địa phương cũng tham gia bằng cách tài trợ địa điểm lớp học, tổ chức các buổi gây quỹ và giúp thông báo cho cộng đồng về tầm quan trọng của cá tequila.  Cuối cùng, vào năm 2017, 1.500 con cá tequila đã được đưa trở về sông trong các lồng nổi. Số lượng cá nhanh chóng tăng lên. Và sau vài tháng, các nhà sinh vật học đã đánh dấu lên cá và thả chúng ra khỏi lồng bảo vệ. Giờ đây, một quần thể ổn định với khoảng 2.000 chú cá đang vui vẻ bơi lội trên sông Teuchitlán, cách Guadalajara khoảng 40 dặm về phía tây. Chỉ mới tháng trước, loài cá này thậm chí còn di cư đến một khu vực khác của sông.  Những tín hiệu lạc quan  Công cuộc cứu lấy cá tequila “hệt như một tia sáng nhỏ trong vũ trụ”, Domínguez nhận định. Ông hy vọng rằng thành công này sẽ là gợi ý để trong thời gian tới, các nhà bảo tồn có thể lên kế hoạch chi tiết cho việc tái du nhập các loài cá đã tuyệt chủng khác.  Các thành viên trẻ của Guardians of the River hiện vẫn tham gia các lớp học và buổi tập huấn về bảo tồn hằng tuần, họ cùng nhau đi bộ trên sông và làm sạch đường phố để giúp giảm thiểu dòng chảy rác thải. Domínguez và các cộng sự đã tiếp tục hợp tác với những thành viên trong nhóm để tái du nhập hai loài đặc hữu khác đã tuyệt chủng của dòng sông. Vào tháng 11 năm 2021, những thành viên trẻ đã giúp thả những con cá vây đuôi, hay còn gọi là Skiffia francesae, trở lại sông.  Đó không phải là những trường hợp duy nhất. Domínguez cho biết trong số 536 loài cá nước ngọt của Mexico, 40% có nguy cơ tuyệt chủng và 4% đã tuyệt chủng (trong tự nhiên hoặc hoàn toàn). Nhà sinh vật học Axel Moehrenschlager thuộc Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế cho biết các loài động vật trên thế giới đang suy giảm nhanh hơn bao giờ hết. Đó là lý do tại sao những nỗ lực như bảo tồn cá tequila lại rất quan trọng, ông nói.  “Tôi nghĩ rằng rất nhiều người trên khắp thế giới có thể quan tâm đến thiên nhiên hoặc quan tâm đến việc bảo tồn nhưng họ chưa có cơ hội thực hiện nó, thậm chí họ không thể hình dung thế nào là giảm thiểu ô nhiễm nhựa đại dương”, Moehrenschlager nói. Theo ông, các dự án tái du nhập loài như cứu cá tequila hoặc hươu Père David ở Trung Quốc, là “một trong những cách tuyệt vời nhất để lan toả tinh thần lạc quan cho thấy nỗ lực bảo tồn thực sự có hiệu quả”, bởi vì chúng “rất hữu hình, có định hướng hành động và có tiềm năng lớn”.  Ngày nay ở Teuchitlán hầu hết người dân đều biết về Zoogy. Đối với nhiều người, đặc biệt là trẻ em tham gia vào dự án, chú cá đã trở thành một linh vật được yêu thích – một linh vật đã truyền cảm hứng cho nhiều người trong thị trấn quan tâm đến việc bảo tồn. Trong một lần đi dạo trên sông, một học sinh đã hỏi một tình nguyện viên của Guardians of the River: “Điều gì sẽ xảy ra nếu các anh già đi? Guardians of the River sẽ không còn hoạt động ư?” Sau một hồi suy nghĩ, em học sinh ấy tự trả lời một cách hào hứng, “Ồ! Chúng em sẽ tiếp nối công việc này”.  Anh Thư  tổng hợp  Nguồn:  Inside the International Effort to Save One Tiny Mexican Fish  Conservation translocations: a review of common difficulties and promising directions    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học in 3D một miếng bánh ngọt      Một công thức bảy thành phần đã cho thấy tiềm năng tạo ra thực phẩm trong tương lai của công nghệ này, các nhà nghiên cứu cho biết.    Các nhà nghiên cứu đã thúc đẩy giới hạn của công nghệ in 3D trong nhiều thập kỷ, bằng việc sử dụng kỹ thuật sản xuất để tạo ra các hàng hóa thương mại như đồ nội thất, giày, cơ quan cơ thể người hay thậm chí là tên lửa. Nhưng công nghệ có thể được ứng dụng để tạo ra một miếng bánh tráng miệng ngay trong gian bếp nhà bạn?  Các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ in 3D để tạo ra một phạm vi rộng lớn các vật thể kỳ lạ nhưng đầy hữu dụng, thu hút và xác thực. Người ta có thể đặt mua một cái xe đạp in 3D, một bản sao  nhân vật từ phim hoạt hình “The Addams Family” và thậm chí là những bức tượng nhỏ diễn viên Dwayne “The Rock” Johnson.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang theo đuổi ước mơ mở rộng đường biên lĩnh vực in 3D để tạo ra những vật thể khác, hiện thực hơn và ngon miệng hơn: bánh phô mai.  Một nhóm nghiên cứu gần đây đã sử dụng một máy in 3 D để tạo ra một lát bánh ngọt ăn được. Kết quả được họ miêu tả trên tạp chí NPJ Science of Food 1.  Công thức để in 3D thân thiện với môi trường của họ đòi hỏi bảy nguyên liệu – bột bánh quy giòn Graham, bơ lạc, mứt dâu, mứt hạt phỉ – chocolate ngọt, chuối nghiền nhuyễn, quả cherry phủ đường và kem. Công nghệ này tạo ra một lát bánh bằng việc ép từng nguyên liệu với nhau từ một vòi phun theo những đường mỏng mảnh, hình thành một thành một miếng bánh ngọt tráng miệng có nhiều lớp.  Dĩ nhiên là thành công của việc một cái bánh ngọt phụ thuộc vào khẩu vị. Việc một người có thể thích hoặc không thích thưởng thức lát bánh này còn phụ thuộc vào sự ham thích bánh quy giòn Graham – bột bánh quy giòn Graham chiếm tới hơn 70% thành phần của miếng bánh in 3D này.  “Khi bạn cắn nhẹ nó, bạn sẽ cảm nhận được hương vị lan tỏa theo nhiều con sóng khác nhau”, Jonathan Blutinger, một kỹ sư cơ học tại ĐH Columbia và là tác giả đầu của bài báo mới cho biết trên New Scientist. “Và tôi nghĩ đó là một chức năng của lớp hình thành trong cấu trúc thực tế tạo thành miếng bánh”.  “Vị của nó không như vị mà tôi từng thử trước đây”, Blutinger trả lời The Guardian, đề cập đến những thất bại ban đầu trong quá trình in bánh 3D. “Tôi từng thưởng thức nó nhưng đấy không phải là một vị như thông thường chúng ta vẫn được ăn. Chúng tôi không phải là những đầu bếp Michelin”.  Nhóm nghiên cứu của Blutinger có được thành phần cho chiếc bánh của minhd từ một cửa hàng bình thường ở thành phố New York. Các nhà nghiên cứu đã nghiền chuối bằng một cái nĩa và trộn nó với nước, bơ và bánh quy Graham trong một cái máy xay sinh tố để hình thành một hỗn hợp bột nhão.  Những phiên bản bánh đầu tiên phụ thuộc vào việc hỗn hợp bột nhão có ít hay nhiều bánh quy giòn – nó có thể chỉ chiếm một phần ba trong lát bánh ở nhiều công thức khác nhau. Nhưng khi máy in cấu trúc các lớp đó, các lát bánh nhanh chóng bị chảy ra khi các lớp thành phần quá ướt được tiếp thêm.  Sau vô số nỗ lực thất bại, các nhà làm bánh bằng công nghệ mới đã quyết định bỏ thêm các lớp bột bánh quy giòn vào lát bánh. Họ đã tạo ra những ‘cái giếng’ từ những nguyên liệu thành phần khô hơn, cứng cáp hơn với những miếng dày ở dưới và mỏng ở trên. Sau đó, họ rót các thành phần ướt hơn bên trong ‘giếng’, vì vậy nó phù hợp.  Với những thay đổi này, các lát bánh tiếp theo vẫn giữ được sự nguyên vẹn trong cấu trúc của họ. Bước tiếp theo là sử dụng laser xanh lam để làm nâu hóa lớp bánh quy trên cùng. Về tổng thể, mất khoảng 30 phút để làm ra một lát bánh ngọt.  Bánh của nhóm nghiên cứu này không phải là nỗ lực đầu tiên để tạo ra thực phẩm in 3D. Một công ty đang làm về thịt nhân tạo in 3D từ thực vật, trong khi một cửa hiệu ăn đã cung cấp các món ăn in 3D, theo CNN. NASA đã tìm hiểu về thực phẩm in 3D cho các nhà du hành vũ trụ có thể ăn trong những chuyến đi dài này trong vũ trụ, theo USA Today.  “Bánh phô mai này là sản phẩm tốt nhất chúng tôi có thể khoe ra lúc này nhưng máy in trên thực tế có thể còn làm được nhiều hơn thế”, Blutinger nói trên The Guardian. “Chúng tôi có thể in thịt gà, thịt bò, rau củ và phô mai. Bất cứ thứ gì có thể được hình thành từ hỗn hợp nhão, lỏng hay bột”.  Trong tương lai, con người có thể mua các máy in 3D để ‘nấu nướng’ trong gian bếp nhà mình nhưng có thể giá vẫn còn hơi đắt với khoảng 1.500 USD, theo New Scientist. Điều thiết yếu thì các máy in này có thể cần các công thức để thực hiện tốt chức năng của mình. “Nếu công nghệ này tiến vào thị trường thì nó sẽ giống như việc có một cái máy iPod mà không cần bất kỳ tệp MP3 nào”, Blutinger trả lời CNN. “Vì những điều cần thiết đó được đặt vào một nơi mà bạn có thể tải các công thức, tạo ra các công thức của chính mình và được truyền cảm hứng cho cái mà anh có thể làm trên thực tế với cái máy này để thực sự tạo ra sự phát triển vượt bậc”.  Các nhà nghiên cứu cho biết trong một thông cáo báo chí là in 3D có thể giúp lên kế hoạch bữa ăn và có thể làm ra đồ ăn thêm vệ sinh an toàn thực phẩm hơn bằng việc giảm thiểu sự “động chân động tay” của con người.  Andrew Feenberg, một nhà triết học về công nghệ tại ĐH Simon Fraser tại Canada, người không tham gia vào nghiên cứu này, không nhìn thấy các thiết bị này có thể được sử dụng sớm trong các gia đình. “Có thể là nó sẽ hữu dụng trong hiệu ăn và cửa hàng cà phê, nơi việc đưa các thành phần và chương trình phần mềm có thể thực hiện cả trong giờ nghỉ”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/scientists-3d-printed-a-slice-of-cake-180981862/  https://edition.cnn.com/2023/03/21/world/3d-printed-food-cheesecake-scn/index.html  ————————————–  https://www.nature.com/articles/s41538-023-00182-6    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học kêu gọi ngừng chỉnh sửa gene người      Một nhóm các nhà khoa học hàng đầu gồm 18 người từ 7 quốc gia đã kêu gọi một cuộc tạm ngừng áp dụng những thay đổi về di truyền vào phôi, trứng và tinh trùng người – chỉnh sửa gene dòng mầm, để tạo ra những đứa trẻ được biến đổi về gene trên quy mô toàn cầu.    Họ đã công bố lời kêu gọi này trên tạp chí Nature với hi vọng gây ảnh hưởng lên cuộc tranh cãi kéo dài mà đỉnh điểm của nó là sự kiện TS. He Jiankui (Hạ Kiến Khuê) ở Trung Quốc loan báo việc anh dùng công cụ CRISPR để thay đổi gene của các đứa trẻ để giúp nó kháng được virus HIV vào tháng 11/2018. Nhiều nhà khoa học, trong đó có nhà khoa học đoạt giải Nobel David Baltimore (Viện Công nghệ California) vẫn còn không đồng ý với quan điểm tạm dừng này. Thậm chí với sự việc TS. He Jiankui, ông còn cho rằng việc cấm là “hà khắc” và “phản các mục tiêu khoa học”.  Kêu gọi của họ cũng trên cơ sở thông điệp từ hai hội nghị toàn cầu về chỉnh sửa hệ gene vào năm 2015, 2018 cũng như hai báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học, kỹ thuật và y học Mỹ (NASEM) năm 2017 và báo cáo của Hội đồng Y đức Nuffield (Anh) năm 2018 trong đó không đề nghị cấm hoàn toàn việc chỉnh sửa dòng mầm người hứa hẹn giúp hiệu chỉnh lại một số bệnh tật di truyền của con người nhưng cảnh báo việc chỉnh sửa dòng mầm để làm gia tăng sức mạnh thể chất và nhận thức của con người.   18 nhà khoa học cảnh báo, bất kỳ quốc gia nào muốn bật đèn xanh cho việc chỉnh sửa dòng mầm gene người sẽ phải thông báo công khai, đi kèm với một đánh giá minh bạch và quốc tế hóa là liệu việc can thiệp đó có đúng quy định của pháp luật và có đảm bảo nó nhận được sự ủng hộ rộng rãi không. “Các quốc gia có thể chọn lựa những cách thức khác nhau nhưng họ phải đồng thuận để thực hiện một cách công khai với sự tôn trọng các quan điểm về con người trong vấn đề mà sau này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các loài trên trái đất”, họ nêu trong thư ngỏ. Các nhà khoa học cũng khuyến khích các quan điểm của những giới ngoài khoa học, trong đó có cả người khuyết tật và tôn giáo, tham gia thảo luận, đồng thời nhấn mạnh, việc kêu gọi này không bao gồm việc chỉnh sửa gene trên các tế bào xô ma – là bất kỳ tế bào nào của cơ thể ngoài tế bào mầm, tế bào sinh dục, tế bào gốc, vốn không ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai.   Không phải là nhà khoa học muốn dừng vĩnh viễn việc biến đổi các tế bào mầm người mà thay vào đó là thời gian được ấn định “5 năm là phù hợp cho các chính phủ cam kết không theo đuổi các mục tiêu chỉnh sửa gene”. Khoảng thời gian tạm hoãn này có thể đủ “thiết lập một khung quy định quốc tế” dưới sự điều phối của một tổ chức quốc tế, có thể là Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng thảo luận về đề xuất của các quốc gia đang xem xét việc cấp phép chỉnh sửa một gene dòng mầm đặc hiệu.  Bài viết trên Nature đề xuất cần tạo ra một cơ chế cho phép các nhà khoa học “dán nhãn nghiên cứu có tiềm năng nguy hiểm” bởi ít nhất sáu nhà khoa học biết He Jiankui lập kế hoạch chỉnh sửa và hoàn thiện các phôi người – hoặc thậm chí là đã sẵn sàng làm – nhưng đều im lặng theo đề nghị của anh ta.   Hầu hết các viện nghiên cứu quốc gia đều cam kết phân tích vấn đề này trong năm tới. “Đây là vấn đề cấp bách để cho ra đời khung quy định”, Victor Dzau, chủ tịch Viện Hàn lâm Y học quốc gia Mỹ  và là đồng tác giả một bức thư khác trên Nature có mô tả chi tiết kế hoạch của NASEM cho vấn đề chỉnh sửa gene dòng mầm.   Vào ngày 18 và 19/3/2019, WHO cũng sẽ nhóm họp để thành lập Ủy ban tư vấn chuyên môn về phát triển các tiêu chuẩn toàn cầu cho chính phủ và giám sát chỉnh sửa gene người.  Trong số những đồng tác giả bài báo trên Nature có nhà tiên phong về kỹ thuật CRISPR Feng Zhang (Broad Institute ở Cambridge, Massachusetts), Emmanuelle Charpentier (Viện Max Planck khoa học mầm bệnh ở Berlin), nhà khoa học đoạt giải Nobel Paul Berg (trường Đại học Stanford ở Palo Alto, California), trong đó Berg và Baltimore từng tổ chức hội nghị danh tiếng  Asilomar năm 1975 thường được xem như một mô hình thảo luận về các công nghệ sinh học mới và nhiều nguy cơ rủi ro. Nó đã đề xuất những quy định về các thí nghiệm DNA tái tổ hợp sau sau đó gây nhiều tranh cãi, bao gồm cả việc cấm các nghiên cứu về mầm bệnh nguy hiểm.□  Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/03/new-call-ban-gene-edited-babies-divides-biologists    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học mở cánh cửa cho thao tác ‘ánh sáng lượng tử’      Lần đầu tiên, các nhà khoa học tại trường đại học Sydney và trường đại học Basel Thụy Sĩ đã chứng minh năng lực điều khiển và nhận diện một số lượng nhỏ sự tương tác của các photon – các gói năng lượng ánh sáng – với sự tương quan rất cao.    Các photon kết cặp với nhau sau khi tương tác với nguyên tử nhân tạo. Nguồn: ĐH Basel  Thành quả chưa từng có này đã cho thấy một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của các công nghệ lượng tử. Các kết quả được trình bày trong bài báo xuất bản trên tạp chí Nature Physics 1.  Phát xạ ánh sáng có kích thích, đầu tiên được Einstein nêu vào năm 1916, đã được quan sát số lượng lớn các photon và đặt cơ sở cho việc phát minh ra laser. Với nghiên cứu này, giờ đã quan sát được phát xạ kích thích ở các photon đơn lẻ.  Cụ thể, các nhà khoa học có thể đo đạc thời gian trễ trực tiếp giữa một photon và một cặp photon kết cặp tán xạ thành một chấm lượng tử, một dạng nguyên tử nhân tạo.  “Điều này mở ra cánh cửa cho thao tác những gì chúng ta gọi là ‘ánh sáng lượng tử”, TS. Sahand Mahmoodian từ trường Vật lý, Đại học Sydney và tham gia nghiên cứu, nói. “Thứ khoa học cơ bản này mở ra con đường tiến tới các kỹ thuật đo đạc tăng cường lượng tử và máy tính lượng tử photon”.  Bằng việc quan sát cách ánh sáng tương tác với vật chất hơn một thế kỷ trước, các nhà khoa học đã khám phá ánh sáng không chỉ là một chùm hạt hay dạng sóng năng lượng – nhưng thể hiện cả hai đặc tính mà người ta gọi là lưỡng tính sóng hạt.  Sự tương tác của ánh sáng với vật chất tiếp tục thu hút các nhà khoa học và sự tưởng tượng của con người, cả về vẻ đẹp lý thuyết của nó lẫn ứng dụng thực tế hữu dụng.  Cho dù nó là cách ánh sáng đi qua các không gian rộng lớn của môi trường liên sao hay sự phát triển của tia laser, nghiên cứu về ánh sáng là một khoa học sống còn cho những ứng dụng thực tế quan trọng. Không có những nền móng lý thuyết đó, thực tế tất cả các công nghệ hiện đại không thể có được. Không có điện thoại di dộng, không mạng lưới truyền thông toàn cầu, không máy tính, không GPS, hình ảnh y học hiện đại.  Một ứng dụng tiên tiến của việc sử dụng ánh sáng trong truyền thông – thông qua sợi quang – là các gói năng lượng ánh sáng, các photon, không dễ dàng tương tác với nhau. Điều này dẫn đến việc truyền thông tin không bị biến dạng ở tốc độ ánh sáng.  Tuy nhiên, chúng ta thi thoảng muốn ánh sáng tương tác với nhau. Và tại đây, có những điều trở nên phức tạp. Ví dụ, ánh sáng được dùng để đo đạc những thay đổi nhỏ về khoảng cách bằng sử dụng các công cụ gọi là giao thoa kế. Các công cụ đo đạc này này hiện đã trở nên phổ biến, dù ở các thiết bị hình ảnh y khoa tiên tiến, đến những nhiệm vụ thông thường như kiểm soát chất lượng sản phẩm sữa hay trong hình thức là các thiết bị phức tạp như LIGO, công cụ đầu tiên trên thế giới đo đạc được sóng hấp dẫn vào năm 2015.  Quy luật cơ học lượng tử cũng đặt các giới hạn lên độ nhạy của các thiết bị. Giới hạn này được thiết lập lên độ nhạy của một thiết bị và số lượng trung bình của các photon trong thiết bị đo đạc. Điều này khiến ánh sáng laser cổ điển khác biệt với ánh sáng lượng tử.  Tham gia vào nghiên cứu, TS. Natasha Tomm từ trường đại học Basel, nói, “Thiết bị mà chúng tôi xây dựng tạo ra những tương tác mạnh giữa các photon, qua đó chúng tôi có thể quan sát sự khác biệt giữa tương tác của một photon với hai photon”.  “Chúng tôi thấy một photon bị trễ với thời gian dài hơn so với hai photon. Với tương tác photon-photon mạnh này, hai photon trở nên rối theo hình thức của cái gọi là liên kết trạng thái của hai photon với nhau”.  Ánh sáng lượng tử theo cách này đem lại một bước tiến mà theo nguyên tắc, khiến cho các đo đạc nhạy hơn với độ phân giải tốt hơn bằng sử dụng ít photon hơn. Điều này vô cùng quan trọng cho các ứng dụng trong kính hiển vi sinh học bởi cường độ ánh sáng lớn có thể làm ảnh hưởng đến các mẫu và các đặc trưng muốn quan sát lại rất nhỏ. “Với việc chứng minh là mình có thể nhận diện và thao tác các trạng thái liên kết photon, chúng tôi đã có bước tiến đầu tiên tiến gần tới khai thác ánh sáng lượng tử cho ứng dụng thực tế”, TS. Mahmoodian nói.  “Các bước tiếp theo trong nghiên cứu của tôi là xem xét cách tiếp cận này có thể hữu dụng cho việc tạo ra các trạng thái ánh sáng để sửa lỗi cho tính toán lượng tử, hiện đang được các công ty triệu đô như PsiQuantum hay Xanadu theo đuổi”.  Theo TS. Tomm, “Thực nghiệm này quá đẹp không phải vì nó xác nhận một hiệu ứng cơ bản – phát xạ kích thích – tại giới hạn nền tảng của nó mà vì nó thể hiện một bước tiến công nghệ lớn cho các ứng dụng tiên tiến”.  “Chúng ta giờ có thể áp dụng các nguyên tắc tương tự để phát triển các thiết bị hiệu quả hơn để đem lại các trạng thái liên kết photon. Điều này hứa hẹn cho một phạm vi rộng ứng dụng ở các lĩnh vực khác nhau: từ sinh học đến sản xuất tiên tiến và xử lý thông tin lượng tử”.  Nhóm hợp tác giữa ĐH Basel, ĐH Leibniz Hannover, ĐH Sydney và ĐH Bochum Ruhr, đặt dưới sự dẫn dắt của TS. Natasha Tomm của ĐH Basel và TS. Sahand Mahmoodian tại ĐH Sydney. Các nguyên tử nhân tạo (các chấm lượng tử) được chế tạo tại Bochum và sử dụng trong thực nghiệm ở Nhóm Nano-Photonics ĐH Basel. Phần lý thuyết của nghiên cứu do TS. Mahmoodian thực hiện.  Vũ Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://thewest.com.au/technology/scientists-closer-to-using-quantum-light-in-medicine-c-10101454  https://phys.org/news/2023-03-scientists-door-quantum.html  ——————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41567-023-01997-6       Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học Nga phát triển một loại thuốc có thể chẩn đoán và điều trị ung thư      Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, các nhà khoa học Nga thông báo đã phát triển một loại thuốc có tác động hỗn hợp trên cơ sở kết hợp bức xạ ion hóa và độc tố vi khuẩn.      Loại thuốc kết hợp: một tinh thể nano với các hạt nhân bức xạ được ghép nối với phân tử nhắm đích (xanh lá) và độc tố (màu vàng) trên bề mặt của chúng.  Hiệu lực của loại thuốc này cao gấp 2.200 lần so với khi sử dụng bức xạ và độc tố riêng rẽ. Những hiệu ứng của thuốc lên các tế bào có khả năng tạo ra khối u đem lại những chẩn đoán và điều trị những khối u ác tính tốt hơn  Hóa học trị liệu được sử dụng một cách rộng rãi trong điều trị các bệnh ung thư, tuy nhiên nó đi kèm với những tác dụng phụ lên cơ thể người mắc bệnh như rụng tóc, buồn nôn, chán ăn, phù nề, thiếu máu, rối loạn ký ức… vì thuốc ảnh hưởng lên toàn bộ cơ thể và tích lũy hóa chất trong cả những mô lành. Vì thế, hóa trị thường đòi hỏi việc dùng thuốc nhiều lần để tránh xu hướng tái phát khối u. Một loại thuốc chống ung thư hoàn hảo có thể đem lại một tác động rất mạnh đến tất cả các tế bào ung thư cùng lúc để ngăn ngừa sự phục hồi của chúng.  Liệu pháp kết hợp này đã được các nhà khoa học Nga đề xuất và giải quyết một cách thành công. “Giống như các đội quân hiện đại triển khai các loại xe tăng, lũ lượt dàn trận pháo binh, chúng tôi đấu lại các khối u bằng việc sử dụng nhiều cơ chế trị bệnh trong một lần: bức xạ ion hóa và một độc tố lấy có nguồn gốc từ vi khuẩn”, Andrey Zvyagin – người phụ trách bộ phận Kỹ thuật y sinh của Viện nghiên cứu Y học phân tử, trường đại học Sechenov.  Thuốc do các nhà khoa học Nga phát triển gồm các hạt nano, như tại lõi của nó, với tác nhân dược tiền tố phóng xạ (một nguồn bức xạ beta ion hóa), và một lượng độc tố cao có nguồn gốc từ vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa. Phần lõi thuốc có kích thước nano được gắn với polymer để tạo ra phức hợp nano có khả năng hòa tan trong nước, thân thiện về mặt sinh học và có thể ghép nối với các phân tử sinh học, thứ hợp nhất với độc tố để nhắm đích các phân tử sinh học bằng các phương pháp kỹ thuật di truyền. Tác phân dược tiền tố phóng xạ này tách biệt bên trong hạt nano và đảm bảo tác động nhắm đích không tác dụng phụ tới các tế bào gây khối u. Do các mạch máu cung cấp máu cho khối u nên thông qua con đường này, thuốc sẽ vào các khối u bằng đường máu. Phân tử sinh học nhắm đích tự gắn kết với các tế bào ung thư, khiến chúng tích tụ trong các khối u di căn. Tác nhân dược tiền tố phóng xạ có khả năng ảnh hưởng đến các tế bào ở khu vực lân cận theo hướng các hạt nano và khu vực cách chúng 1cm, đem đến liệu pháp hiệu quả trên một khối lượng khối u đáng kể. Độc tố cô lập quá trình tổng hợp của các protein trong những tế bào nhằm ngăn chúng không phục hồi nảy nở và lây lan.        Các nhà khoa học Nga đã kiểm chứng loại thuốc này trên các tế bào và động vật theo dõi trong phòng thí nghiệm: cấy ghép ung thư vú – loại ung thư phổ biến ở phụ nữ, trên chuột, sau đó điều trị chúng bằng thuốc. Trong các thí nghiệm trên tế bào, hiệu quả của loại thuốc kết hợp này mạnh gấp 2.200 lần hơn với với sử dụng riêng rẽ từng thành phần. Thuốc không chỉ để điều trị mà còn là một công cụ chẩn đoán bệnh, do đó nó phù hợp với cách điều trị mới của y học chính xác.  Công trình này được các nhà khoa học của trường đại học liên bang N.I. Lobachevsky ở Nizhny Novgorod, Viện nghiên cứu Hóa học Sinh hữu cơ, Trung tâm KH&CN Amplituda kết hợp với nhiều nhóm nghiên cứu khác thực hiện. Toàn bộ công việc, từ ý tưởng đến xuất bản bài báo, đều thực hiện trên đất Nga.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://eurekalert.org/pub_releases/2018-12/su-rsd120318.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học nghiệp dư tạo bản đồ ô nhiễm không khí ở Barcelona      Một nghiên cứu, do các nhà khoa học trường đại học Barcelona cùng với hơn 1.650 học sinh và người thân trong gia đình từ 18 trung tâm giáo dục tại Barcelona thực hiện, đã chứng tỏ khoa học nghiệp dư là một cách tiếp cận hợp lý để thực hiện nghiên cứu khoa học chất lượng cao.      Và trong trường hợp này, có thể cung cấp các con số về nồng độ nitrogen dioxide với độ phân giải chưa từng có và đánh giá tác động của ô nhiễm lên sức khỏe cư dân thành phố Barcelona.  Tạp chí khoa học Science of the Total Environment mới xuất bản những kết quả từ một nghiên cứu do nhóm nghiên cứu Các hệ thống mở của trường đại học Barcelona, Viện nghiên cứu Sức khỏe toàn cầu Barcelona (ISGlobal) do Quỹ La Caixa và công ty 4Sfera tài trợ 1. Nó cho thấy vai trò quan trọng của khoa học nghiệp dư trong mối quan hệ giữa đánh giá phơi nhiễm ô nhiễm không khí và hành động thu thập mẫu để cải thiện chất lượng không khí.  Công trình này kể về dự án xAire, vốn có sự tham gia của tổ chức thu thập dữ liệu ở Barcelona liên quan đến nồng độ nitrogen dioxide, một chất ô nhiễm liên quan đến các loại xe có động cơ đốt trong. Nông độ này được đo đạc suốt trong một tháng từ tháng hai đến tháng ba  năm 2018 nhờ sự tham gia của học sinh độ tuổi từ 7 đến 18 từ 18 trường học ở các trường học khác nhau trong thành phố.  Kết quả mà họ thu được cung cấp những thông tin chưa từng có về ô nhiễm không khí trong thành phố với sự chính xác đáng kể. Vị trí của các điểm đo đạc được xác định một cách tự động giữa các học sinh và gia đình các em trong cùng một quá trình thực hiện như nhau. “xAire không chỉ chứng tỏ các vấn đề xung quanh các trường học và các khu vực lân cận mà còn đem lại cơ sở cho các gia đình và trường học để đề nghị cải thiện môi trường theo dữ liệu với dữ liệu họ thu thập”, giáo sư Josep Perelló, người dẫn dắt nghiên cứu và là thành viên của Viện nghiên cứu Các hệ thống phức hợp của trường đại học Barcelona (UBICS).  Ô nhiễm không khí ở Barcelona, một vấn đề nghiêm trọng và chưa ước tính được  Các kết quả nghiên cứu cho thấy một sự phân bố rộng và mang tính đại diện về các mức nồng độ nitrogen dioxide trong thành phố đối với mật độ dân số. Nghiên cứu này phân tích các mức nồng độ rất cao với mức trung bình hằng nam là 49 μg/m3, trên ngưỡng của châu Âu và WHO, với 40 μg/m3. Hơn 5% mẫu thu thập được có nồng độ cao gấp đôi ngưỡng 40 μg/m3, nó cho thấy chất lượng không khí đang là một vấn đề nghiêm trọng ở Barcelona. Các mức đo đạc được cũng chứng tỏ có sự khác biệt lớn giữa các quận và thậm chí ngay trong một quận, – phụ thuộc vào điểm đo có gần đường phố hay không. Các giá trị trung bình thu được xAire thu thập được ở Ciutat Vella, Sants/Montjuïc, Les Corts và Horta/Guinardó đều đáng lo ngại, vì chúng cao hơn những quận ở gần đó.    Cải thiện mô hình tác động của ô nhiễm lên sức khỏe  Dữ liệu thu thập được cũng có thể giúp ước tính cập nhật và làm chính xác hơn về các mô hình ước tính tác động của NO2 lên sức khỏe mà cộng đồng khoa học sử dụng. Đặc biệt, nghiên cứu đã ước tính được  số lượng 1.084 ca bệnh hen mới mỗi năm ở trẻ em Barcelona có thể quy cho NO2, tương đương với 48% tổng ca mắc bệnh hen mỗi năm.  Theo Mark Nieuwenhuijsen, người phụ trách Sáng kiến Kế hoạch đô thị, Môi trường và sức khỏe ở ISGlobal, “nếu chúng ta giảm đi nồng độ NO2, đặc biệt ở quanh các trường, chúng ta có thể giảm được một cách đáng kể các ca bệnh hen ở trẻ em”.  Một nỗ lực điều phối để đo đạc ô nhiễm trên 725 khu vực trong thành phố    xAire được thành lập với mục tiêu mở rộng chi tiết và tính đại diện của các mức ô nhiễm không khí của thành phố này, với bảy trạm quan trắc không khí chính thức của họ. Thu hút hơn 1.600 người tham gia, nỗ lực này đã đạt kết quả: đo lường được nồng độ nitrogen dioxide ở 725 điểm. Con số các mẫu thu thập được vượt qua các đợt lấy mẫu trước do các nhà khoa học thực thụ có được – họ chỉ có được nồng độ nitrogen dioxide trên tổng số 200 điểm.  Dự án xAire đưa dữ liệu trở lại các trường học và đưa các con số này hiển thị công khai trên một bản đồ tương tác. Các trường học đã thảo luận về các nồng độ ô nhiễm, chủ yếu trong việc so sánh với các chuẩn của WHO và EU. Các thảo luận nay cho thấy một hiểu biết rõ ràng về dữ liệu tiếp theo và tiến trình nghiên cứu khoa học.  Các học sinh ở độ tuổi lên 7 và 8 có thể giải thích một cách hoàn hảo về giao thức khoa học và ý nghĩa của dữ liệu trên InfoK of the Super 3 Channel trong một hội thảo khoa học do Nhóm giáo dục Barcelona và  thị trưởng thành phố Ada Colau tổ chức. Các trường học cùng cung cấp dữ liệu cho hội đồng thành phố cùng với những đề xuất dựa trên bằng chứng khoa học tổ chức một sự kiện ở Saló de Cent. Các biện pháp được đề xuất bao gồm việc thúc đẩy hệ thống giao thông công cộng trong khu vực lân cận và các tuyến đường dành cho người đi bộ đến cải thiện một phần đường vành đai de Dalt (Dolors Monserdà, Sarrià) hoặc đẩy nhanh nâng cấp đại lộ Avinguda Meridiana (El Sagrer).  Các chiến dịch tìm hiểu về chất lượng không khí quy tụ các nhà khoa học nghiệp dư ở diện rộng có thể không đơn giản chỉ là một hành động khơi dậy nhận thức của công chúng và một chương trình giáo dục. “Với việc được tạo cơ hội tham gia, mọi người có thể là người cùng đóng góp vào nghiên cứu và không chỉ là người tiếp nhận thông điệp. Cách tiếp cận làm tăng thêm tính đa dạng vào quá trình nghiên cứu khoa học, vì nó đòi hỏi sự tham gia của các nhà khoa học liên ngành và sự tham gia của các tổ chức phi khoa học”, Isabelle Bonhoure, một nhà nghiên cứu tại Các hệ thống mở của UB, nói.  Anh Vũ  tổng hợp  Nguôn: https://www.isglobal.org/en_GB/-/la-comunidad-educativa-de-barcelona-desplegara-mas-de-800-sensores-para-medir-la-calidad-de-su-aire  https://phys.org/news/2021-07-schools-barcelona-city-air-pollution.html  ———  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0048969721028217?via%3Dihub    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học tạo ra kính hiển vi robot có tốc độ siêu nhanh      Các nhà nghiên cứu trường đại học KH&CN quốc gia MISIS (NUST MISIS, Moscow, Nga) và Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân quốc gia Ý (INFN, Naples, Italy) đã phát triển một công nghệ đơn giản và tiết kiệm cho phép họ tăng cường tốc độ của các kính hiển vi tự động (AM) từ 10 lên đến 100 lần. Tốc độ của các kính hiển vi gia tăng sẽ giúp các nhà khoa học triển khai nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực: y học, vật lý hạt nhân, vật lý thiên văn, vật lý neutrino, khảo cổ, địa chất, núi lửa…      Công trình về việc phát triển công nghệ này mang tên “A Novel Optical Scanning Technique with an Inclined Focusing Plane” được xuất bản trên Scientific Reports.  “Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã thử nghiệm công nghệ này để quét quang học tự động trên các loại vật mẫu dạng mỏng, đây là công nghệ để phát triển thế hệ mới của kính hiển vi tự động. Chúng tôi đã phân tích kết quả của thử nghiệm này và ước tính tốc độ quét có thể đạt được trong việc so sánh với các phương pháp truyền thống”, Andrey Alexandrov – một trong số các tác giả và là nhà nghiên cứu của NUST MISIS và INFN, cho biết.  Khoa học hiện đại đòi hỏi việc sử dụng các hệ quét tốc độ cao, có khả năng tiến hành những phân tích với độ chính xác cao trên nội cấu trúc của mẫu vật, đồng thời thu thập và phân tích một lượng rất lớn thông tin. Thế hệ tiếp theo của AM sẽ là đa hệ: các robot được trang bị bằng các thiết bị cơ học có độ chính xác cao, các quang tử chất lượng cao và các camera video tốc dộ cao. AM sẽ làm việc với tốc độ nhanh gấp hàng triệu lần so với kính hiển vi do con người vận hành và có thể làm việc suốt 24 giờ mỗi ngày mà không cần nghỉ ngơi.  Các loại AM hiện đại được sử dụng để quét quang học cho các máy dò nhũ tương. Các máy dò đa tông chứa hàng triệu tấm phim nhũ tương. Kể từ khi tốc độ của AM giới hạn khả năng ứng dụng của các máy dò, các nhà khoa học đã tìm nhiều cách để tăng tốc độ của các loại robot hiện tại cũng như tiến hành tạo mới những thế hệ robot có tốc độ xử lý nhanh hơn. Nhiều loại kính hiển vi robot rất cần thiết cho thí nghiệm tìm kiếm vật chất tối, vốn cần phân tích hàng tấn các hệ theo dõi nano nhũ tươg với độ chính xác cao chưa từng thấy trong thời gian ngắn nhất có thể.   “Công nghệ thị giác cho phép AM ghi nhận các vật thể trong thời gian thực và ra quyết định một cách độc lập với quá trình xử lý hình ảnh của chúng hoặc chuyển đến điểm khác. HIện nay, công nghệ tính toán song song CUDA và thẻ video GPU đang hữu dụng để xử lý một lượng lớn luồng hình ảnh (~2 GB/s từ mỗi camera video) và tăng tốc tính toán chuyên sâu. Chúng tôi cũng đã hoàn thiện công nghệ xoay mặt phẳng tiêu cự của các thấu kính”, Alexandrov cho biết thêm.  Theo các nhà khoa học, “hiệu quả và độ chính xác của cách tiếp cận này được so sánh với cách tiếp cận truyền thống trong khi tốc độ quét tỷ lệ thuận với số lượng các camera được lắp đặt. Nó cho thấy sự tiến triển trong công nghệ rất đáng kể”.  Bước tiếp theo, các nhà khoa học tập trung vào việc tạo ra và thử nghiệm một loại AM thế hệ mới hoạt động như một mẫu thử có áp dụng công nghệ xoay mặt phẳng tiêu cụ do họ hoàn thiện. Tốc độ gia tăng từ 10 đến 100 lần của các kính hiển vi có thể tăng số lượng dữ liệu được xử lý, giảm bớt thời gian phân tích mà không mất những chi phí lớn, đồng thời mở rộng các giới hạn ứng dụng của phương pháp dò với hệ theo dõi nhũ tương.   “Việc vận hành các thí nghiệm khoa học trong tương lai với nhiều máy dò sẽ được dùng để tìm kiếm các hạt vật chất tối, nghiên cứu vật lý neutrino, nghiên cứu phân đoạn ion để sử dụng cho liệu pháp điều trị ung thư hadron và góp phần bảo vệ các phi hành đoàn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu thiên thể ngoài không gian khỏi ảnh hưởng của tia vũ trụ”, Alexandrov nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-04-scientists-super-fast-robot-microscope-dark.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học thiết kế động cơ phân tử chuyển động siêu nhanh      Các động cơ phân tử do ánh sáng dẫn dắt đã được phát triển hơn 20 năm qua. Mỗi một lần chuyển động, các động cơ đó thường mất từ vài micro giây đến vài nano giây. Thomas Jansen, phó giáo sư vật lý tại trường ĐH Groningen và học viên cao học Atreya Majumdar mới thiết kế được một động cơ phân tử có tốc độ siêu nhanh.      Thiết kế mới này được điều hướng bằng sáng sáng và có thể thu lại hoàn toàn trong vài pico giấy bằng việc sử dụng năng lượng của một photon. Jansen nói, “chúng tôi phát triển một thiết kế hoàn toàn mới cho một phân tử động cơ siêu nhanh. Thiết kế này được xuất bản trêm The Journal of Physical Chemistry Letters “Quantum-Classical Simulation of Molecular Motors Driven Only by Light”. (Mô phỏng lượng tử cổ điển các động cơ phân tử chỉ điều khiển bằng ánh sáng).   Thiết kế động cơ nguyên tử mới được bắt đầu với một dự án, trong đó Jansen kỳ vọng hiểu được  toàn cảnh năng lượng của các chromophore bị kích thích – nhóm mang màu (chromophore) là một phần của phân tử tạo nên màu sắc của phân tử đó. “Nhóm mang màu này có thể thu hút hoặc đẩy lẫn nhau. Tôi tự hỏi là liệu chúng tôi có thể sử dụng đặc tính này để khiến cho chúng có thể tạo ra một cái gì đó mới không”, Jansen giải thích. Ông đã trao nhiệm vụ cho Atreya Majumdar, khi đó là một học viên năm nhất trong chương trình Top Master Khoa học nano tại Groningen. Majumdar đã mô phỏng tương tác giữa hai nhóm mang màu đã kết nối để hình thành một đơn phân tử.  Ánh sáng  Majumdar, hiện là nghiên cứu sinh khoa học nano tại trường đại học Paris-Saclay ở Pháp, nói “Một photon sẽ kích thích cả chromophore một cách đồng thời, tạo ra các lưỡng cực khiến chúng đẩy nhau”. Nhưng khi họ gắn chúng lại với nhau, kết nối bằng một trục nối ba, hai nửa đẩy nhau quanh cái trục này. “Trong suốt chuyển động này, chúng bắt đầu hút nhau”. Việc kết hợp kết quả này vào một chu trình đầy đủ được tạo ra bằng một năng lượng ánh sáng và giao tiếp tĩnh điện giữa hai chất mang màu.  Động cơ phân tử do tia sáng định hướng ban đầu được đồng nghiệp của Jansen phát triển – giáo sư hóa hữu cơ Ben Feringa tại trường đại học Groningen và chủ nhân giải Nobel hóa học năm 2016. Động cơ này tạo ra một chuyển động trong bốn bước, hai bước do ánh sáng điều hướng và hai bước do nhiệt. “Các bước nhiệt có sự giới hạn về tốc độ”, Jansen giải thích. “Phân tử phải chờ cho một dao động trong năng lượng nhiệt để định hướng chuyển động ở bước tiếp theo”.    Những nút thắt   Tương phản, trong thiết kế mới, một chu trình lên xuống đầy đủ từ một trạng thái được kích thích. Tuy thuộc vào động lực học lượng tử, một hạt photon kích thích cả hai chromophore đồng thời, vì vậy chúng không gặp điểm nghẽn nào đủ lớn để giới hạn tốc độ của chu trình này, do đó độ lớn trong vận tốc của nó gấp từ hai đến ba lần so với các động cơ cổ điển của Feringa.  Tuy nhiên tất cả những điều này vẫn mới chỉ về mặt lý thuyết và được đặt trên các tính toán cũng như mô phỏng. “Việc tạo dựng được một trong những động cơ đó không phải đơn giản”, Jansen nói. Các chromophore này tuy hữu dụng nhưng vô cùng mong manh. Việc tạo ra một trục liên kết ba không hề dễ dàng. Jansen kỳ vọng ai đó sẽ thử xây dựng một phân tử hữu cơ với nhưng đặc tính đã được ông miêu tả này. Và không phải một phân tử hữu cơ nào cũng có  được những đặc tính đó. Majumdarcho biết thêm: “Chúng tôi đã tạo ra một hướng dẫn chung cho thiết kế một động cơ phân tử dạng này”.  Báo hiệu một dạng mới   Jansen đã sớm đề cập đến một vài ứng dụng tiềm năng từ thiết kế của mình: chúng có thể hữu dụng với việc phân phối thuốc hoặc đưa các vật thể ở kích cỡ nano có thể chuyển động trên một bề mặt, hoặc có thể sử dụng trong những ứng dụng công nghệ nano khác. Và tốc độ trong chu trình này có thể vượt qua được tốc độ trung bình của quá trình sinh lý. Trong các mô phỏng, những động cơ không chỉ được gắn vào một bề mặt thu hút mà còn sẽ quay trong dung dịch. Jansen nói, “Nó sẽ đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật và chỉnh sửa để tạo ra được các động cơ này một cách thực sự. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi sẽ mở ra một dạng hoàn toàn mới của động cơ phân tử”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.rug.nl/sciencelinx/nieuws/2021/06/university-of-groningen-scientists-design-superfast-molecular-motor?lang=en  https://phys.org/news/2021-06-scientists-superfast-molecular-motor.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học thiết kế hệ vận chuyển thuốc tự cấp điện      Một nhóm các nhà nghiên cứu – do tiến sĩ Yamin Zhang và tiến sĩ Colin Franz tại Phòng thí nghiệm Shirley Ryan AbilityLab, và tiến sĩ John Rogers tại ĐH Northwestern – đã phát triển một công nghệ mới với tiềm năng làm thay đổi tương lai của vận chuyển thuốc.    Thiết bị được phát triển cho hệ phân phối thuốc cấy ghép đầu tiên này được kích hoạt bằng những nguồn của các bước sóng khác nhau bên trong mà không phải là điện được lưu trữ. Nó cũng là thiết bị đầu tiên có thể được hấp thụ vào cơ thể (tránh được việc phải phẫu thuật) trong khi vẫn cho phép người điều khiển kiểm soát hoạt động và lập trình (ví dụ như bác sĩ, y tá hoặc thậm chí là bệnh nhân). Một bài báo giới thiệu thiết bị này đã được xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences 1.  “Công nghệ này thực sự là một đột phá trong việc giải quyết tình trạng thiếu hụt các hệ phân phối thuốc hiện hành – một thứ có thể có vai trò quan trọng và đưa ra những gợi ý cho tất cả mọi thứ, ví dụ như cách điều trị ung thư cần phải phân phối thuốc một cách chính xác”, Colin Franz nói.  Các hệ phân phối thuốc cấy ghép hiện tại thường được dùng để điều trị cho các bệnh từ đau kinh niên và co cứng cơ đến ung thư và tiểu đường. Các hệ thụ động cho phép giải phóng dần dần các loại thuốc và không đòi hỏi phải  trích xuất ở cuối vòng đời sử dụng, tuy nhiên có nhược điểm lớn ở phương pháp này là người sử dụng không thể kiểm soát được nó (ví dụ như điều khiển việc phân phối thuốc theo cách các thiết bị thông thường: tắt, lên, xuống). Ngược lại, các hệ hoạt động cho phép việc giải phóng thuốc được lập trình hóa lại đòi hỏi được cung cấp điện và thiết kế thêm phần lưu trữ điện, và cuối cùng đòi hỏi một cuộc phẫu thuật thứ hai để trích xuất thiết bị ra ngoài cơ thể.  Để thử nghiệm công nghệ mới này, các nhà nghiên cứu cấy ghép bằng phẫu thuật nó vào dây thần kinh tọa bên phải của từng con chuột. Mỗi thiết bị này đều chứa ba hốc đựng thuốc được nhét đầy lidocaine, một loại thuốc giúp cắt cơn đau thần kinh thông thường. Sau đó, ba nguồn sáng LED được đặt vào vị trí cấy ghép để kích hoạt giải phóng thuốc. Việc thử nghiệm tiếp theo cho thấy những chỗ đâu được đánh dấu trên các con chuột. Và các nhà nghiên cứu đã có thể chạm đến những chỗ đau khác nhau chờ dải ánh sáng LED nhiều màu sắc. “Chúng tôi thấy cách tiếp cận này hiệu quả, an toàn và không phải thêm gì vào hệ phân phối thuốc”, John Rogers nói. “Thêm vào đó, có có thể tự tăng quy mô. Dẫu chúng tôi sử dụng kết hợp ba nguồn LED vào thử nghiệm chứng minh ý tưởng của mình thì chúng tôi cũng có thể có tiềm năng nhân lên tới 30 bước sóng LED khác nhau, qua đó có thể đưa ra nhiều chương trình hơn để điều trị”.  Trong nghiên cứu tương lai, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra thêm nhiều yếu tố an toàn trước khi nộp hồ sơ đề nghị Cục Quản lý Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) xem xét thông qua cho các ca thử nghiệm lâm sàng trên người.  “Công nghệ này có những gợi ý đầy đứa hẹn trong y học phục hồi chức năng và hơn thế. Việc hợp tác giữa các nhà lâm sàng, khoa học vật liệu và kỹ thuật y sinh tại Shirley Ryan AbilityLab và ĐH Northwestern đang tăng tốc rất nhanh để tiến tới các khám phá về mặt lâm sàng”, tiến sĩ Franz, người đảm trách vai trò trợ lý giáo sư về Y học thể chất, phục hồi chức năng và thần kinh tại trường Y Feinberg, ĐH Northwestern, cho biết.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-03-self-powered-drug-delivery.html  —————————————————–  1. More information: Self-powered, light-controlled platforms for programmed drug delivery, Proceedings of the National Academy of Sciences (2023). DOI: 10.1073/pnas.2217734120       Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học tiết lộ kế hoạch tạo ra máy tính sinh học sử dụng tế bào não người      Từ lâu, việc phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) đã mô phỏng cách xử lý thông tin của bộ não con người. Tuy nhiên, não bộ vẫn vượt trội so với máy móc về nhiều mặt, ví dụ như chúng ta có thể ‘chứng minh nhân tính’ bằng các bài kiểm tra hình ảnh bình thường trên mạng. Điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì cố gắng làm cho AI hoạt động giống bộ não hơn?    Mặc dù AI có khả năng xử lý ngôn ngữ đáng nể nhưng vẫn còn thua xa so với bộ não con người. Giờ đây, các nhà khoa học đã tiết lộ một bước đi mang tính cách mạng để thúc đẩy khoa học máy tính: trí tuệ hữu cơ (organoid intelligence) – các cơ quan não được phát triển trong phòng thí nghiệm có thể hoạt động như ‘phần cứng sinh học’ của máy tính.  Các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực đang nghiên cứu chế tạo ra các máy tính sinh học mang tính cách mạng trong đó phát triển tế bào não ba chiều, được gọi là các organoid não, đóng vai trò là phần cứng sinh học.  Giáo sư Thomas Hartung của Đại học Johns Hopkins cho biết: ‘Chúng tôi gọi lĩnh vực liên ngành mới này là ‘trí thông minh hữu cơ’ (OI). ‘Các nhà khoa học hàng đầu đã cùng nhau phát triển công nghệ mà chúng tôi tin rằng sẽ khởi động một kỷ nguyên mới của máy tính sinh học nhanh, mạnh và hiệu quả.’    Các organoid não là gì?  Các organoid não là một loại tế bào nuôi cấy được phát triển trong phòng thí nghiệm. Mặc dù các organoid não không phải là ‘bộ não thu nhỏ’, nhưng chúng có đặc điểm chính về chức năng và cấu trúc của não, chẳng hạn như tế bào thần kinh và các tế bào não khác cần thiết cho các chức năng nhận thức như học tập và trí nhớ. Ngoài ra, trong khi hầu hết các tế bào nuôi cấy đều phẳng, thì các organoid có cấu trúc ba chiều. Điều này làm tăng mật độ tế bào của môi trường nuôi cấy lên gấp 1.000 lần, nghĩa là các tế bào thần kinh có thể hình thành nhiều kết nối hơn.  Hartung giải thích: ‘Mặc dù các máy tính – có bộ xử lý bằng silicon chắc chắn xử lý các con số tốt hơn, nhưng bộ não lại học hỏi tốt hơn’. Ví dụ: AlphaGo [AI đã đánh bại kỳ thủ cờ vây số một thế giới năm 2017] đã được đào tạo dựa trên dữ liệu từ 160.000 trò chơi. Một người sẽ phải chơi năm giờ một ngày trong hơn 175 năm thì mới trải nghiệm được các trò chơi này.  Bộ não không chỉ học tập vượt trội mà còn tiết kiệm năng lượng hơn. Ví dụ, lượng năng lượng dành cho việc huấn luyện AlphaGo nhiều hơn mức cần thiết để duy trì hoạt động của một người trưởng thành trong một thập kỷ.  ‘Bộ não cũng có khả năng lưu trữ thông tin đáng kinh ngạc, ước tính khoảng 2.500 TB,’ Hartung nói thêm. Trong khi đó các nhà khoa học cũng đang đạt đến giới hạn vật lý của máy tính dựa vào bộ xử lý silicon vì không thể đóng gói nhiều bóng bán dẫn (transistors) hơn vào một con chip nhỏ. Nhưng bộ não được kết nối hoàn toàn khác vì có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh được liên kết thông qua hơn 1015 điểm kết nối. Với công nghệ hiện tại thì đó là một khoảng cách lớn.  Máy tính sử dụng trí tuệ hữu cơ sẽ như thế nào?  Theo Hartung, các organoid não hiện tại cần được nâng cấp. ‘Chúng quá nhỏ, mỗi cái chứa khoảng 50.000 tế bào. Đối với OI, chúng tôi sẽ cần tăng con số này lên 10 triệu,’ ông giải thích.  Song song với đó, các tác giả cũng đang phát triển các công nghệ để ‘giao tiếp’ với các organoid – nghĩa là gửi cho các organoid não thông tin và đọc những gì chúng đang ‘suy nghĩ’.‘Chúng tôi đã phát triển một thiết bị giao diện não-máy tính, là một loại nắp điện não đồ cho các organoid. Đó là một lớp vỏ linh hoạt, phủ các điện cực nhỏ có thể vừa thu tín hiệu từ organoid vừa truyền tín hiệu đến đó’, Hartung cho biết.  Các tác giả hình dung cuối cùng OI sẽ tích hợp một loạt các công cụ ghi âm và kích thích, từ đó điều phối sắp xếp các tương tác trên các mạng của các organoid được kết nối với nhau để thực hiện các tính toán phức tạp hơn.  Trí tuệ hữu cơ có thể giúp ngăn ngừa và điều trị các bệnh về thần kinh  OI mang lại những hứa hẹn đột phá cho cả lĩnh vực máy tính và y học. Nhờ một kỹ thuật đột phá do John Gurdon và Shinya Yamanaka (các nhà khoa học được giải Nobel năm 20112) nghiên cứu phát triển giúp tế bào trưởng thành có thể tái lập trình để trở thành các tế bào đa năng, các organoid não có thể được sản xuất từ các mô trưởng thành. Điều này có nghĩa là các nhà khoa học có thể phát triển các organoid não được từ các mẫu da của bệnh nhân mắc chứng rối loạn thần kinh, ví dụ như bệnh Alzheimer. Sau đó, họ có thể thực hiện nhiều xét nghiệm để đánh giá các yếu tố di truyền, thuốc và độc tố ảnh hưởng đến các tình trạng này như thế nào.  ‘Ví dụ, có thể so sánh sự hình thành trí nhớ trong các organoid có nguồn gốc từ những người khỏe mạnh và từ những bệnh nhân Alzheimer, và cố gắng sửa chữa những khiếm khuyết có liên quan. Chúng ta cũng có thể sử dụng OI để kiểm tra xem một số chất, chẳng hạn như thuốc trừ sâu, có ảnh hưởng tới năng lực trí nhớ hoặc học tập hay không.’  Cân nhắc về mặt đạo đức  Việc tạo ra các organoid não người có thể học hỏi, ghi nhớ và tương tác với môi trường của họ đặt ra những câu hỏi đạo đức phức tạp. Ví dụ, chúng có thể phát triển ý thức, ngay cả ở dạng thô sơ không? chúng có thể trải nghiệm đau đớn hay đau khổ? Và những người cho tết bào thì sẽ có những quyền gì liên quan đến các organoid não được tạo ra từ các tế bào của họ?  Nhóm nghiên cứu nhận thức sâu sắc về những vấn đề này. Hartung nói: ‘Một phần quan trọng trong tầm nhìn của chúng tôi là phát triển OI theo cách có đạo đức và trách nhiệm với xã hội. Vì lý do này, chúng tôi đã hợp tác với các nhà đạo đức ngay từ đầu để thiết lập một phương pháp tiếp cận ‘đạo đức bao trùm’. Tất cả các vấn đề đạo đức sẽ được nhóm các nhà khoa học, nhà đạo đức học và công chúng theo dõi liên tục khi nghiên cứu phát triển’.  Bảo Như dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/news-releases/980084    Authors                phongvien        
__label__tiasang Các nhà khoa học tìm ra cách loại bỏ vi nhựa bằng vi khuẩn      Các nhà vi sinh vật học đã tận dụng tính kết dính của vi khuẩn để tạo ra các lưới vi sinh vật có thể “bắt” các vi nhựa trong nước, từ đó hình thành một miếng dính có thể tái chế.      Các nhà vi sinh vật học đã nghĩ ra một cách bền vững để loại bỏ các vi nhựa gây ô nhiễm khỏi môi trường – và họ muốn sử dụng vi khuẩn để thực hiện công việc này.  Vi khuẩn tự nhiên có xu hướng tập hợp lại với nhau và bám vào các bề mặt, tạo ra một chất kết dính là “màng sinh học” – chẳng hạn chúng ta nhìn thấy nó mỗi sáng khi đánh răng và loại bỏ mảng bám trên răng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bách khoa Hồng Kông (PolyU) muốn sử dụng đặc tính dính của vi khuẩn để tạo ra các lưới vi khuẩn giống như băng dính có thể bắt giữ các vi nhựa trong nước ô nhiễm, từ đó tạo thành một miếng dính có thể dễ dàng loại bỏ và tái chế.  Nhóm nghiên cứu đã trình bày kết quả này tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Vi sinh vật vào ngày 28/4. Mặc dù vẫn còn sơ khai, nhưng phát minh này có thể mở đường cho việc giảm ô nhiễm nhựa một cách bền vững lâu dài bằng cách sử dụng những thứ trong tự nhiên.  “Điều quan trọng là phải phát triển các giải pháp hiệu quả để bẫy, thu thập, thậm chí tái chế các vi nhựa này để ngăn chặn quá trình ‘nhựa hóa’ của môi trường tự nhiên”, Sylvia Lang Liu, nhà vi sinh học tại PolyU và là trưởng nhóm nghiên cứu của dự án này, cho biết.  Vi nhựa là các mảnh nhựa, thường nhỏ hơn 5mm, vô tình được thải ra môi trường trong quá trình sản xuất và phân hủy, ví dụ như túi đựng hàng hóa hoặc chai nước – hoặc trong các hoạt động hằng ngày như giặt quần áo làm bằng sợi tổng hợp như nylon hoặc sử dụng các sản phẩm chăm sóc cá nhân có các hạt vi nhựa làm sạch trong đó.  Mặc dù có kích cỡ rất nhỏ nhưng nguy cơ vi nhựa gây ra cho môi trường là rất lớn. Vi nhựa không dễ bị phân hủy sinh học nên chúng tồn tại lâu dài, đồng thời cũng hấp thụ và tích tụ các hóa chất độc hại. Chúng phân tán trong nước thải và đi vào đại dương, gây nguy hiểm cho các loài động vật biển khi ăn phải chúng và cuối cùng len lỏi vào chuỗi thức ăn, gây hại cho sức khỏe con người. Theo Tổ chức Hàng hải Quốc tế, người ta đã tìm thấy vi nhựa trong hơn 114 loài thủy sinh vào năm 2018, và chúng cũng được tìm thấy trong muối, rau diếp, táo,…  Tuy nhiên, chẳng có phương pháp loại bỏ vi nhựa nào bền vững và phù hợp cho tất cả.  Trong nghiên cứu này, nhóm của Liu đã thiết kế một màng sinh học vi khuẩn, từ một loại vi khuẩn có tên là Pseudomonas aeruginosa, có thể cố định và kết hợp các vi nhựa trôi nổi trong nước. Lưới vi khuẩn này sẽ bẫy và gom các vi nhựa lại, khiến chúng chìm xuống đáy nước. Sau đó, nhờ “cơ chế giải phóng bắt giữ” sử dụng gene phân tán màng sinh học, các nhà nghiên cứu có thể tháo gỡ các vi nhựa từ bẫy vi khuẩn và tìm thấy hàng loạt vi nhựa đã được thu thập sẵn sàng để tái chế.  “Đây thực sự là một ứng dụng sáng tạo và thú vị của kỹ thuật màng sinh học trong giải quyết cuộc khủng hoảng ô nhiễm nhựa”, TS. Joanna Sadler, nhà nghiên cứu tại Đại học Edinburgh (Anh), người không tham gia vào nghiên cứu này, nhận xét. “Một trong những thách thức lớn nhất của xử lý vi nhựa là bắt giữ các hạt nhỏ như vậy để phân hủy và loại bỏ chúng ra khỏi môi trường. Liu và các đồng nghiệp đã chứng minh một giải pháp tuyệt vời cho vấn đề này, có tiềm năng rất lớn để phát triển thành một công nghệ xử lý nước thải trong thực tế”.  Tuy nhiên, thử nghiệm vẫn còn sơ khai: nó mới dừng ở mức thử nghiệm chứng minh khái niệm (proof-of-concept) trong môi trường phòng thí nghiệm được kiểm soát chứ không phải trong đại dương hoặc hệ thống cống rãnh; và chủng vi khuẩn áp dụng trong thí nghiệm này là “aeruginosa” – một loại vi khuẩn gây bệnh cho người, có lẽ không thể sử dụng trong các dự án quy mô lớn. Nhưng các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng phương pháp này có thể được nhân rộng để tìm kiếm vi khuẩn tạo màng sinh học tự nhiên trực tiếp trong nước thải hoặc các môi trường nước khác, từ đó tiếp tục phát triển.  “Việc ‘bắt giữ’ vi nhựa là một nghiên cứu phát triển thú vị”, TS. Nicholas Tucker, giảng viên cao cấp về vi sinh phân tử tại Đại học Strathclyde (Anh), người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết: “Điều đáng mong đợi là liệu nó có thể mở rộng hay không”. Theo Tucker, sẽ cần nhiều các nghiên cứu về các loại bề mặt hơn để phát triển màng sinh học trên đó.  Tuy nhiên, nghiên cứu như thế này cung cấp một ví dụ điển hình về ứng dụng của công nghệ sinh học vi sinh vật và những chiến công lớn mà những vi khuẩn nhỏ bé có thể mang lại. “Nhìn chung, điều này cho thấy các vi sinh vật có thể và sẽ đóng một vai trò nào đó trong mọi giai đoạn chu kỳ sống của nhựa”, Tucker nhận xét.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/apr/28/scientists-find-way-to-remove-polluting-microplastics-with-bacteria  https://microbiologysociety.org/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Ý làm bánh pizza không cần men nở      Đưa bột nhào vào trong môi trường khí với áp suất cao có thể tạo ra hiện tượng dậy bột tương tự với sự lên men.      Ernesto Di Maio, một nhà khoa học vật liệu ở trường đại học Naples Federico II, không thể ăn các bánh pizza điển hình. Anh là người thành phố Naples, nơi nổi tiếng với những chiếc bánh quyến rũ này nhưng không may là bị mắc bệnh dị ứng men nở. Vì vậy, anh thường bị nổi mày đay khi ăn phải bánh có sử dụng men nở. “Tôi phải trốn vào một nơi để không ai biết là mình bị dị ứng, mẩn khắp người. Thật khủng khiếp!”, anh nói.  Do đó, anh phải từ bỏ việc ăn bánh mì và pizza, và điều này khiến các chuyến đi trên đất Ý trở nên khó xử. “Thật khó khi ở Naples mà lại không ăn pizza”, anh giải thích. “Mọi người có thể nói ‘anh không thích ăn pizza ư? Tại sao anh lại không ăn pasta? Kỳ lạ quá!’.” Thậm chí, đôi khi mọi việc còn trở nên tệ hơn khi ngay cả vợ anh cũng khó chấp nhận việc trong gia đình có người từ chối bánh pizza.  Ở trường đại học Naples Federico II, Di Maio nghiên cứu sự hình thành của các bong bóng trong vật liệu polymers như polyurethane. Câu chuyện về bánh pizza dần thay đổi khi một thành viên mới là Paolo Iaccarino tới làm nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm của Di Maio. Paolo Iaccarino cho biết, vào dịp cuối tuần, mình là một pizzaiolo – một người làm bánh pizza trong một cửa hàng bánh pizza được cấp phép ở bờ biển Amalfi. Anh làm rất nhiều pizza trong mấy năm trở lại đây – “phải hàng nghìn cái cả chả hết”, anh nói.  Vì vậy, Di Maio đã đưa Iaccarino và một nghiên cứu sinh khác là Pietro Avallone vào một dự án làm bột bánh pizza không men nở cùng nhà kỹ thuật hóa học Rossana Pasquino, người nghiên cứu về các vật liệu lỏng, tất tần tật mọi thứ chất lỏng từ kem đánh răng, tương cà chua đến nhựa. Rossana Pasquino cho biết “Bột bánh pizza là một vật liệu thú vị bởi vì nó có độ chảy nhưng lại có độ dẻo, co giãn giống cao su. Nó phải đủ độ đàn hồi [khi đưa vào lò nướng] để sau đó đạt được mức hoàn hảo khi ăn”.  Các dạng bột bánh pizza điển hình, cũng giống như các loại bánh mì khác, đều phụ thuộc vào men và tạo ra các bọt khí carbon dioxide. Trong thứ vật liệu độc đáo này, men nở làm tốt nhiệm vụ của mình. “Men là những vi sinh vật có thể ‘ăn’ đường trong bột nhào”, David Hu, một nhà vật lý tại Georgia Tech không tham gia vào nghiên cứu này, cho biết. “Vì chúng tiêu hóa đường nên chúng ‘ợ hơi’ tạo ra carbon dioxide, và dẫn tới sự hình thành các bong bóng. Bột nhào sẽ giữ các bong bóng đó bên trong”. Việc để bột nghỉ khiến các bong bóng đó phát triển. Sau đó, khi các bánh pizza được nướng, các bong bóng khí được nấu chín trong bột, khiến cho kết cấu của bánh nhẹ xốp. “Bất kỳ độ xốp nào cũng tùy thuộc vào các bong bóng được tạo ra”, Hu giải thích.  Men nở, tuy nhiên, lại dễ bị ‘chết’ do nhiệt. “Một ổ bánh mì nướng hay một chiếc pizza nướng về cơ bản là một ‘nghĩa địa’ của các vi sinh vật”, theo Francisco Migoya, đầu bếp chính tại Modernist Cuisine, một nhóm gồm các đầu bếp, nhà khoa học và nghệ sĩ cùng quan tâm đến đổi mới sáng tạo trong ẩm thực. “Thực sự là không có gì còn sống sót được cả”, ông nói, đặc biệt với một chiếc bánh pizza  Neapls, vốn được nướng ở mức nhiệt hơn 800 độ F.  “Men nở làm nhiều điều cho bột bên cạnh việc cho lên men, ví dụ như những hương vị mà anh muốn”, Francisco Migoya cho biết thêm – ông không tham gia vào thực nghiệm này, nói với NPR. Giống như việc tạo ra một cú khởi động cho bột nhào, một lượng nhỏ men có sẵn trong không khí quanh chúng ta cũng sẽ tìm được đường “nhào vô” đám bột, khiến cho thật khó làm ra một cái bánh không men nở.    Các nhà khoa học đặt bánh vào một nồi hấp, một cái lò áp suất nhỏ có kích thước tương đương một lò nướng bánh mini.   Nhóm nghiên cứu của Di Maio nghĩ là có khả năng tạo ra một hiệu ứng tương tự theo một cách khác, bằng việc để bột nhào với khí trong điều kiện áp suất cao và “thoát” áp suất này trong quá trình nướng, áp dụng một phương pháp mà họ phát triển để chế tạo polyurethane. “Mục tiêu là cố gắng tạo ra kết cấu tương tự mà chúng ta yêu thích ở pizza mà không cần đến tác nhân hóa học,” Rossana Pasquino nói.  Trong khi một người làm pizza truyền thống nhào bột vào buổi sáng và sau đó để bột dậy men vào buổi chiều thì cách làm mới kết hợp việc làm nở bột và nướng bánh vào nguyên một bước. Đầu tiên, các nhà khoa học chuẩn bị một miếng bột nhào có kích thước tương đương quả bóng chơi golf theo công thức tiêu chuẩn của Naples, trừ men nở làm bánh. Họ đặt nó vào một nồi hấp, một cái lò áp suất nhỏ có kích thước tương đương một lò nướng bánh mini. Thông qua một cái cửa rót khí, họ bơm vào đó carbon dioxide, helium, hoặc không khí, và đưa vào một áp suất khoảng 10 atmospheres (cao gấp khoảng năm lần so với tiêu chuẩn áp suất của một lò nướng tiêu chuẩn) và nhiệt độ ở mức 150°C trong vòng 10 phút.  Phần khó nhất là đặt áp suất và nhiệt độ chạm tới mức đỉnh để tạo được bong bóng như khi bột được nhào với men nở. Đơn giản hơn, các nhà nghiên cứu muốn bột có thể sủi bọt như bia chứ không phải như Coke. “Anh phải giảm được áp suất trong khi bánh trở nên rắn lại”, Di Maio nói. “Nếu anh làm quá muộn – anh giảm áp suất sau khi bánh đã cứng lại – thì nó sẽ bị vỡ… Nếu áp suất được loại bỏ quá sớm thì nó sẽ co sụp”.  Để có được thời điểm hoàn hảo, nhóm nghiên cứu của Di Maio phải định rõ đặc điểm vật liệu của bột nhào bánh pizza. “Bột nhào là một hỗn hợp phức tạp của các chuỗi [polymer] khác nhau được kết dính lại với nhau và tạo ra một mạng lưới”, Pasquino nói. Paolo Iaccarino mang một nhiệt kế để đo lường nhiệt độ của bột trong một lò nướng bằng củi. Pasquino sau đó tái tạo những điều kiện trong phòng thí nghiệm để đo tính lưu biến của bột nhào – sự biến dạng của nó dưới ứng suất.  Di Maio và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Physics of Fluids “Rheology-driven design of pizza gas foaming” (Thiết kế sự hình thành bọt khí ở bánh pizza với sự điều hướng của ứng suất).  Kết quả trên thực tế là “chúng tôi đã thử nó, thật tuyệt là nó vừa giòn lại vừa mềm,” Di Maio cho biết. Trả lời NPR, anh nói phương pháp này vẫn đem lại khẩu vị “chính xác giống hệt bánh pizza có nhào men”.  Nhưng liệu nó có thực sự ngon như pizza truyền thống? Alessio Cappelli, một nhà công nghệ thực phẩm tại trường đại học Florence, cũng có nghi ngờ này. Dẫu cho là bài báo “thú vị” thì ông vẫn tự hỏi là liệu phương pháp mới này sẽ dễ được áp dụng rộng rãi không bởi men nở làm bánh thì quá rẻ và dễ áp dụng. “Nó giống như một giải pháp sáng tạo chỉ để cho vui.”  “Sáng tạo này đặt nền tảng cho hiểu biết sâu sắc hơn về điều gì diễn ra trong khi nấu nướng”, Di Maio trao đổi với CNN qua email. “Chúng tôi đã hào hứng trong phòng thí nghiệm để làm ra nó”.    Một video miêu tả quãng thời gian chiếc pizza không men nở của các nhà nghiên cứu dậy bột dưới tác động của áp suất cao.  Nhóm nghiên cứu cũng cho biết là họ không có ý định “chiếm hết thị phần” của pizza được làm theo cách truyền thống với men nở nhưng là giải pháp tốt cho những người buộc phải theo những chỉ dẫn ngặt nghèo như Di Maio. Họ lạc quan cho rằng kỹ thuật nạp khí của họ có thể cải thiện hơn kết cấu của các bánh pizza không gluten nữa. “Kỹ thuật mới này có thể định hướng sự phát triển của những sản phẩm mới, những công thức làm bột mới, và những cách làm cụ thể áp dụng cho những người không may mắc chứng không dung nạp thực phẩm, hi vọng sẽ giúp mọi người có thể thưởng thức các món ăn ngon miệng và lành mạnh với sức khỏe”, Di Maio cho biết trong một thông cáo báo chí.  Tiếp theo thành công của những chiếc bánh bé như một chiếc huy hiệu, nhóm nghiên cứu lập kế hoạch sử dụng nồi chưng áp cỡ lớn để tạo ra những bánh pizza có kích thước tiêu chuẩn thông thường.  “Chúng tôi sẽ khởi động một nghiên cứu mới về một cái bánh pizza như vậy trên một thiết bị thí nghiệm trong vài tháng tới. Sau đó, phụ thuộc vào kết quả, chúng tôi sẽ đi đến quyết định bán ý tưởng này cho các công ty, Di Maio cho biết thêm. “Tôi nghĩ khoảng hai năm là có thể, nếu mọi việc diễn ra theo hình dung và công trình có nhiều người xuất sắc tham gia thực hiện”.  Những người Naples đã sáng tạo ra pizza. Vì vậy họ muốn đảm bảo là tất cả mọi người đều có thể thưởng thức nó, theo nhiều cách khác nhau.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://www.npr.org/sections/health-shots/2022/03/22/1087961262/roll-over-sourdough-italian-scientists-develop-a-new-way-rise-pizza-crust  https://www.science.org/content/article/how-make-pizza-dough-without-yeast  https://edition.cnn.com/2022/03/23/world/pizza-dough-rises-without-yeast-study-scn/index.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/946752    Author                .        
__label__tiasang Các nhà kinh tế hiểu sai về Solow      Không ít nhà kinh tế hiểu sai lý thuyết của Robert Solow, cho rằng mô hình của ông giúp lượng hóa tác động của nghiên cứu KHCN đối với nền kinh tế.    Người ta cứ nghĩ rằng Robert Solow, chủ nhân của giải Nobel Kinh tế năm 1987, nổi tiếng với mô hình lý thuyết được coi là giúp “cho thấy những đổi mới công nghệ là tác nhân giúp tạo ra 80% tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong giai đoạn 1909-1949” như lời một quan chức cấp cao từ Bộ Nội chính Hoa Kỳ. GS. Frank Lichtenberg của Đại học Columbia cũng từng nói rằng “trong nghiên cứu năm 1956, Robert Solow đã cho thấy cải tiến kỹ thuật là cần thiết để có được tăng trưởng bền vững trong năng suất lao động”.   Tuy ông và những người viện dẫn Solow không đưa ra định nghĩa rõ ràng như thế nào là cải tiến công nghệ, cải tiến kỹ thuật, nhưng nhìn chung đa số công chúng đều liên tưởng ngay tới những máy móc tân tiến. Còn Solow trong trang đầu tiên của bài báo “Thay đổi kỹ thuật và hàm số sản xuất tổng thể”, ông đã viết: “Tôi sử dụng thuật ngữ ‘thay đổi kỹ thuật’ như một cách biểu thị ngắn gọn cho mọi loại tác nhân làm dịch chuyển hàm số sản xuất.  Nghĩa là, mọi tác nhân khiến hàm số sản xuất chậm lại, hoặc nhanh hơn, ví dụ như những cải thiện về trình độ giáo dục trong đội ngũ lao động, đều là những tác nhân có thể được tính là ‘thay đổi kỹ thuật’.           Solow không hề chứng minh rằng công nghệ có  vai trò quan trọng như cách hiểu của một số nhà kinh tế gần đây. Thay  vào đó, luận điểm của ông đơn giản chỉ nói rằng nguồn gốc của tăng  trưởng kinh tế vẫn là điều chưa được hiểu rõ.         Mô hình toán phản ánh tăng trưởng kinh tế mà Solow xây dựng là khá đơn giản. Đầu ra là sản lượng, đầu vào là vốn và lao động. Các nhà kinh tế cổ điển từ thời Adam Smith và David Ricardo đều đã định nghĩa “hàm số sản xuất” là sản lượng của nền kinh tế được tạo ra từ vốn và lao động (và đất đai). Luận điểm của Solow là ngoài vốn, lao động, và đất đai, vẫn còn những tác nhân khác không kém phần quan trọng. Nhưng Solow biết rõ giới hạn trong lý thuyết của mình: nó không thể hiện rõ những tác nhân khác này là gì. Vì vậy ông đã định nghĩa “thay đổi kỹ thuật” là mọi loại tác nhân làm dịch chuyển hàm số sản xuất. Solow không hề chứng minh rằng công nghệ có vai trò quan trọng như cách hiểu của một số nhà kinh tế gần đây. Thay vào đó, luận điểm của ông đơn giản chỉ nói rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế vẫn là điều chưa được hiểu rõ.      Trường hợp của Solow cho thấy các nhà kinh tế có thể dễ hiểu sai về khoa học và công nghệ như thế nào. Sau khi tạo ra một mô hình toán học tương đối lý tưởng hóa, Solow đã hoàn toàn trung thực về những giới hạn trong mô hình của mình. Với nhận định rằng chúng ta vẫn chưa thể hoàn toàn xác định rõ nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế, ông đã gọi tên cái phần chưa biết rõ này là “thay đổi kỹ thuật”. Nhưng người ta đã hiểu sai ý của ông, coi lý thuyết của ông là sự chứng minh cho thấy những công nghệ mới là động lực của tăng trưởng kinh tế. Sự sai lệch này đã nhanh chóng lan truyền khi người sau tiếp tục trích dẫn lại người trước. Chỉ ít năm sau bài báo của Solow, Kenneth Arrow, một nhà kinh tế đoạt giải Nobel khác, đã viết rằng Solow đã chứng tỏ “tầm quan trọng to lớn [của tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế] so với sự tích lũy vốn”.    Tất nhiên, đa số chúng ta đều hiểu là công nghệ mới đem lại những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Nhưng để ước lượng được mức độ quan trọng này không phải là chuyện dễ dàng. Bởi vì chúng ta không thể có một thế giới khác làm cơ sở so sánh, nơi có thể giả định là những công nghệ này chưa từng ra đời. Cho dù nếu bạn có tin vào phương pháp luận trong nghiên cứu của McKinsey trên 13 nền kinh tế lớn, trong đó nói rằng “Internet đóng góp 7% vào tăng trưởng giai đoạn 1995 – 2009 và 11% trong giai đoạn 2004 – 2009”, thì luận điểm này không hề cho thấy là nếu Internet chưa từng ra đời, nền kinh tế thế giới sẽ giảm bớt mức tăng trưởng từ 7% tới 11%. Chúng ta không biết, và không thể biết được nền kinh tế thế giới sẽ ra sao nếu trong vòng 20 năm qua, mạng lưới Internet chưa từng phát triển.   Để thấy sự sơ sài trong am hiểu của các nhà kinh tế về tầm quan trọng của công nghệ đối với nền kinh tế, chúng ta có thể xem trong cuốn sách bán chạy của năm ngoái, The Great Stagnation, của nhà kinh tế danh tiếng Tyler Cowen. Luận điểm chủ đạo trong cuốn sách này là tốc độ cải tiến công nghệ đang chậm lại, và điều này sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Vậy Cowen dựa vào đâu để ước định về tốc độ cải tiến công nghệ? Ông ta hầu như hoàn toàn dựa vào một bài báo công bố trên tạp chí Technological Forecasting and Social Change của Jonathan Huebner, một nhà vật lý làm việc tại trung tâm Naval Air Warfare Center. Bài báo của Huebner, “A Possible Declining Trend for Worldwide Innovation” dựa trên một phương pháp luận đơn giản. Ông dùng lại một đoạn trong cuốn sách The History of Science and Technology: A Browser’s Guide to the Great Discoveries, Inventions, and the People Who Made Them From the Dawn of Time to Today, trong đó liệt kê hơn 7000 “phát minh” và năm ra đời của chúng. Huebner chia số lượng phát minh trong mỗi thập kỷ kể từ năm 1455 cho dân số thế giới trong thập kỷ ấy, và tạo thành một biểu đồ. Từ biểu đồ này, ông ta kết luận rằng tình hình “đổi mới công nghệ trên khắp thế giới” đang suy giảm dần.          Đa số chúng ta đều hiểu là công nghệ mới đem  lại những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Nhưng để ước lượng được  mức độ quan trọng này không phải là chuyện dễ dàng. Bởi vì chúng ta  không thể có một thế giới khác làm cơ sở so sánh, nơi có thể giả định là  những công nghệ này chưa từng ra đời.         Vậy là cuốn sách của Cowen – được coi là “cuốn sách phi tiểu thuyết gây nhiều tranh luận nhất trong năm nay”, như David Brook nhận xét một tháng sau khi sách phát hành – hóa ra lại dựa theo một cuốn sách chỉ có giá trị tham khảo ở mức phổ thông, với phương pháp kiểm đếm hết sức thô sơ, đánh đồng mọi phát minh đều như nhau, dù là phát minh kính hai tròng hay “sáng chế siêu máy tính Nhật Bản Mô phỏng Trái đất” thì đều được tính là một phát minh.  Trong bài diễn văn nhận giải Nobel, Solow đã từng cảnh báo chúng ta về nguy cơ đơn giản hóa này, phê phán rằng các nhà kinh tế “đã cố quá sức, quá xa, đặt ra những câu hỏi không thực tế trong khi thiếu dữ liệu, áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết, và võ đoán các kết quả phân tích”. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng sự võ đoán này “có lẽ là không tránh khỏi, và cũng không phải là điều quá nên chê trách”.  Ông ta đã đúng, rằng sự võ đoán là không tránh khỏi. Nhưng tự an ủi rằng nó “không phải là điều quá nên chê trách” thì có lẽ đơn thuần chỉ là sự tế nhị thuần túy của một diễn giả trên bục nhận giải thưởng. Chúng ta không tính được mức độ thiệt hại của cái bẫy võ đoán, nhưng rõ ràng là khi chúng ta tuyên bố mình đã đo lường được những thứ mà chúng ta chưa từng đo lường – như vai trò của công nghệ đối với nền kinh tế, hay “tốc độ thay đổi của công nghệ”, hoặc hiệu quả của mỗi đồng tiền mà ngân sách liên bang bỏ ra cho nghiên cứu – và khiến các nhà hoạch định chính sách tin vào những điều này, thì hậu quả sẽ là những chính sách sai lệch.  Đầu óc các nhà kinh tế học hiện đại có sự mặc định rằng mọi thứ đều có thể lượng hóa được. Nếu bạn nói với họ về một thứ gì đó không thể lượng hóa được, họ sẽ bảo bạn rằng chỉ là nó chưa được lượng hóa đấy thôi. Cách nghĩ sai lầm này gây hậu quả, bởi vì các nhà kinh tế và các cộng sự của họ ở các trường quản trị kinh doanh thường có sức ảnh hưởng lớn tới việc xây dựng các chính sách công.   Lấy ví dụ như STAR METRICS, một chương trình của chính quyền Obama nhằm “đánh giá kết quả đầu tư công cho khoa học”. STAR METRICS sử dụng những chỉ tiêu như số lượng sáng chế hay số lượng trích dẫn bài báo khoa học để đo lường “tác động đối với tri thức khoa học từ nguồn đầu tư liên bang cho khoa học”. Tất nhiên, thật dễ để ngồi đếm số lượng trích dẫn lại một bài báo khoa học, nhưng khi chúng ta coi đây là một chỉ tiêu hành chính quan trọng thì sẽ xuất hiện các nhà nghiên cứu chuyên đi trích dẫn thông tin vì những lý do phi khoa học.     TX  Lược dịch theo   http://www.slate.com/articles/technology/future_tense/2012/05/robert_solow_tyler_cowen_and_other_economists_misunderstand_science_and_technology_.html    Author                Quản trị        
0.11242603550295859
__label__tiasang Các nhà kinh tế Trung Quốc?      Trung Hoa Công thương Thời báo (Hong Kong) ngày 26/10/2005 đăng bài của tiến sĩ Đinh Học Lương, giáo sư (GS) xã hội học trường Đại học Khoa học kỹ thuật Hong Kong nhận xét về các nhà kinh tế (KT) Trung Quốc (TQ). Nội dung bài này sau đó trở thành tiêu đề “Số lượng nhà KT TQ đạt yêu cầu không quá 5 người” hoặc “Đinh Học Lương phê bình các nhà KT TQ chỉ nói thay tập đoàn lợi ích” đã gây ra một cuộc thảo luận sôi nổi trong dư luận.    GS Đinh chủ yếu phê bình 2 điểm: Một là “Các nhà KT cốt cán của TQ dành quá ít công sức vào nghiên cứu KT học, dành quá nhiều công sức vào việc nói thay một tập đoàn lợi ích nào đó”. Còn “Các nhà KT phương Tây sau khi thực hiện xong các nghiên cứu hết sức độc lập và xuất sắc trong lĩnh vực KT học mới vào làm việc ngắn hạn trong các cơ quan Chính phủ hoặc ngân hàng lớn, sau đấy lại nhanh chóng trở về nghiên cứu KT học, chứ không phải là nghiên cứu chưa đâu vào đâu đã bắt đầu nghĩ cách kiếm tiền và làm quan”. Hai là trình độ chuyên nghiệp của các nhà KT TQ quá kém, “Số nhà KT trên ý nghĩa thực sự của TQ nhiều nhất không quá 5 người. Có nhà KT nổi tiếng TQ còn chưa đủ tư cách làm nghiên cứu sinh tại 50 khoa KT tốt nhất trên thế giới. Có nhà KT chưa có cống hiến gì đáng kể đối với khoa học KT thì đã muốn được tặng giải Nobel”.  Trước dư luận ồn ào trên, phần lớn các nhà KTTQ chọn thái độ im lặng. Có người nói: sự im lặng đó không bình thường; nó dường như ẩn giấu nỗi chua xót trong lòng đại đa số các nhà KT.  Tôi tán thành sự suy đoán ấy, đồng thời thấy cần trao đổi với GS Đinh một số vấn đề:    Nhà kinh tế tốt không bao giờ tâng bốc tính cách đạo đức của mình.  Tôi tán thành nhận xét của GS Đinh cho rằng có nhiều nhà KTTQ, kể cả “nhà KT nổi tiếng” đều trên mức độ khác nhau đang phát ngôn thay một số tập đoàn lợi ích; hoặc nếu không thì khoe mình phát ngôn vì đại chúng lao khổ. Theo tôi, họ đều làm vì lợi ích của họ. Điều tôi không tán thành là GS Đinh đánh đồng việc “phát ngôn vì tập đoàn lợi ích” với “gây ảnh hưởng không tốt cho xã hội”, khiến người ta có ấn tượng “càng phát ngôn vì tập đoàn lợi ích thì càng dễ tổn hại lợi ích của đại chúng”. Trên thế giới không tồn tại mối quan hệ nhân quả đơn giản này.  Nhà KT tốt không bao giờ tâng bốc tính cách đạo đức của mình. Họ biết rằng đạo đức cá nhân chỉ có thể ảnh hưởng tới một số rất ít người bên cạnh, chứ không thể dùng để giải quyết vấn đề của KT học. Bài đầu tiên họ được học là “trình tự tự phát (spontaneous order)” do F. Hayek đưa ra: thị trường cấu tạo bởi vô số cá thể phân lập,  các cá thể ấy chỉ làm theo ý mình, cùng nhau hình thành hậu quả họ trước đấy chưa từng nghĩ đến. Trật tự hình thành tự phát đó có đặc điểm quan trọng nhất là ở chỗ mục tiêu đơn nhất và lực lượng đơn nhất thì không giúp ích gì cho việc cải thiện kinh tế toàn bộ.  Bắt đầu từ A. Smith, KT học đã nhấn mạnh nghiên cứu “bàn tay vô hình”. Nghèo đói tồn tại dai dẳng không phải là do thiếu tài nguyên, do nguyện vọng xoá nghèo còn yếu, do đạo đức của các nhà KT còn thấp, mà là do xã hội thiếu sự phối hợp hài hòa. Các nhà KT có nhiệm vụ tìm ra phương án phối hợp hài hòa chứ không phải là tâng bốc đạo đức cá nhân.  Như vậy tôi đã trả lời điểm phê bình thứ nhất của GS Đinh: cần xem xét kết quả thực thi kiến nghị của nhà KT chứ không xem xét đạo đức hoặc thu nhập của họ. Có nhà KT nêu kiến nghị mà không lấy thù lao, nhưng kết quả thực thi kiến nghị ấy lại rất tồi tệ, nên chúng ta phản đối kiến nghị của họ. Có nhà KT chạy sô khắp nơi kiếm thù lao, chưa ngay thẳng trong sáng khi làm việc, song kiến nghị của họ có lợi cho nhiều người, thì ta vẫn cần tán thành chủ trương của họ.   Tôi cũng tán thành ý kiến của GS Đinh: xét theo số lượng bài báo được đăng và mức độ được quốc tế công nhận thì trình độ các nhà KTTQ còn cách khá xa tiêu chuẩn quốc tế; chủ yếu thể hiện trên 3 tầng ngăn cách: 1) rất ít người có thể viết thạo tiếng Anh; 2) thiếu số liệu và cơ hội trao đổi tư tưởng học thuật; 3) rất khó có điều kiện đọc các tài liệu giá trị, cho nên chưa biết trên tuyến đầu KT học quốc tế người ta đang làm gì.    Các nhà KT nước ngoài cũng tìm kiếm danh lợi.  Cách GS Đinh nói về các nhà KT phương Tây đã gây hiểu lầm là họ không kiếm lợi, còn các nhà KTTQ thì chỉ lo mưu cầu danh lợi. Sự thật không phải thế. Vấn đề là cơ chế học thuật của phương Tây có thể cân đối giữa nhu cầu danh lợi của nhà khoa học với cống hiến của họ, có thể dùng số tiền ít nhất đổi lấy thành quả học thuật lớn nhất. Đó là cơ chế đăng bài báo trên các tạp chí định kỳ và cơ chế bình xét chức vụ giảng viên suốt đời. Một học giả trình độ học thuật cao phải qua hai lần sàng lọc này thì mới có điều kiện vật chất ổn định, có thể đi xa trên con đường học thuật. Tuy lương của GS KT học phương Tây không cao, nhưng khi được phong là giảng viên suốt đời thì nguồn thu nhập rất vững chắc, trừ khi phạm tội hình sự hoặc có chuyện tình ái với sinh viên. Chế độ này chọn được những người thực sự quan tâm đến học vấn.  Các học giả phương Tây chưa bao giờ coi nhẹ thu nhập. Nếu họ không muốn kiếm tiền thì đó là do họ đã có nguồn thu nhập ổn định. Vì thế ta có thể thông cảm tại sao các học giả TQ phải lo kiếm ăn. Điều này liên quan tới cơ chế và nguồn vốn giúp họ. Nếu TQ chưa thể tạo điều kiện vật chất tương tự thì đành phải chấp nhận cách sống và nghiên cứu của học giả TQ khác với phương Tây.  Sự phê phán còn quá đơn giản.  Ở đây, ta cần phân tích tách rời 5 tầng nấc hoàn toàn khác nhau của nhà KT: “động cơ nhân phẩm”, “thu nhập cao thấp”, “hình ảnh trong công chúng”, “chủ trương chính sách” và “kết quả thực tế”. Mặt khác phải xem xét một cách có phê phán trình độ phát triển của toàn bộ KT học, vừa phải thấy sự chuẩn mực hóa nghiên cứu KT học ở phương Tây, thừa nhận họ vượt xa TQ, vừa phải nhìn thấy các thiếu thốn về nội dung và khó khăn ẩn giấu bên trong sự chuẩn hóa ấy. Từ đó có thể đánh giá đúng về nhà KT từ bản thân sự việc. Nếu đơn giản hóa vấn đề “ý kiến của người ấy đúng hay sai” thành “người ấy có tự tư tự lợi không” hay “có là học giả đạt yêu cầu không”, thì ta sẽ càng sai lầm./.      Nguồn: tạp chí “Bình luận TQ” số 3. 2006     Nguyễn Hải Hoành lược dịch     Tiết Triệu Phong (Khoa Kinh tế trường đại học George Mason, Mỹ).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu đạt viễn chuyển lượng tử với độ chính xác cao và bền vững      Một mạng internet lượng tử khả thi – một mạng lưới trong đó thông tin được lưu trữ trong các bit lượng tử (qubit) được chia sẻ trong những khoảng cách dài thông ra rối lượng tử – có thể chuyển đổi các lĩnh vực lưu trữ dữ liệu, cảm biến và tính toán chính xác precision sensing and computing, dẫn đường tới một kỷ nguyên truyền thông mới.      Trong một thí nghiệm về viễn chuyển lượng tử có độ chính xác cao tại Mạng lưới lượng tử Fermilab, các cáp quang kết nối các thiết bị hiện có, cũng như các thiết bị R&D tiên tiến. Nguồn: Fermilab  Các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Fermi – một phòng thí nghiệm quốc gia của Bộ Năng lượng Mĩ liên kết với trường đại học Chicago – cùng với các đồng nghiệp tại năm viện nghiên cứu đã thực hiện một bước tiến quan trọng trong việc định hướng hiện thực hóa một mạng internet lượng tử.  Trong bài báo “Teleportation Systems Toward a Quantum Internet” xuất bản trên tạp chí PRX Quantum, nhóm nghiên cứu đã trình bày việc thực hiện thành công lần đầu tiên một viễn chuyển bền vững trên các bit lượng tử làm bằng các photon (những hạt ánh sáng) với độ chính xác tới hơn 90%.  Các bit lượng tử đã được truyền qua một mạng lưới sợi quang dài 44 km bằng các máy dò đơn photon tiên tiến cũng như thiết bị sẵn có.  “Chúng tôi vô cùng phấn khích trước những kết quả này”, Panagiotis Spentzouris, người phụ trách chương trình khoa học lượng tử ở Fermilab và là một trong những đồng tác giả. “Đây là thành công quan trọng trên con đường xây dựng một công nghệ sẽ làm tái xác định cách chúng ta thực hiện truyền thông toàn cầu”.  Thành công này chỉ đến vài tháng trước khi Bộ Năng lượng Mỹ tiết lộ sẽ bật đèn xanh cho internet lượng tử quốc gia tại một cuộc họp báo tại trường đại học Chicago.  Kết nối các hạt  Viễn chuyển lượng tử là một vận chuyển một cách “kỳ quái” các trạng thái lượng tử từ một địa điểm sang địa điểm khác. Viễn chuyển lượng tử của một bit lượng tử đạt được là nhờ sử dụng rối lượng tử, trong đó hai hoặc nhiều hạt gắn bó với nhau chặt chẽ liên kết với các hạt khác. Nếu một cặp hạt được chia sẻ trạng thái rối lượng tử ở hai địa điểm khác nhau, không quan trọng khoảng cách giữa chúng, thông tin mã hóa được truyền đi.  Nhóm hợp tác – các nhà nghiên cứu ở Fermilab, AT&T, Caltech, trường đại học Harvard, Phòng thí nghiệm Jet Propulsion NASA và trường đại học Calgary đã truyền thành công các qubit trên hai hệ thống: Mạng lưới lượng tử Caltech và Mạng lưới lượng tử Fermilab. Chương trình nghiên cứu công tư của Caltech về các công nghệ và mạng lượng tử thông minh (IN-Q-NET) đã thiết kế,  xây dựng, vận hành và triển khai các hệ này.  “Chúng tôi rất tự hào khi đạt được thành công mang tính cột mốc về các hệ viễn chuyển lượng tử bền vững, hiệu suất cao và có khả năng mở rộng quy mô này”, Maria Spiropulu, giáo sư vật lý vị trí Shang-Yi Ch’en tại Caltech và là giám đốc chương trình IN-Q-NET nói. “Kết quả này sẽ được cải thiện hơn nữa với việc nâng cấp hệ thống mà chúng tôi đang chờ đợi sẽ hoàn thành trong quý hai năm 2021”.  Cả hai mạng lưới của Caltech và Fermilab, vốn có đặc điểm là quá trình xử lý dữ liệu gần tự động, tương thích với cấu trúc viễn thông hiện có và với cả các thiết bị xử lý và lưu trữ lượng tử mới nổi. Các nhà nghiên cứu đang dùng chúng để cải thiện độ chính xác và tỉ lệ phân phối rối lượng tử, với một sự nhấn mạnh vào những giao thức truyền thông lượng tử phức hợp và khoa học cơ bản.  “Với thí nghiệm này, chúng tôi đang bắt đầu đặt nền tảng cho cấu trúc của một mạng lưới lượng tử trung tâm khu vực Chicago”, Spentzouris nói.  Mạng lưới vùng Chicago mang tên Mạng lưới lượng tử nhanh Illinois do Fermilab hợp tác với Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, Caltech, trường đại học Northwestern và các đối tác công nghiệp thiết kế.  “Chiến công này là một bằng chứng rõ ràng về thành công của việc hợp tác liên ngành và liên viên, vốn định hướng rất nhiều cho những gì chúng ta đạt được trong khoa học”, Joe Lykken – Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu của Fermilab. nói. “Tôi tự hào về nhóm IN-Q-NET vafcasc đối tác của chúng tôi trong cả giới hàn lâm và công nghiệp vì thành tựu  vô cùng xuất sắc trong viễn chuyển lượng tử này.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-sustained-high-fidelity-quantum-teleportation.html;   http://dx.doi.org/10.1103/PRXQuantum.1.020317    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu khám phá các liệu pháp điều trị sử dụng ketamine      Được sản xuất đầu tiên vào hơn 50 năm trước, ketamine là một chất gây mê phân lý tác dụng nhanh thường được sử dụng trong thú ý và cấp cứu. Trong lịch sử, ketamine cũng từng là một dược chất bị cấm sử dụng.    Hiện tại, ketamine đang được giới chuyên môn nhìn nhận cẩn thận hơn.  Các nhà nghiên cứu ở UBC Okanagan và trường đại học Exeter đã nhận diện ketamine như một công cụ quyền lực tiềm năng trong cuộc đấu chống lại các chứng bệnh tâm thần.  Trong một nghiên cứu mới đây xuất bản trên British Journal of Psychiatry, nhóm nghiên cứu đã tìm ra ketamine có hiệu quả trong việc chống lại bệnh trầm cảm và chống tự tử. Họ phát hiện ra bằng chứng cho thấy lợi ích của nó trong việc ngăn chặn những suy nghĩ này.  Do giáo sư tâm lý Zach Walsh và nghiên cứu sinh Joey Rootman – cùng ở Khoa Nghệ thuật và khoa học xã hội Irving K. Barber – nhóm nghiên cứu đi đến kết luận này sau khi phân tích hơn 150 nghiên cứu trên khắp thế giới về các hiệu ứng của các liều ketamine trong tiền gây mê trong điều trị các bệnh tâm thần. Nghiên cứu này còn được giáo sư Celia Morgan đồng dẫn dắt và nghiên cứu sinh của bà là Merve Mollaahmetoglu từ trường đại học Exeter (Anh) tham gia.  “Chúng tôi đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục cho thấy ketamine đem đến các hiệu quả nhanh và mạnh trong chống trầm cảm và chống tự tử nhưng các hiệu quả này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn”, Rootman giải thích. “Tuy nhiên, việc lặp lại các liều có tiềm năng gia tăng thêm phạm vi hiệu quả tích cực”.  Vượt ra ngoài những kết quả này, nghiên cứu đem lại bằng chứng cho thấy ketamine có thể hỗ trợ điều trị các chứng bệnh rối loạn tâm thần khác, bao gồm biếng ăn, sử dụng chất gây nghiện, căng thẳng và lo lắng – dẫu bằng chứng về hiệu quả của nó trong những khía cạnh rất nhỏ.  “Những gì mà nghiên cứu của chúng tôi cung cấp là đem lại một cái nhìn toàn cảnh cập nhật và tổng hợp hiểu biết ở các nơi của ketamine”, Rootman nói. “Kết quả của chúng tôi đem lại tín hiệu cho thấy ketamine có thể còn có phổ ứng dụng tiềm năng rộng hơn trong điều trị các bệnh tâm lý – và nói với chúng ta là cần cần nhiều nghiên cứu tiếp theo”.  Nghiên cứu này tạo ra một nền tảng cho các nhà nghiên cứu tìm cách thiết kế các dự án về ketamine và đề xuất các dữ liệu giá trị cho các nhà lâm sàng xem xét để sử dụng ketamine cho bệnh nhân của mình.  Kết quả này cũng giúp thu hút sự chú ý của công chúng với thông tin về những giải pháp điều trị tâm lý nhiều chất đổi mới sáng tạo và mới nổi, tiến sĩ Walsh giải thích là công trình đem đến một bộ tài liệu đã được chọn lọc với bằng chứng liên quan đến việc sử dụng ketamine trong điều trị, có thể sẽ hữu ích đối với các chẩn đoán khác nhau.  “Vì cứ năm người Canada thì có một người sẽ trải qua một chứng bệnh tâm thần trong năm nay, và thực tế là các phương pháp điều trị hiện hành không hiệu quả với tất cả mọi người”, ông nói. “Nhiều người Canada tò mò về những cách tiếp cận mới để có thể giúp giải quyết những vấn đề quan trọng này”.  Về tổng thể, trong khi thừa nhận là những hiểu biết về nghiên cứu trong những lĩnh vực điều trị khác nhau vẫn chỉ mới bắt đầu, tiến sĩ Walsh vẫn cho rằng những bằng chứng ban đầu rất khích lệ.  “Chúng tôi cần nhiều thông tin về những biện pháp can thiệp có thể triển khai như thế nào, ví dụ, việc sử dụng thuốc mới chỉ là một phần của điều trị. Chúng tôi cần định hình ra những khối lượng và dạng liệu pháp tâm lý phù hợp nhất với can thiệp bằng thuốc để tối đa lợi ích tiềm năng sẽ đạt được”, ông giải thích. Và có thể nói đây chính là thời điểm đúng đắn thực sự cho nghiên cứu katamine. Nếu nó có thể đạt được điều mà bằng chứng ban đầu gợi ý, nó có thể là một trong những phát triển đáng chú ý nhất trong điều trị sức khỏe tâm thần trong nhiều thập kỷ qua”.    Nguyễn Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-explore-therapeutic-ketamine.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/03/220318161446.htm  —————————————————  1. https://www.cambridge.org/core/journals/bjpsych-open/article/ketamine-for-the-treatment-of-mental-health-and-substance-use-disorders-comprehensive-systematic-review/36E261BFA62CDA6459B88F7777415FDA    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu mã hóa đích của hàng trăm tín hiệu enzyme      Khi các tế bào của người cảm nhận được sự thay đổi của môi trường, các phân tử kinase có thể giúp chúng phản hồi: các enzyme chuyên biệt hóa các protein hoạt động, phát đi các tín hiệu bên trong tế bào để cuối cùng thay đổi chức năng của nó. Nếu các nhà khoa học muốn biết vai trò của một kinase cụ thể – và có hàng trăm trong số chúng – họ phải hiểu đầu tiên là protein hướng đích gì. Trong phần lớn trường hợp, điều này vẫn còn chưa rõ ràng.    Trong phân tích mới hơn 300 kinase trong cơ thể người, các nhà nghiên cứu Yale tìm thấy các hiểu biết mới trong các protein mà các  enzyme thường có xu hướng hướng đích. Những gì họ tìm thấy sẽ dẫn đến hiểu biết sâu sắc hơn về sinh học về cơ thể người và nhậ diện những đích cho điều trị bệnh tật.  Những phát hiện này đã được xuất bản trên Nature 1.  Kinase là các enzyme tạo điều kiện cho một quá trình gọi là phosphoryl hóa – việc gắn một nhóm phosphate vào một phân tử hoặc một ion. Về cơ bản, một kinase lập một tập hợp nhỏ phân tử gọi là nhóm phosphate, bao gồm một nguyên tử phosphorus và bốn nguyên tử oxy, và giúp gắn vào một khu vực cụ thể của một protein đã biết mà người ta gọi là vị trí phosphoryl hóa.  “Khi một protein đón nhận sự phosphoryl hóa của một kinase, nó tạo ra một cú chuyển có thể thay đổi hoạt động của protein hoặc nơi nó đến trong tế bào. Nó có thể thay đổi chức năng của protein theo vô số cách”, Benjamin Turk, một phó giáo sư dược học tại trường Y Yale và là một đồng tác giả của nghiên cứu (ảnh). Các đồng tác giả khác là Michael Yaffe tại Viện Công nghệ Massachusetts và Lewis Cantley tại Weill Cornell Medicine.  Có hơn 500 kinase trong cơ thể người hoạt động trên hàng trăm ngàn các vị trí phosphoryl hóa. Turk nói, có vô số cách phosphoryl hóa thiết yếu như thế nào với các quá trình trong tế bào. “Nhưng không rõ các kinase đến các vị trí phosphoryl hóa bằng cách nào và điều này vẫn còn là một khoảng trống hiểu biết”, ông cho biết thêm.  Để lý giải điều này, Turk và đồng nghiệp của mình đã tập trung vào cách các kinase ghi nhận các mục tiêu của chúng. Các protein được các amino acid tạo thành; các kinase ghi nhận những sợi ngắn amino acids xung quanh các vị trí phosphoryl hóa. Với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đặt các dây amino acid khác nhau vào cạnh nhau, sử dụng tất các cả kết hợp amino acid có thể, và đo đạc cách các kinase khác nhau được phosphoryl hóa ở mỗi dây amino acid.  “Bằng việc nhìn vào các chuỗi phosphoryl hóa nhanh nhất và chậm nhất, nó sẽ nói cho anh biết các chuỗi amino acid thích hay không thích kinase cụ thể nào”, Turk nói.  Trong một phát hiện thú vị, Turk nói, các nhà nghiên cứu khám phá ra một số vị trí phosphoryl hóa được ghi nhận một cách đơn giản bởi các kinase mà chúng đã biết nhưng thậm chí sự ghi nhận này còn tệ hơn với các kinase khác. “Chúng tôi nghĩ là trong các trường hợp giống như việc các vị trí phosphoryl hóa có thể tiến hóa để xâm nhập các kinase lỗi hơn là tạo ra sự ghi nhận bằng kinase đúng”, ông nói. “Điều này nói với chúng tôi nhiều về cách sự chuyên biệt gia tăng trong các hệ này như thế nào”.  Nghiên cứu mới tạo ra một nguồn online mà các nhà khoa học khác có thể sử dụng. Đó là những người muốn biết kinase mình quan tâm có thể phosphoryl hóa những gì – hoặc kinase mà protein họ quan tâm được phosphoryl hóa bằng cách nào – có thể tạo ra một danh sách các đề xuất có thể dựa trên phát hiện của nghiên cứu.  Các kết quả cũng cho thông tin về một dự án khác do phòng thí nghiệm của Turk, trong đó các nhà nghiên cứu khám phá một nhóm nhỏ kinase gọi là các kinase protein hoạt hóa phân bào, hay các kinase MAP. Mỗi kinase này đều có vai trò vô cùng khác biệt trong cơ thể người, bất chấp việc hoàn toàn tương đồng về mặt phân tử với nhau.  Trong nghiên cứu thứ hai, xuất bản trên tạp chí Science Signaling 2, Turk và cộng sự – bao gồm tác giả thứ nhất Guangda Shi, một nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của Turk và hiện ở trường đại học Pennsylvania – miêu tả cách các kinase MAP hướng đích các protein của mình khác nhau như thế nào và các hiệu ứng khác nhau của chúng. Công trình này, họ cho biết, giúp làm rõ các con đường truyền tín hiệu trong các tế bào có thể được miêu tả như thực tế và có thể có những gợi ý về việc hiểu và điều trị các bệnh như ung thư.  “Các kinase MAP thường vô cùng hiếu động nên chúng có thể trở thành đích cho thuốc điều trị”, Turk giải thích. “Hiểu về cách các kinase hoạt động như thế nào và hoạt động ở đâu sẽ giúp chúng ta hiểu các con đường truyền tín hiệu của chúng sâu sắc hơn. Và sẽ đem lại cho chúng ta những cái nhìn sâu hơn vào tất cả các dạng chức năng sinh học và nơi chúng sẽ tạo ra ‘sai hỏng’ trong các bệnh tật”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://news.yale.edu/2023/02/14/researchers-decode-targets-hundreds-signaling-enzymes  https://www.sciencedaily.com/releases/2023/01/230112113227.htm  ———————————————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-05575-3  2. https://www.science.org/doi/10.1126/scisignal.abm5518    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu Mỹ kêu gọi ngừng “photoshop” hình ảnh quảng cáo      Việc đưa ra các chính sách và sáng kiến cho doanh nghiệp có thể ngăn chặn hình ảnh quảng cáo đã qua chỉnh sửa, một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ rối loạn ăn uống.      Các công cụ chỉnh sửa ảnh ngày càng đem lại những hình ảnh quảng cáo với các chuẩn mực sắc đẹp phi thực tế.   Các nhà nghiên cứu Đại học Harvard, Đại học Dickinson College và Trường Luật Đại học bang Michigan mới xuất bản công bố “Digital Manipulation of Images of Models’ Appearance in Advertising: Strategies for Action Through Law and Corporate Social Responsibility Incentives to Protect Public Health” trên The American Journal of Law & Medicine, trong đó phân tích về những chiến lược quy định pháp lý có thể giúp chống lại xu hướng các hình ảnh quảng cáo đang bị “photoshop” tràn lan và gắn với các chuẩn mực sắc đẹp phi thực tế. Từ đó, họ kêu gọi chính phủ đặt ra những quy định cho ngành công nghiệp quảng cáo để ngăn chặn hình ảnh đã qua chỉnh sửa kĩ thuật số. Bằng chứng về mối quan hệ rõ ràng giữa những chuẩn mực sắc đẹp sai lệch với các tác hại về sức khỏe cộng đồng như tăng nguy cơ rối loạn ăn uống cho thấy cần nâng cao nỗ lực phòng ngừa xu hướng này.  Phó giáo sư Suman Ambwani, ngành tâm lý học của đại học Dickinson College nói: “Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc ‘phơi nhiễm’ với các chuẩn mực sắc đẹp phi thực tế như ảnh chỉnh sửa kĩ thuật số đã góp phần vào việc khiến chúng ta cảm thấy bất mãn với cơ thể và có hành vi rối loạn kiểm soát cân nặng. Do mức độ nghiêm trọng của chứng rối loạn ăn uống hiện đang ảnh hưởng đến hàng triệu công dân Mỹ bất kể giới tính, sắc tộc, tình trạng kinh tế- xã hội, chúng ta cần phải xét tới các chiến lược y tế công cộng để giảm nguy cơ trên.”  Giáo sư Bryn Austin từ Trường Y tế Công cộng Harvard T.H.Chan bổ sung: “Từ nhiều năm nay, chúng ta đã biết những hình ảnh quảng cáo gây hại cho giới trẻ như thế nào, đặc biệt với những người tự ti về ngoại hình. Nhưng chúng ta không biết có những lựa chọn nào để chống lại những hình ảnh này. Ở Mỹ, nhờ Tu chính án I Hiến pháp, chúng ta có quyền làm điều đó. Cần đưa ra các sáng kiến để khuyến khích doanh nghiệp làm điều đúng đắn. Nghiên cứu của chúng tôi gợi ý, việc thúc đẩy các công ty tăng quảng bá hình ảnh lành mạnh hơn sẽ tốt cho hoạt động kinh doanh của họ và cả sức khỏe tinh thần của giới trẻ.”  Nghiên cứu này là nền tảng cho dự luật Tôi chân chính (#theRealMe) đang được bà Kay Khan, đại diện thuộc Đảng Dân chủ thành phố Newton, đệ trình lên cơ quan lập pháp bang Massachusetts. Dự luật đề xuất nhằm mục đích đẩy nhanh tiến trình thay đổi bằng cách đưa ra các ưu đãi thuế cho những công ty sử dụng “hình ảnh quảng cáo thực tế” -không thay đổi tông màu da, bề mặt, hình dạng và kích thước cơ thể người mẫu.  Nhóm nghiên cứu liệt kê các ưu đãi thuế như một trong nhiều chiến lược để chống lại các hình ảnh chỉnh sửa kĩ thuật số đang ngày càng sinh sôi nảy nở. Họ cũng kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp khác như đánh thuế trực tiếp, đưa ra quy định từ Ủy ban Thương mại Liên bang, khuyến khích tự nguyện và tự điều chỉnh ngành trong việc thay đổi hành vi quảng cáo.   Các nhà nghiên cứu kết luận, áp lực từ phía người tiêu dùng tăng lên đang thách thức các hoạt động quảng cáo có chỉnh sửa, và một số công ty bắt đầu tham gia vào chiến dịch “không photoshop” khiến thời điểm hiện nay là lý tưởng để các nhà hoạch định chính sách, những người ủng hộ và các công ty xem xét những lựa chọn trên để tạo ra chính sách đột phá và có khả năng cải thiện sức khỏe bằng cách giảm thiểu tác hại từ hình ảnh kỹ thuật số gây ra. □  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2019-07/dc-rcf072519.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu phát hiện ra một dạng kháng kháng sinh mới      Các nhà nghiên cứu Úc đã phát hiện ra một dạng kháng kháng sinh mới, không thể phát hiện được bằng các phương pháp thử nghiệm truyền thống trong phòng thí nghiệm.     Kháng kháng sinh là một trong những mối đe dọa sức khỏe lớn nhất hiện nay. Người ta dự đoán đến năm 2050, kháng kháng sinh sẽ cướp đi khoảng 10 triệu sinh mạng. Các nhà khoa học đang chạy đua nghiên cứu và đón đầu khi những lợi ích của thuốc kháng sinh đang giảm dần.  Nhóm nghiên cứu do TS. Timothy Barnett, trưởng nhóm Chẩn đoán và Sinh lý bệnh liên cầu khuẩn nhóm A, Trung tâm Vaccine và bệnh truyền nhiễm Wesfarmers (Viện Telethon Kids ở Perth, Tây Úc), đã phát hiện ra bằng chứng quan trọng về việc một số vi khuẩn đang tìm cách né tránh thuốc kháng sinh như thế nào.    Trong nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Communications, các tác giả đã tiết lộ một cơ chế mới cho phép vi khuẩn hấp thụ chất dinh dưỡng từ vật chủ là con người và né tránh liệu pháp kháng sinh. Họ đã phát hiện ra điều này khi tìm hiểu về mức độ nhạy cảm với kháng sinh của liên cầu khuẩn nhóm A – một loại vi khuẩn có thể gây chết người thường tồn tại trên da và trong cổ họng.  “Vi khuẩn cần tạo ra folate (axit folic) để phát triển và gây bệnh. Một số loại kháng sinh ngăn chặn quá trình sản xuất folate của vi khuẩn, từ đó ngăn chúng phát triển và điều trị nhiễm trùng”, TS. Barnett giải thích. “Khi xem xét một loại kháng sinh thường dùng để điều trị nhiễm trùng da do liên cầu khuẩn nhóm A, chúng tôi đã phát hiện ra một cơ chế kháng thuốc mới – khi quá trình sản xuất folate của vi khuẩn bị ngăn chặn, chúng có thể lấy folate trực tiếp từ vật chủ là con người. Điều này khiến thuốc kháng sinh không còn hiệu quả và tình trạng nhiễm trùng sẽ tồi tệ hơn”.  Các phòng thí nghiệm bệnh lý thông thường không thể phát hiện được dạng kháng thuốc mới này, khiến các bác sĩ rất khó kê đơn điều trị nhiễm trùng hiệu quả, khiến sức khỏe bệnh nhân suy yếu, thậm chí tử vong sớm.  “Thật không may, chúng tôi nghi ngờ đây chỉ là phần nổi của tảng băng trôi – chúng tôi đã xác định được cơ chế này ở liên cầu khuẩn nhóm A nhưng có khả năng đây sẽ là vấn đề lớn hơn đối với các mầm bệnh vi khuẩn khác”, TS. Barnett nói. Nghiên cứu của họ nhấn mạnh rằng việc tìm hiểu về kháng kháng sinh phức tạp hơn nhiều so với suy nghĩ ban đầu.  “Kháng kháng sinh là một đại dịch thầm lặng có rủi ro lớn hơn nhiều so với COVID-19 – ngoài 10 triệu ca tử vong mỗi năm vào năm 2050, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính kháng kháng sinh sẽ gây thiệt hại 100 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế toàn cầu nếu chúng ta không tìm ra cách ngăn chặn”, ông nói thêm. “Nếu không có thuốc kháng sinh, chúng ta sẽ không có cách nào để ngăn chặn các bệnh nhiễm trùng chết người, phẫu thuật cho người bệnh hay hóa trị cho bệnh nhân ung thư”.  “Để duy trì hiệu quả lâu dài của kháng sinh, chúng ta cần xác định và hiểu rõ hơn về các cơ chế kháng kháng sinh mới, từ đó tìm ra các loại kháng sinh mới và cho phép chúng ta giám sát kháng kháng sinh khi nó phát sinh”.  Kalindu Rodrigo, tác giả thứ nhất của nghiên cứu cho biết, giờ đây họ sẽ tập trung phát triển các phương pháp thử nghiệm nhằm phát hiện cơ chế kháng thuốc này và tìm cách điều trị hiệu quả.  “Trong bối cảnh kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, điều quan trọng là phải có các công cụ chẩn đoán mới có thể phát hiện nhanh tình trạng kháng kháng sinh, bao gồm cả tình trạng kháng thuốc phụ thuộc vào vật chủ. Do vậy, chúng tôi muốn phát triển các xét nghiệm tại chỗ cho những nơi xa xôi – nơi nhiễm trùng liên cầu khuẩn nhóm A là bệnh đặc hữu”, Rodrigo nói.  “Điều quan trọng là chúng ta phải đi trước một bước trước những thách thức của kháng kháng sinh, đồng thời phải tiếp tục khám phá cơ chế kháng thuốc của các mầm bệnh và thiết kế các phương pháp chẩn đoán, điều trị một cách chính xác và nhanh chóng. Mặt khác, sự nỗ lực từ mọi phía, bao gồm bệnh nhân, các chuyên gia y tế, các nhà hoạch định chính sách là điều cần thiết để giảm tác động của kháng kháng sinh”, Rodrigo kết luận.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-antimicrobial-resistance.html    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tạo ra loa mỏng như tờ giấy      Các kỹ sư MIT đã phát triển một loại loa mỏng như tờ giấy có thể gắn lên bất cứ bề mặt nào trong một thiết bị âm thanh đang hoạt động.    Loa màng mỏng này có thể tạo ra âm thanh với độ méo tiếng tối thiểu trong khi chỉ sử dụng một phần năng lượng của loa truyền thống. Loa của nhóm phát triển có kích thước tương đương bàn tay chỉ nặng ngang với một đồng tiền xu nhưng có thể tạo ra âm thanh chất lượng cao và không phụ thuộc vào bề mặt mà màng mỏng này gắn vào.  Để có được những tính năng đó, các nhà nghiên cứu đã tiên phong phát triển một kỹ thuật chế tác đơn giản, chỉ đòi hỏi có ba bước cơ bản và có thể nâng cao quy mô sản xuất các loại loa siêu mỏng ở mức lớn để có thể bao phủ một chiếc ô tô hoặc dá trên tường một căn phòng.  Sử dụng cách này, chiếc loa màng mỏng có thể đem đến khả năng khử tiếng ồn chủ động trong những môi trường ồn ào, ví dụ như một buồng lái máy bay, bằng việc tạo ra âm thanh cùng biên độ nhưng ngược pha; hai âm thanh lúc đó sẽ loại trừ lẫn nhau. Thiết bị đầy linh hoạt này có thể hữu dụng trong các hoạt động giải trí, có lẽ là cung cấp audio ba chiều trong một nhà hát hoặc một công viên giải trí. Và bởi vì nó nhẹ và đòi hỏi ít điện khi vận hành, thiết bị này phù hợp với những ứng dụng của các thiết bị thông minh, nơi nguồn cung là các loại pin đều giới hạn về vòng đời.  “Thật đáng chú ý khi cầm lấy thứ trông giống như một tờ giấy mỏng, gắn kẹp vào nó rồi cắm vào cổng tai nghe của máy tính và bắt đầu nghe thấy âm thanh phát ra từ nó. Nó có thể được sử dụng ở bất cứ đâu. Chỉ cần một lượng rất nhỏ điện để nó hoạt động”, Vladimir Bulović, người giữ ghế các công nghệ mới nổi Fariborz Maseeh, người phụ trách Phòng thí nghiệm Điện tử cấu trúc hữu cơ và nano (ONE Lab), giám đốc MIT.nano, và tác giả chính của nghiên cứu, nói.  Bulović chấp bút cho bài báo này cùng tác giả thứ nhất Jinchi Han, một postdoc ở ONE Lab, và đồng tác giả liên hệ Jeffrey Lang, giáo sư kỹ thuật điện Vitesse. Nghiên cứu này được xuất bản teen tạp chí IEEE Transactions of Industrial Electronics 1.  Một cách tiếp cận mới  Một chiếc loa thông thường được tìm thấy ở các tai nghe hoặc hệ thống âm thanh sử dụng đầu vào của dòng điện đi qua một cuộn dây tạo ra từ trường, làm di chuyển màng loa, di chuyển không khí bên trên nó và tạo ra âm thanh mà chúng ta nghe thấy. Ngược lại, loa mới được đơn giản hóa thiết kế bằng cách sử dụng một màng mỏng của vật liệu áp điện di chuyển khi có điện áp đặt lên nó, làm di chuyển không khí bên trên nó và tạo ra âm thanh.  Phần lớn các loa dạng màng mỏng đều được thiết kế với chân đế tự do bởi vì màng này phải được uốn cong một cách tự do để tạo ra âm thanh. Việc gắn các loa này lên một bề mặt sẽ cản trở độ rung và cản trở khả năng phát ra âm thanh của chúng.  Để vượt qua vấn đề này, nhóm nghiên cứu ở MIT đã nghĩ lại về việc thiết kế một loa dạng màng mỏng. Thay vì để toàn bộ vật liệu đó rung động, thiết kế của họ phụ thuộc vào những vòm nhỏ trên một lớp màng mỏng của vật liệu áp điện để mỗi rung động đều ở dạng riêng lẻ. Những vòm đó đều có độ dày ngang sợi tóc, được đặt xung quanh bằng các lớp đệm ở trên và dưới của màng để bảo vệ chúng khỏi bề mặt gắn kết trong khi vẫn cho phép chúng rung động một cách tự do. Các lớp đệm tương tự bảo vệ các vòm khỏi bị mài mòn và va đập trong suốt quá trình xử lý hàng ngày, qua đó cho phép tăng độ bền của loa.  Để tạo ra loa, nhóm nghiên cứu dã sử dụng một tia laser để cắt những lỗ tí hon bên trong một tấm mỏng PET, một loại nhựa mỏng. Họ sau đó dát mặt dưới của lớp PET đục lỗ đó bằng một màng rất mỏng (mỏng tới 8 micron) vật liệu áp điện – được gọi là PVDF. Sau đó, họ đưa chân không vào bên trên các tấm gắn ngoài và một nguồn nhiệt 80 độ C.  Bởi vì lớp PVDF này vô cùng mỏng nên sự khác biệt về áp suất do chân không và nhiệt tạo ra khiến chúng bị phồng lên. Lớp PVDF không thể PVDF không thể di chuyển được qua lớp PET nên các mái vòm nhỏ đều nhô ra ở những khu vực mà chúng không bị PET chặn. Các phần nhô ra này có thể tự căn chỉnh với các lỗ trên lớp PET. Sau đó, các nhà nghiên cứu dát mặt còn lại của PVDF bằng một lớp PET khác để nó có thể hoạt động như một tấm đệm giữa các mái vòm và bề mặt liên kết.  “Đây là một quá trình vô cùng đơn giản. Nó cho phép chúng tôi tạo ra những chiếc loa theo kiểu thông lượng cao nếu chúng tôi tích hợp nó với một quá trình xử lý cuộn trong tương lai. Điều đó có nghĩa là có thể chế tạo nó với quy mô lớn, giống như giấy dán tường có thể bao phủ lên tường, ô tô, hoặc buồng lái”, Han nói.  Chất lượng cao, nguồn điện thấp  Các vòm có chiều cao 15, độ dày bằng một phần sáu sợi tóc người và chỉ chuyển động lên và xuống khoảng một micron khi rung động. Mỗi vòm là một đơn vị âm thanh, vì vậy có khoảng hàng nghìn vòm tí hon dao động cùng nhau để tạo ra âm thanh có thể nghe thấy.  Một lợi ích tăng thêm của quá trình chế tạo đơn giản mà nhóm nghiên cứu thực hiện là năng lực điều chỉnh của nó – các nhà nghiên cứu có thể thay đổi kích thước của các lỗ trong vật liệu PET để kiểm soát kích thước của các vòm. Các vòm có có bán kính lớn hơn sẽ di chuyển được nhiều không khí hơn và do đó tạo ra nhiều âm thanh hơn, nhưng các vòm lớn hơn cũng có tần số cộng hưởng thấp hơn. Tần số cộng hưởng là tần số mà thiết bị hoạt động hiệu quả nhất, và tần số cộng hưởng thấp hơn sẽ dẫn đến biến dạng âm thanh.  Khi các nhà nghiên cứu hoàn chỉnh kỹ thuật chế tạo, họ đã áp dụng thử nghiệm một số kích thước mái vòm khác nhau và độ dày lớp áp điện để đi đến sự kết hợp tối ưu.  Họ đã thử nghiệm loa màng mỏng của mình bằng cách gắn nó vào tường cách micrô 30 cm để đo đạc mức áp suất âm thanh, được ghi bằng decibel. Khi dòng điện 25 vôn chạy qua thiết bị với tốc độ 1 kilohertz (tốc độ 1.000 chu kỳ/giây), loa tạo ra âm thanh chất lượng cao ở mức độ đàm thoại là 66 decibel. Ở mức 10 kilohertz, mức áp suất âm thanh tăng lên 86 decibel, tương đương mức âm lượng của giao thông trong thành phố.  Thiết bị hiệu quả về mặt năng lượng này chỉ đòi hỏi một nguồn điện 100 milliwatts trên mỗi mét vuông diện tích loa đặt. Ngược lại, một loa gia đình trung bình có thể tiêu thụ hơn 1 watt điện để tạo ra áp suất âm thanh tương tự ở một khoảng cách tương đương.  Do các vòm nhỏ dao động chứ không phải toàn bộ màng mỏng, loa có một tần số cộng huiwngr đủ cao nên có thể hữu dụng với những ứng dụng siêu âm, ví dụ như hình ảnh, Han giải thích. Hình ảnh siêu âm sử dụng các sóng âm thanh tần số cao để tạo ra hình ảnh và các tần số cao hơn được đem lại những bức ảnh có độ phân giải cao hơn.  Thiết bị này cũng có thể sử dụng sóng siêu âm để phát hiện chỗ có người đang đứng trong một căn phòng phòng, giống như loài dơi sử dụng định vị bằng tiếng vang và sau đó định hình sóng âm thanh để theo dõi người đó khi họ di chuyển, Bulović nói. Nếu các vòm rung của màng mỏng được bao phủ bởi một bề mặt phản chiếu, chúng có thể được sử dụng để tạo ra các mẫu ánh sáng cho các công nghệ hiển thị trong tương lai. Nếu nó được đặt vào trong một chất lỏng, màng rung có thể cung cấp một phương pháp trộn hóa chất mới, cho phép các kỹ thuật xử lý hóa học có thể sử dụng ít năng lượng hơn so với các phương pháp xử lý hàng loạt lớn.  “Chúng tôi có năng lực để tạo ra chuyển động cơ học của không khí một cách chính xác bằng việc kích hoạt bề mặt vật lý có thể mở rộng quy mô. Các ý tưởng về cách sử dụng công nghệ này thực sự không có giới hạn”, Bulović nói.  “Tôi nghĩ là cách tiếp cận này rất sáng tạo để tạo ra một lớp loa siêu mỏng”, Ioannis (John) Kymissis, giáo sư Kỹ thuật điện Kenneth Brayer và phụ trách Khoa Kỹ thuật điện tại Đại học Columbia, người không tham gia vào nghiên cứu, nhận xét. ‘Chiến lược tạo vòm màng mỏng bằng cách sử dụng các khuôn theo mẫu hình quang khắc hoàn toàn độc đáo và có khả năng dẫn đến một loạt các ứng dụng mới trong loa và micrô”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:  https://www.newscientist.com/video/2317655-paper-thin-speaker-can-play-queen-from-any-surface/  https://www.techexplorist.com/paper-thin-loudspeaker/46899/  ——————————————————————————————————-  1. https://ieeexplore.ieee.org/document/9714188    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tạo ra một “rối lượng tử phổ dụng” cho công nghệ lượng tử      Một trong những khái niệm chính trong vật lý lượng tử là rối lượng tử, trong đó hai hoặc nhiều hệ lượng tử trở thành một liên kết vô cùng chặt chẽ mà trạng thái chung của chúng không thể được xác định chỉ bằng việc quan sát từng phần riêng rẽ. Hiện tại các nhà nghiên cứu trường đại học Yale đã phát triển một “rối lượng tử phổ dụng” có thể liên kết với nhiều hạt được mã hóa theo yêu cầu.      Các nhà nghiên cứu Yale đã tạo ra một “rối lượng tử phổ dụng có thể liên kết các hạt được mã hóa theo yêu cầu. Nguồn: Yale University  Khám phá này đã tái hiện một cơ chế mới đầy thuyết phục với tiềm năng có thể áp dụng trong máy tính lượng tử, mật mã và truyền thông lượng tử. Nghiên cứu này do các nhà nghiên cứu thuộc phòng thí nghiệm do Robert Schoelkopf phụ trách thực hiện và được đăng tải trên Nature với bài báo “Rối lượng tử của các mode boson thông qua một trao đổi tương tác được thiết kế” (Entanglement of bosonic modes through an engineered exchange interaction).  Các tính toán lượng tử đã được thực hiện với dữ liệu gồm các bit tinh nhạy, vẫn được gọi là qubits, vốn dễ bị lỗi. Để hoàn thành các máy tính lượng tử thực sự, các nhà khoa học cho rằng, chúng cần các qubit “có logic”, mà các lỗi của chúng có thể dò được và khắc phục được bằng việc sử dụng các mã sửa lỗi lượng tử.  “Chúng tôi đã chứng tỏ một cách mới trong việc tạo ra các cổng giữa các qubit mã hóa hợp lý (logically-encoded qubits) mà cuối cùng có thể sửa lỗi được,” Schoelkopf – giáo sư vật lý và vật lý ứng dụng Sterling Yale và giám đốc Viện nghiên cứu lượng tử Yale, cho biết. “Việc vận hành nó có nhiều phức tạp hơn những gì đã thấy trước đây”.  Cơ chế rối lượng tử gọi là một cổng SWAP hàm mũ – cổng SWAP được điều hành bởi hai qubit và trong các trạng thái cơ bản, cổng SWAP hoán đổi các trạng thái của hai qubit tham gia vào quá trình vận hành. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã trình diễn công nghệ mới này bằng các trạng thái mã hóa rối lượng tử trong bất kỳ hình dạng hoặc các mã được chọn nào, mỗi mã đặt ở hai nơi tách biệt, các khoang vi sóng siêu dẫn 3D.  “Rối lượng tử phổ dụng này là tới hạn với các máy tính lượng tử”, Yvonne Gao, đồng tác giả của nghiên cứu, nói. “Các nhà khoa học đã sáng chế ra những mã sửa lỗi lượng tử hiệu quả về phần cứng – mỗi mã được thiết kế một cách tinh xảo với những đặc tính độc nhất vô nhị có thể được khai thác cho những ứng dụng khác nhau. Dẫu sao, mỗi mã đòi hỏi việc lắp ráp với một bộ hệ điều hành mới được thiết kế riêng, dẫn đến một chi phí phần cứng đáng kể và giảm bớt sự linh hoạt”.  Rối lượng tử phổ dụng này sẽ góp phần giải quyết giới hạn này bằng việc đem đến một cổng giữa bất kỳ các trạng thái đầu vào mong muốn nào. “Chúng tôi có thể chọn bất kỳ mã mong muốn nào hoặc thậm chí thay đổi chúng một cách nhanh chóng mà không cần đến việc lắp đặt lại hệ điều hành,” Brian Lester – đồng tác giả, cho biết.  Khám phá này chỉ là bước mới nhất trong việc nghiên cứu về lượng tử ở Yale. Các nhà khoa học Yale đang đi tiên phong trong những nỗ lực phát triển chiếc máy tính lượng tử đầu tiên và hiện là những người đi đầu trong nghiên cứu về máy tính lượng tử với các mạch siêu dẫn.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-02-universal-entangler-quantum-tech.html#jCp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tiến gần hơn đến cột mốc trong tiêu chuẩn hóa lượng tử      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Waterloo đã phát triển một phương pháp có thể mở ra con đường thiết lập các tiêu chuẩn phổ quát để đo đạc hiệu suất của các máy tính lượng tử.      Phương pháp mới, được gọi là chương trình thử tuần hoàn (cycle benchmarking), cho phép các nhà nghiên cứu đánh giá tiềm năng mở rộng quy mô và so sánh một nền tảng lượng tử với một nền tảng lượng tử khác.  “Phát hiện này có thể dẫn chúng ta đến một con đường dài hướng đến việc thiết lập các tiêu chuẩn cho hiệu suất và tăng cường nỗ lực thiết kế và xây dựng một máy tính lượng tử ở quy mô lớn”, Joel Wallman, một trợ lý giáo sư tại Khoa toán trường đại học Waterloo và Viện nghiên cứu tính toán lượng tử, nói. “Một phương pháp thích hợp cho việc đặc tính hóa và hiệu chỉnh các lỗi trong các hệ lượng tử đem lại tiêu chuẩn để đánh giá bộ xử lý lượng tử, cho phép đạt được những tiến triến trong các kiến trúc khác nhau để có thể so sánh chúng một cách công bằng”.  Chương trình thử tuần hoàn cung cấp một giải pháp giúp các user tính toán lượng tử có thể xác định được cả giá trị so sánh của các nền tảng phần cứng cạnh tranh lẫn gia tăng năng lực của từng nền tảng để phân phối các giải pháp thiết thực cho những ứng dụng mà họ quan tâm.  Đột phá này đến khi cuộc đua lượng tử đang diễn ra hết sức ráo riết, và số lượng các nền tảng tính toán lượng tử đám mây và những đề xuất đang ngày càng mở rộng. Chỉ trong vòng vài tháng gần đây, đã có nhiều loan báo ấn tượng từ Microsoft, IBM và Google về những bước tiến đạt được trong tính toán lượng tử.  Phương pháp này giúp xác định tổng xác suất lỗi trong bất kỳ ứng dụng tính toán lượng tử cho trước nào khi ứng dụng được thực hiện thông qua biên dịch ngẫu nhiên. Điều này có nghĩa là chương trình thử tuần hoàn cung cấp các phương thức đa nền tảng đầu tiên của đo đạc và so sánh các năng lực của các bộ xử lý lượng tử tùy biến cho các ứng dụng của người sử dụng.  “Nhờ nghiên cứu gần đây của Google, chúng ta đã ở gần với bình minh ‘kỷ nguyên khám phá lượng tử’”, Joseph Emerson, một thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết. “Điều đó có nghĩa là các máy tính lượng tử dễ gặp lỗi sẽ có thể mang đến những giải pháp cho những vấn đề tính toán thú vị nhưng chất lượng của những giải pháp đó có thể được xác nhận bằng những máy tính hiệu năng cao”.  “Chúng tôi rất phấn khích bởi chương trình thử tuần hoàn đem lại một giải pháp như mong muốn để cải thiện và xác nhận các giải pháp tính toán lượng tử trong kỷ nguyên mới của khám phá lượng tử”.  Emerson và Wallman đã lập ra công ty spin-off Quantum Benchmark Inc. của Viện nghiên cứu tính toán lượng tử, mới cấp phép chính công nghệ này cho nhiều nhà cung cấp tính toán lượng tử hàng đầu thế giới, trong đó Quantum AI của Google.  Về cơ bản, việc các máy tính lượng tử đưa ra được một cách tính toán hiệu quả là nhờ cơ học lượng tử. Nếu so sánh với máy tính truyền thống hay máy tính số, các máy tính lượng tử có thể giải quyết được nhiều dạng bài toán hiệu quả gấp bội. Dẫu vậy, các bit lượng tử – các đơn vị xử lý cơ bản trong máy tính lượng tử – lại rất mong manh; bất kỳ một nguồn nhiễu hoặc một sự thiếu hoàn hảo trong hệ thống này cũng đều có thể dẫn đến các lỗi, nguyên nhân làm các giải pháp trở nên thiếu chính xác trong tính toán lượng tử.  Tăng thêm khả năng kiểm soát một máy tính lượng tử ở quy mô nhỏ với chỉ một hoặc hai bit lượng tử là bước đầu tiên để tiến đến một nỗ lực giàu tham vọng hơn. Một máy tính lượng tử quy mô lớn có thể có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ phức tạp, giống như học máy hoặc mô phỏng các hệ phức tạp để khám phá một loại thuốc chữa bệnh mới. Thiết kế một máy tính lượng tử quy mô lớn với nhiều bit lượng tử là một thách thức; phổ của các đường lỗi trở nên phức tạp hơn vì các bit lượng tử được tăng lên và quy mô của hệ lượng tử lớn hơn.  Đặc tính hóa một hệ lượng tử tạo ra một hồ sơ về nhiễu và lỗi, chỉ dẫn nếu bộ xử lý đang thực hiện các nhiệm vụ hoặc các phép tính thì yêu cầu nó thực hiện. Để hiểu về hiệu suất của bất kỳ máy tính lượng tử nào cho một vấn đề phức tạp hay nâng quy mô một máy tính lượng tử bằng cách giảm thiểu lỗi, trước tiên cần phải đặc tính hóa tất cả các lỗi trực tiếp ảnh hưởng đến hệ đó.  Wallman, Emerson và một nhóm các nhà nghiên cứu tại trường đại học Innsbruck đã nhận diện được một phương pháp đánh giá những tỉ lệ lỗi ảnh hưởng đến một máy tính lượng tử. Họ đã hoàn thiện kỹ thuật mới này cho một bẫy ion máy tính lượng tử tại trường đại học Innsbruck và tìm thấy các tỉ lệ lỗi không tăng lên theo quy mô của máy tính lượng tử.  “Nếu trên đường nghiên cứu cách gia tăng quy mô của thiết kế máy tính lượng tử thì chương trình thử tuần hoàn là phương pháp đầu tiên để kiểm tra một cách tin cậy”, Wallman nói. “Những kết quả này rất đáng kể bởi chúng cung cấp một cách toàn diện về đặc tính hóa các lỗi xuất hiện trong tất cả các nền tảng tính toán lượng tử”.  Công bố “Characterizing large-scale quantum computers via cycle benchmarking” được xuất bản trên Nature Communications.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-milestone-quantum-standardization.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tính mức năng lượng cây dùng để đưa nước lên lá trên quy mô toàn cầu      Mỗi ngày, khoảng một nghìn triệu gallon nước được bơm một cách lặng lẽ từ đất lên ngọn cây. Sự sống của các loài thực vật trên trái đất được duy trì chỉ duy nhất với năng lượng từ ánh sáng mặt trời. Chúng ta đều biết năng lượng này được dùng để đưa mọi loại chất lỏng lên cao nhưng cây cần bao nhiêu năng lượng vẫn còn là câu hỏi mở, cho đến tận năm nay.    Các nhà nghiên cứu ở UC Santa Barbara đã tính toán được mức năng lượng khổng lồ do cây sử dụng để chuyên chở nước thông qua các thớ gỗ của chúng từ đất lên lá. Họ tìm thấy là về trung bình, cần khoảng 14% năng lượng mà cây khai thác được qua quá trình quang hợp. Ở quy mô toàn cầu, nó tương đương với năng lượng được tạo ra ở tất cả các đập thủy điện của loài người.  Nghiên cứu của họ, xuất bản trên Journal of Geophysical Research: Biogeosciences, là công bố đầu tiên ước tính được có bao nhiêu năng lượng được cây dùng để đưa nước lên vòm lá của mình, kể cả mức độ mỗi cây và toàn cầu 1.  “Cây thường dùng nguồn năng lượng này để đưa nước từ dưới gốc lên trên ngọn qua các thớ gỗ của chúng. Chúng tôi định lượng xem là có bao nhiêu năng lượng được dùng theo cách  như vậy”, Gregory Quetin, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Khoa Địa lý và là tác giả thứ nhất của công bố, nói. Năng lượng này được tính thêm vào những gì cây tạo ra thông qua con đường quang hợp. “Đây là năng lượng khai thác được một cách thụ động từ môi trường, chỉ qua cấu trúc của cây”.  Quang hợp cần carbon dioxide, ánh sáng và nước. CO2 thì sẵn có trong không khí còn hai thành phần kia lại ẩn chứa thách thức với cây: ánh nắng đến từ bên trên còn nước lại từ bên dưới. Vì vậy, cây cần mang nước lên nơi có sẵn ánh nắng.  Cây cối thực hiện điều này theo cách phức tạp hơn người ta nghĩ nhiều bằng  một hệ có mạch, trong đó có các ống gọi là mô mạch mang nước từ rễ lên lá, trong khi các ống khác gọi là mạch rây tạo ra nhiều đường trong lá để xuống phần còn lại của cây. “Sự tiến hóa của mô mạch trong các thực vật có mạch là một bước tiến cho phép chúng tồn tại”, Quetin nói.  Nhiều loại động vật cũng có hệ mạch. Chúng ta tiến hóa theo một chu trình tuần hoàn kín với một trái tim bơm máu qua các động mạch, tĩnh mạch và ven để phân phối ô xy và dưỡng chất quanh khắp cơ thể chúng ta. “Đây là một chức năng mà nhiều cơ quan cùng tham gia”, đồng tác giả Anna Trugman, một trợ lý giáo sư ở Khoa Địa lý, nói. “Chúng ta phải làm như vậy bởi chúng ta phải giữ cho trái tim của mình đập và có lẽ là quá trình chuyển hóa khiến chúng ta mất nhiều năng lượng”.  Cây cối có thể cũng có nhiều trái tim tiến hóa như vậy. Nhưng chúng không thể. Và nó cũng phải tự cứu chính mình khỏi mất nhiều năng lượng chuyển hóa.  Khác với động vật, các hệ tuần hoàn của thực vật mở và đóng thụ động. Ánh nắng làm nước bốc hơi, thoát khỏi các khí khổng trong lá. Điều này tạo ra một áp lực âm bơm nước từ dưới lên trên. Các nhà khoa học gọi quá trinh này là “sự bốc hơi nước”.  Về cơ bản, sự bốc hơi này đơn thuần là sự khai thác năng lượng từ mặt trời của cây cối nhưng diễn ra theo cách khác. Vấn đề là không giống như quang hợp, năng lượng này không phải xử lý trước khi đưa vào sử dụng. Các nhà khoa học hiểu rõ quá trình này nhưng không ai đủ khả năng ước tính mất bao nhiêu năng lượng “Tôi từng có lần thấy nó được đề cập đến một bài báo”, đồng tác giả Leander Anderegg nói, “và tôi nghĩ rằng ‘đó là một con số thực sự lớn. Nếu cây cối dành toàn bộ năng lượng cho việc chuyển hóa thì có thể nó sẽ không còn đủ sức cho những hoạt động khác”.  Nghiên cứu này được tiến hành trên sự tò mò thuần túy. “Khi Greg [Quetin] và tôi cùng là nghiên cứu sinh, chúng tôi đã đọc rất nhiều về sự bốc hơi của thực vật”, Anderegg kể lại, hiện anh là trợ lý giáo sư ở Khoa Sinh thái, Tiến hóa và Sinh học biển. “Có lúc Greg đặt câu hỏi ‘cây cần hoạt động như thế nào để đưa nước lên cao, đủ sức thắng được lực hút của trái đất?’”.  Tôi trả lời ‘tôi không biết, tôi ước là ai đó biết/”. Và Greg nói, ‘Tôi chắc chắn là chúng tôi có thể tính toán được điều đó’”.  Nhưng phải một thập kỷ sau, họ mới quay trở lại được với vấn đề. Nhóm nghiên cứu kết hợp một cơ sở dữ liệu toàn cầu về độ dẫn của thực vật với các mô hình toán học về độ dẫn nhựa và ước tính cần bao nhiêu lực để cây trên thế giới bơm nước lên ngọn. Họ phát hiện ra là các khu rừng trên thế giới mất khoảng 9,4 petawatt mỗi năm. Điều đó tương đương với sản lượng thủy điện trên thế giới.  Khoảng 14,2% năng lượng mà cây cối có được từ quá trình quang hợp. Vì vậy đó là một phần năng lượng đáng kể mà cây cối được hưởng lợi mà không phải tham gia một quá trình hoạt động chủ động nào. Năng lượng cây cối có được một cách tự nhiên được truyền qua các loài động vật và nấm trong quá trình “hưởng thụ” cây cối, và theo cách đó, các loài động vật được hưởng lợi.  Thật đáng ngạc nhiên, các nhà nghiên cứu khám phá ra lực đánh thắng lực hút chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong toàn thể năng lượng cây cối dùng. Phần lớn năng lượng có được chỉ là để vượt qua được trở lực của chính thân cây.  Các phát hiện không có những ứng dụng trực tiếp nhưng chúng giúp chúng ta hiểu hơn về sự sống trên trái đất. “Sự thật là luồng năng lượng toàn cầu mà chúng ta chưa thể định lượng được này vô cùng lớn”, Quetin nói. “Nó giống như thể một khái niệm vô tình bị bỏ qua”.  Các mức năng lượng tham gia vào quá trình bốc hơi dường như bị lọt khỏi các thang đo mà các nhà khoa học khác nhau từng kiểm tra. Nó quá lớn với các nhà sinh lý học thực vật và quá nhỏ với các nhà khoa học nghiên cứu về các hệ thống trên trái đất, vì vậy nó bị lãng quên. Và chỉ trong vòng thập kỷ qua, các nhà khoa học mới thu thập được dữ liệu đủ lớn về việc sử dụng nước và sự kháng mô mạch để bắt đầu giải quyết vấn đề năng lượng của quá trình hóa hơi trên quy mô toàn cầu, các tác giả giải thích trong công bố.  Trong khoảng thời gian này, các nhà khoa học có thể xem xét lại vai trò của quá trình hóa hơi trong các hệ trên trái đất bằng việc sử dụng các quan sát và mô hình tính toán mới. Sự ảnh hưởng của nhiệt độ, các dòng không khí, lượng mưa và giúp định hình sự đa dạng sinh học và sinh thái của một vùng. Lực đưa nhựa cây di chuyển chỉ là một phần nhỏ trong quá trình hóa hơi nhưng các tác giả nghi ngờ nó có thể đáng chú ý hơn người ta thưởng do mức năng lượng đáng kể tham gia vào.  Tất cả vẫn còn mới bắt đầu và nhóm nghiên cứu cho là còn nhiều việc để làm để làm cụ thể hơn ước tính của mình. Thực vật vô cùng khác nhau về cách tạo ra về độ dẫn dòng nước. Lấy ví dụ so sánh một cây bách xù sa mạc với cây bông vải sống ven sông, Anderegg nói “cây bách xù là cây có khả năng thích nghi với hạn hán vì có sức đề kháng rất cao, trong khi cây bông vải chỉ sống để bơm nước”.  Điều bất định này phản ánh trong ước tính của họ, rơi vào khoảng 7,4 đến 15,4 petawatt/giờ. Điều đó cho thấy, có thể cao tới 140 petawatt/giờ mỗi năm, dẫu Quetin thừa nhận là giới hạn trên dường như khó xảy ra. “Tôi nghĩ sự bất định này nhấn mạnh vào điểm là còn có quá nhiều điều chúng ta chưa biết về sức đề kháng của địa lý sinh học thực vật (và một mức độ mở rộng hơn của sự bốc hơi)”, anh nói. “Đây là động cơ tốt để tiếp tục nghiên cứu trong những lĩnh vực này”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-soil-sky-quantify-amount-energy.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/09/220907133205.htm  ————————————————————–  1. https://agupubs.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1029/2022JG006922    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tổng hợp được vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ phòng      Nén các phân tử chất rắn bình thường với hydro ở các mức áp suất siêu cao, các kĩ sư và nhà vật lý trường đại học Rochester lần đầu tiên đã tạo ra được vật liệu siêu dãn tại nhiệt độ phòng.      Xuất hiện trên trang bìa tạp chí Nature, công trình do nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Ranga Dias, một trợ lý giáo sư vật lý và kỹ thuật cơ học, thực hiện.  Dias cho biết, phát triển các vật liệu siêu dẫn – không có điện trở và loại từ trường tại nhiệt độ phòng – là “chén thánh” của vật lý chất rắn. Tìm kiếm trong hơn một thế kỷ, nhiều vật liệu như vậy “có thể làm thay đổi cả thế giới”, Dias nói.  Trong việc thiết lập kỷ lục mới, Dias và nhóm nghiên cứu của mình đã kết hợp hydro với carbon và sulfur để tổng hợp về mặt quang hóa carbonaceous sulfur hydride dẫn xuất hữu cơ trong một thiết bị đe kim cương (DAC), một thiết bị nghiên cứu được sử dụng để kiểm tra lượng vật liệu cực nhỏ dưới mức áp suất cực cao.  Carbonaceous sulfur hydride trở nên siêu dẫn tại mức 58 độ F và áp suất 39 triệu PSI. Đây là lần đầu tiên người ta có thể quan sát được vật liệu siêu dẫn tại nhiệt độ phòng.  “Do giới hạn của nhiệt độ thấp, các vật liệu với những đặc tính khác thường như vậy không hoàn toàn chuyển đổi thế giới theo cách mà nhiều người có thể hình dung. Dẫu vậy, khám phá của chúng tôi sẽ phá vỡ những rào cản đó và mở cánh cửa cho nhiều ứng dụng tiềm năng”, Dias nói. Ông cũng có liên kết với các chương trình nghiên cứu Khoa học vật liệu và Vật lý mật độ năng lượng cao của trường Rochester.  Các ứng dụng gồm:    Các lưới điện có khả năng truyền tải điện mà không bị mất mát điện năng lên tới 200 triệu MWh của lưới điện hiện nay do xuất hiện điện trở trong dây dẫn.  Cách mới để làm tăng tốc các chuyến tàu và những hình thức vận tải khác.  Hình ảnh y học và các kỹ thuật quét như cộng hưởng từ (MRI) và từ tâm đồ  Các thiết bị điện tử hiệu quả hơn nhanh hơn cho logic số và công nghệ thiết bị ghi nhớ.    “Chúng ta sống trong một xã hội bán dẫn và với công nghệ về siêu dẫn, anh có thể đưa xã hội này thành xã hội siêu dẫn nơi anh sẽ không bao giờ cần đến những thứ như pin nữa”, Ashkan Salamat của trường đại học Nevada Las Vegas, một đồng tác giả của phát hiện này, giải thích.  Lượng vật liệu siêu dẫn được tạo bằng các thiết bị đe kim cương được đo đạc ở mức picoliter – khoảng bằng kích thước một hạt mực in.  Dias cho biết, thách thức tiếp theo là tìm kiếm các cách để tạo ra các vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ phòng tại các mức áp suất thấp hơn vì khi đó việc tạo ra chúng với số lượng lớn sẽ trở nên kinh tế hơn. So sánh với việc tạo ra hàng triệu pound áp suất trong các thiết bị đe kim cương thì áp suất khí quyển của trái đất ở mực nước biển vào khoảng 15 PSI.  Tại sao tạo ra vật chất ở nhiệt độ phòng    Isaac Silvera (phải) và Ranga Dias (trái) trong phòng thí nghiệm.  Khám phá đầu tiên vào năm 1911, siêu dẫn đem lại cho các vật liệu hai đặc tính quan trọng: không điện trở, từ trường bị loại trừ, tùy thuộc vào một hiện tượng gọi là hiệu ứng Meissner. Các dòng từ trường phải chuyển vòng quanh vật liệu siêu dẫn, khiến cho nó có thể làm bay nhiều vật liệu, có thể được sử dụng để tạo ra các con tàu cao tốc không ma sát, hay còn gọi là tàu đệm từ.  Các nam châm điện siêu dẫn là các hợp phần tới hạn của tàu đệm từ, các thiết bị chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), các máy gia tốc hạt và những công nghệ tiên tiến khác, bao gồm cả các siêu máy tính lượng tử thời kỳ đầu.  Nhưng các vật liệu siêu dẫn được sử dụng trong những thiết bị này chỉ hoạt động tại các mức nhiệt độ cực thấp – thấp hơn bất kỳ nhiệt độ thông thường trong tự nhiên trên trái đất. Giới hạn này khiến chúng trở nên đắt đỏ để duy trì  – và quá đắt để mở rộng cho những ứng dụng tiềm năng khác. “Chi phí đó khiến cho các vật liệu đó phải ở những mức nhiệt độ lạnh cryo tới mức anh không thể hưởng lợi gì từ nó”, Dias nói.  Trước đây, mức nhiệt độ cao nhất cho vật liệu siêu dẫn đạt được là trong phòng thí nghiệm của Mikhail Eremets tại Viện nghiên cứu Hóa học Max Planck ở Mainz, Đức, và nhóm nghiên cứu Russell Hemley tại trường đại học Illinois tại Chicago (năm 2019). Nhóm nghiên cứu này cho biết đạt siêu dẫn tại mức -10 đến 8 độ F với lanthanum superhydride.  Các nhà  nghiên cứu đã khám phá ra ô xít đồng và hóa chất chứa sắt là những ứng cử viên tiềm năng cho các siêu dẫn ở mức nhiệt độ cao trong những năm gần đây. Tuy vậy, hydro – nguyên tố có nhiều nhất trong vũ trụ – cũng tỏ ra là một đơn vị đầy hứa hẹn.  “Để đạt được siêu dẫn ở nhiệt độ phòng, anh cần những liên kết mạnh hơn và những nguyên tố nhẹ hơn. Chúng đều là những tiêu chuẩn rất cơ bản”, Dias nói. “Hydro là vật liệu nhẹ nhất và liên kết hydro là một trong những liên kết mạnh nhất.  “Về lý thuyết hydro kim loại rắn có nhiệt độ Debye cao và kết cặp electron-phonon mạnh cần thiết để tạo ra siêu dẫn ở nhiệt độ phòng”.  Tuy nhiên, người ta cần mức áp suất cao khác thường để đưa hydro nguyên chất vào trạng thái kim loại – lần đầu đạt được trong một phòng thí nghiệm với thành công của của giáo sư Isaac Silvera (trường đại học Harvard) và Dias sau đó làm postdoc dưới sự dẫn dắt của Silvera.  Một thay đổi mô hình    Thiết bị tạo ra chất siêu dẫn  Và vì vậy, phòng thí nghiệm của Dias tại Rochester đã theo đuổi một “thay đổi mô hình” trong cách tiếp cận đó, sử dụng như một giải pháp các vật liệu giàu hydro bắt chước pha siêu dẫn khó nắm bắt này của hydro nguyên chất và có thể được kim loại hóa tại các mức nhiệt độ thấp hơn.  Đầu tiên, phòng thí nghiệm của Dias kết hợp yttrium và hydro. Kết quả yttrium superhydride thể hiện tính siêu dẫn tại mức nhiệt độ sau đó là một kỷ lục mới, 12 độ F và áp suất 26 triệu pound mỗi inch vuông.  Sau đó, họ khám phá ra các vật liệu dẫn xuất hữu cơ giàu hydro hóa trị. “Sự hiện diện của carbon này rất quan trọng. Việc “điều chỉnh thành phần” của hợp chất này có thể đóng vai trò thiết yếu để đat được siêu dẫn tại các mức nhiệt độ cao hơn, họ cho biết thêm.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-room-temperature-superconducting-material.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà sinh vật học tạo giống cáo đã thuần hoá      Các nhà khoa học Nga đã tiến hành thử nghiệm này từ sáu chục năm nay: nhân giống loài cáo không còn sợ con người. Kết quả thu được đã làm cho ngay cả các nhà sinh học cũng bị bất ngờ.      Làm thế nào để những con sói hoang dã trở thành những chú chó ngoan ngoãn và là người bạn thân thiết nhất của con người?  Đó là điều các nhà nghiên cứu đang muốn biết để áp dụng vào các loài động vật khác, chính vì thế hơn sáu chục năm nay các nhà khoa học Nga đã nghiên cứu, nhân giống cáo bạc – một loài cáo có mầu sắc biến thể từ loài cáo mầu hung đỏ – loài này có đặc tính thân thiện với con người. “Thử nghiệm này đã làm sống lại sự hiểu biết của chúng ta về quá trình thuần hoá”, nhà sinh học tiến hoá làm việc tại University of Louisville, Hoa Kỳ, Lee Dugatkin nói.   Nhà sinh học người Nga Dmitri Beljajew là người bắt đầu cuộc thử nghiệm này từ những năm 1950, thời kỳ thịnh vượng của Liên Xô. Ông muốn tìm hiểu xem có thể thuần hoá loài cáo như thuần hoá loài chó sói hay không – để từ đó làm rõ cơ chế sinh học trong quá trình thuần hoá thú hoang dã. Thời kỳ đầu Beljajew phải đặc biệt thận trọng vì khi đó ở Liên xô còn cấm nghiên cứu về gene. Điều may mắn lớn nhất với Beljajew là: ông làm việc trong ngành công nghiệp da, lông thú do đó ông có thể bí mật tiến hành công trình nghiên cứu của mình.  Năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, những con chồn bạc thuần thục nhất được tuyển chọn và nhân giống, điều này được tiến hành cho đến tận ngày nay. “Người ta khảo sát về tính xã hội của chúng đối với con người”, Dugatkin giải thích. “Mười phần trăm số chồn có tính xã hội cao nhất đối với con người sẽ được chọn lọc.”  Beljajew cùng với nhà nữ sinh vật học Ludmila Trut đã xây dựng ở trung tâm Sibiri một trang trại đặc biệt để nuôi chồn, trang trại này gần Akademgorodok, một vị trí dành cho nghiên cứu khoa học của Liên xô trước đây gần Nowosibirsk. Chuồng nuôi chồn làm bằng gỗ xếp thành hàng kề nhau có lối đi ra ngoài dành cho loài thú này. Tại đây không có nhà cửa  dành cho con người, ông Dugatkin, người nhiều lần đến thăm trang trại này, kể.  Giai đoạn đầu hầu như không có gì thay đổi, các con chồn giữ nguyên tính hung dữ, thường xuyên nhe nanh, gầm gừ mỗi khi có người đến gần. Cho đến năm 1963, một chú chồn đực mang tên Ember ra đời. Điều đặc biệt ở Ember là nó thích vẫy đuôi. “Vẫy đuôi là phản ứng khi có người là biểu hiện thông thường ở loài chó và cho đến ngày hôm đó có thể nói chó là loài duy nhất có hành vi vẫy đuôi khi thấy người.”  Sau này động vật có thể những đặc điểm như: con vật liếm tay người chăm sóc chúng, thích nằm ngửa để được xoa bụng, giữ tính nghịch ngợm của chó con lâu hơn so với đồng loại nơi hoang dã. “Những con chồn được thuần hoá này dường như không muốn lớn”, Dugatkin kể. “Thậm chí chúng chịu để cho con người nhìn trực diện vào mắt chúng và dường như chúng cũng trừng trừng nhìn lại.” Đối với động vật hoang dã và cả với loài chó cái, nhìn trực diện được coi như một sự thách thức, từ đó dẫn đến tấn công.  60 năm “chỉ là cái chớp mắt của cả một quá trình tiến hoá”, Dugatkin nói. Tuy nhiên thời gian này cũng đủ để làm cho những con chồn vốn sống cô độc ngày càng giống chó nhà nhiều hơn. “Những con chồn được thuần dưỡng này không những chỉ ngoan ngoãn, dễ bảo như những con chó thích ngồi vào lòng và được ôm ấp”, Dugatkin nói. “Với thời gian nhiều con chồn cũng có ngoại hình như chó. Mõm của chúng ngắn và tròn, đuôi cong và tai cụp.” Hoàn toàn không luyện tập chúng biết làm theo cử chỉ và ánh mắt của con người. “Những con chồn hoang không có các khả năng này.”  Còn một đặc điểm nữa thể hiện khá rõ: nhiều con thú có khoang, một vài con thậm chí còn có vệt sáng như ngôi sao ở trên trán, giống như thường thấy ở chó và ngựa. Từ lâu các nhà nghiên cứu luôn trăn trở với câu hỏi vì sao những người lai tạo giống gia súc lại luôn quan tâm đến các đặc điểm như tai cụp, đuôi tròn và khuôn mặt bầu bĩnh như mặt đứa trẻ, Dugatkin giải thích. “Người nông dân nuôi bò xét đến cùng có lợi lộc gì khi đàn bò của họ có vết lang đen trắng. Và người nuôi lợn quan tâm gì đến đuôi con lợn có tròn trịa hay không?”  Nhà nghiên cứu người Hoa Kỳ này cho rằng, Beljajew đã phát triển lý thuyết về chọn lọc không ổn định. Theo đó trong quá trình thuần dưỡng hoạt động của gene bị biến đổi mà không có sự tham gia của đột biến, bản thân bộ gene không thay đổi, mà một số đoạn có thay đổi do có kích thích tố. Điều này giải thích vì sao các nhà nghiên cứu chỉ trong một thời gian ngắn thuần hoá được con vật.  Beljajew đã gửi các bài báo của ông cho các tạp chí quốc tế. Năm 1969, xuất hiện bài báo đầu tiên bằng tiếng Anh ở bên ngoài Liên xô, bài báo có tên “Domestication in Animals”. Ông đã mở rộng lý thuyết của mình sang một một sinh vật khác cũng đã được thuần hoá – đó là con người. Theo đó cả ở con người cũng diễn ra áp lực trong quá trình chọn lọc làm giảm huyết áp và hormon, điều này kéo dài giai đoạn vị thành niên vốn ít tính hung bạo. Dugatkin cho rằng “xét cho cùng thì chúng ta là linh trưởng đã thuần hoá – hay tự thuần hoá”.  Beljajew mất năm 1985. Ludmila Trut tiếp tục công trình của ông. Trong những năm 1990, trong bối cảnh có những biến đổi về chính trị và trang trại này đã rất vất vả để duy trì sự tồn tại. Ngày nay tình hình tài chính đã ổn định, hiện ở trại còn có khoảng 500 cá thể, Dugatkin tiết lộ. Theo bà Trut thì những chú cáo ở đây “rất đáng yêu, lông mịn màng và nghịch ngợm”. Thời gian gần đây trại đã bán sản phẩm của trại là gia súc cho khách hàng, trong đó có cả khách từ Tây Âu và Hoa kỳ với giá khoảng 5000 đôla Mỹ một con. Dugatkin ước tính trong năm năm qua trại đã bán khoảng dăm ba chục con.  Nhà nghiên cứu Mỹ cho hay những con cáo này không được các nhà chọn giống huấn luyện vì vậy người nuôi phải dạy bảo chúng giữ vệ sinh. Tuy nhiên: “chúng dễ dạy bảo và huấn luyện, nguy cơ chủ nuôi bị cáo thuần dưỡng ngoạm không cao hơn nguy cơ chủ nuôi chó bị chó của mình đớp.” Bà Trut cũng rất tin tưởng vào những ưu điểm của loài cáo do bà thuần dưỡng: “Tôi hy vọng chúng sẽ được công nhận là một loại gia súc mới”.  Tuy nhiên loài cáo thuần dưỡng này vẫn không bỏ được một đặc tính gây khó chịu ở tổ tiên hoang dã của chúng, theo lời Dugatkin. “Chúng khá nặng mùi, hơi có mùi cầy hương.”  Hoài Trang dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/fotostrecke/fuechse-zahm-wie-hunde-fotostrecke-160964.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà tiên phong nghiên cứu “kéo di truyền” giành giải Nobel hóa học 2020      Emmanuelle Charpentier và Jennifer A. Doudna đã khám phá ra một trong những công cụ sắc bén của công nghệ gene: những chiếc kéo di truyền CRISPR/Cas9 có thể viết lại mã sự sống.      Khi sử dụng những chiếc “kéo” này, các nhà nghiên cứu có thể thay đổi DNA của động vật, thực vật và các vi sinh vật với độ chính xác cực cao. Công nghệ này đã đem lại một tác động mang tính cách mạng vào các ngành khoa học sự sống, đang góp phần đem lại các liệu pháp điều trị ung thư mới và có thể khiến giấc mơ chữa trị các bệnh di truyền thành sự thật.  Các nhà nghiên cứu cần sửa đổi các gene trong tế bào nếu như họ biết được các hoạt động diễn ra bên trong các cơ thể sống. Công việc này đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, đặc biệt phức tạp và thi thoảng không thể thực hiện được. Bằng việc sử dụng những cái kéo di truyền CRISPR/Cas9, hiện tại người ta có thể thay đổi mã của sự sống chỉ trong một vài tuần lễ.  “Có một sức mạnh vô biên trong công cụ di truyền này và tác động đến tất cả chúng ta. Nó không chỉ tạo ra cuộc cách mạng trong khoa học cơ bản mà còn tạo ra những ‘mùa vụ’ mang đầy tính đổi mới sáng tạo và dẫn đến những phương pháp  điều trị mang tính đột phá”, Claes Gustafsson, Chủ tịch Ủy ban Nobel Hóa học, cho biết.  Cũng như điều thường thấy trong khoa học, khám phá này thật bất ngờ. Trong khi nghiên cứu về Streptococcus pyogenes, một trong những loài vi khuẩn nguy hiểm cho con người, Emmanuelle Charpentier khám phá ra một phân tử chưa từng biết đến, tracrRNA. Công trình của cô đã chứng tỏ tracrRNA là một phần của hệ miễn dịch cổ xưa của vi khuẩn, CRISPR/Cas, đã bị “đánh bật” khỏi virus khi tách khỏi DNA của chúng.  Charpentier xuất bản công trình trên năm 2011. Cùng năm đó, chị bắt đầu hợp tác với Jennifer Doudna, một nhà sinh hóa thực nghiệm với nhiều hiểu biết về RNA. Cùng với nhau, họ đã thành công trong việc tái tạo những cái kéo di tryền của vi khuẩn trong một ống nghiệm và đơn giản hóa các hợp phần phân tử của kéo, vì vậy họ có thể dễ dàng sử dụng.  Trong một thí nghiệm mang tính cách mạng, họ đã tái lập trình các kéo di truyền. Trong hình thức tự nhiên của chúng, các cái kéo nhận diện DNA của virus, nhưng Charpentier và Doudna đã chứng minh là họ có thể kiểm soát chúng, vì vậy họ có thể cắt bất kỳ phân tử DNA nào tại các điểm đã được xác định trước. Nơi DNA bị cắt giờ có thể dễ dàng viết lại mã sự sống.  Kể từ khi Charpentier và Doudna khám phá ra CRISPR/Cas9 năm 2012, công cụ này đã góp phần vào nhiều khám phá quan trọng trong nghiên cứu cơ bản, và các nhà nghiên cứu thực vật đã có thể phát triển các mùa vụ có khả năng chống chịu lại sâu bệnh, hạn hán. Trong y học, các ca điều trị lâm sàng với những liệu pháp ung thư mới đang được thực hiện, và giấc mơ về việc điều trị các bệnh di truyền có thể sẽ thành sự thật. Các cái kéo di truyền này cũng đưa các ngành khoa học sự sống vào một kỷ nguyên mới và the nhiều cách, đem lại những lợi ích lớn lao nhất cho con người.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nobelprize.org/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý đạt tới đột phá tính toán qubit      Các nhà nghiên cứu trường đại học bang Arizona, Mỹ và trường đại học Chiết Giang, Trung Quốc, cùng với hai nhà vật lý lý thuyết Anh đã có thể chứng minh lần đầu tiên một số lượng lớn các bit lượng tử, hay các qubit, có thể được điều chỉnh để chuyển sang tương tác với nhau trong khi vẫn duy trì được sự liên kết trong một khoảng thời gian dài chưa từng có, trong một bộ xử lý siêu dẫn ở trạng thái rắn, có thể lập trình được.    Trước đây, chỉ có thể thực hiện điều này trong các hệ nguyên tử Rydberg.  Trong bài báo xuất bản mới đây trên tạp chí Nature Physics, Ying-Cheng Lai, giáo sư ASU Regents, cựu nghiên cứu sinh ASU Lei Ying và nhà thực nghiệm Haohua Wang, hiện đều là giáo sư của trường đại học Chiết Giang, đã chứng tỏ sự xuất hiện của các trạng thái scarring hệ nhiều hạt lượng tử (QMBS) như một cơ chế hiệu quả để duy trì sự gắn kết giữa các qubit có tương tác. Các trạng thái lượng tử lạ như vậy đề xuất ứng dụng khả năng rối đa hạt mở rộng thực tại cho rất nhiều ứng dụng trong khoa học và công nghệ thông tin lượng tử để có được các bộ xử lý tốc độ cao và tiêu tốn ít năng lượng.  “Các trạng thái QMBS cho thấy năng lực bên trong và năng lực chung của hiện tượng rối giữa nhiều hạt. điều này khiến cho chúng vô cùng dễ dẫn đến nhiều loại ứng dụng như cảm biến lượng tử và đo lường”, Ying giải thích.  Các máy tính cổ điển, hoặc máy tính nhị phân phụ thuộc vào các bộ transistor – vốn chỉ có thể thể hiện ‘1’ hoặc ‘0’ tại một thời điểm. Trong máy tính lượng tử, các qubit có thể cùng một lúc vừa là 0 vừa là 1, qua đó có thể gia tốc các quá trình xử lý tính toán.  “Trong khoa học và công nghệ thông tin lượng tử, thường cần tập hợp một số lượng lớn thông tin cơ bản – các đơn vị xử lý – các qubit – lại với nhau”, Lai giải thích. “Với những ứng dụng như tính toán lượng tử, việc lưu giữ sự gắn kết bậc cao hoặc rối lượng tử giữa những qubit là điều thiết yếu.  “Tuy nhiên, những tương tác không thể tránh giữa các qubit và nhiễu môi trường có thể làm hỏng sự gắn kết trong khoảng thời gian rất ngắn – chỉ trong khoảng 10 nano giây. Sở dĩ như vậy là vì nhiều qubit gắn kết để tạo thành một hệ nhiều hạt”, Lai nói.  Yếu tố chính của nghiên cứu này là nhìn vào độ trễ nhiệt để giữ sự gắn kết, được coi như một mục tiêu nghiên cứu vô cùng khó trong máy tính lượng tử.  “Từ góc nhìn của vật lý cơ bản, chúng ta biết là trong một hệ có nhiều hạt tương tác, ví dụ như vậy, các phân tử trong một khối lượng đóng, quá trình nhiệt hóa sẽ xuất hiện. Sự xáo trộn giữa nhiều qubit sẽ luôn luôn dẫn đến kết quả gia nhiệt lượng tử – quá trình được miêu tả bằng giả thuyết nhiệt hóa Eigenstate (Eigenstate Thermalization Hypothesis) sẽ phá hủy sự gắn kết giữa các qubit”, Lai nói.  Theo lời Lai, phát hiện này đưa tính toán lượng tử hướng đến việc có nhiều ứng dụng trong mật mã, truyền thông bảo mật và an ninh mạng… cùng nhiều công nghệ khác.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-physicists-qubit-breakthrough.html  https://news.asu.edu/20221021-discoveries-asu-zhejiang-university-reach-qubit-computing-breakthrough    Author                .        
__label__tiasang Các nhà vật lý đến gần câu hỏi tồn tại hàng thập kỷ về neutron      Các nhà nghiên cứu đang thu hẹp khoảng cách khác biệt giữa những đo đạc về việc các hạt hạ nguyên tử tồn tại bao lâu.      Máy dò neutron siêu lạnh chính tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, nơi các nhà vật lý nỗ lực tìm ra phép đo chính xác thời gian tồn tại của các hạt này. Nguồn: Los Alamos National Laboratory  Cuộc gặp ở Denver  Các nhà vật lý đang tiến gần tới câu trả lời cho một bí ẩn của vũ trụ vốn tồn tại đã lâu: một neutron tồn tại bao lâu.  Neutrons là các hạt trung hòa về điện tích thường kết hợp với các proton để tạo ra hạt nhân nguyên tử. Một vài neutron không liên kết trong các nguyên tử; các neutron trôi nổi tự do phân rã về phóng xạ thành các hạt khác trong một khoảng thời gian vật chất.  Nhưng các nhà vật lý không thể đồng nhất thời gian tồn tại chính xác của một neutron. Áp dụng một cách tiếp cận trong phòng thí nghiệm, họ đã đo đạc được thời gian tồn tại trung bình của neutron là 14 phút 39 giây. Với phương pháp tiếp cận khác, họ có thêm 8 giây nữa. Sự khác biệt đó đã làm các nhà nghiên cứu điêu đứng gần 15 năm mà không thể giải thích được.  “Chúng tôi không hiểu tại sao các kết quả này lại khác nhau đến thế,” Shannon Hoogerheide – một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Các tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia (NIST) tại Gaithersburg, Maryland, nói. “Chúng tôi thực sự cần biết chính xác thời gian và loại bỏ sự khác biệt này.” Chị và các nhà khoa học khác đã tranh luận về những cách thức mới để giải quyết vấn đè này vào ngày 13 và 14/4/2019 tại phiên họp của Hội Vật lý Mỹ ở Denver, Colorado.  Việc định vị được thời gian tồn tại của một neutron rất quan trọng nhằm hiểu có bao nhiêu hydrogen, helium và các nguyên tố nhẹ khác được hình thành từ vài phút đầu sau khi vũ trụ được sinh ra từ Big Bang, thời điểm 13,8 tỷ năm trước. Các nhà khoa học đã nghĩ rằng họ có thể theo đuổi một vài lĩnh vực vật lý mới nếu họ có thể “có được thông số chính xác về thời gian tồn tại của neutron, bởi vì nó có thể giúp họ chế ngự được phép đo đạc của các hạt hạ nguyên tử khác.  Đồng hồ hạ nguyên tử  James Chadwick đã khám phá ra neutron vào năm 1932, nhưng mãi tới năm 1951 thì các nhà nghiên cứu mới lần đầu tiên đo đạc được thời gian sống của loại hạt này, sử dụng các lò phản ứng hạt nhân để tạo ra các neutron tự do và dò xem chúng phân rã như thế nào. Các nhà vật lý đã tiếp tục nghiên cứu để ngày một tiến gần hơn đến câu trả lời – cho đến năm 2005, khi những đo đạc của họ trở nên đủ chính xác để mang đến một kết quả khác biệt 8 giây gây hoang mang. Nhưng họ không cảm thấy lo lắng về nó.  Một cách đếm thời gian tồn tại của neutron khác là đặt một số hạt vào một cái chai và đếm có bao nhiêu hạt còn lại sau một khoảng thời gian. Một số phòng thí nghiệm đã cố gắng áp dụng phương pháp “cái chai” đó, bao gồm Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos ở New Mexico và Viện nghiên cứu Laue–Langevin (ILL) ở Grenoble, Pháp. Tính trung bình, họ có được thời gian tồn tại của một neutron là 14 phút 39 giây.  Một cách khác là nạp các neutron vào một máy dò và đếm các hạt proton được tạo ra từ quá trình phân rã các hạt neutron. Phương pháp “chùm tia” này được NIST và Khu phức hợp nghiên cứu máy gia tốc Proton Nhật Bản ở Tokai áp dụng. Người Nhật mới tiến hành phương pháp này nhưng từ năm 2013, nhóm hợp tác ở NIST đã cho biết trung bình các neutron của họ “sống” lâu hơn 8 giây so với phương pháp cái chai.  Đây thực sự là vấn đề lớn bởi các đo đạc chùm tia và cái chai này đều rất chính xác, thậm chí ngay cả những giới hạn của các nhiễu đều được tính toán. Vì thế, các nhà vật lý đều tìm hiểu các cách giải thích tại sao các neutron có thể biến mất từ chai nhanh hơn từ chùm tia.  Sự khác thường lượng tử  Một khả năng có thể xảy ra là một trong hai phương pháp đo đạc đang tạo ra một vài lỗi nào đó. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu có thể muốn kết hợp cả chùm tia và chai vào cùng một thiết bị. Tại phiên họp, nhà vật lý Zhaowen Tang ở Phòng thí nghiệm Los Alamos đã miêu tả cách các nhà nghiên cứu có thể đặt một máy dò hạt vào trong một cái bẫy neutron hình chai và đếm các neutron bằng cả hai phương pháp. Nhóm nghiên cứu của ông đang đề xuất kinh phí để bắt đầu lắp đặt thiết bị này.  Một khả năng khác là cách tiếp cận chùm tia và cái chai đều đo đạc thời gian tồn tại của neutron một cách chính xác nhưng một vài nguyên nhân chưa rõ trong tính toán đã tạo ra sự khác biệt giữa hai phép đo. Một ý tưởng gây chú ý là đôi khi các neutron có thể không chỉ phân rã thành các proton mà còn thành vật chất tối, một vật chất bí ẩn tạo ra vật chất của vũ trụ.  “Thật tuyệt vời nếu neutron mà chúng ta đã biết lại biến thành vật chất tối mà có thể mở ra các cánh cửa của phần còn chưa biết với chúng ta”, Bartosz Fornal – một nhà vật lý lý thuyết tại trường đại học California, San Diego từng ủng hộ đề xuất này vào năm ngoái. Nhưng cho đến nay các nhà thực nghiệm vẫn chưa đủ khả năng để xác nhận là liệu điều này có thể xảy ra hay không, theo quan điểm của nhiều nhóm nghiên cứu trong cuộc họp ở Denver.  Trong lúc đó, thực nghiệm chùm tia ở NIST đã tập hợp được một bộ dữ liệu tốt, sử dụng các máy dò có độ nhạy cao và các hợp phần khác sẽ được tiến hành với độ chính xác cao hơn trước – đo đạc được thời gian tồn tại của neutron trong phạm vi 1 giây chứ không phải từ 3 đến 4 giây như các thí nghiệm trước. “Mọi người chờ đợi kết quả từ bây giờ,” Nadia Fomin – một nhà vật lý tại trường đại học Tennessee ở Knoxville, nói. Và nhóm nghiên cứu ở NIST đang thiết kế thí nghiệm tiếp theo, với mục tiêu đếm bằng được thời gian tồn tại của neutron trong phạm vi 0,3 giây.  “Chúng tôi đang trên đường tăng độ chính xác lên”, Peter Geltenbort – một nhà vật lý tại ILL, nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01203-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý tạo ra các sóng spin ở cấp độ nano      Từ trường xoay chiều mạnh có thể dùng để tạo ra một dạng sóng spin chỉ được dự đoán về mặt lý thuyết.    Mới đây nó đã đạt được lần đầu tiên với nỗ lực của một nhóm các nhà vật lý trường đại học Halle-Wittenberg Martin Luther (MLU). Họ miêu tả kết quả trong công trình xuất bản trên Nature Communications và cung cấp các hình ảnh trên kính hiển vi các sóng spin này 1.  Ý tưởng cơ bản của spintronics là sử dụng một thuộc tính đặc biệt của các electron – spin – cho vô số ứng dụng electron khác nhau như dữ liệu và công nghệ thông tin. Spin là một mô men góc bên trong của các electron tạo ra một mô men từ. Kết hợp các mô men từ đó có thể tạo ra một nam châm có thể hữu dụng trong xử lý thông tin. Khi các mô men từ kết cặp đó được kích thích cục bộ bằng một xung từ trường, động lực này có thể lan như sóng sắp vật liệu đó. Đó là sóng spin hoặc các magnon.  Một dạng cụ thể của các sóng đó là tâm điểm công trình nghiên cứu của các nhà vật lý từ Halle. Thông thường, kích thích phi tuyến của các magnon tạo ra các số nguyên của tần số kết quả – ví dụ 1.000 megahertz trở thành 2.000 hay 3.000 megahertz.  “Tuy nhiên đó mới chỉ là dự đoán trên lý thuyết: các xử lý phi tuyến có thể tạo ra sóng spin tại các số bán nguyên của tần số kích thích”, giáo sư Georg Woltersdorf của Viện Vật lý MLU giải thích. Nhóm nghiên cứu giờ đã có thể chứng tỏ bằng thực nghiệm là trong các điều kiện theo trật tự cần thiết để tạo ra các sóng đó và có thể kiểm soát được các pha diễn ra. Pha ở đây là trạng thái của dao động sóng tại một điểm cho trước và thời gian diễn ra. “Chúng tôi là người đầu tiên xác nhận các kích thích đó trong các thực nghiệm và có đủ khả năng vẽ bản đồ chúng”, Woltersdorf nói.  Theo các nhà vật lý, các sóng này có thể tạo ra trong hai trạng thái pha bền, điều đó có nghĩa là khám phá có thể có tiềm năng sử dụng trong các ứng dụng xử lý dữ liệu, kể từ khi các máy tính sử dụng hệ nhị phân.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-physicists-nanoscale.html  ———————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41467-022-32224-0    Author                .        
__label__tiasang Các nhà vô địch ẩn danh của thế kỉ XXI      Như nhan đề của nó đã cho thấy, cuốn Các nhà vô địch ẩn danh của thế kỉ XXI – Chiến lược dẫn tới thành công của những công ty hàng đầu thế giới* của Hermann Simon – một nhà tư tưởng về quản trị kinh doanh có uy tín nhất ở Đức và cũng là một trong vài người có uy tín nhất thế giới – vừa được NXB Tri thức ấn hành, trước hết là tác phẩm dành cho các doanh nhân muốn trở thành những tay chơi trên bình diện toàn cầu.     Nhưng không chỉ có thế, mỗi độc giả – dù chỉ  là người chủ doanh nghiệp nhỏ, hay một sinh viên vừa ra trường – đều  tìm được ở đây những bài học có thể áp dụng ngay.   Tại sao lại “vô địch ẩn danh”?     Vâng, đây là lối chơi chữ của tác giả, nhưng lại rất đúng. Vô địch có nghĩa là những công ty nắm được thị phần rất lớn trong phân khúc thị trường của họ. Đó là những công ty đáp ứng được ba tiêu chuẩn sau: Một, đứng ở vị trí từ thứ nhất đến thứ ba trên thị trường toàn cầu hay thứ nhất trên châu lục của họ – những công ty này có thể nắm tới 50%, thậm chí 70-80%, trên phân khúc thị trường của mình. Thứ hai, có doanh thu dưới 4 tỉ USD. Và thứ ba, ít được người tiêu dùng, cũng như các phương tiện truyền thông biết tới. Nhưng, trái ngược với quan niệm thông thường, những công ty này lại có nhiều bài học rất quý giá mà những người khởi nghiệp và những công ty muốn thành công trên thị trường cần học tập.   Công trình nghiên cứu Hermann Simon bắt đầu vào năm 1986, từ cuộc gặp gỡ với Giáo sư Theodore Levitt, người được coi là đạo sư trong lĩnh vực marketing, đang dạy tại Harvard Business School. Trong cuộc gặp gỡ này, hai ông đã thảo luận vấn đề: Vì sao nước Đức và những nước nói tiếng Đức có thành tích xuất khẩu cao và ổn định hơn hẳn những nước khác. Quá trình nghiên cứu đã dẫn tác giả tới những phát hiện cực kì lí thú. Từ năm 1985 đến năm 2010, nước Đức chiếm vị trí số 1 trong lĩnh vực xuất khẩu 10 lần. Mỹ, với nền kinh tế lớn gấp bốn lần Đức, giữ vị trí cao nhất 13 lần, gần đây nhất là năm 2002. Trung Quốc leo lên vị trí số 1 vào năm 2009. Nhật Bản, nước vốn giữ vị trí thứ ba trong nhiều năm và là nước xuất khẩu được nhiều người ngưỡng mộ, từ năm 2004 đã không còn nằm trong nhóm ba nước hàng đầu nữa. Trong khi đó, năm 2010 Mỹ có 133 công ty lọt vào danh sách Fortune Global 500; Nhật có 68, gấp đôi con số 34 của Đức. Vì sao Đức, và cả các nước nói tiếng Đức, lại có thành tích xuất khẩu xuất sắc như thế? Câu trả lời là, những nước này có nhiều công ty quy mô vừa và nhỏ, nhưng lại là những công ty dẫn đầu trong phân khúc thị trường của họ hay được Hermann Simon gọi là các nhà vô địch ẩn danh.   Các công ty nhỏ và vừa hiện đang có vai trò to lớn trong quá trình toàn cầu hóa hơn bất kì giai đoạn nào khác. Trong suốt 20 năm nghiên cứu, tác giả đã tìm được tổng cộng 2.734 nhà vô địch ẩn danh trên khắp thế giới, trong đó Đức có 1.307 công ty, Mỹ có 336 công ty, Nhật có 220 công ty. Số nhà vô địch ẩn danh trên đầu người ở Đức là 16 trên một triệu dân; những nước nói tiếng Đức khác như Luxembourg, Áo, Thụy Sĩ khoảng 14 trên một triệu dân – cao hơn hẳn những nước khác.   Các nhà vô địch ẩn danh đánh giá thành công của họ như thế nào? Khi được hỏi về mức độ thỏa mãn nói chung với kết quả kinh doanh trong 5 năm qua (thang từ 1 = không thỏa mãn, đến 7 = rất thỏa mãn), hơn một nửa (51,9%) trả lời với điểm 6 và 7, chứng tỏ mức độ thỏa mãn cao. Ngoài ra, 81,4% thỏa mãn với khả năng sống sót; 53,1% thỏa mãn với khả năng cạnh tranh. Lợi nhuận trước thuế trong 10 năm qua là 13,6%. Giả định mức thuế là 30% thì lợi nhuận sau thuế của các nhà vô địch ẩn danh là 9,5%. Trong khi đó, năm 2009 lợi nhuận của các công ty nằm trong danh sách Fortune Global 500 là 1%. Ta có thể thấy ngay, so với các công ty lớn nhất thế giới, các nhà vô địch ẩn danh là những công ty rất có lời.   Trong mười năm qua, các nhà vô địch ẩn danh tăng trưởng rất nhanh. Với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm là 8,8%, họ đã tăng doanh thu lên trung bình khoảng 2,3 lần. Sự tăng trưởng của các nhà vô địch ẩn danh tạo ra nhiều việc làm mới. Mười năm trước, các nhà vô địch ẩn danh trong mẫu nghiên cứu của tác giả sử dụng trung bình 1.285 nhân viên. Hiện nay con số này là 2.037 người, nghĩa là gia tăng 58,6% hay 753 việc làm mới.   Gió đã xoay chiều   Mỗi công ty đều phải sẵn sàng học tập từ những công ty thành công. Cho đến nay, quá trình này chủ yếu là con đường một chiều chạy từ những công ty lớn và nổi tiếng xuống những công ty vừa và nhỏ. Khoảng 90% các công trình nghiên cứu theo chuyên đề được tiến hành với những công ty lớn. Nói cách khác, chỉ những công ty lớn mới được coi là có điều gì đó đáng dạy mà thôi. Đã đến lúc đảo ngược quá trình này – như chúng ta sẽ thấy trong cuốn sách ngay cả các công ty lớn cũng có nhiều điều cần phải học từ những nhà vô địch ẩn danh. Qua nhiều năm làm việc với các công ty lớn, tác giả rút ra kết luận, những chiến lược độc đáo và thành công đáng kinh ngạc của các nhà vô địch ẩn danh đã khuấy lên những cuộc thảo luận sôi nổi và dẫn đến những cải tiến rõ ràng và cụ thể.   Như vậy là, gió đã xoay chiều. Xin đưa ra ở đây thí dụ: Hàn Quốc là một trường hợp đặc biệt thú vị, ý tưởng về các nhà vô địch ẩn danh mới bùng lên ở nước này chưa lâu. Chúng ta phải hiểu rằng, trước đây, năm chaebol hàng đầu (Samsung, Hyundai, LG, Daewoo và SK) đóng góp hơn 50% GDP của Hàn Quốc và 30 chaebol hàng đầu đóng góp 75% tất cả các hoạt động kinh tế tại Hàn Quốc. Nhằm tạo mức độ đa dạng hóa rủi ro cao hơn, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra chương trình xây dựng cho bằng được từ 300 đến 500 nhà vô địch ẩn danh trong 5 đến 10 năm tới. Đây là kế hoạch đầy tham vọng, nhưng nếu tính đến những sức mạnh nội tại của các công ty quy mô vừa của Hàn Quốc thì kế hoạch này có thể là khả thi.   Những bài học cho mọi người  Đối với người viết thì từ cuốn sách, có thể rút ra ba bài học quan trọng nhất sau đây. Trước hết, bao giờ cũng là vai trò của người lãnh đạo. Thành công phi thường không bao giờ hoàn toàn do may mắn hay sự trùng hợp ngẫu nhiên. Ngay từ đầu đã luôn phải biết mình muốn gì hay ít nhất là cũng phải luôn sẵn sàng. Ngoài ra, để có thể trở thành tay chơi trên bình diện toàn cầu, người lãnh đạo phải biết truyền ngọn lửa đang cháy trong lòng mình sang những người khác, thậm chí là những người thuộc những dân tộc khác và những nền văn hóa khác.   Bài học thứ hai là sự chú tâm. Có thể có những nhà cải cách hàng đầu trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng đó là những ngoại lệ vô cùng hiếm và hầu như không thể là hình mẫu cho các doanh nhân hay nhà quản lí doanh nghiệp trung bình. Phần lớn các nhà vô địch ẩn danh không phải là thiên tài, nhưng họ điều chỉnh nguồn lực có hạn của mình tốt hơn những người khác và bám chặt vào phương hướng đã chọn cho đến khi leo lên được vị trí dẫn đầu.   Bài học thứ ba: Đổi mới. Đổi mới là biện pháp duy nhất có hiệu quả bảo đảm thành công trong cạnh tranh. Đổi mới chủ yếu là vấn đề sáng tạo và chất lượng, chứ không phải là vấn đề tiền bạc. Các nhà vô địch ẩn danh coi thị trường và công nghệ là những động lực phát triển như nhau. Ít tập đoàn lớn có sự cân bằng như thế.   Trên đây không chỉ là những bài học cho các công ty có tham vọng tham gia vào cuộc chơi trong thị trường toàn cầu. Xét cho cùng, ở địa phương nào cũng có những cửa hàng ăn hay cửa hàng bán quần áo… tốt nhất trong khu vực. Các doanh nhân đó có thể học ở đây những bài học để vươn lên, trở thành nhà vô địch trong thành phố, rồi cả nước và sau đó là vươn ra khu vực và toàn cầu.   —–  * Tác giả: Hermann Simon; Người dịch: Phạm Nguyên Trường; NXB Tri thức ấn hành tháng 12/2013 với sự tài trợ của Quỹ Friedrich Naumann. Sách dày 396 trang, giá bìa 105.000 đồng     Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhiệm vụ khám phá vũ trụ thu thập mẫu vật về trái đất như thế nào?      NASA chuẩn bị phóng tàu vũ trụ đầu tiên để thu thập các mẫu vật trên sao Hỏa.      Bennu, một trong ba tiểu hành tinh, là mục tiêu của nhiều nhiệm vụ thu thập mẫu vật, trong đó có OSIRIS-REx (NASA). Nguồn: NASA/Goddard/University of Arizona/Lockheed Martin/Science Photo Library  Vào ngày 30/7, thiết bị tự hành Perseverance (Sự kiên nhẫn) đã được sẵn sàng để phóng tới hành tinh đỏ — bước đi đầu tiên hướng tới giấc mơ đã có từ nhiều năm của các nhà khoa học hành tinh. Nếu mọi việc diễn ra như kế hoạch, Perseverance sẽ tới đó vào tháng 2/2021 và đi vòng quanh, thu thập các mẫu đá để một ngày nào đó, con tàu vũ trụ khác sẽ chọn lọc và đưa về trái đất. Những viên đá này sẽ trở thành những mẫu vật đầu tiên lấy từ sao Hỏa.  Chúng sẽ có mặt trong bộ sưu tập vô giá của những vật liệu vũ trụ được lấy từ những hành tinh khác về trái đất thông qua thời kỳ khám phá vũ trụ. Từ những mẫu đá mặt trăng được các nhà du hành vũ trụ tàu Apollo đến những mảnh vỡ của một tiểu hành tinh ở khoảng cách a được các robot thu thập, những mẫu vật của thế giới khác này đã tái định hình nghiên cứu về hệ mặt trời.  Không có các nhiệm vụ nghiên cứu về hành tinh, các nhà khoa học chỉ còn một cách có thể nghiên cứu trực tiếp mẫu đá từ những thế giới khác là phân tích những thiên thạch rơi xuống trái đất. “Việc chờ đợi vật liệu này đến trái đất có thể sẽ rẻ hơn rất nhiều”, Queenie Hoi Shan Chan, một nhà khoa học hành tinh của trường đại học Hoàng gia Holloway London tại Egham, Anh, nói. “Nhưng chúng ta không thể chỉ chờ đợi điều này xảy ra, vì nó rất hiếm khi xuất hiện”.  Và dĩ nhiên thì các cơ quan nghiên cứu vũ trụ gặp rất nhiều khó khăn để thu thập các mảnh thiên thạch từ mặt trăng, sao Hỏa và các thế giới khác. May mắn là trong câc phòng thí nghiệm về trái đất được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại, các nhà khoa học có thể áp dụng các công cụ và kỹ thuật tiên tiến để hiểu về các mẫu vật. Các nhiệm vụ mang mẫu vật trở về trái đất cho phép họ biết một cách chính xác vùng địa lý mà viên đá đó được lấy. Đó là một “bối cảnh vô giá,” Jessica Barnes, một nhà khoa học hành tinh tại trường đại học Arizona ở Tucson, nói.  Với hai nhiệm vụ thu thập mẫu tiểu hành tinh đang được thực hiện, và việc quan tâm đến mặt trăng, những năm 2020 đang định hình ra một kỷ nguyên vàng thu thập mẫu vật. Nature nhìn lại các nhiệm vụ này và cách mục tiêu mà Perseverance sẽ mang lại.    Môt tảng đá được lấy từ mặt trăng và do nhiệm vụ Apollo 17 (NASA) mang trở lại trái đất. Nguồn: JSC/NASA  Mặt trăng  Các mẫu vật đầu tiên và lớn nhất mà chúng ta có là từ mặt trăng. Giữa năm 1969 và 1972, một nhóm các nhà du hành vũ trụ từ chương trình Apollo của NASA đã bay lên mặt trăng, thám hiểm trên đó và chọn lựa ra 382 kilograms đá mang về trái đất. Kết quả nghiên cứu chúng đã viết lại những hiểu biết khoa học về lịch sử của hệ mặt trời.  “Trước khi Apollo 11 hạ cánh xuống mặt trăng, nhiều người còn cho rằng mặt trăng của chúng ta được hình thành trong bầu không khí lạnh lẽo,” Donald Brownlee, một nhà thiên văn học ở trường đại học Washington ở Seattle, nói. “Rút cục thì đó là sai lầm quá lớn.” Các nghiên cứu từ mẫu đá mặt trăng chứng tỏ nó rất nóng ở thời điểm ban đầu, khoảng trên 4,5 tỷ năm trước, và được một đại dương đá nóng chảy bao phủ.  Các nhà nghiên cứu vẫn còn đang nghiên cứu tiếp những mẫu của Apollo. Năm ngoái, để đánh dấu 50 năm Apollo 11 hạ cánh xuống mặt trăng, NASA bắt đầu công khai một số mẫu của Apollo để xem xét những gì mà khoa học có thể khai thác được. Những nghiên cứu khác đang được thực hiện, dẫu việc xử lý thông tin vẫn còn chậm chạp bởi ảnh hưởng của đại dịch.  Ba nhiệm vụ mặt trăng của Soviet, tất cả đều có robot, mang về lượng mẫu nhỏ bụi mặt trăng giữa những năm 1970 và 1976. Và Trung Quốc đặt kế hoạch tìm một số mẫu vật với nhiệm vụ Chang’e 5, vốn được ấn định phóng vào cuối năm nay và có thể sẽ đem lại những mẫu vật mặt trăng đầu tiên kể từ những năm 1970.  NASA đang chờ đợi mang về nhiều mẫu đá mặt trăng từ chương trình Artemis của họ, vốn nhằm mục tiêu gửi các nhà du hành trở lại bề mặt mặt trăng vào cuối năm 2024.    Các tiểu hành tinh  Cơ quan Khám phá Không gian vũ trụ Nhật Bản (JAXA) là cơ quan vũ trụ duy nhất tiến xa trong việc mang về các vật liệu từ một tiểu hành tinh. Năm 2010, tàu vũ trụ Hayabusa trở lại từ một chuyến tới tiểu hành tinh hình củ khoai tây Itokawa, dẫu còn chưa rõ là liệu con tàu này có thể thu thập được bất kỳ mẫu vât nào trong chuỗi rủi ro xảy ra trên tiểu hành tinh này. Nhưng khi con tàu trở lại trái đất, các nhà khoa học JAXA đã tìm thấy hơn 1.500 mẫu hạt quý giá.  “Đó là những hạt bé tí, thậm chí nhỏ hơn cả bề dày tóc người,” Chan nói. “Trên trái đất, chúng ta có thể thực hiện những phân tích chi tiết với nó”, bao gồm việc xác định hợp chất đồng vị của nuước trong vật liệu Itokawa, một phân tích không thể thực hiện trong không gian bởi thiết bị đòi hỏi phải được đặt trong một căn phòng đủ chức năng. Những nghiên cứu mẫu hạt Itokawa đã xác nhậnkiểu chung của thiên thạch rơi xuống trái đất, gọi là đá có nguồn gốc chondrite, đến từ những tiểu hành tinh giàu silicate như Itokawa. Các hạt Itokawa từng nóng và bị va chạm mạnh tại một số thời điểm trong quá khứ, điều đó cho thấy là có những va chạm vũ trụ trong vành đai tiểu hành tinh.  Hai mẫu vật tiểu hành tinh khác có thể đến trái đất sớm hơn, nếu như mọi việc diễn ra tốt. Thành công của nhiệm vụ lấy mẫu vật tiểu hành tinh thứ hai của JAXA là Hayabusa2 còn tùy thuộc vào việc con tàu sẽ hạ cánh tại Australia vào tháng 12 tới. Nó mang về một số gram vật liệu từ một tiểu hành tinh giàu carbon hình củ lạc mang tên Ryugu, nằm giữa quỹ đạo trái đất và sao Hỏa. Và tàu vũ trụ OSIRIS-REx của NASA hiện đang bay theo quỹ đạo của hành tinh hình kim cương Bennu với hi vọng tóm được một mẫu vật vào tháng 10 và trở lại trái đất năm 2023.  Sao chổi  Năm 2004, tàu vũ trụ Stardust (Bụi sao) của NASA bay qua đuôi sao chổi Wild-2, vốn nhanh hơn vận tốc của một viên đạn tới sáu lần, và tóm lấy những mẫu vật duy nhất để lần đầu mang mẫu của một sao chổi về trái đất. Do đó, chúng đem lại bất ngờ lớn.  NASA đặt tên cho nhiệm vụ này là Bụi sao bởi các nhà khoa học nghĩ sao chổi chứa bụi cổ từ những ngôi sao khác, được đóng băng hàng tỷ năm. “Hóa ra ý tưởng này cũng là một cái sai lớn khác,” Brownlee, nhà nghiên cứu chính của nhiệm vụ này, nói. Khi các nhà khoa học có trong tay bụi sao chổi, họ thấy các hạt được hình thành gần với mặt trời ở những mức nhiệt độ cực cao. Điều này cho thấy các vật liệu nóng đã được vận chuyển thông qua hệ mặt trời thời kỳ sớm và bằng cách nào đó trở thành gắn kết thành một vật thể lạnh của sao chổi.  Trong khi bay qua vũ trụ, Stardust cũng đã thu hoạch được ít nhất bảy hạt bụi từ không gian liên sao. Các nhà khoa học đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, bao gồm hai trong số đó chứa các khoáng chất kết tinh mà họ không chờ đợi tìm thấy trong vũ trụ giữa các ngôi sao.  Gió mặt trời  Bất chấp thành công của Stardust, năm 2004 không phải là một năm quá thành công cho việc lấy mẫu vật vũ trụ. Sau khi dành hơn hai năm trong vũ trụ để thu htaapj các hạt mang điện tích phun trào từ mặt trời và tạo ra gió mặt trời, tàu vũ trụ Genesis của NASA đã đâm xuống sa mạc Utah. Khi bay trở lại trái đất, chiếc dù của nó đã không hoạt động đúng lúc tái nhập bầu khí quyển và con tàu này rơi xuống mặt đất với vận tốc 300 km/giờ rồi vỡ ra thành nhiều mảnh.  Nhưng các kỹ sư đã vớt vát được chiếc hộp chứa mẫu vật gió mặt trời. Các nhà nghiên cứu đã dùng chúng để khám phá là gió mặt trời, và cả mặt trời, có tỷ lệ đồng vị ô xi cao hơn cả trái đất, trái ngược với những gì các nhà khoa học chờ đợi.  Việc mang những mẫu vật từ sao Hỏa về trái đất là thách thức lớn hơn các nhiệm vụ khác. Sao Hỏa xa hơn mặt trăng và trọng lực lớn hơn nhiều so vói tiểu hành tinh hoặc sao chổi, khiến cho tàu vũ trụ khó khăn hơn trong việc thoát khỏi bề mặt và trở lại trái đất.  NASA muốn Perseverance khoan và lấy ít nhất 30 ống chứa đất và đá sao Hỏa khi nó hạ cánh xuống Jezero Crater. Các kế hoạch dài hạn khiến NASA và Cơ quan vũ trụ châu Âu hợp tác để gửi con tàu tự hành thứ hai thu thập các ống chứa mẫu và phóng chúng vào quỹ đạo sao Hỏa, và con tàu vũ trụ thứ ba gắng sức đưa chúng rời quỹ đạo sao Hỏa  và bay về trái đất. Muc tiêu là đưa các mẫu vật về trái đất vào vào năm 2031.  Tuy nhiên Nhật Bản có thể thành công đầu tiên trong việc mang mẫu vật sao Hỏa trở về trái đất. JAXA đang phát triển một tàu vũ trụ để có thể bay đến mặt trăng lớn nhất của sao Hỏa là Phobos, và lấy một ít bụi ở đây rồi bay về vào năm 2029. Nhiệm vụ này được gọi là Martian Moons eXploration (MMX).  MMX có thể ghi dấu những vật liệu đầu tiên từ hệ sao Hỏa từng được mang về trái đất. Một công trình vào năm ngoái cho biết bề mặt của Phobos có lẽ chứa nhiều hạt từ sao Hỏa, rời khỏi về mặt do thiên thạch va chạm và rơi xuống Phobos. Nếu mọi chuyện diễn ra như vậy, MMX có thể chọn được nhiều hơn 100 hạt từ Phobos mà có thể có nguồn gốc từ sao Hỏa.  Mỗi hạt bụi có thể chứa nhiều khoáng chất với thông tin về tuổi vật liệu cũng như các đặc tính hóa học và từ trường của nó, theo Tomohiro Usui và Ryuki Hyodo của Viện nghiên cứu Khoa học Vũ trụ và du hành vũ trụ (JAXA) ở Sagamihara. “Mỗi hạt đều có thông tin địa hóa về môi trường bề mặt của sao Hỏa từ thời điểm mà nó được hình thành.” Bằng việc phân tích càng nhiều mẫu hạt sao Hỏa, các nhà khoa học càng có thể dựng được một bức tranh về môi trường bề mặt sao Hỏa thay đổi theo thời gian như thế nào.  Và bằng việc nghiên cứu các mẫu sao Hỏa đầu tiên trong phòng thí nghiệm. nhóm nghiên cứu của MMX có thể hỗ trợ công việc chuẩn bị cho Perseverance của NASA và ESA.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02185-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nước châu Âu khẩn trương tiến hành tiêm chủng Covid -19      Tại các nước, công tác chuẩn bị cho tiêm chủng đang được tiến hành rất khẩn trương. Có những nước dự kiến đến hè đã có thể tiêm chủng toàn dân.    Vương quốc Anh  Nước anh đã phê duyệt khẩn cấp cho phép đưa loại vaccine corona mới do hãng Biontech của Đức phối hợp với tập đoàn dược phẩm Pfizer của Mỹ sản xuất, được sử dụng tại nước này. Hoa Kỳ dự định trong những ngày tới cũng sẽ cho phép sử dụng khẩn cấp loại vaccine này cũng như vaccine của hãng Moderna. Trong khi đó cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) thì tuyên bố cơ quan này cần ít nhất 4 tuần lễ để cấp phép đúng quy định đối với loại vaccin đầu tiên.   Trước mắt nước Anh sẽ ưu tiên tiêm chủng cho những người trên 80 tuổi và nhân viên y tế, những người làm công việc chăm sóc. Trong nhóm mục tiêu này có Nữ hoàng Queen Elizabeth II. 94 tuổi và hoàng thân Philipp 99 tuổi. Theo một bài báo trên tờ “Sunday Times”, nữ hoàng và hoàng thân muốn được tiêm chủng sớm nhằm tạo “đối trọng với phong trào chống vaccine”.   Trong những ngày cuối tuần các lọ vaccine của Biontech và Pfizer đã được chuyển tới các phòng khám bệnh ở Anh, cho đến nay công tác tiêm chủng đã được triển khai cho những người đầu tiên. Theo thỏa thuận nước Anh sẽ được cung cấp tổng cộng 40 triệu lọ vaccine của Biontech và Pfizer. Sắp tới sẽ có các ứng viên vaccine khác nữa.  Khi có vaccine không đòi hỏi bảo quản ở nhiệt độ siêu lạnh (như của Pfizer) thì chính phủ Anh dự kiến sẽ mở hàng nghìn trung tâm tiêm chủng trong cả nước. Trong năm  2021 sẽ tiêm chủng cho những người trên 50 tuổi. Theo một cuộc điều tra thăm dò của YouGov tiến hành giữa tháng 11 thì có tới 67%  người Anh tán thành tiêm chủng.   Nước Đức  Hôm thứ hai vừa qua dự thảo khuyến nghị chi tiết của Ủy ban tiêm chủng thường trực (Stiko) thuộc Viện Robert Koch về chiến lược tiêm chủng của Đức đã được công bố. Theo đó những người trên 80 tuổi, lực lượng bảo vệ, chăm sóc cũng như những nhân viên làm việc tại các trạm cấp cứu sẽ được tiêm chủng đầu tiên. Cụ thể những người trong các trại dưỡng lão, trong các cơ sở về cấy ghép về y học cũng sẽ được tiêm chủng trước. Mục tiêu là hạn chế các ca Covid-19 nghiêm trọng và tử vong vì Covid, bảo vệ những người làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao và ngăn ngừa sự lây nhiễm đối với các nhóm người bị đe dọa đặc biệt. Khi có đủ vaccine, các nhóm có nguy cơ thấp hơn sẽ được tiêm chủng.  Theo điều tra của Quỹ Bảo hiểm Barner, tỷ lệ tán thành tiêm chủng của người Đức là 53%.    Ảnh: Reuters.  Nước Pháp  Trong giai đoạn đầu – dự định chậm nhất từ đầu tháng 1 sẽ tiêm chủng cho các trại dưỡng lão và nhân viên chăm sóc có nguy cơ lây nhiễm [corona] cao. Sang giai đoạn hai, sẽ tiêm chủng cho những người trên 75 tuổi, những người trên 65 tuổi có bệnh nền cũng như những người làm việc tại các bệnh viện và nhân viên chăm sóc trên 50 tuổi hoặc người ít tuổi hơn nhưng có nguy cơ cao.   Dự kiến phải đến mùa xuân, sang hè mới có đầy đủ vaccine để tiêm chủng cho giai đoạn ba, tức cho những người làm công việc chăm sóc y tế nói chung và cho những nhân viên làm việc trong “các ngành kinh tế có tầm quan trọng sống còn” cũng như tiêm chủng cho những người từ 50 đến 65 tuổi.  Ở vị trí thứ tư là các nhóm như vô gia cư, tù nhân, những người bị bệnh thần kinh, những người làm việc trong phòng kín như nhân viên lò mổ gia súc. Trong giai đoạn cuối cùng thì tất cả mọi người dân Pháp trưởng thành đều có quyền được tiêm chủng.   Tuy nhiên, vẫn có sự hoài nghi đối với vaccine và chỉ có khoảng 50% người Pháp tán thành tiêm chủng. Thủ tướng Pháp Jean Castex đã nói về một “hành động vị tha” và kêu gọi người dân Pháp hãy có lòng vị tha.  Nước Áo   Bắt đầu tiêm chủng từ tháng giêng, chia làm ba giai đoạn: đầu tiên tiêm chủng tại các cơ sở dưỡng lão, những nơi chăm sóc người tàn tật và những người trên 65 tuổi. Bước tiếp theo trong giai đoạn một là tiêm chủng cho những người làm việc tại bệnh viện, các cơ sở chăm sóc sức khỏe và những người thuộc nhóm có nguy cơ cao. Từ tháng ba tiến hành giai đoạn hai, tiếp tục tiêm chủng cho nhóm người trên 65 tuổi cũng như nhân viên cơ quan an ninh, tư pháp, các trường học, các cơ sở giáo dục đào tạo và trong lĩnh vực hạ tầng cơ sơ thiết yếu. Trong tháng tư tiến hành tiêm chủng cho toàn dân.  Vấn đề hậu cần phụ thuộc nhiều vào loại vaccine. Thời kỳ đầu dự định tiến hành tập trung như các phố tiêm chủng, trung tâm tiêm chủng. Khi có các loại vaccine không đòi hỏi phải bảo quản trong nhiệt độ quá thấp thì các bác sỹ gia đình cũng sẽ được huy động làm nhiệm vụ tiêm chủng. Ở Áo cũng có tình trạng phản đối tiêm chủng tuy nhiên không nhiều, lan rộng như ở Pháp hay Đức.   Hoa Kỳ  Tại Hoa Kỳ dự kiến sẽ tiến hành tiêm chủng cho 21 triệu nhân viên y tế đầu tiên và ba triệu lao động trong các cơ sở chăm sóc, theo ủy ban tư vấn về hoạt động tiêm chủng thuộc cơ quan phòng chống dịch bệnh CDC.   Thống đốc  New York Andrew Cuomo cũng cảnh báo, đợt tăng nhiễm virus corona đột biến hiện nay có thể kéo dài đến tháng 1. Cuomo hy vọng đến ngày 15 tháng 12  New York sẽ nhận được lô vaccine đầu tiên và sẽ có khoảng 170.000 người được tiêm chủng. Chính quyền các bang ở Hoa Kỳ lên kế hoạch thành lập các trạm tiêm chủng. Theo một cuộc thăm dò của Viện Gallup, 60% người dân nước này tán thành tiêm chủng.  Trung Quốc  Trung Quốc đang chuẩn bị để cung cấp cho thế giới hàng chục triệu liều vaccine, với các nhà sản xuất lớn là Sinovac, Sinopharm và Cansino.    Từ lâu Trung Quốc đã tiến hành tiêm chủng. Trong tháng sáu đã tiêm chủng một bộ phận thuộc quân đội, trong tháng bảy đã tiến hành tiêm chủng tại hai thành phố, cho các nhóm có “nguy cơ cao” gồm nhân viên y tế, nhân viên hải quan và tại các sân bay; tới đây sẽ tiêm chủng cho nhân viên giao thông vận tải, ngành hậu cần và tiếp theo là lực lượng chịu trách nhiệm  cho “các quy trình thiết yếu trong thành phố”. Trong “trường hợp khẩn cấp”, mọi công dân có thể mua vaccine với giá tương đương 50 Euro; sinh viên du học nước ngoài được tiêm chủng miễn phí. Ước tính đến tháng 11 đã có khoảng 1 triệu người Trung Quốc đã được tiêm chủng vaccine chống virus corona.  Thụy Điển  Thụy Điển đã có cách ứng phó với dịch bệnh một mình một kiểu và gây nhiều tranh cãi ở Châu Âu và cho đến nay đã phải từ bỏ và ký hợp đồng mua vaccine để tiêm chủng. Thụy Điển dự kiến bắt đầu tiêm chủng trong năm  2021, tuy nhiên người ta cho rằng người dân sẽ được bảo vệ rộng rãi trước mùa hè.  Cho đến nay, Thụy Điển luôn là nước có tỷ lệ tiêm chủng rất cao, thí dụ trong năm  2019 đã có 97% trẻ em hai tuổi tiêm phòng bệnh sởi, 95% học sinh đã tiêm chủng đợt hai. Tỷ lệ tiêm chủng ở người lớn cũng tốt. Tuy nhiên ở Thụy Điển vẫn có một tỷ lệ nhỏ người dân phản đối tiêm chủng. Mới đây Viện khảo sát Novus cho hay khoảng một phần tư dân Thụy Điển không muốn tiêm phòng chống corona, khoảng 87% trong số này lo sợ về tác động phụ.   Ba Lan   Nước này đã đặt mua 45 triệu liều các loại vaccine corona khác nhau của  Pfizer/Biontech, AstraZeneca và Johnson&Johnson. Theo bộ trưởng Y tế Adam Niedzielski, lô hàng đầu tiên sẽ được trao vào cuối tháng giêng. Tiêm chủng trên cơ sở tự nguyện và người dân không phải trả tiền. Đợt tiêm chủng đầu tiên là lực lượng cán bộ nhân viên y tế, nhân viên chăm sóc, vào khoảng 500.000 người. Sau đó sẽ tiêm chủng tại các trại dưỡng lão, các cơ sở chăm sóc và những người nhiều tuổi. Sau nữa mới là cán bộ nhân viên bộ máy nhà nước như cảnh sát. Người dân có thể đăng ký trực tuyến để tiêm chủng. Tuy nhiên không nhiều người Ba Lan tán thành tiêm chủng. Theo điều tra gần đây nhất do UCE Research và Syno Poland tiến hành, thì chỉ có khoảng 40% người dân Ba lan tán hành tiêm chủng.  Nga  Tổng thống Putin đã tuyên bố: Sau ít ngày nữa sẽ tiêm chủng trong cả nước bằng vaccine “Sputnik V” của Nga. Nga đã sản xuất được hai triệu liều vaccine do Nga tự phát triển và giờ đây cho dù không thể tiến hành “tiêm chủng đại trà tuy nhiên có thể thực hiện trên diện rộng” theo lời tổng thống Nga. Theo chỉ thị của ông Putin thì những người đầu tiên được tiêm chủng là các bác sỹ và giáo viên. Theo Bộ Y tế thì từ tháng giêng hoặc tháng hai sẽ tiêm chủng rộng rãi cho toàn dân, dự kiến tiến hành tiêm chủng theo địa chỉ nơi cư trú và tiêm chủng tại các phòng khám bệnh nhà nước. Loại vaccine của Nga nghiên cứu và phát triển chưa kết thúc giai đoạn khảo nghiệm lần thứ ba.   Theo các cuộc thăm dò thì số người không tán thành tiêm chủng dao động từ 50% đến 73%.   Italia   Tại Italia tiêm chủng sẽ được triển khai từ nửa cuối tháng 1. Italia đã đặt mua của  Pfizer/Biontech và Moderna khoảng 3,8 triệu liều, đủ để tiêm chủng cho 1,9 triệu người. Ưu tiên tiêm chủng cho những người có nguy cơ lây nhiễm cao, đó là nhân viên y tế, cảnh sát cũng như các nhóm có nhiều rủi ro đặc biệt là người già. Franco Locatelli, thành viên Hội đồng chuyên viên – Corona cho rằng, số thuốc để tiêm chủng sẽ tăng nhanh do đó đến cuối hè, đầu thu thì có thể toàn dân hoàn thành tiêm chủng. Ban đầu các lọ thuốc sẽ được chuyển thẳng tới các bệnh viện và trại dưỡng lão. Sau này khi thuốc có nhiều hơn thì người dân có thể đến tiêm chủng tại bác sỹ gia đình hoặc tại các hiệu thuốc.   Hiện chính phủ chưa quyết định liệu việc tiêm chủng có phải là bắt buộc hay không. Sẽ có một chiến lược truyền thông lớn để tuyên truyền vận động tiêm chủng.   Theo một cuộc điều tra giữa tháng 11 thì chỉ có khoảng một phần ba những người Italia được hỏi cho biết họ sẵn sàng cho tiêm chủng.  Thụy Sỹ  Thụy sỹ đã đặt mua vaccine của AstraZeneca và Moderna tổng cộng 9,3 triệu liều và của Pfizer/Biontech ba triệu liều nữa để dự trữ. Dự kiến bắt đầu tiêm chủng từ cuối tháng giêng. Từ đầu tháng 12, trong chiến lược tiêm chủng của Thụy Sỹ cũng dự kiến ưu tiên các nhóm có độ rủi ro cao – các công dân Thụy Sỹ trên 65 tuổi, những người có bệnh nền, những người cùng chung sống với họ cũng như nhân viên y tế được ưu tiên tiêm chủng. Hiện chưa rõ tiêm chủng ở đâu nhưng có nhiều khả năng sẽ thành lập các trạm tiêm chủng chuyên biệt bố trí trong các tòa nhà.   Tuy nhiên, một cuộc điều tra cho thấy chỉ có khoảng 53% người dân tình nguyện tiêm chủng, 17% nghiêng về không tiêm chủng, 25% khẳng định không tiêm chủng. Trên cơ sở luật về dịch bệnh thì có thể buộc phải tiêm chủng, tuy nhiên theo bộ trưởng Y tế Alain Berset điều này không nằm trong kế hoạch. Chính phủ Thụy sỹ thiên về sự tự nguyện của người dân, ai còn băn khoăn nghi ngờ thì cần giải thích, vận động để làm rõ.   Xuân Trang tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nước có văn hóa “chặt” chống Covid tốt hơn các nước văn hóa “lỏng”      Tại sao có những nước chống dịch thành công, có nước lại bầm dập? Các nền văn hóa “chặt” sẽ chống dịch tốt hơn các nền văn hóa “lỏng” (tight/loose culture). Đó là nhận định của GS Michele Gelfand trên tờ TheGuardian, sau khi bà mới công bố kết quả nghiên cứu về cách thức chống dịch của 50 nước khác nhau, cho thấy các xã hội có nền văn hóa “chặt” chống dịch tốt hơn, và những nền văn hóa “lỏng” đang phải học cách thích nghi để kiểm soát đại dịch.      Việt Nam đã có phản ứng nhanh, linh hoạt để đối phó với dịch bệnh. Viết trên Tia Sáng, GS Phạm Quang Minh (ĐH KHXH&NV Hà Nội) cho rằng chúng ta có được điều đó là nhờ vào một bệ đỡ văn hóa lịch sử – một lịch sử phải đối phó với rất nhiều mối nguy hiểm đã rèn luyện cho chúng ta cơ chế phòng vệ linh hoạt. Ảnh: Nytimes.  Covid đã gây ra cái chết của hơn 2 triệu, gần 100 triệu người bị nhiễm bệnh trên toàn thế giới và sẽ vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng nặng nề kể cả khi vaccine đã bắt đầu được tung ra. GS Michele Gelfand chú ý đến một điều – số lượng ca tử vong ở các quốc gia lại rất khác nhau – trong khi một số quốc gia có thể kiểm soát dịch bệnh hiệu quả thì những quốc gia khác lại bị “bầm dập”. Ví dụ như Nhật Bản và Mexico, đều có cùng quy mô dân số, quãng 126 triệu công dân, trong khi Nhật chỉ ghi nhận hơn 5.000 ca tử vong thì Mexico có tới hơn 150.000 ca và con số này chưa dừng lại.  Điều gì giải thích sự khác biệt rõ rệt như vậy? Sự giàu có giữa các quốc gia? Năng lực y tế? Tuổi tác? Hay khí hậu?  Hóa ra việc chống Covid phụ thuộc vào một thứ đơn giản và sâu sắc hơn – khác biệt văn hóa trong việc khiến chúng ta sẵn sàng tuân theo các quy tắc hay không.  Tất cả các nền văn hóa đều có các chuẩn mực xã hội (social norm), hay các quy tắc bất thành văn trong ứng xử. Chúng ta tuân theo các tiêu chuẩn về phục trang, rèn nề nếp cho con cái và không chen lấn len lách trong các tàu điện ngầm đông đúc… không phải vì có một luật nào quy định cả, mà vì đó là các chuẩn mực xã hội giúp xã hội của chúng ta vận hành. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra một số nền văn hóa tuân thủ các chuẩn mực xã hội khá nghiêm ngặt – là những nền văn hóa “chặt”. Còn những nền văn hóa khác thì ngược lại – người dân có thái độ thoải mái hơn và cũng thường phá vỡ quy tắc – những nền văn hóa “lỏng”.  So với Mỹ, Anh, Israel, Tây Ban Nha hay Italia, thì các quốc gia như Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Áo có nền văn hóa chặt chẽ hơn hẳn. Sự khác biệt trong hành vi tuân thủ/ không tuân thủ các quy tắc trong xã hội không phải là ngẫu nhiên. Nghiên cứu ở cả tầm các quốc gia và trong các cộng đồng ở quy mô nhỏ đã chỉ ra rằng các cộng đồng có lịch sử bị đe dọa kinh niên – cho dù là thiên tai, bệnh truyền nhiễm, nạn đói hay ngoại xâm – sẽ tự xây dựng các quy tắc chặt chẽ để đảm bảo trật tự và sự gắn kết xã hội. Điều này có ý nghĩa tiến hóa: đó là, tuân theo các quy tắc giúp cộng đồng tồn tại được trước những hỗn loạn và khủng hoảng. Trong khi đó, các nền văn hóa “lỏng” hơn đã có lịch sử “dễ thở” hơn – ít khi phải đối mặt với các đe dọa hơn, do đó có thể dễ dãi hơn [trước các quy tắc].  Khi đại dịch toàn cầu xảy ra vào tháng 3 năm ngoái, GS Michele Gelfand bắt đầu lo lắng rằng các nền văn hóa lỏng, với tinh thần thường phá vỡ quy tắc, sẽ mất nhiều thời gian để tuân thủ các biện pháp y tế công cộng, và cuối cùng hậu quả có thể xảy ra thảm khốc. Các mô hình tính toán đã đưa ra dự đoán rằng, chỉ có thể hi vọng kiểm soát được tình hình khi các quốc gia này xiết chặt quy định, người dân tuân thủ chặt chẽ.   Nhưng điều đó đã không xảy ra ở các nước có văn hóa “lỏng”. Trong một công bố mới được xuất bản trên tạp chí Lancet [1], theo dõi hơn 50 quốc gia, nhóm GS Michele Gelfand và cộng sự đã đưa ra tính toán: sau khi đã kiểm soát các yếu tố tác động khác, thì tác động của yếu tố văn hóa đến chống dịch rất rõ rệt – các nền văn hóa lỏng có số ca nhiễm gấp 4.99 lần so với các nền văn hóa chặt (ước tính 7132 ca nhiễm trên một triệu người so với 1428 ca) và có số người chết gấp 8.71 lần (ước tính 183 ca tử vong trên một triệu so với 21 ca).   Phân tích của nhóm nghiên cứu từ dữ liệu công ty dữ liệu YouGov ở Anh cũng cho thấy người dân ở các nền văn hóa lỏng ít sợ hãi virus trong suốt cả năm 2020, ngay cả khi các ca nhiễm tăng vọt. Cụ thể, ở những quốc gia có văn hóa chặt, 70% người dân rất sợ bị nhiễm virus, còn các nền văn hóa lỏng, con số này là 49%.  Các nhà nghiên cứu cho rằng, những nền văn hóa lỏng có mức độ “thích nghi” nguy hiểm thấp, không phản ứng nhanh chóng khi có “tín hiệu đe dọa”, như khi bệnh dịch xảy ra. Thực ra điều này cũng xảy ra trong tự nhiên. Trường hợp nổi tiếng nhất là loài chim dodo không biết sợ hãi ở quốc gia Đông Phi Mauritius. Loài này vốn tiến hóa trong tự nhiên mà không phải đối diện với nguy cơ bị làm mồi cho động vật ăn thịt khác, ngay lập tức đã tuyệt chủng trong vòng một thế kỷ kể từ khi tiếp xúc với con người (vì không hề biết chạy trốn).    Các nhà nghiên cứu ví phản ứng chậm trước đại dịch của các nền văn hóa lỏng như phản ứng của những chú chim dodo khi gặp kẻ thù.  Cơ chế phản ứng nhanh trước các mối hiểm họa do bối cảnh lịch sử đã từng gặp/ hoặc không gặp nhiều hiểm họa đã dẫn đến cách phản ứng trước dịch bệnh rất khác nhau giữa các nền văn hóa, và nó đã dẫn đến hàng nghìn ca tử vong đầy vô nghĩa do Covid-19 trong các xã hội cổ vũ xu hướng tự do. Rõ ràng, các nền văn hóa lỏng không bị đối diện với nguy cơ sẽ phải chịu xóa sổ nên khi đối diện với đại dịch này, đã gặp khó khăn trong việc điều chỉnh và thích ứng với đại dịch.  Mà ví dụ rõ nhất chúng ta có thể thấy là virus corona đặc biệt phát huy thế mạnh của chúng trong các xã hội đề cao xu hướng tự do, không tuân thủ các quy tắc. Người Mỹ đề cao tinh thần này. Và đó là lý do tại sao nước Mỹ có thể tự hào vì là xứ sở có nhiều đổi mới, sáng tạo hàng đầu. Nhưng điều đó cũng đem lại những bất lợi khi phải đứng trước lựa chọn tuân thủ các quy tắc, ràng buộc khi đại dịch xảy ra. Và mặc cho đại dịch, nhiều người Mỹ vẫn tiếp tục tổ chức các bữa tiệc, đi mua sắm mà không đeo khẩu trang…nói chung là coi thường virus. Khi phản xạ sợ hãi được kích hoạt, thì lại “kích hoạt lệch”: sợ bị phong tỏa và phải đeo khẩu trang [làm mất sự tự do] hơn là nỗi sợ virus.   Tương tự, không chỉ người dân mà các chính trị gia đứng đầu nước Mỹ và các nước có nền văn hóa lỏng khác cũng không lường trước hết mối nguy khi dịch bệnh xảy đến, chậm chạp trong việc ban hành các quyết định giãn cách, cách ly.   Michele Gelfand là giáo sư tại Đại học Maryland, là tác giả của cuốn sách “Rule Makers, Rule Breakers: How Tight and Loose Cultures Wire Our World” [Tạm dịch: Những người xây quy tắc, những người phá vỡ quy tắc: những nền văn hóa lỏng và chặt cố kết thế giới của chúng ta như thế nào].  Bảo Như lược thuật  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/commentisfree/2021/feb/01/loose-rule-breaking-culture-covid-deaths-societies-pandemic  [1] https://www.thelancet.com/journals/lanplh/article/PIIS2542-5196(20)30301-6/fulltext    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các “ống khói” tia X tại Trung tâm Ngân hà      Các quan sát tia X trung tâm dải Ngân hà đã cho thấy những cấu trúc giống ống khói chứa đầy plasma nóng. Khám phá này có thể tiết lộ cách năng lượng được chuyển từ vùng trung tâm đến các địa điểm xa xôi của dải Ngân hà.      Các “ống khói” thiên hà và bong bóng Fermi. Hai cấu trúc lớn, vốn được biết tới tên gọi các bong bóng Fermi, nằm trên và dưới đĩa Ngân hà, và trung tâm là lỗ đen siêu khối lượng. Các bong bóng này chứa đầy các hạt mang năng lượng cao được thoát ra từ trung tâm dải Ngân hà vài triệu năm trước đây. Nguồn: Nature  Trung tâm của dải Ngân hà là “nơi trú ngụ” của một lỗ đen siêu khối lượng mà hiện còn phát ra các bức xạ điện từ vô cùng yếu, nhưng có thể đã từng hoạt động nhiều trong quá khứ. Các quan sát tia γ đã tiết lộ có hai cấu trúc lớn là các bong bóng Fermi ở phía trên và dưới bề mặt Ngân hà. Các bong bóng này đầy những hạt năng lượng cao chuyển động gần với tốc độ ánh sáng, vốn được phát ra từ trung tâm thiên hà khoảng một vài triệu năm trước đây. Viết trên Nature, Ponti và cộng sự cho biết, từ các quan sát tia X có thể thấy các cấu trúc như “ống khói” kết nối khu vực quanh trung tâm dải Ngân hà với các bong bóng Fermi.  Các tác giả đã mất hơn 750 giờ quan sát tia X do các đài quan sát không trung XMM-Newton và kính viễn vọng Chandra để lập ra bản đồ chi tiết tia X khu vực trung tâm của dải Ngân hà, một khu vực khoảng 300 × 500 parsec (để so sánh, khoảng cách từ trái đất đến trung tâm Ngân hà khoảng 8.000 parsec). Bản đồ này cho thấy hai cấu trúc gần như tuyến tính kéo dài, mỗi thứ dài khoảng 160 parsec, phía trên và dưới lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm dải Ngân hà. Ponti và cộng sự đặt tên cho hai cấu trúc này là các ‘ống khói” bắc và nam trung tâm Ngân hà.  Các quan sát tia X và sóng radio trước đây cho thấy hai vấu nhỏ của hai luồng vật chất chảy ra, tại một mức khoảng 15 parsec, nằm ở phía trên và dưới mặt phẳng Ngân hà. Các cấu trúc hình ống khói kết nối với các thùy với các bong bóng Fermi, vốn bắt đầu từ nơi cách khoảng 100 parsec phía trên mặt phẳng Ngân hà và chiếm một vùng lớn gần bằng chính kích thước của thiên hà này.  Những nét tương tự giữa các “ống khói” bắc và nam gợi ý vấn đề: chúng có thể có chung một nguồn gốc, phần lớn là liên quan đến trung tâm Ngân hà. Các “ống khói” này dường như bị giới hạn dọc thẳng mặt phẳng Ngân hà và có các rìa sắc nét theo chiều thẳng đứng của nó. Cả hai đều đầy plasma nóng (tại nhiệt độ khoảng 8 triệu kelvin) và có độ sáng lớn gấp cả triệu lần mặt trời.  Nhiệt độ và độ sáng quan sát được này phù hợp với ý tưởng plasma trong các “ống khói” rất nóng bởi năng lượng phát ra trong suốt quá trình bùng nổ của các ngôi sao nặng tập trung ở gần nơi có “ống khói”. Tuy nhiên, dẫu plasma đầy các vấu nhỏ bên trong lại nóng do các siêu tân tinh, dữ liệu tia X mới không ủng hộ ý tưởng này bởi các “ống khói” lại kết nối thẳng với các vấu bên trong. Nhiều khả năng các ngôi sao khổng lồ tại trung tâm Ngân hà được phân bố không đồng đều, dẫn đến việc hình thành những dòng chảy sao riêng rẽ: một ngôi sao nhỏ ở gần lỗ đen siêu khối lượng và một lượng lớn các ngôi sao khác ở gần nơi đặt “ống khói”.  Hình thái học của các “ống khói” khiến người ta nêu giả thuyết là chúng có thể là các kênh do những dòng chảy rất mạnh từ các siêu tân tinh hình thành nên. Ponti và cộng sự đề xuất là các “ống khói” có thể chuyển năng lượng từ các vùng có nhiều hoạt động của trung tâm Ngân hà đến các bong bóng Fermi. Rất nhiều mô hình đã được dùng để ước tính năng lượng cần thiết để tạo ra và duy trì các bong bóng Fermi, nhưng việc ước tính lại khác với những mức cường độ năng lượng khác nhau. Mức thấp hơn của những ước tính này từ những mô hình trong đó các bong bóng Fermi đã được một tập hợp những tia vũ trụ tạo ra (gồm có các proton và các ion nặng), vốn xuất phát từ các vụ nổ siêu tân tinh tại trung tâm dải Ngân hà. Nguồn năng lượng này được nêu trong kịch bản miêu tả “sân chơi bóng chày” này như những năng lượng quan sát được của các “ống khói”. Các giá trị năng lượng này đều ở mức giới hạn thấp nhất trong tổng năng lượng do các “ống khói” tạo ra, bởi vì chỉ có một phần nhỏ trong tổng năng lượng sẽ được lưu trữ dưới dạng plasma phát xạ tia X.  Trong kịch bản năng lượng từ các siêu tân tinh này, lỗ đen siêu khối lượng chỉ đóng vai trò  thứ yếu. Dẫu sao, hình thái học của vùng trung tâm thiên hà có thể là kết quả của những bùng phát năng lượng cực lớn được tạo ra sau sự tích tụ theo định luật hấp dẫn của các ngôi sao bị tách rời ở vị trí gần lỗ đen. Trong trường hợp này, các “ống khói” có thể làm giảm nhẹ sự lan truyền của vật chất và năng lượng từ lỗ đen này đến các vùng có áp suất thấp và loãng phía trên đĩa dải Ngân hà. Lỗ đen có thể phát ra những luồng năng lượng lớn hàng trăm lần so với năng lượng từ chúng mà chúng ta quan sát được như trong trường hợp đã biết với một số thiên hà.  Khám phá về những “ống khói” là một miếng nhỏ trong trò chơi ghép hình tạo ra bức tranh tổng thể của chúng ta những quá trình phức tạp ảnh hưởng đến dải Ngân hà của chúng ta. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải đáp. Tại thời điểm hiện tại, chúng ta chỉ quan sát được một phần của khu vực chứa các bong bóng của Fermi. Các quan sát về toàn bộ khu vực này sẽ giúp gạn lọc thông tin là liệu các bức xạ tia X từ các “ống khói” là những dấu vết của các dòng chảy khí chuyển qua các vấu bên trong hay đến từ những dòng khí nóng quanh các vấu này. Các quan sát chi tiết về sóng radio trong khu vực này và việc so sánh các đặc điểm từ các quan sát tia X và radio sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về năng lượng truyền từ trung tâm Ngân hà tới các bong bóng Fermi.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00811-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các ông lớn công nghệ Nhật Bản: Từ đối thủ trở thành đối tác      Cách đây một thập kỷ, ít có ai sẽ hình dung một ngày nào đó hai tập đoàn Sony và Panasonic có thể hợp tác với nhau.      Nhưng ngày nay, hai nhà sản xuất ti vi lớn nhất Nhật Bản dường như đang đặt sự cạnh tranh dai dẳng đó sang một bên trong bối cảnh cả hai đều phải vất vả chống đỡ tình trạng thua lỗ do nhu cầu nội địa giảm và sự thống trị toàn cầu của tập đoàn điện tử Samsung từ Hàn Quốc.   Trong thời gian tới, các nhà phân tích cho rằng sẽ xuất hiện nhiều mối hợp tác trong ngành công nghiệp công nghệ ở Nhật Bản, lĩnh vực vốn rất cạnh tranh nhưng đang gặp nhiều khó khăn, một số công ty đã xây dựng quan hệ đối tác với các công ty ở những khu vực khác của châu Á, chẳng hạn như Đài Loan.   “Nhật Bản có công nghệ, Trung Quốc có nguồn vốn và thị truờng, và Đài Loan có năng lực quản lý, chi phí sản xuất lại rẻ”, nhận định từ Jason Hsuan, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn công nghệ TPV của Hồng Kông.  TPV là một nhà thầu chính trong sản xuất lắp ráp TV bán cho những nhãn hiệu toàn cầu bao gồm cả Panasonic và Sharp của Nhật Bản hay LG Electronics Inc. của Hàn Quốc và Vizio của Mỹ.  Các đối nước ngoài có thể giúp các công ty Nhật Bản cạnh tranh lại với những gã khổng lồ của Hàn Quốc như Samsung và LG, vốn đã có những khoản đầu tư mạnh mẽ vào cải tiến sản phẩm, marketing và tạo thương hiệu toàn cầu, ông Hsuan nói.   Các thương hiệu điện tử chính của Nhật Bản đang bị phụ thuộc nhiều hơn vào các nhà thầu sản xuất linh kiện TV cho họ. Hơn một nửa nguồn linh kiện đầu vào trong TV của Sony là từ các nhà sản xuất linh kiện khác, chủ yếu từ tập đoàn công nghiệp Hon Hai Precision của Đài Loan, tên thường gọi là Foxconn.  Panasonic cũng cho biết rằng đang ngày càng dựa vào các nhà sản xuất ở nước ngoài nhưng không rõ là khoảng bao nhiêu  phần trăm.  Đồng yên lên giá đã gây thiệt hại cho các công ty công nghệ Nhật Bản, trong vòng 5 năm qua đã lên giá tới 79% so với đồng won của Hàn Quốc.   Các công ty Nhật đã phải chuyển sang liên doanh với các công ty nước ngoài, như công ty Đài Loan Hon Hai, nhà thầu sản xuất thiết bị điện tử lớn nhất thế giới, trong tháng Ba đã đồng ý mua 10% cổ phần công ty Shap vốn đang thua lỗ. Công ty NEC của Nhật Bản và tập đoàn Lenovo (đã lên sàn chứng khoán ở Hồng Kông) năm ngoái đã cùng thành lập một liên doanh chuyên sản xuất máy tính cá nhân.  “Do áp lực tăng trưởng để giảm giá thành ở mọi công đoạn thu mua và sản xuất, những nhà sản xuất Nhật Bản nên tận dụng sức mạnh từ những mối quan hệ với các nhà thầu sản xuất từ nuớc ngoài”, Nobuo Kurahashi, một nhà phân tích từ công ty Bảo hiểm đầu tư Mizuho nói.   Sau việc cả hai bên công bố mức thua lỗ hàng năm lớn chưa từng có, cho đến ngày 21 tháng 3, Sony và Panasonic đã không còn khả năng thực hiện những khoản đầu tư lớn trong rất nhiều lĩnh vực kinh doanh của họ. Sony đã thua lỗ từ 4 năm nay.   Để chia sẻ thông tin về chi phí cho phát triển và thương mại hoá công nghệ mới, họ đã cùng nhau thảo luận về phát triển và sản xuất dòng TV OLED (TV có hệ thống đi-ốt phát quang hữu cơ) có thể mỏng hơn những TV màn hình tinh thể lỏng hiện nay.  Sony đã từng dẫn đầu với việc đưa ra chiếc TV OLED đầu tiên vào năm 2007, một chiếc ti vi nhỏ xíu chỉ có 11 inch, nhưng họ không có khả năng giảm giá thành sản xuất để đưa ra loại TV có màn hình lớn hơn.   Panasonic cũng đang nghiên cứu màn hình OLED, nhưng chưa có được kế hoạch cụ thể nào cho việc ra mắt TV OLED.  Samsung và LG đã đầu tư mạnh tay vào công nghệ tương tự và đang đều độc lập chuẩn bị cho ra TV OLED vào cuối năm nay. Samsung nói rằng TV loại này sẽ được bán với giá từ 9,400 USD, tương đương với các mẫu LCD hiện nay, và họ sẽ mở rộng sản xuất để dần hạ giá thành – có thể phải mất vài năm. Điều đó sẽ giúp Sony và Panasonic có thêm thời gian để chuẩn bị trước khi OLED trở thành xu thế mới.   Nguyễn Thu Quỳnh (dịch)  Nguồn:   ttp://blogs.wsj.com/deals/2012/05/21/japans-tech-rivals-learn-to-cooperate/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các “ống tiêm” vi khuẩn chở các protein vào tế bào người      Các nhà nghiên cứu đã khai thác một “ống tiêm” phân tử mà một số virus và vi khuẩn sử dụng để lây nhiễm cho vật chủ và đặt nó vào các protein có tiềm năng chữa bệnh vào các tế bào người được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.      Vi khuẩn Photorhabdus asymbiotica sử dụng các gai phân tử để đào lỗ trên các màng tế bào vật chủ. Nguồn: F. Zhang et al./Nature  “Đó là một việc đáng kinh ngạc”, Feng Jiang, một nhà vi sinh vật tại Viện nghiên cứu Sinh học các mầm bệnh của Viện Hàn lâm Khoa học y học ở Bắc Kinh, nhận xét. “Đó là một đột phá thực sự”.    Kỹ thuật này, xuất bản trên Nature vào ngày 29/3/2023, có thể đề xuất một cách mới để tạo ra các loại thuốc chứa protein, tuy nhiên vẫn cần kiểm tra kỹ trước khi sử dụng trên người 1. Khi được tối ưu, cách tiếp cận này có thể được sử dụng để phân phối các thành phần cần thiết cho công cụ chỉnh sửa hệ gene CRISPR–Cas9.  Khó phân phối  Các ứng dụng y học của CRISPR hiện đang bị giới hạn bởi thách thức khi đưa thêm các chất phản ứng vào – enzyme Cas9 cắt DNA và một đoạn ngắn RNA dẫn đường cho Cas9 đến một vùng cụ thể trong hệ gene – vào các tế bào. “Một trong những nút thắt chính của chỉnh sửa gene là phân phối”, đồng tác giả Feng Zhang, một nhà sinh học phân tử tại Viện MIT và Harvard ở Cambridge, Massachusetts, và một người sớm nghiên cứu về kỹ thuật CRISPR–Cas9 ở thuở bình minh của nó. Phần lớn các ca thử nghiệm lâm sàng để chỉnh sửa các hệ gene trong các tế bào gan, mắt, máu, bởi vì các phương pháp vận chuyện hiện tại phù hợp với những tế bào đó, ông nói. “Chúng tôi hiện không thể áp dụng kỹ thuật này với bệnh não hay bệnh về thận bởi vì chúng tôi không có các hệ thống vận chuyển đủ tốt”.  Trong khi Zhang và đồng nghiệp đã tìm kiếm nhiều cách chuyển các protein vào tế bào người, các nhà vi trùng học đang nghiên cứu về một nhóm vi khuẩn thông thường vẫn sử dụng các gai phân tử để đâm xuyên thành một lỗ trên màng của tế bào vật chủ. Vi khuẩn này sau đó vận chuyển các protein xuyên qua lỗ vào tế bào, khai thác các chức năng sinh lý của vật chủ theo ý của mình.  Năm ngoái, Jiang và cộng sự đã báo cáo là họ có thể thao tác hệ thống giống ống tiêm đó trong vi khuẩn phát quang sinh học Photorhabdus asymbiotica, tải các protein mà chúng chọn từ các loài động vật có vú, thực vật và nấm vào trong ống tiêm này. Thông thường, vi khuẩn này sống bên trong giun tròn và sử dụng ống tiêm của mình để vận chuyển độc chất vào trong các tế bào của côn trùng bị nhiễm giun tròn. Độcchất này đủ sức giết côn trùng và giun tròn ăn xác chúng. “Loài vi khuẩn này có thể được xem như một khẩu súng được thuê để giết côn trùng”, đồng tác giả Joseph Kreitz, một nhà sinh học phân tử tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge, nói.    Các dải chứa độc lực Photorhabdus (màu xanh lá cây) liên kết với các tế bào côn trùng (màu xanh lam). Nguồn: Joseph Kreitz/Broad Institute, McGovern Institute  Trong phòng thí nghiệm của Zhang, Kreitz và cộng sự nghiên cứu cách điều chỉnh ống tiêm phân tử P. asymbiotica để ghi nhận được các tế bào người. Họ tập trung vào một vùng của ống tiêm được gọi là sợi đuôi, vốn gắn kết một cách thông thường với một protein tìm thấy trên các tế bào côn trùng. Sử dụng chương trình AI AlphaFold, vốn có thể dự đoán các cấu trúc protein, nhóm nghiên cứu thiết lập các cách biến đổi sợi đuôi để nó có thể fhi nhận tế bào người. “Một khi chúng tôi có được hình ảnh, sẽ dễ dàng biến đổi nó theo cách phù hợp với nhu cầu sử dụng của chúng tôi”, Kreitz nói. “Đó là khoảnh khắc tất cả cùng ập đến một lúc”.    Sau đó họ tải “ống tiêm” này nhiều loại protein, bao gồm cả Cas9 và các độc chất có thể giết chết được tế bào ung thư, và chuyển chúng vào tế bào người được nuôi trong phòng thí nghiệm và nào trong não chuột.  Hệ thống linh hoạt  Hệ thống này không thể vận chuyển hướng dẫn mRNA cần thiết cho chỉnh sửa hệ gene CRISPR–Cas9 nhưng nhóm nghiên cứu đang phát triển các cách làm điều đó, Kreitz nói. Sự thật là hệ thống có thể chuyên chở được Cas9 vào các tế bào rất linh hoạt, ông cho biết thêm, vì protein Cas9 lớn hơn “ống tiêm”.  Câu chuyện về “ống tiêm” gợi lại cách các nhà nghiên cứu như Zhang phát triển CRISPR–Cas9 – một hệ thống nhiều vi sinh vật dựa vào tự nhiên để phòng vệ lại các viruse và các mầm bệnh khác – để sử dụng như một kỹ thuật chỉnh sửa gene, theo Asaf Levy, một nhà vi sinh vật tính toán tại ĐH Hebrew Jerusalem. Tương tự với những ngày đầu nghiên cứu CRISPR–Cas9, các ống tiêm vi khuẩn đã được nghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm nhưng những vai trò của chúng trong hệ sinh thái vi khuẩn mới chỉ bắt đầu được hiểu.  Nhưng rõ ràng là chúng có khả năng vận chuyển thuốc, Levy nói. “Sự tiến hóa của điều này hoàn toàn đáng kinh ngạc. Sự thật là việc có thể thiết kế được cả lưu lượng tải và độ đặc hiệu là điều vô cùng lý thú”.    Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://news.mit.edu/2023/bacterial-injection-system-delivers-proteins-mice-human-cells-0329  https://www.nature.com/articles/d41586-023-00922-4  —————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41586-023-05870-7    Author                .        
__label__tiasang Các phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ: Nghiên cứu kháng thể và thuốc kháng virus để ứng phó COVID-19      Các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrwence Livermore (LLNL) của Hoa Kỳ đang đóng góp vào cuộc chiến chống dịch COVID-19 trên toàn cầu bằng cách kết hợp trí tuệ nhân tạo/học máy, tin sinh học và siêu máy tính để tìm ra ứng cử viên cho kháng thể và dược phẩm mới chống lại dịch bệnh này.      Bản mô tả cấu trúc 3D của một kháng thể ứng viên liên kết với protein của SARS-CoV-2. Nguồn: Lawrence Livermore National Laboratory  Với sự hỗ trợ của 5 cụm máy tính hiệu năng cao (HPC) và nhiều năm kinh nghiệm trong phát triển vaccine cũng như các biện pháp ứng phó, một nhóm các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau ở LLNL đã dùng phương pháp mô hình hóa và mô phỏng, kết hợp với học máy, bước đầu xác định được khoảng 20 mẫu cấu trúc kháng thể từ một tập hợp tiềm năng vô tận và xem xét được hàng triệu phân tử nhỏ có đặc tính chống virus. Các ứng cử viên này sẽ được tổng hợp và thí nghiệm trên thực tế phòng Lab. Mặc dù quá trình này sẽ mất nhiều thời gian nhưng rõ ràng nó đã bắt đầu.  “Trong vài thập kỷ qua, phòng thí nghiệm này đã tiên phong trong việc bảo vệ đất nước trước nhiều mối đe dọa sinh học”, Dave Rakestraw, cố vấn khoa học cấp cao, từng điều hành các chương trình phòng thủ sinh học của LLNL và hiện đang là điều phối kỹ thuật cho nghiên cứu trên cho biết. “Sáu năm qua, chúng tôi tập trung tài nguyên tính toán ở LLNL để đẩy nhanh thời gian phát triển các biện pháp ứng phó với mối đe dọa sinh học mới nổi. Chúng tôi đã làm được điều đó bằng cách sử dụng năng lực tính toán (cả nhân lực và hạ tầng máy tính) và hợp tác với nhiều trường đại học, công ty dược phẩm, công ty công nghệ. Nỗ lực đó đã giúp chúng tôi có được công cụ có thể ứng phó với tình trạng hiện nay”.  Khi dịch COVID-19 bùng phát, Adam Zemla ở LLNL đã phát triển và công bố cấu trúc protein 3D dự đoán của virus và được hàng chục nhóm nghiên cứu khác tải xuống sử dụng. Nhờ đó, cấu trúc tinh thể thực của loại protein chính trong virus SARS-CoV-2 (gây ra bệnh COVID-19) đã được xác định. Cấu trúc thực này rất gần với dự đoán của nhóm nghiên cứu.  Dựa trên cấu trúc 3D dự đoán của virus và một số kháng thể có khả năng liên kết và vô hiệu hóa SARS, nhóm nghiên cứu do Daniel Faissol và Thomas Desautels đứng đầu đã sử dụng 2 cụm máy tính HPC để sàng lọc các kháng thể ảo do AI điều khiển có khả năng liên kết với SARS-CoV-2, tạo ra các mô phỏng có độ chính xác cao để kiểm tra hiệu lực tương tác giữa các phân tử. Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) và Chương trình Nghiên cứu và Phát triển trong phòng thí nghiệm (LDRD) đã tài trợ cho nền tảng mô hình hóa này. Đây là công cụ đầu tiên có khả năng tích hợp được dữ liệu thực nghiệm, sinh học cấu trúc, mô hình hóa tin sinh học và mô phỏng phân tử – thông qua việc sử dụng một thuật toán học máy để thiết kế ra cấu trúc kháng thể tiềm năng. Nền tảng này đã xác định ra những kháng thể SARS biến đổi có tiềm năng liên kết với virus SARS-CoV-2.  “Cách tiếp cận của chúng tôi là nhằm mục tiêu thiết kế các loại vaccine hoặc liệu pháp kháng thể chất lượng cao trong khoảng thời gian cực ngắn cho những kịch bản không thể chờ đợi thực hiện đầy đủ các bước thử nghiệm tốn nhiều thời gian”, Faissolnosi nói. “Dữ liệu thực nghiệm và nghiên cứu tin sinh học cấu trúc là yếu tố quan trọng để tạo ra những dự báo chất lượng cao, nhưng tích hợp học máy và mô phỏng phân tử trên HPC là chìa khóa để tăng tốc và mở rộng, giúp chúng tôi tìm kiếm và đánh giá được những thiết kế kháng thể tiềm năng trên diện rộng”  Cách tiếp cận này rút ngắn đáng kể quá trình lựa chọn so với trước đây – chủ yếu dựa trên trực giác kinh nghiệm của nhà nghiên cứu. Số lượng kháng thể tiềm năng thu hẹp từ 1039 mẫu xuống còn một vài mẫu chỉ trong ít tuần. Đồng thời, nó cũng giúp nhà khoa học tập trung vào những vùng [cầu trúc] mà trước đây họ chưa để ý đến. “Giờ đây chúng tôi không đơn thuần chỉ tìm kiếm một cách mù quáng mà đã thực sự tạo ra những cấu trúc có vẻ ở đúng chỗ trong không gian thiết kế.” Jim Brase, Phó Tổng Giám đốc về khoa học dữ liệu của LLNL cho biết. “Chúng tôi sẽ có được những thiết kế mới và hy vọng rằng cuối cùng, tỷ lệ kết quả có giá trị thực tế sẽ tăng lên”  Các nhà nghiên cứu cho biết họ mới chỉ bắt đầu xem xét, tổng hợp dữ liệu,cũng như thiết lập thử nghiệm và đánh giá các thiết kế. Điều này đòi hỏi cả nỗ lực bên trong và hợp tác bên ngoài.  Thiết kế thuốc kháng virus  Thuốc kháng virus là một cấu phần khác. Gần đây, một nhóm các nhà khoa học ở LLNL do Felice Lightstone và Jonathan Allen đứng đầu đã có thời gian tiếp cận với toàn bộ cụm siêu máy tính Quartz để tiến hành sàng lọc ảo các phân tử nhỏ có thể gắn vào 2 loại protein của COVID-19. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phần mềm chuyên biệt do nhà khoa học Xiaohua Zhang ở LLNL tạo ra để chạy phép tính quy mô lớn nhằm sàng lọc 26 triệu phân tử gắn với 4 vị trí protein (tổng cộng hơn 100 triệu phép tính docking – kỹ thuật dùng để nghiên cứu khả năng gắn kết giữa protein với một cấu tử khác như DNA, RNA,…) để xác định các thành phần có thể ngăn ngừa lây nhiễm hoặc điều trị COVID-19.  “Nhờ dữ liệu và công cụ tính toán mà Trung tâm thúc đẩy khám phá thuốc thuộc Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ tạo ra, chúng tôi có thể sàng lọc các phân tử này trên quy mô lớn và nhanh chóng như vậy”, Lightstone nhận xét. “Đây là bước đầu tiên để tìm ra một loại thuốc kháng virus mới. Chúng tôi đã phát triển toàn bộ hệ thống thiết kế thuốc và tiếp tục kế hoạch trong những tuần tiếp theo, để cuối cùng thử nghiệm các phân tử dự đoán. Điều này sẽ đẩy nhanh quá trình thiết kế thuốc”.  Một số mô hình sử dụng để xác định độ an toàn của phân tử được lấy từ hệ thống do Chương trình Gia tốc các liệu pháp trị liệu ung thư cho các cơ hội y học (ATOM), phát triển. Đây là một chương trình hợp tác công tư và thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức. Kết quả đó đã giúp LLNL đánh giá các phân tử một cách kịp thời và tạo ra những mô hình hữu ích cho bất cứ dịch bệnh nào.  Cần nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm của Bộ Năng lượng  Các nhà khoa học ở LLNL gọi đại dịch COVID-19 là “lời cảnh tỉnh” cho việc cần phải có sự đầu tư dài hạn và nỗ lực bền vững từ chính phủ, đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng máy tính hiệu năng cao vào y học cá thể.  “Chúng ta thấy rõ sự cần thiết và vai trò lãnh đạo của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ”, Shankar Sundaram, giám đốc Trung tâm kỹ thuật sinh học của LLNL cho biết. “Phòng thí nghiệm đã dự đoán tình huống kiểu này trong quá trình theo đuối một sáng kiến dự báo sinh học. Lý do chúng tôi có thể nhanh chóng thực hiện các kết quả liên quan đến COVID-19 không chỉ bởi vì chúng tôi có đủ nguồn lực, mà còn bởi chúng tôi đã nghĩ về những kịch bản kiểu này trong thời gian dài”.  LLNL cũng đang điều chỉnh nền tảng chẩn đoán nhanh phân tử dùng kỹ thuật PCR và có thể di động (Bio ID) do Larry Dugan, một nhà khoa học y sinh ở LLNL phát triển. Đây là công cụ tiềm năng để chẩn đoán nhanh COVID-19.  Nỗ lực ứng phó tổng thể với COVID-19 liên quan đến tất cả 17 phòng thí nghiệm quốc gia của Bộ Năng lượng Mỹ. Nhóm nghiên cứu ở LLNL gồm các nhà khoa học và kỹ sư đến từ nhiều đơn vị thuộc các phòng thí nghiệm này: Trung tâm kỹ thuật sinh học, Trung tâm khoa học pháp y và Trung tâm tri thức phòng thủ sinh học (BKC), Phòng công nghệ sinh học & khoa học sinh học và hệ thống cụm máy tính HPC Quartz, Lassen, Corona, Pascal và Catalyst.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-lab-antibody-antiviral-aids-covid-.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các protein cổ đại giúp vẽ lại lịch sử loài người      Những protein có niên đại hơn một triệu năm được tách chiết từ một số hóa thạch có thể giúp chúng ta giải đáp một số vấn đề còn chưa rõ về người cổ đại. Phát hiện này cũng đánh dấu một mốc quan trọng khác: lần đầu tiên, có thể xác định được người cổ đại chỉ bằng protein.      Hang động nơi phát hiện ra di cốt người Denisovan ở Tây Tạng. Ảnh: Nature  Vào khoảng 160.000 năm trước, một thi thể người cổ đại được chôn vùi trong một hang động trên cao nguyên Tây Tạng, có lẽ người này đã chết ở đây nhưng cũng có thể là do họ hàng hoặc động vật đưa xác lên đây. Hàng thiên niên kỷ đã trôi qua, những biến chuyển về địa chất và môi trường khiến các dòng sông băng tan rã rồi lại xuất hiện. Tất cả những gì còn lại là một chút xương hàm với một số răng của người đó. Rút cục, xương dần dần được bọc trong một lớp vỏ bọc khoáng chất, DNA bị mất. Nhưng thật may mắn, một số tín hiệu từ quá khứ vẫn tồn tại…  Tận sâu trong cấu trúc răng của tông người cổ đại này, protein dù bị xuống cấp nhưng vẫn có thể nhận dạng được. Khi các nhà khoa học phân tích chúng vào đầu năm nay, họ đã phát hiện ra collagen, một loại protein hỗ trợ các cấu trúc được tìm thấy trong xương và các mô khác. Đặc trưng của nó là một biến thể axit amin đơn, vốn không hiện diện trong collagen của người hiện đại hay người Neanderthal – thay vào đó, nó chỉ ra xương hàm này thuộc về một thành viên của tông người cổ đại bí ẩn có tên là Denisovan. Việc phát hiện ra một người Denisovan ở Tây Tạng là một bước ngoặt lớn. Đó là cá thể đầu tiên được tìm thấy bên ngoài hang động Denisova ở Siberia, nơi tất cả các di cốt khác thuộc loài này đã được xác định trước đó. Và vị trí của khu vực trên cao nguyên Tây Tạng – cao hơn 3.000 mét so với mực nước biển – cho thấy rằng người Denisovan đã có thể sống trong môi trường rất lạnh, thiếu oxy.  Đây là một trong những khám phá nổi bật nhất đối với lĩnh vực nghiên cứu hệ protein cổ đại (palaeoproteomics), một lĩnh vực nghiên mới mà trong đó các nhà khoa học phân tích protein cổ xưa để trả lời câu hỏi về lịch sử và sự tiến hóa của con người và các động vật khác. Do tồn tại trong hóa thạch lâu hơn nhiều so với DNA, các protein có thể cho phép các nhà khoa học khám phá toàn bộ thời đại tiền sử. Trước đây, các nhà khoa học đã phục hồi protein từ răng động vật 1,8 triệu năm tuổi và vỏ trứng 3,8 triệu năm tuổi. Bây giờ, họ hy vọng việc nghiên cứu về hệ protein cổ đại có thể đem lại cái nhìn sâu sắc hơn về các hóa thạch và sự tiến hóa của người cổ đại đã mất tất cả các dấu vết DNA – từ Homo Erectus (người đứng thẳng), đã di chuyển ra toàn thế giới từ khoảng 1,9 triệu đến 140.000 năm trước, đến Homo Floresiensis (người Flores, còn có biệt danh là Hobbit), loài người tí hon sống ở Indonesia khoảng 60.000 năm trước, đặc biệt là tổ tiên trực tiếp của con người hiện đại ngày nay là Homo Sapiens. “Tôi nghĩ rằng về cơ bản bạn có thể mở khóa toàn bộ cây phả hệ của loài người”, Matthew Collins nói. Mathew là nhà nghiên cứu sinh vật học tại Đại học Copenhagen, người đi đầu trong lĩnh vực này từ những năm 1980, khi đó chỉ bao gồm một số ít các nhà nghiên cứu.  Những bước tiến trong phân tích DNA cổ đại hóa thạch  Bất chấp niềm vui trước phát hiện mới này, một số ý kiến phản biện cho rằng, các nhà nghiên cứu khó vẽ nên một bức tranh toàn diện về lịch sử loài người từ thông tin từ protein, điều mà khó có thể thực hiện được với những DNA cổ đại hoá thạch. Và nhiều người lo lắng, hệ protein cổ đại nói chung có thể dễ bị ảnh hưởng từ các kết quả không chính xác, xuất phát từ các vấn đề như nhiễm mẫu.     Mô hình về người Neanderthal. Ảnh: Nature  Quả thực, trong hai thập kỷ qua, phân tích về sự tương đồng và khác biệt trong DNA của các nhóm người cổ đại khác nhau đã cho phép các nhà nghiên cứu xây dựng cây phả hệ của loài người theo cách mà trước đây không thể thực hiện được. Nhưng những khoảng trống rõ ràng vẫn hiển hiện trong bức tranh đó. DNA đã được giải trình tự từ chỉ ba loài người: Neanderthal, Denisovans và Homo Sapiens, chủ yếu là từ các mẫu vật chưa đến 100.000 năm tuổi (một ngoại lệ đáng chú ý là một cặp người Neanderthal có niên đại 430.000 tuổi từ Tây Ban Nha). Nhìn tiếp vài trăm ngàn năm trước nữa, mọi thứ trở nên mờ nhạt hơn. Frido Welker, nhà nhân chủng học phân tử tại Đại học Copenhagen, cho biết, đây là khoảng thời gian có rất nhiều điều thú vị đã diễn ra, chẳng hạn, khi người Denisovan và người Neanderthal tách ra khỏi nhánh mà sau này trở thành người hiện đại. Những điều mơ hồ khác của lịch sử loài người như nhóm người cổ đại Homo Heidelbergensis, sống khoảng 700.000  đến 200.000 năm trước, là tổ tiên của cả loài người tinh khôn Homo sapiens và loài người Neanderthal hay chỉ là một phần của nhánh Neanderthal? Rất nhiều điều có thể xảy ra mà phân tích DNA cổ đại chưa giải thích được. Một triệu năm về trước, mọi thứ thậm chí còn mơ hồ hơn. Ví dụ, loài người Homo Erectus xuất hiện lần đầu tiên ở châu Phi khoảng 1,9 triệu năm trước nhưng không có bằng chứng DNA nên vẫn không chắc chắn là nó liên quan đến các nhóm người cổ đại sau này như thế nào, bao gồm cả người tinh khôn Homo Sapiens.  DNA cổ đại cũng đã để lại những điểm mù về mặt địa lý. DNA xuống cấp nhanh hơn trong môi trường nóng ẩm, do đó, mặc dù mẫu vật 100.000 năm được tìm thấy trong hang động lạnh ở Siberia vẫn có thể chứa vật liệu di truyền, nhưng một hóa thạch tồn tại lâu ở nhiệt độ nóng ở châu Phi hoặc Đông Nam Á thường không còn chứa DNA. Kết quả là, rất ít thông tin di truyền của các nhóm người cổ đại mặc dù niên đại di cốt tương đối gần ngày nay từ các khu vực nóng ẩm, chẳng hạn như người Homo Floresiensis ở Indonesia.  Ngày nay, các nhà nghiên cứu đang hy vọng phân tích protein có thể từng bước điền vào các khoảng trống đó. Thực ra, ý tưởng này không mới: ngay từ những năm 1950, các nhà nghiên cứu đã công bố việc tìm thấy axit amin trong hóa thạch. Nhưng trong một thời gian dài, công nghệ cần thiết để phân tích trình tự protein cổ xưa không có. Collins cho biết, trong hầu hết sự nghiệp nghiên cứu của mình, ông thực sự tin rằng không thể phục hồi các chuỗi protein cổ xưa.  Điều đó đã thay đổi vào những năm 2000, sau khi các nhà nghiên cứu nhận ra rằng phép đo khối phổ – một kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu các protein hiện đại – cũng có thể được áp dụng cho các protein cổ đại. Khối phổ chủ yếu liên quan đến việc phá vỡ protein thành các peptide cấu thành của chúng (chuỗi axit amin ngắn) và phân tích khối lượng của chúng để suy ra thành phần hóa học của chúng. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này để sàng lọc hàng trăm mảnh xương để xác định các loài động vật. Trong phương pháp này, được gọi là khảo cổ học động vật bằng khối phổ (zooarchaeology by mass spectrometry – ZooMS), các nhà nghiên cứu thực hiện phân tích một loại collagen. Khối lượng của các thành phần collagen khác nhau trong các nhóm và loài khác nhau cung cấp một dấu ấn sinh học đặc trưng cho phép các nhà nghiên cứu phân định nguồn xương.  Điền vào khoảng trống tiến hóa  Trong một bài báo công bố năm 2016 trên Nature, các nhà nghiên cứu đã sử dụng ZooMS để xác định một mẩu xương người cổ đại trong số hàng ngàn mảnh vỡ từ hang động Denisovan – một mảnh xương mà phân tích DNA sau này cho thấy thuộc về một cá thể lai, được các nhà khoa học đặt tên là Denny, giữa một người mẹ Neanderthal và một người cha Denisovan. Với kết quả bước đầu đó, phân tích protein cổ đại đã mở rộng đáng kể quan điểm của chúng ta về sự tiến hóa của loài người.  Nhưng ZooMS chỉ có thể vẽ lên bức tranh với những nét sơ sài. Khi xương được xác định là thuộc về một nhánh người cổ đại, chúng ta lại cần các kỹ thuật khác để phân tích sâu hơn. Vì vậy, những nhà nghiên cứu đã chuyển sang kỹ thuật phân tích băm nhỏ hệ protein (shotgun proteomics), nhằm mục đích xác định tất cả các chuỗi protein trong hệ protein của một mẫu. Thành phần của hệ protein phụ thuộc vào loại mô được kiểm tra, nhưng thường sẽ bao gồm các dạng collagen khác nhau. Phương pháp này tạo ra hàng ngàn tín hiệu, khiến nó có nhiều thông tin hơn ZooMS nhưng cũng khó diễn giải hơn, theo Katerina Douka, tại Viện Khoa học Lịch sử Nhân loại Max Planck ở Jena, Đức. Douka đang sử dụng kỹ thuật này để tìm kiếm thông tin trong số 40.000 mảnh xương không xác định từ châu Á với hy vọng phát hiện ra nhiều nhóm người cổ đại. Bằng cách kết hợp các tín hiệu này với các chuỗi đã biết trong cơ sở dữ liệu, các nhà nghiên cứu có thể xác định các chuỗi chính xác của collagen hoặc các protein khác trong mẫu mà họ có.  Sau đó, các nhà khoa học có thể so sánh trình tự protein mới được xác định này với cùng một loại protein từ các nhóm người cổ đại khác, tìm kiếm sự tương đồng và khác biệt trong từng loại axit amin sẽ giúp đặt các nhóm người này vào cây phả hệ. Điều này tương tự như cách các nhà nghiên cứu DNA cổ đại nhìn vào các biến thể một nucleotide trong chuỗi di truyền.    Cây phả hệ loài người, trong cây phả hệ này, mối quan hệ giữa một số nhánh với nhau vẫn chưa hề rõ ràng. Ví dụ, người Flores có mối liên hệ trực tiếp với Homo Erectus hay với Australopithecus vẫn là vấn đề để ngỏ. Nguồn: humanorigins.si.edu  Mặc dù các nhà nghiên cứu đã sử dụng phân tích protein cùng với trình tự DNA cổ xưa trước đây, nhưng người Denisovan Tây Tạng là tông người cổ đại đầu tiên được phân tích protein (và các nhóm nghiên cứu khác sẽ sớm làm theo). Ví dụ, xem xét các chuỗi protein từ H. Heidelbergensis, có thể làm rõ mối quan hệ của nó với Homo Sapiens và người Neanderthal.  Người ta hi vọng, nghiên cứu hệ protein có thể tìm câu trả lời cho cuộc tranh luận trong suốt một thập kỷ rưỡi về bản chất và mối quan hệ của người Homo Floresiensis với các tông người cổ đại khác. Cho đến giờ, người ta vẫn còn mơ hồ với những gợi ý rằng đây có thể là hậu duệ của người Homo Erectus, hoặc có lẽ thậm chí nó đã phát triển từ Australopithecus (vượn người Phương Nam), sống cách đây hơn 2 triệu năm, có mối quan hệ với người hiện đại còn xa hơn Homo Erectus. Tương tự như Homo Floresiensis, các nhà khoa học cũng có thể phân tích trường hợp của Homo Luzonensis, mới được phát hiện ở Philippines năm ngoái. Các nhà khoa học Philippines đang lên kế hoạch gửi cho Welker một chiếc răng động vật từ hang động nơi tìm thấy H. Luzonensis, để kiểm tra khả năng phân tích protein trong các vật liệu nhiệt đới cổ đại.  Những rào cản  Vẫn còn những rào cản phải vượt qua trước khi các việc nghiên cứu protein cổ xưa có thể làm sáng tỏ các nhánh của cây tiến hóa của loài người. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã có thể suy ra các chuỗi protein của một số tông người cổ đại có niên đại gần dây khá dễ dàng, bởi vì họ đã có DNA từ người Neanderthal, Denisovans và Homo Sapiens. Điều này cho phép họ dự đoán các chuỗi protein có khả năng xuất hiện trong các tín hiệu quang phổ khối của chúng. “Bạn có thể xác định các mảnh vỡ mà bạn mong đợi từ các trình tự bộ gene đã biết, từ các tông người cổ đại hoặc người hiện đại, và phân tích chúng”, theo Svante Pääbo, một nhà nghiên cứu cổ sinh học tại Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck ở Leipzig, Đức. Nhưng khi muốn phân tích các mẫu có niên đại lớn hơn, họ sẽ cần tìm ra chuỗi các axit amin đó mà không có hệ protein tham chiếu. Đó là một thách thức hiện hữu đối với nghiên cứu các protein cổ đại, bởi vì các protein bị phân hủy thành các mảnh nhỏ và các mẫu thường bị nhiễm các protein hiện đại, Pääbo nói.  Collins tự tin rằng nó có thể được thực hiện. Anh chỉ vào một bài báo công bố năm 2015, trong đó anh, Welker và những người khác đã lập bản đồ cây phát sinh loài cho động vật móng guốc bản địa Nam Mỹ, một nhóm động vật có vú trông kỳ dị đã tuyệt chủng khoảng 12.000 năm trước. Không có DNA từ hóa thạch móng guốc, nhóm nghiên cứu đã phải sắp xếp các protein collagen từ đầu để so sánh chúng với các động vật khác. Họ phát hiện ra rằng hai loài móng guốc bản địa đã tuyệt chủng là Toxodon và Macrauchenia có liên quan chặt chẽ với một nhóm bao gồm ngựa và tê giác – và không liên quan tới nhóm Afrotheria bao gồm voi và lợn.  Ngoài ra, còn có những hạn chế cơ bản khác. Răng và xương cổ có chứa một số lượng nhỏ protein, do đó, có rất ít thông tin có thể được sử dụng để xác định mẫu vật. Ví dụ, phân tích của người Denisovan ở Tây tạng đã tiết lộ các trình tự từ tám loại protein collagen khác nhau với tổng cộng hơn 2.000 axit amin. Chỉ cần một trong những axit amin này khác với trình tự của người Neanderthal và hiện đại, thì mẫu vật này được xác định là Denisovan. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi một nhà nghiên cứu có thể giải trình tự các protein từ mẫu vật Homo Erectus, đơn giản là không có đủ thông tin trong các chuỗi axit amin để nói bất cứ điều gì rõ ràng và dứt khoát về mối quan hệ của nó với người hiện đại hoặc cổ xưa. Để so sánh, một hệ gene cổ đại chứa khoảng ba triệu biến đổi di truyền so với bất kỳ bộ gene nào khác, và do đó có nhiều thông tin hơn về sự tiến hóa.  Và bởi vì protein thường thực hiện các chức năng quan trọng – như hình thành cấu trúc của xương, nên chúng không thể thay đổi nhiều khi các loài tiến hóa. Các protein đặc trưng cho men, chẳng hạn, hoàn toàn giống nhau ở người Denisovan, Homo sapiens và người Neanderthal, do đó, có thể sử dụng để phân biệt giữa các nhóm này. Tuy nhiên, những protein này thay đổi ở những loài vượn lớn khác và có thể có nhiều thông tin hơn khi nói đến các nhóm thuộc họ người có niên đại xa hơn. Các nhà nghiên cứu lại biết rất ít về cách thức các chuỗi protein biến đổi trong quần thể người này.   Học hỏi từ quá khứ  Cũng còn có những thách thức khác. Một số nhà nghiên cứu lo ngại rằng tiếng vang lớn từ nghiên cứu hệ protein cổ xưa (palaeoproteomics) có thể dẫn đến những sai lầm tương tự việc nghiên cứu DNA cổ đại đã làm cách đây 20 năm. Nhiều kết quả rõ ràng thú vị từ những năm 1990 và đầu những năm 2000 – việc phát hiện DNA từ khủng long hoặc côn trùng bị mắc kẹt trong hổ phách, chẳng hạn – sau đó hóa ra là nhầm lẫn vì các mẫu bị nhiễm hoặc do lỗi phương pháp phân tích. “Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu điều này xảy ra với thế giới proteomics”, Douka nói.  Những người đi đầu trong lĩnh vực này nhận thức được điều đó, và nhiều nhà nghiên cứu đang nỗ lực phối hợp để tạo ra các kết quả nghiên cứu đáng tin hơn. Trong số đó có Jessica Hendy, một nhà khảo cổ học tại Đại học York, Anh, người đang tiên phong trong việc sử dụng protein để nghiên cứu chế độ ăn uống của con người thời kỳ đầu. Trong một bài báo năm 2018, Hendy và các đồng nghiệp đã xác định được protein trong đồ gốm 8.000 năm tuổi từ Çatalhöyük ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, và tiết lộ rằng cư dân cổ đại đã ăn nhiều loại thực vật và động vật, và thậm chí chế biến sữa thành váng sữa.  “Kỹ thuật này rất thú vị và hấp dẫn và thực sự được chú ý rất nhiều, đặc biệt là ngay bây giờ” Hendy nói. “Chúng tôi thực sự cần phải nghiên cứu một cách cẩn thận”, cô nói thêm. Cùng với Welker, Hendy là tác giả chính của một bài viết phác thảo các thực hành tốt nhất cho lĩnh vực này, từ việc tránh nhiễm mẫu đến chia sẻ dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu công khai.  Hendy bổ sung thêm rằng cần phải có nhiều nghiên cứu cơ bản hơn về cách thức protein tồn tại và suy thoái trong thời gian dài. Loại nghiên cứu này có thể không phải là tâm điểm chú ý, cô nói, nhưng có thể giúp các nhà nghiên cứu tự tin hơn nhiều về kết quả của họ. Cô đưa ra một ví dụ về kết quả nghiên cứu của Beatrice Demarchi ở Đại học Turin, Ý. Trong nghiên cứu đó, Demarchi thấy rằng các protein trong vỏ trứng 3,8 triệu năm tuổi đã liên kết với các tinh thể khoáng bề mặt của vỏ trứng, đủ để làm đóng băng chúng. “Điều tuyệt vời đó là nó thực sự giải thích lý do tại sao các protein có thể tồn tại lâu như vậy, điều này khiến cho các kết quả nghiên cứu đáng tin cậy hơn rất nhiều”, Hendy giải thích thêm.      Phân tích về sự tương đồng và khác biệt trong DNA của các nhóm người cổ đại khác nhau đã cho phép các nhà nghiên cứu xây dựng cây phả hệ của loài người theo cách mà trước đây không thể thực hiện được      Mặc dù vẫn còn những vấn đề cần giải quyết, nhưng những tiến bộ trong lĩnh vực này vẫn tiếp tục diễn ra. Và trong khi sự tiến hóa của con người có thể được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, các nhà khoa học đang ứng dụng phân tích hệ protein cổ đại theo nhiều cách khác nhau, từ nghiên cứu các dấu hiệu bệnh trong cao răng, cho đến việc điều tra da động vật nào được sử dụng để tạo ra giấy da thời Trung cổ.  Demarchi tin tưởng vào tương lai tươi sáng của nghiên cứu hệ protein cổ. Việc ứng dụng nghiên cứu hệ gene cổ đại có thể tạo ra những khác biệt lớn cho việc xây dựng cây phân loài của các sinh vật đã tuyệt chủng từ lâu. “Tôi không nghĩ việc nghiên cứu hệ protein cổ đại sẽ kết thúc trước khi tôi chết. Nó sẽ thực sự có bước tiến lớn”, cô nói. □  Nguyễn Cường  (TS, Trung tâm Công nghệ cao Vinmec) lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01986-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các robot tương lai có thể “nhìn được” khi sử dụng một loại da điện tử mới      Một hình thức mới của máy dò quang học linh hoạt có thể đem đến những robot với lớp da điện tử có khả năng “nhìn thấy” ánh sáng nằm ngoài phạm vi ánh sáng khả kiến của con người.    Một nhóm nghiên cứu gồm các kỹ sư trường đại học Glasgow đã phát triển một kỹ thuật đột phá, bao gồm một phương pháp in các bán dẫn ở cấp độ vi mô được làm từ gali(III) arsenide hay gali arsenua, thành một bề mặt nhựa linh hoạt, cơ động.  Vật liệu của họ có khả năng thể hiện tương đương với các  mày dò quang học tốt nhất có trên thị trường và có khả năng chịu đựng được hàng trăm lượt cuộn và uốn.  Trong bài báo xuất bản trên tạp chí Advanced Materials Technologies, các nhà nghiên cứu đã phác thảo ra cách họ phát triển công nghệ cho phép lớp da này dò ánh sáng thuộc một phổ điện từ rất rộng 1.  Nó được xây dựng dựa trên nhiều nghiên cứu trước đây của nhóm nghiên cứu, trong đó họ đã phát triển một phương pháp in trực tiếp hệ mạch điện silicon lên bề mặt nhựa mềm dẻo, linh hoạt, cho phép tạo ra các loại thiết bị điện tử hiệu suất cao có thể uốn được.  Gali arsenua thường được sử dụng trong nhiều ứng dụng điện tử để tạo ra các thiết bị điện tử hiệu suất cao. Tuy nhiên, chủ yếu chúng được tạo ra trên các bề mặt cứng. Và nhóm nghiên cứu ở Glasgow là một trong những nhóm đầu tiên đang tìm cách sử dụng gali arsenua trên một thành phần linh hoạt, mềm dẻo.  Họ đã áp dụng hệ in cuộn của mình vào in thiết bị điện tử gali arsenua trên bề mặt linh hoạt bằng việc sử dụng một dãy các dây có đường kính 15 micro mét.  Điều này cho phép họ tạo ra một dạng mới máy dò quang học linh hoạt cực nhạy với ánh sáng từ phạm vi cực tím thông qua phần phổ khả kiến đến hồng ngoại – tất cả hoạt động này chỉ dùng đến một mức độ năng lượng cực thấp.  Hệ này có khả năng phản hồi ánh sáng siêu nhanh, mất chỉ 2,5 mili giây để đo lường ánh sáng và 8 mili giây để phản hồi – một hiệu suất tốt tương đương với một máy dò quang thông thường hiện có trên thị trường.  Để thử nghiệm độ bền của hệ, họ tập trung vào vật liệu với một loạt thử nghiệm hết sức chặt chẽ và khắt khe trên một cái máy được thiết kế để cuộn và xoắn nó hàng trăm lần. Sau 500 vòng như vậy, vật liệu này vẫn không hề mất đi tính năng của mình.  Giáo sư Ravinder Dahiya của trường Kỹ thuật James Watt của Đại học Glasgow dẫn dắt nhóm nghiên cứu Thiết bị điện tử cuộn và các công nghệ cảm biến (BEST) phát triển loại da điện tử này. Ông nói “Chúng tôi đã làm việc nhiều năm để cải tiến năng lực của các thiết bị điện tử có độ linh hoạt cao. Chúng tôi đã tìm thấy những cách mới để in trực tiếp các thiết bị điện tử trên các bề mặt linh hoạt, xây dựng các lớp da điện tử có năng lực cảm nhận được “cái đâu” và phát triển các thiết bị điện tử có thể cuộn lại và được cấp điện từ những giọt mồ hôi của con người”.  “Sự phát triển mới nhất mà chúng tôi đạt được là việc lần đầu tiên chúng tôi có thể in gali arsenua lên các bề mặt linh hoạt, góp phần mở ra những hướng đi mới cho nghiên cứu của chúng tôi”.  “Trong tương lai, dạng vật liệu nhạy ánh sáng và linh hoạt này có thể dẫn đến nhiều năng lực mới cho các robot. Các cánh tay cơ học được sử dụng trong sản xuất ở môi trường nhạy sáng, ví dụ như vậy, có thể có năng lực dò được sự thay đổi của điều kiện môi trường và sự an toàn hay hiệu quả của công việc khi đối mặt với rủi ro. Các máy dò quang phổ rộng và linh hoạt có thể được sử dụng trong một phạm vi rộng của các công nghệ truyền thông không dây, nơi có sự lan truyền nhanh và tốc độ phản hồi cao”.  Ayoub Zumeit và Abhishek Dahiya của nhóm nghiên cứu BEST là đồng tác giả của nghiên cứu cũng cho biết thêm “Nếu có thể thì vật liệu này có thể hữu dụng với việc phát triển thiết bị mang theo người dành cho con người để gián sát sự phơi nhiễm tia cực tím trong những ngày nắng gay gắt và đem lại sự cảnh báo khi họ đứng trước nguy cơ rủi ro với sức khỏe vì làm việc dưới nắng trong thời gian đủ lâu”.  Thanh Phương tổng hơp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-07-future-robots-electronic-skin.html  https://www.kidsnews.com.au/technology/electronic-skin-to-give-robots-the-human-touch/news-story/7f69117e9d4a62db5b843362992363ba  ————————–    https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/admt.202200772      Author                .        
__label__tiasang Các startup AI của Việt Nam còn non trẻ      Báo cáo toàn cảnh về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam của Rubik AI, một tổ chức kết nối các nguồn lực để thúc đẩy việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong doanh nghiệp và các trường đại học và quỹ đầu tư mạo hiểm G&H, dựa trên kết quả phỏng vấn 30 …    Báo cáo toàn cảnh về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam của Rubik AI, một tổ chức kết nối các nguồn lực để thúc đẩy việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong doanh nghiệp và các trường đại học và quỹ đầu tư mạo hiểm G&H, dựa trên kết quả phỏng vấn 30 doanh nghiệp trong lĩnh vực AI của Việt Nam cho thấy, đa số vẫn đang ở giai đoạn đầu, mới được thành lập dưới 2 năm và số vốn đầu tư nhận được chủ yếu dưới 200.000 USD.   Báo cáo chỉ ra rằng, khó khăn lớn nhất đối với hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo của Việt Nam là thiếu nguồn nhân lực. Số lượng các kĩ sư về trí tuệ nhân tạo trong các công ty là dưới 10 người. Ở Việt Nam, mới có sáu trường đại học có môn học về trí tuệ nhân tạo là Đại học Bách Khoa, Đại học Công nghệ, Đại học Việt – Pháp, Học viện Bưu chính Viễn Thông và Đại học FPT. Tuy nhiên, đây cũng không phải là môn học được đầu tư.   Nhưng ngay cả khi có nhân lực và sản phẩm, các doanh nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo cũng vấp phải thách thức lớn nhất là thuyết phục được thị trường áp dụng sản phẩm của mình. 29% các sản phẩm AI được ứng dụng trong lĩnh vực thương mại điện tử, 18% cho lĩnh vực logistic và giao thông vì đây là các lĩnh vực có sẵn khối lượng dữ liệu lớn đã được chuẩn hóa. Các lĩnh vực khác không dễ thu thập và tiếp cận dữ liệu.     Thương mại điện tử có thể coi là lĩnh vực ứng dụng AI phổ biến nhất, đặc biệt là sử dụng chatbot vào trả lời tự động các khách mua hàng. Nguồn: Fiverr.com  Có sáu công ty lớn ở Việt Nam đã tuyên bố đầu tư vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo bao gồm VNG, VPBank, FPT, Viettel, CMC và Tiki nhưng chưa rõ sản phẩm cụ thể của họ là gì ngoài FPT có nền tảng FPT.ai giúp các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Zalo (thuộc VNG) đang bắt tay với ngân hàng Hàn Quốc Shinhan Bank để phát triển một sản phẩm công nghệ tài chính có sử dụng AI để người dùng kiểm tra tài khoản và thực hiện các giao dịch tài chính tiện dụng hơn.        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Các startup công nghệ tại Silicon Valley của Việt Nam      Sáng kiến Vietnam Silicon Valley do Bộ KH&CN khởi xướng từ năm 2015 đã được hãng thông tấn Đức DW đánh giá là bệ phóng cho những starup công nghệ và góp phần thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ của Việt Nam phát triển.      Ứng dụng tưới tiêu tự động và tự đo lường được lượng nước tưới của Mimosatek. Nguồn: doanhnhanonline.com.vn  Trẻ trung, đổi mới sáng tạo và vốn đầu tư là những yếu tố thúc đẩy phong trào khởi nghiệp tại TPHCM, đây cũng là điều mà chính phủ đang hy vọng sẽ góp phần hiện đại hóa nền kinh tế phát triển nhanh nhất Việt Nam này.  Vào một chiều thứ sáu, Công viên Công nghệ phần mềm ở ngoại ô TP.HCM hết sức vắng vẻ. Nhưng tại một văn phòng ở công viên này, những nhà phát triển công nghệ của startup Mimosatek vẫn làm việc rất hăng say về loại công nghệ có khả năng giúp nông dân tưới tiêu cho đồng ruộng của họ.  Lê Lan Anh, COO của Mimosatek, cho biết: “Thu hút hàng triệu người làm việc, nông nghiệp vẫn là một trong những lĩnh vực hết sức quan trọng tại Việt Nam. Có một vấn đề luôn thường trực với nông dân là làm thế nào để biết rằng cây cối cần bao nhiêu nước tưới, vì vậy chúng tôi đã thiết kế một công cụ tưới tiêu tự động và tự đo lường được lượng nước tưới”.  Mimosatek chỉ là một trong số nhiều startup công nghệ ở TPHCM, một trung tâm kinh tế của Việt Nam. Từ vài năm trở lại đây, hàng trăm doanh nhân trẻ từ khắp đất nước đã tới thành phố này để thành lập công ty – cho dù họ đang phát triển những ứng dụng đổi mới sáng tạo nào như trò chơi trên điện thoại, thương mại điện tử hay những giải pháp công nghệ khác.  Sự xuất hiện này nhanh chóng được chính quyền Việt Nam ghi nhận. Với một sáng kiến mang tên Vietnam Silicon Valley, các nhà quản lý đã phân bổ các nguồn lực đầu tư để tạo môi trường cho các startup phát triển thuận lợi. Năm ngoái, chính phủ đã thông báo sẽ hỗ trợ về pháp lý và tài chính cho 2.600 startup trong vòng 10 năm tới.   Kết hợp tuổi trẻ, các nguồn lực với đổi mới sáng tạo  Bobby Liu của Topica Founder Institute, một startup về chương trình tăng tốc khởi nghiệp, cho biết nhiều người Việt Nam là những doanh nhân giỏi nhưng đó không phải là lý do duy nhất đưa TP.HCM lên vị trí của một trung tâm khởi nghiệp hàng đầu đất nước.    “50% dân số dưới 35 tuổi và nhiều người trong số đó đã đi du học”, Liu cho biết thêm là Việt Nam chuyên làm thuê (outsourced) cho nhiều công ty công nghệ thông tin của nước ngoài. “Thêm vào đó là tư duy tân tiến và chi phí sinh hoạt thấp”.  Chính phủ Việt Nam đang hy vọng sẽ có thêm nhiều người sẽ thành lập công ty. Năm 2016, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã thông báo, từ 500.000 doanh nghiệp hiện nay, Việt Nam sẽ có tới 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020. Nhưng đạt được thành công như mong đợi không phải là điều dễ dàng. Người ta ước tính, có tới 90% startup gặp thất bại, phần lớn là do thiếu nguồn vốn đầu tư.    Vào tháng 6/2015, Mimosatek đã thí điểm một công nghệ, công ty hiện đang chờ đợi thành công đến với công cụ hỗ trợ nông dân kiểm soát việc tưới tiêu qua điện thoại di động. Lê Lan Anh cho biết, “Chúng tôi đã so sánh kết quả từ việc áp dụng công cụ tưới tiêu này với kết quả mùa vụ trước đó trên một trang trại hữu cơ. Hiện tại chủ trang trại đang sử dụng sản phẩm của chúng tôi và kết quả là, ông ấy dùng nước và điện ít hơn 30%, sản lượng tăng 25%”.   Các chuyên gia cho biết, Việt Nam tràn trề cơ hội cho các doanh nhân. Giống như những nền kinh tế khác ở Đông Nam Á, Việt Nam đang đạt mức tăng trưởng rất khả quan và World Bank ước tính rằng, GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,5% trong năm 2017. Thị trường nội địa của Việt Nam rất rộng lớn với hơn 95 triệu dân với tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng và trình độ giáo dục không ngừng được cải thiện những năm gần đây.  Gia tăng cơ hội thành công   Một trong những trường hợp thành công điển hình của Việt Nam là Ticketbox do Trần Tuấn Anh phát triển. Năm 2013, anh bắt đầu xây dựng một nền tảng online về phân phối vé tham dự các buổi hòa nhạc và các sự kiện văn hóa khác. Theo Trần Tuấn Anh, ngay trong 9 tháng đầu tiên, Ticketbox đã tăng trưởng gấp 24 lần so với quy mô ban đầu. Công ty hiện đang mở rộng tầm anh hưởng tại Singapore và Thái Lan.  “Tôi chưa bao giờ kỳ vọng trở chủ một công ty hoạt động tại ba quốc gia. Khi bắt đầu gây dựng công ty, tôi chỉ muốn làm được cái gì đó tại Việt Nam”, Trần Tuấn Anh nói.  CEO của Ticketbox tin tưởng rằng, đất nước của anh sẽ tiếp tục đem lại nhiều cơ hội cho các startup trong vòng ba đến năm năm tới. “Có quá nhiều tiềm năng ở đây, và có nhiều điều bạn có thể làm. Nếu ai muốn mua lại công ty với giá tốt thì tôi có thể sẽ chuyển nhượng và lại bắt đầu gây dựng cái gì đó mới mẻ”, anh cho biết.   Trần Tuấn Anh chờ đợi sự phát triển tiếp tục của công ty mình. “Chúng tôi đang ‘nhìn’ sang một số quốc gia khác. Malaysia, Indonesia và thậm chí là Myanmar cũng có thể là những đề xuất tốt”.  Ticketbox không chỉ là công ty duy nhất thành công. Big Cat Entertainment, công ty chuyên sản xuất các video online, đã được Asia Innovations Group, một công ty chuyên về phát triển các sản phẩm giải trí có trụ sở tại 6 quốc gia châu Á mua lại; Trương Thanh Thủy đã bán Tappy, một ứng dụng trên mạng xã hội về chia sẻ địa điểm của mình cho Weeby.co, một công ty được thành lập tại Silicon Valley; Nguyễn Hà Đông kiếm được 50.000 USD mỗi ngày qua trò chơi trên điện thoại di động Flappy Bird do anh phát triển.  Mimosatek hy vọng vào cuối năm nay khoảng 200 nông dân sẽ sử dụng sản phẩm của mình. Công ty hiện đang có 35 khách hàng. Lê Lan Anh nói, “Những gì chúng tôi đang làm rất ‘khó nhằn’. Với các startup, nguy cơ thất bại rất cao. Nhưng chỉ cần có những người tận tụy, nhiệt thành và tài năng, chúng tôi luôn luôn có thể khởi động một cách hứng khởi”.      Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/tech-startups-are-finding-fertile-ground-in-vietnams-silicon-valley/a-38341348    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các startup công nghệ xanh sẽ có lợi khi hợp tác với chính phủ      Một nghiên cứu về hàng trăm công ty khởi nghiệp công nghệ xanh ở Mỹ được xuất bản trên tạp chí Research Policy cho thấy, hoạt động hợp tác của một startup tăng lên hơn 73% khi họ cộng tác với một cơ quan của chính phủ về phát triển “công nghệ sạch” – từ các tế bào pin mặt trời thế hệ mới đến các vật liệu lưu trữ điện năng.      Nghiên cứu đã cho thấy, mọi thời điểm một startup công nghệ sạch được một cơ quan chính phủ cấp phép phát triển công nghệ, công ty đó sẽ nhận được đầu tư tài chính nhiều gấp đôi so với các startup khác, cụ thể là tăng 155% một năm sau khi được cấp phép.  Phát triển mối hợp tác giữa các trường đại học và các doanh nghiệp tư nhân là một cách làm thông thường của nhiều công ty startup, tuy nhiên từ trước đến nay, việc hợp tác với chính phủ vẫn còn bị đánh giá thấp, ngay cả trong trường hợp của các công ty phát triển các công nghệ xanh, thân thiện với môi trường, các nhà nghiên cứu thực hiện công bố này cho biết.  Trong khi vai trò của các hợp tác công – tư trong những lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin đã được biết đến từ lâu nhưng đến tận bây giờ vẫn còn quá ít dữ liệu rõ ràng về sức ảnh hưởng của mối liên minh kiểu này. “Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi đề xuất: có một số tín hiệu có thể được dùng để dò theo các hoạt động đổi mới sáng tạo và các thành công thương mại, ví dụ như các sáng chế, con số tài chính, đã tăng lên khi các công ty về công nghệ sạch hợp tác với cơ quan hoặc phòng thí nghiệm của chính phủ Mỹ”, Laura Diaz Anadon, giáo sư về chính sách biến đổi khí hậu tại trường đại học Cambridge và là đồng tác giả nghiên cứu, cho biết.  Giáo sư Claudia Doblinger – tác giả thứ nhất của nghiên cứu từ trường đại học Kỹ thuật Munich, nói: “Các phòng thí nghiệm của chính phủ đóng vai trò quan trọng không chỉ trong quá trình chống biến đổi khí hậu mà còn với cả sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ. Đây là hai chủ thể quan trọng trong nhiều thảo luận về chính sách như Green New Deal ở Mỹ”.  Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một bộ dữ liệu mới gồm 657 startup công nghệ sạch của Mỹ và hơn 2.000 công ty đối tác được thành lập trong giai đoạn 2008 – 2012 để đánh giá sự khác biệt trong kết quả của các liên minh công tư, bao trùm lĩnh vực: điện gió, năng lượng biển, tái chế chất thải và thiết bị lưu trữ năng lượng. Khoảng 66% startup được thành lập dưới 5 năm vào 2008, với 34% giao dịch thương mại cũng được lựa chọn.  Để thấy rõ lợi ích trong mối hợp tư và đầu tư nguồn lực, các nhà nghiên cứu còn tìm hiểu các liên minh với những trung tâm công nghệ lớn của thế giới như Thung lũng Silicon – đề xuất tiềm năng cho việc xây dựng “những hệ sinh thái vùng”.  Ví dụ, Phòng thí nghiệm năng lượng tái tạo quốc gia (NREL) thuộc Bộ Năng lượng Mỹ, tọa lạc tại Colorado, là ‘một ví dụ nổi bật của những tổ chức chính phủ tại Mỹ có hợp tác với các startups năng lượng sạch”, theo các nhà nghiên cứu. Là một tổ chức quan trọng trong sự phát triển các công nghệ xanh, NREL đã cùng hợp tác với nhiều  startup kể từ những năm 2000 trong lĩnh vực “chế tạo màng mỏng” như First Solar, vốn trở thành nhà sản xuất công nghệ pin mặt trời Cadmium Telluride từ năm 2009. Các nhà nghiên cứu xác nhận, NREL đã cấp hơn 260 giấy chứng nhận công nghệ kể từ năm 2000, điều này chứng tỏ giá trị đóng góp của các cơ quan chính phủ như cũng như NREL trong việc hỗ trợ các startup.  Các tác giả nghiên cứu cũng cho rằng, chính quy mô, cơ sở vật chất và tầm nhìn dài hạn của các tổ chức liên bang như Bộ Năng lượng Mỹ và 17 phòng thí nghiệm của Bộ, đã góp phần hỗ trợ một cách tự nhiên cho các startup có thể nắm bắt cơ hội và kịp thời thích nghi với các phát triển công nghệ, đáp ứng cơ hội thị trường nhanh nhất. “Các tổ chức chính phủ phải có tầm nhìn dài hạn và đóng vai trò quan trọng hơn trong thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo ngành năng lượng”, giáo sư Kavita Surana từ trường đại học Maryland và đồng tác giả công bố, nhận xét.  “Ngoài các khoản tài trợ và hỗ trợ ban đầu cho thương mại hóa, thông qua việc thực hiện hợp tác để phát triển và chuyển giao kiến thức, các cơ quan chính phủ có thể thúc đẩy với các công ty khởi nghiệp tạo nên sự khác biệt. Và Quốc hội Mỹ và các tổ chức xã hội dân sự chuẩn bị tranh luận về bản chất của các chính sách như Green New Deal, các đối tác hợp tác công tư có thể là một phần quan trọng và không quá tốn kém trong các ‘gói’ xây dựng chính sách”, giáo sư Surana cho biết, hàm ý đến những tác động của vấn đề hợp tác công tư sẽ góp phần gợi mở về chính sách phát triển năng lượng sạch cho các nhà hoạch định chính sách.  Còn theo giáo sư Doblinger, để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác lâu dài với các doanh nghiệp mới nổi, các cơ quan chính phủ nên thử nghiệm các biện pháp khuyến khích hỗ trợ các dự án hợp tác công tư. “Các sáng kiến như đầu tư nhiều hơn để nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ, khởi sự kinh doanh trong các chương trình hoặc cho phép các nhà khoa học hoạt động trong các tổ chức của chính phủ được nghỉ một thời gian để sang làm việc cho một công ty tư nhân, có thể góp phần chuyển những hiểu biết về công nghệ sang lĩnh vực tư và khích lệ các nhà khoa học thực hiện theo”, bà nói.  Giáo sư Anadon tin tưởng, những bài học từ nghiên cứu này đáng giá với nhiều quốc gia đang muốn khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng sạch, không chỉ với Mỹ. “Bởi các cơ quan thuộc bất kỳ chính phủ nào muốn thành công trong hợp tác với các startup, rõ ràng cần đầu tư hiệu quả và bền vững đi kèm với hỗ trợ chuyển giao công nghệ và truyền thông”.  “Các tổ chức chính phủ cần xem xét các kết quả nghiên cứu của chúng tôi trước khi thảo luận về việc tài trợ cho các nghiên cứu về năng lượng bền vững. Các công nghệ sạch từ mối quan hệ đối tác công tư rất cần thiết để các chính phủ đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2019-03/uoc-gts031519.php            Author                Quản trị        
__label__tiasang Các startup đang tham gia xây dựng các đô thị trong tương lai      Hiện nay khoảng trên một nửa dân số thế giới sinh sống ở các đô thị – và xu hướng này ngày một tăng. Các startup của Đức đang nỗ lực tìm các giải pháp để giải quyết các vấn đề nhà ở cho các khu vực đông dân cư.      Thiếu nhà ở là một vấn nạn ở hầu hết các thành phố lớn. Một mặt các thành phố lớn không ngừng phát triển, mặt khác lối sống đô thị và hạ tầng cơ sở của các đô thị giờ lan toả tới các vùng nông thôn. Từ đó phát sinh nhiều vấn đề, mà thiếu nhà ở chỉ là một trong những vấn nạn của các thành phố. Tình trạng này ở ở các quốc gia mới nổi như Ấn độ, Trung Quốc hay Nigeria còn nghiêm trọng hơn nhiều so với các nước phát triển.  Nhưng tình hình này chưa được cải thiện. Trái lại đến năm  2050 thế giới sẽ có 9,8 tỷ dân –  nhiều hơn 2,2 tỷ so với ngày nay theo dự báo của Liên hiệp quốc (LHQ). Cũng theo LHQ, hai phần ba số này sẽ sống ở các thành phố lớn. Do đó giao thông sẽ ngày càng căng thẳng, môi trường sống, nhất là không khí ngày càng bị ô nhiễm nặng nề hơn. Tình hình vệ sinh và đói nghèo, nhất là ở các nước đang phát triển và mới nổi, càng thêm nghiêm trọng.  Start up tham gia biến đổi thế giới  Làm thế nào để khắc phục những thách thức về xã hội, sinh thái và kinh tế này? Hiện tại các Start-ups trên thế giới đang đau đầu về những vấn đề này. Ở các nơi khác vấn đề nói trên có phần khẩn thiết hớn, tuy nhiên các startup Đức cũng tham gia vào việc giải quyết các vấn nạn trên và coi đây là nghĩa vụ của mình.  Ý tưởng và các phương án của startup Đức bao gồm từ các giải pháp kỹ thuật trồng trọt cây lương thực có tính bền vững cho đến xây dựng nhà ở trên các bãi trống, sản xuất năng lượng tái sinh hiệu quả hơn. Mục đích chính là: xây dựng không gian sống trong tương lai bền vững hơn, đáng sống hơn và có tiến bộ về công nghệ. Sau đây xin giới thiệu sáu startup của Đức đang nỗ lực giải quyết các vấn đề của đô thị:  MQ Real Estate: xây dựng nhà ở  Tạo nhà ở trên diện tích chưa được tận dụng – đó là ý tưởng của MQ Real Estate. Sau khi thành lập start up này vào năm 2014, Nikolai Jäger và Björn Hiss bắt tay thực hiện ý tưởng tạo các buồng ở bằng gỗ. Các module riêng lẻ này sẽ được lắp đặt trên tầng trên cùng của các nhà để xe ô tô hoặc những vị trí hiện để trống không sử dụng. Bằng cách này có thể tạo thêm các khách sạn, khu chung cư cỡ nhỏ, ký túc xá sinh viên vv… –  đây là một dạng phủ kín, lấp đầy các khoảng trống chứ không phải xây dựng mới.  Từ năm nay start-up này có sự hợp tác với nhà điều hành Shopping-Center-Betreiber ECE. Do đó trên mái nhà để xe của Ring-Centers ở Berlin đã ra đới “Skypark”-Hotel đầu tiên với 151 phòng. Mùa thu này sẽ khai trương và nhà điều hành là chuỗi khách sạn Novum Hospitality. Hiện start up này đã có kế hoạch cho mười dự án tương tự.  Cho đến nay startup được cung cấp tài chính bởi quỹ đầu tư thiên thần Family Offices và ngân hàng Triodos Bank. Mục tiêu của MQ Real Estate trong những năm tới là đi đầu trong thị trường lấp kín diện tích trống bằng phương pháp xây dựng theo module gỗ.  Cabin Spacey  Mái các toà nhà cũng là điều hấp dẫn và thu hút sự quan tâm của Simon Becker và Andreas Rauch – hai kiến trúc sư này muốn tạo nên các toà nhà mini mang tên Tiny-House, đây là các toà nhà dễ di chuyển và mang đậm ý nghĩa sinh thái, thuận lợi cho sinh hoạt của người dân sống trong các ngôi nhà mini này. Với ý tưởng này, tháng 4 năm 2016 họ đã thành lập Cabin Spacey. Loại ngôi nhà module này không những chỉ thích hợp cho đô thị mà cả ở vùng nông thôn. Việc cho thuê sẽ tiến hành bởi ứng dụng cho thuê nhà cửa, và giá một căn nhà từ 50.000 tới 70.000 Euro. Hiện tại startup này đang tiến hành sản xuất nguyên mẫu đầu tiên   Năm 2016 Cabin Spacey tham gia cuộc thi về ý tưởng “Smart Urban Pioneers”, được giải nhì và gọi được vốn cộng đồng có giá trị 30.000 USD. Startup này còn có sự trợ giúp của bà Birgit Ströbel, nhà sáng lập ImmobilienScout 24. Ngoài ra Cabin Spacey còn có các đối tác như Bosch, Daimler và Velux.  Farmee  Dân ở các thành phố  ngày càng đông đúc hơn, nhu cầu đối với thực phẩm tươi sống cũng tăng lên. Cư dân đô thị có thể đáp ứng được nhu cầu đó không khi không muốn lệ thuộc vào các tập đoàn công nghiệp lớn? Farmee trả lời câu hỏi này. Nền tảng phần mềm là hỗn hợp giữa hệ thống canh tác và hệ thống sinh thái đối với sản xuất nông nghiệp theo chiều dọc: Nó liên kết các nhà trồng vườn nhỏ ở đô thị, các nhà phát triển phần mềm và các nhà sản xuất phần cứng. Tầm nhìn là: mọi người đều có thể là nhà nông và tự trồng rau xanh cho mình – giá cả phải chăng và không đòi hỏi phải có kiến thức gì đặc biệt.  Các nhà sáng lập start up là Steffen Abel, Florian Haßler, Jens Schmelzle và Kai Blisch. Cho đến nay tại Farmee chỉ có vốn tự huy động từ các nhà sáng lập này – tuy nhiên start up này đã có kế hoạch về một vòng thu hút vốn đầu tư đầu tiên. Sau đó, các nhà sáng lập dự định sẽ tuyển chọn thêm nhân viên.  Freeelio  Sebnem Rusitschka, một chuyên gia phát triển lâu năm của tập đoàn Siemens, cảm thấy băn khoăn trước chuyến đi tới Goa, Ấn Đô: nơi này tràn trề ánh mặt trời tuy nhiên nguồn năng lượng bền vững này lại không được tận dụng. Thay vào đó chỉ những người có khả năng chi trả mới có điện lấy từ máy phát điện chạy động cơ diesel. Ngay cả ở Đức, Sebnem Rusitschka cũng thấy có nhiều điều cần phải được cải tiến, sửa đổi để các nhà máy điện mặt trời được vận hành hiệu quả hơn. Cuối năm 2016 chị đã cùng với Christoph Doblander thành lập startup Freeelio và họ đã phát triển phần mềm Adpteve để phân tích các dữ liệu về năng lượng và tối ưu hoá việc sử dụng các cơ sở điện mặt trời – tuỳ theo điều kiện sống của dân cư ở địa phương. Trong đó sẽ có sự trợ giúp của công nghệ Blockchain: các giao dịch như trả tiền điện có thể được tự động hoá.  Cho đến nay Rusitschka và Doblander phải tự trang trải cho dự án này – trong tương lai việc này có thể diễn ra thông qua ICO. Hiện tại họ đang tiến hành thử nghiệm đầu tiên về người thuê điện. Tuy nhiên mục đích đề ra là: phân cấp mạng lưới điện, kết nối và sử dụng năng lượng có hiệu quả. Qua đó hình thành các model về thuê điện, nguồn tài nguyên sẽ được tận dụng tốt hơn với giá cả thuận lợi hơn – điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các khu nhà gồm nhiều gia đình với mái nhà có lợp các tấm năng lượng mặt trời.  Indielux  Cho đến nay chỉ có những người làm chủ các tòa nhà mới có thể tự sản xuất ra điện mặt trời. Tuy nhiên hiện tại ở Đức, có rất đông dân cư phải thuê nhà, vì thế  họ không có khả năng dùng các thiết bị tạo ra điện để giảm chi phí sử dụng điện của mình. Start up Indielux muốn tạo ra thiết bị điện mặt trời dành cho người thuê nhà, người có diện tích ở ban công cũng như chủ nhân các toà nhà – qua đó Indielux muốn mọi người có thể sử dụng điện hiệu quả hơn và bảo đảm môi trường sinh thái. Các nhà sáng lập start up này, Mathias Helfert và Marcus Vietzke mong muốn bên cạnh việc sản xuất điện bền vững thì việc sử dụng thiết bị máy móc phải đơn giản và thuận tiện: các module điện trên ban công chỉ cần treo trên ban công không đòi hỏi phải có dụng cụ chuyên dụng, phức tạp. Để thực hiện điều này startup đã tạo ra hệ thống quản lý điện ready2plugin – dự kiến mùa thu 2018 sẽ ra mắt hệ thống này. Hiện tại startup đang tìm nhà đầu tư và các đối tác để thâm nhập thị trường.  Cho đến nay Indielux được sự hỗ trợ tài chính của cơ quan nhà nước. Startup đã lọt vào vòng chung kết cuộc thi The Smarter E-Award do Intersolar tổ chức và tháng 7 này sẽ trao giải.  Breeze  Lâu nay, sương mù khói bụi không chỉ là vấn nạn của các thành phố lớn ở Trung Quốc. Ở Đức, trong không khí cũng có nhiều bụi than, bụi mịn, các chất gây hại. Phải làm gì để chống lại tình trạng này? Robert Heinecke và Sascha Kuntze cho rằng việc cấm và hạn chế xe chỉ là một trong các biện pháp và từ năm 2015 họ đã phát triển ý tưởng của mình để khắc phục tình trạng này: thông qua học máy và dữ liệu lớn, họ tiến hành đo chất lượng không khí. Tháng 9 năm 2017 họ thành lập Breeze – Start-up này cung cấp các cảm biến phát hiện khói.  Dù trong văn phòng hay trên các trục đường giao thông, các doanh nghiệp cũng như cơ quan nhà nước có thể sử dụng có các cảm biến thu phí hàng năm để biết về chất lượng không khí ngoài trời cũng như trong nhà. Trên cơ sở các số liệu thu thập được họ sẽ nhận được lời khuyên về các biện pháp cần thực hiện. Thí dụ chọn loại máy điều hoà nhiệt độ, hoặc chọn loại nhựa đường hoặc kiến nghị điều chỉnh luồng xe cộ ở khu vực.  Thời gian gần đây doanh nghiệp này làm ăn có lãi và coi đây là cơ sở để đi lên. Hiện đã có các cuộc trao đổi với các đối tác tiềm năng để doanh nghiệp mở rộng ra khỏi địa bàn châu Âu.  Hoài Nam dịch  Nguồn: https://gruender.wiwo.de/urbanisierung-start-ups-bauen-an-den-staedten-von-morgen/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các startup Thái là cơ hội cho nông nghiệp      Các startup công nghệ nông nghiệp đã đem lại những cơ hội to tát cho một nước trọng nông như Thái Lan, và đó cũng là một trong những lĩnh vực mà các nhà đầu tư toàn cầu đang chú ý đầu tư vào.      SproutX, cơ sở tăng tốc đang tập chú đến các startup ở châu Á.  Andrew Lai, đồng sáng lập kiêm giám đốc cơ sở tăng tốc SproutX, cho rằng công nghệ lương-nông hiện đang là những lĩnh vực tiềm năng lớn. Theo McKinsey, nông nghiệp là ngành số hoá ít nhất trên thế giới, nên có nhiều cơ hội hơn về việc số hoá và cải thiện năng suất. Lương-nông đang trở thành một xu hướng toàn cầu. “Đang có một sự đột phá thực sựtrong ngành lương-nông”, Lai nói.  Các lĩnh vực startup lương-nông đa dạng từ công nghệ sinh học, thương mại điện tử, thực phẩm, internet vạn vật, và phần mềm. Các công nghệ tiêu dùng có tiềm năng to lớn để chuyển đổi các nông hộ nhỏ. “Khoảng 40% lao động trên thế giới tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp và nhiều người trong số đó phi ngân hàng.Họ không có một trương mục ngân hàng.Họ không thể tiếp cận các dịch vụ tài chính. AgUnity là một hãng cung cấp dịch vụ cho những người phi ngân hàng.Hãng cung cấp smartphone miễn phí cho nông dân có thể ghi lại dữ liệu. Dựa trên dữ liệu của họ, nông dân có thể được cho vay, vì dữ liệu sẽ cho biết năng suất, lợi nhuận và rủi ro của họ”, Lai nói. Một trường hợp khác là Sundrop, hãng đang trồng cà chua trong sa mạc. Đó là một hãng dẫn đầu toàn cầu trong nông nghiệp bền vững, chuyên trồng trái cây và rau tươi bằng nguyên liệu tái tạo.  Châu Á – Thái Bình Dương bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi an ninh lương thực. Có nhiều người sống trong vùng châu Á – Thái Bình Dương hơn bên ngoài vùng, trong khi hầu hết các startup lương-nông – khoảng 62% – lại ở Mỹ. Sean Trairatkeyoon, CEO và là đồng sáng lập Juicelnno8, một công ty chuyên về công nghệ sinh học thực phẩm, cho biết con số các giao dịch trong không gian công nghệ/thực phẩm trong năm năm qua đang tăng lên.  Là một nước nông nghiệp và để khởi động một cuộc cách mạng công nghệ nông nghiệp thực phẩm, Thái Lan cần một bước nhảy vọt. Là nước xuất khẩu đường và gạo đứng hàng thứ hai và sản xuất tôm đứng hàng thứ ba, mà chỉ có tương đương khoảng 500.000 USD về đầu tư startup trong lĩnh vực này, và chỉ có một giao dịch. Không có cơ sở nào trong số đó đóng vai trò gia tốc công nghệ lương-nông.Trong khi đó ở Mỹ, là nước sản xuất bắp và đậu nành số một thế giới, giá trị đầu tư công nghệ lương-nông trên 2 tỷ USD vào năm 2013.Có hơn 300 giao dịch trong các khoản đầu tư startup công nghệ lương-nông và hơn 15 cơ quan gia tốc công nghệ lương-nông. Trairatkeyoon cho biết, nhà nước và các tổ chức ở Thái Lan nên tái tập trung để xem xét tiềm năng của công nghệ lương-nông. Chỉ có hai ngành mà Thái Lan đang có lợi thế là du lịch và lương-nông. “Nếu Thái Lan muốn dẫn trước trong vài năm tới, có rất nhiều không gian cho tương lai thực phẩm mở ra cho các công ty Thái”, Trairatkeyoon nói. Lai cho biết, SproutX đầu tư trong nhiều lĩnh vực công nghệ nông nghiệp. “Hầu hết các danh mục đầu tư của chúng tôi đang là số hoá internet vạn vật các nông trại.Nhưng hiện nay chúng tôi mở ra đối với bất cứ lĩnh vực nào, phần mềm và giải pháp và internet vạn vật giúp cho mọi người tổ chức việc họ đang làm, hoặc nuôi trồng côn trùng.Một lĩnh vực khác nữa là robot”, Lai nói.  Hiện nay SproutX đã đầu tư 19 startup công nghệ nông nghiệp, hầu hết là từ Úc. Nhưng SproutX đang tạo ra những mặt trận mới, cụ thể là ở Đông Nam Á và châu Á nói chung. “Chúng tôi đã là nhà đầu tư công nghệ cao tích cực nhất trên thế giới, và chúng tôi cho rằng tương lai đang đầy dẫy cơ hội. Không có mấy người chơi ở đây hiện nay.Nên, đó là một cơ hội lớn cho chúng tôi”, Lai nói.  Ông cho biết, bản thân SproutX là một nhà xây dựng hệ sinh thái.Xây dựng các công ty công nghệ thực phẩm hàng đầu liên quan đến xây dựng một hệ sinh thái, trong đó có cộng đồng lương-nông thông qua sự kiện và hackathon (thi lập trình); tiền tăng tốc và workshop; và tăng tốc.  Khởi Thức (the Nation)  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các starup Cuba đang học theo người Đức?      Trường đại học Havana trở thành vườm ươm starup đầu tiên tại Cuba thông qua sự hỗ trợ của trường đại học Humboldt ở Berlin.      Jan Ehlers trình bày về ý tưởng kinh doanh trong một khóa hướng dẫn tăng tốc khởi nghiệp tại Cuba. Ảnh: DW  Từ Đức, Jan Ehlers tới Cuba để thực hiện nhiệm vụ: thiết lập vườn ươm đầu tiên này của Cuba để đưa các ý tưởng đổi mới sáng tạo thành doanh nghiệp  khởi nghiệp. “Người Cuba chưa có ý tưởng, hay nói đúng hơn là có ý tưởng hoàn toàn khác, về việc thực hiện điều này như thế nào”, Ehlers cười. Tại Berlin, Ehlers làm việc tại trong bộ phận phát triển doanh nghiệp và kết nối doanh nghiệp của trường thương mại châu Âu (ESCP).  Để bắt đầu cho khóa học, nhiều thách thức về logistic cần phải vượt qua, ví dụ phải mất nhiều tháng để kết nối internet nhưng ngay sau khi có internet thì vẫn còn nhiều giới hạn khác. “Tôi chỉ xem video trên Youtube có 5 phút mà thời gian truy cập của tôi trong một tháng đã hết”, Ehlers kể và cho biết thêm may mắn là anh đã nhận được quyền truy cập internet không giới hạn.  Cuộc gặp giữa nghiên cứu hàn lâm và công nghiệp  Bảy startup trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ y tế và năng lượng mặt trời đã được chọn tham gia dự án này. Một nhóm mong muốn phát triển một ứng dụng cho phép người sử dụng định vị con đường của mình từ điểm A đến điểm B trên các phương tiện giao thông công cộng mà không cần phải truy cập internet. Một nhóm khác có kế hoạch sử dụng thiết bị bay để kiểm tra các nhà máy điện mặt trời và kiểm tra cây trồng trong lĩnh vực nông nghiệp. Một nhóm khác do Marta L. Baguer, một giáo sư toán tại trường đại học Havana dẫn dắt, đang làm việc về phần mềm ghi nhận hình ảnh để dò bệnh ung thư cổ họng giai đoạn đầu.  Ở Cuba, có một khoảng cách rất lớn giữa thế giới nghiên cứu kinh viện và công nghiệp, Baguer nhận xét. Vườn ươm ở trường đại học  Havana  sẽ góp phần giúp lấp đầy khoảng cách này. “Khi gặp đối tác từ các viện nghiên cứu nhà nước, trước đây chúng tôi thường trao đổi về những nội dung toán học còn bây giờ chúng tôi tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn”, bà cho biết thêm.  Những bài học từ nước Đức  Đầu tiên, vườn ươm khởi nghiệp tổ chức những hội thảo về thiết kế ý tưởng, mô hình kinh doanh và marketing. Sau đó, một số khách mời từ Đức đã tham gia và một mạng lưới các mentor Cuba gồm các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực thương mại, các cơ quan nhà nước và cả trường đại học Havana. Mỗi nhóm đều được một chuyên gia Đức giàu kinh nghiệm tư vấn cho kế hoạch phát triển ý tưởng sản phẩm của họ.  Chính phủ Cuba giờ đây đã cho phép thực thi những sáng kiến kinh doanh tư nhân. Các cơ quan của chính quyền đã được trao nhiều quyền hạn hơn, một đặc khu kinh tế đã được thiết lập và một luật đầu tư mới đã được thông qua để thu hút đầu tư từ nước ngoài.  Những thay đổi đó bắt đầu thể hiện ở vườn ươm khởi nghiệp nhưng ở quy mô nhỏ hơn: nó đại diện cho cách tiếp cận thị trường và tư duy định hướng kinh doanh, điều đó thể hiện một lạc quan nhất định nhưng vẫn còn một số điều chưa thật sự chắc chắn về tương lai của những doanh nghiệp khởi nghiệp. “Chương trình ươm tạo này có vai trò trong việc chuẩn bị cho mọi người về những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường ngoài việc truyền đạt những kỹ năng nghiên cứu hàn lâm”, Ehlers nói.  Một hình mẫu cho Cuba?  “Tại các trường đại học nước ngoài mà tôi từng đến, hầu hết các giáo sư đều điều hành các dự án kết hợp với các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân và lãi thu được từ các dự án đó được họ đầu tư trở lại cho khoa học và phát triển công việc nghiên cứu của họ,” Baguer nhận xét. Đây có thể là một hình mẫu cho Cuba. Bà cho biết, viện nghiên cứu của bà cần phải có thu nhập của chính mình thông qua các hoạt động như vậy.  “Vấn đề cơ bản là chúng tôi dành nhiều năm cho đào tạo sinh viên tốt nhất của mình và sau dó họ rời khỏi đất nước. Các giáo sư giàu kinh nghiệm cũng như thế, hoặc chuyển sang làm hẳn trong các công ty tư nhân,” bà nói. Do đó việc tìm ra các cách để phát triển điều kiện làm việc và thu nhập là thách thức lớn nhất.  Cuba có trình độ giáo dục cao và khả năng ứng biến cao của người dân Cuba đã đưa đất nước này trở thành một nơi lý tưởng cho các startup công nghệ trong tương lai. Có thể việc các vườn ươm công nghệ ở Mỹ và châu Âu thu hút các tài năng khởi nghiệp ở đây chỉ còn là vấn đề thời gian.  Ehlers cho rằng người Cuba phải được trao cơ hội để tạo dựng doanh nghiệp của mình. “Hàng ngày tôi chứng kiến tình yêu của người dân dành cho đất nước mình. Họ không muốn rời nơi này và họ đang phải trả giá để được ở lại. Chính phủ và cả những nhà quản lý trường đại học cần phải nhanh chóng tìm ra cách để hỗ trợ những giáo sư và sinh viên có thể sống tốt mà không phải lái xe taxi hay bán cigar”. Mục tiêu của vườn ươm công nghệ này là hỗ trợ trường đại học Havana để nơi này đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra sự thay đổi đó.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/how-young-cubans-are-learning-capitalism/a-39707448    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tác phẩm nghệ thuật hé lộ về chứng rối loạn thị giác của những họa sĩ nổi tiếng      Tầm nhìn là công cụ quan trọng nếu muốn tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Người họa sĩ dùng tầm nhìn để khảo sát khung cảnh, là căn cứ cho các nét vẽ trên vải bạt, và là gợi ý cho màu sắc lẫn hình thức của tác phẩm. Tuy nhiên, những chứng bệnh và rối loạn có thể làm thay đổi khả năng thị giác của người nghệ sĩ.      Bức Impression, soleil levant (Ấn tượng, mặt trời mọc) của Claude Monet được xem là tác phẩm mở đầu trường phái Ấn Tượng. Monet vẽ bức này vào năm 1872, 40 năm trước khi ông được chẩn đoán mắc bệnh đục thủy tinh thể. Ảnh: Wikimedia Commons.      Từ lâu, các nhà khoa học đã nghi ngờ rằng có những họa sĩ đã mắc chứng rối loạn thị giác, thể hiện qua những dấu hiệu trong các tác phẩm của họ. Những lập luận về các rối loạn và ảnh hưởng của chúng đối với các tác phẩm nghệ thuật thường chỉ mang tính suy đoán, và thiếu những hồ sơ lâm sàng để khẳng định. Bên cạnh đó, các nghệ sĩ được quyền phóng bút theo bất kỳ cách nào họ muốn, vì vậy rất khó để suy đoán phong cách sáng tác này là kết quả của một tầm nhìn hạn chế, hay là một sự lựa chọn nghệ thuật có chủ đích của người nghệ sĩ.      Dưới đây là ba nghệ sĩ được cho là bị suy giảm thị lực:        Claude Monet     Claude Monet được chẩn đoán mắc bệnh đục thủy tinh thể vào năm 1912, nhưng ông ấy đã từ chối đề nghị phẫu thuật.      Đục thủy tinh thể là tình trạng thủy tinh thể bên trong mắt bị vẩn đục dần, khiến thị lực mờ đi và tầm nhìn bị hạn chế mà không thể điều chỉnh bằng cách đeo kính. Thể thủy tinh bị đục thường có màu nâu, lọc ánh sáng đi qua chúng, làm giảm khả năng phân biệt màu sắc. Trong trường hợp nghiêm trọng, ánh sáng xanh gần như bị chặn hoàn toàn.      Trong vòng một thập kỷ kể từ khi phát hiện bệnh, hồ sơ bệnh án của Monet ghi rõ rằng ông gặp khó khăn trong việc nhìn các chi tiết của cảnh quan, đồ vật. Vấn đề là, nó còn ảnh hưởng đến khả năng nhận biết màu sắc của ông. Năm 1914, ông mô tả màu đỏ trông xỉn và mờ, và đến năm 1918, ông giảm bớt việc chọn màu từ nhãn trên ống sơn.      Chúng ta có thể nhận ra tác động của bệnh trong hai bức tranh cùng vẽ một cảnh: cây cầu Nhật Bản trên ao hoa súng trong vườn nhà. Bức đầu tiên được vẽ trước khi ông được chẩn đoán đục thủy tinh thể khoảng 10 năm, đầy chi tiết và màu sắc cũng vô cùng tinh tế.        Phiên bản cây cầu của Monet bắc qua một ao hoa súng được vẽ vào năm 1899, mười năm trước khi ông được chẩn đoán mắc bệnh đục thủy tinh thể. Ảnh: Wikimedia Commons     Ngược lại, bức thứ hai được vẽ vào năm 1922 – thời điểm căn bệnh đã trở nên trầm trọng, với màu sắc tối và âm u, gần như không có màu xanh lam và bức tranh cũng lược giản đáng kể chi tiết khung cảnh.          Cây cầu Nhật Bản được vẽ vào năm 1922, một năm trước ca phẫu thuật đục thủy tinh thể của Monet. Ảnh: Wikimedia Commons    Có bằng chứng xác thực rằng những thay đổi đó không phải là một lựa chọn nghệ thuật có chủ đích. Trong một bức thư gửi cho nhà văn Marc Elder vào năm 1922, Monet bộc bạch rằng ông nhận ra mình đã làm hỏng các bức tranh vì thị lực suy giảm, và sự mù lòa đã buộc ông phải từ bỏ niềm đam mê mặc dù sức khỏe của ông hãy còn rất tốt.      Một trong những nỗi sợ hãi của Monet là phẫu thuật sẽ làm thay đổi khả năng cảm thụ màu sắc của ông, và thực sự sau khi phẫu thuật, ông thường phàn nàn về việc thế giới trong mắt ông đôi khi quá vàng hoặc quá xanh. Tuy nhiên, hai năm sau đó, ông cảm thấy khả năng nhìn màu sắc của mình đã trở lại bình thường. Các nghiên cứu đã xác nhận rằng nhận thức màu sắc có thể thay đổi trong nhiều tháng sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể, vì mắt và não thích ứng với lượng ánh sáng xanh tăng lên – mà đục thủy tinh thể trước đó đã chặn lại.        El Greco     Kiến trúc sư, họa sĩ và nhà điêu khắc của thời kỳ Phục Hưng Tây Ban Nha, El Greco (1541-1614) thường kéo dài một số hình tượng nhất định trong tranh của mình theo chiều dọc. Năm 1913, bác sĩ nhãn khoa Germán Beritens cho rằng sự kéo dài này là do chứng loạn thị.     Loạn thị thường xảy ra khi giác mạc – bề mặt trước của mắt và và là yếu tố tập trung ánh sáng chính – không phải là hình cầu, mà có hình dạng giống quả dưa hấu hơn. Giác mạc của người bị loạn thị bị biến dạng làm mất đi độ cong đó gây ra tình trạng hình ảnh hội tụ tại nhiều điểm trên võng mạc (có thể ở trước và sau võng mạc) làm cho hình ảnh tạo ra bị không rõ ràng, nhòe và mờ.      Beritens đã chứng minh suy đoán của mình bằng cách cho những vị khách đến thăm nhà sử dụng một thấu kính đặc biệt tạo ra độ giãn dài theo chiều dọc giống như các tác phẩm của El Greco. Nhưng giả thuyết này cũng không thuyết phục lắm. Nhiều chuyên gia cho rằng nếu El Greco bị loạn thị thì theo lý thuyết bất cứ thứ gì trong tầm nhìn của ông cũng đều bị kéo dài – kể cả đối tượng vẽ và bức tranh được vẽ lên, tạo ra sự cân bằng. Điều này có nghĩa là hiệu ứng loạn thị sẽ được loại bỏ. Bên cạnh đó, thường thì chứng loạn thị khiến tầm nhìn của mắt bị mờ đi hơn là thay đổi kích thước hình ảnh.        Bằng chứng cho thấy cách vẽ kéo dài dài của El Greco là một lựa chọn nghệ thuật có ý thức, chứ không phải là kết quả của chứng rối loạn thị giác. Ảnh: Wikimedia Commons.        Ngoài ra, các bằng chứng khác cho thấy El Greco sử dụng kỹ thuật kéo dài theo chiều dọc như một lựa chọn nghệ thuật có chủ ý. Ví dụ, trong bức tranh năm 1610 của ông, St Jerome as Scholar (ảnh trên), bàn tay đặt theo chiều ngang của vị thánh cũng dài ra. Nếu phong cách kéo dài của El Greco chỉ đơn giản là sự kéo dài theo chiều dọc trong nhận thức thị giác của ông ấy, thì bàn tay đáng lý trông phải tương đối mập mạp.      Clifton Pugh     Ngoài bệnh về mắt, khả năng nhìn màu có thể bị ảnh hưởng do khiếm khuyết di truyền. Khoảng 8% nam giới và 0.5% nữ giới sinh ra với thị lực màu bất thường – đôi khi chúng ta vẫn gọi là “mù màu”. Một trong những dạng nghiêm trọng phổ biến nhất của nó là khi một người nhìn thấy màu sắc thuần túy chỉ là các mức độ khác nhau của màu xanh lam và màu vàng. Họ không thể phân biệt được màu xanh lục và đỏ, và do vậy khó phân biệt được quá non với quả chín.      Nhiều người cho rằng chưa từng có họa sĩ nổi tiếng nào mù màu, nhưng một nghiên cứu đã phản bác điều này. Nghệ sĩ người Úc Clifton Pugh thực sự là một họa sĩ nổi tiếng: ông ấy đã ba lần giành giải thưởng Archibald, có nhiều bức tranh được treo trong các phòng trưng bày quốc gia, và thậm chí đã giành được huy chương đồng cho hạng mục Hội họa tại Thế vận hội Olympic (trước đây Thế vận hội Olympic từng có hạng mục kiến trúc, âm nhạc, hội họa, điêu khắc và văn học).      Hạn chế về nhận biết màu sắc của ông đươc ghi lại đầy đủ trong thông tin tiểu sử. Do bản chất di truyền của chứng khiếm khuyết thị lực màu sắc, các nhà nghiên cứu đã có thể kiểm tra thị lực màu sắc của các thành viên còn sống trong gia đình để khẳng định chắc chắn rằng Pugh mắc chứng không thể nhận biết các sắc độ xanh lục và đỏ nghiêm trọng.        Có vẻ như chứng mù màu của Pugh không ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc được sử dụng trong các tác phẩm nghệ thuật của ông ấy. Ảnh: Wikimedia Commons.     Nhưng nếu phân tích màu sắc trong các bức tranh của Pugh, ta không thể tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy ông bị mù màu. Điều này phù hợp với những nghiêm cứu trước đó, chứng tỏ rằng không thể khẳng định một tác giả có mù màu hay không nếu chỉ dựa vào tác phẩm của họ.      Hoàng Nhi  dịch     Nguồn: How eye disorders may have influenced the work of famous painters    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tấm pin mặt trời trong suốt đạt hiệu suất kỷ lục 8%      Trong bước tiến gần hơn đến việc tận dụng năng lượng từ kính ở các tòa nhà chọc trời, một nhóm nghiên cứu do Đại học Michigan dẫn dắt đã thiết lập một kỷ lục hiệu suất mới cho tấm thu năng lượng mặt trời trong suốt.      Tấm pin mặt trời trong suốt được lắp đặt bên trên các cửa kính. Nguồn: Yongxi Li.  Nhóm nghiên cứu đã đạt được hiệu suất 8,1% và độ trong suốt 43,3% với thiết kế vật liệu hữu cơ thay vì silicon thông thường. Các tấm này vẫn có một chút ánh màu xanh lá cây, nhưng chủ yếu có màu giống như màu xám của kính râm và cửa sổ ô tô. “”Trên mặt của mọi tòa nhà, cửa sổ là vị trí lý tưởng cho các tấm thu lượng mặt trời hữu cơ vì chúng đem lại một thứ mà các tấm silicon không thể có được: sự kết hợp giữa hiệu suất và độ trong suốt rất cao”, giáo sư Stephen Forrest, người dẫn dắt nghiên cứu, cho biết.  Các tòa nhà có mặt tiền bằng kính thường có một lớp phủ để phản xạ và hấp thụ một số ánh sáng của cả phần quang phổ nhìn thấy và tia hồng ngoại, để giảm độ sáng và nhiệt lượng hấp thụ vào tòa nhà. Thay vì lãng phí nguồn nhiệt lượng này, người ta có thể tận dụng các tấm thu năng lượng mặt trời trong suốt để cung cấp điện năng của các tòa nhà đó. Độ trong suốt của tấm thu năng lượng mặt trời của nhóm Forrest phát triển, vốn được trình bày trong công trình xuất bản trên PNAS, cũng tương đương với độ trong suốt của một số loại cửa sổ tòa nhà hiện nay.  “Vật liệu mới mà chúng tôi phát triển và cấu trúc của thiết bị mà chúng tôi chế tạo đã có sự cân bằng nhiều yếu tố để hội tụ được các ưu điểm như khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời tốt, điện áp cao, điện trở thấp, dòng điện cao, và đồng thời là độ trong suốt, trung tính về màu,” Yongxi Li, nhà nghiên cứu kỹ thuật điện và khoa học máy tính, cho biết.  Vật liệu mới là sự kết hợp của các phân tử hữu cơ được xử lý để trở nên trong suốt với quang phổ nhìn thấy được và hấp thụ được phổ hồng ngoại gần, phần không nhìn thấy được của quang phổ nhưng chiếm phần lớn năng lượng trong ánh sáng mặt trời. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã phát triển các lớp phủ quang học để tăng cường lượng điện tạo ra từ ánh sáng hồng ngoại và độ trong suốt của kính đối với quang phổ nhìn thấy — hai yếu tố thường xung đột nhau.  Phiên bản trung tính màu của thiết bị được chế tạo bằng điện cực oxit thiếc indi. Điện cực bạc cải thiện hiệu suất lên 10,8%, với độ trong suốt là 45,8%. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì sắc xanh nhạt của phiên bản đó có thể không dùng làm cửa sổ được.  Các tấm thu năng lượng mặt trời trong suốt được đo bằng hiệu suất sử dụng ánh sáng của chúng, chỉ số mô tả bao nhiêu năng lượng từ ánh sáng chiếu vào cửa sổ được chuyển thành điện hoặc thành dạng ánh sáng truyền qua vào bên trong. Trước đây,các tấm thu năng lượng mặt trời trong suốt có hiệu suất sử dụng ánh sáng khoảng 2-3% nhưng tấm thu mới bằng oxit thiếc indi ở mức 3,5% và phiên bản màu bạc có hiệu suất sử dụng ánh sáng là 5%.  Cả hai phiên bản đều có thể được sản xuất ở quy mô lớn, sử dụng vật liệu ít độc hại hơn các loại tấm thu năng lượng mặt trời trong suốt khác. Các tấm pin hữu cơ trong suốt cũng có thể được tùy chỉnh theo vĩ độ nơi đặt nhằm tận dụng việc chúng hoạt động hiệu quả nhất khi tia nắng mặt trời chiếu vuông góc. Chúng có thể được đặt ở giữa hai lớp kính của cửa sổ hai lớp.  Forrest và nhóm của ông đang nghiên cứu một số cải tiến, mục tiêu tiếp theo là đạt hiệu suất sử dụng ánh sáng 7% và kéo dài tuổi thọ của tấm thu lên khoảng 10 năm. Họ cũng đang nghiên cứu tính kinh tế của việc lắp đặt các cửa sổ thu năng lượng mặt trời trong suốt vào các tòa nhà xây mới và hiện có.  Nghiên cứu được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences với tiêu đề “Color-Neutral, Semitransparent Organic Photovoltaics” của Forrest, Li và các đồng nghiệp Xia Guo, Zhengxing Peng, Boning Qu, Hongping Yan, Harald Ade và Maojie Zhang. Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang North Carolina, Đại học Soochow ở Trung Quốc và Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia SLAC.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-08-transparent-solar-panels-windows-efficiency.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tạp chí danh tiếng chỉ trích Kế hoạch S      Các nhà xuất bản các tạp chí học thuật danh tiếng – bao gồm cả Nature và Science –  tuyên bố, không thể tuân thủ Kế hoạch S, một sáng kiến buộc các tạp chí cho truy cập miễn phí những kết quả nghiên cứu xuất bản từ năm 2020 trở đi.      Các thư viện không thể hiểu lý do tại sao các nhà xuất bản không nên thay đổi mô hình kinh doanh của họ để tuân thủ các yêu cầu truy cập mở. Nguồn: Nature  Liên minh Kế hoạch S do EU dẫn dắt đã gửi một tài liệu vào tháng 11/2018, trong đó giải thích cách các nhà tài trợ của Kế hoạch S dự định thực hiện sáng kiến này. Là một phần của một cuộc tham vấn lớn về cách hoạt động của sáng kiến truy cập mở, cuộc tham vấn này kết thúc vào ngày 8/2 và nhận được khoảng 600 phản hồi của hầu hết các nhà xuất bản học thuật lớn trên thế giới.  Theo Kế hoạch S, kể từ năm 2020, các nhà khoa học có nghiên cứu được tài trợ phải công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí truy cập mở, hoặc nếu chọn một lộ trình xuất bản khác thì phải tạo một bản sao gần cuối của bản thảo, lưu trong một kho lưu trữ được phê duyệt và cho phép truy cập mở ngay khi xuất bản. Các nhà tài trợ sẽ không trả chi phí xuất bản công bố trên các tạp chí “lai” (tạp chí tính phí một số bài viết hoặc thu một khoản phí khi xuất bản và cho phép truy cập mở). Các nhà tài trợ nghiên cứu cũng sẽ xác định một khoản phí hợp lý mà các nhà xuất bản có thể tính phí cho việc bình duyệt bài viết, để giúp đem lại nguồn thu cho tạp chí.  Tuy nhiên nhiều nhà xuất bản cho rằng, dù ủng hộ các mục tiêu chung của Sáng kiến S nhưng họ không đồng ý về các chi tiết của sáng kiến lẫn khung thời gian cho quá trình chuyển đổi, do nó quá ngắn. Các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao có chi phí nội bộ cao, không thể bù lại được nếu hoạt động theo mô hình truy cập mở hoàn toàn nên việc cắt giảm chi phí sẽ có nguy cơ làm giảm chất lượng của tạp chí. Một số công ty xuất bản cũng kêu gọi xem xét lại chính sách của Kế hoạch S trên các tạp chí lai.  Hiệp hội Vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ (AAAS), nơi xuất bản Science và Springer Nature, nói rằng chi phí cao vì các tạp chí của họ có các biên tập viên nội bộ chuyên nghiệp đánh giá và chọn lọc các bài báo. Springer Nature ước tính chi phí để xuất bản một bài báo trên một trong những tạp chí của Nature là 10.000 đến 30.000 euro – mức chi phí cao hơn nhiều so với các tạp chí khác. Nếu theo phương án của Kế hoạch S thì khó bù đắp được chi phí với các mức phí bình duyệt. AAAS không đưa ra chi phí cho mỗi bài báo nhưng nói rằng các nhà khoa học gửi bài tới các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao vì “các sàng lọc bình duyệt chất lượng và giá trị”. Giới hạn khoản kinh phí mà nhà tài trợ trả cho xuất bản công bố là “một mối nguy cho việc duy trì chất lượng của các bài báo khoa học”.  Springer Nature cho rằng các tạp chí chất lượng cao cần một cách tiếp cận khác để tuân thủ Kế hoạch S, cần một pha chuyển đổi sang xuất bản truy cập mở. Có thể đạt được điều này thông qua “các chính sách và tài trợ” cho các nhà xuất bản để biến các ấn phẩm của họ thành các tạp chí lai hoặc tạo ra các phiên bản truy cập mở, riêng biệt. Ngoài ra, các tạp chí có thể tính cả phí nộp và xử lý bài viết. Họ cũng đề xuất thêm một phiên bản gần cuối của bản thảo có thể được chia sẻ sau sáu tháng, với phiên bản hoàn thiện của nghiên cứu vẫn chỉ có thể truy cập thông qua đăng ký hoặc thông qua một liên kết chia sẻ miễn phí nhưng chỉ dành để đọc (Những đề xuất này sẽ không tuân thủ các yêu cầu hiện tại của Kế hoạch S.)  Các tạp chí khoa học khác lập luận, trong khi các tạp chí của họ có thể chuyển sang các mô hình truy cập mở hoàn toàn, cũng có thể họ phải tính phí xuất bản cao hoặc xuất bản thêm nhiều bài báo hơn để duy trì hoạt động, và họ cho rằng điều này có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng.  Paul Ayris, giám đốc dịch vụ thư viện tại Đại học College London, nói rằng không thể hiểu lý do tại sao các nhà xuất bản không nên thay đổi mô hình kinh doanh của họ để tuân thủ các yêu cầu truy cập mở. “Dù quá quen với các thông lệ cũ nhưng các nhà xuất bản thương mại cần phải trở nên thực tế hơn”, ông nói.  Còn Robert-Jan Smits, đặc phái viên của Ủy ban châu Âu và kiến trúc sư của sáng kiến truy cập mở, không đồng ý với phản hồi này. Ông nói với Nature, các tạp chí uy tín nên đón nhận các mô hình kinh doanh mới: “Điều tương tự đã đến với ngành công nghiệp âm nhạc và điện ảnh, và giờ nó đang xảy ra với xuất bản học thuật”. □  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00596-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tập đoàn thực phẩm gặt hái lợi nhuận kếch xù trong thời kỳ khủng hoảng      Đại dịch đã làm bộc lộ những kẽ hở trong hệ thống thực phẩm công nghiệp hoá từng được cho là hiệu quả của chúng ta: chuỗi cung ứng bị gián đoạn, tình trạng thiếu công nhân và các hạn chế về mặt thương mại. Giờ đây, chúng ta có thể thêm lạm phát giá lương thực và bất bình đẳng ngày càng gia tăng vào danh sách.      Các tập đoàn liên tục tăng giá thực phẩm, trong khi lợi nhuận của nông dân Canada vẫn trì trệ hoặc sụt giảm trong nhiều thập kỷ. Ảnh: Croptracker  Một báo cáo gần đây của Oxfam International cho hay, trong thời kỳ đại dịch, thế giới đã xuất hiện thêm 62 “tỷ phú lương thực” mới. Tổng tài sản của các tỷ phú kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp đã tăng thêm 42% trong hai năm qua, trong khi giá lương thực toàn cầu tăng 33,6% vào năm 2021 và dự kiến ​​sẽ tăng thêm 23% vào năm 2022.  Cargill, công ty thực phẩm khổng lồ, dự kiến ​​sẽ đạt lợi nhuận kỷ lục trong năm nay, vượt qua con số kỷ lục 5 tỷ USD vào năm ngoái. Thật vậy, ba thành viên của gia tộc Cargill mới đây đã ghi tên mình vào danh sách Tỷ phú của Bloomberg.  Các tập đoàn thực phẩm của Canada cũng đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ. Loblaws báo cáo rằng thu nhập trong quý đầu tiên của họ đã tăng gần 40% so với năm ngoái.  Lạm phát lương thực tăng vọt  Lạm phát bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó có sự tập trung cao độ của các công ty dọc theo chuỗi cung ứng thực phẩm.  Đại dịch đã làm bộc lộ những kẽ hở trong hệ thống thực phẩm công nghiệp hoá từng được cho là hiệu quả của chúng ta: chuỗi cung ứng bị gián đoạn, tình trạng thiếu công nhân và các hạn chế về mặt thương mại. Giờ đây, chúng ta có thể thêm lạm phát giá lương thực và bất bình đẳng ngày càng gia tăng vào danh sách.  Lạm phát giá lương thực đã tăng nhanh hơn nhiều so với lạm phát chung trong hàng thập kỷ qua. Theo báo cáo Giá Thực phẩm Canada năm nay, hóa đơn mua hàng bách hoá trung bình đã tăng 70% trong giai đoạn 2000 đến 2020, nhưng thu nhập trung bình lại không tăng theo kịp.  Giữa lúc này, các công ty đã đạt được lợi nhuận kỷ lục. Điều này cho thấy rằng họ nắm trong tay sức mạnh thị trường giúp cách ly mình khỏi những rủi ro bằng cách chuyển chúng sang người tiêu dùng.  ‘Sân chơi’ của những tập đoàn lớn  Canada là nơi có một trong những nước có hệ thống thực phẩm tập trung nhất trên thế giới: Cargill và JBS Foods giết mổ 95% gia súc Canada, trong khi Weston Bakeries và Canada Bread chiếm 80% thị trường bánh mì. Loblaws, Sobeys, Metro, Walmart và Costco đều nắm giữ khoảng 80% doanh thu thị trường bán lẻ.  Người tiêu dùng không phải là những người duy nhất gánh chịu hậu quả. Các tập đoàn liên tục tăng giá thực phẩm, trong khi lợi nhuận của nông dân vẫn trì trệ hoặc sụt giảm trong nhiều thập kỷ.  Sự tập trung doanh nghiệp có liên quan mật thiết đến quá trình công nghiệp hóa hệ thống thực phẩm. Công nghiệp hóa nông nghiệp hướng tới cơ giới hóa và chuyên môn hóa, nhằm tăng hiệu suất. Chính phủ các nước đã tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy lợi nhuận và sản lượng bằng cách tăng quy mô, dẫn đến số lượng trang trại ở Canada và Hoa Kỳ giảm mạnh từ giữa thế kỷ 20 đến nay.  Điều này góp phần khiến chuỗi cung ứng thực phẩm chỉ còn là ‘sân chơi’ của một số ông lớn. Thậm chí các công ty còn tích cực sáp nhập và mua lại những công ty khác như một chiến lược để mang lại giá trị cho cổ đông.  Quyền lực tập trung giúp các công ty nắm quyền ‘sinh sát’ trong tay. Đại dịch vừa qua đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung, và việc người lao động ngày càng biết cách thương lượng giá cả đã khiến các tập đoàn chuyển từ ép giá nhà cung cấp sang ép giá người tiêu dùng.  Sản xuất lương thực đa dạng hơn  Tuy vậy, giữa bức tranh xám xịt vẫn tồn tại một vài điểm sáng. Giá lương thực cao hơn đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường thực phẩm địa phương – một thị trường đa dạng.  Trong thời kỳ đại dịch, các hệ thống thực phẩm thay thế này đã chứng tỏ khả năng thích ứng với khủng hoảng theo cách mà các chuỗi cung ứng dài hơn, xa hơn và tập trung hơn của các thị trường công nghiệp hóa không làm được.  Những chương trình nông nghiệp do cộng đồng hỗ trợ, các trung tâm thực phẩm và các nền tảng phân phối trực tiếp hoặc trực tuyến giữa nông dân và người tiêu dùng vẫn hoạt động một cách sôi nổi, nhanh chóng.  Nếu sự tập trung thị trường tạo điều kiện cho các công ty tăng giá bán vì lợi ích của họ, thì về mặt logic, các thị trường phi tập trung, quy mô nhỏ hơn lại không làm được điều đó. Nói cách khác, các thị trường nhỏ hơn này sẽ không thể thu được lợi nhuận từ khủng hoảng như cách các thị trường công nghiệp hóa đã từng.  Để ngăn chặn những tập đoàn lớn khai thác các cuộc khủng hoảng như đại dịch, chiến tranh và biến đổi khí hậu vì lợi ích của riêng họ, chính phủ các nước sẽ cần phải đầu tư vào các giải pháp thay thế quy mô nhỏ hơn.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-food-giants-reap-enormous-profits.html    Author                .        
__label__tiasang Các tế bào miễn dịch bị khiếm khuyết có thể khiến con người già đi      Các tế bào T vốn có nhiệm vụ bảo vệ chúng ta khỏi những tác nhân gây bệnh, tuy nhiên, một nghiên cứu về chuột mới đây đã cho thấy các tế bào này cũng có thể đẩy nhanh tốc độ lão hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra, việc ngăn chặn tình trạng viêm sưng do các tế bào gây ra hoặc tăng cường cung cấp phân tử trao đổi chất chủ chốt sẽ làm một số triệu chứng lão hóa giảm bớt mức độ trầm trọng, qua đó cho thấy những phương pháp điều trị này có tiềm năng đem lại lợi ích cho người cao tuổi.      Những con chuột bình thường (bên trái) và những con chuột lão hóa do tế bào T bị tác động.  Khi tuổi của chúng ta ngày một lớn hơn thì các tế bào T trong cơ thể cũng ngày càng yếu kém hơn trong việc chống lại các tác nhân gây bệnh. Điều này giúp giải thích tại sao những người cao tuổi lại dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cũng như ít đáp ứng hơn với các loại vaccine.   Tuy nhiên, các tế bào T không chỉ cho thấy tình trạng lão hóa mà đồng thời còn có khả năng thúc đẩy quá trình ấy xảy ra nhanh hơn. Người già có chứng viêm mãn tính trên khắp cơ thể (được gọi là inflammaging), và các nhà nghiên cứu đã cho rằng tình trạng viêm ấy thúc đẩy sự lão hóa. Do các tế bào T giải phóng ra các phân tử kích thích tình trạng viêm nên chúng cũng có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa này.  Để kiểm định giả thuyết trên, nhà miễn dịch học María Mittelbrunn ở Viện nghiên cứu Sức khỏe thuộc Bệnh viện Đại học 12 tháng 10 cùng các đồng nghiệp đã “thử” vai trò của tế bào T bằng cách sửa đổi gene các con chuột để làm mất đi một protein trong các ty thể ở tế bào T. Sự thay đổi này khiến cho các tế bào phải chuyển sang một cơ chế trao đổi chất kém hiệu quả hơn để thu được năng lượng. Khi những con chuột bị sửa gene được 7 tháng tuổi, độ tuổi “thanh xuân” của loài động vật gặm nhấm thông thường, thì dường như chúng đã đang ở trong giai đoạn lẩn thẩn của tuổi già.Những con chuột đã bị biến đổi gene chậm chạp và uể oải hơn, các cơ yếu và co lại, đồng thời chúng cũng có ít khả năng hơn trong việc chống lại các nhiễm trùng và cũng mắc phải bệnh suy tim cũng như tình trạng bị giảm nhiều mỡ trong cơ thể.  Các nhà khoa học cũng kiểm tra xem liệu họ có thể làm chậm đồng hồ lão hóa lại hay không. Đầu tiên, họ cho các con chuột sử dụng một loại thuốc để ngăn chặn yếu tố hoại tử u alpha (TNF-alpha), một trong những phân tử gây viêm do các tế bào T giải phóng ra. Những con chuột thử nghiệm cũng được cho dùng thử một hỗn hợp để nâng mức nicotinamide adenine dinucleotide (NAD), một phân tử thiết yếu cho các phản ứng trao đổi chất và giúp các tế bào lấy năng lượng từ thức ăn. Nồng độ tế bào của NAD thường giảm theo tuổi tác, và các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, việc tăng nồng độ này ở chuột giúp các con vật hoạt động tích cực hơn đồng thời cũng giúp cho trái tim của chúng trở nên mạnh mẽ hơn.  Bà Mittelbrunn cho biết, “các thử nghiệm lâm sàng là một ý tưởng tốt” để xác định xem liệu việc nhắm đến TNF-alpha hoặc NAD có thể làm giảm một số hiệu ứng lão hóa hay không.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác cũng đã đặt ra câu hỏi về sự liên quan giữa các kết quả nghiên cứu đối với quá trình lão hóa thông thường. Nhà sinh vật học ty thể Navdeep Chandel ở trường Y khoa Feinberg thuộc Đại học Northwestern lưu ý rằng, các ty thể ở những con chuột biến đổi gene bị suy yếu nghiêm trọng hơn rất nhiều so với các ty thể ở nhiều người cao tuổi: “Với hầu hết chúng ta, tôi cá rằng các tế bào T của chúng ta đều ổn”.  Tuy nhiên, ông cho biết, các tế bào T với những ty thể bị hỏng hóc có thể góp phần gây lão hóa ở một số người bị già sớm và phát triển các bệnh liên quan đến tuổi tác khi họ còn khá trẻ. Cơ chế này có thể là một yếu tố ở “những người 70 hoặc 80 tuổi không khỏe mạnh”.  Nhà sinh vật học tế bào phân tử Judith Campisi ở Viện Nghiên cứu về Lão hóa Buck cũng đồng ý với điều này. Bà nhận định, nghiên cứu “đã thêm một tầng hiểu biết” về cách mà hệ thống miễn dịch thay đổi theo độ tuổi. Tuy nhiên, “nó bắt chước sự lão hóa tự nhiên giống đến mức độ nào thì tôi không rõ”, bà nói. □  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/05/defective-immune-cells-could-make-us-old    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thành phố khởi nghiệp tốt nhất châu Á      Gần đây Compass, một hãng nghiên cứu có trụ sở tại San Francisco, đã công bố báo cáo xếp loại top 20 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, dựa trên kinh nghiệm khởi nghiệp, số lượng các cuộc thoái vốn thành công, giá trị đầu tư mạo hiểm nhận được, tầm với thị trường, và nguồn nhân lực.  Dưới đây là các hub khởi nghiệp được xếp hạng cao nhất trong danh sách trên:        1. Singapore  Singapore được đánh giá là hệ sinh thái khởi nghiệp tốt nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hiện quốc gia này có khoảng 3.600 startup đang hoạt động, trong đó lĩnh vực phát triển nhất là thương mại điện tử, game và truyền thông xã hội. Khi Compass bắt đầu công bố danh sách này từ năm 2012, Singapore xếp thứ 17 trên toàn cầu, và hiện nay đã vươn tới vị trí thứ 10.  Từ lâu Singapore đã là một trung tâm kinh doanh phát triển và là nơi đặt trụ sở chính của nhiều công ty lớn của Mỹ như Google, Uber và Facebook. Nằm trên tuyến đường biển lớn giữa Ấn Độ và Trung Quốc, Singapore cũng có tiềm năng lớn để phát triển tầm với thị trường bởi gần một nửa (49%) khách hàng của các startup sở tại đang sinh sống tại nước ngoài.  Cũng cần nêu ra một điểm đáng lưu ý là Singapore có tỉ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất toàn cầu. Theo một nghiên cứu gần đây của Deloitte (một trong bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới), trong 10 người dân Singapore thì có tới chín người sử dụng smartphone. Thực tế này đã mang đến những cơ hội mới đầy hứa hẹn trong lĩnh vực thương mại điện tử.  2. Bangalore  Với 4.900 startup đang hoạt động và 2,3 tỉ giá trị đầu tư mạo hiểm, thành phố Bangalore của Ấn Độ là địa điểm kinh doanh tốt thứ hai ở châu Á.  Niềm tự hào của Bangalore là website thương mại điện tử Flipkart, công ty “unicorn” trị giá nhiều tỉ USD do Sachin và Binny Bansal thành lập năm 2007. Hiện nay, sau khi thu về 550 triệu USD trong vòng gọi vốn hồi tháng Năm vừa qua do Tiger Global Management thực hiện, giá trị định giá của Flipkart là 15 tỉ USD.  “Khác với Thung lũng Silicon, Bangalore có mật độ dân cư, kỹ sư, nhà đầu tư cao hơn, đồng thời sự đa dạng về văn hóa ở đây cũng khiến cho việc chia sẻ thông tin được thực hiện dễ dàng hơn so với các khu vực khác trong nước,” Dev Khare, giám đốc điều hành hãng đầu tư mạo hiểm Lightspeed Venture Partners tại Ấn Độ, cho biết.  Tỉ lệ thâm nhập internet cao của Bangalore cũng là một lợi thế. Theo Hiệp hội Internet và Di động Ấn Độ, tới năm 2017 ước tính Ấn Độ sẽ có khoảng 500 triệu người sử dụng internet.  Các startup đặc biệt phát triển ở khu vực Koramangala, nằm ở phía đông nam thành phố Bangalore. Ở đây hiện có một số vườn ươm khởi nghiệp và các không gian làm việc chung cho các startup mới.   Tuy vậy, giống như hầu hết mọi khu vực khác ở Ấn Độ, thành phố này cũng vẫn đang ở mức cực nghèo, dẫu nền văn hóa công nghệ ở đây đang hết sức phát triển. Hiện vẫn có khoảng 22% dân số Ấn Độ có thu nhập dưới 1,25USD/ngày.  3. Hong Kong  Nằm về phía đông nam Trung Quốc, Hong Kong là thành phố tiếp theo trong danh sách của Compass. Với khoảng 2.000 startup, sự gần gũi về địa lý với đại lục và sự hỗ trợ từ các vườn ươm khởi nghiệp lớn như Công viên Khoa học và Công nghệ Hong Kong và Cyberport (khu vực tập trung cộng đồng phát triển công nghệ thông tin sở hữu và quản lý bởi chính quyền Hong Kong)  đã mang lại một lợi thế cạnh tranh đáng kể cho các doanh nghiệp ở đây.  Hong Kong là một trung tâm tài chính quốc tế lớn với GDP chiếm khoảng 0,47% nền kinh tế toàn cầu nên số lượng các công ty công nghệ tài chính ở đây gia tăng đáng kể (tổng số khoảng 52 công ty tính tới năm 2015).   Giáo sư Richard Wong thuộc Trường Đại học Hong Kong, viết trong bản báo cáo của Compass: “ Trong lịch sử, Hong Kong đã và vẫn luôn thành công khi nắm bắt các cơ hội kinh doanh bằng cách thu hút nhân tài và các nguồn lực trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ.”   Theo lưu ý của các nhà phân tích, tuy Hong Kong dồi dào nguồn vốn song giới đầu tư vẫn rất thận trọng khi cân nhắc hỗ trợ cho các startup công nghệ bởi tính đến nay vẫn có tương đối ít các cuộc thoái vốn diễn ra trên thị trường này.   4. Kuala Lumpur  Thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia với dân số vẻn vẹn dưới hai triệu người là thành phố tiếp theo có tên trong danh sách của Compass. Dù nền kinh tế của thành phố này có thể nhỏ hơn so với các thành phố khác, chẳng hạn như Delhi, nhưng sự gần gũi về mặt địa lý với các thị trường Đông Nam Á rộng lớn đã khiến Kuala Lumpur trở thành một điểm hẹn khởi nghiệp hấp dẫn.  Kuala Lumpur cũng có một chính quyền đặc biệt ủng hộ khởi nghiệp. Chẳng hạn, vào năm 2013, thủ tướng Najib Razak của nước này đã lập nên MaGIC, một trong những quỹ tăng tốc khởi nghiệp lớn nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương.   GrabTaxi là một startup thành công ở đây. Hãng cung cấp dịch vụ đi nhờ xe này đã chính thức ra mắt tại Malaysia vào năm 2011 (và sau đó chuyển trụ sở chính sang Singapore). Hiện nay, GrabTaxi hoạt động trên sáu quốc gia với hơn 3,8 triệu người sử dụng và được định giá là 1,5 tỉ USD.  Hugh Batley, đối tác quản lý của hãng marketing số Lion & Lion tại Kuala Lumpur, viết trong bản báo cáo của Compass: “Malaysia là địa điểm thuận lợi để phát triển các doanh nghiệp có quy mô khu vực. Với các quy định và luật lệ ở đây, các doanh nghiệp dễ dàng tuyển dụng các nhân tài ngoại quốc tại Malaysia. Đặc biệt, sự ra đời của MSC Status1 mới đây đã cho phép các startup có thể tuyển dụng tới 20 nhân viên ngoại quốc.     Bùi Thu Trang lược dịch   Nguồn: http://www.inc.com/zoe-henry/top-4-cities-in-asia-to-start-a-business.html  ——–  1 MSC Status: là chứng chỉ thể hiện sự công nhận của chính phủ Malaysia dành cho các doanh nghiệp ICT tham gia phát triển hay sử dụng công nghệ đa phương tiện để sản xuất hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ của mình. Chứng chỉ này cũng là biểu tượng cho chất lượng dịch vụ ngang tầm quốc tế, đồng thời là tấm “vé vào cửa” để các doanh nghiệp được hưởng rất nhiều ưu đãi mà Chính phủ Malaysia dành cho cộng đồng doanh nghiệp.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thị trường mới nổi đang bị “thất sủng”      Quỹ IMF vừa đưa ra dự đoán, 2015 sẽ là năm thứ năm liên tiếp tăng trưởng kinh tế ở các thị trường mới nổi chậm lại.       Giống như quần áo và kiểu tóc, các thị trường mới nổi cũng có những giai đoạn thịnh hành và thoái trào trong mắt các nhà đầu tư. Sự vồ vập của giới đầu tư hồi cuối thập niên 1980 bị thay thế bằng những cuộc khủng hoảng cuối thập niên 1990. Trong thập niên đầu thế kỷ 21, các thị trường này lại trở nên nhộn nhịp, và cụm từ BRIC (viết tắt tên các quốc gia Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) ra đời. Khi các nền kinh tế của thế giới giàu có suy thoái trong năm 2008, các thị trường mới nổi dường như là niềm hy vọng tốt nhất cho tương lai.    Nhưng mấy năm trở lại đây, sức nóng của các thị trường này lại bắt đầu “giảm nhiệt”. Có thể hiểu được lý do tại sao giới đầu tư lại thay đổi thái độ của mình. Quỹ IMF vừa đưa ra dự đoán rằng 2015 sẽ là năm thứ năm liên tiếp sức tăng trưởng kinh tế ở các thị trường mới nổi chậm lại. Hai trong số năm quốc gia thuộc nhóm BRIC là Brazil và Nga đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Kinh tế Trung Quốc cũng đang chậm lại sau những bước phát triển mạnh mẽ trong các thập niên trước. Theo dự đoán của IMF, tính từ năm 2001, lợi thế của các thị trường mới nổi so với các quốc gia giàu có, xét về tỉ lệ tăng trưởng nhanh hơn, sẽ ở mức thấp nhất trong năm nay.  Ngày nay, người bi quan dễ tìm hơn người lạc quan. Andrew Haldane, nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Anh, cho rằng các thị trường mới nổi đang trở thành “làn sóng thứ ba” trong chuỗi các cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ giai đoạn 2007-2008 với các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ và được tiếp tục qua giai đoạn 2010-2012 trong khu vực tiền euro. Quan điểm về làn sóng thứ ba này cũng nhận được sự đồng tình trong một kết quả nghiên cứu mới đây do Goldman Sachs thực hiện.            Kết quả trưng cầu ý kiến các nhà quản lý quỹ đầu tư do Bank of America thực hiện mới đây cho thấy trong mắt các nhà đầu tư, hai rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới hiện nay là sự suy thoái của Trung Quốc và cuộc khủng hoảng nợ của các thị trường mới nổi.           Cội rễ vấn đề nằm ở chỗ, sự tăng trưởng chậm lại ở các thị trường mới nổi còn đi kèm với sự gia tăng của các khoản nợ công ty. Theo HSBC, ngoại trừ các khoản nợ tài chính, các công ty ở các thị trường mới nổi hiện đang có mức nợ trung bình chiếm 90% GDP; tại châu Á, các khoản nợ phi tài chính của các công ty đã tăng vọt từ mức 80% GDP năm 2009 lên tới 125% hiện nay. Tình trạng tăng trưởng kinh tế chậm chạp sẽ khiến việc thanh toán khối nợ này càng trở nên gian nan hơn, đồng thời sự suy yếu của các loại nội tệ cũng gây thêm khó khăn cho việc thanh toán phần của khoản nợ được tính bằng dollar (theo HSBC, phần nợ này chiếm dưới 1/3 tổng nợ). Kết quả trưng cầu ý kiến các nhà quản lý quỹ đầu tư do Bank of America thực hiện mới đây cho thấy trong mắt các nhà đầu tư, hai rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới hiện nay là sự suy thoái của Trung Quốc và cuộc khủng hoảng nợ của các thị trường mới nổi.    Lợi nhuận của các công ty không tăng trưởng nhanh nhóng như hy vọng của các nhà đầu tư. Theo tính toán của Goldman Sachs, kể từ năm 2010 tới nay, các công ty châu Á vẫn chưa đạt tới ngưỡng tăng trưởng doanh thu hai con số. John-Paul Smith, một lãnh đạo của công ty tư vấn Ecstrat, cho biết, nhìn chung hệ số ROE (tỉ số lợi nhuận trên vốn cổ phần) tại các công ty ở các thị trường mới nổi đã giảm hơn 7% kể từ cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua.    Ông Smith lo ngại rằng kinh tế tăng trưởng trì trệ sẽ khiến các chính phủ can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế, đưa ra các mức thuế suất cao hơn hay thực hiện các biện pháp khống chế giá cả nhiều hơn. Để chống đỡ trước sự chỉ trích trong và ngoài nước, các chính phủ cũng có thể quay sang đổ lỗi cho các nhà đầu cơ hoặc các công ty nước ngoài vì những rắc rối trong nước.    Ở chiều hướng ngược lại, tinh thần dân tộc chủ nghĩa như vậy sẽ khiến các nhà đầu tư kém tự tin hơn, làm giảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và đưa đến những cuộc tháo chạy vốn khỏi thị trường. Theo ông Smith, điều này sẽ “càng gây áp lực khiến nội tệ suy yếu hơn, qua đó càng làm giảm hơn nữa mức sống của các hộ gia đình và càng khuyến khích cho sự ra đời của những chính sách dân túy.”    Rõ ràng, thái độ bi quan này đã phần nào lan tới các nhà đầu tư. Trong cuộc điều tra nói trên của Bank of America, số lượng các quỹ đầu tư có cổ phần ở các thị trường mới nổi thấp dưới mức trung bình lên đến hơn 28% so với số lượng các quỹ có cổ phần cao hơn mức trung bình. Theo ước tính của công ty tư vấn Capital Economics, trong quý ba năm nay, hơn 260 tỉ USD đã di chuyển khỏi các thị trường mới nổi. Xét trên mặt con số, đây là mức tháo chạy vốn còn lớn hơn cả giai đoạn khủng hoảng 2008-2009.     Khi các tài sản tài chính đang hoạt động kém hiệu quả và giới đầu tư đang tranh nhau tháo chạy, các nhà đầu tư có quan điểm đi ngược trào lưu lại bắt đầu băn khoăn tự hỏi liệu đây có phải là thời điểm vàng để kiếm lời hay không. Thông thường, các thị trường mới nổi giao dịch cổ phiếu với giá trị thấp hơn so với các thị trường ở các quốc gia giàu có. Tuy nhiên, vẫn có những giai đoạn ngoại lệ khi các thị trường mới nổi “được lòng” giới đầu tư, đặc biệt là trong mùa thu năm 2010. Hiện tại, giá trị giao dịch của các thị trường này đang giảm nhưng mức giảm này không lớn như thời điểm cuối thập niên 1990. Và nếu các nhà đầu tư săn lùng “hàng giảm giá” còn chưa nhận thấy những dấu hiệu cải thiện trong các đặc tính kinh tế nền tảng thì việc họ khoanh tay đứng nhìn vẫn là điều dễ hiểu.  Trang Bùi dịch    Nguồn:  http://www.economist.com/news/business-and-finance/21676693-emerging-market-assets-may-fall-more-turning-chic-once-again-among-investors-emerging      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thiên thần và ác quỷ của Escher dự đoán cách vật chất biến dạng      Thật không ngờ là chính tác phẩm nghệ thuật độc đáo này của Escher đã mang lại nhiều giá trị khơi gợi cho khoa học khám phá.      Bức họa nổi tiếng nhất của họa sĩ Hà Lan M.C. Escher “Circle Limit IV (Thiên đường và địa ngục) cho thấy các thiên thần và ác quỷ được xếp sắp đầy chặt trong một vòng tròn không khoảng trống. Chính kiệt tác tranh khắc gỗ này đã truyền cảm hứng cho một nhóm nghiên cứu quốc tế, trong đó có các nhà nghiên cứu Khoa Vật lý trường đại học Politecnico di Milano, và góp phần đưa họ trở thành tác giả của một bài báo ra trang bìa của Physical Review Letters.  Các nhà nghiên cứu từ nhóm của giáo sư Paolo Biscari cùng với các đồng nghiệp của mình đã khám phá việc sắp xếp các thiên thần và ác quỷ trong bức tranh khắc gỗ có thể khiến người ta có thể dự đoán cách một nhóm tinh thể sẽ thay đổi hình dạng như thế nào trước sự tác động của ngoại lực.  Bức họa của Escher được liên kết với công trình mà các nhà toán học sống vào giữa thế kỷ 20 khám phá các đặc tính của các không gian hyperbolic: chủ thể của nghiên cứu chứng tỏ sự kết nối giữa các không gian với hiện tượng hàng ngày như sự biến dạng dẻo vĩnh viễn của vật chất.  Tác phẩm nghệ thuật đưa ra một cách tiếp cận mới với việc miêu tả về mặt toán học của bài toán hiện tượng biến dạng của vật liệu phức hợp.  Cách tiếp cận mới do các nhà nghiên cứu thảo luận biểu thị về việc các hình dạng của mạng tinh thể có thể được kết hợp với các điểm trong không gian hyperbolic. Trong suốt các quá trình biến dạng, vật liệu thay đổi về mặt toán học, ví dụ từ hình ảnh một thiên thần của Escher sang hình dạng của một thiên thần tiếp theo.  Tính dẻo của tinh thể là kết quả của những tương tác của những khuyết tật của mạng tinh thể dưới ảnh hưởng của các lực tác động vào.  Mô hình này chứng minh để trở thành một công cụ hữu dụng mới cho nghiên cứu và mô phỏng số của hiệu ứng dẻo ở cấp độ vi mô. Các lý thuyết thông thường không thể miêu tả một cách chính xác nhiều đặc tính như độ bền cơ học và những dao động không dự đoán được của chúng, vốn có thể sinh ra các hiện trạng lở.  Việc kiểm soát được những hiện tượng này sẽ mở ra nhiều nhánh mới về thiết kế và phát triển (do lý thuyết và mô phỏng dẫn dắt) các vật liệu mới để tối ưu các quá trình chế tạo ở cấp độ vi mô trong ngành công nghiệp.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-escher-angels-demons-woodcut-deforms.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thiết bị thu nhỏ theo dõi  lượng khí thải toàn cầu      Các thiết bị có kích thước nhỏ có thể giúp Liên minh châu Âu xác định các quốc gia có đạt được cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính hay không.      Dữ liệu do vệ tinh OCO-2 của NASA chứng tỏ mức CO2 trung bình trong bầu khí quyển hơn 5 tuần trong năm 2014. Nguồn: NASA/JPL-Caltech.  Các nhà nghiên cứu châu Âu đang phát triển một cảm biến thu nhỏ có thể đo được chính xác lượng khí thải CO2 từ các thành phố và các nhà máy điện. Khi đặt lên một một chùm các vệ tinh nhỏ, thiết bị này có thể giúp họ theo dõi những dao động về phát thải khí nhà kính hàng ngày. Các vệ tinh này, thuộc dự án Quan sát Carbon Không gian (SCARBO), dự kiến sẽ đi vào hoạt động cuối những năm 2020.  Dự án sẽ kéo dài trong vòng ba năm với tổng kinh phí đầu tư 3 triệu euro (3,5 triệu USD). Các nhà nghiên cứu hình dung, thiết bị này có thể đóng góp vào nỗ lực giám sát CO2 từ không gian, giống như nhóm vệ tinh quan sát Trái đất (các vệ tinh Sentinel thuộc dự án Copernicus) mới được Cơ quan Vũ trụ châu Âu đề xuất. Nếu được dự án được chấp thuận, các vệ tinh Sentinel cũng có thể kết nối trực tuyến vào cuối những năm 2020.  Loại cảm biến kích cỡ nhỏ mới này có thể là một phần trong dự án. “Chúng tôi muốn cải thiện độ chính xác trong theo dõi lượng phát thải CO2 của con người”, theo Laure Brooker Lizon-Tati, kỹ sư của Bộ phận Quốc phòng và không gian của Airbus tại Toulouse, Pháp. Cô hiện đang điều phối dự án Quan sát Carbon Không gian (SCARBO) do một nhóm gồm tám công ty và tổ chức nghiên cứu châu Âu phát triển. Các nhà khoa học đã thông báo những kết quả đầu tiên tại hội nghị quang học không gian ở Chania, Hy Lạp, vào ngày 10 và 11/10.  Một số vệ tinh hiện đang theo dõi lượng phát thải CO2 hiện nay gồm GOSAT của Nhật Bản, Orbiting Carbon Orbital-2 của Hoa Kỳ (OCO-2) và TanSat của Trung Quốc. Nhưng không vệ tinh nào trong số này được lắp đặt với mục tiêu rõ ràng là theo dõi việc tuân thủ các hiệp ước toàn cầu. Vì thế vào năm 2015, trước khi ký Thỏa thuận Paris nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính, Hội đồng châu Âu đã bắt đầu tìm hiểu cách phát triển các vệ tinh để đánh giá xem các quốc gia có tuân thủ các cam kết về khí hậu hay không.  Nhóm vệ tinh Sentinel được đề xuất có thể sẽ đo được chính xác lượng khí nhà kính trên toàn thế giới nhưng nó không thể thực hiện các phép đo hằng ngày ở các địa điểm đáng quan tâm, chẳng hạn như các thành phố. “Đây là điều mà một chùm các vệ tinh SCARBO nhỏ có thể thực hiện, Heinrich Bovensmann, một nhà nghiên cứu viễn thám tại Đại học Bremen, Đức, cho biết.  Các vệ tinh SCARBO chỉ nặng 50 kg mỗi chiếc, xấp xỉ 1/10 khối lượng của OCO-2 hoặc TanSat. Ước tính, khoảng 24 vệ tinh SCARBO làm việc cùng nhau có khả năng bao quát địa cầu mỗi tuần một lần và có thể bay qua các khu vực đáng quan tâm mỗi ngày một lần. Chúng có thể theo dõi những thay đổi thường xuyên về lượng phát thải carbon, chẳng hạn như các đợt tăng vào buổi sáng và buổi chiều từ một khu công nghiệp.  Nhưng trước tiên, các nhà khoa học xây dựng SCARBO phải chứng minh rằng kế hoạch của họ khả thi. “Trái tim” của SCARBO là một quang phổ kế kích thước nhỏ – không dài hơn một bàn tay – để phát hiện nồng độ CO2 trong tầng đối lưu. Việc lắp một quang phổ kế vào một vệ tinh nhỏ đòi hỏi phải thu nhỏ các thiết bị quang học và phát triển các phương pháp mới để phân tích nồng độ CO2. “Đó là một thách thức thực sự,” Bovensmann nói.  Mục tiêu của các nhà khoa học là đo nồng độ CO2  với độ chính xác lên đến 1 phần triệu ở độ phân giải 2 km – tương đương với dữ liệu do các vệ tinh lớn hơn hiện nay trong quỹ đạo thu thập. Etienne Le Coarer, trường Đại học Grenoble-Alpes ở Grenoble và hiện xây dựng thiết bị cùng với phòng thí nghiệm vũ trụ hàng không ONERA của Pháp tại Palaiseau, cho biết: “Chúng tôi muốn chứng minh công nghệ này có thể thực hiện được các phép đo này”.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06963-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thuật toán dự đoán chính xác chuyển động của các đội tuyển thể thao tới 80%      Các thuật toán do Phòng thí nghiệm Các hệ thông minh và Kiểm soát của đại học Cornell phát triển có thể dự đoán hành động trong thi đấu của các vận động viên bóng chuyền chính xác đến hơn 80%, và hiện tại phòng thí nghiệm này đang hợp tác với đội hockey Big Red để mở rộng những ứng dụng của  nghiên cứu này.      Các thuật toán này rất độc đáo trong cách chúng sử dụng một cách tiếp cận mang tính tổng thể để dự đoán hành động, kết hợp dữ liệu thị giác – ví dụ, nơi nào một vận động viên đứng trên sàn thi đấu – với thông tin ẩn như vai trò cụ thể của vận động viên đó trong đội tuyển.  “Thị giác máy tính có thể diễn dịch thông tin thị giác như màu sắc áo thi đấu và vị trí của một vận động viên hoặc tư thế cơ thể”, theo Silvia Ferrari, giáo sư Kỹ thuật cơ học và không gian John Brancaccio dẫn dắt nghiên cứu này. “Chúng tôi vẫn sử dụng thông tin theo thời gian thực nhưng tích hợp các biến ẩn như chiến lược của đội tuyển và các vai trò của vận động viên, những điều mà chúng tôi có thể suy luận ra bởi vì chúng tôi là những chuyên gia tại bối cảnh cụ thể này”.  Ferrari và các nghiên cứu sinh của mình là Junyi Dong và Qingze Huo đã huấn luyện các thuật toán suy luận được các biến ẩn theo cùng cách con người có thể đón nhận kiến thức về các môn thể thao – bằng việc xem các trận đấu. Các thuật toán sử dụng học máy để lọc dữ liệu từ các video bóng chuyền và sau đó sử dụng dữ liệu này để giúp tạo ra các dự đoán khi chứng kiến những trận đấu mới.  Các kết quả được nêu trong một bài báo xuất bản trên tạp chí ACM Transactions on Intelligent Systems and Technology, đã chứng tỏ các thuật toán có thể suy ra các vai trò của người chơi – ví dụ, phân biệt một người đóng vai trò phòng thủ trong một khối – với độ chính xác trung bình gần 85%, và có thể dự đoán nhiều hành động trên khắp một chuỗi gồm 44 trạng thái với độ chính xác trung bình hơn 80%. Các hành động này bao gồm tấn công, chuẩn bị tấn công, phòng thủ, giành bóng ở góc sân, chạy, đón chờ bóng, ngã, đứng và nhảy.  Ferrari mường tượng các đội tuyển sử dụng các thuật toán này để chuẩn bị tốt hơn cho các cuộc tranh tài thông qua việc huấn luyện chúng với những trận đấu của một đối thủ và sử dụng những năng lực dự đoán của chúng để đưa ra những kịch bản tập luyện và kịch bản trận đấu cụ thể.  Ferrari đã thu được một sáng chế và hiện đang làm việc với một đội tuyển hockey tên là Big Red để phát triển phần mềm này. Sử dụng tư liệu do đội này cung cấp, Ferrari và các nghiên cứu sinh của mình đang thiết kế một thuật toán có khả năng nhận diện tự động các cầu thủ, các hành động và các kịch bản trận đấu. Một mục tiêu của dự án là giúp chú giải cho các video trận đấu, vốn là một công việc tẻ nhạt thường do các thành viên của đội tuyển hockey thực hiện.  “Chương trình của chúng tôi đã đem lại một điểm nhấn lớn lên công nghệ phân tích video và dữ liệu”, Ben Russell, giám đốc điều hành của đội tuyển hockey nam Cornell, nói. “Chúng tôi hào hứng chờ đợi các cách có thể hỗ trợ như một thành viên ban huấn luyện để giúp các cầu thủ của chúng tôi thi đấu xuất sắc hơn. Tôi rất ấn tượng với nghiên cứu của giáo sư Ferrari và các học trò của cô đã thực hiện. Do đó tôi tin là dự án này có tiềm năng ảnh hưởng rất lớn đến cách các đội tuyển nghiên cứu và chuẩn bị cho các cuộc tranh tài”.  Vượt ra ngoài các môn thể thao, năng lực dự đoán các hành động của con người cũng có tiềm năng lớn với tương lao của các tương tác máy – người, theo nhận xét của Ferrari, người đã cải thiện phần mềm này để giúp các xe tự hành ra quyết định tốt hơn, đem các robot và người đến gần nhau hơn trong các ngôi nhà, và có thể thậm chí khiến các video trò chơi trở nên hấp dẫn hơn bằng việc tăng cường AI cho máy tính.  “Các thuật toán học máy đang ngày một có khả năng dự đoán hành động của con người”, Ferrari nói, “bởi vì nếu anh trên thực tế tính đến tất cả những vấn đề của bối cảnh, tất cả những manh mối về bối cảnh, và anh quan sát một nhóm người hoạt động, anh có thể có một dự đoán tốt hơn những gì họ sẽ làm”.  Tô Thanh Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.sciencetimes.com/articles/40340/20221006/artificial-intelligence-algorithms-predict-volleyball-players-game-actions-80-accuracy.htm  https://techxplore.com/news/2022-10-algorithms-sports-teams-accuracy.html    Author                .        
__label__tiasang Các tia laser khổng lồ nén ô xít sắt, tiết lộ bí mật của các ngoại hành tinh giống trái đất      Những tiên tiến trong quan sát thiên văn đã đem đến khám phá về một số lượng khác thường các ngoại hành tinh ngoài hệ mặt trời, một số trong đó được tin là có một thành phần đất đá tương tự trái đất. Việc nghiên cứu về cấu trúc bên trong của chúng có thể đem lại những manh mối quan trọng về tiềm năng có thể có sự sống của chúng.      Do Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Livermore (LLNL) dẫn dắt, một nhóm các nhà khoa học có mục tiêu khám phá một số bí mật đó thông qua việc hiểu về các đặc tính của ô xít sắc – một trong những hợp phần của lớp bao phủ trái đất – tại một mức áp suất và nhiệt độ cực đại như áp suất bên trong các ngoại hành tinh ngoài hệ mặt trời. Kết quả nghiên cứu từ thực nghiệm của họ đã được xuất bản trên Nature Geoscience “Implications of the ironoxide phase transition on the interiors of rocky exoplanets” (Những chỉ dấu về chuyển pha ô xít sắt ở trong lõi các ngoại hành tinh giống trái đất).  “Do giới hạn của các dữ liệu hiện có nên phần lớn các mô hình cấu trúc bên trong của các ngoại hành tinh đất đá được dự đoán là một phiên bản mở rộng của trái đất, bao gồm một lõi sắt, xung quanh là một lớp vỏ phần lớn là silicate và ô xít. Tuy nhiên cách tiếp cận này đã làm mất đi những đặc tính khác của những vật liệu thành phần có thể có tại mức áp suất vượt quá mức áp suất ở lõi trái đất”, Federica Coppari, một nhà vật lý tại LLNL và là tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Với con số không ngừng gia tăng của các ngoại hành tinh được xác nhận, bao gồm những ngoại hành tinh được tin là có bản chất tương tự trái đất, đã tới mức có được hiểu biết sâu hơn về cách các khối tự nhiên của những ngoại hành tinh này hành xử sâu bên trong nó”.  Sử dụng những tia laser khổng lồ tại Cơ sở Laser Omega thuộc trường đại học Rochester, các nhà nghiên cứu ép một mẫu ô xít sắt tới gần 7 megabars (Mbar – gấp 7 triệu lần áp suất khí quyển trên trái đất), những điều kiện được chờ đợi là tồn tại ở bên trong lõi các ngoại hành tinh giống trái đất có khối lượng gấp năm lần trái đất. Họ chiếu thêm các tia laser vào một tấm nền kim loại nhỏ để tạo ra một xung tia X ngắn, đủ sáng để giúp chúng bắt nhiễu xạ tia X của mẫu nén đó.    TS. Coppari  và đồng nghiệp. Nguồn: LLLP  “Thời gian chính xác tới hạn khi trạng thái áp suất đỉnh được giữ trong khoảng thời gian không dà hơn một phần tỉ giây”, Coppari nói. Bởi vì nhiễu xạ tia X phù hợp để đem lại một đo đạc khoảng cách giữa các nguyên tử và cách chúng sắp xếp vào một mạng tinh thể, nhóm nghiên cứu đã phát ra khi ô xít sắt được nén gần 3 Mbar – áp suất bên trong lõi trái đất – nó chuyển sang một pha khác, nơi các nguyên tử được “đóng gói” một cách đậm đặc hơn.  “Phát hiện ra cấu trúc ô xít sắt ở mức áp suất cao tại những điều kiện vượt quá những gì tồn tại bên trong trái đất là điều vô cùng thú vị bởi hình thức này được chờ đợi là có độ nhớt thấp hơn nhiều so với cấu trúc tin thể được tìm thấy trong những điều kiện xung quanh và trong lớp vỏ trái đất”, Coppari nói.  Kết họp dữ liệu mới với những đo đạc trước đó về ô xít từ, hợp phần quan trọng khác của các ngoại hành tinh tương tự trái đất, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình để hiểu cách chuyển pha trong ô xít sắt có thể ảnh hưởng đến khả năng của chúng để kết nối hai phần này với nhau. Nhờ vậy họ đã phát hiện ra lớp vỏ của các ngoại hành tinh giống trái đất có thể vô cùng khác biệt so với những gì đã dự báo, như có độ nhớt khác biệt, độ dẫn điện khác biệt và các đặc tính lưu biến.  “Những điều kiện cực đoan được chờ đợi bên trong các ngoại hành tinh lớn hơn trái đất thuận lợi cho việc xuất hiện một khoáng chất mới phức hợp, nơi vật liệu thành phần được hòa trộn (hoặc không), chảy và biến dạng theo một cách hoàn toàn khác lớp vỏ trái đất”, Coppari nói. “Việc hòa trộn không chỉ đóng vai trò hình thành và tiến hóa của hành tinh mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tĩnh lưu biến và độ dẫn, vốn cuối cùng liên quan đến khả năng xuất hiện sự sống”.  Nhìn về phía trước, nghiên cứu này được chờ đợi khuyến khích hơn nữa các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm để nhằm hiểu sâu hơn các đặc tính hỗn hợp của các vật liệu thành phần tại những điều kiện áp suất và nhiệt độ chưa từng thấy.    “Vẫn còn nhiều điều cần nghiên cứu nhiều hơn để hiểu về các vật liệu tại các điều kiện cực đoan và thậm chí để hiểu hơn về sự hình thành và tiến hóa của các hành tinh”, cô nói. “Thật sự kinh ngạc khi nghĩ rằng các thí nghiệm của chúng tôi có thể nhìn vào được cấu trúc bên trong của các hành tinh ở rất xa với độ phân giải chưa từng có và góp phần đem lại hiểu biết sâu sắc hơn về vũ trụ của chúng ta”.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-lab-team-giant-lasers-compress.html  https://www.nature.com/articles/s41561-020-00684-y       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các vaccine khác nhau như thế nào?      Hiện nay có hai hướng phát triển: Vaccine với virus vector và các vaccine mRNA mới. Mục tiêu của cả hai trường phái vaccine đều giống nhau: thông qua tiêm để đưa thông tin di truyền của mầm bệnh Sars-Cov-2 vào cơ thể. Qua đó cơ thể được chuẩn bị một cách tốt nhất để đối đầu với mầm bệnh corona một khi nó xuất hiện  – để sau đó tiêu diệt kẻ đột nhập.      Cho đến nay những doanh nghiệp nghiên cứu về vaccine-mRNA lại là những doanh nghiệp còn ít được biết đến: Biontech và Curevac của Đức, Moderna của Mỹ. Trong khi đó các vaccine vector lại do các tập đoàn danh tiếng làm ra như AstraZeneca của Anh và Thụy Điển và Johnson & Johnson của Mỹ. Vaccine của Nga Sputnik-V cũng dựa trên công nghệ vector.   Phần lớn giới y tế đều nhất trí rằng, cả công nghệ mRNA lẫn các vector đều có hiệu quả tốt trong phòng chống đại dịch. Tuy nhiên lợi thế đang ngả nhiều hơn một chút về phía mRNA.  Mục tiêu của cả hai trường phái vaccine đều giống nhau: thông qua tiêm để đưa thông tin di truyền của mầm bệnh Sars-Cov-2 vào cơ thể. Qua đó cơ thể được chuẩn bị một cách tốt nhất để đối đầu với mầm bệnh corona một khi nó xuất hiện  – để sau đó tiêu diệt kẻ đột nhập.   Các loại vaccine corona khác nhau như thế nào  Các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đang chạy đua để tìm ra loại vaccine hiệu quả nhất chống lại Covid-19. Tất cả các ứng cử viên vaccine đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản giống nhau: Hệ thống tự vệ của cơ thể được làm quen với các bộ phận của coronavirus (kháng nguyên) trên cơ sở đó các tế bào miễn dịch phát triển tạo phản ứng (kháng thể) qua đó hình thành khả năng miễn dịch đối với mầm bệnh.  Hiện nay có hai hướng phát triển vaccine Covid:  – Vaccine với virus vector.  – Các vaccine-mRNA mới.  Tạm phân loại như sau (tính đến ngày 11.5. 2021)  Vaccine-mRNA: là vaccine của các hãng Biontech/Pfizer và Moderna  Vaccine-mRNA chứa các phân đoạn của vật liệu di truyền của virus corona, cái gọi là thông tin-RNA (rút gọn mRNA). Một lượng rất nhỏ chất này được tiêm vào cơ thể người, tế bào cơ thể tiếp nhận chúng và giải mã thông tin di truyền mà chúng chứa đựng trong đó. Một thời gian ngắn sau chúng tạo ra cái gọi là Spike-Protein (protein gai – đặc trưng của virus corona). Nói một cách đơn giản nó báo cho hệ thống miễn dịch biết, có vật lạ thâm nhập vào cơ thể, cần loại bỏ chúng. Trên cơ sở đó, protein ở bề mặt hệ thống đề kháng của cơ thể tạo ra kháng thể, chúng giúp nhận biết sớm sự đột nhập của virus corona và chuẩn bị cho phản ứng miễn dịch.  Nghiên cứu cho thấy toàn bộ quá trình này vô hại đối với cơ thể con người. Các hạt vật chất di truyền được đưa vào cơ thể sẽ bị tế bào cơ thể phân hủy sớm. Chúng sẽ không được gắn kết với DNA của con người. Khi mRNA của vaccine đã được phân hủy xong sẽ không có sự tiếp tục hình thành kháng nguyên (antigen).  Chỉ trong vài tuần người ta có thể tạo ra một lượng rất lớn vaccine-mRNA. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay loại vaccine này đòi hỏi phải có nhiệt độ cực thấp khi vận chuyển và bảo quản từ (-20 đến -80 độ C). Do đó loại vaccine này chỉ có thể được sử dụng tại những trung tâm tiêm chủng thích hợp. Vaccine của Moderna có một ưu thế hơn hẳn, nó có thể sử dụng rộng rãi hơn nhiều – theo nhà sản xuất thì có thể bảo quản ở nhiệt động trong phòng trong 12 tiếng đồng hồ và ở nhiệt độ trong tủ lạnh (2 đến 8°C) trong 30 ngày.  Vaccine-vector: vaccine như của AstraZeneca và Johnson & Johnson  Với vaccine dựa trên nền tảng vector, những virus vô hại với người được sử dụng làm “phương tiện vận chuyển” sẽ xâm nhập vào tế bào chúng ta. Tiếp theo, tế bào này thể hiện protein gai trên bề mặt và hệ miễn dịch của chúng ta nhận thấy “mối nguy” – điều này kích hoạt hệ miễn dịch bắt đầu sản sinh kháng thể và kích hoạt các tế bào miễn dịch khác chiến đấu với bệnh truyền nhiễm. Về nguyên tắc thì các vaccine có cơ chế giống nhau:  tại đây các tế bào của con người cũng tạo ra các bộ phận của Spike-Protein của virus corona, để hệ thống miễn dịch “nhận biết” nó phải tấn công ai.   Trước đây đã có các loại vaccine vector được phê duyệt (như các loại vaccine-ebola). Các loại vaccine corona của các hãng  AstraZeneca và Johnson & Johnson (J&J) là vaccine-vector. Những loại vaccine này so với vaccine-mRNA có lợi thế ở chỗ có thể vận chuyển và bảo quản ở nhiệt độ từ 2 đến 8 độ C. Do đó việc sử dụng chúng trong điều kiện thông thường cũng phù hợp hơn nhiều. Vaccine của J&J còn có một ưu thế nữa, chỉ cần tiêm chủng một lần. Các loại vaccine khác hiện nay phải tiêm chủng hai lần.  Kinh nghiệm đối với Ebola   Trước khi có corona người ta đã có kinh nghiệm với công nghệ vaccine-vector. Vaccine chống bệnh Ebola được sản xuất dựa trên công nghệ này. Trong khi đó vaccine-mRNA hầu như chưa được biết đến. Người ta bắt đầu nghiên cứu đối với công nghệ này từ cuối những năm 1990, trong đó có chuyên gia sinh hóa người Hung là Katalin Kariko, bà hiện làm việc tại Biontech và nghiên cứu tại Mỹ. Phải mất nhiều thập niên sản phẩm mới chín muồi. Ngoài các vaccine corona của Biontech và Moderna cho đến nay trên thị trường chưa hề có vaccine – mRNA nào khác. Do đó cũng vẫn còn thiếu các nghiên cứu dài hơi với công nghệ vaccine này.     Ngược lại vaccine-vector được nghiên cứu kỹ hơn nhiều, tuy nhiên nó cũng có điều bất lợi: với những người trước đây đã tiếp xúc với virus mang mầm bệnh thông qua một lây nhiễm khác và những người đã có phản ứng miễn dịch, tác dụng của tiêm chủng có thể bị suy giảm.  Tác động phụ: Huyết khối trong tĩnh mạch não  Gần đây xuất hiện một vài trường hợp huyết khối trong tĩnh mạch não và thiếu tiểu cầu do tiêm chủng vaccine-vector của AstraZeneca và  Johnson & Johnson. Và cũng có một số trường hợp tử vong dù tỉ lệ rất nhỏ (một vài trường hợp trên một triệu liều tiêm – ND).  Mới đây các nhà nghiên cứu Đại học Oxford đã phát hiện số vụ bị huyết khối trong tĩnh mạch não ở vaccine-mRNA cũng tương tự như đối với vaccine-vector, khoảng bốn đến năm trường hợp trong một triệu người tiêm chủng lần đầu. Cho đến nay chưa phát hiện tình trạng thiếu tiểu cầu (Thrombozytopenie) khi tiêm chủng với vaccine-mRNA.   Các nhà nghiên cứu cho rằng công nghệ mRNA có nhiều triển vọng trong tương lai, không chỉ đối với các bệnh lây nhiễm hiện nay mà còn với nhiều loại bệnh khác. Thí dụ Biontech đang thử nghiệm vaccine chống ung thư trên nền tảng mRNA.   Nhiều nhà khoa học cho rằng họ sẽ không ngạc nhiên khi 30 năm nữa xuất hiện các loại thuốc chữa bệnh và vaccine trên nền tảng mRNA để chữa trị nhiều loại bệnh khác nhau.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/industrie/coronapandemie-wie-sich-die-impfstoffe-unterscheiden/27103590.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các vaccine nhắm đích ung thư loại trừ khối u và ngăn ngừa tái phát ở chuột      Các nhà khoa học trên khắp thế giới đã dành nhiều năm nghiên cứu để phát triển các vaccine có thể chống lại nhiều dạng ung thư khác nhau nhưng không thành công. Hiện tại các nhà nghiên cứu trường Kỹ thuật Tufts cho là họ đã tìm được một loại vaccine có thể dẫn đến thành công. Họ đã tìm ra một phương pháp hướng đích ung thư trên chuột với một vaccine rất mạnh và chính xác. Nó có thể loại trừ được các khối u và thậm chí là loại trừ được sự tái diễn của nó.    Ba tế bào T (đỏ) tấn công một tế bào ung thư (xanh lam). Nguồn: Alex Ritter, Viện Sức khỏe Mỹ  Vaccine chống ung thư này hoạt động tương tự như cách vaccine phòng COVID của Pfizer và Moderna trong việc phân phối mRNA trong những bong bóng lipid tí hon (các phân tử mỡ), sau đó kích hoạt các tế bào trong cơ chể, cho phép nó “đọc” mRNA và tạo ra các kháng thể virus, các mảnh nhỏ của virus khởi động hệ miễn dịch.  Vaccine của họ cũng phân phối mRNA trong các bong bóng tí hon nhưng mRNA mã hóa các kháng thể tìm thấy trong các tế bào ung thư và các bong bóng, hay gọi là các hạt nano lipid, có thể là điểm gốc trong hệ bạch huyết – nơi các tế bào miễn dịch đã ‘tập dượt’ – vì vậy rất nhiều tiềm năng phản hồi.  “Những gì chúng tôi đang làm hiện tại là phát triển một thế hệ vaccine mRNA mới sử dụng công nghệ phân phối các hạt nano lipid với năng lực hướng đích đến các nội quan và mô cụ thể”, Qiaobing Xu, một giáo sư kỹ thuật y sinh của trường nói. “Việc hướng đích đến hệ bạch huyết giúp chúng tôi vượt qua nhiều thách thức trong phát triển một vaccine ung thư”.  Nghiên cứu này mới được xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences “Lipid nanoparticle-mediated lymph node–targeting delivery of mRNA cancer vaccine elicits robust CD8 + T cell response”.  Hơn 20 loại vaccine mRNA đã được đưa vào các đợt thử nghiệm lâm sàng nhưng , nhưng thông thường nhiều vaccine mRNA hướng đến gan hơn là hệ bạch huyết. Trong khi các kháng thể được tạo ra trong gan có thể vẫn kích thích phản hồi miễn dịch nhưng vẫn có nguy cơ rủi ro về khả năng viêm gan. Phản hồi này có thể hiệu quả hơn và có tác dụng dài hạn hơn nếu nhiều loại vaccine hướng trực tiếp đến phản hồi của hệ bạch huyết, nơi các tế bào T và B cũng như các tế bào khác của hệ miễn dịch đều tập trung và học được cách chiến đấu lại với những “vị khách” không mời.  Xu và cộng sự trước đây đã thiết kế các hạt nano lipid (LNPs) để hướng các gói chỉnh sửa gene tới  não và gan cũng như liệu pháp gene để đảo ngược một điều kiện di truyền trong một mô hình chuột. Ban đầu, họ hướng đích bằng việc thay đổi cấu trúc hóa học của các lipid tạo thành các bong bóng cũng như các thành phần thêm vào khác cho đến khi các nhà nghiên cứu tìm ra một phương pháp kết hợp thích hợp hơn để tới một cơ quan họ quan tâm. Trong trường hợp này, họ đã tìm thấy một LNP tập trung trong các nút bạch huyết sau khi được tiêm vào dưới da chuột. Các nhà nghiên cứu cho là các LNP sẽ thu thập các phân tử từ mạch máu trên bề mặt chúng và lựa chọn các phân tử kết hợp với những thụ thể cụ thể trong cơ quan mà họ hướng đến.  Các LNP hiện tại được sử dụng trong vaccine COVID-19 của Pfizer được thấy là có lợi trong việc phân phối đến gan hơn là hệ bạch huyết với tỉ lệ bốn trên một. Nhóm nghiên cứu ở Tufts đã đảo ngược sự lựa chọn nào với LNP mới của mình là phân phối đến hệ bạch huyết với tỉ lệ ba trên một so với gan.  Hệ bạch huyết, gồm các hạch bạch huyết quen thuộc thường sưng lên mỗi khi cơ thể bị nhiễm bệnh, là đích đến quan trọng với các loại vaccine, bởi vì đó là nơi sự miễn dịch chống lại kháng nguyên bên ngoài hoặc trong trường hợp này là một kháng nguyên ung thư. Nếu coi cơ thể là một chiến trường – chống lại các virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và khối u – còn tế bào B và T là những người lính thì các hạch bạch huyến là những trại lính nơi tế bào B và T rèn quân để chiến đấu hiệu quả hơn với kẻ thù.  Giáo sư Qiaobing Xu. Nguồn: Tufts  Một yếu tố quan trọng của quá trình huấn luyện là sự tham gia của các tế bào đuôi gai và đại thực bào – những “thị vệ khoan” của hệ miễn dịch có nhiệm vụ giới thiệu các kháng nguyên đến các tế bào T và B để sau đó giúp kích hoạt chúng.  Với vaccine hướng đến các hạch bạch huyết, các nhà nghiên cứu ở Tufts khám phá ra vaccine ung thư hấp thụ khoảng phần ba tế bào đuôi gai và đại thực bào. Con số này cao hơn đáng kể so với vaccine thông thường và nhiều “thị vệ khoan” hơn, điều đó có nghĩa là “lính” tế bào B và T được huấn luyện nhiều hơn và phản ứng mạnh hơn để chống lại các khối u mang cùng một kháng nguyên được tìm thấy trong vaccine.  Đó chính xác là những gì các nhà nghiên cứu tìm thấy. Chuột mang khối u ác tính di căn được điều trị với vaccine hướng đích bạch huyết cho thấy khả năng ức chế đáng kể các khối u và tỉ lệ phản hồi hoàn toàn là 40% – không còn khối u – không tái phát trong dài hạn khi kết hợp liệu pháp hiện hành, có thể giúp ngăn ngừa các tế bào ung thư mà không làm nhiễu một phản hồi miễn dịch.  Tất cả các con chuột được thử nghiệm lâm sàng đều thuyên giảm hoàn toàn và không tái phát bất kỳ khối u nào, ngay cả khi được đưa vào cơ thể các tế bào ung thư ác tính. Nó cho thấy loại vaccine ung thư này có thể dẫn đến một khả năng ghi nhớ miễn dịch xuất sắc.  “Các vaccine ung thư luôn luôn là một thách thức bởi vì các kháng thể ung thư không phải lúc nào cũng ‘xa lạ’ như các kháng nguyên virus và vi khuẩn. Các khối u có thể cản trở hành động phản hồi miễn dịch”, Jinjin Chen, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại trường đại học Tufts tham gia nhóm nghiên cứu của Qiaobing Xu nhận xét. “Vaccine ung thư này khơi gợi được phản hồi miễn dịch mạnh hơn và có năng lực mang mRNA cả khoáng nguyên lớn và nhỏ. Chúng tôi hi vọng là nó sẽ trở thành một nền tảng chung không chỉ cho các vaccine ung thư mà còn cho các loại vaccine hiệu quả hơn để chống lại các viruse và những mầm bệnh khác”.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-08-cancer-vaccines-tumors-recurrence-mice.html  https://www.news-medical.net/news/20220816/Next-generation-mRNA-vaccines-exhibit-excellent-protective-and-therapeutic-effects.aspx  ———————————  1.https://www.pnas.org/doi/full/10.1073/pnas.2207841119    Author                .        
__label__tiasang Các vật liệu mới chứa magnesium chuyển nhiệt thành điện hiệu quả hơn      Cú hạ cánh của xe tự hành Perseverance (Sự kiên nhẫn) của NASA là một bước nhảy vọt không chỉ cho khám phá không gian mà còn cho công nghệ cung cấp năng lượng để con tàu thực hiện nhiệm vụ kéo dài nhiều năm trên sao Hỏa – một máy phát nhiệt điện có chức năng chuyển nhiệt thành điện.      Tìm kiếm bước nhảy vọt tiếp theo trong các công nghệ nhiệt điện, các nhà nghiên cứu tại trường đại học Duke và Michigan đã có thêm hiểu biết cơ bản và sâu sắc mới về các vật liệu chứa magie (Mg3Sb2 và Mg3Bi2) có tiềm năng tạo ra những hiệu suất vượt trội trước các thiết kế nhiệt điện thân thiện hơn với môi trường và cũng ít đắt đỏ hơn. Trái ngược với hiểu biết phổ biến về việc sử dụng các nguyên tố nặng, các nhà nghiên cứu đã cho thấy việc thay thế các nguyên tử của các nguyên tố nặng hơn như calcium, ytterbium với các nguyên tử magnesium nhẹ hơn có thể dẫn đến khả năng tăng gấp ba hiệu suất của các vật liệu chứa magnesium.  Trong nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Science Advances, nhóm nghiên cứu này đã sử dụng các thực nghiệm về neutron và tán xạ tia X tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (ORNL) và Argonne của Bộ Năng lượng Mĩ (DOE), cũng như các mô phỏng trên hệ siêu máy tính tại Trung tâm Máy tính khoa học năng lượng quốc gia (NERSC)1. Việc tìm hiểu các nguyên tố tại mức độ nguyên tử đã cho thấy nguồn gốc và cơ chế đằng sau năng lực của vật liệu để chuyển đổi năng lượng nhiệt tại nhiệt độ phòng thành điện năng. Phát hiện này chỉ dấu những con đường có thể để cải thiện những ứng dụng nhiệt điện học như ứng dụng trên xe tự hành Perseverance và  vô số những thiết bị khác cũng như những công nghệ tạo ra năng lượng khác.  Các vật liệu nhiệt điện về bản chất tạo ra một điện áp từ một dự khác biệt về nhiệt độ giữa các khía cạnh nóng và lạnh cua vật liệu. Băng việc chuyển đổi năng lượng nhiệt thành điện năng, hoặc ngược lại, các thiết bị nhiệt điện có thể được sử dụng để làm lạnh hoặc tạo ra điện từ nhiệt dư.  “Các vật liệu nhiệt điện truyền thống phụ thuộc vào các nguyên tố nặng như chì, bismuth, và tellurium – các nguyên tố không hề thân thiện với môi trường, chúng lại không có nhiều nên có xu hướng trở nên đắt đỏ”, Olivier Delaire, phó giáo sư tại Duke, nói. “Nói cách khác thì magnesium nhẹ hơn và nhiều hơn, điều này khiến nó trở thành một vật liệu lý tưởng cho vận tải, các ứng dụng trên tàu vũ trụ…”.  Delaire giải thích thêm, vật liệu nhẹ hơn không phù hợp lắm với các thiết kế nhiệt điện bởi tính dẫn nhiệt của chúng quá cao, điều đó có nghĩa chúng truyền nhiệt quá nhiều để đảm bảo cho sự khác biệt về nhiệt độ, qua đó tạo ra điện áp. Các nguyên tố nặng hơn nhìn chung hấp dẫn hơn bởi vì chúng truyền ít nhiệt hơn, cho phép chúng bảo tồn và chuyển đổi nhiệt điện hiệu quả hơn.  “Các vật liệu chứa magnesium có mức dẫn nhiệt điện thấp hơn đáng kể, bất chấp có mật độ khối lượng thấp. Những đặc tính đó có thể có tiềm năng mở ra cánh cửa mới cho thiết kế các dạng mới của nhiệt điện không phụ thuộc vào vật liệu nặng với nhiều nguyên tố độc hại”, Delaire giải thích.  Vật liệu chứa magnesium mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu thuộc về một lớp kim loại lớn gọi là Zintls. Cấu trúc nguyên tử, hoặc việc sắp xếp các nguyên tử, trong các hợp chất Zintl rất phù hợp cho thực nghiệm với những nguyên tố khác biệt thay thế trong vật liệu – ví dụ, thay thế một nguyên tố nặng với một nguyên tố nhẹ để đạt được mức tối ưu hiệu suất và chức năng.  “Trong nghiên cứu hóa học, khám phá những điều có thể với những vật liệu mới thường bao hàm việc thay thế một nguyên tố bằng một nguyên tố khác chỉ để xem điều gì sẽ xảy ra. Thông thường chúng tôi thay thế chúng với những nguyên tố tương đồng về mặt hóa học trong bảng tuần hoàn, và một trong những bước tiến lớn là sử dụng Zintls theo cách chúng tôi có thể thực hiện với nhiều nguyên tố khác biệt và những kết hợp khác biệt”, Jingxuan Ding, tác giả thứ nhất của nghiên cứu và là một nghiên cứu sinh trong nhóm của Delaire tại Duke, nói. “Không ai chờ đợi magnesium trở thành một hợp chất tốt hơn nhưng khi nhóm hợp tác của chúng tôi tại Michigan thay thế nó trong các thành phần của vật liệu này, chúng tôi đã rất ngạc nhiên thấy trong trường hợp này là như vậy, vì vậy bước tiếp theo là lý giải tại sao nó lại được như thế”.  Các nguyên tử trong vật liệu này không ở trạng thái tĩnh hoặc không chuyển động; chúng dao động với những biên độ tăng lên cùng nhiệt độ cao. Các dao động thu thập được tạo một hiệu ứng gợn sóng, vốn được gọi là một phonon, trông giống như một loạt các làn sóng trên bề mặt một bể bơi. Các con sóng đó là nhiệt truyền qua một vật liệu, nó giải thích tại sao việc đo đạc các dao động phonon lại trở nên quan trọng để xác định độ dẫn nhiệt của một vật liệu.  Các neutron phù hợp để nghiên cứu về hiện tượng lượng tử như các  phonon bởi vì các neutron không mang điện tích và có thể tương tác với hạt nhân. Delaire thích các tương tác neutron, hoạt động như kiểu vuốt một sợi dây đàn guitar, để truyền năng lượng tới các nguyên tử, kích thích các dao động và gợi ra những thông tin ẩn về các hạt nhân bên trong một vật liệu.    Phòng thí nghiệm ORNL. Nguồn: ORNL  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một máy quang phổ ngắt góc rộng ARCS tại Nguồn Neutron SNS ở Phòng thí nghiệm ORNL để đo đạc các dao động phonon. Dữ liệu họ thu được cho phép họ truy dấu độ dẫn nhiệt thấp phù hợp của vật liệu tới một liên kết magnesium đặc biệt có khả năng làm gián đoạn sự lan truyền của các sóng phonon qua vật liệu bằng việc cho chúng giao thoa với nhau.  “Các neutron là một trong những cách tốt nhất để đo đạc các dao động nguyên tử như dao động trong những vật liệu mà chúng tôi đang nghiên cứu”, Ding nói. “ARCS có thể dò được một phạm vi rộng các tần số và bước sóng có thể giúp chúng tôi đo đạc được các sóng phonon tìm thấy trong vật liệu, chính xác là những gì chúng tôi cần để hiểu rõ hơn về cách các vật liệu có độ dẫn nhiệt thấp hoạt động như thế nào”.  Các đo đạc tán xạ neutron cung cấp cho nhóm nghiên cứu một cuộc điều tra rộng về nội động lực của các vật liệu Zintl magnesium, giúp hướng dẫn và tinh chỉnh lại các mô phỏng máy tính cũng như các thực nghiệm tia X tiếp theo do Ding thực hiện. Các thông tin này góp phần đem lại một hiểu biết hoàn chỉnh về nguồn gốc của tính dẫn nhiệt của vật liệu này.  Các thực nghiệm tia X tại Nguồn Photon tiên tiến của Argonne (APS) được sử dụng để nhìn vào các chế độ phonon cụ thể trong các mẫu tinh thể quá nhỏ để cho các phép đo đạc bằng neutron. Cả hai phép đo neutron và tia X đều tương đồng kết quả với các mô phỏng trên siêu máy tính của NERSC.  “Nhiệt điện là yếu tố thiết yếu trong các ứng dụng như xe Perseverance Mars, vốn đòi hỏi những thiết kế đơn giản hơn, nhẹ hơn và tin cậy hơn thay vì những thiết kế cồng kềnh và phức tạp vẫn được dùng để tạo ra điện từ nhiệt”, Delaire nói. “Các vật liệu chứa magnesium là một bước tiến lớn trong lĩnh vực mà có thể đưa ra những hiệu suất điện năng đáng kể hơn và nhiều tiềm năng cho những ứng dụng nhiệt điện tiên tiến”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://neutrons.ornl.gov/content/buzz-about-thermoelectrics-heats-promising-new-magnesium-based-materials  https://phys.org/news/2021-07-thermoelectrics-magnesium-based-materials.html  https://floridanewstimes.com/the-topic-of-thermoelectric-heats-up-with-promising-new-magnesium-based-materials/310742/  ——–  1. https://advances.sciencemag.org/content/7/21/eabg1449    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các vật liệu trở thành “nàng thơ” âm nhạc      Một nhà vật lý đã dùng âm nhạc để khám phá những bộ dữ liệu của các tính năng vật liệu và ngược lại, dùng dữ liệu của các vật liệu để truyền cảm hứng tạo ra các tác phẩm âm nhạc.      Marco Buongiorno Nardelli chơi sáo ở nhiều câu lạc bộ âm nhạc. Nguồn: Society of Composers, Inc.  Trong nhiều năm, Marco Buongiorno Nardelli sống một cuộc đời “hai mặt”. Cả ngày, anh là một nhà vật lý, tính toán những đặc tính của các phân tử và vật liệu hoặc tối ưu các thiết kế những thiết bị nano cho chuyển đổi năng lượng. Về đêm, anh trở về với âm nhạc, thường cùng ngồi các nhạc sỹ khác trong những câu lạc bộ nhạc jazz mù mịt khói thuốc lá hoặc “trộn” các âm thanh điện tử với tiếng động đường phố của các thành phố Ấn Độ. Ngày nay, cả hai khuôn mặt cuộc đời này của anh đã nhập thành “MaterialsSoundMusic” – một dự án dùng âm nhạc để khám phá dữ liệu vật liệu và lần lượt dữ liệu truyền cảm hứng sáng tác các tác phẩm âm nhạc.    Dự án “MaterialsSoundMusic” đã tạo ra âm nhạc từ dữ liệu thông qua một thuật toán trí tuệ nhân tạo có khả năng lập bản đồ năng lượng của vật liệu để tập hợp chúng vào 88 phím của cây đàn piano. Nguồn: physics.aps.org  Buongiorno Nardelli, giáo sư vật lý trường đại học North Texas (UNT), nhận dự án vào thời điểm Sáng kiến hệ gene vật liệu – dự án được Nhà Trắng mở năm 2011 để thúc đẩy khám phá về các vật liệu mới. Là một phần của sáng kiến này, anhđã tham gia vào việc phát triển AFLOWLIB – một cơ sở dữ liệu online để lập danh mục các đặc tính của hàng triệu vật liệu tồn tại trên lý thuyết. Các nhà nghiên cứu trên thế giới có thể truy cập tự do vào cơ sở dữ liệu này để tìm một loại vật liệu siêu dẫn, kim loại, hay gốm phù hợp nhất với những ứng dụng họ cần.  Trong quá trình phát triển cơ sở dữ liệu này, Buongiorno Nardelli đã cân nhắc hai câu hỏi: Thứ nhất có thể chọn lọc thông qua lượng dữ liệu lớn của AFLOWLIB. Vậy các đặc tính của một vật liệu có thể được tái hiện để các nhà nghiên cứu có thể nhanh chóng đón nhận và đánh giá chúng? Vấn đề thứ hai là thách thức vượt xa hơn pham vi đó. Các vật liệu không quá quyến rũ như các vụ sáp nhập lỗ đen hay “hạt của Chúa”. Vậy có thể làm gì để các đặc tính eletron hay mạng tinh thể hấp dẫn được sự tưởng tượng của công chúng? Với Buongiorno Nardelli, người đã chơi nhạc và sáng tác âm nhạc từ khi lên 6, câu trả lời rõ ràng là cả hai vấn đề đều là “đụng chạm” đến âm thanh.  Đầu tiên, anh phải trao cho các vật liệu một “giọng nói”. Vì vậy ông đã làm điều đó bằng dữ liệu “sonification” – một cách sử dụng âm thanh không lời để truyền tải thông tin hoặc nhận biết dữ liệu. Thay vì chấm thành các điểm trên biểu đồ, sonification truyền dữ liệu đến tai chúng ta. Ý tưởng này không phải là mới – nó được gợi ý từ bộ đếm Geiger-Müller, một thiết bị giúp phát hiện tia gamma, hạt alpha, hạt beta và các dạng khác của bức xạ ion hóa – gần đây được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ vật lý thiên văn đến khoa học khí hậu. Tuy nhiên các nghiên cứu về vật liệu thì chưa từng “đụng” đến nó.  Để truyền âm thanh vật liệu, Buongiorno Nardelli viết các thuật toán có khả năng lựa chọn các tín hiệu từ các bộ dữ liệu của cấu trúc vùng năng lượng và mật độ của các trạng thái điện tử – hai tính chất xác định cách các eletron chuyển động trong một vật liệu như thế nào. Một trong những thuật toán đó đã vẽ ra bản đồ năng lượng giữa mức −15 và +5 eV vào 88 phím đàn piano rồi ấn định một biên độ cho từng nốt nhạc trên cơ sở mật độ của các trạng thái tại mức năng lượng tương ứng.   Các ví dụ truyền dẫn âm thanh của các vật liệu từ cơ sở dữ liệu AFLOWLIB, như silicon, carbon, germanium, hay thiếc đều có trên trang web của anh. Khi nghe, người ta có thể thấy các vật liệu này không tạo ra âm thanh đẹp như những tổ khúc cello hay hấp dẫn như các khúc nhạc pop mà chỉ là những kết hợp của âm thanh nghịch tai, như cú nhún của mèo lên phím đàn. Dẫu vậy, mỗi vật liệu đều “hát” lên một hợp âm độc nhất vô nhị và có thể nhận biết được chúng. Mỗi vật liệu như silicon và germanium – những loại có mật độ trạng thái điện tử có vẻ tương tự nhau khi được vẽ ra trên một biểu đồ nhưng lại tạo ra những hợp âm có thể dễ dàng phân biệt, ngay cả với những người không am hiểu về âm nhạc.  Vật điều này có thể giúp các nhà khoa học dễ dàng tìm ra loại họ muốn trong các cơ sở dữ liệu về vật liệu? Còn quá sớm để nói ra điều này, Buongiorno Nardelli nói. Những ngày này anh đang thực hiện các thử nghiệm, trong đó anh hỏi những người tham gia chọn các vật liệu tương tự nhau trong một nhóm lựa chọn, hoặc dựa vào mật độ trạng thái trên các sơ đồ hoặc âm thanh được  tạo ra từ các thuật toán của anh. Kết quả ban đầu thật đáng khích lệ: các thử nghiệm âm thanh và thị giác đều chính xác. “Nhưng cách truyền dẫn âm thanh vẫn mới chỉ ở giai đoạn đầu và cần rất nhiều công sức để trau dồi người tham gia và tinh lọc các công cụ của chúng tôi”, anh nhận xét. Công việc mang tính nền tảng này có thể dẫn đến những cơ sở dữ liệu để các nhà khoa học có thể tìm thấy những vật liệu cần thiết với những tính chất tương tự nhau theo cùng một cách mà những người dùng các nền tảng âm nhạc trực tuyến như Spotify hay Pandora vẫn dùng để tìm ra các bài hát với chất lượng tương tự.    Ý tưởng thiết kế của một công trình 3 D, trong đó các khán giả có thể đi quanh các hạt nhân của một tinh thể khổng lồ trong khi nghe âm nhạc được sinh ra từ các đặc tính âm thanh của cùng một loại vật liệu. Nguồn: physics.aps.org  Sự tiện ích về khoa học không phải là mục tiêu duy nhất của Buongiorno Nardelli: anh còn có mục tiêu truyền cảm hứng sáng tác âm nhạc từ việc khai thác dữ liệu vật liệu. Trong một số sáng tác gần đây của mình, anh đã vẽ ra các âm thanh vật liệu vào các thang độ âm thanh khác nhau, ngẫu nhiên hóa chúng hoặc hòa trộn chúng với âm thanh từ các nhạc cụ thông thường. Các tác phẩm của anh gồm “Âm nhạc cho 88 phím” – một tổ khúc mô phỏng tính năng của kim cương. “Tác phẩm của anh ấy chứng tỏ dữ liệu thi thoảng cũng có thể tạo ra những ý tưởng âm nhạc bất ngờ và đẹp đẽ mà những người làm sáng tác như chúng tôi không thể có được”, Jon Nelson – nhà soạn nhạc và giảng viên của trường âm nhạc thuộc trường đại học UNT, cho biết.  Buongiorno Nardelli hi vọng, sự kết nối về mặt cảm xúc với âm nhạc có thể giúp người nghe nhận ra những điều phong phú và giàu có của các loại vật liệu. Anh hiện đang thiết kế một dàn dựng mới trên hình thức của một cấu trúc tinh thể khổng lồ với dữ liệu được chuyển thành âm thanh từ chính vật liệu đó. Những người tới dự có thể đi dạo xung quanh tinh thể đó và lắng nghe tiếng đập của các âm tử hay điệu nhảy liên tục từ chuyển động ở các điện tử của chúng.  Gặp gỡ với công chúng nhiều hơn, anh cũng hình dung ra một cuộc “chạy đua âm nhạc” giữa các nhà nghiên cứu và nhạc sỹ trên toàn cầu. Nếu cho rằng ngay cả cái cách điện cũng có “tài năng âm nhạc thiên phú”\” thì hãy bật chúng lên và lắng nghe.     Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v11/44    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các xung ánh sáng có thể hành xử như khí ngoại lai      Trong thế giới hiện đại của chúng ta, những luồng dữ liệu lớn được truyền tải mỗi ngày, chủ yếu dưới dạng các xung quang lan truyền qua các sợi thủy tinh. Với sự gia tăng một cách đều đặn mật độ của các tín hiệu quang, sự tương tác của chúng cũng gia tăng, có thể dẫn đến sự mất mát dữ liệu.    Các nhà vật lý của trường đại học Jena Friedrich Schiller và trường Quang và Photon học ở Orlando, Florida đã tìm hiểu về cách kiểm soát một số lượng lớn các xung quang càng chính xác càng tốt để giảm thiểu hiệu ứng xảy ra trong những tương tác đó. Họ đã giám sát một tập hợp các xung quang khi chúng lan truyền qua một sợi thủy tin và phát hiện ra là chúng vẫn tuân theo các quy luật đã có, chủ yếu là lực nhiệt động lực học.  Trong công trình xuất bản trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu do giáo sư Ulf Peschel đã nêu những phép đo đạc trên một dãy các xung di chuyển qua hàng ngàn ki lô mét xuyên qua các sợi thủy tinh mỏng chỉ vài micron 1.  Các nhà nghiên cứu đã vô cùng ngạc nhiên trước kết quả này. “Chúng tôi đã thấy là các xung ánh sáng tự tập hợp sau khi đi qua một trăm ki lô mét, sau đó hành xử như những phân tử của một khí tiêu chuẩn”, giáo sư Ulf Peschel, người dẫn dắt nhóm nghiên cứu ở Jena, nhận xét.  Trong một khí, các hạt chuyển động qua lại với các tốc độ khác nhau nhưng chúng lại có vận tốc liên quan đến nhiệt độ của chính mình. Dẫu cho các xung ánh sáng lan truyền qua sợi thủy tinh tại tốc độ trung bình khoảng 200.000 ki lô mét mỗi giây, chúng lại không nhanh như nhau. “Sự phân bố của vận tốc về mặt thống kê một khí tiêu chuẩn chỉ thực sự ngang bằng nhau khi có thể ổn định được nhiệt độ”, Peschel nói.  Các nhà nghiên cứu lần đầu tiên chứng minh được khí photon này có thể được làm lạnh bằng một quá trình mà người ta gọi là quá trình đoạn nhiệt (adiabatic expansion). Vì trong một khí thực, sự khác nhau của vận tốc hạt suy giảm khi lạnh đi và trật tự trong chuỗi tín hiệu tự động gia tăng. Khi chạm đến mức nhiệt độ tuyệt đối zero của 0 Kelvin, tất cả các xung lan truyền chính xác cùng một vận tốc như nhau.  Cũng có thể đảo ngược quá trình này. “Khi khí quang được gia nhiệt, sự khác biệt của vận tốc gia tăng”, Peschel giải thích. Nếu tất cả các vận tốc xung xuất hiện một cách bình đẳng như nhau, sự hỗn độn sẽ lên tới cực đại và nhiệt độ vô hạn – một trạng thái không thể chạm đến trong một khí thực vì nó có thể đòi hỏi một vô hạn về năng lượng.  “Tương phản với điều đó, một sự biến điệu tuần hoàn của hệ số khúc xạ có thể giới hạn phạm vi của các vận tốc xung cho phép trong sợi thủy tinh. Theo cách này, tất cả các trạng thái vận tốc hiện hữu có thể được kích thích một cách ngang bằng, qua đó tạo ra một khí photon có nhiệt độ vô hạn. Ngay cả khi năng lượng được tăng thêm thì các trạng thái vận tốc cực đoan vẫn là phổ biến – khí photon trở nên nóng hơn cả mức nóng vô hạn”.  “Với trạng thái này, vốn chỉ được miêu tả về mặt lý thuyết, một mức nhiệt độ dưới zero tuyệt đối có thể được giả định về mặt toán học”, Peschel cho biết. Ông và các đồng nghiệp của mình đã có thể tạo ra khí photon gas có nhiệt độ âm và chứng tỏ lần đầu tiên là nó tuân theo các lực nhiệt động học thông thường.  “Kết quả của chúng tôi sẽ đóng góp vào hiểu biết chung về hành xử thu thập của các tập hợp tín hiệu quang lớn. Nếu chúng tôi đưa lực nhiệt động học vào, chúng tôi có thể khiến cho việc chuyển dữ liệu quang trở nên nhanh hơn và thực tế hơn, ví dụ bằng việc cấu trúc các phân bố xung gắn tốt hơn với các phân bố nhiệt của chúng”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-pulses-exotic-gas.html  https://www.uni-jena.de/en/230310-licht-mit-temperatur  —————————————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.ade6523    Author                .        
__label__tiasang Cách động vật học “mánh khóe” sinh tồn từ đồng loại      Từ dế mèn, thằn lằn, rùa tường Ý, các nhà khoa học nhận thấy động vật sống đơn độc vẫn có khả năng học hỏi từ đồng loại; song mức độ và cơ chế học tập xã hội của chúng vẫn còn là điều bí ẩn.     Trong một thí nghiệm, thằn lằn tường Ý, một loài bản địa ở miền Nam và trung tâm châu Âu, đã bắt chước những con thằn lằn (đã được huấn luyện) để tháo nắp hòng tiếp cận thức ăn. Ảnh: MattiaATH/Shutterstock  Nhiều loài động vật sống bầy đàn, một trong những lợi ích chính của việc này là chúng sẽ chia sẻ kiến ​​thức cho nhau về các vấn đề như tìm thức ăn và bạn tình ở đâu, các tuyến đường di cư và làm thế nào để tránh những kẻ săn mồi.  Đồng loại là nguồn khai thác thông tin có giá trị. Chẳng hạn, chuột biết được loại thực phẩm nào an toàn để ăn bằng cách ngửi mùi của các thành viên khác sống trong cùng khu vực. Trong khi những con chim myna của Ấn Độ hiểu về những kẻ săn mồi thông qua tiếng kêu thảm thiết của “bạn đồng hành”.  Những con vật này tăng cơ hội sống sót bằng cách theo dõi, bắt chước và học hỏi lẫn nhau. Các nhà khoa học hành vi gọi đây là “học tập xã hội”.  Nhưng nhiều loài động vật khác lại thích sống một mình. Chúng sẽ học từ ai, hay chỉ đơn giản là trải nghiệm nhiều để tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề mình gặp phải?  Đây là điều TS Mike Webster (Khoa Sinh học, Đại học St Andrews) thắc mắc trong quá trình tìm hiểu về học tập xã hội ở động vật sống đơn độc. Có vẻ như việc sống một mình không phải là rào cản đối với quá trình học hỏi từ các cá thể cùng loài. Có hàng chục ví dụ về học tập xã hội ở các loài côn trùng, bạch tuộc, cá, cá mập, thằn lằn, rắn và rùa.  Thực chất động vật sống đơn độc không nhất thiết phải cắt đứt liên lạc xã hội. Trên thực tế, chúng sống trong thế giới xã hội phong phú tràn ngập tiếng gọi và tín hiệu mùi hương từ các cá thể động vật khác – chúng cũng thường xuyên tiếp xúc (và đôi khi xung đột) với những cá thể này.  Giống như những loài sống theo đàn tiếp thu kiến ​​thức quý giá từ những con khác, động vật sống đơn độc cũng vậy.  Một nghiên cứu cho thấy dế mèn Nemobius sylvestris có thể học cách cảnh giác thông qua quan sát hành vi của những con dế khác vừa chạm trán với nhện săn mồi. Một nghiên cứu khác tiết lộ rằng rùa chân đỏ Nam Mỹ có thể quan sát những con rùa khác để học cách di chuyển xung quanh chướng ngại vật. Và thằn lằn tường Ý, một loài bản địa ở miền Nam và trung tâm châu Âu, đã bắt chước những con thằn lằn đã được huấn luyện để học cách tháo nắp hòng tiếp cận thức ăn,  Lý thuyết học tập xã hội có thể giải thích làm thế nào hành vi có thể lan truyền qua các quần thể động vật. Ví dụ, một số loài động vật có vú chia sẻ cho nhau lộ trình di cư giữa các môi trường kiếm ăn và sinh sản. Do đó, hiểu cách học tập xã hội phát sinh và phát triển có thể cung cấp cho chúng ta thông tin về bảo tồn và quản lý loài hiệu quả.  Học tập xã hội cũng là một phần quan trọng của văn hóa nhân loại. Việc hiểu rõ cơ chế động vật chia sẻ kiến ​​thức sẽ giúp ta hiểu hơn về về cách trí óc của chúng ta phát triển. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn còn nhiều điều chưa rõ về vai trò của chọn lọc tự nhiên và ý nghĩa của hoạt động tiếp xúc với các tín hiệu xã hội để hình thành cơ chế học tập xã hội.  Vẫn còn nhiều câu hỏi cần giải đáp  Chia sẻ kiến ​​thức là một cơ chế quan trọng trong thế giới tự nhiên, và nhiều loài động vật sống đơn độc vẫn có khả năng đó. Nhưng loài động vật nào nhận tín hiệu xã hội tốt nhất? Hầu hết các động vật sống bầy đàn sẽ tiếp xúc với thông tin xã hội thường xuyên hơn so với động vật sống đơn độc, do đó những thông tin dần trở thành một phần tất yếu thông qua chọn lọc tự nhiên hoặc thông qua kinh nghiệm. Một số nhà khoa học lập luận rằng học tập xã hội cũng giống như các loại học tập khác ở cấp độ nhận thức. Tuy vậy các cơ quan cảm giác và vùng não liên quan đến việc thu thập và xử lý thông tin có thể đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ để chú ý hơn đến các tín hiệu xã hội.  Đến cả những động vật sống đơn độc như bạch tuộc cũng học các mánh khóe sinh tồn từ các loài động vật khác. Ảnh: Olga Visavi / Shutterstock  Các nhà khoa học đã áp dụng các kỹ thuật thống kê để tìm kiếm bằng chứng về sự chọn lọc tự nhiên giữa các nhóm động vật có liên quan; họ muốn đánh giá xem liệu việc sống theo bầy đàn có liên quan đến các yếu tố như nhận thức hay không. Một nghiên cứu được thực hiện trên các loài linh trưởng cho thấy thước đo học tập xã hội thực sự có mối liên hệ với quy mô và mức độ phức tạp của các nhóm xã hội trong bầy.  Mức độ tiếp xúc với xã hội trong giai đoạn đầu đời của một con vật cũng có thể ảnh hưởng đến mức độ học hỏi từ những con khác của nó trong giai đoạn về sau. Những con chuột đánh hơi mùi của đồng loại trong thức ăn bằng cách liên kết mùi của thức ăn dở dang với các hợp chất mà chuột thở ra. Chúng có được kỹ năng này khi còn là chuột con và học cách kết hợp mùi thức ăn với mùi hơi thở của mẹ khi mẹ chăm sóc cho chúng.  Đáng chú ý, nghiên cứu phát hiện ra rằng những con chuột không được mẹ quan tâm và ít chải chuốt cho chúng khi còn nhỏ không có được khả năng tìm hiểu thông tin thức ăn từ hơi thở của đồng loại.  Nhưng chuột là loài sống bầy đàn. Ngược lại, giới khoa học biết rất ít về tầm quan trọng của việc tiếp xúc với xã hội ở những con non sống đơn độc. Nhóm nghiên cứu hy vọng trong các thí nghiệm kế tiếp nhằm điều chỉnh việc tiếp xúc sớm với các tín hiệu xã hội, những loài sống đơn độc này có thể mở rộng hiểu biết khoa học về cách động vật tiếp nhận các mối liên hệ dẫn đến học tập xã hội.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  Animals learn survival tricks from others – even if they live alone  Social learning in non-grouping animals    Author                .        
__label__tiasang Cách hiệu quả và an toàn hơn để tạo ra một ngôi sao trên trái đất      Một vấn đề lớn với việc vận hành các lò phản ứng nhiệt hạch hình tròn như các lò tokamak là giữ cho plasma mà các phản ứng tổng hợp các nhiên liệu không tạp chất có thể làm giảm bớt hiệu suất của các phản ứng này. Hiện tại, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm vật lý Plasma Princeton của Bộ Năng lượng Mỹ (PPPL) đã tìm ra là phun một dạng bột vào plasma có thể giúp khai thác được luồng khí siêu nóng bên trong lò tokamak để tạo ra nhiệt, qua đó làm ra điện mà không phát thải khí nhà kính hay chất thải phóng xạ dài hạn.      Nhiệt hạch, nguồn năng lượng của mặt trời và các ngôi sao, kết hợp các nguyên tố nhẹ trong hình thức này plasma – trạng thái nóng, tích điện của vật chất tạo ra các electron và hạt nhân nguyên tử tự do – sinh ra một nguồn năng lượng cực lớn. Các nhà khoa học đang chờ đợi tái tạo được phản ứng nhiệt hạch trên trái đất để cung cấp một nguồn điện năng vô tận thực sự.  “Mục tiêu chính của thực nghiệm này là kiểm tra xem liệu chúng ta có thể tạo ra một lớp boron bằng việc sử dụng một dụng cụ dạng ống tiêm bột không”, nhà vật lý Robert Lunsford (PPPL), tác giả chính của công bố Active conditioning of ASDEX Upgrade tungsten plasma-facing components and discharge enhancement through boron and boron nitride particulate injection trên tạp chí Nuclear Fusion, cho biết. “Cho đến thời điểm này, thực nghiệm đã được thực hiện thành công”.  Boron có khả năng ngăn một nguyên tố là volfram rời khỏi thành thùng lò tokamak vào plasma, nơi nó có thể làm lạnh các hạt plasma và khiến các phản ứng nhiệt hạch ít hiệu quả hơn. Một lớp boron được đưa vào các bề mặt chứa plasma trong một quá trình vẫn được mọi người gọi là baron hóa. Các nhà khoa học muốn giữ cho plasma nóng càng tốt – ít nhất  là nóng hơn bề mặt của mặt trời 10 lần – để tăng cường tối đa các phản ứng nhiệt hạch và do đó gia tăng nhiệt để làm ra điện.  Sử dụng bột để đem lại trạng thái boron hóa là cách làm an toàn hơn sử dụng một loại khí boron mà người ta vẫn gọi là diborane, phương pháp vẫn được sử dụng hiện nay. Khí diborane dễ gây nổ, vì vậy mọi người phải tránh xa khu vực lò phản ứng tokamak trong suốt quá trình phản ứng”, Lunsford nói. “Mặt khác, nếu anh làm rơi một chút bột boron lên plasma thì cũng dễ kiểm soát hơn. Trong khi khí diborane dễ nổ và độc thì bột boron lại có tính trơ”, anh cho biết thêm. “Kỹ thuật mới này có thể ít xâm lấn hơn và rõ ràng là ít nguy hiểm hơn”.  Một điểm mới khác là trong khi các nhà vật lý phải tạm dừng việc vận hành lò tokamak trong quá trình bơm khí boron thì bột boron có thể được đưa vao plasma ngay lúc thiết bị này đang vận hành. Đặc điểm này vô cùng quan trọng bởi nó đem lại một nguồn điện ổn định, các nhà máy nhiệt hạch tương lai sẽ phải vận hành trong thời kỳ dài, không gián đoạn. “Đây là một cách để có được lò phản ứng nhiệt hạch ở trạng thái bền vững”, Lunsford nói. “Anh có thể cho thêm nhiều boron vào mà không cần phải dừng lò phản ứng lại”.  Có những nguyên nhân khác để dùng một ống bơm bột phủ lên các bề mặt bên ngoài của một tokamak. Ví dụ, các nhà nghiên cứu khám phá ra là việc nhỏ bột boron đem lại lợi ích như khi bơm khí nitrogen vào plasma – cả hai kỹ thuật này đều giúp tăng nhiệt tại rìa plasma, vốn làm tăng khả năng giữ plasma bên trong từ trường.  Kỹ thuật phun bột đem lại cho các nhà khoa học việc tạo ra plasma nhiệt hạch ở mức ít đậm đặc hơn, điều này quan trọng bởi trạng thái ít đậm đặc khiến sự thiếu ổn định của plasma được nén lại bằng các xung từ, một cách đơn giản ở mức tương đối để cải thiện các phản ứng nhiệt hạch. Các nhà khoa học có thể dùng bột để tạo ra các plasma ít đậm đặc tại bất kỳ thời điểm này, thay vì chờ một sự boron hóa khí. Bằng việc tạo ra một phạm vi lớn các điều kiện plasma một cách dễ dàng theo cách này có thể cho phép các nhà vật lý khám phá hành xử của plasma triệt để hơn.  Trong tương lai, Lunsford và đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu hi vọng thực hiện nhiều thí nghiệm nữa để xác định một cách chính xác nơi nào các vật liệu này sẽ đến sau khi được bơm vào plasma. Hiện nay họ đang nêu giả thuyết là các dòng bột ở đỉnh và đáy của thùng lò tokamak giống như con đường của các dòng chảy plasma, “nhưng nó có thể hữu ích với việc dùng giả thuyết đó để mô hình hóa hiện tượng này vì vậy chúng ta biết các địa điểm chính xác bên trong lò tokamak trong khi chúng đón nhận các lớp boron”, Lunsford nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-powder-gas-safer-effective-star.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách học tốt nhất là thực hành, cách dạy dở nhất là giảng giải      Lời người dịch. Paul Richard Halmos (1916-2016) là nhà toán học Mĩ gốc Hung, một trong số nhà khoa học Do Thái có ảnh hưởng lớn của nửa sau thế kỷ 20, có nhiều đóng góp nền tảng trong nhiều lĩnh vực rộng lớn của Toán học, như logic toán học, lý thuyết xác suất, thống kê, lý thuyết toán tử, lý thuyết ergodic và giải tích hàm (đặc biệt là về không gian Hilbert). Không giống như hầu hết các nhà toán học khác, di sản của ông, không chỉ đơn thuần là toán học mà còn là lời khuyên và triết lý về cuộc sống toán học: về cách dạy toán, học toán, cách viết, cách nói hoặc thậm chí là cách nghĩ về toán. Các bài giảng, bài nói chuyện của ông luôn đem lại cảm hứng cho những người làm toán chuyên nghiệp, những người dạy toán và học toán. Dưới đây là bài nói chuyện của ông, đã được xuất bản trên tạp chí The American Mathematical Monthly, nói về triết lý dạy toán và qua đó là học toán.          Tại ngày hội Toán học của Viện nghiên cứu khoa học MSRI: Các nhà toán học đưa môn học này đến với trẻ em thông qua những trò ảo thuật. Ảnh: MSRI.  Thôi, cứ nói chuyện sau tức là chuyện dạy đã: nào ai đã từng để ý có mấy ông thầy giáo giỏi nhất lại là người giảng giải tệ nhất chưa? (tôi biết đấy, nhưng thôi nói ra không khéo mất hết bạn bè). Về phía ngược lại, có ai để ý chuyện có mấy tay giảng hay cực kỳ lại không nhất thiết phải là thầy giỏi? Một bài giảng hay thì thường là có hệ thống, đầy đủ, chính xác chi tiết và tóm lại là chán; nghĩa là bài giảng thì không dùng để dạy được. Tất nhiên là gặp những huyền thoại nói năng như Emil Artin1 hay John von Neumann2 thì dẫu có giảng họ vẫn dạy rất tốt, thần thái và nhiệt huyết của họ xuyên thấu được bài giảng để thúc đẩy người nghe phải đứng lên làm gì đó, nhưng đó là chuyện huyền thoại. Còn với những người phàm trần như chúng ta, không đạt được mức giảng dở như Wiener3 (cho nên cũng không thể được nhận xét là dạy thần sầu như ông), mà cũng không giảng hay được như Artin (cũng không thể tạo được kịch tính như ông) nên với chúng ta, cứ hễ giảng thì cầm chắc là dạy tệ.     Học toán thực ra là giải quyết những vấn đề cụ thể     Thế nào là thầy dạy giỏi? Tôi quan niệm rất đơn giản, thực dụng: nhìn trái đoán cây. Nếu là thầy dạy đại học mà đào tạo ra được những tiến sĩ toán là những nhà toán học, sáng tạo ra những quy tắc toán mới, giàu chất lượng thì đó là người dạy giỏi. Nếu là thầy dạy vi tích phân mà tạo ra được những sinh viên toán sau đại học, hay những kỹ sư, nhà sinh học, nhà kinh tế xuất sắc thì đó là thầy dạy giỏi. Nếu là thầy dạy “cấp ba” mà tạo ra được những sinh viên học vi tích phân, những nhân viên kế toán, hoặc những thợ sửa xe, những ông kỹ thuật viên ngành mộc thì đó là ông thầy dạy giỏi.  Với một người học toán mà nghe ai đó nói về toán thì cũng chẳng hơn gì người học bơi nghe nói về bơi. Anh không thể học kỹ thuật bơi bằng cách nghe người ta nói phải vươn tay và đạp chân thế nào, và cũng không thể học giải toán bằng cách nghe người ta nói phải bình phương và dùng y thay sin (u).  Thế thì người ta có thể học toán bằng cách đọc không? Tôi có khuynh hướng nói không. Đọc thì hơn nghe một chút vì nó chủ động hơn, nhưng cũng không hơn mấy. Đọc mà có cây bút với tờ giấy bên cạnh thì tốt hơn nhiều, thực ra có bút giấy bên cạnh là đang đi đúng hướng rồi đấy. Nghĩa là, thực ra, cách đọc sách tốt nhất là có bút giấy bên cạnh, tức là lấy cây bút mà viết lên mảnh giấy và quăng quyển sách đi.      Sai lầm lớn nhất của nhiều sinh viên, thậm chí sinh viên giỏi, là dù họ có thể phát biểu vanh vách nội dung các định lý, nhớ chính xác phép chứng minh nhưng họ tuyệt không thể đưa ra được một ví dụ cụ thể nào.      Nói thì quá khích vậy nhưng tôi xin hồi lời ấy ngay. Tôi cũng biết nói vậy là quá khích và thực lòng tôi không có ý nói vậy đâu, chẳng qua tôi chỉ muốn nhấn thật mạnh rằng đừng nên sa đà với việc cho rằng học nghĩa là nghe giảng và đọc sách. Giá mà chúng ta có cuộc đời dài hơn, đầu óc thông minh hơn và số lượng người thầy tận tâm nhiều đến mức mà tỉ lệ thầy/trò là 1/1 thì tôi đã quyết giữ cái quan điểm quá khích kia. Tiếc là đời không được vậy.  Học toán thực ra là giải quyết những vấn đề cụ thể. Hilbert4 có nói đâu đó (tôi không nhớ ở đâu) rằng cách tốt nhất để hiểu 1 lý thuyết là tìm cho ra 1 ví dụ điển hình cụ thể của nó và nghiên cứu ví dụ đó, một ví dụ thật căn cốt đến mức có thể minh họa mọi khả năng xảy ra. Sai lầm lớn nhất của nhiều sinh viên, thậm chí sinh viên giỏi, là dù họ có thể phát biểu vanh vách nội dung các định lý, nhớ chính xác phép chứng minh nhưng họ tuyệt không thể đưa ra được một ví dụ cụ thể nào, không xây dựng được các phản ví dụ hay giải được các bài toán trong một số trường hợp đặc biệt. Thực tế tôi đã thấy nhiều sinh viên có thể phát biểu được Định lý phổ cho toán tử Hermit trên không gian Hilbert nhưng lại không biết làm sao chéo hóa một ma trận thực đối xứng cấp ba. Vậy là bậy quá. Nghĩa là, học vậy là bậy. Mà cái học bậy đó thì chắc là, ít ra phải có một phần, do dạy bậy.          Paul Halmos.    Từ những nhà toán học chuyên nghiệp cho đến người lâu lâu đụng chuyện dùng toán, nghĩa là bao gồm luôn nguyên cái cộng đồng khoa học nằm giữa hai phân khúc đó, tất thảy họ đều cần phải giải quyết các vấn đề, nghĩa là giải các bài toán. Nhiệm vụ chúng ta là dạy họ giải các bài toán đó thế nào hay nói đúng hơn là dạy cho những người thầy tương lai của họ là nên dạy thế nào cho họ giải các bài toán đó.  Khóa nào tôi dạy tôi cũng thích bắt đầu bằng một bài toán. Lần gần nhất tôi dạy “nhập môn lý thuyết tập hợp” thì câu hỏi đầu tiên tôi đặt ra là định nghĩa của số đại số và câu hỏi thứ hai là: có số nào không phải là số đại số không. Hay lần gần nhất tôi dạy về “Lý thuyết hàm thực căn bản”, câu đầu tiên của tôi là một câu hỏi: có hàm số liên tục không tăng nào đi từ khoảng (0, 1) vào chính nó mà đồ thị có độ dài bằng 2 không? Hầu như cho khóa nào ta cũng đều có thể tìm vài câu hỏi kiểu vậy, tức là những câu hỏi có thể đặt ra mà gần như không cần thuật ngữ chuyên ngành nhưng vẫn đủ gây chú ý, hứng thú và đạt được những câu trả lời không tầm thường tí nào, bao quát được tất cả những ý tưởng quan trọng của môn học ấy. Sự tồn tại của những câu hỏi đó chính là ý nghĩa của việc nói rằng toán học chính là giải những bài toán và việc tôi nhấn mạnh vào việc giải toán (như là một hành động ngược lại với việc nghe giảng và đọc sách) thực ra được kích ý từ những câu hỏi đó.  Một phát biểu nổi tiếng của Polya5 về việc giải toán là nếu anh không giải được một bài toán thì có nghĩa rằng có một bài toán dễ hơn bài đó anh không giải được –hãy tìm bài dễ hơn đó. Nếu bạn có thể dạy được phát biểu đó cho sinh viên thì hãy dạy đi, để cho những sinh viên đó sau này sẽ dạy lại cho học trò họ. Làm được vậy thì đã giải được cái bài toán “tạo ra người thầy dạy giải toán” rồi đó. Phần khó nhất của việc trả lời các câu hỏi chính là việc tạo ra các câu hỏi; nhiệm vụ của chúng ta như những người thầy hoặc như thầy của thầy chính là dạy được việc tạo ra câu hỏi. Dạy cho một kỹ sư dùng quyển các công thức phương trình vi phân thì dễ; cái khó là làm thế nào dạy anh ta (và thầy của anh ta) phải làm gì khi không tìm thấy câu trả lời trong quyển công thức ấy. Trong trường hợp đó thì vấn đề chính lại trở lại là “bài toán (dễ hơn) là gì?”. Hãy tìm ra câu hỏi đúng cần hỏi, vậy là đã bước trên con đường giải được bài toán cần giải.  Vậy thì cái bí mật, tức cách tốt nhất để học giải quyết một vấn đề là gì? Câu trả lời lại ngầm chứa trong câu mà tôi đưa ra lúc đầu, tức là “giải quyết các vấn đề”. Phương pháp mà tôi dùng có đôi lúc được gọi là “phương pháp Moore” vì chính do R.L. Moore6 đã phát triển và áp dụng tại Đại học Texas. Đó là phương pháp dạy hay phương pháp tạo cho sinh viên tinh thần giải quyết vấn đề, chính là hỗn hợp của những gì Socrates xưa đã dạy chúng ta và cũng là tinh thần chiến đấu mạnh mẽ trong các cuộc thi đấu Olympic.  Cái cách mà một người giảng thì dở nhưng lại là một thầy giáo giỏi, theo nghĩa là tạo ra được những người học giỏi, chính là cách một hạt cát tạo ra được một con trai có viên ngọc trai. Một bài giảng hay và một cuốn sách, chẳng hạn, “Nhập môn đại số cho nữ sinh” có thể là dễ ưa thật đấy nhưng một ông thầy giỏi phải biết thách thức, đặt câu hỏi, gây bức bối, làm khó chịu, duy trì đòi hỏi cao- tóm lại là toàn những chuyện khó ưa. Một ông thầy giỏi có thể không phải là một ông thầy hòa đồng dễ gây cảm tình (trừ với những học trò cũ, giờ không học ông nữa, mới nhận ra ông đáng mến chừng nào), vì nhiều học trò không thích bị thách thức, bị đặt câu hỏi, bị quấy rầy, bức bối. Nhưng ông lại thai nghén ra những viên ngọc quý (thay vì đi đúc hàng loạt).     Truyền tâm thế nghiên cứu     Để tôi kể về cái lần tôi phải dạy 1 khoá đại số tuyến tính cho sinh viên mới nhập trường. Ngay buổi đầu tiên tôi bắt đầu bằng cách phát mấy tờ giấy cho sinh viên, trên đó ghi rõ 50 định lý. Chỉ định lý thôi, chẳng có giới thiệu, định nghĩa, giải thích gì và tất nhiên là cũng không có chứng minh. Thời gian còn lại tôi nói với lớp một chút về phương pháp Moore. Sau đó tôi bảo sinh viên là trong học kỳ đó khỏi đọc về đại số tuyến tính. Nói chung là cái khóa đó họ muốn làm gì thì làm, họ được miễn mọi công việc đọc, học hỏi như thường lệ. Nguyên khóa chỉ có 50 định lý ấy thôi. Chỉ mỗi việc hiểu 50 phát biểu đó, giải thích chúng, cho ví dụ và phản ví dụ và, dĩ nhiên là, chứng minh mấy định lý đó, là xong.          Robert Lee Moore được coi là một trong những nhà giáo dạy toán tốt nhất trong lịch sử. Ông có 50 học sinh cao học về sau trở thành những nhà toán học xuất sắc. Đại học Texas dành hẳn một tòa nhà mang tên ông. Ảnh: Daily Texan    Nguyên cả lớp dòm tôi. Họ không tin. Họ nghĩ chắc tôi làm biếng nên tìm cách bỏ chạy, chứ học kiểu đó thì học hành gì. Tới đó cũng chưa hết nửa tiếng đồng hồ buổi đầu tiên nên nửa tiếng còn lại tôi cho họ vài định nghĩa căn bản để hiểu chừng nửa tá định lý đầu tiên rồi sau đó chúc họ học tốt, bái bai. Tới buổi thứ hai và các buổi sau đó, tôi gọi Smith chứng minh định lý 1, Kovacs định lý 2, và cứ vậy. Tôi khuyến khích Kovacs, Herrero và các sinh viên khác hãy rình Smith như chim ưng rình mồi và xâu xé anh ta liền nếu anh ta sai.  Tôi thì ngồi nghe, cẩn thận hết mức và mặc dù cố không ra vẻ tàn bạo thì chính tôi đôi lúc cũng nhảy vào công kích sinh viên đang chứng minh ấy luôn, khi tôi thấy mình cần phải làm vậy. Tôi chỉ ra những chỗ hổng, kiên trì nói là tôi không hiểu, rồi đặt những câu hỏi về mấy vấn đề bên lề, đòi những phản thí dụ hoặc đôi lúc tôi cung cấp luôn. Có cơ hội là tôi nói về lịch sử của vấn đề, bài toán rồi chỉ ra những mối liên hệ với những phần khác trong toán. Thêm vào đó, tôi có thể lấy hẳn 5 phút để giới thiệu về định nghĩa mới của vấn đề vừa nảy ra. Tính chung tôi giảng khoảng 20 phút cho mỗi tiết 50 phút. Thực ra thì 20 phút là dài rồi nhưng dù sao cũng ngắn hơn nhiều so với 50 phút (có khi còn là 55 phút) cho mỗi tiết.  Vậy mà khóa học lại thành hấp dẫn. Đến tuần thứ hai, sinh viên vẫn đang chứng minh các định lý và tìm những lỗi của nhau trong chứng minh, rõ ràng là một tiến trình học dễ chịu. Nhiều sinh viên cảm động đến với tôi mà thú thật rằng lúc đầu họ rất ngờ vực nhưng sau đó họ đã tâm phục. Hầu hết sinh viên đều nói rằng họ dành thời gian cho môn đó của tôi nhiều hơn các môn khác trong cùng kỳ và rằng họ học được rất nhiều.  Những gì tôi vừa kể rất giống “phương pháp Moore” như ông R. L. Moore đã dùng nhưng cũng có nhiều điểm thay đổi. Tôi chắc rằng có thể tạo ra hàng trăm điểm khác biệt để tùy vào mỗi thầy và mỗi môn học mà điều chỉnh và dùng. Những điểm chi tiết nhỏ đó không phải là điều chính yếu. Quan trọng là khiến cho đặt được câu hỏi và trả lời câu hỏi.  Nhiều lần tôi dùng phương pháp Moore thì một hay hai học kỳ sau, các giáo sư cùng trường nói với tôi rằng họ nhận ra được ngay học trò nào trong lớp họ đã từng dự “lớp Moore” của tôi thông qua thái độ, hành vi những học trò đó. Điểm khác khiến họ nhận ra đó chính là sự trưởng thành về mặt toán học (cách/tâm thế nghiên cứu) so với những sinh viên khác và có khuynh hướng và khả năng hơn trong việc đặt ra những câu hỏi đi thẳng vào trọng tâm.  Chính cái “tâm thế nghiên cứu” là một hỗ trợ vô cùng to lớn cho mọi thầy giáo, học trò, người sáng tạo và người dùng toán. Để nói cho rõ hơn thì, ví dụ như tâm thế đó đã giúp tôi thế nào khi tôi dạy môn Phép tính vi tích phân căn bản (cho một lớp quá đông nên không dùng được “phương pháp Moore”), vì tôi có một trí nhớ rất “thần sầu”. “Thần sầu” ở đây nghĩa là tệ thần sầu. Vì nếu chỉ cần không dạy môn tính đó trong chừng một hay hai học kỳ là tôi quên sạch. Quên các định lý, các bài toán, công thức, kỹ thuật. Thành ra một tuần trước khi dạy, lúc soạn bài, ngó  cái đề cương/mô tả môn học, nếu không có cái đó thì ngó cái bảng mục lục các tựa đề bài giảng (chỉ tựa đề thôi chứ không xem nội dung cần giảng) là tôi phải làm lại từ đầu, nghĩa là tôi phải đi ‘nghiên cứu’ về môn Phép tính vi tích phân ấy. Kết quả là tôi luôn thấy hứng thú hơn là nếu tôi đã nhớ sẵn, và lần nào cũng vậy, tôi đều ngạc nhiên và vui thú một cách nguyên sơ bởi những tái phát kiến của sinh viên về những điều chắc Leibniz đã biết từ hồi ông còn be bé. Cái sự hứng thú, ngạc nhiên, vui thú và sốt sắng ấy của tôi cả lớp đều cảm nhận rõ và nó được các sinh-viên-phát-kiến xem như một nghi lễ phong tước cho họ.          Nhà toán học Tadashi Tokieda (người đứng trên bàn), ĐH Stanford nổi tiếng về những bài giảng của mình, sử dụng những hiện tượng xung quanh đồ vật thường ngày để minh họa cho những định lý toán học và vật lý. Nguồn: japaneseamericaninboston.blogspot.com    Để dạy được tâm thế nghiên cứu thì mỗi người thầy phải nghiên cứu và phải được rèn luyện trong việc làm nghiên cứu. Ý tôi không phải là thầy nào dạy lượng giác thì phải bỏ nửa đời ra mà đi chứng minh các định lý quá khó về categorical teratology chẳng hạn và tham gia cuộc đua “publish or perish” (phải có bài công bố cho bằng được). Ý tôi là mỗi thầy giáo, dù là dạy đại số trung học đi chăng nữa thì cũng thành thầy giỏi hơn nếu nghĩ về những ứng dụng của môn đó trong những lĩnh vực khác, đọc về những kết nối của môn đó với các môn khác, tìm cách giải quyết những vấn đề mà những ứng dụng hay liên kết đó mang đến – tóm lại là nếu người thầy đó chịu nghiên cứu sâu về  môn đại số ở trung học cùng những lĩnh vực liên quan đến nó. Đó là cách duy nhất để giữ tâm thế nghiên cứu, tâm thế đặt câu hỏi cứ sống mãi trong chính người thầy đó và giữ nó trong điều kiện thích hợp để truyền đạt lại cho người khác.  Rồi, nói cho gọn thì chỉ có mấy điều thôi:  Cách học tốt nhất là hành – hỏi và làm.  Cách dạy tốt nhất là khiến cho sinh viên hỏi và làm. Đừng đi rao giảng kiến thức– hãy kích thích hành động.  Cách dạy cho người dạy tốt nhất là khiến họ hỏi và làm những gì để sau này đến phiên họ cũng sẽ khiến sinh viên của họ hỏi và làm.□     Phan Đình Phùng, Hồ Hồng Ân dịch  Nguồn: https://www.jstor.org/stable/2319737?seq=1#page_scan_tab_contents)     Chú thích:  [1] Emil Artin (1898-1962) nhà đại số hàng đầu người Áo, thầy của nhiều nhà toán học nổi tiếng như S. Lang, M. Zorn.  [2] John von Neumann (1903-1957) nhà toán học thiên tài Mỹ gốc Hung, người đặt nền móng cho nhiều ngành khoa học như lý thuyết trò chơi, khoa học máy tính. Ông là thành viên của dự án Manhattan, chế tạo bom nguyên tử.  [3] Norbert Wiener (1894-1964) Nhà toán học Mĩ, giáo sư toán tại MIT, người có đóng góp lớn cho điều khiển học, điều khiển máy tính và tự động hóa.  [4] David Hilbert (1862-1943) Một trong những nhà toán học ảnh hưởng nhất cuối TK 19 người Đức, thầy hướng dẫn của von Neumann.  [5] George Pólya (1887-1985) nhà toán học Hungary. Quyển sách “How to Solve It” của ông về phương pháp giải Toán từ lâu đã được dịch ra nhiều thứ tiếng (trong đó có tiếng Việt).  [6] R.L. Moore (1882–1974) nhà tô pô học người Mĩ, giáo sư Đại học Taxas, nổi tiếng với “phương pháp Moore”. Ông từng nói “Người học trò được dạy tốt nhất là người được giảng ít nhất” (“That student is taught the best who is told the least”).    Author                Paul Halmos        
__label__tiasang Cách mạng 4.0: Thách thức đổi mới đối với các trường đào tạo kỹ thuật – công nghệ tại Việt Nam      Tại Mỹ, MIT vừa tuyên bố sẽ đầu tư khoảng 1 tỷ USD cho Schwarzman College of Computing – một trường mới đào tạo theo hướng tích hợp liên ngành, đồng thời cam kết cải cách mô hình quản trị để thích ứng với sự phát triển quá nhanh của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.    Điều này cho thấy, ngay đến những nơi hiện đang ngự trị trên đỉnh cao khoa học công nghệ của thế giới cũng đang phải rất nỗ lực chuyển mình trước những thách thức của xu hướng 4.0. Vì thế, để tránh nguy cơ ngày càng tụt hậu, các quốc gia có xuất phát điểm thấp như Việt Nam cần thiết phải hành động quyết liệt hơn nữa, nhất là trên địa hạt giáo dục, đào tạo và nghiên cứu. Đó cũng chính là chủ đề của Hội thảo “Cách mạng công nghiệp 4.0 – Cơ hội và thách thức với các ngành công nghệ – kỹ thuật” diễn ra vào sáng 27/10 tại cơ sở Mỹ Đình của Đại học Việt Nhật (VJU, thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội), với sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp kỹ nghệ hàng đầu.  Tại sự kiện, các diễn giả đã cùng chia sẻ tham luận, làm rõ những bản chất và đặc trưng của cuộc Cách mạng 4.0, từ đó đưa ra nhiều đề xuất cải cách lẫn định hướng giúp kiến tạo nền tảng và có bước chuẩn bị đầy đủ … để khối các trường, viện, cơ sở đào tạo kỹ thuật – công nghệ của Việt Nam có thể đáp ứng được tốt nhất nhu cầu thực tiễn xã hội, và xa hơn nữa là đưa đất nước bứt phá và giành lấy những lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế.    PGS. TS. Hoàng Minh Sơn phát biểu tại hội thảo. Ảnh: VJU.  PGS. TS. Hoàng Minh Sơn – Hiệu trưởng ĐH Bách Khoa Hà Nội – nêu nhận định, chính những bước tiến đáng kinh ngạc trên một số lĩnh vực trụ cột của Cách mạng 4.0 như Công nghệ thông tin (CNTT), Trí tuệ nhân tạo (AI), Tự động hóa … đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp bách, đòi hỏi các trường, viện cần sớm thực hiện đổi mới, trong cả hoạt động đào tạo lẫn nghiên cứu khoa học. Cụ thể, chương trình buộc sẽ phải thay đổi theo hướng tích hợp, liên ngành (interdisciplinary), tập trung ưu tiên vào một số lĩnh vực nền tảng và công nghệ lõi (hay công nghệ nguồn). Nội dung đào tạo cũng cần được thiết kế lại, theo hướng chú trọng kiến thức cơ bản, sâu, rộng và tích hợp nhiều môn học nhằm nâng cao hiệu quả sáng tạo và khả năng thích ứng của sinh viên. Phương thức đào tạo cũng phải chuyển sang lấy việc học (thay vì dạy) làm trung tâm, thông qua cá nhân hóa quá trình học, đa dạng hóa phương thức học, trong đó có tăng cường các công cụ học trực tuyến hoặc trải nghiệm với môi trường và thiết bị ảo. Ngoài ra, cũng do áp lực không ngừng phải đổi mới và xu hướng chu trình sản phẩm đang ngày càng trở nên ngắn lại, các trường, viện cần nỗ lực tự chủ để tìm kiếm nguồn kinh phí hỗ trợ nghiên cứu, không thể mãi trông chờ vào ngân sách nhà nước. Thứ nữa, phương thức tổ chức nghiên cứu cũng đòi hỏi phải có sự phối hợp hiệu quả giữa các nhóm liên ngành, liên trường, … và gắn chặt hoạt động nghiên cứu với đào tạo ở bậc sau đại học lẫn đào tạo cử nhân, kỹ sư chất lượng cao … ngoài ra, cũng không thể tách rời nhiệm vụ nghiên cứu với mục đích phát triển và thương mại hóa sản phẩm nhờ mối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với khối doanh nghiệp.  Cũng theo GS. TSKH Nguyễn Đình Đức – Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Trưởng Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến ĐH Công nghệ, Giám đốc Chương trình Kỹ thuật hạ tầng của ĐH Việt Nhật, xu hướng 4.0 tất yếu đang tạo ra sự chuyển dịch, khiến các đại học nghiên cứu hàng đầu phải trở thành đại học đổi mới sáng tạo, với 3 đặc trưng cơ bản là Innovation Factor (tác nhân đổi mới), Digital Factor (tác nhân số) và Research Factor (tác nhân nghiên cứu). Điều này đòi hỏi cần có sự điều chỉnh trong triết lý và cơ cấu lại các chương trình đào tạo. Cụ thể, bên cạnh tri thức nền tảng, kiến thức ngành, chuyên ngành, ngoại ngữ, CNTT và kỹ năng mềm … các trường cũng cần trang bị thêm cho người học tầm nhìn, năng lực thu thập, xử lý, kiểm soát thông tin, cùng với cảm hứng để có khát vọng đổi mới và tinh thần khởi nghiệp. Theo đó, bên cạnh những giá trị bất biến của nền giáo dục khai phóng, chúng ta còn cần chú trọng thêm nữa cho các lĩnh vực thuộc STEM, thông qua một triết lý rõ ràng, dễ hiểu và dễ vận dụng trên giảng đường.    GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức trình bày tham luận. Ảnh: VJU.  Ngoài ra, một nhiệm vụ sống còn khác, đó là Việt Nam cần phải có chiến lược bài bản và ưu tiên mạnh mẽ hơn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, viện nghiên cứu tiên tiến và trung tâm nghiên cứu xuất sắc trong những lĩnh vực đã được xác định là trọng điểm, … bên cạnh nhu cầu tiếp cận, chuyển giao, hấp thụ và làm chủ các công nghệ lõi để sớm theo kịp trình độ của thế giới. Tuy nhiên, để các chiến lược này thực sự thành công thì bài học của nhiều nước cũng cho thấy, mấu chốt vẫn nằm ở công tác tuyển dụng và đối đãi nhân tài … Nhìn chung, chúng ta nên sớm có chính sách cởi mở hơn để thu hút nguồn nhân lực kỹ thuật – công nghệ chất lượng lượng cao, cả ở trong nước lẫn quốc tế, đặt biệt là giới trẻ. Làm sao tập hợp và tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm phát huy tối đa nguồn lực sáng tạo khổng lồ này, có vậy mới hy vọng nắm bắt được những cơ hội từ làn sóng mới của tương lai. Điều này vừa là trách nhiệm chung, những cũng lại phụ thuộc vào lối tư duy và năng lực thích ứng trước những đổi thay của môi trường, bên cạnh quyết tâm chính trị của tất cả lãnh đạo tại các bộ, ban, ngành, viện, trường, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học …    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Cách mạng công nghiệp điện tử từ công nghiệp vi mạch      Phó Chủ tịch UBND TPHCM Lê Mạnh Hà cho rằng, chương trình phát triển công nghiệp vi mạch của thành phố sẽ tạo ra cuộc cách mạng cho công nghiệp điện tử, công nghiệp CNTT của cả nước.    Tạo ra “bộ óc”  Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch của thành phố gồm 7 dự án, đề án (Đề án đào tạo nhân lực vi mạch; đề án ươm tạo doanh nghiệp vi mạch và hệ thống nhúng; đề án thiết kế và sản xuất thử nghiệm; đề án Design house; dự án xây dựng nhà máy; dự án phát triển thị trường vi mạch và đề án cơ chế chính sách). Khi thành phố đưa ra chương trình này đã có sự phối hợp tốt giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp, với nhà trường, kết hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương, giữa nghiên cứu thử nghiệm ra sản phẩm thương mại…  Và thực tế TPHCM chủ trì ngành công nghiệp này, nhưng đây là làm cho cả nước và vai trò Nhà nước hết sức quan trọng, khi 7 dự án, đề án để xây dựng ngành thì 6 cái có sự tham gia của Nhà nước. Nhưng để phát triển mạnh ngành này cần phải có sự ưu tiên hàng đầu về chính sách và bám sát bộ, ngành mới thành công được.  Phó Chủ tịch UBND TPHCM Lê Mạnh Hà cho rằng, chương trình phát triển công nghiệp vi mạch sẽ tạo ra cuộc cách mạng cho công nghiệp điện tử, công nghiệp CNTT của cả nước, trong bối cảnh ngành công nghiệp điện tử hay CNTT hiện nay, phần cứng chỉ lắp ráp, vặn ốc vít là chính, phần mềm thì gia công và chỉ làm được các ứng dụng vừa phải. Chính vì thế, phát triển công nghiệp vi mạch là làm “bộ não” cho các thiết bị điện tử và đặc biệt nó đảm bảo được vấn đề an ninh khi “bộ não” do chính trong nước sản xuất.  Còn theo ông Ngô Đức Hoàng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu – Đào tạo vi mạch ICDREC (ĐHQG TPHCM), kể từ khi ICDREC thiết kế và chế tạo thành công con chip đầu tiên vào năm 2008, Việt Nam đã có tên trên bản đồ ngành công nghiệp chip thế giới và đến nay nằm trong 3 nước ASEAN dẫn đầu về thiết kế vi mạch. Với sự phát triển như trên, việc thiết kế vi mạch ở TPHCM tiếp tục phát triển mạnh khi một số con chip tiếp theo đã ra đời và thử nghiệm đã hoạt động trong nhiều sản phẩm điện tử.  Cơ hội phát triển và cạnh tranh  Tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ghi nhận những kết quả TPHCM đã làm trong thời gian qua và với ngành vi mạch và cho biết hiện nay Chính phủ đã phê duyệt 6 sản phẩm quốc gia và 3 sản phẩm dự bị, trong đó có vi mạch bán dẫn. Vì vậy, thành phố cần gấp rút hoàn thiện chương trình phát triển ngành này để trình Chính phủ xem xét, hỗ trợ, phê duyệt.  Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng đặt ra 3 vấn đề lớn. Thứ nhất lợi thế của ta là gì so với các nước bạn? Những nước có cùng xuất phát điểm với chúng ta trong khu vực đã vươn lên ngang tầm với các “đại gia” trong lĩnh vực này. Vấn đề thứ hai là chúng ta cạnh tranh cái gì? Với một nước đi sau, xác định vấn đề này sẽ tính được đầu ra cho sản phẩm. Trước hết công nghệ lõi của công nghiệp vi mạch không lạc hậu; thích nghi hóa cho nhóm sản phẩm đặc thù để phù hợp với năng lực và công nghệ đang sở hữu; cạnh tranh thiết kế sản phẩm cụ thể; cạnh tranh quá trình sản xuất và có chi phí thấp…   Tiếp đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ra, trong thời gian qua, các “ông lớn” trong lĩnh vực vi mạnh đã vào Việt Nam khá đông đảo, hết Intel, đến Samsung, Nokia, sắp tới là IBM… Rồi kế đó là vấn đề an ninh thông tin của Việt Nam trước cuộc chiến tranh mạng toàn cầu. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu chúng ta phải xây dựng được cho mình các thiết bị và hàng rào kỹ thuật đảm bảo an toàn. Vấn đề thứ 3 này cần được xem xét kỹ, làm cơ sở để xây lộ trình thực hiện cho chương trình vi mạch của TPHCM.  Các vấn đề Phó Thủ tướng đặt ra cho thấy TPHCM tiếp tục nhận được sự quan tâm của Chính phủ trong chương trình phát triển vi mạch với kỳ vọng TPHCM sẽ tìm ra hướng đi đúng nhất, tốt nhất. Chính vì thế, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, phát triển vi mạch phải góp phần vào quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý thông tin, đảm bảo an ninh…  “Vi mạch bán dẫn là sản phẩm quốc gia, rất cần các ngành chức năng làm rõ thêm những chính sách ưu đãi của Nhà nước. Cần sớm có chính sách đặc thù với chuyên gia Việt kiều về Việt Nam làm việc vì hiện những ưu đãi chưa đủ mạnh để thu hút nguồn lực này”  Phan Minh Tân (Giám đốc Sở KH-CN TPHCM)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng công nghiệp lần IV: Không có công thức chung      Cách mạng công nghiệp lần IV là gì, đặc trưng và tác động của nó tới nền kinh tế ra sao – các diễn giả trong và ngoài nước mới đây đã thảo luận những câu hỏi nêu trên tại một hội thảo khoa học quốc tế do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Viện Hàn lâm KHXH và Tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.    Hội thảo khoa học quốc tế “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam”, diễn ra ngày 25/11, đã thu hút hơn 300 đại biểu là lãnh đạo, đại diện các bộ, ban, ngành, các nhà khoa học và các tổ chức trong và ngoài nước.  Hội thảo chủ yếu tập trung làm rõ các vấn đề bao gồm: đặc trưng, tác động và hàm ý chính sách của cuộc cách mạng công nghiệp lần IV tới các nước phát triển và đang phát triển; kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các chính sách và chiến lược và chương trình phát triển quốc gia; nhận diện những thuận lợi và khó khăn của cuộc cách mạng này đối với Việt Nam; và đề xuất những định hướng chính sách phát triển cho các ngành trong bối cảnh mới.      Cuộc cách mạng công nghiệp lần IV phản ánh sự thay đổi lớn và có thật trên toàn cầu. Mỗi quốc gia cần căn cứ vào bối cảnh cụ thể của mình để có thể xây dựng những chính sách phù hợp nhất, vì kinh nghiệm quốc tế không phải lúc nào cũng áp dụng được cho quốc gia. – GS Mike Gregory      Theo GS Mike Gregory, nguyên Giám đốc điều hành Viện Cambridge – MIT, nguyên Trưởng bộ môn chế tạo và quản lý, Đại học Cambridge, hiện nay vẫn chưa có khái niệm chính thức về cuộc cách mạng công nghiệp lần IV, nó có thể liên quan đến những công nghệ làm thay đổi cuộc sống như công nghệ thông tin giúp số hóa và kết nối bằng internet; công nghệ sinh học; công nghệ nano; vật liệu tiên tiến; hay mạng lưới vạn vật kết nối (IoT). Tuy nhiên, dù là gì thì sự tương tác giữa những công nghệ này có thể tạo ra những tác động lớn và có những hệ quả mà chúng ta không lường trước được, do vậy cần hiểu rõ để có những chính sách phù hợp ở từng quốc gia.  Hiện nay, nền công nghiệp đã thay đổi, không còn là sản xuất trong công xưởng mà dịch vụ đã phân tán hơn. Các công ty tập trung chuyên môn vào các quy trình khác nhau, có vẻ tách biệt nhưng thực tế thì vẫn nằm trong quy trình chung. Chẳng hạn như hãng Apple chỉ tập trung vào thiết kế, còn chế tạo linh kiện thì sẽ có các công ty khác nhau và nằm ở nhiều nước đảm nhận. Như vậy, khi diễn ra, cuộc cách mạng công nghiệp lần IV sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến các nước chứ không chỉ những nước phát triển, đồng thời, nó sẽ tác động đến tất cả các ngành, GS Mike Gregory cho biết thêm.  Cũng nêu ra những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần IV, ông Tống Viết Trung, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Viettel, cho rằng, “khi áp dụng các công nghệ cao thì các tập đoàn đa quốc gia ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nhân công giá rẻ và hoàn toàn có thể di rời nhà máy, đặc biệt là lĩnh vực lắp ráp, chế tạo, dệt may về các quốc gia phát triển hơn để tạo việc làm tận thu chuỗi giá trị, ảnh hưởng đến triển vọng của Việt Nam trở thành một công xưởng mới của thế giới, dẫn đến nguy cơ tăng tỉ lệ thất nghiệp, mất ổn định kinh tế xã hội nếu không có sự dịch chuyển kịp thời về cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động”. Tuy nhiên, với lợi thế đang ở thời kì dân số vàng, tỉ lệ người ở độ tuổi lao động chiếm 68%, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để thích ứng với công nghệ số. Cùng với việc tham gia hội nhập quốc tế sâu rộng khi kí kết nhiều chương trình, hiệp định thương mại mới, Việt Nam chắc chắn sẽ không nằm ngoài ảnh hưởng của cuộc cách mạng này, theo ông Trung.   Đề xuất định hướng  Trước những thách thức mà Cuộc cách mạng công nghiệp lần IV đặt ra, các diễn giả đã đề xuất Việt Nam cần xây dựng những chính sách và chương trình phù hợp với điều kiện đặc thù của mình.  Theo GS Mike Gregory, Việt Nam cần có cách tiếp cận mang tính hệ thống để biết được từng bước cụ thể cần làm trong giai đoạn mới và tiến hành theo từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể thì mới mang lại tác dụng; xây dựng đội ngũ kĩ sư có hiểu biết đa ngành để có thể hiểu được và vận hành hệ thống tích hợp; có cơ chế giúp các nhà hoạt động chính sách nắm bắt được những thay đổi trên thế giới để có thể đưa ra được những chương trình thích hợp.  Còn theo ông Tống Viết Trung, Việt Nam cần sẵn sàng về nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng đào tạo chuyên sâu ở đẳng cấp quốc tế đối với các công nghệ mũi nhọn.Với giáo dục quốc dân đại trà, cần tăng cường đào tạo bổ sung kĩ năng số, xóa mù về công nghệ số, trang bị kĩ năng sử dụng thiết bị số cho mọi lứa tuổi.  Cùng nhấn mạnh việc cuộc cách mạng lần thứ IV đang làm thay đổi cách thức làm việc của con người và tốc độ thích ứng với cuộc cách mạng số sẽ là yếu tố then chốt, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Tập đoàn FPT, cho rằng, Việt Nam cần thay đổi toàn diện giáo dục và đào tạo để có nguồn nhân lực vừa có tinh thần khởi nghiệp, vừa có năng lực sáng tạo. Những nhân lực này cũng cần ứng dụng nhanh nhất những thành tựu mà cuộc cách mạng số tạo ra để nâng cao đột suất, đột biến cho nền kinh tế.       Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4:  Cơ hội và thách thức đối với quản lý nhà nước      Cách mạng Công nghiệp 4 (CMCN4) diễn ra như vũ bão, tác động sâu rộng đến kinh tế, xã hội và từng cá nhân, đã, đang và sẽ tạo ra những cơ hội và thách thức to lớn đối với quản lý nhà nước trong thế kỷ thứ 21.      Tổ chức Lao động quốc tế ILO đã dự báo 86% lao động trong ngành dệt may và da giày của Việt Nam có nguy cơ mất việc do bị thay thế bởi sewbots (robot may vá).   Cơ hội và thách thức đan xen  Hiện nay, chưa thể đánh giá đầy đủ những thay đổi sẽ diễn ra. Ngay cả những nước đã xây dựng chương trình hành động cụ thể để thực hiện CMCN 4 như Mỹ, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc v.v. cũng thừa nhận đang phải đối mặt với những thách thức nhiều mặt. Cơ cấu kinh tế phải thay đổi, từng người sẽ phải học suốt đời, và sẵn sàng làm việc ở những nơi khác, với những đồng nghiệp mới, đến từ những nước khác nhau. Giáo dục, đào tạo đứng trước những thay đổi to lớn nhất v.v  Xã hội phát triển rất nhanh, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó, với sự xuất hiện liên tục những sản phẩm, dịch vụ mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống con người. Cái gì còn đúng ngày hôm qua có thể sẽ trở nên lỗi thời ngay ngày hôm nay. Tuổi thọ của các sản phẩm sẽ giảm ít nhất 25% vì sẽ bị nhanh chóng thay thế bởi những sản phẩm mới, ưu việt hơn như thực tế đã cho thấy qua sự lỗi thời và biến mất của điện thoại để bàn, máy tính để bàn, máy ảnh chụp phim v.v. Người ta đang nỗ lực tạo những bộ phận cơ thể con người như quả tim trên cơ sở vận dụng công nghệ cấy mô trên những mô hình chính xác được tạo ra bởi công nghệ in 3D. Ô tô điện tự lái, tàu thủy, máy bay tự lái sẽ thay thế những công nghệ cũ, dịch vụ taxi sẽ không cần nữa, trường dạy lái xe cũng sẽ không còn ai đến học v.v. Hàng may mặc thời trang sẽ được may đo, sản xuất theo sở thích từng người, gửi đến tận nhà v.v. Doanh nghiệp sẽ phải liên tục đổi mới mặt hàng, dịch vụ, cơ cấu kinh tế cũng sẽ phải điều chỉnh phù hợp với tiến bộ KH&CN và biến đổi của thị trường thế giới.  Nhà nước khuyến khích sáng tạo để phát triển bền vững    KH&CN quyết định sức mạnh kinh tế, quốc phòng của đất nước, chậm là bị tụt hậu một cách lạc lõng trong thế giới ngày nay. Hoàn toàn không phải tình cờ mà ngày 13.9. 2017 vừa qua, Tổng thống Mỹ D.Trump đã quyết định ngăn chặn các công ty Trung Quốc mua lại một số công ty công nghệ của Mỹ. Chức năng, phương pháp, hình thức hoạt động của nhà nước đã và sẽ phải thay đổi liên tục nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự sáng tạo và đổi mới nhanh chóng thay vì muốn ổn định, kiểm soát xã hội theo những tiêu chí đã lỗi thời và trở thành bất lực. Thay vì triệu tập hội họp mất thì giờ, tốn kém, họp trực tuyến xuyên quốc gia từ Mỹ và châu Âu kết nối với khắp thế giới đã trở thành phổ biến. Đổi mới luật pháp để tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ và công nghệ mới là yêu cầu hiển nhiên đối với tất cả các quốc gia vì không thể dùng các luật pháp cũ để giám sát công nghệ mới như trường hợp của Uber và Grab vừa qua. Nhà nước cần linh hoạt đón nhận và ủng hộ đổi mới, sáng tạo, thay đổi luật pháp, chính sách để chủ động thúc đẩy CMCN 4 thay vì giáo điều, bảo thủ, áp đặt những điều xưa cũ không còn phù hợp.  Giáo dục cũng phải thay đổi mạnh mẽ. Thay vì đòi hỏi trẻ em học thuộc lòng, thụ động vâng lời, “gọi dạ, bảo vâng”, triết lý giáo dục phải nhằm khuyến khích trẻ con phát huy trí tò mò, sáng tạo, đặt câu hỏi, tranh luận bình đẳng với bố mẹ và thầy, cô giáo. Trang thiết bị, phương pháp giảng dạy đang thay đổi mạnh mẽ. Nước Đức đang đề xuất đào tạo lại các cô giáo trên 50 tuổi về công nghệ thông tin, đưa Instagram vào giờ học vì trẻ con đã sử dụng thông thạo điện thoại thông minh, các trò chơi điện tử sẽ cảm thấy giờ học xa lạ với cuộc sống hằng ngày của các em.      Nhà nước cần nâng cao chất lượng của công tác dự báo kinh tế-xã hội, kết hợp giữa dự báo tiến bộ KH&CN với những quyết định đầu tư kinh tế-xã hội, khắc phục cách quyết định theo “nhóm lợi ích” hay cách làm tùy hứng, quyết định tại chỗ, không có căn cứ khoa học và kinh tế-kỹ thuật. Nhà nước cần có quy chế nghiêm ngặt về chế độ phản biện độc lập, trách nhiệm cá nhân của người phản biện và giám sát, tránh cách làm hình thức như đã xảy ra.        Thách thức lớn nhất đối với người lao động là người máy, trí thông minh nhân tạo sẽ thay thế họ trên rất nhiều lĩnh vực, C.Frey (2013) đã dự báo 47% việc làm trong công nghiệp, xây dựng và nông-lâm-ngư nghiệp ở Mỹ sẽ được thay thế bằng người máy.  Tổ chức Lao động quốc tế ILO đã dự báo 86% lao động trong ngành dệt may và da giày của Việt Nam sẽ có nguy cơ mất việc. Nhà nước phải thuyết phục, tạo điều kiện, khuyến khích hàng triệu người lao động từ thành thị đến nông thôn học tập suốt đời, sẵn sàng học một nghề mới, hợp tác với những cộng sự đến từ nước khác. Hệ thống giáo dục sẽ phải phát triển để thực hiện nhiệm vụ khổng lồ này. Cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ người máy là “thiên thần cứu tinh hay ác quỷ” đối với người lao động, như có nên đánh thuế người máy hay không. Nếu không đạt được đồng thuận xã hội, tạo việc làm mới cho những lao động mất việc vì người máy, xung đột xã hội sẽ khó tránh khỏi như đã diễn ra việc công nhân mất việc tấn công người máy.  Đã xuất hiện những nhà máy sử dụng người máy trên dây chuyền cả nghìn mét không có ánh đèn vì người máy hoạt động không cần ánh sáng. Một số nhà đầu tư đã đầu tư ở Mỹ, thay vì đầu tư ở những nước lao động giá rẻ, để tận dụng lợi thế về người máy, trí thông minh nhân tạo và chi phí vận chuyển thấp. Tuy vậy, chưa xuất hiện làn sóng rút ồ ạt đầu tư nước ngoài về các nước phát triển như một số dự đoán, có thể sẽ có những quyết định riêng lẻ trong tương lai.  Công nghệ thông tin, kết nối sâu rộng có thể cho phép nhà nước xâm phạm vào đời sống riêng tư của công dân, dẫn đến nguy cơ hạn chế quyền tự do cá nhân bằng công nghệ số, điều này cũng đã được các nhà khoa học cảnh báo.  An toàn mạng trở thành yêu cầu cấp thiết để số hóa các doanh nghiệp, dịch vụ. Hiện nay, không ít tập đoàn vẫn lo ngại về sự an toàn của kho dữ liệu của họ trên điện toán đám mây. Nhà nước phải có nỗ lực quốc gia và quốc tế để bảo đảm an ninh mạng trước những vụ tấn công từ những hacker trong nước và ngoài nước.  Sự kết nối sâu rộng của nền kinh tế số hóa tạo ra sức mạnh và sự tự chủ của những cá nhân về thông tin, cơ hội học tập, kinh doanh xuyên quốc gia. Một người trẻ tuổi có thể kinh doanh qua mạng, có thu nhập đủ sống, không còn phụ thuộc vào giấy phép con hay điều kiện kinh doanh và can thiệp của quan chức hành chính nhà nước. Anh ta có thể lắp điện mặt trời, điện gió và cũng không còn phụ thuộc vào mạng lưới điện của tập đoàn doanh nghiệp nhà nước. Trong tương lai không xa, sử dụng ô tô điện tự lái, anh ta cũng không phải mua xăng mà có thể tự nạp điện sử dụng năng lượng mặt trời. Mức độ tự do, tự chủ của cá nhân được nâng lên rất nhiều như Karl Marx đã từng tiên đoán trong “Hệ tư tưởng Đức” về chủ nghĩa cộng sản là “sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự tự do của tất cả mọi người”. Nhà nước cần và có thể làm gì để duy trì và tăng cường tính cộng đồng, kiểm soát thu nhập, đánh thuế đối với những công dân này? Ngay cả những nhà nước hùng mạnh nhất cũng đứng trước những thách thức không nhỏ như làm sao kiểm soát được tài chính của những tập đoàn xuyên quốc gia thanh toán nội bộ với nhau qua mạng.  Thế hệ sau sẽ thay đổi nhanh và khác nhiều so với thế hệ trước. Nhà nước, các tổ chức xã hội, gia đình phải hiểu, thích nghi với những nhu cầu, tác phong mới. Báo Tiền Phong ngày 10/9 đưa tin hàng trăm thanh niên cầm chảo chạy quanh Bờ Hồ Hoàn Kiếm hưởng ứng lời kêu gọi trên mạng xã hội mô phỏng theo một trò chơi trên mạng là một ví dụ.  Cơ hội và thách thức lớn nhất đối với tất cả các nhà nước xuất hiện trên lĩnh vực kinh tế, từ công nghiệp, xây dựng đến dịch vụ v.v… Ngành sản xuất ô tô hùng mạnh của nước Đức đã quá chậm trước sự xuất hiện ô tô điện tự lái là một ví dụ cho thấy không ai có thể tự ru ngủ mình trên vinh quang của quá khứ. Đã có dự báo ô tô sử dụng động cơ đốt trong sẽ hết thời vào năm 2035, vậy thì đầu tư vào lĩnh vực này bây giờ có quá muộn không?  Năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, sinh khối như rơm, rạ, củi…) dự kiến sẽ cung ứng 80% nhu cầu năng lượng của loài người trong tương lai không xa, vai trò của nhiên liệu hóa thạch, nhất là than giảm đi nhanh chóng, các trạm xăng sẽ được thay thế bằng trạm nạp điện.  Lợi thế từ tài nguyên khoáng sản và lao động lương thấp đang mất dần, Việt Nam phải tạo ra lợi thế mới từ sáng tạo KH&CN, tăng thêm giá trị gia tăng bằng chế tác sâu hơn, kết nối theo chuỗi giá trị với các doanh nghiệp quốc tế. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với công cuộc tái cơ cấu kinh tế ở nước ta.  Nhà nước cần nâng cao chất lượng của công tác dự báo kinh tế-xã hội, kết hợp giữa dự báo tiến bộ KH&CN với những quyết định đầu tư kinh tế-xã hội, khắc phục cách quyết định theo “nhóm lợi ích” hay cách làm tùy hứng, quyết định tại chỗ, không có căn cứ khoa học và kinh tế-kỹ thuật. Nhà nước cần có quy chế nghiêm ngặt về chế độ phản biện độc lập, trách nhiệm cá nhân của người phản biện và giám sát, tránh cách làm hình thức như đã xảy ra.  Hy vọng CMCN 4 sẽ thúc đẩy công cuộc cải cách nhà nước theo hướng hình thành một nhà nước kiến tạo, liêm khiết, sáng suốt, trọng dụng nhân tài và thúc đẩy KH&CN.    Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Ưu tiên cải cách thể chế và đổi mới giáo dục      Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết về cải cách thể chế và khoa giáo. Đó là những nhận định chính của các chuyên gia tại tọa đàm “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Đâu là giải pháp quan trọng nhất với Việt Nam?” do Tia Sáng tổ chức ngày 24/6 vừa qua.      Cần triển khai giáo dục STEM từ phổ thông. Ảnh: Học sinh thử nghiệm máy in 3D trong ngày hội STEM năm 2017.  Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nhắc tới nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Đầu tháng 5/2017, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và giao nhiệm vụ cho các bộ ngành liên quan. Tuy nhiên, ý kiến của giới nghiên cứu xung quanh vấn đề này còn rất khác nhau, trong khi một số nhà khoa học, đặc biệt là các nhà công nghệ cho rằng cần thay đổi nhận thức về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và có những giải pháp ứng phó thì một số ý kiến khác lại cho rằng năng lực tiếp cận của Việt Nam với cuộc cách mạng này vẫn là rất “xa vời”. Do đó, Tia Sáng tổ chức buổi tọa đàm “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Đâu là giải pháp quan trọng nhất với Việt Nam?” để thảo luận về vấn đề này.  Cải cách với tinh thần “thực học”, “thực làm”  Chuyên gia Nguyễn Thế Trung, người tham gia viết báo cáo về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của Bộ KH&CN trình Chính phủ vào tháng 3/2017 nhận định rằng các cuộc cách mạng công nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn: Nổi lên, tăng trưởng, trưởng thành và suy giảm. Nhưng trong lịch sử, Việt Nam thường không kịp “chuẩn bị” cho giai đoạn nổi lên của các cuộc cách mạng công nghiệp, do đó chỉ “hứng” thành quả của cách mạng công nghiệp với vai trò là “người tiêu dùng vĩ đại” thay vì trở thành một “nhà cung ứng”. Ví dụ, sau khi bỏ lỡ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai trong thời kỳ Pháp thuộc, sang tới thời kỳ thế giới chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp lần thứ ba thì Việt Nam đang trong giai đoạn chiến tranh và không đủ khả năng chuẩn bị để trở thành nhà cung ứng. Vì thế, khi Việt Nam đang nỗ lực đổi mới kinh tế xã hội thì cách mạng công nghiệp lần thứ ba trên thế giới đã đạt tới giai đoạn “trưởng thành”, và chúng ta buộc phải trở thành người tiêu dùng. “Câu hỏi đặt ra là nếu cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra, thì làm sao để năm 2030 chúng ta đi được vào con đường phát triển đó mà không tiếp tục trượt đi?”.    Biểu đồ 1: Việt Nam đã bỏ lỡ các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây. Tại năm 2017, Việt Nam mới ở giai đoạn tăng trưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ ba, trong khi thế giới đang chuyển sang công nghiệp lần thứ tư. Thách thức đặt ra là làm sao chuyển đổi kịp để tăng năng lực đáp ứng cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời vừa phải là “người tiêu dùng” thông minh trong cách mạng công nghiệp lần ba. Nguồn: Nguyễn Thế Trung.  Tuy nhiên, sẽ rất khó chuyển đổi ngay các ngành công nghiệp trong nước hay tạo ra ảnh hưởng thị trường mà chỉ có thể kỳ vọng vào các biện pháp lâu dài gồm cải cách khoa học, giáo dục, văn hóa và cải cách thể chế. Anh Nguyễn Thế Trung đề xuất cần phải có các hoạt động tư vấn, phản biện chính sách, triển khai các hoạt động định hướng xã hội như triển khai giáo dục STEM từ phổ thông, khuyến đọc toàn xã hội; thúc đẩy phong trào sáng tạo mở (dữ liệu mở, học liệu mở, khoa học mở), kinh bang tế thế và đổi mới sáng tạo. Cụ thể, chương trình giáo dục phổ thông và đại học sẽ thay đổi theo hướng “thực học, thực làm”. Ở bậc phổ thông, việc triển khai giáo dục STEM là yêu cầu cấp thiết. Còn ở bậc đại học, các trường đại học phải thay đổi quy trình xây dựng chương trình đào tạo. Trước đây đào tạo ở Việt Nam thường theo quy trình: thiết lập chương trình đào tạo, cung cấp chương trình đào tạo và học sinh tốt nghiệp, đi làm, trong đó đào tạo đại học chỉ dừng lại ở khâu tốt nghiệp. Nhưng trong bối cảnh mới, các đại học sẽ phải thay đổi mục tiêu đào tạo, tìm hiểu quá trình sinh viên tìm việc sau tốt nghiệp cũng như đóng góp của họ vào việc tăng hiệu quả cho công ty để từ đó quay trở lại thay đổi thiết kế chương trình đào tạo. “Ví dụ, cách làm của APEC là thuê một công ty làm dữ liệu tìm 350.000 thông tin niêm yết về việc làm ở Mỹ, sau đó tính toán trung bình một nghề cụ thể kiếm được bao nhiêu tiền, cần quan tâm tới bao nhiêu kỹ năng cần thiết, để từ đó đưa ra một bộ kỹ năng về khoa học dữ liệu cho người học phù hợp nhất với thị trường. Việt Nam cũng có thể thống kê nhân lực như vậy”, anh Nguyễn Thế Trung nói.  Đồng tình với quan điểm phải cải cách hệ thống giáo dục phổ thông theo hướng thực học, thực nghiệp, dân chủ và thúc đẩy liên kết giữa giáo dục đại học với doanh nghiệp nhưng GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội, Tổng chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cho rằng quá trình cải cách sẽ gặp rất nhiều khó khăn do nguồn lực từ nhà nước đang rất hạn chế. Đơn cử, việc thực hiện giáo dục STEM trên phạm vi rộng sẽ gặp nhiều khó khăn vì các trường phổ thông đều rất thiếu cơ sở vật chất (phòng học, phòng thí nghiệm) và chưa đủ nguồn nhân lực dạy những nội dung mới mẻ về công nghệ. Ông dẫn chứng: “Ngay cả ở các thành phố lớn hiện nay, muốn cho học sinh học thêm buổi thứ sáu trong tuần cũng rất khó bố trí vì thiếu phòng học. Còn ở miền núi, chúng ta cũng đề cập tới việc dạy tin học sớm cho học sinh tiểu học để xóa khoảng cách số giữa các vùng nhưng thiếu cơ sở vật chất”.  Tuy nhiên, không ít ý kiến tại tọa đàm khẳng định khu vực dân sự hoàn toàn có khả năng “san sẻ” gánh nặng nguồn lực tài chính và nhân lực với nhà nước trong quá trình đổi mới giáo dục. Theo anh Nguyễn Quang Thạch, người đóng vai trò quan trọng trong vận động nguồn lực xã hội cho chương trình “Sách hóa nông thôn” để xây dựng 18.000 tủ sách cho học sinh cả nước, cho biết “chúng tôi đang tăng tốc chương trình sách hoá nông thôn và đặt mục tiêu tất cả các lớp học ở nông thôn đều có sách đọc mà không lấy một đồng nào của nhà nước.” Đôi khi biện pháp kêu gọi rất đơn giản, đó là truyền thông khuyến khích trẻ em sử dụng tiền mừng tuổi để mua sách cũng có thể tạo ra nguồn lực mua hàng triệu cuốn sách cho trẻ em, anh Thạch nói. Tương tự, anh Đỗ Hoàng Sơn, giám đốc công ty cổ phần sách Long Minh, một trong những người tham gia truyền thông và tổ chức nhiều hoạt động giáo dục STEM bằng nguồn vốn xã hội cũng cho biết, Liên minh STEM đã tập huấn nhiều lớp kỹ năng cơ bản về STEM cho hàng nghìn lượt giáo viên nhiều tỉnh phía Bắc và có thể lập kế hoạch, huy động nguồn lực xã hội để tiếp tục mở rộng các lớp tập huấn này.  Thúc đẩy khu vực tư nhân  TS. Lê Đăng Doanh lo ngại “chúng ta sẽ tiếp tục ở lại bên lề của lịch sử” trước cuộc cách mạng công nghệ thứ tư bởi vì khu vực kinh tế tư nhân – nhân tố giữ vai trò chính trong các cuộc cách mạng công nghiệp – đang rất yếu ớt và nhiều khi “phải dựa vào ‘vốn’ thân hữu nhiều hơn là ưu tiên đầu tư vào khoa học và công nghệ”. Do đó, theo ông, trước hết “chính phủ cần phải ngồi lại với giới doanh nghiệp để phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức) và đưa ra chương trình hành động mới, trong đó có giao ‘đầu bài’ cho các doanh nghiệp. Vì cách mạng công nghiệp này diễn ra ở phía doanh nghiệp chứ không diễn ra trong các chỉ thị”. Và về lâu dài, “để thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chỉ có một giải pháp duy nhất là phải cải cách, công khai minh bạch, thúc đẩy trách nhiệm giải trình”, TS. Lê Đăng Doanh nói.  Những doanh nghiệp trong nước tham gia vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ chết yểu nếu không có thị trường. Vì vậy, một trong những mục tiêu trọng tâm của nhà nước trong cải cách thể chế là tạo ra môi trường bình đẳng, lành mạnh cho thị trường công nghệ trong nước và không có “vùng đặc quyền”, theo GS.TS Trần Xuân Hoài (Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học, Viện Hàn lâm KH&CN VN). “Năng lực ngành công nghệ thông tin có thể bắt kịp với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư. Ví dụ, nhiều công ty công nghệ thông tin của Việt Nam đủ sức làm những dự án lớn về giao thông thông minh, thành phố thông minh nhưng họ có cơ hội tiếp cận không hay dự án đó lại ‘rơi’ vào tay các ‘ông lớn’ nước ngoài vì một lý do nào đó? Trong khi đó, các công ty công nghệ thông tin ở nhiều nước phát triển rất mạnh vì nhà nước đặt ‘đầu bài’ cho họ làm”, ông nói.      Trước hết chính phủ cần phải ngồi lại với giới doanh nghiệp để phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức) và đưa ra chương trình hành động mới, trong đó có giao “đầu bài” cho các doanh nghiệp. Vì cách mạng công nghiệp này diễn ra ở phía doanh nghiệp chứ không diễn ra trong các chỉ thị. TS. Lê Đăng Doanh        Truyền thông cần “tỉnh táo”  Để thông tin đúng cho giới làm chính sách và người dân về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các chuyên gia tham dự tọa đàm cho rằng giới truyền thông nên tránh “thổi phồng” khả năng Việt Nam sẽ “dẫn đầu” cách mạng công nghiệp lần thứ tư hoặc đưa ra các dự đoán “mông lung” khiến người dân rơi vào tình trạng “bị tung hỏa mù”.  Giới khoa học và truyền thông cũng cần có cái nhìn “tỉnh táo” kiểm chứng thông tin, thậm chí là phải đính chính lại thông tin sai lệch theo hướng tiêu cực khiến dư luận hoang mang. Ví dụ, về tỉ lệ tự động hóa, “báo chí đã từng đăng báo cáo của ILO về nguy cơ 80% lao động trong ngành may mặc sẽ bị thay thế bởi robot. Nhưng thực ra ILO quốc tế không làm báo cáo này, mà do ILO Thái Lan thuê một công ty máy tính để làm báo cáo đó. Và báo cáo đó không có căn cứ, không chính xác và không nên quá lo ngại về điều đó. Trong khi đó, Liên đoàn quốc tế về người máy tự động đưa ra số liệu về tỉ lệ thay thế này là 10%, nhưng việc thay thế lao động bằng người máy cũng phải nhận được sự chấp nhận của xã hội”, TS. Lê Đăng Doanh nói.  Mặt khác, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, dư luận sẽ ngày càng dành nhiều sự quan tâm tới thực trạng và triển vọng phát triển KH&CN nước nhà. Chính vì vậy, đây là thời cơ để các cơ quan truyền thông sát cánh hơn với ngành KH&CN, cung cấp đầy đủ thông tin để người dân và các cấp chính quyền có ý thức cao hơn về những khó khăn trong cơ chế và đầu tư cho KH&CN ở Việt Nam, theo GS.TS Trần Xuân Hoài. Qua đó tạo sự đồng thuận xã hội nhằm thúc đẩy những chính sách, giải pháp tháo gỡ của nhà nước cũng như nguồn lực xã hội đầu tư xứng đáng hơn cho KH&CN.       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cách mạng ngành y tế bằng công nghệ từ xa và di động      Theo PricewaterhouseCoopers, với cùng lượng  bác sỹ và trang thiết bị hiện nay, đến năm 2017 châu Âu có thể tiết kiệm  tới 135 tỷ đô la Mỹ và chữa trị được thêm cho 24 triệu bệnh nhân nữa  nếu áp dụng các công nghệ chăm sóc sức khỏe từ xa và di động.       Thông tin sức khỏe qua di động  Ở Cameroon, 5.000 cư dân mới có một bác sĩ nhưng đồng thời, một nửa dân số sở hữu điện thoại di động. Bởi vậy nhà cung cấp mạng Orange Cameroon cùng Bộ Y tế đã vừa dựng lên dịch vụ tư vấn từ xa qua tin nhắn My Healthline.  Dịch vụ này cho phép người sử dụng gửi những câu hỏi về sức khỏe qua tin nhắn mà không lộ danh tính. Họ có thể hỏi các bác sĩ, y tá trong nước về các vấn đề HIV/AIDS, các bệnh lây lan qua đường tình dục, các biện pháp tránh thai,v.v. và sẽ nhận được câu trả lời bảo mật trong vòng một giờ.   Có rất nhiều các ví dụ khác về những dịch vụ chăm sóc sức khỏe qua di động ở các nước phát triển.   Bác sĩ trong bốt  Ở Ohio (Mỹ), hãng khởi nghiệp HealthSpot đã phát triển các bốt tư vấn sức khỏe tự động từ xa, có thể được lắp đặt tại các tòa nhà văn phòng và trung tâm thương mại, giúp những người có bệnh nhẹ không phải mất công đến phòng khám, bệnh viện.   Các bốt HealthSpot được trang bị máy quay, mic và màn hình chất lượng cao để bệnh nhân và bác sĩ có thể nhìn thấy và nói chuyện với nhau.   Chúng cũng được trang bị các thiết bị y tế như ống nghe, nhiệt kế và máy đo huyết áp. Bệnh nhân có thể tự sử dụng các thiết bị này theo chỉ dẫn của bác sĩ, sau đó các thông số sẽ được chuyển đến bác sĩ qua mạng.  Đơn thuốc được kê và gửi đến nhà thuốc qua các thiết bị điện tử, các thông tin được hợp nhất một cách an toàn trong hệ thống hồ sơ sức khỏe địa phương.  Khánh Minh dịch theo bbc.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng sản xuất thực phẩm qua blockchain      Sử dụng công nghệ blockchain là một chiến lược cho phép theo dõi thực phẩm từ một hệ sinh thái các nhà cung cấp đến các kệ hàng, và sau hết là đến người tiêu dùng.      Cách mạng sản xuất thực phẩm qua blockchain  Bảo vệ tiêu chuẩn vệ sinh  Blockchain là một cơ sở dữ liệu được phân bổ gổm các khối (block) dữ liệu, từ đó sinh ra tên blockchain (chuỗi khối). Mỗi block gồm một lô được “dán” nhãn thời gian (timestamp) các giao dịch riêng lẻ có hiệu lực, cùng với một mã hash (thông tin đã được băm ra thành một chuỗi ký tự để bảo mật) của khối trước đó, tạo ra sự liên kết giữa hai khối. Hash là một giá trị ngắn hoặc chìa khoá đại diện cho một chuỗi gốc lớn hơn.  Theo tổ chức Y tế thế giới, 10% dân số toàn cầu bị mắc một căn bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Hầu hết các bệnh này khó phòng ngừa.Tuy nhiên, thông qua việc sử dụng công nghệ blockchain, nguy cơ mắc các bệnh nói trên có thể giảm thiểu.  Trước khi thực phẩm đến các mâm ở nhà hàng hoặc các quầy kệ tạp hoá, công nghệ blockchain có thể ngăn ngừa các bệnh lây nhiễm từ các vi trùng như E. coli. Hệ thống này cho phép người mua theo dõi chất lượng nguồn cung thực phẩm, cũng như lịch trình thực phẩm được vận chuyển. Từ đó, các bên liên quan trong chuỗi cung ứng có thể xác định các nguy cơ tiềm ẩn với một vài cú nhấp chuột trên màn hình.  Một hệ thống được blockchain hỗ trợ cho phép theo dõi bằng kỹ thuật số thông tin sản phẩm trong một chuỗi cung ứng thực phẩm, gồm các chi tiết nguồn gốc canh tác, số lô hàng, dữ liệu chế biến và nhà máy, ngày hết hạn và nhiệt độ lưu trữ, cũng như chi tiết ship hàng.  Thông tin thích hợp được lưu lại trong blockchain ở mỗi bước của quá trình hàng hoá chuyển từ các cơ sở cung ứng đến những điểm người tiêu dùng mua hàng. Mỗi một máy tính trong một mạng blockchain phải xác minh thông tin của mỗi một giao dịch riêng lẻ liên tục, và một khi đạt được đồng thuận, điều đó trở thành một “nhật ký” vĩnh viễn không thể thay đổi. Bằng cách này, các ứng dụng blockchain bảo đảm tính chính xác của toàn bộ thông tin liên quan đến chuỗi cung ứng thực phẩm, được lưu trữ trong các mạng của chúng.  Tối ưu hoá sản xuất thực phẩm bằng blockchain  Gạo là lương thực chủ yếu của Đông Nam Á, sản xuất mặt hàng này là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế ASEAN. Thông qua việc sử dụng các công nghệ blockchain, các bên liên quan trong chuỗi thực phẩm có thể bổ sung nhanh chóng từ trang trại đến bàn ăn. Nông dân, trong trường hợp này là các nhà sản xuất gạo, có thể bán hàng nhanh hơn và được hoàn trả đối với công sức của họ, vì dữ liệu thị trường có sẵn và luôn phù hợp.Công nghệ blockchain có thể tiêu biểu cho một giải pháp thay thế khả thi đối với nông dân, vốn bị buộc lệ thuộc vào các bảng điểm thị trường để bán hàng của họ.Triển khai blockchain có tiềm năng ngăn ngừa việc áp đặt giá cả, cũng như các thanh toán có tính hồi tố. Ngoài ra, công nghệ blockchain có thể “Uber hoá” ngành thực phẩm bằng cách loại trừ các bên trung gian, đồng thời giảm chi phí giao dịch. Một bước như thế có thể dẫn đến việc định giá công bằng hơn và thậm chí giúp cho các tiểu nông nhỏ lẻ thu hút được sự chú ý của thị trường hơn. Nhờ vậy, họ nắm được lợi ích tiềm năng về cạnh tranh, năng suất, tính bền vững và sự minh bạch của ngành thực phẩm.  Tuy nhiên, sự khó khăn là tạo ra ý thức và thấu đáo hơn công nghệ blockchain, đặc biệt là ở nông thôn.Các chính phủ của vùng cần tạo thuận lợi cho tiến trình ứng dụng kỹ năng giúp các nhà sản xuất thực phẩm học hỏi và làm giàu.  Campuchia, được ADB mệnh danh là “Con hổ mới của nền kinh tế châu Á”, đang đi đúng hướng trong việc xây dựng sự lôi kéo và ứng dụng các công nghệ blockchain trong nước, qua tổ chức hội nghị blockchain toàn cầu ASEAN 2018.  Nói chung, việc sử dụng công nghệ blockchain trong thị trường thực phẩm, đem lại nhiều tác động tích cực. Rõ ràng blockchain không chỉ ứng dụng trong lĩnh vực tài chính, mà còn trong nhiều ngành khác.  Khởi Thức (theaseanpost)  Theo TGTT  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách tân để thắng: Mô hình A-đến-F      Chưa bao giờ vấn đề đổi mới – sáng tạo  (innovation), hay nói một cách khác là cách tân, lại trở nên bức thiết đối  với đất nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân như hiện nay. Nhưng  cách tân như thế nào? Một câu hỏi lơ lửng làm khựng lại bao nhiêu lời hô  hào.     Phần nhiều cá nhân, tổ chức vẫn loay hoay với suy nghĩ hoặc lúng túng triển khai việc đổi mới trong tổ chức, doanh nghiệp mình như thế nào cho hiệu quả với một loạt các vấn đề như: Khởi động như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Phạm vi, lãnh vực nào? Các bước triển khai? Dùng đến các kỹ thuật nào? Phân công, đo lường, quản lý ra sao?… v.v Thực sự thiếu một hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho việc suy nghĩ, triển khai thực hiện đổi mới, sáng tạo đòi hỏi bức thiết trong tất cả các lĩnh vực hiện nay.  Như một điều may mắn, những vấn đề quan tâm cụ thể như trên được cô đọng thành một mô hình đầy ngỡ ngàng và thú vị của hai chuyên gia bậc thầy về đổi mới và tiếp thị là Fernando Trías de Bes và Philip Kotler trong tác phẩm “Cách tân để thắng” (Nguyên tác “Winning at innovation”) do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành cuối năm 2013.  Có sự nhất trí rộng khắp về nhu cầu cách tân nhưng đồng thời là sự bất mãn phổ biến với cách thực hiện chúng. Đó là nhu cầu cách tân vượt quá năng lực cách tân.  Cách tân là một quá trình hỗn độn – khó lường, khó quản lý, có đến 96% lãnh đạo xem sáng tạo là không thể thiếu với doanh nghiệp mình nhưng chỉ có 23% thành công trong việc biến nó thành một phần không thể thiếu trong doanh nghiệp, mà thiếu sáng tạo thì không có cách tân.  Dưới đây là tóm tắt một số nội dung chính của cuốn sách thú vị và bổ ích này.  Rào cản của doanh nghiệp trước cách tân  Nguyên nhân của vấn đề được cuốn sách liệt kê cô đọng đầy thuyết phục trong bảy rào cản lần lượt: Cách tân thực ra nghĩa là gì? Phân bổ trách nhiệm không rõ ràng. Nhầm lẫn cách tân với sáng tạo. Thiếu khuôn khổ. Thiếu kiểm soát. Thiếu điều phối. Thiếu tập trung vào khách hàng.  Ai là người phụ trách về cách tân? Sự nhầm lẫn cách tân đồng nghĩa với tiến bộ công nghệ nên trong thế kỷ 20 phổ biến tại các công ty là trách nhiệm thuộc về phòng R&D. Cách tân không phải vấn đề dành cho một số ít người được chọn mà là trách nhiệm của toàn bộ tổ chức. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng khi mọi người cùng chịu trách nhiệm về một điều gì đó thì chả có ai gánh trách nhiệm và trách nhiệm bị phủi đi. Một tổ chức đầy những con người sáng tạo chưa hẳn là một tổ chức có tính cách tân. Sáng tạo, ý tưởng và công nghệ mới tự chúng không hoàn thành công việc, quá trình cách tân cần phải có người quản lý. Khi sáng tạo không đi kèm với quản lý cách tân đúng đắn có nguy cơ dẫn đến tổ chức đi đến thất bại. Thành công không phải là vấn đề may mắn, cách tân đòi hỏi những con người sáng tạo nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc đặt ra mục tiêu rõ ràng, định nghĩa các chiến lược, xác định các nguồn lực và rủi ro liên quan, phân công trách nhiệm, phân định rõ ràng và xác định quá trình cách tân. Từng mảng trên phải có người chịu trách nhiệm. Mọi người đều đưa ra ý tưởng và do thiếu các qui tắc rõ ràng là nên làm gì với chúng, chúng chết yểu trước khi nảy nở. Kết quả mọi người bị mất động lực, ngừng đưa ra các ý tưởng mới. Nói gì thì nói những doanh nghiệp hằng ngày phải vận hành hiệu quả để duy trì lợi nhuận và tạo ra dòng tiền. Thực sự rất khó nghĩ cách làm điều gì đó khác biệt trong khi bạn vẫn đang làm điều đó, chúng ta cần dừng lại, nghĩ về điều mình làm trước tới nay và sau đó thay đổi nó.   Một khó khăn khác nữa là cách tân thường đồng nghĩa với việc thay đổi thứ gì đó, một thứ mà ít nhất vào thời điểm bấy giờ đang có hiệu quả. Thêm vào đó, có đến 44% lãnh đạo doanh nghiệp thừa nhận họ không biết đâu là những công cụ thiết yếu cần có để sáng tạo và cách tân trong tổ chức của mình. Và một thực tế là dù có nhiều tiến bộ nhưng cho đến nay lĩnh vực cách tân vẫn chưa có một lý thuyết toàn diện, nhất quán, được chấp nhận toàn cầu. Do đó hiện vẫn chưa có được sự thống nhất rộng rãi về quy trình hay công cụ để dùng hoặc một khuôn mẫu chung để xây dựng. Việc thiếu kiểm soát đối với cách tân như một hệ quả từ các vấn đề nêu trên cũng là một vấn đề, tình hình sẽ không thay đổi cho đến khi nào cách tân được xem như một lĩnh vực của quản trị kinh doanh. Một CEO của P&G đã nói rằng sở dĩ công ty này quản lý được cách tân nhờ: “chúng tôi có định nghĩa rõ ràng về cách tân”. Từ thiếu khuôn khổ, thiếu kiểm soát đối với cách tân nên một hệ quả tất yếu là thiều điều phối; bao gồm điều phối theo hàng ngang (giữa các phòng ban) và điều phối hàng dọc (ban quản lý cấp cao, quản lý chung và tổ chức).   Cách tân thực sự, sớm hay muộn phải được chấp nhận bởi người tiêu dùng cuối cùng. Sự khác biệt giữa ý tưởng và sự cách tân là gì? Câu trả lời: cách tân mang đến giá trị gia tăng cho khách hàng. Xu hướng hiện nay là cách tân bắt đầu từ tương tác và quan sát hành vi khách hàng, doanh nghiệp được truyền cảm hứng bằng các ý tưởng mà bản thân khách hàng không nói nên thành lời. Điều này được gọi là nghiên cứu dân tộc học (ethnographic study) và xu hướng này đang dần thay thề cho việc tạo ra ý tưởng bằng vận dụng trí tuệ tập thể hay động não truyền thống vì chúng gây cảm hứng nhiều hơn và gần gũi hơn với thực tế thị trường.  Mô hình cách tân A-đến-F  Để vượt qua được các rào cản nêu trên, dựa trên kết quả phân tích nhiều doanh nghiệp có tính cách tân hoặc có kết quả tốt xét qua thời gian và nguồn lực dành cho cách tân, hai tác giả đã xây dựng mô hình A-đến-F, cố gắng tạo cho nó sự linh hoạt, ứng dụng được đối với mọi doanh nghiệp và đủ bao quát để tương thích cho cả cách làm trong quá khứ lẫn tương lai liên quan đến cách tân.  Trước khi đi vào mô hình, cuốn sách nêu lên một vấn đề muôn thuở thuộc bản chất con người là không một ai thích thay đổi. Con người xem thay đổi là chuyện cần phải tránh, thay đổi đem đến chuyện chẳng lành, thay đổi là bỏ thêm công sức, tăng thêm rủi ro trong công việc và kết quả là trong các tổ chức và cả thế giới này tồn tại một sức ì với mong mỏi duy trì hiện trạng, cản trở cải tiến và cách tân. Đối với tổ chức, sự xáo trộn, không ổn định, thiếu kiểm soát gắn liền với hiệu quả kém, nhất là với doanh nghiệp cần nổ lực kiếm tiền. Do đó thiết kế các quy trình là điều không thể thiếu với mọi tổ chức, từ thiết kế, nhập nguyên liệu đầu vào, vận hành máy, thao tác trong dây chuyền, đóng gói, lưu kho, vận chuyển…v v đều được kiểm soát theo một loạt các quy tắc nhất định. Mọi người được đào tạo, hướng dẫn cách thức, nơi chốn, thời điểm và công việc. Họ càng tuân thủ khuôn khổ, quy tắc, hệ thống đó thì hiệu quả càng lớn. Đó là lý do trong ngắn hạn, doanh nghiệp không nhằm đến sự thay đổi. Tuy nhiên chúng ta biết sự ổn định vốn không tồn tại lâu dài, không có gì ổn định ngoại trừ sự thay đổi! Doanh nghiệp đối mặt với một nghịch lý: Kiếm được tiền nếu vận hành hiệu quả, áp dụng các quy trình đồng bộ và theo đúng kế hoạch, tránh càng xa càng tốt với những điều bất định, không được tính tới. Nhưng qua thời gian, doanh nghiệp muốn duy trì lợi nhuận nếu thích nghi với các thay đổi cả trong ngành và ngoài ngành, dẫn đầu sự cách tân trong phân khúc và thị trường của mình. Do đó thử thách của việc cách tân, đồng thời là chìa khóa khiến nó xảy ra, nằm ở khả năng tái dung hòa hai công việc hoàn toàn trái ngược nhau này.  Để giải quyết mục tiêu kép này, quy trình cách tân là giải pháp. Như đã đề cập, không thể nào thậm chí phản tác dụng nếu vừa bắt ai đó cố gắng thay đổi cách hoàn thành một công việc vừa đòi hỏi họ thực hiện công việc đó thật hiệu quả. Thật sự tốt hơn khi cứ để một người tiếp tục thực hiện theo lề lối hiệu quả cũ và dùng một người khác để kiếm một lề lối hiệu quả hơn. Theo kết quả quan sát từ các doanh nghiệp cách tân nhất thế giới, người được phân công nhiệm vụ cách tân được tách ra – một phần hoặc hoàn toàn sự vụ hàng ngày.  Cách tân liên tục dưới dạng một tổng dự án, vì cách tân là một hoạt động không gián đoạn bao gồm nhiều công việc gián đoạn – chính là những quy trình. Các quy trình cách tân được thiết kế để hoàn thành các dự án. Các công việc đặc thù cần được hoàn thành trong một hạn mức thời gian nhất định. Các quy trình cách tân có hạn định. Khi tới hạn định, quy trình phải kết thúc và quy trình khác được khởi động. Doanh nghiệp mang tính cách tân duy trì nhiều quy trình chạy cùng một lúc; không ngừng triển khai quy trình mới và xóa bỏ những quy trình đã hoặc chưa đáp ứng mục tiêu. Các quy trình cách tân của họ diễn ra mọi cấp độ, mục tiêu đa dạng từ một cải tiến nhỏ đến ra mắt một sản phẩm đột phá.  Vấn đề mấu chốt ở đây là mối tương quan giữa vai trò và giai đoạn, đây là điểm nổi bậc cũng là cốt lõi của mô hình A-đến-F mà hai tác giả dựa vào để xây dựng nên. Quy trình là một nhóm các công việc tuần tự qua thời gian. Điều này kết luận rằng để đổi mới được cần một dự án dẫn đường qua một số giai đoạn, từ đây nhiều ý kiến khác nhau số giai đoạn cần có. Nhiều quan điểm mô tả tiến hành từng bước một, nếu chúng ta cung cấp các ý tưởng ở đầu này thì ở đầu bên kia dần dần sẽ cho ra các sản phẩm dịch vụ hữu ích. Nhưng cách tân không luôn vận hành theo kiểu đó mà các giai đoạn hay thời kỳ của một quy trình cách tân phải là kết quả tương tác của những nhân tố liên quan trong nhiều quy trình cách tân khác. Và ý tưởng chính của hai tác giả là: các thời kỳ hay giai đoạn của một quy trình cách tân không thể được quyết định trước, mà phải là kết quả của sự tương tác giữa một loạt các chức năng hoặc vai trò được thực hiện bởi các cá nhân nhất định. Nói ngắn gọn: ở quy trình cách tân truyền thống, các giai đoạn hoặc thời kỳ quyết định những người cần đến còn theo mô hình mới này thì các vai trò xuất hiện trước và quy trình cách tân là kết quả từ sự tương tác giữa các vài trò đó. Lý do được giải thích rằng quy trình cách tân khó lòng được tham số hóa. Sáng tạo đòi hỏi tư duy theo cách loại suy, chứ không phải theo tuần tự. Cách tân là một quá trình đòi hỏi nhiều lần “đến và đi”, quay lại với ý tưởng cũ, bỏ qua, lật lại, chỉnh sửa, tìm kiếm thông tin, thiết kế, thấy rằng chưa phải tối ưu và cần phải quay lại bước ban đầu; nó không phải là quy trình thẳng tắp mà là tiến lên với nhiều lần rút lui, đi vòng.  Mô hình A-đến-F không phải là một quy trình mà là danh sách các vai trò chủ chốt tồn tại trong các doanh nghiệp có hoạt động cách tân tốt nhất trong thời gian gần đây. Hai tác giả khuyến nghị rằng nếu một doanh nghiệp muốn cách tân, họ phải xác định và phân công các vai trò cho các cá nhân cụ thể và sau đó, với những mục tiêu, nguồn lực, thời hạn đã có sẵn, những con người này sẽ tự do tương tác nhằm tạo quy trình của riêng họ. Các vai trò bao gồm:  Người kích hoạt – Activators: là người hay cơ chế đóng vai trò khởi đầu quy trình cách tân bên trong một tổ chức  Người tìm kiếm – Browsers: là người thu thập thông tin hỗ trợ, làm rõ, tìm cảm hứng và phân giải liệu một ý tưởng mới có nên đi xa hơn trong quy trình cách tân hay không.  Người sáng tạo – Creators: là người đưa ra ý tưởng trong suốt quá trình cách tân.  Người phát triển – Developers: là người chuyển ý tưởng thành phát minh để làm ra sản phẩm và dịch vụ.  Người thực thi – Executors: là người triển khai trên thực tế và hiệu quả một cách tân cụ thể.  Người hỗ trợ – Facilitators: là người trang bị cho quá trình cách tân.  Ưu điểm của mô hình này thứ nhất là vai trò chứ không phải là giai đoạn; thứ hai tạo ra công thức cộng tác mới và thứ ba là vai trò chứ không phải các phòng ban. Trong phần này, hai tác giả trình bày chi tiết thiết kế quy trình cách tân mô hình A-đến-F với các khía cạnh: cá nhân chịu trách nhiệm trong mỗi vai trò; kỹ thuật sử dụng ở mỗi vai trò; tổng thời gian và thời gian phân bổ; nguồn lực phân bổ. Để minh họa, hai tác giả đã dùng ba phụ lục bao gồm: các ví dụ về thiết kế; chi tiết về các công việc cộng tác và ví dụ; các kỹ thuật kiểm tra từ khái niệm đến sản phẩm hoàn chỉnh. Điều thú vị là các tác giả minh họa qua các bảng, biểu với hướng dẫn rõ ràng, theo thứ tự tóm tắc từng chương dễ theo dõi cho các cá nhân theo từng vai trò, các kỹ thuật áp dụng cho từng vai trò cụ thể cho một hệ thống cách tân toàn diện.  Ở phần 2 của công trình này đề cập đến:  – Lập kế hoạch cách tân trong đó lưu ý phải phân biệt quyết định cách tân và mục tiêu cách tân và điều quan trọng là chúng ta muốn cạnh tranh như thế nào? Chơi để không thua và chơi để thắng.  – Thước đo cách tân, nêu ra có đến 25 thước đo khác nhau dựa vào: kinh tế, cường độ, hiệu quả, văn hóa và cách phối hợp.  – Cách nuôi dưỡng văn hóa sáng tạo trong đó đáng lưu ý là sự sợ hãi nói chung là rào cản lớn nhất với cải tiến, cách tân điều mà trước đó cha đẻ của quản lý chất lượng – W. E. Deming trong tác phẩm nổi tiếng Vượt qua khủng hoảng đã từng nêu ra và cần thiết phải vượt qua và loại bỏ sự sợ hãi. Khi con người ta vui vẻ, lạc quan thì sức sáng tạo mới bùng phát, do đó hai tác giả đã nêu thêm một điều lý thú là có được một ngày vui vẻ dự đoán sẽ có sáng tạo vào ngày kế tiếp!  – Động viên và khen thưởng đề cập đến sự cần thiết kết hợp các dạng động viên hiện kim, hiện vật, hữu hình với các phần thưởng vô hình như công nhận công khai, hỗ trợ phương tiện, chi phí, thời gian để khuyến khích tạo ra nhiều ý tưởng, sáng tạo. Trong phần này hai tác giả lưu ý đến một nghịch lý là địa vị một người trong hệ thống cấp bậc của tổ chức càng cao thì người đó càng có ít ảnh hưởng đến những vị trí thấp hơn. Do đó việc công nhận công khai thì nên là người có địa vị cao nhất còn khen thưởng mang tính chất kinh tế thì nên từ người quản lý trực tiếp.  Đổi mới, cách tân gắn liền với tiếp thị là cách phối hợp lạ và hiệu quả. Cuốn sách là một người hướng dẫn, gợi ý, gây cảm hứng và tiếp sức cho tất cả những ai đang trăn trở, tìm kiếm, vận dụng cách nghĩ mới, làm mới trong quá trình buộc phải thay đổi hiện trạng chứ không chỉ hô hào và khẩu hiệu.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách tiếp cận mới cải thiện robot định vị trong môi trường đa vật thể      Dẫu các robot đã ngày một tiên tiến hơn theo thời gian, phần lớn chúng vẫn còn không có khả năng định vị một cách tự tin trong những không gian có nhiều vật thể, như các khu vực công cộng hay đường xá trong các môi trường đô thị. Để thực hiện điều đó ở quy mô lớn và trong các thành phố thông minh trong tương lai, các robot sẽ cần có khả năng định vị một cách tự tin và an toàn trong các môi trường đó mà không va chạm với con người hoặc các vật thể ở gần.    Một ví dụ về robot chuyển động trong môi trường đa vật thể có chuyển động.  Các nhà khoa học tại trường đại học Zaragoza và Viện nghiên cứu Kỹ thuật Aragon ở Tây Ban Nha mới đây đề xuất một cách tiếp cận dựa trên học máy có thể giúp cải thiện sự định vị của robot ở cả môi trường đông đúc trong nhà và ngoài trời. Cách tiếp cận này, mới được giới thiệu ở dạng tiền ấn phẩm trên kho lưu trữ arXiv, nêu chi tiết về việc sử dụng các điểm thưởng nội tại, vốn là “điểm thưởng” cốt yếu mà một tác tử AI nhận được khi thực hiện các hành vi không liên quan nhiều đến nhiệm vụ nhưng vẫn cố hoàn thành 1.  “Sự định vị tự động hóa của robot là một vấn đề mở chưa được giải quyết, cụ thể trong các môi trường phi cấu trúc và chuyển động, nơi một robot phải tránh va chamh với các vật cản chuyển động và chạm đến đích”, Diego Martinez Baselga, một trong những nhà khoa học thực hiện nghiên cứu này, nói với Tech Xplore. “Các thuật toán học tăng cường sâu đã chứng minh có thể có được hiệu suất cao theo nghĩa tăng tỉ lệ thành công và rút ngắn thời gian về đích nhưng vẫn còn cần phải cải thiện nhiều”.  Phương pháp này do Martinez Baselga và cộng sự của mình phát triển dựa trên việc sử dụng điểm thưởng nội tại, điểm thưởng được thiết kế để gia tăng chuyển động của tác tử trong khám phá ra “các trạng thái’ mới (ví dụ các tương tác với môi trường) hoặc giảm thiểu mức độ bất định của một kịch bản cho trước vì vậy các tác tử có thể dự đoán tốt hơn các hệ quả có thể xảy ra với việc thực hiện hành động chúng. Trong bối cảnh nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các điểm thưởng để khuyến khích các robot di chuyển đến những khu vực chưa biết trong môi trường hoạt động và khám phá môi trường ấy theo những cách khác nhau, vì vậy mà nó có thể học hỏi để định vị hiệu quả hơn theo thời gian.  “Phần lớn công việc của học tăng cường sâu cho định vị trong không gian đa vật thể của việc tập trung một cách tiên tiến nhất vào việc cải thiện các mạng lưới và quá trình xử lý các giác quan của robot”, Martinez Baselga nói. “Cách tiếp cận của tôi là nghiên cứu cách khám phá môi trường trong suốt quá trình tập luyện để cải thiện quá trình học hỏi. Trong huấn luyện, thay vì cố gắng hành động một cách ngẫu nhiên hoặc tối ưu những hành động khác, robot cố gắng làm theo những gì mà nó cho là có thể học hỏi được nhiều hơn từ đó”.  Một quỹ đạo có va chạm của robot được tập huấn sử dụng một chiến lược khám phá (trái) và một quỹ đạo thành công của một robot được huấn luyện với điểm thưởng nội tại trong cùng kịch bản. Nguồn: Martinez-Baselga, Riazuelo & Montano  Martinez Baselga và đồng nghiệp của mình đã đánh giá tiềm năng sử dụng điểm thưởng nội tại để giải quyết vấn đề định vị của robot trong các không gian có nhiều vật thể bằng việc sử dụng hai cách tiếp cận gần nhau. Thứ nhất là sự tích hợp cái gọi là “mô đun tò mò nội tại “ (ICM), trong khi cái thứ hai dựa trên cơ sở một loạt thuật toán mà người ta gọi là các mã hóa ngẫu nhiên cho khám phá hiệu quả (RE3).  Các nhà nghiên cứu đánh giá các mô hình này trong một loạt mô phỏng, được chạy trên mô phỏng CrowdNav. Họ phát hiện ra là cả hai cách tiếp cận mà mình đề xuất tích hợp điểm thưởng nội tại đều vượt trội hơn những phương pháp tiên tiến đã được phát triển trước đây cho định vị của robot trong các môi trường có nhiều vật thể.  Trong tương lai, nghiên cứu này có thể sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu robot khác sử dụng điểm thưởng nội tại khi huấn luyện các robot của mình, để cải thiện năng lực của chúng để thực thi nhiệm trong trong những trường hợp chưa được dự đoán trước và chuyển động an toàn trong những môi trường có chuyển động. Thêm vào đó, hai mô hình dựa trên điểm thưởng nội tại được Martinez Baselga và đồng nghiệp thử nghiệm có thể nhanh chóng được tích hợp với các robot thật để đánh giá tiềm năng của chúng.  “Các kết quả cho thấy là việc áp dụng những chiến lược khám phá thông minh khiến robot học hỏi nhanh hơn và học được ra quyết định cuối cùng tốt hơn; và chúng có thể được ứng dụng vào các thuật toán tồn tại để cải thiện các thuật toán đó”, Martinez Baselga cho biết thêm. “Trong nghiên cứu tiếp theo của tôi, tôi dự kiến cải thiện học tăng cường sâu trong định vị của robot để khiến nó an toàn hơn và tin cậy hơn. Đây là điều quan trọng để sử dụng chúng trong thế giới thật”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2023-02-approach-robot-crowded-environments.html  https://www.analyticsinsight.net/making-robots-more-independent-by-using-humans-as-sensors/  ————————————-  1. https://arxiv.org/abs/2302.06554    Author                .        
__label__tiasang Cái bẫy cuối cùng của khủng hoảng tài chính châu Á 1997?      Trước năm 1997, kinh tế ở các nước Đông Á có thể nói là rất ổn, vẫn tiếp tục phát triển sau một thời gian dài tăng trưởng ngoạn mục. Ngoại trừ một số vướng mắc nho nhỏ, như sự gắn chặt đồng nội tệ với đồng USD, chính sách tự do tài khoản vốn, lỏng lẻo trong kiểm soát tài chính… Thế mà, đùng một cái – khủng hoảng tiền tệ. Trước hết, đồng Baht mất giá thê thảm ở Thái Lan, sau đó nhanh chóng lan tỏa sang Hàn Quốc, Indonesia, rồi tới Hồng Kông, Malaysia, Philippines. Không dừng lại, chỉ mấy tháng sau, cuộc khủng hoảng đã mang tính toàn cầu khi lôi kéo Nga, Brasil vào vòng xoáy. Rất may, cùng với Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Việt Nam nằm trong nhóm các nước ở châu Á ít bị ảnh hưởng nhất.1  Vì sao khủng hoảng lại xảy ra nhanh như vậy? Đây là hiện tượng mang tính qui luật tất yếu hay có một bàn tay tàng hình nào đó giật dây? Thực tế diễn biến khủng hoảng tiền tệ tại các nước Đông Á luôn cho chúng ta cảm giác, có một thỏa thuận ngầm nào đó, khiến người ta đang hợp sức để phá giá đồng tiền của các quốc gia ASEAN. Có thật vậy không? Và nếu có thì để làm gì?  Hơn 10 năm trôi qua, đã có hàng nghìn trang sách về sự kiện này, nhưng các nhà kinh tế vẫn tiếp tục đi tìm câu trả lời thỏa đáng.    Nguy cơ tiềm ẩn  Mùa hè năm 1997, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore và Hàn Quốc, các con rồng con hổ châu Á, đang là điểm đến lý tưởng của giới đầu tư trên khắp thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao, ổn định (trung bình 8-10%), lãi suất đầu tư hấp dẫn, thị trường chứng khoán và nhu cầu tiêu dùng cao cấp phát triển vượt bậc. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thu hút dòng tiền đầu tư trên toàn thế giới đổ dồn về đây, đặc biệt là dòng đầu cơ tài chính ngắn hạn.  Mô hình kinh tế của các nước Đông Á lúc này cơ bản là theo mô hình của chủ nghĩa vị tiền hiện đại (monetarism).2 Chính sách tài chính tiền tệ vĩ mô sẽ quyết định hiệu quả sản xuất. Lạm phát, tỷ giá, thu hút đầu tư là những vấn đề quan tâm hàng đầu của chính phủ. Cũng không có gì lạ, vì lý thuyết này đến thời nay vẫn rất thịnh hành ở các nước phương Tây. Duy chỉ có hai điểm đặc biệt đáng lưu ý. Thứ nhất, sản xuất tập trung vào xuất khẩu và quan tâm đặc biệt để đáp ứng nhu cầu trên thị trường Mỹ. Thứ hai, gắn chặt đồng tiền quốc gia vào đồng USD. Làm như vậy rõ ràng có nhiều cái lợi, nhưng cũng không ít cái hại. Tự nhiên nền sản xuất trong nước lại phụ thuộc quá nhiều vào nhu cầu trên thị trường Mỹ, cơ sở hạ tầng cũng thế. Trong khi đó, nhu cầu của thị trường nội địa gần như bị lãng quên. Về lâu dài, nền kinh tế quốc gia sẽ mất dần tính chủ động. Đó là cái hại thứ nhất. Gắn chặt đồng tiền quốc gia vào đồng USD, cảm giác an toàn sẽ tăng lên. Chỉ có điều khi chính sách tiền tệ của USD thay đổi, đồng tiền quốc gia bắt buộc cũng phải thay đổi theo, bất chấp tình hình thực tế trong nước như thế nào. Đơn cử, bắt đầu từ giữa những năm 1990, Cục dự trữ Liên bang Mỹ, dưới dự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu thực hiện chính sách tăng lãi suất tín dụng của đồng USD để giảm thiểu nguy cơ lạm phát. Lãi suất tăng, tiền từ các khu vực vốn có lợi nhuận cao bắt đầu đổ ngược về Mỹ. Phản ứng của các thành viên Đông Á, không có gì ngạc nhiên, là đồng loạt tăng lãi suất (vốn đã quá cao) hòng giữ chân các nhà đầu tư. Đồng tiền quốc gia tăng giá, dĩ nhiên là năng lực cạnh tranh, đặc biệt lợi thế xuất khẩu sẽ giảm đi rất nhiều. Trong khi, tại Mỹ, uy tín của đồng USD ngày càng tăng, mà sản phẩm nội quốc cũng được đà phát triển.          Bị phá sản sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997, nhà tài phiệt địa ốc Thái Lan Sirivat Voravetvuthikun phải bán sandwich để kiếm sống.        Bàn về vấn đề này, ngay từ năm 1994, nhà kinh tế Mỹ Paul Krugman (MIT) đã lên tiếng cảnh báo về sự thật của các “thần kỳ kinh tế Đông Á”. Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế nhờ “bơm” nguồn vốn đầu tư không mệt mỏi từ bên ngoài mà không tạo được những bước tiến thực chất trong sản xuất cũng như nâng cao năng suất sản xuất tổng hợp thì khó có thể mang lại sự thịnh vượng lâu dài.3 Các nước Đông Á có nghe nhưng không mấy để tâm tới lời cảnh báo này. Đơn giản là vì trong thâm tâm họ vẫn nghĩ, sẽ không thể có chuyện gì xảy ra, bởi bên cạnh họ đã có một người bạn lớn, như bức thành trì vững chãi – Hoa Kỳ.   Diễn biến  Thế rồi, chuyện gì phải đến đã đến.  Thái Lan. Đầu năm 1997, một số quỹ đầu cơ tài chính sừng sỏ như Quantum (George Soros) hay Tiger Management Corp. (Julian Robertson) đã ký hàng loạt các hợp đồng mua bán ngoại tệ có thời hạn (bán đồng Baht Thái, với thời hạn thanh toán chậm từ 6 tháng đến 1 năm) với tổng trị giá lên tới 15 tỷ USD. Người ta đang đánh cược là trong tương lai đồng Baht sẽ phá giá. Trong bối cảnh nền kinh tế khan hiếm USD tiền mặt, những kiểu hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn như thế này rất thông dụng. Do đó đến Ngân hàng Nhà nước Thái Lan cũng cảm thấy không có chuyện gì đáng ngại, thậm chí còn xem đây là một trong những phương pháp hữu hiệu đảm bảo vốn lưu thông cho nền kinh tế. Mãi phải đến giữa tháng 5, khi những dấu hiệu tiền khủng hoảng xuất hiện, Ngân hàng Thái Lan mới ra quyết định tạm ngừng những kiểu hợp đồng như thế, nhưng đã quá muộn. Ngày 14-15 tháng 6 năm 1997, thị trường tiền tệ ở Thái tràn ngập lệnh bán đồng Baht. Ngân hàng Nhà nước cố sức giữ giá, trong suốt 2 tuần đã chi ra gần 10 tỷ USD để mua đồng Baht và giữ tỷ giá hối đoái ở mức bình thường 25 baht 1 USD. Nhưng không ăn nhằm gì với làn sóng “rũ bỏ” đồng Baht loang ngày càng rộng trên khắp thế giới. Chính phủ Thái đã vùng vẫy bằng mọi cách: từ dụ dỗ, dọa nạt, răn đe giới tài chính cũng như giới báo. Thậm chí cả làm động tác giả. Ngày 30 tháng 6, Thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh vẫn cố sống cố chết “sẽ không phá giá baht”, thế mà chỉ 2 ngày sau, 2 tháng 7, baht lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht/1USD. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.           G. Soros – người “giật dây” cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997?        Tại Phippines sự kiện cũng phát triển theo một kịch bản tương tự. Duy có khác là chính phủ nơi đây đã kịp thời ngăn chặn được các đợt tấn công trực tiếp của giới đầu cơ tài chính toàn cầu. Thay vì trực tiếp ra mặt mua peso để giữ giá, chính phủ Philippines đã cho tăng lãi suất ngắn hạn (cho vay qua đêm) từ 15% lên tới 24% (03.07.1997). Cách này có hiệu quả, tuy không ngăn chặn được xu hướng mất giá đồng peso, nhưng giảm thiểu tối đa thiệt hại. Đồng peso mất giá từ: 26peso/1 USD trước khủng hoảng, xuống 38 peso/1 USD vào năm 2000. Đây được xem là một thành công lớn.  Kịch bản khủng hoảng ở các nước khác như Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Hồng Kông đều diễn ra với những nét tương đồng. Tuy nhiên, hậu quả thì mỗi nơi mỗi khác, phụ thuộc vào khả năng ứng phó trong điều kiện khủng hoảng của chính phủ và năng lực cũng như cơ cấu của nền kinh tế. Duy chỉ có điều ai cũng biết, thiệt hại mà khủng hoảng đưa lại cho các nước châu Á là quá lớn, dư âm của nó vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày hôm nay.4    Thực chất đã xảy ra chuyện gì?  10 năm là một khoảng thời gian đủ dài để chúng ta nhìn nhận những gì đã qua. Rõ ràng khủng hoảng tài chính châu Á 1997 hoàn toàn không ngẫu nhiên. Đó là một cuộc tấn công các nền kinh tế mới nổi, những con rồng con hổ châu Á, một cách có tổ chức. Vấn đề là ai tấn công và tấn công để làm gì? Thủ tướng Malaysia, Mahathir Mohamad, ngay sau khủng hoảng, đã chỉ mặt gọi tên thủ phạm gây ra mọi chuyện chính là các tập đoàn đầu cơ tài chính với đầu chòm là tỷ phú quốc tịch Mỹ, người Hungary gốc Do Thái George Soros. Quả thật, G. Soros và đồng đội đã kiếm được hàng tỷ USD lợi nhuận sau vụ đầu cơ này. Bản thân G. Soros không phủ nhận việc mình đã kiếm bạc tỷ trong đợt khủng hoảng tiền tệ, Nhưng lại phủ nhận hoàn toàn động cơ của nó. Ông và các đồng nghiệp đơn gian chỉ là những nhà tài chính nhạy cảm, dám mạo hiểm và gặp may. Khủng hoảng kinh tế châu Á, theo G. Soros đó là hệ quả tất yếu báo hiệu một cuộc khủng hoảng lớn hơn nhiều – khủng hoảng tư bản toàn cầu.5  Một luồng ý kiến thứ 2 cho rằng, G. Soros nhận nhiệm vụ của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ, tạo khủng hoảng để ra đòn cảnh báo ASEAN. Còn nhớ, tháng 5-1997, có nghĩa chỉ 2 tháng trước cuộc khủng hoảng, ASEAN đã phớt lờ sự phản đối của Mỹ và EU khi chính thức kết nạp Myanma làm thành viên. Cũng có thể, nhưng chưa thuyết phục. Đơn giản là vì chế độ quân sự ở Myanma đã được thiết lập từ năm 1962. Biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong chừng ấy năm, biết bao nhiêu cơ hội, đâu cần chờ đến 35 năm mới ra tay.  Vậy thì ai? Ai là chủ nhân đích thực của khủng khoảng?  Kể ra cũng không khó lắm để nhìn thấy. Ai là người được hưởng lợi nhiều nhất từ khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 – người đó là chủ nhân.  G. Soros – dĩ nhiên, nhưng không phải mình ông ta. Chỉ xin liệt kê dưới đây một danh sách ngắn những công ty đã kịp thời “chiếm hữu” tài sản của các tập đoàn châu Á với giá bèo bọt:  – BNP Paribas thôn tính Peregrine, một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu châu Á. Đây là kết quả của đồng rupee Indonesia bị phá giá;  – Procter & Gamble nuốt chửng Ssanyong Paper của Hàn Quốc;  – General Motors mua với giá gần như cho không Daewoo Motor;  – Prudential Securities nắm quyền kiểm soát Nava Finance & Securities;  – First Pacific vươn tay tới San Miguel, công ty bia hàng đầu của Philippines;  – Citibank định thôn tính First Bangkok City Bank nhưng chưa thành công.  Danh sách này vẫn còn có thể kéo dài nữa, nhưng thôi. Rõ ràng, các chú hổ mới lớn châu Á, đang bị nhóm thợ săn dày dạn kinh nghiệm phương Tây săn đuổi với vai trò dẫn đường là các tay đầu cơ tài chính G. Soros và đồng đội. Yểm trợ phía sau chính là hai đại xạ thủ IMF và WB, với những khoản vay kèm điều kiện khắc nghiệt, mà nếu thực thi thì chỉ làm khủng hoảng ngày một trầm trọng thêm. Tài sản “săn” được cuối cùng sẽ được phân chia cho số đông theo danh sách kể trên, có tính đến sở thích và tích cách từng người.  Dĩ nhiên, để tổ chức một cuộc săn bắn qui mô như vậy không thể thiếu được người cầm chịch. Người đó là ai? Chẳng nhẽ lại là Mỹ – siêu cường số một thế giới? Hồ đồ, hãy học cách loại bỏ thói quen, buôn bán thua lỗ –  đổ lỗi cho số phận. Thất thế trong cạnh tranh quốc tế – đổ lỗi cho nước giàu. Nước Mỹ thì được lợi lộc gì trong vụ đi săn này?  Bị khủng hoảng tài chính “quần” cho một trận nên thân, các nước Đông Nam Á, sau đó là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Brasil, rồi loang rộng ra tất cả các nước thuộc thế giới thứ ba, ngậm ngùi nhận ra một chân lý bất di bất dịch: muốn phòng chống được khủng hoảng tài chính phải tích trữ thật nhiều ngoại tệ. Càng nhiều càng tốt. Càng nhiều càng yên tâm. Và dĩ nhiên, đã là ngoại tệ thì không có loại nào chắc chắn bằng USD. Thế là các nước đua nhau tích trữ USD, mà không hề nghĩ rằng mình đang tự nguyện tài trợ vốn, không lãi hoặc lãi suất rất thấp cho nền kinh tế Mỹ phát triển.   Cái bẫy cuối cùng của khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 có phải là ở đây?  Và những cạm bẫy nào còn chờ ta phía trước?  Dù cái bẫy trên có có thật hay không, suy diễn của chúng tôi có đúng hay không, thì ta cũng hết sức cảm ơn cuộc khủng hoảng tài chính cách đây mười năm. Cuộc khủng hoảng đã cho chúng ta những bài học quí giá. Mà nhờ đó biết đâu, chúng ta có thể tránh được nhiều cạm bẫy khác trong tương lai. Bài học thứ nhất, phải chủ động trong mọi tình huống, đừng quá phụ thuộc và hy vọng vào một thứ, cho dù là thứ ta tưởng như chắc chắn nhất (ví như sức mạnh của nền kinh tế Mỹ và độ bền vững của đồng USD). Thứ hai, tự do hóa thị trường vốn là một việc làm nguy hiểm, hãy cảnh giác. Hãy lượng sức mình để cởi và mở hệ thống tài chính, bởi đó là huyết mạch của nền kinh tế quốc gia. Nếu để người ngoài dễ dàng kiểm soát và điều khiển ví tiền của nhà mình thì ôi thôi, còn gì để nói nữa. Thứ ba, đừng quá tin tưởng vào các đơn thuốc của các tổ chức tài chính quốc tế (như IMF hay WB), bởi nhiều khi chính họ cũng là đồng tác giả của các trò chơi toàn cầu. Thứ tư, kêu gọi đầu tư, vay mượn tín dụng, làm gì cũng phải hết sức thận trọng. Mục tiêu tăng trưởng cao là tốt. Nhưng không tăng trưởng bằng vay mượn, bằng thu hút đầu tư thiếu thanh lọc. Nếu đảm bảo được mức tăng trưởng ổn định nhờ tăng hiệu suất và sức mạnh sản xuất thực tế là quí nhất. Thứ năm, sống trong thế giới đa cực hôm nay, mỗi quốc gia cũng như mỗi con người đều phải hết sức tỉnh táo, minh mẫn để nhìn rõ bản chất của vấn đề, thấu hiểu sự vận động xung quanh mình. Quyền lực thực sự hiện nay, nếu không thuộc về các cường quốc thì cũng đang nằm trong tay các công ty đa quốc gia và các tập đoàn tài chính khổng lồ. Thế giới luôn thuộc về kẻ mạnh. Những kẻ cùng mạnh sẽ dễ dàng liên kết, điều khiển cuộc chơi toàn cầu để cùng hưởng lợi. Những nền kinh tế nhỏ như chúng ta, nếu không thể lớn mạnh lên được như họ thì không có cách nào khác là phải học được cách ứng xử thông minh. Chí ít cũng phải như Singapore, Hồng Kông, Philippines, hay Trung Quốc 10 năm trước đây.  Thật khó nói, những gì đang chờ đợi chúng ta ở phía trước. Chỉ có điều này là chắc chắn. Kinh tế Mỹ đang đứng trước những thử thách lớn. Đồng đô la đang mất giá cả về giá trị thực và giá trị niềm tin trong cộng đồng thế giới. Với sự xuất hiện của đồng Euro và sự hồi phục của kinh tế Nhật Bản, sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc, đại đa số các nước đang tái cấu trúc lại nguồn dự trữ quốc gia. Và dĩ nhiên, thị phần của đồng USD đang ngày một thu hẹp. Đó là tín hiệu bất an cho nền kinh tế Mỹ và cũng là nỗi lo của chúng ta, có thể một cuộc khủng hoảng tiền tệ mới đang chờ nhân loại ở phía trước.  Tài liệu tham khảo  1. Geogre Soros. The Crisis of Global Capitalism. N.Y.: PuplicAffairs, 1999. M.: INFRA-M, 1999. pp. 149-190.  2. Margaret Thatcher. Statecraft. London. Harper Collins Publishers. 2003. pp.141-146.  3. Deliagin M. World Crisis: General Theory of Globalization. M.: INFRA-M, 2003. pp.304-323.  ——–  1 Công đầu thuộc về chính phủ và ngành tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm, 10 năm trước, nền kinh tế của chúng ta vẫn chưa được xem là một nền kinh tế mở. Chính “khiếm khuyết” này đã giúp chúng ta “né” được nhiều đòn tấn công của của khủng hoảng tiền tệ toàn cầu.  2  Mô hình này khác với mô hình của Hàn Quốc. Hàn Quốc phát triển dựa chủ yếu các gia đình đại gia (chaebol), chính sách tín dụng nội quốc và mối quan hệ trên mức mật thiết giữa chính phủ và chaebol.  3 http://web.mit.edu/krugman/www/myth.html  4 Chi tiết diễn biến của cuộc khủng hoảng có thể xem thêm tại: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. //vi.wikipedia.org  5 Xem thêm Geogre Soros. The Crisis of Global Capitalism. N.Y.: PuplicAffairs, 1999.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách thể chế và chính sách kinh tế để thúc đẩy KH&CN      Cải cách thể chế ở Việt Nam đã trở nên rất cấp bách và không thể trì hoãn khi kinh tế và xã hội đã rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Nếu không cải cách thể chế, Việt Nam sẽ không tận dụng được tiến bộ khoa học-công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình với mức thu nhập rất thấp. Thể chế là nguồn gốc dẫn đến quốc gia này phồn thịnh và quốc gia khác nghèo khổ.      Đặt vấn đề  Trong chiến tranh Thế giới II và cho đến thập kỷ 1960, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong quân sự và một số ngành, Liên Xô trước kia đã đạt được một số tiến bộ vượt bậc về khoa học-công nghệ trong quân sự, chinh phục vũ trụ nhưng kinh tế đã bị sụp đổ vì bị tụt hậu trong kinh tế.   Cuốn sách của Acemoglu và Robinson “ Vì sao các quốc gia thất bại – Nguồn gốc của Quyền lực, Thịnh vượng và Nghèo khó”1 năm 2012 đã tạo ra tiếng vang lớn trong công luận vì đã chứng minh chính thể chế là nguồn gốc dẫn đến quốc gia này phồn thịnh và quốc gia khác nghèo khổ. Tác giả đã chứng minh rằng cách mạng khoa học-công nghệ và vốn con người đã không thể đem lại sự thinh vượng nếu như không có cải cách thể chế vì không có luật pháp về sở hữu trí tuệ (chính ra phải dịch là tài sản trí tuệ, intellectual property), không có quyền tự do cho sáng tạo, không có sự kết nối với thị trường, không có sự kiểm soát quyền lực thì cách mạng khoa học-công nghệ cũng bất lực. Tác giả cũng chứng minh rằng thể chế yếu sẽ không ngăn cản được giới ưu tú cầm quyền cướp bóc, một đội ngũ cầm quyền ăn bám sẽ không khuyến khích đầu tư và sáng tạo vì không ai bảo đảm rằng họ sẽ không dùng quyền lực để lấy cắp kết quả của đầu tư và sáng tạo của các cá nhân khác. Đó là những thể chế khai thác hay bóc lột (extractive institutions). Điều tệ hại là những thể chế này có xu thế tự lặp lại chính nó nếu không có thay đổi căn bản nào diễn ra. Những thể chế bao dung (inclusive institutions)  bảo đảm các quyền tự do của cá nhân, khuyến khích mọi người nỗ lực vươn lên, đầu tư, làm giàu. Tại các thể chế này, quyền lực được kiểm soát, giới cầm quyền không thể tự tung, tự tác tước đoạt tài nguyên và làm giàu bất chính. Hai tác giả cũng tiên đoán Trung Quốc sẽ không thể tiếp tục tăng trưởng cao mãi nếu không cải cách thể chế.  Tác giả cũng chỉ ra rằng sau hai thế kỷ tăng trưởng kinh tế vừa qua, số các nước thịnh vượng và giàu có tăng lên rất ít trong số những nước nghèo vươn lên để trở thành giàu có.                        Nguồn: Ngân hàng Thế giới          Ta có thể thấy không ít nước nghèo nhất ở châu Phi là những nước được nhận viện trợ rất nhiều và rất lâu nhưng không thể vươn lên, không thể tiếp thu những kinh nghiệm tốt trên thế giới chỉ vì thể chế tham nhũng, không thể thực hiện nổi các cải cách đã được chỉ rõ cho họ, không thể thực hiện công nghiệp hóa.  Cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng ở châu Âu hiện nay trên nhiều giác độ cũng liên quan đến thể chế nhà nước, thể chế kinh tế. Đáng chú ý là những nước có chế độ phúc lợi xã hội cao nhất, rộng rãi nhất như Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển … lại là những nước có nợ công thấp hơn nhiều những nước như Hy Lạp hay Tây Ban Nha. Nhà nước trong sạch, chuyên nghiệp, quyền lực được kiểm soát để không bị lạm dụng, chính sách sai lầm của nhà nước được giới khoa học và báo chí phát hiện sớm và phải thay đổi ngay đã cho phép những nước đó luôn thu hút được đầu tư, đổi mới khoa học-công nghệ, nâng cao năng suất lao động, thu được thuế, nhà nước đầu tư có hiệu quả, tiết kiệm nên các nước đó đã có thể thiết lập những thiên đường thực sự trên trái đất, vượt qua các cuộc khủng hoảng khác nhau mà nhà nước không mắc nợ.  Cải cách thể chế, vì vậy, được coi là then chốt để trở nên giàu có, thịnh vượng, phát triển.  Thể chế và tiến bộ khoa học-công nghệ ở Việt Nam  Trong những năm đầu của công cuộc Đổi mới, yếu tố Năng suất tổng hợp TFP (Total Factor Producivity) đã là đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng, song những năm gần đây đã trở nên rất thấp, thấp hơn các nước trong khu vực rất nhiều và thậm chí là âm.                      CIEM          Điều này phản ánh tình trạng trì trệ, yếu kém, thụt lùi trong cải cách và chính sách phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây.  Trong các yếu tố đóng góp vào TFP có yếu tố thay đổi cơ cấu (từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ), xuất-nhập khẩu và nghiên cứu và triển khai:             Tổng Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng            Trong những năm gần đây, do các động lực kinh tế cám dỗ và thúc đẩy, nguồn vốn và nỗ lực kinh doanh đổ vào khai thác đất đai và bất động sản, khoáng sản, rừng, biển.  Trong vòng 10 năm giá bất động sản ở Việt Nam đã tăng 10 lần và tỷ suất lợi nhuận lên đến 100% thu hút nguồn vốn rất lớn của xã hội và nay lâm vào cuộc khủng hoảng bất động sản, gây lãng phí rất lớn:  Trong bối cảnh đó, ít doanh nghiệp đầu tư vào khoa học-công nghệ để tăng trưởng bền vững là điều không có gì đáng ngạc nhiên.                   Chừng nào, chính sách kinh tế còn tạo ra những cám dỗ điên cuồng như vậy thì số tín dụng 1 triệu tỷ chảy vào bất động sản là điều dễ hiểu và nghiên cứu khoa học-công nghệ chưa được doanh nghiệp và giới đầu tư coi trọng cũng hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Rất nhiều “đại gia”, “tỷ phú” Việt Nam đã giàu lên rất nhanh trong thời gian qua không có đóng góp và đầu tư gì vào khoa học-công nghệ mà chủ yếu nhờ vào mối quan hệ, ăn chênh lệch giá về đất đai, bất động sản, phá rừng đốn gỗ, khai thác tài nguyên, tàn phá môi trường để xã hội gánh chịu. Sự bất công này bắt nguồn từ chính sách, từ lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ và sự yếu kém của thể chế.  Tham nhũng cũng làm cho người có chức quyền giàu rất nhanh và bóp méo các bậc thang giá trị xã hội.  Chính sách nhân sự hiện nay sử dụng kẻ xu nịnh, tiến thân thông qua quan hệ là chính chứ không phải thông qua cống hiến, không khuyến khích sáng tạo, dũng cảm, trung thực. Chính sách nhân sự đó phải thay đổi để có thể chấp nhận và thu hút được người tài.  Để xã hội quan tâm đến khoa học-công nghệ, cần có sự thay đổi căn bản trong các đòn bẩy động lực và chế tài, thay đổi các nấc thang giá trị của xã hội. Đối với Việt Nam điều quan trọng là phải thay đổi các động lực phát triển và tăng trưởng kinh tế, cạnh tranh bình đẳng trong nước và quốc tế, công khai, minh bạch, chứ không phải giàu lên nhờ đút lót, luồn cúi, tàn phá thiên nhiên, môi trường.   Môi trường và điều kiện cạnh tranh quốc tế đã thay đổi nhanh chóng. Nếu không nâng cao trình độ khoa học-công nghệ, tính chuyên nghiệp trong quản lý, các “đại gia”, “tỷ phú” Việt Nam sẽ chỉ là trọc phú ở trong nước và không có thương hiệu và thị phần trên trường quốc tế.  Thí dụ như cần thay đổi quy định thu hồi đất vì mục tiêu “phát triển kinh tế-xã hội”, quy định nghĩa vụ tạo việc làm của doanh nghiệp sử dụng đất, đánh thuế lũy tiến vào người đầu cơ đất và bất động sản như các nước khác đã làm. Cần chấm dứt việc huy động công an sử dụng vũ lực cưỡng chế thu hồi đất của nông dân để giao lại cho chủ đầu tư ăn chênh lệch giá.  Cải cách thể chế ở Việt Nam đã trở nên rất cấp bách và không thể trì hoãn khi kinh tế và xã hội đã rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Nếu không cải cách thể chế, Việt Nam sẽ không tận dụng được tiến bộ khoa học-công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình với mức thu nhập rất thấp. Đó là viễn cảnh cần phải tránh.  Mặt khác, để doanh nghiệp an tâm đầu tư vào khoa học-công nghệ, cần:  – duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, giảm lạm phát, tín dụng với lãi suất cạnh tranh trong khu vực;  – không thay đổi chính sách quá nhanh và không dự đoán được;  – bộ máy hành chính phải chuyên nghiệp và có trách nhiệm. Hàn Quốc có bộ máy về khoa học-công nghệ bớt quan liêu hơn Nhật Bản nên Samsung và các hãng khác của Hàn Quốc đã tiến rất nhanh về khoa học-công nghệ, một số lĩnh vực đã vượt Nhật Bản.  – tôn trọng sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng rởm, hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh để doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể tồn tại và phát triển thông qua vận dụng khoa học-công nghệ.  – các doanh nghiệp phải phát triển và tăng trưởng thông qua cạnh tranh bình đẳng, tuân thủ pháp luật, có đóng góp cho xã hội chứ không bằng quan hệ, đút lót.  – Nhà nước lập các quỹ trợ giúp doanh nghiệp vận dụng khoa học-công nghệ, đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực.  Doanh nghiệp và khoa học-công nghệ  Thể chế nào thì có doanh nghiệp ấy. Thể chế này đã nhào nặn ra những doanh nghiệp rất giỏi trong quan hệ, đút lót, chạy thông tin, chi tiêu rất lớn về thời gian và tiền bạc cho các hoạt động đó nhưng ít hay hầu như không còn thời gian và tâm trí nào để quan tâm đến khoa học-công nghệ. Những doanh nghiệp nhỏ và quá nhỏ thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu khả năng tài chính để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm chỉ tồn tại nhờ lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, tàn phá môi trường. Con số doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động tiếp tục tăng lên từ 2011 đến nay phản ánh tình trạng bi đát của khối doanh nghiệp này trong khi khối đầu tư nước ngoài vẫn phát triển và mở rộng sản xuất.  Những tập đoàn nhà nước lớn được ưu đãi, độc quyền, có mối quan hệ với giới có quyền lực cao nhất nên không chịu áp lực cạnh tranh và sự giám sát của công luận, ít đầu tư vào khoa học-công nghệ.  Tuy tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn định, môi trường kinh doanh xấu đi chứ không tốt lên, một số doanh nghiệp tư nhân và cổ phần đã có tiến bộ đáng kể trong đổi mới khoa học-công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp tục phát triển. Có thể kể đến Sứ Minh Long, Ralaco, Mía Đường Lam Sơn, Xi măng Bỉm Sơn v.v. Đó là những điển hình tốt về cạnh tranh thông qua chất lượng chứ không phải thông qua giá, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tận dụng phế thải, bảo vệ môi trường.  Hy vọng các điển hình này cho ta kinh nghiệm để nhân rộng hơn ra các doanh nghiệp khác.   ———-  1 Daron Acemoglu và Jemes Robinson, Why Nations fail, Crown Publishers, N.Y. 2012, bản tiếng Việt do Nguyễn Quang A dịch.    Author                Quản trị        
0.125
__label__tiasang Cái chết của Lưu Nhị Trụ thôn Nam Sơn      Nhưng chỉ sau mấy hôm, con chó mực lại cắn vào gấu quần Lưu Nhị Trụ lôi ra ngoài, lại đến ngôi mộ đó rồi không đi nữa. Lần này, Lưu Nhị Trụ suy nghĩ rất nhiều, chẳng lẽ con chó mực này là sứ giả do thần chết phái tới?    Cái chết của Lưu Nhị Trụ, trưởng thôn Nam Sơn, có liên quan tới một con chó.  Đó là một buổi sáng sớm rất bình thường, một sáng sớm “gà gáy chó sủa”, nhưng thật ra không có gà gáy, dễ đến mấy năm nay Lưu Nhị Trụ không nghe thấy tiếng gà gáy rồi, gà ăn phải thóc có lẫn thuốc trừ sâu, bị chết sạch. Thế là cả thôn không còn gà nữa, cũng thành quen. Nhưng điều kỳ lạ là, Lưu Nhị Trụ vừa mở cửa, thì đã thấy có một con chó mực nằm trước nhà mình. Con chó có bộ lông đen nhánh, thấy Lưu Nhị Trụ nó nhổm dậy, lết tới chân Lưu Nhị Trụ, vẫy vẫy đuôi rồi khe khẽ kêu.  Chó nhà ai nhỉ? Lưu Nhị Trụ điểm lại trong đầu các con chó trong toàn thôn, vẫn không nghĩ ra đây là con chó nhà ai. Chắc là từ thôn khác chạy đến.  Lưu Nhị Trụ không thích chó, vì vậy không muốn giữ lại con chó mực này.  Hàng xóm Lý Đại Thụ nói: “Trưởng thôn Lưu, mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì sang, nhà trưởng thôn chắc là sắp giầu lớn, sang lớn rồi”.  Vợ Lưu Nhị Trụ cũng nói: nuôi nó thôi. Bà ta mang ra một bát xương lợn, đặt xuống đất. Nhưng con chó mực không ăn mà ngước nhìn Lưu Nhị Trụ, Lưu Nhị Trụ nói: ăn đi. Đến lúc ấy con chó mực mới chịu ăn. Lý Đại Thụ nói: con chó này thật thông minh. Lưu Nhị Trụ cũng nói: con chó thật thông minh.  Nếu như Lưu Nhị Trụ có thể thấy trước được những việc xảy ra sau này, chắc chắn là ông ta sẽ không để con chó mực lại. Mấy hôm sau, con chó mực cắn vào gấu quần Lưu Nhị Trụ, kéo ra ngoài. Lưu Nhị Trụ đi theo sau con chó.  Đi được một quãng đường rất dài, đến trước một ngôi mộ, con chó không đi nữa.  Lưu Nhị Trụ đá mạnh vào con chó một cái, vừa định đá tiếp một cái nữa thì con chó bỏ chạy.  Lưu Nhị Trụ cũng quên luôn việc này.  Nhưng chỉ sau mấy hôm, con chó mực lại cắn vào gấu quần Lưu Nhị Trụ lôi ra ngoài, lại đến ngôi mộ đó rồi không đi nữa.  Lần này, Lưu Nhị Trụ suy nghĩ rất nhiều, chẳng lẽ con chó mực này là sứ giả do thần chết phái tới? Nếu không phải thì làm sao nó lại hai lần dẫn mình đến ngôi mộ này? Con chó làm như vậy chẳng lẽ là muốn bảo mình hãy nhanh chóng tự tìm cho mình một ngôi mộ?  Không gì làm cho người ta hoảng loạn bằng việc biết được thời hạn chết của mình.  Lưu Nhị Trụ muốn giết con chó mực đó. Ông ta tẩm thuốc diệt chuột một miếng thịt rồi vứt cho con chó mực, nó ngửi miếng thịt một cái, không ăn. Lưu Nhị Trụ lấy một cái thừng, buộc thành một cái thòng lọng, định thắt cổ con chó cho chết, nhưng nó đã kịp bỏ chạy.  Con chó này thật quỷ quái! Nó đến để lấy mạng mình đây.  Tối hôm đó, Lưu Nhị Trụ nằm trên giường mà không sao ngủ được, suy đi nghĩ lại rất nhiều. Mình mới 40 tuổi thôi, sao lại chết trẻ như vậy? Chẳng lẽ mình đã làm nhiều việc ác à? Lưu Nhị Trụ nghĩ lại một lượt những việc mình đã làm, bắt đầu từ việc nhớ tới thời trẻ ăn trộm dưa hấu của đội sản xuất, cho đến việc tháng trước vừa nhận của nhà Lý Mộc Căn 3.000 NDT (khoảng 6 triệu VNĐ); càng nghĩ càng giật mình, vì đã làm quá nhiều việc xấu, nhiều đến mức ngay mình cũng không dám tin nữa. Dâm ô chơi gái, dọa dẫm sách nhiễu, nhận hối lộ đưa hối hộ, việc xấu nào ông ta cũng đều làm cả.  Khắp người Lưu Nhị Trụ đẫm mồ hôi, dù mình có chết tới mười lần cũng không oan. Nhưng Lưu Nhị Trụ nghĩ phải làm một gì đó đền bù những người mà trước đây ông ta đã làm tổn thương, nhằm giảm nhẹ nghiệp chướng, khiến nghiệp chướng của mình không gây họa cho người trong nhà. Mãi đến gần sáng, Lưu Nhị Trụ mới chợp được mắt.  Sáng ra, Lưu Nhị Trụ cầm 3.000 đồng đến nhà Lý Mộc Căn. Để được duyệt nền đất xây dựng xưởng mây tre, Lý Mộc Căn đã đưa cho Lưu Nhị Trụ 3.000 NDT. Khi đưa lại số tiền này cho Lý Mộc Căn, ông ta một mực không dám nhận, mặt méo xệch, giọng nói gần như khóc: trưởng thôn, chẳng lẽ tôi làm việc gì sai, có lời nói nào không phải?  Lưu Nhị Trụ chỉ lắc đầu.  Lý Mộc Căn nói, có phải thôn định thu hồi nền đất của tôi? Hay là không muốn tôi xây dựng xưởng mây tre nữa?  Lưu Nhị Trụ nói, không có chuyện gì cả, chỉ có điều là tôi thấy không thể thu khoản tiền đó.  Lý Mộc Căn kêu lên một tiếng “trời” rồi quỳ sụp trước Lưu Nhị Trụ, trưởng thôn, tôi xin ông, đừng đưa lại tiền cho tôi nữa, nếu không, tôi ăn không ngon, ngủ không yên đâu.  Lưu Nhị Trụ ra sức đỡ Lý Mộc Căn dậy, nhưng ông ta không chịu đứng lên, nói, ông không nhận lại khoản tiền này, tôi còn quỳ mãi. Lưu Nhị Trụ đành phải cầm xấp tiền đã để trên bàn cho vào túi.  Lưu Nhị Trụ lại đến nhà Lý Trường Hà, Lý Trường Hà không có nhà, chỉ có vợ là Ngọc Mai đang cho gà ăn ở trong sân. Thấy Lưu Nhị Trụ, Ngọc Mai cười cười, mời vào trong nhà.  Vào nhà rồi, Lưu Nhị Trụ nói: Em gái, tôi đến để đưa lễ xin lỗi em, việc ấy là do ma xui quỷ khiến, anh xin lỗi em… Ngọc Mai biết Lưu Nhị Trụ nói việc ấy là chỉ việc gì.  Ngọc Mai và Lý Trường Hà vốn là công nhân của xưởng hóa chất trên trấn. Thế nhưng xưởng hóa chất phải đóng cửa. Ngọc Mai muốn chuyển hộ khẩu của hai vợ chồng về thôn, mong muốn được chia mấy mẫu ruộng1, dựa vào mấy mẫu ruộng đó mà sống. Hôm ấy, Ngọc Mai ôm một đống quà biếu đến nhà. Vừa lúc vợ Lưu Nhị Trụ đi vắng. Lưu Nhị Trụ ôm chặt Ngọc Mai. Ngọc Mai nói, anh làm như thế nữa, tôi sẽ kêu. Nhưng mấy hôm sau, Ngọc Mai đến tìm Lưu Nhị Trụ, nói tôi theo anh. Thế là hộ khẩu cả nhà Ngọc Mai được chuyển về thôn, được chia bốn mẫu ruộng nước tốt, hơn nữa Lưu Nhị Trụ còn giao khoán ao cá cho Lý Trường Hà.  Lưu Nhị Trụ lấy ra 3.000 đồng, Ngọc Mai, số tiền ít ỏi này coi như anh đền bù cho em…  Mặt Ngọc Mai thoắt nom trắng bệch: – Trưởng thôn Lưu, có phải anh không muốn cho nhà tôi khoán ao cá nữa phải không? Đúng là đã có kẻ thấy nhà tôi năm ngoái nuôi cá kiếm được ít tiền nên đã chú ý tới ao cá rồi! Trưởng thôn, đừng làm thế… nhà tôi có 1.000 đồng đây, tôi xin đưa để anh rượu thuốc, bây giờ nếu anh muốn tôi, tôi cũng cho. Nói rồi Ngọc Mai tự cởi áo.  Lưu Nhị Trụ nói, đừng, đừng làm thế. Ngọc Mai nói, anh nhanh lên, nếu không Trường Hà sắp về. Ngọc Mai cởi hết áo, Lưu Nhị Trụ vội bỏ chạy, bị Ngọc Mai túm chặt, nếu anh bỏ chạy, tôi sẽ kêu, nói anh cưỡng hiếp tôi. Lúc này đến lượt Lưu Nhị Trụ khóc dở mếu dở, em gái ơi, đừng làm vậy, coi như là anh xin em. Việc ấy, là anh sai, nhưng việc đã rồi, em bảo anh làm thế nào bây giờ? Ngọc Mai nói, em chỉ muốn anh cần em, xin anh hãy cần em. Anh cần em thì lòng em mới yên, mới tin là anh không lấy ao cá giao cho người khác khoán.  Lưu Nhị Trụ lại đi hai nhà nữa, nhưng kết quả đều như nhau.  Về đến nhà là Lưu Nhị Trụ ngã ốm.  Đến bệnh viện, thầy thuốc tìm không ra bệnh.  Một tháng sau, Lưu Nhị Trụ chết.  Lưu Nhị Trụ để lại di chúc, dùng mười vạn NDT mà ông ta thu được một cách phi pháp trong mấy năm qua để bắc một cái cầu qua con ngòi trước thôn.  Hôm đưa tang Lưu Nhị Trụ, người toàn thôn đều đến dự, nhiều người khóc, nói một trưởng thôn tốt như Lưu Nhị Trụ không nên chết sớm như vậy.  Con chó mực giờ được Lý Mộc Căn nuôi. Nó lại cắn gấu quần Lý Mộc Căn lôi ra khu mộ. Lý Mộc Căn thầm nghĩ, ta không hề làm việc gì xấu, vậy thì vì sao con chó mực này lại cứ lôi ta ra khu mộ này? Đến lần thứ năm, con chó mực cắn gấu quần Lý Mộc Căn lôi ra khu mộ, Lý Mộc Căn mới rõ đầu đuôi. Lần đó khi tới một ngôi mộ cỏ mọc đầy, nó dừng lại kêu thảm thiết. Lý Mộc Căn bước tới gần, mới thấy trên mộ có hai cái hang to bằng cái bát, hang này chắc chắn là do lũ chuột đồng đào. Những lần trước, cứ đến gần ngôi mộ này là Lý Mộc Căn bỏ về. Bây giờ anh ta hiểu là vì sao con chó mực lại kéo anh đến đây. Nó muốn anh cắt cỏ, lấp hang lại. Thế là Lý Mộc Căn cắt sạch cỏ trên mộ, lấy xẻng xúc đất lấp chặt hai cái hang.  Con chó mực không kéo Lý Mộc Căn ra khu mộ nữa.  Sau đó, Lý Mộc Căn thăm dò biết được, cụ Hà, người nằm dưới ngôi mộ này là chủ nhân trước của con chó mực. Cụ Hà là gia đình chính sách, không có con cháu.  Lý Mộc Căn thở dài, ôi, Lưu Nhị Trụ chết oan quá./.    Dương Quốc  Anh (dịch)  Theo “Tiểu thuyết nguyệt san” số 1 năm 2006  ——–  [1] Một mẫu Trung Quốc bằng 1/15ha (khoảng 666m2).  Trần Vĩnh Lâm        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái chết Đen có thực sự đã ‘quét sạch’ một nửa dân số châu Âu?      Các nhà nghiên cứu đã dùng phấn hoa cổ đại để soi chiếu tình hình châu Âu lúc bấy giờ và đưa ra kết luận rằng phạm vi tàn phá của Cái chết Đen không dữ dội như chúng ta vẫn tưởng.      Tác phẩm “The Plague of Florence, 1348,” của Luigi Sabatelli. Nguồn: Alamy  Vào giữa những năm 1300, một loài vi khuẩn do chuột và bọ chét lây truyền đã lan tràn khắp châu Á và châu Âu, gây ra những ca bệnh dịch hạch chết người. Cái chết Đen là một trong những đại dịch khét tiếng nhất trong lịch sử, nhiều chuyên gia ước tính rằng nó đã giết chết khoảng 50 triệu người châu Âu – phần lớn người dân trên lục địa này. Ole Benedictow, một nhà sử học người Na Uy và cũng là một trong những chuyên gia hàng đầu về bệnh dịch hạch, viết vào năm 2005: “Dữ liệu đủ nhiều và phổ biến để có thể cho rằng Cái chết Đen đã quét sạch khoảng 60% dân số châu Âu”. Khi ông Benedictow xuất bản cuốn Lịch sử hoàn chỉnh về Cái chết Đen vào năm 2021, ông đã nâng con số ước tính đó lên thành 65%.  Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới đây, những con số đó, dù dựa trên các tài liệu lịch sử lúc bấy giờ, đã đánh giá quá cao con số thực sự của các ca bệnh dịch hạch. Bằng cách phân tích các trầm tích chứa phấn hoa cổ đại như là dấu hiệu của hoạt động nông nghiệp, các nhà khoa học Đức đã phát hiện ra rằng phạm vi tàn phá của Cái chết Đen có phần ‘chắp vá’. Một số khu vực của châu Âu thực sự đã bị thiệt hại nặng nề, nhưng vẫn có những khu vực khác yên ổn qua mùa dịch, và một số thì bị tàn phá đến thê lương. Adam Izdebski, một nhà sử học môi trường tại Viện Max Planck về Khoa học Lịch sử Nhân loại ở Jena, Đức, đồng thời là tác giả của nghiên cứu mới cho biết: “Chúng ta không thể nói rằng nó đã giết chết một nửa dân số châu Âu.”  Vào thế kỷ thứ XIV, hầu hết người châu Âu làm việc trong các trang trại, nơi đòi hỏi nhiều lao động nhằm tăng năng suất cây trồng. Nếu một nửa dân số châu  u chết trong khoảng thời gian từ năm 1347 đến năm 1352, hoạt động nông nghiệp sẽ giảm mạnh. “Một nửa lực lượng lao động sẽ biến mất ngay lập tức”, TS Izdebski nói. “Bạn không thể duy trì mức độ sử dụng đất như cũ. Nhiều lĩnh vực như chăn nuôi, trồng trọt sẽ không thể tiếp tục.” Mất đi một nửa dân số sẽ khiến nhiều trang trại bị bỏ hoang. Nếu không có đủ người chăn nuôi, sẽ không có gia súc ăn cỏ, và đồng cỏ cứ thế mà phát triển. Các loài cây ăn trái dần dần bị thay thế, thậm chí rồi sẽ trở thành những khu rừng rậm.  Theo TS Izdebski và các đồng nghiệp, nếu Cái chết Đen thực sự gây ra sự thay đổi lớn đến vậy, họ sẽ có thể ‘nhìn thấy’ nó trong các loài phấn hoa ‘sống sót’ từ thời Trung cổ. Hằng năm, một lượng lớn phấn hoa từ thực vật bay vào không khí, và một số phấn hoa rơi xuống đáy hồ và đầm lầy. Bị chôn vùi trong bùn, những hạt phấn đôi khi có thể tồn tại hàng thế kỷ.  Nhằm xem xét liệu phấn hoa có thể nói điều gì về Cái chết Đen, TS Izdebski và các đồng nghiệp của ông đã chọn ra 261 địa điểm trên khắp châu Âu – từ Ireland và Tây Ban Nha ở phía tây cho đến đến Hy Lạp và Lithuania ở phía đông – những nơi có các loại phấn hoa được bảo quản từ khoảng năm 1250 đến năm 1450. Ở một số vùng, chẳng hạn như Hy Lạp và miền trung nước Ý, phấn hoa kể một câu chuyện về sự tàn phá. Phấn hoa từ các loại cây trồng như lúa mì đã cạn kiệt. Bồ công anh và các loài hoa khác trên đồng cỏ thì tàn lụi. Phấn hoa của những loài cây phát triển nhanh như bạch dương lẫn những cây phát triển chậm như cây sồi lần lượt xuất hiện.  Nhưng đó không phải là quy luật trên toàn cõi châu Âu. Trên thực tế, trong số 21 khu vực mà các nhà nghiên cứu xem xét, chỉ có 7 khu vực đã trải qua một cuộc biến chuyển thảm khốc. Ở những nơi khác, phấn hoa ít thay đổi. Tại các khu vực như Ireland, miền trung Tây Ban Nha và Lithuania, cảnh quan đã di chuyển theo hướng ngược lại. Phấn hoa từ các khu rừng trưởng thành trở nên hiếm hơn, trong khi phấn hoa trên đồng cỏ và đất nông nghiệp thậm chí ngày càng phổ biến. Trong một số trường hợp, hai vùng lân cận có thể thay đổi theo chiều hướng khác nhau, chẳng hạn như phấn hoa cho thấy một vùng đã chuyển từ trang trại sang rừng rậm, trong khi vùng kia từ rừng rậm biến thành trang trại.    Phấn hoa dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 40x. Nguồn: Lucrezia Masci.  Dù những phát hiện này cho thấy Cái chết Đen không thảm khốc như nhiều nhà sử học mô tả, nhưng các tác giả của nghiên cứu này cũng không đưa ra được kết luận chính xác về số người chết vì đại dịch. “Chúng tôi không thoải mái khi phải đánh liều đưa ra một con số mà chúng tôi không biết rõ”, Timothy Newfield, nhà sử học về dịch bệnh tại Đại học Georgetown và là một trong những cộng sự của TS Izdebski, cho biết.  Những điểm tương đồng  Một số nhà sử học độc lập chia sẻ rằng kết quả của nghiên cứu mới ở phạm vi châu lục này tương thích với nghiên cứu của riêng họ tại các vùng cụ thể ở châu Âu. Ví dụ, Sharon DeWitte, một nhà nhân chủng học sinh học tại Đại học Nam Carolina, đã phát hiện ra rằng những bộ xương còn sót lại tại London trong thời kỳ đó cho thấy số ca tử vong vì đại dịch khá khiêm tốn. Cô tự hỏi rằng liệu điều này có đúng với các khu vực khác ở Châu Âu hay không.  “Sự nghi ngờ này khá hợp lý, nó cung cấp bằng chứng có thật – đó cũng là điều mà những tác giả này đã làm,” TS DeWitte nói. “Thật thú vị.”  Joris Roosen, trưởng nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Lịch sử Xã hội Limburg, Hà Lan, cho rằng trong nghiên cứu về lịch sử Bỉ của ông, Cái chết Đen không phải là một phần nổi bật. TS Roosen đã đo lường vấn đề thuế trong thời gian diễn ra Cái chết Đen bằng cách xem xét thuế thừa kế được trả ở một vùng có tên là Hainaut. Những cái chết vì bệnh dịch hạch thực sự đã khiến thuế thừa kế tăng đột biến, nhưng TS Roosen phát hiện ra rằng những đợt bùng phát khác trong các năm sau đó đã tạo ra lượng thuế thừa kế lớn hơn nhiều. “Bạn có thể theo dõi điều đó trong ba trăm năm,” ông nói.  Nhưng những phát hiện này vẫn chưa đủ để thuyết phục nhiều chuyên gia. John Aberth, tác giả cuốn The Black Death: A New History of the Great Mortality, cho biết nghiên cứu không thay đổi quan điểm của ông rằng khoảng một nửa số người châu Âu trên khắp lục địa đã chết vì bệnh này.  Theo TS Aberth, ông nghi ngờ việc bệnh dịch hạch lại có thể chừa toàn bộ các khu vực của châu Âu trong khi nó tàn phá các khu vực lân cận. “Ngay cả trong thời Trung cổ, các khu vực gắn kết với nhau bằng thương mại, du lịch, giao thương và di cư,” TS Aberth phân tích. “Đó là lý do tại sao tôi không tin vào việc toàn bộ khu vực này đã ‘trốn thoát’ thành công căn bệnh dịch hạch”.  Ông đồng thời cũng đặt câu hỏi, liệu một khu vực chuyển sang trồng cây trái có nhất thiết đồng nghĩa với việc dân số ở đó đang bùng nổ hay không. Theo ông, cư dân ở đó có thể đã bị Cái chết đen xoá sổ, và rồi những người nhập cư đã đến thay thế, chiếm lấy vùng đất trống. “Những người di cư đến một khu vực mới có thể giúp bù đắp cho những tổn thất về nhân khẩu học”.    Chôn cất những nạn nhân của Cái chết Đen ở Tournai, Bỉ. Nguồn: Thư viện Hoàng gia Bỉ  Trước lập luận này, TS Izdebski thừa nhận mọi người đã di chuyển khắp châu Âu vào thời điểm xảy ra bệnh dịch hạch. Nhưng ông cũng quả quyết số lượng người di cư được ghi chép lại quá nhỏ để thay thế một nửa dân số. Thêm vào đó, chiếu theo lập luận của TS Alberth, làn sóng di cư khổng lồ sẽ phải đến từ các khu vực khác của châu Âu, những nơi được cho là cũng đã bị Cái chết Đen xoá sổ. “Nếu bạn cần hàng trăm nghìn người đến để lấp đầy khoảng trống, họ sẽ đến từ đâu nếu ở khắp mọi nơi, một nửa dân số đã chết?”, ông đặt câu hỏi.  Monica Green, một nhà sử học độc lập suy đoán rằng Cái chết Đen có thể do hai chủng vi khuẩn Yersinia pestis gây ra – và hai chủng này có thể gây ra các mức độ tàn phá khác nhau. Cô đã đề xuất giả thuyết này sau khi xem xét DNA Yersinia được thu thập từ các bộ xương thời Trung cổ.  Trong nghiên cứu của mình, TS Izdebski và các đồng nghiệp của ông đã không xem xét khả năng đó, nhưng họ đã xem xét một số yếu tố khác, chẳng hạn như khí hậu và mật độ dân số ở các khu vực khác nhau của châu Âu. Nhưng không có yếu tố nào giúp giải thích cho phát hiện của họ. Có thể ở mỗi quốc gia, mức độ lây lan vi khuẩn của chuột và bọ chét lại khác nhau. Những con tàu đưa Yersinia đến châu Âu có thể đã cập bến một số cảng vào thời điểm không phù hợp để lây lan virus, và đến những cảng khác vào một thời điểm thuận lợi hơn.  Dẫu sao đi nữa, theo TS Izdebski, Cái chết Đen đã trao cho chúng ta một bài học có thể ứng dụng trong thời đại của coronavirus: “Chúng ta đưa ra một số yếu tố, nhưng không dễ để đoán ngay đâu là yếu tố quan trọng tác động đến sự bùng phát dịch bệnh,” ông nói, đề cập đến cách virus có thể lây lan. “Bạn không thể cho rằng dịch bệnh sẽ vận hành theo cùng một cách ở mọi nơi.”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn: Did the ‘Black Death’ Really Kill Half of Europe? New Research Says No.  The Black Death was not as widespread or catastrophic as long thought – new study    Author                .        
__label__tiasang Cái đẹp đòi hỏi suy nghĩ      Bằng những công cụ hiện đại, các nhà khoa học đã kiểm chứng phần nào quan điểm về cái đẹp của nhà triết học Đức thế kỷ 18 Immanuel Kant và đưa ra kết luận: trải nghiệm thực sự về cái đẹp của một vật thể có thể đòi hỏi con người phải suy nghĩ một cách có ý thức.      Bức “Mona Lisa” trong một căn phòng rộng ở cung điện Louvre. Nguồn: Boris Karpinski/Alamy Stock Photo  Mona Lisa,” một trong những bức họa nổi tiếng bậc nhất thế giới nghệ thuật, được treo trên một bức tường không có gì đặc biệt màu vàng nhạt trong một căn phòng rộng ở cung điện Louvre. Ngoài bức tranh nhỏ của danh họa Leonardo da Vinci thì trong phòng có rất ít điểm thu hút cặp mắt của người xem. Các nhà tâm lý hiện đại cho rằng cách trưng bày như vậy tạo một môi trường trung hòa, thuần khiết cho nghệ thuật. Đây là điểm chung của các bảo tàng nghệ thuật truyền thống từ đầu thế kỷ 20 trở đi và nó thực sự đóng vai trò trong việc “chỉ dẫn’ tâm lý của con người bởi việc giữ cho con người không xao nhãng là cách tốt để đánh giá vẻ đẹp nghệ thuật.  Phong cách bố trí theo kiểu tối giản như vậy không phổ biến trong quá khứ. Trong suốt những năm 1800, các nhà bảo trợ có thể tìm thấy các tác phẩm nghệ thuật nhồi đầy chật từ nền đến trần phòng trưng bày nhưng vào cuối thế kỷ 19, mô hình “không gì là không thể đó” đã bị chỉ trích là lỗi thời. “Trạng thái tinh thần kiểu ôm đồm này là con đẻ của sự phô trương khủng khiếp và là biểu hiện của một trạng thái tinh thần lúng túng và mơ hồ, đi kèm với sự nhức mỏi đôi chân cũng như đầu đau như búa bổ”, nhà kinh tế và logic học người Anh William Stanley Jevons đã viết như vậy trong tiểu luận nổi tiếng năm 1882 “The Use and Abuse of Museums” (Sử dụng và lạm dụng của các bảo tàng).  Để chiến đấu với “nỗi mệt mỏi bảo tàng” đó, các học giả nghệ thuật đề xuất nhiều ý tưởng, trong đó các viện trưng bày nghệ thuật phải giản dị hơn, ví dụ Benjamin Ives Gilman  thư ký Bảo tàng Mỹ thuật Boston, cho rằng các nhà giám tuyển nên tránh “sự đa dạng của màu sắc trên tường, vốn hay xuất hiện ở các bảo tàng mới xây dựng” và một màu sắc trung tính, tiêu chuẩn thì có lợi hơn cho trưng bày. Vào đầu thế kỷ 20, phong cách “tối giản” như vậy đã trở nên thịnh hành. “Bạn cần tạo ra một môi trường ‘sạch’ cho trưng bày các vật thể”, Lupton nói.  “Beauty Requires Thought” (Cái đẹp đòi hỏi suy nghĩ), một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Current Biology của nhà xuất bản Cell của nghiên cứu sinh Aenne A. Brielmann và giáo sư Denis G. Pelli đã xác nhận những nỗ lực của các nhà giám tuyển bằng việc tìm kiếm cách đánh giá vẻ đẹp nghệ thuật thông qua quá trình suy nghĩ một cách có ý thức – và do đó, sự xao nhãng của một cá nhân có thể khiến họ không thưởng thức được đầy đủ giá trị của tác phẩm nghệ thuật.   Mỹ học thần kinh kiểm chứng quan điểm của Kant  Aenne Brielmann, một nghiên cứu sinh tâm lý học trường Đại học New York, nảy ra ý tưởng nghiên cứu về những tác động của sự xao nhãng trong đánh giá nghệ thuật sau khi cô tham gia một chương trình hội họa ở châu Âu. Được khơi gợi cảm hứng trong thời gian ở trường nghệ thuật đó, cô đã dành sự tập trung vào mỹ học thần kinh (neuroaesthetics) – một lĩnh vực nghiên cứu mới nổi gần đây tập trung vào nhận thức thẩm mỹ về nghệ thuật, âm nhạc hoặc bất kỳ đối tượng nào có thể làm phát sinh các phán đoán thẩm mỹ ở người thụ hưởng. Thông qua việc áp dụng các thí nghiệm tâm lý, quét não và nhiều công cụ khác của khoa học thần kinh, cô muốn hiểu về cách bộ não của con người quyết định như thế nào trước những thứ có thể đem lại niềm vui hưởng thụ nghệ thuật. “Thật tuyệt vời nếu tôi có thể kết hợp hai niềm đam mê đó và thực hiện việc tìm hiểu về mặt tâm lý và khoa học thực nghiệm về hiệu ứng này”, Brielmann nói về động cơ thúc đẩy mình theo đuổi lĩnh vực mới mẻ đó.    Những bức ảnh tương tự với bức này được dùng trong nghiên cứu để suy ra những cảm giác cực kỳ hứng khởi. Nguồn: Aenne Brielmann  Brielmann và giáo sư hướng dẫn Denis Pelli đã cùng trở lại tìm hiểu các nhà triết học, những người “từng nói về chủ đề này trong hàng trăm năm qua”, và tập trung vào công trình của nhà triết học Đức có nhiều ảnh hưởng là Immanuel Kant. Ông từng cho rằng vẻ đẹp không phải là một đặc tính cố hữu của một vật thể mà mang tính chủ quan và phụ thuộc vào người quan sát nó; còn niềm hứng khởi đơn thuần trong giác quan có thể không bao giờ là cái đẹp cả.   Tranh luận của Kant, trong diễn dịch của Brielmann, phụ thuộc vào ý tưởng là một cá nhân phải tỉnh táo thông qua việc xác định liệu cái gì là đẹp hay không đẹp. “Anh có thể không đủ khả năng để trải nghiệm cái đẹp thêm chút nào nữa nếu như chúng tôi tách ý nghĩ ra khỏi đầu anh”, cô nói.  Tuy nhiên để trả lời câu hỏi “việc trải nghiệm cái đẹp có đòi hỏi con người phải suy nghĩ?” “và việc cảm nhận niềm hứng khởi về mặt giác quan như ăn uống có thể là cái đẹp?” thì các nhà nghiên cứu đã phải thực hiện một loạt thí nghiệm về tâm lý.  Aenne Brielmann đã thiết kế thí nghiệm với những bức ảnh. Cô đã mời hơn 60 người nhìn ngắm các bức ảnh mà họ coi là “đẹp một cách sống động” bên cạnh các bức có đặc điểm “trung tính”, “đẹp”. Tất cả các bức đó đều được lấy từ một cơ sở dữ liệu hình ảnh quốc tế với những bức đã được hiệu chỉnh lại tương đương với những hiệu ứng cảm xúc khác nhau.   Sử dụng một ứng dụng iPad, những người tham gia được đề nghị cho điểm các bức ảnh đem lại cho họ hứng khởi về cái đẹp. Các ngón tay chuyển động trên màn hình của họ chỉ dấu nơi nào phản ứng của họ là “cực kỳ hứng khởi” hay “tàm tạm hứng khởi”.  Sau đó, để phân tán sự tập trung của người tham gia, Brielmann cho họ kể lại những gì họ nhớ được trong quá khứ khi nhìn thấy những hình ảnh tương tự. Điều này khiến mỗi người phải tập trung vào những gì họ nghe thấy và nói ra của từng người nên không còn chú ý vào những gì họ đang nhìn vào. “Suy nghĩ của anh vẫn đảm bảo thực hiện nhiệm vụ ngay cả khi anh đang quan sát một vật thể”, Brielmann cho biết.    Hai nhà nghiên cứu Aenne A. Brielmann và Denis G. Pelli bên cạnh một số vật được dùng trong thí nghiệm. Nguồn: eurealert.com  So sánh với cách họ xếp hạng các hình ảnh trong khi ngắm nhìn chúng một cách đơn giản, các nhà nghiên cứu thấy khoảng 15% số lượng bức ảnh được định nghĩa là đẹp đã bị loại khỏi danh sách này trong khi với danh sách các bức ảnh trung tính lại có rất ít thay đổi.  Bevil Conway – nhà khoa học thần kinh tại Viện Nghiên cứu Mắt quốc gia có thời gian dài nghiên cứu về cách não xử lý thông tin thị giác, đánh giá cao nghiên cứu này. Tuy ông không tham gia vào nghiên cứu này nhưng đã xuất bản một số nghiên cứu về chủ đề vẻ đẹp đòi hỏi sự tập trung, ví dụ “Neuroaesthetics and the Trouble with Beauty” (Mỹ học thần kinh và sự rắc rối với cái đẹp) xuất bản trên tạp chí Plos Biology. Ông nhận xét thêm “Nghiên cứu của họ đã cung cấp một số dữ liệu có trải nghiệm đầu tiên cho lý thuyết này”.   Kant cũng có thể sai?  Ý thứ hai trong quan điểm về cái đẹp của Kant là niềm hứng khởi đơn thuần trong giác quan có thể không bao giờ là cái đẹp cả. Để kiểm chứng nhận định của Kant về sự chia tách giữa cái đẹp và sự hài lòng, vui thích từ những giác quan, Brielmann đã thiết kế thêm một thí nghiệm liên quan đến sự hưởng thụ giác quan, đó là việc trải nghiệm vị ngọt ngào về vị giác với kẹo và trải nghiệm sự dễ chịu trong xúc giác với những con gấu bông mềm mại. Sau đó, cô đề nghị họ xếp hạng trải nghiệm “đẹp” này. Thật đáng ngạc nhiên là họ đều xếp hạng trải nghiệm này là đẹp.   Brielmann đã hỏi một số người tham gia thí nghiệm và nhận được câu trả lời “dứt khoát đúng” với cái đẹp về kẹo. Cô và Pelli viết trong bài báo, “phần lớn trong số họ đều hiển nhiên đều cho rằng kẹo mút đều có ý nghĩa riêng với họ, như kỷ niệm về một thời thơ ấu khó quên. Một người còn thổ lộ ‘dĩ nhiên, bất cứ thứ gì lúc đó cũng có thể rất đẹp’”.   “Phát hiện của chúng tôi chứng tỏ có rất nhiều điều bên cạnh nghệ thuật cũng có thể là cái đẹp – ngay cả kẹo”, Brielmann nhận xét. “Nhưng nếu xét ở mức độ vui sướng cực độ thì không có gì có thể sánh bằng cái đẹp được quan sát một cách tập trung”.  Qua thí nghiệm này, Aenne Brielmann và Denis Pelli đã chứng tỏ kết luận của Kant đúng với người này nhưng lại sai với người khác. “Chúng tôi phát hiện ra là cái đẹp, khi nó ở trước mắt mọi người, đem lại niềm vui thích dạt dào. Niềm vui thích như vậy và cái đẹp đều đòi hỏi sự suy nghĩ”, Denis Pelli nói.  Tuy nhiên, Conway không hoàn toàn chắc chắn về việc những kết luận của Aenne Brielmann và Denis Pelli có thực sự ủng hộ hoặc bác bỏ các khẳng định của Kant hay không, vì kết quả thí nghiệm không hoàn toàn giải quyết được những gì Kant đã tuyên bố. “Tuyên bố của Kant thực sự là vẻ đẹp truyền cảm hứng cho tư duy; quan điểm của ông là để trải nghiệm cái đẹp, chúng ta cần ở trong một trạng thái thưởng ngoạn thật sự vô tư”, Conway nói. “Không rõ là mẫu hình mà các tác giả sử dụng có thể kiểm chứng được lý thuyết của Kant hay không”.  Không chỉ đặt câu hỏi là những người tham gia thực sự nghĩ gì khi họ được đề nghị xếp hạng cái đẹp, Conway còn nêu một điểm nữa là có nhiều nhân tố bên ngoài cần được xem xét thêm như nơi họ sống và văn hóa nền của họ. “Cái đẹp là sự hài lòng, hài lòng với cái đẹp”, Conway nói. “Nhưng đó có phải là tất cả những gì anh cần biết?”  Với nghiên cứu này, Conway chỉ ra, các nhà nghiên cứu không xác định trước cho các chủ đề của họ cái gì được coi là đẹp. Thay vào đó, họ chỉ đơn giản đề nghị những người tham gia xếp hạng cách họ cảm nhận về mặt cá nhân về các hình ảnh. Brielmann biện luận “Đơn giản là chúng tôi không đặt thêm những định nghĩa về cái đẹp”.   Toán học mô hình hóa cái đẹp  Nghiên cứu của Aenne Brielmann và Denis Pelli nhấn mạnh vào sự thật là cái đẹp, dẫu mang tính chủ quan và thoáng qua như phù du, thì vẫn có thể đo lường được nó và mô hình hóa bằng toán học. “Ý tưởng lớn ở đây là xây dựng một mô hình tính toán có thể giải thích các quá trình xử lý cái đẹp về mặt tâm lý ẩn giấu bên trong nó”, Brielmann nói. Mô hình đó, vốn được Brielmann trình bày trong cuộc hội thảo thường niên của Hội Khoa học thị giác, có thể hỗ trợ các nhà tâm lý dự đoán được các thực nghiệm tương lai về cách cái đẹp hoặc con người hài lòng sẽ tìm kiếm những hình ảnh nhất định nào, những sở thích hay những tác nhân kích thích nào. “Đó là một trong những mục tiêu lớn cần phải đạt được để hiểu tốt hơn về quá trình xử lý thông tin trong não người”, Brielmann nói.   Nhiều khám phá khoa học về cái đẹp đều ẩn chứa những ứng dụng tốt trong thực tế. “Đây là những hiểu biết rất quan trọng cho những người muốn tạo ra vẻ đẹp, như những nghệ sĩ hoặc giám tuyển các bảo tàng”, Brielmann đề cập đến ý nghĩa ứng dụng của nghiên cứu. “Ví dụ anh không nên làm phân tâm những người trong bảo tàng nếu anh muốn họ tìm thấy cái đẹp trong nghệ thuật”.   Các nhà nghiên cứu lập kế hoạch tiếp tục nghiên cứu này với hi vọng trả lời được nhiều câu hỏi về vai trò của cái đẹp trong cuộc sống. Ví dụ, họ có thể đặt câu hỏi “Có những người không thể trải nghiệm cái đẹp không?”, “Cái đẹp đóng vai trò gì trong việc ra quyết định?”, “Cảm giác về có đẹp có cần thiết cho sáng tạo?”, và “Xấu xí đối nghịch với cái đẹp hay là một chiều bị chia tách của cái đẹp?”…   Cái đẹp muôn ngàn vạn trạng trong thế giới. Trường ca Iliad của Homerr kể về một cuộc chiến tranh được một người phụ nữ đẹp châm ngòi; ngành công nghiệp mỹ phẩm thế giới trị giá 460 tỉ USD (năm 2014); các nhà toán học coi cái đẹp là cần thiết cho nghề nghiệp của mình “Cái đẹp là cú thử đầu tiên: không có chỗ nào vĩnh viễn trên thế giới cho toán học xấu xí”. Vậy rút cục, chúng ta có thể trả lời một cách rõ ràng và tách bạch về cái đẹp không? “Có lẽ một trong những câu đố khó hiểu nhất còn tồn tại trên thế giới này chính là về cái đẹp: ‘nó là gì và tại sao chúng ta lại trải nghiệm nó’?”, Conway nói.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:    https://www.cell.com/current-biology/fulltext/S0960-9822(17)30427-X  https://www.eurekalert.org/pub_releases/2017-05/cp-brt050417.php  https://www.smithsonianmag.com/science-nature/distraction-makes-us-less-able-appreciate-beauty-180963315/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái giá của tự do      Những nỗ lực hướng tới dân chủ và tự do là một câu chuyện diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Tự do là một thuộc tính tự nhiên của con người, như Jean Jacques Rousseau (1712-1778) – nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới cách mạng Pháp – 1789, đã từng nói: “Con người sinh ra đã có tự do”. Nhưng thuộc tính tự do của mỗi cá nhân luôn có xu hướng bị “đồng hóa”, bởi quyền tự do của các cá nhân luôn ràng buộc, thậm chí khống chế lẫn nhau. Bản tính tự do tự nhiên của con người được phát huy hiệu quả ở mức độ nào là tùy thuộc vào tầm vóc văn hóa và những điều kiện riêng của từng cá nhân, cùng kết quả quá trình tiến hóa của toàn xã hội.    Con đường tới tự do  Đối với đại đa số con người, điều kiện cơ bản đầu tiên của tự do là một đời sống vật chất ở mức tối thiểu. Chỉ cần bằng trải nghiệm ít nhiều trong cuộc sống, người ta cũng không khó để nhận ra cái minh triết trong lời nhắn nhủ: “Hãy kiên quyết đừng để mình trở nên nghèo túng; hãy sử dụng ít hơn bạn có. Sự nghèo túng là kẻ thù lớn đối với hạnh phúc con người; nó phá hủy tự do, và nó khiến một vài đức hạnh trở thành không thực tế, và số còn lại cực kỳ khó khăn” của Samuel Johnson (1709-1784)- nhà văn, nhà đạo đức học người Anh, thật đáng giá và thực tế biết bao! Hóa ra muốn có tự do thì trước hết con người cần phải thoát nghèo.  Tuy nhiên, để thoát nghèo, con người cần nhiều đức tính, nhưng phải chăng không thể không có những lựa chọn mạo hiểm! Người ta đã đúc kết rằng: “Một người nông dân từ bỏ một mái lều tranh, còn khó hơn một nhà tư sản từ bỏ một lâu đài”! Rằng đó phải chăng cũng chính là những “cái quẩn quanh”, không dám mạo hiểm – bứt phá, khiến chủ thể khó thoát nghèo!? Vì vậy cái “không gian tự do” của họ cứ mãi hạn hẹp! Lịch sử đã chứng minh rằng: những dân tộc chậm phát triển, tất nhiên khó mà có dân chủ và tự do nơi họ, thường cũng là những dân tộc có lịch sử ít mạo hiểm.  Nhìn sâu hơn vào bản chất, sự mạo hiểm chính là một phần của tự do, bởi rõ ràng tự do trước hết được thể hiện ở quyền tự do lựa chọn, mà gắn liền với mỗi lựa chọn luôn tiềm ẩn khả năng sai lầm. Erich Seligmann Fromm (1900-1980) – nhà tâm lý học xã hội, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, triết gia nhân văn và nhà xã hội học dân chủ người Đức, cho rằng: “Không thể có tự do thật sự mà không có tự do vấp ngã”. Cái giá phải trả cho tự do thực sự, chính là sự vấp ngã. Hay như Mahatma Gandhi (1869 -1948) – người hùng dân tộc Ấn Độ, đã phát biểu: “Tự do không đáng để có nếu nó không bao gồm tự do được sai lầm”.  Hơn thế nữa như nhà giáo dục người Mỹ-William Arthur Ward (1921-1994) đã lý giải: “Người không mạo hiểm điều gì, chẳng là gì. Anh ta có thể tránh được đau buồn và thống khổ, nhưng anh ta không thể học hỏi, cảm nhận, thay đổi, trưởng thành hay thực sự  sống. Bị xiềng xích bởi sự khuất phục, anh ta là kẻ nô lệ đã từ bỏ tất cả tự do. Chỉ người dám mạo hiểm mới có tự do”.   Do đó những kẻ cầu toàn, sợ mắc sai lầm, đều không thể có tự do đích thực. Và tương tự như thế, những kẻ không dám nhận trách nhiệm cho mỗi quyết định của mình cũng không thể là con người tự do. Rằng như Elbert Green Hubbard (1856-1915)- nhà văn và triết gia người Mỹ đã nói: “Trách nhiệm là cái giá của tự do”. Theo Anna Eleanor Roosevelt (1884-1962) (phu nhân của tổng thống Mỹ- Franklin D. Roosevelt (1882-945) – nhà tiên phong trong phong trào ủng hộ nữ quyền, tích cực trong nỗ lực hình thành nhiều định chế, trong đó đáng kể nhất là tổ chức Liên hiệp quốc) thì: “Tự do đòi hỏi rất nhiều ở mỗi người. Đi cùng với tự do là trách nhiệm. Với người không sẵn sàng trưởng thành, người không muốn mang sức nặng của chính mình, đây là một viễn cảnh đáng sợ”. Điều này có nghĩa là, đối với những thực thể “chưa trưởng thành” thì quyền tự do, hay “không gian tự do” sẽ tự nó bị tước đoạt, hay chính họ lại muốn nhường quyền tự do quyết định cho người khác. Cũng như họ dễ dàng bị kẻ khác cướp đoạt quyền tự do của mình. Họ dường như không dám “độc lập”, không dám “tự chủ”, bởi họ không có khả năng “tự quyết định” cũng như “tự chịu trách nhiệm”. Đây chính là hình ảnh thực tế, về những lớp người chưa trưởng thành, những dân tộc chưa trưởng thành. Và thật khó nói đến những ý tưởng kiến tạo, những tư tưởng khai mở, cũng như sự đột phá từ họ!  Tự do và những kẻ thù  Kẻ thù đầu tiên của tự do là thái độ hèn yếu không dám đấu tranh để có quyền tự quyết cũng như tiếp nhận trách nhiệm gắn liền với nó, nhưng đó không phải là kẻ thù duy nhất. Ở thái cực ngược lại, kẻ thù của tự do còn là khi người ta không tự nhận ra tính hữu hạn về sức mạnh và khả năng của mình, nên đã tự cho mình cái quyền tự do vô lối, nên liều lĩnh trong hành động, hoang tưởng như mình có quyền uy và năng lực tuyệt đối, trong việc tác động vào đời sống xã hội. Rằng tính chủ quan này, chính là một dạng suy thoái năng lực của con người. Điều này thường xảy ra ở những “kẻ độc tài giải phóng chính mình, nhưng lại nô dịch hóa nhân dân” như vua hề Charlie Chaplin (1889-1977) đã bóc mẽ. Và như thế, chúng trở thành những kẻ bóp chết tự do, không chỉ của người khác, mà của cả chính chúng.  Ngoài ra như William Arthur Ward cũng đã chỉ rõ: “Kẻ thù của tự do là lãng phí, thờ ơ, phóng đãng, và thái độ xảo quyệt muốn có mà chẳng bỏ công”. Quả thật, nếu những phẩm tính không mong muốn này lại đồng thời tồn tại ở một nơi nào đó, thì ở đó yêu cầu thực thi quyền tự do sẽ trở thành một thứ hoang tưởng!?  Độ rộng hẹp của “không gian tự do” luôn phụ thuộc vào sức mạnh nội tại của chủ thể. Rõ ràng những kẻ phải nhờ cậy sức mạnh của người khác để có tự do thì thứ tự do đó chỉ là thứ tự do không thực chất và khó bền lâu. Đó dường như là một chân lý phổ biến trong đời sống, cũng như trong lịch sử. Đến đây khiến người ta nhớ đến lời hiệu triệu “Tự do, Sancho ạ, là sức mạnh của ngọn giáo chiến đấu!” của kỵ sĩ Don Quijote nói với người đồng hành Sancho Panza trong  tiểu thuyết nổi tiếng “Don Quijote xứ Mancha” của nhà văn Tây Ban Nha-Miguel de Cervantes y Saavedra (1547-1616). Điều này cũng đã được bàn đến trong bài “Tự do-sức mạnh của ngọn giáo” (Tia Sáng ngày 27-4-2016).  ***  Lịch sử đã chứng minh rằng, một xã hội muốn phát triển, thì trước hết quyền tự do của xã hội ấy phải được phát triển. Thêm nữa, như Karl Heinrich Marx (1818-1883) đã từng nói: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”! Như vậy, chỉ có tự do của mỗi cá nhân được đảm bảo, mới có thể tạo nên tự do của một quốc gia, đặt nền tảng cho quốc gia phát triển. Mặt khác như chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1069) đã nhấn mạnh: “Đất nước độc lập nhưng nếu nhân dân không tự do, hạnh phúc, thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì”. Điều này còn có nghĩa là, độc lập trước ngoại bang chỉ là một tiền đề, nó chưa hẳn đã mang đến tự do, lại càng không phải là mục đích cuối cùng! Và từ thực tiễn lịch sử cho thấy, quá trình giành độc lâp, có thể chỉ diễn ra trong ngắn hạn, nhưng quá trình để đi đến tự do, thường lại là một quá trình kiến tạo, gian khổ, phức tạp, chịu nhiều biến động, thử thách, mở và dài hạn.  Tự do thật mong manh và dễ đổ vỡ, nó là hệ quả của biết bao yếu tố ngoại lực và nội lực. Nhưng rõ ràng một thực thể nào đó dẫu đã có độc lập, nhưng vẫn chưa trưởng thành, thì vẫn còn rất  xa vời với tự do gắn với phát triển, thậm chí có thể sự độc lập của nó cũng sẽ bị đe dọa. Và  khả năng “tự quyết định” cũng như dám “tự chịu trách nhiệm” của mỗi thực thể, chính là những tiêu chí quan trọng, góp phần làm nên sự trưởng thành của thực thể đó! Vậy nên chăng cần bắt đầu, từ việc tạo lập quy trình, khiến cho mỗi cá nhân, mỗi tổ chức xã hội phải “tự quyết định” cũng như phải “tự chịu trách nhiệm” về mọi hành động của mình !? Rằng đó chính là khởi đầu quan trọng, nhất thiết phải vượt qua, trong lộ trình đi đến tự do cá nhân và tự do xã hội! Và điều sau cùng cần nhớ, dù có như thế nào thì cũng “không thể bảo vệ tự do trong khi nhân dân không nhận thức được nó“, cái điều mà John Adams John Adams (1735-1826) – phó tổng thống đầu tiên của Mỹ (1789-1797) và là tổng thống thứ 2 của Mỹ (1797-1801), đã nhắn gửi.  Ý thức về phẩm giá cũng như trách nhiệm với bản thân và đồng loại cùng với những mạo hiểm và sự hi sinh có thể gắn với các lựa chọn, một cách tự nhiên những yếu tố đó chính là khuôn khổ đằng sau quyền tự do của con người. Và con người chỉ tự do thực sự khi chấp nhận khuôn khổ ấy một cách tự nguyện. Một người có ý chí khát khao vươn tới mục tiêu của mình, sẽ nhận ra, tự do chính là “tự do phục tùng những luật lệ mà một người tự thiết lập cho chính mình”, cái điều mà Jean Jacques Rousseau cũng đã đề cập. Và rõ ràng mục tiêu càng cao thì cái luật lệ mà họ tự thiết lập càng nghiêm ngặt, cũng như tính tự phục tùng phải càng lớn. Đó là cái giá tất yếu phải trả để làm người tự do đích thực, bởi nếu không người ta buộc phải thuộc về một thái cực khác trong thực tế cuộc sống, đó là tự nguyện một cách có ý thức hoặc vô thức bằng lòng với sự mất tự do, hoặc phải chấp nhận một thứ tự do giả hiệu, thứ tự do trong phục tùng nghiêm ngặt những luật lệ, những quy tắc mang tính áp đặt từ người khác.     Những con người tự do đích thực là tài sản quý giá không bỗng dưng mà có. Mỗi con người sinh ra đã có tự do, nhưng để làm người tự do là kết quả của nỗ lực phấn đấu không ngừng từ bản thân mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội, mà trước hết đó là sản phẩm của nền giáo dục. Một trong những điều kiện cơ bản để có con người tự do là họ phải được hưởng một nền giáo dục tốt. “Trẻ em cần phải được giáo dục và được hướng dẫn những nguyên tắc của tự do” như John Adams đã đúc kết.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Cái giá thế giới phái trả  để Trung Quốc tăng trưởng kinh tế      Đ&#227; c&#243; kh&#244;ng &#237;t &#253; kiến chỉ ra những c&#225;i gi&#225; Trung Quốc phải trả để nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ li&#234;n tục trong v&#224;i thập kỷ gần đ&#226;y, chủ yếu bao gồm thiệt hại về m&#244;i trường v&#224; bất ổn x&#227; hội. Tuy nhi&#234;n, kh&#244;ng chỉ Trung Quốc, c&#243; thể cả thế giới cũng đang phải mang tr&#234;n vai những g&#225;nh nặng kh&#244;ng nhỏ. Đ&#226;u l&#224; c&#225;i gi&#225; thế giới phải trả để Trung Quốc tăng trưởng kinh tế? Đ&#226;y l&#224; c&#226;u hỏi c&#225;c nh&#224; kinh tế cần nghi&#234;m t&#250;c đặt ra.    Nghị định thư Kyoto liệu có vô tác dụng khi không có sự tham gia của Trung Quốc?   Năm 2001, cựu Tổng thống Mỹ George Bush rút nước Mỹ khỏi cam kết Nghị định thư Kyoto, được các quốc gia phát triển lập ra với mục tiêu giảm lượng khí thải gây hiện tượng ấm nóng toàn cầu. Đa số dư luận thế giới chỉ trích động thái này của Bush, coi đây là hành động thiếu trách nhiệm với môi trường chung của thế giới. Nhưng Bush, mặt khác, coi việc cam kết theo Nghị định thư Kyoto là hành động không sáng suốt, khi mà hai quốc gia lớn đang phát triển là Ấn Độ và Trung Quốc không hề bị ràng buộc bởi nghị định này. Đây cũng là lý do quyết định ký Nghị định thư Kyoto đã không được Thượng Viện thông qua, dù đã được cựu Tổng thống Clinton chuẩn y vào năm 2007. Lịch sử sẽ còn tiếp tục có sự đánh giá chính sách của Bush. Tuy nhiên, đa số dư luận chỉ trích ông ta đã không tính đến hiệu ứng thay thế hàng hóa sản xuất tại Mỹ bằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, chủ yếu là Trung Quốc, một khi nước Mỹ tuân thủ chấp hành Nghị định thư Kyoto. Hiệu ứng này sẽ làm trầm trọng thêm lượng khí thải tạo ra bởi Trung Quốc trong quá trình sản xuất và vận tải hàng hóa. Thậm chí cần xem xét cả giả thuyết rằng lượng khí thải tạo ra thêm này còn lớn hơn lượng khí thải giảm trừ được từ các nước phát triển.  Việc sản xuất ở Trung Quốc không được giám sát cẩn thận và không phải chịu các chế tài khắt khe về tác động tới môi trường như ở các nước phát triển. Điều này cho phép người sản xuất giảm thiểu chi phí và gia tăng mức độ cạnh tranh trên toàn cầu. Như vậy, khi các nước phát triển gia tăng mức độ ngặt nghèo về kiểm soát khí thải, chắc chắn giá cả sản xuất hàng hóa ở các nước này sẽ bị nâng lên, giúp Trung Quốc xuất khẩu được nhiều hàng hóa hơn. Qua đó các nhà máy, xưởng sản xuất ở Trung Quốc lại càng có động cơ mở rộng quy mô.   Tất nhiên chúng ta cần tính tới hiệu ứng thu nhập tại các nước phát triển, xảy ra do người lao động ở các nước này bị giảm thu nhập, do hàng hóa mà họ làm ra bị giảm sức mua. Điều này sẽ làm nhu cầu mua hàng nhập khẩu từ Trung Quốc bị kéo xuống, đối nghịch lại với sự gia tăng chúng ta vừa đề cập phía trên. Tuy nhiên, khá an toàn để khẳng định rằng lượng hàng hóa từ Trung Quốc và các nước đang phát triển khác sang các nước phát triển sẽ gia tăng do hệ quả của Nghị định thư Kyoto, nếu như các nước phát triển không có chính sách thương mại phù hợp. Điều này có thể làm tăng lượng khí thải vào bầu khí quyển toàn cầu thay vì làm cho giảm đi, do việc sản xuất ở Trung Quốc và các nước đang phát triển tạo ra lượng khí thải trung bình trên mỗi đơn vị sản phẩm lớn hơn.   Cũng cần phải tính đến yếu tố khí thải từ việc vận tải hàng hóa xuyên đại dương giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Trung Quốc, công xưởng của thế giới, đóng vai trò đầu mối trung tâm của các tuyến đường biển này. Việc gia tăng thương mại liên quan tới Trung Quốc làm gia tăng mật độ giao thông đường biển, vốn đóng góp một phần không nhỏ vào ô nhiễm môi trường, đặc biệt là mưa acid tại các vùng duyên hải.  Tác động tới thị trường dầu lửa  Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm giảm sức mua của thế giới đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhưng vấn đề cần đặt ra là điều gì xảy ra sau khi cơn khủng hoảng qua đi? Cơ cấu kinh tế của Trung Quốc dựa nhiều vào xuất khẩu. Chính phủ Trung Quốc thậm chí chấp nhận giữ đồng NDT ở mức giá thấp để duy trì khả năng cạnh tranh trên toàn cầu. Tuy nhiên, việc giao thương giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới hầu hết dựa vào những tuyến vận tải hàng hải đường dài vượt đại dương. Trong đó bao gồm việc vận tải nguyên liệu đầu vào từ nơi khác tới Trung Quốc và vận tải hàng hóa thành phẩm từ Trung Quốc tới các nước tiêu thụ.   Trước khi nền kinh tế thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng, giá dầu thế giới tăng tới mức 150 USD/thùng. Một phần nguyên nhân có thể do tệ đầu cơ. Một phần do chi phí tăng cao khi phải tăng độ sâu và lưu lượng khai thác. Và phần chi phí cho một tương lai khan hiếm năng lượng tất nhiên chưa được phản ánh trong giá thị trường.   Tuy nhiên, không thể phủ nhận thực tế là Trung Quốc hiện đã trở thành quốc gia tiêu thụ dầu thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Một đất nước có nền công nghệ còn nhiều hạn chế nhưng đang thay thế các nước công nghiệp phát triển, trở thành công xưởng sản xuất cho cả thế giới. Đây hẳn không thể là giải pháp tối ưu cho mục tiêu tiết kiệm năng lượng.  Ai kiểm soát chất lượng hàng hóa  Tháng 5 năm 2008, Cơ quan Kiểm định Thực phẩm và Dược của Mỹ (FDA) mở văn phòng đại diện tại Bắc Kinh. Đây là động thái thể hiện Mỹ quan tâm tới độ an toàn của thực phẩm xuất xứ từ Trung Quốc. Bản thân chính quyền Trung Quốc cũng thể hiện sự cứng rắn trong việc trừng phạt các quan chức cao cấp liên quan tới các vụ tai tiếng về thực phẩm và hàng hóa xuất khẩu có nhiễm độc.   Tuy nhiên, tất cả những động thái trên đều mới thể hiện được tính hình thức. Thực tế rất khó kiểm soát độ an toàn của lượng hàng hóa khổng lồ mà Trung Quốc sản xuất. Bản thân các nhà sản xuất Trung Quốc phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối tác trong nước. Trong khi việc kiểm định hiện nay chỉ được thực thi ráo riết khi sự cố đã xảy ra. Hơn nữa, không có sự cố không có nghĩa là hàng hóa đạt tiêu chuẩn an toàn.   Như vậy, chính quyền Trung Quốc có thể gia tăng việc kiểm tra chất lượng hàng hóa, nhưng đó là điều họ chưa làm. Cũng chưa có các cơ quan kiểm định độc lập có uy tín thực thi nhiệm vụ này. Vậy thì tự các nước nhập khẩu phải tìm cách kiểm định chất lượng sản phẩm. Nhưng chi phí đó có thể sẽ phải trích ra từ nguồn thuế mà toàn dân các nước này đóng góp, trong khi không phải ai mua một lượng hàng xuất xứ từ Trung Quốc tương đương nhau. Giải pháp cuối cùng là đánh thuế cao đối với nhà nhập khẩu cũng không khả thi, vì có thể đó bị coi là sự vi phạm tự do thương mại của WTO.  Nguyên nhân gián tiếp gây ra khủng hoảng toàn cầu?  Việc các quốc gia phát triển chuyển nhà máy, xưởng sản xuất sang Trung Quốc trực tiếp làm giảm lượng tiền đầu tư cho sản xuất tại các nước này. Một phần lượng tiền nhàn rỗi sẽ được đầu tư ra nước ngoài. Một phần khác đầu tư vào chứng khoán và bất động sản. Tất cả những loại đầu tư này đều tiềm tàng nguy cơ rủi ro cao hơn. Điều đó gây ra tác hại  khi thiếu các chế tài chặt chẽ về tài chính, và nhất là khi các công ty tài chính và ngân hàng bất cẩn trong việc cho vay và đầu tư.  Sự đổ vỡ của các ngân hàng và công ty tài chính vừa qua sẽ khiến họ phải hành động cẩn trọng hơn. Nhưng điều đó không thay đổi được cơ cấu phân bổ vốn đầu tư. Trung Quốc và các nước đang phát triển sẽ tiếp tục là môi trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư, cho dù trong một thế giới phẳng, việc đầu tư vào một nơi có thể nhanh chóng tạo ra rủi ro mang tính dây chuyền tới các nơi khác. Sự tăng trưởng của các nền kinh tế mới là điều không tránh khỏi, nhưng trong môi trường thiếu thông tin như hiện nay, điều đó không làm cho thế giới trở nên an toàn hơn.  Hơn nữa, chính sách thu mua trái phiếu Mỹ của Trung Quốc, hòng duy trì đồng Nhân dân Tệ ở mức thấp để tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, càng làm cho giá trị đồng USD bị thổi phồng, khiến người Mỹ lạc quan thái quá về năng lực tiêu dùng và đầu tư của mình. Đây là tác nhân có vai trò không nhỏ làm nền kinh tế Mỹ, đầu tàu của nền kinh tế thế giới, lún sâu hơn vào khủng hoảng.  Cái khó đối với nhà cầm quyền Trung Quốc  Việc Trung Quốc gia tăng xuất khẩu không chỉ đem lại các vấn đề khó khăn cho thế giới như đã nêu trên. Nó cũng trực tiếp mang lại thách thức cho nhà cầm quyền Trung Quốc, mà nổi cộm nhất là vấn nạn môi trường. Theo tiêu chuẩn an toàn của EU, chỉ có 1% trong tổng số 560 triệu dân thành thị của Trung Quốc (*) được hít thở không khí sạch. Mặt khác, chính sách mua trái phiếu Mỹ để duy trì đồng Nhân dân Tệ rẻ cũng làm cho tài sản của Trung Quốc bị suy giảm khi đồng USD mất giá. Đương nhiên, việc duy trì đồng Nhân dân Tệ rẻ cũng trực tiếp làm giảm tiềm lực tài chính của các công ty, tập đoàn trong nước, và làm hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc đắt đỏ hơn.  Thế nhưng đó là các thiệt hại mà Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận nhằm hạn chế một nguy cơ bất ổn lớn trong xã hội, đến từ khoảng cách giàu nghèo đang ngày một gia tăng giữa thành thị và nông thôn, giữa miền duyên hải và vùng sâu trong nội địa. Trung Quốc cần tiếp tục mở rộng sản xuất tới các vùng kém phát triển, bất chấp việc những nơi này không có lợi thế lớn trong cạnh tranh toàn cầu, ngoại trừ có nguồn lao động rẻ. Để mở rộng sản xuất ở những nơi này, người ta sẽ phải trả thêm chi phí cho việc vận tải nguyên liệu và thành phẩm. Người đầu tư sản xuất cũng sẽ phải chấp nhận mức năng suất thấp do chất lượng đào tạo giáo dục và tay nghề thấp hơn so với các nơi khác, và không phải khi nào số lượng cũng bù đắp được cho chất lượng. Những phí tổn trên đều được cộng vào giá thành sản xuất, mà cách duy nhất chính quyền Trung Quốc hiện nay có thể giúp hạ thấp xuống là duy trì đồng Nhân dân Tệ ở mức tỷ giá thật rẻ, đồng thời không đưa ra các yêu cầu khắt khe trong tiêu chuẩn an toàn môi trường và lao động.  Tuy nhiên, chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất và xuất khẩu ồ ạt có thể không làm cho bất ổn xã hội giảm xuống mà còn có nguy cơ gia tăng. Môi trường ô nhiễm, tệ tham nhũng, tình trạng nông dân mất đất cũng gia tăng theo mức độ phát triển kinh tế. Thu nhập người nghèo và dân cư vùng sâu vùng xa được cải thiện, nhưng không thể tăng nhanh như thu nhập các vùng khác, càng gây tích tụ thêm bất mãn trong xã hội.  Nhìn vào bức tranh toàn cảnh, chúng ta thấy rằng thế giới năng đang trải qua một giai đoạn phát triển thiếu bền vững, và có thể chính sách kinh tế của Trung Quốc là một trong những nguyên nhân. Sự tăng trưởng nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc tiềm ẩn những chi phí chung cho thế giới, trong đó có thiệt hại về môi trường, sự gia tăng khan hiếm các nguồn tài nguyên mà quan trọng nhất là năng lượng, chất lượng hàng hóa không bảo đảm, và sự gia tăng tính bất ổn đối với thị trường tài chính. Đây chắc chắn là vấn đề mà người Trung Quốc không thể tự thân giải quyết. Việc tìm ra giải pháp hữu hiệu vẫn còn là câu hỏi lớn ngay cả với các nhà nghiên cứu lý thuyết kinh tế.     PHẠM TRẦN LÊ tổng hợp  —————————————  * New York Times, As China Roars, Pollution Reaches Deadly Extremes               Lại nàng tiên “kinh tế thị trường”    Tư bản thuần tuý ý thức hệ                             Tư bản tài chính là hình thái thuần tuý ý thức hệ (idéologie, định nghĩa của Hannah Arendt : logique d’une idée) của tư bản, tiền đẻ ra tiền, theo công thức:               A → A + A’ (Tư bản luận, Marx)              Trong lý luận “khoa học” kinh tế của những trường phái thống trị tư duy kinh tế ngày nay trên thế giới, A’ là phần thưởng xứng đáng cho những chủ vốn vì họ dám hy sinh tiêu thụ trước mắt của họ và chấp nhận rủi ro khi họ ứng vốn cho phép sản xuất phát triển.              Nguyên lý hình thức trên, như mọi nguyên lý hình thức, không có nội dung cụ thể. Mặt nào đó, nó phi thời gian tính. Chính vì thế, khi con người dựa vào nó để hành động, họ cho phép chuyện này xảy ra: trong một chớp mắt, 1 tỷ USD có thể để ra một vài tỷ USD!              Tình hình mấy tháng nay cho thấy tính “khoa học” của các lý luận trên hão đến thế nào.              1/ Trong một chớp mắt, tiêu thụ chỉ một người đàn bà thôi còn chưa kịp, nói chi tới tiêu thụ 1 tỷ USD. Nhưng vẫn có thể khiến hàng triệu người sa cơ thất thế, lún vào cảnh bần cùng ô nhục.              2/ Những người thực sự trả giá cho rủi ro là những ai? Mấy ông chủ ngân hàng? Mấy chàng lãng tử tài chính? Mấy lý thuyết gia của chúng? Quá rõ!              Buồn thay              2009-03-29                Một niềm tin lỗi thời từ… khá lâu !  Nhiều lần người đời đã thương hại hay mỉa mai bảo tôi : học thuyết kinh tế của Marx đã lỗi thời, đó là học thuyết của thế kỷ 19.              Gần đúng vậy. Chỉ có điều những người ấy chưa hề biết điều này : những học thuyết kinh tế hiện đại mà họ ca ngợi còn… lỗi thời hơn nữa ! Chúng đều dựa vào hai niềm tin có từ thời tiền Marx :              a/ “Bàn tay vô hình của thị trường”              Cứ để nó tự do thao tác, nó sẽ đưa nhân loại lên thiên đường hay, chí ít, đến thế giới đẹp nhất có thể có thực ở thế gian này.              b/ Kinh tế phát triển nhờ các cá nhân lỗi lạc : tài năng và lòng dũng cảm, thậm chí liều lĩnh chấp nhận rủi ro, ý chí hy sinh tiêu thụ trước mắt hay ôm của cải của những vĩ nhân, để làm giàu. Et tutti quanti.              Xin mời bạn đọc chiêm ngưỡng hai nguyên lý ấy hoành hành đời thực người thực mấy hôm nay.              Chẳng có gì vui cả. Hàng trăm triệu người khốn khổ đến thế này thì vui sao được ? Ngay cả khi điều ấy cho thấy mình chưa đến nỗi ngu. Chán thật.              8-3-2009                  Bắt con tin, một hình thái khủng bố “mới”  Cách đây không lâu, sếp hãng xe hơi Renault đã trắng trợn nạt nhà nước Pháp : anh mà lôi thôi, tôi rỡ nhà máy đi nước khác, tôi đuổi công nhân Pháp đi thất nghiệp. Nhà nước Pháp đành cúi đầu.              Hôm nay, hãng xe hơi General Motor, sau khi đã nhận 13,4 tỷ đôla của chính phủ Mỹ, đòi thêm 30 tỷ nữa và doạ : anh không cho thì tôi tuyên bố phá sản (luật pháp Mỹ cho phép các công ty phá sản ngưng trả nợ trong khi điều chỉnh tổ chức, kinh doanh…). NÓ mà ngưng trả nợ thì… hỡi ơi, kinh tế Mỹ có nguy cơ… sập xuồng !              Trong “thị trường lao động” toàn cầu hoá, quân đội lao động thất nghiệp dự trữ (Marx) có đến cả tỷ người. Ở mỗi nước Tây Âu cũng có vài triệu. Điều ấy cho phép các sếp tư bản dùng giai cấp công nhân, lao động thuê làm con tin.              “Quyền lao động” ghi trong Hiến Pháp các nước dân chủ tư sản đang trở thành lỗi thời như quyền lãnh đạo của đảng cộng sản trong những nước “xhcn” Đông Âu xưa.              “Bàn tay vô hình” của nàng tiên Thị Trường Thị Nở đang điều chỉnh kinh tế thị trường toàn cầu hoá với “vũ khí” ấy : những con người chỉ có quyền sống khi bán được sức lao động của mình cho ai ai khác.              Với quân đội lao động thất nghiệp dự trữ to lớn kia, nó khỏi lo thất nghiệp, khỏi lo thiếu tiền thuê cộng tác viên phục vụ hay ca ngợi nó, tương lai nó còn dài lắm. Cứ để nó tự do ban phước lành cho nhân loại thì tương lai của nó và những người phục vụ nó vĩnh cửu. Bởi vì, trong lôgích vận hành của nó, càng đưa khoa học và trí tuệ của con người vào sản xuất thì đội quân ấy càng tăng, thế thôi.              May thay, ta đã chết trước. Đó là niềm an ủi đê hèn của ta. Ta cũng chỉ là một con của người trong thời tiền sử của nhân loại thôi.               Đau quá, em ơi. Sao hôm nay anh thèm biết làm thơ quá ! Hè hè.              6-3-2009                 Bàn tay vô hình của nàng tiên Thị Trường  Lúc này nó tàn nhẫn quá !              Hàng trăm triệu người mất nhà mất cửa, mất công ăn việc làm, nói chi đến hạnh phúc, tự do, tương lai ca hát.              Không biết nó đang điều chỉnh cái gì cho ai đây ? Những ai, Nobel kinh tế or not, đã từng vinh danh ca ngợi nó, làm ơn làm phúc giải thích cho ta sáng mắt một tí.              Thôi, cũng không nên bi quan : nó không tàn nhẫn với mọi người. Thế nào cũng có ngày nó sẽ hồi tâm và lại tử tế với tất cả, kể cả chính ta.              Chỉ có điều lúc này mà ca ngợi nó thì khó ăn khách quá !              Đành đợi ít lâu, khi tai qua nạn khỏi, khi người đời, một lần nữa, quên.              Mất khả năng quên, không ai sống được.              Hè hè…                                 Phan Huy Đường                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện chất lượng thông tin, nhu cầu và giải pháp thị trường      Lợi &#237;ch của nền kinh tế thị trường chủ yếu l&#224; do từng c&#225; thể được ph&#233;p tối ưu h&#243;a lợi &#237;ch cho m&#236;nh. Nhưng điều n&#224;y chỉ thực sự xảy ra khi c&#225; thể được nắm đầy đủ c&#225;c th&#244;ng tin cần thiết. Một cuộc mua b&#225;n sẽ thuận tiện khi m&#224; người b&#225;n gặp được người mua v&#224; c&#243; sự minh bạch trong gi&#225; cả, c&#225;c chi ph&#237;, v&#224; chất lượng sản phẩm. Nhưng nếu c&#225;c th&#244;ng tin n&#224;y kh&#244;ng r&#245; r&#224;ng hoặc kh&#244;ng chắc chắn th&#236; mức độ rủi ro tăng l&#234;n. Khả năng ra được quyết định tối ưu sẽ bị giảm đi hay n&#243;i c&#225;ch kh&#225;c l&#224; c&#225;c quyết định bị m&#233;o. Tức l&#224; hoạt động của thị trường bị giảm đi t&#237;nh hiệu quả. Hơn nữa, khi m&#224; kh&#225;ch h&#224;ng kh&#244;ng c&#243; th&#244;ng tin hoặc thiếu khả năng ph&#226;n biệt chất lượng h&#224;ng th&#236; người l&#224;m h&#224;ng tốt sẽ kh&#244;ng cạnh tranh nổi với những người sản xuất ra h&#224;ng k&#233;m chất lượng nhưng gi&#225; th&#224;nh rẻ hơn. Như vậy th&#236; trong thị trường chỉ c&#242;n lưu th&#244;ng những sản phẩm c&#243; chất lượng tồi. Những thị trường c&#243; t&#236;nh trạng như vậy (c&#242;n được gọi l&#224; &#8216;lemon market&#8217;, thuật ngữ đặt ra bởi kinh tế gia Akerlof (1)) đang ng&#224;y c&#224;ng lộ h&#236;nh như một vấn nạn kinh tế của thời đại, trở ngại ch&#237;nh yếu ngăn cản nền kinh tế to&#224;n cầu ph&#225;t triển thịnh vượng.     Cho tới hiện tại người ta vẫn còn chưa hết ngờ vực về độ an toàn của sản phẩm xuất khẩu từ Trung Quốc. Từ những đồ chơi có độc tố tới các sản phẩm thực phẩm nhiễm melamine, sự rủi ro khi dùng hàng Trung Quốc tạo ra một dạng rào cản thương mại. Tổn thất đến với người tiêu dùng khi mua phải sản phẩm chất lượng xấu. Tổn thất cũng đến với người không dám tiêu dùng vì họ mất đi lợi ích của việc tiêu dùng. Và đương nhiên, người không bán được hàng cũng phải chịu tổn thất. Nguy cơ tổn thất tiềm tàng trong mọi thị trường thiếu thông tin minh bạch. Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ hiện nay là một minh họa sinh động khác. Khi các nền kinh tế thế giới hội nhập, các nhà đầu tư có cơ hội mang vốn tới những thị trường tiềm năng. Nhưng đầu tư quá nhiều thì sẽ tới lúc không còn nhiều những dự án tốt nữa. Đó là lúc người ta ném tiền vào những dự án khó biết được là tốt hay xấu. Vì quá ham muốn lợi nhuận mà các nhà đầu tư chấp nhận mạo hiểm và tự an ủi bằng niềm hi vọng rằng nền kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Tới một thời điểm nhất định thì mức tổn thất từ các dự án xấu tăng nhanh hơn lợi nhuận từ các dự án tốt. Trước tình trạng này các nhà đầu tư đồng loạt tháo lui. Đổ vỡ xảy ra hàng loạt theo hiệu ứng dây chuyền trong thị trường tài chính. Nhưng hậu quả của sự thiếu thông tin chưa ngừng lại ở đây. Vì thiếu thông tin nên người ta nghĩ rằng mọi dự án đều rủi ro ngang nhau và rút lui quá vội vã, bỏ lại cả những dự án tốt còn đang dở dang. Hoặc là có nhiều dự án mới có tiềm năng nhưng không được ai ngó ngàng tới, khi mà tất cả đều dè dặt trong tâm lý khủng hoảng. Đây có thể là lực cản không nhỏ làm chậm lại tiến trình hồi phục của nền kinh tế thế giới.  Thiếu thông tin về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, và chất lượng các khoản đầu tư không chỉ là vấn nạn của kinh tế thế giới. Chúng cũng chính là căn bệnh thâm niên trầm trọng của nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Chất lượng thực phẩm không rõ ràng. Người tiêu dùng không thể yên tâm khi cứ không lâu lại xảy ra một vụ ngộ độc thực phẩm tập thể. Hàng nhập khẩu cũng bị người ta dán nhãn và tem giả. Ngay cả bằng cấp đào tạo giáo dục cũng có thể giả. Mà thậm chí với bằng thật thì chất lượng cũng không dễ xác định. Một thị trường với quá nhiều thông tin ảo khiến cho con người buộc phải tối ưu hóa trong điều kiện nhiều rủi ro. Chất lượng đời sống bị ảnh hưởng tiêu cực là điều tất yếu như Akerlof đã từng chỉ ra từ mô hình ‘lemon market’. Điều rất nguy hại khác là nó khuyến khích một thói quen làm việc, lối làm ăn, lối sống của con người khi phải thường xuyên đối phó với sự mập mờ không rõ ràng. Thói quen đó ta vẫn gọi là sự đánh quả. Trong một môi trường ai cũng đánh quả thì người làm việc nghiêm túc, quy củ dễ bị thiệt thòi. Và buộc lòng người có quy củ cũng phải quay ra đánh quả. Một môi trường như vậy khiến ai cũng tặc lưỡi rằng mình đã cố hết sức, dù đều biết rằng đáng ra nguồn tài nguyên của xã hội đúng ra phải được tối ưu hơn để đem lại lợi ích nhiều hơn cho tất cả mọi người. Đây là một bi kịch những người tù (prisoners’ dilemma) điển hình.  Cần khắc phục tình trạng thiếu thông tin, nhất là thông tin về chất lượng hàng hóa. Có như thế chất lượng đời sống mới được cải thiện và ý thức lao động, sáng tạo ra sản phẩm tốt đẹp mới được khuyến khích. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề đạo đức và văn hóa xã hội. Nó cũng là cơ hội làm ăn cho doanh nghiệp. Tại sao một ngành không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm vật chất nào như ngành bảo hiểm lại phát triển thịnh vượng, trở thành không thể thiếu trong xã hội hiện đại? Vì trong môi trường hiện đại, con người quá cần các dịch vụ bảo hiểm. Hay nói cách khác là cần giảm thiểu rủi ro cho các lựa chọn của mình. Thông tin càng ít tính rủi ro thì càng thuận tiện cho con người thực hiện bài toán tối ưu lợi ích của mình. Các quyết định càng ít bị méo hơn. Tức là luôn có nhu cầu đối với thông tin sạch, thông tin chắc chắn. Cầu đã có, cung thì sao? Cung sẽ có nếu người ta có ý tưởng cung ứng và chi phí cung ứng không quá cao. Việc thẩm định chất lượng hàng hóa, nhận dạng địa điểm của người bán và người mua, nhận dạng các chi phí và giá cả, tất cả đều có thể đòi hỏi chi phí (search cost). Thường là quy mô cung ứng càng cao thì chi phí trung bình càng thấp. Những thương hiệu quen thuộc như Amazon hay eBay, hoặc là thương hiệu mới nổi gần đây là Alibaba của Trung Quốc đã thành công lớn trong việc tận dụng công nghệ mới, giúp cho một số lượng lớn người mua và người bán dễ dàng gặp nhau, qua đó mà giảm thiểu chi phí cung ứng dịch vụ.   Tuy nhiên, khác với việc tạo điều kiện cho người mua, người bán dễ dàng gặp gỡ và trao đổi, việc thẩm định chất lượng hàng hóa cho đến nay vẫn chưa phải là loại hình dịch vụ phổ biến ở quy mô lớn. Có thể vì phải tới lúc khối lượng hàng hóa lưu thông toàn cầu đủ lớn thì vấn đề chất lượng hàng mới lộ hình rõ ràng. Cơ quan kiểm soát thực phẩm và dược phẩm của Mỹ (FDA) vừa đặt đại diện tại Trung Quốc (2) như bước đầu tiên nhằm kiểm soát chất lượng thực phẩm và dược phẩm toàn cầu. Như vậy là nước Mỹ hiện rất quan tâm tới sự an toàn và sức khỏe người tiêu dùng. Còn các nước EU trước đó đã có những lần gửi trả lại VN những container hải sản dư kháng sinh nhằm bảo đảm sự an toàn và sức khỏe người tiêu dùng. Người Việt chúng ta thì sao?  Có hai điều tôi muốn nhấn mạnh. Thứ nhất, không ai là không quan tâm và muốn điều tốt đẹp cho bản thân mình, nếu như việc lựa chọn là khả thi ở một chi phí hợp lý. Thứ hai, mức độ quan tâm cao sẽ tạo ra nhu cầu khá ổn định trong một thị trường tự do. Như vậy thì việc thẩm định và công bố chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các mặt hàng thực phẩm có thể coi là một loại hình dịch vụ kinh doanh. Như thế thì không nhất thiết lúc nào cũng phải trông chờ toàn diện vào sự cung ứng từ các cơ quan chức năng của Nhà nước. Có những loại hàng hóa, dịch vụ công cộng quá đắt đỏ, hoặc không hợp lý về lợi ích để khối tư nhân tham gia kinh doanh. Nhưng việc thẩm định chất lượng sản phẩm không nhất thiết thuộc loại hình dịch vụ như vậy. Đặc biệt là đối với việc thẩm định chất lượng thực phẩm, nhất là ở các đô thị lớn, thì rất có thể có cơ hội để trở thành một loại hình kinh doanh khả thi. Giả sử như với dân số khoảng 800 nghìn hộ gia đình của Hà Nội (3) thì có 200 nghìn hộ sẵn sàng trả 20 nghìn đồng/tuần để mua một tạp chí chuyên cung cấp thông tin sơ bộ về tình hình chất lượng vệ sinh thực phẩm của một số chủng loại hàng và thương hiệu thiết yếu. Giả thiết rằng chi phí in ấn phát hành trung bình là 15 nghìn đồng/tờ tạp chí. Như vậy thì nhà cung ứng dịch vụ thẩm định chất lượng vệ sinh thực phẩm có chẵn 1 tỉ đồng/tuần để phục vụ cho việc quản lý, trả chi phí kiểm định chất lượng, đóng thuế, và các khoản chi khác. Việc kinh doanh này nếu tính toán chặt chẽ thì tùy vào khả năng sáng tạo của người điều hành mà rất có thể trở nên khả thi, và càng khả thi nếu được coi là loại hình dịch vụ công ích và được Nhà nước, xã hội khuyến khích, hỗ trợ đúng mức. Chi phí kiểm định chất lượng không nhất thiết dồn lên vai một tổ chức riêng lẻ. Những chuyên gia nghiên cứu có thể chỉ dẫn người tiêu dùng tự kiểm định chất lượng sản phẩm (không ai có thể có trách nhiệm với người tiêu dùng hơn là chính bản thân họ). Công việc còn lại chỉ đơn thuần là đi thu thập các mẫu điều tra và công bố định kỳ hằng tuần cho công chúng. Đó là cách đơn giản để công chúng tự thẩm định và thông báo cho nhau biết kết quả thẩm định và vị trí, thương hiệu các sản phẩm liên quan. Từ thông tin sơ bộ này, tùy vào mức độ nghiêm trọng giữa chênh lệch chất lượng thực tế với chất lượng trong quy định của cơ quan chức năng Nhà nước mà người ta có thể dò tìm sâu hơn tới tận nguồn gốc nơi sản xuất. Đây cũng là biện pháp hữu hiệu để giải quyết tận gốc nạn hàng giả, hàng nhái, giúp bảo vệ bản quyền thương hiệu chính đáng của các nhà sản xuất. Tuy nhiên, sẽ cần một hành lang pháp lý phù hợp để mỗi cá thể chịu trách nhiệm đúng mức trước pháp luật đối với thông tin mình cung cấp.   Lưu ý rằng một môi trường thiếu thông tin không nhất thiết là chỉ gây ra trở ngại cho sự khả tín. Nó cũng chính là điều kiện thuật lợi để giúp phẩm chất khả tín tạo ra thu nhập. Sự thành công của ngành bảo hiểm là một bài học. Và cũng lưu ý rằng nhu cầu thẩm định chất lượng hàng không chỉ giới hạn ở thị trường nội địa. Nó đang dần trở thành nhu cầu thiết yếu của toàn thế giới, nhất là với dòng chảy hàng xuất nhập khẩu lớn như hiện nay. Nếu xây dựng được các thương hiệu chuyên thẩm định hàng xuất khẩu có uy tín với bạn hàng thế giới thì sẽ không chỉ phục vụ lợi ích cho một doanh nghiệp riêng lẻ, mà còn giúp nâng cao mặt bằng chất lượng hàng xuất nhập khẩu ở Việt Nam và độ khả tín của hàng xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Điều này chắc chắn sẽ cải thiện lợi ích lâu dài cho các bên liên quan.    Mô hình cung cấp dịch vụ thẩm định chất lượng không nhất thiết giới hạn ở các chủng loại hàng hóa. Có thể áp dụng cả vào các loại hình dịch vụ. Điển hình là dịch vụ giáo dục, một lĩnh vực mà xã hội đang rất quan tâm. Ngày nay trẻ em phải bỏ rất nhiều thời gian để tới trường, tới lớp học thêm. Các bậc phụ huynh cũng phải bỏ một khoản thu nhập không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của con em mình. Vì cũng như trong vấn đề vệ sinh an toàn, chất lượng giáo dục cho con em là điều mọi bậc làm cha làm mẹ đặt ra thành nhu cầu cấp thiết. Trước nhu cầu cấp thiết như vậy, những nhà sư phạm giỏi có thể cùng nhau nghiên cứu ra các biện pháp hữu hiệu giúp các bậc phụ huynh đánh giá hằng tháng, hằng tuần, thậm chí hằng ngày, chất lượng kiến thức thu nạp của trẻ em. Trong bài viết Tư Duy Phân Tích Và Liên Kết Tổng Thể (4) tôi đã đề cập rằng mỗi bài học cần có sự liên kết với bài học trước nó, bài học sau nó. Đây chính là cách đơn giản nhất để các em nắm được các tư duy chính của từng bài học, đặc biệt là với các môn khoa học tự nhiên và xã hội. Việc các nhà sư phạm ở nhiều bộ môn, nhiều cấp học, cùng liên kết để liên tục cập nhật hiệu quả cho các bậc phụ huynh không chỉ giúp giải quyết một nhu cầu thường trực trong xã hội để đem lại lợi ích trước mắt mà còn giúp cải thiện chất lượng nhân lực trong lâu dài. Đây là khoản đầu tư đầy tính hiệu quả và rất chính đáng mà các đầu óc kinh doanh rất nên cân nhắc.  Nhìn rộng ra hơn nữa thì thấy rằng mọi loại hình hàng hóa và dịch vụ trong xã hội đều cần có các quy chuẩn để thẩm định chất lượng. Có thẩm định được thì mới đào thải được cái xấu, cái kém hiệu quả. Cái thật, cái tốt mới được tôn vinh. Chúng ta vẫn thường nói dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra nhưng tới nay vẫn chưa thực sự chỉ ra cách nào thì hiệu quả nhất. Câu trả lời là nhất thiết phải có các quy chuẩn được phổ cập rộng rãi. Vì sao có nhiều dự án đầu tư lớn lấy từ nguồn vay nợ nước ngoài, chiếm một tỉ lệ đáng kể với thu nhập quốc dân mà người trả chính là con em chúng ta; nhưng không có một báo cáo thường niên phổ cập cho quốc dân, trong đó có sự thẩm định đầy đủ hiệu quả đầu tư của các dự án trọng điểm? Có lẽ đó là lỗi chung của toàn xã hội. Nó không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của các nhà trí thức. Ngày nay đã có những bài viết phê phán sâu sắc thực trạng. Nhưng còn rất cần việc chỉ ra các quy chuẩn xuất phát từ hoàn cảnh thực tế và phù hợp với khả năng ứng dụng trong thực tế.               Xã hội càng có nhiều cá thể nắm thông tin xác thực thì động lực phát triển lành mạnh càng lớn. Bởi vì chi phí cơ hội của lối lao động mập mờ, núp bóng sẽ càng cao. Thành công của ngành đường sắt đối với cuộc cách mạng Công Nghiệp không chỉ ở sự rút ngắn thời gian vận tải người và hàng. Có thể ý nghĩa quan trọng hơn là tính chính xác về giờ giấc, độ khả tín của chất lượng dịch vụ. Chất lượng sản phẩm được cải thiện song hành cùng với tác phong và văn hóa làm việc.   Tổn thất vì thiếu thông tin không phải là vấn đề gì mới mẻ. Có tổn thất và nhận thức về tổn thất thì con người mới tìm cách khắc phục và vượt qua. Có như thế tri thức và năng lực con người mới có sự phát triển tiến bộ. Việc nghiên cứu để cải thiện thông tin, từ đó mà cải thiện chất lượng đời sống cá thể và xã hội, là chức năng cao quý của hệ thống giáo dục, giới nghiên cứu khoa học, và những nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Nhưng sẽ là một cách nhìn hạn hẹp nếu ta quy hết trách nhiệm cho người khác. Nguồn tài nguyên hạn chế, kho dữ liệu hạn chế, đó chính là cơ hội để mọi người cùng có cơ hội sáng tạo ra tri thức mới hữu ích. Không nhất thiết phải là một nhà khoa học để có thể phát kiến ra tri thức. Mỗi ngày đều có thể có vô vàn phát kiến hữu ích trong các doanh nghiệp, trong các tổ chức, các hộ gia đình, và đời sống cá thể, khi con người tìm ra phương thức mới tiết kiệm và phát huy hiệu quả tối đa những nguồn tài nguyên hữu hạn. Mọi tình trạng đều có thể được cải thiện khi con người có sự nhận diện thích đáng, lên kế hoạch giải quyết thích đáng, và thực hiện một cách thích đáng. Qua đó đặt được nền móng cho những lợi ích lâu dài. Đây là cơ hội lớn để phát triển.    ———————–  (1): George Akerlof, 1970, The Market for Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism, Quarterly Journal of Economics 84 (3): 488–500.  (2) theo http://www.china.org.cn/business/news/2008-05/17/content_15283755.htm  (3) theo http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=234286&ChannelID=3  (4) Phạm Trần Lê, Tia Sáng, số 23, 05/12/08     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện giao thông bằng AI      Tắc đường là vấn đề muôn thuở mà người dân ở nhiều nước trên thế giới phải đối mặt, và nó đang diễn ra vô cùng nghiêm trọng ở Israel. Vì lẽ đó, các công ty hoạt động trong lĩnh vực AI tại quốc gia này đang nỗ lực tìm tòi những công nghệ mới giúp cải thiện hoạt động giao thông vận tải và giảm phát thải.      Ùn tắc giao thông trên đường cao tốc Ayalon ở Tel Aviv, vào ngày 2/12/2021. Ảnh: Tomer Neuberg / Flash90  ITC, hay Intelligent Traffic Control (Kiểm soát giao thông thông minh), một trong những công ty phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) lớn ở Israel, mới đây đã tham gia buổi trưng bày EcoMotion được tổ chức tại Tel Aviv. Buổi trưng bày là dịp để các công ty hoạt động trong lĩnh vực AI giới thiệu những công nghệ mới giúp cải thiện hoạt động giao thông vận tải và giảm phát thải.  “Bằng các phương pháp tính toán, chúng tôi đã chứng minh được rằng ta có thể ‘ngăn chặn’ nhiều vụ tắc đường nếu có cách thức điều chỉnh phù hợp từ sớm,” Dvir Kenig, đồng sáng lập và giám đốc công nghệ của ITC, cho biết. Khi sử dụng hệ thống của họ, lưu lượng xe cộ tại hai nút giao thông đã giảm 30%.  Cụ thể, phần mềm AI của ITC đã thu thập dữ liệu thời gian thực từ camera đường phố, sau đó gửi hướng dẫn điều khiển đèn giao thông dựa trên luồng di chuyển của các phương tiện.  ITC cho biết tắc đường là vấn đề muôn thuở mà người dân ở nhiều nước trên thế giới phải đối mặt. Công ty tính toán trung bình mỗi năm người lái xe dành một khoảng thời gian tương đương ba ngày chịu đựng cảnh kẹt xe, đồng thời phát thải một lượng lớn khí gây hiệu ứng nhà kính.  Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), vấn đề này đang diễn ra vô cùng nghiêm trọng ở Israel, “cơ sở hạ tầng giao thông vận tải tụt hậu đáng kể so với hầu hết các nước thành viên và “tắc đường là một trong những bài toán nan giải nhất trong OECD “.  Nhà sáng lập của EcoMotion, Meir Arnon, chia sẻ với AFP rằng người dân trên thế giới ngày càng quan tâm đến các loại phương tiện giao thông thông minh, điều này đã khiến Israel trở thành một quốc gia phát triển mạnh về công nghiệp xe hơi, mặc dù họ hầu như không có nhà máy sản xuất xe hơi hay dây chuyền lắp ráp xe.  “Xe hơi hiện tại đã khác xưa,” Meir Arnon nhận định. “Xe hơi vẫn được làm từ kim loại, bánh xe; nhưng ngày nay, những thứ này không quan trọng, chúng đều được sản xuất hàng loạt bởi các công ty.” Theo ông, “điểm khác biệt giữa các nhà sản xuất xe hơi ngày nay là trải nghiệm lái, khả năng tự thích ứng của xe đối với từng tài xế”.  Ngành công nghiệp quốc phòng và quân đội của Israel đã phát triển các hệ thống – đặc biệt là công nghệ giám sát, liên lạc và cảm biến. Những hệ thống này ngay lập tức hấp dẫn các nhà sản xuất xe hơi.  Với hơn 600 công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực này – “chỉ đứng sau Thung lũng Silicon” – Israel đã trở thành một “trung tâm của xe hơi”, Arnon nói, đồng thời lưu ý rằng có 35 công ty xe hơi toàn cầu đặt văn phòng đại diện tại quốc gia này, bao gồm cả General Motors.  “Tương lai của phương tiện giao thông không nằm ở chính phương tiện đó — mà nằm trong dịch vụ lưu trữ đám mây, điện thoại của chúng ta, và tất cả những yếu tố này tạo ra một nền tảng mở”, Gil Golan, người đứng đầu trung tâm kỹ thuật General Motors tại Israel, cho biết.  “Nền tảng mở này là chìa khoá dẫn đến tinh thần đổi mới và sáng tạo – đây cũng chính là điểm mạnh của người Israel.”  Một công ty nổi bật khác cũng tham gia triển lãm EcoMotion là Rider Dome, công ty cung cấp các camera gắn ở phía trước và sau của xe máy, sử dụng AI để cảnh báo người đi xe về những nguy hiểm gần đó.  “Trợ lý ảo là tính năng phổ biến trong xe hơi, nhưng lại không được ứng dụng với xe máy”, giám đốc điều hành Yoav Elgrichi cho biết: “Đó là lý do tại sao chúng tôi quyết định thành lập Rider Dome.”  Nhưng một số chuyên gia cảnh báo rằng lĩnh vực công nghệ của Israel, bao gồm cả xe hơi thông minh, có thể đang bắt đầu bước vào giai đoạn thoái trào.  Cơ quan Đổi mới Israel cho biết lĩnh vực công nghệ ở nước này đang “chín muồi” và số lượng công ty khởi nghiệp mới đang giảm.  Lisya Bahar Manoah, chuyên gia tại Catalyst Investments, lập luận rằng Israel cần nhiều kỹ sư hơn, nếu họ muốn bắt kịp với tốc độ phát triển của lĩnh vực xe hơi, dự kiến ​​sẽ tăng “gấp đôi quy mô” trên toàn cầu trong những năm tới. “Israel cần nghĩ ra phương án đào tạo nguồn nhân lực kỹ sư có khả năng hỗ trợ hệ thống khởi nghiệp. Muốn thế, chúng ta cần điều chỉnh hệ thống giáo dục của mình sao cho phù hợp với xu thế phát triển.”  Hà Trang dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-05-traffic-maths-problem-israeli-ai.html    Author                .        
__label__tiasang Cải thiện khả năng quang hợp nhằm tăng năng suất cây trồng      Để cung cấp thức ăn cho 9 tỷ người vào năm 2050, chúng ta cần thêm 50% lương thực trên diện tích đất canh tác vốn đã hạn chế. Do đó, các nhà thực vật học đang chạy đua để tạo ra các loại cây trồng có năng suất cao hơn bằng cách cải thiện khả năng quang hợp của chúng.    Tảo lam (cyanobacteria) nổi tiếng với khả năng quang hợp hiệu quả hơn hầu hết các loại cây trồng khác, vì vậy các nhà nghiên cứu tìm cách đưa các yếu tố từ tảo lam vào cây trồng. Nghiên cứu mới do các nhà khoa học ở ĐH Cornell (Mỹ) dẫn đầu vừa công bố bước tiến quan trọng để đạt được mục tiêu này. Bài báo “Absence of Carbonic Anhydrase in Chloroplasts Affects C3 Plant Development but Not Photosynthesis” của họ được xuất bản trong tạp chí PNAS.  Khi quang hợp, thực vật chuyển đổi CO2, nước và ánh sáng thành oxy và đường sucrose để cung cấp năng lượng và tạo nên các mô mới. Trong quá trình này, Rubisco, một loại enzyme xuất hiện trong tất cả các loài thực vật, sẽ lấy carbon vô cơ từ không khí, sau đó “cố định” chúng thành các hợp chất hữu cơ mà thực vật dùng để tạo thành các mô.    Một thách thức trong cải thiện quá trình quang hợp ở cây trồng là enzyme Rubisco phản ứng với cả CO2 và oxy trong không khí, tạo ra các sản phẩm phụ độc hại và làm chậm quá trình quang hợp dẫn đến giảm năng suất. Tuy nhiên, khác với hầu hết các loài thực vật khác, tảo lam có thể chứa Rubisco trong các carboxysome giúp Rubisco không tiếp xúc với oxy. Carboxysome cũng giúp tảo lam tập trung CO2 để Rubisco sử dụng và cố định carbon nhanh hơn, Maureen Hanson, giáo sư sinh học phân tử thực vật, tác giả chính của bài báo cho biết. “Nhiều cây trồng không có carboxysome, vì vậy ý ​​tưởng của chúng tôi là đưa toàn bộ cơ chế tập trung carbon từ tảo lam vào cây trồng”.    Để tạo ra một hệ thống tương tự có thể hoạt động trên cây trồng, nhóm nghiên cứu phải loại bỏ một loại enzyme tự nhiên là carbonic anhydrase ra khỏi lục lạp – cơ quan giữ chức năng quang hợp trong tế bào thực vật. Vai trò của anhydrase là tạo ra sự cân bằng giữa CO2 và nhóm bicarbonate (HCO3) trong tế bào thực vật bằng cách xúc tác phản ứng giữa CO2 và nước để tạo ra bicarbonate và ngược lại. Tuy nhiên, cơ chế cố định carbon của tảo lam chỉ ứng dụng được trên cây trồng khi bicarbonate ở mức cao hơn nhiều so với trạng thái cân bằng. “Bởi vậy, chúng tôi loại bỏ carbonic anhydrase để giúp carboxysome hoạt động”, Hanson cho biết.    Trong bài báo, họ mô tả quá trình sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR/Cas9 để vô hiệu hóa các gene biểu hiện hai loại enzyme anhydrase cacbonic trong lục lạp. Trước đây, một nhóm nghiên cứu khác đã sử dụng một phương pháp khác để loại bỏ được 99% hoạt tính của enzyme anhydrase, khi đó cây vẫn phát triển bình thường.    Tuy nhiên, khi Hanson và các đồng nghiệp loại bỏ 100% hoạt động của enzyme, cây hầu như không phát triển. Hanson cho biết: “Thực vật cần loại enzyme này để tạo ra bicarbonate phục vụ các quá trình tạo ra thành phần của mô lá”. Khi họ đưa cây trồng vào buồng sinh trưởng có nồng độ CO2 cao, chúng lại tiếp tục phát triển bình thường do lượng CO2 cao dẫn đến phản ứng tự phát tạo thành bicarbonate.    Dù vậy, họ tin rằng sẽ tìm ra giải pháp loại bỏ anhydrase mà vẫn có đủ bicarbonate. Trong một nghiên cứu kéo dài ba năm do Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ tài trợ 800.000 USD gần đây, các nhà khoa học dự định sẽ đặt một chất vận chuyển bicarbonate lên màng lục lạp để nhập bicarbonate từ các phần khác của tế bào vào lục lạp. Ngoài việc loại bỏ anhydrase, lượng bicarbonate bổ sung sẽ cải thiện quá trình quang hợp trước khi các carboxysome hình thành trong lục lạp.    Trái ngược với quan điểm trước đây, thí nghiệm cho thấy sự vắng mặt của anhydrase cacbonic không gây trở ngại cho quá trình quang hợp.    Một vấn đề tiềm ẩn là anhydrase cacbonic trong lục lạp có liên quan đến các phương thức bảo vệ của thực vật. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của Hanson đã phát hiện ra có thể tích hợp một phiên bản enzyme carbonic anhydrase bất hoạt mà vẫn duy trì khả năng bảo vệ của cây. “Giờ đây chúng tôi có thể tạo ra một loại enzyme bất hoạt không ảnh hưởng đến cơ chế tập trung carbon nhưng vẫn cho phép cây trồng chống lại các loại virus”, Hanson cho biết.□     Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-scientists-crops-photosynthesis-yields.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện tuổi thọ pin và tốc độ truyền tin bằng bộ chuyển mạch 5G mới      Các nhà nghiên cứu của Đại học Texas (Hoa Kỳ) và Đại học Lille (Pháp) đã chế tạo một bộ chuyển mạch mới cho phép truy cập các tần số 5G cao nhất hiệu quả hơn. Điều này đồng nghĩa với việc kéo dài tuổi thọ pin và tăng tốc độ truyền phát đáng kể.      Các nhà nghiên cứu của Đại học Texas và Đại học Lille đã phát triển bộ chuyển mạch tần số vô tuyến có hiệu quả sử dụng năng lượng cao gấp 50 lần so với các thiết bị hiện nay.   Điện thoại thông minh kết nối với các bộ chuyển mạch (switches) nhằm thực hiện một số chức năng, trong đó có nhiệm vụ chính là chuyển đổi giữa các mạng và phổ tần số khác nhau như 4G, Wifi, LTE, Bluetooth,… Để thực hiện điều này, các bộ chuyển mạch tần số vô tuyến (RF) hiện tại phải chạy liên tục, tiêu tốn nhiều năng lượng và ảnh hưởng đến tuổi thọ pin.   GS. Deji Akinwande, khoa Kỹ thuật điện và máy tính, thuộc trường kỹ thuật Cockrell, ĐH Texas, và là người đứng đầu nghiên cứu cho biết: “Bộ chuyển mạch do chúng tôi phát triển có hiệu quả sử dụng năng lượng cao gấp 50 lần so với các thiết bị hiện nay. Nó có thể truyền các định dạng truyền hình độ nét cao HDTV ở tần số 100 gigahertz – một điều chưa từng thấy trong công nghệ chuyển mạch băng thông rộng”. Kết quả này của nhóm nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature Electronics vào cuối tháng 5/2020.  GS. Akinwande cho biết các bộ chuyển mạch hiện nay tiêu tốn điện năng đáng kể, nguồn năng lượng này đang bị lãng phí. Trong khi đó, bộ chuyển mạch mới sẽ ngắt để tiết kiệm pin cho những chức năng khác trừ phi nó đang hoạt động để chuyển đổi giữa các mạng. Chúng cũng có khả năng truyền tải dữ liệu tốt hơn tốc độ cơ bản của mạng 5G.  Trong nhiều năm qua, Cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến của Mỹ (DARPA) đã  thúc đẩy việc phát triển các bộ chuyển mạch RF “gần như không tiêu tốn điện năng”. Những nhà nghiên cứu trước đây đã thành công một phần với phổ tần thấp của 5G – ở đó mặc dù tốc độ truyền tin thấp hơn nhưng dữ liệu có thể đi xa hơn. Tuy nhiên, đây là bộ chuyển mạch đầu tiên có thể hoạt động trên toàn bộ phổ tần – từ phổ tần gigahertz (GHz) thấp đến phổ tần terahertz (THz) cao nhất. Đây có thể là chìa khóa để phát triển công nghệ 6G trong tương lai.  Bộ chuyển mạch do nhóm nghiên cứu phát triển sử dụng vật liệu nano boron nitrite lục giác (hBN), một loại vật liệu nano mới nổi, cùng lớp với vật liệu graphene. GS. Akinwande cho biết cấu trúc của bộ chuyển mạch gồm 1 lớp nguyên tử boron và nitơ theo dạng tổ ong, mỏng hơn 1 triệu lần so với sợi tóc con người và được kẹp giữa một cặp điện cực vàng.   Ngoài điện thoại thông minh, bộ chuyển mạch có thể ứng dụng cho nhiều thiết bị khác như hệ thống vệ tinh, radio thông minh, hệ thống liên lạc tự cấu hình lại, internet vạn vật và công nghệ phòng thủ.  “Bộ chuyển mạch tần số vô tuyến sẽ có tác động lớn đến các hệ thống liên lạc, kết nối và radar quân sự. Những thiết bị mới này có thể mang lại hiệu năng vượt trội hơn so với các thiết bị hiện có và kéo dài tuổi thọ pin cho các thiết bị liên lạc di động và hệ thống tự cấu hình tiên tiến”, TS.Pani Varanasi, người đứng đầu chương trình khoa học vật liệu tại ban nghiên cứu quân đội thuộc Phòng thí nghiệm nghiên cứu quân sự phát triển khả năng chiến đấu của quân đội Mỹ – đơn vị đã tài trợ cho dự án này cho biết.  Nghiên cứu này xuất phát từ một dự án trước đây, sử dụng hBN để chế tạo ra bộ nhớ nhỏ nhất. GS. Akinwande cho biết các nhà tài trợ khuyến khích nhóm nghiên cứu tìm kiếm những ứng dụng khác từ vật liệu này, từ đó, họ chuyển sang nghiên cứu bộ chuyển mạch RF.  Nhóm nghiên cứu bao gồm giáo sư kỹ thuật điện và máy tính Jack Lee, các học viên cao học Myungsoo Kim, Ruijing Ge và Xiaohan Wu. Họ đã hợp tác với nhóm nghiên cứu ở Viện Điện tử, vi điện tử và công nghệ nano do Emiliano Pallecchi và Henri Happy dẫn đầu. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-05-5g-battery-life-higher-bandwidth.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải tiến chip não mới cho y học chính xác      Nhóm nghiên cứu y sinh Akay Lab ở đại học Houston mới thông báo về việc cải tiến một loại chip ung thư não bằng công nghệ vi lưu (microfluidic) mà họ đã phát triển trước đó. Con chip mới này cho phép họ sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc và thử nghiệm phản ứng thuốc song song với số lượng lớn cho các bệnh nhân mắc u nguyên bào thần kinh đệm (GBM) – khối u não ác tính phổ biến nhất và chiếm 50% trong số các ca. Chỉ có khoảng 5,6%bệnh nhân mắc GBM sống sót sau 5 năm.      “Loại chip mới tạo ra các khối u hình cầu (tumor spheroids) hoặc các cụm khối u, và đem lại những đánh giá ở quy mô lớn về phản ứng của những tế bào u GBM đối với các nồng độ thuốc và sự kết hợp nhiều loại thuốc khác nhau. Điều này giúp tối ưu hóa việc sử dụng những mẫu thử khối u hiếm của các bệnh nhân mắc GBM, từ đó đưa ra cái nhìn chính xác hơn về sự phát triển của khối u và phản ứng của nó đối với những phương pháp điều trị bằng thuốc”, Metin Akay, giáo sư John S. Dunn và là trưởng khoa Kỹ thuật Y sinh ở đại học Houston, cho biết trong báo cáo. Bài viết này đã được xuất bản trong số ra mắt của tạp chí IEEE Engineering in Medicine & Biology Society.  Khả năng đánh giá nhanh tính hiệu quả của thuốc điều trị ung thư sẽ là một cải tiến đáng chú ý so với các phác đồ điều trị ung thư điển hình – khi bệnh nhân phải sử dụng thuốc hóa trị với thời gian thử nghiệm kéo dài vài tháng rồi sau đó mới chuyển sang một loại thuốc khác nếu loại đầu tiên không có hiệu quả. Thiết bị mới này có thể xác định được sự kết hợp thuốc tối ưu chỉ trong vòng hai tuần. “Khi chúng ta có thể nói với bác sĩ rằng bệnh nhân cần kết hợp các loại thuốc nào và tỉ lệ chính xác của mỗi loại đó thì đó chính là y học chính xác”.  Nhóm của Akay lấy một mẩu sinh thiết khối u, nuôi cấy và đưa nó vào trong con chip. Sau đó, họ thêm thuốc hóa trị vào các van cực nhỏ của chip để xác định được tỉ lệ cụ thể và sự kết hợp thuốc tốt nhất nhằm tiêu diệt được nhiều tế bào khối u nhất.  Nhóm nghiên cứu đã nuôi cấy trong ống nghiệm các khối u hình cầu 3-D hoặc các cụm tế bào từ các dòng tế bào GBM cũng như tế bào GBM lấy từ các bệnh nhân, và nghiên cứu ảnh hưởng của việc kết hợp thuốc hóa trị Temozolomide với một chất ức chế có yếu tố nhân kappa B (nuclear factor-κB inhibitor) đối với sự phát triển của khối u.  “Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy những loại thuốc này có những tác dụng hiệp đồng trong việc ức chế sự hình thành các khối cầu. Loại chip ung thư não này cũng giúp sàng lọc thuốc hiệu quả, quy mô lớn và giá thành rẻ đối với các khối u ung thư 3-D trong phòng thí nghiệm. Ngoài ra, nền tảng này còn có thể được ứng dụng trong các nghiên cứu sàng lọc thuốc bằng kỹ thuật mô liên quan”, trợ lý giáo sư Yasmine Akay cho biết. Cô tham gia vào nhóm nghiên cứu cùng với giáo sư trợ lý nghiên cứu Naze Gul Avci và postdoc Hui Xia. Các mẫu mô được cung cấp bởi cộng tác viên dự án Jay-Jiguang Zhu, bác sỹ, giám đốc khoa Ung thư não, trường Y McGovern ở UT Health (Đại học Y khoa Texas).  Để giảm lượng mẫu thử in vitro, nhóm nghiên cứu đã cải thiện hệ thống chip hiện tại bằng cách thêm vào một lớp phân phối dòng chảy tách lớp, qua đó làm giảm sự mất mẫu trong quá trình nuôi cấy tế bào và ngăn chặn các khối cầu thoát ra ngoài. Nhờ phương pháp này, các khối cầu hình thành đồng đều trên toàn con chip và giúp cho việc thử nghiệm thuốc diễn ra nhất quán giữa mỗi khối.  Nguyễn Hoàng Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-01-brain-chip-precision-medicine.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái tình trong giải pháp      Qua mặt 146 giải pháp gửi tới Ban tổ chức, ông Phạm Hoàng Thắng cùng 14 giải pháp lọt vào vòng chung kết và ông&#160; đã bảo vệ thành công giá trị sáng chế có tính khác biệt trong chiếc máy gặt đập liên hợp (GĐLH). Điều dẫn ông đến chiến thắng đó là cái tình người và sự đam mê.      Năm 2007 khi máy GĐLH của Hoàng Thắng  đoạt giải nhất tại hội thi máy gặt đập liên hợp ở Trường Khánh, tỉnh Sóc Trăng, ông Thắng chậm rãi lần theo lối đi của máy gặt xem cái “giới hạn” có  rơi rớt trên đường đi hay không? Ông tự hiểu rằng nếu không đạt được những thông số lý tưởng của chiếc máy gặt thì ông không thực hiện trọn vẹn mong muốn góp công giảm tổn thất sau thu hoạch, vốn chiếm từ 11-12% sản lượng lúa. Con số tổn thất đó lên tới hàng ngàn tỷ đồng mỗi niên vụ. Vì vậy cho đến thời điểm được trao giải nhất tại hội thi sáng chế (7-11-2013) việc tiếp tục cải tiến chiếc máy gặt đập liên hợp sao cho chuyển động nhẹ nhàng, ít hao nhiên liệu, ít hao nguyên vật liệu khi làm buồng đập (không cần lớn) , kết cấu gọn- nhẹ, di chuyển nhanh trên sình lầy, năng suất thu hoạch chừng 5 ha/ ngày… hầu như chiếm hết mọi suy nghĩ của ông.   Xòe bàn tay, ông Thắng giải thích: Cứ tưởng tượng đây là những thanh kiểu thang đập lúa (bồ) xa xưa của nông dân, xen giữa khoảng cách những thang đập sẽ  làm cho trên cùng diện tích bình thường nhưng thang đập nhiều hơn, tạo khúc khuỷu sẽ làm cho lúa được tuốt hết hạt, tốc độ tuốt nhanh hơn. Răng đập được thiết kế  ở 15 độ so vòng trục tạo thành luồng gió đưa bông lúa về cuối buồng đập nhanh hơn, thổi lúa ra  khỏi sàn lẹ hơn, lực hút lúa nhanh hơn và  năng suất tuốt lúa sẽ cao hơn. Trong buồng đập, sàn đập có hai phần: đập chín và đập giũ- được thiết kế răng đối xứng để phá vỡ luồng lúa từ sàn đập chín sang đập giũ để bông lúa bung ra. Trục đập đặt xiên so trục chính 20-30 độ để đẩy lúa về cuối sàn, động tác đập lúa sẽ dễ dàng hơn.  So với đập thang truyền thống: Thang đập hợp lý, xoay, lận phía trong ra để tuốt hết lúa đòi hỏi giải pháp đồng bộ hóa để  kết hợp gặt, đập tuốt lúa- sàng sảy lấy hạt theo tỷ số thích hợp, tránh tình trạng vỡ hạt, bị nghẽn giữa chừng, giảm năng suất và hư hỏng đột xuất. “Việc bố trí thang đập, tính toán tua đập, sàn đập, trục đập và tính tỷ số truyền đồng bộ hóa… là việc khó nhất”, ông Thắng nói.                   Hiện nay, những đặc điểm trong dòng máy GĐLH của Hoàng Thắng đã qua mặt máy gặt đập lúa của Trung Quốc (không gặt được lúa ướt, không di chuyển được trên sình lầy, dễ hỏng hóc) và những cơ sở làm máy gặt đập liên hợp trong nước. Nhưng ông đang đối diện với người khổng lồ Kubota ngay trên thị trường có 3,6 triệu ha đất trồng lúa, dù giá bán ra của Kubota trên nửa tỷ đồng/máy, trong khi giá máy của Hoàng Thắng chỉ bằng 50% so Kubota, thậm chí máy của ông có ưu điểm gặt cả lúa ướt, đổ ngả, tỷ lệ hao hụt thấp so Kubota, nhưng Kubota vượt trội về độ bền và có thế mạnh về phụ tùng, hơn cả Yanmar. Chính độ bền khiến Kubota gia tăng sản lượng máy bán ra, kéo theo doanh số bán phụ tùng. Khi được hỏi ông có thể trở thành đối thủ cạnh tranh với Kubota không? “Hạn chế của chúng tôi là trong nước chưa có máy móc công nghệ cao để thực hiện các chi tiết, cấu kiện với chất lượng cao, chưa có nguyên liệu sản xuất phụ tùng đúng tiêu chuẩn và chưa có đủ dịch vụ để tăng sản lượng máy xuất xưởng” , ông Thắng nói và nhấn mạnh thêm “để khắc phục những hạn chế này cần hệ thống giải pháp có tính chiến lược cho ngành cơ khí nông nghiệp chứ không riêng cơ sở của ông.   ***  Ông Thắng theo đoàn khảo sát hoạt động sản xuất máy nông nghiệp ở Hàn Quốc, nhìn thực tế  suôn sẻ của họ,  nghĩ nhiều về hiện tại chong chênh của mình. Hiện nay, mỗi tháng ông chỉ xuất xưởng  3-4 máy GĐLH  nhưng đó là ngưỡng an toàn vì làm theo đặt hàng bằng vốn tự có chứ chưa dám có quan hệ nợ nần với ngân hàng. Thiếu vốn, ông Thắng sẽ không thể đặt hàng mua nguyên liệu đủ tiêu chuẩn ( hộp số, bánh xích…) với số lượng lớn, mua lẻ sẽ không bao giờ được hưởng giá sỉ! Nhưng ông không có cách nào khác.  Chiếc máy sạ hàng ra đời cũng tương tự, từ việc không tìm được một người gieo sạ, phải mướn người không chuyên nghiệp. “Nếu không tìm được người giỏi việc này thì chẳng lẽ bó tay? “ ông nhớ lại lần đầu thấy mẫu máy sạ theo hàng của Viện Lúa quốc tế và nảy ra ý định khác.  Nhận ra nhược điểm của máy sạ hàng từ IRRI: nặng nề, giá cao (2 triệu đồng/ máy), bánh xe lăn, lỗ rơi – hốc gieo không nhạy nên hạt lúa xuống không đều. Ông Thắng đã mày mò sửa đổi chiều dài trục làm việc, dùng nhựa làm “ trống” đựng lúa giống thay vì kim loại…, nên giá bán máy sạ hàng của ông chỉ còn 350.000 đồng/ máy,  dù năng lực sản xuất của xưởng gia đình nhưng ông làm cả trăm máy mỗi ngày. Người cao tuổi, phụ nữ cũng làm được, chất lượng gieo sạ tốt hơn cả những người được khen là gieo chuyên nghiệp.   Không dừng ở đó, khi đi chuyển giao kỹ thuật máy sạ hàng ở dưới quê, hình ảnh nông dân mang bình phun thuốc trừ sâu mà ngán cảnh “ no đòn” nhiễm độc hóa chất, khi đi vô vùng đang phun xịt, thuốc thấm qua da, quần áo… Ông Thắng nghĩ tới việc chế tạo chiếc máy phun thuốc trừ sâu, người kéo luôn ở phía trước, do vậy người phun không phải xông vào vùng phun xịt và không còn tình trạng bị lỗi khi quơ vòi phun không đều.  Ngày đầu mẫu máy phun thuốc trừ sâu lắp 2 bình xịt (32 lít) chào hàng, có người đặt cọc liền. Vòi phun biến thành dàn phun khi cần kéo nối dài về phía trước, chỉ cần kéo cần, van mở là thuốc tự động phun theo chuyển động từ người kéo. Hiện nay, ông lắp máy và khác biệt là cây gạt làm bụi lúa ngã tới trước và bật lại bằng dàn gạt lúa; Nhờ đó phun thuốc ở gốc, phun đều phía trước và phía sau,  liên tục. Cách làm này đã diệt rầy khá tốt. Có người mua máy phun thuốc về làm dịch vụ”, ông Thắng nói.  ***  Hình ảnh xưởng thợ và cuộc sống có đồng vô- đồng ra bây giờ, đôi khi chạnh lòng nhớ lại câu chuyện 20 năm trôi qua.   Từ một anh tú tài do hoàn cảnh không thể học lên cao hơn, xốn xang khi nhìn những lực điền dốc sức đập lúa, ông tự thấy như có bổn phận phải làm điều gì đó để giảm cường độ lao nhọc cho người dân vùng đồng bằng SCL đang chuyển đổi từ trồng lúa mùa sang tăng 2-3 vụ lúa /năm. Cái tình trong suy nghĩ đó dẫn ông đến đam mê chế tạo máy tới mức thất bại tiền tỷ vẫn chưa dừng lại. Không phân định được sáng tạo hay phiêu lưu? Ông Thắng không thể chứng minh được “ ánh sáng ở cuối đường hầm” , cũng không đoán định được hiệu quả khiến lòng tin của những người thân vào những triển vọng mất dần và cuối cùng là bi kịch khi vợ chồng ông đồng ý ly hôn. Bà muốn tránh khỏi cuộc phiêu lưu còn ông thì tự hiểu rằng để tiến tới thành công, đôi khi phải trả giá.   Mỗi lần nhắc lại câu chuyện “nửa đường gãy gánh”, ông Thắng nói rằng con đường sáng tạo của mình có những khoảng tối. Ông từng hi vọng người bạn đời kiên nhẫn hơn một chút, nhìn xa hơn một chút, chịu đựng hơn một chút…nhưng điều đó đã trở thành quá đáng khi vì khát vọng sáng tạo, thỏa thích trước những công việc ở xưởng thợ, ông đã quên rằng cái gia đình bé nhỏ ấy lắt lẻo chợt rơi khỏi “vườn địa đàng”.   Được hỏi ông nghĩ gì khi nhận giải thưởng, ông nói nếu không có chính sách thúc đẩy, không có hệ thống quản trị đồng bộ hóa và hữu hiệu thì cơ sở sản xuất máy GĐLH cá thể của ông sẽ teo tóp, lụi tàn. Để khích lệ khả năng sáng tạo, chủ động sản xuất, nhà nước không chỉ hỗ trợ nghiên cứu mà sẽ tạo điều kiện sản xuất thử, làm hàng loạt…như những vườn ươm doanh nghiệp ở Cần Thơ do Hàn quốc trợ giúp, ông Thắng mơ ước, tại nơi ông khởi nghiệp có một vườn ươm như vậy.   “ Hàn Quốc, từ xưa đã có chính sách du học độc đáo cho những người đã có bằng tiến sĩ. Họ đăng ký học ở  nhiều nước theo học nhiều ngành, lĩnh vực và ngày về cùng cam kết hình thành nhóm làm việc không chỉ là bản vẽ chi tiết mà chỉ ra việc làm cụ thể cho một chiếc máy kéo, máy cày, máy gặt…cho tới chiếc xe hơi, đủ sức cạnh tranh với Nhật…ra đời theo công nghệ tiên tiến”, một người thợ cơ khí ở Cần Thơ ao ước về sự tiếp sức từ hoạt động khoa học, nói như vậy.        Author                Quản trị        
__label__tiasang California tìm giải pháp chống hạn      California đang tìm các biện pháp cơ bản để giải quyết nạn hạn hán nghiêm trọng hiện nay. Ý tưởng thì nhiều, một số ý tưởng có nhiều triển vọng nhưng cũng có những giải pháp còn khá lạ lẫm.      California đang khốn khổ vì hạn hán. Hạn hán kéo dài làm cho đồng ruộng khô nẻ và  hóa đơn tiền nước của các dư dân California tăng vọt. Tuy nhiên người dân ở bang này không chịu để mất mầu xanh đến mức họ phun mầu lên bãi cỏ vườn nhà.   Theo ước tính của các chuyên gia làm việc tại Viện nghiên cứu NASA Jet Propulsion Laboratory thuộc California Institute of Technology, thì để thoát khỏi nạn hạn hán kéo dài từ nhiều năm nay, California cần có trên 11 nghìn tỷ lít nước, chính xác là: 11.356.235.352.000.000.000 lít.  Từ hàng chục năm qua, người dân California đã biết nước sẽ trở nên khan hiếm. Bang này tràn trề ánh mặt trời và có biển cả rộng mênh mông trải dài dọc miền duyên hải phía tây nhưng lại thiếu nước sinh hoạt. Nạn hạn hán kéo dài bốn năm qua càng làm cho tình trạng thiếu nước ngọt trở nên trầm trọng hơn.   Những cơn mưa rào thoáng qua và ngay cả hiện tượng El Niño cũng không xoay chuyển nổi tình hình. Tuy trong tháng 11 vừa qua, lượng mưa ở San Diego tương đương lương mưa cả năm nhưng cơn khát vẫn còn lớn hơn. Điều này dẫn đến tình huống trớ trêu đối với cơ quan chính quyền, ở miền nam California một mặt người ta phải chuẩn bị chống hỏa hoạn mặt khác do hiện tượng El Nino người ta phải  tính đến nguy cơ bão lụt và mưa lớn kéo dài, có nghĩa là người ta vừa phải chống hạn vừa phải đề phòng bão lụt cùng một thời điểm.   California đang tìm các biện pháp cơ bản để giải quyết nạn hạn hán nghiêm trọng hiện nay. Ý tưởng thì nhiều, một số ý tưởng có nhiều triển vọng nhưng cũng có những giải pháp còn khá lạ lẫm.   Dự trữ nước từ xa   Tìm  những nguồn nước mới là một cách để cân đối sự thiếu hụt nước. Câu hỏi đặt ra là, nguồn nước trong tương lai ở đâu, ông Terry Trapp, giám đốc điều hành Alaska Bulk Water thường trả lời bằng một câu ngắn ngủi: “Từ Blue Lake ở Sitka!”  Cái hồ này ở tận Alaska cách Los Angeles khoảng 8,5 giờ bay. Nếu chỉ theo ý kiến ông chủ doanh nghiệp này thì tới đây sẽ có tầu thủy thường xuyên vận chuyển nước ăn  từ hồ Sitka ở tây nam Alaska tới hải cảng ở Long Beach hay Los Angeles nhằm cung cấp nước cho những vùng bị hạn hán ở California. Hồ Sitka dư thừa nước ngọt và công ty  Alaska Bulk Water Company được quyền lấy 34 tỷ lít nước từ hồ nhằm mục tiêu kinh doanh.   Trong thực tế thì xe vận tải chở nước đã được sử dụng từ lâu. Báo chí địa phương đăng tải nhiều câu chuyện về những người làm nghề vận chuyển nước bằng xe tải cỡ bự để cung cấp nước chủ yếu cho các chủ trang trại ở California. Trước mắt đây là một trong nhiều giải pháp tạm thời và có lẽ không thể trở thành một giải pháp lâu dài.  Hy vọng vào biển cả   Sử dụng nước biển được coi là một giải pháp lâu dài. Người dân ở California đã đưa vào sử dụng các cơ sở khử mặn  nước biển làm nước nước ăn.  Thứ hai vừa qua thị trấn Carlsbad gần thành phố San Diego với trên một triệu dân đã khai trương cơ sở khử muối nước biển. Đây là một dự án khổng lồ ngốn vô vàn tiền của. Thị trấn  Carlsbad đầu tư gần một tỷ đôla cho cơ sở khử mặn nước biển này tuy vậy mỗi ngày cũng chỉ sản xuất được khoảng 50 triệu gallon nước ăn, thỏa mãn nhu cầu về nước của 7% dân cư  địa phương. Dân địa phương dự đoán tới đây hóa đơn tiền nước sẽ tăng vọt.  Tái chế nước thải là giải pháp thích hợp?  Tại California có nhiều dự án tương tự – thí dụ cơ sở khử muối trong nước biển bằng điện mặt trời ở gần San Francisco, nhằm giảm chi phí năng lượng. Những dự án này có thể có ý nghĩa hơn về mặt tài chính so với dự án Carlsbad, được khởi động cách đây 25 năm và do một số sai sót trong quy hoạch nên kết quả thu được ít hơn so với dự tính.   Tại Santa Barbara, một  địa phương ven biển, người ta đã chi khoảng 40 triệu đôla để tái kích hoạt một cơ sở khử muối nước biển cũ sau khi lắp đặt thiết bị kỹ thuật mới. Vấn đề là: nhà máy khử muối nước biển “cũ”này thực ra mới xây dựng năm 1992, nhưng chỉ sau ba tháng vận hành nhà máy đã phải nghỉ hưu vì chi phí năng lượng quá lớn. Vì vậy lần này nhiều người tỏ ra hoài nghi liệu đầu tư như vậy có thành công hay không hay chỉ vì giờ đây hạn hán quá nghiêm trọng. Chi phí quá lớn cho các dự án ở Carlsbad hay Santa Barbara dù sao cũng làm cho các địa phương ở California ái ngại trước giải pháp khử muối.   Thay vì khử mặn trong nước biển, một số nhà nghiên cứu khác lại chú ý nhiều đến vấn đề tái chế nước thải để sử dụng lại. Một nghiên cứu của Quỹ WateReuse Research Foundation, tiến hành năm 2014 cho thấy, trong năm 2020 ở California người ta có thể tái chế nước thải từ đó mỗi ngày có thể khai thác trên 3,7 tỷ lít nước sạch nếu như có đủ kinh phí. Lượng nước sạch  này có thể thỏa mãn nhu cầu của 8 triệu người dân California. Ông Doug Owen, chủ tịch Quỹ khẳng định giải pháp này là an toàn và ít t tốn kém nhất.    Trong thực tế, kinh nghiệm đối với lĩnh vực này chưa có bao nhiêu do đó còn thiếu tính thuyết phục đối với chính quyền địa phương ở California.   Trong khi chính quyền và các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm các giải pháp chống hạn thích hợp, thì hạn hán đang thay đổi lối sống của cư dân tại đây. Nạn hạn hán nghiêm trọng có ý nghĩa như thế nào  đối với các hộ gia đình ở California thể hiện rõ nhất ở hai sự việc rất đơn giản, đó là: bãi cỏ trước vườn nhà và hóa đơn tiền nước.   Những gia đình có vườn ở California có thói quen, mỗi ngày phun nước hai lần cho bãi có và vườn cây trước nhà. Hiện nay do tình trạng hạn hán nghiêm trọng chính quyền thành phố yêu cầu không dùng nước sạch để tưoi vườn. Tuy nhiên nếu không tưới thì bãi cỏ xanh sẽ nhanh chóng bị khô héo chuyển thành nâu.    Ngày nay khi nạn hạn hán đã trở thành một nguy cơ thực sự đối với cuộc sống chính quyền địa phương buộc phải nới lỏng một số quy định về chăm sóc vườn cây, thí dụ không bắt buộc cỏ phải xanh tốt.   Tuy vô cùng khan hiếm nước, bãi cỏ trong vườn vẫn tươi xanh. Giải pháp là người dân đã mua một loại dung dịch có mầu xanh để phun lên cỏ, nhờ đó bãi có có được mầu xanh mát mắt.   Tóm lại các giải pháp tái chế nước thải và khử muối nước biển làm nước ăn thực sự có ý nghĩa. Và những thay đổi trong lối sống hàng ngày của cư dân California là hết sức đúng đắn. Thí dụ một số thành phố, công viên và các doanh nghiệp đã trồng các loại xương rồng và các loại cây sa mạc khác vốn chịu nắng nóng và không đòi hỏi phải tưới tắm để tạo mầu xanh và cũng khá bắt mắt. Tuy vậy việc sử dụng lãng phí nước vẫn còn khá phổ biến. Ở những nơi có tình trạng khô hạn nghiêm trọng và kéo dài thì vấn đề thay đổi tư duy trong người dân là hết sức quan trọng. Điều này này bắt đầu từ những việc làm thông thường, nhỏ nhặt nhất, thí dụ không nhất thiết mỗi gia đình phải có vườn và bãi cỏ xanh tốt. Những giải pháp hay, những ý tưởng lớn sẽ không có ý nghĩa khi cư dân California không thay đổi lối sống quen thuộc của mình đối với vấn đề nước.  Hoài Nguyễn   dịch   Theo Tuần kinh tế Đức      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm biến đo từ trường đa ứng dụng      Sáng chế Cảm biến đo từ trường và cảm biến  đo góc độ nhạy và độ phân giải cao của TS Đỗ Thị Hương Giang (ảnh bên), ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh  vực như đo dòng điện báo vượt ngưỡng để phòng cháy, đo dộ nghiêng nhà  cao tầng, đo dộ rung để dự báo động đất, đo từ trường điện từ để dự báo  bão từ, thiên tai…&#160;&#160;     Dựa trên nguyên lý kết hợp của từ giảo với áp điện, TS Đỗ Thị Hương Giang và nhóm nghiên cứu của mình đã chế tạo thành công công trình Cảm biến đo từ trường. Thiết bị này có mang lại những hiệu quả ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Một trong những ứng dụng hàng đầu là sản xuất chíp sinh học giúp phát hiện các phần tử sinh học như virus. Trong thời gian tới, bệnh viện Bạch Mai sẽ đưa vào thử nghiệm áp dụng nhằm phát hiện nhanh virus viêm màng não, một bệnh thường gặp ở trẻ em.   Cảm biến của TS Đỗ Thị Hương Giang và nhóm nghiên cứu có độ nhạy rất cao và độ phân giải lớn 10-4 Oe, có thể phát hiện những thay đổi cực nhỏ của từ trường, cỡ một phần nghìn độ lớn từ trường trái đất. Với độ phân giải cao của cảm biến, dựa trên nguyên lý đo từ trường, sảm phẩm cảm biến góc đo thông qua đo cường độ từ trường trái đất 3D đã được phát triển. Sản phẩm này sẽ dùng để tích hợp trong các thiết bị thu phát vệ tinh để định vị vệ tinh, giúp các phương tiện giao thông như tàu biển, máy bay giữ liên lạc vệ tinh với trạm thu phát mặt đất.   Từ sản phẩm cảm biến đo từ trường, TS Đỗ thị Hương Giang đã ước tính đến những ứng dụng khả thi trong tương lai  như đo dòng điện báo vượt ngưỡng để phòng cháy, đo dộ nghiêng nhà cao tầng, đo dộ rung để dự báo động đất, đo từ trường điện từ để dự báo bão từ, thiên tai…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm biến nano phát hiện thuốc trừ sâu trên hoa quả trong vài phút      Các nhà nghiên cứu ở Học viện Karolinska (Thụy Điển) đã chế tạo một cảm biến tí hon có thể phát hiện thuốc trừ sâu trên trái cây trong vòng vài phút.    Đây là kết quả mới được công bố trên tạp chí Advanced Science. Về bản chất, cảm biến này ứng dụng các hạt nano bạc phun phủ bề mặt để gia tăng dấu hiệu của các chất hóa học. Trong giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu hi vọng các cảm biến nano có thể phát hiện các thực phẩm chứa thuốc trừ sâu trước khi đưa vào tiêu thụ.  “Các báo cáo cho thấy một nửa trái cây lưu hành ở EU chứa dư lượng thuốc trừ sâu với hàm lượng lớn, liên quan đến các vấn đề sức khỏe con người”, Georgios Sotiriou, nghiên cứu viên chính ở Khoa Vi sinh, Khối u & Sinh học tế bào (Học viện Karolinska) đồng thời là tác giả liên hệ của bài báo cho biết. “Tuy nhiên, các kỹ thuật phát hiện thuốc trừ sâu trên thực phẩm hiện nay vẫn còn hạn chế do tốn kém và việc sản xuất các cảm biến này khá phức tạp. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã phát triển các cảm biến nano giá rẻ, dễ sản xuất, có thể dùng để giám sát dấu vết của thuốc trừ sâu trong hoa quả”.  Để chế tạo các cảm biến này, nhóm nghiên cứu đã ứng dụng một phát minh từ những năm 1970 là tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) – một công nghệ cảm biến có thể tăng dấu hiệu chẩn đoán về các phân tử sinh học trên bề mặt kim loại hơn 1 triệu lần. Công nghệ này đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm phân tích môi trường, hóa học, phát hiện các dấu ấn sinh học của nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ này để kiểm nghiệm thực phẩm an toàn vẫn còn hạn chế do chi phí cao và khó sản xuất đồng loạt.    Việc phun phủ nhiệt nano đã nâng cao hiệu quả của cảm biến, giúp phát hiện thuốc trừ sâu trên bề mặt quả táo trong vòng vài phút. Nguồn: Phys.org  Công nghệ phun phủ bề mặt  Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã chế tạo một cảm biến nano SERS bằng cách sử dụng phun phủ bề mặt – một kỹ thuật hiệu quả và tiết kiệm chi phí để tạo lớp phủ kim loại nhằm đưa các giọt nhỏ nano bạc lên bề mặt thủy tinh.  “Công nghệ phun phủ nhiệt có thể được dùng để tạo ra các màng SERS đồng nhất nhanh chóng trên các diện tích rộng lớn, loại bỏ một trong những rào cản chính liên quan đến mở rộng ứng dụng”, Haipeng Li, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở phòng thí nghiệm của Sotiriou và tác giả thứ nhất của nghiên cứu cho biết.  Sau đó, các nhà nghiên cứu đã tinh chỉnh khoảng cách giữa các nano bạc để nâng cao độ nhạy của chúng. Để kiểm tra khả năng phát hiện chất hóa học, họ đã bôi một lớp mỏng thuốc nhuộm đánh giá lên các cảm biến và sử dụng một quang phổ kế để phát hiện dấu vân tay phân tử. Các nhà nghiên cứu cho biết, cảm biến có thể phát hiện các tín hiệu phân tử một cách đáng tin cậy và đồng nhất, đồng thời vẫn giữ nguyên hiệu quả khi kiểm tra lại sau 2,5 tháng. Theo các nhà nghiên cứu, điều này đã chứng minh tiềm năng ứng dụng thực tế và tính khả thi trong sản xuất quy mô lớn của các cảm biến này.  Phát hiện thuốc trừ sâu trên táo  Để kiểm chứng hoạt động thực tế của cảm biến, nhóm nghiên cứu đã hiệu chỉnh chúng nhằm phát hiện ra parathion-ethyl ở nồng độ thấp – một loại thuốc trừ sâu độc hại bị cấm ở hầu hết các quốc gia. Họ đã tẩm một lượng nhỏ parathion-ethyl lên một phần của quả táo. Sau đó họ dùng tăm bông để lấy mẫu ở phần còn lại của quả táo và ngâm vào dung dịch có khả năng hòa tan các phân tử thuốc trừ sâu. Khi đưa dung dịch này vào cảm biến, nó đã phát hiện ra có thuốc trừ sâu.  “Cảm biến của chúng tôi có thể phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu trên bề mặt táo trong vòng 5 phút mà không phá hủy trái táo”, Haipeng Li cho biết. Sắp tới, các nhà nghiên cứu muốn khám phá liệu có thể áp dụng các cảm biến nano này cho các lĩnh vực khác hay không, chẳng hạn như phát hiện ngay tại chỗ dấu ấn sinh học của các bệnh cụ thể trong môi trường hạn chế nguồn lực.  Thanh An dịch  https://phys.org/news/2022-06-nano-sensor-pesticides-fruit-minutes.html    Author                .        
__label__tiasang Cảm biến nhạy và bền: hướng phát triển cho lĩnh vực dệt may thông minh      Các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu để đưa ra những cách thức ứng dụng loại cảm biến này trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ mô phỏng thực tế ảo, quần áo thể thao cho đến chẩn đoán lâm sàng các bệnh thoái hóa thần kinh như bệnh Parkinson.    Hãy nghĩ đến chiếc áo thun yêu thích của bạn, chiếc áo bạn đã mặc hàng trăm lần, cùng những hành vi “ngược đãi” mà nó đã phải trải qua. Bạn đã giặt nó nhiều lần đến mức bạn không thể nhớ xuể, bạn dây bẩn lên nó, kéo căng nó, vò nó, thậm chí đã suýt làm cháy nó.   Nếu trong tương lai có một loại vải dệt thông minh nào có thể ‘sống sót’ sau khi trải qua những hành vi tàn bạo kể trên, chắc hẳn những thành phần trong chúng sẽ cần phải có khả năng tự phục hồi.   Giờ đây, các nhà khoa học thuộc Trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng Harvard John A. Paulson và Viện Kỹ thuật Lấy cảm hứng từ Sinh học Wyss đã phát triển một cảm biến siêu nhạy với khả năng đàn hồi tốt, có thể dùng để gắn vào các loại vải dệt và các hệ thống robot mềm (soft robotic systems).  Các nhà khoa học mới đây đã công bố nghiên cứu trên tạp chí Nature.    Cận cảnh các sợi carbon dẫn điện của cảm biến. Các sợi được kẹp giữa hai lớp nền đàn hồi. Độ dẫn điện tổng thể của cảm biến thay đổi khi các cạnh của sợi carbon tiếp xúc với nhau. Ảnh: James Weaver/Harvard SEAS   “Các loại thiết bị đo độ biến dạng hiện nay dù nhạy nhưng mặt khác cũng dễ hỏng”, Oluwaseun Araromi, Nghiên cứu viên về Khoa học Vật liệu và Kỹ thuật Cơ khí tại SEAS và Viện Wyss, đồng thời là tác giả thứ nhất của bài báo cho biết. “Hai đặc điểm bền và nhạy thường không đi cùng nhau – các cảm biến có độ nhạy cao thì thường có phần ‘mỏng manh’, nhưng các cảm biến bền thì thường không nhạy. Vì vậy, chúng tôi cần tìm ra một cơ chế hội tụ cả hai thuộc tính này.”  Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một loại cảm biến có hình dạng và cơ chế hoạt động giống với lò xo Slinky – một món đồ chơi có hình xoắn ốc hoặc hình cuộn. Slinky nổi tiếng vì có thể “bước” xuống cầu thang do các cuộn căng ra và rút lại trong khi lực hấp dẫn kéo nó xuống mỗi nấc   “Slinky là một hình trụ rắn bằng kim loại cứng, nhưng nếu ta tạo hình chúng dưới dạng xoắn ốc, chúng sẽ có thể co giãn được”, Araromi cho biết. “Về cơ bản, thiết bị cảm ứng của chúng tôi cũng theo nguyên lý tương tự. Chúng tôi tạo ra một khối vật liệu cứng, trong trường hợp này là sợi carbon, và thiết kế sao cho vật liệu có thể co giãn được.”  Mô hình này có dạng một đường uốn khúc ngoằn ngoèo, hình dạng của nó lên xuống hệt như một con rắn đang bò. Hai chất nền đàn hồi đã được nung từ trước sẽ kẹp hai bên các sợi carbon dẫn điện.  Độ dẫn điện của cảm biến thay đổi khi các cạnh của sợi carbon tiếp xúc với nhau, cũng giống như cách mà các đường riêng lẻ của một bộ cảm biến tiếp xúc với nhau khi ta kéo cả hai đầu. Quá trình này xảy ra ngay cả khi chỉ dùng một lực căng rất nhỏ, và đó chính là chìa khóa giúp cảm biến có độ nhạy cao hơn.   Không giống như các cảm biến co giãn có độ nhạy cao hiện nay – được làm từ các vật liệu như silicon hoặc dây nano vàng, cảm biến này không yêu cầu kỹ thuật sản xuất đặc biệt hoặc thậm chí là phòng sạch. Ta có thể tạo ra nó từ bất cứ vật liệu dẫn điệu nào.   Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra khả năng phục hồi của cảm biến bằng cách dùng dao mổ đâm, dùng búa đập vào nó, hay thậm chí là chạy ô tô cán qua, ném vào máy giặt mười lần. Sau mỗi lần thử nghiệm, cảm biến vẫn không hề hấn gì. Để chứng minh độ nhạy của nó, các nhà nghiên cứu còn gắn cảm biến vào ống tay bằng vải và yêu cầu một người thực hiện các hành động khác nhau như nắm tay, mở lòng bàn tay và véo. Các cảm biến đã phát hiện ra những thay đổi nhỏ trong cơ bắp tay trước của đối tượng thông qua lớp vải và một thuận toán học máy có thể phân loại thành công những cử chỉ này.      Moritz Graule, một sinh viên đã tốt nghiệp tại SEAS, mang một ống tay bằng vải có gắn các cảm biến. Các cảm biến phát hiện những thay đổi nhỏ trong cơ bắp tay của Graule thông qua lớp vải. Có thể ứng dụng ống tay áo như vậy trong nhiều lĩnh vực, từ mô phỏng thực tế ảo, quần áo thể thao, cho đến chẩn đoán lâm sàng các bệnh thoái hóa thần kinh như Bệnh Parkinson. Ảnh: Oluwaseun Araromi/Harvard SEAS.   “Những đặc điểm như khả năng phục hồi và độ bền cơ học là những yếu tố để ứng dụng cảm biến này vào trong các lĩnh vực khác nhau”, Araromi cho biết.   Một ống tay áo gắn cảm biến sẽ có thể đưa vào ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, từ mô phỏng thực tế ảo, quần áo thể thao cho đến chẩn đoán lâm sàng các bệnh thoái hóa thần kinh như bệnh Parkinson.   Văn phòng Phát triển Công nghệ của Harvard đã nộp đơn yêu cầu bảo độc quyền hộ sáng chế liên quan đến dự án này. “Độ nhạy cao và khả năng phục hồi là những ưu điểm của loại cảm biến này”, Robert Wood, Giáo sư Kỹ thuật và Khoa học ứng dụng Charles River tại SEAS và là tác giả cao cấp của nghiên cứu, cho biết. “Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, điều tạo nên sự khác biệt của công nghệ này là chi phí cho vật liệu cấu thành và lắp ráp khá phải chăng. Điều này hy vọng sẽ giúp giảm bớt các rào cản để đưa công nghệ phổ biến rộng rãi trong lĩnh vực dệt may thông minh, và xa hơn thế nữa.”   “Cảm biến khi tích hợp vào quần áo sẽ có sự tiếp xúc gần gũi với cơ thể người, chúng tôi hiện đang tìm hiểu những hướng ứng dụng mà đặc điểm này mang lại, chẳng hạn như thực hiện các phép đo cơ sinh học và sinh lý học trong suốt một ngày vận động của một người – điều mà các phương pháp hiện tại chưa thể thực hiện được”, Conor Walsh, Giáo sư Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng tại SEAS và đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.  Anh Thư dịch  Nguồn: Sensor for smart textiles survives washing machine, cars and hammers    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm biến siêu nhỏ có thể tồn tại lâu năm trong cơ thể      Sau 5 năm nghiên cứu, các nhà khoa học tại trường Đại học California, Berkeley đã cấy thành công những bộ cảm biến “bụi thần kinh” vào trong cơ thể chuột để theo dõi các xung lực thần kinh và cơ bắp của chuột qua sóng siêu âm. Đây là những bộ cảm biến không dây, không sử dụng pin, chỉ nhỏ bằng kích thước một hạt cát và có thể tồn tại vĩnh viễn trong cơ thể.      Một bộ cảm biến “bụi thần kinh”  Cấu trúc một bộ cảm biến này bao gồm một tinh thể áp điện nối với một mạch điện đơn giản, tất cả nằm trên một tấm bảng polymer bé xíu. Một sự thay đổi trong sợi thần kinh hoặc cơ bắp xung quanh bộ cảm biến này sẽ làm thay đổi xung động của tinh thể. Những dao động này có thể được hấp thụ bằng sóng siêu âm, qua đó nhà nghiên cứu có thể cảm nhận được những gì đang diễn ra bên trong cơ thể bệnh nhân.  Cho tới nay, các nhà khoa học vẫn đau đầu với bài toán xây dựng những thiết bị cấy ghép có thể tồn tại vài chục năm trong cơ thể người. Hiện nay, nhiều thiết bị thoái hóa chỉ sau 1-2 năm, có thiết bị phải nối dây từ trong cơ thể ra bên ngoài, hoặc có thiết bị hoạt động không hiệu quả. Để liên lạc với các thiết bị cấy ghép y học này, các nhà khoa học sử dụng tần số vô tuyến, vốn thích hợp với những thiết bị lớn. Với thiết bị nhỏ xíu của mình, nhóm nghiên cứu đã thử chuyển sang sóng siêu âm và đạt được kết quả tốt hơn rất nhiều.  Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ thí nghiệm việc xây dựng các bộ cảm biến bụi thần kinh làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau, có thể sử dụng an toàn trong cơ thể người. Họ cũng đang tìm cách thu nhỏ hơn nữa kích thước của các bộ cảm biến này. Với trình độ khoa học hiện nay, giới khoa học đã có thể đưa các bộ cảm biến vào bên trong hệ thần kinh ngoại biên và cơ bắp, nhưng nếu được thu nhỏ hơn nữa, chúng có thể được cấy trực tiếp vào hệ thần kinh trung ương hay não bộ.  Sự phát triển của công nghệ này hứa hẹn sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho lĩnh vực y học, đặc biệt là ngành phục hồi chức năng. Trên lý thuyết, một người bị liệt có thể điều khiển máy tính hoặc một người bị cụt tay có thể sử dụng cánh tay robot nhờ việc sử dụng các bộ cảm biến trên. Bụi thần kinh cũng có thể được sử dụng để theo dõi các thông số sức khỏe chẳng hạn như nồng độ oxy, pH hay sự xuất hiện của một số hợp chất hóa học, hay để theo dõi chức năng của các bộ phận trong cơ thể. Với các bệnh nhân ung thư, các bộ cảm biến được cấy gần khối u có thể giúp giám sát sự phát triển của các khối u này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cam là màu xanh mới: Vỏ cam đã làm sống lại một khu rừng ở Costa Rica như thế nào?      Vào giữa những năm 1990, 1.000 chuyến xe tải đổ hàng đống vỏ cam và bã cam xuống một cánh đồng cằn cỗi ở một công viên quốc gia ở Costa Rica. Ngày nay, đây là một khu vực được bao phủ bằng những cánh rừng ngập tràn cây cối tươi tốt.      12.000 tấn vỏ cam đã được chở đến và chôn lại vùng đất bạc màu ở Área de Conservación Guanacaste. Nguồn: zmescience  Một nhóm các nhà nghiên cứu ở trường đại học Princeton đã tìm hiểu vùng đất 16 năm trước, khi hàng đống vỏ cam được thả xuống. Họ tìm thấy lượng sinh khối trên mặt đất tăng 176% – hay chính là lượng gỗ trong những cây cối đó – bên trong ba hecta nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên tạp chí Restoration Ecology, “Low-Cost Agricultural Waste Accelerates Tropical Forest Regeneration” (Chất thải nông nghiệp chi phí thấp làm gia tốc sự tái sinh rừng nhiệt đới” 1.  Câu chuyện này, vốn liên quan đến một vụ kiện gây tranh cãi, cho thấy quyền lực độc nhất vô nhị của chất thải nông nghiệp không chỉ làm tái sinh một khu rừng mà còn làm cô lập một lượng đáng kể carbon mà lại không phải tốn tiền.  “Đây là một trong số những trường hợp tôi đã từng biết về nơi anh có thể cô lập carbon không chi phí”, Timothy Treuer, đồng tác giả chính của nghiên cứu và là một học viên của Khoa Sinh thái và Sinh học tiến hóa, trường đại học Princeton, nói. “Đây không chỉ là đồng chiến thắng cho cả công ty lẫn công viên quốc gia mà là chiến thắng của tất cả mọi người”.  Ý tưởng ban đầu đã được bắt nguồn từ một cặp nhà sinh thái học Daniel Janzen và Winnie Hallwachs ở trường đại học Pennsylvania, người còn đóng vai trò là các nhà tư vấn kỹ thuật trong nhiều năm cho Área de Conservación Guanacaste (ACG, Khu Bảo tồn Guanacaste) ở Costa Rica 2. Janzen và Hallwachs từng tốt nghiệp Princeton vào năm 1976, đã tập trung nửa sau sự nghiệp của mình vào việc bảo vệ tương lai của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang bị đe dọa.  Vào năm 1997, Janzen và Hallwachs đã trình bày một ý tưởng hấp dẫn với Del Oro, một nhà sản xuất nước cam đóng hộp mới bắt đầu sản xuất dọc theo biên giới khu bảo tồn Área de Conservación Guanacaste. Nếu Del Oro có thể tặng một phần đất rừng của mình vào khu bảo tồn, công ty có thể chôn phần chất thải vỏ cam của công ty trên vùng đất bạc màu bên trong công viên và để quá trình phân hủy sinh học này diễn ra mà không mất chi phí.  Nhưng một năm sau khi hợp đồng được ký kết – trong thời gian đó thì 12.000 tấn vỏ cam đã được chở đến và chôn lại vùng đất bạc màu – TicoFruit, một công ty đối thủ, đã khởi kiện và cho rằng công ty này đã “làm ô nhiễm một công viên quốc gia”. TicoFruit cuối cùng đã giành chiến thắng tại Tòa án tối cao Costa Rica, và vùng đất chôn vỏ cam đã bị bỏ quên tới 15 năm.  Vào mùa hè năm 2013, Treuer thảo luận về những địa điểm nghiên cứu tiềm năng với Janzen khi họ trao đỏi về địa điểm ở khu bảo tồn ở Costa Rica. Janzen cho rằng, dù các nhà phân loại (những nhà sinh học nghiên cứu về việc phân loại các sinh vật) đã tới khu vực này nhưng chưa ai thực sự làm về tiến hóa một cách tỉ mỉ. Vì vậy, trong một chuyến nghiên cứu khác tới Costa Rica, Treuer đã quyết định dừng lại để tìm hiểu cái gì đã làm thay đổi khu vực này trong vòng thập kỷ qua.    Sự biến đổi kỳ diệu của vùng đất có vỏ cam ở Área de Conservación Guanacaste. Nguồn: ĐH Princeton   “Ở đó ngập tràn cây cối và dây leo khiến tôi không thể nhìn rõ tấm biển dài hai mét với dòng chữ màu vàng tươi đánh dấu địa điểm cách đường một quãng”, Treuer nói. “Tôi biết là chúng tôi cần đến với việc đo đạc để định lượng chính xác cái gì đang diễn ra và để kiểm tra lại mọi thứ, vốn đã xuất hiện tại nơi này khiến người ta có thể nhận thấy sự khác biệt kinh ngạc giữa vùng đất màu mỡ và cằn cỗi”.  Treuer nghiên cứu về khu vực này cùng với Jonathan Choi, người mà hiện tại là một nhà nghiên cứu về sinh thái và sinh học tiến hóa tại Princeton. Choi tham gia dự án để thực hiện luận văn của mình.  “Địa điểm này ấn tượng hơn những gì tôi có thể hình dung,” Choi nói. “Sau khi đi qua vùng đất đá và đám cỏ tàn tạ ở vùng đồng cỏ gần đó, tôi đã phải leo qua đám cây bụi và tìm đường xuyên qua những ‘bức tường’ dây leo ở chính khu vực chôn vỏ cam.”  Nhóm nghiên cứu đã đánh giá hai tập hợp mẫu đất để xác định liệu đám vỏ cam có làm giàu dinh dưỡng cho đất không. Bộ mẫu đất đầu tiên đã được đồng tác giả Laura Shanks của trường Beloit  thu thập và phân tích trong năm 2000, bộ mẫu thứ hai do Choi thu thập vào năm 2014. Dữ liệu của Shanks chưa từng được công bố, vì vậy phân tích của cô đã được kết hợp với mẫu của Choi cho nghiên cứu này. Các mẫu đất đã được phân tích bằng các phương pháp khác nhau nhưng vẫn có thể so sánh được.  Để định lượng những thay đổi trong cấu trúc cây cỏ, các nhà nghiên cứu đã thiết lập nhiều đường cắt bên trong khu vực chôn chất thải vỏ cam. Những đường cắt này là những đường song song với khu vực và dài khoảng 100m, nơi những cây trong vòng ba mét đều được đo đạc và gắn thẻ. Việc này là để xem cây lớn nhanh như thế nào trên vùng đất chôn vỏ cam. Để so ánh, họ cũng thực hiện một đo đạc tương tự với vùng đất bên kia đường, nơi không hề có vỏ cam. Họ đã đo đạc đường kính thân cây và xác định tất cả các loài bên trong cả hai khu vực.  Những gì họ tìm được là sự khác biệt đáng ngạc nhiên giữa những khu vực được vỏ cam bao phủ và nơi không được hưởng chất màu mỡ đó. Khu vực chôn vỏ cam thực sự có đất đai màu mỡ, nhiều sinh khối của cây, độ phong phú của cây lớn hơn và độ khép tán của cây mạnh hơn.  “Vô cùng nhiều các vấn đề môi trường do các công ty tạo ra đang dần dẫn đến những điều mà mọi người cần hoặc mong muốn”, đồng tác giả David Wilcove, một giáo sư sinh thái học và sinh học tiến hóa, các vấn đề công cụ tại Viện nghiên cứu môi trường Princeton 3, nói. “Nhưng có thể làm giảm bớt rất nhiều vấn đề như vậy nếu lĩnh vực tư và cộng đồng môi trường cùng nhau hợp tác. Tôi tin tưởng nếu chúng ta tìm ra nhiều cơ hội hơn để tận dụng những loại ‘hàng tồn kho’ của ngành công nghiệp thực phẩm để mang tới cho các cánh rừng nhiệt đới. Đó là cách tái chế tốt nhất”.  Thêm vào cùng với Choi, Hallwachs, Janzen, Shanks, Treuer và Wilcove, các đồng tác giả khác còn có Andrew Dobson, một giáo sư sinh thái học và sinh học tiến hóa tại Princeton 4, và Daniel Perez Aviles, Jennifer Powers, và Leland K. Werden của Đại học Minnesota.  Nghiên cứu do Quỹ Walbridge của Viện nghiên cứu môi trường Princeton, Khoa Sinh thái học và Sinh học tiến hóa Princeton, Quỹ High Meadows, Hội làm vườn Mỹ và Área de Conservación Guanacaste tài trợ.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.princeton.edu/news/2017/08/22/orange-new-green-how-orange-peels-revived-costa-rican-forest  https://www.zmescience.com/science/orange-peels-save-forests/  ————————————  1. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/rec.12565  2. http://whc.unesco.org/en/list/928  3.https://spia.princeton.edu/faculty/dwilcove  4. https://dobber.princeton.edu/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm nhận vẻ đẹp toán học tương tự cảm nhận nghệ thuật      Không nhất thiết phải là nhà toán học, ngay cả người bình thường cũng có thể thấy được cái đẹp trong những chứng minh toán học phức tạp giống như cách họ thưởng thức một bức tranh phong cảnh đẹp hoặc một bản sonata.      Giữa toán học và âm nhạc có những điểm tương đồng.  Những tương đồng giữa toán học và âm nhạc đã được biết đến từ lâu, nhưng các đồng tác giả của nghiên cứu trên tạp chí Cognition là nhà toán học Stefan Steinerberger tại Đại học Yale và nhà tâm lý học Samuel G.B. Johnson tại Đại học Bath muốn so sánh nó với cả mỹ thuật, để xem liệu có thứ gì phổ quát trong cách con người đánh giá cái đẹp – dù là trong mỹ thuật, trong âm nhạc, hay trong toán học trừu tượng.   Ý tưởng thoạt tiên lóe lên khi Steinerberger, Đại học Yale, người sau đó là đồng tác giả nghiên cứu, trong một bài giảng đã chứng minh toán học với “một bản sonata piano Schubert cực hay”, nhưng không giải thích được tại sao. Do đó, ông tìm đến Johnson, giảng viên nghiên cứu thị trường tại Trường Quản lý thuộc Đại học Bath, khi đó đang hoàn thành luận án tiến sỹ tâm lý học tại Yale.  “Hóa ra sinh viên toán ở Yale chơi nhạc khá nhiều,” Steinerberger nói. “Sau đó có ba, bốn sinh viên lên hỏi tôi ‘vậy so sánh chứng minh toán học với âm nhạc của Schubert như thế nào?’, và tôi nhận ra rằng chính tôi cũng không hiểu mình muốn nói gì, có điều nghe nó có vẻ đúng. Thế là tôi viết email hỏi khoa Tâm lý học.”  Giáo sư tâm lý học Woo-Kyoung Ahn trả lời email, và sau khi thảo luận thêm, bà giới thiệu Steinerberger đến một nghiên cứu sinh tâm lý học mà bà cho là sẽ hợp với ông.  Đồng tác giả Samuel G.B. Johnson, hiện là giảng viên nghiên cứu thị trường tại Trường Quản lý thuộc Đại học Bath, là nghiên cứu sinh tiến sỹ ngành tâm lý học tại Đại học Yale khi ông lần đầu tiếp xúc với Steinerberger. Johnson nghiên cứu về sự lập luận và ra quyết định. “Một phần lớn công việc của tôi là tìm hiểu cách người ta đánh giá các cách giải thích và lập luận khác nhau về mọi thứ,” ông giải thích.  Steinerberger kể rằng Johnson ngay lập tức nghĩ ra cách thiết kế một thí nghiệm để kiểm nghiệm câu hỏi của ông, rằng liệu chúng ta có cùng những cảm nhận thẩm mỹ về toán học như với các hình thức khác, tức là nghệ thuật và âm nhạc, và liệu điều đó có đúng với một người bình thường, không phải một người làm toán chuyên nghiệp như ông.  “Dù tôi chỉ có vài ý tưởng mơ hồ nhưng Sam lập tức hiểu ngay vấn đề,” Steinerberger nói. “Chúng tôi đúng là một cặp trời sinh.”  Để nghiên cứu, họ chọn bốn chứng minh toán học – một chứng minh toán học là một lập luận để thuyết phục rằng một điều gì đó là đúng, bốn bức tranh phong cảnh, và bốn bản sonata dành cho piano. Theo Johnson, vì những sự tương đồng giữa toán học và âm nhạc đã được biết đến từ lâu, họ muốn dùng thêm một hình thức khác, ở đây là mỹ thuật, trong thử nghiệm, để xem có điều gì phổ quát hơn hay không trong cách chúng ta đánh giá cái đẹp.  Các chứng minh được họ sử dụng là: tổng của một cấp số nhân vô hạn, phép tính tổng nhanh của Gauss, nguyên lý chuồng bồ câu (còn gọi là nguyên lý Dirichlet, hay nguyên lý ngăn kéo), và một chứng minh hình học của một trong các công thức Faulhaber.   Các tác phẩm âm nhạc là bản số 4 trong sáu bản Moments musicaux, D. 780 (Op. 94) của Schubert, khúc Fugue trong Toccata in E Minor (BWV 914) của Bach, biến tấu Diabelli Variations (Op. 120) của Beethoven và bản Prelude in D-flat major (Op.87 No. 15) của Shostakovich.  Các bức tranh là Looking Down Yosemite Valley, California (Nhìn xuống thung lũng Yosemite, California), A Storm in the Rocky Mountains, Mt. Rosalie [Cơn dông trên dãy Rocky, Mt. Rosalie] của Albert Bierstadt, The Hay Wain (Cỗ xe) của John Constable và The Heart of the Andes (Trung tâm dãy Andes) của Frederic Edwin Church.  Johnson chia nghiên cứu làm ba phần. Trong phần thứ nhất, một nhóm được yêu cầu ghép mỗi chứng minh toán học với một bức tranh phong cảnh mà họ thấy là giống nhất về mặt thẩm mỹ. Trong phần thứ hai, một nhóm khác so sánh bốn chứng minh toán học với bốn bản piano, hệt như cách Steinerberger ví một chứng minh với một “bản sonata hay của Schubert.”  Cuối cùng, phần thứ ba yêu cầu một nhóm nữa chấm điểm mỗi bức tranh và mỗi chứng minh theo chín tiêu chuẩn khác nhau: tính nghiêm túc, tính phổ quát, chiều sâu, tính mới, tính trong sáng, tính đơn giản, tính thanh thoát, tính phức tạp, và tính tinh vi trên thang điểm từ 0 đến 10, chín điểm cho chín tiêu chuẩn khác nhau và một điểm cho cái đẹp toàn diện. Các tiêu chuẩn này được họ lấy từ “A Mathematician’s Apology” [Lời biện minh của một nhà toán học], bài viết từ năm 1940 của nhà toán học nổi tiếng G.H. Hardy về cái đẹp trong toán học.   Các thành viên của nhóm thứ ba đồng tình về mức độ thanh thoát, sâu sắc, trong sáng, v.v. của mỗi chứng minh toán học và mỗi bức tranh. Khi phân tích các điểm số trong phần thứ ba, Steinerberger và Johnson nhận thấy đối với cả các tác phẩm và các chứng minh toán học, điểm “thanh thoát” cao thường đi kèm điểm đẹp toàn diện cao. Khi nhận được kết quả, Steinerberger và Johnson đều ngạc nhiên nhưng hài lòng. Họ có thể dùng điểm số tương đồng của nhóm thứ ba để dự đoán kết quả của nhóm thứ nhất: những người tham gia trong nhóm thứ ba đồng tình rằng chứng minh nào là thanh thoát và bức tranh nào là thanh thoát, trong khi những người tham gia nhóm thứ nhất có xu hướng ghép chứng minh thanh thoát nhất theo nhóm thứ ba với bức tranh thanh thoát nhất theo nhóm thứ ba.  Người ta có thể thấy sự tương ứng và đồng thuận giữa toán học và mỹ thuật thực sự liên quan đến vẻ đẹp nội tại của chúng. Và có một chút đồng thuận trong việc đánh giá sự giống nhau giữa các tác phẩm âm nhạc cổ điển và toán học. “Người ngoại đạo không chỉ có trực giác về vẻ đẹp của toán học tương tự như trực giác về vẻ đẹp của nghệ thuật, mà còn có trực giác tương tự lẫn nhau về cái đẹp. Nói cách khác, có sự đồng tình về thứ tạo nên vẻ đẹp, bất kể phương thức thể hiện,” Johnson nói. Khó có thể cho là tình cờ khi 300 người đồng tình về “cách” đẹp cụ thể của bốn chứng minh khác nhau.  Tuy nhiên, không rõ nếu thay đổi loại nhạc thì kết quả có giữ nguyên hay không.    Những hiểu biết mới về vẻ đẹp của toán học có thể gián tiếp ảnh hưởng đến việc dạy toán trong trường phổ thông.   Do đó, Steinerberger cho rằng, “chúng tôi muốn lặp lại nghiên cứu với những bản nhạc, những chứng minh, những tác phẩm nghệ thuật khác. Chúng tôi chỉ ra hiện tượng này, nhưng không biết giới hạn của nó. Đến chừng mực nào thì nó không còn tồn tại? Có cần phải là nhạc cổ điển? Có cần phải là tranh về thiên nhiên, vốn đã rất đẹp?”  Dù tự nhận không phải là những nhà nghiên cứu giáo dục, cả Steinerberger lẫn Johnson đều nhận thấy nghiên cứu này có thể gián tiếp ảnh hưởng đến việc dạy toán, đặc biệt ở bậc trung học. “Biết đâu có cơ hội để khiến những khía cạnh trừu tượng nhất, hình thức nhất của toán học trở nên dễ tiếp cận và gây hứng thú hơn đối với học sinh ở tuổi đó,” Johnson nói. “Và điều đó có thể có ích trong việc khuyến khích thêm nhiều người bước chân vào toán học.”  “Tôi nghĩ rằng nếu hiểu được mọi người thấy cái gì trong toán là đẹp, chúng ta có thể thấu hiểu cách người ta hiểu toán và làm toán,” Steinerberger bổ sung. “Và còn cả hàm ý nhân bản của câu hỏi: Con người chúng ta thực sự suy nghĩ về mọi thứ như thế nào? Tôi nghĩ chắc chắn phải hợp tác với các nhà tâm lý học về vấn đề này.” □  Nguyễn Hoàng Thạch tổng hợp  Nguồn:   Samuel G.B. Johnson et al., Intuitions about mathematical beauty: A case study in the aesthetic experience of ideas, Cognition, 2019. (DOI: http://dx.doi.org/10.1016/j.cognition.2019.04.008)  https://phys.org/news/2019-09-people-beauty-complex-mathematics.html  https://medicalxpress.com/news/2019-08-math-art-beautiful.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấm thuốc trừ cỏ Glyphosat sẽ gây xáo trộn nông nghiệp châu Âu      So với tất cả các loại hóa chất trừ cỏ dại khác thì Glyphosat là loại thuốc trừ cỏ được dùng phổ biến nhất, tuy nhiên tới đây EU có thể ra lệnh cấm dùng loại thuốc trừ cỏ này. Nếu lệnh cấm có hiệu lực thì có thể gây xáo trộn đối với ngành nông nghiệp Đức.    Cánh đồng cải dầu, 90% diện tích cải dầu ở Đức được phun thuốc diệt cỏ Glyphosat  Heinrich-Wyrich Adolphi lái chiếc xe nhỏ xuyên cánh đồng rồi  dừng xe ngay giữa ruộng và nói: “trên cánh đồng của chúng tôi cỏ băng  là đáng sợ nhất, và đây là khu vực nghiêm trọng nhất!”. Từ trong lòng đất nhô lên những chồi lá xanh biếc, dầy đặc và cao chừng vài xăngtimets.  Adolphi ngồi xổm, nhổ một ngọn cỏ và cả bộ rễ dài tới 40 centimet. Cỏ băng phát triển rất nhanh, chỉ vài tháng đã cao như các loại ngũ cốc trồng ở đây, nếu Adolphi dùng máy để cắt cỏ thì tình trạng sẽ tồi tệ hơn vì những đoạn rễ bị đứt nhanh chóng phát triển thành một cây cỏ mới. Chỉ có thuốc trừ cỏ Glyphosat là có thể diệt loại cỏ này một cách triệt để nhất.   Dẫu chẳng thích thú gì khi phải dùng hóa chất để diệt cỏ nhưng với Adolphi, Glyphosat thực sự là một loại thuốc trừ cỏ chuyên biệt không thể thiếu vì hiện không có loại hóa chất nào diệt cỏ băng hiệu quả như thuốc trừ cỏ này.   Cuộc tranh luận chưa ngã ngũ  Ngay trong nội bộ các chính phủ châu Âu và Đức, cuộc tranh cãi về thuốc trừ cỏ Glyphosat cũng chưa ngã ngũ. Văn phòng chính phủ Đức hy vọng sẽ có được tiếng nói chung về vấn đề này trong những ngày tới. Giữa tuần tới, EU cũng sẽ đưa ra quyết định có gia hạn sử dụng thuốc trừ cỏ Glyphosat hay không.  Nếu Glyphosat không được gia hạn sử dụng, nông dân buộc phải tìm cách khác để diệt cỏ dại, các tập đoàn hóa chất phải tìm những lĩnh vực kinh doanh mới, còn các công ty chế tạo máy nông nghiệp thì hy vọng có được những nguồn thu mới to lớn hơn.  Sở dĩ đây là vấn đề được tranh luận mạnh mẽ vì Glyphosat có một vị trí đặc biệt trên thị trường và hiếm có sản phẩm nào lại có được vị trí như loại hóa chất này. Một phần ba diện tích đất trồng trọt ở Đức và rất nhiều diện tích đất công cộng được xử lý bằng loại thuốc trừ cỏ này. Glyphosat là loại thuốc diệt cỏ duy nhất có khả năng diệt cỏ dại khi chúng đã ra lá non trong khi hạt giống cây trồng còn nằm trong lòng đất. Tập đoàn Monsanto, đứng đầu thị trường, kinh doanh thuốc trừ cỏ này và hiện có trên 90 doanh nghiệp công nghiệp hóa chất sản xuất hóa chất diệt cỏ này.  Năm 1973, Monsanto đã phát minh ra Glyphosat và ngay từ đầu thu được kết quả to lớn, hóa chất này có giá rẻ bất ngờ và hiệu quả hơn tất cả các loại thuốc trừ cỏ khác, hơn nữa hóa chất này phân hủy nhanh và không nguy hại đối với nước ngầm so với các loại hóa chất trừ cỏ khác . Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi EU tỏ ra lưỡng lự trong việc phải ra quyết định đối với hóa chất này. Giấy phép cho Glyphosat được lưu hành đến tháng sáu này là hết hạn. Nếu EU không có quyết định gì thì kỷ nguyên Glyphosat sẽ đi đến hồi kết.  Hiện có hai quan điểm trái ngược nhau về việc có gia hạn sử dụng Glyphosat hay không. Nhóm hóa học là nhóm tán thành tiếp tục sử dụng Glyphosat, nhóm này gồm ngành công nghiệp hóa chất và ngành nông nghiệp. Nhóm Hóa học cho rằng các giải pháp thay thế Glyphosat đều lợi bất cập hại. Giới nông nghiệp thì cho rằng không thể không dùng thuốc trừ cỏ Glyphosat. Nhóm một số tổ chức phi chính phủ cho rằng loại thuốc trừ cỏ này có nhiều tác động phụ có hại đối với sức khỏe. Tổ chức Y tế thế giới cho rằng: Glyphosat “có thể gây ung thư“. Ngược lại Viện Đánh giá rủi ro liên bang Đức và Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu lại cho rằng: chưa có bằng chứng Glyphosat “gây ung thư hay không”. Chính do sự khác biệt về đánh giá này nên câu hỏi thực sự hóc búa  được nêu lên là: Cái giá mà các ngành công nghiệp, nông nghiệp và người tiêu dùng phải trả là bao nhiêu một khi cấm sử dụng thuốc trừ cỏ Glyphosat ?   Ngành đường sắt cần Glyphosat  Felix Gerhardt, người quản lý hệ thống đường sắt của Đức với tổng chiều dài là 33.500km nói “Glyphosat có vai trò quyết định đối với an toàn trong giao thông đường sắt”. Ngành đường sắt tiêu thụ mỗi năm 75 tấn Glyphosat, tương đương 0,4 % tổng lượng thuốc trừ cỏ này tiêu thụ ở Đức và là đơn vị tiêu thụ Glyphosat lớn nhất nước Đức.  Ngành này dùng Glyphosat để diệt cỏ dại cho toàn bộ tuyến đường sắt ở Đức.   Theo Gerhardt thì ngành đường sắt Đức có ba giải pháp thay thế hóa chất này. Giải pháp thứ nhất là phun lửa. Ngành nông nghiệp cũng có thể áp dụng biện pháp này tuy nhiên tác động phụ của giải pháp này là làm mất cân bằng sinh thái. Hơn nữa ngọn lửa không diệt được rễ cỏ dại có nghĩa là sau một thời gian lại phải phun lửa và cân bằng sinh thái lại bị hủy hoại hơn nữa. Giải pháp thứ hai là thường xuyên tiến hành tổng vệ sinh tuyến đường, trước đấy thường cứ sau 25 năm tiến hành tổng vệ sinh triệt để một lần; nay có thể rút ngắn sau mười hoặc 15 năm, điều này làm cho thời gian chạy tầu bị gián đoạn, chi phí tăng làm giá vé tăng theo. Giải pháp thứ ba là dùng một loại hóa chất trừ cỏ khác để thay thế: điều này có nghĩa là chúng ta thay thế một loại thuốc trừ cỏ đã được khảo sát, nghiên cứu kỹ càng bằng một loại thuốc trừ cỏ mới chưa được khảo sát kỹ do đó có thể có nhiều tác động phụ tồi tệ hơn.   Đối với ngành nông nghiệp truyền thống thì thuốc trừ cỏ Glyphosat là một trong những vật tư nông nghiệp không thể thiếu, 90% diện tích cải dầu được trừ cỏ bằng Glyphosat, hai phần ba diện tích đại mạch. Năm vừa qua nước Đức phun 5,5 triệu tấn Glyphosat – nhiều hơn tất cả các loại thuốc trừ cỏ khác cộng lại.   Giá lương thực sẽ tăng lên nếu cấm Glyphosat?  Glyphosat diệt cỏ hữu hiệu và giúp tăng năng xuất nông nghiệp. Câu chuyện thành công của Glyphosat gắn liền với việc tăng thu nhập cho người nông dân. Mới đây các nhà khoa học ở Viện  Julius-Kühn đã nghiên cứu về hệ quả của việc cấm dùng hóa chất Glyphosat và đưa ra tính toán là: khi cấm dùng Glyphosat, chi phí sản xuất nông nghiệp sẽ tăng lên, ví dụ ở lúa mì là 17% vì diệt cỏ dại bằng biện pháp cơ giới tốn kém hơn nhiều so với dùng thuốc trừ cỏ.  Do thành công vang dội của Glyphosat và Monsato nên cho đến nay, hầu hết các tập đoàn hóa chất không có hứng thú với việc tiếp tục nghiên cứu để phát hiện các loại thuốc trừ cỏ mới. Theo dự đoán của nhà nghiên cứu Stübler ở đại học Frankfurt, đến năm 2020 sẽ không có bản quyền sáng chế phát minh nào có thể cạnh tranh được với Glyphosat. Hiện tại trên thế giới chỉ còn hai tập đoàn công nghiệp hóa chất là Bayer và Syngenta còn quan tâm đáng kể đến việc nghiên cứu về thuốc trừ cỏ và chỉ có một loại thuốc trừ cỏ duy nhất có thể thay thế Glyphosat là “Liberty” của hãng Bayer, hoạt chất của nó là Glufosinate-Ammonium – được lưu hành từ năm 1982. Nhưng do thành công vang dội của Glyphosat, bản thân Bayer đã lãng quên sản phẩm Glufosinate-Ammonium của mình. Vài năm gần đây khi ở Mỹ người ta phát hiện có một số loại  dại có khả năng đề kháng với Glyphosat thì Bayer mới nghĩ đến sản phẩm Liberty của mình. Tuy nhiên giá thành sản xuất loại thuốc trừ cỏ này khá cao và việc sử dụng cũng có phần phức tạp so với Glyphosat. Ngoài ra hoạt chất Glufosinat có nhược điểm không chịu được lạnh, do đó không có hiệu quả khi sử dụng ở Đức cũng như ở nhiều nước châu Âu khác. Vì vậy một khi Glyphosat bị cấm thì nông dân ở châu Âu chỉ còn cách tăng cường diệt cỏ dại bằng các biện pháp cơ giới.   Nếu lệnh cấm đối với Glyphosat được ban hành thì chi phí sản xuất trong nông nghiệp sẽ tăng lên, đòi hỏi đầu tư trong nông nghiệp phải lớn hơn trong khi nền nông nghiệp ở châu Âu đang đứng trước nhiều khó khăn to lớn. Vì các lý do trên Ban Bảo vệ thực vật thuộc Hiệp hội nông nghiệp Đức  (DLG) đề nghị một biện pháp dung hòa, nghĩa là  Glyphosat thực sự quan trọng  trong một số lĩnh vực và không thể thay thế, những trường hợp đó nên cho phép các trang trại được sử dụng loại thuốc trừ cỏ này. Nơi nào có các biện pháp thay thế được thì không được sử dụng Glyphosat nữa. Gần như tất cả các loại cây trồng biến đổi gien hiện nay như ngô, đậu tương, bông vải hay cải dầu đều có gien kháng loại hóa chất này. Có nghĩa là người nông dân có thể phun loại thuốc trừ cỏ này để diệt các loại cỏ dại mà không sợ gây tổn hại đối với cây trồng. Đây cũng là lý do vì sao các tập đoàn như Monsanto, Syngenta, Dow hay Bayer kiên quyết ủng hộ loại thuốc diệt cỏ này  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Camera giám sát giúp tài xế lái xe an toàn hơn      Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Accident Analysis and Prevention cho thấy, kể từ khi những chiếc camera giám sát hành vi được lắp đặt trong buồng lái, các tài xế xe tải hạng nặng đã lái xe an toàn hơn rất nhiều.    Khi tiến hành thu thập và phân tích các dữ liệu trước và sau khi lắp đặt những chiếc camera bên trong các xe tải hạng nặng (HGV), các nhà khoa học máy tính và tâm lý học giao thông từ ĐH Nottingham đã phát hiện ra, sự có mặt của những chiếc camera giám sát đã giúp giảm đáng kể các hành vi lái xe nguy hiểm, và điều này càng có hiệu quả hơn khi kết hợp cùng hoạt động tập huấn.  Các lỗi lái xe và vi phạm giao thông là những yếu tố hàng đầu quyết định độ an toàn trong giao thông đường bộ. Bởi vậy, nghiên cứu này đã làm nổi bật tầm quan trọng của những hiểu biết về các tác động của hành vi lái xe mạo hiểm, cũng như mức độ ảnh hưởng của các công nghệ giám sát tài xế trong việc cải thiện các hành vi lái xe.  Các nhà nghiên cứu đã phân tích tập dữ liệu lớn nhất từng được thực hiện cho những nghiên cứu dạng này, bao gồm thông tin về 669 chiếc xe tải hạng nặng, được thu thập từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2019 – quãng thời gian dài nhất từng được khảo sát. Trong đó, họ đã phân tích ba sự cố quan trọng ảnh hưởng đến độ an toàn, bao gồm việc: phanh gấp, vào cua gấp và chạy quá tốc độ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích các dữ liệu khi việc gắn camera được kết hợp cùng các hoạt động tập huấn hoặc không.  Kết quả chỉ ra, việc giám sát và tập huấn cho các tài xế về những nguy cơ và hậu quả của những thói quen điều khiển phương tiện giao thông đã đem lại những tác động lớn hơn rất nhiều trong việc giảm thiểu các lỗi lái xe, cụ thể: tình trạng phanh gấp giảm 16%, vượt quá tốc độ giảm 34%, và cua gấp giảm 31%. Nếu không được kết hợp cùng hoạt động tập huấn, những con số này sẽ giảm xuống 4%, 28% và -13%.  Thời tiết và những thay đổi theo mùa có thể làm ảnh hưởng đến hành vi lái xe nguy hiểm của các xe tải hạng nặng, khi các sự cố lái xe xảy ra nhiều nhất vào mùa xuân và mùa hè. Nguyên nhân có thể là vì đây là thời điểm mà phần lớn các gia đình sẽ đi chơi, do đó các tuyến đường cũng trở nên nhộn nhịp và đông đúc hơn.  Jimiama Mosima Mafeni Mase, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Đào tạo Tiến sĩ Horizon tại Đại học Nottingham, người thực hiện nghiên cứu này dưới sự hỗ trợ của tiến sỹ Grazziela Figueredo, tiến sỹ Peter Chapman và tiến sỹ Mercedes Torres Torres, cho biết: “Các tài xế nhận thức được mình đang bị giám sát, đặc biệt là khi có camera, họ trở nên tỉnh táo hơn và thay đổi các hành vi lái xe của mình. Do những chiếc camera này có giá thành phù hợp nên chính phủ cũng có thể thi hành chính sách cho phép tất cả các công ty xe tải hạng nặng lắp đặt camera vì mục đích an toàn. Chúng tôi hiểu được những lo ngại về tính riêng tư khi các video của các tài xế bị thu thập và lưu trữ, tuy nhiên, các chuyên gia trong lĩnh vực quyền riêng tư dữ liệu có thể hướng dẫn cho các nhà hoạch định trong việc thực hiện hiệu quả những chính sách này. Không chỉ vậy, những người làm chính sách cũng có thể đưa ra các biện pháp khuyến khích hoạt động tập huấn thường xuyên bằng cách sử dụng các video thu thập được trong suốt quá trình giám sát, bởi hoạt động này đã cho thấy những hiệu quả đáng kể trong việc cải thiện khả năng lái xe của họ”.  “Theo quan sát của chúng tôi, những vi phạm giao thông như vượt quá tốc độ rất khó để camera theo dõi được và có thể cần đến nhiều biện pháp khác để tìm ra được nguyên nhân. Do vậy, cần có nhiều hơn các nghiên cứu đa ngành và hợp tác giữa các nhà khoa học máy tính, các nhà tâm lý học và các chuyên gia về nhân tố con người để phát triển các hệ thống hỗ trợ tài xế tiên tiến, có khả năng kết hợp nhiều loại thông tin như các yếu tố bên ngoài với trạng thái tâm lý của người lái xe, để phát hiện chính xác nguyên nhân của các sự cố và những hành vi lái xe nguy hiểm”.□   Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-09-camera-significantly-driver-safety.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Camera thông minh có thể nhận biết hành vi      Bạn có thực sự hứng thú với việc đi mua sắm? Giờ đây hệ thống camera  giám sát thông minh sẽ sớm đưa ra câu trả lời dựa trên việc theo dõi và  phân tích hành vi mua sắm của bạn.    Mirela Popa ở Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan cùng các đồng nghiệp đang phát triển một phần mềm tự động phân tích hành vi của người mua hàng. Ví dụ, phần mềm có thể cho ta biết khách hàng nào đang loanh quanh tìm kiếm một món đồ hay đi thẳng tới sản phẩm cần mua. Khi một khách hàng có vẻ cần sự hỗ trợ, một nhân viên sẽ đến hướng dẫn cho họ. Popa cho biết, phần mềm này có thể giúp khách hàng và gia tăng lợi nhuận cho các nhà bán lẻ, cô hi vọng công nghệ này sẽ giúp cải thiện dịch vụ chăm sóc khách hàng cải thiện tốt hơn. “Điều này thực sự hữu ích trong việc nhận biết khi nào khách hàng cần sự giúp đỡ, đặc biệt là trong một cửa hàng đông đúc và bận rộn”,  Popa nói.  Bằng việc lắp đặt các camera bổ sung, hệ thống của Popa có thể xây dựng hình ảnh chi tiết về việc người mua hàng tương tác với một sản phẩm bất kỳ như thế nào và cung cấp các thông tin phản hồi ngay lập tức cho người bán hàng.     Công nghệ này dựa trên các thuật toán phát hiện chuyển động, sau đó dựa trên những gì đã quan sát, nó có thể dự đoán hành vi tiếp theo của khách hàng, Popa cho biết.     Nhóm nghiên cứu cho biết tính chính xác trong phân loại hành vi khách hàng của phần mềm này là 85%. Nhóm cũng giới thiệu phiên bản mới nhất của công trình tại Hội nghị quốc tế về xử lý hình ảnh ở Orlando, Florida trong tháng 10.    Hoàng Nhu lược dịch    Nguồn: http://www.newscientist.com/article/mg21628875.200-smart-cctv-knows-when-you-need-shopping-advice.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chính sách đạo đức khoa học mạnh hơn cho các nghiên cứu của Liên hiệp Châu Âu      Nghiên cứu vừa công bố trên tạp chí Science cho thấy các chính sách “nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm” trong chương trình Chân trời 2020 (Horizon 2020) thường ít có tác động với chính trị và xã hội. Điều này cho thấy, muốn tạo ra sự thay đổi nào đó, khoa học cần có những quan tâm thực sự đến xã hội hơn.    Có rất nhiều ví dụ cho những đột phá khoa học với ý định tốt nhưng bị đem sử dụng cho mục đích xấu. Khi những đổi mới sáng tạo (ĐMST) của chúng ta vừa có sức mạnh ngày càng lớn lại vừa có đầy những vấn đề đạo đức còn chưa biết tới thì chúng ta không thể xem nhẹ hoặc bỏ mặc ảnh hưởng của chúng đối với xã hội, môi trường, và thậm chí đối với cả ý nghĩa của chuyện làm người.    Việc triển khai các liệu pháp dựa trên kỹ thuật biến đổi di truyền cũng phải tính đến khả năng chấp nhận và những hệ quả lâu dài đối với môi trường và xã hội  Do đó, trong nhiều năm qua, Uỷ ban Châu Âu (EC) đã yêu cầu những người được nhận kinh phí nghiên cứu phải tính đến ảnh hưởng xã hội từ công việc của mình – một sáng kiến trong chương trình Chân Trời 2020 (Horizon 2020)1 mà EC gọi là “nghiên cứu và ĐMST có trách nhiệm” (RRI: responsible research and innovation). Ý định thì tốt, nhưng nghiên cứu của chúng tôi công bố trên tạp chí Science2 cho thấy vẫn việc thực thi vẫn còn thiếu. Đang chuẩn bị cho chương trình nghiên cứu lớn Chân Trời Châu Âu (Horizon Europe) sắp tới, đây là lúc EC cần tư duy lại chiến lược của mình.  “Nghiên cứu và ĐMST có trách nhiệm” là gì?  Các mục tiêu này của EC có một lịch sử đáng chú ý. Năm 2014, tại một hội nghị do Italia – nước lúc đó đang là Chủ tịch Liên hiệp Châu Âu (EU) – tổ chức, Tuyên bố Roma đã được thảo ra để thúc đẩy việc tích hợp quyền con người và các giá trị xã hội vào các quyết định về nghiên cứu và ĐMST của Châu Âu. Các quyền và nguyên tắc này gồm có tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền cũng như những vấn đề khác đã được xác định trong Hiệp ước Lisboa và Hiến chương EU về những quyền cơ bản. Tuyên bố Roma nói rằng những thành tựu xuất sắc trong khoa học cùng những ĐMST bền vững và như kỳ vọng chỉ có thể đạt được khi được xã hội ủng hộ, chấp nhận. Nhưng ngày nay, ta đang thấy hiện tượng rất nhiều thành phần chủ đạo trong xã hội đang rời xa hay mất lòng tin vào khoa học, những người làm khoa học, cũng như chính quyền và những người làm chính sách. Vậy làm cách nào ta có thể đảo ngược xu hướng này để cải thiện không chỉ quan hệ của xã hội với khoa học và còn cả quan hệ của khoa học với xã hội?  Chính sách Nghiên cứu và ĐMST có trách nhiệm (RRI) là một trong những khuôn khổ EC tạo ra để đạt mục tiêu trên. Khuôn khổ này đề ra 6 vấn đề chủ chốt và những người được nhận kinh phí từ chương trình Chân Trời 2020 phải xem xét khi tiến hành nghiên cứu: giao thiệp với công chúng (public engagement), bình đẳng giới (gender quality), giáo dục khoa học và hiểu biết khoa học cơ bản (science education and science literacy), truy cập mở (open access), đạo đức (ethics), và quản trị (governance).  Những lỗ hổng trong cách thực thi của EU?  Vậy chính sách này hiệu quả đến đâu? Liệu nó đã được những người nhận kinh phí nghiên cứu biến thành hành động chưa? Để trả lời những câu hỏi này, nhóm chúng tôi (nhờ một đề tài do Chân Trời 2020 cấp kinh phí) đã kiểm tra hàng trăm tài liệu của EC, phỏng vấn 257 người được nhận kinh phí làm đề tài khoa học, và dùng các thuật toán (algorithm) ngôn ngữ tự nhiên để phân tích các mục tiêu đề ra cho 6 năm của các đề tài do Chân Trời 2020 cấp kinh phí – tổng cộng là 13.644 đề tài.  Chúng tôi nhận thấy rằng tuy các giá trị xã hội và đạo đức được tích hợp khá tốt vào các chính sách ở mức tuyên bố và chiến lược, nhưng chúng lại được thể hiện kém hơn ở mức độ thực thi, chẳng hạn như trong các đợt nhận đăng ký và xét duyệt đề tài. Kết quả không có gì đáng ngạc nhiên là các giá trị xã hội và đạo đức hầu như chỉ được thực hiện hời hợt ở các đề tài nghiên cứu thực tế do những người làm nghiên cứu tiến hành, thể hiện qua việc chúng gần như không được ghi vào mục tiêu đề tài.    Biểu đồ giới hạn của “nghiên cứu có trách nhiệm” trong chương trình Chân Trời 2020: Novitzky và cộng sự biểu thị 6 mục tiêu chủ chốt (trái) và 3 mục tiêu “mở” (phải) mà EC đề ra cũng như mức độ từng mục tiêu này được các đề tài cụ thể của Chân Trời 2020 nhắc đến – từ hời hợt (màu đỏ) cho đến cao (màu xanh). Xem thêm số liệu cụ thể tại: https://doi.org/10.1126/science.abb3415.    Kết quả cho thấy một trong những nguyên nhân là những người làm nghiên cứu không hiểu rõ khái niệm “RRI”, và nếu có nhắc đến cụm từ này thì họ cũng dùng nó như một lối biểu đạt vô nghĩa. Sự hiểu biết không rõ ràng này không chỉ dẫn đến nhận thức và đào tạo thiếu đầy đủ và còn khiến khuôn khổ RRI tiếp tục biến đổi – nó trở thành một khái niệm động, tối nghĩa, khó hiểu và khó thực hiện. Đồng thời, khuôn khổ RRI còn phải cạnh tranh với các mục tiêu khác của EC trong chương trình Chân trời 2020, tức là: nghiên cứu phải xuất sắc, có ảnh hưởng đến xã hội, và có giá trị kinh tế. Các chương trình mục tiêu này đưa đến việc thiếu quyết đoán và thoả hiệp, và hệ quả là không thể tích hợp nhất quán các giá trị xã hội vào các chương trình hành động và đề tài nghiên cứu của Chân trời 2020.  Như chúng tôi đã nói trong công bố trên Science: “Tuy những kết quả này không có ý nói rằng những người làm nghiên cứu là vô trách nhiệm, nhưng chúng đưa ra những câu hỏi về mức độ thành công từ cách tiếp cận của EC nhằm đưa các mục tiêu quy chuẩn trách nhiệm vào nghiên cứu và ĐMST”.  Đề xuất thực tế  Kết quả kém trong triển khai chính sách vào thực tế này làm nổi bật nhu cầu nâng cao mức độ liên kết giữa hai giai đoạn trên. Để thực hiện được việc này, ta phải đảm bảo rằng những giá trị xã hội và đạo đức phải được thể hiện rõ là được tích hợp đầy đủ – đây được coi là một yêu cầu bắt buộc (quy chuẩn) để được nhận kinh phí nghiên cứu và để tuân thủ chính sách quản trị của bên cấp kinh phí nghiên cứu. Ngoài ra, ta phải phát triển các công cụ dài hạn để xây dựng hiểu biết và nhận thức chung về tầm quan trọng của RRI cho tất cả những đối tượng có liên quan bao gồm các nhà khoa học và tất cả các thành viên xã hội. RRI phải dịch chuyển từ vị trí là một “vấn đề xuyên suốt” (cross-cutting issue) như cách gọi của EC hiện nay thành một “mối quan tâm chiến lược” (strategic concern) trong việc đề ra và thực thi chính sách. Cách làm này sẽ chỉ đạo tốt hơn việc điều phối đề ra ưu tiên và phân bổ kinh phí cùng các nguồn lực khác cho các đề tài nghiên cứu và ĐMST có trách nhiệm trong thực tiễn lẫn lý thuyết.  Cần phải có các chuyên gia đa ngành, những người có hiểu biết đặc biệt về quan hệ giữa khoa học và xã hội, để quyết tâm thực hiện việc tích hợp và thực hành các giá trị xã hội và đạo đức về mọi mặt của chương trình Chân trời Châu Âu. Việc áp dụng toàn diện ở mọi cấp độ như thế sẽ cải thiện mức độ tin cậy và hiểu biết về nghiên cứu và ĐMST trong mọi thành phần xã hội.  Nếu ta chỉ học được một bài học từ các hệ quả ở Châu Âu của đại dịch COVID-19 thì đó phải là không có “mẹo nhanh công nghệ” nào xử lý được những thử thách xã hội lớn mà có thể bỏ qua các giá trị xã hội. Để đưa giải pháp của mình vào thực tế thành công, những người làm nghiên cứu, giới doanh nghiệp, và những người làm chính sách không thể nào chỉ phát triển rồi triển khai công nghệ ĐMST mà không tính đến các giá trị xã hội, khả năng chấp nhận và những hệ quả lâu dài đối với môi trường và xã hội. Câu chuyện này không chỉ xảy ra cho các ứng dụng di động (app) theo dõi giãn cách xã hội, mà còn cho cả những giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI), các liệu pháp dựa trên kỹ thuật biến đổi di truyền, công nghệ nano, và các công nghệ mới thường có tác động đột phá thay đổi hành vi.  Khế ước xã hội với khoa học bị xói mòn sẽ làm giới hạn khả năng các xã hội dân chủ khắp thế giới ứng phó với những thách thức tương lai. Một sự tích hợp và điều chỉnh mạnh mẽ chính sách nghiên cứu và ĐMST để kết hợp các giá trị xã hội sẽ khẳng định vai trò toàn cầu của Châu Âu trong phát triển khoa học, ĐMST với mục tiêu được chấp nhận về mặt đạo đức và có trách nhiệm về mặt xã hội.  Tóm lại, chúng ta cần tích hợp và thực thi tốt hơn các giá trị xã hội và đạo đức trong những đề tài nghiên cứu và ĐMST cụ thể để đảm bảo xây dựng lòng tin lẫn nhau giữa khoa học và xã hội.  Để được như vậy, ở mức độ chính sách, chúng ta cần: (1) Đầu tư dài hạn cho khả năng chấp nhận trách nhiệm xã hội của những đối tượng liên quan; (2) Coi giá trị xã hội và đạo đức trong chính sách nghiên cứu và ĐMST Châu Âu là một mối quan tâm chiến lược, cùng những yêu cầu nhất quán và bắt buộc phải tích hợp mối quan tâm này vào các đợt đăng ký xin kinh phí đề tài, các tiêu chí chọn lựa đề tài và đánh giá đầu ra; và (3) Thiết lập và thể hiện sự ủng hộ chính thức đối với các chuyên gia đa ngành phấn đấu thúc đẩy sự liên kết và tích hợp cụ thể các giá trị xã hội, đạo đức vào nghiên cứu và ĐMST, như thông qua Chương trình khuôn khổ 9 của Châu Âu là Chân Trời Châu Âu1.  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/framework-programmes/viewpoint/needed-tougher-ethics-policies-eu-research-projects  —-   [1] Các chương trình khuôn khổ cho nghiên cứu và phát triển công nghệ (gọi tắt là “chương trình khuôn khổ” – FP) là các chương trình phân bổ kinh phí nghiên cứu đầu tư khoa học – công nghệ của Liên hiệp Châu Âu (EU). Chương trình Chân Trời 2020 (Horizon 2020) là FP thứ 8, cấp kinh phí cho giai đoạn 2014–2020 với tổng trị giá gần 80 tỷ euro từ ngân sách cùng một lượng kinh phí đáng kể thu hút từ các nguồn tư nhân. FP thứ 9 có tên gọi Chân Trời Châu Âu (Horizon Europe) dự kiến sẽ có ngân sách hơn 90 tỷ euro, cấp kinh phí cho giai đoạn 2021–2027.  [2] Bài này tóm tắt kết quả và quan điểm của công bố trên tạp chí Science có tựa đề “Nâng cao tính liên kết giữa chính sách nghiên cứu với giá trị xã hội” (Improve alignment of research policy and societal values) do Peter Novitzky đứng tên đầu cùng các đồng nghiệp từ Hà Lan, Mỹ, Áo, và Đức. https://doi.org/10.1126/science.abb3415    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chú trọng đến sự đa dạng di truyền nếu muốn phục hồi rừng hiệu quả      Hằng năm, chúng ta mất khoảng 10 triệu ha rừng. Trong số các nỗ lực nhằm phục hồi đất đã bị suy thoái hay các khu đất trống đồi trọc, có Bonn Challenge – với mục tiêu khôi phục 350 triệu ha đất vào năm 2030. Tuy nhiên, những nỗ lực đó đã bỏ qua một yếu tố quan trọng nếu muốn đạt được thành công lâu dài, đó là đưa sự đa dạng di truyền vào trong các nỗ lực phục hồi      Nếu thu thập 1000 hạt giống từ hai cây gần nhau trong cùng một vườn ươm, những hạt giống đó rất có thể sẽ có quan hệ ‘họ hàng’ với nhau. Điều này sẽ làm giảm đáng kể xác suất chúng sinh sản và tạo ra hạt giống mới trong rừng. Ảnh: phys  Chú trọng đến đa dạng di truyền bao gồm việc trồng các loài cây có cấu tạo di truyền khác nhau cũng như đa dạng về cấp độ loài, có khả năng thích nghi với môi trường địa phương. Nếu chỉ trồng các loài giống nhau, chúng sẽ không thể sinh sản hay mọc cây con mới. Christopher Kettle, một nhà sinh thái học và cũng là nhà di truyền học tại Liên minh Đa dạng Sinh học Quốc tế và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) giải thích:   “Nếu thu thập 1000 hạt giống từ hai cây gần nhau trong cùng một vườn ươm, những hạt giống đó rất có thể sẽ có quan hệ ‘họ hàng’ với nhau. Điều này sẽ làm giảm đáng kể xác suất chúng sinh sản và tạo ra hạt giống mới trong rừng. Về cơ bản, dự án khôi phục này đã thất bại ngay từ bước khởi đầu. Đó là lý do chúng ta cần đặt sự đa dạng di truyền như một thành phần quan trọng của các dự án phục hồi.”  Nghiên cứu mới trên tạp chí Frontiers in Forest and Global Change cho thấy rằng việc đầu tư để đảm bảo tính đa dạng về mặt di truyền cho cây trồng thực sự có thể giảm chi phí tổng thể lên đến 11% cho các dự án phục hồi. Mặc dù những mục tiêu đầy tham vọng như Bonn Challenge đã thu hút được sự cam kết của ngày càng nhiều quốc gia, nhưng việc trồng các loại cây có giá trị cao, lớn nhanh, như cây tếch hoặc bạch đàn, với số lượng lớn, thực sự có thể làm giảm đa dạng di truyền và gây suy yếu các nỗ lực phục hồi.   “Các khu rừng nhiệt đới có tính đa dạng di truyền thấp phải đối diện với nhiều rủi ro lớn”, Kettle cho biết. “Khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu lẫn khả năng chống chịu sâu bệnh và mầm bệnh mới của chúng đều kém. Chúng sẽ tạo ra ít hạt và quả hơn, đồng thời gây tác động tiêu cực đến sinh kế cộng đồng và khả năng tạo thu nhập. Đầu tư vào đa dạng di truyền là phương thức hợp lý để tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế và sinh thái, chi phí sẽ thấp hơn mà lại hiệu quả về mặt lâu dài.”   Hiệu quả về lâu dài  Danny Nef, một chuyên gia nghiên cứu về biến đổi khí hậu và những thay đổi kinh tế – xã hội tại Alliance và ETH Zurich, cho rằng đầu tư vào đa dạng gen là việc làm quan trọng mặc dù chi phí ban đầu có thể cao hơn. “Việc thu thập hạt giống sẽ khiến chi phí tăng cao hơn một phần ba, nhưng lợi ích lâu dài về mặt sinh thái và kinh tế xã hội mà điều này đem lại dự kiến sẽ vượt xa phần chi phí bổ sung đó.”  “Điều khiến tôi ngạc nhiên trong quá trình viết bài báo này, đó là tôi đã không tìm thấy bất kỳ một nghiên cứu nào trước đó xem xét tính đa dạng di truyền trong chi phí phục hồi. Tại sao lại không? Chẳng có lý do gì để không đầu tư thêm một chút lúc ban đầu, và lợi ích về lâu dài mà nó mang lại còn lớn hơn thế.”   “Lợi ích tổng thể mà chúng ta thu được từ việc phục hồi rừng về lâu dài sẽ ở quy mô toàn cầu”, Gottor nói. “Đây là lý do vì sao chúng tôi lại đầu tư vào hạt giống chất lượng tốt ngay từ ban đầu, bởi chúng sẽ mang lại lợi ích lớn hơn.”   Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng “đây là lời kêu gọi khẩn cấp đối với các chính sách phục hồi, hãy lưu ý đến sự đa dạng ở cấp độ loài và di truyền khi lên kế hoạch cho các dự án phục hồi.”   “Chúng tôi không xem việc trồng càng nhiều cây càng tốt là hiệu quả, mà hãy thiết lập một quần thể cây về lâu dài, điều này sẽ giúp đảm bảo tính bền vững của vốn đầu tư”. Họ nói thêm rằng việc phát triển năng lực cho những người chịu trách nhiệm thực hiện các nỗ lực phục hồi đất cũng là một yếu tố then chốt nếu muốn các dự án này thành công.    Hà Trang tổng hợp  Nguồn: Forest restoration action must prioritize diversity over scale for cheaper, long-term success  Forest landscape restoration and the Bonn Challenge in Eastern and South-east Europe          Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đầu tư IoT cho quốc phòng và nông nghiệp      Trả lời phỏng vấn của Tia Sáng, anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc DTT – đối tác đầu tiên của Intel ở Việt Nam trong việc phát&#160; triển IoT – cho rằng, Việt Nam không thể chần chừ trong đầu tư và phát triển IoT, vì chỉ sau 5 năm nữa nếu không làm gì thì sẽ không còn cơ hội, và chúng ta chỉ còn có thể mua lại công nghệ của nước ngoài.       Vẫn còn cơ hội  Anh định vị năng lực của Việt Nam ở đâu trên bản đồ IoT thế giới?  Chưa có gì mấy cả. Nhưng may mà thế giới mới có một ít nên dù không có gì thì Việt Nam cách họ không quá xa.  Trên biểu đồ Gartner Hype of Circle 2015*, IoT đang đứng trên đỉnh cao nhất, tức là đang được công chúng kỳ vọng tạo ra nhiều doanh thu nhất trong vòng 5-10 năm tới. Vì thế khi công nghệ này trưởng thành và phổ biến mà chúng ta không làm gì thì cơ hội bắt kịp về công nghệ của Việt Nam bằng không, Việt Nam sẽ chỉ đi mua thôi. Cái này giống hệt như con chip, hiện tại thì con chip của Intel đang ở đây rồi. Ai mà cạnh tranh với họ là câu chuyện khó.   Nhưng mình vẫn còn cơ hội vì đến lúc đó mất khoảng năm năm nữa, vẫn có thể xen vào một số thứ để làm. Mình chỉ bắt nhịp từ trên đỉnh này và làm thôi. Mình có lợi thế là nhân sự giá rẻ, và lĩnh vực đặc thù thì triển khai cũng nhanh. Ở nước ngoài có hệ thống công nghệ lịch sử để lại (legacy system) nên muốn thay cái cũ bằng cái mới thì gặp rất nhiều rào cản. Còn mình chưa có gì mấy thì có thể làm nhanh.   Như anh nói, mình có thể xen vào một số thứ, đó là những gì?  Một mặt là cung cấp các giải pháp cho thị trường quốc nội; bên cạnh đó là tạo ra những nền tảng chung để [các doanh nghiệp] cộng tác với nhau làm ra nhiều ứng dụng. Mặt khác thì mình hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là hỗ trợ khởi nghiệp cho khu vực. Nhìn vào Misfit, đó là doanh nghiệp nước ngoài nhưng dùng nhân lực ở đây để làm IoT. Cứ mô hình đó mà nhân ra: Một doanh nghiệp có thể có thị trường và bộ phận quản lí ở nước ngoài nhưng nhân lực để làm là ở Việt Nam.  Với năng lực hiện tại thì Việt Nam có những thuận lợi và khó khăn gì?  IoT có một thuận lợi ở chỗ là hiện nay do chưa chuẩn hóa, chưa phổ biến rộng nên đòi hỏi địa phương hóa rất cao, chưa thể có một giải pháp áp dụng cho tất cả mọi trường hợp được. Cho nên với một nhu cầu cụ thể thì vẫn cần giải pháp mới. Thứ hai, giá thành còn cao nên mình vẫn có cơ hội để cạnh tranh về giá. Cái thứ ba là nhân lực làm việc này vẫn còn ít và nhân lực của Việt Nam còn trẻ, có khả năng học và hưởng lợi từ làn sóng gia công phần mềm nên mình có thể hướng người ta vào làm trong lĩnh vực này được.         Bây giờ ứng dụng trong CNTT đã phát  triển lên rất nhiều rồi, chỉ cần kết nối các điểm lại. Nhưng đó là vấn  đề trong năm năm tới phải làm, còn nếu không làm thì chẳng có gì xảy ra.        Trong cuộc đua công nghệ, làm thế nào để mình có được công nghệ tốt, giá thành rẻ, triển khai thành công, thì đòi hỏi khối lượng công việc cực lớn. Nhưng nếu nhà khoa học và các nhà công nghệ Việt Nam muốn thử thách làm một cái mới thì đây là cơ hội vì làn sóng IoT rất gắn bó với nguồn mở. Gần như tất cả các nền tảng IoT là nguồn mở hết nên mình có thể tham gia để song hành với thế giới.   Chẳng hạn, trước kia các hệ điều hành là đóng, mình có biết gì đâu? Mình không được tham dự [tạo ra] Unix với cả Windows. Mãi mới có Linux (hệ điều hành nguồn mở), lúc đó mình có tham dự được thì cũng đã rất là muộn. Bây giờ IoT chưa có mấy mà đã sử dụng nguồn mở rồi. Tại sao mình không tham dự?  Vậy Nhà nước có nên can thiệp sâu vào chuyện này?  Nhà nước phải tạo ra sân chơi. Nhà nước phải đầu tư. Ví dụ như khi tôi đưa ra khuyến nghị chiến lược về IoT là để Việt Nam trở thành trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp của khu vực, thì tôi mong muốn các khu công nghệ cao ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh sẽ có cơ chế tạo ra các vườn ươm và nói với các nhà đầu tư IoT rằng miễn là ông có một dự án phù hợp, thì ông sẽ được vào đây, sẽ được ưu đãi. Họ sẽ kéo được nhân lực vào đấy, tự nhiên sẽ sinh ra sân chơi.   Về hệ sinh thái doanh nghiệp thì nhà nước phải đứng ra liên kết với tất cả các hãng lớn trên toàn cầu, tạo ra một nền tảng mở, khuyến khích tất cả các doanh nghiệp vào đây phát triển ứng dụng. Có thể chính phủ không (và không nên) lập trình phát triển cái nền tảng mở đấy mà giao cho một cộng đồng nguồn mở thực hiện.  Nhưng chính phủ cũng cần phải đưa ra một lộ trình, một định hướng rõ ràng là chúng tôi muốn làm cái điều đấy và nên làm cái việc đấy.   Theo anh, Nhà nước nên ưu tiên đầu tư cho IoT trong lĩnh vực nào?   Nhà nước nên ưu tiên đầu tư vào hai lĩnh vực có ý nghĩa sống còn [đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc] là nông nghiệp và quốc phòng.  Một trong những giải pháp hàng đầu để sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững là hình thành một nền nông nghiệp thông minh. Việc sử dụng các cảm biến để theo dõi sự phát triển của cây trồng hằng ngày, hằng giờ, hằng phút thì mình sẽ biết được giống cây trồng nào là phù hợp với Việt Nam và trồng như thế nào thì tốt. Hiện nay ở Lâm Đồng, mỗi hộ thuê Israel làm cho một hệ thống cảm biến chỉ có 100.000 USD thôi nhưng mà mỗi lần sửa cái gì phải mời chuyên gia sang mất 10.000 USD, thậm chí họ còn phải thuê một chuyên gia trực ở đó, “làm như ảo thuật”. Thế thì mình làm sao biết cái gì thực sự nó xảy ra? Chưa kể, thông tin đó các chuyên gia còn bán lại cho những người khác.   Còn trong lĩnh vực quốc phòng, nếu không hiện đại hóa, không tự lực được trang thiết bị thì sẽ thế nào? Nếu mua hệ thống giám sát quốc phòng của nước ngoài về coi như là tự tử, trao vận mệnh của đất nước vào tay người khác.   Kết nối các điểm rời rạc  DTT là thành viên của OIC – một cộng đồng xây dựng chuẩn kết nối IoT cho các thiết bị trên thế giới và sắp tới sẽ công bố nền tảng phần mềm nguồn mở OIP (Open IoT Platform) dành cho IoT. Anh có thể chỉ ra sự khác biệt giữa OIP và OIC không?  OIC là tham vọng [của những hãng công nghệ lớn trên thế giới] muốn đưa ra một tiêu chuẩn kết nối giữa tất cả các loại IoT. Tiêu chuẩn kết nối phải giải quyết được mấy vấn đề: Tốc độ truyền dẫn, năng lượng tiêu thụ thấp nhất và thứ ba là an toàn bảo mật. Tiêu chuẩn rất quan trọng, lấy ví dụ như mình để rất nhiều cảm biến ngoài ruộng, đấu điện đến đấy là cả một vấn đề. Cho nên, phải dùng cái cảm biến nào tốn ít điện nhất để đặt pin vào đấy. Còn nữa là tất cả cái cảm biến đó nó phải được chuẩn hóa, nếu không thì các thiết bị khác nhau không nói chuyện được với nhau. Nếu không thì hôm nay đầu tư 1.000 cảm biến, hôm sau mua cảm biến khác thì lại phải thay thế toàn bộ cảm biến cũ vì không có tiêu chuẩn cùng nhau. Vì thế mà cần tiêu chuẩn chung. OIC sinh ra cái tiêu chuẩn đó. Ngoài OIC thì cũng có một vài liên minh đang làm tiêu chuẩn, nhưng chắc chắn các liên minh sẽ liên kết lại với nhau.        OIC (Open Internet Consortium) là  một trong những liên minh Internet of Things lớn nhất trên thế giới do  Intel sáng lập với khoảng hơn 80 thành viên bao gồm các tập đoàn lớn  trên thế giới như MediaTek, SamSung, Dell, Lenovo, Hewlett-Packard… nhằm  đưa ra một chuẩn kết nối cho các thiết bị IoT trên toàn thế giới.         Vậy khi có tiêu chuẩn đó rồi thì người làm phần cứng, người làm phần mềm. OIP là phần mềm dựa trên phần cứng của Intel, chạy cùng với OIC. Tưởng tượng nó giống một hệ điều hành như Windows và dựa trên đó mới viết các ứng dụng. Đó là cái nền tảng chung. Chỗ nào cũng cần cái đó cả, để nối tất cả các thứ lại với nhau và điều khiển chúng. Thay vì viết từng phần mềm cho các loại phần cứng khác nhau thì bây giờ chỉ phải viết cho nó chạy trên cái nền tảng kia thôi.   Đầu năm 2016 chúng tôi sẽ công bố mã nguồn của OIP. Tất cả mọi người đều có thể tham gia. Nó là nguồn mở.  Tham gia vào cuộc chơi IoT không chỉ cần các doanh nghiệp mà còn cần cả các nhà khoa học chuyên ngành nữa. Vậy các nhà khoa học nên bắt đầu tham gia nền tảng này từ bao giờ?    Đó là câu chuyện mà mọi người nên tham gia làm ngay từ đầu. Nhưng đây là câu chuyện xuất phát từ bản thân mọi người. Còn mọi người tạo ra một cái nền tảng khác thì tôi cũng đồng tình. Và nếu họ làm tốt thì tôi có thể tham gia vào đấy. Cùng làm cùng hưởng mà. Tôi chỉ muốn mọi người hãy xem xét OIP một cách đàng hoàng, nghiêm túc. Mà chúng tôi cố gắng làm bài bản, từ gốc, bắt đầu từ tiêu chuẩn (OIC) chứ không phải là tự nghĩ ra “Thế này là nền tảng”. DTT chúng tôi cố làm ra một thứ có thể là chưa tốt nhưng đúng hướng cái đã. Sau đó nếu mọi người sẽ cùng xây dựng, nó sẽ tốt dần lên.   Cảm ơn anh đã chia sẻ!  Hảo Linh thực hiện  —————  *Gartner Hype of Cycle là biểu đồ trình diễn mang tính thương hiệu của tập đoàn nghiên cứu và tư vấn công nghệ Gartner miêu tả độ trưởng thành, thích ứng và ứng dụng xã hội của những công nghệ cụ thể.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần để ý đến bức tranh lao động việc làm rộng hơn      Tôi hoan nghênh việc Tổng cục Thống kê (TCTK) và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội với sự giúp đỡ của ILO tiến hành thống kê và công bố các chỉ số lao động việc làm, cho dù bộ số liệu này còn cần được cải thiện. Bởi vậy tôi lấy làm tiếc khi dư luận gần đây công kích con số thất nghiệp 1.84% mà không để ý đến bức tranh lao động việc làm rộng hơn, tuy nhiên lỗi một phần do chính Bộ LĐTBXH.      Số liệu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp được TCTK đưa vào báo cáo kinh tế xã hội mỗi tháng cuối quí trong vài năm lại đây, tuy nhiên Bộ LĐTBXH chỉ bắt đầu xuất bản ấn phẩm về các số thống kê này từ quý 1/2014. Ba ấn phẩm đầu tiên được bộ này công bố trong các cuộc họp báo có rất nhiều thông tin hữu ích về thị trường lao động chứ không chỉ có số liệu thất nghiệp. Trong khi các ấn phẩm của TCTK về lao động việc làm những năm trước và hai ấn phẩm đầu hầu như không tạo sự chú ý, ấn phẩm thứ ba bất ngờ bị báo chí và nhiều chuyên gia “soi” vì tỷ lệ thất nghiệp quá thấp, chỉ 1.84% so với trung bình 5-6% ở nhiều nước phát triển.     Công bằng mà nói con số này đúng là thấp thật và tôi đồ rằng các cán bộ thống kê đã rất miễn cưỡng phải công bố nó. Họ biết sẽ phải hứng chịu búa rừu dư luận, bởi xã hội khó có thể chấp nhận một nền kinh tế đang èo uột như hiện tại mà con số này lại thấp đến vậy. Như đổ thêm dầu vào lửa, bài trả lời phỏng vấn TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ LĐTBXH, đã bị báo chí tường thuật lại với những cái tít rất giật gân: “Việt Nam khác thế giới: Bán trà đá không coi là… thất nghiệp!” hay “Viện Khoa học Lao động: ‘Thất nghiệp từ xưa đến nay chỉ có giảm'”.     Dù TS Hương và một số chuyên gia đã cố gắng giải thích, dường như báo chí và dư luận xã hội vẫn “bất mãn” với con số 1.84%. Điều này nhiều khả năng sẽ làm Bộ LĐTBXH dè dặt hơn trong việc giới thiệu những ấn bản thống kê của họ trong thời gian tới. Đây sẽ là thiệt thòi cho những người làm công tác thống kê mà tôi tin có rất nhiều người làm nghiêm túc, và cho cả xã hội nói chung khi một nguồn thông tin quan trọng không được đoái hoài tới. Bởi vậy muốn mọi người có cái nhìn chính xác hơn về thống kê lao động việc làm cũng như cổ vũ cho TCTK và Bộ LĐTBXH tiếp tục điều tra và công bố những chỉ số này.     Trước hết tôi tin vào khẳng định của TS Hương là định nghĩa thất nghiệp của VN tuân thủ theo thông lệ quốc tế, chính xác hơn là tuân thủ theo định nghĩa của ILO. Nếu mẫu điều tra của VN trong quý 2/2014 là 50,000 hộ gia đình như TS Hương công bố thì có thể nói mẫu này khá lớn khi so với sample của Mỹ là 60,000 hộ gia đình cho một đất nước có dân số đông gấp ba lần VN. Trên thực tế theo thông tin tại website của TCTK có năm mẫu này lên đến 173,000 hộ (2007). Mặc dù chưa được chi tiết như Handbook of Methods của Mỹ, TCTK đã rất cố gắng (với sự trợ giúp của UNDP) đưa toàn bộ bản hỏi và phương pháp điều tra lên mạng. Với những thông tin nói trên tôi đánh giá cuộc điều tra này khá chất lượng, ít nhất về mặt thiết kế và tổ chức khảo sát. Tất nhiên chất lượng điều tra thực địa và xử lý số liệu có thể có vấn đề, nhưng với sự giúp đỡ của ILO và UNDP những con số thống kê được công bố có lẽ không quá xa chuẩn quốc tế.     Vậy tại sao tỷ lệ thất nghiệp của VN lại thấp như vậy?      Theo tôi lý do quan trọng nhất chính là ở cái “chuẩn quốc tế” Standards and Guidelines on Labour Statistics của ILO, trong đó bao gồm một Resolution 1982 liên quan đến các định nghĩa về lao động và thất nghiệp mà VN cố gắng theo đuổi. Không khó có thể đoán bộ tiêu chuẩn này dựa vào tiêu chuẩn thống kê của Mỹ và các nước phát triển khác. Bởi vậy những định nghĩa quan trọng như thất nghiệp hay thu nhập bình quân (hourly rate) có đặc thù của một nền kinh tế công nghiệp với phần lớn nhân công lao động làm thuê theo hợp đồng cho các đơn vị kinh tế cố định (công ty, nhà xưởng, cửa hàng).              Nói theo một chuyên gia quốc tế thất nghiệp ở các nước  nghèo là một điều  “xa xỉ”, hầu như chỉ có những người rất giầu mới có  thể cho phép mình  không lao động. Do vậy có thể đoán các nước nghèo có  tỷ lệ thất nghiệp  rất thấp chứ không riêng gì VN.        Áp dụng máy móc định nghĩa của ILO vào thị trường lao động VN hẳn nhiên những người bán trà đá, hàng rong, hay chạy xe ôm sẽ không bị coi là thất nghiệp. Không chỉ VN mà ở hầu hết các nước nghèo người lao động không thể không làm việc vì cơ chế bảo hiểm xã hội quá ít hoặc không tồn tại. Nói theo một chuyên gia quốc tế thất nghiệp ở các nước nghèo là một điều “xa xỉ”, hầu như chỉ có những người rất giầu mới có thể cho phép mình không lao động. Do vậy có thể đoán các nước nghèo có tỷ lệ thất nghiệp rất thấp chứ không riêng gì VN.   Trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp 1.84% là bằng chứng cho thấy người lao động VN phải làm bất cứ công việc gì với bất cứ mức thu nhập như thế nào để tồn tại. Nói theo lý thuyết kinh tế structural unemployment rate của VN (và các nước nghèo khác) rất thấp, có lẽ xấp xỉ bằng không. Quan sát của TS Hương về việc tỷ lệ thất nghiệp giảm liên tục rất có thể là sự sụt giảm của structural unemployment rate, cho thấy cuộc sống của người lao động ngày càng bấp bênh, không có gì đáng tự hào.     Điều này có thể thấy rõ hơn qua một thống kê khác về lao động việc làm: tỷ lệ lao động dễ tổn thương (người nội trợ, lao động tự do như bán trà đá, chạy xe ôm). Cũng giống như những nước nghèo khác tỷ lệ này của VN là >60% và Cambodia, >50% ở Thailand, so với các nước phát triển <10%. Đây mới là một trong những chỉ số mà báo chí, dư luận, và những người làm chính sách VN phải lưu tâm thay vì chăm chăm vào phê phán tỷ lệ thất nghiệp.     Vì vậy tôi rất mong các nhà báo và các chuyên gia kinh tế tập trung hơn vào các số liệu khác trong các ấn phẩm thống kê về lao động việc làm của TCTK và Bộ LĐTBXH. Ví dụ một sự dịch chuyển rất đáng quan tâm trong thị trường lao động VN trong quý 2/2014. Đó là thị trường xây dựng đang ấm dần lên trong khi thương mại dịch vụ và tài chính tiếp tục bế tắc?      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần hiểu về số liệu để phân tích rủi ro      COVID ập tới khiến người ta bối rối về nhiều con số: tỉ lệ nhiễm bệnh, nhiễm lại sau tiêm vaccine, hiệu lực của vaccine, rủi ro của vaccine, so sánh rủi ro khi tiêm vaccine và rủi ro nhiễm COVID…    Nhà nghiên cứu về rủi ro Gerd Gigerenzer (Viện Max Planck về Phát triển con người) cho rằng phần lớn mọi người, trong đó có cả các nhà quản lý và báo chí, không có kỹ năng hiểu số liệu cũng như mối rủi ro nào lớn hơn. Và COVID chính là thời điểm thích hợp để thảo luận và đào tạo lại.       Thưa ông Gigerenzer, người Đức có biết đánh giá đúng về những hiểm nguy?  Gerd Gigerenzer: Giá biết thì đã may. Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ở đó chỉ có rất ít người biết học để cân nhắc rủi ro. Đại dịch COVID-19 có thể là một cơ hội để thay đổi điều này.  Điều đặc biệt ở cuộc khủng hoảng này là các số liệu, chứ không phải hình ảnh,  làm chúng ta sợ hãi và hy vọng. Tuy thế nhiều người không hiểu được các con số – và nghiên cứu cho thấy, chính các nhóm nghề nghiệp lẽ ra phải có năng lực này, từ các nhà báo cho đến các chính trị gia, lại thiếu cái khả năng đó. Mức độ mù số liệu thật đáng sợ.  Có lẽ ông cần giải thích rõ hơn về điều này.  Trong cơn đại dịch này mới thấy, nhiều người chưa được chuẩn bị để sẵn sàng đối mặt với sự bất trắc. Trên đời này chẳng có gì là chắc chắn ngoại trừ cái chết và các khoản thuế. Chúng ta phải học, tự mình phải biết suy nghĩ. Với đại dịch Corona điều này càng cần thiết.  Xin ông cho biết vài ví dụ cụ thể ?  Một nguyên tắc then chốt là, không có an toàn tuyệt đối. Vì thế cho nên có một số người ngạc nhiên và lo sợ khi thấy có người đã tiêm chủng hai lần  mà vẫn bị lây nhiễm corona. Trong khi đã biết, với vaccine Biontech mức độ hiệu quả là 95%  – điều này thật ấn tượng, tuy nhiên nó không phải là 100 %. Kỳ vọng không thực tế về một sự an toàn tuyệt đối, mà thực tế không thể có, có thể hủy hoại niềm tin đối với tiêm chủng.   Khi có nhận thức rằng không có cái gì gọi là chắc chắn tuyệt đối thì đây bước đầu tiên hướng tới năng lực nhận biết rủi ro.   Vấn đề thứ hai là không nên chỉ nhìn vào rủi ro. Một ví dụ điển hình là sự đối phó với AstraZeneca. Khi báo chí đưa tin có những trường hợp bị đông máu nặng sau khi tiêm vaccine, nhiều người băn khoăn có nên đợi Biontech một hay hai tháng nữa không. Nhưng nếu người ta cố tránh một rủi ro rất nhỏ, thì thường hay phải đối mặt với những rủi ro lớn hơn nhiều. Bởi vì nguy cơ bị nhiễm corona nặng trong thời gian chờ đợi và cuối cùng có thể phải điều trị trong khoa chăm sóc đặc biệt và phải chiến đấu cho sự sống của mình, nguy cơ này lớn hơn nguy cơ bị đông máu rất nhiều.     GS Gerd Gigerenzer.  Có nghĩa là chính quyền cũng không có thông tin đúng đắn?  Trên báo chí người ta nhấn mạnh đến các trường hợp hiếm hoi bị tụ huyết nặng, dân chúng cảm thấy sợ hãi tiêm chủng, chính quyền tạm thời cho ngừng tiêm chủng với vaccine AstraZeneca. Tôi đoán với biện pháp này người ta muốn lấy lại lòng tin đối với vaccine và thuyết phục những người còn hoài nghi. Nhưng điều ngược lại đã xảy ra. Vaccine bị ứ đọng, chính sách truyền thông và quyết định tạm ngừng này đã làm cho dân chúng càng thêm hoang mang, bất an.  Vậy giải pháp thay thế sẽ là gì?   Nhà nước và truyền thông cần can đảm trao đổi nhiều hơn về các rủi ro này. Trong trường hợp này cần thuyết phục mọi người phải cân nhắc đối với các yếu tố rủi ro chứ không nên chỉ chăm chăm nói về huyết khối. Các nghiên cứu cho thấy, số đông người dân có nhu cầu được thông tin rõ ràng về những rủi ro trong đại dịch corona này.   Ông có nhận xét gì về cuộc tranh luận xung quanh biến thể Delta hiện nay?  Tôi muốn cuộc tranh luận về vấn đề này bớt ồn ào một chút. Ở đây không nên chỉ nhìn vào tỷ lệ giữa nhiễm lại virus sau khi tiêm vaccine, mà đặc biệt chú ý nhiều hơn đến số bệnh nhân phải nhập viện và tỷ lệ tử vong. Thí dụ ở Anh chẳng hạn, mặc dù số ca nhiễm đột biến tăng nhưng số ca phải nhập viện và tỷ lệ tử vong tăng không đáng kể.  Liên quan đến corona, có nguy cơ nào bị xem nhẹ hay đánh giá thấp không?  Có đấy, chúng tôi có xem báo cáo của các bệnh viện về tình hình bệnh tật năm vừa qua thì thấy số ca bị đau tim nặng, cấp tính hay đột quỵ đã giảm hẳn. Một trong các lý do là nhiều bệnh nhân không dám đến bệnh viện điều trị vì sợ lây nhiễm COVID-19 khi bị nặng mới yêu cầu trợ giúp. Đó là một ví dụ về đánh  giá quá cao nguy cơ lây nhiễm so với nguy cơ sau này sẽ bị bệnh nặng hơn do điều trị muộn.   Do nhiều người không rút ra được bài học đối với số liệu từ đó dẫn đến hai thái cực, một số cho rằng các số liệu là cực kỳ an toàn, tin tưởng tuyệt đối, một số người khác lại hoàn toàn không tin vào số liệu mà tin vào đủ loại thuyết âm mưu.    Người ta cũng có xu hướng tin vào những thứ được sản xuất ở nước mình. Một cuộc thăm dò dư luận cho thấy phần lớn người Đức đặt nhiều niềm tin nhất vào vaccine của Biontech, trong khi đó niềm tin vào Moderna thấp hơn nhiều mặc dù được sản xuất ở Mỹ. Đa số dân Mỹ lại chỉ tin vào Moderna và Pfizer còn người Anh thì chỉ tin Vaccine của AstraZeneca,do Oxford phát triển. Duy có dân Pháp thì chả tin vào vaccine nào cả.  … vì doanh nghiệp Sanofi của Pháp vẫn chưa có vaccine đã được công nhận?  Một số nước Đông Âu do gần nước Nga thì tin vào Sputnik V. Ở phía Đông nước Đức số người tin vào Sputnik cũng cao hơn so với phía Tây Đức. Ý tôi muốn nói ở đây là: chừng nào mà chúng ta chưa giúp người dân hiểu rõ về độ rủi ro, thì không có gì ngạc nhiên, khi người dân phải bám vào bất cứ một cái gì đó.  Vậy làm thế nào để học được cách xử lý thông tin một cách đúng đắn?  Tôi thấy tất cả chúng ta đều có trách nhiệm – các bộ ngành, chương trình giảng dạy, trường học, nhà báo và phụ huynh. Chúng ta dạy thanh thiếu niên toán học về sự chắc chắn, đó là đại số, hình học và lượng giác. Tuy nhiên, đối với Corona, chúng tôi thấy phải học nhiều về tư duy thống kê và tâm lý khi phải đối phó với rủi ro.  Vì vậy, bây giờ là cơ hội để dạy tư duy thống kê trong trường học. Và không khô khan như lý thuyết, mà sử dụng ví dụ của COVID-19. Có rất nhiều câu hỏi được quan tâm như: Tỷ lệ mắc bệnh trong 7 ngày hiện nay, với hơn một nửa dân số đã được tiêm phòng, vậy hãy so sánh với năm ngoái? Đây là cách rất hay để khiến những người trẻ tuổi học cách suy nghĩ.  Ông so sánh như thế nào về năng lực nhận biết rủi ro đối với corona hiện nay với các trường hợp ngoại lệ trong quá khứ?  Chúng ta không học được bao nhiêu từ những cuộc khủng hoảng trong quá khứ.  Vụ 11.9. 2001 là một ví dụ điển hình. Hồi đó nhiều người Mỹ sợ không dám đi máy bay  mà chuyển sang đi ô tô, cho dù đi đường trường. Kết quả là sau một năm số tử vong về tai nạn giao thông tăng thêm 1600 người so với năm trước đó. Trong khi đó đi máy bay sau  sự kiện 11/9 chưa bao giờ có độ an toàn cao đến như vậy. Cái cách nhìn hạn hẹp, chỉ nhăm nhăm vào rủi ro và làm mọi cách để tránh rủi ro này lại được nhắc lại đối với COVID-19 hiện nay.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/politik/deutschland/plus232258001/Risikoforscher-ueber-Corona-Das-Ausmass-der-Zahlenblindheit-ist-erschreckend.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần hình thành hệ thống các quỹ cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo      Từ năm 2007, nhiều chính sách đã được triển khai nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, để các doanh nghiệp này phát triển nhanh, cần những chính sách mang tính chất có hệ thống và đủ mạnh.  Tia Sáng có cuộc trao đổi với TS Mai Hà, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách KH&amp;CN, về vấn đề này nhân cuộc Hội thảo quốc tế “Chính sách tạo môi trường hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ”.      Theo nhận xét của nhiều nhà khoa học, khái niệm “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” ở ta còn chưa thực sự rõ ràng. Ông có đồng ý với nhận định này?   Khái niệm doanh nghiệp khoa học công nghệ (S&T based enterprises) đúng là còn có vấn đề phải bàn thêm, điều này ngay cả thế giới cũng không có định nghĩa nhất quán và có nhiều trường phái.   Về cơ bản, Doanh nghiệp KH&CN có thể được hiểu là doanh nghiệp, mà trong đó cách thức khai thác kết quả nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến việc chiếm giữ một bí quyết công nghệ cụ thể và có thể áp dụng bí quyết công nghệ đó để đổi mới sản phẩm, có khả năng tạo sản phẩm và dịch vụ cụ thể có thể tiêu thụ trên thị trường dựa trên bí quyết công nghệ của mình.   Gần đây người ta xem xét cách thức đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) nếu chiếm trên 5% của tổng doanh thu thì được xem là doanh nghiệp khoa học công nghệ. Điều đó nói lên rằng khoa học công nghệ phải đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra giá trị thặng dư cho các doanh nghiệp này. Tôi không nói về tỉ lệ cụ thể nhưng tôi cho rằng cách đánh giá dựa vào tiêu chí đầu tư cho nghiên cứu phát triển là hợp lý. Việt Nam cũng đang đi theo hướng này.  Theo đánh giá của ông, các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha lắm với việc đổi mới công nghệ?   Đúng, trước hết là bởi đổi mới công nghệ gặp không ít khó khăn do mức độ cạnh tranh chưa thật sự cao. Bên cạnh đó, đang còn quá nhiều những dáng dấp của bao cấp và kiểu làm ăn chộp giật, đánh quả, nên thực sự khó cho những doanh nghiệp muốn làm chân chính dựa trên đổi mới công nghệ.  Trong số các doanh nghiệp khoa học công nghệ có nhu cầu đổi mới công nghệ thì chúng ta chưa có hệ thống các quỹ tạo thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu phát triển cũng như việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu ở các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khoa học công nghệ.   Các chương trình tài trợ do cơ chế tài chính cứng nhắc, nên hiện có đang còn nhiều bất cập dẫn tới chúng ta vẫn chưa lựa chọn được nhiều “ứng cử viên” đủ điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu phát triển.  Trong khoảng 2 năm gần đây, Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia đã hoạt động và mang lại niềm tin mới cho các nhà khoa học làm trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản. Quỹ đã có nỗ lực đáng trân trọng và đúng hướng trong việc nâng cao hiệu quả quá trình đầu tư cho nghiên cứu và quản lý kết quả nghiên cứu.  Theo kế hoạch phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2015, việc phát triển nhanh các  doanh nghiệp khoa học công nghệ được xem là một trong những giải pháp để nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước. Ông đánh giá tính khả thi của giải pháp này như thế nào?   Theo tôi, giải pháp này có tính khả thi. Hiện nay Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Và một khi đã hội nhập tất yếu có sự cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được nếu thiếu sự đầu tư đổi mới công nghệ.   Tuy nhiên, nếu như chúng ta có nhận thức đúng và đồng bộ để có các chính sách đủ mạnh khuyến khích các doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển thì tính khả thi sẽ cao hơn. Bộ KH&CN đã có nhiều nỗ lực theo định hướng đúng đắn này, song vấn đề là cần có sự đồng bộ từ phía các Bộ ngành khác. Nếu chưa nhìn ra được vai trò của các doanh nghiệp khoa học công nghệ, chưa có giải pháp hữu hiệu thì các doanh nghiệp này sẽ vẫn phát triển song ở mức độ thấp mang tính chất tự phát và manh mún. Điều này sẽ cản trở sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cũng như hạn chế mức độ hội nhập của đất nước.   Những đề xuất của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN để đưa ra những chính sách tạo môi trường hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ?   Chúng tôi đề xuất hình thành hệ thống quỹ hỗ trợ đổi mới, trong đó có 3 loại quỹ cơ bản: Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đầu tư mạo hiểm. Hiện nay Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia đã đi vào hoạt động và có tác động tích cực đối với nghiên cứu cơ bản. Hai quỹ còn lại sẽ được Bộ KH&CN vận động thành lập trong thời gian tới. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đang nghiên cứu soạn thảo Chương trình Phát triển thị trường công nghệ tạo sân chơi cho bên cung và cầu công nghệ.            Các chính sách khuyến khích, thúc đẩy việc hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN    * Ưu đãi về sử dụng các kết quả KH&CN thuộc sở hữu Nhà nước: Khi áp dụng kết quả KH&CN có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước để sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp KH&CN được Nhà nước ưu đãi đến 70% giá trị kết qủa KH&CN. Tức là khi sử dụng kết quả KH&CN để kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp trở lại ngân sách Nhà nước 30% giá trị kết quả KH&CN kể từ khi doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế.               * Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: Doanh nghiệp KH&CN sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo nếu đáp ứng được các điều kiện sau: doanh thu của các sản phầm, hàng hoá hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ trong năm thứ nhất từ 30% tổng doanh thu trở lên, năm thứ hai 50% tổng doanh thu trở lên và năm thứ ba trở đi 70% tổng doanh thu.               * Ưu đãi trong việc vay vốn: Hưởng các ưu đãi về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, từ các Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.               * Ưu đãi trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: được ưu tiên trong sử dụng trang thiết bị nghiên cứu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghê, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà nước mà không phải trả phí dịch vụ.               * Ưu đãi về việc sử dụng đất: cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất.   (Vụ tổ chức cán bộ – Bộ Khoa học và Công nghệ)          N. T thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần hình thành phòng thí nghiệm chung      Để góp phần giải quyết thực trạng thiếu trang thiết bị phục vụ nghiên cứu của các nhà khoa học thực nghiệm, cần áp dụng cách làm hiệu quả của các quốc gia tiên tiến, đó là hình thành những phòng thí nghiệm chung để cộng đồng các nhà khoa học có thể cùng sử dụng.      Cán bộ nghiên cứu Viện KH&CN tiên tiến (AIST, ĐH Bách khoa Hà Nội) thực hiện thí nghiệm trên máy đo từ kế mẫu rung tại phòng thí nghiệm Nano Quang – Điện tử, Viện AIST. Nguồn: Viện AIST.  Tháng 7/2016, mẫu thử hạt nano từ được Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn (Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) gửi sang một phòng thí nghiệm ở nước ngoài để đo tính chất từ của vật liệu. Đến cuối tháng 6/2017, nghĩa là gần một năm chờ đợi thì được phản hồi: chúng tôi chưa đo theo yêu cầu của bạn do lịch làm việc trên thiết bị đo vẫn kín. Những trường hợp như thế vẫn thường xảy ra với Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn cũng như nhiều đơn vị nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học thực nghiệm ở Việt Nam khi cần có những thông số chính xác, đủ tin cậy về mẫu nghiên cứu mà chỉ những máy móc, trang thiết bị hiện đại và đạt chuẩn mới có khả năng phân tích, đo đạc được.  Khác với các đồng nghiệp trong lĩnh vực lý thuyết, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học thực nghiệm như hóa học, y dược, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học… đều cần đến máy móc trang thiết bị phục vụ việc phân tích, đo đạc mẫu… Khi được hỏi, đối với một nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học thực nghiệm, sự đóng góp của trang thiết bị chiếm bao nhiêu % vào thành công, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, khó đưa ra được một chỉ số cụ thể vì còn phụ thuộc rất nhiều vào tính chất mỗi ngành, tính chất mỗi dự án. GS. TS Phạm Hùng Việt, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích phục vụ kiểm định an toàn thực phẩm và môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội), ước lượng, “nếu tính riêng trong phạm vi nghiên cứu của ngành hóa phân tích, thông thường trang thiết bị và ý tưởng sáng tạo đều ở mức đóng góp tương đương nhau, 50 – 50”.  Tuy không đưa ra con số ước lượng như GS. TS Phạm Hùng Việt nhưng PGS. TS Nguyễn Phúc Dương, Viện phó Viện ITIMS (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhận xét ngắn gọn, “làm về vật liệu thực nghiệm mà không có thiết bị thì gần như không làm được gì”. Chính vì vậy, trước khi triển khai các dự án liên quan đến thực nghiệm, các nhà nghiên cứu thường nghĩ ngay đến những vấn đề sát sườn: cần những máy móc và hóa chất đi kèm nào? những loại máy móc đó có sẵn ở phòng thí nghiệm của mình không? trong trường hợp không có thì cần liên kết với ai hay nhờ ai phân tích mẫu?  Có một thực tế ở Việt Nam là nhiều tổ chức nghiên cứu về khoa học thực nghiệm thường không có đủ trang thiết bị máy móc, hoặc nếu được cơ quan chủ quản trang bị theo một dự án đầu tư nào đó thì máy móc lại dễ rơi vào tình trạng xuống cấp hoặc lạc hậu. Nguyên nhân là do khi đầu tư, người ta vẫn thường cho rằng, chỉ đầu tư mua máy móc mà không cần cấp thêm kinh phí bảo dưỡng. Để tránh hiện tượng này xảy ra, trong một bài viết đăng trên Tia Sáng, GS. TS Phạm Hùng Việt đã lưu ý, “trong phần đầu tư trang thiết bị lớn cần có khoản kinh phí nhỏ duy trì hoạt động thường xuyên, ví dụ vẫn cần giữ cho các bộ thiết bị phục vụ nghiên cứu hoạt động tương đối liên tục, kể cả khi không có mẫu đo, để duy trì điều kiện ổn định và tạo điều kiện hoạt động cho máy trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, trước khi được duyệt đề tài”1.  Là người có nhiều năm kinh nghiệm trong việc quản lý những thiết bị thí nghiệm hiện đại, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho biết, có những thiết bị đo hiện đại về tính chất cho một chuyên ngành hẹp đòi hỏi kinh phí rất lớn để vận hành và bảo dưỡng định kỳ, do đó rất khó để thiết bị có thể hoạt động thường xuyên. Đây là lý do mà Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn vẫn phải gửi mẫu sang các phòng thí nghiệm nước ngoài để đo đạc, và làm theo cách này là phải chấp nhận rủi ro về mặt thời gian, “không phải người ta không muốn làm cho mình mà do ở đó, lượng mẫu cần đo quá lớn và việc đo cũng phức tạp, có mẫu phải chạy cả tháng mới có kết quả”, anh giải thích thêm.  Với một số nhà nghiên cứu trẻ mới ở nước ngoài trở về, để vượt qua trở ngại do thiếu thiết bị khi nghiên cứu, họ thường chọn cách giải quyết là chuyển sang một hướng nghiên cứu mới không lệ thuộc quá nhiều vào thiết bị thực nghiệm như chọn phương pháp mô phỏng. TS. Nguyễn Thanh Tùng (Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn, Viện Khoa học vật liệu) đã chia sẻ cách tiếp cận của mình với phóng viên Tia Sáng, “giữ nguyên hướng nghiên cứu về quá trình tương tác của trường điện từ với vật chất nhưng chuyển từ công cụ thực nghiệm sang mô phỏng quá trình tương tác và mô phỏng cấu trúc bền vững của một số vật chất có kích thước nhỏ mà mình tiên đoán có những tính chất vật lý mới”. Nhận xét về giải pháp của TS. Nguyễn Thanh Tùng, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho rằng, việc áp dụng phương pháp tính toán mô phỏng sẽ rút ngắn thời gian và công đoạn thực nghiệm trong nghiên cứu nhưng “để có được công bố khoa học chất lượng tốt vẫn cần có kết quả thực nghiệm đi kèm”.  Cũng như nhiều nhà khoa học khác, theo quan điểm của PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh, khi nguồn lực đầu tư ở Việt Nam còn hạn hẹp, không đủ khả năng rải đều kinh phí để trang bị máy móc thiết bị cho các đơn vị nghiên cứu thì nên áp dụng cách làm hiệu quả của các quốc gia tiên tiến, đó là tạo ra những phòng thí nghiệm chung để cộng đồng các nhà khoa học có thể cùng sử dụng. Như vậy, thay vì đầu tư mua nhiều thiết bị hiện đại cùng chức năng đặt ở nhiều trường, viện, các nhà quản lý chỉ cần mua một và kèm theo đó là một khoản kinh phí duy trì bảo dưỡng, đặt tại phòng thí nghiệm chung. Đây cũng là cách chia sẻ nguồn tài nguyên trong nghiên cứu, giúp tận dụng tối đa khả năng của thiết bị đắt tiền mà vẫn giúp nhà nước tiết kiệm nguồn lực đầu tư.  Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã có một hệ thống Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, một trong những mục tiêu quan trọng mà các phòng thí nghiệm này hướng tới là tạo ra một không gian mở để những nhà nghiên cứu ở nhiều đơn vị khác nhau tới cùng làm việc và sử dụng chung thiết bị. Tuy nhiên, không phải phòng thí nghiệm nào cũng đạt được điều đó. Vì thế, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho rằng, để nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của hệ thống Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, chúng ta có thể tận dụng những tiến bộ về mặt công nghệ, thiết lập những trang web nhằm công khai tình trạng sử dụng của các trang thiết bị, máy móc tại những phòng thí nghiệm đó. Nhờ vậy, các nhà khoa học ở nhiều đơn vị khác có thể đăng ký online về việc sử dụng từng máy móc theo đúng nhu cầu và thời gian cho phép. Bên cạnh đó, để đảm bảo cho máy móc được hoạt động tốt và hiệu quả lâu dài, các cơ quan quản lý cũng cần có chính sách đào tạo để nâng cao tính chuyên nghiệp cho những người được giao quản lý, vận hành máy móc cũng như chế độ đãi ngộ hợp lý cho họ.  Việc liên kết với các đơn vị nước ngoài để được hỗ trợ trong nghiên cứu là giải pháp phổ biến, tuy nhiên hạn chế của nó không chỉ ở sự thiếu chủ động về mặt thời gian mà còn ảnh hưởng đến tính tự chủ của nhà nghiên cứu. PGS. TS Nguyễn Phúc Dương cho rằng, nhà khoa học cần “tự làm được 60, 70% thí nghiệm bởi hợp tác là để giải quyết vấn đề chung chứ không nên là dựa dẫm”.  ————  1.http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/xay-dung-va-phat-trien-nhom-nghien-cuu-manh-trong-truong-dai-hoc-8833          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Cần làm gì khi mọi ý tưởng hay đều đã có chủ      Bạn hãy hình dung về tình huống này: Bạn vừa nảy ra một ý tưởng kinh doanh mới, và bạn háo hức vào Google để dạo qua một lượt, để rồi thất vọng khi thấy rằng ít nhất cũng có khoảng chục người đang thực hiện cái mà mới vài phút trước bạn còn cho là ý tưởng độc đáo của riêng mình. Một chuyện quá thường gặp phải không?      Trong trường hợp đó bạn nên làm gì?  Có lẽ bạn sẽ tự thuyết phục mình rằng ý tưởng của mình có điểm khác biệt so với những người khác, có thể là tốt hơn bởi biết đâu trong lúc thực hiện bạn sẽ nghĩ ra được những nét mới thú vị để bổ sung vào ý tưởng ban đầu.  Nhưng dĩ nhiên, càng nghiên cứu tìm hiểu, bạn càng thấy rằng ý tưởng của mình chẳng có gì khác so với những gì người ta đang làm trên thị trường. Và bạn buông xuôi: vô ích thôi, mọi ý tưởng hay ho đều đã có người nghĩ ra rồi.  Thực tế đúng là như vậy. Dù bạn có ý tưởng gì đi chăng nữa thì khả năng cao là đã có người nghĩ đến nó trước bạn rồi. Gần như mọi thứ có thể làm đều đã được làm rồi, trừ khi bạn định hoạt động trong một lĩnh vực hoàn toàn chưa có người khai phá – nhưng chuyện này thật hiếm hoi. Nhưng biết đâu, đó lại chẳng phải là một điều hay?  Một khi bạn đã chấp nhận cái thực tế rằng ý tưởng hoàn toàn mới mẻ không phải là điểm tạo nên sự khác biệt cho các doanh nghiệp, đầu óc bạn sẽ cởi mở đón nhận những khả năng mới, những gì bạn thực sự có thể đạt được. Nó cũng giúp bạn xác định rõ những mục tiêu của mình thay vì cố gắng nghĩ đến những điều xa xôi vĩ đại chưa ai từng làm.  Suy cho cùng, nhiều doanh nhân mà chúng ta tán dương là những nhà sáng tạo thực chất lại là những người biết tận dụng các ý tưởng sẵn có. Chẳng hạn, Steve Jobs không phải là người phát minh ra máy tính, mạng xã hội, hay điện thoại di động, nhưng ông đã khiến tất cả những lĩnh vực đó trở nên tốt và thú vị hơn rất nhiều, và ông được “ghi công” vì điều đó.  Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra ở đây là: Trên cương vị là một doanh nhân, bạn tận dụng sự cạnh tranh và những ý tưởng đang xuất hiện trên thị trường hiện nay như thế nào để mang lại lợi ích cho mình?  Có một cách: hãy “lắng nghe” đối thủ. Chúng ta thường cho rằng cạnh tranh là chuyện nên tránh, nhưng thực ra đó lại là chuyện rất hay. Khi bạn định làm điều mà những người khác cũng đang làm, điều đó có nghĩa rằng ý tưởng của bạn đã được kiểm chứng rồi, rằng bạn đã có sẵn cái để so sánh/ làm chuẩn, hay một xuất phát điểm ban đầu, để từ đó lấy cơ sở phát triển tiếp ý tưởng của mình.  Nhờ có cạnh tranh, bạn có thể lắng nghe khách hàng của đối thủ để tìm hiểu xem họ thực sự muốn và cần cái gì, để qua đó bạn có thể tạo ra thứ thực sự có sức hút trên thị trường thay vì phải mò mẫm trong bóng tối. Tất cả những gì bạn cần làm là một chút nghiên cứu thị trường thôi.  Giả sử bạn muốn bán quần áo trẻ em, nhưng đừng bán bất kỳ loại quần áo nào dành cho trẻ em. Bạn muốn có sự độc đáo, vì thế có thể bạn sẽ bán loại quần áo trẻ em theo phong cách miền nam vì đó là một xu hướng lạ. Thế là bạn bắt tay vào tìm hiểu rồi nhanh chóng nhận ra là khối người cũng đang bán quần áo trẻ em phong cách miền nam. Ý tưởng của bạn, rốt cuộc, chẳng có gì độc đáo cả. Bạn phải làm gì đây?  Thay vì thất vọng, hãy liệt kê tất cả những website, Facebook page bán quần áo trẻ em phong cách miền nam mà bạn có thể tìm thấy. Sau đó, hãy đi hỏi những nhóm này xem họ muốn gì, họ sẽ sẵn sàng thay đổi điều gì, và có điều gì họ không thích ở sản phẩm họ đang mua hay không. Hãy hỏi, và xem mọi chuyện đi tới đâu.  Cái thú vị nằm ở chỗ ai cũng thích kể cho người khác nghe họ thích gì. Khi đã có doanh nghiệp làm điều mà bạn dự định làm, hãy tiếp cận thẳng với khách hàng của họ và hỏi xem bạn có thể làm gì để phục vụ họ tốt hơn. Như vậy, bạn sẽ không chỉ có được một ý tưởng tuyệt vời mà bạn còn có sẵn một lượng khách hàng để bán hàng ngay từ ngày đầu thành lập. Hãy gọi đó là một tình huống đôi bên cùng có lợi.  Như vậy, nếu bạn muốn độc đáo và muốn tạo ra thứ gì đó mà mọi người thực sự muốn có, hãy bắt đầu bằng việc tìm kiếm những mảnh ghép đang còn thiếu trên thị trường hiện tại thay vì loay hoay tìm cách lập nên một thị trường mới toanh.  Và hãy làm ơn cho chính bạn bằng một hành động nhỏ này: đừng hoảng lên khi thấy cứ mỗi khi bạn nghĩ ra được một ý tưởng gì đó hay ho là y như rằng đã có người đang thực hiện rồi. Thay vì giận dữ và chán nản, hãy thấy vui mừng khi thấy rằng có người đang kiếm được tiền bằng việc mà bạn dự định làm.  Mà, suy cho cùng, nếu rốt cuộc bạn cũng nghĩ ra được một ý tưởng độc đáo tới độ chưa có ai làm, thì hẳn họ cũng có lý do để đừng làm chứ.  Thu Trang dịch theo Entrepreneur      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một bảng tổng đồ các con tàu phải đóng và sửa chữa      Để tái cơ cấu ngành đóng tàu, trước hết cần  biết trong năm-mười năm tới, chúng ta cần những con tàu gì, từ tàu du  lịch tới tàu nghiên cứu biển, từ chiếc xuồng nhỏ nhoi trên sông hồ tới  những giàn khoan trên Biển Đông hay những con tàu hậu cần cho đội ngũ  tàu ngầm… Công việc có vẻ phức tạp nhưng khác với 50 năm trước, chúng  ta có cả một loạt các viện, học viện, các trung tâm nghiên cứu thuộc  nhiều lĩnh vực khác nhau…     Đã lâu lắm rồi mới có dịp hội ngộ những người làm nghề đóng tàu cả nước trong một sinh hoạt nghề nghiệp: Đại hội lần thứ hai của Hội Công nghiệp Đóng tàu Việt Nam tại Hà Nội ngày 14/12 vừa rồi. Nhiều khuôn mặt thân quen: từ những người thiết kế và đóng tàu “không số” trong chiến tranh 50 năm trước tới những kỹ sư trẻ đóng các con tàu 5 vạn tấn vừa qua, từ các nhà đóng tàu dân dụng ở Hải Phòng tới các giám đốc đóng giàn khoan biển tại Vũng Tàu… Tuy nhiên, danh sách những người tham gia Đại hội vẫn cho ta cảm giác Hội này vẫn là nơi “nối dài” của Vinashin ngày trước và Tổng công ty Công nghiệp Đóng tàu Việt Nam (SBIC) ngày hôm nay, mà vắng bóng các bộ đồng phục trắng-xanh của quân chủng hải quân, của những người đóng tàu cá, những xưởng đóng thuyền gỗ tư nhân dày đặc khắp ven biển… Tập hợp được toàn thể đội ngũ đóng tàu trong cả nước là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong việc thực hiện một Chiến lược Biển Quốc gia. Đáng tiếc là đội ngũ này vốn còn nhỏ yếu, lại bị phân tán, trong khi yêu cầu một Đội tàu Biển Quốc gia – bao gồm tất cả các loại tàu từ dân dụng tới quân dụng, từ tàu ngầm Kilo tới các xuồng nhỏ chống bão lụt – thật mạnh mẽ lại đang có những bước thụt lùi nghiêm trọng. Tại các trường kỹ thuật hàng hải hiện nay, sinh viên không được học môn Lịch sử nghề để thấy được truyền thống và các bài học trong quá khứ, cũng như môn Lịch sử hàng hải và đóng tàu của đất nước chưa được nghiên cứu có hệ thống. Nhưng qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, ta có thể rút ra vài nhận xét nho nhỏ:  1/ Công nghiệp Biển cần được đầu tư tập trung, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Nhà nước. Ngay sau khi hòa bình được lập lại, vào năm 1955, nhiều đoàn du học sinh đã được gửi đi học về đóng và sử dụng tàu dân dụng và tàu quân sự tại nhiều nước được coi là có nền hàng hải tiên tiến nhất trong các nước thuộc phe XHCN thời bấy giờ. Nhiều xưởng dân dụng như Bạch Đằng, Tam Bạc… cũng sửa chữa và đóng mới các tàu quân dụng. Các con tàu của vận tải biển đã tham gia tích cực trong các chiến dịch như một đơn vị hậu cần của hải quân: kéo tàu phóng lôi, vận chuyển xe tăng… Các kỹ sư đóng tàu dân dụng và quân dụng sát cánh bên nhau trong học tập và làm việc tại các cơ xưởng. Trong khi đó, hiện nay, việc hợp tác đó rất yếu ớt. Mảng đóng tàu quân dụng đang say sưa với các thành tích đóng tàu pháo, tàu hộ vệ Gepard; mảng đóng giàn khoan với những chương trình giàn nửa chìm đầy tham vọng… chắc chẳng để ý tới những người anh em trong SBIC đang đói công ăn việc làm. Điều này cũng chẳng nên trách ai, vì trong những năm “cực thịnh” của mình, Vinashin đã thản nhiên một mình một sàn diễn với các hội chợ lớn, hay các hội nghị kêu gọi hợp tác công nghiệp phụ trợ “chỉ trơ có một mình”, để một mình mở ra những khu công nghiệp hoành tráng ở Lai Vu (Hải Dương), An Hồng (Hải Phòng)… nay cỏ dại mọc đầy, còn Văn phòng điều hành khối Hải Phòng đồ sộ nay trở thành tòa nhà hoang ven Quốc lộ 5 mới mở! Thay vì điều hành Công nghiệp Biển tập trung cao độ, dưới một “bàn tay sắt”, như cách điều hành của hầu hết các nước, trong những năm qua, công nghiệp đóng tàu và vận tải biển đã được phát triển “thoải mái” với tất cả các chiêu trò của “hàng hải tư bản chủ nghĩa” như treo cờ phương tiện, mở các các công ty con-cháu, các công ty “ảo” tại nước ngoài, kinh doanh tàu cũ, các kiểu cho thuê tàu… những điều đã được lên án mạnh mẽ trong các “giáo trình hàng hải Xô-viết”, những cuốn sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi! Nếu vào những năm 1980, Công ty cổ phần Vận tải và Thuê tàu Vietfracht suýt bị “trảm” vì những thủ tục khắt khe của ngân hàng, kiểm toán, mặc dù Vietfracht đã cung cấp cho đất nước cả một đội tàu nhờ kinh doanh theo kiểu “tay không bắt giặc” thì chính các tổ chức tài chính như ngân hàng, bảo hiểm sau này lại rộng rãi mở hầu bao cho hơn 130 nhà máy đóng tàu (theo thống kê của Đăng kiểm Việt Nam năm 2007) như nấm mọc sau mưa, với các đội tàu tư nhân Phúc Hải, An Lư… – những “động lực” để phát triển đóng tàu lúc này. Và kết quả là các vụ án Vinashin, Vinalines, vụ Công ty tài chính Agribank…!   2/ Ngay từ những ngày đầu phát triển, Nhà nước đã chú ý đào tạo con người một cách có hệ thống: học đóng tàu cá tại Kaliningrad (Nga), học tàu dân dụng và quân dụng tại Gdansk (Ba Lan)… là những trung tâm đào tạo tốt nhất đối với chúng ta thời bấy giờ. Khi chuẩn bị đóng tàu lớn, một đoàn “học đóng tàu vạn tấn” được cử đi Ba Lan với đủ mọi chức danh của một nhà máy hoàn chỉnh. Khoa Đóng tàu được thành lập tại Đại học Giao thông Vận tải bao gồm các kỹ sư học hành có hệ thống từ nước ngoài và sau đó, một số được cử đi học nâng cao. Trong khi đó, những năm gần đây, không có chuyện đào tạo có hệ thống như vậy, đặc biệt là không có ai được gửi đi học tại các trung tâm lớn như ở Mỹ và châu Âu. Những suất đi học hiện nay chủ yếu trông cậy vào các nguồn học bổng, tài trợ của các công ty, đi làm đề tài cho các giáo sư nước ngoài. Tại các viện thiết kế, các nhà máy, những người có năng lực không được tiếp tục bồi dưỡng và chăm lo như những tài sản quốc gia. Chỉ cần so sánh những khoản tiền khổng lồ đổ vào triền đà và ụ nay đang phơi sương phơi gió vì những dự án hoang tưởng với những đồng tiền ít ỏi dành cho con người bao gồm lương bổng, chi phí đào tạo… đã nói lên tất cả.   3/ Công nghiệp đóng tàu và Công nghiệp Biển nói chung – như nhấn mạnh trong tất cả các giáo trình kinh tế hàng hải hiện đại – là một ngành công nghiệp có biên độ lợi nhuận rất nhỏ, lại phụ thuộc vào thị trường hàng hải thế giới “nóng, lạnh” thất thường theo bầu không khí chính trị toàn cầu. Nhưng, với tầm quan trọng, tạo nên sức mạnh trên biển, các quốc gia đều quan tâm đặc biệt tới công nghiệp đặc thù này, với những đầu tư tập trung, trước hết để tạo nên một đội tàu quân dụng mạnh mẽ nhằm thúc đầy kinh tế biển. Với ước mơ hoang tưởng, dùng đóng tàu như một công nghiệp gia công để nhảy lên vị trí thứ tư trong bảng sắp hạng đóng tàu toàn cầu, với bể thử tàu “to nhất Đông Nam Á”, với đội tàu biển 10 triệu tấn tàu nhưng không biết để chở cái gì… chúng ta đã lãng phí cả một núi tiền, làm giảm sức mạnh trên biển của quốc gia. Điều đáng tiếc là cho tới nay, tư duy “đóng tàu mang tính trang trí” vẫn còn hiện diện, mặc dù đã có bài học Hyundai-Vinashin: liên kết với một người khổng lồ nhưng đất nước được lợi gì, ngoài việc hy sinh môi trường và có một chút đồng lương rẻ mạt cho người lao động… Và trong tương lai, những công ty đóng tàu Samsung, Oshima, Damen… sẽ làm được gì cho Công nghiệp Biển Việt Nam? Lúc này, SBIC vẫn đang mong thị trường thế giới biến chuyển để các triền đà hàng vạn tấn có việc làm – một việc “ăn may”, trong khi thị trường nội địa chưa được nghiên cứu, khai thác. Cuộc trình duyệt 21 mẫu tàu cá vỏ thép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 11 vừa qua là một bước thử nghiệm ban đầu kéo công nghiệp đóng tàu lại gần với thực tế cuộc sống nhưng cuộc sống cần những con tàu như thế nào thì hiện nay chưa được làm rõ. Không phải trở lại thời bao cấp như 50 năm trước đây, khi người từ Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xuống từng nhà máy vanh vách giao việc phải đóng bao nhiêu thiết bị phá lôi cho quân đội, bao nhiều cầu phà đảm bảo giao thông; cũng chưa phải lúc tập hợp mọi lực lượng trong một hai tập đoàn như CSIC, CSSC của Trung Quốc nhưng có lẽ muốn tái cơ cấu ngành đóng tàu, trước hết cần biết trong năm-mười năm tới chúng ta cần những con tàu gì, từ tàu du lịch tới tàu nghiên cứu biển, từ chiếc xuồng nhỏ nhoi trên sông hồ tới những giàn khoan trên Biển Đông hay những con tàu hậu cần cho đội ngũ tàu ngầm… Công việc có vẻ phức tạp nhưng khác với 50 năm trước, chúng ta có cả một loạt các viện, học viện, các trung tâm nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau… Nếu không có một bảng tổng đồ các con tàu cần đóng và sửa chữa thì mọi dự báo về phát triển của SBIC cũng chỉ là những liều “bốc thuốc” an thần.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Căn nguyên của khủng hoảng ngân sách hiện nay      Những vấn nạn liên quan tới quản lý Ngân sách Nhà nước (NSNN) lâu nay như bội chi NSNN quá cao và diễn ra một cách có hệ thống suốt trong thời gian dài, vượt chỉ tiêu Quốc hội cho phép; nợ công tăng liên tục với gia tốc lớn, gần chạm ngưỡng an toàn, nợ Chính phủ đã vượt trần cho phép; chi thường xuyên (mà chủ yếu là chi hành chính) không ngừng tăng; thu ngân sách chỉ đủ để chi thường xuyên và trả nợ, v.v. đều có căn nguyên từ những bất cập của hệ thống thể chế quản trị ngân sách được chế định ngay trong Luật NSNN.      Kỷ luật tài khóa tổng thể  “Kỷ luật ngân sách của Việt Nam quá kém”1, “ngân sách Việt Nam cần cuộc đại phẫu”2, cần “quyết liệt trong quản lý để cân bằng ngân sách nhà nước”3… là những tiếng kêu khẩn thiết của các chuyên gia kinh tế. Trong khuôn khổ Luật NSNN cũ (2002), Nghị quyết mà Quốc hội ban hành về dự toán ngân sách hằng năm liên tục bị vi phạm ở cả phần thu lẫn chi ngân sách nhưng Quốc hội cũng chưa bao giờ xem xét vấn đề này để có quyết sách phù hợp. Đáng chú ý là vì nhiều lý do khác nhau, Luật NSNN sửa đổi 2015 vẫn chưa có chế định phù hợp để khắc phục các bất cập đã tồn tại hàng chục năm này. Cụ thể: Điều 52 Luật ngân sách mới vẫn cho phép điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, nghĩa là “kỷ luật thép” về NSNN chưa được thiết lập. Hệ thống ngân sách “cứng” về cơ bản4 cũng chưa được hình thành dẫn đến kỷ luật ngân sách lỏng lẻo. Theo thông lệ trên thế giới, dự toán thu ngân sách có thể linh hoạt, nhưng đối với chi ngân sách thì phải áp dụng “kỷ luật thép” – không được vượt trần chi tiêu đã quy định. Các nước khối EU còn đặt ra một “Quy tắc vàng” đáng để chúng ta học tập: thâm hụt ngân sách không được vượt trần quy định là 3% GDP.          Luật NSNN được Quốc hội thông  qua lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam vào ngày 20/3/1996, đánh dấu một  bước ngoặt trong lộ trình tiến đến quản lý ngân sách theo các nguyên  tắc của nhà nước pháp quyền.  Từ đó đến nay, Luật NSNN trải qua ba lần  sửa đổi, điều chỉnh quan trọng, trong đó hai lần (1998, 2002) gắn với  Hiến pháp 1992 và lần gần nhất Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 6 năm  2015 dựa trên Hiến pháp mới 2013. Có thể nói, với việc ban hành một loạt  đạo luật liên quan đến tài chính ngân sách trong năm 2015 như Luật NSNN  sửa đổi, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán Nhà nước, … và một số luật trước  đó như Luật Đầu tư công (2014), Luật Đấu thầu sửa đổi (2013), Luật sửa  đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (2012)…, pháp  luật Việt Nam nói chung và pháp luật về tài chính ngân sách Việt Nam nói  riêng đã dần tiếp cận với chuẩn mực và thông lệ về quản trị tài chính  công phổ biến trên thế giới. Đây là những bước đi tất yếu, cần thiết,  mặc dầu có phần muộn khi nước ta đã hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế  khu vực và thế giới. Và như được đánh giá trong bài viết, chúng vẫn còn  chưa đáp ứng các thông lệ quản trị ngân sách phổ biến trên thế giới.          Tính hiệu quả trong chi tiêu ngân sách   Hiệu quả sử dụng ngân sách thấp do phân bổ ngân sách chủ yếu dựa trên nhu cầu ở đầu vào và chưa thoát khỏi “cơ chế xin-cho”. Việc gắn sử dụng ngân sách với hiệu quả cần đạt ở đầu ra rất lỏng lẻo khiến cho việc theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách và chế tài trách nhiệm các cá nhân, tổ chức rất khó khăn, trên thực tế hầu như không thực hiện được. Luật ngân sách mới cũng chỉ ràng buộc các khoản chi phải có dự toán và có nguồn tài chính, là những ràng buộc cần nhưng chưa đủ trong bối cảnh thể chế yếu kém, kỷ luật và đạo đức công vụ xuống cấp trầm trọng. Có thể nói không nơi nào trên thế giới người ta có thể dễ dàng tùy tiện sử dụng tiền thuế của dân để chi cho những việc không liên quan gì đến nhiệm vụ chi và đến việc cung cấp dịch vụ công cho dân (mua xe, đi tham quan nước ngoài, tiếp khách, liên hoan, lễ hội…). Người dân và các tổ chức xã hội hiện chưa được tham gia giám sát việc chi tiêu ngân sách.  Hệ thống thống kê, kế toán và báo cáo ngân sách   Do tính lồng ghép như sẽ nêu ở dưới, hệ thống thống kê kế toán và báo cáo ngân sách còn nhiều bất cập, vừa cồng kềnh, tốn kém thời gian và công sức. Báo cáo dài nhưng lại chưa cung cấp đúng chủng loại thông tin tin cậy và kịp thời phục vụ cho việc quản lý, giám sát và quy trách nhiệm ở từng cấp hành chính. Các đoàn giám sát chuyên đề về ngân sách của Hội đồng Nhân dân các cấp và Quốc hội thường phải dựa vào báo cáo do chính các tổ chức, đơn vị chịu sự giám sát lập nên rất khó khách quan. Lẽ ra chúng có thể được truy xuất một cách dễ dàng, đáng tin cậy, nhanh chóng, và ít tốn kém hơn nếu thiết lập được hệ thống thông tin ngân sách xuyên suốt qua các cấp ngân sách. Quan trọng hơn, hệ thống thống kê, kế toán ngân sách còn khác biệt nhiều so với các thông lệ tiến bộ trên thế giới. Hiện tại Việt Nam mới chỉ áp dụng hệ thống kế toán dựa trên tiền mặt, chưa áp dụng kế toán dồn tích và thống kê tài chính chính phủ nên chưa phán ánh đầy đủ và kịp thời các giao dịch ngân sách đúng khi phát sinh.  Trách nhiệm giải trình  Chừng nào ngân sách còn lồng ghép thì trách nhiệm giải trình của từng cấp ngân sách còn mờ nhạt. Cùng với sự lỏng lẻo về kỷ luật tài khóa nói ở trên thì việc cải thiện tình hình ngân sách để thoát ra khỏi khủng hoảng hiện nay vẫn sẽ chỉ là mong muốn. Luật ngân sách mới vẫn tiếp tục cho phép duy trì tính chất lồng ghép của hệ thống ngân sách5 mà các chuyên gia đã khẩn thiết đề nghị thay đổi trong quá trình thảo luận sửa đổi Hiến pháp 2013 và Luật NSNN sửa đổi. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh kinh niên về lãng phí, tham nhũng. Luật ngân sách mới chỉ đề cập khái niệm “giải trình” một lần duy nhất tại khoản 2b, Điều 66 khi chế định về duyệt quyết toán ngân sách nhà nước (“Yêu cầu đơn vị giải trình hoặc cung cấp thông tin, số liệu cần thiết để thực hiện việc xét duyệt quyết toán”) trong khi ai cũng biết việc phê chuẩn quyết toán bởi Hội đồng Nhân dân các cấp và cả ở Quốc hội vẫn nặng tính hình thức, chưa thực chất.  Tính công bằng  Về lý thuyết, công bằng gồm hai chiều, chiều dọc và chiều ngang. Công bằng theo chiều dọc đòi hỏi chính sách của nhà nước phải phân biệt đối với các đối tượng khác nhau khi trợ cấp an sinh xã hội và điều tiết thuế (Ví dụ: trong thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước phân biệt mức đóng thuế khác nhau theo mức thu nhập và gia cảnh cụ thể của từng đối tượng). Công bằng theo chiều ngang đòi hỏi các chính sách trợ cấp của nhà nước và điều tiết tài chính không được phân biệt đối xử giữa các đối tượng có điều kiện kinh tế hay xã hội như nhau (ví dụ: mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 đều là 1,845 tr. đ/tháng). Giữa hiệu quả và công bằng luôn luôn là sự đánh đổi. Trong thực tiễn quản lý tài chính công tìm điểm tối ưu sao cho có thể đạt được sự cân bằng hợp lý giữa công bằng và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công luôn khan hiếm là một thách thức không nhỏ ngay cả ở các nước tiên tiến. Trong Luật NSNN mới, công bằng mới chỉ được quy định như là một trong các nguyên tắc chung về quản lý NSNN và phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách. Do chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn cụ thể về nội hàm công bằng nên tạm thời chưa thể nói gì thêm về tiêu chí này nhưng sơ bộ có thể thấy Luật NSNN mới đã chú trọng vấn đề quan trọng này.  Tính công khai minh bạch  Công khai ngân sách được Luật NSNN mới sửa đổi quy định khá chi tiết tại Điều 15. Tuy nhiên chi tiết đầy đủ về công khai ngân sách còn phải chờ Chính phủ quy định cụ thể. Điều mà Quốc hội và cử tri quan tâm chắc chắn không chỉ là công khai mà quan trọng hơn là minh bạch, tức là thông tin về tài khóa được bạch hóa, đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng theo số lượng, chất lượng thông tin và kịp thời. Công khai chỉ là hành động, có thể nhưng không nhất thiết dẫn đến minh bạch. Đây chính là một trong những thách thức đối với Việt Nam như sẽ được phân tích ở dưới.  Công khai minh bạch tài khóa hướng tới hai đối tượng khác nhau, đó là cơ quan dân cử và công chúng. Trước hết nói về công khai minh bạch tài khóa đối với Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Có thể chia thành hai loại thông tin trước (tạm gọi là “tiền dự toán”) và sau (tạm gọi là “hậu dự toán”) khi Quốc hội phê chuẩn dự toán NSNN hằng năm và phân bổ ngân sách Trung ương. Về thông tin “tiền dự toán”, Luật NSNN sửa đổi 2015 quy định danh mục 12 tài liệu dự toán NSNN và phương án phân bổ ngân sách Trung ương Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp cuối năm. So với Luật NSNN cũ (2002) danh mục này đã được bổ sung thêm ba tài liệu mới rất quan trọng, giúp tăng cường căn cứ để Quốc hội xem xét phê chuẩn, đồng thời nâng cao đáng kể tính minh bạch về thông tin tài khóa. Đó là: (1) Kế hoạch tài chính năm năm đối với năm đầu kỳ kế hoạch; (2) Kế hoạch tài chính – ngân sách ba năm và (3) Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tài chính, dự kiến kế hoạch tài chính năm sau của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Trung ương quản lý. Điều 15 Luật NSNN sửa đổi 2015 cũng quy định rõ các loại tài liệu “hậu dự toán” cần công khai như: (a) báo cáo dự toán NSNN đã được cấp có thẩm quyền quyết định; (b) báo cáo tình hình thực hiện NSNN; (c) quyết toán NSNN được Quốc hội, Hội đồng Nhân dân phê chuẩn; (d) dự toán, tình hình thực hiện, quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ trợ và các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn NSNN. Bên cạnh đó, MTEF (Khuôn khổ chi tiêu trung hạn) góp phần tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý và sử dụng NSNN, đồng thời góp phần phân tích, đánh giá và cải thiện những vấn đề tồn tại trong việc huy động và phân bổ nguồn lực, điều chỉnh chính sách chiến lược ưu tiên và những mất cân đối giữa nguồn lực và đề xuất chi tiêu công của các ngành, các lĩnh vực, qua đó xác định rõ nhu cầu chi tiêu công.   Mặc dầu có tiến bộ vượt trội so với Luật ngân sách cũ, nhưng so với thông lệ tốt trên thế giới thì Việt Nam vẫn còn tụt lại phía sau một khoảng cách không nhỏ. Ví dụ: Để giám sát hiệu quả, theo  thông lệ tốt trên thế giới, cơ quan lập pháp cần được cung cấp thông tin về (1) những rủi ro chính đi kèm với viễn cảnh ngân sách; (2) danh mục các khoản bảo lãnh mới mà Chính phủ dự định áp dụng và mức trần tổng thể cho các khoản bảo lãnh đó do cơ quan lập pháp quy định trong ngân sách hàng năm; (3) Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và chi tiêu ngoài ngân sách. Một số nghị viện còn ban hành luật thành lập Quỹ ngoài ngân sách và phân bổ các khoản chi tiêu ngoài ngân sách6, v.v.  Về minh bạch thông tin đối với doanh nghiệp và người dân (gọi tắt là công chúng), lâu nay công chúng chưa được thông tin kịp thời về thu, chi và các vấn đề khác về NSNN. Cụ thể: Trước ngày 1 tháng 1 năm 2017 khi Luật NSNN sửa đổi có hiệu lực, Việt Nam chưa công bố dự toán ngân sách trước khi trình Quốc hội. Luật NSNN sửa đổi 2015 quy định công bố thông tin cho công chúng nhưng sau năm ngày kể từ khi Chính phủ gửi đại biểu Quốc hội; tài liệu “hậu dự toán” thì công bố còn chậm hơn nữa, sau 30 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành.   Do công chúng Việt Nam chưa được tiếp cận thông tin tài khóa kịp thời nên chỉ số minh bạch ngân sách (Open Budget Index-OBI) của Việt Nam chưa bao giờ vượt qua ngưỡng minh bạch thông tin tối thiểu là 20% trong bảng xếp hạng OBI của khoảng 100 quốc gia được đánh giá từ năm 2006 đến năm 20157 trong khi vai trò của Quốc hội và Kiểm toán Nhà nước được đánh giá thuộc loại cao8. Ngoài ra, mặc dầu tầm quan trọng của NSNN như vậy nhưng cho đến nay cũng chưa có “Sách trắng” về NSNN nào được công bố ngoài một số thông tin rất hạn chế mới được công bố trong mục “Ngân sách công dân” trên Trang tin điện tử của Bộ Tài chính vài năm gần đây (không tính số liệu dự toán hằng năm sau khi được Quốc hội thông qua) – trong khi đó ngành Khoa học-Công nghệ đã xuất bản “Sách trắng” từ 2014. Nếu việc công khai thông tin ngân sách được thực hiện đúng theo quy định của Luật NSNN sửa đổi 2015, không mang nặng tính hình thức, thiếu thực chất như đã xảy ra trong quá trình thực hiện Luật NSNN cũ (2002) thì tình hình sẽ được cải thiện căn bản, OBI Việt Nam sẽ tăng đáng kể.  Mức độ tham gia của cộng đồng  Hiện tại cử tri chưa được tham gia trong công tác giám sát ngân sách sớm ngay từ khâu lập dự toán ngân sách nhà nước do thông tin về dự toán chưa được công bố đến cử tri và công chúng trước (hoặc cùng lúc) khi Chính phủ trình Quốc hội dự toán để xem xét thông qua. Luật NSNN mới đã có tiến bộ đáng kể trong khía cạnh này nhưng vẫn chưa đạt được mức độ như nhiều nước tiên tiến. Cụ thể: Luật mới quy định từ 1.1.2017, sẽ công bố dự toán sau 5 ngày làm việc kể từ khi Chính phủ gửi báo cáo về ngân sách đến đại biểu Quốc hội; tương tự là thông tin về chấp hành ngân sách: Luật NSNN mới quy định công bố sau 30 ngày kể từ khi ban hành. Ngoài ra Luật này còn quy định “NSNN được giám sát bởi cộng đồng”. Đây là một bước tiến nổi trội so Luật cũ.  Như vậy, mặc dầu được kỳ vọng sẽ có nhiều tiến bộ vượt trội so với Luật cũ (2002), nhất là ở ba tiêu chí sau (công bằng, minh bạch, sự tham gia của người dân), Luật NSNN mới ban hành và sẽ có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2017 vẫn còn ở khoảng cách rất xa so với thông lệ quốc tế, đặc biệt là ở bốn tiêu chí quản trị ngân sách đầu (kỷ luật tài khóa tổng thể, tính hiệu quả, hệ thống thống kê, kế toán và báo cáo ngân sách, trách nhiệm giải trình). Chừng nào những cản trở lớn có tính căn cơ này chưa được khắc phục thì việc thoát ra khỏi những bất cập, bế tắc về ngân sách như đã nêu sẽ còn vô vàn khó khăn.         Cẩm nang về minh bạch tài khóa của  IMF, trong mục III: Công bố thông tin có ghi rõ “3.1. Công chúng cần  được cung cấp đầy đủ thông tin về các hoạt động tài khóa trong quá khứ,  hiện tại và trong các kế hoạch tương lai, và về những rủi ro tài khóa  chính; 3.2. Các thông tin tài khóa phải được trình bày sao cho tạo điều  kiện thuận lợi cho công tác phân tích chính sách và tăng cường tính giải  trình” (theo Cẩm nang minh bạch tài khóa. Tài liệu dự án của Ủy ban  TCNS 6/2011, tr.12).          ———-  1 TS. Vũ Sỹ Cường “Kỷ luật ngân sách của Việt Nam quá kém”. Nguồn: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/ky-luat-ngan-sach-cua-viet-nam-qua-kem-2885813.html  2TS Lê Đăng Doanh “Ngân sách nhà nước: cần cuộc đại phẫu” , Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 24/10/2013:http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/104608/Ngan-sach-nha-nuoc-Can-cuoc-dai-phau.html  3 TS. Nguyễn Minh Phong “Quyết liệt trong quản lý để cân bằng Ngân sách nhà nước” http://www.nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/29213902-quyet-liet-trong-quan-ly-de-can-bang-ngan-sach-nha-nuoc.html  4 Nói về cơ bản là vì Luật NSNN 2015 đã thể chế hóa việc áp dụng khuôn khổ ngân sách trung hạn, một yếu tố quan trọng tiến tới thiết lập hệ thống ngân sách “cứng” trong thời gian tới như thông lệ tốt trên thế giới.   5Ngân sách nhà nước gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương  6 Sổ tay quốc tế về quản lý tài chính công. Tài liệu dự án của Ủy ban TCNS 2014, tr. 146.  7 OBI Việt Nam qua các năm: 2006-2%; 2008: 9%; 2010: 14%; 2012-19% và 2015-18%.  8 Chỉ số OBI thành phần đối với Quốc hội Việt Nam năm 2015 là 61%, đối với Kiểm toán Nhà nước là 75% so với chỉ số OBI tổng thể là 18%      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần nhà đầu tư nước ngoài để xử lý nợ xấu      Đề án xử lý nợ xấu đã được Bộ Chính trị  thông qua và đang có những sửa đổi trước khi ban hành. Theo TS Lê  Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, nhà  nước nên mở rộng các cơ chế chính sách để nhà đầu tư nước ngoài tham gia  vào quá trình mua bán nợ, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu.    Nhà đầu tư nước ngoài rất quan trọng  Nói chuyện tại “Hội thảo cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương và nhu cầu nguồn nhân lực cấp cao ngành tài chính ngân hàng”, do Đại học Tài chính Marketing tổ chức, ông Nghĩa cho rằng đề án thành lập Công ty Quản lý tài sản (VAMC) sẽ được xem xét vào kỳ họp tiếp theo của chính phủ. Nhưng nếu chỉ dựa vào nguồn lực trong nước, khó mà xử lý được hết số nợ đó.  VAMC dự kiến có vốn điều lệ 100.000 tỉ đồng, sẽ mua lại nợ của các ngân hàng bằng cách phát hành trái phiếu. Nợ xấu của doanh nghiệp thay vì nằm ở ngân hàng thương mại sẽ được chuyển sang VAMC. Đồng thời với việc bán nợ, ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng 20% trên tổng trái phiếu mà VAMC phát hành. Sau 5 năm, tổng số nợ sẽ được bù bằng trích lập dự phòng. Và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ngân hàng.  Cùng với quá trình đó, VAMC sẽ cùng với doanh nghiệp xử lý nợ xấu. Ngân hàng sẽ tham gia ở góc độ hỗ trợ. Việc ngân hàng sau khi có trái phiếu có được dùng để chiết khấu tại ngân hàng trung ương để chuyển thành tiền hay không, hay dùng để thế chấp như giấy tờ có giá để vay tiền dạng tái cấp vốn vẫn còn đang tranh cãi.  Câu hỏi là ai sẽ mua tài sản thế chấp tại VAMC, liệu nhu cầu có lớn để hấp thụ số lượng lớn các tài sản đó? Ông Nghĩa cho rằng nhu cầu từ phía nhà đầu tư nước ngoài rất lớn. Đa phần họ có nhu cầu mua tài sản đất đai tại Việt Nam nhưng đều vướng luật. Ông cho rằng cần phải sửa luật để họ có thể tham gia. Cụ thể như cho phép nhà đầu tư nước ngoài lập quỹ đầu tư, công ty tài chính, trực tiếp mua bán tài sản này, cho phép mua nhà ở Việt Nam.  Ở các nước có khủng hoảng năm 1997-1998, 60% các khoản nợ xấu được mua lại từ các nhà đầu tư nước ngoài. Và từ đó, tình hình trong nước được cải thiện.  Ngoài ra, người dân Việt Nam rất “mê” bất động sản, thích sở hữu nhà hơn thuê nhà. Vì vậy, kích thích nhu cầu của người dân thông qua việc giảm lãi suất cho vay mua nhà, giảm giá bất động sản là điều cần làm nếu muốn giải quyết nguồn cung đang dư thừa của ngành này.  “Thêm vào đó, để xử lý được nợ xấu của doanh nghiệp, phải tích cực cho doanh nghiệp vay, nếu ngân hàng xử lý nợ nhưng vốn không chảy ra được nền kinh tế thì việc xử lý nợ xấu xem như thất bại”, ông Nghĩa nói thêm  Muốn giảm lãi suất, phải xử lý được ngân hàng yếu  Theo ông Nghĩa, việc giảm lãi suất sẽ phù thuộc nhiều vào việc lạm phát thấp. Trong năm nay, lạm phát sẽ chỉ dao động khoảng 6-7%, với điều kiện tiền đề này, lãi suất huy động có thể giảm được. Ông Nghĩa cho rằng trong năm nay, lãi suất huy động sẽ giảm được thêm khoảng một điểm phần trăm.  Nhưng đó là lãi suất quy định, còn lãi suất huy động thực tế ở các ngân hàng có thể khác nhau, theo sự phân nhóm của các ngân hàng (ông Nghĩa phân hệ thống ngân hàng Việt Nam thành 3 nhóm: nhóm thường xuyên thiếu tiền, nhóm thỉnh thoảng thiếu tiền, và nhóm thừa tiền). Các ngân hàng yếu thường sẽ đẩy lãi suất lên để huy động, kéo theo lãi suất cho vay cũng lên. Mặt bằng lãi suất cho vay hiện ở mức 12-13%, không giảm nhiều so với trước khi hạ lãi suất huy động.  Ông Nghĩa cho rằng, nếu muốn lãi suất cả huy động và cho vay xuống một cách thực sự hơn thì phải nhanh chóng xử lý ngân hàng yếu, hoặc cho phá sản, hoặc ổn định thanh khoản cho các ngân hàng bằng cách bơm tiền cho họ trong quá trình dài, tránh để họ tăng lãi suất huy động trên thị trường 1 (huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần những doanh nhân góp phần đổi mới/sáng tạo      Đọc bài viết của&#160; GS.TSKH Trần Xuân Hoài về “Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu” trên trang tiasang.com.vn và nhìn lại những người giàu nhất Việt Nam hiện nay (với mức thu nhập khủng và lối tiêu xài) để có một cái nhìn toàn diện hơn về một vấn đề xã hội đang và sẽ có thể kéo đất nước chúng ta xa dần nền kinh tế tri thức!      Những sản phẩm có giá trị được tạo ra trong nước không được chấp nhận bởi thị trường trong nước do nhu cầu của người tiêu dùng quá xa xỉ! Những gì được gọi là làm ra từ chất xám Việt đã không thể “đi vào lòng” công chúng! Nhu cầu (mua sắm) của xã hội (trong đó có cả thị trường Chính phủ) hết sức hiện đại, cao cấp! Chính những “bộ lọc” với rất nhiều tham số khủng ấy, đã tạo ra những vấn đề mà bài viết của GS.TSKH Trần Xuân Hoài đã nêu ra như một báo động đỏ về trí tuệ Việt Nam! Chúng ta đã không còn mặn mà với những sản phẩm được làm ra từ những sáng tạo của nhà khoa học! Điều đó có nghĩa là nó không có, dù chỉ một cơ hội hiếm hoi, được sống, không một tia hy vọng nào được nhô lên khỏi mặt đất do tác động của “hàng hiệu” thế giới đang đầy ắp thị trường Việt ! Những sản phẩm do trí tuệ người Việt làm ra đáng lẽ cần được ươm mầm và chăm sóc chu đáo để có cơ may được sống, lớn lên, tồn tại và phát triển thì nay chúng phải “bò ra khỏi chiếc nôi”, phải chiến đấu như một người trưởng thành bởi các tham số cạnh tranh mới! Cách làm giàu của nhiều “doanh nhân thời đại mới” đang tạo ra nhiều tiêu sản hơn là tài sản cho quốc gia.   Các tập đoàn Việt Nam đang làm giàu bằng cách nào? Cá nhân giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán cũng như “kinh doanh” để làm giàu “cho đất nước” đang thực hiện những công việc gì? Thực tế, họ đang đào bán hết tải sản của đất nước! Từ titan, than đá, dầu thô,… đến kinh doanh ảo đa cấp, bất động sản… Họ đang vét cạn hết các của cải của mọi người dân để biến những thứ gọi là tài sản đất nước thành những món hàng gọi là “tiêu sản” (siêu xe, biệt thự xa hoa, đám cưới khủng, nhà cao cấp, cuộc sống hiện đại,…) . Chính các sản phẩm này đang làm cho xã hội càng chìm ngập trong nợ nần và lạc hậu! Nói một cách khác, nhiều doanh nhân thời đại mới Việt Nam đang làm nghèo chính đất nước mình bởi những giá trị họ đang tạo ra thực chất chỉ là những vật chất mang ma lực hấp dẫn của tiền làm cạn kiệt mọi cơ hội tạo lợi nhuận cho xã hội.   Ở những ngôi làng với đồng lúa xanh tươi tràn đầy sức sống, bỗng nhiên một tấm biển lớn được treo lên với những đường cong tuyệt vời vẽ ra một tương lai về đô thị hiện đại! Những người dân vốn hiền lành chất phác giờ trở thành những “cò đất”. Họ trở nên giàu có trong một đêm! Như những người trúng số, họ mất hết phương hướng của cuộc đời. Những đứa trẻ quê biến thành con nghiệm GAME ONLINE, những căn bệnh “sỹ diện” từ đâu ập đến… tất cả chỉ vì một bức tranh ảo! Vâng, người ta biết điều đó nhưng vì những tiêu sản kia đang như những con nghiện hút hết mọi chất xám vốn quý nhất của con người.    Hiếm lắm những doanh nhân tạo nên những tài sản thật cho xã hội Việt Nam! Điển hình các doanh nhân xuất sắc đang tạo ra giá trị thực (tài sản) như Đặng Lê Nguyên Vũ của Cafe Trung Nguyên, Sữa VINA MILK,… đó mới là thứ tài sản mà quốc gia cần thực sự! Vì nó góp phần thúc đẩy một nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên con số các tập đoàn tạo ra giá trị Việt lại hết sức bé nhỏ. Các công ty kinh doanh hàng điện tử, TIVI, bất động sản, xe, nhà cửa thì cứ ùn ùn ra đời, được các chính sách ngân hàng bơm cả núi tiền… Rất đơn giản: vì họ tạo ra tiền tươi! Và hậu quả là một bãi rác công nghệ, các “đồng bằng” bất động sản tiêu điều , trơ trọi… đang cầu xin nhà nước bơm tiền cứu nguy! Nhiều doanh nhân thời đại mới, mới đến khó hiểu, họ tự nhận mình là những “trí thức làm kinh doanh”, là “những doanh nghiệp thời hội nhập”, họ không tiếc tiền cho các cuộc thi hoa hậu, những buổi ca hát… nhưng chẳng bao giờ “dám đầu tư” cho một sáng tạo khoa học cơ bản, cho dù sáng tạo đó có thể mang lại cho chính lợi ích của ngành nghề họ kinh doanh. Vâng, nếu họ hiểu được thứ gì đó là tài sản quốc gia và thứ gì đó là tiêu sản thì có lẽ họ đã làm khác.     Biết bao nhiêu người giàu có hiện nay trong xã hội có một phút chạnh lòng khi nghĩ về thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu như GS.TSKH Trần Xuân Hoài đã viết? Họ sẽ không bao giờ có thời gian nghĩ về thứ “vô bổ” ấy! Họ đang say sưa với những “ma thuật” nhằm mang lại lợi ích cho bản thân mình! Có ai đã “dám” đầu tư cho chương trình nghiên cứu có thể tạo ra những sản phẩm mang lại sức cạnh tranh cho nền kinh tế quốc gia? Chương trình nhà ở (bất động sản) cho người thu nhập thấp mới nghe qua thì rộn ràng kế sách! Than ôi, nhà thu nhập thấp ấy cho một xã hội nghèo nàn thì nó còn khoét sâu hơn sự nghèo nàn và lạc hâu… vì những người đang hiến kế chỉ biết nghĩ đến “gom tiền” cho chính mình.     Xã hội đang cần những doanh nhân góp phần quan trọng vào những cuộc cách mạng “thúc đẫy sáng tạo” để biến điều không thể thành có thể. Vâng, người Việt Nam không bé nhỏ, chỉ vì những ma lực đồng tiền kia đã che lấp hết mọi nỗ lực trước khi các sáng tạo hết sức nhỏ bé có thể ló dạng trước ánh bình minh !    * Chủ tịch HĐQT – Tổng giám đốc iNet Solutions        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần phải đúng nơi, đúng lúc      Khác hẳn với sự ảm đạm của những năm trước đây, trong thời gian gần đây, tiến trình cổ phần hóa (CPH) dường như đã lên đến cao trào khi mà không chỉ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh thuần túy được đem đấu giá mà ngay cả các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị hoạt động công ích, những bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu… cũng bắt đầu được cân đong đo đếm để bán. Vấn đề đặt ra là cần phải hiểu đúng bản chất của CPH và có cách hành xử hợp lý, nếu không, những hậu quả khôn lường đang chờ ở phía trước là điều khó tránh khỏi.    Cổ phần hóa tất cả sẽ mang lại hiệu quả?  CPH các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hay Trung Quốc và tư nhân hóa ở các nước Đông Âu là một tiến trình tất yếu trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung do nhà nước làm tất cả sang nền kinh tế thị trường mà ở đó chủ yếu do khu vực tư nhân đảm nhiệm với sự tham gia một cách hạn chế của khu vực công. Nguyên nhân dẫn đến việc CPH là do mô hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả vì không giải quyết được mâu thuẫn giữa người sở hữu và người điều hành, cộng với sự nhập nhằng giữa cơ quan quản lý và cơ quan chủ quản.  Do nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong một thời gian khá dài, những nguyên lý nền tảng không được tuân thủ nên rất nhiều trục trặc xảy ra, nhìn đâu cũng có vấn đề. Chính điều này đã tạo ra cảm giác rằng tất cả những gì có sự nhúng tay của nhà nước đều không hiệu quả. Cách tốt nhất là nhà nước không nên tham gia vào bất cứ hoạt động nào của nền kinh tế mà cứ để thị trường tự nó vận động theo lý thuyết Bàn tay vô hình của Adam Smith.  Thực ra, quan điểm nhà nước đứng ngoài là tương đối cực đoan. Nếu thị trường có thể hoạt động một cách hoàn hảo thì điều này là đúng, nhưng trên thực tế, thị trường luôn có những khiếm khuyết và thất bại nên không ít thì nhiều, ở bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần  có sự hiện diện của nhà nước trong các hoạt động kinh tế. Vấn đề ở đây là nhà nước nên tham gia với mức độ nào.  Lý luận tham gia của nhà nước vào các hoạt động kinh tế hết sức đơn giản. Đối với những hoạt động kinh tế thuần túy, không có các thất bại thị trường và có thể giám sát được thì nhà nước không cần tham gia mà chỉ đóng vai trò cảnh sát. Ngược lại, đối với những hoạt động có thất bại thị trường, nhất là các loại hàng hóa công không thể quy định hay giám sát việc tuân thủ thì nhà nước nên tham gia, thậm chí là kiểm soát toàn bộ. Thị trường các loại hàng hóa thông thường là ví dụ cho trường hợp thứ nhất, trong khi bảo đảm quốc phòng an ninh là ví dụ cho trường hợp ngược lại.  Trong những trường hợp còn lại, ở giữa hai thái cực, mức độ tham gia của nhà nước như thế nào sẽ tùy thuộc vào sự rõ ràng và tính có thể giám sát hoạt động của thị trường.  Thành công hay rơi vào vòng tròn thất vọng?  Về lý thuyết thì có thể phân biệt được những hoạt động nhà nước nên tham gia toàn bộ, tham gia một phần hay không nên tham gia. Nhưng trong thực tế, đây không phải là điều dễ dàng.  Có những hoạt động tưởng chừng nhà nước thực hiện sẽ hiệu quả nhưng kết quả lại hết sức thất vọng. Khi đó, người ta lại cho rằng đáng ra phải để cho tư nhân làm, nhưng rồi kết quả cũng không như mong đợi. Vòng tròn thất vọng “Thất bại nhà nước – Thất bại tư nhân” cứ lặp đi lặp lại mà không có lối thoát. Thất bại của việc vận hành hệ thống cấp thoát nước vào những năm 1980-1990 ở Cancún, Mehico hay việc tư nhân hóa ồ ạt hệ thống tài chính ở các nước Nam Mỹ vào những năm 1980 là những minh chứng hết sức sống động cho vòng tròn thất vọng này.  Tuy nhiên, trên thực tế cũng có những dịch vụ mà trước đây không ai nghĩ rằng tư nhân có thể tham gia, nhưng ở một số nước việc để cho tư nhân thực hiện lại hết sức thành công. Quản lý nhà tù ở một số nước phát triển và công nghiệp quốc phòng ở Mỹ là những ví dụ điển hình.  Tại sao việc vận hành hệ thống cấp thoát nước đơn giản như vậy lại không thành công ở Cancún, trong khi quản lý các nhà tù phức tạp như vậy thì tư nhân lại thực hiện được? Câu chuyện ở đây là do môi trường thể chế. Nếu môi trường thể chế càng mạnh thì khả năng quy định và giám sát việc tuân thủ càng tốt. Khi đó, nhà nước sẽ giảm dần việc tham gia trực tiếp của mình mà để khu vực tư nhân thực hiện các dịch vụ sẽ tốt hơn. Ngược lại, nếu môi trường thể chế chưa tốt mà vội vã để cho khu vực tư nhân tham gia vào những hoạt động khó quy định và giám sát tất yếu sẽ nhận được kết quả không như mong đợi.  Trở lại Việt Nam  CPH các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh thông thường là việc làm tất yếu. Nhưng trong điều kiện môi trường thể chế chưa hoàn thiện như hiện nay, việc CPH bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu… là điều cần xem xét một cách cẩn trọng. Đây là các hoạt động có ngoại tác tích cực, trong khi khả năng quy định giám sát chưa khả thi thì việc để cho khu vực tư nhân, những người vì mục tiêu lợi nhuận thực hiện toàn bộ và nhà nước chỉ đóng vai trò giám sát có khả năng sẽ tác động không tốt đến toàn xã hội.  Để kết thúc bài viết, tác giả xin đưa ra quan điểm cá nhân rằng nếu Việt Nam vội vã tiến hành tư nhân hóa các loại hình tổ chức mang tính phúc lợi xã hội, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho một bộ phận không nhỏ các tầng lớp trong xã hội ở thời điểm hiện nay thì khả năng xảy ra những Cancún nhiều hơn là vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Trong nền kinh tế thị trường, có thể đem bán nhiều thứ, nhưng không có nghĩa là thứ gì cũng có thể bán được. Cần phải đúng nơi và đúng lúc.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần sự can trường của nền kinh tế Việt Nam      “Quan điểm của tôi trong ứng xử thương mại  với Trung Quốc hay bất cứ một nước nào khác là sự lành mạnh, thực dụng  và can trường của chính nền kinh tế Việt Nam, chứ không phải đổ lỗi cho  sự lấn lướt không biết giới hạn của người ngoài.”     Cái bẫy của thương mại tự do  – Với tư cách là một nhà nghiên cứu và phân tích kinh tế, ông nhận định như thế nào về sự ảnh hưởng của nền kinh tế Trung Quốc tới nền kinh tế Việt Nam hiện nay?  – Trung Quốc có một ảnh hưởng to lớn đến Việt Nam trên mọi phương diện, chưa bao giờ gián đoạn, điều đó hẳn không phải bàn cãi. Đó cũng là điều hoàn toàn bình thường và dễ hiểu, do điều kiện địa lý và lịch sử. Trên phương diện kinh tế cũng như vậy, nhưng ảnh hưởng của Trung Quốc lên Việt Nam ngày càng gia tăng vì mấy lý do: Thứ nhất, bản thân Trung Quốc đang trở thành một siêu cường kinh tế toàn cầu, và chúng ta thì ở ngay cạnh họ. Thứ hai, các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia có liên quan đến Trung Quốc ngày càng trở nên tự do. Thứ ba, bản thân chúng ta cũng đang có nhu cầu phát triển nên chúng ta cần Trung Quốc vừa là thị trường đầu vào vừa là đầu ra. Điều quan trọng, là chúng ta thích ứng và phát huy môi trường này như thế nào.  – Với tư cách là một người tiêu dùng Việt Nam, ông có cảm giác như thế nào khi một người dân Việt Nam buộc phải tiêu dùng (vì nhiều khi không có cơ hội lựa chọn, hoặc không tự phân biệt được) những thứ hàng hóa kém chất lượng và độc hại do Trung Quốc sản xuất đang tràn ngập thị trường Việt Nam?  – Trong những việc hệ trọng thế này, nên thực hiện phương châm của chính người Trung Quốc cổ đại, là “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, hay nếu có thể can đảm hơn, thì lắng nghe phương châm của triết lý yoga, là mọi sự không hay xảy ra với ta đều bắt nguồn từ ta. Ấn Độ cũng là một nước đang phát triển, mức sống bình quân còn nghèo hơn Việt Nam, nhưng khi đi du lịch bên đó tôi thấy rất ít hàng hóa Trung Quốc. Ngay cả Campuchia cũng không tràn ngập hàng Trung Quốc như ở Việt Nam. Hẳn là có một vấn đề gì đó khác, không liên quan đến trình độ dân trí thấp hay mức sống còn nghèo nàn. Xã hội thị trường rất nghiệt ngã, nếu anh để mặc họ làm, họ sẽ làm cái gì lợi nhất cho họ và bất chấp quyền lợi của ta. Tôi nghĩ chúng ta nên thực sự thấm đẫm tư duy sinh tồn đơn giản đó. Vấn đề là chúng ta có thực sự muốn ngăn chặn hành vi của họ hay không. Tôi nói như vậy chắc là đã đủ, để cho thấy, tình trạng hàng Trung Quốc chất lượng thấp ngập tràn Việt Nam, chính là vấn đề chính sách của bản thân chúng ta.     – Có ý kiến cho rằng nền kinh tế Việt Nam và người tiêu dùng Việt Nam đang bị “chết chìm” vì lệ thuộc vào nền kinh tế của Trung Quốc, hàng hóa của Trung Quốc, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Đó là một thực tế đáng lo ngại?  – Muốn cải thiện chất lượng hàng hóa hiện diện trong thị trường Việt Nam, chúng ta cần áp đặt những hàng rào kỹ thuật, kiểm soát chất lượng theo như chúng ta mong muốn. Có thể sẽ có người nói ngay rằng chúng ta không thể làm như vậy. Câu trả lời đơn giản là khi ta không thể làm thì ta phải chấp nhận hiện thực thôi.  Tuy nhiên, bây giờ tôi muốn thảo luận sâu hơn về cái gọi là “không thể” đó. Thứ nhất, điều trước tiên chúng ta cần là ở sự “thông thái” của người mua hàng. Nếu người mua có đủ tri thức, đủ tầm nhìn, đủ thu nhập và đủ vững vàng về quan điểm, người ta sẽ cân nhắc hành động lựa chọn hàng hóa trong từng hành vi mỗi ngày. Cá nhân tôi không ưa đồ chơi Trung Quốc cho con cái tôi, nên tôi cân nhắc thật kỹ với mỗi món đồ chơi. Nếu có điều kiện về tài chính, chúng ta mua những mặt hàng tốt hơn đến từ nước khác, hoặc những món đồ chơi của dân tộc ta. Và nếu như lựa chọn những món đồ bị thu hẹp vì ta ngoảnh mặt với hàng Trung Quốc, chúng ta hãy hướng dẫn con cái vào những thú vui khác, như đọc sách hay đùa nghịch ngoài trời. Nhưng không có nghĩa ta nói không tuyệt đối với hàng Trung Quốc, vì nếu có những sản phẩm có giá trị, chất lượng tốt, ta vẫn nên mua, đặc biệt nếu có lợi về tài chính. Chính hành động này của chúng ta, sẽ làm những người nhập khẩu hiểu là nên nhập khẩu cái gì.  Thứ hai, nếu ta cho rằng người tiêu dùng không biết lựa chọn gì cho đúng thì chúng ta cần sử dụng các chính sách kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu. Nhưng nếu như cứ vò đầu gãi tai nói rằng làm thế không khả thi, ta sẽ bị trả đũa, hay đơn giản buôn lậu sẽ tràn lan. Than vãn như thế thì có khác gì một người cha khóc lóc trước những đứa con rằng cha không thể bảo vệ được các con. Khi không được bảo vệ, những đứa trẻ buộc phải chấp nhận một số phận hẩm hiu thôi.  – Sự chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam và Trung Quốc là rất lớn, nhập siêu từ Trung Quốc liên tục tăng, ông có cho rằng đấy là dấu hiệu không bình thường?  – Khi tôi đến thăm một làng của những người cổ dài sắp tuyệt chủng ở Bắc Thái Lan gần Tam Giác vàng, tôi và những người đồng hành thấy dâng lên một mối xúc động ghê gớm, và thực sự muốn làm một cái gì đó để giúp họ. Có một cách rất tốt, là mua thật nhiều sản phẩm họ đang chào bán, để họ có tiền mà mua sắm những gì họ muốn. Thế nhưng chúng tôi chỉ có thể mua được mấy cái khăn quàng cổ mà thôi. Tôi đã đi bâng khuâng trong cái làng tồi tàn đó vào buổi hoàng hôn, và thấy điều đó hiện rõ ra như một ẩn dụ sinh động cho nền kinh tế Việt Nam trong mối tương quan với Trung Quốc.  Lý giải thâm hụt cán cân thương mại Việt-Trung, trước hết phải thấy rằng chúng ta đã không sản xuất được những hàng hóa mà Trung Quốc cần (bởi vì họ đã sản xuất những hàng hóa đó tốt hơn chúng ta cho dân chúng của họ), trong khi chúng ta lại rất cần những thứ mà họ đang sản xuất tràn lan ra. Máy móc chẳng hạn. Doanh nghiệp Việt Nam thực sự muốn nhập từ Trung Quốc dù họ biết chất lượng kém xa máy của Nhật hay Đức. Bởi vì giá của chúng rất rẻ và bản thân họ cũng muốn quay vòng vốn nhanh. Đây là thực tế cần thừa nhận, và vì thế cần thời gian để thay đổi.  Lưu ý rằng các nước phát triển hơn ta trong ASEAN như Thái Lan và Malaysia luôn có xuất siêu sang Trung Quốc, và chẳng bao giờ họ phàn nàn về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Đối với họ, sự trỗi dậy và bành trướng về kinh tế của Trung Quốc là một niềm may mắn.   Cho nên, tôi cho rằng chính vì chúng ta còn quá nghèo nàn, yếu ớt và các chính sách kiểm soát dòng nhập khẩu cũng yếu ớt như thế, nên chúng ta phải chấp nhận thực tế đó.  – Tình trạng thương lái Trung Quốc đang biến người nông dân của Việt Nam thành “con tin” và lũng đoạn thị trường Việt Nam, bóp nghẹt các ngành sản xuất, chăn nuôi của Việt Nam. Chúng ta đã nhìn thấy những điều đó, nhưng vẫn chưa có giải pháp hiệu quả?  – Tôi cho rằng việc thương lái Trung Quốc đang lũng đoạn và sẽ ngày càng lũng đoạn thị trường Việt Nam, bắt nguồn từ chính sách do dự, dùng dằng của chúng ta trong việc xây dựng một thị trường cạnh tranh, dựa trên nền tảng tư nhân chứ không phải là doanh nghiệp Nhà nước, trong lĩnh vực phân phối lương thực. Cần phải nghiêm túc trong việc giải quyết mô hình chi phối của các Tổng công ty lương thực hiện nay. Thời gian không đợi chúng ta. Càng dùng dằng, khu vực tư nhân càng chậm lớn, và khu vực nước ngoài càng lấn sâu vào thị trường. Thái Lan đã tư nhân hóa hệ thống phân phối gạo vĩ đại của họ từ 100 năm trước, và đó là khoảng thời gian đủ dài để các thương lái dân tộc họ trưởng thành, đối đầu với bất cứ thương lái nào đến từ bên ngoài. Tất nhiên chính sách nội địa có thể giúp đỡ thương lái trong nước một cách tinh vi. Nhưng nếu không có cơ sở là những thương lái dân tộc ấy, chính sách sẽ chẳng biết giúp ai.    – Là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách, ông có đưa ra ý kiến nào tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách để bảo vệ một nền kinh tế lành mạnh?  – Hãy tưởng tượng nền kinh tế như một cơ thể con người. Môi trường kinh doanh bên ngoài như môi trường xã hội, thời tiết…, và những quốc gia, đối tác thương mại khác như những cá thể khác. Sự tương tác qua lại giữa các cá thể, hay thậm chí là sự “bắt nạt”, lấn lướt là chuyện bình thường trong một thế giới sinh tồn lành mạnh giữa các thực thể sống. Và điều dễ hiểu là để một cơ thể chống đỡ được những tác động bên ngoài, phát triển vững chắc thì chính cơ thể đó trước tiên cần lành mạnh và cường tráng đã. Do đó, để làm cho nền kinh tế lành mạnh, trước hết là cần làm cho những yếu tố bên trong đó lành mạnh, có sức cạnh tranh. Muốn như thế, thì trước tiên cần để cho bộ phận nào có chức năng gì thì thực hiện đúng chức năng đó. Doanh nghiệp tư nhân là động lực của nền kinh tế thị trường, thì hãy để cho họ làm điều đó. Chính phủ cần đưa ra những chính sách sáng suốt, và thực thi chúng một cách cứng rắn, thì Chính phủ hãy tập trung làm điều đó.  Một lần nữa, quan điểm của tôi trong ứng xử thương mại với Trung Quốc hay bất cứ một nước nào khác là sự lành mạnh, thực dụng và can trường của chính nền kinh tế Việt Nam, chứ không phải đổ lỗi cho sự lấn lướt không biết giới hạn của người ngoài. Để làm được điều này một cách thực sự từ trong căn cốt, thì phải biết tôn trọng những giá trị của thị trường, những giá trị về sự công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giá trị mang tính kiến tạo văn minh của giới doanh nhân chứ không chỉ vinh danh họ như đối tượng để bóp nặn, và tiếp tục áp đặt những chi phí ngày càng cao lên giao dịch và hoạt động của họ. Cuối cùng, cần tự hỏi đã bao giờ chúng ta thực sự thấu hiểu giá trị đạo đức của sự cạnh tranh hay chưa?    – Xin cảm ơn ông!     Đinh Hương Bình (Thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần Thơ: Khánh thành vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt – Hàn      Đây là cơ sở ươm tạo, nghiên cứu phát triển  kỹ thuật, tư vấn, đào tạo nhân lực, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và  nhỏ của TP. Cần Thơ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong  nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản và cơ khí chế tạo chế biến, giúp  doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận, nghiên cứu và đổi mới công nghệ.      Vườn ươm công  nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc (KVIP) được khởi công xây dựng cách đây hai năm trên diện tích hơn 13.000 m2, gồm khu vực văn phòng, nhà xưởng, phòng thí nghiệm và các công trình phụ trợ với trang thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường. Dự án có tổng mức đầu tư gần 21,3 triệu USD, trong đó Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ không hoàn lại 17,7 triệu USD, vốn đối ứng của Việt Nam là trên 3,4 triệu USD.  KVIP có đội ngũ nhân viên quản lý năng động được tập huấn cơ bản tại Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các chuyên gia Hàn Quốc còn hỗ trợ việc tổ chức quản lý vận hành và khai thác KVIP…     Khi tham gia ươm tạo tại KVIP, doanh nghiệp được hưởng nhiều chính sách ưu đãi để có thể thực hiện công tác nghiên cứu, phát triển sản phẩm, kỹ thuật, công nghệ theo Quyết định số 1193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/7/2015.  Lễ khánh thành KVIP đã được tổ chức vào chiều 14/11 với sự hiện diện của Chủ tịch Ủy  ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Công Thương Vũ  Huy Hoàng, và Đại  sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Jun dae Joo, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Thương  mại và Năng lượng Hàn Quốc Yoon Sang Jick.  Tại buổi lễ, đã có 3 biên bản ghi nhớ hợp tác đã được ký kết giữa Viện  Công nghệ tiên tiến Hàn quốc với Ban quản lý dự án ODA TP. Cần Thơ; giữa  KVIP với Hiệp hội Chế biến lương thực Hàn quốc; giữa KVIP với Sở Công  Thương TP. Cần Thơ.     Nguồn:   http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Khanh-thanh-du-an-uom-tao-cong-nghe-cao-Viet-NamHan-Quoc/241427.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần tinh thần chiến binh trong khởi nghiệp      Hàng trăm sinh viên trường Đại học Giao Thông Vận Tải Thành phố Hồ Chí Minh đã có buổi giao lưu về chủ đề “Tinh Thần Chiến Binh Trong Khởi Nghiệp” nhà báo Vũ Kim Hạnh và Tiến sĩ Lê Mai Tùng – nhà sáng lập ShareCar.vn, và Á hậu Việt Nam 2016 Thùy Dung vào ngày 22/12. Các diễn giả đã cùng các sinh viên Đại Học Giao Thông Vận Tải TP HCM trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế và những cảm hứng từ tinh thần dám mơ lớn, dám dấn thân, dám thách thức thất bại để đi đến thành công.      Ba diễn giả (từ trái sang) nhà báo Vũ Kim Hạnh, Á hậu Thùy Dung, TS Lê Mai Tùng tại buổi giao lưu.   Dám “Dám vắt não người khác” để bổ sung kiến thức cho mình  Tiến sĩ trẻ Lê Mai Tùng, người đã quyết tâm về nước để giải quyết bài toán giảm thiểu nạn kẹt xe tại Việt Nam đã chia sẻ những suy nghĩ, tâm thế của một người trẻ muốn khởi nghiệp để phát triển đất nước. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ngành khoa học máy tính, anh trở về Việt Nam khởi nghiệp với PinBike tuy nhiên dự án không thành công, anh lại tiếp tục với dự án ShareCar (ứng dụng đi chung xe). Tháng 6-2017, Lê Mai Tùng cùng cộng sự tiếp tục ra mắt phần mềm EyeQ Tech – Camera thông minh, áp dụng phương pháp Deep Learning, theo dõi và nhận dạng khuôn mặt khách hàng, tích lũy dữ liệu, phân tích hình ảnh của khách hàng. EyeQ Tech cho biết độ tuổi, giới tính, thống kê được số lần khách hàng xem quảng cáo, khung thời gian, phản ứng…EyeQ Tech cũng dùng chăm sóc khách hàng, tỉ lệ chính xác tới 95%. Dự án này đã giúp anh đạt giải nhất cuộc thi StartUp Wheel 2017 với phần thưởng 200 triệu đồng.  Để có thể đứng dậy sau mỗi lần thất bại, Lê Mai Tùng chia sẻ: “Điều quan trọng nhất trong khởi nghiệp chính là Khát vọng lớn, một khi bạn có khát vọng đủ lớn bạn sẽ vượt qua được nhiều thách thức! Và hãy luôn đặt câu hỏi Tại Sao và đi trả lời nó”  Khi được hỏi về thói quen đọc sách, Tiến sĩ Lê Mai Tùng chia sẻ cách sử dụng sách để tìm kiếm chìa khóa cho vấn đề mà mình gặp phải, anh sẽ sẽ đi tham khảo từ những người giỏi, đáng tin cậy và hỏi họ 1 câu: “Nếu chỉ có một cuốn sách có thể giải quyết được vấn đề này thì anh sẽ khuyên tôi nên đọc cuốn sách nào?”. Với anh người trẻ muốn giỏi phải dám quăng mình vào “cái ổ nhiều người giỏi”, phải dám “vắt não người khác, hút năng lượng về cho mình”.  “Đừng mong muốn trở thành một nhà văn trung bình!”  Đến với buổi giao lưu, nhà báo Vũ Kim Hạnh đã truyền động lực và cảm hứng đến các bạn Sinh viên thông qua những câu chuyện khởi nghiệp thành công nhờ vào ý chí, tinh thần chiến binh dám thách thức thất bại của dân tộc Israel, của những nhân vật thành công đương đại như Elon Musk, Mark Zuckerberg và cả những tấm gương bạn trẻ khởi nghiệp thành công tại Việt Nam. Nhà báo Vũ Kim Hạnh đánh giá cao tinh thần khởi nghiệp của Tiến sĩ Lê Mai Tùng cũng như tinh thần học tập của Á hậu Thùy Dung và bà hy vọng rằng các bạn thanh niên, sinh viên cần học hỏi tinh thần này để bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa với tâm thế của một thanh niên Việt tự tin, dám dấn thân, dám dẫn dắt. Thông qua câu chuyện của bản thân là một người đam mê viết văn nhưng lại dấn thân trên con đường báo chí để trở thành Tổng biên tập của một tờ báo lớn khi mới 32 tuổi: “Tôi khuyến khích các bạn phải có ước mơ lớn, đừng chỉ mong mình là một nhà văn trung bình”.     Đây là hoạt động nằm trong chuỗi chương trình Hành trình Lập Chí Vĩ đại – Khởi Nghiệp Kiến Quốc cho Thanh niên Việt do Tập đoàn Trung Nguyên khởi xướng và phối hợp cùng các đơn vị uy tín cùng thực hiện. Trong tháng 12 này, các chương trình thuộc Hành trình Lập Chí Vĩ Đại – Khởi Nghiệp Kiến Quốc cho Thanh niên Việt sẽ tiếp tục diễn ra định kỳ vào các thứ 7 hàng tuần tại các Không gian Trung Nguyên Legend và Cà Phê Thứ Bảy. Bên cạnh đó, Hành trình Lập Chí Vĩ Đại – Khởi Nghiệp Kiến Quốc cho Thanh niên Việt tại các trường Đại Học – Cao Đẳng trong cả nước sẽ tiếp tục đến với Đại học Giao Thông Vận Tải Hà Nội vào ngày 28/12/2017.       Author                P.V        
__label__tiasang Cần tổ chức giải thưởng VIFOTEC hằng năm      Giải thưởng của Quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam&#160;(Vifotec) cần được tổ chức hằng năm, thay vì ba năm một lần, để tôn vinh các nhà khoa học có nhiều sáng tạo cũng như tạo điều kiện để học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học được khen thưởng  kịp thời, tạo động lực tiếp tục sáng tạo, theo Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN Nguyễn Thiện Nhân.    Hội nghị Hội đồng bảo trợ Quỹ Vifotec nhiệm kỳ 2015-2020 đã tiến hành phiên họp thứ nhất vào ngày 9/7 tại Hà Nội.  Tại buổi lễ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN Nguyễn Thiện Nhân, đồng thời là Chủ tịch danh dự Quỹ Vifotec, đã nhấn mạnh, giải thưởng Sáng tạo KH&CN Việt Nam, thường gọi là giải VIFOTEC, có ý nghĩa tôn vinh các nhà khoa học có công trình  mang giá trị lớn, được áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, qua đó góp phần gia tăng số lượng người nghiên cứu khoa học cũng như chất lượng lao động trí thức. Vì vậy, giải thưởng Sáng tạo  KH&CN Việt Nam cần được tổ chức hằng năm để tôn vinh các nhà khoa  học có nhiều sáng tạo cũng như tạo điều kiện để học sinh, sinh viên  nghiên cứu khoa học được khen thưởng  kịp thời, tạo động lực tiếp tục sáng tạo.  Hiện tại, theo Nghị định 78/2014/ND-CP của Chính phủ về Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước và các giải thưởng khác về KH&CN, thời hạn tổ chức xét tặng giải thưởng không dưới ba năm một lần đối với giải thưởng lấy từ nguồn ngân sách Nhà nước. Do quãng thời gian ba năm mới tổ chức tôn vinh các hoạt động đổi mới sáng tạo, Quỹ Vifotec cần kiến nghị với Bộ KH&CN, Bộ Tài chính xem xét cơ chế đặc thù để được phép tổ chức Giải thưởng hằng năm.   Ông Nguyễn Thiện Nhân cũng đề nghị, Ban tổ chức giải thưởng nên mở rộng thêm các lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế, khoa học xã hội để ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học lĩnh vực này… Quỹ cũng nên thành lập Mạng lưới các phòng thí nghiệm hỗ trợ sáng tạo để tận dụng các cơ sở vật chất sẵn có ở các tập đoàn, công ty lớn trong và ngoài nước.  Để điều hành hoạt động của Quỹ Vifotec được tốt hơn, Hội đồng bảo trợ Quỹ sẽ đề ra chủ trương, phương hướng hoạt động của Quỹ; ra quyết định các biện pháp huy động nhằm tăng nguồn vốn của Quỹ; lựa chọn các cá nhân, đơn vị cần hỗ trợ, giúp đỡ, các giải pháp kỹ thuật áp dụng để có kế hoạch giúp đỡ.     Hội đồng bảo trợ gồm 22 thành  viên do ông Nguyễn Thiện Nhân là Chủ tịch danh dự,  GS. TS Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KT Việt Nam làm Chủ tịch Hội đồng. Ban  Thư ký giúp đỡ Hội đồng bảo trợ gồm 10 thành viên  do luật sư Lê Đăng Thọ, Giám đốc Quỹ Vifotec làm trưởng ban.  Nhân dịp này, Quỹ Vifotec và tập đoàn GFS ký  kết thỏa thuận hợp tác. Theo đó, GFS, tập đoàn đầu tư đa ngành  với nòng cốt là  đầu tư bất động sản, tài chính, xây dựng hạ tầng, năng  lượng và thương  mại, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, sẽ tài trợ bốn tỷ đồng nhằm nâng cao  hiệu quả các hoạt động của Quỹ Vifotec.              Từ năm 1995 đến nay, Quỹ Vifotec đã tổ chức thành công 20 lần Giải thưởng Sáng tạo KH&CN Việt Nam, trao thưởng cho các công trình thuộc những lĩnh vực công nghệ ưu tiên: sinh học phục vụ sản xuất và đời sống; công nghệ vật liệu mới; công nghệ cơ khí và tự động hóa; công nghệ thông tin và viễn thông; công nghệ bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên; công nghệ tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới.   Gần 700 công trình trong số 2.200 công trình tham gia xét duyệt đã được trao tăng giải thưởng, trong đó 100% công trình được ứng dụng trong sản xuất và đời sống, đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội  cao, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và chuyển giao công  nghệ.                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Canada phát triển được nhóm máu hiến vạn năng      Theo Science, các nhà nghiên cứu từ Đại học British Columbia ở Canada đã tìm thấy trong ruột người các vi sinh vật có thể sản xuất 2 loại enzyme giúp biến nhóm máu hai (nhóm máu A -type A blood) thành một nhóm máu hiến phổ biến hơn (the type O).      Nguồn cung cấp máu O (the type O) được tăng cường nhờ sử dụng vi khuẩn đường ruột – Ảnh: ISTOCK.COM  Các chuyên gia cho rằng trong trường hợp nghiên cứu tiếp nếu thành công hơn nữa, thử nghiệm của họ có thể thay đổi hoàn toàn phạm vi hiến máu và truyền máu. Các nhà khoa học lưu ý tầm quan trọng của nghiên cứu vì hầu như mỗi ngày, chỉ riêng các bệnh viện trên khắp nước Mỹ đã sử dụng khoảng 16.000 lít máu hiến cho các ca phẫu thuật cấp cứu và theo kế hoạch cũng như để truyền máu.  Tuy nhiên, để truyền máu thành công, nhóm máu của bệnh nhân và người hiến phải tương thích. Bằng cách phân tích hệ vi khuẩn trong ruột người, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng có những loài vi khuẩn sản xuất 2 loại enzyme có thể chuyển đổi máu nhóm 2 (type A blood) thành máu phổ quát hơn.  Mohandas Narla, một nhà khoa học tham gia nghiên cứu cho biết, trên khắp nước Mỹ và phần còn lại của thế giới đều thiếu máu hiến. Còn Harvey Klein, một chuyên gia về truyền máu từ Trung tâm lâm sàng của Viện Y tế quốc gia ở Bethesda, bang Maryland, Mỹ, bình luận rằng đây là bước đầu tiên để phát triển loại máu hiến phổ quát. Nếu quá trình này được thực hiện, các chuyên gia máu cho rằng nó có thể cách mạng hóa việc hiến máu và truyền máu.  Để tăng nguồn cung cấp máu vạn năng, các nhà khoa học đã cố gắng chuyển đổi nhóm máu hai, thành một nhóm máu phổ quát. Sau 4 năm nỗ lực nghiên cứu, nhóm các chuyên gia đã phát hiện ra các sinh vật trong số các vi khuẩn đường ruột của người tạo ra một chất loại bỏ các phân tử đường “thừa” ra khỏi máu nhóm hai, khiến nhóm máu này trở thành máu hiến vạn năng.  Vũ Trung Hương (motthegioi)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cánh đồng thông minh      Đầu năm 2017 tỉnh Đồng Tháp sẽ cùng Công ty Rynan Agrifoods xây dựng mô hình cánh đồng thông minh. Ở đó, nhiều khâu sản xuất sẽ tự động hóa bằng việc ứng dụng internet vạn vật và điện toán đám mây. Sản phẩm được đóng gói bằng bao bì thông minh và bán hàng thông qua… smartphone.    Theo baodongthap online    Ông Nguyễn Thanh Mỹ, Tổng Giám đốc Công ty  Rynan Agrifoods giới thiệu sản phẩm phân bón  thông minh  Theo đơn đặt hàng của UBND tỉnh Đồng Tháp, Công ty Rynan Agrifoods đang xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh cho những loại nông sản chủ lực của tỉnh. Sử dụng phân bón thông minh là bước đi đầu tiên và đã cho kết quả rất bất ngờ.  Ông Nguyễn Văn Dương – Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, đầu năm 2017 tỉnh sẽ cùng Công ty Rynan Agrifoods xây dựng mô hình cánh đồng thông minh. Ở đó, nhiều khâu sản xuất sẽ tự động hóa bằng việc ứng dụng internet vạn vật và điện toán đám mây. Sản phẩm được đóng gói bằng bao bì thông minh và bán hàng thông qua… smartphone. Một phương thức sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại bậc nhất Việt Nam đã bắt đầu hình thành tại Đồng Tháp – cũng là địa phương được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tốt nhất cả nước đến thời điểm này.  Từ phân bón thông minh…  Vào những ngày đầu tháng 7/2016, cánh đồng lúa bạt ngàn hơn 1.000ha của Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ nông nghiệp Tiến Cường ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang vào giai đoạn chín. Nông dân, lãnh đạo tỉnh và chuyên gia nước ngoài liên tục đến tham quan, tìm hiểu bởi vì đây là nơi đầu tiên và duy nhất sản xuất lúa bằng phân bón thông minh được Công ty Rynan Agrifoods nghiên cứu thành công. Ông Lê Thanh Hiệp – Giám đốc HTX cho biết: “Phân bón thông minh chỉ rải một lần trước khi gieo sạ và tự tan trong 60 ngày theo nhu cầu hấp thụ dinh dưỡng của cây lúa. Còn bình thường, chúng tôi phải rải phân tới 5 lần. Phân bón này còn diệt ốc bươu vàng, diệt cỏ nữa, nông dân khỏi phun thuốc, chi phí giảm nhiều mà làm ruộng cũng sướng”.  Ông Nguyễn Văn Tâm (xã viên HTX Tiến Cường) có 6ha đất. Ông và 4 hộ khác chừa ra 2.000m2/hộ làm mô hình sử dụng phân bón thông minh để đối chứng với phần còn lại canh tác bình thường. Hiện trà lúa của ông Tâm đang ngậm sữa. Ông nhổ 2 bụi lúa ở ruộng dùng phân bón thông minh và ruộng bên cạnh rải phân 5 lần/vụ theo truyền thống cho chúng tôi xem. Ông giải thích: “Cây lúa dùng phân bón thông minh chỉ có 3 tép lúa, tức một hạt giống có 1 mẹ và 2 con. Cả 3 tép lúa đều khỏe mạnh và trổ bông. Còn cây lúa kia nhiều tép hơn, nhưng cũng chỉ có 3 tép có bông, mấy tép kia chẳng tích sự gì nhưng làm tốn phân bón và là tác nhân gây ra sâu bệnh. Bông lúa dùng phân bón thông minh cho hạt lúa to hơn, sáng đẹp hơn và chắc chắn chất lượng gạo và năng suất sẽ cao hơn”.  Thửa ruộng 7ha của ông Nguyễn Bá Luận đang ngậm sữa. Khu vực sử dụng phân bón thông minh ít sâu bệnh, bông lúa cũng nặng oằn hơn so với phần còn lại bón phân 5 lần. Ông Luận nói: “Có một điều rất chắc chắn là ruộng dùng phân bón thông minh không bị bệnh đạo ôn, đốm vằn hay sâu cuốn lá. Còn ruộng bên cạnh bị bệnh rất nhiều, phải dùng thuốc bảo vệ thực vật”. Giám đốc HTX Lê Thanh Hiệp nói mô hình dùng phân bón thông minh thấy hiệu quả rất rõ như: lượng phân N-P-K dùng chỉ bằng 50-60%, tiết kiệm được chi phí thuê nhân công bón phân 4 lần/vụ, giảm phun thuốc 2-3 lần/vụ và không bị hao hụt do lúa bị người rải phân, phun thuốc đạp chết. Năng suất chắc chắn tương đương hoặc cao hơn, chất lượng lúa gạo cũng cao hơn ruộng làm theo cách truyền thống. Tất cả xã viên của HTX đã đề nghị cho họ sử dụng phân bón thông minh từ vụ tới.  Theo ông Nguyễn Thanh Mỹ – Tổng Giám đốc Công ty Rynan Agrifoods – Trà Vinh, phân bón thông minh được ông nghiên cứu và thử nghiệm thành công tại Hàn Quốc và Đài Loan suốt gần 4 năm qua. Kích cỡ hạt phân bón thông minh cũng tương đương như phân bón DAP hay N-P-K trên thị trường, nhưng có lớp chất dẻo nano bao bọc. Bên ngoài cùng còn có thêm lớp chất dẻo giống như bao viên thuốc con nhộng trong ngành dược phẩm. Các lớp chất dẻo này có tích hợp thuốc diệt ốc bươu vàng và thuốc diệt cỏ nên nông dân không cần phải phun thuốc.  Các nghiên cứu cho thấy, cây lúa có thời gian sinh trưởng 90-100 ngày thì chỉ hấp thu chất dinh dưỡng từ phân bón cho đến khoảng 60 ngày tuổi. Cho nên ông đã nghiên cứu giải pháp làm cho phân bón tan chậm trong 10 ngày đầu, 95% lượng phân còn lại sẽ tan nhanh trong 50 ngày sau đó. “So với phân tan chậm mà Israel, Mỹ, Nhật, Canada đang sử dụng thì phân bón thông minh Rynan Agrifoods có thêm một số thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ dịch hại; hàm lượng các chất N-P-K-vi lượng được thiết kế theo đặc điểm từng vùng đất khác nhau và tan chậm có kiểm soát nên tỉ lệ thất thoát cao nhất chỉ có 2%”- ông Mỹ nói.  Giảm tối đa phát thải khí nhà kính  Theo GS.TS Võ Tòng Xuân (chuyên gia nông nghiệp), các nhà khoa học trên thế giới đang nỗ lực tìm giải pháp để giảm bón phân, giúp nông dân giảm chi phí sản xuất mà còn giảm tối đa phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Phân bón tan chậm, phân bón thông minh là thành tựu khoa học kỹ thuật mang lại những giá trị rất lớn cho nền kinh tế và môi trường sống của nhân loại. Hiện nay có tới 60-70% phân đạm rải xuống ruộng, cây không hấp thụ được mà bị biến thành chất độc hại (khí nhà kính – N20) bốc hơi trở lại bầu khí quyển (1 tấn N2O = 298 tấn CO2). Dự kiến năm 2020, Việt Nam phát thải tới 474 triệu tấn khí nhà kính. Riêng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp “góp” tới 43%, chủ yếu do bón phân quá nhiều. Nguồn nước cũng bị ô nhiễm bởi phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.  Đến cánh đồng thông minh  Ông Nguyễn Thanh Mỹ cho biết, “cánh đồng thông minh” là một chuỗi giá trị khép kín từ đầu vào đến sản xuất, chế biến, phân phối, tiêu thụ. Tất cả đều ứng dụng internet vạn vật và điện toán đám mây, phần mềm điều khiển, thương mại điện tử. Nó giải quyết nhiều bài toán cùng lúc gồm: giảm chi phí, thiếu nước tưới, giảm ô nhiễm nguồn nước và phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, sản phẩm chất lượng cao và an toàn, nông sản bảo quản lâu mà không dùng hóa chất, giao hàng tận nơi, tránh hàng giả, lợi nhuận cao.  Mô hình cánh đồng thông minh tại tỉnh Đồng Tháp đang xây dựng sẽ có quy mô tối thiểu 100ha, sử dụng máy san phẳng mặt ruộng bằng laser để tiết kiệm nước tưới. Rải phân bón thông minh một lần duy nhất khi làm đất. Trên cánh đồng sẽ có nhiều máy bơm sử dụng năng lượng mặt trời nối với đầu dò điện tử. Hệ thống này được lập trình và điều khiển từ xa qua điện thoại di động. Khi ruộng thiếu độ ẩm (thiếu nước) thì hệ thống sẽ báo qua điện thoại di động. Nông dân sẽ thao tác kích hoạt máy bơm nước tự động bơm vào ruộng, khi nào đủ nước theo lập trình thì tự ngắt. Việc quản lý dinh dưỡng cây lúa cũng thông qua máy tính bảng, điện thoại di động kết nối internet và điện toán đám mây (MNRice App). Tại cánh đồng này cũng có một nhà máy xay xát chạy bằng năng lượng mặt trời. Gạo được chế biến rồi đóng gói bằng bao bì thông minh do Công ty Rynan Agrifoods và Tập đoàn Mỹ Lan phát triển, giữ được chất lượng ổn định như ban đầu trong nhiều tháng.  Ông Nguyễn Thanh Mỹ cho biết tất cả vật tư đầu vào, thiết bị điện tử, công nghệ… đều do Công ty Rynan Agrifoods sản xuất và cung cấp cho nông dân, HTX tham gia cánh đồng thông minh. Chủ trương của ông là hợp tác cùng nông dân và Nhà nước phát triển nhiều mô hình sản xuất lúa gạo, cây ăn trái, chăn nuôi… quy mô lớn theo chuỗi giá trị mà ông xây dựng. “Chúng tôi không bán phân bón thông minh, thiết bị và công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp điện tử ngoài thị trường mà chỉ cung cấp cho những mô hình sản xuất lớn có liên kết với công ty. Chúng tôi muốn góp sức cùng Chính phủ phát triển nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại, quy mô lớn, sản phẩm sạch, có giá trị kinh tế cao và không phát thải khí nhà kính”- ông Mỹ nói.  Sau khi xây dựng mô hình cánh đồng thông minh, Công ty Rynan Agrifoods và tỉnh Đồng Tháp sẽ làm tiếp vườn cây ăn trái thông minh… Nhà máy sản xuất phân bón thông minh công suất 20.000 tấn/năm đang được xây dựng tại Trà Vinh. Với cây ăn trái, phân bón thông minh sẽ tích hợp thuốc diệt rệp sáp và các loại sâu bệnh và tan chậm có kiểm soát trong nhiều tháng theo nhu cầu dinh dưỡng của từng loại cây.  Bao bì thông minh bảo quản nông sản  UBND tỉnh Đồng Tháp “đặt hàng” Công ty Rynan Agrifoods và Tập đoàn Mỹ Lan nghiên cứu bao bì có thể bảo quản xoài trong 30 ngày, nhãn trong 7 ngày hoàn toàn không sử dụng hóa chất bảo quản nhằm mục đích xuất khẩu. Cuối tháng 6/2016, các mẫu thử nghiệm đều cho kết quả hơn cả mong đợi. Xoài Cao Lãnh đã được 35 ngày vẫn xanh, màu sắc như mới thu hoạch; nhãn 10 ngày lá vẫn xanh, màu sắc trái đẹp. Chất lượng trái không thay đổi. Theo ông Mỹ, bao bì thông minh là màng nhựa có nhiều lớp, ở giữa có lớp EVOH (cản khí); được bơm khí cải tiến (tỉ lệ khí O2 và CO2 khác nhau) để ức chế quá trình thở của trái cây. Trên bao bì có van một chiều chỉ cho khí CO2 và Ethylene (C2H4) thoát ra ngoài (khí Ethylene làm trái cây mau chín). Kỹ thuật này giúp bảo quản nông sản được lâu mà không sử dụng hóa chất nên rất an toàn cho sức khỏe.        “Chúng tôi không bán phân bón thông minh, thiết bị và công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp điện tử ngoài thị trường mà chỉ cung cấp cho những mô hình sản xuất lớn có liên kết với công ty. Chúng tôi muốn góp sức cùng Chính phủ phát triển nền nông nghiệp VN hiện đại, quy mô lớn, sản phẩm sạch, có giá trị kinh tế cao và không phát thải khí nhà kính”  (Ông Nguyễn Thanh Mỹ)             Author                Quản trị        
__label__tiasang CANTI (VINATOM) trúng hai gói thầu trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí      Sau thành công thực hiện dịch vụ kiểm tra thép carbon trong chân mối hàn thép không gỉ tại nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn năm 2019, mới đây, Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp – CANTI (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), đã trúng liên tiếp hai gói thầu quốc tế và trong nước ở lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí.      Cán bộ CANTI giới thiệu thiết bị gamma-COMET do Trung tâm phát triển để khảo sát tại hiện trường các hiện tượng đóng cặn, ăn mòn vật liệu hay tình trạng lớp bảo ôn đường ống với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Techmart 2015. Nguồn: CANTI  Với thế mạnh về khảo sát dòng chảy trong mỏ dầu bằng kỹ thuật đánh dấu kết hợp với mô phỏng, xác định online tình trạng của hệ thống để phát hiện rò rỉ, tắc nghẽn, ăn mòn, hư hại bên trong…, CANTI đã mạnh dạn gửi hồ sơ dự thầu “Cung cấp nhân lực, công cụ, thiết bị, chất đánh dấu cho việc bơm chất đánh dấu trên mỏ khí condensate Sư Tử Trắng” do Cửu Long JOC – liên doanh điều hành các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí theo hợp đồng dầu khí Lô 15.1 ngoài khơi do các công ty của Việt Nam (PV, PVEP) và nước ngoài (ConocoPhillips, KNOC, SK, Geopetrol) ký kết. Việc Cửu Long JOC mở thầu là nhằm có được những cơ sở khoa học tin cậy trước khi quyết định tập trung đầu tư phát triển mỏ Sư Tử Trắng, một mỏ khí ngưng tụ lớn và được coi là một công trình trọng điểm, có ảnh hưởng đến nhiều kế hoạch phát triển khí lớn của Việt Nam.  Là đơn vị độc lập trong nước sử dụng công nghệ đã được đội ngũ cán bộ làm chủ và phát triển qua nhiều năm, CANTI đã không ngại tham gia cuộc chạy đua bỏ thầu quốc tế này bởi họ thấy việc tham gia có ý nghĩa lớn: sân chơi Việt Nam cũng là sân chơi quốc tế nên đây là cơ hội tốt để khẳng định năng lực và quảng bá tên tuổi của CANTI trong lĩnh vực đánh dấu dầu khí. Do đó, khi Cửu Long JOC tuyên bố CANTI thắng thầu, đội ngũ cán bộ của Trung tâm cảm thấy rất vui, dù gói thầu có trị giá không lớn. “CANTI không thể thua trên sân nhà”, giám đốc Nguyễn Hữu Quang nói.    Gói thầu thứ hai mà Trung tâm giành được là dịch vụ soi gamma của Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Dịch vụ này giúp nhà máy có thể phát hiện được các vấn đề bên trong của các thiết bị quan trọng như lệch khay, hư hỏng cơ học, hiện tượng tách nước, ngập khay, kiểm soát mức, tạo bọt, phân phối lỏng hơi chất lỏng, giữ chất lỏng… bằng việc đo đạc cường độ của bức xạ gama truyền qua mà không làm gián đoạn các hoạt động vận hành sản xuất. Tuy từng hỗ trợ Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn và Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn khắc phục nhiều sự cố nhưng “thân quen” không phải là yếu tố giúp CANTI giành được hợp đồng này. “Soi gamma là kỹ thuật truyền qua ứng dụng trong chế biến dầu khí đã được các nước công nghiệp phát triển trên thế giới áp dụng như một dịch vụ thường xuyên bởi có nhiều ưu điểm là khảo sát không phải dừng sản xuất, thời gian khảo sát nhanh, kết quả chính xác và giá thành không cao. Biết được lợi thế đó nên ngay từ khi Việt Nam có Nhà máy Lọc dầu đầu tiên tại Dung Quất, CANTI đã tập trung nghiên cứu và thiết lập quy trình công nghệ cho kỹ thuật này”, ông Nguyễn Hữu Quang giải thích về lý do vì sao Trung tâm đã xây dựng được năng lực để có thể cung cấp dịch vụ kịp thời cho các nhà máy.    Hợp đồng soi gamma của Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và CANTI có thời hạn một năm. Theo các điều khoản trong hợp đồng, bất kỳ lúc nào nếu nhà máy có yêu cầu trong vòng 48 giờ, CANTI phải có mặt tại nhà máy để thực hiện dịch vụ. Nếu CANTI đảm bảo chất lượng dịch vụ và đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà máy thì hợp đồng này sẽ được gia hạn tiếp.  Ngay sau khi hợp đồng được ký kết, CANTI đã thực hiện hoạt động kiểm tra đầu tiên với phần bên trong của một tháp trong nhà máy. Mặc dù yêu cầu triển khai gấp nhưng đội ngũ cán bộ vừa làm nghiên cứu, vừa triển khai dịch vụ của CANTI đã tìm ra nguyên nhân trục trặc kỹ thuật của tháp, qua đó thuyết phục các cán bộ kỹ thuật nhà máy, trong đó có cả chuyên gia nước ngoài. Bước đi đầu tiên này dự báo triển vọng hợp tác của CANTI với Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn cũng như nhiều nhà máy khác trong tương lai.  TN/VINATOM       Author                Quản trị        
__label__tiasang CAS: Nguyên lý đơn giản, kết quả ngoạn mục      Nếm thử một con hàu đông lạnh bằng CAS, dường như nó vừa được bắt lên còn nguyên hương vị biển”, đó là mẩu quảng cáo dành cho công nghệ bảo quản thực phẩm đông lạnh CAS (Cells Alive System).    Bằng sáng chế công nghệ CAS do ABI sở hữu hiện đang được hơn 22  quốc gia và Cơ quan Sáng chế châu Âu công nhận bảo hộ. Tại Mỹ, sáng chế  này được cấp bằng với tên gọi: phương pháp và thiết bị đông lạnh nhanh  (Quick freezing apparatus and quick freezing method), số bằng: US  7810340, ngày 12/10/2010, tác giả: Norio Owada và Shobu Saito.  Sự kiện Việt Nam trở thành quốc gia thứ 8 nhận chuyển giao công nghệ CAS hồi  tháng 6 năm  2013 đã làm xôn xao giới doanh nghiệp trong nước. Có thể giữ cho nông sản, thủy sản, thực phẩm tươi ngon đến 99,7 % sau 10 năm là thách đố bao năm qua của nông nghiệp Việt Nam, nay đã trong tầm tay.  Càng bất ngờ hơn nếu biết rằng, công nghệ CAS vốn được xem là hiện đại bậc nhất kia vốn khởi nguồn từ một triết lý kinh doanh rất đơn giản: Dành cho khách hàng những gì tươi ngon nhất  Ông Norio Owada, chủ tịch tập đoàn ABI, đồng thời là đồng tác giả với Shobu Saito sáng chế công nghệ CAS cho biết: “Thực ra, chúng tôi sáng chế CAS không phải để đông lạnh thực phẩm mà vì không muốn khách hàng phải dùng… thực phẩm đông lạnh. Chúng tôi mong muốn phục vụ những sản phẩm “tươi sống” nhất cho khách hàng. Đó là lý do CAS ra đời”.  Vậy đâu là khác biệt giữa thực phẩm “tươi sống” và thực phẩm “đông lạnh”?        Một đầu bếp khách sạn từng nói với ông Owada: “Nếu các tế bào trong thực phẩm được bảo tồn nguyên vẹn, sẽ không còn khác biệt giữa thực phẩm tươi sống và thực phẩm đông lạnh.” Đây là mấu chốt để giải bài toán khó khi đông lạnh thực phẩm.     Đông lạnh thực phẩm, tưởng dễ mà khó  Đông lạnh là biện pháp bảo quản thực phẩm, nông sản thông dụng. Thông thường, thực phẩm được bảo quản ở âm 18 độ C. So với đóng hộp, sấy khô, lên men, rút chân không… ưu điểm của đông lạnh là giữ nguyên hình dạng và dưỡng chất trong thực phẩm, không dùng hóa chất mà nhờ nhiệt độ thấp ức chế vi khuẩn phát triển, làm chậm quá trình phân hủy, giữ thực phẩm tươi ngon, thích hợp cho cả thực phẩm dạng lỏng (rút chân không không dùng được). Thịt gia súc đông lạnh thông thường có thể giữ được 8 tháng đến 2,5 năm; gia cầm từ 7 đến 8 tháng; cá 3 đến 4 tháng và bánh kẹo từ 1 đến 6 tháng.     Vấn đề là, nông sản, thủy sản, thực phẩm… đều cấu thành từ các tế bào với hàm lượng nước cao. Khi giảm nhiệt độ xuống thấp và đột ngột, nước trong tế bào sẽ hình thành tinh thể băng với thể tích lớn và nhiều góc cạnh, xé rách màng, làm dịch tế bào thoát ra ngoài. Quá trình cấp đông-rã đông không chỉ làm tổn hại tế bào mà còn gây mất nước và hư hỏng cấu trúc, làm giảm ít nhất 20% giá trị dinh dưỡng của thực phẩm (ta có thể thấy thực phẩm chảy nhiều nước khi rã đông).   Do đó, chất lượng thực phẩm, nông sản đông lạnh được xác định tỷ lệ nghịch với lượng nước không đóng băng bên trong tế bào. Lượng nước không đóng băng càng nhỏ thì thực phẩm càng tươi ngon. (Ở âm 18 độ C, lượng nước chưa đóng băng trong thực phẩm và rau quả còn khoảng 20%).     Câu hỏi đặt ra cho Owada là làm sao đông lạnh thực phẩm mà không làm nước trong tế bào đóng băng, đặc biệt với nông sản, thủy sản, thực phẩm vốn có hàm lượng nước cao?  Nguyên lý của CAS                Hiện tượng nước siêu lạnh (supercooled) chính là lời giải cho câu đố. Nước siêu lạnh là trạng thái nước không đóng băng ngay cả dưới 0 độ C hoặc thấp hơn. Trên cơ sở đó, Norio Owada sáng chế công nghệ CAS với tiêu chí: “đơn giản, phổ cập, dễ sử dụng và an toàn”. Công nghệ CAS sử dụng từ trường, tương tự lò viba nhưng kết hợp thêm hệ thống làm lạnh.  Chỉ cần lắp thiết bị CAS hoặc trang bị thêm chức năng CAS cho hệ thống làm lạnh hiện có là có thể giữ tươi ngon đến 10 năm từ thủy hải sản (là loại dễ hỏng nhất); đến thực phẩm tươi sống (thịt, gia súc, gia cầm, trái cây, rau quả, nấm); cả sữa, cà phê, nước hoa quả, bánh kẹo và đồ ăn chế biến sẵn (sushi, thức ăn dinh dưỡng, đồ hộp…). Tùy loại thực phẩm, nông sản, thủy sản mà sử dụng CAS với cường độ từ trường khác nhau.  Đông lạnh mọi thứ, cả tim và răng  CAS đã được đưa vào ứng dụng và nhanh chóng phổ biến trong lĩnh vực bảo quản thủy sản, nông sản, thực phẩm; không chỉ tại Nhật mà còn nhiều quốc gia khác như Mỹ (cá ngừ), Canada (quả thanh quất), Mexico (xoài và bơ), Trung Quốc (trái cây đóng hộp, rau quả đông lạnh, măng, nấm)… Bởi 70% lương thực Nhật Bản phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu từ các nước khác nên tham vọng của Owada là xây dựng một mạng lưới thực phẩm đa quốc gia, trong đó thực phẩm sẽ được bảo quản và vận chuyển từ khắp nơi trên thế giới đến Nhật với chi phí hợp lý và tình trạng gần như tươi nguyên.  Nỗ lực không ngừng, Owada còn đưa thành công của CAS vượt khỏi khuôn khổ ngành công nghiệp thực phẩm để góp phần vào lĩnh vực y tế. Nguyên lý đơn giản, linh hoạt, CAS dễ dàng phù hợp với hệ thống đông lạnh các bộ phận cơ thể như nội tạng, thần kinh, máu, và cả… tim. Nếu một trái tim trước đây phải được cấy ghép trong vòng 10-14 tiếng, thì với CAS tim có thể “sống” đến 10 ngày ở nhiệt độ âm 30 đến âm 40 độ C. Công nghệ CAS cũng được ngân hàng răng sữa Future Health Biobank (Fribourg, Thụy Sĩ) tin dùng, lưu trữ răng như một nguồn tế bào gốc thay thế.     CAS ở Việt Nam  Tại Việt Nam, ngày 19/6/2013, Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Tập đoàn ABI đã tổ chức lễ khánh thành Phòng Thí nghiệm Công nghệ CAS đầu tiên tại nước ta. Trong buổi hội thảo tổ chức tại Techmart Công nghệ Thực phẩm 2013 (Trung tâm Thông tin KH&CN TP.HCM), nhiều doanh nghiệp quan tâm đã đặt câu hỏi về giá thành và chi phí hoạt động của công nghệ này. PGS.TS. Trần Ngọc Lân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng cho biết, tuy đầu tư ban đầu khá tốn kém nhưng cam đoan có thể bù đắp nhờ chất lượng sản phẩm nâng cao, giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng, tiết kiệm chi phí điện năng, giảm xử lý chất thải… Mặc dù theo lộ trình sau ngày 20/6/2014 công nghệ CAS mới được chuyển giao cho doanh nghiệp với Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng là đơn vị độc quyền tại Việt Nam, nhưng các đơn vị có nhu cầu vẫn có thể liên hệ trực tiếp với Bộ KH&CN để được tư vấn thêm.   Trả lời câu hỏi về ảnh hưởng của thực phẩm bảo quản bằng CAS đến sức khỏe người tiêu dùng, PGS.TS Trần Ngọc Lân cho biết công nghệ này đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đến nay vẫn đảm bảo an toàn. Mặt khác, ngoài dùng từ trường (không ảnh hưởng đến sức khỏe và cũng không làm biến tính thực phẩm), công nghệ CAS không thêm vào sản phẩm bất cứ chất hóa học nào nên không có tác dụng phụ.   “Mr Freeze” không ngơi nghỉ    Nhìn nhận những thành quả mà CAS đạt được sau 13 năm bất chấp nhiều chỉ trích, Đại học Tokyo và Đại học Chiba vừa bắt tay thực hiện một nghiên cứu chung để đưa ra lý thuyết hoàn chỉnh hơn về công nghệ này. Trong khi đó, Norio Owada lại bắt đầu một dự án liên doanh mới, xây dựng nhà máy đông lạnh bánh ngọt và chocolate tại Pháp và Bỉ. Ông hóm hỉnh: “Với bánh và kẹo tươi ngon ở khắp nơi trên thế giới, chẳng mấy chốc mà ngân hàng răng sữa lại đầy răng”.  Dường như ở tuổi 64, người đàn ông này vẫn miệt mài làm việc với niềm say mê được bảo quản “tươi nguyên” ở độ thanh xuân tràn đầy nhiệt huyết. Chả trách người ta lại gọi ông là “Mr. Freeze”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cắt giảm calo làm giảm lượng protein liên quan đến lão hóa      Việc cắt giảm lượng nạp vào cơ thể từ lâu đã được chứng tỏ là giúp cải thiện sức khỏe và tuổi thọ trên nhiều loài động vật được theo dõi trong các phòng thí nghiệm. Nghiên cứu mới đây cũng cho thấy những lợi ích đó cũng có thể mở rộng cho người.    Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học ở Yale đã chứng tỏ việc hạn chế calo một cách vừa phải ở người giúp giảm bớt việc tạo ra một loại protein là SPARC có khả năng kiềm chế sự viêm nhiễm và cải thiện sức khỏe người cao tuổi. Nó có thể là một cái mốc để đem đến một tuổi thọ mạnh khỏe cho con người, họ đề cập đến trong bài báo xuất bản vào ngày 12/8/2022 trên tạp chí Immunity1.  Nghiên cứu này do Vishwa Deep Dixit, giáo sư miễn dịch học và y học so sánh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Lão hóa Yale dẫn dắt. Đây là bài báo nối tiếp một bài báo đã được xuất bản vào đầu năm nay về việc nhận diện những lợi ích sức khỏe chính của việc giảm lượng calo thu nạp ở người.  Ở bài báo mới, Dixit và cộng sự đã phân tích mở rộng dữ liệu từ một cuộc thử nghiệm lâm sàng do Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ tài trợ. Trong thử nghiệm lâm sàng này, Đánh giá toàn diện về các hiệu quả lâu dài của việc giảm thiểu hấp thụ năng lượng (CALERIE), một số người tham gia đã giảm lượng calo họ hấp thụ xuống 14% trong vòng hai năm, trong khi một số người khác ăn như bình thường; các nhà nghiên cứu sau đó đã dò theo những lợi ích sức khỏe dài hạn.  Cụ thể, Dixit và cộng sự đã phân tích dữ liệu lâm sàng để nhận biết các phân tử phản hồi với hiệu quả tích cực về việc giảm bớt lượng calo nạp vào và có thể là mục tiêu điều trị.  Nhìn vào những thay đổi di truyền trong những mô mỡ của những người tham gia sau một và hai năm, họ tìm thấy những người nạp ít calo đã giảm được một lượng lớn protein SPARC – hoặc — hoặc protein tiết ra có tính axit và giàu cysteine ​​— có liên quan đến béo phì, tiểu đường, và viêm nhiễm.  “Bởi vì viêm nhiễm đóng một vai trò lớn trong suy giảm liên quan đến tuổi tác, chúng tôi muốn hiểu rõ hơn là liệu can thiệp nâng cao tuổi thọ như hạn chế callo có hoạt động thông qua SPARC để kiểm soát lây nhiễm và phản hồi miễn dịch không”, Dixit nói. Vì vậy, để đào sâu hơn vào đóng góp của SPARC vào viêm nhiễm, họ đã nghiên cứu về những hiệu ứng mà protein đã tạo ra lên tế bào miễn dịch chuột và sức khỏe của chuột.  Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra là SPARC đã kích hoạt sự viêm nhiễm bằng việc chuyển đổi các tế bào miễn dịch chống viêm nhiễm gọi là đại thực bào thành một trạng thái gây viêm nhiễm. Tuy nhiên, việc tạo ra SPARC thấp hơn bằng các tế bào mỡ ở chuột giảm thiểu sự lây nhiễm, cải thiện quá trình chuyển hóa và cải thiện sức khỏe khi chúng lão hóa.  Những phát hiện mới có thể dẫn đến những can thiệp về suy giảm liên quan đến lão hóa, Dixit nói.  “Chúng tôi giờ đã hiểu tốt hơn về cách SPARC ảnh hưởng đến sự viêm nhiễm và cải thiện sức khỏe bằng việc tác động vào đại thực bào”, ông cho biết thêm. “Và nó có thể là đích hữu dụng để tạo ra lợi ích sức khỏe của việc cắt giảm calo nạp vào mà không cần đến việc phải thực sự thay đổi lượng calo trên thực tế”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-08-calorie-reduction-lowers-protein-linked.html  https://news.yale.edu/2022/08/12/calorie-reduction-lowers-protein-linked-aging-process  ——————————————–  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1074761322003405    Author                .        
__label__tiasang Cắt nhiễu cho các máy tính lượng tử      Một nhóm các nhà nghiên cứu của trường đại học Dartmouth và Viện Công nghệ MIT đã thiết kế và thực hiện thành công thử nghiệm đầu tiên về phát hiện và mô tả đặc điểm của một lớp phức hệ, các quá trình nhiễu “phi Gauss” mà các hệ máy tính lượng tử siêu dẫn thường gặp.         Nhóm nghiên cứu của Lorenza Viola tại trường đại học Dartmouth. Nguồn: trường Dartmouth  Đặc điểm của nhiễu “phi Gausse” trong các bit lượng tử siêu dẫn là một bước quan trọng hướng tới việc tạo cho các hệ này thêm chính xác hơn.  Nghiên cứu này mới chấp nhận xuất bản trên tạp chí Nature Communications “Quang phổ học phi Gauss với một cảm biến bit lượng tử siêu dẫn có thể giúp gia tốc việc thực hiện các hệ máy tính lượng tử” (Non-Gaussian noise spectroscopy with a superconducting qubit sensor could help accelerate the realization of quantum computing systems). Thí nghiệm này được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu về lý thuyết tại trường đại học Dartmouth và xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters vào năm 2016.  “Đây là bước cụ thể đầu tiên hướng tới việc cố gắng mô tả các quá trình nhiễu mang nhiều tính phức tạp hơn so với các nhiễu thường gặp trong các miền lượng tử”, Lorenza Viola, một giáo sư vật lý ở Dartmouth từng dẫn dắt nghiên cứu lý thuyết vào năm 2016 và hiện cũng phụ trách phần lý thuyết của nghiên cứu hiện tại, nói. “Vì các đặc tính được kết hợp trong các bit lượng tử đang được dần dần cải thiện, nên điều quan trọng là dò nhiễu phi Gauss để tạo ra các hệ lượng tử với độ chính xác cao nhất có thể.  Các máy tính lượng tử phân biệt với các máy tính thông thường bằng việc vượt ra ngoài trình tự “tắt bật” nhị phân ưa thích của vật lý cổ điển. Các máy tính lượng tử phụ thuộc vào các bit lượng tử – hay còn được gọi là các qubit, được tạo ra từ các nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử.  Một cách mấu chốt thì các qubit có thể “đặt chỗ” trong một vị trí kêt hợp của cả hai vị trí “tắt” và “bật” trong cùng một thời điểm. Chúng có thể ở trạng thái “rối”, nghĩa là các đặc tính của một qubit có có thể ảnh hưởng đến trạng thái của qubit khác trong khoảng cách.  Các hệ qubit siêu dẫn được coi là môt trong những ứng cử viên hàng đầu trong cuộc chạy đua xây dựng các máy tính lượng tử hiệu năng cao và quy mô lớn. Nhưng giống như các nền tảng qubit, chúng hết sức nhạy cảm với môi trường của chúng và có thể bị cả nhiễu bên trong và bên ngoài ảnh hưởng.  Nhiễu bên ngoài trong các hệ máy tính lượng tử có thể đến từ các thiết bị kiểm soát hoặc các từ trường đi lạc còn nhiễu bên trong có thể do các hệ lượng tử không kiểm soát như các tạp chất trong vật liệu. Khả năng để giảm bớt nhiễu là mối quan tâm chính trong phát triển các máy tính lượng tử.  “Hiện tại, rào cản lớn nhất ngăn chúng tôi có các máy tính lượng tử cỡ lớn chính là vấn đề nhiễu này”, Leigh Norris, một postdoc tại Dartmouth và là đồng tác giả nghiên cứu nhận xét. “Do đó nghiên cứu này đưa chúng tôi tới việc hiểu nhiều hơn về nhiễu, tiến tới việc cắt giảm chúng, và hi vọng là có thể có được một máy tính lượng tử vào một ngày nào đó”.  Các nhiễu không mong muốn thường được miêu tả bằng thuật ngữ các mô hình Gauss đơn giản, trong đó việc phân bổ xác suất của các dao động ngẫu nhiên của nhiễu tạo ra một đường cong Gauss hình chuông quen thuộc. Thật khó để dò và miêu tả nhiễu phi Gauss bởi vì nó nằm ngoài phạm vi hiệu lực của các giả định này và cũng bởi nó đơn giản là quá ít.  Bất cứ khi nào các đặc tính thống kê nhiễu là Gauss, một số lượng nhỏ thông tin có thể được dùng để biểu thị đặc điểm của các nhiễu này – các mối tương quan này tại hai khoảng thời gian riêng biệt, hoặc tương đương, dưới dạng một miêu tả miền tần số, vẫn được gọi là “phổ nhiễu”.  Nhờ có độ nhạy cao của chúng với môi trường xung quanh, các qubit có thể được sử dụng như các cảm biến nhiễu của chính chúng. Trên chính ý tưởng đó, các nhà nghiên cứu đã  đạt được tiến bộ trong phát triển các kỹ thuật nhận diện và giảm bớt nhiễu Gauss trong các hệ lượng tử, tương tự cách các tai nghe tự cắt nhiễu hoạt động.  Trong khi không phổ biến như nhiễu Gauss, việc nhận diện và cắt nhiễu phi Gauss là thách thức không kém khi hướng đến việc tối ưu trong thiết kế các hệ lượng tử.  Nhiễu phi Gauss được phân biệt bằng nhiều mẫu hình tương quan phức tạp hơn, bao gồm nhiều điểm phức tạp trong một thời điểm. Kết quả là nhiều thông tin về nhiễu cần được nhận diện.  Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã có khả năng tính gần đúng các đặc đểm của nhiễu phi Gauss bằng việc sử dụng thông tin về các tương quan tại ba thời điểm khác nhau, tương ứng với bispectrum – một thống kê sử dụng để tìm kiếm các tương tác phi tuyến, trong miền tần số này.  “Đây là lần đầu tiên, đặc điểm chuyển tần số và chi tiết và của nhiễu phi Gauss có thể được thực hiện trong một phòng thí nghiệm với các qubit. Kết quả này mở rộng một cách đáng kể hộp công cụ mà chúng tôi có sẵn để miêu tả đặc điểm của nhiễu và do đó tạo ra các qubit trong các máy tính lượng tử bền hơn và tốt hơn”, Viola nói.  Một máy tính lượng tử không thể cảm nhận được nhiễu phi Gauss có thể dễ dàng “bối rối” giữa tín hiệu lượng tử cần xử lý và nhiễu không mong muốn trong hệ này. Các giao thức để đạt được phổ nhiễu phi Gauss không tồn tại cho đến khi các nhà nghiên cứu công bố công trình vào năm 2016.  Trong khi thí nghiệm của MIT xác nhận giao thức này không thể lập tức tạo ra các máy tính lượng tử cỡ lớn thì đây cũng là bước tiến lớn hướng tới việc làm chúng trở nên chính xác hơn.  “Nghiên cứu này bắt đầu từ việc tính toán lý thuyết. Chúng tôi không biết nếu ai đó sẽ có khả năng đưa nó vào thực tế nhưng bất chấp những thách thức đáng kể về lý thuyết và thực nghiệm, nhóm nghiên cứu ở MIT đã làm được đều đó”, Felix Beaudoin, một cựu postdoc trong nhóm nghiên cứu của Viola tại Dartmouth và đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối lý thuyết và thực nghiệm trong nghiên cứu này, cho biết.  “Việc hợp tác với Lorenza Viola và nhóm nghiên cứu lý thuyết tuyệt vời của bà tại Dartmouth là một niềm vui thực sự”, William Oliver, một giáo sư vật lý ở MIT, nói. “Từ trước đến nay, chúng tôi đã làm việc với nhau trong nhiều dự án, và như chuyển điện toán lượng tử từ sự tò mò khoa học thuần túy đến thực tế kỹ thuật, tôi dự đoán sự cần thiết phải có thêm nhiều hợp tác liên viện và liên ngành hơn”.  Theo nhóm nghiên cứu, vẫn còn cần đến nhiều năm nữa để công trinh nghiên cứu này đạt  tới độ hoàn hảo trong việc dò và cắt nhiễu trong các hệ lượng tử. Cụ thể, nghiên cứu tương lai sẽ chuyển từ hệ một cảm biến sang hệ hai cảm biến, có khả năng mô tả các tương quan nhiễu trên khắp các qubit khác nhau.    Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-advance-noise-cancelling-quantum.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cầu Øresund  và sự thịnh vượng  của Medicon Valley      Không chỉ là biểu tượng của công nghệ và tinh thần hợp tác Bắc Âu, cây cầu Øresund nối Copenhagen và Malmö còn góp phần đem đến sự thịnh vượng ở Medicon Valley – một trong những trung tâm hàng đầu về khoa học sự sống châu Âu.      Medicon Valley hình thành khi cây cầu Øresund được hoàn tất. Nguồn: NASA.  Từ những năm 2000, Øresund đã được biết đến như cây cầu đường bộ và đường sắt dài nhất châu Âu. Vắt qua biển Baltic trên độ cao 207m so với mực nước biển, nó gồm một phần cầu dây văng dài 7,8km xuất phát từ Malmö (Thụy Điển) và một đường hầm dưới nước dài 4, 5 km nối với Copenhagen ở bờ bên kia. Nhờ có cây cầu này, khoảng cách giữa Đan Mạch và Thụy Điển không còn là 17km và tốn hai giờ đi phà nữa mà rút ngắn lại còn 40 phút ô tô. Do đó, người ta có thể lựa chọn cho mình một cuộc sống thoải mái và dễ chịu: sống ở Thụy Điển – nơi có chi phí thuê nhà, sinh hoạt thấp hơn, và làm việc ở Đan Mạch – nơi có mức lương cao hơn. Hơn thế, sự kết nối mới mà cây cầu mang lại đã gợi mở ra sáng kiến hợp tác xuyên biên giới giữa Copenhagen với các thành phố Malmö, Lund và Helsingborg thông qua việc thiết lập vùng Øresund – nơi tập trung tri thức nhiều lĩnh vực: khoa học vật liệu, khoa học sự sống, vật lý hạt nhân, hóa học… Trong số các lĩnh vực được cả chính phủ Đan Mạch và Thụy Điển đầu tư này, khoa học sự sống nổi lên với thương hiệu Medicon Valley. Theo một điều tra độc lập của Trung tâm Phân tích và xúc tiến DTU (DTU Analysis & Promotion Centre) thì Medicon Valley là trung tâm nghiên cứu về y sinh thứ ba châu Âu, sau London và Paris. Nếu xét trên tiêu chí công bố quốc tế, Medicon Valley xếp hạng 5 châu Âu, nổi bật về các bệnh dị ứng, trao đổi chất/nội tiết, sinh lý học và chấn thương chỉnh hình.  Công ty dịch vụ kiểm toán, tư vấn đa quốc gia Ernst & Young từng nhận xét trong Báo cáo Khoa học sự sống châu Âu: “Trong khi người ta tập trung nhiều vào Đức và Anh thì, Scandinavia đã lặng lẽ xây dựng một nền công nghiệp đẳng cấp thế giới và chứng tỏ cho phần còn lại của châu Âu thấy lối tiếp cận độc đáo để phát triển công nghiệp có thể đem lại những phần thưởng ý nghĩa như thế nào”.  Băng qua những biên giới cũ  Nói đến Medicon Valley là người ta muốn ám chỉ đảo Zealand ở phía đông Đan Mạch, nơi có thủ đô Copenhagen, và vùng Skåne (tiếng Anh là Scania) ở phía nam Thụy Điển, nơi từng là một phần của Đan Mạch cho đến Hòa ước Roskilde ký vào năm 1658 khi kết thúc cuộc chiến Thụy Điển – Đan Mạch (1657 – 1658). Thung lũng rộng 21.000 km2 này có một lực lượng đông đảo gồm 41.000 người làm việc trong các ngành khoa học sự sống, chiếm 58% tổng số người làm việc trong lĩnh vực này ở cả hai quốc gia.  Medicon Valley đã trải qua một quá trình thay đổi trong bối cảnh thế giới rơi vào tình trạng chia rẽ và ly khai, tạo ra những thách thức và cơ hội cho các nhà nghiên cứu Đan Mạch và Thụy Điển. Một số thay đổi giữa hai bờ Baltic cũng tạo ra khác biệt. Ví dụ vào thời kỳ 2008–1015, số lượng người làm việc trong ngành khoa học sự sống ở Skåne giảm tới 31% nhưng lại tăng lên 13% ở phần Đan Mạch của Medicon Valley. Điều này có thể giải thích là sự trồi sụt của ngành công nghiệp dược. Khủng hoảng vào năm 2011 buộc gã khổng lồ đa quốc gia AstraZeneca phải đóng cửa bộ phận nghiên cứu ở Lund (Thụy Điển), khiến 600 người mất việc làm trong khi ở phía Đan Mạch, Novo Nordisk ở Bagsværd cũng như nhiều công ty dược nhỏ lèo lái đã đem lại sự tăng trưởng.  Tuy nhiên, sự thay đổi này không khiến người làm việc ở khu vực này cảm thấy sợ hãi. Trong quá khứ, họ đã chứng kiến nhiều chuyển biến ở vùng Øresund. Trong những năm 1970 và 1980, một vài công ty lớn của vùng có khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị và sản xuất một số thuốc sinh học. Bước sang thập niên 1990, rất nhiều ứng dụng mới của công nghệ sinh học xuất hiện, dẫn đến sự ra đời của một số công ty nhỏ có sự gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu trong lĩnh vực công và sự hỗ trợ về tài chính của các công ty lớn. Vào cuối thập niên này, số lượng công ty lớn phải đóng cửa ngày càng tăng, các công ty lớn và nhỏ buộc phải tập trung nhiều vào nghiên cứu cơ bản để hiểu rõ hơn cơ chế của bệnh tật và khuyến khích phát triển những sản phẩm mới. Sự phức tạp ngày một gia tăng của ngành công nghiệp dược phẩm và chuyên môn hóa ngày càng lớn của các công ty khiến họ phải mở rộng mối liên kết toàn cầu với những vùng sinh học khác, đặc biệt là gia nhập mạng lưới nghiên cứu quốc tế.  Do đó, văn hóa làm việc ở Medicon Valley là không ngại thay đổi, không ngại hợp tác và dám đương đầu với thử thách. Tất cả các bên đều có thể tận dụng được thế mạnh của nhau. Jan van de Winkel, giám đốc điều hành Genmab – một công ty công nghệ sinh học lớn nhất châu Âu được thành lập năm 1999 và đang phát triển những liệu pháp điều trị kháng thể với trên 100 trường hợp thử nghiệm lâm sàng, nêu công thức thành công của Medicon Valley là nhờ vào sự kết nối các công ty dược lớn của Đan Mạch, các trường đại học của Thụy Điển và các bệnh viện ở hai bên bờ Baltic. Nếu xét ở khía cạnh học thuật thì sự kết hợp này cũng ở mức hoàn hảo: công bố từ sự hợp tác giữa công ty Đan Mạch và trường đại học Thụy Điển thường xấp xỉ 20% số lượng công bố của Medicon Valley, nghĩa là chỉ đứng sau “liên minh” trường Đại học Đan Mạch – Thụy Điển (khoảng 70%). Jan van de Winkel nhấn mạnh: “Tôi thấy tương lai tươi sáng cho Medicon Valley từ những kết nối bền chặt giữa những phần khác biệt trong hệ sinh thái khoa học sự sống đang không ngừng lớn mạnh.”  Khi nói đến “những phần khác biệt” trong hệ sinh thái của Medicon Valley, Jan van de Winkel muốn ám chỉ đến 350 công ty công nghệ sinh học, dược phẩm, công nghệ y tế, 32 bệnh viện, 9 trường đại học với gần 7.000 nhà nghiên cứu, 6.000 nghiên cứu sinh (90% là người Scandinavia). Sự gần gũi giữa họ khiến cái nhìn của giới nghiên cứu với ngành công nghiệp cũng rộng mở hơn. Giáo sư Nils Brünner – nhà nghiên cứu về ung thư tại trường Đại học Copenhagen, tận dụng hiểu biết về ngành công nghiệp để lập một startup mang tên Scandion Oncology vào tháng 5/2017. Công ty của ông đang tập trung vào một loại sản phẩm nhiều tiềm năng đã bắt đầu chứng tỏ được hiệu quả khắc phục khả năng kháng thuốc trên một số ca điều trị ung thư. Brünner nói, 10 năm trước, một nhà nghiên cứu hàn lâm không muốn nói với ai mình là đối tác của giới công nghiệp “bởi vì họ có thể nghĩ anh rơi vào tình trạng xung đột lợi ích giữa nghiên cứu và lợi nhuận. Tình trạng này rốt cuộc đã thay đổi một cách nhanh chóng. Hiện giới hàn lâm tự hào khi được làm việc với doanh nghiệp và nếu lập ra một công ty, thậm chí anh sẽ trở thành một người hùng”.     Giáo sư Nils Brünner là một trong những ví dụ thành công ở Medicon Valley, khi thành lập startup Scandion Oncology . Nguồn: ĐH Copenhagen.  Những người hùng như vậy không thiếu ở Medicon Valley, ví dụ giáo sư Carl Borrebaeck, người thành lập Viện nghiên cứu ung thư CREATE Health thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu trường Đại học Lund và bệnh viện trường Đại học Skåne vào đầu những năm 2000, đã góp phần tạo ra 4 công ty từ những nghiên cứu ở viện: Immunovia chuyên về thiết bị chẩn đoán sớm; SenzaGen chuyên về các dược chất chống ung thư; Bioinvent International phát triển dược phẩm có thành phần là kháng thể chống ung thư; Alligator Bioscience phát triển các dược chất từ liệu pháp miễn dịch.  Việc liên tục hoán đổi vị trí cũng đem lại sự thấu hiểu văn hóa giữa hai giới cũng như giữa hai lĩnh vực công – tư. Điển hình là TS. Daniel Otzen: từng học đại học tại Aarhus, Đan Mạch, làm nghiên cứu sinh và postdoc tại Lund, Thụy Điển, làm việc tại công ty Novozymes Đan Mạch rồi chuyển sang làm nghiên cứu cơ bản tại trường Đại học Aarhus và lập CureND – một công ty chuyên về các loại thuốc điều trị bệnh Parkinson. Anh nói: “Có được một nền tảng hiểu biết về ngành công nghiệp là điều rất tuyệt, nó sẽ mở ra khả năng tiếp nhận một môi trường làm việc khác biệt, sau đó đem lại khả năng thiết lập mối quan hệ hợp tác công tư minh bạch và có lợi cho mỗi bên”.   Mở rộng liên kết quốc tế  Không chỉ được biết đến ở vùng Scandinavia, Medicon Valley còn thiết lập được danh tiếng thông qua hợp tác với các trung tâm nghiên cứu sinh học lớn như Massachusetts, Basel, Île-de-France, New Jersey/New York, đồng thời có nhiều mạng lưới thu hút sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu thế giới. Thế mạnh của Medicon Valley là những hướng nghiên cứu tiên phong về điều trị ung thư, tiểu đường, lây nhiễm và tự miễn dịch, rối loạn thần kinh, enzyme và khoa học thực phẩm… Với mong muốn thúc đẩy hơn nữa những hiểu biết về bệnh tật, các nhà nghiên cứu ở đây luôn ở tư thế sẵn sàng kết nối với các đồng nghiệp khắp thế giới.  Để làm được điều này, họ đã thực hiện nhiều cách làm sáng tạo, một trong số đó là lập mạng lưới nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu ở Medicon Valley là nòng cốt, tạo thế chủ động trong việc tổ chức hội thảo, seminar, đề xuất dự án nghiên cứu, dự án thử nghiệm. Ví dụ, Julio Celis, giám đốc Viện nghiên cứu Sinh học ung thư thuộc Hội ung thư Đan Mạch, đã phát triển một mạng lưới gồm các chuyên gia làm việc tại 18 trung tâm nghiên cứu ung thư của châu Âu. Ông giải thích về mục đích của mình khi thiết lập mạng lưới này: “Ung thư là loại bệnh phức tạp, không một viện nghiên cứu, không một quốc gia hay thậm chí là một lục địa có thể giải quyết được nó” và “việc kết nối sẽ tận dụng được thế mạnh ở từng quốc gia, nhất là khi ở mỗi nơi đều có những chuyên gia giỏi”. Mặt khác, mạng lưới sẽ khuyến khích tính cơ động của các chuyên gia, sinh viên và tạo ra cơ hội để giới công nghiệp khám phá các chương trình nghiên cứu kinh viện, qua đó đầu tư vào các dự án thử nghiệm với hi vọng thúc đẩy quá trình tìm được phương thức điều trị mới.  Việc thu hút các chuyên gia quốc tế đến Medicon Valley không chỉ từ phía cá nhân các nhà nghiên cứu mà còn từ giới công nghiệp thông qua các khoản đầu tư vào R&D. Dẫn đầu trong xu thế này là Novo Nordisk, một công ty chuyên về các loại thuốc và thiết bị về tiểu đường có đại diện trên 75 quốc gia, hằng năm đầu tư hơn 200 triệu euro cho các nghiên cứu về bệnh này, trong đó phần nhiều là nghiên cứu ngay tại Medicon Valley. Thông qua các dự án nghiên cứu như vậy, những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã được mời đến đây làm việc.  Không riêng gì những công ty lớn mà những doanh nghiệp nhỏ cũng sẵn sàng chi cho nghiên cứu. Giáo sư Thomas Mandrup Poulsen của trường Đại học Copenhagen, người đang thực hiện nghiên cứu bệnh tiểu đường cả về cơ bản và thử nghiệm lâm sàng tại Viện nghiên cứu Hagedorn và Trung tâm tiểu đường Steno cũng nhận thấy “xu hướng ngày một tăng của các công ty nhỏ với các trường đại học để giải quyết những vấn đề nghiên cứu cơ bản và góp phần làm tăng thêm hiểu biết về bệnh tật”. Thông qua những trải nghiệm của mình tại Medicon Valley, ông từng đề xuất trên Science “cách để có được nghiên cứu cơ bản và tăng cường chuyển giao kết quả nghiên cứu cùng lúc là tạo ra nhiều học bổng tiến sỹ hoặc postdoc với yêu cầu phải có sự hợp tác giữa viện nghiên cứu cơ bản, trung tâm thử nghiệm lâm sàng và ngành công nghiệp” trong lĩnh vực khoa học sự sống.    Novo Nordish đầu tư hơn 200 triệu USD mỗi năm để nghiên cứu bệnh tiểu đường. Nguồn: : Novo Nordish.  Nhờ có những cách làm này, số lượng công bố quốc tế về khoa học sự sống có sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài tại 9 trường Đại học Medicon Valley tăng dần về lượng và chất, dẫn đầu là hai trường đại học Copenhagen và Lund: tỷ lệ công bố có tác giả quốc tế chiếm ½ tổng số công bố, trải đều ở các khoa Dược phẩm, sinh học, hóa học, kỹ thuật y sinh, công nghệ thực phẩm và dinh dưỡng, công nghệ miễn dịch…; tăng lượng bài báo trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng trên 30 như Nature, Science, Annual Review of Immunology, CA: A Cancer Journal for Clinicians, Chemical Reviews, JAMA The Journal of the American Medical Association, The Lancet…  Bên cạnh đó, trong số 7.000 nhà nghiên cứu làm việc tại Medicon Valley, có gần 2.500 người là nhà khoa học quốc tế, theo một số liệu điều tra năm 2015. Trả lời Nature, họ cho rằng, nơi đây có 3 điểm nổi bật: khả năng gia nhập một môi trường khoa học và cơ sở hạ tầng nghiên cứu hàng đầu châu Âu; khả năng hợp tác với những nhà nghiên cứu xuất sắc và những người làm trong ngành công nghiệp hết sức cởi mở; sự hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm và kinh doanh từ các nhà đầu tư địa phương.  ***  Tuy nhiên không có điều gì là hoàn hảo. Với những người thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Thụy Điển – Đan Mạch và quốc tế biết rằng vẫn có nhiều thách thức ở nơi này. Một trong số này là nguồn vốn đầu tư địa phương – dù sẵn sàng nhưng không đủ lớn, điều đó khiến nhiều công ty nhỏ phải phụ thuộc vào sự đầu tư từ nước ngoài và dễ bị mua lại. “Có nhiều start-ups (công ty khởi nghiệp) và grown-ups (công ty có sức tăng trưởng nhanh chóng) nhưng chúng tôi lại thiếu scale-up (công ty mở rộng quy mô nhanh)”, Soren Bregenholt, chủ tịch Liên minh Medicon Valley, thừa nhận. Ví dụ năm 2015, công ty EpiTherapeutics chuyên về ung thư đã bị công ty Mỹ Gilead ở California thâu tóm với số tiền 65 triệu USD.  Một khó khăn khác là việc tuyển dụng ở nhiều công ty lớn. “Người ta thường nhận được mức lương cao hơn ở Mỹ và Thụy Sĩ”, Erik Kristensen, giám đốc nhân sự tại Novo Nordisk cho biết.  Tồn tại gần 20 năm nhưng với người ngoài Scandinavi, một trung tâm khoa học sự sống xuyên biên giới và con đường kết nối qua làn nước lạnh vẫn có vẻ hơi kỳ lạ. Có một chút gì nửa Thụy Điển, nửa Đan Mạch ở nơi này, nếu vượt qua được điều đó, người ta sẽ thấy thú vị. “Người Đan Mạch hiểu người Thụy Điển và ngược lại”, giáo sư Brünner – người gốc Đan Mạch sinh ra ở Thụy Điển, nói. “Có rất nhiều điểm chung văn hóa giữa hai bên, mặc dù dĩ nhiên là cũng có nhiều điểm khác biệt trong điều hành, nghiên cứu và quan điểm sống. Dẫu vậy thì tất cả những điều đó vẫn mở ra nhiều cơ hội hợp tác và đạt tới những nghiên cứu ở trình độ cao hơn”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn:  https://www.nature.com/articles/d41586-018-03807-z  https://www.oecd.org/cfe/regional-policy/publicationsdocuments/Oresund.pdf  https://www.sciencemag.org/features/2010/01/denmark-making-global-connections  https://www.thelocal.se/20100630/27530       Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện TGV- tàu cao tốc của nước Pháp      Với 1800 km đường sắt cao tốc, Pháp trở thành nước đứng thứ hai (chỉ sau Nhật Bản) về chiều dài đường sắt cao tốc. Tuy nhiên, việc đưa tàu cao tốc vào hoạt động ở Pháp không đơn giản. Quốc gia này phải mất gần hai thập kỷ mới khánh thành tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên.      Gần 2 thập kỷ tính toán   Năm 1966, đường sắt Pháp (SNCF) thành lập bộ phận nghiên cứu với nhiệm vụ tập trung nỗ lực cho dự án táo bạo trong tương lai nhằm đáp ứng những kỳ vọng của khách hàng và đón trước những hướng phát triển trong tương lai của ngành đường sắt. Một trong những dự án tham vọng của SNCF lúc bấy giờ liên quan tới việc nghiên cứu khả khi về đường sắt cao tốc theo mô hình đường sắt cao tốc Shinkansen của Nhật Bản đưa vào hoạt động năm 1964.  Về mặt kỹ thuật, có những thách thức lớn cần phải vượt qua. Vì tàu cao tốc (Train à Grande Vitesse – TGV) theo nghĩa rộng là toàn bộ hệ thống đường sắt bao gồm đường ray, nguồn điện, hệ thống dẫn điện, nhà ga, hệ thống tín hiệu và những thiết bị hỗ trợ cho phép phát huy hiệu năng tối đa của tàu có khả năng vận hành với vận tốc rất cao. Tất cả hệ thống này yêu cầu tiêu chuẩn kĩ thuật rất cao để đảm bảo an toàn tuyệt đối trong khai thác. TGV phải sử dụng đường ray đặc biệt độ bền cao, khả năng chống xoắn tốt hơn nhiều so với đường ray thông thường nhất là tại vị trí đường cong. Có hàng loạt những cải tiến cho phép tàu vận hành ở tốc độ cao về cơ bản bao gồm: mô tơ điện công suất lớn; trọng tâm của tàu phải thấp; hình dạng khí động học; vị trí liên kết móc nối đảm bảo an toàn cao; hệ thống giảm chấn khi vận hành tốc độ cao; tín hiệu hỗ trợ cho lái tàu khi không thể quan sát được hai bên do tàu chạy với vận tốc cao. TGV dùng hệ thống động cơ điện công suất lớn(khoảng 8000 kW) đòi hỏi nguồn cung cấp điện ổn định liên tục, gồm nhiều động cơ đồng bộ hoặc không đồng bộ(chi phí thấp hơn). Hệ thống điều khiển gồm hàng chục máy tính kết nối đảm bảo vận hành an toàn ở mức độ cao nhất.  Về mặt kinh tế, có 3 yếu tố quan trọng cần phải xem xét: đánh giá số lượng khách, đánh giá chi phí đầu tư và khai thác, tối ưu hóa về mặt kinh tế của hệ thống.  Đánh giá số lượng khách cho phép tiến đoán được những hiệu ứng của việc cải thiện chất lượng dịch vụ (tốc độ, số lượng và tiện nghi). Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phần lớn giới doanh nhân đều cho rằng hoạt động đường sắt sẽ biến mất hoặc thoái trào, ví dụ như Mỹ đường sắt phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của hàng không và đường bộ.  Đánh giá về chi phí đầu tư, khai thác cũng rất quan trọng. Về vấn đề này có hai lựa chọn cơ bản: xây dựng hệ thống đường ray chuyên biệt dành riêng cho tàu cao tốc hoặc làm cho hệ thống cũ và mới tương thích với nhau, có nghĩa là tàu cao tốc có thể chạy trên những đường mới dành riêng cho nó những đồng thời cũng có thể chạy trên các đường ray của hệ thống cũ. Lựa chọn thứ hai mang lại hai lợi ích: tàu cao tốc có thể tiến vào các khu trung tâm thành phố nhờ sử dụng đường ray cũ và đỗ tại các ga nằm trên hệ thống cũ.  Việc tối ưu hóa hệ thống đòi hỏi phải nghiên cứu các tuyến đường, cơ sở hạ tầng để giúp cho việc đưa ra các chương trình khai thác về thương mại có hiệu quả nhất.  Một uỷ ban liên bộ đã được thành lập có nhiệm vụ lấy các ý kiến phản biện xung quanh những đề xuất của SNCF. Vào tháng 3/1971, tổng thống Pháp lúc đó là Georges Pompidou đã đồng ý thông qua dự án mặc dù có sự phản đối của bộ trưởng tài chính mong muốn hiện đại hoá hệ thống ga tàu vùng ngoại ô Paris. Sau nhiều tranh cãi, vào năm 1977, thủ tướng Raymond Barre đã ấn định lịch đưa vào khai thác đường sắt cao tốc: việc đưa vào sử dụng gồm hai giai đoạn mùa thu 1981 và mùa thu 1983.     Đi vào hoạt động  TGV đầu tiên chạy bằng gaz được thử nghiệm năm 1967 đạt vận tốc 200km/h được đánh giá có khả năng cạnh tranh cao với các phương tiện vận chuyển đường bộ và đường không trong các cự li dưới 1000km. Sau khủng hoảng năng lượng năm 1973, SNCF đã nghiên cứu cải tạo hệ thống TGV chạy điện. Năm 1981 tuyến TGV hiện đại từ Paris tới Lyon đã khánh thành. Với lợi thế của mình cùng với sự đảm bảo về khả năng cung cấp điện hạt nhân, mạng lưới TGV với trung tâm là Paris ngày càng được mở rộng nối liền các thành phố của nước Pháp tạo thành mạng lưới giao thông huyết mạch của Pháp và thực sự đem lại lợi nhuận cho SNCF.  Vận hành với vận tốc lớn (hiện nay là 270 tới 320 km/h trong khai thác và đã thử nghiệm đạt vận tốc 574,8 km/h năm 2007), TGV đã chiếm ưu thế so với máy bay trong việc lưu thông giữa các thành phố (khoảng cách dưới 1000km), nhờ vào thời gian nhanh (đặc biệt khi hành trình dưới ba giờ đồng hồ), thủ tục đăng kí đơn giản, sắp xếp hành lý nhanh hơn, và vị trí của nhà ga là ở trung tâm của thành phố. Hơn nữa, TGV có độ an toàn cao nhất trong các phương tiện vận tải công công, kể từ khi ra mắt năm 1981, sau gần 30 năm mới chỉ có 3 sự cố trật ray với một vài hành khách bị thương nhẹ.  Tại Pháp hiện nay TGV là phương tiện phổ biến nhất để chuyên chở hành khách, đặc biệt trong khoảng cách dưới 1000 km và thời gian dưới 3 giờ, trên các tuyến trong Pháp cũng như kết nối với các nước lân cận. Từ ngày khánh thành tuyến đầu tiên (1981) đến ngày 28 tháng 11 năm 2003, hệ thống TGV đã chuyên chở một tỷ lượt khách và dự kiến sẽ đạt 2 tỷ lượt trong năm 2010. TGV cũng được bưu điện sử dụng để vận chuyển hàng hóa.  Tuyến đầu tiên Paris-Lyon hiện nay chỉ là một đoạn của tuyến đường sắt từ Nam sang Đông của Pháp, mạng lưới đường sắt cao tốc với trung tâm là Paris đã nhanh chóng và tiếp tục được mở rộng với nhiều tuyến TGV về phía nam, phía tây, phía bắc nước Pháp. Nhiều nước láng giềng cũng đã kết nối với Pháp tạo thành mạng lưới đường sắt cao tốc xuyên quốc gia như: hệ thống tàu cao tốc Thalys (1999) nối liền Pháp, Bỉ, Đức và Hà Lan từ điểm nút ga Bruxelles-Midi ở Bỉ,Eurostar (1994) nối Vương quốc Anh qua eo biển Manche từ điểm xuất phát là Paris-Nord và Bruxelles-Midi, Lyria (1993) nối với Thụy Sĩ, Alleo (2007) nối Pháp-Đức, Artesia (khai thác cao tốc từ 2010) nối với Ý, Elipsos nối Pháp-Tây Ban Nha.  Rất nhiều tuyến TGV khác cũng đang được lên kế hoạch để nối liền các thành phố lớn ở Châu Âu. Bên ngoài Châu Âu, nhiều loại tàu điện phát triển từ TGV đã lăn bánh ở Hàn Quốc (KTX), ở Tây Ban Nha (AVE) và ở Mỹ (Acela).    Đào Lâm tổng hợp (Le train du futur, 2007)                        Tuy có lợi thế lớn về vận tốc khai thác và sử dụng nhiên liệu sạch không ảnh hưởng đến môi trường nhưng TGV cũng có những nhược điểm nhất định.  Chi phí đầu tư của tuyến đường sắt cao tốc là rất lớn với các chi phí ngày càng tăng tùy đặc điểm kĩ thuật cụ thể. Chi phí cho 1 km phụ thuộc: địa hình và địa chất vùng tuyến đi qua; số lượng công trình cầu hầm phải xây dựng; loại hình tuyến cao tốc hay hỗn hợp; giao cắt khu dân cư….với các chỉ tiêu kĩ thuật rất chặt chẽ.  Theo thống kê của SNCF, chi phí trung bình là 1,7 tỷ euros/100 km đường sắt cao tốc nền rộng 14m, gấp hơn 3 lần so với việc xây dựng tuyến đường bộ cao tốc 4 làn tại Pháp.  Cũng theo đánh giá của SNCF thì giá thành 1 đoàn tàu TGV như sau :  – Tàu TGV thông thường (năm 1995)  khoảng 14,4 triệu euros  – Tàu TGV Duplex 500 chỗ  (năm 2007)  khoảng 25 triệu euros  – Tàu Eurostar 794 chỗ (năm 1998) khoảng 32 triệu euros  – Tàu Thalys 377 chỗ (năm 1997) khoảng 19 triệu euros  So với chi phí đường sắt cao tốc tại các nước khác thì SNCF cho rằng TGV rẻ hơn 30 % so với hệ thống tàu cao tốc ở Tây Ban Nha hay Đức và rẻ hơn khoảng 50 % so với Shinkansen đệm từ trường của Nhật Bản. Tuy nhiên về độ tiện nghi thì TGV kém hơn so với Acela Express của Mỹ, Shinkansen, hay KTX của Hàn Quốc.  Ngoài ra, TGV cũng bị coi là một nguyên nhân gây cản trở phát triển kinh tế các vùng nông thôn do thường chỉ kết nối các ga giữa các thành phố lớn.  Về mặt kĩ thuật, để đảm bảo việc khai thác với vận tốc rất cao, TGV cũng đòi hỏi hệ thống đường sắt, tàu với yêu cầu kĩ thuật cao, hệ thống cung cấp điện và hệ thống tín hiệu vận hành chính xác với độ an toàn tin cậy rất cao. Các đoàn tàu cũng cần được kiểm tra và bảo dưỡng thường xuyên tại các trung tâm bảo dưỡng sửa chữa trên tuyến.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện về hai mô hình phát triển      Vừa qua, nhóm giáo sư thuộc Trường Fulbright và Chương trình Việt Nam của ĐH Harvard đã đưa ra bản báo cáo khuyến nghị chiến lược phát triển kinh tế -xã hội mang tên “LỰA CHỌN THÀNH CÔNG: BÀI HỌC TỪ ĐÔNG Á VÀ ĐÔNG NAM Á CHO TƯƠNG LAI VIỆT NAM “. Bản báo cáo gồm các phần: Câu chuyện về hai mô hình phát triển, Duy trì tăng trưởng bền vững và công bằng, Khuyến nghị chính sách… Phần đầu bản báo cáo so sánh giữa “mô hình Đông Á” (Hàn Quốc, Đài Loan…) với “mô hình Đông Nam Á” (Phi-lip-pin, In-đô-nê-xia…) và nhấn mạnh: “Các nước Đông Á thành công là nhờ có chính sách đúng đắn trong 6 lĩnh vực then chốt, bao gồm giáo dục, cơ sở hạ tầng và đô thị hóa, doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế, hệ thống tài chính, hiệu năng của Nhà nước, và công bằng. Sự tiếp nối thành công của Việt Nam cũng sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách trong 6 lĩnh vực này…”. Chúng tôi xin lược thuật phần đầu bản báo cáo này.    Giáo dục  Các nước Đông Á có một tầm nhìn chiến lược toàn diện cho sự phát triển nguồn lực con người. Hoạt động dạy nghề ở các nước này cung cấp cho dân di cư từ nông thôn ra thành thị những kỹ năng cần thiết để họ có thể tìm được việc trong các nhà máy với mức thu nhập tốt hơn. Mức độ tiếp cận giáo dục đại học của các nước này được mở rộng một cách nhanh chóng, trong đó đáng lưu ý là giáo dục kỹ thuật và công nghệ. Chẳng hạn như vào năm 1971, số kỹ sư ở các nước có mức thu nhập trung bình thời đó là 4,6/1.000 dân, trong khi ở Đài-loan và Sing-ga-po, con số này lần lượt là 8 và 10. Các nước Đông Á dành một sự ưu tiên cao độ cho các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp, nơi đào tạo ra những kỹ sư, nhà khoa học, giám đốc, và quan chức Chính phủ để đáp ứng nhu cầu của một xã hội nay đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn.  Ngày nay, nhiều trường đại học của Trung Quốc, Hàn Quốc, và Đài Loan nằm trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu của Châu Á theo xếp hạng của trường Đại học Giao thông Thượng Hải. Ngoài Sing-ga-po ra thì không có một nước Đông Nam Á nào có trường đại học nằm trong danh sách này.  Cơ sở hạ tầng và Đô thị hóa            Tăng trưởng GDP trên đầu người, 1960 – 2004   Nguồn: Những Chỉ báo Phát triển Thế giới   (World Development Indicators)        Xây dựng CSHT cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh đòi hỏi các nguồn lực của Chính phủ phải được sử dụng một cách hiệu quả. Ở đây cũng vậy, trừ Trung Quốc ra, các nước Đông Á đạt được những kết quả đáng tự hào hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á. Chỉ cần so sánh Tokyo, Seoul và Taipei với Bangkok, Manila, và Jakarta là đã có thể thấy sự khác biệt to lớn: thành phố ở các nước Đông Á là động lực cho tăng trưởng và đổi mới kinh tế, trong khi thành phố ở các nước Đông Nam Á ô nhiễm, ùn tắc, đắt đỏ, và ngập lụt. Nghèo đói, tội phạm và sự bất lực trong việc cung cấp các dịch vụ đô thị cơ bản như giao thông, điện, nước sạch là những tai họa của các thành phố Đông Nam Á… Bên cạnh sự thất bại trong quản lý đô thị, các nước Đông Nam Á còn có xu hướng đầu tư quá mức vào các dự án khổng lồ mà trong hầu hết trường hợp đều chứng tỏ là chưa cần thiết và lãng phí. Nói chung, các nước Đông Á thường thận trọng hơn và chỉ đầu tư để nâng cao công suất khi cần thiết. Tại sao các nước Đông Á lại thành công hơn các nước Đông Nam Á nhiều đến thế? Một nhân tố quan trọng là các quyết định về CSHT ở các nước này do các nhà kỹ trị ít chịu áp lực chính trị thực hiện. Ngược lại, ở các nước Đông Nam Á, các quyết định đầu tư của Nhà nước thường bị chi phối và thao túng bởi các nhóm lợi ích đặc biệt.    Doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế  Ở các nước Đông Á, khi nhà nước hỗ trợ cho một ngành công nghiệp nào đó, hay thậm chí một doanh nghiệp cá biệt nào đó, thì nói chung, ngành công nghiệp hay doanh nghiệp này đều biết ngay từ đầu rằng sự hỗ trợ này chỉ có tính tạm thời và rằng họ sẽ phải xuất khẩu sau một vài năm để có thể tự tồn tại. Quy tắc này được gọi là “xuất khẩu hay là chết”. Các nước Đông Á thực hiện một chính sách kiên trì nhiều khi đến cực đoan trong việc theo đuổi kỹ năng, công nghệ, và tri thức tiên tiến để có thể giúp các doanh nghiệp của mình xâm nhập thị trường sản phẩm mới và hiện đại hóa quá trình sản xuất. Trái lại, In-đô-nê-xia và Thái-lan đang cố gắng thu hút một lượng lớn FDI nhưng nhìn chung lại không tạo ra được môi trường hỗ trợ các doanh nghiệp trong và ngoài nước bước lên những bậc thang công nghệ cao hơn.            Các nước Đông Á thực hiện một chính sách kiên trì nhiều khi đến cực đoan trong việc theo đuổi kỹ năng, công nghệ, và tri thức tiên tiến        Một bài học quan trọng thứ hai từ Đông Á là thương mại quốc tế không chỉ tạo ra sức ép cạnh tranh mà nó còn là một thước đo chính xác cho năng lực cạnh tranh của các công ty nội địa. Các công ty xuất khẩu thành công của Hàn Quốc được Chính phủ thưởng công một cách hào phóng thông qua việc ưu đãi các công ty này trong việc thâm nhập thị trường nội địa và thực hiện các hợp đồng của Chính phủ. Đồng thời, các công ty thất bại trong hoạt động xuất khẩu bị “trừng phạt” một cách thích đáng.  Nếu đối chiếu với kinh nghiệm của Đông Nam Á thì các nước này đã bảo hộ nhiều ngành công nghiệp trong một thời gian khá dài, dẫn đến việc lãng phí những nguồn lực khổng lồ và quý báu, trong khi lại chỉ tạo ra những doanh nghiệp ỷ lại, thụ động, và kém cạnh tranh, đặc biệt là trong khu vực nhà nước. Ô-tô Proton của Ma-lay-xia và Thép Krakatau của In-đô-nê-xia là hai ví dụ về hậu quả tai hại của chính sách vươn tới bậc thang công nghệ cao hơn trong điều kiện được bảo hộ lâu dài. Ngành công nghiệp thép của In-đô-nê-xia đang hấp hối sau 30 năm được bảo hộ. Cùng cần phải nhấn mạnh rằng nói chung các biện pháp bảo hộ không được chấp nhận trong khuôn khổ WTO, vì vậy Việt Nam cần chấm dứt chiến lược thay thế hàng nhập khẩu để chuyển hẳn sang định hướng xuất khẩu.  Hệ thống tài chính  Các nước Đông Á dành một phần lớn thu nhập quốc dân cho các hoạt động đầu tư, và họ đã đầu tư một cách hiệu quả. Đài Loan tăng trưởng ngoạn mục 10% trong suốt gần 20 năm, từ 1962 cho đến 1980, trong khi chỉ cần đầu tư khoảng 26% GDP. Nếu so sánh với Đài Loan trong giai đoạn đó thì hiện nay Việt Nam đang phải tốn gần gấp đôi lượng vốn để tạo thêm được một đơn vị tăng trưởng. Các nước Đông Nam Á đã thành công trong việc huy động một tỷ lệ đầu tư rất cao nhưng lại thất bại trong việc lặp lại kỳ tích tăng trưởng của các nước Đông Á, trong đó nguyên nhân chủ yếu là suất sinh lợi của các khoản đầu tư ở các nước Đông Nam Á thấp hơn nhiều. Tham nhũng chắc chắn là một trong những thủ phạm khi các quỹ đầu tư công bị bòn rút và thay đổi mục đích sử dụng, với hệ quả là chi phí kinh doanh bị đội lên cao. Bên cạnh tham nhũng thì một nguyên nhân quan trọng khác hoạt động tự do hóa tài chính được thực hiện quá sớm, trong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa sẵn sàng. Kết quả là sự xuất hiện của các khoản đầu cơ rủi ro và sự hình thành của bong bóng tài sản.            Nhà ổ chuột ở Ma-ni-la        Thị trường tài chính (bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ), phụ thuộc rất nhiều vào niềm tin của các tác nhân tham gia thị trường, vào sự minh bạch và đầy đủ về thông tin, và vào khả năng thực thi các quy định pháp luật về điều tiết và quản lý thị trường của nhà nước. Hơn thế, đầu tư là một hoạt động rủi ro và phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện thực tế cũng như kỳ vọng trên thị trường. Chính vì những lý do này mà nhà nước đóng một vai trò then chốt trong việc điều tiết thị trường để giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống. Chẳng hạn như Đài Loan đã ban hành những quy định nghiêm ngặt về hoạt động tích luỹ của cải thông qua việc sở hữu đất đai và đầu cơ tài chính. Chính quyền Đài Loan và Hàn Quốc còn ngăn cấm các tập đoàn công nghiệp mở ngân hàng, chống lại việc sáp nhập các thế lực tài chính và công nghiệp, mặc dù những chính sách này ở Hàn Quốc sau đó bị các chaebol phá dỡ. Việc tăng lợi nhuận của các tập đoàn công nghiệp chủ yếu thông qua nỗ lực tăng năng suất và sức cạnh tranh chứ không phải thông qua các hoạt động tài chính hay đầu cơ.  Hiệu năng của Nhà nước  Các nước Đông Á, trừ Trung Quốc, đã thành công trong việc xây dựng các nhà nước hiệu quả với một số đặc điểm chung như sau:  1. Thứ nhất, nhờ vào một số lý do có tính lịch sử, các nước này tạo ra được một sự cách ly giữa các nhà làm chính sách và các nhóm lợi ích đặc biệt, nhất là đối với những nhóm cản trở phát triển công nghiệp nhanh và bền vững.  2. Thứ hai, những nhân tố cơ bản được xây dựng một cách đúng đắn ngay từ ban đầu. Chính phủ xây dựng CSHT kinh tế, đầu tư thích đáng cho giáo dục, y tế, và an ninh công cộng với một mức chi phí chấp nhận được, đồng thời thỏa mãn được kỳ vọng của nhân dân về chất lượng. Kinh tế vĩ mô ở các nước này được điều hành một cách thận trọng bởi những nhà chuyên môn thực sự, trong đó mục tiêu phát triển chung của đất nước luôn được đặt lên hàng đầu.  3. Thứ ba, các nước Đông Á cũng chứng minh được rằng họ có thể tạo ra những quyết tâm chính trị mạnh mẽ để thay đổi khi cần thiết. Hàn Quốc đã phản ứng một cách mạnh mẽ trước những yếu kém trong cấu trúc nền kinh tế mà họ nhận ra được từ cuộc khủng hoảng 1997 và sau đó đã trỗi dậy vững vàng hơn.  4. Thứ tư, Chính phủ các nước Đông Á chủ trương thượng tôn pháp luật, trong đó hệ thống tư pháp không chịu sự chi phối của các thế lực chính trị có tính đảng phái. Sing-ga-po, Hồng Kông là những quốc gia Đông Nam Á đầu tiên dành ưu tiên cho việc củng cố hệ thống luật pháp. Chính điều này đã tạo ra một môi trường thuận lợi, khuyến khích giao dịch kinh tế và đầu tư. Đồng thời, việc đề cao thượng tôn pháp luật cũng là vũ khí then chốt để chống tham nhũng.  5. Thứ năm, các nhà lãnh đạo của các nước Đông Á ra quyết định dựa trên những phân tích chính sách có chất lượng và kịp thời. Họ cũng khuyến khích những tranh luận thẳng thắn và cởi mở trong nội bộ Chính phủ, giữa những nhà khoa học và trong giới kinh doanh về nội dung và đường hướng của chính sách kinh tế.  Kết quả ở các nước Đông Nam Á không đồng nhất. Các nước Đông Nam Á thường thất bại trong việc tạo nên quyết tâm cần thiết để thực hiện các cải cách khó khăn về mặt chính trị.  Công bằng  Suy đến cùng thì mục tiêu của mọi chính sách phát triển là nhằm kiến tạo một xã hội công bằng và thịnh vượng. Một trong những đặc điểm quan trọng của mô hình Đông Á là sự tăng trưởng nhanh về kinh tế được kết hợp với sự phân phối thu nhập tương đối đồng đều. Ngay cả khi đã đạt được mức thu nhập trên đầu người cao như hiện nay thì phân phối thu nhập ở Hàn Quốc và Đài Loan cũng đồng đều hơn so với Ma-lay-xia, Phi-lip-pin, Thái-lan, Sing-ga-po và Việt Nam. Tuy nhiên, những nước Đông Nam Á này vẫn có mức phân phố thu nhập đồng đều hơn so với các nước ở Châu Phi và Châu Mỹ La-tinh. Mặc dù vậy, bất bình đẳng về thu nhập vẫn tồn tại ở các nước Đông Nam Á trên cả ba phương diện quan trọng của chính sách phát triển con người, đó là giáo dục, y tế, và lưới an sinh xã hội.  Một trong những khía cạnh đáng thất vọng nhất trong sự phát triển của các nước Đông Nam Á là việc người giàu tránh không phải trả những khoản thuế được coi là hợp lý và ở mức độ rất phải chăng. Nhiều người trở nên giàu kếch xù nhờ đầu cơ đất đai nhưng lại chỉ phải đóng một khoản thuế bất động sản có tính tượng trưng, hoặc thậm chí hoàn toàn không phải đóng thuế.  Khía cạnh cuối cùng của phân phối thu nhập công bằng liên quan đến đất đai. Ở Phi-lip-pin, trong khi nhiều người lao động không có lấy một tấc đất cắm dùi, thì một số ít người khác lại sở hữu rất nhiều đất. Hiện tượng này cũng xuất hiện ở một số vùng của In-đô-nê-xia do mật độ dân cư quá cao và sự thâu tóm đất đai của một số “đại gia” có mối quan hệ gần gũi với giới quan chức. Ở Việt Nam và Trung Quốc, mặc dù phân phối đất ban đầu khá công bằng nhưng sự công bằng này đang bị phá vỡ một cách nhanh chóng do quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đô thị. Về thực chất, đây là quá trình chuyển đổi và phân phối lại ruộng đất, trong đó địa tô được chuyển sang tay một số cá nhân có thế lực kinh tế và quyền lực chính trị, trong số đó không ít người là quan chức của chính phủ. Điều tương tự đã không xảy ra ở Đài Loan và Hàn Quốc.  ———-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu chuyện về thị trường chứng khoán Việt Nam      Rửa tiền  Có hay không chuyện rửa tiền trên sàn chứng khoán Việt Nam? Có. Và đó không phải là ý kiến riêng của tôi mà chính ông Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phùng Khắc Kế đã cảnh báo. Đây cũng là chuyện bình thường. Khu vực kinh tế ngầm ở Việt Nam, theo một nghiên cứu của WB, có thể đạt tới giá trị 50% GDP, tức không dưới 25 tỷ USD1. Đã ngầm nghĩa là tiền không sạch, nên nhu cầu rửa là chuyện tất nhiên.    Nguyên tắc cơ bản trong đầu tư tài chính là phải sinh lời: tiền đẻ ra tiền. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư tìm mọi cách, huy động mọi nguồn lực để xác định cho mình một chiến lược đầu tư hợp lý. Nhưng rửa tiền thì không theo nguyên tắc này. Người ta sẵn sàng mất một nửa để biến tiền bẩn thành sạch. Thử hỏi bạn sẽ buôn bán như thế nào với người có rất nhiều tiền, nhưng cốt yếu đi buôn là để tiêu tiền chứ không làm tiền. Thị trường sẽ biến động liên tục, thất thường không theo một qui luật nào. Và người chịu thiệt hại nhiều nhất chính là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Họ thiếu thông tin, họ mua bán theo phong trào, nhưng khổ nhất là họ phải kết bè, kết bạn với những người không cùng mục đích kinh doanh.  Mới đây, khi Thủ Tướng chính thức có yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, kiểm soát nguồn vốn đầu tư, tăng tính công khai minh bạch, ngăn chặn có hiệu quả các hiện tượng lừa đảo, đầu cơ, thị trường đã có phản ứng tích cực – chỉ số VN-Index liên tục giảm trong sáu phiên liền (từ 19-03 đến 28-03), chấm dứt mối lo ngại về độ nóng không đáng có bấy lâu nay. Nhưng chúng tôi chỉ lo, khi ta thiết lập được các thể chế, chế tài đủ mạnh, ngăn chặn được tiêu cực thì tiền cần rửa người ta đã rửa xong.     Chứng khoán và ngân hàng, tuy hai mà một  Ai cũng biết chứng khoán và ngân hàng là hai kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Điểm khác biệt cơ bản là khi gửi tiền vào ngân hàng – chúng ta đang trao quyền quyết định đầu tư đồng vốn của mình cho một người hoặc một nhóm người (Tổng Giám đốc hay Hội đồng quản trị của ngân hàng); còn khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK)– chính chúng ta sẽ là người quyết định số phận đồng vốn của mình. Vì thế qui mô huy động vốn cũng như khả năng chia sẻ rủi ro trên TTCK sẽ cao hơn nhiều. Nền kinh tế tựa lưng vào TTCK sẽ vững chãi hơn nền kinh tế chỉ có hệ thống ngân hàng. Như vậy, từ nay chúng ta có thể yên tâm vì nền kinh tế Việt Nam đã có cả ngân hàng lẫn TTCK.   Không hẳn như vậy. Thay vì là đối trọng chiến lược của TTCK, hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay đang bị guồng quay lợi nhuận của chứng khoán cuốn theo. Ngân hàng đang trở thành người chơi đắc lực trên thị trường. Ngân hàng có tên tuổi thì đua nhau phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ; ngân hàng chưa có tên tuổi thì đua nhau đổi tên – đẹp hơn, kêu hơn, tung hoành ngang dọc trên thị trường OTC; ngân hàng đang thai nghén thì đua nhau tăng tốc cho sớm ra đời (chỉ tính đến cuối tháng 3-2007 đã có hơn 10 bộ hồ sợ nộp NHNN xin mở NHCPTM)2. Dường như người ta đang quên mất nhiệm vụ chính của ngân hàng là cung cấp dịch vụ tài chính phục vụ cộng đồng và điểm tựa về vốn cho nền kinh tế. Trong khi áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Theo các cam kết gia nhập WTO, kể từ ngày 01-04-2007, các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động tại Việt Nam, được đối xử bình đẳng và được thực hiện phần lớn các nghiệp vụ như ngân hàng trong nước. Thiết tưởng, đây là lúc các ngân hàng Việt Nam phải vắt chân lên cổ mà chạy: mở rộng chi nhánh, tăng cường dịch vụ, nâng cấp chất lượng phục vụ… Đằng này, có vẻ như lợi ích của một nhóm người (một nhóm cổ đông nào đó) đang lấn át lợi ích cộng đồng. Cứ tưởng rằng, phát triển TTCK, nền kinh tế có thêm một chân cho vững, ai dè chân cũ lại dẫm lên chân mới – nguy cơ vấp ngã quá cao, làm sao yên tâm đây.  Bản sắc của thị trường  Người Việt mình làm gì cũng có bản sắc riêng, chơi chứng khoán cũng vậy. Lịch sử chứng khoán thế giới chưa từng ghi nhận một trường hợp nào mà thị trường biến động kỷ lục như ở ta. Chỉ riêng năm 2007, tính đến ngày 12/03 – VN-Index đã kịp tăng 56%, và ngay hai tuần tiếp sau đó đã cũng kịp giảm 12,5%. Thế mà mọi người xem đây là hiện tượng “hết sức bình thường” – thị trường chỉ điều chỉnh chút đỉnh cho phù hợp với thực tế. “Chút đỉnh” này đã kịp làm lao đao hàng loạt các nhà đầu tư nhỏ. Rõ ràng đây là những dấu hiệu của một thị trường tiềm ẩn quá nhiều rủi ro. Và nguyên nhân chính là tình trạng làm giá, thông tin nội gián, móc nối trục lợi. Có lẽ chưa một nơi nào mà các đại gia chứng khoán có thể thao túng và điều khiển thị trường dễ dàng như ở ta trong thời gian qua.   Chưa hết, cứ phải lên sàn bạn mới cảm nhận đủ sự khác biệt. Đầu giờ sáng, người ta chen nhau nộp tiền. Vào thời cao điểm, nhà đầu tư ùn nhau đặt lệnh mua bán, ngồi phệt cả ra nền nhà để xem các con số nhảy nhót, hay bày tiền tràn lan ra sàn mà đếm. Lúc lên giá thì đua nhau mua, lúc xuống sàn thì tìm không ra mẫu đơn để đặt lệnh bán. Nhộn nhịp và tấp nập. Tuy nhiên, quan sát cảnh này, không thể dứt bỏ được cảm giác, dòng người đang là con rối trong tay những kẻ điều khiển vô hình. Họ là ai? Là các đại gia? Là những nhà đầu tư nước ngoài? Là ai khác nữa? Hay là chính chúng ta đang tự biến mình thành con rối cho các con số giật dây?  Có lẽ vì thế mà gần đây, nhiều người đã lên tiếng nhận xét về tính phong trào, tính bầy đàn của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi thì không nghĩ vậy. Chợ quê dĩ nhiên không thể bằng chợ phố: hàng hóa ít hơn, nghèo nàn về chủng loại, cách buôn bán, lối tổ chức cũng không thể nào so sánh. Nhưng chợ quê cũng có những nét đẹp mà chợ thành phố không thể nào có được, đó là chưa kể nếu đem so về giá trị đối với cộng đồng thì chưa biết chợ nào “ăn” chợ nào. Đơn giản là vì cộng đồng thế nào sẽ sản sinh ra chợ thế ấy. Nền kinh tế thị trường của chúng ta mới bước sang tuổi 20. Chứng khoán Việt Nam vừa lên bảy. Người chơi chứng khoán thì qua một đêm – nghiễm nhiên trở thành nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước vừa làm vừa dò dẫm. Trong khi ở các nước tiên tiến kiểu thị trường này đã có cách đây hàng trăm năm (TTCK Philadelphia ra đời năm 1754, New York – 1792, London –1801, Tokyo – 1878), nên chúng ta có ngây ngô, nhà quê trước họ cũng là chuyện bình thường.  Nhưng quan trọng hơn tất cả, theo tôi, chính sự ngây thơ của chứng khoán đang thổi vào đời sống tinh thần xã hội một làn gió mới, một niềm tin mới. Tin rằng, không chỉ có chốn quan trường mới có thể làm nên phú quí. Vẫn còn nhiều con đường khác, sự giàu có và thành đạt thực sự đang ở rất gần, hoàn toàn nằm trong tầm với của rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ tuổi có tri thức. Và niềm tin đã thôi thúc dòng người sáng sáng từ thứ 2 tới thứ 6 nối đuôi nhau lên sàn tìm cơ hội. Và tôi hiểu rằng niềm tin này với ai đó (không phải là với tất cả) là hoàn toàn không ngây thơ chút nào.  ——————  1 Stoyan Tenev, Amanda Carlier, Omar Chaudry, Nguyễn Quỳnh Trang. “Hoạt động không chính thức và môi trường kinh doanh ở Việt Nam”. IFC, Ngân hàng Thế giới và MPDF. Hà Nội, Thông tấn, 2003. tr. 18  2 Hàng loạt NH cổ phần nông thôn trước đây tưởng như đã giải thể, nay đã được các tập đoàn kinh tế lớn đổ vốn và nâng cấp thành NH đô thị, mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động. NH TMCP Nông thôn Đồng Tháp Mười đã công bố chuyển đổi mô hình hoạt động thành NH đô thị và đổi tên thành NH TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank). Nhiều tập đoàn lớn trong nước cũng đã góp vốn để trở thành cổ đông chính của các NH. NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) cũng đã ký thoả thuận hợp tác chiến lược với VNPT. EVN và Petro VN hiện đã có cổ phần lớn trong NH cổ phần An Bình (ABBank) và Toàn Cầu (G-Bank). Nhiều NHTMCP cũng thi nhau đổi tên cho “đẹp” hơn như NHTMCP Nông thôn Ninh Bình đổi thành NHTMCP Toàn Cầu (G-Bank); NHTMCP Nông thôn Sông Kiên đổi thành NHTMCP Nam Việt (Navibank) – cổ phần của các ngân hàng này hiện giao dịch rất sôi động trên thị trường OTC.    Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cầu nối công ty fintech và ngân hàng      Cuộc thi “Thử thách sáng tạo cùng công nghệ tài chính” (FCV) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Sáng kiến Hỗ trợ khu vực tư nhân vùng Mekong phối hợp tổ chức, không chỉ trao giải cho các ý tưởng tiềm năng mà còn “mai mối” thành công nhiều công ty fintech với ngân hàng.      Có khoảng 55% dân số sử dụng điện thoại di động (51 triệu người), dưới 55% sử dụng Internet (50 triệu người) nhưng chỉ 30% dân số có tài khoản ngân hàng – thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình 60% của thế giới, Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho công nghệ tài chính – fintech.  Trong khi đó, hiện Việt Nam có khoảng 80 công ty fintech, trong đó 27 công ty đảm trách vai trò trung gian thanh toán được Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV) chấp nhận. Thị trường fintech chưa thực sự khởi sắc bởi mới có một vài ngân hàng đón nhận dịch vụ tiện ích từ các công ty này trong thanh toán điện tử, ngân hàng tự động…. Tính đến hết năm 2017, giá trị giao dịch thị trường fintech ở Việt Nam chỉ đạt mức 4,4 tỷ USD và tổng đầu tư nước ngoài liên quan đến fintech tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2017 cũng mới đạt khoảng 129 triệu USD. Vì vậy, SBV đã thành lập Ban Chỉ đạo lĩnh vực Fintech vào tháng 3/2017 có nhiệm vụ thiết lập các kênh đối thoại trực tiếp với các công ty công nghệ tài chính để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động.  Một trong những sáng kiến của Ban Chỉ đạo lĩnh vực Fintech là phối hợp cùng Sáng kiến Hỗ trợ khu vực tư nhân vùng Mekong (MBI) của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tổ chức cuộc thi “Thử thách sáng tạo cùng công nghệ tài chính” – cuộc thi đầu tiên về fintech được tổ chức tại Việt Nam, với mục tiêu tìm giải pháp trong 5 lĩnh vực: Thanh toán điện tử (e-payments), Định danh khách hàng điện tử (e-KYC); Cho vay ngang hàng (P2P Lending), Giao diện lập trình ứng dụng mở (Open APIs) và các giải pháp ứng dụng công nghệ Blockchain. Đây cũng là 5 lĩnh vực mà SBV đánh giá là trọng yếu về Fintech.  Cuộc thi thu hút hơn 140 công ty fintech (45 công ty Việt Nam và 97 công ty quốc tế), đến từ 31 quốc gia. Nhận xét về chất lượng cuộc thi, GS. Nguyễn Huy Triệu – CEO The Disruptive Group và là một thành viên của ban giám khảo cho rằng, ông rất ấn tượng với chất lượng và sự đa dạng lĩnh vực của các công ty fintech tham gia.  Một trong những điểm hấp dẫn của cuộc thi này là 15 ứng viên lọt vào Vòng Hùng biện sẽ được kết nối với các đối tác của FCV – một nhóm gồm các ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam như BIDV, Viettinbank, TPBank…. – đóng vai trò như các cố vấn trong vòng “ươm tạo” kéo dài 6 tuần. Đây là điểm sáng tạo của FCV, giúp khắc phục một thực trạng tồn tại bấy lâu là công ty fintech mới chỉ nắm về mặt kỹ thuật mà không hiểu về hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam, vì thế không thể hoàn thiện mô hình và sản phẩm phù hợp với thực tế sử dụng.  Kết thúc vòng chung kết hùng biện, Ban Giám khảo của FCV bao gồm các chuyên gia Fintech đến từ Việt Nam và quốc tế đã lựa chọn ra 6 đội xuất sắc nhất đạt các giải của Ban Tổ chức, bao gồm: Instant.vn cung cấp giải pháp cho vay SMEs thuận tiện thông qua thuật toán hỗ trợ ngân hàng đánh giá hồ sơ cho vay, Kiu Global tích hợp hệ thống Hoạch định tài nguyên doanh nghiệp vào điện toán đám mây, cho phép doanh nghiệp xác định rủi ro và tính điểm tín dụng, Wecash – cho vay cá nhân thông qua đánh giá dữ liệu mạng xã hội, hoạt động thương mại điện tử,…, Enablecode – ứng dụng hỗ trợ giao dịch ngoại tệ trực tuyến, Tradle và Weezi cung cấp giải pháp về e-KYC. Bản thân các ngân hàng cố vấn đều đánh giá cao các ý tưởng này và mong muốn cùng hợp tác phát triển với các doanh nghiệp fintech trong tương lai. Đặc biệt, ý tưởng đạt giải nhất – Weezi đã phối hợp cùng đơn vị cố vấn – Vietinbank, triển khai thử nghiệm phiên bản thực tế của ngân hàng tự động, thanh toán xác nhận bằng nhận diện khuôn mặt, vân tay,…  Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) Lê Minh Hưng đánh giá cao ý tưởng tổ chức cuộc thi vì thông qua cuộc thi, các công ty tham gia có cơ hội giới thiệu rộng rãi các ý tưởng sáng tạo của mình cho nhà quản lý, cũng như các ngân hàng và nhà đầu tư. Hơn nữa, Ban Chỉ đạo Fintech của Ngân hàng Nhà nước sẽ nắm bắt được sâu hơn các công nghệ đang nổi áp dụng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng”.       Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Cấu trúc 3D của một protein tham gia vào chỉnh sửa gene      Chỉnh sửa gene là một trong những đột phá mới nhất của lĩnh vực sinh học. Hệ chỉnh sửa gene CRISPR-Cas đem đến cho sinh vật nhân sơ (sinh vật thiếu hạt nhân tế bào) một miễn dịch có thể chống lại DNA bên ngoài. Kể từ khám phá này của công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR, các nhà khoa học đã khám phá thêm sự tiến hóa của các protein CRISPR-Cas so với các tiền chất đó.    Đó là hiểu biết giúp họ phát triển các công cụ chỉnh sửa gene nhỏ và mới khác cho liêu pháp gene. Tại đại học Tokyo, nhóm nghiên cứu do giáo sư Osamu Nureki dẫn dắt đã nghiên cứu về việc nhận diện cấu trúc và chức năng của các protein tham gia vào chỉnh sửa gene. Trong một nghiên cứu gần đây do nhóm nghiên cứu thực hiện, họ đã khám phá ra cấu trúc 3D của một protein tên là TnpB, một tiền chất của enzyme CRISPR-Cas12. Phát hiện của họ đã được công bố trên tạp chí Nature “Cryo-EM structure of the transposon-associated TnpB enzyme”1.  Một nghiên cứu trước cho rằng protein TnpB có thể hoạt động như một cặp kéo phân tử, cắt DNA với sự hỗ trợ của một RNA không mai hóa được gọi là ωRNA. Nhưng chính xác sự chia tách DNA dưới sự hướng dẫn của RNA vận hành và mối quan hệ tiến hóa của nó với  các enzyme Cas12 như thế nào vẫn còn chưa rõ ràng, điều này đã dẫn đến cuộc tìm hiểu của nhóm nghiên cứu của Nureki. Nghiên cứu của họ là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất hướng đến hiểu biết về cấu trúc của protein này.  Để xác định được cấu trúc ba chiều của TnpB, các nhà nghiên cứu đặt protein TnpB từ một vi khuẩn mang tên Deinococcus radiodurans vào kính hiển vi điện tử cryo. Với kỹ thuật này, mẫu protein được làm lạnh đến âm196° C bằng việc sử dụng nitơ lỏng và chụp ảnh hồng ngoại bằng chùm tia điện tử, đủ để có thông tin về cấu trúc ba chiều của protein.  Nhóm nghiên cứu phát hiện ra là ωRNA trong TnpB đã có một cấu trúc pseudoknot độc nhất vô nhị – một cấu trúc bậc hai axit nucleic chứa ít nhất hai cấu trúc vòng gốc, trong đó một nửa của một thân nằm xen kẽ giữa hai nửa của thân khác – tương tự với cấu trúc của RNA hướng dẫn các enzyme Cas12. Nghiên cứu này cho thấy cách TnpB ghi nhận ωRNA và cắt DNA đích. Và khi so sánh cấu trúc của protein này với các enzyme Cas12, các nhà nghiên cứu thấy hai cách có thể để TnpB tiến hóa thành các enzyme CRISPR-Cas12.  “Phát hiện của chúng tôi đem đến những thông tin mang tính cơ chế về chức năng của TnpB và tăng cường hiểu biết của chúng tôi về sự tiến hóa của protein TnpB thành bộ phận tác động CRISPR-Cas12”, Ryoya Nakagawa, một nghiên cứu sinh và là tác giả thứ nhất của bài báo, nói. Trong tương lai, anh cho biết thêm “Chúng tôi sẽ khám phá những tiềm năng ứng dụng của các kỹ thuật chỉnh sửa gene dựa trên TnpB”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-reveals-3d-protein-involved-genome.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/985411  ——————————  1. https://www.nature.com/articles/s41586-023-05933-9    Author                .        
__label__tiasang Cấu trúc mô phỏng bộ não giúp nhận diện cử chỉ của con người      Các nhà nghiên cứu ở ĐH Công nghệ Nanyang và ĐH Công nghệ Sydney đã phát triển một cấu trúc học máy có khả năng nhận dạng các cử chỉ của con người. Để làm được điều này, cấu trúc sẽ phân tích các hình ảnh tổng hợp từ các cảm biến có khả năng co dãn. Bài báo về cấu trúc mới của nhóm nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature Electronics.      Khung học máy liên kết với thông tin hình ảnh và thông tin cảm giác thân thể. Nguồn: Wang et al.  “Ý tưởng của chúng tôi bắt nguồn từ cách bộ não của con người xử lý thông tin”, Xiaodong Chen, một trong các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài, cho biết. “Trong bộ não của con người, các hoạt động nhận thức cao như suy nghĩ, lên kế hoạch, truyền cảm hứng, không chỉ phụ thuộc vào thông tin của một giác quan cụ thể mà còn bắt nguồn từ sự tổng hợp toàn diện các thông tin đa giác quan từ nhiều cảm biến. Điều này đã truyền cảm hứng cho chúng tôi kết hợp các thông tin hình ảnh và thông tin cảm giác thân thể (somatosensory) để triển khai phương pháp nhận dạng cử chỉ với độ chính xác cao.”  Khi con người thực hiện các công việc trong thực tế, chúng ta thường tích hợp các thông tin hình ảnh và thông tin cảm giác thân thể từ môi trường xung quanh lại với nhau. Khi kết hợp hai dạng thông tin này lại, chúng sẽ giúp con người nảy sinh ra các ý tưởng tốt hơn bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến vấn đề cần giải quyết.  Do đó, kỹ thuật nhận dạng cử chỉ của Chen và các cộng sự có khả năng tích hợp được các loại thông tin cảm giác khác nhau từ nhiều cảm biến. Mục tiêu cuối cùng của họ là xây dựng được một cấu trúc có khả năng nhận diện được các động tác của con người với độ chính xác cao. “Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi đã nâng cao chất lượng dữ liệu cảm biến bằng cách thiết kế và chế tạo các cảm biến phù hợp và có khả năng co dãn, đồng thời tổng hợp được các thông tin cảm giác thân thể về các cử chỉ tay một cách chính xác hơn so với các cảm biến khác hiện nay”, Chen cho biết. “Ngoài ra, chúng tôi đã phát triển một cấu trúc học tập trực quan – cảm giác thân thể phỏng sinh học (BSV) có khả năng hợp nhất hai thông tin này, tương tự như hệ thống phân cấp hợp nhất hình ảnh – cảm giác thân thể ở trong não.”  Cấu trúc học tập BSV do Chen và các cộng sự sáng chế mô phỏng lại cách mà não người tổng hợp các thông tin cảm giác – thị giác theo nhiều cách khác nhau. Đầu tiên, cấu trúc đa lớp và phân cấp của nó bắt chước theo cấu trúc của não bộ, tuy nhiên thay mạng lưới thần kinh sinh học bằng các mạng lưới nhân tạo.  Cùng với đó, một số mạng lưới cục bộ trong cấu trúc cũng sẽ xử lý các dữ liệu cảm giác giống với các dữ liệu được xử lý bởi các mạng lưới thần kinh ở trong não. Chẳng hạn như, khi một mạng lưới thần kinh tích chập (CNN) cục bộ thực hiện một hoạt động tích chập cụ thể, nó mô phỏng lại chức năng của trường tiếp nhận cục bộ (local receptive field) trong hệ thống thần kinh sinh học theo cách nhân tạo, và do đó bắt chước quá trình xử lý thông tin hình ảnh ban đầu vốn diễn ra ở các bộ phận chịu trách nhiệm về thị giác trong não người.  Cuối cùng, cấu trúc này sẽ hợp nhất các điểm đặc trưng bằng cách sử dụng một mạng lưới thần kinh thưa thớt (sparse neural network) mới được phát triển gần đây. Mạng lưới này phỏng theo cách những tế bào thần kinh đa cảm giác có trong não bộ tái hiện các tương tác ban đầu và tiết kiệm hiệu năng giữa thông tin hình ảnh và thông tin cảm giác thân thể.  “Kỹ thuật mà chúng tôi đã phát triển có ba đặc điểm độc nhất”, Chen giải thích. “Thứ nhất, nó có thể xử lý được các tương tác sớm giữa thông tin hình ảnh và thông tin cảm giác thân thể. Thứ hai, các hoạt động tích chập được thực hiện bởi mạng lưới CNN có sự tương đồng với chức năng của trường tiếp nhận cục bộ (local receptive field) trong hệ thống thần kinh sinh học – một hệ thống có khả năng tự động tìm hiểu các đặc trưng không gian sâu phân cấp và trích xuất các đặc trưng bất biến thay đổi (shift-invariant features) từ những hình ảnh gốc. Cuối cùng, chúng tôi có một chiến lược giản lược mới dựa trên vào hệ số điều hòa Frobenius (Frobenius condition number) để hình thành mạng lưới thần kinh thưa thớt tiết kiệm năng lượng”. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-07-brain-inspired-architecture-human-gesture-recognition.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấu trúc quần thể vi khuẩn hé mở những cuộc di cư qua Siberia đến châu Mỹ      Nhóm nghiên cứu do GS Yoshan Moodley thuộc Đại học Venda (Nam Phi) dẫn đầu mới đây đã công bố nghiên cứu “Hành trình lịch sử băng qua Siberia để đến châu Mỹ của vi khuẩn Helicobacter pylori”.         Vi khuẩn Helicobacter pylori. Ảnh: phys     Họ đã sử dụng các kỹ thuật thống kê mới nhằm phân tích những mẫu vi khuẩn trong dạ dày có tên là Helicobacter pylori – loại vi khuẩn có mối quan hệ đồng tiến hóa chặt chẽ với con người trong ít nhất 100.000 năm qua, từ đó phát hiện ra con người đã định cư ở châu Mỹ nhờ một cuộc di cư của những người Bắc Á-Âu qua cầu đất liền Bering thời tiền Holocen.      Nghiên cứu đã sử dụng thông tin di truyền của H. pylori trong danh mục EnteroBase thuộc ĐH Warwick để theo dõi lịch sử tiến hóa của vi khuẩn H. pylori và phát hiện ra trình tự di truyền của nó cũng thay đổi theo khu vực.      Các phân tích trước đây đã xác định được ba quần thể H. pylori từ các cá nhân ở lục địa Á-Âu và châu Mỹ, và dữ liệu hiện tại chứng minh mẫu H. pylori thu thập từ Siberia đã xác định thêm các quần thể phụ chưa từng được biết đến. Dữ liệu cũng chỉ ra một trong những quần thể vi khuẩn này, bao gồm H. pylori từ người Mỹ bản địa, phân bố trên khắp Siberia.      Tuy nhiên, các phân tích thống kê cổ điển về những trình tự lại phần nào không nhất quán. Để tái tạo lịch sử tiến hóa có khả năng xảy ra nhất đối với H. pylori ở Siberia, nhóm nghiên cứu đã so sánh các mô hình và thời gian tiến hóa có thể xảy ra nhất bằng cách sử dụng một kỹ thuật được gọi là ước lượng Bayes xấp xỉ (ABC). Kết quả cho thấy, một quần thể nhỏ H. pylori đã tràn vào châu Mỹ nhờ cuộc di cư duy nhất từ cách đây khoảng 12.000 năm.      GS Mark Achtman tại Trường Y Warwick (ĐH Warwick), đồng tác giả của công bố, cho biết: “Dự án này khởi đầu vào đầu những năm 2000, khi chúng ta chưa biết gì về sự đa dạng di truyền của H. pylori ở Trung Á. Đến năm 2007, các nhà khoa học đã nuôi cấy hàng trăm chủng H. pylori ở Siberia và giải trình tự các gene chọn lọc. Nhưng dù rất nỗ lực, các nhà di truyền học quần thể vẫn không thể làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa của chúng”.      “Đến nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp thống kê ABC để tái tạo và xác định niên đại của các cuộc ‘di cư’ của H. pylori (mà con người là vật chủ) qua Siberia và đến châu Mỹ.”      Hé mở một phần lịch sử     Khoảng 60.000 năm trước, các nhóm nhỏ săn bắt hái lượm đã rời châu Phi và tiến vào lục địa Á-Âu. Khoảng 50.000 năm sau, cuối kỷ băng hà, con người hiện đại đã đến lục địa châu Mỹ, nơi mà nếu đi bằng đường đất liền, gần như là nơi cách xa châu Phi nhất.      Những cuộc di cư này diễn ra vào thời kỳ băng hà cuối cùng, kéo dài từ 115.000 đến 11.700 năm trước. Thời điểm đó, phần lớn phía bắc Á-Âu, còn được gọi là Siberia, là một vùng đất băng giá. Vậy con người đã xoay sở như thế nào để di cư qua khu vực rộng lớn này rồi tìm đường đến Bắc Mỹ? Đây là một trong những câu hỏi quan trọng nhất về thời tiền sử vì nó sẽ giải thích cách con người khởi đầu từ châu Phi có thể chiếm lấy toàn bộ thế giới trong một khoảng thời gian ngắn.      Họ đã thực hiện một thí nghiệm khác thường: sử dụng DNA của H. pylori làm chỉ thị sinh học cho các cuộc di cư của con người cổ đại thông qua việc thu thập, giải trình tự và phân tích thành công các chủng vi khuẩn từ những người bản địa trên khắp Siberia và châu Mỹ. Kết quả cho thấy, những người Á-Âu cổ đại đã cư trú ở Siberia trong suốt thời kỳ băng hà rét buốt. Tuy nhiên, những nhóm người khác ban đầu sinh sống ở các vĩ độ ấm hơn thuộc châu Á, đã đến Siberia sau khi kết thúc kỷ băng hà, dẫn đến sự kết hợp phức tạp trong các nhóm di cư mà ngày nay chúng ta có thể thấy ở khu vực này.      Nhóm nghiên cứu cũng sử dụng bộ dữ liệu vi khuẩn của họ để lập mô hình quá trình di cư của con người đến châu Mỹ và chỉ ra, một nhóm nhỏ những người Á-Âu cổ đại đã thành công vượt qua cây cầu đất liền này vào khoảng 12.000 năm trước, và từ đó phát triển thành những người Mỹ bản địa mà chúng ta thấy ngày nay.      Hà Trang dịch     Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-early-migrations-siberians-america-tracked.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây cối mang lợi ích đến cho xã hội, bất kể nguồn gốc      Cây trồng ở các không gian đô thị góp phần đem lại vô số các dịch vụ sinh thái: giảm thiểu ô nhiễm không khí và tiếng ồn, mở ra môi trường sống và sự chở che cho nhiều loài sinh vật, làm giảm xói mòn trong những đợt mưa lớn… Chúng cũng đem lại nhiều cơ hội cho con người thư giãn, làm loãng đi sức nóng đô thị và cung cấp cả không gian lẫn cảm xúc về nơi chốn.      Cây dẻ (Aesculus hippocastanum) trên Promenade de la Treille ở Geneva là cây phi bản địa nhưng chúng cũng đem lại vẻ đẹp và bóng râm. Thêm vào đó, chúng mang ý nghĩa biểu tượng cho không gian này vì những bông hoa của chúng báo hiệu mùa xuân đến. Nguồn: UNIGE/SCHLAEPFER  Tuy nhiên song song với đó, chúng ta cũng phải tính đến mặt khác của nó, đó là cây có thể là một nguồn dẫn đến dị ứng, tăng chi phí chăm sóc và nguyên nhân của một số tai nạn hoặc sự đe dọa đến đa dạng sinh học bản địa nếu như có sự xuất hiện của cây từ vùng khác tới.  Điểm cuối này là chủ đề của một cuộc tranh cãi vẫn còn chưa ngã ngũ: việc đưa các loài vào các dịch vụ sinh thái và đa dạng sinh học. Các nhà khoa học môi trường từ trường đại học Geneva (UNIGE) trong hợp tác với Vườn thực vật và Bảo tồn thành phố Geneva – đã phân tích một cơ sở dữ liệu lớn về cây trong vùng Geneva,và đánh giá một cách có hệ thống các dịch vụ và những phiền phức phát sinh từ chúng. Kết quả của nghiên cứu “Quantifying the contributions of native and non-native trees to a city’s biodiversity and ecosystem services”, được xuất bản trên tạp chí Urban Forestry & Urban Greening, chứng tỏ phần lớn các loài cây ở Geneva không phải loài bản địa, và chúng góp phần vào các dịch vụ sinh thái cho các không gian đô thị ở Geneva, bất kể chúng từ đâu tới.  Các cây góp phần đem lại chất lượng môi trường và cuộc sống của con người. Các chuyên gia môi trường sử dụng “cách tiếp cận dịch vụ sinh thái” để đánh giá những đóng góp này của cây. Các loài cây còn đem đến những bất lợi cho cả tự nhiên và con người, nhất là mối nguy từ việc đưa các loài du nhập vào hệ sinh thái bản địa. Martin Schlaepfer, một nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Khoa học môi trường ở UNIGE và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho rằng “Có một cuộc tranh cãi mang tính triết học liên quan đến vấn đề này đang nổ ra. Chúng ta có phải chỉ khuyến khích việc trồng các cây bản địa và cấm – hoặc ít nhất là đặt giới hạn lên – những loài du nhập? Trong số tất cả những loài được du nhập vào những khu vực đô thị, chỉ có 5% là tiềm năng có vấn đề, như cây thiên đường/xú xuân (Ailanthus altissima) mọc ở một thị trấn cổ ở Geneva. Nhưng chúng ta phải làm gì với 95% cây phi bản địa và chúng ta phải đánh giá chúng như thế nào?”  Trong nỗ lực trả lời những câu hỏi này, các chuyên gia môi trường của UNIGE và thành phố Geneva phân tích cơ sở dữ liệu của các loài cây tìm thấy trong khu vực đô thị và vùng bán ngoại vi đô thị của toàn bộ bang Geneva, tất cả những loài sống đơn lẻ hoặc các cây tụ tập thành rừng.  Các dịch vụ sinh thái và điểm lợi đã được phân tích trên từng loài, cả cây bản địa và phi bản địa. Trong vòng bốn năm nghiên cứu một cách cẩn trọng, 911 loại cây khác nhau đã được ghi nhận, và kết quả là một số lượng lớn các loài phi bản địa với 90%. Đây là một tỉ lệ khác thường cho một thành phố, nơi khu vườn thực vật hiện tại cùng với những khu vườn thực vật cũ ở Parc des Bastions – với hơn 700 loài ngoại lai – đóng góp vô cùng lớn vào sự đa dạng sinh thái.    Loài phi bản địa thích nghi với môi trường đô thị  Phân tích về các dịch vụ sinh thái cho thấy cây mang lại lợi ích, bất kể nguồn gốc của chúng từ đâu. Dĩ nhiên, có một số biệt lệ: “Ba loài xâm lấn đã được nhận diện, và chúng cũng có những vấn đề tiềm năng khi mọc tại những khu vực ngoại vi thành phố. Nhưng chính môi trường thành phố đã khiến nguy cơ nhân giống đó thấp hơn và chúng tôi ghi nhận cách chúng góp phần làm cuộc sống tốt hơn.  Một số loài phi bản địa đã phát triển ở nhiều công viên trong nhiều thế kỷ, như cây tuyết tùng và cây tiêu huyền nhập khẩu từ Bắc Phi trong thế kỷ 16 và 17 vì giá trị thẩm mĩ của chúng, khả năng kháng bệnh và tán lá luôn xanh tươi của chúng. Hiện tại chúng là một phần của di sản văn hóa Geneva. Thêm vào đó, chúng có khả năng sống sót trong môi trường đô thị, nghĩa là chúng có thể giúp giảm sức nóng đô thị và giảm bớt ô nhiễm không khí. Phải có cảnh báo khi trồng cây không phải là cây bản địa nhưng chúng cũng có thể có vai trò lợi ích rõ ràng trong bối cảnh hiện tại”, Martin Schlaepfer nhấn mạnh.  Khuyến khích và thảo luận  Nghiên cứu của các nhà khoa học Geneva là nghiên cứu đầu tiên thuộc dạng bao gồm phân tích trên diện rộng về các dịch vụ sinh thái cũng như xét đến các loài bản địa và phi bản địa. “Các loài du nhập được thống kê trong cơ sở dữ liệu của nhiều quốc gia khác có những mối nguy hiểm tiềm năng nhưng khi thực hiện các đo lường về trạng thái đa dạng sinh học của một quốc gia, nhìn chung chúng  thường bị bỏ qua”.  Nghiên cứu của UNIGE đã cho thấy những loài đem lại các giá trị to lớn và chúng phải được tích hợp vào các loài chỉ thị về đa dạng sinh thái và dịch vụ sinh thái. “Khí hậu đang có những thay đổi sâu sắc, với những dự đoán về vĩ độ chỉ dấu là trong vòng 50 đến 100 năm sau, ví dụ như vậy, tương đương với tuổi thọ của cây lớn – khí hậu ở Geneva sẽ giống như miền nam nước Ý. Điều đó nghĩa là chúng ta phải có tư duy mở với ý tưởng các loài du nhập ngày nay, vốn có khả năng chống chịu với các điều kiện khí hậu hiện tại và tương lai”, tiến sĩ Schlaepfer kết luận.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-trees-benefits-society.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây đũa thần TPP ?      Kết thúc đàm phán TPP lại là khởi đầu của một chuỗi hành trình mới. Các câu hỏi được đặt ra: Việt Nam cam kết gì và khi nào TPP có hiệu lực.      Cuộc chơi khắc nghiệt  Gần sáu năm đàm phán, 19 vòng chính thức cùng với hàng chục vòng không chính thức, cuối cùng, tại Atlanta, Mỹ, ngày 5/10/2015, TPP đã tuyên bố kết thúc đàm phán.   Là thành viên có trình độ phát triển yếu nhất trong 12 nước tham gia TPP, vấn đề của Việt Nam hiện tại là phải chuẩn bị cho một cuộc chơi mới đầy khắc nghiệt.  Có thể nhận thấy có rất nhiều điểm mới đối với Việt Nam. Xóa bỏ thuế nhập khẩu là điều rất bình thường trong các FTA, và TPP cũng không là ngoại lệ, nhưng xóa bỏ thuế xuất khẩu lại là điều từ trước đến nay chưa xảy ra. Các vấn đề như đấu thầu quốc tế, mua sắm chính phủ với tư duy chọn bỏ thay vì chọn cho như trước đây cũng đã thay đổi. Thiết bị y tế đã qua sử dụng là một cam kết mới khi mà từ trước đến nay luật Việt Nam chỉ mới cho phép nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng. Vấn đề lao động và công đoàn cũng là một điểm “quan trọng và nhạy cảm, và như lời Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng phát biểu trong cuộc họp báo ở Atlanta, là tuân theo các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Sẽ khá khó khăn cho một số hộ gia đình trồng cà phê, lao động thủ công mỹ nghệ… khi nếu chiếu theo sự khắt khe của quy định “cấm sử dụng lao động trẻ em”.  Sở hữu trí tuệ sẽ là một rào cản rất khó vượt qua cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chẳng hạn, một trong những nội dung trong chương này, gây tranh cãi cho đến phút cuối cùng, đó chính là thời hạn bảo hộ độc quyền dữ liệu thuốc sinh học.   Thuốc sinh học, dùng phân biệt với các loại thuốc truyền thống có nguồn gốc từ hóa học, khá đa dạng là những loại thuốc như vaccine, thuốc điều trị ung thư và các liệu pháp như insulin, và là những loại biệt dược đắt đỏ, thường dùng để điều trị trong thời gian dài, hoặc cả đời. Bảo hộ độc quyền dữ liệu đồng nghĩa với việc loại thuốc generic1 giá rẻ lại mất thêm thời gian dài mới có thể được đưa ra thị trường, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thuốc giá rẻ của người nghèo. Sở dĩ vấn đề rắc rối là luật của nhiều quốc gia rất khác nhau. Có tới năm nước chưa có điều khoản bảo hộ chuyện này, năm quốc gia khác quy định thời hạn năm năm. Mốc năm năm là sự giằng co và cuối cùng là tám năm, và một thời hạn “quá độ” từ ba đến 10 năm cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.  Số liệu của Bộ Y tế cho thấy năm 2014, Việt Nam tiêu thụ một lượng thuốc trị giá gần ba tỉ USD, trong đó lượng thuốc sản xuất ở trong nước chỉ đáp ứng chừng một nửa. Trong 178 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm thì có 78 công ty sản xuất đông dược, còn 100 công ty còn lại sản xuất tân dược. Hầu như toàn bộ đều sản xuất thuốc generic.   Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, chi tiêu thuốc trung bình của người Việt Nam còn rất thấp, chỉ 30 USD năm 2014, so với mức 186 USD trung bình thế giới. Nay, với việc bảo hộ dữ liệu độc quyền thuốc sinh học, các công ty dược sẽ phải chờ thêm một khoảng thời gian tám năm nữa mới có thể thể tiếp cận các dữ liệu để sản xuất thuốc generic mới để cung cấp phiên bản giá rẻ cho người bệnh. Trong khi đó, mảng thuốc đặc trị vẫn là sân chơi của các nhà sản xuất nước ngoài.  Một vướng mắc khác cũng phải chờ các quyết tâm chính trị, và kéo dài đến phút cuối đó là mở cửa thị trường sữa. New Zealand, cùng với Australia, đã gây sức ép mạnh mẽ đòi Mỹ mở cửa thị trường này, từ đó làm bàn đạp tiến công Canada, Mexico, và cả Nhật Bản. Mỹ chỉ đồng ý một khi Canada mở cửa sản phẩm này cho sữa từ Mỹ. Canada thì lại đang bảo hộ ngành này rất kiên quyết… Và những sự nhượng bộ phút cuối đã khiến cho ai nấy thở phào.  Những tưởng đấy là chuyện của các ông lớn, nhưng thực ra sẽ có những tác động không nhỏ đến thị trường Việt Nam. Bò sữa đang là một ngành chăn nuôi mang lại khá nhiều lợi nhuận cho các trang trại và nông hộ, với số lượng lên đến hơn 250.000 con hồi tháng Tư năm nay, đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Giá sữa tươi Việt Nam sản xuất đang đắt gấp đôi giá sữa tại châu Âu và châu Đại Dương, và với việc thuế suất sẽ về 0%, người tiêu dùng được lợi nhưng ngành chăn nuôi bò trong nước sẽ không thể cạnh tranh lại với các công ty nước ngoài.  Ngay cả ngành dệt may, được cho là hưởng lợi nhiều nhất từ TPP, cũng đứng trước những thách thức. Ngành này dự định năm 2015 sẽ xuất khẩu một lượng hàng kỷ lục, trị giá 27-28 tỉ USD, trong đó khoảng 11 tỉ USD sẽ vào thị trường Mỹ. Thuế suất vào thị trường Mỹ sẽ về 0% trong TPP, nhưng để được hưởng mức thuế này, doanh nghiệp phải đáp ứng quy tắc “từ sợi trở đi”. Trong khi đó, với hơn 5.000 doanh nghiệp dệt may trong nước, phần lớn vẫn chỉ làm công đoạn “cắt và may”, tức là gia công, và chỉ một số ít trong đó có đầu tư cho khâu sợi, dệt và nhuộm. Tỉ lệ “từ sợi trở đi” của Việt Nam chỉ mới đáp ứng chừng 10-15%.  Ngành da giày cũng được cho là sẽ tăng tốc với TPP, tuy nhiên ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam cho biết, với chừng 650 doanh nghiệp thì khối FDI, dù chỉ với 25% số lượng, nhưng chiếm đến 75% giá trị xuất khẩu. Việt Nam sản xuất 42% lượng giày của Nike, 39% giày Adidas trên thế giới, và điều đáng nói là cả hai công ty này đang có kế hoạch đưa robot vào sản xuất, như vậy sẽ gây tác động không nhỏ đến người lao động. Năm 2013, hãng Nike từng tự động hóa một phần sản xuất và cho thôi việc 100.000 công nhân.  Khi nào TPP có hiệu lực?  Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng. Với những tác động to lớn như thế, nhưng khi nào thì TPP mới có hiệu lực thi hành?  Câu trả lời thật đơn giản: TPP sẽ có hiệu lực 60 ngày kể từ khi tất cả các nước thành viên đã thông qua TPP. Các bên dự liệu, sau khi kết thúc đàm phán, cần ít nhất 12-18 tháng để cơ quan lập pháp của 12 nước thành viên thông qua. Thông tin mới nhất cho thấy thời điểm để các bên làm điều đó tối đa là hai năm, nghĩa là đến 2018 mới có hiệu lực.   Nhưng giả sử sau hai năm mà vẫn chưa thông qua được thì sẽ giải quyết như thế nào? Phía Nhật Bản đã đưa ra một đề xuất, và theo như tuyên bố của phía Australia, một phương án khác được đưa ra. Đó là, sau hai năm, phải có ít nhất sáu nước thành viên có GDP chiếm trên 85% tổng GDP của tất cả 12 nước TPP thông qua Hiệp định. Điều đó có nghĩa là cho dù được 11 thành viên thông qua, nhưng nếu thiếu Mỹ hoặc Nhật Bản thì cũng không thể thi hành, vì cả Mỹ và Nhật Bản đã chiếm đến 80% GDP của TPP.  Khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ thì hàng rào kỹ thuật được dựng lên. Cơ hội luôn đi kèm với thách thức. Ông Diệp Thành Kiệt nhận định một chiếc bẫy có thể giăng ra là “chúng ta nhìn thấy cơ hội và muốn nắm bắt, nhưng không thể, và đành ngồi nhìn cơ hội trôi qua”.   Cảnh báo đó không thừa khi tám năm trước, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với khát vọng hóa rồng. Và những tổng kết trong mấy năm qua đều nhắc đến việc bỏ lỡ các cơ hội đi ra biển lớn. Nay thì nước biển đã tràn đến ao nhà, và các doanh nghiệp sẽ đối mặt với những sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt.  WTO không phải là một cây gậy thần. TPP cũng vậy. Nhưng điều có thể thấy trên đường dài là TPP mang lại một cơ chế minh bạch, một chế tài nghiêm minh. Chính điều đó sẽ là áp lực để cải cách thể chế, và là vũ khí để giới doanh nghiệp buộc mình phải nâng cao năng lực cạnh tranh. “Doanh nghiệp thì có một truyền thống xấu: kinh doanh theo cơ hội, có cơ hội là lợi dụng sự thay đổi chính sách để trục lợi, không có chiến lược bài bản. Khi thể chế minh bạch thì doanh nghiệp buộc phải có chiến lược bài bản, dài hạn. Ban đầu, mọi việc có thể khó, nhưng đó là con đường phải đi. Không còn con đường nào khác”, ông Trương Đình Tuyển nhấn mạnh trong một cuộc trò chuyện với giới doanh nhân tại TP.HCM.  —————————————————  1 Thuốc tương đương sinh học với biệt dược gốc về các tính chất dược động học và dược lực học, được sản xuất khi quyền sở hữu công nghiệp của biệt dược đã hết hạn, nhờ đó thường được bán với giá rẻ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy ghép san hô: giải cứu các rạn san hô ở Thổ Nhĩ Kỳ      Các nhà khoa học đang nỗ lực di chuyển san hô đến một khu vực mới – nơi chúng không phải đối mặt với những rủi ro từ các công trình xây dựng.      Tình nguyện viên đang nỗ lực cứu các rạn san hô xung quanh Quần đảo Hoàng tử. Ảnh: Serço Ekşiyan  Cấy san hô là một công việc khó khăn. “Trong vòng 20 phút, bạn phải lặn xuống 30 mét và cấy san hô vào đúng phần của tảng đá, với hi vọng nó sẽ tồn tại ở đây trong hàng trăm năm tới”, Serço Ekşiyan, một trong những tình nguyện viên tham gia vào nhiệm vụ giải cứu san hô xung quanh Quần đảo Hoàng tử (Aladar), một quần đảo đẹp như tranh vẽ ở Biển Marmara, cách Istanbul 40 phút đi thuyền.  Nhận nước từ Biển Đen và Biển Địa Trung Hải, Biển Marmara là nơi sinh sống của 24 loài san hô mềm (Alcyonacea). Sự phát triển của các đô thị gần đó đang đe dọa đến sự sinh tồn của chúng. Trong số những loài sinh vật biến mất, có roi biển (sea whips), sea pens (bút biển) và một số loài san hô mềm màu đỏ và vàng.    “Rất khó để bạn tìm thấy những loài san hô ở các khu vực bên ngoài lưu vực Địa Trung Hải. Càng đi xa về phía đông, chúng càng di chuyển vào vùng nước sâu hơn. Thật kỳ diệu khi chúng tôi có thể nhìn thấy chúng trên bờ biển của Quần đảo Hoàng tử”, TS Eda Topçu, một nhà sinh vật biển tại ĐH Istanbul, đồng thời là người đứng đầu dự án cấy ghép cho biết. Theo bà, những loài san hô này rất quan trọng đối với sự tồn tại của các hệ sinh thái biển vì chúng cung cấp môi trường sinh sản và nuôi dưỡng an toàn với các loài thủy sinh.   Kể từ năm 2015, Câu lạc bộ Sinh vật biển và Thể thao Adalar (Adysk) – nơi Serço Ekşiyan là thành viên, đã hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học nhằm hồi sinh và bảo vệ hệ sinh thái biển ở phía bắc Biển Marmara. Họ tập trung dọn sách những tấm lưới đánh cá mà các ngư dân để lại (thường là bất hợp pháp) hoặc đánh mất trên đại dương.  Tuy nhiên, công việc của họ đã tăng lên gấp bội chỉ sau một đêm. Đó là ngày người ta đổ hàng tấn mảnh vụn từ một tòa nhà ra ngoài khơi đảo Yassıada – giết chết một rạn san hô lớn vào cuối năm 2015. Yassıada là một hòn đảo nhỏ, dài chưa đầy 1km nhưng hiện là nơi tọa lạc của khách sạn, nhà thờ Hồi giáo, tòa nhà hội nghị và bảo tàng. Đi kèm với sự phát triển đó là sự suy giảm nhanh chóng của quần thể san hô tại khu vực này.   Năm 2017, những công trình xây dựng bắt đầu được tiến hành trên một đảo khác của quần đảo Hoàng Tử – đảo Sivri, nằm ở trung tâm của một rạn san hô lớn. Với mong muốn không để những gì đã xảy ra ở Yassıada lặp lại thêm một lần nào nữa, nhóm nghiên cứu đã bắt đầu quá trình cấy san hô đến một vị trí an toàn hơn, hợp tác chặt chẽ với các nhà sinh vật biển và Hội đồng Nghiên cứu Khoa học của Thổ Nhĩ Kỳ, Tübitak.  Trong vòng 2 năm, họ đã cấy 280 san hô quanh khu vực hòn đảo không người ở Tavşan. Đây là trường hợp cấy ghép san hô đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kỳ.   “Đó là một quả trình thử – sai”, Ekşiyan nói. “Không ai trong chúng tôi trước đây từng cấy ghép san hô”. Nhóm sẽ gắn san hô vào đáy vách đá dưới biển sâu, giữa các rạn san hô hiện có, bằng một chất kết dính. Tiếp theo, cần pha chế tại chỗ một loại dung môi hòa tan để san hô không bị đông đặc lại quá sớm. Nếu không thành công, san hô sẽ bị mắc kẹt trong những cục keo dính trước khi chúng nằm trên những vách đá.   Bất chấp những khó khăn, họ đã cấy ghép thành công 90% trong số 90 loài san hô vào năm 2017, và 60% trong số 190 loài còn lại vào năm 2019. Volkan Narcı, thành viên sáng lập của nhóm, cho biết các loài san hô đang thích nghi tốt với môi trường mới. Bây giờ, điều quan trọng là chúng cần được bảo vệ.       San hô sau khi cấy ghép thành công. Ảnh: Serço Ekşiyan  Mỗi ngày, có các loài sinh vật biển di cư từ phía Nam vào Biển Marmara. “Nhiều loài động vật, chẳng hạn như bạch tuộc, rùa cạn, cá mú và cá kiếm đang từ Địa Trung Hải bơi đến Biển Marmara. Chúng bị mất môi trường sống bởi san hô ở đó đã bị tẩy trắng – điều đó có nghĩa là Marmara đang biến thành nơi trú ẩn của một số hệ sinh thái nhất định”, Tiến sĩ Cem Dalyan, nhà sinh vật học thủy văn nói. “Nó cũng từa tựa như truyền thuyết về con tàu của Noah – nếu bạn bảo tồn một số lượng nhỏ cá thể của mỗi loài, chúng sẽ sinh sôi và phát triển mạnh trở lại sau khi thảm họa kết thúc. Biển Marmara là con tàu, và nó có thể cứu toàn bộ Địa Trung Hải.”  Nhóm Adysk hiện đang đàm phán với chính phủ để biến khu vực xung quanh đảo Tavşan trở thành khu bảo tồn biển, nghĩa là khu vực này sẽ cấm đánh bắt cá và cấm tàu thuyền thả neo. Các nhà quản lý cũng phải bảo vệ khu vực biển này khỏi các công trình xây dựng.   “Đây là cách duy nhất để chúng tôi có thể chắc chắn rằng san hô có cơ hội phát triển thành một quần thể khỏe mạnh”, Narcı cho biết. Nhưng những nỗ lực của họ nhằm thuyết phục chính quyền đến nay vẫn chưa thành công. Gần đây, họ đã thu thập 1000 chữ ký ủng hộ kế hoạch này để trình lên chính phủ.   Nhưng tương lai hãy còn vô định. Theo Ekşiyan và Narcı, các sáng kiến tương tự của châu Âu nhằm bảo vệ sinh vật biển, như Healthy Seas và Ghost Diving, có khả năng tiếp cận nguồn hỗ trợ từ các nhà tài trợ và chính phủ, trong khi Adysk thì không. Họ đang phải chật vật một mình, vì vậy họ cần có nguồn vốn thường xuyên cũng như sự hỗ trợ từ chính phủ.   Narcı nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục người dân địa phương, đặc biệt là giới trẻ, về Biển Marmara và các hệ sinh thái bên trong nó. Nhóm đang hợp tác với các nhóm xã hội địa phương trên Quần đảo Hoàng tử để nâng cao nhận thức về các loài sinh vật biển, đặc biệt là san hô.   Narcı cho biết: “Một lượng lớn oxy của chúng ta được tạo ra nhờ quá trình quang hợp của sinh vật phù du, và những sinh vật phù du này sống trong các rạn san hô. Chúng tôi muốn phổ biến cho người dân nơi đây điều này, nếu không, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hệ quả vô cùng tồi tệ.”   Anh Thư dịch  Nguồn: How coral transplants could rescue Turkey’s threatened reefs       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy ghép tế bào mũi giúp chó bị liệt đi được      Các nhà khoa học đã chữa khỏi cho những con chó bị liệt chân sau bằng cách tiêm cho chúng các tế bào  được nuôi dưỡng từ niêm mạc mũi của chúng.    Các con chó tham gia thử nghiệm đều bị tổn thương cột sống, khiến chân sau của chúng bị liệt.  Nhóm nghiên cứu của Đại học Cambridge tỏ ra lạc quan một cách thận trọng rằng phương pháp này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị chấn thương cột sống ở con người.  Nghiên cứu này lần đầu tiên thử nghiệm việc cấy ghép trên các chấn thương thật chứ không phải trên các động vật phòng thí nghiệm.  Trong nghiên cứu do Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC) tài trợ và được đăng trên tạp chí thần kinh học Brain, các con chó được cấy ghép tế bào khứu giác ensheathing (một loại tế bào thần kinh đệm) được lấy từ niêm mạc mũi của chúng. Những tế bào đã được nuôi và nhân ra trong vài tuần ở phòng thí nghiệm.   Có 34 chú chó tham gia thử nghiệm. Trong đó có 23 chú được cấy tế bào vào chỗ bị thương, số còn lại chỉ được tiêm một dung dịch trung tính.  Nhiều con chó trong số được cấy ghép tế bào cho thấy sự cải thiện đáng kể và đã có thể đi được trên máy tập chạy với sự hỗ trợ của dây đai. Trong khi đó, không con chó nào trong nhóm kia sử dụng lại được chân sau.  Giáo sư Robin Franklin, nhà sinh học tái sinh ở Wellcom Trust, viện  nghiên cứu tế bào gốc của MRC, và là một đồng tác giả của báo cáo, khẳng định: “Những kết quả chúng tôi đạt được hết sức thú vị, bởi lần đầu tiên chúng cho thấy việc cấy các loại tế bào này vào tủy sống bị tổn thương nặng có thể đem lại những cải thiện lớn.   “Chúng tôi tự tin rằng phương pháp này có thể giúp phục hồi ít nhất một chút khả năng vận động của người bệnh bị tổn thương tủy sống, nhưng để đi đến chỗ có thể phục hồi tất cả các chức năng bị mất là một chặng đường dài.”  Các nhà nghiên cứu cho rằng các tế bào được cấy ghép đã tái tạo các sợi thần kinh trên khắp vùng bị thương tổn của tủy sống. Điều này giúp các con chó sử dụng được trở lại chân sau và phối hợp được chuyển động với chân trước.  Giáo sư Geoffrey Raisman, Chủ tịch Trung tâm Tái tạo thần kinh của Đại học London, người đã tìm ra các tế bào khứu giác ensheathing vào năm 1985, nói: “Đây không phải là cách điều trị tổn thương tủy sống ở người, điều này có thể còn xa lắm. Nhưng đây là tiến bộ đáng khích lệ nhất sau một số năm và là bước đi có ý nghĩa trên con đường tiến đến mục tiêu đó.”  Theo ông, lợi ích trước mắt của nghiên cứu vẫn còn hạn chế: “Phương pháp này giúp một con chó bị thương đi lại được với chân sau của nó, nhưng để phục hồi các chức năng cao hơn bị mất đi do tổn thương tủy sống – như chức năng của chân trước, chức năng bài tiết, chức năng điều tiết thân nhiệt – thì phức tạp hơn và vẫn còn là một chặng đường dài phía trước.”  Jasper, chú chó chồn 10 năm tuổi là một trong những chú chó tham gia thử nghiệm. Anh May Hay, chủ nhân của Jasper, nói: “Trước khi Jasper được điều trị chúng tôi phải đẩy nó đi trên một chiếc xe đẩy vì chân sau của nó bị liệt. Giờ thì nó chạy quanh nhà, quanh vườn và có thể đuổi kịp những con chó khác. Điều này thật tuyệt vời.”  Nguyễn Huyền dịch từ  http://www.bbc.co.uk/news/health-20365355    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây họ đậu: Một gợi ý giúp giảm thiểu tình trạng phụ thuộc vào phân bón ở châu Âu      Đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu gà và đậu phộng… Những cây lương thực nhỏ bé này có một khả năng đặc biệt khiến chúng trở nên độc đáo trong vương quốc thực vật.      Dù có nhiều ích lợi, nhưng cây họ đậu không được trồng rộng rãi ở châu Âu, chỉ chiếm 1,5% diện tích đất canh tác ở châu Âu, so với 14,5% trên toàn thế giới. Ảnh: canadianinquirer.     Chúng có thể chuyển đổi khí nitơ – có nhiều trong không khí – thành một thứ hoàn toàn hiếm và quan trọng hơn đối với thực vật: amoniac. Amoniac có thể chuyển hóa ngay lập tức thành protein trong cây, giúp cây phát triển. Đó là lý do tại sao các loại cây họ đậu không cần phân bón nitơ, mà thậm chí chúng còn để lại một lượng nitơ do chính chúng tạo ra trong đất để các cây khác sử dụng.      Hầu hết các trang trại hiện đại đều bổ sung nitơ vào ruộng thông qua phân bón tổng hợp. Kể từ những năm 1960, sản lượng phân đạm hằng năm trên toàn thế giới đã tăng 458% – một con số khổng lồ, qua đó thúc đẩy sản lượng ngũ cốc ở châu Âu lên tới 188 triệu tấn một năm. Một nửa lượng phân đạm bón cho đất canh tác sẽ được cây trồng hấp thụ. Phần lớn số còn lại hao hụt vào khí quyển, thường ở dạng nitơ oxit – một loại khí nhà kính mạnh gấp 300 lần CO₂. Một phần nhỏ ngấm vào nước ngọt dưới lòng đất, chủ yếu là nitrat.      Nghiên cứu đầy đủ nhất từ trước đến nay cho thấy vào đầu những năm 2000, ô nhiễm nitrat trong nước uống đã khiến tuổi thọ người châu Âu bị rút ngắn xuống trung bình 6 tháng, bởi họ có thể mắc phải các bệnh như methemoglobin huyết, rối loạn tuyến giáp và ung thư dạ dày.      Trên thế giới, lượng khí thải nitơ oxit từ phân bón và khí mê-tan từ chăn nuôi đóng góp phần lớn vào khí nhà kính của ngành nông nghiệp – lĩnh vực chịu trách nhiệm cho khoảng một phần tư tổng số khí khiến hành tinh của chúng ta bị nóng lên. EU đã tự đặt ra mục tiêu, đến năm 2030, giảm 50% lượng khí thải nhà kính trong nông nghiệp và lượng thuốc trừ sâu hóa học được sử dụng, giảm 20% lượng phân bón tổng hợp.        Đôi khi, giải pháp đơn giản nhất lại là giải pháp tốt nhất. Bằng cách áp dụng lại hệ thống lâu đời, đó là trồng cây họ đậu xen kẽ với những loại cây trồng khác, các trang trại có thể giảm lượng phân bón mà họ sử dụng trong khi vẫn sản xuất được thực phẩm bổ dưỡng và thân thiện với động vật hoang dã.       Cây trồng kỳ diệu     Trong một nghiên cứu gần đây, chúng tôi phát hiện ra rằng trồng luân canh ngũ cốc và cây họ đậu có thể giúp cung cấp cho các loại cây ngũ cốc đầy đủ dinh dưỡng nhưng với chi phí môi trường thấp hơn rõ rệt. Đó là bởi sau mỗi vụ thu hoạch cây họ đậu, chúng để lại trên cánh đồng đó lượng nitơ mà cây ngũ cốc cần.      VÌ các loại đậu như đậu phộng, đậu Hà Lan, đậu lăng có nhiều protein và chất xơ hơn so với các loại cây ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch và yến mạch. Chúng tôi tính toán rằng một trang trại ngũ cốc trung bình ở Scotland có thể trồng một loại cây họ đậu chu kỳ 5 năm một lần, và giảm 50% lượng phân đạm có cần trong toàn bộ chu kỳ luân canh, nhưng vẫn tạo ra sản lượng dinh dưỡng như nhau. Bằng cách giảm thiểu sử dụng phân bón, lượng phát thải khí nhà kính dự kiến sẽ giảm 43% so với cùng kỳ. Các loại đậu cũng có thể được tận dụng làm thức ăn cho gia súc – cung cấp nhiều protein tiêu hóa được với chi phí môi trường thấp hơn.        Đậu phộng có nhiều lợi ích bên cạnh việc là một loại thực phẩm ngon lành. Ảnh: Zhengzaishuru/Shutterstock     Các nhà khoa học chỉ phát hiện ra quá trình cây họ đậu lấy nitơ từ không khí vào cuối thế kỷ 19, gần một trăm năm sau khi họ phát hiện ra nguyên tố nitơ. Các mô đặc biệt trên rễ của cây họ đậu cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho hàng ngàn vi khuẩn cố định đạm. Để đổi lấy nguồn cung cấp đường ổn định mà cây họ đậu đã tạo ra trong lá nhờ quá trình quang hợp, các vi khuẩn này cung cấp lượng nitơ dồi dào và hữu ích cho sự phát triển của cây.       Sau khi người nông dân thu hoạch cây trồng, phần còn lại của cây họ đậu sẽ phân hủy và cung cấp các nitơ có ích vào đất để các cây khác có thể sử dụng. Thậm chí, chúng còn có tác dụng như phân xanh, nếu ta lấp những cây vẫn đang phát triển vào đất để cung cấp thêm nitơ.      Nhưng các loài cây họ đậu vẫn còn có thể mang lại nhiều lợi ích hơn ngoài việc giảm mức độ phụ thuộc vào phân bón của các trang trại. Việc luân canh đa dạng cây trồng với các loại cây họ đậu có thể làm giảm tỷ lệ sâu bệnh hại ngũ cốc, điều này có nghĩa là nên cắt bỏ vòng đời của chúng giữa các năm và giảm nhu cầu sử dụng thuốc trừ sâu.      Nhờ có bộ rễ ăn sâu nên nhiều loài cây họ đậu cũng có thể chịu hạn tốt hơn so với các loại cây trồng thông thường. Hoa họ đậu cung cấp một nguồn mật hoa và phấn hoa tuyệt vời cho côn trùng thụ phấn. Thêm vào đó, chúng ta nên thêm đậu vào trong chế độ ăn uống của mình, bởi chúng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.      Bất chấp những điểm tích cực này, cây họ đậu không được trồng rộng rãi ở châu Âu, chỉ chiếm 1,5% diện tích đất canh tác ở châu Âu, so với 14,5% trên toàn thế giới. Trên thực tế, châu Âu nhập khẩu rất nhiều cây trồng giàu protein từ Nam Mỹ, nơi nhu cầu tiêu thụ đậu nành đang bùng nổ và dẫn đến nạn phá rừng. Đã đến lúc người nông dân ở châu Âu nên khôi phục những cây trồng kỳ diệu này trên cánh đồng của họ – để ít gây ô nhiễm hơn và có được nhiều thực phẩm bổ dưỡng hơn.      (*) Tác giả bài viết là Michael Williams (PGS Thực vật học, Trinity College Dublin), David Styles (Giảng viên về Dấu chân carbon, Bangor University), Marcela Porto Costa (NCS về Nông nghiệp Bền vững, Bangor University).     Hà Trang dịch  Nguồn: Why the humble legume could be the answer to Europe’s fertiliser addiction    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy khối u ở người sang cá ngựa vằn để định hướng điều trị      Một nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Champalimaud, Lisbon (Bồ Đào Nha) mới đây đã công bố báo cáo về sự phát triển của của khối u ở người trên cơ thể ấu trùng cá ngựa vằn.      Thử nghiệm để tế bào ung thư của người phát triển trên cơ thể bào thai cá ngựa vằn giúp các bác sĩ lựa chọn phương án điều trị phù hợp cho bệnh nhân.  Mỗi con cá mang khối u sẽ trở thành một hiện thân ảo (avatar), mô phỏng tình trạng của một bệnh nhân ung thư thật, và được sử dụng để thử nghiệm những phương án điều trị khác nhau. Thử nghiệm tương tự hoàn toàn có thể tiến hành trên chuột, tuy nhiên không thể rẻ và nhanh như cá: với chuột, thông thường phải từ 2 – 6 tuần mới cho kết quả.  Cá ngựa vằn, vốn được nuôi và sử dụng rộng rãi cho nhiều nghiên cứu trong sinh học vì rẻ và sinh trưởng nhanh, tuy nhiên đặc điểm tiến hóa của chúng lại khác xa con người, so với chuột đồng (tương đối gần với người). Vì vậy, nhóm nghiên cứu phải xác minh liệu khối u trên cơ thể cá ngựa vằn có phát triển theo cách giống như trên chuột không.  Cấy tế bào ung thư ruột kết và trực tràng (của người) sang cơ thể ấu trùng cá ngựa vằn rồi để chúng tự do phát triển trong bốn ngày, các nhà khoa học phát hiện ra ba dấu hiệu tương tự như trên người: phân chia nhanh, hình thành hệ thống mạch máu để cung cấp chất dinh dưỡng, và di căn khắp cơ thể.  Sau đó, nhóm nghiên cứu bổ sung hai liệu trình hóa trị dạng dung dịch thường được dùng để điều trị ung thư ruột kết và trực tràng vào môi trường sống của cá, kết quả trong khi một vài khối u co rút lại thì số khác lại không. Như vậy nghĩa là cá có khả năng phân biệt giữa những loại thuốc hiệu quả và không hiệu quả. Sau đó, các nhà khoa học lại cấy tế bào ung thư ruột kết và trực tràng vào cơ thể của năm ấu trùng cá ngựa vằn, rồi cho chúng dùng cùng liều lượng hóa trị sử dụng cho bệnh nhân. Kết quả ghi nhận, có bốn trong tổng số năm trường hợp mà phản ứng của khối u trên cá ngựa vằn giúp dự đoán chính xác khả năng hồi phục của bệnh nhân (người mang khối u) trong giai đoạn từ 3 – 6 tháng sau phẫu thuật. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.  Vì thử nghiệm trên chuột khá mất thời gian và tốn kém, các bác sĩ thường sử dụng cá ngựa vằn để thay thế khi phương án đầu tiên thất bại. Nếu thực hiện trên cá ngựa vằn, toàn bộ quy trình chỉ mất từ 2 – 3 tuần, vì vậy rất hữu ích cho việc điều trị bệnh trong giai đoạn đầu.  Nghiên cứu trên thực ra không mới, song kết quả mang tính thuyết phục nhất ở đây chính là lợi thế về con số. Chẳng hạn, việc mô phỏng tình trạng của 1.000 bệnh nhân trên chuột là khó do chi phí và thời gian, tuy nhiên lại khả thi trên cá vì rẻ và nhanh chóng.  Tuy nhiên, một vài cảnh báo cho rằng, không phải bất cứ loại thuốc nào sử dụng cho người cũng hiệu quả với cá ngựa vằn. Bởi vậy, một vài chuyên gia khuyến nghị, cần mở rộng nghiên cứu sang nhiều loại bệnh khác nhau, chẳng hạn như ung thư vú… từ đó kiểm chứng hiệu quả của phương pháp trên phạm vi rộng hơn.  Hải Đăng lược dịch  Nguồn:   http://www.sciencemag.org/news/2017/08/zebrafish-implanted-cancer-patient-s-tumor-could-guide-cancer-treatment       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây lúa Việt Nam có gì đẹp ?      Gần 50 năm trước, câu hát trong bài Hai chị em của nhạc sỹ Hoàng Vân “Hỡi ai đã đi năm châu bốn biển, Hỏi rằng có gì đẹp trong cây lúa Việt Nam?” ngân lên chan chứa niềm vui và tự hào về “kỷ lục” năm tấn một héc ta trên cánh đồng Thái Bình. Đóng góp vào đột phá ấy là công sức của rất nhiều nhà nghiên cứu, kỹ sư và nông dân, trong đó không thể không kể đến một cái tên, giáo sư Bùi Huy Đáp.          Giáo sư Bùi Huy Đáp viết nhiều sách, riêng về lúa, 2 cuốn “Cây lúa miền Bắc Việt Nam” (1964) và “Cây lúa Việt Nam” (1981) của ông mang tính kinh điển và thuộc loại “bách khoa toàn thư” của nghề trồng lúa nước.  Ngoài ra, ông còn có “Lúa Việt Nam trong vùng Nam và Đông Nam châu Á” (1978), “Văn minh lúa nước và kĩ thuật trồng lúa Việt Nam” (1985), “Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp”(1999), “Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ 21” (1998). Hầu hết các cuốn sách này đều có mặt trong các thư viện quốc tế.      Cách tiếp cận độc đáo     Ngày nay, chúng ta đều biết đến giáo sư Bùi Huy Đáp, người được mệnh danh là người đặt nền móng cho ngành canh nông Việt Nam, và những dấu ấn làm thay đổi phương pháp canh tác và mùa vụ canh tác. Ít ai biết rằng, khi mới tốt nghiệp trường Đại học Nông lâm Đông dương với tấm bằng kỹ sư nông nghiệp nhiệt đới khóa 1, thì mẹ ông, một bà mẹ-nông dân tinh tường cho rằng con bà chỉ “…mới là kỹ sư canh nông đường nhựa!”. Với một ngành thực hành như nông nghiệp, những kiến thức thu nhận trong trường không đủ, dù nó từ những nhà khoa học lớn như P. Gourou, J. Fromaget, Y. Henry, R. Dumont, E.M. Castagnol, Pièrre Gourou…, vì thế ông tiếp tục thụ giáo lão nông Xã Xướng và các “giáo sư” nông dân trên đồng ruộng Bách Cốc quê nhà để hiểu về đồng ruộng. Sự hội tụ của giáo dục nông học Pháp tiên tiến với tinh túy kinh nghiệm gieo trồng truyền thống Việt Nam làm nên một Bùi Huy Đáp vừa uyên thâm trong lý luận, vừa sáng tạo trong thực tiễn sau này. Ông thường khái quát một cách sinh động phương pháp tiếp cận trong nông nghiệp dựa trên hai nền tảng này của mình “Hỏi nông dân, hỏi cây cỏ; Khoa học từ quần chúng mà ra, trở lại phục vụ quần chúng”.  Những gặp gỡ kiến thức Đông Tây như vậy đem lại cho giáo sư Bùi Huy Đáp một cái nhìn độc đáo và thấu đáo trong công việc, đặc biệt trong những vấn đề về cây lúa. Không chấp nhận những lý thuyết giáo điều, áp đặt, ông luôn tỉnh táo kiểm nghiệm những vấn đề lý thuyết trong thực tiễn đồng ruộng Việt Nam. Do đó, vào cuối những năm 1950, ông và nhà nông học Lương Định Của đều nhận ra ngay biện pháp “cấy dồn lúa” của Trung Quốc là phản khoa học và năng suất lúa mà truyền thông Trung Quốc lúc đó đưa ra là không tưởng. Trong lúc phong trào “Nhảy vọt” ở Trung Quốc đang nóng, ở Việt Nam, một số người hối thúc thử nghiệm “cấy dồn lúa” ở Việt Nam, thậm chí có bài thơ cũng được viết phụ họa “Nghe lúa ở Trung Hoa mỗi mẫu là mười bảy tấn, đang bàng hoàng chưa nghĩ kịp bài ca, mười bốn ngày sau bỗng nghe lúa Trung Hoa, mỗi mẫu là hai mươi mốt tấn,… Lúa ơi lúa, ngươi tỏa mừng tha thiết, ngươi lùa vào tâm trí của ta. Ngươi nói tin mừng, ôi cây lúa Trung Hoa!”1. Lúc đó, ông vẫn bình tĩnh đề xuất cấy dầy vừa phải và rút cục thực tế chứng minh là ông đã đúng.  Thói quen hệ thống tài liệu, cập nhật thông tin và kết quả khảo sát luôn được ông ghi chép kịp thời nên vừa có tính thời sự vừa có giá trị lâu dài. Ở bất cứ đâu ông đều điều tra các tri thức bản địa, tổng kết kinh nghiệm truyền thống của nông dân địa phương. Ngay từ cuối những năm 1970, khi đất nước thống nhất và có dịp vào ĐBSCL, ông đã chăm chú nghe bà con nông dân kể về kinh nghiệm canh tác. Việc đúc rút kinh nghiệm thực tế của họ và những hiểu biết của mình đã gợi cho ông một sáng kiến có thể áp dụng trên toàn quốc: chuyển đổi từ một vụ năng suất thấp (chỉ 1,5 – 1,6 tấn/ha) sang hệ thống canh tác mùa vụ mới, gồm vụ Đông – Xuân, vụ Hè-Thu và một phần lúa mùa, qua đó có thể đưa năng suất cả năm lên gấp khoảng bốn lần. Kiến nghị này được Chính phủ chấp nhận đưa vào kế hoạch các tỉnh và ngay sau đó diện tích lúa Đông-Xuân và Hè-Thu ở Tây Nam Bộ mở rộng xa hơn mong đợi của ông, đưa sản lượng lúa của vùng lên cao gấp bội.    “Cuộc cách mạng xanh” lúa xuân     Có lẽ, cụm từ “cuộc cách mạng xanh” được dùng đầu tiên ở Việt Nam là từ báo cáo “Cây lúa vụ Xuân và cuộc cách mạng xanh ở miền Bắc Việt Nam” mà giáo sư Bùi Huy Đáp trình bày tại hội nghị khoa học quốc tế về cây lúa ở Bắc Kinh (1968). ông viết báo cáo này dựa trên những quan sát của ông và cộng sự trên thực tế canh tác vào đầu những năm 1960, khi thấy các giống lúa xuân cao cây đều cho năng suất cao hơn lúa chiêm truyền thống. Từ đề xuất làm ruộng thí nghiệm ở hai tỉnh Nam Hà và Thái Bình của ông, Hải Hậu trở thành huyện đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha và Thái Bình thành tỉnh đạt 5 tấn thóc/ha đầu tiên ở miền Bắc. Năm 1968, giáo sư Bùi Huy Đáp đánh dấu sự nghiệp của mình bằng việc nghiên cứu kỹ thuật gieo trồng giống lúa xuân ngắn ngày (IR8), yếu tố quan trọng để hình thành vụ lúa xuân và mở thêm vụ Đông ở miền Bắc (giống lúa IR8 ở miền Bắc gọi là Nông nghiệp 8, ở miền Nam gọi là giống Thần nông). Cây lúa xuân  thấp cây cho năng suất cao (tiềm năng đến 8 tấn/ha) đã thay thế giống lúa chiêm dài ngày, cao cây, dễ đổ, năng suất thấp. Do đó, giáo sư Bùi Huy Đáp đề nghị cho mở rộng vụ lúa Xuân ra toàn miền Bắc, làm mạ khay, mạ sân chủ động cung cấp đủ mạ theo lịch thời vụ. Hội tụ đủ các yếu tố đó, thời gian sản xuất lúa xuân được rút ngắn lại, số ngày dư ra cho phép tăng thêm vụ Đông.       Công trình “Lúa Xuân – vụ Đông” chính là những yếu tố mới làm thay đổi cấu trúc kinh tế ngành nông nghiệp cũng như làm thay đổi cả hình ảnh Việt Nam: từ một quốc gia phải nhập cả lương thực đến một quốc gia xuất khẩu lúa gạo.      Không ai ngờ rằng, việc áp dụng giống lúa mới và cơ cấu mùa vụ mới theo sáng kiến của giáo sư Bùi Huy Đáp đã làm thay đổi diện mạo của canh tác lúa nước Việt Nam. Việc có thêm vụ Đông khiến xã viên đề nghị hợp tác xã mượn đất, nhờ vậy sản lượng lương thực nâng lên đột biến. Đây cũng là một phần nguyên nhân khiến cơ chế “khoán hộ” của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú từ chỗ bị phê phán lại được chấp nhận, và đưa thành chỉ thị 100 của Trung ương Đảng (tháng 1/1981), một thay đổi lớn trong quyền sử dụng đất. Thành công của “lúa Xuân – vụ Đông” tiếp tục tác động đến chính sách với sự ra đời Nghị quyết 10 (tháng 4/1988) của Đảng thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ – một cuộc cách mạng trong quan hệ sản xuất.  Tôi vẫn còn nhớ năm 1980, khi nghiên cứu chất hữu cơ đất lúa ngập nước ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), tôi gặp một nghiên cứu viên người Pháp cùng bộ môn Hóa học đất dưới sự chỉ dẫn của giáo sư F.M. Ponnamperuma. Anh ấy bảo: “Tôi đọc Bùi Huy Đáp, Nguyễn Khắc Viện, Hữu Ngọc,… trên Études Vietnamiennes rồi. Mấy chục năm trước Việt Nam từng xuất khẩu gạo sang châu Phi, nay có những chuyên gia lúa tầm cỡ như Bùi Huy Đáp, mà lại thiếu ăn đến mức phải nhập bột mì là sao, vô lý, vô lý!”. Tôi thấy đắng lòng, không trả lời được, đành chỉ nói theo “Đúng là vô lý!”.  Vì vậy phải nói rằng những thành quả lớn từ “cuộc cách mạng xanh” ở Việt Nam khiến bạn bè quốc tế thán phục. Tiến sĩ S.N. Prasad, người Ấn Độ, Trưởng bộ môn Canh tác của IRRI nhắc đi nhắc lại rằng IR8 đi vào cơ cấu cây trồng ở đồng bằng Bắc Bộ thật là ấn tượng.  Năm 1990, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng bắt đầu tham gia Mạng lưới Đất dốc và đất chua châu Á (ASIA-LAND NETWORK) của Tổ chức Nghiên cứu Quản lý Đất quốc tế (IBSRAM). Lần đầu tiên Việt Nam có báo cáo tại Hội nghị hằng năm tại Bangkok, tôi trình bày đề cập sự kiện Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, không ngờ phần thảo luận bị kéo dài, hội trường xoay sang tin mới này mà quên cả trao đổi nội dung chính của báo cáo là quản lý đất. TS Marc Latham, người Pháp, Giám đốc IBSRAM, nói lời kết: “Bất ngờ, ấn tượng, khó tin, nhưng là sự thật. Chúc mừng Việt Nam !”. Ông cũng nói thêm: lúa và đất lúa đã vậy, thì với đất dốc chắc các bạn sẽ làm tốt.      Khi tham gia Chương trình hợp tác Pháp-Việt “Nghiên cứu so sánh hệ thống nông nghiệp châu thổ sông Hồng và vùng đồng bằng Camague, Pháp”, tại phòng thí nghiệm của giáo sư A.P. Conessa ở Montpellier, có một đồng nghiệp thuộc phái hữu Le Pen không ưa gì Việt Nam hỏi: “Việt Nam đủ lương thực chứ?”, tôi đáp: “Quá đủ, còn thừa, xuất khẩu hơn hai triệu tấn đấy”. Lần khác, khi tôi tham gia soạn Hiệp định 3 bên Việt Nam-FAO-Sénégal năm 1997, các bạn Sénégal bảo: “Dân tôi chỉ biết ăn sắn, được biết đến cơm là nhờ gạo Việt Nam xuất sang từ những năm 1930, bây giờ Việt Nam đã xuất khẩu gần ba triệu tấn gạo, thật kỳ diệu”. Năm 2010, đến Sudan trong khuôn khổ Chương trình hợp tác Nghiên cứu Nông nghiệp hai nước, các bạn bảo: “Chuyên gia nhiều nước đến rồi, không thành công, phải mời các bạn, vì Việt Nam dẫn đầu thế giới về lúa gạo là nhờ nghiên cứu gắn với công tác khuyến nông theo phương pháp Bùi Huy Đáp”. Tên tuổi Bùi Huy Đáp được nhắc đến nhiều ở các nước châu Phi Pháp ngữ nhờ các công trình được trích dẫn của ông phần nhiều bằng tiếng Pháp và phương pháp Bùi Huy Đáp.  Trong cuộc đời làm khoa học của mình, giáo sư Bùi Huy Đáp nghiên cứu nhiều đối tượng cây trồng nhưng cây lúa vẫn là nơi ông đặt nhiều tâm huyết. Có lẽ, những tâm huyết ấy của ông đã đem lại sức sống mới và vẻ đẹp mới cho cây lúa, “cây ấm no” mà ngày nay trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam, như trong câu hát “Có gì đẹp trong cây lúa Việt Nam”. □  —  Bài viết sử dụng tư liệu với sự đồng ý của Viện Môi trường Nông nghiệp.     Chú thích  1. Bài thơ “Nỗi mừng nghe tin lúa” của Xuân Diệu.    Bèo hoa dâu là một cống hiến của Nông học Việt Nam cho Nông học nhiệt đới ẩm thế giới. Kinh nghiệm quí báu của nông dân Bích Du (Thái Bình) về thả bèo dâu trong ruộng lúa được kỹ sư Nguyễn Công Tiễu khảo cứu và lần đầu tiên được ông giới thiệu bí mật thể cộng sinh cố định N “Azolla-Anabaena” tại Hội nghị Khoa học Khu vực châu Á-Thái Bình Dương tại York Jakarta (Indonesia, 1927). Viện trưởng Bùi Huy Đáp cùng với GS Đào Thế Tuấn hướng dẫn KS Trần Quang Thuyết ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (nay là Viện KH Nông nghiệp Việt Nam) nghiên cứu trong nhiều năm và đúc kết thành giải pháp nuôi bèo dâu trong nghề trồng lúa những năm 1960-1990. Những năm 1980, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã hợp tác với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) nghiên cứu đi sâu chuyên đề này. Mặc dù ở ta các yếu tố tăng vụ, dùng phân đạm nhiều, công lao động đắt lên làm cho bèo dâu không còn vai trò như trước; nhưng TS Iwao Watanabe, C.P. Mamaril, J.C. Bunoan của IRRI đánh giá rất cao giải pháp sinh học này vì ở rất nhiều nước vẫn còn cần bèo dâu trong hệ thống lúa-bèo, lúa-bèo-vịt…     Author                Nguyễn Tử Siêm        
__label__tiasang Cây sáng kiến ở An Hữu      Ông Lê Phước Lộc (An Hữu,  Cái Bè) làm ra máy dập lỗ màng phủ nông nghiệp vì nông dân yêu cầu màng  phủ phải được dập lỗ nhưng nhà sản xuất không đáp ứng. Một chủ đại lý  vật tư nông nghiệp đốc thúc ông chế ra chiếc máy để giải quyết nhu cầu  này. Hiện ông Lê Phước Lộc được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&amp;CN cấp  bằng chứng nhận độc quyền công trình sáng chế này và ông cũng được Bằng  khen của Thủ tướng Chính phủ.     Khi được hỏi vì sao có sáng kiến làm máy dập lỗ này, ông Lộc cho biết, một chủ đại lý vật tư nông nghiệp đã “đặt hàng”  ông do máy làm màng phủ nông nghiệp nhập về cửa hàng không được dập lỗ trước nên khi sử dụng, rất mất thời gian và công sức để làm thêm công đoạn này.  Tuy nhiên việc làm ra máy dập lỗ màng phủ không đơn giản bởi ông Lộc phải tính toán sao cho nó người nông dân có thể sử dụng nó một cách linh hoạt, cơ động và có thể di chuyển để làm theo yêu cầu của nông dân. Người trồng dưa yêu cầu khoảng cách của mỗi lỗ rộng chừng 0,5m; còn người trồng ớt lại muốn 0,3 m nhưng lệch bên trái; người trồng cà thì muốn lệch sang bên phải.   Trên cơ sở yêu cầu đó, ông Lộc đã mày mò làm ra chiếc máy từ những thanh sắt lá, dây cu roa, dây xích, bánh lăn, moteur điện… Mỗi giờ máy có thể dập được hàng ngàn lỗ. Với chi phí và công sức lắp ráp cho một chiếc máy, giá bán được ông Lộc ấn định 15 triệu đồng/máy. Hiện nay có rất nhiều nơi đặt hàng nhưng ông chỉ có thể đáp ứng khoảng năm, sáu chiếc.   Không chỉ có máy dập lỗ màng phủ nông nghiệp, ông Lộc còn có hai sáng chế khác là cây kéo tỉa, cần bao trái và vòi phun nước đã được Cục Sở hữu trí tuệ xác nhận và cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho từng loại. Với công năng của mình, cây kéo tỉa, cần bao trái của ông có thể thu hoạch trái cây và tỉa cành có đường kính từ 10mm trở xuống, cắt bỏ những trái xấu, đèo sẹo để tập trung dinh dưỡng nuôi những trái to, đẹp. Cần bao trái của ông phù hợp với các loại quả đặc sản như cam, quýt, bưởi, chôm chôm, vứ sữa…  Còn vòi phun nước của ông giúp  nước được rải đều từ trong ra ngoài với đường kính 12-15m. Trong năm 2012, ông Lộc sản xuất được 13.000 cây kéo tỉa, 500 cần bao trái, 1.000 vòi phun nước. Tổng lợi nhuận trên 400 triệu đồng.  Gắn bó với ruộng vườn, ông Lộc đã có gần 40 năm làm việc và liên tục làm ra những máy móc phục vụ bà con trong vùng. Việc thành lập cơ sở cơ khí Phước Lộc vào năm 2003 tại huyện Cái Bè đã giúp ông có điều kiện hoàn thành các sáng kiến cải tiến kỹ thuật của mình.   Tất cả các sản phẩm mà ông sáng chế ra đều đáp ứng nhu cầu canh tác của nông dân, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí trong sản xuất mà không cần phải chọn công cụ ngoại nhập. Hầu hết các nông dân sau khi sử dụng đều phản hồi: sản phẩm dễ sử dụng, tiện lợi và bền hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường.   Tháng 7-2014, ông vinh dự được ban tổ chức Chương trình “Vì sự phát triển nông dân Việt Nam” xét tặng danh hiệu “Bàn tay Vàng ngành Nông nghiệp Việt Nam” do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam phối hợp tổ chức.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây tảo nhân tạo sản sinh oxy gấp 100 lần cây xanh đích thực      Julian Melchiorri rất tâm đắc với quá trình quang hợp. Ông đã chế tạo các mô-đun nhỏ liên kết CO2 và tạo ra oxy. Đèn chùm biết hô hấp của ông được treo trong Bảo tàng Victoria và Albert ở London.      Đèn chùm giúp không khí trong lành  Julian Melchiorri làm việc với những sinh vật nhỏ nhất để cứu những thứ lớn lao. Ông chuyên nghiên cứu về các loài vi tảo. Chúng là những sinh vật có sức sinh sôi nảy nở nhanh nhất trên hành tinh. Với sự giúp đỡ của loại vi tảo này, Melchiorri mong muốn tình trạng nóng lên toàn cầu sẽ được giảm thiểu, đồng thời góp phần vào việc cung cấp nguồn thức ăn bền vững cho thế giới.  Julian Melchiorri tâm sự: “Để chống lại biến đổi khí hậu, người ta nên lắng nghe lời khuyên của thiên nhiên. Mọi công nghệ đều xuất xứ từ tự nhiên. Quang hợp chỉ là một trong số đó, và nó đã được phát triển qua hàng tỷ năm. Tôi nghĩ thật hợp lý khi con người nhìn vào thiên nhiên, lấy cảm hứng từ những đổi mới của nó và bắt chước thiên nhiên để tạo ra một cái gì đó.”  Mô-đun cơ bản là một chiếc lá  Tên tuổi của Melchiorri gắn liền với chiếc lá Biosolar. Nó được tạo ra dưới bàn tay con người, mô phỏng một chiếc lá thật. Nó hấp thụ carbon dioxide từ không khí và giải phóng oxy. Để làm được điều này, lá Biosolar chỉ cần ánh sáng mặt trời. Ban đầu, nó chỉ là một cái cốc chứa đầy nước và tảo.  Để tạo ra những loại tảo đầu tiên, Melchiorri đã chiết xuất lục lạp từ tảo và hòa tan chúng trong một loại tơ – protein. Chất trong lá được tưới qua các kênh phức tạp. Melchiorri cho biết: “Một chiếc lá có một loạt các rãnh nhỏ hoặc gân lá, cung cấp nước. Tôi lấy cảm hứng từ đó, công nghệ đã được phát triển hơn nữa để tảo tự nhiên cũng có thể đóng vai trò là nhà cung cấp oxy. Loại tảo này chứa gấp đôi lượng protein so với thịt, chúng có vitamin, khoáng chất,các loại axit béo thiết yếu và chất dinh dưỡng và hơn hết là chúng hấp thụ carbon dioxide. Do đó, tảo có thể trở thành thức ăn của tương lai.”  Khu rừng của các thành phố  Quá trình quang hợp cũng xảy ra ở tất cả các loài thực vật khác, vậy vi tảo có gì đặc biệt? Chúng là một sinh vật đặc biệt đơn giản, không có yêu cầu gì và dễ nhân giống. Đồng thời, có thể chế biến chúng thành thực phẩm.  Môi trường nhân tạo mang lại nhiều lợi thế hơn nữa. Do có lá nhân tạo bao bọc, tảo luôn phát triển mạnh trong “nhà kính” nhỏ – vì vậy chúng cần ít nước hơn nhiều so với trong điều kiện tự nhiên, vì không xảy ra hiện tượng bốc hơi nước.  Ngoài ra, có thể dễ dàng che phủ các cấu trúc nhân tạo bên trong và bên ngoài bằng lá cây. Các cây nhỏ có thể được lắp đặt trên các tòa nhà và cảnh quan như các tấm pin mặt trời. Những cây nhân tạo khổng lồ cũng có thể được lắp đặt trong vòng vài ngày. Công ty Arborea của Melchiorri hiện đang làm việc với Đại học Hoàng gia London để đưa các modun lên một số mái nhà của trường.  Mỗi cái lá là một mô-đun, từ đó có thể dễ dàng hình thành các cấu trúc lớn hơn như một tầng sinh vật. Arborea cho hay một Biotree có thể “làm sạch không khí tương đương 100 cây”. Điều này có thể đúng về mặt lý thuyết, nhưng tỷ lệ ánh sáng sẽ hạn chế hiệu suất thực tế.  “Đèn chùm sinh học Exhale” của Melchiorri là kiệt tác quang học của ông. Nó là một cấu trúc sống và thở được, giúp lọc không khí trong nhà. Melchiorri thực sự là một kỹ sư, được đào tạo để giải quyết các vấn đề của đời sống. Đèn chùm rong biển hiện là một phần trong bộ sưu tập cố định của Bảo tàng Victoria và Albert ở London.  Xuân Hoài dịch  Nguồn:   https://www.stern.de/digital/technik/kuenstliche-algenbaeume-sollen-100-mal-mehr–sauerstoff-als-ein-echter-baum-produzieren-9047286.html    Author                .        
__label__tiasang Celina M. Turchi: Người truy tìm Zika      Nhân vật thứ năm trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là Celina M. Turchi, bác sỹ khám phá bí ẩn y học ở khu vực đông bắc Brazil.      Nỗi khiếp sợ về virus Zika trải rộng khắp toàn cầu năm 2016, và Brazil là tâm dịch bệnh, nơi dịch xuất hiện đầu tiên ở châu Mỹ. Một số nhà nghiên cứu kêu gọi hoãn Olympic Games diễn ra tại Rio de Janeiro vào tháng 8/2016. Bất chấp hiểm nguy của bệnh dịch, Celina Maria Turchi Martelli đã có mặt ở tuyến đầu đông bắc Brazil để tìm ra bí ẩn y học tại đây.  Kể từ tháng 9/2015, cuộc sống của Turchi, bác sỹ và và chuyên gia về bệnh truyền nhiễm làm việc tại Trung tâm nghiên cứu Aggeu Magalhães ở Recife, bị đảo lộn vì virus Zika. Khi Bộ trưởng Bộ Y tế giao nhiệm vụ điều tra về hiện tượng gia tăng số lượng trẻ sinh ra mới chứng đầu và não nhỏ, một đặc điểm mà sau được biết đến với tên gọi bệnh đầu nhỏ, Turchi nhanh chóng nhận ra, Brazil đang phải đối mặt với tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng. Bà cho biết, “là một nhà dịch tễ học, tôi còn nhận thấy sự bùng phát dịch bệnh đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh không còn là cơn ác mộng của riêng mình”.  Turchi ngay lập tức đã liên hệ với các nhà khoa học trên khắp toàn cầu để mời họ giúp đỡ, đồng thời thành lập một nhóm đặc biệt gồm các nhà dịch tễ học, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, bác sỹ nhi, nhà thần kinh học và nhà sinh học sinh sản. Turchi cho biết, thách thức rất lớn: không có phòng thí nghiệm dành để kiểm tra các thử nghiệm virus Zika và chưa có sự đồng thuận trong định nghĩa bệnh đầu nhỏ. Nhưng những nỗ lực đã được đền đáp, Turchi và đồng nghiệp của bà đã thu thập được đủ bằng chứng để chứng minh sự liên hệ giữa điều kiện và tình trạng nhiễm virus Zika trong ba tháng đầu thai kỳ.  Turchi cho biết, hiện vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu nào để đối phó dịch bệnh. Zika đã lan rộng khắp châu Mỹ thì số lượng ca bệnh đầu nhỏ bên ngoài phạm vi đông bắc Brazil vẫn chưa được dập tắt. Turchi và đồng nghiệp trong tổ công tác đang nỗ lực tìm hiểu nguyên nhân của bệnh dịch. Dù vào tận các bệnh viện của Recife để điều tra nhưng công việc của họ vẫn chưa tiến triển “do chưa có cuốn sách chuyên khảo nào hướng dẫn”. Vì vậy Turchi và nhóm công tác của bà đang soạn một cuốn sách hướng dẫn về bệnh dịch cho các đồng nghiệp tham khảo.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang CEO Viettel: Chọn việc khó mà làm thì mới dùng được người tài      Chọn việc khó mà làm và biết nhìn nhận bằng tư duy khác biệt, đó là bí quyết thành công của Viettel theo chia sẻ của Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng trong cuộc tọa đàm với Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh chiều ngày 14/4 vừa qua.      Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, TGĐ Viettel trao đổi.  Với tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong quá trình thúc đẩy chuyển giao các tiến bộ KH&CN vào phục vụ nền kinh tế – xã hội, hội nghị thường niên dành cho các giám đốc Sở KH&CN các tỉnh năm nay được Bộ KH&CN tổ chức tại Tập đoàn Viettel, trong đó một sự kiện quan trọng là cuộc tọa đàm giữa Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, với nội dung chính là những chia sẻ của người thuyền trưởng Viettel về những bí quyết làm nên thành công của Tập đoàn này, đặc biệt là những bài học về đầu tư cho R&D để tạo ra những đột phá ngoạn mục trong sản xuất và kinh doanh. Sự kiện có sự tham gia của hàng trăm lãnh đạo các Sở KH&CN địa phương cùng các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN.  Bí quyết mà Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ với hội nghị vô cùng giản dị, đó là chọn việc khó mà làm và luôn nhìn bằng tư duy khác biệt. Cụ thể là khi mới bước chân vào thị trường viễn thông, thay vì hướng tới tầng lớp khách hàng khá giả như các nhà mạng khác, Viettel lựa chọn hướng tới đối tượng khách hàng đại chúng, với phương châm số lượng khách hàng càng lớn thì chi phí càng giảm – kết quả là chỉ sau vài năm Viettel đã chiếm lĩnh thị phần áp đảo, đánh bại các đối thủ. Tuy nhiên, ngay khi chiếm lĩnh thị trường trong nước, Viettel đã nghĩ ngay đến chinh phục thị trường nước ngoài, bất chấp kinh nghiệm cạnh tranh và am hiểu luật pháp quốc tế còn hạn chế, nguồn vốn còn khiêm tốn (khi đó tổng vốn Viettel chỉ có năm trăm triệu USD, nhỏ hơn rất nhiều với những đối thủ có nguồn vốn hàng trăm tỷ USD). Nhờ có tầm nhìn táo bạo như vậy, ngày nay Viettel đã chinh phục được thị trường 12 quốc gia, dự kiến tới năm 2020 con số sẽ lên tới 20. Một ví dụ điển hình khác là sự đầu tư mạnh dạn để phủ sóng cho công nghệ 4G. Trong khi các công ty viễn thông thường đầu tư dần dần trong quá trình nâng cấp công nghệ để giảm chi phí, khiến trước đây Việt Nam phải mất 20 năm để phủ kín công nghệ 2G, và gần 10 năm cho 3G, thì ngày nay Viettel lại xác định triển khai công nghệ 4G trong thời gian sớm nhất, đặt ra bài toán làm sao phủ kín 4G chỉ trong vòng 6 tháng, qua đó hình thành một hệ thống nền tảng hạ tầng viễn thông 4G đi đầu trên thế giới.  “Cái gốc cho sự phát triển của Viettel ngày nay chính là ‘tìm việc khó nhất để làm”, ông Nguyễn Mạnh Hùng nói. Ông cũng nhận định, chính vì luôn tìm việc khó để làm nên Viettel mới cần đến người tài và dùng được người tài, đồng thời qua đó nhu cầu đầu tư cho KH&CN mới trở nên hiện hữu thiết thực.  Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng cũng chia sẻ bí quyết phát triển công nghệ trong thời đại ngày nay không đơn thuần là tìm cách nhận chuyển giao máy móc, xây dựng nhà xưởng, thuê chuyên gia. Ông ví von “quá trình tự tích luỹ, học hỏi công nghệ chiếm tỉ trọng 70-80%”, phần còn lại là bí quyết know how phải học từ nước ngoài, đôi khi chỉ đơn giản là sự suy luận từ một câu nói tình cờ nghe được. Nói cách khác, phần know how này có nắm bắt được hay không là do cơ duyên, và cơ duyên chỉ đến khi bản thân ta đã nỗ lực để tự đi hết 70-80% chặng đường.  Một bí quyết quan trọng khác của Viettel là tư duy quản trị theo kết quả đầu ra thay vì kiểm soát đầu vào. Với tư duy này, quỹ KH&CN do Viettel trích lập được sử dụng theo nguyên tắc cho vay, nghĩa là người đăng ký sử dụng không chỉ làm ra sản phẩm mà còn phải bán được, sau một thời gian phải tạo thành nguồn thu để trả lại cho tập đoàn cả vốn lẫn lãi. Các viện nghiên cứu không chỉ tự nghiên cứu mà còn liên kết, thuê khoán các cá nhân, tổ chức nghiên cứu bên ngoài. Điều quan trọng là họ phải tích hợp được các kết quả công nghệ do bên ngoài cung cấp, tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh và giải quyết được đầu ra. Theo Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, đây là phương thức mà Viettel học được từ Boeing, một tập đoàn làm công nghệ nổi tiếng trên thế giới nhưng bản chất thực là “họ liên kết với hàng nghìn công ty cung cấp công nghệ, công việc thực sự của họ là tập trung làm thị trường”.  Với tầm nhìn và tư duy linh hoạt như vậy, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng các nhà nghiên cứu có rất nhiều cơ hội hợp tác với Viettel. Ông cho biết Quỹ KH&CN của tập đoàn đang tích lũy ngày càng lớn, không chỉ phục hồi phần kinh phí đã chi cho các dự án nghiên cứu mà còn thu thêm cả phần lãi lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Hằng năm, ngoài phần kinh phí cấp cho các dự án nghiên cứu cả trong và ngoài tập đoàn, Viettel vẫn còn hàng nghìn tỷ đồng nhàn rỗi. Vì vậy, ông bày tỏ mong muốn các cá nhân, tổ chức nghiên cứu trong nước hãy tận dụng cơ hội này. “Chúng ta vẫn đang bỏ lỡ nhiều nguồn lực”, ông nói.   Qua buổi nói chuyện, bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng đã có những trao đổi đầy hứng thú về đổi mới cách quản lý nghiên cứu ứng dụng và khả năng hợp tác nghiên cứu giữa Viettel với các đơn vị nghiên cứu khác trong thời gian tới. Bộ trưởng Chu Ngọc Anh còn nêu vấn đề về khả năng phát huy nền tảng viễn thông 4G của Viettel để tạo những “kho tri thức số” thiết thực phục vụ đại chúng, đặc biệt là bà con nông dân. Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết đây cũng chính là một mục tiêu quan trọng mà Viettel cùng các đối tác đang tâm huyết theo đuổi, và kỳ vọng rằng dự án này sẽ mang lại những lợi ích lan tỏa trên diện rộng trong xã hội.    Author                Thanh Xuân        
__label__tiasang CES 2015: Cảm biến và kết nối      &#160;Gắn cảm biến vào tất cả các thiết bị, kết  nối mọi vật dụng trên nền tảng Internet là điều mà người ta nhận thấy rõ  ràng trong CES 2015 – Hội chợ hàng điện tử tiêu dùng quốc tế diễn ra  trong năm ngày từ 4-9/1 tại Las Vegas, Mỹ.    Mọi vật đều thông minh  Khi những người tham dự CES thường xuyên bắt đầu cảm thấy chán vì năm nào cũng quen thuộc với sự góp mặt của các tập đoàn điện tử như Sony, LG, SamSung… cùng những sản phẩm “dễ đoán” như TV LED thì năm nay, họ có dịp ngạc nhiên với một xu hướng: “Internet of things” – vạn vật kết nối trong các thiết bị gia dụng.  Theo dự báo, phải mất vài chục năm nữa, viễn cảnh về vạn vật kết nối mới trở thành hiện thực, khi ấy, tất cả các vật dụng xung quanh con người đều được gắn một máy tính và kết nối với nhau trên nền tảng internet. Tuy nhiên, tại hội chợ công nghệ CES, người ta thấy viễn cảnh này không xa đến thế, hàng trăm vật dụng gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của con người đều trở nên “thông minh”: bàn chải Bluetooth điều chỉnh để người dùng không chà răng quá mạnh; bình sữa trẻ em hướng dẫn người dùng góc độ cầm chai chuẩn xác; ấm pha trà/cà phê cho phép pha và điều chỉnh nhiệt độ đồ uống từ xa; bóng đèn được điều chỉnh bằng wifi qua điện thoại thông minh kết hợp loa và camera chống trộm, ổ cắm điện chỉ truyền điện khi nhận được phích cắm; vòng cổ cho vật nuôi thông báo địa điểm và tình trạng của chúng cho người chủ qua ứng dụng di động, pedal xe đạp có gắn GPS và các cảm biến cho phép xác định vị trí của xe, đo khoảng cách tới địa chỉ cần đến đồng thời theo dõi tốc độ đạp xe, cảnh báo khi xe bị trượt bánh… Các thiết bị trên đều được kết nối wifi và xử lý thông tin bằng một ứng dụng trên di động, nhờ vậy, các dữ liệu về hiệu quả hoạt động của người dùng sẽ được gửi về điện thoại thông minh của họ. Ví dụ, với bình sữa trẻ em nói trên, bố mẹ có thể biết được lượng sữa và thời gian ăn của con khi “giao phó” cho người trông trẻ hoặc với chiếc bàn chải Bluetooth, người sử dụng có thể nhận được thông tin đánh giá về cách đánh răng của mình trên điện thoại thông minh.  Không chỉ nổi bật với các vật dụng “internet of things” gần gũi hằng ngày, CES 2015 còn được chú ý với những thiết bị đeo trên người (wearables). Khi Apple thông báo sẽ tung ra đồng hồ thông minh vào năm nay, không có gì lạ khi những sản phẩm đeo trên người trở nên phổ biến và trở thành xu hướng ở hội chợ hàng điện tử tiêu dùng 2015. Phần lớn những sản phẩm này đều được sử dụng để đo lường sự vận động và sức khỏe của người dùng, đồng thời phân tích những dữ liệu này và gửi tới các thiết bị di động thông minh bằng wifi hoặc Bluetooth: các đồng hồ đeo tay và tai nghe theo dõi bước đi, giấc ngủ, cảm xúc; mũ đọc “sóng não” để đo độ thư dãn của người đội và nếu phát hiện thấy người đội căng thẳng, sẽ gửi dữ liệu qua một ứng dụng của điện thoại thông minh để bật một bản nhạc jazz xoa dịu và thư giãn người dùng. Ngoài ra, một chiếc nhẫn có tên gọi là Ring của công ty Logbar ở Nhật, vào năm 2014 từng gọi vốn từ cộng đồng thành công với gần 900.000 USD (gấp bốn lần so với dự kiến) trên nền tảng Kickstarter, cho phép người đeo chỉ cần “viết lên không khí” để ra lệnh đóng/mở rèm cửa, bật/tắt hệ thống đèn và TV, thậm chí có thể viết chữ trên điện thoại, máy tính bảng từ xa.  “Vạn vật kết nối không phải là khoa học viễn tưởng mà là thực tế khoa học”, Boo-Keun Yoon, tổng giám đốc của SamSung, phát biểu tại CES 2015. Ông cho biết, internet of things sẽ biến đổi cách mà chúng ta sống: “ Mỗi người là trung tâm thế giới công nghệ của riêng họ và vạn vật kết nối sẽ tự khắc thích nghi và biến đổi theo cách người ta muốn”.  Cảm biến thống trị  Những năm gần đây, CES dần thay đổi diện mạo: với tên gọi là một hội chợ công nghệ hàng tiêu dùng nhưng năm nay, ngạc nhiên là có những công ty có vẻ chẳng liên quan gì tới lĩnh vực này cũng có gian hàng dựng ở đây: các tập đoàn ô tô như Ford, Toyota, Chervolet, Mercedes Benz; các công ty thời trang như Adidas, Ralph Lauren…, thậm chí cả chuỗi cửa hàng ăn nhanh Mc Donnald và hãng truyền hình CBS cũng tới đây góp mặt.  Ngày đầu tiên của CES 2015 là một loạt các bài phát biểu đến từ chủ tịch của những tập đoàn sản xuất ô tô lớn trên thế giới. Họ giới thiệu và thậm chí còn cho phép người đến dự thử ngồi trên dòng xe mới tưởng như chỉ có trong phim viễn tưởng: xe tự lái. Giờ đây, tài xế chỉ cần đặt điểm đến và ngồi ở băng ghế sau để xe của mình tự động di chuyển, tránh các chướng ngại vật trên đường và tự tìm chỗ đỗ xe khi tới nơi. Các công ty thời trang tới CES 2015 để giới thiệu các mẫu quần áo thể thao: từ mũ cho đến tất đều được gắn cảm biến để theo dõi và điều chỉnh lượng mồ hôi, máu lưu thông, nhịp tim của người tập thể thao và thông báo cho họ về chế độ luyện tập thông qua các thiết bị di động. Những hãng truyền hình, giải trí và chuỗi nhà hàng ăn nhanh Mc Donalds tới CES 2015 để tìm cách nâng cấp dịch vụ của mình bằng cách tích hợp công nghệ, đặc biệt là các hãng truyền hình, giải trí. Sự xuất hiện của Oculus Rift với thiết bị cho phép người dùng tương tác với thế giới game ảo như thực được Facebook mua lại với giá 2 tỷ USD trong năm 2014 khiến nhiều sản phẩm tương tự xuất hiện trong CES 2015. Bây giờ, không chỉ bước vào thế giới game, các sản phẩm mới cho phép người dùng bước vào và tương tác trực tiếp với cả các chương trình TV đòi hỏi các hãng truyền hình phải tạo ra các show truyền hình tương tác mới trong tương lai. Bên cạnh đó, hết thời người dùng phải “dò kênh” để tìm chương trình mình thích, với công nghệ phân tích dữ liệu người dùng quen thuộc vẫn được sử dụng bởi các trang web xem video trực tuyến, người dùng hiện nay sẽ được “gợi ý chính xác” mình nên xem gì trước khi đưa ra quyết định.   CES – con quái vật khó hiểu  Với diện tích trưng bày là 2.000 ha – tương đương với 35 sân bóng đá và có 3.500 công ty tham gia trưng bày sản phẩm, và tổ chức từ sáng đến đêm liên tục trong năm  ngày từ 4-9/1 vừa qua, CES (Consumer Electronic Show) là hội chợ hàng điện tử tiêu dùng lớn nhất thế giới thế giới. Tuy nhiên, việc trưng bày sản phẩm ở CES không hề hào nhoáng như người ta vẫn tưởng tượng. Đỗ Hoài Nam, CEO của SeeSpace, từng tới CES 2014 để giới thiệu InAir (thiết bị kết hợp giữa TV và internet, tự nhận diện, “bóc tách” dữ liệu từ các chương trình TV để kết nối với các trang liên quan trên Internet, thêm thông tin cho người dùng), chia sẻ: “CES như một sở thú! Vô số những thứ láo nháo, những sản phẩm giá trị đã ít lại còn thường bị lẫn lộn trong bể những thứ láo nháo ấy”.   Anh cho biết, với những công ty sản xuất (product companies), CES là bắt buộc nên gần như ai cũng phải trưng bày sản phẩm của mình ở hội chợ công nghệ này. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là hầu hết các công ty chỉ chạy theo xu hướng mà không có tầm nhìn. “Điều này làm CES trở thành một cái chợ hỗn loạn và náo nhiệt nhưng tìm kiếm cái thực sự hay thì rất khó”, anh nói.  Những tập đoàn lớn như Samsung, Intel… sẵn sàng tiêu hàng chục triệu USD cho những ngày ở Las Vegas nhằm tạo bàn đạp để có thể tung ra các sản phẩm trong năm. Tuy nhiên, với các công ty nhỏ hơn thì anh Hoài Nam cho rằng, cần phải cân nhắc kỹ bởi có rất nhiều công ty tới CES để rồi chứng kiến đầy những sản phẩm “me too”, tức là giống hệt mình. Khi đó, họ mới nhận ra đã bỏ một khoản tiền lớn để đóng góp vào sự “láo nháo” chứ không hề đem lại một kết quả nào cho mình.“  Sai lầm nghiêm trọng nhất mà rất nhiều công ty mắc phải là đến CES chỉ là để góp vào sự “láo nháo” nhưng lại quảng cáo bản thân là sản phẩm giá trị. Sản phẩm chưa sẵn sàng nhưng vẫn đưa lên để cạnh tranh với sản phẩm đã hoàn thiện rồi”. Theo anh, tuy cũng có những công ty chưa có sản phẩm nhưng vẫn đến CES để tự đánh giá so với mặt bằng chung và có những chiến lược hiệu quả hơn cho sản phẩm nhưng nên đến CES với sản phẩm hoàn chỉnh thay vì sản phẩm dở dang. “Tóm lại, CES là một con ‘quái vật’ hết sức khó hiểu. Trừ khi có mục đích rất cụ thể thì nhìn chung là không nên tới. Apple là một ví dụ, họ từ chối tới CES nhưng năm nào cũng tạo ra tiếng vang khi tung ra sản phẩm”.            Tại CES 2015, Misfit Wearables và Bkav là  hai công ty Việt Nam tham gia trưng bày sản phẩm. Misfit được biết đến  với Shine – sản phẩm đeo trên người nhỏ gọn như đồng xu để theo dõi hoạt  động và giấc ngủ của người đeo từng gọi được 100.000USD trên trang gọi  vốn cộng đồng Indiegogo ngay trong 10 giờ đồng hồ đầu tiên. Tại hội chợ  công nghệ hàng tiêu dùng năm nay, Misfit kết hợp với hãng thời trang   Swarovski tạo ra hai phiên bản có chức năng giống như Shine nhưng vỏ  được làm bằng pha lê màu trắng và pha lê màu tím, riêng phiên bản pha lê  tím có thể hoạt động nhờ ánh sáng tự nhiên và nhân tạo. Tuy ở CES năm  nay, theo tờ The Washington Post xu hướng thiết bị đeo trên người được  coi là nỗi thất vọng lớn với những sản phẩm “giông giống nhau”, Misfit  là một trong số rất ít các công ty đem lại hi vọng cho thị trường nhờ  hợp tác thiết kế với một hãng thời trang cao cấp. Ngoài Misfit, lần đầu  tiên Bkav tham gia CES với hai sản phẩm:  thiết bị nhà thông minh đã  được sử dụng rộng rãi tại các căn hộ cao cấp gần đây và điện thoại thông  minh do công ty tự thiết kế và chế tạo. Tuy nhiên, sản phẩm được trưng  bày ở CES 2015 mới chỉ là phiên bản thử nghiệm.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Cha của Michael Jackson – người “thợ sắt”      Ông đã biến con trai mình thành ngôi sao vĩ đại trong ngành âm nhạc – và bản thân mình thành một triệu phú.      Joe Jackson  Cha Micheal Jackson, Joseph Walter Jackson, còn được gọi là Joe Jackson, vốn là lái xe cẩu tại thành phố thép Gary. Với sự thông minh và ý chí kiên cường tới mức hà khắc của mình, ông đã rèn năm người con của mình thành những siêu sao.  Một trong số ít người có những lời lẽ chân thành, ngợi ca dành cho Joe là Barry Gordy, một trong những người sáng lập hãng thu âm Motown – một trong những doanh nghiệp Mỹ gốc Phi có doanh thu cao nhất rong nhiều thập kỷ. Ông nhớ lại: “Tôi còn nhớ ông ta đã đưa mấy đứa con tài giỏi đầy năng khiếu của mình tới Motown như thế nào. Người ta nhận ra ngay bọn trẻ rất có ý thức kỷ luật và chúng đã được bố mẹ rèn rũa chu đáo về ý thức đối với lao động.”  Điều mà Gordy nói về rèn ý thức lao động làm người ta nhớ lại hồi ức của Michael Jackson về những trận đòn bằng dây thép. Trong khi tập luyện mà bọn trẻ mải chơi, không tập trung liền bị trừng phạt. Michael nhớ tới những sợi roi bằng dây thép quật lên mình tới tấp. Còn Joe chối: “Tôi không đánh nó. Đã đánh thì đánh bằng gậy. Đằng này tôi chỉ quất nó bằng roi da và dây thắt lưng.  Trong suốt cuộc đời mình, Joe Jackson luôn gây ấn tượng về một cuộc sống trong sạch. Khi thừa nhận về việc hành hạ lũ con của mình (ông có mười người con chính thức và một người con ngoài giá thú), ông cho rằng hầu hết các con ông đều làm nên sự nghiệp. Bản thân ông, khi là trẻ con, cũng từng bị hành hạ, ông tự coi bản thân mình mà minh chứng cho quan niệm giáo dục của ông. Quan niệm đó là: “con trẻ phải biết sợ cha mẹ.”  Joseph Walter Jackson sinh năm 1928 ở Fountain Hill, Arkansas, trong một gia đình nghèo khó. Ông từng trải qua một cuộc sống không ổn định nay đây mai đó,  bị đuổi khỏi trường cấp ba, kiếm sống bằng nghề võ sĩ quyền anh nghiệp dư, tham gia ban nhạc vô danh tiểu tốt  Rhythm’n’Blues-Band với cái tên The Falcons. Sau khi lấy vợ là bà Katherine ông định cư tại Gary, cây đàn ghi ta cũ kỹ ông phải dấu trong tủ quần áo vì sợ lũ con làm hỏng.  Một hôm cậu con trai Tito bí mật lấy cây đàn ra chơi và vô tình làm đứt một dây đàn, Tito bị một trận đòn nhớ đời. Sau đó ông thành lập ban nhạc gồm những đứa con trai của mình lấy tên Jackson 5, Michael, cậu con út khi đó mới 5 tuổi.  Đạt đỉnh cao chói lọi và đầy triển vọng vào cuối những năm 1960. “I Want You Back”, “ABC” và “I’ll Be There” đã trở thành Hit-Singles và mấy anh em Tito, Jackie, Jermaine, Marlon và Michael trở thành niềm ước ao của tất cả đám tuổi teen thời đó. Michael hồi tưởng về người cha của mình: “Ông là một người thật kinh khủng – và là một nhà quản lý tuyệt vời.” Và: ông có đầu óc kinh doanh có thể nói là thiên tài, ông luôn thấu hiểu và đọc được mọi biểu hiện của thời đại. Ông luôn theo dõi, quan sát mọi hoạt động kinh doanh âm nhạc trong những năm 1960-1970,đó là sự thay đổi về cơ cấu, từ tầng lớp trung lưu sang cấu trúc đa quốc gia, và đó là sự biến đổi từ tiền triệu sang tiền tỷ và ông Joe Jackson muốn dành được một phần của khoản tiền đó.  Năm 1975  Jackson 5 chia tay hãng Motown, Joe chắp nối một phi vụ làm ăn hết sức ngọan mục với đài CBS. Phi vụ này đem lại cho ông một khoản thu nhập nhiều gấp mười lần so với Motown, vì thế sau đó ông và mấy cậu con trai của mình đã phát đơn kiện. Thời kỳ này ông tập trung phát triển tài năng solo của Michael, cậu con út, năm 1982 khi “Thriller” sắp sửa hoàn thành, và đây cũng là album âm nhạc ăn khách nhất của mọi thời đại. Tuy nhiên, đúng vào thời điểm này Michael tuyên bố chia tay với người cha của mình.  Khi nói về sự biết ơn của mình với người cha, ca sỹ Michael Jackson luôn hết sức khách quan và rành rọt một cách đáng ngạc nhiên, anh viết :”Ông luôn nhận thức được cả hai, quyền lợi của chúng tôi và quyền lợi của ông. Tôi biết ơn ông vì ông đã không tìm cách đoạt hết tất cả số tiền cho bản than mình như nhiều bậc cha mẹ đã làm đối với những đứa con là ngôi sao ở tuổi vị thành niên.”  Ngay cả khi đã tách khỏi Michael, ông Joe luôn là một nhà thương lượng cực kỳ rắn, ông biết, trong kinh doanh âm nhạc, người có thế lực là người biết đàm phán, thương lượng về các bản hợp đồng hay huỷ bỏ chúng. Một thời gian ngắn sau cái chết của con trai vì dùng thuốc quá liều lượng vào năm 2009 ông Joe tìm cách (nhưng bất thành) tận dụng cái chết của con trai, thông qua các cuộc trả lời phỏng vấn, thu hút sự quan tâm của dư luận để quảng bá cho hãng sản xuất đĩa hát của mình.  Tháng 6 vừa qua ông Joe Jackson đã qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 89 tại Las Vegas.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/kultur/musik/michael-jackson-vater-joe-der-stahlarbeiter-ist-tot-a-1215489.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cha mẹ có thể cải thiện khả năng học toán của con cái      Một nghiên cứu mới của các nhà tâm lý học tại Đại học Sussex chỉ ra, một trong những yếu tố quan trọng tác động đến thành tích học tập của học sinh tiểu học không phải là cảm xúc của học sinh dành cho trường học hoặc giáo viên, mà là kỹ năng học thuật của phụ huynh và mối quan hệ của họ với con cái.    Bản thân các tác giả nghiên cứu cũng rất ngạc nhiên khi phát hiện ra hầu như không có mối liên hệ nào giữa trường học, các yếu tố liên quan đến giáo viên trong trường tiểu học với khả năng toán học của học sinh. Họ đưa ra kết luận này sau khi không tìm thấy sức ảnh hưởng đáng kể nào từ một môi trường học tích cực, mối quan hệ cởi mở giữa giáo viên và học sinh hoặc các khía cạnh tích cực trong tính cách của giáo viên đến thành tích học tập môn toán.   Tác giả chính của nghiên cứu, Danielle Evans (ĐH Sussex) cho biết “một loạt các nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của cha mẹ là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp dự đoán kết quả học tập của học sinh. Nhưng so với cấp tiểu học, vai trò của trường học, giáo viên ở cấp trung học có phần quan trọng hơn, họ chính là những người góp phần tạo ra môi trường dạy học tích cực và công bằng, đặc biệt là ở các trường trung học – nơi học sinh phải đối mặt với những khó khăn trong quá trình chuyển tiếp cấp học và hòa nhập với một môi trường học tập mới”.   Khác biệt giữa học sinh cấp tiểu học và cấp trung học  Trong một nghiên cứu thuộc loạt bài báo xuất bản trên Royal Society, nhóm đã tiết lộ yếu tố dự báo quan trọng nhất liên quan đến trường học – và cũng là yếu tố duy nhất mà các nhà khoa học có thể chứng minh được – có thể dự báo khả năng toán học của học sinh tiểu học chính là thái độ của các em đối với môn học.   Nghiên cứu cho thấy, những đứa trẻ ở bậc tiểu học thích học toán thu nhặt được một lượng kiến thức nhiều hơn hẳn so với những đứa trẻ không thích môn này, nhất là vào thời điểm chúng lên cấp hai. Kết quả nghiên cứu còn tiết lộ, những đứa trẻ thích học toán và cảm thấy nó hữu ích, thú vị và quan trọng sẽ đạt điểm cao hơn so với những đứa trẻ cảm thấy toán học thật nhàm chán. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu lưu ý, kết quả này không khẳng định đây là mối quan hệ nhân quả.   Nghiên cứu đã khám phá các yếu tố dự báo về khả năng học toán ở cấp tiểu học và trung học bằng cách tập trung vào môi trường học đường và ảnh hưởng của trường học đến trẻ, mối quan hệ thầy trò, tính cách giáo viên, thái độ đối với môn toán, cảm nhận về giáo viên… thông qua câu trả lời của gần 7.000 học sinh.   Các tác giả nhận thấy, học sinh cấp hai học toán tốt hơn nếu cảm thấy giáo viên của mình là những người công tâm. Tuy nhiên, vốn kiến thức của giáo viên đó lại không có tác động đáng kể đến thành tích của học sinh. Việc được học một giáo viên mà học sinh cho rằng có sự hiểu biết sâu sắc về môn học, luôn nỗ lực khiến tiết học trở nên thú vị, hoặc thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của toán học lại không phải là yếu tố đáng kể giúp dự đoán khả năng học toán của học sinh.   Khác với cấp tiểu học, các nhà nghiên cứu nhận thấy trải nghiệm của học sinh ở cấp trung học có ảnh hưởng lớn hơn nhiều đến thành tích học tập của học sinh. Họ tin rằng phát hiện này liên quan đến nghiên cứu trước đó về tác động của quá trình chuyển cấp, từ đó tác động tiêu cực đến mối quan hệ thầy trò. Trẻ em phải thích nghi từ việc có một giáo viên phụ trách suốt cả năm học sang việc tương tác với nhiều giáo viên khác nhau trong một ngày.   Cô Evans cho biết, “Nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng và giá trị của việc cải thiện thái độ của trẻ em đối với môn toán, bởi nó có thể giúp cải thiện trình độ học vấn. Chúng tôi khuyến khích mọi người ứng dụng các chương trình kích thích sự say mê của trẻ dành cho toán học”.  “Phát hiện của chúng tôi cũng nhấn mạnh, các trường trung học nên giúp học sinh cảm thấy thoải mái nhất có thể bằng cách đem lại một bầu không khí học đường thân thiện và tích cực hơn. Chúng tôi nhận thấy một kết quả đáng ngạc nhiên là các em có thành tích cao có thể có cảm xúc tiêu cực đối với trường cấp hai của mình. Nói cách khác, học sinh đạt thành tích cao môn toán chưa chắc đã cảm thấy hạnh phúc dưới mái trường trung học của họ”.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-parents-schools-key-maths-success.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chẩn bệnh cho van Gogh      130 năm sau cái chết của danh họa Vincent van Gogh, các học giả vẫn còn tranh cãi về động cơ tự hủy hoại của ông. Mới đây, một nhóm các nhà khoa học tại trường đại học Y Groningen, Hà Lan, đã có công bố về những triệu chứng tâm thần của danh họa.       Chân dung tự họa của van Gogh với cái tai bị cắt vẽ năm 1889. Nguồn: wikipedia  Một trong những khoảnh khắc được biết đến nhiều nhất trong lịch sử nghệ thuật là khi Vincent van Gogh tự cắt tai một ngày trước lễ Giáng sinh năm 1888. Nhưng tại sao ông lại làm vậy? Thật không dễ trả lời bởi giai đoạn cuối đời của van Gogh hết sức rối rắm và phức tạp. Đó có thể là nguyên nhân dẫn đến việc ông tự bắn vào ngực mình ngày 27/7/1890 và qua đời sau đó hai ngày. Do không có tài liệu nào ghi lại chính xác toàn bộ quá trình phát bệnh của ông nhưng nhiều người tin, thời kỳ bi kịch bắt đầu từ khi ông tự cắt tai ở Arles, khiến ông phải vào bệnh viện điều trị từ tháng 12/1888 đến tháng 5/1889, rồi chuyển đến dưỡng trí viện Saint-Rémy-de-Provence vào tháng 5/1889, nơi ông cảm thấy “hoàn toàn không ý chí, không khao khát bất cứ thứ gì”. Sau khi ở tại Saint-Rémy gần một năm mà không phục hồi, ông được chuyển đến Auvers-surOise nhưng nơi này không mang lại sự nhẹ nhõm, khuây khỏa trong tâm trí như ông mong muốn. Không lâu trước khi qua đời ở tuổi 37, ông có viết “Đời tôi đã bị ăn mòn đến tận gốc rễ”.    Nhiều giả thiết đã được đặt ra, ví dụ như van Gogh hủy hoại mình sau khi biết tin em trai Theo đính hôn, do tranh cãi và va chạm với Paul Gauguin – họa sĩ ở cùng nhà với ông thời gian đó, hoặc lâm vào tình trạng ảo giác liên miên. Một số quan điểm đã được in thành sách như Breaking Van Gogh: Saint-Rémy, Forgery, and the $95 Million Fake at the Met (James Ottar Grundvig), Van Gogh’s Ear: The True Story (Bernadette Murphy), Studio of the South: Van Gogh in Provence (Martin Bailey)… Năm 2016, bảo tàng Van Gogh ở Amsterdam cũng tổ chức một cuộc triển lãm về căn bệnh tinh thần của họa sĩ “On The Verge of Insanity: Van Gogh and His Illness”.    Mới đây qua công trình “New vision on the mental problems of Vincent van Gogh; results from a bottom-up approach using (semi-)structured diagnostic interviews” xuất bản trên tạp chí International Journal of Bipolar Disorders, một nhóm các nhà nghiên cứu Hà Lan đã đưa ra giải thích về hành động bất ngờ đó cũng như trải nghiệm về rối loạn cảm xúc ở phạm vi rộng hơn của van Gogh trước khi ông tự tử.     Tìm trong những bức thư     Ngay từ tiêu đề của bài báo, các nhà nghiên cứu Groningen đã cho thấy mình áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên với các phỏng vấn chẩn đoán (bán) cấu trúc để tìm hiểu và phán đoán những vấn đề về tâm thần cũng như chứng rối loạn tâm thần của ông.    Khi bắt tay vào tìm hiểu vấn đề, giáo sư tâm lý Willem Nolen và đồng nghiệp phát hiện ra là từ trước đến nay, các học giả còn chưa tiến hành tìm hiểu một cách đầy đủ vấn đề dựa trên những phản hồi của chính họa sĩ và những thông tin về bệnh tình của ông còn sót lại ngày nay. Do đó, họ đã phỏng vấn ba nhà lịch sử nghệ thuật, những người vốn biết rõ con người van Gogh qua những bức thư và thông tin từ bác sĩ đã điều trị cho ông.    Trong suốt cuộc đời mình, ngoài vẽ thì van Gogh còn có một niềm say mê là viết thư, chia sẻ quan điểm và cảm xúc với em trai và bạn bè. Không biết đích xác ông viết bao nhiêu bức thư nhưng hiện còn sót lại 900 bức, trong đó 820 bức gửi em trai Theo. Những bức thư tràn đầy xúc cảm chân thật này là cánh cửa để người ta bước vào thế giới tâm hồn riêng biệt của van Gogh. “Trong đó, ông miêu tả những gì mình nếm trải trong suốt cuộc đời, bao gồm cả những vấn đề tâm lý”, các nhà nghiên cứu giải thích vì sao họ lại lựa chọn bằng chứng từ những bức thư, “mặc dù chúng ta biết rõ ràng là van Gogh viết cho em trai chứ không phải cho bác sĩ để kể cho em biết điều mình đang phải chịu đựng hoặc để cân bằng tâm lý”.      Bức Café Table With Absinthe, 1887. Nguồn: Bảo tàng Van Gogh, Amsterdam, Hà Lan.  Theo lý giải của các nhà nghiên cứu Hà Lan, manh mối của mọi việc bắt đầu hé lộ. Từ thông tin ghi lại của các bác sĩ, họ có thể thấy họa sĩ có vô số chứng bệnh. Felix Rey, bác sĩ của ông ở Arles, gọi cơn khủng hoảng tâm lý đầu tiên khi ông cắt tai trái là “một trạng thái kích động nhất thời” và đổ lỗi cho lối sống dùng nhiều chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá và chế độ dinh dưỡng nghèo nàn. Trong một báo cáo theo yêu cầu của cảnh sát trưởng Arles, bác sĩ Albert Delon viết “tôi thấy người đàn ông này trong trạng thái bị kích thích cực độ do mê sảng, anh ta chỉ nhận ra người xung quanh trong một khoảnh khắc rồi lại rơi vào một cơn ảo giác”. Trong khi đó, Jules Urpar – bác sĩ phụ trách dưỡng trí viện Saint-Rémy-de-Provence, thì ghi là “kết quả của một chứng nghiện cấp tính với cơn mê sảng phổ biến”. Một bác sĩ khác cũng ở Saint-Rémy là Théophile Peyron, người trực tiếp điều trị cho họa sĩ, đề xuất nguyên nhân là chứng động kinh khi ghi rõ vào hồ sơ bệnh án “các cơn động kinh đột phát giữa những quãng ngắt dài”.    Có lẽ, ngay từ khi mới trưởng thành, van Gogh đã có nhiều vấn đề về tâm lý. Cha ông từng tiết lộ “nó luôn luôn có khuynh hướng u uất”. Khi ngoài đôi mươi và sống ở London bằng nghề giới thiệu tranh, ông thường xuyên ủ rũ, xa lánh người khác và chú ý đến các vấn đề tôn giáo. Đây là một phần lý do khiến ông phải bỏ nghề. Trong thời kỳ ở Amsterdam, ông viết thư kể cho em trai “Đầu anh thi thoảng lại đau như búa bổ, bừng bừng như sốt còn ý nghĩ của anh thì hỗn loạn… cảm giác sợ hãi gia tăng… đêm qua anh lại tự quật mình lần nữa”. Hành vi của van Gogh kỳ lạ đến mức cha ông từng phải lên tiếng bảo con mình phải tới dưỡng trí viện ở Geel nhưng ông từ chối.      Felix Rey, bác sĩ của van Gogh ở Arles, gọi cơn khủng hoảng tâm lý đầu tiên khi ông cắt tai trái là “một trạng thái kích động nhất thời” và đổ lỗi cho lối sống dùng nhiều chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá và chế độ dinh dưỡng nghèo nàn. Các nhà nghiên cứu đã vẽ ra một bức tranh khá rõ về sức khỏe tâm thần của họa sĩ với rất nhiều yếu tố liên quan đến chứng rối loạn lưỡng cực và rối loạn nhân cách ranh giới.      Các trạng thái tâm lý và suy nghĩ của van Gogh thay đổi nhanh đến lạ lùng. Vào cuối năm 1881, từ Etten, ông đã viết rất nhiều lá thư cho em trai và bạn bè với phần tái bút còn dài hơn cả phần nội dung chính của thư. Vào cuối năm 1883, ông miêu tả mình “bị ngợp trong cảm giác căng thẳng tột độ, chán nản và thậm chí là tuyệt vọng”.    Kể từ năm 1888 van Gogh chuyển đến Arles, nơi chứng kiến sự bùng nổ nghệ thuật của ông và cả tình bạn thất thường với Gauguin, người quyết định rời đi sau sáu tuần vì “không thể sống cạnh nhau mà không gây rắc rối cho nhau vì sự xung khắc về tính cách, trong khi cả hai đều cần yên tĩnh để làm việc”. Trong đêm 22/12, hành động rời đi của Gauguin dẫn đến một cuộc khủng hoảng tinh thần khiến vào đêm 23/12, van Gogh cắt tai trái và trao nó cho một cô gái tuổi khoảng 19, 20 trong một nhà thổ – hành động mở màn cho chuỗi ngày nhập viện của ông diễn ra sau đó “thi thoảng lại tràn ngập sự căng thẳng đến khủng khiếp mà không rõ nguyên nhân…” và “có những khoảng khắc anh như bị xoắn vặn trong sự nhiệt thành hoặc nỗi điên dại hay dự cảm lạ lùng của một nhà tiên tri Hy Lạp trên chiếc ghế ba chân”.     Van Gogh bị bệnh gì?     Các nhà nghiên cứu Hà Lan đã đề xuất những triệu chứng có ở ông đều có mối liên hệ với một thời gian dài kiêng rượu. Họ cho biết thêm, hai cơn mê sảng diễn ra sau đó liên quan đến quyết tâm cai nghiện của van Gogh thực sự là “những đợt trầm cảm nghiêm trọng (trong đó ít nhất một đợt có hiểu hiện rối loạn tâm thần) khiến ông không thể hồi phục hoàn toàn, cuối cùng dẫn đến tự sát”.    Theo nhận xét của họ, những người từng uống như hũ chìm thường đi kèm với chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, dẫn đến nguy cơ rủi ro cho chức năng não, trong đó bao gồm những vấn đề tâm thần. Hơn nữa, việc ngừng đột ngột sau một quãng thời gian uống quá nhiều rượu có thể dẫn đến mê sảng. Do đó, có khả năng cơn rối loạn tâm thần ngắn đầu tiên của van Gogh ở Arles vào những ngày sau vụ tự cắt tai là từ việc ông ngừng uống rượu. Qua giai đoạn khó khăn đó, van Gogh không còn uống nữa và ông cũng không lặp lại trạng thái mê sảng này nữa.    Trên thực tế, kể từ năm 1886 trở đi, van Gogh là một kẻ nghiện rượu. Ông từng cố gắng uống ít đi nhưng không thành công. Ngoài rượu vang, ông thường uống những loại có độ cồn nặng hơn như absinthe – một loại rượu nặng được chưng cất từ nhiều loại thảo mộc, trong đó có khổ ngải (Artemisia absinthium). Trong bức tranh Café Table With Absinthe vẽ năm 1887, van Gogh đã vẽ lên một bầu không khí mơ hồ đáng sợ, sắc thái xanh lá cây pha lẫn xanh lam nhạt của nó đem lại một trạng thái tinh thần ốm o khủng khiếp.      Tĩnh vật. 1889. Nguồn: Bảo tàng Kröller-Müller, Otterloo, Hà Lan.  Bên cạnh đó, nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan cũng vẽ ra một bức tranh khá rõ về sức khỏe tâm thần của họa sĩ với rất nhiều yếu tố liên quan đến chứng rối loạn lưỡng cực và rối loạn nhân cách ranh giới. Van Gogh vẫn được cho là mắc chứng rối loạn lưỡng cực qua miêu tả của em trai Theo “một người tài năng một cách kỳ diệu, nhạy cảm và dịu dàng, đồng thời là một người ái kỷ và vô cảm”. Việc cai rượu, thiếu dinh dưỡng và những căng thẳng về quan hệ xã hội như bất hòa với Gauguin và cộng đồng nhỏ ở Arles đã dẫn ông đến hành động tự hủy hoại mình. Trạng thái tâm thần phức tạp của van Gogh cũng từng là chủ đề của một hội thảo năm 2016 với sự tham gia của 35 chuyên gia do Bảo tàng Van Gogh tổ chức cũng chưa thể chỉ ra một cách chính xác nguyên nhân của các trạng thái bệnh tật này.    Công trình trên tạp chí International Journal of Bipolar Disorders đã bác bỏ một số giả thiết liên quan đến bệnh tâm thần phân liệt của van Gogh. Đây là một trong những chứng bệnh đầu tiên được chẩn đoán sau khi ông qua đời nhưng các nhà nghiên cứu Hà Lan đã cho rằng ông không có bất kỳ biểu hiện nào của bệnh đó trước vụ cắt tai ở tuổi 35, cũng như trong quãng thời gian giữa các đợt loạn thần trong 15 tháng cuối đời.    Họ cũng loại đi ảnh hưởng của bệnh giang mai, ngay cả khi ông đã từng điều trị bệnh lậu và Theo qua đời sáu tháng sau cái chết của anh trai mình do nhiễm bệnh này. Không có bằng chứng nào trong các ghi chép của bác sĩ điều trị cho van Gogh. Đồng thời, họ cũng nghi ngờ giả thiết ông bị nhiễm độc carbon monoxide, một chất khí không màu, không mùi, bắt cháy và có độc tính cao, phát thải từ đèn khí gas trong ngôi nhà ở Arles. “Không hề có bất cứ ghi chép nào về trường hợp nhiễm độc carbon monoxide ở Arles cả”, họ viết như vậy trong bài báo.    “Đã có hàng trăm bài báo về điều kiện tâm thần của van Gogh nhưng vẫn vô cùng khó khăn để xác định các nguyên nhân của bệnh tật,” Martin Bailey, một chuyên gia về van Gogh trao đổi qua email với artnet News về bài báo mới. “Công trình do các chuyên gia xuất sắc thực hiện tất nhiên đóng vai trò quan trọng và dựa trên kết quả của một nghiên cứu cẩn trọng về các triệu chứng bệnh của van Gogh. Tuy nhiên không có nghĩa đó là kết luận cuối cùng về vấn đề thách thức này”.    Giáo sư Willem Nolen lường trước được những giới hạn của nghiên cứu do mình thực hiện. “Tất nhiên, chúng tôi không thể phỏng vấn chính van Gogh”, ông viết như vậy trong công bố.    Bất kể van Gogh mắc chứng bệnh nào thì không ai có thể quên ba năm cuối đời của họa sĩ lại là quãng thời gian nghệ thuật đáng nhớ nhất với hơn 30 bức tự họa và loạt bảy tranh hoa hướng dương. “Trong ba đêm liền, anh chỉ đứng vẽ và ngủ vào ban ngày. Dường như với anh, màn đêm lại sống động và giàu sắc màu hơn cả ban ngày… Nhiều lúc anh thấy mình ở trạng thái minh mẫn kinh khủng vào những ngày trời đẹp nhưng cũng có lúc anh không còn nhận thức được chính bản thân mình nữa, bức tranh cứ thế hiện ra như trong một giấc mơ. Anh thực sự sợ hãi là có thể sẽ rơi vào tâm trạng u uất khi những ngày xấu trời đến”, ông viết thư gửi em.    Có thể tâm trạng mẫn cảm đã đem lại điều gì đó cho van Gogh. “Bất chấp tất cả những vấn đề dẫn đến các chứng bệnh, chúng tôi vẫn có thể nhấn mạnh rằng van Gogh không chỉ là một họa sĩ vĩ đại và có ảnh hưởng trong lịch sử hội họa mà còn là người thông minh với trí lực, kiên cường và bền bỉ”, các nhà nghiên cứu Hà Lan kết luận. □     Tô Vân tổng hợp  Nguồn:  https://journalbipolardisorders.springeropen.com articles/10.1186/s40345-020-00196-z  https://www.theguardian.com/artanddesign/2020/nov/03/study-links-van-goghs-bouts-of-delirium-to-alcohol-withdrawal  https://news.artnet.com/art-world/van-gogh-delirium-triggered-by-alcohol-withdrawal-1920539    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chẩn đoán bệnh qua nét vẽ      Có khi nào bạn tự hỏi “các nhà khoa học thưởng thức nghệ thuật như thế nào?”. Có thể bạn không biết rằng họ đã phát hiện ra những điều mà giới nghệ thuật thường bỏ qua.      Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Anh. Nguồn: Independent.co.uk  Các kiệt tác mỹ thuật thường khơi gợi nhiều ý tưởng sáng tạo cho nghệ sĩ ở nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ như những bức họa mà họa sĩ, kiến trúc sư Viktor Hartmann gửi nhà soạn nhạc Modest Mussorgsky đã trở thành gợi ý để nhà soạn nhạc sáng tác tổ khúc piano Pictures at an Exhibition (Những bức tranh trong phòng triển lãm), sau này trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc của Modest Mussorgsky và được nhà soạn nhạc Moris Ravel chuyển soạn cho dàn nhạc.  Vậy còn các nhà nghiên cứu, họ nhìn thấy những gì qua lăng kính khoa học? Có khi nào góc nhìn của họ trùng khớp với cái nhìn của giới nghệ thuật? Câu trả lời thú vị hơn người ta tưởng. Hàng thập kỷ qua, nhiều công trình nghiên cứu đã rọi ánh sáng mới vào các kiệt tác nghệ thuật, để bật ra những thông tin mà giới nghệ thuật thường bỏ qua. “Các bác sĩ, các nhà nghiên cứu y khoa thường thấy nhiều điều mà giới lịch sử nghệ thuật có thể lướt nhanh bởi lẽ họ đến với một tác phẩm nghệ thuật mà không có những khái niệm y học chuyên ngành”, Karen Goodchild, người phụ trách Khoa Nghệ thuật và Lịch sử nghệ thuật trường Wofford ở Spartanburg, Nam Carolina, trả lời The Wall Street Journal.  Truy tìm những manh mối mới từ các bức họa là một công việc thú vị. Nhiều trường y, trong đó có Harvard và Yale, đã tổ chức nhiều khóa học để giúp các bác sĩ hướng họ vào việc tìm ra các chi tiết quan trọng qua quan sát những bức họa nổi tiếng. Trong thế giới của tia X, cộng hưởng từ và các công cụ hỗ trợ khám bệnh khác, việc chẩn đoán căn bệnh mà các nhân vật trong những bức họa có thể đem lại nhiều kinh nghiệm cho họ. Đó là lý do mà nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Michael Baum, một trong những chuyên gia hàng đầu về ung thư của Anh, có thói quen dẫn sinh viên tới Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Anh, dạo qua các kiệt tác ở đây là tìm hiểu những biểu hiện của bệnh tật của các nhân vật trong tranh lọt vào tầm mắt. Ông chỉ cho các bác sĩ tương lai thấy cách hiểu biết về y học và nghệ thuật đem lại cái nhìn mới vào các bức vẽ cổ điển để bóc tách thông tin hữu dụng. “Hàng tá bài báo khoa học đã được các sinh viên của tôi viết ra và xuất bản trên những tạp chí chuyên ngành sau những chuyến đi này, trải rộng từ bệnh giang mai đến bệnh Paget trên xương sọ”, Baum nói. “Đó là một cách xuất sắc để học hỏi kiến thức ngành y và đánh giá nghệ thuật”.  Những diễn dịch của Baum và các đồng nghiệp khác của ông dựa trên những manh mối nghệ thuật và y học mà họ đúc rút qua nhiều năm tìm hiểu. Qua con mắt của họ, nhiều gian trưng bày tranh như phòng chờ khám của một bác sĩ: các bức họa của Monet ngày một tối hơn cho đến khi bệnh đục thủy tinh thể được chữa trị khiến các bức họa của ông sáng lên lần nữa; những bức vẽ đầy nhiễu loạn của van Gogh cho thấy nỗi giày vò vì bệnh giang mai; tác phẩm của Renoir vẫn được hoàn thành bất chấp việc ông đã gần như tê liệt vì căn bệnh thấp khớp và không thể cầm một cây cọ lên quá vai; Rembrandt mắc bệnh mù lập thể (Stereoblindness), một căn bệnh không có khả năng nhìn thấy hình ảnh ba chiều do không còn khả năng đón nhận chiều sâu thị giác lập phương bằng việc kết hợp và so sánh các hình ảnh từ hai mắt; sự biến dạng trên các khuôn mặt của Bacon tạo cảm giác không thoải mái của người thưởng ngoạn bởi theo các nhà khoa học thần kinh, các chi tiết biến dạng do biểu hiện của chúng trái ngược với những chờ đợi của não bộ dành cho cơ thể, còn theo các giáo sư nhãn khoa thì Bacon đang chịu một rối loạn thần kinh hiếm gặp là dysmorphopsia – chứng nhìn biến dạng do u màng não…  Dưới đây là một số phân tích các tác phẩm nghệ thuật dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu y khoa.  Bệnh viêm đa cơ trong bức họa về thực nghiệm bơm chân không    “An Experiment on a Bird in the Air Pump” (Một thí nghiệm về con chim trong bơm chân không) của họa sĩ Joseph Wright of Derby. Nguồn: Wikipedia.  Năm 1789, họa sĩ Joseph Wright of Derby vẽ “An Experiment on a Bird in the Air Pump” (Một thí nghiệm về con chim trong bơm chân không), thể hiện mối quan tâm của mình với cuộc cách mạng công nghiệp và những tiên tiến khoa học của thời kỳ Khai sáng. Bức họa được treo ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Anh kể từ năm 1863 và được coi là một kiệt tác của hội họa Anh.  Bức họa tái tạo một trong những thực nghiệm bơm chân không của Robert Boyle – nhà triết học tự nhiên, hóa học, vật lý, một trong những người đặt nền móng cho hóa học hiện đại, người đi tiên phong về phương pháp khoa học thực nghiệm hiện đại và phát hiện ra mối liên hệ giữa áp suất và thể tích chất khí (định luật Boyle). Trong thực nghiệm này, một con vẹt xám Úc đang lả đi vì thiếu không khí trong bình thủy tinh trước một nhóm người quan sát với những biểu hiện quan tâm khác nhau: một trong hai cô gái lo ngại quan sát số phận của con chim, cô gái còn lại đau khổ trong sự an ủi và giải thích của người cha, hai quý ngài (một cảm thấy sốt ruột vì thời gian làm thực nghiệm) và một cậu bé chú ý thật sự, hai kẻ yêu nhau chỉ quan tâm đến nhau. Nhà khoa học ở trung tâm nhìn thẳng ra ngoài bức tranh vì chờ đợi người xem quyết định liệu tiếp tục bơm chân không làm chết con vẹt xám hay để không khí lùa vào để giữ sự sống của con vẹt. Bức họa như phép ẩn dụ về việc những hiểu biết khoa học và tiến trình của nó đôi khi bắt nguồn từ những hi sinh “xấu xí” cũng như phép ẩn dụ về các quan điểm xã hội tới thực tế khoa học khác nhau như thế nào và thi thoảng chúng cũng bỏ qua tính xác thực của khoa học.  Trong công trình “Dermatomyositis in Joseph Wright’s 1768 painting of the air pump experiment” (Bệnh đa cơ trong bức họa thực nghiệm hút chân không năm 1768 của Joseph Wright) xuất bản trên Clinical Rheumatology, tiến sĩ Hutan Ashrafian (Khoa Phẫu thuật và ung thư, ĐH Hoàng gia London) cho rằng, nếu nghiên cứu cẩn thận và chi tiết hơn, bức họa còn cung cấp một khía cạnh khác về mặt khoa học y học của thế kỷ 18. Ví dụ nhìn vào nhân vật người cha của cô gái đang đau khổ về số phận con vẹt, ở đốt các ngón tay trên bàn tay trái vòng qua vai con gái của ông đều mang màu đỏ. Có thể là còn có khả năng có những thay đổi về da và mụn cóc ở bàn tay trái và ban đỏ xuất hiện ở ngón trỏ và ngón cái bàn tay phải. Ông cũng lưu ý nhân vật này còn có một số dấu hiệu phát ban đỏ ở giữa khuôn mặt, bao gồm mí mắt phải, gò má trái, mũi và các vùng trên má phải và trán, nơi thường tiếp xúc với ánh sáng.  “Khi chúng ta nhìn vào bức họa với những chi tiết rõ nét như vậy, rõ ràng là người cha mang đặc điểm của chứng bệnh viêm đa cơ (Dermatomyositis)”, Ashrafian nói. Đây là một căn bệnh viêm nhiễm gây ảnh hưởng đến cả các cơ và da. Những biểu hiện bệnh lý trên da tay người cha mang phần lớn đặc điểm của bệnh sẩn Gottron (Gottrons’ papules), vốn là đặc trưng của bệnh viêm đa cơ. Có thể danh họa Joseph Wright đã ghi nhận nỗi thống khổ của người mang bệnh trước khi các nhà khoa học miêu tả nó vào năm 1891. “Việc miêu tả căn bệnh quá rõ ràng và chính xác qua bức họa có thể phản chiếu sự tồn tại trên thực tế căn bệnh này vào thời điểm đó”, Ashrafian cho biết và nói thêm, một trong những lý đo thôi thúc tác giả nhấn mạnh vào các chi tiết này cũng có thể chỉ đơn giản là ông chỉ muốn khắc họa rõ nét chân dung một nhân vật của mình.  Tuy nhiên, độ chính xác trong tác phẩm của Wright không chỉ phản chiếu những hình ảnh như đời thực của một xã hội tại thời điểm khởi đầu kỷ nguyên hiện đại mà còn có thể nó giúp ông thể hiện một ngụ ý về một căn bệnh mà có thể trong tương lai khoa học sẽ đem lại phương thức điều trị hữu hiệu.  Chứng bệnh bí hiểm trong Thế giới của Christina    Christina’s World (Thế giới của Christina), do họa sĩ Andrew Wyeth vẽ năm 1948, miêu tả cảnh đồng quê Mỹ và nhân vật trung tâm từng là hàng xóm và là bạn của họa sĩ. Ông muốn miêu tả chốn đồng quê như thiên đường, một chốn thoát khỏi cuộc sống hiện đại. Người xem có thể cảm nhận điều này thông qua sự tỉ mỉ trong từng đường cọ của ông trên từng lá cỏ và ngôi nhà ở đường chân trời. Christina rướn cả người về phía trang trại, cô muốn mời chúng ta cùng cô trở về nhà mình…  Christina ngoài đời thực là Christina Olson, sinh năm 1893. Trước thời điểm cô ra đời, nước Mỹ đã trải qua một cơn bùng phát bệnh bại liệt. Nhiều người tin rằng cô mắc bệnh bại liệt nhưng không ai biết đích xác cô thật sự mắc bệnh này không. Khi ở tuổi trưởng thành, đôi chân Olson trở nên yếu ớt và có thể là đã mất đi một số cảm giác – cô đã bị ngã gần một bếp lò ở tuổi 50 và bị bỏng mà bản thân không nhận biết được. Nhà thần kinh học Marc Patterson ở Trung tâm Mayo Clinic (Rochester, Minnesota, Mỹ) không đồng tình với kết luận là Olson mắc căn bệnh này. “Tất cả những gì mà bức tranh chỉ ra đều cho thấy điều trái ngược”, Patterson nói. Những triệu chứng của bệnh bại liệt đều có xu hướng xấu ngay tại thời điểm mắc căn bệnh và được cải thiện theo thời gian, ngược lại với biểu hiện ở Olson. Thay vào đó, Patterson tin là cô mắc bệnh Charcot-Marie-Tooth, hay còn gọi là bệnh teo cơ mác do đột biến trong gene liên quan đến cấu trúc và chức năng của các dây thần kinh chi phối bàn chân, chân, bàn tay (khoảng 2,8 triệu người trên thế giới mắc bệnh này).  Có giai thoại kể rằng, Wyeth nghĩ đến việc vẽ Thế giới của Christina trong một buổi chiều hè thanh bình khi quan sát Olson gần như kéo lê cơ thể trên mặt cỏ. Ông từng thổ lộ là mình chỉ muốn bày tỏ với mọi người “nỗ lực phi thường của cô ấy về một cuộc sống mà hầu hết mọi người đều coi là tuyệt vọng. Theo một cách nào đó, nếu người xem cảm nhận được là dù thế giới của cô ấy bị giới hạn về mặt vật lý nhưng không thể về mặt tinh thần thì tôi đã đạt được những gì mình nêu ra”.  Nhưng có một điều ít ai biết được điều mà Wyeth chưa bao giờ thổ lộ: Thế giới của Christina không chỉ để khắc họa Olson mà còn là chính chân dung Betsy, người vợ trẻ của ông. Ở tuổi đôi mươi, cô chính là nguyên mẫu cho phần đầu và cơ thể của nhân vật. Tại sao Wyeth lại làm như vậy? Chúng ta có thể giả định là họa sĩ chưa bao giờ đề nghị Olson để vẽ về tình trạng cơ thể cô chăng? Trên thực tế thì Olson rất yêu bức họa. “Andy đã đặt tôi vào nơi ông biết rằng tôi muốn thuộc về”, cô từng thổ lộ như vậy. “Giờ đây tôi không thể đi đâu được nữa, tất cả những gì tôi muốn làm là chỉ nghĩ về bức họa mà tôi đã có mặt”. Trong câu chuyện này còn nhiều bí ẩn hơn cả căn bệnh của Olson.  Trên thực tế, Olson và Wyeth vẫn còn lưu giữ tình bạn bền chặt đến cuối cuộc đời. Một năm trước khi qua đời, Wyeth trả lời trên L.A. Times là ông muốn được chôn cất cùng Olson. “Tôi muốn ở đó với Christina”, ông nói.  Một phúng dụ về Venus  và Cupid    Vào năm 1545, họa sĩ Angolo Bronzino đã tạo ra một kiệt tác – Một phúng dụ về Venus và Cupid, một tác phẩm được coi là mang đậm chất biểu tượng của thời kỳ Phục Hưng. Nhà chính khách và chủ ngân hàng Ý Cosimo de’ Medici đã gửi tặng vua Pháp Francis I như một món quà có xu hướng để người nhận thưởng thức một cách riêng tư. Người ta thường gán ý nghĩa tính dục cho bức họa này nhưng Christopher Cook, một học trò của Michael Baum lại cho rằng có một thông điệp khác, đó là mối nguy hiểm của bệnh giang mai.  Trong công trình “An Allegory with Venus and Cupid: A story of syphilis” (Một phúng dụ với Venus và Cupid: Một câu chuyện về bệnh giang mai) xuất bản trên tạp chí Journal of the Royal Society of Medicine, Christopher Cook viết “Vào 50 năm trước khái niệm y học của bức họa thì một chứng bệnh mới đã xuất hiện ở châu Âu – giang mai. Bên trong hình ảnh thần thoại và được cách điệu hóa là thông điệp sức khỏe của Bronzino: tình yêu không đúng mực đến không chỉ đem đến niềm vui thú mà còn cả hậu quả đau đớn”.  Thông điệp này đã mất đi sau nhiều năm bởi phần lớn miêu tả về bức họa đều tập trung vào tính dục của nó nhưng nhìn về khía cạnh y học thì nó mang lại điều hoàn toàn khác. Khi nhìn vào vẻ đẹp của hai nhân vật chính là thần tình yêu Cupid và nữ thần sắc đẹp Venus, người ta có thể xao nhãng những nhân vật bên rìa. Thật khó để miêu tả họ từ cái nhìn cổ điển nhưng việc đưa vào một số giả thuyết thì có thể thấy họ đã được miêu tả với độ chính xác về sự lây nhiễm bệnh giang mai, Cook lý giải.  Hãy nhìn vào cái đầu nghiêng của người phụ nữ ở góc trái bức họa “phía sau đầu của cô ấy bị cắt. Cô ấy đã mất trí não của mình”, Baum nói. Bên dưới nhân vật này là đầu một người đàn ông không răng với đôi bàn tay ôm lấy đầu: những đầu ngón tay đỏ và mái tóc tơi tả là những triệu chứng của căn bệnh. Nếu nhìn kỹ hơn, có thể thấy một ngón tay đã bị mất móng, phù hợp với chứng bệnh. Củng mạc mắt của nhân vật này cũng màu đỏ, cặp hàm không răng chứng tỏ những dấu hiệu của việc chảy huyết thanh máu và có lẽ trong vòm miệng cũng có biểu hiện của bệnh. “Thật thú vị là việc mất răng có thể là kết quả của tình trạng nhiễm độc thủy ngân, một liệu pháp điều trị thành công căn bệnh này ở thời kỳ Phục Hưng”, Cook viết trong bài báo.  Dẫu hậu thế còn nhiều tranh cãi về thông điệp của bức họa thông qua hình thức kể chuyện tài tình và chi tiết về lâm sàng bệnh tật đáng kinh ngạc thì sự phúng dụ của Bronzino đã xứng đáng trở thành kiệt tác, Cook kết luận. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://link.springer.com/article/10.1007/s10067-016-3291-0  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2966887/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chân dung bà Merkel trong bức tranh tài chính Châu Âu      Dưới một góc độ nhất định, Angela Merkel đang trải qua những khoảnh khắc giống như Margaret Thatcher một thời.    Sau sáu năm tại nhiệm và được so sánh với nữ thủ tướng đầu tiên của Anh, bà Merkel càng giống với bà Thatcher khi đang cầm lái kế hoạch ứng phó với khủng hoảng tài chính của Châu Âu với những đòi hỏi giảm nợ và kiểm soát kinh tế chặt chẽ hơn. Giới truyền thông, trong đó có Frankfurter Allgemeine Zeitung, tờ báo có uy tín đóng tại trung tâm tài chính của nước Đức, gọi bà là “Bà đầm thép Châu Âu”.  Được củng cố uy tín nhờ tỷ lệ thất nghiệp thấp kỷ lục, bà Merkel đã từ chối mọi lời kêu gọi từ hai phía trái ngược: một phía đòi hỏi khai trừ Hy Lạp khỏi khu vực euro, phía ngược lại đề nghị giảm nhẹ các điều kiện hỗ trợ. Với việc duy trì chính sách trung lập chống lại sức ép từ các phía, bà đặt cược rằng các nhà hoạch định chính sách Châu Âu sẽ cùng tiếp tục tránh để euro giảm giá, yếu tố sẽ giúp cho bà tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba vào năm sau, qua  đó san bằng kỷ lục với bà Thatcher.  “Nếu Merkel ra ứng cử trong bối cảnh khu vực đồng euro sụp đổ thì bà ấy khó mà thắng được,” Giles Merritt, lãnh đạo nhóm Những người bạn của Châu Âu – một nhóm nghiên cứu chuyên thúc đẩy những cuộc tranh luận về Liên minh Châu Âu, nói trong một cuộc phỏng vấn. “Cuối cùng thì bà ấy đã đưa ra lựa chọn theo cách của một nhà chính trị.”  Có lẽ Merkel đang củng cố các nền tảng của mình cho kỳ bầu cử mùa thu năm sau: thực hiện các nguyên tắc chặt chẽ về ngân sách mà người Đức mong muốn, đồng thời ngăn ngừa sự đổ vỡ của khu vực đồng euro – điều quá rủi ro cho nước Đức, quốc gia luôn muốn đóng vai người vận động cho sự đồng thuận hòa hợp ở Châu Âu kể từ sau Thế Chiến thứ II. Bà đã đập tan cơn sóng ngầm chống khu vực đồng euro trong liên minh của mình, tuyên bố rằng giải pháp hiện nay là “thêm, chứ không phải bớt, cho Châu Âu.”    “Không đặt thành câu hỏi”          Được củng cố uy tín nhờ tỷ lệ thất nghiệp  thấp kỷ lục, bà Merkel đã từ chối mọi lời kêu gọi từ hai phía trái  ngược: một phía đòi hỏi khai trừ Hy Lạp khỏi khu vực euro, phía ngược  lại đề nghị giảm nhẹ các điều kiện hỗ trợ.         “Tôi không muốn Hy Lạp rời khu vực euro, và vì vậy tôi không đặt vấn đề này thành một câu hỏi”, bà Merkel, nay đã 57 tuổi, nói chuyện trước các sinh viên tại Berlin hôm 7 tháng Hai. Bà nói rằng cái giá của một rạn nứt trong khu vực euro là “không thể tính được.”  Giải pháp duy trì cân bằng của Merkel đã đem lại hiệu quả. Dù nước Đức cấp vốn cho các cuộc giải cứu từ Athens tới tận Dublin, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của nước này vẫn tiếp tục giảm còn 1,74% vào ngày 13/01, mức thấp nhất trong hai tháng, sau khi giảm đến mức kỷ lục của thời kỳ euro với 1,67% vào ngày 22 tháng Chín (2011).  Chỉ số tín nhiệm của Merkel đã tăng từ hồi tháng Mười Hai để đạt mức cao nhất trong nhiệm kỳ thứ hai nhờ bà động viên tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy thành lập một mặt trận chung cùng đồng đồng thuận quan điểm thắt chặt chi tiêu trong khu vực dùng đồng Euro và ngăn chặn suy thoái lan rộng. 25 trong tổng số 27 quốc gia EU đã ký vào kế hoạch này của bà.    “Bà ấy nhận ra rằng chỉ bằng cây gậy không thôi thì tương lai của Châu Âu sẽ không có tiến triển,” Henrik Enderlein, chuyên gia kinh tế chính trị tại Trường Quản trị Hertie (Berlin), nhận định khi được phỏng vấn qua điện thoại. “Bà ấy cũng cần đến cả những củ cà rốt. Và cà rốt ở đây là nước Đức, một nước ủng hộ phát triển liên minh Châu Âu với mong muốn cùng các quốc gia khác hướng đến một mục tiêu chung trong sự hòa hợp.”    “Lãnh đạo cùng các nước khác”  Khi Hy Lạp khó chịu với sự độc đoán của Đức thì bà Merkel muốn đánh tín hiệu rằng “không phải Đức lãnh đạo các nước khác mà là Đức lãnh đạo cùng với các nước khác,” Enderlein nói. “Đây là thông điệp bà ấy muốn chuyển tới các đối tác Châu Âu.”          Khi Hy Lạp khó chịu với sự độc đoán của Đức  thì bà Merkel muốn đánh tín hiệu rằng “không phải Đức lãnh đạo các nước  khác mà là Đức lãnh đạo cùng với các nước khác,” Enderlein nói. “Đây là  thông điệp bà ấy muốn chuyển tới các đối tác Châu Âu.”        Nhưng điều đó cũng có nghĩa là Merkel sẽ cứng rắn trước yêu cầu loại bỏ Hy Lạp của các lãnh đạo doanh nghiệp như chủ tịch Commerzbank AG Klaus-Peter Mueller, người đã nói hôm 30 tháng Một rằng Hy Lạp cần được giải thoát khỏi “gọng cùm” đồng tiền chung. Franz Fehrenbach, giám đốc điều hành của hãng cung cấp phụ tùng ô tô Robert Bosch GmbH, nói với Tạp chí Manager hôm 14 tháng Hai rằng Hy Lạp nên bị khai trừ nếu như nước này không tự nguyện rút lui.  Thái độ không khoan nhượng của bà thủ tướng đang khiến người ta so sánh bà với cựu Thủ tướng Anh Thatcher, người từng nổi tiếng vì đã bác bỏ những chỉ trích việc cắt giảm ngân sách khi mới tại nhiệm được 18 tháng với câu nói nổi tiếng trước các đảng viên Đảng Bảo thủ năm 1980, “quý bà sẽ không xoay chuyển”.1  “Rắn như đinh”  “Cả Thatcher và Merkel đều rắn như đinh,” Gary Smith, giám đốc điều hành American Academy (một viện nghiên cứu xuyên Đại Tây Dương) ở Berlin, nói trong một cuộc phỏng vấn. Cả hai đều cho thấy rằng “họ là những người cương quyết chứ không dễ dao động.”  Cũng như Thatcher, người đã dập các cuộc biểu tình của thợ mỏ để kiểm soát công đoàn tại Anh, Merkel chưa từng né tránh việc đối đầu. Nhưng không như Thatcher, Merkel được lòng người dân Đức vì bà “thận trọng, khiêm tốn và kín đáo,” Smith nói. “Có Merkel chèo lái, mọi chuyện đều yên bình và nước Đức đang thành công trên quy mô toàn cầu.”  Bên cạnh đó, thái độ đối với Châu Âu của hai nhà lãnh đạo này khác nhau một trời một vực. Gần một phần tư thế kỷ sau khi Thatcher diễn thuyết tại thành phố Bruges của Bỉ để cảnh báo về “một siêu nhà nước Châu Âu đang thống trị từ Brussels,” ngày nay Merkel kêu gọi liên minh chính trị và kinh tế. Nước Anh đứng bên rìa chương trình này khi thủ tướng bảo thủ David Cameron từ chối tham gia vào hiệp ước ngân sách Châu Âu mà Đức khởi xướng.  Người học trò của Kohl  Mặc dù Merkel từng được sự dìu dắt của cựu thủ tướng Helmut Kohl và lớn lên ở Đông Đức Xã hội Chủ nghĩa nhưng có lẽ trước kia trong thâm tâm bà chưa thật sự có lý tưởng xây dựng một Châu Âu thống nhất, vốn là mục tiêu của các lãnh đạo Đức kể từ sau Thế chiến thứ II. Trong một cuộc họp của Đảng Dân chủ Thiên Chúa Giáo hồi năm ngoái, bà Merkel từng phê phán người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha quá lười làm việc.          Động thái giữ cân bằng của Merkel đã đem lại  hiệu quả. Dù nước Đức cấp vốn cho các cuộc giải cứu từ Athens tới tận  Dublin, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của nước này vẫn  tiếp tục giảm        Ông Kohl, người thống nhất Đông và Tây Đức hồi năm 1990 (trái với mong muốn của bà Thatcher), cảnh báo trong một bài viết hồi tháng Chín rằng nước Đức không thể tách tương lai của mình khỏi tương lai của Châu Âu. Còn bà Merkel thì hồi tháng Bảy năm ngoái, đã hơi mất tập trung khi một phóng viên hỏi về nhiệt huyết bà dành cho Châu Âu. “Anh hỏi gì ấy nhỉ? À vâng, nhiệt huyết” bà đáp.  Tuy nhiên, giờ thì bà Merkel đã phê phán những tranh biếm họa vẽ người cần cù đối lập với đám người Châu Âu lười biếng2. Luận điểm bà thường đề cập đến hiện nay là đề cao tiết kiệm, coi đây là giải pháp tốt nhất để 500 triệu người Châu Âu cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới.    “Người Đức lười biếng”  “Thực tế là có cả những người Đức lười biếng bên cạnh những người Đức chăm chỉ,” bà Merkel nói với tờ Sueddeutsche Zeitung trong cuộc phỏng vấn về sau được đăng trên website đảng của bà vào ngày 26 tháng Một. “Chúng ta nên bỏ qua những cái nhìn định kiến.”  Đảng Liên minh Dân chủ Thiên Chúa Giáo của bà Merkel đang được lợi từ những chỉ số kinh tế Đức như tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong hai thập kỷ và niềm tin của doanh nghiệp cao nhất trong 5 năm. Hôm 2 tháng Hai, một điều tra của kênh truyền hình ARD cho thấy chỉ số uy tín của Merkel lên tới 64%, mức cao nhất kể từ năm 2009. Điều tra cũng cho thấy có tới 70% ý kiến phản đối cung cấp thêm bảo lãnh tài chính cho Hy Lạp.  Tỷ lệ ủng hộ đảng của bà Merkel đứng ở mức 38%, mức cao nhất kể từ khi bà tái đắc cử hồi tháng Chín 2009, theo một điều tra hàng tuần được Forsa công bố hôm 15 tháng Hai. Đảng Dân chủ Xã hội đối lập mất 1 điểm %, đạt tỷ lệ ủng hộ 26%.  Những thất bại cấp tiếu bang  Việc bảo vệ người Đức trước bất ổn giúp bà Merkel lấy lại lòng tin sau khi cơn giận dữ của công chúng trước những gói giải cứu dành cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha khiến cho chỉ số tín nhiệm của bà tụt xuống còn 29% vào mùa thu năm 2010. Năm ngoái, liên minh của bà bị thua hoặc mất phiếu trong cả bảy kỳ bầu cử cấp tiểu bang ở Đức.  “Người Đức không chống lại EU nhưng họ lo cho đồng tiền của mình,” Ulrich Deupmann, chuyên gia của Brunswick Group Inc. tại Berlin trả lời phỏng vấn. “Chính vì vậy mà những lời cứng rắn của Merkel đối với Hy Lạp dễ thu hút cử tri.”          Với khả năng Hy Lạp tiếp tục theo đuổi chính  sách thắt lưng buộc bụng trong năm thứ năm của cuộc khủng hoảng còn  chưa rõ ràng và tình hình bền vững của nợ công ở Bồ Đào Nha hiện vẫn bị  nghi ngờ, thì bất kỳ dấu hiệu tái khủng hoảng nào cũng sẽ làm sống dậy  đòi hỏi phát hành trái phiếu đồng phát hành ở Châu Âu. Trong trường hợp  đó, sức nóng sẽ rất lớn, đẩy bà Merkel vào thế phòng ngự.        Các thị trường hiện nay đang ủng hộ bà Merkel, giúp giảm bớt áp lực chính trị. Dù vậy, bà vẫn không thể yên tâm là khó khăn đã chấm dứt, còn kỳ bầu cử tiểu bang tiếp theo sẽ diễn ra ngày 25 tháng Ba ở Saarland, nơi mà chính quyền của đảng Dân chủ Thiên Chúa Giáo từng sụp đổ từ hôm 6 tháng Một.  Với khả năng Hy Lạp tiếp tục theo đuổi chính sách thắt lưng buộc bụng trong năm thứ năm của cuộc khủng hoảng còn chưa rõ ràng và tình hình bền vững của nợ công ở Bồ Đào Nha hiện vẫn bị nghi ngờ, thì bất kỳ dấu hiệu tái khủng hoảng nào cũng sẽ làm sống dậy đòi hỏi phát hành trái phiếu đồng phát hành ở Châu Âu. Trong trường hợp đó, sức nóng sẽ rất lớn, đẩy bà Merkel vào thế phòng ngự.  Vai diễn liệu có thành công?  “Đây là một chiến lược có kèm theo rủi ro,” Enderlein nói. “Hiện nay cuộc khủng hoảng đang tạm lắng xuống nên bà ấy có thể tiếp tục nói rằng nước Đức cần Châu Âu, với điều kiện là Châu Âu cũng hướng theo ‘văn hóa ổn định’ của Đức. Nhưng nếu điều này thành hiện thực thì đó sẽ là thắng lợi vô cùng lớn.”  Hiện tại bà Merkel có ý định theo gương bà Thatcher đắc cử nhiệm kỳ thứ ba nhờ thành tích chống khủng hoảng nợ, nhưng chưa dám chắc sau này người ta sẽ làm phim về bà. Diễn viên từng đoạt Oscar Meryl Streep, người có mặt ở Berlin hôm 14 tháng Hai để giới thiệu vai diễn bà Thatcher trong phim “Bà Đầm Thép” ở liên hoan Berlinale, nói rằng cô không muốn đóng vai bà Merkel.  Điểm chung là, “nhìn từ một khoảng cách thì bà ấy quả là một phụ nữ vô cùng mạnh mẽ,” Streep nói với tờ Die Welt.  Hoàng Minh dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2012-02-20/merkel-as-europe-s-debt-crisis-iron-lady-bucks-german-street-on-greek-aid.html  1. Cả câu đầy đủ là “You turn if you want to. The lady’s not for turning.” (Tạm dịch: Quý vị cứ thay đổi nếu quý vị muốn. Bà đầm không thay đổi.) Những người chỉ trích muốn bà thực hiện một “U-turn” (nghĩa đen là quay theo hình chữ U), ám chỉ việc thay đổi chính sách theo hướng ngược lại để giảm tỷ lệ thất nghiệp khi đó đang lên rất cao. Để phản bác, bà thủ tướng đã chơi chữ (“You turn” phát âm giống như “U-turn”). Chúng tôi giữ nguyên văn tiếng Anh.     2. Người Đức cho rằng họ chăm chỉ hơn các dân tộc châu Âu khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chân dung giới doanh nhân Trung Quốc thời kỳ đổi mới      Nhân dịp Alpha Books phát hành cuốn sách “30 năm sóng gió – Doanh nghiệp Trung Quốc trong cải cách kinh tế: 1978 – 2008”, PGS TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, người tiếp xúc với cuốn sách ngay khi còn là bản thảo, có bài viết về giá trị cũng như những điểm chưa toàn diện của tác phẩm này.      30 năm sóng gió là một cuốn sử biên niên theo một mạch liên tục 30 chương, mỗi năm một chương, với những biến cố đặc trưng, định vị từng năm trong tổng lộ trình 30 năm cải cách. Nhưng cuốn sách này lại không phải là biên niên theo nghĩa ghi chép lại tất cả các biến cố xảy ra theo mọi chiều cạnh và cấp độ. Nó không “đi ngang, về tắt” theo chiều “không gian”, không rẽ qua các ngành hay các địa phương cụ thể mà chỉ đi theo lộ trình thời gian, dõi theo từng bước đi của công cuộc cải cách chủ yếu thông qua một tuyến biến cố. Đó là chuỗi “đột phá” do các doanh nhân – “những đứa con đẻ” của cải cách – thực hiện.   Đúng như tên gọi, cuốn sách kể về những “sóng gió” cải cách chứ không “chuyên” mô tả thành công và ngợi ca thành tích với những vầng hào quang chói mắt. Nó không “tát nước theo mưa”, tung hô Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc theo kiểu hát tụng ca về “người cầm lái vĩ đại”. Cuốn sách viết về những sự kiện cải cách mang tính đột phá, gắn với số phận bi kịch của những doanh nhân dám đi tiên phong mở lối. Theo nghĩa đó, cuốn sách đưa ra một định nghĩa có phần khác lạ về sự thành công và tầm vóc của công cuộc cải cách ở Trung Quốc: thắng lợi của cải cách chủ yếu được đo lường bằng việc vượt qua sóng gió, vượt qua những bi kịch cá nhân của những nhà doanh nghiệp tiên phong để thúc đẩy cải cách tiến lên chứ không chủ yếu là những con số đẹp về đầu tư và tăng trưởng.    Đúng như tên gọi, cuốn sách hầu như chỉ mổ xẻ những “sóng gió” cải cách mà tầng lớp doanh nhân Trung Quốc, con đẻ và là nhân vật trung tâm của quá trình cải cách, phải chịu đựng và đã vượt qua.   Giới doanh nhân “ngoài quốc doanh”, mà tác giả gọi là lực lượng “tư bản dân doanh”, được đánh giá là “lực lượng có cống hiến lớn nhất cho cải cách Trung Quốc”. Mặc dù đó là lực lượng “luôn có số phận long đong”, “hầu như chẳng có sự ủng hộ nào”, “gánh chịu mọi rủi ro chính sách”, “thế nhưng, họ lại là lực lượng quan trọng nhất và kiên quyết nhất thúc đẩy cải cách”. Có thể nói đó là việc dựng lại chân dung lịch sử của giới doanh nhân trong thời kỳ đổi mới của Trung Quốc.    Thông qua việc kết nối hàng loạt biến cố gây chấn động thành một chuỗi sự kiện phản ánh xu thế phát triển tất yếu, cuốn sách chỉ ra con đường trưởng thành của lực lượng phát triển chủ lực của Trung Quốc hiện đại, từ chỗ là lực lượng bị coi thường, bị khinh rẻ, từng có thời bị “truy sát” và “tận diệt”, trở thành lực lượng dẫn dắt phát triển kinh tế, quyết định vận mệnh hiện đại của dân tộc Trung Hoa.   Như một định mệnh, lịch sử hình thành tầng lớp doanh nhân Trung Quốc hiện đại gắn chặt với quá trình – cũng là lột xác, thay da đổi thịt – của một “nhân vật” khác, có tầm quan trọng quyết định số phận cải cách. Đó là Nhà nước.   Cũng như tầng lớp doanh nhân, Nhà nước Trung Quốc cũng phải vật lộn với sóng gió cải cách trong suốt 30 năm, thậm chí còn ở một cấp độ khốc liệt cao hơn. Khốc liệt hơn vì lẽ để thực hiện được sứ mệnh cải cách, trước hết, Nhà nước phải “vật lộn” với chính mình, phải tự đoạn tuyệt với những tín điều tư tưởng và ý thức hệ vốn là lẽ sống, là tôn chỉ và mục đích hành động một thời, phải vượt bỏ những giáo điều và cơ chế cũ đã ngấm vào máu thịt để đưa ra những quyết sách cải cách đau đớn và chứa đựng nhiều rủi ro.   Tuy chỉ là “nhân vật thứ hai” trong cuốn sách, song cách thức mà Nhà nước tác động vào tiến trình cải cách – với tư cách là người chủ xướng, người tổ chức và dẫn dắt – được tác giả dựng nên cho thấy vai trò quyết định của nó đối với tiến trình cải cách. Tại mỗi thời điểm mang tính bước ngoặt, khi tinh thần cải cách có dấu hiệu “lung lay”, “dao động”, “chệch hướng thị trường” thì Nhà nước, thông qua những nhà lãnh đạo cụ thể – như Đặng Tiểu Bình, Chu Dung Cơ, v.v… luôn kịp thời đưa ra các quyết sách có ý nghĩa đột phá mở đường, khai thông ách tắc trên cơ sở kiên định đường lối cải cách thị trường – mở cửa. Nhờ đó, khôi phục và giữ được lòng tin của thị trường, của doanh nghiệp, bảo đảm cho công cuộc cải cách không bị lạc hướng hoặc trở lại quỹ đạo cơ chế cũ. Bảo vệ được tính triệt để và nhất quán của công cuộc cải cách, như kinh nghiệm quốc tế cho thấy, là không dễ dàng. Nó có được chủ yếu là nhờ sự thấu hiểu tính thống nhất sống còn, sự phụ thuộc máu thịt giữa vận mệnh quốc gia – dân tộc với sự phát triển của thị trường và của lực lượng doanh nghiệp trong thời hiện đại.   Hai tuyến nhân vật chính của cải cách – Chính quyền và Doanh nhân  – trong 30 năm sóng gió, có số phận “quyện” vào nhau, tranh đấu với nhau, cải cách lẫn nhau. Nhưng rất may mắn, trong cuộc vật lộn lộn và đấu tranh này, cả hai “đối thủ” đều chung một nhiệm vụ – cùng đấu tranh không khoan nhượng với cơ chế cũ, đều hướng tới một mục tiêu: chấn hưng dân tộc. Điều đó giải thích tại sao cải cách kinh tế ở Trung Quốc vẫn tiến lên với một tốc độ phi thường, cho dù đứng về số phận cá nhân, trong nhiều trường hợp, cuộc đấu là không khoan nhượng, gây ra nhiều bi kịch, thậm chí, trả giá bằng sinh mạng của những người ưu tú.   Một trong những yếu tố gây ấn tượng mạnh nhất và hàm chứa nhiều gợi ý hành động nhất của cuốn 30 năm sóng gió là cách trình bày tiến trình cải cách dưới dạng một chuỗi liên tục các sự kiện mang tính đột phá. Trục của sự đột phá là thể chế và chính sách, với hai “nhân vật” chủ chốt phối hợp với nhau là doanh nhân và nhà lãnh đạo.   Cách liên kết chuỗi đột phá cải cách làm cho người ta hình dung được sức mạnh lan tỏa của cải cách, tính lãng mạn và hào hùng của hành động mở đường của những người dám đi tiên phong đương đầu với bão tố. Nó cũng giúp cho thấy rõ hơn giá trị của các quyết sách chiến lược, thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của lãnh tụ tại những thời điểm sóng gió, đầy rủi ro kinh tế – chính trị. Logic “dò đá qua sông”, cộng với tinh thần khuyến khích sáng tạo và đổi mới là bà đỡ thực sự của các thử nghiệm cải cách táo bạo mà chủ thể thực hiện là các doanh nhân. Như một học giả nước ngoài – James Kynge – trong tác phẩm China shakes the World: the Rise of a Hungry Nation (Trung Quốc lay chuyển thế giới: Sự trỗi dậy của một quốc gia nghèo đói), đã nhận định về nét đặc sắc của quá trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc (đã được trích dẫn trong cuốn sách), đại ý là sự kết hợp của quá trình thúc đẩy của các lực lượng và nhu cầu từ dưới lên và cách thức cải cách chính sách từ trên xuống. Chính nhờ đó, dù bị vùi dập bởi thiên kiến và bởi cuộc đấu đá khốc liệt giữa các phe nhóm lợi ích, cải cách vẫn tiến lên, ổn định, vững chắc và mạnh mẽ.  Đây là một cuốn sách có giá trị, tuy nhiên nó cũng có những điểm chưa toàn diện. Cuốn sách chủ yếu bàn về lịch sử cải cách giới doanh nhân, về sự ra đời, trỗi dậy, trưởng thành chỉ của một lực lượng cải cách. Người ta ít thấy thật rõ bóng dáng của nhân dân, của người lao động – tuy không dẫn dắt nhưng là lực lượng chủ yếu tạo nên sức mạnh của công cuộc cải cách và phát triển ở Trung Quốc trong 30 năm qua.   Cách viết liệt kê các hoạt động đột phá do các cá nhân thực hiện làm cho cuốn sách mang hơi hướng “anh hùng ca”. Vì thế không khí hào hùng, lạc quan bao phủ cả cuốn sách, trùm lên cả những câu chuyện và số phận mang tính bi kịch. Nhưng cũng vì thế, nó không thể – và có lẽ đây là chủ ý của tác giả – đề cập một cách khách quan và đầy đủ đến những thất bại và giá phải trả của công cuộc cải cách ở đất nước này.   Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng để có được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao 9-10% trường kỳ trong suốt mấy chục năm, Trung Quốc đã phải đánh đổi nhiều thứ, với giá cả không hề rẻ. Môi trường thiên nhiên bị tàn hại; phân hóa kinh tế và xã hội sâu sắc; bất bình trong xã hội, đặc biệt là trong nông thôn – nông dân, gia tăng. Đó là chưa kể đến những rủi ro phát triển và những tệ nạn sản sinh từ quá trình tăng trưởng tốc độ cao rất khó kiểm soát này – nạn tham nhũng trầm trọng, tình trạng hàng giả, hàng chứa chất độc hại lan tràn, thói vô trách nhiệm trước sinh mạng con người, v.v… Đó cũng là những sản phẩm của cải cách, là mặt bên kia của đồng tiền.  Để nhận diện đầy đủ và sâu sắc khía cạnh đó của công cuộc cải cách ở Trung Quốc, phải tìm đọc thêm những cuốn sách khác nhưng cuốn sách đồ sộ 30 năm sóng gió của học giả Ngô Hiểu Ba có sứ mệnh riêng của mình. Và hơn 1.000 trang sách đã hoàn thành sứ mệnh đó.   —  (*) Tác giả: Ngô Hiểu Ba, NXB Lao động và Alpha Books ấn hành tháng 10/2011,; số trang: 1.087; Giá bìa: 249,000  VNĐ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chăn nuôi bò sữa theo quy trình công nghệ cao của Israel      Kể từ khi đưa vào hoạt động vào năm 2013, Dự án Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao (DDEF) tại huyện Bình Chánh, TPHCM đã đạt được những hiệu quả đáng mừng như tăng năng suất, thu hút sự tham gia của nhiều hộ nông dân.      Đây là dự án nằm trong khuôn khổ Chương trình hợp tác kỹ thuật giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TPHCM và Cơ quan Hợp tác quốc tế Bộ Ngoại giao Israel (MASHAV). Tổng kinh phí dự án là hơn 70 tỷ đồng, trong đó ngân sách TPHCM đóng góp hơn 50 tỷ đồng, còn lại là vốn ODA của Israel.   Được chính thức đưa vào sử dụng vào năm 2013, dự án gồm 13 gói thầu nằm trên diện tích gần 10 ha, trong đó diện tích phục vụ xây dựng chuồng trại gần bốn ha và khu vực trồng cỏ phục vụ chăn nuôi là sáu ha.   Với sự hỗ trợ của Israel, hệ thống các thiết bị và quy trình, công nghệ chăn nuôi được sử dụng tại DDEF đều hết sức hiện đại nhằm góp phần nâng cao công tác quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, năng suất sữa, khả năng sinh trưởng, sinh sản của đàn bò… Các hoạt động nuôi dưỡng, quản lý sức khỏe, khả năng sinh sản, năng suất sữa của từng cá thể được theo dõi thông qua những con chip gắn trên bò. Bên cạnh đó, đàn bò còn được tắm và làm mát định kỳ mỗi ngày bằng quạt và béc phun có cài đặt sẵn chế độ phù hợp với đặc điểm từng thời kỳ sinh trưởng. Khẩu phần thức ăn cho từng nhóm bò sữa được kiểm soát bằng máy trộn TMR.  Mục tiêu cụ thể của dự án là góp phần nâng cao năng suất sữa của bò sữa tới 8.000 kg/con/năm, giảm chi phí sản xuất; tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ và nhân rộng công nghệ mới về chăn nuôi, sản xuất thức ăn hoàn chỉnh; xây dựng, hoàn thiện DDEF, ứng dụng đồng bộ các kỹ thuật hiện đại trong chăn nuôi, quản lý, dinh dưỡng, thú y… của Israel trong chăn nuôi bò sữa cao sản; tổ chức trình diễn, đào tạo, huấn luyện và chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý cho người chăn nuôi trên địa bàn thành phố và các tỉnh.  Trong buổi làm việc với ông Ilan Fluss, Phó Giám đốc MASHAV về hoạt động của Dự án Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao tại TPHCM vào ngày 14/7, ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch UBND TPHCM cho biết, nông nghiệp công nghệ cao là lĩnh vực mà TPHCM đang chú trọng phát triển. Một trong những tín hiệu đáng mừng là sau hai năm thực hiện, Dự án đã nhận được hỗ trợ về vốn và chuyên gia của Israel và đạt được hiệu quả bước đầu như năng suất tăng so với trước,  thu hút sự tham gia của nhiều hộ nông dân.  Dự kiến trong thời gian tới, một số chuyên gia của TPHCM sẽ sang Israel tìm hiểu, học tập kinh nghiệm tại các trang trại nông nghiệp công nghệ cao nước này.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấp nhận cạnh tranh      Trong số các dự án, đề tài nghiên cứu ứng dụng được tiến hành gần đây tại Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam, mọi người hay nhắc tới Dự án “Thử nghiệm công nghệ oxy hóa metanol thành formaldehyt”, tiến hành trong giai đoạn 2005-2008. Nhờ bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của một số dự án tiến hành trước đó ở Viện, cùng với quyết tâm “chấp nhận cạnh tranh” với sản phẩm ngoại nhập, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã thành công trong việc tạo ra một sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, đem lại hiệu quả kinh tế thực sự.               Tạo ra sản phẩm có ích cho thị trường       Trong buổi làm việc với chúng tôi, bà Đỗ Thanh Thùy, Trưởng phòng Kế hoạch của Viện Hóa học Việt Nam giới thiệu nhiều dự án thành công của Viện, nhưng một trong những thành công gần đây nhất là Dự án sản xuất formalin, công suất 10.000 tấn/ năm được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí từ Bộ Khoa học và Công nghệ (formalin là tên thương mại của dung dịch chứa 37% formaldehyt).       Tiếp chúng tôi tại cơ sở 2 của Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam, nằm tại Cầu Diễn, Hà Nội, ông Phương Kỳ Công, Giám đốc Trung tâm Xây dựng và Phát triển Dự án sản xuất Formalin cho biết: “Dự án formalin thực chất phôi thai từ một dự án thử nghiệm (pilot) nằm trong khuôn khổ của Dự án Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về lọc và hóa dầu”. Mục tiêu ban đầu của dự án lúc đó là xây dựng một dây chuyền pilot để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ ngành hóa dầu và ứng dụng các sản phẩm hóa dầu.    Công nhân bảo dưỡng máy chủ của hệ thống  Trong số các sản phẩm này, các nhà nghiên cứu chú ý tới formalin, một chế phẩm quan trọng trong hoá học hữu cơ đi từ dẫn xuất của dầu mỏ và là một sản phẩm được sử dụng rộng rãi không chỉ trong lĩnh vực hóa chất, mà trong nhiều ngành kinh tế khác. Ông Công cho biết: Dự án này do đó phải có qui trình thử nghiệm cẩn thận, bài bản: từ thẩm định về trang thiết bị, tới công nghệ rồi tính toán tới lợi ích kinh tế – xã hội và tác động tới môi trường…        Thành công của các dự án trước đó, thí dụ như sản xuất thuốc tuyển quặng apatit, cùng các công nghệ do các thế hệ nhà nghiên cứu đàn anh của Viện tạo ra là nền móng quan trọng để dự án formalin được triển khai thuận lợi. Hơn thế nữa, theo tính toán của các nhà nghiên cứu của Viện, vào thời điểm đưa ra dự án, Việt Nam hoàn toàn chưa có bất cứ cơ sở nào sản xuất ra formalin. Các cơ sở trong nước có nhu cầu phải nhập khẩu formalin từ Trung Đông, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia…Trong khi đó, formalin được coi là một hoá chất cơ bản không thể thiếu trong nhiều ngành công nghiệp để chế tạo ra sơn, verni, keo dán gỗ, thuốc khử trùng, thuốc nhuộm…        Từ những năm 80, các nhà nghiên cứu của Viện Hóa học Công nghiệp đã nghiên cứu thành công công nghệ oxy hóa metanol, nhưng chỉ ở qui mô rất nhỏ, công suất khoảng 100tấn/năm mang tính thử nghiệm”, ông Công cho biết.       Tháng 6/2008, dây chuyền thiết bị sản xuất thử nghiệm formalin được lắp đặt xong và thử nghiệm từng cụm riêng biệt, trước khi tiến hành liên động tổng thể. “Những thiết bị chính chúng tôi nhập từ Trung Quốc vì giá thành của họ rất hợp lý, một số thiết bị khác chúng tôi đặt hàng chế tạo trong nước”, ông Công nói. Thế là thay vì nhập một dây chuyền chìa khóa trao tay, cũng từ Trung Quốc với giá khoảng 4-5 triệu USD (khoảng 100 tỉ đồng), các cán bộ của Viện đã hoàn thành một dây chuyền với tính năng tương tự, với chi phí nhỏ hơn rất nhiều lần. “Kinh phí đầu tư của Nhà nước cho chúng tôi chỉ khoảng 6-7 tỉ đồng, Viện đầu tư thêm một khoản gấp 2-3 lần như thế thì mới ra được sản phẩm”, ông Công cho biết. Mặc dù thành công ban đầu, nhưng những khó khăn trong giai đoạn lắp đặt dây chuyền vẫn còn nhiều. “Chúng tôi mua thiết bị riêng lẻ nhưng không có thiết kế tổng thể, do đó anh em phải mày mò rất nhiều mới ra được. Riêng về hệ thống điều khiển tự động, chúng tôi phải mời chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn, giúp đỡ”, ông Công kể tiếp.       Đến tháng 9/2008, toàn bộ dây chuyền được chạy thử nghiệm để đánh giá và hiệu chỉnh các thông số công nghệ cũng như năng lực sản xuất và công việc hoàn thiện công nghệ được tiếp tục từ lúc đó sang tới đầu năm 2009 với lượng sản phẩm là trên 4.000 tấn.       Đánh giá về kết quả của dự án thử nghiệm, ông Công nhận xét: “Mục tiêu xây dựng một dây chuyền công nghiệp để sản xuất ra sản phẩm formalin một cách hoàn chỉnh đã hoàn thành. Sản phẩm này lại có nhiều tiềm năng, có hàm lượng công nghệ cao và đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội nhất định”.              Bài học thành công       Giám đốc Phương Kỳ Công, vốn được đào tạo tiến sĩ chuyên ngành hóa vô cơ ở Tiệp Khắc cũ có vẻ dè dặt khi đề cập đến hiệu quả của các dự án nghiên cứu ứng dụng trong nước, nhưng lại sẵn sàng chia sẻ nguyên nhân thành công của dự án mà ông chịu trách nhiệm.  “Theo tôi, một dự án nghiên cứu ứng dụng muốn thành công phải chọn ra được những sản phẩm cụ thể. Các sản phẩm này càng có hàm lượng công nghệ cao càng tốt và phải đi vào được cuộc sống. Hướng nghiên cứu ra các sản phẩm “hoa hòe, hoa sói” khó có thể tồn tại và sẽ không được thị trường chấp nhận”, ông nói.       Tiến sĩ Công cũng thừa nhận: ngay trong Viện Hóa học Công nghiệp cũng từng có những dự án, đề tài thất bại, thí dụ như dự án sản xuất chất xử lý nước TCCA, một sản phẩm hóa chất xử lý nước cao cấp được triển khai trong những năm 2006-2007. Dự án này chỉ được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà không triển khai ra thị trường được.       Đối với kinh phí từ nguồn Nhà nước, tiến sĩ Công cũng cho rằng “cực kỳ quan trọng”, bởi đây được coi là “chất xúc tác” để tiến hành các dự án nghiên cứu ứng dụng. “Mặc dù trong một số trường hợp, kinh phí Nhà nước chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong toàn bộ chi phí nghiên cứu nhưng nó lại tạo ra tính pháp lý và động cơ để các nhà nghiên cứu phấn đấu, làm việc”, ông nói.       Trong trường hợp của dự án sản xuất formalin, ông Công cho biết kết quả thu được không chỉ ở việc chúng ta làm chủ được công nghệ sản xuất một sản phẩm hóa học hoàn toàn mới, thay thế hàng nhập khẩu với giá cạnh tranh cao (rẻ hơn 20-30% hàng nhập khẩu), mà còn tạo ra công ăn việc làm, tạo ra lợi nhuận.       Lúc đầu khi đưa ý tưởng ra bàn bạc, vẫn theo tiến sĩ Công, ngay trọng Viện cũng có nhiều ý kiến phản biện. Nhiều người lo rằng liệu khi sản phẩm formalin ra đời có cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc, vốn đã tràn ngập thị trường với giá thành khá rẻ. Nhưng với quyết tâm của lãnh đạo Viện và với tinh thần chấp nhận cạnh tranh, dự án đã được tiến hành triển khai. “Với xu hướng hội nhập, mình không thể “một mình một ngựa“ mãi được”, ông nói.       Từ thành công của dự án nói trên, vào năm ngoái, Viện Hóa học Công nghiệp lại tiếp tục đệ trình một dự án sản xuất thử nghiệm mới với tên: “Hoàn thiện công nghệ sản xuất formaldehyt công suất 10.000 tấn năm từ quá trình oxy hóa metanol trên xúc tác Bạc”. Đây thực ra là bước tiếp nối cho dự án lắp đặt dây chuyền thử nghiệm, tiến tới hình thành một nhà máy sản xuất formalin theo qui trình công nghiệp tại Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam. Dự án sản xuất thử nghiệm được tiến hành trong vòng 18 tháng (từ tháng 12/2009 đến tháng 6/2011) với tổng vốn là 33,5 tỉ đồng. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thông qua dự án và cung cấp 8,8 tỉ đồng, phần còn lại (gần 25 tỉ đồng) do Viện đầu tư. Dự kiến, kinh phí thu hồi sẽ vào khoảng 6,13 tỉ đồng, bằng 70% kinh phí hỗ trợ từ ngân sách sự nghiệp khoa học.       Theo tính toán của các nhà nghiên cứu của Viện Hóa học Công nghiệp, thị trường tiêu thụ formalin của cả nước vào khoảng 50.000 tấn formalin/năm, riêng thị trường phía Bắc khoảng 20.000 tấn/năm. Triển khai dự án sản xuất formalin trong nước sẽ đảm bảo cung cấp ổn định sản phẩm này cho thị trường với giá thành cạnh tranh, chất lượng tương đương với hóa chất nhập khẩu và tiến tới thỏa mãn toàn bộ nhu cầu của thị trường trong nước. Ngoài ra, từ kết quả và kinh nghiệm sản xuất, Viện Hóa học Công nghiệp dự kiến sẽ tiến hành các hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ hoặc liên doanh liên kết thành lập doanh nghiệp để sản xuất formalin và các dẫn xuất của nó. “Cho đến giờ này, theo thông tin của chúng tôi đã có hai liên doanh nước ngoài tại miền Nam xây dựng nhà máy sản xuất formalin cung cấp cho thị trường trong đó. Điều này chứng tỏ rằng thị trường formalin trong nước vẫn còn khá nhiều tiềm năng”, ông Công kết luận.           Trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, Viện Hóa học Công nghiệp  đã nổi danh với những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường như  bột giặt Con Mèo, dầu mỡ bôi trơn… Thời gian gần đây, các cán bộ nghiên  cứu của Viện đã nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất, phục vụ thị  trường gần đây thì nhiều, như thuốc tuyển VH-2000, cung cấp cho Công ty  TNHH một thành viên Apatit Lào Cai; sản phẩm formalin (37% CH2O) thay  thế cho hàng nhập khẩu và sản phẩm VHCKK (chất chống kết dính phân đạm),  phục vụ cho các nhà máy sản xuất phân bón; dầu phanh VH 3-2; các chất  extract (TTVL); Gluconat các loại; Dextran Fe…Viện hiện đang có dự án  sản xuất Biodiesel hợp tác với Hàn Quốc nhằm đưa vào sản xuất dây chuyền  B100 công suất 200 tấn/năm. Ngoài ra, Viện cũng cung cấp các dịch vụ  hợp đồng, phân tích, đánh giá tác động môi trường mang lại hiệu quả kinh  tế cao… Doanh thu sản xuất thử, thử nghiệm và hợp đồng kinh tế triển  khai trong năm 2009 đạt hơn 64,2 tỉ đồng (tăng 10% so với năm 2008)  trong đó doanh thu từ hợp đồng kinh tế kỹ thuật và hợp đồng dịch vụ là  14,7 tỉ đồng. Năm 2010, Viện đặt mục tiêu doanh thu triển khai và sản  xuất thử nghiệm là 75,9 tỉ đồng (tăng 18% so với 2009) và thực hiện các  nhiệm vụ khoa học và công nghệ với kinh phí khoảng 28 tỉ đồng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất lượng không khí trong đại dịch phụ thuộc vào thời tiết, không chỉ vào lệnh cấm đi lại      Những tuyên bố đáng chú ý về lệnh đóng cửa các thành phố do COVID làm giảm một cách đáng kể ô nhiễm, chủ yếu liên quan đến nitơ đioxit – một chất khí phát thải từ việc đốt nhiên liệu. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn chưa có nhiều hiểu biết về cách lệnh đóng cửa ảnh hưởng đến PM2.5, hạt bụi có thể xâm nhập vào phổi con người, dẫn đến những vấn đề về sức khỏe, bao gồm rủi ro ung thư và đau tim.      “Bụi PM2.5 là yếu tố quyết định đến môi trường toàn cầu hàng đầu trong dài hạn. Nó là một vấn đề lo ngại về ô nhiễm tác động đến sức khỏe”, Randall Martin, giáo sư Raymond R. Tucker của Khoa năng lượng, môi trường và kỹ thuật hóa học trường Kỹ thuật McKelvey tại trường đại học ở St. Louis.  Nghiên cứu mới từ phòng thí nghiệm của Martin là sự hợp tác với Trung tâm bay vào không gian Goddard, Viện Công nghệ California và trường đại học Dalhousie tại Nova Scotia, vẽ bản đồ các mức bụi PM2.5 khắp Trung Quốc, châu Âu và Bắc Mĩ. Sử dụng dữ liệu vệ tinh, kết quả trạm quan sát trên mặt đất và một hệ mô phỏng máy tính đầy sáng tạo, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm thấy những thay đổi rất nhỏ về PM2.5 – với một ngoại lệ.  Những thay đổi chính mà họ tìm thấy không do lệnh cấm đi lại tác động mà do sự biến đổi tự nhiên của khí tượng. Kết quả nghiên cứu của họ được xuất bản trên Science Advances “Effects of COVID-19 lockdowns on fine particulate matter concentrations” (Những tác động của lệnh đóng cửa COVID-19 lên các nồng độ bụi mịn).  Những tác động của điều kiện khí tượng mà chúng ta trải qua hàng ngày ảnh hưởng đến sự biến đổi của PM2.5, Martin nói.  “Trong khoảng thời gian ngắn hơn thì bụi PM2.5 càng phụ thuộc vào điều kiện khí tượng”.  Trong suốt thời kỳ đại dịch, giữa những hình ảnh các phòng cấp cứu quá tải và những sạp hàng tạp hóa trống rỗng, chỉ có một vài bức mang gam màu tươi sáng: những bức ảnh liên quan đến những bài báo về chất lượng không khí được cải thiện bởi mọi người đều ở nhà, không ra đường phố.  Những bức ảnh nổi bật – cả trên bầu trời xanh tỏa sáng và vũ trụ – dữ liệu từ các vệ tinh của NASA cho thấy bầu khí quyển trong hơn nhờ việc giảm đi lượng nitơ đioxit (NO2).  “Mọi người thường bắt đầu tự hỏi ‘bức tranh PM2.5 là gì?”, Melanie Hammer, một nhà nghiên cứu có hợp tác với phòng thí nghiệm của Martin nói. Đây là một câu hỏi rõ ràng bởi các hạt bụi thường không chỉ có cùng nhiều nguồn phát thải với NO2 mà còn do NO2 có thể tham gia vào việc hình thành PM2.5.  “NO2 được coi là một nguồn thứ cấp của PM2.5”, Hammer nói. Được phát thải từ nguồn phát, NO2 tương tác với những hóa chất khác trong khí quyển và có thể hình thành PM2.5. Một vài nghiên cứu ban đầu nhin vào dữ liệu thu thập được từ các trạm quan trắc mặt đất, vốn theo dõi chất lượng không khí xung quanh nhưng những địa điểm như vậy còn quá ít và đặt ở cách xa nhau, do đó không đủ khả năng để ghép lại thành một bức tranh lớn.  Chỉ có một phần dân số thế giới sống trong các quốc gia có hơn ba trạm quan trắc bụi PM2.5 trên một triệu người. Phần lớn con người sống ở những khu vực không có các trạm quan trắc.  “Chúng tôi quyết định xem lại một lần nữa, sử dụng một bức tranh toàn diện hơn từ các bức ảnh vệ tinh”, Hammer nói. Những bức ảnh do  NASA cung cấp, bao gồm dữ liệu của các cột khí quyển kéo dài trên mặt đất đến rìa vũ trụ. Dữ liệu đó, tham chiếu đến độ sâu quang học của sol khí, liên quan đến các nồng độ bề mặt PM2.5 sử dụng mô hình vận chuyển hóa học GEOS-Chem, vốn dùng để mô phỏng thành phần của khí quyển; những tương tác và những liên kệ của những thành phần khác nhau của nó; và cách chúng chuyển động trong không khí.  Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào ba vùng đã có hệ thống trạm quan trắc mặt đất tốt như Bắc Mĩ, châu Âu và Trung Quốc rồi so sánh những ước tính theo tháng của PM2.5 từ tháng giêng đến tháng tư các năm 2018, 2019 và 2020.    Không có nhiều dấu hiệu chênh lệch rõ ràng ở Bắc Mĩ và châu Âu khi họ so sánh các mức PM2.5 trong ba năm này với các tháng trùng khớp với những giai đoạn cấm đi lại trong từng vùng. Tuy nhiên “chúng tôi tìm thấy những tín hiệu rõ ràng nhất là sự suy giảm một cách đáng kể nồng độ PM2.5 khắp bình nguyên Hoa Bắc, nơi có những lệnh cấm đi lại triệt để nhất”, bà cho biết.  Để xác định liệu lệnh cấm đi lại có liên quan đến dấu hiệu này không, nhóm nghiên cứu đã chạy “các mô phỏng nhạy nhất” sử dụng mô hình GEOS-Chem, thay đổi các tham số để tìm kịch bản khớp nhất với thực tại.  Họ mô phỏng một kịch bản nơi các ô nhiễm ổn định và các điều kiện khí tượng là nguyên nhân gây ra những thay đổi theo năm với hạt bụi  PM2.5. “Chúng tôi thấy khả năng giải thích một phần lớn sự khác biệt mà chúng tôi đã thấy”, Hammer nói. Họ chạy một mô phỏng trong đó giảm thiểu các ô nhiễm liên quan đến vận tải và những nguồn phát thải NO2 do người tạo ra, phản chiếu thời kỳ cấm đi lại, khi chỉ có một lượng ít người lái xe trên đường và còn ít hơn các địa điểm sản xuất được vận hành. “Thực sự cả hai yếu tố này không thể giải thích được gì nhiều”, Hammer nói. Nhưng kết hợp cả hai lại thì “tín hiệu về đồng bằng Hoa Bắc lại nổi bật”.  Hammer nghi ngờ sự thay đổi của các mức PM 2.5 ở đồng bằng Hoa bắc là rất đáng chú ý bởi xu hướng ô nhiễm ngay cả trong thời kỳ “bình thường”. Theo một cách nào đó thì nó nhấn mạnh vào điểm: các mức PM 2.5 trung bình đã giảm một cách đều đặn ở Bắc Mĩ và châu Âu.  Tuy nhiên, mối quan hệ giữa NO2 và PM 2.5 cũng rất phức tạp. Dẫu NO2 tương tác với những chất trong bầu khí quyển khác để hình thành PM 2.5 nhưng cả hai không có mối quan hệ tuyến tính; gấp đôi lượng NO2 trong khí quyển không nhất thiết dẫn đến gấp đôi lượng PM 2.5. Hammer cho biết, bằng trực giác, bà không chờ đợi thấy nhiều sự duy giảm nồng độ  PM 2.5. “Đây là một mối quan hệ phức tạp hay ho và nó không luôn luôn hành xử như cách mà anh có thể chờ đợi”.  Thanh Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-pandemic-air-quality-due-weather.html  https://phys.org/news/2021-06-local-lockdowns-brought-fast-global.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất mới hỗ trợ quá trình chế tạo hạt Selen dạng nano      Quá trình chế tạo hạt Selen dạng nano – một nguyên tố vi lượng hỗ trợ cho các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch hay điều trị ung thư – đòi hỏi phải sử dụng chất ổn định để tránh sự kết cụm, làm gia tăng kích thước hạt, cũng như kéo dài thời gian bảo quản. β-glucan từ bã nấm men bia là một ứng viên tiềm năng.    Selen (Se) là một trong những nguyên tố vi lượng quan trọng trong quá trình chuyển hóa dinh dưỡng trên người và động vật, giúp tăng cường khả năng sinh trưởng, phát triển, chống các tác nhân oxy hóa và đặc biệt là tăng cường hệ miễn dịch. Nếu thiếu hụt selen, có thể dẫn đến một số bệnh như tim mạch, thần kinh, giảm khả năng sinh trưởng, hoại tử gan, ung thư,… Selen dạng nano (SeNPs) có tính khả dụng sinh học cao và độc tính thấp hơn các dạng Se vô cơ, hữu cơ.    Hiện nay, có nhiều phương pháp chế tạo SeNPs như hóa học, sinh học,… Tuy nhiên, các phương pháp này đều có nhược điểm là các chất khử còn tồn dư trong sản phẩm sau khi khử, hiệu suất tạo hạt nano thấp, thời gian bảo quản không cao, khó áp dụng ở quy mô công nghiệp. Trong khi đó, chiếu xạ là phương pháp có thể khắc phục được những nhược điểm trên.        Quá trình chế tạo hạt SeNPs đòi hỏi phải sử dụng chất ổn định (thường là các polymer sinh học), để tránh sự kết cụm, làm gia tăng kích thước hạt, cũng như kéo dài thời gian bảo quản. β-glucan là một loại polysaccharide (đường đa) có nguồn gốc từ thành tế bào các loại vi khuẩn, nấm men và các loại ngũ cốc. β-glucan có tác dụng điều chỉnh phản ứng sinh học, giúp tăng cường hoạt động của các đại thực bào và kích thích tăng tiết nhiều cytokines (chất hoạt hóa tế bào) nhằm tiêu diệt các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài. Đồng thời, giúp giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, kích thích tiêu hóa, phòng các bệnh đường ruột, nhiễm trùng do vi khuẩn, virus, ngăn ngừa ung thư,… Vì vậy, β-glucan có thể được sử dụng làm chất ổn định trong bào chế SeNPs.    Hiện nay, trong nước và thế giới có rất ít các nghiên cứu chế tạo β-glucan và SeNPs/β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ. Trước thực tế đó, nhóm tác giả Trung tâm Công nghệ Sinh học TPHCM đã thực hiện đề tài “Ứng dụng bức xạ chế tạo nano selen ổn định trong β-glucan và xác định khả năng tăng cường miễn dịch của chế phẩm”.    Theo PGS.TS. Lê Quang Luân, Chủ nhiệm đề tài, trong bã nấm men bia thì β-glucan là thành phần chính, không tan trong kiềm, có nhiều thuận lợi cho việc tách chiết và tinh sạch β-glucan. Mặt khác, xử lý bằng kiềm trong điều kiện thích hợp có thể thu được phần lớn cấu trúc 3 chiều của thành tế bào. Nhờ vậy, β-glucan trong thành tế bào không bị biến đổi về cấu trúc không gian, vẫn giữ đặc tính sinh học sau khi thu nhận.    Theo đó, bã nấm men bia được nhóm tác giả thu mua từ Nhà máy bia Bạch Đằng (TPHCM), xử lý tạo ra thành tế bào nấm men. β-glucan sau khi tách chiết từ thành tế bào nấm men, được nhóm tiến hành chế tạo β-glucan có khối lượng phân tử thấp (Mw) ~ 25 kDa bằng phương pháp chiếu xạ. Kết quả, thu được β-glucan tan trong nước có đặc trưng, cấu trúc không thay đổi so với β-glucan ban đầu, sử dụng làm chất ổn định trong chế tạo dung dịch SeNPs. Chế phẩm SeNPs/β-glucan cũng được sản xuất bằng phương pháp chiếu xạ ở dạng dung dịch keo, có nồng độ selen đạt 80ppm và kích thước hạt 92nm.    Thử nghiệm cho thấy, chế phẩm ở nồng độ 20ppm, ức chế gần như hoàn toàn tế bào ung thư gan HepG2. Đồng thời, thể hiện hoạt tính tăng cường miễn dịch dịch thể trong máu ngoại vi ( bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho, tế bào B, tế bào bạch cầu CD4, IgG, IgM, IL-2, IFN-γ và TFN-α), trong tủy xương (WBC, bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho và tế bào bạch cầu CD34) và trong lách (chỉ số lách, IgG, IgM, IL-2, IFN-γ và TFN-α) ở chuột bị gây suy giảm miễn dịch bằng cytoxan. Cụ thể, chế phẩm cho uống ở liều 6 mg/kg thể trọng đã có tác dụng phục hồi các chỉ số miễn dịch gần tương đương so với chuột bình thường không gây suy giảm miễn dịch. Ngoài ra, chế phẩm SeNPs/β-glucan không gây độc tính cấp và an toàn ở chuột khi được thử nghiệm cho sử dụng.    Kết quả nghiên cứu cho thấy, chế phẩm SeNPs/β-glucan có tiềm năng ứng dụng hỗ trợ cho các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, cũng như phòng và chữa trị ung thư. Bên cạnh đó, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất ra các sản phẩm chống oxy hóa ứng dụng vào các lĩnh vực mỹ phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn bã nấm men bia để tạo chế phẩm SeNPs/β-glucan, không chỉ tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải, mà còn góp phần giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường.      Nguyễn Trang     Author                .        
__label__tiasang Châu Âu cấp giấy phép cho công nghệ VVER-TOI của Nga      Công nghệ lò phản ứng năng lượng VVER-TOI do Nga thiết kế – phát triển từ công nghệ VVER-1200, đã được Tổ chức Các yêu cầu hạ tầng kỹ thuật châu Âu (EUR) cấp giấy chứng nhận. Điều đó đồng nghĩa với việc mở ra cơ hội vươn ra thị trường thế giới của loại lò phản ứng này.      Atomenergoproekt, một công ty con của tập đoàn hạt nhân quốc gia Nga Rosatom, đã thông báo: lò phản ứng VVER-TOI (tối ưu hóa đặc thù với thông tin được tăng cường – typical optimised, with enhanced information) thiết kế năm 2010, được phát triển trên cơ sở các kết quả kỹ thuật của dự án VVER-1200. Thiết kế này đã được nâng cấp với thùng lò áp lực, gia tăng năng lực phát điện lên 3300 MWt và 1255 đến 1300 MWe (về danh nghĩa là 1300 MWe), có phần lõi lò phản ứng được cải thiện để tăng cường độ tin cậy trong việc làm mát với hệ thống an toàn thụ động có khả năng hoạt động tới 72 giờ mà không cần sự can thiệp của người vận hành sau khi dừng hoạt động, đồng thời có ưu điểm là các chi phí đầu tư xây dựng và vận hành thấp. Loại lò phản ứng này sẽ dử dụng một turbine phát điện với tốc độ thấp. Nó được xây dựng trong vòng 40 tháng.  Rosatom đã miêu tả công nghệ VVER-TOI như “sự phát triển mang tính logic” của công nghệ thế hệ 3+ và “một bước cách mạng” trong cải thiện thiết kế thùng lò của các nhà máy công suất lớn. Thiết kề này đem lại lớp vỏ nhiều chiều cho thùng lò, sử dụng các vật liệu hợp kim tiên tiến và sự tối ưu trong thiết kế các thiết bị sinh hơi. Nhìn chung, thiết kế này “đảm bảo tính hiệu quả trog đầu tư kinh phí với mức độ an toàn cao nhất của lò phản ứng”, Rosatom cho biết thêm.  Các chuyên gia châu Âu đã đưa ra một hồ sơ đánh giá chi tiết về thiết kế VVER-TOI và thông tin về dự án liên quan, dự án nhà máy điện hạt nhân Kursk II tại miền Tây Nga. Phân tích này bao gồm cả nghiên cứu về phần trả lời của Atomenergoproekt cho 4332 câu hỏi cơ bản về an toàn từ EUR, vốn bao trùm toàn bộ thông tin về nhà máy điện hạt nhân này. Và kết quả là, các chuyên gia châu Âu đã kết luận VVER-TOI đáp ứng được các quy chuẩn an toàn và hiệu quả về nhà máy điện hạt nhân của của châu Âu.  “Tôi có thể tuyên bố một cách chính xác là VVER-TOI đã vượt qua kỳ kiểm tra chuyên sâu và kỹ lưỡng bậc nhất, với đầy đủ yêu cầu đề ra của EUR,” Chủ tịch danh dự của EURG, ông uillaume Jacquard cho biết trong lễ công bố cấp phép tại St Petersburg ngày 15/6.  Các yêu cầu của EUR  bao trùm một dải rất rộng các điều kiện hoạt động của một nhà máy điện hạt nhân để có thể vận hành nó một cách hiệu quả và an toàn. Chúng bao gồm rất nhiều lĩnh vực như thiết kế nhà máy, các hệ thống vận hành, các vật liệu liên quan đến nguyên liệu hạt nhân, thùng lò…, các hợp phần, phương pháp đánh giá an toàn sác xuất… Dẫu vẫn còn cần có sự phê duyệt về thiết kế theo quy định ở từng quốc gia nhưng sự chấp thuận của EUR chỉ dấu là thiết kế của lò phản ứng theo công nghệ này đã đạt các tiêu chuẩn cho thế hệ tiếp theo của các lò phản ứng nước nhẹ (LWRs).  Việc kiểm tra và phê duyệt này của EUR đã được bắt đầu từ tháng 12/1991 với sự đồng thuận của các tổ chức châu Âu khi đưa ra một bộ chung về tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng châu Âu cho thế hệ tiếp theo của các nhà máy điện hạt nhân sử dụng lò phản ứng LWR. Nó được soạn theo tài liệu về tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng cho các lò phản ứng nước nhẹ tiên tiến cuar Viện nghiên cứu điện lực Mỹ. EUR hiện có 15 thành viên, trong đó có EDF của Pháp, Iberdrola của Tây Ban Nha, Rosenergoatom của Nga và TVO của Phần Lan.  Lò phản ứng đầu tiên của Nga được cấp giấy chứng nhận phù hợp với các quy định của EU là thiết kế VVER-1000 hệ an toàn bán thụ động tiên tiến AES-92, vào tháng 4/2007.  Ông Alexander Lokshin,  Phó tổng giám đốc thường trực bộ phận quản lý điều hành Rosatom, đánh giá: “Chúng tôi đã tạo ra VVER-TOI, nơi ứng dụng các giải pháp công nghệ mới làm gia tăng mức độ an toàn và tin cậy trong vận hành nhà máy điện hạt nhân. Chứng nhận của EUR ngày hôm nay là một xác nhận của việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế của công nghệ này”.  Rosatom cho rằng, việc nhận được chứng nhận của EUR cho thiết kế VVER-TOI sẽ “góp phần quảng bá các công nghệ hạt nhân Nga trên thị trường quốc tế”.  Lớp vỏ bê tông cho lò phản ứng số 1 của nhà máy điện hạt nhân Kursk !! đã được đúc vào tháng 4/2018 và lớp vỏ cho lò phản ứng số 2 vào tháng 4 năm nay. Các lò phản ứng ở Kursk II sẽ thay thế cho 4 lò phản ứng kiểu kênh công suất lớn (RBMK) do Nga thiết kế và xây dựng từ năm 1972 hiện vẫn còn được vận hành. Việc đưa chúng vào khai thác, vận hành sẽ được đồng bộ hóa với việc đóng cửa các lò phản ứng cũ Kursk 1 và 2, dự kiến sẽ bắt đầu từ năm 2022.  Thanh Phương dịch  Nguồn: http://www.world-nuclear-news.org/Articles/Russia-s-VVER-VOI-reactor-certified-by-European-ut    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu đặt cược 1 tỷ euro vào Sáng kiến lượng tử      Nghiên cứu và lắp đặt hai máy tính lượng tử có khả năng hoạt động ổn định – có thể là những máy tính lượng tử đầu tiên trên thế giới, nằm trong Sáng kiến nghiên cứu lượng tử do Ủy ban châu Âu tài trợ với tổng kinh phí 1 tỷ euro (1,1 tỷ USD).      Châu Âu tuyên bố cấp khoản kinh phí đầu tiên cho dự án Lượng tử vào ngày 29/10/2018 tại Vienna, Áo. Nguồn: Nature  Được công bố lần đầu tiên vào năm 2016, đến ngày 29/10/2018, EU mới chính thức thông báo đợt tài trợ đầu tiên cho dự án Lượng tử này: mộttập đoàn nghiên cứu quốc tế gồm 20 thành viên, trong đó có các viện nghiên cứu công cũng như viện nghiên cứu tư, sẽ được cấp 132 triệu euro trong vòng 3 năm cho các dự án thành phần.  Những nỗ lực này nhằm góp phần đưa châu Âuvào cuộc chạy đua toàn cầu nhằm đưa những nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm thành những ứng dụng thực tế như máy tính lượng tử hữu dụng, hứa hẹn khả năng thực hiện các nhiệm vụ như dự đoán phản ứng hóa học nhanh hơn máy tính thông thường theo cấp số nhân. Vào tháng 8/2018, chính phủ Đức mới công bố một sáng kiến nghiên cứu lượng tử trị giá 650 triệu euro.  Là kế hoạch trọng điểm thứ 3 của Ủy ban châu Âu, sau Não người (Human Brain) và Graphene được khởi động từ năm 2013, sáng kiến nàyđược thiết lập để hưởng ứng “Bản tuyên ngôn Lượng tử” do một nhóm chuyên gia viết.  Thông tin chi tiết và kêu gọi đề xuất công khai về sáng kiến này đã được nêu vào năm 2017. Kế hoạch tiên phong về lượng tử của châu Âu bao gồm 5 lĩnh vực: máy tính lượng tử; mô phỏng lượng tử; đo lường và cảm biến lượng tử; truyền thông lượng tử và khoa học lượng tử cơ bản. Phần lớn các nội dung này đều nằm trong đề xuất của tuyên ngôn lượng tử.  Máy tính lượng tử  Các khoản tài trợ để nghiên cứu máy tính lượng tử đã được cấp cho khối nghiên cứu quốc tế với hai cách tiếp cận hàng đầu về công nghệ lượng tử: mạch siêu dẫn và những ion có khả năng bẫy điện từ trong môi trường chân không.  Là đồng phụ trách dự án bẫy ion,Thomas Monz – nhà vật lý ở Đại học Innsbruck (Áo)cho rằng, mục tiêu của dự án là tạo ra một máy tính lượng tử bằngmột phương pháp tái lập – nếu chưa sản xuất đượchàng loạt – cách làm hiệu quả để tiến hành công việc mà không cần sự hỗ trợ thường xuyên của nhóm chuyên gia.  “Cho tới nay, chúng tôi đã chứng minh được các nguyên lý cơ bản. Nếu các ion này chỉ hoạt động trong 1 ngày hoặc 1 giờ thì mọi việc tương đối ổn”, Monz cho biết. Họ dự định thiết kế và lắp đặt 1 máy tính lượng tử có kích thước bằng 2 chiếc tủ lạnh gia đình – nhỏ hơn đáng kể so với những thiết bị hiện tại vốn có kích thước bằng cả căn phòng.  Trong lĩnh vực truyền thông lượng tử, khoản tài trợ được cấp cho Liên minh Internet lượng tử với 12 viện nghiên cứu và công ty trên khắp châu Âu nhằm phát triển một mạng lưới “viễn tải lượng tử” có khả năng truyền tin ở khoảng cách lục địa.  Nhà vật lý Immanuel Bloch ở đại học Ludwig Maximilian, tại Munich, Đức, thuộc nhánh nghiên cứu phụ trách 3 dự án thành phần – ở Paris, Innbruck và Munich – để cải tiến sự mô phỏng lượng tử, mỗi loại trên một hệ thống khác nhau. Các thiết bị mô phỏng này sử dụng một hệ thống lượng tử để tái lập trạng thái lượng tử của một hệ thống khác.  Các thiết bị này tương tự như máy tính lượng tử, nhưng đơn giản hơn – đặc biệt, chúng không nhạy cảm với sai số tính toán – do vậy có thể có những ứng dụng thực tế trong khoảng thời gian ngắn hơn. Trong các thiết bị này có cảmột “ưu thế lượng tử” – thực hiện các phép tính mà không máy tính thông thường nào có thể làm được. “Chúng tôi muốn sử dụng những nền tảng vô cùng tiên tiến này và chứng minh lợi thế của thiết bị lượng tử trong mô phỏng vật liệu và hóa học lượng tử”. Bloch cho biết.  Những khoản tài trợ cho chuỗi dự án khác cũng được công bố, tên mỗi dự án đều chứa một chữ “Q”, từ PhoQuS tới UNIQORN. Một số công nghệ trong các dự án được đề xuất có tiềm năng thương mại hóa cao như các đồng hồ nguyên tử xách tay siêu chính xác, các thiết bị có kích cỡ bằng con chipcó thể tạo ra các số ngẫu nhiên và có tiềm năng sử dụng trong các mạng lưới bảo mật.  Nhiều rủi ro   Khi tham gia Sáng kiến, phần lớn các phòng thí nghiệm sẽ khó có thể mua sắm được nhiều loại máy móc thiết bị hoặc tuyển dụng các nhà nghiên cứu: mặc dù 1 tỷ euro có vẻ nhiều nhưng lại được phân phối cho hàng chục phòng thí nghiệm trong suốt 10 năm. Thực tế EU chỉ cung cấp một nửa số tiền, phần còn lại thì các quốc gia thành viên đều phải tự chi trả.  Nhà vật lý Lieven Vandersypen ở Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan cho rằng dự án tiên phongnày có thể đầy tham vọng nhưng mạo hiểm và rủi ro, trong khi “chỉ có 20 triệu euro được đầu tư cho máy tính” trong vòng tài trợ này. Ông đang chủ trì sự án xây dựng máy tính lượng tử trên một chip silicon, hợp tác với công ty bán dẫn khổng lồ Intel của Mỹ.  Tuy nhiên, những người khác cho rằng lợi ích chính từ dự án này là buộc các tổ chức nghiên cứu hàn lâm và ngành công nghiệp phải đóng góp tri thức và nỗ lực của mình. “Đây sự khuyến khích chúng ta hợp tác trên quy mô toàn châu Âu”, Monz nhận xét.  Thậm chí với những tập đoàn lớn muốn nhảy vào lĩnh vực này cũng cần tới những chương trình đầu tư công lớn để có thể duy trì đội ngũ chuyên gia, Rodney Van Meter, một kỹ sư ở Đại học Keio, Tokyo, từng làm việc trong lĩnh vực CNTT truyền thống và lượng tử, cho biết. “Cần lập các chương trình đào tạo nhân lực về lượng tử trong các trường đại học để chuẩn bị cho nhu cầu tuyển dụng của Google và Intel trong tương lai.”  Cuộc chạy đua đến tương lai lượng tử  Các nước cấp vốn tài trợ, từ Canada cho tới Nhật Bản, cũng như các tập đoàn đang đặt cược vào những công nghệ lượng tử – một số công nghệ vẫn chưa được chứng minh về tính hữu dụng – có tiềm năng phát triển thành các thị trường trị giá hàng tỷ USD. Và châu Âu cũng muốn bảo đảm rằng sẽ thu được lợi nhuận trong tương lai, Tommaso Calarco, một trong số các tác giả của “Bản tuyên ngôn Lượng tử” và là một nhà vật lý lý thuyết ở Trung tâm Helmholt, Jülich, Đức, cho biết. Việc các công ty công nghệ lớn của Mỹ như Google và IBM tăng cường đầu tư vào lượng tử là “sự kích thích mạnh mẽ”khiến EUchọn vật lý lượng tử trở thành dự án tiên phong thứ ba.  Anh cũng trở thành một trong những nước đi tiên phong trong lĩnh vực này khi khởi động Chương trình Công nghệ lượng tử quốc gia trị giá 270 triệu  bảng. Trung Quốc là quốc gia vốn có nhiềuđầu tư trong lĩnh vực này, bao gồm cả vệ tinh truyền thông lượng tử, cũng được đồn đại là đang lên kế hoạch xây dựng một trung tâm nghiên cứu lượng tử trị giá hàng tỷ USD ở Hợp Phì.  Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Quốc hội đang xem xét một đề xuất đầu tư hơn 1,2 tỷ USD cho điện toán lượng tử.  Đức cam kết tài trợ 650 triệu euro cho nghiên cứu lượng tử – mức cao nhất trong dự án Flagship của EU và sẽ kéo dài qua năm 2022 – có nghĩa là, tiền dự án phân bổ cho Đức mỗi năm sẽ nhiều hơn so với các nước châu Âu khác thuộc dự án – mặc dù chi tiết vẫn chưa được quyết định, Bloch,  cố vấn chính phủ về chương trình này cho biết. Đặc biệt, hiện vẫn chưa rõ bao nhiêu trong số tiền 650 triệu euro đã được bỏ vào quỹ tài trợ.  Những dự án tiên phong trước đây của châu Âu – về vật liệu graphene và mô phỏng não bộ – đã bị chỉ trích, một phần vì họ đã cấp các khoản tài trợ không cạnh tranh. Các nhà tổ chức của dự án Flagship Lượng tử đã chủ ý đến điều này, Calarco cho biết. “Các khoản tài trợ được quyết định dựa trên những kêu gọi mở và được đánh giá bởi các cộng tác viên bên ngoài”.  Thanh An dịch    Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07216-0      Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu lập sáng kiến mới về AI để tránh nguy cơ tụt hậu      Một số nhà nghiên cứu về học máy ở châu Âu đã thiết lập “Phòng thí nghiệm về hệ thống trí tuệ và học máy châu Âu” (ELLIS) – một tổ chức nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao năng lực trong lĩnh vực này của châu Âu, và chấm dứt tình trạng chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp ở Mỹ và Trung Quốc.      Các nhà nghiên cứu châu Âu cùng ký vào sáng kiến ELLIS. Nguồn: Viện hệ thống trí tuệ Max Planck.    Nhu cầu thành lập tổ chức này lần đầu tiên được đề cập đến trong một bức thư ngỏ của gần 200 nhà nghiên cứu hồi tháng Tư. Bức thư cảnh báo rằng đầu tư và trình độ công nghệ AI ở châu Âu đang tụt hậu so với Bắc Mỹ và Trung Quốc.  Các nhà nghiên cứu đứng sau sáng kiến ELLIS lo ngại: không chỉ các trường đại học châu Âu mất các nhân tài về tay các doanh nghiệp Mỹ và Trung Quốc mà các doanh nghiệp châu Âu vẫn sử dụng AI như một lợi thế cạnh tranh cũng bị ảnh hưởng. “Nếu muốn giữ vững vị thế của mình, châu Âu cần phải có những dự án lớn. Nếu được tập hợp, chúng tôi sẽ có thể bước vào cuộc cạnh tranh của Mỹ và Trung Quốc”, Bernhard Schölkopf, giám đốc Viện Hệ thống trí tuệ Max Planck ở Tübingen, một trong những nhà khoa học đứng sau sáng kiến, nói.  Vì vậy, ELLIS sẽ thành lập một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, chương trình đào tạo tiến sĩ trên toàn châu Âu và liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp với kỳ vọng sẽ giữ chân các nhà nghiên cứu làm việc ở châu Âu thay vì chuyển sang Thung lũng Silicon hoặc những nơi khác. ELLIS sẽ giám sát việc tổ chức và xây dựng các cơ sở này.  Đúng thời điểm này, Hội đồng châu Âu tuyên bố thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng AI: các doanh nghiệp đối tác của EU sẽ đầu tư 4,4 tỷ euro cho nghiên cứu AI còn EU đầu tư 1 triệu euro hỗ trợ cho các startup về AI phát triển. Nicolò Cesa-Bianchi, giáo sư khoa học máy tính tại Đại học Milan, Ý, nhận xét: “Chúng tôi muốn tạo ra một hệ thống để khuyến khích các nhà nghiên cứu ở lại các học viện. Về lâu dài, việc để doanh nghiệp ‘thâu tóm’ các nghiên cứu về AI sẽ không có lợi vì doanh nghiệp không thể có những nghiên cứu cơ bản tốt như trong trường, viện”.  Tuy không có khoản nào dành cho ELLIS nhưng các nhà khoa học nói ít nhất ngành công nghiệp sẽ dành một số học bổng tiến sỹ về AI. Và cuối cùng, kế hoạch của EU sẽ giúp tạo nên một cấu trúc liên chính phủ – yếu tố quan trọng để ELLIS có được kết nối tốt hơn với các đối tác ngoài trường, viện.  Nhiều người lo ngại, trong cuộc chạy đua thúc đẩy AI, nhiều công ty công nghệ giàu có như Google hay Facebook sẽ thuê các nhà khoa học máy tính ở các trường ở châu Âu. Trước tình huống này, Bernhard Schölkopf ​​cho biết: “Chắc chắn điều này sẽ xảy ra – các công ty công nghệ lớn sẽ tìm cách thu hút nhân tài ở ELLIS. Trong trường hợp này, chúng tôi sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận tiện và hấp dẫn hơn ở Mỹ”. Cuộc chạy đua về AI có thể khiến tất cả các bên cùng có lợi. Thúc đẩy các công ty Mỹ đặt phòng thí nghiệm ở châu Âu cũng là một thành công, Schölkopf cho biết: “Chúng ta sẽ thua cuộc nếu tìm cách giấu nhân tài khỏi tầm mắt của các doanh nghiệp. Chúng ta cần hợp tác [với họ] và thúc đẩy họ thực hiện nhiều nghiên cứu và sử dụng phần mềm nguồn mở nhiều hơn”.  Sáng kiến ELLIS được công bố vào ngày 6/12 tại hội nghị về Hệ thống xử lý thông tin thần kinh (NeurIPS) ở Montreal, Canada – một trong những hội nghị thường niên của ngành AI – chủ trì bởi tổ chức khoa học đời sống EMBO, có hơn 1800 thành viên là các nhà khoa học, các quỹ nghiên cứu trên khắp châu Âu và có một phòng thí nghiệm hoạt động hiệu quả với 6 chi nhánh và có trụ sở tại Heidelberg, Đức.  Chưa có thông tin nào về tài trợ cho ELLIS, nhưng một số công ty như Audi, Bosch, Siemens, Amazon và Google đã cam kết tài trợ. ¨  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07730-1  https://sciencebusiness.net/news/new-artificial-intelligence-lab-aims-keep-top-minds-europe    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu: Sẽ đầu tư vào nghiên cứu về chỉnh sửa hệ gene trong nông nghiệp      Hội đồng châu Âu cho biết, EU sẽ coi kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR là công cụ để thúc đẩy ngành nông nghiệp và giảm bớt vết carbon về môi trường.      Tòa án Tòa án Công lý Châu Âu (ECJ) có quy định vào năm 2018 là việc chỉnh sửa hệ gene phải tuân thủ lệnh cấm năm 2001 của châu Âu về việc cấm sinh vật biến đổi gene (GMO).  Horizon Europe, chương trình đầu tư cho nghiên cứu lớn nhất châu Âu sẽ phân bổ năm triệu euro cho các dự án nhằm mục tiêu hiểu rõ hơn về lợi ích và rủi ro của việc áp dụng các kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene trong nông nghiệp trong hai năm tới, theo một bản dư thảo chương trình.  Hành động này nhằm hỗ trợ kế hoạch “Từ trang trại đến bàn ăn”, vốn được đặt ra để  Để đạt tới các mục tiêu đó, Hội đồng châu Âu cho rằng châu Âu cần “tăng cường các tiên tiến quan trọng trong ngành khoa học sự sống và công nghệ sinh học, trong các kỹ thuật hệ gene mới như kỹ thuật chỉnh sửa gene/hệ gene”.  Kế hoạch trị giá năm triệu euro được đặt ra sau khi các bộ trưởng Bộ Nông nghiệp châu Âu kêu gọi Hội đồng châu Âu tăng cường việc sử dụng “những thành phần mới và kỹ thuật mới” vào tháng 10 năm ngoái nhằm thúc đẩy việc sản xuất lương thực bền vững, khi chúng chứng tỏ an toàn với con người, động vật và môi trường. Kinh phí cho kế hoạch này mới chỉ mang tính chất gợi ý và Hội đồng châu Âu còn có thể tài trợ cho những đề xuất vượt ngoài khuôn khổ số tiền ban đầu này.  Vào tháng 10 năm ngoái, nhà khoa học Pháp Emmanuelle Charpentier, giám đốc Viện nghiên cứu Sinh học truyền nhiễm Max Planck ở Berlin, và đồng nghiệp là Jennifer Doudna, đã được trao giải thưởng Nobel Hóa học “vì đã phát triển một phương pháp chỉnh sửa hệ gene”.  Nhưng việc lai tạo giống cây trồng một cách chính xác với các kỹ thuật chỉnh sửa gene vẫn chưa được sử dụng ở châu Âu, theo một quy định vào năm 2018 của Tòa án Tòa án Công lý Châu Âu (ECJ) là việc chỉnh sửa hệ gene phải tuân thủ lệnh cấm năm 2001 của châu Âu về việc cấm sinh vật biến đổi gene (GMO).  Vào thời kỳ đầu hậu Brexit, tháng trước nước Anh đã thiết lập một cuộc bàn bạc trong giới công nghiệp về chỉnh sửa gene, khi cố gắng loại chỉnh sửa gene khỏi các quy định của châu Âu về GMO. Do còn phụ thuộc vào kết quả, sẽ cần đến một phiên tư vấn thứ hai về việc thay đổi định nghĩa về một sinh vật GMO. Chính phủ Anh coi các sinh vật được tạo ra bằng chỉnh sửa gene hoặc bằng các kỹ thuật di truyền khác không phải là GMO.  Việc đề xuất khoản kinh phí năm triệu euro cho nghiên cứu về chỉnh sửa gene là một phần nhỏ trong tổng số 1,83 tỉ euro trong năm 2021 và 2022 ở trụ cột thứ sáu về thực phẩm, các nguồn tự nhiên về kinh tế sinh học, nông nghiệp và môi trường của Horizon Europe, dự thảo chương trình đã tiết lộ vào tháng 12/2020 như vậy.  Hội đồng châu Âu đang chờ đợi công bố các chương trình chính thức với các con số tài trợ cuối cùng và những hạn định cho việc gửi hồ sơ đề xuất tài trợ vào cuối tháng 4/2021.    EU muốn giảm bớt việc sử dụng phân bón từ 30% xuống 25% trong các khu vực trồng trọt và tiến tới nông nghiệp hữu cơ.  Kêu gọi gỡ lệnh cấm chỉnh sửa gene  Các nhà nghiên cứu đã kêu gọi châu Âu gỡ bỏ lệnh cấm nghiêm khắc về GMO để cho phép sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gene, vốn không hề cần đến việc đưa các gene ngoại lai vào một sinh vật. Trong năm 2020, trong một báo cáo của Liên đoàn Khoa học và nhân văn châu Âu, các nhà nghiên cứu trong 120 tổ chức ở khắp châu Âu kêu gọi Hội đồng châu Âu hỗ trợ đảo ngược tình thế  này.  Theo báo cáo, sự thay đổi về chính sách có thể giúp châu Âu gia tăng sản lượng, thân thiện hơn với môi trường và có những loài có khả năng chống chịu ngoại cảnh, đồng thời đưa châu Âu tới những phát triển về khoa học. “Các công nghệ mới này có thể đóng góp vào việc giảm bớt vết carbon của nông nghiệp trong môi trường”, các nhà nghiên cứu cho biết.  Trong khi các bộ trưởng bộ nông nghiệp chờ đợi Hội đồng châu Âu hoàn thành một nghiên cứu về tình trạng các kỹ thuật chinh sửa gene mới dưới phán quyết của EU, chương trình Horizon cho biết vẫn đang yêu cầu các nhà nghiên cứu điều chỉnh đề xuất của họ về các quy định hiện hành của châu Âu, bao gồm cả phán quyết năm 2018 của ECJ.  Các đề xuất đang được chờ đợi sẽ góp phần đem đến “các kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene mới trong những đổi mới sáng tạo về sinh học” và để “đưa đánh giá những tác động tới hạn tiềm năng và cả những nút thắt tới EU và các khung quản lý quốc tế”.  Những ưu tiên khác     Hội đồng châu Âu muốn các nông dân tăng cường năng lực về các công nghệ số và ngăn ngừa việc số hóa sẽ làm phân hóa các trang trại lớn với trang trại nhỏ.  Theo chương trình dự thảo, Hội đồng châu Âu đang lên kế hoạch phân bổ 404 triệu euro trong hai năm tới cho các dự án nghiên cứu hỗ trợ chiến lược “Từ trang trại đến bàn ăn”.  Hội đồng đang trông chờ những đề xuất khám phá cuộc cách mạng và mở rộng của các vi sinh vật trong tự nhiên và mối liên hệ với sự mất mát đa dạng sinh học và sự gia tăng nguy cơ rủi ro dịch bệnh.  Một cuộc mở tài trợ 15 triệu euro sẽ được dành cho các dự án phát triển các công cụ số mang tính đổi mới sáng tạo để thiết kế cho những vấn đề cần thiết ở các trang trại quy mô vừa và nhỏ. Hội đồng châu Âu muốn các nông dân tăng cường năng lực về các công nghệ số và ngăn ngừa việc số hóa sẽ làm phân hóa các trang trại lớn với trang trại nhỏ.  Hội đồng cũng lập kế hoạch phân bổ 230 triệu euro trong hai năm tới về những dự án mà châu Âu mong muốn thực hiện “nền kinh tế tuần hoàn”, bằng việc giảm thiểu chất thải và xúc tiến tái chế các nguồn tài nguyên một cách liên tục.  Các dự án không chỉ được chờ đợi cải thiện việc lựa chọn vật liệu và tạo thiết kế mà còn thúc đẩy chuỗi giá trị mới và những mô hình kinh doanh mới tập trung vào việc nâng cấp, tái chế và tái sản xuất các sản phẩm để giảm thiểu chất thải.  Một số cuộc mở đề xuất sẽ dành cho các dự án để đưa nền công nghiệp châu Âu thêm bền vững và giảm thiểu sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, bằng việc giảm bớt việc sử dụng các nguyên liệu thô phi tái tạo.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/framework-programmes/news/horizon-europe-fund-research-genome-editing-agriculture  https://www.genomeweb.com/policy-legislation/european-research-institutes-ask-eu-allow-genome-editing-crops       Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu với trào lưu nghiên cứu máy quét kiểm tra chất lượng thực phẩm      Liệu cái đùi gà có còn tươi ngon hay không, liệu rau xà lách không bị phun thuốc, món  Joghurt thực sự không có chất laktose? Loại máy quét thực phẩm  bỏ  túi quần có thể giúp người mua hàng thực sự yên tâm.    Chiếc máy quét (Scanner) nhỏ gọn có thể  phát hiện các chất pha trộn trong thức ăn  Châu Âu hiện có 3,5 triệu người bị dị ứng với thực phẩm, 35 triệu người bị bệnh đái tháo đường và 43 triệu trẻ em bị béo phì. Để người dân có thể kiểm soát được hành vi ăn uống của mình được tốt hơn, Ủy ban EU đã phát động một cuộc thi phát triển máy quét thực phẩm với giá phải chăng và treo giải là 1 triệu Euro. Người ta hy vọng rằng khi con người biết ăn uống lành mạnh hơn thì chi phí điều trị y tế cũng sẽ giảm đi rõ rệt.  Sẽ rất thuận lơi khi có những thiết bị quét gọn nhẹ có thể mang theo người và xác định nhanh chất lượng, thành phần của thực phẩm, rau quả, thịt, cá hay thức ăn đã chế biến hoặc phân tích chất lượng của cả một bữa ăn trong siêu thị hay ở tiệm ăn.   Hiện đã có hai start-up, Consumer Physics của  Israel và  Tellspec của  Canada, chào bán các thiết bị bỏ túi này trên mạng Internet  với giá 250 hoặc 450 đôla. Nhiều nhà phát triển khác, trong đó có cả Đức, đang rục rịch vào cuộc.  Từ các kết quả nghiên cứu thị trường tự thực hiện, hai nhà nghiên cứu Robin Gruna và Henning Schulte thuộc Viện Fraunhofer ở Karlsruhe (Đức) cho rằng: “Ăn uống lành mạnh đang là một xu hướng được mọi người quan tâm.” Theo một cuộc điều tra thăm dò do Viện Fraunhofer tiến hành thì  cứ ba người Đức có hai người quan tâm đến các sáng chế, phát minh ở lĩnh vực này, cao hơn nhiều nếu so sánh với các lĩnh vực khác như ô tô hay máy tính.   Ngay cả ngành công nghiệp cũng khuyến khích sự phát triển này. Tại Mỹ, tập đoàn bán lẻ lớn nhất nước này là Target từ đầu năm nay đã hợp tác với Phòng thí nghiệm Y học tại Boston của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) để xây dựng một máy quét để giúp các nhân viên tại siêu thị có thể tự kiểm tra độ an toàn của các mặt hàng được bày bán. Để làm được điều này, hai bên đã và đang triển khai xây dựng một ngân hàng dữ liệu hết sức phong phú.    Về nguyên tắc các thiết bị quét này đều có cơ chế hoạt động tương tự nhau. Cảm biến nắm bắt, thí dụ thông qua ánh sáng hồng ngoại, đặc trưng của từng chất trong một sản phẩm. Các giá trị thu được sẽ được chuyển từ smartphone cá nhân qua Internet tới các ngân hàng dữ liệu; trên màn hình hiển thị kết quả đánh giá và từ đó có những lời khuyên mua hàng tương ứng.  Những  thiết bị máy quét đầu tiên chưa phải là những thiết bị có khả năng toàn diện, có thể nắm bắt các thông tin về vấn đề dị ứng, số lượng các loài vi khuẩn, hàm lượng vitamin và độ chín cũng như về các chất độc hại có trong thực phẩm. Để làm được điều đó các nhà nghiên cứu phải tăng cường các ngân hàng cơ sở dữ liệu và trước hết phải cải thiện hơn nữa các thuật toán phân tích. Nhiều chuyên gia của viện Fraunhofer đã và đang tham gia sôi nổi vào lĩnh vực này, và họ cho rằng ít ra phải sau từ ba đến năm năm nữa các thiết bị của họ mới có thể được tung ra thị trường.   Thực tế là các hệ thống của Tellspec và Consumer Physics trước mắt chỉ có thể cho người sử dụng biết về hàm lượng chất béo, protein, đường, các loại hydratcarbon và lượng calo trong một sản phẩm. Nhưng dù sao đây cũng là một sự mở đầu. Tuy nhiên không lâu nữa các thiết bị này cũng có khả năng phát hiện thí dụ bào tử nấm mốc  hay chất gluten mà một số người dễ bị phản ứng.   Start-up Freshdetect ở  München (Đức) xử lý vấn đề này một cách thận trọng. Nhà sáng lập  Oliver Dietrich đang nỗ lực để sang năm có thể cung cấp cho các lò mổ, các cửa hàng thịt gia súc gia cầm và các cửa hàng bán thực phẩm một thiết bị di động, cầm tay có khả năng xác định được lượng vi khuẩn trên thịt. thậm chí ngay cả khi thịt đã được bọc trong bao bì. Nếu công nghệ này hữu dụng thì đây cũng là một cách sản xuất thiết bị máy quét cho mọi người.  Điều này sẽ làm đảo lộn các mối quan hệ trong ngành kiểm tra thực phẩm. Về cơ bản công việc này nằm trong tay nhà nước. Tuy nhà nước ban hành các luật lệ và quy định nhưng nhà nước lại không có đủ nhân sự để thực thi các luật lệ và quy định đó. Khi mà khách hàng tự kiểm tra những sản phẩm mà họ mua thì sự quản lý và giám sát của nhà nước sẽ trở nên không cần thiết. Mọi sự trí trá sẽ sớm bị phát hiện trước khi trở thành một vụ bê bối. Và ngay cả việc ghi trên nhãn mác hạn sử dụng tối thiểu đối với sản phẩm cũng không còn cần thiết nữa.    Việc này cũng góp phần vào việc sử dụng tiết kiệm thực phẩm. Thông thường khi trái cây bị quá chín chúng sẽ bị loại bỏ, nay nhờ thiết bị quét, người ta sẽ kiểm tra trái cây ngay trong kho, những thùng trái cây quá chín sẽ không được đưa lên quầy để bán mà sẽ đươc chuyển sang xưởng ép làm nước quả.     Hoài Nam theo Tuần Kinh Tế Đức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Phi phát triển thành cường quốc điện xanh như thế nào?      Khu Liên hợp điện mặt trời ở trong lòng sa mạc Sahara thuộc diện lớn nhất thế giới. Nó đại diện cho chính sách năng lượng mới của Ma-rốc cũng như toàn bộ lục địa châu Phi.       Tổ hợp năng lượng điện mặt trời Noor ở Ma rốc. Ảnh: WELT  Khu phức hợp năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới nằm ở Ouarzazate, miền nam Ma-rốc. Cơ sở này có 500.000 tấm gương parabol với tổng diện tích 1,4 triệu mét vuông, tương đương 200 sân bóng đá.  Cơ sở này được gọi là Noor, trong tiếng Ả Rập có nghĩa là ánh sáng. Ba nhà máy điện ở đây cung cấp năng lượng cho khoảng 1,3 triệu người. Nhà máy điện thứ tư sẽ sớm được kết nối với lưới điện để tăng công suất cho khu phức hợp.  Noor là trung tâm của chính sách năng lượng đầy tham vọng của quốc gia Bắc Phi này. Đến năm 2050, Ma-rốc muốn 80% lượng điện tiêu thụ là năng lượng tái tạo. Tỷ lệ này hiện chiếm khoảng 35%, dự kiến 8 năm nữa sẽ đạt 52%.  Nhà máy năng lượng mặt trời khổng lồ Noor trên sa mạc Sahara không chỉ là biểu tượng cho quá trình chuyển đổi năng lượng đầy tham vọng của Ma-rốc mà còn là biểu tượng của chính sách năng lượng mới trên lục địa châu Phi. Người ta dự kiến sẽ sản xuất hydro xanh bền vững từ năng lượng mặt trời ở đây.  Tháng 5 năm ngoái, sáu quốc gia gồm Ma-rốc, Ai Cập, Kenya, Mauritania, Namibia và Nam Phi đã hợp lực để thành lập Liên minh Hydro xanh châu Phi. Liên minh này phấn đấu trong tương lai gần sẽ sản xuất ít nhất 500.000 tấn hydro xanh mỗi năm.  Nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu. Nam Phi có kế hoạch tự sản xuất khối lượng này vào năm 2030. Mặt khác, Ăng-gô-la và Ghana đã bắt đầu sản xuất hydro xanh và nhiều nước châu Phi noi theo. Nam bán cầu thường bị chế nhạo là vùng đất nghèo nàn và lạc hậu, nay đang trên đường trở thành một cường quốc mới nhờ áp dụng công nghệ hiện đại và đổi mới.  Nhu cầu đối với năng lượng tái tạo là rất lớn ở châu Âu, nhất là ở Đức. Năng lượng tái tạo là giải pháp thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của thế giới mà vẫn giảm thiểu sự biến đổi khí hậu. Ưu thế của dạng năng lượng này là tương đối dễ vận chuyển, có thể lưu trữ điện năng dư thừa và chuyển hóa trở lại thành các dạng năng lượng khác như nhiệt và điện.  Đức đang đẩy mạnh hợp tác với nhiều quốc gia Châu Phi trong lĩnh vực này. Đức đã tài trợ cho Ma-rốc 38 triệu Euro để xây dựng một cơ sở sản xuất hydro thí điểm từ năm 2025. Cơ sở này sẽ tạo ra khoảng 10.000 tấn hydro/năm. Namibia cũng nhận được 30 triệu Euro từ Đức để xây dựng bốn dự án khí hydro.  Tóm lại, năm ngoái Đức đã đầu tư 400 triệu Euro và năm nay dành 555 triệu Euro để xây dựng nền kinh tế hydro ở các nước mới nổi và đang phát triển. Các doanh nghiệp tư nhân của Đức cũng đầu tư ngày càng nhiều vào công nghiệp hydro ở Châu Phi. Đức và Châu Âu nỗ lực giảm tiêu thụ năng lượng hóa thạch, mặt khác tìm mọi cách để thoát sự lệ thuộc về năng lượng đối với Nga.  *  Nhu cầu năng lượng tái tạo tăng lên là một điểm cộng rất lớn đối với châu Phi. Ngành công nghiệp mới nà mang lại việc làm, thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Tại Namibia, một nhà máy điện hỗn hợp từ năng lượng gió và mặt trời trị giá gần 10 tỷ euro sẽ tạo ra 15.000 việc làm trong giai đoạn xây dựng và 3.000 việc làm về lâu dài.  Trên diện tích 4000 km vuông của công viên quốc gia Tsau ǁKhaeb, 300.000 tấn hydro và các nhiên liệu xanh khác như amoniac xanh và metan xanh sẽ được sản xuất và vận chuyển để xuất khẩu hàng năm. Tại Nam Phi đã có một dự án ở Northern Cape nhằm tạo ra 20.000 việc làm mỗi năm từ năm 2030.  Việc xuất khẩu nguồn năng lượng mới đảm bảo cho các quốc gia châu Phi phát triển trong một thời gian dài. EU hy vọng rằng đến năm 2050, gần một phần tư nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ được cung cấp bởi hydro xanh. Kế hoạch RePowerEU đặt mục tiêu sản xuất một nửa nhu cầu của châu Âu – ước tính khoảng 20 triệu tấn hàng năm vào năm 2030 – tại địa phương và nhập khẩu nửa còn lại thông qua các quan hệ đối tác hydro xanh.  Châu Phi có mọi thứ cơ bản cần thiết để sản xuất loại năng lượng này: những vùng đất rộng lớn chưa phát triển, nhiều nắng, gió, thủy điện và biển. Nước sẽ được phân tách thành hydro và oxy bằng cách điện phân sử dụng điện xanh. Nguồn nước này lấy từ các nhà máy khử muối từ nước biển.  Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), châu Phi có thể cung cấp năng lượng cho toàn thế giới dưới dạng hydro. Một phân tích của IEA có tựa đề Triển vọng 2022 cho thấy: “Châu Phi có khả năng sản xuất 5.000 megaton (một megaton tương đương với một triệu tấn) hydro mỗi năm với chi phí dưới 2 USD/kg. Điều đó tương ứng với tổng nguồn cung cấp năng lượng của thế giới hiện tại.”  Đó không chỉ là lượng sản xuất khổng lồ, mà mức giá cũng thấp đến khó tin. Chi phí sản xuất ở Đức cao hơn gấp ba lần. Tại khoảng 100 trạm nạp hydro hiện có, một kg hiện có giá khoảng 13 euro. Theo trung tâm phân tích Aurora Energy Research của Anh, chi phí sản xuất ở Đức dự kiến sẽ giảm trong những năm tới.  Đến năm 2030 mức giá dự tính khoảng từ 3,90 đến 5 euro/kg. Tuy nhiên, các nước ở châu Âu khó có thể cạnh tranh với nguyên liệu nhập khẩu. Ví dụ, hydro hóa lỏng từ Ma-rốc sẽ có giá 4,58 euro/kg. Nếu được vận chuyển bằng cách sử dụng chất mang hydro hữu cơ lỏng (LOHC) hoặc ở dạng amoniac, nó sẽ vào khoảng 4,70 euro/kg, bao gồm cả chi phí chuyển đổi nó trở lại thành hydro dạng khí ở Đức.  Không phải ai cũng vui mừng và nhìn nhận một cách tích cực về sự bùng nổ hydro xanh ở châu Phi. Có những tiếng nói lo ngại rằng điện xanh sẽ chủ yếu chảy vào hydro dành cho xuất khẩu, không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân địa phương. Liên Hợp Quốc đã ghi nhận sự gia tăng cung cấp điện trên lục địa này trong những năm gần đây. Tuy nhiên, 43% – tức gần 600 triệu người ở châu Phi vẫn phải sống trong tình trạng không có điện. Ở Namibia, một đối tác hydro chính của EU, chỉ hơn một nửa dân số có điện.  Nguồn: Erneuerbare Energien: Wie sich Afrika zum neuen grünen Powerhouse entwickelt – WELT          Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Chế biến bã cà phê thành hàng may mặc      Bằng cách nghiền bã cà phê thành hạt cực nhỏ  và trộn với sợi, các sản phẩm may mặc của hãng Singtex (Đài Loan) có  những đặc tính hoàn toàn mới lạ: nhanh khô hơn và không bốc mùi khó  chịu.    Cách đây khoảng mươi năm, hãng dệt may Singtex của ông Jason Chen (Đài Loan) đứng trước nguy cơ phá sản. Singtex chuyên sản xuất các sản phẩm may mặc hiện đại và mới lạ. Ông Chen than phiền, “Lần nào cũng vậy, hễ chúng tôi tung ra thị trường một loại sản phẩm mới thì luôn bị các nhà sản xuất ở Đông Nam Á sao chép và sản xuất với giá rẻ hơn.” Nhưng điều đó đã qua rồi. Hiện tại Singtex đã bỏ xa các đối thủ cạnh tranh giá rẻ và trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới chuyên phát triển các loại vải chức năng. Bí mật của sự thành công nằm ở bã cà phê cho đến nay vẫn bị coi là rác thải.   Bã cà phê được nghiền thành hạt cực nhỏ và trộn với sợi với hàm lượng 5%. Chất phụ gia không bình thường này làm cho áo phông, quần áo thể thao thuộc dòng sản phẩm S.Café có những đặc tính hoàn toàn mới lạ: nhanh khô hơn và không bốc mùi khó chịu, vì bã cà phê hấp thụ độ ẩm cũng như những mùi khó chịu khác – từ mồ hôi nách cho đến khói thuốc lá. Bà vợ ông Chen nảy ra ý tưởng này, nay đã được cấp bằng sáng chế, khi hai ông bà ngồi trong tiệm cà phê Starbucks. Cầm ly cà phê trên tay, bà bỗng nhớ đến kinh nghiệm dân gian, cho một hộp bã cà phê vào tủ lạnh, nó sẽ hút sạch mùi. Với đầu óc làm ăn nhạy bén, ông Chen tự hỏi, nếu bã cà phê hút được mùi trong tủ lạnh thì liệu nó có làm cho trang phục thể thao thơm tho được hay không? Ngay ngày hôm đó, ông tiến hành tra cứu xem đã có bằng sáng chế nào về chất khử mùi hay chưa.   Singtex thu gom mỗi ngày khoảng 500 kg bã cà phê từ các siêu thị, các tiệm cà phê để chế biến thành sản phẩm dệt chức năng. Singtex cung cấp sản phẩm dệt chức năng cho khách hàng có ý thức bảo vệ môi trường như các hãng thể thao như Puma, Vaude, Nike, Timberland và Hugo Boss các sản phẩn như áo phông, quần và cravat vv…   Hiện nay mỗi năm ông Chen đạt doanh thu khoảng 10 triệu đôla với các sản phẩm S.Café của mình. Năm nay ông có ý định đưa Singtex lên sàn chứng khoán. Để loại vải – cà phê được sử dụng, ông đã mất một số năm mày mò nghiên cứu. Từ năm 2005, bộ phận nghiên cứu và phát triển của Singtex bắt đầu sấy khô và khử dầu bã cà phê, chính loại dầu này đã làm cho bột cà phê có màu nâu sẫm. Sau đó, người ta trộn bột cà phê đã khử dầu với sợi polyester từ vỏ chai PET phế thải.   Singtex đã thử nghiệm thế hệ đầu tiên của loại quần áo cà phê để đi rừng và đi xe đạp. Tuy nhiên niềm vui ngắn chẳng tày gang. Chỉ thời gian đầu, loại quần áo thí nghiệm này có mùi cà phê dễ chịu nhưng sau vài tháng có mùi hôi dầu. Ông Chen phải thay đổi công thức pha chế để loại trang phục này sau một thời gian dài sử dụng vẫn giữ mùi trung tính. Hiện nay sản lượng vải pha bã cà phê mỗi tháng của Singtex là 100 tấn. Từ loại vải này, người ta sản xuất hơn 1 triệu trang phục dành cho cầu thủ của câu lạc bộ FC Liverpool và các cổ động viên của câu lạc bộ này. Ông Chen tiết lộ, “trong mỗi cái áo chứa khối lượng bã của ba tách cà phê”.  Ngoài Singtex, từ đầu năm nay, hãng sản xuất đồ lót Wacoal của Nhật Bản cũng bắt đầu sản xuất đồ lót phụ nữ từ chất liệu vải-cà phê. Ông chủ của hãng quảng cáo, những lỗ nhỏ li ti trong bột cà phê đã khử dầu có khả năng hấp thụ mùi mồ hôi cực nhanh lại mau khô và có thể giảm nhiệt lên tới hai độ C, tạo cảm giác mát mẻ dễ chịu.   Còn hai doanh nghiệp sản xuất vải và thảm – hãng Domo Group của Bỉ và Interface của Mỹ – cũng sẽ bán ra thị trường loại thảm chứa bột bã cà phê từ năm tới. Loại thảm này chóng khô và không bắt mùi. Sợi dệt thảm được tẩm bột bã cà phê, chính loại bột này hút mùi do hạt chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti và các phân tử mùi bị giữ trong các lỗ khí li ti đó. Ngoài ra, trong bã cà phê còn chứa chất caffein có tác dụng xua đuổi loại mọt hại thảm.   Năm 2012 sản lượng cà phê thế giới là 8,5 triệu tấn. Tuy nhiên chỉ có 2 phần nghìn cà phê được rót vào tách để thưởng thức phần còn lại, 99,8% trở thành rác thải. Tuy nhiên để thu gom được bã cà phê với khối lượng lớn thường khá khó khăn.   Việc sử dụng bã cà phê cũng đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác.   Bã cà phê có khả năng làm tơi đất vì chất hữu cơ này thu hút giun đất phát triển. Bã cà phê làm giảm độ pH trong đất vì vậy người nông dân trộn bã cà phê vào đất khi trồng những loại cây ưa đất chua.   Từ năm 2011, doanh nghiệp 3R Company ở Schaffhausen (Thụy Sỹ) đã chế biến rác cà phê thành than đốt lò sưởi của các hộ gia đình và còn dùng để đốt lò nung xi măng. Song công việc kinh doanh với loại than cà phê có tên là Cafuego không được trôi chảy. Năm 2011, Bộ Môi trường Thụy Sỹ cấm không được bán than Cafuego cho các hộ gia đình vì bã cà phê là rác thải và theo luật thì không được đốt rác thải trong các lò sưởi. Bộ yêu cầu hãng phải chứng minh khí thải của loại than này không chứa độc tố. Chủ hãng cam kết “loại than bã cà phê này không sản sinh ra bụi mịn, nitơ-oxyd và sulfuadioxyd nhiều hơn so với củi đốt.”  Tuy nhiên hãng chưa đưa ra được những số liệu để chứng minh cho lập luận này.   Doanh nghiệp Swiss Biochar ủ mỗi năm khoảng 35.000 tấn cành, lá cây và các loại rác sinh học khác, trong đó có cả bã cà phê. Từ năm 2010 doanh nghiệp có một cơ sở sản xuất duy nhất trên thế giới chuyên sản xuất than từ bã cà phê trộn với một ít cành, lá cây bị đốn tỉa. Loại than này có màu đen và cháy như than củi.   Doanh nhân người Bỉ Gunter Pauli cho rằng dùng bã cà phê làm than là phí phạm. Năm 2000 ông có ý tưởng dùng bã cà phê làm giá thể để sản xuất nấm ăn. Trước ông, năm 1994 nhà khoa học Trung quốc Shuting Chang là người đầu tiên đưa ra ý tưởng sản xuất nấm đông cô (Shiitake) bằng bã cà phê. Tuy nhiên Pauli là người đã quảng bá phương pháp sản xuất này rộng khắp thế giới.   Từ bã cà phê, người ta thậm chí còn có thể chế tác thành một loại xốp sinh học cách nhiệt, cách âm dùng cho nhà ở và làm vật liệu đóng gói thiết bị điện tử.  XH lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang ‘Chế biến’ thành công cát biển thành cát xây dựng      Trung tuần tháng 3.2018, các chuyên gia Viện Chuyên ngành bê tông thuộc thuộc Viện Khoa học công nghệ xây dựng của Bộ Xây dựng, đã trực tiếp đến TP.Cần Thơ, thu mẫu, để thí nghiệm, kiểm định chất lượng cát nhiễm mặn đưa vào xử lý bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch do ông Võ Tấn Dũng sáng chế. Thành công này góp phần giải tỏa áp lực về nhu cầu cát xây dựng ngày càng khan hiếm trên thị trường và bảo vệ môi trường, sinh thái…      Các chuyên gia thu mẫu cát nhiễm mặn nguyên khai, thí nghiệm  Xác nhận từ các phòng thí nghiệm  Ngày 19.3, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu ăn mòn và Bảo vệ công trình (XDLAS05) thuộc Viện Khoa học công nghệ xây dựng (Bộ Xây dựng), công bố kết quả thí nghiệm, ghi nhận: Mẫu cát nhiễm mặn được đưa về bằng sà lan từ Bà Rịa – Vũng Tàu, có hàm lượng muối (Clo) là 0,255%. Sau khi đưa vào xử lý bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch của ông Võ Tấn Dũng, hàm lượng ion clo (Cl-) giảm xuống còn ở mức 0,018%!    Các chuyên gia giám sát chế biến cát nhiễm mặn bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch tại TP.Cần Thơ  So với yêu cầu kỹ thuật TCVN 7570:2006 về hàm lượng Cl- đối với bê tông dùng trong các kết cấu bê tông, bê tông cốt thép và vữa thông thường (dưới 0,05%), thì cát nhiễm mặn nguyên khai ở Bà Rịa – Vũng Tàu có hàm lượng Cl – vượt tiêu chuẩn cho phép gấp hơn 5 lần. Nhưng sau khi đưa vào xử lý bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch này thì hàm lượng Cl- giảm xuống thấp hơn ngưỡng tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.  Trước đó, từ cuối năm 2017, ông Dũng cũng đã chủ động thu mẫu cát nhiễm mặn ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, như: Móng Cái, Bình Thuận, Kiên Giang… đưa vào chế biến thử nghiệm. Kết quả thí nghiệm của các đơn vị chức năng kiểm định đều ghi nhận chất lượng cát sau chế biến đạt tiêu chuẩn cát xây dựng theo quy định, đặc biệt là hàm lượng Cl-.  Cụ thể, cát nhiễm mặn ở tỉnh Móng Cái, sau chế biến, Phân viện Vật liệu xây dựng miền Nam (thuộc Viện Vật liệu Xây dựng – Bộ Xây dựng), thí nghiệm, xác nhận ngày 20.12.2017, khẳng định: “Không phát hiện hàm lượng Cl-”. Cát nhiễm mặn ở tỉnh Bình Thuận, sau chế biến, Trung tâm Tư vấn chống ăn mòn và xây dựng (Viện Khoa học công nghệ – Bộ Xây dựng), thí nghiệm, ghi nhận: trong vùng cốt liệu vô hại, hàm lượng Cl- chỉ còn 0,005% (thấp 10 lần so với yêu cầu kỹ thuật theo TCVN 7570:2006 – PV).  Cần hỗ trợ để triển khai trên diện rộng  Trực tiếp tham gia thị sát, lấy mẫu thí nghiệm, kiểm định chất lượng cát nhiễm mặn đưa vào xử lý bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch của ông Võ Tấn Dũng tại TP.Cần Thơ, ông Nguyễn Đức Thắng, chuyên gia Viện Khoa học công nghệ xây dựng (Bộ Xây dựng), cho rằng: bằng biện pháp thí nghiệm, đơn vị đã có thể loại trừ nguồn cát nguyên liệu ở những vùng có nguy cơ bị phản ứng kiềm silic trước khi đưa vào chế biến.    Thu và niêm phong mẫu cát nhiễm mặn sau chế biến bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch, thí nghiệm, ghi nhận: hàm lượng Clo- chỉ còn ở mức 0,018%  Các yếu tố gây hại còn lại trong cát biển nguyên khai như hàm lượng Cl-; bụi, bùn, sét, tạp chất hữu cơ và thành phần hạt mịn thì qua dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch nói trên đều có thể xử lý được, chống tình trạng hút ẩm, dộp bê tông, ăn mòn bê tông cốt thép từ việc sử dụng cát biển.  Khả năng rửa sạch tạp chất và sàng lọc cát bằng dây chuyền công nghệ chế biến cát sạch này đã được kiểm chứng qua kết quả xử lý cát mịn sông Cửu Long, thành 3 loại cát thành phẩm: cát siêu mịn để san lấp, cát mịn xây tô và cát hạt thô để chế tạo bê tông.  Trong đó, chất lượng cát sử dụng cho vữa xây tô và bê tông đã đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Đề tài Nghiên cứu sử dụng cát mịn vùng ĐBSCL chế tạo bê tông và vữa xây dựng của Bộ Xây dựng (do nhóm nghiên cứu Trung tâm Vật liệu xây dựng miền Nam – Viện Vật liệu xây dựng), thực hiện và đã được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp Bộ nghiệm thu.  Theo đó, cát nhiễm mặn đưa vào chế biến bằng dây chuyền công nghệ này sẽ được rửa sạch, khi sử dụng có thể tiết kiệm xi măng, tăng cường độ chịu lực cho bê tông từ 10 – 20%, giảm chi phí sàng thủ công, nâng cao chất lượng và tuổi thọ công trình xây dựng – nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu khoa học đã chứng minh.  Từ đầu năm 2017, Bộ Xây dựng đã chính thức công khai, khuyến cáo: “Việc ứng dụng công nghệ chế biến cát sạch vào thực tiễn sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế kỹ thuật và xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng cát xây dựng ngày càng tăng là cần thiết. Bộ Xây dựng ủng hộ và tạo điều kiện để doanh nghiệp quảng bá công nghệ chế biến nhằm tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực triển khai ứng dụng thực tế”.  Bài, ảnh: Nguyễn Văn Hùng  Nguồn: Motthegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế độ ăn Địa Trung Hải có thực sự làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ?      Một số lượng lớn các nghiên cứu đã đề xuất là một chế độ ăn lành mạnh có thể làm giảm nguy cơ rủi ro mắc chứng sa sút trí tuệ cho con người nhưng một nghiên cứu mới đã tìm ra là có hai chế độ ăn, bao gồm cả chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải, không liên quan đến việc giảm thiểu nguy cơ này.    Nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Neurology 1.  Chế độ ăn Địa Trung Hải bao gồm một lượng lớn rau, đậu quả, hoa quả, cá và chất béo lành mạnh như dầu oliu, và một lượng nhỏ các sản phẩm từ bơ sữa, thịt cũng như a xít béo bão hòa.  “Nhiều nghiên cứu trước đây dựa trên ảnh hưởng của chế độ ăn với nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ đem lại những kết quả khác nhau”, Isabelle Glans của trường đại học Lund Thụy Điển, một trong số các tác giả nghiên cứu, nói. “Trong khi đó, dù nghiên cứu của chúng tôi không bác bỏ một liên hệ có thể giữa chế độ ăn và chứng sa sút trí tuệ nhưng chúng tôi không tìm thấy một liên kết như thế trong nghiên cứu của mình. Nghiên cứu của chúng tôi đã được thực hiện trong một giai đoạn dài, tuyển những người trẻ hơn so với những người tham gia ở những nghiên cứu trước và không yêu cầu họ phải nhớ đến những thực phẩm họ từng ăn liên tục trong nhiều năm”.  Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã quy tụ 28.000 người từ Thụy Điển. Những người tham gia có độ tuổi trung bình là 58 và không hề có dấu hiệu của chứng sa sút trí tuệ ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Họ đã được các nhà nghiên cứu quan sát trong một thời kỳ kéo dài hơn 20 năm. Trong suốt quá trình nghiên cứu, những người tham gia đã ghi lại một nhật ký ẩm thực bảy ngày, một bảng hỏi về tần suất đồ ăn chi tiể và một cuộc phỏng vấn hoàn tất. Ở giai đoạn cuối nghiên cứu thì 1.943 người, tức là chiếm 6,9%, đã được chẩn đoán mắc chứng sa sút trí tuệ, bao gồm cả bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ não mạch (vascular dementia) – tình trạng suy giảm nhận thức do sự hư hại các mạch máu trong não bộ gây ra.  Các nhà nghiên cứu kiểm tra về các chế độ ăn của những người tham gia có liên quan gần gũi với chế độ ăn thông thường được khuyên áp dụng theo và chế độ ăn Địa Trung Hải không. Sau khi kiểm tra thêm các thông tin về độ tuổi, giới, trình độ học vấn, các nhà nghiên cứu không tìm ra mối liên hệ nào giữa việc theo đuổi chế độ ăn thông thường hoặc chế độ ăn Địa Trung Hải vớiviệc giảm nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ.  Glans lưu ý là cần phải có nghiên cứu nữa để xác nhận những phát hiện này.  Nils Peters của đại học Basel Thụy Sĩ, người từng viết một bài đi kèm với nghiên cứu này 2, nói “Chế độ ăn có thể không có ảnh hưởng mạnh lên trí nhớ hay suy nghĩ nhưng dường như là một nhân tố giữa nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng đến chức năng nhận thức. Tôi cho rằng, vẫn cần thiết thiết kế các chiến lược ẩm thực cùng với những biện pháp đo lường khác để kiểm soát các nhân tố có thể dẫn đến rủi ro”.  Một giới hạn của nghiên cứu này là nó ẩn chứa rủi ro bởi sự nhầm lẫn của những người tham gia khi tường thuật về chế độ ăn cũng như thói quen sống của họ.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-10-mediterranean-diet-decrease-dementia.html  —————-  https://n.neurology.org/content/early/2022/10/12/WNL.0000000000201336  https://n.neurology.org/content/early/2022/10/12/WNL.0000000000201420    Author                .        
__label__tiasang Chế độ ăn Địa Trung Hải với dầu cá có thể giúp làm giảm tần suất đau nửa đầu      Các axít béo Omega-3 có sự liên quan tới việc giảm bớt những cơn đau nửa đầu ở phụ nữ, theo một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí “British Medical Journal”.      Cá mòi nướng tạ một cửa hàng gần bãi biển Malaga, miền nam Tây Ban Nha. Ảnh: Jon Nazca/Reuters  Việc ăn theo chế độ Địa Trung Hải chứa rất nhiều dầu cá có thể giúp giảm bớt tần suất đau nửa đầu ở những người từng mắc phải chứng bệnh này, dữ liệu từ công trình “Dietary alteration of n-3 and n-6 fatty acids for headache reduction in adults with migraine: randomized controlled trial” cho thấy như vậy 1.  Khoảng 10 triệu người lớn tuổi ở Anh đang phải chịu đựng chứng đau nửa đầu, chứng bệnh có số lượng phụ nữ mắc cao gấp ba lần nam giới. Dẫu có rất nhiều phương thức điều trị mới đã được áp dụng trong nhiều năm trở lại đây nhưng có nhiều người vẫn tiếp tục mắc căn bệnh này.  Cả axít béo Omega-3, vốn được tìm thấy trong dầu cá và các loại quả hạch và hạt, và axít béo Omega-6, vốn được tìm thấy trong dầu thực vật nguyên chất, đều là những tiền chất để các phân tử điều chỉnh cơn đau mà người ta vẫn gọi là các oxylipin, và những chất được hình thành sau đó có thể mang  các hiệu ứng làm giảm đau.  Tiến sĩ Christopher Ramsden tại Viện nghiên cứu về lão hóa quốc gia ở Baltimore, Mỹ, và đồng nghiệp đã quyết định kiểm tra xem liệu việc thay đổi tỉ lệ tương quan của các chất béo này trong chế độ ăn của những người bị chứng đau nửa đầu hành hạ có tác động nào lên tần suất hoặc sự nghiêm trọng của các chứng đau nửa đầu mà họ phải chịu đựng không.  Họ đã mời 182 bệnh nhân đang phải chịu đựng các chứng đau nửa đầu trong vòng năm đến 20 ngày mỗi tháng tham gia thí nghiệm, và ngẫu nhiên giao cho họ ăn một trong ba chế độ ăn trong vòng 16 tuần: một chế độ tăng Omega-3 nhưng giữ nguyên lượng Omega-6; một chế độ ăn khác có lượng Omega-3 tăng lên và lượng Omega-6 thấp; một chế độ có kiểm soát bao gồm các mức điển hình của axít béo.  Các chế độ ăn này được thiết kế để càng giống nhau càng tốt, với sự khác biệt chủ yếu là kiểu dầu hoặc bơ, và nguồn protein chủ yếu, ví dụ như cá có nhiều dầu và cá ít béo hoặc thịt gia cầm.  Nghiên cứu này rút cục đã tìm ra cả hai chế độ ăn có can thiệp đều làm tăng các mức độ oxylipin giảm đau, so với chế độ ăn có kiểm soát. Chúng cũng làm giảm đáng kể tần suất của chứng đau nửa đầu – 1,3 giờ đau mỗi ngày và hai ngày đau đầu trong tháng với những người thuộc nhóm có chế độ ăn giàu Omega-3, và 1,7 giờ đau đầu một ngày và bốn ngày trong tháng với người ăn chế độ giàu Omega-3, ít Omega-6.  Trong khi các chế độ ăn không làm giảm mức nghiêm trọng của người mắc bệnh đau đầu một cách đáng kể, vẫn có xu hướng khiến cho các cơn đau đầu diễn ra trong thời gian ngắn hơn.  Tuy vậy, phần lớn những người tham gia đều là nữ, vì vậy cách tiếp cận này chưa hẳn đã đúng với trẻ em, đàn ông hay người lớn tuổi, và hiện vẫn còn chưa rõ là liệu các nguồn axít béo Omega-3 nào hiệu quả, vì vậy những người ăn chay và những người lo lắng về sự bền vững và thị trường cá có thể cũng chia sẻ hiệu quả này không, theo nhận xét của tiến sĩ Duane Mellor, một chuyên gia dinh dưỡng và phụ trách dinh dưỡng và y học thực chứng tại trường đại học Aston ở Birmingham.  Vẫn còn chưa rõ liệu những lợi ích này chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi lượng axít béo Omega-3 hay không, Tom Sanders, một giáo sư dinh dưỡng hồi hưu của trường King’s College London, nói: “Ví dụ, việc gia tăng lượng cá hồi cũng làm tăng nhiều vi chất dinh dưỡng khác như vitamin D, selenium cũng như a lượn axít béo omega-3 chuỗi dài”.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/food/2021/jun/30/mediterranean-diet-with-oily-fish-could-help-reduce-migraine-frequency  ———  1. https://www.bmj.com/content/374/bmj.n1448       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế phẩm giúp trị bệnh giả sương mai trên cây dưa lưới      Kết hợp giữa vật liệu nano TiO2 và vi khuẩn vùng rễ kích thích sinh trưởng (PGPR), nhóm tác giả Trung tâm Phát triển công nghệ cao, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã tạo ra chế phẩm trị bệnh giả sương (nấm vàng) mai và một số bệnh do nấm khác trên cây dưa lưới.    Dưa lưới là loại trái cây có giá trị cao, thời gian trồng ngắn và được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, nhiều căn bệnh trên cây dưa lưới vẫn chưa được khắc phục một cách hiệu quả, trong đó có bệnh giả sương mai (nấm vàng). Đây là bệnh do nấm Pseudoperonospora cubensis gây ra với những biểu hiện như đốm vàng trên lá, sau 3-4 ngày tế bào lá chết màu nâu đen, lá úa vàng, khô và rụng…    Hiện nay, đa số nhà vườn sử dụng phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật hóa học gốc đồng để bảo vệ cây trước tác động của côn trùng, một số căn bệnh. Trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về an toàn vệ sinh thực phẩm, việc nghiên cứu, sản xuất ra những chế phẩm vi sinh an toàn, thay thế thuộc hóa học càng được chú trọng.        Trong những năm gần đây, có những nghiên cứu trên thế giới về tích hợp vật liệu nano TiO2 và vi khuẩn PGPR. Đây là những vi khuẩn phân bố tự do trong đất, sinh sống xung quanh hoặc trên bề mặt rễ, cộng sinh bên trong rễ, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia việc kích thích sinh trưởng và phát triển của thực vật thông qua sản xuất và tiết ra những chất hóa học khác nhau ở xung quanh vùng rễ. Sự tích hợp giữa nano TiO2 và vi khuẩn PGPR giúp cho quá trình chuyển hóa, hấp thụ phân bón của cây diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, giúp giảm lượng phân bón và thuốc tăng trưởng thực vật. Đồng thời, giúp cây tăng thêm khả năng chống chịu khi gặp những điều kiện bất lợi từ môi trường, tăng dinh dưỡng, tăng sức đề kháng tự nhiên…    Trong đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm nano – vi khuẩn PGPR nhằm phòng trừ bệnh giả sương mai trên cây dưa lưới”, nhóm tác giả ở Trung tâm Phát triển công nghệ cao, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã nuôi cấy hai chủng vi khuẩn gồm chủng Paenibacillus polymyxa IN937a và chủng Bacillus subtilis GB03 được tác từ rễ cây trồng trên nền đất sạch và không nhiễm hóa chất. Nano TiO2 được nhóm tổng hợp từ tiền chất là Titanium Isopropoxide có công thức Ti[OCH(CH3)2]4. Sau đó, nhóm nuôi cấy vi khuẩn trong dung dịch nano TiO2 để tạo chế phẩm Nano- vi khuẩn PGPR, với kích thước hạt trung bình 10-30nm.    Thử nghiệm chế phẩm trong phòng thí nghiệm trên mẫu lá dưa lưới cho thấy,các bào tử nấm gây bệnh giả sương mai trên mẫu lá thí nghiệm giảm rõ rệt, không còn những mảng nấm trắng, hiệu quả đạt được gần tương đương như đối với mẫu sử dụng thuốc hóa học Benlat 0,01%. Bên cạnh đó, chế phẩm còn được thử nghiệm hiệu quả kháng nấm trong điều kiện in vitro với một số nấm gây bệnh như Botrytis cineria, Phytophthora infestans, Fusarium oxyporium, Sclerotinia scleorotinium, Colletotrichum spp và cho thấy khả năng ức chế tốt. Trong đó, nồng độ pha loãng chế phẩm 1/250 (µg/ml) đạt hiệu quả tốt nhất.    Thử nghiệm trên cây dưa lưới trồng tại TPHCM (phun qua lá, tưới gốc trong 10 ngày)cho thấy, chế phẩm Nano – PGPR có khả năng kiểm soát tác nhân gây bệnh giả sương mai trên cây dưa lưới, nồng độ phun càng cao khả năng ức chế càng tăng (tốt nhất ở nồng độ 2-5ml chế phẩm/1 lít nước). So sánh với mẫu đối chứng cho thấy, hiệu quả phòng trừ sau 10 ngày đạt 74% khi dùng thuốc BVTV Sumi Eight và 59% khi dùng chế phẩm Nano – PGPR. Ngoài ra, năng suất trái không có sự khác biệt so với đối chứng, nhưng độ ngọt lại cao hơn (15%).    Theo PGS.TS Lê Đăng Quang, Chủ nhiệm đề tài, chế phẩm phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng ở Việt Nam, ngoài khả năng phòng trừ một số bệnh hại, còn kích thích tăng trưởng đối với cây trồng, đặc biệt đối với các cây thuộc họ bầu bí nói chung và cây dưa lưới nói riêng.    Nam Phong    Author                phongvien        
__label__tiasang Chế phẩm sinh học kích thích gia súc, gia cầm sinh trưởng      Chế phẩm Bio-elemon được sản  xuất từ các loại thực vật có nguồn gốc hữu cơ có sẵn ở nông thôn  như chanh, quất, trứng gà, đậu tương không chỉ giúp kích thích sinh trưởng mà còn có tác dụng phòng bệnh từ xa  cho gia súc, gia cầm với chi phí hợp lý.    Thời gian gần đây, việc lạm dụng các chất tăng trọng, tạo nạc và thuốc kháng sinh dẫn đến những tồn dư các hóa chất này trong sản phẩm thịt, trứng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Là một nhà giáo có hơn 30 năm nghiên cứu và giảng dạy về chăn nuôi thú y, Thạc sỹ Đặng Thị Hòe đã dày công nghiên cứu và sáng chế ra “Chế phẩm Bio – elemon kích thích sinh trưởng cho gia súc, gia cầm” hướng đến chăn nuôi sạch.  Ưu điểm vượt trội của chế phẩm Bio-elemon là sản phẩm được sản xuất từ các loại thực vật có nguồn gốc hữu cơ có sẵn ở nông thôn như chanh, quất, trứng gà, đậu tương. Đậu tương được xay nhỏ sau đó trộn với hỗn hợp nước cốt chanh (hoặc quất), trứng gà và các tá dược theo một tỷ lệ nhất định rồi đem sấy khô ở nhiệt độ thích hợp.  Với chi phí giá thành rất hợp lý và cách sử dụng đơn giản, người chăn nuôi có thể sử dụng chế phẩm Bio-elemon để chủ động công tác phòng bệnh từ xa cho vật nuôi mà hoàn toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.  Chế phẩm Bio-elemon đã được sử dụng ở nhiều mô hình chăn nuôi lợn, gà trong các trang trại ở Nam Định và các tỉnh phía Bắc và cho hiệu quả rõ rệt.  Tác giả của chế phẩm Bio-elemon cho biết, khi thử nghiệm trên hai đàn lợn sinh cùng một ngày, sau 21 ngày lợn con tách mẹ, kết quả cho thấy: Lợn có sử dụng chế phẩm thì béo tốt, hồng hào, to và nặng hơn lợn không dùng chế phẩm 5 lạng/con, 6-7kg/đàn.    Một chủ trang trại, nơi nuôi hơn 2.000 con gà, chia sẻ, từ khi sử dụng chế phẩm Bio-elemon, bà đã không phải tốn tiền mua thuốc kháng sinh cho gà. Thịt gà từ trang trại của bà qua kiểm định để vào hệ thống siêu thị đạt chất lượng tốt, không bị tàn dư chất kháng sinh, nhờ đó giá thành sản phẩm được nâng cao.  Với những kết quả thử nghiệm khả quan, Bio-elemon được đánh giá sẽ là một sản phẩm công nghệ đóng góp hiệu quả vào xu hướng chăn nuôi sạch và bền vững.   Sáng tạo của Ths.Đặng Thị Hòe cũng đã được trao giải vàng tại Triển lãm quốc tế dành cho các nhà sáng chế nữ tại Seoul Hàn Quốc lần thứ 5, năm 2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế phẩm sinh học xử lý đáy ao nuôi trồng thuỷ sản      Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học BIOF xử lý đáy ao nuôi trồng thuỷ sản từ nguồn phân thải chăn nuôi do TS Lê Văn Tri nghiên cứu có thể áp dụng dễ dàng tại các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản.    Việc nuôi trồng thuỷ sản với mật độ cao trong nhiều năm đã làm môi trường ao nuôi trồng ngày càng bị ô nhiễm, nước đục, hàm lượng ôxy hoàn tan trong nước thấp, các khí độc có nồng độ cao quá nồng động cho phép đã gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển và năng suất chất lượng thuỷ sản.  Từ thực tế đó, tiến sĩ Lê Văn Tri đã cùng nhà máy phân vi sinh Việt-Séc xây dựng công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học xử lý đáy ao nuôi trồng thuỷ sản từ nguồn phân thải chăn nuôi. Điểm mấu chốt của công nghệ này là tạo ra là men vi sinh VSV hữu ích cho quá trình ủ bao gồm các chủng vi sinh vật phân giải nhanh và triệt để các chất hữu cơ.  Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một quy trình công nghệ sản xuất và có thể chuyển giao cho các hộ gia đình tự sản xuất nhằm chủ động và giảm giá thành, tận dụng được nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ. Theo đó quy trình công nghệ áp dụng để sản xuất 100 kg sản phẩm sinh học BIOF gồm:  + Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu hữu cơ gồm Phân thải chăn nuôi (phân gà hoặc phân lợn) 100kg; vôi: 5kg, men VSV hữu ích: 3kg. Các nguyên liệu này trước khi phối trộn phải được xử lý sơ bộ để loại bỏ các tạp chất như vỏ trấu, rác bẩn, … bám vào. Chọn một địa điểm ủ thích hợp như bờ ao, trong vườn tiện cho sử dụng sau này và đặc biệt tránh được mưa nắng thoáng mát.   + Bước 2: Tiến hành ủ: trộn đều các nguyện liệu với nhau và tiến hành cấy men VSV hữu ích lần 1: hòa 2 kg men VSV hữu ích vào 10 lít nước sạch; rải 1 lớp nguyên liệu dầy 10 – 15 cm, sau đó tưới 1 lớp men VSV hữu ích, cứ tiến hành làm như vậy sao cho hết nguyên liệu và men VSV hữu ích đã chuẩn bị, sau đó vun cao đống ủ và che phủ kín đống ủ bằng nilon hoặc bạt.Thời gian ủ trong 45 ngày thì thu được sản phẩm là nền hữu cơ lên men.   Bước 3: Phối trộn phân vô cơ, men vi sinh vật hữu ích bổ sung. Cần chuẩn bị 5 kg Đạm ure; 5 kg; Supe lân; 1 kg Men vi sinh vật hữu ích bổ sung. Từ nền hữu cơ lên men đã thu được sau khi ủ 45 ngày, rải 1 lớp phân nền, 1 lớp supe lân, 1 lớp đạm ure và rắc 1 lớp men VSV hữu ích. Tiến hành như vậy cho hết đống nguyên liệu, sau đó trộn đều thì ta thu được sản phẩm sinh học BIOF.   Chế phẩm được đưa ra sử dụng theo liều lượng quy định ứng với từng giai đoạn và lượng nước trong ao trước khi thả giống thuỷ sản. Thông thường, 20 – 30kg chế phẩm BIOF dùng được cho 1.000m2 ao nuôi. Nếu không sử dụng hết thì cần có chế độ bảo quản cẩn thận trong thời gian 12 tháng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế phẩm từ hạt bơ tăng cường hệ miễn dịch cho tôm      Tận dụng nguồn phế phẩm hạt bơ, nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm TPHCM đã tạo ra chế phẩm polyphenol dạng bột, có thể sử dụng làm thức ăn nhằm năng tăng cường hệ miễn dịch cho tôm thẻ chân trắng.    Vi khuẩn Vibrio parahaematolycus được xem là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng bệnh dẫn đến tôm nuôi chết hàng loạt. Những năm gần đây, xu hướng bổ sung các chất giàu polyphenol (chống viêm, chống ô xy hóa tốt) có nguồn gốc tự nhiên nhằm cải thiện tăng trưởng, sức khỏe và phòng chống bệnh cho vật nuôi, thủy sản được chú trọng. Trong đó, các chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ thực vật, không chỉ có khả năng ngăn chặn quá trình oxy hóa chất béo, protein trong thức ăn thủy sản, mà còn có thêm nhiều khả năng như kháng khuẩn, tăng cường hệ miễn dịch, kích thích tăng trưởng, tỷ lệ sống ở vật nuôi, thủy sản.        Trong hạt bơ có nguồn polyphenol cao, với các nhóm hợp chất đa dạng, nhiều hoạt tính sinh học, có thể sử dụng như các phụ gia thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, phụ phẩm hạt bơ còn chưa được tận dụng.    Trong đề tài “Nghiên cứu điều chế sản phẩm polyphenol từ hạt bơ (Persea americana Mill) nhằm nâng cao hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus Vannamei)”, nhóm tác giả của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM đã thu thập hạt bơ tại Đắc Nông, đem rửa sạch, sấy khô, sau đó chiết xuất polyphenol. Để điều chế sản phẩm polyphenol dạng bột, ngoài polyphenol được trích lý từ hạt bơ, nhóm phối trộn thêm bột bắp, bột mỳ.    Chế phẩm polyphenol từ hạt bơ có những ưu điểm như tổng hàm lượng polyphenol cao (TPC >2.000 mgGAE/100 g DW), có hoạt tính sinh học như ức chế gốc tự do DPPH (IC50 <30 µg/mL), ức chế Vibrio parahaematolycus (MIC, <150 µg/mL), đạt chỉ tiêu kim loại nặng và vi sinh (QCVN 02-31-2:2019/BNNPTNT, theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thức ăn thủy sản).    Thử nghiệm trên các mô hình nuôi tôm trong bể composite, bể kính trong 2 tháng cho thấy, tôm ăn thức ăn phối trộn chế phẩm polyphenol có tỷ lệ sống cao hơn 20% so với tôm đối chứng (sử dụng thức ăn thông thường) và có hiệu quả tương đương với sản phẩm BM, khi tôm nhiễm vi khuẩn Vibrio parahaematolycus.    Kết quả phân tích thành phần hóa học của tôm nấu chín cho thấy, không có sự thay đổi lớn ở các thành phần như độ ẩm, protein, lipid, tro và canxi khi tôm nuôi được cho ăn các thức ăn có hoặc không có thành phần polyphenol. Các thuộc tính màu, mùi, vị của tôm trong thí nghiệm này hầu như không có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức – TS Phan Thị Anh Đào, Chủ nhiệm đề tài, cho biết. Điều này chứng tỏ, khi bổ sung chế phẩm polyphenol hoặc chế phẩm BM hoặc không bổ sung bất kỳ chế phẩm nào đều không làm biến đổi đến thuộc tính cảm quan cũng như thay đổi cấu trúc cơ thịt tôm.    Theo TS Phan Thị Anh Đào, chế phẩm polyphenol từ hạt bơ có thành phần polyphenol tổng cao, chứa nhiều các hoạt chất có hoạt tính sinh học tốt. Vì vậy, nên mở rộng ứng dụng của chế phẩm này như phối trộn trong thức ăn cho gia cầm, gia súc, nghiên cứu các hoạt tính sinh học khác như ung thư. Đồng thời, cần tiếp tục thử nghiệm trên ao, đầm nuôi tôm.    Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu.    Ngô Thành    Author                phongvien        
__label__tiasang Chế phẩm vi sinh cải tạo đất      Nằm trong đề tài thuộc chương trình trọng  điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&amp;PTNT, Chế phẩm vi sinh cải  tạo đất của Ths. Nguyễn Thu Hà – Viện Thổ nhưỡng nông hóa – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam được coi là một trong những giải pháp hiệu quả  góp phần giúp bà con nông dân tiết kiệm được chi phí đầu tư nhưng vẫn  đảm bảo tăng năng xuất cây trồng.    Chế phẩm vi sinh cải tạo đất của tác giả có chứa các vi sinh vật có hoạt tính cố định nitơ, phân giải phốt phát khó tan, phân giải kali khó tan và có tác dụng sinh chất giữ ẩm cho đất rất thích hợp với các loại đất bạc màu, nghèo kiệt về dinh dưỡng, đất khô hạn. Đây là điểm vượt trội hoàn toàn so với các chế phẩm vi sinh hiện đang có ở nước ta.  Ngoài ra, khi sử dụng tại các vùng đất khác chế phẩm vừa có tác dụng cải tạo đất, tăng độ phì cho đất vừa giúp tăng năng suất cây trồng.  Chế phẩm đã được ứng dụng tại các khu vực trồng lạc trên đất cát thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và đã chứng minh được tính ưu việt của mình. Sau khi người nông dân ở đây sử dụng chế phẩm với liều lượng 20kg/1ha năng xuất thu được tăng từ 15% đến 25% so với phương thức canh tác truyền thống.   Ngoài ra, chế phẩm vi sinh cải tạo đất của tác giả không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng như thuốc bảo vệ thực vật từ hóa chất. Góp phần cân bằng hệ sinh thái trong môi trường đất, tăng độ phì nhiêu của đất trong thời gian dài.  Khi sử dụng chế phẩm này, cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng dễ dàng hơn, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản.  Với chi phí rẻ, cách sử dụng và bảo quản đơn giản, phù hợp với nhiều loại đất và nhiều loại cây trồng khác nhau. Chế phẩm vi sinh cải tạo đất của Ths. Nguyễn Thu Hà được coi là sự lựa chọn đúng đắn trong canh tác nông nghiệp của người nông dân, nó vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa thân thiện với môi trường.  Việt  Nam là nước sử dụng phân bón hóa học vào hạng cao nhất thế giới, tổng  lượng phân bón hóa học được sử dụng xấp xỉ 7,7 triệu tấn/năm. Tuy  nhiên, việc sử dụng phân bón chỉ đạt hiệu suất hơn 40%. Ở một số vùng,  tỷ lệ này còn thấp hơn chỉ khoảng 10-20%. Tức là hàng năm chúng ta mất  khoảng 4,62 triệu tấn phân bón, gây lãng phí rất lớn cho người nông dân.  Hơn nữa, việc sử dụng quá nhiều phân bón hóa học khiến đất đai ngày  càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối dẫn đến việc trồng trọt, canh  tác các giống cây trồng về sau ngày càng khó khăn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tác bồi thêm: In khối      Việc chế tạo sản phẩm bằng máy in ba chiều làm thay đổi các quy tắc chế tác.    Bên trong một tòa nhà thấp ở một khu kinh doanh tại Rock Hill, Nam Carolina, có một cảnh mộng về nhà máy của tương lai. Nhiều tá máy kêu vo vo, được giám sát từ một phòng điều khiển được gắn kính ở mặt trước bởi hai người nhìn vào màn hình máy tính. Một vài máy có kích thước bằng chiếc ô tô, các máy khác to cỡ lò vi sóng, nhưng chúng đều có các cửa sổ mà bạn có thể ngó vào. Một máy đang làm đồ trang sức, các máy khác sản xuất kẹp nhựa cho một máy khoan điện, cái chắn bùn cho một ô tô, một chao đèn phức tạp và một chân giả được đặt trước. Một máy thậm chí làm ra các bộ phận để xây dựng nhiều máy giống chính nó.  Đấy là trụ sở của 3D Systems, một hãng do Chuck Hull lập ra, trong một bằng sáng chế năm 1986 ông mô tả một hệ thống, do ông sáng chế để chế tạo các vật thể ba chiều, như “thuật in ba chiều-stereolithography”. Nó hoạt động bằng dùng một tia cực tím để làm rắn một lớp mỏng nhựa lỏng, hơi giống mực, và lặp lại quá trình bằng đưa thêm nhiều nhựa lỏng hơn. Các dạng khác của in 3 chiều (3D) đã nổi lên từ khi đó (xem bài), nhưng tất cả chúng đều hoạt động như một quá trình bồi thêm (additive), xây dựng các vật thể từng lớp một.  Việc in 3D khởi đầu đã được mường tượng như một cách để chế tạo các nguyên mẫu (prototype) một lần, nhưng khi công nghệ trở nên thành thục hơn thì nhiều thứ được in ra như các hàng hóa hoàn tất (một quy trình được biết đến như chế tác bồi thêm). Theo Terry Wohlers, người điều hành một hãng nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, hiện tại khoảng 28% số tiền được chi tiêu cho in các thứ để làm sản phẩm cuối cùng. Ông tiên đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên hơn 50% vào năm 2016 và hơn 80% vào năm 2020. Nhưng nó chẳng bao giờ đạt 100%, ông nghĩ, bởi vì khả năng để chế tạo nguyên mẫu nhanh và rẻ sẽ vẫn là một phần quan trọng.  Có một không hai  Chế tạo các nguyên mẫu một lần có thể đắt kinh khủng, nhưng một 3D printer có thể kéo chi phí xuống rất nhiều. Nhiều mặt hàng tiêu dùng, các bộ phận cơ khí, giày và các mô hình của các kiến trúc sư bây giờ xuất hiện dưới dạng được in 3D cho việc đánh giá của các kỹ sư, các nhà tạo mẫu (stylist) và các khách hàng trước khi tiến hành tiếp. Bất cứ sự thay đổi nào có thể được in lại mau lẹ trong vài giờ hay qua đêm, trong khi đợi một nguyên mẫu mới ló ra từ một xưởng máy có thể tốn hàng tuần. Một số nhà thiết kế đang in rồi các đôi giầy và quần áo mặc ngay được từ các vật liệu nhựa và nylon. Iris van Herpen, một nhà thiết kế mẫu thời trang Hà Lan, đã chế tạo các bộ sưu tập nổi bật cho các sàn diễn. Vẫn chưa ai có thể in da thuộc, nhưng họ đang nghiên cứu làm việc đó.  Vì hầu như không có tiết kiệm theo quy mô (economies of scale) nào trong chế tác bồi thêm, công nghệ phù hợp một cách lý tưởng cho sản xuất số lượng ít. Nó cũng cho phép chế tạo các bộ phận hoàn tất được tùy chỉnh theo đơn hàng của khách. Hàng triệu mão răng (dental crowns) và vòm ốc cho các máy trợ thính được chế tạo từng cái một (cho hợp vòm hốc tai của mỗi người) bằng các máy in 3D.  Được giải thoát khỏi các ràng buộc của các nhà máy truyền thống, chế tác bồi thêm cho phép các nhà thiết kế tạo ra các thứ mà trước đây được coi là quá phức tạp để chế tạo một cách kinh tế. Đó đã có thể vì các lý do thẩm mỹ, nhưng các kỹ sư cũng tìm thấy các ứng dụng thực tiễn nữa. Thí dụ, các chất lỏng chảy hiệu quả hơn qua các kênh tròn nhẵn hơn là chảy quanh các góc sắc cạnh, nhưng rất khó để chế tạo các kênh như vậy bên trong một kết cấu kim loại bằng các phương tiện truyền thống, trong khi một máy in 3D có thể làm việc đó dễ dàng. 3T RPD, một hãng Anh chào mời các dịch vụ chế tác bồi thêm, đã in một hộp số cho một chiếc xe đua với các đường dẫn nội tại nhẵn cho dầu thủy lực thay cho các đường uốn vuông góc được khoan xuyên. Hộp số không chỉ cho phép đổi số nhanh hơn mà cũng nhẹ hơn khoảng 30%, Ian Halliday, giám đốc của hãng, nói. Một máy bay chiến đấu Boeing F-18 chứa nhiều bộ phận được in như các đường ống khí, vì các lý do tương tự.  Tiết kiệm trọng lượng là phần hấp dẫn của các bộ phận được in 3D. Với các vật thể được xây dựng từng lớp một, có khả năng dùng chỉ đúng lượng vật liệu để làm cho bộ phận hoạt động. Chế tạo các thứ trong một nhà máy truyền thống đòi hỏi thêm các mép bích và các giá đỡ sao cho các vật thể có thể được cầm nắm, phay và đúc bằng các máy công cụ, và tạo ra các bề mặt cho các bộ phận được chốt hay hàn lại với nhau. Một máy in 3D có khả năng in các thứ như một bộ phận hoàn chỉnh mà không cần lắp ráp. Thậm chí có thể chế tạo các vật thể cơ khí với các bộ phận chuyển động một lèo.  Việc này hứa hẹn các khoản tiết kiệm lớn về chi phí vật liệu. Trong công nghiệp hàng không vũ trụ các bộ phận kim loại thường được chế tạo từ một thanh titan đặc hảo hạng rất đắt tiền. Điều này có thể có nghĩa rằng 90% vật liệu bị cắt bỏ, và phoi bào là vô ích cho việc chế tạo máy bay. Tuy vậy, bột titan có thể được dùng để in các thứ như một giá cho cửa máy bay hay bộ phận của một vệ tinh. Những cái này có thể vững chắc như bộ phận được chế tạo bằng cắt gọt nhưng chỉ dùng 10% nguyên liệu, theo các nhà nghiên cứu tại EADS, consortium hàng không vũ trụ Âu châu mà là công ty mẹ của Airbus.  Khả năng để tạo ra các thiết kế hết sức phức tạp với phần mềm máy tính hùng mạnh và chuyển chúng thành các vật thể thực tế với việc in 3D đang tạo ra một ngôn ngữ thiết kế mới. Các món được in 3 chiều thường có dáng nhìn hữu cơ, tự nhiên. “Tự nhiên đã tìm ra một số thiết kế rất hiệu quả, và thường là tốt đi bắt chước chúng,” Wim Michiels, phó chủ tịch của Materialise, một hãng Bỉ sử dụng chế tác bồi thêm để chế tạo hàng loạt sản phẩm, kể cả các dụng cụ y tế, nói. Bằng cách kết hợp kết cấu bên trong tinh vi, giống mạng (tổ ong) của xương tự nhiên, vào miếng xương kim loại thay thế, chẳng hạn, có thể làm cho nó nhẹ hơn miếng được cắt gọt bằng máy rất nhiều mà không mất độ bền chắc, tích hợp dễ hơn với xương của chính bệnh nhân và có thể được làm một cách chính xác để hợp với bệnh nhân dự kiến. Năm vừa rồi các bác sĩ phẫu thuật Hà Lan đã in một xương quai hàm mới bằng titan cho một phụ nữ bị nhiễm trùng xương mãn tính.  Bây giờ nhiều công ty đang muốn biết về tác động mà chế tác bồi thêm sẽ có đối với việc kinh doanh của họ. Một số coi công nghệ này rất nghiêm túc; GE, vì một lý do, đang khám phá có thể dùng việc in 3D như thế nào trong mọi hoạt động của nó. Nó đã có một sản phẩm trong quá trình, ở dạng của một máy quét (scanner) siêu âm nhỏ. Các scanner như vậy được các bác sỹ sử dụng để tạo ra một bức ảnh về các đặc tính ở bên trong cơ thể, như đứa trẻ chưa đẻ. Kích thước, trọng lượng và giá thành của bảng lấy ảnh đã giảm nhiều, nhưng đầu dò được đặt trên cơ thể về cơ bản vẫn không thay đổi và hiện nay là phần đắt nhất của hệ thống. Đầu dò phát các xung siêu âm và nhận các tín hiệu phản xạ lại, sử dụng chúng để tạo ra các ảnh. Nó chứa các kết cấu áp điện (piezoelectric: biến áp suất thành điện) nhỏ xíu mà được chế tạo bằng vi-cắt gọt rất cẩn thận một khối vật liệu gốm rất dễ vỡ.  Bây giờ GE đã phát triển một hệ thống bồi thêm để in bộ biến năng đó của đầu dò. Việc này sẽ làm giảm rất nhiều chi phí sản xuất và cho phép phát triển các scanner xách tay rẻ tiền, không chỉ cho y tế mà cho cả việc kiểm tra hàng không vũ trụ và các kết cấu công nghiệp để tìm ra các vết nứt.  Lặp lại theo tôi  Công nghệ này có thể đi xa đến đâu? Idelchik, từ GE Global Research, đặt tầm nhìn của mình cao: “Một ngày nào đó chúng tôi sẽ in một động cơ.” Nhưng nhiều nhà chế tạo, như GE và Rolls-Royce, tin rằng dạng nào đó của hệ thống in lai ghép sẽ nổi lên. Hệ thống này sẽ tạo ra sự phác họa của một hình thù, như thế tiết kiệm vật liệu, mà sau đó được cắt gọt chính xác.  Replicator (Bộ sao), một hệ thống chế tác nhanh robotic do Cybaman Technologies, một hãng Anh, chế tạo, đã đến rất gần đích. Có kích thước một chiếc tủ lạnh lớn, nó có cả khả năng chế tác cắt gọt (subtractive) và bồi thêm (additive). Nó sử dụng một hệ thống lắng dựa vào laser để tạo hình thù cơ bản mà được hoàn tất bằng cắt gọt chính xác. Replicator, như hợp với tên (bộ sao chép) của nó, cũng có khả năng kỹ thuật đảo ngược (reverse engineering) bằng cách quét số một đối tượng đặt bên trong nó để tạo ra dữ liệu cần thiết để xây dựng một bản sao chính xác.  Replicator là gần như công nghệ hiện tại có thể tiến đến bộ sao từ xa (teleporter) của khoa học viễn tưởng. Nó có thể quét một vật thể ở một nơi và bảo một máy khác ở nửa kia của trái đất làm thế nào để tạo ra một bản sao. Điều đó có nghĩa, chẳng hạn, rằng các bộ phận thay thế cần khẩn cấp có thể được chế tạo ở các nơi xa xôi mà không cần phải chuyên chở bất cứ thứ gì. Ngay cả các bộ phận không còn sẵn có nữa cũng có thể được tái tạo, bằng quét phần bị vỡ, sửa nó bằng máy tính và sau đó in một bản mới. Cơ hội là, tuy vậy, sẽ có các thư viện số trực tuyến cho các bộ phận và sản phẩm không còn có sẵn nữa. Hệt như sự nổi lên của các sách điện tử có nghĩa là các cuốn sách có thể chẳng bao giờ còn ở nhà in, các bộ phận luôn luôn vẫn sẵn có. Các thợ sửa chữa cơ khí có thể có các máy in 3D xách tay trong xe tải của họ, hay các cửa hàng bán máy có thể chào các dịch vụ in bộ phận (để thay).  Các máy in 3D sẽ cũng là vô giá ở các vùng hẻo lánh. Deon de Beer từ Đại học Công nghệ Vaal gần Johannesburg đang tiến hành một dự án được gọi là Idea 2 Product Lab mà nó dùng các máy in 3D rẻ tiền cho đào tạo và nhen lên sự quan tâm đến thiết kế và chế tác giữa các sinh viên. Khi dựng một lab (phòng thí nghiệm) tương tự tại khu phụ của đại học tại Upington, một vùng phần lớn là nông thôn ở Miền Bắc Cape, nhóm của ông thấy thiếu một cờ lê phẳng loại đặc biệt. Thay cho đợi nhiều ngày để đúng dụng cụ ấy được gửi tới, họ đã in một chiếc và hoàn tất công việc.  Thay cho một chiếc cờ lê, đấy có thể là một bộ phận nhựa nhỏ, có lẽ để sửa chữa một thiết bị trong một bệnh viện địa phương hay để sửa một máy nông nghiệp, Mr de Beer nói. Ông tin các máy in 3D có thể “tạo ra một dòng giống mới của các kỹ sư cơ khí”, đặc biệt ở các vùng nông thôn.       Một số người đã có máy in 3D ở nhà rồi. Giá hệ thống in 3D công nghiệp khởi đầu vào khoảng $15.000 và lên đến hơn 1 triệu $, Wohlers nói. Nhưng các máy để bàn rẻ hơn đang tạo ra một thị trường hoàn toàn mới (xem hình 5). Đấy là các hobbyist (người thú say mê), những người thích tự làm, những người thích mày mò, các nhà sáng chế, các nhà nghiên cứu và các nhà khinh doanh khởi nghiệp. Một số hệ thống in 3D có thể được xây dựng từ các bộ đồ lề (kit) và sử dụng phần mềm nguồn mở. Nhưng các nhà sản xuất lớn về máy in 3D cũng đang bước vào thị trường.  3D Systems, hãng sản xuất các máy chế tạo nguyên mẫu và máy công nghiệp, bây giờ đang tung ra một dải các máy in 3D nhỏ, được gọi là Cube, mà có thể chế tạo các thứ như đồ chơi, các quân cờ và các đồ trang trí. Chúng được phát triển cùng với một platform trực tuyến được gọi là Cubify để cung cấp các dịch vụ cho một cộng đồng người dùng. Có giá $1.299, Cube in bằng cách đặt một lớp mỏng vật liệu từ hộp (mực), có màu sắc khác nhau. Cái này cứng lại như một chất nhựa cứng. Chúng có thể tạo ra các bộ phận lớn đến 5,5 inch (140mm) với chi phí điển hình về vật liệu khoảng $3,5. Chất lượng chưa đạt chất lượng của máy in công nghiệp, nhưng đủ tốt cho nhiều người. Các tác phẩm chất lượng cao có thể tải lên để nhờ dịch vụ in trực tuyến của Cubify.  Dải sản phẩm mới không chỉ về in các thứ, Abe Reichental, giám đốc 3D Systems, nói. Nó cũng là về đơn giản hóa quá trình tạo ra các sản phẩm và để cho người dân sử dụng sức mạnh của web để chia sẻ các ý tưởng. “Đấy là một cuộc cách mạng chế tác cá nhân,” ông nói.  Nguyễn Quang A dịch  —  Đọc thêm:  * Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5530  * Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5531  * Lợi thế cạnh tranh: Hiệu ứng boomerang  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5547&CategoryID=7  * Vật liệu: Tiến lên phía trước  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5559&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tác cộng tác: Tất cả cùng nhau bây giờ      Internet lcho phép các nhà chế tác truyền thống mua các bộ phận và việc lắp ráp từ khắp nơi trên thế giới. Khi các dịch vụ online và phần mềm lan rộng hơn, chúng cũng sẽ cho phép các khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất.    Thành phố New York một thời đã là thủ phủ của chế tác ở Mỹ, với hơn 1 triệu người làm việc trong khu vực này trong năm 1950. Ngày nay con số đó đã co lại chỉ còn 80.000, và họ được thuê làm chủ yếu bởi các nhà sản xuất đặc biệt trong các lĩnh vực như trang bị đồ đạc, chế biến thực phẩm và cụm tạo thành khu may mặc sống động của Manhattan. Thế nhưng được nuôi dưỡng bởi tinh thần kinh doanh khởi nghiệp của thành phố, một ngành mới đang nổi lên. Nó có thể được gọi là chế tác xã hội (social manufacturing).  Một trong các hãng liên quan là Quirky (rất độc đáo), rất thức thời như tên nó gợi ý. Studio thiết kế mới của nó trong một nhà kho được cải biến ở gần sông Hudson bao gồm một nhà máy nhỏ hoàn tất với một cặp máy in 3D, một máy cắt laser, các máy phay, một buồng sơn phun và một ít thiết bị khác. Xưởng chế tạo nguyên mẫu này là cốt yếu đối với việc kinh doanh của Quirky về biến các ý tưởng của những người khác thành các sản phẩm.  Với sự trợ giúp của một cộng đồng online gia tăng, Quirky đưa ra hai sản phẩm tiêu dùng mới một tuần. Nó hoạt động như thế này: một người dùng đệ trình một ý tưởng và nếu đủ số người thích nó (như trên Facebook), thì nhóm phát triển-sản phẩm của Quirky làm một nguyên mẫu. Những người dùng soát xét nguyên mẫu này online và có thể đóng góp cho thiết kế cuối cùng, cho việc đóng gói và tiếp thị nó, và giúp định giá cho nó. Quirky sau đó tìm kiếm các nhà chế tạo phù hợp. Sản phẩm được bán trên website của Quirky và, nếu cầu tăng, tại các chuỗi bán lẻ. Quirky cũng quản lý các bằng sáng chế và sự chuẩn y tiêu chuẩn và trả một phần 30% của doanh thu từ việc bán trực tiếp cho các nhà sáng chế và những người khác đã giúp đỡ.  Sản phẩm thành công nhất của Quirky cho đến nay được gọi là Pivot Power. Nó là ổ cắm điện có giá $29,99 với các nút cắm có thể điều chỉnh, làm cho việc cắm các bộ sạc khác nhau dễ hơn. Jake Zien từ Milwaukee đưa ra ý tưởng khi anh còn ở trung học, đã trình nó cho Quirky và đã được 709 người giúp để đưa nó ra thị trường. Vào đầu tháng Tư, với hơn 200.000 ổ được bán, Zien đã kiếm được $124.000 từ sáng chế của mình.  Bằng cách sử dụng cộng đồng của nó như một phương tiện phổ biến, Quirky có thể nhanh chóng xác định nếu có thị trường cho một sản phẩm và định đúng giá trước khi cam kết chế tạo nó. Phần lớn việc chế tạo của hãng được thực hiện bởi các nhà thầu phụ ở châu Á, đặc biệt ở Trung Quốc. Tốc độ mà họ có thể biến các thiết kế thành sản phẩm là khó sánh kịp ở bất cứ nơi nào khác, Ben Kaufman, giám đốc điều hành của Quirky, nói. Chế tác bồi thêm (additive manufacturing) vẫn chưa có khả năng làm việc này trên quy mô lớn, ông chỉ ra, nhưng điều đó có thể thay đổi.  Quirky hy vọng sản xuất nhiều thứ hơn ở Mỹ bởi vì nó thấy các lợi ích trong việc ở gần công nghệ chế tác. “Lượng sáng tạo xảy ra khi bạn đứng cạnh một chiếc máy làm ra hàng trăm ngàn thứ là lớn hơn rất nhiều so với khi bạn làm việc cách xa 4.000 dặm,” Kaufman nói. “Bạn động não xem có thể thiết kế cái gì khác nữa cho cái máy thực hiện.”  Shapeways, một cộng đồng chế tác online khác, chuyên về các dịch vụ in 3D. Được thành lập năm 2007 tại Eindhoven ở Hà Lan, nơi nó duy trì một trung tâm sản xuất Âu châu, công ty đã chuyển hội sở của mình đến Thành phố New York, nơi nó dựng lên một trung tâm in 3D thứ hai. Năm ngoái Shapeways đã giao 750.000 sản phẩm, và số hàng tăng lên nhanh chóng. Những người dùng của Shapeways tải thiết kế của họ lên để nhận được báo giá tự động ngay cho việc in bằng các máy in 3D với các loại vật liệu khác nhau. Những người dùng cũng có thể bán hàng hóa của họ online, định giá riêng của họ. Một số thiết kế có thể được những người mua tùy chỉnh, thí dụ bằng đưa tên viết tắt của họ lên khuy măng sét.  Sự tiếp cận dễ dàng đến việc in 3D có ba hệ lụy lớn cho chế tác, Peter Weijmarshausen, giám đốc điều hành của Shapeways, nói. Thứ nhất là tốc độ ra thị trường: Shapeways đã có các vỏ bọc cho iPad để bán chỉ bốn ngày sau khi Apple lần đầu tung sản phẩm ra năm 2010. Thứ hai, rủi ro của việc gia nhập thị trường giảm xuống hầu như bằng không bởi vì các nhà kinh doanh có thể kiểm chứng (test) các ý tưởng trước khi tăng quy mô và tinh chỉnh thiết kế khi phản ứng lại các phản hồi từ những người mua. Một số sản phẩm của Shapeways trải qua 20-30 bước lặp chỉnh sửa một năm. Và thứ ba, trở nên có thể để chế tạo các thứ mà không thể làm được bằng cách khác, thường bởi vì chúng quá phức tạp để được cắt gọt bằng máy.  Bạn có thể tưởng tượng?                      Có nhiều ngạc nhiên về cái người ta đưa ra. Các thí dụ gần đây bao gồm các dụng cụ bò giống cua bò, một số được đẩy bằng một cối xay gió nhỏ, được Theo Jansen, một nghệ sỹ Hà Lan (những người Hà Lan có vẻ có một ái lực tự nhiên với in 3D), thiết kế. Các đồ này được in một lèo, hoàn tất với tất cả các phần chuyển động. “Nếu bạn để cho người dân tiếp cận đến công nghệ sáng tạo theo cách không gây kinh hoàng thì họ sẽ tìm những cách để dùng nó mà bạn không thể tưởng tượng nổi,” Weijmarshausen nói. Và công nghệ đó đang trở nên dễ dùng hơn trong mọi lúc. Khi Shapeways bắt đầu, nửa số các file được tải lên đã không thể in được bởi vì các lỗi hay thiếu sót. Bây giờ tỷ lệ thành công đã tăng lên 91%, nhờ phần mềm tự động sửa chữa các sự cố.  Rajeev Kulkarni, người vận hành mảng kinh doanh tiêu dùng của 3D Systems, muốn máy in 3D tiêu dùng đầu tiên của hãng ông phải thật đơn giản cho trẻ em sử dụng. Cubify, dịch vụ khách hàng online của nó, cũng cung cấp dịch vụ in 3D và thương mại điện tử, và đang hình thành các nhóm đối tác với các tổ chức như Freedom Of Creation, một nhóm thiết kế chuyên về các sản phẩm được in ba chiều.   Một khi dưới dạng số, các thứ trở nên dễ sao chép. Điều này có nghĩa việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ khó hệt như ở các ngành khác đã được số hóa. Nội dung online sẽ cần kiểm tra sự vi phạm, Kulkarni nói. Và sẽ có một số lĩnh vực tế nhị. Thí dụ, cái gì xảy ra nếu một khách thăm Disney World ở Florida chụp một loạt ảnh về lâu đài Cinderella, biến chúng thành một file 3D và dùng nó để in và bán các mô hình của lâu đài online? Kulkarni ung dung: “Đấy là cái gì đó chúng ta sẽ phải tìm cách giải quyết, nhưng không phải là một chướng ngại đối với đổi mới.”  Internet cho phép các nhà chế tác truyển thống  mua các bộ phận và việc lắp ráp từ khắp nơi trên thế giới. Một nhóm online, MFG.com, có trụ sở tại Atlanta, cung cấp một nguồn phong phú các dịch vụ chế tác với hơn 200.000 thành viên ở 50 nước. Các hãng dùng nó để kết nối và cộng tác, tải các thiết kế số lên, nhận các chào giá và đánh giá các dịch vụ được cung cấp. Theo cách nào đó, các cộng đồng chế tác online giống như cộng đồng này có thể trở thành một cụm ảo tương đương với một cụm công nghiệp.  Khi các dịch vụ online và phần mềm lan rộng hơn, chúng cũng sẽ cho phép các khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất. Thí dụ, Dassault Systèmes, một hãng phần mềm Pháp, đã tạo ra một môi trường ảo online mà trong đó các nhân viên, các nhà cung cấp và các khách hàng có thể làm việc cùng nhau để biến các ý tưởng mới thành thực tế. Nó thậm chí còn cung cấp các manikin giống như người thật để thử các thứ mới trên đó. Cách các sản phẩm có thể hỏng, chúng có thể được sửa thế nào và chúng có thể được tháo rời ra sao để vứt đi, cũng có thể được mô hình hóa bằng máy tính. Các hãng phần mềm gọi các dịch vụ như vậy là “quản lý vòng đời sản phẩm” bởi vì chúng mở rộng mô hình hóa máy tính từ sự thai nghén một sản phẩm đến sự chết của nó, mà ngày nay có nghĩa là tái chế.  Hệt như việc số hóa đã giải phóng một số người khỏi làm việc trong một văn phòng, cùng điều đó sẽ xảy ra trong ngành chế tác. Thiết kế sản phẩm và mô phỏng bây giờ có thể được tiến hành trên một máy tính cá nhân và có thể được tiếp cận đến thông qua đám mây bằng các dụng cụ như các điện thoại thông minh, Rochelle từ Autodesk, công ty phần mền ở Thung lũng Silicon, nói. Nó có nghĩa là các nhà thiết kế và các kỹ sư có thể làm việc trên một sản phẩm và chia sẻ các ý tưởng với những người khác từ bất cứ đâu. Việc này gây ra cái gì cho chế tác? Cách mà Rochelle thấy, “nó có nghĩa nhà máy của tương lai có thể là tôi, ngồi trong văn phòng tại nhà mình.”        Đây cũng là bài cuối cùng trong loạt bài về Chế tác và Đổi mới  (Manufacturing and Innovation) trong số đặc biệt của The Economist ra ngày 21/4/2012 do TS Nguyễn Quang A dịch.          Nguyễn Quang A dịch  —  Đọc thêm:  * Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5530  * Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5531  * Lợi thế cạnh tranh: Hiệu ứng boomerang  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5547&CategoryID=7  * Vật liệu: Tiến lên phía trước  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5559&CategoryID=7  * Chế tác bồi thêm: In khối  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5561  * Từng lớp một hay máy in 3D hoạt động thế nào  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5580&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo gạch lát vỉa hè từ xỉ phế thải      TS Trần Văn Miền, giảng viên bộ môn Vật liệu  xây dựng đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh và các  cộng sự đã nghiên cứu thành công công nghệ sản phẩm gạch lát vỉa hè từ  xỉ phế thải.    Theo đó, nhóm nghiên cứu đã phối trộn 30 – 50% xỉ sắt với nước và xi măng, tạo ra hỗn hợp bêtông rỗng có cường độ nén và chịu kéo cao nhất. Từ đây, sản xuất ra được sản phẩm tương tự loại gạch hiện dùng để lát vỉa hè.   Theo ước tính, giá thành loại bêtông này khoảng 100.000 đồng/m², rẻ hơn nhiều so với các loại gạch lát con sâu hiện nay. Các nhà máy gang, thép ở Việt Nam mỗi năm thải ra khoảng 451.000 tấn xỉ, nếu không xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo lớp phủ thực phẩm ăn được và có độ bền cao từ vỏ chanh dây      Nghiên cứu mới từ Đại học Johannesburg (Nam Phi) cho thấy hàm lượng chất chống oxy hóa và polyphenol cao trong vỏ chanh dây có tiềm năng lớn trong bảo quản trái cây tươi và sản xuất lớp phủ thực phẩm ăn được, giúp kéo dài thời gian bảo quản và giảm thiểu sử dụng bao bì nhựa.    Các loại bột (hàng trên) được chụp với độ phóng đại 500X (hàng dưới). Nguồn: phys.org  Các nhà nghiên cứu đã chiết xuất vỏ chanh dây (Passiﬂora edulis Sims) ở dạng bột vi bao đông khô từ một trang trại hữu cơ. Giống chanh dây này nổi tiếng với nhiều giá trị ứng dụng trong y học. Trên toàn cầu, người ta chủ yếu trồng chanh dây để làm nước cô đặc.  Trong nghiên cứu mới công bố trên Antioxidants, các tác giả cho biết loại bột này có các đặc tính cần thiết để tạo ra lớp phủ thực phẩm chất lượng, ổn định và có thể ăn được. Ngoài ra, người ta cũng có thể dùng loại bột nó làm thành phần chức năng trong phụ gia thực phẩm tự nhiên.  “Oxy là tác nhân gây ra nhiều biến đổi sinh hóa. Vì vậy, chúng tôi muốn hạn chế lượng oxy xâm nhập vào sản phẩm. Đồng thời, chúng tôi cũng muốn hạn chế tình trạng mất nước của thực phẩm. Lớp phủ thực phẩm ăn được có thể giải quyết cả hai vấn đề này”, GS. Olaniyi Fawole ở Đại học Johannesburg, cho biết. “Việc bao phủ sản phẩm sẽ tạo ra rào chắn giúp giảm thiểu tác động của môi trường giàu oxy. Đồng thời, làm phủ sẽ giữ độ ẩm bên trong, ngăn chặn quá trình mất nước”.  Một lớp phủ thực phẩm lý tưởng phải chứa chất kháng khuẩn và có hàm lượng chất chống oxy hóa cao để ngăn ngừa hư hỏng do quá trình oxy. Ngoài ra, lớp phủ cũng không được ảnh hưởng đến màu sắc, hình thức hoặc mùi vị của sản phẩm.  Trong nghiên cứu mới, nhóm tác giả đã phát triển loại bột vi bao có hàm lượng polyphenol và chất chống oxy hóa cao từ vỏ chanh dây ứng dụng trong bảo quản thực phẩm. Điều này có ý nghĩa rất lớn bởi chất chống oxy hóa và các hợp chất có hoạt tính sinh học khác dễ bị phá hủy bởi các quy trình công nghiệp, độ pH, nhiệt độ cao, oxy, ánh sáng, dung môi và các ion kim loại.  Họ đã sử dụng một trong ba chất bao là gôm arabic, maltodextrin hoặc tinh bột sáp. Kết quả đo lường cho thấy hiệu quả đóng gói của ba chất bao đạt mức 82,64-87,18%. Như vậy, lớp vi bao của các hạt bột phủ có khả năng bảo quản tốt các chất chống oxy hóa và polyphenol.  Sau đó, họ phân tích từng loại bột đã được vi bao để đánh giá hàm lượng polyphenol và chất chống oxy hóa. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng hai phương pháp phân tích để làm rõ ảnh hưởng của phương pháp bao gói đến khả năng chống oxy hóa của các hợp chất có hoạt tính sinh học trong các vi hạt.  Theo phương pháp bắt gốc tự do DPPH, cả ba chất mang đều chứa 45,85-51,29 mM đương lượng Trolox(TE)/g DM (WS). Với phương pháp khử sắt (FRAP), các chất mang chứa 32,30-37,47-mM TE/g DM. (Trolox là một chất chống oxy hóa có thể hòa tan trong nước tổng hợp, được sử dụng làm chất chống oxy hóa tiêu chuẩn trong các thử nghiệm chống oxy hóa).  Hiện nay, người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn các chất  thay thế chất chống oxy hóa tổng hợp vì lo ngại độ an toàn. “Kết quả cho thấy, bột vi bao có thể là giải pháp khả thi để thay thế chất chống oxy hóa tổng hợp với những đặc tính giá trị như chống hóa nâu và chống lão hóa. Thêm vào đó, một ưu điểm khác của chúng là có thể ăn được,” Fawole nói. Ông cho biết thêm, ngoài ứng dụng làm lớp phủ thực phẩm, loại bột này rất phù hợp để làm phụ gia thực phẩm tự nhiên.  “Một lớp phủ ăn được hoặc chất bảo quản thực phẩm tự nhiên có thể hiệu quả, nhưng nếu nguyên liệu thô sản xuất ra lớp phủ đó không ổn định thì vô ích. Chẳng hạn, nếu nó hút ẩm thì không thể ứng dụng trên quy mô công nghiệp”, Fawole nói. Tuy nhiên, “các loại bột vi bao từ vỏ chanh dây không hút ẩm trên cả ba chất mang. Nếu được đóng gói cẩn thận và bảo quản ở nơi mát mẻ và khô ráo, thời hạn sử dụng của chúng có thể lên tới sáu tháng. Ngoài ra, bạn có thể mở hộp ra, lấy ra phần cần dùng và đóng lại, phần còn lại vẫn không bị hỏng và có thể sử dụng cho những lần tiếp theo”. □  Thanh An lược dịch   Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-passion-fruit-yields-high-antioxidant.html    Author                .        
__label__tiasang Chế tạo mô tơ, bánh răng siêu nhỏ dựa trên công nghệ vi cơ điện tử      Từ năm 2009, nhóm nghiên cứu trẻ tại Viện Cơ  khí Đại học Bách khoa Hà Nội do TS. Phạm Hồng Phúc đứng đầu, đã đi sâu  nghiên cứu phát triển các hệ thống vận chuyển micro, các hệ thống micro  trên chip phục vụ cho các thí nghiệm của ngành y sinh và nghiên cứu vật  liệu mới.       Mục tiêu cụ thể của đề tài là nghiên cứu và chế tạo một số vi cơ cấu phục vụ cho hệ thống micro robot như bánh răng truyền động, mô tơ dẫn, tay kẹp… sử dụng công nghệ vi cơ điện tử (MEMS). Đây là những bộ phận quan trọng để tạo nên một hệ thống micro robot ứng dụng trong nghiên cứu vật liệu mới với mục đích vận chuyển, phân loại, kiểm tra vi mẫu (như các ống cacbon kích thước nano) hoặc trong các phòng thí nghiệm y sinh để chuyên chở và kiểm tra mẫu máu, mẫu tế bào cần xét nghiệm.   Sau ba năm thực hiện, nhóm nghiên cứu đã đạt được một số kết quả là chế tạo thành công sản phẩm vi cơ cấu như mô tơ tĩnh điện, hệ bánh răng, hệ thống tay kẹp sử dụng lực tĩnh điện hoặc nhiệt, mặt nạ chủ; lập bản vẽ thiết kế hệ thống mô tơ, bánh răng, tay kẹp; lập được một bộ quy trình chế tạo chíp dùng mặt nạ đơn và tấm silic kép (SOI) dựa trên công nghệ vi cơ khối. Các tài liệu, báo cáo của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho đào tạo đại học và sau đại học.  Kết quả của đề tài thể hiện tính mới trong thiết kế cấu trúc hệ thống mô tơ/bánh răng và sản phẩm chính đạt được. Nhóm nghiên cứu đã nắm bắt và làm chủ một loại công nghệ MEMS tiên tiến là công nghệ vi cơ khối, có thể sử dụng và hiệu chỉnh các máy móc hiện đại phục vụ quá trình gia công. Trong tương lai, đề tài có thể được phát triển ở quy mô lớn hơn nhằm tạo ra một sản phẩm hoàn thiện và có tính ứng dụng cao ví dụ như hệ thống vi bơm dùng trong y tế để bơm thuốc/hóa chất (vi lượng) vào các khu vực cần điều trị/trị xạ trong cơ thể con người.  Các thiết bị vi cơ điện tử chế tạo bằng công nghệ MEMS hiện đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như các cảm biến đo áp suất lốp, đo gia tốc trên ô tô, đo lực…và có tiềm năng ứng dụng cho các sản phẩm vi cơ điện tử trong y học, công nghệ y sinh và vật liệu mới.   Ở Việt Nam, công nghệ MEMS bắt đầu được quan tâm phát triển trong vài năm gần đây tại một số trung tâm nghiên cứu lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Viện Khoa học Vật liệu – thuộc Viện Khoa học Việt Nam, Đại học Bách khoa Hà Nội…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo robot ngụy trang từ cơ nhân tạo trong suốt      Khả năng biến đổi trong suốt là một lợi thế tiến hóa quan trọng, cho phép động vật trà trộn vào môi trường xung quanh để lẩn tránh kẻ săn mồi hoặc che dấu chuyển động. Các loại robot với khả năng tương tự sẽ giúp chúng ta có những ứng dụng giá trị, chẳng hạn như hỗ trợ nghiên cứu và theo dõi động vật tại môi trường sống tự nhiên của chúng.      Gần đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS) đã chế tạo được một lớp cơ nhân tạo trong suốt có thể sử dụng để chế tạo robot có khả năng ngụy trang như sinh vật. Cấu trúc độc đáo này được giới thiệu trong một bài trình bày tại Hội nghị quốc tế IEEE về Robot và Phỏng sinh học (ROBIO) năm 2019. Nó dựa trên loại polymer có hoạt tính điện hóa gọi là DEA (Dielectric Elastomer Actuators Chất cơ động đàn hồi điện môi) thường được sử dụng để chế tạo robot thân mềm, cơ nhân tạo và các thiết bị mềm dẻo.  Mặc dù có những đặc tính lợi thế như linh hoạt và dẫn điện, DEA thường không thể bắt chước được bề ngoài trong suốt của những loài động vật có khả năng ngụy trang. Trên thực tế, hầu hết các polymer này làm từ vật liệu sẫm màu như mỡ carbon. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Singapore đã tạo ra một loại cơ nhân tạo sử dụng DEA làm từ hỗn hợp vật liệu sáng màu hơn.  “Trong công trình này, các cơ nhân tạo trong suốt được tạo ra bằng cách sử dụng hỗn hợp poly (3,4-ethylenedioxythiphene): poly(styrenesulfonate) hay còn gọi là PEDOT: PSS và nhựa polyurethane hệ nước (WPU) làm điện cực tuân thủ [ở giữa các lớp DEA]”, các nhà nghiên cứu viết trong bài báo của họ.  Khác với mỡ carbon và các vật liệu khác, hỗn hợp PEDOT:PSS/WPU tạo ra một chất đặc dẫn điện nhưng trong suốt. Trong loạt đánh giá ban đầu, cơ nhân tạo có độ căng cảm ứng điện áp đạt 200% và truyền được 88% trên toàn bộ phổ ánh sáng khả kiến.  Để chứng minh tính khả thi và lợi thế của các cơ nhân tạo này, các tác giả đã sử dụng chúng để chế tạo một robot thân mềm hoàn toàn trong suốt có khả năng hòa lẫn với môi trường xung quanh. Đây là một trong những robot trong suốt đầu tiên có khả năng ngụy trang hiệu quả trên đất liền – thách thức hơn nhiều so với ngụy trang trong suốt ở dưới nước.  “Robot này có thể rung không đối xứng ở những tần số cụ thể và chuyển động tịnh tiến trong khi vẫn giữ được ngụy trang với môi trường nhiều màu sắc xung quanh”, các nhà nghiên cứu giải thích trong bài báo.  Kết quả ban đầu về robot này rất hứa hẹn – chúng có thể di chuyển hiệu quả và tự che dấu tốt. Trong tương lai, các nhà sinh vật học có thể sử dụng robot này để nghiên cứu những hành vi khó quan sát ở động vật, chẳng hạn như mối quan hệ giữa con mồi và kẻ săn mồi. Thêm vào đó, cơ nhân tạo sử dụng hỗn hợp PEDOT:PSS / WPU có thể tạo ra những robot khác lấy cảm hứng từ động vật tự ngụy trang.  Trong những nghiên cứu tiếp theo, các nhà khoa học có thể tìm cách tăng độ bền và sức chịu tải của robot, ví dụ sử dụng những điện cực trong suốt khác nhau và gắn thêm lớp bảo vệ lên cơ bắp của robot.  Họ cũng lên kế hoạch đưa thêm những thành phần điện tử như nguồn điện, bảng mạch và bộ điều khiển vào robot thân mềm; đồng thời điều chỉnh các thành phần cấu tạo và cấu trúc cơ thể robot tương ứng. Mục tiêu cuối cùng là robot có thể tự hành (không cần nguồn năng lượng bên ngoài) trong thời gian dài hơn.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-07-transparent-artificial-muscle-enable-camouflaging.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thành công cánh tay robot có thể gấp được cho Drone      Lấy cảm hứng từ kỹ thuật gấp xếp Origami của Nhật Bản, các nhà khoa học Hàn Quốc đã phát triển cánh tay robot có thể co duỗi được dùng cho các thiết bị bay không người lái (drone).      Trước đây việc sử dụng Drone vào các hoạt động sản xuất còn bị hạn chế do thiếu nhiều tính năng. Nguồn: Planet Wissen  Trước đây, người ta có thể cho Drone bay trên các ống khói hoặc các ống dựng đứng nhưng chúng chưa thể chui vào ống khói, nay các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã phát triển thêm các tính năng để chúng có thể thực hiện được điều đó.  Phát minh này sẽ mở rộng hơn nữa khả năng sử dụng drone: được gợi ý từ kỹ thuật gấp xếp truyền thống Origami của Nhật Bản, họ đã phát triển một loại cánh tay robot nhẹ, có khả năng co duỗi và được trang bị một camera nên có khả năng chui vào các ống, ống khói hoặc những vị trí nhỏ hẹp khác. Nhóm nghiên cứu do nhà nghiên cứu  Kyu-Jin Cho thuộc đại học Seoul (Hàn Quốc) đã giới thiệu thiết bị này trên tạp chí chuyên đề Science Robotic.  Các nhà nghiên cứu cho rằng “Cấu trúc thiếu độ bền là hạn chế chính để áp dụng những cải tiến mới. Vì vậy chúng tôi cải thiện điều đó bằng kỹ thuật phỏng theo kỹ thuật gấp giấy Origami“, thêm một bộ phận trong hộp gấp có kết cấu nhỏ gọn (cao 10cm và rộng 4cm.   Ở trạng thái duỗi, cánh tay robot thiết bị khoá kẹp giữa đáy và nắp hộp và tạo nên độ cứng. Theo các nhà khoa học cái hộp có thiết bị khoá có khả năng chịu uốn cao hơn và khả năng chống chèn ép cao hơn 200 lần so với hộp không có bộ phận khoá. Khi co cánh tay robot dài 4 cm và khi duỗi là 70 cm.  Để giảm trọng lượng Cho và cộng sự dự kiến chỉ lắp một động cơ điện. Động cơ này được kết nối với bẩy cái hộp xếp chồng lên nhau và thiết bị khoá thông qua dây chằng. Khi đi vào hoạt động các ống cuộn sẽ thả giây chằng ra và các băng đàn hồi sẽ kéo các bộ phận riêng lẻ của cánh tay vào khuôn hộp của nó. Nhờ các miếng nam châm nhỏ các khoá sẽ được đưa vào vị trí của chúng và từ đây chúng bảo đảm giữ được sự căng cứng. Khi  rút cánh tay động cơ điện cuộn giây chằng lại và đẩy các băng đàn hồi và các thanh nam châm vào hộp.  Chất liệu cùa thành hộp được làm bằng Polyethylenterephthalat (PET) và một tấm Ripstop giống như được sử dụng ở các tấm dù. Hai tấm  PET-màng mỏng ở giữa là tấm Ripstop sẽ gắn kết nhờ nén nhiệt. Nhờ cấu trúc gọn nhẹ này nên cánh tay robot dài 70 cm cùng động cơ điện có trọng lượng không quá 260 gram. Điều này quan trọng vì với hầu hết Drohnen khả năng chịu tải trọng phụ rất hạn chế.  Bản thân các nhà nghiên cứu cũng thấy một điểm yếu ở phát minh của họ là cánh tay robot sẽ trở nên thiếu vững chắc khi Drohnen  bay nhanh  khi cánh tay đang duỗi ra. Hơn nữa chiều dài của cánh tay bị hạn chế do cọ sát vào giây chằng mặc dù chúng được dịch chuyển bằng ống cuộn. Họ cũng nhận thấy cánh tay bất động là một nhược điểm tuy nhiên nhóm nghiên cứu tỏ ra lạc quan và tin tưởng sẽ có những cánh tay có thể co duỗi và có các khớp nối sẽ được đưa vào vận hành.   Hoài Nguyễn dịch  Nguồn: https://www.welt.de/newsticker/dpa_nt/infoline_nt/wissenschaft_nt/article174564836/Faltbarer-Roboterarm-fuer-Drohnen-entwickelt.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thành công kính hiển vi chụp được DNA      Các nhà nghiên cứu tại Đại học MIT đã chế tạo thành công loại kính hiển vi DNA, có thể chụp được tế bào sống của chúng ta.      Hình ảnh tế bào được chụp bằng kính hiển vi DNA – Ảnh: Internet  Với loại kính hiển vi DNA này, theo các nhà khoa học chúng ta có thể thấy chi tiết về vị trí chính xác của DNA và RNA trong một tế bào sống.  Theo Live Science thì các nhà khoa học tại Đại học MIT đã phải mất tới 6 năm để hoàn thiện kính hiển vi DNA này.  “Kính hiển vi DNA là một cách hoàn toàn mới để hình dung các tế bào, nắm bắt đồng thời cả thông tin không gian và di truyền từ một mẫu vật”, Joshua Weinstein, nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học MIT, cho biết.  Trước đây việc chụp hình các tế bào rất đắt tiền và cần những máy móc rất hiện đại nhưng không cho ra kết quả như ý. Tuy nhiên với phương pháp mới thì việc này dễ dàng hơn rất nhiều. Cụ thể, các nhà khoa học sử dụng các thẻ nhỏ – được tạo ra từ các chuỗi DNA tùy chỉnh, mỗi chuỗi dài khoảng 30 nucleotide – bám vào mọi phân tử DNA và RNA trong một tế bào. Sau đó, các thẻ nhỏ này được sao chép hàng trăm lần và các bản sao này tương tác với nhau, chúng kết hợp và tạo ra các nhãn DNA độc đáo, các nhà nghiên cứu cho biết.  Tương tác giữa các thẻ DNA này là chìa khóa. Sau khi các nhà nghiên cứu thu thập các phân tử sinh học được dán nhãn và sắp xếp chúng, họ có thể sử dụng thuật toán máy tính để giải mã và tái cấu trúc các vị trí ban đầu của thẻ trong tế bào, tạo ra hình ảnh ảo được mã hóa màu của mẫu. Các nhà nghiên cứu cho biết việc xác định vị trí của từng phân tử tương tự như cách các trạm thu phát sóng điện thoại di động sắp xếp các vị trí của điện thoại di động gần đó.  Kỹ thuật này có thể giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các loại bệnh khác nhau ở người. Chẳng hạn, trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng kính hiển vi DNA có thể lập bản đồ vị trí của các tế bào ung thư ở người trong một mẫu. Những thẻ DNA tổng hợp này thậm chí có thể giúp các nhà khoa học lập bản đồ vị trí của kháng thể, thụ thể và phân tử trên các tế bào khối u, họ cho biết thêm.  “Chúng tôi đã sử dụng DNA theo cách tương tự về mặt toán học với các photon trong kính hiển vi ánh sáng”, ông Weinstein nói. “Điều này cho phép chúng ta hình dung sinh học cấp độ tế bào chứ không phải như mắt người”.  Nghiên cứu này được công bố trực tuyến ngày 20.6 trên tạp chí Cell.  Thiên Hà (Motthegioi)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thành công máy cứu ngải và viên thuốc ngải      Được sự hỗ trợ của Chương trình Đối tác đổi  mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), Công ty Cổ phần y dược Khánh  Thiện đã nghiên cứu, sản xuất thành công máy cứu ngải và viên thuốc ngải trên quy mô công nghiệp.         Cây ngải cứu là một trong những cây thuốc trong vườn nhà giàu tính dược, được dân gian sử dụng rộng rãi. Trên cơ sở khoa học, kết hợp với phương pháp chữa bệnh cổ truyền, Lương y Phạm Thị Chẵn và các cộng sự đã nghiên cứu thiết kế thành công máy cứu ngải và viên cứu ngải nhằm chữa khỏi nhiều căn bệnh.    Máy được thiết kế nhỏ gọn, không chỉ thầy thuốc mà cả người bệnh cũng có thể tự sử dụng dễ dàng (chỉ cần tia máy vào vùng huyệt cần chữa trị). Khingười sử dụng tắt công tắc hoặc ngắt nguồn điện… thì viên ngải đang cháy dở cũng tự động tắt, vì Viên thuốc ngải được điều chế cháy theo cách bức chế.  Lương y Phạm Thị Chẵn cho biết: Viên thuốc ngải được đưa vào buồng đốt và  tinh dầu Ngải được chiết xuất tức thời trong quá trình cháy. Nhờ áp lực khí động học, hệ thống phân gió đưa luồng khí nóng dẫn theo tinh dầu của Ngải thuốc phun  xoáy thẳng sâu vào vùng huyệt đạo, tùy theo từng chứng bệnh người sử dụng chỉ việc đưa máy xông vào các huyệt đạo cần thiết.   PGS Nguyễn Bá Quang – Phó Giám đốc Viện Châm cứu Trung ương cho biết: “Nhóm tác giả đã dựa trên cơ sở khoa học, giữ gìn được các phương pháp truyền thống của ông cha ta. Chúng tôi đã sử dụng thiết bị này cho hàng trăm bệnh nhân, kết quả là không có tai biến nào xảy ra, bệnh nhân rất thoải mái khi sử dụng biện pháp này. Trong thời gian tới, chúng ta cũng cần nhân rộng biện pháp này không chỉ trong nước mà trên cả thế giới.“  Công trình nghiên cứu khoa học “Máy cứu ngải và viên thuốc ngải” đã được Hội đồng Khoa học Thành phố Hải Phòng đánh giá cao cả về cơ sở khoa học cũng như giá trị thực tiễn. Máy cứu ngải và viên thuốc ngải đã được cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam chấp nhận cấp bằng Độc quyền sáng chế. Sản phẩm nghiên cứu này đã được UBND thành phố Hải Phòng cấp kinh phí cho sản xuất thử nghiệm và ứng dụng loạt sản phẩm đầu tiên.  Đặc biệt, Công trình nghiên cứu trên đã được Dự án “Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam- Phần Lan” ký hợp đồng tài trợ ngày 31/01/2012.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thành công thiết bị cảnh báo sớm bức xạ      Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Gia tốc và Điện tử, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) vừa nghiên cứu và chế tạo thành công thiết bị quan trắc và cảnh báo sớm mức độ bức xạ môi trường với giá thành chỉ bằng 1/3 so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài.    “Thiết bị quan trắc và cảnh báo sớm bức xạ hoạt động như một trạm quan trắc cảnh báo bức xạ nhưng có độ nhạy cao bằng việc sử dụng detector nhấp nháy và có khả năng truyền tải thông tin một cách nhanh chóng về trung tâm quản lý, điều hành,” ThS Trần Ngọc Toàn, thành viên nhóm nghiên cứu, nói.  So với các thiết bị đo liều và cảnh báo trước đây do các cơ sở trong nước chế tạo, thiết bị này có nhiều ưu điểm nổi trội như độ nhạy cao với dải liều hoạt động được mở rộng nhờ sử dụng nhiều đầu dò khác nhau cho mỗi vùng liều. Kết quả theo dõi được lưu trữ trong RAM của thiết bị.   Thiết bị còn có chức năng nhận diện một số đồng vị đơn giản và ghép mạng internet. Việc ghép mạng của thiết bị có thể tạo thành mạng lưới quan trắc cảnh báo trong một khu vực rộng lớn (trong một quốc gia).  TS Đặng Quang Thiệu, Giám đốc Trung tâm gia tốc và điện tử, chủ nhiệm đề tài, cho biết, thành công này mở ra khả năng làm chủ công nghệ, giải quyết vấn đề nội địa hóa thiết bị quan trắc, cảnh báo phóng xạ, thuận lợi cho công tác quản lý, sử dụng, bảo dưỡng và bảo trì thiết bị.  Thiết bị quan trắc và cảnh báo sớm bức xạ được dùng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước có lò phản ứng hạt nhân. Việt Nam hiện có trên 20 cơ sở y học hạt nhân, hàng trăm cơ sở sử dụng X quang và nhiều cơ sở sử dụng nguồn bức xạ và ứng dụng kỹ thuật hạt nhân khác. Tất cả những cơ sở bức xạ này đều cần đến máy đo liều và cảnh báo phóng xạ.  Theo nhóm nghiên cứu, đây là loại thiết bị đặc thù phục vục cho công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân chứ không phải thiết bị điện tử thông thường phục vụ đại trà cho người dân. Vì thế, “Nếu Nhà nước không đặt hàng sản xuất thì thiết bị sẽ rất khó để trở thành một sản phẩm thương mại,” TS Thiệu nói.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thiết bị đo quán tính ba trục      Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Bách Khoa, Đại  học Quốc Gia TP. HCM mới đây đã chế tạo thành công thiết bị đo quán  tính ba trục có độ chính xác ở mức độ công nghiệp với kích thước nhỏ gọn  và trọng lượng nhẹ, dùng trong điều khiển cân bằng máy bay không người  lái, định vị toàn cầu GPS, robot và thiết bị vận tải tự cân bằng.    Thiết bị đo quán tính (IMU: Inertial Measurement Unit) dùng để đo gia tốc tịnh tiến và góc quay của một vật chuyển động trong không gian ba chiều. Ngày nay, IMU là một thiết bị không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực như máy bay, tên lửa, tàu thủy, ô tô, robot công nghiệp, mô phỏng chuyển động của con người… Chính vì thị trường IMU trên thế giới rất lớn nên đã có nhiều công ty tham gia nghiên cứu chế tạo IMU với nhiều mức chất lượng và phạm vi ứng dụng khác nhau.   Trong năm năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có một vài nhóm nghiên cứu trong các trường đại học tiến hành nghiên cứu và chế tạo thử nghiệm IMU dùng bộ lọc tuyến tính Kalman mở rộng. Tuy nhiên, các IMU này vẫn còn nhiều hạn chế và không chính xác. Kết hợp với việc nhu cầu tiềm năng của IMU ở Việt Nam là rất lớn cho thấy việc nghiên cứu chế tạo thiết bị đo quán tính ba trục IMU là rất cấp thiết.   Xuất phát từ nhu cầu thực tế ở Việt Nam chỉ có các ứng dụng công nghiệp phát triển mạnh, còn các ứng dụng cho tên lửa và hàng không hầu như chưa có, nên nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia TP. HCM do TS. Nguyễn Vĩnh Hảo đứng đầu, tập trung vào phân khúc sản phẩm áp dụng cho công nghiệp. Nhóm đã chế tạo thành công thiết bị đo quán tính ba trục có độ chính xác ở mức độ công nghiệp với kích thước nhỏ gọn và trọng lượng nhẹ. Thuật toán được sử dụng trong phần mềm của thiết bị cho phép ước lượng góc có khả năng bù được các nhiễu nền khi nhiệt độ thay đổi, có khả năng khử gia tốc ngoài và từ trường ngoài tác động tính năng không kém so với các thiết bị ngoại nhập. Thiết bị được sử dụng trong điều khiển cân bằng máy bay không người lái, định vị toàn cầu GPS, robot và thiết bị vận tải tự cân bằng.  Sản phẩm IMU sẽ được phát triển theo hướng đóng gói hoàn chỉnh với phần mềm demo chất lượng tương đươngvới giá chỉ bằng khoảng 1/3 giá thành của sản phẩm nước ngoài nên hoàn toàn có tiềm năng trong thị trường Việt Nam, xa hơn là thị trường nước ngoài.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ cần hành lang pháp lí thông thoáng      Cuối năm nay, Bộ KH&amp;CN sẽ hoàn thành đề án khuyến khích tư nhân đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, trong đó đề cập phương án tư nhân liên kết Nhà nước. Tuy nhiên, theo đại diện của các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam, việc làm này chưa cần thiết, Nhà nước chỉ cần cải thiện hành lang pháp lí là đủ.       Thiệt thòi vì thủ tục pháp lí  Kể từ khi IDG thực hiện một trong những phi vụ đầu tư mạo hiểm đầu tiên vào VNG  năm 2005 với hai triệu USD và hiện giờ công ty này đang được định giá khoảng một tỷ USD, đến nay, những hành lang pháp lí mở đường cho đầu tư mạo hiểm vẫn hình thành chậm chạp. “Mặc dù Luật Đầu tư đã thay đổi nhưng chưa có thông tư hướng dẫn đối với những khoản nhà đầu tư nắm dưới 50% cổ phần. Cho nên từ trước đến nay, dù đầu tư vào 1% hay 49% cổ phần của doanh nghiệp thì chúng tôi vẫn phải đăng ký đầu tư. Điều này ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân, tốn rất nhiều công sức và tiền bạc của nhà đầu tư và doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhiều trường hợp giải ngân lâu quá thì doanh nghiệp không có tiền để chạy và ‘chết’ giữa chừng,” ông Nguyễn Mạnh Dũng, đại diện quỹ Cyber Agent Ventures tại Việt Nam và Thái Lan, nói.   Hiện nay ở Việt Nam chưa có văn bản pháp lý nào của Bộ Tài chính quy định cơ chế hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm. Chính vì vậy, các nhà đầu tư vẫn chịu sự chi phối của Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp. Trong đó, những rào cản trước mắt là: các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nắm giữ dưới 51% cổ phần của quỹ; trong nhiều lĩnh vực, quỹ nước ngoài chỉ được nắm dưới 30% cổ phần của doanh nghiệp và việc mua bán cổ phần của doanh nghiệp dù niêm yết hay chưa cũng chịu một mức thuế như nhau.   Các nhà đầu tư nước ngoài, vì những lí do trên, không muốn thành lập quỹ tại Việt Nam và cũng ngại mạo hiểm. Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài hiện nay chủ yếu hoạt động “xa bờ” – off shore (nghĩa là quỹ được thành lập tại các nước có ưu đãi thuế như Singapore, Cayman, BVI…) và đầu tư gián tiếp (lập tài khoản indirect investment capital ở ngân hàng). Các quỹ cũng chỉ đầu tư tập trung vào giai đoạn Series A khi doanh nghiệp đã có sản phẩm hoàn thiện, chạy được một thời gian và cần vốn để tiếp cận thị trường chứ ít khi quan tâm đến doanh nghiệp ở giai đoạn hạt giống.   Bộ KH&CN đã nhận ra điều này từ lâu. Ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN Việt Nam từng phát biểu trên báo Khoa học và Phát triển về việc Quỹ đầu tư mạo hiểm Việt Nam của Dự án Vietnam Silicon Valley phải mất hai năm mới xin được giấy phép thành lập và hiện nay vẫn chưa biết dùng cơ chế nào để đầu tư, rút vốn, nộp thuế. Ông cũng nói, đó là đối với quỹ được Bộ KH&CN bảo trợ, với những quỹ nước ngoài còn khó khăn hơn…  Hai phương án của Nhà nước  Cuối năm nay, Bộ KH&CN sẽ hoàn thành Đề án “Xây dựng chính sách khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với Nhà nước để thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”. Trong đó, Nhà nước sẽ tham gia theo hai phương thức: thứ nhất, tạo hành lang pháp lí thuận lợi hơn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm; thứ hai, đầu tư đối ứng vào các doanh nghiệp khởi nghiệp cùng với tư nhân.   Điều đáng chú ý là hành lang pháp lí sẽ dựa vào Luật Chứng khoán vốn đã có quy định về quỹ đầu tư để điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm. Như vậy, để tránh phát sinh một bộ luật mới, đỡ tốn thời gian và công sức, Bộ Tài chính sẽ ban hành thêm một thông tư quy định riêng về phương thức quản lý và giám sát quỹ đầu tư mạo hiểm cũng như những ưu đãi về thuế.   Trong buổi tọa đàm góp ý cho Đề án diễn ra vào cuối tháng Chín vừa qua, ông Mikko Seppala, chuyên gia Phần Lan, người từng có hơn 50 năm làm giám đốc tài chính và tư vấn trong các công ty lớn và hiện đang sở hữu quỹ đầu tư mạo hiểm Hermia Ventures Oy, cũng đồng tình với gợi ý này. Ông cho biết, ở Phần Lan, luật đầu tư mạo hiểm cũng “thừa hưởng” một phần từ luật chứng khoán.   Việc liên kết với tư nhân cùng thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm được TS. Tạ Doãn Trịnh, người trực tiếp soạn thảo Đề án, học tập từ kinh nghiệm của Singapore, Israel, Trung Quốc, Ấn Độ. Theo đó, tỉ lệ góp vốn giữa Nhà nước và tư nhân vào doanh nghiệp khởi nghiệp là 1:1 hoặc 1:2. Ông cho rằng, việc này sẽ bù đắp được khoảng trống đầu tư hiện nay trong thị trường đầu tư mạo hiểm, hướng sự tập trung của các quỹ vào giai đoạn hạt giống và tiền Series A của các startup.   Chưa cần Nhà nước đầu tư đối ứng    Tuy nhiên, các chuyên gia và nhà đầu tư của khu vực tư nhân lại không cho rằng cần sự đầu tư đối ứng của Nhà nước. Kịch bản Nhà nước cùng đầu tư với tư nhân có phần lãng mạn, như ở Israel có câu “Trước Yozma [quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Chính phủ Israel], ở Israel không có gì cả”, nhưng hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam hiện nay vẫn chưa cần vốn ngân sách. Bà Lê Huỳnh Kim Ngân, người sáng lập Seed For Action, một chương trình hỗ trợ các startup từ giai đoạn ý tưởng, cho biết vốn tư nhân còn rất lớn và chưa huy động hết, các startup ở giai đoạn phát triển ý tưởng và mô hình kinh doanh có thể nhận từ 10.000 – 250.000USD từ các nhà đầu tư cá nhân. Bên cạnh đó, vẫn có các quỹ đầu tư vào startup ở giai đoạn phát triển sản phẩm mẫu tại Việt Nam như 500 Startups mới đầu tư vào Tappy (mạng xã hội liên kết những người đang hiện diện ở cùng một địa điểm), Baybe Me (ứng dụng nuôi dạy trẻ); hay Cyber Agent Ventures đã đầu tư vào Foody (website đánh giá địa điểm ăn uống) khi sản phẩm này chưa ra đời.   Một trong những câu hỏi không có đáp án trong buổi tọa đàm là: “Liệu khi Nhà nước tham gia thì có giúp tăng động lực của khu vực tư nhân không?” Trả lời phóng viên Tia Sáng, ông Nguyễn Mạnh Dũng cho rằng: “Nhà nước không cần đầu tư đối ứng để khích lệ phía tư nhân mà chỉ cần tạo hành lang pháp lí thông thoáng và dễ dàng để các công ty khởi nghiệp tiếp cận nhà đầu tư và nhà đầu tư hoạt động đã là một sự khích lệ lớn rồi”.   Ông Thân Trọng Phúc, một trong ba người quản lý quỹ DFJ VinaCapital, cũng có ý kiến tương tự: “Việc quan trọng nhất của Nhà nước là tạo nên chính sách thuận lợi để khuyến khích các startup và nhà đầu tư.”  Việc thành lập quỹ đầu tư song song hoặc đầu tư đối ứng, theo ông Phúc, tuy có “tác động tốt vì nói lên sự quan tâm của nhà nước” nhưng không gây ảnh hưởng đến quyết định của các quỹ trong việc lựa chọn giai đoạn nào của các startup để đầu tư bởi vì theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, “phần lớn các quỹ đầu tư chủ yếu vào một nhóm khởi nghiệp đã có sản phẩm chạy một thời gian để hiểu về tiềm năng của thị trường và khả năng triển khai của đội ngũ, mặc dù ‘chạy một thời gian’ thì cũng chưa có gì để nói”.  Ông Phúc cũng cho biết thêm, Nhà nước tham gia đầu tư mạo hiểm có thể khuyến khích tư nhân “thay đổi tầm ngắm” trong các lĩnh vực đầu tư. Tuy nhiên, theo đề án của TS. Tạ Doãn Trịnh, trước mắt, Nhà nước sẽ chỉ đầu tư ở lĩnh vực do tư nhân lựa chọn.   Việc tư nhân hăng hái hay không, không phụ thuộc vào nguồn vốn đối ứng từ phía Nhà nước mà phụ thuộc nhiều vào hành lang pháp lí thông thoáng. Ông Mikko Seppala cũng nêu ra bốn câu hỏi chính cần tự vấn nếu muốn khuyến khích các quỹ nước ngoài đầu tư mạo hiểm: Môi trường kinh doanh như thế nào? Luật thuế và các ưu đãi? Các yêu cầu về thủ tục và trình tự giải quyết có minh bạch và rõ ràng không? Mất bao nhiêu thời gian và tiền bạc để có giấy phép thành lập công ty và quỹ đầu tư?   Trước hết, cần ra thông tư hướng dẫn đối với một số điều khoản trong Luật Đầu tư mới. Ông Nguyễn Mạnh Dũng nhấn mạnh việc loại bỏ giấy chứng nhận khi các quỹ thực hiện đầu tư dưới 50% vào một công ty khởi nghiệp. Bên cạnh đó, về phía các startup, hiện giờ thuế mua bán cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết hay chưa đều giống nhau là 0,1%, dẫn đến tâm lý e ngại vì bị đánh thuế oan uổng khi họ nhận đầu tư. Chính vì vậy, cần có văn bản phân biệt hai loại giao dịch này. Bên cạnh đó, một số lĩnh vực công nghệ lại được xếp vào những ngành truyền thống, hạn chế tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Theo ông Thân Trọng Phúc, hiện nay trên thế giới đang có xu hướng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ phân tích tài chính (fintech – financial technology) nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực này được xếp vào ngành ngân hàng, chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 30% cổ phần trong công ty. Chính vì vậy, cần có những định nghĩa rõ ràng hơn về các lĩnh vực công nghệ để nới rộng tỉ lệ sở hữu cổ phần, từ đó khuyến khích tư nhân đầu tư.   Với các startup, cần hỗ trợ hoạt động của họ bằng cách giảm bớt các giấy phép hoặc giãn thời gian yêu cầu giấy phép. Chẳng hạn, giấy phép ICT, giấy phép mạng xã hội, giấy phép giao dịch thương mại điện tử phải được rút ngắn thời gian hoàn tất hoặc không yêu cầu ngay đối với các startup để họ có thể tập trung vào việc phát triển sản phẩm và tồn tại trong một đến hai năm đầu.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ cần thêm một euro cho mỗi liều vaccine là có thể khống chế đại dịch      Gustav Oertzen, chuyên gia tư vấn quản lý và giảng viên về quản lý, Đại học Leuphana Lüneburg và Moritz Schularick giáo sư kinh tế vĩ mô và giám đốc Phòng thí nghiệm Tài chính vĩ mô tại Đại học Bonn, mới đưa ra phát hiện: chỉ cần thêm một euro vào giá mỗi liều vaccine là có thể khống chế đại dịch.      Để thoát khỏi đại dịch, chúng ta biết rằng phải có đủ vaccine tiêm cho toàn thế giới nhưng nhiều nơi trên thế giới đang phải đối mặt với cùng một vấn đề mà Đức phải đối mặt vào đầu năm nay, đó là tình trạng khan hiếm vaccine. Đến đầu tháng 8, chỉ có khoảng hai phần trăm người dân ở châu Phi được tiêm chủng đầy đủ. Và thành phần hoạt chất được sử dụng thường đến từ các nhà sản xuất không được chấp thuận ở châu Âu – chẳng hạn như Sinovac và Sinopharm của Trung Quốc. Năng lực sản xuất toàn cầu vẫn còn quá nhỏ để bảo vệ hàng tỷ người bằng các loại vaccine hiệu quả nhất, đặc biệt thiếu vaccine mRNA.  Việc sản xuất các loại vaccine mRNA được nhiều nơi đặc biệt ưa chuộng không đáp ứng đủ nhu cầu. Tuy nhiên nếu EU và Mỹ hợp lực có thể xoay chuyển tình thế.  Đức hiện đang bơi trong vaccine do việc tiêm chủng hầu như không được tăng tốc và Biontech và Moderna đã ồ ạt tăng lượng giao hàng. Vào lúc cao điểm, khoảng 6,5 triệu liều mỗi tuần tới Đức. Hồi gần tháng tư, Olaf Scholz (SPD) nói sẽ có hàng triệu liều vaccine xuất xưởng mỗi tuần, không ai tin, cuối cùng thì hóa ra ông ta đã tiên đoán đúng.  Hai tác giả của bài báo này là Gustav Oertzen, nhà tư vấn quản lý và giảng viên về quản lý, Đại học Leuphana Lüneburg và Moritz Schularick, là giáo sư kinh tế vĩ mô và giám đốc Phòng thí nghiệm Tài chính vĩ mô tại Đại học Bonn. Họ nhận xét, trong thực tế có thể nâng cao sản lượng các loại vaccine mRNA nếu có các biện pháp khuyến khích tài chính thỏa đáng hơn và có sự phối hợp với chính phủ.   Sự đe dọa đối với nền kinh tế   Tất nhiên, đây không chỉ là vấn đề đối với những người ở châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á, những người đang bước vào làn sóng đại dịch tiếp theo mà không được bảo vệ. Nhiều người sẽ bị mất mạng oan vì đó là những cái chết đáng ra có thể tránh được. Đó cũng là một vấn đề đối với chúng ta và nền kinh tế của chúng ta bởi nếu phần còn lại của thế giới nằm trong vòng kiềm tỏa của đại dịch càng lâu thì sự phục hồi của nền kinh tế Đức cũng như những nền kinh tế khác thoát khỏi đại dịch sẽ càng yếu đi.  Xét về mặt dịch tễ, càng có nhiều người bị lây nhiễm trên thế giới thì nguy cơ phát sinh đột biến của virus càng lớn và khả năng đáp ứng vaccine thích hợp càng khó khăn hơn. Từ đó có nguy cơ tái phát dịch ở những quốc gia khác, trong đó có Đức. Nếu xuất hiện một biến thể mới và lại phải tiêm chủng hai mũi mỗi người nữa thì dẫn đến trường hợp: với mỗi tuần có được 6 triệu liều vaccine, Đức sẽ lại mất đến sáu tháng để tiêm chủng được cho 85% dân số.  Tuy nhiên việc nâng cao năng lực sản xuất phụ thuộc vào các công ty. Trước đây, mọi nỗ lực mở rộng sản xuất vaccine một cách ồ ạt đều bị các nhà sản xuất vaccine phản đối. Không ai nghi ngờ về những nỗ lực của các hãng dược phẩm như Biontech và Moderna trong vài tháng qua nhưng phải đến khi Nghị viện châu Âu và chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ sáng kiến của các nước mới nổi và đang phát triển đề nghị cho phép tự do sử dụng bằng sáng chế và chuyển giao bí quyết, họ mới bắt đầu đồng ý cung cấp hai tỷ lọ vaccine trong vòng 18 tháng với giá gốc. Tuy nhiên, người ta còn nghi ngờ là các cam kết thể hiện còn rất mơ hồ và các cam kết giao hàng vào cuối năm 2022 vẫn không biết có đủ năng lực thực hiện.  Điểm may mắn là hai công ty này giờ đã thể hiện rõ rệt khả năng mở rộng quy mô sản xuất, khi họ từng bước chủ động giải quyết. Mới đây, Biontech đã công khai các bức ảnh về cơ sở sản xuất của mình ở Marburg. Thời gian  xây dựng cơ sở sản xuất này chỉ mất tám tuần, từ giữa tháng 12 năm 2020 đến tháng 2 năm 2021. Việc sản xuất thành phần hoạt tính cho một tỷ liều mỗi năm sẽ được diễn ra ở đây. Mặt khác, trở ngại liên quan đến khả năng tăng năng lực sản xuất là nguồn cung cấp lipid cũng được giải quyết. Các công ty Merck và Evonik đã xây dựng một cơ sở sản xuất lipid mới trong khoảng tám tuần để có thể cung cấp nguyên liệu cho Biontech.    Không thể so với tiền mua khẩu trang  Giờ đây chúng ta đều biết tổng chi phí cho những yếu tố này. Biontech đã giải thích rõ ràng, chính xác với các nhà đầu tư của mình: khoảng 200 triệu euro đủ để xây dựng một cơ sở sản xuất một tỷ lọ vaccine mỗi năm ở Marburg. Để so sánh, chúng ta biết rằng năm ngoái, chính phủ Đức đã chi khoảng bảy tỷ euro cho việc mua sắm khẩu trang, nghĩa là nhiều gấp 30 lần.  Tính ra chi phí cho mỗi liều vaccine khi mở rộng sản xuất của Biontech ở Marburg chỉ là 20 xu. Ngay cả khi bạn giả định một cách hào phóng rằng các nhà cung cấp sẽ phải chịu gấp bốn lần chi phí đầu tư, bạn chỉ cần một euro cho mỗi liều vaccine. Nói cách khác, chúng ta có thể tạo ra năng lực sản xuất hàng tỷ liều vaccine bổ sung trong vòng vài tuần với chi phí tương đối nhỏ và đạt được mức độ bao phủ vaccine nhanh hơn trên toàn thế giới. Chỉ có điều chúng ta đã không làm.  Có một cách để giải quyết vấn đề này: EU và Mỹ chấp nhận trả thêm một euro cho 2,5 tỷ liều vaccine  mà họ đã đặt hàng. Đổi lại, Biontech và Pfizer sẽ cam kết tăng gấp đôi sản lượng  trong vòng ba tháng.  Giá bán hiện tại cho EU là 19,50 euro một liều. Một euro bổ sung sẽ tương ứng với mức giá cao hơn năm phần trăm. Cuối cùng, đây là những khoản tiền nhỏ để cứu mạng con người, bảo vệ chúng ta khỏi nguy cơ đột biến và tạo điều kiện cho sự phục hồi kinh tế bền vững.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Corona: Viel zu geringen Produktionskapazitäten für mRNA-Impfstoff – DER SPIEGEL       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ khoảng 20% doanh nghiệp Việt có hoạt động đổi mới sáng tạo      Ông Trần Việt Thanh, Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN kiêm Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ nhận định trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức, có thể thấy rõ nguy cơ Việt Nam bị tụt hậu so với thế giới. Hiện, chỉ có khoảng 20-30% số doanh nghiệp Việt có hoạt động đổi mới sáng tạo.    Tại sự kiện “Đi bộ vì âm nhạc và sở hữu trí tuệ” nhân “Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4” được tổ chức sáng nay, 25/4 tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông Thanh thẳng thắn cho rằng, nhận thức chung của toàn xã hội về sở hữu trí tuệ “vẫn còn tương đối khiêm tốn”.  Trong những năm qua, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã được các cơ quan chức năng đẩy mạnh. Tuy nhiên, sở hữu trí tuệ chưa thực sự đến được với ý thức của cộng đồng.  Nhận thức này, theo lãnh đạo Bộ KH&CN là chưa xứng với tiềm năng để có thể khai thác, sử dụng quyền về sở hữu trí tuệ như là một công cụ chủ động, tích cực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất sáng tạo, kinh doanh.  Thực tế cho thấy, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ được xem là động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Hiện Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia trong Bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2013 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và chỉ có khoảng 20-30% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Đây chính là bằng chứng cho thấy nguy cơ cho việc tụt hậu của Việt Nam so với thế giới.  Ông Thanh nhận định, nguyên nhân của việc này chính bởi doanh nghiệp Việt chủ yếu dựa vào yếu tố lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thô có giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các yếu tố về công nghệ và chất xám còn ít và hạn chế dẫn đến năng lực cạnh tranh không cao.  Trong bối cảnh năm 2015 Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như tham gia Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC), ký hiệp định Thương mại tự do (AFTA) với Hàn Quốc, Liên minh châu Âu; Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TTP) với 11 quốc gia…, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất quan trọng.  Bởi khi tham gia các hoạt động nói trên, chúng ta phải từng bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan… Và, theo theo quy luật của kinh tế thị trường, hàng hóa có chất lượng tốt, có thương hiệu uy tín, giá cả hợp lý sẽ tồn tại và ngược lại. Bởi vậy, để sản phẩm tránh bị tụt hậu, doanh nghiệp buộc phải áp dụng công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh để có thể cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.  Nhiều chuyên gia cho rằng, không còn cách nào khác, muốn phát triển Việt Nam phải tập trung vào nền kinh tế tri thức, trong đó sử dụng vốn tài nguyên và lao động gia tăng trong việc áp dụng công nghệ mới, phát triển sản phẩm mới, nâng cao trình độ quản lý và kỹ năng của người lao động.   Bên cạnh đó, cùng với sáng tạo, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng phải được nâng cao để thúc đẩy động lực đổi mới sáng tạo trong mọi người dân.  Bởi vậy, các chuyên gia cho rằng cơ quan quản lý cần nâng cao nhận thức nhằm đưa sở hữu trí tuệ vào cuộc sống và thúc đẩy đổi mới sáng tạo là một nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng. Đây có thể xem là chìa khóa, hướng đi chiến lược để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.             Hoạt động đổi mới sáng tạo đa dạng và  nhiều cấp độ, từ triển khai một ý tưởng mới, tạo một sản phẩm dịch vụ  hay tạo ra sự thay đổi về chất cho một sản phẩm và dịch vụ đã có đến đổi  mới sáng tạo trong quá trình sản xuất.  Dù ở mức độ, cấp độ nào, đổi mới sáng tạo luôn bắt nguồn từ các ý tưởng, đây cũng là khởi nguồn của các tài sản trí tuệ.            Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/chi-khoang-20-doanh-nghiep-viet-co-hoat-dong-doi-moi-sang-tao/319577.vnp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam tăng 12 bậc      Theo Báo cáo GII-2017 (Global Innovation Index) do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), trường đại học Cornell và Viện nghiên cứu INSTEAD công bố ngày 15/6/2017, Việt Nam được xếp hạng thứ 47/127 vượt 12 bậc so với 2016 (xếp thứ 59). Đây là thứ hạng cao nhất Việt Nam từng đạt được từ trước đến nay.      Vũ Duy Thức (trái), đồng sáng lập Ohmnilabs, với sản phẩm robot trợ lý giúp những người ở xa có thể liên lạc và cùng sinh hoạt với nhau. Nguồn: Ohmnilabs  Trong bảng xếp hạng này, Việt Nam đã vươn lên xếp hạng thứ nhất nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp (năm 2016 xếp vị trí số 3), xếp thứ 9 khu vực Đông Nam Á, Đông Á và Châu Đại dương. WIPO đánh giá Việt Nam có thế mạnh về bảy yếu tố: đầu ra tri thức và công nghệ; chỉ số phức tạp/đa dạng của thị trường; chỉ số phức tạp/đa dạng kinh doanh; chỉ số đầu ra sáng tạo và chỉ số tăng trưởng đầu tư cho giáo dục…  Đây là một trong những kết quả bước đầu Việt Nam đạt được khi thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh mà Bộ KH&CN được Chính phủ giao làm đầu mối hướng dẫn, phối hợp với các bộ ngành, địa phương nghiên cứu, sử dụng báo cáo hằng năm về GII để thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.  Trong Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020, các chỉ số ĐMST đạt trung bình ASEAN 5, tức là đứng sau Singapore, Malaysia và đứng trên Thái Lan và một nước Đông Nam Á khác.    Author                T. H        
__label__tiasang Chỉ số phát triển con người Việt Nam: Chiều hướng tăng đang chững lại      Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng liên tục trong 27 năm qua nhưng đang có chiều hướng chững lại      Tỉ lệ nghèo đa chiều cao nhất ở rơi vào khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long (9,6%). Ảnh: Thu hoạch lúa ở ĐBSCL. Nguồn: Zing.  Tài liệu báo cáo “Các chỉ số Phát triển con người: Cập nhật số liệu thống kê năm 2018 của Việt Nam” do UNDP thực hiện và công bố ngày 17/10/2018 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng liên tục trong 27 năm qua nhưng đang có chiều hướng chững lại.  Về chỉ số HDI, Việt Nam hiện đang thuộc nhóm Trung bình cao, với chỉ số 0,694 trong năm 2017, đứng thứ 116 trên tổng số 189 quốc gia (tương tự với thứ bậc của năm 2016). Tuy nhiên, quá trình cải thiện HDI trong ba thập kỷ qua lại diễn ra không đồng đều. Từ 1980 đến 1990, chỉ số HDI tăng trung bình ở mức thấp 0,26%/năm, từ 1990 đến năm 2000 tăng tốc lên 2%/năm. Nhưng đến giai đoạn 2000 – 2008, HDI lại giảm xuống khoảng 1,35%/năm và giai đoạn sau đó tiếp tục xuống còn trung bình 0,94%/năm.   Bên cạnh đó, giá trị HDI của Việt Nam vẫn có xu hướng tụt lại so với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Năm 1990, giá trị HDI của Việt Nam thấp hơn 8,1% so với mức bình  quân của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, sau đó chênh lệch này cũng đã được thu hẹp xuống mức 4,7% vào năm 2008, nhưng đến 2017 đã lại giãn rộng thành 5.3%. Theo nhận định của UNDP, sự chênh lệch này là do các quốc gia khác trong khu vực ngày càng đạt được nhiều kết quả tiến bộ hơn trong phát triển con người, nhất là trong lĩnh vực giáo dục.    Mặc dù chỉ số giáo dục của Việt Nam (vốn đóng góp 49.1% vào HDI) đã tiến bộ hơn nhưng chưa bao giờ thu hẹp được khoảng cách với các nước được so sánh. Trong bảng trên, giá trị chỉ số giáo dục của Việt Nam chỉ cao hơn Ấn Độ và Lào. Nguồn: Báo cáo.   Ngoài ra, chỉ số HDI giữa các vùng miền và các nhóm dân cư cũng có chênh lệch lớn. Chẳng hạn TP HCM và  Đà Nẵng có HDI tương đương với các nước thuộc nhóm có chỉ số phát triển con người cao như Ba Lan và Croatia, trong khi Hà Giang và Gia Lai có HDI bằng với các nước thuộc nhóm Phát triển con người thấp như Ghana và Guatemala. Số liệu nghèo đa chiều cũng cho thấy chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm dân cư. Tỉ lệ nghèo đa chiều cao nhất ở rơi vào khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long (9,6%), sau đó là Tây nguyên (9,4%). Tỉ lệ này của người Kinh là 6,4% so với 76,2% của người H’mông, 37,5% người Dao và 24% của người Khmer. Tỉ lệ nghèo đa chiều ở khu vực đô thị là 2,1% trong khi tỉ lệ ở khu vực nông thôn là 6,45%.       Author                Bảo Như        
__label__tiasang Chìa khóa cho sự thịnh vượng       Tất cả những nước hạnh phúc đều là những nước nhấn mạnh  quyền bình đẳng, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm giải trình theo lối dân  chủ, sự bền vững của môi trường và những định chế công chắc chắn.     Trong nhiều cuộc cải cách kinh tế thành công trong lịch  sử, một số nước đã học được từ những thành công về mặt chính sách của  những nước có nền kinh tế kiểu mẫu: chính sách thị trường lao động kiểu  Đức, hưu bổng kiểu Thụy Điển, kinh tế carbon thấp kiểu Pháp, y tế kiểu  Canada, hiệu suất năng lượng kiểu Thụy Sĩ, chính sách khoa học kiểu Mĩ,  những chương trình chống đói nghèo theo kiểu Brazil và hạnh phúc theo  kiểu Costa Rica, và áp dụng chúng vào điều kiện của mình.  Trong quá trình phát triển kinh tế của mình, nước Anh hồi thế kỉ XVIII đã học từ Hà Lan; đầu thế kỉ XIX, Phổ học từ Anh và Pháp; giữa thế kỉ XIX nước Nhật Bản của Hoàng đế Minh Trị học từ Đức; sau Thế chiến II châu Âu học từ Mỹ; và nước Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình học từ Nhật Bản những chính sách, định chế và áp dụng một cách sáng tạo, tạo ra những bước phát triển nhanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới.  Hiện nay cũng thế, có một số cơ hội cho việc “chuyển giao chính sách”, nếu có nhiều nước bỏ thì giờ học hỏi thành công của các nước khác. Ví dụ, trong khi nhiều nước gặp phải khủng hoảng việc làm thì một phần thế giới tư bản lại làm rất tốt: đấy là Bắc Âu, trong đó có Đức, Hà Lan và các nước vùng Scandinavia. Mùa hè vừa qua tỉ lệ thất nghiệp ở Đức là khoảng 5,5% và tỉ lệ thất nghiệp ở thanh niên là khoảng 8% – thấp hơn rất nhiều so với nhiều nước có thu nhập cao khác.   Các nước Bắc Âu làm như thế nào? Tất cả các nước này đều áp dụng chính sách thị trường lao động tích cực, trong đó có thời gian làm việc linh họat, vừa làm vừa học (đặc biệt là ở Đức), thời gian học việc kéo dài và học nghề ngay tại nơi làm việc.    Tương tự như thế, trong giai đoạn xảy ra những cuộc khủng hoảng ngân sách kinh niên thì Đức, Thụy Điển và Thụy Sĩ vẫn có ngân sách gần như cân bằng. Cả ba nước này đều dựa vào những luật lệ ngân sách đòi hỏi thường xuyên điều chính ngân sách cho cân bằng. Và cả ba nước đều có những biện pháp đề phòng để cho những khỏan hỗ trợ nằm trong tầm kiểm soát: tuổi về hưu ở những nước này là 65. Như vậy là chi phí thấp hơn so với Pháp và Hi Lạp, nơi tuổi về hưu là 60 hoặc thấp hơn và kết quả là lương hưu tăng vọt.   Trong giai đoạn, khi mà chi phí cho việc bảo vệ sức khỏe gia tăng, các nước có thu nhập cao nhất – Canada, các nền kinh tế phương Tây của Liên hiệp châu Âu và Nhật – tìm cách giữ tổng chi phí cho bảo vệ sức khỏe dưới 12% GDP mà vẫn đạt được kết quả tuyệt vời, trong khi Mĩ chi tới gần 18% GDP mà kết quả rõ ràng là rất tầm thường. Mà Mĩ là nước duy nhất trong số đó có hệ thống khám chữa bệnh kiếm lời. Bản báo cáo mới đây của Viện nghiên cứu Y khoa của Mĩ cho thấy hệ thống khám chữa bệnh kiếm lời của Mĩ làm mất tới gần 750 tỉ USD hay 5% GDP vì lãng phí, lừa gạt, trùng lắp và quan liêu.                Jeffrey D. Sachs là Giáo sư tại Đại học Columbia (Columbia University), Giám đốc Viện Trái đất (Earth Institute) của trường này, và cố vấn đặc biệt của Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon.               Khi làm giám đốc Dự án Thiên niên kỉ của Liên Hiệp Quốc từ năm 2002 đến năm 2006, ông tập trung chú ý vào phát triển kinh tế và viện trợ quốc tế. Ông đã xuất bản một số tác phẩm, trong đó có The End of Poverty và Common Wealth.         Trong giai đoạn, khi mà giá dầu tăng cao, chỉ có vài nước thực sự nâng cao được hiệu quả sử dụng năng lượng mà thôi. Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sử dụng trung bình 160 kg nhiên liệu quy dầu (oil-equivalent) mới làm ra được 1.000 USD (tính bằng sức mua tương đương). Nhưng Thụy Sĩ – nước có hiệu quả sử dụng năng lượng cao – chỉ dùng 100 kg đã làm ra đươc 1.000 USD, còn Đan Mạch sử dụng 110 kg, trong khi Mĩ phải sử dụng tới 190 kg.  Trong giai đoạn biến đổi khí hậu, chỉ có một ít nước chuyển đổi sang nền kinh tế ít carbon (low-carbon economy). Trung bình, để có năng lượng tương đương với 1 kg dầu, các nước giàu thải 2,3 kg khí CO2. Nhưng Pháp chỉ thải có 1,4 kg, đấy là do nước này đã thành công trong việc sử dụng năng lượng hạt nhân giá rẻ và an tòan.   Thụy Điển, với nguồn thủy điện dồi dào còn thải ít hơn – chỉ có 0,9 kg. Và trong khi vì lí do chính trị, Đức đang từ bỏ việc sản xuất điện hạt nhân ở trong nước, chúng ta có thể tiên đóan rằng nước này sẽ tiếp tục nhập phần lớn điện năng từ những nhà máy điện hạt nhân của Pháp.   Trong giai đoạn cạnh tranh quyết liệt về mặt công nghệ, những nước kết hợp được việc tài trợ công và tư cho lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) sẽ vượt lên trên những nước khác. Mĩ tiếp tục là nước vượt trội trong lĩnh vực này, với những thành tích bất ngờ trong việc nghiên cứu sao Hỏa và nghiên cứu cấu trúc gien; mặc dù hiện nay, với chính sách cắt giảm ngân sách, họ đang phá họai thành tích của mình. Trong khi đó, Thụy Điển và Hàn Quốc tạo được những thành tựu vượt bậc về mặt kinh tế trên cơ sở chi cho R&D khỏang 3,5% GDP, còn Israel thì chi tới 4,7% GDP.   Trong giai đoạn bất bình đẳng gia tăng, ít nhất đã có một số nước giảm được khỏang cách về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Thời gian gần đây, Brazil là nước dẫn đầu trong vấn đề này. Nước này đã gia tăng đáng kể khu vực giáo dục công và giúp đỡ một cách có hệ thống những nhóm người nghèo thông qua những chương trình tái phân phối có chủ đích. Kết quả là bất bình đẳng về thu nhập ở Brazil đang giảm dần.   Và, trong giai đoạn khi mà mọi người đều cảm thấy lo lắng thì Bhutan lại đang đặt ra những câu hỏi sâu sắc về ý nghĩa và bản chất của hạnh phúc. Trong quá trình tìm kiếm một xã hội cân bằng hơn, tức là xã hội kết hợp được sự thịnh vượng kinh tế, gắn kết xã hội và sự bền vững của môi trường, Bhutan theo đuổi tổng thịnh vượng quốc gia (GNH) chứ không phải là tổng thu nhập quốc dân (GDP). Nhiều nước khác – trong đó có Anh – đang làm theo Bhutan trong việc khảo sát quan niệm của công dân của họ về sự thỏa mãn đối với cuộc sống.   Đan Mạch, Phần Lan và Na Uy là những nước có mức độ thỏa mãn cao đối với đời sống. Nhưng những nước ở vĩ độ thấp cũng có hi vọng. Costa Rica, một nước nhiệt đới, nằm trên nấc thang khá cao trong các nước hạnh phúc. Điều chúng ta có thể nói là tất cả những nước hạnh phúc đều là những nước nhấn mạnh quyền bình đẳng, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm giải trình theo lối dân chủ, sự bền vững của môi trường và những định chế công chắc chắn.   Dĩ nhiên là trong thế giới hiện thực, đa số các nước sẽ không thể đạt được hạnh phúc trong tương lai gần. Nhưng bằng cách nhìn vào những thành tích ở nước ngoài, chúng ta có thể đẩy nhanh tốc độ cải thiện trong tất cả các nước trên thế giới.   Phạm Nguyên Trường  dịch    Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/finding-the-keys-to-national-prosperity-by-jeffrey-d–sachs       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chia sẻ dữ liệu để cải thiện và giám sát bảo vệ rừng      Viện nghiên cứu quốc tế về Phân tích hệ thống ứng dụng (IIASA) đã thiết lập một cơ sở dữ liệu toàn cầu mới để hỗ trợ quan sát Trái đất và khuyến khích đầu tư vào các phép đo và nghiên cứu dựa trên lĩnh vực có liên quan.         Những dữ liệu được tập hợp sẽ góp phần giám sát và bảo vệ rừng. Nguồn: Phys    Sinh khối rừng là một chỉ số thiết yếu để theo dõi hệ sinh thái và khí hậu của Trái đất. Nó cũng cung cấp đầu vào quan trọng cho tính toán khí nhà kính, ước tính tổn thất carbon và suy thoái rừng, đánh giá tiềm năng năng lượng tái tạo và để phát triển các chính sách giảm thiểu biến đổi khí hậu. Trong một bài báo mới được công bố trên tạp chí Scientific Data, 143 nhà nghiên cứu đã khám phá xem liệu có thể xây dựng một mạng lưới chia sẻ công khai dữ liệu về sinh khối và liệu có thể tập hợp nhiều dữ liệu hiện trường về sinh khối để chuẩn bị cho các nhiệm vụ vệ tinh mới, như nhiệm vụ BIOMASS của Cơ quan Vũ trụ châu Âu, nhằm cải thiện độ chính xác của các sản phẩm bản đồ hiện đang dựa trên viễn thám, và phát triển sự phối hợp mới giữa các cộng đồng nghiên cứu hệ sinh thái viễn thám và mặt đất. Những nỗ lực này đã dẫn đến việc thành lập Hệ thống Quan sát Rừng Quốc tế (FOS), một sáng kiến hợp tác nhằm mục đích thiết lập một cơ sở dữ liệu sinh khối trên mặt đất toàn cầu để hỗ trợ quan sát Trái đất và khuyến khích đầu tư vào các phép đo và nghiên cứu trên thực địa có liên quan.  “Hãy nhớ rằng bài báo này là một mô tả dữ liệu chứ không phải là một bài báo thông thường với các giả thuyết, toàn bộ ý tưởng đằng sau nghiên cứu này là một cơ sở dữ liệu mở mới về dữ liệu sinh khối. Điều này rất quan trọng vì: nó thể hiện một cách để liên kết cộng đồng sinh thái/ lâm nghiệp và viễn thám; vượt qua các rào cản chia sẻ dữ liệu hiện có, đồng thời thúc đẩy chia sẻ dữ liệu ngoài các cộng đồng nhỏ, tách biệt; cung cấp sự công nhận cho những người làm việc trong lĩnh vực này, bao gồm cả những người thu thập dữ liệu”, tác giả chính của nghiên cứu Dmitry Shchepashchenko, nhà nghiên cứu của Chương trình quản lý và dịch vụ hệ sinh thái IIASA giải thích.  Sáng kiến này là nỗ lực đầu tiên trong việc đưa loại dữ liệu này từ các mạng khác nhau về một vị trí. Ngoài việc thúc đẩy chia sẻ dữ liệu, hệ thống cũng thúc đẩy một mạng lưới hàng đầu mới về dữ liệu sinh khối (thông qua FOS), mà IIASA đang dẫn đầu và sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai.  Ngoài những lợi ích rõ ràng mà việc chia sẻ dữ liệu mang lại cho cộng đồng khoa học, dữ liệu cũng rất cần thiết để đào tạo các mô hình khác nhau tại IIASA như Mô hình quản lý BioGeoChemology (BGC-MAN) và Mô hình rừng toàn cầu (G4M). Một số dự án IIASA đang triển khai, cũng như các mô hình và dự án kinh tế, sinh lý và kinh tế khác ngoài IIASA cũng sẽ được hưởng lợi. Việc cung cấp quyền truy cập vào dữ liệu có thể cải thiện các mô hình và hiểu biết về sinh khối nói chung.  “Đã có rất nhiều nố lực trong việc thu thập dữ liệu rừng, nhưng những người làm việc trong lĩnh vực này (nhà sinh thái học và nhà khoa học lâm nghiệp) hầu như không chia sẻ dữ liệu thu thập được, hoặc nếu có, họ chỉ chia sẻ dữ liệu đó trong các mạng lưới sinh thái học, dù dữ liệu này còn có giá trị trong huấn luyện các thuật toán tạo ra bản đồ sinh khối, và để đánh giá độ chính xác của sản phẩm bản đồ cùng với đầu vào cho nhiều mô hình khác nhau”, nhà nghiên cứu của IIASA, Linda See, cũng là một đồng tác giả nghiên cứu cho biết. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-forest.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chia sẻ nền tảng xe điện: Khi các hãng bắt tay để cùng tồn tại      Chia sẻ nền tảng là bước chuyển mới nhất trong ngành công nghiệp ô tô để đối phó với áp lực về chi phí, giúp các hãng xe thuận lợi mở rộng dây chuyền sản xuất xe điện – nhất là trong bối cảnh phong trào bảo vệ môi trường đang ngày càng lan rộng.      Kết cấu xe điện Volkswagen nền tảng MEB. Hãng xe này đặt mục tiêu bán được 1 triệu chiếc xe điện vào năm 2025. Ảnh: motorauthority     ‘Đôi bên cùng có lợi’     Đầu tháng trước, Honda Motor cho biết họ dự định cung cấp cho General Motors thông tin thiết kế nền tảng xe điện, bao gồm cấu trúc chính của thân xe và các thành phần chế tạo khác. Theo đó, các loại xe điện mà Honda Motor bán trên thị trường Bắc Mỹ vào thời gian tới sẽ có 50% linh kiện giống với linh kiện của các dòng xe thuộc General Motors.      Vì nền tảng của một chiếc xe hơi quyết định đến thiết kế, kỹ thuật của nó nên hai nhà sản xuất ô tô sẽ chế tạo ra rất chiếc xe điện rất giống nhau. Điều này thoạt nghe có vẻ tréo ngoe, làm thế nào mà hai đối thủ trên cùng một phân khúc thị trường lại có thể chấp nhận hợp tác chặt chẽ đến vậy?      Trong bối cảnh phong trào bảo vệ môi trường ngày càng lan rộng, các hãng xe đang đẩy mạnh mảng sản xuất xe điện của mình. Trong quá trình mở rộng sản xuất, điều mà các hãng xe quan tâm chính là làm thế nào giảm thiểu chi phí hết mức có thể mà vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm. Các công ty trong ngành không còn cách nào khác là phải hợp tác với nhau và cùng tồn tại.      Hiện tại, Honda đang phát triển nền tảng e:Architecture của mình dành cho những chiếc xe điện cỡ nhỏ và cỡ trung dự kiến sẽ xuất hiện tại các phòng trưng bày ở Bắc Mỹ vào cuối thập niên này. GM cũng sẽ sử dụng nền tảng e:Architecture, chỉ có phần thiết kế nội thất và vỏ ngoài thì tùy thuộc vào quyết định của mỗi hãng.     Theo TS Lê Anh Sơn, Giám đốc Công ty CP PhenikaaX – một trong những đơn vị đầu tiên chế tạo xe tự hành cấp độ 4 ở Việt Nam, “một công ty sẽ chia sẻ nền tảng xe điện của mình khi: Thứ nhất, nền tảng đó đã lỗi thời, nghĩa là xu hướng đó không còn sử dụng nữa hoặc không phải là xu thế nữa. Thứ hai, họ sẽ chỉ chia sẻ một phần của nền tảng, phần còn lại phụ thuộc vào công nghệ của bên công ty phát triển xe. Thứ ba, họ mong muốn đưa xã hội tiến nhanh đến việc sử dụng xe điện.” Trên thực tế, Honda và General Motors vẫn chưa công bố cụ thể nền tảng chia sẻ là gì và gồm những thông tin nào của nền tảng; “tuy nhiên nếu là lý do thứ nhất – nền tảng xe điện đó không còn là xu thế nữa – thì có nghĩa là họ đang tập trung vào việc nghiên cứu để tạo ra xu thế mới. Điều này chứng tỏ tốc độ phát triển trong nghiên cứu xe điện hiện tại của các hãng này cũng như nhiều công ty khác trên thế giới, đang ở mức rất nhanh”.      Dù chưa rõ mục đích chính đằng sau cú bắt tay của Honda và General Motors, nhưng chắc chắn, ở góc độ sản xuất trên quy mô lớn, việc hợp tác lần này sẽ giúp hai bên giảm thiểu đáng kể chi phí sản xuất, PGS TS. Lê Anh Sơn cho biết. Nhìn chung, các nhà sản xuất sẽ cần đầu tư những khoản đáng kể cho các dây chuyền sản xuất, ví dụ quá trình chuyển đổi dây chuyền sản xuất từ xe hơi truyền thống sang xe điện đã tiêu tốn khoảng 89 đến 134 triệu USD cho mỗi nhà máy còn với phát triển một mẫu xe điện mới là vào khoảng 455 triệu USD, trong đó riêng phần pin đã chiếm từ 40 đến 50% chi phí sản xuất.      Một điểm lợi khác họ sẽ được hưởng là thông qua việc chia sẻ nền tảng xe điện, Honda và General Motors sẽ có thể tiêu chuẩn hóa động cơ, pin, biến tần và các thành phần quan trọng khác. Nhờ đặt hàng một số lượng lớn các bộ phận xe giống nhau mà hai bên đều tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể.      Có thể đây cũng là giải pháp để họ đạt được mục tiêu đề ra: đến năm 2035, General Motors tập trung vào việc bán ô tô và xe tải không phát thải còn Honda cũng dự định sẽ chỉ bán xe chạy bằng pin và pin nhiêu liệu vào năm 2040.      Xu hướng chung      Liên minh châu Âu đã đưa ra tuyên bố sẽ cấm bán xe chạy xăng và diesel mới, kể cả xe lai (loại xe sử dụng cả động cơ đốt trong và động cơ điện), bắt đầu từ năm 2035. Nhật Bản và Mỹ cũng đã ban hành một loạt chính sách nhằm khuyến khích phát triển và sử dụng xe điện.     Vào tháng 8, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đưa ra mục tiêu quốc gia: đến năm 2030, một nửa số xe mới được bán trên thị trường của Mỹ là xe chạy bằng điện hoặc pin nhiên liệu. Đây là nỗ lực đáng chú ý nhằm cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Tính đến năm 2020, doanh số bán xe điện chiếm khoảng 2% tổng doanh số bán xe của Mỹ, nhưng chính quyền Tổng thống Biden muốn con số này tăng thêm, họ đã quyết định triển khai thêm các trạm sạc và trợ cấp cho người mua hàng.     Đối với các nhà sản xuất ô tô, việc tăng thêm số lượng các mẫu xe điện là điều quan trọng. Nhưng họ bị rơi vào vòng lẩn quẩn giữa việc đầu tư chi phí cao cho pin nhưng vẫn phải giữ giá thành tương đối thấp cho sản phẩm. Lúc này, chiến lược giảm thiểu chi phí thông qua hợp tác với chính đối thủ của mình là lựa chọn cần thiết.       Trong bối cảnh thế giới đang cùng chung tay khử carbon, Honda và General Motors không phải là những nhà sản xuất ô tô duy nhất quyết định hợp tác với đối thủ của mình. Nissan Motor và Renault đã cùng hợp tác với Mitsubishi Motors để chia sẻ khoảng 70% động cơ xe điện, pin và các bộ phận khác. Hiện tại, ba nhà sản xuất đã phát triển xong một nền tảng chung để chia sẻ cùng nhau. Toyota Motor, Suzuki Motor và Daihatsu Motor thì hợp tác để phát triển các loại xe thương mại điện khí hóa.      Cách đây 2 tháng, Volkswagen đã công bố chiến lược “New Auto” nhằm mục đích hợp nhất những chiếc ô tô điện trong tương lai vào một nền tảng duy nhất mang tên SSP (Scalable Systems Platform). Volkswagen dự kiến sẽ tập trung vào sản xuất xe điện, và sứ mệnh của SSP là thay thế các nền tảng hiện tại cho xe đốt trong. Để hiện thực hóa sứ mệnh này, Volkswagen đã đầu tư 945 triệu USD vào một cơ sở nghiên cứu ở Wolfsburd để phát triển cốt lõi và các mô-đun của nền tảng SSP. Hãng xe này dự kiến sẽ chia sẻ nền tảng SSP cho các nhà sản xuất ô tô khác, đây cũng là điều mà Volkswagen đã làm với nền tảng MEB – hiện đang được Ford sử dụng cho chiếc xe điện sắp ra mắt tại thị trường châu Âu.      Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là thị trường xe điện đang ‘bình yên’, việc hợp tác – và kêu gọi hợp tác – càng cho thấy các nhà sản xuất ô tô đang cạnh tranh khốc liệt để cung cấp xe điện giá cả phải chăng đến khách hàng. Vào tháng 7 năm 2020, General Motors đã hợp tác với hãng xe quốc doanh SAIC và hãng tư nhân Wuling Automobile của Trung Quốc tung ra một dòng xe điện mới giá rẻ chỉ khoảng 4.500 USD. Chiếc xe điện này thậm chí còn nhỏ hơn những chiếc mini chạy trên đường phố Nhật Bản. Mặc dù tốc độ và quãng đường xe chạy của dòng xe này còn hạn chế, nhưng nó đã trở nên phổ biến ở các vùng nông thôn Trung Quốc.      Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra đó là làm thế nào các hãng có thể triển khai lợi ích riêng từ nền tảng chung? “Muốn biết câu trả lời thì phải hiểu rõ lý do vì sao họ chia sẻ cho nhau. Nếu họ chỉ chia sẻ một phần nền tảng, đồng nghĩa với việc những phần không được chia sẻ chính là phần cốt lõi để thương mại hóa”, TS Lê Anh Sơn cho biết. Bên cạnh đó, đây là hợp tác ‘đôi bên cùng có lợi’, vì vậy bên chia sẻ có thể đưa ra những yêu cầu cho các đơn vị sử dụng.      Với trường hợp của Honda và General Motors, để sử dụng chung nền tảng e:Architecture, General Motors sẽ phải chia sẻ những thông tin về việc phát triển các dòng xe điện lớn hơn của mình cho Honda. Tuy nhiên, thực tế họ còn rất nhiều dịp để trao đổi lợi ích với nhau, bởi đây không phải là lần đầu tiên Honda và General Motors hợp tác cùng phát triển. Năm 2017, họ đã thành lập một liên doanh ở Mỹ để sản xuất hệ thống pin nhiên liệu hydro. Honda cũng đã đầu tư vào công ty con Cruise của General Motor với ý định nghiên cứu dịch vụ chia sẻ xe không người lái.      Rõ ràng, chia sẻ và hợp tác từ lâu đã là xu hướng chung của thế giới, nhất là với giới công nghệ. Mỗi đơn vị sẽ phân chia các nhiệm vụ khác nhau để thực hiện và hình thành một chuỗi trước khi tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm nhiều năm phát triển xe điện tự hành, TS Lê Anh Sơn cho rằng hiện tại xu hướng này vẫn chưa thể hiện rõ ở Việt Nam.      Trong bối cảnh các chính sách của Việt Nam đối với ô tô điện vẫn còn tụt hậu so với các nước khác như Thái Lan, Malaysia và Indonesia, số lượng xe điện hóa (hybrid, plug-in hybrid và xe thuần điện) ở Việt Nam hiện có rất ít – năm 2019 là 140 xe điện, năm 2020 tăng lên 900 xe và hết Quý I năm 2021 là 600 xe – các bên phát triển xe điện của Việt Nam sẽ cần ‘mở lòng’ hơn nữa. “Nếu các công ty vẫn muốn nắm riêng phần công nghệ xe điện cho mình mà không muốn chia sẻ cho các bên khác, thì điều này sẽ làm chậm lại quá trình phát triển của công nghệ”, TS Lê Anh Sơn kết luận.       Author                Đinh Cửu        
__label__tiasang Chiếc cốc tạo mùi hương gây “bão”      Chiếc cốc có khả năng đánh lừa bộ não rằng chúng ta đang uống nước có vị trái cây trong khi không phải đưa vào cơ thể những chất bảo quản, chất phụ gia, đường hay calorie như các loại nước trái cây khác, đang gây bão trên thế giới.    Thói quen sử dụng đồ uống ngọt có gas tràn  lan hiện nay đang làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, sâu  răng, béo phì, tiểu đường, và tai hại nhất là các loại nước uống này có  thể gây nghiện.  Trước những mối lo ngại về sức khỏe này, cả một ngành công nghiệp thịnh vượng đã ra đời với hàng trăm sản phẩm được quảng bá là đồ uống thay thế đồ uống có đường như nước soda. Tuy vậy, theo ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng, nước vẫn là thức uống lành mạnh nhất, bởi nước cung cấp chất ẩm, không chứa calorie, đồng thời là chất thiết yếu cho hoạt động của cơ thể. Nhưng vấn đề ở đây là nước vốn không có vị nên hiếm người có thể uống đủ tám ly nước một ngày như gợi ý của các bác sĩ bấy lâu nay.    Có lẽ đây là một phần lý do vì sao sản phẩm The Right Cup lại thu hút được sự quan tâm của công chúng đến vậy ngay từ những ngày đầu ra mắt.    Issac Lavi, đồng sáng lập kiêm CEO của công ty The Right Cup, nảy ra ý tưởng sản phẩm này sau khi anh bị chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường ở tuổi 30. “Các bác sĩ khuyên tôi tránh xa đồ uống có đường và chỉ nên uống nước lọc. Thật là làm khó cho tôi quá, bởi vì tôi ghét vị của nước, mà thực ra là nước không có vị gì cả,” anh kể lại.    Vốn là chuyên gia trong lĩnh vực marketing mùi hương sản phẩm đồng thời là một doanh nhân đầy quyết tâm, Lavi đã lên đường tìm kiếm “giải pháp mùi hương” cho vấn đề của chính mình, bởi mùi quyết định tới 80% vị. Sau sáu năm miệt mài nghiên cứu và phát triển, cuối cùng Lavi cũng đã tạo nên The Right Cup – chiếc cốc hoàn hảo.    The Right Cup được làm từ nhựa không chứa BPA và bao gồm ba phần: vành cốc – đồng thời là nơi lưu trữ vị trái cây, cốc bên trong (cũng được ướp hương), và phần ngoài cốc. Các thành phần tạo hương vị của cốc có thể sử dụng được trong hơn một năm. Sản phẩm này sử dụng công nghệ Encapsulated Aroma Release (phát tán mùi hương được đóng kín), qua đó trong quá trình sản xuất, các thành phần tạo mùi hương trái cây được đưa trực tiếp vào trong chiếc cốc. Theo giải thích của Lavi thì chiếc cốc vận dụng ba giác quan để tạo nên một trải nghiệm tổng thể: thị giác, khứu giác, và vị giác. Anh cho biết: “Khi bạn đổ nước vào cốc và uống, mũi bạn sẽ ngửi thấy mùi hương trái cây, lưỡi bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt, và màu sắc trái cây sinh động mà chiếc cốc tạo ra sẽ mang lại tính xác thực cho trải nghiệm mà bạn đang có. Đồng thời, não bộ cũng nhận được tín hiệu này và so sánh những gì đang diễn ra với những trải nghiệm trong quá khứ khi bạn uống nước trái cây. Như vậy, mỗi lần dùng The Right Cup để uống nước, não bộ sẽ học được cách tìm hiểu kỹ hơn về trải nghiệm mùi vị này, và càng ngày trải nghiệm này càng trở nên mạnh mẽ hơn.”    Nói một cách ngắn gọn, chiếc cốc này tỏa ra mùi hương trái cây để đánh lừa bộ não rằng chúng ta đang uống nước có vị trái cây trong khi không phải đưa vào cơ thể những chất bảo quản, chất phụ gia, đường hay calorie như các loại nước trái cây khác. Với lợi thế này, họ hy vọng The Right Cup sẽ giúp mọi người có động lực để uống đủ tám ly nước mỗi ngày, đồng thời giúp trẻ nhỏ, bệnh nhân bị tiểu đường hay người thừa cân giảm tải lượng hấp thụ đường từ các đồ uống ngọt hiện nay.    Hiện tại, The Right Cup có bốn mùi là chanh dây, cam, dâu, và táo. Công ty cũng đang cân nhắc bổ sung thêm các mùi vị mới theo gợi ý của công chúng.     Bên cạnh biến việc uống nước trở nên thú vị hơn, Lavi còn hy vọng rằng The Right Cup có thể làm giảm đi đáng kể lượng thức uống có đường mà chúng ta đang tiêu thụ ngày nay, từ đó góp phần kiểm soát các vấn đề đang khiến xã hội lo lắng như bệnh tiểu đường và béo phì. Anh chia sẻ: “Cá nhân tôi cũng từng là một đứa trẻ rất béo. Nhưng thật không may, ngày nay tôi càng thấy có nhiều trẻ em thừa cân hơn, và tôi biết các em cảm thấy thế nào, tôi hiểu những gì các em đang trải qua. The Right Cup là một giải pháp hiệu quả để giảm lượng tiêu thụ đồ uống có đường ngày nay. Và đây là cách để tôi có thể giúp các em nhỏ thừa cân trong cuộc chiến mà các em đang phải đấu tranh hàng ngày.”    The Right Cup bắt đầu thực hiện chiến dịch huy động vốn trên trang crowdfunding Indiegogo.com vào ngày 17/11 với mục tiêu gọi được 50.000 USD tiền đầu tư để khởi động quá trình sản xuất đại trà sản phẩm tuyệt vời này. Ý tưởng này đã “bắt sóng” được tâm lý của cả các nhà đầu tư và công chúng tới nỗi chỉ sau bốn ngày thực hiện chiến dịch, họ đã đạt được mục tiêu gọi vốn ban đầu. Tới ngày 24/11, họ đã gọi được 81.000USD với 1.387 người ủng hộ. Trong giai đoạn thực hiện chiến dịch crowdfunding, mỗi chiếc cốc có giá 25 USD; theo dự kiến, giá bán lẻ chính thức của sản phẩm này sẽ là 35 USD.    Theo dự kiến, những chiếc cốc đầu tiên sẽ được gửi đến cho những người ủng hộ trên website Indiegogo.com vào tháng 4/2016, sau đó sẽ được bán chính thức trên website của The Right Cup.    Sản phẩm này hiện đang được rất nhiều tạp chí và website quảng bá và giới thiệu. Website tin tức awesomejelly.com thậm chí còn bình chọn đây là “một trong những phát minh thú vị nhất, sáng tạo nhất từng xuất hiện.”        Cuộc chiến chống nạn béo phì vẫn tiếp tục   diễn ra tại Mexico. Theo ước tính, 70% dân số người lớn trong đất nước   này thừa cân, 30% mắc chứng béo phì, và 35% trẻ vị thành niên thừa cân   hoặc béo phì. Vừa qua Bộ Y tế Mexico đã thực hiện thí điểm chương  trình  khuyến khích lối sống lành mạnh tại các điểm dừng xe công cộng.  Kể từ  tháng 1/2015, hành khách nào thực hiện đủ 10 lần động tác đứng  lên ngồi  xuống sẽ được nhận một vé đi tàu điện ngầm miễn phí trong  thành phố  Mexico, một máy đo bước chân, hay một hộp bao cao su. Năm  2013, Nga cũng  thực hiện chiến dịch tương tự tại Thế vận hội Olympic  Sochi: ai thực  hiện đủ 30 lần động tác đứng lên ngồi xuống sẽ được nhận  một vé miễn phí  đi tàu điện ngầm đến Sochi.            Trang Bùi tổng hợp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiếc máy tính đầu tiên của Việt Nam: Một nỗ lực trong bối cảnh biệt lập      Cuối những năm 1970, vừa mới bước ra khỏi chiến tranh, cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc nhưng một nhóm kỹ sư trẻ dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Pháp Alain Teissonnière và sự tin tưởng của giáo sư Phan Đình Diệu, “người anh cả” ngành công nghệ thông tin đã chế tạo thành công chiếc máy tính. Chiếc máy tính cá nhân thứ ba ra đời trên thế giới tại thời điểm đó quả thực là một kỳ tích khó tin của ngành công nghệ thông tin Việt Nam trong một bối cảnh gần như biệt lập với các nền khoa học tiên tiến.      Máy tính VT81 với màn hình là chiếc TV trắng đen.   Niềm tin từ “người anh cả” ngành CNTT để chớp lấy “cơ duyên”  Ngày đó “chúng tôi toàn là người rất trẻ, không học hàm học vị, không có vai vế trong xã hội”, “nhiều giáo sư tiến sĩ không bao giờ tin thời đó có thể làm được chiếc máy tính, cứ nói ra là các ông ấy bảo ‘điên rồ mơ mộng’”, TS Nguyễn Chí Công, một thành viên tham gia chế tạo chiếc máy tính đầu tiên đó nhớ lại. “Rất khác với mọi người, anh Phan Đình Diệu lại tin ở chúng tôi”  Điều đó cho thấy tầm nhìn vĩ mô và khả năng tiên đoán của người lãnh đạo Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (thành lập năm 1976) dù lúc đó GS Phan Đình Diệu mới trở về nước và lãnh trách nhiệm làm Viện trưởng được hai năm, như lời TS Nguyễn Chí Công kể lại “dù rất nhiều người đi học ở nước ngoài về, nhưng chỉ Anh Diệu thấy ngay tin học là tương lai”. Cũng chính GS Phan Đình Diệu là người trả lời lá thư của Alain Teissonnière gửi về việc đề nghị giúp đỡ Việt Nam, sau một thời gian dài lá thư nằm im lìm “bao nhiêu người đọc mà không một ai trả lời” – có lẽ chỉ vì tâm lý e ngại phương Tây lúc đó cũng như không đủ tin vào khả năng làm máy tính của Việt Nam.   Thế là Alain mang số tiền dành dụm cả đời, xin nghỉ không lương ở Pháp, chuẩn bị tài liệu, com cóp mua vật tư mà thực ra là đã vi phạm cả lệnh cấm vận khi mang chip của Mỹ qua hải quan để đến với Việt Nam. Có thể nói Alain là người mở ra cánh cửa hợp tác khoa học Việt – Pháp, mà rộng hơn là mở ra cánh cửa với giới khoa học phương Tây thời đó. Chính Alain sau này cũng trở thành Tổng thư ký Ủy ban vì sự Hợp tác Khoa học và kỹ thuật với Việt Nam (CCSTV) mở ra sự hợp tác khoa học và kỹ thuật Pháp-Việt. Alain sang là đã trao một “cơ duyên” cho nhóm phát triển và cho ngành công nghệ thông tin Việt Nam, bởi thời điểm đó các nhóm khác như Bill Gate, Steve Job vẫn còn còn đang mày mò tìm hướng phát triển mà chưa hề được thế giới biến đến.   Điều quan trọng không kém là ông đem lại tư duy mới về máy tính, “làm thay đổi hệ hình cũ”, ông bắt nhịp với điều kiện sống trong thời bao cấp khó khăn ở Hà Nội để giảng cho cán bộ các Viện Khoa học tính toán và Điều khiển và cả một loạt viện, trường khác về bộ vi xử lý (Microprocessors), sẽ có mặt khắp nơi, thay cho những máy tính kềnh càng. Thậm chí, lúc đó GS Phan Đình Diệu và các kỹ sư vẫn còn tranh luận về việc dịch từ “vi xử lý” có chính xác hay chưa.   Không ngờ rằng những kỹ sư trẻ làm việc với Alain đều “nghèo khổ hốc hác, Alain mở cặp lồng ra thấy toàn cơm, cà hoặc dưa muối” lại ham hiểu biết, nhanh chóng nắm bắt công nghệ, kỹ thuật đến vậy. Cả nhóm gồm Nguyễn Gia Hiểu, Nguyễn Chí Công, Huỳnh Thúc Cước, Nguyễn Trung Đồng, Đặng Văn Đức, Phí Mạnh Lợi, Nghiêm Mỹ, Phạm Quang Oai, Nguyễn Văn Tam, Phan Minh Tân, Đỗ Đình Phú, Trần Bá Thái, Lê Võ Bạch Thông, Nguyễn Chí Thức, Bùi Xuân Vinh, chưa có ai từng sang phương Tây học tập (chỉ có anh Nguyễn Gia Hiểu đã bảo vệ phó tiến sĩ) và cũng chỉ một vài người đã từng được đọc tài liệu về chip máy tính.   “Thời gian nghiên cứu, lắp ráp, thử nghiệm, căn chỉnh đều rất ngắn; điện thì không ổn định, có thể bị cắt bất kỳ lúc nào, chúng tôi lại chưa từng được sờ đến những chip hiện đại như thế, chỉ sợ hỏng do tĩnh điện hoặc sốc điện. Mặt khác, phải thực hiện mấy bìa RAM mới được vỏn vẹn vài kB, ngày đó chưa có RAM động mà mỗi chip RAM tĩnh chỉ chứa mấy trăm bit”, TS Nguyễn Chí Công kể lại.  Do không có bàn phím và màn hình nên nhóm phát triển phải nhập liệu từng bit bằng các công tắc Liên Xô và hiển thị bằng các diode phát quang. Hệ phát triển cũng chưa có, phải dịch thủ công chương trình điều khiển rồi nạp trực tiếp thông tin trên mấy nghìn diode mắt muỗi và điện trở. Lập trình và sửa lỗi còn tiêu mất nhiều thời gian nữa vì phải dùng ngôn ngữ Asembly và mã máy, lại không hề có máy in nào để giúp cho mắt đọc, tay viết.  Thực chất là một “cỗ máy cái” – một hệ phát triển  Sau thời gian chạy đua với thời gian để Alain trở về nước, chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời được đặt tên là FT8080, sau này mới được nhóm gọi là VT80 được xây dựng theo thiết kế với kỹ thuật quấn dây nối các chân cắm do ông Alain mang sang, vì lúc ấy chưa thể làm được mạch in ở Việt Nam và cũng không được phép hàn trực tiếp vào các vi mạch. Nhưng chiếc máy tính đầu tiên giúp nhóm kỹ sư trẻ hình dung thế nào là một chiếc máy tính cá nhân này cũng hết vai trò rất nhanh bởi vì các thế hệ con chip ra đời sau con chip mà Alain mang sang Việt Nam đã được cập nhật, lên 16 bit rồi 32 bit. Do đó, khi nhận được sự hỗ trợ của Alain để đi Pháp làm thực tập sinh, các kỹ sư đã săn tìm vật tư và ấp ủ ý định quay trở về Việt Nam sản xuất loạt máy tính VT tiếp theo.     GS Phan Đình Diệu và các nghiên cứu sinh, thực tập sinh tại Pháp.   “Máy tính đầu tiên không phải là máy tính, mà thực chất nó là hệ phát triển, tức là như cỗ máy cái, từ nó đẻ ra các máy khác. Nó nằm lại ở phòng thí nghiệm, còn chúng tôi làm độ gần chục chiếc như vậy để đưa cho các cơ quan khác, hướng dẫn họ tự làm ra các ứng dụng cho nó mà không cần nhờ tới mình”. Và để có đủ vật tư làm điều đó, quả thực “hồi đó chúng tôi (gồm Nguyễn Chí Công, Trần Bá Thái, Đặng Văn Đức) đều dành dụm tiền lương để mua vật tư về. Điều này có kể lại nghe cũng thật khó tin, bởi hồi đó ai đi nước ngoài cũng chỉ muốn dành dụm tiền để mua hàng hóa hoặc bất động sản”, TS Nguyễn Chí Công nhớ lại. Tinh thần chia sẻ, say mê công việc, hết lòng vì nhóm chung ấy đã đi cùng nhóm trong suốt quá trình làm các thế hệ VT, thậm chí tên tác giả của VT cũng được xếp theo thứ tự aphabet chứ không đặt nặng vai trò của ai hơn ai.   Nhưng những thực tập sinh lại trở về Hà Nội để phát triển các thế hệ sau của VT đúng vào lúc chiến tranh biên giới 1979. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, VT 81 ra đời với màn hình đầu tiên ấy chính là một chiếc TV trắng đen mang nhãn hiệu Neptune được “chuyển mục đích sử dụng”. Có sẵn mạch in, hệ phát triển và các linh kiện hiện đại hơn nên nhóm lắp ráp đỡ vất vả hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên ngành cơ khí chưa chế tạo được vỏ máy tính với độ chính xác mong muốn, vì thế nhóm phải làm bằng thủ công. Với tiền tài trợ từ phía Pháp là 500.000 franc cho 5 năm, nhóm kỹ sư vẫn tiếp tục làm những chiếc máy tính tiếp theo để gửi đi một số đơn vị, trong đó có ngành điện lực, giao thông vận tải, Học viện kỹ thuật quân sự, còn lại chính TS Nguyễn Chí Công cũng không thể nhớ hết.   Thành công với những chiếc máy tính này đã nhận được sự quan tâm của Đại tướng, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp và cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng thời đó, thậm chí nhóm nghiên cứu đã báo cáo trực tiếp kết quả này với Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng. Với tầm nhìn chiến lược, từ năm 1979, GS Phan Đình Diệu và Alain đã tìm hướng để phải ứng dụng tin học vào giải những bài toán đang đặt ra trong đời sống sản xuất ở Việt Nam, chẳng hạn như vào quản lý các xí nghiệp chứ không chỉ dừng ở mức tính toán khoa học kỹ thuật. Lúc này ông Vương Hữu Trường, Giám đốc Nhà máy may Sinco từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã mời Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển vào giúp đỡ nhà máy trong việc sử dụng máy tính để quản lý. Đó là bài toán đầu tiên đặt ra cho nhóm, bởi tại thời điểm đó chưa ai từng dùng máy tính nhỏ như VT để quản lý nhà máy cả.   Nhóm làm phần mềm do Vũ Duy Mẫn lãnh đạo cùng Phạm Ngọc Khôi và Ngô Trung Việt, Đỗ Việt Nga, Doãn Ngọc Liên, Giang Công Thế đã nghiên cứu viết ngôn ngữ “Basic Đồi thông” (phòng nghiên cứu và Viện nằm trong lòng Đồi Thông) và rồi đem một trong các máy VT đi vào thành phố Hồ Chí Minh, phân tích bài toán và quản lý vật tư cho Sinco.     Từ trái sang: GS Henri V. Regemorter, GS Phan Đình Diệu, TS Nguyễn Chí Công chuẩn bị kế hoạch đưa thực tập sinh Việt Nam sang Pháp thực tập. Nguồn ảnh trong bài: Nguyễn Chí Công.   Tuy nhiên, sau khi số tiền tài trợ trong 5 năm cho nhóm cạn kiệt, đất nước lâm vào khó khăn sâu hơn sau những sai lầm quản lý kinh tế trong thời bao cấp đồng thời bị cấm vận toàn diện, lãnh đạo phụ trách khoa học và công nghệ lên thay Đại tướng Võ Nguyên Giáp không quan tâm nhiều tới ngành này nữa, nhóm không thể tiếp tục phát triển các thế hệ máy tính tiếp theo. Mặc dù có tầm nhìn chiến lược của GS Phan Đình Diệu, sự giúp đỡ hào hiệp và nhiệt tình của Alain, đội ngũ kỹ sư trẻ tài năng và khao khát đổi mới, nhưng Việt Nam đã mất cơ duyên trở thành một trong những nước có thể xuất khẩu công nghệ của mình ra thế giới. Cỗ máy cái VT80 và các thế hệ VT8x đành dừng lại ở vai trò lịch sử của nó mà không trở thành một thế mạnh của Việt Nam trong bối cảnh các nước đều đã nhận ra công nghệ thông tin trở thành vũ khí hàng đầu.  Sau khi bắt đầu thời kỳ đổi mới, TS Nguyễn Chí Công đã cùng tham gia thành lập công ty FPT với chiếc máy vi tính của riêng mình còn sót lại… Nhưng các công ty tin học Việt Nam đã phải vật lộn buôn bán hàng chục năm mới có thể bắt đầu làm thuê gia công phần mềm cho nước ngoài.   Nhưng cũng không thể gia công phần mềm mãi được, và liệu làm cách nào để tạo dựng chỗ đứng riêng cho công nghệ thông tin Việt khi mà công nghệ phổ biến hiện nay đều thuộc về các hãng nước ngoài? Bằng kinh nghiệm gần cả cuộc đời gắn bó với những chiếc máy tính, TS Nguyễn Chí Công mong muốn giới làm công nghệ Việt Nam “phải có dữ liệu của Việt Nam và tự giải những bài toán đặc thù của Việt Nam. Anh đừng mong giải bài toán toàn cầu vì người ta đã làm hết rồi, mà phải giải bài toán đặc thù của mình, vì sẽ không ai làm cho mình cả, nếu nước ngoài làm cho mình thì sẽ có giá rất đắt”.   Tiếc là trong thời kỳ chuyển đổi số, để làm được điều đó, gánh nặng không chỉ ở ngành công nghệ thông tin, mà ngành này sẽ cần hợp tác chặt chẽ với các ngành khác để tạo ra bộ dữ liệu của riêng Việt Nam. “Ví dụ, thế giới họ không quan tâm nhiều tới tiếng Việt hoặc tiếng các dân tộc thiểu số thì mình phải có ngữ liệu, làm những ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng của mình. Và cũng phải làm điều tương tự với dữ liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật dân tộc…”, TS Nguyễn Chí Công nói.   ***  Những chiếc máy tính đầu tiên lần lượt bị đem bán làm đồng nát, nhóm cộng sự năm xưa mỗi người đi một phương. Đến hôm nay, TS Nguyễn Chí Công cùng những người cộng sự năm xưa vẫn đang tiếp tục thu thập tư liệu, máy móc trước đây để xây dựng bảo tàng công nghệ thông tin. Ông dành trọn căn phòng nhỏ ở tầng một để chứa những kỷ vật mà ông còn giữ hoặc đi sưu tầm lại. “Chúng tôi quyết tâm làm bảo tàng công nghệ thông tin này để cho thế hệ sau tự tin, biết rằng trí tuệ người Việt mình sẽ không thua gì các nước khác cả. ‘Thậm chí có anh người Úc khi sang đây đã phải ngạc nhiên bảo với tôi rằng thời đó người Úc chúng tôi còn chưa biết database trên máy vi tính là gì mà các anh đã nghĩ tới viết chương trình, software ư’”.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Chiếc tai nhân tạo làm từ mực sinh học chỉ trong mười phút      Lần đầu tiên, một bệnh nhân ở Mỹ được cấy ghép tai nhân tạo làm từ máy in 3D. Các nhà khoa học kỳ vong, trong tương lai chúng ta sẽ có thể tạo ra các nội tạng như thận, gan từ mực sinh học như vậy.       Thật khó tưởng tượng, nhưng đây là chuyện có thật: Tai nhân tạo trên đĩa petri.  Alexa, 20 tuổi, người Mexico là bệnh nhân đầu tiên được cấy ghép tai theo phương pháp mới. Trước đây, cô luôn phải che giấu phần tai dị dạng của mình dưới mái tóc lòa xòa. Nay, sau cuộc phẫu thuật ở Mỹ vào tháng 3, Alexa đã có một vành tai hoàn chỉnh được làm bằng công nghệ in 3D.  Vành tai mới này của Alexa được công ty 3DBio Therapeutics phát triển từ tế bào sụn của bản thân người bệnh nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ đào thải. “Chúng tôi nhận được một mẫu mô và trên cơ sở đó đã tạo ra được một cái tai sống”, Daniel Cohen – nhà đồng sáng lập doanh nghiệp – chia sẻ trên New York Times.  Michael Gelinsky, giáo sư của Translational Bone, đánh giá: “cuộc cấy ghép vành tai được in sinh học từ các tế bào sống này là một cột mốc quan trọng đối với lĩnh vực y học tái tạo vốn còn tương đối non trẻ. Không chỉ vậy, đây còn là một sự kiện đặc biệt đối với lĩnh vực kỹ thuật mô, tức là tái tạo nhân tạo mô sinh học”. Do đó, sự tiến bộ này khiến nhiều người kỳ vọng rằng chúng ta sẽ có thể tạo ra các đĩa đệm hoặc mũi, và cuối cùng là tạo ra các cơ quan nội tạng chức năng như thận và gan trong tương lai.  Trong những tháng qua, lĩnh vực y học tái tạo cũng đã ghi nhận một số tiến bộ vượt bậc. Chẳng hạn, ở Mỹ, lần đầu tiên một bệnh nhân bị bệnh nặng đã được cấy thành công một quả tim lợn biến đổi gene và kéo dài sự sống thêm hai tháng. United Therapeutics – công ty cung cấp quả tim lợn này – cũng đang thử nghiệm chế tạo các bộ phận của phổi bằng in 3D để cấy ghép. Ở Israel, các nhà khoa học cũng đang kỳ vọng có thể tiến hành in mạch máu vào mùa thu tới.  Sản xuất các bộ phận giả bằng máy in 3D  Thực tế, một số dạng máy in 3D phục vụ mục đích y học đã ra đời từ những năm 2000. Thông qua điều khiển bằng máy tính, các máy in này đã sản xuất ra các bộ phận như chân, tay giả bằng nhựa hoặc kim loại nhẹ với độ khít cao và chính xác hơn. Người ta cũng đã sản xuất thử cánh tay bionic hoặc hộp sọ bằng titan thiết kế riêng cho chó.  Các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự phát triển nhân tạo của mô sinh học bằng cách sử dụng nhiều kỹ thuật mô khác nhau: trong in sinh học 3D, các tế bào sống của con người được tích hợp trực tiếp vào quy trình in tự động.  Theo đó, hộp in sẽ chứa đầy mực sinh học, sau đó ép thành sợi thông qua một vòi phun rất mỏng gắn vào đầu phun để có thể bảo đảm việc in liên tục. Và các nhà khoa học rất ngạc nhiên khi thấy các tế bào có khả năng sinh tồn trong quá trình thực hiện thao tác in.  Mực sinh học bao gồm hydrogel, một mạng lưới ba chiều gồm các chuỗi polyme dài. Đây là vật liệu chứa nhiều nước và tương tự như chất liệu giữa các tế bào của các mô mềm trong cơ thể. Chất nền nhân tạo này cũng có thể chứa hàng triệu tế bào và các chất độn vô cơ có hoạt tính sinh học giúp thúc đẩy tăng trưởng và giao tiếp giữa các tế bào.  Trong nghiên cứu của Michael Gelinsky, các xương có vai trò trung tâm. Ông và các cộng sự đã dùng mực sinh học có pha trộn với các chất như Calci phosphat (xi măng) của xương – yếu tố giúp cho chúng rắn lại khi tiếp xúc với nước. Phương pháp này có thể ứng dụng làm các mô hình mô để nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa các loại tế bào khác nhau, hoặc để thử nghiệm thành phần hoạt tính trong quá trình phát triển các loại thuốc mới. Đáng chú ý, phương pháp này có thể sử dụng trong lâm sàng, ví dụ như cấy ghép cho người bệnh.  Alexa không phải là bệnh nhân duy nhất được trải nghiệm sản phẩm từ phương pháp in này. Công ty 3DBio Therapeutics đang tiến hành một nghiên cứu lâm sàng với 11 bệnh nhân trong độ tuổi từ 6 đến 25, tuy nhiên dữ liệu cụ thể chưa được công bố do lo ngại có thể phát sinh các vấn đề phức tạp. Cho đến nay, người ta mới chỉ biết quá trình này diễn ra như sau: một lượng nhỏ tế bào sụn của cơ thể, có tên là chondrocytes, được dùng để phối trộn với một số thành phần khác để tạo thành mô sụn của con người – thành phần này được lấy từ chiếc tai dị dạng của người bệnh để nhân lên hàng tỷ lần trong một dung dịch dinh dưỡng. Ở bước tiếp theo, những tế bào này được trộn với “mực sinh học” dựa trên collagen và được dùng để in ra một chiếc tai nhân tạo chỉ sau 10 phút.    Hình ảnh minh họa quá trình in một chiếc tai.  Công nghệ in sinh học 3D này còn có thể in được những gì nữa? Theo Gelinsky, câu trả lời là “tất cả những thứ có cấu trúc tương đối đơn giản hoặc có thể đơn giản hóa được”. Chẳng hạn, da nhân tạo là loại da đã được đơn giản hóa, không có bã nhờn, tuyến mồ hôi, chân tóc và mạch máu. Sau khi được bôi lên vết thương, các mạch máu sẽ nhanh chóng phát triển từ bên dưới và nuôi dưỡng các tế bào mô liên kết.  Bên cạnh đó, công nghệ này cũng có thể ứng dụng trong các lĩnh vực khác. Mới đây, các nhà nghiên cứu ở Nhật Bản đã giới thiệu một loại da nhân tạo dành cho robot. Loại da này bao gồm các tế bào của con người và vẫn phải được giữ ẩm trong giai đoạn phát triển, sau đó chúng sẽ được sử dụng để che phủ các bộ xương bằng thép và nhựa của robot.  Có thể in nội tạng?  Hiện tại, nhiều nhóm nghiên cứu đang nỗ lực để tạo ra các mô phức tạp hơn. Trong đó, sụn là một bộ phận được nhiều bên lựa chọn vì chúng không có mạch máu đi qua như các loại mô khác. “Do đó, có thể sản xuất sụn bằng công nghệ in sinh học. Tuy nhiên, cho đến nay công nghệ này mới chỉ có tác dụng trong các trường hợp bị tổn thương nhẹ”, Gelinsky nói. Nhiều người mơ ước một ngày nào đó, phương pháp in sinh học 3D có thể cho ra đời những bộ phận phức tạp như tim, gan, thận để cứu sống bệnh nhân trong thời gian chờ tạng thay thế. Tuy nhiên, đó còn là một chặng đường rất dài phải vượt qua.  Lý do là bởi, các cơ quan nội tạng vốn có cấu trúc lớn và phức tạp. Trong khi đó, in sinh học đòi hỏi phải được thực hiện với độ phân giải cao, do đó phương pháp này chỉ có thể tạo ra những những cấu trúc nhỏ, nếu không quy trình in sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian. Khi in, các tế bào phải nhanh chóng được đưa về dung dịch dinh dưỡng ở nhiệt độ 37 °C. Nếu giảm độ phân giải, máy có thể in một cấu trúc lớn hơn và rút ngắn được thời gian in, tuy nhiên, điều này lại khiến cho cơ quan nhân tạo ấy không thể phát triển với đầy đủ chức năng của mình. Ngoài ra, một vấn đề khác là: nếu tế bào được lấy từ một bộ phận bị bệnh, chúng sẽ trở nên vô dụng. Vậy chúng ta có thể lấy tế bào từ đâu?  Về nguyên tắc, có thể lập trình lại các tế bào da để thu được các tế bào gốc đa năng, từ đó phát triển ra tất cả các loại tế bào khác. Dù về lý thuyết, quá trình này có thể được kiểm soát bằng cách bổ sung chính xác chất thúc đẩy sự phát triển để tế bào gốc trở thành loại tế bào mong muốn, chẳng hạn như tế bào gan, song theo Gelinsky, “chúng ta vẫn chưa biết tất cả các yếu tố để kiểm soát quá trình này”.  Câu hỏi ở đây vẫn là làm thế nào để có thể tích hợp một hệ thống mạch máu vào một cơ quan lớn. Dù đã có thể tạo ra các mạch máu riêng lẻ, song việc tạo ra cả một hệ thống vẫn vô cùng khó khăn, do đó chỉ khi nào làm được việc này thì chúng ta mới có thể tạo ra một cơ quan chức năng của con người ở bên ngoài cơ thể.  Các nhà khoa học ở Viện Wyss, Đại học Harvard và công sự đã cố gắng giải quyết câu hỏi này. Họ đã sử dụng hàng trăm nghìn khối có nguồn gốc từ tế bào gốc, tạo thành một ma trận dày đặc với độ đặc tương tự như sốt mayonnaise ở nhiệt độ chỉ trên 0°C. Loại “mayonnaise” này giúp cho việc in ấn trở nên khả thi: một vòi phun mỏng di chuyển qua ma trận và đọng lại thành một sợi được gọi là mực thay thế, đẩy các tế bào ra khỏi đường đi mà không làm hỏng chúng. Hệ thống mạch máu được tạo ra theo cách này sẽ cứng lại dưới tác dụng của nhiệt. Mực tế bào tan chảy và có thể được rửa sạch, cuối cùng còn lại các kênh.  “Tuy nhiên, những mạch máu giả này không có máu chạy qua mà là một trường nuôi cấy tế bào cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho tế bào”, Gelinsky cho biết. Do đó, mục tiêu hiện tại mà các nhà nghiên cứu hướng đến là sử dụng các sản phẩm này trong phòng thí nghiệm, hoặc làm các mô hình mô để thử nghiệm thuốc. “Phương pháp in sinh học có thể góp phần làm cho các hệ thống thử nghiệm trở nên phức tạp hơn và giống con người hơn”.  Ngoài ra, với các cơ quan nhân tạo đơn giản, Gelinsky cho rằng có thể sử dụng chúng để rút ngắn thời gian chờ đợi cơ quan hiến tặng cho bệnh nhân. Điều này đặc biệt quan trọng đối với gan, bởi trong trường hợp suy gan, nếu không tìm được gan cho phù hợp trong vòng 48 giờ, bệnh nhân sẽ tử vong.   Hoài Trang  dịch  Nguồn: Ein neues Ohr aus Bio-Tinte – so realistisch ist die gedruckte Ersatzniere – WELT    Author                .        
__label__tiasang Chiếc Thìa Vàng mùa thứ ba khởi động      Với chủ đề “Hành trình gia vị Việt”, cuộc thi Chiếc thìa vàng mùa thứ ba khởi động từ ngày 2/6 tại Cần Thơ nhằm tìm kiếm những món ăn ngon – lành, những đầu bếp tài nghệ và những nhà hàng xuất sắc nhất năm 2015.      Dự kiến có 180 đội với  540 đầu bếp đến từ 64 tỉnh, thành phố trên cả nước tham gia cuộc thi với ba vòng thi tập trung: vòng sơ tuyển, vòng bán kết và chung  kết tại 6 địa điểm, trải dài theo chiều dọc đất nước. Theo chuyên gia ẩm thực Bùi Thị Sương, nội dung vòng sơ khảo là “Hương vị quê nhà” với gia vị  hoàn toàn là Việt Nam, vòng 2 là “Món ăn vàng” – tức là món ăn đặc sắc của các đơn vị, vòng chung kết – “Hộp đen bí mật” với nguyên liệu đa phần là của Việt Nam, diễn ra  tại sáu địa điểm.  Năm tiêu chí của cuộc thi mùa thứ ba là Tìm kiếm món ăn dân dã và truyền thống với thông điệp “Mỗi món ăn quảng bá văn hóa cho một vùng miền”; Tìm kiếm đầu bếp tài năng; Nâng cao giá trị sẵn có của ẩm thực Việt; Tôn vinh những đầu bếp xuất sắc và nhà hàng; Đẩy mạnh phong trào “Du lịch ẩm thực” ở Việt Nam.  Về cách thức chấm thi, Phó Tổng giám đốc Công ty Minh Long I, ông Lý Huy Sáng, phó trưởng ban tổ chức cho biết, ngoài việc chấm gia vị, cách nấu nướng sẽ còn chấm thêm phần vấn đáp và đưa kèm một số câu hỏi về chuyên môn (như vấn đề an toàn thực phẩm, cách chế biến…) nhằm tìm ra thí sinh xuất sắc không chỉ thạo cách nấu nướng mà còn có kiến thức sâu rộng về ẩm thực.  Đề cập đến vấn đề sử dụng gia vị ngoại lai trong cuộc thi, ông Lý Huy Sáng cởi mở bày tỏ quan điểm: “Nếu chúng ta  không chấp nhận những điều lạ, điều mới, thì chắc chắn hôm nay mì Ý sẽ  không là biểu tượng của nước Ý [vì mì này vốn xuất xứ từ Trung Quốc]. Tôi nghĩ rằng, chúng ta tôn vinh  những gì chúng ta đang có và làm nó phong phú hơn. Do đó, khi không quá xem nặng về câu chữ rằng nó đến từ đâu… thì chúng ta sẽ còn đi  xa hơn nữa. Chúng ta  nên mở cửa đón nhận điều hay và gìn giữ những điều hay đó và đưa nó  thành những cái riêng của mình”.   Tại buổi họp báo cuộc thi, cuốn sách “Chiếc thìa vàng – Tinh hoa ẩm thực Việt” đã ra mắt với nội dung là các món ăn dự thi và đoạt giải Chiếc thìa vàng năm 2013 được tập hợp, biên soạn giới thiệu một cách công phu từ công thức, cách chọn nguyên liệu, gia vị, chế biến và cả trình bày món ăn bằng những hình ảnh rất đẹp.   Ban tổ chức dự kiến, sau mùa thi thứ ba sẽ tiến tới thành lập “Câu lạc bộ đầu bếp Chiếc thìa vàng” nhằm kết nối những đầu bếp từng đoạt giải trong các mùa thi thành một đội ngũ chuyên gia ẩm thực uy tín nhằm quảng bá những món ăn nổi tiếng, đậm bản sắc Việt.  Cuộc thi Chiếc thìa vàng năm nay có tổng giải thưởng lên tới hơn 3  tỉ đồng do Công ty TNHH Minh Long I và Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ  doanh nghiệp (BSA) phối hợp tổ chức, nhãn hàng Ly’s Horeca tài trợ, với  sự bảo trợ của hai đơn vị cấp quốc gia là Phòng Thương mại – Công nghiệp  Việt Nam (VCCI) và Tổng cục Du lịch Việt Nam.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược biển và tầm nhìn mới về CNH, HĐH      Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X, 2/2007) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã ghi nhận ý kiến cho rằng thế kỷ XXI sẽ là “Thế kỷ của đại dương”.  Với sự ghi nhận đó, chiến lược biển, khuôn lại trong phạm vi kinh tế biển, đã mở rộng nội hàm phát triển kinh tế, nội hàm chiến lược CNH, HĐH ở nước ta.    Với chiến lược biển, trước hết phạm vi không gian chiến lược được mở rộng. Trước đây, sự quan tâm chiến lược chủ yếu giới hạn ở đất liền. Nội dung biển của chiến lược CNH cơ bản gói lại trong ngành đánh bắt thủy sản và khai thác một số tài nguyên (ví dụ, dầu khí, muối). Ngày nay, không gian chiến lược mở rộng thêm 1.000.000 km2 chủ quyền trên biển (trong khi diện tích đất liền chỉ bằng 1/3 số đó), cộng thêm với quyền tiếp cận đại dương với tư cách là không gian – tài sản chung của loài người.  Nhưng tầm của chiến lược không giới hạn chỉ ở không gian địa lý của chiến lược. Nó còn phản ánh một tầm tư duy mới trong chiến lược phát triển đất nước: đó là tư duy vượt thoát khỏi “tư duy đất liền”1, mở ra “tư duy đại dương” trong thời đại kinh tế mở và hội nhập toàn cầu.  Những đặc điểm của bước chuyển tư duy này là:  – Các nguồn lực phát triển của biển là đa dạng, vô tận. Biển không chỉ có các nguồn lực vật thể – vật lý mà tài nguyên biển còn bao gồm các chiều không gian, vị thế địa – chiến lược và thế mở của nền kinh tế (biển là không gian “mặt tiền”).  – Tính bất định và độ rủi ro trên biển cao. Hoạt động trên biển để khai thác biển đòi hỏi tinh thần mạo hiểm, hơn thế, là mạo hiểm kiểu biển cả. Đây là phẩm chất thường bị thiếu đối với những chủ thể hoạt động trên đất liền. Cũng có thể nói phẩm chất này là yếu đối với đa số người Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng của văn hóa tiểu nông.  – Việc khai thác các nguồn lực biển đòi hỏi một trình độ công nghệ cao, tiềm lực tài chính mạnh, với phương thức tổ chức hoạt động đặc thù. Không thể khai thác biển với tư duy và phương thức khai thác đất liền. Chiến lược CNH, HĐH thích hợp cho đất liền không hẳn là áp dụng hiệu quả để triển khai cho biển.  Ba đặc trưng nói trên hàm nghĩa rằng việc mở rộng phạm vi và đối tượng CNH, HĐH ra biển (đại dương) đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới (thậm chí phải là hoàn toàn mới) đối với mô hình và chiến lược CNH, HĐH đất nước. Một điều chắc chắn là khi nội hàm CNH, HĐH được mở rộng, bao hàm cả nội dung chiến lược kinh tế biển (thực chất là CNH, HĐH biển), quá trình CNH, HĐH đó sẽ không thể thành công nếu nó được thực hiện trên cơ sở tiếp tục áp dụng tư duy “CNH trên đất liền”.                     Như vậy, vấn đề đặt ra là cần xác lập mô hình CNH, HĐH có nội dung chiến lược kinh tế biển như thế nào cho phù hợp với bối cảnh hiện đại.  Xin được nêu một số quan điểm tiếp cận sơ bộ đến chiến lược CNH, HĐH – bao gồm chiến lược biển như sau:  1. Cần đánh giá tổng thể và đầy đủ tiềm năng lợi ích của biển trong khung cảnh động, gắn với thành tựu phát triển khoa học công nghệ. Chưa thể nói chúng ta đã xác định rõ và chính xác tiền đề cơ bản đầu tiên để xây dựng chiến lược này. Mà không rõ tiền đề đó, khó định vị đúng hướng khai thác tiềm năng và lợi thế do biển mang lại trên quan điểm ưu tiên. Trong điều kiện nước ta còn nghèo, biển Đông lại đang là vùng tranh chấp quốc tế, nếu không xác định được tiềm năng biển tổng thể, từ đó, định ra các ưu tiên khai thác và phát triển cụ thể, chính xác các nguồn tài nguyên trong một tầm nhìn dài hạn, kết hợp được tất cả các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng, v.v. thì khả năng rủi ro hoặc hiệu quả thấp khi xây dựng và thực thi chiến lược sẽ là lớn.  2. Mục tiêu của chiến lược biển mà Đảng đã xác định tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) vừa qua là “nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển”. Đây là một mục tiêu lớn, mang tính tổng thể. Con đường, phương thức đạt được mục tiêu đó không có gì khác hơn là thực thi thành công chiến lược CNH, HĐH biển, là khai thác các tiềm năng biển một cách hiệu quả trong một lộ trình được thiết kế tối ưu (mang tính “rút ngắn” cao).  Nhưng việc khai thác biển, dù đối tượng là loại tài nguyên gì (kể cả việc đánh bắt hải sản gần bờ), để bảo đảm tính bền vững, luôn đòi hỏi một trình độ công nghệ cao, và thường là công nghệ khác với các loại công nghệ sử dụng trên đất liền. Câu hỏi đặt ra là nguồn lực tài chính và công nghệ nào bảo đảm cho chiến lược CNH, HĐH biển của Việt Nam là khả thi (theo lộ trình)? Đây thực sự là một đại vấn đề của chiến lược biển, cũng tức là của chiến lược CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn tới. Vấn đề đó cần được giải quyết về nguyên tắc trong mô hình CNH, HĐH đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.  3. Việc giải quyết “đại vấn đề” nêu trên gắn liền với việc trả lời một câu hỏi khác: lực lượng nào có thể giúp Việt Nam triển khai CNH, HĐH trên biển một cách hiệu quả nhất theo các chức năng cụ thể? Nhà nước có thể và cần làm gì? Tư nhân làm gì? Các nhà đầu tư quốc tế, với trình độ và tiềm lực khác nhau, có thể tham gia khai thác biển ở những nội dung nào và với những phương thức nào? Và để lôi kéo các lực lượng khác nhau vào công cuộc chấn hưng vị thế quốc gia trên biển đó, cần phải có cơ chế, chính sách gì?  Đó thực sự là những vấn đề lớn và mới của CNH, HĐH của giai đoạn tới.  4. Cần lưu ý rằng việc triển khai chiến lược biển ở nước ta diễn ra trong tình trạng tranh chấp lãnh hải giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ có biển có xu hướng gia tăng. Đây là một đặc điểm lớn, chi phối nhiều mặt đến cả quá trình CNH, HĐH trên biển lẫn quá trình CNH, HĐH trên bờ. Nguồn gốc vấn đề là ở chỗ các nguồn lực phục vụ CNH của biển là rất. Giải quyết tranh chấp, xung đột trên biển đang là vấn đề rất lớn đặt ra. Mức độ gay gắt của nó có xu hướng gia tăng. Động thái chung là khó giải quyết triệt để vấn đề (theo nghĩa thỏa mãn điều kiện của tất cả các bên).  Trong khi đó, giải quyết tranh chấp trên biển là tiền đề để hợp tác và cạnh tranh phát triển bình thường; do đó, nó cũng chính là tiền đề định hướng phát triển cơ cấu trong quá trình CNH, HĐH, cả trên đất liền lẫn trên biển.  Đây là nhóm vấn đề rất lớn và hoàn toàn không dễ giải quyết. Trong khuôn khổ mô hình CNH, HĐH cho giai đoạn hội nhập, vấn đề lại càng mới khi đặt nó trong tổng thể CNH, HĐH quốc gia.  ———————  1. Thực chất của cái gọi là “tư duy đất liền” này là tư duy “tiểu nông, khép kín”, giới hạn trong mảnh ruộng và sau lũy tre xanh, là “đứng trước biển”. Việc khai thác biển của nước ta hiện nay vẫn giới hạn chủ yếu ở đánh bắt thủy sản gần bờ và khai thác dầu thô. Không kể khai thác dầu thô (cũng mới chỉ là “thô”) cơ bản do vốn FDI thực hiện, khai thác biển của người dân Việt Nam vẫn mang nặng tính thủ công, kiểu “mò cua, bắt ốc” ven bờ, vẫn với tư duy “tiểu nông trên bờ”mà thôi (Trần Đình Thiên, 2007)  Cách đây hơn một thế kỷ, khi phân định các thời đại phát triển, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ John Hay đã chọn biển chứ không chọn lục địa làm mốc tọa độ. Ông nói: “Địa Trung hải là biển của quá khứ, Đại Tây dương là biển của hiện tại, Thái Bình dương là biển của tương lai”. (Naisbitt J. và Aburdene P., 1992). Lời tiên đoán này đang trở thành sự thực hoàn hảo. Châu Á – Thái Bình dương đang trở thành trung tâm phát triển năng động nhất và đóng góp nhiều sản lượng nhất cho thế giới.    Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược chiếm lĩnh thị trường thế giới của TQ      Một bóng ma có tên Targeting đang bao trùm các quốc gia công nghiệp. Bằng cách vận dụng chiến lược chọn đích, tấn công và loại bỏ – tức Targeting – các doanh nghiệp Trung Quốc đang có tham vọng chiếm lĩnh thị trường thế giới ở nhiều lĩnh vực. Đi đầu trong chiến lược này là doanh nghiệp thiết bị mạng Huawei (Hoa Vi).    Ông Nassauer, Chủ tịch Hội đồng xí nghiệp của Nokia Siemens Networks, tiết lộ doanh nghiệp này đang phải chống chọi với cơn sóng thần dữ dội xuất phát từ Trung Quốc. Hai doanh nghiệp thuộc diện lính mới, cách đây chưa lâu hầu như không được biết đến là Huawei và ZTE đang liên kết với nhau để tấn công vào doanh nghiệp đứng đầu thị trường về trang bị mạng viễn thông của Đức và Phần Lan này.       Không riêng gì Nokia Siemens Networks, mà cả tập đoàn khổng lồ Ericsson của Thụy Điển và tập đoàn Alcatel-Lucent, liên doanh giữa Pháp và Mỹ, cũng bị lung lay, khi thì do giá hạ bất ngờ, khi thì do những khoản tín dụng cỡ bạc tỷ do Nhà nước cung cấp mà hai doanh nghiệp Huawei và ZTE nhận được. Chính nhờ những điều kiện thuận lợi này mà Huawei và ZTE liên tục thắng thầu và giành được những dự án kếch sù.   Huawei hay ZTE không phải là trường hợp cá biệt và càng không phải là trường hợp ngẫu nhiên. Phương pháp mà bộ đôi này áp dụng đánh dấu sự mở đầu của chiến lược chưa từng có trong chủ nghĩa tư bản. “Targeting” là từ tiếng Anh ngày càng được sử dụng nhiều, dịch thoáng có nghĩa là chọn đích, tấn công và loại bỏ. Chiến lược này phản ảnh ý đồ của Chính phủ Trung Quốc phấn đấu đến cuối năm 2010 xây dựng cho được từ 30 đến 50 “Global Champions” (Vô địch toàn cầu), những doanh nghiệp có tiềm năng chiếm lĩnh vị trí hàng đầu thế giới ở nhiều lĩnh vực.  Vọt lên vị trí thứ hai  Để đạt được mục tiêu này Bắc Kinh không ngần ngại chi bạc tỷ. Đi đầu chính là Huawei mà cách đây ít năm mới đạt doanh thu khoảng vài tỷ USD/năm trên thị trường nội địa về thiết bị mạng viễn thông còn trên thế giới hoàn toàn thuộc diện “vô danh tiểu tốt”. Trong lĩnh vực kinh doanh mạng lưới viễn thông cố định và di động, tới 80% nằm trong tay các tập đoàn của châu Âu như Ericsson, Nokia, Siemens và Alcatel. Phần còn lại do các doanh nghiệp của Mỹ như Lucent, Motorola và Nortel chia nhau nắm giữ.  Ngày nay, Huawei đã thực sự trở thành Global Champion đầu tiên của Trung Quốc, chiếm vị trí thứ hai thế giới về thiết bị mạng viễn thông di động và cố định, chỉ đứng sau tập đoàn Ericsson. Hầu hết các doanh nghiệp điện thoại di động cỡ lớn trên thế giới đều có tên trong danh sách khách hàng của Huawei. Thí dụ, Vodafone mua của Huawei điện thoại di động, T-Mobile nhập thẻ cắm để vào Internet không dây, Telefónica áp dụng ngày càng nhiều công nghệ của Huawei cho mạng O2 v.v.   Năm ngoái, doanh thu của Huawei đạt 22 tỷ USD, trong đó khoảng hai phần ba là do các hoạt động kinh doanh bên ngoài Trung Quốc đem lại. Ông Wei Wang thuộc Công ty Kiểm toán KPMG ở Düsseldorf, chuyên tư vấn cho các doanh nghiệp Trung Quốc trong quá trình thâm nhập vào thị trường thế giới nhận xét “ngày nay Huawei có thể cung cấp sản phẩm có chất lượng cao như sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh quốc tế, chỉ có điều theo giá Trung Quốc”.   Cuộc tấn công của Huawei trong lĩnh vực viễn thông gây hậu quả nghiêm trọng. Ngành viễn thông là một trong những ngành công nghiệp tương lai quan trọng nhất của châu Âu với tổng cộng 200.000 lao động có nguy cơ bị sụp đổ. Từ năm ngoái, Ericsson, Nokia Siemens Networks và Alcatel-Lucent đã buộc phải giảm công xuất và hủy trên 10.000 chỗ làm việc. Hội đồng quản trị của Ericsson và Nokia Siemens Networks đã có nhiều cuộc họp bàn với ông José Manuel Barroso, chủ tịch Ủy ban EU, về các biện pháp bảo hộ nhưng không thành công.  Một số dự án cỡ bạc tỷ sắp được đưa ra đấu thầu. Huawei có nhiều cơ hội thắng thầu ít nhất đối với một, thậm chí hai hoặc ba dự án, vì tập đoàn có khả năng áp dụng các kỹ thuật tiên tiến như Ericsson và Nokia Siemens Networks với mức giá thấp hơn rõ rệt.   Huawei thường rao giá mà không hãng nào có thể địch nổi. Mark Natkin, Giám đốc Công ty Tư vấn Marbridge Consulting ở Bắc Kinh cho rằng người Trung Quốc áp dụng “giá khuyến mại” giảm từ 30 đến 40 %. Do đó các đối thủ phương Tây không thể cạnh tranh nổi. Bằng cách này Huawei thâm nhập từng bước, có hệ thống vào các thị trường mới và dành được thị phần mới.  Ngoài ra, Huawei được sự hỗ trợ của Nhà nước về xuất khẩu, cụ thể, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc dành cho Huawei khoản tín dụng lên đến 30 tỷ USD trong năm qua giúp tập đoàn này khá hào phóng với khách hàng về thời hạn thanh toán.  Huawei thậm chí cử chuyên gia kỹ thuật của mình tới châu Âu làm việc bằng thị thực du lịch, họ không bị ràng buộc bởi các hợp đồng thỏa ước và các quy định về bảo hộ lao động ở nước sở tại. Lao động Trung Quốc làm ngày làm đêm sau ba tháng thì rút về nước và được thay thế bằng những lao động mới từ trong nước cử sang.  Chẳng kém Nasa  Bằng giá cạnh tranh, chế độ lương thấp và sự hỗ trợ ngầm của Nhà nước, người Trung Quốc đang tìm cách chiếm lĩnh vị trí hàng đầu ở nhiều ngành công nghiệp khác. Thí dụ ngành công nghiệp năng lượng mặt trời. Các doanh nghiệp năng lượng mặt trời của Trung Quốc có thể bán tế bào năng lượng rẻ hơn 30% so với sản phẩm cùng loại của châu Âu và Nhật Bản. Hiện Trung Quốc chiếm 33% thị phần thế giới. Trung Quốc sản xuất một lượng tế bào năng lượng mặt trời bằng cả Nhật Bản và Đức – hai nước đi đầu trong lĩnh vực này – cộng lại.   Đại bản doanh của Huawei ở thành phố Thâm Quyến làm người ta liên tưởng đến Trung tâm chỉ huy của Cơ quan vũ trụ Mỹ Nasa ở Houston. Qua tấm kính cỡ lớn, khách tham quan thấy một căn phòng rộng thênh thang trên tường là ba tấm bản đồ thế giới bằng điện tử. Những chiếc bóng đèn đỏ và xanh phản ánh ở thành phố nào tập đoàn có văn phòng đại diện và chi nhánh và nơi khách hàng nào có trụ sở. Khoảng 60 nhân viên khoác áo choàng trắng ngồi bên màn hình máy tính chuyên lo giải quyết các vấn đề của khách hàng ở khắp mọi nơi trên thế giới. Họ làm việc ba ca liên tục trong ngày kể cả ngày cuối tuần.   Ông Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfei), cựu sĩ quan quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc, là người lãnh đạo đồng thời là người sáng lập Huawei. Ông bắt đầu hoạt động với tư cách doanh nhân chuyên nhập khẩu và buôn bán thiết bị lắp đặt hệ thống điện thoại từ năm 1988. Cùng với năm người bạn ông thành lập một công ty nhỏ và từng bước phát triển nó thành tập đoàn tầm cỡ quốc tế. Ngày nay Huawei có văn phòng ở hơn 100 nước – nhiều văn phòng đặt ngay gần nhà cung cấp dịch vụ mạng nhằm liên tục tăng thị phần – với hơn 95.000 nhân viên.         Từ trên xuống: Trung tâm thử nghiệm, Trung tâm   hành chính, Trung tâm đào tạo – tất cả đều nằm trong   khuôn viên trụ sở của Huawei ở Thâm Quyến (ảnh: Huawei).  Tín dụng nhà nước – “kẻ mở cửa”  Khi Bắc Kinh quyết định từng bước biến quốc  gia khổng lồ này thành một phòng thí nghiệm High-Tech thì ngay lập tức  người ta để mắt tới Huawei. Tháng ba năm ngoái, Thủ tướng Ôn Gia Bảo  từng phát biểu, Trung Quốc cần xây dựng được những doanh nghiệp có khả  năng xuất khẩu những sản phẩm mang tính sáng tạo. Theo kế hoạch, Huawei  đóng vai trò đầu tầu trong sự nghiệp bành trướng kinh tế này. Vì thế Bắc  Kinh dành những khoản tiền khổng lồ để hỗ trợ tập đoàn trong đó có  khoản tín dụng mới lên đến 30 tỷ USD. Với nhiều khách hàng, khoản tín  dụng này có giá trị như một “kẻ mở cửa”.  Cạnh đó, còn có sự hỗ trợ gián tiếp. Để các  doanh nghiệp thiết yếu không bị thiếu các nguyên liệu quan trọng làm ảnh  hưởng tới đà tăng trưởng trong quá trình đi lên, Chính phủ bảo đảm bổ  sung đầy đủ các nguyên liệu then chốt. Trong ngành năng lượng mặt trời  là các kim loại đất hiếm, trong lĩnh vực sản xuất ô tô chạy điện là đồng  để làm dây cáp và lithium để sản xuất ắc quy, và cho ngành sản xuất máy  bay là kim loại như titan.  Bắc Kinh hoàn toàn không nương nhẹ khi thực  hiện các biện pháp trên. Họ mua kim loại tại thị trường chứng khoán  nguyên liệu, chấp nhận giá cao, tích trữ để phòng khi một nước nào đó  ghim hàng tích trữ. Các doanh nghiệp Trung Quốc cũng không ngần ngại bắt  tay làm ăn với các chính quyền độc tài, chấp nhận không chuyển một phần  tiền tới nước xuất khẩu nguyên liệu mà chuyển thẳng vào tài khoản ngân  hàng tại các ốc đảo thuế.   Tất nhiên Trung Quốc không tiết lộ tổng số  tiền hỗ trợ xuất khẩu mà họ dành cho Huawei. Ngay cả nhà quản lý của  Huawei cũng thừa nhận “chúng tôi được Chính phủ biệt đãi”. Theo các nhà  tư vấn làm việc cho Huawei, các ngân hàng nhà nước dành cho tập đoàn này  sự hỗ trợ cũng như tín dụng thuộc diện kỷ lục. Joachim Fuchs, Giám đốc  hãng tư vấn Chinabrand Consulting, người đã nghiên cứu khá kỹ về Huawei,  thừa nhận “tập đoàn này đã nhận được những khoản tín dụng cực kỳ hào  phóng”.  Sáng tạo thay vì sao chép   Khách tới tham quan Huawei không thể không  liên tưởng đến những doanh nghiệp tầm cỡ thế giới ở Silicon Valley.  Khuôn viên đầy mầu sắc của đại bản doanh ở Thâm Quyến có thể sánh với  Google. Kiến trúc sư tầm cỡ thế giới Norman Forster là người đã thiết kế  Trung tâm bồi dưỡng của Huawei.   Theo số liệu của tập đoàn này thì Huawei  dành trên 10% doanh thu vào công tác nghiên cứu. Gần một nửa trong tổng  số 95.000 nhân viên làm việc trong bộ phận phát triển sản phẩm. Huawei  có tổng cộng 17 trung tâm nghiên cứu và 22 trung tâm đổi mới trên khắp  thế giới. Người Trung Quốc tuyển các chuyên gia lập trình của Ấn Độ,  chiêu mộ các kỹ sư đang làm việc cho đối thủ cạnh tranh Ericsson và thu  nạp các nhà toán học Nga, mời họ sang làm việc ở Trung Quốc. Thay vì  tung ra thị trường thế giới các sản phẩm sao chép rẻ tiền, về lâu dài  Huawei sẽ chinh phục thị trường thế giới bằng những sản phẩm mới hoàn  toàn.   Mặc dù Trung Quốc vẫn thường bị cho là theo  đuổi “phương châm” vay mượn tài năng, đánh cắp thiên tài, nhưng giờ đây  các doanh nghiệp Trung Quốc đã tìm ra một phương án hay hơn nhiều so với  công khai hoạt động gián điệp công nghiệp ở các nước phương Tây, đó là  thành lập các doanh nghiệp liên doanh. Dù là sản xuất ô tô, máy bay hay  tầu đệm từ, doanh nghiệp nào của phương tây muốn hoạt động kinh doanh ở  Trung Quốc về cơ bản phải tổ chức sản xuất tại nước này và phải có đối  tác Trung Quốc cũng như sử dụng cán bộ chuyên môn người Trung Quốc. Bằng  cách này, các thương gia và kỹ sư Trung Quốc có thể nắm khá sâu mọi  hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp – sau này họ có thể rời  liên doanh, đứng ra thành lập doanh nghiệp riêng của mình và mang theo  cả những kiến thức mà họ đã tích lũy được, đôi khi còn thủ cả tài liệu  của liên doanh để dùng.   Trước mắt, chiến lược  này dường như ổn thỏa. Không một doanh nghiệp nào ở Trung Quốc lại có  nhiều bằng sáng chế phát minh như Huawei. Theo đánh giá thứ hạng của tạp  chí kinh tế Mỹ “Fast Company” thì ngày nay Huawei thậm chí đã xếp hàng  thứ năm – chỉ đứng sau các nhà khổng lồ Interrnet như Facebook, Amazon,  Apple và Google.    “Văn hóa chiếu”   Theo các chuyên gia, thành công vang dội của  Huawei trên thị trường thế giới ngoài yếu tố giá cả cạnh tranh còn có  yếu tố tấn công ác liệt cả về bên trong lẫn bên ngoài. Ngoài ra, không  thể không kể đến tinh thần “không ngừng tấn công” mà người sáng lập tập  đoàn, ông Nhậm, một cựu quân nhân đã từng trui rèn khi còn ở trong quân  ngũ.  Cách đây nhiều năm ông Nhậm đã giương cao  khẩu hiệu “tinh thần chó sói” đối với những người xin vào làm việc tại  hãng này. Theo ông thì điều này có nghĩa là phải có cái mũi nhạy bén, có  bản năng sinh tồn cao và có tinh thần xả thân vì doanh nghiệp, trong đó  những quy định của nhà nước nhiều khi là vật cản. Thí dụ đầu năm 2008  Luật Lao động mới của Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực. Theo đó người sử  dụng lao động phải ký hợp đồng vô thời hạn với người lao động đã làm  việc trên mười năm tại doanh nghiệp. Quy định này liên quan tới 7.000  lao động ở Huawei. Để lách quy định mới, ông Nhậm buộc những lao động có  thâm niên công tác hơn mười năm tại doanh nghiệp chấp nhận chấm dứt hợp  đồng, sau đó ký hợp đồng có thời hạn để tiếp nhận họ trở lại. Phần lớn  người lao động đã tuân thủ điều kiện của ông chủ.   Người Trung Quốc đều ái ngại về cái gọi là  “văn hóa chiếu” khét tiếng ở Huawei. Những nhân viên mới đến đây làm  việc đều được cấp một tấm thảm mỏng và sau một ngày làm việc dài dằng  dặc họ có thể trải chiếu ngay dưới bàn làm việc để qua đêm. Năm 2006,  sau vụ một chuyên gia của Huawei bị suy sụp tinh thần và chết vì bệnh  viêm màng não, dẫn đến kiện cáo kéo dài, các nhà quản lý ở Huawei mới ra  quyết định cấm chiếu. Tuy nhiên trong thực tế việc này vẫn tiếp diễn.  Tình trạng stress của người lao động làm  việc tại Huawei càng trở nên nghiêm trọng hơn bởi quy tắc vàng mà bất kỳ  ai làm việc tại tập đoàn này đều không dám vi phạm. Một cán bộ quản lý  lâu năm ở đây tiết lộ “nhân viên phải luôn sẵn sàng nhận điện thoại di  động”. Khi mạng lưới ở Đức có vấn đề kỹ thuật viên ở đó lập tức gọi điện  thoại tới Thâm Quyến ngay cả khi lúc đó ở Trung Quốc đang là ban đêm.  “Những người là đầu mối có trách nhiệm của Huawei luôn sẵn sàng túc trực  24 trên 24.”  Không phải ai cũng chịu được áp lực triền  miên này. Trong tháng 3/2008, nội trong ít ngày đã có hai nhân viên của  Huawei nhẩy lầu tự vẫn ngay tại trung tâm tập đoàn. Kể từ ngày thành lập  đã có tới 38 trường hợp tử vong vì những lí do không tự nhiên. Hiện nay  các phương tiện thông tin đại chúng cũng đang xét nét văn hóa doanh  nghiệp vốn gây nhiều tranh cãi của Huawei.   Dường như giờ đây ông Nhậm cũng phải bận tâm  về điều kiện làm việc ở tập đoàn của mình. Trong một bức thư gửi cho một  cán bộ đảng, ông viết “Những người làm việc tại Huawei tiếp tục tự vẫn  hoặc tự gây thương tích. Ngoài ra ngày càng có nhiều cán bộ nhân viên  lâm vào tình trạng trầm cảm và sợ hãi thái quá. Chúng ta có thể làm gì  để cán bộ nhân viên của Huawei có thái độ tích cực hơn, cởi mở hơn với  cuộc sống. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này, nhưng hoàn toàn chưa  biết phải làm thế nào.”  Những điều nội bộ như thế này bị lọt ra  ngoài là chuyện cực kỳ hiếm hoi đối với Huawei bởi lẽ ông Ren là người  rất kín đáo ở mọi nơi, mọi lúc. Ông chủ 65 tuổi luôn mặc bộ đồng phục  kiểu Mao Trạch Đông sống trong một ngôi nhà sơn mầu tối trông giống như  lô cốt ở ngay gần Trung tâm nghiên cứu. Ngôi nhà được rào dậu kín đáo  bởi những bụi cây dày chi chít và cao khoảng hai mét, không ai có thể  nhìn qua.  Liên quan đến hoạt động tình báo?  Một nguyên nhân làm cho Huawei rất kín tiếng  là do những lời đồn thổi liên quan đến doanh nghiệp này. Theo đồn thổi,  Huawei có quan hệ mật thiết với giới quân sự cũng như cơ quan tình báo  Trung Quốc. Một báo cáo của Rand Corporation thuộc Không lực Hoa Kỳ cho  biết, quân đội Trung Quốc là khách hàng quan trọng của Huawei, đồng thời  là đối tác nghiên cứu và một sự bảo trợ chính trị cho Huawei.  Điều này về lâu dài có thể kìm hãm sự bành  trướng của Huawei. Cách đây mấy năm, người Trung Quốc định chi 2,2 tỷ  USD để mua hãng viễn thông 3Com của Mỹ, nhưng năm 2008 họ quyết định rút  lại lời chào giá sau khi Thượng viện Hoa Kỳ coi sự kiện này đe dọa an  ninh quốc gia của Mỹ. Chính sách giá cạnh tranh của Huawei không mang  lại kết quả mong muốn ở Mỹ do đó thị phần của tập đoàn này ở Mỹ vẫn chỉ ở  mức một con số.   Ngay cả các nhân viên tình báo Đức cũng phải  nhăn mặt mỗi khi nghe đến cái tên Huawei và họ luôn cảnh báo bên liên  quan phải hết sức cảnh giác, nhất là đối với các lĩnh vực cần có độ an  toàn cao. Người ta cho rằng điệp viên Trung Quốc có thể đột nhập lối cửa  sau vào các công trình mà Huawei cung cấp thiết bị mạng để lấy thông  tin mật của doanh nghiệp mà không sợ bị lộ. Song đây chỉ là một nghi vấn  vì cho đến nay người ta chưa thu được bằng chứng nào.   Rất dễ nhận thấy là Huawei luôn chọn lựa mục  tiêu hết sức cặn kẽ. Đối với những nơi có nhiều thứ cần quan tâm, rình  ngó thì người Trung Quốc thường rao giá rất cạnh tranh. Một trong những  đơn vị đầu tiên là Mạng lưới nghiên cứu Đức (DFN), có ý định kết nối các  trường đại học và các cơ sở nghiên cứu của họ với nhau bằng công nghệ  của Huawei. DFN quyết tâm làm việc vì giá chào của Huawei quá hấp dẫn,  mặc dù Văn phòng Chính phủ Đức đã lưu ý về vấn đề an ninh.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược công nghiệp đóng tàu      Quá trình phát triển công nghiệp đóng tàu manh mún, vun vén, chia cắt, vụ lợi… vừa qua cần được xem xét nghiêm túc với một tầm nhìn của biển, để từ đó chấn chỉnh, xây dựng công nghiệp đóng tàu bài bản hơn, biết người biết ta hơn. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể làm ra được những con tàu mạnh đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển và bảo vệ lãnh thổ.     Đó là mệnh lệnh của biển mẹ.  Trong các lễ hội về biển đảo, chúng ta thấy xuất hiện những chiếc thuyền bé tí hon, đó là mô hình chiếc ghe bầu thân thương, vô cùng giản dị mà phần thân dưới làm bằng tre bương – thứ cây có mặt ở mọi làng xã nước ta, phần trên bằng gỗ rừng đang giương những cánh buồm tiến ra khai phá Hoàng Sa.  Để chứng minh cuộc chinh phục biển của tiền nhân, có lẽ phải có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành, công nghệ chế tạo của những chiếc ghe bầu mà các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu Pháp như đô đốc Paris, nhà kiểm ngư Pietri đã xác định đó là sản phẩm Việt “chỉ có ở nơi này, không có nơi nào khác trên thế giới”.  Thật không công bằng khi trong các bảo tàng của chúng ta thiếu vắng hình bóng những chiếc ghe bầu, những chiếc tàu không số làm nên đường Hồ Chí Minh trên biển, những chiếc tàu phá lôi anh hùng… – những “nhân vật” đã sát cánh cùng con người chiến thắng biển cả.  Và cũng thật bất công khi nói tới kinh tế biển mà không nói tới những con tàu, phương tiện bắt buộc mà ta phải sử dụng để ra khơi đánh bắt hải sản, vận chuyển hàng hóa, khai thác dầu khí…, tức là phải nói tới công nghiệp đóng tàu của đất nước.  Quan niệm đóng tàu trong thời gian qua hình như chỉ gắn liền với khái niệm “gia công” như hệt cách đối xử với công nghệ dệt may, da giày, ôtô, điện tử với những chi phí tốn kém cho triền đà ụ khổng lồ, những dây chuyền phân đoạn phẳng cực kỳ đắt tiền để chờ đón các hợp đồng “khủng” cỡ vài trăm triệu USD.  Sự chờ đợi đó có lẽ sẽ khó khăn, nhất là sau khi xảy ra sự kiện nợ nần Vinashin. Mà sự kiện này ngoài những lỗi quản lý kém có một nguyên nhân ít người bàn tới, đó là bản chất của công nghiệp đóng tàu không phải là một ngành công nghiệp để sinh lời, để đem lại ngoại tệ từ những giọt mồ hôi rẻ tiền mà là một ngành công nghiệp đem lại sức mạnh trên biển cho một quốc gia, có sự bảo trợ của Nhà nước.  Khi nói nền công nghiệp đóng tàu thế giới từ châu Âu đã chuyển sang Viễn Đông với Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc và cả Việt Nam (với ý định đứng thứ tư thế giới) không có nghĩa là các nước châu Âu chẳng còn làm gì cho tàu bè nước mình. Thụy Điển, Đức… – những nước có giá nhân công cực kỳ đắt – vẫn đứng đầu trong bảng các tàu quân sự, những con tàu đặc chủng, những du thuyền…  Đóng tầu để làm gì?  Để tăng cường sức mạnh trên biển, để phát triển kinh tế biển, có những việc chúng ta cần làm ngay với công nghiệp đóng tàu. Đó là cần có những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về toàn cảnh công nghiệp đóng tàu nước ta hiện nay, từ đó rút ra những bài học cấp thiết trong việc tổ chức lại, đầu tư, đào tạo… để phát triển ngành này.  1. Hai cuộc hội thảo do Hội Công nghiệp Đóng tàu tổ chức trong năm vừa qua chứng tỏ một quyết tâm muốn vực dậy một nền công nghiệp non trẻ, lớn quá nhanh và mau chóng lụi tàn. Nhưng thật đáng tiếc, tại hai cuộc hội thảo đó thiếu vắng các nhà nghiên cứu kinh tế, các Viện Kinh tế chiến lược… mà chủ yếu người dự được nghe các thành tích công nghệ của các nhà “kỹ trị”, những quyết tâm vì “một bờ biển dài hơn ba nghìn cây số” như giáo sư tiến sĩ Lã Ngọc Khuê, một trong các “kiến trúc sư” của công nghiệp đóng tàu thường nhấn mạnh. Có vội vàng hay không khi chúng ta vừa đóng thành công được một vài giàn khoan theo mẫu thiết kế nước ngoài thì Chủ tịch Petro Việt Nam đã quyết tâm định hướng  đưa công nghiệp đóng các công trình nổi, một bộ phận của công nghiệp đóng tàu,trở thành một  ngành đứng “hàng đầu của khu vực”. Việc này khiến người ta liên tưởng tới lãnh đạo Vinashin cũng đã từng  hô hào “đứng thứ tư thế giới” sau khi ký được hợp đồng đóng chiếc tàu 53 nghìn tấn đầu tiên với nhà môi giới hàng hải Graig vài năm trước. Chúng ta cũng vui mừng trước việc tàu pháo TT400 TP do chính tay người Việt chế tạo đã thành công trong lần thử bắn đạn thật đầu tiên nhưng toàn bộ quá trình đóng tàu này, đặc biệt là việc tổ chức, đào tạo con người, quản lý công nghệ, mua bán thiết kế có được tổng kết áp dụng cho toàn ngành công nghiệp nói chung hay chỉ là một điểm sáng thành tích như các thành tích khác. Trong khi các xưởng đóng tàu còn manh mún thì thay vì hợp nhất, hợp tác, danh sách các xưởng đóng tàu của chúng ta ngày càng dài, khắp nơi có xưởng đóng tàu, nhiều ngành cùng lao vào đóng tàu như giao thông, thủy sản, dầu khí, quân sự trong khi đầu tư có hạn, nhân lực kém cỏi và dẫn tới hỗn loạn cạnh tranh lẫn nhau, xưởng đóng tàu quân sự lại lo đi đóng tàu kinh tế…  Nhân lực cho công nghiệp đóng tàu   Cách đây vài chục năm, Nhà nước từng có kế hoạch đào tạo đồng bộ gửi đi các nước như Liên Xô, Ba Lan, Đức một cách có hệ thống trong khi hai chục năm nay, số nhân lực bậc cao chủ yếu là đào tạo trong nước với những giáo trình cũ rích sao chép lại từ vài chục năm trước. Ngay tổng giám đốc kỹ thuật của Vinashin cũng chưa từng được học một cách có hệ thống dài hạn hay ngắn hạn từ những cường quốc đóng tàu như Hàn Quốc, Nhật, Mỹ mà chỉ vận dụng những điều học được từ ghế trường Hải Phòng. Trong khi đó, để xây dựng công nghiệp đóng tàu của mình, Trung Quốc đã không tiếc tiền của công sức đào tạo đội ngũ của mình. Tôi xin nêu hai trường hợp cụ thể mà tôi biết khá rõ. Ai cũng biết sự kiện Trung Quốc khoe khoang đã cắm cờ xuống dưới đáy Biển Đông. Người chủ trì công trình này, “người cha của các thiết bị lặn sâu” như báo chí Trung Quốc tôn vinh chính là Chu Kế Mậu, cựu sinh viên của Đại học Giao thông Thượng Hải, có lẽ là bạn đồng môn với một số các bác hiện đã về hưu tại Hà Nội. Trải qua bao bầm giập của Cách mạng Văn hóa, khi mở cửa, dù tuổi đã cao, Chu vẫn được tạo mọi điều kiện, du học hết Đức lại Mỹ, kể cả Đại học Michigan và MIT, những “thánh địa “hàng đầu của công nghiệp đóng tàu! Một người khác, trẻ tuổi hơn, giáo sư Trương Thánh Khôn, trưởng khoa đóng tàu Đại học Giao thông Thượng Hải. Chẳng những du học, giáo sư họ Trương còn được quay trở lại, thỉnh giảng tại một số giờ tại Đại học Michigan. Cũng chính giáo sư Trương là người mạnh miệng nhất phê phán công nghiệp đóng tàu Trung Quốc và đề ra những biện pháp cải cách. Năm ngoái, khi Trung Quốc giành được hợp đồng, đứng đầu thế giới về sản lượng đóng tàu, ông Trương đã tuyên bố: “Chúng ta chỉ mới là đại quốc đóng tàu chứ chưa phải là cường quốc đóng tàu”. Một nước đóng tàu lớn, “ăn no vác nặng” chứ chưa có một nền khoa học công nghệ đỉnh cao thật sự , “thiết kế chủ yếu vẫn chỉ là sao chép…”. Không rõ cơ quan thiết kế nào của chúng ta khoe khoang với lãnh đạo “đã thiết kế được cả tàu khổng lồ 54 nghìn tấn” có dám tự phê phán như ông Trương này không?  Đội ngũ nhân lực cho công nghiệp đóng tàu hiện nay cũng không đủ đảm đương cho nhiệm vụ tạo nên sức mạnh trên biển. 20 năm nay, số nhân lực bậc cao chủ yếu là đào tạo trong nước với những giáo trình cũ từ vài chục năm trước. Đã bao giờ chúng ta nhìn thẳng vào sự thật đội ngũ giảng dạy đóng tàu ra sao. Còn nhớ, trong hội nghị giáo dục đóng tàu tổ chức cách đây ba năm, trước thực tế khó khăn, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân từng có ý kiến là Vinashin phải lập đại học đóng tàu riêng và mời thầy giáo ngoại quốc về dạy!  ***  Chiến lược của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam là phải tập trung vào nhiệm vụ đóng những con tàu vũ trang, bán vũ trang và thuộc nhiều lực lượng (tuần tra, kiểm ngư, tàu chiến, tàu đánh cá, khảo sát biển…).  Chỉ có như vậy, chúng ta mới có những con tàu đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế biển và bảo vệ lãnh thổ.         20 tháng Bảy – con tàu 1000 tấn đầu tiên được đóng tại Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng, đặt tên ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Geneva, thể hiện ý chí thống nhất đất nước. (LxBxH =67,0x11x 5,51. Máy hơi nước 620 mã lực, giải bản năm 1978). Tàu được làm lễ đặt ký ngày 19/07/1964 và hạ thủy một năm sau vào ngày 14/07/1965, 4 ngày sau cuộc ném bom leo thang của Mỹ xuống huyện Hải An ngoại thành. Buổi lễ khởi công trọng thể có sự hiện diện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ và 5 ngày sau, vào ngày 24 tháng Bảy, Nhà máy Đóng tàu Hải Phòng được đặt tên là Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng mang tên con sông lịch sử, thể hiện ý chí quyết chiến thắng trên biển cả của dân tộc.  Từ chỗ chỉ đóng và sửa các tàu phà nhỏ đi sông, việc chế tạo con tàu máy hơi đi biển xa “20 tháng Bảy” – còn nhiều hạn chế về tiến bộ công nghệ thời bấy giờ – cũng đã góp phần đặt nền móng đào tạo, xây dựng đội ngũ đóng tàu và các ngành liên quan như thiết kế, đăng kiểm, bảo hiểm, vận tải.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược mới sẽ giúp thu hút tài năng quốc tế cho Đông Âu      Thay đổi trong cách tiếp cận để thiết kế chương trình giúp các quốc gia nhỏ ở châu Âu thu hút được nhiều nhà khoa học từ bên ngoài hơn và bổ sung nhân lực cho các nhóm nghiên cứu.      Cải thiện các quy định trong tuyển dụng và quản lý thành viên quốc tế trong các nhóm nghiên cứu và đơn vị nghiên cứu sẽ giúp các cơ sở nghiên cứu ở khu vực Trung và Đông Âu tăng cường sự đa dạng, thúc đẩy các chiến lược nhân lực dựa trên nhân tài và thu hút tài năng khắp châu Âu.  Những cải thiện đó sẽ được thể hiện một cách rõ rệt trong hiệu suất nghiên cứu đỉnh cao, theo lời Eliška Handlířová, người đứng đầu văn phòng quản lý Viện Công nghệ Trung Âu (CEITEC) ở CH Czech.  Hai năm trước, CEITEC chấp thuận một chính sách tuyển dụng mới khi đòi hỏi người phụ trách nhân lực phải được phép tham gia mọi quy trình tuyển dụng. Sự thay đổi này trao cho Handlířová quyền truy cập vào dữ liệu và từ đó, cô có thể đánh giá được có bao nhiêu người đã nộp hồ sơ ứng tuyển, họ là ai và họ đến từ đâu.  Handlířová còn là một nhà khoa học xã hội đã được tuyển dụng cho một kế hoạch về bình đẳng giới ở CEITEC. Viện nghiên cứu này là một trong những tổ chức đầu tiên ở Czech có một vị trí như vậy và trước yêu cầu do Ủy ban châu Âu đưa ra để các nơi nộp hồ sơ xin tài trợ của chương trình Horizon Europe chứng minh là cơ sở của họ quan tâm đến bất bình đẳng giới. Handlířová sau đó quyết định ở lại để giúp viện này nhận diện được các vấn đề rộng hơn với thực tiễn tuyển dụng của mình.  Viện nghiên cứu này là nỗ lực của CH Czech trong việc xây dựng một hệ sinh thái KH&CN dựa trên những tiêu chuẩn của phương tây. So sánh với những viện nghiên cứu ở Đông Âu và Tây Âu, Handlířová cho là “CEITEC đứng ở đâu đó giữa các cơ sở nghiên cứu này”.  CEITEC là một phần của Alliance4Life, một nhóm gồm 12 viện nghiên cứu khoa học sự sống từ 11 quốc gia ở Trung và Đông Âu. Alliance4Life hi vọng họ có thể làm việc cùng nhau và một bộ sưu tập chung để quản lý và chuyển đổi các viện nghiên cứu, do đó sẽ cải thiện hiệu suất nghiên cứu và gia tăng cạnh tranh với những người nộp hồ sơ xin tài trợ của châu Âu.  Các nhà nghiên cứu ở các quốc gia gia nhập châu Âu sau năm 2004 chỉ nhận được một tỉ lệ nhỏ trong số nguồn tài trợ thông qua những chương trình nghiên cứu khung của Ủy ban châu Âu. Trong giai đoạn 2014 và 2020, các quốc gia này đã nhận được ít hơn 6% tài trợ từ ngân sách của Horizon 2020, bởi vì các viện nghiên cứu trong vùng này không cạnh tranh được với các đối tác Tây Âu.  Sự thua thiệt này cho thấy sẽ nguy hiểm nếu lặp lại một lần nữa trong chương trình Horizon Europe nhưng các nhà quan sát lạc quan ở Trung Âu và Đông Âu cho rằng sự gia tăng mối quan tâm đầu tư ở tầm quốc gia vào R&D cùng với sự gia tăng tài trợ của châu Âu vào thúc đẩy các trung tâm xuất sắc ở Đông Âu có thể đem lại tiến bộ.  Xây dựng một môi trường quốc tế  Nada Čikeš, giáo sư hồi hưu tại trường đại học Zagreb, cũng tham gia vào nỗ lực của Alliance4Life để cải thiện tuyển dụng. Bà hi vọng thay đổi trong cách tiếp cận của các cơ sở nghiên cứu sẽ giúp các quốc gia nhỏ như Croatia có thể thu hút được các nhà nghiên cứu từ quốc tế. “Chúng ta có số lượng các nhà nghiên cứu rất nhỏ từ nước ngoài, và chỉ có giới hạn một số dự án,” Čikeš nói.  Trường đại học Zagreb gần đây đã nhận được tiền của châu Âu để xây dựng để xây dựng một viện nghiên cứu y sinh mới và tăng thêm khả năng mua thiết bị mới, Čikeš cho biết dự án này sẽ liên quan đến một cách tiếp cận mới để tuyển dụng, vì vậy viện nghiên cứu này có thể thu hút tài năng từ “các viện nghiên cứu xuất sắc” ở nước ngoài. “Tôi tin rằng điều này là có thể”, bà nói.  Ở CH Czech, CEITEC đã thi hành các quy tắc mới và thực hành để giúp các nhà quản lý tuyển dụng từ quốc tế. Một nhà quản lý thân thiện mới đã được tuyển dụng để hỗ trợ tuyển dụng quốc tế và thỏa thuận với những bất thường về visa, thuê nhà, tuyển người trông trẻ. Các tài liệu thông thường của Viện CEITEC hiện tại đang được viết bằng tiếng Anh và Czech.  Handlířová cho biết phản hồi từ các nhà nghiên cứu quốc tế rất tích cực, vì họ cảm thấy được chào đón trong một quốc gia, nơi các cảnh sát cũng không muốn nói bằng một ngôn ngữ nước ngoài. Tại CEITEC, 86% postdoc và 52% nghiên cứu sinh đều đến từ các quốc gia khác.  Hiện tượng đồng huyết   Nhiều viện nghiên cứu ở Đông Âu rất khó khăn để cải thiện chất lượng nghiên cứu và tham gia vào các cuộc cạnh tranh tìm tài trợ ở châu Âu, do tình trạng quản lý nghèo nàn và di sản cũ. Handlířová cho biết, nhiều tổ chức nghiên cứu đã được thiết lập trên nền tảng đồng huyết của các nhóm nghiên cứu và tránh việc mở cửa đón nhận tài năng từ bên ngoài. “Nếu anh không có các quy tắc rõ ràng và minh bạch, các quy tắc không ý thức được sự thiên kiến, nguy cơ rủi ro là anh sẽ chỉ tìm thấy những người tương đồng về giá trị và kinh nghiệm”, cô nói.  Điều này có thể xảy ra theo hai cách. Thứ nhất là bên trong một viện nghiên cứu, khi một nghiên cứu sinh trở thành một nhà khoa học thành viên trong một nhóm nghiên cứu và sau đó dẫn dắt nhóm nghiên cứu. Thứ hai xảy ra trong một đất nước, nơi các nhà nghiên cứu di chuyển giữa các viện nghiên cứu khác nhau và các vị trí khác nhau, nhưng họ hiếm khi di chuyển ra ngoài quốc gia hay chào đón các đồng nghiệp từ nước ngoài.  Theo Handlířová, CEITEC đã chấp thuận một hệ sinh thái nghề nghiệp mới ngăn sự phát triển của dạng đồng huyết này. Ví dụ, một nghiên cứu sinh có thể không đề xuất một vị trí postdoc ở CEITEC. Rất khó để dẫn đến sự thay đổi này và phải mất nhiều năm để thảo luận. “Đó thực sự là một cuộc cách mạng”, cô nói.  Tuy nhiên, các viện nghiên cứu khác trong đất nước này không muốn vội vàng áp dụng các biện pháp như thế này. CEITEC đang cam kết chia sẻ kinh nghiệm và hiểu biết của mình trong quản trị nhân lực cho nghiên cứu nhưng thực ra “mới chỉ có một vài viện nghiên cứu hỏi chúng tôi về những gì chúng tôi đã làm”, Handlířová nói.   Vũ Anh tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/new-recruitment-strategies-help-research-managers-attract-talent-eastern-europe  https://ati.ec.europa.eu/technology-centre/ceitec-central-european-institute-technology    Author                .        
__label__tiasang Chiến lược phát triển nông thôn bền vững      1. Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông thôn bền vững là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, xét trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Theo đó, nông dân phải là nhân vật trung tâm, người được hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát triển.    Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm 4 quá trình: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đô thị hóa; Kiểm soát dân số; Bảo vệ môi trường sinh thái.  Có thể nói về thực chất của công cuộc chấn hưng đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển nông thôn bền vững với 4 quá trình đó.  2. Xét riêng quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, đánh bắt hải sản), yếu tố đầu tiên và căn bản là nông sản phải đảm bảo 4 yêu cầu:  – Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao.  – Giá cả nông sản hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.  – Khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu thị trường, cụ thể là theo từng yêu cầu của nhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.  – Thời gian cung ứng nông sản phải đáp ứng yêu cầu khắt khe của nhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.  Muốn đáp ứng 4 yêu cầu trên, nền nông nghiệp phải được phát triển trên các cơ sở: thực hiện một nền nông nghiệp đa chức năng, vừa sản xuất nông phẩm hàng hóa vừa kết hợp phát triển du lịch sinh thái và tạo cảnh quan môi trường sống tốt đẹp cho con người; nông sản phải được sản xuất theo tiêu chuẩn và quy trình GAP (good agriculture practice), ISO.1.4000 và HCACCP; và áp dụng công nghệ cao trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, từ chọn, tạo, sản xuất giống đến sản xuất và chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản.  Muốn vậy cần triển khai các mô hình sản xuất:  – Các trang trại có quy mô lớn về diện tích đất, đầu con gia súc, gia cầm, chủ yếu tồn tại dưới hình thức trang trại gia đình hay trang trại cá nhân, trang trại hợp doanh có 1 cấp quản trị, phải trở thành lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếu kết hợp với du lịch nông thôn trên các vùng nông nghiệp sinh thái.  – Các HTX làm dịch vụ đầu vào-đầu ra cho các trang trại phải trước hết và chủ yếu là của các chủ trang trại này, được thành lập và phát triển do nhu cầu và khả năng quản lý của chính các chủ trang trại sản xuất hàng hóa nông sản có quy mô lớn. Đồng thời, việc điều hành hoạt động kinh tế của các HTX phải do những nhà quản trị chuyên nghiệp (được đào tạo và trả công xứng đáng theo giá cả sức lao động trên thị trường) đảm trách.  – Sản xuất theo hợp đồng (Contrac farming) giữa các trang trại và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản, trên thị trường trong và ngoài nước, cũng như các doanh nghiệp du lịch sinh thái, phải trở thành hình thức giao dịch buôn bán nông sản phổ biến và chủ yếu. Doanh nghiệp kinh doanh chế biến, tiêu thụ nông sản và du lịch nông thôn phải là lực lượng nòng cốt tổ chức lại nền nông nghiệp hàng hóa của đất nước.  Những mô hình sản xuất kể trên là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp – cơ sở của sự phát triển bền vững đối với một nước có mức bình quân diện tích trên nhân khẩu thấp như nước ta.  Muốn thực hiện được mô hình sản xuất nói trên, thể chế quản lý vĩ mô của Nhà nước phải đảm bảo:  – Tạo khung pháp lý cho thị trường đất nông nghiệp hoạt động lành mạnh để quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra thuận lợi, hình thành các trang trại quy mô lớn.  – Đào tạo miễn phí cho con em nông dân, từ bậc tiểu học đến phổ thông trung học cơ sở và trung học cao đẳng nghề nông nghiệp, để tạo ra một đội ngũ chủ trang trại “thanh nông tri điền” và các kỹ thuật viên nông nghiệp trên tất cả các vùng nông nghiệp sinh thái.  – Đầu tư cho hoạt động khuyến nông để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nông dân hiện hữu theo nhu cầu của nông dân và thị trường nông sản, không phân biệt chủ thể (tổ chức) hoạt động khuyến nông.  – Tài trợ 100% kinh phí cho các đề tài khoa học kỹ thuật và kinh tế-xã hội phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt chủ thể (tổ chức và cá nhân) thực hiện các đề tài khoa học này.  3. Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo mô hình nhiều trung tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trung tâm lại có nhiều “vệ tinh”, kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế-văn hóa, xã hội, lịch sử và sinh thái. Mô hình này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn xét về mức sống vật chất và tinh thần. Điều khác biệt chỉ còn là ở chỗ, mật độ dân số và các công trình xây dựng ở đô thị cao hơn nông thôn, còn môi trường sinh thái tự nhiên ở nông thôn tốt hơn thành thị; Nông thôn có cảnh quan thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu du lịch nông thôn của dân cư thành thị.  Muốn vậy, thể chế quản lý vi mô của Nhà nước cần:  – Không được hy sinh lợi ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quá trình phát triển nông thôn, nhất là trong việc xây dựng các khu công nghiệp – đô thị mới, phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.  – Quy hoạch hệ thống các đô thị trung tâm và vệ tinh trên cả nước và ở mỗi vùng kinh tế-sinh thái; có chính sách tài trợ, khuyến khích phát triển công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị vệ tinh, phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp và sử dụng lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư. Nhà nước phải đứng ra tổ chức thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp – đô thị, kết cấu hạ tầng, rồi đấu thầu cho các doanh nghiệp tổ chức thực hiện quy hoạch (không để các doanh nghiệp- chủ đầu tư, trực tiếp thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng như hiện nay). Tiền lời thu được qua bán đấu giá phải ưu tiên chi cho việc “an cư, lạc nghiệp” của người dân bị giải tỏa đất đai, nhà cửa, di dời đến chỗ ở mới với công ăn việc làm tốt hơn nơi ở cũ.  – Đào tạo nghề phi nông nghiệp miễn phí cho nông dân theo yêu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị, trước hết là cho các đô thị vệ tinh.  – Miễn, giảm tiền thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho các cơ sở công nghiệp, dịch vụ đóng tại nông thôn và các khu đô thị vệ tinh.  – Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật: giao thông (kể cả đường sông), cơ sở giáo dục phổ thông và dạy nghề, chăm sóc sức khỏe con người, cung cấp nước sạch, khu nhà ở cho người thu nhập thấp ở các khu công nghiệp – đô thị vệ tinh. (Không dùng ngân sách Nhà nước để đầu tư mà chỉ tài trợ lãi suất hay cho vay ưu đãi đối với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật để kinh doanh, như hệ thống sản xuất, truyền tải điện, bưu chính – viễn thông, cầu – đường giao thông có thể thu phí dưới hình thức BOT).  ***  Để thực thi thành công chiến lược xây dựng nông thôn phát triển bền vững, Chính phủ cần thành lập chương trình quốc gia về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững do 1 phó Thủ tướng trực tiếp điều hành; còn ở các tỉnh, Chủ tịch tỉnh phải trực tiếp điều hành chương trình này. (Chẳng lẽ vấn đề an toàn giao thông, phòng chống HIV/AID… có chương trình quốc gia, còn vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn lại không có, vì ít quan trọng hơn???).  Vũ Trọng Khải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược tái sinh lithium “chết” bên trong các pin      Các pin li-ion và những công nghệ về pin chứa lithium mới nổi khác hiện thường được sử dụng để cấp điện cho rất nhiều dạng thiết bị, bao gồm điện thoại thông minh, máy tính xách tay, máy tính bảng và máy quay phim. Bất chấp những tiên tiến hiện nay, các loại pin chứa lithium không  phải bao giờ cũng giữ được hiệu suất cấp điện theo thời gian.      Một trong những nguyên nhân chính cho việc giảm hiệu suất được quan sát trong các pin chứa lithium là phần lithium chứa bên trong chúng thi thoảng rơi vào trạng thái không hoạt động, nói cách khác là “chết”. “Cái chết” này của lithium có thể là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm dung lượng pin và làm pin thoát nhiệt, điều này cuối cùng có thể làm ảnh hưởng đến tuổi thọ pin và làm giảm hiệu suất hoạt động của nó.  Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Công nghệ Chiết Giang, Trung Quốc và Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Argonne gần đây đã nghĩ ra một chiến lược để phục hồi lithium “chết” trong các cực dương kim loại Li. Chiến lược này được phác họa trong một bài báo xuất bản trên Nature Energy, nó được đặt trên cơ sở một phản ứng hóa học có tên gọi là phản ứng ô xi hóa I ốt (iodine redox).  Lớp điện ly rắn giao pha (the solid-electrolyte interphase SEI) là một lớp được tạo ra trên cực âm các pin lithium-ion trong suốt vài chu kỳ xạc đầu tiên. Lớp làm chậm phản ứng (ăn mòn) này đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu suất, sự ổn định và an toàn của pin.  Trong một tế bào pin Li-ion cụ thể với một cực âm chì thông thường, lớp điện ly rắn giao pha SEI thường bao gồm cả LiF, kết hợp với Li2CO3, alkyl carbonate và những hợp chất khác. Những nghiên cứu gần đây đã chứng tỏ là trong những pin có một cực dương kim loại Li, lớp điện ly rắn gia pha chủ yếu được tạo thành Li2O, hơn là LiF. Trong những chiếc pin đó, sự biến đổi về thể tích trong lớp mạ Li có thể ảnh hưởng đến sự toàn vẹn về cơ chế và vai trò thụ động của SEI chứa Li2O. Điều này có thể dẫn đến sự hình thành của “lithium chết”.  Những nghiên cứu trước đây đã đề xuất một số chiến lược cải thiện hiệu suất của pin với các cực âm kim loại Li. Ví dụ, một số các nhà nghiên cứu đã cố gắng sử dụng các cấu trúc SEI nhân tạo hoặc các phụ gia điện ly được SEI điều chỉnh, như cesium hexafluorophosphate hoặc fluoroethylene carbonate. Tuy nhiên, họ phát hiện ra là sự biến đổi thể tích của lớp mạ Li là nguyên nhân dẫn đến việc phá vỡ lớp SEI, làm phơi lộ lithium với chất điện ly và dẫn đến việc hình thành một dạng SEI mới. Sự phá hủy và sửa chữa lớp SEI này có thể tác động đến hiệu suất của pin theo thời gian.  Trong công trình của mình, Chengbin Jin và đồng nghiệp tại trường đại học Chiết Giang và Argonne cố gắng định lượng Li2O trong lớp SEI được hình thanh trên các cực dương Li. Thêm vào đó, họ tìm thấy vai trò của SEI “chết” trong việc tạo ra kim loại Li “chết”.  “Cần có một giải pháp cơ bản có thể phục hồi lithium đã ‘chết’ để giúp các pin lithium kim loại bền hơn”, các nhà nghiên cứu viết như vậy trong bài báo. “Chúng tôi xác định số lượng các hợp phần SEI và xác định sự liên quan của chúng với việc hình thành kim loại lithium chết bị cách ly về điện năng”.  Phát hiện của Jin và cộng sự đề xuất là việc mất Li trong SEI và các mảnh Li chết là nguyên hân chính dẫn đến việc phân rã hiệu suất thường được quan sát trong các pin kim loại Li. Quan sát này truyền cảm hứng cho họ tạo ra một phương pháp để phục hồi lithium chết, sử dụng phản ứng ô xi hóa khử i ốt. “Chúng tôi trình bày một phương pháp phục hồi lithium trên cơ sở một loạt phản ứng ô xi hóa khử i ốt, chủ yếu bao gồm I3 −/I−“, các nhà nghiên cứu giải thích trong công trình của mình. “Việc sử dụng một vật chủ dạng viên nang than sinh học cho iodine, chúng tôi chứng tỏ là ô xi hóa khử I3 −/I− được thực hiện tại chỗ một cách tự phát, qua đó làm tái sinh lithium ‘chết’ một cách hiệu quả để bù đắp lượng lithium bị mất đi”.  Việc sử dụng chiến lược thiết kế được họ phát triển đó giúp Jin và cộng sự đã tạo ra được một loại pin đầy đủ với rất ít lithium ở cực dương. Loại pin này có một tuổi thọ đáng ngạc nhiên với 1.000 lần sạc và đạt hiệu suất Coloumb cao tới 99,9%.  Để đánh giá hiệu quả của chiến lược phục hồi Li của mình, các nhà nghiên cứu đa kết hợp cực âm này với các cực âm thương mại hóa trên thị trường (ví dụ, LiFePO4 và LiNi0.8Co0.1Mn0.1O2) và tạo ra một quả pin bỏ túi. Cái pin này đạt những hiệu quả rất hứa hẹn, về cả tuổi thọ và hiệu suất.  Trong tương lai, chiến lược do nhóm các nhà nghiên cứu này đưa ra có thể đem lại thông tin về sự phát triển của các loại pin mới, hiệu suất tốt hơn với cực dương kim loại Li. Ngoài ra, nó có thể được sử dụng để kéo dài tuổi thọ chu kỳ của các pin Li-ion hiện có và các công nghệ pin chứa Li khác.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-04-strategy-rejuvenate-dead-lithium-batteries.html  https://www.nature.com/articles/s41560-021-00789-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến thắng sức ỳ      Chính sách Nhà nước thời kỳ Đổi mới đã giải phóng thị trường đem lại sức sống mới cho xã hội và nền kinh tế. Ngày nay liệu Nhà nước có thể chiến thắng sức ỳ và tự giải phóng để đứng trên đôi chân của mình?    Khi nói đến cơ chế thị trường, người ta có thể có ấn tượng tiêu cực về các giao dịch mua bán nhằm thâu tóm lợi nhuận trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua, nhưng về bản chất, giao dịch mua bán tự thân nó trung tính, là công cụ cần thiết để đáp ứng những nhu cầu tự nhiên của tất cả mọi người. Thị trường là tác nhân quan trọng để tạo dựng một môi trường thuận lợi giúp cụ thể hóa quan hệ hợp tác giữa người này với người kia thành những điều khoản rõ ràng mạch lạc, trên cơ sở ai cũng có thể tự do đàm phán để chọn ra điều khoản mà mình thấy ưng ý và phù hợp nhất trong điều kiện cho phép. Đồng thời khi có sự cạnh tranh tự do, cơ chế thị trường giúp môi trường xã hội trở nên lành mạnh hơn, khiến mọi cá thể phải tự đứng trên đôi chân của mình.   Trước Đổi mới, vào thời kỳ bao cấp khi thị trường hoàn toàn bị kiểm soát và mỗi cá nhân được Nhà nước phân bổ vào các hợp tác xã hay xí nghiệp, quan hệ hợp tác giữa các cá thể trở nên kém hiệu quả, thậm chí còn phổ biến hiện tượng cá nhân dựa dẫm và lợi dụng tập thể – dù trong hệ thống không hề thiếu các phong trào thi đua, những khẩu hiệu và chỉ đạo yêu cầu sự đoàn kết tập thể và khích lệ nỗ lực phấn đấu – dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của nền kinh tế. Và mặc dù xét về khía cạnh đạo đức xã hội, trong thời kỳ bao cấp trên bề nổi có vẻ đa số mọi người hành xử có chuẩn mực và trong sạch hơn so với giai đoạn sơ khai của thị trường tự do, nhưng đó là thứ đạo đức không hoàn toàn tự nguyện, khi mà hầu hết các cá nhân đều không có lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận sống trong những khuôn khổ hẹp và điều kiện vật chất hạn chế mà hệ thống cung cấp cho họ. Chưa kể trong một xã hội bao cấp nơi có nhiều cá thể không tự chủ tồn tại trên đôi chân của mình – họ hưởng thụ một cách cầm chừng và làm việc cũng chỉ cầm chừng, cho ra những sản phẩm chất lượng thứ cấp – thì thứ đạo đức mà họ thể hiện ra bề ngoài không tránh khỏi sự giả tạo, không thực chất.   Việc xóa bỏ bao cấp và khôi phục lại cơ chế thị trường trong thời kỳ Đổi mới có thể được coi là thành tựu lớn nhất về thúc đẩy xã hội phát triển ở nước ta trong vài thập kỷ gần đây. Nếu không có thị trường, chúng ta sẽ tiếp tục bị kẹt trong những tập thể không có sức sống, những mối quan hệ hợp tác mang tính miễn cưỡng, và xã hội sẽ không thể được duy trì và phát triển tới ngày hôm nay.   Tuy nhiên, sự chuyển dịch từ môi trường bao cấp sang cơ chế thị trường cũng mang lại hệ lụy. Khi con người từ chỗ bị hạn chế tự do làm giàu chuyển sang một môi trường có nhiều lựa chọn hơn, họ dễ đi theo những lựa chọn đem lại cái lợi lớn nhất cho cá nhân, và nếu không có những kiểm soát, ràng buộc thì có thể cái lợi ấy có thể gây tổn hại cho cộng đồng và xã hội. Chúng ta thấy nổi lên vấn nạn tham nhũng, sự cấu kết nhóm lợi ích theo xu hướng tiêu cực, thói làm ăn chộp giật đánh quả, tình trạng thu nhập trong xã hội không đồng đều, và sự chạy đua theo những giá trị vật chất mà lãng quên những giá trị đạo đức và tinh thần.   Thị trường cạnh tranh tự do và động lực cải tổ   Giải pháp cho tất cả những tồn tại kể trên đều dẫn về một mấu chốt chung cơ bản, đó là cần thúc đẩy yếu tố cạnh tranh tự do, đưa thị trường lên mức phát triển ở mức cao hơn theo xu hướng phát triển tiến bộ chung của nhân loại, giống như một số quốc gia phát triển đã làm được.   Nguyên tắc để chúng ta thúc đẩy sự lành mạnh của một xã hội cũng giống như một cơ thể, đó là không tập trung diệt trừ những phần tử tiêu cực (trừ trường hợp thật cấp thiết, hoặc có thể xử lý dễ dàng không gây tổn thất lớn cho toàn cục) mà cô lập chúng bằng cách thúc đẩy phát triển những phần tử khỏe mạnh và có lợi. Trong xã hội ta hiện nay, những phần tử khỏe mạnh và có lợi đóng vai trò then chốt chính là các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nơi cung cấp công ăn việc làm và tạo môi trường thuận lợi cho các nhóm cá thể hợp tác hoạt động một cách bền vững tổi ưu. Nhân rộng những doanh nghiệp này sẽ giúp mở rộng môi trường làm việc lành mạnh tới số đông các cá thể trong xã hội, tạo ra những thói quen tốt như ý thức chí thú làm ăn lâu dài, chấp hành kỷ luật, thúc đẩy tinh thần sáng tạo, và gia tăng thu nhập cho người dân.           Để nhận ra sự cần thiết phải cải tổ, chúng ta chỉ cần nhìn sang một vài nước láng giềng gần gũi như Philippines hay Indonesia. Vì sao những quốc gia này trong cùng một khu vực địa lý với Việt Nam, cùng hứng chịu tác động từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng trước đây họ tăng trưởng với tốc độ chậm hơn Việt Nam mà nay lại trở nên vượt trội (năm 2012 GDP Philippines tăng trưởng đạt 7,3%, Indonesia đạt 6,3%)? Chắc chắn nguyên nhân quan trọng nằm ở chất lượng dịch vụ hành chính và các chính sách hợp lý mà Chính phủ của những quốc gia đem lại cho doanh nghiệp của họ.           Môi trường có tính ổn định, bền vững này chính là những điều kiện cần thiết để giảm trừ thói làm ăn chộp giật, khi mà con người sẵn có những lựa chọn tối ưu mang tính lâu bền hơn. Đồng thời, do không phải dồn hết tâm lực cho miếng cơm manh áo nên trong từng cá nhân và cộng đồng sẽ có điều kiện để dần lắng đọng sự trân trọng những giá trị nhân bản, ý thức xã hội dân sự được nhân rộng, quan điểm của số đông về lẽ phải sẽ trở nên rõ ràng và vững chắc.   Đây chính là cơ sở tạo thành sức ép dư luận thúc đẩy sự tiến bộ trong thể chế. Và một môi trường sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp sẽ càng làm lộ ra những bất cập và khe hở cụ thể của bộ máy chính quyền, dẫn tới những đòi hỏi điều chỉnh cụ thể thay vì những bức xúc thiên về cảm tính chung chung.  Quyền lực Nhà nước và bẫy thu nhập trung bình  Nhìn chung, đa số các Nhà nước trên thế giới luôn có xu hướng muốn củng cố và mở rộng quyền của mình trong sử dụng và phân bổ các nguồn lực của xã hội. Sự lạm dụng quyền lực Nhà nước sẽ dẫn đến sự lãng phí nguồn lực của xã hội, và cản trở sự phát triển của thị trường tự do. Đây chính là một nguyên nhân quan trọng gây ra bẫy thu nhập trung bình.  Trên bề nổi, người ta thường chỉ nhìn vào bẫy thu nhập trung bình ở khía cạnh kinh tế, với tình trạng người dân không cải thiện được thu nhập vượt qua ngưỡng trung bình do sự bế tắc thiếu đa dạng trong cơ cấu các ngành kinh tế, tăng trưởng phụ thuộc vào nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên; chất lượng các nguồn lực không được cải thiện với những hạn chế trong năng suất lao động, năng lực quản lý, kỹ thuật sản xuất, trình độ khoa học công nghệ và giáo dục.   Nhưng sở dĩ những phẩm chất này trong cộng đồng xã hội không cải thiện được xuất phát từ một lực ỳ căn bản khác. Đó là tình trạng một tổng thể hệ thống thể chế chính trị – xã hội bị đình trệ phát triển do các sức ép đối lập cân bằng nhau, khi chính quyền thâu tóm nhiều quyền lực trong xã hội, chỉ để chừa một khoảng sân vừa phải cho thị trường tự do. Khoảng sân ấy không hẹp đến mức khiến dư luận quá mức tiêu cực và bất an, nhưng cũng chỉ đủ rộng để tạo ra thu nhập tạm đủ sống cho người dân, khiến đa số họ phải bươn chải làm ăn, và không có đủ tâm trí cho sự bức xúc cũng như ý thức cộng đồng để tập hợp thành một tiếng nói thống nhất đòi hỏi thể chế phải cải tổ. Trong bối cảnh đó, những tiếng nói phản biện sáng suốt trong mọi lĩnh vực sẽ khó lòng nhận được đủ sự quan tâm và cộng hưởng từ dư luận để trở thành tác nhân thúc đẩy một sự tiến bộ mạnh mẽ.   Nhìn rộng hơn, trong khoảng sân thị trường tự do hẹp một cách vừa phải, dân khí sẽ không thể thịnh. Sẽ không có nhiều cá nhân vượt qua được những lo toan thường nhật, dám dũng cảm dấn thân để thực hiện những khoản đầu tư và tiến hành những nỗ lực đổi mới sáng tạo mang tính lâu dài. Điều đó không chỉ được phản ánh trên khía cạnh kinh tế mà cả trên những phương diện khác. Hậu quả là xã hội dẫm chân tại chỗ trong sự trung bình mà chúng ta đang chứng kiến, từ kinh tế tới khoa học – công nghệ và văn hóa.  Liệu Nhà nước có thể tự đứng trên đôi chân của mình?  Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, cùng với sự phát triển của thị trường và sự đi lên về đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trong xã hội đang dần hình thành ngày một sâu sắc ý thức và nhận thức đòi hỏi điều chỉnh các tồn tại, khiếm khuyết trong bộ máy chính quyền từ thấp tới cao. Đây là nhu cầu chính đáng của người dân mà Nhà nước phải tìm cách thích nghi và đáp ứng – nếu không sự bất ổn sẽ ngày càng gia tăng – và Nhà nước phải coi đó là một tín hiệu đáng mừng. Những đòi hỏi ngày một thôi thúc và cụ thể của người dân là điều kiện cần thiết, thúc đẩy Nhà nước phải tìm cách thắng được sức ỳ trong nội tại để giúp đất nước vượt qua được bẫy thu nhập trung bình.  Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi trước hết các nhà quản lý và làm chính sách phải có một tầm nhìn mới xa hơn so với thời kỳ Đổi mới. Trước đây, công lao của Nhà nước thời kỳ Đổi mới là đã giải phóng thị trường để người dân có thể phát huy cao độ năng lực sản xuất kinh doanh, còn ngày nay, chính bản thân Nhà nước phải tự giải phóng và tự đứng trên đôi chân của mình. Những khoản chi tiêu công phải tương xứng với lợi ích thực chất mà xã hội được nhận, và mức độ chi tiêu công phải đảm bảo trong khả năng đáp ứng tự nhiên của nền kinh tế, tương ứng với nguồn thu ngân sách và nguồn trái phiếu với mức lãi vay mà thị trường chấp nhận được, thay vì Nhà nước phải lạm dụng quyền lực kiểm soát cung tiền nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, mà hệ lụy dẫn tới là lạm phát quá cao – thứ thuế vô hình gây hao hụt tài sản và nguồn lực của các doanh nghiệp và người dân.  Điều đó có nghĩa là người quản lý Nhà nước phải chịu đau, tự cắt giảm chi tiêu, chỉ đầu tư cho những mục đích thật sự quan trọng với một sự quản lý chặt chẽ, xã hội hóa những khoản chi tiêu mà Nhà nước không nhất thiết phải gánh vác – tức là nhường bớt sân cho thị trường tự do. Có như vậy thì bản thân Nhà nước mới trở thành một cơ thể lành mạnh, bớt bị vây bọc bởi những kẻ cơ hội tìm cách thao túng quyền lực Nhà nước vì lợi ích cá nhân, biến Nhà nước thành con nợ và thủ phạm gây lãng phí, hao hụt các nguồn lực của xã hội.   Quá trình thanh lọc chắc chắn sẽ diễn ra trong lâu dài, đòi hỏi trí tuệ, sự kiên nhẫn và quyết tâm từ cả hai phía, người dân và chính quyền. Cả hai cần liên tục đối thoại và hành động, lấy sự phát triển của khối doanh nghiệp và thị trường cạnh tranh tự do làm mối ưu tiên nền tảng. Chỉ khi nào một mặt quyền lực của Nhà nước được dùng để phục vụ đáp ứng một cách cơ bản những vấn đề cấp bách mà dư luận đòi hỏi, mặt khác thị trường cạnh tranh tự do được thúc đẩy phát triển lành mạnh tạo ra nguồn thuế và cầu trái phiếu đủ dồi dào đáp ứng cho dòng chi tiêu công, thì Nhà nước mới thực sự đứng trên đôi chân của mình, là nhà cung cấp dịch vụ quản lý hành chính công đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, với mức thu nhập xứng đáng với chất lượng dịch vụ mình cung cấp, và quyền lực của Nhà nước thực sự tương xứng với ủy thác từ nhân dân.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến tranh thương mại: Sẽ không ai thắng, tất cả đều thua      Donald Trump trừng phạt bằng biện pháp hàng rào thuế quan với EU, Trung Quốc. Các đối tác này đều tuyên bố các biện pháp đáp trả. Chuyên gia về thương mại Rolf Langhammer giải thích vì sao các biện pháp trừng phạt lẫn nhau đều sẽ không đạt được mục đích và những điều đáng quan ngại trong bài trả lời phỏng vấn dưới đây.      Chú thích ảnh: Không có kẻ thắng trong chiến tranh thương mại, tất cả đều thua.  Thưa ông Langhammer, nhập khẩu thép và có thể cả ô tô có thể nguy hại đến an ninh quốc gia của Hoa Kỳ cỡ nào?  Tất nhiêu điều này hoàn toàn vô hại. Donald Trump nêu lý do cho các biện pháp trừng phạt về thuế quan là do nguy cơ an ninh với Hoa kỳ, điều này chẳng qua là bới bèo ra bọ. Các đồng nghiệp của tôi tại Peterson Institute for International Economics, Mỹ cho rằng đánh giá của Bộ Thương mại Mỹ chính là cơ sở cho trừng phát thuế quan. Xét cho cùng cái ông Trump muốn là giảm tỷ lệ nhập khẩu thép đối với thị trường Mỹ hiện là 33% xuống mức 20%. Điều này hoàn toàn không dính líu gì tới yếu tố an ninh quốc gia, hơn nữa sự trừng phát thuế quan này lại đánh vào các đối tác và đồng minh của Mỹ như  Mexico, Canada, EU và Nhật bản.   Tuy vậy WTO hầu như bất lực trước các hành động của Hoa Kỳ. Tại sao vậy?  Vấn đề là ở chỗ: Khó có thể bác lý do về an ninh. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), có hiệu lực từ 1948, đề cập trong điều 21 về khả năng để bảo đảm an ninh quốc gia của mình có thể áp dụng các biện pháp bảo hộ. Điều khoản này diễn đạt mơ hồ đến mức không một thành viên WTO nào có thể bác bỏ tầm quan trọng về an ninh này.   Với việc áp dụng lệnh trừng phạt về thuế quan, ông Trump chủ yếu tính đến cuộc tái cử. Liệu tính toán của ông ta có thành?  Có nhiều nghiên cứu cho thấy điều này sẽ không thể thực hiện được. Nếu có thì biện pháp trừng phạt về thuế quan, có thể nhất thời bảo vệ được việc làm trong lĩnh vực sản xuất thép. Nhưng việc mất chỗ làm việc trong ngành công nghiệp chế biến thép có thể tăng gấp đôi do giá thép tăng và khả năng cạnh tranh giảm. Cách đây 15 năm George Bush con cũng đã làm điều tương tự. Ông ta tăng thuế đánh vào thép nhập khẩu.  Và?  Ngành công nghiệp tiếp tục chế biến không thể tin cậy vào chất lượng và số lượng của ngành công nghiệp thép Hoa Kỳ và vì vậy đã đề nghị được hưởng ngoại lệ. Do đó nhập khẩu lại tăng vọt và rồi ông Bush phải thu hồi hoàn toàn các biện pháp trừng phạt thuế quan. Trong bối cảnh hiện nay thì cũng có thể xảy ra sự thay đổi tư duy tương tự, hơn nữa khi mà ngành công nghiệp thép của Hoa kỳ về công nghệ có phần tụt hậu.  Trump tin tưởng rằng Hoa Kỳ có thể giành thắng lợi phần nào trong cuộc chiến tranh thương mại này  –  ông ta đã thể hiện vấn đề này trong Twitter của mình. Nhưng đây lại là một cuộc chiến tranh thương mại tiến hành cùng một lúc trên nhiều mặt trận: Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Canada và Mexico. Tình huống này nguy hiểm như thế nào đối với thương mại thế giới?  Các biện pháp áp thuế và những biện pháp chống lại sẽ dẫn đến quá nhiều sự bất ổn. Nếu tình hình này tiếp diễn thì xu hướng đầu tư sẽ giảm và bầu không khí tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng. Điều này đã được Quỹ tiền tệ quốc tế nhiều lần đề cập.  Vậy cơ hội giành “thắng lợi” của ông Trump đến đâu?  Hoa Kỳ thực ra có nhiều lợi thế so với các quốc gia khác: Hoa Kỳ tiếp tục có đồng tiền mạnh và được đồng tiền đó bảo vệ, che chở, hơn nữa Hoa Kỳ có một thị trường nội địa khổng lồ. Nhưng thời kỳ tốt đẹp nhất trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ đã qua rồi  – sự phát triển lãi suất ở mức thấp đang tăng vọt. Theo kinh nghiệm, những biểu  hiện này cho thấy dấu hiệu của sự suy giảm. Hơn nữa Hoa Kỳ cũng bị phụ thuộc vào những diễn biến trên thị trường thế giới. Hiện tại giá đôla tăng và còn có xu hướng tiếp tục tăng, vì đồng đôla còn được coi là đồng tiền để dự trữ, có nghĩa là trong thời buổi thiếu ổn định tỷ giá sẽ còn tăng lên. Điều này làm cho nhập khẩu tăng vì nguyên nhân giá cả và cơ hội xuất khẩu sẽ sụt giảm. Cuối cùng thì chẳng có ai được trong một cuộc chiến tranh thương mại. Tất cả các bên tham gia đều bị thua thiệt.    Nếu không thể có lợi lộc vậy cái gì thôi thúc người Mỹ ?  Trump hiểu hoàn toàn sai mọi dấu hiệu của thời đại. Nước Mỹ đang đi tiên phong trong nền công nghiệp kỹ thuật số và là nhà xuất khẩu mạnh các loại dịch vụ. Tuy nhiên Trump hoàn toàn không ý thức được điều này, thay vào đó ông ta lại dựa vào cuộc cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp mà Mỹ không có nhiều thế mạnh. Chừng nào mà các cử tri từng bỏ phiếu cho ông ta không bị thua thiệt vì các biện pháp trừng phạt này, mà bị loá mắt vì các biện pháp giảm thuế ngắn hạn, thì Trump sẽ còn cứng đầu bướng bỉnh.   Từ khi bắt đầu xuất hiện các tranh chấp thương mại, các chuyên gia kinh tế đã cảnh báo về hậu quả của các biện pháp bảo hộ – kết thúc có thể diễn ra như trong những năm 1930  Điều đó cũng có phần cường điệu. Mối tương quan về công nghệ trong những năm ba mười hoàn toàn khác. Một phần lớn về giao dịch thương mại sẽ diễn ra trong điều kiện số hoá, trong lĩnh vực này chưa có các cam kết WTO và chưa có thuế quan. Các tranh chấp hiện nay có thể làm xấu đi đáng kể tình hình tăng trưởng kinh tế, nhưng trên cơ sở những thay đổi ban đầu tôi không tin chúng ta sẽ chứng kiến một kịch bản kinh hoàng như hồi những năm ba mươi.  Khi EU tuyên bố các biện pháp trả đũa, Trump đe dọa dùng biện pháp trừng phạt bằng thuế quan đối với ô tô. Điều này có thể làm nền kinh tế Đức mất đi khoảng 5 tỷ Euro, điều này có tác động thế nào đối với nước Đức?  Điều này sẽ là một vấn đề rất khác so với trừng phạt thuế đối với thép. Thuế quan đối với ô tô liên quan đến toàn bộ chuỗi giá trị ở Châu Âu thậm chí còn ảnh hưởng xa hơn nữa. Một chiếc xe ô tô được lắp ráp ở Đức có tới 40 – 50% hình thành từ những công đoạn trước đó mà người ta phải nhập khẩu. Xuất khẩu ô tô giảm thì dẫn đến giảm nhập khẩu của Đức đối với các sản phẩm của công đoạn sản xuất trước đó thí dụ nhập từ các nước Trung và Đông Âu. Điều đó ảnh hưởng nặng nề với các nước này hơn so với Đức – có trình độ phát triển cao hơn và điều đó biết đâu có thể dẫn đến việc các nước này phải suy nghĩ lại về thái độ tương đối thân thiện của họ với Hoa Kỳ cho tới lúc này. Tuy nhiên trong lĩnh vực ngành công nghiệp ô tô ông Trump có một lý lẽ.  Lý lẽ gì?  Châu Âu thu thuế với ô tô nhập khẩu là 10%. Điều này được ban hành từ đầu những năm 1990 và được quyết định trên cơ sở vòng đàm phán Uruguay, vòng đàm phán về thương mại thế giới lần thứ tám. Một số đối tác châu Âu như Pháp, Italia, Tây ban nha hay Bồ đào nha  còn đề ra hạn ngạch nhập khẩu, nhằm tự bảo vệ mình trước việc nhập khẩu ô tô từ Nhật bản. Loại hạn ngạch này sẽ phải loại bỏ từ từ vì nó không phù hợp với thị trường nội địa châu Âu. Có nghĩa là trong thời kỳ quá độ trong khuôn khổ vòng Uruguay, châu Âu đòi thực hiện thuế nhập khẩu ô tô là 10% thực tế chỉ nhằm chống lại Nhật bản.   EU được lợi, có thể đơn phương hạ mức thuế. Điều đó thực ra vì lợi ích của bản thân chúng ta, vì sản xuất của chúng ta thực chất là lắp ráp, có nghĩa là các công đoạn sản xuất trước đó chỉ chịu mức thuế thấp, sản phẩm cuối cùng thì có mức thuế tương đối cao. Điều này bảo vệ nấc cuối cùng của quá trình chế biến. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu trong ngành công nghiệp ô tô đang diễn ra trên thế giới là chuyển sang ô tô điện đối với  EU thì đây là chuyện thế chấp, vì đối với ô tô điện thì công lắp ráp không nhiều như đối với ô tô thông thường.  Chính phủ Mỹ tỏ ra nghiêm túc về sự răn đe của mình và áp thuế mới đối với các sản phẩm thép xuất xứ từ EU. Ngay từ khi bắt đầu nổ ra tranh cãi từ tháng ba Ủy ban EU đã có sự chuẩn bị, Ủy ban thay mặt cho tất cả 28 quốc gia EU về chính sách thương mại. Các kế hoạch nay đã trở thành sự thật:  Trong các cuộc tranh chấp thương mại WTO sẽ ra quyết định đối với các quốc gia thành viên của mình. Tuy nhiên để đi đến phán quyết có khi mất ba năm trời. Khả năng thành công cũng không rõ ràng vì tổng thống Mỹ Donald Trump lấy cớ thuế quan phục vụ an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Do đó WTO hầu như không có quyền hạn nữa. Uỷ ban phản bác lập luận đó. Hơn nữa WTO đứng trước nguy cơ nay mai không còn có khả năng ra quyết định. Hoa Kỳ ngăn trở việc đề cử thẩm phán mới cho cơ quan kháng cáo.  EU đồng thời cũng đã chuẩn bị một loạt biện pháp để giáng trả. Trong đó có thuế quan đối với những sản phẩm đặc trưng của Mỹ như rượu, xe motor hay quần áo. Giá trị hàng hoá bị đánh thuế là 2,8 tỷ Euro và đã đăng ký với WTO. Ở giai đoạn hai kể từ năm 2021, số lượng hàng hoá Mỹ trị giá 3,6 tỷ Euro sẽ tiếp tục bị đánh thuế.   Cạnh đó phải tính đến các biện pháp chống nhập khẩu thép giá rẻ. Lý do là do Hoa Kỳ tăng thuế nên giá thép tăng, từ đó có thể bị ế ẩm và đến một lúc ùn ứ ở châu Âu. Kể từ cuối tháng ba, Uỷ ban nghiên cứu thị trường và có thể từ nay đến cuối năm đưa ra các biện pháp bảo hộ.  Để đáp trả các cuộc tấn công của  Trump, phần còn lại của thế giới thúc đẩy thương mại tự do  – tuy nhiên ngày càng có nhiều hiệp định song phương.  Trong đó các nền kinh tế mạnh hưởng lợi nhiều nhất. Theo ông có vấn đề gì ở đây không?  Ý tưởng về đa phương ra đời từ những năm 1940- 50 nhưng từ lâu không còn được quan tâm. Chúng ta giờ đây có trên 500 hiệp định song phương được đăng ký tại WTO. Tất cả các hiệp định này nếu xét kỹ đều vi phạm điều 24 của GATT, tuy nhiên các hiệp định này đều được chấp nhận và được coi là ngoại lệ. Nhiều nước mới nổi và đang phát triển đã bị gạt ra khỏi các hiệp định này. Nhưng ngay cả một số hiệp định lớn có ý nghĩa chiến lược – như  TTIP cũng có thể trở thành như vậy – các hiệp định này tác động ngày càng nhiều đến thương mại thế giới. Việc thành lập EWG thực chất cũng là vi phạm các quy định của GATT. Có điều không có ai kiểm tra điều này – và cũng từ đó chủ nghĩa đa phương bị tan vỡ. Cuối cùng thì chủ nghĩa song phương hoàn toàn phù hợp với mong muốn của Trump.    Vì chủ nghĩa đa phương bảo vệ các nền kinh tế yếu kém hơn?  Đúng thế, Trump luôn muốn thương lượng trực tiếp với các đối tác yếu kém hơn, vì khi đó ông ta có thể áp đặt được các giao dịch của mình. Các cơ chế, thí dụ cơ chế giải quyết các tranh chấp của WTO bảo vệ các nền kinh tế nhỏ bé hơn trước những ưu ái quá lớn này. Điều mà tôi lo lắng là các quy định về kỷ luật ngày càng lỏng  lẻo hơn. Càng có nhiều hiệp định song phương với các đối tác chồng chéo nhau được ký kết thì các quy định càng rối rắm và phức tạp hơn. Nhà kinh tế nổi tiếng Jagdish Bhagwati đã lấy hình ảnh  “bát mỳ -Spaghetti” làm ví dụ. Điều này với các doanh nghiệp và các quốc gia có nghĩa là phải chi phí quá lớn cho bộ máy quan liêu cồng kềnh, đồ sộ và hết sức tốn kém. Hiện tại chưa có dấu hiệu về sự cải thiện của tình hình này, thậm chí có chiều hướng ngược lại.  Rolf J. Langhammer  Langhammer nguyên là phó chủ tịch Viện Kinh tế thế giới ở Kiel (Instituts für Weltwirtschaft in Kiel). Chuyên gia kinh tế này từ lâu đã nghiên cứu sâu về các vấn đề phát triền và thương mại và ông từng là cố vấn cho nhiều tổ chức quốc tế cũng như Bộ Kinh tế liên bang và Bộ Hợp tác kinh tế liên bang Đức.  Xuân Hoài dịch  Nguồn:   https://www.wiwo.de/politik/europa/handelskonflikt-niemand-gewinnt-einen-handelskrieg-alle-verlieren/22634372.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiết xuất cao từ củ ngải bún hỗ trợ chữa viêm loét dạ dày      Nhóm tác giả ở Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM đã chiết xuất cao định chuẩn chứa pinostrobin từ củ ngải bún, có thế hỗ trợ điều trị viêm loét dạ dày.    Cây ngải bún – được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, chủ yếu ở An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng – có tên khoa học là Boesenbergia pandurata Roxb. Schltr, chứa nhiều tinh dầu, các polyphenol, chalcone, có hoạt tính sinh học kháng virus, kháng khuẩn, chống oxy hóa, chống nọc độc, chống ung thư vú và ung thư máu,… Ngoài được dùng làm gia vị trong nấu ăn, củ ngải bún còn được dùng trong đông y để trị bệnh đau bụng, hen suyễn, tiêu chảy, khó tiêu, ngứa, sốt, loét, khô miệng, khó chịu dạ dày, kiết lỵ,..        Các nghiên cứu trước đây của nhóm tác giả ở Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM chỉ ra, củ ngải bún trồng ở An Giang chứa nhiều hợp chất pinostropin, vừa có tác dụng diệt vi khuẩn Helicobacter pylori (HP); đồng thời, vừa có tác dụng ức chế enzyme urease do vi khuẩn HP tiết ra, giúp tiêu diệt môi trường sống của HP – nhiễm trùng dạ dày bởi vi khuẩn HP là nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm loét dạ dày. Kế thừa những nghiên cứu đó và nhận thấy tiềm năng có thể điều trị viêm loét dạ dày từ củ ngải bún, năm 2019, nhóm tác giả tiếp tục thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình chiết xuất cao định chuẩn từ củ ngải bún và đánh giá tác dụng dược lý theo định hướng sử dụng hỗ trợ điều trị bệnh viêm loét dạ dày”.    Củ ngải bún tươi 6 tháng tuổi, trồng ở An Giang, được rửa sạch đất, cắt nhỏ, phơi khô trong 4 ngày (8 tiếng/ngày), và xay nhỏ, sàng qua bộ rây có kích thước lỗ 5 mm. Đây là nguyên liệu để trích ly lấy cao thô. Từ 1 kg củ ngải bún khô có thể điều chế ra được 200g cao thô EtOH và thông qua kết tinh thu được 70,67g cao định chuẩn chứa pinostrobin với hàm lượng từ 30,89%. Sản phẩm cao có màu nâu vàng, dạng sệt đặc quánh, mùi thơm đặc trưng của củ ngải bún.    Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme urease và vi khuẩn HP của cao định chuẩn trong phòng thí nghiệm cho thấy, cao có khả năng tiêu diệt không những chủng HP chuẩn 26695 (nhạy với các loại kháng sinh) mà còn cả chủng lâm sàng GD37 (kháng 4 loại kháng sinh); có tác dụng kháng viêm, làm giảm lượng IL-8 (một chemokine – một trong những chất trung gian quan trọng của phản ứng viêm được tiết ra bởi một số loại tế bào) mà không gây chết tế bào biểu mô dạ dày AGS. Đồng thời, cao có tác dụng ức chế enzyme urease nhằm tiêu diệt môi trường sống của HP.    Nhóm tác giả cũng đã thử nghiệm đánh giá tác dụng chống viêm loét dạ dày của cao định chuẩn chứa pinostrobintrên chuột. Kết quả, ở liều từ 20 – 150 mg/kg, pH dịch vị có xu hướng tăng; số ổ loét, mức độ loét giảm; và viêm loét dạ dày bị ức chế. Liều 40 – 150 mg/kg có tác dụng bảo vệ viêm loét dạ dày gần bằng thuốc Omeprazol (liều 20 mg/kg).    Theo GS.TS. Nguyễn Thị Thanh Mai, Chủ nhiệm đề tài, việc phát triển các sản phẩm thực phẩm chức năng từ củ Ngải bún có tính an toàn cao. Ngoài ra, từ khi trồng ngải bún cho đến khi thu hoạch chỉ mất từ 4-6 tháng, năng suất cao và giá khá rẻ, tương đương gừng, nghệ. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về quy trình ly trích cũng như tác dụng bảo vệ dạ dày của cao chiết chứa pinostrobin từ củ ngải bún, là tiền đề để phát triển sản phẩm mới từ nguồn dược liệu sẵn có trong nước này.    Minh Hải    Author                .        
__label__tiasang Chiết xuất dầu gấc bằng công nghệ CO2 siêu tới hạn      Nhóm khoa học trẻ thuộc Khoa Công nghệ Thực phẩm của trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã thử nghiệm thành công công nghệ chiết xuất dầu gấc bằng CO2 siêu tới hạn qui mô phòng thí nghiệm.     Công nghệ này cho phép thu hồi dầu gấc có hàm lượng các chất vi lượng chất cao hơn gấp nhiều lần so với công nghệ truyền thống (ép hoặc trích ly bằng dung môi). Ví dụ: hàm lượng vitamin E thu được có thể đạt tới 3000-6000ppm so với khoảng 400 ppm của công nghệ truyền thống; hàm lượng β-caroten có thể đạt tới 20000 ppm so với khoảng 3500 ppm; hàm lượng lycopen thu được đạt tới 4000ppm so với 3800ppm. Ngoài ra, công nghệ mới còn cho phép thu được sản phẩm có độ tinh sạch cao.  Công nghệ trích ly sử dụng CO2 siêu tới hạn đã được áp dụng thành công trên thế giới trong sản xuất các sản phẩm tinh dầu và hương liệu tự nhiên, các sản phẩm chất béo giàu hàm lượng DHA và EPA để ứng dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Tại Việt Nam, công nghệ này đã được sử dụng trong việc chiết xuất tinh dầu tràm và trầm hương nhưng chưa từng được ứng dụng trong kỹ thuật chiết xuất dầu gấc.  Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đề tài đã xây dựng được quy trình xử lý nguyên liệu thích hợp và xác định được chế độ công nghệ tối ưu (áp suất, nhiệt độ, tốc độ dòng v.v) đảm bảo cho dầu gấc thu được có hàm lượng các chất vi lượng cao nhất. Các chất vi lượng có trong dầu gấc có tác dụng chống oxy hóa cao, tăng khả năng miễn dịch, sức đề kháng cho cơ thể… Vì vậy, dầu gấc được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất mỹ phẩm, thực phẩm chức năng.  Công nghệ chiết xuất dầu gấc bằng CO2 siêu tới hạn được nhóm nghiên cứu tạo ra cho phép nâng cao hiệu suất của việc thu hồi dầu gấc và hoàn toàn có thể ứng dụng với quy mô công nghiệp đảm bảo được hiệu quả kinh tế. Hiện tại, nhóm nghiên cứu đang hoàn thiện các chế độ công nghệ của kỹ thuật trích ly này và sẵn sàng chờ đợi các doanh nghiệp ứng dụng với quy mô công nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ này trong công nghiệp với qui mô lớn hơn sẽ mở ra một hướng mới trong việc đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp tạo điều kiện cho phát triển cây gấc cho một số vùng nông thôn Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiết xuất lá, rễ cây dâu tằm phục vụ điều trị đái tháo đường      Không chỉ nghiên cứu tác dụng của bột chiết  lá dâu trên các chỉ số lipid và đái tháo đường thực nghiệm, thạc sĩ, bác  sỹ Nguyễn Quang Trung (Khoa Sinh hóa, bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông  Bí, Quảng Ninh) còn tìm ra phương pháp chiết xuất lá, rễ cây dâu.    Không chỉ nghiên cứu tác dụng của bột chiết lá dâu tằm trên các chỉ số lipid và đái tháo đường thực nghiệm, thạc sĩ, bác sỹ Nguyễn Quang Trung (Khoa Hóa sinh, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, Quảng Ninh, bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí, Quảng Ninh) còn tìm ra phương pháp chiết xuất lá, rễ cây dâu tằm.  Trước đây đã có nhiều phương pháp chiết xuất nhưng hiệu suất, chất lượng thành phẩm cũng thấp mà giá thành cao. Để khắc phục những nhược điểm này, bác sỹ Nguyễn Quang Trung đã tìm ra phương pháp chiết xuất mới bằng dung môi ethanol thay vì dung môi methanol. Dung môi ethanol rất dễ kiếm và rẻ tiền, đồng thời ít độc hại hơn còn nguyên liệu lá dâu, rễ dâu tằm có thể tìm thấy ở nhiều vùng trong cả nước.   Hiệu suất thu hồi bột chiết từ lá và rễ dâu tằm cao hơn tới 16,5% so với những phương pháp trước bởi phương pháp chiết xuất này có khả năng sử dụng nguyên liệu lá, rễ khô nghiền nhỏ tới ba lần. Trong mỗi lần chiết xuất, bác sỹ Trung đã sử dụng những tỷ lệ dung môi khác nhau với thời gian chiết xuất mỗi lần từ 4 đến 8 giờ trong điều kiện nhiệt độ từ 80 đến 90 độ C, quy trình diễn ra trong điều kiện áp suất thấp.   Với phương pháp chiết xuất mới này, bác sỹ Trung đã trở thành cá nhân đầu tiên và duy nhất của tỉnh Quảng Ninh được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền cho loại hình giải pháp hữu ích. Kết quả nghiên cứu và quy trình chiết xuất bột lá dâu tằm của ông đã được chuyển giao cho Công ty Cổ phần Y dược phẩm Vimedimex TP Hồ Chí Minh và công ty này đã cho ra đời sản phẩm Morussan có tác dụng hỗ trợ điều trị đái tháo đường type 2.  Bác sĩ Nguyễn Quang Trung từng có sáu năm trong quân ngũ. Năm 1981, ông chuyển ngành, ôn thi và đỗ vào Đại học Y Hà Nội. Tốt nghiệp bác sĩ đa khoa Ngoại sản năm 1988, ông về công tác tại Khoa Hóa sinh, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí.  Năm 2006, ông thực hiện đề tài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Y học cấp Nhà nước mang tên: “Đánh giá tác dụng của bột chiết lá dâu (Morus alba L.) trên các chỉ số lipid và trạng thái chống oxy hóa trong máu ở chuột cống trắng gây rối loạn lipid và đái tháo đường thực nghiệm”. Đề tài đã nhận được 6/7 phiếu đánh giá xuất sắc của Hội đồng đánh giá Luận án tại buổi bảo vệ ngày 20-1-2009.       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chiêu thức” giao đấu của cá chọi có thể cho thấy mối quan hệ giữa gen và hành vi tương tác      Khi Muhammed Ali và Joe Frazier cùng thượng đài, không ai tự hỏi rằng điều gì đang xảy ra với gen trong đầu họ. Nhưng một nghiên cứu mới đây đã chứng minh rằng, khi cá chọi giao đấu, các gen trong não chúng bắt đầu bật – tắt một cách đồng bộ. Hiện vẫn chưa rõ những gen này đang làm gì, cũng như cách chúng ảnh hưởng đến cuộc giao tranh, nhưng những thay đổi tương tự như thế có thể diễn ra ở người.      Phải tách riêng những con cá chọi đực ra, nếu không chúng sẽ đánh nhau liên tục. Ảnh: Vallorie Francis/Alamy Stock Photo  Alison Bell, một nhà sinh thái học hành vi tại Đại học Illinois, Urbana-Champaign, người không tham gia vào nghiên cứu cho biết, công trình này là “một ví dụ tuyệt vời về cách các tương tác xã hội có thể gây phản ứng bên trong cơ thể.”  Cơ sở phân tử về cách mà động vật, bao gồm cả con người, phối hợp những hành vi vẫn còn là một bí ẩn. Dù là giao phối hay chiến đấu, “động vật đều làm tốt, nhưng chúng ta không thực sự hiểu cơ chế của những hành vi đó,” Hans Hofmann, một nhà thần kinh học xã hội tiến hóa tại Đại học Texas, Austin, cho biết.  Khi nhà sinh vật học phân tử Norihiro Okada tại Đại học Kitasato (Nhật Bản) lần đầu tiên nhìn thấy cá chọi Xiêm (Betta splendens) trên TV, ông nhận ra đây là loài cá có thể giúp giải quyết bí ẩn này. Có nguồn gốc từ Thái Lan, những chú cá có kích thước bằng cá vàng này đã được nhân giống để tạo ra những con có vây, đuôi lớn và mang màu sắc rực rỡ như ngày nay. Nhiều người có xu hướng thả chúng vào bể để nuôi như thú cưng và gọi giống cá này là “Betta” thay vì cá chọi. Chúng có lãnh thổ riêng, và có thể chiến đấu khoảng 1 tiếng đồng hồ với những ‘chiêu thức’ như đâm vào nhau, cắn, rượt đuổi. Thậm chí chúng có thể khóa hàm đối thủ như thể đang trong một trận đấu vật tay phiên bản cá.   Okada và các đồng nghiệp đã quay video hơn 10 giờ chiến đấu giữa 17 cặp cá và sau đó phân tích những gì đã xảy ra – lẫn thời điểm – trong mỗi trận chiến. Cuộc chiến càng kéo dài, cá càng đồng bộ hóa hành vi của chúng, canh thời gian bơi quanh, đâm vào và cắn, các nhà nghiên cứu miêu tả trong công bố trên PLOS Genetics.  Nhóm nghiên cứu cũng xác định rằng các trận đánh trông có vẻ được điều khiển. Chẳng hạn, trong những cuộc chiến kéo dài khoảng 80 phút, dường như có một ‘quy ước ngầm’ về việc nghỉ giải lao giữa các lần di chuyển. Cuộc chiến sẽ lên tới cao trào cứ sau 5 đến 10 phút, đó là lúc chúng khóa hàm nhau, một chiêu thức nhằm khiến đối thủ nghẹt thở – đây là lúc xem con nào có thể giữ được lâu nhất. Những con cá chọi sau đó sẽ tách nhau ra để thở, và một chu kỳ mới lại bắt đầu.   Sau 20 phút chiến đấu, các nhà nghiên cứu đã xem xét năm cặp cá để so sánh gen nào được bật trong não cá trước và sau cuộc chiến. Họ tiếp tục thực hiện tương tự với năm cặp cá khác sau 60 phút.     Với những cặp chiến đấu trong 20 phút, họ đã tìm ra được một số gen giống nhau – “các gen trung gian đầu tiên” có thể bật những gen khác – hoạt động trong mỗi con cá. Với những cặp 60 phút, hàng trăm gen khác đã biểu hiện phối hợp với nhau. Thời điểm bật của mỗi gen cụ thể tùy thuộc vào mỗi cặp cá, cho thấy các tương tác của cặp cá và sự điều phối những bước biến động trong hành vi.   Okada không biết chính xác những gen này đang làm gì hoặc chúng ảnh hưởng đến quá trình chiến đấu như thế nào. Con cá yếu hơn cần có khả năng đánh giá sức mạnh của đối thủ để bỏ cuộc trước khi bị thương, và các gen có thể đóng một vai trò trong đó, ông cho biết. Nhưng Hofmann và Bell nghi ngờ những gen này có ảnh hưởng nhiều hơn đến cách cá sẽ phản ứng với các trận đánh lại với những con cá khác trong tương lai.  Năm ngoái, đã có hai nhóm công bố trên Cell rằng sự tương tác giữa động vật có vú đồng bộ hóa hoạt động của não. Một nghiên cứu đã xem xét cách những con dơi bay lượn trong một căn phòng tối và tránh được các va chạm, nghiên cứu còn lại thì thử nghiệm biểu hiện thống trị của chuột trong một đấu trường nhỏ. Trong cả hai nghiên cứu, động vật tương tác càng lâu, hoạt động não của chúng càng đồng bộ.  Nhà khoa học thần kinh Weizhe Hong thuộc Đại học California, Los Angeles cho biết, nghiên cứu mới nhất này đã “bổ sung một khía cạnh mới. Những phát hiện của họ chắc chắn sẽ mở ra nhiều câu hỏi thú vị cho các nghiên cứu trong tương lai.”  Và những gì chúng ta thấy ở cá cũng có thể áp dụng cho con người, Bell nói. Chẳng hạn, một nghiên cứu từ những năm 1980 cho thấy các đặc điểm trên khuôn mặt của những cặp vợ chồng đã sống với nhau trong một thời gian dài có xu hướng trông ngày càng giống nhau. Điều này có thể báo hiệu Okada nói, cũng có thể báo hiệu sự hội tụ của hoạt động gen.  Anh Thư dịch  Nguồn: Fighting fish synchronize their moves—and their genes    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim ăn hạt Iberá và chim ăn hạt bụng hung: chọn lọc giới tính trong sự hình thành loài      Hai loài chim này cùng sinh sống tại Khu Bảo tồn San Nicolás ở Argentina. Chúng ăn cùng một loại cỏ, sinh sản cùng một thời điểm, và lãnh thổ sinh sản của hai loài có thể chỉ cách nhau vỏn vẹn 50 mét. Chúng cũng đủ giống nhau để lai tạo thành công trong điều kiện nuôi nhốt. Tuy nhiên, theo những gì mà ta biết, chúng không bao giờ làm vậy trong tự nhiên.        Nhà nghiên cứu Sheela Turbek của Đại học Colorado tại Boulder đã đạt được một bước đột phá, bà đã phát hiện ra vai trò của một quá trình gọi là chọn lọc giới tính trong sự hình thành loài dựa trên nghiên cứu về trường hợp của chim ăn hạt Iberá và chim ăn hạt bụng hung. Ảnh: economist    Chọn lọc tự nhiên, khái niệm được Charles Darwin đề xuất trong tác phẩm tiêu biểu “Nguồn gốc các loài”, lý giải cách sinh vật tiến hóa và thích nghi với hoàn cảnh của chúng. Tuy nhiên, nghịch lý là khái niệm này dường như mơ hồ về chính nội dung mà nó đề cập, cụ thể là sự phát sinh loài mới từ các loài bố mẹ.      Darwin nhận ra các ổ sinh thái đa dạng sẽ khuyến khích sự hình thành loài. Nhưng ông không đặt câu hỏi về cơ chế ngăn cản sự trao đổi vốn gen trước khi con non hoàn thành quá trình phân tách (việc ngăn cản các loài trao đổi vốn gene cho nhau giúp mỗi loài duy trì được những đặc trưng riêng).     Tự nhiên, bằng một cách nào đó, cần dựng nên các hàng rào ngăn cản việc giao phối khác loài. Sự ngăn cách có thể mang tính địa lý – ví dụ như các quần thể cá sinh sống ở hai hồ khác biệt. Nó cũng có thể mang tính sinh thái, chẳng hạn như chế độ ăn thay đổi khiến các cá thể côn trùng cùng loài chuyển sang kiếm ăn ở những loài cây khác nhau. Nhưng đôi khi, loài mới có thể hình thành trong điều kiện không có vật cản rõ ràng.     Một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cần có sự phân cách để hình thành loài là lai giống. Sự lai tạo rất phổ biến ở thực vật, nhưng hiếm khi xảy ra với động vật. Tuy vậy, người ta cho rằng lai giống có thể lý giải sự phát sinh của một vài nhóm động vật có màu sắc rực rỡ, bao gồm cá hoàng đế cichlid ở vùng Hồ Lớn châu Phi, bướm vằn heliconius ở khu vực Trung và Nam Mỹ, và chim ăn hạt capuchino miền Nam, một họ chim biết hót sinh sống ở các vùng nhiệt đới thuộc Tân Thế giới. Gần đây, nhà nghiên cứu Sheela Turbek của Đại học Colorado tại Boulder đã tiến thêm một bước bằng cách chỉ ra vai trò của một quá trình gọi là chọn lọc giới tính trong sự hình thành loài.     Kén cá chọn canh     Chọn lọc giới tính, hiện tượng lần đầu được mô tả một cách khoa học bởi Darwin, xảy ra khi một giới (thường là con cái) lựa chọn bạn tình (thường là con đực) dựa vào một đặc điểm di truyền riêng biệt. Ví dụ kinh điển là phần đuôi của loài công. Nhưng chọn lọc giới tính cũng có thể nhằm mục đích phân tách các loài chỉ trong một bước, khi một đặc điểm như trên xuất hiện đột ngột. Và đây, theo như mô tả của Turbek trong một bài báo đăng trên tờ Science, là những gì bà cho rằng đã xảy ra trong trường hợp của chim ăn hạt Iberá và chim ăn hạt bụng hung.     Hai loài chim này cùng sinh sống tại Khu Bảo tồn San Nicolás ở Argentina. Chúng ăn cùng một loại cỏ, sinh sản cùng một thời điểm, và lãnh thổ sinh sản của hai loài có thể chỉ cách nhau vỏn vẹn 50 mét. Chúng cũng đủ giống nhau để lai tạo thành công trong điều kiện nuôi nhốt. Tuy nhiên, theo những gì mà ta biết, chúng không bao giờ làm vậy trong tự nhiên.     Kết quả giải trình tự gen cho thấy hai loài này giống nhau gần như tuyệt đối. Chỉ có 12 gene giữa chúng là khác nhau – chiếm chưa đầy 0.1% bộ gene. Điều thú vị là một trong 12 gene này là một nhiễm sắc thể giới tính, gợi ý về vai trò của nó trong chọn lọc giới tính. Ba gene khác trong số này thì tham gia quyết định màu lông của chim trống, một yếu tố khác cũng mang tính gợi ý. Bởi vì, mặc dù hai loài này có kích thước và hình dáng tương tự, chim ăn hạt bụng hung giống đực, đúng như tên gọi, có phần ngực màu nâu đỏ, trong khi chim ăn hạt Iberá giống đực có cổ đen tuyền và thân màu vàng cát. Tiếng hót của chúng cũng không tương đồng. Chúng sử dụng cùng một dải tần số, nhưng âm tiết thì khác nhau.     Đầu tiên, Turbek và đồng nghiệp nhận định rằng con mái thuộc cả hai loài đều thường xuyên lựa chọn bạn tình phù hợp trong thực tế. Tiếp đó, nhóm nghiên cứu xem xét khả năng phân biệt các đối thủ cùng loài với các cá thể khác loài của chim trống. Vào mùa sinh sản của chim năm 2019, họ thả một số chim mồi là con trống vào lãnh thổ của 40 chim ăn hạt bụng hung giống đực và 36 chim ăn hạt Iberá giống đực. Sau đó, họ theo dõi phản ứng của nhóm “cư dân” gốc khi có mặt chim mái.     Có bốn con chim mồi được sử dụng trong thí nghiệm. Một trong số đó có bộ lông và tiếng hót giống như loài chim ăn hạt Iberá. Một con khác thì tương tự như chim ăn hạt bụng hung giống đực. Hai con còn lại là sự kết hợp giữa hình dáng của loài này và tiếng hót của loài kia.     Nếu một “cư dân” chim trống xem chim mồi là đối thủ cạnh tranh, nó sẽ bay đến gần và mổ vào con chim mồi một cách hung hăng. Chúng hành xử hung dữ nhất đối với những con chim mồi mang đặc điểm cùng loài tương tự, ôn hòa hơn đối với những con mang đặc điểm kết hợp giữa hai loài, và thân thiện nhất đối với những con giống với loài còn lại. Vì đây không phải là chim mồi thật, nên tín hiệu phải đến từ màu sắc bộ lông và tiếng hót của chúng.     Khác biệt giữa tiếng hót của hai loài chim này có thể mang tính văn hóa, và chỉ xuất hiện sau khi chúng tách khỏi tổ tiên chung. Nhưng khác biệt về bộ lông rõ ràng là do di truyền. Hơn nữa, những khác biệt này nhỏ đến mức chúng rất có thể là kết quả từ một lần lai tạo ngẫu nhiên duy nhất, xét đến việc những khác biệt di truyền tương tự cũng xuất hiện trong các tổ hợp đa dạng ở nhiều cá thể chim ăn hạt capuchino phía Nam. Ngoài ra, điều gì đã xảy ra một lần thì thể nào cũng xảy ra thường xuyên. Do đó, khả năng cao là Turbek đã khám phá ra mấu chốt của cơ chế khiến loài chim này trở nên đa dạng đến vậy, và sắp tới bà hẳn và sẽ viết thêm phát hiện này của mình vào trong bộ sách đang được bà thực hiện, “Nguồn gốc thực sự của các loài”.     Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.economist.com/science-and-technology/2021/03/27/how-female-choice-creates-new-species    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chín điều sinh viên cần biết về khởi nghiệp      Tạp chí Forbes đã liên hệ với một số nhà giáo dục đang  tham gia giảng dạy các kỹ năng khởi nghiệp cơ bản tại các trường học ở  Mỹ và hỏi họ đâu là những điều mà các nhà khởi nghiệp cần phải học để có  thể thành công trên thương trường. Và dưới đây là các câu trả lời của  họ:      Hiện nay các trường đại học và cao đẳng đang bận rộn thiết kế các chương  trình dành riêng cho những sinh viên muốn học cách khởi nghiệp – thực  ra, nhu cầu theo học các lớp dạy khởi nghiệp đang lên cao và ngày càng  trở thành một chương trình học bắt buộc đối với bất kỳ trường học xuất  sắc nào.  Theo Scott Petersen, giám đốc quản lý Trung tâm Doanh nhân  và Công nghệ của Trường Đại học Brigham Young, sinh viên ngày nay dù vẫn  ngồi trên ghế nhà trường nhưng đã bắt đầu nghĩ đến cuộc sống sau khi  tốt nghiệp, và họ cho rằng các kỹ năng khởi nghiệp sẽ giúp ích được mình  trên bất kỳ con đường sự nghiệp nào mà họ sẽ theo đuổi. Ông nói: “Nguồn  gốc của hiện tượng mới này xuất phát từ những hệ quả của sự sụp đổ nền  kinh tế trong giai đoạn 2008-2009, khiến nhiều người trong suốt thời  gian dài vẫn không thể tìm được việc làm thích hợp.” Cũng theo Peterson,  những trường học nào hiện chưa có các chương trình khởi nghiệp chẳng  sớm thì muộn cũng sẽ cảm nhận được áp lực phải phát triển các chương  trình này.  Tạp chí Forbes đã liên hệ với một số nhà giáo dục đang tham gia giảng dạy các kỹ năng khởi nghiệp cơ bản tại các trường học ở Mỹ và hỏi họ đâu là những điều mà các nhà khởi nghiệp cần phải học để có thể thành công trên thương trường. Và dưới đây là các câu trả lời của họ …  Suy nghĩ như một doanh nhân  Kiếm tiền đồng nghĩa với việc xác định một thị trường mục tiêu – và chương trình dạy khởi nghiệp ở Brigham Young dạy điều đó trước tiên. Peterson cho biết: “Các sinh viên phải học cách quan sát và đánh giá những gì người ta đang làm trên thị trường để nhìn ra những “kẽ hở” và khoảng trống trong các sản phẩm/dịch vụ đó. Họ sẽ làm gì để sáng tạo và thay đổi và đưa ra sản phẩm/dịch vụ độc đáo và riêng biệt?”  Melissa Crounse, quản lý chương trình khởi nghiệp ở Trung tâm The Garage mới mở tại Trường Đại học Northwestern, nói: “Tôi thực lòng tin rằng bất luận những sinh viên theo học khóa này sẽ làm gì trong tương lai – bác sĩ, luật sư, giáo viên hay nhà báo – thì những kỹ năng mà họ học được ở đây, như kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo, kỹ năng trình bày ý tưởng hay kỹ năng hành động, đều sẽ giúp ích rất nhiều cho họ. Thực ra, tất cả đều là những kỹ năng thiết yếu của tương lai.”  Crounse đến với The Garage cùng với 10 năm kinh nghiệm trên Thung lũng Silicon, nơi bà từng làm việc trong những tổ chức như IBM, Google, YouTube và Brit + Co.; sau đó, bà trở thành người đồng sáng lập một startup chuyên sáng tạo nội dung là Storylark. Tại The Garage, với khuôn viên hơn 1.000m2, sinh viên được tiếp xúc với môi trường làm việc, các trang thiết bị văn phòng, không gian làm việc nhóm, mô hình phần mềm, máy in 3D, và thậm chí được phục vụ cả bữa ăn nhẹ nữa. Crounse nói: “Về cơ bản, đó là một môi trường khuyến khích sự hợp tác. Chúng tôi muốn tạo cho các sinh viên một ấn tượng rằng ở đây họ có thể mày mò thử nghiệm một ý tưởng mới hay xây dựng một mô hình phần mềm, và dù họ làm hỏng cũng không sao.”  Lựa chọn đối tác  Theo Crounse, tuyển dụng lao động và tìm kiếm người đồng sáng lập sẽ là hai trong số các quyết định quan trọng nhất mà một doanh nhân phải thực hiện. Bà nói: “Tôi cho rằng việc lựa chọn người đồng sáng lập cũng quan trọng hệt như việc chọn bạn đời vậy. Đây chính là người sẽ có một thời gian lớn ở bên cạnh bạn, cùng bạn xây dựng doanh nghiệp – bạn sẽ dùng chung tài khoản ngân hàng với người đó nữa. Các bạn sẽ trải qua những ngày tháng thăng trầm bên nhau, nên việc lựa chọn đúng người là điều rất hệ trọng. Tôi không chắc là ai cũng hiểu được như vậy đâu.”  Học cách “rao hàng”  Pitching (rao hàng) là một phần quan trọng trong việc truyền đạt ý tưởng khởi nghiệp của bạn cũng như khi bạn xin vốn đầu ta. Theo Crounse, các doanh nhân trẻ tiềm năng cần phải học cách “rao hàng” hiệu quả, và muốn hiệu quả thì cần phải có sự súc tích. Bà cho hay: “Thường thì khi tập trung nghĩ tới việc thành lập doanh nghiệp hay nghĩ tới một ý tưởng nào đó, anh sẽ phải nghĩ tới từng chi tiết nhỏ nên khi trình bày với người khác anh dễ sa đà vào tiểu tiết.”  Sự khác biệt giữa Ý tưởng và Cơ hội  Đó là một sự khác biệt quan trọng, và là điều mà các doanh nhân cần phải hiểu từ sớm. Giáo sư Caroline Daniels của Trường Đại học Babson, trường được The Princeton Review bình chọn là trường có chương trình dạy khởi nghiệp cho sinh viên tốt nhất năm ngoái, cho biết: “Rất nhiều người có ý tưởng kinh doanh. Nhưng cái mà chúng tôi dạy sinh viên ở đây là, để một cơ hội trở nên khả thi thì phải có cấu trúc rõ ràng xét trên nhiều góc độ như: Có thị trường cho sản phẩm/dịch vụ đó không? Ai sẽ là khách hàng của họ? Họ có thể mang lại điều gì có giá trị cho khách hàng không?”  Theo chương trình của Trường Đại học Babson, sinh viên sẽ theo học khóa Các Nền tảng Quản trị và Doanh nghiệp, trong đó họ có thể thành lập nhóm làm việc và cùng xây dựng nên các công ty nhỏ. Mỗi nhóm sẽ được cấp 3.000 – 3.500 USD (số tiền này sẽ được hoàn trả lại sau khi kết thúc khóa học) để thành lập công ty. Lợi nhuận thu được sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện, còn sinh viên giữ lại những kinh nghiệm vô giá.  Điều bạn quan tâm đến  Giáo sư Danielsnói: “Thế hệ 8X, 9X rất quan tâm tới việc tạo ra giá trị xã hội. Nói cách khác, điều họ băn khoăn là: Đâu là sản phẩm/dịch vụ mà tôi sẽ cung cấp và liệu nó có thực sự mang lại giá trị hay không?” Trong quy trình tư duy này, các doanh nhân trẻ cũng thấy rằng họ còn băn khoăn cả tới chuyện liệu sản phẩm của mình có tác động gì tới khách hàng không, hay đôi khi là sản phẩm đó có tác động gì tới môi trường không. Khi coi khởi nghiệp là một sứ mệnh vượt lên trên việc kiếm tiền, các doanh nhân trẻ sẽ có thể dùng niềm đam mê đối với công ty làm nguồn năng lượng làm việc.  Bắt tay thử nghiệm từ sớm  Theo Daniels, trước khi nghĩ tới những thành công lớn, hãy thử tạo nên những thành công nhỏ. Câu hỏi đầu tiên mà các doanh nhân phải trả lời được là: Liệu khách hàng có sẵn lòng bỏ tiền ra mua sản phẩm của mình hay không? Ông nói: “Hãy đầu tư vào các cuộc thử nghiệm sớm để tìm hiểu xem kế hoạch có thuận lợi không. Giai đoạn thử nghiệm – tức là giai đoạn xây dựng mô hình sản phẩm và thử nghiệm với khách hàng – là thực sự rất quan trọng.”  Daniels cho biết, giai đoạn ban đầu nhằm thẩm định xem sản phẩm có tìm được thị trường không có thể làm chậm lại thời điểm ra mắt sản phẩm, nhưng lại có thể tiết kiệm được nhiều thời gian sau này. Ông nói: “Họ nên học cách nhận biết khi nào thì nên tập trung rồi sau đó nỗ lực làm việc còn hơn là cứ bơi ra giữa thị trường rồi mới nghĩ: ‘Chết! Phải làm lại rồi!’”  Thất bại cũng có cái hay của nó  Hẳn nhiều doanh nhân sẽ đồng ý với nhận định rằng thất bại và những bài học mà nó mang đến có thể là một trong những trải nghiệm hữu ích và nhiều thông tin nhất mà mỗi nhà khởi nghiệp có thể có. Một trong những cái hay khi học các kỹ năng khởi nghiệp trong nhà trường là nó cho phép sinh viên tránh được những thất bại lớn, những thất bại mà khi diễn ra trên thương trường rộng lớn có thể làm hủy hoại danh dự một con người. Daniels nói: “Nếu từ sớm bạn mày mò thử nghiệm rồi thất bại rồi lại thử nghiệm và thất bại thường xuyên, thì khả năng bạn vấp phải thất bại lớn và bất ngờ sẽ giảm đi đáng kể.”  Kết bạn với các con số  Lãnh đạo một doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là ăn mặc sành điệu và ngồi một chỗ đề xuất những ý tưởng sáng giá. Biết cách đọc những con số cũng sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều. Theo Daniels, không phải ai cũng sẽ trở thành thiên tài trong vấn đề tài chính doanh nghiệp, nhưng chương trình học của Trường Babson cũng dạy sinh viên cách kiểm soát dòng tiền đến – đi. Ông nói: “Khi bạn bắt đầu có doanh số bán hàng và bạn biết những khoản chi phí mình phải bỏ ra, thì các con số lúc này không còn là bài tập hóc búa nữa mà tự chúng sẽ kể lên những câu chuyện có ý nghĩa đối với bạn.”  Học cách giảm thiểu rủi ro  Theo Tiến sĩ Thomas Lyons, chủ tịch Trung tâm Doanh nghiệp Lawrence N. Field của Trường Cao đẳng Baruch, học cách khởi nghiệp thành công thông qua việc tập luyện trong một môi trường mô phỏng là một phương pháp hiệu quả. Trường Baruch áp dụng “chương trình nhận biết, mô phỏng và “lò ấp” doanh nghiệp”, theo đó các sinh viên sẽ thành lập một công ty và được kiểm tra đánh giá kỹ năng khởi nghiệp trong một nền kinh tế “ảo” trực tuyến sử dụng công nghệ gaming. Tiến sĩ Lyons chia sẻ: “Công nghệ này tạo ra một hệ thống điểm thưởng ảo và các khía cạnh khác trong một nền kinh tế; như vậy, sinh viên sẽ được thực hiện ý tưởng và xây dựng doanh nghiệp trong một môi trường mô phỏng.”  Phẩm chất doanh nhân là điều có thể rèn luyện được – nhưng không phải rèn trong nhà trường  Tiến sĩ Lyons cho biết: “Khi khởi nghiệp trở thành một chủ đề nóng, dòng quan điểm chủ đạo đầu tiên là doanh nhân phải có tố chất bẩm sinh thì mới thành công được. Tuy nhiên, các nghiên cứu giờ đây đã phủ nhận gần như hoàn toàn quan điểm này. Không ai có thể tìm ra một đặc điểm chung đúng với tất cả mọi doanh nhân. Vì vậy, chúng ta đang chuyển từ việc tìm ra những người có tố chất doanh nhân để giúp đỡ họ sang việc gây dựng thế hệ doanh nhân.”  Dẫu vậy, theo giải thích của Tiến sĩ Lyons, có thể là các doanh nhân có cách học hay cách xử lý thông tin khác hoặc theo trình tự khác; hơn nữa, trí tuệ cảm xúc cũng có thể là một nhân tố giúp định hình gene “Steve Jobs” trong mỗi người. Hiện các nhà nghiên cứu đang tích cực đào sâu tìm hiểu về các vấn đề này. Nhưng tất cả đều nhất trí rằng nhiệm vụ của nhà giáo dục là phải đặt sinh viên vào trong những môi trường mà qua đó họ được thực hành trực tiếp. Tiến sĩ Lyons nói: “Phải tạo cơ hội cho họ thực hành cũng như giao cho họ các bài tập và các tình huống thực tế. Phải để cho họ đi theo chân của những doanh nhân thành đạt.”  Trong chương trình học của Trường Brigham Young, sinh viên cũng được liên hệ thường xuyên với giáo viên hướng dẫn. Peterson cho biết: “Theo quan điểm của tôi, trường đại học hiệu quả là trường phải có sự kết hợp giữa phương pháp học hàn lâm và phương pháp học thử nghiệm. Về bản chất thì làm kinh doanh cũng là một quá trình học thử nghiệm mà thôi.”    Bùi Thu Trang dịch từ  Nguồn:    http://www.forbes.com/sites/karstenstrauss/2015/09/30/what-college-kids-need-to-know-about-entrepreneurship-now/?ss=startups    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính bạn – Nhân vật trong năm của ‘Time’      Với Internet, ngày nay ai cũng có thể là nhà báo, phát thanh viên truyền hình, diễn viên, nhà sản xuất phim… “Truyền thông cá nhân” đã nổi lên thành đối trọng với các hãng truyền thông lớn, vốn luôn nằm trong tay thiểu số. Thêm một lần hiếm hoi thú vị, “Nhân vật của năm” do tạo chí Time bình chọn lại không trao cho cá nhân, mà lần này là cho tất cả các “bạn”.    Nhắc tới thuyết  “nhân vật làm nên lịch sử”, người ta thường nói tới nhà triết học Scotland Thomas Carlyle, ông từng viết: “Lịch sử thế giới là tiểu sử của những nhân vật vĩ đại”. Thomas Carlyle tin rằng một nhóm thiểu số đầy quyền lực và nổi tiếng sẽ tạo ra số phận nhân loại. Năm 2006 vừa qua, lý thuyết này đã bị lung lay rõ rệt.  Tất nhiên vẫn có những nhân vật là nguyên nhân của nhiều rắc rối cho thế giới trong năm 2006: Xung đột ở Iraq ngày càng đẫm máu và bế tắc. Cuộc tấn công tàn khốc của Israel sang Lebanon. Chiến tranh liên miên ở Sudan… Trong khi đó, không ai giải quyết các vấn đề như trái đất ấm lên và Sony không sản xuất đủ máy Playstation3.  Nhưng nhìn lại năm 2006 từ một lăng kính khác, bạn sẽ thấy một câu chuyện khác, không phải về chiến tranh hay những chính trị gia. Đó là câu chuyện về cộng đồng, về sự hợp tác trên một quy mô chưa từng thấy trước đây. Đó là câu chuyện về kho trí tuệ khổng lồ của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, kênh kết nối hàng triệu người YouTube và “thủ đô mạng” MySpace. Đó là câu chuyện về cộng đồng đã giành lấy quyền lực từ một nhóm thiểu số và tự nguyện giúp đỡ nhau – điều đó không những thay đổi thế giới, mà còn thay đổi cả cách thay đổi thế giới.  Công cụ biến những điều đó thành hiện thực là Mạng Toàn cầu (World Wide Web). Không phải Mạng mà Tim Berners – Lee đã hack (15 năm trước, theo Wikipedia) như một cách chia sẻ thông tin giữa các nhà khoa học, cũng không phải là Mạng với cơn sốt dotcom hồi cuối thập kỷ 90. Mạng mới này hoàn toàn khác. Nó là công cụ gắn kết đóng góp của hàng triệu người bình thường và biến nó thành một thế lực. Các nhà tư vấn ở Thung lũng Silicon gọi đó là Mạng 2.0 (Web 2.0), nghe như phiên bản mới của một phần mềm. Nhưng thật ra, nó là một cuộc Cách mạng.  Và chúng ta đã sẵn sàng tham gia. Chúng ta đã “cân bằng dinh dưỡng” giữa tin tức báo chí được xào nấu kỹ lưỡng với thông tin “tươi sống” ở Baghdad, Bắc Kinh. Bạn có thể thấy rõ đời sống chân thực của người Mỹ bằng cách quan sát cảnh phòng ngủ bừa bộn trên nền các đoạn video tự tải lên mạng YouTube hơn là xem hàng nghìn giờ truyền hình cáp.  Và không chỉ ngồi xem, chúng ta còn tạo nội dung. Thỏa sức. Chúng ta lập hồ sơ trên Facebook và avatar trên Second Life(1), phê bình sách trên Amazon và thu âm podcasts(2). Chúng ta than thở trên blog vì người yêu “đá” hay ứng cử viên mình bầu bị thất cử. Chúng ta ghi hình cảnh kinh hoàng trong vụ nổ bom và viết phần mềm mã nguồn mở.  Người ta yêu mến những thiên tài đơn độc – những Einstein, những Edison, những Jobs(3) – song những người đơn độc mơ mộng đó có lẽ cũng cần đối tác. Các hãng xe hơi đang mở cuộc thi thiết kế; Reuters đăng cả những bài viết trên blog bên cạnh tin tức của mình; Microsoft phải dốc sức đua với những người dùng phần mềm mã nguồn mở tự tạo. Chúng ta đang thấy một cuộc bùng nổ sáng tạo và sức sản xuất, và nó mới chỉ bắt đầu. Vì năng lực của hàng triệu người từng suýt bị phí hoài, nay đã trở lại cho nền kinh tế tri thức toàn cầu.  Ai là những người đó? Nói nghiêm túc – là những người sau ngày làm việc đã ngồi xuống và tự nhủ: Tối nay không xem phim truyền hình nữa! Mình sẽ bật máy tính và làm một đoạn phim về con nhông của mình? Hay mình sẽ trộn giọng của 50 cent(4) với nhạc nền Queen(5)? Hay mình viết blog về tình trạng bản thân, tình trạng đất nước, tình trạng món bò nướng của quán nhậu cuối phố. Ai là người có thời gian, sức lực và say mê để làm những điều đó?  Câu trả lời là: Chính bạn. Bạn là người đã “nắm thắt lưng” giới truyền thông, là người sáng lập và dẫn đường nền dân chủ số, là kẻ nghiệp dư nhưng lại đánh bại người chuyên nghiệp trên chính sân chơi của họ. “Nhân vật của năm” năm 2006 do tạp chí Time bình chọn chính là bạn!  Dĩ nhiên, sẽ thật sai lầm nếu thi vị hóa những điều trên. Mạng 2.0 dồn tụ trí tuệ cộng đồng thì cũng đẻ ra sự ngu xuẩn của đám đông. Có những lời bình luận trên YouTube – chỉ xét về chính tả thôi – cũng khiến bạn phải dở khóc dở cười, chưa kể đến tệ khiêu dâm và kích động thù hằn.  Song chính sự hỗn độn đó mới thú vị. Mạng 2.0 là một thí nghiệm xã hội vĩ đại, và như tất cả mọi thí nghiệm khác, nó có thể thất bại. Không có một con đường vạch sẵn  cho một cộng đồng hơn 6 tỷ cá thể (không phải vi khuẩn) sống và làm việc cùng nhau trên trái đất này. Năm 2006 vừa qua cho chúng ta vài ý tưởng: đó là cơ hội để xây dựng sự thông hiểu kiểu mới trên toàn thế giới –  không phải giữa các nhà chính trị với nhau, cũng không phải giữa những người nổi tiếng với nhau – mà giữa công dân với công dân, từng người với từng người. Đây là lúc để người ta nhìn vào màn hình máy tính và tự hỏi: ai ở ngoài kia đang có mối liên hệ với mình. Tiếp tục nào! Hãy nói với chúng tôi bạn không chỉ là người tò mò ghé vào!  V.A dịch  ————  1. Facebook: Mạng xã hội trực tuyến với hơn gần 10 triệu người tham gia (số liệu 2005). Thành viên của Facebook tự tạo hồ sơ về mình, chia sẻ ảnh và sở thích, v.v.; SecondLife: Trò chơi tạo ra thế giới ảo, người chơi có thể gặp gỡ, kết bạn, buôn bán, .v.v.  Tháng 10/2006, có 1 triệu người tham gia Second Life.  2. Podcast: Chương trình phát thanh trên internet cho phép người nghe tải về PC.  3. Có lẽ là Steve Jobs – người sáng lập hãng máy tính Apple.  4&5.Tên ca sĩ và ban nhạc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ Anh có kế hoạch tài trợ dự phòng cho các nhà nghiên cứu      Việc mất khả năng tiếp cận với chương trình chung của châu Âu (chương trình Horizon Europe) nghĩa là giới khoa học Anh sẽ không có khả năng tiếp cận gần 100 tỷ Euro (101 tỷ USD) trong vòng bảy năm. Do vậy, Chính phủ Anh sẽ có một kế hoạch tài trợ dự phòng cho các nhà nghiên cứu – được gọi là Kế hoạch B.    Tuy nhiên kế hoạch này chưa được chi tiết hóa và Chính phủ Anh đang rơi vào tình trạng xáo trộn sau khi hàng chục bộ trưởng từ chức, buộc Thủ tướng Boris Johnson phải từ chức.      Hai ứng viên cho vị trí Thủ tướng, Rishi Sunak (trái) và Liz Truss có các chính sách khác nhau có thể sẽ tác động mạnh đến nghiên cứu của Anh.    Vào năm 2020, Anh và EU đàm phán để thỏa thuận các điều khoản giúp Vương quốc Anh trở thành thành viên ‘liên kết’ của Horizon Europe, điều này sẽ mang lại cho các nhà nghiên cứu tại Anh hầu hết các quyền được tài trợ như các nhà khoa học ở EU. Tuy nhiên, bất chấp 18 tháng đàm phán về việc liên kết, không có thỏa thuận nào được ký kết.    Các cuộc đàm phán đã bị đình trệ do bất đồng về các hoạt động ở đường biên giới giữa Cộng hòa Ireland, một phần của EU và Bắc Ireland, một phần của Vương quốc Anh. Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán, các nhà khoa học Vương quốc Anh vẫn được khuyến khích tiếp tục nộp hồ sơ xin tài trợ của EU với hy vọng rằng một thỏa thuận sẽ được thực hiện và sẽ có ngân sách cho các hồ sơ được duyệt.    Nhưng đến hiện tại, EU đã hủy bỏ các khoản tài trợ của một số nhà khoa học Vương quốc Anh đã được chương trình Horizon Europe chấp thuận tài trợ. Gần 150 nhà nghiên cứu tại các cơ quan khoa học có trụ sở tại Vương quốc Anh đã giành được tài trợ của Hội đồng nghiên cứu châu Âu (ERC) trong lần kêu gọi tài trợ đầu tiên của hội đồng, nhưng EU hiện cho biết rằng các nhà nghiên cứu ở Vương quốc Anh chỉ có thể nhận các khoản tài trợ nếu họ chuyển đến một tổ chức ở một quốc gia thành viên EU. Cho đến nay, 18 học giả đã chọn làm như vậy; 8 người khác đang chờ chuyển giao để được chấp thuận. ERC đã hủy bỏ các khoản tài trợ cho 115 người và 6 người khác đã yêu cầu thêm thời gian để đưa ra quyết định.    Vương quốc Anh đã gây áp lực lên EU để đưa ra một thỏa thuận. Tháng trước, Bộ trưởng Khoa học Anh khi đó là George Freeman (đã từ chức vào tuần trước trong nỗ lực buộc Johnson phải nghỉ việc) nói rằng ông đàm phán để thực hiện một thỏa thuận. Nếu không đạt được thỏa thuận, Vương quốc Anh sẽ ban hành một cơ chế tài trợ nghiên cứu thay thế, được gọi là Kế hoạch B.    Kế hoạch B là gì?    Kế hoạch B là giải pháp thay thế phương án liên kết với Horizon Europe (kế hoạch liên kết vốn luôn là lựa chọn hàng đầu của Anh, hay còn gọi là Kế hoạch A). Các bộ trưởng đã nghiêm túc xem xét một giải pháp thay thế cho kế hoạch A kể từ năm 2019. Một báo cáo từ năm 2019 kêu gọi thành lập một chương trình tài trợ hàng đầu để cạnh tranh với ERC, cũng như một loạt các học bổng quốc tế để thu hút nhân tài từ nước ngoài và thúc đẩy nguồn kinh phí nghiên c`ứu cơ bản.    Tháng trước, Bộ trưởng Freeman đã trình bày báo cáo trước Ủy ban Khoa học của Quốc hội về việc kế hoạch đang được xây dựng như thế nào. Ông cũng mô tả một chương trình gồm bốn trụ cột bao gồm một phần hỗ trợ tài năng, sẽ cung cấp tài trợ trong nước và quốc tế. Trụ cột thứ hai, kết hợp giữa công nghiệp và đổi mới, sẽ đem lại một cách tài trợ táo bạo để phá vỡ chu kỳ tài trợ ngắn hạn; ông mô tả đây là “cơ chế tài trợ theo kiểu DARPA, kiểu Wellcome Trust, kiểu Max Planck”.    Trụ cột thứ ba sẽ là “tăng cường hoạt động đa phương và song phương trên toàn thế giới để giải quyết các thách thức toàn cầu”. Trụ cột cuối cùng sẽ bao gồm các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng.    Stephanie Smith, người đứng đầu chính sách nghiên cứu tại Russell Group gồm các trường đại học nghiên cứu ở Vương quốc Anh cho biết Kế hoạch A vẫn là tốt nhất cho các nhà khoa học Vương quốc Anh, nhưng chính phủ đang đưa ra các kế hoạch thay thế. “Đã đến lúc công bố chi tiết các kế hoạch để cộng đồng nghiên cứu ở Vương quốc Anh có thể tận dụng tối đa Kế hoạch B nếu điều đó xảy ra. Chúng ta cần có các phương án phù hợp để thu hút tài năng, về sự đổi mới và quan hệ đối tác toàn cầu để đảm bảo chúng ta có thể hiện thực hóa tham vọng duy trì và củng cố vị trí siêu cường về khoa học của Vương quốc Anh”.    Tuy nhiên cơ quan nào sẽ phụ trách Kế hoạch B thì vẫn chưa xác quyết. Cơ quan tài trợ như Trung tâm về Nghiên cứu và Đổi mới của Vương quốc Anh (UKRI) có thể là một lựa chọn.    Các khoản bù đắp?    Vào năm 2021, Bộ Tài chính Vương quốc Anh đã trích ra 6,9 tỷ bảng Anh để thực hiện dự luật liên kết với Horizon Europe và các chương trình khoa học khác của EU, hoặc tài trợ cho bất kỳ giải pháp thay thế nào khác trong kế hoạch B, cho đến năm 2024–2025. Phát biểu với Ủy ban Khoa học vào tháng sáu, Bộ trưởng Freeman cũng xác nhận đang đàm phán để phân bổ kinh phí cho kế hoạch như vậy.    Ngoài ra, Anh sẽ đầu tư tiền vào một loạt các kế hoạch hiện có khác để bù đắp cho việc không liên kết với Horizon Europe. Anh sẽ cấp nhiều tiền hơn cho các chương trình tài trợ khác nhau do các học viện quốc gia và các cơ quan tài trợ nghiên cứu khác điều hành. Nguồn tiền bổ sung sẽ đổ vào các chương trình đổi mới khác nhau, bao gồm mạng lưới Eureka toàn cầu, để giúp các doanh nghiệp Vương quốc Anh duy trì các liên kết hiện có với các đối tác châu Âu, đồng thời tạo dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ hơn với các quốc gia xa hơn, chẳng hạn như Hàn Quốc, Canada và Singapore.    Cũng sẽ có một “quỹ ổn định tài năng và nghiên cứu” để hỗ trợ thu nhập của các trường đại học bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc mất đi nguồn ngân sách của Horizon Europe. Vương quốc Anh sẽ tiếp tục đảm bảo tài trợ cho những người đăng ký thành công ở Vương quốc Anh vào Horizon Europe.    Tuy nhiên, bất chấp những kế hoạch mới nhất này, việc thay đổi thủ tướng ở Anh có thể khiến mọi kế hoạch trở nên khó đoán định hơn. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu lo lắng rằng khoản tài trợ 6,9 tỷ bảng Anh có thể không được cấp mà sẽ ưu tiên để thực hiện mối quan tâm khác của chính phủ mới.    Tất cả những điều đó xảy ra trong bối cảnh Thủ tướng Anh và một loạt các bộ trưởng từ chức trong đó có cả Bộ trưởng Khoa học và đến nay chưa ai được bổ nhiệm vị trí Bộ trưởng Khoa học.    Trước những lo ngại này, báo cáo gần đây của Thượng nghị viện cũng cảnh báo rằng tham vọng trở thành “siêu cường về khoa học và công nghệ” của Vương quốc Anh vào năm 2030 đang gặp rủi ro.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Chính phủ đề nghị bội chi ngân sách lên 5,3%      Thu ngân sách hiện không đạt dự toán nhưng  Chính phủ cho biết sẽ đề nghị Quốc hội nới trần bội chi ngân sách từ  4,8% lên 5,3% từ năm 2013.    Bức tranh chung của nền kinh tế trong suốt 2 năm qua vẫn “nằm bẹp dưới đáy”, như cách nói của Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên tại Hội thảo kinh tế mùa thu do Ủy ban Kinh tế (Quốc hội) tổ chức tại Huế. Tuy nhiên, đến thời điểm này, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hôm 27-9, tăng trưởng GDP cán mức 5,14%, cao hơn mức tăng cùng kỳ năm trước (5,1%).  Tốc độ tăng này dần từ mức 4,76% (quí 1-2013) lên 5% (quí 2) và 5,54% (quí 3). Bộ đánh giá tuy tốc độ tăng của quí 3 và 9 tháng đầu năm không cao như mong đợi nhưng là hợp lý trong bối cảnh nền kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn.  Nếu so với tháng 12-2012, lạm phát tháng 9 chỉ tăng 4,63%, được coi là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm qua. Song so với cùng kỳ năm trước thì mức lạm phát tháng 9 tăng 6,3%, bình quân 9 tháng tăng 6,83%. Con số này rất gần mục tiêu lạm phát năm nay là 8%, trong khi “dư địa” thời gian cho mức tăng lạm phát chỉ còn 3 tháng nữa.  Tuy kinh tế vẫn tăng dần đều nhưng thực tế thu ngân sách nhà nước (NSNN) vẫn rất khó khăn. Tính đến 15-9, tổng thu NSNN ước đạt 509.700 tỉ đồng, đạt 62,5% dự toán năm. Trong khi tổng chi đã đạt 640.370 tỉ đồng (65,5% dự toán năm).  Trọng tâm cuộc họp Chính phủ tháng này là bàn đến tình hình thu chi ngân sách, nhất là bội chi ngân sách.  Theo lời ông Đào Quang Thu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói tại Diễn đàn kinh tế mùa thu thì Chính phủ sẽ đề nghị Quốc hội nới mức bội chi ngân sách năm nay từ 4,8% lên 5,3% để đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng. Đây là thông tin rất được chú ý trong bối cảnh thu ngân sách ngày càng suy giảm và các biện pháp tăng thu chưa phát huy nhiều tác dụng và trần bội chi năm nay không còn nhiều.  Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam xác nhận tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ chiều 29-9 rằng : “Đúng là Chính phủ đề nghị nới trần bội chi lên mức 5,3%”. Lý do là nhu cầu đầu tư hiện rất lớn. Sau nghị quyết của Chính phủ cách đây 2 năm về việc siết lại đầu tư công, rất nhiều dự án bị đình, giãn, hoãn trong khi việc kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư vào các dự án không hề đơn giản.  “Đầu tư tư nhân vào đường nhưng thu phí cao mới đáp ứng được yêu cầu đầu tư thì dân kêu. Đầu tư bệnh viện cũng được khuyến khích nhưng không đáp ứng được nhu cầu”, ông nói. Và cho rằng dù kinh tế khó khăn nhưng tăng trưởng GDP vẫn ở mức trên 5%, thu ngân sách vẫn tăng cho dù mức tăng chưa đáp ứng được mong muốn chi.  “Tôi lấy ví dụ những năm trước thu ngân sách được 100 đồng thì chi cho đầu tư hơn 30 đồng đến 40 đồng. Nay chỉ chi có 19 đồng thôi”, ông Đam phân tích. Đề giải quyết nhu cầu chi cho đầu tư, Chính phủ quyết định sẽ tăng mức bội chi lên 5,3%.  Ông Đam tính cụ thể rằng tổng vốn đầu tư từ ngân sách và trái phiếu Chính phủ năm nay khoảng 235.000 tỉ đồng. Sang năm 2014, để đạt được mức tăng đầu tư từ 5,5% đến 5,8% cần tổng mức đầu tư khoảng 255.000 tỉ đồng và việc nâng trần bội chi kể từ năm nay là cần thiết. Số bội chi đề nghị tăng thêm từ các khoản tiền thu từ đất, khoáng sản, sổ xố kiến thiết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ và khởi nghiệp      Chính phủ Singapore đã góp phần lớn trong việc đưa hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore từ con số không đến một trong mười nơi đáng khởi nghiệp nhất thế giới1.      Khu tổ hợp Launch Pad gồm Blk 71, Blk 79, Blk 73. Ảnh: http://www.jtc.gov.sg/  Nhắc đến khởi nghiệp ở Singapore, người ta nghĩ ngay đến Block 71 (Blk 71) – nơi được tạp chí The Economist mệnh danh là “hệ sinh thái khởi nghiệp cô đọng nhất trên thế giới”. Câu chuyện khởi đầu của Blk 71 khá giống với sự ra đời của tổ hợp sáng tạo Zone 9 ở Hà Nội, đều xuất phát từ một tòa nhà cũ nát và tưởng như không còn giá trị sử dụng. Blk 71 được thành lập bởi NUS Enterprise – một đơn vị trực thuộc Đại học quốc gia Singapore được thành lập nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong học tập và giảng dạy. NUS Enterprise tập hợp các công ty khởi nghiệp về công nghệ thông tin và “đặt” họ trong tòa nhà này với giá thuê rất rẻ. Hơn hai năm sau đó, không biết đây chính là một cộng đồng startup đang hình thành và thấy rằng tòa nhà quá xuống cấp, Chính phủ Singapore quyết định dỡ bỏ và yêu cầu các công ty rời đi. Các công ty và NUS Enterprise phản đối điều này.   Kết cục của câu chuyện đó? Chính phủ Singapore không những cải tạo lại khu nhà này, biến nó thành Blk 71 – một nơi khang trang đẹp đẽ mà còn xây một loạt các block khác quanh đó: Blk 73, 79 cho các startup. “[Chính phủ] không những hiểu startup mà còn cho thêm nữa. Hỗ trợ cỡ đó chắc khó tìm [thấy ở nước khác]” – Đỗ Trần Anh Minh nói. Anh từng làm biên tập viên của TechInAsia, một trang blog về hệ sinh thái khởi nghiệp ở các nước Đông Nam Á, và bây giờ đang làm giám đốc truyền thông của Vertex Venture – một trong bốn quỹ đầu tư lớn nhất Singapore.  Tổ hợp các block này hiện giờ được gọi là Launch Pad, nhìn tổng thể giống như một khuôn viên của một trường đại học: các tòa nhà thông nhau, sân bóng rổ, nhà ăn tập thể, hội trường, những người trẻ tuổi năng động tán gẫu trên ghế đá… Anh Lê Thanh Sơn, giám đốc Startup Grind Singapore, một tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp do Google đầu tư có mặt trên khắp thế giới, ví khu Launch Pad như một “bo mạch”, các công ty đến chỉ cần “cắm vào” là “chạy” được bởi vì ở đây đã hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp tương đối hoàn chỉnh, hỗ trợ startup từ cơ sở vật chất, dịch vụ cho đến cộng đồng. Chính vì thế, không chỉ có các startup, các tập đoàn lớn như Google, Microsoft, Qualcomm… hay Singtel (tập đoàn viễn thông lớn nhất Singapore) muốn tìm kiếm các nhân tố đổi mới sáng tạo cũng đặt vườn ươm hoặc tổ chức sự kiện định kỳ tại đây.  Hiện nay có hơn 500 startup đang làm việc tại LaunchPad, riêng Blk 71 đã có 250 startup làm việc, gần 30 quỹ đầu tư và vườn ươm. Nếu không có trợ giá của chính phủ, giá thuê văn phòng không thể rẻ đến thế ở một đất nước “đất chật” như Singapore. Tiền thuê một chỗ ngồi tại co-working space của NUS Enterprise trong Blk 71 là 200 SGD, chưa đến 1/20 thu nhập đầu người ở Singapore và cho một văn phòng rộng 90 m2 chỉ vào khoảng 1700 SGD (chỉ bằng 2/3 tiền thuê nhà ở HDB – chung cư do Chính phủ Singapore xây và cho người dân đểu có thể thuê hoặc mua với giá rẻ). Người thuê cũng được sử dụng điều hòa miễn phí 55 tiếng mỗi tuần.  Cải thiện năng lực đầu tư mạo hiểm  Cách đây hơn 10 năm, hệ sinh thái của Singapore không có gì đáng kể: chỉ có một vài startup về công nghệ thông tin và số quỹ đầu tư rất ít ỏi. Trong vòng ba năm trở lại đây, Singapore trở thành một trong mười hệ sinh thái khởi nghiệp tốt nhất thế giới. Gavin Lee, quản lý đầu tư của Wavemakers Ventures, một quỹ đầu tư của Mỹ có văn phòng đặt tại Blk 71 kể lại rằng, vào năm 2013, sau khi tốt nghiệp tại Mỹ và làm một thời gian tại văn phòng quỹ Matrix Partners (Mỹ) ở Trung Quốc, trở về nước, anh không thấy nhiều cơ hội nghề nghiệp cho mình: chỉ có vài ba quỹ lớn có lợi nhuận và một loạt quỹ nhỏ đều chưa exit2. Nhưng bây giờ, mọi chuyện đã khác.  Singapore học tập Israel trong việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, bắt đầu từ khâu cải thiện môi trường đầu tư. “Vài ba quỹ lớn có lợi nhuận” của Singapore nói trên, ra đời cách đây vài chục năm, thường chỉ đầu tư cho các công ty đã trưởng thành, hoạt động được vài năm và nhận đầu tư lớn 1-5 triệu USD, còn các startup ở giai đoạn đầu chỉ cần vài chục đến vài trăm ngàn USD thì họ không mấy quan tâm. Quỹ Nghiên cứu quốc gia Singapore (NRF – National Research Foundation) đã đưa ra hai chương trình để cải thiện điều này: Một là Early Stage Ventures Fund (ESVF), các quỹ tư nhân sẽ được chính phủ đầu tư đối ứng 10 triệu SGD theo tỉ lệ 1:1 (tức là nếu nhận được 10 triệu SGD, họ sẽ phải gọi vốn được thêm 10 triệu SGD nữa, tổng giá trị của quỹ là 20 triệu SGD). Hai là Technology Incubation Scheme (TIS) với lời “đề nghị” hấp dẫn hơn nữa, chính phủ đầu tư nửa triệu SGD vào một quỹ đầu tư theo tỉ lệ đối ứng 6:1, với điều kiện quỹ phải tích cực cung cấp mentor và hướng dẫn cho startup. Hai chương trình này kéo dài mười năm. Nếu việc đầu tư có lợi nhuận, các quỹ này có thể mua lại cổ phần của chính phủ trong các startup trong vòng 3-5 năm. Còn nếu không, họ cũng không mất gì, ngoài việc mỗi năm trả cho chính phủ 5% số tiền họ đầu tư năm đó.   Chính sách này của Singapore, một phần giúp cho các startup nhận được “cú hích” ở giai đoạn đầu nhưng quan trọng hơn, giúp nâng cao năng lực đầu tư của khu vực tư nhân, giúp họ “thoải mái hơn” trong việc đầu tư mạo hiểm. “Với chiến lược cùng đầu tư của NRF như TIS và ESVF, chính phủ thực sự khuyến khích doanh nghiệp góp tay vào việc hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp bằng quỹ tư nhân. Một khi mọi người bắt đầu đầu tư, những kết quả sau đó giúp chính phủ theo dõi để tăng thêm nhiều quỹ đầu tư hơn nữa. Giờ thì chính phủ đã có thể nhấc chân ra khỏi làn sóng này và tiếp tục hỗ trợ những lĩnh vực khác. Các cơ hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin giờ đây đã tăng lên rất nhiều so với lúc tôi quay trở về Singapore ba năm về trước và một phần là nhờ sự lãnh đạo rõ ràng và hỗ trợ mạnh mẽ cho khởi nghiệp của Chính phủ Singapore. Hi vọng rằng chúng tôi có thể từng bước mạnh lên, tạo ra những thành công lớn ở Đông Nam Á trong những năm tới” – Gavin Lee nói.       41.3 triệu SGD: Số tiền NRF đầu tư vào 144 startup từ năm 2008 đến 2015  315 triệu SGD: Số tiền 58 startup kêu gọi đầu tư thêm sau NRF  25: Số startup thất bại sau khi nhận được đầu tư từ NRF  (Nguồn: Straittimes)          Một góc làm việc của NUS Enterprise: Bàn bóng bàn được biến thành bàn làm việc  Tác động vào mọi thành phần của hệ sinh thái  Điều khiến Singapore khác với Israel và nhiều nước khác, đó là không chỉ xây dựng hệ thống các quỹ đầu tư mạo hiểm mà quốc gia này hỗ trợ đồng loạt tất cả các thành phần của hệ sinh thái, đảm bảo từ sinh viên đến startup ở bất cứ giai đoạn nào đều hứng thú khởi nghiệp và có cơ hội tiếp cận vốn. Tại sao lại “mất công” như vậy? Vì nếu chỉ tập trung vào quỹ thì lấy đâu ra startup để đầu tư? Câu hỏi có vẻ “ngô nghê” nhưng thực tế cho thấy, JFDI – một trong những khóa tăng tốc khởi nghiệp đầu tiên ở Singapore chỉ có thể tìm được khoảng 10 startup để đầu tư phát triển từ giai đoạn ý tưởng đến lúc thương mại hóa sản phẩm cho mỗi khóa kéo dài 100 ngày. Với một quỹ 6 triệu USD, số lượng startup đầu tư như vậy là quá ít.   “Việc tiếp cận nguồn tài chính với các startup không còn là vấn đề nữa. Điều quan trọng hơn là thay đổi tâm lý và văn hóa trở nên đổi mới sáng tạo, khuyến khích khởi nghiệp và thu hút những nhà đầu tư, mentor – những người có mối liên kết đủ rộng và kiến thức để giúp các startup vươn ra toàn cầu” – Lujie Chen, người phụ trách mảng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của quỹ NRF nói với phóng viên Tia Sáng. Hầu hết các cơ quan liên quan đến nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế của Chính phủ Singapore đều tham gia hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp theo nhiều cách khác nhau nhằm thay đổi văn hóa khởi nghiệp từ trường đại học – vốn còn yếu ở đây vì xã hội Singapore coi trọng công việc tốt ở chính phủ hoặc các tập đoàn lớn, có lương cao hơn là ra ngoài khởi nghiệp.  Năm năm vừa qua, NRF đầu tư khoảng 400 triệu SGD cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Bên cạnh hai chương trình cùng đầu tư mạo hiểm với tư nhân nói trên, NRF đầu tư cho khối đại học để khuấy động không khí khởi nghiệp và kéo khối học thuật lại gần với khối tư nhân. Trong vòng năm năm tới, kinh phí dành cho khu vực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của họ sẽ là một tỉ SGD, bao gồm cả các chương trình thúc đẩy liên kết giữa viện – trường. Văn phòng của NRF nằm trong khuôn viên của NUS. NRF tài trợ cho đại học này một khoản tiền trong vòng năm năm để tùy ý sử dụng để tổ chức sự kiện kích thích tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong sinh viên. NUS mỗi năm đều có chương trình gửi sinh viên học khởi nghiệp tại đại học ở các trung tâm khởi nghiệp tại Sillicon Valley (Mỹ), Thượng Hải, Bắc Kinh (Trung Quốc), Tel Aviv (Israel)…”Họ mang về Singapore virus khởi nghiệp” – anh Lê Thanh Sơn nói. NUS Enterprise cũng tổ chức các buổi trò chuyện về khởi nghiệp hằng tháng và hằng năm lại tổ chức InnovFest Unboud, một chuỗi sự kiện kéo dài một tuần, quy tụ những nhà khởi nghiệp, nhà khoa học, công ty lớn tới trao đổi về các xu hướng mới nhất trong công nghệ thông tin phục vụ cho một quốc gia thông minh (Smart Nation). NRF cũng xây dựng một phòng lab (Additive Manufacturing Cluster) ở Đại học Công nghệ Nanyang – NTU để ươm tạo các startups chế tạo và sử dụng công nghệ in 3D.    Bên cạnh NRF còn có IDA – cơ quan phát triển lĩnh vực công nghệ viễn thông tại Singapore. IDA điều hành Infocomm Investment – một quỹ trị giá 200 triệu SGD chủ yếu để đầu tư cho các vườn ươm và các khóa tăng tốc khởi nghiệp và cung cấp cho họ một không gian làm việc chung rộng hơn 2000 m2 đầy cảm hứng. Quỹ này cũng chủ động xây dựng văn phòng ở Anh và Mỹ, cho phép các startup được quỹ này đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp có thể ra nước ngoài tìm thị trường. EDB (Economic Development Board – Ban phát triển kinh tế của Chính phủ Singapore, có nhiệm vụ thu hút đầu tư nước ngoài) đầu tư vào các công ty khởi nghiệp hoặc công ty công nghệ lớn (mỗi lần đầu tư khoảng 20 – 50 triệu SGD) trên thế giới và yêu cầu họ chuyển những bộ phận quan trọng (chẳng hạn như nghiên cứu và phát triển) về Singapore để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty khởi nghiệp công nghệ trong nước.   Mặc dù ưu tiên hình thức đầu tư đối ứng nhưng Chính phủ Singapore vẫn dành một khoản ngân sách để tài trợ cho các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp, chẳng hạn như SPRING (thuộc Bộ Thương mại Singapore) tài trợ 70% kinh phí hoạt động cho các vườn ươm với mục đích tăng không gian làm việc chung và mentor tại Singapore và ACE (Action Community for Entrepreneurship) – một tổ chức phi lợi nhuận do chính phủ tài trợ (trước đây là cơ quan nhà nước do Bộ trưởng Bộ Thương mại điều hành) kết nối và tổ chức sự kiện cộng đồng startup.     Ở hành lang trong các Blk, các bức tường được “trang trí” bởi thông báo tuyển dụng và thông tin sự kiện của startup.  Ngoài ra còn có cả bàn bóng tay.   Hiểu biết và quyết định liên bộ, liên ngành  Vậy, làm thế nào không đưa ra các chương trình trùng lặp mặc dù có vô số cơ quan chính phủ, ở các cấp bậc khác nhau cùng tham gia hỗ trợ startup? Các Bộ của Singapore làm việc rất ăn ý với nhau. Đỗ Trần Anh Minh đưa ra một ví dụ về người bạn của mình, Aaron Miami, phải luân chuyển công việc giám đốc dự án qua hai Bộ theo chương trình Public Service Leadership Programme (Chương trình lãnh đạo cho dịch vụ công) của Chính phủ Singapore – chương trình nhằm tìm kiếm những người lãnh đạo trong lĩnh vực dịch vụ công. Theo đó, trong bốn năm đầu, họ phải luân chuyển qua hai bộ làm việc ở những vị trí chủ chốt. Đến năm thứ năm, những người tham gia chương trình phải chia sẻ cho nhau kiến thức và kĩ năng học được. Và cuối cùng, họ sẽ đưa ra lựa chọn cuối cùng xem mình sẽ làm ở Bộ nào trong hai Bộ ban đầu. Hiện nay có 200-300 người đang tham gia vào chương trình này và nó cung cấp cho họ những kĩ năng và hiểu biết để có thể thiết kế những nhiệm vụ, dự án liên kết năng lực và chuyên môn giữa các bộ.      Bộ máy của NRF cũng là ví dụ điển hình cho việc sự liên kết này. Quyết định và triển khai đều được thực hiện bằng ban điều hành các cấp bao gồm các thành viên đến từ các Bộ khác nhau. Ban điều hành của NRF là Phó Thủ tướng Singapore và các Bộ trưởng. Họ là người thảo luận và đưa ra bốn hướng ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của Singapore. Hội đồng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của NRF – bộ phận thúc đẩy khởi nghiệp trong bốn lĩnh vực trên, bao gồm những người đến từ các cơ quan như SPRING, EDB, NRF… Mỗi quý, hội đồng này sẽ họp và địa điểm họp không cố định. “Mặc dù các chương trình của chúng tôi là tách biệt. Nhưng chúng tôi làm việc thân thiết với nhau và đảm bảo rằng mình tập trung vào các hướng khác nhau”- Lujie Chen cho biết. Sắp tới, SPRING, EDB, IDA, NRF…sẽ cùng hợp tác lập ra chương trình SG Innovate – giống như “một cửa” để các startup có thể tiếp cận đồng thời thông tin và hỗ trợ từ tất cả các chương trình của Chính phủ Singapore.   Các cơ quan công quyền của Singapore cũng làm việc rất gắn kết với khối khu vực tư nhân. “Nhà nước không phải là người đầu tư tốt nhất, chúng tôi phải hợp tác với các nhân tố giỏi nhất ngoài kia” – Lujie Chen nói. Để lựa chọn hỗ trợ các quỹ đầu tư nhỏ cho hai dự án TIS và ESVF, NRF phải thành lập một ban đánh giá đa dạng các thành phần bao gồm cơ quan đầu tư nhà nước (EDBI), các quỹ đầu tư của các tập đoàn lớn như Temasek, Singtel, các quỹ đầu tư trẻ và cả các công ty lớn.  “Phong cách” làm việc gần gũi giữa các Bộ và giữa nhà nước với tư nhân khiến Singapore có một môi trường kinh doanh cởi mở và linh hoạt vì các quyết định được đưa ra nhanh chóng mà có thể không cần ban hành luật chính thức. Vivian Balakrishnan, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Singapore, người chịu trách nhiệm cho dự án quốc gia thông minh của Singapore phát biểu trong sự kiện Innovfest Unbound năm ngoái, cho phép triển khai Fintech (Công nghệ tài chính – một lĩnh vực chưa hợp pháp ở Singapore):  “Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) quyết định rằng chúng ta sẽ tạo ra một cái gọi là “hộp cát trong luật” (regulatory sandbox) cho các tổ chức tài chính và các công ty Fintech…Điều đó có nghĩa là, nếu bạn có một ý tưởng, sản phẩm hoặc dịch vụ trong lĩnh vực tài chính – bạn có thể làm việc với MAS để sản phẩm của mình ra đời dưới một khuôn khổ lỏng nào đó. Điều đó cho bạn cơ hội để thử nghiệm và phát triển nhanh nhất có thể” – Ông nói thêm. Đó còn chưa kể, Singapore còn dành hẳn 6 km đường để mọi người thí nghiệm xe không người lái.   Những dự định tương lai  “Chính phủ Singapore sợ quốc gia mình không còn giữ được vị thế nữa. Việt Nam đang lên, Indonesia đang lên. Vậy Singapore sẽ là gì?” – Đỗ Trần Anh Minh lí giải tại sao Singapore lại đầu tư nhiều tiền bạc và nhân lực xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đến như vậy. Năm 2015, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã thành lập Ủy ban vì kinh tế tương lai của Singapore (Committee on Future Economy – CFE) để định vị Singapore trong tương lai, trong đó có một bộ phận phụ trách đổi mới sáng tạo, đi sâu vào startup, trả lời câu hỏi làm thế nào để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ngoài những gì họ đã làm trong những năm vừa qua. “Tại sao chúng tôi nghĩ startup là quan trọng? Vì nó là động lực của phát triển. Chúng tôi muốn thúc đẩy mạnh hơn nữa tư duy đổi mới sáng tạo.” – Lujie Chen nói.   Trong năm nay, họ sẽ dừng dự án TIS (Technology Incubation Scheme) và ESVF (Early Stage Venture Fund) vì cho rằng họ đã tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp về công nghệ thông tin đủ sôi động, hiện giờ họ muốn tập trung vào những lĩnh vực giàu tính đổi mới sáng tạo như an ninh mạng, IoT (Internet vạn vật), năng lượng sạch, robotics,…- những lĩnh vực mà tư nhân chưa để ý tới. Họ sẽ đưa lập trình như một môn học bắt buộc ở trường Trung học phổ thông và có những chương trình ngoại khóa cho học sinh tiểu học để tăng cường nguồn nhân lực trong các ngành STEM.   Chính phủ Singapore từng đồng hành với các nhà khởi nghiệp và bây giờ, họ cố gắng đi trước. như Dr. Vivian Balakrishnan phát biểu ở Innofest Unbound năm ngoái: “Chúng tôi nhìn vai trò của chính phủ là xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy năng lực, tập trung vào R&D, đổi mới sáng tạo chính sách và xây dựng một môi trường thuận lợi, như vậy những startup của mình, hoặc những người có ý tưởng điên rồ mới có thể theo đuổi những ‘bước nhảy tới mặt trăng”.   ——-  1 https://www.techinasia.com/compass-startup-ecosystem-ranking-report-2015-singapore  2 Bán được cổ phần của các công ty họ đầu tư. Đây là cách để các quỹ đầu tư mạo hiểm thu lãi.                Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Chính quyền xây dựng cộng đồng khởi nghiệp      Chính quyền Đồng Tháp không chỉ hết lòng hỗ trợ, họ còn thay doanh nhân trực tiếp tập hợp, liên kết các doanh nghiệp với nhau.      Anh Ngô Chí Công (trái) và chị Phạm Thị Ngọc Đào, phó giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Đồng Tháp tại nhà của của anh Công. Chữ “Mần” viết kiểu thư pháp được treo trên tường là do Bí thư Tỉnh ủy Lê Minh Hoan tặng anh trong dịp Tết.   Tốt nghiệp đại học và cao họcngành Hóa học tại Đại học Paris 6, Pháp, Ngô Chí Công tự phát triển quy trình sấy khô cho riêng loài hoa sen, vốn không thể giữ tươi quá hai ngày sau khi cắt cành. Công ty khởi nghiệp của anh, Khởi minh thành công ở Đồng Tháp, sử dụng công nghệ này để sản xuất nguyên liệu cung cấp cho những công ty có nhu cầu sử dụng lá sen hoặc hoa sen sấy khô để phát triển sản phẩm (chẳng hạn như bình hoa, tranh, giấy viết thư pháp, túi xách, mũ, chén, đĩa dùng một lần từ lá sen…).  Hoa sen là sản phẩm đặc trưng của Đồng Tháp nhưng không có giá trị gia tăng cao, ngoài hạt sen có thể lưu giữ được lâu để làm thực phẩm và dược phẩm, lá sen và hoa sen có giá trị thấp vì tuổi thọ ngắn. Sáng tạo của anh Công đã thay đổi điều đó, không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ hoa sen hàng tháng trời, bán ra thị trường với giá thành cao (hơn 100 nghìn một cành hoa đã sấy khô) mà cánh sen và lá sen có thể trở thành vật liệu cho ngành thời trang và dân dụng, thay thế cho giấy và vải, điều mà nhiều người chưa từng nghĩ tới.  Đồng Tháp là một tỉnh thuần nông. Ngay cả thành phố Cao Lãnh, trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa của tỉnh vẫn mang dáng dấp miệt vườn với những con đường đất nhỏ và nhấp nhô dẫn vào những nhà vườn trồng xoài và chăn nuôi, không giống với một đô thị khởi nghiệp như Hà Nội, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh mà người ta vẫn thường nhắc đến. Tỉnh Đồng Tháp cũng chưa có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp nhưng chính quyền ở đây tin rằng những đổi mới sáng tạo của họ có thể tạo ra đột phá trong những ngành hàng thế mạnh của Đồng Tháp, thay đổi tình trạng lệch pha giữa sản xuất và thị trường hiện tại. Bởi vậy mà các doanh nghiệp khởi nghiệp ở đây đều được các sở ban ngành quan tâm và hỗ trợ “hết khả năng của mình” từ khi chỉ là ý tưởng.  Ngay khi Ngô Chí Công hoàn thiện quy trình để làm ra được “một bông hoa sen sấy khô hoàn hảo”, anh đã được các sở, ban ngành tỉnh “phát hiện” và tài trợ tham gia cuộc thi “Dự án khởi nghiệp Nông nghiệp” do Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp – BSA tổ chức. Sau đó, anh được hỗ trợ các kinh phí nghiên cứu thông qua một đề tài của Sở KH&CN, mua sắm các thiết bị nhờ quỹ khuyến công của Sở Công Thương và các chi phí làm marketing, bao bì, thương hiệu bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh.  Bí thư tỉnh ủy Lê Minh Hoan vẫn mua tranh làm từ cánh hoa sen sấy khô của anh để làm quà tặng trong các chuyến công tác nước ngoài của mình.  Chính quyền là “mentor về tinh thần”  Nhiều tác giả của các ý tưởng kinh doanh mới chia sẻ với phóng viên Tia Sáng rằng, nếu không có sự hỗ trợ về tinh thần của những cán bộ nhà nước, có lẽ họ đã từ bỏ. Sau một thời gian tìm hiểu, anh Nguyễn Hòa Văn, phường 6, thành phố Cao Lãnh nhận ra rằng, Đồng Tháp là một nơi rất thích hợp để nuôi dê, ngay cả ở những huyện thành thị vì có sẵn cỏ. Anh tạo ra một mô hình nuôi dê kiểu hữu cơ, mỗi gia đình ngoài công việc chính có thể nuôi một số lượng dê hạn chế (2-10 con) cắt cỏ hoặc lá mít ở ngoài vườn, ngoài ruộng cho dê ăn. Sau đó, anh kết nối họ với các hàng quán ở các tỉnh lân cận. Mô hình này cho phép những người nuôi dê chỉ phải bỏ ra một chi phí thấp nhất (tận dụng cỏ có sẵn ngoài thiên nhiên, nuôi ít con một lần) nhưng lợi nhuận cao nhất (vì dê ăn cỏ thường béo tốt, bán được giá, lãi gấp 3-4 lần). Tuy nhiên, mô hình này nếu muốn bền vững, nó đòi hỏi các hộ phải nuôi dê theo một quy trình, chất lượng đồng đều và thống nhất giá cả. Điều đó phụ thuộc vào người dẫn đầu. Anh Văn “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, tự bỏ tiền túi ra vận động mọi người, sinh hoạt thường xuyên với họ để thống nhất giá bán, quy trình nuôi và cũng không thu phí kết nối với người mua. “Cũng nhờ anh em ở Hội liên hiệp thanh niên, ở thành đoàn động viên về tinh thần nên mình mới có động lực để mình làm” – Anh Văn chia sẻ. Ông Lê Văn Thành, ở Cù lao Tân Thuận Tây cũng là một trường hợp tương tự. Là một lão nông chuyên trồng xoài và nhãn, 90 tuổi, ông bỏ ra 450 triệu đầu tư, chấp nhận là người “thí điểm” cho mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên ở thành phố Cao Lãnh. “Nếu thành phố giúp đỡ tôi hoài thì tôi còn mần hoài” – Ông nói. “Giúp đỡ” ở đây đơn giản là những cuộc điện thoại, ghé thăm trò chuyện của Bí thư Thành ủy thành phố Cao Lãnh Lê Thành Công và Bí thư tỉnh Ủy Lê Minh Hoan.  Bí thư tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp, ông Lê Minh Hoan, dịp Tết vừa rồi, còn tặng cho mỗi “anh em khởi nghiệp” trong tỉnh chữ “Mần” (nghĩa là “làm”) viết kiểu thư pháp treo trong nhà. Ngô Chí Công coi ông Lê Minh Hoan như một mentor về mặt tinh thần của mình: “Mỗi lần gặp ổng là như gắn tên lửa vào để chạy… Ổng gọi lên nói ‘làm đi con!’ là làm thấy bà nội luôn đó”.  Chính sách do doanh nghiệp đề xuất  Trở về Đồng Tháp sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh, Anh Huỳnh Hoàng Nhân trở về Đồng Tháp thành lập tổ hợp tác trồng nấm bào ngư ở phường 3, thành phố Cao Lãnh. Mô hình sản xuất của anh được chia sẻ cho nhiều hộ gia đình để tiết kiệm tối đa chi phí, trong đó, anh chỉ tập trung vào khâu khó nhất là làm phôi nấm, còn việc chăm sóc và thu hoạch sẽ được chuyển về cho các hộ và cuối cùng anh thu mua và đưa ra thị trường. Thấy anh gặp khó khăn về vốn, Thành đoàn Cao Lãnh đã liên hệ với quỹ khuyến công và khuyến nông của tỉnh hỗ trợ cho anh Nhân gần 100 triệu đồng và kiến nghị với UBND thành phố xin một trường học bỏ không có diện tích vài trăm m2 để anh làm nhà xưởng. Tất cả các thủ tục diễn ra trong vòng trên dưới một tháng.  Chị Phạm Thị Ngọc Đào, phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh Đồng Tháp tỏ vẻ ngạc nhiên khi phóng viên Tia Sáng hỏi tỉnh có chính sách gì cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo chị, doanh nghiệp mới là người tạo ra chính sách. Nói cách khác, nếu họ có khó khăn gì, họ cứ đề xuất với chị và chị sẽ tìm cơ chế ưu đãi phù hợp. Trong trường hợp cái họ cần nằm ngoài lĩnh vực của Sở Kế hoạch – Đầu tư? Không vấn đề gì, chị sẽ gọi điện cho các sở, ban ngành liên quan để kêu gọi sự giúp đỡ và vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Không chỉ chị Đào, tất cả cán bộ sở, ban ngành của Đồng Tháp đều hành động theo tinh thần như vậy. Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Dương còn nghĩ ra “cà phê doanh nhân”, là hoạt động diễn ra trên bộ bàn ghế đá trong khuôn viên của UBND tỉnh Đồng Tháp vào bất kì buổi sáng nào trong tuần từ 7h15 – 8h để đại diện các doanh nghiệp trực tiếp chia sẻ khó khăn và ý tưởng của mình với lãnh đạo các sở, ban ngành tỉnh Đồng Tháp.    Anh Huỳnh Hoàng Nhân trong xưởng sản xuất phôi nấm của mình.   Người sáng lập website đầu tiên về khởi nghiệp ở Việt Nam – action.vn, được biết đến là một trong những người xây dựng cộng đồng khởi nghiệp tích cực nhất ở Việt Nam, hiện đang làm việc ở Tp. Hồ Chí Minh, Lê Huỳnh Kim Ngân nhận định: “Tôi nghĩ tất cả mọi phòng ban ở Đồng Tháp đều rất hết mình với doanh nghiệp. Họ tự tạo ra nơi hỗ trợ ngay cả khi doanh nghiệp chưa kêu than”.  Doanh nhân phải vào cuộc  Ông Lê Minh Hoan đang xúc tiến xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp. Ông dự định cho xây dựng hai khu không gian làm việc chung và vườn ươm khởi nghiệp ở thành phố Cao Lãnh và thành phố Sa Đéc. Ông thành lập CLB Doanh nghiệp dẫn đầu tỉnh Đồng Tháp (LBCD) gồm 11 doanh nghiệp lớn ở Đồng Tháp và ĐBSCL như Imexpharm, Domesco, Cỏ May, Mylan, Vinasun… để mentor cho các doanh nghiệp đi sau. Đồng Tháp cũng có quỹ hỗ trợ khởi nghiệp với các thành viên trong hội đồng thẩm định đến từ LBCD.  Tuy nhiên, mặc dù có lợi thế là gần vùng nguyên liệu cho nông nghiệp và môi trường kinh doanh thân thiện nhưng việc Đồng Tháp có thể trở thành hệ sinh thái khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, bên cạnh tỉnh cần phát triển kinh tế, thu hút đầu tư từ bên ngoài và nâng cấp cơ sở hạ tầng còn có những vấn đề nằm ngoài khả năng kiểm soát của tỉnh. Không chỉ ở Đồng Tháp, nhìn chung trên cả nước, hệ sinh thái trong kinh tế nông nghiệp vẫn rất sơ khai. Từ nghiên cứu phát triển các công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp như giống cây, bảo quản cho đến các dịch vụ phụ trợ cho nông nghiệp như tư vấn, logistic, cửa hàng bán thực phẩm sạch…đều hạn chế và thiếu chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, ở Việt Nam, chưa có quỹ đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, một lĩnh vực cần vốn lớn và rủi ro cao.      Trong khả năng của mình, điều Đồng Tháp có thể tập trung làm ngay chính là thúc đẩy văn hóa mentor như ông Lê Minh Hoan gọi là “người đi trước hướng dẫn người đi sau” mà việc thành lập LBCD là một ví dụ. Phần lớn các doanh nghiệp, tổ hợp tác hay ý tưởng khởi nghiệp Đồng Tháp dù nhiều tiềm năng nhưng mới chỉ nghĩ đến phục vụ thị trường của tỉnh hoặc một vài vùng nhỏ lẻ lân cận. Chính vì vậy, họ cần được “đồng hành” bởi những doanh nghiệp thành đạt đi trước để trau dồi kỹ năng kinh doanh, kỹ năng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và dám “nghĩ lớn”. Hiện nay, việc liên kết giữa các doanh nghiệp trong tỉnh Đồng Tháp đều là do các cán bộ sở, ban ngành, tổ chức Đoàn các cấp thực hiện qua CLB Doanh nhân trẻ, CLB Khởi nghiệp… hoặc như những câu chuyện “cổ vũ tinh thần” ở trên, đích thân ông Lê Minh Hoan làm (bản thân LCBD cũng là do ông vận động từng doanh nghiệp một). Tuy nhiên, đó chỉ là giải pháp trước mắt, còn trong tương lai, việc xây dựng cộng đồng doanh nghiệp để hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy văn hóa mentor phải do doanh nhân, những người có độ năng động, linh hoạt cao hơn các cán bộ nhà nước, những người có nguồn lực và rất hiểu về kinh doanh tự khởi xướng, vận động, triển khai. Bởi vì, “Hãy trao quyền cho xã hội, cho doanh nghiệp thì tự động người ta nghĩ thay cho mình. Chứ mình ngồi, mình nghĩ hoài cũng không ra.” – ông Lê Minh Hoan chia sẻ với Tia Sáng.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Chính sách đặc thù cho Vườn ươm Công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc      Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Vườn ươm Công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại thành phố Cần Thơ.      Dự án Vườn ươm Công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ không hoàn lại tại Khu công nghiệp Ô Môn. Dự án này đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép bổ sung vào Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam với diện tích 200 ha tại Thành phố Cần Thơ.  Việc xây dựng Dự án đến nay đã cơ bản hoàn thành. Để tạo điều kiện cho Dự án đi vào hoạt động có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thí điểm một số cơ chế chính sách đặc thù phát triển Vườn ươm này.  Các cơ chế, chính sách đặc thù đối với hoạt động của Vườn ươm gồm: ưu đãi cho Vườn ươm; ưu đãi cho doanh nghiệp ươm tạo công nghệ tại Vườn ươm; ưu đãi cho Dự án đầu tư; hỗ trợ phát triển thị trường.  Cơ chế tài chính như doanh nghiệp  Cụ thể, về ưu đãi cho Vườn ươm, Chính phủ sẽ hỗ trợ có mục tiêu từ nguồn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác để UBND thành phố Cần Thơ xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu Vườn ươm tại Khu công nghiệp Ô Môn.  Vườn ươm được phê duyệt dự án đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển sản phẩm và ứng dụng công nghệ được ươm tạo thành công tại Vườn ươm. Dự án thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng theo quy định của pháp luật về tín dụng đầu tư nhà nước được ưu tiên vay vốn từ Ngân hàng phát triển Việt Nam.  Hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp vào hoạt động ươm tạo công nghệ của Vườm ươm được miễn thuế nhập khẩu theo quy định ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Vườn ươm cũng được ưu tiên xem xét bố trí nguồn vốn ODA, vốn hợp tác quốc tế, vốn viện trợ….. Khi được UBND thành phố Cần Thơ giao quyền tự chủ, Vườn ươm được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp theo quy định.  Doanh nghiệp được ưu đãi nhiều về thuế  Doanh nghiệp ươm tạo công nghệ tại Vườn ươm được ưu đãi về thuế nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế giá trị gia tăng… Doanh nghiệp còn được hỗ trợ nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.  Doanh nghiệp chủ trì hoạt động ươm tạo công nghệ thành công tại Vườn ươm được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định.  Chủ Dự án được bảo lãnh vốn  Dự án đầu tư tại Vườn ươm cũng được ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, tín dụng. Cụ thể, Dự án đầu tư được ưu tiên thuê đất tại khu vườn ươm, được miễn tiền thuê đất trong 5 năm đầu tiên và giảm 50% tiền thuê đất phải nộp cho 5 năm tiếp theo kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất với Vườn ươm. Doanh nghiệp chủ Dự án đầu tư thuộc đối tượng bảo lãnh vay vốn theo quy định của pháp luật hiện hành được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam….  Cũng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, doanh nghiệp tham gia ươm tạo công nghệ tại Vườn ươm hoặc doanh nghiệp chủ Dự án đầu tư được hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường như: ưu tiên xét chọn, hỗ trợ tối đa các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường theo quy định của Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia; miễn phí giới thiệu công nghệ, sản phẩm của các doanh nghiệp tham gia ươm tạo trên website của Bộ Công Thương và UBND thành phố Cần Thơ; ưu tiên xét chọn, hỗ trợ tối đa khi tham gia các hoạt động của Chương trình khuyến công quốc gia, Chương trình Thương hiệu quốc gia của Trung ương, địa phương.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Chinh-sach-dac-thu-cho-Vuon-uom-Cong-nghe-cong-nghiep-Viet-Nam-Han-Quoc/232641.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách đặc thù phát triển Vườn ươm công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc      Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 214/2015/TT-BTC hướng dẫn cơ chế, chính sách ưu đãi về hỗ trợ ngân sách nhà nước, thuế và tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định tại Quyết định 1193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại thành phố Cần Thơ.      Đối tượng áp dụng gồm Vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại thành phố Cần Thơ (Vườn ươm), các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập theo pháp luật Việt Nam và các cá nhân có liên quan tham gia ươm tạo công nghệ tại Vườn ươm; Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ được ươm tạo thành công tại Vườn ươm (Dự án đầu tư).  Thông tư quy định rõ về ưu đãi về tín dụng. Theo đó, Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển sản phẩm và ứng dụng công nghệ được ươm tạo thành công tại Vườn ươm mà thuộc Phụ lục I Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư ban hành kèm theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu nhà nước thì được vay vốn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định.  Doanh nghiệp chủ Dự án đầu tư thuộc đối tượng bảo lãnh vay vốn theo quy định tại Điều 3 Quyết định 03/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam theo quy định.  Ưu đãi về chính sách thuế  Thông tư quy định ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với Vườn ươm như sau: Hàng hóa là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được; công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học và các nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ nhập khẩu phục vụ trực tiếp vào hoạt động ươm tạo công nghệ của Vườn ươm được miễn thuế nhập khẩu.  Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại Vườn ươm được ưu đãi về thuế nhập khẩu theo quy định tại khoản 6, khoản 7, khoản 8 Điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.  Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Thông tư quy định, thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới ươm tạo công nghệ cao trong các lĩnh vực tại Vườn ươm hoặc thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao mà được ươm tạo thành công tại Vườn ươm được áp dụng mức thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.  Thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động thực hiện đề tài, dự án đầu tư mới ươm tạo công nghệ trong các lĩnh vực tại Vườn ươm hoặc thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới ứng dụng công nghệ được ươm tạo thành công tại Vườn ươm thực hiện theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.  Về thuế giá trị gia tăng, chính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm tạo ra từ các hoạt động ứng dụng công nghệ ươm tạo tại Vườn ươm thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn hiện hành.  Về thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ tiền lương, tiền công của các chuyên gia nghiên cứu khoa học, công nghệ phát sinh từ hoạt động hỗ trợ trực tiếp ươm tạo công nghệ tại Vườn thực hiện theo quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn hiện hành.  Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/2/2016 đến ngày 31/12/2020.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Chinh-sach-dac-thu-phat-trien-Vuon-uom-cong-nghiep-Viet-Nam-Han-Quoc/246787.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách đồng tiền yếu (Bài 3)      Trong ba thập kỷ qua, TQ đã giữ chính sách đồng tiền yếu, và chính sách này đã góp phần làm cho hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, còn hàng nhập khẩu cho tiêu dùng ở TQ thì ít, và thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ lên đến 200-300 tỷ USD/năm.     Thông thường, các nước giàu thì có đồng tiền mạnh, còn các nước nghèo hay đang phát triển thì có đồng tiền yếu. Từ mạnh ở đây có nhiều nghĩa:  1) Ổn định, không bị mất giá nhanh hay lạm phát cao, thuận lợi cho việc dùng làm công cụ tích trữ tài sản.  2) Được nhiều người nước ngoài chấp nhận, có thể dễ dàng thanh toán bằng tiền này khi ở nước khác hoặc trên các thị trường quốc tế.  3) Giá hối đoái cao so với các đồng tiền khác, tính theo chỉ giá sinh hoạt. Ví dụ như 100 EUR ở Việt Nam thì sẽ mua được nhiều dịch vụ và hàng hóa nhu yếu phẩm hơn là 100 EUR ở châu Âu, và có nghĩa là EUR mạnh hơn VND theo nghĩa thứ 3).  Nước nào nghèo thì đồng tiền của nước đó sẽ yếu theo nghĩa 1) vì kinh tế chưa ổn định, dễ bị lạm phát cao; theo nghĩa 2) vì niềm tin của mọi người vào đồng tiền của nước đó thấp và theo nghĩa 3) vì nghèo thường gắn liền với lạc hậu về công nghệ và chỉ có nhiều lao động thô, nên các loại hàng hóa dịch vụ chỉ cần lao động thô thì rẻ còn các đồ công nghệ cao phải nhập khẩu thì đắt. Hơn nữa, đồng tiền phải yếu (theo nghĩa thứ 3), thì mới có thể cạnh tranh về giá và xuất khẩu được (thường là những đồ công nghệ thấp) ra thị trường thế giới. Ngoài ra, đồng tiền yếu làm hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng (vì đồ ngoại đắt khiến ít người mua), góp phần làm giảm thâm hụt hoặc tăng thặng dư cán cân thương mại.   Trong ba thập kỷ qua, TQ đã giữ chính sách đồng tiền yếu, và chính sách này đã góp phần làm cho hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, còn hàng nhập khẩu cho tiêu dùng ở TQ thì ít, và thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ lên đến 200-300 tỷ USD/năm.   Vào thời điểm tháng 8/2010, tỷ giá USD/RMB (đồng nhân dân tệ, phiên âm tiếng Anh là Renmimbi) là 1USD = 6,77RMB, nhưng theo các phân tích kinh tế, tỷ giá này phải xuống thành 1USD = 3RMB hoặc thấp hơn nữa (tức là đồng RMB phải lên giá hơn nữa so với USD) thì Mỹ và các nước khác mới có thể cân bằng lại cán cân thương mại với TQ.   Đồng RMB của TQ khi mới xuất hiện vào năm 1948 được cố định tỷ giá là 2,46RMB = 1USD (1), và tỷ giá đó được giữ trong nhiều năm. Trong những năm 1970, thậm chí RMB còn lên giá so với USD thành quãng 1,5 RMB = 1 USD vào năm 1980. Nhưng cùng với sự mở cửa kinh tế, TQ đã phá giá dần RMB so với USD trong suốt nhiều năm để tăng khả năng cạnh tranh, và đến 1994 thì tỷ giá USD/RMB là 1USD = 8,62RMB. Sau đó TQ cố định lại tỷ giá 1USD = 8,27RMB trong giai đoạn 1997-2005.   Từ 2005, sau khi bị Mỹ thúc ép liên tục, TQ mới thả lỏng bớt đồng RMB, để cho nó lên giá một chút so với USD. Vào tháng 6/2010 Ngân hàng Trung ương TQ tuyên bố sẽ thả lỏng hơn đồng RMB. Nước nào có cán cân thương mại bị thâm hụt nhiều, nợ nước ngoài cao, thì các lực kinh tế đẩy đồng tiền phải yếu đi (theo nghĩa thứ 3) cho cân bằng lại. Ví dụ, sau một thời gian dài thâm thụt cán cân thương mại nặng với Nhật Bản, Mỹ đã ép Nhật Bản phải nâng tỷ giả đồng Yên lên 100% so với USD trong giai đoạn 1985-1988 (từ quãng 250 Yên = 1 USD lên thành 125 Yên = 1 USD (2).   Tình hình của TQ hiện tại cũng tương tự như Nhật Bản năm 1985, bởi vậy nhiều khả năng TQ sẽ bị áp lực làm tăng giá đồng RMB, dù rằng chính phủ TQ không thích chuyện này và tìm mọi cớ để “kháng cự”. Triển vọng tỷ giá hối đoái 1USD = 3RMB chắc còn xa, nhưng nhiều khả năng là RMB sẽ lên giá so với USD trong những năm tới.  Về lý thuyết, RMB vẫn đang là đồng tiền yếu theo nghĩa thứ 2, vì nó chưa được dùng phổ biến làm tiền dự trữ của các nước khác (trừ một số nước lân cận như Mông Cổ, Bắc Triều Tiên). Thế nhưng, RMB hiện đã là đồng tiền mạnh theo nghĩa thứ nhất (có khi còn ổn định hơn USD), và theo dự đoán thì trong tương lai không xa cũng sẽ mạnh theo nghĩa thứ 2.   Bản thân TQ hiện cũng không hài lòng về việc đồng USD được sử dụng làm tiền dự trữ trên thế giới lấn át các đồng tiền khác, và muốn thay thế USD bằng một rổ các đồng tiền mạnh (trong đó ắt hẳn sẽ có phần của RMB) để làm thành một “đồng tiền quốc tế”. (Ý muốn này của TQ là hoàn toàn đúng đắn về lý thuyết kinh tế, vì nó làm tăng ổn định cho dự trữ ngoại tệ).   Nếu so sánh giữa RMB và VND, ta có thể thấy rằng VND yếu hơn RMB theo nghĩa thứ nhất và thứ hai, nhưng có khi lại mạnh hơn RMB theo nghĩa thứ 3?! Lạm phát của VN ở mức khá cao (10-20%) trong những năm vừa qua trong khi tỷ giá hối đoái USD/VND (hay giữa các đồng tiền mạnh khác và VND) có tăng nhưng chậm hơn nhiều. Điều đó có nghĩa là VND tăng giá so với các đồng tiền khác sau khi đã trừ đi lạm phát, hay nói cách khác, VND mạnh lên theo nghĩa thứ 3. Điều này không có vẻ có lợi cho cán cân thương mại của VN, và một phần giải thích vì sao VN cạnh tranh kém TQ?  ——  (1) Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Renminbi   (2) Xem lịch sử tỷ giá Yên/USD tại: http://en.wikipedia.org/wiki/Japanese_yen    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách hỗ trợ ĐMST: Cần thay đổi “luật chơi”      Đổi mới sáng tạo (ĐMST) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam được đánh giá ở mức rất thấp trong khu vực và trên toàn thế giới, thậm chí đầu tư cho R&D còn xếp sau một số nước như Lào, Campuchia. Không những thế, rất khó đánh giá được hiệu quả thực sự của các chương trình hỗ trợ cho ĐMST hiện nay, bởi hầu như các chương trình không được thực hiện theo những khung logic xác định ngay từ đầu, với các chỉ tiêu, chỉ số có thể đo lường được.      Báo cáo cũng cho biết, trong lĩnh vực điện tử, tăng trưởng và xuất khẩu chủ yếu là nhờ khu vực FDI. Ảnh: Công nhân tại Canon Việt Nam. Nguồn: Lao động.    Hai báo cáo nghiên cứu mới được công bố của Worldbank, gồm Việt Nam: Tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ, bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế và Việt Nam trước ngã rẽ: Tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới, đã cho thấy những điểm mấu chốt cần thay đổi trong các hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời, đưa ra khuyến nghị để thay đổi cơ chế đòn bẩy hiện nay.  Năng suất không thấp nhưng đổi mới sáng tạo yếu  Trái ngược với nhiều lo lắng về năng suất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thấp, các báo cáo này chỉ ra, năng suất lao động của các doanh nghiệp này ở Việt Nam có thể sánh được với các nước ở khu vực châu Á. Chẳng hạn như, các doanh nghiệp trung vị[1] tạo ra khoảng 10.500 USD giá trị gia tăng trên mỗi công nhân. Mức này tương đương với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, cao hơn Ấn Độ mặc dù thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế BRIC gồm nhóm 6 nước Brasil, Nga, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc và Nam Phi (Hình 1). Lý giải về vấn đề này, nhóm tác giả cho rằng, năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam khá cao không phải do đổi mới công nghệ và quản lý mà một phần là do mức độ thâm dụng vốn lớn hơn so với các nước Đông Nam Á khác và ngày càng tăng, và năng suất vốn ở Việt Nam cũng được đánh giá thấp hơn tất cả các nước ở Đông Nam Á hay trong nhóm BRIC. Nếu chỉ thâm dụng vốn và lao động mà không có đổi mới sáng tạo thì các sản phẩm của Việt Nam rất khó nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn ở mức rất thấp so với các nước trong khu vực. Báo cáo chỉ ra điều này sau khi khảo sát về các loại hình đổi mới (như đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức) cũng như các biện pháp cải tiến đầu vào (như các hoạt động R&D). Do vậy, mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng cải tiến sản phẩm và quy trình sản xuất của mình không kém gì các doanh nghiệp cùng ngành ở các nước khác trong khu vực, nhưng lại hiếm khi giới thiệu những sản phẩm mới và có những chức năng hoàn toàn mới so với các sản phẩm hiện có ra thị trường. Cũng theo báo cáo, Việt Nam ở vị trí trung bình về tỉ lệ các công ty gần đây cải tiến quy trình hoạt động (như phương pháp sản xuất/giao nhận, bảo trì, việc thu mua, kế toán) nhưng tỉ trọng số tiền trung bình doanh nghiệp thực chi cho R&D trong tổng doanh thu vẫn thấp hơn hầu hết các nước Đông Nam Á khác và ít doanh nghiệp ở Việt Nam đầu tư vào những nghiên cứu đã được cấp phép hay cấp bằng sáng chế. Cụ thể, khoảng 23% doanh nghiệp Việt Nam tuyên bố đã giới thiệu một sản phẩm hay dịch vụ mới hoặc được cải thiện đáng kể trong vòng ba năm trở lại. Trong khi đó, các quốc gia như Campuchia và Philippines có tỉ lệ này là trên 30%. Số tiền đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam (chiếm 1,6% doanh thu hằng năm) thấp hơn ở Lào (14,5%), Philippines (3,6%), Malaysia (2,6%) và Campuchia (1,9%).    Hình 1: So sánh năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam với khu vực và các nước BRIC.  Báo cáo cũng cho thấy, các công ty trong nước có mối quan hệ và liên kết tốt với các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia có động lực lớn hơn để đổi mới nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn được chấp nhận trên toàn cầu đối với sản phẩm của họ. Cụ thể, với những doanh nghiệp này, trong ba năm vừa qua đã có những đổi mới sản phẩm/quy trình và dành ngân sách cho R&D nhiều gấp đôi doanh nghiệp không liên kết.  Hỗ trợ cho ĐMST: Thiếu khung logic và các chỉ tiêu được lượng hóa  Báo cáo tập trung phân tích các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ và phát triển liên kết ở Việt Nam gồm các chương trình cấp nhà nước, hiện đang được ba Bộ chủ chốt điều hành – Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và Bộ Khoa học và Công nghệ – để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, và không bao gồm các chương trình của khu vực tư nhân, chính quyền địa phương hoặc các tổ chức phi chính phủ. Trong tổng số các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, có tới gần 40% chương trình tập trung vào hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trong đó, chủ yếu tập trung vào sản phẩm, với mục tiêu phát triển các sản phẩm công nghệ cao. Đồng thời, các chương trình cũng tập trung vào giải quyết vấn đề khó khăn trong tiếp cận tài chính, thiếu kỹ năng, thiếu thông tin doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ…  Trên thực tế, những chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, hỗ trợ dành cho đổi mới sáng tạo nói riêng rất nhiều, thậm chí còn rất khó thống kê nếu tính đến các chương trình ở cấp độ địa phương (bởi mỗi địa phương đều có một loạt các chương trình hỗ trợ khác nhau) nhưng “đều chung chung, hầu như không có khung phân tích, không có một cơ chế để theo dõi, không có chỉ tiêu chỉ số gì để giám sát, đánh giá hiệu quả, chương trình đạt mục tiêu hay không”, theo anh Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), người đứng đầu nhóm tham gia vào khảo sát các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam cho hai báo cáo trên của Worldbank. Cụ thể, một nửa số chương trình và chính sách (hiện đang hoạt động) không có kế hoạch giám sát và đánh giá (dù là hoàn chỉnh hay chưa). Còn những chương trình ít nhất có các chỉ tiêu mục tiêu liên quan đến giám sát và đánh giá trong giai đoạn thiết kế thì lại tiếp tục vấp phải những vấn đề chủ yếu như: Các mục tiêu không thể đo lường; Thiếu tiêu chí để xác định đầu ra/kết quả mong muốn: không rõ tiêu chí nào đã được sử dụng để xác định mục tiêu “thành công”. Ví dụ, Chương trình Phát triển Thị trường trong nước (Quyết định số 634/QĐ-TTg) đặt mục tiêu là liên kết nhà cung cấp nội địa với người tiêu dùng trong nước thông qua các chiến dịch thông tin và xây dựng điểm bán hàng trên toàn quốc. Mặc dù đầu ra có liên kết chặt chẽ với mục tiêu của chương trình nhưng các mục tiêu lại không thực tế (ví dụ 100% người tiêu dùng và doanh nghiệp biết về chiến dịch đến năm 2020) hoặc thiếu một chuẩn đối sánh (ví dụ 80% thị phần của hàng hoá trong nước trong các kênh phân phối truyền thống ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa nhưng 80% thị phần này có thể đạt được kể cả không có chương trình, do ngay từ đầu các địa điểm này đã không tiếp cận được với thị trường nước ngoài). Vì thế, “ba yếu tố rất quan trọng để đánh giá ‘hậu kỳ’ các chương trình, gồm: đã làm được những gì (impact và outcome), đâu là bài học rút ra, và tính bền vững của chương trình – sau khi nhà nước hết hỗ trợ thì không thể ‘đo đếm’ được”, anh Phan Đức Hiếu nói.  Chỉ có “ngoại lệ” đối với các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo được thực hiện bởi các bộ ngành của Việt Nam dưới sự hỗ trợ, kết hợp của các đối tác là những cơ quan uy tín ở các nước phát triển, là có khung logic để thực hiện chương trình ngay từ đầu và có khả năng giám sát, đánh giá kết quả đầu ra.    Hình 2: So sánh mức độ thâm dụng vốn và năng suất vốn của các doanh nghiệp Việt Nam với khu vực và các nước BRIC.  Mặt khác, các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay còn có trùng lặp, có thể cùng hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cả, nhưng các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ đều hỗ trợ ở các khía cạnh khác nhau. Như vậy sẽ cần có một cơ chế phối hợp, một cơ quan điều phối chung, để kết hợp giữa các chương trình với nhau, đảm bảo các chương trình không trùng lặp, lại không có kẽ hở, đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia chung để phát triển, theo nhóm nghiên cứu.  Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cho rằng, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay đều đã chỉ ra được điểm yếu của doanh nghiệp là “yếu sáng tạo” nhưng lại chưa trả lời chính xác được câu hỏi “yếu sáng tạo cái gì?” hay “yếu ở khâu nào?” từ đó có hỗ trợ đổi mới sáng tạo phù hợp.  Thay đổi luật chơi: Chuyển từ “chọn/hỗ trợ người chơi” sang “hỗ trợ đầu ra”  Theo anh Phan Đức Hiếu, chúng ta cần nghiên cứu, thay đổi cách thức hỗ trợ. Hiện nay, các chương trình hỗ trợ ĐMST đang hỗ trợ theo cách “picking up the winner”, tức là, ví dụ trong số 500.000 doanh nghiệp, chúng ta xác định ra tiêu chí, sau đó khoanh vùng rồi “nhặt ra” ra những doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí để hỗ trợ. Nhưng cách làm này đã bộc lộ nhiều nhược điểm không phù hợp. Thứ nhất là có thể sẽ không đảm bảo tính công bằng, minh bạch, bởi vì quá trình lựa chọn doanh nghiệp sẽ buộc sinh ra thủ tục hành chính lựa chọn, để theo dõi khoản hỗ trợ đó được thực hiện như thế nào. Thứ hai, khó lòng biết được liệu rằng kết quả có đạt được như mong đợi hay không. “Nếu tôi đưa tiền cho anh, yêu cầu anh nghiên cứu nhưng sau 5 năm không nghĩ ra được sản phẩm gì (vì không thể nghĩ được, chứ không phải doanh nghiệp họ tiêu đi), thì trong trường hợp đó giải quyết thế nào?”, anh Phan Đức Hiếu nói.  Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất chuyển sang hình thức hỗ trợ theo kết quả đầu ra. Nghĩa là, với cùng một mức kinh phí như hiện nay, nhưng các chương trình có thể chuyển sang hình thức hỗ trợ đăng ký sản phẩm sáng tạo. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có sáng tạo và đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ, hoặc đăng ký thương hiệu sẽ được hỗ trợ những khoản chi phí nhất định trong khoảng thời gian 5 năm hoặc 10 năm. Hình thức này được đánh giá là mang tính “thị trường”, hiệu quả và công bằng, bởi vì nó đảm bảo cả hai bên (nhà nước và doanh nghiệp) cùng vận động bằng nguồn lực của mình để tạo ra kết quả, đồng thời không mất chi phí hành chính và thời gian lựa chọn. Để chuyển đổi sang hình thức hỗ trợ theo kết quả đầu ra này, cần phải rà soát lại các chương trình đang hỗ trợ hiện nay, xác định vấn đề, phương pháp hỗ trợ, nhóm nghiên cứu khuyến nghị. Và hai phương pháp hỗ trợ cũ và mới này có thể thực hiện song song chứ không loại trừ nhau.  Mặt khác, nhà nước nên tập trung vào các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp như hỗ trợ kiểm soát chất lượng, đảm bảo thực hiện cam kết trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam, giúp thu thập và công khai hóa thông tin doanh nghiệp. “Trên thực tế, chúng ta đã có sẵn các nội dung này, nhưng hoạt động chưa thực chất. Ví dụ, mình tạo ra một trang vàng có danh bạ điện thoại thì không có ý nghĩa. Mà thông tin doanh nghiệp phải có những yếu tố mà đối tác cần, đó là hiện nay anh sản xuất được sản phẩm gì, có khả năng sản xuất với quy mô bao nhiêu, chất lượng sản phẩm như thế nào, quy trình công nghệ và thực tiễn đang xử lý ra sao, các giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm như thế nào nếu so sánh với toàn cầu, đội ngũ nhân công ra sao, chúng ta có khả năng sản xuất những sản phẩm nào tương tự… Tới đây những thông tin đó cần phải được thu thập đầy đủ, thực chất, mới có thể hỗ trợ doanh nghiệp kết nối, liên kết để tăng cường đổi mới sáng tạo, tăng sức cạnh tranh”, anh Phan Đức Hiếu nói.  Để kiểm soát tình trạng chồng chéo và đảm bảo sự phối hợp của các chương trình hỗ trợ ĐMST, nhóm nghiên cứu khuyến nghị có một cơ quan liên ngành (có thể nằm trong một Bộ hiện nay đảm nhận nhiều chương trình hỗ trợ ĐMST) nhằm tăng cường cơ chế phối hợp, và tác động đến các bên liên quan để thống nhất và cải cách chính sách trong các lĩnh vực liên ngành. Cơ quan này sẽ làm việc với các cơ quan Chính phủ (Bộ KH&ĐT, Bộ KH&CN, các tỉnh, thành, vv…) để xác định vai trò và trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ trong giải quyết những khó khăn chính trong môi trường kinh doanh và các quy định có thể ảnh hưởng đến liên kết của các doanh nghiệp. Ủy ban này sẽ kết nối với doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia và ngành/hiệp hội trong khu vực tư nhân. Đặc biệt, ủy ban này cần có sự tham gia của khu vực tư nhân. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khu vực tư nhân đóng vai trò chủ chốt trong thực hiện các chương trình phát triển liên kết doanh nghiệp để ĐMST. Có thể kể đến những ví dụ điển hình ở khu vực Đông Nam Á như: Mô hình hợp tác công-tư ở Penang (Malaysia) về cung cấp kỹ năng, theo đó doanh nghiệp tư nhân (công ty đa quốc gia và công ty trong nước) và viện nghiên cứu tham gia vào Trung tâm Phát triển Kỹ năng Bang Penang (một sáng kiến đào tạo nghề do Tổng công ty Phát triển Penang đề xuất) đã cho thấy vai trò chủ chốt của khu vực tư trong việc đạt được mục tiêu hỗ trợ cho chương trình liên kết doanh nghiệp.  ——  Chú thích:  [1] Doanh nghiệp trung vị: Một nửa số lượng các doanh nghiệp giá trị gia tăng trên mỗi công nhân nhỏ hơn hoặc bằng số trung vị, một nửa số doanh nghiệp sẽ có giá trị gia tăng trên mỗi công nhân bằng hoặc lớn hơn số trung vị.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Chính sách năng lượng: Cần tầm nhìn dài hạn và khoa học      Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc và giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu, cần có những chính sách năng lượng dài hạn và bền vững.      Nhà máy điện hạt nhân Novovoronezh đặt tại Voronezh Oblast, Nga. Nguồn: Rosatom.  Xây dựng chính sách năng lượng dài hạn và minh bạch  Ở bất cứ quốc gia nào, việc xây dựng và thực thi chính sách năng lượng cũng cần tầm nhìn và minh bạch, đặc biệt với Nhật Bản, quốc gia phải hứng chịu tai nạn nhà máy điện Fukushima 2011 và là tấm gương phản chiếu rõ nét tác động của chính sách năng lượng.  Sự kiện Fukushima đã tác động trực tiếp đến chính sách năng lượng Nhật Bản, khiến chính phủ nước này quyết định đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân và thay thế nguồn cung bằng điện từ nhiệt điện, khí thiên nhiên hóa lỏng (nhập khẩu nhiên liệu 90%), năng lượng tái tạo… Như vậy trong khi căng sức đưa đất nước phục hồi sau thảm họa, các ngành công nghiệp còn bị chất thêm gánh nặng giá điện tăng. Để giải quyết tình huống này, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định vận hành trở lại 5 lò phản ứng năng lượng từ cuối năm 2018. Đây là bước khởi đầu chuẩn bị cho việc thực thi Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050, một chính sách năng lượng dài hạn hướng đến một cấu trúc cung cầu năng lượng đa lớp, đa dạng và linh hoạt, tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào một loại hình năng lượng và có thể tận dụng thế mạnh của các nguồn năng lượng khác nhau.  Mới đây, Tổ chức doanh nghiệp Nhật Bản (Keidanren) đã kêu gọi minh bạch hóa chính sách năng lượng, hỗ trợ sự phát triển dài hạn của lĩnh vực sản xuất hiện nhằm đáp ứng những thay đổi xã hội đầy ý nghĩa. Với báo cáo “Tái xây dựng hệ thống điện hỗ trợ Nhật Bản” (Rebuild The Power System That Supports Japan), Keidanren nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chính sách năng lượng của đất nước nghèo tài nguyên này. Năng lượng là “trục chính của nền kinh tế đất nước” và vì vậy việc thảo luận về tương lai năng lượng của đất nước cần phải được công khai trên cơ sở tầm nhìn dài hạn, khoa học và mô hình hóa. Báo cáo cũng nêu rõ, “điện hạt nhân là nguồn năng lượng thiết yếu cho Nhật Bản cũng như thế giới”, vì thế một tương lai không chắc chắn có thể dẫn đến sự mất mát năng lực công nghệ cũng như nguồn nhân lực hạt nhân. Đây là tài sản đáng giá của một quốc gia khan hiếm tài nguyên khi theo đuổi các mục tiêu trong chính sách năng lượng.  Trong tình trạng hiện tại, thật thách thức để có thể giữ được những điều tiên quyết của chính sách năng lượng – đảm bảo vấn đề an ninh năng lượng, hợp lý về giá cả và ít phát thải. Nhật Bản đang chờ đợi để góp phần vào chương trình Society 5.0 – một kế hoạch chuyển đổi xã hội lớn của quốc gia này nhằm giải quyết các vấn đề xã hội như dân số sụt giảm và già hóa, hỗ trợ số hóa… bằng những công nghệ tiên tiến. Do điều kiện địa lý, sự phân bố dân cư và khu công nghiệp mà trong tương lai, có thể Nhật Bản phải phân cấp quản lý theo vùng. Để đem lại thành công cho việc quy hoạch đất nước, cần phải chuẩn bị cho cả kế hoạch năng lượng. Vì những nguyên nhân đó, Keidanren đã kêu gọi chính phủ minh bạch hóa chính sách năng lượng để các doanh nghiệp có thể thiết lập một chiến lược đầu tư “tương xứng và hợp lý”.  Năng lượng hạt nhân trong chính sách năng lượng  Dưới góc nhìn của nhiều người, năng lượng hạt nhân có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng dưới góc nhìn của các nhà khoa học, đây lại là một giải pháp quan trọng cho môi trường toàn cầu. Năm 2013, một nhóm bốn nhà khoa học khí hậu gồm TS. Ken Caldeira (Phòng Sinh thái học toàn cầu, Viện Carnegie), TS. Kerry Emanuel (Viện Công nghệ Massachusetts), TS. James Hansen (Viện Trái đất, trường đại học Columbia) và TS. Tom Wigley (trường đại học Adelaide và Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia Úc) đã gửi thư ngỏ nhằm thuyết phục “những ai có ảnh hưởng đến chính sách môi trường nhưng đối đầu với điện hạt nhân” thay đổi quan điểm để “ủng hộ sự phát triển và triển khai các hệ thống năng lượng hạt nhân an toàn hơn”. Dù biết việc công khai quan điểm sẽ “trao uy tín của mình cho các nhà hoạt động môi trường ‘siêu xanh’ công kích, coi như tội bội tín” – lời nhận xét của nhà vật lý đoạt giải Nobel Burton Richter và là người chỉ trích thủ tướng Đức Angela Merkel về sai lầm trong chính sách năng lượng khiến Đức trở thành quốc gia phát thải khí nhà kính cao nhất EU – bốn nhà khoa học này vẫn dũng cảm nhận định, vấn đề của năng lượng tái tạo là “sự gia tăng về quy mô không đủ nhanh để đạt tới mức giá rẻ và thực tế trước những yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng” và đề xuất “những quyết định về hệ thống năng lượng cần được đặt trên cơ sở của sự thật chứ không phải dựa vào cảm tính và thiên kiến”. Họ cho rằng, dù các nhà máy điện hạt nhân ngày nay chưa thực sự hoàn hảo nhưng hệ thống an toàn thụ động (passive safety system) và những tiến bộ về công nghệ khác có thể khiến chúng trở nên an toàn hơn rất nhiều. Do đó, năng lượng hạt nhân sẽ “là một trong số những công nghệ sẽ đóng vai trò thiết yếu trong bất kỳ nỗ lực có hiệu quả nào để phát triển một hệ thống năng lượng không phát thải”.   Năm năm sau, dù bị đánh giá là còn nhiều thiên kiến với năng lượng hạt nhân thì báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP) cũng phải thừa nhận vai trò của nó thông qua việc đưa nguồn năng lượng này vào cả 4 kịch bản giới hạn sự ấm lên toàn cầu từ năm 2030 đến năm 2050.   Tuy nhiên, việc phát triển điện hạt nhân không chỉ phụ thuộc vào ngành công nghiệp, mà phụ thuộc rất lớn vào sự dài hạn của chính sách năng lượng quốc gia. Trong hội thảo Kế hoạch nghiên cứu trung hạn và dài hạn về chương trình phát triển an toàn lò phản ứng do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tổ chức vào ngày 3 và 4/10/2017, giáo sư Waclaw Gudowski (Viện Công nghệ hoàng gia Thụy Điển KTH) đã nêu sự khác biệt của năng lượng hạt nhân so với các loại hình năng lượng khác, đó là cần thiết phải có sự cam kết của chính phủ trong xây dựng và triển khai các dự án điện hạt nhân, vốn có thời gian khai thác trên 60, 70 năm. Ông cũng thừa nhận rất khó đảm bảo được điều này bởi “vòng đời của một nhà máy điện hạt nhân dài hơn gấp nhiều lần nhiệm kỳ của một chính phủ”.  Dù khó nhưng cũng có cách giải quyết, theo báo cáo “Tương lai của Năng lượng hạt nhân trong một thế giới chứa carbon” (The Future of Nuclear Energy in a Carbon-Constrained World) của nhóm hợp tác nghiên cứu Sáng kiến năng lượng MIT công bố vào tháng 8/2018. John Parsons, đồng tác giả báo cáo và là nhà nghiên cứu của Trường Quản lý Sloan (MIT) nhấn mạnh, “chính phủ cần tạo ra những chính sách để cắt giảm carbon mới bằng việc tạo một cơ hội cân bằng cho các nguồn năng lượng ít phát thải carbon như năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân…, xem xét các lựa chọn để thúc đẩy đầu tư tư nhân vào lĩnh vực hạt nhân”.   Để giải quyết được hai nguyên nhân khiến năng lượng hạt nhân bị nghi ngại là chi phí đầu tư cao và tính an toàn, nghiên cứu đã nêu ba điểm chính mà các chính phủ cần quan tâm khi xây dựng chính sách: 1. Tái cơ cấu thị trường điện năng để các nhà đầu tư có thể chờ đợi vào những dự án nhà máy điện hạt nhân có chi phí thấp hơn và cạnh tranh hơn; 2. Tập trung vào những địa điểm đã được nhận diện là đủ điều kiện xây dựng nhà máy điện hạt nhân và phát triển các dịch vụ tương ứng có khả năng áp dụng ngay trên các lò phản ứng hạt nhân hiện hành; 3. Đầu tư cho nghiên cứu, phát triển và trình diễn các công nghệ hạt nhân tiên tiến, trong đó việc đầu tư cần được chia làm bốn cấp độ là đầu tư để chia sẻ các chi phí cấp phép điều hành nhà máy điện hạt nhân, đầu tư để chia sẻ chi phí R&D, đầu tư để đạt được các mốc quan trọng về kỹ thuật, đầu tư để tạo ra các uy tín nhằm thúc đẩy việc trình diễn thử nghiệm các thiết kế lò phản ứng mới. Tuy chưa đầy đủ và đồng bộ nhưng một số quốc gia đã phát triển điện hạt nhân như Nga, Thụy Điển hay Hàn Quốc… đều có áp dụng thành công những giải pháp này, đặc biệt là Nga thông qua Tập đoàn năng lượng hạt nhân nhà nước Rosatom.  Họ cũng lưu ý, việc đóng cửa sớm các lò phản ứng năng lượng chưa hết vòng đời không chỉ làm lãng phí kinh phí đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến nỗ lực giảm thiểu phát thải và tăng chi phí cho các giải pháp khác để đạt các mục tiêu cắt giảm khí thải.      Anh Vũ tổng hợp  Tài liệu tham khảo:  http://www.world-nuclear-news.org/Articles/Japan-LNG-imports-fall-as-nuclear-plants-restart  https://edition.cnn.com/2013/11/03/world/nuclear-energy-climate-change-scientists-letter/index.html  https://energy.mit.edu/wp-content/uploads/2018/09/The-Future-of-Nuclear-Energy-in-a-Carbon-Constrained-World.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách năng lượng Nhật Bản: Xác định cấu trúc điện năng tương lai      Một cơ cấu cung cầu điện năng nhiều lớp, đa dạng và linh hoạt, trong đó năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân là hai thành tố quan trọng, sẽ mang lời giải cho bài toán năng lượng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 của Nhật Bản.      Cùng với điện gió, điện mặt trời đang được khuyến khích phát triển ở Nhật Bản. Nguồn: Bloomberg  Câu chuyện về năng lượng của Nhật Bản đầu thế kỷ 21 gắn liền với tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi năm 2011, sau khi nhà máy phải hứng chịu thảm họa kép động đất và sóng thần. Sau sự cố này, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định chuyển hướng cơ cấu điện năng: dừng vận hành tất cả các nhà máy điện hạt nhân – nơi đóng góp tới 30% sản lượng điện quốc gia, để tập trung vào nhiệt điện và năng lượng tái tạo.  Vậy điều gì xảy ra? Việc cho dừng hoạt động các lò phản ứng đã tác động mạnh đến Nhật Bản nhiều hơn dự kiến. Năm 2016, Keidanren – Liên đoàn thương mại Nhật Bản đã ước tính, giá điện tăng lên 30% trong vòng ba năm sau Fukushima, đặt thêm một gánh nặng cho ngành công nghiệp trong khi nó đang căng sức đưa nền kinh tế đất nước trở lại như cũ. “Tác động rất lớn, một phần bởi vì không còn điện hạt nhân, một phần vì đồng Yên mất giá. Chúng tôi không rõ mỗi thứ chiếm bao nhiêu phần trăm trong giá điện tăng nhưng rõ ràng là khi các nhà máy điện hạt nhân tiếp tục dừng vận hành, các công ty điện phải tăng giá điện… và hằng ngày, khách hàng sẽ phải trả thật nhiều chi phí”, ông Masami Hasegawa – người quản lý Ban Chính sách môi trường của Keidanren, nhận xét.  Cũng theo ông Hasegawa, chi phí cao làm tăng giá các sản phẩm của Nhật Bản, ảnh hưởng đến khách hàng trong nước và đặt áp lực lên hàng hóa xuất khẩu, vốn đang phải đối mặt với cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Năm 2013, thâm hụt thương mại của Nhật Bản tăng hơn 10 nghìn tỷ Yên (103 tỷ USD) trong đó giá điện cao là thủ phạm chính.Không chỉ ngành công nghiệp mà cả khoa học cũng bị ảnh hưởng, ví dụ một nhóm nghiên cứu về cấu trúc hạt nhân ở Viện RIKEN đã phải tạm hoãn dự án của mình một vài năm vì chi phí cho điện đã vượt quá dự toán ban đầu.  Về bản chất, chính sách phát triển điện năng mới không đủ giải quyết được vấn đề. Để sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch, Nhật Bản phải nhập khẩu tới 90% nhiên liệu như khí, than, dầu…, chủ yếu từ Qatar – nơi có dấu hiệu bất ổn về địa chính trị vài năm qua. Vào tháng 4/2015, Viện Nghiên cứu kinh tế năng lượng Nhật Bản (IEEJ) cho biết, chính sách phát triển điện hạt nhân trong quá khứ đã giúp Nhật Bản tiết kiệm được 33 nghìn tỉ Yên (tương đương 276 tỷ USD) tiền mua nhiên liệu hóa thạch và “chúng ta đang sống dựa vào khoản tiết kiệm này nhưng đến năm 2020, chúng ta có thể mất đi 2/3 số đó” bởi mỗi năm tốn tới 3,6 nghìn tỉ Yên (30 tỉ USD) chỉ để nhập khẩu nhiên liệu. Trong khi đó, việc phụ thuộc vào năng lượng tái tạo cũng khiến hóa đơn tiền điện  gia đình tăng lên 13,7%/năm. Vào tháng 3/2017, Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) loan báo, mỗi gia đình sẽ phải trả thêm mỗi năm 9504 Yên (tương đương 83 USD) để hỗ trợ năng lượng tái tạo. Như vậy, trên toàn quốc, các hộ gia đình sẽ “đóng góp” thêm 2140 tỷ Yên (18,77 tỷ USD).  Điều này đã được các nhà nghiên cứu về chính sách năng lượng cảnh báo sớm. Năm 2013, trên tạp chí Energy Policy của nhà xuất bản Elservier, nhóm tác giả trường Đại học Adelaide, Úc đã xuất bản công trình “Đánh giá các lựa chọn cho sự kết hợp năng lượng tương lai của Nhật Bản sau thảm họa hạt nhân Fukushima” (Evaluating options for the future energy mix of Japan after the Fukushima nuclear crisis) và phân tích những bất lợi về nhiều mặt như chi phí điện năng, an ninh năng lượng, khí thải nhà kính, ô nhiễm không khí… mà Nhật Bản gặp phải khi phát triển năng lượng theo lộ trình phi hạt nhân (nuclear-free pathway).     Chính sách năng lượng mới đa dạng và đa lớp    Cơ cấu điện năng của Nhật Bản đến năm 2030. Nguồn: meti.go.jp  Mùa hè 2018, khi nắng nóng và nhiệt độ tăng lên bất thường ở Đông Á, nhu cầu về điện của Nhật Bản lại càng tăng lên. Trong bối cảnh đó, Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050 được nội các Nhật Bản thông qua vào tháng 7/2018 đã đưa ra một cái nhìn mới về tương lai năng lượng Nhật Bản: phát triển năng lượng dựa trên triết lí 3 E +S, viết tắt của các từ an toàn (safety), an ninh năng lượng (energy sercurity), môi trường (enviroment), hiệu quả kinh tế (econimic effeciency). Có thể thấy, Nhật Bản đang hướng đến việc thiết lập một cấu trúc cung cầu năng lượng bền vững, ít đem lại gánh nặng kinh tế và thân thiện với môi trường.  Để làm được điều này, các nhà hoạch định chính sách đã nhận diện được chính xác đặc tính của từng nguồn năng lượng trong cả chuỗi cung ứng, phân loại vị trí và nêu ra các hướng chính sách phát triển phù hợp với các mặt mạnh, yếu của chúng. Họ đã xác định mức đóng góp của chúng trong cấu trúc năng lượng quốc gia:  1. Địa nhiệt, thủy điện, điện hạt nhân, điện than là nguồn điện phụ tải nền (base-load power source), có thể hoạt động một cách ổn định và chi phí thấp bất kể vào thời gian ban ngày hay ban đêm.  2. Nhiệt điện từ khí hóa lỏng là nguồn điện phụ tải trung gian (intermediate power source), có chi phí thấp, có khả năng đáp ứng một cách linh hoạt và nhanh chóng với nhu cầu điện năng.  3. Thủy điện tích năng như nguồn điện phụ tải đỉnh (peaking power source) có công suất phát điện lớn, có thể kiểm soát việc phát điện theo nhu cầu điện năng dù chi phí sản xuất cao vào các thời điểm phụ tải cao (thủy điện tích năng cần các nguồn điện lớn để bơm nước ngược lên hồ khi phụ tải thấp).  Chính phủ Nhật Bản cũng đang đề xuất nhiều biện pháp để thiết lập nền tảng cho năng lượng tái tạo phát triển và trở thành một trong những nguồn cấp điện chính, đạt tỷ lệ 21% vào năm 2020.  Trên cơ sở đó, Nhật Bản đã có được một cấu trúc cung cầu năng lượng đa lớp, đa dạng và linh hoạt (multilayered and diversified flexible energy supply-demand structure), không chỉ tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào một loại hình năng lượng mà còn tận dụng được thế mạnh của các nguồn năng lượng khác nhau. Trong cấu trúc mới này, điện hạt nhân “là nguồn điện phụ tải nền quan trọng đóng góp vào sự ổn định dài hạn” và “là sự lựa chọn khả thi để Nhật Bản cắt giảm khí thải carbon”, do đó cần phải có những biện pháp cần thiết để điện hạt nhân đạt được mức 20 đến 22% tổng sản lượng điện năng đến năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, Nhật Bản đã và sẽ tiếp tục khởi động lại các nhà máy điện hạt nhân, đồng thời tiếp tục xây dựng thêm một số lò hạt nhân mới trong các dự án xây dựng bị dừng lại sau Fukushima.      Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050 được nội các Nhật Bản thông qua vào tháng 7/2018 đã đưa ra một cái nhìn mới về tương lai năng lượng Nhật Bản: phát triển năng lượng dựa trên triết lí 3 E +S, viết tắt của các từ an toàn (safety), an ninh năng lượng (energy sercurity), môi trường (enviroment), hiệu quả kinh tế (econimic effeciency)      Thông qua việc cải cách cấu trúc điện năng, Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản còn mong muốn khuyến khích sự đa dạng của các bên tham gia vào thị trường điện nước này cũng như sự tương tác giữa các bên với nhau. Việc gia nhập thị trường của các nhà cung cấp mới, kể cả từ lĩnh vực phi năng lượng, cũng như của các chính quyền địa phương, các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào những dịch vụ quản lý cung cầu điện năng không chỉ làm gia tăng đầu tư vào năng lượng mà còn thúc đẩy việc sử dụng điện năng tiết kiệm, hiệu quả và những đổi mới sáng tạo về công nghệ như sử dụng AI, IoT. Điều này thậm chí còn được chờ đợi sẽ góp phần phục hồi sự phát triển của từng khu vực, ví dụ như tạo ra một ngành công nghiệp mới ở địa phương.  Nhận định về mô hình phát triển mới của năng lượng Nhật Bản, giáo sư Takamitsu Sawa (trường Đại học Shiga) đã viết trên Japan Times là kế hoạch lần thứ 5 đã nhấn mạnh đến ba điểm cơ bản mà theo ông là không người Nhật nào có thể quên: các kinh nghiệm và bài học an toàn từ tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2011; tinh thần tự lực (self-sufficiency) là nguyên tắc hướng dẫn nước Nhật thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai khi lựa chọn phát triển các nguồn năng lượng; và Nhật Bản phải theo sát xu hướng toàn cầu về cắt giảm khí thải nhằm đáp ứng các tiêu chí của Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu Paris 2015 (Nhật Bản hiện đứng thứ 5 thế giới về phát thải carbon).  Khuyến khích đổi mới sáng tạo trong năng lượng tái tạo và hạt nhân    Điện hạt nhân là sự lựa chọn khả thi để Nhật Bản cắt giảm khí thải carbon. Ảnh: Nhà máy điện hạt nhân Sendai. Nguồn: Enformable  Là hai trong số các nguồn cung cấp điện năng đảm bảo được yêu cầu không phát thải khí nhà kính và đạt hiệu quả bền vững, Chính phủ Nhật Bản mong muốn năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân đi đầu về đổi mới công nghệ.  Lĩnh vực năng lượng tái tạo. Trong bối cảnh các quốc gia đều thúc đẩy đầu tư vào năng lượng tái tạo, giáo sư Takamitsu Sawa cho rằng, Nhật Bản cần tập trung kinh phí R&D ở một số vấn đề nhất định. Để đạt được mục tiêu của chính phủ đề ra là năm 2030, năng lượng tái tạo chiếm 20% sản lượng điện quốc gia thì phải giải quyết vấn đề cốt yếu là phát triển thiết bị lưu trữ điện năng giá rẻ và tăng cường khả năng tự cung cấp năng lượng tái tạo theo vùng.  Theo nhận định của Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp, có một thực tế là các công ty của Trung Quốc đang chiếm ưu thế trên thị trường công nghệ với các thiết bị lưu trữ điện năng và pin mặt trời giá rẻ. Vài năm trở lại đây, số lượng các công ty Nhật Bản cung cấp các tấm pin mặt trời ở thị trường nội địa đang sụt giảm một cách đều đặn. Do đó, kế hoạch năng lượng chiến lược nêu “phải tái khẳng định tầm quan trọng của khái niệm ‘tự lực công nghệ’ để đảm bảo Nhật Bản giữ được các công nghệ lõi trong chuỗi cung ứng năng lượng trên thị trường nội địa”.  Đây cũng là những mục tiêu mà một số kế hoạch phát triển năng lượng tái tạo do nội các Nhật Bản thông qua thời gian gần đây như Chiến lược Môi trường và năng lượng quốc gia cho đổi mới công nghệ đến năm 2050 (NESTI 2050), Chương trình Đổi mới sáng tạo cho công nghệ năng lượng môi trường hướng đến. Trong các chương trình này, vấn đề đổi mới công nghệ tập trung vào việc tạo các thiết bị lưu trữ điện tiên tiến có phạm vi ứng dụng rộng như cung cấp điện năng cho xe ô tô điện trên đoạn đường trên 700km, công nghệ chế tạo, lưu trữ và sử dụng nhiên liệu hydrogen không phát thải CO2, hệ thống điện mặt trời gấp đôi hiệu suất của các hệ thống hiện hành… Họ cũng thống kê và lập bản đồ 37 công nghệ liên quan chặt chẽ đến năng lượng tái tạo – tuy không trực tiếp tạo ra điện năng nhưng giúp quá trình sử dụng điện năng hiệu quả và an toàn hơn. Nhờ vậy, Nhật Bản không chỉ đạt được mục tiêu cắt giảm khí thải mà còn có cơ hội vươn lên dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo các công nghệ liên quan đó. Ví dụ việc phát triển ứng dụng IoT, phân tích Big Data sẽ giúp tối ưu được sự cân bằng giữa dự báo và nhu cầu thực tế hoặc cho phép lựa chọn được nguồn cung hợp lý trong số các nguồn điện dự trữ…      Để nâng cao tính an toàn của công nghệ, về phương pháp tiếp cận, Nhật Bản đặt lại vấn đề kết nối giữa ngành công nghiệp và trường đại học, viện nghiên cứu để thiết lập một nền tảng hợp tác, trao đổi thông tin, ghi nhận những hiểu biết mới, đồng thời góp phần làm minh bạch và công khai hóa thông tin về năng lượng hạt nhân – yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của công chúng. Quá trình này cũng sẽ góp phần thúc đẩy việc đào tạo cho Nhật Bản những chuyên gia giỏi về công nghệ hạt nhân.      Lĩnh vực điện hạt nhân. Sau tai nạn Fukushima 2011, vấn đề lớn nhất của điện hạt nhân Nhật Bản là nâng cao sự an toàn của công nghệ và thiết kế điện hạt nhân. Về bản chất, tuy phát triển điện hạt nhân nhưng Nhật Bản vẫn là quốc gia nhập khẩu công nghệ nên thiếu thiết kế, công nghệ an toàn. Trong một cuộc trao đổi với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam vào tháng 8/2018, giáo sư Jerome Isaac Friedman – người đoạt giải Nobel Vật lý 1990, cho biết, một trong những sai lầm của Nhật Bản thời kỳ xây dựng Fukushima (những năm 1970) là sử dụng nguyên thiết kế nhà máy điện hạt nhân của Mỹ ở vùng đất khô và cao cho vùng có địa hình thấp sát biển. Khi sóng thần ập đến, động cơ diesel phát điện và hệ thống cấp điện đã bị tê liệt. Do đó, khi áp dụng công nghệ chuyển giao, cần đánh giá vấn đề đặc thù của đất nước để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn.  Để nâng cao tính an toàn của công nghệ, về phương pháp tiếp cận, Nhật Bản đặt lại vấn đề kết nối giữa ngành công nghiệp và trường đại học, viện nghiên cứu để thiết lập một nền tảng hợp tác, trao đổi thông tin, ghi nhận những hiểu biết mới, đồng thời góp phần làm minh bạch và công khai hóa thông tin về năng lượng hạt nhân – yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của công chúng. Quá trình này cũng sẽ góp phần thúc đẩy việc đào tạo cho Nhật Bản những chuyên gia giỏi về công nghệ hạt nhân.  Báo cáo “R&D Năng lượng hạt nhân” của Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao và KHCN Nhật Bản (MEXT) vào năm 2016 cũng nêu quan điểm: việc hợp tác giữa các bên sẽ khai thác được thế mạnh về nghiên cứu cơ bản của các trường đại học, viện nghiên cứu. Việc tiến hành song song những nghiên cứu cơ bản và đổi mới công nghệ sẽ góp phần củng cố sự an toàn của hạt nhân, ví dụ nghiên cứu về vật lý hạt nhân, vật lý hạt, cơ học lượng tử, vũ trụ học, cơ học dòng chảy… cũng liên quan mật thiết với các hoạt động của lò phản ứng năng lượng.  Bên cạnh đó, những nội dung Nhật Bản tập trung vào nghiên cứu là chu trình nhiên liệu và mở rộng thêm R&D về các loại lò phản ứng neutron nhanh. Họ đã lựa chọn cách giải quyết mở: bất kỳ hoạt động R&D nào về lò phản ứng nhanh và xử lý chất thải hạt nhân đều phải thông qua hợp tác quốc tế. Chủ trương này đem lại cho Nhật Bản cơ hội tiếp cận với những vấn đề mới của công nghệ hạt nhân, mặt khác họ cũng rất cần sự hỗ trợ của quốc tế trong việc tháo dỡ các lò phản ứng ở Fukushima. Vào tháng 8/2013, Viện nghiên cứu quốc tế về tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân (IRID) đã được thành lập ở Nhật Bản với nhiệm vụ định hướng R&D về các phương pháp đánh giá tính toàn vẹn lâu dài của các vật liệu trong thanh nhiên liệu hạt nhân; tháo dỡ nhiên liệu đã qua sử dụng khỏi bể; các phương pháp  loại bỏ nhiên liệu bị hư hại; xử lý chất thải phóng xạ…  Ngoài sự đầu tư của chính phủ, các công ty như TEPCO, Toshiba, Hitachi-GE… cũng đều đầu tư kinh phí vào R&D – một trong những ví dụ đó là sự ra đời của Trung tâm kỹ thuật điện hạt nhân, nơi phát triển lò nước sôi và nước áp lực công suất 1700 đến 1800MW. Các thiết kế cơ bản đã được hoàn thành vào năm 2015, dự kiến sẽ triển khai xây dựng vào năm 2030.  Như vậy, trải qua những khó khăn sau 2011, hiện nay Nhật Bản đã tái khởi động và vận hành nhiều nhà máy điện hạt nhân nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng cho đất nước. Chiến lược phát triển điện năng của Nhật Bản cho thấy cấu trúc điện năng tương lai chủ yếu sẽ là nhiệt điện khí hóa lỏng, điện tái tạo và điện hạt nhân. Đây là cơ cấu phù hợp cho phát triển bền vững, vừa đáp ứng nhu cầu, vừa thúc đẩy KHCN và đổi mới sáng tạo, chống biến đổi khí hậu. Quy hoạch phát triển điện năng luôn luôn là nhiệm vụ tối quan trọng và cần có tầm nhìn, quy hoạch sớm, đi trước để hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.   Thanh Nhàn tổng hợp  TS. Trần Chí Thành (Viện NLNTVN) hiệu đính  ————  Tài liệu tham khảo chính:  1. Chương trình năng lượng lần thứ 5 của Nhật Bản:  http://www.meti.go.jp/english/press/2018/pdf/0703_002c.pdf  2. Tổng quan về năng lượng hạt nhân Nhật Bản:  http://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-g-n/japan-nuclear-power.aspx  http://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-g-n/japan-nuclear-fuel-cycle.aspx  3. Chương trình R&D về năng lượng:  www.mext.go.jp/component/a_menu/science/micro_detail/__…/1328199_05.pdf  https://www.japanfs.org/en/news/archives/news_id035624.html  4. http://vinatom.gov.vn/giao-su-jerome-isaac-friedman-nha-vat-ly-hoa-ky-dat-giai-nobel-nam-1990-den-tham-vien-nang-luong-nguyen-tu-viet-nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách thúc đẩy ĐMST ở Israel      Từ khi ra đời năm 1948 đến nay, trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và luôn phải lo lắng về chiến tranh, Israel đã vươn lên trở thành một nước công nghệ hàng đầu thế giới, với những phát minh ngày nay đã được ứng dụng phổ cập toàn cầu như tường lửa, USB. Đây hoàn toàn không phải là phép màu mà là kết quả của những chính sách đa dạng giúp khuyến khích, thúc đẩy tinh thần sáng tạo của doanh nghiệp và cộng đồng xã hội.    Vào thập kỷ 1950, nền kinh tế Israel hầu như chỉ mới có ngành nông nghiệp. Chính phủ Israel đã quyết định đầu tư nghiên cứu và phát triển, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ để biến sa mạc trở thành nơi màu mỡ, hình thành nền nông nghiệp hiện đại, đồng thời cũng chú trọng đầu tư vào công nghệ quốc phòng, khoa học hàng không, y học, v.v.   Từ thập kỷ 1960 trở đi, Chính phủ đã có phòng nghiên cứu và phát triển về công nghệ quốc phòng và nội địa, điện tử. Từ năm 1970 Israel bắt đầu phát triển về sản phẩm công nghệ trong lĩnh vực dân sự, và đến năm 1980 đã có những hợp đồng hợp tác công nghiệp hóa công nghệ cao. Lúc này, Chính phủ không còn can thiệp nhiều vào nền kinh tế.  Từ những năm 1990, khi những đoàn người Do Thái di cư từ nước Nga và Đông Âu đổ vào Israel, mang theo rất nhiều những kiến thức, bí quyết, công nghệ, chuyên môn kỹ thuật, v.v. Họ tạo ra một dòng chảy những ý tưởng mới đổ vào Israel. Từ đó, hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa đã hình thành, phát triển tạo thành điểm nhấn cho thập niên này. Chính phủ Israel đã rất nhạy cảm trước các diễn biến của thị trường, tạo điều kiện thuận lợi tối đa và cung cấp vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với ý thức rõ ràng rằng họ là một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, và đây là lúc các doanh nghiệp đang đứng trước rất nhiều cơ hội cũng như thách thức.  Đưa tinh thần đổi mới sáng tạo vào giáo dục  Một lý do quan trọng khiến người Israel có tinh thần đổi mới sáng tạo là do nền giáo dục. Triết lý đổi mới sáng tạo trong giáo dục ở Israel chú trọng vào sự kết nối giữa khoa học công nghệ và các doanh nghiệp. Trẻ em ở Israel được dạy về tinh thần sáng tạo, niềm yêu thích các hoạt động công nghệ và kinh doanh ngay từ khi còn học mẫu giáo. Chính phủ còn thành lập một trung tâm nghiên cứu giáo dục ở một thành phố nhỏ gần Tel Aviv, nơi các thầy giáo và chuyên gia tư vấn làm việc cùng nhau để tìm ra phương pháp giúp truyền đạt tinh thần sáng tạo cho trẻ em từ lúc nhỏ.  Các doanh nghiệp Israel cũng rất có ý thức trong việc đào tạo nhân viên một cách chuyên nghiệp và tích cực tài trợ cho các quỹ hỗ trợ các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm hướng nghiệp. Nhiều người tham gia tình nguyện làm việc thúc đẩy hoạt động của các trung tâm này.  Không chỉ người Israel mà cả người Hồi Giáo, Ả Rập đều được hưởng lợi ích từ nền giáo dục và các hoạt động đào tạo kể trên. Kết quả là ngày nay Israel có những kỹ sư nghiên cứu thực địa và những kỹ sư làm việc trong các khu công nghệ cao xuất xứ từ nhiều sắc tộc khác nhau. Có thể ví Israel như một thỏi nam châm sẵn sàng đón nhận sự thay đổi và hút tất cả những người đến từ mọi miền trên thế giới.  Vì vậy, sự phát triển của Israel hoàn toàn không phải là một phép màu mà là kết quả của tinh thần dân chủ, nuôi dưỡng văn hóa, chấp nhận rủi ro và được chính phủ hợp tác để hình thành một nền kinh tế trong đó tất cả các bên cùng nỗ lực phát triển vì lợi ích cộng đồng. Chúng tôi có một khẩu hiệu là dám thử, dám thay đổi.   PV lược ghi từ hội thảo “Diễn đàn Quốc tế về kinh doanh sáng tạo lần thứ nhất” tại TP HCM, tháng 5/2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách Truy cập Mở Quốc gia của Mỹ      Nhà Trắng hiện đang xem xét chính sách truy cập mở quốc gia. Văn phòng Chính sách KH&CN (Office of Science and Technology Policy OSTP) đã tổ chức một loạt các cuộc gặp với các bên tham gia đóng góp và cũng đã đưa ra quy trình Yêu cầu Thông tin – RFI (Request for Information), vốn đã được thiết lập vào tháng 5 vừa qua.      Liên minh Xuất bản học thuật và các nguồn tài nguyên hàn lâm (The Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition SPARC) đã hưởng ứng hành động này của chính phủ và hàng trăm tổ chức, cá nhân. Đa số đều bày tỏ sự ủng hộ và đồng thuận với một chính sách như vậy.  Về cơ bản, SPARC tán thành mạnh việc cập nhật chính sách hiện hành của nước Mỹ và loại bỏ giai đoạn chờ đợi 12 tháng không cần thiết để tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập tới các kết quả nghiên cứu khoa học, bao gồm cả dữ liệu, các bài báo, và mã máy tính hỗ trợ. SPARC cho rằng họ sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ các diễn biến và thúc giục chính quyền hành động để đưa nước Mỹ có những động thái phù hợp với các chính sách mở của các quốc gia trên toàn cầu.  Ở Quốc hội, SPARC tiếp tục làm việc cùng với các thành viên liên minh của cả Hạ viện và Thượng viện trong việc khai thác các cơ hội thúc đẩy nghiên cứu mở ở nước Mỹ. SPARC đã khuyến khích Ủy ban Y tế – Giáo dục – Lao động – Hưu trí Thượng viện Mỹ để đưa truy cập mở thành phần không thể thiếu trong quá trình lên kế hoạch chuẩn bị cho đất nước sẵn sàng đối phó và kiểm soát các đại dịch trong tương lai.  Rút lại phản đối của nhà xuất bản  Vào tháng 12/2019, Hiệp hội các Nhà xuất bản Mỹ – AAP (Association of American Publishers) đã gửi thư cho chính quyền phản đối chính sách mở  với sự ủng hộ của các nhà xuất bản và các tổ chức xã hội về học thuật. Sau các bình luận từ nhiều thành viên cá nhân của tổ chức này, vài trong số những người đã hủy bỏ ủng hộ của họ đối với bức thư của AAP. Đặc biệt, trong thư gửi cho Văn phòng Chính sách KH&CN, Hiệp hội Máy Tính (ACM), Hiệp hội Khoa học Tâm thần (APS) đã thể hiện “hối tiếc đã ký với liên minh” còn Ủy ban về Xuất bản của Hiệp hội Xã hội học Mỹ (ASA) “phản đối quyết định đó của ASA”.  Có thể, quan điểm của họ đã thay đổi từ khi đại dịch COVID-19 xảy ra trên toàn cầu, đặc biệt qua phân tích của giới truyền thông Mỹ, như “COVID-19 chỉ ra rằng các tạp chí khoa học cần mở” của Justin Fox trên Bloomberg News ngày 30/6/2020, “Nhà Trắng của Trump sẽ xé bỏ các tường phí? Nhiều người chờ đợi quyết định” của Jeffrey Brainard trên Science ngày 21/5/2020, “Các nhà khoa học đang làm sáng tỏ về coronavirus của Trung Quốc với tốc độ và tính mở chưa từng thấy” của Carolyn Y. Johnson trên tờ Bưu điện Washington ngày 24/1/2020, “Các nhà nghiên cứu tức giận về sự phản đối của các hiệp hội với sự dịch chuyển sang truy cập mở” của Ben Upton trên Research Professional News ngày 9/1/2020, “Tiếp cận của các Hiệp hội Khoa học ở thời điểm của sự thật” của Justin Fox trên Bloomberg News ngày 6/1/2020.  Lê Trung Nghĩa dịch  Nguồn: https://sparcopen.org/our-work/us-national-open-access-policy/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay      Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn  định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến  có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần  đây.     Quỹ Tiền tệ Quốc Tế IMF đã phân loại chính sách tỷ giá thành 8 loại, từ không có chính sách tỷ giá, tức không dùng đồng tiền bản địa (như El Salvadore) đến chính sách hoàn toàn thả nổi theo thị trường, tức Ngân hàng Trung ương can thiệp có giới hạn vào tỷ giá và không xác định mức tỷ giá mục tiêu cho một thời hạn nhất định. Việt Nam thành công trong việc hợp nhất hai tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do với hệ quả kinh tế tương đối ít đau đớn từ năm 1990 và chủ yếu thực hiện cơ chế neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh (crawling bands) với một số biến thể khác nhau trong từng thời kỳ.   Tuy nhiên, trong giai đoạn vài năm trở lại đây khi điều kiện thâm hụt thương mại lớn, cán cân tài khoản vãng lai thường xuyên thâm hụt, lạm phát gần đây thuộc loại cao nhất khu vực, thì nền kinh tế tiếp tục bị dollar hóa với tỷ lệ đáng kể. Lạm phát cao cũng làm tăng nhu cầu tích trữ của cải, hệ quả là giá vàng trong nước thường xuyên cao hơn giá vàng quốc tế dẫn đến nhập lậu vàng đáng kể. Trong bối cảnh như vậy, chính sách tỷ giá chịu nhiều sức ép và khó có thể làm hài lòng tất cả mọi người.  So với các nước trong khu vực, kể cả so với đồng Kíp của Lào và đồng Baht của Thái Lan, đồng tiền Việt Nam mất giá đáng kể. Trong thị trường nội địa tỷ giá song hành giữa tỷ giá chính thức, và tỷ giá thị trường tự do vẫn tồn tại với biên độ rộng, hẹp khác nhau như hình minh họa trên đây.  Qua biểu đồ biến động tỷ giá, chúng ta thấy tỷ giá được điều hành giật cục trong năm 2011 với mức phá giá kỷ lục 9,2% vào tháng 2.2011, góp phần làm cho lạm phát bùng phát. Nhờ có các biện pháp hành chính mạnh tay như cấm mua bán ngoại tệ tự do (có vài vụ bắt người và thu giữ ngoại tệ), cấm niêm yết giá bằng USD (phạt khách sạn Metropole Hà Nội và cả hai hãng taxi ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đơn vị 500 triệu VNĐ vì niêm yết giá bằng USD), kiểm soát thị trường vàng tự do, khoảng cách giữa hai tỷ giá có xích lại gần nhau.  Song giữa tỷ giá danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) và tỷ giá thực (REER Real Effective Exchange Rate) vẫn có khoảng cách khá rộng:  Trong khi về danh nghĩa, đồng tiền Việt Nam liên tục mất giá thì tỷ giá hối đoái thực, đồng tiền Việt Nam lại lên giá so với đồng USD do lạm phát trong nước tăng mạnh nhưng điều hành tỷ giá lại muốn neo tỷ giá trong biên độ cho trước để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Thí dụ như trong năm 2011, chỉ số lạm phát trong thị trường nội địa là 18,58%/năm (cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu tăng 7% được Quốc hội thông qua) thì đồng VNĐ chỉ mất giá 10,2% so với đồng USD, dẫn đến đồng VNĐ trên thực tế đã lên giá khoảng 8% so với đồng USD. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố mục tiêu cho năm 2012 tỷ giá tăng dưới 3% trong khi các chuyên gia ước lượng mức lạm phát sẽ khoảng 12%, tức là đồng VNĐ sẽ lại tiếp tục lên giá thêm 9% nữa trên thực tế. Điều này sẽ không khuyến khích xuất khẩu như mục tiêu chính sách kinh tế hướng tới mà khuyến khích nhập khẩu vốn đã nhập siêu ở mức cao.   Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2012, có người đã báo tin mừng là tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng lên song đó chưa hẳn là tin mừng mà còn là điều cần lo lắng. Nguyên nhân là do khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu chỉ 7,7 tỷ USD, giảm -6,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất giảm có nghĩa là sản xuất trong nước bị đình đốn, thể hiện rõ qua mức tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.  Nhìn chung, chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây. Bên cạnh đó khi tình hình lạm phát trong nền kinh tế vẫn tiếp tục ở mức cao thì tác động của neo tỷ giá đến xuất-nhập khẩu cần được làm rõ thêm.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách ứng phó và giảm nhẹ rủi ro: Cần đa dạng dựa trên tri thức địa phương      Các chính sách ứng phó rủi ro của Việt Nam hầu hết đều “phẳng” – giống nhau cho tất cả các địa phương, trái ngược với thực tế rằng, nước ta rất nhiều tộc người, sinh sống ở các khu vực rất đa dạng về điều kiện khí hậu, thời tiết. Đó là nội dung trao đổi của chúng tôi với nhà nghiên cứu dân tộc học, TS Mai Thanh Sơn, viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.      TS Mai Thanh Sơn.  Sau những thảm họa ở miền núi phía Bắc vừa rồi, hình ảnh cộng đồng các dân tộc thiểu số trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện lên đầy bị động, không thể lường trước hay tự dự báo được các rủi ro thảm họa đến với cộng đồng mình. Trong khi đó các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà dân tộc học thì lại nhấn mạnh nhiều đến khả năng chủ động của họ trong việc ứng phó với các hiểm họa tự nhiên, thông qua các tri thức bản địa. Dường như có sự mâu thuẫn ở đây chăng?  Trong bối cảnh tự nhiên chưa thay đổi nhiều, đặc biệt là sự can thiệp vào tự nhiên của con người ít, không tạo nên sự mất cân bằng sinh thái, thì khả năng dự báo các quy luật tự nhiên bằng tri thức bản địa của người dân là có thật. Họ vẫn sử dụng kinh nghiệm để dự báo thời tiết hoặc sự ổn định (lành/ dữ) của một khu đất cư trú. Người Hmông ở Bắc Hà quan sát đêm ba mươi thì biết năm nay là năm mưa sớm hay muộn, nhiều hay ít. Hay để chuẩn bị làm nhà, họ phát quang một khu đất và dẫn một con chó đến, sau khi con chó ăn xong, nằm khoanh tròn để ngủ ở chỗ nào, thì cắm chỗ đấy làm tim nhà, giường ngủ của vợ chồng sẽ đặt đúng chỗ đấy.  Nhưng hiện nay, cả bối cảnh môi trường sống của cộng đồng và tính trao truyền tiếp nối của tri thức bản địa đều đang có vấn đề.  Thứ nhất, tính quy luật đang ngày càng bị thay đổi, xáo trộn nên việc dự báo bây giờ khó hơn so với ngày xưa. Không gian sinh tồn của họ đã bị tái cấu trúc hoặc thu hẹp lại, rồi các nguồn lực (đất đai, nước, rừng…) của cộng đồng đều bị suy giảm nhiều. Giờ người dân không còn nhiều lựa chọn nữa, họ không còn tự chọn nơi ở, không còn tự do lựa chọn nơi làm rẫy dưới sự quản lý của cộng đồng… cho nên kiến thức đó khó lòng phát huy tính hữu dụng. Ví dụ, bây giờ đất đai không còn nhiều, người ta chỉ còn được miếng toen hoẻn con con, thì người Hmông vừa kể trên không thể sử dụng phương pháp ấy để chọn đất mà làm nhà nữa.  Thứ hai, những tri thức bản địa mà còn có giá trị bền vững thì lại không được trao truyền một cách đầy đủ. Giới trẻ, đặc biệt là những người thoát ly nông nghiệp thì không biết đến những câu chuyện của cha ông họ nữa.  Thứ ba, bản thân các tộc người bị xáo trộn dân cư vì họ di cư đi nhiều nơi chứ không còn sinh sống tại một khu vực như trước đây. Ví dụ người Hmông từ Lào Cai chuyển vào Đắk Lắk thì sẽ không thể mang tất cả kinh nghiệm từ Lào Cai vào đó được.    Nhà dân sập do mưa lũ ở Hà Giang hôm 25/6/2018 – một trong những hình ảnh thường thấy về người dân tộc thiểu số trong đợt lũ lụt vừa qua ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Ảnh: AFP.  Đó là chưa kể cách thức giáo dục và truyền thông đại chúng hiện nay của chúng ta đang ngày càng tạo ra sự mặc cảm, rằng chỉ có các kiến thức khoa học của nhà nước mới là đúng, chỉ những người ít học mới cần tới tri thức địa phương, những người có học thì không cần tới.  Nhưng, mặc dù có những thay đổi, xáo trộn và đứt gãy như vậy, thì vẫn còn có nhiều tri thức bản địa có giá trị bền vững và rất hữu ích cho cộng đồng chứ!  Vậy làm thế nào để những tri thức đó trở nên hữu dụng, giúp cộng đồng giảm tránh được những rủi ro thiên tai?  Tôi phải nhấn mạnh lại là những yếu tố cốt lõi mà những người già, người lớn tuổi, người gắn bó với đồng ruộng, nương rẫy vẫn trao truyền lại được, vẫn có ích chứ không phải không có ích. Ví dụ, nếu có quyền tự do lựa chọn nơi để sinh sống, lập làng, thì các dân tộc thiểu số bao giờ cũng chọn không gian để lập làng phải đáp ứng các điều kiện cơ bản cho các phương thức sinh kế, an toàn trước các nguy cơ rủi ro thiên tai và không có tranh chấp. Từ quan sát của mình, tôi thấy rằng, những làng có lịch sử vài ba trăm năm hầu hết là bền vững, bởi vì nó đáp ứng được những tiêu chí lựa chọn của họ. Còn những ngôi làng bị lũ quét, thì phần lớn là làng mới thành lập sau này – khi mà họ không có nhiều lựa chọn. Hay kể cả người Hmông, người Dao vào Tây Nguyên sinh sống, thì bên cạnh việc họ phải học những tri thức mới, thì có những tri thức cũ vẫn phát huy giá trị, ví dụ như kinh nghiệm canh tác theo đường đồng mức mang vào làm ở Tây Nguyên thì rất hiệu quả, tiết kiệm được nước tưới, tạo ra những mặt bằng tương đối để canh tác thuận tiện. Vấn đề là cách xây dựng và thực thi chính sách có tạo điều kiện cho các tri thức ấy phát huy giá trị của nó hay không.      Kể cả những cộng đồng được chính sách phủ đến, hỗ trợ nhiều theo kiểu cho không vẫn bị [chịu rủi ro] như thường, bởi chính sách ấy không căn cứ trên nhu cầu của người dân, không tính đến tri thức bản địa, không tính đến sự phối hợp để các bên cùng tham gia mà – như anh Oscar Salemink đã nói, đó là một thứ chính sách “gia trưởng nhà nước”.      Tôi được biết là các cơ quan nghiên cứu vẫn điều tra và đưa ra bản đồ cảnh báo thiên tai. Họ tạo điều kiện cho các tri thức bản địa tham gia vào quá trình đó như thế nào?  Mặc dù đánh giá tổng thể thì có, bản đồ thiên tai có, kịch bản biến đổi khí hậu thì có, nhưng nó mới ở tầm quốc gia, là những khung rất chung. Trong khi đó, câu chuyện của chúng ta cần phải gắn với những con người cụ thể, tộc người cụ thể, thôn làng cụ thể…Kiến thức bản địa có một đặc điểm là không thể dùng chung cho cả dân tộc đó. Mỗi một tộc người, một vùng đất thì có một đặc điểm riêng, thổ nhưỡng riêng, địa mạo riêng, thủy văn riêng… kiến thức của các tộc người, cách ứng phó với tự nhiên phải gắn với vùng đất đấy. Dân tộc Kinh ở miền Bắc khác với Kinh ở miền Nam và miền Trung. Câu “cơn đằng đông vừa trông vừa chạy” chỉ đúng với miền đồng bằng Bắc Bộ thôi, còn trong Nam Bộ thì không đúng, vì mưa ở đây từ vịnh Thái Lan mưa sang.  Để làm được điều đó, thứ nhất là các nhà khoa học cần phải rà soát lại toàn bộ quỹ đất và quỹ rừng, thứ hai là rà soát điểm cư trú của các cộng đồng. Cả đất nước có khoảng sáu nghìn xã, mỗi xã 5 – 7 làng thôi, trong đó trước mắt phải tập trung rà soát những địa điểm nhiều nguy cơ nhất như các làng bãi ngang ở miền xuôi, làng có chế độ thủy văn phức tạp ở miền núi. Như thế cũng không hề nhiều. Cái này Trung Quốc làm lâu rồi, từ năm 1985 – 1990 họ đã đi đánh giá từng làng, nhưng đến bây giờ mình vẫn không làm được điều ấy, trong khi cả đội ngũ cán bộ khoa học thì vẫn ngồi trong phòng máy lạnh là chính. Khi chúng tôi đi Quảng Bình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu vào năm 2011, cán bộ ở đó đã nói “cả Quảng Bình này có bao nhiêu làng có nguy cơ đâu, nhưng không sao biến cái ý tưởng về chống biến đổi khí hậu thành hành động hiệu quả được. Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia thì có, nhưng xây dựng cụ thể thành kịch bản cho từng làng thì không”.  Cũng có ý kiến cho rằng khi xảy ra thiên tai, những cộng đồng không được chính sách bao phủ đến thì sẽ chịu thiệt hại nhiều, còn những cộng đồng có đầy đủ chính sách hỗ trợ này kia thì sẽ không chịu ảnh hưởng nhiều?  Không đúng! Kể cả những cộng đồng được chính sách phủ đến, hỗ trợ nhiều theo kiểu cho không vẫn bị [chịu rủi ro] như thường, bởi chính sách ấy không căn cứ trên nhu cầu của người dân, không tính đến tri thức bản địa, không tính đến sự phối hợp để các bên cùng tham gia mà – như anh Oscar Salemink đã nói, đó là một thứ chính sách “gia trưởng nhà nước”. Do đó, có nhiều dự án nhưng nhà trôi vẫn cứ trôi. Ví dụ, tôi đi khảo sát nhiều vùng miền núi, có những vùng được thụ hưởng chính sách 167, 135, nhưng chưa kịp làm xong nhà nó đã trôi đi rồi, rồi đối tượng đáng được thụ hưởng lại không được cho. Như ở Cát Thịnh, Văn Chấn, Yên Bái, họ đã có chính sách rời những hộ dân ở ven suối, nhưng sau thảm họa lũ cuốn trôi nhà năm 2009 đó thì tới 5 năm sau, những hộ dân ở trong phạm vi có nguy cơ lũ cuốn vẫn cứ ở đó, không đi đâu cả. Vấn đề ở đây là dù có chính sách, nhưng người dân không có quyền tham gia, quyền lựa chọn và họ sẽ không di dời.  Hiện nay đã có dự án nào dựa vào tri thức của người dân để giảm thiểu rủi ro thiên tai chưa, thưa ông?  Ở một số địa phương, đã có những nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn như tưới nhỏ giọt, trồng cây chắn cát, giữ muống biển… nhưng không lớn. Các nhà khoa học đã đưa ra khuyến nghị rõ ràng về việc này. Sau này, các nghiên cứu đã được cụ thể hóa thành những bộ sổ tay hướng dẫn, kiểu cẩm nang “Xác định và sử dụng kiến thức bản địa trong thích ứng với biến đối khí hậu dựa vào cộng đồng”. Khuyến nghị của giới khoa học là các chương trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương cũng như các chương trình phát triển, xóa đói giảm nghèo (Chương trình 135, Nông thôn mới, chương trình hỗ trợ vay vốn của Ngân hàng chính sách, chương trình dạy nghề) khác cần có hỗ trợ cụ thể các sáng kiến thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng sử dụng kiến thức bản địa.  Nếu muốn nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển nói chung, các kịch bản liên quan đến giảm nhẹ và phòng ngừa thiên tai nói riêng (lưu ý là chi tiết đến từng thôn làng), thì phải lưu ý đến đặc điểm là tri thức bản địa có tính đặc thù mà những đối tượng đặc thù sẽ am tường một số kiến thức hơn những đối tượng khác: 1) Theo khu vực sinh sống…. Ví dụ như các gia đình sống gần sông gần suối thì biết mưa lũ tới mức nào, xoáy nước ra làm sao, lúc nào cơn lũ ở mức đỉnh; trong khi, cũng trong một làng đó, những người ở xa tít trên đồi không thể biết tới điều đó được; 2) Theo giới: chẳng hạn, ở người Dao, kiến thức của nam giới về cây thuốc thì không thể tốt bằng phụ nữ , ngược lại kiến thức về đi rừng, khai thác lâm sản của nam giới tốt hơn nhiều so với nữ; 3) Theo lớp tuổi; 4) Theo giới chức xã hội trong làng (người thuộc tầng lớp tinh hoa của làng bản sẽ nắm nhiều tri thức hơn những người khác)…  Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!  Bảo Như thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách và trách nhiệm với nông dân và nông thôn      Đã đến lúc chúng ta phải đánh giá lại một cách thật khoa học và thực tiễn những gì thuộc truyền thống của nền “văn minh lúa nước” phải phát huy và những gì cần phải thay đổi một cách căn bản, triệt để vì nền nông nghiệp của chúng ta là một nền nông nghiệp sử dụng hóa chất và tiêu dùng nước vô cùng lớn, trong khi môi trường sinh thái ngày càng tệ và nước kể cả nước mặt cũng như nước trong lòng đất của chúng ta không phải là vô hạn, nếu không nói rằng đã bắt đầu khan hiếm.       Ngoại trừ thủy lợi và giao thông nông thôn ra, bản thân nền nông nghiệp nước ta trong hàng chục năm qua về cơ bản chưa có bước chuyển biến nào đáng kể, nhất là các tỉnh miền Bắc. Nếu nói “nhất nước” thì chưa thể yên tâm rằng đã giải quyết xong hay cơ bản bảo đảm được vấn đề úng và hạn như là một căn bệnh kinh niên của nền nông nghiệp lúa nước. Mặt khác, mô hình thủy lợi mà nền nông nghiệp nước ta áp dụng là mô hình lạc hậu nhất, hao tốn nước mặt nhiều nhất. Trong khi nhân loại đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nước ngọt với hằng hà sa số những lời khuyến cáo từ Liên hiệp quốc thì chúng ta, hình như vẫn đinh ninh rằng “nhiều như nước, rẻ như nước”, không hề có một chút lo lắng nào về nguồn nước đang cạn kiệt một cách nhanh chóng. “Nhì phân” thì liệu đã hơn gì về lượng? Còn chất thì chắc chắn ngày càng kém hơn vì hóa học là chủ yếu. Phân bón sinh học và hữu cơ nói cho có thôi chứ không mấy ai có thể đầu tư được nữa, trừ một số rất ít rau, hoa, quả trong các vườn của các hộ gia đình theo kiểu tự cung tự cấp. “Tam cần”? Hiện tượng một bộ phận nông dân “trả ruộng” là con số nhỏ, nhưng nói rằng nông dân đang hết lòng hết sức một nắng hai sương gắn bó với ruộng đồng cũng không còn được như xưa. Vì sao? Không phải vì nông dân bây giờ “lười nhác” hơn thời mới thực hiện cơ chế khoán mà chủ yếu là lợi ích của họ trên mảnh đất được giao đã kém hơn trước đây. Thuế nông nghiệp tuy đã được bãi bỏ, nhưng trên lưng người nông dân, mà rốt cuộc quy về thửa ruộng được giao khoán còn rất nhiều khoản phí như một loại ký sinh trùng ăn bám ngày càng nhiều, càng nặng mà nhiều phương tiện truyền thông đã nêu thì người nông dân càng đầu tư nhiều công sức và chi phí càng lỗ.   Là một nước mỗi năm xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, mang về 4 tỷ USD, nhưng thu nhập của người nông dân bây giờ có hơn gì chăng? Theo báo cáo điều tra năm 2012 ở 12 tỉnh thành phố của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW thì chỉ khoảng 200 USD/người/năm ở vùng trồng lúa. Những năm 1980, lúc nước ta còn phải xin viện trợ của các nước XHCN trên dưới 3 triệu tấn lương thực/năm, bình quân GDP/người của cả nước chỉ có 400 USD thì khu vực nông thôn cũng đã ở mức 200 USD. Sau hơn 30 năm đổi mới, nay theo số liệu chính thức, bình quân đầu người cả nước 1.600 USD mà nông thôn vẫn chỉ 200-300 USD thì chúng ta nói gì với nông dân? Họ có đáng “cần” hơn nữa không? Không biết có thể tin cậy vào số liệu của thời kỳ nào, nhưng về đại thể thì có thể khẳng định thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn nếu không tương đương những năm 80 thì mức tăng thêm cũng không đáng là bao. Nhân tố thứ tư là Giống thì không biết nên đánh giá ra sao. Nếu nói chúng ta đang phát triển theo chỉ tiêu số lượng thì năng suất các loại cây con cũng không hơn ai. Còn chất lượng là đại vấn đề của nền nông nghiệp. Không lúa nước mà hầu hết các giống cây trồng khác, gần như cũng chẳng được quan tâm.           Việc Chính phủ giao cho VFA “điều hành xuất  khẩu gạo” thì có nghĩa Bộ Nông nghiệp và Chính phủ đã khẳng định cơ chế  độc quyền trong xuất khẩu gạo như thời chưa đổi mới. Việc quay lại độc  quyền như thế thì nông dân được lợi hay các TCT nhà nước được lợi là  điều đã rõ.         Khi xưa, ở những vùng khô hạn, nhất là các tỉnh Trung bộ và vùng ven biển, vùng núi và trung du, có rất nhiều loại lúa khác nhau không cần nhiều nước. Ngoài lúa nương của vùng núi, còn có giống lúa cấy “vùi” hay “phui” của vùng Nghệ Tĩnh cho đến Quảng Bình. Khi cấy không có nước, nhưng cứ gieo hay cấy xuống đó, rồi chờ trước sau Rằm tháng Bảy âm lịch, thể nào cũng có mưa và nhìn cánh đồng lúa tưởng đã chết hết, nhưng sau mưa là lúa tốt rất nhanh. Vùng ven biển, đất phèn hay “nước lợ” đều có giống lúa riêng. Bằng tư duy lúa nước, chúng ta đã cố làm thủy lợi cho tất cả các vùng và đương nhiên, tính bấp bênh là không tránh khỏi cho dù chúng ta bỏ ra bao nhiêu tiền đầu tư cũng thế thôi.   Chúng ta luôn nói đến ưu thế của một nền nông nghiệp đa dạng sinh học và đa vùng sinh thái, nhưng rốt cuộc đã quy về sự đơn điệu, đơn giản là lúa nước. Khoai sắn và hàng chục cây lương thực khác vẫn như thời cổ đã có thế nào cứ nguyên như thế, kể cả giống và công nghệ chế biến, bảo quản. Đây là điều khác xa giữa chúng ta với các nước nông nghiệp cạnh ta như Đài Loan hoặc Thái Lan. Khi tôi hỏi một nhà khoa học nông nghiệp Đài Loan vì sao năng suất lúa và các loại cây trồng của Đài Loan thấp quá vậy thì ông ta đã trả lời: Khác với Đại lục và các bạn Việt Nam, nền nông nghiệp của chúng tôi chỉ quan tâm đến chất lượng mà không bận tâm nhiều đến số lượng như vài chục năm trước đây. Bây giờ mà không làm ra sản phẩm chất lượng cao và an toàn thì không bán được cho ai cả. Vẫn là nền văn minh lúa nước ấy thôi, mà họ lại ở giữa biển, khó khăn hơn chúng ta nhiều, nhưng họ không ngồi chờ phương Tây nghĩ giúp mà đã chịu nghĩ, chịu tìm những lối đi riêng cho bản thân nền nông nghiệp của họ, đặc biệt là giống các lại cây ăn trái và hải sản nuôi trồng.   ***  Vì sao gạo của Thái Lan luôn luôn bán giá cao hơn gạo VN? Theo tôi có 3 lý do: Một là, họ đã xuất khẩu gạo từ thủa chúng ta còn rất đói và đương nhiên, họ thành thạo thị trường, có thương hiệu ổn định đối với khách hàng, đặc biệt là khách hàng nhà giàu. Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan chẳng hề có tý ưu việt gì về bao cấp của nhà nước cả, tự họ tìm kiếm thị trường rồi tự họ bơi trong cơ chế thị trường ấy. Không phải lúc nào họ cũng lãi, nhưng chữ tín cả với người tiêu dùng ở ngoài nước và với người nông dân trồng lúa trong nước thì họ phải giữ vì nếu không, trước hết họ mất thị trường trong nước mà mất thị trường trong nước thì lấy gì xuất khẩu? Ở ta, hai Tổng Công ty (TCT) I và II liệu đã bao giờ lo mất thị trường trong nước? Họ có quyền mua gạo giá thấp và không có gì ràng buộc họ phải tìm bằng được khách hàng tốt để bán giá cao. Hai là, chất lượng gạo, bao gồm cả giống và công nghệ chế biến. Khi VN ra thị trường gạo thì những thị trường mà khách tiêu dùng có thu nhập cao như các nước phương Tây hay Trung Đông cơ bản đã có thương hiệu gạo Thái, gạo Nhật chiếm lĩnh. Khác với thói quen tiêu dùng gạo của người Việt, họ không bận tâm với chất lượng gạo dẻo, thơm… như “gu” người Việt, họ quen với gạo hạt dài của Thái và đánh bóng, nhặt sạch, trắng, đều tăm tắp “như các hạt nhựa”. Đó mới là gạo tốt nhất đối với người tiêu dùng ở các thị trường này. Mất nhiều năm, chúng ta không nhập được giống lúa có độ dài hạt gạo từ 6-6,2 mm như gạo loại I của Thái Lan nên phải cam chịu bán giá thấp sang các thị trường nghèo hơn. Những năm gần đây, ta có nhập được giống lúa hạt dài phù hợp với một số vùng ĐBSCL, nhưng chế biến chúng ta vẫn thua Thái nên dù cùng một loại gạo vẫn thường khó cạnh tranh về giá với Thái Lan. Ba là, và có lẽ là nguyên nhân quan trọng nhất, đó là thói độc quyền dẫn tới vô trách nhiệm của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nhà nước.         Không thể đặt trách nhiệm bảo đảm an ninh  lương thực cho cả quốc gia này lên cái vai gầy của người nông dân được.  Nếu biết vấn đề an ninh lương thực cho quốc gia là một vấn đề có tầm  chiến lược thì trách nhiệm và chính sách đối với người nông dân và nông  thôn phải rất khác.        Trước năm 1997, tình hình xuất khẩu gạo ở ĐBSCL về cơ bản như tình hình hiện nay. Thủ tướng năm nào cũng phải lo mua lúa tạm trữ, xử lý lúa “chạy lũ” cho nông dân mà không mang lại lợi ích bao nhiêu cho người dân ĐBSCL. Lúc đó có 40 công ty xuất khẩu gạo quốc doanh của Tổng Công ty lương thực I và II độc quyền, còn tư nhân chỉ là các chành vựa mua gom cho các công ty quốc doanh là chủ yếu. Hạn ngạch xuất khẩu gạo được cấp cho 2 TCT cũng như một thứ giấy tờ có giá 2 USD/tấn. Vì thế một số công ty quốc doanh TW, đã bán quota cho các doanh nghiệp khác cũng đủ kiếm lời mà không cần xuất khẩu.   Trước tình hình này Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ra ba quyết định hết sức quan trọng: 1/ Chính phủ nắm giữ hạn mức xuất khẩu hằng năm, lúc đó là 4 triệu tấn/năm. Khi các hợp đồng xuất khẩu gạo lên đến gần 4 triệu tấn thì Thủ tướng sẽ quyết định ngưng ký tiếp các hợp đồng, bất kể là giá cao như thế nào. Việc xuất thêm bao nhiêu là tùy thuộc vào thực tế số gạo có thể cho phép xuất do Thủ tướng quyết định. Trên cơ sở này, xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu gạo đã tồn tại nhiều năm trước đó, cũng đồng thời chấm dứt một nguồn gốc tiêu cực mua bán hạn ngạch, hối lộ đút lót cho các cơ quan có thẩm quyền và cho cả 2 TCT để có hạn ngạch xuất khẩu gạo, 2/ Thủ tướng Võ Văn Kiệt khẳng định tại hội nghị 9 tỉnh ĐBSCL lúc đó rằng nông nghiệp là lĩnh vực gắn bó rất chặt chẽ với sự lãnh đạo chỉ đạo của địa phương. Không lý gì nắng hạn, bão lụt, sâu rầy… thì chính quyền địa phương và cơ sở lo toan ngược xuôi mà đến lúc làm ra hạt gạo xuất khẩu thì địa phương không có bất cứ quyền và lợi ích gì. Còn hai Tổng công ty chẳng làm gì, đóng góp gì vào quá trình sản xuất lại là người có quyền và lợi ích to nhất trong việc xuất khẩu gạo? Đây là điều vô lý. Chính vì thế, Thủ tướng quyết định giao quyền xuất khẩu phần lớn gạo cho các tỉnh ĐBSCL (khoảng 60% tổng lượng gạo xuất khẩu), hai TCT lương thực I và II chỉ còn khoảng 40%. 3/ Đây là điều rất mới mẻ và thực tế đã tạo ra một sức cạnh tranh mới, động lực mới cho thị trường lúa gạo, đó là cho phép và tạo điều kiện để những doanh nghiệp tư nhân có đủ điều kiện được phép tìm thị trường và trực tiếp xuất khẩu gạo. Ngay từ năm đầu tiên đã có gần 40 doanh nghiệp tư nhân cùng xuất khẩu gạo. Thật ra, một phần lớn trong số họ là những công ty hoặc chành vựa đã có nhiều năm gắn bó với các chủ gạo lớn ở Sài gòn – Chợ lớn trên lĩnh vực xuất khẩu gạo trước năm 1975, nên họ còn có “khách hàng quen” và kinh nghiệm nhất định trên thương trường quốc tế. Nhờ đó, các tỉnh ĐBSCL không hề bị lúng túng trước quyết định này của Thủ tướng mà ngược lại, đã tạo được bước chuyển biến mới cho xuất khẩu lúa gạo ngay trong những năm sau đó.   Hiện nay là có thêm Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) tham gia xuất khẩu gạo, nhưng thực chất thì VFA cũng do hai Tổng công ty làm chủ và chi phối. Hai TCT này chiếm trên dưới 70% số lượng gạo xuất khẩu và họ còn có đặc quyền ra nước ngoài ký kết các hợp đồng lớn cấp Chính phủ rồi về “chia” cho các doanh nghiệp trong nước, mà đa phần các doanh nghiệp ấy cũng là thành viên của TCT. Nói khác đi thì đây lại là một “Siêu Tổng công ty nhà nước”, còn độc quyền cao hơn thời những năm 90 của thế kỷ trước. Việc Chính phủ giao cho VFA “điều hành xuất khẩu gạo” thì có nghĩa Bộ Nông nghiệp và Chính phủ đã khẳng định cơ chế độc quyền trong xuất khẩu gạo như thời chưa đổi mới. Việc quay lại độc quyền như thế thì nông dân được lợi hay các TCT nhà nước được lợi là điều đã rõ. Và những khó khăn, tiêu cực trong mua bán, xuất khẩu gạo như hiện nay cũng không phải là điều gì quá lạ lùng.   ***  Nếu quan niệm rằng “bớt diện tích trồng lúa” (tức tái cấu trúc theo cách gọi của một số người) là một trong những giải pháp cơ bản để giải quyết các khó khăn trong nông nghiệp hiện nay thì e rằng kỳ vọng đó hơi quá, nếu không nói rằng đó là ảo tưởng một khi toàn bộ nền tảng chính sách cứ lặp đi lặp lại tình trạng quốc doanh là chủ đạo và nắm giữ độc quyền; các hợp tác xã là tổ chức kinh tế tất yếu bảo đảm cho nông nghiệp phát triển theo định hướng XHCN; đất đai là sở hữu toàn dân, lại chỉ giao khoán theo thời hạn ngắn mà “người giao khoán” ngoài việc tận thu hàng chục khoản phí khác nhau thì không có bất cứ trách nhiệm đáng kể nào đối với quá trình đầu tư sản xuất của các hộ nông dân… Ai đó đã nói đúng, không thể đặt trách nhiệm bảo đảm an ninh lương thực cho cả quốc gia này lên cái vai gầy của người nông dân được. Nếu biết vấn đề an ninh lương thực cho quốc gia là một vấn đề có tầm chiến lược thì trách nhiệm và chính sách đối với người nông dân và nông thôn phải rất khác.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉnh sửa gene có thể “chặn sự lây truyền của virus” trong tế bào người      Các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR để ngăn chặn một cách thành công sự lây truyền của virus SARS-CoV-2 lên tế bào người, theo một kết quả nghiên cứu mới. Điều này hứa hẹn có thể đưa con người tiến gần đến con đường điều trị COVID-19.      Sharon Lewin của Viện nghiên cứu Nhiễm trùng và miễn dịch Peter Doherty (Australia)   Công trình “Reprogrammed CRISPR-Cas13b suppresses SARS-CoV-2 replication and circumvents its mutational escape through mismatch tolerance” được xuất bản trên tạp chí Nature Communications1.  Các nhà nghiên cứu ở Australia cho rằng công cụ này có thể giúp chống lại một cách hiệu quả những lây truyền của virus trong các thí nghiệm, qua đó tăng thêm hi vọng là có thể sớm bắt tay vào thử nghiệm lâm sàng phương pháp này trên động vật.  CRISPR, công nghệ cho phép các nhà khoa học thay đổi trình tự DNA và biến đổi chức năng của gene, đã chứng tỏ được khả năng loại trừ được sự mã hóa di truyền dẫn đến sự phát triển bệnh ung thư ở trẻ em. Nhóm nghiên cứu này đã sử dụng một enzyme là CRISPR-Cas13b liên kết với trình tự RNA trên coronavirus chủng mới và khiến phân rã hệ gene cần thiết để nó có thể sao chép trong các tế bào người.  Tác giả liên hệ Sharon Lewin của Viện nghiên cứu Nhiễm trùng và miễn dịch Peter Doherty (Australia) nói với AFP là nhóm nghiên cứu đã thiết kế công cụ CRISPR để ghi nhận được SARS-CoV-2, virus gây ra đại dịch COVID-19. “Một khi virus được ghi nhận, enzyme CRISPR hoạt động và phân nhỏ virus ra”, cô cho biết.  “Chúng tôi hướng đến nhiều phần khác nhau của virus – những phần rất bền vững và không thay đổi cung như những phần vô cùng dễ thay đổi – và tất cả đều rất hiệu quả trong việc phân nhỏ con virus này”.  Kỹ thuật này cũng đã thành công trong việc chặn sao chép virus trong các mẫu “biến thể đáng lo ngại” như Alpha. Dẫu có nhiều loại vaccine COVID-19 đã xuất hiện trên thị trường, các chọn lựa về phương pháp điều trị hiện có vẫn còn hiếm hoi và chỉ hiệu quả ở mức độ hạn chế.    “Cần những phương pháp điều trị tốt hơn”  Lewin cho rằng việc sử dụng kỹ thuật CRISPR một cách rộng rãi trong y học có thể “mất nhiều năm chứ không phải vài tháng” nhưng cô cũng nhấn mạnh là công cụ này vẫn có thể chứng minh sự hữu dụng trong việc giải quyết đại dịch COVID-19. “Chúng ta vẫn cần những phương pháp điều trị tốt hơn cho mọi người đang nằm viện vì COVID”, Lewin nói. “Sự lựa chọn hiện nay của chúng ta vẫn đang bị giới hạn và cách tốt nhất trong đó để giảm bớt độ rủi ro chỉ hiệu quả 30%”.  Lewin cũng cho biết thêm, phương pháp điều trị lý tưởng có thể là một cách chông virus đơn giản, thực hiện qua đường miệng mà các bệnh nhân có thể nhận được sớm sau khi họ được phát hiện dương tính với COVID-19.  Điều này có thể giúp họ khỏi lâm vào tình trạng nặng hơn, và giúp làm giảm áp lực lên bệnh viện và các hệ thống chăm sóc sức khỏe.  “Cách tiếp cận này – xét nghiệm và điều trị – có thể chỉ khả thi nếu chúng ta có một cách chống virus rẻ tiền và không gây độc cho bệnh nhân. Đó là những gì chúng tôi hi vọng đạt được vào một ngày nào đó với cách tiếp cận sử dụng những chiếc kéo di truyền này”, Lewin nói.  Đồng tác giả Mohamed Fareh từ Trung tâm ung thư Peter MacCallum nói, lợi ích khác của nghiên cứu này là tiềm năng của nó trong việc ứng dụng vào điều trị nhiều bệnh khác do virus gây ra.  “Không giống như các loại thuốc chống virus thông thường, sức mạnh của công cụ này nằm trong sự linh hoạt và có khả năng thích ứng trong thiết kế của nó, có thể giúp tạo ra một loại thuốc phù hợp để chống lại các virus chứa vô số mầm bệnh bao gồm cúm, Ebola, và có thể là cả HIV”, anh nói.  Thanh  Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-gene-blocks-virus-transmission-human.html  https://www.theaustralian.com.au/science/gene-editing-breakthrough-stops-coronavirus-from-replicating-in-cells/news-story/587d129c41c83910c608bfa95de0f218  —————  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-24577-9       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉnh sửa gene có thể giúp tăng cường an ninh lương thực      Một dự thảo luật mới đề xuất lên Thượng viện Vương quốc Anh đang hướng tới mục tiêu tăng tốc các các sản phẩm chỉnh sửa gene.    Cố vấn khoa học của Bộ Môi trường Anh cho biết, chỉnh sửa gene có thể tăng cường đáng kể tình trạng an ninh lương thực toàn cầu và giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học cùng thuốc trừ sâu trong thập niên tới. Phát biểu trước khi giới thiệu một dự luật về công nghệ di truyền trước Thượng viện vào ngày 1/6 vừa qua, GS. Gideon Henderson cho biết luật này nhằm tạo ra một khung pháp lý đơn giản hơn để đẩy nhanh sự phát triển và thương mại hóa các sản phẩm chỉnh sửa gene, bằng cách cho phép chúng được đối xử khác với các sản phẩm biến đổi gen (GMO) vốn đang phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt. “Chúng tôi dự đoán, [dự luật] sẽ cho phép các loại cây trồng nhân giống chính xác được thông qua hệ thống quy định nhanh hơn nhiều, khoảng tầm 1 năm, so với thời gian 10 năm như hiện tại”, ông cho biết.  Điều này có thể mang đến nhiều lợi ích, từ việc trồng trọt các loại cây có khả năng kháng lại khủng hoảng khí hậu, sâu, bệnh, cho đến tăng năng suất cây trồng, góp phần chống lại nạn đói toàn cầu. Nó cũng có thể dùng để tạo ra những loại cây trồng bổ dưỡng hơn, chẳng hạn như cà chua giàu vitamin D.  Dự luật cũng sẽ cho phép những thay đổi tương tự cho vật nuôi một khi có các hệ thống quy định để bảo vệ phúc lợi động vật, ví dụ như ngăn chặn việc tạo ra các động vật tăng trọng quá nhanh đến mức không đứng được.   Điều quan trọng là nó phân biệt giữa “biến đổi gene” (genetic modification), tức liên quan đến việc đưa gene của loài khác vào, và “nhân giống chính xác” (precision breeding) để tạo ra những đặc điểm mong muốn. Loại thứ hai sẽ sử dụng các biện pháp chỉnh sửa gene để thực hiện những thay đổi bắt chước quá trình nhân giống chọn lọc, chỉ chính xác và nhanh hơn so với chăn nuôi truyền thống.   Tuy nhiên, các nhóm môi trường đã bác bỏ mọi phân biệt giữa hai loại cây này bởi họ cho là đây chỉ là một hình thức tuyên truyền. Bà Kierra Box, tổ chức Friends of the Earth, cho biết: “Chỉnh sửa gene chính là biến đổi gene dưới một cái tên khác. Nó vẫn tập trung vào việc thay đổi mã di truyền của động, thực vật để đối phó với các vấn đề do thoái hóa đất, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và thâm canh”.  Việc ghi nhãn thực phẩm cũng đặt ra một vấn đề khác. Giả sử dự luật được thông qua, nó sẽ chỉ áp dụng ở Anh. Điều này có thể tạo ra xung đột với chính phủ Scotland và chính phủ xứ Wales – những nơi đang duy trì lệnh cấm sản xuất và kinh doanh nông sản GMO.  Bà Liz O’Neill, người dẫn dắt nhóm chiến dịch GM Freeze, đã nêu lên mối lo ngại dự luật sẽ dẫn đến việc loại bỏ các nhãn hàng cho phép người tiêu dùng biết và lựa chọn những gì họ mua và tiêu thụ. Theo GS. Henderson, [dự luật] không có ý định đưa ra một hệ thống ghi nhãn cho những sản phẩm chỉnh sửa gene.  Trong khi đó, Hiệp hội Đất đai thất vọng khi thấy chính phủ ưu tiên các giải pháp công nghệ cho cuộc khủng hoảng thực phẩm hơn những chiến lược nhắm tới chế độ ăn uống không lành mạnh, thiếu đa dạng cây trồng, trang trại quá tải vật nuôi và suy giảm mạnh của côn trùng có lợi.  Một số nhà khoa học đồng ý là chỉnh sửa gene chỉ đem lại một phần giải pháp cho các vấn đề mà xã hội đang phải đối mặt. “Chỉnh sửa gene có tiềm năng trung hạn để giải quyết những thách thức về sản xuất thực phẩm và môi trường”, GS. David Rose, nhà nghiên cứu hệ thống nông nghiệp bền vững tại Đại học Cranfield cho biết, “Tuy nhiên, cũng có những lo ngại hợp lý về chỉnh sửa gene có tiềm năng làm trầm trọng thêm sự bất cân đối quyền lực trong chuỗi cung ứng thực phẩm, những lo ngại về đạo đức, đặc biệt là cách đối đãi với động vật, và khả năng sẽ thúc đẩy các hoạt động thâm canh mạnh hơn, từ đó gây hại cho môi trường”.□  Trang Linh dịch  (Theo The Guardian)  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2022/may/25/gene-editing-could-increase-food-security-uk-adviser-says    Author                .        
__label__tiasang Chỉnh sửa gene tạo giống lúa chịu nhiệt, sản lượng cao      Một nhóm các nhà di truyền học Trung Quốc đã tạo ra một giống lúa có khả năng tự chữa lành tổn hại do nhiệt gây ra ở cấp độ tế bào nhanh hơn, qua đó giúp duy trì năng suất cây trồng trong bối cảnh nóng lên toàn cầu khiến những cơn sóng nhiệt đang ngày càng phổ biến hơn.      Nguồn ảnh: RK1979/SHUTTERSTOCK.COM  “Đây là một tin thú vị”, Maria Ermakova, nhà nghiên cứu về cải thiện quá trình quang hợp ở thực vật, Đại học Quốc gia Australia, cho biết. Việc chỉnh sửa gene để cải thiện quá trình quang hợp đã được thực hiện trên 3 loại thực vật – hình mẫu phổ biến nhất là cây mù tạt, còn lại là thuốc lá và lúa, từ đó cho thấy bất kỳ loại cây trồng nào cũng có thể chỉnh sửa. Công trình này đã đi ngược lại với hiểu biết thông thường của các nhà khoa học về quang hợp, một số nhà sinh học thực vật thắc mắc các gene được thêm vào như thế nào để có thể đạt được lợi ích trên. Peter Nixon, một nhà hóa sinh học thực vật ở Đại học Hoàng gia London, dự đoán nghiên cứu này sẽ “thu hút đáng kể sự chú ý của giới nghiên cứu thực vật”.  Khi thực vật tiếp xúc với ánh sáng, một phức hợp protein gọi là photosystem II (PSII) sẽ cung cấp năng lượng cho các electron, từ đó thúc đẩy quá trình quang hợp. Tuy nhiên, nhiệt độ hoặc ánh sáng mạnh có thể phá hủy một protein quan trọng là D1, làm gián đoạn hoạt động của PSII cho đến khi cây tự chèn thêm một protein D1 mới. Quá trình này sẽ diễn ra nhanh chóng hơn nếu thực vật tạo ra nhiều protein D1. Phần lớn các nhà sinh học cho rằng protein D1 được tạo ra tại lục lạp, cơ quan thực hiện chức năng quang hợp có DNA riêng, trong đó có một gene của D1. Tuy nhiên, bộ gene của lục lạp khó chỉnh sửa hơn nhiều so với các gene trong nhân tế bào thực vật.    Nhóm nghiên cứu do nhà sinh học phân tử thực vật Fang Qing Guo ở Viện Khoa học Trung Quốc dẫn dắt cho rằng, protein D1 do một gene trong nhân tế bào tạo ra cũng có hiệu quả tương tự – thậm chí hiệu quả hơn, vì sự tổng hợp trong tế bào chất thay vì lục lạp sẽ được bảo vệ khỏi các “sản phẩm phụ” của phản ứng quang hợp. Họ đã thử nghiệm ý tưởng này trên loài cây thuộc họ mù tạt Arabidopsis thaliana. Họ đã lấy gene D1 trong lục lạp của cây, ghép với một đoạn DNA đã trải qua áp lực nhiệt, sau đó chuyển đến nhân tế bào.  Họ nhận thấy, những cây Arabidopsis trưởng thành từ hạt giống đã qua chỉnh sửa có thể chịu được nhiệt độ rất cao trong phòng thí nghiệm: 8 tiếng rưỡi ở nhiệt độ 41°C (điểm chết của phần lớn các loài thực vật). Những cây thuốc lá và lúa được chỉnh sửa bằng gene của cây Arabidopsis cũng cho hiệu quả tương tự. Quá trình quang hợp và sinh trưởng của 3 loại cây trên cũng suy giảm ít hơn so với các cây đối chứng còn sống. Năm 2017, khi nhiệt độ ở Thượng Hải vượt mức 36°C trong vòng 18 ngày, lúa chuyển gene được trồng thử nghiệm đạt sản lượng cao hơn 8-10% so với giống đối chứng, nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trên tạp chí Nature Plants.  Phần lớn các nhà khoa học đều bất ngờ trước kết quả trên. Cả ba loại cây trồng biến đổi gene quang hợp nhiều hơn – tỉ lệ ở cây thuốc lá tăng 48% – và phát triển hơn so với những cây đối chứng. Trên cánh đồng, lúa chuyển gene đã tăng 20% sản lượng. “Điều này thực sự khiến chúng tôi ngạc nhiên”, Guo nói. “Tôi cảm thấy chúng tôi đã câu được con cá lớn”.  Donald Ort, nhà nghiên cứu lâu năm về quang hợp ở Đại học IIlinois, Urbana-Champagne cho biết nhóm nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy về lợi ích thu được từ những cây trồng chuyển gene nhưng ông không tin protein D1 do gene nhân tế bào tạo ra có thể sửa chữa PSII trong lục lạp. “Cần giữ thái độ hoài nghi với bất cứ điều gì hứa hẹn tiềm năng. Cần thực hiện thêm nhiều thí nghiệm để tìm hiểu tại sao protein D1 có thể làm được điều đó”.□  Thanh An dịch    Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/04/rice-genetically-engineered-resist-heat-waves-can-also-produce-20-more-grain    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính trị và hoa đỗ quyên góp phần định hình khoa học khí hậu      Nếu trở về đầu những năm 1800 và trò chuyện với một nhà khoa học khí hậu châu Âu, họ sẽ bắt đầu bằng câu hỏi tại sao bạn lại không đọc Meteorologica của Aristotle, cuốn sách nói về những ảnh hưởng của nước và không khí trên trái đất.      Bức tranh “Giông tố” (La Tempesta) của danh họa Ý Giorgione vẽ giữa năm 1506 và 1508, miêu tả ánh chớp lóe lên trên bầu trời xanh sẫm, giữa những đám mây nhạt màu.  Xuất phát từ một khái niệm Hy Lạp cổ đại “klima”, dưới góc nhìn của các nhà triết học, khí tượng học (Meteorologica) đã được nêu đầu tiên vào thế kỷ 4 TCN với cách chia Trái đất thành 3 dải khí hậu cố định: cực lạnh, nhiệt đới xích đạo và một vùng ôn hòa ở giữa.  Từ đó trở đi, khí tượng học đã có những bước tiến dài. Đến thế kỷ 19, các nhà khoa học châu Âu đã có một tư duy tiến bộ khi coi khí hậu như một đặc tính cố định của bề mặt Trái đất. Họ bắt đầu thu thập dữ liệu khí quyển nhằm để dự báo thời tiết hoặc điều hướng hàng hải hơn là để nghiên cứu về các đặc tính của hành tinh như các bậc tiền bối. Tuy nhiên phải đến những năm 1850, các nhà khoa học châu Âu mới thoát khỏi giới hạn của quan điểm khí hậu học cổ đại. Lần theo dấu vết phát triển này, Deborah Coen – nhà sử học ở Đại học Yale, đã phát hiện ra: để có được nền tảng khoa học khí hậu hiện đại như ngày nay, chúng ta phải mang ơn những nhà khoa học khu vực Trung Âu, cụ thể là những người hoạt động dưới đế chế Habsburg. Họ đã phát hiện ra “khí hậu học động lực” – một mô hình nghiên cứu khí hậu mới. Theo quan điểm của họ, khí hậu không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà là một quá trình chuyển hóa năng lượng trong bầu khí quyển và là kết quả của những tương tác qua lại phức tạp theo thời gian, trên quy mô khu vực và toàn cầu. Hầu hết những quan điểm này vẫn còn có ích với chúng ta.  Bà đã nêu những luận điểm đó trong cuốn sách mới xuất bản của mình, “Sự chuyển động của khí hậu: Khoa học, đế chế và vấn đề quy mô” (Climate in Motion: Science, Empire, and the Problem of Scale).   Khoa học khí hậu thời Habsburg  Vậy vì sao các nhà khoa học dưới thời Habsburg đã có được những hiểu biết đáng ngạc nhiên này? Để tìm hiểu kỹ lưỡng điều này, chúng ta ngược thời gian về với đế chế Habsburg, một quốc gia quân chủ lớn mạnh có diện tích rộng lớn (sụp đổ vào năm 1918). Họ đã tuyển dụng các nhà nghiên cứu khí hậu tiên phong phục vụ đế chế.   Có thể thấy một phần nguyên nhân khiến khí hậu phát triển mạnh ở vùng Habsburg là do môi trường thiên nhiên đặc biệt đa dạng, trải rộng trên các vùng đất của Áo, Bohemia và Hungary, từ đồng cỏ Alpine cho tới bờ biển Adriatic, từ đỉnh Carpath tới thảo nguyên Hungary. Julius Hann, một nhà khí tượng học người Habsburg đã nhận xét: “Thiên nhiên đã giúp người dân Áo – Hung dễ dàng nghiên cứu khí hậu”. Bắt đầu từ những năm 1850, với các trạm thời tiết và nghiên cứu thực địa do nhà nước tài trợ, các học giả có thể đo đạc nhiệt độ, lượng mưa, tốc độ gió và sự tăng trưởng theo mùa. Dữ liệu này dần dần vẽ ra bức tranh toàn cảnh về khí hậu toàn cầu.  Trên nền cấu trúc địa lý phức tạp, các nhà khí hậu học đã có những cách làm hết sức sáng tạo, đó là phát triển một tư duy đa chiều và hiện đại về khí hậu để có thể giải quyết các vấn đề khí hậu trên các địa hình lớn và đa dạng, đồng thời có thể truyền đạt thông tin một cách dễ hiểu cho tầng lớp quý tộc. Theo Coen, bản thân việc này cũng cho thấy, chính trị có thể tác động đến những lĩnh vực khoa học phức tạp nhất theo những cách thật bất ngờ.    Việc nghiên cứu về khí hậu vào những năm 1950.   Bà đã cất công tìm hiểu những gì diễn ra trong quá khứ để thấy sự uyển chuyển của các nhà khí hậu học thời kỳ đó trước cấu trúc chính trị của đất nước, vốn là một mạng lưới phức tạp gồm các quốc gia, với những vùng đất thuộc chủ quyền từ xưa, các lãnh chúa địa phương được hình thành qua nhiều thế kỷ như chiến lợi phẩm từ các cuộc chiến tranh và những cuộc hôn nhân chính trị. Có lẽ các nhà khí hậu học nước khác không thể hiểu được nét đặc biệt này của các đồng nghiệp Habsburg, những người buộc phải thích nghi với cấu trúc lai tạp của đế chế, về định vị thời gian và không gian hàng ngày trên những quy mô khác nhau. Do đó, các nhà khoa học hoàng gia như Anton Kerner Ritter von Marilaun, một giáo sư thực vật học người Áo ở Đại học Innsbruck và Julius Hann đều là những học giả kiêm công chức. Họ được triều đình giao nhiệm vụ thu thập kiến thức mới về khí hậu ở các địa phương và các vùng. Theo nhận định của Coen, các nhiệm vụ tính toán về đặc trưng khí hậu trên các vùng đất Habsburg như vậy rất có ích cho các nhà khoa học quan tâm đến mối quan hệ của khí hậu địa phương với những mô hình mới về sự lưu thông khí quyển trên toàn cầu.      Hoạt động của các nhà khí hậu học Habsburg bị chi phối bởi cấu trúc lai tạp của đế chế, về định vị thời gian và không gian hằng ngày trên những quy mô khác nhau.      Không chỉ những đặc điểm chính trị tác động đến khoa học mà một yếu tố của đời sống sinh học Habsburg cũng để lại dấu ấn trong lịch sử khí hậu học, đó là việc thay đổi khu vực phân bố của hoa đỗ quyên do biến đổi khí hậu. Vào cuối thế kỷ 19, Anton Kerner Ritter von Marilaun đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu các loại thực vật. Kerner khao khát tìm hiểu nguyên nhân tại sao những bông hoa đỗ quyên mọc ven bờ sông Alpine lại được tìm thấy ở những vùng đất thấp và xa hơn. Lời giải thích đơn giản nhất là những hạt giống hoa đã bị cuốn trôi theo dòng tuyết tan vào mùa xuân hoặc do gió núi mang theo. Tuy nhiên, Kerner dần dần tin vào một lý do phức tạp hơn. Ông cho rằng những vùng hoa đỗ quyên bị cô lập là biểu hiện của sự thay đổi khí hậu: qua hàng ngàn năm, các thung lũng trở nên ấm hơn, bởi vậy một số quần thể thực vật ở sông Alpine – qua nhiều thế hệ, đã xâm chiếm sườn núi để tìm kiếm một nơi mát mẻ và có độ ẩm cao hơn. Các loài thực vật bỏ lại phía sau những vùng đất thấp, điều này cho thấy “sự phát triển của một loài theo một hướng khác”, Kerner viết, “sẽ dẫn tới sự suy giảm hoặc biến mất của loài đó ở các vùng đất còn lại theo thời gian”. Đối với ông, những bông hoa chứa đựng cả yếu tố không gian và thời gian, vượt qua những suy nghĩ trước đây của con người, để tưởng tượng khí hậu đã thay đổi dần dần như thế nào trong quá khứ – và có thể lặp lại trong tương lai.  Vương triều Habsburg đã nhận thấy lợi ích của khí hậu học. Đây là cách thức nhiều tiềm năng có thể góp phần giúp những người đứng đầu hoàng gia thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan về mặt chính trị: vào giai đoạn cuối thế kỷ 19, đế chế Habsburg phải đối mặt xu thế lên ngôi của chủ nghĩa dân tộc và tiến trình dân chủ trong xã hội. Do đó chính thể Habsburg cần chứng tỏ sự cần thiết của mình đối với người dân ở những vùng đất và việc phát triển khí hậu học trở thành một công cụ quản lý hữu ích.   Để làm được điều này, đế chế Habsburg cần phải chuyển đổi sự đa dạng về ngôn ngữ và chính trị thành sự thống nhất của đế chế, biến những kinh nghiệm địa phương trở thành một phần của toàn thể quốc gia. Thách thức mang tính sống còn của nhà nước cũng thành vấn đề đau đầu đối với các nhà khoa học khí hậu như Kerner và Hann, những người đã dành cả sự nghiệp để giải thích cách thức và lý do vì sao hoa đỗ quyên cũng như các hiện tượng địa phương khác lại quan trọng đối với khí hậu của toàn cầu.   Trong quan điểm của khoa học khí hậu thời kỳ Habsburg, các chi tiết nhỏ và những biến đổi ở từng khu vực là một phần của hệ thống trao đổi và cân bằng khí hậu của hành tinh, chẳng hạn, tương tác giữa các khối không khí được hiểu là sự pha trộn và cân bằng khí quyển. Trong các tờ rơi, tập bản đồ, bách khoa toàn thư và báo chí, các bản đồ khí hậu của Trung Âu cho phép các công dân Habsburg có thể nhanh chóng quan sát toàn bộ lãnh thổ và nhận ra sự thống nhất của đế chế rộng lớn trong đa dạng của các vùng miền. Ở góc nhìn khí hậu học, đế chế này như một vùng khí hậu có sự tuần hoàn và lưu chuyển mạnh mẽ – một “minh chứng về mặt sinh thái cho sự thống nhất của Habsburg”, theo nhận xét của Coen.  Chúng ta có thể học hỏi gì ở các nhà khoa học Habsburg?  Ngày nay, thách thức chủ yếu về khí hậu của chúng ta là những kiến thức khoa học không được thể hiện dưới dạng kể chuyện: cách thức truyền đạt những nghiên cứu của các nhà khí hậu học về Trái đất – theo một cách thực tế và gần gũi giúp những người bình thường cũng có thể hiểu được. Khi Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu công bố một báo cáo gây xôn xao dư luận vào tháng 10/2018, Margaret Sullivan – người phụ trách truyền thông của Washington Post, đã thử thách các phóng viên đưa khoa học khí hậu với những thông tin mang tính kỹ thuật và trừu tượng trở nên gần gũi hơn với mọi người. Xét cho cùng, về bản chất chúng ta là những sinh vật có vòng đời tương đối ngắn và thường gắn với một khu vực nhất định, nên việc hiểu một quy trình chuyển động ở phạm vi toàn cầu là điều thách thức.  Từ những cơn bão dữ dội xuyên đêm cho tới những luồng khói mù mịt của những đám cháy rừng không kiểm soát được, thời tiết cực đoan đã khiến chúng ta một mặt phải thích ứng với những biến động mới của khí hậu, mặt khác phải tiếp thu nhiều kiến thức về biến đổi khí hậu hơn. Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể học hỏi những nhà tiên phong về khí hậu học ở Trung Âu. Họ đã sáng tạo ra một loạt kỹ thuật mới để truyền đạt ý nghĩa của khoa học khí hậu cho công chúng. Một ví dụ tiêu biểu là phương pháp của Kerner – khéo léo sử dụng câu chuyện hoa đỗ quyên ở Alpine – nhẹ nhàng nhưng vẫn sâu sắc. Trong một chương có tiêu đề “Tài liệu về hoa”, Coen nhắc nhở chúng ta về các loài thực vật sống “bắc cây cầu thời gian giữa lịch sử loài người và địa lịch sử” bằng cách kích thích trải nghiệm của giác quan cũng như những ký ức sâu đậm: mùi hương của cây tuyết tùng, nét uyển chuyển của thân cây dương mai hay màu vàng của lá thu.      Sáng tạo lớn nhất của đế chế Habsburg là khí hậu học: một khoa học liên ngành về nghiên cứu tự nhiên – kết hợp thông tin về những xu hướng khí hậu tổng quan, đồng thời dành sự quan tâm một cách tinh tế đầy chất thơ đến các chi tiết nhỏ và sự chuyển động vật lý.      Sáng tạo lớn nhất của đế chế Habsburg là khí hậu học: một khoa học liên ngành về nghiên cứu tự nhiên – kết hợp thông tin về những xu hướng khí hậu tổng quan, đồng thời dành sự quan tâm một cách tinh tế đầy chất thơ đến các chi tiết nhỏ và sự chuyển động vật lý. Những tác phẩm này nhằm truyền tải tới đối tượng độc giả không phải là chuyên gia, chẳng hạn như nhà thơ Rainer Maria Rilke đã quan sát sau này, “sự lộng lẫy được tiết lộ qua những điều nhỏ nhất, trong những bông hoa, hòn đá, vỏ cây hoặc lá cây bạch dương…”  Theo một nghĩa nào đó, hiện nay chúng ta vẫn giống như ở thời đại Habsburg: Những vấn đề về môi trường của chúng ta không dễ dàng tách khỏi chính trị. Chúng ta không thể chủ động giải quyết được những vấn đề toàn cầu như tác động biến đổi khí hậu, những cơn bão nhiệt đới với cường độ cao trên diện rộng… mà không có sự hỗ trợ của các chính phủ. Kinh nghiệm của các nhà khoa học khí hậu của đế chế Habsburg châu Âu cho thấy: bất kỳ hành động nào của công chúng cũng phụ thuộc vào khả năng quản lý của các chính phủ. Do đó những kiến thức thu nhận được từ nhiều thế hệ và những hiểu biết mới thông qua các nghiên cứu cần trở thành những gợi ý và tư vấn cho chính phủ. Nếu chúng ta có thể học tập sự khéo léo của các nhà khí hậu học Habsburg, sẽ có một cơ hội dành cho chúng ta trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu ngày nay.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2018/11/habsburg-empire-created-modern-climate-science/575068/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chip nhận dạng tiếng Việt trên nền công nghệ FPGA      TS. Hoàng Trang cùng nhóm nghiên cứu của  mình ở ĐH Bách Khoa, ĐH Quốc gia TP.HCM&#160; mới đây đã thiết kế  thành công chip nhận dạng tiếng nói tiếng Việt trên nền công nghệ FPGA,  phục vụ cho người khuyết tật và các ứng dụng khác dựa trên nhận dạng,  tổng hợp tiếng nói tiếng Việt.     Mục tiêu của nghiên cứu là thiết kế được chip nhận dạng tiếng nói tiếng Việt với tập tiếng nhận dạng là 20 tiếng đơn trên nền công nghệ FPGA (Field programmable Gate Array – một thiết bị bán dẫn có thể được lập trình sau khi sản xuất) dựa trên việc trích đặc trưng MFCC (Mel-Frequency Ceptrum Coefficients – phương pháp trích chọn tham số tiếng nói) và bộ nhận dạng dùng mô hình Markov ẩn (HMM) với nhiều cải tiến mới; kết quả nhận dạng hiển thị trên LCD; độ chính xác nhận dạng (trong môi trường ít nhiễu, cùng điều kiện nhiễu với khi xây dựng thiết kế và huấn luyện) tối thiểu là 80%.   Đề tài, bắt đầu được triển khai từ đầu năm 2012, đã chọn được các thông số tối ưu trong giải thuật nhận dạng tiếng nói tiếng Việt để đảm bảo cả ba yếu tố quan trọng bao gồm: độ chính xác nhận dạng, tài nguyên phần cứng, và tốc độ tính toán. Đặc biệt, đề tài đã đề xuất các kiến trúc vi mạch mới, giải thuật mới không chỉ tăng tốc độ nhận dạng trên phần cứng nhanh hơn nhiều lần so với các giải thuật thông thường, mà còn giảm tài nguyên phần cứng trong khi chỉ giảm độ chính xác nhận dạng từ 1%-3%.   Tuy các thí nghiệm cho thấy vấn đề khác nhau về giọng nói giữa các vùng miền tại việt Nam là một thách thức lớn nhưng kết quả nghiên cứu vẫn là cơ sở để hướng tới triển khai ứng dụng các thiết bị điều khiển bằng giọng nói, các thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật và ứng dụng trong chế tạo sản xuất ti vi nội địa giúp nâng cao vị thế cạnh tranh của hàng Việt Nam.   Trên thế giới hiện nay đã có nhiều thành công trong việc nghiên cứu xây dựng phần mềm nhận dạng tiếng nói chạy trên nền tảng vi xử lý và tài nguyên của máy tính. Tuy nhiên, để có thể chuyển các thuật toán được sử dụng trong các phần mềm nói trên sang hoạt động trên nền cấu trúc vi mạch vẫn còn là thách thức với các nhà nghiên cứu công nghệ trong lĩnh vực này.   Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu thiết kế cấu trúc vi mạch nhận dạng tiếng Việt vẫn còn bỏ ngỏ mặc dù đây một hướng công nghệ cao được ưu tiên phát triển (Công nghệ nhận dạng tiếng Việt đứng thứ ba trong danh sách 46 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển quyết định 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chip Việt đầu tiên được thương mại hóa      Chip SG8V1 của Trung tâm Đào tạo và Thiết kế vi mạch  (ICDREC) thuộc ĐH Quốc gia TPHCM sẽ ghi dấu là sản phẩm đầu tiên  được thương mại hóa, với số lượng đặt hàng sản xuất ban đầu 150.000 con  phục vụ cho thị trường điện tử và nhu cầu học tập, nghiên cứu của các  trường đại học tại Việt Nam.    Dự án “Thiết kế và sản xuất thử nghiệm chip vi xử lý 8-bit RISC thương mại SG8V1” được ICDREC thực hiện từ tháng 11.2008. Năm 2010, việc thiết kế hoàn tất nhưng lại không thể mang mẫu đi sản xuất, vì thế tính đến nay đã trễ hạn hai năm. Thạc sĩ Ngô Đức Hoàng – GĐ ICDREC – cho biết nguyên nhân: “Chúng tôi mang đi sản xuất tại các nhà máy ở nước ngoài thì họ không nhận vì đang quá tải các đơn hàng. TSMC – một nhà sản xuất chip ở Đài Loan – còn nói: “Chúng tôi cài đặt dây chuyền để sản xuất phải mất một ngày, nhưng với số lượng 150.000 sản phẩm dây chuyền chạy chưa tới 1 giờ, không bõ…”, nên cuối cùng họ từ chối”.  Trong khoảng 2 năm không tìm được nơi sản xuất, chip SG8V1 đã được thiết kế lại nâng cấp các tính năng để tăng tính cạnh tranh. Đến thời điểm này, theo thạc sĩ Ngô Đức Hoàng: “Chip SG8V1 đã trải qua ba, bốn lần chế tạo sản phẩm mẫu. Hiện giờ chúng tôi hoàn toàn có thể sản xuất số lượng lớn thương mại hóa. Tuy nhiên, chúng tôi muốn công bố trước cộng đồng để lắng nghe sự góp ý, đánh giá nhằm hoàn thiện hơn”.  Chê hay… có thưởng  Ngày 9.1, cuộc thi “Ứng dụng vi điều khiển VN lần thứ nhất” (VMAC 1) diễn ra tại TPHCM. Gọi là cuộc thi nhưng thực chất là nghi thức công khai mời gọi cộng đồng tham gia đóng góp ý tưởng thiết kế, chế tạo sản phẩm chip SG8V1 (mới) và phát hiện các lỗi của chip SG8V1 hiện hữu. Thạc sĩ Hoàng nói: “Chúng tôi đưa chip SG8V1 ra cho cộng đồng tham gia đóng góp ý tưởng và phát hiện lỗi của sản phẩm với tinh thần hoàn toàn cầu thị”.  Chuyện chê hay… có thưởng lâu nay xa lạ với công tác nghiên cứu khoa học ở VN vì không ai lại muốn “vạch áo cho người xem lưng”, thậm chí ngược lại còn che giấu. Nhưng nay thì chuyện lạ đó đã trở thành hiện thực. Ông Ngô Đức Hoàng nói thẳng: “Cộng đồng có chê, có chửi chúng tôi cũng được miễn là xác đáng, và chê hay còn có thưởng”. Cơ cấu giải thưởng gồm hai phần: Phần dành cho ý tưởng thiết kế và chế tạo sản phẩm và phần dành cho việc tham gia phát hiện lỗi, góp ý, phê bình, mà giải nhất cho việc “chê hay và tìm ra lỗi giỏi” là 15 triệu đồng.  Chip 8-bit dù ở mức độ công nghệ thấp nhưng tới nay vẫn còn được sử dụng phổ biến trong nhiều sản phẩm gia dụng (quạt điện, máy điều hòa, máy giặt v.v…). Theo nghiên cứu của Cty Renesas (Mỹ), doanh số thị trường chip 8-bit đến năm 2015 vẫn còn đạt khoảng 6 tỉ USD. Môt phiên bản chip 8-bit khác có code tương tự SG8V1 đã được sử dụng chế tạo thiết bị định vị cho xe gắn máy tại Cty Saigon Track, là liên doanh giữa ICDREC (góp vốn bằng công nghệ) và TCty Công nghiệp Sài Gòn. Theo kế hoạch, Saigon Track sẽ sản xuất khoảng 20.000 thiết bị trong năm 2013, như vậy sẽ sử dụng 20.000 chip 8-bit “made in VN”.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chó robot đã có mặt trên thị trường      Boston Dynamics vốn nổi tiếng nhờ những con robot biết đi nay hãng này lần đầu tiên chào bán một trong những cỗ máy của mình. Robot SpotMini có bốn chân, có dáng dấp như một chú chó.    Theo thông báo của Marc Raibert, nhà sáng lập Boston Dynamics, trong năm tới loại robot này sẽ được tung ra thị trường. Tuy nhiên ông này không đề cập đến mức giá của con chó robot có trọng lượng khoảng 30 kg này. Boston Dynamics coi SpotMini là một nền tảng để khách hàng có thể gá lắp thêm các thiết bị bổ sung trên cơ sở đó có thể đưa robot vào hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, Raibert cho biết những thông tin cơ bản về chú chó robot này tại một cuộc hội nghị  Technologieblogs TechCrunch ở Berkeley, California mới đây.  Một ý tưởng là sử dụng robot này như “một công cụ giám sát” khi được trang bị thêm camera, để qua đó Robot có thể hoạt động độc lập kiểm tra khuôn viên của doanh nghiệp. Cũng có thể giao cho robot nhiệm vụ kiểm tra giám sát cầu thang các toà nhà cao tầng. “Con người ta chẳng ai muốn ngày ngày leo bộ bằng đôi chân của mình trên toà nhà cao 20 tầng để kiểm tra các tòa nhà cả”, Raibert nói. Ngoài ra robot có thể được đưa vào sử dụng tại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng. Trước khi đi vào sản xuất hàng loạt trước mắt hãng dự kiến sản xuất 100 SpotMini robot để tung ra thị trường.  Boston Dynamics được thành lập cách đây hơn 25 năm và hiện nay phát triển robot theo đơn đặt hàng của giới quân sự Hoa Kỳ. Doanh nghiệp này bốn năm liền thuộc Google và công ty mẹ Alphabet cho đến giữa năm 2017. Nay chủ mới là tập đoàn công nghệ Softbank của tỷ phú người Nhật bản Masayoshi Son, ông này đã mua một loạt doanh nghiệp Robotic trong thời gian vừa qua.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.handelsblatt.com/unternehmen/industrie/spotmini-boston-dynamics-will-roboter-hund-2019-zum-verkauf-anbieten/21493056.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chó robot dùng trong quân đội      Mới đây công ty Mỹ Boston Dynamics có phát  trên YouTube một đoạn video trình diễn khả năng hoạt động của một loại  chó robot có tính năng cao, được đặt tên là LS3, còn có biệt danh  “AlphaDog”.    LS3 là từ viết tắt của Legged Squad Support Systems tức Hệ thống hỗ trợ bộ binh. Đó là một robot chuyển động, được thiết kế để đi bất cứ nơi nào mà người lính đi bằng chân đến được. Nó có khả năng chở trên mình một lượng đồ vật nặng 400 pounds (181 kg — tương đương trang bị của một tiểu đội lính bộ binh), đi liên tục trên quãng đường 20 dặm Anh hoặc 32 km. Chó LS3 không cần bộ điều khiển (driver) vì nó sử dụng mắt máy tính (computer vision) để tự động đi theo người dẫn đường ,hoặc tự đi tới địa điểm định trước bằng cách dùng bộ cảm biến và hệ định vị toàn cầu GPS.   Cơ quan Dự án nghiên cứu cấp cao Bộ Quốc phòng Mỹ DARPA (Defense Advanced Research Projects Agency) kết hợp với công ty Boston Dynamics thực hiện việc thiết kế chế tạo LS3 trong thời gian 30 tháng. Đề tài nghiên cứu do DARPA và Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tài trợ. Một nhóm chuyên gia đặc biệt gồm người của Boston Dynamics và các đơn vị như Bell Helicopter, AAI Corporation, Carnegie Mellon, Jet Propulsion Laboratory và Woodward HRT đã tiến hành công tác nghiên cứu này.   Hiện nay, cùng với các tiến bộ của khoa học công nghệ, số lượng trang bị mà các binh sĩ khi ra trận chiến đấu phải mang theo ngày càng nhiều, cồng kềnh và nặng, khiến họ khó cơ động di chuyển và dễ trở thành mục tiêu bị tấn công. Giờ đây việc chở các trang bị đó sẽ do chó robot LS3 đảm nhiệm, nhờ thế các binh sĩ được rảnh rang, có thể dễ dàng cơ động và sử dụng vũ khí, nâng cao hiệu suất chiến đấu. Loại LS3 AlphaDog mới nghiên cứu thành công có tính năng được hoàn thiện đáng kể; là loại robot nửa tự chủ, có khả năng cơ động cao.   LS3 AlphaDog đang nằm có thể đứng dậy theo lệnh điều khiển rồi chạy đi chạy lại, xuyên qua rừng rậm, vượt qua các đống đá sỏi. Nó còn có thể cầm được một hòn đá và ném đi khá nhanh. Chó robot có thể sử dụng 4 cẳng chân dài và thanh mảnh để đi qua các địa hình gồ ghề, mỗi lần tiếp nhiên liệu có thể đi được 32 km trong thời gian 24 giờ. Nó có thể chạy theo sát phía sau người dẫn đường; ngoài ra còn có thể trao đổi một vài câu nói đơn giản giao tiếp với binh sĩ. Người ta có thể ngụy trang chó robot để nó hòa lẫn vào môi trường xung quanh khiến kẻ địch khó phát hiện.  Giả thử chó robot được trang bị camera và vũ khí thì nó có thể trở thành loại chó tấn công, sát thương đối phương như một người lính chiến đấu.        Hải hoành dịch  http://spectrum.ieee.org/automaton/robotics/military-robots/latest-ls3-alphadog-prototypes-get-less-noisy-more-brainy )     Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chôn” carbon trong đất hiệu quả đến đâu?      Chính sách chống biến đổi khí hậu của chính quyền Biden đặt trọng tâm vào nông nghiệp carbon. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây tỏ ra nghi ngờ về tính hiệu quả của phương pháp này.      Chính sách chống biến đổi khí hậu của chính quyền Biden đặt trọng tâm vào nông nghiệp carbon. Ảnh: iStock/mvburling  Vào tháng 11/2020, một nhóm gồm hơn 150 cựu quan chức chính phủ và cố vấn của Tổng thống Biden đã công bố danh sách các khuyến nghị nhằm giúp chính quyền mới “nhanh chóng bắt tay vào giải quyết” cuộc khủng hoảng khí hậu. Nổi bật trong số đó là đề xuất thành lập một “ngân hàng carbon” liên bang, có nhiệm vụ trả tiền cho nông dân để họ áp dụng các biện pháp bảo tồn đất nông nghiệp như trồng cây che phủ và không cày xới đất.  Ý tưởng cơ bản là những phương pháp này sẽ hỗ trợ thực vật hút carbon từ khí quyển và đưa xuống đất, biến đất nông nghiệp thành một miếng bọt biển khổng lồ có khả năng hấp thụ tất cả lượng khí nhà kính giữ nhiệt mà chúng ta thải ra môi trường. Ngân hàng carbon sẽ khuyến khích nông dân áp dụng những biện pháp như vậy. Sau đó, theo gợi ý của các cựu quan chức, chính phủ liên bang có thể bán tín chỉ carbon cho các công ty gây ô nhiễm đang tìm cách bù đắp lượng phát thải carbon của mình.  Tuy vậy, vẫn còn nhiều điều chúng ta chưa biết về cô lập carbon – đo lường nó như thế nào, định giá nó ra sao, và đâu là những hoạt động thực sự giúp ích cho nó. Một nghiên cứu mới xuất bản (25-31/1/2021) về tương tác giữa carbon, đất và các enzyme trong đất đã đặt ra thêm một câu hỏi mới: thời gian thực tế mà carbon được lưu trữ trong đất là bao lâu?  Trong nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học tại Đại học Princeton đã thiết kế một chuỗi thí nghiệm nhằm quan sát cách mà các phân tử carbon liên kết với – hoặc tách rời khỏi – đất sét, thành phần quan trọng đóng vai trò giữ lại carbon trong đất.  Từ lâu, các nhà khoa học đã biết rằng vi sinh vật giải phóng một lượng carbon nhất định trong quá trình phân giải các chất hữu cơ trong đất. Tuy nhiên, họ giả định rằng đất sét có thể ngăn cản quá trình này bằng cách liên kết với carbon và bảo vệ nó khỏi sự xâm nhập của vi sinh vật. Những phát hiện mới, được công bố trên tạp chí Nature Communications vào 28/1 vừa qua, thách thức độ tin cậy của giả định nói trên.  Đầu tiên, tác giả chính của bài báo là bà Judy Yang tiến hành ủ các phân tử carbon, một số vi khuẩn đất phổ biến, và các nắm đất sét nhỏ, còn gọi là kết tụ đất sét, trong một đĩa petri. Khi quan sát dưới kính hiển vi, bà phát hiện ra rằng vi khuẩn khó có thể xâm nhập vào đất sét theo thời gian do có kích thước quá lớn, và do đó, chúng không thể tiếp cận đến carbon được lưu trữ bên trong. Một tin tốt – điều này có nghĩa rằng vi sinh vật đã bị ngăn không cho phân giải các phân tử carbon và giải phóng chúng trở lại khí quyển.  Mặt khác, trong một thí nghiệm riêng biệt, Yang đặt các enzyme – protein do vi khuẩn và nấm tiết ra để xúc tác quá trình tiêu hóa thức ăn – trên lam kính chứa đất sét và các phân tử carbon. So với vi khuẩn, enzyme có kích thước nhỏ hơn đáng kể, vì vậy chúng không chỉ xâm nhập thành công vào đất sét mà còn giúp giải phóng gần như toàn bộ carbon tích trữ bên trong chỉ sau vài giờ. Sau khi carbon được tách khỏi khỏi kết tụ đất sét, vi khuẩn trong đất sẽ tiếp tục công việc còn lại – giải phóng carbon khỏi mặt đất theo thời gian. Quá trình này có nghĩa rằng cô lập carbon có thể chỉ thu giữ carbon trong thời gian ngắn hơn ta nghĩ.  “Trước đây, chúng tôi nghĩ rằng carbon [cố định trong đất sét] thì không thể bị giải phóng ra bên ngoài trong một khoảng thời gian có thể quan sát được. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng thực tế, quá trình giải phóng này diễn ra trong vài giờ. Enzyme có thể xâm nhập vào bên trong đất sét, và chúng có thể giải phóng các phân tử carbon được đất sét bao bọc. Nếu loại enzyme mà chúng tôi sử dụng trong thí nghiệm có khả năng này, thì các loại enzyme khác cũng có thể có khả năng tương tự”, Yang, từng làm postdoc tại Đại học Princeton và là phó giáo sư đương nhiệm tại Đại học Minnesota, cho biết.  Nói cách khác, những gì xảy ra trong phòng thí nghiệm của Yang là một bản mô phỏng đơn giản của những gì có thể xảy ra trên đồng ruộng, đã lược bỏ rất nhiều biến số như các loại vi sinh vật và thành tố đất khác.  Kể cả như vậy, nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ trường hợp đất giải phóng nhiều carbon hơn dự kiến trong một số điều kiện nhất định, khiến các nhà khoa học lo ngại rằng mức tăng đồng thời của nồng độ carbon trong khí quyển và nhiệt độ đang đẩy chúng ta đến gần việc kích hoạt một vòng phản hồi tạo carbon mang tính hủy diệt và không thể đảo ngược trong đất.  Mở ra hướng đi mới  Điều đó không có nghĩa rằng chất lượng đất không đóng vai trò nào đáng kể, hay cô lập carbon hoàn toàn vô ích. Ngược lại, theo Rattan Lal, giáo sư bộ môn khoa học đất và giám đốc Trung tâm Quản lý và Cô lập Carbon tại Đại học Bang Ohio, phát hiện mới được công bố này có thể gợi ý những hướng đi mới cho nghiên cứu về đất, bao gồm nỗ lực tìm hiểu cách để đất sét giữ lại carbon được nhiều và lâu hơn.  “Có nhiều cách để phá vỡ các kết tụ đất sét” – Lal cho biết, và lấy ví dụ về các thực hành nông nghiệp như cày xới đất và sử dụng phân bón. “Mục tiêu của quản lý bền vững là giảm thiểu các hoạt động phá vỡ các kết tụ này.”  Đồng thời, nghiên cứu cũng gợi ý rằng các nhà hoạch định chính sách có lẽ nên giảm bớt kỳ vọng về mức độ chúng ta có thể phụ thuộc vào đất để hấp thụ phần lớn khí thải về lâu dài.  William H. Schlesinger, nhà sinh địa hóa và nguyên chủ tịch của Viện Nghiên cứu Hệ sinh thái Cary, nói về kết quả nghiên cứu: “Có thể tiềm năng lưu trữ carbon khổng lồ trong đất không kéo dài vĩnh viễn như nhiều người dự đoán.” Schlesinger lập luận rằng các thực hành nông nghiệp tốt cho đất chỉ có khả năng cô lập được một phần nhỏ carbon từ tổng lượng khí thải – đặc biệt khi chúng ta tính đến mức phát thải liên quan đến tưới tiêu và bón phân, hai hoạt động thường dùng để kiểm soát chất lượng đất.    Nghiên cứu cũng gợi ý rằng các nhà hoạch định chính sách có lẽ nên giảm bớt kỳ vọng về mức độ chúng ta có thể phụ thuộc vào đất để hấp thụ phần lớn khí thải về lâu dài. Ảnh: Christian Beutler/Redux  Bất chấp những hoài nghi từ trước và mới đây xoay quanh hiệu quả thực sự của “bể chứa carbon” trong đất, ý tưởng về một ngân hàng carbon liên bang nhiều khả năng sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ dưới thời chính quyền Biden. Thứ Tư vừa qua, Tổng thống đã ký sắc lệnh chỉ đạo Bộ trưởng Nông nghiệp (vẫn chưa được xác nhận chính thức) lên kế hoạch chi tiết về “cách khuyến khích việc áp dụng tự nguyện các biện pháp nông-lâm thân thiện với môi trường… nhằm giảm thiểu và cô lập thêm carbon có thể đo lường và kiểm chứng” trong vòng 150 ngày.  Các tổ chức môi trường và doanh nghiệp tư nhân thường mô tả cô lập carbon trong đất như một công cụ đôi bên cùng có lợi: Một liên minh bao gồm các tổ chức phi lợi nhuận, một số công ty chế biến thực phẩm trong nước lớn nhất, và các nhóm vận động hành lang về nông nghiệp đã bày tỏ ủng hộ đối với các thực hành nông nghiệp tái sinh. Một số bang như California đang đi tiên phong trong việc trả tiền nông dân để họ cô lập carbon. Và trong khi chúng ta chưa có một ngân hàng carbon do nhà nước điều hành, nhiều công ty tư nhân đã mọc lên trong những năm gần đây để lấp đầy khoảng trống.  Ý tưởng trên được bàn tán nhiều một phần bởi nó nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cả hai đảng, cũng như từ các tổ chức, doanh nghiệp nông nghiệp, và những bên hưởng lợi tài chính từ nó. Các biện pháp “trị tận gốc” khác thì không may mắn như vậy.  “Nếu như tôi nói rằng từ bây giờ, chúng ta sẽ phải cắt giảm nhiên liệu hóa thạch, hoặc phải tăng cước phí ô tô, hoặc phải phá bỏ các nhà máy điện than và thay thế chúng bằng điện mặt trời – những chính sách này sẽ vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các nhóm vận động hành lang” – Schlesinger nói. “Nhưng hầu như chẳng có ai phản đối việc cô lập carbon trong đất cả. Các tổ chức khí hậu nói: ‘Biện pháp này tốt cho môi trường.’ Người nông dân thì bảo: ‘Nó làm đất của tôi màu mỡ hơn.’ Điều tôi muốn nói là: Những điều đó có thể đúng nhưng chưa chắc đã khắc phục được biến đổi khí hậu.”  Hà Trang dịch  Nguồn: https://thecounter.org/soil-sequestration-carbon-farming-biden-climate-strategy/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chọn công nghệ tách muối phù hợp với điều kiện Việt Nam      Bài viết này nhằm cung cấp những thông tin tổng quan về các hệ thống tách muối khỏi nước lợ, nước biển đang được sử dụng phổ biến trên thế giới, qua đó đề xuất một giải pháp cho nguồn nước sạch ở vùng duyên hải nước ta để thích nghi với bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng.       Ở Việt Nam, các biện pháp tách các dạng tạp chất thông thường bằng bể lắng kết hợp với bể lọc sơ bộ (cát vàng, đá, sỏi …) đã được áp dụng từ lâu và tỏ ra khá hiệu quả. Tuy nhiên, đối với thành phần hòa tan là nước muối thì các phương pháp nêu trên lại không hiệu quả. Để tách muối, người ta có thể cân nhắc sử dụng các hệ thống thiết bị khác nhau, chủ yếu phân ra làm hai loại chính dựa theo nguyên lý hoạt động: sử dụng nhiệt hoặc sử dụng màng lọc (sử dụng năng lượng cơ học là chủ yếu).     Nguyên lý nhiệt   Công nghệ tách muối để lấy nước sạch với nguyên lý sử dụng nhiệt dựa trên nền tảng các thiết bị chưng cất được phân chia thành nhiều phương pháp như sau: Chưng cất đa tầng (multi – stage flash distillation), chưng cất nhiều hiệu hay hệ thiết bị chưng cất liên hoàn (multi – effect distillation), và chưng cất nén hơi (vapor compression distillation). Các hệ thống chưng cất trên thường được bổ sung thiết bị tạo chân không nhằm hạ nhiệt độ hoạt động của hệ thống để phù hợp với nhiệt độ tối đa có thể hình thành (khoảng 500C đến 850C) từ thiết bị gia nhiệt được cấp từ thiết bị thu nhiệt bức xạ mặt trời. Như chúng ta đã biết, nước tinh khiết có nhiệt độ sôi 1000C ở áp suất thường 101.3 kPa còn dung dịch nước muối có nhiệt độ sôi cao hơn, trị số này sẽ tăng theo nồng độ của muối có trong dung dịch. Tất nhiên, với thiết bị chân không được bổ sung, năng lượng cơ học (thường cố gắng được lấy từ năng lượng sức gió trong trường hợp chỉ sử dụng năng lượng tái tạo) cho hoạt động của bơm chân không vòng nước cũng như yêu cầu về độ dày của vật liệu chế tạo thiết bị phải tăng lên. Trong trường hợp ấy, giá thành đầu tư, kích thước, khối lượng thiết bị cũng như chi phí vận hành, bảo dưỡng – bảo trì của hệ thống bị tăng lên nhiều. Điểm nổi bật của hệ thống tách muối dạng này là chất lượng nước sạch cao được tạo ra với trị số tổng lượng chất rắn hòa tan TDS (total dissolved solids) thấp hơn 50 mg/lít – trị số TDS càng thấp thì nước càng ít tạp chất.   Nguyên lý màng lọc    Trước 2002, các thiết bị hoạt động theo nguyên lý sử dụng nhiệt khá phát triển và chiếm ưu thế; tuy nhiên, về sau này các thiết bị hoạt động theo nguyên lý màng lọc (chủ yếu sử dụng nguyên tắc tẩm thấu ngược – RO: reverse osmosis) lại phát triển mạnh do sự phát triển của công nghệ chế tạo màng lọc. Cho đến nay, các thiết bị lọc muối sử dụng nguyên lý nhiệt được thiết kế và chế tạo cho các ứng dụng ở qui mô nhỏ do đặc điểm tiêu hao năng lượng riêng cho một đơn vị thể tích nước sạch thường lớn hơn thiết bị hoạt đông theo nguyên lý màng lọc. Theo ước tính, đến năm 2015, lượng nước sạch được tạo ra từ nước mặn hoặc nước lợ do nguyên lý sử dụng màng lọc chiếm gần gấp đôi nguyên lý sử dụng nhiệt nhiệt.   Tỉ lệ sử dụng các công nghệ tách muối trên thế giới (2002).      Không chỉ được sử dụng ở qui mô nhỏ mà các hệ thống sử dụng màng lọc còn được phát triển ứng dụng ở các nhà máy lọc muối ở qui mô lớn đến rất lớn như trường hợp nhà máy sản xuất nước sạch từ nước biển tại Fukuoka, Nhật bản với năng suất 250.800 m3/ngày. Các nhà máy sản xuất nước sạch từ nước biển với qui mô lớn đều hoạt động dựa trên các thiết bị màng lọc: màng thẩm thấu ngược (RO), màng siêu lọc (UF), màng vi lọc (NF) … đòi hỏi nguồn năng lượng ổn định với công suất lớn để hoạt động các bơm cao áp.    Tuy nhiên, đối thiết bị sử dụng màng thẩm thấu ngược, căn cứ định luật Vant – hoff,  áp suất tạo ra cần thắng áp suất thẩm thấu ngược nên trị số áp lực tạo ra tại đầu ra của bơm cần đạt vài bar (đối với nước lợ) đến vài chục bar (đối với nước biển). Chính vì vậy, các nguồn cấp năng lượng cấp cho các hệ thống ở qui mô rất lớn thường được lấy từ điện lưới quốc gia chứ không được cấp từ các hệ thống nguồn điện sức gió, nguồn điện mặt trời ở qui mô nhỏ có tính chất phân tán. Trong trường hợp nhà máy sản xuất nước sạch tại Fukuoka nói trên, nguồn nước tạo được đưa lên bể chứa cao vị và cấp cho toàn thành phố. Cách làm đó phù hợp với điều kiện quy mô dân số lớn và có xu hướng cư trú tập trung. Còn với phương án thiết kế ứng phó với biến đổi khí hậu và kịch bản xâm thực mặn do nước biển dâng, thiết kế dạng trên sẽ không hợp lý do tính phân tán trong cư trú của dân cư ven biển. Chúng ta sẽ phải cần đến các thiết bị có quy mô và năng suất nhỏ hơn, và như vậy nguồn năng lượng cấp cho các hệ thống này có thể là năng lượng tái tạo.    Nhìn chung, phương pháp lọc màng thẩm thấu ngược RO không được sử dụng nhiều ở các nước kém phát triển vì các nước này không có khả năng làm chủ công nghệ chế tạo màng lọc, vốn được xếp vào công nghệ cao nên giá nhập khẩu mặt hàng này khá cao.  Sự kết nối thiết yếu của hệ thống tách muối và hệ thống năng lượng tái tạo   Năng lượng cấp cho những hệ thống tách muối luôn là một vấn đề lớn bởi vì các vùng ven biển hoặc hải đảo có dân cư không tập trung nên khó tiếp cận lưới điện quốc gia. Hiện nay, trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ các hệ thống tách muối hoạt động theo cơ chế “tự hành” (autonomous) với nguồn năng lượng tái tạo dựa trên việc tận dụng điều kiện thuận lợi có sẵn do sức gió và năng lượng mặt trời (ở dạng trực tiếp hoặc gián tiếp qua sự biến đổi thành điện năng).   Không chỉ chiếm ưu thế nói chung trong các ứng dụng tách muối mà ngay cả với các hệ thống tách muối cỡ nhỏ, hoàn toàn sử dụng năng lượng tái tạo (năng lượng sức gió và năng lượng mặt trời), phương pháp RO cũng tỏ ra là phương pháp có ưu thế và được lựa chọn trong đa phần các ứng dụng. Ngày nay, trên 51% các ứng dụng tách muối có nguồn cấp từ pin mặt trời và năng lượng gió sử dụng phương pháp lọc màng.   Ngày nay, các phương pháp sử dụng nhiệt năng trực tiếp từ năng lượng bức xạ nhiệt mặt trời thường chỉ được dùng tại các nước có nền công nghệ kém tiên tiến. Phương pháp lai ghép năng lượng sức gió và năng lượng mặt trời cũng là một trong những xu hướng tiềm năng đang được phát triển mặc dù hiện nay chỉ chiếm 4% trong các ứng dụng.  Phương án đề xuất cho nguồn nước sạch tại vùng duyên hải nước ta trong kịch bản nước biển dâng   Hiện nay, dù với công nghệ nào, hay ở qui mô nào thì vật liệu chế tạo nên các thiết bị cũng như các cấu phần tạo ra hệ thống tách muối đều có những yêu cầu đặc biệt về khả năng chống chịu ăn mòn, ô xy hóa …. Vật liệu chế tạo được dùng thường là dạng Inox – SU316, trong khi đó các thiết bị trong lĩnh vực chế biến thực phẩm với yêu cầu mức độ vệ sinh cao thường cũng chỉ được chế tạo với vật liệu là Inox – SU304 (yêu cầu thấp hơn về hàm lượng Niken). Các nhà khoa học đang cố gắng “phi kim hóa” vật liệu chế tạo thiết bị tách muối bằng những sự đổi mới về mặt công nghệ nhằn hạn chế tối thiếu sự tham gia trực tiếp của các cấu phần cơ – nhiệt. Một số thử nghiệm đã được thực hiện và cho những kết quả khả quan, tuy nhiên năng suất của các thiết bị có cấu tạo từ vật liệu chủ yếu là phi kim như vậy vẫn yêu cầu diện tích lắp đặt lớn hơn một thiết bị thông thường có cùng năng suất.    Đối với nước ta – một quốc gia có bờ biển dài cùng tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo từ sức gió và mặt trời, chúng ta nên cố gắng cải tiến các hệ thống tách muối theo nguyên lý nhiệt trực tiếp và phát triển theo hướng phi kim hóa thiết bị do chưa có khả năng làm chủ công nghệ màng, công nghệ chế tạo Inox – Su316 … cùng những công nghệ chế tạo các tấm pin mặt trời. Với nguyên lý nhiệt này, các thiết bị cũng cần tận dụng nguồn năng lượng sức gió trực tiếp cho việc hoạt động các thiết bị như bơm, quạt, máy nén đồng thời chuyển hóa một phần năng lượng gió thành điện năng cấp cho các thiết bị điều khiển và thiết bị gia nhiệt phụ trợ trong trường hợp duy trì hoạt động vào ban đêm.  ———Nguồn tham khảo:  Joseph Contruvo et al.,2010. Desalination Technology – Health and Environmental Impacts. USA: CRC Press. Lucio Rizzuti et al., 2007. Solar Desalination for the 21st Century: A Review of Modern Technologies and Researches on Desalination Coupled to Renewable Energies. The Netherlands: Springer. Lawrence K. Wang et al., 2011. Membrance and Desalination Technologies. New York: Humana Press. Andrea Cipollina et al., 2009. Seawater Desalination: Conventional and Renewable Energy Processes. Heidelberg: Springer National Academy of Sciences, 2004. Review of the Desalination and Water Purification Technology Roadmap. Washington, D.C: The National Academies Press.        Author                Nguyễn Đức Trung        
__label__tiasang Chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh: Cuộc đua không cân sức      Được coi là một phát minh vĩ đại giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, nhưng thuốc kháng sinh cũng vô tình đẩy con người vào một cuộc đua không có điểm dừng và dường như không cân sức: chống lại đề kháng kháng sinh – phải gồng mình chạy theo quá trình tiến hóa chọn lọc tự nhiên của vi sinh vật – vốn vượt trội hơn nhiều so với con người. Điều này đang tạo ra cuộc khủng hoảng thực sự, không chỉ là thảm họa về kinh tế, mà có thể sẽ không hề có thuốc chữa. Loài người phải làm gì để không bị đo ván trước vi khuẩn kháng thuốc?      Việt Nam là nước có tỉ lệ kháng kháng sinh thuộc hàng cao nhất thế giới. Việc mua thuốc kháng sinh dễ dàng mà không cần kê đơn vẫn phổ biến ở mọi vùng, từ nông thôn tới thành thị. Ảnh: VTV.  Cơ thể người – một hệ sinh thái vi sinh vật  Phần lớn cơ thể con người bị các vi sinh vật chiếm giữ. Thật vậy, chỉ có khoảng gần 30 nghìn tỷ tế bào trong cơ thể – dưới một phần ba – thuộc về loài Homo sapiens; phần còn lại, chiếm 70-90%, là các tế bào vi sinh vật. Mức độ chênh lệch còn lớn hơn nữa khi so sánh số lượng gene: dưới 1% số gene hiện diện trên cơ thể người thuộc về loài người trong khi 99% số gene còn lại là của vi sinh vật. Hàng ngàn loài vi khuẩn, nấm cùng với virus, động vật nguyên sinh tạo thành một quần thể vi sinh vật (human microbiota) bao phủ mọi ngóc ngách bề mặt và bên trong cơ thể người, từ da, niêm mạc miệng, nước bọt, mắt, mũi, phổi đến tuyến vú, tử cung, buồng trứng, đặc biệt là đường tiêu hóa.   Những thành viên đầu tiên của hệ sinh thái vi sinh vật trên cơ thể người (vi hệ) được trẻ sơ sinh tiếp nhận từ người mẹ trong quá trình sinh ra rồi tiếp tục được bổ sung, biến đổi và hoàn thiện trong suốt cuộc đời dưới tác động của nhiều yếu tố như di truyền, chế độ ăn uống, khí hậu, môi trường sống. Giống như bộ gene người, quần thể vi sinh vật trên mỗi cơ thể người cũng mang tính độc nhất, nghĩa là không tồn tại hai người có hệ sinh thái vi sinh vật giống hệt nhau.   Với số lượng đông đảo và phạm vi cư trú rộng khắp cơ thể, vi hệ đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người, đặc biệt với hệ miễn dịch và các quá trình chuyển hóa. Chẳng hạn, các vi khuẩn chỉ ở đường tiêu hóa giúp phân giải tinh bột, chất xơ, tổng hợp acid béo, một số vitamin nhóm B, vitamin K và amino acid. Hệ vi sinh vật đa dạng trên cơ thể người cũng giúp huấn luyện các tế bào của hệ miễn dịch phân biệt giữa các dị nguyên có khả năng gây bệnh với các tác nhân vô hại. Một số nghiên cứu gần đây còn cho thấy mối liên quan giữa vi hệ với tình trạng trầm cảm, lo âu, béo phì, đái tháo đường và tự kỷ. Mối quan hệ giữa quần thể vi sinh vật này với con người, do đó, mang tính cộng sinh hơn là ký sinh: cơ thể con người cung cấp môi trường cư trú cho vi sinh vật còn vi sinh vật giúp duy trì trạng thái khỏe mạnh của cơ thể. Con người cần đến vi sinh vật không kém gì vi sinh vật cần đến con người.      Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Một nghiên cứu cho thấy phế cầu khuẩn ở Việt Nam có tỷ lệ kháng penicillin và erythromycin lần lượt là 71,4% và 92,1%, cao nhất trong số 11 nước châu Á được khảo sát.      Đa số vi sinh vật trong quần thể này là các loài có lợi hoặc vô hại, một số ít hơn có khả năng gây bệnh. Trên một cơ thể khỏe mạnh, cộng đồng vi sinh vật đa dạng cùng tồn tại ở trạng thái cân bằng, mỗi loài cư trú ở vị trí thích hợp nhất định, loài này kiểm soát số lượng và hạn chế sinh sôi quá mức của loài kia thông qua cạnh tranh dinh dưỡng và vị trí bám trong khi hệ thống miễn dịch tiêu diệt hoặc giữ các vi sinh vật có hại ở trạng thái tiềm tàng, không gây bệnh.  Khi cân bằng bị phá vỡ  Nhiễm trùng xuất hiện khi vi sinh vật ở trạng thái tiềm tàng cư trú sẵn bên trong cơ thể hoặc từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào mô hoặc máu rồi nhân lên, gây tổn hại tế bào và biểu hiện các triệu chứng. Nhiều vi sinh vật chỉ gây nhiễm trùng cơ hội trong một số điều kiện nhất định khi hệ miễn dịch của người bị tổn thương hoặc bị ức chế, chẳng hạn bởi hóa trị liệu điều trị ung thư, nhiễm HIV/AIDS hoặc suy dinh dưỡng. Thí dụ, liên cầu khuẩn, loài vi sinh vật vô hại cư trú thường trực ở vòm họng có thể gây viêm màng trong tim khi chúng xâm nhập vào máu. Tương tự, Bacteroides không gây hại khi có mặt ở đại tràng nhưng có khả năng gây nhiễm khuẩn ổ bụng hoặc nhiễm khuẩn máu khi xâm nhập được vào các cơ quan này.  Vi sinh vật gây hại cho cơ thể bằng cách tiêu diệt hoặc làm rối loạn chức năng, sinh độc tố gây tê liệt quá trình chuyển hóa bình thường của tế bào. Hệ miễn dịch của cơ thể đáp ứng bằng cách huy động bạch cầu, kháng thể và các cơ chế khác nhằm loại trừ tác nhân gây bệnh, gây ra các triệu chứng ban đầu điển hình của nhiễm khuẩn như sốt, đau đầu, phát ban, mệt mỏi.                          Hệ sinh thái vi sinh vật trên cơ thể người. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Mỹ.  Trong nhiều trường hợp, hệ miễn dịch của cơ thể đủ khả năng chống lại các vi sinh vật gây bệnh và các triệu chứng nhiễm khuẩn tự thuyên giảm. Tuy nhiên, khi tác nhân gây hại đủ sức chống lại hệ miễn dịch hoặc tốc độ nhân lên của chúng vượt quá khả năng kiểm soát của các tế bào miễn dịch, việc sử dụng kháng sinh để kiềm chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn trở nên cần thiết.  Kháng sinh đầu tiên, penicillin, được Alexander Fleming tình cờ phát hiện từ năm 1928 khi một mẫu nấm mốc vô tình nhiễm vào môi trường nuôi cấy tụ cầu khuẩn và ức chế sự phát triển của vi khuẩn này. Phải mất đến hơn 10 năm sau, khi nhu cầu kháng sinh từ chiến trường Đệ nhị Thế chiến trở nên cấp bách, penicillin mới trở thành thuốc chữa bệnh nhờ nghiên cứu của Howard Florey và Ernst Chain giúp tinh chế và sản xuất kháng sinh này với số lượng lớn. Đóng góp của Fleming, Florey và Chain được ghi nhận bằng giải Nobel Y học chia đều cho ba người vào năm 1945.   Trước đó, Paul Ehrlich đã khám phá ra arsphenamine, một dẫn chất hữu cơ tổng hợp của arsen có hoạt tính trên vi khuẩn gây bệnh giang mai còn Gerhard Domagk phát hiện đặc tính kháng khuẩn của sulphanilamide, một chất được Paul Gelmo tổng hợp nhiều năm trước đó.   Sự xuất hiện của penicillin đánh dấu kỷ nguyên vàng của kháng sinh, giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng. Đa số các nhóm kháng sinh đang được dùng làm thuốc hiện nay đều được khám phá trong kỷ nguyên vàng giữa những năm 1940 đến 1970.  Nhưng cũng từ đây, thuốc kháng sinh đã vô tình “tạo điều kiện” cho vi khuẩn – vốn có khả năng thích nghi kỳ diệu – bước vào một quá trình tiến hóa chọn lọc tự nhiên rất nhanh chóng để chống chọi lại các thế hệ kháng sinh.  Vi sinh vật có khả năng thích nghi vượt trội so với con người  Không phải ngẫu nhiên mà các vi sinh vật xuất hiện từ hàng tỷ năm trước, rất lâu trước khi có sự hiện diện của loài người, vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Bản năng sinh tồn mãnh liệt của vi sinh vật có được nhờ vào khả năng thích nghi kỳ diệu của chúng. Thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, vi sinh vật mang các đặc tính di truyền tốt hơn, phù hợp với môi trường sống sẽ sinh sôi nảy nở và truyền các đặc tính này cho các thế hệ sau. Quá trình này diễn ra với vi sinh vật nhanh chóng và hiệu quả gấp bội so với ở người. Loài người mất 20 năm để cho ra đời một thế hệ mới trong khi vi khuẩn chỉ mất 20 đến 30 phút để làm điều này, với virus khoảng thời gian này còn ngắn hơn nữa. Do vi sinh vật sinh sản quá nhanh, chúng tập hợp thành quẩn thể lớn với mức độ đa dạng rất cao. Khi môi trường sống đột ngột thay đổi, sự đa dạng về di truyền giúp một phần vi sinh vật trong quần thể sống sót. Điều này khiến vi sinh vật có ưu thế vượt trội loài người về khả năng thích nghi để tồn tại.     Quá trình chọn lọc tự nhiên của vi khuẩn kháng kháng sinh. Nguồn: Theo ReAct.  Quá trình vi sinh vật trở nên đề kháng kháng sinh cũng diễn ra theo cách như vậy. Trong quần thể vi sinh vật gây bệnh ban đầu, đa số vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh sẽ bị tiêu diệt, trong khi số ít vi khuẩn đề kháng với thuốc sống sót và nhân lên. Mỗi lần phơi nhiễm với kháng sinh, vi khuẩn trải qua một lần chọn lọc tự nhiên để chỉ những vi khuẩn có khả năng kháng thuốc được giữ lại. Nói cách khác, đề kháng kháng sinh là hệ quả tất yếu của việc sử dụng kháng sinh. Tình trạng này sớm muộn sẽ đến, nhưng nó đến nhanh hơn khi kháng sinh bị lạm dụng hay sử dụng không đúng cách, chẳng hạn dùng kháng sinh trong trường hợp nhiễm virus cảm cúm, cảm lạnh, sử dụng không đúng loại kháng sinh, không đủ liều lượng và thời gian điều trị.  Không chỉ tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, kháng sinh còn tác động đến toàn bộ quần thể vi sinh vật cư trú trên cơ thể người, gây mất cân bằng quần thể này và biểu hiện thành bệnh, điển hình là rối loạn tiêu hóa, viêm đại tràng giả mạc khi dùng kháng sinh phổ rộng dài ngày hay viêm âm đạo do nấm khi đặt kháng sinh tại chỗ.   Vi khuẩn có thể trở nên đề kháng kháng sinh thông qua nhiều cơ chế: Một số vi khuẩn có khả năng sinh enzym gây mất hoạt tính hoặc phá hủy kháng sinh trước khi thuốc phát huy tác dụng. Một số khác có thể nhanh chóng bơm đẩy kháng sinh khỏi tế bào vi khuẩn hoặc thay đổi các đích tác dụng của thuốc (như vách tế bào, màng bào tương, ribosom, protein) làm kháng sinh mất hiệu lực. Nhiều vi khuẩn phát triển khả năng kháng thuốc bằng cách kết hợp cùng lúc nhiều cơ chế. Trong quá trình phát tán, vi khuẩn đóng góp gene kháng thuốc cho toàn bộ quần thể, khiến các gene này được lan truyền ngày càng rộng rãi tới các vi khuẩn gây bệnh khác.  Một trong những thách thức lớn nhất với y tế toàn cầu  Đề kháng kháng sinh đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với hệ thống y tế toàn cầu. Hầu như chủng vi khuẩn nào cũng đã trở nên ít nhạy cảm hơn và kém đáp ứng hơn với các loại kháng sinh. Nếu như cách đây vài thập niên, một đứa trẻ bị nhiễm khuẩn tai nhanh chóng được chữa khỏi bằng penicillin thì ngày nay có thể cần đến nhiều đợt điều trị bằng vài loại kháng sinh khác nhau. Vấn đề này còn nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch như bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS và bệnh nhân nằm điều trị tại các đơn vị chăm sóc tích cực.   Câu chuyện về tụ cầu khuẩn kháng kháng sinh có thể minh họa cho hiểm họa kháng thuốc. Chính nhờ khả năng ức chế tụ cầu khuẩn mà penicillin được Alexander Fleming phát hiện ra, nhưng chỉ hai năm sau khi penicillin trở thành thuốc chữa bệnh, một số tụ cầu khuẩn kháng penicillin đã xuất hiện. Ngày nay, gần như tất cả tụ cầu khuẩn đều đã kháng penicillin. Trong quá khứ, hầu hết các ca nhiễm tụ cầu khuẩn kháng methicillin xảy ra ở bệnh nhân điều trị nội trú trong bệnh viện hoặc các cơ sở y tế, nhưng nay thì tụ cầu khuẩn kháng thuốc cũng đã xuất hiện cả ở người khỏe mạnh chưa từng nằm viện. Với sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, bất kì phẫu thuật hoặc thủ thuật xâm lấn nào đều tiểm ẩn nguy cơ gây ra các biến chứng nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng bệnh nhân. Giống như ở kỷ nguyên chưa có kháng sinh, ngay cả một vết xước nhỏ trên da cũng có thể dẫn đến tử vong.      Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, các bệnh gây ra bởi vi khuẩn kháng thuốc đã gây ra ít nhất 700 ngàn ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu, trong đó gần một phần ba tử vong do nhiễm vi khuẩn lao kháng đa thuốc. Số ca tử vong do vi khuẩn kháng thuốc có thể tăng lên tới 10 triệu vào năm 2050 nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, nhiều hơn cả số tử vong do ung thư và tiểu đường cộng lại.      Tình trạng đề kháng kháng sinh ở mức báo động đã được ghi nhận ở gần như mọi quốc gia. Tại một số nước phát triển, khoảng 35% số ca nhiễm khuẩn thông thường đã trở nên kháng thuốc trong khi ở các nước thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ kháng thuốc của một số vi khuẩn có thể lên tới 80 đến 90%. Tỷ lệ đề kháng các kháng sinh cephalosporin thế hệ 4 hoặc 5, những thế hệ kháng sinh mới nhất, được dự đoán sẽ tăng gấp đôi từ nay đến năm 2030.   Một số siêu vi khuẩn kháng thuốc cực kỳ nguy hiểm đã được ghi nhận như vi khuẩn đường ruột kháng gần như mọi loại kháng sinh, kể cả carbapenem, thường được coi là lựa chọn điều trị cuối cùng. Lậu cầu kháng thuốc, Clostridium difficile và nhiều chủng vi khuẩn đa kháng thuốc, kháng thuốc mở rộng hay toàn kháng như tụ cầu vàng kháng methicillin, vi khuẩn lao đa kháng thuốc là những mối đe dọa nguy cấp nhất đối với sức khỏe cộng đồng.  Do đặc thù khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho vi sinh vật phát triển cũng như việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Một nghiên cứu cho thấy phế cầu khuẩn ở Việt Nam có tỷ lệ kháng penicillin và erythromycin lần lượt là 71,4% và 92,1%, cao nhất trong số 11 nước châu Á được khảo sát. Ngay cả các kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 và 4 cũng đã bị đề kháng với tỷ lệ 30-70% trong khi 40-60% kháng sinh nhóm aminoglycosid và fluoroquinolon không còn tác dụng trên nhiều chủng vi khuẩn. Ngay cả với một số kháng sinh nhóm carbapenem, tỷ lệ kháng thuốc của Acinetobacter baumannii, tác nhân gây nhiễm trùng bệnh viện hàng đầu hiện nay, cũng đã ở mức 80-90%.  Trong khi bài viết này tập trung chủ yếu vào sự đề kháng của vi khuẩn đối với kháng sinh, vấn đề kháng thuốc kháng khuẩn nói chung (bao gồm kháng sinh, thuốc kháng virus, thuốc điều trị nấm, ký sinh trùng) có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Tình trạng đề kháng của virus như HIV và virus cúm với các thuốc kháng virus hay của ký sinh trùng protozoa với các thuốc điều trị sốt rét hiện có mức độ nghiêm trọng không kém kháng kháng sinh. Các vi sinh vật đều có thể phát triển khả năng kháng thuốc, dù chúng là vi khuẩn, virus, nấm hay ký sinh trùng.  Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, các bệnh do vi khuẩn kháng thuốc đã gây ra ít nhất 700 ngàn ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu, trong đó gần một phần ba tử vong do nhiễm vi khuẩn lao kháng đa thuốc. Số ca tử vong do vi khuẩn kháng thuốc có thể tăng lên tới 10 triệu vào năm 2050 nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, nhiều hơn cả số tử vong do ung thư và tiểu đường cộng lại. Tại Mỹ, hằng năm có tối thiểu 2 triệu người nhiễm vi khuẩn kháng thuốc và ít nhất 23 ngàn ca tử vong do các vi khuẩn này. Bên cạnh đó, chính kháng sinh cũng làm tổn hại hệ vi khuẩn bảo vệ ở đường tiêu hóa, khiến gần 250 ngàn người phải nhập viện hằng năm do tiêu chảy gây ra bởi Clostridium difficile với khoảng 14 ngàn ca tử vong trong số này. Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh châu Âu ước tính năm 2015 có 671 ngàn người châu Âu mắc bệnh do vi khuẩn kháng thuốc, gây nên hơn 33 ngàn ca tử vong. Tác động về mặt kinh tế của tình trạng kháng kháng sinh có thể ở mức thảm họa. Ngân hàng Thế giới ước tính đến năm 2030, có tới 24 triệu người, chủ yếu ở các nước thu nhập thấp, có thể bị đẩy vào tình trạng đói nghèo do tăng chi phí điều trị vi khuẩn kháng thuốc, trong khi thiệt hại kinh tế do hậu quả của kháng thuốc có thể tương đương với cú sốc do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 gây ra.  Tình trạng đề kháng kháng sinh làm tăng mạnh chi phí y tế do bệnh nhân phải điều trị dài ngày hơn bằng các thuốc đắt tiền, thời gian nằm viện tăng lên, phải thăm khám nhiều lần, tỷ lệ tàn tật, tổn thương do tác dụng phụ của kháng sinh và tử vong tăng cao. Chi phí trực tiếp để điều trị vi khuẩn kháng thuốc tại Mỹ hiện nay lên tới 20 tỷ USD trong khi chi phí gián tiếp do giảm năng suất lao động là khoảng 35 tỷ USD.  Không thuốc chữa?  Trong khi vi khuẩn liên tục biến đổi để trở nên đề kháng với kháng sinh, con người ngày càng có ít lựa chọn để kiểm soát chúng. Thật vậy, trong vòng hơn 30 năm qua, không có thêm nhóm kháng sinh mới nào được tìm ra. Số ít kháng sinh mới được bổ sung đều dựa trên việc biến đổi cấu trúc hóa học của các nhóm kháng sinh đã được phát hiện từ kỷ nguyên vàng.     Các cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Nguồn: Theo E. Gullberg (2014)  Nhiều năm qua, các hãng dược phẩm đã cắt giảm đầu tư cho nghiên cứu và phát triển các kháng sinh mới do lợi nhuận mang lại từ kháng sinh thấp hơn nhiều so với thuốc điều trị các bệnh mãn tính khi bệnh nhân phải dùng thuốc nhiều năm hoặc thậm chí cả đời như thuốc điều trị bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, thần kinh. Bên cạnh đó, do nguy cơ kháng thuốc, vòng đời của một kháng sinh có thể trở nên rất ngắn trong khi quá trình nghiên cứu và phát triển một thuốc mới thường kéo dài tới 15-20 năm và tiêu tốn hàng trăm triệu USD khiến doanh nghiệp có thể gặp rủi ro lớn trong việc thu hồi vốn đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận. Viễn cảnh vi khuẩn đề kháng tất cả các loại kháng sinh hiện có trong khi chưa tìm ra kháng sinh mới thay thế đang trở nên rất gần.  Việc tìm ra các loại kháng sinh mới của con người với quá trình biến đổi để trở nên kháng thuốc của vi sinh vật là một cuộc đua không ngừng nghỉ. Trong cuộc đua này, loài người có rất ít cơ hội vượt lên trước vi sinh vật với bối cảnh đáng báo động hiện nay. Chúng ta chỉ có thể cố gắng để không bị vi sinh vật kháng thuốc bỏ lại quá xa.   Muốn thế, loài người cần hành động khẩn trương và quyết liệt hơn nữa để làm chậm quá trình kháng thuốc của vi sinh vật nhằm có thêm thời gian tìm kiếm các kháng sinh mới, bởi vì, như khẩu hiệu của Tổ chức Y tế Thế giới nhân Ngày Sức khỏe Thế giới 7/4/2011: “Không hành động hôm nay, ngày mai không thuốc chữa” (No action today, no cure tomorrow). □  —–  Tài liệu tham khảo  1. https://www.cdc.gov/drugresistance/index.html  2. https://www.reactgroup.org/antibiotic-resistance/  3. http://amr.moh.gov.vn/  4. https://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/antimicrobial-resistance  5. https://www.who.int/antimicrobial-resistance/interagency-coordination-group/final-report/en/  6. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK209710/  7. https://www.amnh.org/explore/science-topics/microbiome-health/meet-your-microbiome  Kế hoạch hành động toàn cầu   Nhận thức được mức độ nghiêm trọng ở cấp độ toàn cầu của vấn đề kháng kháng sinh, Phiên họp thứ 71 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 5/10/2016 đã thông qua Tuyên bố Chính trị của Hội nghị Cấp cao về Kháng thuốc Kháng khuẩn bằng Nghị quyết A/RES/71/3. Theo đó, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thành lập Nhóm Điều phối Liên ngành về kháng thuốc kháng khuẩn với sự tham gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) nhằm đảm bảo hiệu quả lâu dài của kế hoạch hành động toàn cầu giải quyết vấn đề kháng thuốc. Việt Nam cũng có một cam kết về phòng, chống kháng thuốc thông qua một thỏa thuận đa ngành được ký kết ngày 24/6/2015 giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường với các đối tác phát triển (WHO, FAO, Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU)).    Author                Dương Tú        
__label__tiasang Chống lạm phát bằng chính sách tỷ giá: Một công cụ mạnh cần được phát huy hiệu quả hơn      Lạm phát năm 2007 vượt mức hơn 12%/năm, chỉ số giá tiêu dùng chỉ trong 2 tháng đầu năm đã phi mã tới hơn 6% so với cuối năm ngoái. Kiểm soát lạm phát hiện nay là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Khống chế được lạm phát cao sẽ giúp ổn định Kinh tế – Xã hội và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang lúng túng đối phó và chưa tìm ra lời giải với bài toán lượng lớn vốn nước ngoài khi lạm phát leo thang trong chế độ tỷ giá neo. Thời gian vừa qua do sức ép của lạm phát NHNN tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ, các Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) thiếu thanh khoản, nguy cơ khủng hoảng thanh khoản xảy ra, NHNN xoa dịu thị trường bằng cách bơm lại tiền vào nền kinh tế nhưng lạm phát lại bùng nổ cao hơn…    Với biến động của nền kinh tế thế giới thời gian gần đây, tác giả cho rằng chính sách chống lạm pháp hiện nay là chưa đánh trúng nguyên nhân gốc rễ và cần thay đổi. Ngoài một số nguyên nhân nội tại như thiên tai, đầu tư tràn lan một số công trình công không hiệu quả, nguyên nhân chính gây lạm phát cao tại Việt Nam là do bất cập trong định hướng chính sách đối ứng, cụ thể là chính sách tỷ giá, đối với những cú sốc ngoại lai. Định hướng chính sách tỷ giá không phù hợp so với biến động của kinh tế thế giới dẫn đến kết quả là: 1. Lượng cung tiền tăng đột biến, 2. Chi phí cho sản xuất trong nước tăng cao. Đây là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới lạm phát cao tại Việt Nam.    1. Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh  Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về cơ hội đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD). Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong những điều kiện kinh tế thế giới nhất định. Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút lại một phần cung tiền.  2. Neo tỷ giá với USD đang mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí cho sản xuất trong nước tăng  Cũng trong vài năm gần đây, do thâm hụt thương mại khổng lồ đồng USD của Mỹ đã mất giá so với những đồng ngoại tệ mạnh khác. Cộng thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Mỹ vào cuối năm 2007 khiến nền kinh tế này bước vào giai đoạn suy thoái, đẩy đồng USD mất giá nhiều hơn nữa, giá xăng dầu tính theo đồng USD tăng mạnh. Hình 1 cho thấy chỉ tính từ năm 2006 đến nay đồng USD đã mất giá trung bình khoảng 15% so với các đồng ngoại tệ mạnh khác như Euro, Yên Nhật, Bảng Anh, và đồng Nhân dân tệ Trung Quốc.           Hình 1: Tăng giá của các ngoại tệ mạnh so với USD từ năm 2006. Nguồn: Datastream        Tuy nhiên tỷ giá của VND trong thời gian này hầu như không biến đổi so với USD (tính đến cuối tháng 2/2008 chỉ tăng 0.24% so với 2006). Do đó qua việc neo tỉ giá, VNĐ cũng giảm trung bình 15% so với các ngoại tệ mạnh khác. Chính sách VNĐ yếu mặc dù có thể thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời lại góp phần “nhập khẩu lạm phát “vào Viet Nam. Lí do là sản xuất tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, xi măng, sắt thép, máy móc…Sự mất giá của USD hay nói cách khác là sự tăng giá thành của các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất tính bằng VNĐ dưới chế độ tỷ giá neo là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá cả hàng hóa tăng theo. Chi phí cho sản xuất tăng cao, lượng cung tiền lớn do vậy lạm phát phi mã là không tránh khỏi. Thời gian vừa qua báo chí hay đề cập đến việc nhập siêu hay thâm hụt cán cân thương mại danh nghĩa của Việt Nam, tác giả cho rằng việc VNĐ mất giá so với các ngoại tệ khác góp phần đáng kể vào việc tăng giá thành của hàng nhập khẩu, khiến cán cân thương mại bị thâm hụt lớn.  2. Tỷ giá và lạm phát ở các nước khu vực  Để so sánh, chúng ta thử quan sát tỷ giá và mức lạm phát của những nước xung quanh khu vực có cơ cấu kinh tế gần giống Việt Nam, cùng chung chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, và là những đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu với Việt Nam. Hình 2 cho thấy mặc dù là hai nước rất chú trọng xuất khẩu nhưng Thailand và Đài Loan đã phải “chịu hi sinh” để tỉ giá của đồng nội tệ tăng so với USD hơn 20% và duy trì được lạm phát trung bình ở mức 3% từ 2006 đến nay. Trong khi, Việt Nam và Indonesia gắng neo tỉ giá theo đồng USD và chấp nhận nhập khẩu lạm phát ở mức trung bình các quý 9%. Lạm phát tại Indonesia trong năm 2006 còn ở mức 16%/năm, cao hơn lạm phát hiện nay của Việt Nam và cũng đang có chiều hướng tăng lên. Lạm phát cao khiến lãi suất danh nghĩa buộc phải tăng cao hơn nữa để giữ lãi suất thực khỏi âm, đẩy kinh tế Việt Nam sâu hơn nữa vào vòng xoáy lãi suất, tỷ giá, và vốn nước ngoài.          Hình 2: Tỉ lệ lên giá của các đồng tiền trong khu vực và tỉ lệ lạm phát tính trung bình theo các quý từ đầu năm 2006. Nguồn: Bloomberg, Datastream, NHTƯ của các nước.          Không chỉ khác nhau về chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI) tại Thailand và Indonesia (tác giả không có số liệu về chỉ số này của Việt Nam) cũng cho thấy sự khác biệt. Hình 3 cho thấy chỉ số giá sản xuất của Indonesia luôn tăng cao hơn hẳn so với của Thailand. Tất nhiên, để nắm rõ chi tiết cần phải đi sâu phân tích cấu trúc vi mô từ bảng I/O nhưng Hình 3 phần nào phản ánh sự khác nhau về tăng giá của chi phí sản xuất tại 2 nước gần nhau về cơ cấu kinh tế nhưng có chính sách tỷ giá khác nhau.          Hình 3: chỉ số tăng giá sản xuất giữa Thailand và Indonesia. Nguồn: Datastream          3. Tác động của việc linh hoạt tỷ giá để VNĐ lên giá  Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay tác giả kiến nghị Việt Nam nên mạnh dạn sử dụng chính sách tỉ giá linh hoạt. NHNN nên nới rộng biên độ dao động của VND, giảm việc phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam, trong ngắn hạn để cơ chế thị trường tác động nhiều hơn nữa vào tỷ giá tức là cho phép VNĐ tăng giá hơn so với USD. Điều này sẽ đem lại những lợi ích sau:  1. Việc VNĐ tăng giá tương đối so với USD sẽ làm giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, giảm sức ép lên lạm phát từ những mặt hàng này.  2. VND tăng giá sẽ tăng cung hàng nội địa, góp phần giảm khan hiếm hàng hóa trong nước hiện nay. Khi lượng cung hàng tăng, lạm phát cũng sẽ giảm.  3. Để thị trường có tiếng nói quan trọng hơn nữa trong quyết định tỷ giá. Điều này sẽ góp phần cởi trói cho Chính sách tiền tệ trong nước, giúp NHNN thoát khỏi đối mặt với “Bộ ba bất khả thi” (1). Việc linh hoạt chính sách tỉ giá sẽ giúp NHNN hạn chế được lượng cung tiền vào thị trường vì không phải gắn chặt với nghĩa vụ mua lại nguồn vốn ngoại tệ, giúp kiềm chế lạm phát và có thể sử dụng tự do hơn chính sách tiền tệ khác như lãi suất và thị trường mở đối phó với những cú sốc nội địa như thiên tai, khủng hoảng thanh khoản…  4. VNĐ mạnh lên sẽ giúp giảm lãi suất của đồng nội tệ. NHNN sẽ tránh được việc phải can thiệp hành chính vào chính sách lãi suất tiền gửi của các NHTM.  5. VNĐ mạnh lên sẽ giúp duy trì và cải thiện giá trị đồng nội tệ, giảm thiểu hiện tượng Đô la hóa: Theo như số liệu của IMF năm 2001 thì chỉ số Đô la hóa tại Việt Nam đã ở mức cao (2) ngay cả khi chưa tính đến lượng ngoại tệ tiền mặt lưu hành trong dân chúng ngoài tầm kiểm soát của NHNN. Thời gian gần đây, VNĐ yếu tương đối, lạm phát tăng cao khiến lãi suất tiền gửi âm do vậy nhiều người dân sẽ tìm cách chuyển đổi tài sản của mình sang các ngoại tệ mạnh khác và vàng khiến chỉ số Đô la hóa tại Việt Nam đã và đang tăng. Lưu ý Đô la hóa ở đây nên được hiểu theo nghĩa rộng là sử dụng ngoại tệ mạnh thay thế như Yên Nhật, đồng Euro, và vàng…không nhất thiết phải là đồng USD.  6. Giúp chọn lọc vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam: VNĐ lên giá sẽ có thể giảm lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam nhưng nó lại có tác dụng chọn lọc những nguồn đầu tư lâu dài thực sự có hiệu quả cao, hạn chế được những nguồn ngắn hạn mang tính đầu cơ rủi ro lớn. Tất nhiên về dài hạn, Việt Nam chỉ có thể thu hút vốn nước ngoài khi kinh tế vĩ mô ổn định mà điều kiện cần là lạm phát trong tầm kiểm soát.  Như vậy, linh hoạt tỷ giá để VNĐ tăng giải quyết cả 2 nguyên nhân gây lạm phát là chi phí sản xuất tăng và lượng cung tiền lớn đồng thời cũng có những tác dụng tích cực khác. Mặt trái của việc để VNĐ tăng giá theo lí thuyết là có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, từ Hình 1 chúng ta có thể thấy rằng tỷ giá tại những nước là đối thủ chính của Việt Nam trong xuất khẩu vào các thị trường Châu Mỹ, Châu Âu, và Nhật đều đã tăng mạnh. Do vậy nếu điều chỉnh VND tăng một trong một phạm vi hợp lí và khoa học thì ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam là có hạn (3). Mặt khác, như đã phân tích ở trên vì phụ thuộc nhiều vào hàng nhập khẩu trong sản xuất, chi phí cho sản xuất của hàng Việt Nam có thể giảm khi VNĐ lên giá và hàng xuất khẩu vẫn giữ được tính cạnh tranh. Hơn nữa, theo thời gian các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cũng cần giảm lệ thuộc vào sự trợ giúp về chính sách tỉ giá trong việc cạnh tranh với thế giới bằng giá rẻ mà tập trung hơn nữa vào nâng cao chất lượng hàng hóa để có thể cạnh tranh về chất lượng hàng hóa.  Những người khác có thể quan ngại về việc VNĐ tăng giá sẽ ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại của Việt Nam vốn đã ở tình trạng nhập siêu khá lớn. Trong ngắn hạn, hoàn toàn chưa có sự đồng thuận giữa các nhà Kinh tế về vấn đề này. Hơn nữa, trong ngắn hạn khi VNĐ tăng giá, chiều ngược của hiệu ứng đường cong J có thể có tác dụng làm giảm giá trị của thâm hụt thương mại danh nghĩa. Do vậy theo ý kiến của tác giả, không phải quá lo lắng về vấn đề này. Các nước trong khu vực như Thailand không phải không muốn duy trì tỷ giá thấp để nâng cao tính cạnh tranh của xuất khẩu nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay cho phép nội tệ tăng giá so với USD là đối sách ưu việt hơn. Mặt khác, số liệu cho thấy mặc dù đồng Baht Thailand lên giá so với USD hơn 24% từ năm 2006 nhưng xuất khẩu của họ vẫn tăng và thặng dư thương mại thực của họ luôn ở mức hơn 10% GDP và thậm chí tăng ổn định từ năm 2006 đến nay (Hình 4, nguồn Datastream).          Hình 4: Tỉ giá đồng Baht Thái với USD theo trục bên trái và cán cân thương mại thực trên GDP theo trục bên phải. Lưu ý: Tỉ lệ Baht/GDP giảm nghĩa là đồng Baht tăng giá.        Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nhỏ, mở, và đang phát triển do vậy ảnh hưởng từ tác động bên ngoài là không thể tránh khỏi khiến hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô là tương đối khó khăn. Chính vì vậy để điều hành hiệu quả cần chú trọng theo dõi tình hình kinh tế thế giới và khu vực để có những dự báo và điều chỉnh chính sách linh hoạt. Tác giả cũng thừa nhận những giải pháp như nâng cao chất lượng đầu tư, cải cách bộ máy điều hành vĩ mô là cần thiết nhưng đây là những giải pháp dài hạn có thể mất hàng năm để tiến hành. Chính sách tỷ giá linh hoạt vừa có tác dụng ngắn hạn vừa có tác động dài hạn do vậy chính là sự lựa chọn đúng đắn cho Việt Nam trong việc chống lạm phát hiện nay.  Chú thích:  (1) Trong kinh tế mở, Ngân Hàng Trung Ương không thể thực thi cùng lúc 3 mục tiêu: 1. Tự do tài khoản vốn, 2. Cố định tỷ giá, và 3. Chính sách tiền tệ độc lập.  (2). Những nhà nghiên cứu tại IMF phân loại mức độ Đô la hóa theo chỉ số: 0-3: Thấp, 4-8: Trung bình, 9-13: Cao, và 14-30: rất cao. Chỉ số Đô la hóa tại Việt Nam năm 2001 là 11.  (3) Xuất nhập khẩu phụ thuộc vào tỷ giá thực (real exchange rate) hơn là tỷ giá danh nghĩa nhưng theo nhiều nghiên cứu ở những nước đang phát triển giá cả nội địa quan hệ nội sinh với tỷ giá danh nghĩa do vậy có thể coi xuất nhập khẩu là hàm số của tỷ giá danh nghĩa.    Nguyễn Quốc Hùng, trường Đại học British Columbia, Canada      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống ô nhiễm không khí: Bài toán đau đầu của Hàn Quốc      Những ngày vừa qua, theo hiển thị của ứng dụng điện thoại AirVisual, không khí Hà Nội liên tục được cảnh báo là có hại cho sức khỏe, với nồng độ PM 2.5 vào khoảng 90µg/m3 trung bình mỗi ngày, gấp hơn 4 lần ngưỡng an toàn. Thông tin đó của AirVisual có chính xác không? Chúng ta biết gì về ô nhiễm của Hà Nội và nguyên nhân của nó? Gần như không có gì. Hệ thống quan trắc không khí của Hà Nội vô cùng èo uột và ít ỏi1. Những thông tin từ một vài máy đo rải rác ở đủ loại chất lượng khác nhau không đủ để chúng ta biết về bức tranh không khí nơi mình đang sống.  Qua việc Hàn Quốc đang đau đầu với việc làm sao để giữ được sự trong lành cho các thành phố của mình, cho thấy cuộc chiến đối phó với ô nhiễm không khí khó khăn hơn chúng ta tưởng nhiều.      Một người đeo mặt nạ phòng bụi PM 2.5 tại Seoul. Ảnh: Straitstime  Chúng tôi tới Seoul vào cuối tháng 10 năm 2018, đến gần trưa mà trời vẫn âm u, một lớp màng mỏng như sương giăng khắp trời. Kim Taejong, người dẫn đoàn, chuyên viên của một tổ chức toàn cầu về năng lượng và môi trường (GSCC), giải thích rằng, đó không phải là trời sắp mưa mà là do không khí bị ô nhiễm, chứ vào mùa thu, trời Seoul nhiều nắng và trong xanh. Hôm đó, giám đốc cơ quan chính sách về chất lượng không khí ở văn phòng thị trưởng Seoul phải liên tục lùi lịch hẹn phỏng vấn với chúng tôi, vì phải họp khẩn cấp với các cơ quan trong thành phố để đối phó với nồng độ siêu bụi (PM 2.5, PM 10) đang tăng cao.  Siêu bụi (particulate matter) là những hạt gồm cả chất rắn và chất lỏng ô nhiễm thải ra từ các phương tiện giao thông, các khu công nghiệp và nhà máy điện than, có đường kính rất nhỏ, dưới 10 µm. Trước những năm 1980, người ta cho rằng siêu bụi chỉ ảnh hưởng đến các cơ quan hô hấp nhưng từ năm 1990 trở đi, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, với những bụi mịn có đường kính nhỏ hơn 2.5 µm có thể đi xuyên qua các phế nang, vào mạch máu và ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, từ ruột, dạ dày đến xương khớp và cả hệ thần kinh nếu một người có sức đề kháng yếu (như người già và trẻ nhỏ) tiếp xúc với nồng độ bụi quá cao và liên tục trong nhiều ngày. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, WHO, nồng độ siêu bụi trong không khí là 10µµg/m3 và 20µµg/ m3 trung bình mỗi năm, lần lượt với loại bụi PM 2.5 và PM 10 được coi là an toàn. Nhưng chỉ số đó ở Hàn Quốc là gấp hơn hai lần trong những năm gần đây.   Khi chúng tôi gặp được ông giám đốc, Kwon Min, muộn một tiếng so với dự kiến, ông bảo rằng cuộc họp khẩn cấp này vẫn “chưa là gì đâu”. Giai đoạn tháng 1, tháng 2 còn hơn thế khi thành viên trong cuộc họp còn có cả đại diện của các địa phương khác và các đại diện chính phủ. Kể từ năm 2014, khi nồng độ PM 2.5 ở liên tục ở mức 90µg/m3 hoặc cao hơn trong vòng hai ngày ở bất kì khu vực nào, “Đội phản ứng nhanh với PM 2.5”, được dẫn đầu bởi thị trưởng ở khu vực đó sẽ thực hiện một loạt các biện pháp khẩn cấp như cấm tất cả các xe ô tô công, các doanh nghiệp phát thải sẽ phải dừng hoặc hạn chế hoạt động 70 – 80%. Một loạt động cơ cứu hỏa sẽ được huy động để phun nước, làm sạch đường phố. Trường học sẽ đóng cửa và các hoạt động ngoài trời cũng sẽ dừng lại. Kể các giải thi đấu bóng chày – môn thể thao ưa thích của người dân Hàn Quốc, dù lớn đến đâu cũng phải hoãn. Tin nhắn SMS sẽ được gửi đến điện thoại của từng người dân, khuyến cáo họ hạn chế ra ngoài và yêu cầu, nếu ra đường thì không sử dụng phương tiện cá nhân (mà sử dụng phương tiện công cộng, vào thời điểm đó sẽ được miễn phí).  Đầu năm 2019 vừa qua, riêng thành phố Seoul đã có ba ngày liên tiếp rơi vào tình trạng như vậy.    Hãy bắt đầu từ nguyên nhân  Nghe cứ như, Hàn Quốc lúc nào cũng sẵn sàng cho một “ngày tận thế”. Nhưng đúng là như thế thật. Theo TS. Ha Jiwon, người sáng lập Ecomom Hàn Quốc, một trong số những tổ chức phi chính phủ hoạt động vì môi trường nổi tiếng nhất nước này, siêu bụi đang là mối quan tâm số một của người dân Hàn Quốc. Một khảo sát toàn quốc vừa diễn ra năm ngoái còn cho thấy, người Hàn còn sợ ô nhiễm không khí hơn cả tên lửa của Triều Tiên. Trên bản đồ vệ tinh chất lượng không khí của NASA, Hàn Quốc có màu đỏ chói, thể hiện đây là quốc gia đáng quan ngại bậc nhất về ô nhiễm không khí trên toàn cầu. Trong năm 2017, Hàn Quốc có tới ba thành phố nằm trong top 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Hàn Quốc nằm trong nhóm nước có nhiều người dân mất sớm vì siêu bụi (cứ 100.000 người thì có 23 người). Tháng 1 vừa qua, khi nồng độ bụi mịn cao, chỉ trong vòng một tuần, người Hàn Quốc đổ xô đi mua khẩu trang và máy lọc không khí. Mỹ phẩm chống siêu bụi ở đây cũng bán chạy. Cứ mỗi khi bụi mịn trên 90µµg/m3 trong 2 tiếng đồng hồ liên tục, tin nhắn SMS sẽ được gửi về điện thoại của người dân, mang nghĩa “cảnh báo”. Còn nếu chỉ số trên 150µµg/m3, tin nhắn sẽ mang nghĩa “báo động”. Ông Kwon Min nói rằng, các tin nhắn cảnh báo về bụi mịn được coi nghiêm trọng ngang với cảnh báo về thảm họa, không chỉ trên điện thoại, chúng còn xuất hiện trên khắp tất cả các phương tiện thông tin đại chúng và các địa điểm công cộng từ xe buýt đến các bến tàu, tàu điện ngầm.         Kwon Min, giám đốc bộ phận chính sách về chất lượng không khí ở Văn phòng thành phố Seoul. Ảnh: Hảo Linh  Nguyên nhân của ô nhiễm không khí Hàn Quốc từ trước đến nay, vẫn được cho là chủ yếu đến từ Trung Quốc và Mông Cổ. (Dễ thấy là “bụi vàng” bay từ sa mạc của hai quốc gia này phủ đầy các bãi gửi xe ở nhiều tỉnh phía Tây Bắc Hàn Quốc vào những tháng mùa xuân). Đến gần đây, người dân và chính phủ nước này mới nhìn sâu hơn vào những nguyên nhân từ nội địa.   Khi chúng tôi hỏi lời khuyên cho Việt Nam về đối phó với ô nhiễm không khí, chị Jeong Hae Min, Phó trưởng phòng Quy hoạch không khí sạch thuộc Bộ Môi trường không mất thời gian suy nghĩ: Hãy bắt đầu từ việc nghiên cứu nguyên nhân. Hàn Quốc đầu tư khá bài bản cho việc này. Họ có mạng lưới khoảng gần 300 các trạm quan trắc không khí có khả năng đo lường siêu bụi trên khắp cả nước, với chi phí đầu tư mỗi trạm khoảng 200.000 USD. Ngoài ra còn có các trạm quan trắc di động, các trạm quan trắc ở các khu công nghiệp, trên đường phố…Hầu hết các viện nghiên cứu và trường đại học công lập ở đây đều có nhóm nghiên cứu ô nhiễm không khí.   Vào năm 2016, Hàn Quốc đã thiết lập một dự án nghiên cứu có quy mô lớn kết hợp với Mỹ, để có một phân tích toàn diện về tình trạng ô nhiễm của nước mình. Dự án này đã quy tụ gần 600 nhà nghiên cứu của hai nước và sử dụng cả máy bay nghiên cứu, bao gồm cả “phòng thí nghiệm biết bay” NASA DC-8 jet bay trên Biển Vàng và bán đảo Triều Tiên. Chính phủ Hàn Quốc ngày càng đổ nhiều tiền vào lĩnh vực nghiên cứu ô nhiễm không khí, ứng dụng những công nghệ tối tân nhất để hướng tới việc phân tích “hoạt động” của bụi mịn chính xác hơn, dự báo trước được nhiều ngày hơn. Đến năm 2022, ngân sách cho lĩnh vực này sẽ tăng lên gấp đôi, chưa tính đến chi phí máy móc – thiết bị, như hệ thống vệ tinh quan sát siêu bụi sẽ ra mắt vào năm 2020 về hệ thống dự báo siêu bụi sử dụng AI.  Vấn đề siêu bụi có lẽ là một trong những chủ đề hiếm hoi dễ dàng đạt đồng thuận về chính trị bởi tất cả các đảng phái ở Hàn Quốc. Nhưng đến khi ông Moon Jae In trở thành Tổng thống, chính quyền nước này mới quyết tâm giải quyết nó. Hơn 50% nguyên nhân ô nhiễm không khí của Hàn Quốc đến từ trong nước. Nước này vừa thông qua luật đặc biệt về siêu bụi vào tháng hai vừa qua và thiết lập một ủy ban riêng thuộc chính phủ, có thẩm quyền huy động các bộ ngành khác nhau thực hiện cùng thực hiện đồng loạt các biện pháp trên quy mô lớn cho những tình huống siêu bụi khẩn cấp. Luật đặc biệt về siêu bụi này hoàn toàn độc lập với những luật và chính sách bảo vệ môi trường đã ra đời cách đây hàng chục năm ở Hàn Quốc.   Về lâu dài, các biện pháp đối phó với ô nhiễm không khí và nói riêng là siêu bụi của Hàn Quốc dựa trên hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân đến từ thành phố Seoul (Seoul chiếm tới 45% không khí ô nhiễm của Hàn Quốc) và từ nơi khác. Ở Seoul, siêu bụi chủ yếu đến từ sinh hoạt của người dân: phương tiện giao thông và hệ thống sưởi ở các tòa nhà (42%). Còn lại, ở khu vực khác, siêu bụi đến chủ yếu từ khu công nghiệp và các nhà máy điện than.   Thế lưỡng nan của Hàn Quốc  Không một nguyên nhân nào là Chính phủ Hàn Quốc không tìm cách giải quyết. Họ đưa ra những hỗ trợ tài chính ngày một hào phóng để người dân có thể thay đổi thói quen và sinh kế. Chính quyền Seoul đã dành hàng tỉ USD ngân sách và sẽ tăng thêm trong những năm tới để chuyển đổi những phương tiện xây dựng đời cũ sang phương tiện và thiết bị đời mới, giảm phát thải. Họ cũng thay toàn bộ xe buýt công cộng, xe buýt chở học sinh chạy xăng thành chạy điện hoặc xe thân thiện với môi trường. Họ miễn phí lắp đặt thiết bị lọc khí (biến HC, NOx, CO thành CO2, N2, H2 ) cho các phương tiện trọng tải lớn như taxi, xe tải; hỗ trợ gần 20.000 USD cho mỗi người muốn đổi ô tô chạy xăng sang ô tô chạy điện; trả 80% giá thành chênh lệch giữa máy sưởi hiệu suất cao, phát thải thấp so với máy cũ nếu người dân muốn đổi. Seoul cũng lắp đặt gần 3000 địa điểm sạc cho xe điện trên khắp thành phố.  Các chính sách dành cho khối công nghiệp thì vừa khuyến khích vừa kiểm soát, nổi bật là việc siết chặt dần định mức phát thải bụi mịn cho các ngành nghề gây ô nhiễm, đặc biệt như sản xuất gang, thép, xi măng, lọc hóa dầu. Các công ty này cũng được yêu cầu phải lắp thiết bị giám sát ô nhiễm và các thanh tra môi trường sẽ được tăng cường, điều động các thiết bị quan trắc di động đến kiểm tra đối chứng. Nếu vượt quá mức cho phép sẽ bị phạt hoặc buộc phải dừng hoạt động. Nhưng nhà nước cũng sẽ hỗ trợ họ cập nhật những công nghệ mới nhất trong việc giảm phát thải, đặc biệt là với doanh nghiệp SMEs bằng cách cho vay ưu đãi 5 triệu USD mỗi công ty.  Trong vòng một năm từ 2017 – 2018, Hàn Quốc đã giảm được khoảng 7.6% lượng khí thải. Tham vọng của Tổng thống Moon Jae In là đến năm 2020 sẽ giảm tới hơn 30% và nồng độ bụi mịn sẽ còn 18µg/m3 vào năm 2022. Seoul không giấu tham vọng rằng mình sẽ tương đương các thành phố như New York hay London với nồng độ bụi mịn đang ở rất gần với chỉ dẫn của WHO.   Hướng đối phó với ô nhiễm không khí của Hàn Quốc là “kêu gọi hợp tác, tạo môi trường thân thiện để mọi người tham gia thay vì ra luật” – theo lời của Jeong Hae Min. Sự thành bại những mục tiêu của nước này, vì vậy sẽ phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác của người dân. Khi được hỏi rằng khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện các chính sách môi trường, Kwon Min trả lời ngay là “nghĩ làm sao để người dân có thể tham gia tự giác”. Mặc dù trong tất cả các cuộc điều tra, mọi người dân Hàn Quốc đều coi siêu bụi là mối đe dọa đến tính mạng của mình nhưng liệu họ có dám thay đổi thói quen và sinh kế của mình để giảm thiểu bụi mịn cho cả thành phố lại là câu hỏi không dễ trả lời. Ai muốn đi xe vào thành phố chỉ vào ngày chẵn hoặc lẻ? Lái xe nào sẵn sàng bỏ việc hai ngày để đi thay thiết bị lọc không khí? Ai sẽ muốn dùng xe điện, thân thiện với môi trường hơn nhưng thiết kế không đẹp và sành điệu bằng xe xăng?    Bản thân chính quyền Hàn Quốc cũng luôn muốn tránh sự phản ứng từ khối tư nhân vì e ngại kìm hãm sự phát triển kinh tế. Chính vì vậy, việc kiểm soát phát thải đối với khối công nghiệp vẫn dựa trên tinh thần tự nguyện là chính, theo đó, các doanh nghiệp sẽ kí kết một văn bản thỏa thuận với Bộ Môi trường tự đặt ra mục tiêu phát thải của mình và thực hiện như đã hứa. Hơn nữa, các hạn mức mà Hàn Quốc đặt ra cho các lĩnh vực gây ô nhiễm mới chỉ dừng lại ở giai đoạn I và chưa công bố giai đoạn II với những tiêu chí chặt chẽ hơn. Ngoài ra, mặc dù ông Moon Jae In tuyên bố rằng sẽ giảm tỉ lệ điện than trên tổng năng lượng tiêu thụ toàn quốc trong tương lai thì Hàn Quốc mới chỉ “dám” đóng cửa các nhà máy điện than cũ, tiêu chuẩn lỗi thời (dự kiến sẽ đóng cửa 10 nhà máy đến năm 2022, hiện giờ đã đóng cửa 7 nhà máy) nhưng vẫn cấp phép xây dựng 7 nhà máy mới với công suất gấp đôi 10 cái đã đóng cửa, dự kiến sẽ đi vào hoạt động từ năm 2020 – 2022.   Những tổ chức hoạt động về môi trường, dĩ nhiên, không thỏa hiệp với sự “chùng chình” này. Jieon Lee, người điều phối tổ chức Friends of the Earth (tổ chức môi trường toàn cầu) của Hàn Quốc cho rằng, nếu nghĩ đến lợi ích kinh tế ngắn hạn thì về sau sẽ phải bỏ ra chi phí nhiều hơn thế giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến môi trường. “Chính phủ không gây áp lực lên các tập đoàn thì gánh nặng về sau sẽ quay về những người dân. Người dân Hàn Quốc giờ đã phải bỏ ra 22 tỉ USD chỉ cho tiền mua khẩu trang chống bụi và máy lọc không khí”. □    1 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/quan-trac-khong-khi-ha-noi-lap-dat-hang-loat-tram-moi-1061585.tpo       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Chủ động sản xuất giống cá mục thương phẩm      Đây là thành công của dự án “Xây dựng mô hình phát triển sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đối mục (Mugil cephalus –line)” của Kỹ sư Nguyễn Minh Giáp, Giám đốc xí nghiệp thủy sản, Công ty cổ phần Thanh Hương thuộc xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.  &#160;    Phù hợp với điều kiện địa phương  Quảng Bình là tỉnh Bắc Trung Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8, lượng mưa và nhiệt độ khá ôn hòa vào 24 độ – đến 25 độ. Hơn nữa, Quảng Bình có mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản khá lớn. Tổng diện tích tiềm năng khoảng 15.000ha, độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10 – 15km, giao động từ 8 – 30%o độ pH rất phù hợp cho việc nuôi tôm cua cá xuất khẩu.  Từ nghiên cứu thực tế này 7/2011 – 3/2014, công ty Thanh Hương đã được Bộ KH&CN cho phép triển khai dự án “Xây dựng mô hình phát triển sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đối mục (Mugil cephalus –line)”. Đây là dự án nằm trong Chương trình Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn và miền núi, giai đoạn 2011 – 2015.  Kỹ sư Nguyễn Minh Giáp cho biết, mục tiêu chung của dự án là ứng dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật và sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá mục (Mugil cephalus) nhằm góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Quảng Bình.  Trong đó, dự án nhằm xây dựng mô hình kết hợp với chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá đối mục; đào tạo kỹ thuật viên và tập huấn nông dân.  Sở dĩ, công ty chọn cá đối mục để ứng dụng kỹ thuật triển khai dự án ngoài điều kiện tự nhiên, xã hội còn có nhiều lý do khác. Đó là, cá đối mục là loài cá có giá trị và được chú ý nhất trong 5 – 7 loài thuộc họ cá đối thường gặp ở cửa sông. Loài cá này rộng muối, rộng nhiệt, có thể sống và sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ, nước mặn; chịu đựng được điều kiện thời tiết khắc nhiệt độ 10 độ C.  Cá đối mục phân bố tự nhiên từ Bắc đến Nam, tập trung nhiều ở miền Trung. Do lợi ích kinh tế của loài cá này mà đã có nhiều tác giả nghiên cứu về loài cá này, tuy nhiên chưa có tác giả nào thành công trong việc cho sinh sản nhân tạo cá giống. Năm 2009, Viện nghiên cứu  nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang tiếp nhận công nghệ do chuyên gia trường Đại học Sơn Đông, Trung Quốc chuyển giao công nghệ sản xuất thành công 10 vạn cá giống từ 4-6cm. Từ thành công này đã mở ra cơ hội thuận lợi giúp tiếp cận quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá này, là một trong những cơ sở quan trọng để công ty Thanh Hương triển khai dự án.  Dự án đã xây dựng mô hình nuôi chuyên canh cá đối mục thương phẩm tại một số hộ nông dân ở huyện Bố Trạch và huyện Lệ Thủy, Quảng Bình.   Mang lại giá trị kinh tế cao  Sau gần 3 năm thực hiện, dự án đã được nghiệm thu với kết quả mong muốn. Dự án đã chuyển giao và tiếp nhận thành công 8 quy trình công nghệ như nuôi vỗ cá bố mẹ; kích thích sinh sản; ấp trứng, ương cá bột lên cá hương; ương cá hương lên cá giống; ấp artemia; nuôi hàu và tu hài ấu trùng và quy trình nuôi thức ăn tươi sống.  Dự án cũng đã xây dựng thành công mô hình nuôi chuyên canh với quy mô 1 ha vụ 1 và 0,5 ha vụ 2, đã sản xuất được 1,95 tấn cá đối mục thương phẩm, cá khi thu hoạch đạt 400 – 500g/con, đảm bảo an toàn thực phẩm. Ngoài ra, dự án còn đào tạo được đội ngũ cán bộ kỹ thuật nắm vững các quy trình công nghệ, có thể chủ động sản xuất giống nhân tạo cá đối mục và hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ dân khác. Lợi nhuận thu về từ mô hình sản xuất cá giống là 500 triệu đồng, mô hình nuôi chuyên canh cá đối mục thương phẩm là 800 triệu đồng và nuôi quảng canh cá đối mục thương phẩm là 126 triệu đồng.  Thông qua mô hình phát triển sản xuất giống và nuôi cá mục tại Quảng Bình đã tạo ra việc làm cho nhiều lao động chuyên và không chuyên, thu hút người dân địa phương và các hộ dân vùng lân cận tham gia thực hiện mô hình sản xuất mới, nâng cao thu nhập cho các hộ ngư dân vùng ven biển. Dự án góp phần cải thiện đời sống nhân dân, giúp xóa đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh và phục vụ cho xuất khẩu. Đây là động lực thúc đẩy các dịch vụ hậu cần cho nuôi trồng và chế biến thủy sản, kích thích các dịch vụ có liên quan trong xã hội phát triển như dịch vụ vận chuyển, chế biến, thương mại nhà hàng.  Cho biết về khả năng duy trì và nhân rộng mô hình này, ông Võ Đại Nghĩa, Giám đốc Công ty Thanh Hương chia sẻ, trên cơ sở đã nắm bắt được quy trình công nghệ, đơn vị chủ trì đã nâng cao tổng đàn bố mẹ lên, đồng thời tiến hành sửa chữa nâng cấp hệ thống sản xuất, mở rộng quy mô công nghệ hệ thống bể, ao trong trại để nâng cao công suất, tăng số lượng giống sản xuất ra mỗi vụ.  Dự án giữ mối liên hệ chặt chẽ với các trung tâm sản xuất giống trong và ngoài tỉnh để chuyển giao công nghệ đã tiếp nhận, giúp các đơn vị sản xuất thành công giống cá đối mục, nhân rộng mô hình trong và ngoài tỉnh. Để nhân rộng mô hình này, dự án đã khuyến khích các hộ nông dân thực hiện nhân rộng mô hình với các hình thức như tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ con giống và liên kết để giải quyết đầu ra sản phẩm, quảng bá truyền thông cho người dân biết về kỹ thuật nuôi cũng như hiệu quả của việc nuôi cá đối mục từng bước giúp bà con làm giàu kinh tế gia đình, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ động tương tác và tự ngấm      Tạo niềm vui thích thay vì những bài học cứng nhắc là kinh nghiệm để thu hút trẻ em tham gia vào các hoạt động trải nghiệm ở nhiều bảo tàng lớn trên thế giới.      Trẻ em thích thú trò chuyện với linh vật hình bác sĩ, một hoạt động do Bảo tàng Smithsonian kết hợp với Chương trình Sức khỏe cộng đồng của Mỹ thực hiện. Nguồn ảnh: anacostia.si.edu.  Nhiều người hẳn không quên “Đêm ở bảo tàng” ra đời năm 2006, một trong những loạt phim ăn khách nhất lịch sử điện ảnh kể về trải nghiệm của Larry khi làm việc tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ. Anh không ấn tượng gì với các hiện vật “vô tri vô giác” đến khi màn đêm buông xuống, những hiện vật sống dậy, hành động giống y hệt như những gì được miêu tả trong lịch sử và bắt đầu quậy phá “tưng bừng”. Quá trình “sống với” những nhân vật lịch sử, trải qua cả những cuộc chiến một mất một còn giữa các phe phái đã khiến Larry yêu lịch sử, yêu bảo tàng tự lúc nào không hay và tìm mọi cách bảo vệ bảo tàng khi nó đứng trên bờ vực phá sản  Từ “một chiều” sang “tương tác”  Diễn biến phim là hư cấu, nhưng “tương tác” giữa Larry với các nhân vật lịch sử cũng như chứng kiến các sự kiện trong quá khứ thực ra cũng thể hiện một “chiến lược” của các bảo tàng trên thế giới trong việc thu hút khách tham quan, đặc biệt là trẻ em thông qua một quá trình có thể nói ngắn gọn là trải nghiệm “tương tác và tự ngấm”.  Hiện nay, trước khi thực sự bước vào những bảo tàng lớn trên thế giới như Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ, hệ thống Bảo tàng Smithsonian, bảo tàng nghệ thuật Musée d’Orsay ở Pháp…, bạn đều có thể đặt mua một khoá học trải nghiệm rất thú vị cho trẻ em. Với mỗi khoá này, giáo viên và học sinh (hoặc phụ huynh và học sinh) phải tuân thủ các bước tìm hiểu trước tham quan, trong và sau tham quan với những hoạt động chuẩn bị tài liệu trước khi đi bảo tàng, tham gia trải nghiệm chủ động và sáng tạo sản phẩm sau tham quan tương ứng. Thông qua khoá học trải nghiệm đó, các em học sinh tự “thẩm thấu” các kiến thức lịch sử, nghệ thuật mà không hề bị “nhồi” kiến thức bởi những bài giảng thuyết minh “một chiều”. Ví dụ: Bảo tàng nghệ thuật Smithsonian, Mỹ có hàng chục khoá khác nhau về nhiều chủ đề tương ứng với các không gian trưng bày của bảo tàng. Trong đó, chỉ dành riêng cho nữ sinh cũng có các khoá hướng đạo sinh dành cho nữ với những nội dung rất phù hợp với sở thích của nữ sinh đang tuổi “ô mai” như: Làm trang sức, Phác hoạ kiến trúc hay “hàn lâm” như tìm hiểu về Lịch sử di sản.  Nhưng ít ai biết rằng, các bảo tàng nổi tiếng trên thế giới cũng đã phải trải qua những lần “cách mạng” trong tư duy giáo dục bảo tàng cho trẻ em, với bước chuyển từ thuyết minh “một chiều” sang tương tác có sự “tham gia” chủ động như ngày nay. Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật Quốc gia tại Copenhagen, Đan Mạch là một minh chứng. Bà Nana Bernhardt, cán bộ giáo dục tại bảo tàng này, đã chứng kiến sự thay đổi mang tính lịch sử trong chiến lược tiếp cận trẻ em: Cho đến tận những năm 1990, bảo tàng này vẫn duy trì “thói quen” thu hút trẻ em thông qua những tour tham quan ngắn khoảng một giờ và có hướng dẫn viên. Nhưng rồi, nhân viên bảo tàng ngày càng nhận thấy “không ổn” vì bọn trẻ cảm thấy thật xa lạ và bé nhỏ trong những không gian trưng bày khổng lồ, khó cảm nhận được các công trình nghệ thuật. Sau đó, bảo tàng này đã phải đóng cửa trong hai năm (1996-1998) để thiết lập lại các hoạt động và mở cửa lại sau khi bố trí thêm không gian trải nghiệm dành riêng cho trẻ em dưới tên Bảo tàng trẻ em. Khu vực này rất thân thiện với trẻ nhỏ trong độ tuổi 6 – 12, cung cấp cho trẻ và gia đình những chương trình “trải nghiệm”. Các chủ đề cũng rất gần gũi với tâm lý, tình cảm của trẻ thay vì mang tính hàn lâm với những tác phẩm nghệ thuật “cao siêu”. Một trong những chủ đề thu hút học sinh, phụ huynh và giáo viên cùng tham gia thảo luận sôi nổi mà bảo tàng này cung cấp là “Hoa và ong” – đề cập tới những vấn đề về tình yêu, lãng mạn và tình dục vốn là “chuyện khó nói” ở Đan Mạch tại thời điểm đó.  Tương tự, bảo tàng nghệ thuật Musée d’Orsay, Pháp từng nhận được phản hồi của học sinh là “nơi chán chường, tẻ nhạt”, “bắt buộc phải đi với nhà trường/ sẽ không đi nếu không bắt buộc”. Musée d’Orsay buộc phải “lột xác” bằng những hoạt động “trẻ trung” hơn cho phép học sinh lựa chọn chủ đề và tương tác trực tiếp với các nghệ sĩ trẻ chứ không chỉ chứng kiến những bức tranh đã ra đời từ hàng trăm năm và có cảm tưởng “nghệ sĩ phải là những người đã băng hà như Claude Monet”.  “Khăng khít” với chiến lược giáo dục  Thông thường, các bảo tàng đều tìm hiểu chương trình giáo dục phổ thông và tiến hành nghiên cứu khảo sát về xu hướng, sở thích của trẻ em rồi mới đưa ra các khoá trải nghiệm. Chương trình “Hoa và Ong” của Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật quốc gia Đan Mạch hay các cuộc tương tác giữa trẻ em và nghệ sĩ của bảo tàng Musée d’Orsay, Pháp trong ví dụ ở trên đều hình thành sau khi cán bộ giáo dục của các bảo tàng này có điều tra và phỏng vấn sâu các em học sinh. Đồng thời, để đảm bảo cho các khoá trải nghiệm diễn ra “suôn sẻ”, các bảo tàng đều có hướng dẫn chi tiết để giáo viên phối hợp chuẩn bị cho học sinh trong các khâu trước và sau tham quan.  Về mặt quản lý giáo dục, mỗi điều chỉnh trong chính sách, chương trình giáo dục luôn có tác động mạnh tới sự “sống còn” của các bảo tàng. Trong tháng hai vừa qua, một báo cáo của Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao Anh đã cho thấy, lượng khách tới tham quan các viện bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật nước này giảm tới 1.4 triệu người so với năm 2016 (từ 49 triệu người xuống còn 47,6 triệu người), ghi nhận sự sụt giảm đầu tiên trong gần một thập kỉ qua. Hiệp hội Bảo tàng Anh cho biết đã chứng kiến “sự đáng thất vọng to lớn” vì sự sụt giảm lớn nhất trong đó là số lượng thanh thiếu niên đến thăm viện bảo tàng vì mục đích giáo dục (giảm hơn 6% so với năm trước). Sự sụt giảm đáng kể này được cho là có liên quan tới sự thay đổi “mang tính hệ thống” là loại bỏ nghệ thuật và văn hoá khỏi chương trình giảng dạy. Một nghiên cứu của Đại học Warwick năm 2015 đã phát hiện ra rằng số giáo viên nghệ thuật trong trường học đã giảm 11% kể từ năm 2010, các hoạt động liên quan tới nghệ thuật trong trường học giảm 25%. Tương tự, nội dung về lịch sử nghệ thuật đã bị loại khỏi chương trình A-level (tương đương với lớp 11, 12 ở Việt Nam).  Mặc dù các bảo tàng phải “tự chủ” trong chiến lược thu hút trẻ em của mình, nhưng các chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động tìm hiểu về lịch sử, văn hoá của chính phủ cũng có tác động “hỗ trợ” tới các chương trình giáo dục di sản của bảo tàng. Chẳng hạn, tháng 9 năm 2016, chính phủ Anh đã thí điểm chương trình cho trẻ em tiếp cận nghệ thuật miễn phí. Chính quyền ở năm thành phố lớn nước này cung cấp miễn phí 600 suất cho trẻ em tiếp cận các hoạt động văn hoá bao gồm cả xem nội dung chính của các hoạt động nghệ thuật và cả tương tác “hậu trường”. Sau chương trình thí điểm sẽ là các hoạt động trên diện rộng tại nhiều địa điểm thưởng thức văn hoá nghệ thuật, tìm hiểu lịch sử trong khắp cả nước. Điều đặc biệt của các chương trình này là trẻ em mới chính là “đạo diễn” của khoá tham quan trải nghiệm, nghĩa là chính các em được cùng tham gia với ban tổ chức lên kế hoạch cho mọi hoạt động tham quan.  Và đương nhiên, truyền thông xã hội cũng góp phần không nhỏ cho việc “quảng bá” hình ảnh, cập nhật sự thay đổi trong chương trình hoạt động của các bảo tàng. Ví dụ, chính bộ phim “Đêm ở bảo tàng” đã thu hút thêm tới 20% lượng khách tham quan và đăng ký các khoá trải nghiệm ở bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ trong suốt các kỳ nghỉ năm đó. Thậm chí, ngay từ tháng1/2007, bảo tàng đã bán “hết veo” toàn bộ số vé của các khoá trải nghiệm ăn nghỉ tại bảo tàng cho đến hết tháng sáu.  Bảo Như tổng hợp.       Author                Bảo Như        
__label__tiasang Chủ nghĩa phát triển      Trên tạp chí “Foreign Policy” tháng 7-8/2007, GS Kinh tế William Easterly của ĐH New York, người nổi tiếng với các cuốn The White Man’s Burden, The Elusive Quest for Growth, đã có bài viết phê phán ảo tưởng về “công thức phát triển” trong các chương trình của IMF, World Bank, Liên Hiệp Quốc áp đặt cho các nước nghèo. Ông gọi những công thức đó là “chủ nghĩa phát triển” và “ý thức hệ về phát triển”.    Chủ nghĩa phát triển hứa hẹn đưa ra câu trả lời cuối cùng, hoàn toàn cho mọi vấn đề xã hội, từ nghèo đói, mù chữ cho đến nạn bạo lực. “Nó đưa ra đáp án duy nhất, có thể áp dụng với bất kỳ ai, ở bất kỳ nơi đâu. Chủ nghĩa phát triển cũng có những nhà lý luận riêng, được hóa trang thành các chuyên gia của IMF, WB và Liên Hợp Quốc”.  Và cũng giống như các ý thức hệ khác, chủ nghĩa phát triển một lúc nhắm nhiều mục tiêu, từ giảm nghèo đói trên quy mô quốc gia, phát triển kinh tế toàn quốc và Mục tiêu thiên niên kỷ. Nó nhấn mạnh tới những mục tiêu toàn cầu mà xem nhẹ sự lựa chọn con đường phát triển của quốc gia. Nó thích các học thuyết như “chính sách thị trường cởi mở”, “môi trường đầu tư tốt” hay “toàn cầu hóa cho người nghèo” hơn là tự do cá nhân.  Chủ nghĩa phát triển luôn chắc chắn có đáp án, kịch liệt phản bác những bất đồng, nhưng sau đó thay lại đổi đáp án.   Đáp án ban đầu của chủ nghĩa phát triển là “vốn ưu đãi và công nghiệp hóa” cho các nước nghèo, sau đó là “thay đổi chính sách hướng tới thị trường”, rồi “giải quyết các lỗ hổng về cơ cấu”,  tiếp đến là “toàn cầu hóa”, và hiện là “Chiến lược giảm đói nghèo để đạt Mục tiêu Thiên niên kỷ”.  Một lý do khiến đáp án luôn thay đổi bởi trên thực tế, các nước có tốc độ tăng trưởng cao đã đi theo nhiều con đường khác nhau để phát triển, và các nước đó vẫn tiếp tục thay đổi con đường phát triển từ thập kỷ này qua thập kỷ khác.  GS William Easterly  đặt câu hỏi: “Có chút gì giống nhau trong sự phát triển của Trung Quốc và Chile, của Botswana và Singapore, của Đài Loan và Thổ Nhĩ Kỳ, hay của Hồng Kông và Việt Nam? Còn bao nước đã học theo những “ngôi sao đang lên” đó và thất bại thì sao? Và cả những quốc gia là “ngôi sao đã tắt” như Bờ Biển Ngà, nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong thập kỷ 60 và 70, sau đó chìm trong nội chiến? Và còn Mexico, quốc gia tăng trưởng nhanh trong thập kỷ 80, sau đó thì chững lại, bất chấp nỗ lực của các chuyên gia?”        Theo GS Easterly, sai lầm cơ bản của các chuyên gia IMF, WB, Liên Hiệp Quốc – những nhà “lý luận” chủ nghĩa phát triển – là thiết kế ra một kế hoạch mang tính kỹ thuật, tổng thể để giải quyết mọi vấn đề về nghèo đói. Họ xem nghèo đói đơn giản chỉ là vấn đề kỹ thuật, sẽ được giải quyết bằng máy móc và khoa học tự nhiên mà phớt lờ tất mọi khoa học xã hội khác như kinh tế học, chính trị học hay xã hội học.        Theo GS Easterly, sai lầm cơ bản của các các chuyên gia IMF, WB, Liên Hiệp Quốc – những nhà “lý luận” chủ nghĩa phát triển – là thiết kế ra một kế hoạch mang tính kỹ thuật, tổng thể để giải quyết mọi vấn đề về nghèo đói. Họ xem nghèo đói đơn giản chỉ là vấn đề kỹ thuật, sẽ được giải quyết bằng máy móc và khoa học tự nhiên mà phớt lờ tất mọi khoa học xã hội khác như kinh tế học, chính trị học hay xã hội học.  Dưới con mắt các chuyên gia IMF, WB – theo GS William Easterly – nghèo không phải là nghèo mà là “đang phát triển” cho tới giai đoạn cuối cùng của lịch sử, thành “phát triển”. Theo con đường lịch sử đó, sự chấm dứt bạo lực, nghèo đói, và chiến tranh sẽ được bưng ra như cơm mời. Các chuyên gia đó cũng xem mọi đất nước dưới góc độ thu nhập bình quân đầu người, và xem các nước giàu là hình ảnh tương lai của các nước nghèo.  Một trong những lãnh tụ của “chủ nghĩa phát triển” là Thomas Friedman đã không thể che dấu sự giễu cợt những người ngăn bước “thế giới phẳng”: “Khi bạn là Mexico, bạn được tiếng là nước có nhân công giá rẻ, nhưng công dân của bạn đang nhập khẩu tượng thánh bảo hộ của bạn từ Trung Quốc bởi họ có thể sản xuất và vận chuyển chúng xuyên Thái Bình Dương mà vẫn rẻ hơn bạn sản xuất… nghĩa là bạn gặp rắc rối. Cách duy nhất để Mexico trở nên phồn vinh là một chiến lược cải tổ…”. Song chính Friedman lại bị William Easterly giễu cợt khi viết: “Fiedman có vẻ hạnh phúc khi không hay biết rằng nước Mexico- xa Chúa nhưng gần các học giả Mỹ – đã từng nỗ lực hơn Trung Quốc nhiều để áp dụng ‘chiến lược cải tổ’ của các chuyên gia”.  Theo ông, với những quốc gia thành công trong suốt 40 năm qua thì khó có thể nói là họ đã phát hiện “đáp án đúng” từ chủ nghĩa phát triển. Trên thực tế, họ thường làm khác những gì các chuyên gia phát triển chỉ bảo. Ví dụ, những năm 60, các “con hổ Đông Á” đã chọn con đường phát triển kinh tế hướng ngoại, thay vì làm theo lời khuyên là công nghiệp hóa cho thị trường nội địa.  “Chủ nghĩa phát triển”, theo GS William Easterly, thực tế đã gây phản tác dụng: Sự thất vọng trong việc phải trả những khoản vay kèm điều kiện điều chỉnh cơ cấu ở Zimbabwe là lý do để tổng thống Robert Mugabe chống lại nền dân chủ;  “Liệu pháp sốc” do Jeffrey Sachs – chuyên gia của IMF và WB – áp dụng cho Nga đã khiến người dân thêm nhớ Liên Xô.  GS William Easterly  viết: “Một vài người nhận ra nước Mỹ năm 1776 cũng có thu nhập tương đương với châu Phi ngày nay. Song may mắn cho Mỹ là đã thoát khỏi nghèo đói nhờ tránh được những người theo chủ nghĩa phát triển. George Washington không phải làm việc với các nhà tài trợ, không phải điều chỉnh chính sách hay thảo ra các chiến lược giảm đói nghèo. Các nước phát triển vẫn đang thoải mái thử nghiệm các chính sách lớn”. Và ông kết luận: “Lịch sử đã chứng minh, những điều tốt đẹp sẽ đến khi người ta tự do lựa chọn đường đi của mình.  May mắn là rất nhiều cộng đồng nghèo đã tự tạo con đường tự do và thịnh vượng hơn cho mình. Đó mới chính là phát triển thật sự”.  Nguyễn Hưng       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ nghĩa tư bản bụi tre      Các doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo tạo nên thành công kinh tế của Trung Quốc.      Ít người có thể phủ nhận rằng Trung Quốc là một siêu sao kinh tế trong những năm gần đây. Nhờ tốc độ tăng trưởng hàng năm hai chữ số, nước này đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và năng động nhất trên nhiều phương diện. Thành tích này thường được gán cho “chủ nghĩa tư bản đặc tính Trung Quốc” – vốn ám chỉ rằng các nhà quản lý kinh tế với bàn tay mạnh mẽ hữu hình đã tạo ra phần lớn phép màu. Đó, theo lẽ tự nhiên, là một quan điểm mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc vui vẻ ủng hộ.  Nhưng có đúng vậy không? Tất nhiên là tác động của chính quyền rất lớn và quan trọng. [Hành động của chính quyền] rất hữu hiệu trước những trở ngại về vật chất và công nghệ: về vật chất là khi cần xây đường, cầu và nhà máy điện; về công nghệ là tạo điều kiện (bằng những biện pháp công bằng hay bất công) chuyển giao tài sản trí tuệ từ nước ngoài. Nhưng ngoài tác động của chính quyền, sức mạnh của Trung Quốc còn phải dựa vào những doanh nghiệp tư nhân. Nếu như nước Đức có các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo nên xương sống của nền kinh tế thì Trung Quốc có vô số doanh nghiệp (rất) tư nhân và mạnh mẽ: một bụi tre tư bản chủ nghĩa rậm rạp phát triển rất nhanh.  Những xí nghiệp này không chỉ hoạt động độc lập với các công ty quốc doanh hùng mạnh mà còn nằm ngoài cả vòng luật pháp. Hệ quả là, tầm quan trọng của chúng không được phản ánh đúng trong những số liệu thống kê mà nhà nước tạo ra, vốn đã là một ô cửa sổ méo mó để nhìn vào nền kinh tế Trung Quốc. Nhưng như thông tin của chúng tôi cho thấy, đó là một nguồn lực đáng kinh ngạc.  Vương quốc Mittel1   Thứ nhất, hoạt động của chúng rất quy mô. Ba thập kỷ trước, gần như mọi hoạt động kinh tế ở Trung Quốc đều bị một cấp chính quyền nào đó quản lý. Nay, một ước tính – mang tính sơ bộ – cho 70% tỷ trọng GDP được tạo ra từ các doanh nghiệp không do nhà nước nắm cổ phần chi phối. Zheng Yumin, bí thư đảng bộ sở thương mại tỉnh Zhejiang, nói trong một hội thảo hồi năm ngoái rằng hơn 90% trong số 43 triệu công ty của Trung Quốc là tư nhân. Trung tâm của doanh nghiệp tư là các vùng, ví dụ như Zhejiang nơi mà các quan chức Bắc Kinh không mấy lưu tâm, nhưng kiểu doanh nghiệp này nay đã lan rộng ra khắp cả nước.        Chính sách đối với khu vực tư của Trung Quốc thường được gọi là “mắt mở, mắt nhắm”. Đây là một hệ thống linh hoạt đến mức tuyệt vời, nhưng khi không có một bộ luật nhất quán, các công ty sẽ trở thành nạn nhân của sự thiên vị từ các quan chức. Họ có thể bị đóng cửa bất kỳ lúc nào. Rất khó để họ có thể phát triển lên cấu trúc bền vững hơn.        Thứ hai, họ rất năng động. Qiao Liu và Alan Siu ở Đại học Hồng Kông tính toán rằng tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trung bình ở các công ty tư nhân chưa được niêm yết2 cao hơn tới 10 điểm phần trăm so với mức 4% khiêm tốn ở các doanh nghiệp mà chính phủ sở hữu một phần hay toàn phần.   Số doanh nghiệp tư nhân có đăng ký đã tăng trưởng trung bình 30% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2009. Các nhà máy mọc lên bên những xa lộ và đường sắt mới hoạt động suốt ngày đêm để sản xuất bất kỳ thứ gì được cần đến ở bất kỳ đâu trên thế giới. Những người đứng sau các doanh nghiệp này liên tục điều chỉnh sản phẩm và cách thức sản xuất để đáp ứng áp lực cạnh tranh mạnh mẽ (thường là ở địa phương) và sự biến động của cầu. Các chính khách địa phương, những người mà tương lai sự nghiệp bị gắn chặt vào chỉ số tăng trưởng, thường để cho các doanh nghiệp này hoạt động tự do không chỉ bên ngoài sự quản lý trực tiếp của nhà nước mà còn bất chấp cả luật liên quan tới sở hữu đất, quan hệ lao động, thuế và cấp phép. Chủ nghĩa tư bản bụi tre sống trong một bong bóng tự do.   Nhưng điều này lại chỉ ra tính chất thứ ba, đang lo ngại hơn, và là tính chất đặc thù của loại doanh nghiệp này: dễ tổn thương. Chính sách đối với khu vực tư của Trung Quốc thường được gọi là “mắt mở, mắt nhắm”. Đây là một hệ thống linh hoạt đến mức tuyệt vời, nhưng khi không có một bộ luật nhất quán, các công ty sẽ trở thành nạn nhân của sự thiên vị từ các quan chức. Họ có thể bị đóng cửa bất kỳ lúc nào. Rất khó để họ có thể phát triển lên cấu trúc bền vững hơn.  Trồng chứ đừng đốn                   Nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc thấy cần phải phá bỏ “chủ nghĩa tư bản bụi tre”, họ cho rằng nó thúc đẩy việc bóc lột lao động. Tuy nhiên sẽ tốt hơn rất nhiều nếu thay vào đó họ cố gắng cải thiện hệ thống luật pháp cho doanh nghiệp. Hiện nay nhiều doanh nghiệp rõ ràng là sợ sự giám sát: họ không muốn phải công khai, sợ công việc của họ trở thành tâm điểm điều tra. Nhưng nếu không có một cơ sở pháp lý vững chắc (bao gồm cả luật sở hữu trí tuệ), sẽ rất khó hình thành những tập đoàn và thương hiệu lớn.         …Khu vực tư nhân đóng vai trò sống còn đối với việc nâng mức sống – và chuyển dịch nền kinh tế Trung Quốc tiến tới phục vụ tiêu dùng nội địa thay cho xuất khẩu ra nước ngoài.        Sự mập mờ pháp lý cũng đẩy việc huy động vốn vào bóng tối. Kết quả là [nó tạo ra] một hệ thống tài chính cực kỳ mềm dẻo, nhưng cũng rất tốn kém. Tài sản thế chấp rất đáng ngờ và hệ thống tài chính của nhà nước không khuyến khích các cán bộ tín dụng cho các công ty ngoài quốc doanh vay những khoản có tính rủi ro. Vì vậy, thực tế là tiền vay thường đến từ các nguồn không chính thống, với giá cao. Cái được gọi là lãi suất Ôn Châu (đặt theo tên thành phố nổi tiếng nhất về loại hình tài chính này) được nói là bắt đầu ở mức 18% và có thể vượt quá 200%. Mỗi khoản nợ hiếm khi có hạn hơn hai năm. Người ngoài thường ngạc nhiên về việc lập kế hoạch dài hạn gắn liền với nền kinh tế Trung Quốc, nhưng thực ra rất nhiều trong số những nhà sản xuất năng động nhất của nước này bị giới hạn trong kiểu kinh doanh ăn đong, gieo trồng và thu hoạch trong một mùa nông nghiệp3.  Vì vậy, chủ nghĩa tư bản bụi tre sẽ phải thay đổi. Nhưng đồng thời nó cũng đang khiến nước Trung Quốc phải chuyển mình. Áp lực cạnh tranh từ các công ty tư nhân đã giúp nâng lương và phúc lợi nhiều hơn bất kỳ đạo luật mới nào – và giúp tạo ra nhu cầu của người tiêu dùng Trung Quốc (và cả của các doanh nghiệp nữa). Và đằng sau vô số doanh nghiệp mới được thành lập với vốn đầu tư hạn hẹp là các cựu nhân viên công ty vốn đã thấy rõ lợi nhuận từ việc vận hành cả một hệ dây truyền lắp ráp thay vì chỉ làm việc ở một nơi. Trên tất cả các khía cạnh này thì khu vực tư nhân đóng vai trò sống còn đối với việc nâng mức sống – và chuyển dịch nền kinh tế Trung Quốc tiến tới phục vụ tiêu dùng nội địa thay cho xuất khẩu ra nước ngoài.  Người ta nên biết ơn điều đó, và nên chào đón chủ nghĩa tư bản bụi tre rộng rãi hơn. Có những người tin rằng quản lý kinh tế và chính trị chặt chẽ là liều thuốc giúp kinh tế Trung Quốc tăng trưởng. Nhưng trên thực tế, Trung Quốc tiến lên phía trước là do nhà nước biết nới lỏng kiểm soát để tận dụng thế mạnh của thị trường.   Hoàng Minh  lược dịch theo The Economist  —————  1 Người viết chơi chữ – Mittelstand là từ chỉ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức  2 Ý nói các công ty này không được kiểm soát và không được tính vào số liệu thống kê  3 Ý nói phải đầu tư và thu hồi vốn trong thời gian cực ngắn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ nợ của thế giới (Bài 4)      Điểm đặc biệt khiến cho TQ khác hẳn các nước khác trong giai đoạn phát triển, là TQ phát triển mà không cần vay nợ, không những thế lại còn thành chủ nợ của cả thế giới! Đó là do TQ tiêu dùng ít (tiết kiệm cao), và luôn xuất siêu.     Các nước khi còn nghèo, muốn phát triển thì thường phải vay nợ nước ngoài để đầu tư vì thiếu vốn. Sự phát triển đi kèm vay nợ, và sau đó thì phải trả nợ, chia bớt một phần lợi nhuận của mình cho chủ nợ hoặc chủ đầu tư nước ngoài. Khi mà vay nợ quá nhiều, thì có thể dẫn đến mất ổn định và khủng hoảng kinh tế tài chính nếu không có đủ khả năng trả nợ.   Ví dụ: khủng hoảng tài chính trên thế giới thì rất nhiều, hầu như không một nước đang phát triển nào mà không từng bị. Ngay một nước được coi là “đã phát triển” như Hy Lạp cũng bị khủng hoảng tài chính vào năm 2010 khi mà nợ chính phủ quá nhiều. Chính phủ Mỹ, tuy chưa đến mức có nguy cơ phá sản, những cũng đang rất nan giải với bài toán nợ nước ngoài. Việt Nam, với tỷ lệ nợ nước ngoài khá cao và thâm hụt cán cân thương mại hàng năm, cũng luôn bị mối đe dọa khủng hoảng tài chính rình rập.   Điểm đặc biệt khiến cho TQ khác hẳn các nước khác trong giai đoạn phát triển, là TQ phát triển mà không cần vay nợ, không những thế lại còn thành chủ nợ của cả thế giới! (Đây thực sự là một “nghịch lý”, vì giầu như Mỹ thì là con nợ, còn nghèo như TQ thì lại là chủ nợ). Đó là do TQ tiêu dùng ít (tiết kiệm cao), và luôn xuất siêu. Khả năng xuất siêu của họ dựa trên nhân công rẻ mạt (khiến giá thành rẻ), tiêu dùng ít (kéo theo nhập khẩu hàng tiêu dùng ít, chủ yếu nhập đồ thô để chế biết rồi xuất lại), và các thủ đoạn chiếm lĩnh thị trường (hứa cho vay, chào giá rẻ hơn đối thủ, mua chuộc những người có quyền quyết định ở nước ngoài, v.v).   Trong những năm gần đây, thặng dư thương mại (trade surplus) của TQ nằm ở mức 200-300 tỷ USD/năm. Cộng các khoản tiền thặng dư này lại qua nhiều năm, TQ đã có được trữ ngoại tệ ở mức khổng lồ 2,4 nghìn tỷ USD vào đầu năm 2010 (gấp 24 lần GDP của Việt Nam!), chủ yếu dưới dạng tiền cho các nước khác vay, trong đó khoảng 70% (quãng 1,7 tỷ USD) là cho Mỹ vay, trong đó chính phủ liên bang của Mỹ vay gần 800 tỷ (Xem: http://www.washingtontimes.com/news/2010/mar/02/chinas-debt-to-us-treasury-more-than-indicated/). Với “khoản tiền thừa” khổng lồ này, TQ ở vào vị thế mạnh, “rủng rỉnh” săn lùng các cơ hội đầu tư ở các nơi, và mua chuộc các nước bằng các lời hứa cho vay để đổi lấy các hợp đồng lớn và các nhượng bộ về thương mại khác, ví dụ như quyền khai thác các khoáng sản.   Đặc biệt, khi mà khủng hoảng tài chính xảy ra năm 2008, lại là cơ hội để TQ mua được nhiều tài sản lớn trên thế giới với giá rẻ, và nhiều chính phủ gặp khó khăn về tài chính đã phải “ngửa tay” nhận “giúp đỡ” của TQ, với cái giá phải trả là để cho TQ xâm chiếm thị trường hoặc khai thác tài nguyên của họ.   Một ví dụ là, năm 2009, TQ đã thắng đấu thầu hai hợp đồng xây dựng lớn cho tuyến đường cao tốc ở Ba Lan, với giá đấu thầu 310 triệu EUR. Không những giá đấu thầu này của TQ rẻ hơn đến 25% so với giá đấu thầu của các đối thủ khác, mà các công ty TQ tham gia đấu thầu còn cho chính phủ Ba Lan vay một khoản 100 triệu EUR ứng trước.   Tất nhiên, để thực hiện được hợp đồng xây dựng với giá rẻ hơn hẳn các đối thủ của mình, TQ lôi toàn bộ từ kỹ sư đến công nhân giá rẻ mạt của họ sang xây dựng thay vì sử dụng người địa phương. Ngay ở những nước còn nghèo và có tỷ lệ thất nghiệp cao như Algeria (trên 30% vào đầu những năm 2000), khi nhà thầu xây dựng TQ trúng thầu (và họ luôn trúng thầu), họ cũng chỉ sử dụng nhân công TQ rẻ mạt chứ không chia việc cho người bản xứ.  Chiến lược “tấn công kinh tế”   Thời đại của những quân đội thực dân “đem súng đi mở đất” đã qua. Trong thế kỷ 21 này, không có nước nào còn có thể dùng những biện pháp vũ lực man rợ để chiếm đoạt đất đai tài sản mà trên danh chính công thuận đang thuộc về nước khác (không kể những vùng đất tương đối nhỏ đang tranh chấp). Thực dân kiểu cũ không còn nữa. Thay vào đó là kiểu thực dân mới: thực dân về kinh tế, với TQ là điển hình.  TQ đi “xâm chiếm” các nước về kinh tế, không cần mang theo súng ống, mà chỉ cần mang theo tiền và hàng hóa. Họ không “đánh”, mà “mua”. Một số chiến lược “tấn công kinh tế” của TQ ở mọi nơi mà họ đi đến là:  – Bán hàng đã chế biến với giá rẻ (đánh bại hàng sản xuất nội địa cũng như hàng nhập từ nơi khác);  – Mua nguyên nhiên liệu thô, và mua các quyền khai thác mỏ hay các doanh nghiệp khai thác mỏ (ở khắp các nơi trên thế giới, để đảm bảo nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu cho TQ);  – Mua cả đất nông nghiệp và khai thác rừng ở các nơi. (Nhiều nước nhượng quyền khai thác hàng trăm nghìn hecta cho TQ, hay thậm chí phá hàng triệu hecta rừng để bán gỗ cho TQ);  – Đấu thầu các hợp đồng xây dựng lớn, với giá luôn rẻ hơn giá của các đối thủ. (Để có được giá thành rẻ hơn hẳn các đối thủ của mình, các chủ thầu TQ thường đem công nhân TQ đến làm việc mỗi khi trúng thầu, và sẽ tìm cách “cắt góc” các qui trình công đoạn);  – Mua chuộc đối tác bằng mọi hình thức: giúp đỡ tài chính, cho vay, tặng quà, v.v. (Các chính phủ mà thiếu kỷ luật tài chính, kẹt tiền, thì sẽ dễ bị mua chuộc bằng các khoản cho vay);  – Tận dụng triệt để các điểm yếu của đối tác. (Ví dụ, đối tác mà càng thiếu minh bạch, càng tham nhũng độc tài thiếu dân chủ, thì càng dễ mua chuộc hối lộ. Đối tác mà đang có bất mãn với các đối thủ của TQ thì càng dễ ngả về TQ);  – Người TQ sang được nước nào thì sẽ tìm cách bám trụ ở lại nước đó, làm ăn buôn bán tiếp tục chiếm lĩnh thị trường.  Có thể nói, những chiến lược trên đã được thực hiện rất thành công ở mọi nơi trên thế giới. Ngay tại Iraq, nơi mà Mỹ lật đổ Saddam Hussen vào năm 2003 trong một cuộc chiến tranh “vì dầu hỏa”, vào cuối năm 2009 nước ngoài có mặt nhiều nhất trong lĩnh vực dầu hỏa ở Iraq không phải là Mỹ mà là TQ (1). Đổi lại, TQ xóa 80% nợ cho Iraq. Ở Ả rập Xê út, TQ trở thành khách hàng số 1 của hãng dầu mỏ quốc gia AMCO, và đã xuất khẩu được cho nước này tàu hỏa siêu tốc của TQ, đánh bại tầu siêu tốc (TGV) của Pháp.  Đặc biệt là các nước nghèo (nhưng giầu tài nguyên thiên nhiên) dễ trở thành “chư hầu mới” của TQ. Angola, một “nước anh em” cũ của TQ ở châu Phi (thời trước có chuyên gia TQ sang Angola, tương tự như người VN đi chuyên gia Angola), riêng năm 2004 đã nhận được viện trợ 2 tỷ USD của TQ dưới dạng tiền vay qua Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ, và đổi lại TQ chiếm được các hợp đồng khai thác dầu mỏ tại nước này (“nẫng tay trên” các đối thủ Anh và Pháp) và các hợp đồng xây dựng lại Angola (bị tàn phá vì chiến tranh).   Các công trình xây dựng của TQ ở Angola (ví dụ như 4 sân vận động phục vụ cho Giải vô địch bóng đá châu Phi với giá 600 triệu USD), cũng như ở các nước châu Phi khác (trừ Nam Phi), chủ yếu dùng nhân công TQ chứ không dùng người bản xứ, trong khi dân bản xứ có tỷ lệ thất nghiệp và sống dưới mức nghèo khổ cao. Các dự án xây dựng này nói chung mờ ám về mặt tài chính, và không ai biết TQ đã “lót tay” cho các quan chức ở châu Phi bao nhiêu để chiếm được các dự án này.  Các nước châu Phi khác, như Nigeria (vốn không ưa thích gì Anh-Pháp-Mỹ) cũng phong TQ làm “thủ lĩnh” của họ, và nhượng cho TQ quyền khai thác dầu mỏ và các khoáng sản khác. Vào năm 2006, khoảng 30% nhập khẩu dầu hỏa của TQ là từ châu Phi.   Ở Cộng hòa Dân chủ Công gô (Congo-Kinshasa), TQ ký thỏa thuận đầu tư 3 tỷ USD vào một dự án khai thác đồng lớn, cộng thêm 6 tỷ USD cho xây dựng hạ tầng cơ sở (đường xá, bệnh viện, v.v.) vào năm 2008. Khi giá đồng đi xuống đến 75%, thì TQ có thể coi là bị lỗ vì trả giá cao cho Công gô, nhưng về phương diện chiến lược, đây là một đầu tư thành công của TQ nhằm đảm bảo nguồn cung cấp đồng.  Nước Sudan ở châu Phi bị thế giới cấm vận sau khi đảo chính quân sự năm 1989 và gây chiến tranh ở châu Phi (đã bỏ cấm vận năm 2010). Trong thời gian bị cấm vận thì Sudan có bạn là TQ, đổi dầu hỏa lấy vũ khí. Ở Guinea-Conakry, chính quyền độc tài quân sự cũng được TQ tặng cho một sân vận động, đổi lấy một dự án đầu tư khai thác mỏ trị giá 7 tỷ USD.  Hàng hóa đã chế biến rẻ tiền của TQ ngày nay tràn ngập khắp thế giới. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển (không có tiền để mua đồ đắt hơn với chất lượng cao hơn), sự xâm chiếm thị trường của hàng rẻ tiền TQ càng rõ rệt. Tuy nhập khẩu đến 58 tỷ USD nguyên nhiên liệu thô từ châu Phi vào năm 2008, nhưng cán cân thương mại của TQ với châu Phi không bị âm, vì họ xuất sang châu Phi hơn từng đấy đồ đã chế biến.   Tại Cameroun, vào năm 2004 xuất khẩu sang TQ là 20 tỷ CFA (franc châu Phi, chủ yếu là gỗ rừng), trong khi nhập khẩu từ TQ là 67 tỷ CFA (chủ yếu là hàng đã chế biến). Chỉ trong giai đoạn 2004-2009, lượng xuất khẩu từ TQ sang các nước đang phát triển đã tăng hơn 3 lần, từ 190 tỷ USD lên 670 tỷ USD. Điều này kéo theo sự đóng cửa các nhà máy chế biến ở hàng loạt các nước, kể cả Ấn Độ (một “địch thủ” cạnh tranh của TQ).  Các nguồn tài nguyên ở Mỹ La tinh cũng không tránh khỏi “tầm ngắm” của TQ. Không chỉ Venezuela (là nước “XHCN” ở Nam Mỹ và hiện có quan hệ xấu với Mỹ), mà những nước khác như Brasil, Argentina cũng ký hợp đồng thăm dò và khai thác dầu hỏa với TQ. 70% suất khẩu sắt của Peru là sang TQ. Tương tự như với châu Phi và các nơi khác, TQ mua nguyên nhiên liệu của Nam Mỹ thì “xả hàng” đồ dân dụng lên Nam Mỹ, cán cân thương mại của TQ cũng không bị âm, và hàng may mặc của TQ “bóp nghẹt” ngành công nghiệp dệt may của Nam Mỹ.  Đối với những nước ở gần TQ thì sự “xâm chiếm kinh tế” của TQ còn lớn hơn. TQ xây dựng (bằng công nhân TQ) đường ống dẫn khí đốt 1.833km từ TQ xuyên qua Kazakhstan- Uzbekistan-Turkmenistan để cung cấp khí đốt cho TQ (và cũng là để giảm sự phụ thuộc của 3 nước Trung Á này vào Nga), khánh thành vào 14/12/2009 với sự tham dự của Ho Jintao (Hồ Cẩm Đào) và các nguyên thủ của ba nước Trung Á này. Ở Kazakhstan, 85% nhiên liệu là xuất khẩu sang TQ, và 80% hàng tiêu dùng là nhập từ TQ.   Công ty CNPC (một trong 3 công ty dầu hỏa lớn của TQ) mua 67% tập đoàn PetroKazakhstan vào năm 2006. Vào năm 2007 có đến 4.000 liên doanh TQ-Kazakhstan ở Kazakhstan, tăng lên từ 300 vào năm 1995, nhưng chủ yếu là để phục vụ xuất khẩu nguyên nhiên liệu thô chứ không phải để sản xuất. Có những chuyên gia như Konstantin Syroezhkin (Viện Nghiên cứu chiến lược Kazakhstan) lên tiếng cảnh báo về những điều mà TQ làm đi ngược lại quyền lợi của Kazakhstan. Thế nhưng chính phủ Kazakhstan nhận là “đối tác chiến lược” của TQ, và bỏ ngoài tai những cảnh báo đó (2).   Hai nước láng giềng của VN là Lào và Campuchia cũng nằm lọt trong “vòng kiểm soát” của TQ, cả về kinh tế và chính trị. TQ là nhà đầu tư nước ngoài chủ đạo tại hai nước này (ở Campuchia, theo sách “L’Empire Chinois” của nhà TQ học Pierre Picquart, đến 90% cácnhóm đầu tư là gốc TQ), và các công trình trọng điểm, ví dụ như cầu qua sông Mê Kông nối Lào với Thái Lan, là do TQ xây. Đối với TQ, thì Lào và Campuchia là hai nguồn dự trữ lớn về khoáng sản và lâm sản, và cũng là tuyến đường đi xuống phía Nam Á cho TQ.   Chính sách kinh tế của TQ đối với VN cũng không khác gì là chính sách của họ với các nước khác. TQ chiếm lĩnh dự án khai thác bauxite (mỏ nhôm) khổng lồ ở VN (giá trị có thể đến hàng chục tỷ USD), đưa nhân công vào làm việc tại VN, đẩy hàng rẻ tiền (và chất lượng không đảm bảo) sang tràn ngập VN, và trúng thầu tới 90% các dự án trọng điểm của VN (theo lời của một nhân vật cao cấp ở VN vào năm 2010).   Làn sóng Hoa kiều mới  Ước tính có từ 70 đến 130 triệu người gốc TQ sống ở hải ngoại. Lực lượng Hoa kiều này, mà có khi được gọi ví von là “tỉnh thứ 24” của TQ (4), là một động lực lớn cho việc phát triển kinh tế ở TQ. Hoa kiều mang lại cho TQ rất nhiều thứ như:  – Giúp TQ tạo dựng quan hệ với các nước khác, chiếm lĩnh thị trường ở các nước khác, và làm “tai mắt” của TQ ở các nơi.  – Đem đầu tư, tiền của và khoa học công nghệ vào TQ. Theo Pierre Picquart, tác giả của cuốn sách “L’Empire Chinois”, khoảng 3/4 các đầu tư nước ngoài ở TQ là qua Hoa kiều.  Dưới thời Mao, việc đi lại của dân TQ được kiểm soát chặt chẽ. Các chuyên gia hay công nhân TQ đi sang các nước “anh em” làm việc, hết thời hạn là bắt buộc phải về nước. Trong những năm 1970, có một chục nghìn người TQ sang Tanzania xây dựng tuyến đường sắt Tazara, và sau khi xây xong thì họ quay về lại TQ. Các Hoa kiều “cũ” ở các nước chủ yếu rời khỏi TQ từ trước 1950. Họ tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia mỗi nước có khoảng 10 triệu Hoa kiều, rồi đến Indonesia, Vietnam, v.v). Ở châu Mỹ và châu Âu cũng có Hoa kiều cũ nhưng ít hơn, và châu Phi hầu như không có.  Làn sóng di cư mới của dân TQ ra nước ngoài bắt đầu từ quãng năm 1985, cùng với các chính sách mở cửa và khuyến khích di dân của TQ. Họ nhận ra rằng, Hoa kiều là thế mạnh của TQ, và càng có nhiều Hoa kiều thì TQ càng mạnh, càng “bành trướng” được nhiều.   Ngày nay, hầu như không có nước nào mà lại không có những “Chinatown”, không có thành phố nào mà lại thiếu quán ăn hay cửa hàng TQ. Ngay cả những nước mà cách đây 3 thập kỷ có rất hiếm người TQ, thì nay cũng có đông dân TQ. Ví dụ, số người TQ ở Italy tăng từ 300 người vào năm 1980 lên thành 200 nghìn người vào năm 2010. Ở Pháp, theo thống kê dân số năm 1985 mới chỉ có 5 nghìn người được tính là người TQ, nhưng đến năm 2010 con số đó đã lên thành quãng nửa triệu người, và 25% quán cafe ở Paris có chủ nhân là TQ. Brasil từ chỗ gần như không có người TQ nào lên thành 100 nghìn người. Ở Nam Phi số người TQ lên đến 200 nghìn, và ở Algeria số người TQ cũng lên đến 100 nghìn, v.v. (Đây là các con số ước lượng) (5). Ở Dakar (Senegal, châu Phi), các cửa hàng TQ mọc lên nhiều và cạnh tranh mạnh đến mức dân bản địa xuống đường biểu tình để phản đối các “thủ đoạn bất công” (unfair commercial practices) của dân TQ.  Sinh viên TQ ra nước ngoài học đại học (phần lớn là tự túc) cũng tăng lên nhiều trong những năm gân đây. Ví dụ, vào năm 2009, tính riêng nước Pháp đã có đến 35 nghìn sinh viên TQ sang học. Một phần không nhỏ các sinh viên đi học ở nước ngoài này cũng sẽ ở lại, gia nhập đội ngũ Hoa kiều mới.  Khác với thời của Mao, ngày nay dân TQ muốn đi nước ngoài, không những làm giấy tờ xuất cảnh rất dễ dàng, mà còn được chính phủ khuyến khích tạo điều kiện, và không bắt phải về. Đặc biệt là ở các vùng có tỷ lệ thất nghiệp cao ở TQ, chính phủ khuyến khích dân chúng tìm việc làm ở nước ngoài. Ví dụ, một công nhân ở Chongqing (Trùng Khánh) tìm được việc làm ở châu Phi thì sẽ được miễn phí giấy tờ xuất cảnh, và đại lý của người đó châu Phi sẽ được chính quyền thưởng cho 500 RMB.  Công nhân xây dựng TQ khi ra nước ngoài làm việc, thường là làm như nộ lệ, có thể đến 14 tiếng một ngày, và được chủ thầu TQ xếp ăn ở kiểu 8 người ngủ giường tầng trong căn phòng 20m2, ở trong các “làng TQ”. Khi hết việc, họ tìm cách ở lại nước ngoài tìm việc khác, sinh sôi lập nghiệp (vì dù có khổ thì vẫn sướng hơn là ở nhà quê của họ ở TQ, và có nhiều hy vọng đổi đời hơn). Cùng với đội ngũ công nhân là đội ngũ tiểu thương, đi mở quán và bán hàng tại các nơi. Chỗ nào có công nhân TQ thì họ có thể đầu tiên phục vụ cho người TQ trước khi mở rộng ra thâm nhập vào thị trường địa phương.  Khi doanh nhân TQ lập nên hay mua lại các công ty ở nước ngoài, họ cũng kéo dân TQ sang làm việc. Thành phố Prato, cái nôi của công nghiệp dệt may của Italy, là một ví dụ điển hình: thương nhân TQ lập nên các công ty ở đó, rồi kéo hơn 20 nghìn người TQ sang làm việc dệt may (trong khi toàn thành phố chỉ có 160 nghìn người). Đồ may mặc “made in Italy” ngày nay cũng có không ít khả năng là “made by Chinese”!  Những nước giàu dễ có nhiều người TQ ở bất hợp pháp. Họ đi chui sang các nước đó, hoặc ở lại quá hạn visa, với hy vọng một lúc nào đó được hợp pháp hóa giấy tờ, đổi đời. Khi chưa có giấy tờ hợp pháp thì họ làm chui. Ví dụ, ở Tây Ban Nha, năm 2002 có khoảng 80 nghìn người TQ thì gần một nửa trong số đó là không có giấy tờ hợp lệ.   Dân các nước giàu có khi thấy những người nước ngoài ở bất hợp pháp tại nước họ (không chỉ từ TQ, mà còn từ nhiều nước nghèo khác) thì đấu tranh để chính phủ phải hợp pháp hóa giấy tờ và giúp đỡ những người này, và kết quả là rất nhiều người trở thành ở lại hợp pháp theo con đường như vậy. (Các chi phí xã hội cho những “khách không mời mà đến” này thì các nước giầu phải trả, nhưng khoản đó không được tính vào giá thành khi người ta nhận nhập khẩu lao động nên cứ “tưởng” lao động nhập khẩu là rất rẻ). Theo triết lý mèo trắng mèo đen, hợp pháp hay không không quan trọng, miễn sao đạt mục đích là ở lại được!  Tự do mậu dịch  Sự xóa bỏ dần các hàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại trên thế giới, góp phần không nhỏ vào sự đi lên của TQ trong những thập kỷ vừa qua. Tự do mậu dịch (free trade) là học thuyết kinh tế xuất phát từ phương Tây, nhưng nó đã giúp cho TQ thâm nhập vào thị trường thế giới, và ngày nay TQ là một trong những nước nhiệt tình nhất với tự do mậu dịch.   Sau khi gia nhập WTO (World Trade Organization) vào cuối năm 2001, TQ tăng cường các cuộc thương lượng để đạt được các thỏa thuận tự do mậu dịch với các nước khác. Thỏa thuận tự do mậu dịch TQ-ASEAN bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm 2010, và TQ đang tiến tới thỏa thuận tự do mậu dịch với Australia.  Sự xóa bỏ các hàng rào thuế quan có lợi cho toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung, bởi vì nó làm tăng cạnh tranh giữa các nước (nhưng nó có thể làm cho chênh lệc giầu nghèo giữa các nước tăng lên). Những khu vực kinh tế nào làm ăn kém hiệu quả so với nước ngoài thị sẽ buộc phải thay đổi, xóa bỏ đi hoặc tăng hiệu quả lên, và bởi vậy hiệu quả kinh tế chung của toàn thế giới tăng lên. Cái giá phải trả là những sự thay đổi gián đoạn lớn trong xã hội, khi có những sự chênh lệch lớn giữa các nước.   Bản thân TQ cũng phải trả giá đó, khi mà các công ty nhà nước của TQ làm ăn kém hiệu quả đã phải sa thải hàng trăm triệu người trong giai đoạn đầu. Nhưng việc tái cấu trúc này đã làm cho nền kinh tế TQ mạnh lên. Tất nhiên, tự do mậu dịch không có nghĩa là nước ngoài có thể nhảy vào xâm chiếm thị trường TQ tùy ý: TQ vẫn đặt ra các luật lệ, khiến cho nước ngoài có thể vào đấu thầu ở TQ hay bán hàng ở TQ, nhưng phải nhượng bộ nhiều thứ mới trúng thầu hay được bán hàng.  Các nước phương Tây, khi xóa bỏ hàng rào thuế quan với TQ, tất nhiên cũng phải trả giá cho nó. Do sự chênh lệch lớn giữa lương của công nhân TQ và công nhân ở phương Tây, nên công nhân ở phương Tây trở thành kém hiệu quả, kém sức cạnh tranh so với TQ, và bởi vậy một lượng lớn mất việc. Xã hội phương Tây cũng sẽ phải tái cấu trúc lại, thay thế các công việc “chân tay” bằng các công việc khác cần trình độ cao hơn, đồng thời tính lại giá thành của các công việc “chân tay”. Có nghĩa là lương của lao động “chân tay” sẽ phải giảm đi (và tăng chính sách xã hội lên để bù lại), thì mới có thể cạnh tranh được với TQ.    Những nước mà nền kinh tế yếu, ít sức cạnh tranh (mà lại thích tiêu xài), thì tự do mậu dịch với những nước có sức cạnh tranh mạnh như TQ dễ dẫn đến toàn dùng hàng nước ngoài, công nghiệp bị chết dí, vay nợ nhiều, và bán tài nguyên thiên nhiên thô đi để mà tiêu, trở thành một thứ nô lệ về kinh tế. Đó là điều đang xảy ra ở nhiều nước đang phát triển.   Để có thể “tồn tại và đi lên” được trong thế giới mậu dịch tự do, những nước như VN cần phải tìm mọi cách tăng sức cạnh tranh của mình, đồng thời phải có được những chính sách điều tiết thích hợp. Tự do mậu dịch mà không có điều tiết, thì cũng như “tư bản hoang dã” có thể gây bất ổn xã hội. (“Bàn tay vô hình” của Adam Smith không phải lúc nào cũng hoạt động tốt, mà có thể dẫn đến các trạng thái không hay như độc quyền, ép giá, mafia, cạnh tranh không lành mạnh). Không chỉ ở VN, mà ở nhiều nước khác, từ Indonesia đến Algeria, có những làn sóng “bài TQ”, là hậu quả của tự do mậu dịch “thiếu điều tiết” tạo ra.  Sự sụp đổ của “xã hội tiêu thụ”?  Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, có những giai đoạn khủng hoảng thừa, dẫn đến một vòng luẩn quẩn suy thoái kinh tế: hàng thừa không có người mua, dẫn đến công ty thua lỗ, sa thải bớt nhân viên, dẫn đến nhiều người thất nghiệp lại càng không có tiền mua hàng, dẫn đến công ty lại càng không bán được hàng và phải sa thải tiếp, và cứ thế nền kinh tế đi xuống.   Giai đoạn đại suy thoái của Mỹ vào đầu những năm 1930 là một ví dụ điển hình về  hậu quả của “khủng hoảng thừa”, và phải đến tận những năm 1940, do nhu cầu sản xuất tăng lên để phục vụ chiến tranh, nước Mỹ mới thực sự bước ra khỏi suy thoái, bắt đầu giai đoạn phát triển mạnh mới.  Một “liều thuốc” mà các nhà kinh tế nghĩ ra để chữa bệnh suy thoái khủng hoảng thừa là kích cầu: tìm cách khuyến khích nhân dân tiêu dùng. Theo lý luận, nhân dân tiêu dùng thì doanh nghiệp bán được hàng, bán được hàng thì có việc làm và có tiền trả lương, có thêm tiền lương thì lại càng tiêu dùng và hàng lại càng bán được, và kinh tế cứ thế đi lên. Khi nhân dân không chịu tiêu dùng, thì nhà nước phải tiêu dùng thay (và thu thuế của dân và các doanh nghiệp, tức là cuối cùng thì vẫn là dân tiêu, nhưng qua nhà nước). Chính phủ có thể kích cầu bằng các giải pháp như: xây dựng các công trình công cộng, phát triền giúp người nghèo có tiền để tiêu, cho không trẻ em sữa uống trong trường học, v.v. (tiền để trang trải các chi tiêu đó là từ ngân sách chỉnh phủ, có được nhờ thu thuế và bán các nguồn tài sản quốc gia, v.v.).  Về phía tư nhân, những cách kích cầu mà các doanh nghiệp rất thích, là cho vay để tiêu dùng, và quảng cáo kích thích sự thèm muốn của người tiêu dùng. Cho vay thì được tiền lãi, dân vay càng nhiều thì lãi càng lớn. Bởi vậy hàng loạt các công ty mời chào người tiêu dùng bằng đủ các hình thức cho vay khác nhau. Khi vay tiền dễ dàng thì người ta cũng chi tiêu phóng khoáng hơn, tiêu thụ nhiều hơn, ít nghĩ đến tiết kiệm, vì tin rằng cứ cần tiền là có thể đi vay. Từ đó đẻ ra xã hội tiêu thụ: tiêu thụ vượt khả năng tài chính, lo hưởng thụ trước mắt, trở thành cách sống của nhiều người. Nước Mỹ là điển hình của xã hội tiêu thụ, với mức tiết kiệm tư nhân giảm liên tục trong nhiều thập kỷ qua, xuống chỉ còn khoảng 2%. Kể cả các chính phủ cũng trở thành “thành viên” của xã hội tiêu thụ: vay bừa bãi để chi tiêu quá khả năng.  “Xã hội tiêu thụ” trên thế giới là môi trường thuận lợi cho sự “bành trướng kinh tế” của TQ. Thiên hạ tiêu dùng càng nhiều, thì TQ càng bán được nhiều hàng tiêu dùng. Và khi người ta tiêu thụ đến mức vay nợ TQ quá nhiều, thì phải bán lại các tài sản lớn (doanh nghiệp, dầu mỏ, bất động sản, v.v.) cho TQ, và như vậy giúp TQ nhanh trở thành ông chủ của thế giới về kinh tế. Trong tương lai, các xã hội tiêu thụ sẽ xụp đổ: hoặc là sẽ phải thay đổi “cơ chế”, cách sống, chuyển sang một xã hội khác ổn định hơn, hoặc là sẽ bị TQ “thôn tính” về kinh tế, hoặc là cả hai.  Một điểm nguy hiểm nữa của xã hội tiêu thụ là nó làm hủy hoại môi trường: tài nguyên thiên nhiên bị tiêu thụ quá nhiều, quá nhanh, trái đất không kịp phục hồi khả năng đáp ứng nhu cầu của con người, môi trường sống bị hủy hoại và nhiễm độc.  Bản thân nước TQ hiện tại chưa phải là một “xã hội tiêu thụ”, mới chỉ là một “bộ máy phục vụ xã hội tiêu thụ”, cũng đã đủ để thế giới tiêu thụ quá nhanh các tài nguyên của mình và phá hoại môi trường với tốc độ đáng sợ (hàng năm có bao nhiêu rừng trên thế giới hàng năm bị phá hủy, bao nhiêu loài động vật bị tiệt chủng, đất và nước ở TQ cũng bị ô nhiễm nặng, v.v.). Nếu mà nước TQ cũng trở thành “xã hội tiêu thụ” thì thế giới sẽ  gần đến “ngày tận thế”.  Hiện tại, sự chạy theo lợi nhuận trước mắt của các doanh nghiệp, và ham muốn tăng trưởng kinh tế của các nước (trong đó có TQ) vẫn tiếp tục dẫn đến xã hội tiêu thụ, tuy rằng các nước tư bản có nhận ra mối hiểm họa mà xã hội tiêu thụ tạo ra với môi trường, và có đề ra những chính sách nhằm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, sử dụng năng lượng “sạch”, v.v. Nhưng để thoát ra được khỏi xã hội tiêu thụ (thay vì bị nó đè bẹp) sẽ là một việc nan giải và cần có những thay đổi lớn về chính sách.  (1) Theo: Sammy Ketz, “La Chine devient le premier opérateur étranger dans le pétrole irakien”, AFP, 05/11/2009.  (2) Các thông tin và số liệu trong cá đoạn trên lấy từ sách “Le Vempire du Milieu”, Chương 2 và Chương 5.  (3) Xem http://en.wikipedia.org/wiki/14th_Dalai_Lamaem http://en.wikipedia.org/wiki/14th_Dalai_Lama  (4) TQ có 22 tỉnh; Đài Loan có khi đươc gọi ví von là tỉnh thứ 23.  (5) Xem sách “Le Vampire du Milieu” của Cohen và Richard, Chương 5.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu virus Đức: Nhất thiết phải có thuốc chống virus phổ rộng      Hiện nay các nghiên cứu tìm kiếm loại thuốc để bệnh nhân không nặng hơn sau khi bị lây nhiễm virus corona đang được đẩy mạnh. Vấn đề là phải tìm ra được gót chân Achilles của con virus này.    Cho đến nay chưa có thuốc thực sự có thể chặn đứng virus corona. Đây là điều mà các nhà khoa họctrên thế giới đang nghiên cứu để thay đổi. Giải pháp dùng thuốc trị corona virus hiện thực đến đâu? Thế giới còn phải chờ đợi bao lâu mới có được loại thuốc này? Ralf Bartenschlager, Chủ nhiệm khoa Virus phân tử tại Bệnh viện Đại học Heidelberg và Chủ tịch Hiệp hội virus Đức, giải thích tại sao phải rời bỏ lối mòn trên con đường tìm kiếm thuốc đặc trị Covid.     WELT: Thưa giáo sư Bartenschlager, chúng ta mơ ước về một loại thuốc uống chặn đứng sự phát triển của virus corona trong cơ thể để không bị phát bệnh. Bao giờ sẽ có một loại thuốc như vậy, thưa ông?  Ralf Bartenschlager: Rất tiếc tôi không thể nói về một thời điểm cụ thể. Nhưng một loại thuốc như vậy chắc chắn là mục tiêu mà chúng ta phải đạt được. Một điều rõ ràng là, muốn diệt virus có hiệu quả thì hoạt chất không để cho virus phát triển nhanh chóng ở người bệnh. Muốn thế người bệnh phải được dùng thuốc càng sớm càng tốt, tốt nhất ngay sau khi xét nghiệm mà kết quả là dương tính. Thuốc phải ở dạng dễ sử dụng, thí dụ uống hoặc xịt.  Tại sao phải như vậy, thưa ông?  Vào thời điểm đó không ai có thể biết liệu mầm bệnh có trở nên nguy hiểm với người bị lây nhiễm hay không. Đại đa số người bị lây bệnh sẽ không trải qua giai đoạn bị bệnh nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó khó thuyết phục họ tiêm hoặc truyền rất khó vì đó là các giải pháp vừa gây đau đớn vừa phiền toái. Một loại thuốc dùng sớm để phòng ngừa tốt nhất nên ở dạng để nuốt hoặc hít, qua đó dễ thuyết phục mọi người. Tất nhiên các loại thuốc dù ở dạng nào cũng cần tránh các tác dụng phụ.   Tại sao không thể dùng các loại thuốc chống virus ở các giai đoạn muộn khi đã bị bệnh?  Những ngày đầu tiên sau khi bị lây nhiễm rất quan trọng đối với sự phát triển của virus trong cơ thể. Do đó ở giai đoạn này hoạt chất phát huy hiệu quả tốt nhất. Sau đó sự sinh sản của virus giảm rồi ngưng lại, từ đây bệnh tiến triển mà không còn bị lệ thuộc vào virus. Từ thời điểm này thì hệ thống miễn dịch của cơ thể gặp nguy hiểm. Ở thời điểm này mà dùng thuốc diệt virus khác nào ném đá ao bèo.   Cho đến nay chỉ có các loại thuốc chống virus được cấp giấy phép đối với mười bệnh do virus gây ra – phần lớn là thuốc trị HIV. Khó khăn trong việc phát triển thuốc chống virus là ở chỗ nào?  Cái khó là ở chỗ bản thân con virus có rất ít mục tiêu để tấn công – điều này khác hoàn toàn với vi khuẩn. Nguyên nhân vì bản thân virus có rất ít protein. Để sinh sản chúng dựa chủ yếu vào Enzyme và các cầu trúc của tế bào bị lây nhiễm.  Vậy sao không nghĩ đến chuyện  bao vây các Enzyme và các cấu trúc của tế bào? Qua đó cũng có thể ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh?  Đã có thí nghiệm như thế, nhắm vào các yếu tố của tế bào.  Tuy nhiên cách tiếp cận này lại nẩy sinh vấn đề khác, phải cân nhắc, tính toán rất kỹ dùng thuốc để tấn công vào chỗ nào. Vì một số Enzyme bị lợi dụng này lại có ý nghĩa sống còn với tế bào, do đó không thể phục vụ cho  điều trị, chống virus.   Vậy thành công của các thử nghiệm này đến đâu?  Đối với  HIV thì rất thành công. Thuốc ngăn chặn không để virus thâm nhập vào tế bào. Cách tiếp cận tương tự đang được thử nghiệm đối với Sars-CoV-2. Một thử nghiệm khác, mầm bệnh sử dụng protein đột biến để bám vào các tế bào phổi của con người. Nếu protease tế bào này bị ức chế thành công, Sars-CoV-2 khó có thể xâm nhập vào tế bào và do đó không còn có thể lây lan trong cơ thể.   Thưa giáo sư, liệu có ứng viên đầy triển vọng dưới dạng viên nang chống virus corona?  Có đấy, đó là các chất ức chế men protease của virus. Tức là các hoạt chất không nhắm vào các proteasen của tế bào, mà chống lại loại Enzym tương tự mà virus mang theo. Có khả năng loại protease này là gót chân Achilles của mầm bệnh, vì không có nó, chúng không thể tồn tại.   Vậy độ bao giờ loại thuốc đó xuất hiện tại các hiệu thuốc?  Theo tôi biết, có hai loại thuốc ức chế men protease đang được thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1. Điều này có nghĩa là một số ít bệnh nhân được kiểm tra để xác định xem các hoạt chất này có an toàn và dung nạp tốt hay không. Các nghiên cứu giai đoạn 2 và giai đoạn 3 lớn hơn đáng kể sẽ được nối tiếp khi thành công vượt qua thử nghiệm này. Chất ức chế protease từ công ty dược phẩm Pfizer đã đạt được bước tiến xa nhất trong quá trình phát triển. Hiện có rất nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới đang nghiên cứu về các loại thuốc tương tự. Do đó, tôi tin rằng sẽ có  nhiều chất  sớm được đưa vào thử nghiệm lâm sàng.  Ngành nghiên cứu dược phẩm có thể cung cấp thêm điều gì không, thưa giáo sư?  Có đấy, họ đang thử nghiệm một số hoạt chất, ví dụ hãng Merck có một loại thuốc ức chế men polymerase của virus. Đây là chế phẩm Molnupiravir lúc đầu nhằm chống virus cúm. Merck đang khảo nghiệm trong bệnh viện về hiệu lực của hoạt chất này đối với Sars-CoV-2.   Nguy cơ tác dộng phụ của chúng như thế nào?  Cho đến nay với Molnupiravir không có vấn đề lớn. Ưu điểm cơ bản của liệu pháp chống virus ở bệnh nhân bị lây nhiễm  Sars-CoV-2 là chỉ phải dùng thuốc trong một thời gian ngắn. Nhất là đối với các trường hợp mới bị lây nhiễm. Trường hợp lây nhiễm mãn tính cũng chỉ cần một tuần là đủ.  Từ đại dịch này chúng ta rút ra được bài học gì để nhân loại không bị bó tay khi xẩy ra một vụ lây nhiễm virus mới?  Chúng ta nhất thiết phải có thuốc chống virus phổ rộng. Tức các loại thuốc không chỉ có tác dụng đối với một loại virus nhất định mà chống nhiều loại virus khác nhau. Với  thuốc kháng sinh ai cũng biết chỉ dùng một loại thuốc có thể chống nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Với thuốc chống virus cho đến nay mỗi loại thuốc chỉ chống được một loại virus nhất định vì các virus khác nhau chỉ có ít các mục tiêu chung để tấn công.   Vậy ở đây ông thiên về một loại thuốc chống virus phổ rộng nào?  Thí dụ thuốc ức chế Pan-Coronavirus, tức là một loại chế phẩm chống lai nhiều loại virus corona. Bởi vì rất có thể trong một dịch hoặc đại dịch sau này cũng lại là một loại virus cùng họ này là tác nhân.   Nhưng ý tưởng về một loại thuốc chống virus phổ rộng liệu có thật sự hiện thực không? Thí dụ đối với Sars-CoV-2 chúng ta chẳng có bất kỳ một loại thuốc nào như vậy trong tay?  Điều đó có thể thành hiện thực nếu người ta  rời khỏi những lối mòn cố hữu. Ví dụ, người ta có thể tập trung vào các mục tiêu giống nhau ở virus. Các polymerase của virus, tức là các enzym tái tạo cấu trúc gen của virus, đặc biệt thích hợp cho việc này. Chúng khá ổn định về cấu trúc do đó người ta có thể phát triển các chất ức chế có thể có tác dụng phổ rộng nhất định. Một khả năng khác là ức chế các enzym của chính tế bào mà virus phụ thuộc vào đó để sinh sản. Các enzym như vậy trong tế bào thường được chuyển đổi theo một cách tương tự bởi nhiều loại virus khác nhau. Cũng có thể đạt được hiệu ứng phổ rộng theo cách này. Về nguyên tắc, con đường này là có thể.    Nhà virus học Ralf Bartenschlager, đứng đầu khoa virus học phân tử tại Bệnh viện Đại học Heidelberg đồng thời là chủ nhiệm khoa tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Đức. Ông chủ yếu nghiên cứu các virus RNA như tác nhân gây bệnh viêm gan C và sốt xuất huyết và cả Sars-CoV-2. Ông tham gia vào việc phát triển các liệu pháp kháng virus  và các loại thuốc tương ứng – kể cả thuốc chống coronavirus. Bartenschlager còn là  chủ tịch Hiệp hội virus học Đức.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus231484189/Covid-19-Wir-brauchen-unbedingt-Breitbandvirostatika.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa thu được tín hiệu từ vệ tinh F-1      Ngày 1/11, Phòng Nghiên cứu không gian  FSpace, Đại học FPT, ra thông báo về việc chưa thu được tín hiệu từ vệ  tinh F-1 sau gần một tháng vệ tinh được thả ra ngoài không gian từ trạm vũ trụ  quốc tế ISS.    Theo nhận định sơ bộ, có khả năng mạch sạc của vệ tinh gặp sự cố, khiến cho vệ tinh chỉ đủ năng lượng hoạt động trong vài ngày đầu tiên và sau đó không thể bổ sung được năng lượng từ các tấm pin mặt trời.   Hiện tại, nhóm FSpace vẫn đang cùng với đối tác NanoRacks (Mỹ) thu thập thông tin, phân tích các tình huống có thể xảy ra và thử nghiệm với mô hình kỹ thuật EM (bản sao của F-1) trong phòng thí nghiệm để cố gắng tìm hiểu nguyên nhân vấn đề. Nhóm cũng sẽ thử gửi lệnh lên F-1 nhằm khởi động lại bộ vi điều khiển của vệ tinh, tuy nhiên cho đến thời điểm này, FSpace xác định khả năng thu được tín hiệu từ F-1 là rất thấp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa vì lợi ích người tiêu dùng      Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã trao đổi với Tạp chí Tia Sáng về các vấn đề tồn tại trong cơ chế quản lý giá xăng dầu hiện nay và những hệ lụy đối với xã hội.      Vừa qua Nhà nước thực hiện chính sách tăng giá xăng dầu với cách lý giải nhằm phản ứng lại biến động của thị trường quốc tế. Theo bà cách lý giải và cách giải quyết này của Nhà nước đã thỏa đáng hay chưa?  Các cơ quan quản lý Nhà nước thường lý giải rằng tăng giá xăng dầu lần này là do tác động của giá dầu mỏ thế giới tăng sau một thời gian dài đã dừng ở mức tương đối thấp. Nếu riêng theo góc độ đó thì việc cho phép tăng giá trong nước là hợp lý. Tuy nhiên, cách xử lý cụ thể của Nhà nước, cũng như cách phản ứng của các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu trên thị trường lại cho thấy nhiều vấn đề bất ổn. Điển hình là việc Nhà nước cho áp dụng từ đầu tháng 7 cơ chế trao quyền cho các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được tự quyết định điều chỉnh giá theo biến động giá trên thị trường thế giới, với mật độ thời gian tối thiểu là 10 ngày một lần, và nếu tăng không quá 7% thì doanh nghiệp được quyền tự quyết định, chỉ phải thông báo với cơ quan quản lý của Nhà nước. Cơ chế đó được đưa ra vào tháng 7, đúng lúc giá xăng trên thế giới đang tăng, và ngay lập tức các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã vận dụng để tăng giá tới kịch ngưỡng 7% ngay lần đầu tiên. 10 ngày sau họ lại đề nghị tăng tiếp, và cứ dồn dập như vậy, riêng trong hơn 1 tháng vừa qua đã có 4 lần tăng. Động thái đó đã gây bức xúc trong xã hội, và nhiều người có cảm nhận rằng Nhà nước đã buông sự quản lý và để cho các doanh nghiệp lạm dụng cơ chế ‘10 ngày’ và ‘7%’ để thao túng giá vì lợi ích của họ, bất chấp lợi ích chung của nền kinh tế cũng như xã hội.         Có thể tổ chức một mô hình quỹ bình ổn giá xăng dầu tương tự như quỹ bảo hiểm. Nhà nước có thể giao cho một đơn vị chuyên trách quản lý quỹ này, đưa nó vào kinh doanh để nó sinh lời, nhưng tất nhiên phải đảm bảo hiệu quả và đảm bảo mọi khoản lời sinh ra đều được đưa lại về quỹ để giúp quỹ nảy nở tăng thêm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu muốn được hưởng trợ cấp từ quỹ bình ổn giá thì trước đó phải trích nộp đầy đủ, có báo cáo, giải trình rõ ràng, đồng thời quỹ sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết để kiểm tra doanh thu có thực hay không, qua đó tăng khả năng kiểm soát và quản lý của Nhà nước. Nếu sử dụng tốt thì bản thân doanh nghiệp cũng được hưởng lợi vì khi giá thị trường tăng quá cao thì doanh nghiệp sẽ được quỹ hỗ trợ, tránh được cảnh tăng giá bán lẻ quá nhiều gây giảm lượng tiêu dùng trên thị trường khiến doanh nghiệp bị thiệt hại theo.           Tác động kinh tế xã hội  Giá xăng dầu tăng trong tình hình hiện nay sẽ gây hậu quả ra sao?  Trong bối cảnh nền kinh tế còn đang hết sức khó khăn, việc tăng giá xăng dầu một cách dồn dập sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Chắc chắn giá xăng dầu tăng liên tục sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền tới hầu hết các sản phẩm vật chất và dịch vụ khác, ví dụ rõ nhất là dịch vụ của khối doanh nghiệp vận tải. Không thể nói mọi doanh nghiệp khác đều ‘té nước theo mưa’, vì giá xăng dầu tăng liên tục sẽ làm tăng chi phí đầu vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Chi phí tăng sẽ khiến giá thành sản phẩm tăng lên, buộc doanh nghiệp phải tăng giá bán, gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp vốn đang trong tình trạng tắc nghẽn, tồn kho nhiều, khó tiêu thụ hàng hóa. Lạm phát từ nay tới cuối năm có thể sẽ tăng trở lại, và thực tế tháng 8 vừa qua lạm phát đã bắt đầu tăng trở lại rồi, với sự “đóng góp” của giá xăng dầu cùng các nhân tố khác như tăng tín dụng và tăng giải ngân đầu tư công.    Quỹ bình ổn giá xăng dầu được coi là một công cụ được dùng để kiềm chế mức tăng giá xăng dầu trong nước khi giá quốc tế tăng cao đột biến, xin bà giải thích rõ hơn về vai trò của quỹ này ở Việt Nam.   Quỹ bình ổn giá xăng dầu được Nhà nước cho phép thành lập từ cách đây mấy năm với mục đích hỗ trợ ổn định giá bán xăng dầu trên thị trường trong nước. Đây là một cách dự phòng để khi giá xăng dầu thế giới lên cao quá thì có thể dùng một phần quỹ đó bù đắp cho mức tăng giá xăng dầu trong nước, đỡ phải tăng giá dồn dập, hoặc giúp mức tăng không quá cao gây chấn động tới nền kinh tế và đời sống của người dân. Nhà nước yêu cầu từng doanh nghiệp đầu mối trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu từ doanh thu bán xăng dầu, mỗi lít xăng, dầu phải trích vài trăm đồng đưa vào quỹ. Quỹ đó được giao cho doanh nghiệp giữ và tự quản lý chứ Nhà nước không thu vào thành một quỹ chung, với yêu cầu là doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho mục đích ổn định giá xăng dầu, không được sử dụng quỹ cho mục đích khác. Như vậy, quỹ này thực chất là tiền người tiêu dùng đóng vào khi mua xăng dầu, và doanh nghiệp được giữ quỹ này như một phần vốn mà không mất lãi suất.                  Vậy trong thực tế, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam đã thực hiện việc trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu như thế nào?  Cách đây một hai năm, có thời điểm giá xăng dầu thế giới lên cao và các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đòi tăng giá, khi đó Nhà nước đã yêu cầu doanh nghiệp trích quỹ ra để bớt áp lực tăng giá, thì có doanh nghiệp báo cáo là quỹ không còn bao nhiêu. Các cơ quan Nhà nước kiểm tra mới thấy có những doanh nghiệp sử dụng quỹ bình ổn giá không đúng mục đích, hay thậm chí không lập quỹ. Khi đó đã có ý kiến cho rằng Nhà nước nên giữ quỹ này, khi nào cần thì Nhà nước trực tiếp dùng quỹ đó để hỗ trợ ổn định giá xăng dầu. Nhưng rồi không có gì thay đổi, các doanh nghiệp vẫn được tự quản lý quỹ. Và rồi khi giá xăng dầu thế giới tăng lên thì họ lại kêu lỗ và ra sức đòi tăng giá xăng dầu bán ra trong nước, mà lờ quỹ đi.         Một nguyên nhân đóng góp đáng kể vào tình trạng tăng giá xăng là sự gia tăng các định mức thuế, phí. Mỗi lít xăng đang phải cõng tới 6.200 đồng thuế. Hiện nay xăng đang phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như một mặt hàng xa xỉ, điều này khiến không ít người thắc mắc vì xăng dầu là nhiên liệu phục vụ cho hàng chục triệu xe máy các loại, là phương tiện đi lại, làm việc, sinh sống, chủ yếu của các hộ gia đình bình dân hoặc nghèo ở Việt Nam.           Với tình trạng của quỹ như vậy thì tình hình khai thác sử dụng vì mục đích bình ổn giá đang được tiến hành ra sao thưa bà?   Như đã đề cập trên đây, quỹ bình ổn giá xăng dầu thực chất là tiền của người tiêu dùng đóng góp vào, là phần doanh thu mà doanh nghiệp được giữ lại không phải đóng thuế, hay có thể coi là phần vốn huy động không mất lãi suất, để đến khi cần bình ổn giá thì đưa ra sử dụng. Như vậy vừa đảm bảo tốt hơn lợi ích của người tiêu dùng và nền kinh tế, vừa giúp doanh nghiệp tránh nguy cơ việc tiêu thụ sản phẩm bị biến động mạnh do những cú sốc giá cả. Về nguyên tắc và mục tiêu thì rất rõ như vậy, rất hợp lý và tốt đẹp cho cả ba bên – Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tuy nhiên việc thực hiện vẫn chưa thuyết phục đối với người tiêu dùng. Ví dụ như khi doanh nghiệp “chơi bài bây” trong trường hợp kể trên (mà hình như không có ai bị trừng trị), hoặc vừa rồi khi Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp trích từ quỹ 500 đồng để bình ổn giá cho mỗi lít xăng và 300 đồng cho mỗi lít dầu, thì cũng không thật rõ 500 đồng và 300 đồng đó căn cứ vào đâu, vì sao không phải nhiều hơn hay ít hơn. Khi thiếu vắng sự giải trình công khai và đầy đủ về các con số, thì người tiêu dùng vẫn có quyền nghi ngờ liệu lợi ích của họ có được đảm bảo tốt nhất, hay tương xứng với đóng góp của họ vào quỹ đó không.         Nguyên tắc chung trong kinh doanh xăng dầu mà các nước luôn đặt ra là tạo đủ sự cạnh tranh trong thị trường. Việt Nam đang đi ngược, khi đang tiến tới cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự quyết định giá thị trường trong khi lại chưa tạo ra thị trường cạnh tranh thực sự.          Trong khi đó, ai cũng biết nếu trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu một cách đầy đủ thì các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu huy động được hàng nghìn tỷ, và chỉ cần đem số tiền đó gửi ngân hàng với lãi suất những năm vừa rồi lên tới mười mấy phần trăm một năm, thì có thể thấy những doanh nghiệp này đã được hưởng một nguồn lợi không hề nhỏ. Thế nhưng đến lúc cần sử dụng quỹ để bình ổn giá thì họ vẫn thể hiện ‘một sự không biết điều’ với người tiêu dùng là những người đã bỏ tiền vào quỹ đó. Đấy là vấn đề khiến người ta thắc mắc về quỹ bình ổn xăng dầu.  Lơi lỏng trong quản lý  Việc trích lập quỹ xăng dầu tùy thuộc rất nhiều vào doanh thu của doanh nghiệp, nhưng liệu Nhà nước có kiểm soát được doanh số của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu hay không, khi chúng ta biết rằng hầu hết những người đi xe máy khi đổ xăng đều không lấy hóa đơn?  Thực ra kiểm soát doanh số của từng cây xăng tôi nghĩ là khó vì hầu hết người tiêu dùng bình thường đều không lấy hóa đơn, thường chỉ có những xe công hoặc xe của các doanh nghiệp, hoặc người được thanh toán tiền xăng là có lấy hóa đơn về thanh toán. Tuy nhiên nếu căn cứ vào những chứng từ giao dịch giữa các cây xăng, các đại lý bán lẻ với các đại lý bán buôn, các công ty nhập khẩu, thì vẫn ước tính ra được doanh số bán hàng. Vì xăng dầu không phải là mặt hàng trôi nổi trên thị trường để người bán hàng muốn lấy từ nguồn nào cũng được. Kinh doanh xăng dầu là hoạt động kinh doanh có điều kiện, có kiểm soát, chứ không phải ai muốn cũng có thể làm. Họ phải đáp ứng những điều kiện nhất định như quy mô, địa điểm, và các điều kiện đảm bảo chất lượng và an toàn của sản phẩm và cơ sở kinh doanh xăng dầu.  Nhưng như vậy Nhà nước mới kiểm soát được lượng hàng mua vào của các đại lý bán lẻ chứ chưa nắm được lượng hàng bán ra?  Nhà nước có thể nắm được con số mua vào và lượng hàng tồn kho, từ đó có thể tính được doanh số bán ra. Tôi không biết hệ thống báo cáo Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu, nhưng theo tôi nếu muốn thì Nhà nước hoàn toàn có thể kiểm soát được, vì tất cả đều được thể hiện qua hệ thống hợp đồng và chứng từ giữa các đơn vị với nhau, từ đầu mối nhập khẩu về, đến những tổng đại lý bán buôn và đến đại lý bán lẻ. Ở đây, tôi nghĩ không chỉ có sự sự buông lỏng [trong quản lý Nhà nước] ở các đại lý bán lẻ, mà ở cả hệ thống đại lý phân phối xăng dầu nói chung. Cũng vì sự buông lỏng quản lý đã dẫn đến tình trạng người ta đem bán xăng ‘tạm nhập tái xuất’ vào thị trường trong nước như báo chí đã phản ánh gần đây.      Vì sao Nhà nước không kiểm soát được tình trạng ‘tạm nhập tái xuất’ vô tội vạ này?  Việc kiểm soát xăng dầu ‘tạm nhập tái xuất’ đến nay theo báo cáo của ngành hải quan thì chỉ mới kiểm soát được đến khâu tạm nhập, còn phần tái xuất như vừa rồi Phó Tổng cục trưởng của Tổng cục Hải quan công bố là không thể kiểm soát được vì thời hạn cho ‘tạm nhập tái xuất’ là đến 180 ngày, trong vòng 180 ngày đó nếu doanh nghiệp lấy xăng dầu ‘tạm nhập’ bán vào thị trường nội địa thì hải quan cũng không thể nào phân biệt xăng nào là xăng ‘tạm nhập tái xuất’, xăng nào là nhập khẩu chính thức. Với hàng điện tử, máy móc thì doanh nghiệp chứa trong từng container riêng rẽ để biết đâu là container ‘tạm nhập tái xuất’, còn xăng dầu được để trong bồn chứa chung nên không thể biết được. Vì vậy, trong vòng 6 tháng, doanh nghiệp có thể công khai lấy xăng ‘tạm nhập tái xuất’ để bán vào trong nước, tránh được thuế nhập khẩu ở những thời điểm thuế cao, trong bối cảnh thuế nhập khẩu xăng dầu ở Việt Nam liên tục biến động. Hồi đầu năm chỉ là 2-3%, sau tăng thành 5-6%, đến bây giờ tăng lên thành 12%. Như vậy nếu doanh nghiệp khai rằng xăng của họ nhập vào từ cách đây 6 tháng vào lúc thuế thấp, thì họ chỉ phải trả mức thuế thấp hơn. Hệ quả là tỷ lệ xăng ‘tái xuất’ thực sự là rất nhỏ so với lượng ‘tạm nhập’. Sau mấy năm ngành hải quan kiểm tra lại mới thấy có doanh nghiệp chỉ ‘tái xuất’ 10-20% lượng ‘tạm nhập’.        Năm ngoái một số nhà quan sát đã ngạc nhiên vì sao lượng xăng dầu nhập khẩu chính thức theo báo cáo của các đầu mối nhập khẩu đều giảm xuống rất đáng kể, trong khi lượng xăng dầu tiêu thụ trên thị trường trong nước lại tương đối bình thường, không cảm thấy có sự khan hiếm. Lúc bấy giờ người ta không biết vì sao, chỉ phán đoán rằng có lẽ là do doanh nghiệp các ngành giảm hoạt động và do chặn được xuất lậu ra ngoài nên xăng dầu trong nước không bị khan hiếm. Nhưng nay với báo cáo vừa qua của Hải quan về tình trạng ‘tạm nhập tái xuất’ thì có thể thấy rằng một lượng lớn xăng dầu của các doanh nghiệp đầu mối nhập về qua con đường ‘tạm nhập tái xuất’ đã được tuồn ra thị trường trong nước, mà không qua con đường nhập khẩu chính thức.          Như vậy Nhà nước cần phải có chế tài nào để xử lý?  Chắc chắn là Nhà nước sẽ phải có chế tài xử lý chứ không thể buông lỏng được, để bắt buộc những doanh nghiệp bán xăng ‘tạm nhập’ vào trong nước phải nộp thuế đầy đủ như xăng nhập khẩu chính thức thông thường, thậm chí còn phải phạt tiền thêm, và phải báo cáo giải trình đầy đủ lý do không xuất khẩu được lượng xăng ‘tạm nhập’ này để cơ quan chức năng của Nhà nước cho phép tiêu thụ ở thị trường trong nước. Nếu đã có quy định mà doanh nghiệp không tuân thủ thì có thể quy vào tội buôn lậu, và phải xử lý thật nghiêm khắc.   Hướng tới tự do cạnh tranh   Giá xăng dầu tăng cao trong bối cảnh doanh nghiệp được tăng quyền tự quyết về giá cả, và xăng dầu là ngành kinh doanh có điều kiện khiến người ta lo ngại về khả năng các doanh nghiệp bắt tay nhau để thao túng giá. Xin bà cho biết trên thế giới người ta thường chống thao túng giá xăng dầu bằng cách nào?  Đặc thù ngành xăng dầu ở đâu cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định và không phải ai cũng kinh doanh được. Tuy nhiên, nguyên tắc chung trong kinh doanh xăng dầu mà các nước luôn đặt ra là tạo đủ sự cạnh tranh trong thị trường. Việt Nam đang đi ngược, khi đang tiến tới cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự quyết định giá thị trường trong khi lại chưa tạo ra thị trường cạnh tranh thực sự. Vấn đề không phải là số lượng bao nhiêu, không nhất thiết phải có đến 13 doanh nghiệp đầu mối như ở Việt Nam, mà quan trọng là các doanh nghiệp trong thị trường có thực lực ngang ngửa nhau và được giám sát, ngăn chặn để không thể liên kết ngầm với nhau. Họ cũng phải thực hiện cam kết mạnh về quản trị theo những tiêu chí hiện đại cần thiết, đặc biệt là sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Họ cũng phải chấp nhận sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, trong nhiều ngành họ chỉ cần có 3 doanh nghiệp mạnh ngang ngửa nhau cùng hoạt động là đã đủ tạo sự cạnh tranh, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển và hoạt động hiệu quả.   Nếu các doanh nghiệp này đều có phần vốn chi phối của Nhà nước thì liệu có thể có sự cạnh tranh đúng nghĩa được không?  Do tính chất quan trọng của ngành xăng dầu và trong điều kiện nước ta, chắc vẫn cần có sự tham gia của DNNN trong lĩnh vực này. Theo tôi muốn có cạnh tranh thực sự thì tốt nhất nên có sự tham gia và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cả ba loại hình, là DN Nhà nước, tư nhân, và doanh nghiệp nước ngoài. Chúng ta đã chứng kiến điều này diễn ra ở nhiều ngành khác nhau, như trong lĩnh vực giày dép và may mặc, sở dĩ Việt Nam phát triển và trở thành nước xuất khẩu tương đối đáng kể trên thế giới là nhờ có sự tham gia cạnh tranh của cả ba thành phần. Đến nay cả ba đều đang cạnh tranh nhau một cách ngang ngửa, gần như mỗi “anh” nắm một phần ba thị phần. Đồng thời nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp Nhà nước phát triển mạnh mẽ hơn, thị phần có thể giảm nhưng doanh số lại tăng lên. Như vậy, cạnh tranh không chỉ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn tốt cho bản thân doanh nghiệp, và điều này cũng sẽ đúng với ngành xăng dầu.   Còn trong thực tế hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đều ở vị thế tương đối yếu so với 3 đơn vị lớn nhất, và không phải là những doanh nghiệp thực sự có động lực cạnh tranh. Có vẻ họ đều muốn bám vào cơ chế được Nhà nước bảo hộ, che chắn, từ đấy cùng nhau hưởng lợi ích nhờ vị thế độc quyền của cả nhóm.          PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuẩn bị cho sinh viên sẵn sàng trước những bất ngờ của tương lai      Cuối tháng Ba vừa qua, TS. Nguyễn Ngọc Hường (nhà văn Phan Việt) cùng bà Joan T.A. Gabel và TS. Paul Allen Miller, lần lượt là Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng của trường Đại học Nam Carolina, nơi chị đang giảng dạy, đến Hà Nội để gặp gỡ các trường đối tác, tuyển sinh và “ăn mừng” Ngày Công tác xã hội lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Trải qua một tuần kín lịch, trước khi ra sân bay về nước, họ đã dành cho Tia Sáng một buổi gặp gỡ để trao đổi về một số nguyên tắc trong giáo dục đại học của Mỹ mà Việt Nam có thể học hỏi.      Khuôn viên của Đại học Nam Carolina.  Sự kết hợp của nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ cộng đồng  Ở Việt Nam, mọi người đang đặt nhiều kỳ vọng vào Đại học Fulbright Việt Nam mặc dù họ chưa tuyển sinh cũng như có nội dung học cụ thể vì đây là đại học theo phong cách Mỹ đầu tiên ở Việt Nam. Từ điểm nhìn của ông/bà, đại học của Mỹ có điểm gì độc đáo mà các nước khác có thể học hỏi không?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Một giá trị cốt lõi? Đó thực sự là một câu hỏi khó trả lời bởi chúng tôi thường cho rằng, giáo dục đại học của Mỹ có ba giá trị là nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ cộng đồng (service). Rất khó để chọn một. Tôi nghĩ điểm đặc biệt ở giáo dục đại học của Mỹ có lẽ là cách kết hợp cả ba giá trị này trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và trao đổi tri thức để đem lại giá trị cho cộng đồng. Chúng tôi định nghĩa cộng đồng không chỉ bao gồm sinh viên và các đồng nghiệp của mình mà còn là người dân của bang (vì chúng tôi là đại học của bang Carolina), của cả nước và toàn cầu.  Phó Hiệu trưởng Paul Allen Miller: Một điều đặc biệt khác mà tôi muốn thêm vào giáo dục đại học ở Mỹ, đó là sự cam kết với giáo dục toàn diện (general education). Ở nhiều nơi trên thế giới, bạn tới đại học để trở thành kỹ sư thì những gì bạn học chỉ là kỹ thuật và nếu bạn muốn trở thành một nhà sinh vật học thì tất cả những gì bạn học là sinh học. Một phần triết lý giáo dục sau đại học của Mỹ đó là đào tạo ra những công dân tốt, những người học tập suốt đời, dù đi sâu vào bất kì chuyên ngành nào, các sinh viên cũng phải học khoa học cơ bản, toán học, khoa học xã hội, nhân văn… Ở Đại học Nam Carolina, chúng tôi gọi là những môn học cốt lõi của Carolina, thể hiện quan điểm của chúng tôi về những gì mà một người có tri thức cần phải biết. Phần lớn các đại học nghiên cứu và đại học khai phóng đều như vậy. Ở các nước như Anh, Úc hay Pháp thì không có điều đó.  TS. Nguyễn Ngọc Hường: Và tôi nghĩ nếu bạn so sánh giữa các đại học Mỹ với đại học Việt Nam thì bạn sẽ nhìn thấy rõ điều hai người vừa nói. Ở Việt Nam, phần lớn các đại học đều chỉ chú trọng vào giảng dạy, ngay cả các đại học hàng đầu cũng rất ít nghiên cứu. Trong khi đó ở Mỹ, nghiên cứu trong trường đại học đóng góp rất lớn không chỉ trong định hình việc giảng dạy của giáo viên mà còn cả trải nghiệm của người học. Nghiên cứu rất quan trọng và nó là quá trình đào tạo và tự đào tạo đối với sinh viên và giảng viên để giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống chứ không chỉ là lý thuyết. Tôi cũng nghĩ rằng, nghiên cứu trong trường đại học tạo ra động lực cập nhật và đổi mới sáng tạo chương trình học liên tục. Ví dụ như tôi dạy ở Đại học Nam Carolina, tôi đến từ Việt Nam và tôi hứng thú với sự giao thoa giữa Phật giáo và công tác xã hội. Tôi về nước vào các mùa hè, dành toàn thời gian ở trong chùa, học và nghiên cứu về nó. Năm ngoái, tôi thiết kế những khóa học mới về Phật giáo và công tác xã hội để sinh viên có thêm một cách tiếp cận mới mẻ.  Đại học của tương lai  Triết lý giáo dục toàn diện để tạo ra những con người có tri thức nền tảng đương nhiên là điều tốt, tuy nhiên, dưới góc nhìn của nhiều người đi học thì khả năng kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp cũng cần được chú trọng?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Nó giống như hai mặt của một đồng xu, một mặt là việc trở thành một người có tri thức không liên quan đến việc bạn làm gì mà bạn là ai, bạn nghĩ gì, bạn sống trong cộng đồng như thế nào nhưng mặt khác là bạn phải có những bằng chứng thể hiện kỹ năng và những gì mình có thể làm được. Chúng tôi muốn truyền tải cả hai điều đó. Bằng những môn học cốt lõi – chương trình giáo dục toàn diện, chúng tôi muốn hướng các em suy nghĩ sâu sắc hơn, phân tích vấn đề thấu đáo hơn bất kể các em học ngành gì, sinh học, y học, công tác xã hội, luật sư, kinh tế…Nhưng tùy theo ngành học của mình, khi tham gia vào các lớp học nâng cao, các em sẽ học các kỹ năng chuyên nghiệp để có thể tốt nghiệp, tìm kiếm việc làm và làm việc thực sự. Để thúc đẩy việc này, chúng tôi có chương trình “Bên ngoài lớp học” bằng việc cho các em thực tập, nghiên cứu, học trao đổi ở nước ngoài, tham gia các tổ chức tình nguyện…để các em trưởng thành hơn và có kinh nghiệm làm việc.    Phó Hiệu trưởng Paul Allen Miller: Các hoạt động bên ngoài lớp học được khuyến khích bằng việc công nhận việc các em làm trên bằng tốt nghiệp, trên bảng điểm như “tốt nghiệp với kĩ năng lãnh đạo xuất sắc”. Bên cạnh đó, có những khu ký túc trong trường yêu cầu sinh viên phải tham gia những hoạt động ngoại khóa. Mặc dù không phải là những hoạt động bắt buộc để có bằng tốt nghiệp ở Đại học Nam Carolina nhưng nó rất được khuyến khích bằng rất nhiều cách ghi nhận.  Các nhà tuyển dụng vẫn nói với chúng tôi rằng, sinh viên của chúng tôi không chỉ có kỹ năng họ cần mà còn có khả năng học các kỹ năng mới. Tôi nghĩ điều này rất quan trọng, đặc biệt trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng như hiện nay, biết đâu năm năm nữa, lập trình máy tính là kỹ năng bắt buộc. Vậy nên, chúng tôi muốn các em ra trường và có những kỹ năng của hiện tại nhưng cũng sẵn sàng học những kỹ năng mà tương lai cần nữa. Công việc của chúng tôi là chuẩn bị cho các em đối mặt với những lĩnh vực chưa hình thành, những vấn đề khoa học chưa được thảo luận, những bệnh tật vẫn chưa được phát hiện…  Nhân đây khi chúng ta nhắc đến việc phải chuẩn bị cho sinh viên không chỉ những kỹ năng hiện tại mà còn cả những kỹ năng cho tương lai, nó dẫn đến câu hỏi là ông/bà nghĩ thế nào là một trường đại học của tương lai, một trường đại học có thể thích nghi với ngành công nghiệp 4.0?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Chủ tịch trường tôi có đưa ra chiến lược phát triển một trường đại học thế kỷ 21. Ông ấy tin rằng đại học thế kỷ 21 phải có các môn học cốt lõi để giáo dục sinh viên một cách toàn diện, phải đào tạo được các sinh viên có khả năng làm việc, có kỹ năng lãnh đạo và sáng tạo. Trong chương trình giảng dạy của chúng tôi, bất kể ngành nào, cũng đều phải đảm bảo bốn yếu tố đó để các em ra trường không chỉ xin được việc làm mà còn có thể thích ứng với nền công nghiệp vẫn đang hình thành, có thể tiếp cận những vấn đề hiện tại một cách sáng tạo và nhìn ra những vấn đề ở tương lai.  Tôi nghĩ rằng sáng tạo là một yếu tố rất khó để chuẩn bị cho học sinh?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Đúng, chính xác, nó cũng là phần mới nhất và khó khăn nhất trong chiến lược của chủ tịch trường tôi. Có rất nhiều cuộc thảo luận giữa các khoa về định nghĩa sự sáng tạo. Nhiều người nghĩ rằng, sáng tạo thường gắn liền với nghệ thuật hay âm nhạc nhưng nó có thể ở bất kì lĩnh vực nào: đưa ra một giải pháp mà chưa ai từng nghĩ ra trước đó là sự sáng tạo. Chuyên ngành của tôi là kinh doanh và luật, sáng tạo có thể là tìm ra cách thức tài trợ mới cho một dự án hoặc dịch vụ mới cho khách hàng…  Hiện nay chúng tôi đang tổ chức một loạt các sự kiện mà ở đó sinh viên được yêu cầu hoàn toàn thoát khỏi cuộc sống thường nhật để giải quyết một vấn đề. Có lúc vấn đề là viết một bài thơ, có lúc là tìm ra tiền để khởi nghiệp… Chỉ cần một buổi thứ Bảy, Chủ nhật hoặc một buổi tối mà tất cả những gì các em làm là tập trung vào những điều mà bình thường các em không bao giờ làm hoặc không chú ý đến nó. Ngoài ra, chúng tôi vẫn mời các học giả và các nghệ sĩ đến và nói chuyện về quá trình sáng tạo của họ và trình diễn nghệ thuật.  Phó Hiệu trưởng Paul Allen Miller: Chẳng hạn như, chúng tôi từng mời nguyên Tổng thống Tunisia, Moncef Marzouki, một trong những thủ lĩnh của phong trào Mùa xuân Ả Rập đến và nói chuyện về chính phủ dân chủ đầu tiên ở Tunisia. Đó là người nghĩ về cách tổ chức đất nước của mình theo một cách khác với số đông lúc đó và thay đổi được nhận thức cộng đồng người Hồi giáo ở Bắc Phi về nhân quyền. Cũng trong tuần đó, chúng tôi mời Francis Coppola, một đạo diễn huyền thoại, đến trường nói chuyện. Hai con người với hai cách sáng tạo khác nhau nhưng họ đều là những người với những quan điểm đột phá, thay đổi cách chúng ta quan niệm về thế giới.  TS. Nguyễn Ngọc Hường: Những sự kiện như vậy mở cửa cho tất cả giảng viên và sinh viên tới nghe và trao đổi. Hiện giờ, tôi đang mời một vị sư từ Thái Lan tới trường để giảng về khái niệm giúp đỡ dưới góc nhìn Phật giáo. Ông ấy cũng cung cấp những giờ tư vấn về chăm sóc bản thân cho các trưởng khoa và sinh viên ngành công tác xã hội. Những hoạt động như vậy mở mang cách thức trải nghiệm và suy nghĩ của sinh viên về thế giới.  Nhà nước tài trợ nhưng không can thiệp  Đại học Nam Carolina là đại học công lập, vậy điều gì khác nhau giữa đại học công lập và tư thục ở Mỹ?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Khoảng 10% nguồn thu của Đại học Nam Carolina đến từ ngân sách của bang, một vài bang khác thì tỉ lệ này có thể cao hơn. Đại học dân lập thì không có ngân sách hỗ trợ chi thường xuyên như vậy. Ngoài ra, chúng tôi cũng có ngân sách chính phủ hỗ trợ nghiên cứu nhưng phải cạnh tranh để có nên các trường tư nhân cũng nhận tài trợ này.  Phó Hiệu trưởng Paul Allen Miller: Những trường đại học tư nhân nói chung có học phí rất đắt đỏ, một trong những mục tiêu của những trường đại học công lập là phải tạo điều kiện cho càng nhiều người giỏi trong bang học đại học càng tốt. Đại học tư nhân, mặc dù họ cũng cấp học bổng cho những người học xuất sắc nhưng họ không có sứ mệnh này.  Nhận ngân sách từ chính phủ, các đại học công lập có bị can thiệp vào hoạt động của mình hay không?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Tôi không nghĩ chúng tôi sẽ dùng từ can thiệp. Chúng tôi phải tuân theo quy định của bang, đó là phải đảm bảo chất lượng đầu ra của sinh viên. Nếu nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp, dĩ nhiên các quan chức sẽ đến và hỏi tại sao. Điều đó cũng phải thôi vì họ đầu tư cho trường bằng thuế của người dân mà sinh viên ra trường lại không thể có thu nhập, không thể trả thuế và không tự lo cho mình thì không ổn.  Chính phủ có liên quan đến hoạt động của chúng tôi nhưng họ không can thiệp vào nội dung giảng dạy. Các giáo sư hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghiên cứu mà họ muốn, thỏa sức trong lĩnh vực mà trí sáng tạo dẫn dắt họ tới. Nội dung và chất lượng giảng dạy được xây dựng và quyết định hoàn toàn bởi các giáo sư và lãnh đạo nhà trường cho rằng điều gì là quan trọng và giá trị trong học thuật.  Phó Hiệu trưởng Paul Allen Miller: Có một quá trình trong giáo dục đại học của Mỹ gọi là cấp biên chế (hay phong GS/PGS – tenure). Khi một trường đại học thuê một giảng viên trẻ làm giáo sư trợ lý (assistant professor), sau sáu năm, họ sẽ được các đồng nghiệp đánh giá dựa trên kinh nghiệm và chất lượng giảng dạy, nếu tốt, họ sẽ được thăng hạng thành giáo sư, tức là sự nghiệp của họ được bảo đảm, họ có thể nghiên cứu bất kì những gì họ muốn. Họ có thể giảng dạy nghiên cứu của họ. Về cơ bản, đó là tự do học thuật ở Mỹ, sự thăng tiến trong công việc của bạn dựa trên sự đánh giá của các đồng nghiệp, những chuyên gia trong ngành chứ không phải là dựa trên quyết định của một quan chức ngành giáo dục.  Ở Việt Nam, rất nhiều trường đại học quan tâm đến các bảng xếp hạng và nhiều nơi đặt mục tiêu phải đạt top 100, 200 trường đại học hàng đầu châu Á. Vậy ông/bà nhìn nhận việc xếp hạng này như thế nào và làm cách nào để định vị đại học của mình trên trường quốc tế?  Hiệu trưởng Joan T.A. Gabel: Không nghi ngờ gì, các thể loại xếp hạng là sự thách thức vì chúng tôi thường không đồng ý với những tiêu chí đo lường của họ. Các tiêu chí nhiều khi không phải là các yếu tố mà chúng tôi ưu tiên hoặc thấy quan trọng trong chiến lược xây dựng trường. Điều đó khiến chúng tôi “vật vã”: “ôi trời, cách xếp hạng này không nhận ra những điều tuyệt vời chúng ta làm, cách xếp hạng kia khiến cho trường đại học nọ trông thật hào nhoáng nhưng thực tế họ làm chẳng tốt bằng mình”, đại loại vậy.  Nhưng mặt khác, nếu tôi là một người học hoặc một nhân viên tiềm năng của trường, tôi cần một vài đánh giá xem trường này làm việc thế nào. Khi đó, các bảng xếp hạng là bằng chứng tốt nhất mà chúng tôi có để “người ngoài trường” họ nhìn vào. Thế nên, dù gì, chúng tôi cũng phải quan tâm đến các bảng xếp hạng vì sinh viên, phụ huynh, nhân viên, các trường giảng dạy cao học, các đối tác tiềm năng trên thế giới sẽ nhìn vào đó để xem chúng tôi có xếp hạng ở mức tương đối hay không. Nhưng chỉ thế thôi. Bảng xếp hạng không định nghĩa chúng tôi là ai, chúng tôi theo đuổi những nền tảng mà chúng tôi xây dựng từ ban đầu. Chiến lược của chúng tôi vẫn là tạo ra những nhà lãnh đạo toàn diện, những người sáng tạo, những người có thể làm được việc, những học giả sẽ cống hiến cho cộng đồng và chúng tôi sẽ quản lý tài nguyên của mình một cách hiệu quả và các bảng xếp hạng sẽ phải thể hiện được điều đó. Chúng tôi không thay đổi những giá trị của mình chỉ vì tiêu chí của các bảng xếp hạng.    Xin cảm ơn ông/bà về cuộc trò chuyện này!   Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chứng chỉ tiêm chủng: Lịch sử 700 năm      Cách ly, phong tỏa, đóng cửa biên giới là những công cụ phòng chống dịch bệnh đã có cách đây 700 năm. Ai muốn đi lại, khi thế giới đóng cửa, cần có một thẻ chứng minh về tình trạng sức khỏe của mình.    Năm 1611 khi Marcantonio Zezza rời Venice, một mảnh giấy trong túi có thể là một trong những tài sản quý giá nhất của ông. Tờ giấy viết tay đề tên và các dữ liệu quan trọng về ông và có chữ ký của một quan chức, chứng nhận rằng ông đã rời thành phố “với ân điển của Chúa” “và không có ‘tệ nạn’ lây nhiễm”.  Rất có thể nếu không có một tài liệu như vậy, ông ta đã bị từ chối tiếp cận tại điểm đến. thậm chí chỉ với mục đích quá cảnh – chỉ vì một lý do, người ta lo ngại ông  mang theo cái chết trong hành lý của mình. Mẩu giấy là minh chứng về sức khỏe của ông, ngày nay người ta chỉ cần nói ngắn gọn: Người đàn ông này không có nguy cơ lây lan bệnh dịch.    Giấy chứng nhận không bị bệnh dịch năm 1611: Chúc ngài Zesa một chuyến đi bình an.  Từ năm 1347, các thành phố Milan và Venice của Ý đề ra các biện pháp hữu hiệu để hạn chế “cái chết đen” tràn lan bằng cách phá vỡ chuỗi lây lan. Điều này trái ngược hoàn toàn với sự khuyên dạy của nhà thờ, vốn không giải thích dịch bệnh là bệnh truyền nhiễm, mà tuyên bố chúng là sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. Do đó, các giáo lễ về bệnh dịch hạch từ giữa thế kỷ 16 luôn coi biện pháp quan trọng nhất và đầu tiên để chống lại căn bệnh này là quỳ gối cầu nguyện nhiều lần trong ngày và luôn sốt sắng sám hối.  Ý tưởng hạn chế mầm bệnh  Nhưng thành phố Milan và Venice đã chứng minh người ta có thể tác động tích cực đến việc ngăn chặn dịch bệnh. Những vụ dịch bệnh này có khi gây chết chóc tới 30% dân số của các thành phố và các địa phương bị dịch bệnh tàn phá. “Việc cách ly người bệnh, cách ly những người bị nghi ngờ mắc bệnh, dọn dẹp hàng hóa đáng ngờ, cấm tuyệt đối tiếp xúc với thương nhân từ những nơi bị nhiễm bệnh. Mọi biện pháp này về cơ bản đã được phát triển ở miền bắc nước Ý trong thế kỷ 15”, bác sĩ đồng thời là nhà sử học y học Vera Waldis đã viết trong một tiểu luận.  Ngay từ năm 1546, Girolamo Fracastoro, một thầy thuốc, nhà thơ, triết gia và là một học giả uyên bác đến từ Verona, lần đầu tiên đưa ra một luận đề khoa học giải thích sự lây lan của bệnh dịch: Ngoài những bài thơ về bệnh giang mai, ông đã viết một chuyên luận về “hạt giống bệnh dịch hạch” có thể lây bệnh mà không cần tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.  Thời đó, Nhà thờ và chính quyền chỉ đề cập đến “chướng khí”, hơi thở của bệnh dịch, phát sinh từ không khí hoặc mặt đất, coi đây có thể là nguyên nhân. Tuy nhiên, Fracastoro đã truyền đạt cho các thày thuốc và các chức dịch nhà nước phụ trách vấn đề chống dịch bệnh các hướng dẫn cụ thể nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh như: cách ly người bệnh, hạn chế đi lại, ngăn chặn mọi sinh hoạt công cộng trong khu vực có dịch bệnh bằng các biện pháp “phong tỏa”.  Xác chết và vật dụng của người chết đều bị hỏa thiêu.    Từ giữa thế kỷ 19 bắt đầu tiêm chủng phòng bệnh đậu mùa ở Đức, đầu tiên cho trẻ em và người già. Từ đây tiêm chủng trở thành tiêu chuẩn. Nguồn ảnh: Getty Images  Ngày nay chúng ta biết cuộc đấu tranh chống dịch bệnh đã diễn ra hàng thế kỷ nay và vô vàn người bệnh vẫn bị chết. Tuy nhiên chúng ta không biết, tình hình sẽ tồi tệ như thế nào, số ca tử vong sẽ tăng lên bao nhiêu, nếu như chúng ta không có cách tiếp cận đúng đắn. Chúng ta đều biết các cách tiếp cận ngay từ hồi xa xưa là đúng đắn.  Từ thế kỷ 18 trở đi, giấy chứng nhận phục hồi và sức khỏe, những thứ được cho là đảm bảo cho du khách tự do đi lại ngay cả khi có dịch bệnh, đã phổ biến khắp châu Âu. Các báo cáo sớm nhất về việc chủng ngừa bệnh đậu mùa cũng có từ đầu thế kỷ 18: người ta dây những hạt máu khô có virus sống vào vết thương hở. Nếu người được tiêm chủng qua khỏi, người đó sẽ miễn dịch – vì khoảng 90% bệnh nhân đã thành công qua tiêm chủng kiểu này nên ngày càng có nhiều người sẵn sàng làm như vậy, bởi tỷ lệ tử vong ở bệnh đậu mùa có thể lên đến 50% nếu không thực hiện chủng ngừa.   Bác sỹ người Anh Edward Jenner đã phát triển một phương pháp, nguyên tắc của phương pháp này về cơ bản vẫn được áp dụng cho đến tận ngày nay: từ năm 1976 ông đã gây lây nhiễm sang người bệnh của mình mầm bệnh đậu ở bò, những con bò bị chết chỉ gây tác động phụ – nhưng cung cấp cho hệ thống miễn dịch tín hiệu cứu mạng sống, chống lại tất cả các mầm bệnh đang tràn lan bên ngoài. Biện pháp này tỏ ra hữu hiệu nên ít năm sau xuất hiện giấy chứng chỉ đã tiêm chủng.  Khoảng 1800 ở Đức đã xuất hiện lúc đầu là tờ rơi, sau này là sổ tay tuyên truyền cho việc tiêm chủng phòng bệnh đậu mùa. Số trẻ em bị chết vì bệnh đậu mùa tràn lan, các bậc cha mẹ hoảng loạn. Lúc này nhiều trẻ em đã được tiêm chủng phòng bệnh đậu mùa và được an toàn. Từ đây tiêm chủng được biết đến ngày càng nhiều hơn. Trong những năm 1820 trên địa bàn lãnh thổ nước Đức ngày nay bắt đầu có thẻ tiêm chủng được in ấn đàng hoàng và có giá trị sử dụng cho mọi khu vực.  Tuy nhiên, lúc này thế giới vẫn đang chờ một tiêu chuẩn quốc tế đối với vấn đề bảo vệ sức khỏe con người. Trong khi bệnh đậu mùa ở châu Âu, do được tiêm chủng rộng rãi, không còn là nỗi kinh hoàng thì xuất hiện bệnh dịch tả, hậu quả của quá trình đô thị hóa sau cuộc cách mạng công nghiệp. Do điều kiện vệ sinh tồi tệ, nhà cửa chật chội, ẩm thấp nên bệnh dịch tả lây lan nhanh và gây tử vong cao.    Dịch tả trở thành một bệnh xuyên lục địa. Năm 1826 xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ. Mười năm sau lan sang khắp Trung Quốc và Nhật Bản từ đây tràn qua nước Nga rộng lớn rồi băng qua Trung Âu và Anh Quốc và lan cả tới Bắc Mỹ. Đây là đại dịch toàn cầu đầu tiên cướp đi sinh mạng nhiều triệu người. Cả thế giới bàng hoàng cũng từ đại dịch này tại các quốc gia hình thành cơ quan chăm sóc sức khỏe người dân, bộ Y tế ra đời.  Giữa thế kỷ 19 cùng thời điểm diễn ra Triển lãm Công nghiệp Thế giới lần đầu tiên ở London đã có Hội nghị Y tế Quốc tế lần thứ nhất chống lại toàn cầu hóa bệnh tật ở Pari (1851). Mục tiêu của hội nghị là tạo sự phối hợp quốc tế về kiểm dịch và áp dụng các biện pháp khác nhằm ngăn chặn “sự lây lan các bệnh truyền nhiễm và bệnh lạ”.  Chính phủ Pháp đã nhận ra sự cần thiết này ngay từ năm 1834. Chính phủ Pháp cho rằng giao thông đường sắt là nguy cơ gây đại dịch lớn nhất. Mười hai quốc gia đã chấp nhận lời mời và mỗi quốc gia cử một nhà ngoại giao và một bác sĩ tham dự hội nghị này.  Hội nghị kết thúc với một danh mục chung về các biện pháp phòng chống bao gồm 137 điều. Từ 1933 sự đi lại bằng đường hàng không được đẩy mạnh và ngành du lịch bắt đầu phát triển, nguy cơ lây lan đại dịch tăng lên.    Giấy chứng nhận tiêm chủng có giá trị quốc tế  Qua Hội nghị Y tế quốc tế, người ta đã quyết định thống nhất thực hiện thẻ tiêm chủng, đến năm 1944 thẻ này được mở rộng cho cả lĩnh vực giao thông đường biển.  Năm 1948 ra đời tổ chức Y tế thế giới WHO, từ đó tổ chức này quản lý, giám sát Thẻ tiêm chủng.   Ngày nay, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, để có thể đi lại thuận tiện trên thế giới, chúng ta cũng phải có chứng nhận tiêm chủng.  Xuân Hoài lược dịch   Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fgeschichte%2F700-jahre-gesundheits-atteste-die-erstaunlich-lange-geschichte-des-impfpasses-a-dafcb507-2451-4f55-9148-c678e54dbae1&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com%2F    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chung kết Trại huấn luyện khởi nghiệp: Chiến thắng thuộc về Dự án cộng đồng freelancer      Dự án cộng đồng freelancer tại Việt Nam  (vLance.Vn) đã giành giải Nhất trong đêm chung kết Trại huấn luyện khởi  nghiệp (Startup Weekend Hanoi 2014).      Giải nhì và ba lần lượt thuộc về hai dự án Booksan: dịch vụ đặt sân bóng trực tuyến và  Yes I do: cộng đồng cưới hỏi.  Với một cộng đồng freelancer (người làm việc độc lập/tự do) đang lớn mạnh lên từng ngày tại Việt Nam, nhóm thực hiện dự án dự án vLance.vn muốn phát triển một sàn giao dịch việc làm theo mô hình hoàn toàn mới, trở thành điểm đến được yêu thích của những freelancer cần tìm việc cũng như thu hút những tổ chức, công ty và cá nhân cần tìm nguồn nhân lực để thực hiện các dự án và mục tiêu ngắn hạn.   Dự án đã thuyết phục được các nhà đầu tư để giành phần thưởng cao nhất trị giá 10.000 USD.    Trong đêm chung kết diễn ra tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội (số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội) hôm qua, 30/3, tổng cộng có bảy dự án đã được thuyết trình trước Ban giám khảo.     Đọc thêm:  Trại huấn luyện khởi nghiệp toàn cầu: “No talk. All actions”  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=7343&CategoryID=43      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chứng khoán dành cho người giàu?      Tuần qua, có mấy thông tin dồn dập làm náo động thị trường chứng khoán TTCK): một tin tốt và ba tin xấu.    Tin tốt. TTGDCK TP.HCM sẽ bắt đầu hình thức khớp lệnh liên tục từ ngày 07-05-2007. Trong 3 phiên giao dịch hằng ngày, đợt 1 và đợt 3 sẽ là khớp lệnh định kỳ; đợt 2 là khớp lệnh liên tục. Đây là một bước tiến văn minh, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư (NĐT), tăng cường năng lực khớp lệnh của hệ thống, giảm thiểu khả năng thông đồng làm giá trên thị trường. Tuy nhiên, trong đợt khớp lệnh liên tục sẽ có loại “lệnh thị trường” lần đầu tiên được áp dụng. Lệnh thị trường là lệnh mua hoặc bán mà không cần đặt giá cụ thể. Lệnh mua sẽ được khớp dần lên từ giá bán thấp nhất; lệnh bán được khớp dần từ giá mua cao nhất. Vì thế nếu NĐT chưa hiểu rõ về cách khớp lệnh thì không nên dùng lệnh này vì rất dễ mua đắt, bán rẻ, mất tiền oan.  Tin xấu 1. Từ ngày 7/6, HoSTC sẽ nâng khối lượng giao dịch lô từ 10 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ  lên 100. Lô lớn cũng được nâng lên 20.000 cổ phiếu thay vì 10.000 cổ phiếu.  Tin xấu 2. Xô xát diễn ra trước cửa Nhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 13/04 vì các NĐT chen lấn, xô đẩy nhau để vào nghe thông báo hướng dẫn về hai qui định mới nêu trên.  Tin xấu 3. Ngày 16/04, chỉ số VN-Index chính thức trở lại vị trí xuất phát hồi đầu năm, tụt xuống dưới ngưỡng 1000 điểm (đạt 983). Đây là phiên thụt giảm thứ 5 liên tiếp trong tuần giao dịch gần đây nhất. Thị trường hoang mang vì không biết đây là đợt bắt đầu hay kết thúc một làn sóng điều chỉnh mới.  Dĩ nhiên, những người hoang mang nhất lúc này chính là các NĐT nhỏ. Không thể gạt bỏ cảm giác họ đang bị dồn ép để phải tự nguyện từ bỏ thị trường. Cách đây không lâu, khi VCBS tuyên bố không mở thêm tài khoản mới và SSI chỉ mở tài khoản cho người nộp đủ 100 triệu đồng, các NĐT nhỏ đã thất vọng. Nhưng họ không trách ai vì hai công ty trên một tư nhân, một cổ phần, bị ràng buộc bởi những đường lối chiến lược phát triển riêng. Nhưng lần này thì khác. Quyết định nâng khối lượng giao dịch lô từ 10 lên 100 cổ phiếu là quyết định của một cơ quan quản lý nhà nước. Chưa bàn đến tác động hay – dở của quyết định này, nhưng rõ ràng khi thực hiện nó lập tức các NĐT nghèo sẽ bị sa thải ra khỏi thị trường. Không lẽ Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước đang có chủ trương xây dựng TTCK chỉ dành riêng cho người giàu?  Mọi khó khăn có thể khắc phục. Theo lời ông Lê Hải Trà, phó Giám đốc TTGDCK TP.HCM, số lượng giao dịch lô 10 chỉ chiếm 1%, trong khi số lượng lệnh chiếm 14%, nên đã gây tắc nghẽn, khiến lúc thời điểm sốt giá chỉ có hơn 60% số lệnh nhập vào được. Thế giả sử bây giờ không còn lô 10 nữa thì sao? Cũng chỉ có 74% lệnh được nhập, 26% còn lại vẫn ngoài “vòng phủ sóng”. Vấn đề mấu chốt là năng lực nhập lệnh của chúng ta kém. Đã kém thì phải tập trung nâng cấp, chứ không vì mình kém mà tìm cách đuổi bớt người chơi. Chúng ta có thể bỏ qua rất nhiều thứ, nhưng có những thứ không thể bỏ qua được, những thứ tối thiểu cần cho một xã hội văn minh. Và một trong những thứ đó là sự bình đẳng. Nếu mỗi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thì không có lý do gì cũng chính người công dân đó không được bình đẳng trước cơ hội của thị trường. Chứng khoán và ngân hàng là hai kênh huy động vốn nhàn rỗi trong người dân, đầu tư cho nền kinh tế. Không có lý do gì ta kêu gọi người dân thực hành tiết kiệm, gửi tiền vào ngân hàng, nhưng lại ngăn cản người ta chơi chứng khoán. Với đà tư duy như thế, bạn có thể tin nổi, sắp tới các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sẽ treo biển thông báo: “Chỉ nhận gửi tiết kiệm với khoản tiền ít nhất là từ 15 triệu trở lên”.  Rất may là điều này chắc chắn không xảy ra. Vì cấm người gửi tiết kiệm nhỏ – ngân hàng chẳng được lợi gì. Nhưng cấm NĐT nhỏ trên TTCK – chắc chắn sẽ nhiều người có lợi. Các nhà quản lý thì đỡ đau đầu, các đại gia thì nhẹ nợ, thị trường Blue Chip bây giờ chỉ dành riêng cho họ. Nhưng sướng nhất vẫn là các công ty chứng khoán – nhập lệnh nào, ra lệnh đó, chi phí vẫn thế mà lợi nhuận cao hơn gấp bội phần.  Bạn có thấy, từ trước tới nay, chúng ta đã có quá nhiều ưu đãi dành cho người giàu: từ thể thao, văn hóa, du lịch đến y tế, giáo dục… nên chăng đã đến lúc phải dành một chút gì đó cho người nghèo, ít ra là cơ hội tự thoát nghèo.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chứng minh hiệu quả phòng chống bệnh dịch của khẩu trang      Khi đại dịch mới bùng phát đeo khẩu trang ở một số nước chưa phải là điều đương nhiên – nhưng có ý nghĩa, một phân tích đã chứng minh điều này. Những nước nào có quy định đeo khẩu trang sớm hơn thì số ca tử vong giảm.        Vào đầu năm 2020, việc đeo khẩu trang trong siêu thị, tiệm ăn, trên các phương tiện giao thông công cộng ở Đức là điều không thể tưởng tượng. Trong khi đó ở một số nước Châu Á, đeo khẩu trang trong sinh hoạt hàng ngày là chuyện đương nhiên.  Hiện nay đeo khẩu trang cũng đã trở thành đương nhiên trong sinh hoạt ở Đức và nhiều quốc gia châu Âu – nhiều người thậm chí còn muốn về lâu dài nên đeo khẩu trang để phòng bệnh. Các chuyên gia cũng đang thảo luận là liệu có nên bắt buộc đeo khẩu trang lâu dài để phòng chống các đợt dịch cúm nghiêm trọng, ví dụ như khi di chuyển trên các phương tiện giao thông công cộng. Một nghiên cứu mới dựa trên dữ liệu từ đầu đại dịch một lần nữa nhấn mạnh tính hiệu quả của biện pháp đơn giản này.  Trái ngược với niềm tin đó, các chính trị gia trên thế giới tỏ ra tin tưởng vào việc nới lỏng vấn đề đeo khẩu trang. Ở các quốc gia, nơi đeo khẩu trang được coi là một văn hóa và được cơ quan chính quyền ủng hộ  sớm thì  số ca tử vong trên đầu người tăng trung bình khoảng 16% mỗi tuần trong những tháng đầu năm 2020, bài báo của nhóm nghiên cứu trên tạp chí American Journal of Tropical Medicine and Hygiene. Ở các quốc gia không khuyến khích sử dụng khẩu trang, mức tăng trung bình là khoảng 62% mỗi tuần.   Đánh giá thông tin của 200 quốc gia  Nhóm nghiên cứu đã xem xét những yếu tố nào có thể lý giải số ca tử vong trên đầu người do Covid 19 gây ra đôi khi rất khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Để làm được điều này, họ đã phân tích thông tin từ hơn 200 quốc gia, trong đó có lưu trữ dữ liệu về tỷ lệ tử vong của Covid 19 có thể truy cập công khai vào ngày 9/5/2020. Họ so sánh những yếu tố này với nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong, ví dụ các yếu tố như độ tuổi của dân số, phân bố giới tính, nhiệt độ bên ngoài, sự đô thị hóa, tỷ lệ người bị thừa cân cũng như tỷ lệ người hút thuốc trong xã hội. Họ cũng chú ý đến đến thời điểm xuất hiện virus corona mới ở một quốc gia và thời điểm phân tích và những biện pháp đối phó như thế nào, bên cạnh đeo khẩu trang còn có các biện pháp như dãn cách xã hội hoặc tiến hành xét nghiệm hàng loạt để xác định và cách ly những người nhiễm bệnh.  Những nơi sớm có quy định hạn chế du lịch quốc tế hoặc có truyền thống đeo khẩu trang ngay từ đầu đại dịch thì tỷ lệ tử vong tương đối thấp.     Một cửa hàng giới thiệu các kiểu khẩu trang khác nhau: một phương tiện đơn giản, rẻ tiền và có hiệu quả chống lây lan dịch  Chỉ có ba nước châu Âu sớm quy định về khẩu trang  Hiệu quả của đeo khẩu trang chỉ thật rõ rệt nếu được thi hành sớm khi đại dịch mới bùng phát. Vì đầu đại dịch, số người bị lây nhiễm còn thấp cho nên đeo khẩu trang là biện pháp hạn chế lây lan có hiệu quả.  Những nước trong 15 ngày đầu tiên, khi mới phát hiện virus corona đã có biện pháp đeo khẩu trang thì đạt kết quả tốt nhất, chủ yếu là các quốc gia châu Á. Các nước chỉ áp dụng đeo khẩu trang sau ngày 16/4 hoặc 60 ngày sau khi phát hiện viruscorrona đầu tiên, chủ yếu các nước phương Tây có tỷ lệ tử vong bình quân cao hơn hẳn.   Ở Châu Âu chỉ có ba nước nơi người dân được khuyến cáo đeo khẩu trang sau khi bùng phát dịch một tháng, đó là các nước Slovakia, Séc và Bosnia& Herzegowina.  Một trong những lý do cho sự chậm trễ này một phần là do khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Đầu đại dịch tổ chức này khuyên không cần đeo khẩu trang trong khi ở Trung Quốc ngay từ tháng giêng người dân đã tích cực đeo khẩu trang. Ngay từ tháng ba nhiều nước đã khuyến cáo người dân đeo khẩu trang như Cô oét, Nepal, Lituyani, Slovenia, Iran, Bungari Áo vv…  Đeo khẩu trang càng sớm càng tốt  Kết quả phân tích cho thấy, 24 nước nội trong 20 ngày sau khi dịch bùng phát đã khuyến cáo đeo khẩu trang thì có tỷ lệ tử vong bình quân là 1,5 người trên 1 triệu  dân. Trong khi đó ở các nước khác là  3,6 ca tử vong vì Corona trên 1 triệu dân.  • Trong số  24 nước chính thức đeo khẩu trang ngay trong 20 ngày đầu tiên khi bùng phát dịch, tính đến ngày 9/8 tỷ lệ tử vong bình quân là 4,7 người trên 1 triệu dân .  • Tại 17 nước, sau 30 ngày bùng phát dịch, tỷ lệ tử vong tính đến ngày 9/8 là 26,6 trên 1 triệu dân.  • Ở Mỹ nơi trong năm 2020 đeo khẩu trang luôn bị coi là một vấn đề thì tỷ lệ tử vong vì corona lên đến  502 người trong 1 triệu dân .  Tuy nhiên, không thể loại trừ yếu tố mà các chuyên gia không tính đến cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả. Nhóm nghiên cứu viết: “Các kết quả ủng hộ việc đeo khẩu trang nơi công cộng để ngăn chặn sự lây lan virus corona. Với tỷ lệ tử vong do virus corona gây nên thấp ở các nước châu Á, nơi việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng đã phổ biến vào thời điểm bắt đầu bùng phát”.  Thiếu bằng chứng dẫn đến lơ là không thực hiện  Trên Twitter, giáo sư về khoa học sức khỏe Trisha Greenhalgh tại Đại học Oxford đã chỉ trích, do thiếu bằng chứng về hiệu quả của khẩu trang nên ở nhiều nước đã có sự lơ là không thực hiện. Bà viết “một loại thuốc hay vaccine mới có khi có các tác động phụ còn tồi tệ hơn bản thân căn bệnh. Do đó cần có các thực nghiệm thích hợp để chứng minh sự tương quan  giữa lợi và bất lợi, trước khi đưa vào áp dụng”. Những người chỉ trích cũng đòi áp dụng một cách quá đáng đối với quy định này. “Một mảnh vải úp lên mặt không thể gây ra những nguy cơ như một loại thuốc hoặc vaccine”, bà viết. Việc buông lơi, không làm gì cả nhiều khi gây tổn hại lớn hơn nhiều.  Các tác giả nghiên cứu này cho hay “hầu hết các nước đều khuyến cáo nên đeo khẩu trang ở nơi công cộng đông người”. Vấn đề hiện nay các nước không còn có quan niệm khác nhau đối với khẩu trang mà chủ yếu ở khâu thực hiện.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: Corona-Pandemie: Wie schnelle Einführung der Maskenpflicht Tote verhindert hat – DER SPIEGEL      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chung sống với nợ xấu?      Bản chất của kinh doanh tiền tệ chính là  “Kinh doanh rủi ro”, và nợ xấu vì vậy là một phần tất yếu trong hoạt  động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, cách thức để “chung sống hòa bình  với nợ xấu” có thể xem như là vấn đề gai góc nhất trong hoạt động quản  trị ngân hàng từ trước đến nay.     Xét về phương diện thực tiễn, quyết định số 493 do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng thực sự có ý nghĩa đột phá, mở đường cho hệ thống ngân hàng tiệm cận với thông lệ quốc tế về nâng cao trình độ và năng lực kiểm soát rủi ro.     Tự chủ nhưng vẫn cần vai trò của Nhà nước  Từ khi quyết định 493 ban hành, lần đầu tiên ngân hàng thương mại được trao quyền tự chủ tài chính thực sự, được quyền sử dụng nội lực của chính mình để hóa giải phần lớn các khoản nợ xấu, góp phần giảm tải gánh nặng rủi ro cho toàn hệ thống mà không phải trông chờ chủ yếu từ nguồn lực ngân sách nhà nước (thông qua cơ chế “xin cho khoanh/ xóa nợ” đã từng tồn tại nhiều thập kỷ trước đó).  Đối chiếu với quy định 493 và những thay đổi về cơ chế quản trị rủi ro thời gian gần đây ở một số ngân hàng lớn, có uy tín, thì có thể khẳng định hệ thống ngân hàng Việt Nam đang dần từng bước chủ động tiếp cận tư duy quản lý rủi ro theo trình độ ngày càng nâng cao. Bên cạnh kỹ thuật đánh giá phân loại nợ theo phương pháp định lượng (dựa theo số ngày nợ quá hạn là chủ yếu), hiện nay một số ngân hàng đã bắt đầu chuyển hướng sang phân loại nợ theo phương pháp định tính, điều này giúp cho quá trình đánh giá chất lượng tín dụng được kịp thời và chuẩn xác hơn, kể cả phải chấp nhận tỷ lệ nợ xấu tăng thêm so với định lượng. Ngoài ra, dựa trên nền tảng công nghệ tin học hiện đại, một số ngân hàng đã có điều kiện triển khai hệ thống xếp hạng khách hàng theo định kỳ với nhiều tiêu chí tài chính và phi tài chính được xây dựng khá cụ thể, mang tính khoa học, phù hợp thông lệ quốc tế. Những thay đổi này đang diễn ra theo chiều hướng tích cực, đang trở nên phổ biến, không chỉ phản ánh sự quan tâm, lo lắng của hệ thống ngân hàng đối với lợi ích của chính mình, mà còn cho thấy quá trình tiếp cận những chuẩn mực quốc tế trong phân tích đánh giá chất lượng nợ là xu hướng không thể đảo ngược, tất nhiên phải có lộ trình phù hợp với hoàn cảnh, không thể nóng vội, máy móc.          Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung  bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc  đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.         Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh đặc biệt, vai trò Nhà nước là không thể thay thế. Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng toàn diện, gánh nặng nợ nần quốc gia (kể cả thể nhân/ pháp nhân) tăng lên, mất khả năng thanh toán, hệ thống tài chính ngân hàng có nguy cơ bị tê liệt nếu không được tiếp ứng đủ thanh khoản và vốn liếng để duy trì hoạt động. Một khi nỗ lực tự thân vận động nhằm ứng phó với nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng trở nên kém hiệu quả thì sự ra tay kịp thời và đúng liều lượng của cơ quan điều hành luôn là điều tối cần thiết nhằm duy trì sự ổn định cho nền tảng kinh tế – xã hội. Thực tế này được phản ánh rất rõ qua cuộc giải cứu rất ngoạn mục nhưng không kém phần mạo hiểm của FED đối với hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc đại khủng hoảng 2008-2009. Gần đây là nỗ lực của ECB nhằm tiếp ứng vốn để hệ thống ngân hàng Châu âu có thể cầm cự với khủng hoảng nợ công.   Thực trạng khó khăn hiện nay của Việt Nam  Bất luận nguyên nhân phát sinh như thế nào, nợ xấu luôn được xem như là bức tranh toàn cảnh về trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, là hàn thử biểu phản ánh sức sống của lực lượng doanh nghiệp cũng như đo lường năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước những sức ép thường xuyên, mang tính chu kỳ do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô.           Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ  xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các  doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.        Năm 2011, cùng với những khó khăn do tác động của lạm phát và lãi suất cao, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tăng đến mức cần báo động. Số tuyệt đối nợ xấu năm 2011 theo ước tính của NHNN vào khoảng 85 ngàn tỷ đồng. Nhưng theo một số chuyên gia am hiểu thì con số này vào khoảng 100 ngàn tỷ đồng với lý do còn một số khoản nợ tiềm ẩn chưa được phản ánh đầy đủ trên hệ thống sổ sách. Xung quanh tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam (< 5%), vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ này có thể gấp đôi (10-12%) và chính NHNNVN cũng thừa nhận việc đánh giá phân loại nợ ở các ngân hàng vẫn chưa theo đúng chuẩn mực thông lệ quốc tế.   Theo quy định tại 493, khái niệm “nợ xấu” bao hàm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một món vay (trong tổng thể nhiều món vay khác nhau) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ, thì toàn bộ dư nợ vay của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu. Trường hợp khách hàng tích cực thanh toán xong khoản nợ quá hạn nói trên thì vẫn phải chịu phạt “thời gian thử thách” khá dài (3 tháng đối với vay ngắn hạn; 6 tháng đối với vay trung dài hạn ) trước khi toàn bộ dư nợ chuyển về trạng thái bình thường.   Những quy định tương đối ngặt nghèo trên đây đã gây áp lực nợ xấu rất lớn cho khách hàng và ngân hàng, cản trở đến quá trình duy trì quan hệ tín dụng bình thường. Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.   Trong bối cảnh môi trường kinh doanh còn nhiều bất ổn, doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều khó khăn, việc duy trì những quy định có phần hà khắc như trên sẽ đẩy doanh nghiệp và ngân hàng vào thế bất lợi, tạo ra rủi ro cao hơn, về lâu dài sẽ gây lãng phí, thiệt hại các nguồn lực tài chính của nền kinh tế. Đặc biệt, kể từ năm 2012 trở đi, kinh tế Việt Nam phải đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng, chắc chắn sẽ có một làn sóng các doanh nghiệp buộc phải cải tổ, sàng lọc, sáp nhập, hợp nhất, kể cả chấp nhận đổ vỡ để làm lại từ đầu. Trong xu hướng ấy, tất yếu nợ xấu sẽ phát sinh nhiều hơn, trên diện rộng hơn, và hơn ai hết hệ thống ngân hàng phải là nơi trực tiếp gánh vác phần lớn hậu quả này. Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.    Cần một giải pháp toàn diện  Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa hơn. Bản thân từng doanh nghiệp và ngân hàng trước hết phải tự hoàn thiện năng lực quản trị rủi ro nói chung, quản trị dòng tiền nói riêng để phòng tránh nợ xấu phát sinh vượt tầm kiểm soát, đây là con đường cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế.           Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít  có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm  soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa  hơn.        Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề nợ xấu một cách đồng bộ và hiệu quả, thiết nghĩ cần có sự thay đổi căn bản về quan niệm điều hành, nhanh chóng nghiên cứu ban hành những cơ chế và công cụ phù hợp hơn nhằm thúc đẩy tiến trình xử lý nợ tại các doanh nghiệp đi vào khuôn khổ hợp pháp, hợp lý, phù hợp với thực trạng sức khỏe của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Điều này cũng cần thiết khi nền kinh tế Việt Nam phải đối diện với những khó khăn có thể nảy sinh trong tương lai.   Chính phủ và NHNNVN, cần tiến hành sửa đổi bổ sung quyết định 493 cho phù hợp với hoàn cảnh mới, động viên đúng mức những nỗ lực của doanh nghiệp và ngân hàng trong tiến trình xử lý nợ xấu. Điều quan trọng nhất là tạo lập hành lang pháp lý để nhanh chóng tái cơ cấu, khôi phục trạng thái lành mạnh cho những khoản nợ xấu, nợ đóng băng sau khi đã được xử lý một cách hợp lệ, qua đó phát huy cao hơn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tránh thất thoát, lãng phí.   Cần tập trung nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng ở các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tái cấu trúc nợ và vốn. Chính phủ cần sớm trình Quốc hội ban hành Luật bảo vệ phá sản theo mô hình của Hoa Kỳ, với quan niệm rằng thất bại trong kinh doanh không bị coi là xấu – luật phá sản Hoa Kỳ được xây dựng theo hướng khuyến khích để những người thất bại có được cơ hội tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh hợp pháp của mình. Đồng thời cần khẩn trương hoàn thiện pháp luật, kiên quyết áp dụng những chế tài mạnh để đảm bảo duy trì kỷ cương, kỷ luật thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế, tránh tình trạng chiếm dụng vốn triền miên, vô tội vạ như hiện nay, bởi chính thực trạng này đang khiến nhiều doanh nghiệp khốn khổ, mất khả năng thanh toán, kể cả dẫn đến phá sản nhưng thực ra không phải vì trách nhiệm chủ quan của chính họ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ 1): Các bà sơ ở Florence chạy máy in      Sự thần kỳ kinh tế ở châu Âu đã ra đời kể từ khi sách được in chứ không còn phải chép tay, cũng từ đấy châu Âu ngày càng thịnh vượng. Nhờ in được sách, mọi thông tin được truyền bá rộng rãi và những ý tưởng hay, bổ ích đã hái ra tiền.    Bước quá độ từ thời trung cổ tiến lên hiện đại: Những con chữ di động của Gutenberg  Khi ông Johannes Gensfleisch, còn có tên là Gutenberg, vào giữa thế kỷ 15, ở thành phố Mainz bắt đầu in sách bằng cách xếp các con chữ kim loại lại với nhau thì ông hoàn toàn không thể lường được hết ý nghĩa, tầm vóc công việc mà ông đã làm. Thực ra thời kỳ đó người ta không còn ngạc nhiên về việc có thể in sách chứ không cần phải chép tay như trước đây. Công lao của Gutenberg là ở chỗ ông đã chế tạo được một công cụ để đúc hàng loạt con chữ khác nhau vừa nhanh, vừa tạo được chữ đẹp hơn hẳn so với trước đó. Sáng chế của Gutenberg đã tạo bước đột phá trong công nghệ in ấn.  Sáng chế này và hàng loạt ý tưởng của nhiều người khác đã tạo tiền đề để nhân loại thoát ra khỏi thời kỳ trung cổ tiến vào thế giới hiện đại. Hơn nữa những sáng chế, phát minh này có tác động quyết định đến lịch sử phồn vinh của nhân loại. Sự giàu có của chúng ta ngày nay dựa trên nền tảng đó. Không phải vô cớ khi báo F.A.S. đăng tải một loạt bài mang tiêu đề “Chúng ta đã giàu lên như thế nào” lại bắt đầu bằng phát minh ra công nghệ in. Vì khả năng nhân bản gần như vô tận mọi loại ý tưởng bằng chữ viết hoặc bằng hình ảnh nhờ công nghệ in ấn đã tạo điều kiện cho sáng chế, phát minh nẩy nở và hoàn thiện vô vàn sản phẩm hữu ích khác. Mọi ý tưởng ngay cả những dù không giống với quan niệm chung, phổ cập rộng rãi trong xã hội vẫn có thể được truyền bá hết sức rộng rãi và nhanh chóng. Chi phí để học hỏi những điều mới mẻ giảm đi rõ rệt, giá một cuốn sách in rẻ hơn rất nhiều so với biết bao công sức mà con người phải bỏ ra để chép tay những cuốn sách đó.   Phát minh ra chiếc máy in tạo ra một chất lượng hoàn toàn khác so với các sáng chế, phát minh kỹ thuật thông thường khác. Nó tạo ra một cuộc cách mạng về ý tưởng và tiếp theo nó là một cuộc cách mạng về năng suất lao động. Những ý tưởng được nhân lên gấp bội và điều này là tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Cuốn sách in trở thành một kho lưu trữ kiến thức và là nơi kích thích sự ra đời của các ý tưởng mới đối với các dân tộc. Triết gia người Anh Francis Bacon ra đời sau Gutenberg 100 năm nhưng dường như ông đã cảm nhận được ý nghĩa to lớn của công nghệ in ấn khi ông viết, có ba thành tựu đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của thế giới, đó là: thuốc súng, chiếc la bàn và nghề in sách.    Chiến tích đầu tiên của nghề in ấn: Cuốn Kinh thánh –Gutenberg ở Colmar    Một chiến dịch chống mù chữ hiếm thấy  Kể từ thế kỷ 15 ngành xuất bản ở châu Âu đã hình thành một cách nhanh chóng. Thành phố Frankfurt và hội chợ sách đóng một vai trò quan trọng, vì sách đã dịch chuyển từ các tu viện, các hoàng cung tới các trung tâm thương mại. Ngay từ năm 1469 sách đã được in ấn ở Venice. Trước đó những người thợ viết phải nắn nót chép tay và trang trí kinh thánh hoặc họ phải dịch những cuốn sách chép tay từ tiếng Latin hay tiếng Hy lạp. Tiêu thụ những cuốn sách này là một nhóm các nhà sưu tầm tư nhân, các tu viện hoặc cơ quan lưu trữ của những thành phố lớn. Vào thời kỳ đó chỉ có một số ít tu sỹ ưu tú được đào tạo và có hiểu biết về văn học trong khi ngay cả những người thuộc tầng lớp trên ở châu Âu, các giám mục, linh mục và cả các bậc vua chúa cũng không biết đọc, biết viết chứ đừng nói gì đến quảng đại quần chúng ở thành thị cũng như nông thôn. Nhưng giờ đây học đọc, học viết bỗng trở thành một nhu cầu vì con người có điều kiện tiếp cận với sách nhiều hơn. Nghề in sách đã tạo nên phong trào xóa nạn mù chữ.  Giá in sách giảm mạnh trong khi sự đa dạng, phong phú của sách lại tăng lên rõ rệt. Cũng không có gì lạ vì kỹ thuật in đã làm tăng năng suất rõ rệt trong lĩnh vực sản xuất sách. Nhà in sách Ripoli ở Florence, thành lập năm 1476, vậy mà đến năm 1483 đã in trên 1.000 cuốn sách của Platon nhan đề “Dialogen”. Trước đây để hoàn thành một cuốn như vậy một người thợ viết phải cặm cụi một năm liền mới xong. Phát minh ra máy in đã tăng tăng năng suất làm tăng lợi nhuận tới 200 lần. Đây là tính toán của nhà nghiên cứu lịch sử Mỹ bà Elizabeth Eisenstein, từ đó chúng ta có thể thấy câu chuyện rất hấp dẫn về cuộc cách mạng của ngành in ấn.   Người ta có thể ít nhiều nhận thấy sự tương đồng của cuộc cách mạng này với phát minh ra Interrnet trong nửa cuối của thế kỷ 20. Trong cả hai trường hợp đều diễn ra sự giảm giá mạnh mẽ đối với sản xuất tri thức thông qua cấu trúc hoàn thiện mới và hệ thống phát hành, từ đó tạo điều kiện để mọi người đều có thể tiếp cận tri thức mới dễ dàng, thuận lợi hơn điều mà trước đó chẳng mấy ai nghĩ có thể đạt được. Internet cũng như ngành in sách đều tạo cho các nhà cung cấp dịch vụ phát hiện được các lỗ hổng trên thị trường vì luôn có những người mò mẫm tìm các ý tưởng mới mẻ và nhờ có một thị trường to lớn , nhờ hệ thống phát hành trải rộng cũng như những cỗ máy tìm kiếm, nhất định người ta sẽ tiếp tục tìm ra các ý tưởng ngày càng mới mẻ hơn.   Rất nhiều điểm tương đồng với Internet  Ngày nay giấy in lâm vào tình trạng thụ động cũng không khác gì điều đã từng xảy ra với loại giấy pergament (giấy làm từ da súc vật). Ngay từ hồi thế kỷ 15 nhà tu Johannes Trithemius trong bài viết “Ngợi ca người thợ viết” đã khẳng định rằng, những gì người ta viết trên giấy pergament có độ bền hàng nghìn năm, trong khi loại giấy in bằng máy móc chỉ có thể dùng trong một thời gian ngắn. Tương tự như vậy, phải chăng ngày nay người ta cũng tìm cách hạ uy thế của Internet?  Ngay từ thời xa xưa các nữ tu đã tỏ ra khôn ngoan và có đầu óc kinh doanh hơn hẳn các thầy tu: Các nữ tu ở “Heiligen Jakobus thuộc Ripoli” ngay từ hồi xa xưa đó đã điều hành nhà in Ripoli ở Florence. Họ đã biết cách thích nghi nhanh chóng với thời đại.  Đến giữa thế kỷ 16 ngành in ấn ở Venice mỗi năm ra 20.000 ấn phẩm gồm sách nhạc, sách in bản đồ, sách y học hay sách thuộc diện không mấy thanh cao khác. Bản thân các nhà xuất bản cũng sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Sự vươn lên trong lĩnh vực hàn lâm nay trở nên hấp dẫn, so với trước ngày nay người ta chú ý nhiều hơn đến thể diện cũng như các khoản thu nhập. Ngành in ấn kích thích cung và cầu về ý tưởng: cung cấp kiến thức trở thành một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn đầy thú vị.    “Sự thần kỳ kinh tế châu Âu”  Người ta thường viết rằng tư tưởng dị giáo của Luther hay Galileo Galilei sẽ không bao giờ có thể thành công nếu như không có ngành in ấn. Tuy nhiên ngành in ấn không chỉ góp phần vào việc tuyên truyền rộng rãi tư tưởng cải cách của nhà cải cách người Đức Luther. Chính ngành in ấn còn là tiền đề để Luther phát triển quan niệm thần học của ông: Không được tiếp cận với những bản in kinh thánh cũng như những tác phẩm của các chức sắc hàng đầu trong giáo hội thì Luther sẽ không bao giờ có thể đưa ra được những ý tưởng mới mẻ của mình. Kể từ khi có ngành in ấn những kẻ bị coi là dị giáo dễ bề hoạt động hơn. Những quan niệm dị giáo của ngày hôm nay có thể là chủ thuyết trong tương lai. Ngành in ấn là một phát minh phục vụ sự tiến bộ, nó tạo điều kiện để cất giữ những suy nghĩ trước đây dưới dạng in ấn ở trong các thư viện hoặc kho tàng và qua đó cũng tạo ra khoảng cách với những tư tưởng đó.   Tuy nhiên bản thân sáng chế, phát minh chưa phải là sự bảo đảm để tạo ra một cuộc cách mạng mang lại sự thịnh vượng. Rõ ràng la bàn, thuốc súng và nghề in ấn đã xuất hiện từ lâu ở Trung Quốc, độc lập với châu Âu. Vậy thì tại sao những sáng chế phát minh đó lại không được tận dụng ở châu Á trong khi người châu Âu lại biết cách khai thác chúng để mang lại lợi ích cho mình? Để hiểu được “sự thần kỳ kinh tế ở châu Âu“ (Eric Jones) là mục đích của loạt bài báo mang tiêu đề “Chúng ta đã trở nên giàu có như thế nào”.        Chúng ta đã giàu lên như thế nào là một chuyên đề của Rainer Hand, phụ trách mảng kinh tế cùng mục “Tiền bạc & hơn thế nữa” của báo Frankfurt toàn cảnh chủ nhật (F.A.S.). Ông còn là thành viên Ban giám khảo giải thưởng Ludwig-Erhard và thuộc Ban quản trị Viện Max-Planck về chế độ xã hội (Köln).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ 2): Bí mật của thương hiệu Đức      Chất lượng, đáng tin cậy và lâu bền: cho đến tận ngày nay đây là những đặc điểm mà người nước ngoài vẫn đánh giá đối với các sản phẩm in mác “Made in Germany”. Để đạt được sự tin cậy này, nước Đức đã trải qua một đoạn đường dài.     Dấu hiệu về chất lượng Đức là phát minh của người Anh  Một giáo sư lừng danh về cơ khí chế tạo máy của Đức đã rất thất vọng khi tham dự Triển lãm thế giới năm 1876 diễn ra ở Philadelphia. Vị giáo sư khả kính tên là Franz Reuleaux, một người am hiểu về lĩnh vực công việc của mình. Ông được giao nhiệm vụ nhận xét, đánh giá về sự đóng góp của nước Đức đối với cuộc triển lãm công nghiệp được coi là lớn nhất thế giới thời đó. Ông nói: “Nước Đức thực hiện nguyên tắc cơ bản là rẻ và tồi.”  Báo chí Đức đã đăng tải bản nhận xét, đánh giá cay đắng của giáo sư Reuleaux và kích động, tạo ra một cuộc tranh luận vô cùng gay gắt về vấn đề này. Đánh giá của giáo sư Reuleaux hoàn toàn không phù hợp với hình ảnh của một đế quốc còn non trẻ đang muốn vươn lên và tinh thần yêu nước đang được tụng ca một cách thái quá. Nhưng đánh giá đó lại hoàn toàn chính xác. Cho đến giữa thế kỷ 19 những sản phẩm hàng hóa của Đức được thế giới đánh giá là rẻ tiền và kém chất lượng. Những sản phẩm này thuộc loại chóng hỏng, không có gì đặc biệt và thường là bản sao của nước ngoài.  Thời đó đế quốc Anh được coi là khuôn mẫu, quá trình công nghiệp hóa ở Anh diễn ra rất sôi động và ở vị trí hàng đầu. Các nhà doanh nghiệp Anh luôn gây được sự chú ý kèm theo nỗi lo sợ vì họ luôn tung ra thị trường những kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm mới mẻ, hấp dẫn.   Trong khi đó các doanh nghiệp ở Solingen (Đức) lại là một ví dụ điển hình trái ngược và cũng khá phổ biến về cung cách làm ăn của nước Đức thời đó. Các xưởng sản xuất ở đây bán ra thị trường các loại dao, kéo rẻ tiền làm bằng gang thay vì sử dụng nguyên liệu thép có chất lượng cao, do đó giá thành cũng rẻ hơn. Tuy nhiên người ta “nâng cấp” sản phẩm chất lượng kém này bằng cách in đại nhãn mác Sheffield và xuất khẩu hàng loạt sản phẩm này với giá rẻ ra khắp thế giới.  Một sai lầm lớn đối với người Anh  Tất nhiên lối ăn cắp mẫu mã, nhãn mác này không thể không bị phản đối. Sheffield là niềm tự hào của nước Anh, thành phố này nổi tiếng về gia công kim loại và các loại dao kéo của Sheffield vừa sắc, vừa bền vì được làm bằng thép tốt. Các nhà doanh nghiệp Anh rất bực bội khi phải chứng kiến trên thị trường nước mình những sản phẩm nhái chất lượng kém nhưng lại mang nhãn mác “Sheffield made” hay “Sheffield”, thường các sản phẩm nhái này đều xuất sứ từ Solingen hay Remscheid (Đức), đôi khi cũng có nguồn gốc từ Mỹ.  Các doanh nghiệp Anh yêu cầu chính phủ của họ giúp đỡ. Đương nhiên chính phủ Anh hỗ trợ và bảo vệ nền công nghiệp của mình và năm 1883 đã có một thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia thương mại hàng đầu thế giới về việc cấm ghi sai xuất sứ hàng hóa. Những sản phẩm mang tên Sheffield phải là sản phẩm được sản xuất tại địa phương này. Tuy nhiên nước Đức từ chối không ký thỏa thuận này, lý do vì sao cũng dễ hiểu.  Nước Anh bất bình và đã phản ứng. Nghị viện Anh ban hành luật Merchandise Marks Act ngày 23/4/1887, theo luật này mọi hàng hóa muốn được nhập khẩu vào nước Anh đều phải ghi rõ xuất sứ. Qua đó ta thấy nhà lập pháp Anh đã hỗ trợ cho sự ra đời dấu ấn “Made in Germany”.    Giá cả phải chăng và chất lượng chấp nhận được  Bộ luật này của Anh thực chất nhằm chủ yếu vào các đối thủ cạnh tranh ở Đức. Nhưng với luật này nước Anh đã phạm một sai lầm lớn ở hai phương diện. Trái với mong muốn của các nhà sản xuất ở Anh một số sản phẩm của Đức vẫn lọt được vào thị trường Anh mà không ghi xuất sứ, chính các nhà nhập khẩu Anh lại đính nhãn mác sản xuất tại Anh lên những sản phẩm nhập lậu đó.  Nhưng điều làm cho người Anh đau đầu hơn lại chính là những sản phẩm ghi đúng xuất sứ “Made in Germany”. Người tiêu dùng trên thế giới nhờ nhãn mác này bỗng nhận ra rằng rất nhiều vật dụng mà họ sử dụng hàng ngày đều mang nhãn hiệu “Made in Germany”, và những hàng hóa sản xuất ở Đức này giá cả vừa rẻ và chất lượng cũng có thể chấp nhận được. Cuối cùng người tiêu dùng mua hàng Đức.  Nhà kinh tế học và xã hội học người Đức Robert Wuttke hồi đó đã khoái chí nhận định “Giới công nghiệp Anh chẳng được lợi lộc gì nhờ vào luật (Merchandise Marks Act), đã thế ánh hào quang của họ còn bị rạn nứt”. Những sản phẩm của Đức sản xuất ngày càng tốt hơn và được nhận biết ngay là hàng hóa của Đức. Từ đó sự thăng tiến của “Made in Germany” thật thuận buồm xuôi gió.  Hai mươi năm sau bản báo cáo đánh giá đầy lo ngại từ cuộc triển lãm ở Philadelphia và gần mười năm sau khi ban hành luật Merchandise Marks Act nhà báo người Anh Ernest E. Williams đã viết một cuốn sách nhan đề “Made in Germany”, nhằm cảnh báo sự suy tàn của đế chế Anh.  Từ vết nhơ trở thành thương hiệu  Trong cuốn sách này tác giả đề cập đến việc các sản phẩm của Đức đã thâm nhập như thế nào vào cuộc sống hàng ngày của các gia đình ở Anh, trang phục của người Anh được dệt ở Đức, các loại đồ chơi, búp bê, truyện cổ tích đều có xuất sứ từ Đức. Ngay đến giấy để in tờ báo giàu lòng ái quốc rất được người Anh ưa chuộng đến cây đàn piano, đồ gốm sứ và đồ lưu niệm về địa điểm du lịch nổi tiếng của Anh Margate cũng nhất nhất xuất sứ từ nước Đức. Tác giả Williams đã viết với bạn đọc người Anh “Ngay cả những nhận xét u ám mà các bạn ghi lại trong nhật ký cũng bằng chiếc bút chì Made in Germany “. Các sản phẩm của Đức đã gặt hái thành công đầu tiên ngay trên cường quốc kinh tế Anh và sau đó lan tỏa ra khắp thế giới, cuộc chơi bị đảo ngược. Khoảng đầu thế kỷ trước các nhà sản xuất Anh lại tìm cách gắn lậu nhãn mác “Made in Germany” lên sản phẩm của họ để tung ra thị trường.  Nước Anh, quốc gia công nghiệp hàng đầu bị nước Đức qua mặt. Đầu những năm 1860 Liên minh Đức chiếm khoảng 5% sản lượng công nghiệp thế giới, trong khi nước Anh chiếm gần 20%. Năm 1913 Đức vươn lên 14% còn Anh chỉ chiếm 13,6 %. Quốc gia công nghiệp số một khi đó là Mỹ.  Sự phát triển của “Made in Germany” đi từ một vết nhơ tới thương hiệu phản ánh con đường đi lên khá phổ biến của những quốc gia nghèo đói: sự phát triển đó bắt đầu từ ăn cắp ý tưởng và chống lại cái đó là sự bảo hộ. Nhưng trong vụ này thì biện pháp chống trả đã bị thất bại. Cho đến tận ngày nay đối với nước ngoài dòng chữ “Made in Germany” vẫn là biểu thị cho chất lượng cao, đáng tin cậy và “nồi đồng cối đá”. Dấu ấn đó vẫn tiếp tục phát huy tác dụng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ 3): Tủ lạnh đưa thực phẩm đi xa      Trong một nhà bếp hiện đại thì cái tủ lạnh quan trọng hơn bản thân cái bếp. Trước khi có tủ lạnh, con người hàng ngày phải lo mua sắm thực phẩm tươi sống. Nhưng bỗng nhiên cái lạnh ùa ra từ ổ điện.    Thực đơn gia đình phong phú hơn  Nhà văn Peter Kurzeck đã kể lại rất hấp dẫn về thời niên thiếu của mình khi cuộc chiến tranh mới kết thúc trong cuốn sách “Một mùa hè, mãi mãi ở lại”: Khi đó giá bơ rẻ không tưởng tượng nổi. Rồi xuất hiện tủ lạnh, thiên hạ cần có chúng, nếu không thì làm sao có thể ăn hết một lúc khối lượng bơ rẻ tiền đó.  Hơn nữa thời đó bắt đầu xuất hiện các Trung tâm thương mại nằm ở khu vành đai gần nông thôn. Ở đấy có tất cả, không phải chỉ có bơ rẻ, mà nhiều thứ đều khá rẻ và người ta cần có phương tiện để bảo quản. Từ đó xuất hiện trên thị trường các loại tủ đá. Thời đó cũng bắt đầu xuất hiện các đường tránh vào các khu đô thị, thế là người ta đánh xe ô tô đi các nơi để khảo giá, và để cho bõ bèn với công sức, tiền bạc đã bỏ ra khi khảo giá trên thị trường, người ta mua thật nhiều thứ cùng một lúc để tích trữ trong tủ đá ăn dần…  Một đặc trưng của lịch sử phát triển công nghiệp là đôi khi có những sáng chế phát minh gây những tác động nhiều mặt mà trước đó không mấy ai ngờ tới. Cái tủ lạnh là một trong những sáng chế có đặc trưng đó. Một trong những kỹ thuật, văn hóa cổ xưa nhất là văn hóa bảo quản thực phẩm, từ phơi, sấy khô cho đến ướp muối, hong khói cho tới ủ lên men, đến cuối thế kỷ 18 thì những công việc này thuộc diện công việc nội trợ. Nhưng những loại công việc mang tính chất tự lực cánh sinh này dẫn đến hai sự thay đổi: thứ nhất là một loạt kỹ thuật bảo quản này dần dần không còn là công việc của người nội trợ nữa. Ngày càng có nhiều loại thực phẩm được tung ra thị trường ở dạng dễ bảo quản hơn. Điều này có ý nghĩa đối với tổng sản phẩm xã hội vì những gì thuộc phạm vi nội trợ đều không thuộc diện tổng sản phẩm xã hội vì chúng không tạo nên giá trị.   Năm 1804 ông Nicholas Appert, một chuyên gia về sản xuất bánh ngọt và bảo quản hương liệu đã suy nghĩ nhiều về việc phải làm gì để có thể bảo quản thực phẩm mà không để hương vị và cấu trúc của chúng bị ảnh hưởng, từ đó ra đời nhà máy đồ hộp đầu tiên. Năm 1827 xuất hiện lần đầu tiên sữa đặc có đường trên thị trường.  Mặt khác với sự phát triển của môn vật lý và cơ khí người ta suy nghĩ có thể làm gì để các hộ gia đình có thể tự bảo quản được thực phẩm. Nói khác đi thì không phải chỉ có khâu sản xuất mà cả khâu tiêu dùng cũng cần phải được đầu tư nhiều hơn.    Đắt gấp đôi chiếc xe ô tô đầu tiên    Như vậy là con người phải trải qua một quá trình gồm 4 bước: Đầu tiên kiến thức cho chúng ta biết cái gì có thể góp phần vào việc bảo quản như nhiệt độ thấp giúp cải thiện khả năng bảo quản, mặc dù khi đó chưa có sự giải thích khoa học về vấn đề này.  Sau đó là khoa học và giải pháp công nghệ giúp giải quyết khâu cơ khí hóa quá trình này. Trước khi phát minh ra máy làm lạnh người ta chỉ biết tích trữ nước đá thiên nhiên trong các nhà hầm hoặc trong hang động. Các nhà kho của Carl Bolle ở Köpenick, một nhà buôn sữa và kem, hồi cuối thế kỷ 19 có thể chứa tới 3 triệu m3 nước đá. Giờ đây có thể lấy cái lạnh từ ổ cắm điện.  Sau đó có ai đó đã nghĩ đến việc không chỉ sử dụng những máy móc cỡ lớn phục vụ công nghiệp mà làm máy cỡ nhỏ phù hợp với việc sử dụng ở các hộ gia đình. Năm 1911 bản quyền sáng chế đầu tiên của tu sỹ người Pháp Marcel Audiffren được ứng dụng, khi đó máy lạnh không còn nặng cỡ tấn nữa nhưng giá lại gấp 2 chiếc xe ô tô du lịch đầu tiên thời đó và tương đương 1/5 khoản lương bình quân trong một năm của một người.   Phần lớn công việc nội trợ thường không được chuyên môn hóa. Như vậy là quá trình này bước vào bước thứ tư: các loại sản phẩm như bánh pizza đông lạnh hay mỳ sợi “tươi” đông lạnh được bán trên thị trường. Những thứ đó phải đun nóng nhưng không dùng người giúp việc mà là thực hiện tại các nhà máy, các hãng. Trên thị trường xuất hiện máy làm đông lạnh và máy làm tan giá để hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.  Thay đổi toàn diện cấu trúc khu dân cư  Nhà y học William Cullen người Scottland là người đầu tiên, từ năm 1756 đã phát hiện ra rằng thông qua bốc hơi có thể tạo ra lạnh, ông biết khi đưa khí Dimethylether vào hệ thống chân không sẽ bị bốc hơi và tạo ra lạnh. Đầu thế kỷ 19 xuất hiện bằng sáng chế đầu tiên về hệ thống làm lạnh, năm 1834 xuất hiện máy nén khí đầu tiên, sau khi khí bị nén lại và trở lại dãn nở bình thường sẽ tạo ra lạnh. Hai anh em người Pháp tên là Carré đã tiến hành thử nghiệm đầu tiên với khí làm lạnh là Ammoniak. Nguyên tắc này đã được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1851 và hiện vẫn còn ứng dụng đối với các quầy rượu trong gia đình (minibar). Năm 1895 Carl von Linde đã có bản quyền sáng chế về việc biến một lượng lớn khí hỗn hợp thành chất lỏng. Linde đã phối hợp với các nhà máy sản xuất bia chế tạo loại thiết bị làm lạnh này.   Việc làm lạnh bằng thiết bị máy móc ảnh hưởng lớn nhất đến không gian kinh tế (Raumökonomie). Vì tủ lạnh không những chỉ khắc phục được nhiệt độ tự nhiên mà chủ yếu còn ảnh hưởng tới khoảng cách của tuyến đường. Nhờ nó tiết kiệm được thời gian. Nếu như không có phát minh ra tủ lạnh thì cấu trúc đô thị của xã hội hiện đại chỉ có thể duy trì được, khi chúng ta lại quay trở lại với lối sống tự cung tự cấp về sản phẩm nông nghiệp. Không có kỹ nghệ lạnh thì làm sao có thể có nền thương mại thế giới đối với hàng thực phẩm: điều gì sẽ xảy ra nếu như New Zealand không có thiết bị lạnh? Ngay từ năm 1876 một người Pháp tên là Charles Tellier đã đố ai có thể chuyển một súc thịt cừu vượt Đại tây dương nhưng vẫn bảo đảm để có thể ăn được, khi đó chiếc tầu biển chạy bằng hơi nước “Frigorifique” đã được trang bị máy nén khí và đã có phòng lạnh. Vậy mà cuối cùng tảng thịt cừu đó khi tới đích vẫn bị nặng mùi. Nhưng khoảng từ 1900 thì công nghệ lạnh đã được cải thiện đáng kể làm cho ngành chế biến thịt phát triển đến mức chưa từng có. Cơ sở làm lạnh ở Chicago “Meat-Packers” mỗi ngày có thể làm đông lạnh tới 90.000 tấn thịt.   Chỉ cần xem thời hạn sử dụng, không cần nếm  Đầu những năm 30 của thế kỷ 20 tủ lạnh trở thành dụng cụ dùng trong gia đình đã được sản xuất hàng loạt. Loại tủ lạnh “Monitor-Top” của hãng General Electric đã bán được hơn 1 triệu chiếc. Cùng thời gian đó đã có công nghệ làm máy điều hòa nhiệt độ, thoạt đầu thiết bị được lắp đặt ở các nhà hát, rạp chiếu phim. Trong khoảng thời gian từ 1926 đến 1929 số tủ lạnh bán ra đã tăng từ 315.000 lên 1,7 triệu chiếc. Đến năm 1955 đã có khoảng 80% hộ gia đình ở Mỹ có tủ lạnh còn hiện nay thì không nhà nào không có tủ lạnh.  Nhờ có tủ lạnh nên các hộ gia đình không còn bị lệ thuộc vào các mảnh vườn. Chỉ riêng điều này cũng đã làm thay đổi bộ mặt thành phố. Năm 1939 tạp chí “Fortune” khi đề cập tới sự phát triển vũ bão của “Fridges” (tủ lạnh) đã từng viết “Giờ đây các mùa trong năm hay vị trí địa lý không còn mấy ý nghĩa”. Việc mua sắm không còn gắn vào thời hạn và nhu cầu, các gia đình cũng ít phải lên kế hoạch như trước. Trong một nhà bếp hiện đại thì không phải cái bếp mà tủ lạnh mới thực sự là trung tâm. Nhà xã hội học người Pháp Jean-Claude Kaufmann quan niệm như vậy. Từ khi có tủ lạnh người ta cũng không còn cần phải biết nhiều về thực phẩm. Thay cho nhìn ngó, lật đi lật lại thậm chí nếm thử, ngày nay người tiêu dùng chỉ còn cần để mắt tới thời hạn sử dụng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ 4): Chỉ người nông dân tự do mới nuôi nổi nhân loại      Khi người nông dân không có ruộng đất để làm ăn thì họ chỉ phát huy được một nửa sức lực của mình. Chính vì thế ngay từ năm 1810 Vua Phổ Friedrich Wilhelm Đệ tam đã giải phóng người nông dân. Từ đó nạn đói biến mất.    Vua Friedrich Wilhelm Đệ tam muốn xóa bỏ tình trạng lệ thuộc của nông nô ở các địa phương thuộc nước Phổ nên đã ban hành chỉ dụ quyền tư hữu về ruộng đất. Nhà vua nhận thức được rằng sau khi hòa bình được tái lập thì phải chăm lo đến đời sống đang bị sa sút nghiêm trọng của thần dân.  Ông cũng thấy rõ muốn xây dựng lại cuộc sống tốt đẹp thì không phải cứ chia tiền cho người dân là đủ. Ông càng hiểu trong điều kiện đất nước bị kiệt quệ, cùng quẫn sau chiến tranh thì nhà nước cũng không có tiền bạc cũng như phương tiện để hỗ trợ cho dân chúng. Và điều mà nhà nước phải làm là xóa bỏ mọi sự cản trở để người dân có điều kiện phát huy hết khả năng của mình mà vươn lên.   Nhà vua đã nhận ra được điều gì là vật cản chủ yếu đối với người nông dân và ban hành chính sách xóa bỏ những trở lực – đó là sự lệ thuộc của người nông dân và họ không được canh tác trên mảnh đất của chính mình.   Cách mạng thể chế  Theo chỉ dụ tháng 10 thì ngay từ năm 1810 nước Phổ không còn nông nô. Ít lâu sau, nhà vua lại ban hành chỉ dụ tự do kinh doanh và hủy bỏ chế độ cưỡng bức lao động trong các phường hội. Hoạt động sản xuất kinh doanh là quyền tự do của người dân, miễn là người đó chịu đóng thuế kinh doanh.  Những cải cách đó thực chất không khác gì một cuộc cách mạng về thể chế. Trước đó theo luật pháp, nước Đức không có quyền tự do lao động và tự do sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên ngay từ thời kỳ đó ở nhiều địa phương, giới thợ thủ công và nông dân đã không chấp hành những quy định ngặt nghèo của nhà nước hoặc tìm mọi cách để lách luật. Song khi các luật lệ, quy định khắc nghiệt nói trên chính thức bị hủy bỏ, đã xuất hiện các điều kiện để tiến hành tiền công nghiệp hóa. Sự kiện nước Phổ bị Napoleon đánh bại cũng là chất xúc tác dẫn đến những thay đổi này.  Cuộc cải cách ở nước Phổ sẽ không thể diễn ra nếu không có tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa kinh tế tự do và trường phái coi trọng đất đai nông nghiệp và tài nguyên (Physiokratismus) ở nước Anh cũng như cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra ở Đức xoay quanh chủ đề bản chất kinh tế của con người.     Chống đối quyết liệt  Lời mở đầu cho chỉ dụ tháng 10 không chỉ đề cập tới những điều hữu ích mà còn phê phán phần lớn những tập tục, truyền thống lạc hậu, cổ hủ. Những tập quán cổ hủ này ngăn cản con người phát huy các khả năng sinh lợi đối với tài sản của mình.   Thời kỳ này xuất hiện ở Phổ vấn đề nhân học kinh tế, một khái niệm mới mẻ và hiện đại. Điều này lại xuất hiện vào thời điểm chưa có gì chứng minh hoặc bảo đảm những luật lệ và tổ chức mới có thể đem lại thành công về kinh tế. Đây là sự đầu tư cho tương lai, nhưng tất cả vẫn còn là một ẩn số, và chuyện thành, bại chỉ có thể khẳng định qua trải nghiệm thực tế.   Lúc đầu cuộc cải cách ở nước Phổ đã vấp phải sự phản đối hết sức quyết liệt, trước hết là của tầng lớp quý tộc. Lực lượng này coi đây là sự vi phạm quyền sở hữu của họ về đất đai. Nhưng cốt lõi của vấn đề lại xoay quanh lực lượng lao động ở nông thôn. Trước kia khi là nông nô, họ bị lệ thuộc nhiều vào chúa đất, với luật lệ mới giới chúa đất sẽ không dễ dàng gì sai khiến, thuê mướn họ với giá nhân công bèo bọt như trước.   Việc thực hiện sở hữu tư nhân về ruộng đất nói chung được nhiệt liệt hoan nghênh vì thông qua đó việc vay tín dụng đã được cải thiện một cách cơ bản… Lúc này ở nông thôn có tình trạng thiếu lao động và tiền công lao động cũng tăng lên khá rõ rệt.  Tranh cãi kéo dài   Sau khi nước Phổ bị thua trong cuộc chiến chống Napoleon, quá trình ban hành luật về cải cách diễn ra vô cùng trầy trật, dai dẳng nhất là đối với vấn đề “điều tiết”, tức sự bồi thường thiệt hại cho giới địa chủ về việc người nông dân được miễn chế độ lao dịch. Mãi đến năm 1859 vấn đề này mới được luật hóa. Giới địa chủ được đền bù tài sản. Người nông dân được tự do song phải đền bù cho các ông chủ của mình dưới dạng đất đai hoặc tiền bạc.  Sự than phiền của giới địa chủ về việc thiếu nhân công giá rẻ cũng sớm yên ắng vì phần lớn diện tích đất đai tích tụ trong thời kỳ này giúp hình thành các trang trại với diện tích ngày càng lớn hơn và thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp  Thời đó dân số ở nông thôn dư thừa, giá nhân công ở nông thôn rẻ rúng. Mãi đến cuối thế kỷ mới xuất hiện tình trạng “khan hiếm nhân công” vì lao động ở nông thôn đua nhau ra các khu đô thị, nơi đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa rất nhanh chóng để tìm việc làm vì lương cao hơn và điều kiện lao động cũng khá hơn.  Sự nghiệp giải phóng người nông dân và ban hành luật “điều chỉnh” là tiền đề cho hiện đại hóa, điều này bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ từ thế kỷ 18, sau đó phát triển mạnh mẽ và kết thúc vào nửa cuối thế kỷ 19, đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản nông nghiệp.   Chuyển đổi nền kinh tế  Sự điều chỉnh quan hệ sở hữu dẫn đến sự tích tụ ruộng đất từ đó đem lại thành công về kinh tế. Từ chỗ sản xuất nông nghiệp mang tính chất tự cấp tự túc nay xuất hiện nghề kinh doanh buôn bán trên cơ sở sản xuất nông nghiệp. Nhờ hủy bỏ chế độ công thổ, trước đó công thổ là của chung, nên diện tích đất canh tác tăng đáng kể. Giới địa chủ tăng cường đầu tư ở nông thôn.  Từ đó năng suất cây trồng, vật nuôi và sản lượng sữa tăng lên. Trong khi năng suất lao động và hiệu quả sử dụng ruộng đất tăng thì các yếu tố đầu vào lại giảm. Dân số tăng lên, giá cả giảm nên mọi người đều no đủ. Từ đó phần tăng lên của tổng sản phẩm xã hội được sử dụng để phát triển công nghiệp. Kết quả này khẳng định hiện đại hóa nông nghiệp là điều kiện cơ bản để thay đổi cấu trúc nền kinh tế. Mãi đến khi hình thành chủ nghĩa tư bản nông nghiệp, nạn nhân mãn, tình trạng đói kém và khủng hoảng ở châu Âu mới được chấm dứt. Trong quá trình cải cách này nước Phổ hoàn toàn không đơn độc; quá trình này diễn ra cùng với sự vận động, phát triển ở khăp châu Âu. Sự hủy bỏ chế độ lao dịch ở nông thôn và tư nhân hóa ruộng đất ở Anh diễn ra khá sớm. Cuộc cách mạng Pháp đã thủ tiêu nhanh chóng nền nông nghiệp cũ cũng như các đặc quyền của giới quý tộc. Những vùng chịu sự cai quản của Napoleon tiếp thu luật pháp kinh tế tiên tiến của Pháp. Riêng chỉ có nước Áo và Nga là vẫn lẹt đẹt đi sau. Mãi đến năm 1860, người nông dân Nga mới được giải phóng.  Ở khắp mọi nơi trên thế giới, cuộc giải phóng người nông dân luôn là điều kiện quyết định để chuyển đổi kinh tế qua đó mới khắc phục được tình trạng đói kém triền miên từ đời này sang đời khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ 5): John D. Rockefeller, một con người vĩ cuồng      John D. Rockefeller từng là người giầu nhất nước Mỹ. Ông kiếm tiền nhờ dầu mỏ với một ý tưởng đầy khôn ngoan: Kẻ nào muốn kiếm được nhiều tiền, cần có một tập đoàn khổng lồ. Ngay từ hồi xa xưa ông đã nhận thức được rằng, hoặc là lớn lên – hay là chìm xuồng.    Lối sống khắc khổ   Dầu mỏ làm cho người ta giầu có, ngày nay ai cũng hiểu điều đó là tất nhiên. Nhưng vào lúc John D. Rockefeller còn là một đứa trẻ, những năm 40 của thế kỷ 19 thì hầu hết người Mỹ không hề biết điều này. Người ta kinh hãi khi thấy dầu mỏ trồi lên khỏi mặt đất ở Pennsylvania, gây ô nhiễm nguồn nước và làm cho đất đai không thể trồng trọt được. Không ai ngờ chỉ ít lâu sau nguồn dầu này mang lại sự giầu có dường như vô tận – và John D. Rockefeller đã trở nên vô cùng giầu có nhờ dầu mỏ.  Giữa thế kỷ 19, một nhà khoa học phát hiện có thể dùng dầu mỏ để thắp đèn, từ đó diễn ra cuộc chạy đua săn tìm dầu mỏ, khi đó John D. Rockefeller còn là một thiếu niên. Ở tuổi 16, ông bắt đầu làm nghề kế toán. John say mê các con số và yêu thích sự chính xác của cái nghề này – vả lại ngay từ bé ông được rèn về kỷ luật và trật tự, ông quen với lối sống khắc khổ và tiết kiệm. Sau ba năm làm việc ông thấy tiền công mà người ta trả cho mình không tương xứng với công sức mình bỏ ra vì thế năm 1858 ở tuổi 19, ông cộng tác với Maurice Clark mở một hãng buôn riêng. Họ kinh doanh thịt và ngũ cốc và đến năm 1862 đã thu được một khoản lợi nhuận là 17.000 đôla.   Tuy nhiên khoản tiền này không là gì so với việc kinh doanh dầu mỏ mà sau đó ông bắt đầu nhập cuộc. Đầu tiên ông mua một cơ sở lọc dầu cỡ nhỏ. Tuy vậy cơ sở lọc dầu này sinh lời nhanh đến mức ông liên tục vay tín dụng để ngày càng mở rộng kinh doanh, sản xuất hơn nữa. Các ngân hàng rất chuộng người khách hàng kỹ tính, sòng phẳng luôn thanh toán cả lãi lẫn vốn rất đúng hạn. Nhưng người cộng tác cùng góp vốn với ông lại cảm thấy choáng ngợp vì mọi chuyện diễn ra quá nhanh chóng. Ông ta đòi bạn phải hãm đà tăng trưởng.   Rockefeller tuy là người rất kỹ tính và cẩn thận, nhưng ông cũng thấy đây là thời cơ vô cùng quý báu nhất thiết phải chớp lấy, ông quan niệm, hoặc là tăng trưởng hoặc bị nhấn chìm. John cắt quan hệ hợp tác với Clark, tậu một nhà máy cũ sau một cuộc đấu thầu và ở tuổi 27 ông cộng tác kinh doanh với đồng nghiệp mới là Henry Flagler. Henry không những là người mạnh bạo, can đảm mà còn rất khôn ngoan trong việc đàm phán, thương lượng. John Rockefeller đã chọn đúng người cộng tác với mình và cũng từ đây công việc kinh doanh dầu mỏ phát triển ngày một nhanh hơn, hoàn toàn đúng với mong muốn của Rockefeller.  Đối với nhà doanh nghiệp trẻ Rockefeller thì lao động là điều quan trọng nhất. Là một tín đồ Tin lành ngoan đạo ông coi việc thành đạt trong nghề nghiệp là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước Chúa. Sau này ông từng nói “năng khiếu kiếm ra tiền là năng khiếu do Chúa ban cho, ta phải biết làm sao để đồng tiền mà ta có sinh sôi nẩy nở nhiều nhất.” Ông đã thực hiện đúng tâm nguyện này. Ông xa lánh mọi thú vui trần tục. Ông xa lạ với lối sống nhởn nhơ, lười biếng, không bao giờ khoe khoang và rất ghét thói nhậu nhẹt. Ông coi việc tham gia khiêu vũ, đi xem kịch, nghe âm nhạc hoặc các sinh hoạt, hội họp đông người khác là vô bổ, lãng phí thời gian. Đối với ông, mục đích tối thượng là làm giầu.   Đánh bật mọi đối thủ cạnh tranh  Rockefeller nhận thức rất sớm thị trường dầu mỏ là thị trường có rất nhiều cơ hội. Nhưng đây là một thị trường còn non trẻ, ở nước Mỹ hồi đó có rất nhiều cơ sở lọc dầu bé nhỏ cạnh tranh với nhau. Dầu dù ở cơ sở lọc dầu nào thì cũng vẫn là dầu và người ta có thể dễ dàng thay thế bằng một sản phẩm của một hãng lọc dầu khác. Vấn đề quyết định là: ai làm ra dầu với giá rẻ nhất, kẻ đó là người thắng cuộc.   Rockefeller sớm nhận ra rằng, đối với việc kinh doanh dầu, nếu muốn làm ăn lớn thì bản thân mình phải lớn lên. Chỉ có thế mới có thể mua vào với điều kiện tốt hơn, sản xuất thuận lợi hơn và cuối cùng mới có thể bán ra với giá thấp hơn, đó là con đường để nuốt đối thủ cạnh tranh – và qua đó lại càng lớn mạnh hơn. Rockefeller là người đã phát hiện mô hình kinh doanh cho mình và mô hình này hiện vẫn được tiếp tục sao chép và nhờ nó nhiều người đã phất lên và trở nên giầu có. Phải lớn lên thật nhanh trên các thị trường mới và đánh bật mọi đối thủ: Đây là bí quyết dẫn đến thành công. Tuy nhiên bí quyết này không phải không gây ra nhiều tranh cãi. Các tập đoàn kếch xù khác, như Microsoft, cũng áp dụng bí quyết này chỉ có điều với phương pháp ít nhiều khác nhau.  Rockefeller theo đuổi mục tiêu không ngừng lớn lên đôi khi khá tàn bạo. Tập đoàn của ông không ngần ngại sử dụng điệp viên và cũng không nề hà khi phải đút lót. Đặc biệt ngay từ rất sớm ông đã biết liên kết với các ông chủ lọc dầu khác tạo Kartell để đòi giảm giá cước vận chuyển dầu mỏ, hồi đó việc vận chuyển dầu mỏ chủ yếu thông qua đường sắt. Tất nhiên chủ trò trong các vụ thương lượng này là hãng dầu Standard Oil của Rockefeller, đương nhiên qua đó ông cũng là kẻ thu được nhiều lợi nhất. Hầu như tất cả các hãng lọc dầu lớn dần dà đều liên kết với nhau để dìm giá.     Tham lam vô độ, nhưng lại rất sùng đạo  Kartell này trở thành một tập đoàn lớn, vì Standard Oil chỉ trong một năm đã thâu tóm mọi đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Rockefeller thanh toán cho các đối tác bằng tiền mặt hoặc cổ phần, những người khôn ngoan chọn cách thứ hai. Họ sẽ cùng phất lên với Standard Oil. Ngay từ năm 1870 Standard Oil đã nắm 10% ngành lọc dầu ở Mỹ. Nhưng điều này chưa làm Rockefeller thỏa mãn. Trong những năm 70 Standard Oil liên kết với các công ty vận tải thành lập Kartell vận tải, mục đích của việc làm này là ngăn chặn mọi đối thủ cạnh tranh. Việc làm này tuy phạm luật nhưng tạm thời Standard Oil vẫn lách được và chỉ mười năm sau đó Standard Oil đã trở thành một siêu tập đoàn và thực chất trở thành tập đoàn độc quyền. Cùng với các cổ đông “lặng lẽ” cuối cùng Standard Oil đã nắm trong tay 90 % thị trường dầu mỏ ở Hoa kỳ.  Dân Mỹ cũng như chính giới Mỹ rất phẫn nộ trước cách làm thô bạo và phạm luật của siêu tập đoàn này. Những vụ kiện tụng kéo dài đến tận năm 1911, với phán quyết của tòa án Standard Oil buộc phải chia ra thành nhiều bộ phận khác nhau với những cái tên vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay như Exxon, Chevron và Amoco. Trong khi đó Rockefeller vẫn tiếp tục giầu lên. Vào những năm 1890, ông không còn tham gia kinh doanh và khoản tài sản của ông đã lên đến 200 triệu đôla (so với ngày nay khoảng 3,5 tỷ); Năm 1930 ông trở thành tỷ phú (so với ngày nay khoảng 30 tỷ). Sự giầu có kếch sù này không phải không làm lương tâm ông bị cắn rứt.  Tuy là kẻ tham lam vô độ nhưng Rockefeller lại là một tín đồ rất ngoan đạo. Vì vậy ông chỉ dành một phần tài sản của mình cho con cháu và dành hàng trăm triệu đôla cho các hoạt động từ thiện khác nhau như lập các quỹ hỗ trợ trường học, thư viện và các trường đại học. Nhờ việc làm này ông phần nào gột rửa được danh tiếng đã bị hoen ố của mình. Nhờ đó ngày nay Rockefeller không còn mang tiếng là một kẻ giầu nứt đố đổ vách với những phương thức làm ăn tàn bạo. Nói đến ông người ta nghĩ đến những hoạt động từ thiện và giờ đây gia đình ông cũng như các quỹ do ông tạo dựng vẫn tiếp tục thu được những khoản lợi nhuận to lớn.                                                                                                           Nguyễn Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đã giàu lên như thế nào (Kỳ cuối): Cạnh tranh thúc đẩy tiến hóa      Trong kinh tế cũng như trong tự nhiên, những ý tưởng mới mẻ luôn muốn gạt bỏ những gì cổ hủ, lạc hậu. Tuy nhiên mọi sự đột biến đều phải trải qua một quá trình chọn lọc. Những ý tưởng cơ bản về sự tiến hóa có thể áp dụng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên ở đây vấn đề không xoay quanh học thuyết Darwin xã hội một cách thô thiển.    Điều gì đã tác động vào một phân tử đơn giản sau một quá trình tiến hóa đã tạo ra con người? Do một kế hoạch tổng thể? Do ngẫu nhiên? Do tất yếu? Hay tất cả các yếu tố đó cùng tác động: ngẫu nhiên và tất yếu, ở đây phải chăng sự ngẫu nhiên chịu sự điều khiển của một kế hoạch tổng thể? Biết bao nhiêu triết gia, các nhà sinh vật học, hóa học, vật lý học, thần học và các nhà khoa học nhân văn đã nghiền ngẫm và nghiên cứu vấn đề trọng tâm này. Câu trả lời ở từng khía cạnh thật vô cùng phong phú nhưng nhìn tổng thể thì thấy rằng, tiến hóa là một quá trình diễn ra liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ, thoái lui mà chỉ tiến lên phía trước.  Trên con đường tiến hóa dài dằng dặc đó đôi khi xẩy ra những nhiễu loạn hết sức ngẫu nhiên và những biến đổi có tính tự phát. Mọi sự đột biến đều chịu tác động của quá trình chọn lọc. Sự chọn lọc này hoàn toàn không ngẫu nhiên và càng không thể tùy tiện. Nó diễn ra theo một nguyên tắc đánh giá hết sức rõ ràng, đó là khả năng tồn tại của hệ thống vĩ mô.  Trong khoảng thời gian kéo dài hàng tỷ năm từ một sinh vật đơn bào đầu tiên hình thành một tổ chức để rồi trải qua một quá trình tiến hóa rất dài con người mới ra đời. Mỗi bước ngắn ngủi trên con đường mòn dài dường như vô tận này, trạng thái vi mô lại hình thành một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên quá trình chọn lọc cũng có nghĩa là quá trình tiến hóa lại là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng và cho rằng đó là quan niệm của Darwin. Thực ra đây là một diễn biến thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ. Từ hàng tỷ đột biến diễn ra trong một khoảng thời gian dài vô tận ắt không thể không dẫn đến một sự thay đổi, và sự thay đổi này tạo nên khả năng thích nghi và tái sản xuất một cách hợp lý nhất của hệ thống vĩ mô.   “Cạnh tranh là một quá trình khám phá”            Quá  trình tiến hóa là một sự tất yếu không thể lảng tránh. Đây hoàn toàn  không phải là một sự đấu tranh sinh tồn, như người ta thường lầm tưởng. Thực ra đây là một diễn biến  thầm lặng, ôn hòa, một sự cạnh tranh liên tục không ngừng nghỉ.          Những ý tưởng tiến hóa cơ bản về sinh vật học có thể áp dụng thành công đối với kinh tế, xã hội và doanh nghiệp. Đây đơn giản không phải là học thuyết Darwin về mặt xã hội, điều này từ lâu đã được kiểm chứng trong thực tiễn và đã bị bác bỏ. Đây là sự tiến hóa về kinh tế, đó là sự nỗ lực, sự hành động của từng cá nhân nhằm đạt được những giải pháp tốt hơn để có khả năng tồn tại đối với cả xã hội nói chung.   Mọi nền kinh tế, các doanh nghiệp cũng như mỗi con đều người nhất thiết phải tìm cách để thích nghi với những điều kiện mới, phải thay đổi để có thể tồn tại. Mancur Olson khi xem xét khía cạnh kinh tế đã đề cập đến điều này trong cuốn sách của ông nhan đề “Sự thăng tiến và tàn lụi của một quốc gia” và lấy nước Anh làm ví dụ để chứng minh rằng, khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô. Đối với những xã hội ở trong tình trạng như vậy thì sự cạnh tranh có tác dụng như một sự thay máu. Nó giúp cải thiện khả năng thích nghi và qua đó tăng cường khả năng tồn tại của nền kinh tế.   Adam Smith, cha đẻ của học thuyết kinh tế hiện đại, coi tác động tiến hóa của cạnh tranh là một vấn đề trọng tâm. Smith nhận thấy cấu trúc ganh đua trên thị trường cạnh tranh là một sức mạnh hết sức năng động, nó như một cỗ máy khổng lồ thúc đẩy cả xã hội vươn lên. Bàn tay vô hình của thị trường sẽ biến những hành động ích kỷ thành những hệ quả vị tha mang lại lợi ích cho mọi người.  Ngày nay dù ai đó phê phán, chỉ trích thị trường và cạnh tranh như thế nào đi nữa – nhưng thực tế đã chứng minh, tư duy cạnh tranh xét về mặt lịch sử thì thấy, lúc đầu quá trình tăng trưởng có bị chậm lại nhưng trong thế kỷ vừa qua quá trình này ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Sự cạnh tranh đã làm cho nền kinh tế của những nước tuân thủ nguyên tắc cạnh tranh trở nên giầu có. Ludwig Erhard (cựu Thủ tướng Đức) từng diễn đạt như sau: “thịnh vượng cho tất cả và thịnh vượng thông qua cạnh tranh là hai yếu tố không thể tách rời nhau; định đề trước nói lên mục tiêu, định đề thứ hai chỉ ra con đường dẫn đến mục tiêu đó.”  Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội   Sự cạnh tranh giúp phát hiện các giải pháp tiến hóa về kinh tế. Nó sàng lọc vô vàn kiến nghị về sự đổi mới để chọn ra những giải pháp tinh túy phù hợp nhất với sự tiến bộ của nhân loại.            Khi xã hội bị xơ cứng, khi các nhóm lợi ích chỉ nghĩ một cách đầy ích kỷ về nồi cơm của mình và coi mọi sự tiến bộ là sự tấn công vào cuộc sống của họ, chỉ nỗ lực dành lợi ích kinh tế vi mô sẽ dẫn đến sự tàn lụi của kinh tế vĩ mô.          “Cạnh tranh không những chỉ ra những gì có thể làm tốt hơn, mà nó còn buộc tất cả những ai có thu nhập từ thị trường, phải thực hiện những sự cải thiện này, vì thế đây là lý do chính tại sao cạnh tranh lại bị phản đối. Cạnh tranh buộc mọi người phải thay đổi hành vi của mình mà không một chỉ thị hoặc mệnh lệnh nào có thể làm được.” Friedrich August von Hayek, nhà khoa học người Đức, từng được giải thưởng Nobel đã phát biểu như vậy về sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh trong bài phát biểu rất nổi tiếng của ông ở Kiel năm 1968.  Cũng như trong các cuộc đua thể thao con người cố gắng huy động toàn bộ sức lực của mình quyết đoạt thắng lợi, thì các nhà doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế cũng ra sức nỗ lực để dành khách hàng, tăng lợi nhuận, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và quyết tìm ra các ý tưởng, giải pháp mới mẻ. Những kẻ đi đầu và sớm phát hiện ra các xu hướng phát triển của thị trường sẽ được trả công hậu hĩnh. Những kẻ bám lấy kỹ thuật lạc hậu, chọn sai hướng đi, hay sản xuất quá đắt ắt bị thua lỗ và phải trả giá đắt và đau đớn.   Cạnh tranh không có mắt, nó mù tịt về chính trị, xã hội. Nó không thể nói trước, cái gì tốt, cái gì dở. Vì thế đối với người này nó bị coi là khó chịu, đối với kẻ khác nó bị coi là tàn bạo. Nhưng đối với toàn xã hội thì sự để ngỏ kết quả của cạnh tranh lại chính là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Không có sự thay đổi nào hay đổi mới nào được hưởng sự ưu ái trước. Mọi cái đều phải trải qua sự thử thách khốc liệt của thực tế. Chỉ có những gì đứng vững được trước phản ứng của dư luận, cái đó mới có thể tồn tại.  Thị trường phải để mở và có thể bị tấn công  Nhà kinh tế người Áo Joseph Alois Schumpeter từ khá lâu đã phát hiện ra sức mạnh tiến hóa của cạnh tranh. Những nhà doanh nghiệp năng động nỗ lực hết mình vì mục đích lợi nhuận, vì ý chí quyết thắng, vì niềm vui trong quá trình phấn đấu, xây dựng để vươn lên hàng đầu. Nhờ các công nghệ mới họ có khả năng tạo vị trí độc quyền cho mình. Những đổi mới sáng tạo của họ nếu nhận được sự hâm mộ, hưởng ứng của khách hàng họ sẽ nhận được phần thưởng vì đã dũng cảm đi tiên phong. Do bị thôi thúc “bởi động cơ lợi nhuận” sẽ có nhiều người lao vào cuộc để bắt chước. Từ đó tạo ra một cú hích về sự đổi mới sáng tạo. Những nhà máy lỗi thời, kém hiệu quả sẽ biến mất. Như máy hơi nước đã bị động cơ điện làm bật bãi, máy bay cánh quạt bị thay thế bởi máy bay phản lực và điện thoại di động đa năng hạ bệ điện thoại bàn.  Cũng như quá trình tiến hóa đối với các loài sinh vật, nỗ lực dành lợi nhuận trong kinh tế vi mô của từng nhà doanh nghiệp nếu gộp lại có thể tạo nên một sự thành công về kinh tế vĩ mô dưới dạng nâng cao mức sống của người dân nói chung. Nhưng một điều kiện quyết định để có được sự may mắn đối với kinh tế vĩ mô là phải để ngỏ thị trường độc quyền và thị trường đó phải chấp nhận tranh chấp. Nếu đối thủ cạnh tranh gặp khó khăn hay không thâm nhập được thị trường thì chỉ có những kẻ dành được độc quyền là vui mừng vì thu được nhiều lợi nhuận trên cơ sở gây thiệt thòi cho khách hàng. Chính vì lí do này nước Đức thành lập Cơ quan Chống độc quyền (Kartellamt), Ủy ban Độc quyền (Monopolkommission) và Cơ quan mạng lưới Liên bang (Bundesnetzagentur) để bảo đảm cạnh tranh.  Để cạnh tranh trở thành động lực thúc đẩy tiến hóa kinh tế tối ưu nhất cần phải có một sự tương tác thành công giữa hai cấp. Một mặt xã hội cần có những nhà doanh nghiệp luôn có quyết tâm cao và không hài lòng với hiện trạng đang diễn ra và luôn tìm cách phá vỡ để vươn tới những bến bờ mới. Mặt khác cần có những điều kiện khung về chính trị, xã hội và thể chế tạo không gian mở cho phép các nhà doanh nghiệp năng động có thể phát huy khả năng sáng tạo, đổi mới của họ. Như vậy có nghĩa là khả năng thích nghi vĩ mô về kinh tế của xã hội trước những sự thay đổi và khả năng cạnh tranh vi mô về kinh tế của các nhà doanh nghiệp năng động tạo ra một sự tác động qua lại, cái này là tiền đề của cái kia. Cuối cùng thì cả hai điều kiện này đều góp phần tiếp tục phát triển nền kinh tế của đất nước trong quá trình tiến hóa về kinh tế vì sự phồn vinh của mọi thành phần trong xã hội.                                                                                            Nguyễn Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta vẫn luôn xao nhãng      Bạn lo sợ bị công nghệ “làm hỏng bộ não”? Những nỗi sợ về khả năng tập trung và chú ý thực ra xưa như chính chữ viết.    Ảnh lấy từ cuốn Le Régime du corps (1265-70).  Nếu bạn nghi ngờ rằng những công nghệ thế kỷ 21 đang làm hỏng bộ não của mình, bạn sẽ càng chắc chắn khi biết được thời nào thì khả năng chú ý cũng “không còn được như trước”. Ngay cả Seneca Trẻ, nhà triết học La Mã cổ đại, cũng lo rằng những công nghệ mới sẽ làm giảm khả năng tập trung của mình. Khoảng thế kỷ 1, ông phàn nàn rằng “sách vở nhiều quá khiến người ta bị xao nhãng”. Mối lo ngại này liên tục trở lại trong các thiên niên kỷ tiếp theo. Đến thế kỷ 12, triết gia Trung Quốc Chu Hy nhận định mình sống trong một thời đại xao nhãng mới gây ra bởi công nghệ in ấn: “Người thời nay đọc ẩu vì có quá nhiều sách in.” Và vào thế kỷ 14 ở nước Ý, học giả kiêm thi sỹ Petrarch còn tuyên bố mạnh hơn về tác động của việc ngày càng có nhiều sách:  Tin tôi đi, đây không phải là nuôi dưỡng tâm trí bằng văn chương, mà là giết hại và chôn vùi nó bằng sức nặng của mọi thứ, hoặc có thể là hành hạ nó cho đến khi, phát điên vì có quá nhiều vấn đề, tâm trí đó không thể nếm bất cứ thứ gì nữa, thay vào đó chỉ có thể thèm thuồng nhìn mọi thứ, như Tantalus bị khát ở giữa hồ nước.1  Tiến bộ kỹ thuật làm mọi thứ càng tệ hơn. Dòng lũ sách in khiến Erasmus, học giả thời kỳ Phục Hưng, phàn nàn rằng ông cảm thấy mình bị cuốn vào “hàng đám sách mới”, trong khi nhà thần học người Pháp Jean Calvin viết về những người đọc sách lang thang trong “khu rừng lạc lối” của sách in. Người ta sợ rằng sự chuyển hướng dễ dàng và liên tục từ cuốn sách này sang cuốn sách khác sẽ thay đổi một cách căn bản cách hoạt động của trí óc. Rõ ràng là trí óc hiện đại – dù bị thiếu dinh dưỡng một cách ẩn dụ, bị quấy rầy hay mất phương hướng – chẳng bao giờ suy nghĩ nghiêm túc nổi trong một khoảng thời gian dài.  Trong thế kỷ 21, công nghệ số đã thổi bùng lên những lo âu xưa cũ về sự tập trung và trí nhớ – và truyền cảm hứng cho những ẩn dụ mới. Giờ đây chúng ta có thể lo lắng rằng những vi mạch nhận thức trong bộ não đã được “đấu” lại thông qua tương tác với dịch vụ tìm kiếm Google, điện thoại thông minh hay mạng xã hội. Bộ óc được đấu nối lại giờ đây ủy nhiệm cho các thiết bị ngoại vi những công việc vốn được thực hiện bởi bộ nhớ trong của nó. Suy nghĩ phi từ ý tưởng này sang ý tưởng khác; bàn tay vô thức lần vào túi quần tìm điện thoại. Có vẻ như việc liên tục truy cập internet đã làm khả năng tập trung kéo dài của chúng ta bị xuống cấp. Sự đấu nối hiển nhiên này đã được lưu ý với cảm giác bất an, đôi khi mang tính báo động, và thường kèm theo lời khuyên để quay về một cách suy nghĩ tốt hơn, (được cho là) “tự nhiên” hơn. Sau đây là một số tiêu đề đầy tính báo động: “Google có làm cho chúng ta ngu ngốc?”2 (Nicholas Carr, The Atlantic, 2007); “Có phải điện thoại thông minh đã hủy hoại một thế hệ?”3 (Jean M Twenge, The Atlantic, 2017); hay “Sự tập trung của bạn không sụp đổ. Nó bị đánh cắp”4 (Johann Hari, The Observer, 2022). Mong muốn trở về một thời kỳ đã qua, khi sự tập trung và trí nhớ được sử dụng đúng cách, không có gì mới mẻ. Thời đại xao nhãng và lãng quên của chúng ta chỉ là một trong nhiều thời đại tương tự trong lịch sử: đế quốc La Mã của Seneca, triều Tống của Chu Hy, thời kỳ Cải cách Tin Lành của Calvin.  Bìa sách Lines of Thought, Even-Ezra, 2021.  Chữ viết – kẻ thù gây xao nhãng?  Plato sẽ thuyết phục chúng ta rằng cảm giác vừa lo lắng vừa hoài cổ này vốn xưa như chữ viết, rằng nó là một vấn đề nội tại không thể tránh khỏi của chữ viết. Trong đối thoại Phaedrus, ông kể về việc Theuth, vị thần Ai Cập phát minh ra chữ viết, khoe công trình của mình với Thamus, vua của các vị thần. “Thưa đức vua”, Theuth nói, “phát minh này sẽ khiến người Ai Cập thông thái hơn và cải thiện trí nhớ của họ; bởi nó là một thần dược cho trí nhớ và trí khôn”. Thamus dự đoán điều ngược lại:  Phát minh này sẽ khiến đầu óc những người học cách dùng nó trở nên lơ đãng, vì họ sẽ không rèn luyện trí nhớ. Sự tin tưởng vào chữ viết, là thứ bên ngoài không thuộc về cơ thể họ, sẽ khiến họ không cần sử dụng trí nhớ bên trong của mình. Thứ thuốc ngươi đã chế ra không phải thuốc ghi nhớ mà là thuốc nhắc lại; và ngươi cho các học trò của mình không phải trí tuệ mà là một thứ trông giống như trí tuệ, bởi chúng sẽ đọc rất nhiều mà không được hướng dẫn, và vì thế sẽ có vẻ biết rất nhiều trong khi thực ra hầu như ngu dốt và khó ưa, vì chúng không thông thái mà chỉ có vẻ thông thái.  Dự đoán của hai vị thần trái ngược nhau, nhưng dựa trên cùng một thuyết về nhận thức. Cả hai đều cho rằng những phát minh như chữ viết có thể thay đổi sự suy nghĩ, thậm chí tạo ra những cách suy nghĩ mới. Năm 1998, hai nhà triết học Andy Clark và David J Chalmers gọi hệ tương tác gồm tâm trí nội tại kết hợp với các vật thể của thế giới bên ngoài này là “tâm trí nối dài”. Theo họ, khả năng suy nghĩ của chúng ta có thể được thay đổi và nối dài nhờ các công nghệ như chữ viết. Ý tưởng hiện đại này diễn đạt một khái niệm cổ xưa hơn rất nhiều về sự vướng víu giữa ý nghĩ bên trong và các vật bên ngoài. Clark và Chalmers viết về điều này với giọng kinh ngạc, nhưng những học giả khác lại ít lạc quan hơn về sự nối dài của nhận thức. Đối với Senaca, Chu Hy và Calvin, sự “nối dài” này được coi là sự “xuống cấp” về nhận thức, báo trước tình trạng báo động về việc điện thoại thông minh và Google “làm cho ta ngu đi” và “phá hỏng” bộ não của chúng ta.  Ngay từ khi việc viết và đọc bắt đầu nối dài trí óc, các tác giả đã đưa ra những chiến lược để điều khiển tương tác đó và đưa những lời khuyên để suy nghĩ đúng cách trong những môi trường không thân thiện với suy nghĩ “đúng cách”. Không khó để tìm ra những lý thuyết trong quá khứ về cách các công nghệ, như in ấn và chữ viết, định hình sự suy nghĩ trong những thiên niên kỷ đã qua. Tuy nhiên, những lý thuyết này không giúp chúng ta hiểu chính xác cách tâm trí được hình thành, hoặc chúng ta sẽ được gì nếu suy nghĩ theo cách khác đi. Để hiểu sự vướng víu giữa sách và tâm trí trong quá trình hình thành tâm trí, chúng ta có thể tìm đến các độc giả và tác giả châu Âu thời Trung Cổ, khi trên giá đầy ắp sách nhưng trí nhớ và sự tập trung dường như teo lại.  Là một tác giả ở thế kỷ 13, nhà ngữ pháp học Geoffrey de Vinsauf có nhiều lời khuyên cho những tác giả bị ngợp thông tin. Người viết giỏi thì không được vội; họ cần dùng một “thước đo tâm trí” để soạn trong đầu một mô hình suy tưởng trước khi lao vào việc viết lách: “Đừng để bàn tay vội nắm lấy bút… Hãy để những chiếc la bàn bên trong tâm trí trải đường cho toàn bộ các chất liệu.” Geoffrey trình bày ở đây một lý tưởng, nhưng cuốn sổ tay của ông không cho ta biết nhiều về cách người ta thực sự suy nghĩ khi ngồi ở một chiếc bàn thời Trung Cổ, giấy trắng trước mặt và bút lông trong tay. Khi tìm cách vượt qua vấn đề này, nhà nghiên cứu lịch sử trí tuệ Ayelet Even-Ezra theo đuổi một con đường tìm đến câu trả lời trong cuốn Lines of Thought (2021)5 (Tạm dịch là Dòng tư tưởng). Theo bà, những “dòng tư tưởng” là những đường nối tạo nên cấu trúc của nhiều lược đồ phân nhánh có đầy trong  những trang sách thời Trung Cổ. Một trong những cái cây nằm ngang đó được vẽ trên bìa cuốn sách của bà.  Bản dịch tiếng Latin của hai cuốn cách ngôn Prognosticon và Regimen acutorum của Hippocrates (460-375 trước CN), với lời bình được cho là của thầy thuốc kiêm triết gia người Hy Lạp Galen (khoảng 130-200 sau CN).  Lần theo những nhánh vẽ trên bìa sách đến tận gốc rễ, bạn sẽ thấy rằng cả lược đồ mọc ra từ một nơ-ron. Lược đồ và hệ thần kinh đứng cạnh nhau này gợi ý khá trực tiếp luận điểm của cuốn sách: với Even-Ezra, những nhánh lược đồ do những người chép sách thời Trung Cổ vẽ không chỉ ghi lại thông tin – chúng ghi lại đường đi của suy nghĩ được khơi mở từ chính dạng phân nhánh của lược đồ. Những lược đồ phân nhánh tiết lộ cách bộ óc nối dài thời Trung Cổ hoạt động bằng tương tác với bút, mực và trang giấy trắng.  Hãy để ý kỹ hơn đến những lược đồ này, và đôi khi chúng sẽ tiết lộ sự hình thành của một quá trình nhận thức thời Trung Cổ. Hình sau đây là một lược đồ thế kỷ 13 mà Even-Ezra đã tìm hiểu.  Lược đồ này vẽ bản đồ các nhánh của y học; nó có vẻ không như dự kiến của người viết sách. Nhánh đầu tiên mọc ra cân bằng và thuận tiện. Tuy nhiên, nhánh thứ hai bị đổi hướng một cách kì quặc. Một đoạn mọc thêm dường như mãi về sau mới được người viết nghĩ ra và ghép vào. Nhánh dưới cùng dày đặc những sửa đổi và những đường tư tưởng đi lệch hướng. Even-Ezra lưu ý một điều hiển nhiên: người viết không ước lượng khoảng giấy trước khi bắt đầu. Đó là một phần vấn đề. Nhưng cũng rõ ràng là cấu trúc chính xác của thông tin này đã “hiện lên trong quá trình vẽ”; những lược đồ được vẽ ra như thế này giúp quá trình suy nghĩ phức tạp, trừu tượng trở nên dễ dàng hơn. Những ý tưởng trừu tượng mới này có thể đột ngột đến với người suy nghĩ, người sẽ lưu chúng lại ở mọi nơi có thể bằng cách vẽ lược đồ. Even-Ezra gợi ý rằng dạng cái cây nằm ngang khiến các khái niệm “dễ điều khiển”, trừu tượng hóa và tách chúng khỏi sự tuyến tính của ngôn ngữ. Việc điền hết các nhánh chi chít của những lược đồ này “dọn đường cho những câu hỏi mới”.  Nhiều thế kỷ sau đó, chúng ta có thể nhìn vào những lược đồ này và thấy cách suy nghĩ của người viết sách, và làm thế nào mà thói quen viết cho phép suy nghĩ như vậy. Even-Ezra coi lược đồ phân nhánh là một thiết bị cốt yếu của một bộ óc nối dài thời Trung Cổ: nó là một công cụ suy nghĩ có thể hòa giải “phức tạp và đơn giản, trật tự và sáng tạo, một cách đồng thời”. Nhờ nó, trí óc có thể bớt gánh nặng. Ở trung kỳ của thời Trung Cổ, thế kỷ 13 và đầu thế kỷ 14, điều này vô cùng quan trọng. Các nhà thần học và các nhà triết học cố gắng sắp xếp tri thức của mình về thế giới vào một hệ thống suy nghĩ bao trùm tất cả. Một cách lý tưởng, hệ thống này bằng cách nào đó phải vô cùng phức tạp nhưng lại được xây dựng trên những nguyên lý cơ bản, dễ nhận biết, như cái thế giới nó tìm cách hiểu.  Phát minh ra kĩ thuật in của Johannes Gutenberg đã khiến nhiều học giả “than phiền” rằng họ bị xao nhãng vì có quá nhiều sách để đọc.  Bạn còn nhớ câu chuyện về Thamus, vị thần Ai Cập đầy hoài nghi dự đoán rằng những bộ óc trẻ sẽ bị chữ viết làm hỏng? Theo Even-Ezra, lược đồ phân nhánh đại diện cho một hệ quả tốt của phát minh ra chữ viết. Những lược đồ này có thể tạo điều kiện cho suy nghĩ sâu sắc hơn, đặc biệt là suy nghĩ trừu tượng, khi đọc với cường độ cao. Chúng cũng có thể bổ trợ thay vì thay thế trí nhớ, vì chúng đóng gói lại thông tin trong những họa tiết có thể in sâu vào tâm trí. Những người thư ký thời Trung Cổ vẽ những lược đồ này kín các lề sách, nhiều cái trong đó là bằng chứng của sự chu đáo tỉ mỉ và khao khát kết tinh tri thức mới. Even-Ezra mô tả cái cách mà sự trỗi dậy của các lược đồ này – một loại công nghệ viết mới – định hình lại nhận thức.  Chúng ta có thể thấy những hiệu ứng được vẽ ra trên trang giấy. Geoffrey de Vinsauf có lẽ sẽ nhìn với vẻ kinh hoàng khi những người vẽ lược đồ thời Trung Cổ, bỏ ngoài tai lời khuyên tốt nhất của ông, cầm bút lên và vẽ ra những ý tưởng trừu tượng còn chưa được diễn đạt đầy đủ. Nhưng cũng như Even-Ezra, chúng ta có thể nhìn sự phát triển này mà không thấy lo lắng hay báo động. Từ một khoảng cách lịch sử an toàn, Lines of Thought đề xuất rằng mốt vẽ cây thời Trung Cổ đã “đấu” lại một cách tinh vi bộ óc Trung Cổ. Nhưng ngày nay, cả Even-Ezra lẫn chúng ta đều không ai lo lắng cho những cách suy nghĩ cũ hơn có thể đã mất đi trong quá trình đó.  Chúng ta có thể đi theo một con đường tương tự xuyên suốt lịch sử dài của nỗi lo lắng cảm sinh từ công nghệ. Đã có hàng nghìn năm với những nỗi sợ tương tự về bộ não bị hỏng, bị xao nhãng, bị u mê, hay bất kỳ một ẩn dụ nào khác được tạo ra để nói về chúng. Nỗi lo hiện tại của chúng ta là một bước lặp mới của một vấn đề cũ. Não chúng ta vẫn luôn bị “đấu nối” lại (ngay cả trước khi các công nghệ truyền thông mới chuyển sang điện tử và hình ảnh ẩn dụ “đấu nối” hiện diện khắp nơi; ẩn dụ này rất cũ, có từ thời điện tín).  Chỉ mục tạo ra những người đọc nông cạn?  Hãy xét một thí dụ khác: chỉ mục trong các cuốn sách có khiến người đọc xao nhãng hơn không? Trong Index, A History of the (2022)6, nhà sử học người Anh Dennis Duncan lấy câu chuyện của Plato về hai vị thần Ai Cập làm cột mốc cổ xưa đánh dấu một quá trình lịch sử lâu dài của sự lo lắng về công nghệ kéo dài đến Google. Ở nhiều thời điểm giữa Plato và cỗ máy tìm kiếm, Duncan vẽ sự phát triển của chỉ mục như một thiết bị tìm kiếm cho người đọc sách. Những nhà biên soạn và người dùng chỉ mục đầu tiên ở thế kỷ 16, như vị bác sỹ người Thụy Sĩ Conrad Gessner, thấy tiềm năng lớn ở chúng, nhưng cũng có dè dặt. Gessner dùng công nghệ này trong nhiều cuốn sách của mình, tạo ra những danh mục ấn tượng về động vật, thực vật, ngôn ngữ, sách, tác giả và những người khác, sinh vật, đồ vật. Ông nghĩ rằng những danh mục tốt là “tiện nghi tuyệt vời nhất” và “tuyệt đối cần thiết” đối với các học giả. Nhưng ông cũng biết rằng nhiều học giả ẩu đôi khi chỉ đọc chỉ mục chứ không đọc toàn bộ tác phẩm.  Thamus, vị thần Ai Cập cho rằng phát minh ra chữ viết sẽ khiến con người “lười”, không thèm nhớ những gì có thể viết ra.  Chỉ mục mời gọi một kiểu dùng sai mục đích sỉ nhục những học giả trung thực, những người mà theo Gessner là đối tượng nó cần phục vụ. Erasmus, nhà trí thức lớn thời Phục Hưng, cũng phê phán việc sử dụng chỉ mục không đúng cách, nhưng ông ít lo ngại hơn về những độc giả lười nhác chỉ xem chỉ mục, mà lo ngại nhiều về những tác giả khai thác xu hướng này. Vì nhiều người “chỉ đọc tiêu đề và chỉ mục”, các tác giả bắt đầu đưa vào đó những thứ gây tranh cãi nhất (thậm chí tục tĩu) để tăng lượng độc giả và doanh số. Nói cách khác, chỉ mục là nơi lý tưởng cho một dạng sơ khai của trò “câu view” ngày nay. Việc “bấm vào” – để đọc cả quyển sách thay vì chỉ xem các mục từ bắt mắt – trước khi vội vàng kết luận là việc của độc giả. Erasmus không kỳ vọng nhiều độc giả sẽ chịu khó bỏ công. Nhưng ông không phản đối sách in có chỉ mục, cũng như không phải đối in thêm trang bìa cho sách (trang bìa khi đó cũng là thứ mới mẻ của sách in). Với Erasmus, chỉ mục là một công cụ, tốt hay xấu do ở người dùng. Duncan kể cho chúng ta lịch sử về một sự tranh cãi đầy lo lắng xung quanh chỉ mục và cách người ta dùng nó; ông lấy một thứ vô cùng quen thuộc có ở cuối mọi cuốn sách và làm hé lộ số phận sơ khai của nó như một lời đe dọa của công nghệ đối với việc suy nghĩ thấu đáo.  Suy tàn rồi nổi lên của chế độ tập trung mới  Chúng ta có nên nhìn lại những tương tác luôn biến đổi đó giữa sách và trí óc, và lo ngại rằng một quá trình “Đại Đấu nối” đã diễn ra nhiều thế kỷ trước? Dĩ nhiên là không. Ngay cả nếu cho rằng việc viết ra các ý tưởng một cách rất thông thường đã làm thay đổi cách hoạt động của bộ óc thời Trung Cổ, như lập luận của Even-Ezra, chúng ta cũng không hối tiếc khi nhìn lại. Ngay cả nếu số lượng sách khổng lồ, và những chỉ mục kết nối chúng, báo động những người chứng kiến sự sinh sôi của chúng và sự suy tàn của thói quen đọc cẩn thận và tập trung, chúng ta cũng không thấy báo động khi nhìn lại. Những chế độ ghi nhớ và tập trung mới thay thế những cái cũ. Dần dần những cái mới này cũng trở thành cũ, bị thay thế để rồi người ta mong nhớ.  Sự mong nhớ đó giờ có dạng hoài niệm về những ngày xưa đẹp đẽ, khi người ta “đọc ngấu nghiến”, đặc biệt là đọc tiểu thuyết. Johann Hari, trong cuốn Stolen Focus (2022)7, giới thiệu với chúng ta một người bán sách trẻ tuổi, người không thể kết thúc bất cứ cuốn sách nào của Vladimir Nabokov, Joseph Conrad hay Shirley Jackson mà cô đã bắt đầu đọc: “Cô ấy chỉ có thể đọc qua một hai chương đầu, sau đó sự chú ý của cô ấy tắt dần, như một động cơ bị hỏng.” Tâm trí của người-đọc-tiềm-năng đơn giản là hết năng lượng. Chính Hari cũng lui về một thị trấn ven biển để thoát khỏi “những tiếng ‘tinh tinh’ và chứng hoang tưởng của mạng xã hội” và nhờ đó tìm lại được trải nghiệm đã mất về sự tập trung và trí nhớ. Đọc tác phẩm của Dickens là một phần phương pháp tự điều trị của ông: “Tôi trở nên đắm chìm sâu hơn trong những cuốn sách mình chọn. Tôi lạc trong chúng rất lâu, có khi cả ngày – và tôi cảm thấy hiểu hơn và nhớ tốt hơn những gì mình đã đọc.” Với Hari, và nhiều người khác, tái tập trung vào việc đọc các tác phẩm hư cấu là một phương pháp hiển nhiên để đưa tâm trí quay về một trạng thái tập trung và ghi nhớ tốt hơn. Cách điều trị mới mẻ này là một phương pháp hiển nhiên và xảy đến với nhiều người đến nỗi nó thường không cần giải thích.  Việc chìm trong sách và tiểu thuyết đã được xét lại như là một thói quen mẫu mực trong cuộc sống hiện đại: đó là thói quen và bằng chứng của một đầu óc lành mạnh. Nhưng cũng chính thói quen đó từng bị coi là một chứng bệnh. “Kẻ đọc ngấu nghiến” thể hiện như tâm trí của con nghiện suy dinh dưỡng trí tuệ bị kích thích quá đà mà Petrarch đã chẩn đoán, suy kiệt vì một chế độ ăn chỉ toàn những văn bản nông cạn: “phát điên vì có quá nhiều vấn đề, tâm trí đó không thể nếm bất cứ thứ gì nữa”. Don Quixote là hiện thân của người đọc mắc bệnh, bị mê hoặc bởi những cuốn sách hư cấu đến nỗi quên mất hiện thực. Ở nước Anh đầu thế kỷ 18 của Jane Austen, khi ngày càng nhiều phụ nữ và một tầng lớp trung lưu đang đông dần lên bắt đầu đọc tiểu thuyết, đã xuất hiện những cảnh báo về những tác động độc hại của tiểu thuyết. Những nhà quan sát bi quan ở đầu những năm 1800 đã viết rằng “sự đam mê đọc tiểu thuyết” là “một trong những nguyên nhân chính của những rối loạn thần kinh” và là một nguy cơ đối với “trí tuệ nữ giới”. Hãy cảnh giác, người ta viết năm 1806, với “sự kích thích quá mức tác động lên tâm trí bởi những câu chuyện hấp dẫn và mùi mẫn đặc trưng của tiểu thuyết”.  Sau đó, trong thế kỷ 20, Walter Benjamin đưa ra lý thuyết rằng thói quen đọc một mình những tiểu thuyết ra đời hàng loạt của các thị dân khiến họ hầu như không thể đạt đến trình độ nhận thức đủ để kể chuyện. Đối với ông, tiểu thuyết – cùng với báo chí và những thông tin hữu ích nhỏ giọt liên tục – khiến cho trạng thái thư giãn tinh thần thực sự, phát sinh từ sự buồn chán, khó đạt được hơn rất nhiều. (Ông coi sự buồn chán là lồng ấp tự nhiên của kể chuyện.) Đáng chú ý là hai thời đại khác nhau có thể cùng nói rằng: “Chúng ta sống trong một thế giới xao nhãng, gần như chắc chắn là thế giới xao nhãng nhất trong lịch sử nhân loại”, để rồi đi đến hai kết luận hoàn toàn ngược nhau về ý nghĩa của câu đó, và về điều chúng ta nên làm.  Trong một thời khác, cảnh điền viên để quản lý đúng cách sự tập trung của Hari (tức là đắm chìm trong sách) có thể được coi là chỉ dấu rõ ràng của một tâm trí ốm yếu bị kích thích quá đà. Sự trớ trêu của lịch sử có thể dạy cho ta điều gì đó. Những công nghệ mới sẽ đến để tranh lấy sự chú ý của chúng ta, hoặc để giải phóng trí nhớ của chúng ta với sự truy cập thông tin ngày càng dễ dàng. Và bộ não sẽ thích nghi khi chúng ta học cách nghĩ với những công nghệ mới. Trong Stolen Focus, Hari dẫn lời nhà sinh học Barbara Demeneix: “Ngày nay chúng ta không thể nào có một bộ não bình thường.” Ở đây có một khát khao về một ngày hôm qua đã mất, khi tâm trí hoạt động theo đúng cách của nó. Nhưng đó chính xác là khi nào? Seneca, Petrarch và Chu Hy có lẽ đều muốn biết.  Hoài cổ công nghệ rồi sẽ sai, dù đó là mong muốn quay lại trước thời Gutenberg, hay trước khi có nhật báo, hay trước khi có Twitter. Hari có lý khi nói rằng cần hành động để chống lại sự “đấu lại” một cách có hệ thống bộ não của chúng ta để phục vụ lợi ích của những gã khổng lồ công nghệ, của những kẻ gây ô nhiễm môi trường, và thậm chí là văn hóa bao bọc con quá mức. Ông không cho rằng chúng ta có thể thực sự thoát khỏi thời đại xao nhãng bằng cách, chẳng hạn, vứt bỏ điện thoại thông minh. Quả vậy, chúng ta vẫn sẽ lo lắng, một cách cần thiết, về cách bộ óc của mình tương tác với những thứ bên ngoài. Nhưng ta nên cùng nhau hình dung về một tương lai của sự suy nghĩ chú tâm hơn, thay vì về quá khứ.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://aeon.co/essays/weve-always-been-distracted-or-at-least-worried-that-we-are  ——  Chú thích  1 Trong thần thoại Hy Lạp, Tantalus bị các thần trừng phạt, phải đứng giữa một hồ nước và dưới một cái cây trĩu quả, nhưng cứ giơ tay hái thì cành cây lại nhấc lên cao, cứ cúi xuống để uống thì nước lại tránh đi chỗ khác.  2 Is Google making us stupid?  3 Have Smartphones Destroyed a Generation?  4 Your Attention Didn’t Collapse. It Was Stolen.  5 Tạm dịch: Những dòng tư tưởng.  6 Tạm dịch: Chỉ mục, Lịch sử (“Lịch sử chỉ mục” nhưng được viết theo định dạng của mục từ trong chỉ mục).  7 Tạm dịch: Sự tập trung bị đánh cắp.    Author                .        
__label__tiasang Chúng ta vừa giàu hẳn lên!      Năm ngoái mỗi người trong chúng ta đều giàu  thêm chừng 150 đô la Mỹ mà ít ai biết. Còn những người ở TPHCM thì thu nhập năm  ngoái bỗng tăng thêm 400 đô la Mỹ. Sở dĩ có điều lạ này là vì Tổng cục  Thống kê (TCTK) có hai thay đổi quan trọng.    Thay đổi thứ nhất là lấy năm 2010 làm năm gốc để tính các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh. Thay đổi này kéo theo một loạt thay đổi số liệu (như tăng trưởng GDP năm 2012 trước đây công bố là 5,03% nay thành 5,25%). Dù sao đây là điều phải chấp nhận vì để năm gốc 1994 là quá xa, không chính xác và dù sao TCTK cũng đã có họp báo chuẩn bị, giải thích từ đầu năm 2012.  Thay đổi thứ hai mới là bất ngờ và quan trọng hơn: TCTK đã điều chỉnh con số tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành (tức không chịu ảnh hưởng bởi thay đổi năm gốc nói trên) khá mạnh mà không có những động thái phổ biến rộng rãi sự thay đổi này. Ví dụ GDP năm 2012 vào cuối năm được công bố là 2.950.684 tỉ đồng; bỗng đến lúc xuất bản Niên giám thống kê, con số này được nâng lên thành 3.245.419 tỉ đồng. GDP theo giá hiện hành các năm trước cũng được điều chỉnh tăng thêm như thế (xem bảng).  Như thế GDP cả nước ta trong năm ngoái bỗng dưng tăng thêm gần 300.000 tỉ đồng, tức mỗi người tự dưng thấy thu nhập đầu người tăng thêm hơn 3 triệu đồng. Và như thế có nghĩa GDP của các địa phương cũng phải điều chỉnh theo, có nơi là những mức điều chỉnh lớn. Chẳng lạ gì tại cuộc họp HĐND TPHCM đang diễn ra, hầu như không đại biểu nào, kể cả Chủ tịch HĐND, hiểu vì sao GDP đầu người của thành phố năm ngoái đã công bố là 3.600 đô la nay bỗng tăng vọt lên thành 4.000 đô la (năm 2013, dự kiến tăng thành 4.513 đô la)! Trao đổi với nhiều chuyên gia kinh tế, cũng chẳng ai lý giải được sự thay đổi này vì GDP danh nghĩa tính theo năm gốc nào thì cũng như nhau.  Trả lời thư phỏng vấn của TBKTSG, ông Hà Quang Tuyến, Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia, TCTK, đã giải thích: “Trong quá trình điều tra thu thập thông tin những năm gần đây và làm việc với chuyên gia quốc tế về quy mô GDP của Việt Nam, TCTK nhận thấy một số lĩnh vực thời gian qua đã phản ánh chưa hết. Vì vậy, TCTK đã điều chỉnh tăng quy mô giá trị gia tăng của lĩnh vực ngân hàng, và khấu hao nhà tự có tự ở của dân cư (ở ngành kinh doanh bất động sản). TCTK có chú thích điều chỉnh số liệu trong Niên giám thống kê”.  Trước đây, cũng có nhiều ý kiến cho rằng GDP thật sự của Việt Nam cao hơn con số công bố nhiều vì thống kê chính thống chưa tính đến nền kinh tế phi chính thức, vốn được phỏng đoán bằng cả 30% nền kinh tế chính thức. Tuy nhiên, điều chỉnh thì phải công bố rộng rãi, giải thích nguyên nhân và phân tích tác động của việc điều chỉnh lên nhiều khía cạnh của cuộc sống và nền kinh tế. Và theo thông lệ quốc tế, thường phải công bố cả hai dãy số, cả cũ và mới để giới nghiên cứu biết mà sử dụng. Quan trọng hơn, hai năm gần đây, giá trị tăng thêm của ngành ngân hàng và nhà ở của dân đã giảm sút, thậm chí là con số âm, vậy tình hình này có được phản ánh vào tăng trưởng GDP hay lại thôi, bỏ ra ngoài như trước?  Thay đổi con số GDP có tác động đến rất nhiều điều. Lấy một ví dụ nhìn qua tưởng nhỏ để minh họa. Chúng ta thường nghe nói bội chi ngân sách năm 2012 được Quốc hội thông qua là bằng 4,8% GDP nhưng 4,8% trên con số cũ là 141.632 tỉ đồng còn tính  trên con số mới là 155.780 tỉ đồng – khác nhau lắm. Hay chúng ta cũng thường nghe nợ công trên GDP ở một mức nào đó, ví dụ dưới 60% là an toàn. Vấn đề là GDP bị điều chỉnh nên con số nợ công gọi là an toàn đó cũng thay đổi theo. Mọi tính toán, mọi kế hoạch, thậm chí mọi phê duyệt của Quốc hội không còn chính xác nữa.  GDP đầu người theo con số mới được điều chỉnh dĩ nhiên là cao hơn cũ. Tuy không ai lấy đó để nói đời sống của người dân đã được “cải thiện một bước” nhưng nó sẽ tạo ra một ấn tượng sai lệch về mức độ tăng trưởng GDP đầu người, làm người nước ngoài tưởng chúng ta cải thiện đời sống người dân nhiều hơn thực tế.  Trước đây, đã từng có những lời phê phán số liệu thống kê của Việt Nam không có độ tin cậy cao. Nhiều quan chức đã lên tiếng giải thích, trấn an nhưng việc điều chỉnh con số GDP như đã thấy rõ ràng càng củng cố thêm nhận định số liệu của chúng ta hay thay đổi, không thể dựa vào chúng để phân tích hay nhận định tình hình cho chính xác.  Cũng chính vì ít ai biết đến sự thay đổi này mà tuần trước một số báo đã đưa tin sai. Dựa vào con số ước tính GDP đầu người năm 2013 là 1.960 đô la, các báo này so sánh với con số GDP đầu người năm 2012 cũ là 1.600 đô la để cho rằng GDP đầu người năm nay tăng 23%! Thực tế GDP đầu người năm 2012 đã được TCTK điều chỉnh, tăng lên thành 1.749 đô la trong cuốn Niên giám thống kê mới nhất cho nên mức tăng năm nay chỉ vào khoảng 12% mà thôi! Không nói cho rõ, chúng ta lại tưởng năm nay mọi người bỗng thêm một lần nữa giàu thêm một khoản không nhỏ nữa.            Con số GDP khác nhau trên   Niên giám Thống kê năm 2011 và năm 2012 (Đvt: tỉ đồng)           2009  2010  2011  2012      GDP nguyên thủy  1.658.389  1.980.914  2.535.008  2.950.684      GDP đã điều chỉnh  1.809.149  2.157.828  2.779.880  3.245.419      Chênh lệch (tăng)    150.760     176.914     244.872    294.735                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Chung tay cải thiện bình đẳng giới trên môi trường mạng      Nhân dịp kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam, Đại sứ quán Thụy điển, UNDP, UN Women, Bảo tàng Phụ nữ, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và mạng lưới báo chí nữ hợp tác với Wikipedia nhằm chia sẻ rộng rãi những thành tựu của phụ nữ Việt Nam. Sáng kiến này nhằm tăng tính đại diện của phụ nữ trên Wikipedia và tăng cường bình đẳng giới trong môi trường mạng và trong xã hội.      Hoàng Thùy Linh và Nguyễn Bảo Ngọc vừa đăng hai bài trên Wikipedia. Ảnh: UNDP.    Wikipedia là bách khoa toàn thư trực tuyến và lớn nhất thế giới do chính người sử dụng tạo ra. Nội dung của Wikipedia chi phối và thể hiện kiến thức của người sử dụng đối với thế giới xung quanh. Song hiện nay đang có sự mất cân đối nam nữ lớn trên trang web, giống như trong xã hội nói chung. 90% các tác giả đang viết bài, cập nhật nội dung trên Wikipedia là nam giới. Các bài viết về nam giới nhiều gấp bốn lần các bài viết về nữ giới. Các con số này có thể khác nhau tuỳ theo khu vực địa lý, nhưng bức tranh chung là: thông tin về phụ nữ ít hơn nhiều so với nam giới. Trong bản tiếng Việt của Wikipedia, tỉ lệ này còn thấp hơn nữa: dưới 18% tổng số tiểu sử là về phụ nữ.  Sự kiện này là một phần của chiến dịch #WikiGap toàn cầu, do Bộ Ngoại giao Thụy điển và Wikipedia khởi xướng. Các sự kiện tương tự đã được tổ chức tại hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới để cải thiện tính đại diện của phụ nữ trên internet, góp phần tăng cường bình đẳng giới trong xã hội.  #WikiGap nhằm cung cấp nền tảng cho những người tình nguyện tham gia và tất cả những ai muốn đóng góp cải thiện bình đẳng giới trên môi trường mạng. Tuy chủ đề do các cơ quan tổ chức đưa ra, bài viết do những người tham gia tạo ra trong một edit-a-thons.  Phát biểu khai mạc, Đại sứ Thụy điển Pereric Högberg nói: “Khi phụ nữ không được ghi nhận xứng đáng, chúng ta mất đi tiềm năng của một nửa dân số. Đó không chỉ là lãng phí nguồn lực mà còn là sự lựa chọn tồi. Wikipedia là một hình thức viết sử hiện đại. Nâng cao tính đại diện của phụ nữ, chúng ta sẽ tiếp cận với những thông tin, để có thể học tập, tiến bộ và phát triển. Khi Hội đồng Giải Nobel năm nay công bố Donna Strickland là người được giải Vật lý, không có tiểu sử của bà trên Wikipedia. Bài viết về bà bị từ chối do thiếu thông tin tham khảo về người được giải, là điều kiện cần của một bài trên Wikipedia. Đây là một ví dụ điển hình của bất bình đẳng giới trên internet.  #WikiGap nhằm cải thiện tính đại diện của phụ nữ trên Wikipedia. Trong ngày hôm nay, những người tham gia viết sẽ tạo thêm nội dung trên Wikipedia bằng các bài viết và bổ sung thông tin về tiểu sử phụ nữ, chuyên gia và những phụ nữ là hình mẫu trong các lính vực khác nhau.  “Sự kiện này diễn ra ở một thời điểm quan trọng, ngay sau Ngày Quốc tế Xóa đói giảm nghèo (thứ Tư) và trước Ngày Phụ nữ của Việt Nam (thứ Bảy). Khi nhắc đến nghèo đói, mọi người thường nghĩ đến thu nhập, tiếp cận nước sạch, giáo dục và y tế. Nhưng chúng ta cần chú ý trong thời kỳ chuyển đổi Cách mạng Công nghiệp 4.0, để không tạo thêm những hình thức nghèo đói mới có thể khiến cho phụ nữ bị bỏ lại phía sau trong quá trình phân hóa số. Hướng tới một tương lai bình đẳng, cần tạo điều kiện cho phụ nữ và trẻ em gái hiểu biết về công nghệ số để có thể tận dụng được công nghệ một cách đầy đủ và bình đẳng – từ internet đến Internet vạn vật – với tư cách là lãnh đạo hoặc tác nhân thay đổi” – Bà Caitlin Wiesen, Giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam, nói trong bài phát biểu thay mặt cho UNDP và UN Women.  Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Trưởng Khoa Phát thanh-Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Đây là hoạt động truyền thông rất có ý nghĩa trong bối cảnh vẫn còn tồn tại hiện tượng bất bình đẳng giới hiện nay. Là cơ sở đào tạo sinh viên báo chí – truyền thông lớn nhất Việt Nam hiện nay, chúng tôi hiểu rằng việc nâng cao nhận thức và kĩ năng truyền thông về bình đẳng giới cho các nhà báo tương lai là việc làm quan trọng. Bên cạnh việc khuyến khích sinh viên tham gia chiến dịch này với tư cách người dịch, người viết bài cho WikiGap chúng tôi thấy việc lồng ghép các nội dung liên quan đến giới và bình đẳng giới trong các môn học trên lớp và hoạt động thực tế nghiệp vụ của sinh viên là rất cần thiết.”  “Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) rất ủng hộ các hoạt động nâng cao hiệu quả của việc sử dụng mạng Internet, đặc biệt là thúc đẩy bình đẳng giới. Các hoạt động như sáng kiến WiKiGap mà Đại sứ quán Thuỵ Điển là đơn vị khởi xướng, sẽ giúp bức tranh Internet Việt Nam thêm nhiều màu sắc, thúc đẩy tính công đồng và văn hoá chia sẻ. VIA hy vọng các sáng kiến như WikiGap ngày càng nhiều hơn và được tổ chức thường niên, để Internet đóng góp thêm vào thúc đẩy tiến bộ xã hội ở Việt Nam” – Ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Internet Việt Nam cho biết.  “Những thông tin về những người phụ nữ Việt Nam giỏi giang, mạnh mẽ, sẽ giúp chính chúng ta hiểu mình hơn, giúp bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về phụ nữ và các câu chuyện giới tại Việt Nam hơn. Để thúc đẩy các tiến bộ về giới thì thông tin, kiến thức cởi mở, minh bạch đóng một vai trò quan trọng. Tôi tin người trẻ Việt Nam sẽ góp phần làm nên sự thay đổi này. WikiGap là một cơ hội để chúng ta tự hiểu chính mình và góp phần cho những tiến bộ về giới tại Việt Nam.” – Nguyễn Vân Anh – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) nhấn mạnh.  “Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ về bình đẳng giới. Tuy nhiên, việc phân biệt giới tính nằm sâu hơn các con số về sự tham gia của phụ nữ. Vẫn còn nhiều rào cản nằm trong tiềm thức, trong quan niệm, trong văn hoá ứng xử khiến nhiều phụ nữ chưa phát triển được hết khả năng và được làm những gì họ yêu thích. Những rào cản này cũng nằm sâu ngay trong ngành báo chí truyền thông, vốn là ngành có đóng góp lớn trong việc giới thiệu phụ nữ với công chúng và thu hẹp khoảng cách giới. Sự kiện Wikigap làm tăng thêm sự công nhận về khả năng của phụ nữ đối với công chúng. Đó là lý do vì sao WeNet-Diễn đàn nhà báo nữ Việt Nam-trở thành đối tác tổ chức sự kiện này” – Bà Trần Lệ Thuỳ, Giám đốc Trung tâm Sáng kiến Truyền thông và Phát triển (MDI) cho biết thêm.   Nguồn tin: UNDP Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương 1: Hô… biến!      Trung Quốc sản xuất đủ loại hàng hóa; vì thế, nó tạo ra đủ loại mùi mà ta có thể tưởng tượng ra. Đi ngang qua các nhà máy, bạn có thể ngửi thấy nhiều mùi: mùi hăng nhức óc từ chất keo dán bốc ra từ xưởng giày dép, mùi hạt nướng thoát ra từ lò gốm khi các bình hoa bằng gốm đang được nung bằng lửa gas, mùi chua loét của chất nhựa polypropylene đang được đun chảy và phun ra ở nhiệt độ cao…      Một trong những đối tác đầu tiên mà tôi đến tìm hiểu là công ty chuyên sản xuất loại hàng có mùi hương thơm mà ở TQ gọi là hóa chất gia dụng – tức các loại sản phẩm như xà bông tắm, dầu gội, và kem bôi tay.  Công ty ấy, có tên là King Chemical, tọa lạc tại một vùng quê, dưới chân một ngọn đồi lớn ở vùng Hoa Nam.   Tôi đến phân xưởng sản xuất của công ty vào một buổi sáng nắng đẹp, trời trong, mũi ngập đầy mùi hương của các loại sản phẩm dưỡng da và vệ sinh cá nhân. Phân xưởng sản xuất ấy được điều hành bởi một người phụ nữ nhỏ bé, người cứ nhất định bắt tôi phải gọi bà là “Trần Chế” (zhen jie). Đó là một cái tên quen thuộc, vì Trần là họ của bà, còn Chế có nghĩa là chị. Bà cho biết bà yêu cầu công nhân gọi mình bằng cái tên này vì bà muốn công nhân xem mình là một người chị và có thể trông vào đấy mà noi gương.  “Đây. Em mặc áo khoác này rồi mới vào bên trong được.” Chế đưa cho tôi cái áo khoác mặc trong phòng thí nghiệm trắng tinh, rồi đưa thêm đôi vớ bọc giày, và chờ cho tôi mang vớ vào xong mới tự mình xỏ một đôi vớ khác phủ lên đôi giày cao gót màu đen của mình.  Tất cả những việc ấy là để đảm bảo một môi trường sản xuất hợp vệ sinh, Chế giải thích như vậy. Các nhà máy ở TQ thường là không quan tâm gì đến vệ sinh môi trường, nhưng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm và sức khỏe thì điều này hết sức quan trọng. Đây cũng là một trong những vấn đề được nhắc đến trong cuộc trao đổi giữa tôi và Bernie, người đã cử tôi tham gia vào chuyến tham quan. (Trước khi xác định chọn công ty này làm nơi cung cấp sản phẩm, Bernie đã thử sản xuất dòng sản phẩm của mình ở một nơi khác với một kết quả thảm hại. Cả một tàu hàng bị nhiễm vi khuẩn, khiến công ty của ông lỗ nặng).  Những nghi lễ trịnh trọng chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đã tạo ra trong tôi một cảm giác mong đợi, và tôi rất háo hức được đặt chân vào phân xưởng. Qua một tấm cửa kính, tôi hầu như có thể thấy hết những gì đang chờ đợi chúng tôi. Không khí làm việc có vẻ rất bận rộn, và  các công nhân cũng mặc đồ trắng.  Rồi đến là màn rửa tay. Các vị trưởng phòng cùng theo đoàn giờ đây đứng xếp hàng trước một dãy các bồn rửa, lần lượt rửa tay. Trong chiếc áo choàng trắng, tay xắn lên đến tận khuỷu, trông họ cứ như một đội bác sĩ đang chuẩn bị vào một cuộc phẫu thuật.  Rửa tay sạch sẽ rồi, tôi định bước vào khu vực sản xuất, nhưng một cánh tay ai đó đã kéo tôi lại, và chụp lên đầu tôi một chiếc mũ trắng. Sau đó, như một nghi lễ long trọng, cánh cửa mở bung ra cho đoàn tham quan chúng tôi đi qua.  Bên trong phân xưởng có vẻ rất bận rộn, và vì chưa quen với những hoạt động sản xuất như thế này, tôi phải cố tìm hiểu xem mọi việc hoạt động ra sao. Các công nhân đang bận rộn pha chế một loại kem bôi tay, và tôi đứng xem các dây chuyền sản xuất tạo ra những lọ kem màu hồng. Một số công nhân đổ kem vào lọ, còn những người khác thì đóng nút hoặc lau bên ngoài lọ. Tôi đề nghị được xem một sản phẩm hoàn tất, và người ta đưa cho tôi một lọ kem lấy ra từ một thùng carton. Nhãn hiệu bên ngoài được in bằng tiếng Trung Quốc. Công ty này sản xuất các loại mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc sức khỏe dành cho thị trường nội địa. Công ty của Bernie sẽ là khách hàng xuất khẩu đầu tiên của họ.  Chúng tôi đi qua một dây chuyền sản xuất. Những người công nhân đang cắm cúi làm việc càng cúi đầu thấp hơn nữa khi chúng tôi đến gần, và tốc độ làm việc của họ bỗng tăng lên rõ rệt. Bất cứ nơi nào chúng tôi dừng lại, tôi đều cảm thấy công nhân như đang rất căng thẳng đến nín thở. Tôi quan sát một cô công nhân tóc ngắn đang chuyển những lọ kem ra khỏi băng chuyền. Cô lau xung quanh lọ một cách rất tỉ mỉ và cứ cầm cái lọ mãi mà không chịu bỏ nó xuống cho đến khi có lọ mới chạy ra băng chuyền. Tôi thử nhìn những người công nhân, nhưng tất cả đều cố tránh ánh mắt của tôi.   Một cô công nhân chuyên đóng nút lọ kem thực hiện công việc của mình với một vẻ rất kịch. Bên cạnh cô là một công nhân chuyên xếp các lọ kem đã đóng nắp vào thùng carton. Thay vì đẩy các lọ kem vào thùng, cô đã dùng hai tay nâng từng lọ, theo kiểu trịnh trọng mà ta thường thấy khi các thương gia TQ đưa danh thiếp của mình cho đối tác.  “Ở đây chị có bao nhiêu công nhân?” Tôi hỏi thế.  Chế gật đầu, như thể đang chờ đúng câu hỏi ấy của tôi. “Hai trăm người,” bà nói.  Tôi không đếm, nhưng có cảm tưởng số công nhân ở trong phân xưởng ít hơn con số đó rất nhiều. “Công nhân được nghỉ vào những lúc nào?” Tôi hỏi tiếp. Chế cho biết họ được nghỉ vào giờ ăn trưa và ăn tối. Tôi hỏi họ được nghỉ bao nhiêu ngày trong tháng. Chế trả lời đa số công nhân cứ hai tuần mới nghỉ vào một ngày cuối tuần.   Không còn gì để hỏi, tôi nhận xét nhà máy này thật ấn tượng. Chế khen tôi nói tiếng Trung Quốc rất tốt, và nói Bernie thật may mắn vì đã tìm được tôi. Bà mong sẽ được làm việc  lâu dài với tôi chứ không dừng lại ở một chuyến tham quan, và còn nói rằng bà hy vọng được học hỏi nhiều từ một người như tôi: Tôi cũng đã ở Trung Quốc một số năm rồi, đủ để hiểu được điều này: khi bạn nói ra những lời tốt đẹp, bạn sẽ được nhận lại vô vàn lời khen ngợi.  Chúng tôi đi đến trạm nơi các công nhân bơm kem vào lọ. Rất nhiều công đoạn trong xưởng được làm bằng tay, thậm chí cả bằng chân. Máy bơm được thiết kế để có thể vận hành bằng cách đạp chân lên một cái cần ở trên sàn. Khi ấy, kem sẽ trào ra khỏi vòi và được phun vào trong lọ theo công thức định sẵn. Người công nhân đang phụ trách ở trạm này dường như không mấy thành thạo, vì phía trước áo của cô dính bê bết những kem, có lẽ là do bị hụt khi hứng kem vào lọ.   Tôi dừng lại ở đó một lúc và quan sát thao tác của người công nhân kỹ hơn. Dường như cô ta chỉ vừa mới được huấn luyện thôi, vì rõ ràng các động tác của cô ta rất vụng về. Tôi tự nghĩ, điều này không chỉ do bối rối, mà có vẻ như cô chỉ mới làm công việc này lần đầu tiên thôi.  Ngay lúc ấy, có ai đó kéo tay tôi. Đó là Chế, bà muốn giục tôi đi vì đã hết thời gian.  Động tác kéo tay của Chế có vẻ hơi thân mật, tôi nghĩ thế, nhưng thay vì hiểu sai cái kéo tay ấy như một điều gì riêng tư, tôi chỉ hiểu đơn giản rằng nó nhắc tôi thời gian đã hết. Tôi có cảm giác giống như một đứa trẻ đến khu vui chơi để đu quay nhưng vòng quay lại chấm dứt quá nhanh.  Tôi chưa kịp hình thành một nhận định đầy đủ về nhà máy thì đã thấy cánh cổng chỉ lối ra, rồi sau đó thấy mình đứng ngoài trời nắng.  “Để chị cho xe đưa em ra sân bay”, Chế nói.  Nói đoạn, bà đưa tôi vào phòng chờ ở gần văn phòng của bà, và ai đó rót cho tôi một cốc trà xanh túi lọc. Ngồi một lúc khá lâu, tôi tự hỏi phải chăng mình đã bị bỏ quên. Tôi nhìn vào những ghi chép của mình, và thấy chúng vừa ít lại vừa rất sơ sài. Có người đến báo cho tôi biết là lái xe sẽ đến trễ, và tôi có cảm giác là họ cũng chẳng biết lái xe lúc này đang ở đâu. Do vậy tôi nghĩ mình cần quay lại phân xưởng để quan sát thêm đôi chút. Khi trở lại phân xưởng, bên ngoài phân xưởng không có một ai, chỉ có tiếng gió nhẹ thổi đến từ phía lưng đồi. Khung cảnh thật bình yên và thôn dã1. Và khi nhìn vào bên trong qua lớp cửa kính, tôi ngỡ mình vừa đi lạc.  Phải chăng tôi đã đi nhầm sang nơi khác?  Rõ ràng là tôi đã đến đúng nơi cần đến, nhưng giờ đây phân xưởng không có lấy một bóng người. Nơi mới trước đây có đến 50, 60 công nhân làm việc, giờ chỉ còn một ông già đang cầm chổi quét. Ông phát hiện ra tôi đang đứng ở cửa sổ và bèn đi đến phía cửa chính, có lẽ định mở cho tôi vào, rồi sau đó nghĩ lại, quay đầu lại và vội vã đi ra cửa sau.  Chuyện quá quỷ gì đang xảy ra thế này nhỉ?  Mặt vẫn dán vào kính cửa sổ, tôi nhìn xuống đồng hồ đeo trên tay. Chỉ mới 3 giờ chiều. Các nhà máy ở TQ không có thói quen nghỉ giữa giờ để uống trà, và hồi nãy chính Chế cũng đã nói là công nhân ở phân xưởng chỉ nghỉ lúc ăn trưa và ăn tối.  Rồi tôi nghe tiếng gót giày khua lóc cóc từ phía sau.   Lóc cóc – lóc cóc – lóc cóc.  Tôi quay lại, chờ đợi những điều tệ hại nhất. Nhưng thay vì tỏ ra giận dữ, khuôn mặt Chế lại nở ra một nụ cười rất gượng gạo, nụ cười rất giả tạo mà khi đến gần thì nụ cười ấy nở to đến tận mang tai, trông như đang giễu cợt ai. Chế chạy đến chỗ tôi, gần hụt hơi.  “Công nhân đang nghỉ, em ạ”. Bà nói.  “Mình quay lại đi em”, Chế nói, và lặng lẽ dẫn đường.  Cố gắng hiểu những gì đang diễn ra, tôi có cảm giác hệt như khi xem xiếc thấy một con voi thật to bỗng biến mất hoàn toàn. Quả không thể hiểu nổi những công nhân ấy đã biến đi đâu. Không thấy họ đâu nữa, và điều duy nhất tôi có thể làm là lấy tay dụi mắt và tự hỏi điều ấy đã xảy ra như thế nào – hoặc đúng hơn là vì sao. Làm sao có thể có chuyện một công ty vừa mới trước đó còn đang hoạt động tấp nập mà giờ đây đã hoàn toàn biến mất?  Tối hôm ấy, tôi gọi điện cho Bernie với tâm trạng e ngại. Trò hô biến mà tôi vừa chứng kiến trong ngày không bao giờ có thể xảy ra ở Mỹ, vì vậy nếu tôi kể việc ấy với Bernie thì chắc chắn sẽ bị xem là một thằng ngớ ngẩn. Hoặc ít ra, tôi cũng bị xem là người đưa những tin tức xấu.  “Họ có vẻ bận rộn chứ?” Bernie hỏi.  Hình như Bernie chỉ quan tâm có mỗi một việc đó thôi – sự bận rộn của nhà máy. Tôi bèn quyết định kể hết mọi chi tiết của chuyến tham quan cho ông nghe. Không những ông không nghi ngờ gì về điều tôi đã kể, mà còn phá lên cười. Trước đó nhiều tuần ông cũng đã từng đến thăm nhà máy này, và ông ngờ rằng lần ấy họ cũng dàn cảnh đóng kịch với ông như vậy.   Bernie không tỏ ra lo lắng một chút nào, mà còn nói tin tức tôi mới cung cấp cho ông là tin tức tốt. Tôi nói với ông tôi thực sự không hiểu. Những gì tôi chứng kiến trong ngày đã thực sự làm tôi lo ngại, vì tôi nghĩ: Một nhà máy phải bỏ ra bằng ấy công sức dàn cảnh đóng kịch để chứng minh rằng mình bận rộn hẳn sẽ có khả năng dở ra nhiều trò ma mãnh khác.   Nhưng Bernie lại nghĩ khác. Ông cho rằng nếu nhà máy không có nhiều việc để làm và họ phải ra sức dàn cảnh để chứng minh là họ bận rộn thì điều đó có nghĩa là họ rất cần có hợp đồng và ông có thể thỏa thuận được giá tốt. Thật thú vị là Bernie lại có những suy nghĩ khác với tôi.  Vũ THị Phương Anh dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình học máy giúp chế tạo pin tốt hơn      Việc thiết kế các khối phân tử tốt nhất cho cấu phần pin giống như việc cố gắng tạo ra công thức cho loại bánh mới khi có trong tay vô vàn nguyên liệu tiềm năng. Điều khó khăn là phải xác định được thành phần nào có thể kết hợp với nhau tốt nhất để tạo ra sản phẩm pin an toàn. Nhưng ngay cả với sự hỗ trợ của siêu máy tính tiên tiến, các nhà khoa học cũng không thể mô hình hóa một cách chính xác các đặc tính hóa học của mọi phân tử có khả năng trở thành cơ sở nền tảng cho vật liệu pin thế hệ tiếp theo.    Thay vào đó, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) đã vận dụng sức mạnh của máy học và trí tuệ nhân tạo để tăng tốc đáng kể quá trình khám phá pin. Họ đã có 2 bài báo khoa học liên quan đăng trên tạp chí Chemical Science và MRS Communications.  Trước tiên, các nhà nghiên cứu của Argonne tạo ra một cơ sở dữ liệu có độ chính xác cao với khoảng 133.000 phân tử hữu cơ nhỏ có thể tạo thành cơ sở của chất điện phân pin. Để làm như vậy, họ sử dụng mô hình tính toán chuyên sâu G4MP2. Bộ sưu tập phân tử này chỉ đại diện cho một tập hợp nhỏ trong số 166 tỷ phân tử lớn hơn mà các nhà khoa học muốn thăm dò làm ứng cử viên cho chất điện li.  Vì sử dụng G4MP2 để phân giải từng phân tử trong số 166 tỷ phân tử sẽ cần thời gian và sức mạnh tính toán quá lớn, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một thuật toán học máy để thiết lập mối quan hệ giữa những cấu trúc đã biết chính xác từ tập dữ liệu nhỏ với những cấu trúc mẫu “thô” hơn từ tập dữ liệu lớn hơn.  “Khi nói đến việc xác định cách thức các phân tử này hoạt động, phải có sự cân bằng giữa độ chính xác và thời gian cần thiết để tìm ra kết quả. Chúng tôi tin rằng học máy là một cách có được bức tranh phân tử gần như chính xác với chi phí tính toán thấp nhất”, Ian Foster, giám đốc bộ phận nghiên cứu và khoa học dữ liệu của Argonne, tác giả của một trong những bài báo cho biết.  Để cung cấp cơ sở cho mô hình học máy, Foster và các đồng nghiệp đã dùng khung mô hình ít đòi hỏi tính toán hơn dựa trên Lý thuyết phiếm hàm mật độ – một khung mô hình cơ học lượng tử thường được sử dụng để tính toán cấu trúc điện tử trong các hệ lớn. Lý thuyết phiếm hàm mật độ có thể ước tính tốt các tính chất phân tử nhưng kém chính xác hơn so với G4MP2.  Họ đã tinh chỉnh lại thuật toán để có được thông tin chính xác hơn về lớp các phân tử hữu cơ rộng hơn, bao gồm cả việc so sánh các vị trí nguyên tử trong các phân tử được G4MP2 tính toán với mức chính xác cao hơn so với việc chỉ sử dụng Lý thuyết phiếm hàm mật độ. Bằng cách sử dụng G4MP2 làm tiêu chuẩn, các nhà nghiên cứu có thể huấn luyện mô hình lý thuyết phiếm hàm mật độ để kết hợp hệ số hiệu chỉnh, cải thiện độ chính xác của nó trong khi vẫn giảm chi phí tính toán.  “Thuật toán học máy cho chúng ta góc nhìn về mối quan hệ giữa các nguyên tử trong một phân tử lớn và ‘hàng xóm’ của nó, để xem cách chúng liên kết và tương tác, và tìm kiếm sự tương đồng giữa các phân tử đó với những phân tử khác chúng ta đã biết rõ”, nhà khoa học tính toán Logan Ward, đồng tác giả của một trong những nghiên cứu nói. “Điều này sẽ giúp chúng tôi đưa ra dự đoán về năng lượng của các phân tử lớn hơn này hoặc sự khác biệt giữa các tính toán có độ chính xác thấp và độ chính xác cao”.  “Toàn bộ dự án này được thiết kế để đem đến bức tranh rộng nhất có thể về những ứng cử viên có khả năng trở thành chất điện li trong pin. Nếu sử dụng một loại phân tử để ứng dụng vào việc lưu trữ năng lượng, ta cần phải biết các thuộc tính như tính ổn định của nó. Có thể sử dụng thuật toán học máy này để dự đoán chính xác hơn thuộc tính của các phân tử lớn hơn”, nhà hóa học Rajeev Assary và là tác giả của cả hai nghiên cứu cho biết. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-battery-machine.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình mục tiêu Quốc gia về lúa gạo      Bước vào thế kỷ 21, con người đã có những đòi hỏi mới về chất lượng cuộc sống: Thức ăn ngon và bổ dưỡng hơn. Nhà cửa áo quần đẹp với những tiện nghi vật chất và tinh thần phong phú hơn. Vì yêu cầu ăn ngon mặc đẹp ngày càng được xem trọng cho nên các ngành kỹ nghệ về nông nghiệp đã có một cách nhìn và triển vọng khác hơn so với những quan niệm cũ.      Ví dụ như ngành trồng Hoa, một loại nông sản mà ngày nay trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong mọi sinh hoạt của xã hội: hoa sinh nhật, hoa thăm hỏi, hoa tiệc cưới, hoa trang trí văn phòng, hoa tôn vinh lễ hội, hoa cho ngày Cha Mẹ. Cả đến khi nằm xuống, hoa cũng đưa ra tận nghĩa trang. Chính vì vậy mà yêu cầu về Hoa đã không còn sơ sài kiểu như có để chưng nữa, mà là một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cuộc đời. Hoa đã là một ngành kỹ nghệ cực kỳ lớn, gấp 10 lần so với thị trường lúa gạo mà Việt Nam lúc nào cũng quan tâm.   Để xúc tiến ngành sản xuất và xuất khẩu hoa vào thị trường to lớn này, một số nước Á, Phi và Mỹ Latinh đã thiết lập “chương trình mục tiêu quốc gia” để qua đó tất cả các bộ, ban ngành đều phải đầu tư nhân sự và vật lực. Kiểu đầu tư đồng bộ và “quyết liệt” này đã giúp ngành hoa của nước Kenya chiếm lĩnh thị trường Âu châu, đem về một kim ngạch 700 triệu USD mỗi năm, nuôi sống 30.000 lao động, và giúp nước Colombia chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ, đem về một kim ngạch 1 tỷ USD, nuôi sống 99.000 lao động. Gần đây một quốc gia trung Mỹ khác – Ecuador – cũng đã trở thành quốc gia xuất khẩu hoa hồng có tiếng. Hoa hồng Ecuador có chất lượng cao, kích cỡ hoa lớn vì được trồng ở cao nguyên.   Chúng ta cấp thiết tổ chức thực hiện một vài “chương trình mục tiêu quốc gia” cho một vài ngành về nông nghiệp như một số nước đã làm. Đặc biệt là một chương trình mục tiêu quốc gia về lúa gạo  Chương trình này sẽ cho ta biết cần phải duy trì ngành này ở mức độ nào khi đất, nước ngày một cạn kiệt mà thị trường xuất khẩu lại không lớn, giá không cao, nhưng lại là một ngành cơ bản, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hơn 70% dân trong nước.   Với một diện tích đất có thể canh tác không nhiều, chỉ 10-11 triệu ha nhưng lại có một thành phần nông dân trẻ, đông đảo hùng hậu, Việt Nam phải tính toán để phân bổ hợp lý đất, người và đặt ưu tiên phát triển mặt hàng nông nghiệp nào kinh tế nhất cho thị trường trong và ngoài nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá, thành phần nông dân Nhật đã giảm từ 60% xuống còn 5-6%. Điều này đã làm Nhật Bản gặp muôn vàn khó khăn trong sản xuất vì số nông dân quá ít, nên kết quả là họ đã phải nhập khẩu đến 60% lương thực. Nếu nông thôn Việt Nam quyết tâm lột xác để xây dựng một hệ thống hạ tầng cơ sở tốt, một môi trường sản xuất thông thoáng, để ứng dụng một nền khoa học công nghệ cao, thì thành phần nông dân trẻ sẽ trụ lại, xây dựng thành công một đất nước có cả nông nghiệp lẫn công nghiệp hiện đại, vừa bảo đảm tính bền vững về an ninh lương thực vừa bảo đảm “môi trường xanh” cho Việt Nam. Đừng bao giờ quên rằng nông nghiệp ngày nay ngoài vai trò sản xuất, còn đóng thêm vai trò quan trọng khác: môi trường xanh cho những con người Việt Nam mạnh khỏe.  Chương trình mục tiêu quốc gia về lúa gạo là cơ hội, đồng thời là giải pháp hữu hiệu để tạo ra bước phát triển bền vững của nông nghiệp Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình quốc gia về AI của Singapore      Dù đe dọa sẽ thay thế nhiều loại nghề nghiệp trong tương lai nhưng trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tạo ra nhiều loại nghề nghiệp mới khác. Vì vậy Singapore đang hướng tới mục tiêu sẵn sàng đón nhận cả hai mặt tốt và xấu này.      Một trong những mục tiêu của Sáng kiến AI Singapore là tạo ra các công cụ để có thể tăng cường năng lực quốc gia về AI. Nguồn: computerworld.com.sg  Trước những triển vọng mà AI hứa hẹn mang lại, các nhà lãnh đạo Singapore đã nhìn thấy cơ hội lớn để tận dụng AI phát triển kinh tế và làm cho cuộc sống của các công dân đảo quốc này tốt hơn lên. Họ đang cùng bàn thảo để có một phương án tốt nhất, qua đó đảm bảo cho mọi người dân Singapore, bao gồm cả những người làm trong những ngành nghề và lĩnh vực đang có nguy cơ bị tự động hóa và AI “chiếm chỗ”, cùng được chuẩn bị sẵn sàng cho một tương lai AI “dẫn dắt”.  Nguy cơ AI thay thế việc làm của con người rất cao. Nhìn suốt các ngành công nghiệp và các hạng mục công việc, AI đe dọa thay thế nhân công trên diện rộng. Không chỉ những công việc đơn giản, với những kỹ năng làm việc cơ bản chịu nguy cơ rủi ro mất việc bởi máy móc tự động hóa, AI còn cao hơn một bậc, nó “đe dọa” thay thế cả những công việc phức tạp hơn, những việc làm đòi hỏi cần có những bằng cấp đào tạo cao hơn và nhiều năm kinh nghiệm. Ví dụ trong ngành tài chính, tự động hóa có thể làm mất việc hàng triệu chuyên gia toàn cầu về ngân hàng, quản lý đầu tư, bảo hiểm.  Dù sẽ còn thay đổi và đe dọa chiếm chỗ nhiều loại công việc hơn song mặt khác, AI cũng tạo ra những loại công việc mới, đem đến nhiều loại công cụ hỗ trợ hoặc mở rộng khả năng cho những công việc cũ và tăng cường hiệu quả cho những người lao động. Do đó một vài quốc gia sẽ được hưởng lợi từ những thay đổi lớn lao mà AI dự kiến sẽ đem về, nhưng nhiều quốc gia khác nếu không kịp chuẩn bị sẽ rơi vào rủi ro với nạn thất nghiệp trên diện rộng và gia tăng nguy cơ bất bình đẳng xã hội.  Xây dựng tài năng AI Singapore  Trong một xã hội được AI hỗ trợ, những công việc tốt nhất, có lương cao nhất sẽ thuộc về những người có kỹ năng công nghệ có thể phát triển và quản lý các hệ thống AI. Để nắm bắt lấy cơ hội này, Singapore đang tích cực triển khai các chương trình để xây dựng năng lực về AI trong các ngành có liên quan.  Một ví dụ là AI Singapore, một sáng kiến được Quỹ Nghiên cứu quốc gia (NRF) mở vào tháng 5/2017 để kết nối các viện nghiên cứu đặt tại Singapore và các công ty tư nhân để hai bên có thể thực hiện các nghiên cứu ứng dụng, phát triển các tri thức bản địa và tạo ra các công cụ để có thể tăng cường năng lực quốc gia về AI. Sáng kiến này được kéo dài trong 5 năm với tổng kinh phí đầu tư 150 triệu đô la Singapore, tương đương 111 triệu USD.  Giáo sư Ho Teck Hua, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Chủ tịch điều hành của Sáng kiến AI Singapore cho biết, mục tiêu của Singapore là “xây dựng một cơ sở bền vững về tài năng AI Singapore chất lượng cao” – yếu tố quan trọng để chính phủ nước này triển khai các chương trình quốc gia về ứng dụng AI vào đời sống kinh tế, xã hội.  Với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Thông tin – Truyền thông Singapore, AI Singapore đã mở một Chương trình 100 Thực nghiệm (100E) và Chương trình thực tập về AI (AI Apprenticeship Program). Trong vòng 9 tháng, những người tham gia khóa thực tập sẽ được các cố vấn của AI Singapore và các nhà nghiên cứu của chương trình 100E đào tạo thông qua việc nghiên cứu về các vấn đề của AI trong thế giới thực tại.  Các sáng kiến như vậy sẽ khuyến khích đưa ra nhiều ứng dụng AI mới để áp dụng vào quá trình quản lý và sản xuất ở Singapore, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội thành lập các công ty về AI. Khi đó, nó sẽ phát sinh ra nhiều loại công việc cho các nhà lập trình, kỹ sư cũng như hỗ trợ công việc của những chuyên gia đã có nhiều kỹ năng như tài chính, bán hàng, marketing, quản trị…  Bên cạnh AI Singapore, còn có một sáng kiến quan trọng khác mang tên Những kỹ năng trong tương lai (SkillsFuture SingaporeSSG) – một chương trình phát triển nhân lực do Bộ Giáo dục điều hành. Chương trình này cung cấp một loạt chương trình về học tập suốt đời và phát triển nhân lực cho người dân ở mọi lứa tuổi, bao gồm hướng dẫn nghề nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vị trí công việc và các lợi ích khác. Chính phủ còn mở chương trình Tín dụng cho các kỹ năng trong tương lai (SkillsFuture Credit) nhằm trợ cấp trực tiếp 500 đô la Singapore (373 USD) cho công dân Singapore trên 25 tuổi để họ có thể tham gia một trong những khóa học nâng cao kỹ năng của chính phủ (nghề chăm sóc sức khỏe có thể nhận trợ cấp cao hơn các nghề khác).  Trường đại học quốc gia Singapore (NUS) cũng hỗ trợ học tập suốt đời theo nhiều cách khác nhau, ví dụ Viện Ứng dụng KH&CN Giáo dục (ALSET) hợp tác với trường giáo dục thường xuyên để mở các khóa về khoa học cho những người lao động lớn tuổi nhằm cung cấp những hiểu biết cốt lõi để khi kết thúc khóa học, họ có thể định hướng nghề nghiệp một cách nhanh chóng trên thị trường việc làm.  Những công ty đa quốc gia có trụ sở hoặc văn phòng đại diên ở Singapore cũng đóng vai trò chính trong những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực, ví dụ LinkedIn đãký một biên bản ghi nhớ trong3 năm với trường Chính sách công Lee Kuan Yew của NUS, để cùng nghiên cứu về những điều còn thiếu hụt trong kỹ năng làm việc của nguồn nhân lực Singapore.  Với những tài năng công nghệ và sự thúc đẩy mạnh mẽ của chính phủ về AI, Singapore có nhiềunhân tố đảm bảo cuộc cách mạng AI ở đất nước này thành công.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuột con được sinh ra từ bố mẹ cùng giới tính      Một nghiên cứu xuất bản ngày 11/10/2018 trên tạp chí Cell Stem Cell của nhóm tác giả thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc không chỉ khám phá các nhân tố di truyền quy định việc sinh sản ở động vật có vú phải cần đến hai giới tính khác nhau mà còn tạo ra những con chuột con khỏe mạnh, một số đã trưởng thành và sinh sản, từ DNA của hai chuột cùng giới tính.      Một con chuột cái được sinh ra từ hai chuột mẹ đang chăm chút chuột con do nó sinh ra. Nguồn: Leyun Wang  Được miêu tả chi tiết trong công bố, phương pháp do nhóm nghiên cứu sử dụng đã giúp họ khám phá những nhân tố di truyền quan trọng cho sự phát triển bình thường của phôi thai. Nhưng các nhà khoa học vẫn còn hoài nghi về việc áp dụng kỹ thuật này ở người.  Một số loài động vật như một số loài chim, cá và thằn lằn có thể sinh sản đồng tính hoặc vô tính. Tuy nhiên, các động vật có vú khác lại cần quan hệ với đối tượng khác giới để sinh sản. Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân là do các dấu vết di truyền – các “thẻ hóa học” nhỏ gắn kèm với DNA có chức năng bật tắt gene. Họ đã tìm thấy gần 100 “thẻ” như vậy, trong đó nhiều “thẻ” được tìm thấy trong các gene có ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi thai. Nhiều gene được gắn “thẻ” trong giới tính này nhưng lại không được “gắn thẻ” trong giới tính kia. Nếu bố mẹ cùng giới tính sẽ dẫn đến việc hai gene cùng được “gắn thẻ” kết hợp với nhau trong phôi thai – khiến phôi thai chết.  Nhằm vượt qua rào cản này, nhà sinh vật học phát triển Qi Zhou, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tác giả nghiên cứu, đã cùng nhóm nghiên cứu của mình dùng các tế bào gốc phôi được lấy từ tinh trùng hoặc trứng ếch và nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Những tế bào này chỉ có một bộ nhiễm sắc thể và có những vùng di truyền có thể tạo ra những “thẻ hóa học” như phần lớn các tế bào khác.  Trong một quá trình “thử và sai” kết hợp với những kết quả nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đã loại bỏ được những vùng di truyền theo nhóm, tìm kiếm các vùng có thể loại bỏ mà không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của phôi thai. Họ đã kết hợp tế bào gốc của một con chuột cái với trứng của một con chuột cái khác để tạo ra các chuột con. Họ cũng lấy tế bào gốc và tinh trùng từ hai con chuột đực khác để tiêm vào một tế bào trứng không nhân, nhằm tạo ra một chuột con từ hai chuột bố  Sau khi loại bỏ ba vùng di truyền, các nhà khoa học đã tạo ra 29 con chuột con từ hai chuột cái, trong đó 7 con chuột con lại tiếp tục sinh sản. Nhóm nghiên cứu phải loại bỏ 7 vùng để tạo ra 12 chuột con từ hai chuột đực – nhưng chúng chỉ sống được 2 ngày do gặp các vấn đề về hô hấp và dư thừa chất lỏng trong các mô của cơ thể.  Những kết quả nghiên cứu này đã cho thấy một số vùng di truyền (thuộc những vùng quan trọng nhất) là nguyên nhân khiến động vật có vú chỉ có thể sinh sản từ hai cá thể khác giới và cũng khám phá ra “một cách mới mẻ và rõ ràng để sinh con giữa hai động vật có vú cùng giới”, Zhou cho biết.  Tuy nhiên, các nhà khoa học nghi ngờ về việc áp dụng kỹ thuật này ở người. Jacob Hanna, một nhà di truyền học phân tử ở Viện Khoa học Weizmann, Rehovot, Israel, nhận xét: “Dù không phải tất cả nhưng phần lớn phôi thai phát triển bất thường và không thể sống sót”. Tỷ lệ thành công chỉ đạt mức 14% trong trường hợp hai chuột cái và 2,5% đối với hai chuột đực. “Tôi cho rằng nghiên cứu này gần như không thể áp dụng trong lâm sàng”, Hanna cho biết.   “Tôi không nghĩ rằng nghiên cứu này sẽ khiến cho việc một người được sinh ra từ hai người bố hoặc mẹ trở thành điều phổ biến”, Spradling nói. “Chúng ta chưa hiểu hết về nó, và quá mạo hiểm để tiến xa hơn.”  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06999-6       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuột “vô hình” tiết lộ những bí mật về giải phẫu      Kỹ thuật khiến cơ thể những con vật thuộc loài gặm nhấm đã chết trở nên trong suốt, góp phần tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu phát hiện ra những chi tiết đáng ngạc nhiên về cách động vật đã phản ứng lại chấn thương như thế nào.      Hệ dây thần kinh của một con chuột có áp dụng kỹ thuật vDISCO để có màu xanh lá cây phát sáng. Nguồn: @erturklab  Một kỹ thuật mới khiến những con chuột chết trở nên trong suốt và cứng như nhựa đã đem đến cho các nhà nghiên cứu có được một cái nhìn chưa từng có trước đây về những kiểu tương tác khác nhau của tế bào trong cơ thể chúng như thế nào. Cách tiếp cận này cho phép các nhà khoa học điểm được những mô cụ thể bên trong một con vật trong khi đang quét toàn bộ cơ thể chúng.  Kỹ thuật này có tên gọi là vDISCO, đã giúp tiết lộ những kết nối về cấu trúc đáng ngạc nhiên bên trong các cơ quan nội tạng, bao gồm những gợi ý về tổn thương não ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và thần kinh trong từng phần của cơ thể. Điều này có thể đem lại những cách điều trị cho chấn thương sọ não hay đột quỵ.  Các phương pháp khiến cho toàn bộ cơ quan bên trong trở nên trong suốt đã trở nên phổ biến trong vài năm trở lại đây bởi chúng cho phép các nhà khoa học nghiên cứu các cấu trúc bên trong một cách cẩn thận mà không làm ảnh hưởng đến chúng. Nhưng việc đưa các cơ quan nội tạng từ cơ thể loài vậy để phân tích có thể khiến việc quan sát toàn bộ hiệu ứng về chấn thương hoặc bệnh tật trở nên khó khăn hơn. Và nếu các nhà khoa học dùng các phương pháp cũ hơn để khiến chuột trở nên trong suốt thì cũng khó để đảm bảo là các điểm đánh dấu tế bào bằng huỳnh quang có thể “phạm” sâu vào các phần khác của một cơ quan nội tạng.  Kỹ thuật vDISCO đã giúp họ vượt qua rất nhiều vấn đề như vậy. Bằng việc làm chuột chết cứng và có thể nhìn xuyên thấu, kỹ thuật này có thể bảo vệ toàn bộ cơ thể chúng trong nhiều năm, từ cấu trúc của từng tế bào, theo Ali Ertürk – một nhà khoa học thần kinh tại trường đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức và là người dẫn dắt nhóm nghiên cứu phát triển kỹ thuật vDISCO. Anh mới trình bày về kết quả này tại một hội thảo của Hội khoa học thần kinh (Society for Neuroscience) ở San Diego, California trong tháng 11/2018.  Sự rõ ràng   Quá trình này bắt đầu bằng việc ngâm cơ thể chuột vào trong chất dung môi hữu cơ để loại bỏ màu sắc và chất béo. Cách làm này bảo vệ cấu trúc của các tế bào chuột, ngay cả khi nó co lại đến 60%.  Để khám phá con chuột đã trở nên trong suốt này, nhóm nghiên cứu của Ertürk đã phát triển một cách để định vị trên các kiểu tế bào cụ thể như các tế bào thần kinh hay ung thư. Họ đã đưa chúng thành các “nanobody”: kháng thể đã được tìm thấy ở lạc đà và 1/10 tế bào kháng thể trong những loài cụ thể khác.  Tương tự như những người “họ hàng” lớn của mình, các “nanobody” có thể được thiết kế để đính vào các protein cụ thể được tìm thấy trong một kiểu tế bào – trong khi được đánh dấu huỳnh quang xanh lá là màu được chọn cho các tế bào. Và bởi vì các nanobody rất nhỏ, chúng có thể dễ dàng băng qua các thành mạch máu bé nhỏ để chui sâu và các cơ quan nội tạng.  Khi các nhà nghiên cứu bơm các nanobody vào trong các hệ tuần hoàn của chuột chết, vốn mang các phân tử đi khắp cơ thể, họ có thể thấy các tế bào đơn lẻ phát sáng màu xanh lá cây dưới kính hiển vi.  Kỹ thuật này là kỹ thuật đầu tiên được thiết kế để khiến cho toàn bộ cơ thể của các loài vật được trong suốt, Kwanghun Chung – một nhà kỹ thuật y khoa tại Viện công nghệ Massachusetts ở Cambridge, nói. “Tôi nghĩ đây là môt công nghệ tuyệt vời”.  Bước sâu hơn  Cho đến nay, các thí nghiệm với vDISCO đã đem đến một số khám phá đáng ngạc nhiên, theo Ruiyao Cai – một nhà khoa học thần kinh thuộc phòng thí nghiệm của Ertürk và là người đã trình bày dữ liệu về kỹ thuật tại hội thảo vừa qua, cho biết.  Một trong số các mạch máu bí ẩn đã chạy giữa xương sọ và não, vốn chỉ được khám khá vào năm 2015. Khi nhóm nghiên cứu của Cai dùng nanobodies để thắp sáng các mạch bạch huyết trong một con chuột được áp dụng kỹ thuật vDISCO, các mạch máu này trong đầu đã chuyển sang màu xanh lá cây – xác nhận nghi ngờ của các nhà khoa học về các cấu trúc này là một phần của hệ vận chuyển bạch huyết.  Cai và Ertürk đã dùng vDISCO để kiểm tra xem các tổn thương nghiêm trọng với não và tủy sống ảnh hưởng đến tế bào ở khắp mọi nơi trong cơ thể như thế nào. Các neu ron thần kinh bị dán nhãn cho thấy các dây thần kinh trong thân chuột bị suy thoái sau khi con vật phải chịu đựng chấn thương não, thậm chí các tế bào dây thần kinh này còn ở khá xa khu vực chấn thương. Trong trường hợp khác, các nhà khoa học đã điểm các tế bào miễn dịch đã chảy dồn về địa điểm của một chấn thương tủy sống nhiều ngày trước khi chuột chết – và thật đáng bất ngờ, vào quanh cơ và mạch bạch huyết.    Sự kết hợp của vDISCO và các nanobody là “kiểu tiến thẳng tới tương lai”, Hiroki Ueda – nhà sinh học tại trường đại học Tokyo, nhận xét. Kỹ thuật nanobody này có thể được kết hợp với nhiều cách khác để làm cho cơ thể chuột trong suốt, qua đó góp phần đem lại thêm cho các nhà khoa học khả năng nghiên cứu mới, giúp họ tập trung vào các tế bào hoặc protein cụ thể.  Những kế hoạch tiếp theo của Ertürk là sử dụng vDISCO để truy dấu các virus, tế bào ung thư và các “kẻ xâm lược” khác trong cơ thể. Nhóm nghiên cứu của anh đang thiết kế các cách tiếp cận bằng thuật toán học sâu (machine-learning) để có thể tính toán và đánh giá các tế bào bị dán nhãn mà không đưa ra lỗi thiên vị hoặc lỗi của con người.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07336-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chụp ảnh cộng hưởng từ MRI ở cấp độ nguyên tử      Các nhà nghiên cứu ở QuTech, một nhóm hợp tác của Đại học Công nghệ Delft và TNO, đã phát triển một công nghệ thụ cảm lượng tử từ mới có thể chụp ảnh các mẫu với độ phân giải ở cấp độ nguyên tử. Nó hứa hẹn mở ra cánh cửa đến việc chụp ảnh các đơn phân tử, giống như các protein và những hệ phức hợp khác.      Tim Taminiau (trái), Mohamed Abobeih và Joe Randall (phải) trong phòng thí nghiệm với mô hình 3D của các spin trong cấu trúc kim cương được chụp bằng phương pháo mới. Nguồn: Ernst de Groot for QuTech  Nhóm nghiên cứu đã thông báo kết quả nghiên cứu của họ trên Nature “Atomic-scale imaging of a 27-nuclear-spin cluster using a quantum sensor”.  Chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) đều là những phương pháp rất hữu hiệu và được sử dụng rộng rãi trong khoa học vật liệu, sinh học, hóa học và y học. Nhiều hạt nhân nguyên tử đều có một tính chất gọi là spin. Các hạt nhân nguyên tử hành xử giống như những từ trường nhỏ, vốn có thể được dò bằng việc sử dụng các ăng ten.  Các hình ảnh từ là phương pháp kiểm tra không xâm lấn, có thể phân biệt được các loại khác nhau của các nguyên tử và hoạt động trong những điều kiện đa dạng, bao gồm cả nhiệt độ phòng. Nhưng các phương pháp hiện nay bị giới hạn ở mức trung bình đến với số lượng của các nguyên tử, và khó có thể đạt được hình ảnh của các đơn phân tử hay những cấu trúc ở cấp độ nano. Các nhà nghiên cứu tại QuTech hiện đã có một bước tiến quan trọng vượt qua giới hạn đó.  Các cảm biến lượng tử  “Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên nền tảng trung tâm khuyết ni tơ (NV)”, tác giả thứ nhất Mohamed Abobeih nói. “Trung tâm khuyết ni tơ này xuất hiện một cách tự nhiên trong kim cương: hai nguyên tử carbon được thay thế bằng một nguyên tử ni tơ đơn. Trung tâm này bẫy một spin electron đơn có tể có chức năng như một cảm biến ở kích thước nguyên tử. Bằng việc điều kiển chính xác electron này, chúng ta có thể lựa chọn một cách chọn lọc từ trường rất nhỏ do các hạt nhân ỏ vùng lân cận tạo ra”.  “Tại QuTech, về cơ bản chúng tôi thường sử dụng các trung tâm trống ni tơnhư các bit lượng tử, các khối cơ bản cho máy tính lượng tử tương lai và internet lượng tử. Nhưng các đặc tính tương tự khiến các trung tâm trống ni tơ thành các bit lượng tử cũng khiến cho chúng trở thành các cảm biến lượng tử tốt”, Tim Taminiau, người dẫn dắt nghiên cứu, nói.  Hình ảnh 3D  Taminiau giải thích, nhóm nghiên cứu của ông trong nghiên cứu trước đó đã quan sát  được các spin hạt nhân được cô lập. “Các nghiên cứu trước cho thấy trung tâm trống ni tơ là đủ nhạy để giải quyết các tín hiệu rất nhỏ của các hạt nhân đơn lẻ. Nhưng với các ví dụ phức tạp về hình ảnh của các phân tử, chỉ dò bằng các spin của hạt nhân thì không đủ”, Taminiau nói. “Anh cần xác định một cách chính xác vị trí của mỗi spin trong cuộc chơi này, và đó là những gì chúng tôi đã thực hiện”.  “Chúng tôi phát triển một phương pháp để nắm bắt cấu trúc 3D của các hệ spin phức tạp”, Joe Randall – một đồng tác giả nghiên cứu, nói. “Mỗi spin hạt nhân đều cảm nhận được từ trường từ mọi spin của hạt nhân khác. Các tương tác này phụ thuộc vào những vị trí chính xác của các nguyên tử và do đó mã hóa được cấu trúc không gian. Ví dụ, hai nguyên tử gần nhau thường có xu hướng tương tác mạnh với nhau hơn. Chúng tôi phát triển các phương pháp này để đo đạc một cách chính xác các tương tác đó và chuyển chúng vào một hình ảnh 3D hoàn chỉnh với độ phân giải ở cấp độ nguyên tử”.  Độ phân giải ở cấp độ nguyên tử  Để kiểm chứng phương pháp của mình, các nhà nghiên cứu đã thử áp dụng nó trên một cụm gồm 27 nguyên tử  carbon-13 trong một kim cương siêu nguyên chất. Cụm các spin này cung cấp một hệ mẫu cho một nguyên tử. Sau khi đo đạc hơn 150 tương tác giữa các hạt nhân và chạy một thuật toán giải cấu trúc số rất mạnh, cấu trúc 3D đạt được với một độ chính xác về không gian nhỏ hơn nhiều kích thước của một nguyên tử.  Bước tiếp theo sẽ là do các mẫu bên ngoài kim cương bằng việc đưa các trung tâm trống ni tơ lại gần bề mặt. Mục tiêu cuối cùng là có khả năng chụp ảnh các đơn nguyên tử như các protein và các thiết bị lượng tử đơn lẻ với độ phân giải ở cấp độ nguyên tử.  Công bố trên Nature là hợp tác giữa QuTech và Element Six, nơi có nhiệm vụ nuôi các kim cương siêu tinh khiết để nghiên cứu.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-mri-atomic-scale.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chụp ảnh mặt trời trong khoảng cách gần nhất  từ trước tới nay      Bức ảnh này cho chúng ta thấy một bề mặt nhảy múa với “những đám lửa trại”.      Là bức ảnh được chụp với khoảng cách gần nhất với mặt trời từ trước đến nay, bức ảnh này cho thấy sự dâng trào của vầng hào quang với hàng trăm tia lửa mặt trời thu nhỏ, vốn được các nhà khoa học ví là “lửa trại”. Các bức ảnh mới được chụp này là những tấm đầu tiên từ nhiệm vụ Tàu vũ trụ Mặt trời (Solar Orbiter mission) kéo dài bảy năm do Cơ quan Vũ trụ châu Âu dẫn dắt và có sự tham gia của NASA. Tâm điểm của nhiệm vụ này là con tàu vũ trụ đi theo quỹ đạo mặt trời trị giá 500.000 triệu euro (tương đương 550 triệu USD) được phóng từ Cape Canaveral ở Florida, Mỹ vào ngày 10/2/2020.  “Khi những bức ảnh đầu tiên này được gửi về, ý nghĩa đầu tiên của tôi là điều này là không thể, nó không thể đẹp như thế,” David Berghmans, nhà nghiên cứu chính của bộ phụ phụ trách thiết bị Tạo hình ảnh tử ngoại cực trị của tàu vũ trụ, nói trong một thông cáo báo chí. “Nó còn đẹp hơn nhiều những gì chúng tôi dám mong đợi.”  “Trong cái nhìn đầu tiên thì mặt trời có thể trông hoàn toàn yên ả nhưng khi nhìn vào chi tiết, chúng tôi có thể thấy những tia lửa thu nhỏ ở khắp mọi nơi,” Berghmans, một nhà vật lý nghiên cứu về mặt trời tại Đài quan sát Hoàng gia Bỉ ở Brussels, cho biết trong một thông báo.  Những ngọn lửa này chỉ bằng một phần triệu hoặc phần tỉ kích thước của những tia lửa mặt trời có thể thấy được từ trái đất, vốn được cho là những phun trào năng lượng do các tương tác trong từ trường mặt trời. Nhóm nghiên cứu tập trung vào giải quyết vấn đề là liệu hai hiện tượng đó có bị ảnh hưởng từ cùng một quá trình hay không. Các nhà nghiên cứu suy luận hiện tượng kết hợp của nhiều “tia lửa trại” có thể đóng góp nhiệt của vầng hào quang, bầu khí quyển bên ngoài mặt trời. Vầng hào quang này nóng hàng trăm lần so với bề mặt mặt trời nhưng nguyên nhân của nó vẫn còn là bí ẩn.    Bức ảnh chụp từ Thí nghiệm Parker Solar. Nguồn: NASA  Các bức ảnh được chụp bằng thiết bị chụp tử ngoại vào ngày 30/5 và phát về ngày 16/7, từ khoảng cách 77 triệu km từ bề mặt mặt trời (trái đất cách mặt trời khoảng 150 triệu km). Một nhiệm vụ của NASA mang tên Thí nghiệm Parker Solar (sẽ kết thúc vào năm 2025) thậm chí còn bay gần hơn và sẽ đến gần mặt trời trong khoảng cách 6,2 triệu km trong suốt thời kỳ làm nhiệm vụ = bên trong vầng hào quang – nhưng môi trường này quá khắc nghiệt đến mức không thể mang bất kỳ cái camera nào chụp mặt trời. Từ trái đất, Kính viễn vọng mặt trời Daniel K. Inoye ở Hawaii đã chụp được những hình ảnh mặt trời có độ phân giải cao hơn cả con tàu vũ trụ này, nhưng không hoàn toàn ‘bắt’ được ánh sáng của ngôi sao đặc biệt này bởi vì bầu khí quyển trái đất đã lọc đo các bước sóng tử ngoại và tia X.  Các nhà khoa học rất phấn khích về tiềm năng của tàu vũ trụ mặt trời Solar Orbiter, một hợp tác quốc tế đã được thiết lập vào tháng hai và mang lại 10 thiết bị để chụp ảnh mặt trời và nghiên cứu điều kiện môi trường của nó. Con tàu vũ trụ này cuối cùng sẽ chuyển quỹ đạo của mình để lần đầu tiên nghiên cứu về những vùng cực mặt trời. “Chúng tôi chưa bao giờ gần với mặt trời như thế với một chiếc camera, và điều này mới chỉ là điểm xuất phát của một hành trình dài mang tính sử thi với Solar Orbiter trong vòng hai năm,” Daniel Müller, nhà khoa học phụ trách nhiệm vụ này cho biết trong thông cáo.  Tô Vân dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02136-4       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chụp nhanh phép đo lượng tử      Phép đo “lý tưởng” đầu tiên trong lịch sử cơ học lượng tử này không chỉ cho thấy khả năng thực hiện một loạt phép đo liên tiếp bảo tồn kết hợp lượng tử mà còn cho thấy đây là một quá trình liên tục làm các trạng thái chồng chập lượng tử chuyển dần dần theo thời gian thành các trạng thái cổ điển.      Hệ lý tưởng: Một ion strontium bị bẫy (trapped) trong điện trường. Phép đo ion này chỉ kéo dài trong một phần triệu giây.  Cơ học lượng tử là một trong những lý thuyết nền tảng của vật lý học hiện đại, là phần mở rộng và bổ sung của cơ học cổ điển (tức cơ học Newton), là cơ sở của nhiều chuyên ngành vật lý và hóa học như vật lý chất rắn, hóa lượng tử, vật lý hạt sơ cấp, v.v.. Cơ học lượng tử cho phép mô tả chính xác nhiều hiện tượng vật lý xảy ra trong thế giới vi mô mà cơ học cổ điển không thể. Cho tới nay, các tiên đoán của cơ học lượng tử luôn được thực nghiệm kiểm chứng là đúng với độ chính xác rất cao. Một trong những khác biệt rõ rệt nhất giữa cơ học lượng tử và cơ học cổ điển là phép đo (measurement). Thế nào là một phép đo trong cơ học lượng tử, gọi tắt là phép đo lượng tử (quantum measurement)? Nội hàm của nó là gì? Trạng thái lượng tử sẽ thay đổi thế nào khi bị đo? Phép đo lượng tử xảy ra một cách tức thời hay nó là một quá trình liên tục chuyển một trạng thái lượng tử thành một trạng thái cổ điển một cách từ từ theo thời gian? Đó là những câu hỏi trung tâm trong sự phát triển của cơ học lượng tử nói chung và phép đo lượng tử nói riêng.   Bất cứ ai đã học cơ học lượng tử đều biết rằng phép đo lượng tử trên một hệ lượng tử sẽ “đẩy” hệ lượng tử vào một trạng thái cổ điển xác định, tức là làm hệ lượng tử sụp đổ (collapse), đồng nghĩa với việc làm mất toàn bộ thông tin của hệ lượng tử trước khi đo. Nhưng một nghiên cứu mới đây cho thấy một số phép đo không làm mất tất cả thông tin của hệ lượng tử trong quá trình đo. Nghiên cứu này còn tiết lộ, các phép đo lượng tử không phải là tức thời mà là một quá trình liên tục làm các trạng thái lượng tử (là các trạng thái chồng chập – superposed states) chuyển dần dần theo thời gian thành các trạng thái cổ điển.  Ý tưởng cho rằng toàn bộ sự chồng chập trạng thái bị phá hủy tức thời khi thực hiện một phép đo là một giả thuyết cơ bản của cơ học lượng tử đã được công thức hóa bởi John von Neumann và những người khác trong những năm 1930. Tuy nhiên, hai thập kỷ sau, Gerhart Lüders lại đưa ra giả thuyết cho rằng một số phép đo “lý tưởng” (“ideal” measurements) sẽ chỉ làm sụp đổ sự chồng chập của các trạng thái cụ thể đang được thăm dò, còn các trạng thái khác thì vẫn nguyên vẹn, không hề bị ảnh hưởng. Nếu thế thì, theo lập luận của Lüders, một loạt các phép đo liên tiếp như vậy sẽ bảo tồn được sự kết hợp lượng tử (quantum coherence).  Trong một công trình gần đây nhất, Markus Hennrich và các đồng nghiệp tại Đại học Stockholm, Thụy Điển, cùng với các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học Siegen ở Đức và Seville ở Tây Ban Nha, đã thực hiện một phép đo lý tưởng như vậy trên một ion strontium. Như công bố trong bài báo của Fabian Pokorny và các cộng sự dưới nhan đề: “Theo dõi động lực của phép đo lượng tử lý tưởng” (“Tracking the Dynamics of an Ideal Quantum Measurement”), đã đăng trên tạp chí Physical Review Letters 124, 080401 (2020), các nhà nghiên cứu bắt đầu bằng cách sử dụng một tia laser để đặt ion strontium vào trạng thái chồng chập của hai trong số ba trạng thái khả dĩ của nó, mỗi trạng thái ứng với một mức năng lượng khác nhau của điện tử thuộc lớp ngoài cùng của ion. Sau đó, họ đã dùng một xung ngắn từ một tia laser khác để chỉ kích thích ion từ một trong ba trạng thái, làm cho nó phát huỳnh quang – một phép đo lý tưởng theo tiêu chí của Lüders.  Phát hiện gián tiếp  Trong phép đo như thế, một photon đơn lẻ được phát ra theo một hướng ngẫu nhiên, rất khó để có thể phát hiện được một cách trực tiếp. Thay cho việc phát hiện trực tiếp photon, Hennrich và các đồng nghiệp đã thực hiện một quy trình gọi là quy trình chụp cắt lớp (tomography). Quy trình này sử dụng nhiều xung laser và, đối với mỗi tổ hợp khả dĩ của các trạng thái chồng chập, sẽ cho thấy sự chồng chập đã bị phá hủy hay vẫn bảo tồn.  Lặp đi lặp lại quá trình đo như thế nhiều lần, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự kích thích và phát xạ đã phá hủy tất cả các chồng chập liên quan đến trạng thái được thăm dò. Còn các chồng chất khác thì vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Theo Hennrich, điều này có nghĩa là ông và các đồng nghiệp của mình thực sự đã thực hiện một phép đo lý tưởng. Hơn nữa, việc họ không cần phải phát hiện trực tiếp các photon phát ra cho thấy quá trình đo không phụ thuộc vào sự hiện diện của người quan sát. “Nó đã xảy ra như là hệ quả của việc một photon huỳnh quang được phát ra môi trường xung quanh”, Hennrich nói.  Phép đo yếu (Weak measurement)  Sau đó, nhóm của Hennrich nghiên cứu động lực học của quá trình đo bằng cách thay đổi công suất của laser được sử dụng để kích thích ion. Ý tưởng là giảm công suất của laser sao cho ion không còn được đảm bảo là luôn phát huỳnh quang ngay lập tức mà, thay vào đó, nó chỉ phát huỳnh quang trong một khoảng nhỏ của thời gian. Do huỳnh quang ít có khả năng xảy ra hơn khi công suất của laser hạ thấp hơn, Hennrich giải thích rằng các phép đo yếu như này, hay còn được gọi là các phép đo không hoàn hảo (imperfect measurements), sẽ tương đương với các giai đoạn giữa chừng của quá trình đo – nói cách khác, là các “ảnh chụp nhanh” (“snapshots”) của quá trình đo.  Bằng cách thực hiện chụp cắt lớp với các giá trị công suất khác nhau của laser kích thích, Hennrich và đồng nghiệp đã chỉ ra rằng quá trình đo khiến cho sự chồng chập trạng thái sụp đổ một cách từ từ (mặc dù toàn bộ quá trình chỉ diễn ra trong khoảng một phần triệu giây). Họ phát hiện ra rằng mức độ chồng chập giữa các trạng thái khác nhau của ion phù hợp 94% thời gian so với những dự báo lý thuyết của mô hình Lüders.  Việc chứng minh rằng Lüders đã đúng về các phép đo lý tưởng không có gì đáng ngạc nhiên đối với các nhà vật lý khác, Hennrich nói. Thật vậy, ông chỉ ra rằng vào năm 2016, Arkady Fedorov và các đồng nghiệp tại Đại học Queensland, Úc đã cho thấy rằng các phép đo lý tưởng có thể được thực hiện trên một bit lượng tử (quantum bit hay qubit) siêu dẫn với ba mức năng lượng được đặt trong một hốc vi sóng (microwave cavity). Nhưng, ông nói thêm, hệ lượng tử đó có phần hơi nhân tạo. “Những gì mà chúng tôi đã làm cho thấy là bạn có thể thực hiện một quá trình Lüders thông qua một phép đo tự nhiên (a natural measurement)”, Hennrich nhấn mạnh với physicsworld.  Fedorov ca ngợi các nhà nghiên cứu châu Âu đã có “một sự triển khai vật lý tuyệt vời” đối với một phép đo lượng tử. Fedorov cũng thừa nhận rằng, khác với nhóm của ông, các nhà nghiên cứu châu Âu đã nghiên cứu cả hai phiên bản: phiên bản phép đo mạnh (strong measurement) và phiên bản phép đo yếu (weak measurement). Tuy nhiên, theo Fedorov, sự khác biệt giữa các quy trình tự nhiên và nhân tạo không quá quan trọng. Fedorov nghĩ rằng, trong mọi trường hợp khi cần phải “thiết kế một chế độ thí nghiệm cụ thể” thì việc sử dụng một hệ đo nhân tạo có những đòi hỏi khắt khe hơn. Sự lựa chọn giữa quy trình tự nhiên hay quy trình nhân tạo, theo ông, chỉ là “vấn đề của khẩu vị” (“a matter of taste”).  Sửa lỗi lượng tử  Hennrich nói rằng, như một ứng dụng khả dĩ, công trình mới nhất của họ có thể được sử dụng để cải thiện việc sửa lỗi trong các máy tính lượng tử, gọi là sửa lỗi lượng tử (quantum error corection), vì các phép đo yếu về nguyên tắc cho phép phát hiện lỗi trong các trạng thái lượng tử mà không phá hủy các trạng thái đó trong quá trình tính toán lượng tử.  Các nhà nghiên cứu cũng muốn triển khai xem xét khả năng thực hiện các phép đo lý tưởng phức tạp hơn, trong đó quá trình đo không chỉ ảnh hưởng đến một trạng thái lượng tử mà còn ảnh hưởng đến nhiều trạng thái lượng tử cùng một lúc. “Liệu các quá trình đo như vậy có tồn tại như các quá trình tự nhiên hay không và, nếu tồn tại, thì liệu có thể thực hiện chúng với độ trung thực tương đương với độ trung thực như trong thí nghiệm của chúng tôi hay không, còn là một câu hỏi mở”, Hennrich và các đồng tác giả viết trong bài báo của mình.□  Tham khảo: https://physicsworld.com/a/physicists-take-snapshots-of-quantum-measurement/    Author                Nguyễn Bá Ân        
0.34782608695652173
__label__tiasang   Nguyễn Duy Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển các phân tử thành âm nhạc?      Việc chuyển đổi các chuỗi trình tự DNA và các dao động hạt thành các nốt nhạc cho phép các nhà nghiên cứu có thể ghi nhận những mẫu hình được giấu kín và tạo ra những tác phẩm âm nhạc vượt xa hơn giới hạn thông thường mà người ta có thể hình dung.    Nhiều nhà khoa học đã thử chuyển đổi các protein của cây thành một chuỗi nốt nhạc. Nguồn: popularmechanics.com  Mark Temple, một nhà sinh học phân tử ngành y ở trường đại học Western Sydney ở Australia, dành rất nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu về những loại thuốc mới trong điều trị ung thư. Ông thường tách chiết DNA từ các tế bào, đặt chúng vào các ống nghiệm nhỏ và sau đó đưa vào một loại thuốc để xem dãy trình tự hóa học liên kết với nhau ở nơi nào. Trước khi làm ra một loại thuốc, ông thường nhìn vào các liên kết DNA trên một màn hình để xem xem liệu cái gì có thể vận hành ở trạng thái tốt nhất. Tuy nhiên trên thực tế thì thật khó để phát hiện ra điều này trên màn hình hiển thị tràn ngập những trình tự DNA.  Vì vậy, Temple tự hỏi là liệu có cách nào dò các mẫu hình mình cần dễ dàng hơn không. “Tôi nhận ra là mình muốn nghe thấy ‘âm thanh’ của dãy trình tự”. Với sự tò mò của một nghệ sĩ, Temple nói. “Anh biết đấy, trong trường hợp này, sự kết hợp giữa một dạng âm thanh với một dạng hiển thị hình ảnh sẽ có hiệu quả lớn hơn tất thảy”.  Ông bắt đầu theo đuổi việc tạo thành một hệ thống các nốt nhạc từ những thành phần khác biệt của DNA – DNA của người được hợp thành từ bốn cặp base chứa nitơ, vì vậy cũng không khó chuyển thành bốn nốt nhạc – và tạo ra một giai điệu nhỏ của các vật liệu có trong ống nghiệm của mình. Thậm chí thủ thuật này còn giúp anh nhận biết rõ hơn các mẫu hình trong dãy trình tự và có được những lựa chọn tốt hơn cho những kết hợp DNA mình cần.  Temple không phải là người đầu tiên đưa dữ liệu khoa học thành âm thanh. Trong bốn thập kỷ qua, các nhà khoa học đã thử áp dụng cách tiếp cận này để tìm ra cái mới. Một số nhà khoa học còn tưởng tượng ra một tương lai có thể áp dụng kỹ thuật di truyền ngược để chuyển những dạng vật chất đó trở thành một số dạng vật liệu mới.    Các nốt nhạc được “phiên” từ DNA có thể du dương và phù hợp với tai người nhưng lại không mấy giống với một bài hát có thể nghe qua radio. Vì vậy khi cố gắng ‘âm nhạc hóa’ RNA của coronavirus, Temple đã đưa thêm vào các lớp âm thanh của trống và đàn guitar, rồi bổ sung cả âm nhạc của một số nghệ sĩ bạn bè để cuối cùng có một ca khúc sôi động kiểu nhạc rock.    Những thực nghiệm đầu tiên về việc đưa dữ liệu sinh học thành âm thanh đã được các nhà khoa học thử nghiệm từ những năm 1980. Tại Mỹ, David Deamer, một nhà nghiên cứu về kỹ thuật y sinh tại trường Đại học California, Santa Cruz và cũng là một nghệ sĩ piano, cho biết ông đã trao đổi với một nhà nghiên cứu bạn bè khi lần đầu tiên nhận ra ba trong số bốn cặp base của DNA tương ứng với những chữ cái, qua đó cũng tương ứng với các nốt nhạc. Bởi một DNA gồm bốn cặp base chứa nitơ cytosine (C), guanine (G), adenine (A) và thymine (T) và ba cặp base mà Deamer nhắc đến là A tương đương nốt La, G tương đương nốt Sol và C tương đương nốt Đô. Do đó, Deamer quyết định ấn định nốt Mi (E) cho cặp base T và bắt đầu chơi các nốt đó trên đàn piano, chỉ với mong muốn có thể nhận ra được một số sự kết hợp đó cũng thể hiện dưới dạng hợp âm âm nhạc. Sau đó, anh tập hợp một số đồng nghiệp và sáng tác các giai điệu từ những nốt đó, thu lại trong một bản ghi cassette mang tên Tổ khúc DNA. Trong vòng 30 phút, âm nhạc được tạo thành từ những gene insulin của người và một số dãy trình tự DNA của vi khuẩn. Vào ngày 3/8/1982, Deamer xuất hiện trên chương trình Walter Cronkite’s Universe của đài CBS và chơi các bản nhạc DNA của mình trên đàn piano.  Cũng vào thời gian đó, ở Pháp, nhà vật lý kiêm nhà soạn nhạc Joël Sternheimer cũng làm điều tương tự. Trên cơ sở vật lý, ông đã phát triển một bộ khung có thể chuyển những tần số rung liên kết với từng acid amino trong số 20 acid amino mình chọn và đưa chúng vào các nốt trong một bản nhạc.  Kể từ đó, các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau đã “âm thanh hóa” các virus, hormon, protein, mạng nhện và thậm chí là lửa, sử dụng rất nhiều kỹ thuật khác nhau trong phạm vi mà Deamer và Sternheimer đã sử dụng. Một số chuyên gia còn đi xa hơn là đưa kết quả thu nhận được thành những sản phẩm thương mại ví dụ nhạc sĩ Stuart Mitchell còn lập được một startup mang tên Your DNA Song (Bài hát DNA của bạn), trong đó công nghệ lõi của công ty là một phương pháp kết hợp để chuyển thông tin di truyền của mỗi người thành giai điệu mang dấu ấn cá nhân của mình.  Mark Temple, nhà sinh học phân tử ĐH Western Sydney tạo ra bài hát từ DNA. Nguồn: cityrecitalhall.com  Ngay từ thí nghiệm đầu tiên, Temple đã tạo ra một phần mềm thuật toán mới để chuyển đổi dữ liệu thành âm thanh. Ông tin là âm nhạc có được có thể hữu dụng để cải thiện hơn nữa đối với nghiên cứu và truyền đạt kết quả khoa học với cộng đồng. “Thông thường chúng tôi có hàng ngàn điểm dữ liệu từ thực nghiệm và thật khó để tìm kiếm gì đó trong đó. Nhưng nếu có thể khơi dòng cho những dữ liệu đó thành âm thanh thì người ta có thể lắng nghe và phát hiện những điểm biệt lệ và những thay đổi có trong dữ liệu”, Temple nói. Ông đề cập đến nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc sử dụng các tín hiệu điện tâm đồ dưới dạng âm thanh để chẩn đoán các loại bệnh tim: huấn luyện để các bác sĩ tim mạch có thể điểm ra những dị thường xuất hiện ở tim với độ chính xác 78% chỉ sau một khóa huấn luyện bằng kỹ thuật âm thanh truyền tải thông tin/nhận thức dữ liệu.  Phương pháp của Temple bao gồm việc phân định mỗi cặp base DNA của từng người – bốn đơn vị cơ bản trong DNA người – thành mỗi nốt nhạc. Sau đó, ông tiến hành sắp xếp các cặp base đó vào một hệ thống với một loạt những chùm tín hiệu để cuối cùng có thể được “phiên” thành các hợp âm. Nếu được chơi theo chuỗi liên tục, các hợp âm này có thể tạo ra âm thanh, ông nói, trong một tiến trình rất gần với phương pháp của Deamer. “DNA trong tế bào được các protein ‘đọc’ trong khi chúng di chuyển dọc theo chuỗi DNA theo một hướng, từ đầu đến cuối”, Temple giải thích một cách thú vị. “Chuyện này giống như một người đọc băng cassette một lèo từ đầu đến cuối”.  Trong suốt đại dịch, Temple quyết định phối âm, bồi đắp thêm các lớp âm thanh để tạo ra những thông điệp có ý nghĩa và đưa vào khúc nhạc này. Trong quá trình này, ông hiểu rõ được sự khác biệt thực sự giữa “việc dùng âm thanh không lời để truyền tải thông tin hoặc nhận thức dữ liệu” (sonification) với “sự thể hiện dữ liệu bằng âm thanh, bao gồm việc sử dụng các yếu tố về âm sắc và các thang âm điệu thức để tạo ra các âm điệu” (musification). Hóa ra, việc dùng âm thanh để thể hiện dữ liệu khác biệt với việc sử dụng các chất liệu âm nhạc để sáng tạo nên bài hát.    “Có một số dạng ứng dụng khoa học không chỉ dễ thực hiện mà còn dễ lan tỏa rộng khắp trong cộng đồng. Càng cố gắng lan tỏa các ý tưởng khoa học trong công chúng thì càng thu hút được nhiều người quan tâm đến khoa học hơn” (nhà sinh học phân tử Mark Temple).    Temple thấy tác phẩm dạng này là một công cụ truyền thông hiệu quả có thể giúp một lớp khán giả phổ thông hiểu được các hệ phức hợp trong khoa học. Ông cũng biểu diễn chính bài hát này trong một buổi hòa nhạc ở Australia. “Có một số dạng ứng dụng khoa học không chỉ dễ thực hiện được mà còn dễ lan tỏa rộng khắp trong cộng đồng”, ông nói. “Càng cố gắng lan tỏa các ý tưởng khoa học trong công chúng thì càng thu hút được nhiều người quan tâm đến khoa học”.  Temple không phải là người duy nhất nghĩ đến điều đó.  Một nhóm các nhà khoa học tại ĐH Illinois at Urbana-Champaign mới xuất bản công trình nghiên cứu trên tạp chí Journal of Chemical Education nhằm giải quyết từng bước cách dùng âm thanh truyền tải thông tin có thể phù hợp với việc giảng dạy trong một lớp học. Các nhà khoa học cung cấp nội dung bài giảng, bài tập về nhà, các âm thanh, hình ảnh video trực quan để có thể giải thích cho học sinh quá trình phát triển và vận động của các protein.  Tương tự, Linda Long, nhà hóa sinh ở ĐH Exeter Anh, trong 12 năm điều hành một trung tâm khoa học ở Bristol đã sử dụng âm thanh của các nhạc cụ để thể hiện các protein trong cơ thể con người. “Tiềm năng dùng âm nhạc để đưa ra một cách đơn giản và lôi cuốn con người kết nối với khoa học, hiểu được tự nhiên và những khối cơ bản cấu tạo nên sự sống, hình thành cơ thể con người thật hết sức thú vị”, bà nói.  Bà ấn định âm thanh cho protein, phân tử có chức năng sao chép DNA – theo hình dạng của chúng. Bà sử dụng kỹ thuật tinh thể học tia X: tinh thể hóa một protein, sau đó chụp nó bằng tia X để xem cấu trúc chi tiết của nó. Quá trình này tạo ra chuỗi số thể hiện cấu trúc ba chiều của phân tử protein, sau đó đưa các con số vào một chương trình máy tính, bà chuyển nó thành một chuỗi nốt nhạc. Nhờ đó có thể “nghe” được hình dạng của các protein, Long giải thích. Ví dụ, các đường xoắn ốc của protein có thể được nghe như những hợp âm rải (arpeggio).  Bà đã chuyển đổi thành công các protein thực vật thành một album âm nhạc Music of the Plants (Âm nhạc của cây) và các hormone người vào một album khác Music of the Body (Âm nhạc của cơ thể). “Tôi rất quan tâm đến việc sử dụng âm nhạc từ các phân tử để có thể khám phá ra những lợi ích chữa lành của nó”, bà nói như vậy bởi nghĩ rằng những bài hát có thể gắn kết với thế giới tinh thần của người nghe, qua đó khơi dậy sự tối ưu trong trí não để có thể tự chữa lành trước bệnh tật. Ví dụ, bà đang nghiên cứu một loạt các tác phẩm âm nhạc từ những phân tử được thiết kế để sử dụng trong thôi miên những bệnh nhân béo phì cũng như tạo ra những tác phẩm âm nhạc từ những kháng thể trung hòa coronavirus. “Mục tiêu của tôi là dùng âm nhạc để giúp mọi người tăng cường hệ miễn dịch, giảm thiểu được nỗi sợ hãi và căng thẳng mà họ phải trải nghiệm trong đại dịch”, Long nói.  Carla Scaletti, một nhà kỹ thuật âm thanh và thành viên của nhóm nghiên cứu ở ĐH Illinois Urbana-Champaign, lưu ý là không thể xác định khả năng trị liệu của phương pháp này ngay. Âm thành và âm nhạc có thể tác động rất sâu sắc đến con người và nhiều người có thể chọn được âm thanh mình cần như giữ cân bằng, lao vào trận đánh hay rơi vào giấc ngủ nhưng có thể đem lại các đặc tính kháng virus từ việc nghe chuỗi âm thanh “phiên” từ một cấu trúc protein ba chiều là một chuyện hoàn toàn khác.  Markus Buehler, một nhà khoa học vật liệu tại Viện Công nghệ Massachusetts và cũng là một nhạc sĩ, lại tin rằng sự giao thoa giữa các phân tử và âm nhạc còn có thể đem lại lợi ích hơn cả liệu pháp âm nhạc, ví dụ có thể sử dụng âm nhạc cho những điều trị mới. Phòng thí nghiệm của ông ở MIT đang nghiên cứu về âm thanh hóa các phân tử bằng việc nắm bắt các dao động của nó. Khi các nguyên tử dao động một cách đều đặn, ông “ghi âm” lại những đặc tính của nó, sau đó qua một chương trình máy tính, đưa chúng thành những âm thanh vừa vặn với tai người.  Năm ngoái, nhóm ông đã đưa một mạng nhện thành một giai điệu rin rít nghe khá kỳ quái và đưa dao động của lửa thành tiếng cồng chiêng xa xăm vọng lại. Buehler cho rằng mọi dao động đều có thể diễn tả bằng tiếng nhạc cụ. “Tất nhiên chúng ta cần kỹ thuật để khai thác được thông tin bởi chúng ta không thể đưa một cái cây hay ngọn lửa thành âm nhạc theo nghĩa đen”, ông nói. “Anh phải dùng công nghệ và lý thuyết toán học để làm điều đó”.  Buehler cũng từng làm việc theo cách ngược lại để tạo ra những protein chưa từng có trong tự nhiên, ví dụ chuyển đổi biến tấu Goldberg của Bach thành các protein. Theo quan điểm của ông, ông có thể chuyển protein thành âm nhạc và sau đó, dùng âm nhạc để nâng cấp protein thành một biến thể tốt hơn so với chính nó. Trên một đẳng cấp tiến hóa mới, ông tự hỏi hệ thống ông tạo ra có thể biến đổi một protein thành một dạng thịt mới? hay tổng hợp ra một loại thuốc mới? Hiện tại Buehler đang tìm kiếm một protein có thể giúp kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm.  Buehler tin là kể từ khi sự sáng tạo dẫn đến sự ra đời của nhiều thể loại âm nhạc khác nhau theo thời gian – từ nhạc cổ điển đến techno – thì với hiểu biết khoa học, sự sáng tạo cũng có thể chuyển đổi trải nghiệm thú vị kiểu như thế này thành những vật thể hữu hình. Và tại sao lại không thể nghĩ là những giai điệu phức tạp lại không ẩn chứa những công thức bí mật để tạo ra những vật liệu mới.  “Trên thực tế thì âm nhạc có nhiều đề xuất cho cộng đồng khoa học. Chúng tôi không thể biết hết tất cả mọi thứ trong dữ liệu được”, Buehler nói. □  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/why-scientists-are-turning-molecules-into-music-180980022/    Author                .        
__label__tiasang Chuyện của những người đi khai hoang      Khởi nghiệp Đà Nẵng hiện nay phần nào tương đồng với giai đoạn lịch sử trước kia của thành phố. Khởi nghiệp nơi đây đầy tiềm năng, nhưng chỉ mới đang ở giai đoạn đầu, còn rất sơ khai và cần thật nhiều những người đi “khai hoang”, “mở lối”.      Tỷ phú Jeff Hoffman – doanh nhân và nhà đầu tư khởi nghiệp nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực du lịch (bìa trái) đến trò chuyện cùng cộng đồng nhà đầu tư Đà Nẵng. Ảnh: Trần Nguyên.  Câu chuyện khai hoang  Khi đồng loạt các nguyên thủ quốc gia của 21 nền kinh tế APEC đến Đà Nẵng dự Diễn đàn Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương hồi tháng 11/2017, nhiều người tin rằng, Đà Nẵng sẽ “lên hương” rất nhanh. Thành phố Đà Nẵng ngày nay là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, du lịch và nghỉ dưỡng, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của toàn khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước. Vị thế chiến lược quan trọng thuộc hàng bậc nhất này của thành phố không chỉ bây giờ mới được công nhận mà nó đã được xác lập từ rất lâu, vài trăm năm về trước từ thời Nguyễn, rồi đến người Pháp và người Mỹ khi thay phiên tiếp quản vùng đất này.  Tất nhiên, không phải tự nhiên mà Đà Nẵng được như vậy, mà đó là kết quả của cả một hành trình dài mở mang bờ cõi, là hội tụ của rất nhiều câu chuyện khai hoang, lập nghiệp và giao thương. Nếu không có những cư dân đầu tiên, những con người đi khai hoang đã đến và bước đầu định hình nên vùng đất Đà Nẵng, thì sẽ không có những chuyến tàu buôn người Hoa, Pháp, Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha cập bến nơi đây.  Ngược dòng lịch sử như vậy để thấy rằng khởi nghiệp Đà Nẵng hiện nay phần nào tương đồng với giai đoạn lịch sử trước kia của thành phố. Khởi nghiệp nơi đây đầy tiềm năng, nhưng chỉ mới đang ở giai đoạn đầu, còn rất sơ khai và cần thật nhiều những người đi “khai hoang”, “mở lối”. Bên cạnh những doanh nhân chấp nhận rủi ro khởi sự kinh doanh, những nhà đầu tư dám mạo hiểm đầu tư cho khởi nghiệp chính là những người đi “khai hoang” cần thiết nhất. Thế nhưng đầu tư và kêu gọi đầu tư cho khởi nghiệp đang là câu chuyện nan giải không chỉ ở Đà Nẵng mà của cả nước khi hành lang pháp lý chưa hoàn thiện cho việc hình thành các quỹ hỗ trợ/đầu tư khởi nghiệp và khi chưa có nhiều chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư khởi nghiệp.  Ở Đà Nẵng, mức độ khó khăn còn cao hơn với đặc trưng của văn hóa miền Trung rất ngại mạo hiểm và thích “ăn chắc mặc bền” hơn hai đầu còn lại của đất nước. Trong khi đó, những nhà đầu tư bên ngoài lại vẫn “chần chừ”, họ còn xem xét, còn đợi cho chất lượng, cho năng lực của các doanh nhân và công ty khởi nghiệp ở đây lên thêm vài bậc nữa, hay đơn giản là chờ xem có kẻ đi trước nào không. Vấn đề “gà hay trứng” lại được đặt ra: (i) Vì không có các công ty, doanh nghiệp khởi nghiệp thật sự chất lượng và tiềm năng nên không thu hút được đầu tư; (ii) ngược lại vì không có nhiều đầu tư nên tầm của doanh nghiệp khởi nghiệp không nâng lên được.  Công ty cá chuồn  Cần phá bỏ cái vòng lặp đấy. Có một công ty ra đời, tên là Flying Fish Investment (FFI), tự nhận trách nhiệm làm người “khai hoang” ở mảnh đất “hỗ trợ và đầu tư cho khởi nghiệp” tại Đà Nẵng, với hi vọng/khát vọng sẽ kích thích và thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp cùng tham gia khai phá hệ sinh thái và đưa cộng đồng khởi nghiệp Đà Nẵng tiếp cận tiêu chuẩn kinh doanh toàn cầu.  Cá chuồn – tiếng Anh là Flying Fish – dịch nguyên nghĩa là cá bay. Đây là loài cá mà chỉ có ở vùng biển miền Trung Việt Nam (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận) mới có, vừa có thể bơi, vừa có thể bay (loài cá duy nhất biết bay), và luôn luôn tuyệt đối đi thành đàn. Sự linh hoạt trong ứng biến, sự tích tụ năng lượng và đoàn kết ra khơi chính là tinh thần mà cá chuồn truyền cảm hứng cho những người quyết định dấn thân vào hành trình hỗ trợ và đầu tư khởi nghiệp.  Đầu tư cho khởi nghiệp luôn luôn là hành trình đầy mạo hiểm và rủi ro, vì thế FFI luôn tìm kiếm và hướng đến triết lý của Cá Chuồn: Cùng nhau tiến lên, rẽ sóng và chinh phục đại dương ngoài kia. Tin vào triết lý này, FFI cam kết sẽ chào đón các thành viên cá chuồn tương lai và thực tế thì chúng tôi cũng đã nhận được những lời đề nghị từ những nhà đầu tư tiềm năng, trong đó có cả nhà đầu tư nước ngoài.  Nhận trách nhiệm tiên phong “khai hoang”, FFI không muốn hạn chế danh mục đầu tư của mình (ví dụ: chỉ đầu tư vào startups như các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp vẫn làm), mà thay vào đó FFI cho rằng nếu hỗ trợ được càng nhiều mảng của khởi nghiệp thì càng tốt. Đối với FFI, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp bình thường mà một số nguồn còn gọi là khởi nghiệp mưu sinh, khởi nghiệp dưới đất cũng đều là khởi nghiệp, đều xuất phát từ những ý muốn tốt đẹp của những con người, đặc biệt là những cô gái, chàng trai trẻ tuổi dám đánh cược với rủi ro để mang đến những giá trị cho xã hội và cộng đồng. Tất cả đều xứng đáng được hỗ trợ, được đầu tư để viết tiếp giấc mơ của bản thân, thay vì được thuê để thực hiện giấc mơ của người khác.  Tuy mới ra đời được vài tháng, FFI đã tích cực đi những bước đi đầu tiên của mình bằng việc đầu tư vào một danh sách các công ty khởi nghiệp và các công ty vừa và nhỏ rất phong phú về lĩnh vực và mô hình kinh doanh.  Trong danh sách đó có các công ty công nghệ mang tính xu hướng như một công ty tạo ra các hệ thống giao tiếp thông minh, trả lời tự động dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo, hay một công ty khác áp dụng mô hình kinh tế chia sẻ “sharing economy” vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho phép kết nối người có nhu cầu khám bệnh và chăm sóc sức khỏe với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng tranh thủ thời gian nhàn rỗi.  Có những công ty bước ra từ những công trình nghiên cứu, đề tài khoa học như một công ty sản xuất bánh và bột từ con dế với hàm lượng năng lượng rất cao, hay một công ty sở hữu công nghệ có thể cô nước mắm (quốc hồn quốc túy của Việt Nam) thành mắm khô để thuận lợi cho việc vận chuyển và bảo quản.  Ngoài ra, FFI còn đầu tư vào các dự án khởi sự kinh doanh còn sơ khai hơn như dự án xây dựng các chương trình tiêu chuẩn về đào tạo sáng tạo và kỹ thuật cho trẻ em có thể dễ dàng chuyển giao, chuyển nhượng cho các trung tâm, nhà trường nơi có nhiều trẻ em.  Điểm đến mới của khởi nghiệp thế giới Hai năm liên tiếp, CNN Money bình chọn Boulder – một thành phố nhỏ chỉ có vỏn vẹn 300.000 dân ngay dưới chân dãy núi Rocky ở Nerada, Mỹ, là “điểm đến thịnh vượng nhất của khởi nghiệp”. Có nhiều lý do, nhưng điểm quan trọng nhất, đây là khởi nguồn của tập sách “Cộng đồng khởi nghiệp” lừng danh, và Vườn ươm Techstar ở xứ này luôn là lò luyện của nhiều startup thành công nhất nước Mỹ. Người ta tin rằng, Boulder có tất cả những lợi thế cạnh tranh mà Silicon Valley từng nắm giữ: một công viên phần mềm đã phát triển từ thập niên 1990, hàng loạt trường đại học và viện nghiên cứu trong vùng. Ngoài ra, Boulder cũng là nơi tập trung những công nghệ vượt trội trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm ở Mỹ.    Author                Vũ Xuân Trường        
__label__tiasang Chuyến di cư xa xưa đã mang ngô đến vùng đất Maya      Tiến hành phân tích DNA của xác người cổ đại trong rừng rậm Belize, các nhà khảo cổ cho rằng người Chibcha đã di cư từ phương Nam lên phương Bắc, mang theo ngô và kỹ thuật canh tác đến vùng Maya.     Keith Prufer, một nhà khảo cổ học môi trường tại Đại học New Mexico, cùng với Asia Alsgaard và Emily Moes – hai nhà nghiên cứu thực địa, tại khu chôn cất ở Mayahak Cab Pek tại Belize. Ảnh: Erin Ray  Vùng nhiệt đới là thiên đường để các loài sinh vật phát triển, nhưng đó lại là môi trường tồi tệ để bảo quản một bộ xương.  Độ ẩm giúp giữ cho các khu rừng nhiệt đới luôn xanh tươi nhưng không có tác dụng bảo quản hài cốt, điều này khiến các nhà khảo cổ khó tìm thấy những bộ xương cổ ở các vùng nhiệt đới như Trung Mỹ.  Nhưng sâu trong rừng rậm Belize, dưới hai căn hầm khô cằn bằng đá, bộ xương của những người đã chết từ cách đây 9.600 năm vẫn được bảo quản đặc biệt tốt. Những bộ xương mang đến cho chúng ta những thông tin hiếm hoi về lịch sử di truyền cổ đại của khu vực, mà phần lớn vẫn chưa được biết đến.  Một nhóm các nhà khoa học hiện đang trích xuất DNA của những người cổ đại này, phát hiện ra những điểm mới về lịch sử di truyền của người dân vùng Maya. Bài báo đã được xuất bản trên tạp chí Nature Communications. Các nhà nghiên cứu đã xác định được một cuộc di cư hàng loạt từ phương Nam vào thời điểm hơn 5.600 năm trước khi ngô được trồng trong khu vực. Cuộc di cư gồm những người có quan hệ gần với nhóm người nói ngôn ngữ Chibcha, và là tổ tiên của hơn 50% dân tộc nói tiếng Maya ngày nay.  Lisa Lucero, một nhà nhân chủng học tại Đại học Illinois tại Urbana-Champaign, người chuyên nghiên cứu về tổ tiên Maya và không tham gia vào nghiên cứu lần này, nhận định kết quả mới “có khả năng sửa đổi và viết lại lịch sử ban đầu của những người Mỹ bản địa đầu tiên.”  Xavier Roca-Rada, một nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Adelaide, cho biết kết quả “lấp đầy khoảng trống lịch sử, hé lộ việc trước khi đặt chân đến vùng Trung Bộ châu Mỹ cổ đại để định cư, người xưa đã ở đâu.”  Bài báo mới được công bố khi nhóm tác giả vẫn đang tiến hành các cuộc khai quật. Keith Prufer, một nhà khảo cổ học môi trường tại Đại học New Mexico và Douglas Kennett, một nhà khảo cổ học tại Đại học California, Santa Barbara đã khai quật hai căn hầm bằng đá trong Khu bảo tồn Thiên nhiên Bladen, một khu vực hẻo lánh – không bị xáo trộn trong suốt hàng nghìn năm – và được bảo vệ của Belize, nơi lưu giữ các địa điểm nơi xưa kia từng là nghĩa trang. “Người xưa đến đây nhiều lần để chôn cất người chết”, Tiến sĩ Prufer nói.  Tiến sĩ Prufer tiết lộ rằng đã có người sinh sống trong các căn hầm, họ chế tạo công cụ và nấu nướng. Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy xương của những con thú có mai tatu (armadillo), hươu và một loại động vật gặm nhấm được tên là paca (loài gặm nhấm to, sống trong rừng mưa nhiệt đới, và có tên khoa học là Agouti paca) – xương của chúng bị vùi dưới đất. Ông cũng cho biết dưới đáy hố khai quật có một phần xác của con lười khổng lồ, có thể đã có trước khi con người xây hầm và sống ở đây.  Các cuộc khai quật cũng tiết lộ một bí ẩn về lớp bảo vệ nhầy nhụa dưới lòng đất. Khoảng 5.000 đến 6.000 năm trước, người ta đã bắt những con ốc Pachychilus nhỏ bé để làm thực phẩm. “Họ sẽ luộc chín chúng, bóc bỏ phần chuôi của vỏ và ăn thịt bên trong”, Tiến sĩ Prufer mô tả. Bất cứ ai sống trong những căn hầm này cũng đều ăn những con ốc, và những chiếc vỏ bị bỏ đi được gom lại để làm lớp phủ lên trên, che chắn cho hài cốt được chôn bên dưới. “Lớp ốc này thực sự đã bảo vệ những ngôi mộ phía dưới, ngăn chặn nguy cơ bị đào bới”, ông cho hay.  Lan toả hạt giống và kỹ thuật canh tác  David Reich, một nhà di truyền học tại Trường Y Harvard, đã tiến hành trích xuất DNA cổ đại từ 20 thi thể được chôn cất dưới các hầm trong suốt 6.000 năm. Phân tích cho thấy đã có một số cuộc di cư của con người vào vùng Maya, nơi ngày nay là Đông Nam Mexico và Bắc Trung Mỹ.  Họ tìm thấy ba nhóm người riêng biệt: một nhóm sống cách đây 7.300 đến 9.600 năm, một nhóm khác sống cách đây từ 3.700 đến 5.600 năm và nhóm thứ ba là người Maya hiện đại. Nhóm đầu tiên có liên quan về mặt di truyền với một nhóm người di cư xuống phía Nam qua châu Mỹ trong kỷ Pleistocen. Nhưng nhóm thứ hai có liên quan về mặt di truyền với tổ tiên của những người nói tiếng Chibcha sống xa hơn về phía Nam.  Các tác giả đưa ra giả thuyết rằng sự đa dạng này đến từ một cuộc di cư ồ ạt từ phía Nam. “Kết quả này thật sự đáng ngạc nhiên”, Tiến sĩ Kennett nói.  Thực chất, Tiến sĩ Kennett và Tiến sĩ Prufer nghiên cứu những ngôi mộ cổ xưa này để hiểu cách khu vực này chuyển đổi từ phương thức săn bắt và hái lượm sang phát triển nông nghiệp thâm canh ngô, ớt và sắn. Trong một bài báo vào năm 2020, họ mô tả dấu hiệu về việc tiêu thụ ngô trong xương của những người sống cách đây 4.000 đến 4.700 năm.  Tiến sĩ Reich cho biết, phát hiện này đã lật ngược một giả định trước đây rằng công nghệ canh tác lan truyền qua châu Mỹ nhờ sự phổ biến của các loại cây trồng và thực hành – nói cách khác, đây là sự lan truyền kiến ​​thức chứ không phải là sự di cư của con người. Đối chiếu niên đại của các bộ xương, các kết quả mới cho thấy sự di cư này rất quan trọng đối với việc lan toả kỹ thuật canh tác, khả năng cao là những người nói tiếng Chibcha khi di cư về phía Bắc đã mang theo các loại ngô, sau đó họ trồng và lan rộng nó khắp các địa phương, các tác giả viết.  “Người xưa đã di chuyển vào khu vực này từ phía Nam, mang theo những loại cây đã được thuần hóa và cả hệ thống kiến ​​thức về cách trồng chúng”, Tiến sĩ Kennett nói.  David Mora-Marín, một nhà nhân chủng học ngôn ngữ tại Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill và là tác giả của bài báo, đã tiến hành phân tích các ngôn ngữ Chibcha và ngôn ngữ Maya thời kỳ đầu. Ông nhận thấy có một từ vựng để chỉ ngô đã chuyển ngữ từ ngôn ngữ Chibcha sang các ngôn ngữ của người Maya, điều này củng cố ý tưởng cho rằng ngô xuất phát từ người Chibcha.  Những năm gần đây, lĩnh vực DNA cổ đại đã bị chỉ trích vì thiếu sự tương tác với các cộng đồng có thể là hậu duệ của loài người cổ đại đang được nghiên cứu. Do đó, Tiến sĩ Kennett và Tiến sĩ Prufer đã hợp tác với Ya’axché Conservation Trust, một tổ chức phi chính phủ của Belizea – trong đó phần lớn nhân viên là hậu duệ của các cộng đồng Maya. Các nhà nghiên cứu đã tham khảo ý kiến ​​của các cộng đồng này, trình bày kết quả từ các nghiên cứu và dịch tóm tắt các phát hiện sang ngôn ngữ Mopan và Q’eqchi ‘ theo yêu cầu của người dân địa phương. Trong các cuộc thảo luận, người dân trong cộng đồng bày tỏ mong muốn tìm hiểu thêm về chế độ ăn uống và đời sống gia đình thời tiền thuộc địa của những người cổ đại sống trong hang động. Tiến sĩ Kennett chia sẻ, nhờ những cuộc thảo luận này, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn vào những chủ đề này trong bài báo.  Cộng đồng Q’eqchi ‘, Yucatec và Mopan chiếm 12% dân số Belize và là hậu duệ của các dân tộc Maya cổ đại với nền văn minh trải dài hầu hết Trung Mỹ trong gần hai thiên niên kỷ. Ảnh: Tony R  Krystal Tsosie, một nhà nghiên cứu di truyền học tại Đại học Vanderbilt, cho biết cô muốn xem mô tả chi tiết hơn về việc những phản hồi của cộng đồng đã ảnh hưởng đến nội dung bài báo như thế nào. “Sự tương tác phù hợp còn có nghĩa là các thành viên cộng đồng đã cung cấp thông tin và làm phong phú thêm nghiên cứu.”  Ripan Malhi, một nhà nhân chủng học di truyền tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign, lưu ý rằng các tác giả đã đăng tải dữ liệu DNA cổ đại lên cơ sở dữ liệu công khai mà “không đưa ra biện pháp bảo vệ hoặc giới hạn truy cập nào.” DNA cổ đại có thể là một lối tắt dẫn đến DNA của các cộng đồng hiện đại mà không cần sự đồng ý của họ. “Điều này có thể ảnh hưởng đến người Maya ngày nay trong khu vực”.  Tiến sĩ Lucero và ông Roca-Rada nói rằng họ cần thêm dữ liệu để chứng minh giả thuyết của các nhà nghiên cứu rằng một cuộc di cư về phía Nam đã mang ngô đến vùng Maya. Đối với Tiến sĩ Lucero, câu hỏi đặt ra là liệu các nhà nghiên cứu có nên thu thập dữ liệu đó hay không. “Chúng tôi có nên khai quật những khu mộ?” cô ấy băn khoăn. “Đổi lại, nếu đó là chúng tôi, chúng tôi có muốn ai đó quật mồ mình lên để tìm hiểu những câu hỏi dù thú vị nhưng không phải là vấn đề sống còn hay không?”  Tiến sĩ Kennett và Tiến sĩ Prufer đến Belize lần cuối vào tháng 1 năm 2020 để trình bày kết quả sơ bộ từ bài báo mới cho các cộng đồng Maya. Đại dịch từ đó đã cản trở các nhà nghiên cứu trở lại, nhưng Tiến sĩ Prufer bày tỏ họ hy vọng sẽ sớm quay lại để tiếp tục khai quật và “giữ lời hứa của chúng tôi rằng sẽ trở lại mỗi năm để nghiên cứu và cập nhật tình hình cho người dân”.  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:   Human Migration Brought Maize to Maya Region, Study Finds  South-to-north migration preceded the advent of intensive farming in the Maya region    Author                .        
__label__tiasang Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp ở ĐB sông Cửu Long      Cho đến tháng 6-2013, Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT mới trình Thủ tướng cho thực hiện chính sách chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp bền vững (QĐ 899 TTg và QĐ1348 BNN) mà chính sách mới này, đáng lẽ phải được ban hành 20 năm trước đây. Nhưng chúng tôi cảm thấy chủ trương này sẽ rất khó thực hiện vì cách đặt vấn đề và giải pháp, chương trình kế hoạch thực hiện vẫn phảng phất làm theo kiểu cũ, vẫn phân ra riêng từng ngành, không phối hợp liên ngành theo chuỗi giá trị sản xuất của từng nhóm sản phẩm nông nghiệp.      Vòng luẩn quẩn của cái nghèo  Cứ cuối mỗi vụ lúa nông dân ĐBSCL lại bội thu. Năng suất bình quân toàn vùng có thể lên đến 6-7 t/ha, nhưng cái phấn khởi của bà con nông dân vừa phụt lên rồi lại tắt ngấm vì các công ty lương thực không mua lúa. Cả thương lái ta và thương lái tây hè nhau không mua lúa, bắt buộc nông dân lại phải bán giá rẻ cho các công ty “mua tạm trữ,” nghèo lại hoàn nghèo. Vì sao cái nghèo cứ đeo đuỗi tầng lớp nông dân của chúng ta? Vì nghèo không khả năng tiết kiệm nên nông dân không có tiền đầu tư cho sản xuất. Nhà nước giải quyết tình trạng “không vốn đầu tư” của họ bằng cách cho vay tín dụng. Được tiền đầu tư cho sản xuất nhưng người nghèo vẫn lại nghèo, vì họ không có tay nghề không biết ứng dụng khoa học công nghệ. Nhà nước đào tạo cán bộ khuyến nông để chuyển giao kỹ thuật cho nông dân nghèo. Nhưng các anh khuyến nông chỉ nói miệng tài, hướng dẫn xong rồi đi về, để lại anh nông dân nghèo, không có tiền để áp dụng kỹ thuật tiến bộ vừa học được. Trong khi đó, anh cán bộ tín dụng lo đi cho vay tín dụng ở nơi khác. Vì vậy người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Để khắc phục tình trạng này, nhà nước đã có chương trình xóa nghèo bằng cách kết hợp tín dụng với khuyến nông: người dân vừa được chuyển giao kỹ thuật vừa nhận được tín dụng để mua vật tư nông nghiệp để áp dụng kỹ thuật mới được chuyển giao. Và người nông dân sản xuất được nhiều hơn, nhưng khổ thay không biết bán ở đâu có giá tốt, đành chờ thương lái đến trả bao nhiêu hay bấy nhiêu, không có quyền mặc cả được. Trong xã hội ta tuy nhà nước công bố đạt tỷ lệ giảm nghèo cao (nhờ gộp cả cận nghèo vào tỉ lệ thoát nghèo) nhưng trong thực tế người nghèo vẫn lại nghèo, nhất là nông dân –thành phần đông nhất của xã hội—phải tự bơi trong biển cả toàn cầu hóa. Họ không nắm được kỹ thuật hiện đại, không thấy được thị trường đầu ra, không vốn sản xuất mà luôn luôn phải vay của đại lý phân thuốc trong làng. Tình huống này vẫn xảy ra với các doanh nghiệp thiếu vốn, không được đào tạo với kỹ thuật mới, không biết và không khả năng đầu tư thiết bị mới hơn, không khả năng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, chỉ mua qua thương lái, cho nên sản phẩm làm ra kém chất lượng, không thương hiệu mạnh, tiêu thụ ít, tồn kho nhiều. Trong sản xuất, chính quyền và nông dân các địa phương thường bắt chước làm giống nhau, phần lớn chỉ tập trung vào cây lúa, thay vì tập trung đầu tư vào những lợi thế độc đáo của vùng mình. Hậu quả tổng hợp của cách phát triển như thế đã đưa đến cái nghèo triền miên của nông dân.   Như thế việc xóa nghèo bằng cách cho người nghèo vay tín dụng kèm theo chuyển giao kỹ thuật và gắn cây lúa hoặc sản phẩm đầu ra khác cho thương lái là cách làm không bền vững, mà phải được tổ chức đồng bộ một hệ thống phát triển theo chuỗi giá trị kinh doanh thế mạnh của từng vùng sinh thái đặc thù, từ khâu xác định thị trường để chọn lựa thế mạnh của vùng đó sẽ cung cấp cho thị trường đó sản phẩm gì, từ đó thiết kế các phương cách đầu tư để sản xuất ra sản phẩm ấy.  Trong hệ thống phát triển đó, vai trò của nhà doanh nghiệp năng động có đầu óc kinh doanh, thấy được những gì thị trường cần để gắn với những sản phẩm từ ĐBSCL theo một tầm nhìn thực tế và khoa học để thiết kế những hệ thống kinh doanh thế mạnh của từng vùng là tối quan trọng, từ đó chúng ta có thể xác định được các khâu mắt xích trong cả chuỗi giá trị tam nông để các thành phần tham gia một cách hiệu quả nhất trong công cuộc phát triển kinh tế Việt Nam.  Những sản phẩm kinh doanh chính  Tại hầu hết các tỉnh thành của VN đều mọc lên những khu công nghiệp, thậm chí trong cùng một tỉnh các huyện xây thêm cụm công nghiệp huyện. Không cơ quan nào đứng ra điều phối và cân đối nhu cầu công nghiệp hóa để cho nông dân bị mất đất nông nghiệp ngày càng nhiều, trong khi đất dự án thì để trống. Lao động nông thôn trong thời gian vừa qua, nhất là những ai bị mất đất nông nghiệp, một phần nhỏ được vào làm ở khu công nghiệp gần nhà, phần lớn di cư lên thành phố tìm việc, vì ở nông thôn thì không việc làm. Số đông này, không được đào tạo tay nghề, mang thêm gánh nặng cho xã hội tại nơi họ mới đến, nhà nước phải tốn kém hơn. Kinh nghiệm các nước giải quyết vấn đề lao động nông thôn khá thành công, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,… là nhờ chính sách tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn được tổ chức một cách có hệ thống theo chuỗi giá trị. Tại ĐBSCL, nếu chính sách đầu tư của nhà nước được tập trung thì chính lực lượng lao động nông thôn sẽ có điều kiện tốt để biến các tiềm năng mũi nhọn sau đây thành hiện thực:  Cây lúa: có diện tích lớn nhất và lực lượng lao động tham gia nhiều nhất, phải sản xuất cho được các loại lúa chất lượng cao cho thị trường cao cấp, đồng thời cũng sản xuất lúa cấp thấp cho các nước nghèo. Những loại lúa này phải được chế biến và đóng gói bao bì tại các trung tâm chế biến gạo theo tiêu chuẩn quốc tế do các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) hoặc các công ty cổ phần nông nghiệp làm chủ tại các tỉnh có trồng lúa. Đồng thời để tiêu thụ nội địa, các giống lúa năng suất cao, ngắn ngày, kháng rầy nâu, bệnh cháy lá, và bệnh đốm vằn; chịu mặn, chịu phèn; chịu úng và chịu hạn phải được tiếp tục chọn tạo để cung cấp cho nông dân ở các vùng trồng lúa khó khăn. Nông dân đồng bằng sẽ là nông dân kiểu mới, áp dụng kỹ thuật hiện đại để sản xuất lúa an toàn và giá thành thấp, không làm ô nhiễm đất, nước và không khí. Kỹ thuật sạ khô lúa hè thu, tận dụng nước mưa để canh tác sẽ được áp dụng nơi chưa có chủ động thủy lợi. Đất lúa sẽ được HTXNN dồn điền đổi thửa để áp dụng cơ giới từ khâu cày bừa, gieo sạ, bón phân, xịt thuốc BVTV, thu hoạch, phơi, sấy; chế biến gạo theo đòi hỏi của thị trường, đóng gói với thương hiệu để bán trong nước hoặc theo đơn đặt hàng xuất khẩu. Đồng ruộng sẽ được san bằng và mương thủy lợi sẽ được bê tông hóa để tiết kiệm nước tối đa vì nước ngọt tưới sẽ là một tài nguyên ngày càng hiếm. Đối với nông dân còn canh tác theo cá thể thì họ sẽ luân canh hoặc xen canh lúa với các cây trồng, vật nuôi thích hợp để dễ đưa ra thị trường.  Cần đầu tư cho cây lúa ĐBSCL theo chuỗi giá trị trong đó công nghiệp hóa các công đoạn của quá trình trồng ra cây lúa đến chế biến hạt lúa và rơm rạ (xem hình 1) phải được ứng dụng kỹ thuật mới để có sản phẩm có thương hiệu và đồng thời duy trì sự bền vững của môi trường, khắc phục nguy cơ biến đổi khí hậu.             Hình 1          Cây ăn trái nhiệt đới: ĐBSCL là xuất xứ của nhiều trái cây vùng nhiệt đới mà nhiều nước khác hoặc vùng khác không trồng được hoặc không so bì được. Nhưng lợi thế này cho đến ngày nay vẫn chưa khai thác cũng vì chưa có hệ thống chính sách “phát triển cây ăn trái cho thị trường xuất khẩu.” Các loại trái cây độc đáo nhất của ĐBSCL mà du khách rất ưa chuộng có thể kể: bưởi Năm roi, bưởi Xanh, xoài Cát Hòa Lộc, xoài Thanh Ca, Thanh long, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng Chín Hóa, nhãn Xuồng, khóm Ngã Năm, v.v.  Nhà nước cần tổ chức nông dân cùng xây dựng từng vùng chuyên phù hợp với loại trái đặc sản trên đây cũng phải theo chuỗi giá trị từ cây giống rặc của loại cây cho đến thu hoạch, xử lý trái tươi nguyên vẹn đóng gói bao bì để bán tươi, chế biến trái không đạt chuẩn để ra nước trái cây hoặc mứt (xem hình 2), có phòng bảo quản ở nhiệt độ lạnh thích hợp với loại trái chờ đưa lên xe tải, xe lửa, máy bay xuất khẩu đúng vào kỳ hạn giao hàng. Điển hình cách tổ chức của Mỹ, vùng cây ăn trái Thung lũng San Joaquin (khoảng 1,5 triệu hecta) một khu nhỏ được trình bày ở hình 3a và 3b, trung tâm của vùng này phục vụ cho khoảng 400 ha. Không thể để như hiện nay cho từng hộ gia đình sản xuất vài hecta đủ loại cây tạp để thu gom xuất khẩu được. Nhà nước cho chính sách để xây dựng vùng chuyên, đất nông hộ liền canh liền thửa để dễ quản lý thủy lợi trên hàng trăm hecta thì mới có đủ sản phẩm để bán.          Hình 2                  Hình 3a. Một vùng trồng nho tại thung lung San Joaquin, California (Mỹ). Chung quanh là vườn nho của các hộ nông dân, ngay giữa là nhà máy xử lý, bảo quản và chế biến trái cây, hết mùa nho đến mùa táo, v.v.        Hình 3b. Cận ảnh của Nhà Máy xử lý, bảo quản và chế biến trái cây trên đây. Vườn nho trồng thẳng tắp.          Rau cải, củ: Những vùng chuyên rau như Châu Thành (Tiền Giang), Chợ Mới (An Giang), Vĩnh Châu (Bạc Liêu), … có thể trồng nhiều chủng loại rau cao cấp như bắp cải, cà tô mát, dưa chuột, bí rợ, dưa hấu… trong điều kiện nhiệt đới. Củ khoai lang thích hợp đất lúa nhất là ở Vĩnh Long, Hậu Giang, Kiên Giang. Mỗi khu sản xuất rau củ phải được tổ chức theo chuỗi giá trị, sản phẩm thu hoạch vào phải được phân loại theo kích cỡ, tốt xấu… để đóng gói bao bì bảo quản tình trạng tươi sống của sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng.  Hoa kiểng: Thời tiết và đất đai ĐBSCL rất phù hợp một số cây hoa kiểng xuất khẩu mạnh như phong lan, địa lan, cây tắc, mai vàng, xương rồng.  Cây thân gỗ: Trên đất phèn có thể trồng cây tràm (làm cừ, nuôi ong lấy mật), cây bạch đàn và cây keo tai tượng (làm bột giấy). Vùng ven bờ biển cần đầu tư trồng rừng đước khai thác theo định kỳ để sản xuất than cao cấp cho các nhà hàng nướng, hoặc xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc.    Thủy sản: Các loại cá nước ngọt và nước mặn rất phong phú. Các loại tôm tép có thể nuôi ven biển hoặc trong ruộng lúa nước ngọt. Tài nguyên này cho đến nay vẫn còn do cá thể đầu tư theo khả năng tự có nên thường gặp hiểm họa bệnh thủy sản giết hại. Hệ thống nuôi cá hoặc tôm càng xanh trong ruộng lúa nên được đầu tư hệ thống tưới tiêu riêng rẽ, xây cống bọng kiên cố, sẽ rất có lợi cho nông hộ và môi trường. Cần phải tập hợp nông dân xây dựng những khu nuôi tôm, nuôi cá một cách khoa học hơn, kênh tưới riêng, kênh tiêu riêng mới mong an toàn và bền vững. Đầu tư cho sản xuất cá/tôm giống và sản xuất thức ăn thủy sản nếu cần, hoặc mua thẳng từ các xí nghiệp sản xuất thức ăn.          Điển hình 3. Một khu nuôi tôm tại Kalimantan, Indonesia, được xây dựng một cách rất khoa học, kênh tưới và kênh tiêu riêng cho mỗi vuôn tôm nên bệnh hại tôm được ngăn chận ngay từ đầu.          Gia súc: Tùy mỗi tiểu vùng của ĐBSCL, nơi thích hợp nuôi bò (Bến Tre, Trà Vinh, An Giang), nơi nuôi trâu (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) sử dụng rơm rạ và một số cây thức ăn gia súc vừa bán thịt, vừa sản xuất phân chuồng bán cho các nhà vườn, vừa góp phần giảm thiểu tác dụng biến đổi khí hậu. Vịt gà là một nguồn thu khá lớn đối với các nông hộ có đầu tư đầy đủ chuồng trại. Gà thả vườn đang là một sản phẩm được ưa chuộng, giá gấp đôi gà công nghiệp.    Những điều kiện chủ yếu nhằm chọn mũi chiến lược để tái cấu trúc   Giữ kế hoạch dân số: dân số phải được kiểm soát ở tỉ lệ dưới 2% để không vượt quá khả năng chịu đựng của đất đai sản xuất và cung cấp dịch vụ đời sống.  Cải tiến cấu trúc hạ tầng: Cần đầu tư cho nông thôn có kinh phí tạo công ăn việc làm cho dân nông thôn để xóa cầu khỉ và bê tông hóa đường nông thôn sâu. Đây là bước nhảy vọt đầu tiên để rút ngắn khoảng cách nông thôn – thành thị. Bước này quan trọng ở chỗ nó tạo điều kiện cho nông thôn dễ nhận được các dịch vụ tín dụng cũng như nhận những nguồn nhân lực đã được đào tạo về phục vụ cho nông thôn. Đầu tư trong lĩnh vực này nên hạn chế ấp dụng chính sách cũ “nhà nước và nhân dân cùng làm.”  Công nghiệp hóa các cụm/vùng qui hoạch kinh doanh nông sản: chủ yếu chế biến, và bảo quản sau thu hoạch: Mỗi cụm/vùng qui hoạch trồng một loại nông sản (lúa, trái cây, rau) cần được tổ chức lại, đầu tư nhà máy có thiết bị hiện đại để xử lý và bảo quản chất lượng nông sản.  – Đối với lúa: (a) sấy lúa đạt chuẩn 14% ẩm độ bằng máy sấy từng mẻ hoặc máy sấy liên tục;  (b) gặt lúa, xay chà, đánh bóng gạo: bằng những máy móc đa năng.  (c)  đóng gói nhãn hiệu rõ ràng.  Đối với rau quả: tổ chức qui hoạch và đầu tư nhà máy rau quả trang bị đầy đủ những dụng cụ xử lý rau quả theo đúng qui trình kỹ thuật, đóng gói bao bì trước khi đưa vào phòng bảo quản ở nhiệt độ tối hảo. Mỗi loại sản phẩm sẽ có nhiều dạng đưa ra thị trường: khóm (trái tươi, nước khóm pha hoặc cô đặc), cam quít (trái tươi, nước cam tươi hoặc cô đặc, mứt vỏ cam), xoài (trái tươi, xoài sấy khô, nước xoài), ổi (trái tươi, nước ổi), dừa (trái tươi, dừa nạo sấy khô, bột nước cốt dừa, kẹo dừa). Những trái cây tươi cần có bao bì đặc biệt: xoài Cát, vú sữa Lò Rèn, sapô, thanh long, khóm, sầu riêng…  Mía trên các vùng đất phèn: nhà máy đường chế biến đường và các sản phẩm có đường.  Heo, bò, gà, vịt: cần có Nhà máy chế biến thịt heo, thịt bò, gà, vịt và những sản phẩm chế biến từ thịt.  Thủy sản: cần có Nhà máy chế biến thủy sản, đặc biệt phải có máy cấp đông cá tôm; thiết bị chế biến những sản phẩm từ cá tôm (filet cá, mắm, khô, nước mắm có mùi, và nước mắm ngon không mùi dành xuất khẩu).  Bạch đàn, keo tai tượng, keo lai, đay bố: cần Nhà máy chế biến bột giấy từ bạch đàn, keo tai tượng, đay.  Tràm trên đất phèn: cừ xây dựng nhà, cũng là môi trường nuôi ong lấy mật.  Giảm tác hại của lũ lụt: từ hơn thập kỷ đến nay chu kỳ ngập lũ của ĐBSCL đã thay đổi bất thường vì những công trình thủy lợi dọc trên dòng sông chính đầu nguồn (Vân Nam) hoặc các sông nhánh ở Lào, Thái Lan, Tây Nguyên, và vì nạn phá rừng đầu nguồn. Trong khi các vụ lúa đông xuân và hè thu được thiết kế tránh lũ hoàn toàn, một số diện tích lúa vụ ba bị ngập lũ phải đầu tư hao tốn đắp đê ngăn lũ. Các vùng cây trồng cạn cũng thường xuyên bị ngập lũ, nhất là các diện tích vườn cây ăn trái, rau hoa. Nhưng chúng ta không chê lũ hoàn toàn vì nước lũ đem phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho ĐBSCL, mang theo thủy sản các loại, và rửa phèn rửa mặn cho các loại đất có vấn đề. Vì vậy, để bảo vệ an toàn sinh mạng của người và gia súc, cùng các cây trồng cạn, các biện pháp sau đây cần được chú ý đặc biệt:  (a) Trên bình diện vùng, cần nạo vét hoặc đào thêm các con kênh xả lũ ra hướng biển.  (b) Trên từng mảnh vườn cây ăn trái, hoặc vườn rau hoa, nên qui hoạch dồn lại thành từng vùng có diện tích khoảng 100 ha để bao đê kiên cố cao hơn đỉnh lũ và có cống điều tiết nước lũ.  (c) Ủy ban sông Mekong cần thường xuyên cải tiến các phương tiện của hệ thống theo dõi và báo động lũ từ thượng nguồn đến vùng ĐBSCL.  (d) Thường xuyên củng cố các đê bao, và nhất là các khu tuyến dân cư.  (e) Áp dụng nghiêm nhặt các biện pháp canh tác né lũ đã được phổ biến và củng cố đê bao các vùng tập trung cây ăn trái hoặc cây lưu niên khác.  Mô hình phát triển tam nông bằng kinh doanh nông sản theo hướng chuỗi giá trị   Thị trường nông thôn cần phải được nối chặt với thị trường thành thị và thị trường quốc tế nếu chúng ta muốn cho nông thôn làm giàu. Thị trường cạnh tranh hiện nay có 4 đòi hỏi:  1) Sản phẩm phải đạt chất lượng tối hảo theo đòi hỏi của người tiêu dùng;  2) Khối lượng sản phẩm phải đủ lớn để chuyên chở ít tốn phí;  3) Thời điểm giao hàng phải đúng theo hợp đồng;  4) Giá sản phẩm phải thật cạnh tranh.  Nông dân sản xuất cá thể sẽ không bao giờ thỏa mãn các điều kiện trên cho khách hàng. Trong khi đó các doanh nghiệp tiêu thụ nông sản của Việt Nam hiện nay cũng luôn luôn gặp khó khăn về vốn, kỹ thuật, và khả năng quản lý kinh doanh. Nhưng cái khó lớn nhất chính là họ không có nguồn nguyên liệu ổn định hội đủ 4 đòi hỏi trên đây.  Bà con nông dân phải tự nhận rõ là làm ăn một mình một cách tự do sẽ rất khó làm giàu, vì mình không thể chỉ bán hàng ở chợ làng mà phải bán ra khắp các tỉnh thành trong nước và vươn ra ngoài nước. Người mua hàng nông sản bây giờ trở đi là những công ty lớn, họ mua với khối lượng lớn những nông sản có chất lượng cao, an toàn vệ sinh, và giá rẻ. Chúng ta phải cung cấp khối lượng lớn đó đúng vào thời điểm khách hàng cần. Họ không thể chờ ta vì họ không bao giờ muốn lỡ kế hoạch buôn bán của họ. Do đó bà con nông dân cần kết hợp lại trong những hợp tác xã hoặc trang trại, học kỹ qui trình sản xuất bằng kỹ thuật cao (GAP), không làm theo kỹ thuật cũ mà phải theo đúng qui trình.  Nhà nước cũng phải thấy là không thể để cho nông dân tự bơi cứu lấy mình. Cần chấm dứt tình trạng Nhà nước cứ để cho nhà nông tự phát, trăm hoa đua nở, tự do trồng rồi tự do chặt, chưa trở thành một sức mạnh tập trung cho từng mũi nhọn tiến công trong thị trường tự do rộng mở. Cho nên nhà nông của ta, tuy sản xuất nhiều như thế, nhưng chất lượng không cao, lợi tức vẫn còn thấp so với quốc tế vì chưa có tay nghề hiện đại và chưa được tổ chức hữu hiệu. Trớ trêu thay, nông dân ta không có thời giờ để học nhiều loại kiến thức tay nghề; và Nhà nước cũng không có kinh phí để tổ chức đào tạo cho nông dân. Nhìn sang các bạn láng giềng -nhất là Thái Lan- Nhà nước đang làm gì để gia tăng tính cạnh tranh của nhà nông của họ? Điều cần và đủ: một hệ thống kinh doanh đồng bộ kèm theo là những chính sách khuyến khích.  Chúng ta cần một hệ thống chính sách khuyến khích có khả năng điều phối các mũi tiến công một cách nhịp nhàng, bổ trợ lẫn nhau thay cho sự triệt tiêu lẫn nhau rất phổ biến hiện nay. Hệ thống chính sách khuyến khích này, như phác họa trong hình 4 liên kết nhiều “nhà” tham gia sản xuất với kỹ thuật cao trong chuỗi giá trị gia tăng, bao gồm các bước cơ bản sau đây:          Hình 4. Hệ thống sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng cho thấy các cụm cần đầu tư tín dụng.          BƯỚC 1. Trước tiên cần xác định lợi thế tương đối của từng vùng đặc thù của lãnh thổ: cần xem lại qui hoạch tổng thể của nước ta và cụ thể cho từng vùng sản xuất của ĐBSCL, vùng nào có thế mạnh về cây gì, con gì có lợi thế hơn vùng khác hoặc quốc gia khác. Trên cơ sở rất khoa học đó, Nhà nước địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp để tạo điều kiện tốt cho nông dân sản xuất mặt hàng đó.  BƯỚC 2. Đồng thời với xác định lợi thế cây gì, con gì ở đâu, Nhà nước và doanh nghiệp cần xác định thị trường cho từng sản phẩm mũi nhọn ấy để chuẩn bị xúc tiến thương mại.  BƯỚC 3. Tổ chức tập hợp nông dân trong từng vùng sản xuất đã xác định trên đây xây dựng từng “Cụm liên kết sản xuất theo nông nghiệp kỹ thuật cao” (NNKTC) hoặc những hợp tác xã nông nghiệp, trang trại lớn, có khả năng tạo ra những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng trong nước và quốc tế. Đây là bước mà nhiều người quen gọi “cánh đồng mẫu lớn,” chỉ là một khâu trong toàn chuỗi giá trị sản xuất. Chính sách về kinh tế hợp tác của Nhà nước tuy đã ban hành lâu rồi nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều kết quả khả quan vì thiếu nhiều yếu tố khuyến khích nông dân, vì sự do dự của nhiều địa phương, và vì phần lớn các hợp tác xã đã hình thành vẫn còn hoạt động riêng lẻ, tự bơi trong mọi mặt hoạt động, không ai lo đầu ra cho sản phẩm, phó thác cho thương lái. Trong giai đoạn tới, chúng ta cần có những nông dân xã viên của các hợp tác xã, hoặc thành viên của các cụm liên kết sản xuất NNKTC, có kiến thức và tay nghề cao nhất. Do đó Nhà nước sẽ tổ chức đào tạo (chuyển giao kỹ thuật) nông dân một cách cụ thể những kiến thức và kỹ năng cao nhất theo qui trình kỹ thuật cần thiết (xem bước 4 dưới đây) để sản xuất loại nông sản của hợp tác xã hoặc cụm liên kết sản xuất.  BƯỚC 4. Tập hợp khoa học kỹ thuật: gồm các Bộ, ngành chuyên môn, trường đại học hoăc trung tâm, viện nghiên cứu gần nhất vùng của hợp tác xã hoặc cụm liên kết, để nghiên cứu và ứng dụng:  (1) qui trình kỹ thuật (về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) thích hợp nhất để sản xuất nguyên liệu tối hảo cho doanh nghiệp liên kết chế biến ra sản phẩm có thương hiệu được người tiêu dùng ưa thích;  (2) kỹ thuật chế biến, bao bì đóng gói tốt nhất cho sản phẩm;  (3) tiêu chuẩn chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm mà mỗi nông dân thành viên cần phải nghiêm khắc theo đúng. Cần chú ý việc thiết lập cơ quan uy tín quốc tế về kiểm phẩm, bám sát những tiêu chuẩn mà quốc gia khách hàng đòi hỏi.  BƯỚC 5. Tập hợp các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, gồm Ngân hàng, Công ty hóa chất nông nghiệp, Công ty bảo quản, chế biến bao bì, phân phối cho mạng lưới đại lý trong nước, và xuất khẩu hàng có thương hiệu sang Nhật Bản, Úc, châu Âu, Mỹ, v.v.  Chính sách kinh tế hợp tác khi được tổ chức thành hợp tác xã hoặc cụm liên kết sản xuất NNKTC như trình bày một cách tổng quát trên đây sẽ có tác dụng quyết định đến tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam qua tác động trên cả ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp, và dịch vụ. Vai trò điều phối của Nhà nước sẽ quyết định sự thành bại của việc liên kết năm nội dung trên đây.  Trong thời đại WTO, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò rất quan trọng, vì suy ra cho cùng, sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển khi có thị trường ổn định. Nông dân không thể tự mình bơi chiếc thuyền nan ra biển cả để tìm người mua! Phải có các DNVVN tài giỏi mới được. Các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp cần được sắp xếp lại, có vùng nguyên liệu ổn định, chấm dứt kiểu làm ăn chụp giựt như nhiều đơn vị hiện nay. Cần có các vị giám đốc được đào tạo chuyên môn cao, thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, có cán bộ và công nhân được bồi dưỡng nghiệp vụ hiện đại, thiết bị được cải tiến, sao cho tăng được chất lượng hàng hóa mà chi phí sản xuất được hạ thấp nhất.    Tổ chức quản lý thực hiện   Một chính sách đồng bộ cần được ban hành để các bộ phận của chính phủ được phối hợp hành động tạo điều kiện tối hảo cho nông dân và doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm thích thú tham gia sản xuất (bao gồm các ngành tài chính – ngân hàng với tín dụng ưu đãi, thuế khuyến khích, nghiên cứu khoa học về kỹ thuật trồng và chế biến, bao bì, bảo quản, chuyên chở sản phẩm, quảng bá sản phẩm, mở thị trường cho các sản phẩm). Trong chính sách này phải có một cơ quan chuyên đi đến các nước triển vọng mở thị trường cho các hàng hóa đặc biệt trên đây.  Tạo thêm điều kiện cho tư nhân bỏ vốn đầu tư các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhất là tiêu thụ trực tiếp tại các thị trường nước ngoài đã được mở ra, hoặc bắt đầu bằng việc liên kết với các công ty xuyên quốc gia.  Cần đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.  Thực hiện các nghị quyết của Trung ương về hợp tác hóa nông nghiệp, nhất là NQ26/TW7/Khóa IX về nông nghiệp – nông dân – nông thôn. Đặc biệt là dựa theo NQ26, mỗi tỉnh cần thành lập một công ty cổ phần nông nghiệp cho mỗi loại sản phẩm, thí dụ Cty CPNN xoài Cát Hòa Lộc, hoặc Cty CPNN Vú sữa Lò Rèn, v.v. Mỗi công ty như thế được quản lý theo kiểu mới hoàn toàn để tạo sức mạnh cho nông dân –nhất là những nông dân nghèo, ít diện tích canh tác — trong sản xuất nguyên liệu tốt nhất và rẻ nhất, bằng cách thuê cán bộ chuyên môn điều hành (từ những người tốt nghiệp đại học ngành quản trị kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tài chính-tín dụng, ngoại thương, v.v.).  Đổi mới tư duy quản lý – “Chính sách nông nghiệp”   Kinh nghiệm của Nhật Bản từ năm 1946 sau khi đầu hàng quân Đồng minh cho thấy chỉ có tổ chức cho nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) mới tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân nghèo trở nên giàu có. Tại Hàn Quốc phong trào HTXNN cũng được tổ chức như là bản sao của Nhật Bản, bắt đầu từ tình trạng nông dân nghèo xơ xác. Qua các hợp tác xã, Nhà nước đã hổ trợ cho nông dân đến nơi đến chốn để nông dân phát triển sản xuất, ngày càng giàu lên. Ngày nay nông dân Nhật cũng như nông dân Hàn Quốc đều là chủ hệ thống ngân hàng lớn của quốc gia họ. Thành công của Nhật Bản và Hàn Quốc trong xóa nghèo cho nông dân của họ như trình bày trên đây là do nhà nước bao cấp và tài trợ cho các HTXNN. Đối với Việt Nam, ngày nay đã có NQ26TW được soạn thảo với một tư duy quản lý đổi mới, có thể gọi là một “chính sách nông nghiệp thời hội nhập, hướng dẫn chúng ta tổ chức lại sản xuất cho từng ngành kinh doanh nông sản để phát huy tiềm năng đất nước và con người. Mô hình phát triển kinh doanh theo chuỗi giá trị gia tăng được trình bày trên đây là cách thực hiện NQ26 trung thực nhất. Quá trình kinh doanh này cần được ngành ngân hàng đầu tư tài chính đích đáng để sự liên kết của các khâu gia tăng giá trị đạt hiệu quả tối hảo. Quan trọng nhất, là ngân hàng nên giảm bớt đầu tư cho các dự án manh mún, cục bộ, đơn ngành; trái lại cần ủng hộ các dự án phát triển kinh doanh có sự cộng tác và điều phối đa ngành trong các hợp tác xã hoặc cụm liên kết sản xuất NNKTC theo chuỗi giá trị gia tăng mới có thể phát triển nông nghiệp toàn diện và giúp nông thôn phồn thịnh. Được như vậy nông dân Việt Nam sẽ không bao giờ bị thua thiệt, lợi tức sẽ liên tục gia tăng, chấm dứt tình trạng nghèo một cách bền vững.  Chúng ta đang đứng trước ngã ba đường đi đến phồn vinh, cần mạnh dạn đổi mới hơn nữa để nắm vững cơ sở khoa học công nghệ, triển khai Đề án Tái Cơ cấu nông nghiệp nhanh chóng đưa Nghị quyết về Tam Nông của Đảng vào thực tế một cách thành công bền vững, biến tiềm năng giàu đẹp của Việt Nam thành hiện thực.         Từ sau khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo, chúng tôi thấy quán tính “an ninh lương thực” sẽ bùng dậy mạnh hơn nữa, mà kinh nghiệm thế giới đã chứng minh càng sản xuất lương thực thì người gánh tất cả hy sinh là người trồng cây lương thực, nên tại trường Đại học Cần Thơ, chúng tôi đổi tên Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa ĐBSCL thành Viện NC&PT Hệ thống Canh tác ĐBSCL và chúng tôi tạo điều kiện cho các trường đại học Việt Nam có Khoa Nông nghiệp tham gia Mạng lưới Hệ thống Canh tác Việt Nam do IDRC (Canada) tài trợ từ năm 1991 nhằm nghiên cứu và đào tạo cán bộ có kiến thức và kỹ năng giúp nông dân trồng lúa trên các vùng sinh thái nước ta có thể đạt lợi tức cao hơn với cây trồng, vật nuôi trong khi, hoặc trước khi và sau khi trồng lúa. Tiếp theo đó tổ chức SIDA Thụy Điển tài trợ Chương trình MEKARN tương tự nhưng lấy chăn nuôi thay vì cây lúa làm cơ bản. Cả hai chương trình này đã đào tạo nên hàng trăm cán bộ khoa học thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu đa dạng hóa cơ cấu trồng lúa. Nhưng kết quả nghiên cứu đó ít được các địa phương áp dụng. Mãi đến năm 2000 Nhà nước mới có chính sách cho đa dạng hóa cơ cấu nông nghiệp nhưng đầu tư cũng không thấm vào đâu, nên không đạt được kết quả theo tiềm năng mà khoa học đã khám phá.           ————  * GS TS, Q. Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi số: Cách tiếp cận mới về mở      LTS: Vào ngày 4/8/2020, Ủy ban KH&CN, MT của Quốc hội đã tổ chức một cuộc họp lấy ý kiến đóng góp về một số nội dung cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin – truyền thông được nêu trong các nghị quyết của Quốc hội. Sau cuộc họp này, chuyên gia Lê Trung Nghĩa (Ban Tư vấn Phát triển giáo dục mở, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) đã gửi đến Tia Sáng một số suy nghĩ của ông quanh vấn đề này, chủ yếu tập trung vào dữ liệu mở và giáo dục mở, qua đó gợi ý một số giải pháp trong bối cảnh hiện nay.      Với các công cụ tìm kiếm tiện ích và không mất phí truy cập, Google thu được nhiều lợi nhuận từ dịch vụ. Nguồn: NYT  Để có một cuộc đồng hành an toàn và thành công từ chính quyền điện tử tới chuyển đổi số, chính phủ số, dữ liệu chia sẻ và chính phủ mở, chúng ta có thể sẽ cần tới cách tiếp cận rất khác với các cách tiếp cận truyền thống. Tuy vậy trong các quy định và tài liệu hướng dẫn từ trước đến nay của Việt Nam lại đề cập rất ít đến cách tiếp cận này.  Hiểu đúng về mở trong thời đại chuyển đổi số  Chúng ta có thể hiểu triết lý của Mở là “tôi có một quả táo, bạn có một quả táo, chúng ta trao đổi cho nhau và mỗi người chúng ta vẫn có một quả táo. Tôi có một ý tưởng, bạn có một ý tưởng, chúng ta trao đổi cho nhau và mỗi người chúng ta có hai ý tưởng”. Quả táo là hiện thân của hữu hình, giống như mảnh đất, ngôi nhà, mỏ dầu, hòn đảo… còn ý tưởng là hiện thân của vô hình, giống như phần mềm, nội dung số, dữ liệu số… Nguyên lý cộng lực chỉ phát triển được với hai điều kiện cùng tồn tại là mở và vô hình bởi có vô hình mà đóng thì cũng không đem lại giá trị vì không thể có chia sẻ nữa. Các tài nguyên hữu hình là các tài nguyên có xu hướng ngày một khan hiếm, ngày một cạn kiệt trong khi ngược lại, các tài nguyên vô hình là các tài nguyên có xu hướng trải dài vô tận.  Nhìn vào các mô hình kinh doanh truyền thống, chúng ta thấy nổi bật lên một điều là chúng phát triển dựa vào sự khan hiếm tài nguyên để kiếm được càng nhiều lợi nhuận càng tốt trong khi các mô hình kinh doanh của Mở dựa trên các tài nguyên vô hình ở dạng số ngày một được nhân lên khi chuyển đối số được tiến hành hàng loạt ở Việt Nam. Người Việt Nam có câu “tiền nào của nấy” nhưng quan điểm này chỉ đúng với tài nguyên hữu hình và trong nhiều trường hợp lại rất sai với tài nguyên vô hình. Chúng ta hãy nhìn vào thực tế của hai nền tảng số là Google và Facebook và thử đặt câu hỏi “vì sao không ai trong số khoảng 60 triệu người Việt Nam đang sử dụng các ứng dụng, dịch vụ phải trả tiền để sử dụng các dịch vụ của họ?” Hầu như ai cũng thấy là những dịch vụ đó là có chất lượng, tốt, khó bỏ một khi đã sử dụng. Nhưng vì sao không thu phí người dùng mà Google và Facebook lại giàu đến thế?       Con số các dự án nguồn mở ở Việt Nam là quá ít và quá nhỏ bé, nếu so sánh với gần 9 tỷ tệp mã nguồn phần mềm trong hơn 135 triệu dự án được chia sẻ tự do không mất tiền trên thế giới theo thống kê của Software Heritage.      Câu trả lời là hầu hết các mô hình kinh doanh của thế giới nguồn mở như Google và Facebook là dựa vào doanh thu từ các dịch vụ xung quanh các sản phẩm của chung cộng đồng chứ không dựa vào việc bán trực tiếp các sản phẩm của chung cộng đồng đó. Chuyển đổi số sẽ tạo ra dữ liệu dạng số và dữ liệu mở chính là dữ liệu dạng số mở hay nói cách khác thì chuyển đổi số sẽ tạo ra những tài nguyên vô hình.   Tuy nhiên, khi đề cập đến câu chuyện của mở, chúng ta cũng nên biết là mở không có nghĩa là ai muốn làm gì thì làm bởi mở có các nguyên tắc của nó, bao gồm cả mô hình phát triển, mô hình cấp phép, mô hình kinh doanh, mô hình xây dựng và quản lý cộng đồng… và gần đây, nó thường được gắn với mô hình phát triển bền vững. Mở bắt nguồn từ phong trào phần mềm tự do từ những năm 1980, sau đó là phần mềm nguồn mở từ năm 1998. Triết lý của chúng là nền tảng cho các khái niệm mở khác, xuất hiện vào đầu thế kỷ 21 như phần cứng mở (phần cứng nguồn mở), học liệu mở, giáo dục mở, tài nguyên giáo dục mở, truy cập mở, dữ liệu mở và khoa học mở  .v.v. Bắt nguồn từ phần mềm, Mở bây giờ đã lan sang nhiều lĩnh vực khác của xã hội.  Câu chuyện của việc phát triển ứng dụng Bluezone hỗ trợ truy vết người nhiễm Covid-19 không tuân thủ các nguyên tắ về nguồn mở trong thời gian qua là bằng chứng cho thấy hầu như rất nhiều người ở Việt Nam hầu như không biết và không hiểu về các mô hình nêu trên của nguồn mở, kể cả các lập trình viên phần mềm chuyên nghiệp. Một khi bạn dựa vào các sản phẩm của các cộng đồng nguồn mở trên thế giới để tùy biến thích nghi, sửa đổi hoặc phát triển tiếp, thì  bạn cần tuân thủ các điều khoản, điều kiện của các giấy phép được gắn vào các phần mềm gốc ban đầu đó, và nhớ phải thừa nhận ghi công các tác giả và/hoặc cộng đồng nguồn mở, những người đã bỏ nhiều công sức ra để tạo ra phần mềm gốc ban đầu đó.   Đối với thế giới nguồn mở, nếu bạn sử dụng những gì không phải bạn làm ra thì bạn có bổn phận phải thừa nhận ghi công tác giả; không thừa nhận ghi công tác giả đồng nghĩa với ăn cắp. Một khi bạn phát triển phần mềm dựa vào phần mềm nguồn mở gốc ban đầu của thế giới, thì nhiều nhất nếu có, bạn chỉ sở hữu những dòng mã lệnh bạn đóng góp cho chương trình phần mềm nguồn mở đó – điều có thể đi với mong muốn “Make in Vietnam” của bạn, chứ bạn không sở hữu nó toàn bộ. Chương trình phần mềm đó thường là sở hữu của cộng đồng, trong đó có bạn. Trong đại dịch Covid, thế giới đã chứng kiến sự tham gia của các cộng đồng mở trong phong trào Covid Mở với vô số các dự án phần mềm nguồn mở, phần cứng nguồn mở, truy cập mở tới các tài liệu và dữ liệu nghiên cứu để cứu người, không để hệ thống sở hữu trí tuệ khắt khe do chính con người tạo ra trở thành vũ khí giết người hàng loạt.  Dữ liệu mở ở Việt Nam   Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 9/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số, là một văn bản được chờ đón từ lâu và đánh dấu một bước tiến tích cực trong chương trình chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam. Văn bản đề cập tới khái niệm Dữ liệu Mở, với ý định thiết lập nền tảng cho Chính phủ mở. Tuy nhiên, làm thế nào chúng ta có được dữ liệu mở nếu dữ liệu đó không được cấp phép mở? Làm thế nào các doanh nghiệp, các công ty khởi nghiệp có thể đổi mới sáng tạo có thể dựa vào các ‘dữ liệu mở’ đó và đưa chúng vào các ứng dụng hoặc dịch vụ của họ để tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội nếu các ‘dữ liệu mở’ đó chỉ có thể được sử dụng “nguyên trạng như được công bố”? Những điều này rất khác với khái niệm Dữ liệu Mở mà thế giới thừa nhận, ứng dụng và phát triển. Việc hình thành bộ mã bưu chính đến địa chỉ để hỗ trợ cho thương mại điện tử và kinh tế số là rất cần thiết nhưng có lẽ là chưa đủ, mà có lẽ Việt Nam còn cần xây dựng tài liệu mã định danh các đối tượng số thống nhất – URI (Uniform Resource Identifier) (Ví dụ: tài liệu URI của Anh phiên bản 4.5 năm 2016, và ở châu Âu, từng quốc gia đều có tài liệu URI của quốc gia mình) để phát triển dữ liệu liên kết, làm nền tảng cho các công nghệ thời thượng như AI, IoT hay dữ liệu lớn, điều mà các quốc gia tiên tiến trên thế giới đều đang ứng dụng và phát triển, hoặc theo đề xuất của người phát minh ra Web – Tim Berners – Lee về lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của dữ liệu mở liên kết (Linked Open Data), hoặc theo các nguyên tắc dữ liệu FAIR (Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, Sử dụng lại được – Findable, Accessible, Interoperable, Reusable). Không có những thứ này, CMCN4 của Việt Nam rất có thể chỉ là cuộc chơi của một số công ty với vài đồ nhập khẩu dựa vào các công nghệ và URI của nước ngoài. Điều đáng tiếc là các tài liệu hướng dẫn của Việt Nam chưa thấy nêu về những điều này.    Phiên “Hiến kế về phát triển Kinh tế số” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019. Nguồn: baodautu.vn  Chúng ta cũng phải thấy rằng cũng có một số tín hiệu tích cực: các dịch vụ công trực tuyến của chính phủ đã bắt đầu sử dụng các hệ thống được xây dựng từ các phần mềm tự do nguồn mở ở một số tỉnh – bộ – ngành, như của OpenCPS hay gần đây nhất là Comeet do một nhóm các công ty phát triển dựa trên phần mềm nguồn mở video conferencing nổi tiếng Jitsi Meet. Dẫu vậy thì chúng ta không nên quên một thực tế là con số các dự án nguồn mở ở Việt Nam là quá ít và quá nhỏ bé, nếu so sánh với gần 9 tỷ tệp mã nguồn phần mềm trong hơn 135 triệu dự án được chia sẻ tự do không mất tiền trên thế giới theo thống kê của Software Heritage. Cộng đồng nguồn mở Việt Nam có thể dựa vào đó để tham gia phát triển cùng và không tách rời khỏi các cộng đồng phần mềm nguồn mở thế giới, phù hợp với đường lối “Make in Vietnam”, hướng tới làm chủ công nghệ, đảm bảo an ninh mạng và an toàn thông tin cho Việt Nam, cũng như các nhu cầu phục vụ cho Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử, dịch vụ công trực tuyến .v.v. hay cho hầu như bất kỳ khía cạnh nào của CNTT-TT của Việt Nam bây giờ và trong tương lai để phục vụ cho “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.  Giáo dục trong thời kỳ chuyển đổi số   Tôi nhớ tại tọa đàm “Chuyển đổi số: Cơ hội và thách thức” diễn ra chiều 3/7/2020 trong khuôn khổ Chương trình gặp gỡ ICT 2020, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhấn mạnh, một trong những quan điểm thể hiện xuyên suốt trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia là lấy người dân làm trung tâm. “Cụ thể, trong tám lĩnh vực, xác định lĩnh vực đầu tiên là Y tế; sau đó đến Giáo dục; tiếp đến là Tài chính – Ngân hàng; Nông nghiệp; Giao thông vận tải và Logistics; Năng lượng; Tài nguyên và Môi trường; Sản xuất công nghiệp”. Còn theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng, “chuyển đổi số liên quan đến cách mạng toàn dân, mà toàn dân bắt buộc phải đi từ đào tạo, vì thế các hội, hiệp hội lĩnh vực ICT cần chung tay vào làm”.  Cả hai nhận định trên đều có chung một điểm: Để chương trình chuyển đổi số thành công, giáo dục toàn dân về chuyển đổi số là ưu tiên cao nhất hoặc nhì. Như phần trên đã nêu, chuyển đổi số tạo ra những tài nguyên vô hình dạng kỹ thuật số, và nguyên tắc cộng lực chỉ thành công với điều kiện vô hình và mở đi với nhau. Vậy mở trong giáo dục có ở Việt Nam?      Giáo dục Mở và TNGDM có khả năng giúp đào tạo ra nhân lực cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam ở hầu hết mọi lĩnh vực, bao gồm cả các khía cạnh đặc thù và quan trọng như đảm bảo an ninh mạng và an toàn thông tin của Việt Nam trong tương lai.      Cả Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hay Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 đều khẳng định hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam là hệ thống giáo dục mở và “phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”.  Nền tảng của Giáo dục Mở là Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) – OER (Open Educational Resources), vốn được UNESCO định nghĩa:  • Là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện nào mà nằm trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền đã được phát hành theo một giấy phép mở, cho phép những người khác không mất chi phí để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại.  • Giấy phép mở tham chiếu tới giấy phép tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyền và đưa ra sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại các tư liệu giáo dục.  UNESCO khuyến cáo các quốc gia đầu tư vào năm khía cạnh mục tiêu để phát triển TNGDM: (1) Xây dựng năng lực của các bên tham gia đóng góp để tạo lập, truy cập, sử dụng, tùy biến thích nghi và tái phân phối TNGDM; (2) Phát triển chính sách hỗ trợ TNGDM; (3) Truy cập hiệu quả và bình đẳng tới TNGDM chất lượng; (4) Nuôi dưỡng sự sáng tạo các mô hình bền vững cho TNGDM; (5) Thúc đẩy và tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế về TNGDM.  Theo thống kê của Creative Commons, tính tới hết năm 2017, trên thế giới có hơn 1,4 tỷ các tài nguyên được cấp phép mở Creative Commons, 85% trong số đó là các tài nguyên giáo dục mở, cho phép bất kỳ ai truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại. Điều đáng tiếc là, hầu như không có TNGDM bằng tiếng Việt, dù dân số Việt Nam gần 100 triệu người và xếp hạng thứ 13 trên thế giới.  Các tài nguyên giáo dục mở được nêu ở trên là đủ các dạng nội dung như văn bản (sách, sách giáo khoa, tạp chí, khóa học, bao gồm vô số các tập hợp dữ liệu mở .v.v.), hình ảnh, âm thanh, video. Một vài trong số chúng, dù có gốc là tiếng Anh, còn được dịch sang nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. Có những nội dung, ví dụ như các mô phỏng tương tác được dịch sang 93 ngôn ngữ, bao gồm cả tiếng Việt, với cả phần lý thuyết, các thí nghiệm và các trò chơi đi kèm, có thể trở thành tiêu chuẩn cho cả thế giới để học, vì nó giúp cho mọi người thoát khỏi tình trạng dạy chay, học chay được cho là phổ biến ở Việt Nam hiện nay.   Bên cạnh đó, có vài chục triệu video tiếng nước ngoài là các TNGDM dạy về một vấn đề nào đó rất thiết thực và cần thiết cho hơn 90% dân số Việt Nam không học đại học hoặc học tập suốt đời từ độ tuổi 15 trở lên để có thể có một nghề nào đó để sống và làm việc. Nếu các video tiếng nước ngoài đó được biến thành các video lồng tiếng Việt vì ai cũng có quyền để sửa đổi chúng, thậm chí trong nhiều trường hợp được phép sử dụng chúng cho các mục đích thương mại, miễn là tuân thủ với các điều khoản và điều kiện của giấy phép mở được gắn vào từng video đó. Sẽ rất lãng phí nếu giáo dục Việt Nam không khai thác kho tài nguyên khổng lồ và hữu ích này.  TNGDM đem lại nhiều lợi ích, trong đó lợi ích lớn nhất là khuyến khích khả năng sáng tạo của cả giảng viên và sinh viên dựa vào các TNGDM có sẵn rồi để tạo ra tri thức mới, chứ không đơn giản là những người sử dụng tri thức một cách thụ động. Với Việt Nam, nó sẽ giúp để tiếp cận được kho tri thức khổng lồ của thế giới với giá tiền thấp nhất có thể, không giới hạn số người truy cập và sử dụng chúng. Khi có tri thức, bạn mới có khả năng để đào sâu tri thức và sau đó tạo ra các tri thức mới – bằng cách này Việt Nam mới có khả năng để tiếp cận và triển khai thành công CMCN4.  Những giải pháp mở  Cấp phép mở là một trong những điều kiện tiên quyết để dữ liệu trở thành dữ liệu mở, cũng là điều kiện tiên quyết để một tài nguyên được gọi là TNGDM. Điều đáng tiếc là cấp phép mở không được dạy hầu như trong bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở Việt Nam ở tất cả các mức học. Bạn không thể đi với mở mà lại không biết cơ sở pháp lý của mở, thường được nêu qua các hệ thống giấy phép mở. Một trong vài gợi ý cụ thể cho giáo dục Việt Nam được nêu nhân Phiên họp thứ 2/2020 của Tiểu ban GDTX&HTSĐ diễn ra vào ngày 16/7/2020 do Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực tổ chức tại trụ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Đề nghị đưa môn học ‘Cơ bản về TNGDM’ với nội dung cấp phép mở như là một môn học bắt buộc và có tín chỉ vào trong tất cả các trường đại học và cao đẳng của Việt Nam, đặc biệt là vào trong các trường đại học và cao đẳng trong hệ thống các trường sư phạm, cũng như trong toàn bộ mạng lưới cơ sở GDTX – đặc biệt ở các cấp trung ương và tỉnh thành”.  Từ cuối năm 2017 cho tới thời điểm hết tháng 7/2020, Ban Tư vấn phát triển Giáo dục Mở (OEDAB) của Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam (AVU&C) có lẽ là nơi duy nhất ở Việt Nam cung cấp các khóa thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở với các nội dung cả lý thuyết và thực hành, cả theo phương thức mặt đối mặt và trên trực tuyến, cho gần 1.000 học viên là các cán bộ, giảng viên của hơn 100 trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam, một con số nhỏ so với 1,5 triệu giảng viên và 23 triệu sinh viên trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam.  Điều tương tự cũng đang diễn ra đối với các khía cạnh quan trọng không thể thiếu khác của mở như triết lý, mô hình phát triển, mô hình cấp phép, mô hình kinh doanh, mô hình xây dựng và quản lý cộng đồng… nghĩa là, hầu như không cơ sở giáo dục nào ở Việt Nam ở mọi cấp học dạy về những mô hình của mở. Lưu ý là để triển khai các mô hình của MỞ như được nêu ở đây, sẽ có những xung đột với các luật, quy định hiện hành trong nhiều lĩnh vực như khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục .v.v., và chắc chắn, cả thông tin và truyền thông nữa.   Giải quyết được rốt ráo các vấn đề của mở phải là vấn đề chung của các bộ, ngành. Một ví dụ dễ thấy là để phát triển TNGDM thì trước hết cần tới khung cấp phép mở, trong khi khung cấp phép mở chắc chắn sẽ liên quan tới bản quyền/các quyền sở hữu trí tuệ, nhiều bộ Luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác – là các vấn đề Bộ GD&ĐT hoặc Bộ TT&TT không thể một mình giải quyết, nếu không có sự vào cuộc của các bộ và cơ quan khác như Bộ KH&CN, Bộ VHTTDL, Bộ Tư pháp và Quốc hội, trong đó có Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội.  Giáo dục Mở và TNGDM có khả năng giúp đào tạo ra nhân lực cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam ở hầu hết mọi lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực thông tin truyền thông ở cả các khía cạnh đặc thù và quan trọng như đảm bảo an ninh mạng và an toàn thông tin của Việt Nam trong tương lai, tiến tới giảm dần sự phụ thuộc vào các sản phẩm ngoại cũng như có khả năng giúp cho “Make in Vietnam” trở thành hiện thực.  Cùng với các khía cạnh khác của Mở như Truy cập Mở, Dữ liệu Mở và Khoa học Mở .v.v., chúng tạo nên những thay đổi căn bản và tận gốc nhiều lĩnh vực của xã hội, phù hợp với xu thế của thế giới. Đây cũng là sự thay đổi về văn hóa của cả xã hội Việt Nam, từ văn hóa “tiền nào của nấy” thường chỉ đúng với những tài nguyên hữu hình theo truyền thống hàng ngàn năm nay, sang văn hóa “chia sẻ ý tưởng” với nguyên tắc cộng lực để phát triển với các tài nguyên của thế giới mở và vô hình – thế giới số từ nay trở đi. Đây chắc chắn là một con đường dài, rất dài và khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì và nhất quán trong tầm nhìn phát triển quốc gia trong dài hạn, chứ không phải theo nhiệm kỳ, nay thế này mai thế khác.  Đây là sự thay đổi tận gốc! .          Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Chuyển đổi số: Chìa khóa tồn tại cho sân khấu thời coronavirus      Nghiên cứu mới của GS Pascale Aebischer và TS Rachael Nicholas từ Đại học Exeter, Anh, đã chỉ ra chuyển đổi số sẽ là chìa khóa để đảm bảo sự tồn vong của ngành công nghiệp sân khấu trong thời kỳ coronavirus bởi mọi người sẵn sàng trả tiền để xem các show diễn trực tuyến.      Nghiên cứu này do Hội đồng Nghiên cứu Nghệ thuật và Nhân văn Anh Quốc tài trợ – một phần của Quỹ Nghiên cứu và Đổi mới Anh (UKRI) về COVID-19.  Các buổi biểu diễn ảo có thể giúp nhà hát tiếp tục hoạt động trong tình trạng phong tỏa xã hội hoặc không thể tổ chức biểu diễn ngoài trời. Khoảng 3/4 số người trả lời khảo sát mới đây cho biết họ sẽ mua vé để xem buổi chiếu trực tiếp trên Zoom bất cứ lúc nào, ngay cả khi rạp hát được mở cửa trở lại. Việc tham gia các buổi biểu diễn trên Zoom khiến họ cảm thấy mình là một phần của cộng đồng và cho họ thêm cơ hội trải nghiệm với gia đình và bạn bè, dẫn đến giảm cảm giác biệt lập và cô đơn.  Các chuyên gia đã phân tích bài học từ quá trình chuyển đổi số thành công của vở kịch “Cơn bão” (The Tempest) do Creation Theater và nhà đồng sản xuất Big Telly Theater thực hiện, biểu diễn trên Zoom vào tháng 4 và tháng 5 năm nay. Họ khảo sát 13 nhân viên hành chính và nhân viên sáng tạo đã tham gia vào quá trình sản xuất vở kịch, đồng thời phân tích 93 bảng trả lời câu hỏi trực tuyến từ khán giả đã tham dự buổi trình diễn “Cơn bão” trực tuyến.  Hầu hết những người tham gia khảo sát cho biết họ muốn xem các sản phẩm chuyển thể từ một vở kịch hoặc tiểu thuyết nổi tiếng. Điều này chỉ ra, tính quen thuộc với tác phẩm có thể là yếu tố quan trọng khiến khán giả muốn tham dự vào sân khấu Zoom. Một tỷ lệ phản hồi tương tự cho biết họ cũng hứng thú với những tác phẩm mới.  Khi “Cơn bão” được biểu diễn “thực” vào năm ngoái, nó đã thu hút 3.368 khán giả và khách du lịch từ 11 quốc gia. Phiên bản “ảo” trên Zoom vào năm 2020 đã tiếp cận hơn 1.200 hộ gia đình ở 27 quốc gia, qua đó giúp công ty thu hút khán giả và cho phép những khán giả trước đây không có dịp đến sân khấu tiếp cận được với các tác phẩm nghệ thuật.  Creation Theater tính vé 20 bảng cho mỗi thiết bị xem kịch. Thành công về mặt tài chính giúp họ “mở cửa” được trong thời kì phong tỏa, thu được một chút lợi nhuận và tiếp tục sản xuất những tác phẩm mới có khả năng vươn tới toàn cầu. Phần lớn những người được khảo sát cho biết màn trình diễn xứng đáng với số tiền bỏ ra, đặc biệt khi chỉ bị tính phí trên mỗi thiết bị xem. 79% cho biết sẵn sàng trả tiền để xem các buổi biểu diễn khác trên Zoom, cả trong và ngoài thời kì phong tỏa.  Khán giả cho biết, công nghệ Zoom dễ hoặc rất dễ sử dụng trong buổi biểu diễn. Điều quan trọng với họ là được xem trực tiếp các diễn viên biểu diễn. Các nhà sản xuất thiết kế sao cho người xem cũng được tham gia tương tác và cảm nhận không khí cộng đồng.    Tuy nhiên các buổi biểu diễn trên Zoom cũng có những thách thức nhất định. Cả người biểu diễn lần người xem đều có cảm giác mệt mỏi khi nhìn vào màn hình trong một thời gian dài, hay còn gọi là “Zoom fatigue”. Các nghệ sĩ cũng phải đối phó với độ trễ thời gian của ứng dụng. Họ phải vận dụng hết kỹ năng ứng phó cùng khơi gợi thiện chí, thông cảm của khán giả mỗi khi internet bị gián đoạn.  Tuy vậy, Zoom cũng rất hiệu quả khi tiếp cận khán giả mới. 27% số người được hỏi nói rằng họ chưa từng nghe đến Creation Theater trước khi xem buổi biểu diễn trên Zoom. 13% người được hỏi nói rằng họ hiếm khi tham dự các buổi biểu diễn trực tiếp ở nhà hát.  Ngoài những con số sơ bộ kể trên, báo cáo của nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một bộ công cụ kỹ thuật số cho những công ty muốn thực hiện một buổi biểu diễn trực tiếp trên nền tảng kỹ thuật số khi làm việc từ xa, các lời khuyên từ chính đội sản xuất vở kịch “Cơn bão” khi biểu diễn trên Zoom, một bộ tài liệu hướng dẫn do đại diện Công đoàn những người thực hành sáng tạo Anh tư vấn, và danh sách công việc cần thực hiện cho một buổi biểu diễn trên Zoom do Giám đốc sản xuất của Creation Theater biên soạn.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-digital-key-survival-theatre-industry.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi số: Quá trình chuyển mình của doanh nghiệp      Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng toàn cầu trong rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức trong CMCN 4. Theo báo cáo năm 2016 của công ty kiểm toán, tư vấn tài chính PricewaterhouseCoopers, 86% trong số 2000 doanh nghiệp từ 26 quốc gia được nghiên cứu kỳ vọng đạt được việc giảm kinh phí và tăng lợi nhuận nhờ nỗ lực chuyển đổi số trong vòng 5 năm. Vậy tác động của chuyển đổi số đến từ đâu?      Nếu thích ứng được với quá trình số hóa, sự chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề của lực lượng lao động sẽ tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp. Nguồn: Lynda.com.  Về bản chất, chuyển đổi số bao gồm cả các quá trình, phương thức xử lý thông minh giúp doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ hơn với khách hàng, tùy chỉnh và chuyển đổi sản phẩm, tiết kiệm chi phí, tăng năng lực nhân viên qua công nghệ, tạo ra các mô hình kinh doanh mới, phương thức quản lý mới…  Trong buổi đầu của chuyển đổi số, có một số khái niệm khiến người ta dễ nhầm lẫn. Do đó, chúng ta cần phân biệt các khái niệm chuyển đổi sang dạng số (Digitization), áp dụng công nghệ số (Digitalization) mà ta hay gọi chung là số hóa với chuyển đổi số (Digital Transformation) mặc dù chúng là các quá trình khác nhau của chuyển đổi số. Để hiểu rõ hơn các khái niệm, chúng ta hãy thử lấy một ví dụ trong lĩnh vực chúng ta quen thuộc là giáo dục:   Việc giáo viên đưa bài giảng lên thành slides, video, học sinh trao đổi, làm bài thi qua internet, trao đổi kiến thức qua email là bước chuyển đổi sang dạng số (Digitization). Bước này có thể coi như bước chuẩn bị, thay đổi cách lưu trữ, chuyển tải thông tin, kiến thức.  Việc ứng dụng các công nghệ dựa trên các dữ liệu dạng số này như tự động chấm điểm bài thi, phát hiện sao chép khi làm bài, dùng dữ liệu lớn phân tích khả năng của học sinh, nhu cầu đào tạo của của xã hội, dùng AI, máy tính trả lời tự động một số câu hỏi của học sinh, dùng internet thu/trả học phí, dùng mạng xã hội để marketing chương trình đào tạọ, kết nối học viên… là bước áp dụng công nghệ số (Digitalization) vào các quy trình giáo dục. Ở bước này, giá trị mang lại là sự tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của con người nhờ sử dụng công nghệ.  Việc dựa vào các công nghệ mới này nảy sinh ra các hình thức đào tạo, cách thức quản lý giáo dục mới như học và dạy từ xa, có thể mở ra chương trình đào kết nối giáo viên từ nhiều nơi trên thế giới, tận dụng giáo viên dư thừa nơi này để dạy nơi khác, có thể dùng bài giảng hay thanh toán học phí qua các phương tiện online để mở ra thị trường, khai thác các giá trị mới… chính là chuyển đổi số (Digital Transformation) trong lĩnh vực giáo dục. Bước này tạo ra đột phá về giá trị khi tạo ra cách tiếp cận mới, nguồn thu mới trong giáo dục.   Do đó có thể nói một cách ngắn gọn, chuyển đổi số là hệ quả, hiệu ứng của quá trình chuyển đổi sang dạng số và tận dụng các công nghệ xử lý số.   Có rất nhiều lĩnh vực có thể hưởng lợi sớm từ chuyển đổi số như chăm sóc sức khỏe, ngân hàng – tài chính, thương mại điện tử, sản xuất đồ chơi, kinh tế chia sẻ, quản lý khách sạn, dịch vụ taxi – vận tải… Cùng với các  lĩnh vực khác đang tham gia tích cực và tận dụng quá trình chuyển đổi số, chúng cùng tạo ra các hình thức kinh doanh, mang lại giá trị mới cho con người và xã hội. Tuy nhiên chuyển đổi số cũng sẽ đối mặt với các thách thức mới, nên doanh nghiệp, tổ chức vẫn cần liên tục thay đổi để thích ứng và  giải quyết, ví dụ công nghệ số phải đi đôi với bảo mật số. Các ứng dụng số càng nhiều thì nguy cơ bị tấn công mạng (cyber attack) càng cao hơn, dữ liệu dễ bị rò rỉ nhiều hơn. Sự phát triển công nghệ, mô hình kinh doanh mới xuất hiện quá nhanh cũng khiến các chế tài, luật pháp hay các quy định (regulation) của các mô hình kinh doanh truyền thống không theo kịp, cần phải chuyển đổi để thích ứng.  Vài kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia quá trình chuyển đổi số  Mặc dù các bước chuyển đổi sang dạng số, áp dụng công nghệ số là quá trình tất yếu của chuyển đổi số, tuy nhiên mỗi ngành công nghiệp, dịch vụ có một đặc thù nhất định nên không dễ định nghĩa một quy tắc thành công hay bước cụ thể chung nào. Qua quan sát và trải nghiệm về quá trình chuyển đổi số ở một số các tổ chức, doanh nghiệp, tôi nhận thấy có một số vấn đề cần chú trọng:     Thu thập dữ liệu, thiết lập chỉ số và đánh giá  Luôn phải coi dữ liệu là tài sản của doanh nghiệp, tổ chức hay của quốc gia. Có thể thấy các công nghệ mấu chốt trong cuộc CMCN 4.0 đều xoay quanh vấn đề dữ liệu như IoT dùng để thu thập dữ liệu, các công nghệ BigData, AI cần dữ liệu để đào tạo, xử lý, các công cụ Analytics cần dữ liệu để hỗ trợ quyết định…  Thu thập, làm sạch, có biện pháp bảo vệ dữ liệu, có các công nghệ tiên tiến xử lý, phân tích dữ liệu là những khía cạnh không thể thiếu trong doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Lưu ý chất lượng của dữ liệu là rất quan trọng. Quyết định, gợi ý, dự báo sai hay lãng phí tài nguyên, công nghệ xử lý dữ liệu là hậu quả của dữ liệu kém chất lượng khi thu thập.       Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị.      Khi có dữ liệu, quy trình được số hóa, việc “cân, đo, đong, đếm” trở nên dễ dàng hơn. Các tổ chức doanh nghiệp cần xác định ra các các chỉ số liên quan đến nghiệp vụ của doanh nghiệp để so sánh và cải tiến và tập trung tối ưu chỉ số này. Có thể ban đầu chỉ xác định ra một chỉ số (ví dụ giảm thời gian trung bình khách hàng nhận được sản phẩm của công ty), chỉ số này được phân nhỏ ra xem phụ thuộc vào chỉ số thành phần nào, mỗi chỉ số thành phần phụ thuộc vào quy trình nào, sản phẩm nào, có thể cải tiến bằng một giải pháp công nghệ mới nào không, nếu thay đổi giải pháp, chỉ số này tăng giảm ra sao  Bắt đầu bằng những giải pháp “thắng nhanh” (quick win solution)  Đừng trông chờ vào số hoá toàn bộ các bước, quy trình hay có một giải pháp công nghệ tổng thể cho doanh nghiệp, tổ chức. Quá trình chuyển đổi số là quá trình liên tục: thu thập dữ liệu, thay đổi cải tiến dựa trên dữ liệu này, tiếp tục thu thập dữ liệu từ sự thay đổi, tiếp tục chuyển đổi… và có thể áp dụng trong từng bộ phận nhỏ của tổ chức hay doanh nghiệp hay chỉ trong một quy trình dịch vụ. Các công nghệ cũng thay đổi rất nhanh, nên nếu có dữ liệu, có công nghệ xử lý dữ liệu ở quy trình nào để giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh hãy áp dụng ngay. |  Nên áp dụng số hóa, chuyển đổi ở từng bước, quy mô nhỏ để tránh bị ảnh hưởng đến các nguồn thu, mô hình kinh doanh chủ đạo của doanh nghiệp, giảm thiệt hại khi mắc sai lầm. Cách tiếp cận số hóa từng bước sẽ tránh bị sa lầy vào các giải pháp công nghệ chưa thành thạo, không “gây sốc” đến quy trình truyền thống của doanh nghiệp. Việc thường xuyên cập nhật, nắm bắt sự ra đời các công nghệ, dịch vụ mới sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các giải pháp “thắng nhanh” này.    Tích hợp số, API và Microservice   Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị. Ví dụ một doanh nghiệp cần dữ liệu, quy trình xử lý từ một doanh nghiệp khác thay vì trao đổi qua email, hệ thống file, mua ứng dụng có thể dùng các giao diện lập trình ứng dụng (API) để trao đổi dữ liệu và xử lý dữ liệu đấy. Việc tạo ra các API cũng có thể giúp doanh nghiệp nhanh chóng tạo ra hướng dịch vụ, tiếp cận khách hàng mới. Ví dụ doanh nghiệp chỉ có ứng dụng trên Web, dựa vào API có thể nhanh chóng có ngay ứng dụng trên mobile hoặc tích hợp vào ứng dụng của doanh nghiệp khác để chia sẻ thị trường (chẳng hạn doanh nghiệp thương mại điện tử dùng API của một doanh nghiệp cung cấp giải pháp thanh toán, doanh nghiệp vận tải dùng API của doanh nghiệp dịch vụ bản đồ…).   Với các tổ chức, dịch vụ công, dữ liệu mở, API mở càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế số. Ví dụ các nguồn dữ liệu về nghiên cứu khoa học, địa lý, lệ phí dịch vụ công, thông tin thời tiết, giao thông, phân bố dân số… đều là các nguồn dữ liệu rất có ích cho nhiều doanh nghiệp trong việc xây dựng ứng dụng, dịch vụ của mình.  Việc thiết kế, tổ chức các thành phần IT trong doanh nghiệp, tổ chức dưới dạng các microservice (chia một khối phần mềm lớn thành các dịch vụ nhỏ hơn), có thể triển khai trên các máy chủ khác nhau sẽ giúp việc tháo, lắp, tích hợp, thử nghiệm công nghệ mới diễn ra dễ dàng mà không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp.  Quy tắc 80/20  Thu thập và số hóa dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp giải quyết được 80% vấn đề chỉ với 20% nỗ lực. Trong thực tế có nhiều hiện tượng, dạng dữ liệu được phân bố theo nguyên tắc Pareto (Pareto principle) để có thể áp dụng quy tắc 80/20 này, ví dụ như một số từ chiếm phần lớn nội dung của văn bản, một số người có giá trị tài sản bằng phần lớn còn lại của thế giới, một số ít nguyên nhân gây ra phần lớn lỗi của một hệ thống…  Khi tôi tham gia một nhóm vừa triển khai sản phẩm mới của một doanh nghiệp, những ngày đầu tiên liên tiếp có phản hồi của khách hàng và bộ phận bán hàng vì một số lỗi sản phẩm. Thay vì vội vã tìm cách sửa ngay các lỗi khi nhận được phản hồi mà với nguồn của nhân lực của công ty không thể đáp ứng ngay được, các lỗi đó được thu thập lại, phân nhóm, tìm ra các đặc tính chung của nguyên nhân, rồi dựa vào các dữ liệu hiện tại của công ty để tạo ra một model ước tính lỗi nào sẽ gây ảnh hưởng tới nhiều lượng khách hàng nhất trong tương lai. Sau đó những lỗi dự đoán gây ảnh hưởng nhiều nhất được lựa chọn ưu tiên cho các kỹ sư sửa chữa. Sau khi sửa các lỗi này những ngày tiếp theo các phản hồi xấu và sức ép từ khách hàng giảm hẳn, nhóm kỹ sư có thời gian và ít stress hơn để xử lý nốt các lỗi còn lại.   Không chỉ áp dụng trong xử lý lỗi, một số tính năng mới của sản phẩm công ty cũng được thay đổi theo nguyên tắc này: Khi phân tích thấy phần lớn khách hàng chỉ dùng một vài tính năng của sản phẩm, chức năng này được ưu tiên tuỳ chỉnh để phù hợp với yêu cầu khách hàng hơn hoặc tạo ra sản phẩm mới nếu tính năng được yêu cầu từ khách hàng còn thiếu. Rõ ràng những cách tiếp cận trên (data driven) sẽ không thể giải quyết được nếu doanh nghiệp không tích cực thu thập thông tin dữ liệu khách hàng, nhân viên, sản phẩm và tìm các nguồn dữ liệu, công nghệ thay thế để có giải pháp hiệu quả cho nó.  Thay đổi nguồn nhân lực để thích nghi với bối cảnh mới  CMCN4 tạo ra sự đe dọa đến công ăn việc làm của nhiều người vì máy móc, công nghệ sẽ làm thay một số công việc. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp thích ứng với nó có thế giúp lực lượng lao động của mình chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề để tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp thay vì cắt giảm nhân lực. Ví dụ trong lĩnh vực IT, khi nói về một kỹ sư quản lý hệ thống (System Administrator) ta có thể nghĩ ngay đến người mua sắm, lắp đặt kết nối máy móc, cài đặt phần mềm, máy in… Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, người kỹ sư hệ thống sẽ phải thích nghi với các khái niệm tính toán đám mây (cloud computing), các công cụ giám sát (monitoring) và các phần mềm, ngôn ngữ lập trình giúp tự động triển khai cài đặt hệ thống mới.  Các rào cản về kỹ thuật, ngôn ngữ cũng dần được tháo gỡ, ví dụ công cụ dịch tự động của Google cho phép dịch khá tốt hàng chục loại ngôn ngữ khác nhau. Nhiều công ty cung cấp các API để tích hợp vào hệ thống thông tin theo nhu cầu của doanh nghiệp để giải quyết khá tốt một vài vấn đề nhất định, nên những người đang làm công việc của mình trong công ty sẽ phải mở rộng kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn của doanh nghiệp để bù đắp lại phần việc máy tính đã thay thế. Mỗi nhân viên không nên đóng khung mình trong một công việc duy nhất mà nên dành thêm thời gian giao tiếp, tìm hiểu thêm công việc, học thêm kiến thức từ các bộ phận liên quan trong doanh nghiệp (bộ phận phụ thuộc vào mình và bộ phận mình phụ thuộc vào) để có trải nghiệm rõ hơn những giá trị mình tạo ra, giúp tùy chỉnh chính xác hơn chuỗi cung ứng nhân lực của doanh nghiệp.  Do đó, để theo kịp sự ảnh hưởng của CMCN4, mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ phải rất nỗ lực chuyển mình, để “ngấm” được quá trình thay đổi, ứng dụng của công nghệ thì mới hy vọng quá trình Chuyển đổi số đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. □    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Chuyển động Brown và thị trường chứng khoán      Sự vận động của các thị trường chứng khoán là sản phẩm của sự vận động kinh tế xã hội của con người. Chuyển động không ngừng của các hạt phấn hoa có nguồn gốc từ quá trình động học hỗn độn của các phân tử. Các nhà toán học bảo rằng, hai hiện tượng này là rất tương đồng với nhau, bởi vì chúng đều thuộc về những quy luật khoa học tự nhiên sâu sắc.    Vào năm 1827, nhà thực vật học Robert Brown đã quan sát thấy một hiện tượng kỳ lạ của những hạt phấn hoa lơ lửng trong một cốc nước. Chúng liên tục lắc lư, chuyển động một cách ngẫu nhiên và dường như không bao giờ dừng lại ngay cả khi cốc nước được giữ yên gần như tuyệt đối. Mãi đến năm 1905, hiện tượng này mới được Einstein giải thích đến nơi đến chốn bằng những tính toán xác suất thống kê sử dụng thuyết động học phân tử. Thuyết này giải thích rằng, sự nhảy nhót của các hạt phấn hoa được gây ra bởi chuyển động hỗn độn không ngừng của các phân tử nước. Và Einstein đã thành lập được những định luật toán học chi phối chuyển động của chúng.  Vào giai đoạn mà Einstein giải thích chuyển động Brown, nhà toán học Pháp Louis Bachelier cũng đã lần đầu tiên đề xuất rằng, các thị trường tài chính cũng tuân theo một “chuyển động ngẫu nhiên” có thể được mô hình hóa bằng các phép tính xác suất thông thường. Về đại để, cái “chuyển động ngẫu nhiên” của Bachelier cũng chính là một kiểu chuyển động Brown. Đối với sự chuyển động này, xu hướng thay đổi giá trị của một biến không liên hệ gì với những thay đổi của nó trong quá khứ. Ở đây, các phương pháp thống kê có thể được áp dụng với độ chính xác cao và đem lại sự giải thích có thể coi là hoàn hảo. Chính vì vậy, khi gặp phải một quá trình đa chiều kiểu như sự vận động của một thị trường chứng khoán thì các nhà phân tích vẫn có xu hướng chuyển nó thành một bài toán tương tự như chuyển động Brown. Lý thuyết chuyển động Brown của Einstein và mô hình “chuyển động ngẫu nhiên” của Bachelier trên thực tế là tương đương nhau. Chúng đã được áp dụng rộng rãi cho việc tính toán sự vận động của các thị trường.                Louis Bachelier        Hồi giữa thế kỷ 20, một nghiên cứu của M.F.M Osborne đã cho thấy rằng, vì những giá trị logarit của các giá cổ phiếu phổ thông biến đổi theo thời gian nên chúng có thể được coi là một tập hợp tương đồng với tập hợp các tọa độ của một số lớn các phân tử. Sử dụng một hàm phân bố xác suất để tính toán đối với một tập hợp các biến là các giá của một cổ phiếu được chọn ở các thời điểm ngẫu nhiên, Osborne đã có thể dẫn ra một hàm phân bố trạng thái dừng giống hệt như sự phân bố xác suất của một hạt trong chuyển động Brown. Một quy luật phân bố tương tự như vậy cũng áp dụng được đối với giá trị của tiền, được xác định một cách gần đúng bằng các chỉ số cổ phiếu. Một hệ quả của hàm phân bố là chính các giá trị kỳ vọng cho giá lại tăng theo sự tăng các khoảng thời gian và theo sự tăng các dao động giá. Nghiên cứu của Osborne đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng, giá cả trên thị trường thực sự biến đổi theo một kiểu cách giống như các phân tử trong chuyển động Brown. Osborne cũng đã khám phá ra rằng, có bằng chứng về sự tồn tại của các chu kỳ một ngày, một tuần, một quý và một năm của sự vận động giá trong kiểu chuyển động Brown. Những chu kỳ đó thực ra chính là những chu kỳ chi phối hoạt động xã hội của con người.  Đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu về thị trường cổ phiếu đã được thực hiện và phát triển xoay quanh mô hình chuyển động Brown. Chẳng hạn, theo một phân tích thống kê đối với thị trường cổ phiếu New York được thực hiện bởi R. N. Mantegna, những biến động hàng ngày của chỉ số giá được phân bố theo một phân bố bền Levy và mật độ phổ của chỉ số giá là gần với mật độ phổ trong chuyển động Brown. Một nghiên cứu khác là công trình của William Smith, người đã sử dụng phương pháp chuyển động Brown để phân tích các hiệu ứng ổn định giá trong đầu tư khi nhu cầu là bất định. Ông đã khảo sát các đặc điểm của sự đầu tư khi giá là ngẫu nhiên, ngoài sự phụ thuộc vào giá trần ngoại sinh. Với các phương trình toán học của chuyển động Brown, ông đã tính ra rằng, những điều khiển giá sẽ làm giảm nhẹ sự phản ứng của việc đầu tư đối với những thay đổi về giá, thậm chí cả khi những điều khiển là không bắt buộc. Những kết luận được rút ra có thể áp dụng cho bất cứ trạng thái kinh tế nào liên quan đến những chi phí cho việc điều chỉnh các cổ phiếu khi giá là bất định nhưng phụ thuộc vào sự điều khiển của chính phủ.  Những áp dụng của lý thuyết ngẫu nhiên này thực ra là rất sâu và rộng. Trong lĩnh vực kinh tế, các biến cố ngẫu nhiên có tác dụng thúc đẩy sự đổi mới. Nếu chúng ta mà biết được chính xác điều gì sẽ đến thì chúng ta chả cần phải học hành hay nghiên cứu gì nữa. Ở đây không có gì đảm bảo là chúng ta sẽ thắng lớn trong một vụ buôn cổ phiếu nhờ vào hiểu biết về chuyển động Brown, bởi vì nó chỉ đơn giản là đem lại cho chúng ta một cách tiếp cận để hiểu về sự vận động của các thị trường cổ phiếu. Tuy nhiên, dù sao thì lý thuyết về chuyển động Brown cũng giúp chúng ta kiếm tiền dễ hơn và có khả năng tốt hơn trong việc phát triển các chiến thuật đầu tư cũng như đánh giá rủi ro.    TT  Xem thêm:  1-L.Bachelier, Theorie de la Speculation (Gauthier-Villars, Paris, 1900)  2-P.H.Cootner,Ed.,The Random Character of Stock Market Prices (MIT Press,1964)  3-R.N.Mantegna, Physica A179 232 (1991)  4-Allyn L.Romanow,Journal of Mathematical Sociology,1984,Vol.10, pp 1-28  5-W.T.Smith,Journal of Econ Dynamics and Control 18,(1994),pp 561-579  6- S.J.Grossman, Journal of financial and quantitative analysis,(1992),Vol27,pp151-172  7-E.E.Peters, Fractal Market Analysis,J.Wiley and Sons, 1994.  8-A.Einstein, The Brownian Movement, 1956.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyên gia ADB: Nợ xấu của Việt Nam rất bất định      Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát  triển châu Á (ADB) Dominic Mellor đã dành phần lớn thời gian để cảnh  báo về vấn đề nợ xấu trong buổi công bố báo cáo triển vọng phát triển  châu Á (ADO) 2013 vào ngày 2-10. Dưới đây là lược ghi ý kiến của  ông.    ADB tỏ ra rất quan ngại với vấn đề nợ xấu, song phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại có vẻ lạc quan. Báo cáo của NHNN cho rằng tỷ lệ nợ xấu chỉ vào khoảng 4,6% tổng dư nợ, tương đương 139 ngàn tỉ đồng. Căn cứ vào mức trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) đến nay là 90.000 tỉ đồng, thì việc đưa tỷ lệ nợ xấu xuống 3% không còn là vấn đề. Ông bình luận như thế nào?  – Ông Dominic Mellor: Tôi nghĩ bản thân NHNN đã thừa nhận tỷ lệ nợ xấu 4,6% chỉ là con số báo cáo mà thôi. Vì thế, con số này mà giảm xuống 3% không phải xa. Với mức dự phòng rủi ro của các ngân hàng thì họ có thể xử lý được 1,6% này. Tuy nhiên, trong Thông tư 02, NHNN yêu cầu áp dụng quy định kế toán mới, phân loại nợ và trích lập dự phòng mới. Nếu áp dụng thông tư 02 thì mức nợ xấu sẽ lên cao hơn rất nhiều. Hơn nữa, các NHTM lại đang nợ lẫn nhau làm cho con số nợ xấu tăng lên nhiều.  Hơn nữa, theo quy định, các NHTM được quyền tự quyết định các khoản vay. Với các khoản vay quá hạn 1 tháng, họ sẽ vẫn coi là tài sản tốt, chứ không phải nợ xấu vì sợ sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp không có kế hoạch kinh doanh, thì theo Thông tư 02, các khoản nợ này phải được xác định là xấu.  Bên cạnh đó, hầu hết các khoản vay được đảm bảo bằng các tài sản như nhà và đất. Nhưng bất động sản đã đóng băng vài năm nay rồi. Giá các tài sản đảm bảo giảm cũng làm cho con số trích lập dự phòng không thể cao như thế đâu, mà sẽ thấp hơn.  Tóm lại, con số nợ xấu được đưa ra là bất định và không chắc chắn. Giá trị của trích lập dự phòng của các ngân hàng cũng không chắc chắn vì nó dựa trên các tài sản mà giá trị đã bị giảm nhiều so với giá trị sổ sách. Đây là vấn đề.  Trong bối cảnh đó, ông bình luận như thế nào về mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% đến cuối năm nay, từ mức 6% đến cuối tháng 9 vừa qua?  – Tăng trưởng tín dụng cũng rất thấp trong 9 tháng đầu năm nay so với chỉ tiêu 12%. Để đạt được chỉ tiêu thì tín dụng phải tăng trưởng rất mạnh trong quí 4-2013.  Tuy nhiên, khi chúng tôi tiếp xúc với các ngân hàng thương mại lớn thì họ cho biết rất khó để tìm được các đối tượng có thể cho vay, nên tín dụng mới thấp. Bên cạnh đó, bảng kế toán của các ngân hàng cũng rất yếu, nên các ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa là là không thể tăng trưởng tín dụng nhanh trong những tháng cuối năm. Năm ngoái cũng đã tương tự, thấp đầu năm và nhanh cuối năm.    Gần đây Thủ tướng nói rằng tỷ lệ nợ xấu khoảng 7%, ADB bình luận như thế nào?  – Chúng tôi không biết về tỷ lệ 7% này. Nhiều tổ chức quốc tế còn nói tới 15-16%. Tỷ lệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu các NHTM áp dụng Thông tư 02 thì sẽ có thông tin nợ xấu rõ ràng hơn.  Các NHTM nói là có nhiều tài sản đảm bảo cho các khoản nợ. Nhưng giá trị tài sản này đã giảm rất nhiều so với sổ sách. Hơn nữa, một số khoản nợ xấu không có tài sản đảm bảo. Vinashin vay mà không có tài sản thế chấp và tài sản đảm bảo. Nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng tương tự như vậy. Chúng ta có thể làm gì được với những khoản nợ xấu không có tài sản đảm bảo? Vì thế, chúng tôi cho rằng, cần phải tái cơ cấu lại doanh nghiệp. Việc giải quyết nợ xấu luôn song hành với tái cơ cấu doanh nghiệp. Chính phủ phải có những sáng kiến mạnh mẽ để tái cơ cấu doanh nghiệp, song song với giải quyết nợ xấu.  Ông bình luận như thế nào về vai trò của VAMC trong xử lý nợ xấu?  – Với các khoản nợ xấu không có tài sản đảm bảo, và doanh nghiệp đã chết thì VAMC không thể làm gì. Việc thực hiện nhiệm vụ của VAMC còn cần rất nhiều hành lang pháp lý và chính sách phù hợp. Chẳng hạn, việc xử lý các tài sản thế chấp là bất động sản. Nếu doanh nghiệp phá sản thì phải trả đất cho Nhà nước, trong khi đất đó đã được dùng để thế chấp ở ngân hàng. Vậy làm sao VAMC xử lý được. Điều này liên quan đến Luật Đất đai.  Hơn nữa, phải có cơ chế rõ ràng để biết tài sản được định giá như thế nào, có sát với giá thị trường không. Nếu không, nhà đầu tư không đủ dũng cảm để mua nợ xấu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyên gia hologram có thể tạo ra những hình ảnh đời thực và chuyển động trong không khí      Chúng có thể là những vũ khí tí ton nhưng nhóm nghiên cứu holography ở trường đại học Brigham Young đã xác định cách để tạo ra những thanh kiếm bằng ánh sáng –  màu xanh cho Yoda và đỏ cho Darth Vader – với những chùm tia dạ quang tỏa ra từ chúng.      Được truyền cảm hứng bằng khoa học viễn tưởng, các nhà nghiên cứu này đã tạo ra bằng kỹ thuật những trận đấu giữa các phiên bản nhỏ của Starship Enterprise và Klingon Battle Cruiser kết hợp việc phóng những con tàu bằng photon hình xì gà và tấn công con tàu của kẻ địch mà bạn có thể thấy bằng mắt thường.  “Những gì bạn đang thấy trong những cảnh mà chúng tôi đã tạo ra là thật; không có thứ máy tính nào tạo ra chúng hết”, Dan Smalley, một giáo sư kỹ thuật điện tại BYU và tác giả chính của công bố, nói. “Không phải như các bộ phim, nơi những thanh gươm ánh sáng hoặc các con tàu photon chưa bao giờ tồn tại một cách thực sự trong không gian vật lý. Đây là hình ảnh thật và nếu anh nhìn vào chúng ở mọi góc cạnh thì anh sẽ thấy là chúng tồn tại trong chính không gian”.  Đây là công trình của Smalley và nhóm nghiên cứu của ông, vốn ngay lập tức nhận được sự chú ý của cộng đồng nghiên cứu trong nước lẫn quốc tế ba năm trước khi họ định hình ra cách vẽ các vật thể trôi nổi tự do trong không gian. Gọi đó là những hiển thị bẫy quang học, họ đã tạo ra chúng bằng cách bẫy một hạt ánh sáng đơn lẻ trong không khí với một chùm tia laser và sau đó chuyển động với hạt bao quanh, để lại một đường bằng laser tỏa sáng trôi nổi trong không trung; giống như một bản in 3D bằng ánh sáng.    Dự án mới của nhóm nghiên cứu này đã nhận được một khoản trong gói tài trợ CAREER của Quỹ khoa học quốc gia cấp kinh phí. Nó đã lên tới một đẳng cấp mới và tạo ra những hoạt ảnh đơn giản trong không gian mỏng. Sự phát triển này đã tiến sâu hơn con đường để tạo ra một trải nghiệm cho con người thưởng lãm, nơi họ có thể tương tác với các vật thể ảo giống holographic đồng tồn tại trong không gian tức thời.  “Phần lớn các hiển thị 3 D đều đòi hỏi anh phải nhìn vào một màn hình nhưng công nghệ của chúng tôi cho phép tạo ra những hình ảnh trôi trong không gian – và chúng thực sự hiện diện về mặt vật lý, không phải là ảo ảnh”, Smalley nói. “Công nghệ này có thể tạo ra nội dung hoạt ảnh sống động các vật thể quay theo quỹ đạo hoặc di chuyển chậm theo hoặc bùng nổ”.  Để chứng minh được nguyên tắc đó, nhóm nghiên cứu đã tạo ra những hình dạng ảo có thể chuyển động trong không gian. Họ có thể biểu diễn sự tương tác giữa các hình ảnh ảo và con người bằng việc để một sinh viên đặt một ngón tay vào giữa màn hình thể tích đó và rồi quay phim một vật tương tự hình ngón tay đi lại và nhảy khỏi ngón tay này.    Smalley và Rogers đã miêu tả chi tiết đó và những đột phá khác trong bài báo mới “Simulating virtual images in optical trap displays” (Mô phỏng các hình ảnh ảo trong những hiển thị bãy quang học) trên tạp chí Scientific Reports của Nature 1. Công trình đã vượt qua một nhân tố giới hạn của các hiển thị bẫy quang học: công nghệ này vì thế thiếu khả năng cho thấy những hình ảnh ảo, Smalley và Rogers chứng tỏ có thể mô phỏng các hình ảnh ảo bằng việc sử dụng một màn chiếu phối cảnh biến đổi theo thời gian.  “Chúng tôi có thể thể hiện một vài thủ thuật khác thường với chuyển động song song và chúng tôi có thể khiến cho sự hiển thị trông lớn hơn nhiều về mặt vật lý”, Rogers nói. “Phương pháp này có thể cho phép chúng tôi tạo ra một ảo ảnh của hiển thị vật thể sâu hơn về mặt lý thuyết của một hiển thị hữu hạn về kích thước”.  Anh Vũ  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-hologram-experts-real-life-images-air.html  —-  1. Công bố của các tác giả. https://www.nature.com/articles/s41598-021-86495-6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển giao công nghệ: đường tắt xây dựng công nghiệp Việt Nam      Nếu trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thị trường 800 triệu dân và chiếm 40% GDP toàn cầu, Việt Nam nên khai thác tối đa bối cảnh thuận lợi này để tiếp thu công nghệ qua hợp tác quốc tế – con đường tắt để theo kịp công nghiệp thế giới.      Chuyển giao công nghệ: từ hoài nghi… đến tin tưởng    Sự trao đổi và chia sẻ trong lĩnh vực công nghệ giữa hai quốc gia hay hai doanh nghiệp vốn có từ lâu. Dù vậy, sự chênh lệch về trình độ kinh tế và khoa học kỹ thuật, sự khác biệt về văn hóa-xã hội và những hàng rào thương mại giữa các quốc gia là những trở ngại gây khó khăn cho quá trình này trong suốt nửa thế kỷ trước.    Sau khi giành được độc lập ở các thập niên 1950-1960, đa số các quốc gia tập trung nỗ lực vào xây dựng kinh tế và phát triển công nghiệp nội địa. Những kế hoạch này chủ yếu dựa vào hai yếu tố mâu thuẫn nhau, một mặt các nước đang phát triển được giúp đỡ hoặc chủ động mua các công nghệ từ những nước phát triển, mặt khác, xây hàng rào thuế để giúp ngành công nghiệp trong nước có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng nhập khẩu. Trong bối cảnh này, bên bán công nghệ không thực sự muốn chuyển giao tất cả những “know-how” mà họ giữ lại những bảo bối với mục đích để bên mua không đạt được trình độ cạnh tranh hoặc luôn luôn phải lệ thuộc.    Khi kinh tế thế giới được tổ chức theo từng vùng thương mại tự do, trong đó các hàng rào thuế từ từ được hủy bỏ, luật chơi cũng đã thay đổi. Các doanh nghiệp ngoài vùng cần liên minh với các đối tác địa phương để có cơ sở thâm nhập vào các thị trường của vùng. Mặt khác, các doanh nghiệp địa phương cần vốn và kỹ thuật của nước ngoài để tồn tại và phát triển. Sự gặp gỡ về quyền lợi này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ. Bên dạy sẽ không giấu nghề, nhưng bên nhận có đủ khả năng hấp thụ để áp dụng vào hệ thống sản xuất địa phương không? Câu trả lời thay đổi tùy theo khả năng của mỗi quốc gia.    Trong khi nhiều nước gặp thất bại, cũng trong những thập niên cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông đã xây dựng được một nền công nghiệp có tầm vóc thế giới, chủ yếu dựa vào chuyển giao công nghệ. Các nhà phân tích nhận định rằng những nước này thành công vì có nền văn hóa mạnh nên khả năng hấp thụ cao và có ý chí xây dựng một nền công nghiệp tân tiến. Hơn nữa, giới lãnh đạo có tầm nhìn rộng và xa về hợp tác quốc tế, họ quan niệm chuyển giao công nghệ không phải là hấp thụ bằng cách bắt chước, nhưng  phải biết chọn lọc những cái hay để ghép với những kỹ thuật trong nước, kể cả những kỹ thuật truyền thống nhằm xây dựng một công nghệ thích hợp với những điều kiện và văn hóa quốc gia. Một nền công nghiệp xây dựng từ những cơ sở quốc gia mới thực sự có khả năng phát triển mạnh, như trường hợp nước Nhật.    Theo gương của Nhật, công nghiệp hiện đại của Hàn Quốc đã được xây dựng khởi đầu từ các công nghệ nhập khẩu. Họ đã bỏ rất nhiều vốn để mua các kỹ thuật của Nhật, Mỹ và châu Âu: từ 1 triệu đô la Mỹ năm 1967 vọt lên 90 triệu đô la Mỹ năm 1980, 141 triệu đô la Mỹ năm 1983 và 411 triệu đô la Mỹ năm 1988. Trong ngành điện tử, Hàn Quốc đã mua hàng trăm bằng sáng chế. Nhưng yếu tố quan trọng trong thành công của Hàn Quốc là sự nghiêm chỉnh trong việc chuẩn bị nhân sự và phương tiện để hấp thụ công nghệ. Bản báo cáo nội bộ của CIBA – GEIGY, một công ty sản xuất thuốc Thụy Sỹ, về kinh nghiệm hợp tác với Hàn Quốc đã chứng minh điều này:    “Trong suốt quá trình hợp tác, chúng tôi tin chắc rằng mình được dẫn trên một con đường đã vạch sẵn với những đoạn và điểm đi qua được định theo mục tiêu của họ và theo những gì mà họ biết về mình”.    Tóm lại, hợp tác công nghệ quốc tế tùy thuộc chính yếu vào hai yếu tố: độ tin cậy giữa hai đối tác và khả năng hấp thụ của bên nhận. Qua kinh nghiệm của các con rồng châu Á, khi có quyết tâm, có kế hoạch chuẩn bị cẩn thận, khả năng hấp thụ sẽ tăng và từ đó xác suất thành công tăng như được trình bày ở biểu đồ dưới đây.    Cần đưa công nghệ vào doanh nghiệp và xã hội    Với Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ tập hợp được nhiều điều kiện khách quan để phát triển một nền công nghiệp hiện đại, nhưng thực hiện được hay không tùy thuộc khả năng tiếp thu công nghệ của các doanh nghiệp và chính sách phát triển công nghiệp của Nhà nước.    Tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải là trọng điểm của chương trình công nghiệp hóa. Dù có những yếu tố ngoại sinh thuận lợi, khó khăn hiện tại của Việt Nam là đa số các doanh nghiệp còn được lãnh đạo bởi những người sáng lập, thành công nhờ khả năng thương mại hay thời cơ chứ căn bản không dựa trên kỹ thuật hiện đại, do đó kỹ thuật chưa đi vào văn hóa của doanh nghiệp. Hầu như tất cả các quốc gia ở trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa đều gặp khó khăn này. Như trường hợp Thái Lan và Brazil, khi phân tích các hợp đồng và nội dung thương thuyết của các doanh nghiệp ở hai nước này với các đối tác quốc tế năm 1980 thì thấy những tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu là chất lượng/giá, cách thanh toán, thương hiệu của đối tác, thời hạn giao hàng… Không doanh nghiệp nào đã thảo luận về điều kiện tiếp thu công nghệ vì những người lãnh đạo đã không đặt nặng vấn đề kỹ thuật. Hậu quả là các doanh nghiệp không chuẩn bị tốt về nhân lực, tổ chức và kế hoạch để học trong điều kiện tối ưu.    Tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam còn ngổn ngang, nhưng việc ưu tiên phải làm là bỏ chiến lược hàng giá rẻ để chuyển qua hàng chất lượng cao với giá cạnh tranh tốt bằng cách liên doanh với các công ty nước ngoài. Chúng ta có điều kiện để thiết lập một sự hợp tác bình đẳng, hai bên đều có lợi: công nghệ hiện đại trao đổi với giá lao động rẻ và thị trường TPP. Nhưng sự trao đổi này chỉ có kết quả dài hạn nếu chúng ta biết thương lượng rõ ràng về những điều kiện chuyển giao công nghệ, chuẩn bị kỹ nhân lực, phương tiện và chương trình làm việc để có khả năng tiếp thu và áp dụng hiệu quả nhất trong những điều kiện và văn hóa Việt Nam.  Những yếu tố cần thiết để thực hiện thành công gồm:  Thứ nhất, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam phải chọn công nghệ là khí giới cạnh tranh chính, họ phải là động lực của chuyển giao công nghệ;  Thứ hai, Nhà nước hỗ trợ bằng cách đào tạo các chuyên viên kỹ thuật nắm rõ về các phương pháp, quy trình chuyển giao công nghệ. Cụ thể là trong chương trình dạy của các trường đại học Việt Nam cần có những khóa dạy về ngành này, cần thành lập một trung tâm “Chuyển giao công nghệ” để hỗ trợ và trao đổi kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp hầu gây nên được một môi trường thuận lợi cho tiếp thu.    Nguồn:http://www.thesaigontimes.vn/128098/Chuyen-giao-cong-nghe-duong-tat-xay-dung-cong-nghiep-Viet-Nam.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển giao kết quả nghiên cứu: Cần có niềm tin      Sự kết nối giữa TS. Hà Phương Thư (Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và Công ty Cổ phần Dược phẩm Mỹ phẩm (CVI), không chỉ đem lại cơ hội chuyển giao kết quả nghiên cứu mà còn góp phần tạo ra một trung tâm hợp tác tương tự như mô hình phòng thí nghiệm chung của Công ty CP bóng đèn Phích nước Rạng Đông và Viện KH&CN Tiên tiến (AIST, Đại học Bách khoa HN).      TS. Hà Phương Thư hướng dẫn các thành viên trong nhóm nghiên cứu điều khiển máy sấy phun, thiết bị do công ty CVI đầu tư.   Mối quan hệ hợp tác giữa TS. Hà Phương Thư và CVI, được bắt đầu với sản phẩm nano curcumin, một dạng vật liệu có kích thước nano mét và mang hợp chất curcumin được phân lập từ củ nghệ vàng (Curcuma longa L., thuộc họ Gừng Zingiberaceae). Với nhiều tác dụng dược lý tốt, lâu nay, hợp chất curcumin đang được nhiều công ty dược phẩm Việt Nam và thế giới sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng dùng để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh như ung thư, viêm nhiễm… Việc áp dụng công nghệ nano để đưa curcumin từ vật liệu khối sang vật liệu nano đã đem lại cho nó hiệu quả điều trị mới. PGS. TS Phương Thiện Thương (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) nhận xét, “mục đích chính của việc tạo ra vật liệu nano curcumin không chỉ để tăng sự hấp thu curcumin vào trong máu mà còn có thể dẫn nó đến đích, ví dụ như chỗ bị viêm nhiễm, tế bào ung thư, để nó phát huy tác dụng được tốt hơn”.  Tuy nhiên, cũng như nhiều hoạt chất thiên nhiên khác, nhược điểm lớn nhất của curcumin là khó tan trong nước, dẫn đến khả năng hấp thu kém, tính sinh khả dụng thấp. Vì vậy cần phải nano hóa curcumin bằng cách bao bên ngoài các phân tử curcumin bằng một lớp vỏ bao là các polysaccharide có nguồn gốc từ tự nhiên. Sự khác biệt giữa sản phẩm nano curcumin do nhóm nghiên cứu này hay nhóm nghiên cứu khác làm ra không chỉ ở kích thước của vật liệu mà còn là chất bao ngoài.  “Các chất bao ngoài của chúng tôi đều là chất hòa tan có nguồn gốc thiên nhiên nhằm bảo đảm tối đa yêu cầu về độ tương thích sinh học và phân hủy sinh học”, TS. Hà Phương Thư cho biết. Đây cũng là một trong những lý do để CVI đặt hàng các nhà nghiên cứu Viện Khoa học Vật liệu (KHVL) thông qua dự án sản xuất thử nghiệm “Nghiên cứu quy trình bào chế hệ dẫn thuốc kích thước nano: Nano (Fucoidan-Ginseng-Curcumin) dùng trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư” (2015-2016). Sản phẩm từ dự án đã được thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư và trên chuột thiếu hụt miễn dịch và đem lại kết quả tốt trong hạn chế sự phát triển ung thư phổi, gan, vòm họng, đồng thời tăng cường hệ miễn dịch. Với kết quả này, vào tháng 10/2016, Viện KHVL và CVI đã ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ nguyên liệu phức hệ nano FGC.  Niềm tin giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu  TS. Hà Phương Thư bắt đầu nghiên cứu về nano curcumin từ năm 2009, đến nay ba đề tài Nafosted, hai đề tài cấp Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và hơn một nửa trong số 30 công bố của chị đều liên quan đến vật liệu này1. Là một nhà nghiên cứu có nhiều sản phẩm rất tiềm năng về nano curcumin, tại sao ở thời điểm này, TS. Hà Phương Thư mới chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp? Trả lời câu hỏi này, TS. Hà Phương Thư cho biết, trước khi gặp gỡ và kết nối với công ty CVI, chị cũng trải qua một vài lần hợp tác với một số doanh nghiệp, tuy nhiên “cả hai bên đều cảm thấy chưa đủ ‘duyên’ nên chưa sẵn sàng hợp tác”. Theo chị, chữ “duyên” ở đây được tạo dựng bởi lòng tin của cả hai phía.  Không riêng với trường hợp của TS. Hà Phương Thư, một số nhà nghiên cứu mà chúng tôi gặp gỡ đều cho rằng, sự tin tưởng của doanh nghiệp đối với công nghệ, quy trình sản xuất và sản phẩm của họ là yếu tố quan trọng để đưa đến thành công trong hợp tác. Ví dụ, PGS. TS Tăng Thị Chính (Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người đã chuyển giao thành công ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý rác thải sinh hoạt và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, sản phẩm của một dự án KH&CN độc lập cấp nhà nước, cho công ty Quản lý môi trường đô thị Hà Tĩnh vào năm 2015, cho biết, sự tin tưởng tuyệt đối của giám đốc công ty Lê Quang Đức cũng là một trong những động lực để chị hoàn thiện quy trình, “đem lại sản phẩm thật chứ không phải là sản phẩm mang tính đối phó”, qua đó giúp doanh nghiệp có thể tự chủ trong mọi công đoạn sản xuất.  Đó cũng là yếu tố mà TS. Hà Phương Thư đánh giá cao ở CVI, công ty ngay từ ngày thành lập đã chọn hướng ứng dụng công nghệ nano trên các hợp chất ít tan, nâng cao độ tan của các dược chất để tăng cao tính sinh khả dụng của thuốc và tin tưởng các nhà khoa học có thể giúp công ty kiên trì định hướng này. Chị bộc bạch, “dù sản xuất ở quy mô nhỏ thì chúng tôi vẫn cần sự hỗ trợ của doanh nghiệp, không chỉ để họ hỗ trợ mình kinh phí sản xuất đâu mà sự có mặt của họ đem lại niềm tin là sản phẩm do mình làm có đầu ra chứ không phải tự làm một cách mơ hồ”.  Về phần CVI, dược sĩ Phan Văn Hiệu, chủ tịch hội đồng quản trị công ty, cho biết, qua nhiều kênh, anh biết TS. Hà Phương Thư đã thực hiện nghiên cứu về về nano curcumin từ khá lâu, và quan trọng là “đề tài đã được nghiệm thu và có công bố quốc tế đi kèm”. Với kiến thức về dược liệu cổ truyền và sự nhạy bén trong kinh doanh, anh nhận thấy sản phẩm từ đề tài của chị có khả năng “sống được” trên thị trường. Vì thế, anh đã trao đổi với TS. Hà Phương Thư về khả năng khai thác vật liệu nano curcumin dựa trên kết quả nghiên cứu về hợp chất nano curcumin và betaglucan mà chị đã thực hiện cùng PGS. TS Lê Thị Mai Hương (Viện Hóa học và Các hợp chất thiên nhiên, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), cơ sở hình thành dự án sản xuất thử nghiệm về phức hệ nano FGC Nano (Fucoidan-Curcumin-Ginseng) giữa CVI và Viện KHVL  do TS. Hà Phương Thư làm chủ nhiệm.  Với các dự án sản xuất thử nghiệm trong nhiều lĩnh vực, hoàn thiện quy trình công nghệ để đưa sản xuất từ quy mô phòng thí nghiệm lên quy mô công nghiệp là yêu cầu khó nhất. Nguyên nhân thông thường là “các nhà khoa học mới chỉ quen làm thí nghiệm và có ý tưởng ban đầu” như lời giải thích của ông Nguyễn Huy Văn, Phó Tổng giám đốc Công ty Traphaco với Tia Sáng vào đầu năm 2016. May mắn là vấn đề này không quá khó khăn với các nhà nghiên cứu của Viện KHVL bởi từ lâu, lãnh đạo Viện đã khuyến khích các thành viên mạnh dạn ứng dụng kết quả nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm bằng những cơ chế rất cởi mở, linh động về thủ tục hành chính, tài chính…, khi cần thiết sẵn sàng đầu tư kinh phí mua sắm một số thiết bị đầu tay để họ có thể sản xuất ở quy mô nhỏ. Nhờ thế, bên cạnh các trang thiết bị thí nghiệm, Phòng Vật liệu nano Y sinh cũng đã được lãnh đạo Viện KHVL tạo điều kiện để có “một diện tích sản xuất nho nhỏ”, trong đó “một số máy móc là do chúng tôi tự thiết kế và đặt hàng doanh nghiệp chế tạo, một số thiết bị được Quỹ Innofund của Bộ KH&CN tài trợ, đây là cách chúng tôi làm quen dần với quy mô sản xuất”, TS. Hà Phương Thư cho biết.  Tuy nhiên, nâng cấp quy mô không phải chuyện dễ, “hai chị em phải làm tiếp bằng cách đầu tư máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, qua đó nâng dần sản lượng từng mẻ lên từ 3kg lên 10kg, 20kg vật liệu/tháng rồi mới ổn định được”, dược sĩ Phan Văn Hiệu kể. Quá trình này diễn ra gần một năm song song với việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng kháng ung thư của sản phẩm CumarGold Kare” do CVI đặt hàng PGS. TS Nguyễn Lĩnh Toàn (Học viện Quân y) để nghiên cứu tác dụng của sản phẩm trên dòng tế bào ung thư vòm họng, phổi, gan, vú, tuyến tiền liệt người và kiểm chứng  trên chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ưng thư phổi người.  Mô hình phòng thí nghiệm chung  Thành công bước đầu trong chuyển giao công nghệ của TS. Hà Phương Thư với CVI đã góp phần nhen nhóm ý tưởng thành lập một cơ sở nghiên cứu chung giữa CVI và Viện KHVL. Dược sĩ Phan Văn Hiệu thấy, mối quan hệ hợp tác hiện nay chỉ chạy theo đề tài là chính nên thiếu sự liên tục, “nếu có phòng thí nghiệm chung có thể huy động được nhiều người tham gia nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau. Rất khó để các nhà khoa học tới làm cho CVI nhưng thông qua phòng thí nghiệm chung, họ có thể tham gia vào nghiên cứu của cả CVI lẫn của Viện”. Dự kiến, phòng thí nghiệm chung này sẽ được đặt ở Viện KHVL với một số trang thiết bị máy móc do CVI đầu tư, một số trang thiết bị dùng chung khác của Viện cung cấp dưới dạng thuê khoán, nguồn nhân lực chủ yếu sẽ là các nhà nghiên cứu của Viện.  Sự kết hợp giữa CVI và Viện KHVL khiến người ta không khỏi liên hệ với mô hình phòng thí nghiệm chung giữa Rạng Đông và Viện AIST, vốn được hình thành cách đây 10 năm, nơi được đánh giá là đóng góp một phần không nhỏ vào việc gia tăng hàm lượng KH&CN trong sản phẩm của công ty. PGS. TS Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện AIST, chia sẻ kinh nghiệm vận hành phòng thí nghiệm chung với Tia Sáng, “muốn có sự hợp tác lâu dài thì về bản chất, công việc phải thật sự rõ ràng, trong đó phần đóng góp kinh phí, công sức của mỗi bên đều phải minh bạch. Hai bên cần phải ‘học’ nhau với tinh thần cầu thị để tháo gỡ những khoảng cách về nghiên cứu và sản xuất”. Về hiệu quả của phòng thí nghiệm chung, PGS. TS Phạm Thành Huy đánh giá, “khó định lượng được cụ thể nhưng nó đã tạo ra nền tảng cho công tác R&D của Rạng Đông”.  Mặc dù vẫn còn lúng túng về cơ chế điều hành phòng thí nghiệm chung nhưng theo quan điểm của dược sĩ Phan Văn Hiệu, kinh phí hoạt động do CVI rót về đây sẽ không theo “một khoản cố định mà theo các đề tài đặt hàng”, ngoài ra có thể “tận dụng” được kinh phí của các tổ chức, quỹ tài trợ trong và ngoài nước mà hướng nghiên cứu của phòng thí nghiệm phù hợp với tiêu chí của họ… Tuy nhiên, anh vẫn cho rằng, CVI vẫn phải tự lực là chính để “chủ động làm, chủ động về mặt thời gian. Bản chất của doanh nghiệp là không phải đi xin tiền của nhà nước để đầu tư cho các hoạt động của mình mà là phải đầu tư khi nhìn thấy cơ hội”.  Song song với phòng thí nghiệm chung đặt tại Viện KHVL, CVI còn chuẩn bị xây dựng một nhà máy sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP WHO và trung tâm R&D tại Khu CNC Hòa Lạc, dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2018. Dược sĩ Phan Văn Hiệu cho rằng, hai cơ sở nghiên cứu tại Hòa Lạc và Viện KHVL không “giẫm chân lên nhau” mà ngược lại, bổ sung cho nhau một cách hiệu quả, đem lại “nhiều điều kiện triển khai hợp tác nhiều đầu việc hơn, chủ động hơn trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, ví dụ như có thể tự nghiên cứu, chiết xuất vật liệu đầu vào cho chị Thư nghiên cứu và thử nghiệm ở quy mô phòng thí nghiệm, còn nhà máy đảm trách quy mô pilot và cuối cùng là quy mô công nghiệp”.  Đồng quan điểm với PGS. TS Phạm Thành Huy, dược sĩ Phan Văn Hiệu coi phòng thí nghiệm chung giữ vai trò nghiên cứu cơ bản vì “sẽ đến lúc không thể đào mãi những kết quả có sẵn, công ty phải chấp nhận đầu tư thêm một bước nữa, chấp nhận bỏ tiền vào nghiên cứu cơ bản nhưng có tiềm năng ứng dụng. Có như vậy, CVI mới có được nhiều sản phẩm mới với khả năng tồn tại trên thị trường dài lâu”.  —  1. https://www.researchgate.net/profile/Ha_Phuong_Thu2    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Chuyển hóa lưu huỳnh trong nước thải thành các vật liệu có giá trị      Một nghiên cứu mới của ĐH Stanford trên tạp chí ACS ES&T Engineering đã mở đường cho việc khai thác nước thải để thu hồi các vật liệu có thể tái sử dụng trong sản xuất phân bón và pin, thậm chí có thể cung cấp năng lượng cho điện thoại thông minh và máy bay.      Một số phương án xử lý sunfua lại tạo ra các phụ phẩm và thúc đẩy những phản ứng hóa học ăn mòn đường ống, khiến khó khử trùng nước hơn. Nguồn: Pixabay  Các tác giả đã tiết lộ cách tối ưu hóa các quy trình điện để chuyển hóa chất ô nhiễm lưu huỳnh, từ đó xử lý nước thải với giá cả phải chăng, tạo ra nước có thể uống được. “Chúng tôi luôn tìm cách thu hẹp vòng lặp của quy trình sản xuất hóa chất”, Will Tarpeh, tác giả chính của nghiên cứu, một trợ lý giáo sư về kỹ thuật hóa học tại ĐH Stanford cho biết. “Lưu huỳnh là một nguyên tố quan trọng trong chu trình, là chìa khóa gợi mở những cải tiến trong việc chuyển đổi hiệu quả các chất ô nhiễm lưu huỳnh thành các sản phẩm như phân bón và thành phần pin”.  Khi nguồn nước ngọt ngày càng cạn kiệt, đặc biệt là ở các vùng khô hạn, con người đã tập trung phát triển các công nghệ chuyển đổi nước thải thành nước có thể uống được. Các quy trình màng sử dụng môi trường kỵ khí hoặc không oxy để lọc nước thải đặc biệt hứa hẹn vì chúng tiêu tốn ít năng lượng. Tuy nhiên, những quy trình này tạo ra sunfua, một hợp chất độc hại, có tính ăn mòn và bốc mùi hôi. Một số phương án khắc phục như oxy hóa khử hoặc sử dụng hóa chất để chuyển lưu huỳnh thành chất rắn có thể phân tách, lại tạo ra các phụ phẩm và thúc đẩy những phản ứng hóa học ăn mòn đường ống, khiến khó khử trùng nước hơn.  Thực chất, chúng ta có thể đối phó với lượng sunfua trong quá trình lọc kỵ khí bằng cách chuyển đổi sunfua thành hóa chất được sử dụng trong phân bón và vật liệu cực âm cho pin lithium-lưu huỳnh. Nên làm điều đó bằng cách nào? Để trả lời câu hỏi này, Tarpeh và các đồng nghiệp của ông đã đề xuất một cách tiếp cận hiệu quả về chi phí mà không tạo ra các phụ phẩm hóa học.  Các nhà nghiên cứu tập trung vào quá trình oxy hóa lưu huỳnh điện hóa, đòi hỏi năng lượng đầu vào thấp và cho phép kiểm soát chặt chẽ các sản phẩm lưu huỳnh ở bước cuối cùng. Nếu nó hoạt động hiệu quả, chúng ta có thể vận hành quy trình này bằng năng lượng tái tạo và điều chỉnh nó nhằm hướng đến xử lý nước thải thu gom từ các tòa nhà riêng lẻ hoặc toàn bộ thành phố.  Bằng cách sử dụng phương pháp mới của kính hiển vi điện hóa quét — một kỹ thuật giúp chụp ảnh siêu nhỏ bề mặt điện cực trong khi các bình phản ứng đang hoạt động — nhóm nghiên cứu đã định lượng tốc độ của từng bước oxy hóa lưu huỳnh điện hóa, cũng như nhận dạng các sản phẩm tạo thành. Họ đã xác định được các rào cản hóa học chính đối với việc thu hồi lưu huỳnh, bao gồm tắc nghẽn điện cực và những chất trung gian khó chuyển đổi nhất. Bên cạnh đó, họ cũng phát hiện ra rằng các thông số vận hành khác nhau, chẳng hạn như điện áp bình phản ứng, có thể tạo điều kiện thu hồi lưu huỳnh năng lượng thấp từ nước thải.  Những phát hiện này đã làm sáng tỏ sự cân bằng giữa hiệu quả năng lượng, loại bỏ sunfua, sản xuất sunfat và thời gian. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã vạch ra những tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết nhằm thiết kế các quá trình oxy hóa sunfua điện hóa trong tương lai: cân bằng năng lượng đầu vào, loại bỏ chất ô nhiễm và phục hồi tài nguyên. Trong tương lai, có thể kết hợp công nghệ thu hồi lưu huỳnh với các kỹ thuật khác, chẳng hạn như thu hồi nitơ từ nước thải để sản xuất phân bón amoni sunfat.  Trung tâm Phục hồi Tài nguyên Codiga, một nhà máy xử lý quy mô thí điểm trong khuôn viên trường ĐH Stanford, có thể sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình thiết kế và triển khai các phương pháp này trong tương lai. “Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ giúp đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ giảm thiểu ô nhiễm, thu hồi các nguồn tài nguyên quý giá và tạo ra nước uống được”, TS. Xiaohan Shao, tác giả chính của nghiên cứu, chia sẻ.□  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-sewer-treasure-reveal-optimize-wastewater.htm    Author                .        
__label__tiasang Chuyển lưu huỳnh điôxít từ nguy hại sang hữu dụng      Các nhà khoa học đã tạo ra những cái “lồng” phân tử bên trong một polymer để bẫy ô nhiễm lưu huỳnh điôxít (sulphur dioxide) nguy hại để chuyển nó thành những hợp chất hữu dụng và giảm thiểu ô nhiễm.      Một loại vật liệu độc đáo được một nhóm nghiên cứu quốc tế phát triển đã chứng minh rằng có thể giúp giảm thiểu phát thải lưu huỳnh điôxít (SO2) trong môi trường bằng việc “bắt” có chọn lọc các phân tử này trong các lồng kỹ thuật một cách kỹ lưỡng. Thứ khí độc được bắt giữ này sau đó có thể được lấy ra một cách an toàn để chuyển thành vật liệu cho quá trình chế tạo và chế biến công nghiệp.  Khoảng 87% phát thải lưu huỳnh điôxít bắt nguồn từ những hoạt động của con người, điển hình là các nhà máy điện, các hoạt động sản xuất công nghiệp khác, vận chuyển, tàu thuyền, các thiết bị lớn và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường. Do đó nhóm nghiên cứu quốc tế này đã phát triển các phân tử chứa đồng bền vững, rỗng như những chiếc “lồng” mà người ta vẫn gọi là vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs), vốn được thiết kế để phân tách khí lưu huỳnh điôxít từ những loại khí khác hiệu quả hơn các hệ hiện tại.  Giáo sư Martin Schröder, trường đại học Manchester, và tiến sĩ Sihai Yang, một giảng viên khoa Hóa học của trường, đã dẫn dắt một nhóm nghiên cứu quốc tế từ Anh và Mỹ thực hiện nghiên cứu này.  Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu MOFs để mô phỏng các khí và tìm thấy chúng phân tách một cách hiệu quả SO2 khỏi hỗn hợp khí tại các mức nhiệt độ cao, ngay cả trong nước.  Nghiên cứu “Reversible coordinative binding and separation of sulfur dioxide in a robust metal–organic framework with open copper sites” được xuất bản trên Nature Materials cho thấy tính hiệu quả cao hơn nhiều so với các hệ bắt SO2 hiện hành, do có thể đem lại nhiều chất rắn và chất thải dạng lỏng, có thể loại bỏ tới 95% khí độc, các nhà nghiên cứu cho biết.  Thực hiện các nghiên cứu cấu trúc, mô hình, động lực hiện đại tại các cơ sở nghiên cứu quốc tế như ISIS và Máy gia tốc Diamond Light Source, Anh để làm thực nghiệm tán xạ tia X và neutron, và Trung tâm Advanced Light Source tại Berkeley Mỹ để thực hiện các việc về nhiễu xạ đơn tinh thể, họ đã có thể làm được các đo đạc vô cùng chính xác SO2 bên trong MOFs tại mức độ phân tử.  Gemma Smith, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết vật liệu mới chứng tỏ sự hấp thu SO2 ở mức cao hơn so với bất kỳ vật liệu rỗng nào. Công trình nghiên cứu này đem lại một vật liệu chưa từng biết đến trước đây vì nó đã chứng tỏ độ bền trước việc phơi nhiễm SO2, ngay cả có nước và hấp thu đầy đủ ngay tại nhiệt độ phòng.  “Vật liệu của chúng tôi đã chứng tỏ sự bền vững trước sự phá hủy của SO2 và có thể hiệu quả trong chia tách khỏi các dòng khí ẩm ướt. Quan trọng hơn, bước biến đổi này vô cùng hiệu quả về năng lượng so với những kết quả nghiên cứu khác; việc bắt SO2 có thể được phóng thích tại nhiệt độ phòng để chuyển đổi sang các sản phẩm hữu dụng, trong khi vật liệu khung hữu cơ kim loại có thể được tái sử dụng cho nhiều chu kỳ phân tách hơn”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-sulphur-dioxide.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện một sản phẩm nghiên cứu và thị trường      Vật liệu polyme siêu hấp thụ nước là một trong số những sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất tại Viện Hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước. Công việc nghiên cứu được bắt đầu từ năm 2001 và dự án sản xuất thử nghiệm cũng đã được kết thúc vào cuối năm 2008, nhưng loại vật liệu này hiện gặp khó trong các khâu sản xuất và tiêu thụ.    Không biết quảng bá sản phẩm  Chị Phùng Thị Phương, cán bộ thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Lê Hồng Phong (Bắc Bình, Bình Thuận) là một trong những khách hàng “lớn” tiêu thụ sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước của Viện Hóa học. Năm ngoái, đơn vị của chị đã mua tới 6 tấn sản phẩm này từ Hà Nội vào để phục vụ cho việc trồng gần 400 ha rừng phòng hộ ở Bắc Bình. Tuy nhiên, để mua được sản phẩm này của Viện Hóa học, là một câu chuyện không hề đơn giản. “Trước đây tôi không hề biết Viện Hóa học có sản phẩm như vậy. Khi chúng tôi có nhu cầu về một sản phẩm như vậy, chúng tôi đã phải hỏi rất nhiều nơi ở miền Nam. Rồi có người chỉ ra Hà Nội và tình cờ chúng tôi gọi đúng đến nơi làm ra sản phẩm”, chị nói.  Câu chuyện của chị Phương không phải là điều quá khó hiểu, bởi mặc dù polyme siêu hấp thụ nước đã được tiến hành nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm đã lâu, nhưng các nhà khoa học của Viện Hóa học thừa nhận hầu như họ chưa hề có thao tác gì về quảng bá, khuyếch trương sản phẩm. “Chúng tôi là những nhà khoa học, chỉ biết nghiên cứu thuần túy và rất hạn chế trong việc quảng bá sản phẩm do mình làm ra”, anh Nguyễn Thanh Tùng, cán bộ nghiên cứu của Phòng vật liệu Polyme (Viện Hóa học), một trong 18 cán bộ tham gia dự án sản xuất thử nghiệm nói. Trong quá trình sản xuất thử nghiệm, các sản phẩm chỉ được đóng gói đơn giản, ghi là sản phẩm của dự án và cung cấp cho các đơn vị có nhu cầu.   Polyme siêu hấp thụ nước là sản phẩm được sản xuất trên cơ sở tinh bột sắn biến tính (kết hợp với nhiều nguyên liệu khác), có khả năng giữ ẩm, cải tạo đất và nâng cao năng suất cây trồng, có thể ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp. Ngoài ra, sản phẩm này còn có nhiều ứng dụng khác phục vụ công nghiệp (chất thấm hút) và phục vụ dân sinh (phục vụ cắm hoa tươi, trồng cây cảnh, rau sạch…).  Có lẽ chính vì khả năng ứng dụng rộng rãi trong đời sống như vậy nên sau khi Viện Hóa học được giao chủ trì đề tài: “Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu polyme siêu hấp thụ nước” vào năm 2001, Viện tiếp tục được Bộ Khoa học và Công nghệ giao chủ trì thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước “Hoàn thiện công nghệ sản xuất polyme siêu hấp thụ nước và ứng dụng để giữ ẩm, cải tạo đất”. Mục tiêu của dự án là hoàn thiện dây chuyền công nghệ sẵn có, xây dựng quy trình công nghệ sản xuất polyme siêu hấp thụ nước công suất 100 tấn/năm, có giá thành hợp lý và phù hợp với điều kiện của Việt Nam…   Mặc dầu gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, đặc biệt là những khó khăn về nhà xưởng, dự án sản xuất thử nghiệm có mức kinh phí được Nhà nước hỗ trợ là 2,2 tỉ đồng này cũng đã kết thúc và được nghiệm thu “thành công” vào tháng 12/2008. Đánh giá về dự án, anh Tùng cho biết: “dự án đã đạt được mục tiêu, nhiệm vụ ban đầu đặt ra”.           Hình ảnh quảng bá sản phẩm        Sản phẩm tốt nhưng không dễ kinh doanh  Do không có chức năng kinh doanh, các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học đã nhanh nhạy kết hợp với một công ty bên ngoài để đảm bảo việc sản xuất, thương mại sản phẩm được tiến hành trơn tru và bài bản hơn. Tuy nhiên, việc sản xuất polyme siêu hấp thụ nước đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, mà trước hết là khâu nguyên liệu.  Các nhà khoa học cho biết nhiều nguyên liệu chế tạo ra sản phẩm phải nhập ngoại, trong tình trạng tỉ giá ngoại tệ luôn thay đổi theo hướng gia tăng như hiện nay, đã ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm. “Bên cạnh khó đảm bảo ổn định được nguồn cung do phải nhập ngoại, việc đồng USD lên giá đã gây nhiều khó khăn cho đầu vào của sản phẩm”, anh Tùng nói.  Sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước của Viện Hóa học, mặc dầu chưa được quảng bá mạnh mẽ nhưng cho đến nay đã bước đầu được thương mại hóa và có một số lượng khách hàng nhất định. Các nhà khoa học tham gia dự án cho biết những khách hàng lớn có thể kể ra cho đến nay là công ty cổ phần giấy Tân Mai, công ty bông Đồng Nai, một số ban quản lý rừng phòng hộ ở miền Nam Trung bộ như Tuy Phong, Lê Hồng Phong, Hồng Phú, Sông Mao (ở Bình Thuận) và ban quản lý rừng phòng hộ Phan Thiết. Hầu hết các khách hàng này đều sử dụng sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước để trồng cây ở các khu vực có ít nguồn nước tưới, hoặc cho các rừng phòng hộ trồng trên đất cát miền Trung. Chị Phương thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Lê Hồng Phong cho biết: “Các khu rừng phòng hộ của chúng tôi chủ yếu trồng ở vùng sa mạc hóa, trên cát và có ít mưa. Từ khi sử dụng sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước, cây không còn bị chết vào mùa nắng”. Chị còn thông tin thêm là các sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước của Viện Hóa học đã được bón cùng phân dưới các gốc cây từ tháng 7/2009, nhưng đến nay khi đào lên vẫn còn trữ nước và như vậy có hiệu quả rất tốt. “Tuy chưa thể đánh giá được hiệu quả kinh tế của sản phẩm đối với việc trồng rừng nhưng rõ ràng sản phẩm đã giúp cây sống tốt trong các điều kiện khắc nghiệt của đất đai và khí hậu nơi đây”, chị khẳng định về chất lượng của sản phẩm.  Quay lại câu chuyện quảng bá sản phẩm, anh Tùng cho biết: “Quảng bá được sản phẩm tới đại đa số người sử dụng, đặc biệt là tới các hộ nông dân đối với chúng tôi là một việc rất khó”. Cái khó ở đây trước hết là từ việc chưa có các kiến thức, kinh nghiệm trong quảng bá sản phẩm, rồi đến khả năng tài chính hạn hẹp không cho phép thuê các đơn vị marketing chuyên nghiệp bên ngoài.  Do qui mô sản xuất hiện chưa lớn lắm (vẫn giữ ở mức công suất 100 tấn/năm của dự án sản xuất thử nghiệm), cộng thêm các yếu tố không ổn định như trên đã nói, việc sản xuất sản phẩm polyme hiện vẫn khá phập phù, chủ yếu dựa vào các đơn đặt hàng từ khách hàng. Như vậy, mặc dù nói là sản phẩm đã được “thương mại hóa” nhưng rõ ràng sản phẩm vẫn chưa thể ra được thị trường theo đúng nghĩa của nó. “Có những đơn vị đặt hàng chúng tôi những lô sản phẩm lên tới hàng trăm tấn. Nhưng chúng tôi không dám nhận vì rủi ro cao”, chị Phạm Thị Thu Hà, một thành viên khác của dự án nói thêm.   Rủi ro ở đây chính là việc các nhà khoa học và đối tác không thể mở rộng được qui mô sản xuất khi thị trường thực sự chưa ổn định.  Một doanh nghiệp khoa học: tại sao không?  Chúng tôi cũng đã thử đặt câu hỏi: tại sao các nhà khoa học không thành lập một doanh nghiệp khoa học trực thuộc viện để kinh doanh sản phẩm? Câu trả lời là: “Viện Hóa học cũng đã nghĩ tới điều này, đã họp để triển khai nhưng lại không thực hiện được vì nhiều lý do khác nhau”, một cán bộ tham gia dự án cho biết. Mà một trong các lý do đó là tỉ lệ phần trăm doanh thu phải nộp lại cho Viện. “Chưa kinh doanh mà đã bàn đến chuyện đó thì quả là khó làm”, cán bộ kia nói.  Ngoài ra, câu trả lời của các nhà khoa học tham gia dự án thường là: “Chúng tôi không biết nhiều đến kinh doanh”. Quả thật, những công việc như đăng ký chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm, thuế… thực sự là những rắc rối cho những người vốn chỉ có các kiến thức nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Nhưng khi được hỏi nếu quyết tâm thành lập doanh nghiệp, liệu các nhà khoa học có muốn tham gia các lớp học về kinh doanh, quản trị doanh nghiệp thì họ lại chần chừ: “Chúng tôi đã học rất nhiều thứ về chuyên môn, học thêm về kinh doanh thì…”.  Trở lại với câu chuyện của dự án sản xuất thử nghiệm, anh Tùng cho biết: “Không mấy người và không nhiều đơn vị muốn làm các dự án triển khai sản xuất vì nó đòi hỏi đầu tư tài chính lớn, rồi nhà xưởng, thiết bị, con người…”. Chính vì vậy, để quá trình thực hiện dự án được tốt hơn và các nhà khoa học có kinh phí để tiếp tục tính đến giai đoạn thương mại hóa sản phẩm, anh Tùng đề nghị: “Nhà nước nên hỗ trợ 100% kinh phí cho các dự án sản xuất thử nghiệm, không nên thu hồi lại vốn”.  Tuy vậy, các nhà khoa học tham gia dự án sản xuất thử nghiệm mà chúng tôi gặp đều đồng tình rằng việc thành lập một doanh nghiệp khoa học để kinh doanh các sản phẩm do Viện Hóa học nghiên cứu ra (không chỉ sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước) là một việc khả thi. Và, dường như công việc này cũng đang được rậm rịch thực hiện…  Lời kết  Sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước chỉ là một trong số rất nhiều các sản phẩm được hình thành từ các chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước (xem chi tiết ở phần sau). Từ ví dụ cụ thể này, có thể không mang tính đại diện cho tất cả các sản phẩm nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước, chúng tôi nhận thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề trong quá trình biến một sản phẩm nghiên cứu ứng dụng thành một sản phẩm tiêu thụ được trên thị trường. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, một sản phẩm nghiên cứu có tính ứng dụng chỉ thực sự hiệu quả khi nó bán được (hay tiêu thụ được) trên thị trường. Để làm được điều này, chắc chắn ngay từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cần phải tính kỹ được đầu ra, tốt nhất là liên kết chặt chẽ với một doanh nghiệp hay hình thành một doanh nghiệp khoa học sau khi nghiên cứu thành công. Cách làm thông thường hiện nay, tức là chỉ sau khi nghiên cứu ra được sản phẩm thì mới tìm cách tiếp cận thị trường thì khó có thể đạt được hiệu quả thực, trừ những sản phẩm nghiên cứu xuất sắc, phù hợp với thị trường và được doanh nghiệp bên ngoài thực sự quan tâm…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện nồi dưỡng sinh của ông Lý Ngọc Minh      Dân ta có câu “bệnh tùng khẩu nhập” ( bệnh từ miệng vào), lại có câu “dĩ thực vi tiên”( cái ăn là đầu tiên), mà ăn thì phải nấu nướng, cho nên chuyện nồi niêu soong chảo, mới nghe tưởng là chuyện dân dã, thật ra là chuyện quan trọng hàng đầu, nhất là thời buổi động đến cái gì để đưa vào miệng cũng có nguy cơ “ung thư”!    Có lẽ vì lý do đó mà vừa rồi Tia Sáng đã ưu ái mời mấy anh chị em chiến hữu thân thiết, am hiểu kinh tế kỹ thuật, đến trải nghiệm về chuyện dưỡng sinh nấu nướng, nồi niêu, soong chảo qua việc trực tiếp mắt thấy, tay sờ, miệng nếm tại Showroom Minh Long, của ông chủ Lý Ngọc Minh, một người nổi tiếng về đam mê đổi mới – sáng tạo.    Ông Lý Ngọc Minh chia sẻ lối sống dưỡng sinh.Ảnh: Hảo Linh  Người ta nói rằng sự phát triển của nhân loại thường theo quy luật đi lên theo kiểu xoáy trôn ốc, nghĩa là qua thời gian hàng ngàn năm thì lại quay về phương án cũ nhưng với trình độ cao hơn. Quy luật này quả thật là đúng cho sự phát triển biến đổi của vật liệu chế tạo nồi niêu soong chảo (từ đây về sau gọi tắt là nồi đun nấu- Cookingware).  Người nguyên thủy bắt từ đất nặn ra nồi đất nung, (nay vẫn còn ở nhiều nơi ở nước ta) tiến lên nồi gốm (như đang dùng ở các quán cơm niêu), sang nồi đồng, vươn lên nồi gang (sắt), nhôm, rồi đến nồi kim loại phủ chống dính (bằng teflon, tráng men hoặc sứ) hiện đại nhất là inox và chưa hết đâu, mới xuất hiện một hai năm gần đây là nồi sứ toàn phần (gọi tắt là nồi sứ-porcelain), tức là lại quay về vật liệu đất với một trình độ cao hơn gấp bội. Tại sao lại quay về với đất, khi mà đã đạt đến sự hiên đại, thuận tiện, sạch sẽ như chất liệu chống dính, Inox ?  Bởi vì bây giờ người ta đã nhận thức được rằng, vì cái bẫy hiện đại mà con người ta hằng ngày đã đưa vào cơ thể những độc hại không ai ngờ, đó là những kim loại nặng độc hai bị thẩm xuất (leaching) vào thức ăn nếu dùng các nồi nấu bằng kim loại, dù đó là đồng, gang, nhôm, inox và đặc biệt nguy hại là lớp phủ chống dính, điển hình là các chất dẻo tổng hợp chống dính chứa thành phần perfluorooctanoic acid (PFOA). Chỉ cần đun đến 2300C thì chảo chống dính sẽ phân hủy giải tỏa ra PFOA, mà nó độc hại thế nào thì ai cũng biết. (Thí nghiệm trên chuột cho thấy PFOA tác động hủy hoại các cơ quan nội tạng, gây tử vong; dù nhiễm với liều lượng vô cùng nhỏ nó cũng tác động hư hại tuyến yên của chuột cái …).  Và người ta cuối cùng nhận ra rằng chỉ có dùng đất làm vật liệu là tốt nhất, an toàn nhất cho nồi niêu soong chảo! Thế thì chúng ta cần làm gì nữa, dùng nồi đất nung như người xưa đã dùng là được rồi.       Sự phát triển của nhân loại thường theo quy luật đi lên theo kiểu xoáy trôn ốc, nghĩa là qua thời gian hàng ngàn năm thì lại quay về phương án cũ nhưng với trình độ cao hơn. Quy luật này quả thật là đúng cho sự phát triển biến đổi của vật liệu chế tạo nồi niêu soong chảo.  Nồi đất nung, nồi gốm (ceramic), nồi sứ (porcelain) là cùng một họ làm ra từ đất, miễn sao định hình được, chứa được một lượng thực phẩm, đặt được trên ngọn lửa để nung nóng thực phẩm mà không vỡ là dùng được. Muốn không vỡ thì phải chịu được sốc nhiệt (thermal shock). Bạn thử đặt một cái đĩa sứ mỏng lên lửa bếp gas mà xem, nó vỡ ngay, đó là vì độ shock nhiệt kém. Nhưng nồi đất nung, nồi gốm thì không sao cả.  Nguyên nhân là do nồi đất, nồi gốm có nhiều lỗ nhỏ ly ti, khi gia nhiệt đột ngột gây giãn nở vật liệu thì có chỗ mà giãn, còn sứ thì mịn hơn, tuyệt đối không có lỗ rỗng nên không biết giãn đi đâu nên vỡ thôi. Có độ xốp thì chịu sốc nhiệt tốt nhưng lại hút thấm nước nhiều, khi nấu ăn thì các chất lỏng tiết ra từ thức ăn thấm vào các lỗ nhỏ, lâu ngày sinh ra chất độc hại, bốc mùi thối, không rửa được (bạn thử lấy nồi gốm kho cá đem đi nấu nước pha trà mà xem!). Hơn nữa đất nung và gốm có độ xốp như vậy nên dẫn nhiệt kém, thực phẩm chín không đều.    Minh họa cách luộc rau, củ không cần nước bằng nồi sứ Minh Long I. Ảnh: Hảo Linh  Hẳn các bạn còn nhớ thuở xưa nấu cơm bằng nồi đất thì phải phủ rơm lên trên nồi đốt cho nóng đều, ngày nay các quán cơm niêu phải bỏ cả niêu cơm và trong lò thì cơm mới ngon. Còn sứ thì không thấm nước, bền, dễ rửa sạch, trơ với mọi hóa chất nên rất thích hợp. Vậy là nếu tìm cách làm ra một loại sứ mà độ sốc nhiệt thật cao, độ dẫn nhiệt tương đối tốt thì đó là cái nồi nấu lý tưởng, không độc hại, thơm tho, dễ cọ rửa, không cháy , không dính, thuận theo lẽ tự nhiên. Theo mốt thời thượng (fashion) người ta gọi đó là Nồi Sứ Dưỡng Sinh, nghe cho nó hấp dẫn !  Cùng với các anh chị Nguyễn Quân, Phạm Chi Lan, Phạm Duy Hiển, Lê đăng Doanh, Văn Thành, Thu Hà, Trần Đức Viên…tôi được mời chứng kiến và thưởng thức tại chỗ các thực phẩm nấu bằng nồi sứ dưỡng sinh Minh Long. Xin nhắc lại, nấu bằng nồi sứ nhé, từ luộc rau, khoai, gà… không cần nước, không mỡ, không dính, không cháy…và ăn thì tươi ngon như thế nào, khỏi phải viết ra nữa, (dành cho các nhà quảng cáo làm việc này).    Các khách mời xem cách nấu các món ăn bằng nồi sứ Minh Long I. Ảnh: Hảo Linh  Điều tôi muốn nói là rất ngạc nhiên, đến mức tôi phải hỏi Giáo sư vật lý Phạm Duy Hiển là anh có thể giải thích bằng khoa học chuyện này không. Nồi rõ ràng là sứ, mà dẫn nhiệt tốt, chỉ thua kém kim loại ít thôi. Lại nữa nhiệt chỉ dồn vào phía trong, bên ngoài không nóng bỏng như nồi inox. Sứ mà chịu được sốc nhiệt lên đến 8000C (trên thế giới hiện chỉ đạt 5-6000C) thì thật là chuyện kỳ diệu của vật liệu mà ông Lý Ngọc Minh đã chế ra được. Lại thêm chuyện thức ăn chín là nhờ tia hồng ngoại (IR), nhờ hiệu ứng nhà kính, tia IR đa phần tập trung vào trong nồi mà ít ra ngoài, cho nên đã tiết kiệm năng lượng, thức ăn lại chín đều, sâu, không dính cháy, không cần mỡ hoặc nước. Lại có loại nồi sứ nấu được bằng bếp từ cảm ứng mà không có đáy sắt nặng.  Làm thế nào mà ông Minh tạo được lớp đáy cảm ứng từ như kim loại mỏng như lớp men ở đáy chỉ vài trăm micromet và cực mạnh như vậy. Tôi dành câu hỏi này cho các đồng nghiệp ở các Viện chuyên về nghiên cứu Vật liệu (như ở VHLKHCNVN chẳng hạn). Và muốn nói thêm liệu các bạn , đặc biệt là với các bạn chuyên về vật liệu từ đất hiếm, liệu có làm được vật liệu thôi, chưa nói là làm thành men sứ sắt từ mỏng và cảm ứng mạnh như ông Minh đã làm đươc?  Tôi cảm thấy chạnh lòng khi nghĩ đến với bao nhiêu là thuyết giảng, tiêu bao nhiêu tiền (chùa) , mua bao nhiêu thiết bị, xây bao phòng TN trọng điểm…với hàng trăm bài báo ISI dưới danh nghĩa chương trình trọng điểm cấp nhà nước “vật liệu mới”, liệu có sản phẩm nào ra tấm, ra miếng được như nồi sứ dưỡng sinh của ông Lý Ngọc Minh, một người lao động sáng tạo không được học hành, không bằng cấp, đã tự học, tự mày mò hơn bốn năm trời để cho ra bộ sản phẩm tuyệt vời này!  Còn dân Việt Nam thật vui mừng là từ nay đã có một dụng cụ nấu nướng Made in Vietnam cực kỳ an toàn, vệ sinh, chất lượng cao ngang ngửa, nếu không nói có nhiều chỉ tiêu còn hơn thế giới, theo tôi biết ít nhất là cho đến lúc này ! Không phải chém gió đâu nhé, nói thật đấy, tôi chẳng có và cũng chẳng cần có lợi ích riêng gì với công ty này đâu, tôi viết những dòng này chẳng qua là vì khâm phục ông Lý Ngọc Minh & cộng sự mà thôi.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/cong-nghe/chuyen-noi-duong-sinh-cua-ong-ly-ngoc-minh/20180906103344923p1c859.htm    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Chuyện ông Mỹ khởi nghiệp      Không ai chọn tuổi để khởi nghiệp. Điều này hoàn toàn đúng với ông Nguyễn Thanh Mỹ – một doanh nhân Việt kiều ở Trà Vinh – dù đã về hưu vẫn tái khởi nghiệp ở tuổi 60 trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.      TS. Nguyễn Thanh Mỹ (phải) trao đổi với các cán bộ tỉnh Bến Tre bên lề hội nghị “Giải pháp hợp tác bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân – đẩy mạnh ứng dụng KH&CN trong nông nghiệp” tháng 11/2016.  Người không có tuổi hưu  Ông Mỹ định cư ở Montreal, Canada từ năm 1979. Năm 2004, ông quay về Trà Vinh bắt tay xây dựng Tập đoàn Mỹ Lan với số vốn vỏn vẹn chỉ gần 250,000 USD.  Sau 12 năm hoạt động, Tập đoàn Mỹ Lan nổi tiếng ở Việt Nam và quốc tế với bản in offset CTP, mực và máy in phun công nghiệp xuất khẩu và có bản quyền sáng chế ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện công ty được định giá gần 100 triệu USD và thường được ví von như một Google ở Trà Vinh.  Năm 2015, sau hai nhiệm kỳ 5 năm làm tổng giám đốc, ông Mỹ chủ động quyết định rời vị trí lãnh đạo, trước là để nghỉ ngơi, sau – cái chính – là tạo điều kiện cho người trẻ lên thay để họ có thêm đất diễn và mang lại nét mới cho công ty. Thế nhưng, sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi, một con người công việc như ông cảm thấy mình còn quá trẻ để không làm gì. Vậy là ông quay lại và chọn nông nghiệp – một lĩnh vực hoàn toàn mới để dấn thân.  Trong bài tham luận trình bày tại ngày hội Việt kiều ở TPHCM vừa qua, ông chia sẻ, “mặc dù được sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng chưa bao giờ tôi để ý và biết gì về nông nghiệp”. Nhưng rồi ông quyết định trở thành một “nông dân”, như cách ông gọi vui, khi thường xuyên nghe nói về “thực phẩm bẩn” trên báo đài, truyền hình; ô nhiễm môi trường từ nông nghiệp; hạn mặn rồi thì biến đổi khí hậu …  “Những vấn đề nông nghiệp nó thách thức đầu óc mình dữ quá.” Ông từng chia sẻ như vậy, và rồi để giải quyết những thách thức ấy, Rynan AgriFoods – một công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao ra đời.  Một trong số những sản phẩm đầu tay của Rynan AgriFoods là phân bón thông minh, được nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm từ đầu năm 2016 tại Tam Nông (Đồng Tháp).  Về cơ bản, phân bón thông minh có thành phần cơ bản từ phân bón thông dụng được bán trên thị trường nhưng điểm khác là chúng được bao ngoài bởi nhiều lớp polymer. Chính những lớp polymer này sẽ giúp phân giải phân từ từ theo tiến trình phát triển và hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng. Điều này giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón, giảm lượng phân sử dụng, giảm ô nhiễm nguồn nước, giảm khí thải nhà kính…  Sau thời gian thử nghiệm đạt kết quả ghi nhận tích cực, Rynan Agrifoods quyết định đầu tư 7 triệu USD xây một nhà máy sản xuất phân bón thông minh với công suất 20.000 tấn/năm ngay tại khu công nghiệp Long Đức – Trà Vinh, ngay trong mảnh đất nơi tập đoàn Mỹ Lan tại vị.  Theo ông Mỹ, 20.000 tấn là một con số rất khiêm tốn và còn rất nhỏ so với nhu cầu của thị trường bởi chỉ riêng vài hợp tác xã ở Đồng Tháp, mỗi năm họ đã ký hợp đồng ghi nhớ đặt mua 100.000 tấn với ông.  20.000 tấn chỉ là con số để bắt đầu. Và với người đàn ông này, tuổi hưu là một khái niệm không có trong từ điển.  Triết lý khởi nghiệp  Bên cạnh phân bón thông minh, Rynan Agrifoods còn có nhiều sản phẩm khác, ví như ứng dụng Internet kết nối vạn vật vào nông nghiệp, phao quan trắc nước, đồng hồ nước thông minh, chế biến bao bì khí cải tiến, thương mai điện tử …  Thoạt nhìn, cứ tưởng mọi thứ ngẫu nhiên, thấy cơ hội đâu thì làm đó. Thế nhưng, hoàn toàn không phải vậy. Với ông già đầy nhiệt huyết này, khởi nghiệp có những triết lý hẳn hoi. Trong định nghĩa của ông, khởi nghiệp là một hành trình chủ động tạo ra sản phẩm hay cách phục vụ hoặc mới, hoặc tốt hơn để thỏa mãn nhu cầu đời sống xã hội.  Như vậy, khởi nghiệp là để thỏa mãn nhu cầu đời sống xã hội. Bạn sẽ hỏi định nghĩa gì chung chung quá vậy? Dĩ nhiên, câu hỏi của bạn hoàn toàn hợp lý và để làm rõ hơn cái chung chung này, ông Mỹ đưa ra bốn chữ làm cần nhớ trong khởi nghiệp. Đây chính là cái nôi để những ý tưởng khởi nghiệp bắt đầu.  Bốn làm ở đây cụ thể gồm có: làm đúng lại cái đang bị làm sai; làm tốt hơn cái đang tốt; làm có cái chưa có; và xa hơn là làm một dấu ấn tốt để lại cho cuộc sống. Trong một hội thảo ở Bến Tre ngày 18-11 vừa qua, ông nói rõ hơn bốn chữ làm này qua những ví dụ rất gần gũi.  Trong góc nhìn của ông, vài chục năm qua, nền nông nghiệp chúng ta chạy theo năng suất, lạm dụng hóa chất, thuốc trừ sâu quá nhiều và bây giờ thực phẩm bẩn là một phần hệ quả, chưa kể ảnh hướng đến đất, nước, không khí cũng bị ô nhiễm theo. Điều này sai và nên được sửa lại.  Tiếp tục câu chuyện, ông chia sẻ, khoa học đã phát minh ra phân đạm. Điều này tốt cho cây trồng và bây giờ chúng ta vẫn có thể làm tốt hơn. Phân đạm sau khi được bón cho cây sẽ bị thủy phân, một phần được rễ cây hấp thụ, một phần lại bị chuyển đổi theo cách bốc hơi hoặc bị rửa trôi. Hệ quả là vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa gây lãng phí. Phân bón thông minh là lời giải cho bài toán trên và là ví dụ minh họa rõ nét cho chữ làm thứ hai, tức làm tốt hơn cái đang tốt.  Bây giờ, kể tiếp sang một câu chuyện khác. Trong đợt hạn mặn vừa qua, mặc dù cùng một dòng sông nhưng không phải lúc nào độ mặn cũng như nhau mà tùy thuộc vào thủy triều lên xuống trong ngày, vẫn có thời điểm xuất hiện nước ngọt trong ngày. Việc đặt phao quan trắc có cảm biến đo độ mặn có thể giúp nông dân xác định thời điểm thích hợp để chủ động bơm nước trữ dùng một cách tự động khi độ mặn thấp hơn ngưỡng thông số cài đặt.  Rõ ràng, sự xuất hiện phao quan trắc có cảm biến đo độ mặn và cài đặt chế độ bơm nước tự động qua ứng dụng dùng trên smartphone là điều mới mẻ trong nền nông nghiệp Việt Nam. Đây chính là minh họa cho chữ làm thứ ba mà ông Mỹ đề cập, tức làm cho có cái chưa có. Dĩ nhiên, như điều cơ bản trong định nghĩa, cái có này phải đáp ứng nhu cầu từ xã hội.  Vậy, nếu bạn nắm vững ba chữ làm vừa nêu, hẳn bạn sẽ nhận thấy không quá khó để tìm ra những ý tưởng khởi nghiệp.  Làm một dấu ấn tốt để lại  Thế nhưng, dù làm gì, với ông Mỹ, mọi việc cần phải xuất phát từ tâm, và hướng đến làm một dấu ấn tốt đẹp để lại cho thế hệ tương lai.  Cái tâm và dấu ấn ông Mỹ để lại không quá khó. Nếu bạn chưa nghe đến ông ấy bao giờ, hãy thử Google. Đó là câu chuyện về một cậu bé bán cà rem để nuôi sống bản thân, rồi qua Canada từ năm 1979 theo diện “bơi lội”, phấn đấu không mệt mỏi từ một người phụ bếp trở thành tiến sĩ hóa học làm việc tại nhiều công ty lớn trong ngành trên thế giới.  Thế nhưng, đó là câu chuyện quá khứ. Nếu được, tốt nhất bạn nên một lần ghé thăm tập đoàn Mỹ Lan tại Trà Vinh, nơi ông Mỹ là người sáng lập và giữ chức vụ Tổng giám đốc cho đến khi về hưu vào cuối năm 2015.  Vào một ngày nửa cuối tháng 11-2016, chúng tôi may mắn đến thăm nơi đây. Cảm giác đầu tiên là một màu xanh vô cùng dễ chịu. Nói không quá, nơi đây giống công viên hơn là một nhà máy ở khu công nghiệp. Với tổng diện tích 20 héc ta, phần dành cho cây xanh đã chiếm đến gần 10 héc ta.  Để viết về công ty này to, đẹp, hiện đại ra sao thì sẽ rất dài và cũng khó mà đầy đủ. Chỉ biết rằng, sau khi đi tham quan một vòng, về lại phòng ăn cũng là phòng để công ty tiếp khách, nghe một bản nhạc bolero, cô bạn đi chung đoàn thốt lên “nếu không có bài hát này, mình chẳng nghĩ đây là một công ty ở Việt Nam”.  Ở đây, xin được kể thêm một chi tiết nhỏ liên quan đến cái toilet. Ngay tại bàn lavabo rửa tay là những chiếc khăn sạch sẽ được gấp lại để thành chồng gọn gàng. Chi vậy? Để sau khi vệ sinh xong, rửa tay, nhân viên sẽ dùng những chiếc khăn này để lau khô những giọt nước còn vương lại từ lavabo và kệ đá. Làm như vậy, vừa giữ vệ sinh, vừa tạo cảm giác dễ chịu cho người dùng sau. Chuyện tưởng chừng đơn giản nhưng không thật sự quan tâm đến nhân viên, ai sẽ làm như vậy?  Những giá trị ông Mỹ gầy dựng với Mỹ Lan là điều vô cùng đáng quý và trân trọng. Đáng trân trọng hơn là tấm lòng của ông dành cho quê hương. Nếu không yêu quê hương, năm 2004, ông sẽ không quay về Trà Vinh – một tỉnh nghèo của đất nước, thiếu thốn mọi thứ để dựng lên một Google của Việt Nam. Nếu không yêu đất nước, ở cái tuổi ngoài 60, với dư thừa điều kiện trong tay, ông đã an dưỡng tuổi già chứ không hơi đâu tái khởi nghiệp và bôn ba từ Bắc chí Nam để nói chuyện về khởi nghiệp.  Nhiều người nhìn về quê hương, thấy toàn một bức tranh màu tối, với nào là nợ công, nợ xấu, là môi trường kinh doanh khó khăn, thiếu minh bạch … Còn ông, nhìn đâu cũng thấy quê hương thật đẹp. Ông thấy thời gian đi từ TPHCM về Trà Vinh chỉ còn 3 – 3,5 giờ, thay vì 7 – 8 giờ như trước; ông thấy người Việt cao to hơn, đẹp hơn, giỏi hơn và cởi mở hơn.  Người ta nhìn vào điểm chưa được để mặc cả, chùn bước. Ông nhìn vào điểm chưa được để dấn thân và đóng góp, xây dựng đất nước.  Với những điều ông ấy đã làm, có thể hiểu ông ấy có một tình yêu đặc biệt dành cho quê hương. Thế nhưng tình yêu ấy từ đâu ra và được xây dựng như thế nào?  Xin mượn lời trong bài phát biểu của ông ấy ở ngày hội Việt kiều vào đầu tháng 11-2016 để chia sẻ cùng bạn đọc: “Tôi may mắn là được đi nhiều nơi trên thế giới, và cảm nhận rằng không nơi nào mà tôi cảm thấy thoải mái và bình yên cho bằng ở quê nhà. Nơi đây, tôi được nói và nghe cùng tiếng nói mà mẹ tôi khuyên nhủ khi tôi còn bé. Ăn được những món ăn giống mẹ tôi nấu sau buổi tan trường về. Với câu chuyện về lại Việt Nam để sống và đầu tư của tôi, hy vọng anh chị và các bạn sẽ thấy rằng nơi đây tràn đầy những cơ hội tốt, đang chờ đón chúng ta, những người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư và khởi nghiệp. Nơi đây cũng là nơi rất lý tưởng để có cuộc sống bình yên và cống hiến”.       Author                Đức Tâm        
__label__tiasang Chuyển thông tin lượng tử giữa các công nghệ để chuẩn bị cho internet lượng tử      Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra một cách “dịch” thông tin lượng tử giữa các dạng công nghệ lượng tử khác nhau, với những gợi ý đáng chú ý cho tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và mạng lưới lượng tử.    Nghiên cứu này mới xuất bản trên Nature. Nó nêu một cách mới để chuyển đổi thông tin lượng tử từ hình thức sử dụng qua máy tính lượng tử đến hình thứ cần thiết cho truyền thông lượng tử.  Các photon – những hạt ánh sáng – thiết yếu cho các công nghệ lượng tử nhưng sử dụng chúng tại những tần số khác nhau. Ví dụ, một số trong công nghệ tính toán lượng tử phổ biến nhất là dựa trên những qubit siêu dẫn như các gã khổng lồ công nghệ như Google và IBM sử dụng; các qubit đó lưu trữ thông tin lượng tử trong các photon chuyển động ở các tần số vi sóng.  Nhưng nếu muốn xây dựng một mạng lưới lượng tử, hoặc kết nối các máy tính lượng tử, người ta không thể gửi các photon vi sóng bởi việc giữ thông tin lượng tử của chúng quá yếu để sống sót qua cuộc hành trình.  “Có nhiều công nghệ mà chúng tôi sử dụng cho truyền thông cổ điển – điện thoại di động, wifi, GPS và những điều tương tự – tất cả đều sử dụng các tần số vi sóng của ánh sáng”, Aishwarya Kumar, một postdoc tại Viện nghiên cứu James Franck tại ĐH Chicago và tác giả đầu của nghiên cứu nói. “Nhưng người ta không thể làm điều đó với truyền thông lượng tử bởi vì thông tin lượng tử mà anh cần là đơn hạt photon. Và tại các tần số vi sóng, thông tin sẽ bị các nhiễu nhiệt che lấp”.  Giải pháp là chuyển thông tin lượng tử thành một photon tần số cao, gọi là photon quang, vốn đàn hồi hơn so với nhiễu xung quanh. Nhưng thông tin này không thể truyền trực tiếp từ photon đến photon; thậm chí chúng ta cần vật chất trung gian. Một số thực nghiệm được thiết kế các thiết bị ở trạng thái rắn cho mục tiêu này nhưng thực nghiệm của Kumar nhằm cho những thứ cơ bản hơn: các nguyên tử.  Các electron trong các nguyên tử cho phép có một mức năng lượng cụ thể, gọi là các mức năng lượng. Nếu một electron ở một mức năng lượng thấp hơn, nó có thể được kích thích thành một mức năng lượng cao hơn bằng việc va đập với một photon có mức năng lượng chính xác khớp với sự khác biệt giữa mức cao hơn và thấp hơn. Một cách tương tự, khi một electron bị buộc rơi xuống mức năng lượng thấp hơn, nguyên tử sau đó phát xạ một photon với một năng lượng khớp với sự khác biệt năng lượng giữa các mức.  Các nguyên tử rubidium xảy ra khi hai khoảng trống trong mức năng lượng mà công nghệ Kumar khai thác: một cân bằng chính xác năng lượng của một photon vi sóng, và một chính xác cân bằng năng lượng của photon quang. Bằng việc sử dụng các tia laser để chuyển các năng lượng của electron trong nguyên tử lên hoặc xuống, công nghệ này cho phép các nguyên tử để hấp phụ một photon vi sóng với thông tin lượng tử và sau đó phát xạ một photon quang với thông tin lượng tử. Sự chuyển giao giữa các mode khác nhau của thông tin lượng tử mà người ta gọi là “transduction” (tải nạp lượng tử).  Một biểu đồ mức năng lượng electron của Rubidium. Hai trong khoảng cách mức năng lượng khớp các tần số của photon quang và các photon vi sóng. Dùng laser để buộc electron nhảy lên mức năng lượng cao hơn hoặc các mức thấp hơn. Nguồn: Aishwarya Kumar  Có thể sử dụng một cách hiệu quả các nguyên tử cho mục đích này bằng một quá trình quan trọng mà các nhà khoa học đã thực hiện trong việc thao tác các vật thể nhỏ. “Chúng tôi là một nhóm đã xây dựng công nghệ đặc biệt này trong vòng 20 đến 30, nó cho phép chúng tôi kiểm soát một cách thiết yếu tất cả mọi thứ về các nguyên tử”, Kumar nói. “Vì vậy thí nghiệm này được kiểm soát và hiệu quả”.  Anh nói một bí mật khác với sự thành công là sự tiến triển trong điện động lực học lượng tử trong khoang, nơi một photon bị bẫy trong một buồng siêu dẫn. Buộc photon đó nhảy quanh một không gian có bao bọc, khoang siêu dẫn tăng cường tương tác giữa photon và vật chất được đặt bên trong đó.  Buồng siêu dẫn của họ thoạt nhìn không có bao quanh – trên thực tế, nó gần với một khối phô mai Thụy Sĩ hơn. Nhưng những gì giống như các hố trên thực tế là các kênh giao cắt trong một không gian hình học cụ thể, vì vậy các photon hay atom có thể bị bẫy trong một điểm giao. Đó là một thiết kế thông minh cho phép các nhà nghiên cứu có thể sử dụng buồng đó vì vậy họ có thể đưa các nguyên tử và các photon.  Công nghệ hoạt động theo cả hai cách: có thể chuyển thông tin lượng tử từ các photon vi sóng đến các photon quang, và ngược lại. Vì vậy có thể dựa trên khía cạnh khác của kết nối đường dài giữa hai máy tính lượng tử chứa qubit siêu dẫn, và đảm trách vai trò như một khối cơ bản cho internet lượng tử.  Nhưng Kumar nghĩ rằng có thể công nghệ này sẽ có nhiều ứng dụng hơn là mạng lưới lượng tử. Năng lực lõi của nó là các nguyên tử và photon rối mạnh hơn – một nhiệm vụ khó trong nhiều công nghệ lượng tử khác nhau khắp lĩnh vực này.  “Một trong những điều khiến chúng tôi thực sự thấy kích thích là năng lực của nền tảng này để tạo ra rối lượng tử thực sự hiệu quả hơn”, anh nói. “Rối lượng tử là trung tâm của hầu hết mọi lượng tử mà chúng tôi quan tâm, từ máy tính lượng tử đến mô phỏng, đến đo lường và các đồng hồ lượng tử. Tôi phấn chấn khi thấy những gì chúng tôi có thể làm”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-quantum-technologies-important-internet.html  https://www.sciencetimes.com/articles/42979/20230325/breakthrough-experiment-translates-quantum-information-technologies-improving-communication.htm  ————————-  https://www.nature.com/articles/s41586-023-05740-2    Author                .        
__label__tiasang Chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp      Từ sau khi Chính phủ có chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lấy Đồng Tháp là địa phương thí điểm, nhiều hội nghị bàn thảo về vấn đề này đã được tổ chức ở Bộ và địa phương. Nhưng dường như đến nay nhiều người vẫn chưa thấu hiểu triết lý của tái cơ cấu là gì? Vẫn xoay quanh chuyện quy hoạch, chuyện trồng cây gì nuôi con gì, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ ra sao… để có năng suất cao, sản lượng lớn… hầu như không tính đến các yếu tố chi phí, chất lượng…, lấy đó làm thành tích báo cáo Quốc hội. Chúng tôi cho rằng, trong nền kinh tế thị trường, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là phải chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Phải nghĩ tới cầu rồi mới nghĩ tới cung. Chính vì chỉ nghĩ tới cung nên chuyện được mùa rớt giá đã trở thành căn bệnh kinh niên của sản xuất nông nghiệp…  Đó là quan điểm của ông Lê Minh Hoan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp trong cuộc trao đổi với Tia Sáng.      Ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp.  Với quan điểm như vậy, ông đã triển khai tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Đồng Tháp như thế nào?  Tôi có cảm nhận rằng từ nhiều năm nay, ngành nông nghiệp của ta đang đi ngược hai xu hướng: Một là người ta ăn ít nhưng ta lại sản xuất nhiều, hai là người ta quan tâm tới ăn sạch mà mình sản xuất dơ. Tức là anh không đi theo cái cầu. Chính quyền các cấp và người nông dân cả nước đều háo hức với lúa cao sản, với các câu lạc bộ năm tấn. Nhưng kinh tế là bài toán trừ, sản lượng không nói lên thu nhập, mà chất lượng, chi phí mới quan trọng. Cách đây vài năm, ngành nông nghiệp có báo cáo Quốc hội là xuất khẩu đạt 30 tỉ USD nhưng nếu chi phí là 29,999 tỉ USD thì đâu còn tiền tươi thóc thật vào túi người nông dân. Giờ làm sao phải giảm được chi phí xuống, giảm đến mức thấp nhất bán thô sản phẩm và nâng cao công nghệ chế biến nông sản, đồng thời phải giảm cung, bởi cung càng nhiều thì giá càng giảm.  Theo tôi nên giảm cung, bằng cách dành ra một phần ba nông sản để bảo quản dài ngày, một phần ba chế biến, phần còn lại bán tươi. Mà trong nền kinh tế thì cách bán cũng quyết định giá cả.  Đề án tái cơ cấu nông nghiệp của Đồng Tháp xoay quanh sáu chữ “Hợp tác, liên kết, thị trường”. Một là hợp tác giữa những người sản xuất, những người nông dân vào mô hình kinh tế để mua chung, bán chung, giảm chi phí đầu vào, Hai là liên kết người sản xuất với doanh nghiệp, cả doanh nghiệp đầu vào và doanh nghiệp đầu ra. Ba là thị trường gắn với doanh nghiệp – đó là yếu tố quan trọng bảo đảm tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành công.  Người nông dân mình có thành kiến rất lớn với doanh nhân, cho rằng doanh nhân bóc lột họ. Chẳng hạn trong thu mua nông sản, họ cho rằng “thằng thương lái” cắt khúc, buôn đầu chợ bán cuối chợ để làm lợi, nên muốn loại bỏ họ (trước kia ta cũng từng lập các công ty thu mua của nhà nước và đã thất bại). Trong khi đó, chỉ hai vợ chồng thương lái đi ghe tới những vùng sâu nhất của Đồng Tháp Mười. Mùa mía thì họ chở mía, mùa lúa thì chở lúa. Ban đêm họ vắt tay lên trán suy nghĩ chở vô cái gì [để bán] và chở ra [thu mua] cái gì. Họ thực sự là đội quân chủ lực tạo ra thị trường.  Theo ông, thách thức lớn nhất trong việc chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp là gì?  Tái cơ cấu nông nghiệp không phải là cách mạng về công nghệ, mà là cách mạng về tâm lý của người nông dân, phải làm thay đổi nhận thức của người nông dân. Thì những cái khác mới vô được. Bây giờ mỗi người một mảnh vườn, một góc ruộng, diện tích nhỏ quá, không có động lực để thay đổi. Khi có sự hợp tác giữa bà con với nhau, giữa bà con với doanh nghiệp để làm lớn thì mới thay đổi cách quản trị. Chế biến, bảo quản phải đủ lượng thì mới chuyển hoá thành chất lượng.  Để nâng cao hiệu quả hợp tác giữa người dân và doanh nghiệp, tôi để doanh nghiệp mua cổ phần của hợp tác xã (HTX), ví dụ thương lái xoài được mua cổ phần của HTX xoài (phần nào là xé rào đó) để cho có trách nhiệm cả đầu cung và đầu cầu, họ cùng nông dân trên một chiếc xuồng đưa thị trường lại gần với sản xuất. Vì người nông dân chỉ có năng lực quản trị giỏi ở quy mô gia đình thôi, họ không có năng lực quản trị ở HTX quy mô lớn với nhiều ban bệ. Doanh nhân tham gia HTX sẽ góp phần nâng cao dần trình độ kinh doanh nông nghiệp của nông dân. Đồng thời phải xây dựng lòng tin giữa hai bên. Tôi có đọc một câu rất hay trong “Việt vương Câu Tiễn thế gia” tổng kết mối quan hệ giữa người nông dân với doanh nghiệp: “Cứ sáu năm được mùa thì sáu năm mất mùa, cứ mười hai năm thì có một lần đói lớn. Phàm giá gạo mua hai bán mười thì có hại cho nhà nông, mua chín bán mười thì có hại cho nhà buôn. Người buôn bị hại thì của cải không có, nông dân bị hại thì cỏ dại không trừ. Lên không quá mua tám bán mười, xuống không quá mua ba bán mười thì nghề nông nghề buôn đều có lợi, giá gạo ổn định, chợ không thiếu hàng, đó là cái đạo trị nước”.  Vậy tỉnh có giải pháp gì để thúc đẩy hợp tác giữa người dân với nhau ?  Gần đây chúng tôi có một mô hình đặc biệt nhất mà chưa có địa phương nào làm, đó là hội quán nông dân để tập hợp những người cùng có ý chí, hoài bão, tâm niệm, những người muốn thay đổi. Đến nay đã lập được 14 hội quán rồi, ví dụ hội quán những người trồng xoài, trồng cam, quýt, nhãn. Tên hội quán cũng là của bà con tự đặt, thường đặt tên hướng tới sự thay đổi như Canh Tân, Minh Tâm, Đồng Tâm…  Sinh hoạt của hội quán đơn giản lắm. Có thể ở sân đình hay hiên nhà của một ông nào đó, những thành viên của hội quán thường gặp nhau vào 5, 6 giờ chiều, cùng ngồi uống nước trà, làm quen và chia sẻ “nói cho nhau nghe, nghe nhau nói”. Từ đó mới bớt dần đố kỵ, bớt dần xích mích, tạo tinh thần tương thân tương ái kết nghĩa. Đó là cái nền tiến tới tự họ bàn nhau thành lập HTX.  Trong các buổi uống trà ở mỗi hội quán đó, tôi mời chuyên gia nông nghiệp như GS.TS Võ Tòng Xuân và các doanh nghiệp tới chia sẻ với bà con về trồng lúa, về trồng trái cây như thế nào để giảm chi phí, về chuyện sản xuất sạch… Bà con sử dụng thoải mái thuốc trừ sâu, thuốc cấm, lừa người mua và tổn thương chính mình…Trong nhiều buổi gặp bà con, tôi nói là thời gian tới hàng hoá nông sản nước ngoài ào ạt vô, những kệ hàng đẹp nhất trong siêu thị là từ nước ngoài rồi. Nếu mình không thay đổi thì cửa chết nhiều hơn.  Tôi vận động cơ quan tỉnh, huyện tặng cho mỗi hội quán một cái máy tính, màn hình với máy chiếu. Thứ bảy họ sinh hoạt thì thứ sáu tôi gửi email các bài báo hay các video về nông nghiệp của VTV để người dân xem và tự bình luận về cách người khác đang làm, từ đó người ta sẽ ngồi tìm ra một hướng đi, tự lập một kế hoạch phát triển.  Ông có thể cho biết các hoạt động KH&CN đáp ứng chương trình tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh như thế nào?    Vừa qua tôi có làm việc với sở KH&CN. Anh em nói đang định thuê tư vấn đánh giá các chỉ tiêu đo lường năng suất tổng hợp TFP để báo cáo Tỉnh uỷ. Tôi nói bỏ qua một bên đi, những nghiên cứu vĩ mô, cơ bản đó thì để nhà nước làm, chúng ta không làm được đâu, mà làm rồi cũng không xử lý được gì. Rồi trong báo cáo, Sở KH&CN cũng nói là nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường KH&CN của tỉnh. Tôi bảo cả nước này còn đang khó khăn về phát triển thị trường KH&CN, còn tỉnh mình có chút xíu à, cái đó để Sài Gòn, Hà Nội người ta làm. Việc mình cần là nghiên cứu giải quyết được những bài toán đang nghẽn, như giống lúa đang thoái hoá, giống cá đang thoái hoá, trái cam quýt không ngọt bằng ngày xưa nữa, giống đang cỗi rồi, con ếch đang bị đồng huyết, ngày xưa nhập ếch Thái Lan về, cứ giao phối riết giờ bị cận huyết. Tại sao không làm những chuyện nhỏ nhỏ như vậy mà lại ngồi nghiên cứu TFP?      Nông nghiệp công nghệ cao của Đồng Tháp sẽ không chỉ giới hạn trong một khu biệt lập nào đó mà cần có sự liên kết mật thiết giữa doanh nghiệp và người nông dân. Doanh nghiệp hướng dẫn cho nông dân, cung cấp vật tư đầu vào, kiểm soát quy trình canh tác, rồi mua sản phẩm của nông dân về chế biến và làm logistic. Tôi đang hướng các doanh nghiệp ở đây đi theo hướng như vậy, nghĩa là tạo ra lợi ích lan tỏa tới nông dân, chứ không chỉ là chúng tôi cấp đất cho anh một đoạn làm trang trại lớn để sinh lời từ đó. Bởi vì kinh tế hộ nông dân còn nhiều lắm, một nhà lưới vài trăm hay cả ngàn ha thì vẫn không xi nhê gì so với đồng ruộng ở đây hết trơn. Lê Minh Hoan        Rất nhiều chuyện khác. Có Trung tâm ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (CNC) của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, rồi lại có trung tâm ứng dụng KHCN của Sở KH&CN, tôi bảo gom lại giao cho Sở Nông nghiệp dùm cái, chứ đừng nghĩ chuyện ở trên Bộ có gì thì tỉnh cũng phải có. Tiềm lực KH&CN mình có bấy nhiêu, có mấy ông thạc sĩ về, chia mỗi ông mỗi nơi. Mỗi năm đâu có nhiều mẫu xét nghiệm, mà sở này có phòng thí nghiệm, sở kia có phòng phân tích, thiết bị chẳng có bao nhiêu. Tại sao không gom lại, để liên thông thiết bị, liên thông con người, hằng năm anh em có thêm công việc, thêm thu nhập.  Ông có thể nói kinh nghiệm của ông trong thu hút các nhà khoa học ngoài tỉnh đến làm việc?  Về điều này, tôi hay nói với các em rằng chúng ta cho đi là chúng ta nhận lại. Chúng ta phải thật lòng trân trọng nhà khoa học. Thì khi mình cần người ta sẽ đến với mình. Thực sự là nhiều nơi, nhất là các nhà lãnh đạo chưa hiểu hết được giá trị mà các nhà khoa học mang lại. Nhiều khi họ nghĩ các nhà khoa học chỉ nói chuyện trên trời không à.  Hiện nay tôi có mời anh Thanh Mỹ, Tổng giám đốc tập đoàn Mỹ Lan hợp tác xây dựng khu sản xuất lúa CNC. Những người như anh Thanh Mỹ rất hiếm, vừa có tố chất kinh doanh, vừa là nhà khoa học, lại có tâm. Có thể nói đó là con người của giải pháp. Khi xuống nói chuyện với người nông dân, họ hỏi có cách gì giúp xoài không bị chín sớm, khiến bị hao hụt khi vận chuyển đường xa, thì ông ấy bảo có cách chứ nhưng chưa biết đó là cách gì. Hai ba ngày sau ông ấy nói rằng trái xoài chín sớm là do bị oxi hoá, khiến nó lên đường sớm, giờ mình rút bớt oxi trong túi bao quanh trái xoài, thì nó sẽ ức chế, làm chậm quá trình trái xoài chín. Khi mặn hoá xâm nhập, mình đắp đập ngoài cửa biển để ngăn mặn, đó là một tai hoạ vì nó làm thay đổi hẳn tự nhiên. Ông ấy lập một trạm quan trắc ở bờ sông Cổ Chiên, vào một thời điểm có độ mặn phù hợp thì mở van cho dẫn nước vào tưới.  Suy nghĩ của ông về chuyện khởi nghiệp gắn với chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh?  Chúng tôi rất coi trọng việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp – một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Người ta hay nói “phong trào” khởi nghiệp. Bệnh của mình là bệnh phong trào, khi thấy người ta làm thì mình cũng làm theo. Khởi nghiệp phải thực sự xuất phát từ niềm tin, đam mê cháy bỏng, khát vọng vươn lên để giải quyết được nhu cầu của cộng đồng, một câu hỏi, một điểm nghẽn trong cuộc sống. Nếu khởi nghiệp chỉ nghĩ tới kinh tế thì đâu có thành công. Chẳng hạn như ý tưởng làm sản phẩm mỹ nghệ từ hoa sen của Ngô Chí Công phải tạo ra những giá trị gia tăng cao, kích thích thay đổi cả ngành sen chứ không chỉ làm giàu cho Công. Hay chuyện khởi nghiệp của Võ Văn Tiếng, là câu chuyện dám tìm cho riêng mình một hướng đi, đó là làm nông sản sạch vì sức khỏe của gia đình và cộng động. Đó là quay về cách làm cũ nhưng là cái hợp lý, cái đi đúng xu hướng của thời đại.  Khởi nghiệp rất khó khăn, thường khi đối thoại với thanh niên, với sinh viên Đồng Tháp về khởi nghiệp, các em hỏi có chính sách gì hỗ trợ cho sinh viên khởi nghiệp, tôi nói chẳng có chính sách nào đáp ứng được muôn trùng ý tưởng, mô hình khởi nghiệp. Chính sách là do các cháu. Thường nhà nước mình hay ban hành rất nhiều chính sách mà thực tế người ta không cần, cái mà người ta cần thì mình lại không ban hành chính sách.  Để hỗ trợ khởi nghiệp, tôi thành lập một câu lạc bộ (CLB) giống như CLB doanh nghiệp dẫn đầu chỗ chị Kim Hạnh, đó là CLB doanh nghiệp dẫn đầu trong tỉnh. Tôi kiên trì thuyết phục khoảng 10 doanh nghiệp của tỉnh, kể cả doanh nghiệp ngoài tỉnh và thành lập quỹ 0 đồng để hỗ trợ khởi nghiệp. Tôi nói với các doanh nghiệp là không cần các quý vị hỗ trợ tiền nhưng yêu cầu họ thành lập ra một hội đồng tư vấn khởi nghiệp. Khi các bạn trẻ có ý tưởng khởi nghiệp gửi tới thì quý vị – những người có kinh nghiệm thương trường tư vấn, thẩm định. Ý tưởng tạo ra sản phẩm khởi nghiệp phải mới, độc, lạ đã khó rồi nhưng để thương mại hoá sản phẩm còn khó hơn nên rất cần các vị phản biện các ý tưởng đó cho tròn trịa. Rồi chính quý vị là người cho các em vay, mượn, góp vốn cổ đông sau đó quỹ khởi nghiệp của tỉnh mới tham gia vào…  Hiện nay mấy anh khởi nghiệp đang cần vốn, đất đai để làm nhà máy, nên chúng tôi đang quy hoạch và thu hồi đất để làm hai khu khởi nghiệp ở TP Sa Đéc và TP Cao Lãnh. Ở đó nhà nước đầu tư sẵn điện ba pha, nước rồi. Anh vào đó vài năm, đủ lông đủ cánh, sản phẩm được thị trường chấp nhận và muốn mở rộng quy mô thì mời anh trở ra, tìm nơi khác hoạt động để tôi dành chỗ đó cho người khác làm.  Qua làm việc với một số cơ quan của tỉnh, chúng tôi nhận được sự hợp tác chân thành và thẳng thắn. Khó nơi nào có được như tác phong và thái độ làm việc như vậy.  Để hệ thống chuyển động tốt tôi phân tích cho anh em thấy không chỉ có nghĩa vụ mà phải thấy cái giá trị của công việc mình làm. Tôi nói cớ gì mình kêu gọi nông dân, doanh nghiệp hợp tác còn mình thì lại không hợp tác? Tôi hay nói với anh em trong hệ thống là mình đang bị bóng đè, nếu cứ lấy thông tư, nghị định chiếu vô thì mình hết làm luôn à. Bây giờ mình phải thoát khỏi cái đó đi, đụng đến đâu thì tự tin làm tới đó chứ sao bây giờ.  Sáng nay làm việc với lãnh đạo TP Cao Lãnh, tôi nói phải đổi mới phương thức lãnh đạo, sắp xếp lại hệ thống chính trị. Mấy ông ở Hội nông dân thành phố nói có phường chỉ còn mấy ha đất nông nghiệp mà tụi em xin Hội nông dân tỉnh xoá Hội nông dân ở mấy phường đó đi, mấy anh ở tỉnh nói đó là một cấp hành chính thì bất kể có mấy nông dân cũng phải có Hội nông dân chứ. Đó là bóng đè chứ là cái gì nữa. Tôi nghĩ, để phát huy được nguồn lực quốc gia, phải thiết kế lại hệ thống quản trị giống như đổi mới 2.0. Hồi xưa tới giờ khi sắp xếp bộ máy, mình thiên về giảm biên chế, đông quá thì trả lương không nổi. Cái đó đúng, nhưng một phần thôi. Bây giờ mình nhìn vào một đoàn thể, một cơ quan mà chỉ có ba người chẳng hạn, thì đâu có khí thế, có năng lượng để làm việc, từ đó dần dần có nhiều hệ quả xấu.  Xin chân thành cảm ơn ông!  Nhóm PV Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện xung quanh các công ty dữ liệu mở      Gần đây, có thông tin cho biết Facebook cung cấp dữ liệu người dùng cho các nhà khoa học xã hội1. Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ và Social Science One – một sáng kiến hợp tác giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp sẽ lựa chọn nhà khoa học nào được phép truy cập vào các dữ liệu này như các thông tin nhân khẩu học của người dùng Facebook như giới tính, độ tuổi xấp xỉ và các liên kết website mà họ đã chia sẻ.           Facebook sẽ cấp dữ liệu người dùng cho một số nhà khoa học nghiên cứu.  Đây quả là một dịp thú vị để chúng ta hiểu thêm về các công ty dữ liệu mở. Đó là một khái niệm rất lạ tai, ít nhất là cho tới lúc này ở Việt Nam. Bởi vì, khi nghĩ đến một công ty vì lợi nhuận chúng ta chỉ quen nghe công ty đó sử dụng và/hoặc tận dụng dữ liệu mở do những người khác tạo ra thường nghe có vẻ xuôi tai hơn mà ít khi nghe đến việc nó sản xuất hoặc đầu tư vào dữ liệu mở và/hoặc mở dữ liệu của nó ra cho những người khác sử dụng.  Động thái của Facebook cùng với xu hướng nở rộ của các công ty dữ liệu mở trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ khiến ta đặt ra ba câu hỏi:  1. Dữ liệu Facebook cho phép các nhà khoa học truy cập tới có phải là dữ liệu mở hay không?  2. Facebook, như một công ty, có phải là công ty dữ liệu mở hay không?  3. Ví dụ về công ty dữ liệu mở trên thế giới, và giải thích vì sao nó được gọi như vậy?     Dữ liệu của Facebook là dữ liệu mở?     Rất tiếc, những dữ liệu mà Facebook cho phép các nhà khoa học truy cập không phải là dữ liệu mở. Dữ liệu chỉ được coi là mở khi nó thỏa mãn định nghĩa trong Sổ tay Dữ liệu mở của Quỹ tri thức mở như sau: “Dữ liệu mở là dữ liệu bất kỳ ai cũng có thể tự do sử dụng, sử dụng lại và chia sẻ cho người khác mà chỉ cần trích dẫn nguồn và sau khi sử dụng lại để chế độ mở tương tự”.  Trong trường hợp của Facebook, công ty này không mở dữ liệu của mình cho bất kì ai mà chỉ lựa chọn một số nhà khoa học nhất định.  Nhưng không chỉ vậy, Viện Dữ liệu mở của Tim Berners – Lee, nhà phát minh ra Web và Web của Dữ liệu (Web of Data), người vào năm 2006 đã đề xuất cho thế giới Quy tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao cho Dữ liệu Mở Liên kết – LOD (Linked Open Data) còn đưa ra một định nghĩa khác về dữ liệu mở, đó là dữ liệu mở không chỉ phải thỏa mãn yêu cầu cho “bất kì ai” sử dụng mà còn phải “được xuất bản ở định dạng truy cập được” và có “giấy phép mở”. Và dữ liệu của Facebook, không giấy phép mở và không hề được xuất bản, một lần nữa không vượt qua được “cửa ải” định nghĩa dữ liệu mở.        Facebook có phải là công ty dữ liệu mở hay không?     Mặc dù Facebook hết sức “chọn lọc” người tiếp cận dữ liệu của mình và dữ liệu của Facebook cũng không hề được xuất bản cũng không hề có giấy phép nhưng không có nghĩa đây không phải là một công ty dữ liệu mở.  Cũng Viện Dữ liệu Mở của Tim Berners – Lee, đã định nghĩa công ty dữ liệu mở trong tài liệu Viện xuất bản vào năm 2016 với tiêu đề ‘Doanh nghiệp mở: 3 doanh nghiệp lớn tạo giá trị với cách tân mở như thế nào’2 như sau:  “Một công ty dữ liệu mở là công ty sử dụng, sản xuất, hoặc đầu tư vào dữ liệu mở như là hoạt động kinh doanh chính của nó.   1. Nó có thể là nhà xuất bản dữ liệu, làm cho dữ liệu mở để những người khác sử dụng.   2. Nó có thể là một tổ chức sử dụng, tạo ra các dịch vụ với dữ liệu sẵn sàng bằng các nền tảng khác.   3. Hoặc nó có thể là một tổ chức xúc tác, huấn luyện hoặc tư vấn cho những người khác cách làm việc với dữ liệu mở.”  Sự việc được nêu ở trên đối với Facebook có thể không nằm trong lựa chọn 1, nhưng hoàn toàn có khả năng Facebook, như một công ty, có các hoạt động tích cực ở lựa chọn 2 và/hoặc 3. Điều này phụ thuộc vào chính sách và mô hình kinh doanh của chính Facebook và không nằm trong phạm vi đi sâu để chứng minh của bài viết này.    Ví dụ về các công ty dữ liệu mở trên thế giới     Theo định nghĩa công ty dữ liệu mở với ba lựa chọn ở trên, tại Vương quốc Anh vào năm 2016 đã có tới 270 công ty dữ liệu mở. Trong đó, có một công ty tiếng tăm ít ai ngờ tới là Thompson Reuters      270 công ty dữ liệu mở tại Anh.    Có lẽ trong 3 lựa chọn trong định nghĩa thế nào là một công ty dữ liệu mở được nêu ở trên, lựa chọn số 1 là ‘nghịch nhĩ’ hơn cả, khi một công ty vì lợi nhuận lại là nhà xuất bản dữ liệu và làm cho dữ liệu vốn là đóng và thuộc sở hữu của công ty trở thành mở cho những người khác sử dụng một cách hoàn toàn tự nguyện. Nhưng đó lại là câu chuyện của Thomson Reuters, một công ty có doanh thu năm 2015 là 12,2 tỷ USD (khoảng 285.000 tỷ VNĐ), khi công ty này đã chọn tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết3 bằng việc xuất bản một tập hợp con các dữ liệu của nó theo giấy phép Creative Commons (CC BY 4.0).  Thompson Reuters được hình thành từ sự sáp nhập của tập đoàn Thompson và Reuters vào năm 2008 và kể từ đó tiếp tục phát triển, một phần là thông qua việc mua bán, sáp nhập vào các công ty khác. Các công ty phát triển như vậy thường chịu chung một thách thức đó là liên kết các dữ liệu cũ trước khi sáp nhập với nhau. Thompson Reuters đã có một cách tiếp cận khá sáng tạo trong trường hợp này, cho phép các dữ liệu chuyên ngành khác nhau có thể kết hợp với nhau mà không cần phải hợp nhất trong một bảng hoặc một kho dữ liệu chung. Nó bắt đầu bằng cách thành lập các trung tâm dữ liệu “chủ” và mỗi trung tâm này được cấp một mã định danh vĩnh viễn gọi là Permanent Indetifier (PermID – tạm hiểu là một đường dẫn không đổi kể cả khi nội dung trong trung tâm đó thay đổi), những khối dữ liệu cũ từ trước khi sáp nhập sẽ được xác định lại bằng việc cấp một PermID mới. Các PermID này giống như các thẻ gắn trên các khối dữ liệu, cho phép truy vấn, liên kết giữa chúng có thể diễn ra một cách đơn giản, tiện lợi mà không cần mất công định dạng lại.  Khi Thompson Reuters thấy được thách thức của mình cũng là thách thức của nhiều khách hàng, họ đã cung cấp cho khách hàng hệ thống này. Cụ thể là, họ cho phép khách hàng truy cập vào hệ thống PermID của họ, nhờ vậy mà khách hàng có thể dễ dàng tích hợp dữ liệu của họ vào dữ liệu của Thompson Reuters một cách dễ dàng. Hệ thống PermID này hiệu quả nhất khi nó cho phép tất cả mọi người có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ dữ liệu. Chính vì vậy, Thompson Reuters phải đi đến quyết định mở dữ liệu của mình. Dan Bennet, giám đốc Dịch vụ thông tin của Thompson Reuters giải thích rằng: “Chúng tôi không tồn tại để kiếm tiền từ việc tạo ra các mã định danh đó. Chúng tôi tạo ra chúng vì nó quan trọng với mô hình dữ liệu nội bộ của mình. Thực tế là chúng tôi đã có những dữ liệu này và đang quản lý chúng theo cách mới rồi nên chi phí tăng thêm để mở nó ra ngoài cũng không quá lớn so với những hoạt động chiến lược lớn khác của Thomson Reuters”.  Và như thế: “Thomson Reuters đã quyết định xuất bản một tập hợp con các dữ liệu của nó, bao gồm các PermID có liên quan, theo giấy phép mở Creative Commons (CC-BY 4.0)… Họ đã khởi xướng dịch vụ này như là Open PermID vào năm 2015, có được chứng chỉ Dữ liệu Mở của ODI (ODI Open Data Certificate) về quy trình phát hành.”  “Bằng việc kết hợp dữ liệu mở với các mã nhận diện ổn định, nó trao cho các khách hàng sự tự do để thử nghiệm, liên kết các dữ liệu mở hoặc dữ liệu sở hữu độc quyền của riêng họ và cung cấp các phản hồi về hệ thống mã nhận diện đó, tất cả những điều đó làm cho PermID là một dịch vụ hấp dẫn hơn – cả trong nội bộ và ở bên ngoài. Thomson Reuters cũng được định vị tốt để tạo ra nền tảng dựa vào dữ liệu và mô hình thông tin của nó, trở thành thành phần trung tâm trong hệ sinh thái trong tương lai. Bằng việc đón nhận dữ liệu mở liên kết, Thomson Reuters đang tạo ra ưu thế cạnh tranh trong việc mở  đường để xây dựng các sản phẩm mới và tạo ra các mô hình kinh doanh mới – cả cho bây giờ và trong tương lai.”       Facebook cũng là công ty sáng tạo mở.     Thay cho lời kết – công ty dữ liệu mở hay công ty đổi mới sáng tạo mở     Ngày nay, khi các mô hình kinh doanh và các nền tảng dựa vào dữ liệu đang trở thành chuẩn mực mới, đặc biệt cho các công nghệ thời thượng như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet của vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, .v.v. thì các sản phẩm – dịch vụ các công ty cung cấp ngày càng có xu hướng sử dụng ngày một nhiều hơn dữ liệu mở, dữ liệu mở liên kết (đặc biệt khi các dữ liệu đó là kết quả của các nghiên cứu được nhà nước cấp vốn) và thông qua đổi mới sáng tạo mở/cách tân mở để có thể đa dạng hóa các nguồn thu và tối đa hóa các khả năng của công ty.  Facebook, trong trường hợp cụ thể của bài viết này, có thể không/chưa biến một phần dữ liệu nó sở hữu thành dữ liệu mở, nhưng Facebook được thừa nhận là công ty đổi mới sáng tạo mở4/cách tân mở ở, cho phép người ở bên trong và cả bên ngoài doanh nghiệp này tham gia và hợp tác trong việc phát triển sản phẩm và quy trình mới, ở một vài khía cạnh như (1) cùng nghiên cứu và phát triển với các công ty đối tác (IntraCompany R&D) và (2) phát triển những nhân tài ở ngoài công ty thông qua các cuộc thi hackathon (Talent for Professionals).  Với Việt Nam, hy vọng một ngày không xa, cũng sẽ có các doanh nghiệp khởi nghiệp đi theo xu hướng để trở thành các công ty dữ liệu mở, kể cả ở lựa chọn nghịch nhĩ nhất, khi (các) công ty đó, vì lợi ích của chính mình, biến một phần dữ liệu do mình sở hữu thành dữ liệu mở với một giấy phép tư liệu mở thích hợp gắn vào nó để cho phép bất kỳ ai cũng có khả năng truy cập, sử dụng và chia sẻ nó, kể cả vì các mục đích thương mại, giống như những gì được Thomson Reuters làm, và cũng giống như những gì được nêu về đổi mới sáng tạo mở/cách tân mở, theo chiều đưa tri thức mới từ bên trong công ty ra bên ngoài, chứ không chỉ theo chiều tận dụng tri thức từ bên ngoài đưa vào trong công ty. □  ——-  Chú thích  1 Ngô Hà lược dịch, 2019: Facebook cung cấp dữ liệu người dùng cho các nhà khoa học xã hội. Tia Sáng Online: http://tiasang.com.vn/-tin-tuc/Facebook-cung-cap-du-lieu-nguoi-dung-cho-cac-nha-khoa-hoc-xa-hoi–16373  2 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Doanh nghiệp mở: 3 doanh nghiệp lớn tạo giá trị với cách tân mở như thế nào. Viện Dữ liệu Mở – ODI (Open Data Institute) xuất bản năm 2016: https://www.dropbox.com/s/r7snvketalyr747/ODI_Open_Enterprise_Vi-31012018.pdf?dl=0  3 Lê Trung Nghĩa, 2017: Rất cần Khoa học Mở cho CMCN4.0: Tạp chí Tia Sáng trên trực tuyến, 26/08/2017: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Rat-can-khoa-hoc-mo-cho-CMCN-40–10878, phần C3: Dữ liệu mở và dữ liệu mở liên kết.  4 Lê Trung Nghĩa, 2019: Đổi mới sáng tạo mở và vài gợi ý. Bài đăng trên tạp chí Tia Sáng số 07 năm 2019, ra ngày 05/04, trang 19-22: https://vnfoss.blogspot.com/2019/04/oi-moi-sang-tao-mo-va-vai-goi-y.html     Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang CNTT&TT và các hạ tầng trọng điểm      Sự kiện Thủ tướng Chính phủ đưa ý kiến chỉ đạo thành lập Ủy ban Quốc gia về CNTT trong tháng 3 vừa qua là mong ước của các Hội và Hiệp hội CNTT từ nhiều năm qua.    Ở cấp Trung ương chúng ta cần sớm thành lập Ủy ban Quốc gia về CNTT do Thủ tướng làm Chủ tịch, với sự tham gia trực tiếp của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và Bộ trưởng các Bộ: Thông tin và Truyền thông; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Khoa học và Công nghệ; Tài chính; Giáo dục và Đào tạo; Giao thông Vận tải; Y tế; Lao động – Thương binh và Xã hội; Tài nguyên và Môi trường; Nội vụ, Quốc phòng; Công an; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,… Đồng thời, để đảm bảo Ủy ban hoạt động hiệu quả và thực chất, cần xây dựng bộ máy (cơ quan) thường trực mạnh, làm việc chuyên trách, có đủ năng lực và quyền hạn để hoàn thành các nhiệm vụ được giao phó.  Ở cấp ngành, địa phương: Để nhiệm vụ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin là ưu tiên hàng đầu trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong từng ngành, từng lĩnh vực, cần phải có qui định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu các ngành, các địa phương ở tất cả các cấp trực tiếp chỉ đạo và chịu trách thực hiện nhiệm vụ này.   Trong bối cảnh các nguồn tài nguyên ngày dần cạn kiệt và đắt đỏ, việc sử dụng các nguồn sống này một cách hiệu quả và hợp lý là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc lãng phí điện, nước, xăng và thời gian người sử dụng là hệ quả của một xã hội chậm thích ứng với công nghệ cũng như ý thức kém của người dân. Những khiếm khuyết này còn gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động, tổng sản lượng quốc gia, kim ngạch xuất nhập khẩu và sức khỏe và thu nhập của người lao động.   Đứng trước những thách thức trên, hạ tầng CNTT & TT có thể làm được rất nhiều điều cho các hạ tầng kinh tế xã hội khác giúp hệ thống dân sự vận hành trôi chảy, tránh lãng phí và mang tính chính xác cao mang lại cho sự phát triển phồn thịnh của quốc gia.   Bài viết này trình bày tổng hợp những chức năng chính của một hạ tầng CNTT & TT thông minh hoàn chỉnh làm nền tảng cho mỗi mảng hạ tầng trọng điểm được viết bởi các kiến trúc sư hệ thống dày kinh nghiệm đã từng triển khai thực tiễn tại nhiều thành phố trên thế giới.  Hạ tầng thông minh quản lý giao thông  Phương thức truyền thống giải quyết nạn kẹt xe là phải làm tăng lên những khía cạnh sau: tăng sức chứa của hạ tầng bằng cách xây thêm cầu đường, tăng số lượng phương tiện giao thông công cộng      Một khi khác phương thức này đã đạt đến giới hạn, hoặc nếu thành phố muốn nâng cao thêm nữa việc tối ưu hóa sử dụng hạ tầng giao thống và bảo đảm một môi trường đi lại an toàn, sạch và tiết kiệm, các cơ quan chức năng cần một hạ tầng thông tin quản lý giao thông. Hiện trạng của TP. HCM và Hà Nội khó có thể xây thêm cầu đường ở trung tâm do gặp khó khăn trong quy hoạch đô thị, tuy vẫn đang xem xét xây dựng Metro, PRT (Personal Rapid Transit) và xe buýt thông minh. Do đó, xây dựng hạ tầng CNTT&TT để quản lý hạ tầng giao thông là một hướng đi sáng suốt và cấp bách.   Giải pháp giao thông thông minh có thể giúp các nhà quản lý đạt được 4 mục tiêu:  * Dự báo lượng cầu để tối ưu hóa sức chứa, tài sản (phương tiện giao thông, thiết bị điều phối giao thông), và hạ tầng (cầu đường) dựa trên dữ liệu thực và dữ liệu quá khứ được cung cấp bởi hệ thống cảm biến tại các nút giao thông  * Hỗ trợ giúp người tham gia giao thông thỏa mãn trong hành trình qua dịch vụ tin nhắn hướng dẫn đường đi, thông báo các đoạn bị tắc nghẽn hoặc đang sửa chữa, gợi ý sử dụng các phương tiện công cộng khác.  * Tăng hiệu suất vận hành và giảm thải   * Bảo đảm an ninh đường phố và an toàn khi tham gia giao thông.  Hiện nay tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM đã bắt đầu triển khai một số mảng của hạ tầng thông minh bao gồm hệ thống thu phí tự động. Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ thành phố Stockholm, Thụy Điển. Thành phố giải quyết tình trạng kẹt xe tại trung tâm bằng cách vẽ ra một vòng tròn trung tâm và xác định 18 điểm nhập xuất, tại đây gắn máy quay phim và tia laser. Mỗi khi có một chiếc xe ra vào khu vực này cắt ngang tia laser, máy quay phim sẽ được kích hoạt và chụp hình biển số trước và sau của xe hơi. Một phần mềm sẽ lọc biển số xe ngay tại chỗ và chuyển tới trung tâm dữ liệu. Một triển thuật toán có thể đọc được biển số xe chính xác trong mọi điều kiện. Sau khi nhận diện, hệ thống sẽ so sánh biển số với cơ sở dữ liệu để lấy thông tin về chủ xe và tự động in hóa đơn gửi đến người đó. Thẻ đi lại ở Dublin, CH Ireland và ở Hong Kong cho phép hành khách sử dụng phương tiện giao thông công cộng chỉ cần cầm thẻ quơ qua đầu đọc và chọn lộ trình, vé sẽ tự in ra. Ngoài ra còn có sản phẩm thẻ tuần, tháng, năm và có thể sử dụng cho cả các phương tiện tư nhân. Thẻ có thể được tái sử dụng bằng cách nạp tiền vào thẻ.    Hạ tầng thông tin y tế  Thật ra tư duy giao thông thông minh rất giống với Y tế thông minh, các vấn đề tắt nghẽn trong giao thông đô thị tại Việt Nam cũng tương tự như tắt nghẽn và quá tải các bệnh viện Trung ương, các bệnh viện chuyên khoa có bác sĩ giỏi. Ứng dụng Công nghệ thông tin y tế (Health Information Technology – viết tắt HIT) được xem như là một mảng cốt lõi của cải cách hiện trạng quá tải y tế. HIT tạo điều kiện thuận lợi gia tăng tính minh bạch và tốc độ việc lưu chuyển thông tin y tế, sức khỏe – những chức năng chính yếu để gia tăng chất lượng dịch vụ, tiết kiệm chi phí, và giảm những bất công trong ngành y tế. Quán triệt 7 nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong năm 2012, HIT là mục tiêu cấp thiết để: đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, mạng lưới y tế dự phòng; đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập gắn với việc thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân theo Luật Bảo hiểm y tế (nhiệm vụ 1), và giảm quá tải bệnh viện (nhiệm vụ 3), v.v.  Công nghệ thông tin y tế là gì?   Công nghệ thông tin y tế bao gồm những công nghệ với mục đích lưu chuyển và quản lý thông tin liên quan đến sức khỏe, với đối tượng sử dụng là bệnh nhân, bác sĩ, bệnh viện, nhà bảo hiểm, và các tổ chức, cơ quan chức năng. 3 công nghệ cốt lõi trong công tác chăm sóc y tế: hồ sơ sức khỏe điện tử (Electronic health records – EHRs), hồ sơ sức khỏe cá nhân (Personal health records – PHRs), sự trao đổi thông tin y tế (Health information exchange – HIE).  Không chỉ đóng vai trò là một hồ sơ điện tử thay thế hồ sơ giấy, EHR có 4 chức năng chính sau: thu thập và lưu trữ thông tin bệnh nhân trên máy tính, khả năng cung cấp thông tin tức thời khi có yêu cầu, cho phép bác sĩ kê đơn và hướng dẫn điều trị trên máy tính, giúp bác sĩ ra quyết định với những lựa chọn sẵn có trên hệ thống. Trên thực tế, việc ứng dụng EHR đạt hiệu quả cao ngay cả tại những nước đã có hệ thống chăm sóc y tế tiên tiến như Mỹ. Số tiền tiết kiệm được từ EHR có thể cao gấp 3 lần chi phí bỏ ra trong cùng một khoảng thời gian.  PHR cho phép bệnh nhân quản lý việc khám và chữa bệnh một cách chủ động hơn. Một PHR lý tưởng có thể nhận và đánh giá kết quả thí nghiệm và từ các thiết bị xét nghiệm, lưu nhật ký sức khỏe và môi trường sống của bệnh nhân, liên kết với EHR, và thực hiện các nhiệm vụ khác như lên lịch hẹn khám chữa bệnh và quản lý đơn thuốc. PHR cung cấp bởi các công ty bảo hiểm còn cho phép khách hàng xem báo cáo bồi thường trực tuyến.   Để cung cấp thông tin y tế chính xác, bảo mật cho bệnh nhân và bác sĩ, HIE là lĩnh vực đầy hứa hẹn của HIT. HIE được định nghĩa là sự trao đổi trực tuyến thông tin y tế sức khỏe giữa các bệnh viện, tổ chức trong một vùng. Nói cách khác, nó là công nghệ mang các thông tin sức khỏe cá nhân đến cho người dùng nhằm giúp họ đưa ra những quyết định chính xác. HIE sẽ cho phép y bác sĩ, bất kể vị trí hay đơn vị công tác, phối hợp với nhau nếu họ có chung bệnh nhân.   Hiện nay, HIT có thể đáp ứng những nhu cầu mà ngay cả những y bác sĩ và bệnh viện tại Hoa Kỳ còn chưa nhận ra: tiếp cận dữ liệu giúp nâng cao chất lượng và năng suất công việc, các ứng dụng phần mềm giúp thu hồi và sắp xếp dữ liệu, áp dụng các thuật toán để ra quyết định điều trị, và cung cấp kết quả cho nhiều đối tượng khi cần. Thế kỷ 21, khi mà CNTT & TT đã xóa nhòa khoảng cách tiếp cận thông tin từ mọi ngõ ngách trên thế giới, Việt Nam hoàn toàn có thể bắt đầu triển khai HIT cùng các nước phát triển để cải thiện ngành y tế nước nhà.  Hạ tầng thông minh cho ngành điện  Hệ thống lưới điện của Mỹ đã gần 100 năm tuổi mà vẫn phục vụ tốt người tiêu dùng. Tuy vậy vì mục tiêu môi trường, trách nhiệm xã hội và tối ưu hóa vận hành của các ban ngành doanh nghiệp trong thế kỷ 21, nước Mỹ phải đang từng bước cải tổ hệ thống điện của mình. Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa lại càng phải cần xây dựng một hạ tầng điện tốt hơn để tăng gia sản xuất, đẩy mạnh giáo dục và hội nhập, tiết kiệm điện năng, và nâng cao ý thức sử dụng điện của người dân.  Rất nhiều tác động của thị trường khiến ngành điện phải nhìn lại các vấn đề của mình từ nhiều góc độ khác nhau:  * Áp lực tăng hiệu suất và năng suất lao động   * Kì vọng về chất lượng và độ tin cậy của thiết bị điện   * Các chính sách ngày càng thắt chặt từ chính phủ   * Biến đổi khí hậu   * Thị trường điện đón nhận nhiều phương thức phát điện mới từ các nguồn tái tạo   * Sân chơi mới trong thị trường năng lượng và các công nghệ đột phá: xe hơi điện, thiết bị dự trữ điện   * Người tiêu dùng yêu cầu thông tin minh bạch hơn để tham gia tiết kiệm điện   Trong bối cảnh đó, kiến trúc giải pháp dành cho lĩnh vực năng lượng và điện (SAFE) của IBM với 7 mảng chức năng được thiết kế để giải quyết những vấn đề bức thiết này.  SAFE bao gồm nhiều chức năng cung cấp giải pháp tích hợp, quản lý, tối ưu hóa hệ thống điện bao gồm tài sản, thiết bị, đường dây, máy chủ, ứng dụng và dữ liệu trong toàn chuỗi giá trị của lĩnh vực điện, cụ thể: Cung cấp công cụ quản lý và phân tích hỗ trợ về mặt tài nguyên và chi phí, cụ thể là giám sát hoạt động của hạ tầng trong thời gian thực, phân tích thói quen và mức tiêu thụ điện, nhờ đó có thể chuẩn bị trước cho các giai đoạn với nhu cầu điện năng khác nhau; Quản lý các tương tác liên quan đến luật và quy định, quản lý rủi ro lên năng suất vận hành, đưa ra các chiến lược dựa trên chi phí và tác động môi trường; Chuyển dữ liệu thời gian thực thành thông tin có thể ra quyết định; Tự động hóa quy trình doanh nghiệp; Bảo vệ mạng lưới, máy phát điện và hệ thống; Quản lý vòng đời tài sản; Quản lý việc cúp điện tốt hơn, ít ảnh hưởng đến người dân nhất, cho phép người dân tiếp cận số liệu tiêu thụ điện một cách toàn diện hơn nhằm thúc đẩy tiết kiệm.  Với việc ngày càng có nhiều phương thức sản xuất điện, một mạng lưới điện lực thông minh có thể tích hợp một công-tơ điện thông minh cho phép quản lý phân tích dữ liệu, và dịch chuyển mô hình mạng lưới một chiều thành nhiều chiều, cho phép khách hàng tự phát điện bằng năng lượng Mặt trời có thể bán lại số điện dư cho công ty điện lực. Ngoài ra nó còn cho phép lắp đặt và quản lý mạng lưới ở xa và thiết bị giám sát tài sản, tăng khả năng tương tác giữa thiết bị, hệ thống, khách hàng và nhân viên.  Hạ tầng thông minh quản lý nguồn nước  Với một người bình thường, nước dường như là nguồn tài nguyên vô tận trên Trái đất. Nhưng trên thực tế, chỉ có 3% nước trên hành tinh là nước ngọt, và con người chỉ có thể tiếp cận 1%. Tại Việt Nam, dân số và hoạt động sản xuất ngày càng tăng lên trong khi công tác quản lý nước còn lạc hậu trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay. Ví dụ, những tiến bộ CNTT như hệ thống thông minh có thể: liên tục đánh giá chất lượng nước và lượng cung, cải thiện năng suất sử dụng nước và năng lượng, quản lý tốt hơn đường phân nước và lưu vực sông. Tóm lại, Hạ tầng quản lý nguồn nước thông minh (Smarter Water) là một hạ tầng thông tin thông minh cho phép cảm biến tự động, giám sát và ra quyết định trong công tác quản lý nguồn nước.  Các vấn đề về nguồn cung nước đặt ra cho chúng ta là:  * Tăng cầu do tăng dân số, công nghiệp hóa.  * Chất lượng nước suy giảm do nước thải đô thị và các hợp chất hóa học độc hại mới được phát hiện.  * Sức khỏe của hệ sinh thái suy giảm do cạnh tranh nguồn nước. Can thiệp vào hệ sinh thái sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung và chất lượng và công tác phòng chống lũ lụt.  * Nguy cơ thay đổi khí hậu sẽ tác động đến:  – Thay đổi lượng mưa và tuyết tan  – Nâng mực nước biển, dẫn đến ngập mặn   – Thiên tai, bão lụt   * Thất thoát nước do:  – Thiết bị bơm nước hoạt động thiếu hiệu quả và tốn điện, rò rỉ nước   – Người dân thiếu hiểu biết và ý thức kém trong việc sử dụng nước   – Nước thải chưa được sử dụng một cách có lợi   – Không biết cách lưu giữ nước mưa, nước lũ mà để chúng trôi mất   * Thiếu đầu tư vào hạ tầng nước và nước thải.  * Nước được sử dụng để sản xuất điện. Hầu hết phương thức sản xuất điện, bao gồm cả năng lượng sạch đều dựa vào rất nhiều nước.   Trước hết, bằng cách hiểu vòng đời của nước, ta tìm ra cách để công nghệ đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn nước của thành phố, góp phần giải quyết bài toán nước sạch.  Sau khi hiểu từng hoạt động trong từng giai đoạn của vòng đời nước, hạ tầng nước thông minh là lời giải cho vấn đề nước sạch hiện tại và cả tương lai. IT là nền tảng của các hệ thống với những khả năng sau:  Đo đạc, cảm ứng, dò tìm tình trạng nước và hạ tầng hỗ trợ. Ví dụ: bằng việc thông báo sớm nhất đến đội bảo trì về một vụ rò rỉ, lượng nước thất thoát sẽ giảm tối đa, năng suất hoạt động tăng lên.  Liên thông con người, hệ thống, dữ liệu sẽ tăng khả năng chia sẻ thông tin và hành động. Vd: chia sẻ thông tin sử dụng nước để quyết định giá nước, tìm ra giải pháp tiết kiệm   Dữ liệu về nước trở nên “thông minh” nhờ các thuật toán phân tích và dự báo.  Những giải pháp IT có thể giúp con người và các tổ chức sử dụng nước hợp lý và hiệu quả hơn, đồng thời cho phép một cái nhìn toàn cảnh vòng đời nước bằng các cách sau:  Đánh giá công tác quản lý hiện tại để tìm ra những điểm cần cải thiện và xây dựng một lộ trình cho giải pháp.  Quản lý tài sản và hoạt động một cách toàn diện sẽ tiết kiệm chi phí hoạt động, kéo dài tuổi thọ tài sản, phòng ngừa sự cố kịp thời   Tích hợp dữ liệu, phân tích và phân bổ thông tin đến các cơ quan chức năng.  Thấu hiểu việc sử dụng nước sẽ định giá nước cho từng nhóm khách hàng.  Tạo sự hợp tác giữa các bên liên quan trong việc quản lý. Ví dụ: công ty nước và môi trường đô thị cảnh báo cư dân khu Saigon Pearl về đợt mưa lớn sắp tới và tình trạng tắc nghẽn cống trên địa bàn quận 2.  Dùng các công cụ phân tích hỗ trợ hoạt động hằng ngày.  Đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn ngành và luật về nước bằng các số liệu, báo cáo.   Mô hình hạ tầng nước thông minh đã được triển khai thành công tại nhiều thành phố tại các bang như Texas, District of Columbia, California, Indiana ở Mỹ, CH Ireland và Hà Lan. Hy vọng các thành phố lớn của Việt Nam phải sớm có chiến lược triển khai hạ tầng nước thông minh trước khi nguồn tài nguyên nước sạch bị ô nhiễm và khan hiếm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ cấu lại nền kinh tế:  Hướng đi nào cho Việt Nam?      Khi những xung lực cho tăng trưởng đang yếu dần, những thách thức đang lộ diện rõ hơn thì việc cơ cấu lại nền kinh tế không còn là vấn đề được đặt ra mà cần giải quyết rốt ráo nhằm tìm ra những làn sóng tăng trưởng mới giúp Việt Nam có thể bắt kịp các nước phát triển.  Câu hỏi đặt ra là nền kinh tế nên được cơ cấu lại như thế nào? Việc nhìn lại yếu tố dẫn đến thành công cũng như những vấn đề đặt ra sau hơn 20 năm đổi mới và kinh nghiệm quốc tế có thể là cách tiếp cận phù hợp cho Việt Nam.     Khi năng lực được giải phóng  Có nhiều nguyên nhân tạo ra thành công trong hơn 20 năm đổi mới của Việt Nam. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất chính là năng lực sản xuất được giải phóng và phát huy. Khi năng lực đã được tích tụ, nền kinh tế có khả năng sản xuất 40 triệu tấn lương thực chỉ cần trả ruộng về tay nông dân là có thể đạt được mức tiềm năng, hay đội ngũ đông đảo doanh nghiệp dân doanh đã được phát huy sở trường nhờ Luật doanh nghiệp năm 2000 để tạo ra làn sóng tăng trưởng mạnh trong gần một thập niên qua.    Thành công quả là kỳ diệu với hơn nửa dân số thoát khỏi đói nghèo. Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (GDP bình quân người từ một nghìn đô-la trở nên) sau khi duy trì được tốc độ tăng trưởng cao (hơn 7,5%) trong hơn 2 thập niên.   Nếu dùng những hình ảnh đơn giản thì có thể nói rằng từ một nước thiếu ăn phải nhập khẩu lương thực và nhiều mặt hàng thiết yếu, sau hơn 20 năm Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nông sản và các mặt hàng gia dụng như: hồ tiêu (số một), gạo và cà phê (số hai), chè, cao su, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ.   Nói cách khác Việt Nam đã là “nước lớn” về xuất khẩu những mặt hàng kể trên nhờ khai thác thế mạnh của mình. Hơn thế, đây chính là những ngành giúp giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho phần lớn người dân Việt Nam.Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là các mặt hàng này mới chỉ dừng ở mức sở chế hoặc gia công. Việc đầu tư vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn dường như chưa được quan tâm đúng mức.  Hành trang cho tương lai  Nhằm  đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, trong thời gian qua, nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất ô tô, sắt thép, hay đóng tàu đã được đầu tư hay trợ cấp thông qua ưu đãi thuế nhiều tỷ đô-la. Tuy nhiên, chắc hẳn nhiều người sẽ e dè khi nói rằng đây là những ngành thế mạnh và hứa hẹn của Việt Nam cho dù hầu hết các nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam và cách đây vài năm Việt Nam đã ký hợp đồng đóng những con tàu trọng tải trên 50 nghìn tấn. Đơn giản là việc phát triển chúng không dựa vào thế mạnh quốc gia mà do những yếu tố khác. Ví dụ về ngành sản xuất ô tô trong hộp 1 là một khía cạnh.  Ngược lại, khi Việt Nam xây dựng chính sách công nghiệp cách đây hơn một thập kỷ, ít ai nghĩ rằng sẽ có ngày các hãng công nghệ hàng đầu như Intel, Canon hay Samsung bỏ hàng tỷ đô-la xây dựng các nhà máy hiện đại tại Việt Nam.   Tại sao các hãng này lại đặt cược hàng tỷ đô-la vào Việt Nam? Câu trả lời có lẽ nằm ở hai lý do:  Thứ  nhất, tiềm năng thị trường Việt Nam lớn. Ví  dụ chỉ cần 1/10 dân số Việt Nam sử  dụng con chip của Intel thì quy mô thị trường đã lên đến ba bốn tỷ đô-la.  Thứ  hai, tiềm năng về nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy chất lượng giáo dục đang có vấn đề, ví dụ vào đầu năm 2008, theo Báo Tuổi Trẻ “sau một năm trực tiếp khảo sát gần 2.000 sinh viên năm cuối tại năm trường đại học chuyên ngành kỹ thuật lớn nhất Việt Nam, họ [Intel] chỉ chọn được 40 sinh viên đủ khả năng”, nhưng nhìn vào tố chất của người Việt, nhất là sự cần cù và khả năng sáng tạo, thì tiềm năng về nguồn nhân lực chất lượng cao là rất rõ ràng.   Đây có lẽ là những ngành mà Việt Nam có tiềm năng dựa vào thế mạnh của mình. Tuy nhiên, với điều kiện hiện tại, rất khó để Việt Nam tự phát triển, việc dựa vào những người đi đầu có lẽ là chiến lược hợp lý hơn cả.  Cám dỗ  về các ngành công nghiệp hiện đại   Những người sáng lập ra kinh tế phát triển cho rằng (1) loại sản phẩm mà một quốc gia xuất khẩu có ý nghĩa  đến thành quả kinh tế và (2) công nghiệp hóa tạo ra sự lan truyền lợi ích mà chúng dẫn đến tăng trưởng. Tuy nhiên, do thiếu các mô  hình chính thức, lý thuyết kinh tế học chính thống đã không thể kết hợp được các ý tưởng này. Thay vào đó hai cách tiếp cận được sử dụng để giải thích cho sự chuyên môn hóa của các quốc gia.   Cách tiếp cận thứ nhất tập trung vào tỷ phần tương đối giữa các nhân tố sản xuất (vốn vật chất, lao động, đất đai, kỹ năng, vốn nhân lực, cơ sở hạ tầng và thể chế). Các nước nghèo tập trung vào sản xuất các loại hàng hóa thâm dụng lao động không có kỹ năng, đất đai, trong khi các nước giàu chuyên môn hóa các sản phẩm đòi hỏi cơ sở hạ tầng, thể chế cũng như vốn nhân lực và vốn vật chất.   Cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh đến sự khác biệt về  công nghệ và phải được bổ sung bằng một lý thuyết về điều gì dẫn đến sự khác biệt. Những mô hình về sự đa dạng và những nấc thang chất lượng giả định rằng luôn có một sản phẩm tân tiến hơn một chút hay chỉ là một sản phẩm khác mà các nước có thể tham gia mà không cần để ý đến sự tương tự của sản phẩm khi xem xét tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu.  Trên thực tế nhiều nước đang hưởng lợi rất nhiều từ  phân công lao động, nhưng do yếu tố chính trị học, nên cách tiếp cận thứ nhất có vẻ không được các nước đang phát triển chú ý vì ít ai muốn chuyên môn hóa vào việc “bán sức lao động”. Ngược lại, cách thứ hai có vẻ lý tưởng vì nước nào cũng mong muốn có những ngành công nghiệp “mũi nhọn”, hàm lượng công nghệ cao.   Lập luận một quốc gia có thể chuyển sang sản xuất những mặt hàng tân tiến mà không cần quan tâm đến nền tảng hiện tại cộng với hình ảnh so sánh một tấn gạo xuất khẩu chỉ đem lại khoảng 400 đô-la, chỉ bằng một cái máy ảnh nặng chừng 100 gam hay một con chip chưa đến vài gam quả là cám dỗ để nhiều nước tập trung nguồn lực cho những ngành thâm dụng vốn và chất xám vì họ cho rằng không thể giàu được nếu cứ sản xuất giản đơn. Tuy nhiên, mong muốn và khả năng thường là hai phạm trù khá khác biệt.   Lý  thuyết về bước nhảy của  đàn khỉ  Trên cơ  sở lập của Adam Smith, “Bí mật về sự  giàu của các quốc gia liên quan đến sự phân công lao động. Khi con người và các doanh nghiệp chuyên môn hóa vào những hoạt động khác nhau hiệu quả kinh tế sẽ gia tăng.”  và những bất cập của hai cách tiếp cận nêu trên, nhóm học giả gồm: Barabási, Hausmann, Hidalgo, Klinger thuộc Đại học Harvard đã đưa ra lý thuyết về bước nhảy của những con khỉ (monkey jumping) bằng việc phân tích thực nghiệm quá trình phát triển sản phẩm và công nghiệp hóa của các nền kinh tế trên thế giới.  Hình dung một sản phẩm như một cái cây và tất cả  các sản phẩm như một khu rừng. Một quốc gia bao gồm một tập hợp các doanh nghiệp, giả định giống như  những con khỉ sống trên những cái cây khác nhau và  khai thác những sản phẩm này. Quá trình tăng trưởng giống như việc di chuyển từ phần rừng còi cọc nơi mà những cái cây có ít trái hơn sang những vùng tươi tốt hơn. Điều này có nghĩa rằng những con khỉ phải nhảy qua những khoảng cách, hay các doanh nghiệp phải sắp xếp lại nguồn nhân lực, vốn vật chất và thể chế hướng vào sản phẩm mới khác với hoạt động sản xuất hiện tại.   Các lý  thuyết tăng trưởng truyền thống giả định rằng luôn có những cái cây trong tầm với, và vì  vậy cấu trúc của cánh rừng là không quan trọng. Tuy nhiên, nếu cánh rừng này không đồng nhất, nơi thì đông đúc, nơi thì thưa thớt và nếu những con khỉ chỉ có khả năng nhảy những khoảng cách giới hạn, thì cấu trúc của không gian sản phẩm và định hướng của một nước trở nên cực kỳ quan trọng đến sự phát triển.   Theo lý  thuyết, nhiều yếu tố khả dĩ có thể  tạo ra sự liên hệ giữa các sản phẩm –  sự gần gũi giữa các cây – ví dụ như: sự tập trung lao động, đất đai và vốn, mức độ tinh vi của công nghệ, nhập lượng và xuất lượng tham gia trong chuỗi giá trị của sản phẩm (bông vải, sợi, vải, may) hoặc các thể chế yêu cầu. Vấn đề đặt ra là sự tương tự theo khía cạnh hay chiều nào là quan trọng?   Nếu hai loại hàng hóa liên quan với nhau vì chúng cùng yêu cầu những thể chế, cơ sở hạ tầng, yếu tố vật chất, công nghệ giống nhau hay là một sự kết hợp nào đó thì chúng có thể sản xuất nối tiếp, ngược lại những sản phẩm không tương tự ít có khả năng sản xuất cùng nhau. Điều này được gọi là sự “gần gũi” (proximity) mà nó làm cho khả năng sản xuất một sản phẩm mới của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng sản xuất những sản phẩm khác của nước này.  Ví dụ  một nước có khả năng xuất khẩu táo sẽ  có thể có hầu hết các điều kiện thích hợp để xuất khẩu lê vì chúng có cùng yêu cầu về thổ nhưỡng, khí hậu, công nghệ đóng gói và vận chuyển. Thêm vào đó họ có những nhà nông học giỏi, quy định về vệ sinh hay thỏa thuận thương mại dễ dàng áp dụng vào hoạt động kinh doanh lê. Ngược lại, tất cả hay hầu hết khả năng được phát triển cho việc kinh doanh táo sẽ là vô dụng đối với những sản phẩm khác biệt như sản xuất dây đồng hay dụng cụ gia đình.  Nhóm  học giả này kết luận “Các nền kinh tế tăng trưởng bằng cách nâng cấp các sản phẩm mà họ sản xuất và xuất khẩu. Công nghệ, vốn, thể chế và kỹ năng cần thiết để chế tạo các sản phẩm mới thì dễ hơn khi dựa vào một số sản phẩm so với những sản phẩm khác.”    Nói một cách đơn giản, nhóm học giả này đã không thừa nhận lập luận một nước có khả năng tham gia vào bất kỳ sản phẩm nào và cho rằng các quốc gia nên lựa chọn phát triển các sản phẩm tiếp theo dựa trên những sản phẩm hiện có, nhất là các sản phẩm xuất khẩu nhằm phát huy năng lực sẵn có.  Hướng đi nào cho Việt Nam?  Nếu  cách tiếp cận về “bước nhảy của bầy khỉ” nêu trên là hợp lý thì hình như định hướng phát triển các ngành công nghiệp hay công nghiệp hóa của Việt Nam có điều gì đó chưa ổn. Những ngành nghề liên quan đến cắt may, thiết kế thời trang … chắc chắn gần với công nghiệp dệt may và da giày hơn là cắt thép đóng tàu. Việc chế biến các sản phẩm có chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn từ con tôm, con cá hay hạt gạo, hạt cà phê chỉ là bước nối tiếp của các hoạt động sơ chế nông sản và thủy sản, khác xa so với sản xuất sắt thép hay xe hơi.   Khoảng cách giữa những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam và những ngành đang được tập trung nhiều vốn và ưu đãi có lẽ quá xa nên các doanh nghiệp khó lòng mà chuyển sang được. Đây có thể là điều đang gây rắc rối cho kinh tế Việt Nam.   Để có thể gặt hái được thành công như mong đợi, Việt Nam cần xem xét một số vấn đề sau:  Thứ  nhất, tập trung nguồn lực cho những ngành công nghiệp gần với các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, dệt may và da giày nhằm phát huy những thế mạnh của Việt Nam. Hơn thế, việc phát triển những sản phẩm này còn góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng vì chúng mang lại lợi ích cho phần lớn người dân Việt Nam.   Thứ  hai, tập trung phát triển những yếu tố cần thiết (nhất là nguồn nhân lực) cho những ngành công nghiệp yêu cầu hàm lượng chất xám cao. Cụ thể là  làm sao thỏa mãn nhu cầu lao động sẵn có cho các doanh nghiệp như Intel, Canon hay Samsung, hay nhân lực cho ngành công nghiệp phần mềm.  Thứ  ba, sẵn sàng mở cửa mời gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bất kỳ lĩnh vực nào miễn là hoạt động của họ có lợi cho Việt Nam và đảm bảo nghiêm ngặt các điều kiện môi trường và an ninh quốc gia.   Tóm lại, hơn lúc nào hết, bây giờ chính là lúc Việt Nam cần tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát huy những lợi thế và thế mạnh, tạo ra những làn sóng tăng trưởng mạnh và bền mới để đưa Việt Nam bắt kịp các nền kinh tế phát triển, thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình.           Tại sao các hãng sản xuất ô tô vào Việt Nam?                            Câu trả lời sẽ không phải là tiềm năng có thể phát triển dựa vào những lợi thế quốc gia mà là chính sách ưu đãi thuế cho một thị trường đủ để kiếm được những khoản lợi nhuận khá lớn.  Với giá trị 1.2 tỷ đô-la nhập khẩu 80 nghìn ô tô nguyên chiếc năm 2009, ước tính một cách thận trọng với giả định thuế suất nhập khẩu bình quân khoảng 60-70% thì phần thuế nhà nước thu được sẽ là 700-800 triệu đô-la.  Tương tự, với 1,5 tỷ đô-la giá trị linh kiện nhập khẩu để sản xuất khoảng 100 nghìn chiếc xe, giả sử thuế suất nhập khẩu trung bình từ 20-30% thì phần thuế thu được sẽ vào khoảng 300-450 triệu đô-la. Nhưng nếu giá trị linh kiện này là xe nguyên chiếc thì thuế nhập khẩu sẽ từ 800 triệu đến 1 tỷ đô-la.  Như vậy, phần thuế chênh lệch ít nhất cũng khoảng nửa tỷ đô-la hay hơn 1 triệu tấn gạo. Đây có thể coi là phần trợ cấp cho việc sản xuất (thực chất là lắp ráp) hơn 100 nghìn xe ô tô trong nước với tỷ lệ nội địa khá kiêm tốn.  Ước tính bình quân một chiếc xe lắp ráp tại Việt Nam được trợ cấp khoảng 5.000 đô la và một việc làm trong ngành này (trực tiếp 50 nghìn người và liên quan 200 nghìn người) được trợ cấp vào khoảng 2.000 đô-la một năm, gấp đôi GDP bình quân đầu người hiện nay.  Hơn thế, phần lớn số tiền chênh lệch nêu trên thuộc về các nhà sản xuất (phần lớn là nước ngoài), nhưng với số vốn đầu tư khiêm tốn của các nhà đầu tư nước ngoài cho thấy dường như họ đang khai thác lợi nhuận nhờ ưu đãi thuế trong ngắn hạn chứ không phải là chiến lược phát triển ngành ô tô dài hạn ở Việt Nam. Khi hết ưu đãi và thị trường mở cửa thì họ sẽ nhập khẩu ô tô về bán tại thị trường Việt Nam.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ cấu năng lượng: Nhiệt điện than hay điện mặt trời?      Tính hai mặt của bất kỳ loại hình năng lượng nào, dù là nhiệt điện than hay điện Mặt trời, cho thấy vai trò quan trọng của KH&CN trong giảm thiểu rủi ro đầu tư và ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực năng lượng.      Lắp đặt các tấm pin tại nhà máy điện mặt trời Bình Phước. nguồn: Báo Binh Phước.  Từ nhiều góc độ, nhiệt điện than là câu chuyện năng lượng thời sự không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới. Thông qua các báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP) hay những thông tin cập nhật về chính sách năng lượng của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiệt điện than luôn được đề cập đến như một nguồn năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây phát thải khí nhà kính cần được cắt giảm. Mới đây, trên Reuters, cựu thị trưởng New York và tỉ phú Michael Bloomberg cho biết sẽ đóng góp 500 triệu USD cho quá trình đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than trên khắp nước Mỹ.   Tuy nhiên đó là hướng giải quyết trong tương lai bởi chúng ta cũng cần phải nhìn nhận một thực tế, hiện tại chưa có giải pháp năng lượng nào có thể thay thế triệt để nhiệt điện than nên nó vẫn là một trong những nguồn cung điện chủ yếu trong phần lớn các quốc gia trên thế giới. Ví dụ theo số liệu năm 2015 của Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA), ba nguồn cung điện lớn nhất thế giới là nhiệt điện than 39,3 %, nhiệt điện khí 22,9%, thủy điện 16% còn ở Việt Nam lần lượt là thủy điện 36,6%, nhiệt điện khí 33,2% và nhiệt điện than 29,6%. Ngay trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh ban hành năm 2016 thì vị trí áp đảo của nhiệt điện than được nhấn mạnh rõ nét hơn trong cơ cấu điện năng của Việt Nam: 49,3% vào năm 2025 và 55% năm 2030. Trong một bài viết trên Tia Sáng năm 2017, TS. Nguyễn Thành Sơn (Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam) đã thừa nhận, “khi chúng ta đã ‘lùi tiến độ’ điện hạt nhân thì chỉ còn cách đẩy nhanh tiến độ các dự án khác để bù vào. Nếu lấy chi phí biên dài hạn làm chuẩn, thứ tự ưu tiên các nguồn điện ở Việt Nam hiện nay sẽ là thủy điện (lớn, vừa, nhỏ), nhiệt điện than (lớn, vừa), nhiệt điện khí (hóa lỏng), nhiệt điện dầu”.  Góc nhìn từ hiệu quả tài chính  Trong bối cảnh đó, báo cáo “Thời của mặt trời và gió: Cuộc cách mạng năng lượng tái tạo chi phí thấp của Việt Nam và những tác động của nó đối với các khoản đầu tư nhiệt điện than” của nhóm Sáng kiến Carbon Tracker – những người đã chứng minh được sự tồn tại và tác động của rủi ro khí hậu trong các thị trường vốn hiện nay, đã đem đến cái nhìn mới vào nhiệt điện than từ góc độ đầu tư tài chính. Trên cơ sở các mô hình kinh tế của nhiệt điện than, họ cho rằng, đầu tư mới cho điện Mặt trời và điện gió trên bờ sẽ rẻ hơn vận hành các nhà máy điện than hiện có với thời điểm sớm nhất vào năm 2022 và muộn nhất vào năm 2039. Khi đó, nhiệt điện than có thể sẽ mất đi một trong những ưu điểm nổi bật của nó là chi phí nguyên liệu thấp so với điện Mặt trời và điện gió. Việc đầu tư vào nhiệt điện than sẽ không còn hấp dẫn nữa bởi theo các chuyên gia Carbon Tracker, thời gian thu hồi vốn cho các khoản đầu tư vào điện than thường trong khoảng từ 15 đến 20 năm và “các khoản đầu tư này có tính rủi ro cao bởi đốt than để tạo ra điện khó có thể là một lựa chọn có chi phí thấp nhất trước khi hoàn vốn”. Để gia tăng sự cạnh tranh với điện gió và điện Mặt trời, nhiệt điện than phải nâng khả năng điều chỉnh linh hoạt công suất phát điện lên. Đây sẽ là nguyên nhân gia tăng chi phí vận hành, bảo trì các nhà máy và càng khiến điện than càng bất lợi về mặt kinh tế.  Mặt khác, dù có phát triển nhiệt điện than theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh nhưng Việt Nam cũng không nên quên bản cam kết thực thi Công ước khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC): Việt Nam sẽ cắt giảm tới 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 để đạt được mục tiêu nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2°C. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi một mặt Việt Nam thực thi cam kết giảm phát thải trong kịch bản khí hậu tăng lên dưới 2°C, mặt khác vẫn gia tăng công suất điện than theo quy hoạch? Theo các chuyên gia Carbon Tracker, đó là “nguy cơ mắc kẹt tài sản” (stranded asset risk) – sự chênh lệch giữa các dòng vốn đầu tư dưới sự điều tiết của thị trường điện Việt Nam hiện tại và việc phải tuân thủ quy định để đảm bảo cam kết cắt giảm khí thải, trong đó mốc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam vào năm 2040. Theo cách tính của họ, ước tính giá trị tài sản có “nguy cơ bị mắc kẹt” của thế giới là 232 tỷ USD, còn Việt Nam ước tính là 6,5 tỷ USD, tương đương 2,7% GDP năm 2018 của Việt Nam. Dẫu sẽ còn phải tính đến những tác động mới của việc tự do hóa thị trường điện Việt Nam trong tương lai với hệ quả là giá điện có thể thấp hơn, nhưng với các tổ máy điện than đang trong quá trình xây dựng để tăng thêm công suất thì nguy cơ mắc kẹt tài sản đầu tư sẽ còn lớn hơn nữa.   Với phân tích của các chuyên gia tài chính, trong tương lai gần, nhiệt điện than ngày càng yếu thế trước điện Mặt trời và điện gió – vốn ngày càng trở nên cạnh tranh hơn bởi giá thành đầu tư ngày càng hạ thấp, ví dụ rẻ gấp 4 lần so với vài năm trước đây. Do vậy, họ đề xuất giải pháp: việc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than sớm theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là lựa chọn ít tốn kém nhất cho Việt Nam trong tương lai.<      Việc đầu tư vào nhiệt điện than sẽ không còn hấp dẫn nữa bởi theo các chuyên gia Carbon Tracker, thời gian thu hồi vốn cho các khoản đầu tư vào điện than thường trong khoảng từ 15 đến 20 năm và “các khoản đầu tư này có tính rủi ro cao bởi đốt than để tạo ra điện khó có thể là một lựa chọn có chi phí thấp nhất trước khi hoàn vốn”.      Góc nhìn từ công nghệ   Không dễ để loại bỏ nhiệt điện than khỏi cơ cấu năng lượng quốc gia như đề xuất của các chuyên gia tài chính, ít nhất là trong tương lai gần, bởi sự tồn tại hay không của một loại hình nào trong cơ cấu năng lượng quốc gia còn cần phải có sự cân nhắc về nền tảng công nghệ định hình năng lượng đó.   Dưới góc nhìn của các chuyên gia công nghệ, không phải ngẫu nhiên mà ở thời điểm hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới chưa chối bỏ được nhiệt điện than, dẫu nguồn phát điện này có khả năng phát thải khí nitrogen oxide (NOx), sulfur oxide (SOx), thủy ngân, kim loại, tro bay… Ưu điểm lớn nhất của nguồn phát điện này là tính ổn định cao và chi phí thấp bất kể vào thời gian ban ngày hay ban đêm. Do đó, ngay cả trong Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050, Nhật Bản cũng lựa chọn nhiệt điện than là một trong bốn loại hình năng lượng của nguồn phụ tải nền (base-load power source), cùng với địa nhiệt, thủy điện và điện hạt nhân. Hiệu quả kinh tế cũng chỉ là một phần trong triết lý lựa chọn năng lượng của Nhật Bản, vốn bao gồm đủ bốn yếu tố an toàn, an ninh năng lượng, môi trường và hiệu quả kinh tế.    Nhà máy nhiệt điện than Duyên Hải Trà Vinh. Nguồn: zing.vn.  Điểm yếu lớn nhất của điện Mặt trời và điện gió là tính không ổn định do phụ thuộc vào thời tiết. TS. Nguyễn Trần Thuật, một nhà nghiên cứu về năng lượng Mặt trời ở Trung tâm Nano và năng lượng (Đại học KHTN, ĐHQGHN) cho rằng, muốn khắc phục được nhược điểm này, cần có thiết bị lưu trữ điện năng vào ban ngày để có thể dùng nguồn điện thu được vào ban đêm, khi không có nguồn bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, việc tìm ra một nguồn vật liệu đủ tốt và đủ khả năng chế tạo thiết bị lưu trữ không phải đơn giản, ngay với cả nhà phát minh tiên phong trong lĩnh vực điện Mặt trời là Elon Musk thì việc đầu tư vào nghiên cứu và chế tạo đã được tiến hành trong nhiều năm cũng chưa có kết quả như mong muốn. “Không riêng với năng lượng Mặt trời mà với các điện thoại thông minh, laptop, ô tô điện…, việc tìm ra một thiết bị lưu trữ năng lượng hiệu quả và không gây hại cho môi trường vẫn là bài toán khó dành cho các nhà nghiên cứu lẫn các nhà sản xuất. Nói chung, hiện vẫn chưa thể có giải pháp khả thi về thiết bị lưu trữ trong thời gian tới”, anh nhận xét.   Hơn nữa, hiệu suất của điện mặt trời so với các năng lượng hóa thạch còn khá thấp. Theo TS. Nguyễn Trần Thuật, hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các sản phẩm thương mại còn khá thấp khi mới ở mức 15 đến 17%, ngay cả trong điều kiện tối ưu của phòng thí nghiệm thì con số này vẫn chỉ là 25%.  Ngoài ra, nhìn một cách công bằng, điện tái tạo không có nghĩa là hoàn toàn không ảnh hưởng xấu đến môi trường bởi “chúng ta phải nhận thức là không có dự án nào do con người tạo ra lại có thể hoàn toàn tránh được điều đó”, theo nhận định của TS. Theocharis Tsoutsos (Trung tâm Các nguồn năng lượng tái tạo, Hy Lạp) trong công bố “Các tác động môi trường từ những công nghệ năng lượng Mặt trời” (Environmental impacts from the solar energy technologies) trên Energy Policy. TS. Rebecca Hernandez (Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley Mỹ) trong công bố “Các tác động môi trường của năng lượng Mặt trời ở quy mô hữu dụng” (Environmental impacts of utility-scale solar energy) trên Renewable and Sustainable Energy Reviews, còn cho rằng, trong trường hợp tái chế không đúng quy trình hay đơn giản là phá hủy các tấm pin Mặt trời, những nguồn chất thải công nghiệp này có thể gây nguy hiểm cho môi trường và sức khỏe con người, ví dụ việc hít phải bụi silica trong thời gian dài có thể dẫn đến bệnh bụi phổi (silicosis), một loại bệnh gây ra các mô sẹo trong phổi và suy giảm khả năng hô hấp, và trong nhiều trường hợp, có thể chết.  Đâu là lời giải cho bài toán năng lượng?   Những vấn đề đặt ra cho nhiệt điện than và điện Mặt trời cho thấy, KH&CN sẽ là một phần quan trọng trong các phương án giải quyết chúng. Với điện Mặt trời là tìm ra những vật liệu mới có khả năng tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng, ít độc hại với môi trường và một quy trình tái chế hiệu quả các tấm pin đã qua sử dụng, TS. Nguyễn Trần Thuật cho biết. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có được những giải pháp công nghệ như vậy bởi sau một thời gian dài đầu tư công sức, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa thể tìm ra vật liệu mới hữu hiệu thay thế silica bởi vật liệu đó “phải đảm bảo các yếu tố khả thi về mặt công nghệ, thị trường và sản xuất”, anh nhận xét.     Nhiệt điện than vẫn là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Nguồn: Kinhtedothi.vn  Với nhiệt điện than, trong khi chưa có được một nguồn cung điện khác thay thế vị trí của nó thì giải pháp có thể dung hòa cả hai vấn đề trên, đó là đầu tư lắp đặt hệ thống kiểm soát khí thải của các nhà máy nhiệt điện than và áp dụng các công nghệ nhiệt điện than tiên tiến nhằm có được những công nghệ “sạch hơn”, tiêu tốn ít nhiên liệu mà vẫn đạt hiệu suất cao. Đây cũng là cách làm của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, ví dụ như Mỹ. Trong Hội nghị quốc tế về Các công nghệ than sạch ở Houston vào ngày 4/6/2019 vừa qua, Lou Hrkman, người phụ trách Văn phòng quản lý Than sạch và Carbon (Bộ Năng lượng Mỹ) cho biết, Bộ này đang đầu tư hàng tỷ USD vào công nghệ để đảm bảo các nhà máy nhiệt điện than trong tương lai trở nên sạch hơn, hiệu quả hơn và linh hoạt hơn thông qua chương trình FIRST, viết tắt của các từ linh hoạt (Flexible), đổi mới sáng tạo (Innovative), dễ phục hồi (Resilient), công suất nhỏ (Small), dễ biến đổi (Transformative). “Chúng tôi không thấy Mỹ cần những nhà máy nhiệt điện than có công suất 1.500 đến 2.000 MW trong tương lai như đã làm trong quá khứ mà thấy tiềm năng ở các quốc gia đang phát triển về công nghệ lò công suất nhỏ, đặc biệt ở châu Phi và châu Á, những nơi cần các giải pháp mang tính kinh tế,” ông nói.  Tương tự với trường hợp của điện Mặt trời, đây cũng là giải pháp của tương lai. Hiện tại đối với các nhà máy nhiệt điện than vẫn đang vận hành theo công nghệ cũ thì việc cải thiện phát thải NOx, SOx, và bụi là việc có thể thực hiện với các hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, như máy lọc có khả năng “bắt” 98% bụi, loại bỏ trên 90% khí NOx hay trên 90% thủy ngân và các kim loại nặng khác. Điểm trừ của các hệ thống kiểm soát khí thải này là đắt đỏ. Theo báo cáo “Thị trường toàn cầu về hệ thống kiểm soát khí thải cho các nhà máy nhiệt điện than” của QY Research vào năm 2018, nếu thị trường này trị giá 98,72 tỷ USD vào năm 2017 thì ước tính sẽ đạt 171,08 tỷ USD vào năm 2025.  Với riêng Việt Nam, theo TS. Nguyễn Xuân Quang (Viện Nhiệt điện lạnh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội), việc chúng ta có thể làm hiện nay là thực hiện các nghiên cứu khoa học về công nghệ điện than hiện hành cũng như hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, qua đó từng bước cải tiến các quy trình công nghệ, một số chi tiết thiết bị quan trọng trong dây chuyền công nghệ cũng như nội địa hóa các hệ thống kiểm soát khí thải.     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Cơ chế mới phá hủy bụi vũ trụ trong trường bức xạ mạnh      Trong một công bố của mình bốn mươi năm trước (vào năm 1979), Edward Purcell, người giành giải thưởng Nobel Vật lý năm 1952, đã kết luận rằng các hạt bụi có cấu trúc chặt chẽ trong môi trường liên sao sẽ rất khó bị phá vỡ bởi lực ly tâm do sự quay của chúng. Tuy nhiên, nghiên cứu mới của chúng tôi cho thấy rằng ngay cả các hạt bụi rất bền này cũng có thể bị phá vỡ bởi lực ly tâm khi chúng được tăng tốc quay lên đến trên 1 tỷ vòng trên giây bởi một trường bức xạ mạnh, vốn khá phổ biến trong vũ trụ. Khám phá này đã góp phần làm sáng tỏ một số điều bí ẩn tồn tại đã lâu trong lĩnh vực vật lý thiên văn và mở ra một hướng nghiên cứu mới về sự tiến hóa của bụi và phân tử hữu cơ trong vũ trụ dựa trên tác dụng của lực ly tâm do sự quay của hạt bụi.          Hình minh họa sự phá hủy các hạt bụi bởi lực ly tâm do trường bức xa mạnh. Các hạt bụi ở gần nguồn sáng sẽ bị phá vỡ rất nhanh, trong khi đó các hạt bụi ở xa không bị phá hủy. Copyright: Korea Astronomy and Space Science Institute.  Đi tìm lời giải về bụi vũ trụ     Bụi có mặt khắp nơi trong vũ trụ, và người ta thường nói rằng “Chúng ta được sinh ra từ cát bụi, và sẽ trở về với cát bụi”. Bụi vũ trụ là các hạt rắn có kích thước từ vài nanômét đến vài trăm nanômét và là nguyên liệu tạo nên những ngôi sao và hành tinh như Trái đất của chúng ta. Bụi cũng là ngôi nhà nơi hình thành băng đá và các phân tử hữu cơ phức tạp được biết đến là khởi nguồn của sự sống. Các hạt bụi hấp thụ ánh sáng phổ kiến từ các ngôi sao và phát lại bức xạ ở bước sóng hồng ngoại. Sự hấp thụ và phát xạ hồng ngoại của bụi đã được khai thác như một công cụ thông dụng để các nhà thiên văn học nghiên cứu về sự hình thành của các ngôi sao và các hành tinh trong vũ trụ.  Chính vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu sự tiến hóa và tính chất vật lý của bụi vũ trụ, ví dụ như nghiên cứu về kích thước và hình dạng của chúng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy khối lượng của bụi trong môi trường liên sao chủ yếu do đóng góp của hạt bụi lớn có bán kính hàng trăm nanomét. Tuy nhiên, nhiều quan sát ở giai đoạn đầu của siêu tân tinh loại Ia – một trong các loại siêu tân tinh sinh ra từ vụ bùng nổ của sao lùn trắng và là nguồn phát xạ cực mạnh trong vũ trụ, cho thấy sự chiếm ưu thế của các hạt bụi nhỏ với bán kính cỡ hàng chục nanômét.  Ngoài siêu tân tinh, các ngôi sao nặng (khối lượng lớn hơn 10 lần khối lượng Mặt trời) cũng là những nguồn bức xạ phát sáng nhất trong vũ trụ. Các quan sát thiên văn ở vùng khí bị ion hóa xung quanh các ngôi sao này thường cho thấy điều bất thường là cường độ phát xạ hồng ngoại ở bước sóng gần đến bước sóng trung bình (trong khoảng 1-5 micrômét) cao hơn so với dự đoán từ các mô hình chuẩn của bụi trong môi trường liên sao. Lời giải thích phổ biến cho sự tồn tại của bức xạ hồng ngoại dư thừa này là do hàm lượng cao của các hạt bụi có kích thước cỡ nanômét (bán kính hàng chục nanômét) so với các hạt có kích thước lớn hơn (cỡ hàng trăm nanômét) trong môi trường khí ion hóa xung quanh các sao siêu nặng.  Nhưng vấn đề là tại sao các hạt bụi nhỏ lại có thể có số lượng nhiều đến như thế trong các môi trường bức xạ mạnh? Sự bất thường này không thể giải thích được bằng các lý thuyết và mô  hình hiện tại về sự hình thành và phá hủy bụi vũ trụ. Các cơ chế phá hủy bụi được biết đến trước đây bao gồm: thăng hoa nhiệt khi bụi được đốt nóng lên nhiệt độ cao hàng nghìn độ (thermal sublimation), sự phún xạ (thermal sputtering) khi hạt bụi bị bắn phá bởi các proton vận tốc lớn, và sự vỡ vụn (shattering) do va chạm của các hạt bụi trong môi trường có sóng xung kích.  Đây là vấn đề thú vị và hóc búa với các nhà vật lý thiên văn. Trong xu hướng đó, từ năm 2015, chúng tôi bắt đầu quan tâm đến tính chất dị thường của bụi xung quanh siêu tân tinh loại Ia. Trong công trình Properties and Alignment of Interstellar Dust Grains toward Type Ia Supernovae with Anomalous Polarization Curves [Tính chất vật lý và sự định hướng của bụi xung quanh siêu tân tinh loại Ia có đường cong phân cực dị thường] đăng vào năm 2017 trên tạp chí Astrophysical Journal 1, bằng phương pháp giải bài toán ngược, chúng tôi nêu các hạt bụi xung quanh siêu tân tinh phải có kích thước nhỏ, dưới vài chục nanômét. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, chúng tôi vẫn chưa thể giải thích một cách rõ ràng được nguồn gốc của đặc tính này. Khi chưa trả lời được câu hỏi này, chúng tôi lại tiếp tục phát hiện thêm một vấn đề liên quan: các hạt bụi nhỏ cỡ hàng chục nanômét cũng rất phổ biến trong trường bức xạ mạnh của các ngôi sao nặng. Từ điểm chung đó, chúng tôi nêu giả thuyết là các hạt bụi nhỏ này có thể sinh ra do chính tác động của trường bức xạ của siêu tân tinh và sao nặng. Sau khi đánh giá chi tiết hiệu quả của cơ chế thăng hoa (thermal sublimation-một cơ chế gây phá hủy bụi trong trường bức xạ đã được biết đến từ lâu trong vật lý), chúng tôi thấy rằng cơ chế này lại có tác dụng làm giảm các hạt bụi nhỏ, và rõ ràng điều này không thể trả lời câu hỏi trên.     Hiểu sự tiến hóa của bụi vũ trụ qua cơ chế phá hủy     Trong quá trình đi tìm câu trả lời thỏa đáng, chúng tôi đã phát hiện ra rằng khi tiếp xúc với một trường bức xạ cực mạnh, ví dụ từ siêu tân tinh, ngôi sao có khối lượng lớn hoặc vĩ tân tinh, các hạt bụi có thể bị tăng tốc độ quay rất nhanh, đạt đến tốc độ trên một tỷ vòng mỗi giây. Kết quả là lực ly tâm của các hạt bụi này có thể vượt quá độ bền tối đa của vật liệu cấu thành nên chúng, và do đó phá vỡ chúng thành những hạt bụi có kích thước nhỏ hàng nanômét. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã xây dựng nên một cơ chế mới để phá hủy bụi dựa trên ứng suất ly tâm trong các hạt quay rất nhanh được tạo ra bởi moment xoắn do bức xạ, chúng tôi gọi đó là RATD. Theo quan điểm của chúng tôi, RATD có thể phá vỡ các hạt bụi có kích thước lớn thành một số hạt nhỏ hơn trong những môi trường có bức xạ mạnh. Hiệu ứng phá vỡ này làm tăng số lượng của các hạt bụi nhỏ so với các hạt lớn và giải thích thành công các tính chất dị thường của bụi được quan sát. So sánh với các cơ chế phá hủy khác, chúng tôi thấy, RATD là cơ chế nhanh nhất để phá hủy các hạt bụi trong các trường bức xạ mạnh. Đây cũng là nội dung mà chúng tôi trình bày trong bài báo “Rotational disruption of dust grains by radiative torques in strong radiation fields” [Cơ chế phá vỡ bụi bởi lực xoắn trong trường bức xạ mạnh] xuất bản trên tạp chí Nature Astronomy2.          Hình minh họa sự tăng tốc độ quay của hạt bụi lên đến hàng tỷ vòng trên giây do mômen xoắn bức xạ từ siêu tân tinh. Kết quả là hạt bụi bị phá hủy thành nhiều mảnh nhỏ do lực ly tâm cực lớn. Copyright: Korea Astronomy and Space Science Institute.    Khám phá này có thể làm thay đổi những điều người ta đã biết về sự tiến hóa của bụi vũ trụ. Trong mô hình tiến hóa hiện tại của bụi vũ trụ, một trường bức xạ cực mạnh có thể đốt nóng các hạt bụi đến nhiệt độ cao hàng nghìn độ và làm bay hơi chúng thành các phân tử khí, gọi là cơ chế thăng hoa nhiệt. Khám phá của chúng tôi cho thấy trường bức xạ mạnh cũng có thể làm quay các hạt bụi đến tốc độ cực lớn. Do đó, lực ly tâm có thể dễ dàng phá vỡ chúng thành các mảnh nhỏ. Cơ chế mới này có thể xảy ra trong trường có cường độ bức xạ thấp hơn nhiều và do đó hiệu quả cao hơn so với cơ chế thăng hoa nhiệt. Mặc dù từ lâu mọi người đã biết rằng trường bức xạ có thể làm quay các hạt bụi, song thật ngạc nhiên là tốc độ quay có thể phá hủy được các hạt bụi và các hệ quả của cơ chế đó có thể giúp giải thích nhiều điều bí ẩn trong vũ trụ.  Khám phá đã góp phần lý giải nhiều bí ẩn tồn tại hàng vài thập kỷ. Việc tạo ra các hạt bụi có kích thước nanomet bằng cách phá vỡ các hạt lớn thông qua cơ chế RATD trong một thời gian ngắn (dưới vài tuần), có thể giải thích thành công các tính chất bất thường của bụi vũ trụ quan sát được ở xung quanh những siêu tân tinh loại Ia. Sự xuất hiện của các hạt nano cũng làm sáng tỏ nguồn gốc bí ẩn của sự phát xạ mạnh ở bước sóng hồng ngoại gần đến bước sóng hồng ngoại trung bình của các vùng bị ion hóa xung quanh các ngôi sao có khối lượng lớn. Cơ chế mới được phát hiện này có thể giúp giải thích sự gia tăng của tia cực tím trong các đường cong suy giảm đo được từ các thiên hà đang có quá trình hình thành sao mạnh mẽ cũng như những thiên hà ở xa, và sự suy giảm của bức xạ Lyman α thoát ra từ các vùng khí ion hydro xung quanh các cụm sao có khối lượng lớn.  Với ý nghĩa như vậy, công trình này còn mở ra một hướng nghiên cứu mới về cấu trúc bên trong, thành phần và phân bố kích thước của bụi vũ trụ thông qua quan sát.     Những vấn đề mở     Không chỉ là sự giải thích thuần túy về mặt lý thuyết, cơ chế phá hủy bụi vũ trụ đã được chúng tôi kiểm chứng thông qua một vài số liệu quan sát để so sánh. Mặc dù kết quả ban đầu phù hợp với lý thuyết đề xuất nhưng trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục cộng tác với các nhà quan sát để thu thập thêm nhiều dữ liệu nhằm kiểm chứng đầy đủ hơn.  Bên cạnh đó, chúng tôi còn đã áp dụng cơ chế này để giải quyết một số bài toán trong thiên văn học, chẳng hạn như giải thích sự hình thành và bay hơi của các phân tử hữu cơ từ bụi đá, nghiên cứu cấu trúc và thành phần của hạt bụi vũ trụ.□  ———  * Bài viết với sự đóng góp nội dung của TS Lê Ngọc Trẫm.  Tài liệu tham khảo:  1. Thiem Hoang, 2017, The Astrophysical Journal, 836, 13, https://iopscience.iop.org/article/10.3847/1538-4357/836/1/13/meta  2. Thiem Hoang, Tram Le Ngoc, HS Lee, Ahn S-H, 2019, Nature Astronomy, https://www.nature.com/articles/s41550-019-0763-6  Công trình nghiên cứu này là kết quả hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và nhà khoa học trẻ trong nước – Lê Ngọc Trẫm (trường Đại học KH&CN Hà Nội). Thành công bước đầu hứa hẹn vào tiềm năng trong nghiên cứu và đào tạo trong tương lai, khi cùng thực hiện những nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực Vật lý Thiên Văn.    Author                Hoàng Chí Thiêm        
__label__tiasang Cơ chế nào để tin người lạ?      Làm thế nào để chúng ta đưa ra đánh giá ban đầu về việc có nên tin tưởng hợp tác với một người lạ mà trước đó chưa từng gặp bao giờ?      Từ việc bước vào xe taxi hay nhờ một người hành khách lạ trông giữ hộ hành lý để đi mua cốc café, tất cả chúng ta đều có thể tin tưởng vào một người chưa từng quen biết. Giờ đây các nhà nghiên cứu đã tìm ra nguyên lý đằng sau hành động này: chúng ta thường có xu hướng tin tưởng một người lạ nếu như người đó có ngoại hình trông giống như một người mà trước đây bạn đã tin tưởng, và thường nghi ngờ nếu người đó giống như một người trước đây đã từng phản bội bạn. Nghiên cứu này được xuất bản trên tạp chí PNAS[1] của Viện Hàn lâm khoa học Mỹ.  “Chúng tôi muốn tìm hiểu điều gì sẽ xảy ra khi bạn tình cờ gặp ai đó lần đầu tiên”, TS. Oriel FeldmanHall, đồng tác giả của nghiên cứu, nhà thần kinh học xã hội của Đại học Brown ở Providence, Rhode Island, Mỹ cho biết. Nhóm nghiên cứu đã yêu cầu 29 người tham gia vào một thử nghiệm: những người chơi được trao một số tiền đầu tư và có quyền lựa chọn giữ lại, đầu tư tất cả hoặc đầu tư một phần số tiền cùng với một trong ba người đàn ông mà họ chưa được gặp bao giờ – nhưng có thể xem bức ảnh của ba người đó. Những người tham gia thử nghiệm đã phát hiện ra rằng trong khi một người chơi rất đáng tin cậy khi thường xuyên chia sẻ lợi nhuận từ khoản đầu tư, một người có mức độ đáng tin vừa phải, người còn lại thì hầu như không chia sẻ lợi nhuận.  Sau đó nhóm nghiên cứu thực hiện một thí nghiệm thứ hai, trong đó những người tham gia tiếp tục được yêu cầu lựa chọn một người đồng hành tham gia một trò chơi mới: có 4 gương mặt hoàn toàn mới, còn 54 bức ảnh còn lại là những hình ảnh được chỉnh sửa lại để cho giống hoặc khác đi so với những người tham gia chơi trong thí nghiệm lần một (nhóm tác giả đảm bảo rằng chúng đủ khác biệt để người chơi không nhận ra những gương mặt đó đã tham gia trong thí nghiệm đầu tiên).  Kết quả thí nghiệm cho thấy, những người chơi thường có khả năng tin tưởng vào những người trông giống khuôn mặt của những người đã tham gia chơi – và đáng tin cậy – trong lần thử nghiệm đầu, và sau đó lựa chọn họ làm đối tác trong thử nghiệm lần thứ hai. Đồng thời, họ không tin tưởng với những người có vẻ ngoài giống như những người không đáng tin cậy trong lần chơi đầu tiên.  FeldmanHall ghi nhận những phát hiện này có những điểm tương tự với nghiên cứu của nhà khoa học Nga, Ivan Petrovich Pavlov, trong đó chú chó đã hình thành phản xạ về mối liên hệ giữa tiếng chuông và bữa ăn. “Nếu Pavlov cũng rung một chiếc chuông có âm thanh tương tự [với tiếng chuông mà con chó đã quen thuộc] thì con chó vẫn tiết nước bọt, có điều nó sẽ tiết nước bọt ít hơn một chút”.  Nhóm của FeldmanHall sau đó tiến hành các thí nghiệm tương tự với 28 tình nguyện viên mới, đồng thời quét não bộ bằng phương pháp chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI). Và nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, khi hình ảnh của đối tác trong thí nghiệm thứ hai được điều chỉnh cho giống với những người chơi không đáng tin cậy trong thí nghiệm thứ nhất, thì họ vùng hạch hạnh nhân (amygdala – nơi xử lý cảm xúc của não bộ) của những người tham gia thí nghiệm sẽ hoạt động mạnh mẽ hơn.  Bảo Như lược dịch  https://www.theguardian.com/science/2018/jan/29/study-reveals-why-we-trust-some-strangers-and-not-others        [1] http://www.pnas.org/content/early/2018/01/26/1715227115        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế xét duyệt công bằng, minh bạch sẽ cho sản phẩm khoa học chất lượng cao      Phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu 2017  tại Hà Nội sáng 18/5/2017, PGS.TS Nguyễn Sum (Khoa Toán, ĐH Quy Nhơn) nhấn mạnh, sự tài trợ của Quỹ NAFOSTED với cơ chế xét duyệt minh bạch, dân chủ và công bằng, cùng với việc đánh giá khắt khe và yêu cầu cao đối với chất lượng của các sản phẩm đã tạo điều kiện cho ông thực hiện việc nghiên cứu nghiêm túc nhất, để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao nhất.      PGS.TS Nguyễn Sum tại Nhật. Ảnh: Nhân vật cung cấp.  Dưới đây là toàn văn phát biểu của PGS.TS Nguyễn Sum*:  Kính thưa các quý vị,  Tôi được biết đến GS Tạ Quang Bửu không những là nhà khoa học xuất sắc mà ông còn là nhà quản lý tài năng, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Khoa học – Công nghệ và Giáo dục – Đào tạo của nước nhà. Những đóng góp của ông có những tác dụng lâu dài đối với sự phát triển của nền khoa học, Giáo dục và Đào tạo mà cá nhân tôi cũng là người được thừa hưởng từ những thành quả đó trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình. Vì vậy, hôm nay tôi rất vinh dự khi được nhận giải thưởng khoa học Tạ Quang Bửu danh giá này.  Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức giải thưởng, đến Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán đã tài trợ cho công trình này. Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học ngành Toán của Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng giải thưởng và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã tin tưởng trao cho tôi vinh dự lớn lao này. Đặc biệt, tôi còn hạnh phúc nhiều hơn khi công trình mà nhờ nó tôi được nhận giải thưởng là công trình tôi đề tặng ngày sinh nhật thứ 60 của thầy hướng dẫn chính của tôi, GS Nguyễn Hữu Việt Hưng.  Quá trình học tập và công tác của tôi là một chuỗi tháng, năm đầy khó khăn và vất vả. Tôi học 8 lớp học đầu tiên vào những năm chiến tranh khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam (1967-1975), hầu như không có năm nào được học hành trọn vẹn, năm sau phải tự học để bù đắp những kiến thức bị mất ở năm trước. Sau ngày Miền Nam được giải phóng, vào năm 1979, tôi được vào học ở Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn là một niềm vui lớn lao của cả gia đình tôi, mặc dù lúc đó Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn mới vừa tròn 2 tuổi. Giảng viên giảng dạy tôi là các cử nhân mới tốt nghiệp, được điều động từ các trường Đại học ở Miền Bắc vào công tác tại Trường. Nhưng với nhiệt huyết của tuổi trẻ, những người thầy của tôi cũng trang bị cho tôi một nền tảng kiến thức đủ vững chắc để có thể hoàn thành các khóa học sau đại học sau đó tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội).  Điều may mắn và thuận lợi đầu tiên mà tôi có được là khi làm NCS, tôi được sự hướng dẫn GS Nguyễn Hữu Việt Hưng và PGS Huỳnh Mùi, những người thầy đã chỉ cho tôi một hướng nghiên cứu hiện đại, ngang tầm với quốc tế. Những người thầy đã dạy cho tôi cách làm khoa học một cách chân chính và truyền cho tôi một nghị lực để vượt qua mọi khó khăn trong nghiên cứu và cuộc sống trong thời kỳ bao cấp lúc bấy giờ. Những điều đó đã giúp cho tôi không ngại khó khăn vất vả trong nghiên cứu khoa học sau này, để đạt được kết quả của ngày hôm nay. Tôi luôn luôn ghi nhớ công ơn của hai Thầy.  Điều may mắn thứ hai tôi có được là vào năm 2009, sau khi tôi được nghỉ làm công tác quản lý để có thể tập trung trọn vẹn thời gian vào việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cũng là lúc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) ra đời. Chính nhờ sự tài trợ của Quỹ với cơ chế xét duyệt minh bạch, dân chủ và công bằng, cùng với việc đánh giá khắt khe và yêu cầu cao đối với chất lượng của các sản phẩm nên đã giúp cho tôi cũng như các đồng nghiệp thực hiện việc nghiên cứu nghiêm túc nhất, để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao nhất. Điều đó cũng giúp cho tôi trở lại mạnh mẽ với việc nghiên cứu khoa học sau một thời gian dài (15 năm) làm công tác quản lý, và giúp cho tôi đạt được một số thành công như hiện nay.  Việc trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho tôi, một người đang làm việc tại một trường đại học ở một thành phố nhỏ, Quy Nhơn, là một sự khích lệ, động viên lớn không những cho cá nhân tôi mà còn cho tất cả giảng viên ở trường Đại học Quy Nhơn nói riêng và các trường đại học ở các địa phương nói chung, có thể tự tin nhiều hơn để phấn đấu trên con đường nghiên cứu khoa học, đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp chung, phát triển khoa học công nghệ và xây dựng đất nước.  Được nhận giải thưởng danh giá này, mặc dù tuổi của tôi hiện nay đã nằm ở bên kia sườn dốc của sự nghiệp, nhưng tôi sẽ tiếp tục cố gắng hết sức mình trong nghiên cứu khoa học và tổ chức nghiên cứu khoa học để đóng góp những kết quả có chất lượng tốt, xứng đáng với vinh dự mà tôi được nhận hôm nay.  Xin chân thành cảm ơn các quý vị đã lắng nghe.  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt.    Author                Nguyễn Sum        
__label__tiasang Có công nghệ thích ứng để khai thác hiệu quả bể than đồng bằng Sông Hồng      Gần đây có nhiều ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học bày tỏ quan ngại về việc Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam sẽ triển khai dự án khai thác thử nghiệm bể than đồng bằng sông Hồng có trữ lượng 210 tỷ tấn thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định vào quý III năm 2011.  Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Ban quản lý các dự án bể than đồng bằng sông Hồng.      Hẳn ông đã biết, trên công luận có nhiều ý kiến cho rằng nếu tiến hành khai thác bể than sông Hồng sẽ dẫn đến hệ lụy khôn lường về nhiều mặt. Quan điểm của ông về những ý kiến này.  Trước hết, mặc dù bể than đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có nguồn tài nguyên than rất lớn, than có chất lượng rất tốt, rất phù hợp cho phát điện nhưng điều kiện khai thác than tại ĐBSH tương đối phức tạp.   Riêng đối với bể than ĐBSH, nếu nói khai thác than sẽ dẫn đến “hệ lụy khôn lường về nhiều mặt” thì chưa chính xác. Ảnh hưởng nhiều mặt thì đúng, nhưng chúng ta đều có thể “lường” được. Thực tế, trong ngành than thế giới (có lịch sử khoảng 300 năm nay) chưa bao giờ xảy ra những sự cố hay tai biến qui mô lớn (cả về thời gian và không gian) giống như Chernobyl hay Fukushima. Các tai biến trong khai thác than thường tức thời và cục bộ.        Về mặt kỹ thuật, khai thác than ở ĐBSH là khả thi và có các công nghệ thích ứng để áp dụng, cho phép khai thác được than và bảo vệ được mặt đất và tầng nước ngầm, duy trì được các khu dân cư và tập quán canh tác lúa nước. Nói chung ở bất cứ nơi nào trên thế giới, việc khai thác than cũng đều xâm hại đến môi trường. Nhưng với trình độ phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay con người đã giảm thiểu sự xâm hại đó.        Ngành khai thác mỏ, giống như các ngành khoa học khác, cũng có những “bản sắc” riêng. Chẳng hạn thăm dò địa chất là “mô tả”, còn khai thác mỏ là “thích ứng”. Đặc trưng của khai thác mỏ là phá vỡ cân bằng tự nhiên. Nhiệm vụ của chúng ta là hạn chế đến tối đa sự phá vỡ cân bằng của tự nhiên, và lợi dụng tối đa qui luật “tự lấy lại cân bằng” của tự nhiên. Có lẽ duy nhất trong lĩnh vực kỹ thuật ngành mỏ có khái niệm và giáo trình “nghệ thuật mỏ” (tiếng Nga “горное искусство”).  Về mặt kỹ thuật, khai thác than ở ĐBSH là khả thi và có các công nghệ thích ứng để áp dụng, cho phép khai thác được than và bảo vệ được mặt đất và tầng nước ngầm, duy trì được các khu dân cư và tập quán canh tác lúa nước. Nói chung ở bất cứ nơi nào trên thế giới, việc khai thác than cũng đều xâm hại đến môi trường. Nhưng với trình độ phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay con người đã giảm thiểu sự xâm hại đó.  Về mặt kinh tế, nếu giá dầu trên thế giới cao hơn 65 USD/thùng và giá than trong nước cao hơn 45 USD/tấn, thì than ĐBSH hoàn toàn có thể cạnh tranh được.  Vậy xin ông cho biết phương án khai thác sẽ được tiến hành như thế nào và vào thời điểm nào?  Ở Quảng Ninh hiện chúng ta đang áp dụng các phương pháp khai thác bằng công nghệ lộ thiên và hầm lò. Ở ĐBSH, để duy trì được mặt đất, không phải di dân và không chiếm đất canh tác lúa chúng ta chỉ có thể áp dụng công nghệ khai thác hầm lò (hay thường gọi là công nghệ truyền thống). Công nghệ thứ hai cũng có thể áp dụng cho ĐBSH là khí hóa than ngầm dưới lòng đất. Đây là một công nghệ hoàn toàn mới, được nhà hóa học Mendeleev tiên đoán từ cuối thế kỷ 19, sau đó các nhà khoa học Nga đã thử nghiệm thành công từ đầu thế kỷ 20, và được Lenin đánh giá là công nghệ tiên tiến, cho phép thay thế sự lao động nặng nhọc và không an toàn của thợ mỏ dưới lòng đất.  Về nguyên lý, công nghệ này rất đơn giản: từ mặt đất, người ta khoan các lỗ khoan tới vỉa than, đưa ô xy xuống để ô xy hoá than trong vỉa, biến than thành khí tổng hợp (tương tự như khí mỏ) có thành phần chủ yếu là các loại khí cháy được (như CO, CH4, H2). Sau đó, cũng thông qua các lỗ khoan, khí tổng hợp được đưa lên mặt đất dùng cho phát điện hay để chế biến tiếp thành dầu diesel.  Công nghệ này áp dụng hiệu quả cho các vỉa than nằm sâu từ 600-1200m dưới lòng đất, rất thích hợp với điều kiện của bể than ĐBSH.  Còn về thời điểm: chúng ta chỉ khai thác sau khi thử nghiệm công nghệ thành công và thăm dò đầy đủ.  Chúng ta sẽ sử dụng công nghệ nào để tiến hành triển khai dự án khai thác thử nghiệm?  Dự kiến ở bể than ĐBSH trong thời gian tới sẽ thử nghiệm cả hai công nghệ: công nghệ hầm lò (UCM) và công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất (UCG) như nêu trên.  Công nghệ hầm lò thực ra không cần thử nghiệm, vì đây là công nghệ truyền thống của ngành than VN. Nếu Chính phủ cho phép có thể áp dụng ngay ở qui mô công nghiệp với công suất 3-5 triệu tấn/năm để cấp than cho hai dự án nhiệt điện (có tổng công suất 1800MWe) đang được EVN và PVN triển khai ở Mỹ Lộc, tỉnh Thái Bình.  Còn công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất (UCG) lần đầu tiên áp dụng nên cần được thử nghiệm để xác định 2 yếu tố: khả năng hóa khí của than (sẽ có ảnh hưởng đến các thông số thiết kế công nghệ) và chất lượng của khí thu được từ than (sẽ quyết định mục đích sử dụng của khí- dùng để phát điện hay dùng để chế biến tiếp thành dầu diesel).  Ông có thể cho biết đã có nước nào trên thế giới khai thác bể than tương tự như bể than sông Hồng?  Ở Bangladesh cách thủ đô Dhaka khoảng 200km có một mỏ than hầm lò đang khai thác than ngay dưới vùng đồng bằng lúa nước dưới độ sâu 300m. Chúng tôi tới thăm mỏ đúng vào lúc vùng đồng bằng này đang bị ngập lụt nặng, phải đi vòng tránh những đoạn quốc lộ bị ngập, xa thêm hàng trăm cây số. Ở Trung Quốc, vùng Sơn Đông có một mỏ than hầm lò dưới đáy biển, cách bờ hàng nghìn mét đang khai thác than trong những điều kiện khó khăn tương tự như ở ĐBSH. Ở Ba Lan, vùng than Kotowice có rất nhiều mỏ hầm lò đang khai thác than ngay dưới vùng đồng bằng lúa mì, dưới các thành phố đông dân cư có nhiều nhà thờ và các công trình kiến trúc được bảo toàn hầu như nguyên vẹn v.v.    Ông có tính đến việc mời chuyên gia nước ngoài tham gia thực hiện dự án này?  Đối với khí hóa than ngầm dưới lòng đất (UCG) chắc chắn cần có sự tham gia của các đối tác nước ngoài đã có kinh nghiệm thực tế để chuyển giao công nghệ.  Các sơ đồ nguyên lý của công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất                          Đối với công nghệ hầm lò, về mặt kỹ thuật chúng ta không cần, nhưng về vốn đầu tư chắc chắn Vinacomin phải hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài. Vì vốn đầu tư quá lớn. Ví dụ, một mỏ hầm lò công suất 5 triệu tấn/năm có tổng mức đầu tư khoảng 1 tỷ USD. Theo Luật Khoáng sản 2010 (vừa có hiệu lực từ 1/7/2011), vốn của chủ đầu tư phải tự có ít nhất 300 triệu USD. Mặc dù là “quả đấm thép”, đang xuất khẩu hàng chục triệu tấn than, nhưng số vốn tự có đó, Vinacomin chỉ “cân đối” trên giấy cũng không có.   Xin cảm ơn ông!                            P.V thực hiện        Do điều kiện thủy văn, địa chất ở vùng ĐBSH rất phức tạp nên không chỉ gây khó khăn, trở ngại cho việc khai thác bể than bên dưới mà quá trình khai thác cũng có thể gây ra sựt lún tức thời, sụt lún lâu dài, sụt lún tại chỗ và sụt lún lan tỏa, có thể biến cả vùng đồng bằng phì nhiêu sông Hồng thành hồ chứa nước nhiễm mặn do nước biển tràn vào.   TS. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam              ——————–              Việc khai thác than ngầm ở bên dưới sẽ biến ĐBSH thành rỗng ruột, sẽ rút hết nguồn nước ngầm dùng để canh tác, sinh hoạt bên trên, cộng thêm khí oxy đốt bên dưới để khí hóa than sẽ dẫn tới hậu quả nặng nề là hạn hán trên diện rộng, ảnh hưởng tới cuộc sống của 180.000 hộ dân ở Bắc Bộ vì không thể trồng lúa được nữa.   GS.TS Trần Văn Tri, Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam              Author                Quản trị        
__label__tiasang Cô độc khởi nghiệp với thực phẩm sạch      Vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam đem lại nhiều thách thức hơn là cơ hội đối với những người khởi nghiệp về nông nghiệp.      Khu nhà kính trồng cà chua của doanh nghiệp khởi nghiệp Gotula. CEO của Gotula, Trần Thái Dương, từng trả lời báo chí: “Khởi nghiệp trong nông nghiệp cần trường vốn và kiên trì” Ảnh: Gotula  Từ bỏ công việc của một kỹ sư công nghệ thông tin với mức lương 2.500 USD/tháng và công ty riêng thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, Nguyễn Minh Hậu quay trở về bán sầu riêng của cha, ông Sáu Ri, tác giả của giống sầu riêng Ri 6 “cơm vàng hạt lép” nổi tiếng Nam Bộ. Sầu riêng của anh được thu hoạch sau 95-100 ngày từ lúc ra hoa, đảm bảo không phun thuốc trước đó một tháng. Để giữ chữ tín, chỉ khi nào trái sầu riêng chín đều, anh mới dám giao cho khách. Vì trồng và chăm sóc sản phẩm của mình cẩn trọng như vậy nên không ngạc nhiên khi giá sầu riêng Ri 6 của anh đắt gấp ba lần so với sầu riêng bình thường, vốn được thu hoạch khi còn non rồi ngâm hóa chất không rõ nguồn gốc cho chín đồng loạt.  Đầu tháng 10 vừa qua, trong Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao được tổ chức tại Hà Nội, anh Nguyễn Minh Hậu có dịp chia sẻ với công chúng về quá trình chật vật bán sầu riêng của mình vì phải cạnh tranh với sầu riêng nhúng thuốc giá rẻ tràn lan trên thị trường. Ban đầu anh đưa sầu riêng của mình đến hệ thống các siêu thị tại Tp.Hồ Chí Minh nhưng vì giá cao nên khó bán. Khi mở rộng thị trường ra phía Bắc, các thương lái trả giá anh 20 nghìn đồng/kg, tính cả tiền vận chuyển từ phía Nam ra, rẻ “muốn méo mặt”.  Bây giờ, anh chỉ bán cho các đại lý “có tâm”, trân trọng và hiểu giá trị của sầu riêng. Nhưng như vậy đồng nghĩa với việc mở rộng thị trường rất chậm và khó khăn.  Nguyễn Minh Hậu không phải là trường hợp duy nhất ở thế “cô độc” đương đầu với thực phẩm không an toàn tràn lan trên thị trường. Việc quản lý thiếu chặt chẽ vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam khiến khởi nghiệp trong nông nghiệp trở nên khó khăn hơn nhiều vì cạnh tranh thiếu công bằng. Những doanh nghiệp khởi nghiệp trong sản xuất phải bỏ ra nhiều hơn những gì họ cần để “chống chọi” với thực phẩm không an toàn và khó nhân rộng mô hình.  Xoay sở để sản xuất ở quy mô nhỏ  Gần đây, nổi lên một thế hệ nông dân kiểu mới, được đào tạo bài bản, có nhiều người đang có thu nhập cao ở các tổ chức lớn, quay trở về làm nông nghiệp với mong muốn thay đổi thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hiện nay. Kiên quyết không thỏa hiệp với những bất cập trên thị trường, họ trồng trọt theo các quy chuẩn ngặt nghèo nên số tiền đầu tư ban đầu không hề nhỏ. Người khởi nghiệp phải có vài hecta đất, chưa kể phải tìm kiếm đất ở những nơi có khí hậu phù hợp và không bị ô nhiễm nguồn nước, có thể phải xây dựng nhà kính hoặc nhà lưới, khu sơ chế tốn đến vài tỉ đồng. Ngoài ra, tuân thủ hàng chục các tiêu chí của VietGap, GlobalGap hay hữu cơ chẳng dễ dàng gì và chi phí để thuê chuyên gia đánh giá, cấp chứng nhận theo các chuẩn nước ngoài vô cùng đắt đỏ (đặc biệt là đối với các chuẩn GlobalGap và hữu cơ). Bản thân VinEco, với tiềm lực tài chính hùng mạnh, cũng chia sẻ trong buổi hội thảo “Phát triển thị trường cho gạo Việt sạch và nông sản an toàn hữu cơ” do BSA tổ chức trong khuôn khổ Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao tại Hà Nội vừa rồi là họ không thể áp dụng ngay 65 tiêu chuẩn VietGap mà phải tự đặt ra một số tiêu chuẩn dễ hơn.  Hơn nữa, việc tiêu thụ rất khó khăn vì không thể bán một cách rộng rãi trên thị trường mà chỉ khu trú trong các cửa hàng bán lẻ đã ít lại còn “nhập nhèm” tốt xấu lẫn lộn. “Ở thời điểm “tranh tối tranh sáng”, có cửa hàng giữ uy tín bán thực phẩm sạch có nguồn gốc nhưng cũng có cửa hàng vì lợi nhuận mà bán cả những sản phẩm không rõ nguồn gốc, hoặc lấy hàng từ chợ đầu mối… Khách hàng cũng từ đó mất thêm niềm tin với những cửa hàng này. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng chưa thể kiểm soát được nguồn gốc xuất xứ hàng hóa của các cửa hàng thực phẩm sạch – nông sản sạch” –  chị Hoàng Thanh Mai, chủ cửa hàng thực phẩm sạch Mai Organic và một trang trại rau khoảng 6 ha ở Huế cho biết. Ngoài các cửa hàng thực phẩm sạch, siêu thị cũng là một cửa tiêu thụ nhưng sản phẩm của những nhà khởi nghiệp rất dễ bị từ chối vì không đủ sản lượng cung cấp. Trường hợp của Võ Văn Tiếng – chủ thương hiệu gạo Tâm Việt ở Đồng Tháp, là một ví dụ. Với sản lượng gạo trồng theo hướng hữu cơ khoảng 5 tấn/ha trên 20ha của bố mẹ anh và một năm hai vụ không thể đáp ứng được điều kiện của một hệ thống siêu thị là 200 tấn/tháng1.      Mặc dù nhu cầu tiêu thụ rau ở Hà Nội là 3.200 tấn hiện nay nhưng lượng rau tiêu thụ ở các cửa hàng thực phẩm chiếm chưa đầy 1% thị phần.      Việc quản lý an toàn thực phẩm của Việt Nam không tốt đặt ra nhiều thách thức hơn là cơ hội đối với những người khởi nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nông sản an toàn. Từ nhà sản xuất đến nhà bán lẻ đều phải chi trả một kinh phí lớn cho marketing nhằm tạo lòng tin của người dùng vốn đang rơi vào giai đoạn khủng khoảng trong điều kiện hiện nay. “Chấp nhận có thực phẩm không an toàn trên thị trường đương nhiên là mình phải bỏ ra chi phí marketing nhiều hơn, phải giáo dục thị trường liên tục, không ngừng nghỉ” – TS. Nguyễn Bá Hùng, chủ thương hiệu Đà Lạt Organik, được biết đến như người đầu tiên trồng rau hữu cơ tại Việt Nam, chia sẻ. Chính vì vậy, giá thành sản phẩm vốn cao do nguồn đầu vào của các đơn vị sản xuất đã lớn (vì chỉ sản xuất trên một diện tích nhỏ với các quy định nghiêm ngặt) và chi phí cho các cửa hàng bán lẻ, giờ lại càng lớn hơn. Trong khi đó, theo công ty nghiên cứu thị trường Frost & Sulivan, người dùng chỉ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm sạch đắt hơn 12% sản phẩm thông thường.  Vì những lý do trên, mặc dù nhu cầu tiêu thụ rau ở Hà Nội hiện nay là 3.200 tấn nhưng lượng rau tiêu thụ ở các cửa hàng thực phẩm chiếm chưa đầy 1% thị phần2.  Chật vật mở rộng quy mô  Vấn đề mở rộng sản xuất và điểm bán là điều tất yếu với những người khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm giảm giá thành và mở rộng số người tiêu dùng. “Đối với sản xuất nông nghiệp sạch, chi phí đầu tư thường lớn hơn sản xuất thông thường nhưng sản lượng không cao. Nếu duy trì giá bán cao để đạt doanh thu lớn thì chỉ tiếp cận được một nhóm khách hàng hạn chế (thu nhập cao), trong khi nhu cầu của khách hàng tiềm năng về thực phẩm sạch thì nhiều” – chị Hoàng Thanh Mai chia sẻ với phóng viên Tia Sáng.  Có hai cách mở rộng: Thứ nhất, tự tìm đất mở rộng vùng nguyên liệu và thứ hai là liên kết với các nhóm nông dân và hợp tác xã. Tuy nhiên, dường như cả hai cách chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính đủ mạnh để triển khai hàng loạt các công đoạn tốn kém như tổ chức các hộ nông dân đơn lẻ quen lối canh tác cũ, hỗ trợ về cơ sở vật chất, đào tạo kỹ năng và có một đội ngũ kỹ sư giám sát việc canh tác đúng quy chuẩn, xây dựng kho bãi và các khu sơ chế… Chẳng hạn, trong chương trình “đồng hành, hỗ trợ và thúc đẩy sức mạnh nông sản Việt”, Vingroup đầu tư tới 300 tỷ đồng cho 1.000 hợp tác xã và hộ nông dân và 50 tỷ đồng để kiểm soát chất lượng nhằm xây dựng vùng nguyên liệu cho VinEco.  Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam (vài triệu hecta so với vài trăm triệu hecta). Còn lại chủ yếu là những hộ nông dân nhỏ lẻ. Chính vì vậy, sự nổi lên của thế hệ khởi nghiệp và sự thay đổi phương thức tổ chức sản xuất là cần thiết, vì nó tạo ra một lớp nông dân mới có kiến thức, nhạy bén với đổi mới công nghệ và đồng thời tạo cơ hội để các startup công nghệ trong nông nghiệp ra đời. Chẳng hạn, Startup MimosaTEK với giải pháp IoT (internet của vạn vật) –  có thể lắng nghe các thông số của cây (độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…) để từ đó tưới nước tự động với một lượng phù hợp. Nhưng ý nghĩa của giải pháp IoT không chỉ nằm ở việc tưới nước mà ở dữ liệu hệ thống này thu thập từ cây trồng và gửi về cho người sản xuất. “Sau ba năm, những số liệu này có thể dự báo được tình hình sâu bệnh, tình hình phát triển của cây trồng. Nó rất quý nhưng chỉ có người có kiến thức sâu về nông nghiệp mới có thể sử dụng được” – TS. Nguyễn Bá Hùng nói. IoT không chỉ là cách Việt Nam có thể áp dụng nông nghiệp chính xác mà không cần hệ thống vệ tinh và sự sẵn sàng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như ở các nước phát triển. Bên cạnh đó, nhờ vào dữ liệu do hệ thống IoT thu về, nền nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi câu hỏi quanh quẩn trồng cây gì, nuôi con gì.  Vậy rốt cuộc, làm thế nào để các doanh nghiệp khởi nghiệp vốn ít, nhưng vẫn mở rộng được quy mô và giảm thiểu rủi ro trong việc áp dụng đổi mới sáng tạo? Có thể tham khảo cách thức của các cơ sở phân phối thực phẩm chẳng hạn như Bác Tôm và Tâm Đạt. Họ liên kết với các nhóm nông dân trong hệ thống PGS – hệ thống đảm bảo cùng tham gia trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hữu cơ do Liên đoàn phong trào hữu cơ thế giới (IFOAM) công nhận. Hệ thống PGS tổ chức và liên kết các hộ nông dân nhỏ thành các nhóm sản xuất với các bên liên quan để cùng chia sẻ rủi ro nhưng đồng thời tự giám sát và kiểm tra lẫn nhau, giảm thiểu tối đa các nguy cơ đưa sản phẩm không an toàn đến tay người tiêu dùng. Việc vận hành PGS dựa trên chia sẻ nguồn lực và rủi ro giữa các bên tham gia nên chi phí bỏ ra giữa các bên là nhỏ.  Môi trường kinh doanh tốt bắt đầu từ kiểm soát an toàn thực phẩm  Bắt đầu từ Thanh Xuân, Sóc Sơn và Lương Sơn, Hòa Bình rồi đến Trác Văn, Hà Nam, PGS sau đó được Hội An và Bến Tre áp dụng. Tuy nhiên, khi phóng viên Tia Sáng hỏi về khả năng mở rộng của PGS tại Việt Nam, chị Từ Thị Tuyết Nhung, đại diện PGS Việt Nam, cho biết, khó khăn nằm ở việc PGS hiện chưa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận chính thức (mặc dù họ ghi nhận những thành quả mà PGS đạt được). PGS thực chất là cách tổ chức giám sát có sự tham gia của cộng đồng. Theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Tổng giám đốc công ty truy xuất nguồn gốc TraceVerified, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản từng phụ trách về kiểm định chất lượng và an toàn thực phẩm, chia sẻ với phóng viên Tia Sáng, tổ chức cộng đồng, thực chất chính là tổ chức sản xuất theo chuỗi phù hợp với ngành nông nghiệp hiện đại, cũng là một cách để quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng dường như chính quyền đang coi nhẹ vai trò của công tác này.  “Quan điểm của tôi không phải là Nhà nước kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm nữa. Vấn đề ở đây là Nhà nước định hướng, hỗ trợ những cơ sở sản xuất trong việc cùng với họ giám sát chất lượng sản xuất. Hiện nay giám sát các hộ nông dân sản xuất nhỏ gần như bỏ ngỏ. Những vụ việc vi phạm bị phát giác thường không có rõ ràng trong việc thưởng phạt nghiêm minh. Mặc dù chính phủ hỗ trợ nông dân rất nhiều trong chương trình VietGap, nhưng tại sao người tiêu dùng vẫn không tin dùng? Đừng đổ lỗi tất cả cho các cơ quan chuyên môn của nhà nước trong khi họ có quá nhiều việc phải làm. Tại sao không xã hội hóa việc giám sát đấy?” – chị Từ Thị Tuyết Nhung nói. Với PGS, trước hết nông dân trong hệ thống phải tự giám sát nhau và nhắc nhở nhau thực hiện tốt các quy định. Ai cố tình không tuân thủ sẽ bị loại trừ khỏi hệ thống.  Đồng tình với chị Nhung, bà Hồng Minh cũng công nhận rằng, quan điểm của Nhà nước hiện nay là đặt nặng về kiểm tra, giám sát theo đợt, theo chỉ tiêu, với rất nhiều thủ tục và tầng nấc quản lý chứ không lấy doanh nghiệp làm vai trò trung tâm. Bà gợi ý, bên cạnh việc yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất như VietGap và truy xuất nguồn gốc, còn cần bắt buộc áp dụng hệ thống HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và các điểm kiểm soát tới hạn) cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thực phẩm. Hệ thống này đang được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới. Theo đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ trình bày báo cáo, đánh giá các mối nguy về an toàn thực phẩm và biện pháp khắc phục gửi các cơ quan có thẩm quyền. Việc theo dõi, kiểm tra giám sát của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần thông qua các báo cáo định kỳ của cơ sở và khi cần thiết mới cử người đến kiểm tra cơ sở sản xuất. Điều này giúp giảm thiểu việc kiểm tra, xét nghiệm mẫu sản phẩm. HACCP đã được áp dụng thành công trong việc xuất khẩu nông và thủy sản của Việt Nam mà theo bà Hồng Minh, biến những nhà máy chế biến thủy sản điều kiện vệ sinh vô cùng thấp trong 10 năm thành những “công viên cây xanh”.  “Mình vẫn chấp nhận trên thị trường có các sản phẩm bẩn nhưng nó cần phải được lấn át bởi thực phẩm sạch và điều đấy cần Nhà nước thúc đẩy sản xuất sạch và an toàn. Như vậy thì sản phẩm mới có thể rẻ hơn và đến được nhiều người hơn” – TS. Nguyễn Bá Hùng nói.  ———-  1 http://www.tienphong.vn/kinh-te/chang-nong-dan-loay-hoay-lam-nong-nghiep-sach-929376.tpo  2 http://www.vietnamplus.vn/san-luong-rau-xanh-cua-thu-do-ha-noi-chi-dap-ung-60-nhu-cau/331413.vnp.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Cơ học lượng tử giải thích DNA có thể đột biến một cách tự nhiên      DNA, các phân tử của sự sống, có thể sao chép với độ chính xác đáng kinh ngạc. Tuy nhiên quá trình này không hề miễn nhiễm với sai lỗi, thậm chí có thể dẫn đến những đột biến. Bằng việc sử dụng mô phỏng phức tạp trên máy tính, một nhóm các nhà vật lý và hóa học tại trường đại học Surrey đã chứng tỏ nhiều sai lỗi trong sao chép có thể gia tăng tuy thuộc vào các quy tắc “lạ” của thế giới lượng tử.      Hai chuỗi xoắn kép DNA nổi tiếng đã được liên kết bằng các hạt hạ nguyên tử mà người ta gọi là các proton – hạt nhân của các nguyên tử hydro – đem đến chất “keo dính” để gắn kết các phân tử, hay còn gọi là các cặp base lại với nhau. Các liên kết hydro đó giống như những bậc thang của một cái thang xoắn tạo nên cấu trúc xoắn kép mà vào năm 1952, James Watson và Francis Crick đã phát hiện ra trên cơ sở công trình của Rosalind Franklin và Maurice Wilkins.  Thông thường, các cặp base DNA này (A, C, T và G) đều tuân theo những quy tắc hết sức nghiêm ngặt về cách liên kết với nhau: một liên kết luôn luôn giữa A với T và C luôn luôn với G. Việc kết cặp này được xác định bằng hình dạng của các phân tử, gắn chúng lại với nhau giống như các miếng trong một bức tranh xếp hình nhưng nếu bản chất của liên kết hydrogen thay đổi dù chỉ chút ít, nó cũng có thể là nguyên nhân khiến quy tắc kết cặp này bị phá vỡ rồi dẫn đến những cặp base lỗi gắn kết với nhau và tạo ra một đột biến. Dẫu đã được Crick và Watson dự đoán nhưng hiện tại, chỉ có mô phỏng máy tính phức tạp mới có thể định lượng được chính xác quá trình đó.  Nhóm nghiên cứu này, trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu của trường đại học Surrey về lĩnh vực khoa học mới sinh học lượng tử, đã chứng tỏ được sự biến đổi trong các liên kết giữa các sợi DNA diễn ra nhiều hơn so với trước đây người ta vẫn nghĩ. Các protons có thể dễ dàng nhảy từ vị trí thông thường của mình trên một mức năng lượng để “hạ cánh” xuống một vị trí khác. Nếu điều này có thể xảy ra trước khi khi hai sợi DNA mở ra trong bước đầu tiên của quá trình sao chép, thì sau đó sai lỗi có thể được chuyển qua “cỗ máy” sao chép trong tế bào, dẫn đến cái gọi là lỗi ghép DNA và có tiềm năng trở thành một đột biến.  Trong “An open quantum systems approach to proton tunnelling in DNA” (Một cách tiếp cận các hệ lượng tử mở tới đường hầm proton trong DNA), bài báo xuất bản trên tạp chí Communications Physics *, nhóm nghiên cứu ở Surrey tại Trung tâm đào tạo tiến sĩ sinh học lượng tử Leverhulme, đã dùng một cách tiếp cận vẫn gọi là các hệ lượng tử mở để xác định các cơ chế vật lý có thể là nguyên nhân khiến các proton nhảy khắp các sợi DNA. Nhưng ngạc nhiên nhất là phải nhờ đến đường hầm, một cơ chế lượng tử được biết đến một cách rộng rãi – giống như một “bóng ma” có thể vượt qua một bức tường chắc chắn – giúp họ kiểm soát được quá trình này.    Trước đây người ta vẫn cho là hành xử lượng tử có thể không xuất hiện bên trong một môi trường nóng, ẩm và phức tạp của một tế bào sống. Tuy nhiên, nhà vật lý người Áo Erwin Schrödinger đã đề xuất trong cuốn sách xuất bản năm 1944 của mình “What is Life?” (Sự sống là gì?): cơ học lượng tử có thể đóng một vai trò nhất định trong các hệ sống do chúng hành xử khác biệt với vật chất không sống. Công trình mới này dường như đã xác nhận lý thuyết của Schrödinger.  Trong nghiên cứu của họ, các tác giả xác định môi trường tế bào địa phương là nguyên nhân khiến các proton, vốn hành xử lan truyền như sóng, hoạt hóa và được khuyến khích vượt qua hàng rào năng lượng. Trên thực tế, họ thấy các proton xuyên qua lại giữa hai sợi DNA một cách liên tục và tốc độ cao. Sau đó, khi DNA bị tách làm hai sợi riêng rẽ, một số proton đã bắt lấy bên lỗi và dẫn đến việc tạo ra một sai hỏng.  Tiến sĩ  Louie Slocombe, người đảm trách phần tính toán trong thời kỳ làm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của giáo sư Jim Al-Khalili (vật lý, Surrey) và tiến sĩ Marco Sacchi (hóa học, Surrey), giải thích: “Các proton trong DNA có thể xuyên hầm dọc các liên kết hydrogen trong DNA và biến đổi các cặp base vốn mã hóa thông tin di truyền. Các cặp base đã bị biến đổi này được gọi là các “tautomer” và có thể sống sót trong quá trình phân tách DNA và quá trình sao chép, là nguyên nhân dẫn đến ‘các lỗi ghi’ hoặc các đột biến”.  Giáo sư Jim Al-Khalili bình luận “Watson và Crick đã xem xét về sự tồn tại và tầm quan trọng của các hiệu ứng cơ học lượng tử trong DNA 50 năm trước nhưng cơ chế này vẫn thường bị bỏ qua”. Tiến sĩ. Sacchi bổ sung quan điểm “Các nhà sinh học có thể chỉ cho là hiện tượng xuyên hầm đóng vai trò đáng kể tại các mức nhiệt độ thấp và các hệ đơn giản. Do đó, họ có xu hướng không quan tâm đến hiệu ứng lượng tử trong DNA. Với nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi tin là mình đã chứng minh là không nên giữ khư khư những suy nghĩ đó”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-05-quantum-mechanics-dna-spontaneously-mutate.html  ——————————  * https://www.nature.com/articles/s42005-022-00881-8    Author                .        
__label__tiasang Cơ hội “bùng nổ” trên truyền hình cho các startups      Show truyền hình thực tế nổi tiếng trên thế giới về startups mang tên Shark Tank đang tìm kiếm 80 ứng viên cho phiên bản Việt ra mắt vào tháng 12 tới.    Hảo Linh    Poster chương trình Shark Tank tại Việt Nam  Shark Tank là show truyền hình trong đó các startups tìm kiếm cơ hội được đầu tư đối đầu với một ban giám khảo “cá mập” (sharks) là những nhà đầu tư thiên thần. Ở Mỹ, show truyền hình này đã diễn ra trong vòng 7 mùa (mỗi mùa 14 tập) và mỗi tập có khoảng 5 triệu lượt xem. Startup khi tham gia Shark Tank không chỉ có cơ hội tiếp cận với các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm, chỉ ra những vấn đề trong sản phẩm, kế hoạch kinh doanh hay đội ngũ của họ mà còn quảng bá thương hiệu trước đông đảo công chúng.  Tháng 12, Shark Tank sẽ đến Việt Nam và để có cơ hội tham gia chương trình này, các startup sẽ  phải được nhận vào khóa tăng tốc khởi nghiệp iAngel (iAA) kéo dài hai tháng. Khác với nhiều quỹ khởi nghiệp khác trên thế giới đóng vai trò như một quỹ đầu tư, iAA tập trung vào đào tạo và hỗ trợ nâng cao năng lực.  Sau khi được lựa chọn, các startup sẽ được nhận một khoản tài trợ trị giá 1.500 USD để mua các gói dịch vụ nâng cao năng lực của mình về Đào tạo, PR-Marketing, Thuế và Kế toán, Pháp lý và Tư vấn Đầu tư, Sản xuất. Họ cũng được cung cấp miễn phí không gian làm việc chung do iAA và đối tác của iAA cung cấp.  Bên cạnh đó, các startup cũng sẽ được tư vấn bởi 20 mentor, là những người đã khởi nghiệp thành công, am hiểu về hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam và có nhiều kinh nghiệm trong việc kết nối với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, và tiếp cận đến hơn 80 diễn giả uy tín đến nói chuyện hàng tuần trong chương trình.  Dự kiến sẽ có 100-110 startup được tham gia vào chương trình iAA và chương trình sẽ lựa chọn khoảng 70-80 startup để tham gia vào show truyền hình Shark Tank.  iAA là chương trình được thực hiện bởi Hội doanh nhân trẻ Hà Nội (HanoiBA) phối hợp với công ty Cổ phần Capella Việt Nam (đơn vị mua bản quyền Shark Tank), không gian làm việc chung Toong và tài trợ bởi ba dự án quốc tế hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam bao gồm: Chương trình Đối mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2), Chương trình Sáng kiến Kinh doanh Mekong – Ngân hàng phát triển châu Á (MBI) và Chương trình thúc đẩy khởi nghiệp của Thụy Sỹ (SECO Entrepreneurship Program).  Đợt nộp hồ sơ lần một vào iAA đã kết thúc vào ngày 20/9. Hiện nay, đã có 70 startup đăng ký tham gia.          Thông tin chi tiết về đăng ký tham gia iAA:     –    20/9-27/9: Nộp hồ sơ đợt 2     –    8/10 và 9/10: Thuyết trình chọn lọc tại Hà Nội     –    15/10 và 16/10: Thuyết trình chọn lọc tại HCM     –    18/10: Công bố kết quả đội thắng cuộc vào chương trình “Tăng tốc khởi nghiệp”     –    29/10, 30/10 và 31/10:  Orientation tại Hà Nội, HCM, Đà Nẵng     –    1/11 – 25/12: Bắt đầu 2 tháng chương trình “Tăng tốc khởi nghiệp”     –    31/12: Demo Day với hơn 40 các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội cho một chuyến  tới “quốc gia khởi nghiệp”      Cuộc thi khởi nghiệp cùng Israel 2014 do Đại sứ quán Israel phối hợp với Bộ KH&amp;CN, Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức là một sự kiện đáng chú ý giữa bối cảnh cộng đồng các doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam đang từng bước định hình và rất cần học hỏi kinh nghiệm từ những đất nước có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển như Israel.     Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn bà Meirav Eilon Shahar, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Israel tại Việt Nam, về sự kiện này.    Xin đại sứ cho biết động lực nào đã thúc đẩy Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tham gia tổ chức cuộc thi lần này?  Mục đích của chúng tôi là tạo một cầu nối giữa cộng đồng các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam và cộng đồng các doanh nghiệp khởi nghiệp Israel. Như bạn đã biết, cuộc thi sẽ chọn ra bốn doanh nghiệp Việt Nam thuộc bốn lĩnh vực web, mobile, nông nghiệp, và khoa học đời sống được cử đại diện tham gia một chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel trong tháng 12 năm 2014. Qua chuyến đi này, chúng tôi sẽ thu xếp để họ gặp gỡ, kết nối, và học hỏi kinh nghiệm ở những đối tác hoạt động trong cùng lĩnh vực tại Israel.  Những doanh nhân chiến thắng của cuộc thi cần có những phẩm chất gì?  Các tiêu chí mà chúng tôi tìm kiếm ở các doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia cuộc thi là sự sáng tạo, khả năng làm việc nhóm của tập thể nhân viên công ty, kế hoạch kinh doanh có tính thuyết phục. Ngoài ra, chúng tôi cũng đặt ra một số tiêu chí khác, ví dụ như ưu tiên cho các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tính thân thiện với môi trường.    Thị trường đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam còn khá sơ khai, vì vậy các doanh nghiệp khởi nghiệp đang rất thiếu các nhà đầu tư. Liệu qua cuộc thi lần này, Đại sứ quán Israel có thể thúc đẩy các nhà đầu tư Israel đến với các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam?  Công việc đầu tư, kinh doanh là những hoạt động thuộc phạm vi của khu vực tư nhân, chúng tôi không thể can thiệp và tác động. Tuy nhiên, chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel cũng là một cơ hội để các doanh nhân khởi nghiệp chiến thắng trong cuộc thi được tiếp cận với hệ sinh thái khởi nghiệp Israel, trong đó họ có cơ hội gặp gỡ, kết nối với các nhà đầu tư Israel. Song điều tôi muốn lưu ý ở đây là tuy tiền bạc và nguồn lực tài chính rất quan trọng cho các doanh nhân khởi nghiệp, nhưng kinh nghiệm và mạng lưới các quan hệ còn quan trọng hơn. Vì thế, việc tiếp cận với hệ sinh thái khởi nghiệp Israel và những kinh nghiệm và các mối quan hệ thu được từ đó có thể sẽ rất hữu ích cho các doanh nhân khởi nghiệp Việt Nam.   Được biết chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel sẽ diễn ra trong tuần đầu tháng 12. Liệu thời gian một tuần có đủ để các doanh nhân khởi nghiệp học hỏi những kinh nghiệm cần thiết, khi mà các hoạt động huấn luyện cho doanh nghiệp khởi nghiệp trên thế giới nhìn chung thường đòi hỏi thời gian dài hơn, có thể là vài tháng hoặc thậm chí cả năm?  Đây là lần đầu tiên chúng tôi tổ chức một cuộc thi cho các doanh nhân khởi nghiệp tại Việt Nam. Chúng tôi không kỳ vọng sẽ đạt được một kết quả hoàn hảo ngay lập tức. Sau khi các doanh nhân khởi nghiệp chiến thắng trở về từ chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel, chúng tôi sẽ tiếp tục trao đổi với họ nhằm rút kinh nghiệm để có thể tổ chức tốt hơn các sự kiện tương tự trong tương lai, theo đó xác định khung thời gian như thế nào là hợp lý nhất, và những trải nghiệm nào là hữu ích cho các doanh nhân khởi nghiệp Việt Nam.  Các quốc gia khác có tổ chức cho doanh nhân khởi nghiệp của họ đến tìm hiểu kinh nghiệm khởi nghiệp ở Israel?   Nhiều nước trên thế giới đã tổ chức những chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel. Ở khu vực ASEAN, Đại học Quốc gia Singapore vẫn tổ chức những chuyến thực hành khởi nghiệp trong vòng sáu tháng cho sinh viên của họ tại Israel, bởi họ quan niệm rằng khởi nghiệp là một kỹ năng vô cùng quan trọng mà mọi sinh viên đều nên có cơ hội được sớm trải qua. Tôi được biết trong số các sinh viên của Đại học Quốc gia Singapore, từng có hai sinh viên người Việt Nam. Chúng tôi hi vọng trong tương lai không xa có thể hỗ trợ tổ chức những chuyến thực hành khởi nghiệp dài ngày như vậy cho các doanh nhân khởi nghiệp và các bạn trẻ Việt Nam quan tâm.    Ngoài các doanh nhân khởi nghiệp, các vườn ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp cũng là một mắt xích thiết yếu của hệ sinh thái khởi nghiệp. Vậy ngoài chuyến đi của các doanh nhân khởi nghiệp tới đây, liệu sẽ có cơ hội khác dành cho các nhà quản lý vườn ươm doanh nghiệp ở Việt Nam tới tìm hiểu hệ sinh thái khởi nghiệp Israel?  Đây là một ý tưởng hay. Hiện nay phía Israel đã có những thỏa thuận hợp tác với Bộ KH&CN Việt Nam. Trong khuôn khổ đó, chúng tôi sẵn lòng kết nối để tạo cơ hội cho các vườn ươm tạo doanh nghiệp ở Việt Nam tìm hiểu kinh nghiệm và kết nối với các vườn ươm tạo doanh nghiệp cùng hệ sinh thái khởi nghiệp của Israel.   Xin trân trọng cảm ơn bà.             Một số yêu cầu đối với các ứng viên cuộc thi Khởi nghiệp cùng Israel 2014:              * Độ tuổi ứng viên: 20-40              * Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp: Web/Mobile/Nông nghiệp/Khoa học đời sống              * Doanh nghiệp tham gia cuộc thi cần có lịch sử hoạt động từ hai tới ba năm, có chiến lược kinh doanh  cụ thể. Yêu cầu có ít nhất một thành viên sáng lập sử dụng thành thạo tiếng Anh. Các ứng viên tự đảm bảo không có vi phạm hay tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm dự thi.              * Hồ sơ dự thi trình bày bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, bao gồm các thông tin về công ty và chiến lược kinh doanh chi tiết dưới dạng PDF. Bên cạnh đó, ứng viên cần cung cấp một đoạn phim độ dài khoảng hai-ba phút bằng tiếng Anh để thuyết phục ban giám khảo vì sao công ty của mình xứng đáng giành được chuyến thực hành tại Israel.               * Hạn cuối cùng nộp hồ sơ là ngày 8/10/2014. Sau vòng loại hồ sơ, vào tuần đầu tháng 11, tám ứng viên xuất sắc nhất (mỗi lĩnh vực sẽ có hai ứng viên) sẽ lọt vòng phỏng vấn. Tại đó ứng viên sẽ thuyết trình bằng tiếng Anh về dự án kinh doanh của mình và hỏi đáp với giám khảo.              * Sau cuộc phỏng vấn của ban giám khảo, bốn ứng viên chiến thắng sẽ được công bố. Nhà tổ chức phía Israel sẽ căn cứ theo đặc thù của từng ứng viên để xây dựng lịch trình tương ứng cho chuyến đi thực hành khởi nghiệp tại Israel vào đầu tháng 12 năm 2014.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội cho người đam mê khởi nghiệp      Hai đến ba dự án vào chung kết cuộc thi  “Dự án khởi nghiệp năm 2015” sẽ được CLB “Nhà đầu tư thiên thần” chọn đầu tư để triển khai thực hiện dự án.     Cuộc thi  “Dự án khởi nghiệp năm 2015” do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ   trợ doanh nghiệp (BSA) phối hợp cùng   Tập đoàn Trung Nguyên tổ chức.  Theo quy định của BTC, cuộc thi năm nay sẽ tập trung vào các dự án kinh doanh khởi nghiệp thuộc những lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn và có ứng dụng công nghệ trong sản xuất, thực hiện sản phẩm. Những ý tương kinh doanh trong dự án cần đảm bảo có ý tưởng mới, độc đáo, sáng tạo, có tính thực tế và có áp dụng KHCN…  Nhằm hỗ trợ các bạn trẻ tham dự cuộc thi, BTC sẽ thực hiện bốn buổi tập huấn với chủ đề “Tập huấn phương pháp xây dựng dự án kinh doanh” tại các địa phương TP.HCM, An Giang, Lâm Đồng và Nam Định, từ ngày 5/4 đến 9/5. Cuộc thi sẽ chính thức tiếp nhận bài, sản phẩm dự thi kể từ ngày 15/4 đến 15/5. Sau đó, vào ngày 16/6, những dự án được chọn vào chung kết sẽ được xây dựng nâng cấp, hoặc hoàn thiện với sự tư vấn của các chuyên gia hàng đầu của TPHCM. Vòng chung kết và trao giải sẽ diễn ra tại Bến Tre vào ngày 4/7.   BTC sẽ trao các giải thưởng cho những dự án xuất sắc: giải nhất trị giá 30 triệu đồng, giải nhì: 15 triệu đồng, giải ba: 10 triệu đồng, hai giải khuyến khích 5 triệu đồng/giải. Dự kiến sẽ có từ hai đến ba dự án vào chung kết sẽ được CLB “Nhà đầu tư thiên thần” chọn đầu tư để triển khai thực hiện dự án.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiềm năng tăng lưu trữ khí carbon trong đất trên toàn cầu      Nghiên cứu này công bố ngay sau báo cáo mới nhất của Nhóm công tác III của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC).    Được công bố gần đây trên tờ Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS), nghiên cứu mới “Tiềm năng tăng lưu trữ khí carbon trong đất trên toàn cầu” cung cấp một loạt các bản đồ không gian địa lý giúp nâng cao hiểu biết của chúng ta về khoảng cách giữa tình trạng lưu trữ carbon hiện tại và tiềm năng lưu trữ trong đất trên toàn cầu, đồng thời đưa ra một khuôn khổ hành động để phát huy được toàn bộ tiềm năng lưu trữ carbon trong đất như một giải pháp tự nhiên cho tình trạng biến đổi khí hậu.        Tiến sĩ Wayne Walker, Giám đốc chương trình carbon ở Trung tâm Nghiên cứu khí hậu Woodwell đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Từ các khu rừng đến đất đai, hệ sinh thái trên cạn chứa lượng khí carbon khổng lồ trên toàn cầu, và chúng có khả năng chứa được nhiều hơn nữa. Thế nhưng, để phát huy được tiềm năng chưa khai thác của đất để hỗ trợ giải quyết khủng hoảng khí hậu, ta cần phải hiểu không gian lưu trữ hiện có là bao nhiêu, vị trí của nằm ở đâu trên thế giới, và ta có thể làm những việc gì ở những chỗ đó để tận dụng được cơ hội chúng mang lại càng nhanh càng tốt. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu và khuôn khổ khái niệm để làm việc đó”.    Sử dụng những bản đồ toàn cầu mới, các nhà nghiên cứu đã định lượng được khả năng lưu trữ carbon tiềm tàng chưa sử dụng ở cả sinh khối gỗ trên và dưới mặt đất, cùng carbon hữu cơ trong đất. Kết quả là họ tìm thấy 287 petagram lượng lưu trữ carbon chưa khai thác, với 78% tồn tại trong sinh khối gỗ và 22% còn lại trong đất đai, ở khắp các vùng khí hậu nhiệt đới, hàn đới và khí hậu cận Bắc cực. Những phát hiện này hé lộ tiềm năng quan trọng đối với việc mở rộng quá trình thu giữ khí carbon dựa vào đất trên toàn cầu, thông qua phục hồi, cải thiện quản lý và giữ được rừng cũng như các hệ thống cây gỗ khác. Chỉ riêng việc cải thiện quản lý các khu rừng hiện có đã mang lại 75% tiềm năng chưa khai thác, trong đó tới 71% tập trung tại các hệ sinh thái nhiệt đới.    Tuy nghiên cứu này chỉ ra đất đai có thể là giải pháp tự nhiên đối với biến đổi khí hậu, nhưng chúng ta vẫn cần tiến hành nghiên cứu tiếp.    “Chúng tôi dự đoán những phát hiện này sẽ rất giá trị với nhiều nước, do các giải pháp khí hậu tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện cam kết Hiệp định Paris ở đa phần quốc gia; tuy nhiên, ta phải kết hợp những kết quả này với một loạt thông tin khác để ưu tiên và triển khai hiệu quả các giải pháp khí hậu tự nhiên. Chẳng hạn, khi làm việc với các bên liên quan để ưu tiên và nỗ lực phục hồi, chúng ta cần cân nhắc các điều kiện khí hậu được dự đoán rõ ràng về mặt không gian, chi phí và tác động đối với an sinh của con người sinh sống tại địa phương” – Ông Bronson Griscom, giám đốc cấp cao về các giải pháp khí hậu tự nhiên tại Tổ chức Bảo tồn Quốc tế cho biết.    Báo cáo của IPCC và nghiên cứu mới này đều xác định tầm quan trọng của các giải pháp khí hậu tự nhiên dựa vào đất đai trong việc thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính quy mô lớn cùng tăng cường loại bỏ (IPCC WGIII, 2022). Những nỗ lực này, bao gồm công tác giữ gìn, quản lý và phục hồi các hệ sinh thái trên cạn – đòi hỏi phải có khuôn khổ nhất quán trên toàn cầu để giải quyết chính xác các lỗ hổng hiện tại, cung cấp thông tin để quy hoạch cấp cảnh quan và các giải pháp giảm thiểu có mục tiêu. Nghiên cứu này đưa ra một bộ dữ liệu quan trọng để đạt được những nỗ lực này.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Cơ hội học hỏi cho các nhà khởi nghiệp công nghệ xuất sắc      Kết thúc cuộc thi Khởi nghiệp Startup  Discovery trong khuôn khổ Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam  2015 (Techfest), năm giải thưởng đã được trao cho các nhóm khởi nghiệp  công nghệ xuất sắc với phần thưởng là các cơ hội học hỏi ở Phần Lan,  Singapore và&#160;Thụy Sỹ.    Đó là các nhóm khởi nghiệp: Money Lover, Beeketing, Echoes, VP9.T và Hotel Link Solutions.  Để có mặt trong tốp năm cuộc thi, năm nhóm  khởi nghiệp này đã vượt qua 35 đối thủ ở vòng ngoài và 10 đối thủ khác ở  vòng chung kết bằng những ý tưởng độc đáo, mới mẻ và hấp dẫn nhất. Tại  vòng chung kết, họ chỉ được thuyết trình về sản phẩm, kế hoạch kinh  doanh của mình chỉ trong vòng năm phút và có thêm ba phút nữa để phản  hồi, giải đáp những thắc mắc của các nhà đầu tư và khán giả đặt ra.  Theo điều lệ, năm giải thưởng  cuộc thi Startup  Discovery là những chuyến tham dự các cuộc thi khởi nghiệp quốc tế, được tổ chức tại ba địa điểm khởi nghiệp nổi tiếng của thế giới là Helsinki (Phần Lan), Echelon (Singapore) và  Geneva (Thụy Sĩ).  Với chuyến đi tới Helsinki (Phần Lan), các nhóm đoạt giải sẽ tham dự cuộc thi khởi nghiệp mang tên Slush  2015, diễn ra từ ngày 11 đến 12/11. Slush là nơi dành cho các doanh  nghiệp, các nhóm khởi nghiệp về công nghệ có thể gặp gỡ các nhà đầu tư  quốc tế, CEO, truyền thông… Với nỗ lực của các nhà tổ chức, Slush  được coi là một hệ sinh thái khởi nghiệp mang đẳng cấp thế giới.   Với chuyến đi tới Echelon (Singapore) là cuộc thi mang tên e27, sân  chơi dành cho các doanh nghiệp, các nhà sáng lập các công ty khởi  nghiệp công nghệ châu Á. e27 được đón đợi bởi thường đem đến những thông  tin mới mẻ về các doanh nghiệp công nghệ và tổ chức nhiều sự kiện hấp  dẫn như Hội nghị của các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu châu Á, Echelon and Echelon Ignite cũng như những sự kiện cộng đồng khởi nghiệp như Founders Drinks.    Đích đến của chuyến đi tới Geneva, Thụy Sỹ là  chung kết cuộc thi Seedstars World, sân chơi  chất lượng cao dành riêng cho các nhóm khởi nghiệp ở những thị  trường mới nổi. Chỉ những nhóm khởi nghiệp đã vượt qua vòng loại và được  cân nhắc lựa chọn sau một quá trình khảo thí nghiêm ngặt mới giành được  quyền tham gia Seedstars World. Vòng chung kết năm nay có 2.000 nhóm góp mặt.  Từ 2.000 nhóm này, ban giám khảo sẽ chọn ra 600 nhóm vào chung kết, gồm  34 nhóm, qua đó chọn nhóm xuất sắc nhất. Nhóm chiến thắng cuộc thi này  sẽ nhận được danh hiệu Nhà khởi nghiệp xuất sắc nhất thế giới –  Seedstars World Best Startup 2015.  Ban giám khảo cuộc thi cuối cùng đã quyết định: hai nhóm Money Lover và Beeketing sẽ đến Echelon (Singapore) tham dự cuộc thi Khởi nghiệp vào tháng 6 tới. Hai nhóm Echoes và VP9.TV sẽ giành quyền tới Slush (Phần Lan) tham dự cuộc thi Khởi nghiệp vào tháng 11/2015.   Ngoài ra, cả năm nhóm Echoes với ý tưởng kết hợp vị trí và âm thanh, VP9.TV với ý tưởng truyền tải nhanh video, Money Lover với ý tưởng ghi chép lịch sử chi tiêu, Hotel Link Solutions và Beeketing sẽ cùng tham dự chung kết cuộc thi Seedstars World được tổ chức vào cuối năm nay ở Geneva (Thụy Sỹ).   Phần thưởng của cuộc thi sẽ đem lại cho các nhóm khởi nghiệp xuất sắc của Việt Nam cơ hội tới những trung tâm khởi nghiệp Echelon (Singapore), Slush (Phần Lan), Geneva (Thụy Sỹ) để học hỏi kinh nghiệm và kết nối với cho các nhóm khởi nghiệp, các nhà đầu tư quốc tế.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội làm chủ công nghệ lõi      Dự án “Thiết kế và chế tạo chip, thẻ, đầu đọc RFID và xây dựng hệ thống ứng dụng” do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế mạch (ICDREC) làm chủ nhiệm đề tài, được Bộ KH-CN phê duyệt đầu tư và ủy quyền cho ĐH Quốc gia TPHCM làm chủ đầu tư với tổng kinh phí 145,756 tỷ đồng vừa được công bố vào cuối tuần qua tại TPHCM.     Tại đây, Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân khẳng định, chúng ta phải có được hệ thống các công nghệ nền tảng, tự làm chủ từ nghiên cứu thiết kế đến chế tạo…    Dự án lớn nhất 50 năm qua  Có ý kiến cho rằng không nên ủng hộ dự án vốn đã lạc hậu so với sự phát triển công nghệ chip của thế giới, nhưng Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân khẳng định, chúng ta phải có hệ thống các công nghệ nền tảng, chúng ta phải tự làm chủ từ nghiên cứu thiết kế đến chế tạo. Thực tế có những nghiên cứu cơ bản phải bỏ ngăn kéo nhưng những nghiên cứu thấy rõ định hướng ứng dụng, thấy rõ tương lai ứng dụng, từ khâu sản xuất đến đặt hàng sản phẩm nên phải chấp nhận đầu tư mạo hiểm. Cần phải khẳng định rằng làm chủ được công nghệ lõi mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu.   Dự án trên có tổng kinh phí đầu tư 145,756 tỷ đồng, trong đó 124,825 tỷ đồng từ ngân sách Bộ KH-CN và 20,931 tỷ đồng được đầu tư từ Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn (CNS). Theo Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân, đây là dự án có kinh phí lớn nhất trong 50 năm qua do Bộ KH-CN đầu tư. Dự án được thực hiện trong 4 năm nhằm thiết kế và sản xuất thử nghiệm chip vi xử lý 32-bit công suất thấp có tính cạnh tranh cao (dựa trên chip VN 1632) và các lõi IP có liên quan, từ đó tiếp tục thiết kế và sản xuất chip RFID HF và UHF, đầu đọc RFID cũng như một số hệ thống ứng dụng sử dụng chip RFID. Sau khi kết thúc dự án CNS và ICDREC sẽ cùng phối hợp để kinh doanh các dòng sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm thành công.   Theo Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Quân, với sự tiên phong trong lĩnh vực thiết kế và chế tạo chip của ĐHQG đồng thời với sự ủng hộ lớn về mặt chủ trương của Chính phủ về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, hy vọng trong tương lai không xa Việt Nam sẽ làm chủ được những công nghệ vi mạch mà lâu nay chúng ta phụ thuộc vào thế giới.   Cùng với sự đồng hành của doanh nghiệp, các đơn vị tiên phong ứng dụng, Việt Nam cũng sẽ xây dựng nhà máy chuyên thiết kế và sản xuất các sản phẩm thuộc ngành công nghệ vi mạch tránh tình trạng lãng phí các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu.   Từng bước xây dựng  Theo ông Ngô Đức Hoàng, Giám đốc ICDREC, các sản phẩm của dự án sẽ có tính ứng dụng rất lớn đối với nhiều đối tượng sử dụng tại Việt Nam. Một sản phẩm quốc gia đầu tiên ra đời sẽ là tiền đề để các dự án lớn về KH-CN được tiếp tục triển khai trong thời gian tiếp theo.   Ngoài ra, sản phẩm cũng khẳng định sự gắn kết và nghiên cứu đào tạo trong lĩnh vực thiết kế vi mạch của nhiều đơn vị khác nhau, đặc biệt là Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn, đơn vị tiên phong ứng dụng và đầu tư cho ngành công nghiệp mới mẻ này. Các sản phẩm khi hoàn thành có thể được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: dùng trong quản lý giao thông, quản lý kho hàng, an ninh quốc phòng, XNK hàng hóa, quản lý an toàn thực phẩm… đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng với yêu cầu bảo mật cao.   Để huy động thêm nguồn lực, dự án cũng có sự hợp tác của nhiều trường đại học thuộc khối ĐHQG và chuyên ngành như Học viện kỹ thuật quân sự, Bưu chính Viễn thông… Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM Phan Thanh Bình nhấn mạnh, sự tham gia của các trường đại học rất quan trọng, sự liên kết này tạo thêm sức mạnh để đưa những nghiên cứu thành sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường. Trong dự án này cũng thấy rõ quyết tâm tham gia của doanh nghiệp, minh chứng là Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn đã đầu tư 20,931 tỷ đồng, số tiền đầu tư này được sử dụng cho quá trình sản xuất thử sản phẩm.   Tổng Giám đốc Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn Nguyễn Văn Thọ cho biết, đây là dự án mà tổng công ty đã theo đuổi trong 5 năm qua, từ lúc tóc ông còn vài sợi đen đến khi chỉ toàn tóc trắng như hiện nay. Ông Thọ cũng bày tỏ hy vọng, khi dự án này đi vào giai đoạn sản xuất thì những sản phẩm này sẽ được sản xuất ngay tại nhà máy do chính tổng công ty xây dựng. “Khi đó ta làm chủ được tất cả các khâu từ nghiên cứu thiết kế đến sản xuất, mở ra nhiều nút thắt cho những sản phẩm tiếp theo sau này” – ông Thọ nhấn mạnh.   Qua đây có thể khẳng định, dù Việt Nam đi sau thế giới trong lĩnh vực chip nhưng với sự ra đời của dự án, chúng ta đang từng bước xây dựng nền tảng vững chắc cho ngành công nghiệp non trẻ này, là tiền đề cho các dự án lớn hơn về công nghiệp vi mạch sau này. Đây là một trong những đột phá lớn trong hoạt động về KH-CN của Việt Nam, từ đây sẽ cho ra đời những sản phẩm mang 100% thương hiệu “Made in Viet Nam” hết sức cần thiết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội mới dành cho công nghệ gene xanh      Theo một nghiên cứu đây của EU thì các quy định nghiêm ngặt về lai tạo gene không còn thích hợp bởi cây lai tạo gene không hề nguy hại hơn so với các giống thông thường khác và công nghệ này có thể góp phần xây dựng một nền nông  nghiệp bền vững.      Chỉnh sửa gene có thể nâng cao sức đề kháng của cây trồng.  Kết quả nghiên cứu này có thể tác động trực tiếp đến chính quy định của EU. Năm 2018, Tòa án châu Âu đã ra phán quyết phải ứng xử với công nghệ mới như với các phương pháp chọn giống di truyền trước đây. Tiếp sau đó, tháng 11/2019, Ủy ban EU đã đưa ra một chương trình nghiên cứu để qua đó, một mặt người ta lấy ý kiến của các bên có quan tâm và các tổ chức phi chính phủ ở các nước thành viên EU khác nhau; mặt khác người ta đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học cho đến nay về lĩnh vực này.  Ý kiến phản biện đã kết luận: các quy định hiện hành về việc xử lý đối với các sản phẩm biến đổi gene của EU, vốn được ra đời từ năm 2001, đối với một số phương pháp mới không còn thích hợp. Theo những quy định đó thì những giống được chọn lọc theo phương pháp biến đổi gene phải trải qua một quá trình đánh giá hết sức phức tạp và tốn kém và các sản phẩm đó phải được dán nhãn rõ ràng.  Giáo sư Martin Qaim, người phụ trách Bộ phận Kinh tế Lương thực Thế giới và Phát triển nông thôn tại ĐH Göttingen, Đức, cho biết: “Kết quả trùng khớp với tuyên bố của tất cả các tổ chức khoa học nổi tiếng. Việc Ủy ban EU nay chính thức xác nhận là một bước tiến quan trọng trong cuộc tranh luận về kỹ thuật gene, vốn đôi khi rất bế tắc ở châu Âu”.   Từ năm 2001 đến nay, các phương pháp về công nghệ gene đã được các nhà khoa học tiếp tục phát triển. Một trong số đó là Crispr/Cas, phương pháp giúp họ có thể có những can thiệp rất nhỏ vào bộ gene của hạt giống. Về cơ bản, những thay đổi do chỉnh sửa gene theo cách như vậy không khác với những đột biến phát sinh trong tự nhiên và được chọn lọc bởi các nhà tạo giống cây trồng. Điều này cho phép họ tạo ra các giống có đặc tính mới nhanh hơn và đúng mục tiêu hơn.   Trong nghiên cứu mới của EU, tiềm năng của cây trồng được lai tạo theo phương  pháp Crispr/Cas được khẳng định: phương pháp này có thể góp phần tạo ra những giống có sức đề kháng cao hơn, ít bị ảnh hưởng của sâu bệnh và ít nhạy cảm hơn trước những biến đổi khí hậu. Đây là cơ hội để người trồng có thể giảm được lượng thuốc bảo vệ thực vật, có thể tạo ra những sản phẩm có lợi cho sức khỏe, thí dụ có thể thay đổi hàm lượng a xít béo. Công nghệ này vừa bảo đảm cho sự bền vững của sản xuất nông nghiệp đồng thời bảo đảm được tính cạnh tranh cho các sản phẩm. Nghiên cứu này kết luận, cây trồng được phát triển từ các công nghệ mới cũng an toàn như cây trồng được chọn giống theo phương pháp thông thường.  Bà Christine Rösch, phụ trách ban nghiên cứu về kinh tế sinh học bền vững (Viện Đánh giá công nghệ và phân tích hệ thống Đức), bình luận “Đây là một tin vui bởi sau nhiều năm kiên trì tranh luận gay gắt, tôi nhìn thấy được thành quả. Lâu nay, những người phản đối đã làm kìm hãm sự tiến bộ của công nghệ gene xanh ở châu Âu”.   Giáo sư Martin Qaim cho rằng, giờ đây phải chờ xem luật và các  quy định sẽ được thay đổi đến mức độ nào trong thực tiễn. “Việc chống đối kỹ thuật di truyền sẽ không  đơn giản biến mất với nghiên cứu này, không chỉ trong dân chúng mà cả trong các cơ quan nhà nước”. Ông cũng lường trước được những ý kiến chống đối với công nghệ biến đổi gene, đặc biệt từ các cơ quan, tổ chức bảo vệ môi trường khi lo ngại trước nguy cơ pha trộn giữa các biện pháp của nông nghiệp sinh thái với các sản phẩm biến đổi gene vv…  Mặt khác bà Christine Rösch lưu ý là không được phép rơi vào một thái cực khác và đạt quá nhiều hy vọng vào Crispr/Cas bởi vấn đề dinh dưỡng toàn cầu không thể được giải quyết chỉ với việc tối ưu hóa công nghệ. “Nếu bạn chỉ tập trung vào điều đó, bạn sẽ ngừng suy nghĩ để tìm các lựa chọn thay thế”, bà nói.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article230760329/Gruene-Gentechnik-EU-Studie-bestaetigt-Chancen-durch-Genomeditierung.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội nào cho người nông dân sáng tạo?      Người miền Tây Nam Bộ đặc biệt đam mê máy  móc thiết bị. Niềm say mê này dường như là đặc điểm truyền thống của họ,  cả trong thời chiến tranh cũng như xây dựng kinh tế.     Trong những câu  chuyện trà dư tửu hậu, những “ông sáng kiến” thường kể lại câu chuyện,  trong một lần cùng mọi người lội ruộng, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt ngỏ  ý muốn tìm lại người từng vào sanh ra tử trên chiếc “vỏ vọt” (vỏ lãi   vượt nước với tốc độ cao), tên Tám Phấn. Ông nói Tám Phấn đúng là dân  Tây Nam Bộ, hồi đó học hành không bao nhiêu, nhưng có tài cải tiến máy  đuôi tôm để chạy vỏ vọt, ai cũng phục. Nhờ sáng kiến đó mà nhiều cán bộ  mình thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Gần đây, nhiều hãng máy nông ngư cơ nổi tiếng của thế giới vào bán thiết bị ở đồng bằng luôn lắng nghe góp ý cải tiến của “mấy ông nông dân mê máy móc” để cải tiến máy của họ cho phù hợp ruộng đất bồi hay vùng đầm lầy, dần dần thích nghi nhu cầu các hộ canh tác rồi mới bán được máy.  Sáng tạo từ nhu cầu bức xúc hằng ngày…   Hầu hết sáng kiến, có khi bị xem là không giống ai của dân Tây Nam Bộ, đều xuất phát từ ước muốn cải thiện tình trạng lao động quá cực nhọc, quá bất trắc ở làng quê. Cách họ xử lý các nhu cầu, làm ra máy móc tuy khác kiểu nhau nhưng lại giống nhau ở tính hữu dụng, tính phù hợp công năng như máy xúc lúa, lò sấy, máy phun xịt thuốc, máy vét bùn… Vốn là những người học vấn thấp, dù tìm ra được giải pháp kỹ thuật để giải quyết vấn đề, nhưng không phải ai trong số họ cũng thành công khi chạm tới công đoạn phải tính vật liệu, khả năng đồng bộ hóa, chiết tính hiệu quả kinh tế…. Và do không học bất  kỳ “phương pháp não công” nào, để có thể đo lường tổn thất và thành công của bản thân mình nhưng những nông dân có tố chất của một nhà mạo hiểm vẫn mày mò sáng tạo, và phải với một đam mê ghê gớm lắm, phải thật “lì lợm” họ mới vượt qua được những thất bại trên đường đi.    Niềm đam mê máy móc này không ít khi phải trả giá đắt. Anh Út máy cày (Huỳnh Văn Út) ở ấp An Lạc, xã An Bình, huyện Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) đã thành công trong việc cải tiến động cơ hợp chuyển động, giàn cắt lúa, lưỡi cắt, thùng đập trên máy gặt đập liên hợp Sisaki của Nhật Bản và đến khi cải tiến chiếc máy loại này tự chế thì đoạt giải nhất sáng kiến khoa học kỹ thuật năm 2008. Ít ai biết là anh đã ngậm đắng nuốt cay cầm cố 3 ha đất để có tiền làm ra chiếc máy cày cải tiến làm việc rất hiệu quả trên đồng ruộng.   Còn anh Nguyễn Văn Dũng  ở ấp Bình Phú, xã Bình Thủy, Châu Phú, tỉnh An Giang đã tự chế máy sạ mè là do ở Châu Phú, chính quyền khích lệ trồng mè, nhưng hạt mè bé xíu, sạ rất khó, tỷ lệ hao hụt cao nên anh Dũng tìm cách làm ra máy sạ mè để giảm tổn thất.    Năm 2010, anh Trần Thanh Tuấn ở ấp Trung Bình Nhì, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn – An Giang làm ra máy phun thuốc sâu điều khiển từ xa. Ba năm liên tục, Tuấn hoàn thiện dần chiếc máy “trợ thủ của người phun thuốc thuê” thay vì mỗi ngày phải nhìn người nông dân đeo trên vai bình thuốc trừ sâu nặng đến 30-35 kg và hít thở không khí độc từ thuốc này…    Thấy nhu cầu thiết bị của người dân đồng bằng sông Cửu Long rất lớn, khả năng cung ứng của những nông dân sáng tạo là hiện thực, một số tổ chức quốc tế muốn giúp họ “chuyên nghiệp hóa” việc sản xuất thiết bị từ sáng kiến rất sát thực tế hằng ngày của họ. Chẳng hạn như tổ chức CIDA (Canadian International Development Agency), trong chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Sóc Trăng, muốn giúp nông dân Năm Kháng (là người làm ra máy làm đất đa năng có tác dụng giảm 20%-30% thời gian lao động thủ công, tăng năng suất cao, giảm chi phí sản xuất nông nghiệp từ 30% – 40%) mở rộng xưởng thợ, sản xuất nhiều thiết bị nông nghiệp hơn để phục vụ nhu cầu. Nhưng rồi có vẻ như ông Năm Kháng cứ tự chế các loại máy thì dễ dàng hơn việc tổ chức và điều hành một xưởng thợ rất nhiều.   Lội ruộng cùng họ nhiều lần trong nhiều bối cảnh và câu chuyện khác nhau, chúng tôi đã ghi nhận được nguyện vọng của những người nông dân say mê sáng tạo.    Người nông dân cần hỗ trợ gì trong đổi mới sáng tạo?   Với khó khăn đầu tiên- tiền đâu, họ đề xuất một dạng như “quỹ sáng tạo” cho nông dân. Họ cần vốn, nhưng không phải “vốn mồi” như chúng ta hay nói và hỗ trợ theo dự án hay thỉnh thoảng có hỗ trợ. Theo họ, không thể chỉ dựa vào các dự án hỗ trợ của CIDA hay quỹ GTZ (Đức) hay của Ngân hàng Thế giới vì cứ sau khi dự án hỗ trợ chấm dứt thì nguồn vốn bị gián đoạn.   Với vốn học thức giới hạn, càng giới hạn về tri thức khoa học, họ mong có một vườn ươm ĐMST cho họ, nghĩa là cần lực lượng nghiên cứu sáng tạo chuyên nghiệp giúp đỡ qua việc cùng đồng hành, lắng nghe, phân tích, phản biện, nâng cao… các ý tưởng và thực hành sáng tạo của họ.    Ngoài ra, khi thực hành sáng tạo, thực tế chỉ ra cho họ thấy, họ cần những người giúp họ về tính toán chi thu, tiếp thị, pháp lý… Quyền sở hữu trí tuệ của họ cần hiểu đúng ra sao, bảo vệ thế nào, chống sự xâm hại như thế nào.     Trong thực tế, nhiều khi sản phẩm mà họ chế tạo sử dụng được, có nhiều nông dân khác, kể cả từ Lào, Campuchia sang mua thì họ lúng túng không biết xử lý ra sao. Khi họ cần quảng bá cho sản phẩm của mình thì việc tham gia các hội chợ thiết bị nông nghiệp hay hội chợ nông nghiệp cần các kỹ năng chuyên môn như làm tờ giới thiệu, clip thông tin, trưng bày, giao tiếp… ai hướng dẫn họ?    Nhiều nông dân trẻ mạnh dạn nêu nhu cầu về một “ngân hàng ý tưởng sáng tạo” cho nông dân, giúp họ lưu trữ, truy cập, bảo mật và học hỏi, như một kho tàng họ có thể đi vào khám phá và học tập. Đây là vấn đề quá phức tạp với họ vì ý tưởng thì không được bảo hộ nhưng đó là nhu cầu có thật.   Có những bạn trẻ nông dân đã tham gia các đoàn đi học tập kinh nghiệm phát triển nông nghiệp nhiều nước, họ kể rằng, có những quốc gia tiên tiến như Nhật Bản, người ta cũng làm hàng loạt sách, băng đĩa hình giới thiệu các sáng kiến và điển cứu thành công để khích lệ nông dân đưa ra ý tưởng sáng tạo mới hay chia sẻ những kinh nghiệm sáng tạo thành công.    Chúng ta có lực lượng nông dân rất năng động, nếu khuyến khích và hỗ trợ đúng mức, hiệu quả thì những sáng chế, cải tiến kỹ thuật của họ sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội nhận vốn của các doanh nghiệp ĐMST      Các doanh nghiệp Việt Nam có sẽ có cơ hội  nhận tài trợ từ “Dự án Đổi mới sáng tạo hướng tới người thu nhập thấp  Việt Nam” nếu đáp ứng được yêu cầu của dự án về đổi mới, nâng cao và ứng  dụng công nghệ mới. Đây là dự án do Ngân hàng thế giới hỗ trợ có  tổng vốn đầu tư trên 55 triệu đô la trong giai đoạn năm năm (2013-2018).    Theo Ban quản lý dự án, mục tiêu mà dự án hướng tới là khai thác khoa học, công nghệ và đổi mới nhận thức để cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu của nhóm người nghèo, đặc biệt với những người sống ở vùng nông thôn, cải thiện chất lượng cuộc sống của người thu nhập thấp, giảm chênh lệch giàu nghèo trong xã hội; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba lĩnh vực hoạt động được dự án ưu tiên hỗ trợ là phát triển dược liệu và y học cổ truyền, nông nghiệp thủy sản và công nghệ thông tin, truyền thông.   Dự án này bao gồm bốn hợp phần, trong đó hai hợp phần đầu liên quan đến các hoạt động đổi mới sáng tạo về công nghệ là phát triển các công nghệ đổi mới (trị giá 12 triệu USD), và mở rộng và thương mại hóa các công nghệ đổi mới (33 triệu đô la).   Nhằm cụ thể hóa phạm vi mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia, Ban quản lý đã phân nhóm tiểu dự án trong từng hợp phần. Theo đó, hợp phần một gồm ba nhóm: 1, đổi mới công nghệ nhằm giải quyết thách thức phát triển quốc gia trong 24 tháng có mức tài trợ đến 700.000 đô la và 100% tổng vốn đầu tư; 2. tiếp nhận và nần cấp các công nghệ hiện có phù hợp với Việt Nam trong 18 tháng với mức tài trợ đến 300.000 đô la và tối đa 75% tổng vốn đầu tư; 3. sáng kiến đổi mới công nghệ cá nhân, nhóm cá nhân trong 12 tháng với mức tài trợ 30.000 đô la và 75% tổng vốn đầu tư. Hợp phần hai là các tiểu dự án nâng cấp ứng dụng công nghệ và thương mại hóa sản phẩm công nghệ mới gồm hai loại: 1. phát triển công nghệ mới thực hiện trong 24 tháng; 2. tiếp nhận và nâng cấp quy mô, thương mại hóa công nghệ, thực hiện trong 24 tháng, đều được cho vay đến 500.000 đô la và tối đa 50% vốn đầu tư.   Để nhận được những mức đầu tư ưu đãi về vốn này, các doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo cần đáp ứng được những điều kiện khá chặt chẽ và cụ thể của dự án: các công nghệ đang áp dụng trong nước hoặc quốc tế, có tiềm năng ứng dụng với chi phí hợp lý, thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu của người có thu nhập thấp, có sự hợp tác giữa nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, các đối tác trong nước, quốc tế, công nghệ tiên tiến có tiềm năng cạnh tranh trong nước và quốc tế. Do thời gian thực hiện tối đa 24 tháng nên dự án chỉ lựa chọn những doanh nghiệp đã có sản phẩm thực tế chứ không dành cho đối tượng khởi nghiệp. Trong quá trình thực hiện, dự án sẽ hỗ trợ chi phí bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các đối tượng tham gia tiểu dự án có phát minh, sáng chế đổi mới công nghệ.  Hiện nay dự án đã nhận được hồ sơ đăng ký của các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học… từ 18 địa phương trên cả nước.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội phát triển cho công nghiệp phụ trợ ôtô      Công nghiệp phụ trợ ôtô Việt Nam đang dẫm chân tại  chỗ. Sau 20 năm hoạt động, số doanh nghiệp sản xuất linh kiện không phát  triển, tỷ lệ nội địa hoá chỉ đạt tới 5 – 10% và giới hạn vào các linh  kiện kỹ thuật thô sơ như ắc quy, dây điện, các chi tiết nhựa đơn  giản,… Vì sao?    Lý do thứ nhất là công nghiệp lắp ráp đã không giữ được vai trò đầu tầu, số lượng sản xuất quá thấp và quá phân tán ra nhiều hiệu xe và mẫu xe nên số lượng linh kiện không đủ quan trọng để xây dựng một cơ sở sản xuất tại chỗ. Lý do thứ hai là công nghiệp phụ trợ Việt Nam đã không hội nhập được vào dây chuyền sản xuất ô tô thế giới, hay đúng hơn Việt Nam chưa có kế hoạch với tầm vóc quy mô để phát triển lãnh vực này. Sơ đồ cấu trúc tổ chức công nghiệp ôtô dưới đây trình bầy những liên hệ mật thiết giữa các công nghiệp ôtô và phụ trợ, do đó hội nhập vào dây chuyền sản xuất của các công ty ôtô quốc tế là điều cần thiết để phát triển các ngành sản xuất phụ tùng.       Cơ hội đến từ ASEAN  Khi hàng rào thuế nhập bị bãi bỏ vào năm 2018, theo hiệp ước AFTA, công nghiệp ô tô Việt Nam khó có chỗ đứng, nhưng ngành phụ tùng thì có thể còn một cơ hội phát triển trong khuôn khổ của công nghiệp ô tô ASEAN, và cũng thuận lợi khi quan điểm xóa bỏ “quốc tịch” như ông Carlos Ghosn, Tổng Giám Đốc tập đoàn Renault-Nissan đã tuyên bố “Bất kể quốc tịch của các công ty cung cấp, miễn là các linh kiện đáp ứng những đòi hỏi về chất lượng, về giá và sự nhanh chóng trong giao hàng” Một ôtô “made in Japan” hôm nay có thể chứa 40% linh kiện sản xuất ở nước ngoài thay vì 20% ở thập niên trước . Như vậy công nghiệp phụ tùng ôtô Việt Nam có thể hội nhập nếu các sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Hay nói cách khác, “the ball is in our court”.    Vai trò của các doanh nghiệp tư nhân  Thành phần nồng cốt của công nghiệp phụ trợ ôtô là các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và trung bình nên mức độ cạnh tranh rất cao. Điển hình là trong thời gian qua, một số doanh nghiệp sản xuất phụ tùng Nhật quy mô nhỏ đầu tư vào Việt Nam và đã phát triển tốt vì biết tận dụng tối ưu những thuận lợi địa phương và cũng vượt qua được những khó khăn bởi những giới hận về nguyên vật liệu phụ thuộc vào nhập khẩu. Như vậy, xây dựng công nghiệp phụ trợ ôtô cần phải dựa trên những doanh nghiệp linh động như vậy vì hội nhập vào thị trường quốc tế có nghĩa là phải cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài, phải chấp nhận tham gia trận đấu mà trọng tài là thị trường và kỹ thuật chơi là tối ưu hóa. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, các doanh nghiệp vốn nhà nước không phải là những cầu thủ xuất sắc.   Kế hoạch phát triển công nghiệp phụ trợ    Bộ Công Thương đã đề ra một kế hoạch phát triển công nghiệp phụ trợ ôtô (xem Báo cáo Quy hoạch Phát triển Nghành Công nghiệp Ôtô Việt Nam đến năm 2020 với tầm nhìn 2030) bao gồm 2 giai đoạn:  Giai đoạn đến 2015: Chủ yếu Nhà Nước đầu tư vào các cơ sơ khoa học kỹ thuật có công nghệ, thiết bị hiện đại như khuôn mẫu, đúc gang thép quy mô lớn, cơ khí chuyên sâu gia công áp lực, gia công cơ khí có các dây chuyền công nghệ và đầu tư phát triển các cơ sở hiện có về sản xuất vật liệu kim loại, phi kim loại dùng cho sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô và các công nghệ nhiệt luyện,….   Giai đoạn: 2016-2020: Tăng cường nghiên cứu, thiết kế và hợp tác với nước ngoài để đến năm 2020 có thể sản xuất được các chi tiết, linh kiện quan trọng như: bộ phận truyền động, hộp số, lắp ráp một số loại động cơ cho dòng xe chủ lực và xe tải nhẹ. Khuyến khích phát triển mạnh các nhà sản xuất cấp 2, cấp 3 trong hệ thống cung ứng linh kiện, phụ tùng. Hình thành mạng lưới công nghiệp vật liệu theo định hướng cho công nghiệp hỗ trợ ô tô, từng bước giảm dần việc nhập khẩu nguyên liệu ban đầu.  Kế hoạch này đã giải đáp được một vấn đề cơ bản của công nghiệp ôtô Việt Nam là chưa có trình độ cao về các công nghệ cơ bản như khuôn mẫu, ép nhựa, đúc gang thép, dập, nhiệt luyện,… và còn thiếu các nguyên vật liệu chất lượng cao. Nhưng kế hoạch này chỉ thiết kế “phần cứng” nhưng chưa thiết kế “phần mềm” nghĩa là kế hoạch sử dụng những công nghệ này: sản xuất gì? cho thị trường nào? và ai đầu tư? …. Xây dựng một kế hoạch trên những vấn đề này cần phải có sự hợp tác giữa Nhà Nước với các giới ngành nghề và các doanh nhân có khả năng đầu tư.  Đầu tư theo ngành  Trong điều kiện khó khăn vì trình độ khoa học kỹ thuật còn yếu và vốn đầu tư thấp, Việt Nam nên đề ra những kế hoạch đầu tư tập trung theo ngành, hiệu quả và dễ thực hiện hơn. Để sản xuất một linh kiện có chất lượng cao và giá thành thấp có thể cạnh tranh trên thế giới, tất cả các mắt xích của dây chuyền từ thiết kế đến sản xuất phải tối ưu, từ nguyên vật liệu đến chế biến, bảo quản và logistic,….. phải xuất sắc.  Nếu không đủ khả năng đầu tư cùng lúc vào tất cả các mấu xích của tất cả các ngành, Việt Nam nên tập trung vào tất cả các mấu xích của vài ngành mà chúng ta có lợi thế. Là nước sản xuất cao su, chúng ta nên tập trung vào ngành sản xuất các sản phẩm chế biến từ cao su : Đầu tư vào công nghiệp chế biến cao su kỹ thuật (hỗn hợp cao su thiên nhiên với các cao su nhân tạo), sản xuất các khuôn mẫu ép cao su, có trình độ kỹ thuật điều hành các máy chế biến,….Và Việt Nam cũng có nhiều “atout” trong các lãnh vực khác như plastic kỹ thuật, điện và điện tử,… Nhưng chọn ngành đầu tư phải dựa trên nhu cầu thị trường và khả năng đầu tư của các doanh nghiệp.   Vai trò của Nhà nước  Tìm hiểu sự phát triển công nghiệp ôtô Nhật và Hàn Quốc, chúng ta thấy vai trò của Nhà Nước, trong giai đoạn đầu, vô cùng quan trọng, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc về tư nhân, ngoại trừ Nissan thuộc về chính phủ, nhưng năm 1998, chính phủ Nhật đã phải nhường cho Renault làm cổ đông chính để điều khiển Nissan và đã đưa Nissan thoát ra khỏi tình trạng phá sản. Để đạt kết quả hôm nay, các Nhà Nước Nhật và Hàn Quốc đã chỉ giữ vai trò lãnh đạo, đề ra chính sách, tìm hiểu thị trường thế giới, đào tạo nhân lực,… nhưng không làm kinh tế, lãnh vực dành cho các doanh nghiệp tư nhân, linh động và hiệu quả hơn. Tiêu biểu nhất là vai trò của MITI (Ministry of International Trade and Industry) trong những thập niên 60/70 của thế kỷ trước, đã dìu dắt các doanh nghiệp ôtô Nhật trên đường chinh phục thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội sử dụng máy sắc ký ghép khối phổ chất lượng cao, giá thành rẻ tại Việt Nam      Trong seminar ngày 16/11/2018 tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, ông Henry Bùi – CEO công ty KH&CN Hoàn Vũ, đã giới thiệu thiết bị máy sắc ký ghép khối phổ GC – QMS do ông thiết kế và lắp đặt có chất lượng và độ chính xác tương đương các thiết bị cùng loại nhưng giá thành rẻ 5, 6 lần.      Seminar về thiết bị máy sắc ký ghép khối phổ GC – QMS là bước khởi đầu cho việc hợp tác giữa Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam với công ty Hoàn Vũ để triển khai ứng dụng thiết bị máy ký ghép khối phổ GC – QMS. Ảnh: Thanh Nhàn  Là một kỹ sư tốt nghiệp trường đại học Stanford, Mỹ, ông Henry Bùi đã có kinh nghiệm gần 30 năm trong lĩnh vực thiết kế thiết bị khối phổ. Khi trở về Việt Nam cách đây 3 năm, ông nhận thấy, hạn chế về kinh phí đầu tư nên Việt Nam ít có cơ hội sử dụng những thiết bị máy móc hiện đại, đặc biệt là máy sắc ký ghép khối phổ, dù những thiết bị này rất hiệu quả trong quá trình phân tích kiểm tra chất lượng hàng hóa, nông sản, thủy hải sản, thực phẩm, dược phẩm… Hầu hết các thiết bị này đều có mức giá trung bình từ 100.000 – 200.000 USD. Trong khi đó, sản phẩm máy sắc ký ghép khối phổ GC – QMS do ông thiết kế và lắp đặt lại hội tụ nhiều ưu điểm: kích thước nhỏ gọn chỉ bằng 1/3 so với máy thông thường, giá thành khoảng 30.000 USD nhưng vẫn đạt độ chính xác tương đương, “trên 90%”, ông Henry Bùi cho biết.  Trước những câu hỏi về tính năng của thiết bị, thời gian phân tích và giá thành phân tích khi làm xét nghiệm thực tế của ông Đặng Thanh Lương, nguyên Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ KH&CN) và việc đảm bảo thông số kỹ thuật khi mua các thiết bị phần cứng có sẵn trên thị trường để lắp ráp lại thành thiết bị có kích thước nhỏ gọn hơn của ông Nguyễn Mạnh Thắng (Trung tâm chiếu xạ Hà Nội, Viện NLNTVN), ông Henry Bùi cho biết, ông có những giải pháp kỹ thuật để xử lý và tối ưu quy trình nhưng vẫn đảm bảo chất lượng thiết bị không thua kém những sản phẩm uy tín trên thị trường hiện nay.  TS. Trần Chí Thành – Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam – cho biết, buổi seminar này là bước giới thiệu và gợi mở để Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và các đơn vị thành viên hướng tới hợp tác với công ty Hoàn Vũ để triển khai ứng dụng thiết bị máy ký ghép khối phổ GC – QMS trong kiểm tra virus HP – một trong những nguyên nhân góp phần gây ra bệnh ung thư dạ dày, trước khi mở rộng ứng dụng trong phân tích các chỉ số trong môi trường cũng như thực phẩm.    Author                Thanh An        
__label__tiasang Cơ hội tham gia khóa huấn luyện của Quỹ Newton dành cho nhà sáng chế      Quỹ Newton Việt Nam đang tìm kiếm 14 ứng viên cho khóa  đào tạo “Hỗ trợ thương mại hoá kết quả nghiên cứu của nhà khoa học” kéo  dài hai tuần tại Vương quốc Anh.       Trong khuôn khổ Quỹ Newton Việt Nam, Cục Phát triển thị  trường và Doanh nghiệp KH&CN (NATEC), Bộ KH&CN phối hợp với Viện  Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia Anh (Royal Academy of Engineering) kêu gọi  các nhà khoa học, các nhà sáng chế Việt Nam có sản phẩm sáng tạo có tiềm  năng thương mại hóa nộp hồ sơ tham gia chương trình “Hỗ trợ thương mại  hoá kết quả nghiên cứu của nhà khoa học” (Chương trình LIF).   Chương trình có ba giai đoạn, tập huấn cho 14 nhà sáng chế về những kỹ năng cần thiết để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và tăng cường hợp tác quốc tế cho các nhà sáng chế và doanh nghiệp công nghệ. Các nhà sáng chế sẽ được tập huấn tại Anh trong hai tuần và tham gia các hoạt động kết nối thành viên LIF trong khu vực Đông Nam Á. Sau khi trở về, họ sẽ tiếp tục được NATEC hỗ trợ bởi hoàn thiện kế hoạch kinh doanh.   Các ứng viên muốn nộp hồ sơ tham dự chương trình cần đáp ứng tối thiểu các yêu cầu sau: Có quốc tịch Việt Nam, hiện đang cư trú và làm việc tại Việt Nam; là nhà nghiên cứu làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian tại các viện nghiên cứu, trường Đại học hoặc là nhà nghiên cứu độc lập; có sản phẩm, công nghệ hoặc dịch vụ sáng tạo, dựa trên nền tảng nghiên cứu kỹ thuật, có tiềm năng thương mại hoá và đang trong giai đoạn xây dựng kế hoạch kinh doanh. Chương trình không giới hạn lĩnh vực nghiên cứu của các ứng viên, tuy nhiên, ưu tiên dành cho các nghiên cứu trong những lĩnh vực: Y tế và khoa học sự sống, nông nghiệp, phục hồi môi trường và an ninh năng lượng, đô thị hoá/thành phố tương lai, kỹ thuật số và các giải pháp sáng tạo nói chung.   Các nhà khoa học, các nhà sáng chế Việt Nam không chỉ có cơ hội thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu của mình mà còn tăng cường hợp tác quốc tế trong năm 2015-2016 với chương trình “Hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học” (Chương trình LIF) của Quỹ Newton.   Chi tiết hồ sơ xem thêm tại:  http://www.most.gov.vn/Desktop.aspx/Thong_bao/Thong-bao/Quy_Newton_Viet_Nam_thong_bao_moi_nop_ho_so_chuong_trinh_Ho_tro_thuong_mai_hoa_ket_qua_nghien_cuu_cua_nha_khoa_hoc-Leaders_in_Innovation_Fellowships_2/           Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội từ chiếc điện thoại di động      Trong khi không ít chuyên gia và nhà khoa học hiện nay vẫn đang kêu gọi thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần mềm máy tính ở Việt Nam, thì Nguyễn Xuân Tài – Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ Thông tin Naiscorp– lại cho rằng cơ hội phát triển ngành này đã qua, khi mà “sản lượng máy tính đã giảm 30% trong vòng từ 2009 đến nay, và sẽ còn giảm nữa”. Vì vậy, theo anh, chỉ còn một cơ hội phát triển ngành phần mềm ở Việt Nam, đó là ứng dụng trên điện thoại di động.      Điện toán đám mây và hồi kết cho một chu kỳ thịnh vượng của PC?  Trong thời kỳ đầu tiên, máy tính hoạt động theo cách điện toán tập trung, trong đó mọi dữ liệu và phép tính được thực hiện tại một main-frame, trong khi người dùng truyền lệnh và xem kết quả thông qua terminal gồm màn hình và bàn phím. Sau thời kỳ điện toán tập trung là thời kỳ điện toán phân tán ra các máy tính cá nhân, bắt đầu từ thập kỷ 1980 tới tận sau những năm 2000. Khi ấy, người ta từng nghĩ không cần main-frame và điện toán tập trung nữa mà chỉ cần các server.   Nhưng thực tế cho thấy xu hướng phát triển công nghệ thông tin trên thế giới càng ngày càng cá nhân hóa hơn. Trong khi đó, máy tính cá nhân lại không có được sự nhỏ gọn như điện thoại di động để đi đâu cũng mang theo được. Con người không thể luôn mang theo một vật nặng như PC, trong khi họ cần một dung lượng lớn dữ liệu bên mình.   Đây chính là thời kỳ cuộc cách mạng lại quay vòng trở lại với mô hình cũng là điện toán tập trung, nhưng ở một bước phát triển cao hơn, tức điện toán đám mây. Đám mây tương tự như main-frame, là nơi lưu giữ mọi dữ liệu và xử lý mọi phép tính. Điều này giúp điện thoại di động phát huy tối đa lợi thế của nó.   “Mỗi một thiết bị điện thoại, bản thân nó là một cái máy tính”, theo nhận xét của Nguyễn Xuân Tài, “thậm chí điện thoại bây giờ có thể mạnh gấp 3 lần máy tính năm 1999”. Tiến bộ công nghệ khiến xu hướng phát triển nghiêng về phía điện thoại và các thiết bị di động là không thể cưỡng lại. Mỗi một thiết bị như iPad, Galaxy Tab, iPhone và các máy điện thoại Android v.v, đều là những terminal của đám mây. Các hãng công nghệ lớn như Apple tích hợp thẳng đám mây vào điện thoại iPhone 4S, đặt tên là iCloud. Xu hướng phổ biến này của thế giới là tất yếu. Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã có một vài chương trình liên quan đến tích hợp đám mây trong khuôn khổ KC 01.    Tận dụng thời cơ  Naiscorp là một công ty nhỏ và vừa đi tiên phong trong việc áp dụng điện toán đám mây. Từ năm 2007 họ đã cho ra một phần mềm tìm kiếm trên điện thoại di động mang tên Socbay Mobile Search. Ban đầu, đây chỉ là một giao diện kết nối tới server cho phép người sử dụng gửi câu hỏi truy vấn qua phần mềm này trên điện thoại, đồng thời nhận kết quả cũng trên điện thoại sau khi tất cả được xử lý trên các đám mây.   Giám đốc Nguyễn Xuân Tài khẳng định rằng người sử dụng Socbay Mobile Search có thể cảm thấy tốc độ của nó rất nhanh, do Naiscorp đã sử dụng một công nghệ đặc biệt do họ tự thiết kế. Tới nay, phần mềm của công ty đã phát triển tới phiên bản thứ tư, có tên gọi Socbay iMedia, đạt tổng cộng 9 triệu lượt tải trong nước và 200 nghìn lượt tải từ nước ngoài.   Thành công của Naiscorp – một doanh nghiệp trẻ được thành lập từ năm 2006 xuất phát từ ý tưởng của năm sinh viên mới tốt nghiệp Đại học Bách Khoa – là một bất ngờ. Phần mềm tìm kiếm bằng tiếng Việt trên điện thoại di động của họ khi mới ra đời (2007-2008) dù nhận những lời khen ngợi của giới công nghệ thông tin cũng như các giải thưởng trong nước cho tính sáng tạo và chất lượng sản phẩm, nhưng đa số đều nghi ngờ tính khả thi khi áp dụng vào thực tế kinh doanh. Ít người tin vào triển vọng thành công ở Việt Nam của một phần mềm nội địa, trong đó buộc người sử dụng phải bỏ tiền mua1, phải cài đặt vào điện thoại di động, trong khi phí GPRS tại thời điểm ấy còn rất cao.          Hệ sinh thái dành cho điện thoại di động                               Một điện thoại thông minh gồm có 2 phần : phần cứng là thiết bị, và phần mềm là hệ điều hành phục vụ cho các nhu cầu của con người. Nhà sản xuất điện thoại không thể chế tạo riêng các phần mềm cho từng nhu cầu mỗi cá nhân. Thay vào đó, người sử dụng tự mua các phần mềm mà mình có nhu cầu qua một hệ sinh thái, gọi là mobile system. Đây là khái niệm mới với thế giới nhưng người Nhật Bản đã có từ cách đây 13 năm. Apple hay bất kỳ hãng sản xuất điện thoại thông minh nào trên thế giới đều học theo hệ thống này của Nhật Bản. Hệ thống sinh thái (eco system) dành cho điện thoại di động xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản bao gồm nhà mạng (network operator), nhà sản xuất thiết bị, và nhà cung cấp nội dung. Trong hệ sinh thái đó, người sử dụng sẽ bị buộc vào, họ vừa phải mua thiết bị, vừa sử dụng phần mềm trên điện thoại, trả tiền cho nhà cung cấp cũng như các nhà mạng.              Có thể coi hệ sinh thái xoay quanh điện thoại di động là một thế chân vạc giữa nhà sản xuất thiết bị, nhà mạng, và nhà cung cấp nội dung, vì các bên đều cần đến nhau một cách mật thiết, và không bên nào có thể đảm nhiệm hết được phần việc của bên kia. Đây chính là yếu tố giúp đảm bảo các nhà cung cấp nội dung cho điện thoại di động một cơ hội kinh doanh lâu dài.                                               Nguyễn Xuân Tài – CEO của Naiscorp          Tuy nhiên, nhóm của Nguyễn Xuân Tài vẫn kiên định theo đuổi mục tiêu của mình. Quan điểm của họ là xu hướng gia tăng sử dụng các phần mềm trên điện thoại di động không thể bị đảo ngược vì tính tiện dụng và gắn kết cao của thiết bị với cá nhân người sử dụng. Đặc biệt, như Tài cho biết, vào thời điểm ấy họ đã có niềm tin chắc chắn rằng internet tất yếu sẽ sớm phổ cập cho điện thoại di động ở Việt Nam, bởi vì “internet là một tiện ích phục vụ nhu cầu cơ bản của con người, giống như sóng điện thoại”.    Thực tế chứng minh rằng Tài và nhóm Naiscorp đã đúng. Chỉ trong vòng một tháng đầu tiên sau khi ra mắt, sản phẩm của họ đạt 20 nghìn lượt tải, dù giá của mỗi lượt tải là 15 nghìn VND. Đây là động lực ban đầu rất đáng kể để nhóm tiếp tục phát triển sản phẩm của mình. Theo Tài thì phần mềm tìm kiếm của nhóm đã đáp ứng đúng theo tiêu chí đặt ra từ đầu là “phục vụ tất cả mọi người, hằng ngày, ở ngay trong túi, đáp ứng nhu cầu tìm kiếm, chia sẻ thông tin một cách nhanh nhất”. Vì vậy, Naiscorp đã nhanh chóng giành được các hợp đồng với các nhà mạng, với những sản phẩm như M- Search cho Mobile Phone, Vina- Search cho Vina phone, hay VTC iMedia (sản phẩm hợp tác giữa Naiscorp và VTC Intercom) và Socbay Mobile Search. Xoay quanh sản phẩm cốt lõi là công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt, hiện nay Naiscorp đã mở rộng ra 13 phần mềm khác nhau.  Thành công của Naiscorp không chỉ được biết đến trong nước mà còn được quốc tế quan tâm. Tháng 5 năm 2011 vừa qua, Naiscorp là một trong 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa ưu tú trên thế giới được InfoDev – một chương trình hợp tác toàn cầu của Ngân hàng Thế giới có chức năng hỗ trợ các quốc gia trong cải tiến, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, xóa đói giảm nghèo – ghi nhận, và sau đó trao giải thưởng Top 20 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn cầu do InfoDev bình chọn.   Chìa khóa tri thức và những nỗ lực đúng hướng  Việc một doanh nghiệp trẻ được thành lập bởi năm sinh viên mới ra trường, chỉ sau 5 năm đã trở thành doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đứng trong danh sách 20 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới được InfoDev tôn vinh đã thể hiện sự nhạy bén trong lựa chọn định hướng phát triển công ty.           Naiscorp trong số 20 doanh nghiệp từ khắp nơi trên thế giới được InfoDev bình chọn trong Top 20 SME           Đối với một doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm công nghệ như Naiscorp, mọi định hướng phát triển đều phải dựa trên một nền tảng tri thức và lao động nghiêm túc. Sản phẩm chiến lược của công ty, công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt, là kết quả nghiên cứu của năm thành viên sáng lập – Nguyễn Xuân Tài, Hồ Minh Đức, Lê Văn Hùng, Đinh Nho Nam, Nguyễn Hoàng Trung – từ năm 2002, khi họ còn là sinh viên đại học. Dự án này đã đủ sức thuyết phục được tập đoàn IDG Venture đầu tư2, chỉ một tháng sau khi doanh nghiệp Naiscorp ra đời. Và chỉ hai tháng sau đó, Naiscorp đã khẳng định được sự đầu tư của IDG Venture là xứng đáng, khi công nghệ xử lý tiếng Việt của Naiscorp được Google quan tâm tiếp cận.  Không dừng lại với những thành công đã đạt được, Naiscorp vẫn tiếp tục nỗ lực đổi mới, mà điển hình là việc quyết định chuyển hướng sang làm ứng dụng phần mềm trên điện thoại di động vào năm 2008, trong bối cảnh lĩnh vực này ở Việt Nam khi đó hầu như chưa có.   “Có thể nói, đó là thời điểm rất sớm, sớm nhất trong các công ty về online. Chúng tôi không thể đấu được với Google [trong lĩnh vực phát triển công cụ tìm kiếm trên máy tính], chính vì vậy, chúng tôi tìm cơ hội trên điện thoại di động”, Tài cho biết.  Sự nhạy bén và không ngại đột phá của Naiscorp đã giúp doanh nghiệp nhỏ này đi trước các doanh nghiệp khác của Việt Nam tới hai năm. Phải tới năm 2010 trên thị trường mới bắt đầu xuất hiện các công ty khác phát triển phần mền trên điện thoại di động, như Felix Studios hay Tinh Vân, bên cạnh các nhà mạng và ông lớn về công nghệ thông tin ở Việt Nam như FPT.   Nhưng theo giám đốc Nguyễn Xuân Tài, “hoạt động kinh doanh ứng dụng trên Internet luôn có một nguyên tắc là người đi đầu là người nhận được sự chú ý, lợi thế nhất định. Naiscorp đã đi trước các đổi thủ cạnh tranh 2 năm trên thị trường, đó là một lợi thế về kinh nghiệm rất quý báu cho công ty tại Việt Nam”. Đối với các đối thủ quốc tế mới xuất hiện như Snaptu, Tài tỏ ra khá tự tin, cho rằng họ không thể cạnh tranh được với Naiscorp về phát triển và ứng dụng công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt.            Đa số nhân viên của Naiscorp đều còn rất trẻ          Tuy nhiên, cũng theo Tài, để duy trì lợi thế thì “người đi đầu phải luôn chuyển động, luôn phát triển con đường mình đã và đang theo đuổi”, tức là liên tục tìm cách đổi mới, bổ sung cho tri thức của mình.  Cần nhìn xa hơn lợi ích của cá thể riêng lẻ  Theo Nguyễn Xuân Tài, một  điểm yếu cơ bản của cộng đồng các nhà cung cấp ứng dụng trên điện thoại di động ở Việt Nam là chưa đủ mạnh để tạo thành thế chân vạc với nhà sản xuất thiết bị nước ngoài và nhà mạng trong nước. Họ làm việc chủ yếu một cách riêng lẻ, sức mạnh bị phân tán, vì thế khả năng hợp tác cùng phát triển và tận dụng các cơ hội bị hạn chế đáng kể. Hệ quả là còn nhiều nhu cầu tiện ích của người sử dụng vẫn đang để ngỏ chưa được đáp ứng và khai thác.  Trong khi đó, trên thế giới đã có những cộng đồng các nhà cung cấp ứng dụng trên điện thoại di động trong đó các thành viên hợp tác tương trợ lẫn nhau. Ví dụ như Mobile Monday, một cộng đồng các chuyên gia, những người yêu thích sáng tạo ứng dụng trên điện thoại di động ở 124 lãnh thổ và thành phố trên thế giới. Với mục tiêu xây dựng một cộng đồng nhà cung cấp ứng dụng trên điện thoại di động ở Việt Nam, Naiscorp đã đứng ra đóng vai trò là đại diện của Mobile Monday ở Việt Nam. Bắt đầu từ tháng 9 tới nay, Naiscorp đã tham gia tổ chức 3 buổi gặp mặt của Mobile Monday tại Hà Nội và Sài Gòn, và dự kiến cuối tháng 12 này sẽ tổ chức chương trình tiếp theo.   Một khi đã hình thành nên một cộng đồng mạnh, Naiscorp dự kiến sẽ hợp tác với các nhóm khác đề cùng tìm các cơ hội phát triển. Với kinh nghiệm của mình, công ty sẽ đóng vai trò phân phối lại phần mềm ứng dụng trên điện thoại di động của các nhóm khác, hoặc cùng hợp tác tạo ra những sản phẩm đáp ứng các nhu cầu của xã hội.  Theo nhận định của Tài, các sản phẩm ứng dụng trên điện thoại di động của Việt Nam đa phần vẫn là các tiện ích giải trí, chưa có những dòng sản phẩm mang ý nghĩa kinh tế xã hội đáng kể. Trên phương diện này, Tài cho rằng Việt Nam không cần phải học đâu xa, mà hãy học hỏi kinh nghiệm ở chính những quốc gia có điều kiện gần với Việt Nam, ví dụ như Kenya. Kenya có tiềm lực kinh tế khá khiêm tốn, nhưng ngành công nghiệp phần mềm trên điện thoại di động lại rất phát triển, với những sản phẩm được châu Âu hết sức quan tâm. Đặc biệt theo Tài cho biết, ứng dụng phần mềm trên điện thoại di động ở đây có sự gắn kết mật thiết với thực tế đời sống, hỗ trợ đắc lực cho nông dân trong kinh doanh và sản xuất. Điển hình như phần mềm M-Farm giúp nông dân Kenya có thể theo dõi chính xác giá cả nông phẩm ở các địa phương khác nhau, thậm chí giúp họ kết nối, cùng nhau xây dựng kế hoạch và triển khai mua nguyên liệu đầu vào, bán sản phẩm đầu ra, đảm bảo được lợi ích tối ưu cho nông dân và tăng sự thuận tiện cho các đại lý và khách hàng.  Những thành công đầy tính thiết thực ở Kenya có thể cho thấy còn rất nhiều cơ hội từ chiếc điện thoại di động mà các nhà cung cấp phần mềm ở Việt Nam có thể tận dụng, nếu như chúng ta có thêm những doanh nghiệp nhỏ và vừa với sự chủ động đầu tư phát triển bài bản đúng hướng như Naiscorp, đặc biệt là khi họ có ý thức hợp tác kết nối sức mạnh để cùng xây dựng một cộng đồng đa năng linh hoạt, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu hiện nay của thực tế đời sống.                                P.V  ——————–  1 Bắt đầu từ năm 2009 phần mềm Socbay iMedia cho phép người sử dụng tải miễn phí  2 Tham khảo bài đã đăng trên Tia Sáng:  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=43&News=3361    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội và thách thức của công nghệ số, chuyển đổi số tại Việt Nam      Công nghệ số, chuyển đổi số là một trong những phương tiện quan trọng giúp thúc đẩy nhanh Cách mạng công nghệ 4.0.      Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Nguyễn Minh Hồng sẽ nói về cơ hội và thách thức của công nghệ số, chuyển đổi số tại Việt Nam trong buổi hội thảo – Ảnh: Internet  Ngày 31.8 tới đây, Hội truyền thông số Việt Nam (VDCA) phối hợp với Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện Công nghệ phần mềm và nội dung số Việt Nam, Hội tin học TP. Hồ Chí Minh sẽ tổ chức buổi hội thảo với nội dung chính là chủ đề “Công nghệ số, chuyển đổi số tại Việt nam trong cách mạng công nghệ 4.0: cơ hội và thách thức”.  Tại hội thảo này, những chuyên gia hàng đầu về công nghệ, truyền thông số, kinh tế trong nước sẽ bàn về những cơ hội cũng như thách thức của công nghệ số, chuyển đổi số tại Việt nam trong cách mạng công nghệ 4.0.  Rõ ràng là Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn như TPP-11, FTA với EU, Liên minh kinh tế Á – Âu… thì việc vận dụng công nghiệp 4.0 vào quá trình sản xuất kinh doanh cũng sẽ mang đến cho doanh nghiệp không ít cơ hội lẫn thách thức.  Ban tổ chức hội thảo cho biết họ hy vọng với những tư vấn của mình, các doanh nghiệp có thể định hướng cho mình được cách đón đầu sự thay đổi như thế nào, nhằm tận dụng tối đa lợi thế của sự phát triển công nghệ trong thời đại mới.  Bên cạnh việc đưa ra bức tranh toàn cảnh về những cơ hội, thách thức trong lĩnh vực công nghệ số, Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông – Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam – Trưởng Ban chỉ đạo giải thưởng công nghệ số Vietnam Digital Awards 2018, ông Nguyễn Minh Hồng sẽ có những chia sẻ ý nghĩa và tầm quan trọng của giải thưởng VDA 2018 cũng như công bố giới thiệu giải thưởng này.  Giải thưởng Công nghệ số Việt Nam 2018 (Vietnam Digital Awards 2018) là Giải thưởng thường niên của VDCA nhằm tôn vinh, trao tặng Giải thưởng cho đơn vị, cá nhân đã có sự xuất sắc và đổi mới trong việc cung cấp hoặc ứng dụng công nghệ số để cải thiện trải nghiệm của khách hàng góp phần thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số, phát triển kinh tế số tại Việt Nam.  Thiên Hà (Motthegioi)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam      Cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học – công nghệ và năng lực cạnh tranh là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam khi ASEAN nhảy vọt từ nấc Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) lên nấc thang Liên minh Kinh tế AEC.    Ngày 20/11/2007 tại Singapore, lãnh đạo 10 nước ASEAN đã quyết định thay đổi Nghị quyết của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 2003 ở Bali dự kiến sẽ thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2020 bằng cách đẩy việc thành lập Cộng đồng này sớm hơn năm năm, vào cuối năm 2015. Rõ ràng quyết định này nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của cả khối ASEAN trước sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc, tạo ra một nền sản xuất và thị trường thống nhất của 600 triệu dân với GDP đạt 1.900 tỷ USD.  Như vậy, theo sơ đồ dưới đây của B.Balassa về các nấc thang của quá trình hội nhập, ASEAN đã nhảy vọt từ nấc thang hiện nay là Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)  lên nấc thang Liên minh Kinh tế AEC, một bước chuyển đổi mà Liên minh châu Âu (EU) đã cần đến 50 năm.       Song, trên thực tế, theo những cam kết đã được công bố, AEC mới chỉ vượt qua được mức Liên minh thuế quan và có một số yếu tố của thị trường chung theo sơ đồ trên đây, chưa có chính sách kinh tế chung và cũng chưa có các cơ quan liên quốc gia như EU. Vì vậy, khái niệm Cộng đồng kinh tế có thể tạo ra sự nhầm lẫn hay ảo tưởng như một Liên minh Kinh tế nhưng thực tế không phải như vậy và có nhiều chỉ dấu cho thấy ASEAN sẽ không lặp lại mô hình có đồng tiền chung của EU.   Từ năm 1993, Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) đã được thành lập, các nước ASEAN-6 (Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Brunei) đã hầu như hoàn tất lộ trình cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan của họ nên không còn không gian đáng kể nào thêm cho tự do hóa thương mại giữa các nền kinh tế ASEAN-6. Còn với AEC, bốn nước thành viên mới CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) có nền kinh tế kém phát triển hơn, hội nhập chậm hơn, sẽ phải cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan cho hàng hóa và dịch vụ từ các nước ASEAN khác mà chủ yếu và thực chất là từ các nền kinh tế phát triển hơn của ASEAN-6. Đây là cơ hội mà các nước ASEAN-6 đang nóng lòng chờ đợi, vì họ có thể mở rộng thị trường, tận dụng lao động và tài nguyên giá rẻ ở bốn nước CLMV. Báo chí ở các nước đó gần đây đã lên tiếng bày tỏ lo ngại về “sự chuẩn bị chậm chạp” cũng như “biểu hiện thiếu quyết tâm” thực hiện đầy đủ các cam kết AEC ở bốn nước CLMV.  Cơ hội cho tự do dịch chuyển lao động?  Để thực hiện cam kết có tính mới và đột phá về “tự do dịch chuyển của lao động có chứng chỉ đào tạo”, 10 nước ASEAN đã thống nhất công nhận giá trị tương đương của chứng chỉ đào tạo của mỗi nước thành viên đối với tám loại nghề nghiệp: bác sỹ, nha sỹ, hộ lý, kỹ sư, kiến trúc sư, kiểm toán viên, giám sát viên và nhân viên du lịch. Song, mỗi nước có quyền áp đặt những quy định của nước sở tại đối với sự dịch chuyển lao động này vào nước họ. Thí dụ như lao động đến hành nghề ở Thái Lan sẽ phải trải qua kỳ thi viết bằng tiếng Thái để chứng tỏ trình độ ngôn ngữ. Qua được kỳ thi này, bác sỹ có thể được làm việc cùng đồng nghiệp Thái trong bệnh viện, song,  nếu muốn mở phòng mạch tư hay văn phòng riêng sẽ phải trải thêm một kỳ thi sát hạch về luật pháp Thái viết bằng tiếng Thái. Kiểm toán viên cũng phải trải qua kỳ thi bằng tiếng Thái về luật pháp và hệ thống thuế không đơn giản của Thái Lan. Một giáo sư Thái Lan đã thẳng thắn bộc bạch trong trao đổi riêng tư, cơ hội cho lao động Việt không được đào tạo ở Thái Lan là vô cùng thấp. Có thể dự báo các nước khác cũng sẽ có những quy định tương tự, làm cho tác động thực tế của dịch chuyển lao động sẽ thua xa Liên minh châu Âu. Cho đến nay chưa thấy các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam có bất kỳ công bố nào về các điều kiện tương tự cho dịch chuyển lao động vào Việt Nam.  Về lý thuyết, các lao động có tay nghề cao từ các nước ASEAN-6 có thể tràn vào các vị trí bốn nước CLMV và hệ lụy về xã hội của một sự xáo trộn như vậy trong tương lai có thể sẽ phức tạp và không thể xem thường. Các nước EU đã phải trưng cầu dân ý trước khi thực hiện các cam kết tương tự để chuẩn bị trước dư luận, trước những diễn biến bất lợi có thể xảy ra.  Trước thách thức và cơ hội cạnh tranh với lao động các nước ASEAN khác, Việt Nam có lợi thế về nguồn lao động trẻ đông đảo, khéo tay, học nhanh và làm việc chăm chỉ nếu được trả lương tương xứng. Tuy nhiên lao động Việt Nam có nhược điểm là rất kém về kỷ luật lao động, kỹ năng sống và sẵn sàng chuyển việc nếu được hứa hẹn tiền lương cao hơn nơi đang làm. Trình độ chuyên môn và kỹ năng của lao động trong nước đa số chưa cao, đòi hỏi về lâu dài ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam phải thay đổi mạnh mẽ để nâng cao chất lượng đào tạo lao động.  Nhiều thách thức   Cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, kể cả doanh nghiệp tư nhân và nông nghiệp, nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam khi gia nhập AEC. Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố cho năm 2014-2015 ở mức rất khiêm tốn và ít có cải thiện từ nhiều năm nay.    Nghiêm trọng hơn, theo những đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong báo  cáo này, xếp hạng về thể chế của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với xếp hạng về kinh tế như bảng dưới cho thấy.     Xếp hạng thể chế của Việt Nam (Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới):             Chỉ tiêu      Xếp hạng trên 144 nước      Điểm số (1-7 là cao nhất)          Thể chế      92      3.5          Thể chế công      85      3.5          Luật về sở hữu      104      3.4          Chi phí ngoài pháp luật và đút lót cho xuất, nhập khẩu      109      3.2          Chi phí ngoài pháp luật và đút lót cho nộp thuế hàng năm      121      2.6          Chi phí ngoài pháp luật và đút lót để nhận được kết quả tư pháp thuận lợi      104      3.5          Hiệu quả của Chính phủ      117      2.9          Gánh nặng của Chính phủ      91      3.2          Gánh nặng của quy định của Chính phủ      101      3.1          Tính minh bạch của quá trình soạn thảo chính sách của Chính phủ      116      3.5             Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872 giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân của dịch vụ đó ở các nước ASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm.    Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu nằm ở lao động giá rẻ với các ngành dệt-may, da-giày và một số nông sản như hồ tiêu, cà phê, thủy-hải sản, nhưng đa số các nước ASEAN khác cũng chú trọng vào các ngành này – ngoại trừ Singapore là nước nhập khẩu toàn bộ nông sản và các sản phẩm dệt may, da giày – dẫn tới sự cạnh tranh không tránh khỏi, như cạnh tranh với Thái Lan và Campuchia về gạo, dệt-may, da giày v.v.    Để đón nhận AEC, các nước ASEAN-6 đã đua nhau đầu tư vào các chuỗi bán lẻ ở Việt Nam. Thái Lan đã mua lại Metro, Malaysia có chuỗi siêu thị Parkson và chắc chắn rằng khi AEC có hiệu lực, thuế suất nhập khẩu vào Việt Nam bằng không, thì các siêu thị đó sẽ đưa hàng hóa của nước họ chiếm lĩnh thị trường nội địa Việt Nam. Lúc đó, không chỉ hàng công nghiệp mà hàng nông sản của Việt Nam cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Kịch bản xấu là người Việt Nam sẽ chỉ còn làm thuê cho công ty nước ngoài và doanh nghiệp và nông dân Việt Nam sẽ thua ngay trên sân nhà.   Gần đây, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về hàng điện tử và điện thoại di động thông minh Galaxy của Samsung nhưng đó là những mặt hàng lắp ráp của những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà giá trị gia tăng trên lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 10% giá trị xuất khẩu. Chúng ta cần ý thức rõ hạn chế này để không tự huyễn hoặc mình bằng giá trị xuất khẩu cao của các sản phẩm này.   Nghiêm trọng hơn, theo những đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong báo cáo này, xếp hạng về thể chế của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với xếp hạng về kinh tế như bảng trên cho thấy.  Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872 giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân của dịch vụ đó ở các nước ASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm.   Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu nằm ở lao động giá rẻ với các ngành dệt-may, da-giày và một số nông sản như hồ tiêu, cà phê, thủy-hải sản, nhưng đa số các nước ASEAN khác cũng chú trọng vào các ngành này – ngoại trừ Singapore là nước nhập khẩu toàn bộ nông sản và các sản phẩm dệt may, da giày – dẫn tới sự cạnh tranh không tránh khỏi, như cạnh tranh với Thái Lan và Campuchia về gạo, dệt-may, da giày v.v.   Để đón nhận AEC, các nước ASEAN-6 đã đua nhau đầu tư vào các chuỗi bán lẻ ở Việt Nam. Thái Lan đã mua lại Metro, Malaysia có chuỗi siêu thị Parkson và chắc chắn rằng khi AEC có hiệu lực, thuế suất nhập khẩu vào Việt Nam bằng không, thì các siêu thị đó sẽ đưa hàng hóa của nước họ chiếm lĩnh thị trường nội địa Việt Nam. Lúc đó, không chỉ hàng công nghiệp mà hàng nông sản của Việt Nam cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Kịch bản xấu là người Việt Nam sẽ chỉ còn làm thuê cho công ty nước ngoài và doanh nghiệp và nông dân Việt Nam sẽ thua ngay trên sân nhà.  Gần đây, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về hàng điện tử và điện thoại di động thông minh Galaxy của Samsung nhưng đó là những mặt hàng lắp ráp của những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà giá trị gia tăng trên lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 10% giá trị xuất khẩu. Chúng ta cần ý thức rõ hạn chế này để không tự huyễn hoặc mình bằng giá trị xuất khẩu cao của các sản phẩm này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội xuất khẩu trị giá hàng nghìn tỷ đô của ngành công nghiệp điện hạt nhân Hoa Kỳ      Báo cáo mới đây của Công ty UxC – (The Uranium Exchange Company) là một trong những công ty phân tích và nghiên cứu thị trường hàng đầu của ngành công nghiệp hạt nhân có trụ sở tại Hoa Kỳ,  đã đưa ra kết luận, trong giai đoạn từ nay đến năm 2050, xuất khẩu các thiết bị và công nghệ năng lượng hạt nhân có thể mang lại cho Hoa Kỳ giá trị lên tới 1,3-1,9 nghìn tỷ USD. Công ty UxC      Lò phản ứng mô-đun nhỏ có thể là cơ hội xuất khẩu của Hoa Kỳ (Ảnh: NuScale)  Được Viện Năng lượng hạt nhân (NEI) và Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ ủy thác, báo cáo “Đánh giá Thị trường hạt nhân toàn cầu dựa theo Báo cáo về sự nóng lên toàn cầu 1,5 độ C của Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)” của Công ty UxC thực hiện đã chú trọng đặc biệt tới các cơ hội nảy sinh khi điện hạt nhân ngày càng góp phần vào các chiến lược giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu.  Trong bối cảnh thế giới tăng cường ứng phó với mối đe dọa biến đổi khí hậu, đẩy mạnh phát triển bền vững và nỗ lực xóa đói giảm nghèo, Báo cáo IPCC 2018 xem xét các tác động do hiện tượng trái đất nóng lên 1,5 độ C so với giai đoạn trước cuộc cách mạng công nghiệp và các con đường phát thải khí gây ra hiệu ứng nhà kính toàn cầu. Trong khi đó, Báo cáo của Công ty UxC phân tích triển vọng của điện hạt nhân đến năm 2050 trong khu vực và trên toàn cầu, dựa theo các kịch bản được trình bày trong Báo cáo IPCC. Công ty UxC cũng sử dụng các lộ trình của IPCC để phân tích các loại công nghệ lò phản ứng có thể được triển khai ở các khu vực khác nhau trong giai đoạn đến năm 2050 nhằm duy trì nhiệt độ toàn cầu không vượt quá 1,5 độ C so với mức tiền công nghiệp. Ngoài ra, Công ty UxC ngoại suy quy mô thị trường hạt nhân toàn cầu tiềm năng, theo đó, bàn luận về cơ hội xuất khẩu dành cho các nhà cung cấp hạt nhân của Hoa Kỳ.  Sử dụng kết quả trung bình của 90 kịch bản trong Báo cáo IPCC, Công ty UxC đưa ra mục tiêu vào năm 2050, công suất điện hạt nhân là 820-855GWe – công suất trung bình 840 GWe. Để đạt được điều này sẽ cần tổng cộng khoảng 640 GWe từ các dự án điện hạt nhân mới xây dựng trong giai đoạn 2020 -2050.  Theo ước tính, chi phí tích lũy cho điện hạt nhân rơi vào 8,6 nghìn tỷ USD (trong năm 2019) – một con số mà Công ty UxC cho rằng là rất “phải chăng” khi đặt trong tương quan so sánh với tổng chi phí vượt quá 67,7 tỷ USD để đạt được một hệ thống năng lượng sạch toàn cầu trong tương lai theo như một ước tính độc lập về chi phí do Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đưa ra.  Báo cáo của Công ty UxC cho thấy, trong ngắn hạn, triển vọng chủ yếu tập trung vào hoạt động mở rộng và xây mới các loại lò phản ứng truyền thống cỡ lớn, nhưng có khả năng trong dài hạn sẽ chứng kiến việc chuyển đổi sang kết hợp các công nghệ mới đang nổi lên, như lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), lò phản ứng nhỏ và các thiết kế tiên tiến khác. Năng lượng hạt nhân sẽ mở rộng nhanh chóng ở châu Á, Đông Âu, châu Phi, Trung Đông và Nam Mỹ hơn là ở Hoa Kỳ hoặc Tây Âu. Các nhà cung cấp của Hoa Kỳ sẽ có vô vàn cơ hội tăng cường hiện diện trên thị trường, góp mặt trong những dự án xây dựng lò phản ứng lớn, SMR và các lò phản ứng khác, duy trì và cung cấp nhiên liệu cho hàng loạt lò phản ứng toàn cầu cũng như tháo dỡ, ngừng hoạt động lò phản ứng cũ.  Gần đây, Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm tài trợ cho các dự án hạt nhân ở nước ngoài. Ông Ted Jones, Giám đốc cấp cao của NEI, Chương trình An ninh Quốc gia và Quốc tế, cho biết khả năng cạnh tranh của các nhà cung cấp hạt nhân Hoa Kỳ trên thị trường toàn cầu không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế trong nước, mà còn đối với tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên toàn cầu. Cũng theo ông, việc cung cấp, xuất khẩu lò phản ứng mang lại mối quan hệ thương mại lâu dài giữa các quốc gia, thắt chặt hơn mối quan hệ về chính trị.  Ông Jones nói thêm, thị trường ngày nay bị chi phối bởi Nga và Trung Quốc. Để “trải thảm” cho con đường đi tới thành công của các công ty Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường tài trợ xuất khẩu và đảm bảo rằng các thị trường mới sẽ sẵn lòng mở cửa đón nguồn cung của Hoa Kỳ. Và với nhu cầu khử các-bon khắp toàn cầu, rõ ràng là cánh cửa cơ hội xuất khẩu cho Hoa Kỳ rất rộng mở, giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng không các-bon ngày càng tăng trên toàn cầu, đồng thời khẳng định vị thế dẫn đầu của Hoa Kỳ về công nghệ hạt nhân.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/US-report-highlights-nuclear-export-opportunities    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cô kỹ sư ‘tâm thần’ đông trùng hạ thảo      Xem lý lịch của Trúc, thấy khá…giản đơn. Tốt nghiệp ĐH Hồng Bàng, TP.HCM, Trúc trở thành kỹ sư môi trường, làm việc cho bệnh viện… tâm thần TP Cao Lãnh.Tuy nhiên, niềm khát khao khởi nghiệp thì phi thường.      Hiện nay, dự án Đông trùng hạ thảo của Đinh Thị Thanh Trúc được tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ, phát triển thành điểm để du khách tham quan, tìm hiểu mô hình sản xuất và dùng thử sản phẩm. Tại cuộc thi dự án khởi nghiệp nông nghiệp lần 4 năm 2018, do trung tâm BSA, tập đoàn Trung Nguyên, công ty cổ phần tập đoàn Thiên Long, cùng các đối tác chiến lược tổ chức, diễn ra vào tháng 10 tới, đông trùng hạ thảo sẽ là một trong những dự án đáng gờm nhất.    “Mình còn trẻ, còn sức thì phải thử dù thành công chỉ là 1% đi chăng nữa”, đó là những tâm sự chân thành của Đinh Thị Thanh Trúc, một kỹ sư môi trường làm việc tại bệnh viện tâm thần Cao Lãnh, Đồng Tháp trong lớp huấn luyện khởi nghiệp do chương trình Sáng tạo khởi nghiệp của trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức cuối tháng 6 vừa qua tại TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp…  Bị xem là “kẻ điên”  Trúc bảo cô mới khởi nghiệp được hai năm nay, nhưng “thành tích” thì ai nghe cũng… nể. Với sản phẩm trà và thực phẩm chức năng từ đông trùng hạ thảo, Trúc cùng người chồng làm kỹ sư điện có thu nhập kha khá. Trúc khiêm tốn nói mình tới lớp học để trang bị thêm kiến thức; kết nối với các chuyên gia nhiều kinh nghiệm, mong được tư vấn cụ thể cho dự án.  Ở TP Cao Lãnh, trong lớp huấn luyện hôm đó, nhiều bạn trẻ khởi nghiệp xem Trúc là tấm gương để học hỏi kinh nghiệm khởi nghiệp. Xem lý lịch của Trúc, thấy khá…giản đơn. Tốt nghiệp ĐH Hồng Bàng, TP.HCM, Trúc trở thành kỹ sư môi trường, làm việc cho bệnh viện… tâm thần TP Cao Lãnh.Tuy nhiên, niềm khát khao khởi nghiệp thì phi thường. Không muốn tuổi thanh xuân qua đi vô nghĩa, Trúc quả quyết mình phải làm điều gì đó xứng đáng, có ích. Và, ước mơ mở một trang trại sản xuất nấm sạch để phục vụ cho người tiêu dùng được cô kỹ sư trẻ sinh năm 1990 này nghĩ tới đầu tiên.  Ban đầu, Trúc cùng chồng là Phạm Đình Chương đầu tư trồng nấm linh chi và sau đó là cà chua đen. Vì “non người trẻ dạ”, hơn nữa khí hậu không thích hợp và phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại đang bán khá nhiều trên thị trường, nên vợ chồng Trúc thất bại. Trong câu chuyện với chúng tôi, Trúc hào hứng coi việc “vỡ mộng” ngay từ đầu khởi nghiệp là bài học vỡ lòng, giúp cô đúc kết, rút ra kinh nghiệm chứ không nhụt chí, bỏ cuộc.  Và không từ bỏ đam mê, Trúc tiếp tục tìm kiếm thông tin, nghiên cứu nhu cầu thị trường và quyết định chọn đông trùng hạ thảo để thử sức lần nữa. “Có được ý tưởng, vạch ra kế hoạch cụ thể nhưng lần này, điều cản trở chính là người thân, gia đình”, Trúc kể lại quá khứ hai năm trước khi bắt tay làm đông trùng hạ thảo. Gia đình phản đối cô tiếp tục bỏ tiền làm khởi nghiệp, vì từng hai lần thất bại, có người còn bảo cô “khùng điên”… nhưng điều đó không làm cô nản. Trúc chia sẻ: “Mình còn trẻ, còn sức thì phải thử dù thành công chỉ có 1% đi chăng nữa”. Thế rồi Trúc lên TP.HCM học và nghiên cứu kỹ cách sản xuất loại thảo dược này, sau đó cùng chồng bắt tay vào thực hiện và cho ra kết quả mỹ mãn. Từ đó, gia đình tin tưởng và ủng hộ, thậm chí còn giúp có nguồn vốn để đầu tư máy móc, nhà xưởng…  Chỉ là mới bắt đầu!  Con đường khởi nghiệp không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Dù đã có kinh nghiệm từ những lần thất bại trước, nhưng đối với vợ chồng Trúc, việc làm đông trùng hạ thảo cũng gặp không ít khó khăn.  Đầu tư gần 500 triệu đồng để xây dựng phòng thí nghiệm, 300m2 nhà xưởng, cùng máy móc thiết bị… nhưng sau một mẻ nấm đầu tiên thành công, tưởng rằng “ngon lành” thì khó khăn bắt đầu ập đến. Trong hơn nửa năm 2016, nấm liên tục bị hỏng do bệnh, khiến vợ chồng Trúc nhiều phen khóc cười!  Giải pháp được vợ chồng Trúc bàn tới là nghiên cứu kỹ loại thảo dược này và tìm chuyên gia nhờ hỗ trợ, hướng dẫn.Trúc còn tìm đến các chuyên gia trong ngành đông y, các giảng viên ở trường đại học tại Cần Thơ, Đồng Tháp, TP.HCM nhờ họ tư vấn, hướng dẫn.Đây là giai đoạn hai vợ chồng trẻ chạy đôn chạy đáo, vừa lo cho công việc hiện tại, vừa tìm cách cứu trại nấm.Đầu tiên, cô bảo phải lắp đặt hệ thống máy lạnh, máy phun sương làm mát. Các khâu sản xuất từ cấy phôi, chăm sóc nấm đến thu hoạch được thực hiện kỹ lưỡng hơn, do đó, bước đầu tỷ lệ giống cấy đạt hơn 95%.  Kết quả những vụ thu hoạch tiếp theo thành công ngoài sức tưởng tượng. Đông trùng hạ thảo do Trúc sản xuất được gửi đi kiểm nghiệm tại tổng cục Tiêu chuẩn do lường chất lượng, cho thấy hàm lượng dược chất khá cao. Sau đó, sản phẩm còn được cục An toàn thực phẩm – bộ Y tế cấp chứng nhận đạt chuẩn, đủ điều kiện an toàn thực phẩm.  Để nâng cao hiệu quả sản xuất, Trúc đầu tư thêm các thiết bị, máy móc chuyên dụng như hấp tiệt trùng, máy sấy, tủ cấy vi sinh, máy phun sương tạo độ ẩm… Hiện, Trúc đã thành lập công ty TNHH An An Đồng Tháp, cung cấp ra thị trường nhiều sản phẩm như: đông trùng hạ thảo tươi, đông trùng hạ thảo sấy khô dạng sợi, bột đông trùng hạ thảo, rượu đông trùng hạ thảo và nhất là trà đông trùng hạ thảo dạng sợi và dạng túi lọc. Thời gian tới, Trúc tâm sự, sẽ đầu tư máy móc, công nghệ để sản xuất một số sản phẩm khác từ đông trùng hạ thảo như mật ong đông trùng hạ thảo, dấm đông trùng hạ thảo…  Theo chia sẻ của Đinh Thị Thanh Trúc, đông trùng hạ thảo đang mang lại cho gia đình lợi nhuận mỗi tháng khoảng 30 triệu đồng, cao gần gấp ba lần mức lương của vợ chồng cộng lại. Ngoài ra, doanh nghiệp khởi nghiệp An An Đồng Tháp của Trúc còn tạo được công ăn việc làm thường xuyên cho ba lao động địa phương, với mức thu nhập 3,5 – 4 triệu đồng/tháng.  bài, ảnh Anh Tuấn (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có một cách để gấp mọi thứ      Erik Demaine, giáo sư trẻ nhất từng được bổ nhiệm tại MIT, là một nhà khoa học và nghệ sĩ gấp hình origami. Dưới đây là cuộc nói chuyện với anh ấy về cách kỹ thuật gấp hình đã cách mạng hóa nghệ thuật và nghiên cứu như thế nào.          Nhà toán học và nghệ sĩ Erik Demaine đứng trước những tác phẩm nghệ thuật của mình thường được trưng bày trong các bảo tàng và triển lãm nổi tiếng.   Ông Demaine, tôi muốn nói chuyện với ông về mối quan hệ giữa nghệ thuật và khoa học.  Vâng, đó là một khía cạnh thực sự thú vị của origami – một sân chơi tuyệt vời để nghệ thuật và khoa học giao tiếp với nhau.     Trên trang web của ông, ông mô tả mình là một giáo sư, nhà khoa học máy tính, nhà toán học và nghệ sĩ. Ông thấy mình là một nghệ sĩ tới mức độ nào?  Trước tiên như một nhà điêu khắc, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cha tôi. Tôi nghĩ vậy. Chúng tôi cùng nhau tạo ra tất cả các tác phẩm điêu khắc. Ban đầu, chúng tôi cố gắng phân tích các nếp gấp cong. Đó là một công cụ có vẻ như rất mạnh mẽ, bởi vì bạn có thể tạo ra các hình dạng rất phức tạp dựa trên các nếp gấp cong tương đối đơn giản. Hầu hết các thuật toán được thiết kế cho các nếp gấp thẳng, vì vậy các nếp gấp cong là một khu vực khó với tới. Chúng tôi đã thử nghiệm để xem những kết quả nào có thể được thực hiện dựa trên toán học. Vì vậy, chúng tôi bắt đầu gấp và tới thời điểm thì nhận ra rằng các hình dạng chúng tôi tạo ra thực sự hay ho và đẹp đẽ. Kể từ đó chúng tôi đã theo đuổi nó như một hình thức nghệ thuật.     Ông cũng có nhiều thử nghiệm với giấy gấp nhỉ?  Chúng tôi bắt đầu với các dạng hình học hoàn toàn trừu tượng mà chúng tôi thấy hấp dẫn vì yếu tố toán học của nó. Hơn nữa, các nghệ sĩ, nhà sưu tầm nghệ thuật và khách tham quan bảo tàng đang tìm kiếm một câu chuyện đằng sau các tác phẩm của chúng tôi, và toán học là một câu chuyện đẹp đẽ đối với họ. Nhưng chúng tôi còn muốn tạo ra sự tương tác nhiều hơn nữa. Thường có những trò đùa nhỏ trong các tác phẩm của chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu với loạt tác phẩm mang tên “Kẻ hủy diệt” bằng cách in một câu chuyện ngắn trên giấy gấp. Câu chuyện này nói về sự hủy diệt như một hình thức sáng tạo. Chúng tôi coi điều đó là ngụ ý cho việc cần phải “phá hủy” lịch sử để tạo nên một điều gì đó hoàn toàn mới lạ: Nếu bạn muốn đọc câu chuyện, bạn phải phá hủy tác phẩm bằng cách tháo nó ra. Đó là thông điệp đầu tiên.     Các tác phẩm của ông được trưng bày trong Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA). Làm thế nào ông đạt được điều đó?  Thực tế, đó gần như là khởi đầu của chúng tôi. Thật là một cách không tồi để bắt đầu một sự nghiệp nghệ thuật! (cười). Năm 2007, chúng tôi vừa mới nghĩ về chất liệu và cách gấp để tạo ra những mô hình nghệ thuật đẹp thì MoMA liên lạc với chúng tôi: “Này, chúng tôi nghe nói rằng bạn đang làm origami trên máy tính. Bạn có gì có thể cho chúng tôi xem không?” Khi đó, chúng tôi đã gửi những bức ảnh về những gì chúng tôi có và họ nói, “Tốt, bạn sẽ tham gia triển lãm.” Đây là triển lãm về mối liên hệ giữa nghệ thuật và khoa học. Thật tuyệt khi được đến MoMA, được đến khai mạc, tất cả những người nổi tiếng ở đó, thực sự rất tuyệt. Điều này cũng gây ấn tượng lớn với cộng đồng nghệ thuật, tôi nghĩ thế, và mở ra cánh cửa cho các triển lãm tiếp theo.     Cha ông là một thợ kim hoàn và thợ thổi thủy tinh. Liệu có thể nói rằng ông là một nhà khoa học làm cả nghệ thuật, còn cha ông là một nghệ sĩ làm cả khoa học?  Có lẽ đó là cách mọi việc bắt đầu. Bây giờ chúng tôi khá giống nhau, tôi nghĩ vậy. Tôi đã giúp cha trở thành một nhà toán học, còn ông dạy tôi trở thành một nghệ sĩ. Trong quá trình đó, chúng tôi viết nhiều bài báo khoa học và toán học cùng nhau và tạo ra nhiều tác phẩm điêu khắc cùng nhau.     Hình như đã có một xưởng thổi thủy tinh tại MIT trước khi ông và cha mình bắt đầu làm việc ở đó. Thật là một sự trùng hợp bất ngờ.  Điều đó hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi bắt đầu công việc của mình ở đó vào năm 2001 và nghĩ: Có một xưởng thổi thủy tinh ở đây ư? Chẳng lẽ!? Và nó đã ở đó trong nhiều năm. Khá ấn tượng. Cha tôi đã học được rất nhiều ở đó, và đó là một sân chơi thú vị để thử các sự hợp tác khác nhau tại giao điểm của nghệ thuật và khoa học với việc thổi thủy tinh. Với phòng thí nghiệm thủy tinh MIT, chúng tôi đã phát triển phần mềm thiết kế hỗ trợ vi tính có tên Thủy tinh ảo.Việc giới thiệu ý tưởng máy tính vào ngành công nghiệp thổi thủy tinh cũng là một thú vị lớn.      Một tác phẩm trong loạt “Đại dương”.     Mục đích của phần mềm như vậy là gì?  Trọng tâm của phần mềm là một kĩ thuật thổi thủy tinh đặc biệt, được gọi là “gậy thủy tinh”1, liên quan đến việc tạo ra màu sắc cho thủy tinh. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã sử dụng các màu sắc, họa tiết trên thủy tinh gần như tương tự nhau vì họ thấy chúng ổn định. Chúng tôi đặt vấn đề: Có thể có những mẫu hoàn toàn khác mà chưa ai từng thử không? Vì thổi thủy tinh rất tốn kém và mất thời gian, cần phải thực hành rất nhiều để biết liệu một kiểu họa tiết có tốt hay không. Phần mềm có thể dự đoán: Sản phẩm sẽ như thế nào nếu tôi áp dụng họa tiết mới? Nó giúp đánh giá liệu một thiết kế mới có đáng để theo đuổi hay không. Sau đó, ta có thể cân nhắc về tính khả thi của nó. Cách này đã tạo ra nhiều thiết kế gậy thủy tinh thú vị của chúng tôi và các thợ thổi thủy tinh khác. Đối với chúng tôi đây là một hướng đi đẹp, bởi vì nó rất hình học. Thực tế việc mô hình hóa trên máy tính khá dễ dàng, trong khi con người lại rất khó có thể tưởng tượng ra các mẫu màu pha trộn trên thủy tinh như thế nào.     Thật ấn tượng khi ông luôn khám phá những kết nối mới trong nghệ thuật. Trong bối cảnh này, có một câu nói thú vị từ đồng nghiệp Robert J. Lang2, người đã nói trong một bài giảng: “Mối liên hệ giữa nghệ thuật và khoa học được tạo ra bởi toán học.”  có thấy nó như vậy không?  Thật là thú vị! Tôi hiểu điều ông ta muốn nói. Nếu bạn muốn làm chủ các cách gấp hình, điều đầu tiên bạn cần hiểu là những nền tảng toán học và hình học của chúng. Trong nhiều năm, câu hỏi “Điều gì có thể làm được với một tờ giấy” là điều quan tâm cốt lõi của gấp hình và origami. Nhưng khi mọi người muốn tạo ra nhiều thiết kế phức tạp và tả thực hơn thì điều đó đã thay đổi khía cạnh nghệ thuật của bộ môn gấp giấy này, hình thành nên cuộc cách mạng của các origami phức tạp. Các nghệ sĩ origami như Robert Lang đã buộc phải tìm hiểu thêm về toán học. Về phía các nhà khoa học cũng thế, họ phải tìm hiểu thêm về nghệ thuật. Trong kỹ thuật, ta phải hiểu toán học nếu muốn phát triển các thiết kế gấp giấy khả thi. Về mặt này, những người trong ngành nghệ thuật hay toán học đều giống nhau. Nhưng tôi nghĩ thậm chí còn có nhiều liên hệ trực tiếp hơn giữa hai ngành này. Có những kỹ sư làm việc với các nghệ sĩ để tìm ra thiết kế mới. Người nghệ sĩ thì có cảm hứng, còn có được những trải nghiệm thực với những tờ giấy và khám phá ra những điều mới mẻ chính xác là những gì các kỹ sư muốn.     Trên thực tế, các nghệ sĩ và nhà khoa học dường như thường có cùng một câu hỏi, suy nghĩ giống nhau đến kinh ngạc, nhưng theo các phương pháp rất khác nhau. Cụ thể, các nghệ sĩ muốn nhấn mạnh rằng họ hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn phương pháp và công cụ của họ, trong khi các nhà khoa học thường bị hạn chế nghiêm ngặt bởi mô hình khoa học hiện có.   Đây chắc chắn là một trong những điểm hấp dẫn tôi để làm nghệ thuật và khoa học bởi vì tôi sẽ có ít ràng buộc hơn. Tôi chỉ cần khám phá một vấn đề thú vị như một kiểu gấp đặc biệt, và tôi không phải lo lắng về việc phải biến nó thành một bài báo toán học hoặc kết thúc bằng một tác phẩm điêu khắc hoặc một bộ phim. Điều gì cũng có thể xảy ra. Sự tự do này thật tuyệt vời. Nó đơn giản là cho phép bạn thử nghiệm và nghiên cứu trong khuôn khổ một câu hỏi cho đến khi bạn tìm ra cách để thể hiện nó. Từ góc độ nghệ thuật, tôi nghĩ rằng bạn có thể xem toán học là một phương tiện. Một chứng minh trong toán học là một phương tiện để biểu đạt một ý tưởng, cũng như điêu khắc cũng là một phương tiện. Mục tiêu của cha tôi và tôi không phải là xem khám phá sáng tạo này là nghệ thuật hay toán học, mà là sự kết hợp của cả hai. Bất cứ điều gì xảy ra, nó đều rất thú vị. Cách làm việc này đầy hào hứng và nó giúp chúng tôi làm việc năng suất hơn vì ít khi chúng tôi rơi vào bế tắc. Nếu bạn chỉ cố gắng giải một bài toán, bạn có thể bị hạn chế quá nhiều. Tôi nghĩ rằng nghệ thuật cũng bị hạn chế, bởi bối cảnh và những quy ước của nó.     Các ràng buộc có thể khó dự đoán trong nghệ thuật.  Ôi, những người phản biện bài báo khoa học cũng rất thất thường. Ở đâu thì phải theo quy tắc của cộng đồng ở đó. Và đôi khi việc tạo ra một tác phẩm khó hơn rất nhiều so với việc chứng minh một định lý toán học. Luôn có những hạn chế. Thật tốt khi có thể được chọn tuân theo những ràng buộc mà mình muốn. Càng nhiều bộ quy tắc để thực hiện công việc của mình, thì càng có nhiều lựa chọn và có thể chọn cái nào là tốt nhất cho dự án.     Quay lại với origami. Ông đã đề cập đến cuộc cách mạng của origami phức tạp. Các nghệ sĩ luôn muốn gấp các hình ngày càng phức tạp hơn và ngày nay toán học giúp tính toán các mẫu gấp cho bất kỳ hình dạng nào. Nhưng nếu sự phát triển của các số liệu là tự động, liệu Origami có còn là một nghệ thuật? Origami cần bao nhiêu “nội dung cảm xúc” vì nghệ thuật không chỉ là công nghệ?  Hai quan điểm này đều có người ủng hộ. Ban đầu cũng có những đòi hỏi về kỹ thuật để tìm ra cách gấp một hình dạng nhất định, phải vượt qua rất nhiều thử thách. Chúng tôi biết một cách để gấp mọi thứ, nhưng không nhất thiết là cách tốt nhất. Về mặt này, vẫn còn chỗ cho sự đổi mới ở đây: để tìm ra những cách gấp hiệu quả hơn, đẹp hơn, thanh lịch hơn cho cùng một hình. Nhưng khi những thách thức kỹ thuật đã được khắc phục, thay vì bị giới hạn bởi những gì chúng ta có thể gấp, câu hỏi đặt ra là chúng ta thực sự muốn gấp và thể hiện những gì. Đây là một bước ngoặt. Như mọi nơi trong nghệ thuật, có một khoảng cách lớn giữa yếu tố biểu hiện và yếu tố trừu tượng. Cha tôi và tôi ở phe trừu tượng. Nhưng khoảng cách đó vẫn đang thay đổi, và mỗi năm chúng tôi đều đón chờ điều đó đầy hào hứng.       Tác phẩm điêu khắc “Ngọn lửa Quỷ”.     Nhưng trong trường hợp cực đoan khi mà máy tính tạo ra origami, liệu đó có còn là nghệ thuật?  Đây là một câu hỏi chung: liệu nghệ thuật tạo ra bởi máy tính có còn là nghệ thuật? Tôi nghĩ là có. Nhưng tôi nghĩ sức mạnh thực sự là sự kết hợp công nghệ máy tính với tài năng của con người. Càng có nhiều công cụ máy tính kết hợp với nhau hơn thì con người cũng luôn có thể tiến xa hơn một chút. Và càng có nhiều công cụ cho các nghệ sĩ thì, bạn càng có thể làm được nhiều điều tuyệt vời hơn. Nếu origami vẫn cứ loay hoay với những con hạc giấy và những hình gấp giản đơn, thì tính nghệ thuật cũng sẽ bị hạn chế. Ít nhất là sự hiểu biết toán học đã mở ra một thế giới hoàn toàn mới để người nghệ sĩ biểu đạt. Điều đó thực sự rất ấn tượng. Máy tính sẽ không bao giờ có thể tự động hóa hoàn toàn mọi thứ, tôi nghĩ vậy. Nhưng mọi thứ ngày càng tự động hóa thì con người cũng ngày càng vượt xa khỏi máy móc. Khi đó xuất hiện nhiều điều kỳ thú.     Bây giờ chúng ta hãy tạm gác nghệ thuật sang một bên. Ông có vài lần đề cập đến các ứng dụng kỹ thuật của origami. Có điều gì đặc biệt ấn tượng hoặc đặc biệt hứa hẹn?  Có hai thứ mà tôi rất tâm đắc. Đầu tiên là robot in được. Ý tưởng đằng sau robot này là dùng kỹ thuật sản xuất 2D như dùng máy cắt laser để cắt và xẻ rãnh vật liệu trước rồi gấp nó thành robot. Theo truyền thống, robot được tạo ra bằng cách kết hợp các chi tiết, việc này kéo dài nhiều năm và đòi hỏi hàng triệu đô la. Với robot in được, bạn có thể thử một ý tưởng mới trong vài giờ, với chi phí vật liệu thấp, là các vật liệu có thể gấp được. Sau đó, bạn thêm một chút cơ điện tử như động cơ và pin – những thành phần chúng ta chưa biết cách gấp chúng – và điều đó mở ra một thế giới hoàn toàn mới về thiết kế robot. Chúng tôi thực hiện rất nhiều nghiên cứu về việc robot có thể được tạo ra bằng cách gấp lại: robot chạy, robot bay, tất cả những thứ điên rồ.  Thậm chí có thể làm robot gấp tự động. Đối với một thiết kế rất phức tạp, bạn có thể không muốn gấp thủ công, do đó bạn có thể làm cho tấm vật liệu tự gấp lại thành hình dạng bạn muốn. Nghiên cứu điều này rất hay.      Một trong số những tác phẩm điêu khắc trong loạt “Hủy diệt”.     Liệu có thể sử dụng kỹ thuật này để tạo ra các Transformer3 – Robot tự gấp mình, từ hình dạng này sang hình dạng khác?  Trên thực tế, ý tưởng ban đầu của chúng tôi chính là các Transformer. Nhưng để làm cho một vật thể này gấp được thành vật thể khác khó khăn hơn rất nhiều. Chúng tôi mới chỉ chế tạo các Transformer đơn giản, chẳng hạn như một mảnh giấy có thể gấp lại thành một máy bay hoặc một chiếc thuyền mà đã khá phức tạp rồi. Vì vậy, tạm thời chúng tôi thay đổi chiến lược. Hiện tại, chúng tôi đang muốn đưa robot in được này trở thành công nghệ sản xuất hàng loạt và tìm hiểu cách chuyển đổi mọi thứ từ 2D thành 3D. Điều này cho phép chúng tôi giải quyết các thách thức trong một bối cảnh đơn giản. Nhưng về sau, chúng tôi rất muốn có một Transformer mà bạn chỉ cần nhấn nút và anh ấy sẽ tự cấu hình lại bất cứ thứ gì bạn muốn. Đó vẫn là giấc mơ. Sẽ cần thời gian để chúng tôi đạt được điều đó.     Và, đó mới là ứng dụng yêu thích đầu tiên.  Ứng dụng thú vị thứ hai chúng tôi mới bắt đầu nghiên cứu, đó là thế giới nano. Xây dựng các cấu trúc 3D ở cấp độ nano, ví dụ, nếu bạn muốn tương tác với một hệ thống sinh học. Kỹ thuật gấp mở ra một nguyên lý thú vị, bởi vì tất cả những gì bạn có thể làm từ một điểm nhất định trong phạm vi nano là các mảng 2D. In nano 2D tạo cuộc cách mạng máy tính vì chúng ta có thể tạo ra các chip 2D và các mẫu có cấu trúc mịn. Nếu chúng tôi tạo ra các vật liệu có thể tự gấp được – trên các tỷ lệ đó, bạn chắc chắn không thể làm gì nhiều bằng tay – chúng ta có thể biến các vật mảng nano thành các hình dạng 3D phức tạp. Điều này rất hứa hẹn và chúng ta sẽ xem nó đi tới đâu. □     Phùng Hồ Hải lược dịch  Nguồn: https://www.faz.net/aktuell/wissen/origami-ziel-ist-mathematik-und-kunst-als-einheit-zu-sehen-14584304.html  ————-  Chú thích:   1 Gậy thủy tinh là một kỹ thuật mà “gậy” ở đây là một ống thủy tinh chứa một, nhiều màu hoặc các họa tiết phức tạp được đưa vào các đồ vật thủy tinh trong lúc thổi, nhằm tạo màu sắc và họa tiết cho vật đó.    2 Robert J Lang là một nhà vật lý làm việc tại NASA và đồng thời cũng là nghệ sĩ origami hàng đầu thế giới.  3Transformers là một loạt phim điện ảnh với nhân vật chính là những con robot có thể thay đổi hình dạng tùy ý.  Bậc thầy của kỹ thuật origami Erik Demaine sinh năm 1981 tại Halifax, Canada. Ông là giáo sư tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) từ năm 2001 và quan tâm đến hầu hết tất cả các lĩnh vực toán học và khoa học máy tính liên quan đến thuật toán, đặc biệt là đối với các vấn đề gấp hình trong hình học rời rạc và hình học tính toán. Cha của anh, nghệ sĩ Martin Demaine, đã đưa anh ra khỏi trường khi mới bảy tuổi để cùng anh đi du lịch qua Hoa Kỳ trong bốn năm. Trong thời gian này, Demaine phát hiện ra đam mê của mình đối với lập trình, điều khiến anh học ngành khoa học máy tính ở tuổi mười hai. Tại MIT, hai cha con tiếp tục hợp tác chặt chẽ với nhau. Năm 1999, cả hai đã chứng minh định lý gấp-và-cắt, trong đó khẳng định rằng bạn có thể cắt bất kỳ hình đa giác nào từ một mảnh giấy gấp chỉ bằng một vết cắt thẳng. Như một câu đố toán học, vấn đề này đã được mô tả ở Nhật Bản vào năm 1721. Theo một giai thoại, việc các ngôi sao năm cánh có thể được tạo ra một cách đơn giản bằng cắt và gấp cũng là lý do tại sao cờ Mỹ sử dụng chúng thay vì sao sáu cánh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có một đế chế Hoa Kỳ không?      Hiện nay, vào đầu thế kỷ XXI này, Hoa Kỳ nổi lên như một “siêu cường số một” trên thế giới- điều này gần như đã được mọi người thừa nhận. Nhưng những câu hỏi được đặt ra ngay sau đó là cái gì đã làm cho Hoa Kỳ giữ được vị trí này? Vị trí ấy thể hiện cụ thể như thế nào? Nó có lợi hay có hại cho sự phát triển của các nước trên thế giới nói chung và cho chính bản thân nó nói riêng.    Trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ đã từng có những lúc mang tính chất đế quốc chủ nghĩa rõ rệt, và thậm chí cũng đã có lúc xâm chiếm đất đai nước khác, như J.P. Fichou nhận xét trong Văn minh Hoa Kỳ. Và đó thường là những hành động bành trướng dưới những nhãn hiệu “chủ nghĩa cứu thế”, “bảo vệ tự do”… Có lúc những quyền lợi của chủ nghĩa tư bản Mỹ phù hợp với lợi ích của các quốc gia nào đó, như trong trường hợp tham gia cuộc chiến tranh chống Phát xít và viện trợ “tái thiết” cho các nước bị chiến tranh tàn phá trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay cả khi tiến hành “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, Mỹ vẫn nói đó là cuộc đấu tranh chống lại phần thế giới “sau bức màn sắt”, chống lại “thế giới tội ác”. Nhưng từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ ở Liên Xô và một loạt nước Đông Âu, chủ nghĩa bành trướng Mỹ lại càng tăng lên, dưới danh nghĩa “thế giới một cực” và “siêu cường duy nhất”.  Cũng phải nói rằng có khá nhiều người Mỹ tin vào sứ mệnh cứu thế của mình một cách chân thành. Hình như đó là một hành trang tinh thần không thể thiếu, khiến họ gắn bó về mặt tiềm thức với chủ nghĩa bành trướng. Ngay từ giữa thế kỷ XIX, khoảng một trăm năm sau khi lập quốc, trong “Tuyên ngôn Định mệnh” (Manifest Destiny, 1845) do John O’Sullivan thảo ra, đã nói rõ rằng cuộc cách mạng toàn cầu nhằm thiết lập một xã hội mới sẽ nẩy sinh tại Hoa Kỳ do ý muốn của Chúa, mà Chúa tất nhiên đứng ở bên người Mỹ. Và trong Lời tuyên thệ nhậm chức của mình, các Tổng thống Mỹ không quên nhấn mạnh “vai trò lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ”. Không phải mọi người Mỹ đều tin vào chủ nghĩa bành trướng ấy. Trong giới lãnh đạo nước Mỹ, cũng có những chính khách chủ trương “chủ nghĩa biệt lập” chống lại chủ nghĩa bành trướng. Đặc biệt, vị Tổng thống đầu tiên của nước này, George Wasshington đã cảnh báo dân Mỹ (năm 1796) hãy chuyên lo khai thác tài nguyên đất nước, đừng dại mà dính vào những tranh chấp liên miên của các nước Châu Âu. Và trong một thời gian khá dài, đúng là Hoa Kỳ đã đứng ngoài cuộc trước các cuộc chiến tranh giữa các nước đó, với một quan niệm là Hoa Kỳ đã được hai đại dương (Đại Tây dương và Thái Bình dương) bảo vệ.  Nhưng nhìn chung, chủ nghĩa biệt lập dần dần bị từ bỏ, nhường chỗ cho “chủ nghĩa can thiệp”. Nhân danh những “lợi ích sống còn” của Mỹ, chính quyền nước này tự coi mình có quyền và “nghĩa vụ” can thiệp vào các nước và các khu vực được coi là đụng tới những “lợi ích” đó. Danh sách các nước và các khu vực này khá dài và chưa ra khỏi ký ức mọi người.  Vào đầu thế kỷ XXI được kỳ vọng như thế kỷ “hòa bình và hợp tác” này,  nhiều người tưởng rằng “chủ nghĩa can thiệp” Hoa Kỳ sẽ giảm bớt phạm vi và cường độ. Nhưng tình hình diễn ra ngược lại. Đặc biệt, từ sau cuộc tiến công của bọn khủng bố vào chính nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001, “chủ nghĩa can thiệp” lại đạt tới những qui mô chưa từng thấy với sự hình thành Mặt trận chống khủng bố thế giới do Mỹ đứng đầu. Phải thừa nhận rằng vấn đề chống khủng bố, do phù hợp với những yêu cầu an ninh của toàn thế giới trước mối đe dọa nghiêm trọng của một chứng “ung thư” đối với cơ thể loài người, đã được sự đồng tình rộng rãi từ các nước phát triển phương Tây đến các nước Hồi giáo. Có thể nói, với việc đứng đầu mặt trận chống khủng bố ấy, vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới đạt tới một trình độ chưa từng thấy. Nhưng vì đằng sau những hành động chống khủng bố, người ta thấy khá rõ thiên hướng bành trướng của Hoa Kỳ nên vai trò này đang bị đặt thành vấn đề. Dư luận thế giới vừa thông cảm với người Mỹ như những nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố và tích cực ủng hộ Mỹ chống khủng bố – một nhiệm vụ không dễ dàng gì ngay cả đối với một nước giàu mạnh nhất thế giới- lại vừa phải dè chừng chủ nghĩa bành trướng Hoa Kỳ. Bên dưới bản đồ “khủng bố và chống khủng bố” ở Trung Cận Đông, chẳng hạn, hiện rõ bản đồ các ống dẫn dầu đã có và có thể có đang hấp dẫn các giới khai thác và kinh doanh dầu mỏ nước Mỹ.  Các nhà nghiên cứu trên thế giới đang tỏ ra lo ngại trước sức bành trướng của chủ nghĩa tư bản Mỹ, nhất là khi sức mạnh kinh tế của nó lại gắn liền với sức mạnh quân sự. Giới lãnh đạo nước này có ý thức rất rõ về điều này, khi họ tự coi là nước có sức mạnh quân sự không có đối thủ. R.Raas, Phó Giám đốc Học viện Brooking khẳng định: “Một thực tế hiển nhiên là Hoa Kỳ là nước hùng mạnh nhất không ai sánh kịp”. Và nhà chính trị học Ch. Krauthammer còn nói rõ hơn: “Có thể trong các thế hệ tương lai sẽ xuất hiện những cường quốc vĩ đại có thể sánh ngang với Hoa Kỳ. Nhưng không phải bây giờ. Không phải trong thập kỷ này… Có thể có ai đó nghĩ rằng dân chủ và toàn cầu hóa làm thay đổi chính trị thế giới, họ tán tụng “thế giới một cực” trong đó Hoa Kỳ giữ vai trò bá chủ, vì theo họ, trong thế giới một cực, các cuộc xung đột mới nảy sinh sẽ được giải quyết nhanh chóng hơn, có hiệu quả hơn so với những hệ thống kém tập trung hơn.  Cuộc sống cho thấy thế giới một cực với vai trò bá chủ của Hoa Kỳ không mang lại sự yên ổn cho toàn thế giới, nhất là khi Hoa Kỳ tự cho phép mình phân chia thế giới thành hai phần: thân Mỹ và chống Mỹ. Hôm nay, nước này bị coi là kẻ thù của Mỹ, ngày mai lại đến lượt một nước khác cho dù có cơ sở hay không có cơ sở. Tham vọng bá chủ của Hoa Kỳ đi ngược lại với các quá trình củng cố chủ quyền quốc gia, cũng như với quá trình toàn cầu hóa mang tính chất dân chủ ngày càng mạnh mẽ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trạng thái một cực là ít ổn định nhất, vì sự tập trung to lớn vào một cực đe dọa các quốc gia khác và buộc các quốc gia này phải có những nỗ lực để phục hồi sự cân bằng. Chính người Mỹ cũng đang nghi ngờ về điều này. Nhà nghiên cứu Mỹ G.Wills viết: “Tại sao các quốc gia khác lại buộc phải nghe theo sự lãnh đạo của Mỹ mà không phải là sự lãnh đạo quốc gia họ?”. Đa số các nhà phân tích khẳng định rằng, một cực là ảo tưởng, đó là thời điểm ngắn ngủi không thể kéo dài được lâu và cuối cùng sẽ nhường chỗ cho đa cực.  Vai trò bá chủ của Hoa Kỳ không chỉ bị nghi ngờ và chống đối từ bên ngoài. Nó còn vấp phải tâm trạng không hài lòng ở trong nước. Tuy hiện nay, nhiều người Mỹ, nhất là trong các giới có thế lực chính trị và kinh tế đang tỏ ra hài lòng với vị trí đứng đầu thế giới của Mỹ, nhưng đa số dân Mỹ đang băn khoăn: liệu có nên hy sinh về người và của cho vai trò bá chủ ấy không. Họ không bằng lòng với “gánh nặng” tổ chức các lực lượng quốc tế ở những phạm vi rộng lớn trên thế giới. Người Mỹ muốn tăng thêm những chi phí về phục vụ y tế hơn là ném tiền vào ngân sách quân sự phình lên chưa từng thấy từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Có người dự đoán rằng đến năm 2020, sự ủng hộ bên trong đối với vai trò đứng đầu thế giới của Mỹ sẽ bị suy giảm mạnh mẽ.  Trở lại câu hỏi đặt ra ngay ở đầu bài: Có một đế chế Hoa Kỳ không? Có thể trả lời rằng: đúng là đang có một xu hướng “đế chế” như vậy. Dù đó là xu hướng thiết lập “đế chế cưỡng bức” hay “đế chế nhân từ” thì cũng vẫn là đế chế, nghĩa là một sự bảo hộ và áp đặt của một “siêu cường” đối với phần thế giới còn lại. Nhưng có thể tin chắc rằng trong thời đại ngày nay, xu hướng đế chế không có tương lai. Thế giới muốn nhìn thấy một nước Mỹ hùng mạnh góp phần tích cực hơn vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu nóng hổi, như ngăn chặn sự suy thoái của môi trường sinh thái, xóa bỏ nạn nghèo đói ở những vùng rộng lớn trên hành tinh, thúc đẩy tiến bộ khoa học- công nghệ, thúc đẩy các quá trình toàn cầu hòa theo hướng dân chủ… Một nước Mỹ như vậy sẽ vừa quan tâm đến tương lai của thế giới, vừa chú trọng giải quyết những vấn đề cơ bản trong nước để nước Mỹ có thể được tôn trọng như một quốc gia đi đầu trong nền văn minh mới của loài người.  Minh Hiền    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có nên giải trình tự bộ gen của trẻ mới sinh để xác định sớm các bệnh di truyền?      Nghiên cứu sẽ giải trình tự bộ gen của 100.000 trẻ sơ sinh trong hai năm tới, nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc xác định sớm các bệnh di truyền    Các bác sĩ sẽ chích gót chân để sàng lọc máu của trẻ sơ sinh, từ đó tìm dấu hiệu của 9 tình trạng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng. Ảnh: David Gee/Alamy  Genomics England (công ty do Bộ Y tế và Chăm sóc Xã hội Vương quốc Anh thành lập để điều hành Dự án 100.000 Bộ gen) sẽ kiểm tra xem việc giải trình tự bộ gen của trẻ sơ sinh có thể giúp tăng tốc độ chẩn đoán khoảng 200 bệnh di truyền hiếm gặp, từ đó đảm bảo khả năng tiếp cận điều trị nhanh hơn hay không.  Mỗi năm, có khoảng 3.000 trẻ em được sinh ra ở Anh với một tình trạng hiếm gặp có thể được phát hiện bằng cách sử dụng giải trình tự bộ gen. Các bác sĩ sẽ chích gót chân để sàng lọc máu của trẻ sơ sinh, từ đó tìm dấu hiệu của 9 tình trạng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, chẳng hạn như bệnh hồng cầu hình liềm và xơ nang. Song con số đó vẫn còn quá khiêm tốn, toàn bộ trình tự bộ gen có thể cho phép các bác sĩ chẩn đoán thêm hàng trăm tình trạng như vậy khi sinh.  Thông thường, sau khi trẻ bắt đầu xuất hiện các triệu chứng – thường là sau nhiều tháng hoặc nhiều năm kể từ lần đầu xét nghiệm – các bác sĩ mới có thể chẩn đoán được bệnh. Một trong những tình trạng thường bị chẩn đoán muộn có thể kể đến tình trạng thiếu men biotinidase – chứng rối loạn di truyền trong đó cơ thể không thể “tái chế” vitamin biotin. Trẻ em mắc tình trạng này có thể bị co giật và chậm phát triển, đồng thời gặp các vấn đề về thị lực hoặc thính giác. Việc chẩn đoán và điều trị sớm bằng các chất bổ sung biotin có thể ngăn ngừa các rủi ro trên này và giữ cho trẻ khỏe mạnh.  Tiến sĩ Richard Scott, giám đốc y tế tại Genomics England, cho biết: “Hiện tại, thời gian trung bình để chẩn đoán một căn bệnh hiếm gặp là khoảng 5 năm. Đây là một thử thách lớn đối với các gia đình có trẻ mắc bệnh, và nó cũng gây áp lực lên hệ thống y tế. Chương trình này hướng đến trả lời cho câu hỏi: ‘Liệu có cách nào để cải thiện điều này không?’”  Nghiên cứu sẽ giải trình tự bộ gen của 100.000 trẻ sơ sinh trong hai năm tới, nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của công nghệ – bao gồm cả việc liệu phương pháp này có thể tiết kiệm tiền cho NHS bằng cách ngăn ngừa bệnh nghiêm trọng hay không.  Nó cũng sẽ tìm hiểu cách các nhà nghiên cứu có thể truy cập cơ sở dữ liệu (ẩn danh) này để nghiên cứu con người khi họ già đi, và liệu bộ gen của một người có thể được sử dụng làm cơ sở để đưa ra các quyết định chăm sóc sức khỏe trong suốt cả cuộc đời họ hay không. Ví dụ, nếu một người già mắc bệnh ung thư, các bác sĩ có thể sử dụng thông tin di truyền được lưu trữ của họ vào việc chẩn đoán và điều trị.  Theo nghiên cứu do Progress Educational Trust (PET – một tổ chức từ thiện độc lập cho những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng vô sinh và di truyền) ủy quyền vào đầu năm nay, 57% người dân Vương quốc Anh sẽ ủng hộ việc lưu trữ dữ liệu di truyền trong cơ sở dữ liệu quốc gia, miễn là chỉ những cá nhân được giải trình tự và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tham gia chăm sóc họ mới có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu. Chỉ có 12% số người phản đối điều này.  Tuy nhiên, nhiều người vẫn lo lắng rằng rất có thể cơ quan chính phủ sẽ sử dụng dữ liệu di truyền vào các mục đích khác, ví dụ như nhận dạng công dân.  Một số khác tỏ ra lo ngại về mức độ chính xác của phương pháp. Frances Flinter, giáo sư về di truyền học lâm sàng tại Guy’s & St Thomas NHS, đồng thời là thành viên của hội đồng đạo đức sinh học Nuffield, cho biết: “Sử dụng toàn bộ trình tự bộ gen để sàng lọc bệnh của trẻ sơ sinh là một phương án nhiều ẩn số. Nó sẽ mang lại những lợi ích tiềm năng như giúp chẩn đoán và điều trị sớm nhưng cũng mang đến các tác hại như kết quả chẩn đoán sai hoặc không rõ ràng, khiến các bậc cha mẹ lo lắng không cần thiết.”  Ông cho rằng các nhà khoa học không nên chạy đua để ứng dụng công nghệ này nếu cả yếu tố công nghệ và yếu tố đạo đức đều chưa sẵn sàng. “Chương trình nghiên cứu này có thể cung cấp bằng chứng mới và quan trọng liên quan đến cả hai yếu tố trên”.  Hà Trang lược dịch  Nguồn: Genome sequencing trial to test benefits of identifying genetic diseases at birth    Author                .        
__label__tiasang Có phải chỉ là do năng suất lao động thấp?      Năng suất lao động không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta thấp và nâng cao năng suất lao động không nhất thiết phải là mục tiêu cho mọi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, nhất là trong những giai đoạn chuyển đổi phương thức tăng trưởng chú trọng chất lượng, tính bền vững và chuyển đổi cơ cấu công nghệ, cơ cấu ngành của nền kinh tế sang các ngành có triển vọng tăng trưởng cao trong dài hạn.         Hiện nay lợi thế chủ yếu ở mức độ đáp ứng đúng thời điểm và các đặc tính riêng có của sản phẩm. Ảnh: cafef.vn  Trong những năm gần đây, trong quá trình truy xuất nguyên nhân nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng thiếu ổn định và có xu hướng giảm dần 1, nhiều ý kiến cho rằng “năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương; thấp hơn Singapore 15 lần; thấp hơn Nhật Bản 11 lần; thấp hơn Hàn Quốc 10 lần; chỉ bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan” 2.  Từ đó dẫn đến chỗ dường như coi năng suất lao động là mục tiêu của một số đề án lớn như Đề án “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Như ta đã biết, năng suất lao động theo như cách tính đưa ra các số liệu trên được tính bằng cách chia GDP cho số dân trong độ tuổi lao động. Nếu vậy, vấn đề đặt ra là liệu có phải tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam thấp và giảm dần chỉ là do năng suất lao động thấp hay không và nâng cao năng suất lao động có nên và có phải là mục tiêu phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới?  Theo chúng tôi, năng suất lao động không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta thấp và nâng cao năng suất lao động không nhất thiết phải là mục tiêu cho mọi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, nhất là trong những giai đoạn chuyển đổi phương thức tăng trưởng chú trọng chất lượng, tính bền vững và chuyển đổi cơ cấu công nghệ, cơ cấu ngành của nền kinh tế sang các ngành có triển vọng tăng trưởng cao trong dài hạn.  Trong một chu kỳ phát triển triển kinh tế, khi nền kinh tế chuyển đổi từ phát triển thâm dụng lao động sang tham dụng vốn hoặc dựa nhiều vào năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) sẽ kéo theo sự thay đổi tất yếu của năng suất lao động xã hội. Khi đó năng suất lao động là kết quả của mô hình tăng trưởng đang áp dụng và là hệ quả của việc chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng này sang mô hình tăng trưởng khác, mà không nhất thiết là nguyên nhân. Thêm vào đó, bản thân chỉ tiêu năng suất lao động chỉ là biểu hiện về mặt lượng của một quá trình kinh tế, không trực tiếp phản ánh mặt chất lượng của quá trình này thí dụ như tiềm năng  tăng trưởng trong tương lai dài hạn và tính bền vững của tăng trưởng. Trong khi đó, bên cạnh mục tiêu tốc độ tăng trưởng và các mục tiêu định lượng khác, nền kinh tế Việt Nam còn phải đáp ứng các mục tiêu chất lượng tăng trưởng quan trọng không kém nếu không muốn nói là quan trọng hơn như là hiệu quả, tính bền vững và tăng trưởng bao trùm (inclusive growth).  Thế giới những năm gần đây đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển từ phương thức sản xuất hàng loạt, quy mô lớn sang sản xuất loạt nhỏ theo nhu cầu đơn lẻ của khách hàng nhờ áp dụng các công nghệ mới như in 3D, sử dụng các Big Data (cơ sở dữ liệu lớn). Phương thức sản xuất mới này sẽ làm cho hiệu ứng về quy mô (economics of scale) không còn là lợi thế của các nhà sản xuất. Lợi thế không còn nằm ở số lượng hàng hóa và giá trị của sản phẩm mà chủ yếu ở mức độ đáp ứng đúng thời điểm và các đặc tính riêng có của sản phẩm, nói cách khác không bị quyết định bởi năng suất theo nghĩa truyền thống vẫn hiểu lâu nay nữa. Ở một cách nhìn khác, một số học giả Mỹ được trích dẫn cũng nhận định thế giới đang bắt đầu kỷ nguyên của xã hội hậu khoa học, theo đó, “Trong một xã hội hậu khoa học, của cải và việc làm… bị quyết định nhiều hơn bởi khả năng đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ đặc biệt được thiêt kế theo thị hiếu của cá nhân người tiêu dùng hơn là những sản phẩm có chi phí thấp và công nghệ hoàn toàn mới… Chiến lược đó đòi hỏi một mạng lưới kết nối những cá nhân có năng lực sáng tạo cao và sự cộng tác giữa các công ty để tạo ra những hệ thống mới khả dĩ có thể đáp ứng được những nhu cầu đa dạng và mới mẻ của người tiêu dùng một cách kịp thời”3. Để chuyển sang một xã hội, một nền kinh tế theo phương thức sản xuất tất yếu đó, đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải trải qua những thời kỳ chuyển đổi về mô hình, về cơ cấu với những giai đoạn tạm thời có năng suất lao động không cao do độ trễ về khả năng đào tạo lại lực lượng lao động và những khoản đầu tư chưa thể tạo ra hiệu quả trong ngắn hạn.  Tóm lại, để bảo đảm cho nền kinh tế Việt Nam một tương lai phát triển bền vững, hiệu quả bao trùm, cần có cái nhìn dài hạn, tổng thể và phù hợp hơn với xu thế phát triển khách quan của thế giới đối với vấn đề tăng năng suất lao động, mặt khác cần chú trọng đầu tư cho đổi mới công nghệ tạo tiềm năng tăng trưởng dài hạn cho nền kinh tế.  —  Chú thích:  1. Theo các số liệu chính thức, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giảm dần qua các giai đoạn: 1990-2000: 7,6%; 2001-2010: 6,8%; 2010-2015:5,8% (Số liệu của Bộ KH-ĐT)  2. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).  3. Nguyễn Mạnh Quân (2010), Tạp chí Tia sáng và  Vietsciences: “Xã hội hậu khoa học và những gợi suy cho Việt Nam”, 10/2010.    Author                Nguyễn Mạnh Quân        
__label__tiasang Cơ thể con người là một thể khảm của các hệ gene khác biệt      Công bố trên Science cho thấy các mô người “thông thường” đều có thể trả lời được về vấn đề liên quan đến các đột biến di truyền.      So với các loại mô ở những bộ phận cơ thể khác thì da có tỷ lệ thể khảm rât cao. Nguồn: Nature   Cơ thể con người là một thể khảm phức hợp được hình thành từ những khối tế bào với những hệ gene khác nhau – và nhiều khối tế bào trong số này mang những đột biến có thể dẫn đến ung thư, theo kết quả nghiên cứu về 29 kiểu mô khác nhau.  Đây là nghiên cứu có quy mô lớn nhất về kiểu mô được tiến hành và dựa trên việc phân tích dữ liệu từ hàng ngàn mẫu thu thập được từ 500 người. Kết quả nghiên cứu đã được công bố vào ngày 6/6/2019 trên Science có thể giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về cách ung thư bắt đầu như thế nào và bằng cách nào có thể phát hiện được nó sớm hơn trước đây.  “Hiện giờ có thể đánh giá, chúng ta có những thể khảm, và một số lượng đáng kể các tế bào trong cơ thể chúng ta sẵn có các đột biến có khả năng gây ung thư,” Iñigo Martincorena, một nhà di truyền học tại Viện nghiên cứu Wellcome Sanger ở Hinxton, Anh. “Đây là những ‘hạt giống’ của bệnh ung thư.”  Các thể khảm mô phát sinh khi các tế bào tích lũy những đột biến – từ các lỗi DNA trong suốt quá trình phân chia tế bào, hay bởi sự phơi nhiễm từ các yếu tố ngoại cảnh như tia cực tím hay khói thuốc lá. Khi một tế bào da mang một đột biến phân bào, nó có thể tạo được ra một tế bào da khác biệt về di truyền so với những tế bào xung quanh.  Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy những mức độ cao của thể khảm trong da, thực quản và máu. Những kết quả đó được thu nhặt thông qua các gene đặc biệt được giải trình tự trong các mẫu mô cực nhỏ.  Các mẫu hình phức hợp  Gad Getz, một nhà sinh học tính toán tại bệnh viện đa khoa Massachusetts ở Boston, theo dõi các kết quả nghiên cứu này. Getz và nhóm nghiên cứu của anh quyết định đảm trách một nhiệm vụ khó: thay vì giải trình tự DNA từ các mẫu nhỏ, họ sẽ khai phá một cơ sở dữ liệu RNA – dữ liệu giải trình tự từ dự án Biểu hiện kiểu gene – mô (GTEx). Bởi vì cơ thể sử dụng DNA như một khuôn mẫu để tạo ra các giải trình tự gene RNA, các đột biến trong DNA thi thoảng cũng được phản ánh trong RNA.  Getz và cộng sự có thể truy cập vào dữ liệu từ 6.700 mẫu được trích từ 29 mô của 500 người. Nhưng cách tiếp cận của họ cũng có nhiều hạn chế. Không phải tất cả DNA đều mã hóa RNA, vì vậy không phải mỗi đột biến DNA sẽ được hiển thị trong các giải trình tự RNA. Và bởi vì các mẫu được dùng trong dự án GTEx đều có số lượng tương đối lớn, dấu hiệu DNA từ những cụm nhỏ tế bào có các hệ gene đơn nhất của nó có thể bị chìm khuất trong số lượng rất lớn các tế bào khác.  Về tổng thể, nghiên cứu này tìm kiếm một số ví dụ về thể khảm trong một vài loại mô hơn là dừng lại ở dạng nghiên cứu cơ bản của một số công trình trước. Nhưng điều chính yếu, Martincorena nói, là những phân tích mới nhất đã cho thấy thể khảm biểu hiện trên một diện rộng các mô.  Các mô có tỷ lệ phân bào cao, như ở da và thực quản, có xu hướng có nhiều thể khảm hơn so với các mô có tỷ lệ phân bào thấp. Thể khảm cũng gia tăng theo độ tuổi, và phổ biến ở phổi và da – các mô bị phơi nhiễm với những yếu tố ngoại cảnh có thể gây nguy hiểm cho DNA.  Các dấu hiệu không dễ nhận ra  Gene TP53 – vốn giúp sửa chữa hư hại DNA và được biết như “người bảo vệ hệ gene” – là một trong những điểm đột biến chung nhất. Những thay đổi trong TP53 đều liên quan đến ung thư nhưng nó có thể có thêm những đột biến trong những gene khác trước khi tế bào phát triển thành khối u.  “Những gì chúng ta thấy là một số thay đổi tiền ung thư sớm nhất sẽ hình thành nhờ việc tích lũy nhiều đột biến hơn”, Erin Pleasance, nhà nghiên cứu về hệ gene ung thư tại Cơ quan nghiên cứu ung thư British Columbia ở Vancouver, Canada, nói. “Cuối cùng chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số này có thể tiến triển thành ung thư.”  Các nhà nghiên cứu hiện tại cần tìm những cách để chọn ra những tế bào có khả năng phát triển thành khối u bên cạnh những tế bào ‘bình thường’ trong số đó, Cristian Tomasetti – một nhà toán học ứng dụng tại Johns Hopkins Medicine ở Baltimore, Maryland, nhận xét. Thậm chí nó có là yếu tố quan trọng trong những nỗ lực cải thiện khả năng dò ung thư sớm.  Tomasetti đã phát triển các phương pháp dò khối u DNA đang lưu thông trong máu, vốn được các nhà nghiên cứu hi vọng là vào một ngày nào đó, có thể được dùng để tìm những dấu hiệu sớm của ung thư. Nhưng anh cho biết, nhóm nghiên cứu của anh đã ngạc nhiên khi tìm thấy một số đột biến, vốn có liên quan đến ung thư và có thể có chỉ dấu vệ sự hiện diện của một khối u, từ một nhóm các tế bào máu bình thường.  “Tình trạng hỗn loạn này là một kiểu ‘bình thường’ mới. Thách thức bây giờ là xác định được những điểm bất thường trong những thứ mà chúng ta vẫn gọi là ‘bình thường’ đó”,” Tomasetti nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01780-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể dò các dấu hiệu sự sống ngoài trái đất trong 5 hay 10 năm tới      Nghiên cứu mới đây đã cho thấy một kính viễn vọng mới có thể dò được dấu hiệu tiềm năng về sự sống trên những hành tinh khác trong trong vòng khoảng 60 giờ.      “Điều khiến tôi thực sự bất ngờ về những kết quả này chúng tôi có thể tìm ra những dấu hiệu của sự sống ở những hành tinh khác trong vòng năm hoặc 10 năm tới’, Caprice Phillips, một học viên cao học tại trường đại học Ohio, nói. Anh sẽ chia sẻ những phát hiện ban đầu này về vấn đề này tại một cuộc họp báo trong khuôn khổ phiên họp của Hội Vật lý Mỹ APS 2021 vào tháng 4 này.  Các sao lùn khí có tiềm năng để nuôi dưỡng sự sống. Nhưng bởi vì không có các siêu trái đất hoặc tiểu sao Hải vương tồn tại trong hệ mặt trời của chúng ta, các nhà khoa học đã vật lộn để có thể xác định được liệu bầu khí quyển của chúng chứa ammonia và những tín hiệu tiềm nang của vật chất sống hay không.  Phillips tính toán, khi Kính viễn vọng không gian James Webb lắp đặt Space Telescope vào tháng 10 tới, có thể có khả năng dò được ammonia xung quanh sáu sao lùn khí chỉ sau một vài quỹ đạo quay.  Cô và đồng nghiệp mô hình hóa cách thiết bị JWST có thể phản hồi các đám mây hay thay đổi và các điều kiện khí quyển, sau đó tạo ra một danh sách xếp hạng về nơi nào kính viễn vọng này nên tìm kiếm sự sống.  “Loài người đã đặt ra những câu hỏi ‘chúng ta có cô đơn trong vũ trụ?’, ‘sự sống là gì?’,‘sự sống ở nơi khác có tương tự như sự sống của chúng ta không?’”, Phillips nói. “Nghiên cứu của tôi đề xuất là lần đầu tiên, chúng ta có hiểu biết khoa học và năng lực khoa học để bắt đầu thực sự tìm kiếm các câu trả lời cho những câu hỏi trên”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-scientists-extraterrestrial-life-years.html  https://meetings.aps.org/Meeting/APR21/Session/K05.2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể dự đoán được bước nhảy con mèo của Schrödinger (và cứu được nó)      Các nhà nghiên cứu Yale đã miêu tả cách bắt và cứu con mèo nổi tiếng của Schrödinger, biểu tượng của sự chồng chập và không thể dự đoán của lượng tử, bằng việc đoán trước những cú nhảy và hành động của mèo trong thời gian thực để cứu nó khỏi cái chết mà ai cũng biết. Với quá trình này, họ đã lật đổ những điều tồn tại nhiều năm trong vật lý lượng tử.      Các nhà nghiên cứu ở Yale đã tìm cách cứu được con mèo nổi tiếng của Schrödinger.   Khám phá này cho phép các nhà nghiên cứu thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm cho những bước nhảy sắp xảy ra của các nguyên tử nhân tạo chứa thông tin lượng tử. Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Nature vào ngày 3/6/2019.  Con mèo của Schrödinger là một nghịch lý nổi tiếng được dùng để vẽ ra ý tưởng về sự chồng chập lượng tử – khả năng cho hai trạng thái đối nghịch nhau cùng đồng thời tồn tại – và tính không thể dự đoán được của vật lý lượng tử. Ý tưởng này là có một con mèo đặt trong một cái hộp kín với một nguồn phóng xạ và một chất độc sẽ được châm ngòi nếu một nguyên tử của chất thải phóng xạ phân rã. Lý thuyết chồng chập của vật lý lượng tử đề xuất là cho đến khi ai đó mở chiếc hộp này, con mèo sẽ ở hai trạng thái vừa sống vừa chết, một trạng thái chồng chập. Việc mở chiếc hộp để bảo vệ mèo, thay đổi đột ngột trạng thái lượng tử của nó một cách ngẫu nhiên, bắt buộc nó lâm vào cảnh hoặc sống hoặc chết.  Bước nhảy lượng tử là sự rời rạc (không liên tục) và thay đổi ngẫu nhiên trong trạng thái này khi nó được quan sát.  Thí nghiệm này được thực hiện trong phòng thí nghiệm của giáo sư Michel Devoret và do nhà nghiên cứu Zlatko Minev đề xuất – anh là tác giả chính của công bố. Kết quả thí nghiệm cho thấy một khám phá gây ngạc nhiên vì nó mâu thuẫn với quan điểm đã được xác nhận của nhà vật lý Đan Mạch Niels Bohr – những bước nhảy không đột ngột mà cũng không ngẫu nhiên như trước đây đã nghĩ.  Với một vật thể nhỏ bé như một electron, phân tử hay một nguyên tử nhân tạo chứa thông tin lượng tử (vẫn được gọi là một qubit), một bước nhảy lượng tử là một chuyển pha đột ngột từ một trong những trạng thái năng lượng rời rạc của chúng sang trạng thái khác. Trong quá trình phát triển các máy tính lượng tử, các nhà nghiên cứu phải chú ý đến hành xử với những bước nhảy của các qubit này, vốn là những biểu thị của các lỗi trong tính toán.  Những bước nhảy lượng tử bí ẩn đã được Niels Bohr lý thuyết hóa một thế kỷ trước nhưng cho đến tận những năm 1980, người ta mới quan sát được hiện tượng này trong các nguyên tử.  “Những bước nhảy đó xảy ra mọt thời điểm chúng tôi đo đạc được một qubit”, Devoret – giáo sư F.W. Beinecke về vật lý và vật lý ứng dụng tại Yale và là thành viên của nhóm nghiên cứu Viện Lượng tử Yale, nói. “Các bước nhảy lượng tử được biết là không thể dự đoán trong thời gian dài”.  “Bất chấp điều đó”, Minev cho biết thêm, “chúng tôi muốn biết là liệu có thể nhận lấy một tín hiệu cảnh báo trước là một bước nhảy sẽ xảy ra tới đây không”.  Minev lưu ý là thực nghiệm này được truyền cảm hứng từ dự đoán về mặt lý thuyết của giáo sư Howard Carmichael của trường đại học Auckland, một nhà nghiên cứu tiên phong về lý thuyết về quỹ đạo lượng tử và đồng tác giả nghiên cứu.  Thêm vào tác động cơ bản của khám phá, nghiên cứu này là một bước tiến lớn đầy tiềm năng trong việc hiểu và kiểm soát thông tin lượng tử. Các nhà nghiên cứu cho biết việc quản lý dữ liệu lượng tử và hiệu chỉnh các lỗi rất xác thực vì việc chúng xuất hiện là thách thức lớn cho việc phát triển những máy tính lượng tử hữu dụng đầy đủ.  Nhóm nghiên cứu Yale đã áp dụng một cách tiếp cận đặc biệt để điều khiển một cách gián tiếp một nguyên tử nhân tạo siêu dẫn, với ba nguồn phát vi sóng chiếu lên nguyên tử này trong một khoang 3-D được làm từ nhôm. Phương pháp điều khiển gián tiếp hai lần này do Minev phát triển cho các mạch siêu dẫn, cho phép các nhà nghiên cứu có thể quan sát nguyên tử này theo cách chưa từng biết đến.  Bức xạ vi sóng tỏa lên nguyên tử nhân tạo này như nó được quan sát, kết quả trong các bước nhảy lượng tử. Tín hiệu lượng tử nhỏ bé của các bước nhảy đó có thể được khuếch đại mà không bị mất mát ở nhiệt độ phòng. Tại đó, tín hiệu của chúng có thể được điều khiển trong thời gian thực. Nó cho phép các nhà nghiên cứu thấy sự thiếu hụt đột ngột của các hạt photon dò được (các photon phát  ra bởi một trạng thái phụ thuộc của nguyên tử bị vi sóng kích thích); sự thiếu hụt là cảnh báo sớm về một bước nhảy lượng tử.  “Hiệu ứng tuyệt đẹp được hiển thị trong thực nghiệm này là sự gia tăng của tính liên kết trong suốt bước nhảy, bất chấp việc quan sát nó”, Devoret nói. Minev cho biết thêm, “anh có thể tác động đến nó mà để không chỉ bắt được bước nhảy mà còn đảo ngược được nó”.  Đây chính là điểm cốt lõi, các nhà nghiên cứu cho biết. Trong khi các bước nhảy lượng tử xuất hiện riêng rẽ và ngẫu nhiên trong suốt quá trình, việc đảo ngược một bước nhảy lượng tử có nghĩa là một cuộc cách mạng trong trạng thái lượng tử, một đặc điểm tất định và không ngẫu nhiên; bước nhảy luôn luôn xảy ra theo cùng lúc và có thể dự đoán ngay từ khởi điểm ngẫu nhiên của nó.  “Các bước nhảy lượng tử của một nguyên tử là cái gì đó tương tự với sự phun trào của một núi lửa”, Minev nói. “Chúng hoàn toàn không thể dự đoán được trong một thời gian dài. Dù vậy, với việc điều khiển được chính xác, chúng tôi có thể dò được một cảnh báo sớm của một tai nạn sẽ xảy ra và tác động lên nó trước khi nó xảy ra”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-06-physicists-schrodinger-cat.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể học gì từ quy trình bảo lãnh công nghệ của Hàn Quốc?      Tại Hàn Quốc, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) không có tài sản thế chấp vay vốn có thể đề nghị KOTEC đánh giá công nghệ, bảo lãnh để vay vốn ngân hàng. Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể cân nhắc học hỏi để hỗ trợ SME trong bối cảnh khối doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn về vốn hiện nay.      Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh phát biểu tại hội thảo.  Nguồn ảnh: Báo Khoa học và phát triển.  Tại Hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống đánh giá và bảo lãnh công nghệ” do Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia (NATIF) tổ chức vào ngày 22/11 tại Hà Nội, các chuyên gia từ Tổng công ty tài chính công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) đã chia sẻ kinh nghiệm trong việc đánh giá và bảo lãnh công nghệ ở Hàn Quốc.  Tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp  TS. Kim Jonghyun, trưởng ban hợp tác quốc tế của KOTEC trình bày về quy trình bảo lãnh công nghệ. Trọng tâm của chính sách này là giúp đỡ các doanh nghiệp khởi nghiệp, có quy mô vừa và nhỏ. Khi các SME thiếu tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng thì có thể đến KOTEC nộp hồ sơ xin bảo lãnh. KOTEC sẽ tiến hành thẩm định đánh giá công nghệ của doanh nghiệp đó và cấp giấy bảo lãnh. Ngân hàng xem xét cho SME vay dựa vào giấy bảo lãnh công nghệ (trong trường hợp SME bị phá sản thì KOTEC phải trả khoản nợ đó và tiến hành đòi nợ từ doanh nghiệp, còn ngân hàng không hề bị rủi ro). “Nhiều doanh nghiệp phát triển lớn mạnh rồi cũng ‘bất mãn’ hỏi chúng tôi tại sao chỉ tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp mới bắt đầu mà quên đi họ. Nhưng nguồn kinh phí hỗ trợ của KOTEC có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung vào một nhóm doanh nghiệp mới bắt đầu được thôi”, TS. Kim Jonghuyn nói.      “Nhiều doanh nghiệp phát triển lớn mạnh rồi cũng ‘bất mãn’ hỏi chúng tôi tại sao chỉ tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp mới bắt đầu mà quên đi họ. Nhưng nguồn kinh phí hỗ trợ của KOTEC có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung vào một nhóm doanh nghiệp mới bắt đầu”, TS. Kim Jonghuyn, trưởng ban hợp tác quốc tế KOTEC.      Ngoài ra, KOTEC cũng xem xét bảo lãnh công nghệ cho những doanh nghiệp đang có nguy cơ phá sản. “Vì có những doanh nghiệp sắp phá sản vì lý do nào đó nhưng công nghệ của họ rất tốt. Tuy nhiên với những trường hợp này thì chúng tôi phải kiểm tra hết sức cẩn thận”, ông nói thêm.  Cho đến nay, KOTEC đã bảo lãnh cho khoảng 70.000 doanh nghiệp, tổng lượng vốn mà KOTEC bảo lãnh công nghệ vào khoảng 18.000 tỉ USD. Những doanh nghiệp được bảo lãnh này tạo ra doanh thu vào khoảng 80.000 tỉ USD. Tỉ lệ nợ xấu mà KOTEC phải gánh chỉ ở mức 4,2% (KOTEC phải trả nợ cho ngân hàng khi các doanh nghiệp được bảo lãnh công nghệ phá sản nhưng không thể đòi được nợ).  Hệ thống đánh giá công nghệ khách quan, minh bạch  Để hạn chế tỉ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất, KOTEC xây dựng và áp dụng hệ thống đánh giá KTRS (Kibo Technology Rating System) khách quan, minh bạch. Bộ công cụ KTRS này có 34 chỉ số (chủ yếu là các chỉ số định lượng), đánh giá doanh nghiệp ở những phương diện chính: giá trị công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường và khả năng kinh doanh. Sau khi doanh nghiệp được đánh giá công nghệ xong, KOTEC mới kết luận là doanh nghiệp đó sẽ được bảo lãnh với khoản vay bao nhiêu (tương ứng với năng lực công nghệ và khả năng thị trường của công ty đó).  Hệ thống KTRS có ưu điểm là “đảm bảo tính khách quan khi đánh giá công nghệ (trước khi có bộ chỉ số này, việc đánh giá công nghệ nhiều khi dựa trên ý kiến chủ quan của chuyên gia đánh giá). Vì vậy, hiện nay KTRS rất được tín nhiệm để đánh giá công nghệ ở Hàn Quốc”, TS. Kim Jonghuyn cho biết. Bên cạnh đó, để bộ tiêu chí KTRS chính xác, phản ánh đúng thực tiễn, KOTEC thường xuyên nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc cắt giảm các chỉ số đánh giá theo từng thời kỳ khác nhau và liên tục đào tạo đội ngũ nhân viên về việc sử dụng KTRS hàng năm.  Để bảo lãnh công nghệ, song song với việc đánh giá công nghệ bằng KTRS, KOTEC còn đánh giá rủi ro dựa trên nguồn dữ liệu về các doanh nghiệp. TS. Chulmin Jung, giám đốc Trung tâm dịch vụ thông tin của KOTEC cho biết, mặc dù chỉ hỗ trợ cho khoảng 70.000 doanh nghiệp nhưng KOTEC có đầy đủ dữ liệu của 300.000 doanh nghiệp trên khắp Hàn Quốc.  Chính nhờ những kinh nghiệm trong bảo lãnh công nghệ như vậy, KOTEC đã được rất nhiều nước đề nghị hợp tác chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ xây dựng hệ thống bảo lãnh công nghệ (gần đây nhất, KOTEC hỗ trợ Thái Lan và Philippines, Indonesia). Kể từ năm 2014 tới nay, KOTEC cũng đang hỗ trợ Việt Nam xây dựng bộ tiêu chí VTRS nhằm tiến tới xây dựng quy trình đánh giá công nghệ tốt hơn.     KOTEC là tổ chức phi lợi nhuận (không có cổ đông) được thành lập từ năm 1989 nhằm hỗ trợ cung cấp nguồn tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ. Đến 2005, KOTEC xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ KTRS. KTRS được cấp bằng sáng chế từ năm 2007. KOTEC bảo lãnh công nghệ với quy định tài chính: các ngân hàng phải trả khoản phí 0.03% tổng số vốn họ cho một doanh nghiệp được KOTEC bảo lãnh vay vốn. Còn các doanh nghiệp muốn được KOTEC thẩm định công nghệ và cấp giấy bảo lãnh phải trả khoản phí 200 USD/ một lần đánh giá và cấp giấy bảo lãnh. KOTEC phải chịu trách nhiệm trả toàn bộ khoản vay của doanh nghiệp được bảo lãnh công nghệ trong trường hợp doanh nghiệp đó phá sản.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Cobra: Robot thám hiểm Mặt trăng kiểu mới      Những sinh viên chiến thắng trong một cuộc thi của NASA đã thiết kế một robot hình dạng rắn có thể trườn bò trên bề mặt Mặt trăng và tự biến đổi để lăn xuống dốc.      Các sinh viên Đại học Northeastern (Boston) đã tạo ra Cobra, thiết bị chiến thắng thử thách ý tưởng lớn của NASA.  Mỗi năm NASA lại tổ chức thử thách ý tưởng lớn, đặt ra một đề bài nhằm giải quyết vấn đề kỹ thuật “hóc búa” mà cơ quan này cần giải quyết. Vào mùa thu năm 2021, sinh viên từ các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ đã lao vào thiết kế những con robot có thể sống sót qua địa hình khắc nghiệt trên Mặt trăng và gửi dữ liệu về Trái đất. Chiến thắng đã gọi tên các sinh viên từ câu lạc bộ Sinh viên Khám phá và Phát triển Không gian của Đại học Northeastern (Boston). Họ hy vọng sẽ biến thiết kế của mình thành một thiết bị tiên tiến thực sự có thể được gửi lên mặt trăng.  Từ khoản tiền 180.000 USD do NASA đầu tư, các sinh viên tập trung vào việc thiết kế một robot có thể điều hướng trên Miệng hố Shackleton — một lòng chảo rộng 13 dặm gần cực Nam mặt trăng nơi NASA xác nhận có dấu hiệu của nước đóng băng vào năm 2018. Nước có rất nhiều trên Trái đất nhưng lại vô cùng khan hiếm bên ngoài bầu khí quyển của chúng ta. Con người cần nước để tồn tại, nhưng nó cực kỳ nặng, và việc vận chuyển nó đi xa 240.000 dặm sẽ tiêu tốn nhiều tiền của. Vì vậy, nước đóng băng sẽ là một nguồn tài nguyên quý giá để hiện thực hoá sứ mệnh Artemis của NASA – tìm cách thiết lập một căn cứ trên Mặt trăng.  Tuy nhiên, trước khi NASA có thể khai thác nguồn nước này cho các nhiệm vụ phi hành đoàn, họ cần xác nhận con số chính xác về lượng nước ở các khu vực khác nhau trên bề mặt Mặt trăng và thành phần hóa học của nó là gì. Không dễ để thu thập dữ liệu từ miệng hố sâu 2 dặm. Thứ nhất, đáy hố chìm trong bóng tối vĩnh viễn, đồng nghĩa với việc nhiệt độ dao động hàng trăm độ dưới mức đóng băng. Thứ hai, góc nghiêng của sườn dốc là 30,5 độ, dốc hơn đỉnh Everest. Thứ ba, Mặt trăng toàn cát. Bất kỳ robot nào muốn băng qua địa hình này sẽ phải sống sót qua nhiệt độ lạnh thấu xương, đi xuống dốc cheo leo và môi trường khắc nghiệt.  Các sinh viên đã thử nghiệm đủ loại robot, từ robot nhảy, đi bằng chân và lăn tròn, giống như các xe tự hành đang được sử dụng trên sao Hỏa. Nhưng robot lăn sẽ chìm trong lớp đất mặt và không thể di chuyển an toàn trên địa hình dốc như hố Shackleton. Robot có chân cũng bị lún và hoạt động kém ổn định hơn trong môi trường cát. Robot nhảy sẽ gặp khó khăn khi phóng và rất khó để hạ cánh mà không bị hư hại hoặc bị mắc kẹt. “Chúng tôi đã xem xét toàn bộ các ý tưởng thiết kế robot khác nhau, và rồi tự hỏi liệu có cách nào để chúng tôi có thể kết hợp các chuyển động khác nhau không?” Yash Bhora, một sinh viên chuyên ngành Vật lý, người phụ trách xây dựng phần mềm trong nhóm, nhớ lại.  Bhora và các đồng đội của mình đã xem xét một robot lăn, nó có thể khai thác một phần lực hấp dẫn của Mặt trăng để tự đẩy bản thân xuống miệng hố hiệu quả hơn. Nhưng một khi nó chạm đáy, nó sẽ cần một loại chức năng khác, Matthew Schroeter, trưởng nhóm, người đã tốt nghiệp trường Northeastern năm 2022 và hiện đang làm việc tại Honeybee Robotics, cho biết.  Họ quyết định thiết kế robot có hình dáng dài giống rắn, được tạo thành từ nhiều buồng kết nối với nhau, có thể uốn lượn, di chuyển trườn bò trên mặt đất. Sau đó khi đến miệng hố, nó sẽ tự nối phần đuôi và đầu lại thành vòng tròn như bánh xe và lăn xuống. Họ đặt tên cho nó là Cobra. Để bắt đầu, các sinh viên đã chế tạo một “Mini Cobra”, chỉ dài dưới 2 feet và nặng 5 pound, bằng khoảng một phần ba kích thước của thiết kế cuối cùng. Nó được làm từ 11 đơn vị sợi carbon và nylon liên kết với nhau. Mỗi buồng chứa một bộ truyền động chạy bằng pin — về cơ bản là một động cơ — có thể biến các lệnh từ máy tính bo mạch đơn Raspberry Pi trong đầu rắn thành chuyển động. Bởi vì nó là mô-đun, nó có thể được điều khiển trườn theo kiểu rắn để điều hướng trên các khu vực bằng phẳng, đầy cát như đáy miệng núi lửa và chuyển đổi thành một bánh xe lục giác có thể lăn xuống các sườn dốc.  Đuôi của Cobra được thiết kế để chứa một máy quang phổ neutron nhỏ, có thể đo sự thay đổi năng lượng của neutron trên bề mặt mặt trăng và xác định hydro, và do đó có thể phát hiện nước, sâu bên trong Miệng hố Shackleton. Nhóm cũng đã trang bị cho robot cảm biến radar và một thiết bị đo lường quán tính để người điều khiển có thể theo dõi chuyển động, tốc độ và vị trí của Cobra khi nó lăn và trườn xung quanh.  Để kiểm tra các chức năng này, nhóm đã cho Mini Cobra di chuyển xuống các bến tàu bốc hàng và qua các bãi đậu xe xung quanh khuôn viên trung tâm thành phố Boston của Northeastern. Họ gặp phải khó khăn trong việc điều chỉnh cơ chế chốt kết nối đầu và đuôi của Cobra khi nó chuyển sang chế độ lăn tròn. Đôi khi nó sẽ chốt quá mạnh, gây hỏng dây hoặc mất kết nối. Bhora đã làm việc đến phút cuối cùng để khắc phục sự cố trong phần mềm của robot và cuối cùng đã đưa ra một quy trình gồm hai bước để ngăn robot lắc lư lỏng lẻo và tạo ra một chốt an toàn.  Kỷ nguyên mới cho robot không gian  Vào tháng 11, nhóm đã đến Sa mạc Mojave của California để trình diễn Cobra ở địa hình giống với những gì robot sẽ phải di chuyển trên mặt trăng. Họ đối đầu với sáu đội khác, những người đã mang đến robot có chân, robot có bánh xe, robot xuống địa hình dốc trên dây cáp và thiết kế giống như Lego của MIT có thể biến đổi thành nhiều hình dạng. Đến lượt Cobra thi đấu, đầu và đuôi của nó gắn chặt lại với nhau thành một vòng tròn và tự lăn xuống một ngọn đồi dốc, phía sau là tiếng reo hò cổ vũ của cả đội. Nó luồn lách vào một bụi cây ngải đắng nào đó, nhưng những người điều khiển đã điều hướng nó ra khỏi bụi gai và đưa nó đi tiếp. Nhóm đã thể hiện thành công tất cả các phần và mang về Giải thưởng Artemis, danh hiệu lớn nhất của cuộc thi.  Những người chiến thắng của các năm trước thường vẫn tiếp tục phát triển thêm công nghệ của họ và một vài trong số đó thậm chí còn đang được xem xét để tích hợp vào các nhiệm vụ sắp tới của NASA. Đôi khi, các dự án bị trì hoãn sau khi các thành viên trong nhóm tốt nghiệp đại học. Theo Kevin Kempton thuộc Chương trình Phát triển Trò chơi của NASA, một trong những giám khảo chính của cuộc thi, điều đó phụ thuộc vào động lực của các thành viên trong nhóm. “Tôi cố gắng động viên các đội”, Kempton nói. “NASA luôn tìm kiếm các thiết bị có chi phí thấp.”  Với trường hợp của Cobra, hầu hết các thành viên của nhóm là sinh viên chưa tốt nghiệp vẫn đang hoạt động trong câu lạc bộ thám hiểm không gian và họ muốn hoàn thiện ý tưởng để sẵn sàng cho một sứ mệnh thực sự trên mặt trăng. Điều đó sẽ cần nhiều nỗ lực. Hầu hết các thành phần của Cobra là vật liệu in 3D không thể tồn tại trong điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt ở các cực của Mặt trăng, nơi các vành miệng hố bị mặt trời nung nóng, còn đáy hố sâu thì lạnh lẽo. Các thành phần của Cobra sẽ phải được chế tạo từ các kim loại chắc chắn, như titan, có thể chịu được sự thay đổi nhiệt độ và áp suất đột ngột cũng như chống ăn mòn.  Trong điều kiện ở sa mạc California, sinh viên chỉ đứng cách robot vài bước chân để điều khiển. Nhưng các tín hiệu mất khoảng ba giây để truyền từ bề mặt Trái đất đến Mặt trăng và ngược lại, một độ trễ đòi hỏi các hệ thống phải có một số khả năng tự ra quyết định.  “Tôi luôn nói với các sinh viên của mình, một thứ gì đó vô dụng trên Trái đất không có nghĩa là nó vô dụng trên mặt trăng hay sao Hỏa”, Alireza Ramezani, cố vấn khoa của nhóm và là giáo sư kỹ thuật tại Northeastern, cho biết. Một nhóm các nghiên cứu sinh tiến sĩ hiện đang xem xét cách thức phát triển khả năng tự chủ cho hệ thống Cobra và họ đã nhận được đề xuất từ các công ty chế tạo robot tư nhân quan tâm đến việc hợp tác để phát triển thêm dự án. Các sinh viên cũng sẽ tranh thủ sự giúp đỡ từ Viện Robot Trải nghiệm của trường đại học để phát triển Cobra thành một hệ thống hoàn thiện, sẵn sàng đi vào không gian.  Ramezani chuyên nghiên cứu về robot lấy cảm hứng từ sinh học và đã thiết kế robot Leonardo vào năm 2019. Thiết bị giống như loài chim này vừa đi vừa bay lượn — và thậm chí có thể trượt ván — áp dụng hai chế độ vận động để tự ổn định trên địa hình gồ ghề. Ông cho biết mình rất vui khi thấy NASA xác nhận tiềm năng của các thiết kế robot đa phương thức mới, chẳng hạn như Ingenuity, máy bay trực thăng năng lượng mặt trời robot nhỏ hoạt động trên Sao Hỏa trong nhiệm vụ Mars 2020 của NASA. Vào ngày 19/4/2021, trực thăng đã thực hiện thành công chuyến bay có điều khiển bằng động cơ đầu tiên trên Sao Hoả.  “Tất cả những điều này cho thấy chúng ta đang chứng kiến một kỷ nguyên mới của việc thiết kế robot không gian”, ông bày tỏ sự phấn khởi trước các hệ thống có thể chuyển từ chế độ di chuyển này sang chế độ di chuyển khác để đáp ứng mọi nhiệm vụ trong sứ mệnh. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ còn thấy nhiều robot thú vị hơn nữa.”  Đinh Cửu  tổng hợp  Nguồn:  Rovers Are So Yesterday. It’s Time to Send a Snakebot to Space  Northeastern students designed a snake robot that could help NASA find water on the moon       Author                .        
__label__tiasang Cội nguồn của bạo loạn ở kinh đô ánh sáng      Sau một loạt vụ cháy ở các khu tập thể dành cho người nhập cư ngay tại thủ đô Paris hồi cuối tháng 8 vừa qua làm hơn 20 người da đen thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương, thì nay, một loạt các vụ đốt xe hơi và trường học liên tiếp xảy ra đã khiến người ta đặt câu hỏi về độ an toàn của kinh đô ánh sáng.    Tất cả bắt đầu từ khi hai thiếu niên gốc Phi chết vì điện giật khi chạy trốn cảnh sát. Các vụ đốt phá từ các ngoại ô đông bắc Paris đã nhanh chóng lan ra nhiều thành phố trong cả nước. Tình hình trở nên đáng lo ngại hơn khi mà không chỉ riêng Pháp, Bỉ đang cháy, mà cả Luân Đôn, Berlin, Amsterdam… cũng bén lửa bởi vấn đề với cộng đồng thiểu số không phải của riêng kinh đô ánh sáng.    Bất bình đẳng – nguồn gốc của bạo loạn                            Bạo lực lan tràn đã làm bật nắp nồi hơi của nghèo đói, phân biệt đối xử và tuyệt vọng trong các gia đình nhập cư mà đa số người Pháp từ lâu đã không để ý tới. Sau hơn hai tuần bạo động diễn ra hằng đêm, đã có hơn 8000 chiếc ôtô và xe buýt bị đốt cháy, nhiều tòa nhà bị thiêu trụi, ước tính thiệt hại về vật chất lên tới hơn 200 triệu USD, nhưng những hậu quả xã hội còn lớn hơn nhiều. Cho tới nay, việc thanh niên tấn công cảnh sát không có gì khó hiểu, nhưng tại sao họ lại đốt xe hơi? Trước hết, phóng hỏa xe hơi, đó là phá hủy biểu tượng của đô thị, phá hủy tự do của những người giàu, phá hủy bất bình đẳng xã hội. Đối với những người giàu, xe hơi là một vật không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, và bằng cách thực hiện hành vi này, những kẻ gây bạo loạn, thường là những người nghèo bị gạt ra ngoài lề xã hội, tự nhủ rằng như vậy “bọn nhà giàu sẽ mất đi thứ mà chúng yêu quý”.  Các cuộc bạo loạn này là kết quả không lường trước được của sự tăng cường các chính sách coi thường người nước ngoài nhập cư vào Pháp, coi họ là một quả bom khủng bố nổ chậm. Đó còn là kết quả của sự căm ghét các quan chức âm ỉ trong lòng những thanh niên tuyệt vọng và chán nản, sống ở những nơi mà chính phủ gọi là “khu vực nhạy cảm”.  Trên thực tế, tại Pháp có tới 751 khu vực nằm trong các chương trình đặc biệt, ở đó tỷ lệ thất nghiệp lên tới 19,6%, tức là khoảng gấp đôi tỷ lệ trung bình cả nước và chiếm hơn 30% số người ở độ tuổi từ 21 đến 29. Tệ hơn, mức thu nhập ở các khu vực này thấp hơn mức bình quân cả nước 75%. Nhiều khu Nhà do nhà nước xây dựng đã trở nên xập xệ và trở thành nơi tụ tập của những kẻ bất lương hằng đêm. Đó là minh chứng cho 40 năm áp dụng chủ trương tập trung người nhập cư ở những quận xa trung tâm thành phố. Ngay cả những người trẻ tuổi có nhiệt huyết cũng không dễ dàng gì vươn lên, nếu họ xuất thân từ một khu vực “nhạy cảm”. Một số thống kê cho biết, cơ hội được mời phỏng vấn của các ứng cử viên xin việc sống ở những khu vực “có vấn đề” chỉ bằng một nửa so với những người ở khu vực bình thường. Tất cả học sinh Pháp đều được học những giá trị của nền cộng hòa Pháp như tự do và bình đẳng, nhưng trong thực tế cuộc sống, đặc biệt khi tìm việc, các thanh niên da màu thấy đó chỉ là ảo tưởng.    Vấn đề không của riêng nước Pháp  Chứng kiến loạt bạo loạn vừa qua tại Pháp và Bỉ, không ít lãnh đạo Châu Âu đã tỏ ra lo ngại ngọn lửa sẽ lan sang nước mình. Lo ngại này không phải là không có lý. Sở dĩ nước Pháp bị châm lửa đầu tiên chính bởi vì các chính trị gia trong đất nước này đã không che giấu được thực tế đối xử bất bình đẳng với người nhập cư, trong khi bình đẳng là một trong những giá trị nền tảng của thể chế Cộng hòa.  Bất bình đẳng của thủ đô Paris hoa lệ chính là hình ảnh tượng trưng cho các quốc gia Châu Âu giàu có đang dần tiến tới thói quen không thèm đếm xỉa đến bộ phận dân nhập cư nghèo khổ. Không ít người có chung cảm giác rằng chính sự lãng quên “tập thể” ấy đã đẩy nhiều người vào bất hạnh và từ bất hạnh họ đi đến tuyệt vọng để rồi sa vào con đường bạo lực, cực đoan. Nếu hiểu theo cách này, không chỉ riêng Paris đang cháy, mà cả Luân Đôn, Madrid, Rome, Amsterdam, Brussel, thậm chí cả New York cũng đang bén lửa.  Những vụ bạo động tại Pháp cho thấy mặt trái của hệ thống xã hội Châu Âu: dựng hàng rào xung quanh cộng đồng 5-10 triệu người nhập cư chủ yếu là Hồi giáo. Kiểu hành xử “để họ sang một bên” bấy lâu nay đã không phát huy tác dụng. Việc kiểm soát thế hệ nhập cư đầu tiên không khó, nhưng vấn đề trở nên khó khăn hơn nhiều khi liên quan đến thế hệ con cháu của những người nhập cư này. Trong suốt một thời gian dài, nhiều chính phủ các nước Châu Âu đã phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, tôn giáo và tâm lý bài ngoại do lo sợ chủ nghĩa khủng bố. Kết hợp với các nhân tố này là tình trạng thất nghiệp hàng loạt trong tầng lớp thanh niên. Tất cả tạo ra một mối ác cảm, một tâm lý chống đối ngấm ngầm trong lòng các xã hội Châu Âu.  Trên thực tế, việc làm sao liên kết các cộng đồng thiểu số và người nhập cư, nhất là những người lao động trình độ thấp trong những thời điểm kinh tế khó khăn đang làm đau đầu các nhà lãnh đạo Châu Âu lúc này. Thật khó có thể đưa ra câu trả lời thoả đáng bởi các quốc gia Châu Âu khá bất đồng về quan điểm. Và trong khi người ta còn đang bối rối tìm cách giải quyết, thì mối ác cảm ngấm ngầm ấy đã biến thành bạo lực. Tháng 11 năm ngoái, người dân Hà Lan choáng váng trước vụ sát hại nhà làm phim Theo van Gogh. Vụ giết hại làm dấy lên mối lo ngại về chủ nghĩa khủng bố quốc tế và bản sắc dân tộc tại xứ sở hoa tulip, nơi 20% dân số có nguồn gốc nước ngoài.  Cũng như các quốc gia vùng Bắc Âu khác, nước Đức rất tự hào vì chính sách đoàn kết “kiểu Đức” của họ đối với cộng đồng hơn 2 triệu người thiểu số gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng đoàn kết ấy là gì? Là nạn thất nghiệp trong các bộ phận người nhập cư cao gấp 2 lần tỉ lệ trung bình của cả nước và tình trạng thất nghiệp trong giới trẻ còn tồi tệ hơn khi cứ ba thanh niên lại có một người thất nghiệp. Tình trạng này đã kéo dài mà Chính phủ vẫn không có giải pháp, thực chất là đã không có quyết tâm thực sự, để giải quyết vấn đề. Vì thế căng thẳng đã gia tăng, và đỉnh điểm là hàng loạt vụ giết người “vì danh dự” làm chấn động Berlin những ngày đầu năm 2005.   Chuyển sang Tây Ban Nha, nơi có 1 triệu người Hồi giáo, xứ sở của những đấu sỹ bò tót cũng đang vật lộn tìm cách đẩy lui làn sóng di cư bất hợp pháp từ Bắc Phi. Sau những vụ lộn xộn xảy ra tại biên giới giữa Tây Ban Nha và Maroc, Thủ tướng Tây Ban Nha Jose Luis Zapatero đã đề xuất tổ chức một Hội nghị Bộ trưởng Âu-Phi về vấn đề nhập cư. Hành động dũng cảm này đã không được nhiều nước thành viên ủng hộ. Chỉ đến khi lửa đã cháy thì người ta không còn đủ thời gian để mà họp bàn nữa.    Hợp tác cùng phát triển là giải pháp duy nhất  Philippe Douste-Blazy, Bộ trưởng ngoại giao Pháp khẳng định rằng viện trợ cho các nước nghèo để tránh người dân các nước này nhập cư trái phép vào Châu Âu là câu trả lời thỏa đáng nhất cho vấn đề. Một mặt, cần phải phản ứng cứng rắn, nhưng mặt khác cũng phải tỏ rõ thái độ muốn đối thoại. Không ai có thể và có quyền tiếp tục khoanh tay đứng nhìn các nước nghèo ngày càng nghèo hơn trong khi những nước giàu ngày càng giàu hơn. Nếu muốn sống trong hòa bình và thịnh vượng, không ai được mặc nhiên chấp nhận thực tế ngày càng có nhiều người đang bị bần cùng hóa. Đó là điều không thể chấp nhận được về mặt đạo đức và ẩn chứa những hiểm họa khôn lường về chính trị, xã hội. Vì vậy cần phải có một kế hoạch lớn của Liên minh Châu Âu dành cho các nước nghèo, đặc biệt là Châu Phi.  Tăng cường các biện an ninh là việc làm cần thiết trước mắt, nhưng chỉ riêng nó thôi thì chưa đủ. Cần phải đề cập nhiều hơn đến vấn đề cùng phát triển. Đó là giải pháp triệt để duy nhất. Thực hiện các dự án cụ thể trong các vùng sa mạc Sahara và cận Sahara để người dân các khu vực này tìm thấy cơ hội sống mới ngay tại quê hương mình mới là điều quan trọng. Để làm được điều này, có lẽ phải tạo ra một công cụ tài chính mới, một ngân hàng có khả năng thực hiện đến cùng giải pháp này. Một thể chế như vậy sẽ có thể khuyến khích sự phát triển của các dự án nhỏ có lợi cho các nước nghèo. Đồng thời, Châu Âu và Mỹ không thể tiếp tục chơi trò lá mặt lá trái khi một mặt tuyên bố tăng viện trợ phát triển cho các nước nghèo, nhưng mặt khác lại bằng mọi cách bảo vệ một nền nông nghiệp được trợ cấp hào phóng, thực chất là tìm mọi cách đóng cửa thị trường nông phẩm đối với các nước nghèo, cướp đi kế sinh nhai của họ.  Anh Thư  tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Coldplasmatech: Đột phá trong chữa trị vết thương hở      Băng dính y tế sử dụng công nghệ plasma lạnh giúp chữa trị các vết thương, một phát minh mới đây của Startup Coldplasmatech ở Đức đã nhận được sự quan tâm rất lớn của nhiều công ty trên thị trường châu Âu, đặc biệt là của các công ty quân đội.      Carsten Mahrenholz, người sáng lập Coldplasmatech cầm trên tay băng dính chữa trị vết thương bằng Plasma lạnh  Thiết bị mà Carsten Mahrenholz, người sáng lập Coldplasmatech mong muốn dùng để chữa trị cho hàng triệu người bệnh, trông gần giống như một máy tính loại nhỏ: có một khối bằng nhựa, bên cạnh là một cái nút để bật. Thiết bị có cáp kết nối với một tấm silicon trong suốt, kích thước bằng một quyển vở học sinh. Khi bật thiết bị thì tấm silicon sẽ bắt đầu chuyển sang màu xanh.  Đây chính là Plasma, một dạng vật chất ở trạng thái thứ tư, bên cạnh trạng thái rắn, lỏng và thể khí. Carsten Mahrenholz, muốn dùng Plasma này để đẩy mạnh việc điều trị các vết thương hở. Mà chỉ riêng ở Đức cũng đã có khoảng ba đến bốn triệu người có các vết thương kiểu này.  Từ lâu người ta đã biết Plasma lạnh có thể phát huy khả năng chữa bệnh đáng ngạc nhiên. Plasma lạnh làm cho các tế bào trong cơ thể tạo ra các chất ra tín hiệu và kích thích chữa trị các vết thương. Đồng thời khí tích điện còn có tác dụng khử trùng mạnh. Thậm chí các mầm bệnh có tính đề kháng cao với các loại thuốc kháng sinh vẫn bị tiêu dịêt với hiệu quả cao. “Chúng tôi có thể tiêu diệt nhiều loại mầm bệnh có tính đề kháng cao với nhiều loại kháng sinh”, Mahrenholz nói.  Với sáng chế này, Carsten Mahrenholz đã nhận được giải thưởng sáng tạo của Đức cho các Startup. Thực ra sáng chế này được vinh danh không phải bởi việc áp dụng plasma trong y học mà chủ yếu do sáng kiến phát triển thiết bị thích hợp để đưa vào sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện. “Chúng tôi đã có khảo sát với các bác sỹ,  nhân viên y tế,  bệnh nhân và bộ phận vật tư chịu trách nhiệm mua sắm thiết bị ở các bệnh viện về khả năng sử dụng thiết bị này”,ông  Mahrenholz nói. “Xét cho cùng thì sản phẩm mới này phải đáp ứng được nhu cầu của người dùng”.  Cuối cùng, tính ưu việt của thiết bị chỉ có một nút bấm này là việc chữa trị hầu như diễn ra một cách tự động. Nhân viên y tế chỉ có một nhiệm vụ là đặt tấm băng dính đúng vào vị trí của vết thương trên cơ thể, “nhấn nút, chờ vài phút và xong”, Mahrenholz giới thiệu. Sau nhiều tuần và điều trị nhiều lần điều trị, vết thương sẽ lành hẳn. Do tấm silicon khá rộng nên thiết bị này có thể điều trị toàn bộ khu vực bị các vết thương lớn cùng một lúc. Đây cũng là một trong những điểm ưu việt, bởi những thiết bị tạo plasma lạnh cho đến nay thường chỉ chữa được các vết thương cỡ nhỏ có độ lớn như một cái bút – do đó nhân viên y tế phải kiên trì để phủ được kín bề mặt vết thương.  Nhờ thiết bị này, các bệnh viện có thể tiết kiệm được thời gian – việc chữa trị cho người bệnh sẽ diễn ra nhanh hơn. Đây là một giải pháp có thể giúp cho hệ thống y tế của Đức tiết kiệm khoảng 6 tỷ Euro. Tiềm năng tiết kiệm trên quy mô toàn thế giới còn lớn hơn nhiều, vì hiện có 36 triệu người có vết thương mãn tính phải điều trị.  Quân đội Liên bang Đức đã bày tỏ mong muốn hợp tác: Binh sỹ bị thương sẽ được điều trị tốt hơn và nhanh hơn. Mahrenholz đang xúc tiến một nghiên cứu lâm sàng tại các bệnh viện để chứng minh chính xác hơn hiệu quả của công nghệ này. Ngay trong năm nay Mahrenholz có thể triển khai sản xuất thiết bị này với số lượng lớn.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/erfolg/gruender/kaltes-plasma-ein-wunder-fuer-wunden/21189642.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Colma ở California: thành phố của người chết      Đầu thế kỷ 20 ở San Francisco có một địa danh hầu như chỉ có các nghĩa địa, một “Necropolis” (thành phố người chết) – Colma. Colma hình thành nhờ các cơn sốt vàng và bệnh dịch tả.      Những ngôi mộ tại Colma  “Thật là tuyệt khi được sống ở Colma” – đó là câu nói cửa miệng ở đây, nơi này cách trung tâm San Francisco chừng 10 km về phía nam. Thoạt nghe thì câu nói này có vẻ như là nói tào lao cho vui. Địa danh nhỏ bé này nép mình giữa những đồi cỏ với các câu lạc bộ golf, thi thoảng có những làn sương mù lạnh lẽo từ bờ biển Thái Bình Dương lướt qua. Tại đây người ta không cảm nhận được sự hối hả, náo nhiệt của một thành phố lớn, nơi này thật yên tĩnh, rất yên tĩnh.  Sự tĩnh lặng này là do cư dân ở đây tạo ra. Trong số khoảng trên 1,5 triệu người ở Colma thì chỉ có khoảng  0,1% là những người đang sống.  “Chúng tôi có thể khẳng định nơi này là một necropolis (thành phố người chết) duy nhất ở Hoa kỳ”, bà Maureen O’Connor, chủ tịch Hội Lịch sử Colma nói đầy vẻ tự hào, “đây là thành phố duy nhất mà các nghĩa trang được quan tâm hàng đầu.”  Quả thật thành phố có nhiều nghĩa trang. Một nghĩa trang Công giáo, một nghĩa trang Chính thống giáo của những người Hy Lạp, một nghĩa trang Nhật Bản, nghĩa trang dành cho người Serbia, một nghĩa trang Italia và bốn nghĩa trang của người Do Thái. Tổng cộng gồm 18 nghĩa trang – nếu tính cả nghĩa trang dành cho thú cưng. Ở nghĩa trang dành cho thú cưng có 13.000 gia súc, từ cá vàng cho tới Geparden. Trong đó có con chó của Tina Turner, nó được bọc trong cái áo lông của cô ca sĩ này để sang thế giới bên kia.   Tuy nhiên nó không phải là “nhân vật” nổi tiếng duy nhất trong long đất Colma: Huyền thoại Wild-West Wyatt Earp yên nghỉ tại đây, ngoài ra còn có ông trùm truyền thông William Randolph Hearst và Levi Strauss, người phát minh ra quần Jeans.  Tại đây đâu đâu cũng có sự hiện diện của cái chết. Các khối đá hình vuông, các cây thánh giá làm bằng đá cẩm thạch, các pho tượng tiên nữ xếp ngăn nắp, quy củ theo đúng hàng lối toả ra bốn phương trời, đây đó cũng có vài ba lăng tẩm. Chỗ nào còn chỗ là y như rằng bị người chết lấn chiếm, tuy nhiên cũng có chỗ người ta không nhận ra sự lấn chiếm đó: thí dụ ở góc Colma Boulevard và El Camino Real có một khoảng đất trống nhỏ bé cỏ mọc xanh um. Thoạt trông người ta tưởng đây là một mảnh đất để xây dựng còn bỏ trống, trong thực tế đây là nghĩa trang của người nghèo nơi này chôn cất gần 12 nghìn người không có của nả và bia mộ cũng chẳng có. Ngay đoạn giữa chợ xây dựng của địa phương và siêu thị có một miếng đất, nơi này có một bia đá đánh dấu đây là mộ tập thể của khoảng 28 nghìn người.  Tuy nhiên điều đặc biệt ở Colma không phải là con số người chết. Không phải con số trung bình mỗi ngày thành phố này tiếp nhận khoảng 78 “cư dân mới” được đưa vào lòng đất, cũng không phải vì Colma là địa phương có luật giao thông ưu tiên cho xe đám ma. Điều đặc biệt là phần lớn trong số 1,5 triệu cư dân có nơi an nghỉ cuối cùng tại đây là những người đã từng an nghỉ ở những nơi khác. Cho đến khi vật giá leo thang buộc họ phải rời bỏ nơi an nghỉ đó để đến đây.  Có nhiều lý do để Colma trở thành thành phố nghĩa trang, mọi sự bắt đầu từ tháng giêng 1848. Khi đó người ta xây dựng một nhà máy cưa xẻ gỗ mới ở Colma thuộc Sacramento bang California. Ông thợ mộc James Wilson Marshall bất ngờ phát hiện ở American River vài miếng vàng vụn – từ đó bùng lên cơn sốt vàng ở California.  Thành phố của người chết: thiên đường của những người thợ đẽo đá  Hàng vạn người đổ về California với ước vọng làm giàu từ vàng, nhiều người trụ lại ở thị trấn cảng nhỏ bé San Francisco. Vùng eo biển này sau đó mang tên “Cổng vàng”. Năm 1848 thị trấn này mới có khoảng một nghìn dân, sau một năm đã tăng lên thành 25.000.  Dân ngụ cư đổ về mang theo nhiều vấn đề mới, đó là bệnh tật như bệnh dịch tả, thương hàn hay bệnh sốt vàng da. Thành phố quá chật chội lại không có điều kiện chữa chạy và điều kiện vệ sinh hết sức tồi tệ. Như vậy là bên cạnh việc nỗ lực chăm lo cho cư dân mới tới San Francisco còn phải lo xử lý số người chết ngày một nhiều.  Ngay cả người chết cũng rơi vào cảnh tù túng chật chội. Ở Mỹ, đất mồ mả không cho thuê có thời hạn mà bán đứt vĩnh viễn cho người mua. Vì thế  ở San Francisco diện tích đất nghĩa trang ngày một lớn hơn, cuối cùng thành phố có tổng cộng  27 nghĩa trang.  Sau cao trào bùng nổ dân di cư, ngay cả sau khi cơn sốt vàng giảm nhiệt rồi tắt hẳn vào năm 1854 nhu cầu về đất dành cho người sống cũng không ngừng tăng lên. Nhà cầm quyền thành phố cảnh báo về “những luồng khí vô hình” bốc lên từ các nghĩa trang và “khí độc này có thể gây chết người” . Luồng khí này đặc biệt nguy hiểm  “đối với trẻ con và những người phụ nữ gầy yếu”, theo tờ “SF Weekly”. Năm 1900 người ta đã cấm không được mở rộng các nghĩa trang thành phố, từ năm 1902 bắt đầu cấm không được chôn cất trong địa giới thành phố. Các nhà điều hành, khai thác nghĩa trang đứng trước nguy cơ bị phá sản.  Một nhóm các tổ chức, trong đó có nhiều nhà thờ mua đất ở phía nam San Francisco để xây dựng nghĩa trang mới. Trong khi nhiều nghĩa trang thành phố thiếu sự quan tâm chăm sóc, nơi này lại thu hút các thành phần bất hảo trong khi đó các nghĩa trang mới được xây dựng như công viên nghĩa trang. Đường đi phong quang, có nhiều cây xanh và bãi cỏ cắt tỉa đẹp mắt. Những người thợ làm vườn và kiến trúc sư phong cảnh không những đã xây dựng nghĩa trang thành nơi uy nghi và trang nghiêm dành cho người quá cố mà còn biến nơi này thành địa điểm thư giãn, nghỉ ngơi cho người dân thành phố.  Tháng giêng 1914 thành phố San Francisco lại một lần nữa phải cân nhắc và cho rằng: “Không có cảm giác nào đáng kính hơn là  sự trân trọng người đã khuất”, thị trưởng Jim Rolph tuyên bố – tuy nhiên chính phủ phải “quan tâm nhiều hơn tới người đang sống hơn là đối với người chết”. Thị trưởng Rolph đã ký luật cải táng những người chết ở San Francisco và chuyển tới các nghĩa trang xa hơn.  Đây là một dự án khổng lồ kéo dài nhiều thập niên: đến năm 1941 người ta đã bốc và di chuyển 150.000 người chết – việc di chuyển diễn ra qua tuyến đường sắt mà hiện nay tuyến đường này phục vụ hệ thống  tầu nhanh.  Trong khi đó thành phố San Francisco không ngừng phát triển và lớn mạnh, vành đai của thành phố giờ đây đã vươn gần tới địa phận của các nghĩa trang mới. Liệu những người chết mới được bốc mộ và chuyển đến nơi ở mới nay có phải tái cải táng một lần nữa? Các nhà điều hành nghĩa trang tìm cách  ngăn cản việc di rời này bằng một biện pháp không bình thường: Họ viện dẫn luật thành phố. Năm 1941 người ta đã đặt tên cho địa phận nhỏ bé này là “Colma”.  Đầu tiên cư dân sinh sống tại đây chủ yếu là những người làm nghề xe đòn đám ma, thợ đá, phu đào huyệt, và có thể còn có một số người làm nghề bán hoa phục vụ tang lễ. Giờ đây thành phần cư dân có nhiều thay đổi, có trung tâm mua sắm Toys “R” Us, sòng bạc “Lucky Chances”, đại lý bán xe ô tô và thậm chí còn có cả quán rượu. Khách vãng lai đến đây chủ yếu là khách đưa tang hoặc những người đến thăm thân nhân quá cố. Tuy nhiên các nghĩa trang ở Colma vẫn chiến tới 73% diện tích thị trấn. Điều này không làm những người dân sống tại đây phải  lăn tăn. Bà Pat Hatfield, một cư dân tại đây nói “chúng tôi coi các nghĩa trang ở đây như một công viên. Chúng tôi picnic ở đây, đi dạo cũng ở đây. Bọn trẻ chạy chơi ở đây, các nghĩa trang  đơn giản đã trở thành một phần thuộc về chúng tôi.”  Ngược lại ở San Francisco công viên là công viên – tuy vậy người chết vì một lý do nào đó vẫn là một phần của thành phố này, mặc dù thành phố đã đào bới và tống khứ họ đi. Thí dụ khi ta đi dạo trong công viên Buena Vista và nhìn xuống mặt đất sẽ thấy những tấm lát bị sẻ dọc, nửa kia hình bán nguyệt, đây nguyên là những tấm lát cho khách bộ hành. Và  nếu cúi xuống nhìn vào các rãnh nước đôi khi ta thấy có những viên  đá với con số đề ngày tháng hay một phần của một cái  tên.  Đầu thế kỷ 20 khi thành phố bắt đầu bán tháo khoán các ngôi mộ chính quyền yêu cầu thân nhân của người chết trả một khoản tiền là 10 đôla cho việc chuyển xác chết và mộ chí. Không phải ai cũng có tiền thanh toán. Tất cả được vận chuyển ra khỏi thành phố và được đưa vào một ngôi mộ tập thể.   Còn điều gì đã xảy ra với bia mộ, ngày nay người ta vẫn thấy dưới các máng nước ở  San Francisco. Hay ở một số vùng ven biển có những đoạn người ta gia cố đê kè chắn song có khi còn thấy dấu vết của bia mộ và đôi khi người ta còn đọc được mấy hàng chữ trên những phiến đá cẩm thạch nằm chỏng trơ ven biển.  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/fotostrecke/colma-in-kalifornien-friedhoefe-mit-stadtrecht-fotostrecke-160078-2.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơn cuồng chứng khoán ở Việt Nam      Cơn “sốt” chứng khoán ở Việt Nam đã thu hút sự chú ý của khá nhiều báo nước ngoài. Chúng tôi xin giới thiệu bài đăng trên tạp chí Time ngày 22/2 vừa rồi.    Tối thứ Sáu, quán cà phê internet trong một ngõ hẹp của Hà Nội ầm ĩ tiếng tròVõ lâm truyền kỳ. Nhưng Trung, kỹ sư 26 tuổi, đến quán để lao vào cuộc đấu khác. Đăng nhập vào một chat room chứng khoán, Trung cùng cộng đồng khoảng 1.000 thành viên, với những biệt danh kiểu “warrnbuffet74”, “wallstreethanoi”…, đang tìm kiếm những cuộc mua bán nóng trong ngày.  “Tôi bán 13.000 cổ phần của Cavico E” – một massage thông báo. “31.000 đồng/cổ. Liên hệ: Mạnh”. Một massage tiếp theo: “Ối tiếc quá. Tôi vừa mua 32. Giá gặp cậu từ trước”. Trung (yêu cầu không nêu đầy đủ tên) cười thầm và lắc đầu: “Có thể chỉ là một người dùng 2 nickname để đẩy giá lên”. Trung biết rõ “chiêu” này vì đã từng dùng nó. Là kỹ sư nhà máy nước, anh chỉ kiếm được 300USD/tháng. Song năm ngoái, sau khi thế chấp nhà của cha mẹ để làm vốn, anh đã kiếm được 20.000 USD từ buôn bán cổ phiếu trên mạng. “Nếu khôn”, Trung nói, “anh có thể tăng gấp năm số tiền của mình chỉ trong vài tháng”.  Kế hoạch sinh lời của Trung chẳng có gì lạ – tất cả  những người Việt Nam trong cơn sốt chứng khoán đều như vậy – lạ là ở nơi anh kiếm tiền. Trong khi sàn chứng khoán chính thức non trẻ ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đang sôi động, Trung và những “tay mơ” khác lại đầu tư ở nơi còn khó khăn hơn: anh chỉ buôn bán trên “sàn không chính thức” là các website và chat room, nơi thường xuyên có hàng nghìn nhà đầu tư khác trao đổi cổ phần của các công ty đã cổ phần hóa một phần. Những người chơi gọi đó là chợ OTC (over-the-counter). Nhưng không giống sàn OTC ở bất kỳ đâu, những tay môi giới ở đây không có giấy phép và hiển nhiên không bị giám sát. Các cuộc mua bán diễn ra trong quán cà phê, trả tiền mặt lấy giấy cổ phần. “Đó là miền Tây hoang dã”, Noritaka Akamatsu, Chuyên gia Trưởng về Kinh tế Tài chính của Ngân hàng Thế giới ở Hà Nội nói.  Không ai rõ quy mô của “chợ đen” này. Nguyễn Duy Hưng, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn – công ty môi giới chứng khoán lớn nhất Việt Nam – ước tính có ít nhất 500.000 (gấp 5 lần số tài khoản đăng ký tại hai sàn chính thức) người đang giao dịch trên hơn chục website cá nhân và diễn đàn trực tuyến như “Mua rẻ” (www.muare.vn), Sanotc.com. Website Sanotc.com mới lập tháng 7 năm ngoái, giờ đã có 18.000 thành viên và hiện mỗi ngày có thêm 300 thành viên đăng ký. “Trước đây, người ta phải đến sàn giao dịch, nhưng mọi người thấy quy trình của chúng tôi nhanh và tiện hơn”, Hoàng Minh Sơn, người đồng sáng lập website này cho biết.  Mấy năm trước thì website như Sanotc.com không thể tồn tại, vì lấy đâu cổ phiếu mà buôn bán. Những công ty chủ chốt ở Việt Nam đều hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng khi một phần tài sản nhà nước được đưa ra thị trường tự do, cổ phần của khoảng 3.600 công ty cổ phần hóa được chia cho nhân viên, nhà quản lý và người ngoài, họ lần lượt bán chúng qua internet, “tuồn” cho người nhà, bạn bè hay người quen. Sau khi thỏa thuận, bất kể ở trên mạng hay quán cà phê, người mua sẽ nhận trực tiếp lấy giấy tờ sở hữu cổ phần, rồi cả người mua và người bán tới trụ sở công ty để đăng ký sang tên. Cũng có khi không cần sang tên: người bán chỉ viết một giấy biên nhận là xong.  Về mặt pháp lý, kiểu mua bán đó rõ ràng nguy hiểm – không chỉ bởi nó tiềm ẩn gian lận và trộm cắp. Đến giờ những công ty chưa niêm yết vẫn không buộc phải công bố báo cáo tài chính, song những người chơi cổ phiếu đã có những cách riêng để tìm hiểu công ty. Mặc dù một số website có thông tin theo dõi giá những cổ phiếu phổ thông, song không có những số liệu thị trường đáng tin cậy. Điều đó có nghĩa là hầu như không thể xác định giá cổ phiếu có thật hợp lý. Người mới chơi chứng khoán chủ yếu dựa vào thông tin “vỉa hè” và mù quáng trông đợi cổ phiếu nào đã tăng thì sẽ tiếp tục tăng. “Về cơ bản, việc nghiên cứu cổ phiếu đều theo kiểu: vợ thằng em họ của chú của ông tao bảo mua được lắm”, Mike Temple, Giám đốc chi nhánh bảo hiểm của công ty đầu tư chứng khoán Dragon Capital ở TP Hồ Chí Minh nói.  Bất chấp nguy hiểm, “chợ đen” chứng khoán đã náo nhiệt lại được kích động thêm nhờ kinh tế tăng trưởng nhanh, bầu không khí lạc quan sau khi gia nhập WTO và cả sự tăng tốc nhanh chóng của thị trường chứng khoán chính thức. Năm ngoái, chỉ số VNIndex (theo dõi trị giá của tất cả các công ty Việt Nam đã niêm yết) tăng 144% và đầu năm đến nay lại tăng thêm 44% nữa. Tuy nhiên thị trường chính thức lại nhỏ và khó giao dịch. Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh mới chỉ có 109 công ty niêm yết, tăng thêm 30 công ty so với năm ngoái và không đủ cổ phần để thỏa mãn cơn cuồng chứng khoán đang tăng lên. Chị Nguyễn Vinh, 36 tuổi, kế toán viên, nói vì không thể mua nổi cổ phần của các công ty đã niêm yết nên quay sang “chợ đen”. Được chị gái kể, bạn của chị quen một người trong đám cưới đang muốn bán cổ phần công ty PTSC – công chưa niêm yết chuyên cung bấp thiết bị và dịch vụ cho ngành dầu khí – Vinh nhờ giới thiệu và mua được 1.000 cổ phần với giá 7.600 USD. Ba tuần sau, Vinh lãi 30% sau khi bán cho một người trả lời quảng cáo của chị trên Sanotc.com. Hiện Vinh lại đang tìm mua cổ phiếu khác. “Có thể giá bong bóng, nhưng tôi không sợ”, Vinh nói.  Vinh có thể không sợ, song các nhà quản lý đang quan ngại. Chính phủ đã đưa ra những biện pháp an toàn nhằm tăng cường tính minh bạch và kiềm chế thị trường chứng khoán phát triển quá độ. Theo đó, những công ty có cổ phần giao dịch mà chưa niêm yết sẽ phải công bố báo cáo tài chính hằng năm với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và việc chuyển nhượng cổ phiếu phiếu sẽ phải đăng ký. Song ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng thừa nhận không đủ nhân lực để giám sát. Ủy ban chỉ có 10 thanh tra mà phải phụ trách 198 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán chính thức cùng hàng nghìn công ty chưa niêm yết.  Với Trung, anh vẫn lao vào cơn sốt chứng khoán. Anh cũng mong thị trường không chính thống này cuối cùng cũng sẽ đi vào khuôn khổ để ngăn chặn sự tháo lui điên cuồng. Ví dụ, Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh giới hạn biên độ giao dịch là 5%  trong một ngày nhằm kìm hãm sự thay đổi đột ngột. Cổ phần ở thị trường OTC có thể tăng gấp đôi sau một phiên giao dịch. “Không có luật lệ nào trên thị trường OTC”, Trung nói, “nên bạn có thể lãi kinh khủng”. Dường như cơn sốt của đám đông vẫn tiếp diễn.  Trần Anh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Côn Đảo sẽ có điện gió      Sau một năm rưỡi nữa, huyện Côn Đảo thuộc  tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ có nguồn cung cấp điện gió. Đây không chỉ là  nguồn năng lượng sạch mà còn rẻ hơn đến trên 35% so với giá thành điện  sản xuất từ các trạm phát chạy bằng dầu diesel, nguồn cung cấp điện duy  nhất cho Côn Đảo hiện nay.    Ngày 27-12, Công ty cổ phần Phát triển công nghệ Tài Nguyên Xanh (Greenmade) đã ký hợp đồng giao cho Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí (PV Engineering) làm tổng thầu xây dựng nhà máy điện gió ở Côn Đảo. Dự án có tổng kinh phí đầu tư 345 tỉ đồng, gồm hai turbine gió có tổng công suất 4 MW.  Theo kế hoạch, nhà máy điện gió Côn Đảo sẽ phát điện thương mại từ quí 3-2015. Greenmade đã ký hợp đồng mua bán điện với Trạm cung cấp diện nước huyện Côn Đảo trong 7 năm, với giá cố định là 25 xu Mỹ/KWh (tương đương 5.300 đồng/kwh).  Ông Nguyễn Hồng Quang, Tổng giám đốc Greenmade, cho biết dù giá điện còn cao nhưng đây là giải pháp hiệu quả và khả thi để hạ giá thành sản xuất điện cung cấp cho Côn Đảo trong điều kiện nhu cầu tiêu thụ điện của đảo còn thấp, lại ở khá xa đất liền.  Côn Đảo cách Bà Rịa – Vũng Tàu 185 km. Tổng nhu cầu cấp điện ở đây hiện chưa tới 6 MW. Hiện tại, nguồn cung cấp điện duy nhất cho Côn Đảo là các trạm phát chạy bằng diesel, với giá thành điện sản xuất lên đến 8.300 đồng/KWh. Nhà máy điện gió ra đời không chỉ giúp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiết kiệm được khoản chi ngân sách, khoảng 38 tỉ đồng/năm, để bù giá điện cho đảo, mà còn tạo nền tảng để người dân và doanh nghiệp ở đây mua được điện với giá rẻ hơn.  Ông Đỗ Văn Thanh, Tổng giám đốc PV Engineering, cho biết sẽ khởi công dự án ngay từ đầu năm 2014. Đồng thời PV Engineering cũng xúc tiến để chọn nhà thầu cung cấp turbine gió và chọn phương án thiết kế bảo đảm nhà máy điện đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế và có chi phí đầu tư tốt nhất.  Các turbine gió sẽ được lắp đặt ngoài biển, cách bở khoảng 2,5km.  Ông Quang của Greenmade cho biết thêm, sau khi nhà máy vận hành thương mại, Greenmade sẽ đầu tư tiếp để nâng công suất của nhà máy.    Author                Quản trị        
0.08333333333333333
__label__tiasang Cơn đau đẻ của một trật tự mới      Mỹ đã thua trong chiến tranh Iraq ngay từ khi tiếng súng đầu tiên chưa nổ… Tạp chí Mỹ The Real Truth 21-03-2007 (Sự thật thật) bình luận như vậy. Có học giả còn đem so sánh thảm bại này với phương châm của Tôn Tử không đánh mà thắng mới gọi là chiến lược để nhắc nhở sự lãng quên của Mỹ đối với những bài học đã có từ trước. Còn Pierre Hassner cho rằng nền chính trị toàn cầu hầu như chưa bao giờ được chứng kiến sự kiêu ngạo của khoảnh khắc độc tôn thế siêu cường trở thành sự bẽ bàng của thất bại nhanh chóng đến như vậy…  Vậy giờ “cáo chung của thời đại Mỹ” đã điểm?    Nghĩ về sự cáo chung này trong hiện tại là sự lãng phí, thậm chí có thể là sự xa xỉ chết người. Chí ít này không kém phần hão huyền như mơ tưởng về sự cáo chung của lịch sử. Cũng như là… một thời đã được nói rất nhiều về sự giãy chết của chủ nghĩa đế quốc mà mãi nó không chết. Nó giãy để biến hóa tiếp thì đúng – như con rắn lột xác để tiến hóa! Nói lên điều này trước hết là để cho các nước nghèo yếu đừng lúc nào cũng mơ hồ về quyền lực của các đại gia, dù là đại gia nào.                     Mỹ còn là siêu cường không có đối thủ cùng mâm cùng chiếu theo cái thế lưỡng cực trong vài ba thập kỷ tới. Sức mạnh vật chất, kỹ thuật, văn hóa, sức mạnh của thế và lực với cái kho vũ khí hơn 3000 tỷ USD cho phép Mỹ còn ngồi một mình một chiếu như thế. Còn một lý do quan trọng nữa, thậm chí có thể có là lý do quan trọng hàng đầu – mà ở điểm này có nhiều người không thích liên hệ đến Karl Marx -: Với tất cả những cái hay, dở mang trong bản thân nó, Mỹ vẫn đang phát triển theo xu thế vận động của thế giới, giữ vai trò chi phối khá lớn sự vận động của thế giới, kể cả dưới góc nhìn đơn giản và có phần thô thiển về sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.  – Nếu thế có thể rút ra những điều gì?  – Nhiều lắm. Song có ít nhất hai điều nên ngẫm nghĩ.  Một là: Thế giới từ trật tự sau chiến tranh lạnh đang từng bước trên đường chuyển sang thế giới đa cực, “xẹt” qua bước đi quá độ là cái trật tự một siêu đa cường hiện thời. Bước đi quá độ này đã làm sa sút một phần thế và lực của Mỹ so với trước khi tiến hành chiến tranh Iraq.  Nói là “xẹt” qua, vì sự việc diễn ra nhanh lắm, Mỹ chưa kịp nhâm nhi cái thế độc tôn kiêu ngạo – nói theo Hassner – thì đã sa lầy và coi như thua ở Iraq, tiêu hao mất nhiều “chiến lợi phẩm” tích tụ được qua những cuộc thập tự chinh trước đó. Với cái cùm Iraq ở dưới chân, cái uy và sự hấp dẫn của Mỹ giảm xuống thấp nhất kể từ sau chiến tranh thế giới II – có thể đo được bằng cái tâm lý chống Mỹ tràn lan nhiều nơi trên thế giới. Vào thời điểm hiện nay, khả năng dễ bị chấn thương cũng ở mức cao nhất đối với Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới II. Trong khi đó đối thủ chiến lược hàng đầu của Mỹ là Trung Quốc và Nga đang dần dần xuất hiện trở lại trên chính trường quốc tế với thế ngày càng mạnh.  Đặc biệt là Trung Quốc giành được nhiều nhất những lợi thế mới về kinh tế, chính trị, quân sự trong bối cảnh quốc tế hiện tại. Nền kinh tế khổng lồ của nó giữ tốc độ tăng trưởng năng động nhất thế giới hàng thập kỷ nay. Hàng hóa rẻ của “công xưởng thế giới” Trung Quốc tràn ngập khắp nơi, quỹ dự trữ ngoại tệ vượt qua cái ngưỡng 1000 tỷ USD, công nghiệp vũ trụ phát triển song song với xây dựng ráo riết hải quân nước xanh (blue marine – bao gồm cả tàu ngầm năng lượng hạt nhân và hàng không mẫu hạm) để vươn xa ra đại dương. Tư bản (vốn) Trung Quốc có mặt tại cả 5 châu lục để kiếm tài nguyên các loại cho một nền kinh tế vào khoảng năm 2020 sẽ phụ thuộc tới 60 – 80% vào nhập nhiên liệu từ bên ngoài – nghĩa là chỉ đứng sau Mỹ. Trung Quốc bắt đầu nói “không” với Mỹ trên không ít những vấn đề song phương và đa phương, – ví dụ vấn đề xuất khẩu, tỷ giá đồng Nhân dân tệ, vấn đề Đài Loan; bắt đầu có loại vấn đề Mỹ không thể giải quyết được nếu không cùng bắt tay với Trung Quốc, tiêu biểu là vấn đề năng lượng hạt nhân của Bắc Triều Tiên… Và đặc biệt, Trung Quốc đã tạo ra cho mình được cái thế vấn đề nào chưa đủ sức thì đối mặt tay đôi với Mỹ thì bắt tay với Nga, với các đối thủ khác của Mỹ – kể cả trong thế giới thứ 3…  Nói một cách khái quát: Trung Quốc đã ra khỏi thời kỳ giấu mặt, dần dần xuất hiện công khai là đối thủ chiến lược của Mỹ, trong khi vẫn duy trì vai trò đối tác chiến lược của Mỹ. Cuộc sống không có vùng trống: Cái uy và ảnh hưởng của Mỹ ở Đông Nam Á hầu như đang ở trạng thái đông lạnh, trong khi đó cái của Trung Quốc đang trên đường trở thành xu thế ngự trị.  Còn nói theo ngôn ngữ giang hồ: Trung Quốc là nước vớ bở nhất trong thế giới hiện tại!  Trong mối tương quan giữa các đối thủ chiến lược với nhau, còn phải kể đến tình hình Mỹ đang tiếp tục gặp thêm nhiều khó khăn mới – ví dụ vấn đề Iran, sự mong manh ngày càng gia tăng của tình hình Afghanistan, đồng minh của Mỹ Pervez Musharraf ở Pakistan đang gặp nhiều khó khăn mới (nội trị nước này đang có nhiều mất ổn định mới), việc chống Al Qeda còn xa vời mục tiêu mong muốn, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân có nguy cơ vượt ra ngoài vòng kiểm soát, sự phân hóa không có lợi cho Mỹ ngày càng lớn hơn trong hàng ngũ các nước Ả Rập… Gần đây nhất là lực lượng Hamas chiếm dải đất phía Tây Gaza, làm cho kế hoạch 2 nhà nước Palestine và Do Thái cùng tồn tại đứng trước nguy cơ sụp đổ, mất ổn định ở toàn vùng Trung Đông gia tăng. Mặt khác, các đồng minh chiến lược của Mỹ (Nhật, EU…) đã cho thấy những giới hạn không thể vượt qua trong liên minh với Mỹ.   Bước “quá độ” từ sau chiến tranh lạnh đến nay không ít máu và nước mắt. Cái hệ quả tổng hợp  nhất của tình hình đang diễn ra là: Trên thế giới xuất hiện những bất ổn định mới liên quan đến mọi quốc gia. Tuỳ nội dung vấn đề, tuỳ vị trí địa lý, tuỳ thời điểm, những bất ổn định mới này có thể là “vẫn trong phạm vi an toàn” đối với nước này, song lại có thể là nhạy cảm chết người đối  với nước khác –  đây là điều phải coi chừng, mặc dù cái xu thế chung của hòa bình ổn định trên thế giới – với nghĩa là không có đại chiến – hiện tại vẫn tiếp tục con đường của nó.  Hai là: Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết vẫn là điều muôn thuở?  Đó là quy luật muôn đời, nếu ruồi muỗi không biết lánh xa những con vật khổng lồ, kể cả khi chúng ái ân với nhau.  Câu chuyện đời thật trước mắt chúng ta là: Trong cái trò chơi tổng số bằng không (zero sum game) giữa những quyền lực khổng lồ, thường là những nước nghèo yếu bên thứ ba lãnh đủ mọi hệ quả.  Ví dụ:  Chuyện nhỏ nhất: Hiện nay Mỹ đang muốn áp dụng những biện pháp ngặt nghèo hơn để xiết lại nhập khẩu từ Trung Quốc. Nếu được thực hiện, chắc chắn những biện pháp này cũng tác động đến hàng nhập khẩu từ các nước thứ ba.  Chuyện lớn hơn: Buồn của quyền lực Mỹ là vui của Trung Quốc và ngược lại. Yếu chỗ này của quyền lực Mỹ là mạnh lên của Trung Quốc và ngược lại. Mạnh lên của quyền lực Mỹ ở chỗ kia là yếu của Trung Quốc và ngược lại. Được lòng quyền lực Mỹ là mất lòng với Trung Quốc và ngược lại…  Tính thời sự của câu chuyện là hai con vật khổng lồ này đang trên đường đi dần từ trạng thái ve vãn nhau sang trạng thái vừa ve vãn, vừa gằm ghè nhau.  Tình hình bức xúc đến mức khi Trung Quốc ra sách trắng 12-2006 về chính sách quốc phòng của mình để phân bua, trên thế giới nhao nhao bao câu hỏi lo lắng, nhất là từ các nước trong khu vực.  Về phần Mỹ, nguyên phó đô đốc hải quân Mỹ Eric A. McVadon cho rằng chỉ có thể giải thích chính sách vũ trang hiện nay của Trung Quốc là nuôi dưỡng ý đồ lâu dài đuổi Mỹ khỏi Bắc Á. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert M. Gates trong hội nghị các bộ trưởng quốc phòng với một số nước trong khu vực ngày 1-06-2007 tại Singapore đặt câu hỏi: Ai đe dọa Trung Quốc mà phải đẩy mạnh vũ trang đến như vậy? Khác với thái độ gay gắt của Don Rumsfeld – người tiền nhiệm của mình, tại đây R. M. Gates nêu vấn đề sẵn sàng tìm kiếm hợp tác xây dựng với Trung Quốc, mặc dù không giấu giếm ý đồ kiềm chế đối thủ của mình.  Trong giới nghiên cứu chiến lược Mỹ người ta đã bàn với nhau về giới hạn cuối cùng Mỹ có thể chấp nhận ở khu vực Thái Bình Dương và Đông Nam Á: Giữ nguyên cam kết liên minh quân sự với Nhật Bản và Hàn Quốc, không để Trung Quốc chiếm Đài Loan bằng vũ lực, đảm bảo sự giao thông thông suốt tuyến hàng hải Malacca… và… hết? – hay là để ngỏ những thứ khác?  – Không biết. Không thấy họ nói thêm gì nữa.  Còn phải suy ngẫm thêm tính toán nói trên của giới chiến lược Mỹ có gì ẩn náu bên trong nữa không. Một sự kiện cũ trở lại trong trí nhớ: Sau nhiều lần trong suốt thời gian 1995 – 1998 hải quân Trung Quốc áp đảo hải quân Philippines, cuối cùng đã dẫn tới hợp tác Trung Quốc – Philippines cùng thăm dò chung khu vực Vành Khăn trong quần đảo Trường Sa. Mỹ khoanh tay đứng nhìn, các nước ASEAN im lặng.  Sau đó Việt Nam cũng tham gia hợp tác thăm dò chung này, làm cho nó trở thành hợp tác 3 bên.  Trở lại hệ quả của zero sum game đối với các nước bên thứ ba: Thế giới lồi lõm khác nhau, nên như đã nói trên, những hệ quả cũng tuỳ nơi chốn, tuỳ thời điểm và tuỳ nội dung mà có tác động khác nhau đối với mỗi nước bên thứ ba. Cùng một hệ quả ấy, đối với nước bên thứ ba này là “sống được”, đối với nước bên thứ ba kia là “tai họa chết người”. Cái bất biến ứng vạn biến cho nước bên thứ ba vẫn là: sức mạnh tự thân bên trong, sự ứng xử thông minh với bên ngoài và ý chí vươn lên – tất cả với điều kiện cùng đi với xu thế chung của cả thế giới.  Trên thế giới chí ít là từ vài thế kỷ nay có không ít những ví dụ khẳng định cái bất biến ứng vạn biến này. Cái gì đã giữ cho những nước nhỏ xíu như Thuỵ Sỹ, Luxemburg, Monaco… bình yên trước những hùm những sói ở châu Âu trong 2 thế kỷ trước? Tại sao Singapore chỉ là một thành phố lớn mà lại hầu như không có nguy cơ bị những nước lớn bao quanh nuốt chửng? Cũng lịch sử những người tý hon này cho thấy họ không những tồn tại mà còn luôn luôn phát triển trong mọi tình huống mà loài người đã chứng kiến trong suốt 2 thế kỷ vừa qua. Họ có cái bí quyết: Làm chủ cái trật tự của sự hỗn mang trên thế giới thời nào cũng có để phát triển.  Phải, sự quá độ từ trật tự chiến tranh lạnh sang thế giới đa cực đang trải qua cơn đau đẻ đầy máu và nước mắt. Song tự than vãn với mình hay oán trách ông trời về cơn đau đẻ này hoàn toàn không giúp ích gì cho bất kỳ nước bên thứ ba nào. Còn muốn mình là mình đứng trên trái đất này thì chỉ có mỗi con đường tìm cách làm chủ cái trật tự của sự hỗn mang đang diễn ra trong thế giới quanh ta. Cái chân lý đơn giản này là điều các nước bên thứ ba, trong đó có Việt Nam ta, nên coi là lẽ sống để sống được trong thế giới hôm nay./.  ———  CHÚ THÍCH ẢNH:  -anh1: Không chú  -anh2: Vậy giờ “cáo chung chung của thời đại Mỹ” đã điểm?   -anh3: Với cái cùm Iraq ở dưới chân, cái uy và sự hấp dẫn của Mỹ giảm xuống thấp nhất kể từ sau chiến tranh thế giới II  Kim Cúc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam      Kỳ 2: Chiến lược công nghiệp hóa trong bối cảnh Đông Á hiện nay. Trong kỳ truớc ta đã thấy sự phân công lao động tại vùng Đông Á đã thay đổi như thế nào, thách thức và cơ hội đối với Việt Nam là gì, vị trí của công nghiệp Việt Nam đang nằm ở đâu và những lãnh vực nào là lợi thế so sánh của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, để phát huy tiềm năng và tăng năng lực cạnh tranh của nền công nghiệp, Việt Nam cần có chiến lược như thế nào?      Nội lực, ngoại lực và chiến lược liên kết doanh nghiệp  Nội lực và ngoại lực vừa có thể được đánh giá trên bình diện vĩ mô (vị trí của hai nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân) vừa có thể được đánh giá qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài (doanh nghiệp FDI). Nhưng hai loại doanh nghiệp này không phải lúc nào cũng hoạt động độc lập mà bổ sung nhau trong nhiều trường hợp, đặc biệt là nếu có chính sách, chiến lược đúng đắn thì sẽ có tác động tích cực từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp vốn trong nước.  Trên phương diện phân tích kinh tế, đất đai, lao động và tư bản là những yếu tố sản xuất chính, nhưng những nguồn lực (resources) khác như công nghệ, tri thức quản lý, khả năng kinh doanh, khả năng tổ chức, v.v., còn quan trọng hơn. Để phân tích được, ở đây ta cần giới hạn vào những nguồn lực mà nội lực và ngoại lực có quan hệ mật thiết với nhau, hoặc bổ sung hoặc thay thế. Những nguồn lực như vậy có thể gồm tư bản, công nghệ, năng lực quản lý, kinh doanh. Cùng với vốn và công nghệ, năng lực quản lý và khả năng kinh doanh là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và được gọi chung là nguồn lực kinh doanh. Như vậy, vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh là ba yếu tố quan trọng để kinh tế phát triển và cũng là những yếu tố nhìn được cả hai mặt nội lực và ngoại lực.  Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là kênh quan trọng nhất tổng hợp được hết các nguồn ngoại lực. Chính sách khôn ngoan là tận dụng tối đa FDI để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, đồng thời đẩy mạnh liên kết (linkage) giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, một hình thức dùng ngoại lực để tăng nội lực. Hình thái liên kết phổ biến nhất với công ty FDI là liên kết hàng dọc, trong đó công ty trong nước tạo quan hệ ổn định để cung cấp các sản phẩm công nghiệp phụ trợ cho doanh nghiệp FDI, qua đó được các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và tri thức quản lý. Việc liên kết này càng được mở rộng sẽ làm cho nền công nghiệp cả nước càng tiến về thượng nguồn trong chuỗi giá trị.                  Trên thực tế, đánh giá FDI tại Việt Nam trên bình diện vĩ mô và phân tích cụ thể hai ngành may mặc và lắp ráp xe máy, ta thấy Việt Nam còn có khuynh hướng cảnh giác ngoại lực, chưa tận dụng ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa và chưa tạo sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân. Hàm ý về chính sách ở đây là cần tạo môi trường thuận lợi để có thể tận dụng tối đa FDI mà không sợ kinh tế bị các công ty đa quốc gia chi phối, và việc lành mạnh hóa doanh nghiệp nhà nước và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển là những tiền đề cần thiết để dùng ngoại lực tăng cường nội lực. Các chính sách hạn chế hoạt động của doanh nghiệp FDI đều làm giảm hiệu quả của ngoại lực trong quá trình tăng cường nội lực.        – Chính sách khôn ngoan là tận dụng tối đa FDI để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, đồng thời đẩy mạnh liên kết (linkage) giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, một hình thức dùng ngoại lực để tăng nội lực.          Ngoài liên kết hàng dọc, các công ty trong nước có thể đẩy mạnh liên kết hàng ngang với các công ty đa quốc gia, nhất là những công ty chưa đến đầu tư ở Việt Nam. Liên kết hàng ngang là tiến hành hợp tác với các công ty đa quốc gia về nhiều mặt để sản xuất và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Lúc đầu có thể sản xuất và cung cấp dưới thuơng hiệu của công ty nước ngoài, xuất khẩu theo mạng lưới của công ty nước ngoài (gọi chung là OEM: Original Equipment Manufacturing), nhưng dần dần tự mình thiết kế sản phẩm (sản xuất theo hình thức ODM: Own Design Manufacturing), tạo ra những sản phẩm độc đáo để chào hàng với công ty đa quốc gia, sản phẩm càng độc đáo càng có ưu thế trong việc thương lượng với họ. Cuối cùng tiến đến giai đoạn xây dựng thương hiệu, làm chủ hoàn toàn sản phẩm công nghiệp (gọi là OBM: Own Brand Manufacturing), không còn tùy thuộc vào công ty đa quốc gia. Quá trình chuyển từ OEM sang ODM rồi đến OBM là quá trình tự lập của các công ty trong nước, lúc đầu dựa vào ngoại lực để dần dần củng cố nội lực để cuối cùng tự lập hoàn toàn.  Thông tin, tổ chức, khám phá và tiếp cận thị trường  Một vấn đề quan trọng chưa bàn đến là làm sao tìm được thị trường và chuyển đến thị trường đó những hàng công nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Giá thành và chất lượng dĩ nhiên là những yếu tố quan trọng nhưng chưa đủ để làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Yếu tố cơ chế và nghệ thuật tổ chức trong việc khám phá và tiếp cận thị trường cũng quan trọng không kém.  Để thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp, ngoài các chính sách, biện pháp phân tích ở trên, cần một số biện pháp để tăng khả năng tổng hợp về khám phá và tiếp cận thị trường thế giới. Khả năng này bao gồm năng lực thu thập và phân tích thông tin thị truờng, năng lực khám phá và tiếp cận thị trường, năng lực tiếp thị và giao hàng với hiệu quả nhanh và phí tổn thấp. Để có khả năng tổng hợp này cần ba điều kiện: Một là cơ sở hậu cần trong nước về thông tin thị trường thế giới phải có quy mô lớn và nhất là thông tin phải được đưa nhanh đến những nơi cần đến nó. Hai là phải có những công ty thương mại tổng hợp lớn, hoạt động có hiệu quả, có sức chịu đựng rủi ro lớn, và nhất là biết tận dụng, điều động các cơ hội về thị trường, về bảo hiểm, về tín dụng quốc tế để đưa hàng công nghiệp Việt Nam đến các thị trường với phí tổn thấp mà bảo đảm các yêu cầu về giao hàng và duy trì chất lượng. Ba là phải có mạng lưới thông tin giăng bủa khắp nơi, chí ít là trên các thị trường lớn. So với Nhật Bản vào thời điểm 50 năm trước đây hoặc so với Hàn Quốc 30 năm trước, khả năng của ta hiện nay về ba điều kiện này hầu như không đáng kể. Nói khác đi, Việt Nam còn quá yếu về cả hai yếu tố tổ chức và cơ chế. Phải có chính sách xây dựng, củng cố các yếu tố này mới thực hiện thành công được chiến lược công nghiệp hoá trong giai đoạn tới.         – Chính sách cần tạo môi trường thuận lợi để có thể tận dụng tối đa FDI mà không sợ kinh tế bị các công ty đa quốc gia chi phối. Việc lành mạnh hóa doanh nghiệp nhà nước và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển là những tiền đề cần thiết để dùng ngoại lực tăng cường nội lực.           Tại Việt Nam hiện nay, thông tin về thị trường thế giới có quá ít và doanh nghiệp khó tiếp cận với các thông tin đó. Chính phủ có lập Cục xúc tiến thương mại trong Bộ Thương mại, nhưng cơ cấu còn rất yếu, quy mô hoạt động rất nhỏ, hầu như chưa có một cơ sở nào ở nước ngoài. Cho đến nay, Cục này mới hỗ trợ một số hoạt động xuất khẩu hàng thủ công, mỹ nghệ hoặc nông phẩm. So với nhu cầu đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp hiện nay và so với kinh nghiệm phát triển của Nhật hay Hàn Quốc, quy mô và chức năng của Cục xúc tiến thương mại rõ ràng chưa đáp ứng nhu cầu. Việt Nam cần nhanh chóng thành lập một trung tâm thu thập, phân tích và phổ biến thông tin về thị trường và công nghệ thế giới để giúp doanh nghiệp triển khai chiến lược tiếp thị, đẩy mạnh xuất khẩu và chọn lựa, du nhập công nghệ nước ngoài. Hiện nay, thông tin về thị trường thế giới ở nước ta quá rời rạc, phân tán và chưa phong phú, sự hợp tác giữa các cơ quan, các xí nghiệp trong việc trao đổi thông tin cũng chưa được chú trọng. Nên nghiên cứu việc thành lập một tổ chức như JETRO của Nhật vừa đảm nhận vai trò tổ chức các mạng lưới về thị trường và công nghệ tại nhiều nước vừa là trung tâm phân tích và phổ biến thông tin về thị trường và công nghệ thế giới.  Về mặt tổ chức, Việt Nam chưa có công ty chủ lực chuyên môn xuất khẩu. Các công ty có thành tích xuất khẩu cao đều là các xí nghiệp sản xuất tự mình khám phá và tiếp cận thị trường. Hiện nay ít có công ty có cơ sở ở nước ngoài để tiếp cận các thông tin về thị trường và công nghệ, đồng thời hỗ trợ hoạt động xuất khẩu. Việt Nam chỉ dựa vào bộ phận thương mại ở các đại sứ quán mà ta đã biết là chức năng và nhân lực rất hạn chế. Cần nghiên cứu đưa ra chính sách khuyến khích thành lập một số tổng công ty ngoại thương có những cơ năng như các công ty thương mại tổng hợp của Nhật. Ta đã có nhiều tổng công ty nhưng hầu hết là đơn ngành (Tổng công ty thép, Tổng công ty may mặc chẳng hạn) nên bộ phận phụ trách ngoại thương của mỗi tổng công ty không thể có khả năng tổng hợp lớn trong việc điều tra và tiếp thị trên thương trường quốc tế. Hơn lúc nào hết, ngay bây giờ Việt Nam phải củng cố các yếu tố cơ chế và tổ chức để tạo nên một lực lượng tổng hợp mới thành công trong việc khám phá và tiếp cận thị trường thế giới.  Ngoài ra, để giảm chi phí tiếp cận thị trường thế giới, cần phải giảm phí tổn hành chính và dịch vụ liên quan đến lưu thông, phân phối. Nói khác đi, để tăng năng lực cạnh tranh phải làm cho Việt Nam trở thành những cứ điểm sản xuất và lưu thông có hiệu suất. Cứ điểm sản xuất và lưu thông có hiệu suất là nơi bảo đảm sản xuất một sản phẩm với giá thành (cost) rẻ (nhờ chi phí lao động, chi phí đầu vào thấp), chất lượng (quality) cao và giao hàng (delivery) đúng thời hạn. Phân tích ở các phần trên liên quan đến giá thành  và chất lượng, ở đây còn lại vấn đề giao hàng. Giao hàng là công việc của nhà sản xuất, của công ty thương mại, nhưng yếu tố quy định giao hàng là môi trường lưu thông trong đó hạ tầng phần cứng (hệ thống giao thông, bến cảng, thông tin, v.v.) và phần mềm (thủ tục hành chính, thủ tục thuế quan, luật lệ, quy định, v.v.) có vai trò quyết định. Thủ tục hành chính, thuế quan tại Việt Nam rất chậm được cải thiện và đang làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam. Về hạ tầng phần cứng, Việt Nam cần đặc biệt tập trung đầu tư nâng cấp một số bến cảng quan trọng. Tình hình hiện nay là đầu tư quá dàn trải, tỉnh nào ở ven biển cũng đều có bến cảng nên công suất sử dụng thấp và không có các bến cảng có quy mô ngang hàng với các nước trong khu vực.             – Người có tinh thần doanh nghiệp là người nỗ lực tìm kiếm và áp dụng cái mới, tinh thần luôn đổi mới để khám phá và sử dụng công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, sản xuất bằng phương pháp mới, tìm kiếm thị trường mới; có thái độ tích cực đầu tư, tinh thần mạo hiểm, sẵn sàng chịu đựng rủi ro nhưng lại nhìn xa trông rộng về tương lai và dựa trên những phân tích có căn cứ để tránh hoặc giảm rủi ro; có ý thức mưu tìm lợi nhuận (profit seeking), chứ không phải mưu tìm đặc lợi (rent seeking)…          Tinh thần doanh nghiệp  Để thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, vai trò của doanh nghiệp cần được phát huy. Nhưng doanh nghiệp hay doanh nhân cần một tố chất quan trọng, đó là tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship).  Trên đây ta đã có dịp nói về khái niệm nguồn lực kinh doanh(managerial resource). Nguồn lực kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm công nghệ đã tích luỹ, thương hiệu đã xác lập, nguồn nhân lực xây dựng trong nội bộ doanh nghiệp, năng lực nghiên cứu hoặc hấp thu công nghệ mới, năng lực quản lý, năng lực khám phá thị trường, năng lực tiếp thị, v.v.. Nói chung, đây là nguồn lực mà càng tích lũy được nhiều thì doanh nghiệp càng phát triển mạnh. Hay nói khác đi, doanh nghiệp muốn phát triển phải không ngừng tích lũy nguồn lực kinh doanh.         – Cần nhanh chóng thành lập một trung tâm thu thập, phân tích và phổ biến thông tin về thị trường và công nghệ thế giới để giúp doanh nghiệp triển khai chiến lược tiếp thị, đẩy mạnh xuất khẩu và chọn lựa, du nhập công nghệ nước ngoài.          Tùy theo giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà phương pháp, chiến lược tích lũy nguồn lực kinh doanh cũng khác. Khi doanh nghiệp còn non trẻ, bản lĩnh và năng lực của cá nhân người lãnh đạo công ty rất quan trọng vì cá nhân đó ở giai đoạn này là tài sản (asset) quan trọng nhất của doanh nghiệp. Bản lĩnh và năng lực của cá nhân đó sẽ quy tụ được nhân tài và tạo uy tín xã hội của doanh nghiệp, những yếu tố cần thiết làm cơ sở cho các nguồn lực kinh doanh. Sau khi doanh nghiệp phát triển một bước lớn sẽ có nhiều cơ hội đẩy nhanh quá trình tích lũy các nguồn lực kinh doanh. Ngoài việc đầu tư cho nguồn nhân lực, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai, chẳng hạn, doanh nghiệp có thể chọn các hình thái liên kết (linkage) hàng dọc hoặc hàng ngang với các công ty đa quốc gia để có thể làm cho quá trình tích lũy tiến nhanh. Nói chung, để  liên tục tăng cường năng lực kinh doanh và sử dụng có hiệu quả năng lực đó, nhà kinh doanh, người lãnh đạo công ty phải có tinh thần doanh nghiệp.  Một lãnh đạo công ty được xem là người có tinh thần doanh nghiệp nếu người đó có các đặc tính sau: trước hết, đó là nỗ lực tìm kiếm và áp dụng cái mới, tinh thần luôn đổi mới để khám phá và sử dụng công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, sản xuất bằng phương pháp mới, tìm kiếm thị trường mới. Các hoạt động này được gọi chung là cách tân công nghệ (innovation). Thứ hai là thái độ tích cực đầu tư, tinh thần mạo hiểm, sẵn sàng chịu đựng rủi ro. Thương trường vốn nhiều rủi ro, bất trắc, nếu không mạo hiểm thì không thể thành công. Tất nhiên, mạo hiểm không có nghĩa là làm liều, không tính toán. Phải có trí tuệ, có óc nhìn xa trông rộng về tương lai và dựa trên những phân tích có căn cứ mới tránh hoặc giảm rủi ro. Thứ ba, ý thức mưu tìm lợi nhuận (profit seeking), chứ không phải mưu tìm đặc lợi (rent seeking) cũng là yếu tố quan trọng tạo nên tinh thần doanh nghiệp. Mưu tìm đặc lợi là lợi dụng cơ chế xin cho để mua chuộc những người có chức có quyền, qua đó kiếm được những cái lợi lớn mà không mất nhiều công sức trong kinh doanh.  Người có tinh thần doanh nghiệp chỉ mưu tìm lợi nhuận chân chính và do đó hàm chứa tính chất cao thượng trong hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận chân chính là thành quả của nỗ lực khám phá công nghệ, khám phá thị trường cho những sản phẩm mới, hoặc cải tiến quản lý, khám phá phương pháp sản xuất mới để giảm giá thành sản phẩm, mở rộng thị phần. Người có tinh thần doanh nghiệp không màng đến cái lợi truớc mắt, có hoài bão, lý tưởng, quyết đem tài năng của mình góp phần biến cải xã hội, thay đổi được cuộc sống của mọi người . Do đó, trong một đất nước còn nghèo khó, người có tinh thần doanh nghiệp còn là người yêu nước. Kinh nghiệm của Nhật cũng cho thấy điều đó. Thứ tư, một khi kinh doanh mang đủ các yếu tố trên, nhất là yếu tố thứ ba, thì đồng thời nó thể hiện rõ tính chất đạo đức trong kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói, đạo đức kinh doanh là kết quả tổng hợp của ba yếu tố kể trên. Người có tinh thần doanh nghiệp do vậy được xã hội kính nể, công ty của họ được xã hội ngưỡng mộ, tin cậy và nhiều khi được xem là tài sản chung của cả xã hội.          Xã hội Việt Nam đang chờ đợi sự xuất hiện những doanh nhân có tầm vóc quốc tế, đem lại vinh dự cho người Việt Nam và góp phần thúc đẩy vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.        Để khởi động và thành công trong quá trình công nghiệp hóa, Việt Nam đang rất cần những nhà doanh nhân có tinh thần doanh nghiệp. Nhà nước cần có chính sách, cơ chế nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bãi bỏ các cơ chế xin cho, có hình thức biểu dương những doanh nghiệp thành công. Sau khi Luật doanh nghiệp mới đi vào hiệu lực (ngày 1-1-2000), số doanh nghiệp thành lập tăng nhanh, chứng tỏ Việt Nam có nhiều nhà doanh nghiệp tiềm năng, sẳn sàng hưởng ứng tích cực khi nhà nước cởi trói các cơ chế ràng buộc họ trước đây. Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân hiện nay còn gặp khó khăn trong việc triển khai kinh doanh, nhất là khó khăn trong việc tiếp cận với vốn đầu tư dài hạn và việc thuê đất. Nhà nước cần có chính sách thích đáng để các khó khăn này được giải quyết nhanh, tránh sự đối xử phân biệt giữa công ty quốc doanh và công ty tư nhân. Ngoài ra, cần hình thành loại vốn mạo hiểm (venture capital) để cung cấp, đầu tư cho những dự án quá mới, có độ rủi ro cao. Xã hội Việt Nam đang chờ đợi sự xuất hiện những doanh nhân có tầm vóc quốc tế, đem lại vinh dự cho người Việt Nam và góp phần thúc đẩy vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.  Thông tin, tri thức, và công nghiệp hóa nông thôn  Gần đây, ở Việt Nam nói nhiều về thời đại công nghệ thông tin, thời đại kinh tế tri thức. Các vấn đề này gợi ý gì cho chiến lược công nghiệp hóa của một nước đông dân, lao động dư thừa, và phần lớn lao động làm trong nông nghiệp? Từ góc độ phát triển trong công bằng mà nội dung cốt lõi là có chiến lược phát triển tạo nhiều cơ hội làm việc và tạo điều kiện để mọi người dân tiếp cận bình đẳng các cơ hội đó, hay nói khác đi là tạo điều kiện để mọi người tham gia vào quá trình phát triển, ta cần nhìn vấn đề công nghệ thông tin và kinh tế tri thức trên một bình diện rộng.          – Việt Nam phải trở thành những cứ điểm sản xuất và lưu thông có hiệu suất, là nơi bảo đảm sản xuất một sản phẩm với giá thành (cost) rẻ (nhờ chi phí lao động, chi phí đầu vào thấp), chất lượng (quality) cao và giao hàng (delivery) đúng thời hạn.        Ta có thể hình dung một mô hình phát triển ba khu vực: Khu vực nông nghiệp (A) dựa trên hai yếu tố sản xuất là đất đai và lao động giản đơn, khu vực công nghiệp (I) dựa trên lao động và tư bản, và khu vực có hàm lượng thông tin, tri thức cao (K). Phát triển kinh tế trong khung phân tích này là quá trình di chuyển lao động từ A sang I (như trong mô hình hai khu vực thường thấy trong sách giáo khoa của kinh tế phát triển), và quá trình thu hút lao động tri thức vào khu vực K. Khu vực K thu hút một phần lao động từ khu vực I nhưng chủ yếu tiếp nhận lực lượng lao động mới từ thị trường. Điều cần nhấn mạnh là sự quan trọng của giáo dục cơ bản, của việc phổ cập thông tin, tri thức để lao động từ A có thể di chuyển sang I. Ngoài ra, cần phát triển cả công nghệ thông tin phần cứng, song song với việc đẩy mạnh phát triển khu vực có hàm lượng cao về tri thức, về công nghệ thông tin phần mềm.  Để phát triển công nghiệp nông thôn nói riêng và công nghiệp hóa của cả nước nói chung, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nông nghiệp thường phát triển (tăng năng suất lao động và năng suất đất, đa dạng hóa sản phẩm theo hướng tăng giá trị gia tăng, v.v.) trước một bước để có tích lũy đầu tư cho công nghiệp, để tăng sức mua ở nông thôn cho hàng công nghiệp và có thể liên tục cung cấp lao động cho công nghiệp mà không giảm sản lượng nông nghiệp.  Tuy nhiên, trong thời đại thông tin và toàn cầu hóa ngày nay, nếu xây dựng tốt cơ sở hạ tầng phần cứng và phần mềm, có thể tiến hành đồng thời công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp vì sẽ có nhiều tác nhân (agent) xuất hiện, đưa vốn và công nghệ từ các vùng đô thị trong nước hoặc từ nước ngoài tới, và đưa hàng công nghiệp nông thôn đến các thị trường trong nước và nước ngoài.  Về cơ sở hạ tầng phần cứng, cần đầu tư nâng cấp các thị trấn, thị tứ ven biển và đặc biệt tăng cường xây dựng hệ thống giao thông nối với các huyện, xã trong các tỉnh. Chiến lược ở đây là kết hợp công nghiệp hóa nông thôn với việc phát triển các đô thị lân cận. Song song với nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng phần cứng, cần quan tâm xây dựng cở sở hạ tầng phần mềm tại các thị trấn, thị tứ ven biển. Cụ thể, cần xây dựng các trung tâm thông tin kinh tế tại các thị trấn. Các trung tâm này sẽ thu thập, lưu trữ, phổ biến thông tin về sản phẩm, về hoạt động của doanh nghiệp địa phương, đồng thời cũng là nơi lưu trữ, phổ biến thông tin về thị trường trong nước và thế giới liên quan đến vốn, công nghệ, hàng hóa mà doanh nghiệp và chính quyền địa phương quan tâm. Ngoài ra các trung tâm tư vấn kinh tế cũng rất cần được phát triển để làm đầu mối cho những tác nhân đem thông tin, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh từ các thanh phố lớn trong nước và nước ngoài. Mặt khác, các công ty tư vấn về kế toán, thuế vụ, v.v.. cũng phải được hình thành tại các trị trấn, thị tứ địa phương để hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.  Ngoài các cơ sở xí nghiệp quốc doanh và tập thể đã có, nên đặc biệt khuyến khích tư nhân đầu tư vào các lãnh vực tận dụng lao động (nhóm A) hoặc nguyên liệu và các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp địa phương (nhóm B). Đồng thời tạo điều kiện để các công ty lớn thuộc nhóm B ở các thành phố lớn lập các công ty vệ tinh ở nông thôn hoặc ở các thị trấn lân cận. Thật ra, khi các cơ cở hậu cần phần cứng và phần mềm được thiết lập và các chính sách ưu đãi phát triển công nghiệp được ban hành thì các tác nhân trong nước và thế giới sẽ đến kết hợp các cơ hội ở nông thôn với thị trường thế giới, kể cả hình thái đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).  Để xây dựng chiến lược công nghiệp hóa nông thôn cần có một cách tiếp cận mới. Hai yếu tố thông tin và tổ chức cần được nhấn mạnh. Có hai yếu tố này sẽ giải quyết đuợc các vấn đề vốn, công nghệ và thị trường cho công nghiệp hóa nông thôn. Thấy được sự quan trọng của hai yếu tố thông tin và tổ chức mới đề ra được chiến lược thích hợp.   Tóm lại, để đối phó hữu hiệu với các thách thức tại vùng Đông Á và phát huy các cơ hội phát triển của vùng này, ta cần thấy rõ vị trí của công nghiệp Việt Nam ở vùng này và đề ra các chiến lược thích hợp. Tận dụng ngoại lực để củng cố nội lực, nhấn mạnh vai trò của tổ chức trong nỗ lực khám phá và tiếp cận thị truờng thế giới, phát huy tinh thần doanh nghiệp và hiểu đúng vai trò của thông tin, tri thức trong việc phát triển nông thôn là những nội dung chính cần có trong chiến lược công nghiệp sắp tới.       Trần Văn Thọ, GS Đại học Waseda, Tokyo  Trần Văn Thọ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam      Kỳ 1: Biến động Đông Á và lợi thế so sánh của Việt Nam Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chiến lược dài hạn của Việt Nam với mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, con đường công nghiệp hóa của Việt Nam đang mở ra trong một bối cảnh khu vực và quốc tế như thế nào? Để thành công trên con đường này Việt Nam cần một chiến lược như thế nào? Những biện pháp, chính sách để thực hiện chiến lược đó là gì?    Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chiến lược dài hạn của Việt Nam với mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, con đường công nghiệp hóa của Việt Nam đang mở ra trong một bối cảnh khu vực và quốc tế như thế nào? Để thành công trên con đường này Việt Nam cần một chiến lược như thế nào? Những biện pháp, chính sách để thực hiện chiến lược đó là gì?  Thách thức và cơ hội ở Đông Á  Trong nửa sau thế kỷ XX, dòng thác công nghiệp đã lan nhanh cả bề sâu và bề rộng tại Đông Á và các nước trong vùng này nối đuôi nhau trong quá trình phát triển. Vì điều kiện lịch sử, Việt Nam đã mất phần lớn của nửa sau thế kỷ này về phương diện phát triển kinh tế. Công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam hội nhập vào làn sóng công nghiệp trong khu vực từ đầu thập niên 1990 nhưng vào đầu thế kỷ XXI, giữa Việt Nam và các nước lân cận còn một khoảng cách lớn về trình độ phát triển. Mặt khác, hiện nay vẫn còn hơn 60% lực lượng lao động còn trong nông nghiệp, công nghiệp mới thu hút chỉ hơn 10% số lao động có việc làm trên toàn quốc. Ngoài ra còn có hơn 400.000 lao động đang làm việc ở nước ngoài, trong đó nhiều người làm việc trong những điều kiện khó khăn nên nếu trong nước có nhiều cơ hội làm việc, đa số họ sẽ không chọn con đường lao động ở xứ người. Như vậy, Việt Nam phải đẩy mạnh công nghiệp hóa để phát triển nhanh hơn, để thu hút lao động nhiều hơn, tạo tiền đề rút ngắn khoảng cách với các nước. Công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên tạo ra công ăn việc làm còn góp phần lớn vào việc thực hiện công bằng xã hội.  Nhưng công nghiệp hóa Việt Nam sẽ trực diện những thách thức nào và cơ hội nếu có sẽ đến từ đâu? Thương trường của Việt Nam đang mở rộng ra khắp thế giới. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khuynh hướng này sẽ càng mạnh hơn. Tuy nhiên, có thể nói trong giai đoạn trước mắt, thách thức trực tiếp và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là ở vùng Đông Á. Tại đây, hai trào lưu đang nổi cộm và sẽ tác động đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam, đó là sự biến động trong làn sóng công  nghiệp Đông Á và khuynh hướng tự do thương mại trong vùng. Hiểu đúng tính chất và tác động của hai trào lưu này để xác định được phương hướng chiến lược cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới là vấn đề tối quan trọng của kinh tế Việt Nam hiện nay.        Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động như đồ điện, điện tử gia dụng và các loại máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động… và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề, các điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực.        Phân tích bản đồ kinh tế Đông Á cho thấy Việt Nam đang đi sau khá xa các nước chung quanh về trình độ phát triển công nghiệp, thể hiện trong sự cách biệt về tỷ lệ hàng công nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ sản phẩm máy móc các loại trong tổng xuất khẩu, thể hiện trong chỉ số cạnh tranh của những ngành công nghiệp chủ yếu và trong cơ cấu phân công lao động giữa Việt Nam với các nước này. Ngoài ra, Việt Nam phải nhập siêu nhiều với hầu hết các nước đó. Không kể một số nước mới gia nhập ASEAN, Việt Nam là nước đi sau cùng trong quá trình công nghiệp hóa ở vùng Đông Á. Nhưng chiến lược đuổi bắt của Việt Nam trong quá trình đó đang trực diện hai thách thức lớn: Thứ nhất là ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc. Kinh tế Trung Quốc vừa lớn về quy mô vừa nhanh về tốc độ tăng trưởng, giai đoạn phát triển và cơ cấu tài nguyên, cơ cấu kinh tế lại tương đối gần với Việt Nam. Trung Quốc ngày càng cạnh tranh mạnh trong hầu hết các loại hàng công nghiệp. Thách thức thứ hai là mặc dù cơ cấu và sức cạnh tranh của công nghiệp còn yếu, Việt Nam phải sớm thực hiện tự do hóa thương mại với các nước trong khu vực. Đến nửa sau của năm 2006 về căn bản phải hoàn thành chương trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và chậm lắm là năm 2015 phải hoàn thành chương trình tự do thương mại với Trung Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa nước này với khối ASEAN. Đối với Việt Nam, sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc đang trở thành một thách thức lớn và FTA Trung Quốc-ASEAN sẽ làm cho thách thức đó càng mạnh hơn. Mặt khác, AFTA và sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc không phải chỉ là thách thức mà còn là cơ hội cho thị trường của hàng xuất khẩu Việt Nam (năm 2004, ASEAN nhập khẩu hơn 450 tỷ và Trung Quốc nhập khẩu 561 tỷ USD), nhất là trong thể chế tự do thương mại. Tuy nhiên, hiện nay, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN đã phát triển là những nước chủ yếu tận dụng được cơ hội của thị trường Trung Quốc. ASEAN thì là nơi tranh giành thị phần giữa Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan… Việt Nam mới chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc và ASEAN hàng nguyên liệu và nông phẩm; hàng công nghiệp thì rất ít.  Để giảm thách thức và tận dụng được cơ hội do Trung Quốc và ASEAN mang lại, Việt Nam phải chuyển dịch nhanh cơ cấu xuất khẩu sang các nước này, phải có khả năng cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường khu vực và thế giới. Muốn vậy phải xác định được những ngành có lợi thê so sánh, chuyển hướng chiến lược cho phù hợp với tình hình mới va tận dụng ngoại lực để vừa làm tăng nội lực vừa nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh.  Tìm lợi thế so sánh động và chuyển hướng chiến lược  Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế có ngay bây giờ, có ngành đã được phát huy, cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế nhưng cũng có ngành chưa được phát huy do môi trường hoạt động của Doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Lợi thế so sánh động là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích lũy tư bản cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực.           Việt Nam cần chuyển chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc mà biện pháp cụ thể là giảm giá thành những sản phẩm đó bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận.          Để dễ phân tích, ta có thể chia các ngành công nghiệp thành năm nhóm: Nhóm A là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ  yếu là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, v.v… Nhóm B là những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều nguyên liệu nông lâm thủy sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v.. Nhóm C là những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép, hóa dầu, luyện nhôm… Nhóm D là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ điện, điện tử gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, các loại bộ phận, linh kiện điện tử, v.v.. Nhóm E là những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi, máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp v.v…  Mỗi ngành lại có thể chia thành ba giai đoạn chính: thượng nguồn (up-stream) gồm các công đoạn nghiên cứu – triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiện chính; trung nguồn (mid-stream) là công đoạn lắp ráp, gia công; hạ nguồn (down-stream) là tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác và tiếp cận thị trường. Ba giai đoạn này kết hợp thành một chuỗi giá trị (value-chain) của một sản phẩm.  Trên thị trường thế giới, Trung Quốc đang cạnh tranh mạnh trong nhóm A và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Thái Lan và các nước ASEAN đã phát triển có lợi thế trong nhóm B và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Cả Trung Quốc và các nước ASEAN phát triển đang tiến lên khá cao ở thượng nguồn của chuỗi giá trị trong các ngành thuộc nhóm D. Nhật và các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs) như Hàn Quốc, Đài Loan… còn duy trì lợi thế so sánh trong nhóm E nhưng tăng cường mạng  lưới sản xuất khắp cả vùng Đông Á, do đó Trung Quốc và các nước ASEAN cũng tham gia ngày càng sâu vào các ngành trong nhóm này. Nói chung, các nhóm D và E gồm những ngành liên quan đến các loại máy móc, và đang ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong sự phân công ở khu vực Đông Á.  Nhóm A và nhóm B là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh. Nhưng trong hai ngành chủ lực là may mặc và giày dép, hiện nay Việt Nam mới tập trung ở trung nguồn của chuỗi giá trị và chủ yếu dựa vào lao động giản đơn. Các giai đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị phần lớn phụ thuộc nước ngoài. Việt Nam cần nỗ lực tiến về thượng và hạ nguồn mà việc liên kết chiến lược với các công ty nước ngoài như sẽ nói dưới đây là một trong những biện pháp hữu hiệu. Nhưng dù sao các ngành này vẫn là nhóm thuộc các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh tĩnh.  Vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động. Phát triển các ngành này sẽ làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất và xuất khẩu trong tương lai không xa. Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những ngành hội đủ hai điều kiện đó và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề, các điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực. Phân tích nhu cầu thế giới và tham khảo sự đánh giá của các công ty đa quốc gia về tiềm năng của Việt Nam, tôi cho rằng các ngành thuộc nhóm D và một phần trong nhóm E, đặc biệt là đồ điện, điện tử gia dụng và các loại máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động là những ngành có đủ hai điều kiện nêu trên.  Nhưng để đẩy mạnh phát triển các ngành này, Việt Nam phải giải quyết vấn đề cơ bản hiện nay là sự yếu kém của các ngành công nghiệp phụ trợ. Phải xem đây là mũi đột phá chiến lược và dồn tất cả các năng lực về chính sách cho mũi đột phá này. Chẳng hạn, rà soát lại các doanh nghiệp nhà nước để tìm ra các đơn vị sản xuất có tiềm năng cung cấp các bộ phận, linh kiện, phụ kiện với chất lượng và giá thành cạnh tranh, từ đó tăng cường hỗ trợ về vốn, công nghệ, v.v., để tiềm năng trở thành hiện thực; xây dựng chế độ tưởng thưởng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kể cả doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp có vốn nước ngoài, thành công trong việc sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ, v.v.. Nhưng quan trọng hơn cả là phải chuyển hướng chiến lược lien quan đến các ngành nhóm D và E. Chính sách hiện nay của Việt Nam là bảo hộ các sản phẩm nguyên chiếc (tivi, tủ lạnh, xe máy, xe hơi, v.v. ) với thuế quan cao và buộc các công ty lắp ráp tăng dần tỷ lệ nội địa hoá đối với các sản phẩm công nghiệp phụ trợ. Nói chung, đây là chiến lược thay thế nhập khẩu mà biện pháp là thiết lập hàng rào quan thuế khá cao ở cả sản phẩm nguyên chiếc và bộ phận, linh kiện. Nhưng với việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA, Việt 53 Nam sẽ phải thực hiện tự do hóa thương mại với ASEAN từ nửa sau năm 2006. Tại các nước ASEAN đã phát triển, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia, quy mô sản xuất của các loại hàng công nghiệp đó rất lớn nên giá thành rẻ hơn Việt Nam nhiều. Một khi được tự do nhập khẩu vào Việt Nam, sản phẩm cùng loại của ta sẽ bị đẩy lùi. Bộ phận, linh kiện nhập từ ASEAN cũng sẽ rẻ vì được miễn thuế nhưng những linh kiện, bộ phận nhập từ các nước khác vẫn chịu phí tổn cao nếu chính sách của Việt Nam không thay đổi. Tình hình này có hể đưa đến khả năng các công ty đa quốc gia di chuyển những cơ sở ắp ráp tại Việt Nam sang các nước ASEAN khác. Để tránh trường hợp này, Việt Nam cần chuyển ngay hiến lược từ thay thế nhập khẩu ang xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc mà biện pháp cụ thể là giảm giá thành những sản phẩm đó bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận. Nói cách khác, nên dùng cơ chế thị trường hay cho chính sách cưỡng chế nội  địa hoá để xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ. Tại sao như vậy?  Để xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ, trong quá khứ cũng có nhiều nước đã áp dụng biện pháp nâng cao thuế suất linh kiện nhập khẩu, nhưng chính sách này phải đồng thời đi liền với chính sách bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc. Việt Nam ngày nay không thể bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc thì phải theo một chiến lược khác. Chính sách tối ưu hiện nay là phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh để xuất khẩu được sản phẩm nguyên chiếc, từ đó quy mô sản xuất trong nước tăng nhanh, tạo điều kiện để các công ty cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đầu tư lớn. Đồ điện, điện tử gia dụng là những loại máy móc gồm nhiều công đoạn nên có sự phân công hàng ngang giữa các nước trong việc sản xuất và cung cấp cho nhau các linh kiện, bộ phận. Tuy nhiên,  phần đông công nghệ sản xuất đã tiêu chuẩn hóa và ít sai biệt về độ sâu lao động hay tư bản. Do đó, các doanh nghiệp có khuynh hướng tích cực nội địa hóa linh kiện, bộ phận khi lượng sản xuất đạt quy mô kinh tế. Thêm vào đó, khi sản phẩm nguyên chiếc sản xuất cả cho thị trường thế giới thì các công ty lắp ráp phải thường xuyên thay đổ cơ năng, mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm. Điều này buộc họ phải luôn bảo đảm một sự cơ động, nhu nhuyến trong việc quản lý dây chuyền cung cấp các sản phẩm phụ trợ và do đó phải tăng tỷ lệ nội địa hóa, chủ động tham gia xây dựng các cụm công nghiệp.  Tóm lại, ngay từ bây giờ Việt Nam phải chủ động chuyển sang chiến lược hướng ngoại, cho tự do nhập khẩu linh kiện, bộ phận và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nguyên chiếc. Sau khi hoàn thành chương trình thực hiện AFTA, chính sách thay thế nhập khẩu hiện nay sẽ phả thay đổi nhưng đó là thay đổi thu động và chỉ áp dụng với các nước ASEAN. Gia nhập WTO cũng không bắt buộc Việt Nam thay đổ chính sách bảo hộ bằng thuế. Va như đã phân tích, chính sách bảo hộ hiện nay sẽ không đối phó được với thách thức AFTA. Chỉ có con đường là chủ động thay đổi chính sách từ bây giờ. Trong thời đại toàn cầu hoá và khu vực hoá, phải co chiến lược mới và chính sách, biện pháp thích hợp.                                                      Trần Văn Thọ, GS Đại học Waseda, Tokyo                  (Kỳ tới: Chiến lược công nghiệp hóa trong bối cảnh Đông Á hiện nay)  Trần Văn Thọ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường hình thành sản phẩm mới      Chiều cuối tuần, thứ bảy ngày 12/7 tại Café  Olive, Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, Lê Diệp Kiều Trang, Giám đốc kinh doanh của Công ty  Misfit Wearables, kể tôi nghe về “núi” công việc cô đang thực hiện cấp  tập để ngày 15/7, Misfit Wearables ra mắt website chính thức của sản  phẩm Misfit Shine và theo dự kiến đến đầu tháng 8, sẽ được tung ra thị  trường, phân phối chính thức như một trong những phụ kiện mới lạ dành  cho điện thoại thông minh trong toàn hệ thống cửa hàng bán lẻ toàn cầu  của một thương hiệu điện thoại danh giá bậc nhất hiện nay.    Misfit Shine (MS) là một sản phẩm nhỏ gọn như một đồng xu, mà bản thiết kế sản phẩm này từng được giới thiệu ra mắt bạn trẻ Việt Nam ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội vào cuối tháng 4 năm ngoái, khi công ty đưa nhà quản trị hàng đầu thế giới là John Sculley, nguyên Tổng giám đốc của hãng công nghệ Apple và trước đó là Tập đoàn Pepsico, đến thăm Việt Nam theo lời mời của câu lạc bộ doanh nghiệp Dẫn đầu LBC. John Sculley chính là một trong ba người đồng sáng lập nên công ty Misfit Wearbles.  Mới tuần trước, báo chí khoa học của Hoa Kỳ vừa đưa tin: MS đoạt hai giải thưởng lớn là Red Dot và A’ Design Awards. Red Dot là giải do tổ chức Design Zentrum Nordrhein Westfalen của Đức trao cho sản phẩm đạt tiêu chí về chất lượng, sáng tạo, phù hợp nhu cầu và thân thiện môi trường. Còn A’Design Awards lại chấm về ý tưởng thiết kế và tính phù hợp người tiêu dùng toàn cầu.        Misfit Shine dùng để đo mức độ vận động cơ thể như số vòng quay khi đạp xe, số sải tay khi bơi, số bước đi trong ngày, nhờ đó người dùng có thể tự tin kiểm soát mức độ hoạt động của cơ thể khi chơi nhiều môn thể thao khác nhau. Misfit Shine là thiết bị đầu tiên trên thế giới tích hợp với smartphone chỉ đơn giản bằng cách đặt lên màn hình cảm ứng và dữ liệu  sẽ tự động được chuyển qua, không qua bluetooth hay wifi…         Nếu ở thị trường Việt Nam việc sáng tạo ra những sản phẩm công nghệ mới vừa mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm mà đáp ứng được nhu cầu thị trường các doanh nghiệp thường kết nối với các tổ chức nghiên cứu như các viện nghiên cứu và trường đại học, thì trong cuộc cạnh tranh ở thị trường toàn cầu, chị Kiều Trang cho biết, việc hình thành các sản phẩm công nghệ mới lại đang đi một con đường hơi khác. Bắt đầu từ vai trò thủ lĩnh thực chất của một nhân vật có tên chuyên môn là người đề xướng sản phẩm (product editor). Nhân vật này trước hết phải có tầm nhìn và am hiểu thị trường, hiểu sâu về dòng sản phẩm của nhu cầu tiêu dùng mục tiêu mà mình quan tâm. Sau đó, qua nghiên cứu sản phẩm, thị trường, người này xác định rõ sản phẩm thị trường cần có để được thị trường chấp nhận. Chính người đề xướng hay biên tập sản phẩm này, kẻ thủ đắc cả tầm nhìn dự báo xu hướng thị trường và cục diện cạnh tranh trước mắt và xa hơn của thị trường, sẽ đặt ra mọi yêu cầu cho nhóm kỹ sự thiết kế các lĩnh vực của sản phẩm.  Khi nhóm kỹ sư nhận yêu cầu, chẳng hạn như với Misfit Shine phải đẹp như một món trang sức để người thích đeo trên tay, hay cài lên ve áo (đàn ông), phải không bị ngấm nước, dù ở độ sâu 100 mét. Sản phẩm này phải không tốn pin vì không ai muốn phiền hà đôi ngày sạc pin một lần (hay chắc chắn là sẽ quên sạc pin). Món “trang sức” này có thể tương tác ngay với chiếc điện thoại iPhone, thậm chí phải trả lời thắc mắc là nếu đặt trên mặt chiếc iPhone, liệu nó có thể làm trầy mặt kính chiếc điện thoại? Câu trả lời đầu tiên của họ thường là: “Khó lắm! Không thể làm vậy được đâu”! Nhưng rồi với “tài” của người kinh doanh, một quá trình tương tác gay go diễn ra và cuối cùng, từ chỗ cảm nhận ban đầu là “khó lắm, không thể làm được” thì sau đó, họ “chưa từng bao giờ làm không được”.   Sau việc hoàn thành khâu thiết kế sản phẩm, là việc chọn chất liệu, chọn nơi sản xuất như thế nào để đáp ứng được cùng lúc bốn yêu cầu: bảo đảm bí mật, không bị ăn cắp kiểu dáng công nghệ; sản phẩm tốt nhất, đẹp nhất; giá xuất xưởng rẻ nhất và cuối cùng là đủ sức sản xuất qui mô lớn khi sản phẩm được thị trường chấp nhận. Misfit Wearables nhận thấy sản xuất ở Trung Quốc là đạt yêu cầu, nhưng không đáp ứng yêu cầu không bị giả kiểu dáng công nghệ nên cuối cùng chọn Hàn Quốc.        Từ những lô hàng sản xuất với số lượng vài ba ngàn đến  sản xuất đại trà theo qui mô công nghiệp hiện đại, cạnh tranh tốt trên  thị trường là một bài toán có quá nhiều thông số và ẩn số. Và để giải  được bài toán này cần có sự hợp tác, chia sẻ của những nhà nghiên cứu  khoa học, kỹ sư giỏi. Nhưng dường như yếu tố đó lại chưa phải là yếu  tính của người Việt Nam.          Từ khi bắt tay vào làm Misfit Shine, một nửa thời gian của cặp vợ chồng Kiều Trang – Sonny Vũ, với Sonny Vũ là product editor và Kiều Trang là người điều phối hệ thống và kinh doanh, là sống và làm việc 50% thời gian ở Việt Nam. Vì sao? Misfit Wearables đặt phòng nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam với đội ngũ 30 kỹ sư trẻ tài năng, đảm trách ba khâu: thiết kế công nghệ cảm ứng cao cấp, thiết kế phần mềm và phát triển hệ thống dữ liệu cung cấp cho người tiêu dùng. Kiều Trang nhấn mạnh, đây là những người trực tiếp thiết kế sáng tạo sản phẩm chứ không phải làm gia công theo thiết kế có sẵn. Vì vậy họ phải là những kỹ sư trẻ say mê công nghệ, có khả năng cập nhật liên tục công nghệ mới của thế giới, không sợ những đỉnh núi cao và đáy vực sâu, đủ thông minh, đủ tình yêu, đủ sức khỏe thế chất và trí não để đeo đuổi đến cùng và có một sự nhạy cảm bản năng với đòi hỏi ác nghiệt của cạnh tranh thị trường. Nói ngắn gọn là họ có đầy đủ các khả năng và tố chất thích hợp với những sản phẩm công nghệ mới.   Những kỹ sư trẻ gắn bó với nhau trong một nhóm, gọi là một team. Mỗi người chuyên một lĩnh vực nhưng tất cả hòa làm một để cùng giải các bài toán như tìm nguyên liệu thích hợp nhất, giải đáp các tính năng về âm thanh, về điện năng, về tốc độ, về tính tiện dụng… tối ưu. Cuộc đua sống còn đã diễn ra thầm lặng ngay từ vạch xuất phát, khi việc thiết kế sản phẩm và sản xuất lô hàng thử nghiệm đầu tiên còn nằm trong vòng bí mật, giai đoạn mà những rủi ro rình rập do nguy cơ có những nhà kinh doanh khác nhìn xa hơn, thực dụng hơn, thông minh hơn có thể đưa ra được sản phẩm đẹp hơn, tiện dụng hơn và giá “mềm” hơn. Chưa hết, chặng đường biến những công nghệ tốt thành nhưng sản phẩm công nghệ xuất sắc thì còn gay go và mới lạ nữa, bởi lẽ khi đó là có bàn tay “lông lá” của thị trường can thiệp. Bàn tay này lại rất kỳ quái, khắc nghiệt, rất khác biệt và không bao giờ nhân nhượng so với quán tính nghĩ suy, làm việc và mong muốn của nhà nghiên cứu khoa học.    —  Đón dọc:  Bài 2: Tương quan giữa công nghệ và thị trường qua Misfit Shine   Bài 3: Mô hình đưa sản phẩm cộng nghệ mới ra thị trường toàn cầu, những gợi ý cho Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường ThinkZone Fund II đưa các nhà đầu tư nội đến với startup      Vào ngày 21/2 vừa qua, hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp ThinkZone công bố quỹ fund II với tổng số vốn cam kết đầu tư lên tới 60 triệu USD và 100% số tiền này đều thuộc về các nhà đầu tư nội. Sự kiện này khiến nhiều người hy vọng vào một hiện thực tươi sáng: các nhà đầu tư nội đã cởi mở hơn với đầu tư mạo hiểm.      Thinkzone Fund II kết hợp với các tập đoàn lớn, cố vấn, đối tác để tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho startup.    Khi nhà đầu tư nội chuyển hướng    Trong báo cáo của Golden Gate Ventures công bố vào tháng 7/2021, Việt Nam được đánh giá là ngôi sao đang lên của khu vực Đông Nam Á khi xếp thứ ba sau Indonesia và Singapore. Báo cáo này cũng chỉ ra, Việt Nam sẽ là một trong những thị trường trọng tâm của các quỹ đầu tư mạo hiểm tại khu vực Đông Nam Á trong ít nhất 2-3 năm tới do có lợi thế về môi trường chính trị ổn định và kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực.    Quan sát ở thị trường Việt Nam, dù theo thống kê có khoảng 180 quỹ đầu tư, thì phần lớn là quỹ đầu tư ngoại hoặc có yếu tố ngoại. Đặc điểm chính là các quỹ ngoại sẽ rót vốn ở tất cả các vòng, từ hạt giống tới các series A, B, C hoặc D với lượng vốn không giới hạn, tùy vào khả năng của startup. Trong khi đó, quỹ nội hầu như chỉ tham gia ở vòng ươm mầm, hạt giống hay tiền series A. Ngay cả các quỹ đầu tư nội, tức là do người Việt sáng lập và điều hành, nguồn vốn hầu hết cũng đến từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đơn cử như Do Ventures, 50 triệu USD tổng lượng vốn mà quỹ này quản lý cũng đến từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài nổi bật ở Hàn Quốc, Singapore như NAVER, Sea, Vertex Holdings, Woowa Brothers, …    Vì lẽ đó, khi lên kế hoạch gọi vốn cho quỹ ThinkZone II, những nhà sáng lập của ThinkZone cũng quyết định tiếp cận các nguồn vốn nước ngoài và gặp một điểm khó là “để có thể thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài xuống tiền vào một quỹ ở xa chỉ thông qua thương thảo trực tuyến là điều rất khó khăn, nhất là khi họ còn chưa có hiểu biết về thị trường startup Việt”, ông Bùi Thành Đô – nhà sáng lập của ThinkZone tiết lộ.    Điều này cũng dễ hiểu bởi nhiều startup đã gặp phải khi đi gọi vốn. Việc ở xa, không thể gặp gỡ trực tiếp các nhà sáng lập cùng với sự biến thiên do ảnh hưởng của COVID-19 khiến nhà đầu tư không dám mạnh tay xuống tiền. Trong một hội thảo về đầu tư mạo hiểm vào giữa năm 2021, theo bà Lê Hoàng Uyên Vy – Giám đốc điều hành của Do Ventures cho rằng, hai năm qua các nhà đầu tư còn khá dè chừng. Bằng chứng là “năm 2020, tổng số tiền đầu tư giảm một nửa nhưng tổng số thương vụ chỉ giảm 17%. Điều này cho thấy nhà đầu tư không đến trực tiếp nhưng vẫn tin vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy họ vẫn đầu tư một khoản giá trị nhỏ để giữ chỗ”.    Sự dè dặt này khiến ThinkZone cho biết họ phải thay đổi chiến lược và rồi quyết định tiến tới kết nối với các tập đoàn trong nước vốn là đối tác lâu năm của công ty. “Nhà đầu tư dù ở trong hay ngoài nước đều có tiền và đều kỳ vọng lợi nhuận cao khi đầu tư. Nhưng các startup Việt đang giải quyết các bài toán của người Việt, do đó, nguồn lực từ các tập đoàn nội địa sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn cho họ” – ông Bùi Thành Đô nói.    Không phải bây giờ nhà đầu tư nội mới có tiền nhưng lâu nay, họ không mấy mặn mà với đầu tư mạo hiểm. Điều này là một thách thức với đội ngũ của ThinkZone. Ông Đô phân tích: “Thách thức ở đây là đa số các tập đoàn trong nước chưa từng đầu tư vào mô hình Quỹ đầu tư mạo hiểm bao giờ, đa số các khoản trước đó là đầu tư vào các Quỹ chứng khoán, Quỹ đầu tư tài sản,… hay các mô hình an toàn hơn”.    Việc đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, thực tế các cá nhân có tiền có thể trở thành nhà đầu tư thiên thần cho các dự án, họ chấp nhận với rủi ro cho một sản phẩm có thể làm họ “rung động”. Nhưng chuyện cả một hội đồng quản trị thống nhất đầu tư mạo hiểm lại là chuyện khác. Chẳng thế Trịnh Khánh Hạ – Founder của Vulcan Augmetics, một startup tạo tác động xã hội bằng cách nghiên cứu, sản xuất những cánh tay giả cho người khuyết tật từng nói với Khoa học và Phát triển: “Khi đi gọi vốn thì các cá nhân dễ thuyết phục hơn các tổ chức”. Mô hình kinh doanh mà startup này hướng tới ước chừng cần tới 5-10 năm sau mới có lợi, đó là chưa kế khả năng tăng trưởng không thể x5 hay x10 như các startup trong lĩnh vực tài chính, thương mại điện tử.    “Các nhà đầu tư cá nhân dùng tiền của họ nên dễ quyết định hơn” – Khánh Hạ nói. Nhưng với cả một tổ chức, yếu tố rủi ro và lợi nhuận vẫn đặt lên đầu.    “Chúng tôi cần chia sẻ và thuyết phục được các bên về mô hình Quỹ mà ThinkZone đang theo đuổi. May mắn, chúng tôi thuyết phục được và gặp được đúng những người am hiểu, có tâm huyết muốn hỗ trợ các bạn trẻ khởi nghiệp và rất mong muốn làm việc này đến cùng” – ông Bùi Thành Đô nói về cách mà ThinkZone đã làm.    Sức bật nội lực    Nếu không có Covid-19, có thể ThinkZone sẽ không nghĩ đến việc nhận được cam kết đầu tư 60 triệu USD từ ba nhà đầu tư Việt Nam là IPA Investments, Phú Thái Holdings, Stavian Group. Điều này có thể họ chưa từng nghĩ đến. Khi được hỏi “Phải chăng đây là bước ngoặt cho thấy, các nhà đầu tư nội đã sẵn sàng cởi mở hơn với đầu tư mạo hiểm?”, ông Bùi Thành Đô cẩn trọng nói, thành công này chỉ là bước đầu. Thách thức vẫn còn ở phía trước khi mà quy mô quỹ cũng tương đối lớn và ThinkZone cần làm rất tốt việc tìm hiểu các cơ hội, quản lý sau đầu tư và hỗ trợ cho startup thật nhiều giá trị phù hợp.    “Các nhà đầu tư nội rất quan tâm tới đầu tư startup công nghệ, chỉ là họ muốn tìm được một team phù hợp để tin tưởng giao phó thôi” – ông Bùi Thành Đô nói thêm.    Suy nghĩ của ông Đô có nhiều điểm trùng hợp với những điều bà Phạm Minh Hương, Giám đốc Điều hành IPA Investments tâm niệm. Là cổ đông lớn nhất của Công ty CP chứng khoán VNDIRECT, sau những thành công trong lĩnh vực truyền thông, đương nhiên IPA Investment với nguồn vốn đã có muốn mở rộng thêm các hướng mới để tìm kiếm tăng trưởng. “Tôi rất hứng thú với việc theo sát các bạn trẻ khởi nghiệp Việt Nam. Họ có ý tưởng công nghệ, đam mê và thái độ nghiêm túc trong khởi nghiệp, đó là những giá trị quan trọng mà chúng tôi mong muốn thúc đẩy” – bà Hương nói.    Sự tham gia của các tập đoàn lớn vào hệ sinh thái khởi nghiệp bằng cách trực tiếp rót vốn vào startup hay rót vốn thông qua các công ty quản lý quỹ… không mới trên thế giới. Mô hình này phổ biến ở Singapore, Hàn Quốc… Bởi nguồn lực của chính phủ có hạn và chính phủ phù hợp nhất với vai trò “bà đỡ”, “trung gian kết nối”. Nghĩa là, chính phủ xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ thúc đẩy cho hệ sinh thái khởi nghiệp, xây dựng các chương trình gặp gỡ kết nối để quỹ đầu tư, vườn ươm có thể kết nối hợp tác được với các tập đoàn.    Thị trường đầu tư vào startup của Việt Nam đang vô cùng sôi động. Theo báo cáo của DealStreetAsia, năm 2021, Việt Nam nhận khoảng 2,48 tỷ USD đầu tư, con số này chiếm gần 10% lượng tiền đổ vào khu vực Đông Nam Á trong năm vừa qua (ước khoảng 25,7 tỷ USD). Sự sôi nổi của các nhà đầu tư ngoại là lý do khiến nhà đầu tư nội không thể ngồi yên. Tuy nhiên, để ‘tiền không chảy ra nước ngoài” và những miếng bánh ngon trong thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam không rơi hết vào tay nhà đầu tư ngoại thì đây là thời điểm mà nhà đầu tư nội lên tiếng. “Đầu tư vào các startup là cánh tay nối dài của các tập đoàn truyền thống khi chúng mang đến cho họ những cơ hội hợp tác hoặc mua bán sáp nhập các sáng kiến đổi mới mà không cần phải có một bộ phận R&D quy mô”, ông Bùi Thành Đô bày tỏ.    Trước đây, những vướng mắc về thủ tục hành chính khiến đa số quỹ mới thành lập của Việt Nam lựa chọn con đường dễ dàng hơn là thành lập pháp nhân tại nước ngoài, chẳng hạn như tại Singapore, để có thể nhận được những ưu đãi thuế hay tránh các rào cản pháp lý. Việc này khiến các startup Việt cũng phải thành lập ở nước ngoài để tiếp nhận vốn đầu tư. Nhưng ThinkZone lại suy nghĩ khác, quỹ này vẫn hoàn thành việc thành lập Fund II đồng bộ với quy định của Nhà nước cũng như tiêu chuẩn của thế giới.    Cụ thể, ThinkZone đã cấu trúc quỹ một cách chuyên nghiệp thông qua một hợp đồng thỏa thuận Limited Partnership Agreement (LPA), một văn bản thường thấy trong cộng đồng đầu tư mạo hiểm thế giới. Trong thỏa thuận này sẽ bao gồm những điều khoản liên quan đến phí quản lý, biên lợi nhuận, hiệu quả đầu tư hay quy trình ra quyết định theo quy mô đầu tư.    “Việc thành lập ThinkZone Fund II mang đến những kinh nghiệm quan trọng cho các quỹ nội sẽ thành lập tại Việt Nam trong tương lai”, ông Trần Trí Dũng, Quản lý Chương trình khởi nghiệp Thụy Sĩ (Swiss EP) nói. Việc nhà đầu tư nội địa với nguồn lực và hiểu biết về thị trường trong nước tham gia vào đầu tư mạo hiểm chắc chắn sẽ tạo nên sức bật nội lực cho khởi nghiệp Việt Nam trong tương lai gần.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Con đường thoát khỏi sự câm lặng      Với thiết bị trợ thính của mình, ông bà  Ingeborg và Erwin Hochmair đã giúp cho hàng trăm nghìn người khiếm thính  thoát khỏi thế giới câm lặng và mở ra một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới thuộc lĩnh vực  này.       Có lẽ không có nhiều trẻ em ở tuổi 13 ngỏ ý muốn trở thành “kỹ sư y học” và càng hiếm hoi hơn khi những em đã biến ước muốn của mình thành sự thật. Nhưng Ingeborg Desoyer lại thuộc diện hiếm hoi đó. Sau khi học xong phổ thông, bà hào hứng học môn kỹ thuật điện tại Đại học tổng hợp Kỹ thuật Viên (Áo), ở tuổi 22, bà đã hoàn thành luận án tốt nghiệp, khi đó, chồng tương lai của bà là Erwin Hochmair hỏi, liệu bà có sẵn sàng hợp tác với ông thiết kế máy trợ thính.  Bà gật đầu và từ đó, trong gần 40 năm, bà đã phát triển máy trợ thính giúp những người khiếm thính thoát khỏi cuộc sống hoàn toàn tĩnh lặng. “Hồi đó bà ấy đáp: ‘Chúng ta phải làm, càng sớm càng tốt’,” ông Erwin Hochmair hồi tưởng. Ông bà Ingeborg và Erwin Hochmair mới đây đã được đề cử giải thưởng “Nhà phát minh châu Âu” cho sự nghiệp mà họ thực hiện hầu như trong suốt cuộc đời mình.   Máy trợ thính điện tử do hai ông bà Hochmair sáng chế không chỉ có tác dụng khuếch đại âm thanh thông qua một micro thu âm lắp trong máy rồi dẫn tiếp tới màng nhĩ như phần lớn các loại máy trợ thính khác bán trên thị trường, mà có tác dụng kích thích dây thần kinh thính giác ở tai trong. Để thực hiện được điều này, bệnh nhân phải được cấy các điện cực rất nhỏ và nhậy vào ốc tai, còn có tên là Cochlea.  Ngay từ những năm 1960, các nhà nghiên cứu Mỹ và Australia đã tiến hành thử nghiệm cấy các điện cực tương tự vào ốc tai. Những model đầu tiên giúp người điếc có thể cảm nhận được những tiếng động rời rạc, nhưng họ sẽ không hiểu được ngôn ngữ nếu như không đồng thời đọc từ môi những người đối thoại.   Đôi “vợ chồng điện tử” – ông bà Hochmair được bạn bè đồng nghiệp ở trường đại học đặt cho cái tên đó – đã có sáng kiến dẫn các tín hiệu cần thiết qua nhiều kênh điện tử khác nhau chứ không chỉ qua một kênh duy nhất như người ta vẫn làm thời đó. Họ còn phát hiện ra rằng sự cảm nhận độ cao âm thanh không chỉ lệ thuộc vào thần kinh thính giác bị kích thích ở khu vực nào trong ốc tai (Cochlea-Abschnitt) mà còn lệ thuộc vào tốc độ của tín hiệu khi đến ốc tai.   Ngày 16/12/1977, bác sỹ phẫu thuật giầu kinh nghiệm Kurt Burian làm việc tại Bệnh viện Tai-Mũi-Họng thuộc Trường đại học Viên đã cấy những nguyên mẫu điện cực (Electrode prototypes) vào ốc tai của một bệnh nhân. Bản thân bà Ingeborg Hochmair đã tự tay hàn thiết bị điện tử có chức năng tiếp nhận và biến những tín hiệu âm thanh từ bên ngoài thành những xung điện dẫn tới tai trong.   Cho dù bệnh nhân đầu tiên và hai bệnh nhân tiếp theo vẫn không cảm nhận được ngôn ngữ nếu họ không đồng thời được đọc từ môi người đối thoại thì các bác sỹ và kỹ sư vẫn học được nhiều điều từ những người bệnh đầu tiên này nên người bệnh thứ tư và thứ năm trong năm 1979 đã có thể nghe và hiểu những âm thanh được phát ra. Thời kỳ đầu có những phản ứng khá dữ dội từ đội ngũ các chuyên gia về thính giác, bà Ingeborg Hochmair hồi tưởng: “Họ hoàn toàn không tin có thể dùng vài ba điện cực để thay thế tới 30.000 sợi dây thần kinh.”  Ở giai đoạn đầu, việc tìm được người bệnh sẵn sàng tham gia thí nghiệm hoàn toàn không đơn giản, nhưng sau khi có những báo cáo thành công đầu tiên thì đã có nhiều người đăng ký tình nguyện tham gia thí nghiệm, Ingeborg Hochmair kể. “Họ không chỉ có hy vọng cho bản thân mà còn muốn thực sự hỗ trợ chúng tôi trong công tác nghiên cứu, thử nghiệm này.”  Đặc biệt bệnh nhân thứ năm rất hứng thú, hỗ trợ các kỹ sư. Bà luôn có mặt ở phòng thí nghiệm mỗi khi ông bà Hochmairs thử lắp đặt ở một vị trí mới hay thử nghiệm mã hoá tín hiệu. Tên bệnh nhân này viết tắt là C.K. và xuất hiện thường xuyên trong các tài liệu chuyên đề.   Những thiết bị trợ thính ngày nay chỉ còn giữ những nguyên tắc hoạt động cơ bản của nguyên mẫu trợ thính thời đó. Trong khi bệnh nhân C.K. hồi đó phải mang theo thiết bị vi xử lý tín hiệu ở trong túi, kèm theo dây nối với bộ phận truyền tải ở trên đầu, thì ngày nay, toàn bộ thiết bị này, kể cả pin, đều được bố trí hết sức gọn ghẽ gắn sau tai. Thông qua cuộn cảm ứng các bộ phận của thiết bị ở bên ngoài hộp sọ tiếp xúc với các bộ phận bên dưới da đầu, các tấm nam châm giữ cho tất cả ở đúng vị trí của chúng.   Năm 1980, ông bà Hochmairs đã thành lập doanh nghiệp của mình mang tên MED-EL ở Innsbruck, giám đốc điều hành cho đến tận ngày nay vẫn là bà Ingeborg Hochmair. Tuy nhiên mãi đến năm 1990, hai nhà sáng lập doanh nghiệp mới tuyển chọn ba nhân viên đầu tiên, trước đó hai năm, họ đã chấm dứt cộng tác lâu năm với doanh nghiệp 3M của Mỹ. Hiện nay chỉ riêng Phòng Nghiên cứu của MED-EL đã có tới 200 kỹ sư, còn cả MED-EL có tổng cộng 1.500 người làm việc tại 103 nước.   Trong lĩnh vực cấy ghép ốc tai, MED-EL hiện là nhà sản xuất lớn nhất châu Âu và đứng hàng thứ hai trên thế giới. Theo số liệu của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) thì tính đến năm 2012, trên thế giới có 320.000 người được cấy ghép ốc tai, trong đó theo ước đoán của Hội Cochlear Implant Đức, nước này có khoảng 30.000 người ghép ốc tai.  Ingeborg Hochmair đặc biệt mong muốn trẻ em khiếm thính được cấy ghép ốc tai trợ thính càng sớm càng tốt. “Sự phát triển ngôn ngữ trong những năm đầu đời phát triển rất nhanh,” bà nói. Khi đứa trẻ đã lên 5 thì kết quả không còn được tốt so với những đứa trẻ đước ghép ốc tai khi mới một tuổi.  Nhưng ngay cả những người đã có tuổi vẫn được hưởng lợi từ thiết bị cấy ghép hỗ trợ người khiếm thính, nhất là với những người bị mất thính giác khi tuổi cao. Với những trường hợp này, bà Hochmair khuyên không nên chần chừ chờ đợi để giảm thời gian làm quen với thiết bị.  Mặc dù đã đạt được nhiều thành quả nhưng nhà khoa học kiêm doanh nhân Ingeborg Hochmair hoàn toàn chưa nghĩ đến nghỉ ngơi. Thách thức lớn nhất đối với bà hiện nay là câu hỏi, tại sao mức độ cải thiện ở các bệnh nhân được cấy ghép ốc tai không như nhau. Một số người chỉ cần sau ít tháng là có thể nghe bình thường, trong khi đó ở một số người khác, việc cấy ghép chỉ giúp họ hiểu được ngôn ngữ. Không ai có thể tiên lượng chính xác mức độ cải thiện tình trạng khiếm thính của người bệnh.  Nhà khoa học này còn nghĩ đến khả năng điều trị bệnh khiếm thính bằng tế bào gốc trong tương lai.     Xuân Hoài dịch             Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường Tơ lụa mới và tham vọng của Trung Quốc      Chính sách Con đường Tơ lụa mới của Trung Quốc đã xuất hiện khá thường xuyên trong vài năm trở lại đây kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền. Vậy mục tiêu của Trung Quốc đằng sau đó là gì và nó đã được triển khai ra sao? Trang The Economist đầu tháng Bảy vừa qua đăng bài Xe ủi của chúng tôi, luật chơi do chúng tôi (Our bulldozers, our rules) đã phân tích tường tận về chủ đề này.      Con đường Tơ lụa đầy tham vọng của Trung Quốc.  Người Mỹ quan niệm rằng họ ở vị trí trung tâm kết nối hai tuyến đường thương mại huyết mạch của thế giới: xuyên Đại Tây Dương và xuyên Thái Bình Dương. Trung Quốc muốn thay đổi quan niệm này bằng việc thúc đẩy một tuyến thương mại mới đầy tham vọng, Con đường Tơ lụa – cái tên gắn với hào quang xưa cũ của Trung Quốc, một mạng lưới rộng lớn các tuyến đường thương mại cổ xưa kết nối các thương nhân Trung Hoa với thị trường Trung Á, Trung Đông, châu Phi, và châu Âu – nơi Trung Quốc mới là nơi giữ vị thế tiêu điểm.  Các chính sách kinh tế – ngoại giao của Trung Quốc gắn với Con đường Tơ lụa được gọi chung là OBOR (viết tắt của “One Belt, One Road”, tức “Một vành đai, một con đường”). Bài phân tích trên trang The Economist mô tả nó giống như một con tàu khổng lồ ồn ào rời ga và dần dần tăng tốc, với việc Trung Quốc lên kế hoạch và triển khai hàng loạt các dự án lớn ở các quốc gia nằm dọc theo Con đường Tơ lụa. Khái niệm Con đường Tơ lụa lần đầu tiên được ông Tập Cận Bình đề cập trong một chuyến thăm tới Kazakhstan vào năm 2013, sau đó chỉ trong vòng một năm đã có khoảng 300 hợp đồng đầu tiên mang tên OBOR được Trung Quốc đưa vào thực hiện. Tính riêng trong năm tháng vừa qua, các dự án OBOR chiếm tới một nửa các hợp đồng Trung Quốc kí kết tại nước ngoài – đây là một hiện tượng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Trong đó có thể điểm ra một số siêu dự án, chẳng hạn tháng Tư vừa qua, Cosco, một công ty vận tải biển Trung Quốc, tiến hành mua 67% cổ phần tại Piraeus, cảng lớn thứ hai ở Hy Lạp, nơi các công ty Trung Quốc sẽ xây dựng một mạng lưới đường sắt tốc độ cao nối với Hungary và vươn tới tận Đức. Tháng Bảy là thời điểm bắt đầu giai đoạn ba trong dự án xây dựng một lò phản ứng hạt nhân do Trung Quốc thiết kế tại Pakistan, quốc gia nơi mới đây, Trung Quốc công bố sẽ tài trợ xây dựng một đường cao tốc quy mô lớn và đầu tư 2 tỉ USD vào một mỏ than ở sa mạc Thar, vùng giáp ranh giữa Ấn Độ và Pakistan.  Chỉ việc đi “rải” hợp đồng cũng đã khiến các chính khách Trung Quốc vô cùng bận rộn. Tháng Sáu vừa qua, ông Tập Cận Bình mang theo một loạt hợp đồng tới Serbia, Ba Lan, Uzbekistan. Cuối tháng Sáu, trong chuyến thăm ngắn tới Bắc Kinh, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã cùng với ông Tập và một lãnh đạo Mông Cổ cam kết sẽ gắn các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng của nước mình với Con Đường Tơ lụa mới. Cũng trong thời gian này, bộ trưởng tài chính từ gần 60 quốc gia cũng tới Bắc Kinh để tham gia cuộc họp thường niên đầu tiên của Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB), một tổ chức được thành lập để tài trợ cho các dự án và kế hoạch này.  Để nghiên cứu và triển khai OBOR, trong hai năm trở lại đây rất nhiều viện và tổ chức đã được thành lập tại Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình vừa thành lập một “tiểu ban lãnh đạo” có sự tham gia của các thành viên chính phủ và tổ chức đảng nhằm giám sát kế hoạch OBOR, trong đó người phụ trách là Trương Cao Lệ, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị Trung Quốc. Mọi thành viên chủ chốt của chính phủ đều đã được tập hợp vào OBOR.  Trung Quốc cũng đã thiết lập một cơ cấu tài chính để hỗ trợ cho OBOR. Năm 2015, ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã chuyển 82 tỉ USD vào ba “ngân hàng chính sách” nhà nước để rót vốn cho các dự án OBOR. Quỹ lợi ích quốc gia của Trung Quốc đã hậu thuẫn 40 tỷ USD cho một quỹ mới cấp kinh phí cho Con Đường Tơ Lụa. Ngân hàng AIIB được Trung Quốc thành lập với số vốn ban đầu là 100 tỉ USD, tuy không chính thức nằm trong kế hoạch OBOR, nhưng các khoản vay được phê duyệt trong đại hội cổ đông đầu tiên của ngân hàng này – chẳng hạn như các dự án xây dựng đường xá ở Pakistan, Tajikistan và Uzbekistan – đều gắn với các quốc gia nằm trên Con Đường Tơ lụa.  Vì sao Con đường Tơ lụa được coi trọng?  OBOR không có một danh sách chính thức các quốc gia thành viên dù rằng ai cũng biết con số này vào khoảng 60 nước. Các nhà hoạch định phương Tây cho rằng thực chất các dự án gắn với OBOR đều là những dự án quan trọng đối với bản thân quốc gia sở tại, nên dù không có cái nhãn OBOR được gán bởi Trung Quốc thì đằng nào chúng cũng sẽ được chính quyền nước sở tại triển khai bằng cách này hay cách khác. Tuy nhiên, OBOR rất đáng quan tâm vì ba lý do sau.  Thứ nhất, vì các dự án trong đó đều rất lớn, ví dụ như dự án xây dựng một đường ống dẫn gas từ Vịnh Bengal xuyên qua Myanmar tới miền Tây Nam Trung Quốc và dự án xây dựng tuyến xe lửa giữa Bắc Kinh và trung tâm vận tải Duisburg ở Đức. Theo số liệu chính thức, hiện đã có 90 dự án đang được thực hiện với tổng giá trị lên đến 890 tỉ USD. Trung Quốc cho hay họ sẽ đầu tư tổng cộng 4 nghìn tỉ USD vào các quốc gia OBOR nhưng chưa nói rõ thời điểm đầu tư cụ thể là gì. Các quan chức Trung Quốc từ chối so sánh kế hoạch tham vọng này với Kế hoạch Marshall, bởi theo họ, Kế hoạch Marshall là một phương tiện giúp Mỹ tưởng thưởng cho các đồng minh của mình và loại trừ kẻ thù sau Thế chiến II, trong khi OBOR sẽ mở rộng cửa đón chào tất cả. Tuy nhiên, trong sự đối sánh, Kế hoạch Marshall khi đó chỉ tốn 130 tỉ USD theo thời giá hiện hành.  Thứ hai, OBOR chính là đặc điểm quan trọng nhất trong chính  sách ngoại giao của Tập Cận Bình, theo lời Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị năm 2014. Dương Khiết Trì, cố vấn ngoại giao của Tập Cận Bình, đã gắn chặt OBOR với mục tiêu được nhắc đến nhiều ở Trung Quốc là trở thành một “xã hội tương đối khá giả” vào năm 2020 và tới giữa thế kỷ 21 sẽ trở thành một “xã hội cường thịnh”. Bài phân tích nhận định ông Tập Cận Bình cho rằng Con Đường Tơ lụa mới này sẽ là phương tiện giúp mở rộng các xúc tua thương mại và quyền lực mềm của Trung Quốc. Nó cũng là một công cụ đắc lực phục vụ tầm nhìn và chiến lược của Trung Quốc mà ông Tập tiếp nhận từ những người tiền nhiệm, đó là tận dụng môi trường an ninh tương đối ôn hòa hiện nay để đạt được mục tiêu củng cố quyền lực của Trung Quốc trên toàn cầu mà không gây ra mâu thuẫn nào. OBOR cũng phù hợp với “giấc mộng Trung Hoa” là khôi phục lại quá khứ huy hoàng của mình. Không quá khi nói rằng ông Tập đang hi vọng rằng vai trò lãnh đạo của ông sẽ được đánh giá phần nào qua những mục tiêu của OBOR mà ông thực hiện được, bài phân tích bình luận.  Thứ ba, OBOR hướng tới việc đặt châu Á và châu Âu là một không gian đơn nhất với tâm điểm là Trung Quốc. Đây có thể coi là một thách thức cho Mỹ cùng tư duy truyền thống của Mỹ coi mình là trung tâm của thương mại thế giới, như đã đề cập từ đầu bài – Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP và Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương là hai minh chứng rõ nét cho cách nhìn truyền thống này.  Thi đua hưởng ứng  Hiện nay, không chỉ Bắc Kinh mà gần như toàn bộ các địa phương khác của Trung Quốc cũng đang “hưởng ứng” theo trào lưu OBOR. Bài phân tích cho biết hai phần ba trong số các tỉnh thành của Trung Quốc đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của OBOR đối với sự phát triển của địa phương họ. Vừa qua Phúc Châu, thủ phủ của Phúc Kiến, một tỉnh duyên hải, đã yêu cầu các doanh nghiệp trong tỉnh phải “bắt tay vào khởi sự kinh doanh tại các quốc gia và khu vực nằm dọc Con Đường Tơ lụa trên biển”. Tỉnh này còn thành lập một khu vực tự do thương mại nhằm thu hút các doanh nghiệp từ các quốc gia Đông Nam Á. Nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn của Trung Quốc đều đã có một Phòng OBOR riêng – mặc dù có khi họ làm vậy chỉ nhằm xin tiền cho các dự án của mình được dễ dàng hơn.  Kết quả là, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc ngày càng hướng tới các quốc gia OBOR. Theo số liệu chính thức, năm 2015, tổng vốn FDI của Trung Quốc vào các quốc gia OBOR tăng nhanh gấp đôi so với mức tăng của tổng các khoản FDI. 44% các dự án kỹ thuật của Trung Quốc năm 2015 được ký kết với các quốc gia OBOR, còn trong năm tháng đầu năm 2016, con số này đã lên tới 52%.  Đường lối đầu tư của Trung Quốc dường như cũng đang có chiều hướng thay đổi. Các hợp đồng OBOR của nước này hiện nay đều thiên về hướng để các doanh nghiệp Trung Quốc quản lý các cơ sở hạ tầng mà họ đã xây dựng; trong khi đó, chính sách trước đây là họ chỉ tham gia vào quá trình xây dựng rồi bàn giao công trình lại cho nước chủ quản. Về mặt lý thuyết, điều này sẽ mang lại lợi ích cho Trung Quốc khi làm việc lâu dài tại các quốc gia men theo Con đường Tơ lụa.  Những khó khăn ban đầu  Mặc dù OBOR được khởi đầu một cách “thần tốc” như vậy, nhưng bài phân tích chỉ ra những trở ngại ban đầu, đặc biệt từ Đông Nam Á. Một trong nhiều ví dụ thất bại của Trung Quốc là việc nước này hiện đang lên kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao dài 3.000km chạy từ Côn Minh tới Singapore, nhưng trong cuộc đàm phán với Thái Lan vào tháng Sáu vừa qua về phần của tuyến đường chạy qua Thái Lan, người Thái nói rằng họ sẽ chỉ tham gia xây dựng một phần của tuyến đường này bằng tiền của chính họ.  Một điểm đáng ngại nữa là các dấu hiệu hiện nay cho thấy chưa có đủ các dự án khả thi cho khoản đầu tư khổng lồ đã được Trung Quốc dành ra. Quỹ Con đường Tơ lụa được thành lập nhằm đầu tư vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng ở nước ngoài, nhưng hai khoản đầu tư đầu tiên của quỹ này đều nhằm mua cổ phần của các doanh nghiệp Trung Quốc ở các đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) tại Hong Kong.  Vấn đề cũng nảy sinh trong nội bộ ban lãnh đạo OBOR. Có tin cho rằng Trương Cao Lệ, nhân vật cao cấp nhất phụ trách kế hoạch này, đang bị “thất sủng” khi vào tháng Ba vừa qua đã lỡ miệng nói rằng nền kinh tế Trung Quốc đã có “một khởi đầu chật vật” trong năm 2016, trái ngược với quan điểm của những người thân cận với Tập Cận Bình cho rằng nền kinh tế phát triển chậm lại là điều cần thiết.  Những rắc rối ở Liên minh châu Âu, đặc biệt là ở Anh cũng có thể khiến các lãnh đạo Trung Quốc lo lắng về khả năng hỗ trợ OBOR của châu Âu, dù rằng xét về lâu dài, điều này có thể giúp Trung Quốc dễ dàng hơn khi tranh thủ sự kình địch giữa các quốc gia châu Âu để xác lập các thương vụ với họ.  Ở một góc nhìn rộng hơn, nhiều quyền lợi chính trị xung đột nhau trong nội bộ Trung Quốc cũng gây rủi ro cho Con Đường Tơ lụa và việc điều hòa các lợi ích này sẽ rất khó khăn. OBOR được cho là sẽ giúp nối dài ảnh hưởng thương mại của Trung Quốc, giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế Trung Quốc vào các khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong nước. Nhưng cắt giảm chi tiêu vào hoạt động xây dựng cơ sở vật chất trong nước để dành xi măng, sắt thép phục vụ cho xuất khẩu đáp ứng nhu cầu từ các dự án OBOR sẽ đồng nghĩa với việc Trung Quốc phải giảm trợ cấp cho các tỉnh nghèo. Như vậy, chính quyền sẽ phải chọn lựa giữa quyền lợi của các tỉnh nghèo và quyền lợi của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động yếu kém.  Đâm lao quyết phải theo lao  Mặc dù có những khó khăn trên, nhưng bài phân tích đưa ra ba lý do để tin rằng con đường tơ lụa mới vẫn sẽ được xây dựng – dù “không được xây bằng vàng”.  Lý do đầu tiên, theo Ngân hàng Phát triển châu Á ADB, châu Á cần xây dựng cơ sở hạ tầng mới với mức độ đầu tư rơi vào khoảng khoảng 770 tỉ USD/năm cho đến năm 2020. Có lẽ, xét về lâu dài, nhu cầu lớn này sẽ giúp làm giảm đi những mối lo lắng về việc thiếu dự án để đầu tư. Bert Hofman, đại diện Ngân hàng Thế giới tại Bắc Kinh, nhận định rằng mỗi quốc gia liên quan sẽ có lợi hơn nếu như họ thu xếp các kế hoạch với nhau và với Trung Quốc, thay vì tự lên kế hoạch và tự xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng một cách độc lập.  Lý do thứ hai, Trung Quốc cần OBOR. Các hoạt động kinh doanh trong nước của quốc gia này đang bị thắt chặt do chi phí gia tăng và sức ép yêu cầu doanh nghiệp phải chú ý tới việc bảo vệ môi trường. Do đó, cũng dễ hiểu khi Trung Quốc muốn chuyển một phần hoạt động sản xuất sang nước ngoài – miễn là ở đó có hạ tầng.  Lý do cuối cùng, Tập Cận Bình cần OBOR. Ông đã biến OBOR thành một phần trung tâm trong chính sách đối ngoại của mình và đã đưa bộ máy chính quyền đi theo dự án này tới mức bây giờ muốn rút lui cũng đã quá muộn rồi.  ***  Tất cả những điều kể trên không đồng nghĩa với việc Con đường Tơ lụa mới sẽ được triển khai hiệu quả, và chúng cũng không giúp các dự án của chiến lược này được chào đón ở các quốc gia nghi ngại về tham vọng của Trung Quốc, song dẫu sao những cột mốc đầu tiên đã được dựng lên, và những dự án đầu tiên đã đi vào hoạt động. OBOR đã bắt đầu thách thức quan điểm truyền thống rằng châu Âu và châu Á tồn tại bên cạnh nhau với tư cách là những khối thương mại riêng biệt.  Chi Nhân dịch     theo  The Economist -T in ngày2/7/2016  http://www.economist.com/news/china/21701505-chinas-foreign-policy-could-reshape-good-part-world-economy-our-bulldozers-our-rules                           Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người chiến thắng bóng tối      Sự ra đời của bóng đèn điện vào thế kỷ 19 được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất đưa nhân loại đến cuộc sống phồn vinh.  &#160;    Ngay từ năm 1852, tại cuộc Triển lãm thế giới ở London, người ta đã trưng bày một loại bình ắc-quy khổng lồ để chạy đèn hồ quang, đây là một nguồn sáng mới dù loại đèn hồ quang này rất tốn kém và có nhiều nhược điểm. Chỉ đến khi bóng đèn điện ra đời thì ánh sáng nhân tạo mới có điều kiện được sử dụng rộng rãi.   Nhờ có đèn điện nên mọi người có thể thắp sáng ngôi nhà của mình với giá rẻ, ổn định và không nguy hiểm như nến. Nhờ có đèn điện người ta có thể làm việc, nghiên cứu cả ban đêm từ đó sản lượng và tri thức tăng nhanh gấp bội, làm cho con người có thêm sự khác biệt với động vật vì con người giờ đây có thể tự quyết định về chu kỳ ngày và đêm của mình.   Người tạo nên dấu ấn lịch sử này là nhà sáng chế, phát minh Thomas Alva Edison (1847 – 1931), người đã vươn lên từ cậu bé bán báo thành một triệu phú.   Edison sinh ra ở Ohio, ông làm việc một thời gian về điện tín thuộc công ty hỏa xa, tại đây ông đã có một số cải tiến đối với lĩnh vực điện tín, năm 1876 ông thành lập một hãng riêng ở Menlo Park ở New York. Hãng này đi sâu vào lĩnh vực “sáng chế phát minh theo đơn đặt hàng’’. Edison được coi là một nhà nghiên cứu hiện đại, ông không quan tâm đến cảm hứng bất chợt mà đặc biệt quan tâm tới việc thực nghiệm một cách có hệ thống các giải pháp mới khác nhau với một đội ngũ cộng sự đông đảo làm việc trong các phòng thí nghiệm. Ông đặt ra chỉ tiêu: Cứ 10 ngày thì có một phát minh loại nhỏ và sau sáu tháng phải có một phát minh lớn hơn.      Bản thân Edison thích coi mình là một “nhà sáng chế công nghiệp” và ông gọi doanh nghiệp của mình là “nhà máy sáng chế’’. Ông không chú trọng tới những vấn đề thuộc về bản chất tự nhiên, mà đặc biệt quan tâm tạo ra những sản phẩm xuất phát từ những tri thức khoa học mới nhất thời đó để phát triển kinh tế.   Người ta vẫn cho rằng bóng đèn điện được phát minh vào năm 1879, thời điểm Edison đã thử nghiệm 6.000 chất liệu khác nhau để làm dây đốt trong đèn điện và cuối cùng ông đã quyết định dùng sợi carbon, nhưng trước đó đã có một số người khác dùng chất liệu này vì thế đã xảy ra tranh chấp bản quyền. Khả năng dẫn điện của carbon kém nên khi cho điện chạy qua dây dẫn carbon trong một bình thủy tinh chân không, thì dây sẽ phát ra ánh sáng: nguồn sáng đầu tiên này ước khoảng 25 Watt.  Trước đó cũng từng diễn ra những thử nghiệm với dây đốt điện, thí dụ Heinrich Göbel, một chuyên gia cơ khí và quang học người Đức di cư sang Mỹ, đã làm thí nghiệm này trước Edison. Nhưng Edison đã tạo ra bước đột phá: ông tổ chức biểu diễn ở Menlo Park để cho đèn điện chiếu sáng liên tục 40 giờ đồng hồ, chứng minh cho cả thế giới thấy đã đến lúc kết thúc giai đoạn thử nghiệm đối với bóng đèn điện và đưa vào sử dụng trong thực tiễn.   Edison nhận thức được rằng nếu thiếu một hạ tầng cơ sở để truyền dẫn điện thì chiếc bóng đèn điện của ông cũng trở nên vô nghĩa. Việc phát minh ra bóng đèn điện đã làm tăng lập tức việc tiêu thụ máy phát điện bằng hơi nước cùng với dynamo. Tuy nhiên mãi sau khi xây dựng các nhà máy điện và lắp đặt hệ thống dây dẫn thì mới tạo được bước đột phá đối với việc sử dụng ánh sáng điện ở các thành phố lớn.           Edison nung nấu mơ ước điện khí hóa New York, một dự án mà ông tham dự ngay từ đầu. Đến năm 1882 ông đã cho xây dựng đường cáp ngầm và nhà máy điện lớn đầu tiên với sáu máy phát điện bằng hơi nước. Ngay trong năm đó đã có 59 khách hàng đầu tiên được cung cấp điện và chỉ một năm sau con số này tăng lên 513. Đến cuối năm 1886 nhóm doanh nghiệp của Edison đã có tới 3.000 nhân viên với số vốn là 10 triệu đôla, tập đoàn của Edison là một trong những tập đoàn lớn nhất thế giới thời đó.         Ngay từ đầu sáng chế của Edison đã bị áp lực cạnh tranh rất lớn của đèn thắp bằng khí đốt. Vào thời đó đèn chiếu sáng bằng khí đốt đã có chỗ đứng khá vững chắc ở các thành phố lớn dù có một số nhược điểm: dễ gây cháy, nổ, đốt khi cháy tiêu hao một lượng lớn oxy, làm nóng khu vực xung quanh nên các rạp hát dùng đèn khí đốt thường làm khán giả thấy mệt mỏi, buồn nôn và đau đầu. Thời đó nhà hát kịch ở Boston là một trong những công trình lớn đầu tiên được Edison trang bị toàn bộ bằng đèn điện, sau đó một số khách sạn lớn cũng là khách hàng đầu tiên của ông. Ít lâu sau là giới nhà giầu, tiếp theo là các nhà máy cũng có nhu cầu lắp hệ thống đèn điện.   Để thu hút lượng khách hàng sử dụng đèn điện ngày càng nhiều để cạnh tranh với đèn khí đốt, các doanh nghiệp điện ở một số thành phố kéo đường dây điện đến từng hộ gia đình và thậm chí cho dùng miễn phí bóng đèn điện đầu tiên. Ánh sáng điện không những chỉ ở các nhà máy, trường đại học và ngay cả trên đường phố. Số lượng bóng điện được sản xuất thời đó là minh chứng cho sự thành công của ngành sản xuất điện chiếu sáng. Sản lượng bóng đèn điện của “công ty điện phổ thông (Allgemeine Electricitätsgesellschaft)’’ hồi đó là công ty sản xuất bóng điện vào loại hàng đầu đã tăng từ 60.000 bóng trong năm 1885 lên trên 300.000 bóng chỉ trong vòng hai năm.  Sản xuất, học tập và sinh hoạt vào ban đêm trở nên tiện lợi hơn và ít tốn kém. Bóng đèn điện có một chức năng rất quan trọng là trong quá trình phát triển bóng đèn điện luôn là kẻ đi tiên phong trong sự nghiệp điện khí hóa, tạo nên một hạ tầng cơ sở mà sau này hạ tầng cơ sở đó đã được tiếp tục phát triển để sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Nơi nào có nhà máy điện thì người ta sẽ không chỉ dùng điện để phục vụ chiếu sáng mà còn dùng điện để chạy các loại máy móc thiết bị điện khác như ra đời hệ thống xe điện. Chi phí cho giao thông bằng xe điện rẻ chỉ bằng một nửa so với sử dụng hệ thống giao thông do ngựa kéo. Sau này người ta còn dùng điện để sưởi ấm, nấu nướng. Nếu không có điện thì làm sao có được các quầy bán hàng tự động, có hệ thống biển quảng cáo bằng sánh sáng và cũng sẽ không có truyền hình cũng như computer.  Nếu thấy được ánh sáng điện có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển phồn vinh ngày nay thì người ta ít nhiều có thể thông cảm với ai đó còn nuối tiếc chiếc bóng đèn điện ngày nào. Bóng đèn điện sẽ biến mất và sẽ bị thay thế bởi loại bóng tiết kiệm năng lượng, từ đó cũng biến mất điều từng tạo nên cuộc sống hiện đại, tạo nên cuộc sống phồn vinh của chúng ta ngày nay. Chúng ta đã coi sự hiện diện của cái bóng điện trong cuộc sống là điều hoàn toàn đương nhiên, không thể thiếu được. Theo triết gia người Pháp Gaston Bachelard thì “Ngọn đèn điện không chỉ là một sản phẩm, mà đã trở thành trung tâm của ngôi nhà, là linh hồn canh giữ nơi sinh sống của mỗi người chúng ta. Khó có thể tưởng tượng về một ngôi nhà mà không có bóng đèn cũng như có bóng đèn mà không có ngôi nhà.’’                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người đã ưa chuộng thực phẩm lên men từ rất lâu      Không chỉ con người, mà các loài linh trưởng khác cũng như vậy.      Kỹ thuật lên men thích hợp có thể giải phóng các dưỡng chất không có sẵn từ thực phẩm và giúp bảo quản thực phẩm trong thời gian dài. Ảnh: That Sugar Movement  Từ miso và kim chi của châu Á đến rượu vang, phô mai và dưa cải muối của phương Tây, hay là rượu sắn và rượu khoai mì của dân Nam Mỹ, đi đến đâu đồ ăn và thức uống lên men cũng được người dân trên khắp thế giới ưa chuộng. Không chỉ vậy, như danh sách này gợi ý, họ cân nhắc kỹ lưỡng cả việc nên lựa chọn lên men những loại thực phẩm nào. Bên cạnh việc đem lại niềm vui thú hiển nhiên từ cảm giác say sưa, kỹ thuật lên men thích hợp có thể giải phóng các dưỡng chất không có sẵn từ thực phẩm và giúp bảo quản thực phẩm trong thời gian dài.  Nhìn chung, các sản phẩm lên men chiếm từ 1/3 đến 2/3 khẩu phần ăn trung bình của con người, và bằng chứng khảo cổ cho thấy loài người đã ủ bia từ ngũ cốc lên men cách đây 6.000 năm. Nhưng xét về mặt tiến hóa, giai đoạn này chỉ ngắn ngủi như một cái chớp mi. Katherine Amato, nhà nghiên cứu nhân chủng học ở Đại học Northwestern tại Illinois, tự hỏi rốt cuộc từ khi nào mà con người bắt đầu yêu thích vị của thực phẩm lên men. Bài báo của bà đăng trên Tạp chí Nhân học Vật lý Hoa Kỳ chỉ ra rằng một số loài linh trưởng khác cũng tiêu thụ thực phẩm lên men. Hơn nữa, mặc dù những loài này không ham thích thực phẩm lên men như con người, chúng dường như cũng cân nhắc kỹ càng chẳng kém gì chúng ta.  Tiến sĩ Amato bắt đầu với những nghiên cứu công bố năm 2015 và 2019 cho thấy các gen mã hóa hai loại protein tham gia vào quá trình xử lý sản phẩm lên men – alcohol dehydrogenase, một loại enzyme hỗ trợ chuyển hóa cồn, và HCA3, một phân tử thụ thể gây ra phản ứng viêm đối với các axit hữu cơ được tạo ra bởi vi khuẩn lên men – xuất hiện lần đầu ở chi Người khoảng 10 triệu năm trước. Điều này gợi ý rằng đã có một sự chuyển tiếp trong thói quen ăn uống diễn ra vào cùng thời điểm đó. Tiếp nối các công trình nghiên cứu về động vật linh trưởng, bà quyết định tìm hiểu về các thói quen này ở các loài linh trưởng khác nhau.  Công cuộc điều tra bắt đầu từ… thư viện – hay đúng hơn là phiên bản điện tử hiện đại của nó. Từ vô số cơ sở dữ liệu, đầu sách và bài báo nghiên cứu, bà tìm thấy thông tin về 151 nhà sinh vật học từng thu thập dữ liệu về hành vi kiếm ăn của động vật linh trưởng. Bà gửi email cho từng người để hỏi xem liệu có ai trong số họ đã ghi nhận trái cây lên men trong chế độ ăn của các loài này hay không. Vài chục người trong số họ trả lời, đúng vậy. Dựa vào những câu trả lời này, bà thu thập dữ liệu về chế độ ăn của 40 loài, bao gồm khỉ đột, tinh tinh, khỉ đầu chó, khỉ đuôi dài, khỉ mũ, vượn cáo và khỉ nhện, ở 50 địa điểm thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ.    Khả năng cao là mặc dù các loài linh trưởng không ở vị thế để chủ động thúc đẩy quá trình lên men như con người, chúng đang tận dụng quá trình này để chế độ ăn của mình thêm phong phú. Ảnh: Economist  Thoạt nhìn, kết quả của nghiên cứu có vẻ gây thất vọng. Tiến sĩ Amato và đồng nghiệp phát hiện chỉ có 15 loài được ghi nhận tiêu thụ trái cây lên men ở giai đoạn chín nẫu (và do đó được nhận biết rõ ràng). Thêm nữa, lượng trái cây lên men này chỉ chiếm tối đa 3% trong khẩu phần ăn của các loài này. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hơn, kết quả này lại ẩn chứa một phát hiện thú vị. Trong số 44 loại trái cây được tiêu thụ ở giai đoạn lên men muộn, 16 loại có lớp vỏ cứng gây khó khăn cho việc tách bỏ trừ phi chúng được lên men trước đó, và 25 loại chứa hóa chất cản trở tiêu hóa hay độc hại như tanin và alkaloid mà quá trình lên men có xu hướng loại bỏ.  Có lẽ đây là những loại thực phẩm vốn không dành cho các động vật không thể tiêu hóa được phiên bản lên men của chúng. Và ngay cả con số 3% trong chế độ ăn, theo quan điểm tiến hóa, cũng là một tỉ lệ cần thiết. Do đó, khả năng cao là mặc dù các loài linh trưởng không ở vị thế để chủ động thúc đẩy quá trình lên men như con người, chúng đang tận dụng quá trình này để chế độ ăn của mình thêm phong phú.  Hóa ra, quan điểm cho rằng alcohol dehydrogenase và HCA3 mới chỉ xuất hiện ở loài người gần đây có thể chỉ là tin lá cải. Một số loài linh trưởng ăn trái cây lên men còn tồn tại ngày nay đã tách khỏi tổ tiên chung với con người từ lâu hơn 10 triệu năm trước rất nhiều. Giả thuyết đặt ra là trình tự gene của các loài này đã tiến hóa để cho phép chúng tiêu thụ thực phẩm lên men và các vi khuẩn lên men. Cho dù là vậy, nghiên cứu của tiến sĩ Amato vẫn không phủ nhận rằng tình yêu của con người đối với thực phẩm lên men thực sự có nguồn gốc tiến hóa sâu xa.  Anh Thư dịch  Nguồn: The taste for fermented food goes back a long way    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người hay Robot sẽ thống trị những cuộc khám phá vũ trụ?      Dấu chân gần đây nhất của con người trên Mặt  Trăng là từ cách đây 40 năm, và dấu vết nhân tạo sắp tới nhiều khả năng  sẽ là vết bánh xe của robot thay vì dấu chân người.    Nhiều nhà khoa học vũ trụ, kỹ sư, và chính trị gia, đã khẳng định rằng thật ra đây là điều tốt. Đa số các nhà thiên văn sẽ bảo bạn rằng robot có thể làm hầu như mọi thao tác mà con người có thể làm được trên một hành tinh khác, với giá thành rẻ hơn, và bớt được nguy cơ mất đi một mạng sống. Nhưng vẫn chưa ngã ngũ cuộc tranh cãi về vai trò chủ đạo dành cho con người hay robot, trong kỷ nguyên sắp tới của ngành thám hiểm vũ trụ.  “Chỉ trong vòng ít ngày trên bề mặt Mặt Trăng, các nhà du hành tàu Apollo đã tạo ra một di sản khoa học rất lớn”, khẳng định từ nhà khoa học hành tinh Ian Crawford của trường Birkbeck College, London, tác giả của một nghiên cứu công bố trên tạp chí Astronomy and Geophysics. “Những cuộc thám hiểm của robot trên Mặt Trăng và Sao Hỏa không thể nào so được”.  Trong những thập kỷ vừa qua, những cỗ xe tự hành, thiết bị hạ cánh, các vệ tinh đã thực hiện những chuyến đi tới Mặt Trăng, các thiên thạch, tất cả mọi hành tinh trong hệ Mặt Trời cũng như các mặt trăng của chúng. Nhưng kết quả công việc của chúng liệu có thể so với kết quả từ các nhà du hành vũ trụ?  Nếu tính theo số lượng kết quả khoa học đầu ra, những chuyến thám hiểm trực tiếp của con người đạt được kết quả cao hơn. Hơn 2000 bài báo đã được công bố qua bốn thập kỷ sử dụng những dữ liệu thu được từ các nhiệm vụ Apollo do con người thực hiện, và số lượng bài báo này vẫn đang tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, chương trình thám hiểm bằng robot của Liên Xô lên Mặt Trăng, cũng như chương trình thám hiểm Sao Hỏa bằng xe tự hành của NASA – các cuộc thám hiểm của các thiết bị như Mars Pathfinder, Spirit, và Opportunity – đều chỉ thu được khoảng 400 công bố.  Con người có một số ưu điểm so với robot. Họ có thể đưa ra quyết định nhanh hơn mỗi khi có thay đổi do hoàn cảnh khách quan, hoặc do những khám phá mới, thay vì phải chờ đợi chỉ dẫn từ Trái Đất. Họ cơ động hơn những cỗ xe robot thám hiểm hiện nay: các nhà dù hành vũ trụ của chương trình Apollo có thể thám hiểm với tốc độ 22 dặm (35,4 km) trong 3 ngày, một khoảng cách mà xe tự hành Mars Opportunity sẽ phải mất 8 năm. Con người có thể đào lấy mẫu vật dưới sâu bề mặt hành tinh, và sử dụng những thiết bị địa chất cỡ lớn, điều mà chẳng xe tự hành nào có thể làm được trên một hành tinh khác.  Tuy người ta phải công nhận những thực tế này, nhưng nhiều chuyên gia vẫn ngờ vực kết luận của Crawford. “Tôi rất không đồng ý với kết luận của ông ta”, khẳng định từ kỹ sư Adrian Stoica, người phụ trách nhóm Kiểm soát Robot Cao cấp trong Phòng thí nghiệm Phản lực của NASA. Ông nhận xét rằng bài báo của Crawford dường như chỉ mới tập trung vào những chi phí tính theo kết quả khoa học đầu ra.  Chương trình Apollo vô cùng tốn kém – khoảng 175 tỷ USD nếu tính theo giá tiền hiện tại – dù rằng nó không chỉ là một nhiệm vụ khoa học. Nó chủ yếu là một màn diễn địa chính trị trong thời Chiến tranh Lạnh nhằm thể hiện ưu thế vượt trội của Mỹ so với Nga, vai trò của khoa học chỉ là một phần trong đó.  Tổng số tiền dành cho khoa học qua các nhiệm vụ Apollo, theo tính toán của Crawford, ở vào khoảng 2,09 tỷ USD tính theo giá tiền hiện hành, nghĩa là rẻ hơn so với Chương trình Khoa học Sao Hỏa gần đây, có tổng kinh phí khoảng 2,5 tỷ USD.  Nhưng Stoica cho rằng việc so một chương trình thám hiểm Mặt Trăng của con người với một chương trình thám hiểm Sao Hỏa bằng robot là hoàn toàn khập khiễng. Tốt hơn là nên so sánh với dự kiến chi phí của một dự án khám phá Sao Hỏa có vai trò hiện diện trực tiếp của con người, mà NASA ước tính tối thiểu là hàng trăm tỷ USD.   Nhưng Crawford phản hồi rằng chi phí chưa phải là vấn đề mang tính quyết định trong phân tích của ông ta. Thay vào đó, ông cho rằng nên tập trung vào khía cạnh hiệu quả và di sản to lớn mà chương trình Apollo đạt được trong một giai đoạn ngắn ngủi. Ông cho rằng nếu các chương trình thám hiểm vũ trụ vẫn tiếp tục tập trung vào việc gửi các robot tới những hành tinh khác, thì “chúng ta trong vòng 100 năm nữa sẽ thu được ít tri thức hơn so với kết quả thu được từ việc nỗ lực thực hiện một chương trình duy nhất có sự hiện diện trực tiếp của con người”.  Nhưng tất nhiên, dù là con người hay robot thì đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng trong những cuộc thám hiểm vũ trụ.  “Thực ra không thể so sánh con người và robot – so sánh như vậy chẳng khác so táo với cam”, nhận xét từ James Garvin, nhà khoa học đứng đầu của Trung tâm Goddard Space Flight của NASA. “Chúng tôi gửi robot đi để tìm đường và hoa tiêu, và chúng mở ra những biên giới mới để chúng tôi quyết định nơi nào và khi nào thì nên cử người đi”.  “Khi robot ở quá xa, chỉ có một điều khiến chúng trở nên hạn chế hơn so với con người: độ trễ”, nhận xét từ nhà thiên văn Dan Lester, Đại học Texas tại Austin.  Thời gian để truyền một tín hiệu từ robot về trạm kiểm soát của Trái đất là vấn đề nan giải cơ bản. Những lệnh điều khiển gửi tới Sao Hỏa mất khoảng 5 tới 15 phút. “Nếu có thể giảm thời gian giao dịch liên lạc từ 10 phút xuống còn 100 mili-giây thì robot sẽ cực kỳ hiệu quả”, Lester nói. Khi đó robot tự hành được điều khiển từ xa sẽ tận dụng được tối đa các lợi thế khác nữa. Chúng có thể thao tác mạnh hơn, bền hơn, chính xác hơn so với con người, Lester cho biết.   Ngày nay, điều khiển thiết bị từ xa đã được coi là chuyện quá cũ trong các cuộc thám hiểm vũ trụ. Ở thời kỳ của chương trình Apollo, công nghệ này vẫn chưa hoàn thiện, nhưng trong thập kỷ vừa rồi, công nghệ này đã cất cánh. Ngày nay, một bác sỹ phẫu thuật ở Baltimore có thể làm phẫu thuật ở Indonesia, và nhà chức trách ở Nevada hoàn toàn có thể bí mật theo dõi các địa điểm hạt nhân của Iran.  Từ thực tế này, Lester hình dung về một tương lai khi các nhà du hành có thể cắm trại trên mặt trăng Phobos và Deimos của Sao Hỏa, đưa ra các chỉ thị từ xa điều khiến robot chạy đường dài trên bề mặt của hành tinh này, thực hiện các thí nghiệm địa chất, và thu thập mẫu phân tích. Ông chỉ ra rằng cách làm này sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí, vì khoảng một nửa chi phí của một nhiệm vụ có sự tham gia trực tiếp của con người là ở khâu đưa người xuống và lên từ những hành tinh có trọng lực mạnh.  TS dịch theo   http://www.wired.com/wiredscience/2012/04/space-humans-vs-robots/#more-105707    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người sẽ lên sao Hỏa vào năm 2022?      SpaceX dự kiến sẽ đưa người lên sao Hỏa trong vòng 6 năm nữa. Tập đoàn này hi vọng, kế hoạch này sẽ đặt nền móng cho thời kỳ chinh phục sao Hỏa và mở rộng không gian sinh tồn của loài người.      Elon Musk, người sáng lập SpaceX dự kiến sẽ đưa người lên sao Hỏa trong vòng 6 năm tới trong bản kế hoạch mới nhất về lộ trình chinh phục hành tinh đỏ (theo kế hoạch mới này, thời hạn đưa người vào vũ trụ sớm hơn 3 năm so với dự kiến ban đầu mà SpaceX công bố vài năm trước).  Trả lời báo chí, Musk cho rằng chinh phục sao Hỏa và đưa con người lên đó sống là một con đường rất cần thiết cho sự tồn vong của loài người, vì không thể chỉ ở trái đất mãi mãi. Để đạt được mục tiêu này, Musk đã cho thiết kế một hệ thống vận tải sử dụng tên lửa có thể dùng nhiều lần, như tên lửa Falcon 9 – loại đã được thử nghiệm thành công. Tên lửa tái sử dụng này có thể đẩy được một “module máy bay liên hành tinh” (interplanetary module), kích cỡ tương đương với 2 chiếc Boing 747 và có sức chứa khoảng 100 hành khách.  Ngoài ra, một module khác tương tự sẽ được đẩy vào quỹ đạo trái đất để tiếp nhiên liệu cho module máy bay liên hành tinh có thể tiếp tục khám phá các khu vực khác trong hệ mặt trời như Enceladus – được gọi là mặt trăng của sao Thổ mà mới đây đã được Nasa phát hiện là có thể có dấu hiệu của đại dương và tiềm ẩn sự sống. Musk cũng trình bày kế hoạch về một hệ thống tự tổng hợp nhiên liệu từ nguồn nước và carbon dioxide ngay trên sao Hỏa để cung cấp nhiên liệu cho hành trình trở về trái đất. Theo ước tính của Musk, chi phí cho một hành khách khi thám hiểm sao Hỏa sẽ vào khoảng 10 tỉ USD.  Trước tuyên bố của Musk, Nasa cũng có cho biết họ hoan ngênh kế hoạch tham vọng của Musk: “Nasa hoan nghênh tất cả những ai có ý định thúc đẩy những bước tiến vĩ đại trong hành trình khám phá sao Hỏa. Hành trình đưa con người lên sao Hỏa sẽ cần những ý tưởng sáng suốt từ cả chính phủ và toàn bộ nền công nghiệp”.  Bảo Như lược dịch.  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2016/sep/27/elon-musk-spacex-mars-colony    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Còn nhiều điều chưa biết về biến thể Covid Ấn Độ      Hệ thống y tế Ấn độ đang phải gồng mình và ít nhiều đã bị sụp đổ trước gánh nặng đại dịch Corona. Các ca lây nhiễm mới tăng mạnh mỗi ngày từ đó dẫn đến tình trạng thiếu thuốc men và  oxy y tế, bệnh nhân phải xếp hàng dài tại các bệnh viện. Tình hình bi đát này có thể một phần do biến thể mới B.1.617 gây ra.    Nhưng chúng ta chưa biết nhiều về biến thể Ấn Độ.    Hệ thống y tế Ấn độ đang phải gồng mình và ít nhiều đã bị sụp đổ trước gánh nặng đại dịch Corona.   Đột biến này từ đâu tới?  Virus liên tục biến đổi. Con virus gây đại dịch corona trên thế giới đã trải qua hàng nghìn đột biến, một số trong đó đáng lo ngại hơn so với các đột biến khác. Ấn Độ đã báo cáo sự xuất hiện của bộ gene B.1.617 cho cơ sở dữ liệu trình tự của Sáng kiến Toàn cầu Chia sẻ tất cả dữ liệu về bệnh cúm (Gisaid) lần đầu tiên vào tháng 10 năm 2020.  Bộ Y tế Ấn Độ đã chỉ ra biến thể này vào cuối tháng 3 năm 2021. Vào thời điểm đó, nó được phát hiện trong 15-20% các mẫu được phân tích ở bang Maharashtra, bang bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đại dịch ở nước này. Theo thông tin mới nhất, B.1.617 hiện chiếm khoảng 60% số ca lây nhiễm corona mới ở Ấn Độ. Biến thể đã được xác định ở 20 quốc gia khác.   Có lý do để lo ngại?  Cho đến nay, đột biến B.1.617 vẫn được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp vào loại “cần quan tâm”. Không giống như các biến thể lần đầu tiên được phát hiện ở Brazil, Nam Phi và Anh, B.1.617 vẫn chưa bị coi là “đáng lo ngại”.  Biến thể có một số đột biến, bao gồm E484Q và L452R. Những chữ viết tắt này chỉ ra vị trí chính xác của sự thay đổi gene tương ứng trong bộ gene của virus. Hai đột biến này là lý do tại sao B.1.617 còn được gọi là đột biến kép.  E484Q tương tự như đặc tính của các đột biến được tìm thấy ở Nam Phi, Brazil và Anh. Các chuyên gia gọi là “đột biến thoát” vì nó giúp virus thoát khỏi hệ thống miễn dịch của cơ thể con người. Theo một nghiên cứu ở California, đột biến thứ hai, L452R, “giúp phát tán hiệu quả” cho virus.  Liệu hai đột biến có thực sự làm cho biến thể nguy hiểm hơn hay không vẫn chưa được làm rõ. Theo các nhà khoa học, cần có thêm dữ liệu để có thể xếp B.1.617 là một biến thể nguy hiểm.   Đột biến này là nguyên nhân làm tăng vọt lây nhiễm ở Ấn Độ?  Theo Giám đốc Trung tâm Sinh học Tế bào và Phân tử ở Hyderabad, Rakesh Mishra, cho đến nay, loại virus này đã lây lan thành công hơn các biến thể virus khác. “Nó từ từ tự phát triển và thay thế các biến thể khác”, ông nói.   Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tình trạng thảm kịch ở Ấn Độ hiện nay chỉ do  đột biến gây ra. Điều này cũng có thể là do sự bất cẩn, chủ quan của chính quyền trung ương cũng như chính quyền các bang ở Ấn Độ trong sự đối phó với đại dịch trong những tháng gần đây.  Khi các ca bệnh bắt đầu giảm vào tháng 10 và tháng 11 năm 2020, chính phủ đã nới lỏng đáng kể các biện pháp phòng chống dịch, có rất nhiều sự kiện lớn với sự tham gia của rất đông người, chen lấn nhau mà không hề đeo khẩu trang.  Vaccine có tác dụng phòng chống các đột biến?  Đột biến E484Q ở Ấn Độ có liên quan đến đột biến E484K ở Anh, Nam Phi và Brazil. Người ta nghi ngờ rằng có thể đột biến làm giảm khả năng bảo vệ mà một người đã có nhờ kháng thể sinh ra sau một trận nhiễm virus từ trước đó hoặc sau tiêm chủng chống lại virus corona.Nhưng các chuyên gia tin rằng tiêm chủng dù sao cũng mang lại một số khả năng bảo vệ, đặc biệt là giúp tăng khả năng chống đỡ ở bệnh nhân bị bệnh nặng.  Làm thế nào để có thể vượt qua khủng hoảng?  Nếu có nhiều vật chủ chứa virus hơn – tức càng có nhiều người bị lây nhiễm virus corona thì virus càng có thể biến đổi nhanh hơn. Do đó, Ấn Độ cần nhanh chóng kiểm soát tình hình bùng phát dịch hiện nay. Một biến thể mới khác với ký hiệu B.1.618 gần đây đã gây xôn xao dư luận. Nó dường như đã lan rộng ở Ấn Độ và bị coi là một loại đột biến lớn thứ ba.  Các nhà virus học lưu ý Ấn Độ có thể học bài học kiểm soát thành công của nước Anh trong việc ngăn chặn biến thể của Anh: Hiện nay Anh đang tiến hành tiêm chủng và có hiệu quả; nhưng biện pháp phong tỏa mới thực sự có hiệu quả trong việc kìm hãm sự lây lan và làm xoay chuyển được tình thế lúc này.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/gesundheit/article230664801/Mutationen-Was-wir-ueber-die-indische-Variante-wissen-und-was-nicht.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Con tàu săn cá voi hé lộ một phần lịch sử Hoa Kỳ      Các nhà khảo cổ học hàng hải đã phát hiện một xác tàu cá voi từ những năm 1830 dưới đáy Vịnh Mexico. Từ đây, số phận thú vị của thuỷ thủ đoàn dần được hé mở.     Một mỏ neo dưới đáy Vịnh Mexico, nơi con tàu săn cá voi Industry bị lật và chìm vào năm 1836. Ảnh: NOAA Ocean Exploration  Con tàu đắm mang số hiệu 15563 đã được xác định là tàu Industry, con tàu săn cá voi duy nhất từng được ghi nhận là đã chìm ở Vịnh Mexico  Mới đây, các nhà khoa học tuyên bố rằng đây là xác con tàu Industry, được đóng vào năm 1815 và đã bị sóng đánh lật trong một cơn bão vào ngày 26 tháng 5 năm 1836. Việc tái khám phá nó – và số phận của những thủy thủ đoàn, rất có thể bao gồm người Mỹ da đen, người Mỹ da trắng và người Mỹ bản địa – đã mở ra một cánh cửa vào thế giới hàng hải và đời sống đa chủng tộc của Hoa Kỳ thời kỳ trước khi Nội chiến Mỹ nổ ra.  Dấu tích của con tàu được ghi lại lần đầu tiên vào năm 2011, khi công ty dữ liệu địa chất quét một khu vực cho thuê dầu và phát hiện ra xác một con tàu ở đáy Vịnh Mexico. Theo đúng tiêu chuẩn quy trình, công ty đã báo cáo phát hiện của mình cho Cục Quản lý Năng lượng Đại dương, cơ quan đánh dấu xác tàu bằng số hiệu 15563 và giữ nguyên tại đó.  Đáy biển của thế giới ngập tràn những con tàu đắm, và các nhà thầu dầu khí thường xuyên tình cờ bắt gặp chúng. Nhưng James P. Delgado, phó chủ tịch cấp cao của SEARCH Inc., một công ty quản lý các nguồn tài nguyên văn hóa như di chỉ khảo cổ và hiện vật, lại quan tâm đến con tàu này – vì mô tả của nhà thầu dầu mỏ cho thấy có lò trywork – một loại lò độc nhất chỉ có ở con tàu săn cá voi. Lò trywork nằm ở phía sau cột buồm trước, thường được xây bằng gạch và được gắn vào boong bằng các nẹp sắt. Các ngư dân sẽ bỏ mỡ cá voi vào hai chiếc bình bằng gang được đặt trên đỉnh lò để thu hồi dầu.  Khi Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) cần kiểm tra thiết bị mới ở Vịnh Mexico, họ đã hỏi SEARCH Inc. xem liệu có xác tàu nào mà tổ chức muốn nghiên cứu hay không.  Từ văn phòng của mình vào tháng trước, Tiến sĩ Delgado, một chuyên gia về khảo cổ học hàng hải, đã chỉ đạo trực tuyến thủy thủ đoàn của tàu Okeanos Explorer thuộc NOAA trong quá trình họ điều khiển một phương tiện hoạt động từ xa xung quanh xác tàu, dưới độ sâu 6.000 feet, cách cửa sông Mississippi khoảng 70 dặm. Chiếc máy chạy vòng quanh xác tàu nhiều lần theo những hướng khác nhau, thu thập hình ảnh và dữ liệu. Từ những dữ liệu này, Tiến sĩ Delgado và các nhà nghiên cứu khác đã tạo ra một mô hình ba chiều cực kỳ chi tiết được gọi là mô hình orthomosaic, hay “ortho” – một hình ảnh đơn lẻ được tạo ra thông qua sự kết hợp của nhiều ảnh.  Họ đã kiểm tra kích thước của con tàu (64 feet x 20 feet); hình dạng thân tàu (mang đặc trưng của các con tàu vào đầu những năm 1800); vật liệu (không có màu xanh lá cây đặc trưng của đồng bị oxy hóa); và lò trywork (được xây cách nhiệt bằng một lượng lớn gạch, cho thấy rằng các lò đã chạy ở nhiệt độ thiêu đốt cần thiết để sản xuất dầu từ cá voi).  Tất cả những đặc điểm đó, cùng với vị trí nơi tàu được tìm thấy, phù hợp với những gì mà các nhà nghiên cứu biết về tàu Industry.  Lò trywork nằm ở phía sau cột buồm trước, thường được xây bằng gạch và được gắn vào boong bằng các nẹp sắt. Các ngư dân sẽ bỏ mỡ cá voi vào hai chiếc bình bằng gang được đặt trên đỉnh lò để thu hồi dầu. Ảnh: Teaching Melville  Industry ra khơi vào thời điểm ngành công nghiệp đánh bắt cá voi bùng nổ. Và ở các thị trấn ven biển phía Bắc như Westport (Massachusetts), việc đánh bắt cá voi đã quy tụ sự tham gia của người Mỹ da đen, người Mỹ da trắng và người Mỹ bản địa – với một mức độ hiếm có so với các ngành khác. Một người đóng tàu nổi tiếng là Paul Cuffe – con trai của một nô lệ được trả tự do và là thành viên của bộ lạc Wampanoag – và con trai của Cuffe, William, đều là thủy thủ của của tàu Industry.  Gia đình Cuffe “đã thuê gần như tất cả người da đen và da đỏ cho các con tàu đánh cá, và họ đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được trả công như nhau theo cấp bậc trên tàu của họ,” Lee Blake, chủ tịch của Hiệp hội lịch sử New Bedford và là hậu duệ của Cuffe, cho biết. “Cách cư xử, đối đãi này hoàn toàn khác biệt so với cảng miền Nam, nơi lúc bấy giờ đang nô dịch hóa người Mỹ bản địa và người Mỹ gốc Phi.”  Sự kết hợp chủng tộc giữa các thủy thủ đoàn Industry sẽ khiến họ gặp khó khăn, bởi vì các thành viên da đen sẽ bị bỏ tù và có khả năng bị bán làm nô lệ nếu con tàu cập cảng phía Nam. Hầu hết những người đánh bắt cá voi đều tránh Vịnh Mexico; Theo nghiên cứu của Judith Lund, một nhà sử học từng làm việc cho Bảo tàng săn cá voi New Bedford, từ những năm 1780 đến những năm 1870, chỉ có 214 chuyến đi săn cá voi được biết là đã di chuyển trong vùng Vịnh.  Cho đến nay, các nhà sử học không biết chuyện gì đã xảy đến với thuỷ thủ đoàn Industry.  Số phận thuỷ thủ đoàn  Vào tháng 9, khi Robin Winters, một thủ thư tại Thư viện Công cộng Westport, bắt đầu tìm hiểu các ghi chép trong lịch sử theo yêu cầu của Tiến sĩ Delgado, tất cả những gì bà ấy tìm được là con tàu đã chìm ở đâu đó trên Vịnh vào năm 1836. Bản liệt kê danh sách thuỷ thủ đã bị chìm cùng với nó. Các tài liệu xác định thuyền trưởng là “Soule.”  Trong nhiều tháng, bà Winters không thu được gì thêm. Sau đó, bà đến gặp Jim Borzilleri, một nhà nghiên cứu ở Nantucket, người đã tìm thấy một đoạn ngắn trong một tin tức từ những năm 1830 về một thuyền trưởng Soule có mối liên hệ với một con tàu có trụ sở tại Nantucket tên là Elizabeth.  Soule là một họ phổ biến ở New England vào thời điểm đó, bà Winters phân tích, nhưng mẩu tin này vẫn thu hút sự chú ý của bà. “Tôi nghĩ, ‘Hừm, có lẽ nào con tàu Elizabeth đã cứu sống thuỷ thủ đoàn và thuyền trưởng?’”, bà tự hỏi.  Bà tiếp tục nhờ ông Borzilleri tìm kiếm thêm bất kỳ mẩu tin nào đề cập đến Industry và Elizabeth cùng nhau. Ông ấy gọi lại sau 10 phút.  Ông đọc cho bà Winters nghe một đoạn từ một thông báo “tin tức hàng hải” nhỏ được dán vào cuối ngày 22 tháng 6 năm 1836, ấn bản của The Nantucket Inquirer and Mirror: Tàu Elizabeth đã cập bến vào ngày 17 tháng 6, mang theo 375 thùng dầu cá voi, cùng với “Những hành khách gồm thuyền trưởng Soule và thuỷ thủ đoàn của tàu Industry tại Westport, bị lật vào ngày 26 tháng 5 ngoài khơi Balize, với 310 thùng dầui trên tàu.”  Nói cách khác, thuyền viên của Industry đã sống sót, nhờ một con tàu khác từ phương Bắc tình cờ đi qua và cứu họ, đưa lên tàu.  Theo Tiến sĩ Delgado, những khám phá thú vị nhất trong khảo cổ học hàng hải không phải lúc nào cũng đến từ những con tàu trứ danh, được điểm tên trong sách giáo khoa, mà thay vào đó là “những con tàu nhỏ bé phản ánh đời sống thường nhật của người xưa”.  “Và, cùng với đó, chúng nhắc nhở ta rằng lịch sử không phải chỉ toàn những tên tuổi vĩ đại”, mà còn là biết bao thân phận nhỏ bé khác, ông nói thêm.  “Khi chúng tôi tìm thấy một con tàu, tựa như một cuốn sách đang được mở ra”, Tiến sĩ Delgado thốt lên. “Và không phải trang nào cũng đều có sẵn ở đó, nhưng khi chúng ta lần giở về quá khứ để tìm kiếm với mong muốn lấp đầy khoảng trống, chúng ta sẽ phải sững sờ mà thốt lên: ‘Ôi chao’”.  Anh Thư  tổng hợp  Nguồn:   The Wreck of an 1830s Whaler Offers a Glimpse of America’s Racial History  Deck of a whaler showing try-works  \    Author                .        
__label__tiasang Côn trùng vật lộn với nhiệt độ gia tăng là tin xấu cho con người      Động vật chỉ có thể chịu đựng được nhiệt độ trong phạm vi nhất định. Cận trên và cận dưới của khoảng này được gọi là giới hạn nhiệt tới hạn của động vật. Khi vượt quá những ngưỡng này, động vật phải thích nghi hoặc di cư đến vùng khí hậu mát mẻ hơn. Tuy nhiên, nhiệt độ toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng. Các đợt nắng nóng có thể làm cho nhiệt độ thường xuyên vượt qua ranh giới nhiệt của động vật, gây nguy hiểm tới nhiều loài.    Ảnh: Chris Mansfield/Getty Images  Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học tại Đại học Bristol (Anh) đã xem xét 102 loài côn trùng để xem chúng có thể điều chỉnh giới hạn chịu đựng nhiệt tới đâu để tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt. Kết quả cho thấy khả năng này của côn trùng khá yếu, khiến chúng rất dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu.  Thông thường, động vật có thể mở rộng giới hạn nhiệt tới hạn của mình thông qua hai cách: thích nghi (acclimation) hoặc thích ứng (adaptation) với hoàn cảnh.  Thích nghi xảy ra trong vòng đời của con vật, thường là vài giờ. Đó là quá trình mà những tiếp xúc trước đó sẽ giúp bảo vệ động vật hoặc côn trùng chống lại những căng thẳng môi trường sau này. Con người thích nghi với việc phơi nhiễm tia cực tím nhờ quá trình rám nắng và điều này giúp bảo vệ làn da khỏi tia cực tím sau này.  Côn trùng có thể thích nghi bằng việc tạo ra các protein sốc nhiệt để phản ứng với nhiệt độ. Các protein này ngăn tế bào chết đi khi gặp phải nhiệt độ quá lớn. Một số loài côn trùng lại dùng màu sắc để thích nghi, chẳng hạn bọ rùa lột xác trong môi trường ấm áp sẽ xuất hiện ít đốm đen hơn so với bọ rùa lớn lên ở nơi lạnh giá. Vì các đốm đen sẽ hấp thụ nhiệt nên ít đốm hơn sẽ giúp côn trùng mát mẻ hơn.  Trong khi đó, sự thích ứng xảy ra khi các gene hữu ích được truyền qua nhiều thế hệ trong quá trình tiến hóa. Trong vòng 150 năm qua, một số loài vẹt Úc như vẹt mào băng đảng và vẹt mông đỏ đã tiến hóa mỏ lớn hơn. Do máu di chuyển nhiều hơn đến các mỏ có kích cỡ lớn nên nhiệt độ [cơ thể] được thoát ra khỏi môi trường xung quanh.  Nhưng sự tiến hóa xảy ra trong thời gian dài hơn sự thích nghi, có thể khiến động vật không kịp điều chỉnh giới hạn nhiệt để thích ứng với tốc độ nóng lên toàn cầu hiện tại.  Khi thay đổi nhiệt độ tiếp xúc 1°C, các nhà nghiên cứu nhận thấy côn trùng chỉ có thể thay đổi giới hạn nhiệt trên khoảng 10% và giới hạn dưới của chúng khoảng 15%. Trong khi đó, cá và động vật giáp xác có thể điều chỉnh giới hạn chịu nhiệt của chúng lên tới 30%.  Vì côn trùng non ít di động hơn so với lúc trưởng thành nên chúng ít có khả năng dùng hành vi để điều chỉnh nhiệt độ. Một con sâu bướm trong giai đoạn kén không thể di chuyển vào bóng râm để tránh nắng.  Khi tiếp xúc với thay đổi nhiệt độ lớn, giai đoạn ấu trùng bất động này phải đối mặt với áp lực tiến hóa mạnh mẽ để hình thành nên những cơ chế chịu nhiệt. Do đó, côn trùng non thường có khả năng thích nghi với nhiệt độ tăng cao hơn côn trùng trưởng thành. Nhưng khả năng thích nghi của chúng vẫn tương đối yếu và có thể giảm khi hết giai đoạn ấu trùng hoặc nhộng.  Khả năng thích nghi nhiệt độ yếu đồng nghĩa với việc nhiều loại côn trùng sẽ phải di chuyển đến những vùng khí hậu mát mẻ hơn, có thể làm đảo lộn sự cân bằng của các hệ sinh thái.  Côn trùng di cư cũng có thể tác động sâu sắc tới sức khỏe con người. Khi chúng di chuyển theo thời gian, khả năng đem những căn bệnh truyền nhiễm này đến vĩ độ cao hơn cũng gia tăng.  Những loài côn trùng không có khả năng di cư có thể bị tuyệt chủng. Đây là vấn đề đáng lo ngại vì nhiều loài côn trùng có chức năng quan trọng trong hệ sinh thái. Ba phần tư cây trồng trên thế giới được thụ phấn nhờ các loài côn trùng bé nhỏ. Sự mất mát côn trùng có thể khiến sản lượng lương thực toàn cầu giảm mạnh.  Rõ ràng để bảo vệ các loài này, chúng ta cần phải làm chậm tốc độ biến đổi khí hậu bằng cách giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch. Ở quy mô nhỏ hơn, cần phải tạo ra những môi trường sống râm mát, cung cấp địa điểm và thời gian nghỉ ngơi cần thiết cho côn trùng khi nhiệt độ tăng cao.  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: Insects will struggle to keep pace with global temperature rise – which could be bad news for humans    Author                .        
0.46153846153846156
__label__tiasang       Hồ Hùng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố 74.000 bức ảnh não ruồi giấm cho nghiên cứu khoa học thần kinh      Nghiên cứu về khoa học thần kinh đã có thêm một chút cải thiện hơn nhờ việc công bố hàng vạn hình ảnh neuron não ruồi giấm do Nhóm dự án  FlyLight của Janelia thực hiện.    Các neuron trong não ruồi giấm GAL4, VT032228-GAL4, được dán nhãn bằng những màu sắc khác nhau với những đường bao ngoài bộ não màu xám. Việc dán nhãn màu sắc những vùng cụ thể các neuron đó giúp các nhà khoa học có thể thấy rõ hình dạng của chúng. Nguồn: Geoffrey Meissner/FlyLighta  Trong vòng tám năm, Nhóm dự án FlyLight và các thành viên hợp tác đã trích xuất, dán nhãn và chụp ảnh các neuron của hơn 74.000 não ruồi giấm được chụp từ hơn 5.000 chủng được biến đổi di truyền khác nhau.  Hiện tại, những bức ảnh ấy được họ mở để có thể sẵn sàng cho mọi người quan tâm truy cập, cho phép các nhà khoa học có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm thấy các neuron mà họ cần để kiểm tra các lý thuyết và ý tưởng về cách hệ thần kinh hoạt động như thế nào.  Việc công bố những bức ảnh ấy mới diễn ra vào ngày 23/2/2023 trên tạp chí eLife 1. Đây là kết quả tích lũy nhiều năm qua nhiều nỗ lực và đóng góp từ hàng tá nhà khoa học của Janelia, bắt đầu từ năm 2012. Điều đó cho thấy cam kết của Janelia trong việc tạo ra những nguồn mở, tự do cho toàn bộ cộng đồng khoa học có thể sử dụng. Nó cũng nhấn mạnh vào sứ mệnh của cơ sở nghiên cứu này là đảm nhận các dự án không thể hoàn thành được trong môi trường nghiên cứu truyền thống, nơi những nỗ lực nghiên cứu dài hạn thường không được tài trợ hoặc khuyến khích.  “Đây là một nguồn dữ liệu vô cùng quý giá cho cộng đồng nghiên cứu”, Geoffrey Meissner, một nhà khoa học tham gia dự án FlyLight và là tác giả thứ nhất của bài báo trên eLife. “Đây là trọng tâm sứ mệnh của Janelia, và được nhấn mạnh trong Nhóm dự án – của việc làm những nhiều lớn lao vượt ra ngoài quy mô của điều mà một phòng thí nghiệm có thể làm một cách có lý – và thực sự nhấn mạnh vào khía cạnh khoa học mở mà Janelia đã nêu ra. Chúng tôi muốn đi xa hơn là tạo điều kiện cho tất cả mọi người, tạo điều kiện để sử dụng nó dễ dàng và có thể nghiên cứu toàn diện hơn”.  Sử dụng ruồi giấm cho nghiên cứu khoa học thần kinh  Loài ruồi giấm Drosophila melanogaster thường được sử dụng trong nghiên cứu về khoa học thần kinh. Các nhà khoa học vẫn thường dùng kỹ thuật chỉnh sửa di truyền ruồi giấm để hướng đích đến sự biểu hiện của các neuron nhất định, cho phép các nhà khoa học có thể hiểu được các tế bào não kiểm soát hành xử.  Các nhà khoa học sử dụng ruồi giấm để hiểu hệ thần kinh khi Janelia được mở vào năm 2006 nhưng các nhà khoa học lại không có công cụ đủ chính xác để thao tác trên từng neuron một.  Do đó Janelia đã tạo ra Nhóm dự án FlyLight, dự án để tạo ra những con ruồi giấm được chỉnh sửa về di truyền mà các nhà khoa học có thể sử dụng dễ dàng trên các vùng neuron chuyên biệt với độ chính xác cao hơn. Vào năm 2012, Janelia công bố thế hệ đầu tiên của các chủng ruồi giấm này, dòng điều hướng GAL4 Thế hệ thứ nhất, cùng với những hình ảnh trên kính hiển vi điện tử chứng tỏ các neuron chuyên biệt này ở nơi nào trong bộ não.    Nhưng dòng Thế hệ thứ nhất vẫn còn quá thiếu chính xác cho một số nghiên cứu khoa học thần kinh. Vì FlyLight phát triển các chủng ruồi giấm từ bốn dòng GAL4 bằng cách sử dụng cách tiếp cận Split-GAL4 để cho phép các nhà khoa học nhận diện được các neuron cụ thể hoặc dòng tế bào cụ thể trong não ruồi  .Từ lúc họ phát triển, các dòng Split-GAL4 và hệ Split-GAL4 đã được các nhà khoa học trên toàn thế giới sử dụng. Nhưng thật thách thức để xác định được cách tạo ra một Split-GAL4 cụ thể cần thiết cho một thực nghiệm. Để làm điều đó, đầu tiên các nhà nghiên cứu cần dán nhãn các neuron quan tâm trong các dòng GAL4 – một nhiệm vụ có thể khó khăn cho một nhà nghiên cứu.  Để giúp tháo gỡ khó khăn này, nhóm FlyLight đã sử dụng một kỹ thuật gọi là MultiColor FlpOut (MCFO), do Aljoscha Nern phát triển, một nhà khoa học chính ở Phòng thí nghiệm Rubin, để dán nhãn từng neuron trong các dòng điều hướng Generation 1 GAL4. Việc tạo ra hơn 70.000 bức ảnh chi tiết đã lấy đi của các nhà khoa học hơn khoảng thời gian tương đương 11 năm làm việc trên tám kính hiển vi điện tử đồng tiêu.  Nhóm Tính toán khoa học của Janelia đã tạo ra một công cụ sẵn sàng cho sử dụng một cách tự do gọi là NeuronBridge cho phép các nhà khoa học để tìm kiếm các hình ảnh được MCFO dán nhãn, cùng với dữ liệu từ kính hiển vi điện tử, để có thể nhìn vào các neuron quan tâm 2. Nó cho phép các nhà khoa học dự đoán các kết hợp Split-GAL4 mà họ cần cho các thực nghiệm của mình.  “FlyLight tạo ra nhiều hình ảnh, khiến chúng tôi phải hợp tác chặt chẽ hơn với nhóm Tính toán khoa học, có thể giúp đưa hàng terabyte dữ liệu vào một ổ cứng để bất cứ ai cũng có thể sử dụng được. Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc khiến điều này trở nên hữu dụng với mọi người”, Meissner, người hiện quản lý Dự án Pipeline Support, một dự án tiếp tục được đề xuất kế tiếp FlyLight với các phòng thí nghiệm của Janelia.  Một nguồn mở với toàn thế giới  Dấu hiệu mở đã được đóng dấu trên những hình ảnh được công bố nhưng các nhà khoa học thần kinh trên khắp thế giới đã có thể sử dụng dữ liệu này kể từ khi nó được tải lên vào năm 2020.  Nỗ lực mới này đã góp phần gây dựng danh tiếng của Janelia cho phát triển các công cụ tạo điều kiện nghiên cứu ruồi giấm.  “Cảm giác chung là bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học thần kinh muốn hướng đích một neuron và tìm hiểu điều gì đó về nó, cách tốt nhất là sử dụng các dòng GAL4 do FlyLight tạo ra”, Meissner nói.  Vũ Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-03-team-fruit-fly-brain-images.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2023/03/230301185228.htm  ————————————————  1. https://elifesciences.org/articles/80660  2. https://www.janelia.org/news/janelia-software-tools-power-fly-brain-research    Author                .        
__label__tiasang Công bố dự thảo hiệp ước ràng buộc pháp lý đầu tiên về việc chia sẻ công bằng vaccine      Các quốc gia thành viên của WHO sẽ bắt đầu thảo luận các điều khoản của hiệp ước, được gọi là bản dự thảo hiệp ước số 0, tại một loạt cuộc họp từ cuối tháng này. Dự kiến, hiệp ước sẽ được thông qua vào năm tới.    Đầu tháng này, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố dự thảo hiệp ước ràng buộc pháp lý đầu tiên về việc chia sẻ công bằng vaccine, thuốc và biện pháp chẩn đoán trên toàn thế giới trong các đại dịch tương lai, nhằm tránh sự chia rẽ và bất bình đẳng như trong đại dịch COVID-19.    “Bất bình đẳng vaccine là điểm yếu lớn mà chúng ta thấy trong dịch COVID-19”, Suerie Moon, nhà nghiên cứu chính sách y tế toàn cầu tại Viện Cao học Geneva, Thụy Sĩ, nói. Ở các quốc gia có thu nhập cao, khoảng 73% người dân đã được tiêm ít nhất một liều vaccine COVID-19. Tỷ lệ này là 31% ở các quốc gia có thu nhập thấp.        Trọng tâm chính của bản dự thảo số 0 là quyền tiếp cận công bằng. Các điều khoản bao gồm thiết lập một mạng lưới toàn cầu để cung cấp và phân phối các thành phần được sử dụng để sản xuất thuốc, tăng cường nghiên cứu và phát triển vaccine và phương pháp điều trị, và chia sẻ kiến thức đó với thế giới.    Dự thảo kêu gọi các bên từ bỏ tạm thời quyền sở hữu trí tuệ để cho phép sản xuất nhanh vaccine, thiết bị y tế, khẩu trang, chẩn đoán và thuốc khi đại dịch xảy ra. Moon cho biết nếu các nước đồng ý với các điều khoản này thì thế giới sẽ tránh được tình trạng bế tắc như trong đại dịch COVID-19. Cụ thể, vào cuối năm 2020, Nam Phi và Ấn Độ đề xuất áp dụng miễn trừ có thời hạn quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine, thuốc và phương pháp chẩn đoán COVID-19, nhưng đã bị bác bỏ.    Dự thảo cũng hướng tới một thỏa thuận về chia sẻ dữ liệu. Cụ thể, các quốc gia giàu muốn được chia sẻ dữ liệu về mầm bệnh và bộ gen, còn các quốc gia thu nhập thấp muốn tiếp cận các sản phẩm được tạo ra từ dữ liệu đó với giá cả phải chăng. Dự thảo yêu cầu các bên ký kết cung cấp mầm bệnh cho phòng thí nghiệm thuộc WHO trong vòng vài giờ sau khi phát hiện, đồng thời công khai dữ liệu bộ gen. Đổi lại, các bên được tiếp cận kho dữ liệu chung sẽ phải cung cấp cho WHO 20% vaccine, phương pháp chẩn đoán và thuốc mà họ sản xuất, một nửa dưới dạng quyên góp và một nửa với giá rẻ. Nhưng điểm yếu của dự thảo là không yêu cầu các bên chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ.    Theo các điều khoản hiện có, các bên sẽ phân bổ không ít hơn 5% ngân sách y tế hằng năm của mình để phòng ngừa và ứng phó với đại dịch, và dành một tỷ lệ phần trăm chưa được xác định trong tổng sản phẩm quốc nội để hỗ trợ các nước đang phát triển chuẩn bị cho đại dịch. Nếu được thông qua, đây sẽ là trường hợp đầu tiên các chính phủ cam kết dành một khoản tiền cụ thể cho viện trợ quốc tế trong một hiệp ước. “Tôi không nghĩ điều này có khả năng xảy ra, nhưng đó là một đề xuất táo bạo,” Moon nói.    Nhưng các nhà nghiên cứu lo ngại rằng hiệp ước thiếu độ cứng rắn và khả năng thực thi để đảm bảo phản ứng với các đại dịch trong tương lai hiệu quả hơn. “Không có lời hứa nào mà các quốc gia đưa ra trong bản thân văn kiện hiệp ước có ý nghĩa hay tác dụng, trừ khi có một cơ chế mạnh mẽ buộc các quốc gia phải chịu trách nhiệm,” Layth Hanbali, nhà phân tích chính sách y tế tại tổ chức tư vấn Spark Street Advisors, nói.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Công bố Giải thưởng Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp TP HCM      Giải thưởng Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp TP HCM – I-star 2018 được tổ chức hằng năm nhằm cổ vũ phong trào đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở TP.      Ban tổ chức và các nhà tài trợ công bố Giải thưởng I-star 2018. Ảnh: Chánh Trung.  Sáng 29-3, tại Trung tâm hỗ trợ Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp TP HCM (SIHUB), UBND TP HCM, Sở Khoa học và Công nghệ TP đã công bố Giải thưởng Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp TP HCM năm 2018 (I-star 2018).   Ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM – Trưởng ban Tổ chức Giải thưởng, cho biết: “Với xu hướng của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, tinh thần đổi mới sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp là hết sức quan trọng. Thông qua giải thưởng này, ban tổ chức muốn xây dựng văn hóa về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong mọi lĩnh vực và lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong cộng đồng. Chúng tôi mong rằng giải thưởng này sẽ thực sự trở thành giải thưởng thường niên quý giá của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng nhằm hiện thực hóa những hoạt động đổi mới sáng tạo, đem lại những tác động tích cực cho sự phát triển toàn diện của TP HCM nói riêng và cả nước nói chung”.  Điểm đặc biệt của Giải thưởng I-star là thông tin về các đối tượng dự giải sẽ được đăng tải rộng rãi trên Cổng thông tin Đổi mới sáng tạo (www.doimoisangtao.vn/giaithuong2018) để cộng đồng có thể theo dõi, chia sẻ, bình chọn trong suốt thời gian diễn ra giải thưởng. Ngoài ra, giải thưởng được xét chọn không chỉ trên cơ sở đánh giá của hội đồng chuyên môn mà còn có sự tham gia bình chọn của cộng đồng.  Đối tượng có thể tham gia giải thưởng là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã thực hiện ý tưởng kinh doanh trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, có thành tích nổi bật, đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho TP HCM; các tổ chức, cá nhân có giải pháp đổi mới sáng tạo, giải quyết những vấn đề của cộng đồng và mang lại hiệu quả thiết thực cho TP; các tác phẩm truyền thông có nhiều tác động đến hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, có sức lan tỏa mạnh trong cộng đồng cũng được tham gia giải thưởng. Cuối cùng là các tổ chức ươm tạo, tổ chức hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, nhà đầu tư thiên thần, các chuyên gia tư vấn,… có đóng góp tích cực cho hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.  Lễ công bố kết quả và trao giải thưởng sẽ được tổ chức vào tháng 10-2018, trong khuôn khổ Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp TP HCM 2018 (WHISE 2018).  Chánh Trung  Theo NLD    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ AI mới dò được các chứng bệnh tim thường bị bỏ qua      Các bác sĩ ở Viện nghiên cứu Tim Smidt, Cedars-Sinai đã tạo ra một công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) có thể nhận diện được hiệu quả và phân biệt giữa hai điều kiện bệnh tim nguy hiểm mà dễ bị bỏ qua là bệnh cơ tim phì đại (hypertrophic cardiomyopathy) và bệnh tim thoái hóa bột (cardiac amyloidosis).     Các phát hiện mới được xuất bản trên tạp chí JAMA Cardiology 1.  “Có hai chứng bệnh tim đang là thách thức đối với cả chuyên gia tim mạch trong việc xác định được một cách chính xác, và vì vậy bệnh nhân thường phải mất nhiều năm đến hàng thập kỷ trước khi có được một chẩn đoán đúng”, David Ouyang, một chuyên gia tim mạch ở Viện nghiên cứu Tim Smidt và tác giả chính của nghiên cứu, nhận xét. “Thuật toán AI của chúng tôi có thể điểm các mẫu hình bệnh tật, vốn không thể phát hiện bằng mắt thường, và sau đó sử dụng các mẫu này để dự đoán chẩn đoán đúng”.  Thuật toán mới hai bước đã được sử dụng trên cơ sở bộ dữ liệu gồm 34.000 video siêu âm tim từ các phòng thí nghiệm siêu âm tim kí ở Cedars-Sinai và Stanford. Khi áp dụng vào các hình ảnh lâm sàng, thuật toán này đã phát hiện ra các đặc điểm cụ thể – liên quan đến độ dày của các van tim và kích thước buồng tim – để dán nhãn một cách hiệu quả các bệnh nhân bị nghi ngờ là có ghi nhận tiềm năng về các chứng bệnh tim.  “Thuật toán này có thể phát hiện các bệnh nhân có nguy cơ rủi ro cao với độ chính xác hơn cả mắt thường được huấn luyện tốt ở một chuyên gia lâm sàng”, Ouyang đánh giá. “Có được điều này là bởi thuật toán đã chọn lọc được những video siêu âm phân biệt được giữa các tình trạng bệnh tim thường bị bỏ qua với những tình trạng bệnh mới bắt đầu”.  Không có xét nghiệm toàn diện, các chuyên gia tim mạch cũng thấy thách thức trong phân biệt giữa các chứng bệnh tương tự nhau xuất hiện và những thay đổi trong hình dạng tim, kích thước tim có thể được cho là một phần của quá trình lão hóa thông thường. Thuật toán này phân biệt một cách chính xác không chỉ giữa bất thường với bình thường mà còn giữa những tình trạng bệnh dễ dẫn đến bệnh tim tiềm năng nguy hiểm – với các tín hiệu cảnh báo hiện có thể dò được trước khi căn bệnh có thể tiến triển về mặt lâm sàng và đến điểm có thể dẫn đến những tác động rõ rệt đến sức khỏe người bệnh. Khi được chẩn đoán sớm, bệnh nhân sẽ có điều kiện bắt đầu điều trị sớm hơn, hiệu quả hơn, ngăn ngừa được việc phải điều trị lâm sàng và cải thiện được chất lượng cuộc sống của mình.  Bệnh tim thoái hóa bột (cardiac amyloidosis), thường được gọi là hội chứng xơ tim, là một chứng rối loạn do sự tích tụ một loại protein (amyloid) bất thường trong mô tim. Khi amyloid tích tụ, nó chiếm chỗ của các cơ tim khỏe mạnh, khiến cho cho tim hoạt động bình thường. Cardiac amyloidosis thường ít khi bị phát hiện bởi bệnh nhân không có bất kỳ triệu chứng nào hoặc nếu có thì cũng là những trải nghiệm triệu chứng hết sức rời rạc.  Căn bệnh này có xu hướng ảnh hưởng lên người bệnh khi đã cao tuổi, người da đen hoặc bệnh nhân ung thư hoặc có các bệnh do lây nhiễm. Nhiều bệnh nhân sống trong các cộng đồng không được chăm sóc đầy đủ, do đó kết quả nghiên cứu này trở thành một công cụ quan trọng để cải thiện sự bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe, Ouyang nói.  Chứng phì đại cơ tim là một căn bệnh có nguyên nhân là các sợi cơ tim quá dày và cứng. Kết quả là nó ít có khả năng được nới lỏng và bơm đầy máu, dẫn đến khả năng phá hỏng van tim và các nhịp tim bất thường.  Dẫu có sự phân tách và khác biệt về tình trạng bệnh, hai căn bệnh này vẫn thường trông rất giống nhau trong một siêu tâm đồ, phương pháp chẩn đoán hình ảnh các bệnh tim chung. Quan trọng hơn, trong những giai đoạn sớm của bệnh, mỗi tình trạng tim này cũng có thể bắt chước sự xuất hiện của một trái tim không bị bệnh đã dần dần thay đổi về kích thước và hình dạng do lão hóa.  “Một trong những khía cạnh của công nghệ AI này là không chỉ có năng lực phân biệt tình trạng bình thường và bất thường mà còn phân biệt giữa các tình trạng bất thường đó, bởi vì việc điều trị và theo dõi mỗi loại bệnh tim đều rất khác nhau”, Ouyang nói.  Hi vọng là công nghệ này sẽ hữu dụng để nhận diện được các bệnh nhân ở giai đoạn sớm của bệnh, Ouyang bổ sung. Bởi vì các nhà điều trị lâm sàng biết sớm hơn thì sẽ có được các biện pháp điều trị hiệu quả nhất và có thể hiệu quả trong ngăn ngừa các hậu quả xấu có thể xảy ra như đau tim, nhập viện và có thể là chết.  Các nhà nghiên cứu đang sớm lập các ca điều trị lâm sàng cho bệnh nhân được thuật toán dán nhãn phát hiện nghi ngờ có cardiac amyloidosis. Các bệnh nhân tham gia điều trị sẽ sớm được các chuyên gia trong chương trình cardiac amyloidosis tại Viện tim Smidt khám tiếp theo.  Một đợt điều trị lâm sàng cho bệnh nhân được phát hiện theo cách này mới được bắt đầu tại Cedars-Sinai.  “Việc sử dụng AI trong bệnh tim mạch đã được phát triển rất nhanh chóng và tiến bộ đáng kinh ngạc trong một thời gian ngắn”, Susan Cheng, tiến sĩ giám đốc Viện nghiên cứu Sức khỏe lão hóa ở Kho  Tim, Viện Tim Smidt và đồng tác giả nghiên cứu, nói. “Những bước tiến đáng chú ý này – diễn ra trong suốt quá trình nghiên cứu và chăm sóc lâm sàng – có thể tạo ra tác động to lớn trong cuộc sống của bệnh nhân của chúng tôi”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-02-artificial-intelligence-tool-overlooked-heart.html  https://www.htworld.co.uk/news/new-artificial-intelligence-heart-diseases/  ——————    https://jamanetwork.com/journals/jamacardiology/fullarticle/2789370      Author                .        
__label__tiasang Công cụ cho khởi nghiệp tại Việt Nam: Nhiều nhưng chưa tận dụng được      Ngày 19/12, Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) đã tổ chức hội thảo để công bố những bước đầu nghiên cứu về chính sách phát triển các mô hình tài chính cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này, dựa trên kinh nghiệm tài trợ của IPP2 và các tổ chức quốc tế, sẽ đưa ra những thực chứng cho những nhà hoạch định chính sách. Theo chị Trần Thị Thu Hương, giám đốc IPP2, nghiên cứu này có thể hướng đến việc thay đổi tư duy chấp nhận rủi ro trong khu vực công của Việt Nam.      IPP là một trong những đơn vị đầu tiên của Bộ KH&CN hỗ trợ khởi nghiệp không phải dưới dạng R&D. Một buổi training cho startup trong khuôn khổ IPP2. Nguồn: ipp.vn  Công cụ nhiều …  Có tới 30 công cụ hỗ trợ tài chính cho startup. Thông thường, những công cụ như đầu tư thiên thần, đầu tư mạo hiểm và phổ biến hơn nữa là cho vay chỉ dành cho những startup đã thể hiện rõ khả năng tăng trưởng của mình và phát triển ổn định. Trong giai đoạn kiểm chứng ý tưởng và bước đầu bán sản phẩm khi doanh thu chưa đủ bù chi phí, startup vẫn cần hỗ trợ tài chính.  Vốn mồi từ chính phủ: Khác với hình dung từ trước đến nay, chính phủ không chỉ đầu tư cho R&D mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, theo chị Phan Hoàng Lan, trưởng nhóm nghiên cứu, đều tài trợ một khoản vốn nhỏ (pre-seed, seed funding) khoảng 10.000 – 30.000 USD để startup gặp gỡ khách hàng và kiểm chứng ý tưởng của mình liệu có phù hợp với thị trường.  Gọi vốn cộng đồng:  Không giống với hình thức đầu tư mạo hiểm của tư nhân khác, gọi vốn cộng đồng cho phép nhiều người, kể cả không phải là nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia hỗ trợ startup cùng một lúc. Hình thức gọi vốn cộng đồng phổ biến nhất là reward-based crowdfunding – gọi vốn cộng đồng nhận phần thưởng, chiếm đến 2/3 nền tảng gọi vốn cộng đồng trên thế giới. Đây là nơi startup tìm kiếm những đóng góp để phát triển sản phẩm và sau khi dự án thành công, các nhà tài trợ sẽ là những người đầu tiên nhận được những sản phẩm, công nghệ mới.  Mô hình rất phát triển trên thế giới là debt-based crowdfunding – gọi vốn cho vay cộng đồng và P2P funding – cho vay ngang hàng. Mô hình này xuất hiện phổ biến dưới dạng các trang web gọi vốn vay cộng đồng như Lending Club, Prosper, Kiva U.S. Người đi vay chỉ cần điền thông tin và nộp đơn trực tuyến tại web, hệ thống sẽ phân tích và đưa ra mức lãi suất phù hợp để các nhà đầu tư lựa chọn khoản cho vay thích hợp. Mô hình này được ủng hộ vì lãi suất thường cạnh tranh hơn và không cần thỏa mãn các điều kiện vay vốn truyền thống.  Một mô hình gọi vốn cộng đồng khác là equity-based crowdfunding – gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần hoặc sàn giao dịch chứng khoán cho khởi nghiệp. Mô hình equity-based crowdfunding đã xuất hiện ở Mỹ từ lâu nhưng chỉ vừa mới chính thức hợp pháp hóa khi Title III của Đạo luật Khởi sự Kinh doanh (JOBS Act) có hiệu lực từ ngày 16/5/2016. Sàn chứng khoán khởi nghiệp còn hiếm hơn vì nó đòi hỏi những người mua cổ phiếu phải rất am hiểu về việc đầu tư cho khởi nghiệp và phải có lượng doanh nghiệp đạt trình độ lên sàn đủ lớn thì sàn mới hoạt động ổn định được. Một số nước/lãnh thổ có sàn chứng khoán khởi nghiệp là Singapore, Hong Kong, Thái Lan và đặc biệt là Hàn Quốc.  Mua sắm công: Nhiều nước đang nâng tầm mua sắm công trở thành công cụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo: chính phủ mua lại sản phẩm của doanh nghiệp và trở thành đầu ra cho doanh nghiệp. Hành động mua lại sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao của chính phủ được coi như là việc cấp giấy chứng nhận chất lượng để doanh nghiệp bước chân vào thị trường.  Doanh thu bán hàng: Các tập đoàn, ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty kinh doanh cũng có thể hỗ trợ khởi nghiệp bằng cách trở thành khách hàng mua sản phẩm/dịch vụ của startup. Đặc biệt là ngân hàng, một hợp đồng đặt hàng sản phẩm fintech đã đủ để tài trợ vốn cho startup mà không cần đến các nhà đầu tư. Một hình thức khác là bao thanh toán – startup có thể bán bộ chứng từ bán hàng của mình cho ngân hàng để nhận tiền trước, ngân hàng sẽ là bên thu hộ doanh thu sau và chỉ lấy phí của startup.  Nhưng chưa tận dụng được hết  Hầu hết các công cụ tài chính này đều đã có mặt ở Việt Nam nhưng mới chỉ hợp thức hóa trên giấy tờ hoặc xuất hiện manh mún, dè dặt do chưa có chính sách hỗ trợ chính thức.  Đối tượng tài trợ của ngân sách hiện nay chủ yếu là các dự án R&D. Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, IPP2 có phần tài trợ cho các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh là một trường hợp ngoại lệ (Tuy nhiên, 90% tài chính của IPP2 là ODA không hoàn lại của Chính phủ Phần Lan). Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF) mặc dù có tài trợ cho doanh nghiệp nhưng không hướng đến các startup. Theo anh Phan Hồng Sơn, Phó chủ tịch quỹ phát biểu trong buổi hội thảo, quỹ chỉ tài trợ cho những SMEs “đã vững vàng trên thị trường rồi, thậm chí là NATIF lựa chọn những SMEs nào càng vững thì càng hỗ trợ”. Lý do là, “Vốn ngân sách nhà nước là tiền thuế của dân nên việc hỗ trợ với những gì rủi ro cao thì phải hạn chế tối đa”.  Loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm trực thuộc Nhà nước vừa mới được thông qua trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, tuy nhiên theo chị Phan Hoàng Lan, bản thân mô hình này rất phức tạp nếu không cẩn trọng, nhà nước có thể kìm hãm vai trò của tư nhân. Các chuyên gia Phần Lan cũng không khuyến khích Việt Nam theo phương án này mà gợi ý hình thức Funds of funds (tạm dịch: quỹ của quỹ), có nghĩa là tiền ngân sách đầu tư mạo hiểm của nhà nước sẽ được rót vào các quỹ đầu tư tư nhân và do tư nhân quản lý và đầu tư.  Sau khi chính phủ có định hướng hỗ trợ khởi nghiệp, một loạt các ngân hàng ở Việt Nam cũng nhanh chóng nắm bắt trào lưu này như BIDV, VP Bank, Vietinbank, Vietcombank,…Tuy nhiên, chính sách của các ngân hàng này không có gì đặc biệt mà chỉ là cho vay với lãi suất thấp hơn bình thường. Chính vì vậy, nguồn vốn này vẫn “ngoài tầm với” của các startup. Theo chị Tạ Minh Thu – cán bộ Vietinbank tham gia hội thảo, có hai yếu tố quyết định đến việc cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp, thứ nhất là lịch sử tín dụng, thứ hai là phương án kinh doanh (liệu đã có doanh nghiệp tương tự trên thị trường chưa, hoạt động có thành công không). Với startup, hai yếu tố này đều “trống trơn”. Quan trọng hơn, vì nhiều lĩnh vực của startup rất mới, “quá đặc thù cho so với ngân hàng”, nên ngân hàng cũng không biết đánh giá thế nào.  Trường hợp các tập đoàn lớn và ngân hàng mua sản phẩm của startup chỉ chiếm số lượng rất nhỏ, đặc biệt là các startup ở lĩnh vực công nghệ mới như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật… Một trong những lý do mà chị Phan Hoàng Lan đưa ra, ở Việt Nam, thông tin vẫn còn lưu trữ theo kiểu truyền thống trên giấy tờ và doanh nghiệp luôn muốn startup thay đổi sản phẩm theo quy trình làm việc của riêng mình trong khi công nghệ của startup đòi hỏi dữ liệu đầu vào và quy trình làm việc phải được chuẩn hóa khiến hình thức hỗ trợ kiểu này thành ra “lợi bất cập hại”, startup bán cho doanh nghiệp lỗ nhiều hơn lãi.    Còn với chính phủ, mua sắm công ở Việt Nam không tạo điều kiện cho startup tham dự. Trong khi đó, Úc ra quy định yêu cầu 20% tiền thầu dịch vụ ICT phải dành cho doanh nghiệp dưới 5 năm tuổi. Ở Việt Nam, dù luật đấu thầu không quy định cụ thể, nhưng nhiều tiêu chuẩn trúng thầu đòi hỏi các công ty phải cung cấp giá cạnh tranh, có thâm niên trong ngành, có nguồn lực tài chính ổn định,…- những tiêu chuẩn mà startup khó đạt được.  Ngoài dạng gọi vốn đám đông nhận phần thưởng đã và đang tồn tại ở Việt Nam, điển hình là trường hợp bộ truyện tranh Long Thần Tướng gọi được hơn 300 triệu với riêng tập đầu tiên. Tuy nhiên, các nền tảng cho gọi vốn cộng đồng ở Việt Nam phần lớn là hoạt động cầm chừng hoặc hoạt động một thời gian ngắn rồi đóng cửa. Các dạng gọi vốn cộng đồng khác, theo báo cáo cho thấy, đều chưa xuất hiện. Một trong những lí do quan trọng là Chính phủ chưa công nhận hình thức gọi vốn này một cách hợp pháp và vì vậy, chưa có một cơ chế nào bảo vệ những người ủng hộ khi xảy ra lừa đảo hoặc sự cố.    Thay đổi quan điểm tài trợ  Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, sự dè dặt trong việc đầu tư mạo hiểm xuất phát từ tâm lý e sợ rủi ro và chính Nhà nước phải thay đổi quan điểm đó. Nếu Nhà nước không nới lỏng những nguyên tắc quy định về rủi ro, sẽ rất nhiều nguồn vốn bị “bỏ phí”. Chị Tạ Minh Thu cho rằng, “khẩu vị” về rủi ro của ngân hàng tư nhân thay đổi, hướng đến startup khi Ngân hàng Nhà nước “mở đường” bằng các quy định về room tín dụng và tỉ lệ nợ xấu có thể chấp nhận trong đầu tư cho khởi nghiệp. Không chỉ vậy, Nhà nước cũng có thể cho phép cả các quỹ xã hội đầu tư vào khởi nghiệp. Ngay từ những năm 60 – 70 của thế kỷ trước Mỹ đã cho phép quỹ hưu trí đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp, tạo ra thị trường đầu tư mạo hiểm rất lớn ở nước này. Vào đầu những năm 2000, tiền từ quỹ này chiếm tới 50% giá trị của các quỹ đầu tư mạo hiểm ở Mỹ.  Ngoài ra, Nhà nước có thể hợp pháp hóa các hình thức gọi vốn cộng đồng. Những lo ngại về lịch sử tín dụng và phương án kinh doanh “trống trơn” của startup có thể giải quyết bằng công nghệ. Các công nghệ tài chính hiện nay đã cho phép theo dõi và phân tích các dữ liệu thanh toán, chi trả của startup và phân tích dữ liệu thời gian thực để đánh giá phần nào tiềm năng của startup. Nếu dữ liệu đủ lớn, nó còn thể hiện cả tiềm năng của thị trường, sự minh bạch của dòng tiền nên thu hút cả các quỹ đầu tư, nhà đầu tư ở nước ngoài, ngân hàng vào thị trường Việt Nam.        Tuy nhiên, bản thân nhà nước cũng phải thay đổi trong phương thức hỗ trợ của chính mình. “Nếu bạn chỉ đầu tư cho R&D, bạn sẽ nhận được các giải pháp mới nhưng điều đó không có nghĩa là bạn có nhiều công ty thành công hơn” – Ông Jouko Ahvenaine cho biết. Đây là bài học “đau đớn” của châu Âu khi họ chứng kiến lợi nhuận từ những đột phá mà chính họ tạo ra cuối cùng lại về tay các công ty của Mỹ. Đó là vì, Chính phủ Mỹ có những khoản tài trợ để các startup phải thúc đẩy doanh số, thị phần bằng cách đi thăm dò thị trường và nói chuyện với khách hàng liên tục. Nhờ vậy, họ có thể biến ý tưởng từ các phòng thí nghiệm thành hiện thực. “Bạn đo cái gì thì bạn sẽ nhận được đúng cái đó” – Ông Jouko nói thêm, chỉ ra rằng Việt Nam nên mở rộng đối tượng, mục tiêu, cách thức tài trợ, với tiêu chí mang định hướng kinh doanh mạnh mẽ, nếu muốn tạo ra những doanh nghiệp tốt.  Như đã nói ở trên, có 30 công cụ tài chính hỗ trợ khởi nghiệp, nhưng mỗi công cụ tài chính này lại có thể kết hợp với các công cụ khác, tạo thành vô số các công cụ mới mà ông Jouko gọi là 1+1>2 (chẳng hạn, kết hợp giữa mua bán của chính phủ và cho vay của ngân hàng, ta có thêm trường hợp ngân hàng sẽ cho vay nếu startup được một cơ quan của chính phủ dùng sản phẩm). Nhưng điều này chỉ có thể diễn ra nếu có sự liên kết và đối thoại cởi mở giữa tất cả các chủ thể cấp vốn. “Luôn có sự kết hợp giữa công cụ này với công cụ khác. Một quy tắc chính cần phải nhớ, đó là không phải một bên độc lập mà là, chính cách các bên hợp tác theo nhiều cách khác nhau mới tạo nên giá trị cho toàn bộ nền kinh tế” – Ông Jouko cho biết.       Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Công cụ để doanh nghiệp khẳng định mình và tiếp tục tự hoàn thiện      Giải thưởng chất lượng của một quốc gia xuất phát từ nhu cầu chính đáng của bản thân các doanh nghiệp mong muốn khẳng định trước công chúng về sự vượt trội về chất lượng sản phẩm cũng như tính chuẩn mực trong các quá trình hoạt động của mình so với các đối thủ, và để biến sự ghi nhận đó thành ưu thế cạnh tranh lành mạnh của mình.      Trên thế giới, các giải thưởng chất lượng ra đời từ thập niên 1980 và 1990 như Giải thưởng chất lượng Malcolm Baldrige – giải thưởng chất lượng quốc gia của Mỹ, Giải thưởng Australia về sự tuyệt hảo, Giải thưởng Chất lượng châu Âu,… là những ví dụ điển hình về các mô hình thành công mẫu mực, gây dựng được uy tín, sức lan tỏa và dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các giải thưởng năng suất và chất lượng quốc gia ở các nước khác.   ***  Ở Việt Nam, Giải thưởng Chất lượng Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) quyết định hình thành từ năm 1995, trên cơ sở tham khảo, học tập từ Giải thưởng Malcolm Baldrige của Mỹ. Trong giai đoạn đầu (1996-2000), các chuyên gia đánh giá hàng đầu của Tổ chức Năng suất châu Á (APO), đồng thời cũng là chuyên gia đánh giá của Giải thưởng Malcolm Baldrige, được mời sang trực tiếp giảng dạy tại khoá đào tạo chuyên gia đánh giá cho giải thưởng của Việt Nam. Đến năm 2007, giải thưởng đổi tên thành Giải thưởng Chất lượng Quốc gia, và được Quốc hội quy định trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.  Qua thời gian, giải thưởng ngày càng trở nên chuyên nghiệp, nghiêm túc và tiến bộ hơn, thể hiện rõ qua quá trình hoàn thiện quy chế của nó. Đáng kể đầu tiên là Quy chế 47 năm 2001, với những điểm tiến bộ như không còn phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, qua đó mang lại sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời tạo ra một thách thức nhằm thúc đẩy nỗ lực tự hoàn thiện mình ở các doanh nghiệp trong nước. Quy chế 47 cũng đưa ra quy định rõ ràng việc tổ chức mạng lưới các hội đồng đánh giá, từ cấp địa phương tới quốc gia, từ những quy định về thành lập, chức năng – nhiệm vụ, tới hoạt động, và phương pháp, tiêu chí đánh giá của từng loại hội đồng.  Năm 2011, quy chế giải thưởng được quy định theo Thông tư 17/2011/TT-BKHCN (năm 2012 được sửa đổi, bổ sung thêm bằng Thông tư số 07/2012/TT-BKHCN), với những nội dung thể hiện rõ vị thế, tầm quan trọng của giải thưởng, như quy định Thủ tướng Chính phủ ký quyết định tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia hằng năm; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Bộ KH&CN, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và các cơ quan quản lý liên quan. Thông tư cũng yêu cầu cao hơn về công tác đánh giá, thẩm định cho giải thưởng, khi quy định tăng thêm về số lượng, năng lực thành viên của Hội đồng quốc gia và Hội đồng sơ tuyển; quy định cụ thể và chặt chẽ hơn điều kiện tham dự, hồ sơ tham dự.  Các tiêu chí đánh giá: công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tự hoàn thiện mình  Các tiêu chí của Giải thưởng Chất lượng Quốc gia không chỉ phản ánh tính khoa học trong việc đánh giá xem xét trao giải, mà quan trọng hơn còn là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tự xem xét, đánh giá, hoàn thiện mình. Cụ thể là chúng cung cấp một cách tiếp cận tổng hợp trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp nhằm cải thiện các giá trị đem lại cho khách hàng và các bên liên quan, đóng góp cho sự phát triển bền vững của tổ chức; cải thiện hiệu quả và khả năng hoạt động của tổ chức về mọi mặt; và nâng cao kỹ năng, kiến thức cho các cá nhân và toàn bộ tổ chức.  Có tất cả 7 tiêu chí, với 18 hạng mục, có thể chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm 6 tiêu chí với 12 hạng mục nội dung đưa ra các yêu cầu liên quan đến các mặt hoạt động khác nhau của tổ chức, doanh nghiệp, trong đó đề cập đến cả hai mặt của vấn đề, bắt đầu từ chiến lược, mục tiêu và biện pháp được xác định và cam kết cho đến việc triển khai thực hiện chúng. Nhóm thứ hai gồm 6 hạng mục nội dung quy định trong Tiêu chí thứ 7, đưa ra các yêu cầu về thể hiện các kết quả hoạt động cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng đến những kết quả do hoạt động cải tiến và đổi mới liên tục mang lại và sự so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính.  Các yêu cầu của tiêu chí được thể hiện thành hơn 200 câu hỏi, tổng điểm tối đa của 7 tiêu chí là 1000 điểm. Công tác đánh giá các tiêu chí do các chuyên gia đánh giá và nhóm chuyên gia đánh giá thực hiện, được chia làm hai giai đoạn đánh giá trên hồ sơ và đánh giá tại chỗ (đánh giá trực tiếp tại doanh nghiệp).  Những doanh nghiệp nào nên tham dự?  Mọi doanh nghiệp dù làm sản xuất hay dịch vụ, quy mô lớn hay nhỏ và vừa, có tư cách pháp nhân đã hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ liên tục tại Việt Nam và không vi phạm các quy định của pháp luật trong thời gian ít nhất ba năm, đều có thể đăng ký tham dự kỳ Giải thưởng Chất lượng Quốc gia – ngoại trừ doanh nghiệp đã đạt Giải Vàng Chất lượng Quốc gia thì ba năm sau mới được dự giải thưởng tiếp theo.   Số liệu qua 20 năm cho thấy trong số các doanh nghiệp được trao giải, tổng số các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tương đương với số các doanh nghiệp lớn (đều khoảng trên 800 doanh nghiệp). Do đó, có thể nói doanh nghiệp nhỏ và vừa không hề thiếu cơ hội đoạt giải, vì vậy nếu họ tin vào chất lượng của mình thì rất nên tham dự, đặc biệt với những doanh nghiệp nhỏ là đối tượng chưa có nhiều điều kiện để quảng bá rộng rãi tên tuổi của mình.        Cần nâng cao sức ảnh hưởng của  giải thưởng, bởi ý nghĩa, giá trị căn bản nhất mà doanh nghiệp kỳ vọng  từ giải thưởng là việc nâng cao khả năng nhận diện thương hiệu của họ.  Nâng cao tính chính xác trong công tác thẩm định, đánh giá. Các hội đồng  không chỉ cần đánh giá trên hồ sơ và đánh giá tại chỗ ở doanh nghiệp,  mà còn cần tham khảo thêm ý kiến độc lập của người tiêu dùng, người dân  và các bên liên đới ở địa phương.          Tuy nhiên, hồ sơ đăng ký cần được chuẩn bị khá kỹ, bao gồm bản đăng ký tham dự giải thưởng; báo cáo giới thiệu chung về doanh nghiệp; báo cáo tự đánh giá theo bảy tiêu chí của giải thưởng, tài liệu chứng minh về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (chứng chỉ hoặc tài liệu liên quan); tài liệu chứng minh về sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa chính với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần nộp báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường được phê duyệt và các kết quả quan trắc hằng năm; xác nhận kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động hằng năm; – tất cả những hồ sơ này cần được tổng hợp trong giai đoạn ba năm gần nhất – cùng các tài liệu chứng minh khác về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp.  Những thách thức đang đặt ra   Hai mươi năm qua, cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế và các ngành công nghiệp, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Việt Nam ngày càng có sự tiến bộ, thể hiện rõ nhất ở sự nâng lên về chất lượng hồ sơ tham dự và hồ sơ của hội đồng sơ tuyển. Nhưng bên cạnh đó, hai thách thức đang đặt ra.   Đầu tiên là cần nâng cao sức ảnh hưởng của giải thưởng, bởi ý nghĩa, giá trị căn bản nhất mà doanh nghiệp kỳ vọng từ giải thưởng là việc nâng cao khả năng nhận diện thương hiệu của họ. Điều đó không chỉ đòi hỏi giải thưởng được quảng bá rộng rãi hơn trong cộng đồng xã hội, mà còn cần cả sự ghi nhận cao hơn từ chính các cơ quan nhà nước. Ví dụ, trong đấu thầu các dự án của nhà nước, các doanh nghiệp có giải thưởng chất lượng quốc gia nên có thêm các lợi thế ở mức độ nhất định. Nếu không mang lại lợi ích trực tiếp như vậy cho doanh nghiệp thì ý nghĩa của giải thưởng đối với doanh nghiệp sẽ chủ yếu dừng lại ở giá trị một bộ công cụ hữu ích giúp họ tự đánh giá và hoàn thiện mình.  Thứ hai là nâng cao tính chính xác trong công tác thẩm định, đánh giá. Nhìn chung các doanh nghiệp đều cho rằng các hội đồng của giải thưởng làm việc hết sức kỹ lưỡng và công tâm. Tuy nhiên, các hội đồng không chỉ cần đánh giá trên hồ sơ và đánh giá tại chỗ ở doanh nghiệp, mà còn cần tham khảo thêm ý kiến độc lập của người tiêu dùng, người dân và các bên liên đới ở địa phương. Bài học từ vụ gây ô nhiễm của công ty Vedan là một ví dụ điển hình cho thấy rằng việc tìm hiểu, lắng nghe tiếng nói của người dân là không thể thiếu để có cái nhìn chân thực, toàn diện về trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội và môi trường.                  Các tiêu chí và các hạng mục của Giải thưởng       Điểm           Vai   trò của lãnh đạo                                                    120        120          1.1.   Lãnh đạo cao nhất      70          1.2.   Điều hành và trách nhiệm xã hội      50           Chiến lược hoạt động                                                   85         85          2.1. Xây dựng chiến   lược      40          2.2. Triển khai chiến   lược      45           Chính sách định hướng   vào khách hàng và thị trường 85       85          3.1. Gắn bó với khách   hàng      40          3.2. Lắng nghe khách   hàng      45           Đo lường, phân tích   và quản lý tri thức                        90        90          4.1. Đo lường, phân   tích và cải tiến hoạt động của tổ  chức      45          4.2. Quản lý thông   tin, tri thức và công nghệ thông tin       45           Quản lý, phát triển   nguồn nhân lực       85          5.1. Gắn kết của lực   lượng lao động                              95        45          5.2. Môi trường làm   việc của người lao động      50           Quản lý quá trình   hoạt động      85          6.1. Hệ thống làm việc                                                   85        45          6.2. Các quá trình làm   việc      40           Kết quả hoạt động                                                       450        450          7.1. Kết quả về sản   phẩm      100          7.2. Kết quả về định   hướng vào khách hàng      70          7.3. Kết quả về tài   chính và thị trường      70          7.4. Kết quả về định   hướng vào lực lượng lao động      70          7.5. Kết quả về hiệu   quả quá trình hoạt động      70          7.6. Kết quả về vai   trò của lãnh đạo      70          Tổng điểm                                                                 1000        1000                   Giải Vàng Chất lượng Quốc gia được trao tặng cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt từ 800 điểm trở lên và được đánh giá là xuất sắc nhất trong số các tổ chức, doanh nghiệp đạt giải thưởng chất lượng quốc gia.               Giải Vàng Chất lượng Quốc gia có số lượng tối đa 20 giải cho bốn đối tượng là doanh nghiệp sản xuất lớn, doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, doanh nghiệp dịch vụ lớn, doanh nghiệp dịch vụ vừa và nhỏ.              Giải Bạc Chất lượng Quốc gia được trao tặng cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt từ 600 điểm trở lên (không hạn chế số lượng tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải Bạc Chất lượng Quốc gia).                Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ lập bản đồ mới giúp bảo tồn rừng ngập mặn      Mới đây, một nhóm các nhà khoa học đã sử dụng hình ảnh vệ tinh và các phép đo thực địa để nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn ở một số quốc gia. Họ đã phát triển một công cụ trực quan và dễ tiếp cận, cung cấp cho các nhà quản lý khu vực ven biển thông tin chính xác, đáng tin cậy, cập nhật và phù hợp với địa phương nhằm bảo tồn hiệu quả các khu rừng quan trọng này.      Người dân sử dụng GPS để lập bản đồ rừng ngập mặn ở Lamboara, Madagascar. Ảnh: Garth Cripps/Blue Ventures  Rừng ngập mặn là quần xã được hợp thành từ thực vật ngập mặn bởi nước triều ven biển nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, vì vậy ta có thể tìm thấy loại rừng này ở hầu hết các đường bờ biển nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới. Hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng, từ những cây bụi thưa thớt, còi cọc đến những rừng cây thân dày rậm rạp.  Những hệ sinh thái này cung cấp môi trường sống cho một loạt các loài động vật bao gồm cá (từ cá hồng đến cá mập), động vật không xương sống (như tôm và cua), bò sát (từ rắn đến cá sấu), chim (từ bói cá đến diều hâu), động vật linh trưởng (chẳng hạn như khỉ và vượn cáo) và cả hổ Bengal.  Rừng ngập mặn còn cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho hàng triệu người thuộc các cộng đồng ven biển – chúng ngăn chặn xói mòn bờ biển, bảo vệ người dân khỏi bão, cung cấp thực phẩm, vật liệu xây dựng, và là nơi có ý nghĩa về mặt văn hóa và tinh thần. Chúng cũng lưu trữ một lượng lớn carbon nhiều hơn hẳn so với các loại rừng trên cạn khác – phần lớn lượng carbon này được lưu trữ trong các lớp đất cực kỳ sâu.   Bất chấp giá trị của chúng, việc nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, phát triển đô thị và các vụ thu hoạch không được quản lý đang chuyển đổi hệ sinh thái rừng ngập mặn trên hầu hết các vùng nhiệt đối. Chúng ta đã mất khoảng 35% diện tích rừng ngập mặn toàn cầu trong những năm 1980 và 90. Dù tỷ lệ mất rừng đã chậm lại trong hai thập kỷ qua – ước tính khoảng 4% từ năm 1996 đến năm 2016 – nhiều khu vực vẫn là điểm nóng về mất rừng ngập mặn, mà tiêu biểu là Myanmar.   Tôi* và các đồng nghiệp đã sử dụng hình ảnh vệ tinh và các phép đo thực địa để nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn ở một số quốc gia. Chúng tôi đã phát triển một công cụ trực quan và dễ tiếp cận, cung cấp cho các nhà quản lý khu vực ven biển thông tin chính xác, đáng tin cậy, cập nhật và phù hợp với địa phương mà họ cần nhằm bảo tồn hiệu quả các khu rừng quan trọng này.   Công cụ lập bản đồ rừng ngập mặn   Cho đến nay, thông tin từ hình ảnh vệ tinh về mức độ và sự thay đổi của rừng ngập mặn đều ở phạm vi toàn cầu chứ không chú trọng đến các khu vực nhỏ hơn – những nơi phụ thuộc vào nỗ lực bảo tồn của cộng đồng. Thêm vào đó, nếu hình ảnh vệ tinh tập trung đến quy mô địa phương thì nó đòi hỏi sự đầu tư về tiền của lẫn chuyên môn.   Kết quả là, các nhà quản lý tài nguyên địa phương thường thiếu thông tin mà họ cần để lập kế hoạch hiệu quả cho việc bảo tồn, phục hồi và quản lý chức năng rừng ngập mặn.  Công cụ mới của chúng tôi – Phương pháp Lập bản đồ Rừng ngập mặn trên nền tảng Google Earth Engine (GEEMMM) sẽ cung cấp miễn phí những thông tin này cho các nhà quản lý vùng ven biển, bao gồm cả các khu vực rừng nhỏ hơn mà họ quan tâm.     Người dân cùng nhau lập bản đồ rừng ngập mặn ở Lamboara, Madagascar. Ảnh: Garth Cripps/Blue Ventures  Nhu cầu về một công cụ như thế này là rất lớn. Các sản phẩm toàn cầu như Global Mangrove Watch không hướng đến mục đích sử dụng ở cấp độ địa phương. Và các phương pháp thông thường cần thiết để lập bản đồ cục bộ đòi hỏi phải vượt qua một loạt các rào cản kỹ thuật bao gồm dữ liệu sẵn có, kỹ thuật xử lý dữ liệu, khả năng tính toán và phần mềm chuyên dụng. Ngân sách của hầu hết các dự án bảo tồn thuộc địa phương không đủ chi trả cho những thứ này.   Công cụ mới của chúng tôi đã vượt qua những rào cản này và giúp những người không phải là chuyên gia dễ dàng sử dụng, với quy trình làm việc toàn diện, từng bước. Nó không yêu cầu kiến thức chuyên môn về hình ảnh vệ tinh, xử lý dữ liệu hoặc mã hóa. Công cụ này chỉ yêu cầu các kỹ năng máy tính cơ bản, kết nối Internet tương đối ổn định và vốn kiến thức cơ bản để lập bản đồ rừng ngập mặn.  Thử nghiệm công cụ mới  Để tiến hành thí điểm công cụ lập bản đồ rừng ngập mặn mới của mình, chúng tôi đã lấy Myanmar – một điểm nóng về mất rừng ngập mặn – làm mẫu điển hình. Việc mất rừng chủ yếu xảy ra do việc chuyển đổi sang nông nghiệp, chẳng hạn như lúa, cọ dầu và cao su, nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là tôm.   Công cụ này tạo ra các bản đồ tại thời điểm quá khứ lẫn trong hiện tại về phạm vi rừng ngập mặn, đánh giá độ chính xác và chất lượng của các bản đồ này, đồng thời tính toán những thay đổi đã xảy ra trong một khu vực nhất định. Kết quả của chúng tôi cho thấy Mymanmar đã mất 35% diện tích rừng ngập mặn ở ven biển nước này kể từ năm 2004.     Mất rừng ngập mặn ở bang Rakhine, Myanmar, dọc theo bờ biển Đông Nam của đảo Ramree và bờ biển phía Tây của thị trấn Taungup. Các ô bên trái (1) hiển thị hình ảnh vệ tinh Landsat trong quá khứ, giai đoạn 2004-08, và các ô bên phải (2) hiển thị hình ảnh trong hiện tại, giai đoạn 2014-18. Các ô (a) phía trên hiển thị các phong cảnh như trong một bức ảnh màu thông thường, trong khi các ô (b) phía dưới cung cấp độ tương phản bổ sung. Trong khoảng thời gian 10 năm này, những dải rừng ngập mặn lớn rõ ràng đã biến mất. Ảnh: Trevor Gareth Jones  Các đồng nghiệp của tôi ở Madagascar đang thử nghiệm công cụ mới dọc theo bờ biển phía tây của đất nước, nơi 21% rừng ngập mặn của hòn đảo này – một khu vực có diện tích tương đương 80.000 sân bóng đá – đã biến mất từ năm 1990 đến năm 2010.   Hệ sinh thái rừng ngập mặn đang bị đe dọa ở Madagascar, và việc hiểu chúng ở đâu – và cách chúng đang được sử dụng – vô cùng quan trọng đối với các cộng đồng ven biển. “Những cộng đồng này cần sử dụng một công cụ giám sát đơn giản, phù hợp với bối cảnh địa phương”, Cicelin Rakotomahazo, điều phối viên của Blue Forest ở Andavadoaka, Madagascar, cho biết.  Người dùng có thể truy cập miễn phí công cụ lập bản đồ rừng ngập mặn mới của chúng tôi và sử dụng trong Google Earth Engine với hướng dẫn chi tiết. Các nhà quản lý vùng ven biển có thể sử dụng kiến thức địa phương của mình để lập bản đồ hệ sinh thái rừng ngập mặn ở bất kỳ nơi nào họ tìm thấy. Những người sử dụng công cụ này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thử nghiệm và định hình sự phát triển của nó.    *Tác giả bài viết là Trevor Gareth Jones, Giáo sư thỉnh giảng về Quản lý Tài nguyên Rừng và Cố vấn Chương trình MGEM, Đại học British Columbia  Anh Thư dịch  Nguồn: New mangrove forest mapping tool puts conservation in reach of coastal communities       Author                Trevor Gareth Jones        
__label__tiasang Công cụ lượng giá dịch vụ hệ sinh thái      Cơ quan phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) đã giới thiệu Công cụ lượng giá và đánh giá dịch vụ hệ sinh thái (Values) tới các nhà lập kế hoạch và lãnh đạo phụ trách việc ra quyết định ở cấp địa phương và trung ương vào ngày 12 tháng 7 vừa qua tại Hà Nội.    Hệ sinh thái biển đang suy thoái nghiêm trọng  Nguồn ảnh: Vietnamnet.vn  Tại hội thảo giới thiệu Values, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu các nghiên cứu thí điểm tại Việt Nam và những quốc gia khác và chứng minh rằng ValuES là một công cụ hiệu quả cho các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định trong vấn đề bảo tồn môi trường và quy hoạch phát triển. Hội thảo có sự tham dự của gần 100 đại biểu đến từ các cơ quan trung ương và địa phương, các trường đại học và viện nghiên cứu tại Việt Nam.  Dịch vụ hệ sinh thái là các lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người được hưởng từ hệ sinh thái. ValuES được xem như một công cụ hiệu quả để tính toán các lợi ích hữu hình và vô hình đó thành giá trị tiền tệ, qua đó giúp các nhà lập kế hoạch và thực hiện chính sách nhìn nhận rõ hơn về hậu quả từ việc suy thoái và mất đi của các dịch vụ hệ sinh thái. Công cụ này cũng giúp cho các nhà lập kế hoạch và ra quyết định chính sách, thực hiện chính sách hiểu rõ hơn giá trị kinh tế của đa dạng sinh học và các loại hình dịch vụ hệ sinh thái khác nhau. Lượng giá dịch vụ hệ sinh thái cũng giúp xác định được mối tương quan giữa kinh tế-xã hội với việc sử dụng hệ sinh thái. Đối với công chúng – những người đang sử dụng hệ sinh thái, việc lượng giá các dịch vụ hệ sinh thái giúp hỗ trợ quá trình nhận thức và đánh giá, đồng thời nắm bắt được các giá trị kinh tế của các hệ sinh thái. Lượng giá kinh tế dịch vụ hệ sinh thái cũng giúp xác định các phần thưởng xứng đáng cho những người dân địa phương đang góp phần bảo vệ hệ sinh thái.   Tuy nhiên, cho đến nay, những công cụ trên vẫn chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong quá trình quy hoạch ở cả cấp địa phương lẫn trung ương. Cho đến nay, giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái vẫn chưa được đề cập trong các quyết định quy hoạch và đầu tư, các dịch vụ tự nhiên vẫn được xem như là các dịch vụ “miễn phí” hay các dịch vụ “hàng hóa công”.   PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (ISPONRE) nhấn mạnh sự cần thiết của việc lồng ghép các dịch vụ hệ sinh thái vào quá trình quy hoạch. Ông nói: “Đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách nên cân nhắc việc làm thế nào để áp dụng các bài học kinh nghiệm của quốc tế và khu vực để áp dụng lượng giá hệ sinh thái ở cấp quốc gia”.  Cũng có đánh giá tương tự, ông Đào Xuân Lai, Trưởng phòng Phát triển bền vững, UNDP phát biểu: “Hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống và sinh kế của người dân, đặc biệt là tại các cộng đồng bản địa. Tuy nhiên, giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái hiện nay vẫn chưa được xem trọng và lồng ghép một cách đầy đủ vào quy hoạch phát triển, lập ngân sách, và quá trình ra quyết định. Việc lượng giá dịch vụ hệ sinh thái là cần thiết để tăng cường nhận thức và thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái”.  Hội thảo đã được tổ chức bởi ISPONRE trong khuôn khổ dự án “Tăng cường năng lực thực hiện các Công ước Rio”, do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP Việt Nam, phối hợp với “Chương trình Đa dạng sinh học rừng” của GIZ, “Dự án ValuES toàn cầu” của Bộ Hợp tác kinh tế (BMZ) và Môi trường Đức (BMUB), và “Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam” của Tổ chức Winrock International do USAID tài trợ.  Cũng trong dịp này, một khóa tập huấn 03 ngày cũng sẽ được tổ chức cho những giảng viên, những người sẽ tiếp tục giới thiệu công cụ này đến các Tỉnh và là những người sẽ đào tạo tiếp một đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp trực tiếp tính toán và thực hiện nghiên cứu lượng giá dịch vụ hệ sinh thái cho Chính phủ và các chính quyền địa phương khi họ quyết định lồng ghép các công cụ này vào quá trình ra quyết định.        Author                Bảo Như        
__label__tiasang Công cụ mã nguồn mở kiểm tra rò rỉ dữ liệu từ các hệ thống AI      Nhiều ứng dụng trên điện thoại thông minh, chẳng hạn như chương trình chuyển lời nói thành văn bản và trợ lý Google, vận hành nhờ nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI). Các công ty cũng dùng AI để cải thiện chiến lược tiếp thị, giới thiệu sản phẩm và dịch vụ cho người dùng, hoặc thậm chí bệnh viện cũng sử dụng AI để đưa ra dự đoán về những rủi ro sức khỏe có thể xảy ra cho bệnh nhân.      Giáo sư Reza Shokri và nhóm của ông đã mất ba năm để phát triển công cụ đo quyền riêng tư của Máy học.  Để các hệ thống AI có thể cung cấp thông tin chi tiết như vậy, chúng ta phải đào tạo AI bằng các dữ liệu liên quan như thói quen mua hàng hoặc hồ sơ y tế của một người, những dữ liệu này có thể chứa thông tin nhạy cảm về một cá nhân. Khi ‘khóa đào tạo’ mô hình AI kết thúc, nó không được lưu giữ lại bất kỳ dữ liệu đào tạo ban đầu nào để đảm bảo ngay cả khi tin tặc xâm nhập cũng không thể thu thập được bất kỳ thông tin nhạy cảm nào.  Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu bảo mật và quyền riêng tư đã chỉ ra tin tặc có thể tấn công suy luận mô hình AI, qua đó trích xuất thông tin nhạy cảm trong dữ liệu đào tạo. Tin tặc liên tục yêu cầu dịch vụ AI tạo thông tin, sau đó phân tích thông để tìm ra một mẫu hình. Khi đã xác định được mẫu hình, tin tặc có thể suy luận ra loại dữ liệu cụ thể đã sử dụng để đào tạo chương trình AI. Sử dụng các cuộc tấn công kiểu này, tin tặc thậm chí có thể xây dựng lại tập dữ liệu ban đầu mà rất có thể đó là tập dữ liệu dùng để đào tạo AI.  Các cuộc tấn công như vậy đang trở thành mối lo ngại của nhiều tổ chức trên toàn cầu. Ví dụ, vào năm 2009, đã có các cuộc tấn công tương tự nhằm vào Viện Y tế Quốc gia (NIH) ở Hoa Kỳ và NIH đã phải thay đổi chính sách truy cập với dữ liệu y tế nhạy cảm. “Các cuộc tấn công suy luận rất khó phát hiện vì hệ thống chỉ coi hacker là người dùng thông thường đang yêu cầu cung cấp thông tin. Như vậy, các công ty hiện không có cách nào để biết liệu các dịch vụ AI của họ có gặp rủi ro hay không vì hiện tại cũng không có công cụ hoàn thiện nào để chống lại kiểu tấn công này”, giáo sư Reza Shokri từ Đại học Quốc gia Singapore (NUS Computing) giải thích.  Để giải quyết vấn đề này, giáo sư Asst Shokri và nhóm của ông đã phát triển một công cụ mã nguồn mở có thể giúp các công ty xác định xem các dịch vụ AI của họ có dễ bị tấn công suy luận như vậy hay không. Công cụ đo quyền riêng tư của Máy học (ML Privacy Meter) giả lập tấn công suy luận, cuộc tấn công nhằm xác định xem một bản ghi dữ liệu cụ thể có phải là một phần của dữ liệu đào tạo mô hình hay không. Bằng cách mô phỏng các cuộc tấn công như vậy, công cụ có thể định lượng mức độ rò rỉ dữ liệu đào tạo của một mô hình AI, qua đó cho thấy nguy cơ xảy ra các cuộc tấn công khác nhau mà ở đó hacker sẽ cố gắng xây dựng lại toàn bộ hoặc một phần tập dữ liệu đào tạo. Cuối cùng, công cụ này sẽ chỉ ra các khu vực dễ bị tấn công trong bộ dữ liệu dùng để đào tạo.  Quá trình này có thể giúp các tổ chức xác định những điểm yếu trong tập dữ liệu của họ, từ đó gợi ý những kỹ thuật để hạn chế các cuộc tấn công suy luận.  “Khi xây dựng các hệ thống AI sử dụng dữ liệu nhạy cảm, các tổ chức nên đảm bảo rằng họ đã bảo vệ đầy đủ dữ liệu được xử lý trong các hệ thống đó. Công cụ của chúng tôi có thể giúp các tổ chức thực hiện phân tích hoặc kiểm tra rủi ro quyền riêng tư nội bộ trước khi triển khai hệ thống AI”, Shokri nói. “Ngoài ra, các quy định như ‘Quy định chung về bảo vệ dữ liệu’ cũng yêu cầu phải đánh giá rủi ro về quyền riêng tư đối với dữ liệu khi sử dụng máy học. Công cụ của chúng tôi có thể hỗ trợ các công ty tuân thủ quy định này”. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-11-open-source-tool-leakage-ai.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ mới tìm cách giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế trong công nghiệp      Việc lập bản đồ kinh tế vật chất cho một khu vực có thể trở thành một công cụ mới để tìm ra các mối liên kết tiềm ẩn giữa các ngành công nghiệp, từ đó xác định các cơ hội để giảm thiểu chất thải và phát thải carbon.      Ảnh minh họa: internet.  “Khí hậu và kinh tế là những vấn đề cực kì quan trọng mà chúng ta không nên phạm sai lầm”, Shweta Singh, nhà khoa học liên ngành ở ĐH Purdue (Hoa Kỳ) phát triển công cụ này, nhận xét. “Công cụ này đem lại cái nhìn toàn cảnh, cho phép các nhà hoạch định chính sách và ngành công nghiệp tham gia vào sự thay đổi và nhìn thấy được kết quả. Những bên liên quan có thể thử nghiệm ảo nhiều lựa chọn trước khi đưa ra quyết định”.   Những nỗ lực nhằm mục tiêu không chất thải và carbon thấp trong quá khứ mới chỉ tập trung vào một phần của dòng chảy công nghiệp, chẳng hạn như giảm sử dụng năng lượng trong một quy trình sản xuất đơn lẻ. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn toàn cảnh hệ thống để đưa ra những lựa chọn tốt nhất và đầu tư hiệu quả nhất vào những công nghệ mới nổi để cải thiện tổng thể.  Singh hiện đang là trợ lý giáo sư về kỹ thuật sinh học, sinh thái học, môi trường và nông nghiệp ở trường Nông nghiệp và trường Kỹ thuật (ĐH Purdue). Cô mô tả cách tiếp cận này giống như Dự án hệ gene người, tuy nhiên đối tượng ở đây là nền kinh tế vật chất. Họ cần lập bản đồ mối quan hệ giữa ngành công nghiệp và môi trường. “Điều này cho phép chúng ta tìm kiếm và hiểu về các mối liên hệ trong toàn bộ hệ thống. Chúng ta cần dự án hệ gene người – một bản đồ hoàn chỉnh để xác định các gene quan trọng với sức khỏe, và chúng ta cần một bản đồ về nền kinh tế vật chất để xác định đâu là những thay đổi then chốt để đạt được sự bền vững”, Singh nói.  Nhóm nghiên cứu đã công bố chi tiết lý thuyết về mô hình này trên tạp chí Energy & Environmental Science của Hiệp hội Hóa học Hoàng gia. Một bài báo tập trung vào công cụ nền tảng đám mây sẽ được xuất bản trên tạp chí  Journal of Industrial Ecology.  Công cụ này sử dụng các nguyên tắc vật lý, các mô hình cơ học từ vật lý, kỹ thuật và sinh học để tự động lập bản đồ về nền kinh tế vật chất nhanh hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống. “Với công cụ mô hình hóa này, chúng tôi có thể làm những thứ tốn 100 ngày chỉ trong vòng 1 ngày”, cô cho biết. “Các phương pháp lập bản đồ hiện tại rất chậm và tốn thời gian. Bằng cách coi mỗi ngành kinh tế như một quá trình lấy nguồn lực thông qua các thay đổi vật chất để tạo ra một sản phẩm, chúng tôi có thể sử dụng các mô hình cơ học để lập bản đồ với góc nhìn đa tầng về nền kinh tế vật chất. Nhờ đó, chúng tôi có thể thực hiện các thay đổi và thấy được chuỗi sự kiện từ quá trình sang lĩnh vực đến toàn bộ nền kinh tế”.   Sử dụng công cụ để lập bản đồ kinh tế vật chất của bang Illinois, Mỹ, trong 10 lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp, từ nuôi trồng đến chế biến sản phẩm, mô hình đã tìm thấy các mối liên hệ giữa chúng và làm nổi bật những cơ hội tái chế ở quy mô lớn để giảm thiểu chất thải. Kết quả cho thấy việc áp dụng các công nghệ xử lý nước thải công nghiệp và tái chế phân lợn sẽ có tác động lớn nhất nhờ việc giảm được hơn 62% chất thải từ phân lợn, 96% bã ngô xay nghiền khô và 99% vỏ đậu tương thải bỏ. “Chúng tôi cũng phát hiện ra các mối liên hệ gián tiếp, chẳng hạn như việc tái chế chất chất thải chăn nuôi lợn dẫn đến giảm khí thải trong quá trình sản xuất”, Singh nhận xét. “Trong chuỗi cung ứng, các chuyên gia nói về tác động cấp một, cấp hai và cấp ba. Tác động cấp ba có thể chưa rõ ràng nhưng chúng thực sự có ảnh hưởng. Giờ đây, tác động cấp ba trở nên minh bạch và chúng tôi có thể nhanh chóng xác định ảnh hưởng của chúng”.  Singh đã nộp công bố công cụ mô hình hóa này tới Văn phòng Thương mại hóa công nghệ thuộc Quỹ Nghiên cứu Purdue, nơi đăng ký bảo hộ sáng chế cho tài sản trí tuệ.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-tool-opportunities-reuse-recycle-industrial.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ phát hiện code xấu gọi được vốn triệu đô      Công ty khởi nghiệp Codacy ở Lisbon, Bồ Đào Nha (thành lập năm 2012) vừa kêu gọi được 1,1 triệu USD từ các nhà đầu tư cho công cụ kiểm tra mã code giúp các nhà phát triển phần mềm viết code tốt hơn và nhanh hơn.       Theo thông báo của Codacy, công cụ này hiện đang được trên 8.000 nhà phát triển phần mềm sử dụng và trong năm vừa qua nó đã tìm ra được gần 10 tỉ lỗi coding. Việc loại bỏ code xấu giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và tiền bạc.  Theo một nghiên cứu của Trường Đại học Cambridge công bố năm 2013, tổng chi phí bỏ ra để sửa các lỗi phần mềm trên toàn cầu hiện đang ở mức 316 tỉ USD một năm. Nghiên cứu này cũng ước tính rằng chi phí để xử lý các khoản nợ kỹ thuật   trên mỗi dòng code là khoảng 3,61 USD.  Jaime Jorge, đồng sáng lập Codacy, cho biết: “Có những nhà phát triển phần mềm mất tới gần một nửa thời gian làm việc để rà soát lại code (code review) – lẽ ra nên dùng thời gian này để phát triển các tính năng mới thì hơn. Mỗi ngày lại phát sinh hàng triệu rắc rối về code, và các công ty sẽ phải bỏ ra rất nhiều tiền để sửa chữa những “khoản nợ kỹ thuật” này. Tuy việc rà soát code để tránh xảy ra những sai lầm đáng tiếc là cần thiết, song có thể tự động hóa phần lớn quy trình này. Các công ty hiện đang tìm kiếm nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng nên các phần mềm tốt hơn với tốc độ nhanh hơn, đồng thời tối ưu hóa các quy trình phát triển phần mềm của mình. Để thực hiện mục tiêu này, cần lưu ý tới những hoạt động rà soát code. Và sứ mệnh của chúng tôi là loại bỏ những bước rà soát code không cần thiết.”  Vòng đầu tư gần đây nhất của Codacy do Caixa Capital, một công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm của Bồ Đào Nha dẫn đầu với sự tham gia của các nhà đầu tư hiện tại là Faber Ventures, E.S. Ventures, Join Capital và nhà đầu tư thiên thần Henrique de Castro, cựu COO của Yahoo, đưa tổng số tiền đầu tư vào Codacy lên mức 1,6 triệu USD.  Kể từ sau vòng đầu tư trên, Codacy cũng đã hỗ trợ thêm cho công cụ của mình để có thể phát hiện code xấu cho Ruby và Java. Như vậy, công cụ của Codacy hiện đang có thể phân tích Ruby, Java, Scala, JavaScript, Python, PHP, Coffeescript và CSS.  Bùi Thu Trang dịch    http://www.businessinsider.com/codacy-funding-raised-11-million         Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ tìm kiếm: Cạnh tranh giành thị phần      Chỉ sau 2 thập kỷ xuất hiện, World Wide Web (Hệ thống mạng toàn cầu hay gọi đơn giản là trang web), với vai trò thúc đẩy việc trao đổi thông tin, giao tiếp, kinh doanh ở khoảng cách xa, đã trở thành công cụ không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. World Wide Web đã tạo ra lượng thông tin khổng lồ trên mạng Internet mở đường cho sự ra đời của các công cụ tìm kiếm. Khi thông tin trở thành hàng hóa, các công cụ tìm kiếm trở thành các cỗ máy kiếm tiền từ các dịch vụ quảng cáo. Những công ty chuyên về dịch vụ tìm kiếm đạt được sự tăng trưởng “thần kỳ” và cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt để giành được thị phần lớn hơn trong “nền kinh tế tìm kiếm”.      Phát triển cùng với Web  Năm 1995, Tập đoàn Digigal Equipent cho ra đời bộ xử lý siêu tốc Alpha. Louis Monier, nhà nghiên cứu của tập đoàn, đã đề nghị xây dựng một công cụ tìm kiếm có thể tải toàn bộ mạng Internet (cơ sở dữ liệu dung lượng lớn) xuống máy tính tích hợp bộ xử lý Alpha, sau đó tạo ra một chương trình có thể ứng dụng tốc độ xử lý của Alpha. Máy tìm kiếm Alta Vista ra đời. Ngay sau đó, công cụ tìm kiếm của tập đoàn đã đạt được thành công lớn. Những năm 1996-1997, Alta Vista đứng đầu về công nghệ trong lĩnh vực tìm kiếm. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu những “gã khổng lồ” mới xuất hiện chiếm chỗ của nó.   Đầu những năm 1990, khi còn là nghiên cứu sinh của ngành tự động hoá thiết kế điện tử, Jerry Yang và David Filo đã mày mò tìm các dữ liệu về bóng rổ trên trang Mosaic. Say mê với công cụ tìm kiếm Yang tạo một trang chủ tên là Akebono, phiên bản đầu tiên của Yahoo! sau này, có chức năng tập hợp dữ liệu va sắp xếp dữ liệu thành những tiểu mục phù hợp với nhu cầu tìm kiếm thông tin. Sau đó, hai nhà sáng lập viên của Yahoo! tách ra khỏi máy chủ của trường, vận động đầu tư và thành lập công ty riêng vào năm 1995.         Công cụ tìm kiếm hoạt động như thế nào?          Cấu trúc công cụ tìm kiếm của Google thời kỳ đầu                    Về cơ bản, một công cụ tìm kiếm gồm ba phần chính có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng và tốc độ của mỗi công cụ tìm kiếm: nhện web, hệ thống chỉ mục, hệ thống chạy thực hay bộ xử lý thông tin truy vấn.               Quy trình tìm kiếm trang kết quả bắt đầu với nhện web- một chương trình phần mềm chuyên biệt có thể nhảy từ đường dẫn này sang đường dẫn khác trên Hệ thống mạng toàn cầu (World Wide Web), sau đó thu nhập các trang web được tìm thấy vào hệ thống chỉ mục. Các kết nối tìm thấy trên trang web sẽ được ghi chú lại, sắp xếp và đưa vào các file để tiếp tục gửi đi truy vấn, như vậy với một kết nối mới được tìm ra sẽ có thêm các truy vấn mới và cứ tiếp tục như vậy cho đến vô cùng.               Tại hệ thống chỉ mục, các thuật toán được áp dụng để đưa ra những kết quả phù hợp nhất với truy vấn. Ví dụ Google có thuật toán Chương trình phân hạng trang web phân tích các liên kết tập hợp trên cùng một trang web, các từ neo xung quanh liên kết này và số lượng liên kết ngoài của các trang web, tổng hợp các yếu tố này và tìm ra mức độ phù hợp của một trang web với một truy vấn bất kỳ. Sau khi được phân tích, lưu chỉ mục và đánh dấu, các dữ liệu do nhện web tập hợp lại được đổ vào một hệ thống chỉ mục chạy thực – cơ sở dữ liệu này có thể ngay lập tức cung cấp kết quả tìm kiếm cho người sử dụng.               —————————-  Goto.com – đi đầu trong thu phí quảng cáo trên số lần kích chuột              Theo phương thức hoạt động này, các nhà quảng cáo chỉ phải trả tiền khi có người truy cập vào mẩu quảng cáo. Khi dịch vụ của Goto.com ra mắt (tháng 6 năm 1998) chỉ có 15 nhà quảng cáo sử dụng. Nhưng trong vòng 6 tháng sau khi ra mắt, và tới năm 1999, con số những nhà quảng cáo lên đến hàng ngàn. Vào thời điểm đó Goto.com phục vụ hơn 100 triệu người tìm kiếm một tháng, với khoảng 10% trong số đó tìm đến kết quả qua những cú kích chuột, hay còn gọi là “những gợi ý được tài trợ”. Tháng 9 năm 2001, Goto.com đổi tên thành Overture phản ánh quan điểm của công ty về mục đích cốt lõi của họ: tạo ra những gợi ý được trả tiền về sản phẩm dịch vụ cho những người truy cập tới trang web khách hàng của họ hay tới hệ thống của những nhà quảng cáo. Vào năm 2003 Overture bị Yahoo! mua lại, hiện nay trang này cung cấp các cơ hội tìm kiếm trả tiền cho các nhà quảng cáo thông qua Yahoo! Search Marketing.         Câu chuyện đến với công cụ tìm kiếm cũng xảy đến tương tự với Sergey Brin và Larry Page, hai sáng lâp viên của Google. Trong dự án nghiên cứu tốt nghiệp họ đưa ra những dự cảm về sự bùng nổ của thông tin trên mạng và nhu cầu về sử dụng dịch vụ tìm kiếm. Mục đích của Google khi đó là giải quyết các vấn đề trên về mặt chất lượng và cả quy mô bằng cách đưa ra công nghệ tìm kiếm cho số lượng tăng lên không ngừng của cả trang web và số lượt truy vấn. Năm 1998, Brin và Page thành lập công ty, sau hai năm đầu khó khăn, họ đạt được sự phát triển đáng kinh ngạc vào những năm tiếp sau.   Khi lượng người truy vấn ngày càng tăng, các công ty chuyên về công cụ tìm kiếm nghĩ tới phát triển các mô hình kinh doanh tài trợ cho các dịch vụ của họ, ví dụ như chương trình trả tiền trên số lần kích chuột của Open Text năm 1996 và Goto.com năm 1998. Google ban đầu chiếm lĩnh sân chơi của các công cụ tìm kiếm khác bằng hình thức tìm kiếm thuần túy trên trang đích. Thậm chí, vào năm 1998, tại hội nghị TED (Kỹ thuật, Thiết kế, Giải trí), Brin và Page đã thẳng thừng từ chối đề nghị hợp tác xây dựng trang tìm kiếm tốt hơn của Bill Gross vì cho rằng Google không bao giờ phối hợp với một công ty tìm kiếm mà cho ra kết quả tìm kiếm lẫn với quảng cáo đã được trả tiền. Tiếp theo đó vào năm 2000, cũng tại hội nghị TED, Brin và Page vẫn tiếp tục từ chối Bill Gross. Nhưng chỉ vài tháng sau cuộc nói chuyện đó, Google đã tung ra AdWords, dịch vụ quảng cáo trực tuyến riêng của mình.   Dịch vụ trả tiền trên số lần kích chuột đã nhanh chóng trở thành phương thức kiếm tiền chính cho các công cụ tìm kiếm. Thị trường này đứng đầu là Google, Yahoo!, Microsoft. Một vài xu cho mỗi lần kích chuột nhưng với quy mô toàn cầu đã đem lại cho những ông vua trong ngành công nghiệp tìm kiếm nguồn doanh thu khổng lồ.   Sự lên ngôi của các công cụ tìm kiếm địa phương  Đi sau những công cụ tìm kiếm được phát triển ở Mỹ, các công cụ tìm kiếm địa phương khai thác thế mạnh xử lý ngôn ngữ địa phương và am hiểu tâm lý người sử dụng. Tại Hàn Quốc, Trung Quốc những công cụ tìm kiếm địa phương như Baidu, Naver, vượt qua Google trở thành công cụ tìm kiếm được sử dụng rộng rãi nhất tại các quốc gia này.   Baidu  Baidu thành lập năm 2000 là công cụ tìm kiếm được biết đến rộng rãi nhất tại Trung Quốc, hiện chiếm 70% thị phần tìm kiếm trực tuyến. Robin Li, đồng sáng lập Baidu, từng theo học tại Đại học Bắc Kinh, một trong những trường đại học hàng đầu của Trung Quốc. Sau đó anh sang Mỹ học về khoa học máy tính tại State University of New York, Buffalo và bắt đầu tiếp xúc với công nghệ tìm kiếm. Li làm việc cho Infoseek, một trong những công ty về công cụ tìm kiếm sớm nhất tại Silicon, trước khi quay trở về Trung Quốc thành lập Baidu cùng với một kỹ sư sinh hóa trẻ tuổi. Công ty niêm yết trên Nasdaq vào tháng 8/2005 với giá trị 27 USD/cổ phiếu.           Robin Li -người đồng sáng lập trang tìm kiếm Baidu            Công nghệ chính của Baidu là tìm kiếm trên web, quảng cáo và nền tảng cho thương mại trực tuyến (e-commerce). Các đối thủ của Baidu gồm có các công ty có trụ sở tại Mỹ cung cấp các dịch vụ tìm kiếm trực tuyến tiếng Trung như Google!China, Yahoo!China và các công ty Internet Trung Quốc  như Sina, Sohu, Netease, Tencent.  Chiến lược của Baidu là vẫn tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu thị trường tìm kiếm tiếng Trung bằng cách đưa ra và làm mới các sản phẩm để thu hút và giữ chân lượng lớn người sử dụng và củng cố thương hiệu. Đồng thời, Baidu cũng đang nỗ lực mở rộng thị trường ví dụ như công ty này đã bắt đầu các hoạt động tại Japan vào năm 2008 nhưng vẫn phải cạnh tranh với Yahoo và Google, hai công ty chiếm phần lớn thị phần tìm kiếm tại Nhật Bản.   Tuy nhiên, để giữ được vị trí thống trị của mình, Baidu đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt từ những nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm như Google và Yahoo! chiếm vị trí quan trọng trên thế giới có nhiều người sử dụng, khách hàng và tiềm lực tài chính hơn Baidu, sức ép phải cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mới và mở rộng thị trường, cũng như đối mặt với những cáo buộc về vi phạm bản quyền. Để giữ được thị phần của mình, Baidu sẽ phải tiếp tục đổi mới. Theo báo cáo mới gần đây nhất, công ty đã nhận thấy sự cần thiết phải chi tiêu mạnh tay hơn nữa cho R&D.   Naver  Naver ban đầu là một công ty con của Samsung SDS, ra đời từ ý tưởng cung cấp dịch vụ tìm kiếm tri thức “Knowledge iN”. Vào năm 2001, sau 2 năm thành lập, Naver trở thành một trong ba công cụ tìm kiếm mạnh nhất bên cạnh Daum và Yahoo!. Một năm sau đó, nó vượt qua Yahoo!. Và sau năm 2003, Naver trở thành công cụ tìm kiếm số một tại Hàn Quốc. Vào cuối tháng 6 năm 2007, Naver- ông vua của công nghiệp tìm kiếm tại thị trường Hàn Quốc chiếm 70% thị phần.   Mười năm trước đó, Yahoo!Korea đã đặt chân tới Hàn Quốc và chiếm vị trí quan trọng tại quốc gia này cho tới đầu năm 2000. Empas bắt đầu tấn công vào thị trường công cụ tìm kiếm với khẩu hiệu “Nếu không thể tìm thấy điều bạn muốn với Yahoo, hãy tới Empass”. Khẩu hiệu này nhấn mạnh tới ưu điểm của công cụ tìm kiếm Empass tuy nhiên nó cũng cho thấy sự thống trị của Yahoo! tại thị trường nước này.         Berners Lee – cha đẻ của World Wide Web                            World Wide Web- công cụ máy tính này đã làm thay đổi cuộc sống của mọi người trong hai thập kỷ vừa qua kể từ khi Berners Lee đưa ra phát minh của mình. Nó hỗ trợ tìm kiếm thông tin, giao dịch trực tuyến và giao tiếp qua Email.               Berners Lee sinh năm 1955 tại London. Cha mẹ ông đều là những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực máy vi tính. Ông học tại trường Queen’s College, Oxford, tốt nghiệp loại ưu về vật lý. Sau khi tốt nghiệp ông là thiết kế phần mềm hợp đồng 6 tháng tại CERN, Phòng thí nghiệm vật lý hạt của Châu Âu tại Thụy Sĩ. Với mong muốn thúc đẩy việc trao đổi thông tin từ máy tính của đồng nghiệp này sang máy tính khác, ông đã viết chương trình Enquire, sau này được phát triển thành World Wide Web. Ông phân chia thành hệ thống HTML bao gồm hệ thống các liên kết siêu văn bản và HTTP hệ thống kết nối từ máy tính này sang máy tính khác. Nói đơn giản, đó là sự giao tiếp thành công giữa HTTP của khách hàng và máy chủ thông qua Internet. Năm 1991, Berner Lee đưa ra trình duyệt World Wide Web với mục đích ban đầu là dành cho người sử dụng tại các cơ sở giáo dục. Nhưng ngay lập tức trang web đã được sử dụng đại trà và góp phần tạo nên cuộc cách mạng thông tin vào cuối thế kỷ XX.         Bước sang thế kỷ 21, Yahoo!Korea trở nên mờ nhạt và bị hạ gục bởi Daum. Công cụ tìm kiếm này nhanh chóng phát triển nhờ có dịch vụ Hanmail (dịch vụ café) đi kèm và chiếm được ngai vàng trong vương quốc dịch vụ tìm kiếm. Tuy nhiên, hào quang của Daum không kéo dài, vị thế này dần nhường lại cho Naver.   Điều gì đã làm nên thành công cho Naver? Nhiều chuyên gia cho rằng đó không hoàn toàn nhờ vào công nghệ. Naver nắm bắt được văn hóa tìm kiếm của những khách hàng trong nước và phản ảnh nó lên các kết quả tìm kiếm, đây là lý do cho sự thành công của Naver. Ví dụ nếu tìm kiếm thông tin về một người nổi tiếng. Naver đưa ra không chỉ các thông tin cá nhân của người này mà còn những tin mới nhất có liên quan, ảnh, các thông tin mà người dùng đưa lên trên mạng “Knowledge iN” và các bài viết liên quan trên blog. Trong khi đó Google chỉ đưa ra một vài trang web và một vài tin có liên quan. Naver nhanh hơn Google trong việc thỏa mãn những câu hỏi tò mò mang nhiều sắc thái của người sử dụng.   Tương lai của công cụ tìm kiếm  Trong tương lai gần, tìm kiếm sẽ được ứng dụng trên nhiều thiết bị. Điều đó đã bắt đầu với máy điện thoại di động và máy PDA, hướng này sẽ còn tiếp tục phát triển theo cấp số nhân, cho tới khi tìm kiếm được xây dựng trên mọi thiết bị số khác trong cuộc sống của chúng ta. Điện thoại, ô tô, ti vi, loa, những thiết bị thấp nhất có gắp chíp điện tử và có khả năng kết nối – tất cả đều sẽ kết hợp lại với nhau thành một hệ thống định vị bằng tìm kiếm.                  Theo John Battell, tác giả cuốn Công cụ tìm kiếm, bản thân công cụ tìm kiếm đang thay đổi rất nhanh chóng. Công cụ tìm kiếm trong tương lai không thực sự là công cụ tìm kiếm mà chúng ta vẫn hay sử dụng mà sẽ tương đối giống như một đại diện của trí thông minh nhân tạo – hay theo lời Larry Page, “một thủ thư thông thạo mọi nguồn tài liệu tham khảo của toàn bộ tri thức nhân loại”. Hình dung về công cụ tìm kiếm trong tương lai như vậy không chỉ dừng lại ở lãnh địa khoa học viễn tưởng nữa mà đã là mục tiêu trong các tuyên bố của các công ty cung cấp công cụ tìm kiếm như IBM, Microsoft, Google, Yahoo!…        Yandex                            Công ty thành lập năm 1990. Volozh cùng một vài cộng sự thành lập công ty Comptek cung cấp dịch vụ hệ thống networking và thiết bị viễn thông tại Nga. Công ty phát triển hai hệ thống thông tin: Phân loại các phát minh thế giới, Phân loại sản phẩm và dịch vụ.               Năm 1993, Volozh và các đối tác của công ty Comptek xây dựng công nghệ Yandex tập trung vào tìm kiếm tiếng Nga. Họ hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học Nga để tăng cường khả năng xử lý tiếng Nga: tìm kiếm bằng tiếng Nga khá phức tạp vì ngôn ngữ này có nhiều biến thể phụ thuộc vào mục đích ngữ pháp và ngữ nghĩa. Yandex cho rằng một trong những lợi thế về công nghệ của họ là tự động tìm kiếm tất cả các hình thức biến thể của một từ trong một lần kích chuột tìm kiếm để làm cho việc tìm kiếm trở nên chính xác hơn.               Hiện nay, Yandex là công cụ tìm kiếm số một tại Nga, chiếm khoảng 65% thị phần thị trường tìm kiếm.           Công cụ tìm kiếm thông minh hơn sẽ cho ra những kết quả tìm kiếm thông minh hơn thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng tìm kiếm cụ thể. Ý tưởng ẩn sau tìm kiếm cá nhân là khá đơn giản: công cụ tìm kiếm càng biết nhiều về bạn, nó càng loại bỏ nhiều kết quả không phù hợp với bạn. Ask.com, Google, Microsoft và Yahoo! đã tung ra một số tìm kiếm cá nhân trong năm qua. Hầu hết mọi chuyên gia đều dự đoán sẽ có những đột phá lớn cho ý tưởng này trong tương lai.                   NGỌC TÚ  tổng hợp  Tài liệu tham khảo:  John Battell, Công cụ tìm kiếm, NXB Tri Thức  David A. Vise và Mark Malseed, Google – Câu chuyện thần kỳ, NXB Tri Thức  Sergey Brin và Lawrence Page, The Anatomy of a Large-Scale Hypertextual Web Search Engine    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cộng đồng Đông Á – đường còn xa!      Giấc mơ hình thành một Cộng đồng Đông Á theo kiểu EU, nhưng lớn hơn gấp bội có vẻ như tiến thêm một bước đến hiện thực khi lãnh đạo 16 quốc gia trong khu vực cam kết thúc đẩy tiến trình hình thành khu vực tự do thương mại Đông Á tại một hội nghị thượng đỉnh vừa diễn ra trên hòn đảo du lịch Cebu ở miền trung Philippines giữa tháng 1 vừa qua. Nếu hình thành, cộng đồng này sẽ chiếm hơn ½ dân số toàn cầu, bao gồm 10 quốc gia thành viên Asean, 3 nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, quốc gia đông dân nhất Nam Á là Ấn Độ và hai nước lớn ở châu Đại Dương là Australia và New Zealand. Đây không chỉ là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới mà còn là một đối trọng về kinh tế- chính trị rất đáng kể của các khối Bắc Mỹ và EU, làm rõ tính chất đa cực của trật tự thế giới hiện đại.  Tuy vậy con đường đi đến một Cộng đồng Đông Á còn rất dài và rất gập ghềnh.    Ý tưởng đầu tiên về khu vực thương mại tự do Đông Á được trình bày tại Diễn đàn cấp cao Đông Á lần thứ nhất tại Kuala Lumpur năm 2005. Thời điểm ấy, hình ảnh của Cộng đồng Đông Á tương lai được hình dung theo một trong hai công thức: Asean +3 (Trung Quốc. Nhật Bản, Hàn Quốc) và Asean+6 (Asean+3 thêm Ấn Độ, Australia và New Zealand). Điểm chung của hai mô hình là loại trừ được sự tham gia của Mỹ và EU; châu Á là của người châu Á. Trung Quốc ủng hộ mô hình Asean+3 trong khi Nhật Bản lại quảng bá mô hình Asean+6 vì một lý do không công khai nhưng ai cũng hiểu: hạn chế vai trò thống trị của Trung Quốc trong tiến trình xây dựng cộng đồng. Với mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Nhật Bản lên đến đỉnh điểm trong những năm cầm quyền cuối cùng của thủ tướng Junichiro Koizumi, việc chọn lựa mô hình phát triển của khu vực thương mại tự do Đông Á tạm thời bế tắc.  Trước Kuala Lumpur, đã từng có nhiều ý tưởng đoàn kết các quốc gia trong khu vực thành một khối, liên minh hay liên hiệp gì đó, nhằm hỗ trợ nhau trong cuộc cạnh tranh với các cường quốc bên ngoài như Mỹ hoặc châu Âu. Ngay từ giữa thế kỷ 20, cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật tại các nước Đông Á và Đông Nam Á giữa thế kỷ 20 từng diễn ra dưới chiêu bài khối “Đại Đông Á” thịnh vượng, đối lập với chủ nghĩa thực dân phương Tây. Thực chất của cái chiêu bài “thịnh vượng chung” Đại Đông Á này như thế nào nhân dân các nước trong khu vực vẫn chưa quên được. Ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của nước Nhật duy tân sau Minh Trị, đánh bại cả hạm đội Nga, các nhà yêu nước đã truyền tụng “bài ca châu Á” (Á tế á ca), kêu gọi sự hợp tác giúp đỡ giữa các nước “đồng văn đồng chủng” nhằm chống lại họa xâm lược Tây dương. Nhưng sau đó với hai triệu người chết đói năm 1945 người Việt đã rất thấm thía với Đại Đông Á.  Khi một số quốc gia Đông Á vươn vai thành rồng thành hổ vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, có người đã cất công đi tìm “mẫu số chung”của hiện tượng này từ những nền tảng văn hóa, đạo đức, xã hội. Ý tưởng hình thành khối thị trường chung Đông Á đã được thảo luận rất sôi nổi vào thập niên 1990. Có người xác định mẫu số chung đó là “giá trị châu Á”, khu biệt, nếu không nói là đối lập, với hệ thống giá trị của châu Âu; có người đào sâu hơn tìm thấy cái nền chung đó là đạo Khổng Mạnh! Thì Trung, Nhật, Hàn, Đài Loan… và cả Hồng Kông, Singapore nữa đều chia sẻ với nhau những nguyên tắc cơ bản về đạo đức và tổ chức xã hội theo kiểu Khổng giáo đấy thôi. Đã manh nha ý tưởng thành lập cộng đồng kinh tế Khổng giáo quy tụ cả Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam song ý tưởng ấy không đi đến đâu vì những mâu thuẫn khó điều hòa được giữa các nước từng theo đạo Khổng. Vả lại, xây dựng một tổ chức mới trong thời hiện đại dựa trên một học thuyết thời cổ đại là chuyện không tưởng. Ngoài yếu tố các nước nói trên đều có thời gắn bó với Khổng giáo mà nay đã trở thành quá khứ, thì không còn sợi dây ràng buộc nào đủ mạnh để níu kéo họ vào cùng một tổ chức, chung lưng đấu cật để đi tới phồn vinh.  Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã giáng đòn quyết định chôn vùi những nỗ lực của giới hàn lâm và các nhà hoạch định chính sách trong việc tìm kiếm một mô hình Cộng đồng Đông Á.  *  Nhưng lần này, ý tưởng Cộng đồng Đông Á được đề xướng tại Hội nghị cấp cao Cebu 2007 không phải là một sự tiếp nối khiên cưỡng những kế hoạch đã thất bại trong quá khứ mà là một hiện tượng mới về chất, rất đáng chú ý.  Sự trỗi dậy của Trung Quốc cả về kinh tế, chính trị và quân sự là một thực tại hiển nhiên có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tương lai của tất cả các quốc gia trong khu vực. Tìm kiếm phương thức ứng phó với thực tại đó đã khiến các quốc gia nhận ra cần phải nương tựa vào nhau trong một tổ chức chặt chẽ hơn, đủ sức khai thác những cơ hội mà sự phát triển của Trung Quốc đem lại nếu không muốn biến thành vật tế thần cho sự phát triển đó. Ngay một tổ chức đã có 40 năm lịch sử như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – Asean cũng phải thay đổi để thích nghi với bối cảnh mới của thế giới và khu vực, phải tăng cường sự hợp tác, hòa nhập giữa các thành viên. Sự ra đời của Cộng đồng Asean với một Hiến chương đang được dự thảo và sẽ trình lên hội nghị cấp cao Asean tháng 11 tới tại Singapore là bước tiến mới trên con đường đó. Asean đang phải chuyển từ nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào nội bộ của nhau, sang một cơ chế cộng đồng trách nhiệm, mỗi thành viên đều phải tuân thủ Hiến chương của Cộng đồng, trong đó cam kết củng cố các giá trị dân chủ, điều hành tốt.                     Tuy vậy ngay trong Asean quan điểm ứng xử với sự trỗi dậy của Trung Quốc vẫn có nhiều khác biệt. Malaysia và Thái Lan đã có những thành công bước đầu trong việc ký kết hiệp định thương mại song phương với Trung Quốc và khai thác được thị trường đông dân nhất thế giới này để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Philippines, Việt Nam vẫn đang chật vật tìm cách cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc với các đối tác thương mại khác trên trường quốc tế bằng cách cổ xúy cho một khối Đông Á rộng lớn và gắn bó hơn. Ở góc độ thương mại, các thành viên Asean đang xuất siêu và có lợi thế so sánh với Trung Quốc đều muốn tăng cường hợp tác song phương trong khi các thành viên kém phát triển hơn, đang bị cạnh tranh trực diện bởi hàng hóa Trung Quốc thì muốn hướng tới một đối trọng kinh tế mang tính khu vực. Nhưng cả hai đều thống nhất ở điểm tăng cường hợp tác và đa phương hóa các quan hệ kinh tế-thương mại.   Nhu cầu ấy làm phát sinh một thực tại khác là sự ra đời các mối liên kết song phương về kinh tế, nhất là khi các cuộc đàm phán đa phương về một hiệp định thương mại toàn cầu mới, gọi tắt là Vòng đàm phán Doha, không thể tiến triển như dự kiến. Trong vòng ba năm qua ở Đông Á đã có 18 hiệp định thương mại tự do song phương được ký kết và có hiệu lực, 32 hiệp định khác đang được đàm phán. Sự ra đời một thỏa thuận tự do thương mại khu vực mới, quy mô rộng lớn hơn và có chiều sâu hơn nhằm thay thế các hiệp định song phương và khu vực đang tồn tại, làm nền tảng để tiến tới một cộng đồng thịnh vượng chung chính là một trong các nội dung quan trọng nhất được bàn thảo trong hội nghị Cebu vừa qua.  Đã có thể tạm yên tâm rằng, công cuộc biến ý tưởng về cộng đồng Đông Á thành hiện thực chỉ còn là vấn đề thời gian.  *  Nhưng Cộng đồng Đông Á không đơn giản là tổng số 16 quốc gia cùng những hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia đó. Để là một cộng đồng đúng nghĩa, có bản sắc và giá trị thật sự, cần phải vượt qua được những dị biệt hết sức lớn lao giữa các nước trong khu vực. Bề ngoài, đó là sự khác biệt về trình độ phát triển, về thể chế chính trị nhưng bên trong là những khác biệt sâu xa, có khi là mâu thuẫn, giữa các hệ thống giá trị, văn hóa, lối sống và tín ngưỡng. Làm thế nào dung hòa được yếu tố niềm tin giữa một nước Philippines đa số dân theo Thiên chúa giáo với Indonesia theo đạo Hồi và Thái Lan theo đạo Phật, giữa nền dân chủ tự do phóng khoáng Australia với tính chất khép kín và tôn ti trật tự của Trung Quốc, Hàn Quốc? Những kết quả nghiên cứu của Asian Barometer – một cuộc khảo sát, so sánh quy mô lớn về giá trị huy động các nhóm nghiên cứu ở 17 quốc gia châu Á cho thấy rằng về mặt xã hội, các dân tộc trong khu vực quan niệm về giá trị rất khác nhau, gần như không có một bộ tiêu chuẩn chung nào có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia. “Ý tưởng về các giá trị châu Á (theo nghĩa thuần nhất và khu biệt với các khu vực khác) tỏ ra không có căn bản vững chắc,” Takashi Inoguchi, giáo sư chính trị học trường Đại học Chuo ở Tokyo và trưởng nhóm nghiên cứu của dự án Asia Barometer tại Nhật, cho biết.  Khó khăn hơn nữa là tiến trình xây dựng niềm tin ở một khu vực đã trải qua quá nhiều xung đột đẫm máu trong lịch sử hiện đại. Tại hội nghị Cebu vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nhiều lần nhắc lại rằng, trong tiến trình xây dựng Cộng đồng Đông Á tương lai, Asean là người cầm lái. Nhưng liệu các nước lân bang sẽ tin lời ông đến mức nào khi Trung Quốc vẫn duy trì một chính sách phát triển dựa trên xuất khẩu và đầu tư – nghĩa là tiếp tục làm một đối thủ cạnh tranh quyết liệt với các nước Asean về thu hút đầu tư nước ngoài và chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu, cùng với những chính sách bất minh nói một đằng làm một nẻo? Liệu Ấn Độ có sẽ trở thành một đối thủ cạnh tranh thứ hai của Asean như Trung Quốc hiện nay không? Nhật Bản lâu nay là quốc gia khá hào phóng trong việc cung cấp viện trợ, đầu tư và chuyển giao công nghệ cho các nước trong khu vực nhưng sự chuyển hướng gần đây của Nhật Bản mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa không khỏi khiến các nước chung quanh lo ngại. Hai thành viên mới gia nhập Cộng đồng Đông Á là Australia và New Zealand cũng chưa gây được thiện cảm. “Về mặt văn hóa, Australia và New Zealand là một phần của phương Tây nên sẽ khó mà tham gia vào tiến trình xây dựng bản sắc Đông Á”, Andrew Kim, giáo sư về Hàn Quốc học tại Đại học Korea ở Seoul, nhận xét.  Trên bề mặt vẫn còn khá nhiều mâu thuẫn lộ liễu như các cuộc tranh chấp lãnh thổ chung quanh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa Trung Quốc với Việt Nam và một số nước Asean khác, giữa Nhật và Hàn Quốc chung quanh đảo Takashima (Dokdo), tranh giành các nguồn tài nguyên và năng lượng cùng các con đường vận chuyển chúng… Tất cả những yếu tố trên cho thấy giữa các quốc gia Đông Á có những tương đồng nhưng rất nhiều dị biệt khiến cho con đường đi tới một cộng đồng thịnh vượng chung càng trở nên xa xôi và gian khó.  *  Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực Đông Á – cả về mặt địa lý lẫn chính trị, kinh tế. Tiến trình hình thành Cộng đồng Đông Á chắc chắn sẽ tác động đến nhiều mặt cuộc sống ở Việt Nam. Tác động đó là thuận lợi hay khó khăn, có tác dụng thúc đẩy hay cản trở, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của Việt Nam trong năm mới.  Huỳnh Hoa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ 4.0 trong  nông nghiệp tại Việt Nam      TS Lê Đặng Trung, giám đốc công ty Real-Time Analytics (RTA) thiết kế ứng dụng điện thoại di động cho phép người nông dân có thể ghi chép nhật ký quy trình canh tác của mình theo các chuẩn của Việt Nam và các tổ chức quốc tế (như Nghị định 55 về nuôi cá tra, VietGap, Global Gap…) một cách dễ dàng dưới dạng biểu mẫu có sẵn.      Ông Nguyễn Thanh Mỹ bàn giao phao quan trắc cho huyện Duyên Hải, Trà Vinh.    Tạo “dữ liệu lớn” về nông nghiệp  TS Lê Đặng Trung, giám đốc công ty Real-Time Analytics (RTA) thiết kế ứng dụng điện thoại di động cho phép người nông dân có thể ghi chép nhật ký quy trình canh tác của mình theo các chuẩn của Việt Nam và các tổ chức quốc tế (như Nghị định 55 về nuôi cá tra, VietGap, Global Gap…) một cách dễ dàng dưới dạng biểu mẫu có sẵn. Nhờ đó, thủ tục đăng ký chứng nhận với các cơ quan chức năng sẽ đơn giản và gọn nhẹ, đồng thời dễ dàng chứng minh được nguồn gốc thực phẩm với người tiêu dùng. Nhưng quan trọng hơn, dựa vào những dữ liệu về cây trồng, thời tiết, sâu bệnh, quy trình canh tác, sử dụng phân bón do người nông dân tự nguyện cung cấp trên ứng dụng, RTA sẽ phân tích để dự đoán năng suất, chất lượng nông sản, lợi nhuận thu về giúp cho người nông dân điều chỉnh cách làm của mình hợp lý.   Tìm lời giải cho canh tác ở vùng nước nhiễm mặn  TS Nguyễn Thanh Mỹ, người sáng lập công ty Rynan Technologies đang thử nghiệm việc ứng dụng công nghệ internet để canh tác lúa trong điều kiện ngập mặn của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Ông đặt phao quan trắc gắn cảm biến hóa học ở dọc bờ sông có kết nối với ứng dụng trên điện thoại thông minh để thông báo thời điểm nước ngọt trong ngày cho người nông dân, giúp họ chủ động bơm và tích trữ nước tưới. Bên cạnh đó, ông cũng nghiên cứu việc gắn cảm biến vào các container để theo dõi điều kiện và tình hình của rau quả xuất khẩu trong suốt lộ trình vận chuyển.  Canh tác tự động trên vùng nguyên liệu lớn  TS Nguyễn Ngọc Nhã Nam, Giám đốc Công ty giải pháp công nghệ Minerva đã giải quyết bài toán quản lý việc canh tác 18.000 ha vùng nguyên liệu với 20 giống mía và 1000 xe tải vận chuyển sản phẩm sau thu hoạch của công ty mía đường Lasuco. Anh đã sử dụng công nghệ internet của vạn vật (gắn cảm biến trên một số mẫu đại diện cho 20 giống mía) và dữ liệu lớn nhằm thu thập và phân tích điều kiện thời tiết tương ứng với nhu cầu của cây để tưới nước và bón phân tự động, dự kiến thời gian thu hoạch. Đồng thời, công nghệ dữ liệu lớn còn được sử dụng (trong đó, bên cạnh tính toán đường đi, còn tính đến cả yếu tố dự báo thời tiết) để tự động điều phối 1000 xe chở mía từ vùng nguyên liệu nằm rải rác ở các hộ nông dân tới nơi sản xuất một cách tối ưu. Trước đây, việc lập kế hoạch canh tác và giám sát vận chuyển cần 30 cán bộ địa bàn và 40 kế toán thống kê nhưng giờ đây, Lasuco chỉ cần 6 người phụ trách công việc này.   Theo dõi sức khỏe cây trồng bằng drone  TS. Lương Việt Quốc là người thành lập công ty đầu tiên ở Việt Nam sản xuất máy bay không người lái (drone) tại khu Công nghệ cao TPHCM, phục vụ việc đánh giá sức khỏe cây trồng trên cánh đồng lớn, mà mắt thường không thể kịp thời phát hiện, cho kết quả nhanh để can thiệp kịp thời, với chi phí thấp. Theo đó, camera chuyên dụng được gắn trên drone sẽ chụp ảnh có độ phân giải cao, bao quát tối đa diện tích canh tác. Dựa vào những tấm ảnh này, một phần mềm xử lý dữ liệu sẽ giúp phân tích độ quang hợp của cây trồng, tình hình sâu bệnh, dư hay thiếu đạm. Dự kiến, giá bán của một bộ công cụ như trên là 15-20.000 USD.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ AI: Giúp tìm kiếm và lựa chọn tài liệu về Covid-19      Các nhà phát triển đang hy vọng những công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên sẽ giúp các nhà nghiên cứu y sinh và lâm sàng tìm kiếm tài liệu nghiên cứu Covid-19 dễ dàng hơn.    Công nghệ AI đang giúp các nhà khoa học sàng lọc các bài báo nghiên cứu Covid-19 phù hợp để đẩy nhanh quá trình nghiên cứu của riêng mình. Chỉ trong một thời gian ngắn số lượng các bài nghiên cứu về Covid-19 đã tăng lên theo hàm mũ. Theo ứng dụng “Covid-19 Portfolio” của NIH, trang web đang lưu trữ các nghiên cứu về virus SARS-CoV-2 và các bệnh lý liên quan thì đã có hơn 28.000 bài báo được xuất bản trong thời gian gần đây, một con số không dễ dàng để mỗi nhà nghiên cứu tìm thấy bài báo phù hợp cho mình, do đó một loạt các công cụ AI đã ra đời nhanh chóng để hỗ trợ giúp các nhà nghiên cứu và lâm sàng.  Các công cụ AI thường được xây dựng trên nhiều yếu tố, bao gồm khối lượng bài báo lớn và sẵn có, các tiến bộ trong công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (natural-language processing NLP), và nhu cầu tìm kiếm các giải pháp phòng dịch hiện nay. Các công này sẽ tìm kiếm ra những nghiên cứu phù hợp cho mỗi cá nhân nhà nghiên cứu, thậm chí một số có thể trích dẫn ra các kết quả nghiên cứu cụ thể trong đó. Theo bà Amalie Trewartha, trưởng nhóm phụ trách tìm kiếm nghiên cứu bằng công cụ CovidScholar (Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley tại Berkeley, California), các công cụ này không chỉ giúp ích cho nhu cầu ngăn ngừa dịch bệnh hiện tại mà còn giúp xác định đúng một giải pháp cho nhiều bài toán thuộc các hướng khác nhau, từ đó hỗ trợ cho những nghiên cứu đa ngành.   Tuy nhiên các công cụ AI hiện tại vẫn còn ở giai đoạn phát triển và hiệu quả của chúng chưa được chứng minh một cách rộng rãi. Chúng cũng chưa được dùng để ra các quyết định lâm sàng hay nghiên cứu. Theo Oren Etzioni, giám đốc điều hành của Viện AI Allen  (AI2) tại Seattle, Mỹ, “AI chưa giúp tìm ra ngay vaccine” nhưng hy vọng công nghệ mới có thể giúp các nhà nghiên cứu tập trung vào đúng nơi cần tìm, qua đó hỗ trợ và mở rộng khả năng phát triển tri thức.   Rút ngắn thời gian nhờ AI  Động lực cho những nỗ lực phát triển này là lời kêu gọi của văn phòng chính sách KH&CN của Nhà Trắng, mời gọi cộng đồng AI tìm kiếm và phát triển các công cụ khai thác dữ liệu khoa học Covid-19 vào ngày 16/3/2020. Để khởi động việc này, Nhà Trắng đã làm việc với một số tổ chức để cho ra Bộ dữ liệu nghiên cứu mở Covid-19 (Covid-19), bao gồm 13.000 bài báo nghiên cứu về virus SARS-CoV-2 và các virus corona khác. Viện AI2 đã định dạng lại các tệp này để giúp cho các thuật toán truy vấn dễ dàng hơn, cập nhật các bài báo mới thường xuyên và đến nay số lượng đã lên đến 68.000 bài báo và 67.000 bản tóm tắt. Theo đó cũng đã có hơn 10 công cụ ra đời. Anthony Goldbloom, giám đốc điều hành của trang Kaggle, một chi nhánh của Google tại San Francisco, California chuyên tổ chức các cuộc thi máy học, nhận định: “Bộ dữ liệu CORD-19 thật không ngờ đã rất hữu ích cho những bài thi thực tế.”    Sự gia tăng đột biến của các bài báo nghiên cứu về Covid-19.   Ngoài ra để định hướng cho các nhà nghiên cứu AI, Nhà trắng cũng đưa ra các câu hỏi ví dụ như: “Chúng ta đã hiểu gì về tính thích nghi (đột biến) của virus này”? Kaggle đã đưa hàng chục các câu hỏi này ra cho người dùng của họ và dành giải thưởng 1. 000 USD cho nhóm có câu trả lời tốt nhất. Sau đó các sinh viên Y khoa tình nguyện sẽ xếp loại kết quả và xác định câu trả lời tốt nhất và một bảng trong trang chính được cập nhật liên tục. Hiện đã có trên 1.000 tài khoản gửi thuật toán lên.   José Morey, trưởng bộ phận đổi mới sáng tạo của hãng nghiên cứu y khoa Liberty Biosecurity tại Arlington, Virginia đã dùng danh sách các tài liệu tham khảo mà công cụ đưa ra để chuẩn bị cho một bài báo tóm tắt những nhân tố rủi ro của Covid-19. “Bình thường chúng tôi cần vài tuần để tìm và tổng hợp lại, nay công cụ giúp chúng tôi làm trong vài ngày”, José cho biết.   Goldbloom cũng tổng hợp lại rằng các thành viên của Kaggle sử dụng hai phương pháp AI. Thứ nhất là phương pháp truy xuất thông tin truyền thống bằng cách tìm các từ khóa chính và phân tích các đoạn văn gần chúng. Phương pháp thứ hai là dùng trực tiếp các mạng nơ-ron học sâu (deep neural networks), một phương pháp học máy, để học trên một tập dữ liệu rất lớn và tìm ra các đoạn văn bản liên quan đến câu hỏi hay chủ đề nghiên cứu.       “AI chưa giúp tìm ra ngay vaccine” nhưng hy vọng công nghệ mới có thể giúp các nhà nghiên cứu tập trung vào đúng nơi cần tìm, qua đó hỗ trợ và mở rộng khả năng phát triển tri thức.      Trong giai đoạn hai của cuộc thi (kết thúc ngày 16 tháng 6), các thành viên sẽ tập trung vào việc tự động hóa công cụ và tổng hợp bảng kết quả các nghiên cứu về những vấn đề khác nhau của Covid-19 như nhân tố rủi ro hay phương pháp trị liệu.   Công cụ tìm kiếm  Cũng có rất nhiều công cụ khác ngoài Kaggle như Covid-19 Research Explorer của Google cho phép người dùng hỏi những câu hỏi như “Chẩn đoán phân tử nhanh của Covid-19 là gì?” Công cụ sẽ cho ra một danh sách các bài báo kèm với các đoạn văn liên quan. Theo Keith Hall, một nhà khoa học máy tính trưởng dự án của thành phố New York thì “Covid-19 Research Explorer” đã được sử dụng như một công cụ nghiên cứu y sinh ngay cả trước khi dịch bệnh lan truyền. Khi tình hình trở nên nghiêm trọng thì chúng ta có thể  hiểu và khẳng định rõ hơn sự hữu ích của các công cụ đó mà thôi. Tuy nhiên thì công cụ này chưa tích hợp hoàn toàn với các ứng dụng của Google khác.   CovidScholar là một công cụ khác phát triển từ Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley với một ô tìm kiếm đơn giản. Kết quả từ các nghiên cứu Covid-19 sẽ được các ứng dụng AI gán nhãn của các bài báo nghiên cứu liên quan, cùng với từ khóa và chủ đề. Ngoài ra còn có thêm chức năng lọc theo thuộc tính như chủ đề nghiên cứ, năm công bố, tình trạng duyệt bài và nguồn. Có nhiều bài báo nghiên cứu đã có trong bộ dữ liệu Covid-19 nhưng công cụ luôn tự dò và thu thập thêm tài liệu từ nhiều trang web khác nhau, Trewartha cho hay. Oscar Whitney, một nghiên cứu sinh sinh học tại University of California, Berkeley, sử dụng CovidScholar để viết bài nghiên cứu về thử nghiệm axit-nucleic cho Covid-19. Công cụ giúp anh tóm lược các tìm kiếm tốt hơn là Google Scholar hay PubMed, đôi khi chỉ ra được những bài báo mà anh chưa hề nghe nói đến. “Đây rõ ràng là công cụ tìm kiếm tài liệu nghiên cứu tốt nhất tôi từng dùng”, Oscar cho hay.   Một công cụ tìm kiếm khác từ AI2 là SPIKE-CORD không chỉ tìm kiếm bài báo nghiên cứu mà còn trích xuất thông tin trong đó. Công cụ này sử dụng ngôn ngữ truy vấn thông dụng, ví dụ như “thời gian ủ bệnh … từ ngày … đến ngày …” sẽ cho ra câu trả lời như “thời gian ủ bệnh kéo dài từ 3 đến 28 ngày”. Công cụ cũng cho phép tải về bảng số với những giá trị được tách cột riêng. Yoav Goldberg, giám đốc nghiên cứu tại AI2 Israel, cho biết  những câu truy vấn như vậy không đơn giản. Thông thường cần có chuyên gia ngồi viết code, nhưng với SPIKE-CORD thì mọi việc đã dễ dàng cho những người không thạo code nhờ công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên NLP.   Các công cụ khác  Nhưng công cụ khác có chức năng đa dạng hơn, ví dụ SciSight do AI2 hợp tác cùng Đại học Washington ở Seattle phát triển tích hợp đến 4 chức năng. Chức năng ‘tìm kiếm chủ đề’ cho ra một danh sách các bài báo theo 8 nhóm chủ đề như Can thiệp (ví dụ: vaccine), Kết quả (ví dụ phản ứng kháng thể), Tác giả và tạp chí. Chức năng ‘Mạng lưới khoa học’ lại tìm ra các nhóm nghiên cứu (hay đang cộng tác) về chủ đề tìm kiếm. Các chức năng khác lại cho ra mối quan hệ giữa bệnh lý và thuốc điều trị, giữa gene và các protein. Tất cả các chứng năng đều có giao diện hình ảnh và tương tác cao, có đường dẫn ẩn trong những từ khóa,… “Công cụ thực sự hiểu người dùng và cải tiến theo tương tác, rất hữu ích khi mà bạn chưa biết rõ bạn cần làm gì”, Tom Hope, trưởng dự án SciSight ở Seattle, cho biết.  Sravanthi Parasa, một nhà nghiên cứu lâm sàng và tiêu hóa tại Trung tâm Y khoa Thụy Điển tại Seattle, cho rằng chức năng ‘Mạng lưới bệnh lý – thuốc điều trị’ của SciSight thực sự là một “ý tưởng đột phá”. Bà cho rằng nó không chỉ phục vụ cho đợt dịch này mà với mỗi loại bệnh, công cụ có thể tìm ra những tương tác với thuốc bất thường mà bác sỹ không dễ nhận biết. Bà Parasa thường tìm kiếm điều này trên PubMed nhưng mất đến 10 đến 15 phút, giờ đây kết quả hiện ra trong nháy mắt.       “Công cụ thực sự hiểu người dùng và cải tiến theo tương tác, rất hữu ích khi mà bạn chưa biết rõ bạn cần làm gì”. (Tom Hope, trưởng dự án SciSight).      KnetMiner for Covid-19 là một công cụ khác từ Rothamsted Research, một tổ chức phi lợi nhuận ở Harpenden, Anh. Công cụ này duyệt qua văn bản trong các bài báo cũng như dữ liệu về kết nối gene, tương tác protein-protein hay biểu diễn gene để xây dựng một mạng lưới kiến thức giữa các bài báo, gene, thuốc, các loại bệnh và protein. Joseph Hearnshaw, một nhà khoa học y sinh của Rothamsted, sử dụng công cụ này để hiểu rõ hơn vì sao Covid-19 lại nguy hiểm với đàn ông hơn là với phụ nữ. Bà cho rằng công cụ đã tìm ra các mối quan hệ giữa các bệnh lý, hóc-môn và gene theo một cách khám phá thông minh. “Và chỉ cần vài phút tôi đã có thể đưa ra các giả thuyết và chia sẻ chúng với các nhà lâm sàng khác”, bà cho biết.  Công cụ Covid-19 Primer phát triển bởi Primer, một công ty phát triển công nghệ AI có trụ sở tại San Francisco, thì lại bổ sung thêm vào dữ liệu Covid-19 các nguồn dữ liệu khác bao gồm cả các trang tin và Twitter. Trang này cũng theo dõi các bài báo được thảo luận nhiều nhất, các chủ đề mới nổi và các trích dẫn xu hướng từ các nguồn tin tức, bao gồm Đài phát thanh công cộng quốc gia và FOXnews.com. Chúng sử dụng mô hình mạng neuron kết hợp với các mô hình truy xuất thông tin truyền thống. Nó cũng cho ra những danh sách nên đọc theo tổng thể hoặc theo 11 hướng nghiên cứu khác nhau.  John Bohannon, giám đốc khoa học tại Primer, nói rằng: “Người dùng hướng đến sẽ là những người trong giới nghiên cứu khoa học, tức là biết khá rõ tình trạng hiện thời của hướng nghiên cứu”. Khá bất ngờ, trang web đã thu hút những nhà nghiên cứu hàng đầu bao gồm Madeline Grade, một bác sĩ và nhà nghiên cứu y học khẩn cấp tại Đại học California, San Francisco. Bà Grade thấy Covid-19 Primer đặc biệt hữu ích ngay từ đầu cơn dịch khi mà mọi thông tin liên quan đến việc chăm sóc thay đổi hàng ngày. Vì có quá nhiều thông tin, bà cần có công cụ hỗ trợ cập nhật thông tin một cách có hệ thống mỗi ngày cho bệnh viện của Đại học. Trong bối cảnh “hỗn loạn” đó, ứng dụng Primer thực sự là một cứu cánh tuyệt vời để tìm ra thông tin thực sự cần thiết, bà cho biết.  Tiếp tục chiến đấu  Hiện giờ thì những công cụ/trang web này vẫn chỉ thu hút lượng truy cập không lớn lắm. Ví dụ như vào cuối tháng 5, Covid-19 Primer có 14,000 lượt view duy nhất hàng tháng, SciSight thì có 11,000 lượt view kể từ khi xuất hiện. CovidScholar có 500 lượt view mỗi ngày còn Covid-19 KnetMiner thì có tổng cộng con số tương đương. Cuộc thi của Kaggle là nơi có nhiều view nhất với 1.7 triệu lượt kể từ khi khởi động vào giữa tháng 3 2020. Trong số các nhà nghiên cứu Covid-19 chúng tôi đã liên hệ hầu hết đều không nghe nói về phần lớn các công cụ này. Và vẫn còn nhiều công cụ như vậy đang được phát triển trên khắp thế giới, bao gồm Vilokana ở Ấn Độ và CovidAsk ở Hàn Quốc.  Thật sự mà nói thì mọi thứ vẫn còn đang trong quá trình phát triển. “Mọi người cho rằng đây chính là xu hướng, bởi khoảng 5 năm nữa thì nhu cầu mới  thực sự bùng nổ”, Etzioni, một nhà phát triển công cụ cho biết. “Tôi không nói ngay đây là thị trường mà là một thử nghiệm. Chúng tôi chưa hoàn toàn sẵn sàng cho sự bùng nổ nhưng chúng tôi đã có mặt và ‘chiến đấu’ để làm tốt nhất có thể”.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-01733-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ bao bì có thể hòa tan trong nước hỗ trợ các ngành giảm thiểu tác động tới môi trường      Công ty khởi nghiệp PVA Pro có trụ sở tại TPHCM tuyên bố rằng họ vừa mới hoàn thiện công nghệ sản xuất Aquaflex, một loại nhựa gốc PVA – [CH2-CH-(OH)]n – có thể tan ra ngay khi gặp nước và không để lại dấu vết.     Các loại nhựa thông thường phải mất từ 20 – 100 năm để có thể gãy ra thành các mảnh nhựa nhỏ hơn, trong khi hầu hết các loại nhựa phân hủy sinh học phải đưa vào điều kiện môi trường đặc biệt (về nhiệt độ, áp suất, oxy, độ ẩm, vi sinh vật…) như trong các nhà máy ủ phân công nghiệp để giảm thời gian phân hủy còn 6 – 12 tháng.    Raphael Cazalbou, đồng sáng lập của PVA Pro nói rằng một vài công ty trên thế giới đã phát triển công nghệ tương tự và đã có sản phẩm hiện diện trên thị trường dưới dạng màng bọc viên giặt quần áo hoặc màng bọc thuốc, nhưng những vật liệu này chỉ sử dụng cho nước lạnh và không thích hợp để làm bao bì đóng gói.        Công nghệ của PVA Pro của họ có thể tạo ra các loại nhựa tan rã trong nước nóng khoảng 70 °C, nghĩa là nếu gặp mưa nhẹ hoặc bị bắn một vài giọt nước thì lớp bọc nhựa vẫn không bị phản ứng. Dĩ nhiên, chúng hoàn toàn có thể phân hủy trong môi trường nước lạnh nhưng phải mất thời gian lâu hơn, tới sáu tháng. Điều quan trọng là nếu chẳng may rơi xuống sông hồ hoặc đại dương, chúng có thể phân hủy thành CO2 và sinh khối để làm thức ăn cho động vật.    Ở điều kiện khô ráo bình thường, những vật liệu này không khác bao bì bình thường là mấy. Những tấm film Aquaflex trong suốt do PVA Pro chế tạo có độ bền gấp ba lần nhựa bình thường, không bị dính, có thể in hình và hàn dán nhiệt linh hoạt, do vậy chúng cực kì thích hợp để đóng gói các loại quần áo, phụ kiện, đồ điện tử. Tuy nhiên, chúng không dùng được với các loại đồ ăn, bởi độ ẩm từ thức ăn sẽ làm hỏng túi.    Một trong những công dụng lớn nhất của nhựa Aquaflex là có thể kết hợp với các vật liệu khác để thiết kế ra những sản phẩm có khả năng tái chế tốt hơn. Bởi các loại bao bì như túi giấy thường được làm từ hai lớp vật liệu khác nhau nên các nhà máy tái chế phải vật lộn để sử dụng hóa chất tách chúng ra và đó là một quy trình tốn kém. Chính vì thế, lượng bao bì được tái chế chỉ chiếm không tới 10%. Đối với các loại túi giấy có phủ một lớp Aquaflex, chỉ cần nghiền ở nhiệt độ khoảng 40 °C là lớp nhựa sẽ tan vào trong nước và đi vào nước thải của nhà máy một cách an toàn.    Đồng sáng lập Jonathan Sourintha nói rằng các loại nhựa tan trong nước là một vật liệu tuyệt vời cho nền kinh tế tuần hoàn. Ông không tiết lộ về công nghệ tạo ra sản phẩm này mà chỉ cho biết chúng được chuyển giao từ các nghiên cứu tại Anh Quốc và họ không có ý định đăng ký độc quyền sáng chế để bảo vệ bí mật kinh doanh. Bốn tháng trước, startup này đã hoàn thiện dây chuyền sản xuất ở An Giang để sẵn sàng sản xuất bao bì trên quy mô lớn.    Lý giải việc lựa chọn Việt Nam là nơi đầu tiên đặt nhà máy sản xuất, công ty cho hay Việt Nam là một trong những công xưởng sản xuất hàng hóa lớn của thế giới, do vậy các nhà máy sẽ có nhu cầu tiếp cận với những loại bao bì thân thiện với môi trường để đóng gói hàng xuất khẩu sang các nước châu Âu và Mỹ.    Trên thực tế, PVA Pro đã bắt đầu gặp gỡ những công ty lớn trong ngành dệt may, đồ điện tử, đồ gia dụng và đồ chơi để giới thiệu sản phẩm của mình. Chia sẻ tại Techfest 2022, các nhà đồng sáng lập nói rằng họ có thể cung cấp các loại bao bì ở Việt Nam với chi phí thấp hơn hẳn các sản phẩm phân hủy sinh học từ châu Âu hoặc Nhật Bản, thậm chí là từ Trung Quốc.    Trên thế giới, ngành sản xuất bao bì phân hủy sinh học đã đạt giá trị hơn 13 tỷ USD vào năm 2021. Tuy vậy, chúng vẫn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn (5%) so với bao bì nhựa và bao bì giấy. Các chuyên gia tin rằng xu hướng này sẽ sớm thay đổi bởi nhiều quốc gia đang thắt chặt lệnh cấm sản xuất nhựa dùng một lần, các loại bao bì nhựa khó phân hủy và hàng hóa chứa vi nhựa do lo ngại tác hại của chúng với môi trường và sức khỏe con người.    Việt Nam, một trong những nước có lượng rác thải nhựa lớn nhất trên thế giới, cũng quyết định sẽ cắt giảm nhựa thông thường từ năm 2025 và đóng cửa các nhà máy sản xuất bao bì nhựa khó phân hủy của mình vào cuối năm 2030.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Công nghệ bùng nổ: Giới toán và công nghệ cần một lời thề Hippocrates      Các ứng dụng thuật toán ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và mang lại rất nhiều lợi ích. Nhưng thuật toán cũng có đầy những thiên kiến cùng các quyết định sai. Vậy làm cách nào để hạn chế điều đó?         Sử gia Yuval Harari, tác giả cuốn Homo Sapien, từng nhận định: “Bạn sẽ chấp nhận cung cấp cho các công ty Google hay nhà nước những dữ liệu về cơ thể bạn – đổi lại bạn sẽ có một cuộc sống có tuổi thọ cao hơn”. Trong ảnh là minh họa về hoạt động thu thập và phân tích dữ liệu gene của 23andMe trên tờ Financial times.   Chúng ta cần một lời thề Hippocrates giống như cách mà giới y học đã làm,” Hannah Fry, phó giáo sư toán đô thị tại Đại học London (UCL) nhấn mạnh. “Trong y học, bạn học về đạo đức ngay từ ngày đầu. Trong toán học và công nghệ cũng vậy, cần phải ưu tiên bổ sung quy định đạo đức ngay từ đầu và là kim chỉ nam cho mỗi bước đi của bạn”.  Hannah Fry, cho biết, tương đương với lời thề của bác sĩ, lời thề đạo đức dành cho các nhà toán học và kỹ sư máy tính cũng vô cùng quan trọng, bởi họ là những người đang xây dựng công nghệ định hình tương lai xã hội. Trước sự phát triển bùng nổ của các công nghệ mới, có thể tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống con người, thì các nhà toán học, kỹ sư máy tính và nhà khoa học trong các lĩnh vực liên quan cần một lời thề Hippocrates để bảo vệ công chúng trước lợi ích của những công ty công nghệ đầy quyền năng.   Cam kết đạo đức sẽ khiến các nhà khoa học cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc nghiên cứu các ứng dụng khả thi và buộc họ chỉ theo đuổi những công nghệ – mà tối thiểu – phải không gây hại cho xã hội.  Fry nghiên cứu về sức mạnh và những hiểm họa của toán học hiện đại và tháng 12 tới đây, cô sẽ giảng bài trên chương trình khoa học dành cho đại chúng Royal Institution Christmas Lectures 2019 [Chuỗi bài giảng Giáng sinh của Học viện hoàng gia]. Đây là chương trình phổ biến khoa học cho đại chúng uy tín nhất ở Anh, bắt đầu được triển khai từ năm 1825, có sự tham gia của các nhà khoa học uy tín kể từ thời nhà vật lý Michael Faraday đến nhà vũ trụ học Carl Sagan ngày nay.  Trong chuỗi ba bài giảng về Bí mật và Lời nói dối: Sức mạnh Tiềm ẩn của Toán học, Fry sẽ nghiên cứu các trường hợp may mắn và rủi ro, từ việc tìm kiếm đối tác hoàn hảo đến việc duy trì sức khỏe và sự hạnh phúc. Cô cũng sẽ nghiên cứu về quá trình các thuật toán “nuốt chửng” dữ liệu, xâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống chúng ta như thế nào, cũng như những vấn đề mà toán học nên tránh xa; và chúng ta phải làm gì khi các con số không còn đáng tin nữa.  Fry cho biết cô nhận thấy các “điểm mù” đạo đức đang tồn tại trong giới khoa học khi đang trình bày về một mô hình máy tính mô tả các cuộc nổi loạn năm 2011, mà cô đã thực hiện cho sở cảnh sát Metropolitan trong một hội thảo ở Berlin. Các cử tọa, có hiểu biết về thực trạng kiểm soát của chế độ chuyên chế cảnh sát kiểm soát, đã truy vấn cô về vấn đề đó. Khi trở về London, Fry nhận ra rằng các nhà toán học, kỹ sư máy tính và nhà vật lý đã quen với việc giải quyết các vấn đề chuyên môn trừu tượng đến mức họ hầu như không bao giờ dừng lại để cân nhắc về những khía cạnh đạo đức trong việc ứng dụng các nghiên cứu của họ.  Nhưng vấn đề này đã trở nên cấp bách khi các nhà nghiên cứu đang xây dựng các hệ thống nhằm thu thập và bán dữ liệu cá nhân, khai thác các nhược điểm cá nhân của con người và đưa ra các quyết định một mất một còn. Có thể nói ví von là, “chúng ta có những công ty công nghệ, trong đó đầy những cậu bé còn rất trẻ và thiếu kinh nghiệm, thường là những cậu bé da trắng chỉ ở trong môi trường toán học và khoa khoa học máy tính,” Fry nói.  “Họ chưa bao giờ được yêu cầu suy nghĩ về khía cạnh đạo đức, họ chưa bao giờ được yêu cầu xem xét về cách người khác nhìn nhận cuộc sống có gì khác biệt so với họ, nhưng rốt cục, đây là những người đang định hình tương lai cho tất cả chúng ta.”  Quan điểm cần có lời thề Hippocrates dành cho các nhà khoa học đã từng được đưa ra thảo luận trước đây, trong đó có cả nhà triết học Karl Popper, người đã viết vào năm 1969: “Một trong số ít những điều mà chúng ta có thể làm được là cố gắng đánh thức nhận thức của tất cả các nhà khoa học về trách nhiệm mà họ cần phải có.” Ba mươi năm sau, Ngài Joseph Rotblat, GS Toán Đại học London, người đã từ bỏ dự án nghiên cứu bom hạt nhân của phe Đồng minh vì lý do đạo đức và nhận giải Nobel Hòa bình năm 1995, đã tán thành một cam kết do nhóm sinh viên Mỹ Pugwash khởi thảo về việc cần phải “nghiên cứu có trách nhiệm, không gây hại cho xã hội và môi trường”. Ông cũng đồng thời viết một bài trên tạp chí Science năm 1999 về việc cần có lời thề Hippocrates trong khoa học.  Fry cho biết cô không chống lại các thuật toán mà muốn giúp công chúng hiểu rõ về những hạn chế của chúng. Cô trích dẫn trường hợp của cuốn sách giáo khoa kinh điển The Making of a Fly của nhà sinh vật học người Anh Peter Lawrence. Có thời điểm, chỉ vì sự nhầm lẫn trong tính toán của các lệnh toán nhằm đẩy giá lên cao và có lãi nhất, mà cuốn sách này đã bị đẩy giá lên tới 23 triệu USD. Còn Fry thì đã xóa tài khoản Facebook của mình và sử dụng tên giả cho các địa chỉ email trực tuyến, cho biết cô cũng tin rằng công chúng phải chịu trách nhiệm trong việc các sản phẩm do các hãng công nghệ đưa ra.      Các nhà toán học, kỹ sư máy tính và nhà vật lý đã quen với việc giải quyết các vấn đề chuyên môn trừu tượng đến mức họ hầu như không bao giờ dừng lại để cân nhắc về những khía cạnh đạo đức trong việc ứng dụng các nghiên cứu của họ.      “Chúng ta có được công nghệ mà mình yêu cầu. Nhưng việc có một cuộc trao đổi mang tầm quốc gia về những gì chúng ta thực sự muốn là vô cùng quan trọng. Bởi vì khả năng cao là chúng ta vẫn cứ đưa ra những quyết định tán thành trong khi vẫn chưa có được một cái nhìn đầy đủ về chúng.”  “Công ty cung cấp dịch vụ xét nghiệm di truyền, 23andMe, là một trường hợp điển hình,” cô lấy thêm ví dụ. “Chúng ta thực sự trao cho họ dữ liệu riêng tư nhất, đó là DNA của bản thân, nhưng sự chấp thuận này không chỉ là vấn đề của riêng chúng ta, mà còn là vấn đề của con cháu chúng ta. Có thể hiện tại chúng ta không sống ở một thế giới, nơi mọi người bị phân biệt đối xử về mặt di truyền, nhưng ai dám nói rằng trong 100 năm tới chúng ta sẽ không làm thế? Và chúng ta đang trả tiền để gửi thêm DNA của bản thân vào bộ dữ liệu đó.”      Hannah Fry: “Tương lai không tự dưng mà xảy ra. Chúng ta đang xây dựng nó, và chúng ta đang xây dựng nó mọi lúc”. Ảnh: Paul Wilkinson/ TheGuardian.    Câu trả lời nằm ở việc phải trang bị kiến thức cho tất cả mọi người. “Tương lai không tự dưng mà xảy ra. Chúng ta đang xây dựng nó, và chúng ta đang xây dựng nó mọi lúc. Cần một cuộc thảo luận ở tầm quốc gia về điều đó, những gì mọi người đang phát biểu trên phương tiện truyền thông, những gì mọi người đang bàn luận trên Twitter và trên Instagram, tôi tin rằng chúng tạo ra sự khác biệt.”   “Một trong những vấn đề mà toán học phải chống lại, đó là những giá trị của nó không thể trực tiếp nhìn thấy được,” Fry nói. “Các nhà toán học không thể nhận thấy được sự bùng nổ [của vấn đề này] chỉ từ góc nhìn của riêng mình. Nhưng mặc dù không thể nhìn thấy được, toán học vẫn tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của chúng ta, và tại thời điểm này trong lịch sử, điều đó lại càng trở nên đúng đắn hơn bao giờ hết.” □  Đinh Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2019/aug/16/mathematicians-need-doctor-style-hippocratic-oath-says-academic-hannah-fry    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ cao ở những nông trại nhỏ      Kết nối người nông dân với các kỹ sư công nghệ, Farm Hack đã đưa nông nghiệp thông minh vào các nông trại gia đình với chi phí thấp.      Một sự kiện của Farm Hack tổ chức tại MIT,  những người nông dân ngồi cùng với các  kỹ sư để lên kế hoạch triển khai ý tưởng của mình.  Ben Shute, chủ nông trại nhỏ1 Hearty Roots ở New York, sở hữu một nhà kính cách đó vài chục cây số. Anh muốn có một công cụ điều khiển nhiệt độ trong nhà kính và cảnh báo khi các điều kiện ở đây ngoài mức cho phép từ xa nhưng lại không muốn mua sẵn trên thị trường vì các thiết bị này đòi hỏi kết nối internet hoặc điện thoại thông minh. Anh muốn làm một bộ điều khiển riêng.  Nông nghiệp công nghệ cao gặp gỡ nông nghiệp truyền thống  Đúng là có rất nhiều phần cứng và phần mềm nguồn mở trên thế giới chia sẻ miễn phí các tài nguyên và dự án để tất cả mọi người đều có thể làm theo hoặc sáng tạo ra những công cụ phù hợp với điều kiện của mình nhưng điều đó không dễ dàng, đặc biệt là với những người không quen thuộc với điện tử và lập trình phần mềm. Nói cách khác, các tài nguyên cho phép người nông dân chế tạo ra các thiết bị thông minh quản lý quy trình sản xuất hiệu quả và bền vững hơn là sẵn có nhưng đa số không đủ khả năng sử dụng các tài nguyên này. Ben Shute trong câu chuyện phía trên cũng không thể tự làm một mình được.  Đó là một trong những lí do mà Farm Hack – một cộng đồng nguồn mở ở Mỹ hỗ trợ người nông dân áp dụng nông nghiệp thông minh vào nông trại của mình. Năm 2011, những người đứng đầu Liên hiệp Nông dân trẻ quốc gia (National Young Farmers’ Coalition – NYFC) và the Greenhorns (một tổ chức phi lợi nhuận ra đời với mục đích gây dựng một thế hệ nông dân mới của Mỹ) nhận được lời đề nghị từ Học viện Công nghệ Masachusset (MIT) tổ chức một sự kiện kết nối những kĩ sư trình độ cao với những người nông dân tình cờ đúng lúc họ đang chuẩn bị mở một blog để phổ biến kiến thức về công nghệ trong nông nghiệp và Farm Hack ra đời từ đó.  Thành công của sự kiện ban đầu đã mở ra cơ hội cho các sự kiện tiếp theo, thu hút một cộng đồng đa dạng ngành nghề quan tâm đến nông nghiệp bao gồm nông dân, kỹ sư điện tử, các kỹ sư cơ khí, kỹ sư phần mềm, kiến trúc sư, nhà thiết kế… Họ và những người sáng lập cùng hợp nhau lại ở New Hampshire để đưa ra ý tưởng và triển khai website, diễn đàn, sự kiện và kế hoạch chiến lược để mở rộng và phát triển cộng đồng.  Với quan điểm kết hợp giữa nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp công nghệ cao trong các trang trại nhỏ, Farm Hack tổ chức các cuộc tọa đàm giữa những người nông dân khởi nghiệp, những người quan tâm đến nông nghiệp và những người nông dân giàu kinh nghiệm để chia sẻ kiến thức và các buổi gặp gỡ giữa những người nông dân và những kỹ sư công nghệ để chia nhóm cùng thảo luận và phác thảo các dự án nhằm sáng tạo, điều chỉnh hoặc áp dụng các công nghệ phù hợp trong việc canh tác, thu hoạch với chi phí tiết kiệm nhất. Sau đó, họ ghi chép lại từng bước thực hiện dự án và lưu trữ trên website farmhack.net để chia sẻ miễn phí cho cộng đồng. Website của Farm Hack vì thế đóng vai trò như một nguồn mở về các dự án công nghệ phục vụ cho nông nghiệp. Hiện nay, có hơn 100 dự án đang được chia sẻ tại đây.  Bắt đầu với một cộng đồng Farm Hack ở Massachusset, Farm Hack đã mở rộng ra nhiều cộng đồng ở nhiều tiểu bang khác nhau bao phủ khắp vùng Đông Bắc nước Mỹ. Mỗi một cộng đồng ở địa phương đều do một người có ảnh hưởng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiểu rõ nhu cầu và thế mạnh của người dân tại đây khởi xướng và bắt buộc phải liên kết được một trường đại học hoặc một tổ chức phi chính phủ với các nông dân và nông trại địa phương, đúng như tinh thần của Farm Hack đầu tiên với sự liên kết giữa NYFC, the Greenhorns và MIT.  Trở lại với câu chuyện đầu tiên về người chủ nông trại Ben Shute, anh đã gặp được hai kỹ sư tại sự kiện Farm Hack diễn ra ở New Hampshires. Hai kỹ sư này đã đề xuất giải pháp sử dụng phần cứng nguồn mở Arduino để làm bộ điều khiển và tiếp tục tới nông trại của Ben để nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm. Họ cũng xin được một khoản tài trợ nhỏ của Bộ Nông nghiệp Mỹ để phát triển thiết bị này. Kết quả của dự án là FIDO, một thiết bị ghi lại dữ liệu, điều khiển và cảnh báo về nhiệt độ nhà kính thông qua việc gửi tin nhắn SMS vào điện thoại di động. Hiện nay, Ben Shute vẫn dùng bộ điều khiển này cho nhà kính của anh, còn một trong hai kỹ sư đã khởi nghiệp với bộ điều khiển nhà kính cơ bản dành cho người nông dân, chủ các nông trại nhỏ.  Nông trại gia đình bị bỏ ngỏ  Farm Hack ra đời đã thu hút nhiều sự chú ý của dư luận Mỹ vì trước đây số đông cho rằng chưa thể áp dụng những giải pháp nông nghiệp thông minh và đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững ở các trang trại nhỏ vì các thiết bị và phần mềm phân tích dữ liệu lớn để kiểm soát tưới tiêu, phân bón, và robot gieo hạt không cần cày xới làm xói mòn đất là rất tốn kém. Tuy nhiên, những vấn đề mà Farm Hack đang giải quyết cũng hé lộ một số điểm yếu của ngành cơ khí nông nghiệp Mỹ, chưa thực sự kích thích người nông dân đổi mới sáng tạo.  Những dự án trên Farm Hack là do cộng đồng làm chủ và họ có thể tùy ý điều chỉnh và thay đổi những công cụ này sao cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện của họ, nhưng họ không thể làm như vậy với các thiết bị mua sẵn. Bài viết trên tạp chí về công nghệ nổi tiếng của Mỹ Wired nhấn mạnh điều đó với tựa đề “Các thiết bị công nghệ cao trong nông nghiệp là ác mộng đối với người nông dân”. Tác giả đưa ra ví dụ về một người nông dân loay hoay không thể điều chỉnh thời gian hay thu thập dữ liệu từ hoạt động của chiếc máy kéo chỉ vì anh không thể “tiếp cận” được bộ điều khiển động cơ: không cắm được vào máy tính vì không có phần mềm tương thích mà nếu xoay sở tìm được phần mềm tương thích thì cũng không mở được vì cần mật khẩu của hãng sản xuất. Cuối cùng, nếu cố sửa chữa thì có thể người nông dân này sẽ bị vi phạm Đạo luật về Bản quyền kỹ thuật số Thiên niên kỷ của Mỹ.  Ở Mỹ, các nông trại nhỏ chiếm 78% đất nông nghiệp và sản xuất 84% sản phẩm nông nghiệp nước này2 nhưng họ hạn chế áp dụng các công nghệ cao vì chi phí đầu tư lớn. Số đông quan niệm rằng, các sản phẩm công nghệ cao là dành cho những trang trại có quy mô công nghiệp nên các sản phẩm này rất đắt đỏ. Đa số các công ty sản xuất phần mềm hay máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp đều không quan tâm đến thị trường dành cho các nông trại gia đình. Hơn nữa, các nhà khoa học cũng không dành sự chú ý cho đối tượng này. Mặc dù họ nghiên cứu tất cả công nghệ phục vụ nông nghiệp nhưng mục đích chính là áp dụng cho những trang trại lớn để tăng năng suất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ cao trong chiến dịch truy lùng Bin Laden      Trong chiến dịch săn tìm và truy sát trùm khủng bố Osama Bin Laden, CIA và đội đặc nhiệm hải quân Mỹ đã sử dụng thành công một số thiết bị công nghệ tối tân. Có thể nói công nghệ cao đã góp phần quan trọng giúp đội đặc nhiệm hoàn thành vụ tập kích thần kỳ có tên Cuộc hành quân Ngọn giáo thần Biển (Operation Neptune Spear) diễn ra vào đêm Chủ nhật 1/5/2011 tại thị trấn Abbottabad, Pakistan.    Các thành tựu công nghệ cao mới nhất thu được trong thập niên vừa qua đã tạo điều kiện cho hành động của đội đặc nhiệm đạt độ chính xác “như trong phẫu thuật ngoại khoa”, khiến cho chỉ sau vài phút là họ hoàn tất việc nhận dạng tên trùm khủng bố — báo Thế giới (Tây Ban Nha) nhận xét. Nhờ đó đội đặc nhiệm có thể yên tâm trở về căn cứ xuất phát chỉ sau 38 phút làm nhiệm vụ tại nơi tác chiến.  Việc xác định nhân thân của Bin Laden là nhiệm vụ khó khăn nhất và quan trọng nhất của chiến dịch này. Nếu đối thủ đội đặc nhiệm săn lùng được không phải là Bin Laden thì sứ mạng của họ coi như thất bại và hậu quả sẽ làm mất thể diện của nước Mỹ và trước hết là Tổng thống Obama — người dám đánh cuộc toàn bộ sinh mạng chính trị của mình vào vụ tập kích mạo hiểm trên lãnh thổ một nước đồng minh của Mỹ mà không báo trước cho họ biết. Nhưng nếu sứ mạng này thành công thì uy tín của nước Mỹ và của Tổng thống Obama sẽ được nâng cao đáng kể. Nước Mỹ từng có bài học nhớ đời sau thất bại cay đắng trong chiến dịch giải cứu con tin Mỹ bị bắt cóc tại Iran năm 1979 — sự kiện làm cho Tổng thống Jimmy Carter mất uy tín nặng nề và vì thế bị Ronald Reagan đánh bại trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1980.  Đội đặc nhiệm đã sử dụng công nghệ cao sinh trắc học (High-tech biometrics) để thực hiện nhiệm vụ nói trên trong vòng có vài phút. Một số công việc trắc định này được làm ngay tại chỗ, một số được thực hiện tại nơi cách xa họ hàng nghìn km nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật vô tuyến điện. Một nguồn tin nói đội đặc nhiệm mang theo thiết bị nhận dạng điện tử SEEK II loại xách tay, có chức năng lấy vân tay, quét mống mắt (iris scans), tiến hành nhận dạng khuôn mặt (facial recognition) và thu thập các dữ liệu sinh học khác; trong vòng vài giây đồng hồ, những dữ liệu này lập tức được truyền về các kho dữ liệu ở Mỹ. Nhờ vậy việc nhận dạng kẻ bị truy sát đã hoàn thành trong thời gian ngắn đáng kinh ngạc.  Có tin nói khi đội đặc nhiệm vừa trông thấy kẻ sắp bị họ hạ sát trong phòng ngủ ở tầng ba, họ đã biết chắc hắn chính là Bin Laden. Trước đây CIA từng dùng kỹ thuật phân tích ảnh để xác định chiều cao của hắn là 6 foot và 4 inch. Số liệu này được dùng để so sánh với ảnh chụp tức thời từ camera gắn trên mũ lính đặc nhiệm khi phát hiện đối tượng. Ngoài ra người đàn bà mà họ tin chắc là vợ hắn khi xông ra ngăn chặn đội đặc nhiệm đã gọi tên Bin Laden — đây là một chứng cớ khẳng định đúng là hắn.    Dĩ nhiên, vũ khí cuối cùng được dùng để chứng minh nhân thân của nghi can bị săn lùng phải là giám định DNA. Lính đặc nhiệm đã lấy những mẩu mô trên xác nghi can và gửi về phòng thí nghiệm của FBI để xét nghiệm. Các mẩu mô ấy có thể cung cấp mẫu DNA dùng để so sánh với mẫu DNA được lưu trữ từ trước.   Độ chính xác giảm định sẽ đạt mức cao nhất khi so sánh DNA thu được từ xác Bin Laden với mẫu DNA của chính hắn. Tiến sĩ George Michalopoulos, Chủ nhiệm khoa Bệnh lý học trường Đại học Pittsburgh cho biết: “Mỹ còn lấy được các mẫu DNA từ nơi Bin Laden từng cư trú trong nhiều năm và đó là cách tốt nhất để xác định thi hài kẻ bị hạ sát có đúng là Bin Laden hay không. Cách chính xác nhất là so sánh vết máu của nghi can với vết tích nào đó y để lại trên chiếc bàn chải răng hay chiếc lược mà y từng dùng. Còn so sánh với mẫu DNA của người thân trực tiếp như cha mẹ hoặc con cái y (điều Mỹ đã thực hiện sau vụ 11/9) thì độ chính xác cũng lên tới 95%”.   Giáo sư Federic Zenhausern ở Đại học Arizona nói: “Trong trường hợp anh chị em ruột thì độ chính xác thấp hơn, có thể kém 1 hoặc 0,5%”.   Trên thực tế, FBI đã lưu trữ được các mẫu DNA lấy từ bà chị ruột của Bin Laden sau khi bà này chết do u não tại Boston (Mỹ) cách đây vài năm, và các mẫu này nay được dùng để so sánh với DNA của Bin Laden — tạp chí TIME cho biết.  Thông thường xét nghiệm gene ở phòng thí nghiệm cần 14 ngày nhưng sử dụng thiết bị trắc nghiệm nhanh DNA Rapid DNA Testing machine do GS Zenhausern phát minh thì chỉ cần 2 giờ.  Không rõ người Mỹ đã dùng cách nào để giám định sự tương hợp DNA của hai chị em Bin Laden. Theo báo Chicago Sun-Times thì có thể họ đã sử dụng một phòng thí nghiệm xách tay loại mới nhất.  Từ tháng 8/2010, CIA thuê một căn nhà trong thị trấn Abbottabad và bố trí người làm nhiệm vụ bí mật phát hiện và xác định (Find and Fix) nhân thân của kẻ sống tại khu nhà họ nghi là có một tay trùm Al-Qaeda đang ẩn náu. Sử dụng máy ảnh lắp ống kính telephoto, máy nghe trộm và radar, họ đã quan sát và lấy được các thông tin cần thiết từ đối tượng. Cuối cùng, tháng 2 năm nay, CIA đã khẳng định 100% là Bin Laden đang ở trong tòa nhà bị theo dõi. Chỉ sau đấy CIA mới lên kế hoạch truy sát hắn.  Ngoài ra các vệ tinh quân sự và máy bay không người lái của Mỹ từng nhiều lần tiến hành quan sát, chụp ảnh nơi ẩn náu của Bin Laden và phân tích các thay đổi.  Hai chiếc máy bay lên thẳng Black Hawk chở toán đặc nhiệm tấn công dinh cơ Bin Laden nửa đêm Chủ nhật ngày 1 tháng 5 cũng là loại máy bay tàng hình có khả năng tránh bị hệ thống radar của quân đội Pakistan phát hiện (mặc dù có tin không chính thức từ truyền thông Mỹ là hai máy bay này cất cánh từ một sân bay của Pakistan?). Công nghệ cao được sử dụng trong thiết kế giảm tiếng ồn của động cơ máy bay, tới mức ngay những người dân xung quanh khu nhà bị tấn công cũng không nghe thấy tiếng máy bay giữa nửa đêm yên tĩnh! Rõ ràng, nếu động cơ máy bay không được giảm ồn thì rất có thể Bin Laden đã nghe thấy tiếng máy bay và kịp đào tẩu trước khi  đội đặc nhiệm Mỹ tới nhà hắn.                Chắc hẳn đội đặc nhiệm hoàn toàn sử dụng súng giảm thanh cho nên sau khi đã nổ súng hạ sát 3 người đàn ông ở tầng trệt và cầu thang, họ lên tầng trên, xông vào phòng ngủ của Bin Laden thì hắn vẫn còn đang nằm trên giường cùng vợ và lũ trẻ con. Vợ hắn chạy ra lấy thân mình che cho chồng và bị bắn vào chân, còn hắn thì hoàn toàn không kịp trở tay sau khi vùng dậy và lập tức bị hai viên đạn ghim trúng mắt và ngực.  Lính đặc nhiệm đã sử dụng thiết bị ngắm bắn ban đêm và thiết bị cảm nhận được thân nhiệt của con người, có thể xác nhận chỗ nào có người ẩn nấp dù người đó ngụy trang khéo đến đâu.   Cuối cùng phải kể đến một thứ mà không một thiết bị công nghệ cao và con người nào có thể thay thế trong việc săn tìm người và vật — đó là chó nghiệp vụ (Military Working Dog).   New York Times cho biết đội đặc nhiệm mang theo một chú chó nghiệp vụ “dũng cảm nhất nước Mỹ”.   Một nguồn tin cho biết chú chó ấy tên là Cairo, thuộc chủng chó Malinois của Bỉ.  Chưa thấy ai nói gì về công trạng của chú chó này, nhưng người ta có thể tưởng tượng nó phải được mặc áo chống đạn và đeo các thiết bị cần thiết như camera chuyển phát hình ngay cho chiến binh trông coi nó hoặc đèn chiếu sáng khi đi vào chỗ tối. Theo trang mạng animals.com thì chó nghiệp vụ tốt nhất được chọn lọc từ chó chăn cừu của Đức (German shepherd) hoặc giống chó Malinois của Bỉ, sau đó được huấn luyện rất nghiêm ngặt. Chúng có thể tìm ra đối tượng săn lùng trong điều kiện không có ánh sáng và đặc biệt chúng có khả năng tìm ra thuốc nổ, bom mìn nhanh hơn bất cứ thiết bị hoặc chuyên viên siêu hạng nào. Chó còn dùng để đuổi và bắt sống kẻ chạy trốn mà không cần bắn, vì chúng chạy nhanh gấp đôi con người. Nghe nói chính là một chú chó nghiệp vụ đã phát hiện ra cựu Tổng thống Iraq Saddam Hussein khi ông ta ẩn náu trong cái hầm ngầm nhỏ tí được ngụy trang khéo léo không ai ngờ tới.   Tuy Nhà Trắng phủ nhận việc quá trình vụ tập kích được truyền hình trực tiếp về Washington để Tổng thống Obama và các quan chức cấp cao nhất theo dõi tức thời, nhưng nhiều người cho rằng điều đó hoàn toàn có thể thực hiện được bằng thiết bị truyền hình gắn trên mũ lính đặc nhiệm. Không phải ngẫu nhiên mà sau đó Tổng thống Obama nói: giám sát cuộc tấn công của đội đặc nhiệm nhằm vào Bin Laden là “40 phút dài nhất trong cuộc đời tôi”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ chế biến và bảo quản nâng cao giá trị trà đen       Nghiên cứu về công nghệ và hệ thống thiết bị bảo quản chè đen do TS Nguyễn Năng Nhượng thuộc Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chủ trì được đánh giá là góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu chè đen của Việt Nam.    Đây là kết quả từ đề tài “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị bảo quản chè bằng tổ hợp Silo có sử dụng bơm nhiệt”, mã số KC.07.04/11-15 thực hiện từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2014.   Khi bắt tay vào thực hiện đề tài, TS Nguyễn Năng Nhượng và cộng sự đặt mục tiêu xác định chế độ phù hợp để sấy lại chè đen CTC (Crushing – Tearing- Curling: xay – băm nhỏ – đóng gói) bằng bơm nhiệt và lắp đặt hệ thống thiết bị bảo quản chè bằng tổ hợp silo có sử dụng bơm nhiệt.   Trên thực tế, Việt Nam là nước có lượng xuất khẩu chè lớn nhưng nguồn thu từ xuất khẩu chè lại không được như kỳ vọng bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề về chất lượng chè thiếu ổn định.   Vì vậy, đề tài của TS Nguyễn Năng Nhượng chủ yếu tập trung vào hai công đoạn là chế biến và bảo quản. Trước hết, ông xác định chế độ phù hợp để sấy lại chè đen CTC bằng bơm nhiệt.   Sau đó, để sản phẩm chè đen được bảo quản tốt mà vẫn đảm bảo chất lượng, TS Nhượng đã dùng hệ thống silo, những tháp cao cách nhiệt hai lớp có khả năng cách được nhiệt bên ngoài và thoát được nhiệt từ bên trong ra. Theo thiết kế, các silo có sức chứa 10 tấn chè đen CTC/một Silo, được làm bằng vật liệu Inox Su 304, bên trong bố trí kênh phân phối khí trao đổi nhiệt ẩm.   Dây chuyền công nghệ do TS Nhượng thiết kế gồm các hệ thống thiết bị MAHPD, thiết bị vận chuyển chè đen CTC bằng khí động và tổ hợp Cyclon, thiết bị định lượng và thiết bị phối trộn đồng thể chè, thiết bị cân và đóng bao được điều khiển tự động với các phần mềm được viết sẵn để người vận hành có thể giám sát mọi công đoạn bằng máy tính. Sản phẩm chè đen từ dây chuyền này đảm bảo được các yêu cầu, tiêu chuẩn khắt khe về nhiệt độ, độ ẩm, định lượng đóng gói, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Đặc biệt chế độ bảo quản chè đen CTC trong môi trường khí điều biến đem lại kết quả đáng mừng: sau chín tháng bảo quản thử nghiệm, chất lượng chè đen vẫn được đảm bảo và không có khác biệt nhiều so với chè ban đầu.  Kết quả nghiên cứu này của TS Nhượng đã được đưa vào ứng dụng tại công ty TNHH một thành viên chè Á Châu Phú Thọ thuộc Công ty TNHH chè Á Châu, xã Ngọc Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, và đem lại kết quả bước đầu rất khả quan.   Thành công của đề tài nghiên cứu được hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng chè đen CTC, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm chè Việt Nam trên thị trường thế giới.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ chế tạo đá mài cao tốc thay thế hàng nhập ngoại      Công nghệ chế tạo đá mài cao tốc phục vụ cho  các nhà máy cơ khí tại Việt Nam do TS Nguyễn Thị Phương Giang (Viện Cơ  khí, Đại học Bách khoa Hà Nội) nghiên cứu ra, phù hợp với các tiêu chuẩn  quốc tế và có thể thay thế sản phẩm nhập ngoại.    Theo kết quả nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Phương Giang và nhóm cộng sự Viện Cơ khí, ĐH Bách khoa, cách pha chế thủy tinh nước, tỷ lệ phần trăm pha chế và công nghệ luyện ra hạt mài đã cho ra đời sảm phẩm đá mài chất lượng cao.   Sản phẩm của đề tài được chế tạo từ nguyên vật liệt trong nước như hạt mài corundum nâu do công ty đá mài Hải Dương sản xuất, đất sét trắng của Trúc Thôn cùng một số nguyên liệu khác.   Khi đánh giá các sản phẩm đá mài này, TS Nguyễn Thị Phương Giang đã tiến hành so sánh nó với sản phẩm ngoại nhập theo những tiêu chuẩn đánh giá khả năng cắt của nó như độ cứng, độ bền khi làm việc ở tốc độ 45-60m/s… Kết quả, sản phẩm từ công nghệ chế tạo đá mài cao tốc này có thể thay thế sản phẩm nhập ngoại. Sản phẩm còn phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế như ISO 525, ISO 6-3, ISO6013, ISO 13492.  Với việc chỉ sử dụng nguyên liệu trong nước, giải pháp công nghệ của TS Nguyễn Thị Phương Giang sẽ góp phần đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho doanh nghiệp trong nước khi đưa vào áp dụng trong các dây chuyền sản xuất cơ khí.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ có làm con người cô đơn hơn?      Liên lạc qua công nghệ số ngày nay đã phổ biến tới mức đa số chúng ta không bận lòng đặt câu hỏi về vai trò của nó trong xã hội. Nhưng với Sherry Turkle thì khác. Bà là người nghiên cứu về sự tương tác của con người với máy tính và trí tuệ nhân tạo kể từ thập kỷ 1970. Sherry Turkle là người thành lập và điều hành Tổ chức Xúc tiến Nghiên cứu về Công nghệ và Bản ngã của học viện MIT. Turkle gần đây viết một cuốn sách mới, Cùng nhau Cô độc: Vì sao chúng ta trông cậy nhiều hơn ở công nghệ và ít hơn ở đồng loại, trong đó đặt ra một câu hỏi đơn giản: liệu phương pháp liên lạc qua kỹ thuật số có kết nối chúng ta giống như những tương tác thông thường trong đời sống thực? Trong cuộc phỏng vấn cuối tháng 12 với tạp chí TIME, Turkle bàn về những con cún robot, hoạt động gửi tin nhắn của giới thiếu niên, và như thế nào là “quan tâm chu đáo” trong thời đại điện thoại smart phones.    Cùng nhau Cô độc là cuốn sách cuối trong loạt sách được bắt đầu khi bà tìm hiểu về các chương trình máy tính. Ngày nay, sau 26 năm, con người có một hệ thống liên lạc khổng lồ. Điều này đã thay đổi quan hệ của chúng ta với công nghệ ra sao?  Thường thì phải mất một khoảng thời gian nhất định để mọi chuyện phát triển tới một ngưỡng nơi chúng ta nhận ra điểm yếu nơi chúng ta dễ bị thương tổn. Nhưng với liên lạc qua điện thoại di động thì khác. Trước đây liệu ai có thể hình dung một cái nhấp nháy đỏ trên chiếc máy BlackBerry – thể hiện rằng bạn có một tin nhắn, dù chẳng biết là ai nhắn tin – lại có thể khiến người ta tò mò phát điên đến thế? Tò mò phát điên tới mức cho dù đang có con nhỏ ngồi trong ô tô, và dù biết rõ là không được phép vừa lái xe vừa nhắn tin, nhưng người ta vẫn cứ tìm cách xoay xở để biết ai nhắn tin trong khi đang cầm vô lăng với tốc độ 100 km/h.   Bà bắt đầu cuốn sách với những quan sát về cách thức con người tương tác với các sản phẩm trí tuệ nhân tạo ngày nay vẫn chưa phổ biến lắm: robot làm osin, robot vật nuôi, hay thậm chí robot làm công cụ tình dục. Liệu robot có liên quan gì tới sự liên lạc công nghệ số mà bà đã minh họa ẩn dụ qua cái nhấp nháy của chiếc BlackBerry?  Lý do tôi đưa nội dung về robot lên đầu tiên trong cuốn sách, tuy rằng chúng còn chưa phổ biến, là vì trong xã hội nảy sinh cách nhìn mới về như thế nào là “đủ sống động”. Thế hệ thanh thiếu niên hôm nay có một quan niệm rất rõ khi chúng nói về sự sống động của các vật thể: [robot đó] đủ sống động để làm một người bạn – đủ sống động để tôi có thể X cùng”. Chúng sẵn sàng bỏ qua những suy nghĩ mang tính triết lý về sự sống động, và chỉ hướng tới phạm trù thực dụng, nơi mọi vật trở nên sống động do các chức năng của chúng.   Tôi đã quan sát trẻ em [tương tác với robot] qua 30 năm, và thấy rằng đây là một sự chuyển đổi rất lớn, và chúng ta cần thật sự xem xét điều này. Khi chúng ta nói rằng một vật nào đó đủ sống động để làm một thày/cô giáo, thì điều đó có nghĩa là gì? Như thế nào là đủ sống động để bầu bạn với những người cao tuổi? Tôi tin tưởng rất mạnh mẽ rằng có những giá trị nhân văn nhất định phải đến từ trải nghiệm thực sự trong đời sống mà chẳng có robot nào đủ sống động để có.   Vậy chúng ta sẽ có quan hệ như thế nào với những cỗ máy đủ sống động này?   Người ta thường bắt đầu với tư duy mà tôi gọi là “nếu có thì vẫn tốt hơn là không”: cứ nghĩ rằng có robot thì vẫn tốt hơn là không, và tư duy này càng ngày càng đi xa khỏi điểm xuất phát ban đầu. Để rồi tới một lúc nào đó người ta nghĩ robot tốt hơn mọi thứ khác. Câu chuyện vẫn thường bắt đầu theo kiểu, “Ồ, một con cún robot. Thật là hay vì tôi bị dị ứng với chó. Thôi thì thà có cún robot còn hơn không”. Rồi rất nhanh người ta lại nghĩ “Ồ, một con cún robot, nó sẽ luôn dễ thương vì nó là cún robot, sẽ chẳng bao giờ nó chết và bỏ ta một mình”. Bất thình lình cún robot trở nên tốt hơn bất cứ một con cún tự nhiên nào, vì nó cho bạn những gì mà vật sống thực không thể cho: cảm giác kiểm soát tuyệt đối, không có gì bất ngờ, một vật thể được tạo ra để bạn làm chủ mối quan hệ theo đúng cách bạn muốn.   Điều gì là nguy hiểm ở một mối quan hệ được tạo ra theo cách người ta chủ định từ trước?   Con người sẽ thích nhắn tin hơn là nói chuyện, vì người ta có thể làm chủ lượng thời gian được sử dụng đến. Họ có thể làm chủ theo cách phù hợp với lịch trình của mình. Nơi bạn có thể điều chỉnh tốc độ và khối lượng. Chúng ta được tăng quyền kiểm soát lên đáng kể. Những mối quan hệ trong vòng kiểm soát là tinh thần cơ bản của việc liên lạc qua công nghệ số. Và chính điều này khiến có lúc con người cảm thấy cùng nhau cô độc – vì những mối quan hệ trong vòng kiểm soát không nhất thiết là những mối quan hệ khiến người ta cảm thấy gần gũi.   Con người bắt đầu có những mối quan hệ mà họ dùng lẫn nhau để tự yên tâm về bản thân. Đây là tôi nói về những nhóm thanh thiếu niên, chúng không còn nói “tôi cảm thấy – hay tôi muốn gọi điện”, mà thường nói “tôi muốn có một cảm giác – tôi cần gửi một tin nhắn”. Con người bắt đầu sử dụng nhau để tự yên tâm về bản thân thay vì cho những mối quan hệ. Và khi ta sử dụng nhau để tự yên tâm về bản thân, chúng ta thực sự chỉ nhặt nhạnh và lựa chọn ở trong nhau những điểm ta thấy là dùng được, tương tác được. Đó không phải là một sự khám phá toàn diện về một con người, mà chỉ là những phần ta thấy là phù hợp của đối tượng.           Sherry Turkle, giáo sư trường MIT, nhà nghiên cứu xã hội về khoa học và công nghệ        Đa phần nghiên cứu của bà tập trung vào phản ứng của trẻ em và thiếu niên đối với công nghệ. Vậy công nghệ có những ảnh hưởng tiềm tàng gì đối với sự hòa nhập xã hội của giới trẻ?   Sau bữa tối, giả sử như bố mẹ rút điện thoại di động ra, hoặc có khi trong bữa tối họ rút điện thoại ra đặt trên bàn ăn, là điều mà tôi được biết khi phỏng vấn qua nhiều đứa trẻ. Hoặc khi một bà mẹ trong khi đọc truyện Harry Potter cho con nghe, rút chiếc iPhone đặt trên bàn cạnh giường để phòng trường hợp có cuộc gọi quan trọng. Đứa trẻ sẽ cảm thấy việc tận hưởng thời gian mà cha mẹ dành riêng cho mình là không thực sự quan trọng. Vậy nên tôi nghĩ trẻ em ngày nay nghĩ rằng chúng không bao giờ được “quan tâm chu đáo”. Quan tâm chu đáo giống như viên ngọc bạn không bao giờ tìm thấy được.   Vậy là bọn trẻ mong muốn được quan tâm, nhưng như bà nói, mặt khác là bọn trẻ không thích gọi điện vì như vậy là quá thân mật – chúng thích gửi tin nhắn và chat hơn.  Chúng cảm thấy ngơ ngác. Đó là vì sao tôi gọi cuốn sách của mình là Cùng nhau Cô độc. Một mặt, bọn trẻ cảm thấy đồng điệu với nhau khi tất cả đều chỉ cần nhắn tin. Và tôi cũng giống như chúng, vì đó là cách chúng ta đang sống cuộc sống này hôm nay: bạn tỉnh dậy vào buổi sáng, có 500 email hay 100 tin nhắn, và bạn nói “làm sao tôi có thời gian làm gì khác ngoài việc hồi đáp”. Vậy là cuộc sống của bạn trở nên hoàn toàn thụ động – bạn không cảm thấy cô độc, nhưng cũng chẳng cảm thấy mình được kết nối.   Điều chắc chắn bạn không có là thời gian để chiêm nghiệm sự cô đơn. Một trong những điều quan trọng mà chúng ta đang mất là khả năng cảm thấy sự cô đơn theo cách được hồi sinh. Nếu bạn không biết cách cô đơn, bạn sẽ mãi cô đơn. Nếu bạn không dạy con mình cách cô đơn, chúng sẽ mãi cô đơn.   Vậy giải pháp là gì? Liệu chúng ta có phản ứng ngược lại đối với các sản phẩm công nghệ?   Con người sẽ không hất đi chậu nước trong đó có đứa bé, và chúng ta cũng không nói mọi chuyện hoàn toàn xấu hay tiêu cực. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ nói rằng, “O.K., chúng ta đang có cơ hội được nhìn thấy cách thức mọi chuyện đang diễn ra, vậy chúng ta sẽ nghĩ sao”. Tôi không gọi đây là phản ứng ngược lại. Tôi gọi đây là sự điều chỉnh, vì tôi không nghĩ là chúng ta sẽ tự vứt bỏ công nghệ. Con người sẽ chẳng muốn mình có ít điện thoại hơn. Nhưng ngày nay, con người phát triển trưởng thành bên cạnh Internet, và họ nghĩ rằng có Internet đã đủ trưởng thành. Tôi nghĩ đã tới lúc phải nói: “Không! Internet chưa đủ trưởng thành – Internet chỉ mới bắt đầu, và đây là trách nhiệm của chúng ta”. Chúng ta càng cho rằng nó vẫn còn sơ khai, thì lại càng hay, vì như thế chúng ta sẽ sẵn sàng để biến đổi nó theo cách tốt hơn cho chúng ta.   Trần Lê dịch (Meredith Melnick, Time)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ ‘coi bói’ năng suất cây trồng      Nông dân trước khi gieo trồng thường ước ao làm sao có thể dự báo tốt hơn về năng suất của vụ này. Các nhà nghiên cứu đại học bang Iowa (ISU) đang điều nghiên chuyện đó.      GS Liang Dong, đại học bang Iowa, đang phát triển một dụng cụ cho phép các nhà nông học cùng lúc nghiên cứu hàng ngàn cây trồng tăng trưởng trong các điều kiện được kiểm soát chính xác. Ảnh: Iowa State University.  Từ phân tích di truyền, phát triển các giống lai tạo mới, tạo ra các cảm biến cây trồng di động, và thiết lập các công cụ mới, các giáo sư TQ  hy vọng sẽ có đột phá dành cho nông dân trong dự báo năng suất tốt hơn trước khi thu hoạch.  Bức tranh lớn  Pat Schnable, một giáo sư nông học của ISU và là giám đốc viện Khoa học cây trồng, cho biết các công nghệ đổi mới về di truyền học cây trồng và quản lý đất canh tác đang làm cho sinh học dễ tiên đoán hơn. “Ý tưởng là nếu chúng ta có thể hiểu thấu đáo các hệ thống canh tác, chúng ta sẽ có thể dự báo được năng suất của một giống nhất định trên một cánh đồng nhất định qua thực hành chăm sóc nhất định”, Schnable nói. “Nếu chúng ta thành công, có thể tăng tỷ lệ di truyền, chăm sóc cây trồng chịu được các biến đổi thời tiết và cải thiện việc tiếp cận đối với nông dân bằng các khuyến cáo”.  Theo ông, điều đó sẽ nâng cao năng suất và tăng sự ổn định năng suất trên các cánh đồng từ năm này sang năm khác.  Dữ liệu thu thập từ nghiên cứu của Schnable sẽ có lợi cho nông gia. Nhờ am hiểu di truyền học, các nhà nghiên cứu có thể áp dụng vào các giống lai tạo thương mại, thiết lập năng suất tốt hơn.  Nghiên cứu cải thiện dự báo năng suất cây trồng gồm khảo sát môi trường của cây trồng và vũ lượng. “Nếu thực sự muốn dự đoán sự mất năng suất hoặc xác định các thực hành quản lý trong việc tăng năng suất, phải bắt đầu từ nước”, Sotirios Archontoulis, giáo sư nông học ở ISU, nói. Archontoulis cho rằng khoá học có một hiểu biết tốt về vũ lượng, nhưng thiếu hiểu biết về nước bên dưới mặt đất.  Bộ cảm biến và “hình xăm” cây trồng  Các thiết bị công nghệ vừa được phát triển để đo độ dung nạp nitrogen và độ ẩm, đang giúp các nhà khoa học và sinh học thực vật trong dự báo năng suất. Một bộ cảm biến nitrate có thể cấy ghép, được GS Liang Dong, chuyên gia kỹ thuật máy tính và điện ở ISU phát triển, “chuyên” về nitrate và có thể ghép vào thân cây. Dong cho rằng, mục tiêu của bộ cảm biến nitrate là lấy dữ liệu theo thời gian thực, giúp chuyên gia đưa ra khuyến nghị cho nông dân biết bón bao nhiêu đạm.  “Điều này trước đây chưa từng được thực hiện”, Schnable nói. “Không chỉ bộ cảm biến sử dụng cho cây trồng, mà nó còn có thể đo hàm lượng nitrate trong nước dưới mặt đất, hàm lượng nitrate trong đất, cũng như đạm trong phân, tiện lợi cho nông dân biết nồng độ thực sự mà cây đang cần”. Ông sử dụng thiết bị để phát triển các giống cây lai “chịu” đạm hơn.  Một bộ cảm biến thứ hai mà Dong phát triển giống như để tạo hình xăm cho cây trồng, là một cảm biến graphene dạng keo dán đo hơi nước của cây trồng thoát. Schnable cho rằng chúng có thể đo nước di chuyển nhanh như thế nào từ rễ đến những lá thấp và từ lá thấp lên lá cao của cây trồng. Có những sự khác biệt về di truyền giữa các giống, cho chúng ta hy vọng rằng có thể phát triển các giống chịu hạn. Bộ cảm biến rất quan trọng đối với các nhà khoa học, giúp họ đo mức chịu hạn của các giống cây trồng và các giống lai. Tuy nhiên, Schnable cho rằng tác động lớn nhất sẽ là đất canh tác.  “Nông dân sắp có thể sử dụng các thiết bị này để đưa ra các quyết định trong quản lý nước”, ông nói. “Họ có thể đặt các cảm biến trên một số cây trồng ở trục một vòng tròn. Dữ liệu nhận từ cây trồng sẽ truyền đạt đến trục và báo cho trục biết cần bao nhiêu nước để đưa đến nơi cần.  Trần Bích (theo TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ: con đường duy nhất để công nghiệp hóa ở thế kỷ 21      Sự phát triển đột biến về công nghệ và các định chế kinh doanh toàn cầu từ cuối thế kỷ 20 làm thay đổi hoàn toàn lý thuyết về công nghiệp hóa (CNH). CNH kiểu cũ không còn môi trường hoạt động, trở nên lỗi thời và dẫn đến thất bại nếu vẫn áp dụng.     Ngày nay, muốn CNH phải hiểu về Công-Nghệ, các hệ thống của nó, nắm được các quy luật vận động để “đáo giang” (qua sông) đúng lúc, hợp với “dòng chảy” của các cuộc cách mạng công nghệ và với sự đóng, mở của các cơ hội cửa sổ (window opportunites).   Khác biệt giữa CNH kinh điển và CNH ở thế kỷ 21  Trong bài này, thuật ngữ CNH vẫn được dùng để dễ hiểu, tuy nội hàm của nó đã khác xa với kinh điển. CNH có thể không liên quan mấy tới ngành “công nghiệp” theo nghĩa truyền thống, mà đến kinh doanh, dịch vụ, đến tính sáng tạo, đến xã hội, vv. Nó có thể không mang tính cân đối trong phạm vi một quốc gia “đóng” mà lại gắn chặt vào hệ thống sản xuất-kinh doanh và các chuỗi cung ứng trên thế giới.   Đặc điểm và sự khác biệt giữa CNH kinh điển và CNH từ cuối thế kỷ 20 như sau.   Một là: yếu tố quyết định để CNH từ cuối thế kỷ 20 là Công-Nghệ chứ không còn là Vốn (Capital) hay Lao Động (Labor) như trước đây. Việc chuyển vai chính sang Công-Nghệ đòi hỏi phải nghiên cứu các mối liên kết của Công-Nghệ chứ không phải của Vốn và các vấn đề liên quan như Lao-Động, Giá Trị, vv như K. Marx và các đồng sự đã làm trước đây. Nghiên cứu về Công-Nghệ tốn kém và cần tính chuyên môn cao hơn, tương tự như học phí đại học ngành công nghệ cao gấp rưỡi hay gấp đôi học phí ngành kinh tế (ở các nước phát triển) do cần thí nghiệm, máy móc. Hiện Việt Nam chưa nghiên cứu, học tập kinh nghiệm thỏa đáng về Công-Nghệ và các vấn đề liên quan.  Hai là: Toàn cầu hóa tác động vào các nước mạnh hơn so với thế kỷ 17, 18 hay khi mới CNH và 1970-80, khi bốn nước châu Á công nghiệp hóa thành công. Càng phát triển, tác động này càng nhanh hơn, mạnh, phức tạp hơn và rất khó dự đoán trước. Qua đó, CNH dựa rất nhiều vào việc hành động đúng quy luật, hợp với “dòng” chuyển động của các hệ thống bên ngoài.   Ba là: Ở CNH kinh điển, Nhà nước, “bàn tay hữu hình”, có vai trò rất lớn vì nắm vốn, thị trường nội địa, chính sách, bảo hộ, vv. Nay, Thị-trường và Tư-Nhân đang dần đóng vai chính nên CNH kiểu kinh điển với vai trò chủ đạo của nhà nước là không phù hợp vì không huy động được sức mạnh chính của nền kinh tế. Chỉ Nhà nước kết hợp với nền kinh tế thị trường mang tính chuyên nghiệp mới quản lý, giải quyết tốt mối tương tác giữa Nhà-Nước và Thị-Trường cũng như các mối liên kết công nghệ.   Công nghiệp hóa theo kiểu kinh điển ở thế kỷ 21 có khả thi?  Mô hình CNH tuần tự, tuyến tính từ công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, điện, vv đã trở nên không khả thi trong bối cảnh toàn cầu hóa khi các công ty đa quốc gia và các cường quốc kinh tế chia sẻ lợi ích với nhau, tạo ra các định chế, hiệp ước kinh tế có lợi cho họ, kéo các nước đang phát triển vào vòng xoáy khó bề thoát ra nổi. Ngày nay, không thể dựa vào Vốn và Chính sách Bảo hộ thị trường nội địa, các chính sách công nghiệp (industrial policy) như thời CNH kinh điển được nữa.   Công-Nghệ nay đã phát triển trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tỷ trọng của Năng-Suất-Lao-Động (mà phần chính là Công-Nghệ) đã gia tăng và trở nên áp đảo so với Vốn và Lao-Động trong việc tạo ra giá trị. Vì vậy, ngày nay, con đường duy nhất để CNH là thông qua Công-Nghệ, chứ không phải Vốn và Lao-Động.  Vì sao Công Nghệ là con đường duy nhất đến CNH ở thế kỷ 21?  Công-Nghệ đang dần thay đổi cách sống của con người, cách thức điều hành xã hội. CNH, với cỗ máy làm giàu chính là Công-Nghệ, ngày càng ít mang tính chính trị và nhiều tính chuyên môn.   Yếu tố quyết định sự thành công của công nghiệp hóa không phải là ý chí quyết tâm, vốn, hay thậm chí tài nguyên thiên nhiên, mà là sự hiểu biết cách thức, chu kỳ hoạt động của Công-Nghệ và các hệ thống sản xuất-kinh doanh toàn cầu. Thuyền lớn nếu không biết dòng chảy, chỗ xoáy, con nước sẽ khó đáo giang hơn thuyền nhỏ mà biết các quy luật này.  Phạm trù Công-Nghệ ngày nay đã rộng hơn rất nhiều so với thời kỳ CNH kinh điển. CNH kinh điển dựa nhiều vào Công-Nghệ “cứng”, tức là máy móc hữu hình. Nay, công nghệ “mềm”, các sản phẩm trực tiếp nhất của Tri-Thức, các know-how, quy trình công nghệ, các quy trình hoạt động của Công-Nghệ trong Thương-Mại, Kinh-Doanh, ngày càng đóng góp trực tiếp và chiếm phần lớn trong việc tạo ra giá trị. Nó trở nên áp đảo so với công nghệ mang tính vật thể. Dưới giác độ này, cách thức, quy trình tiến hành CNH hay hội nhập kinh tế thế giới, hay nói khác là hội nhập các chuỗi cung ứng trên thế giới, cũng là một Công-Nghệ.  Công-Nghệ ngày nay hòa vào quá trình tạo ra giá trị, nó trở cấu phần của doanh nghiệp. Điều này khác hẳn với thời kỳ CNH kinh điển khi mà Công-Nghệ đi liền, hay là “công đoạn” tiếp theo của Khoa-Học. Sự phụ thuộc này làm giảm tính kinh tế của Công-Nghệ và làm nó khó nắm bắt được “hơi thở” của Thị-trường để phục vụ. Đây là lý do vì sao R&D (Nghiên cứu&Phát triển) cần rời xa tháp ngà Khoa-Học và đi vào Doanh-Nghiệp. Lưu ý là Công-Nghệ ở đây bao gồm cả cho sản xuất sản phẩm hữu hình và vô hình cũng như trong thị trường sở hữu trí tuệ, nơi chắc chắn sẽ ngày càng sôi động.   Các “công đoạn” của cái ngày xưa gọi là Khoa Học&Công Nghệ thường tuần tự, tách bạch, từ Khoa-Học rồi đến Công-Nghệ. Nay, do nhu cầu hợp lưu (convergence) các công nghệ và sự thao túng của thị trường công nghệ, các công đoạn trên bị cắt nhỏ ra, đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo ra rất nhiều “ngã rẽ” (những điểm bán, mua công nghệ) để mua bán Công-Nghệ. “Chuỗi” Khoa-Học&Công-Nghệ không còn tuyến tính mà giống liên kết chùm. Hệ thống này làm tăng việc thương mại hóa công nghệ.   “Đổi Mới” (hay Đổi Mới-Sáng Tạo, Innovation), với mục đích thương mại hóa Tri Thức, có nội hàm rộng hơn và đem lại giá trị hơn nhiều so với “Khoa Học&Công Nghệ” ở thời kỳ CNH kinh điển. Thị trường Công-Nghệ (khá độc lập với Khoa-Học), với các doanh nghiệp Đổi Mới-Sáng tạo, tiêu biểu là Thung Lũng Silicon của Mỹ, ngày càng sôi động và tạo nhiều giá trị. Đổi Mới-Sáng Tạo sẽ “kéo” Công-Nghệ dần xa khỏi Khoa-Học và hòa nó vào Doanh-Nghiệp. Các chuyên gia nói: Đổi Mới-Sáng Tạo đang xóa bỏ sự “cưỡng hôn” giữa Công-Nghệ và Khoa-Học là vì vậy.     Gợi suy cho Việt Nam  Thực trạng:  Việt nam luôn khẳng định CNH nhưng chưa hiểu rõ một cách thống nhất về CNH. Nguy hiểm ở chỗ: vẫn theo CNH kinh điển dù không khả thi, hoặc là không rõ nội dung, nhưng vẫn theo đuổi mà chưa bao giờ thực sự nhập cuộc. Một mặt, chúng ta trông đợi viển vông, coi CNH như cây đũa thần sinh ra mọi thứ. Mặt khác, ta không biết cái cụ thể có thể đạt được để làm.     Việc “đặt bài” chưa rõ nên chương trình CNH, Khoa học&Công nghệ trở nên chông chênh, không có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới. Khoa học&Công nghệ, vốn dĩ dễ xa rời hiệu quả kinh tế, thì trong hoàn cảnh này lại càng bị phân tán. Đây là việc mang tính “kỹ thuật” của cả lãnh đạo và nhà chuyên môn. Cần có cơ chế để lãnh đạo lắng nghe chuyên môn (giỏi) và giới chuyên môn đưa ra được phương án để lãnh đạo chọn.   Việt Nam không chỉ kém ở Công-Nghệ mà còn ở sự hiểu biết về hệ thống sản xuất-kinh doanh trên thế giới, về chuỗi cung ứng cùng cách hoạt động và quy luật của nó.   Là nước đang phát triển, ta áp dụng công nghệ nhưng chưa chú ý đến các liên kết, hay “môi trường sống” của nó. Công-Nghệ không thể “sống” nổi khi bị tách rời khỏi “môi trường sống”, hay các mối liên kết của nó. Các công nghệ khác nhau lại cần các liên kết khác nhau. Ví dụ, muốn phát triển công nghệ cao thì phải liên kết nhiều với bên ngoài, phải gắn chặt vào các chuỗi cung ứng trên thế giới, chứ không chỉ phục vụ nội địa.   Giải pháp:  Để CNH, cần vận dụng tốt các yếu tố liên quan đến công nghệ như: chu kỳ công nghệ, đường cong tiến hóa của từng công nghệ, rào cản của từng thị trường công nghệ, quy luật của dòng chuyển giao công nghệ, sự phát triển tiệm tiến, hay đột biến của công nghệ, các cuộc cách mạng công nghệ, mô thức kinh tế-công nghệ, độ trễ trong tiến hóa công nghệ, v.v.      CNH, như bước lên một con tàu đang chạy, cần thực hiện lúc tàu chạy chậm, tức các “đứt đoạn” (discontinuities) hay còn gọi là các cửa sổ (windows) trong sự tiến hóa của công nghệ. Đây là quy luật vô cùng quan trọng để các nước (hay doanh nghiệp) có thể “nhảy cóc” vào một giai đoạn phát triển nhất định.   Các cơ hội này thường có ở các cuộc cách mạng công nghệ (hay các đột phá công nghệ), thường diễn ra cứ nửa thế kỷ một lần, với sự thay đổi hướng hay bước ngoặt về công nghệ. Đây là những “bến đỗ” hiếm hoi của con tàu công nghệ và văn minh nhân loại để lấy thêm du khách và thải ra những hành khách không thể theo kịp. Muốn du hành trên con tàu Phát-Triển thì phải lên tàu ở những bến đỗ đó. Nếu không tìm ra “công nghệ” để bước lên được con tầu đó thì không thể CNH thành công. Các vấn đề chuyên môn, chi tiết sẽ được tác giả đề cập trong các bài sau.  Việt Nam nên thuê tư vấn nước nước ngoài để hoạch định chiến lược CNH cho mình, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến công nghệ, chu kỳ và cách mạng công nghệ, cơ hội cửa sổ, vv. Việc này có thể làm tập trung ở cấp trung ương với một nhóm công tác. Nhóm này sẽ dần tiếp thu được “công nghệ” CNH và dần có thể theo dõi, điều hành.   Tính công nghệ ta cần trước mắt chỉ ở mức áp dụng chứ không phải sáng tạo. Vì vậy, chương trình đại học công nghệ ở Việt Nam cần chuyển từ nặng về công nghệ sang về quy trình và hệ thống công nghệ-chuỗi cung ứng-kinh doanh-toàn cầu hóa.      Công-Nghệ không chỉ để CNH quốc gia, mà nên xem xét tính khả thi của việc đưa Công-Nghệ thành một ngành kinh tế riêng biệt. Ngành kinh tế Công-Nghệ mang tính độc lập nhất định, không nhất thiết (và không nên) gắn với các liên kết nội địa, mà gắn với Thị-Trường Tri-Thức, nhân công chất xám ở bất cứ đâu mà nó sinh lợi nhiều nhất. Đó là cấu phần với tính khả thi cao trong nền Kinh Tế Tri Thức Việt Nam.    Tài liệu tham khảo  – Bell, M. and K. Pavitt (1993a): Technological accumulation and industrial growth: contrasts between developed and developing countries, Industrial and Corporate Change, vol. 2, No. 2, Oxford, U.K., Oxford University Press.  – Bell, M. and K. Pavitt (1993b): Accumulating technological capability in developing countries, Proceedings of the World Bank Annual Conference on Development Economics, 1992, Washington, D.C., World Bank.  – Freeman, C. (1974): The Economics of Industrial Innovation, Harmondsworth, Middlesex, U.K., Penguin Books Ltd.  – Freeman, C. (1987): Technology Policy and Economic Performance: Lessons From Japan, London, Pinter Publishers.  – Freeman, C. (1994): Technological revolutions and catching up: ICT and the NICs, in J. Fagerberg and others (eds.), The Dynamics of Technology, Trade and Growth, Aldershot, U.K., Edward Elgar Publishing.   – Gerschenkron, A. (1962): Economic Backwardness in Historical Perspective, Cambridge, Massachusetts, Harvard University Press.  – Hirsch, S. (1965): The United States electronic industry in intenational trade, National Institute Economic Review, No. 34.  – Lall, S. (1992): Technological capabilities and industrialization, World Development, vol. 20, No. 2, Oxford, U.K., Pergamon Press.  – Lundvall, B. (1988): Innovation as an interactive process: From user-producer interaction to the national system of innovation, in G. Dosi and others (ed.), Technical Change and Economic Theory, London, Pinter Publishers.  – Lundvall, B. (1992): National Systems of Innovation: Towards a Theory of Innovation and Interactive Learning, London, Pinter Publishers.  – Pérez, C. and L. Soete (1988): Catching up in technology: Entry barriers and windows of opportunity, in G. Dosi and others (ed.), Technical Change and Economic Theory, London, Pinter Publishers.  – Pérez, C. (2001): Technological change and opportunities for development as a moving target, Cepal review 75, University of Sussex.  – Von Tunzelmann, G. (1995): Technology and Industrial Progress. The Foundations of Economic Growth, Aldershot, U.K., Edward Elgar Publishing.  – Wells, L. (1972): International trade: The product life cycle approach, in L. Wells (ed.), The Product Life Cycle and International Trade, Boston, Harvard University, Graduate School of Business Administration, Division of Research.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ dầu sinh học của Việt Nam tại Lào      Sau khi xuất khẩu sang Lào, công nghệ sản  xuất dầu sinh học từ hạt trẩu của PGS.TS Hồ Sơn Lâm, thuộc Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng TP.HCM, được công ty  Makkao Lào ứng dụng thành công, đạt hiệu quả cao.    Công ty nhiên liệu sinh học Makkao Lào, đã đưa dự án nhà máy dầu sinh học từ hạt trẩu lên công suất 10 tấn/ngày. Thông tin này được ông Bunchăn Xaykenyachôngtua, Phó tổng giám đốc của công ty, cho biết mới đây.  Công nghệ này được PGS.TS Hồ Sơn Lâm, thuộc Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng TP.HCM, chuyển giao cho Công ty gỗ Teak – Luang Prabang (công ty mẹ của Makkao Lào) vào tháng tháng 6/2012. Cùng với đó là quy trình pha chế thành dầu sinh học B5 (5% dầu từ hạt trẩu vào dầu diesel). Giá trị của hợp đồng chuyển giao vào thời điểm đó là 1 tỷ đồng.  Công ty nhiên liệu sinh học Makkao Lào đã mang dầu B5 được chuyển giao từ PGS.TS Lâm đến phòng thí nghiệm trọng điểm động cơ đốt trong, Đại học Quốc gia TP.HCM thử nghiệm. Việc thử nghiệm để lấy thông số về khói thải và tiêu hao nhiên liệu để trình Bộ Năng lượng và Mỏ của Lào xin giấy phép bán thử nghiệm tại Luang Prabang để kiểm tra ảnh hưởng đến động cơ.  Kỹ sư Võ Lê Hoài Phương, cán bộ thử nghiệm cho biết: Ngoài các thông số Nox, HC, CO, độ mờ khói của xăng B5 giảm hơn so với dầu diesel thương phẩm. Điều lạ là dầu B5 của Lào có nhiệt trị cao với diesel.  PGS.TS Lâm đã dành 20 năm nghiên cứu công nghệ sản xuất dầu sinh học từ nhiều loại cây có dầu khác nhau. Công nghệ của ông ngoài việc lấy dầu, quá trình sản xuất còn chiết xuất các hoạt chất sinh học làm thuốc bảo vệ thực vật, bao bì tự hủy, phân bón…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ dò từ xa các virus trên nhiều loại bề mặt      Các nhà nghiên cứu trường đại học Seville đã phát triển và sáng chế ra một mẫu thử có thể dò được nhiều loại virus từ xa, trong đó có SARS-CoV-2) có trên các bề mặt, phân tích các hình ảnh được chụp từ nhiều bước sóng khác nhau – hình ảnh siêu phổ – một kỹ thuật phổ biến trong vật lý thiên văn.      Các nhà thiên văn học từ Calar Alto và IAA-CSIC đã tham gia vào việc khử và phân tích phổ. Nghiên cứu này hiện đang thử nghiệm với các mẫu lấy từ người nhiễm coronavirus.  Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Tây Ban Nha, cụ thể là Andalusia, đã thiết kế một kỹ thuật quang học mới cho phép họ phát hiện được sự hiện diện của virus trong các giọt chất lỏng hoặc những mảng bề mặt khô. Công trình này do giáo sư vật lý ứng dụng Emilio Gómez-González tại trường Kỹ thuật ETS, trường đại học Seville, dẫn dắt. Nghiên cứu do Viện Sức khỏe Carlos III tài trợ này đã thu được một sáng chế có khả năng phân tích đồng thời nhiều loại mẫu mà không cần phải chạm vào virus hoặc sử dụng thêm các chất thử.  Kỹ thuật mới được dựa trên phương pháp xếp chồng hình ảnh siêu phổ, những hình ảnh được tạo ra tại nhiều bước sóng khác nhau trong phạm vi nhìn thấy và cận hồng ngoại1, sau đó là xử lý chúng bằng các thuật toán thống kê tiên tiến và trí tuệ nhân tạo. Nó được ứng dụng cho hai dạng virus tổng hợp, thường được lấy như các mô hình cho SARS-CoV-2 (các lentivirus – một chi của retrovirus gây bệnh mãn tính và nguy hiểm đặc trưng với thời gian ủ bệnh dài, trong con người và các loài động vật có vú khác, và các virus corona) trong hai dạng chất lỏng (dung dịch muối và nước bọt nhân tạo). Kết quả của công trình được đăng tải trên Scientific Reports “Hyperspectral image processing for the identification and quantification of lentiviral particles in fluid samples” (Xử lý hình ảnh siêu phổ để nhận diện và định lượng các hạt lentivirus trong các mẫu chất lỏng) 2.   Hiện các nhà nghiên cứu đang tiếp tục thử nghiệm kỹ thuật này trên các mẫu thử lấy từ người nhiễm SARS-CoV-2.  Phương pháp này dựa trên kỹ thuật hình ảnh siêu phổ, gàn đây được sử dụng để dò các mầm bệnh, chủ yếu là vi khuẩn và nấm trong sinh học và nông nghiệp. Tuy vậy vẫn cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển và mở rộng khả năng ứng dụng công nghệ này trong lĩnh vực sức khỏe, như dò các virus thông qua một quá trình phức hợp và đổi mới sáng tạo. Để làm được điều này, hệ thống ghi hình ảnh của các mẫu cần được sắp xếp trong một ma trận và xác định chính xác vị trí cũng nồng độ của virus.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-remote-viruses-surfaces.html  ——  1. https://phys.org/tags/hyperspectral+imaging/  2.https://www.nature.com/articles/s41598-021-95756-3       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ dự báo và phòng chống tội phạm      Công nghệ có thể giúp bắt và ngăn chặn tội phạm bằng cách dự đoán nơi nào mà hành vi tội phạm có khả năng xảy ra.     Một sĩ quan cảnh sát sẽ liếc mắt nhìn vào màn hình bản đồ hiển thị thành phố và rồi đột nhiên một khu vực trên bản đồ bắt đầu nhấp nháy ánh sáng đỏ. Vài giây sau đó, sở cảnh sát nhận được dữ liệu về một cuộc tấn công có thể xảy ra trong vòng vài giờ tới. Một lực lượng tuần tra sẽ được triển khai kịp thời đón đầu thời gian trước khi tội phạm xảy ra. Không ai bị thương. Chuyện nghe có vẻ như trong một bộ phim khoa học giả tưởng nhưng công nghệ dự đoán phòng chống tội phạm đã thực sự tồn tại.   Các nhà nghiên cứu đang xây dựng một phần mềm nhằm xác định những khu vực nào trong thành phố dễ xảy ra hành vi tội phạm. Chương trình máy tính sẽ phân tích các hoạt động của cảnh sát, tập hợp một lượng thông tin khổng lồ, từ các hồ sơ tội phạm từ quá khứ đến hiện tại tới các dữ liệu thời gian thực từ các hoạt động tuần tra của cảnh sát. Kế đó nó sẽ phân chia bản đồ thành phố với các khu vực được dự báo sẽ xảy ra các vụ xâm phạm, thậm chí còn liệt kê chi tiết tính chất các hành vi tội phạm có thể có trong tương lai. Đã có một số dự án lập bản đồ thí điểm hành vi tội phạm ở Anh và Mỹ, và sĩ quan chỉ huy Mike Barton từ Hội các cảnh sát trưởng Anh (ACPO) đã gọi những bản đồ tội phạm này là “thế hệ tiếp theo của chính sách dựa trên trí thông minh”. Ông Mike Barton nói: “Những công nghệ này có thể giúp chúng ta dự đoán chính xác nơi nào có các hành vi tội phạm sắp sửa xảy ra, và đặc biệt, nó còn cho biết nếu cảnh sát can thiệp vào nơi đó thì tiếp theo sẽ khiến bọn tội phạm có hành vi gì, xảy ra ở nơi nào. Điều này có những lợi ích rõ ràng khi nói đến việc chỉ đạo hiệu quả các nguồn lực và giảm đáng kể các hành động tội phạm trả đũa”.   “Những điểm nóng”   Một nhà phát triển phân tích dự báo là tập đoàn điện tử khổng lồ IBM. Tại một hội nghị gần đây được tổ chức trong phòng thí nghiệm của IBM gần Winchester (Anh), công ty này nói rằng trong vòng 7 năm qua, công nghệ IBM đã giúp đỡ giảm thiểu các hành vi tội phạm ở Memphis, Tennessee, xuống hơn 30%. “Phần mềm này giúp cảnh sát nhận ra các mô hình và xác định “các điểm nóng” về tội phạm của thành phố – kế đó là tổ chức tuần tra tại những điểm này nhiều hơn những nơi khác, giám sát việc thực thi giao thông và phát động các hoạt động nhắm vào mục tiêu nghi vấn”, khẳng định của chuyên gia Ron Fellows từ IBM. Bên cạnh Memphis, công nghệ cũng được sử dụng ở vài thành phố khác ở Anh và Mỹ.   Một công ty khác cũng đang làm việc trên công nghệ phân tích dự báo là PredPol, đặt trụ sở ở Los Angeles, bang California. Công nghệ của PredPol đã được thử nghiệm bởi Sở cảnh sát Los Angeles kể từ năm 2011. Công ty này cũng khẳng định những kết quả ấn tượng.   Tổ chức chiến dịch các quyền tự do dân sự và riêng tư Anh Big Brother Watch đã chào đón nồng nhiệt công nghệ phân tích dự báo này. Ông Nick Pickles, giám đốc tổ chức Big Brother Watch, cho biết: “Cách tiếp cận này, bằng cách sử dụng các dữ liệu tội phạm và theo đuổi “chiến lược cài bẫy” đã đem lại hiệu quả cao hơn nhiều trong việc giảm thiểu tội phạm và cải thiện an toàn công cộng… hơn so với đề xuất hiện thời của Bộ Nội vụ Anh là theo dõi thông tin liên lạc của tất cả mọi người. Đáng buồn là ở Anh, chúng ta đã tiêu tốn hàng trăm triệu bảng Anh vào việc lắp đặt hệ thống camera CCTV mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy rằng nó đã hoạt động không hiệu quả trong việc cắt giảm tội phạm và quá nhiều thành phố gắn camera tại mọi ngõ ngách nhưng người ta hiếm khi nhìn thấy một sĩ quan cảnh sát”.    Các báo động kích hoạt    Tuy nhiên, Bộ Nội vụ Anh lập luận rằng những nỗ lực giám sát bằng video để phòng và chống tội phạm đã cho thấy kết quả. Và Anh không chỉ là nước duy nhất có trang bị hệ thống camera CCTV – theo một cuộc nghiên cứu từ nhà nghiên cứu RNCOS đã đề xuất rằng vào cuối năm 2014, khoảng 23,5 tỷ USD (khoảng 14 tỷ bảng Anh)/năm sẽ được chi ra để mua mới hệ thống camera giám sát trên toàn cầu.   Hiện tại, có những kế hoạch ở châu Âu nhằm ghép hệ thống giám sát video hiện có với công nghệ dự báo. Một dự án nghiên cứu của Liên minh châu Âu, Indect, nhằm “cải thiện cách phân tích các hình ảnh hiện có từ các camera giám sát … để xác định hình ảnh giúp phát hiện các hiểm họa hoặc các hành vi tội phạm”. Mục đích chính là sử dụng các máy tính sàng lọc một khối lượng khổng lồ các video thời gian thực và xác định ra những nguy cơ tiềm năng. Ví dụ như đó có thể là ở một đám đông khổng lồ tại buổi hòa nhạc hoặc là một sự kiện thể thao nơi người ta bắt đầu ném đồ vật vào nhau.   Ông Marco Malacarne, người phụ trách dự án Indect tại Ủy ban châu Âu (EC), nói rằng sáng kiến này có thể giúp giải quyết một vấn đề cơ bản của các lực lượng cảnh sát ở trong khối EU: khó khăn trong việc phân tích các hình ảnh được cung cấp bởi hệ thống giám sát video một cách hiệu quả. Trong thời gian diễn ra các khủng hoảng hoặc các vụ tấn công, cảnh sát hầu như không thể giám sát tất cả các thông tin được cung cấp bởi các công nghệ giám sát hiện hành. Dẫn chứng rõ nét nhất trong trường hợp này là vụ đánh bom London vào năm 2005 làm thiệt mạng 52 công dân vô tội. Trong vụ đó “Cảnh sát thành phố đã triệu hồi hàng trăm cảnh sát trên các tuyến phố và yêu cầu họ đứng trước màn hình máy vi tính để nhận diện xem trong số đó những ai là kẻ tấn công và tìm kiếm hồ sơ của chúng”.   Dự án Indect vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu nhưng nó đã làm dấy lên các cuộc phản đối trên toàn thế giới, được tổ chức bởi tổ chức “hacker” có biệt danh Anonymous. Những người này đã đeo mặt nạ trắng xuống đường biểu tình vào tháng 10/2012, chiến dịch chống lại Indect, và một hệ thống giám sát video tương tự của công ty phần mềm Trapwire hiện đã đưa vào hoạt động ở Mỹ.     Thanh Hải lược dịch theo   http://www.bbc.co.uk/news/technology-20068722     Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ giải trình tự gene mới giúp phát hiện sớm ung thư đại trực tràng      Nhóm tác giả ở Đại học Y Dược TPHCM đã ứng dụng công nghệ giải trình tự gene thế hệ mới, có thể giúp phát hiện sớm bệnh ung thư đại trực tràng, mang lại cơ hội sống, cũng như giảm gánh nặng chi phí điều trị cho bệnh nhân.    Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới. Tuy nhiên, đây lại là một trong số ít bệnh lý ác tính có tiên lượng khá tốt, nếu được phát hiện và điều trị sớm. Nếu UTĐTT được phát hiện ở giai đoạn sớm, điều trị đúng phương pháp, tỷ lệ khỏi bệnh có thể đạt từ 50 – 100%.    Một số phương pháp phát hiện sớm UTĐTT như nội soi đại trực tràng vẫn được xem là phương pháp chuẩn vàng với ưu điểm là độ chính xác cao và cho phép kết hợp tiến hành phẫu thuật loại bỏ khối u ngay khi phát hiện. Tuy nhiên, do giá thành cao và có tính xâm lấn nên mức tiếp cận kỹ thuật này còn hạn chế và khó triển khai rộng rãi. Các phương pháp phân tích kháng nguyên trong phân tuy không xâm lấn, nhưng độ đặc hiệu của kỹ thuật này thấp (6% – 56%) và kết quả chẩn đoán có khả năng sai lệch do nhiều bệnh lý khác như bướu thịt, trĩ, viêm ruột hoặc do chế độ ăn uống của bệnh nhân.    Vài năm gần đây, một số đơn vị tại Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu xây dựng qui trình sinh thiết lỏng phát hiện ctDNA (DNA ngoại bào mang đột biến ung thư) ở bệnh nhân ung thư, hầu hết thuộc giai đoạn muộn (III và IV). Nhưng hiện chưa ghi nhận đơn vị nào nghiên cứu qui trình phát hiện ctDNA trong giai đoạn sớm của ung thư. Do đó, nhóm tác giả ở Đại học Y Dược TPHCM đã tiến hành nghiên cứu “Xây dựng qui trình phát hiện ctDNA (circulatin tumor DNA) trong ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm bằng công nghệ giải trình tự thế hệ mới”.    Sau khi nghiên cứu mẫu máu ở các bệnh nhân UTĐTT, người khỏe mạnh và ứng dụng công nghệ giải trình tự gene thế hệ hệ mới, nhóm đã tách chiết cfDNA từ mẫu huyết tương và đánh giá được sự khác biệt giữa nồng độ cfDNA ở bệnh nhân UTĐTT và người khoẻ mạnh. Nghiên cứu cho thấy, nồng độ cfDNA trung bình thu được từ nhóm bệnh là 0,78ng/μl, khoảng dao động từ 0,20-5,18ng/μl. Nhóm chứng (người khỏe mạnh) có nồng độ cfDNA trung bình là 0,46ng/μl, khoảng dao động từ 0,06-1,27ng/μl.    So sánh nồng độ cfDNA giữa nhóm bệnh và nhóm đối chứng, thì nồng độ cfDNA ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng khoảng 1,7 lần. Xu hướng gia tăng hàm lượng cfDNA tổng số, phần lớn bắt nguồn từ việc gia tăng của hàm lượng ctDNA trong máu. Với bệnh nhân ở giai đoạn tiến triển xa của ung thư, hàm lượng ctDNA gia tăng đáng kể.    Qua đó, nhóm tác giả đã xây dựng quy trình sinh thiết lỏng phát hiện ctDNA trong máu ở bệnh nhân UTĐTT giai đoạn sớm. Theo quy trình, trước tiên, thu nhận mẫu huyết tương bệnh nhân. Sau đó, mẫu huyết tương sẽ được tách chiết để thu nhận các mảnh DNA tự do và sẽ được tiến hành giải trình tự gene để xác định được sự hiện diện của ctDNA trong mẫu huyết tương bệnh nhân. Độ nhạy và độ đặc hiệu của quy trình lần lượt đạt 84% và 91,7%.    Theo GS.TS.BS Trần Diệp Tuấn, Chủ nhiệm đề tài, đây là một xét nghiệm phát hiện ung thư giai đoạn sớm có độ chính xác cao, đơn giản, không xâm lấn, có thể được ứng dụng rộng rãi và thường qui trong sàng lọc sớm các loại ung thư nói chung và UTĐTT nói riêng.    Đề tài của nhóm tác giả đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm nay, là tiền đề mở rộng cho xét nghiệm để phát hiện sớm được các dạng ung thư khác ở người Việt Nam.    Nhật Linh    Author                phongvien        
__label__tiasang Công nghệ giám sát chất lượng nước và dòng di cư của cá trên sông Mekong      Tại đập thủy điện Don Sahong, cách biên giới Lào – Campuchia chưa đầy hai km về phía thượng lưu, Ủy hội sông Mekong (MRC) mới đây đã giới thiệu hai bộ thiết bị đo lường mới nhằm phát hiện kịp thời những tác động nghiêm trọng của các đập thủy điện đến chất lượng nước của sông, dòng chảy hoặc các loài cá.      Đập thủy điện Don Sahong, cách biên giới Lào – Campuchia chưa đầy hai km về phía thượng lưu.  Công nghệ mới nhiều hứa hẹn  Theo giới thiệu của MRC, bộ thiết bị thứ nhất sẽ theo dõi mực nước và chất lượng nước ngay bên dưới đập – và báo cáo ngay trong thời gian thực nếu nó ghi nhận được yếu tố ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước. Đây là sinh kế vừa là nguồn nước sinh hoạt hằng ngày của hàng triệu gia đình ngư dân và nông dân sống dựa vào sông Mekong.  Thiết bị thứ hai là một hệ thống “viễn trắc âm thanh” được gắn vào một số loài cá di cư xuyên biên giới. Do những con đập có thể phá vỡ môi trường sống của cá nên các nhà khoa học đã lắp đặt một “đường dẫn cá” phức tạp để cá được nâng lên thượng lưu và đưa xuống hạ lưu, nơi chúng thường đẻ trứng và kiếm ăn. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có cách nào kiểm chứng xem liệu lối đi dành cho cá tại đập thủy điện Don Sahong có hoạt động như dự kiến ​​hay không. Hệ thống mới này sẽ cung cấp bằng chứng bằng cách theo dõi chuyển động lên và xuống của cá (còn được gọi là đường cá) tại kênh Hou Sadam và kênh Hou Xangpheuk.  Các nhà khoa học rất quan tâm đến việc các loài cá đang phải đối mặt với những rủi ro nào, bởi nó cũng liên quan đến an ninh lương thực và cuộc sống người dân trên toàn khu vực. Năm 2018, MRC ước tính rằng có gần 70 triệu người xem sông Mekong là nguồn sinh kế chính, trong đó có hơn 40 triệu người – khoảng ⅔ dân số vùng hạ lưu sông Mekong – đang mưu sinh bằng nghề đánh bắt thủy sản ven sông. Tuy nhiên, MRC thường xuyên báo rằng tỷ lệ đánh bắt thủy sản đang giảm, đặc biệt là ở các loài cá vừa và nhỏ.  Hệ thống viễn trắc âm thanh mới đòi hỏi bước dán nhãn đầy tinh vi lên cá nhằm theo dõi chuyển động của chúng. “Có rất nhiều biến số”, Lee Baumgartner, một nhà sinh thái học cá nước ngọt và là giáo sư tại Đại học Charles Sturt, cho biết. Môi trường là yếu tố quan trọng nhất. Công nghệ này hoạt động cực kỳ hiệu quả ở các hồ lớn, đại dương hoặc sông sâu, nhưng chúng ta sẽ tìm hiểu xem nó hoạt động như thế nào ở các kênh nhỏ, vùng nước nông, nước chảy xiết hoặc nước có nhiều ghềnh. Chúng ta sẽ có được phần nào câu trả lời trong thời gian hai hoặc ba tháng tới.”  Một chuyên gia trình bày cách gắn thiết bị giám sát để theo dõi chuyển động của cá.  Công nghệ hỗ trợ việc ra quyết định  Nhu cầu giám sát tốt hơn chất lượng nước sông Mekong đã tăng lên rõ rệt trong những năm qua. Sau khi Mạng lưới Giám sát Chất lượng Nước (WQMN) ra đời vào năm 1985, MRC chỉ đo lường chất lượng nước theo cách thủ công, đều đặn hằng tháng. Họ sẽ báo cáo dữ liệu thu được vào cuối năm, chứ không đưa ra cảnh báo về sự thay đổi đột ngột trong chất lượng nước.  Hơn nữa, trạm Don Sahong thậm chí không phải là thành viên của WQMN – nên sẽ không chia sẻ dữ liệu với MRC. Tuy nhiên, hiện nay, đơn vị vận hành đập đã tham gia vào dự án thí điểm MRC – Giám sát Môi trường chung (JEM). Thiết bị được lắp đặt sẽ tự động đo chất lượng nước sau mỗi 15 phút, sau đó truyền đến cơ sở dữ liệu trung tâm của MRC – cơ sở dữ liệu này tiếp tục được chuyển đến cho các quốc gia thành viên và các cộng đồng ven sông. “Chúng ta cần phải hiểu rõ mối tương quan giữa sự thay đổi mực nước và chất lượng nước – càng sớm càng tốt”, Chanthanet Boualapha, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lào, cho biết. “Trạm Don Sahong nằm ở vị trí thuận lợi về mặt kỹ thuật để giám sát điều này, cũng như giúp tiết kiệm chi phí, vì cả hai loại thiết bị đều nằm gọn trong một khu vực. Các nhà khoa học, nhà quản lý có thể dễ dàng tiếp cận vị trí này quanh năm, từ đó dễ dàng duy trì hoạt động của nó.”  Cùng với việc xây dựng đập, Dự án Thủy điện Don Sahong đã nâng cấp một số kênh tự nhiên xung quanh đập (bao gồm kênh Hou Sadam và Hou Xangpheuk) bao gồm các thiết bị “để thúc đẩy và điều chỉnh mức độ an toàn trong quá trình cá di cư xuyên qua các công trình thủy điện ở cả hai chiều, lên thượng nguồn và xuống hạ lưu.” Việc quan sát chuyển động của cá gần con đập rất quan trọng. Cá di cư, như cá tra dầu Mekong, thường bơi ngược dòng để đẻ trứng, di cư xuống vùng đồng bằng để kiếm ăn, sau đó ấu trùng sẽ trôi dạt để lớn lên và trưởng thành.  Những thiết bị mới được kỳ vọng sẽ giúp MRC không chỉ nắm bắt kịp thời thông tin và có thêm nhiều dữ liệu chính xác hỗ trợ việc ra quyết định. “Để đưa ra được chính sách hiệu quả, cần phải có dữ liệu chính xác”, Giám đốc điều hành của Ban thư ký MRC, Anoulak Kittikhoun, cho hay. “Chúng tôi muốn biết liệu con đập có ảnh hưởng đến dòng chảy và chất lượng nước hay không. Tương tự như vậy, thiết bị cho ta biết lối đi cho cá liệu có hoạt động. Sau đó, nếu cần, chúng tôi sẽ đề xuất các biện pháp thích hợp để điều chỉnh hoạt động của con đập ”. Kittikhoun cũng lưu ý, dự án có giá trị về mặt lâu dài: “Có thể áp dụng những phát hiện và khuyến nghị trong dự án này cho các đập tương tự, từ đó ta sẽ xây dựng được một đập thủy điện không chỉ tạo ra điện mà còn vận hành một cách hài hòa và không ảnh hưởng tới sinh kế của người dân.”  Anh Thư dịch  Nguồn: MRC unveils technology to monitor Mekong water quality and fish migration (Thông cáo báo chí của Uỷ hội sông Mekong)    Author                .        
__label__tiasang Công nghệ học máy sẽ thay đổi nền khoa học?      Trong hai thập kỷ trở lại đây, học máy (machine learning) đã phát triển bùng nổ và được dự báo sẽ trở thành một công nghệ định hình các lĩnh vực khác trong tương lai. Nó đang làm biến đổi nhiều lĩnh vực rộng lớn trong xã hội, bao gồm y tế, giáo dục, vận tải, thực phẩm và sản xuất công nghiệp, cũng như có những ảnh hưởng lớn đối với khoa học.    Giáo sư James Larus, hiệu trưởng của Trường Khoa học Máy tính và Truyền thông (IC) thuộc Viện Kỹ thuật liên bang Lausanne (EPFL), cho rằng học máy và AI sẽ tác động sâu sắc đến chúng ta. “Học máy là một công cụ vô cùng quyền lực nhưng hiện vẫn đang ở giai đoạn sơ khởi và vẫn còn là một ‘nghệ thuật bí ẩn’. Chúng tôi dạy các lớp học về học máy cũng như các bài toán đằng sau nó, và đưa ra các ví dụ về cách thức mà công nghệ này được áp dụng trong quá khứ”.  Lenka Zdeborová – Phó giáo sư vật lý, khoa học máy tính và hệ thống truyền thông ở Phòng thí nghiệm tính toán Vật lý thống kê – một phần của Trường Khoa học Cơ bản và Viện Kỹ thuật liên bang Lausanne (EPFL) – đang tiến hành các nghiên cứu để trả lời câu hỏi cơ bản này. Cùng với các đồng nghiệp trong lĩnh vực vật lý, hóa học, kỹ thuật và khoa học đời sống, Zdeborová đã khởi động một chuỗi bài giảng mới về học máy trong khóa học tiến sĩ.   Một sáng kiến khác của EPFL là dự án Khoa học Học máy 4 – một phần của khóa học về học máy tại IC của giáo sư Martin Jaggi và Nicolas Flammarion – cũng đang tạo dựng sự hợp tác giữa các trường và kết nối các dự án khoa học từ các phòng thí nghiệm thuộc tất cả các ngành khác nhau với các sinh viên. Từ năm 2018 đến 2020, hơn 600 sinh viên đã tham gia vào các dự án do 77 phòng thí nghiệm tại EPFL, và thậm chí là các dự án do các viện nghiên cứu bên ngoài như CERN, đề xuất.  Một dự án khác bắt nguồn từ một phòng thí nghiệm của Cathrin Brisken tại Trường Khoa học Sự sống (SV) lại liên quan đến một thuật toán học máy để phân biệt các tế bào của chuột và tế bào của người – điều đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu ung thư. Hiện nay, các nhà khoa học về ung thư thường nghiên cứu các khối u bằng cách ghép các tế bào người vào chuột, tuy nhiên, sau đó việc phân biệt được hai loại tế bào này lại trở thành một vấn đề. Nguyên nhân là bởi, để tìm được các tế bào người, các nhà khoa học thường phải nhuộm huỳnh quang và phân tích rất nhiều mẫu tế bào. Tuy nhiên, một chương trình máy tính của Quentin Juppet – một sinh viên ở IC – đã đơn giản hóa được tất cả quy trình này nhờ vào việc tự động hóa quá trình phân loại tế bào. Kết quả hứa hẹn đến nỗi anh đã biến nó thành luận văn thạc sỹ và mới đây kết quả cũng đã được công bố trên tạp chí Journal of Mammary Gland Biology and Neoplasia.   Trường Khoa học Sự sống còn có một dự án sử dụng học máy để phân loại các kiểu hình đột biến từ hình ảnh phôi của cá ngựa vằn. “Theo như những gì tôi biết, đây là dự án đầu tiên trong lĩnh vực phôi thai học, và nó có thể giúp sử dụng cá ngựa vằn để mô hình hóa các rối loạn gene di truyền ở người một cách hiệu quả hơn”, giáo sư Andrew Oates, hiệu trưởng của trường và là người đứng đầu Phòng thí nghiệm Thời gian, Dao động và Mẫu, cho biết.  Nhiều nghiên cứu khác cũng đã hướng đến một loạt những câu hỏi nghiên cứu vô cùng đa dạng như: dự đoán mức độ nghiêm trọng của cơn đột quỵ bằng cách sử dụng dữ liệu trò chơi pacman; tự động phát hiện các khu vực trống để lắp đặt các tấm quang năng áp mái; dự báo tuyết lở,…  Đối với James Larus, tương lai đã ở ngay đây và sẽ chỉ ngày càng trở nên tuyệt vời hơn. “Hiện chúng tôi đang khám phá công nghệ học máy lấy cảm hứng từ bộ não, dựa trên những kiến thức mới nhất từ ngành khoa học thần kinh, để phát triển các mô hình phức tạp và hiệu quả hơn cũng như xây dựng một hệ thống trí tuệ nhân tạo thế hệ mới. Vì vậy, tôi rất hy vọng lĩnh vực học máy sẽ có một quá trình phát triển dài lâu và mở rộng được quy mô các ứng dụng đã thành công của mình. Và điều đó sẽ thay đổi nền khoa học mãi mãi”.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-07-machine-science.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ in 3D chinh phục các nhà máy      Các chuyên gia đều nhất trí rằng, chỉ ít năm  nữa trong các cơ sở công nghiệp, ngoài máy tiện, máy bào truyền  thống, sẽ có máy in 3D dành cho những nhiệm vụ đặc biệt.    Công nghệ in 3D đã gây ấn tượng ở các sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Thí dụ, hãng sản xuất mì sợi Barilla của Italia đã sản xuất mì Spaghetti bằng công nghệ in 3D. Một số doanh nghiệp còn tính đến việc sản xuất sôcôla thông qua công nghệ này.   Ở Wales, các bác sĩ phẫu thuật mới đây đã tái tạo khuôn mặt bị biến dạng sau tai nạn giao thông của Stephen Power bằng cách cấy ghép các xương gò má, mũi, hàm trên và hốc mắt được in bằng công nghệ in 3D.   Tuy nhiên theo Bernhard Langefeld, chuyên gia về in 3D của hãng tư vấn Roland Berger, phương pháp này sẽ tạo đột phá ở lĩnh vực chế tạo đơn chiếc những sản phẩm bằng kim loại cực kỳ phức tạp và có công suất lớn như kim phun và vòi đốt, đây là những mặt hàng đơn chiếc, có tính chuyên dụng cao phục vụ ngành công nghiệp.   Các chuyên gia đều nhất trí rằng, chỉ ít năm nữa trong các cơ sở công nghiệp, ngoài máy tiện, máy bào truyền thống, sẽ có máy in 3D dành cho những nhiệm vụ đặc biệt. Theo các chuyên gia của Roland-Berger, doanh thu của thiết bị in 3D hiện nay trên toàn thế giới đạt 2,2 tỷ Euro và đến năm 2023 sẽ tăng lên hơn gấp ba lần – 7,7 tỷ. Tuy nhiên con số này cũng mới chỉ bằng một phần mười doanh thu của các loại máy công cụ cổ điển.     Công nghệ in 3D hoàn toàn trái ngược với cách thức sản xuất thông thường từ trước tới nay- tức là phải phay, bào, gọt, khoan phôi thép cho đến khi hoàn thành sản phẩm cuối cùng, cá biệt có khi phải loại bỏ tới 98% nguyên liệu, theo các chuyên gia của Trung tâm Laser LZN ở Hamburg. Đối với in 3D thì diễn ra điều ngược lại: sản phẩm được in chồng lớp (sản xuất bồi đắp – additive manufacturing), lớn dần lên cho đến kích thước hoàn chỉnh – trong thực tế quá trình này không tạo ra chất thải, đồng nghĩa với việc có thể giảm tiêu thụ nguyên liệu tới 55%.  Điều quan trọng hơn là các nhà chế tạo có nhiều quyền tự do hơn. Họ có thể tạo hình hài và bề mặt của chi tiết máy một cách thích hợp nhất, mặt khác họ có thể lựa chọn nguyên liệu thích hợp nhất cho từng mục tiêu sử dụng đối từng chi tiết.   “Chế tạo kiểu bồi đắp hiện đã trở thành một đề tài có ý nghĩa chiến lược đối với tất cả các hãng lớn về động cơ”, theo lời Oliver Edelmann, một trong những nhà lãnh đạo của Concept Laser. Trước đây để chế tạo một cái van người ta phải lắp ghép từ 20 bộ phận lại với nhau – ngày nay nó hình thành qua một công đoạn chế tạo duy nhất. Đã vậy van còn nhẹ hơn, có độ bền cao hơn và có sức chịu nhiệt cực cao, đến 1.300 độ C. Còn một thế mạnh nữa, mỗi máy in có thể thay thế tới 70 máy công cụ thông thường.   Ngành công nghiệp hàng không và vũ trụ được hưởng lợi nhiều nhất từ công nghệ in 3D. Tới đây tập đoàn sản xuất máy bay Airbus cũng sẽ đưa công nghệ in 3D vào sản xuất. Airbus từ lâu đã dùng công nghệ này để cho ra đời những nguyên mẫu. Từ đầu năm 2016 lần đầu tiên Airbus sẽ cho sản xuất hàng loạt theo công nghệ 3D loại giá đỡ titan để có thể lắp vào máy bay thương mại.   Đây không phải là chuyện nhỏ. Trong mỗi chiếc máy bay phản lực Airbus có tới 30.000 giá đỡ để tăng độ bền vững cho các cấu phần ở cabin. Nếu qua đó trọng lượng được tối ưu hoá thì sẽ có lợi ngay lập tức vì giảm trọng lượng của máy bay có nghĩa có thể vận chuyển thêm hành khách hoặc với cùng lượng nhiên liệu nhưng có thể bay xa hơn.   Những nhà phát minh sáng chế chỉ sau 48 giờ có thể có trong tay những nguyên mẫu – đây là một lợi thế nữa của công nghệ in 3D. Theo cách thông thường, việc sản xuất thử được giao cho bộ phận đúc và phải chờ đợi hàng tháng mới nhận được nguyên mẫu. Nhờ công nghệ mới, các nhà nghiên cứu, phát triển có thể so sánh nhiều phương án với nhau một cách nhanh chóng để chọn ra sản phẩm tốt nhất, nhờ đó giảm đáng kể thời gian phát triển.   Tuy vậy công nghệ in 3D không làm giảm nhẹ vai trò của ngành cơ khí truyền thống – các loại máy phay và những trung tâm gia công sẽ còn tồn tại lâu dài vì chúng có thể tiến hành sản xuất hàng loạt với giá thành thấp hơn. Eric Klemp, chuyên gia sản xuất thuộc Direct Manufacturing Research Center (DMRC), Đại học Paderborn khẳng định: “Phương pháp sản xuất bồi đắp có thể bổ sung cho lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng không thể triệt tiêu được ngành này.” Tuy nhiên ông Klemp vẫn đánh giá tốc độ tăng trưởng của công nghệ in 3D trong những năm tới có thể lên đến 10 lần.   Điều rõ ràng là công nghệ in 3D sẽ đóng vai trò lớn trong lĩnh vực dịch vụ. Cơ sở dịch vụ có thể in ngay chi tiết thiết bị bị hỏng để thay thế cho khách hàng. Nhiều cơ sở sản xuất với máy móc đắt tiền không còn phải ngừng hoạt động trong khi chờ phụ tùng thay thế từ nơi khác chuyển đến.   Để khai thác triệt để những khả năng của công nghệ in 3D, trước hết các nhà phát triển và thiết kế phải thay đổi cách suy nghĩ. Viễn cảnh trong tương lai là nhà thiết kế sản phẩm chỉ còn phải thực hiện một vài yêu cầu, thí dụ quy định về vị trí lắp đặt và sức chịu lực, sau đó máy tính sẽ tự xác định hình dạng cấu trúc tối ưu. Con người sẽ được giải phóng khỏi sự trói buộc phiền phức của công nghệ sản xuất cũ. Đến lúc đó không sức mạnh nào có thể cản trở cuộc cách mạng in 3D trong cuộc sống.   Nguyễn Xuân Hoài lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ laser kỹ thuật số và khí ozone có thể giúp giảm ô nhiễm trong quá trình sản xuất vải      Trong một bài báo khoa học mới xuất bản trên tạp chí Current Opinion in Green and Sustainable Chemistry Journal, một nhóm các nhà nghiên cứu làm việc tại Việt Nam, Úc và Ấn Độ đã đo lường tiềm năng của việc ứng dụng công nghệ laser kỹ thuật số và công nghệ ozone vào sản xuất denim để giảm tác động môi trường ở Việt Nam.    Denim là loại vải dệt kiểu đan chéo bằng những sợi cotton trắng và chàm. Tên gọi của nó được đặt theo nơi sản xuất đầu tiên là “serge de Nimes” (Pháp).    Denim thường được dùng để may quần jeans – một loại trang phục cực kỳ phổ biến ở khắp nơi trên trái đất. Tuy nhiên, để làm ra một chiếc quần jeans tính từ lúc trồng bông đến sản phẩm hoàn thiện, thông thường cần hơn 3.700 lít nước.    Quy trình sản xuất vải demin đòi hỏi phải giặt nhiều lần và sử dụng nhiều hóa chất. Để tạo cho chiếc quần jean hiệu ứng bạc màu hoặc phai màu, người ta dùng các loại axit và hóa chất để làm sáng màu vải, hoặc chà đá bọt lên vải. Quần jeans sau đó được giặt kỹ nhiều lần để loại bỏ các hóa chất, axit và đá mịn trước khi đem bán.    Trong quá trình xử lý và nhuộm vải, hàng tấn nước thải chứa các hóa chất có thể bị đổ ra môi trường mà không qua xử lý cẩn thận.        Trên thực tế, công nghệ laser có thể dùng để tạo hoa văn, làm phai màu và khắc lên bề mặt vải. Sử dụng laser được đánh giá là hiệu quả và vệ sinh hơn so với các kỹ thuật thông thường, đồng thời giảm thiểu tác động lên môi trường bởi chúng gần như không sử dụng nước.    Kết quả của nghiên cứu điển hình với hai doanh nghiệp Việt Nam cho thấy công nghệ laser kỹ thuật số giúp tiết kiệm một lượng đáng kể nước (97%), năng lượng (70-90%) và chi phí hóa chất (60-70%).    Các tác giả cho biết thêm, thay vì thời gian xử lý kéo dài từ 30-45 phút như trước kia thì công nghệ laser chỉ cần hai phút. Nó cũng có thể tạo ra nhiều hiệu ứng sáng tạo khác nhau với độ chính xác cao chỉ trong vòng vài phút, do vậy doanh nghiệp có thể nhanh chóng thử nghiệm nhiều mẫu mã mới trên thị trường.    Trong khi đó, ozone là chất oxy hóa mạnh có thể dùng để tạo hiệu ứng phai màu trong quá trình giặt vải denim. Không giống như các phương pháp giặt thông thường, khí ozone có thể loại bỏ vết chàm khỏi bề mặt vải mà không cần sử dụng hóa chất hay ngâm nước.    Vải denim khô sau khi được ozone hóa sẽ không cần giặt xả bằng nước. Nếu ozone hóa vải ướt, chỉ cần giặt 1-2 lần là đủ để loại bỏ hết lượng ozone còn sót lại và chất chàm đã tẩy khỏi vải. Đây là cơ chế giúp tiết kiệm nước của phương pháp này.    Đồng tác giả PGS. Rajkishore Nayak, Khoa Truyền thông và Thiết kế của Đại học RMIT Việt Nam, nhận xét rằng: “Nhìn chung, laser và ozone có thể giảm mức tiêu thụ năng lượng và nước, tiết kiệm đáng kể hóa chất và hạn chế chất thải dạng lỏng đổ ra sông hồ. Tuy nhiên, các công nghệ này hiện mới chỉ được sử dụng ở một số doanh nghiệp sản xuất denim ở Việt Nam do chi phí đầu tư ban đầu cao và đòi hỏi kỹ năng riêng đối với nhân sự vận hành máy móc.”    Ông tin rằng với xu thế khuyến khích kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững như hiện nay, tỷ suất hoàn vốn (ROI) và lợi ích đạt được khi áp dụng công nghệ sẽ lớn hơn khoản đầu tư ban đầu. Công nghệ laser có thể ứng dụng rộng rãi hơn so với ozone vì chúng có thể dùng trong sản xuất cả hàng dệt may kỹ thuật, vật liệu nội thất ô tô và trang trí nội thất gia đình.    Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất vải denim. Theo thống kê sơ bộ của Foursource – mạng lưới tìm nguồn cung ứng B2B lớn nhất cho ngành dệt may có trụ ở tại Đức, Việt Nam đang có khoảng 520 nhà sản xuất quần jeans denim. Con số này chiếm khoảng 8 – 10% so với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dệt may trên cả nước.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Công nghệ lò phản ứng nước áp lực thế hệ III và III+      Việc thiết kế các lò phản ứng thế hệ III và III+ nằm trong xu hướng chính của vấn đề nghiên cứu và phát triển công nghệ điện hạt nhân (ĐHN) cho tương lai, đó là hoàn thiện các công nghệ ĐHN hiện hành và thiết kế cải tiến để đáp ứng các yêu cầu sau: Giảm thời gian xây dựng; Tăng tính an toàn; Giảm xác suất tai nạn nóng chảy vùng hoạt; Tăng tuổi thọ lên 60 năm; Giảm sự tác động tới môi trường. Giảm lượng chất thải phóng xạ.        Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, người ta bắt đầu nghiên cứu sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình. Năm 1954 nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) đầu tiên trên thế giới được đưa vào vận hành tại Obnhinsk, Liên Xô cũ với công suất 5MW. Năm 1956 Anh đưa vào vận hành thương mại NMĐHN Calder Hall công suất 60 MW. Năm 1957 Mỹ đưa vào vận hành thương mại NMĐHN Shipping port công suất 100 MW. Các nước đi đầu về công nghệ NMĐHN là Liên Xô cũ, Mỹ, Anh và Canada. Hiện nay trên thế giới có 442 lò phản ứng hạt nhân năng lượng đang được vận hành tại 31 nước và lãnh thổ với tổng công suất 356740 MWe và chiếm khoảng 17% sản lượng điện toàn thế giới.  Công nghệ lò phản ứng hạt nhân đã được phát triển rất phong phú. Hiện có khoảng 10 loại lò đang được sử dụng. Tuy vậy ba loại chính là lò nước áp lực (PWR và VVER của Nga): 59,5%; lò nước sôi (BWR): 20,8%; và lò nước nặng áp lực (PHWR): 7,7%; các loại khác chiếm hơn 10%.   Các lò phản ứng thế hệ I là các lò phản ứng được đưa vào vận hành vào những thập kỷ 50-60 như Shippingport, Fermi I ở Mỹ…và đã được tháo dỡ gần hết. Đại đa số các lò phản ứng đang hoạt động hiện nay thuộc thế hệ II.  Sau sự cố Three Mile Island ở Mỹ (1979) và đặc biệt là sự cố Chernobyl ở Liên Xô cũ (1986), các loại lò phản ứng được nghiên cứu cải tiến đáng kể và ra đời lò phản ứng thế hệ III. Trên cơ sở lò nước nặng áp lực CANDU-6, Canada đã thiết kế lò CANDU cải tiến ACR-700 công suất 700 MWe với ý tưởng mới là dùng nước nhẹ làm chất tải nhiệt và chất làm chậm vẫn là nước nặng thay cho thiết kế truyền thống của lò CANDU là dùng nước nặng cho cả chất làm chậm và chất tải nhiệt. Lò ACR-700 có thể sử dụng nhiên liệu là uranium tự nhiên, uranium có độ giàu thấp hoàn nguyên từ tái chế nhiên liệu đã cháy của PWR và còn ứng dụng các đặc điểm an toàn thụ động. Canada đang thiết kế lò ACR-1000.  Mỹ đã phát triển lò nước sôi tiên tiến ABWR công suất 1300 MW, có hai lò loại này đang vận hành thương mại ở Nhật Bản và hai đang được xây dựng ở Đài loan. Thuỵ Điển đã thiết kế lò nước sôi BWR 90+ tiến hoá công suất 1500MWe.                  Một số nước có chương trình nghiên cứu và phát triển lò tái sinh neutron nhanh (FBR). Các lò này dùng cả U-238 và U-235 vì vậy lò FBR có thể sử dụng uranium với hiệu suất hơn 60 lần so với  lò phản ứng thường. Nga đã xây hai lò tái sinh neutron nhanh đang hoạt động để cung cấp điện là BN-350 ở Kazakhstan, BN-600 ở Nga và đang xây lò BN-800. Hiện có gần 20 lò FBR tải nhiệt bằng kim loại lỏng đang vận hành trong đó có một số cung cấp điện thương mại. Tuy nhiên xây dựng rất tốn kém vì vậy việc nghiên cứu FBR Âu châu bị đình lại và lò FBR Superphenix 1250 MWe của Pháp cũng bị đóng của. Công ty General Electric (GE) cũng đã tiến hành thiết kế lò an toàn nội tại tải nhiệt bằng kim loại lỏng (PRISM). GE và Argonne còn phát triển lò nhân neutron nhanh kim loại lỏng cải tiến (ALMR) công suất hơn 1400 MWe, nhưng cả 2 thiết kế này ngay ở giai đoạn đầu đã bị loại khỏi danh sách thẩm định của Cơ quan pháp quy Hoa Kỳ (NRC). Super-PRISM là một thiết kế cải tiến khác của GE là lò dạng bể modul compact thoát nhiệt dư thụ động, công suất 1000 MWt và vận hành ở nhiệt độ  510 oC cao hơn PRISM với chất tải nhiệt natri lỏng.  Về dòng lò phản ứng dùng khí He làm chất tải nhiệt, Mỹ đã thiết kế lò HTR tải nhiệt bằng khí helium nhiệt độ cao (nhiệt độ cao tới 950 oC) có thể tăng hiệu suất nhiệt tới 48%.  Nam Phi đang phát triển lò tầng cuội modul PBMR (Pebble Bed Modular Nuclear Reator) với 450.000 viên cuội nhiên liệu di chuyển quay vòng qua vùng hoạt một cách liên tục (mỗi viên qua khoảng 10 lần) cho đến khi cạn kiệt. Lò PBMR hy vọng sẽ trở thành lò an toàn và kinh tế.  Một phát triển gần đây là Hệ lò dùng máy gia tốc, đó là kết hợp công nghệ lò phân hạch và máy gia tốc để phát điện. Chùm proton năng lượng cao đập vào bia kim loại nặng làm sản sinh neutron. Các neutron  gây ra phân hạch trong nhiên liệu, nhưng không giống lò thông thường, nhiên liệu luôn ở dưới tới hạn và phân hạch lập túc chấm dứt khi máy gia tốc tắt. Nhiên liệu có thể là uranium, plutonium, thorium, có thể trộn cả chất thải sống dài từ các lò thông thường. Tuy vậy vấn đề công nghệ và kỹ thuật vẫn còn cần giải quyết  và được kiểm chứng.  Dòng lò thế hệ III và III+ chiếm được nhiều sự quan tâm và đặt mua là lò nước áp lực, đó là các lò VVER-428 (AES-91), VVER-392 (AES-92) công suất 1000 MWe của Nga; EPR công suất 1600 MWe của Pháp. Tuy nhiên các lò phản ứng nước áp lực thế hệ III này mới chỉ đang được xây dựng, cái sớm nhất sẽ được đưa vào hoạt động năm 2012. Lò phản ứng VVER-428, VVER-392 đang được xây dựng tại Nga, Trung Quốc đang xây hai lò VVER-428 và cũng đặt mua thêm hai lò phản ứng loại này nữa, Ấn Độ đang xây dựng hai lò VVER-392. Pháp đang xây dựng một lò EPR dự kiến đưa vào hoạt động năm 2013, Phần Lan cũng đã mua và đang xây một lò EPR. Hàn Quốc phát triển lò nước áp lực cải tiến APR1400 MWe dựa trên thiết kế System 80+ của Mỹ được coi là lò thế hệ III của Hàn quốc. Tổ máy đầu tiên của loại lò này đang được xây dựng dự kiến vận hành vào năm 2012 ở Hàn Quốc.  Các lò phản ứng nước áp lực thế hệ III+ tiêu biểu là AES-2006 của Nga và lò AP1000 của Mỹ.  Việc thiết kế các lò phản ứng thế hệ III và III+ nằm trong xu hướng chính của vấn đề nghiên cứu và phát triển công nghệ điện hạt nhân (ĐHN) cho tương lai, đó là hoàn thiện các công nghệ ĐHN hiện hành và thiết kế cải tiến để đáp ứng các yêu cầu sau: Giảm thời gian xây dựng; Tăng tính an toàn; Giảm xác suất tai nạn nóng chảy vùng hoạt; Tăng tuổi thọ lên 60 năm; Giảm sự tác động tới môi trường. Giảm lượng chất thải phóng xạ.        Trong thời gian gần sáu mươi năm phát triển, các NMĐHN sử dụng lò nước áp lực đã và đang vận hành ổn định, an toàn. Những lò phản ứng nước áp lực thế hệ III và III+ có những ưu điểm vượt trội về mặt an toàn và kinh tế. Đó là những đối tượng được nhiều nước xem xét cho chương trình ĐHN của mình. Tuy vậy chưa có thiết kế nào được tính toán an toàn cho trường hợp xảy ra sự cố do nguyên nhân kép là động đất và sóng thần. Vì vậy trong tương lai gần các công ty thiết kế và các ủy ban an toàn chắc chắn sẽ thực hiện công việc đánh giá an toàn các loại lò phản ứng này cho trường hợp động dất và sóng thần cùng xảy ra.          Trong quá trình hoạt động của NMĐHN luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất an toàn vì vậy hệ thống đảm bảo an toàn rất quan trọng. Thiết kế hệ thống an toàn cho NMĐHN phải đáp ứng các nhiệm vụ sau: Điều khiển công suất và dập lò sự cố; Làm mát và làm nguội khẩn cấp vùng hoạt (lõi lò) khi có sự cố; che chắn và giam giữ chất phóng xạ. Hệ làm nguội vùng hoạt khẩn cấp của lò nước nhẹ thế hệ II bao gồm hai hệ độc lập là Hệ phun nước vùng hoạt áp suất cao và Hệ phun nước vùng hoạt áp suất thấp, các hệ thống này được cấp điện bằng hai nguồn điện độc lập với độ tin cậy cao. Hai hệ này được gọi là hệ an toàn chủ động. Khi có sự cố, điều lo ngại nhất là mất chất tải nhiệt (nước) có thể gây nóng chảy vùng hoạt dẫn dến phá hủy toàn bộ lò phản ứng. Trong điều kiện hoạt động bình thường áp suất trong lò khoảng 15-16 MPa, khi mất chất tải nhiệt thì áp suất cũng giảm dần đến một giá trị định sẵn (thường là khoảng 8 MPa) thì Hệ phun nước vùng hoạt áp suất cao tự động hoạt động để bơm nước (nước trộn với a xít Bo) bổ xung vào làm nguội vùng hoạt. Nếu sự cố không khắc phục được, chất tải nhiệt tiếp tục mất nghĩa là áp suất tiếp tục giảm đến một giá trị định sẵn khác thì Hệ phun nước vùng hoạt áp suất thấp tự động hoạt động để bơm nước bổ xung vào làm nguội vùng hoạt.  Các hệ làm nguội vùng hoạt khẩn cấp của lò nước nhẹ thế hệ III và III+ được chú ý cải tiến nhằm nâng cao độ an toàn của lò phản ứng. Đối với các lò các lò nước VVER-428 và VVER-392 của Nga, ngoài hai hệ an toàn chủ động giống như ở thế hệ II người ta còn thiết kế một hệ an toàn thụ động với bốn bể chứa nước trộn a xít Bo với dung lượng 50 m3 mỗi bể được nén sẵn sàng ở áp suất 6,0 MPa. Khi áp suất trong lò giảm đến 5,9 MPa thì Hệ an toàn thụ động đẩy nước trộn a xít Bo vào làm mát vùng hoạt mà không cần phải bơm như các hệ an toàn chủ động.  Lò phản ứng VVER-392 còn được thiết kế bẫy Corium để thu hồi các sản phẩm nóng chảy vùng hoạt khi có sự cố nặng. Nếu xảy ra sự cố nặng làm nóng chảy vùng hoạt, các sản phẩm  nóng chảy từ vùng hoạt thoát ra với nhiệt độ rất cao sẽ tiếp xúc với nước làm hóa hơi đột biến và gây nổ hơi nước và có nhiều nguy cơ phá hủy nhà lò phản ứng, làm phóng xạ thất thoát ra ngoài.  Trong hệ làm nguội vùng hoạt khẩn cấp của lò phản ứng thế hệ III+, AES-2006 của Nga, ngoài hệ an toàn thụ động và bẫy Corium để thu hồi các sản phẩm nóng chảy vùng hoạt như lò VVER-392 (AES-92) còn được thiết kế thêm một hệ an toàn thụ động bằng khí nén ở áp suất 1,5 MPa và hệ làm mát nhà lò thụ động cùng với hệ làm mát nhà lò bằng không khí đối lưu tự nhiên.  Thành công lớn nhất trong thiết kế lò phản ứng AP1000 của Mỹ là hệ thống an toàn chỉ sử dụng nguyên lý thụ động. Hệ thống này chỉ sử dụng các lực tự nhiên như trọng lực, đối lưu tự nhiên và khí nén để thực hiện chức năng an toàn. Không cần bơm, quạt, máy phát điêzen. Hệ thống làm mát vùng hoạt thụ động của lò AP1000 gồm có bốn hệ thành viên, đó là: Hệ phun an toàn áp suất cao (sử dụng trọng lực); Hệ phun an toàn áp suất trung bình (sử dụng khí nén); Hệ làm mát vùng hoạt áp suất thấp (sử dụng trọng lực); Hệ thống tải nhiệt dư thụ động (sử dụng nguyên lý đối lưu tự nhiên). Lò phản ứng AP1000 còn thiết kế hệ làm mát nhà lò thụ động và hệ làm mát nhà lò bằng không khí đối lưu tự nhiên.  Tính ưu việt của  NMĐHN với lò AP1000 là dựa trên khái niệm thiết kế đơn giản, bơm tuần hoàn được thiết kế bọc kín và gắn liền với lò hơi. Hệ thống đường ống nối giữa lò phản ứng với lò hơi, bơm tuần hoàn và bình điều áp rất gọn. Số lượng đường ống giảm hơn 5 lần, số lượng dây cáp chỉ bằng xấp xỉ 1/8, số lượng bơm giảm đi đáng kể so với nhà máy sử dụng lò PWR thế hệ II có cùng công suất. Mặt bằng xây dựng cũng nhỏ hơn nhiều cho nên khối lượng xây dựng ít hơn và khối lượng tháo dỡ khi nhà máy hết hạn sử dụng cũng ít hơn. Thiết kế NMĐHN với lò AP1000 theo kiểu module bao gồm hơn 300 module trong đó hơn 150 module của các bộ phận kết cấu và khoảng 150 module của các bộ phận cơ khí. Điều đó cho phép vừa chế tạo module vừa xây dựng, rút ngắn tiến độ thi công tại công trường, tối thiểu hóa số lượng công nhân thi công tại hiện trường, thực hiện nhiều hạng mục trong nhà máy, nên có điều kiện kiểm tra, quản lý chất lượng nhằm nâng cao chất lượng công trình và rút ngắn thời gian xây dựng và lắp đặt thiết bị của nhà máy (dự kiến 48 tháng).  Lò phản ứng EPR được thiết kế, chế tạo dựa trên công nghệ đã được kiểm chứng là các lò phản ứng N4 của Pháp và KONVOI của Đức. Hệ làm nguội vùng hoạt khẩn cấp vẫn chỉ sử dụng hệ an toàn chủ động là hệ phun nước vùng hoạt áp suất cao và hệ phun nước vùng hoạt áp suất thấp. Tuy nhiên trong nhà lò được thiết kế hệ thống hầm chứa sản phẩm nóng chảy để bảo vệ khi có sự cố nặng làm nóng chảy vùng hoạt.  Trong thời gian gần sáu mươi năm phát triển, các NMĐHN sử dụng lò nước áp lực đã và đang vận hành ổn định, an toàn. Những lò phản ứng nước áp lực thế hệ III và III+ có những ưu điểm vượt trội về mặt an toàn và kinh tế. Đó là những đối tượng được nhiều nước xem xét cho chương trình ĐHN của mình. Tuy vậy chưa có thiết kế nào được tính toán an toàn cho trường hợp xảy ra sự cố do nguyên nhân kép là động đất và sóng thần. Vì vậy trong tương lai gần các công ty thiết kế và các ủy ban an toàn chắc chắn sẽ thực hiện công việc đánh giá an toàn các loại lò phản ứng này cho trường hợp động dất và sóng thần cùng xảy ra.  Lò phản ứng thế hệ IV sẽ đáp ứng các yêu cầu về an toàn cao hơn thế hệ III và III+. Tuy nhiên đang còn ở giai đoạn thiết kế khái niệm hoặc thực nghiệm, hy vọng sẽ được xem xét khai thác sau năm 2030.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ loại bỏ 99% carbon dioxide ra khỏi không khí      Theo một nghiên cứu mới công bố trên Nature Energy, các kỹ sư ở Đại học Delaware (Hoa Kỳ) đã phát triển một hệ thống điện hóa mới chạy bằng nhiên liệu hydro có thể thu giữ hiệu quả 99% CO2 từ không khí. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thu giữ CO2 và góp phần đưa các loại pin nhiên liệu (fuel cell) thân thiện môi trường tới gần hơn với thị trường.    Pin nhiên liệu hoạt động bằng cách biến đổi trực tiếp hóa năng của nhiên liệu thành điện năng. Chúng có thể ứng dụng trong giao thông vận tải cho những chiếc xe hybird hoặc xe không phát thải.  GS. Yushan Yan (Đại học Delaware) đã dành nhiều thời gian để cải tiến các pin nhiên liệu có màng trao đổi bằng hydroxit (HEM), một loại pin thay thế có tính kinh tế và thân thiện với môi trường hơn so với những loại pin nhiên liệu dựa trên axit truyền thống hiện dùng.  Nhưng pin nhiên liệu HEM có một khuyết điểm khiến chúng chưa được đem ra sử dụng, đó là chúng cực kì nhạy cảm với CO2 trong không khí, khiến cho các phản ứng hóa học trong pin khó diễn ra hơn.  Điểm yếu này làm giảm hiệu quả của pin tới 20%, khiến pin nhiên liệu không tốt hơn động cơ xăng là mấy. Trong hơn 15 năm, nhóm nghiên cứu của GS. Yan đã đi tìm giải pháp cho câu hỏi hóc búa ấy. Vài năm trước, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng nhược điểm này có thể lại chính là một giải pháp để loại bỏ CO2. “Khi tìm hiểu về cơ chế này, chúng tôi nhận ra rằng pin nhiên liệu đang thu giữ mọi CO2 đi vào chúng, và chúng thật sự rất giỏi trong việc tách CO2 sang [điện cực] bên kia”, PGS. Brian Setzler, nhà nghiên cứu về kỹ thuật hóa học và phân tử sinh học, đồng tác giả của bài báo cho biết.  Mặc dù điều này không tốt cho pin nhiên liệu nhưng nhóm nghiên cứu biết rằng nếu họ có thể tận dụng quá trình “tự thanh lọc” này trong một thiết bị khác ở đầu nguồn, ngăn cách với bộ pin nhiên liệu, thì họ có thể biến nó thành một máy phân tách CO2.  “Hóa ra cách tiếp cận của chúng tôi rất hiệu quả. Chúng ta có thể thu giữ 99% lượng CO2 ra khỏi không khí trong một lượt nếu chúng ta có được một thiết kế và cấu hình phù hợp”, GS. Yan nói.  Cụ thể, họ đã tìm ra cách “nhúng” nguồn năng lượng cho công nghệ điện hóa vào trong các lớp màng tách biệt. Phương pháp này liên quan đến việc làm đoản mạch bên trong thiết bị.  “Nó khá nguy hiểm, nhưng chúng tôi đã kiểm soát được pin nhiên liệu đoản mạch này bằng hydro. Và bằng cách sử dụng những màng đoản mạch bên trong, chúng tôi có thể loại bỏ những cấu phần cồng kềnh như tấm lưỡng cực, bộ thu dòng điện hoặc các loại dây dẫn thường thấy trong một bộ pin nhiên liệu”, nghiên cứu sinh Lin Shi, tác giả chính của bài báo, cho biết.  Công nghệ này đã được cấp bằng sáng chế. Hiện tại, nhóm nghiên cứu đã có một thiết bị điện hóa trông như một màng lọc tách khí bình thường, nhưng có khả năng liên tục “gắp” lượng CO2 cực nhỏ ra khỏi không khí như một hệ thống điện hóa phức tạp.  Trên thực tế, việc đưa dây điện vào bên trong màng tạo đoản mạch đã giúp các hạt CO2 dễ dàng đi chuyển từ bên này sang bên kia. Nó cũng cho phép nhóm nghiên cứu xây dựng một module xoắn ốc gọn chặt, với diện tích bề mặt lớn và khối lượng nhỏ, có khả năng lọc được lượng khí nhiều hơn, khiến cho chúng hiệu quả và tiết kiệm cho những ứng dụng pin nhiên liệu. Trong khi đó, ít cấu phần hơn đồng nghĩa với việc phải bỏ ra ít chi phí hơn, và quan trọng hơn là giúp ứng dụng này dễ dàng mở rộng quy mô ra thị trường.  Kết quả của nhóm nghiên cứu cho thấy một tế bào điện hóa có kích thước 2×2 inch có thể liên tục loại bỏ khoảng 99% lượng CO2 trong dòng khí với tốc độ khoảng 2 lít/phút. Các nhà nghiên cứu cho biết nguyên mẫu thiết bị xoắn ốc ban đầu với kích thước bằng 1 lon soda có thể lọc được 10 lít không khí mỗi phút và loại bỏ 98% lượng CO2.  Nếu ứng dụng cho ô tô, thiết bị sẽ có kích thước gần bằng một can sữa, PGS. Setzler nói. Không chỉ vậy, nó cũng có thể là thiết bị loại bỏ CO2 hiệu quả trong tàu vũ trụ hoặc tàu ngầm, và tương lai xa có thể được sử dụng trong máy bay và các tòa nhà, giúp tiết kiệm năng lượng bằng biện pháp tuần hoàn không khí. □  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-02-game-changing-technology-carbon-dioxide-air.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ lọc nước cho các vùng khai thác và chế biến khoáng sản      Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ – Luyện kim  (Bộ Công Thương) chế tạo thiết bị ứng dụng công nghệ vật liệu  lọc&#160;nano&#160;để xử lý nước tự nhiên phục vụ ăn uống và sinh hoạt cho các  vùng khai thác&#160;và&#160;chế biến khoáng sản.     Kỹ sư Đinh Văn Tôn thuộc Trung tâm Môi trường Công nghiệp của Viện chủ trì đề tài.   Trong quá trình thực địa tại các vùng khai thác khoáng sản, kỹ sư Đinh Văn Tôn nhận thấy, tình trạng khan hiếm nước sạch để dùng trong sinh hoạt hàng ngày trở nên hết sức phổ biến, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động cũng như chi phí đầu tư cho hoạt động cung cấp nước của doanh nghiệp. Vì vậy kỹ sư Tôn và cộng sự đã suy nghĩ và đề xuất đề tài  “Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị ứng dụng công nghệ vật liệu lọc nano để xử lý nước tự nhiên phục vụ ăn uống và sinh hoạt cho các vùng khai thác và chế biến khoáng sản”. Theo đó, ông nghiên cứu chế tạo ra một thiết bị ứng dụng vật liệu lọc có khả năng xử lý nước phục vụ nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của công nhân trên cơ sở một quy trình công nghệ và thiết kế chi tiết phù hợp.   Trên cơ sở thống kê kết quả quan trắc chất lượng nguồn nước và kết quả phân tích chất lượng các mẫu nước, nhóm thực hiện đề tài đã xác định các chỉ tiêu ô nhiễm chính trong nguồn nước cần phải xử lý, bao gồm 15 thông số, qua đó đưa ra giải pháp công nghệ và chế tạo mô hình thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu khả năng xử lý bằng mô hình thí nghiệm cho thấy, tất cả các các chỉ tiêu ô nhiễm đã xác định đều được xử lý hiệu quả. Chất lượng nguồn nước đầu ra đạt QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước ăn uống và QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước sinh hoạt.  Từ các kết quả nghiên cứu này, nhóm thực hiện đề tài đã đề xuất giải pháp công nghệ xử lý và hai mô hình công nghệ xử lý nước ở quy mô công trình và quy mô thiết bị. Do hầu hết các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản đều có bể chứa nước đã qua xử lý sơ bộ bằng lọc cát, nguồn nước đầu vào đã có độ trong nhất định nên ông Tôn và cộng sự đã không tích hợp công đoạn xử lý độ đục và các tạp chất trong thiết bị nên thiết bị sẽ không bao gồm mô-đun phản ứng và mô-đun lắng. Việc xử lý này nhằm đơn giản hóa việc thiết kế và chế tạo, qua đó việc vận hành thiết bị trở nên dễ dàng hơn.    Không chỉ dừng ở đây, để tăng độ bền và tính tối ưu trong vận hành của thiết bị, nhóm nghiên cứu đã quyết định sử dụng các vật liệu lọc truyền thống kết hợp vật liệu lọc nano. Việc kết hợp hai yếu tố vật liệu này góp phần  giảm chi phí đầu tư và phù hợp với môi trường các vùng khai thác và chế biến khoáng sản.  Qua những kết quả đã được kiểm nghiệm thực tế, kỹ sư Đinh Văn Tôn và cộng sự đã tiến hành thiết kế, chế tạo thiết bị xử lý nước với công suất 500 lít/giờ, phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản quy mô nhỏ và vừa hoặc các cụm dân cư phân tán sống tại vùng sâu, vùng xa thiếu nước sạch.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mở trong các cơ sở văn hóa và giáo dục      Sau Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Chính phủ đã có hai quyết định có liên quan tới việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, bao gồm cả các dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở, triển khai liên thông, chia sẻ tài nguyên và sản phẩm thông tin thư viện theo chức năng, nhiệm vụ, văn bản hợp tác.      Tranh đường phố ở Ý (được số hóa trên trang của Europeana) .  Từ ví dụ của Europeana     Việc xây dựng một hệ thống thư viện số, mở và chia sẻ để dùng chung giữa các thư viện là chủ đề nóng vài năm gần đây, và nó đã trở nên đặc biệt nóng hơn nhiều trong giai đoạn sau đại dịch COVID-19, khi nhiều hoạt động giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng, đã và đang phải chuyển lên trên trực tuyến.    Cũng đã có vài sáng kiến xây dựng các hệ thống như vậy, ví dụ như sáng kiến xây dựng thư viện điện tử dùng chung cho các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam thuộc dự án Nâng cao chất lượng giáo dục đại học do Ngân hàng Thế giới tài trợ với sự tham gia của 45 trường đại học và học viện, hay sáng kiến xây dựng hệ thống thư viện số đại học dùng chung nhằm chia sẻ các học liệu nội sinh giữa 28 cơ sở thư viện đại học và học viện. Các sáng kiến này đều được khởi xướng từ 2017, nhưng vì nhiều lý do, tới nay vẫn chưa thể đi vào sử dụng trong thực tế.    Bài viết này gợi ý một ví dụ điển hình xây dựng hệ thống kết nối mở, liên thông như vậy nhưng được mở rộng hơn không chỉ cho các thư viện của các cơ sở giáo dục, mà còn cho cả các cơ sở bộ nhớ khác của ngành văn hóa, như các phòng trưng bày, thư viện, kho lưu trữ và các viện bảo tàng, như của Europeana.     Europeana và tiếp cận OpenGLAM     Europeana một nền tảng số, mở, do Europeana Foundation (Quỹ Europeana), một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở ở Hà Lan quản lý, đã tập hợp được hơn 57 triệu đối tượng số từ các bộ sưu tập trên trực tuyến của hơn 3.500 phòng trưng bày, thư viện, viện bảo tàng, các bộ sưu tập nghe nhìn và các kho lưu trữ từ khắp châu Âu, theo một tài liệu được Europeana xuất bản năm 2019. Tài liệu này cũng cho biết, trên thực tế có tới 90% các đối tượng di sản văn hóa của châu Âu còn chưa được số hóa, và Europeana sẽ tiếp tục làm việc với các cơ sở văn hóa và các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu để xử lý phần còn lại.    Điều đặc biệt quan trọng là Europeana chọn tiếp cận mở để tiến hành chuyển đổi số, và đương nhiên, bao gồm việc số hóa nội dung của các cơ sở văn hóa được kết nối tới nó, một tiếp cận được biết tới với tên gọi là OpenGLAM, với GLAM là viết tắt các từ tiếng Anh của các phòng trưng bày, thư viện, kho lưu trữ, viện bảo tàng (Galleries, Libraries, Archives, Museums).    OpenGLAM là mạng toàn cầu của những người và tổ chức đang làm việc để mở nội dung và dữ liệu do các phòng trưng bày, thư viện, kho lưu trữ và viện bảo tàng nắm giữ. Như một cộng đồng thực hành, nó kết hợp các nỗ lực liên tục để phổ biến tri thức và văn hóa thông qua các chính sách và thực hành để khuyến khích các cộng đồng rộng lớn hơn tham gia, và tích hợp họ với các nhu cầu và hoạt động của các cộng đồng nghề nghiệp làm việc trong các cơ sở GLAM.    Các GLAM là các cơ sở mạnh về chia sẻ tri thức với thế giới. Đặc biệt trên Internet, việc xây dựng thực hành chia sẻ tri thức đòi hỏi áp dụng các thực hành mở các bộ sưu tập bằng việc sử dụng cấp phép mở, các công cụ mở, và hạ tầng mở.    Câu hỏi là: Với vai trò là người dẫn dắt và tổ chức hệ thống, làm thế nào Europeana xây dựng được một hệ thống mở, kết nối và chia sẻ rộng khắp như vậy?      Trang chủ của Europeana     14 tuyên bố quyền     Để có thể xây dựng một hệ thống như vậy, Europeana trước hết tập trung vào việc làm rõ bản quyền của các bộ sưu tập và các hạng mục trong các bộ sưu tập được các nhà cung cấp nội dung đưa lên nền tảng số, mở Europeana bằng việc đưa ra 14 tuyên bố các quyền như được nêu ở phần ngay bên dưới đây, nhiều trong số đó gắn liền với các giấy phép nói chung, và các công cụ dành cho các đối tượng nằm trong phạm vi công cộng nói riêng, trong hệ thống cấp phép mở Creative Commons.    Bên cạnh việc đưa ra các tuyên bố về các quyền bản quyền đối với các đối tượng số của bản thân, đặc biệt là đối với các đối tượng nằm trong phạm vi công cộng, việc ban hành các chính sách ở mức châu Âu của Ủy ban châu Âu, Nghị viện và Hội đồng châu Âu có liên quan tới: (1) việc cấp phép mở để sử dụng lại các đối tượng số; (2) việc khẳng định rõ ràng các quyền của người sử dụng đối với các đối tượng nằm trong phạm vi công cộng; và (3) chính sách rõ ràng về phần mềm nguồn mở, đã giúp cho việc chuyển đổi số bằng công nghệ mở của Europeana, về khía cạnh cơ sở pháp lý, là rất thuận lợi.    Các tuyên bố quyền đối với các đối tượng số của Europeana    Một trong những vấn đề quan trọng khi Europeana đứng ra tập hợp các đối tượng số là đưa ra một cách rõ ràng và chi tiết các tuyên bố quyền được tiêu chuẩn hóa mà bạn có thể chọn khi cung cấp nội dung cho Europeana hoặc sẽ là các giấy phép và các công cụ của Creative Commons hoặc các tuyên bố từ nhóm các tuyên bố quyền. Trước khi áp dụng các tuyên bố quyền, bạn nên biết:    – Danh sách các tuyên bố quyền sẽ được cập nhật theo thời gian.    – Tất cả các giấy phép và các công cụ của Creative Commons chỉ có thể được những người nắm giữ các quyền áp dụng, hoặc được họ cho phép.    – Khuyến cáo bạn nên tham khảo website của Creative Commons để hiểu đầy đủ các định nghĩa và mã pháp lý. Điều này sẽ giúp bạn quyết định giấy phép  Creative Commons nào là tuyên bố quyền phù hợp nhất cho dự án của bạn.    Ở thời điểm hiện tại, có tất cả 14 tuyên bố quyền như vậy đã được Europeana đưa ra, bao trùm toàn bộ phổ các giấy phép, từ mở nhất cho tới đóng nhất, được liệt kê ngắn gọn bên dưới đây:    1. Dấu Phạm vi Công cộng – PDM (Public Domain Mark). Dấu này được áp dụng cho các đối tượng số không còn được bản quyền bảo vệ nữa. Bất kì ai cũng có thể được sử dụng các nội dung được gắn nhãn này mà không có bất kỳ hạn chế nào.    2. Không có bản quyền – chỉ sử dụng lại phi thương mại – NoC-NC (No Copyright – non commercial re-use only (NoC-NC). Tuyên bố NoC-NC này được áp dụng cho các đối tượng số nằm trong phạm vi công cộng đã được số hóa như là kết quả của mối quan hệ đối tác công – tư, nơi mà các điều khoản hợp đồng giới hạn sử dụng thương mại trong một giai đoạn thời gian nhất định.      Hệ sinh thái của Europeana gồm cơ quan chủ quản là Europeana .Foundation (Quỹ Europeana), Liên minh đối tác (bao gồm các chuyên gia về bảo tồn văn hóa), Diễn đàn cho những nhà thu thập dữ liệu – là nơi thu thập các dữ liệu văn hóa, làm việc trực tiếp với các bảo tàng, cơ sở giáo dục, thư viện, kho lưu trữ riêng lẻ.   3. Không có bản quyền – Các hạn chế Pháp lý Được biết Khác – NoC-OKLR (No Copyright – Other Known Legal Restriction). Tuyên bố NoC-OKLR này được áp dụng cho các đối tượng số nằm trong phạm vi công cộng. Tuy việc sử dụng những đối tượng này không bị ràng buộc bởi bản quyền nhưng người dùng cần phải tuân thủ những hạn chế pháp lí khác, hoặc chấp hành những quy định của tổ chức phát hành chúng.    4. Creative Commons CC0 1.0 Hiến tặng vào Phạm vi Công cộng – CC0 (The Creative Commons CC0 1.0 Universal Public Domain Dedication). Khi tác giả gán nhãn CC0 cho tác phẩm của mình, điều đó có nghĩa là họ từ chối mọi quyền tác giả gắn liền với tác phẩm đó, miễn là không vi phạm pháp luật. Họ cho phép tất cả mọi người có thể sao chép, phân phối, chỉnh sửa, thậm chí là buôn bán tác phẩm đó mà không phải hỏi ý kiến ai.    5. Creative Commons – Ghi công – CC BY (Creative Commons – Attribution). Giấy phép CC BY này cho phép những người khác phân phối, kết hợp, chỉnh sửa, và xây dựng dựa vào tác phẩm được cấp phép, thậm chí thương mại hóa, miễn là họ thừa nhận ghi công người nắm giữ các quyền như được mô tả trong giấy phép đó. CC BY được khuyến khích sử dụng để thúc đẩy mọi người truy cập, khám phá và sử dụng các tác phẩm được cấp phép.    6. Creative Commons – Ghi công, Chia sẻ tương tự – CC BY-SA (Creative Commons – Attribution, ShareAlike). Giấy phép CC BY-SA này cho phép những người khác kết hợp, sửa đổi và xây dựng dựa vào tác phẩm được cấp phép, thậm chí vì các mục đích thương mại, miễn là họ thừa nhận ghi công người nắm giữ các quyền như được mô tả trong giấy phép, và cấp phép cho các tùy chỉnh tác phẩm đó của họ theo các điều khoản y hệt. Tất cả các tác phẩm mới dựa vào tác phẩm được cấp phép gốc ban đầu sẽ mang giấy phép y hệt, nên bất kỳ bản phái sinh nào cũng sẽ cho phép sử dụng thương mại.    7. Creative Commons – Ghi công, Không có Phái sinh – CC BY-ND (Creative Commons – Attribution, No Derivatives). Giấy phép CC BY-ND này cho phép phân phối lại, bao gồm cả sử dụng thương mại và phi thương mại tác phẩm đó miễn là không có chỉnh sửa nào được làm đối với tác phẩm đó và người nắm giữ các quyền được thừa nhận ghi công phù hợp với các đặc điểm của giấy phép đó.    8. Creative Commons – Ghi công, Phi Thương mại – CC BY-NC (Creative Commons – Attribution, Non-Commercial). Giấy phép CC BY-NC này cho phép những người khác kết hợp, chỉnh sửa, và xây dựng dựa vào tác phẩm được cấp phép đó cho các mục đích sử dụng phi thương mại. Bất kỳ tác phẩm mới nào được tạo ra dựa vào tác phẩm của bạn cũng phải được thừa nhận ghi công cho người nắm giữ các quyền như được chỉ định trong giấy phép, và chỉ có thể sẵn sàng cho sử dụng phi thương mại.    9. Creative Commons – Ghi công, Phi Thương mại, Chia sẻ Tương tự – CC BY-NC-SA (Creative Commons – Attribution, Non-Commercial, ShareAlike). Giấy phép CC BY-NC-SA này cho phép những người khác pha trộn, chỉnh sửa, và xây dựng dựa vào tác phẩm được cấp phép đó cho các mục đích sử dụng phi thương mại miễn là họ thừa nhận ghi công người nắm giữ các quyền của tác phẩm theo các điều khoản được chỉ định trong giấy phép đó, và cấp phép cho các sáng tạo mới theo các điều khoản y hệt.    10. Creative Commons – Ghi công, Phi Thương mại, Không có Phái sinh – CC BY-NC-ND (Creative Commons – Attribution, Non-Commercial, No Derivatives). Giấy phép CC BY-NC-ND này là hạn chế nhất trong số sáu giấy phép Creative Commons, chỉ cho phép những người khác tải về các tác phẩm được cấp phép và chia sẻ chúng với những người khác miễn là họ thừa nhận ghi công cho người nắm giữ các quyền như được chỉ định trong giấy phép, nhưng người sử dụng không thể thay đổi tác phẩm theo bất kỳ cách gì hoặc không thể sử dụng chúng cho các mục đích thương mại.    11. Trong (thời hạn bảo vệ) bản quyền – InC (In Copyright). Tuyên bố InC là để sử dụng các đối tượng số còn trong thời hạn bảo vệ bản quyền mà vẫn sẵn sàng được sử dụng tự do và miễn phí trên internet. Tuy nhiên, việc sử dụng lại chúng đòi hỏi sự cho phép bổ sung từ (những) người nắm giữ các quyền bản quyền.    12. Trong (thời hạn bảo vệ) bản quyền – Được phép Sử dụng trong Giáo dục – InC-EDU (In Copyright – Educational Use Permitted). Tuyên bố InC-EDU là để sử dụng với các đối tượng số còn trong thời hạn bảo vệ bản quyền mà sẵn sàng được sử dụng tự do không mất tiền trên internet và (những) người nắm giữ các quyền đã cho phép sử dụng lại chỉ cho các mục đích giáo dục.    13. Trong (thời hạn bảo vệ) bản quyền – Tác phẩm Mồ côi ở Liên minh châu Âu – InC-EU-OW (In Copyright – EU Orphan Work). Tuyên bố InC-EU-OW là để sử dụng với các đối tượng số đã được xác định như là một tác phẩm mồ côi ở quốc gia xuất bản đầu tiên và phù hợp với các yêu cầu của luật quốc gia triển khai Chỉ thị 2012/28/EU của Nghị viện và Hội đồng châu Âu này 25/10/2012 về sử dụng các tác phẩm mồ côi được cho phép nhất định.    14. Chưa được Đánh giá Bản quyền – CNE (Copyright Not Evaluated). Tuyên bố CNE là để sử dụng với các đối tượng số nơi mà tình trạng bản quyền còn chưa được đánh giá.    Bổ sung thêm rằng, vì Europeana làm việc với các di sản văn hóa của châu Âu, nó đặc biệt chú trọng tới các đối tượng, cả ở dạng tương tự (analog) lẫn ở dạng số (digital) và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Về khía cạnh này, Europeana đã đưa ra Hiến chương Phạm vi Công cộng, khẳng định tầm quan trọng của phạm vi công cộng:    “Phạm vi Công cộng là nguyên liệu thô từ đó chúng ta tạo ra kiến thức mới và tạo ra các tác phẩm văn hóa mới. Việc có Phạm vi Công cộng lành mạnh và thịnh vượng là cơ bản cho phúc lợi xã hội và kinh tế của các xã hội của chúng ta”.    và để có được phạm vi công cộng lành mạnh và thịnh vượng trong kỷ nguyên số, Europeana đã đưa ra nguyên tắc cho các đối tượng nằm trong phạm vi công cộng khi được số hóa như sau:    “Số hóa nội dung thuộc Phạm vi Công cộng không tạo ra các quyền mới đối với nó: các tác phẩm nằm trong Phạm vi Công cộng ở dạng tương tự tự (analogue form) tiếp tục nằm trong Phạm vi Công cộng một khi chúng được số hóa.”    biết rằng, như các tuyên bố quyền số 1 và 4 ở trên, nhiều nội dung trong phạm vi công cộng cho phép mọi người có thể sử dụng chúng tự do, miễn phí mà không có bất kì hạn chế nào.      Bốn mức nội dung trên Europeana – tùy thuộc vào lựa chọn cấp phép của các nhà cung cấp nội dung cho các hạng mục trong các bộ sưu tập của họ.  Chính sách của Liên minh châu Âu tạo thuận lợi cho chuyển đổi số với công nghệ mở    Trong khi các tuyên bố quyền nêu trên của Europeana có thể được xem như là chính sách cấp phép mở của riêng Europeana hoặc như là chính sách cấp phép mở ở cấp cơ sở, thì ở mức của Ủy ban châu Âu và Liên minh/Hội đồng châu Âu cũng có các chính sách tạo thuận lợi cho các tuyên bố quyền, cũng như việc xây dựng nền tảng số, mở Europeana, như được nêu dưới đây:    1. Ngày 22/2/2019, Ủy ban châu Âu đã ban hành chính sách áp dụng giấy phép mở Creative Commons cho chính sách sử dụng lại của Ủy ban châu Âu, theo đó:    a0 Điều 1. Giấy phép Công cộng Creative Commons Ghi công 4.0 Quốc tế (CC BY 4.0) được phê chuẩn như là giấy phép mở cho chính sách sử dụng lại của Ủy ban theo Điều 6 của Quyết định 2011/833/EU.    b0 Điều 2. Không ảnh hưởng tới điều trước, dữ liệu thô, siêu dữ liệu hoặc các tài liệu khác có bản chất tương đương có thể được phân phối cách khác theo các điều khoản hiến tặng vào phạm vi công cộng Creative Commons (CC0 1.0).    2. Ngày 17/4/2019 Nghị viện và Hội đồng châu Âu đã ban hành Chỉ thị về bản quyền và các quyền liên quan trong Thị trường Số Duy nhất và sửa đổi bổ sung cho các Chỉ thị 96/9/EC và 2001/29/EC, với Điều 53 của nó được nêu như sau: Các tác phẩm nghệ thuật nhìn trong phạm vi công cộng. Các quốc gia thành viên sẽ quy định rằng, khi thời hạn bảo vệ tác phẩm nghệ thuật thị giác đã hết hạn, bất kỳ sản phẩm nào là kết quả của hành động tái tạo lại tác phẩm đó cũng đều không có bản quyền hoặc các quyền tương tự, trừ phi sản phẩm đó là sáng tạo trí tuệ của chính tác giả.    3. Ngày 21/10/2020 Ủy ban châu Âu đã ban hành ‘Chiến lược phần mềm nguồn mở 2020-2023 của Ủy ban châu Âu: Nghĩ Mở’ nhằm đạt được các mục tiêu: (1) Tiến bộ hướng tới tự chủ số; (2) Triển khai chiến lược số của châu Âu; (3) Chia sẻ và sử dụng lại vì lợi ích của tất cả mọi người; (4) Đóng góp cho xã hội tri thức; và (5) Xây dựng dịch vụ công cấp độ thế giới. Chiến lược này của Ủy ban châu Âu chắc chắn là tạo thuận lợi cho việc xây dựng nền tảng số, mở Europeana.     Quy trình chia sẻ dữ liệu với Europeana     Hiện có hàng ngàn kho lưu trữ, thư viện và viện bảo tàng của châu Âu làm việc với Europeana để mang các bộ sưu tập của họ tới những người sử dụng khắp trên thế giới. Để điều này diễn ra suôn sẻ, Europeana đã chuẩn hóa, cả về mặt pháp lý và kỹ thuật, một quy trình năm bước mà một cơ sở GLAM ở châu Âu muốn chia sẻ các đối tượng số với Europeana cần biết để tuân thủ. Từng bước quy trình đều có một câu hỏi đặc trưng và các câu trả lời sẵn để giúp cho bạn, với vai trò của một nhà cung cấp dữ liệu cho Europeana, vì lợi ích của chính bạn, cân nhắc để lựa chọn tuyên bố quyền phù hợp.  Bên dưới đây là tóm tắt nội dung các câu trả lời cho từng câu hỏi ở từng bước quy trình và đưa ra giải thích ngắn gọn các yêu cầu về pháp lý và kỹ thuật cùng các tài liệu (vài trong số đó đã được dịch sang tiếng Việt) tham chiếu tới các yêu cầu đó.    Bước 1. Các lợi ích    Vì sao chia sẻ dữ liệu với Europeana?    Vì dữ liệu đó sẽ được trình bày trên Europeana một cách trực quan và sáng tạo. Đồng thời, đó cũng là một cơ hội để các cơ sở văn hóa quảng bá bộ sưu tập của mình đến với những khán giả mới và đối tác mới. Những cơ sở văn hóa cũng sẽ được đào tạo và hướng dẫn về cách số hóa dữ liệu bài bản (bao gồm cách mô hình hóa dữ liệu, bản quyền của dữ liệu và các hình thức cấp phép sử dụng dữ liệu)     Bước 2. Các yêu cầu    Các yêu cầu chính cho việc chia sẻ dữ liệu của bạn với Europeana là gì?     Về cơ bản, Europeana yêu cầu các dữ liệu và thông tin mô tả dữ liệu phải ở dạng số, ai cũng có thể theo dõi được. Tuy nhiên, Europeana chỉ tiếp nhận các dữ liệu về châu Âu, do người châu Âu làm ra hoặc thuộc bộ sưu tập của các cơ sở văn hóa đặt tại các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.  Europeana cũng làm việc với các đối tác để chỉ ra nội dung nào cần mở rộng, nội dung nào nên hạn chế, ai nắm quyền sở hữu các quy trình ra quyết định theo một chiến lược được vạch ra bởi Europeana Foundation (tổ chức vận hành dự án Europeana).    Bước 3. Các tiêu chí kỹ thuật    Liệu có các tiêu chí kỹ thuật cho việc chia sẻ dữ liệu của bạn hay không?    Các tổ chức khi đóng góp dữ liệu cho Europeana cần tuân thủ định dạng dữ liệu và mô tả dữ liệu theo một nguyên tắc gọi là Mô hình dữ liệu của Europeana – EDM (Europeana Data Model) và đảm bảo chất lượng như được nêu trong Khung Xuất bản của Europeana. Chỉ có như vậy thì mới đảm bảo dữ liệu xác thực, đáng tin cậy và người dùng có trải nghiệm chiêm ngưỡng, chia sẻ, sử dụng dữ liệu một cách tốt nhất.    Bước 4. Cấp phép    Bạn cần cấp phép cho dữ liệu bạn chia sẻ với Europeana như thế nào?    Ngoài việc xem xét tình trạng bản quyền của từng tác phẩm (tác phẩm nào còn hạn bản quyền, tác phẩm nào đã hết hạn) và lựa chọn một trong 14 giấy phép của Europeana để dán nhãn vào các dữ liệu, các cơ sở văn hóa phải phải cho phép người dùng sử dụng lại phần mô tả dữ liệu mà không có bất kì hạn chế nào về quyền.    Bước 5. Xuất bản    Bạn xuất bản bộ sưu tập của bạn như thế nào?  Là một tổ chức nhỏ ở Hà Lan, có lẽ là không thể đối với Europeana Foundation để làm việc trực tiếp với tất cả các cơ sở di sản văn hóa nào muốn chia sẻ dữ liệu. Thay vào đó Europeana Foundation làm việc với các nhà tổng hợp, các tổ chức thu thập dữ liệu. Những tổ chức này giống như cầu nối giữa Europeana Foundation và các cơ sở văn hóa và giúp họ xuất bản dữ liệu của mình.     Kết luận và gợi ý     Nền tảng số, mở Europeana có thể là một mô hình tham khảo rất tốt cho việc xây dựng một nền tảng thư viện dùng chung, ví dụ như, cho các thư viện các trường đại học và cao đẳng hoặc cho bất kỳ cơ sở GLAM nào khác ở Việt Nam khi triển khai chiến lược chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg cho các cơ sở văn hóa và/hoặc cho ngành thư viện như được nêu trong các Quyết định số 1296/QĐ-TTg và số 206/QĐ-TTg, một cách tương ứng. Đặc biệt, mô hình này có lẽ là thích hợp khi việc chuyển đổi số được thực hiện, như mong muốn của chính phủ, bằng công nghệ mở.    Để một nền tảng số, mở làm việc được, điều tối cần thiết là phải tập trung vào việc làm rõ các quyền bản quyền và chuẩn hóa nội dung/dữ liệu sẽ được tập hợp trên nền tảng đó từ các cơ sở khác nhau. Các bước triển khai để xuất bản nội dung/dữ liệu lên nền tảng số, mở đó phải rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi để từng bên cung cấp nội dung/dữ liệu có được lựa chọn như họ mong muốn nhưng vẫn tuân thủ việc chuẩn hóa đó. Ngoài ra, để nền tảng số, mở đó phát huy tác dụng, nó cần phải được chính sách, đặc biệt là chính sách cấp phép mở, ở mức quốc gia/nhóm quốc gia tạo thuận lợi.    Nền tảng số, mở Europeana được tổ chức phi lợi nhuận – Europeana Foundation – quản lý và kết nối với hàng ngàn nhà cung cấp nội dung khắp châu Âu, nhưng các nhà cung cấp nội dung này không xuất bản nội dung của họ trực tiếp tới nền tảng Europeana, mà thông qua các nhà tổng hợp và các tổ chức thu thập dữ liệu, có lẽ cũng là một khía cạnh khác gợi ý cho cách làm khi chúng ta muốn xây dựng một hệ thống thư viện dùng chung. Liệu có thể một Hội/Hiệp hội nghề nghiệp hay một đơn vị chuyên ngành trực thuộc nó đóng vai trò của bên quản lý/kết nối và đưa ra các quy định chung để các bên cùng tuân thủ, khi có sự tham vấn và đồng thuận với cả các nhà cung cấp nội dung (ví dụ, là các thư viện của các cơ sở giáo dục và các viện nghiên cứu và/hoặc các cơ sở GLAM của ngành văn hóa là các thành viên của các Hội/Hiệp hội nghề nghiệp đó) và các nhà tổng hợp và các tổ chức thu thập dữ liệu (ví dụ, là các công ty cung cấp các giải pháp về công nghệ thông tin và truyền thông) để xây dựng và triển khai các quy định chung đó vào thực tế, vì lợi ích của tất cả các bên có liên quan tham gia trong nền tảng dùng chung đó hay không?    Trong khi chờ đợi để có câu trả lời từ tất cả các bên liên quan, một trong những vấn đề cấp thiết và có lẽ là ưu tiên số 1 ở thời điểm hiện nay, là chính sách cấp phép mở ở mức quốc gia/chính phủ, giống như những gì Liên minh châu Âu/Ủy ban châu Âu/Hội đồng châu Âu đã làm để hỗ trợ và tạo thuận lợi cho các chính sách mức cơ sở của Europeana được thuận lợi khi triển khai vào thực tế ở khắp tất cả các quốc gia châu Âu.    Không có chính sách cấp phép mở ở mức quốc gia/chính phủ, nhiều khả năng việc xây dựng một nền tảng số, mở dùng chung sẽ khó trở thành hiện thực, và xa hơn, Khuyến nghị Tài nguyên Giáo dục Mở và Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO sẽ chỉ có thể được triển khai trên giấy, không thể hiện thực hóa được trong thực tế, và có lẽ, khoa học và giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục, trên thực tế, đi ngược đường với các xu thế không thể đảo ngược của khoa học mở và giáo dục mở của thế giới.□    Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Công nghệ mới biến xe đạp thường thành xe đạp thông minh      The Copenhagen Wheel (Bánh xe Copenhagen) sẽ  biến những chiếc xe đạp bình thường thành những những chiếc xe thông  minh, có khả năng tăng lực cho pedal, đếm được nhịp tim và phát hiện ổ  gà trên đường. Dĩ nhiên so với một chiếc xe đạp thường thì giá thành 800  đô la của loại xe này không hề rẻ.     Từ hơn một thập kỷ qua, một cơn bão xe đạp đã tràn vào các thành phố phương Tây. Kết quả là London có những điểm đỗ xe công cộng và làn đường riêng cho xe đạp, Paris thậm chí có cả một chương trình về điểm đỗ xe cho trẻ em. Còn ở Copenhagen, thành phố số một thế giới về xe đạp có tới 41% “tay đua” chọn loại phương tiện này để tới công sở và trường học. Nhưng nếu như bạn chưa thấy mình thực sự phù hợp với xe đạp, không muốn mồ hôi đầm đìa tới chỗ làm hoặc đơn giản chỉ là nơi ở quá xa trụ sở, xe đạp thông minh “E-bike” này có thể giúp bạn giải quyết được điều đó.   Chính xác ra thì Copenhagen Wheel chỉ là chiếc bánh xe đặc biệt có thể lắp vào xe đạp thường, trong đó có gắn động cơ, pin, các bộ cảm biến và thậm chí là kết nối không dây để biến chiếc xe đó thành xe thông minh có tính năng tăng lực pedal, đo nhịp tim, phát hiện ổ gà. “Trải nghiệm này diễn ra một cách hết sức tự nhiên”, Assaf Biderman, phó giám đốc SENSEable City Lab của Viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT), nơi phát minh ra Copenhagen Wheel, và là CEO của Superpedestrian, công ty khởi nghiệp sản xuất ra chính bánh xe thông minh này. “Về cơ bản, bạn có thể đạp xe đến bất cứ chỗ nào mình muốn”.  Khi nghiên cứu Copenhagen Wheel, nhóm nghiên cứu của MIT đưa ra ý tưởng này không phải vì muốn cải thiện tính năng của xe đạp mà bởi tình trạng tắc nghẽn giao thông ở các thành phố lớn không ngừng gia tăng. “Ô tô cũng sẽ không thể đi nổi”, Biderman giải thích, “Chúng tôi đã nhận ra rằng chính xe đạp mới là giải pháp tốt nhất nếu cho nó thêm nhiều tính năng của ô tô”.   Thật vậy, nhóm nghiên cứu MIT đã làm việc với hàng loạt thành phố về vấn đề tìm ra những giải pháp cơ sở hạ tầng, trong đó có các nhà quy hoạch thành phố Copenhagen, và đi đến kết luận rằng tiềm năng nhất vẫn là ý tưởng về xe đạp.   Copenhagen Wheel sẽ được tung ra thị trường vào cuối năm nay và người ta có thể đặt mua nó qua mạng internet. Nó cũng sẽ được đưa thêm vào một số tính năng của một chiếc xe đạp điện truyền thống: nguồn điện dự trữ, phanh lưu trữ năng lượng, các thuật toán để xe “hiểu” được khi nào cần trợ sức, để bánh xe tăng lực nhiều hơn.   Công ty FlyKly ở New York cũng đang làm ra chiếc bánh xe tương tự mang tên Smart Wheel (bánh xe thông minh) và sẵn sàng cho những đơn đặt hàng đầu tiên vào tháng 10. “Điều thông minh nhất nằm ở việc phát hiện thêm những khía cạnh thú vị về xe đạp”, Esben Alslund-Lanthén, nhà phân tích nghiên cứu tại Viện chính sách phát triển bền vững Sustainia của Đan Mạch, nhận định: “Copenhagen không nhiều đồi núi nhưng nhiều gió. Khía cạnh thông minh đem lại nhiều tiện lợi hơn cho xe đạp, vì vậy các cua-rơ trong những thành phố nhiều đồi núi như San Francisco cũng có thể tìm thấy ích lợi từ nó.”  Chiếc xe đạp thông minh này có thể giúp cải thiện môi trường đô thị được không? SENSEable City Lab đã đưa ra câu trả lời là sử dụng bộ cảm biến đo hoạt động của người đạp xe cũng như môi trường xung quanh. Dữ liệu từ chiếc xe thông minh sẽ là cơ sở để các nhà quy hoạch thành phố đánh giá hiện trạng, qua đó những chiếc xe khiêm tốn trở thành một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng đô thị.  Biderman dự đoán, Copenhagen Wheel có thể sẽ trở thành phương tiện phổ biến tương đương với điện thoại di động ở các nước đang phát triển. “Họ tiến thẳng tới phương Tây bằng điện thoại di động mà bỏ qua điện thoại cố định. Điều tương tự có thể xảy ra trong quá trình vận động đô thị với việc người ta có thể chọn Copenhagen Wheel hơn là mua xe hơi theo cách truyền thống.”  Nếu được áp dụng rộng rãi, xe đạp thông minh có thể thay đổi cách chúng ta nghĩ về giao thông đô thị, biến nó thành cơ hội rèn luyện sức khỏe. Trong ghi chép của Alslund-Lanthén về Copenhagen, các công ty khuyến khích nhân viên đạp xe để di chuyển nhanh hơn cũng như có sức khỏe tốt hơn.   Giờ chỉ một điều duy nhất còn lại: đâu là nơi đỗ an toàn cho chiếc bánh xe này? Cả Copenhagen Wheel và Smart Wheel đều hoàn toàn không rẻ khi xấp xỉ 800 đô la. Và dẫu có thể có khóa điện tử thì lời khuyên của Alslund-Lanthén vẫn là “hãy khóa kỹ nó vào chỗ thực sự chắc chắn”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/nov/07/reinventing-the-wheel-new-tech-turns-regular-bikes-into-hybrids-and-a-traffic-tool       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới có thể kéo dài kỷ nguyên dầu mỏ      Trong cuộc họp các nước thành viên Tổ chức  các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (Opec) ở Viên vừa qua, người ta ít đề cập  tới tương lai của ngành khai thác dầu mỏ. Mặc dù phần lớn các nước thành  viên Opec luôn nhấn mạnh, trữ lượng dầu mỏ có khả năng khai thác được  còn kéo dài nhiều chục năm nữa. Tuy nhiên những nghiên cứu khoa học độc  lập lại xác nhận trữ lượng dầu mỏ chỉ còn rất ít.    Điều khiến các nhà khai thác dầu mỏ lo lắng là mức khai thác ở các mỏ dầu đang hoạt động giảm trung bình mỗi năm từ 4 đến 6%. Lý do rất đơn giản, áp lực trong lòng đất giảm dẫn đến lượng dầu được bơm lên cũng giảm theo. Hiện tượng này chỉ có thể khắc phục nếu phát hiện thêm những mỏ dầu mới. Tuy nhiên tình hình lại không có gì sáng sủa, theo báo cáo về tình hình năng lượng thế giới của Cơ quan năng lượng quốc tế IEA:    Từ hàng chục năm nay, các doanh nghiệp ngày càng ít phát hiện được những nguồn dầu mỏ mới. Các cột mầu xanh cho thấy sự phát triển trong tương lai. Số liệu tỷ thùng dầu trong một năm. (nguồn: IEA World Energy Outlook 2014)  Biểu đồ cho thấy số lượng các mỏ dầu mới phát hiện ngày càng giảm và không thể bù đắp sự thiếu hụt. Hậu quả của sự kiện này được thể hiện một phần trong biểu đồ tiếp theo trong IEA-Reports:    Mầu xám sáng trong biểu đồ cho thấy giả định về lượng khai thác ở các mỏ dầu đang hoạt động hiện nay và sự giảm sút của chúng. Mầu đen (Crude Oil – dầu thô) là lượng dầu khai thác trong tương lai tư các mỏ dầu thông thường  Sự chênh lệch giữa hai số liệu này phải được bù đắp thông qua những nguồn dầu mới. (nguồn: IEA World Energy Outlook 2014)  Có thể thấy rõ tỷ lệ khai thác ở những mỏ đầu đang hoạt động (existing fields) giảm mạnh. Có thể bù đắp sự thiếu hụt này nếu phát hiện được nhiều mỏ mới và các nguồn dầu mới như khai thác cát hắc ín (tar sands), các mỏ dầu ở biển sâu hay đá phiến sét (kerogen) nhưng những kiểu khai thác này rất tốn kém.     Các công nghệ mới tái sinh các mỏ dầu cũ  Vì vậy ở ngành công nghiệp dầu mỏ, các mỏ dầu đang hoạt động và mỏ dầu cũ mà người ta cho là đã khai thác cạn kiệt đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Trong điều kiện khai thác thông thường, chỉ có khoảng 20 đến 30% lượng dầu mỏ được bơm lên khỏi mặt đất. Từ lâu người ta đã tìm cách bơm nước, hơi nước hay CO2 xuống lòng đất để tăng áp lực hoặc tăng độ lỏng cho dầu để tăng lượng khai thác lên vài %.    Với những công nghệ khai thác hoàn toàn mới (|Enhanced Oil Recovery), các doanh nghiệp mong muốn khai thác nhiều dầu mỏ hơn trong các mỏ cũ. Cơ quan địa chất quốc gia Mỹ (USGS) ước đoán, các mỏ dầu cũ sẽ trở thành nguồn khai thác mới quan trọng nhất trong tương lai khi có thể bơm thêm 665 tỷ thùng dầu từ đây. Theo mức giá hiện nay, lượng dầu này trị giá khoảng 53 nghìn tỷ đôla Mỹ và đáp ứng khoảng 50% nhu cầu về dầu mỏ của thế giới trong vòng ba chục năm. Tuy nhiên chi phí cho công việc này không nhỏ, những ví dụ sau đây chứng minh điều này:  1. Azerbaijan  Cái nôi của công nghiệp khai thác dầu mỏ thế giới nằm tại Azerbaijan. Những lít dầu đầu tiên được bơm lên khỏi lòng đất vào nửa cuối thế kỷ 19 ở quanh thủ đô Baku. Gia đình nhà Nobel (sau này tài trợ cho giải thưởng Nobel), gia đình Rothschild và người khổng lồ dầu mỏ Shell đã kiếm được bộn tiền tại đây.  Cũng như tất cả các nước khai thác dầu mỏ từ những nguồn thông thường khác ngày nay, Azerbaijan đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu. Biểu đồ khai thác đã đi xuống từ năm 2009, tuy nhiên nguồn tài nguyên quý giá này tiếp tục được bơm lên ở ngoài khơi nước này.  Trong những năm qua, ban nghiên cứu của Tập đoàn dầu mỏ – khí đốt quốc gia Socar đã tập trung nghiên cứu phát triển một phương pháp dựa trên công nghệ nano.   Các kỹ sư đã pha trộn theo phương pháp thủ công một loại keo đặc (gel) và bơm chúng trong nhiều tháng liền xuống mỏ dầu. Những nguyên liệu cực nhỏ này kết nối với nhau thành một mạng lưới và ép dầu ở dưới lòng đất phải trồi lên. Nước trong chất keo cùng với dầu thoát lên từ mỏ. Chất hoạt động bề mặt (Surfactant) góp phần làm cho nguyên liệu nano hòa tan trong nước, tương tự như ở chất tẩy rửa.   Nhờ công nghệ này, tập đoàn Socar có thể khai thác thêm từ 10 đến 15% lượng dầu mỏ còn tồn đọng trong các mỏ đã khai thác, qua đó có thể khai thác tổng cộng khoảng 50% lượng dầu trong các mỏ dầu. Cho tới năm 2013, phương pháp này đã được áp dụng ở trên 15 mũi khoan. Hiện nay người ta đã tiến hành trên 1000 mũi khoan sâu ở ngoài biển thuộc Azerbaijan.    Socar không tiết lộ về chi phí khi áp dụng công nghệ này nhưng ước đoán khá tốn kém. Những chi tiết về tỷ lệ pha trộn chất keo cũng được giữ kín. Các chuyên gia về hóa, địa chất và các kỹ sư dầu mỏ nhiều khi phải mất cả tháng trời để tạo ra một công thức pha trộn keo thích hợp cho từng khu mỏ riêng biệt.   2. Đức  Các nhà kỹ thuật và các doanh nghiệp không chỉ tăng cường tỷ lệ khai thác dầu mỏ ở ngoài khơi mà còn ở dưới lòng đất bằng việc bơm hơi nước xuống lòng đất. Do dầu mỏ thông thường nằm trong những lớp đá xốp nên chúng sẽ được bơm lên mặt đất dễ dàng hơn khi không đặc quánh. Vi sinh vật trong đất cũng góp phần vào quá trình khai thác dầu, chúng phân nhỏ thành phần dầu mỏ, làm dầu mỏ lỏng hơn.  Mấy năm gần đây, một doanh nghiệp dầu khoáng của Đức, Wintershall, nghiên cứu về một loại chất kích thích dầu mỏ (oil doping) trên nền tảng sinh thái. Cùng với tập đoàn mẹ, tập đoàn hoá chất khổng lồ BASF, các nhà nghiên cứu thử nghiệm một chất liệu mà họ dùng phương pháp hoá học để tách chiết một nguyên liệu sinh học polymer (Biopolymer) dạng nước đặc quánh từ nấm Schizophyllum commune. Loại dung dịch nấm này được bơm xuống mỏ dầu và nó càng đặc bao nhiều thì dầu được đưa lên nhiều hơn bấy nhiêu. Theo Wintershall, phương pháp này rất thân thiện với môi trường. Cũng tương tự như công nghệ nano ở Azerbaijan, phương pháp này cũng có khả năng khai thác khoảng 50% lượng dầu mỏ ẩn trong lòng đất.  3. Bắc Mỹ  Những thử nghiệm ở Hoa Kỳ đang được triển khai mạnh mẽ nhắm khai thác được nhiều dầu mỏ hơn trong những mỏ dầu cũ. Thí dụ tại tập đoàn dầu mỏ khổng lồ BP, siêu máy tính đang phân tích các dữ liệu địa chất đề xác định chính xác vị trí dầu còn sót lại ở trong các mỏ cũ.  Và để khai thác các túi dầu đó, người ta đã phát triển những công nghệ hết sức mới mẻ.  Doanh nghiệp Hoa kỳ Novagas Energy ở Texas đã bắn – nói một cách đơn giản – bằng súng canon-electron dài ba mét xung điện từ xuống mỏ dầu. Chúng tác động vào những phần còn lại  dầu, làm lỏng chúng để dầu chảy vào ống khoan.  Công nghệ này hiện đang được thử nghiệm tại trên một chục mỏ dầu ở Hoa kỳ. Kết quả ban đầu cho thấy, nhờ phương pháp này có thể khai thác được thêm 25% dầu trong lòng đất và đưa tổng số dầu khai thác được lên khoảng 60%.  Doanh nghiệp Falcon Ridge Oil của Canada cũng đang phát triển một loại công nghệ mang tên Terra Slicing, có nghĩa là thái đất: ở đây các ống cũng như chỗ trám xi măng trong ống khoan sẽ được xới lên. Thông qua các cửa sổ, người ta phun một loại chất lỏng trộn với hoá chất để rửa trôi đất, qua đó dầu có thể dễ dàng chảy qua. Cũng như công nghệ của Novas Energy, công nghệ này cũng xuất phát từ nước Nga. Thử nghiệm đầu tiên hiện mới được tiến hành nhưng Falcon Ridge đang muốn sớm thương mại hoá rộng rãi công nghệ này.  Liệu công nghệ nào sẽ giành được phần thắng, điều này còn phải chờ thời gian trả lời. Nhưng có thể khẳng định: trong tương lai những mỏ dầu cũ sẽ được tái khởi dộng ngày càng nhiều hơn. Với các nước thành viên OPEC, đây có thể được coi là tin vui.  Còn đối với khí hậu thì niềm vui đó ngắn chẳng tày gang – nếu nhân loại muốn ngăn chặn trái đất nóng lên thì tốt hơn hết con người hãy để dầu mỏ nằm im trong lòng đất.  Xuân Hoài dịch theo Tuần kinh tế Đức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới có thể sản xuất nước sạch cho hàng triệu người      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại vật liệu mới có khả năng đẩy nhanh quá trình bay hơi khiến một bể chưng cất mặt trời nhỏ vẫn cung cấp đủ nước ngọt cho một gia đình. Nếu công nghệ này trở nên đủ rẻ, nó có thể cung cấp nước cho hàng triệu người nghèo.      Một loại gel đặt trong bể chưng cất nước bằng năng lượng mặt trời giúp tạo ra một lượng nước ngọt kỷ lục.  Theo UNICEF, hiện nay 783 triệu người, tức gần cứ 10 người thì có một người thiếu nước sạch, và họ phải mất tổng cộng 200 triệu giờ mỗi ngày để lấy nước từ các nguồn ở rất xa. Trong khi đó, các thiết bị dạng bể sử dụng năng lượng mặt trời để bay hơi nước bẩn hoặc nước mặn và ngưng tụ hơi nước thành nước uống sạch có nhược điểm là đắt đỏ và chỉ có thể sản xuất đủ nước ngọt cho một gia đình nhỏ. Mặt khác, các công nghệ lọc nước bị ô nhiễm và khử mặn nước biển thường đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và tốn nhiều năng lượng vận hành, do đó nằm ngoài tầm với của nhiều cộng đồng.  Bể chưng cất năng lượng mặt trời truyền thống là một thùng có đáy màu đen, chứa đầy nước và trên cùng được đậy bằng thủy tinh hoặc nhựa trong. Đáy đen hấp thụ ánh sáng mặt trời, làm nước bay hơi và để lại các chất gây ô nhiễm phía sau. Hơi nước sau đó ngưng tụ trên tấm đậy và nhỏ giọt vào một bể chứa. Cách này tạo ra ít nước sạch vì các tia mặt trời phải làm nóng toàn bộ thể tích nước trước khi nước bắt đầu bay hơi. Các phiên bản thương mại hiện nay có thể sản xuất khoảng 0,3 lít nước mỗi giờ trên một mét vuông (L/h/m2) diện tích mặt nước. Một người trung bình cần khoảng 3 lít nước mỗi ngày, vậy để cung cấp đủ nước uống cho một gia đình nhỏ cần một diện tích khoảng 5 mét vuông. Khi hoạt động ở công suất tối đa, các thiết bị như vậy chỉ có thể sản xuất 1,6 L/h/m2.  Gần đây, các nhà nghiên cứu đã nâng cấp bể chưng cất nước bằng năng lượng mặt trời để tạo ra phương pháp lọc nước giá rẻ thay thế cho các công nghệ này. Guihua Yu, một nhà khoa học vật liệu tại Đại học Texas ở Austin, và các đồng nghiệp gần đây đã tìm ra một phương pháp khắc phục hạn chế này. Họ đã tạo ra một miếng hydrogel từ hai loại polymer, một loại polymer liên kết với nước gọi là polyvinyl alcohol (PVA), một loại khác hấp thụ ánh sáng gọi là polypyrrole (PPy) sau đó đặt tấm gel này lên bề mặt nước trong các bể chưng cất. Bên trong gel, một lớp các phân tử nước liên kết chặt chẽ với PVA, mỗi phân tử nước tạo ra nhiều liên kết hóa học được gọi là liên kết hydro. Do đã “dành chỗ” cho liên kết với PVA nên các phân tử nước chỉ còn giữ sự liên kết lỏng lẻo với các phân tử nước gần đó, tạo ra thứ mà Yu gọi là “nước trung gian” (intermediate water) giữ lại trong gel, khiến chúng bay hơi dễ dàng hơn so với nước thường. Với công nghệ này, bể chưng cất nước năng lượng mặt trời của Yu tạo ra 3,2 L/h/m2 nước, gấp đôi giới hạn lý thuyết, theo công bố của họ trên Nature Nanotechnology vào năm 2018.  Hiện nay, Yu và đồng nghiệp đã tạo ra một hydrogel thậm chí còn tốt hơn nữa. Họ trộn chitosan – một loại polymer thứ ba có khả năng hút nước rất mạnh, vào gel để tạo ra một loại gel có khả năng giữ được nhiều nước hơn và tăng lượng nước trung gian được giữ trong gel. Một bể sử dụng loại hydrogel mới này chưng cất nước với tốc độ 3,6 L/h/m2, cao hơn các loại đã được thương mại hóa trên thị trường tới 12 lần. Công bố này mới được xuất bản trên Science Advances.  “Đây là một điểm khởi đầu tuyệt vời”, Peng Wang, một kỹ sư môi trường tại Đại học KH&CN King Abdullah ở Thuwal, Ả Rập Saudi, nói. Wang lưu ý, với tốc độ này, một bể có diện tích 1 mét vuông có thể sản xuất khoảng 30 lít nước uống sạch mỗi ngày, đủ đáp ứng nhu cầu cho một gia đình nhỏ. Ngoài ra, cả ba polymer để tạo ra loại hydrogel này đều có sẵn trên thị trường với mức giá rẻ và sẽ giúp cung cấp nước sạch cho những người cần nguồn nước nhất.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/06/new-solar-technology-could-produce-clean-drinking-water-millions-need       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới giúp thanh lọc không khí trong nhà      Air Scrubber Plus đã sáng tạo ra một loại  máy lọc không khí mới trên cơ sở phản ứng giữa tia cực tím, ô-xy và các  phân tử nước, giúp tiêu diệt 99% các chất gây ô nhiễm trong không khí và  các bề mặt trong môi trường trong nhà.     Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ xếp ô nhiễm không khí trong nhà là một trong năm hiểm họa môi trường hàng đầu. Các nghiên cứu cho thấy mức độ ô nhiễm trong nhà thường cao gấp hai đến năm lần mức ô nhiễm ngoài trời, một số trường hợp gấp đến 100 lần.  Một số doanh nghiệp đang bắt tay tìm giải pháp cho vấn đề này qua các công nghệ thanh lọc không khí hiện đại. Hạn chế được các chất gây dị ứng và khói thuốc lá trong nhà có thể ngăn ngừa 65% các trường hợp hen suyễn ở trẻ nhỏ.  Mặc dù thị trường máy điều hòa, máy sưởi và thông gió là một ngành công nghiệp trị giá 71 tỉ đô-la với 300.000 người lao động được thuê tại Mỹ, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành là những doanh nghiệp nhỏ. 62% công ty chỉ có từ một đến bốn nhân viên.   Đây là một trong những ngành có ít đổi mới sáng tạo nhất thời gian gần đây. Hầu hết các thiết bị làm sạch không khi trong nhà có khả năng loại bỏ các vật thể nhỏ, kể cả vi sinh vật. Nhưng vấn đề với các loại máy này là chúng không hút hết được các vi vật thể đến độ làm cho không khí thực sự sạch hơn được.  Để giải quyết vấn đề này, công ty Air Scrubber Plus đã sáng tạo ra một loại máy lọc không khí mới. Máy này hoạt động bằng cách cho một hợp chất gồm tia cực tím, ô-xy và các phân tử nước phản ứng với nhau, sau đó cho đi qua một ngăn có cấu trúc giống như tổ ong, được bọc bởi một lớp chất có công thức đặc biệt bao gồm titan đioxyn và các kim loại hoạt tính cao khác. Quy trình ô-xy hóa tiên tiến này tạo ra các loại chất sát trùng có thể tiêu diệt được 99% các chất gây ô nhiễm trong không khí và các bề mặt trong môi trường trong nhà.   Ông Tom Loranzo- Giám đốc điều hành công ty Air Scrubber Plus- cho biết, các thử nghiệm trên diện rộng đã cho thấy máy Air Scrubber Plus có thể làm giảm các chất ô nhiễm không khí, khói thuốc lá, bụi, phấn hoa, đất, vi khuẩn gây mùi, các loại mùi gây ra do động vật và nấu nướng. Ông cho rằng đây thực sự là một cuộc “cách mạng không khí”, có tác động tích cực đến sức khỏe của người sử dụng.  Công nghệ Air Scrubber Plus còn có một biến thể là Active Pure™, được NASA sử dụng cho Trạm Vũ trụ Quốc tế và được công nhận đạt Chứng nhận Công nghệ Vũ trụ độc quyền bởi Quỹ Vũ trụ.  Quan tâm đến chất lượng không khí và sử dụng công nghệ xanh để cải thiện sức khỏe đã tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho các công ty như Air Scrubber Plus. Trong kinh doanh, cơ hội có thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Mấu chốt là phải xác định được vấn đề, tìm ra thị trường, và tạo ra được một giải pháp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới hứa hẹn tầm nhìn nhân tạo rõ nét hơn cho người mù      Những người khiếm thị hoặc nhược thị có khả năng nhìn thấy thế giới xung quanh ngày một rõ nét hơn qua tiến bộ mới về công nghệ.      Một mạng đi ốt quang cấy trong mắt bị thoái hóa điểm vàng là một trong nhiều thiết bị đang được phát triển. Nguồn: Science.  Năm 2014, các cơ quan quản lý Mỹ đã phê duyệt thiết bị Argus II có khả năng gửi tín hiệu từ máy ảnh gắn trên kính đến lưới điện cực khoảng 3×5 mm ở phía sau mắt nhằm thay thế tín hiệu từ các tế bào cảm nhận ánh sáng bị mất của bệnh nhân bị viêm võng mạc sắc tố di truyền. Second Sight, nhà sản xuất thiết bị cấy ghép ước tính khoảng 350 người trên thế giới hiện đang sử dụng thiết bị này. Argus II cung cấp một hình thức tương đối sơ khai của tầm nhìn nhân tạo; Người sử dụng thấy một vòng hoặc điểm ánh sáng được gọi là đom đóm mắt.   Nhóm Second Sight hiện đang nhắm đến việc nâng cao chất lượng thiết bị bằng những cách chính xác hơn để kích thích các tế bào trong mắt hoặc não. Trong cuộc họp thường niên của Hiệp hội Khoa học thần kinh, các nhà khoa học đã chia sẻ tiến bộ từ một số nỗ lực như vậy.   Một số rối loạn phổ biến làm mất thị lực khi phá hủy các tế bào cảm quang, những tế bào đầu tiên trong quá trình chuyển tiếp thông tin từ mắt đến não. Những thành tố khác trong quá trình thường vẫn còn nguyên vẹn và khỏe mạnh: các tế bào lưỡng cực nhận tín hiệu từ tế bào cảm quang; các tế bào hạch võng mạc, hình thành nên dây thần kinh thị giác và mang những tín hiệu đó đến não; và vỏ não thị giác nhiều lớp ở phía sau não, tổ chức thông tin thành hình ảnh có ý nghĩa.  Nhóm nghiên cứu của Palanker đã thiết kế một mô cấy võng mạc gồm khoảng 400 đi ốt quang – các “pixel” thay thế một số ánh xạ không gian của võng mạc. Một luồng hình ảnh của thế giới bên ngoài được hiển thị ở bên trong một cặp kính dưới ánh sáng cận hồng ngoại, các pixel cấy ghép chuyển đổi thành tín hiệu điện để kích thích các tế bào lưỡng cực võng mạc. Công ty Pixium Vision đang thử nghiệm thiết bị này trên năm người bị thoái hóa điểm vàng, bệnh hủy hoại tế bào cảm quang, tạo ra tầm nhìn nhân tạo đủ tốt để đọc tiêu đề một cuốn sách, dù không thể đọc được chữ trong đó. Nhóm của anh hiện đang cố thu nhỏ các đi ốt quang để tạo ra các pixel mịn hơn và tầm nhìn sắc nét hơn mà không mất quá nhiều cường độ tín hiệu.  Các nhóm nghiên cứu khác đang chuyển sang sử dụng quang di truyền, kỹ thuật kích hoạt các tế bào bằng ánh sáng. Trong một thử nghiệm lâm sàng của GenSight Biologics có trụ sở tại Paris, các nhà nghiên cứu đã tiêm một loại virus vô hại mang gene có một protein nhạy cảm ánh sáng vào mắt của năm người bị viêm võng mạc sắc tố. Các tế bào hạch võng mạc cấu tạo nên gene sau đó có thể phản ứng với ánh sáng đỏ chiếu vào mắt. Liệu những người tham gia thử nghiệm có nhìn được hay không, kết quả sẽ trở nên rõ ràng vào năm tới.  Nhưng các liệu pháp nhắm vào các tế bào võng mạc sẽ không giúp được những người bị thương nặng ở mắt do chấn thương hoặc bị tổn thương nghiêm trọng đến dây thần kinh thị giác do các bệnh như bệnh tăng nhãn áp.  Second Sight hướng đến điều trị cho những bệnh nhân này bằng Orion, cấy ghép 60 điện cực đặt trực tiếp lên vỏ thị giác và cung cấp tín hiệu não từ máy quay video. Cả năm người tham gia thử nghiệm đều phát hiện được hướng mà một thanh màu trắng di chuyển trên màn hình.   Các điện cực thâm nhập sâu hơn vào vỏ thị giác để tiến gần hơn đến các tế bào thần kinh đích và sử dụng dòng điện thấp hơn để kích hoạt các điểm nhỏ hơn, chính xác hơn trong mô. Xing Chen, một nhà thần kinh học trong phòng thí nghiệm của Pieter Roelfsema, thuộc Viện Khoa học thần kinh Hà Lan ở Amsterdam, đã cấy ghép 1000 điện cực xuyên thấu này ở hai con khỉ. Chúng có thể phân biệt giữa các chữ cái khác nhau mà các nhà nghiên cứu đã chiếu vào trường thị giác của chúng bằng cách kích hoạt 10 đến 15 điện cực cùng một lúc. Roelfsema hy vọng sẽ bắt đầu thử nghiệm trên người vào năm 2023. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/10/new-technologies-promise-sharper-artificial-vision-blind-people    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới luyện sắt cần ít năng lượng và thân thiện môi trường hơn      Trong số các ngành công nghiệp khác nhau  trên phạm vi toàn cầu, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) thì ngành  công nghiệp sắt và thép là ngành tiêu thụ lớn thứ hai về năng lượng (sau  dầu khí và chế biến hóa chất), và là ngành sản xuất phát thải lớn nhất  carbon dioxide.     Luyện sắt từ nguyên liệu là quặng sắt thô đặc biệt tiêu tốn năng lượng và phát thải CO2 nhiều nhất vì phải dùng Carbon để khử oxy trong oxít sắt thành ra sắt và CO2, còn carbon dư thừa thì được loại bỏ bằng cách phản ứng với khí ôxy.   Các nhà khoa học từ lâu đã tốn nhiều công sức để thay đổi công nghệ này, nhưng rất khó khăn. Nay thì chúng ta đang có một bước tiến gần hơn đến một phương pháp thay thế, tiêu thụ năng lượng thấp hơn và không phát thải CO2, đó là phương pháp điện phân oxit sắt nóng chảy.   Học sinh phổ thông đều được dạy và thực hành thí nghiệm chứng minh điện phân nước: Cho một dòng điện chạy qua nước thì oxy sẽ tách ra khỏi nước và chạy về anod. Tuy nhiên điện phân oxit sắt nóng chảy thì không đơn giản như vậy, bởi vì anod ở đây phải chịu một điều kiện rất khắc nghiệt vì phản ứng xảy ra ở trên 15000C và nhúng trong môi trường ăn mòn cực mạnh do các oxyt phản ứng tức thời với mọi kim loại tiếp xúc với chúng.   Tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT-USA) Donald Sadoway và các đồng nghiệp mới đây đã phát hiện ra rằng một loại hợp kim crôm-sắt, ít nhất là ở quy mô phòng thí nghiệm, có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt đó. Hơn nữa, các hợp kim này rất hiệu quả và rẻ tiền.   Sau vài giờ điện phân magnetit, Fe3O4, các Anod bằng hợp kim Cr90Fe10 (ảnh bên phải), dù bị chất điện giải bao phủ, vẫn có kích thước hầu như không thay đổi so với kích thước và hình dạng ban đầu (ảnh bên trái). Mấu chốt cho sự ổn định của hợp kim là sự hình thành của một lớp bao phủ có tính dẫn điện được tạo bởi dung dịch của Cr2O3 với oxit nhôm (mà các nhà nghiên cứu đã cho vào trong chất điện phân).   Đối với các lý thuyết hiện tại về các quá trình oxy hóa trong môi trường khắc nghiệt thì kết quả này còn là một sự thách đố, nhưng đối việc tìm tòi sử dụng các hợp kim có các tính năng quý hiếm ở quy mô công nghiệp thì đây là thành quả có tính chất mở đường. (Tác giả công trình: A. Allanore, L. Yin, DR Sadoway, sắp công bố trên Nature).  XH (Theo Physics Today)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ mới thu oxy và nhiên liệu từ nước muối sao Hỏa      Có tin tốt và tin xấu về sao Hỏa, tin tốt ở đó có nước, còn tin xấu thì sao?      Bề mặt sao Hỏa. Nguồn:National Geographic  Đó cũng chính là nước trên sao Hỏa.  Hành tinh đỏ rất lạnh; nước trên đó không bị đóng băng vì có rất nhiều muối trong đất, vốn đòi hỏi mức nhiệt độ thấp hơn để có thể đóng băng được. Người ta không thể uống nước mặn được, và phương pháp thông thường là sử dụng điện (điện phân) để phân hủy nó thành oxy (thành khí thở) và hydro (nhiên liệu) đòi hỏi phải loại muối; một nỗ lực đòi hỏi chi phí cao, trang thiết bị tốt trong một môi trường hết sức nghiêm ngặt.  Nếu lấy oxy và hydro được lấy trực tiếp từ nước muối thì thì quá trình điện phân này có thể bớt phức tạp hơn – và ít chi phí hơn.  Các kỹ sư tại trường Kỹ thuật McKelvey, trường đại học Washington tại St. Louis đã phát triển một hệ cho phép làm được điều đó. Công trình nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) “Fuel and oxygen harvesting from Martian regolithic brine” (Thu nhiên liệu và oxy từ nước muối trong lớp đất bề mặt sao Hỏa).  Nhóm nghiên cứu do Vijay Ramani, giáo sư Roma B. và Raymond H. Wittcoff của Khoa Năng lượng, môi trường và kỹ thuật hóa học, dẫn dắt, không đơn giản là xác nhận hệ điện phân dưới những điều kiện như trên trái đất; hệ này được kiểm tra trong một môi trường mô phỏng điều kiện khí quyển sao Hỏa, mức -360 C).  “Hệ điện phân nước muối sao Hỏa của chúng tôi thay đổi một cách triệt để các nhiệm vụ tính toán logictics tới sao Hỏa và hơn thế nữa”, Ramani cho biết. “Công nghệ này hoàn toàn hữu dụng với cả trái đất, nơi có thể khai thác nguồn oxy và nhiên liệu từ các đại dương”.  Mùa hè năm 2008, Phoenix Mars Lander của NASA đã “chạm và nếm” nước sao Hỏa, hóa hơi nó từ băng tan được chiếc xe tự hành này đào lên. Kể từ đó, Mars Express của Cơ quan Vũ trụ châu Âu đã khám phá ra vô vàn bể nước bên dưới lớp đất mặt sao Hỏa vẫn còn ở trạng thái lỏng nhờ sự hiện diện của magie peclorat – một loại muối.    Giáo sư Vijay Ramani và cộng sự trong phòng thí nghiệm. Nguồn: trường đại học Washington  Để sống được trên sao Hỏa, đấy còn chưa kể việc quay trở lại trái đất, các phi hành gia sẽ cần đến việc sản xuất ra một vài thứ thiết yếu, bao gồm nước và nhiên liệu. Ngay trên đó. Thiết bị  Perseverance của NASA trên đường tới sao Hỏa mang theo nhiều thiết bị sẽ được sử dụng để điện phân trong nhiệt độ cao. Tuy vậy Thực nghiệm Sử dụng nguồn tài nguyên oxy tại chỗ trên Sao Hỏa (MOXIE) sẽ chỉ tạo ra được mỗi khí oxy từ carbon dioxide có trong không khí.  Do phòng thí nghiệm của Ramani phát triển, hệ điện phân này có thể tạo ra mức oxy nhiều gấp 25 lần so với MOXIE trong khi vẫn sử dụng lượng điện tương đương. Nó còn tạo ra hydro, vốn có thể giúp các phi hành gia có nhiên liệu cho chuyến hành trình trở về nhà.  “Hệ điện phân nước muối mới của chúng tôi có tích hợp một cực dương lead ruthenate pyrochlore (Pb2Ru2O6.5) cũng do chúng tôi phát triển trong việc tích hợp với một bạch kim trên cực âm carbon”, Ramani giải thích. “Các hợp phần được thiết kế một cách cẩn thận được kết cặp với việc sử dụng tối ưu các nguyên tắc kỹ thuật điện hóa truyền thống đã giúp đem lại hiệu suất cao”.  Cực dương được thiết kế một cách cẩn trọng và độc đáo cho phép hệ này có được chức năng mà không cần đến việc gia nhiệt hoặc làm tinh khiết nguồn nước.  “Thật nghịch lý là việc perchlorate bị hòa tan trong nước, gọi là các pha tạp, trên thực tế lại hữu dụng trong môi trường như sao Hỏa”, Shrihari Sankarasubramanian, một nhà nghiên cứu trong nhóm của Ramani và là tác giả thứ nhất của công bố, cho biết.  “Chúng ngăn cho nước khỏi bị đóng băng và cải thiện hiệu suất của hệ điện phân bằng việc làm yếu đi điện trở”.  Tiêu biểu, hệ điện phân nước dùng nước tinh khiết và đã được khử ion, điều này làm tăng chi phí của hệ đó. Việc cho một hệ có thể hoạt động với gần điều kiện tối ưu hoặc nước mặn, như kỹ thuật được  nhóm của Ramani áp dụng, có thể tăng cường một cách đáng kể giá trị kinh tế để hệ điện phân nước có thể được dùng ở tất  cả mọi nơi – thậm chí ngay cả trên trái đất của chúng ta.  “Với những hệ điện phân có thể hoạt động ở điều kiện sao Hỏa, chúng tôi hướng tới mục tiêu dùng chúng trong những nơi có điều kiện thuận lợi hơn như trên trái đất, qua đó xử lý nước lợ hoặc nước mặn để tạo ra hydro và oxy, ví dụ như điện phân nước biển”, Pralay Gayen, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ hợp tác với nhóm nghiên cứu của Ramani và cũng là đồng tác giả thứ nhất của nghiên cứu.  Rất nhiều ứng dụng có thể như tạo oxy ở vùng dưới mặt biển vì nó có thể cung cấp oxy khi chúng ta khám phá những vùng biển sâu…  Các công nghệ tham gia xây dựng hệ điện phân nước muối sẽ đem lại nhiều phát minh sáng chế thông qua Văn phòng quản lý công nghệ của trường, nơi đang sẵn sàng cấp giấy phép cho các hoạt động như vậy.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-tech-oxygen-fuel-mars-salty.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ nano giúp chống ung thư di căn      Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications hôm 18/1, ánh sáng phát ra trong kỹ thuật chụp ảnh ung thư truyền thống nhằm xác định vị trí khối u di căn có thể kích hoạt các loại thuốc nhạy cảm với ánh sáng để tiêu diệt tế bào ung thư.      Samuel Achilefu, tác giả chính của nghiên cứu. Ảnh: Đại học Washington.  “Ung thư di căn là nguyên nhân chính khiến bệnh nhân tử vong. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương pháp quang trị liệu (phototherapy) đặc biệt thích hợp để tấn công các khối u nhỏ lây lan đến những bộ phận khác nhau của cơ thể, kể cả sâu trong tủy xương”, Samuel Achilefu, tác giả chính của nghiên cứu tại Trường Y khoa thuộc Đại học Washington ở St. Louis (Mỹ), cho biết.  Phương pháp này sử dụng một loại thuốc hóa trị liệu gọi là titanocene. Khi chỉ là một tác nhân đơn lẻ, titanocene không mang lại hiệu quả điều trị tốt trong các thử nghiệm lâm sàng, ngay cả ở liều lượng tương đối cao. Nhưng khi tiếp xúc với ánh sáng nhìn thấy được, titanocen tạo ra các phân tử phản ứng độc hại với tế bào, ngay cả ở liều lượng thấp.  Achilefu và đồng nghiệp đưa titanocen với liều lượng thấp vào bên trong các hạt nano (nanoparticle) chịu trách nhiệm nhắm mục tiêu đến những protein nằm trên bề mặt của tế bào ung thư. Họ phát hiện ra rằng, khi các hạt nano tiếp xúc với tế bào ung thư, chúng sẽ giải phóng titanocene vào bên trong tế bào.  Nhóm nghiên cứu sau đó đưa vào cơ thể một chất dùng để chỉ dấu trong các xét nghiệm tầm soát tế bào ung thư gọi là đường fluorodeoxyglucose (FDG). Các tế bào ung thư đói năng lượng nhanh chóng tích lũy FDG, khiến các khối u phát sáng bên trong máy chụp cắt lớp phát xạ positron (PET). Ánh sáng này kích hoạt titanocene tạo ra gốc tự do và tiêu diệt tế bào ung thư.  Do titanocene và phân tử FDG đồng thời nhắm mục tiêu đến cùng một vị trí là các khối u, kỹ thuật này được cho là ít độc hại hơn so với xạ trị và hóa trị liệu tiêu chuẩn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cơ thể tự đào thải titanocene qua gan và FDG thông qua thận. Hai thành phần này được loại bỏ tách biệt nhau để làm giảm tối đa ảnh hưởng xấu đến các cơ quan khác.  Nhóm nghiên cứu tiến hành điều trị cho những con chuột bị đa u tủy xương (multiple myeloma) bằng phương pháp này mỗi tuần một lần trong suốt 4 tuần. Kết quả cho thấy, chúng có khối u nhỏ hơn đáng kể và sống sót lâu hơn so với nhóm chuột đối chứng, 50% số chuột đã được điều trị sống sót qua ít nhất 90 ngày. Trong nhóm chuột đối chứng, 50% số chuột sống sót qua 62 ngày. Những con chuột bị ung thư vú cũng cho thấy hiệu quả điều trị khối u, mặc dù không rõ rệt bằng những con chuột bị đa u tủy xương. Điều này có thể là do tính chất nguy hiểm hơn của dòng tế bào ung thư vú.  Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, một số loại đa u tủy xương nhất định có khả năng đề kháng với kỹ thuật quang trị liệu. Nguyên nhân là do các tế bào ung thư thiếu những protein đặc biệt trên bề mặt được sử dụng làm mục tiêu hướng đến cho các hạt nano chuyên chở thuốc titanocene.  “Khi chúng tôi nhìn kỹ hơn vào các tế bào có khả năng chống lại biện pháp quang trị liệu, chúng tôi thấy rằng protein bề mặt mà chúng tôi đang nhắm mục tiêu không xuất hiện ở đó. Vì vậy, chúng tôi muốn tìm ra một protein bề mặt khác để nhắm mục tiêu trong thời gian tới, nhằm tiêu diệt hết những tế bào kháng thuốc này. Nhờ đó, bệnh nhân sau khi điều trị có thể thuyên giảm hoàn toàn”, Achilefu nói.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/01/180129145742.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ Nhà thông minh SmartHome phổ biến ở VN      Sau bảy năm ấp ủ ý tưởng và nghiên cứu dự  án, cuối cùng công nghệ Nhà thông minh (Smarthome) của Tập đoàn công  nghệ Bkav đã chính thức có mặt tại nhiều khu đô thị cao cấp của Việt Nam  như Ecopark, Royal City, Times City (Hà Nội), Phú Mỹ Hưng, Vinhomes  Central Park (TPHCM)…    Bkav Smarthome được coi là nhà thông minh thế hệ mới, công nghệ vượt trội đạt tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu. Nỗ lực của Bkav khi phát triển công nghệ Bkav Smarthome đã đem lại cho người Việt Nam những điều thuận lợi và thú vị hơn sức tưởng tượng với hàng loạt trang thiết bị tiên tiến nhất như công nghệ truyền dữ liệu không dây chuyên dụng Zigbee, công nghệ truyền dữ liệu trên đường điện PLC… Nét thuận lợi là nhà thông minh Bkav SmartHome có thể dễ dàng triển khai trên các ngôi nhà đang sử dụng hoặc xây mới mà không phải đi lại đường điện hay sửa đổi hạ tầng.   Yếu tố công nghệ trong Bkav Smarthome khiến cho mọi nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của chủ nhà trở nên đơn giản không ngờ. Thông thường để điều khiển tất cả các thiết bị trong nhà, cần tới hàng chục công tắc, thậm chí lên tới hàng trăm công tắc với ngôi nhà có quy mô lớn. Nhưng với nhà thông minh Bkav SmartHome, có thể kiểm soát ngôi nhà thông qua giao diện trực quan 3D và việc điều khiển được chuyển qua một vài nút bấm trên điện thoại thông minh hay máy tính bảng. Ví dụ khi thay vì phải kéo rèm, đóng cửa, tắt điện, chủ nhà chỉ việc chạm vào nút quy định, hệ thống công nghệ Bkav Smarthome sẽ thực hiện những công đoạn này, đồng thời kích hoạt hệ thống an ninh, báo động khi phát hiện xâm nhập trái phép. Không chỉ điều khiển trực tiếp trên điện thoại hat máy tính bảng, chủ nhà có thể điều khiển bằng giọng nói. Công nghệ trợ lý ảo của Bkav SmartHome giúp việc giao tiếp với hệ thống diều khiển thân thiện hơn, không cứng nhắc như hệ thống thông thường.  Sự thông minh của Bkav Smarthome được đem đến bởi các phần mềm tích hợp trong hệ thống điều khiển. Những phần mềm này điều khiển những hệ thống nhỏ như hệ thống ánh sáng thông minh, hệ thống điều khiển rèm mành, hệ thống an ninh thông minh, hệ thống giải trí âm thanh đa vùng, hệ trực quan với màn hình cảm ứng 3D, kịch bản ngữ cảnh thông minh… Ví dụ hệ thống âm thanh đa vùng của Bkav SmartHome giúp cho các khu vực khác nhau trong nhà cùng một lúc có thể phát các nguồn nhạc khác nhau tùy theo sở thích của từng người. Ở mỗi khu vực người dùng có thể lựa chọn phát nhạc theo sở thích của mình mà không ảnh hưởng tới những người ở khu vực khác. Chủ nhân của ngôi nhà thông minh có thể lựa chọn các chế độ phát nhạc theo các khoảng thời gian trong ngày. Chẳng hạn vào buổi sáng hệ thống tự động phát các bản nhạc nhẹ giúp chủ nhân ngôi nhà thư giãn khi bắt đầu một ngày mới. Tùy theo nhu cầu, kịch bản ngữ cảnh thông minh đem lại khả năng cho chủ nhà tự chọn những kịch bản bất kỳ như lập trình hẹn giờ tắt đèn khi đi ngủ, đổ thức ăn vào bể cá khi vắng nhà, hoặc nếu quên tắt TV, bếp gas…, khi tới công sở, họ có thể gửi tin nhắn qua điện thoại di động để điều khiển thiết bị từ xa.  Ngoài hệ thống phần mềm điều khiển này, Bkav Smarthome còn có ưu điểm là hầu hết các thiết bị được sử dụng thiết kế với nhôm nguyên khối, kính cường lực Gorilla glass, màn hình cảm ứng đây cũng là các thiết kế và vật liệu dùng trong ngành công nghiệp chế tạo điện thoại thông minh, vốn đòi hỏi các thiết kế phải hiện đại, cao cấp…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ pháp lý: Cơ hội nào cho Việt Nam?      Trong bối cảnh cả vấn đề làm luật và tiếp cận, thực thi luật đang gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp với sự giúp đỡ của công nghệ pháp lý, cả hai đối tượng này đều có thể giảm thời gian, chi phí và công sức. Kể cả các công ty luật cũng sẽ nâng cao được hiệu quả và năng suất, chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng.          Việc đăng ký patent nhiều khi tốn kém và mất rất nhiều thời gian. TurboPatent giúp tự động hóa một phần quy trình này, giúp các nhà khoa học tiết kiệm chi phí thuê luật sư.   Legaltech ra đời bởi các áp lực về thời gian và chi phí của khách hàng ngày càng cao khiến các công ty luật, vốn là ngành chậm áp dụng công nghệ, phải tìm đến các công nghệ phù hợp để tăng hiệu quả công việc của mình. Mặc dù mới ra đời, ngành legaltech đã phát triển nhanh chóng cùng với việc áp dụng các công nghệ trong CMCN 4.0 như học máy (machine learning), trí tuệ nhân tạo (AI) và các dịch vụ về điện toán đám mây (cloud services). Ngày nay, các lĩnh vực cụ thể trong Legaltech bao trùm hàng loạt dịch vụ từ các nền tảng kết nối người có nhu cầu và các luật sư/công ty luật một cách nhanh chóng, đến các dịch vụ giúp các doanh nghiệp quản lý tài liệu pháp lý, bao gồm cả các bằng sáng chế và quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả, và các dịch vụ nghiên cứu chính sách/văn bản pháp lý để phục vụ đưa ra các quyết định pháp lý một cách đúng đắn nhất.  Sự phát triển của Legaltech trên thế giới  Theo nghiên cứu của Laconia Capital Group, riêng tại Hoa Kỳ, thị trường kỳ vọng của ngành này được tính vào khoảng 15,9 tỷ USD, trong đó 6,5 tỷ USD là thị trường tiềm năng đến từ nhu cầu của các công ty luật và 9.4 tỷ USD đến từ nhu cầu của các doanh nghiệp, tập đoàn1. Hầu hết các khoản đầu tư vào ngành Legaltech tập trung tại Hoa Kỳ, với tổng số đầu tư năm 2018 là 1 tỷ USD (trên 40 thương vụ), vượt xa con số 233 triệu USD năm 2017 với 61 thương vụ2.  Trong số đó, hơn 1/3, cụ thể là 362 triệu USD là các khoản đầu tư vào việc áp dụng AI trong legaltech, nhiều hơn cả tổng số đầu tư vào toàn ngành Legaltech năm 2017.  Một số công ty tên tuổi trong lĩnh vực Legaltech có thể nhắc đến TurboPatent, gọi được 3,25 triệu USD trong năm 2018 với việc áp dụng AI để hỗ trợ hoạt động viết đơn đăng ký sáng chế của các nhà nghiên cứu một cách tự động với giá rẻ bằng ½ so với giá thuê các công ty luật, và thời gian nhanh hơn nhiều lần3. LawGeex, gọi được 12 triệu USD, giúp các doanh nghiệp có thể kiểm tra các hợp đồng giao dịch một cách tự động (việc mà từ trước đến nay vẫn được làm bởi sức người, mất nhiều thời gian và không đảm bảo hoàn toàn chính xác), tiết kiệm được 80% thời gian và 90% chi phí so với việc kiểm tra hợp đồng bằng các dịch vụ tư vấn luật truyền thống4. Atrium, một startup trong lĩnh vực này mới chỉ hơn một năm tuổi, áp dụng công nghệ machine learning để giúp các startup số hóa các tài liệu pháp lý của mình, cũng vừa gọi được 65 triệu USD tiền đầu tư5. Hiểu được rằng startup là những doanh nghiệp chưa có nhiều năng lực tài chính để thuê các dịch vụ tư vấn luật một cách thường xuyên (vừa tốn kém, vừa có thể mất nhiều thời gian), Atrium giúp các startup chủ động được việc soạn thảo được các hợp đồng, tài liệu gọi vốn, tài liệu thẩm định đầu tư, v.v một cách nhanh chóng, minh bạch về giá thành và rẻ hơn nhiều so với các dịch vụ tư vấn luật thông thường. Mặc dù quy mô của những khoản đầu tư này không thể so sánh được với các khoản đầu tư mạo hiểm hàng trăm triệu USD cho đến hàng tỷ USD trong những ngành đã phát triển như e-commerce, logistics, fintech6 nhưng cũng cho thấy được tiềm năng lớn của một ngành mới nổi.  Tiềm năng để phát triển Legaltech tại Việt Nam  Tiềm năng để phát triển Legaltech ở Việt Nam đến từ sự phức tạp trong hệ thống quy định pháp lý, nhu cầu áp dụng luật của doanh nghiệp, sự phát triển của ngành tư vấn luật và tiềm năng sáng tạo của các startup trong việc giải quyết vấn đề này.  Trước hết, sự phức tạp và thay đổi nhanh chóng của nhiều chính sách ở Việt Nam khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc áp dụng. Ví dụ điển hình là các chính sách về thủ tục hành chính liên quan đến thuế, giấy phép kinh doanh, đất đai, tín dụng v.v7. Thống kê của VCCI cho thấy, mặc dù đã có sự cải thiện về mặt thủ tục hành chính trong một vài năm trở lại đây, vẫn có đến 60% doanh nghiệp, trong tổng số 10.000 doanh nghiêp dân doanh được khảo sát, phàn nàn về việc xin giấy phép kinh doanh có điều kiện (các giấy phép con) đầy phức tạp, khó khăn8.  Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, việc nộp đơn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng là thách thức khi không phải ai cũng có khả năng viết đơn bảo hộ, hiểu và theo đuổi được quá trình nộp đơn kéo dài, và nhiều doanh nghiệp thường xuyên phàn nàn về việc bị xâm phạm quyền, làm nhái sản phẩm, dẫn đến hệ lụy lớn về lợi nhuận và thương hiệu của mình9.  Các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) hay những doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp nhỏ với nguồn lực tài chính và nhân lực còn thấp, việc tiếp cận với các chính sách mới, tuân thủ các quy định pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, cũng như xây dựng các văn bản pháp lý phức tạp để kêu gọi đầu tư, đáp ứng cả các quy định trong nước, nước ngoài lại càng là vấn đề lớn.  Người làm chính sách cũng gặp phải không ít khó khăn trong việc xây dựng chính sách của mình bởi khi có quá nhiều văn bản liên quan đến nhau, khó có thể nắm bắt và rà soát. Ví dụ là tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội đã nêu ra tình trạng chồng chéo của nhiều văn bản quy phạm pháp luật10. Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ mới đây cũng đã chỉ ra 37 vướng mắc do chồng chéo về quy định pháp luật gây khó khăn cho các nhà đầu tư11. Lý do của những chồng chéo này, theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế TƯ, một phần là do người làm luật thường tiếp cận theo ngành dọc còn nhà đầu tư/doanh nghiệp thì phải tiếp cận theo chiều ngang.  Cũng bởi sự phức tạp nói trên, ngày càng nhiều doanh nghiệp tiếp cận đến các dịch vụ tư vấn luật để có thể được tư vấn chính sách, pháp lý nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp mình12. Nhu cầu này đặc biệt tăng mạnh từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 200813. Tuy nhiên, các vấn đề cần tư vấn ngày càng phức tạp khiến các công ty tư vấn cũng cần liên tục tìm hiểu, cập nhật thông tin, kỹ năng, cần hiểu biết rõ về khách hàng của mình và thị trường của họ14. Việc cập nhật các chính sách mới ban hành là chưa đủ, mà các công ty tư vấn còn phải giúp được doanh nghiệp cập nhật những thông tin về các dự thảo văn bản pháp luật mới, có khả năng ảnh hưởng lớn đến khách hàng.    Techlaw.Fest 2018 tại Singapore nhằm thảo luận về công nghệ ảnh hưởng đến luật pháp ra sao. Nguồn: Viện Pháp lý Singapore  Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách cũng sẽ được hưởng lợi nhiều từ các công ty Legaltech. Với việc áp dụng công nghệ để thường xuyên rà soát, cập nhật các chính sách mới trong lĩnh vực mà mình quản lý, những nhà hoạch định chính sách trong bộ, ngành này sẽ có thể xây dựng những chính sách mà không trùng lặp, chồng chéo với các chính sách do các bộ, ngành khác xây dựng. Hơn nữa, việc biết được các dự thảo chính sách nào liên quan đến đối tượng quản lý của mình sẽ giúp các nhà hoạch định, chính sách có ý kiến góp ý cho các dự thảo đó một cách nhanh chóng, tránh những trường hợp chính sách đã được ban hành rồi, doanh nghiệp mới biết mình bị ảnh hưởng thì đã muộn. Ví dụ, khi có các dự thảo liên quan đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thì ngay lập tức một sản phẩm Legaltech có thể cập nhật cho người làm chính sách về khởi nghiệp sáng tạo để có ý kiến góp ý nếu cần, bởi rất nhiều nhà đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo đến từ nước ngoài và sẽ bị ảnh hưởng bởi chính sách trên.  Nói cách khác, cả vấn đề làm luật và tiếp cận, thực thi luật đang gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp. Trong khi đó với sự giúp đỡ của công nghệ, cả hai đối tượng này đều có thể giảm thời gian, chi phí và công sức. Kể cả các công ty luật cũng sẽ nâng cao được hiệu quả và năng suất, chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng.  Legaltech không phải chưa hề có mặt tại Việt Nam. Một trong những công ty đang cung cấp dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu chính sách/văn bản pháp luật rất phổ biến hiện nay là thuvienphapluat, với số lượng văn bản được số hóa và cho phép khách hàng cập nhật lên đến hơn 300.000 văn bản được truy cập miễn phí, trong số đó hơn 11.000 văn bản đã được dịch sang tiếng Anh. Không có các thông số chính thức về mặt đầu tư hay kết quả kinh doanh của thuvienphapluat nhưng có thể thấy rất nhiều người kể cả ở cơ quan nhà nước hay khu vực tư nhân, sinh viên khoa luật tại các trường đại học hầu hết đều sử dụng dịch vụ của thuvienphapluat. Nhưng ngành này còn rất nhiều tiềm năng phát triển khi chưa có sự tham gia của các công nghệ AI hay machine learning như các startup Legaltech trên thế giới. Về tiềm năng, Việt Nam đã có những startup áp dụng công nghệ AI, machine learning, cloud computing, big data trong các lĩnh vực khác nhau như fintech, logitistics, edtech,…, do đó việc triển khai các công nghệ này vào Legaltech để giải quyết vấn đề của thị trường không phải là điều quá khó khăn.  Với sự áp dụng của các công nghệ mới để tự động hóa quá trình tiếp cận, phân tích thông tin về các văn bản pháp luật, áp dụng các quy định mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, kết nối người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật và người có thông tin, có khả năng tư vấn, hi vọng rằng các startup Việt có thể bắt đầu tham gia vào nền công nghệ mới nổi – Legaltech – để hỗ trợ không chỉ doanh nghiệp Việt Nam, các công ty tư vấn luật mà cả các cơ quan nhà nước có thể nâng cao năng lực rà soát, xây dựng các văn bản mới và đưa các văn bản này đến với người dân, doanh nghiệp một cách hiệu quả. Tại Hội nghị TechLaw.Fest tại Singapore vào tháng 4, 2018, đã có một hackathon để tìm kiếm các giải pháp Legatech cho ngành tư vấn luật và các doanh nghiệp, trong đó một công ty áp dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để cung cấp dịch vụ chữ ký điện tử đảm bảo giảm thiểu chi phí và tăng tính hiệu quả cho các giao dịch online đã thắng cuộc15. Có chăng ngành Legaltech Việt Nam nên khởi động bởi một hackathon tương tự?    Legaltech là gì?  Công nghệ pháp lý hay còn gọi là “Legaltech” là một trong những ngành công nghệ mới nổi trên thế giới cùng với ngành công nghệ tài chính (fintech), công nghệ bảo hiểm (insuretech) công nghệ giáo dục (edtech), v.v. Công nghệ pháp lý và công nghệ quy định (regulation technology hay gọi tắt là regtech) mặc dù tên gọi gần giống nhau nhưng lại có hàm ý khác nhau. Trong khi Regtech là ngành công nghệ hướng tới mục tiêu chính là giải quyết các vấn đề về áp dụng quy định pháp lý trong ngành tài chính, ngân hàng, Legaltech hướng tới giải quyết các vấn đề pháp lý rộng lơn của các công ty luật và các khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn luật.    Tài liệu tham khảo:  1https://legal-tech-blog.de/wp-content/uploads/2018/05/Laconia-Capital-Group_-Legal-Tech-Industry-Landscape.pdf  2 https://blog.lawgeex.com/legaltech-hits-1-billion-investment-as-lawyers-embrace-automation/  3 https://turbopatent.com/  4 https://www.lawgeex.com  5 https://techcrunch.com/2018/09/10/atrium-legal/  6 https://news.crunchbase.com/news/a-brief-look-at-2018s-largest-funding-rounds/https://assets.kpmg/content/dam/kpmg/xx/pdf/2018/07/kpmg-venture-pulse-q2-2018.pdf  7 http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/43000-doanh-nghiep-dang-gap-kho-khan-co-phai-vi-giay-phep-con-post178775.gd  https://motthegioi.vn/kinh-te-c-67/chinh-sach-thue-thay-doi-nhieu-gay-kho-khan-cho-doanh-nghiep-58154.html  https://baomoi.com/doanh-nghiep-gap-kho-khan-do-tinh-trang-tinh-nham-thue/c/28755939.epi  8 http://enternews.vn/doanh-nghiep-tiep-tuc-phan-nan-ve-giay-phep-con-140260.html  9 https://bnews.vn/con-khong-it-doanh-nghiep-gap-kho-khan-vuong-mac-ve-chinh-sach/83317.html  10 https://baomoi.com/tinh-trang-chong-cheo-trong-cac-van-ban-quy-pham-phap-luat/c/27198509.epi  11 https://nld.com.vn/thoi-su/luat-chong-cheo-kim-h  12 http://enternews.vn/doanh-nghiep-manh-hon-khi-co-tu-van-luat-139285.html  13 http://htt.edu.vn/soi-dong-thi-truong-dich-vu-phap-ly-o-viet-nam/  14 http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/7437/Nhung-cach-ton-tai-cua-cac-cong-ty-tu-van-luat  15https://www.opengovasia.com/blockchain-based-technology-for-secure-digital-signatures-wins-legal-tech-hackathon-in-singapore/               Author                Phan Hoàng Lan        
__label__tiasang Công nghệ robot Việt Nam: Vẫn còn ở dạng tiềm năng      Ông Trần Thanh Thủy, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa (Bộ Công thương) cho rằng các đơn vị trong nước có đủ khả năng để  nghiên cứu, sản xuất các loại robot phục vụ nhu cầu sản xuất công nghiệp  trong nước với giá thành rẻ hơn rất nhiều và chức năng tương đương so  với các sản phẩm robot nhập khẩu.     Trên thế giới khoa học robot rất phát triển, ông đánh giá thế nào về tình hình nghiên cứu sản xuất robot ở Việt Nam?  Ông Trần Thanh Thủy: Trong khoảng 25 năm qua, nước ta đã có những hoạt động nghiên cứu bước đầu và đã có những bước tiến đáng kể về robot. Trong đó có những đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp nhà nước thuộc các lĩnh vực tự động hóa, cơ khí chế tạo do các tổ chức KH&CN trên toàn quốc thực hiện như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, Viện NC Điện tử, Tin học, Tự động hoá (Bộ Công Thương), Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Viện Cơ học và Viện Công nghệ Thông tin (Viện KH&CN Việt Nam) …  Các nghiên cứu về robot ở nước ta liên quan nhiều đến vấn đề về động học, động lực học, thiết kế quỹ đạo, xử lý thông tin cảm biến, cơ cấu chấp hành, điều khiển và phát triển trí thông minh. Đặc biệt, trong lĩnh vực điều khiển robot, ngoài các phương pháp điều khiển truyền thống như PID, phương pháp tính mô men, phương pháp điều khiển trượt thì các phương pháp điều khiển thông minh như điều khiển sử dụng mạng nơ ron, logic mờ, thuật gen và các phương pháp điều khiển tự thích nghi cũng đã được đề cập nghiên cứu và áp dụng tại các tổ chức KH&CN. Cùng với các kết quả về thực nghiệm, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về robot đã được công bố trên các tạp chí khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước hoặc báo cáo tại các Hội nghị khoa học quốc tế về robot.  Tuy nhiên, có thể nói, cho đến nay ở Việt Nam ngành công nghiệp robot vẫn chưa hình thành một cách rõ nét. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh robot Việt Nam vẫn phát triển mang tính tự phát. Thậm chí, kể cả các chính sách của nhà nước cũng chưa đề cập đến việc phát triển ngành công nghiệp robot hiện tại và tương lai.  Các thế hệ robot mà thế giới đang nghiên cứu chế tạo là các loại robot thông minh có thể thăm dò sao hỏa, mặt trăng, đại dương hay có các khả năng giống như con người. Vậy các loại robot Việt Nam hiện nay nghiên cứu theo hướng nào?  Quá trình phát triển công nghệ robot đi từ những thế hệ đơn giản đến những thế hệ cao cấp hơn. Ở thập kỷ những năm 60 – 70, thế giới tập trung sản xuất các loại robot công nghiệp, làm những công việc cố định trong các nhà máy xí nghiệp. Đến thập kỷ những năm 80 – 90, các nước đã bắt đầu phát triển các loại robot dịch vụ bao gồm robot dịch vụ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh, hay robot chăm sóc sức khỏe; robot dịch vụ gia đình,…Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới đang nghiên cứu ra các loại robot dạng người, tức là robot có thể cảm nhận, suy nghĩ, có thể nói, hành động giống con người. Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc có thể được xem là các nước đi đầu trong phát triển  robot.  Ở Việt Nam, về mặt lý thuyết, chúng ta cũng hoàn toàn có thể phát triển được các loại robot thông minh, nhưng do cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế, ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp robot chưa phát triển, các thiết bị kiểm tra, kiểm định chất lượng robot chưa có hoặc có chưa đầy đủ và quy mô thị trường còn hạn hẹp, nên không đủ  điều điện để phát triển các loại robot dạng này. Vì vậy, xu hướng hiện nay vẫn dừng lại ở việc phát triển các loại robot công nghiệp.  Chúng ta có thể làm được những loại robot thông minh. Căn cứ vào đâu để chứng minh Việt Nam có thể thực hiện điều đó?  Việt Nam có thuận lợi đầu tiên đó là trí tuệ, người Việt Nam thông minh không thua kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Một ví dụ rất điển hình đó là, tại các cuộc thi robocon Châu Á, đội tuyển Việt Nam luôn giành được các giải thưởng cao, thậm chí còn hơn cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore…Các cuộc thi robot thu hút rất đông học sinh, sinh viên tham gia điều đó có nghĩa là đội ngũ những người đam mê, yêu thích ngành công nghệ này là rất lớn. Từ chỗ chỉ có một vài đội tham gia năm 2002, đến nay đã có hàng trăm đội của hàng trăm trường đại học, cao đẳng của cả nước tham gia với niềm đam mê và quyết tâm cao.  Người Việt Nam có thể thiết kế phần mềm điều khiển robot, chế tạo các bo  mạch điện tử… nghĩa là phần “hồn” cho các  robot, nhưng phần “xác” cho robot thì gặp quá nhiều khó khăn mà nguyên nhân chính, như tôi đã nêu là do ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam chưa phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu.  Ông có thể nói rõ hơn những khó khăn, trở ngại khiến ngành công nghiệp  robot Việt Nam chưa phát triển? Để phát triển ngành công nghiệp robot chúng ta phải làm gì?  Để phát triển một ngành công nghiệp trước hết phải có thị trường, có sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, về chính sách cũng như khung pháp lý và ít nhiều phải hình thành được một vài doanh nghiệp sản xuất kinh doanh robot chủ lực có quy mô sản xuất lớn. Nhưng như tôi đã nói, tất cả những yếu tố đó đến nay ở Việt Nam còn rất mờ nhạt.  Vấn đề phát triển công nghiệp robot ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức và sự chuyển biến nhận thức chưa được rõ nét. Nhiều kiến nghị của các hội thảo quốc gia về lĩnh vực này, đều không được hồi âm cần thiết, trong đó, có những đề xuất cụ thể về các nội dung triển khai “chiến lược phát triển robot” ở Việt Nam.  Giới khoa học vẫn thiếu sự liên kết, mạnh ai nấy làm, dẫn tới trùng lắp và trong thực tế tư duy của giới khoa học và của giới doanh nghiệp chưa gặp nhau, giới khoa học chưa tạo được lòng tin đối với doanh nghiệp.  Việt Nam chưa có nhà máy với đầy đủ trang thiết bị sản xuất, kiểm định chất lượng sản phẩm robot công nghiệp. Để sản xuất một robot công nghiệp cần thiết phải có nhóm trang thiết bị điện, điện tử và cơ khí phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm và sửa chữa; nhóm trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm định; nhóm trang thiết bị phục vụ lắp ráp và điều chỉnh. Đó là chưa kể, robot công nghiệp sau khi sản xuất xong phải trải qua quy trình kiểm định về độ chính xác vị trí, độ chính xác lặp lại theo một phương duy nhất, độ chính xác thực hiện dịch chuyển và lặp lại dịch chuyển, độ sai lệch góc, thời gian ổn định đến vị trí định vị… Nhưng những yếu tố cần thiết để kiểm định các thông số này đối với các robot được chế tạo tại Việt Nam đều chưa có.  Thị trường cho các sản phẩm robot được chế tạo trong nước chưa được tạo lập và các biện pháp kỹ thuật kiểm soát, ngăn ngừa nhập khẩu những sản phẩm robot mà trong nước sản xuất được cũng chưa được ban hành.  Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đã được quan tâm chú ý, nhưng vì thiếu vắng môi trường hoạt động nên đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư và kỹ sư nghiên cứu thiết kế là nhân tố cơ bản để thực hiện thành công nhiệm vụ R&D cũng như chiến lược sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp bị mai một về kiến thức, ý tưởng sáng tạo.  Để phát triển ngành công nghiệp robot ở Việt Nam, theo tôi, quan trọng hơn cả vẫn là thị trường. Phải có thị trường thì mới có thể thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Cho đến nay, các đề tài NCKH&PTCN về robot sau khi nghiệm thu hầu như không thể tiếp tục triển khai được thành các dự án sản xuất thử nghiệm bởi không có thị trường, không có người mua. Mà đã không có đơn đặt hàng thì không ai có thể “dũng cảm” đặt vấn đề sản xuất thử nghiệm cả, vì vốn cho các dự án sản xuất thử nghiệm đều là vốn vay phải nộp thu hồi.  Các đơn vị trong nước có đủ khả năng để sản xuất các loại robot công nghiệp phục vụ cho nhu cầu trong nước với giá thành rẻ hơn rất nhiều và chức năng tương đương so với các sản phẩm robot nhập của nước ngoài, nhưng các chủ đầu tư lại ngại tiếp nhận các sản phẩm robot Việt Nam bởi thực tế các doanh nghiệp thường nhập đồng bộ các dây chuyền trong đó đã bao gồm cả các robot. Các dây chuyền sản xuất công nghiệp ở Việt Nam có mức độ tự động hóa chưa cao, nên việc đầu tư robot của các chủ doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chưa mặn mà đầu tư robot và do đó quy mô thị trường robot ở Việt Nam chưa lớn, nên các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh robot Việt Nam chỉ có thể có một số hợp đồng sản xuất robot đơn lẻ cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chủ yếu là các robot phục vụ cho các công đoạn riêng lẻ như công đoạn hàn, sơn hay trong môi trường độc hại.  Theo tôi, muốn thúc đẩy ngành công nghiệp robot phát triển, trước tiên cần có sự vào cuộc của nhà nước, cụ thể là ban hành các chính sách vĩ mô như chính sách để hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất robot; chính sách đầu tư cho nghiên cứu phát triển, chính sách đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực robot, chính sách phát triển thị trường, v.v…. Hình thành những ngành học, ngành đào tạo và nghiên cứu chuyên về robot và đặc biệt là phải hình thành nên một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh robot đầu đàn, tạo nền tảng để phát triển ngành công nghiệp robot.    Ông có thể đánh giá vai trò của ngành công nghiệp robot đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và khoa học công nghệ nói riêng?  Robot đã được khẳng định về khả năng đem lại rất nhiều lợi ích trong phạm vi rộng các ứng dụng khác nhau. Các chuyên gia của Hiệp hội robot quốc tế đã đưa ra 10 lợi ích phổ biến nhất theo ý kiến từ những người đã sử dụng robot trong các lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới, đó là Giảm chi phí vận hành; Nâng cao chất lượng và tính ổn định của sản phẩm; Nâng cao hiệu quả làm việc của công nhân; Nâng cao sản lượng đầu ra; Nâng cao tính linh hoạt trong quá trình sản xuất sản phẩm; Giảm lãng phí nguyên liệu và tăng lợi nhuận; Tuân thủ các quy định về an toàn và nâng cao sức khỏe và an toàn nơi làm việc; Giảm chi phí thay đổi lao động và khó khăn trong tuyển dụng; Giảm các chi phí đầu tư cơ bản; Tiết kiệm không gian cho những khu vực sản xuất đắt đỏ.  Có thể nêu một ví dụ đơn giản: Ở một công đoạn sản xuất nhất định nào đó, do yếu tố tâm lý, sức khỏe, người công nhân có thể lơ đãng trong một vài thao tác khiến cả một lô sản phẩm hỏng hoặc bị kém chất lượng. Nhưng nếu thay người công nhân đó bằng một chú robot, do  có thể làm liên tục, đều đặn, không bị mệt mỏi, nên robot hoàn toàn có thể thực hiện một cách chính xác, vừa đảm bảo chất lượng của lô hàng, vừa tăng năng suất. Robot là hình ảnh thu nhỏ của hệ thống các thiết bị hiện đại, công nghệ cao hiện nay, rất linh hoạt và thông minh. Do đó, phát triển ngành công nghiệp robot sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành công nghiệp công nghệ cao khác như công nghệ thông tin, công nghiệp điện tử, tự động hóa…  Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ sinh học biến rơm rạ thành… tiền      TS Lê Văn Tri – Chủ nhiệm đề tài dùng chế phẩm sinh học biến rơm rạ thành phân hữu cơ, nói về công nghệ giúp khắc phục tình trạng đốt rơm rạ sau mùa gặt, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng này.    Được biết Quy trình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ nhờ sử dụng chế phẩm Fito-Biomix RR của Công ty CP Công nghệ sinh học Hà Nội do ông làm chủ nhiệm vừa tham gia Chợ Công nghệ và thiết bị – Techmart 2012 và vinh dự được nhận cúp vàng. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của hội Techmart cũng như kết quả có được khi tham gia?  – TS Lê Văn Tri: Techmart 2012 có ý nghĩa xã hội rất lớn. Đó là cầu nối giao lưu, nơi gặp gỡ và tiến hành các hoạt động ký kết hợp đồng liên kết nghiên cứu sản xuất, kinh doanh đồng thời tạo ra một môi trường học hỏi trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp, người sử dụng công nghệ và người nông dân. Tham gia Techmart 2012 lần này, chúng tôi đã đem đến hơn 20 công nghệ và sản phẩm thuộc 3 nhóm chính gồm: Nhóm xử lý ô nhiễm môi trường, nhóm phân bón phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOOCMON và nhóm Công nghệ sản xuất phụ gia bê xây dựng BIFI bằng công nghệ sinh học. Các sản phẩm công nghệ của chúng tôi đều được đánh giá cao về hiệu suất và tính ứng dụng trong thực tiễn. Chúng tôi đã dành được 3 cúp vàng của Techmart 2012 trao cho 3 sản phẩm đặc trưng: phân bón FITOHOOCMON, phụ gia BIFI và Fito-Biomix-RR – chế phẩm dùng để xử lý rơm rạ tại ruộng thành phân bón sinh học cho cây trồng.  Cúp vàng tại Techmart 2012 là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp phát triển ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất  nông nghiệp của Công ty trong thời gian qua. Ngoài công nghệ xử lý rơm rạ  trên, Công ty còn triển khai những dự án nào khác, thưa ông?  – Chúng tôi có rất nhiều các sản phẩm công nghệ sinh học ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp đã được công nhận và dành được nhiều Cúp vàng tại các Hội chợ Techmart trước đây. Tại Techmart 2012 chúng tôi tham gia một số sản phẩm công nghệ, nhưng chỉ xin xét thưởng cho “Công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix-RR xử lý rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ bón cho cây trồng nhằm phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”.  Bên cạnh đó, hiện Công ty đã và đang triển khai nhiều dự án liên quan đến công tác nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp như: Công nghệ sản xuất phân bón lá sinh học cho các loại cây trồng; Công nghệ sản xuất phân bón sinh học – phân phức hợp hữu cơ vi sinh Fito; Công nghệ xử lý rơm rạ tại ruộng thành phân bón hữu cơ; Công nghệ xử lý rác hữu cơ và nước rỉ rác; Công nghệ xử lý đáy và nước ao nuôi trồng thủy sản; Công nghệ phòng và chống một số bệnh trong nuôi trồng thủy sản; Công nghệ xử lý nguồn rác thải các trang tại chăn nuôi tập chung,…  Hầu hết các công nghệ chúng tôi triển khai đều có thể mở rộng quy mô ở nhiều địa phương, đặc biệt là sự ủng hộ từ các địa phương trên toàn quốc vì thực chất nó đem lại hiệu quả cao cho người sử dụng.  Hiện nay, tình trạng đốt rơm rạ sau hoạch đang gây ra những hệ quả lớn về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái đồng ruộng, trật tự giao thông,.. Theo ông, các dự án trên nếu được triển khai sẽ đem lại lợi ích gì cho người nông dân?  – Sau khi thu hoạch, bình quân 1ha thu được 6 tấn rơm rạ trong đó bao gồm 51,5 kg N –  25,4 kg P2O5 –  137,4 kg K2O. Đa số bà con nông dân vẫn tiến hành đốt sau thu hoạch. Việc làm này không những làm mất đi các vi tố hữu cơ có ích mà còn gây tổn hại đến môi trường. Theo tính toán, lượng CO2 phát thải vào môi trường do đốt rơm rạ tại Đồng bằng Sông Hồng là 1,2 đến 4,7 triệu tấn/năm, lượng khí nhà kính phát thải vào môi trường do việc đốt rơm rạ này gây thiệt hại về môi trường tương đương với 19,05 – 200,3 tr USD/năm. Bên cạnh đó, việc lấy đi rơm rạ khỏi đồng ruộng đã làm giảm cacbon hữu cơ một cách đáng kể. Nếu hàm lượng cacbon ban đầu là 3,56%, sau 10 năm canh tác 2 vụ lúa/năm, hàm lượng cacbon chỉ còn 3,03%, sau 50 năm là 1,59% và sau 100 năm là 0,71%, như vậy độ phì nhiêu cũng như hàm lượng dinh dưỡng trong đất sẽ giảm đi rất nhiều.  Việc ứng dụng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ thành phân ủ hữu cơ bón cho cây trồng ngoài việc tận dụng sản phẩm dư thừa sau thu hoạch nhằm bổ sung phân hữu cơ tại chỗ, tiết kiệm chi phí và tạo thói quen cho người dân không đốt rơm rạ mà còn là biện pháp bảo vệ môi trường, tăng độ phì cho đất, cân bằng sinh thái đồng ruộng và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng.  Nếu sử dụng sản phẩm phụ nông nghiệp, hàng năm sẽ có hàng nghìn tấn phân bón hữu cơ thay thế nguồn phân bón khác. Đây sẽ là nguồn sản xuất sạch trong nông nghiệp, nông thôn. Có thể nhìn thấy rõ ràng hiệu quả kinh tế mang lại khi khai thác theo phương pháp này, người dân sẽ tiết kiệm được các khoản chi phí thay vì mua phân bón hóa học. Theo tính toán, 1 tấn phân hữu cơ từ rơm rạ có 10kg đạm, 9,5 kg lân và 21 kg kali, nếu xử lý 50% lượng rơm rạ sau thu hoạch của các tỉnh, thành phố trong cả nước được xử lý bằng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR thì lợi nhuận thu được gần 5 nghìn tỷ đồng/năm. Ở Việt Nam lượng rơm rạ cần xử lý là gần 45 triệu tấn, nếu xử lý hết khối lượng rơm rạ trên sẽ thu được gần 20 triệu tấn phân hữu cơ, với con số này, hàng năm bà con nông dân  không phải bỏ tiền mua: 200 ngàn tấn đạm, 190 ngàn tấn lân và 460 ngàn tấn kali. Quy ra tiết kiệm được gần 11 ngàn tỷ đồng.  Với mục đích đưa công nghệ sinh học vào phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp mang tính bền vững, ông có thể cho biết thời gian tới Công ty sẽ có những dự án mang tính đột phá gì trong lĩnh vực này?  Ngoài các chương trình, dự án đã được nghiên cứu triển khai thành công, thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước, Công ty đã xây dựng các kế hoạch cụ thể hướng tới mục tiêu đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật trong nghiên cứu vào sản xuất. Cụ thể là các công nghệ sinh học đã được ưu tiên lựa chọn như: Công nghệ sử dụng các chế phẩm sinh học tăng năng suất cây trồng, phòng chống sâu bệnh, nâng cao chất lượng nông sản; Công nghệ sinh học xử lý rác hữu cơ trong làng xã thành phân bón hữu cơ vi sinh; Công nghệ sinh học xử lý phân thải các trang trại chăn nuôi tập trung thành phân bón hữu cơ vi sinh; Công nghệ sử dụng chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý nguồn rơm rạ và phế thải nông nghiệp thành phân bón hữu cơ; Công nghệ sinh học sản xuất giá thể mạ công nghiệp từ mùn rơm rạ để sản xuất mạ khay phục vụ cho cấy bằng máy,…  Để thực hiện các dự án trên, chúng tôi sẽ lấy cấp xã làm mô hình sử dụng các công nghệ, sau khi thành công sẽ nhân rộng ra toàn huyện, tiến tới toàn tỉnh. Dự định sau 5 năm dự án mới hoàn thành giai đoạn 1: Giai đoạn triển khai ứng dụng. Năm năm tiếp theo là giai đoạn 2: Giai đoạn ổn định và phát triển. Và giai đoạn cuối cùng là phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn.  Theo tôi, nếu áp dụng các công nghệ này một cách khoa học và đồng bộ, người nông dân sẽ tiết kiệm được nhân lực lao động trong sản xuất, giảm chi phí sử dụng phân hóa học từ 30 – 40%, tăng năng suất cây trồng lên từ 15 – 20% điều này tỉ lệ thuận với lợi nhuận trong sản xuất, đặc biệt chúng ta có thể giữ gìn được độ phì nhiêu cho đất, qua đó, hướng tới phát triển một nền nông nghiệp xanh, sạch và bền vững cho các thế hệ mai sau.  – Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ sinh học tổng hợp      Chúng ta đang đứng ở ngưỡng cửa của kỷ nguyên siêu sinh học (superbio): Không lâu nữa chất dẻo sẽ được sản xuất không phải từ chiết xuất dầu mỏ, hay giày dép sẽ không được làm từ da gia súc mà từ tơ nhện.      Trong những ngày hè này, trên tầng năm của toà nhà xưa kia thuộc nhà máy đóng tàu thuỷ tại khu cảng cũ Boston đang diễn ra những sự việc có thể dẫn đến sự thay đổi mãi mãi cuộc sống trên trái đất này. Tại đây, giữa những thiết bị máy móc hiện đại dùng trong phòng thí nghiệm, các máy tính và các tủ ấp, nhà sinh học Tom Knight, một nhà nghiên cứu hàng đầu, dày dạn kinh nghiệm của Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) cùng với một số nghiên cứu sinh của ông thành lập Startup Ginkgo Bioworks đang miệt mài với những công trình đầy sáng tạo về sự sống nhân tạo của mình. Ông được các đồng nghiệp tôn vinh là cha đẻ của sinh học tổng hợp (Synthetic biology).  Xung quanh nhà nghiên cứu Knight là hàng chục thiết bị máy móc tự động sử dụng ống hút, lắc ống nghiệm và sắp xếp chuỗi gene. Từng bước, từng bước ông và các cộng sự kiên trì sắp xếp hàng nghìn chuỗi DNA lại với nhau, đây thực sự là một trò xếp hình khổng lồ. Sau đó các nhà sinh học cấy vật liệu di truyền vào vi sinh vật, vi khuẩn hay tế bào nấm men. Ở nhiệt độ 30oC các đơn bào này sinh sôi nảy nở, cho ra đời một sinh vật mới trong phòng thí nghiệm. Lần này là một tế bào nấm chứa gene của cây đào, có thể tạo ra chất thơm của trái cây để dùng cho trà đá hay sữa chua. Cho đến nay tập thể cộng sự của Knight đã cho ra đời được 40 loại vi sinh vật như vậy.  Knight là người đi tiên phong trong lĩnh vực công nghệ sinh học tổng hợp, mở đầu của quá trình cải tạo sẽ diễn ra trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Không lâu nữa, nhờ những phương pháp mà các nhà sinh học tổng hợp đã thử nghiệm, trong tương lai con người sẽ không phải giết mổ gia súc vì thịt được tạo ra bằng dung dịch dinh dưỡng. Con người cũng không cần có dầu mỏ vì họ có thể nấu được chất dẻo. Con người cũng không cần có đèn LED, vì chúng ta có thể dùng vi khuẩn để chiếu sáng. John Cumbers, nhà sáng lập mạng lưới công nghệ sinh học SynBioBeta dự báo: “Trong vòng hai chục năm nữa công nghệ sinh học tổng hợp sẽ trở thành mảng kinh doanh then chốt của phần lớn các doanh nghiệp”. Ý tưởng này đang thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư. Nếu như năm 2016 các nhà đầu tư chi một tỷ USD cho các Startup thuộc lĩnh vực sinh học tổng hợp thì đến năm 2020 thị trường này sẽ tăng lên 40 tỷ USD, theo công ty nghiên cứu thị trường Allied Market Research.  Đây không phải là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu về gene tuyên bố về một cuộc cách mạng công nghệ sinh học. Trong những năm 1990, đã có nhiều Startup được thành lập và cũng đã có nhiều hãng sau đó bị biến mất. Còn hiện nay chi phí sản xuất các chuỗi gene giảm mạnh, giúp thổi bùng lên không khí hồ hởi náo nức tại các phòng thí nghiệm.  Craig Venter, một trong những chuyên gia gạo cội hàng đầu về gene cho rằng không lâu nữa hầu như mọi chất liệu đều có thể chế tạo bằng phương pháp tổng hợp. Chi phí cho một kg nguyên liệu chỉ mất một vài cent hay vài đôla và yêu cầu về diện tích nhà xưởng để chế tạo chỉ bằng một phần nghìn so với các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện nay. Ví dụ để tạo ra một kg tinh dầu hoa hồng người nông dân phải thu hái một triệu rưỡi bông hồng. Còn hãng Ginkgo Bioworks cung cấp nguyên liệu tinh dầu hoa hồng cho hãng sản xuất nước hoa Robertet của Pháp bằng việc chế biến từ tế bào nấm men và để tạo ra một khối lượng tinh dầu tương tự, nhà sản xuất chỉ cần xây dựng một bể chứa nhỏ gọn đặt ngay ở trong thành phố.    Hiếm khi nào các nhà khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học tổng hợp ở Hoa Kỳ, châu Á và châu Âu lại được săn đón, mời chào như hiện nay. Tiền đổ về như nước chắp cánh cho những ý tưởng đầy tham vọng của họ.    Một số doanh nghiệp khởi nghiệp có ý đồ tạo thịt bằng công nghệ sinh học tổng hợp, từ đó đưa gia súc ra khỏi chuỗi thức ăn của con người: Startup Finless Foods ở San Francisco muốn nuôi tế bào cá trong bể để tạo ra philê cá. Một số đối thủ cạnh tranh lại tính đến việc chế tạo thịt, sữa, gelatin và da mà không cần nuôi gia súc. Hiện nay các trang trại nông nghiệp chiếm dụng khoảng 40% đất đai. Nếu ý đồ sản xuất thực phẩm từ các bể dinh dưỡng thành công thì có thể trả lại không gian cho thiên nhiên và giảm lượng phát thải khí CO2 trong nông nghiệp đáng kể.  Thậm chí kỷ nguyên dầu mỏ có thể sẽ bị cáo chung. Điều này đã được chứng minh bởi tập đoàn Adidas ở Herzogenaurach, Đức. Để làm ra một đôi giày thể thao tiêu hao khoảng 6 lít dầu mỏ. Nhưng loại giày thể thao mới cũng của hãng này, hiện còn ở dạng nguyên mẫu, không tiêu hao giọt dầu nào. Vì nguyên liệu làm loại giày này là tơ nhện tổng hợp. Loại nguyên liệu này không những có độ bền cao hơn mà còn nhẹ hơn. Tuy nhiên cho đến nay chỉ có nhện mới sản sinh ra được nguyên liệu này.  Hiện hãng công nghệ sinh học Amsilk ở Planegg, Đức đã cấy gene vào vi khuẩn coli để chúng tác động vào chất thải thực vật và tạo ra một loại vải bền và có thể phân huỷ. Theo Adidas, hãng này có thể tạo ra hàng loạt sáng kiến, phát minh mới mẻ từ loại sợi sinh học này và hiện tại hai doanh nghiệp đang trao đổi về các bước đi tiếp theo. Adidas muốn làm sao để có thể đưa ra thị trường một cách nhanh nhất loại giày được sản xuất hoàn toàn bằng nguyên liệu sinh học có khả năng tự huỷ này.  Trong các cuộc thi sinh học tổng hợp iGem của sinh viên được tổ chức hằng năm trên toàn thế giới, các đội tham gia đều phát triển các cỗ máy sinh học mới: ví dụ chế tạo ra loại vi khuẩn phát sáng và tới đây Startup Glowee muốn đưa chúng vào phục vụ phát sáng cho các toà nhà; tế bào thám tử (Detective cells) có thể đổi màu khi phát hiện chất arsen trong nước; các công tắc phân tử có khả năng công phá tế bào ung thư; hoặc loại tảo có thể chế tạo ra dầu.  Tập đoàn dầu mỏ ExxonMobil đặc biệt quan tâm đến dự án biến tảo thành dầu và đã đầu tư 600 triệu USD cho Startup Synthetic Genomics của Craig Venters để ép tảo lấy nhiên liệu. Trong 15 năm qua đã có một loạt dự án tương tự được tiến hành nhưng không thành công, nhiều Startup bị phá sản. Tuy nhiên hồi tháng sáu vừa qua, Synthetic Genomics đã thông báo rằng các nhà nghiên cứu của Startup này có thể tăng lượng dầu thu từ tảo lên hơn gấp đôi. Từ đó có thể thấy dự án chế tạo dầu từ tảo của doanh nghiệp này đã chín muồi.  Nhóm nghiên cứu của Venters đã áp dụng một công nghệ mới, công nghệ này tấn công như vũ bão vào lĩnh vực sinh học từ năm 2012: công nghệ chỉnh sửa gene Crispr-Cas9. Với công nghệ này, người ta có thể dễ dàng bóc tách từng đoạn gene trong DNA, từ đó chắp nối gene di truyền như làm phim vậy. Điều này đã diễn ra trong phòng thí nghiệm của George Church ở Đại học Harvard. Tại đây các nhà sinh học phân tử tiến hành hàng loạt thử nghiệm hết sức táo bạo. Nhà nghiên cứu George Church muốn tái sinh voi Mammut tương tự như các nhà nghiên cứu trong phim “Kỷ Jura” muốn làm sống lại những con khủng long. Để làm điều này, Church dự kiến lấy gene từ xác ướp voi mamut cấy vào những con voi hiện nay. Trải qua nhiều thế hệ sẽ hình thành voi mamut từ những con voi ngày nay. Nhà nghiên cứu này hy vọng, phương pháp tương tự sẽ làm sống lại những loại cây trồng quý giá phục vụ cuộc sống con người.  Nhà nghiên cứu Church năm nay 70 tuổi, từng được tạp chí Time tôn vinh là một trong số 100 nhân vật quan trọng nhất của năm. Ông nói về các thử nghiệm thay đổi gene ở lợn nhằm sử dụng nội tạng của lợn làm bộ phận thay thế các cơ quan ở con người: “Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiền lâm sàng vào năm tới”. Dăm ba năm nữa sẽ diễn ra các ca cấy ghép nội tạng đầu tiên ở người. Church muốn điều trị các bệnh di truyền, ví dụ như bệnh teo cơ bằng cách tiêm thuốc điều chỉnh gene để khắc phục. Church là một trong những người sáng lập dự án Write Genom với mục tiêu đưa sinh học tổng hợp lên đỉnh cao. Dự án về gene người này vốn đề ra mục tiêu đọc được toàn bộ bộ gene của con người. Các nhà khoa học hy vọng trên con đường nghiên cứu này sẽ phát hiện được nhiều sự bí ẩn trong các tế bào  – qua đó có thể tiếp tục giảm chi phí đối với việc tổng hợp gene.  Thậm chí tới đây có thể “gửi dữ liệu DNA của vi sinh vật qua Email, rồi sau đó tái tạo lại các tế bào ở một nơi khác ”, Andrew Hessel, một trong các đồng sáng lập công ty công nghệ sinh học GP-Write nói. Ví dụ, thầy thuốc tại một bệnh viện ở châu Phi có thể chế tạo các vi sinh vật có tính năng chữa bệnh, còn các vi sinh vật này đã được phát triển trong các phòng thí nghiệm ở Harvard. Đây thực sự là một công nghệ vĩ đại và kẻ nào nắm được chìa khoá của công nghệ này sẽ là người có thể quyết định về sự sống và cái chết. Một ủy ban về đạo đức sinh học của Hoa Kỳ đã khuyến nghị nên cấy ghép gene tự hủy vào những sinh vật được chế tạo ra theo phương pháp trên để ngăn cản chúng không sinh sôi nảy nở bên ngoài các phòng thí nghiệm. Thậm chí mới đây các nhà nghiên cứu ở Đại học Alberta, Canada đã tái tạo loại virus đậu mùa cực kỳ nguy hiểm (loại virus này được coi là bị tuyệt diệt) để có thể tìm hiểu kỹ càng hơn về các loại tác nhân gây ra căn bệnh nguy hiểm này. Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra một khi bọn khủng bố cũng dùng phương pháp này để sản xuất vũ khí sinh học?  Nguyễn Xuân Hoài lược dịch từ Tuần kinh tế Đức  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/forschung/biotechnologie-die-naechste-revolution-kommt-aus-dem-labor/20083008.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ sơn phủ mới chống hỏa hoạn      Để ngăn ngừa hỏa hoạn, các nhà sản xuất vật liệu xây dựng thường thêm chất chống cháy vào các vật liệu xây dựng bằng nhựa, gỗ và thép, nhưng những chất phụ gia này có thể độc hại, đắt tiền và đôi khi không hiệu quả. Mới đây, các nhà nghiên cứu ở Úc và Trung Quốc đã tìm ra một lớp sơn phủ chống cháy mới, khi tiếp xúc với nhiệt độ cực cao sẽ biến thành một lớp vỏ cứng chống cháy không cho lửa lan rộng.    Nhóm nghiên cứu do Pingan Song, nhà hóa học tại Đại học Nam Queensland, Springfield, đứng đầu lấy cảm hứng từ dung nham. Trước khi nguội đi và tạo thành đá mácma, dung nham nóng chảy gồm thành phần kim loại và thủy tinh chứa ôxy – không chỉ chịu nhiệt mà còn chảy thành dòng khi bị nung nóng. Khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, nó tạo thành một lớp vỏ không cháy ngăn ngọn lửa tiếp cận với vật liệu bên dưới và chống lại sự dẫn nhiệt.        Họ sử dụng ba thành phần để tạo ra lớp sơn phủ chống cháy dưới dạng bột. Đầu tiên là hỗn hợp gồm một số bột oxit kim loại – oxit của nhôm, silic, canxi và natri. Thành phần này bắt đầu tan chảy ở khoảng 350°C (dưới nhiệt độ của hầu hết các ngọn lửa), tạo thành một lớp giống như thủy tinh. Tiếp theo, họ sử dụng các mảnh boron nitride nhỏ, đây là thành phần dễ chảy và sẽ lấp đầy các khoảng trống giữa các oxit kim loại khi lớp thủy tinh hình thành. Cuối cùng, họ thêm một loại polymer chống cháy, có tác dụng như chất kết dính để gắn toàn bộ hỗn hợp với đồ vật hoặc mặt phẳng cần sơn phủ chống cháy.    Khi sử dụng, người dùng hòa tan hỗn hợp bột trong nước thành một dung dịch màu trắng sữa, sau đó phun hoặc sơn phủ lên các bề mặt cần chống cháy (có thể là xốp cứng cách nhiệt, gỗ và thép, v.v…). Trong thử nghiệm, nhóm nghiên cứu đốt vật liệu đã được sơn phủ dưới nhiệt độ 1.100°C trong 30 giây. Kết quả, lớp phủ tan chảy thành chất lỏng nhớt bao phủ vật liệu, sau đó cứng lại thành một lớp giống như thủy tinh, ngăn không cho lửa lan rộng ra xung quanh.    Hơn nữa, khi bị đốt, các thành phần trong lớp phủ cũng nhả ra các khí không cháy, chẳng hạn như carbon dioxide. Do đó, lớp phủ càng trở nên dày đặc hơn và tạo thành một lớp vỏ bảo vệ các vật liệu bên dưới, ngăn không cho ngọn lửa tiếp xúc. Nhìn chung, lớp sơn phủ đã bảo vệ gỗ và thép khỏi lửa một cách xuất sắc, theo kết quả nhóm nghiên cứu công bố trên tạp chí Matter.    Nhóm nghiên cứu cho biết, nếu được sơn phủ lên vật liệu xây dựng, lớp phủ mới có thể ngăn những thảm họa như vụ cháy Tháp Grenfell năm 2017 ở London khiến 72 người chết. Lớp phủ mới có hiệu suất cao, không độc hại và dễ ứng dụng, vì thế Song cho rằng đây có thể trở thành kỹ thuật chống cháy ứng dụng rộng rãi ở nhiều công trình. Nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ sớm thương mại hóa kết quả nghiên cứu này, nhưng hiện tại, “đây vẫn chỉ là một báo cáo khoa học”, Song lưu ý.    David Schiraldi, nhà hóa học tại Đại học Case Western Reserve, người đã phát triển các chất chống cháy khác, lưu ý rằng thành phần tạo ra lớp phủ này không đắt tiền và không độc hại, vì vậy rất có khả năng sẽ được ứng dụng rộng rãi và “cải thiện an toàn công cộng về lâu dài.”    Thuyết Xuân    Author                phongvien        
__label__tiasang Công nghệ tách muối: Vị “cứu tinh” của Israel      Israel đã trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về các tiến bộ trong công nghệ tách muối với năm nhà máy tách muối đang hoạt động ngày đêm, tạo ra trên 50% nguồn nước uống“nhân tạo.” Thành công này không chỉ giải quyết tình trạng thiếu nước mà còn mở ra cho Israel một cơ hội xuất khẩu nước ngọt và các công nghệ độc quyền cho nhiều quốc gia khác trên thế giới.   Tự cứu mình trước khi trời cứu    Nhà máy tách muối bên bờ biển gần thị trấn Hadera, Israel.  Với đặc điểm khí hậu Địa Trung Hải kết hợp với khí hậu sa mạc (gần một nửa diện tích của Israel là sa mạc), Israel phải đối mặt với tình trạng thiếu nước triền miên và sa mạc hóa. Các nguồn nước truyền thống của Israel bị suy thoái nhanh chóng do lượng mưa thấp, dân số gia tăng và nhu cầu ngày một tăng đối với nước sinh hoạt và nước sử dụng cho nông nghiệp. Tình trạng thiếu nước lên tới đỉnh điểm khi Israel phải hứng chịu một đợt hạn hán kéo dài 7 năm, bắt đầu từ năm 2005 và cao trào là mùa đông giai đoạn 2008-2009. Các nguồn nước tự nhiên của Israel – gồm có biển Galilee ở phía Bắc và các tầng ngậm nước ven biển – bị suy thoái mạnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng nước. Tương lai còn “ảm đạm” hơn khi các mô hình khí hậu đều dự đoán rằng Israel vẫn tiếp tục xu hướng giảm nguồn nước tự nhiên cho tới năm 2035.    Đứng trước thực trạng trên, chính quyền Israel đã thực thi nhiều biện pháp để tăng cung, giảm cầu. Người dân được khuyến cáo nên giảm bớt hai phút thời gian tắm mỗi ngày, việc rửa ô tô bằng vòi phun nước bị cấm, và trẻ nhỏ được giáo dục trở thành một “đội quân cảnh sát nước tí hon”, biết nhắc nhở người lớn trong gia đình sử dụng tiết kiệm nước. Chính phủ Israel cũng thực hiện những biện pháp cắt giảm mạnh tay đối với quota nước hằng năm cho nông dân, từ đó chấm dứt tình trạng sử dụng nước phung phí kéo dài hàng thập kỷ do chế độ bao cấp nước dùng trong nông nghiệp. Năm 2009, Israel còn áp dụng hệ thống thuế hai tầng, theo đó những hộ gia đình tiêu thụ nhiều nước hơn quy định sẽ phải chịu mức giá cao hơn, và phần gia tăng này sẽ được dùng để trợ giá cho những hộ gia đình có nhu cầu sử dụng nước thấp; đồng thời, Ủy ban Nước đã được thành lập vào năm 2007 với nhiệm vụ chuyên trách về nguồn nước, chẳng hạn như nhân viên của ủy ban này đi tới từng nhà để lắp đặt miễn phí các thiết bị gắn vào đầu vòi hoa sen và vòi nước; những thiết bị này giúp đưa không khí vào dòng nước, nhờ đó tiết kiệm được khoảng 1/3 lượng nước tiêu thụ trong khi vẫn tạo ra cảm giác dòng chảy mạnh cho người sử dụng. Theo thông tin của chính phủ Israel, việc sử dụng nước “thông minh” đã giúp làm giảm 18% lượng nước tiêu thụ tại các hộ gia đình ở quốc gia này.    Mặc dù nhiều biện pháp tăng cung, giảm cầu đối với nguồn nước đã được thực hiện, song cuộc khủng hoảng nguồn nước vẫn là nỗi bất an đối với Israel. Trong bối cảnh này, công nghệ tách muối đã trở thành “vị cứu tinh” cho Israel. Đây không phải là công nghệ mới, song từ lâu nhiều nơi trên thế giới hạn chế sử dụng phương pháp này do đặc điểm tiêu tốn năng lượng và thải ra nhiều carbon. Vì vậy, kế hoạch xây dựng nguồn nước quốc gia dài hạn của Israel có sự phối hợp của cả hai khu vực nhà nước và tư nhân. Chẳng hạn, Ashkelon, nhà máy tách muối lớn nhất thế giới, được các công ty tư nhân xây dựng với số vốn bỏ ra là 200 triệu đô la; đổi lại, chính phủ Israel hứa sẽ mua một số lượng nước nhất định hàng năm từ nhà máy này, đồng thời tiếp nhận quyền sở hữu nhà máy vào năm 2027. Và với sự phát triển của khoa học, công nghệ này đang ngày một rẻ hơn, sạch hơn và tiết kiệm năng lượng hơn (hiện nay, Israel đã có thể sản xuất ra nguồn nước tách muối rẻ nhất thế giới với giá khoảng 14.000VND/m3). Tính riêng trong thập kỷ qua, tại Israel đã mọc lên bốn nhà máy tách nước quy mô lớn, có khả năng tạo ra trên 130 tỉ gallon nước mỗi năm. Hiện nay, trên 50% nguồn nước được sử dụng cho các hoạt động dân sinh, nông nghiệp và công nghiệp ở Israel là nước nhân tạo. Shlomo Wald, chuyên gia trưởng tại Bộ Năng lượng và Nguồn nước Israel tự hào cho biết: “Israel là trung tâm các bí quyết tách muối trên thế giới. Chúng tôi không sản xuất màng lọc, chúng tôi không sản xuất máy bơm, nhưng chúng tôi có kiến thức uyên thâm về kỹ thuật xử lý nước cũng như cách thiết kế, xây dựng và vận hành một nhà máy tách nước.”  Tách muối và xa hơn nữa  Tuy nhiên, hoạt động tách muối cũng không phải là không tiềm ẩn những rủi ro về sinh thái và đe dọa đời sống biển, đồng thời gia tăng giá thành sử dụng nước. Dẫu vậy, “Vấn đề chính của thế giới trong tương lai là cuộc khủng hoảng nguồn nước. Ai ai cũng hiểu rằng nhu cầu sử dụng nước mỗi ngày một tăng lên,” Gilad Erdan, Bộ trưởng Bộ Bảo vệ Môi trường Israel, cho biết. Ý thức được điều này, bên cạnh công nghệ tách muối, Israel cũng phát triển nhiều công nghệ giúp bảo tồn nguồn nước. Hiện nay, thông qua đạo luật đặc biệt nâng cao các tiêu chuẩn xử lý nước thải, Israel cũng là quốc gia đi đầu thế giới về việc tái chế và tái sử dụng nước thải cho nông nghiệp. 86% nước thải nội địa của Israel đều được tái chế – đây là con số không hề nhỏ nếu như so với quốc gia tái chế nước nhiều thứ hai của thế giới là Tây Ban Nha với tỉ lệ nước thải được tái chế là 20% (Mỹ chỉ có khoảng trên 1%). Theo cách nói của Distel thì, “ở Israel, chúng tôi dùng mỗi giọt nước hai lần.”   Ngoài ra, Israel cũng được coi là quốc gia đi đầu trong công nghệ tưới nhỏ giọt. Theo số liệu của Ủy ban Tưới tiêu Quốc tế, khoảng 90-95% nền nông nghiệp Israel sử dụng công nghệ tưới tiêu, trong khi Mỹ mới dừng ở mức khiêm tốn là dưới 7%.   Theo phân tích của các chuyên gia nước Israel, chính nhờ kết hợp nhiều biện pháp – từ tận dụng nguồn nước mưa, tái chế nước thải, tách muối ở nước biển, cho đến những chiến dịch quy mô lớn nhằm bảo tồn nguồn nước – mà ngày nay Israel gần như không còn phải lo lắng về tình trạng hạn hán. Có thể coi đây là một điều kỳ diệu nếu như xét đến nghiên cứu mới được NASA công bố hồi tháng 3 đầu năm 2016 rằng trong giai đoạn 1998-2012, khu vực miền đông Địa Trung Hải chịu cơn hạn hán tồi tệ nhất trong vòng 900 năm trở lại đây.   Không ngủ quên trên chiến thắng, hiện nay Israel vẫn tích cực thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển để cải thiện nguồn nước. Giáo sư Yoram Oren thuộc Đại học Ben-Gurion, Israel, chia sẻ: “Tiếng gọi của môi trường đang nói với chúng ta rằng hãy tìm thêm thật nhiều cách hiệu quả để xử lý nước, không chỉ là nước biển mà là tất cả nguồn nước hiện tại – nước thải, nước nông nghiệp, nước đô thị. Phải có thêm nhiều công nghệ phức tạp hơn nữa bởi vì ngày nay, chúng ta không chỉ đơn thuần phải bảo vệ nguồn nước khỏi nhiễm mặn mà còn khỏi các hợp chất hữu cơ, hợp chất vô cơ, vi khuẩn, virus, protein, đường, và vô vàn tạp chất khác trong nước.”  Chi Nhân tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ thông gió mới giúp các tòa nhà tương lai mở cửa trong đại dịch      Mới đây, nhóm nghiên cứu Estonia do Jarek Kurnitski và Martin Kiil dẫn dắt đã phát triển một phương pháp mới để thiết kế hệ thống thông gió cho phép nhiều người ở trong nhà hơn, ngay cả khi có đại dịch. Kết quả này mới được công bố trên tạp chí Building and Environment.       Cần thay đổi các mô hình thiết kế các tòa nhà sao cho giảm thiểu lây lan bệnh dịch trong không khí. Nguồn: archello.com  Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với việc hệ thống thông gió trong hầu hết các tòa nhà không có khả năng hạn chế lây lan mầm bệnh trong không khí. Bởi lẽ, trước đây chúng ta chưa bao giờ lo sợ về vấn đề này cho tới khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Vì vậy, các hệ thống thông gió thông thường được thiết kế chỉ nhằm để có không khí thoáng mát và không có mùi, mặc dù mối liên hệ giữa việc thông gió và số ngày nghỉ ốm ngắn hạn đã được biết đến từ lâu, nghĩa là việc thông gió không chỉ có ý nghĩa với COVID-19 mà còn với cảm lạnh thông thường.  Phải mất nhiều thế kỷ nhân loại mới hiểu được tầm quan trọng của vệ sinh, chẳng hạn như sử dụng nước sạch, rửa tay, khử trùng các vật dụng bị bẩn, tránh tiếp xúc với người bệnh hoặc người đang trong quá trình hồi phục. Và đến khi đại dịch COVID-19 xuất hiện, tầm quan trọng của chất lượng không khí [trong nhà] mới bắt đầu được công nhận. GS. Jarek Kurnitski ở Đại học Công nghệ Tallinn (Estonia) cho biết, đây là lý do tại sao cần thay đổi các mô hình thiết kế các tòa nhà sao cho giảm thiểu lây lan bệnh dịch trong không khí, giống như việc từng xảy ra với việc bảo vệ nước sạch và không khí ngoài trời trên khắp thế giới.   Theo thông tin hiện nay, COVID-19 lây nhiễm thông qua tiếp xúc gần với người bệnh hoặc thiếu sự thông gió nơi đông người. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp nhiễm bệnh từ phía đối diện căn phòng với mức thông gió từ 1 – 2 lít/giây cho mỗi người. Mức này thấp hơn 5 – 10 lần so với mức 10 lít/giây/người theo các tiêu chuẩn hiện hành. Điều này đã đặt ra câu hỏi về mức thông gió cần thiết để giảm lây truyền SARS-CoV-2 qua không khí. Những thứ cần tính đến ở đây là kích thước phòng, số lượng người và chuyển động không khí bằng cách phân phối không khí trong phòng.  Nhóm nghiên cứu của Kurnitski đã đề xuất một phương pháp mới nhằm tính toán tốc độ thông gió của không khí ngoài trời, từ đó đưa ra lượng thông gió trong nhà tương ứng với mức độ lây nhiễm nhất định. Họ cũng đề xuất áp dụng phương pháp này trong các tiêu chuẩn thông gió trong tương lai để bổ sung cho các tiêu chuẩn hiện tại.  Phương pháp mới cho phép tính toán tốc độ thông gió cần thiết dựa trên lượng virus một người thải ra trong một giờ (quanta/giờ), và tốc độ lây nhiễm dự kiến. 1 quanta là lượng mầm bệnh cần thiết trong trường hợp có 63% khả năng lây nhiễm. Khác với hệ số lây nhiễm cơ bản dùng để mô tả sự lây lan dịch bệnh, phương pháp này sử dụng hệ số lây nhiễm sự kiện cho biết có bao nhiêu người trong phòng có thể nhiễm bệnh khi có người mang virus. Do khả năng tiếp xúc với người lây lan virus trong nhiều sự kiện, nên hệ số lây nhiễm sự kiện có giá trị là R = 0,5.   Nghiên cứu đã sử dụng tốc độ phát tán SARS-CoV-2 khi tính toán nhu cầu thông gió, ngoài ra phương pháp này cũng có thể dùng để ngăn chặn sự lây nhiễm của các loại virus đường hô hấp khác.   Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm phương pháp này trên những căn phòng ở các tòa nhà công cộng. Họ thấy rằng thông số quan trọng nhất để giảm nguy cơ lây nhiễm là luồng không khí cung cấp trong toàn bộ căn phòng trên mỗi người bị nhiễm, tuy nhiên số lượng người trong phòng cũng rất quan trọng. Tốc độ thông gió loại I, theo tiêu chuẩn khí hậu trong nhà EN 16798-1 phù hợp với một số, nhưng không phải tất cả các phòng. Tốc độ thông gió yêu cầu bắt đầu từ khoảng 80 lít/giây mỗi phòng.  Do những khác biệt lớn nên không thể đưa ra quy tắc chung đơn giản để điều chỉnh tốc độ thông gió hiện tại,  Kurnitski nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp thiết kế mới trong việc thiết kế các phòng có nguy cơ lây nhiễm thấp.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/network-updates/taltech-future-buildings-could-stay-open-during-pandemics-thanks-new-ventilation    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ thực tế ảo giúp xác định mức độ bất ổn về mặt tâm lý của con người      Trước đây, các nhà nghiên cứu thường đánh giá mức độ lo âu của một người thông qua bảng câu hỏi, nhưng giờ đây họ còn có thể đánh giá dựa trên hành vi của người đó trong không gian ảo      Các nhà khoa học đã sử dụng VR để khám phá cách mọi người phản ứng trước những rủi ro. Ảnh: polygon  Thực tế ảo (VR) có thể đưa chúng ta thoát khỏi môi trường thực tại để đến những vùng đất xa xôi. Từ một ván golf, chiến đấu với quái vật hay nhảy dù, chúng ta có thể trải nghiệm tất cả những hoạt động này bên trong chính ngôi nhà của mình  Nhưng không chỉ những game thủ mới yêu thích VR và nhận thấy được tiềm năng của nó. VR được sử dụng phổ biến trong tâm lý học như một công cụ nghiên cứu ở các lĩnh vực như chứng rối loạn lo âu xã hội, quá trình đưa ra quyết định, và phản ứng cảm xúc. Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học đã sử dụng VR để khám phá cách mọi người phản ứng về mặt cảm xúc trước những rủi ro.    Từ những nghiên cứu trước đó, chúng ta biết rằng việc lơ lửng trên cao trong VR sẽ gây ra cảm giác sợ hãi và lo lắng tột độ. Vì vậy, các nhà khoa học đã yêu cầu những người tham gia đi bộ qua một mạng lưới các khối băng lơ lửng trên một thung lũng núi cao đầy tuyết.  Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng khi tăng mức độ bấp bênh cho con đường khối băng, người tham gia có xu hướng thận trọng và cân nhắc hơn. Hơn thế, nhóm còn phát hiện ra rằng cách mọi người cư xử trong môi trường thực tế ảo có thể cung cấp bằng chứng rõ nét về tính cách của họ. Cụ thể, nhóm có thể xác định một đặc điểm nhất định của những người tham gia dựa trên cách họ hành xử trong kịch bản VR.  Đánh giá dựa trên hành vi   Trong nghiên cứu này, “chúng tôi đã sử dụng kính VR gắn trên đầu, bộ điều khiểu cầm tay, ngoài ra chúng tôi còn gắn các cảm biến vào chân mọi người. Những cảm biến này cho phép người tham gia đặt chân lên để thử độ chắc chắn trước khi bước lên khối băng bằng cả hai chân” – ông Stephen Fairclough, giáo sư tâm sinh lý học thuộc trường Tâm lý học, Đại học tại Trường Tâm lý, Đại học Liverpool John Moores, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.  Khi người tham gia bước lên băng bằng một chân hoặc cả hai chân, một số khối sẽ nứt và đổi màu. Càng về sau, số lượng các khối nứt sẽ càng tăng lên.     Khi người tham gia bước thử một chân lên khối băng, nó có thể nứt và đổi màu.   Nhóm nghiên cứu còn thêm vào những khối bị bể. Các khối nguy hiểm này giống hệt như những khối nứt, cho đến khi người tham gia đứng lên bằng hai chân, chúng vỡ vụn. Những người tham gia sẽ trải qua một cú rơi ảo ngắn ngủi, nhưng vẫn khá hãi hùng.   “Chúng tôi nhận thấy khi tăng số lượng khối bị nứt và bị bể lên, hành vi của người tham gia càng lúc càng thận trọng và cân nhắc hơn. Họ đặt một chân lên các khối băng phía trước để kiểm tra độ chắc chắn với tần suất dày đặc hơn, và họ cũng dành nhiều thời gian hơn để đưa ra quyết định nên làm gì tiếp theo” – GS Fairclough phân tích.  Đặc biệt, đối với những người tham gia bị rối loạn thần kinh, những hành vi này càng rõ ràng hơn, họ liên tục đưa chân lên rồi ‘rụt’ lại. Những người bị rối loạn thần kinh ở mức độ nặng có xu hướng nhạy cảm hơn với các kích thích tiêu cực và những mối đe dọa tiềm tàng.   Nhóm nghiên cứu đã yêu cầu những người tham gia hoàn thành bảng thang đo tính cách trước khi thực hiện nghiên cứu. Trong đó, họ đặc biệt chú ý đến chứng rối loạn thần kinh, vì điều này giúp đo lường mức độ của những cảm xúc tiêu cực như lo lắng và sợ hãi. Họ còn nhận thấy rằng những người mắc chứng rối loạn thần kinh có các hành vi giống nhau: những người này đưa một chân lên thử độ chắc chắn của khối băng nhiều lần hơn và đứng lâu hơn trên các khối “an toàn”.   “Phát hiện của chúng tôi cho thấy cách người dùng VR có thể bộc lộ tính cách của mình trong thế giới ảo.” – ông Stephen Fairclough cho biết. Các nhà nghiên cứu thường đánh giá mức độ bất ổn về mặt tâm lý của một người thông qua bảng câu hỏi, nhưng giờ đây họ còn có thể đánh giá dựa trên hành vi – mà thử nghiệm nêu trên là một ví dụ điển hình.   Mặc dù đây có thể là một phát hiện thú vị, nhưng rõ ràng nó đã làm dấy lên lo ngại về vấn đề an toàn dữ liệu. Các công ty công nghệ có thể xác định tính cách của mọi người thông qua các tương tác VR, sau đó sử dụng thông tin này vào việc quảng cáo. Cách tiếp cận này thậm chí có thể dẫn đến một vụ bê bối tương tự như vụ Facebook – Cambridge Analytica – khi hồ sơ tâm lý của người dùng bị thu thập và bán cho các chiến dịch chính trị.  Anh Thư dịch  Nguồn: How we discovered that VR can profile your personality    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ tiên tiến cho phép phát hiện rò rỉ khí      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một cách để tạo ra một hình ảnh 3D của khí bị rò rỉ, qua đó có thể đem đến thông tin chi tiết về những rò rỉ khí như địa điểm, thông lượng và nồng độ. Cách tiếp cận bằng cách dò tự động như vậy có thể hữu dụng trong việc đem lại cảnh báo sớm, đánh giá nguy cơ rủi ro hoặc xác định cách tốt nhất để xử lý rò rỉ.      “Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, có rất nhiều cơ sở quanh thế giới có khả năng dễ bị bén lửa, tỏa khí độc hại và nổ hóa chất trong quá trình cất giữ”, trưởng nhóm nghiên cứu tại Viện Quang học và cơ khí chính xác An Huy, Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc, cho biết. “Nếu có một vụ rò rỉ khí tại một trong những cơ sở đó, điều quan trọng là nhanh chóng hiểu được thành phần, nồng độ, vị trí và phân bố của nó”.  Các nhà nghiên cứu đã miêu tả phương pháp mới của mình trong tạp chí Optics Express 1. Việc kết hợp thông tin từ hai hệ hình ảnh quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier từ xa (FTIR) với thông tin vị trí chính xác từ GPS và các cảm biến con quay hồi chuyển để tạo ra một hình ảnh 3D của đám mây khí xếp chồng lên bản đồ số Google Earth.  “Trước đây, khi có những vụ rò rỉ khí xuất hiện, người ta vẫn chưa thể xác định được vị trí cụ thể và hướng đi của khí”, Yunyou Hu, tác giả thứ nhất của công bố, cho biết. “Phương pháp của chúng tôi là nhằm có được một tái cấu trúc hình ảnh 3 D của một đám mây, qua đó có thể hữu dụng trong việc tìm ra kinh độ và vĩ độ của một vụ rò rỉ khí. Thông tin này rất quan trọng để xác định ai có thể bị phơi nhiễm và nhanh chóng ngắt vụ rò rỉ để hạn chế tới mức thấp nhất khí bay vào bầu khí quyển”.  Thêm chiều thứ ba  Quang phổ kế FTIR vẫn được sử dụng rộng rãi trong việc dò khí ô nhiễm từ xa bởi độ nhạy cao, độ phân giải cao của nó và năng lực cho phép biểu diễn các phép đo theo thời gian thực với một phạm vi dò khoảng 5 km. Tuy nhiên một hệ hình ảnh viễn thám FTIR đơn lẻ chỉ cung cấp được thông tin 2D về một vụ rò rỉ khí.  Để có được một bức tranh 3D, các nhà nghiên cứu đã sử dụng hai hệ để đạt được phép đo đạc 2 D của một đám mây khí từ các chiều khác nhau. Thông tin này sau đó được ghi nhận thông tin địa điểm về mặt không gian có được từ GPS và các cảm biến con quay hồi chuyển. Đặt dữ liệu này vào một thuật toán xử lý hình ảnh chụp cắt lớp vi tính mang tên kỹ thuật tái cấu trúc đại số đồng thời (SART) để tạo ra một tái cấu trúc 3D của đám mây khí.  “Mỗi điểm ảnh ba chiều trong đám mây khí được tái cấu trúc 3D chứa thông tin 3D về kinh độ, vĩ độ, nồng độ và độ cao liên quan của khí với mặt đất”, Hu nói. “Vị trí chính xác của không gian được giám sát bằng GPS và cảm biến con quay hồi chuyển là chính yếu cho việc tái cấu trúc đại lượng hình ảnh 3 D đám mây khí trở thành hiện thực”.  “Bắt” một vụ rò rỉ khí  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm phương pháp của mình trong một thực nghiệm ở hiện trường, trong đó họ sử dụng hai hệ hình ảnh viễn thám FTIR quét để trình diễn việc giám sát từ xa một lượng khí sulfur hexafluoride và methane nhỏ phát ra trong vòng hai phút vào một không gian khoảng 315 mét khối. Họ đã có thể thành công trong việc tạo ra những tái cấu trúc 3D của các đám mây khí với kinh độ, vĩ độ, cao độ và nồng độ phân bố của cả hai loại khí.  “Để áp dụng kỹ thuật của chúng tôi vào một kịch bản ở thế giới thật, có thể cần lắp đặt hai hoặc nhiều hơn các hệ hình ảnh quét FTIR xung quanh khu vực giám sát để hình thành một mạng lưới quét cắt ngang”, Hu nói “Phương pháp của chúng tôi có thể hữu dụng trong việc tạo ra tái cấu trúc hình ảnh 3D đám mây khí bị rò rỉ và có thể hữu dụng trong việc tìm nguồn phát và cung cấp thông tin cảnh báo sớm”.  Các nhà nghiên cứu hiện tại đang tập trung tối ưu phương pháp tái cấu trúc hình ảnh và lên kế hoạch thử nghiệm hệ của mình trong những môi trường công nghiệp thực tế.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-advanced-technology-automated-3d-tracking.html  https://www.technologynetworks.com/analysis/news/gas-leaks-pinpointed-early-thanks-to-automated-3d-tracking-technology-363240  ————————————  1. https://opg.optica.org/oe/fulltext.cfm?uri=oe-30-14-25581&id=477489    Author                .        
__label__tiasang Công nghệ uốn gỗ tự nhiên      Công nghệ uốn gỗ tự nhiên của PGS.TS Vũ  Huy Đại, Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, đã mở ra một giải pháp cho vấn đề  tiết kiệm tài nguyên gỗ ở Việt Nam hiện nay.    PGS.TS Vũ Huy Đại và các cộng sự thuộc Đại học Lâm nghiệp Hà Nội đã tìm ra công nghệ uốn gỗ thủ công để tạo ra các chi tiết cong cho các sản phẩm gỗ, làm đồ trang trí, ngoại thất và công trình dân dụng. Các chi tiết gỗ uốn được tạo ra bằng cách uốn các thanh gỗ tự nhiên theo bán kính cong trước khi gỗ đã được xử lý hóa dẻo. Công nghệ uốn gỗ này có thể được thực hiện ở quy mô thủ công hoặc cơ giới. Với công nghệ uốn gỗ cơ giới, máy uốn gỗ UG-HĐ có thể uốn các loại gỗ dạng hình chứ C, U, L với chiều dày gỗ đến 35mm, bánh kính uốn cong từ 150 đến 170 mm. Phương pháp này giúp nâng cao tỷ lệ tận dụng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm gỗ, khả năng uốn cong các loại gỗ phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo, tính chất của gỗ. Công nghệ này đặc biệt hiệu quả với các loại gỗ sồi, gỗ tần bì, gỗ xoan đào.   Khi áp dụng công nghệ uốn gỗ tự nhiên, vấn đề giá thành gỗ nhập khẩu và sử dụng nguồn tài nguyên gỗ trong nước sẽ được giải quyết từng phần. Điều đó hết sức có ý nghĩa khi nguồn tài nguyên gỗ của Việt Nam đang dần bị thu hẹp. Vì vậy, giải pháp công nghệ PGS.TS Vũ Huy Đại sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và bảo tồn nguồn tài nguyên gỗ trên cơ sở tận dụng tối đa nguyên liệu gỗ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ vũ trụ thu hút nhiều nhà đầu tư tư nhân      Trước kia, vũ trụ là một không gian vô cùng xa vời và không thể vươn tới. Tuy nhiên giờ đây, nhờ các thiết bị bay giá rẻ và các vệ tinh mini, giấc mơ khám phá vũ trụ có thể không còn xa nữa. Ở Mỹ và châu Âu đã xuất hiện hàng loạt Start-up đầu tư vào lĩnh vực này.      Bùng nổ đầu tư  Trong những năm 1960, các chính phủ tốn rất nhiều tiền cho việc đưa một vệ tinh lên quỹ đạo: vào thời kỳ diễn ra chương trình Apollo, chi phí khởi động tên lửa đã lên đến 23.000USD/kg tải trọng (theo thời giá hiện nay, đã trừ yếu tố lạm phát). Những thập niên sau đó, nhờ tiến bộ kỹ thuật, mức giá này có giảm, đến cuối thế kỷ 20 còn khoảng  16.000 USD/kg. Tuy vậy, với đa số các doanh nghiệp, mức giá này vẫn quá cao và họ không thể tham gia vào cuộc đua lên vũ trụ.  Tuy nhiên tình hình này giờ đây thay đổi rất nhanh. Thí dụ, hãng hàng không vũ trụ SpaceX của nhà sáng lâp Elon Musk đang tìm cách sử dụng tên lửa dùng nhiều lần để giảm chi phí chuyên chở đến mức chỉ còn khoảng 200 – 300 USD/1kg. Hiện tại, ở SpaceX, chi phí vận chuyển hàng hoá cho lên quỹ đạo thấp chỉ còn ở mức 2600 USD/kg.  Sự giảm giá này dẫn đến phản ứng dây chuyền: giá vận chuyển giảm, các hãng có thể dễ dàng phóng tiếp vệ tinh nếu có trường hợp bị hỏng. Ngay cả các vệ tinh cũng thay đổi, chúng nhỏ và nhẹ hơn. Và những thay đổi to lớn này làm xuất hiện hàng loạt Start-ups về không gian vũ trụ. Hiện có khoảng 1000 doanh nghiệp trẻ, phần lớn thuộc các lĩnh vực truyền thông và giám sát trái đất, tham gia vào quá trình thương mại hoá không gian,.  Theo NewSpace Global, đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này đã nêu lên đến 10 tỷ đôla. Một số ví dụ như, hãng Made in Space có ý định sản xuất vệ tinh bằng in 3D trên quỹ đạo. Hay Trung tâm sáng tạo Skolkovo của Nga đã có tới 150 doanh nghiệp trẻ về không gian.  Sự bùng nổ này thu hút cả Google, những người khổng lồ Internet. Cách đây hai năm, tập đoàn này đã mua Skybox Imaging, Start-up chuyên cung cấp ảnh chụp từ không gian có độ phân giải cao, ví dụ, với những tấm hình này người ta có thể theo giõi việc vận chuyển, bốc dỡ container ở các cảng biển. Hiện Google còn liên doanh với SpaceX và O3B, từ đó thực hiện dịch vụ truyền internet thông qua vệ tinh.  Rẻ hơn nhờ các giải pháp công nghệ  Ulrich Walter, nhà cựu du hành vũ trụ đồng thời là giáo sư về công nghệ vũ trụ ở Munchen, Đức, tuy đã có bốn chuyến hạ cánh thành công với tên lửa SpaceX nhưng vẫn tỏ ra nghi ngờ về việc có nên kiểm tra lại và phục hồi tất cả các bộ phận của tên lửa để tái sử dụng hay không. Mặc dù vậy, ông vẫn nhận định rằng lĩnh vực nghiên cứu không gian hiện đang ở trong giai đoạn chuyển đổi vô cùng sôi động. Đặc biệt việc chế tạo vệ tinh có những thay đổi một cách triệt để. Công nghệ mới đã giúp sáng tạo ra những vệ tinh tí hon, có vệ tinh có trọng lượng không tới 10 kg.  Do đó có thể phóng cùng lúc hàng trăm vệ tinh lên vũ trụ. Chúng có thể hoạt động liên tục suốt ngày đêm và quan sát kỹ lưỡng đến từng mảnh ruộng trên hành tinh này.  Cụ thể, các giải pháp mới về động lực thúc đẩy quá trình thu nhỏ vệ tinh. Chỉ nhờ một động cơ đẩy duy nhất đã có thể giữ các vệ tinh trên đường bay của chúng. Tháng ba vừa qua vệ tinh truyền thông Eutelsat 115 West B được phóng đi từ một tên lửa SpaceX. Đặc biệt, đây là vệ tinh đầu tiên trên thế giới có hệ thống động lực hoàn toàn bằng năng lượng điện. Xenon-Ionen, hạt tích điện, được gia tốc trong điện trường và tạo lực đẩy. Năng lượng điện được tạo nên từ những tấm pin năng lượng mặt trời. Công nghệ mới này giúp giảm tỷ trọng của thiết bị đẩy và nhiên liệu so với tổng trọng lượng từ 57% xuống còn 13% “, theo tính toán của ông Walter . Điều này làm giảm đáng kể chi phí phóng tên lửa.  Bản thân các vệ tinh cũng rẻ hơn trước. Các nhà sản xuất có thể thay các thiết bị chuyên dụng đắt tiền bằng những chi tiết máy có chất lượng tương xứng nhưng được sản xuất hàng loạt và có giá rẻ hơn nhiều. Doanh nghiệp Spott dự định phóng lên quỹ đạo hàng trăm vệ tinh để phát xuống trái đất internet băng thông rộng. Từ đó, Spot hi vọng có thể liên lạc với ô tô tự hành, máy kéo, máy gặt đập liên hoàn hoạt động ở những vùng xa xôi, hẻo lánh…  Ngoài Space X, ông chủ của Amazon là Jeff Bezos cũng có ý định tái sử dụng tên lửa Blue-Origin nhiều lần. Ba Start-ups Vector Space, Firefly Space và Rocket Lab đang tìm cách khuấy động thị trường bằng các vệ tinh mini. Đối tác phục vụ của họ là các hãng chỉ có ý định đưa lên vũ trụ dăm ba vệ tinh nhỏ.              Trung bình, để phóng một vệ tinh lên vũ trụ bằng tên lửa, SpaceX tiêu tốn khoảng 60 triệu USD. Nếu phóng vệ tinh lớn như Arian 5 của châu Âu, mức chi vào khoảng 137 triệu USD.     Trước đây tên lửa chỉ sử dụng một lần có cấu trúc gồm hai phần, tầng dưới và tầng trên. Tầng dưới lao xuống biển, tầng trên sẽ bốc cháy khi rơi vào tầng khí quyển. Nhưng đến nay, SpaceX có thể cho tầng dưới tiếp đất. Trong tương lai doanh nghiệp sẽ xử dụng lại bộ phận này khi đó thì chi phí phóng vệ tinh sẽ giảm đáng kể.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ y học: Cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và sáng tạo      Đức là một trong những nước phát triển nhiều  loại sản phẩm và giải pháp sáng tạo phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh  nhất trên thế giới. Bên cạnh những doanh nghiệp khổng lồ trong ngành như  Siemens hay Carl Zeiss, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp  khởi nghiệp đều nỗ lực để có những ý tưởng thông minh, sắc sảo trên thị  trường này.     Khi nghĩ đến nước Đức, một quốc gia công nghiệp, người ta nghĩ ngay đến ngành công nghiệp ô tô, cơ khí chế tạo máy – có thể thêm ngành kỹ thuật điện và công nghiệp hóa chất. Nhưng có một ngành, có thể nói là rất chói sáng và đang phát triển mạnh mẽ, nhưng thường chỉ người trong cuộc mới biết, đó là ngành thiết bị y tế. Tổng doanh thu của thị trường thế giới của ngành này khoảng 350 tỷ Euro thì Đức đứng hàng thứ ba. Trong năm 2012, chỉ riêng 400 doanh nghiệp thiết bị y tế lớn của Đức đã đạt doanh thu 22,3 tỷ Euro.  Gần 30% doanh thu mà các nhà chế tạo thiết bị y tế Đức đạt được là nhờ tiêu thụ những sản phẩm họ mới tung ra thị trường trong ba năm gần đây.   Ở nước Đức, bên cạnh những tập đoàn khổng lồ mang tầm vóc quốc tế như Siemens hay Carl Zeiss là hàng trăm doanh nghiệp khởi nghiệp (Startups) và doanh nghiệp hạng trung có những ý tưởng rất thông minh, khôn khéo không ngừng tiếp lửa cho thị trường.   Việc Đức có thể phát triển thành “thánh địa” đối với kỹ thuật y tế một phần là do những nhà chế tạo ở Đức không phải tốn quá nhiều công sức và chi phí để lấy được giấy cấp phép lưu hành cho những loại thiết bị công nghệ mới, thường chỉ khoảng sau hai tới ba năm là đã có thể tung sản phẩm ra thị trường. Nhưng lợi thế này đang có nguy cơ bị chấm dứt một cách đột ngột. Sau vụ bê bối chất nâng ngực rẻ tiền, kém chất lượng của Pháp, Nghị viện châu Âu có ý định tăng cường chặt chẽ hơn nữa những quy định về việc cấp giấy phép lưu hành cho các sản phẩm thiết bị y tế. Giới chính trị gia muốn những quy chế của châu Âu cũng tương tự như các quy chế nghiêm ngặt của Mỹ. Tại Mỹ, các sản phẩm thiết bị y tế cũng phải trải qua nghiên cứu lâm sàng như các loại dược phẩm trước khi được phép lưu hành. Do đó ở Mỹ thời gian từ sáng chế phát minh cho đến khi sản phẩm xuất hiện trên thị trường thường từ 10 đến 15 năm.  Hiện các nghị sỹ EU đã nhất trí về việc cần tăng cường công tác kiểm tra nhưng không nhất thiết phải ban hành một quy chế kiểm tra mới. Những người làm công tác kiểm tra có quyền tới thăm nhà sản xuất mà không cần báo trước, thí dụ nhằm kiểm tra xem có còn sản xuất loại silicon công nghiệp rẻ tiền dùng để nâng ngực nữa hay không. Cạnh đó là sự tăng cường công tác kiểm tra đối với các cơ quan cấp dấu chất lượng cho các sản phẩm thiết bị y tế và giấy phép lưu hành của CE. Đối với nước Đức, các cơ quan này là TÜV và Dekra.  Xét nghiệm không gây chảy máu     Với quy định khá thông thoáng, các doanh nghiệp thích đầu tư vào lĩnh vực kỹ thuật y tế, một lĩnh vực đang phát triển rất mạnh mẽ và các sản phẩm mới dễ dàng tung ra thị trường hơn là nghiên cứu một loại thuốc mới về chống ung thư hay Alzheimer. Nếu như các thiết bị y tế cũng phải có giấy phép lưu hành như các loại thuốc chữa bệnh thì hầu hết các doanh nghiệp mới ra đời không có năng lực tài chính để tiến hành thử nghiệm lâm sàng đối với sản phẩm của mình.   Để biết một người có bị bệnh hay không, lâu nay các thầy thuốc phải lấy các loại dịch khác nhau trong cơ thể để phân tích. Phần lớn những phân tích đều tốn thời gian và nhân lực. Nhưng một công nghệ phân tích hoàn toàn mới do hãng Numares ở Regenburg (Đức) phát triển có thể giúp tiết kiệm rất nhiều tiền bạc và công sức. Công nghệ này dùng máy quét MRI để xác định những chất phân hủy trong máu hay nước tiểu trong quá trình trao đổi chất của cơ thể, nhờ đó biết được lượng Cholesterol tốt hay xấu bơi trong máu người bệnh. Với phương pháp mới, việc phân tích diễn ra rất nhanh chóng. Ngoài ra, chỉ cần tiến hành một lần thử, người ta có thể đo được sự hiện diện của trên 100 chất, theo lời giám đốc hãng Numares, ông Volker Pfahlert. Phương pháp này cũng giúp những người bệnh được cấy ghép thận hiến tặng xác định liệu cơ thể có chấp nhận hay sẽ đào thải quả thận được cho mà chỉ cần làm phân tích nước tiểu chứ không cần làm các xét nghiệm mẫu mô tế bào.   Để việc chẩn đoán hoàn thiện hơn, hãng thiết bị y tế của Mỹ Bruker đã bổ sung thêm các thiết bị phụ và phần mềm cho máy MRI của Numares. Mặc dù bộ thiết bị chẩn đoán có hình thù như tên lửa này nặng hàng tấn và đắt không dưới 1 triệu Euro nhưng Numares đã bán được tám cỗ máy.   Bên cạnh Numares, còn có công ty GAS chuyên phân tích bằng các hệ thống cảm biến có trụ sở ở Trung tâm công nghệ Dortmund dùng thiết bị BreathSpec có khả năng phân tích không khí mà con người thở ra để tìm các chất dễ bay hơi điển hình cho một số bệnh. Phân tích hơi thở, thí dụ ở người bị bệnh phổi, bổ sung cho những kiểm tra thông thường khác như nghe, xét nghiệm máu, soi, chụp X-quang và siêu âm.  Một trường hợp khác, Hãng Curetis ở Stuttgart mới ra đời từ sáu năm nay đã phát triển một công nghệ chẩn đoán có một không hai trên thế giới, dùng Robot Unyvero để phân tích gien di truyền của vi khuẩn và nấm bệnh. Thiết bị này – hiện đã được sử dụng đối với người bị bệnh viêm phổi – chỉ sau vài giờ đồng hồ có thể cung cấp những thông tin có ý nghĩa sống còn đối với bệnh nhân. Kết quả phân tích gien di truyền không chỉ nhận biết tác nhân gây viêm phổi mà còn tiết lộ những gien có tính kháng thuốc ở trong mầm bệnh. Nhờ thông tin này, thầy thuốc có thể biết về những loại kháng sinh còn công hiệu đối với người bệnh.       Dùng băng dính thay cho thuốc viên      Cho đến nay, người bệnh tiếp nhận thuốc chủ yếu bằng đường uống. Tuy nhiên Hãng AMW (Arzneimittelwerk Warngau) ở gần thành phố München đã phát triển một loại băng dính truyền thuốc qua da được điều khiển hoàn toàn bằng điện. “Loại băng dính của chúng tôi gắn với một cái đài có thể đóng và mở,” Wilfried Fischer, nhà sáng lập AMW đồng thời là giám đốc hãng, phát biểu. Nhờ đó, nếu người bệnh thường bị đau đớn vào chiều tối thì họ có thể tắt máy, không cho băng dính hoạt động vào buổi sáng. Người bệnh chỉ mở máy cho băng dính nhả thuốc khi thấy cần.   Bí quyết là ở chỗ, băng dính gồm hai lớp folia bằng chất nhựa tổng hợp có khả năng dẫn điện. Khi ấn nút điện áp ở folia thì chất hữu hiệu sẽ chuyển xuống folia ở dưới là cực âm. Và do tấm folia có cấu trúc như như một bộ lọc nên thuốc có thể ngấm qua da. Khi không có điện áp thì miếng băng dán có chất hữu hiệu sẽ không hoạt động. Việc miếng băng dính nối với dây điện không chỉ nhằm mục đích bệnh nhân sử dụng thuốc đúng mục tiêu mà còn dòng điện còn có tác dụng bơm cạn thuốc trong băng dính. Fischer cho hay: “Không có kỹ thuật này, một lượng không nhỏ chất hữu hiệu quý giá sẽ nằm lại trong băng dán và không phát huy tác dụng.”  Đây không chỉ là sự lãng phí mà còn là nguy cơ những kẻ nghiện chất kích thích thu gom băng dính ở thùng rác bệnh viện để “mút” những chất gây mê còn sót lại trên băng dính.  Cuộc tranh giành mua bằng được LTS Lohmann cho thấy kỳ vọng to lớn đối với thị trường thuốc băng dính. Hãng này ở thị trấn nhỏ Andernach, có 1.100 nhân viên, đứng đầu thế giới về băng dính truyền thuốc qua da. Hãng được rao bán. Các nhà đầu tư Nhật Bản của tập đoàn dược phẩm Hisamitsu Pharmaceutical thông qua các công ty cổ phần như Blackstone, EQT, CVC, Nordic Capital và nhà đầu tư tài chính KKR, theo lời những người trong cuộc, đã nêu mức giá lên đến 1,3 tỷ Euro.  Tương tự như thành công vang dội ở băng dính da, tới đây sẽ có các công nghệ hoàn toàn mới về điều trị bệnh nhân bị gãy xương. Hãng IlluminOss có ý tưởng thay vì chữa gãy xương bằng cách đóng đinh, bắt vít và bó bột hoặc garo bằng nẹp kim loại ở bên ngoài, IlluminOSS lại nối xương gãy từ bên trong. Cách thức tiến hành như sau: mọi khúc xương đều có lỗ rỗng lớn. Bác sĩ phẫu thuật sẽ rót vào cái lỗ hổng này một loại nhựa tổng hợp dạng lỏng. Sau đó, bác sỹ sẽ rọi ánh sáng vào nhựa lỏng để tạo ra một phản ứng hóa học, làm cho nhựa tổng hợp cứng lại như đá. Ưu điểm của phương pháp này là bệnh nhân chỉ phải ở bệnh viện hai ngày so với phương pháp cũ là sáu ngày, sau đó lại phải đến bệnh viện để đập vỡ thạch cao, tháo đinh và ốc vít. Chi phí đối với bệnh nhân bằng biện pháp hàn xương nói trên thấp hơn nhiều.  Theo tính toán của cơ quan bảo hiểm y tế Hà Lan, nếu áp dụng phương pháp mới về hàn xương, mỗi năm nước này tiết kiệm được khoảng 50 triệu Euro. Đối với Đức, khoản tiết kiệm được lên tới 250 triệu. IlluminOSS là một doanh nghiệp của Mỹ. Sở dĩ các bệnh nhân Đức hoặc Hà Lan có cơ hội tiếp cận với công nghệ điều trị mới này là vì hãng chuyển sang châu Âu để đỡ nhiều công sức và chi phí vượt rào chắn về giấy phép lưu hành. Đến cuối năm 2012, phương pháp hàn xương đã được cấp giấy phép ở Đức, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Italy.   Hãng nhỏ cũng có cơ hội  Phẫu thuật an toàn hơn với các vết cắt nhỏ hơn là lĩnh vực mà một số hãng lớn của Đức đứng hàng đầu thế giới, thí dụ hãng Carl Zeiss Meditec ở Jena hay hãng Aesculap và Karl Storz chuyên về phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Tuy nhiên có những hãng nhỏ của Đức cũng có cơ hội tốt để thành công với sản phẩm của mình. Thí dụ, hãng Spiegelberg ở Hamburg: hãng này chuyên về sản xuất ống thông (Katheter) và thiết bị đo, là những thứ mà các bác sỹ phẫu thuật thần kinh ở bộ não cần dùng. Những thiết bị này được phủ một lớp bạc sát khuẩn, do đó giảm sự nhiễm trùng nguy hiểm.   Hãng Phenox ra đời năm 2005 ở Bochum đã thiết kế một loại bàn chải mini dùng cho bộ não khi xảy ra tai biến. Khi những cục vón hình thành trong một động mạch ở não, không phải lúc nào cũng có thể dùng thuốc để đánh tan chúng. Trong trường hợp đó, bác sỹ phẫu thuật sử dụng một loại bàn chải mạch máu có độ lớn từ 2 đến 4 milimet: thông qua một cái ống, bác sỹ đẩy qua đẩy lại bàn chải ở nơi có cục vón và lấy ra ngoài.   Hãng Miracor Medical Systems ở Vienna, Áo, ra đời từ năm năm nay cũng chuyên sâu về mạch máu. Hãng đã sáng tạo ra một công nghệ đặc biệt thông mạch máu ở người bị tai biến bằng một bong bóng nhỏ. Bong bóng không chỉ mở dần mạch máu mà còn tạo điều kiện để máu chảy từ từ và đều đặn. Cho đến nay thường xảy ra vấn đề, khi loại bỏ được cục máu đông gây tai biến thì tia máu chảy rất mạnh vào hệ thống mạch máu đến nỗi một số mạch máu bị thương tổn. Hệ quả là thay vì cung cấp máu cho cơ tim bị tổn hại sau tai biến thì việc này lại bị ngừng lại hoàn toàn làm nhiều người bệnh tử vong.   Giờ đây Miracor đẩy một cái bong bóng qua ống thông vào trong mạch máu giúp cho trong những giờ đầu tiên, máu chảy với mức độ vừa phải qua mạch máu, nhờ thế mạch máu làm quen dần với áp suất của máu. Những nghiên cứu đầu tiên cho thấy, bằng phương pháp này nhiều người bệnh bị tai biến đã thoát chết.   Hãng Afreeze ở Innsbruck phát triển một phương pháp mới để chữa cho bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim. Để chống lại dòng chảy chậm bị nhiễu làm cho nhịp đập của tim bị rối loạn, người ta đã thiết kế một loại dây đai lạnh có nhiệt độ là 40 độ âm bao trái tim, làm cho mô bị teo lại và theo Afreeze thì phương pháp này hơn hẳn các phương pháp được áp dụng trước đây.   Cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng lợi ích và thế mạnh của các công nghệ thiết bị y tế mới. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu phức tạp hóa không cần thiết việc cấp giấy phép lưu hành đối với những sản phẩm đó vì trong thời gian chờ đợi cấp phép, chúng đã có thể cứu sống nhiều mạng người.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp 4.0: Nắm bắt đột phá cho phát triển của Việt Nam      Không quá khi nói rằng: Đất đai là nguồn lực của thời kỳ nông nghiệp/ Sắt thép là nguồn lực của thời kỳ công nghiệp/ Dữ liệu là nguồn lực của thời kỳ thông tin.      Hình minh họa: Internet.  Năm 1983, quý vị chỉ có thể thực hiện cuộc gọi bằng chiếc Motorola DynaTAC 8000x, có chiều dài 33cm và trọng lượng 0,8kg. Giờ đây, chiếc iPhone6 ​​chỉ nặng bằng khoảng 16% người anh em họ xa của nó từ 35 năm trước, nhưng lại có mức độ hữu ích lớn hơn gấp bội lần.  Tôi xin nêu một ví dụ khác. Ngân hàng Thế giới hiện đang hỗ trợ sáng kiến ​​cho phép người nông dân sử dụng điện thoại thông minh, kết hợp với một thiết bị cảm biến tự động trên thửa ruộng của mình, để theo dõi mực nước trên đồng lúa. Khi mực nước xuống thấp, nông dân có thể sử dụng điện thoại thông minh để kích hoạt máy bơm. Nông dân cũng có thể đồng thời theo dõi từ xa nhiều thửa ruộng và trạm cảm biến. Công nghệ này giúp tăng năng suất nông nghiệp, tiết kiệm nước, giảm khí nhà kính và góp phần phát triển nông thôn ở Việt Nam.  Sự hội tụ của nhiều công nghệ đã thay đổi cách chúng ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu dùng. Đôi khi sự thay đổi này diễn ra từ từ, nhưng nó cũng có thể mang tính đột phá và trở thành thách thức thực sự. Nếu chúng ta thực sự có thể dự đoán điều gì trong thời đại thay đổi công nghệ nhanh chóng theo cấp số nhân này thì đó là: sự phát triển đột phá sẽ còn tiếp diễn trên nhiều lĩnh vực khác nhau.  Trên thị trường lao động, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) dự báo 56% lực lượng lao động ở Campuchia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam có nguy cơ cao sẽ bị thay thế bằng công nghệ trong vòng một hoặc hai thập kỷ tới.  Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã thành công trong việc tham gia vào nhiều chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời giảm đáng kể tỷ lệ nghèo. Tuy nhiên, trong những năm tới, các công nghệ đột phá sẽ mang đến cả những thách thức và cơ hội đối với Việt Nam để tiếp bước trên con đường thành công này.  Vào ngày 5 tháng 7, tại Hội nghị quốc gia về phát triển bền vững năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đặt câu hỏi cho các đại biểu: liệu Việt Nam đã sẵn sàng trước Công nghiệp 4.0 chưa. Tôi xin trao đổi nhanh về mức độ tiến bộ của Việt Nam dựa trên một số bảng xếp hạng quốc tế.  Về mặt áp dụng kỹ thuật số, Việt Nam có điểm mạnh nhưng cũng còn nhiều thách thức. Báo cáo Phát triển của Ngân hàng Thế giới năm 2016 về Lợi ích số xếp hạng Chỉ số Áp dụng Kỹ thuật số của Việt Nam ở mức 0,46 trên thang điểm 1. Mặc dù xếp cao hơn mức trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình thấp trên toàn cầu, chỉ số này vẫn thấp hơn mức trung bình của khu vực.  Tỷ lệ thâm nhập Internet của Việt Nam là 54%, và có tới 40% dân số Việt Nam sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Tuy những con số này rất ấn tượng nhưng xếp hạng của Việt Nam vẫn thấp nhất trong khu vực theo các thước đo về kỹ thuật số khác dựa trên một cuộc khảo sát gần đây của tổ chức Alphabeta.  Để tiến lên phía trước, hoặc thậm chí có bước tiến nhảy vọt, Việt Nam phải nâng cấp cách thức chính phủ vận hành. Có ba mối quan hệ với chính phủ mang ý nghĩa quan trọng, đó là giữa các cơ quan của chính phủ (G2G), giữa chính phủ với doanh nghiệp (G2B), và giữa chính phủ với người dân (G2C). Công nghệ có thể hỗ trợ theo nhiều cách, nếu chúng ta có thể nắm bắt công nghệ một cách chiến lược để đảo ngược những thách thức tiềm ẩn đối với các mối quan hệ này.  Nhưng một mình công nghệ không thể giải quyết được vấn đề. Việc thuần túy đầu tư vào phần mềm hoặc phần cứng sẽ không cải thiện được khả năng vận hành của chính phủ. Chính phủ sẽ không thể là đối tác của Công nghiệp 4.0 nếu như bị mắc kẹt trong Bộ máy Quan liêu 1.0.  Câu hỏi lớn là LÀM THẾ NÀO?  Tôi tin rằng một công thức với ba yếu tố, tương tự như chiếc kiềng ba chân, có tầm quan trọng mật thiết với Công nghiệp 4.0 để thực sự giúp Việt Nam đạt được khát vọng phát triển của mình, đó là công nghệ, thể chế và con người.  Trước hết, về công nghệ, Việt Nam cần nắm bắt các giải pháp kỹ thuật số tích hợp.  Chính phủ cần áp dụng một cách tiếp cận toàn diện về cách công nghệ có thể hỗ trợ cải cách nhằm tác động và chuyển đổi những kết quả phát triển của mình.  Cơ sở hạ tầng có khả năng tương tác làm nền tảng sẽ tăng cường các mối quan hệ G2G, G2B và G2C, tối ưu hóa các khoản đầu tư của chính phủ và kết nối các cơ quan trung ương, các cấp chính quyền tại trung ương và địa phương.  Tôi xin lấy Estonia làm ví dụ. Quốc gia này đã khởi đầu như vậy khi bắt đầu hành trình kỹ thuật số của mình được gọi là e-Estonia. Kết quả đạt được là tăng GDP thêm 2%. Hệ thống này cho phép người dân Estonia thành lập doanh nghiệp chỉ trong vòng 18 phút. Với hơn 99% các dịch vụ công thực hiện trực tuyến, Estonia tự hào tiết kiệm được 800 giờ làm việc mỗi năm nhờ có e-Estonia. Một hiệu quả phụ đáng khâm phục khác là số sinh viên theo học nghề công nghệ thông tin ở Estonia tăng gấp đôi, cao hơn mức trung bình ở các nước OECD khác.  Một yếu tố quan trọng khác là dữ liệu mở. Dữ liệu được công khai và kết nối chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và giữa chính phủ với doanh nghiệp và người dân sẽ cho phép chúng được sử dụng tối ưu để đem lại nhiều lợi ích to lớn trong tương lai.  Không quá khi nói rằng: Đất đai là nguồn lực của thời kỳ nông nghiệp/ Sắt thép là nguồn lực của thời kỳ công nghiệp/ Dữ liệu là nguồn lực của thời kỳ thông tin.  Sáng kiến ​​thành phố thông minh cho thấy sự công khai dữ liệu ở mức độ lớn hơn có thể nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính phủ trong việc tạo ra và duy trì cung cấp dịch vụ công. Tại Hà Nội, dữ liệu thời gian thực về giao thông công cộng và tình hình giao thông sẽ giúp tháo gỡ nhiều vấn đề đi lại làm đau đầu người dân. Dữ liệu không gian địa lý ở đồng bằng sông Cửu Long có thể dùng để cảnh báo sớm về lũ lụt hoặc nắng nóng. Và hiện nay ngành y tế cộng đồng có thể sử dụng các chương trình như PathoMap, cho phép người trả lời đầu tiên theo dõi và sau đó nhanh chóng ngăn chặn và loại bỏ các mối đe dọa dịch bệnh.  Dữ liệu mở cũng có ý nghĩa về kinh tế. Dữ liệu công khai tại EU đã tạo ra một thị trường về dữ liệu trị giá 55,3 tỷ Euro trong năm 2016, với mức tăng dự kiến ​​là 37% trong giai đoạn 2016-2020.  Thúc đẩy công nghệ tài chính, hay còn gọi là Fintech, cũng có thể là công cụ để cải thiện các mối quan hệ G2B và G2C tại Việt Nam, nơi mà một phần lớn người dân ở độ tuổi trưởng thành vẫn chưa có tài khoản ngân hàng.  Thông qua fintech, các cộng đồng yếu thế và các nhóm dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa có thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ và sản phẩm tài chính từ xa, với chi phí thấp hơn và tốc độ nhanh hơn. Cả Indonesia và Malaysia đều đã tiến xa trong việc tăng cường tài chính toàn diện, bao gồm việc cung cấp nhiều lựa chọn thanh toán bằng kỹ thuật số cho những khách hàng còn nhiều khó khăn. Thanh toán điện tử phải được hiện thực hóa để đảm bảo tài chính toàn diện đến với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, và cũng để khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài gửi tiền về quê nhà.  ·         Ngoài ra, blockchain có thể được sử dụng để tăng hiệu quả và bảo vệ quyền riêng tư của dữ liệu. Ví dụ, quá trình thu thuế ở hầu hết các quốc gia đều yêu cầu dữ liệu cá nhân phải được truyền tải qua một số trung gian. Có những rủi ro trong quá trình này, dẫn tới không khuyến khích người dân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Trong những trường hợp như vậy, chính phủ có thể sử dụng blockchain để ghi lại dữ liệu giao dịch gắn với các mã số định danh duy nhất dựa trên sinh trắc học, nhờ đó loại bỏ việc phải đi qua nhiều trung gian và lặp lại các quá trình xác nhận.  Một ví dụ tuyệt vời khác là an toàn thực phẩm. Gần đây Walmart đã bắt đầu sử dụng blockchain để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Trước đây, chuỗi cửa hàng này phải mất tới 6,5 ngày để truy xuất nguồn gốc của những sản phẩm kém chất lượng, nhưng bây giờ chỉ cần 2,2 giây khi sử dụng công nghệ blockchain.  Thứ hai là thể chế – Chính phủ cần đưa các thể chế vào hoạt động và tinh giản quy trình hoạt động của mình để tạo điều kiện đổi mới.  Tất cả các chức năng của điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị khác chỉ có thể hoạt động khi có nền tảng tổ chức và quy trình phù hợp. Các điều kiện này bao gồm khung tương tác số hoá, quy trình quản lý tài sản kỹ thuật số, và bảo vệ quyền riêng tư.  Cách đây không lâu, các thuê bao của Vinaphone, Mobifone và Viettel chỉ có thể kết nối với nhau với chi phí rất cao. Và đó chính là cách mà hiện nay các cơ quan chính phủ đang cùng nhau chia sẻ dữ liệu!  Một ví dụ điển hình là sự phân tán trong các hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, trong đó cơ sở dữ liệu của các cơ quan và thậm chí trong một cơ quan chính phủ không thể kết nối được với nhau. Thách thức này đã được Chính phủ Việt Nam thừa nhận, và gần đây Chính phủ đã đề xuất xây dựng và kết nối 6 cơ sở dữ liệu quốc gia. Rào cản hiện nay chính là thiếu hệ thống mã số định danh quốc gia đủ mạnh và chúng tôi hoan nghênh những giải pháp gần đây của chính phủ để đẩy nhanh việc thực hiện cải cách mã số định danh quốc gia.  Về khía cạnh này, cả Ấn Độ và Thái Lan đều đang phát triển nhanh chóng dựa vào mã số định danh duy nhất trên cơ sở sinh trắc học, một yếu tố không thể thiếu của quản trị điện tử trong kỷ nguyên mới này. Làm thế nào để có thể cấp quyền truy cập vào dịch vụ công cộng kỹ thuật số, nếu quý vị không thể xác định được chính xác danh tính một người hay một công ty? Ở tầm phát triển với mức độ cao, Ấn Độ đã đăng ký cho 1 triệu người dân mỗi ngày nhờ vào các công nghệ mới. Với tốc độ đó, Việt Nam có thể hoàn thành đăng ký kỹ thuật số cho toàn bộ dân số của mình trong 3 tháng.  Nhận dạng và dữ liệu số cũng làm phát sinh những vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của nhà nước và cá nhân. Các tổ chức có thể thực hiện bảo vệ quyền riêng tư của dữ liệu, thúc đẩy giao dịch điện tử và phân tích dữ liệu đối với hàng hóa công cộng sẽ là chìa khóa để Việt Nam thu được nhiều lợi ích nhất.  Các tổ chức hoặc quy trình thể chế không tạo ra và cũng không lường trước được những công nghệ có tính đột phá, nhưng chúng là công cụ hữu hiệu để nuôi dưỡng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo cũng như giảm nhẹ những thách thức đến từ công nghệ đột phá.  Và thứ ba là con người – Việt Nam phải đầu tư vào kỹ năng và sức khỏe của lực lượng lao động trong tương lai.  Năm 1999, Bộ Lao động Hoa Kỳ đã dự đoán 65% học sinh tiểu học cuối cùng sẽ làm những công việc chưa hề được phát minh ra. Và năm ngoái, theo Dell Technologies, con số này đã tăng lên 85%. Chúng ta đang nhìn vào tương lai với nhiều loại hình công việc còn chưa được biết đến ở thời điểm hiện tại.  Về nguồn nhân lực, Việt Nam có vị thế rất tốt. Việt Nam đã đạt được kết quả tốt về giáo dục phổ thông, phản ánh qua những kết quả cao trong các đánh giá quốc tế như PISA và Young Lives, và có một thế hệ trẻ năng động, có thể nắm bắt và thích nghi với thay đổi. Ngoài ra, Việt Nam đứng thứ 7 về cải thiện chỉ số Bảo hiểm y tế toàn dân.  Nhưng dân số của Việt Nam đang già đi. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam đạt mức cao nhất vào năm ngoái và hiện đang giảm xuống. Đến năm 2050, dự kiến cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người ở độ tuổi trên 65.  Một thách thức quan trọng đối với Việt Nam là chỉ có 8% lực lượng lao động có giáo dục đại học, và tỷ lệ này không đủ để thực hiện bước nhảy vọt trong Công nghiệp 4.0. Người lao động cần được trang bị đúng các kỹ năng cần thiết để vượt lên trên làn sóng công nghệ này.  Để tiếp tục đi trước và nắm bắt những dịch chuyển trong đổi mới sáng tạo, việc quảng bá hiểu biết về kỹ thuật số có ý nghĩa quan trọng, đến cả lực lượng lao động trong khu vực công hiện nay, để có thể đáp ứng những yêu cầu về kỹ thuật số mới phát sinh.  Trong nhiều trường hợp, để làm được điều này cần thay đổi về tư duy và bước ra khỏi lối mòn. Quan hệ đối tác với khu vực tư nhân và người dân để thúc đẩy sự tham gia, sáng tạo và đổi mới của họ trong các dịch vụ công sẽ mang lại nhiều lợi ích cho lực lượng lao động trong khu vực nhà nước để theo kịp tốc độ số. Cũng cần một khuôn khổ xã hội để đảm bảo những người mất việc vẫn có thể tồn tại và bước vào nền công nghiệp tương lai của cách mạng 4.0.  Ví dụ, Trung Quốc đã có thể phát triển nhanh chóng với dịch vụ y tế kỹ thuật số, giúp tăng cường khả năng tiếp cận, và nâng cao chất lượng chăm sóc y tế. Kết quả này được tạo ra từ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm trong nước (5-10 tỷ USD), định giá IPO nhiều hứa hẹn và khả năng của khu vực công trong việc tích hợp nhanh chóng các yếu tố đổi mới vào mô hình cung cấp dịch vụ. Những sáng kiến ​​dịch vụ y tế kỹ thuật số này bao gồm Robot – một hệ thống y tế từ xa (telemedicine) giúp tăng cường tính hữu dụng của chăm sóc y tế ở cấp phòng khám cơ sở tại tỉnh An Huy, hoặc nền tảng WeDoctor cung cấp quyền truy cập trực tuyến cho các chuyên gia y tế, và cũng có thể hẹn lịch khám bệnh trực tiếp.  Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cũng đóng vai trò quan trọng giúp Việt Nam gia nhập nền Công nghiệp 4.0. Nhãn mác “Sản xuất tại Việt Nam” phải nhanh được thay thế bằng “Nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam”. Điều này có nghĩa là Việt Nam không chỉ tạo ra lao động chi phí rẻ, mà cũng đầu tư vào công nghiệp của tương lai. Cũng rõ ràng rằng lợi ích lớn nhất từ công nghệ mới sẽ đến với những xã hội và công ty không khăng khăng tiếp tục xu hướng quá khứ mà có thể thích nghi và hướng công dân của mình tới những ngành công nghiệp đang lên, như rô bốt chẳng hạn.  Cho phép tôi quay lại chiếc điện thoại của chúng ta. Tôi hy vọng bài diễn thuyết của tôi đủ thú vị để quý vị rời mắt khỏi điện thoại thông minh của mình. Nhưng có lẽ quý vị là một công chức nhà nước, và đang sử dụng điện thoại của mình để tìm kiếm thông tin về trợ giúp xã hội cho người nghèo và cận nghèo ở vùng núi phía Bắc chăng? Với một cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp được kết nối với hệ thống mã số định danh duy nhất, quý vị có thể làm điều này cho dù đang ngồi tại bàn làm việc hay tại Diễn đàn cấp cao về Công nghệ 4.0. Hay có lẽ quý vị là một nhà kinh doanh đang tham gia đấu thầu của chính phủ hoặc nộp thuế bằng điện thoại? Có thể quý vị đang gửi hướng dẫn cho một người họ hàng ở vùng xa xôi hẻo lánh, đang cần thanh toán tiền điện bằng điện thoại? Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng đó chính là tương lai của Việt Nam.  Nhưng cho dù quý vị làm bất cứ điều gì, chúng ta không được quên việc củng cố những nền tảng cơ sở. Để Công nghiệp 4.0 mang lại lại lợi ích cho Việt Nam, trước tiên chính phủ phải đảm bảo một môi trường quản lý thân thiện, thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Điều này bao gồm duy trì ổn định vĩ mô, tăng cường khả năng thích ứng, tính bền vững, tận dụng một cách hiệu quả những công nghệ cơ bản đã tồn tại từ Công nghiệp 3.0.  Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình bằng việc chia sẻ với quý vị một T.I.P (mẹo) để hiện thực hoá tương lai này.  ·         Thúc đẩy công nghệ (Technologies) để tận dụng đổi mới sáng tạo;  ·         Đưa vào hoạt động và củng cố nền tảng thể chế (Institutions);  ·         Đầu tư vào con người (People) của ngày hôm nay và tương lai.  Chúng ta có một câu nói tiếng Việt rất hay “hãy xắn tay áo và LÀM NGAY.  Ousmane Dione (Giám đốc Quốc Gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp điện tử VN nhìn từ con chuột máy tính      Trong “Một tư duy khác về kinh tế và  xã hội Việt Nam”, Tiến sĩ Alan Phan kể rằng, một doanh  nghiệp Trung Quốc đã thẳng thắn nói: “Họ (doanh nghiệp Việt Nam  – NV) đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.       Vị tiến sĩ Việt kiều này không bình luận gì thêm về nhận xét trên. Ông chỉ hờ hững như thế để người đọc tự suy ngẫm…  Nhiều người hỏi một cách nghiêm túc: bao giờ Việt Nam mới sản xuất được con chuột máy tính, bàn phím, điều khiển từ xa? Những món đó có khó gì đâu mà phải nhập từ Trung Quốc? Đúng! Nếu nhìn từ góc độ công nghệ, những sản phẩm đó chẳng có gì là cao siêu cả nhưng tại sao đến bây giờ chúng ta vẫn chưa tự lực sản xuất mà vẫn phải nhập khẩu? Có phải chăng công nghiệp điện tử Việt Nam chưa đủ sức sản xuất con chuột hay vì bị chi phối quan niệm về một thế giới phẳng?  Xây nhà máy, từ con chuột đến bán dẫn  Vern, doanh nghiệp lắp ráp máy tính “thương hiệu Việt” cũng đã có thời bắt tay sản xuất chuột. Nói cho sang là “sản xuất” nhưng bản chất cũng là lắp ráp từ linh kiện nhập bên Trung Quốc. Tính đi tính lại, những con chuột của Vern không thể có giá rẻ hơn hàng nhập từ Trung Quốc, chưa kể đến chất lượng, vậy là “tan tác một giấc mơ hoang”. Ông Lê Văn Chính, cố vấn của Soncamedia cho rằng, nếu sản xuất 10.000 con chuột/năm sẽ đắt hơn hàng Trung Quốc 3%, còn sản xuất 100.000 con chuột/năm sẽ cao hơn hàng Trung Quốc 0,5%, chỉ có thể đánh bật được hàng Trung Quốc nếu sản xuất 1 triệu con chuột/năm với điều kiện chất lượng phải tốt hơn nhóm hàng này. “Tại sao chúng ta phải nghĩ đến việc đầu tư nhà máy hàng triệu USD chỉ để sản xuất con chuột? Đó là lối tư duy duy ý chí”, ông Chính thể hiện quan điểm “chống” việc sản xuất những sản phẩm mà ở đó không có gì là cao siêu cả, điển hình là con chuột, bàn phím máy tính… “Tại sao chúng ta không nghĩ: khi đi mua con chuột do các doanh nghiệp bên Trung Quốc sản xuất mới thấy thương cho những ai đã làm ra nó! Tôi cho rằng, những gì mà Nhật, Mỹ không làm thì chúng ta không nên làm”, ông Chính có vẻ cực đoan khi đưa ra ý kiến đó. Nhưng ngẫm lại, thấy lời ông Chính nói có lý.  Ước mơ xây dựng một ngành công nghiệp điện tử hiện đại, ngang tầm với khu vực các nước Đông Nam Á đã có từ 35 năm trước. Năm 1976, ngân sách nhà nước chi hàng chục triệu rúp để xây dựng hai nhà máy sản xuất linh kiện điện tử. Một nhà máy đặt ở miền Bắc có tên là Sao Mai (hay còn gọi là Z181, bộ Quốc phòng) chuyên sản xuất bán dẫn ST301/302, ST601… theo công nghệ của Tiệp Khắc. Còn nhà máy đặt tại miền Nam là công ty sản xuất điện tử Bình Hoà, chuyên sản xuất linh kiện thụ động: tụ điện, điện trở… theo công nghệ của Ba Lan, Pháp và Tiệp Khắc. Sau đó vài năm, tiếp tục đầu tư Vietronics Tân Bình (viết tắt là VTB) chuyên sản xuất tụ xoay cũng từ công nghệ Tiệp Khắc. Ông Nguyễn Văn Đạo, nay là phó tổng giám đốc Samsung Việt Nam, nhớ lại: “Vào thời điểm đó, nhìn hai nhà máy, nhiều người tin rằng trong vòng chục năm nữa công nghiệp điện tử Việt Nam sẽ “cất cánh”. Lúc khai trương, nhìn thấy những dây chuyền sáng bóng, vui lắm, tràn ngập niềm tin”. Từ những linh kiện của hai nhà máy, những sản phẩm điện tử hoàn chỉnh ra đời như chiếc radio ba băng. Theo lời ông Đỗ Khoa Tân, hiện là giám đốc công ty điện tử Biên Hoà (Belco), vào thời điểm đó phải là cán bộ cấp cao mới được tiêu chuẩn mua chiếc radio đó. Bây giờ Sao Mai không còn sản xuất bán dẫn nữa, chuyển sang lắp ráp hàng điện gia dụng. Bình Hoà đang “thoi thóp”, làm nhiều thứ, từ sản xuất theo đơn đặt hàng cho đến gia công bo mạch (PCB) để lấy tiền nuôi công nhân.  Vào những năm 1980 – 1982, những nhà máy sản xuất hàng điện tử có mặt tại thị trường Việt Nam từ những năm 1969, như National, Sony, Sanyo… được quy hoạch thành liên hiệp Các xí nghiệp điện tử, gọi tắt là Vietronics với nhiều thành viên như Biên Hoà, Thủ Đức, Tân Bình, Cửu Long… Nhiệm vụ chính của tổ hợp này là từ nguồn linh kiện CKD nhập khẩu từ các quốc gia thuộc khối Đông Âu lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh, như radio, tivi… Một vài nhà máy trong tổ hợp này đến nay vẫn còn hoạt động như Biên Hoà, Tân Bình, Thủ Đức…, vị trí và vai trò của tổ hợp này trong ngành công nghiệp điện tử chỉ là con số khiêm tốn vì không thể “địch” lại các đối thủ trong và ngoài nước, từ công nghệ cho đến sản phẩm.  Những năm đầu của thế kỷ 21, các doanh nghiệp tư nhân trong nước rộ “phong trào”: đầu tư những dây chuyền sản xuất (thực chất là lắp ráp) để sản xuất máy tính, từ máy tính để bàn cho đến máy tính xách tay. Tiên phong là FPT, sau đó là Vitek, rồi Nguyễn Hoàng… bỏ ra hàng chục triệu đôla Mỹ chỉ để muốn chứng minh với người tiêu dùng trong nước rằng những chiếc máy tính có mang dòng chữ: “made in Vietnam”. Nhưng chỉ vài năm sau đó, những hệ thống lắp ráp trên, hoặc là “trùm mền” hoặc là bán tống bán tháo với giá chỉ bằng 1/5 giá đầu tư ban đầu.  Làm chủ công nghệ trước  Công nghiệp điện tử Việt Nam hiện nay đã có gì, là một câu hỏi đơn giản nhưng để tìm câu trả lời đúng với thực tế, nhiều người có trách nhiệm đều không dám đối mặt với sự thật. Những doanh nghiệp như tổng công ty Điện tử và tin học Việt Nam, các thành viên của Vietronics… từng một thời là “quả đấm” đến nay đã già yếu. Các doanh nghiệp tư nhân, dù có năng động và trí tuệ nhưng nguồn vốn ít ỏi, lại không được chính sách hỗ trợ từ Nhà nước nên chấp nhận “làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”. Những con số thể hiện trong các báo cáo thống kê mỗi tháng, mỗi năm của ngành công nghiệp điện tử đều do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, như tổ hợp Samsung, Panasonic, Sanyo, Canon, Fujitsu… quyết định.  Việc đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất phần cứng theo chuyển giao công nghệ của nước ngoài là việc nên làm nhưng lẽ ra, phải song song với việc đầu tư chất xám để sáng tạo những gì thiên hạ đang làm hoặc chưa làm, mới tạo được lực đẩy cho ngành công nghiệp điện tử Việt Nam phát triển trong kỳ vọng, như lời nhận xét của ông Đỗ Khoa Tân. TS Nguyễn Quân, Bộ trưởng bộ Khoa học và Công nghệ, chia sẻ: “Phải đầu tư chất xám để thâm nhập vào những công nghệ lõi, mới tạo ra nền tảng phát triển vững chắc. Xây dựng nhà máy sản xuất phần cứng chỉ là phần ngọn. Còn đầu tư công nghệ nền tảng mới là phần gốc vững chắc. Chấp nhận đi sau thiên hạ nhưng ta phải làm chủ được công nghệ thiết kế – sản xuất chip xử lý không chỉ sử dụng trong những sản phẩm dân dụng mà quan trọng nhất là dùng trong an ninh – quốc phòng”. TS Quân cũng xác nhận lâu nay chưa quan tâm đến việc đầu tư cho chất xám, nhiều đề tài “bị quên trong tủ”. Vì quan niệm như vậy, trong gần 1.000 tỉ đồng cho nghiên cứu khoa học công nghệ cả nước trong năm 2011, bộ Khoa học và công nghệ đã quyết định dành 124,8 tỉ đồng để sử dụng con chip 32bit của trung tâm Nghiên cứu thiết kế vi mạch (viết tắt là ICDREC, trực thuộc đại học Quốc gia TP.HCM) thiết kế thành công vào việc sản xuất gói sản phẩm, từ thẻ cho đến đầu đọc theo công nghệ RFID (Radio Frequency Identification – nhận dạng bằng sóng radio). TS Quân xác nhận, đây là sản phẩm quốc gia vì được sản xuất trên nền tảng chip do chính người Việt Nam thiết kế và chế tạo, mở đầu cho công nghiệp điện tử Việt Nam!  “Làm chủ công nghệ”, câu nói thường nghe từ những bài phát biểu của giới lãnh đạo nhưng làm chủ công nghệ gì, tác động của nó đến nền tảng phát triển của quốc gia như thế nào chưa được đề cập và mổ xẻ một cách thấu đáo để tạo động lực cho công nghệ nền tảng phát triển, hỗ trợ cho công nghiệp sản xuất phát triển. TS Lê Hoài Quốc, giám đốc khu công nghệ cao TP.HCM, nói: “Lâu nay giới khoa học chỉ dừng lại ở lời khẳng định: tôi làm được. Không chỉ làm được mà phải bắt công nghệ đó mở ra thị trường với mục tiêu là có nhiều sản phẩm cao cấp hơn với chuỗi giá trị liên hoàn mang tính toàn cầu. Đóng góp của chất xám vào sản phẩm phần cứng hay phần mềm đều đem lại những giá trị như nhau”.  Công nghiệp điện tử Việt Nam đã có nhiều quyết sách để phát triển nhưng nhiều quá đến loạn! Quyết sách thì nhiều, nhưng những vấn đề không kém phần quan trọng như tài chính, thị trường… lại chưa có gì là cụ thể. Nhà nước, không chỉ là một khách hàng lớn của các sản phẩm điện tử “sản xuất tại Việt Nam”, mà còn có một trọng trách là thể hiện vai trò “bà đỡ” thực thụ chứ không phải trên lý thuyết.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp đóng tàu đi về đâu?      Trong dịp đến thăm nh&#224; m&#225;y Nam Triệu v&#224;o cuối năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&#227; đề xuất c&#225;c hướng đi của ng&#224;nh đ&#243;ng t&#224;u nhằm khắc phục những kh&#243; khăn trong thời kỳ khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh to&#224;n cầu, đ&#243; l&#224; hướng về sản xuất phục vụ trong nước v&#224; sửa chữa. Vậy c&#244;ng nghiệp đ&#243;ng t&#224;u của ch&#250;ng ta vừa qua đ&#227; tiến triển như thế n&#224;o?    Một ngành công nghiệp trồi sụt!  Tra cứu bất kỳ một trang nào trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như hàn lâm nói về công nghiệp đóng tàu, ta cũng bắt gặp những dòng chữ cảnh báo về một ngành công nghiệp “trồi sụt”, đầu tư rất lớn, phụ thuộc mạnh mẽ vào các biến động địa chính trị toàn cầu, và thường chỉ thực hiện với một ý chí quốc gia mạnh mẽ tức là được Nhà nước bảo trợ. Chính vì những đặc điểm đó, nên không phải quốc gia nào có bờ biển, có nhân lực là dám mạo hiểm đầu tư lớn, lấy đóng tàu làm trọng tâm phát triển. Có thể nhìn sang các nước ASEAN láng giềng, sang Ấn Độ mà nền công nghiệp đã ở mức cao hơn           Đồ thị có trong bất kỳ cuốn giáo trình nào về kinh tế đóng tàu:cột đứng là số triệu tấn tàu đóng được trình bày theo thang lô –ga,cột ngang là theo các năm ,cho tới năm 1983.Cho thấy sự trồi sụt ghê               gớm cùa ngành công nghiệp đòi hỏi đầu tư lớn          nước ta từ lâu. Nhưng “liệu pháp đóng tàu” như người ta thường gọi lại là một phương thuốc hữu hiệu kích thích nền kinh tế, kéo cả ngành công nghiệp cùng tiến lên mau chóng. Trừ trường hợp Trung Quốc phát triển mạnh công nghiệp đóng tàu trong các năm gần đây để xuất khẩu, nhưng cũng phục vụ cho nhu cầu nội địa của một tỷ người và các chiến lược bành trướng đại dương, “liệu pháp đóng tàu” như ta đều biết, đã được Nhật Bản và sau đó là Hàn Quốc đã áp dụng thành công. Khi quyết định phát triển công nghiệp đóng tàu Việt Nam để xuất khẩu, chúng ta tin rằng các nhà hoạch định chính sách mong muốn nó là “liệu pháp” để góp phần mau chóng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, với những mục tiêu như “nội địa hóa 60% con tàu”, “đứng thứ tư thế giới trong bảng sắp các quốc gia về số tàu đóng được”…Và thế là, trong một thập kỷ qua, việc đóng tàu đã được đầu tư và phát triển tới chóng mặt. Từ các xưởng nhỏ bé vào đầu những năm 90 tại Hải Phòng và Quảng Ninh, ngày nay Tập đoàn Vinashin đã rải khắp từ sát biên giới Việt – Trung tới Cà Mau với những nhà máy đang xây dựng dở dang, để có thể đóng được các con tàu khổng lồ có tải trọng lên đến nửa triệu tấn, với nhiều ụ đà, đất đai, phân xưởng với hàng chục cần cẩu to lớn bắt mắt từ đằng xa …Nhưng, như quy luật “trồi sụt” của nó, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đến. Trong cuộc gặp các lãnh đạo tập đoàn với Thủ tướng, lãnh đạo ngành Hàng hải Vinalines đã nói rõ: Tàu bè nay quá rẻ, giá chỉ còn một nửa hay một phần ba, đây là cơ hội ngàn vàng để đổi mới đội tàu biển! Thời của đóng tàu xuất khẩu đã qua mau chóng !  Cái giá của những bài học  Thực ra, trong mười năm qua, ngành đóng tàu chúng ta đã học được nhiều bài học to lớn. Từ chỗ chỉ biết kỹ thuật, công nghệ “hệ 1” một thuật ngữ trước đây hay dùng để chỉ công nghệ của Liên Xô và các nước XHCN anh em xưa, nay chúng ta đã tiếp xúc mạnh mẽ với  công nghệ “hệ 2”. Tại cuộc triển lãm Vietship hoành tráng về đóng tàu vào hồi đầu năm nay, chúng ta có thể bắt gặp cả một thế giới công nghệ của thế kỷ 21, có cả những Roll-Royces Anh, KVH Hoa Kỳ… những cái tên khổng lồ gắn với công nghiệp vũ trụ. Một đội ngũ các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật đã làm quen với các phần mềm chuyên dùng, phương pháp đóng tàu module, các cách trang trí tàu oufit năng suất cao…Tất nhiên, để có được những tiến bộ kỹ thuật đó, chúng ta cũng đã phải trả bằng một cái giá nhất định: Những lỗi kỹ thuật  – quản lý to lớn, giá bán tàu thường bị chèn ép…Nhưng điều mong muốn nhất là ngành đóng tàu cùng phát triển với tất cả các ngành công nghiệp khác đã diễn tiến ra sao? Nội địa hóa đã tiến triển thế nào? Cuộc hội thảo về chủ đề này do Vinashin tổ chức tại nhà máy Nam Triệu tháng 10 – 2008 vừa qua đã trả lời câu hỏi này: Đóng tàu không lôi kéo được các ngành công nghiệp khác cùng phát triển, chỉ lèo tèo vài đại biểu từ các ngành công nghiệp khác tới tham dự hội thảo mặc dù chủ nhà tiếp đón rất lịch thiệp. Các nhà máy của Vinashin vẫn phải tiếp tục nhập các bu lông chuyên dùng, các chốt cửa kín nước… những phụ tùng nhỏ nhặt nhất cho các con tàu. Chỉ có dự án sản xuất thép với Lion Malaysia  mà Vinashin góp vốn bằng “đất” mới góp phần tăng giá trị “nội địa hóa”! Vậy cái “liệu pháp” này có góp phần chữa trị được nền kinh tế hay làm cho nó thêm trầm trọng?  Hướng cho nội địa và sửa chữa                  Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng là hướng ngành đóng tàu phục vụ cho nhu cầu trong nước và sửa chữa tàu đáng ra phải là mục tiêu đầu tiên ngay từ khi hoạch định chiến lược phát triển. Người khổng lồ Hyundai đầu tư vào nước ta, ngay từ đầu đã đi từ sửa chữa. Đến nay Hyundai- Vinashin tại Nha Trang đã trở thành một địa điểm chữa tàu có uy tín trên bản đồ sửa chữa tàu toàn cầu, làm giàu và rạng danh thêm cho Hyundai – Mipo, nhưng tiêu diệt môi trường cả một vùng ven biển giàu đẹp chỉ vì những người hợp tác không ràng buộc những công nghệ “sạch”. Các nhà máy đóng tàu như Saigon Shipyard của Tập đoàn Singapore đầu tư vào Cát Lái Sài Gòn, Marine Strategy của Úc đầu tư vào khu công nghiệp Đông Xuyên Vũng Tàu đều có kết cấu hợp lý, không quá “hoành tráng” và chắc chắn làm ăn có lãi. Việc chuyển hướng chiến lược cho ngành đóng tàu thực ra không phải dễ dàng vì nhiều dự án lớn phục vụ xuất khẩu đang làm dở dang, phục vụ cho nội địa tức là các nhu cầu vận tải, khai thác biển, giữ vững chủ quyền …không có nghĩa là không cần đầu tư vì đã “sẵn nong sẵn nia” mà trái lại vẫn cần được đầu tư đúng hướng, nhất là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo là lĩnh vực yếu nhất hiện nay. Trước hết, chúng ta cần rà soát lại toàn bộ kế hoạch đóng tàu đã đề ra, xác định rõ mục tiêu. Từ đó, cần có quyết định thu gọn phạm vi phát triển. Công việc này không dễ dàng vì đóng tàu đã được “rải đều” hầu như khắp mọi tỉnh ven biển. Thay vì “rải đều” theo chiều dọc địa lý, phải có những cơ chế chính sách buộc các bên có quyền lợi gắn liền với đóng tàu như hải quân, biên phòng, cảnh sát biển, hàng hải, ngư nghiệp, dầu khí, du lịch…để tạo thành một sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện Chiến Lược Biển.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp đóng tàu  qua vài mẩu chuyện      Đóng tàu đã phát triển ra sao trong tiến trình lịch sử? Thế giới đã và đang đóng tàu như thế nào? Đây là một vấn đề quá lớn rộng, mênh mông như biển cả là đối tượng mà nó phải phục vụ. Trong khuôn khổ một bài báo ngắn, tác giả thông qua các trải nghiệm thực tế của hơn 40 năm trong nghề hàng hải, muốn đưa bạn đọc vào thế giới đóng tàu thông qua những câu chuyện nho nhỏ, đặc biệt là những sự kiện thế giới nhưng gắn liền với lịch sử nước nhà, qua đó đề xuất phương hướng phát triển ngành công nghiệp này trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam.    I-CHIẾC NÔ ỐC HUẾ TẠI MỸ  Trên phần đất vùng Tây Bắc Mỹ, sát với Canada, có một dải đất nhô ra xa Thái Bình Dương. Tại đây có một ngôi trường nhỏ chuyên dạy đóng các loại thuyền truyền thống cổ xưa như kayak, canoê của người da đỏ. Và trong các vật trưng bày có một chiếc ghe nô ốc Việt Nam được chủ nhân tên John cho đóng và quay phim kỹ lưỡng mọi công đoạn tại một xưởng thuyền Quảng Trị. Là một sĩ quan hải quân có bốn đời theo đuổi binh nghiệp trên biển, John đã tham chiến tại Việt Nam, sau đó tiếp tục có mặt tại châu Âu, Nam Mỹ và châu Phi trước khi giải ngũ về nhà cùng vợ kinh doanh bất động sản. Khi Việt Nam mở cửa John đã có mặt tại Quảng Trị cùng các bạn cựu chiến binh khác trong chương trình hỗ trợ nhân đạo các trẻ em dị tật do chiến tranh. Và John cũng lập chương trình thu thập các con thuyền truyền thống của Việt Nam vì theo John những chiếc ghe bầu Hội An, mảng tre Sầm Sơn… đã một thời ngang dọc trên biển Việt Nam xứng đáng là những cổ vật đứng ngang hàng với thuyển cỏ lau papyrus của người Ai Cập, với thuyền catamaran của người Polynésie… những cái tên sáng chói trong lịch sử hàng hải nhân loại.  Chinh phục sông ngòi biển cả là công việc đầu tiên  của loài người cùng với việc ra đời của thuyền bè với sức đẩy đầu tiên là bơi chèo tiếp đến là những cánh buồm ngày càng phức tạp để trở thành những chiếc tàu buồm khổng lồ treo hàng nghìn m2 buồm. Công nghiệp đóng tàu buổi sơ khai vùng Địa Trung Hải đã cung cấp những chiếc thuyền buồm cho chuyến đi của Colombo sang châu Mỹ, của Magellan vòng quanh thế giới. Máy hơi nước ra đời và xuất hiện trên tàu biển đã đẩy lùi dần những cánh buồm, sắt thép thay thế cho gỗ. Khi cụ Phạm Phú Thứ lần đầu tiên vào năm 1863 thực hiện chuyến công du sang Pháp, đã kể lại cho đời sau biết trong cuốn “Tây hành nhật ký”, con tàu chở cụ  đi, xuất phát từ Sài Gòn, là tàu có“tên gọi Ơ-dô-tê-en (Européen ). Tàu này vỏ ngoài bọc sắt, chiều dài 20 trượng (80m), chiều ngang 2 trượng 4 thước (10m), chiều sâu 3 trượng 5 thước (14m); Đầu tàu có hai ống khói; cuối tàu lắp một bộ máy đuôi cá”. Bộ máy mà cụ Phạm nói tới chính là chiếc chân vịt mà ta thường gọi ngày hôm nay, được truyền động từ máy hơi nước, sau đó là động cơ diesel, tuabin,  động cơ hạt nhân… là những bước tiến liên tục của công nghiệp đóng tàu thế giới, trước đó, trên các con tàu đánh chiếm các cảng nước ta, hải quân Pháp còn phải dùng cả tàu máy hơi có kèm thêm những cánh buồm cho chắc ăn! Cho đến chuyến đi của Phạm Quỳnh sang Pháp vào năm 1922 trên tàu Armand Béhic thuộc hãng Đầu Ngựa (tên dân ta gọi hãng Messageries Maritime, để phân biệt với hãng Năm Sao Chargeur Réunis) thì những con tàu đã khá tiện nghi, mở đầu cho những khách sạn nổi du lịch hiện đại ngày hôm nay. Cũng chính trên các con tàu của hãng Năm Sao và Đầu Ngựa, các nhà cách mạng Việt Nam đã chuyển tải các sách báo yêu nước, giác ngộ cách mạng về nước.            II- TÀU KILINSKI  Trong số các con tàu nước ngoài gắn liền với lịch sử hàng hải nước ta, không thể không kể tới con tàu Ba Lan Kilinski, con tàu đã cần mẫn nối liền hai miền Nam Bắc trong cuộc chuyển quân lịch sử vào năm 1954-1955. Được cả hai hãng tàu Ba Lan và Liên Xô lúc đó hỗ trợ, con tàu mang tên người anh hùng dân tộc Ba Lan trên đường sang Việt Nam đã ghé qua Quảng Châu, nơi có nhà máy đóng tàu mà dân ta quen gọi là Bạch Hạc Đồng, để hoán cải nó từ một con tàu vạn tấn chở hàng trở thành một tàu chở khách bất đắc dĩ, kiêm cả chở súng đạn và cả những… con voi Tây Nguyên. Nhưng ít ai biết rằng con tàu này đã ra đời tại Mỹ trong Thế chiến II với một loạt hàng nghìn chiếc mang tên Liberty, một loạt tàu đánh dấu cho nền công nghiệp đóng tàu Hoa Kỳ cũng là nền công nghiệp đóng tàu của nhân loại.           Việc đóng tàu Liberty được tiến hành tại 18 nhà máy đóng tàu nước Mỹ để cho ra đời gần 3 nghìn con tàu trong thời gian kỷ lục.        Bước vào cuộc chiến, đội tàu buôn nước Anh bị tổn thất lớn bởi ngư lôi của tàu ngầm Đức nên đã đặt Mỹ đóng một số tàu thay thế. Lúc đầu là vài chục, sau đó tăng dần. Cho tới hết cuộc chiến, tổng cộng nước Mỹ đã phải huy động 18 nhà máy đóng tàu ở hai bờ Đông và Tây chế tạo trong thời gian kỷ lục tổng cộng 2750 con tàu vạn tấn. Thời gian chế tạo cũng rút ngắn dần, lúc đầu cần 230 ngày sau chỉ còn cần 42 ngày đóng xong một con tàu. Do yêu cầu gấp rút, tổng lực toàn bộ nền công nghiệp Hoa Kỳ được huy động cho các con tàu: các nhà máy sản xuất thép, chế tạo nồi hơi (tàu chạy máy hơi đốt than), các xưởng khí cụ điện… Từ chỗ nối thép bằng đinh tán, công việc chiếm tới một phần ba tổng giờ công đóng một con tàu, nay thay bằng hàn điện, một việc hoàn toàn mới trong công nghiệp đóng tàu. Thiếu lao động nam giới, phần lớn thợ hàn điện được huy động là nữ vừa qua đào tạo nên dẫn tới những hệ quả tai hại chưa từng có. Nhiều con tàu nứt gãy, có tàu gãy làm đôi trong khi đang hải trình. Thuyền trưởng người Nga Anna, vị thuyền trưởng viễn dương đầu tiên của loài người là phụ nữ ở tuổi 27, đã từng điều khiển con tàu loại Liberty chở hàng hóa Mỹ viện trợ cho vùng Viễn Đông. Khi tàu vừa tới bến, cũng là lúc con tàu đã nứt toác ra muốn gãy đôi. Nhưng cũng chính vì con tàu được làm hàng loạt nên giúp cho ngành khoa học đóng tàu phát triển: công nghệ luyện kim với các tiêu chuẩn thép cho đóng tàu, các tiêu chuẩn về hàn, các đề tài nghiên cứu về sức bền thân tàu, việc chống mệt mỏi của kim loại, việc lắp ghép con tàu từ nhiều bộ phận gọi là tổng đoạn mà công nghệ hiện đại ngày nay là ghép module, việc tổ chức sản xuất bằng phương pháp toán học vận trù…   Khi những con tàu này ra đời, dư luận đã ít thiện cảm với loại tàu đóng nhanh giống như truyền thống “fast food” ăn nhanh của người Mỹ. Ngay cả Tổng thống Franklin Roosevelt khi được mời dự lễ hạ thủy cũng phải thốt lên “nhìn thấy phát ghê” (dreadful looking object) còn tạp chí Time gọi nó là “Chú Vịt con xấu xí” (Ugly Ducking). Người ta chỉ hy vọng nó sống qua cuộc chiến, với rất nhiều những khiếm khuyết từ lý thuyết thiết kế tới chế tạo, đặc biệt là công nghệ hàn lần đầu tiên áp dụng cho các con tàu hàng loạt, nhưng thật kinh ngạc, hơn 2000 con tàu vẫn sống sót và được phân chia đi khắp thế giới. Các ông chủ tàu Bắc Âu và Hy Lạp, trong đó riêng Onassis đã vơ luôn trên 500 chiếc để làm nên huyền thoại về ông vua biển Hy Lạp. Vào lúc cao trào cuộc chiến tranh Việt Nam, người Mỹ cũng phải lục lại trong kho đồ cũ, tìm ra vài chiếc Liberty còn tốt để bù vào số tàu chở quân chở hàng đang rất thiếu và có tàu đã ăn mìn của đặc công nước Cần Giờ.     III Những con tàu SD-14   Sau Thế chiến II, công nghiệp đóng tàu châu Âu đã khởi sắc trong chương trình khôi phục kinh tế Marshall có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Từ thành phố Turku Phần Lan tới Malmo Thụy Điển, từ Sunderland miền Trung nước Anh tới thành phố đóng tàu Odense Đan Mạch, nền công nghiệp biển truyền thống của châu Âu hối hả hồi phục với yêu cầu cung cấp nhiều loại tàu cho nền kinh tế và quốc phòng, trong đó có loại tàu quãng một vạn tấn tương tự như Liberty trong Thế chiến nhưng phải khắc phục tất cả những khiếm khuyết của con tàu “fast food” kiểu Mỹ. Ba mươi phương án được đưa ra nhưng cuối cùng chiếc tàu có sức chở 14.000 tấn có biệt danh là SD-14 là kẻ thắng cuộc.Và người thi công nó chính là xưởng Austin & Pickersgill thường gọi tắt là xưởng A&P tại Sunderland miền trung nước Anh, với giá bán chỉ khoảng một triệu bảng (một giá tàu rất mềm thời bấy giờ). Đóng ở Anh không đủ, người ta còn đem mẫu này sang đóng tại Hy Lạp và Nam Mỹ với số lượng vài trăm cái. Vào những năm 80, các đoàn đi mua tàu của Vosco – công ty Vận tải biển của Việt Nam, tới tấp báo cáo về xin phép Chính phủ mua các con tàu SD-14 này và chính Sông Đuống, Thái Bình, Tô Lịch, Lục Nam đã làm nên những chiến công kinh doanh của Vosco.                  Nếu Vosco lúc này đi mua các con tàu châu Âu cỡ vạn tấn thì cũng vào lúc này, nhất là lúc bắt đầu thực hiện “Đổi mới”, các công ty vận tải địa phương của chúng ta nở rộ như nấm sau cơn mưa và “phát hiện” ra thị trường Nhật Bản, đặc biệt với những con tàu nhỏ,  sức chở khoảng 4, 5 nghìn tấn giá rẻ bất ngờ phù hợp với các “ship” địa phương như Quảng Ninh ship, Hải Phòng Ship… Trong khi đó, các cơ quan hàng hải Mỹ lại chú ý tới Nhật như một trường hợp phát triển đáng nghiên cứu, nhằm giải thích cho được vì sao chỉ tới cuối những năm 80 Nhật đã chiếm hơn nửa hợp đồng đóng tàu thế giới trong khi vào những năm 70 nền đóng tàu nước này nằm trong giai đoạn suy thoái triền miên, chiếm giữ vị trí người cầm đầu trong làng đóng tàu thế giới. Đoàn nghiên cứu đã tới các xưởng đóng tàu của các tập đoàn IHI, Mitshubishi, Kawasaki…, tới các trường đại học, viện nghiên cứu và đã đi tới một số kết luận và bài học kinh nghiệm. Trong nhiều  nguyên nhân dẫn tới thành công của Nhật phải kể tới các thành tựu về công nghệ làm cho các thiết kế rất hiện đại vừa lòng khách hàng,  giao hàng nhanh và luôn luôn đúng hẹn (một lỗi lớn mà đóng tàu của ta hiện nay luôn vi phạm giao chậm không đúng hợp đồng) và chi phí sản xuất thấp. Ví như việc lắp ghép con tàu từ nhiều phần gọi là tổng đoạn là phương pháp mà người Mỹ đã áp dụng trong khi đóng tàu Liberty đã nói ở trên đã được người Nhật phát huy ở một mức cao hơn trong việc lắp ghép module. Tức là con tàu được ghép từ nhiều phần,  không phải chỉ cái vỏ thép trống rỗng  như khi thi công tàu Liberty mà trên mỗi tổng đoạn tức là mỗi phần nhỏ của con tàu đã được lắp sẵn đường ống, các bộ phận máy, dây điện… Tới khi ghép lại, không chỉ hàn hai phần tàu lại với nhau mà còn nối các dây dợ, máy móc với nhau. Cách tổ chức sản xuất như vậy góp phần tăng năng suất, khống chế chất lượng… nhưng cũng đòi hỏi phải có phương tiện tính toán tốt do các máy tính và các phần mềm hiện đại thực hiện. Những bài học đó được người Mỹ tổng kết lại một cách nghiêm túc và nâng cao nó lên để cho công nghiệp đóng tàu Mỹ và Tây Âu hiện nay vẫn đứng đầu thế giới trong mảng chế tạo tàu ngầm, tàu sân bay, các tàu khu trục tàng hình…            IV- Từ đóng tàu chuyển sang làm “phong điện”  Nếu Thăng Long-Hà Nội chúng ta vừa kỷ niệm 1000 năm tuổi thì thành phố Odense, thành phố lớn thứ ba Đan Mạch cũng kỷ niệm 1000 năm thành lập nhưng trước ta 22 năm, đó là vào năm 1988! Thành phố nổi danh với công nghiệp đóng tàu nhưng cũng như toàn bộ Đan Mạch, đóng tàu ngày càng chìm đắm dần trong cuộc cạnh tranh không cân sức, nhất là với Hàn Quốc mà họ cùng với các nước EU khác thường xuyên đem ngành đóng tàu xứ Hàn ra trước các tổ chức quốc tế như WTO, OECD kiện tụng về tội “bán phá giá”, “Nhà nước trợ giá vô nguyên tắc”… Sáu tuần lễ trước thềm thế kỷ 21, xưởng đóng tàu Arhus Flydedok bị đem ra bán đấu giá. Cách xưởng này về phía Bắc một chút, tại cảng Frederikshavn, xưởng Danyard thuộc công ty Lauritzen cố bàn giao nốt con tàu cuối cùng vào ngày 14/12/1999 rồi cũng đóng cửa. Đã có một thời Đan Mạch là một trong những nước đóng tàu hàng đầu thế giới1. Đầu thế kỷ 20, hãng đóng tàu  B&W (Burmeister and Wain) cũng như hãng bia Carlsberg là những biểu tượng của Đan Mạch, chiếm vị trí cao trong suốt một thế kỷ, với uy tín quốc tế lớn, với hệ thống công đoàn rất mạnh mà phần lớn quản đốc các phân xưởng là Đảng viên Cộng sản. Tất cả đều chấm dứt vào năm 1996, khi Nhà nước chấm dứt hẳn việc trợ cấp cho các xưởng đóng tàu và B&W bắt buộc phải đóng cửa, theo sau là một loạt các nhà máy đóng tàu khác và các thành phố như Elsinore, Nakskov, Svendborg, Odense, những thành phố trước đây mệnh danh là “thành phố đóng tàu” đã biến thành những “ốc đảo của nạn thất nghiệp”. Đan Mạch chỉ còn vài xưởng sửa chữa tàu của công ty tư nhân, không còn một xí nghiệp Nhà nước nào nữa. Nhiều công nhân đóng tàu trước kia sinh hoạt trong Nghiệp đoàn công nhân kim khí (Dansk Metal) nay được trở lại làm việc trong các nhà máy chế tạo thiết bị năng lượng sạch, những nhà máy sản xuất ra các máy phát điện chạy bằng sức gió cung cấp cho toàn thế giới.              Xưởng đóng tàu lớn nhất thế giới Hyundai tại Ulsan với chiếc cẩu khổng lồ mang tên Goliath 1290 tấn, được gọi tên “Nước mắt thành Malmo” như để nhắc tới sự luyến tiếc của người dân Malmo Thụy Điển khi chiếc cẩu của minh  phải chuyển sang vùng Viễn Đông, một hình ảnh có tính biểu tượng cho cuộc di chuyển nghề đóng tàu từ Âu sang Á tức sang Nhật,Hàn Quốc,Trung Quốc và cả… Việt Nam                   V – Cuộc di chuyễn sang Viễn Đông  Tới thăm xưởng đóng tàu Hyundai tại Ulsan trải dài ven vịnh Mipo Hàn Quốc, du khách phải phát ngợp vì quy mô của cái xưởng lớn nhất thế giới với diện tích 7.200.000 m2, diện tích nhà có mái che 1,6 triệu m2; 10 ụ khô đóng tàu trong đó có ụ (ụ số 3) có thể chứa được con tàu lớn nhất thế giới, tức là tàu có sức chở 1 triệu tấn, còn ụ số 1 chuyên đóng các tàu chở khí hóa lỏng LNG, một mặt hàng đầy sức cạnh tranh của Hàn Quốc. Tại đây cứ 4 ngày lại có một con tàu trị giá 80 triệu USD được hạ thủy xuống nước và người ta đang chế tạo chiếc tàu có thể chở được 1 vạn thùng container. Để dễ hình dung khả năng của con tàu này, có nhà báo người Mỹ diễn giải rằng số container đó chứa được 10 triệu đôi giày thể thao hay 100 triệu con búp bê Barbie! Ngoài Hyundai còn có hai “ông lớn” khác trong đóng tàu là Samsung và Daewoo, đó là chưa kể tới các hãng STX, Samho, Hanjin, Sungdong là những hãng nằm trong danh sách các nhà đóng tàu hàng đầu thế giới. Vào năm 2007, STX đã mua lại Aker, là một trong những tập đoàn đóng tàu lớn nhất châu Âu. Vào năm 2008, Hàn Quốc vẫn sản xuất ra một số tàu nhiều hơn toàn bộ sản lượng của phần còn lại của thế giới (xem bảng)2.   Tuy nhiên, Hàn Quốc đang có một kẻ cạnh tranh sát sườn là công nghiệp đóng tàu Trung Quốc với lời tuyên bố sẽ giành lấy vị trí “vua” vào năm 2015. Không rõ tương lai ra sao, nhưng hiện nay vị trí của Trung Quốc còn khá khiêm tốn, chủ yếu giành thị trường trong phạm vi các loại tàu cơ bản như tàu container, tàu dầu… giá thành thấp. Trung Quốc không tiếc tiền của đầu tư vào các nhà máy đóng tàu, ví dụ như xưởng đóng tàu Ngoại Cao Kiều nằm trên đảo Sùng Minh, chỉ cách xưởng Hyundai Ulsan lớn nhất thế giới chưa đầy 700 km theo đường chim bay, Ngoại Cao Kiều quyết vượt xưởng Hàn Quốc về quy mô to lớn, về trang thiết bị, họ đã mua trang thiết bị chế tạo ống điều khiển điện tử của một hãng Mỹ đứng đầu thế giới có trụ sở tại Tacoma bang Washington. Các nhà máy khác thuộc hai tập đoàn đóng tàu quốc doanh chủ chốt, tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu CSIC (China Shipbuilding Industry Corporation) và tập đoàn Quốc doanh Đóng tàu  CSSC (China State Shipbuilding Corporation) cùng hàng trăm nhà máy quốc doanh tại các địa phương, các nhà máy liên doanh với nước ngoài, các nhà máy tư nhân cũng được đầu tư không kém.   Hiện nay, Trung Quốc đã vượt qua cả Hàn Quốc về khối lượng tấn tàu đã hoàn thành. Trong nửa đầu năm nay, theo số liệu của Hiệp hội Đóng tàu Quốc gia Trung Quốc, nước này đã sản xuất 41,1% số tàu trên thế giới trong khi các hợp đồng mà họ nhận được chiếm 46,2% thị trường thế giới, đặc biệt là các con tàu có giá trị thấp. Các xưởng đóng tàu Trung Quốc đã bàn giao được 22,7 triệu tấn trọng tải tàu trong sáu tháng đầu năm nay, trong khi Hàn Quốc chỉ bàn giao được 18,3 triệu tấn, như thông báo của hãng Clarksons, một công ty dịch vụ hàng đầu trong ngành hàng hải.   “Mặc dầu Trung Quốc đã trở thành nhà đóng tàu lớn nhất thế giới, nhưng vẫn chưa thể là một nhà đóng tàu mạnh” Trương Thánh Khôn3 (Zhang Shengkun), Chủ tịch Hiệp hội Đóng tàu Thượng Hải (SSNAME) đã chua chát phát biểu4. Theo Chủ tịch Trương, “copy thiết kế của người khác là việc phải làm trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp  nhưng việc nhái theo không thể kéo dài khi ta muốn cạnh tranh với các quốc gia đóng tàu hùng mạnh”. Việc thiết kế của Trung Quốc chậm sau các đối thủ như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc tới 10 năm, trong khi công nghệ chế tạo và quản lý chậm sau các đối thủ này từ bốn tới bảy năm. Đó là một nhận định của chính người trong cuộc còn người ngoài cuộc, trên tất cả các phương tiện thông tin, các hội nghị không thiếu gì những phê phán về đóng tàu của nước này, chủ yếu tập trung vào các khiếm khuyết mà ta hay gọi chung là yếu tố con người, tức là bao gồm cả giáo dục, văn hóa công nghiệp, sở hữu trí tuệ… Tại một hội thảo đóng tàu tại Singapore mà chính người viết  có dịp tham dự, các công ty tư vấn, cung cấp dịch vụ của nước này-hầu như toàn bộ đều nhảy vào thị trường Trung Quốc, mảnh đất tốt để họ phát huy các lợi thế của mình-đã không thương tiếc vạch ra hàng trăm lỗi của các đối tác của mình khiến cho luôn giao tàu chậm, không nghiêm khắc tuân thủ kỷ luật lao động, văn hóa giao tiếp kém nhất là việc dùng Anh ngữ…! Để vượt qua các chướng ngại này, “thật sự là một thách thức lớn với Trung Quốc”, giáo sư Trương đã đi tới kết luận như vậy!      VI – Bài học từ Bangladesh  Bangladesh, đất nước Hồi Giáo nằm sát phía Đông Ấn Độ, dưới Pakistan, với dân số hơn 160 triệu người, hai phần ba dân số là nông dân5, nguồn thu ngoại tệ chủ yếu là nhờ vào xuất khẩu hàng may mặc và nguồn kiều hối từ những người lao động xuất khẩu sang Trung Đông. Trước đây, Bangladesh nổi tiếng là một trong những trung tâm phá dỡ tàu cũ với hai trung tâm còn lại là Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Các xưởng ven bờ vịnh Bengal, hay nói đúng ra chỉ là các công trường thô sơ với vài cái mỏ cắt, búa đục và những người nông dân mới từ bỏ ruộng đồng, đã đem lại 80% số thép cần thiết cho xây dựng nhà cửa, chế tạo xe cộ… từ các con tàu phá dỡ. Nhưng nay theo anh Hossain, một kỹ sư đóng tàu Bangladesh trẻ tuổi cho biết, Bangladesh đã bắt đầu giành được những hợp đồng đóng mới tàu thay vì chủ yếu phá dỡ tàu cũ như trước đây.  Xưởng đóng tàu Ananda tại Meghnaghat ký được hợp đồng trị giá 180 triệu USD còn xưởng Western Marine tại Chittagong ký được 70 triệu USD,  một con số khá khiêm tốn, nhưng đây là hai xưởng tư nhân tại một quốc gia nghèo và họ tin tưởng rằng nếu cứ cái đà này, tới năm 2015, đóng tàu sẽ là ngành xuất khẩu lấy ngoại tệ lớn thứ hai sau hàng may mặc. Cái dự đoán của họ có cơ sở vì như ta đã biết, thị trường toàn cầu về các loại tàu nhỏ yêu cầu hằng năm khoảng 400 tỉ USD, Bangladesh đặt mục tiêu khiêm tốn là giành được 1% thị phần tức là 1 tỉ USD là đã “tươm” lắm rồi, giám đốc Western Marine tên là Shakhawat ước tính như vậy.          Cảnh phá dỡ tàu trên suốt miền duyên hải  Bangladesh mà mỗi công nhân chỉ mong có 2 USD một ngày.          Mặc dù mới bắt tay vào thị trường đóng mới tàu nhưng Bangladesh có một nguồn nhân lực dồi dào nếu ta biết rằng hiện có 11 nghìn lao động đóng tàu và hàng hải của nước này làm thuê cho một loạt các nước Nam Á từ Singapore qua Ấn Độ kéo tới Dubai và tiếng Anh – quốc tế ngữ của đóng tàu và hàng hải-là ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ! Hossain cũng cho tôi biết thêm cố vấn của hai xưởng đóng tàu tư nhân này cũng là cố vấn cho chương trình đóng tàu của Nhà nước Bangladesh là giáo sư Bari, một kỹ sư có nhiều năm giảng dạy về đóng tàu tại nhiều quốc gia. Ông đã phân tích kỹ lưỡng chương trình đóng tàu của nhiều quốc gia, nhất là Ấn Độ và Indonesia, phân tích thị trường thế giới trước khi khuyến cáo các ông chủ – tất nhiên có cả sự trợ giúp của nhà nước-đổ tiền vào làm các triền, ụ đóng tàu, những công trình thủy cực kỳ tốn kém và thời gian thu hồi vốn kéo dài. “Hiện nay chúng tôi đầu tư khoảng 1,1 tỷ để xây hai ụ khô trong xưởng của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng sang năm khi ụ hoàn thành chúng tôi sẽ bắt được hợp đồng trị giá hơn 500 triệu USD”, giáo sư Bari khẳng định. Còn giám đốc Đăng kiểm Đức GL tại Bangladesh cho rằng, cứ với cái đà phát triển chắc chắn này, chỉ trong một vài năm nữa “Bangladesh có thể đứng đầu bảng những nhà đóng tàu thế giới trong lĩnh vực đóng các loại tàu nhỏ”. Còn giáo sư Bari nhìn vấn đề tổng quát hơn. “Phải mất 25 năm ngành dệt may mới đem về cho Bangladesh được 10 tỷ USD mỗi năm. Các nhà đóng tàu chúng tôi có thể thực hiện mục tiêu đó trong thời gian ngắn hơn 10 năm”.  VII – Thay lời kết luận   Công nghiệp đóng tàu có tính chất sinh tử với mọi quốc gia biển với mục tiêu cung cấp đủ các phương tiện cho nhu cầu bản thân như vận tải, quốc phòng, đánh cá, khai thác dầu khí… và còn để tham gia vào thị trường toàn cầu. Do vậy đối với Việt Nam, phân tích thị trường, lựa chọn thị phần cho mình là một việc cực kỳ quan trọng ngay khi định hướng phát triển công nghiệp đóng tàu cho nước mình.Vì thế lựa chọn mục tiêu là các gam tàu lớn, các tàu dầu khổng lồ VLCC, kho nổi FSO, để có những chương trình Dung Quất và Hải Hà và cải tạo một loạt các xưởng đã có, liệu có phải là một quyết định thông minh hay liều lĩnh, sa vào cái bẫy “say đầu tư” như giáo sư Trương tại Thượng Hải đã cảnh báo.   Chỉ nhìn sơ qua đóng tàu nước ta, cũng đã có nhiều Viện và trường, cũng đã trang bị nhiều phần mềm này nọ, cũng đã và đang xây Bể thử tàu to nhất Đông Nam Á (!) nhưng để cho khách hàng đánh giá: chất lượng tồi, quản lý kém, tàu giao chậm tới một hai năm… Và thế là dù có “hy sinh” chấp nhận giá thấp, có khi vô cùng thấp để cạnh tranh, nhưng khách hàng cũng phát sợ không dám quay lại vì cuối cùng kế hoạch kinh doanh của họ tan vỡ do giao tàu không đúng kế hoạch nên chọn giá thấp lại là một lựa chọn… kém thông minh! Đóng tàu nước ta cần học hỏi nhiều hơn nữa từ bài học của các nước, kể cả Philippines, Bangladesh và học hỏi từ những ưu khuyết điểm thời gian qua mới mong làm trọn trách nhiệm trước yêu cầu phát triển kinh tế và gìn giữ biển cả của dân tộc.   —————  1 http://www.eurofound.europa.eu/eiro/2000/01/feature/ dk0001165f.htm  2 http://en.wikipedia.org/wiki/Shipbuilding  3 Trương Thánh Khôn (Zhang Shengkun) – sinh 02/1942 tại Phượng Hoa Triết Giang Trung Quốc, tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải 07/1964. Hiện nay là Giáo sư hiệu phó Đại học Giao thông Thượng Hải, Thường trực Đảng Ủy trường,  Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Thượng Hải,  Phó chủ tịch ban chấp hành Trung ương liên minh dân chủ Trung Quốc, Bí thư thị ủy Thượng Hải, Phó Chủ tịch hiệp hội đóng tàu Trung Quốc, Giám đốc Viện Cơ khí Trung Quốc… Được phong Nhà giáo ưu tú năm 1995 .Nhiều huy hiệu, khen thưởng về công nghệ.   4 http://mychinaviews.com/2010/09/chinese-shipbuilding-industry-needs-innovation/  5http://en.wikipedia.org/wiki/Bangladesh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp đóng tàu: Vài lời bàn      Để giải quyết rốt ráo những bài toán mà công nghiệp đóng tàu đặt ra không thể trong ngày một ngày hai nhưng ngay từ bây giờ nếu không có cách nhìn toàn diện, mổ xẻ kỹ lưỡng các bài học đã qua và rút ra những bài học mới thì những cố gắng tái cơ cấu hoàn toàn hình thức và càng dấn sâu thêm hệ quả xấu, tăng thêm nợ nần thực tế.    Nhìn lại ngành công nghiệp đóng tàu      Vào đầu những năm 2000, nhà máy đóng tàu nhỏ bé bên bờ sông Cấm thật khó mà có dịp được đón nguyên thủ quốc gia như Thủ tướng tới thăm. Lúc đó, gần như toàn bộ hệ thống chính trị tập trung cho các con tàu lớn cỡ 50 cho tới 100 nghìn tấn đang đóng tại Hạ Long, Nam Triệu, Dung Quất… những con tàu khổng lồ nhằm tạo ra một tổng số tàu đóng ra lớn lao, nhằm đưa nước ta chiếm vị trí thứ tư trong bảng các quốc gia đóng tàu, tức là ta đang hoàn thiện phần lớn chương trình công nghiệp hóa đất nước!      Cái gì đến nó phải đến. Giám đốc Nguyễn Duy Biên đã mất vì bạo bệnh từ vài năm trước nên hôm nay không có hân hạnh để đón các vị khách quý, trong khi đó, ông được coi là một anh cứng đầu trong tập đoàn, một người không chịu “đổi mới”, không dám làm ăn lớn mà chỉ quẩn quanh vài con tàu nhỏ, đúng với thực tế thị trường, với sự hợp tác của Damen Hà Lan nhưng không đúng với ý đồ “làm lớn”. Hiện nay, Sông Cấm trở thành một điểm sáng trong ngành đóng tàu cùng với một loạt các xưởng nhỏ khác đóng những tàu pháo, tàu tuần tiễu, giàn khoan biển…, với trung tâm thiết kế đang được xây dựng  trong khi Vinashin hy vọng khổng lồ nay đã hoàn toàn mất thương hiệu với tổn thất quá lớn cho ngân quỹ quốc gia.     Bàn tới sức mạnh trên biển trong chiến lược biển của nước ta là một chuyện quá lớn, không dám đề cập tới. Nhưng chỉ cần nhìn qua một vài sự kiện cũng cho thấy một bức tranh hàng hải rời rạc như một bó đũa đã bị xẻ chia nhiều mảnh:     Ai cũng biết xưởng 46 Hải quân nhỏ bé nằm ngay trên đường đi vào nhà máy Bạch Đằng, và cả hai đã tồn tại độc lập hàng chục năm nay. Bạch Đằng có máy cắt tôn thì xưởng 46 cũng có các phần mềm thiết kế tàu, trong khi, hợp lý nhất là hai đơn vị nên gắn làm một.     Thực tế cho thấy các nhà máy đóng tàu nhiều nước đều đóng cả tàu dân sự lẫn quân sự. Khi lắp vũ khí, công việc được thực hiện trong phân xưởng riêng còn toàn bộ các công đoạn công nghệ đều như nhau. Nhiều lần tới các nhà máy Hồ Đông, Giang Nam… (Trung Quốc), tại đây tôi thấy họ đóng cả tàu dân dụng lẫn quân sự và trong Công ty đóng tàu quốc gia Trung Quốc (CSSC) có bộ phận chuyên trách tàu quân sự.      Có lẽ vì ảnh hưởng mô hình từ các nước lớn mà chúng ta phân nhánh để quản lý các bộ phận về con người, về công nghiệp biển quá chi tiết, nào hải sản, hàng hải thương mại, hải quân… Thống kê năm 2007 của Đăng kiểm Việt Nam cho biết toàn quốc có tới trên 120 nhà máy đóng tàu, làm sao có thể đầu tư và có đủ nổi thị trường!? Một vị tướng hay đô đốc hải quân chuyển ngành phụ trách công nghiệp đóng tàu hay ngành hàng hải là chuyện bình thường ở nhiều nước, nhưng ở nước ta hình như có phần e dè, không muốn “khiêu khích hiếu chiến” với lân bang hay sao?      Vinashin để lại một món nợ khổng lồ cùng với một cơ sở vật chất và hệ thống quản lý khá xô bồ, lộn xộn. Với số tiền đầu tư to lớn nhưng được tiến hành kiểu chắp vá, có nhiều công nghệ đạt tới những đỉnh rất cao của thế giới chen lẫn những máy móc lạc hậu, có nhà máy thừa thãi khả năng công nghệ, nhà máy thiếu, nên nhìn trên tổng thể, hiệu quả khá thấp. Mặc dù vậy, công nghệ còn có một số bước tiến, trong khi các bộ phận quản lý, kế hoạch, vật tư… rất lạc hậu, mang dáng vóc quản lý những năm 70 của thế kỷ trước. Kết quả là không một con tàu nào giao đúng tiến độ, một số tàu giao chậm tới một hai năm, nhiều khi ách tắc vì một việc rất nhỏ trong cung ứng vật tư, và cách giải quyết là thực hiện công tác “đốc chiến” như những năm chiến tranh! Tập đoàn tổ chức các đoàn xuống các nhà máy, rồi cả Bộ, Chính phủ cũng có mặt chỉ đạo, trong khi nhà máy sử dụng phần mềm Tribon rất đắt tiền giúp ta tổ chức toàn bộ khâu công nghệ -chỉ đạo sản xuất! Việc tái cơ cấu vừa qua hình như vẫn áp dụng phương pháp “đốc chiến”, mới giải quyết trên bề nổi một số vấn đề nợ nần, chưa mổ xẻ sâu vào toàn bộ cơ chế của Vinashin cũng như toàn bộ ngành đóng tàu.      Tái cơ cấu công nghiệp đóng tàu ?     Chờ đợi mãi để được rót vốn đóng tàu, tới khi có tiền, lại có câu hỏi đóng cái gì? Tàu cá bằng gỗ hay tàu bằng thép, và thế là nổi lên một cuộc tranh luận trong ngành thủy sản và đóng tàu nên đóng cái gì, tức là luôn diễn đi diễn lại kịch bản “nước tới chân mới nhảy”. Toàn bộ bức tranh chúng ta cần những loại tàu gì, kích cỡ ra sao cho thủy sản, du lịch, vận tải, nghiên cứu biển, phục vụ quốc phòng…, nên đóng tại nước ngoài hay trong nước… một việc của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thời bao cấp  nay hình như không có một cơ quan nào tổ chức, tổng hợp, nghiên cứu và đề xuất. Trong khi đó, ta có thể kể ra hàng chục Cục, Vụ, Viện, Trường… đều có liên quan và có thể có những nghiên cứu đề xuất về công nghiệp hàng hải. Ví dụ, với đường sông Trung Quốc hằng năm đều có một bảng hệ thống các loại tàu đã dùng có hiệu quả, kế hoạch phát triển các tàu mới cho từng khu vực trên cơ sở đó mới vạch được kế hoạch đóng tàu.     Trong khi đó, hình như chúng ta chỉ chú ý tới những hoạt động bề nổi, những việc gom lại, phân chia tổ chức mà không nhìn thấy đối tượng trung tâm của công tác tái cơ cấu trong công nghiệp đóng tàu là con người, những công nhân giỏi đã tiếp thu công nghệ hiện đại trong thời gian qua, những kỹ sư có trình độ làm được các công việc thay cho chuyên gia nước ngoài, những nhà thiết kế sáng tạo… Sự lộn xộn trong ngành đóng tàu đã làm mất đi nhiều người giỏi, phần lớn chạy sang khu vực đầu tư FDI và công ty tư nhân. Trong khi đó, bộ máy quản lý vẫn tiếp tục phồng lên. Có thể thấy rõ qua một ví dụ, số kỹ sư đủ khả năng lập phương án đóng tàu của tất cả các lực lượng trong nước có lẽ chưa đếm đủ số ngón của một bàn tay thì lại phát sinh thêm tổ chức mới. Ngoài Viện Thiết kế tàu dân sự (tên đầy đủ là Viện KHCN Tàu thủy) và Viện Kỹ thuật Hải quân đã có lịch sử hàng chục năm, lại có thêm một viện mới là Viện Thiết kế tàu quân sự trụ sở tại Hà Nội!      Đứng trước biển, con người hoàn toàn bó tay nếu không có những con tàu, những thiết bị lặn mạnh mẽ và những con người thành thạo sử dụng nó. Dù biết rằng để giải quyết rốt ráo những bài toán mà công nghiệp đóng tàu đặt ra không thể trong ngày một ngày hai nhưng ngay từ bây giờ không có cách nhìn toàn diện, mổ xẻ kỹ lưỡng các bài học đã qua và rút ra những bài học mới thì những cố gắng tái cơ cấu hoàn toàn hình thức và càng dấn sâu thêm hệ quả xấu, tăng thêm nợ nần thực tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp hóa khâu làm mạ với giá thể mạ khay      Việc áp dụng công nghệ giá thể mạ khay sản  xuất từ rơm rạ và đất tại địa phương vì vậy đây có thể coi là một bước  đột phá trong sản xuất mạ khay công nghiệp và mạ trên nền đất cứng phục  vụ cho cấy máy và cấy tay nhằm hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.     Trên thế giới, công nghệ sản xuất mạ khay không mới, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã áp dụng trên diện rộng từ lâu nhưng Việt Nam mới ở quy mô nhỏ và thiếu hiệu quả. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do Việt Nam chưa làm chủ được công nghệ sản xuất mạ khay, đồng thời chưa chủ dộng được nguồn nguyên liệu. Trước thực trạng đó, TS Lê Văn Tri ( Tổng giám đốc Công ty Công nghệ sinh học – phân bón Fitohoocmon – Bifi) đã tìm ra công nghệ sản xuất mạ khay công nghiệp và mạ trên nền đất cứng từ mùn rơm rạ trên cơ sở hai đề tài nghiên cứu trước đó của mình, “Nghiên cứu sản xuất giá thể mạ từ mùn rơm rạ và mạ công nghiệp để cấy tay và cấy máy nhằm phát triển cơ giới hóa nông nghiệp” và “Ứng dụng chế phẩm vi sinh Fito-Biomix RR chế biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ tại đồng ruộng bón cho cây trồng nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững tại tỉnh Hòa Bình”.  Trong công nghệ mới này, nguồn nguyên liệu ngay tại địa phương như các phụ phẩm sau thu hoạch mùa vụ đã được tận dụng. Theo đó, giá thể hữu cơ là rơm rạ được lên men bằng chế phẩm Fito-Biomix RR trong vòng ba đến bốn tháng và trộn với đất màu rồi được đặt lên khay hoặc đất nền cứng. Hạt giống sau khi được xử lý bằng chế phẩm sinh học Lufain – 91 sẽ được gieo trong giá thể. Khi mạ lên đạt yêu cầu kỹ thuật thì mang ra ruộng cấy. Trước khi đưa mạ đi cấy, nhúng qua dung dịch hồ rễ mạ (Azo-lua) nhằm làm tăng mật độ vi sinh vật cố định đạm cho vùng rễ lúa.   Áp dụng công nghệ mới này của TS Lê Văn Tri không chỉ giúp bà con nông dân tận dụng được nguồn phụ phẩm trong sản xuất mà còn góp phần làm cây lúa phát triển ổn định và tăng năng suất khi thu hoạch.   TS Lê Văn Tri cho biết, bước đầu đã triển khai mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp từ mùn rơm rạ tại một số địa phương như: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định… Chỉ cần 0,6-0,8kg thóc giống gieo trên sáu khay mạ kích thước 60x30cm là đủ cung cấp mạ cho một sào ruộng, trong khi gieo sạ thì tốn 1,5 kg thóc giống/sào và chất lượng phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Tuy nhiên, theo TS Tri, nếu không nghĩ ra được công nghệ rau mầm thì công nghệ mạ khay của ông cũng không thể phát triển được vì các cơ sở sản xuất mạ có nguy cơ rỗi việc tám tháng mỗi năm. “Vấn đề đặt ra ở đây là, một cơ sở sản xuất mạ khay chỉ cần hoạt động bốn tháng theo mùa vụ, vậy tám tháng còn lại chẳng lẽ đóng cửa và cho công nhân nghỉ việc? Câu hỏi này đã dẫn tôi tới lời giải: trong thời gian không sản xuất mạ, cơ sở đó hoàn toàn có thể tận dụng khay để sản xuất rau mầm, một loại rau sạch và dinh dưỡng cao. Chúng tôi đã sẵn sàng cung cấp công nghệ cho người nông dân và thậm chí dám nhận luôn trách nhiệm về đầu ra. Tôi đã nghĩ đến cả khả năng tán rau mầm thành bột để làm thành viên nang trong trường hợp rau tươi không kịp tiêu thụ,” TS Tri trả lời trong một cuộc phỏng vấn với Tia Sáng.  Việc sản xuất rau mầm từ mùn rơm rạ tại công ty của TS Tri đến nay đã cho kết quả tốt. Áp dụng công nghệ này sẽ giải quyết được vấn đề khó khăn về nguồn cung cấp giá thể. Người dân ai cũng có thể tự sản xuất trồng rau mầm tại nhà với quy trình đơn giản, dễ làm và giá thành hạ (2.000đ/kg, thấp hơn năm lần so với mua giá thể trên thị trường).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp hóa trong bối cảnh Toàn cầu hóa?      Toàn cầu hóa đem lại những phương thức phát triển mới nhưng cũng tác động đến các chương trình kinh tế truyền thống, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Điều này đòi hỏi phải xem xét lại các điều kiện, giả thuyết “ngoại biên” (nhiều khi được coi như nghiễm nhiên) của các lý thuyết, chương trình công nghiệp hóa xem nó bị ảnh hưởng thế nào bởi Toàn Cầu hóa.    CÔNG NGHIỆP HÓA KIỂU KINH ĐIỂN  Sau chiến tranh thế giới lần thứ II cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20, Công Nghiệp Hóa (CNH), đặc biệt ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế tập trung, có những đặc trưng như: sử dụng vốn lớn; chú trọng phát triển công nghiệp nặng; chủ yếu do Nhà nước tiến hành thông qua các chính sách công nghiệp; Nhà nước nắm toàn bộ quyền lực trong phát triển kinh tế; chú trọng tới tính cân đối và độc lập của nền kinh tế.  Trong bối cảnh lúc đó, Nhà nước có thể CNH được vì dựa trên nền kinh tế tập trung, theo mệnh lệnh và có các điều kiện: sở hữu các công ty Nhà nước; đề ra các chính sách đối với các ngành và địa phương; điều tiết thị trường, sở hữu, dòng vốn và ra quyết định đầu tư; chưa có các định chế, cơ chế cho kinh doanh toàn cầu.  Chương trình CNH ở các nước này chủ yếu là xây dựng, phát triển những chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng (với đầy đủ các công đoạn) cho các sản phẩm để cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nói cách khác, trong CNH theo kiểu kinh điển là xây dựng, phát triển các ngành kinh tế theo chiều dọc (vertical development), tức là: đi từ thiết kế, khai thác, sơ chế, sản xuất, bán hàng trong nước hay xuất khẩu. Với nền kinh tế theo định hướng quốc gia và cơ chế tập quyền cao độ, Nhà nước có thể duy trì, cân đối được một nền kinh tế dựa trên những chuỗi giá trị thuần túy từ các yếu tố nội địa (ngoài ra, người tiêu dùng nội địa cũng không còn sự lựa chọn nào khác ngoài các sản phẩm này).  CÔNG NGHIỆP HÓA TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA  Từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20, đặc biệt khi chấm dứt chiến tranh lạnh, một quá trình toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng diễn ra trên thế giới và kéo hầu hết các nước vào vòng xoáy của nó. Vì các tối ưu lấy từ phạm vi quốc gia không thể bằng các tối ưu trên quy mô thế giới, một quá trình “tái cấu trúc” toàn bộ các quá trình sản xuất-kinh doanh của toàn bộ các sản phẩm trên thế giới tất yếu sẽ xảy ra, trước hết bởi các công ty đa quốc gia (multi-national companies-MNC). Các chuỗi giá trị (CGT), chuỗi cung ứng (CCƯ) của tất cả sản phẩm trên thế giới được thiết kế lại với sự mở cửa của các đường biên giới quốc gia (về địa lý và kinh tế), với công nghệ (chủ yếu là CNTT) và với những cơ chế, định chế mới cho kinh doanh toàn cầu. Các CCƯ trải rộng trên thế giới, không phân biệt quốc gia, châu lục, như những lát cắt xẻ dọc các đường biên giới… Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các nước dần được thay thế bằng sự cạnh tranh giữa các chuỗi. Nhiều CCƯ có tầm ảnh hưởng lớn hơn một số quốc gia phát triển.                       Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nhà nước không còn nắm giữ nhiều công ty như trước. Nhà nước cũng không còn nắm toàn bộ quyền lực trong phát triển kinh tế như: đề ra các chính sách đối với các ngành và địa phương, điều tiết thị trường, sở hữu, dòng vốn và ra quyết định đầu tư. Vì lý do kinh tế, sớm hay muộn Nhà nước cũng phải mở cửa về kinh tế. Họ phải tham gia vào các khối liên minh, định chế kinh tế thế giới. Khi mở của nền kinh tế, không những ta có thể “đi ra” thế giới mà thế giới cũng (rất sớm) đến với chúng ta. Các ông chủ của các CGT, CCƯ (hoặc các chủ doanh nghiệp nội địa) sẽ nhanh chóng tìm ra các công đoạn mà ta có thể làm tốt hơn, rẻ hơn họ (vì năng lực, kỹ năng, vị trí địa lý…) để thay thế vào các chuỗi của họ. Họ sẽ thuê khoán các doanh nghiệp của ta làm các công đoạn này thông qua các hình thức của đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, các CGT, CCƯ sẽ ‘tìm đến” ta hoặc ta “hòa” vào các CGT, CCƯ của khu vực, thế giới. Giữa dự án cho CNH và FDI, doanh nghiệp (tư nhân hay Nhà nước) sẽ chọn phương án có lợi nhất cho họ. Các chính sách ưu đãi của Nhà nước cũng không cạnh tranh lại được với lợi nhuận của dự án FDI mang lại. Về pháp lý, doanh nghiệp lúc đó có quyền lựa chọn giữa Luật Doanh Nghiệp (mang nhiều tính thị trường) và nghĩa vụ với Nhà nước. Khi đó, các ưu tiên về đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, công nghệ, đào tạo …cho những dự án CNH sẽ trở nên lãng phí và doanh nghiệp sẽ dùng cho các dự án khác của chính họ. Ngay cả khi Nhà nước đầu tư xây dựng nhà máy theo chương trình CNH thì doanh nghiệp vẫn dùng nhà máy vào mục đích khác cho riêng họ. Chương trình CNH sẽ trở nên “lỗ chỗ”, ngành thực hiện được, ngành không và không hoàn chỉnh, đồng bộ theo như thiết kế từ trước. Tính cân đối, sự bổ sung của các ngành công nhiệp – yêu cầu quan trọng trong CNH – sẽ khó lòng đạt được. Các dự án FDI theo kiểu này là điển hình của phát triển theo chiều ngang (horizontal development), tức là: không thêm các công đoạn vào chuỗi giá trị mà chỉ thay thế, mở rộng thêm công đoạn sẵn có hoặc mở thêm cơ sở sản xuất để tăng lợi nhuận. Phát triển ngang thay vì phát triển dọc (để có một số ngành công nghiệp, một số CCƯ, CGT nhất định cho nền kinh tế quốc dân như CNH theo đúng nghĩa kinh điển của nó) là sự bất cập lớn nhất của CNH trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này làm trở ngại và đánh dấu hỏi về tính khả thi của chương trình CNH theo kiểu truyền thống. Công nghiệp ôtô, ngành thép, ngành cơ khí chế tạo, dệt may và đặc biệt là sự đầu tư của các tổng công ty vào ngân hàng, chứng khoán… gần đây là những ví dụ điển hình.  Thực ra, đó vẫn là CNH, nhưng là CNH ở phạm vi khu vực hay toàn cầu, chứ không phải phạm vi quốc gia. Khi đó, tính cân đối sẽ được thể hiện trong quy mô khu vực hay toàn cầu. Nhận thức được vấn đề này, nhiều nước đã chuyển từ CNH sang Dịch Vụ Hóa (phát triển các ngành dịch vụ).  Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém nội tại      Phát biểu tại Hội thảo “Định hướng chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2035”, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng, trong những năm qua, dù tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp VN đã đạt hai con số, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp có sự thay đổi tích cực nhưng nội tại ngành vẫn còn những hạn chế như giá trị tăng&#160; thấp; các ngành công nghiệp phụ trợ yếu; tốc độ đổi mới công nghệ thấp; sự phân bố giữa các vùng còn thiếu gắn kết; chính sách nhiều nhưng không hiệu quả.       Hội thảo “Định hướng chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2035” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Bộ Công Thương và Ngân hàng Thế giới tổ chức vào ngày 20/6 nhằm: hệ thống hóa lý luận về chính sách công nghiệp, chính sách phát triển công nghiệp, kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Hàn Quốc…), rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đánh giá chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH- HĐH); giải pháp đối với chính sách phát triển công nghiệp khi hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015 và gắn với các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết; đề xuất chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam từ nay đến 2025, tầm nhìn 2035 với mục tiêu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.  Tham dự hội thảo, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh đến những thành tựu đã đạt được của nền công nghiệp Việt Nam sau 30 năm đổi mới. Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp nhiều năm đạt hai con số, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp có sự thay đổi tích cực, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trong tổng giá trị của ngành công nghiệp. Sản phẩm của ngành công nghiệp đã đảm bảo nhu cầu cho sản xuất của nhiều ngành kinh tế khác và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Các ngành công nghiệp phát triển tương đối đồng đều, nâng khả năng tự chủ, tự trang bị cho nền kinh tế như năng lượng, luyện kim, hóa chất-phân bón, cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin…  Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ ra những hạn chế nội tại của ngành công nghiệp Việt Nam: giá trị tăng thêm của ngành vẫn tăng trưởng ở mức thấp, ước đạt bình quân 36% so với 60-70% của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; các ngành công nghiệp phụ trợ yếu, một số lĩnh vực của ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp còn thiếu đồng bộ và kém phát triển dẫn đến những tồn tại nhất định cho phát triển nông nghiệp; tốc độ đổi mới sáng tạo, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân còn thấp ngay cả với các nước trong khu vực; sự phân bố không gian phát triển công nghiệp giữa các vùng còn thiếu gắn kết; trình độ lao động công nghiệp vẫn ở mức thấp và tỷ lệ phân bố trình độ đào tạo mất cân đối; các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp có nhiều nhưng không hiệu quả.  Vì vậy theo Phó thủ tướng, để thực hiện thành công Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Việt Nam có được những chính sách đúng, cần nhận dạng đúng những cơ hội và thách thức để có các quyết sách phù hợp và khôn ngoan. Đây là những yếu tố hết sức quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh, Việt Nam đã ký 10 Hiệp định Thương mại tự do và trong năm 2015 có thêm tám Hiệp định Thương mại tự do nữa được ký kết, trong đó có thể có cả Hiệp định TPP. Từ nay đến năm 2020 sẽ có trên 20 Hiệp định Thương mại tự do được ký. Đến năm 2024, hầu hết các dòng thuế của Việt Nam sẽ về 0%.   Để tận dụng những cơ hội này, Phó thủ tướng cho rằng, chính sách công nghiệp VN cần phải bao gồm chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo đội ngũ cán bộ và người lao động ngành công nghiệp, nâng cao năng lực sáng tạo, năng lực R&D… bên cạnh các chính sách phát triển hạ tầng công nghiệp,  chuyển dịch thu hút đầu nước ngoài trong công nghiệp từ lượng sang chất, khuyến khích đổi mới sáng tạo bằng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhấn mạnh đến khả năng đổi mới sáng tạo, Phó Thủ tướng khẳng định, việc Việt Nam ra khỏi bẫy thu nhập phụ thuộc vào năng lực đổi mới sáng tạo và nâng cao trình độ KHCN của ngành công nghiệp.   Đồng tình với nhận định của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, đề xuất,  Việt Nam cần có cách tiếp cận mới với việc can thiệp gián tiếp theo chiều ngang và trọng tâm là đổi mới sáng tạo… để phát triển công nghiệp.  Theo ông Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, các ý kiến, đề xuất của đại biểu sẽ được Ban Kinh tế Trung ương chắt lọc để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhằm hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công trình nghiên cứu đầu tiên về vắc xin ho gà trên phụ nữ mang thai ở Việt Nam      “Vắc xin ho gà trên phụ nữ có thai tại Việt Nam: kết quả của một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên” (Pertussis vaccination during pregnancy in Vietnam: results of a randomized controlled trial) là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam áp dụng việc tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà – bạch hầu – uốn ván cho phụ nữ có thai tại thời điểm 18 – 36 tuần tuổi thai nhằm tăng cường miễn dịch, chủ động phòng bệnh ho gà từ mẹ truyền cho con *.      Các mẫu máu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Vi khuẩn, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Nguồn: TTXVN  Dù vắc xin bạch hầu – ho gà – uốn ván đã được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) hơn 30 năm nay và số trường hợp mắc ho gà trên 100.000 dân giảm từ 90 (năm 1981) xuống 0,06 (năm 2013) nhưng trong thời gian gần đây, ho gà vẫn là mối quan tâm của Việt Nam vì tỷ lệ mắc bệnh ho gà tiếp tục tăng ở những trẻ chưa đủ tuổi tiêm chủng. Đáng lo ngại là đa số các trường hợp mắc ho gà nặng và tử vong xảy ra ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ – đối tượng chưa được tiêm phòng.  Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, hàng năm ước tính có khoảng 50 triệu ca mắc ho gà, trong đó 95% ở các nước đang phát triển và xấp xỉ 300.000 ca tử vongở những trẻ không được tiêm phòng đầy đủ, dưới 6 tháng tuổi. Nhiều chiến lược sớm bảo vệ trẻ phòng bệnh ho gà đã tập trung vào xem xét việc giảm đi (hoặc không còn kháng thể do mẹ truyền và việc trẻ được tiêm vắc xin khi mới sinh. Trên thực tế, việc tiêm phòng trẻ sơ sinh đã có thành công đáng kể nhưng khả năng bảo vệ trẻ khỏi bệnh ho gà chỉ bắt đầu sau vài tuần, trái với khả năng miễn dịch chủ động từ kháng thể do mẹ truyền, có tác dụng bảo vệ từ những giờ đầu tiên sau sinh.  Vì vậy, khi bắt tay vào thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, cần phân tích lại yếu tố dịch tễ và các chiến lược tiêm chủng, bao gồm cả việc mở rộng đối tượng tiêm vắc xin ho gà vô bào cho phụ nữ mang thai, qua đó đề xuất phương án tiêm phòng vắc xin cho phụ nữ trước khi mang thai nhằm bảo vệ tối ưuhọ và thai nhi trước các bệnh truyền nhiễm.  Nằm trong khuôn khổ hợp tác song phương Việt – Bỉ (FWO-NAFOSTED), đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2016 và tiến hành tại ba xã Bắc Lý, Đức Lý và Nhân Chính (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) với hai nhóm đối tượng: Nhóm 1 gồm phụ nữ có thai (18-36 tuần), tuổi từ 18 – 40 tuổi khoẻ mạnh; Nhóm 2 gồm trẻ sơ sinh (được được sinh bởi những bà mẹ tham gia vào nghiên cứu) khoẻ mạnh. Thời gian thực hiện tiêm phòng vắc xin, lấy máu, theo dõi cho đến khi trẻ tròn 2 tuổi là từ cuối năm 2012 đến đầu năm 2015.  Một trong những nét đặc biệt của công trình này là đảm bảo nội dung y đức theo quy định của ngành y tế Việt Nam và Bỉ. Vì vậy, việc tiêm phòng cho đối tượng nghiên cứu tuyệt đối tuân thủ qui trình chuẩn của Hội đồng Y đức Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Bộ Y tế Việt Nam và Hội đồng Y đức trường ĐH Anwerpt. Sau giai đoạn nghiên cứu, trẻ còn được theo dõi một thời gian và được tiêm bổ sung một liều vắc xin hexavalent tại thời điểm tháng 18-24 (trước tiêm phòng) và tháng thứ 19 -25 (sau khi tiêm phòng). Các mẫu máu được phân tích tại phòng thí nghiệm khoa Vi khuẩn, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và ĐH Antwerp, Bỉ.  Công bố trên tạp chí Vaccine của nhà xuất bản Elsevier, công trình “Vắc xin ho gà trên phụ nữ có thai tại Việt Nam: kết quả của một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên” có ý nghĩa khoa học:   – Đánh giá được tính an toàn của vắc xin phòng ho gà – bạch hầu – uốn ván (là loại vắc xin hấp phụ, giải độc tố uốn ván, giải độc tố bạch hầu giảm liều và ho gà vô bào) trên phụ nữ có thai tại Việt Nam. Đây là bằng chứng góp phần khuyến cáo sử dụng vắc xin này cho phụ nữ có thai nhằm phòng bệnh ho gà – bạch hầu – uốn ván, với một liều duy nhất.  – Đánh giá đáp ứng kháng thể ho gà ở máu bà mẹ và cuống rốn sau khi tiêm phòng vắc xin ở thời kỳ mang thai. Sau khi tiêm vắc xin đáp ứng miễn dịch tốt, nồng độ kháng thể kháng ho gà, bạch hầu, uốn ván ở các bà mẹ đều tăng cao so với trước khi tiêm. Đồng thời, nồng độ kháng thể ở máu cuống rốn cao hơn rõ rệt ở nhóm trẻ là con của những phụ nữ được tiêm vắc xin phòng bệnh khi mang thai và chứng minh khả năng bảo vệ trẻ ở giai đoạn khi mới sinh và trước khi tiêm mũi vắc xin phòng bệnh ho gà đầu tiên theo lịch của chương trình Tiêm chủng quốc gia.  – Đánh giá việc tiêm phòng đủ 3 mũi theo lịch của chương trình TCMR đã đảm bảo hiệu quả phòng bệnh ho gà ở trẻ sau tiêm.  – Đánh giá sự tương tác khi tiêm nhiều kháng nguyên và ảnh hưởng của kháng thể do mẹ truyền đối với đáp ứng vắc xin bạch hầu và uốn ván.  Chúng tôi đã đưa ra được các bằng chứng khoa học chứng minh tiêm phòng ho gà (vắc xin ho gà vô bào) cho phụ nữ có thai là an toàn và có thể sử dụng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh ho gà ở trẻ nhỏ, qua đó bước đầu đánh giá được tính sinh miễn dịch, các phản ứng phụ sau tiêm chủng, từ đó có cơ sở khuyến cáo sử dụng vắc xin ho gà cho phụ nữ có thai nhằm bảo vệ tốt nhất cho trẻ trong những tháng đầu đời khi chưa được tiêm vắc xin phòng ho gà theo chương trình TCMR.  Bên cạnh đó, chúng tôi cũng góp phần cung cấp các bằng chứng khoa học cụ thể cho Bộ Y tế, chương trình TCMR để xây dựng, bổ sung các chiến lược phù hợp cho việc tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà với mục đích phòng bệnh và tăng cường sức khoẻ trẻ em tại Việt Nam.  Kết quả nghiên cứu của đề tài còn gợi mở các hướng nghiên cứu khác, không chỉ tập trung ở bệnh ho gà mà còn cung cấp các thông tin về mức tồn lưu kháng thể kháng bạch hầu ở các phụ nữ Việt Nam là thấp không đủ khả năng phòng bệnh. Từ khía cạnh chẩn đoán huyết thanh học và dịch tễ học, đề tài còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chẩn đoán, giám sát dịch bệnh trong quá trình nghiên cứu bệnh lâu dài, đồng thời nâng cao chất lượng phòng và ngăn ngừa bệnh lây lan trong cộng đồng – một trong những mục tiêu then chốt của ngành Y tế. Ngoài ra, việc nâng cao năng lực chuyên môn, hợp tác nghiên cứu khoa học của cán bộ nghiên cứu ở Việt Nam cũng là một trong những thành quả đáng ghi nhận mà đề tài đã thu được.  ———-  *  Công trình được đề cử giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2017, có thể tham khảo trên https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26529073    Author                Hoàng Thị Thu Hà        
__label__tiasang Công trình xử lý rác thải theo công nghệ Nhật      Xu hướng xử lý rác thải sinh hoạt thân thiện với môi trường theo công nghệ Nhật Bản đã được thành phố Hà Nội áp dụng tại Khu xử lý chất thải Xuân Sơn, thị xã Sơn Tây từ ngày 8/6 vừa qua.      Với tổng dự toán công trình gần 47 tỷ đồng, dự án xử lý rác thải sinh hoạt có công suất đạt 100 tấn/ngày và quy mô ô chôn lấp khoảng ba ha.  Công trình sử dụng công nghệ chôn lấp bán hiếu khí  Fukuoka được đánh giá là thân thiện với môi trường và đạt những  tiêu chuẩn khắt khe của Nhật Bản về công tác xử lý rác thải sinh hoạt.  Để tiếp nhận công nghệ này theo đúng yêu cầu của đối tác Nhật Bản, thành phố Hà Nội đã xây dựng các  hạng mục tại Khu xử lý chất thải Xuân Sơn như đào đất ô chôn lấp;  lắp đặt rãnh thoát nước bê tông  xung quanh ô chôn lấp; xây phần kết cấu đường giao thông quanh ô  chôn lấp; lắp đặt trải vải địa kỹ thuật, tấm màng HDPE chống thấm có độ bền cao ở đáy và thành ô chôn  lấp; lắp đặt hệ thống ống thu gom nước rỉ từ rác, ống thu và thoát khí; hồ  chứa nước rỉ rác; hạng mục cây xanh, điện chiếu sáng… Được khởi công từ năm 2013, đến nay công trình đã hoàn thành, sẵn sàng cho việc xử lý rác thải với công suất 100 tấn/ngày.   Khi đi vào hoạt động, Khu xử lý chất thải Xuân Sơn sẽ tiếp nhận và xử lý rác thải của khu vực phía tây thành phố Hà Nội, bao gồm các huyện, thị xã, các đô thị dọc trục đại lộ Thăng Long là thị xã Sơn Tây, các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai.     Thành công của dự án này hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội chuyển giao công nghệ giữa Hà Nội và  Fukuoka trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty Bùi Văn Ngọ và hành trình đổi mới công nghệ      Sau gần sáu mươi năm hoạt động, từ một xưởng cơ  khí nhỏ, sản xuất máy chế biến nông sản và thiết bị công nghiệp nhẹ, đến nay Bùi văn Ngọ đã trở thành một công ty mà ít có nông dân nào làm ăn lớn ở đồng bằng sông Cửu Long lại không biết đến.    Nhân kỷ niệm 20 năm thành lập Hội doanh nhân trẻ Việt Nam, Hội doanh nhân trẻ TPHCM đã tổ chức một cuộc tọa đàm chủ đề: “Indonesia-thị trường tiềm ẩn”, với diễn giả là Tổng lãnh sự Indonesia tại TPHCM, lãnh đạo Công ty Bùi văn Ngọ và đại diện Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao.  Ông Tổng lãnh Sự Dalton Sembiri đã ca ngợi Công ty Bùi Văn Ngọ đã có nhiều thiết bị rất đắc dụng giúp nông dân Indonesia. Ít người biết Công ty Bùi văn Ngọ đã có văn phòng đại diện ở Jakarta và làm ăn khá tốt ở đất nước vạn đảo này. Cũng ít người biết công ty đã đồng hành cùng chương trình “hỗ trợ nông gia” do báo Sài gòn Tiếp Thị và Hội doanh nghiệp HVNCLC tiến hành ở ĐBSCL  từ 2007 đến giờ. Nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long thì lại ít có nông dân nào làm ăn lớn mà không biết đến máy móc của Bùi văn Ngọ. Mới đây, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã đến thăm công ty. Giám đốc công ty Bùi Phong Lưu đã kể với chúng tôi về phát biểu của ông nhân chuyến thăm làm việc này.     Công ty Bùi văn Ngọ (BVN) thành lập đã 58 năm, lúc đầu là một xưởng cơ khí nhỏ, sản xuất máy chế biến nông sản và thiết bị công nghiệp nhẹ.     Năm 1988, với chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng, BVN tập trung sản xuất thiết bị xay xát lúa gạo. Đến nay, có thể nói đã trải qua ba thế hệ về công nghệ. Mới đầu, tiếp nhận các máy công cụ của Liên Xô từ các nhà máy cơ khí phía Bắc chuyển vào, BVN đã đổi mới các thiết bị cắt gọt kim loại và với các thiết bị tự chế tạo, đã tăng năng lực sản xuất cho các thiết bị xay xát phục vụ  nhu cầu chế biến lúa gạo trong nước, thay thế dần thiết bị cũ như Yanmar,Satake, Shuller …Từ 1996, BVN bắt đầu xuất khẩu thiết bị sang Thái Lan, Indonesia,  Philippines, Brazil, Argentina. Từ 1998, những nghiên cứu về cải tiến công nghệ của BVN đã được Cục Sở hữu công nghiệp cấp bằng độc quyền sáng chế,bằng các giải pháp hữu ích và bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp được ứng dụng.     Từ năm 2004, chuyển nhà xưởng cơ khí mới về Long An, BVN lại đầu tư các thiết bị CNC thế hệ mới . Quá trình phát triển của Công ty Bùi Văn Ngọ là quá trình liên tục đổi mới công nghệ. Năm 2006, máy Đột Lỗ CNC thế hệ cũ được đầu tư. Năm 2007, máy Cắt Kim Loại Dùng Tia Plasma được đầu tư. Năm 2009, máy Cắt Kim Loại Dùng Tia Laser được đầu tư. Các dòng máy CNC đa dụng và thế hệ mới được đầu tư thay thế các máy CNC cũ. Tỷ lệ sử dụng nguyên liệu sắt thép tăng từ 80% lên 95 – 97%. Tỷ lệ các chi tiết máy không đạt chuẩn từ 5% xuống còn 1‰ (năm phần trăm giảm xuống còn một phần ngàn). Năng suất lao động tăng nhanh, chất lượng chi tiết máy và thiết bị đạt chuẩn quốc tế.     Có thể nói, đồng bằng sông Cửu Long xuất khẩu trên 7 triệu tấn gạo/năm thì thiết bị BVN đóng góp việc chế biến trên 70%  và hiện cũng xuất khẩu tốt qua thị trường Đông Nam Á, châu Phi và Mỹ La Tinh.     Khó khăn của BVN cũng là khó khăn của ngành cơ khí nông nghiệp Việt Nam: thiếu công nghiệp hỗ trợ, thiếu nhân lực và thiếu vốn . Sắp tới chúng tôi sẽ đầu tư cho các khâu đúc, nhiệt luyện, động cơ nổ, máy thủy lực, vật liệu mới; đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về khoa học & công nghệ, nhất là lĩnh vực cơ khí & kỹ thuật, tự động hóa, chế tạo máy Từ nay đến năm 2020, công ty Bùi Văn Ngọ tập trung nguồn lực cho dự án tại xã Hướng Thọ Phú, Thành Phố Tân An, Long An có quy mô 33ha với mức vốn đầu tư 300 tỷ đồng trong giai đoạn 1. Các mục tiêu được thực hiện sẽ là:(1) chế tạo thiết bị sấy, tồn trữ và xay xát theo công nghệ tiên tiến;(2) sản xuất các chi tiết máy nông nghiệp theo chuẩn quốc tế để phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp;  (3) sản xuất thiết bị chế biến nông sản chất lượng cao; (4) đào tạo nghề cho lao động nông thôn và (5) xây dựng mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ cao phục vụ phát triển nông nghiệp.      Cùng với những nỗ lực không mệt mỏi của công ty (thế hệ quản trị đã là thế hệ thứ hai) chúng tôi mong nhà nước tập trung hơn lực lượng khoa học công nghệ cho hai lãnh vực cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông sản. Con đường hiện đại hóa VN chính là hiện đại hóa nông nghiệp, tăng hàm lượng khoa học toàn bộ khâu sản xuất , đó cũng là xây dựng thắng lợi nông thôn mới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty châu Âu: Rót nhiều tiền hơn vào R&D ở Trung Quốc      Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, các công ty châu Âu đang tiếp tục rót ngày một nhiều hơn các khoản đầu tư cho R&D ở Trung Quốc, bất chấp chính sách cô lập vì đại dịch và căng thẳng địa chính trị giữa Trung Quốc với châu Âu và Mỹ.       Đó là kết quả rút ra từ báo cáo của Phòng Thương mại châu Âu ở Trung Quốc công bố vào đầu tháng 6/2022, “China’s Innovation Ecosystem: Right For Many, But Not For All” (Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo Trung Quốc: Đúng cho nhiều bên nhưng không phải cho tất cả). “Gần như tất cả các phản hồi đều chỉ dấu là họ gia tăng đầu tư vào cơ sở R&D của họ đặt tại Trung Quốc từ năm 2020 đến năm 2021, và sẽ gia tăng hơn trong năm tới”.  Báo cáo này được thực hiện trên cơ sở khảo sát 32 người tham gia và phỏng vấn 11 công ty, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực hóa chất, tự động hóa, chế tạo thiết bị trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 2/2022 trước khi diễn ra đợt bùng phát COVID mới nhất và sự đóng cửa một số trung tâm kinh tế chính ở Trung Quốc. Với một Trung Quốc chiếm 20% tổng đầu tư vào R&D của toàn cầu và một nước Mỹ đang tung ra những chính sách để các công ty Mĩ rút khỏi thị trường Trung Quốc, những người thực hiện báo cáo đặt câu hỏi là liệu có cơ hội nào dành cho các công ty EU ở Trung Quốc không? “Đây là một câu chuyện hết sức thu hút trên tuyến đầu của thương mại toàn cầu”, Mikko Huotari, một trong số các tác giả trả lời DW. “Chúng ta cần cân nhắc vấn đề rủi ro và lợi ích”.  Tận dụng hệ sinh thái đa dạng và hiệu quả của Trung Quốc  Từ lâu, Trung Quốc ôm ấp tham vọng lớn là trở thành một siêu cường công nghệ, do đó họ muốn hướng tới đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học và đạt được những đột phá trong công nghệ lõi. Điều này ảnh hưởng đến chính sách đầu tư cho R&D của họ. Ở tầm quốc gia, Trung Quốc đã đầu tư khoảng 2,79 nghìn tỉ nhân dân tệ (tương đương 418 tỉ UD) vào R&D trong năm 2021, tương đương 2,44% GDP, gần với mức 2,47% GDP của các quốc gia thuộc khối OECD ở thời điểm trước COVID. Mặc dù kinh phí đầu tư cho R&D của các công ty EU suy giảm ở châu Âu kể từ khi bắt đầu đại dịch, nhưng sự gia tăng ngân sách của Trung Quốc cũng góp phần thúc đẩy nhiều công ty EU tăng thêm kinh phí dành cho R&D tại quốc gia này: năm 2020, các công ty EU tăng 18.1% kinh phí R&D cho cơ sở ở Trung Quốc trong khi cắt giảm 2,2% cơ sở chính ở châu Âu.  Ngoài ra, để khuyến khích các công ty đầu tư cho R&D, Trung Quốc áp dụng chính sách giảm thuế doanh nghiệp từ 25% xuống 15% đối với những công ty chứng minh được sản phẩm của mình có liên quan đến công nghệ mới và công nghệ cao.  Hầu hết các công ty EU tham gia khảo sát và phỏng vấn đều ghi nhận Trung Quốc có một hệ sinh thái đa dạng và hiệu quả, vì vậy có nhiều lợi điểm so với nhiều quốc gia trên thế giới. Điểm nổi bật của nó là có rất nhiều công ty khởi nghiệp đang phát triển lớn mạnh và một đội ngũ các nhà nghiên cứu nhiều sáng tạo. Các công ty EU đều nhận thấy có sự liên hệ rõ ràng giữa các hoạt động đổi mới sáng tạo ở Trung Quốc với những gì đang thực hiện trên thị trường quốc tế. Về bản chất, các hoạt động R&D ở Trung Quốc đều nhằm vào gia tăng năng lực đổi mới sáng tạo ở địa phương để có thể nâng cấp được chất lượng sản phẩm hiện có cũng như tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới bên cạnh những mô hình kinh doanh và cải thiện cách vận hành hiệu quả.  Vì vậy việc lập các trung tâm R&D ở Trung Quốc, đặc biệt là các thành phố lớn, giúp các công ty EU tận dụng được lực lượng tài năng hùng hậu, tích hợp hoạt động của mình với các chiến lược công nghệ mới của Trung Quốc và có tiềm năng kết hợp sự xuất sắc ở phần cứng của châu Âu với chuyên gia phần mềm của Trung Quốc.  Mặt khác, các nguồn lực thị trường đã định hướng các công ty lớn của EU đặt các trung tâm R&D vào những thành phố lớn để tận dụng môi trường kinh doanh mở, ví dụ như Thâm Quyến, Thượng Hải, cũng như thêm gần gũi với khách hàng tiềm năng. Nếu phần lớn các công ty lớn của EU thì có sự độc lập nhất định với các chính sách khuyến khích của chính quyền nhưng các công ty vừa và nhỏ thì lưu ý là điều này lại có nhiều ảnh hưởng đến quyết định của họ về đầu tư cho R&D, thậm chí họ cũng nhận được nhiều ưu đãi, lợi thế hơn khi tận dụng được môi trường ở các đặc khu kinh tế.  Vẫn có rất nhiều điểm chung lợi ích trong việc đầu tư vào R&D ở Trung Quốc của các công ty châu Âu và nếu loại bỏ sự đầu tư khỏi nơi này có thể dẫn đến bất lợi, theo chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Trung Quốc Joerg Wuttke. “Với các công ty EU, định hướng đổi mới sáng tạo và phát triển sản phẩm mới là việc tạo ra sự khác biệt và có ý nghĩa. Nếu trên thực tế tự rút khỏi thị trường Trung Quốc, anh có thể tự loại chính mình khỏi quá trình phát triển sản phẩm, gia tốc và hiệu quả ở đây”, ông trả lời phỏng vấn của Minh báo.  “Hơn nữa, các công ty EU thực sự thấy Trung Quốc nỗ lực giữ được khả năng cạnh tranh với những sản phẩm như vậy. Vì vậy theo một nghĩa nào đó thì Trung Quốc và EU là những người anh em, có cùng số phận. Chúng tôi cần Trung Quốc và Trung Quốc cần chúng tôi. Trên thực tế, việc công ty EU rút lui khỏi Trung Quốc không chỉ khiến Trung Quốc tụt hậu về đổi mới sáng tạo mà còn ảnh hưởng đến chính năng lực của các công ty EU”.  Các công ty EU được khảo sát ngày càng có xu hướng “Trung Quốc hóa” chuỗi giá trị của mình cũng như năng lực đổi mới sáng tạo của mình. Phần lớn số công ty EU đều cho rằng quyết định đầu tư vào R&D ở Trung Quốc của mình không chỉ phụ thuộc vào định hướng riêng của công ty mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích và áp lực của chính phủ. Vì vậy các công ty EU cần phải hiểu bối cảnh để tối đa hóa giá trị của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Trung Quốc.  Hai chiến lược đầu tư vào R&D ở Trung Quốc  Các vị khách trải nghiệm một hệ giám sát trên cơ sở tín hiệu sóng não tại Triển lãm quốc tế làn thứ 4 ở Thượng Hải, Trung Quốc vào tháng 11/2021. Nguồn: Xinhua  Các công ty EU có xu hướng chấp thuận hai chiến lược để sẵn sàng ứng xử với một nơi có nhiều chính sách quản lý khác biệt với châu Âu như Trung Quốc. “Với các công ty châu Âu, hiểu về cách gia tăng tối đa giá trị của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đầy sinh lực của Trung Quốc không chỉ là điều tối thượng mà còn là cách để giảm bớt rủi ro bị mất bí quyết công nghệ”, báo cáo nhận định.  Báo cáo lưu ý Trung Quốc vẫn đang muốn tách hoàn hoàn khỏi ảnh hưởng của các công ty Mĩ nhưng liệu châu Âu có thể hưởng lợi ích nào từ đó hay không. “Chắc chắn là không bởi họ không muốn bị phụ thuộc vào bất cứ đối tác nào, dẫu cho họ cũng nhận được lợi thế khi mời được nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào quốc gia họ”, theo nhận định của Jeroen Groenewegen-Lau, người đứng đầu chương trình Nhóm Chính sách KH&CN và đổi mới sáng tạo tại Viện nghiên cứu Trung Quốc Mercator (MERICS).  Điều đó có nghĩa là, báo cáo đề xuất, các công ty EU cần thiết lập lại chiến lược R&D tại Trung Quốc. Hiện tại, các công ty nước ngoài thường có xu hương chấp thuận một trong hai chiến lược phát triển: hoặc đánh cược tất cả hoặc có phương án phòng ngừa.  Phản hồi của các công ty EU tham gia khảo sát cho thấy Trung Quốc đang có xu hướng khuyến khích đầu tư và nội địa hóa nhiều lĩnh vực như hóa chất, thiết bị công nghiệp, tự động hóa nên các công ty trong lĩnh vực này đều chủ yếu sử dụng chiến lược đầu tư thứ nhất, nghĩa là dồn toàn lực, gia tăng đầu tư cho R&D ở Trung Quốc và tối đa hóa giá trị mà họ có thể nhận được từ thị trường cho những đơn đặt hàng ở lục địa cũng như toàn cầu.  Trong chiến lược này cũng có hai phần khác biệt, phần thứ nhất thấy điểm mạnh của hệ sinh thái R&D của Trung Quốc nên đặt rất nhiều đầu tư vào đó, bất chấp khả năng rủi ro về việc mất bản quyền sở hữu trí tuệ. Họ chấp nhận rủi ro và quản lý rủi ro bằng cách nhận về những lợi ích lớn nhất từ tinh thần kinh doanh của doanh nghiệpTrung Quốc, sự phong phú của lực lượng nhân sự tài năng, năng lực thương mại hóa sản phẩm đổi mới sáng tạo nhanh hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Với nhiều công ty, môi trường này cho phép họ phát triển sản phẩm ở Trung Quốc sau đó có thể tung ra thị trường toàn cầu. Nhánh thứ hai của chiến lược này có xu hướng đầu tư vào các ngành công nghiệp quan trọng nhưng không nằm trong nhánh công nghệ cao, theo quan điểm của chính phủ Trung Quốc.  Một số công ty EU khác thì áp dụng chiến lược đầu tư thứ hai, có phương án phòng ngừa, nghĩa là tận dụng thị trường mở và chính sách “trải thảm đỏ ưu đãi”, với việc tối đa hóa giá trị từ việc R&D tại Trung Quốc nhưng vẫn giữ các công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo công nghệ của mình ở EU để hạn chế tới mức thấp nhất khả năng bị rò rỉ công nghệ. Họ không muốn từ bỏ một thị trường quá lớn ở Trung Quốc nhưng vẫn đủ khôn ngoan để hiểu rõ khả năng rủi ro trong R&D quá lớn và công nghệ lõi của họ chỉ đủ an toàn khi được bảo vệ trên thị trường EU. Do đó, họ thường tập trung vào việc sử dụng công nghệ Trung Quốc để tăng cường các sản phẩm bán tại Trung Quốc và ở toàn cầu.  Rủi ro về quyền sở hữu trí tuệ   Tuy nhiên, dù áp dụng chiến lược đầu tư như thế nào thì các công ty EU cũng vẫn có nhiều khả năng phải đối diện với rủi ro ở thị trường Trung Quốc. Ví dụ không đơn giản để đón nhận khuyến khích về thuế bởi khó đạt đủ các điều kiện và quá phức tạp để làm theo nên chỉ 19% công ty cho biết là có thể tận dụng được các ưu đãi về đổi mới sáng tạo và R&D của chính phủ Trung Quốc.  Một trong những điều mà báo cáo lưu ý là cần bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ. Điều này ngày càng trở nên vô cùng quan trọng khi một số lượng lớn các công ty ở nhiều lĩnh vực công nghiệp không còn đủ duy trì khoảng cách cách biệt từ một đến hai thế hệ công nghệ với sản phẩm cùng loại của công ty Trung Quốc. Bản thân các công ty Trung Quốc cũng đang tiếp cận việc làm ra sản phẩm mới bằng công nghệ tiên tiến của thế giới. Hệ thống bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc cũng đang ngày một nhận được nhiều hơn các bằng sáng chế và bảo hộ độc quyền.  Việc bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ của các công ty EU cũng gặp phải trở ngại trong việc giữ bí mật thương mại, nhất là khi các nhà nghiên cứu và kỹ sư làm việc cho công ty chuyển sang các đối thủ cạnh tranh. Để hạn chế phần nào điều này, báo cáo lưu ý các công ty cần phân loại các dạng bản quyền sở hữu trí tuệ từ kết quả R&D của mình, trong đó chú ý loại nào có khả năng nhận được sự bảo hộ của câc cơ quan thực thi pháp luật, loại nào không.  Trong số các công ty EU, doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ bị tổn thương trước rủi ro về sở hữu trí tuệ nhất. Một doanh nghiệp SME cho biết trong một cuộc phỏng vấn riêng “nếu một doanh nghiệp lớn bị mất bản quyền sở hữu trí tuệ một sản phẩm về tay đối tác thì chỉ duy nhất một tác động cụ thể vào hồ sơ sản phẩm của họ nhưng nếu một SME rơi vào trường hợp này thì có nghĩa là sẽ mất năng lực lõi và phải loại bỏ một trong số ít sản phẩm có thể bán ra thị trường”.  Bên cạnh đó, các nhà phân tích cũng nhấn mạnh đến khả năng rủi ro về chính sách, ví dụ như khả năng rút ưu đãi vào bất cứ lúc nào. “Họ sẽ không còn quan tâm nhiều đến công ty nước ngoài khi các công ty Trung Quốc đã rút ngắn khoảng cách về công nghệ với công ty phương Tây”, Jeroen Groenewegen-Lau nói.  Nhưng thậm chí là rủi ro về chính sách có thể đến từ bên ngoài. Jacob Gunter, một nhà phân tích chính của Nhóm nghiên cứu kinh tế tại MERICS, trao đổi với hãng thông tấn DW khi đề cập đến chính sách kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu của Mỹ. “Sự bất định và nghi ngờ về R&D của các công ty đang ngày một gia tăng. Các công ty nước ngoài đang tích hợp phần Trung Quốc vào chuỗi cung ứng bên ngoài Trung Quốc có thể phải xem xét lại phần nào đó các tham vọng R&D toàn cầu của mình”.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:  https://sciencebusiness.net/news-byte/european-companies-are-putting-more-money-rd-china  https://news.yahoo.com/china-r-d-key-part-093000297.html?  Báo cáo “China’s Innovation Ecosystem: Right For Many, But Not For All”       Author                .        
__label__tiasang Công ty cổ phần nhựa  Duy Tân:  Tạo xu hướng mới cho ngành nhựa gia dụng      Những thành công trong đổi mới sáng tạo đã đưa Công ty cổ phần nhựa Duy Tân lọt vào tốp 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2013, đồng thời góp phần tạo xu hướng mới cho ngành nhựa gia dụng trong nước.       Từ những thành tích này, ít ai biết rằng, xuất phát điểm năm 1987 của Nhựa Duy Tân chỉ là một tổ sản xuất nhựa khiêm tốn. Đột phá đến với Nhựa Duy Tân vào năm 2003, khi TGĐ Trần Duy Hy nhận ra tầm quan trọng của R&D “vừa là chỗ của những người kỹ thuật, nhưng cũng đòi hỏi tính nghệ thuật và sáng tạo rất cao, lại đòi hỏi kinh nghiệm thật phong phú trong ngành”. Thay vì giao cho người khác phụ trách như trước đây, ông Trần Duy Hy đã trực tiếp đảm nhận phụ trách lĩnh vực này.   Công ty đã đầu tư kinh phí để nâng cấp xưởng khuôn mẫu, xưởng ép nhựa với những thiết bị cơ khí, ép nhựa hiện đại của các hãng nổi tiếng như Krauss Maffei, Chuan Lih Fa, Chumpower… của Thụy Sỹ, Đức, Nhật. Hàng năm, công ty dành một tỷ đồng đưa để đưa đội ngũ kỹ sư, nhân viên thiết kế tham gia mở nhiều khóa đào tạo trong nước do các chuyên gia Đức, Hà Lan, Nhật Bản đứng lớp, đồng thời cử nhiều cán bộ đi ra nước ngoài tập huấn, học hỏi những kiến thức và công nghệ mới của các nhà sản xuất có uy tín trên trên thế giới.   Công ty Nhựa Duy Tân còn chọn ra những kỹ sư, cán bộ nghiên cứu có tiềm năng tham gia bộ phận R&D nhằm đổi mới, phát triển sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Bộ phận R&D có mỗi quan hệ chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, kinh doanh để kịp thời nắm bắt xu hướng thị trường và yêu cầu của khách hàng.   Không chỉ riêng bộ phận R&D mà với tất cả đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng đều tham gia các phong trào phát huy sáng kiến đổi mới sáng tạo. Riêng trong một đợt thi đua nhằm tiết kiệm chi phí, giảm tiêu hao năng lượng đã đạt được trên 100 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, góp phần tiết kiệm hơn 10 tỷ đồng và 1.000 ngày công lao động.   Nhằm đem lại sự đồng bộ trong hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp, Nhựa Duy Tân còn ứng dụng hệ thống quản trị tri thức dựa trên giải pháp Lạc Việt BioPortal, một trang thông tin chia sẻ thông tin chung về sơ đồ tổ chức, văn hóa công ty, định hướng chiến lược, chính sách, thư viện số, quản lý tài liệu, công văn, quản trị nguồn nhân lực… Nhờ việc áp dụng giải pháp BioPortal mà Nhựa Duy Tân đã tăng hiệu suất làm việc, giảm chi phí sản xuất, qua đó tăng thêm lợi thế cạnh tranh trên thị trường.  Những quyết tâm đổi mới đã đem đến cho Nhựa Duy Tân những chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất và kinh doanh. Các sản phẩm của Nhựa Duy Tân luôn đi đầu trên thị trường và góp phần tạo xu hướng mới cho ngành nhựa gia dụng Việt Nam. Với hệ thống sản phẩm đa dạng, chất lượng cao từ các mặt hàng gia dụng, chai lọ công nghiệp và dân dụng, khuôn mẫu và sản phẩm theo yêu cầu, Nhựa Duy Tân đã chứng minh được năng lực sản xuất không thua kém những doanh nghiệp cùng ngành của Việt Nam. Vì vậy, Nhựa Duy Tân đã thu được nhiều kết quả như sản lượng mỗi năm tăng 15 đến 20%, chiếm 93% thị phần trong nước, xuất khẩu đạt 7% và 17 năm liền giữ vững danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”…         Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần nông nghiệp      Một trong những nhược điểm lớn nhất trong phát triển các ngành kinh tế Việt Nam là sự tự phát trong nhân dân và sự thực hiện riêng lẻ của từng Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương. Kết quả của những cố gắng riêng lẻ không những không có tác dụng cộng hưởng mà nhiều khi triệt tiêu lẫn nhau. Hàng trăm thí dụ trong nông nghiệp Việt Nam từ hơn 30 năm nay đã chứng minh điều đó.      Khi còn công tác trong Quốc hội, chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ phải có một “nhạc trưởng để điều khiển mỗi bài nhạc,” không nên để mạnh nhạc khí nào nấy chơi theo ý thích của họ. Một vị lãnh đạo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiếp thu và đưa ra khái niệm sẽ bố trí “những chương trình chồng xếp nhau” một cách đồng bộ. Nhưng cho đến nay trong thực tế tôi vẫn chưa thấy sự đồng bộ trong các lĩnh vực kinh tế nước ta, nhất là trong phát triển nông nghiệp. Hiện trạng ngành lúa gạo của Việt Nam là một điển hình của sự phát triển không đồng bộ này khiến người nông dân trồng lúa, thành phần đông đảo nhất của nước ta tuy sản xuất khối lượng lúa để chế biến ra gạo xuất khẩu đưa Việt Nam đứng vào hàng thứ hai các nước xuất khẩu gạo thế giới, là thành phần nghèo nhất so với các thành phần kinh tế khác.   Vì vậy để góp phần thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW về Tam nông của Đảng một cách thành công, Chính phủ cần điều hành với những tư duy mới hơn nữa về chính sách nông nghiệp của Việt Nam như trình bày trong mô hình Công ty Cổ phần nông nghiệp (CPNN) dưới đây.  Có thể nói thập kỷ 80 là giai đoạn quá độ chuyển từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình hạch toán kinh doanh,  phát triển kinh tế hàng hóa. Nhiều thành phần kinh tế cùng có chung một thị trường và hoạt động đan xen nhau, người nông dân được tự do đầu tư kinh doanh. Với những đổi mới trong cơ chế quản lý, nền kinh tế Việt Nam đã tiến lên, Nhà nước ngày càng thấy rõ vai trò quan trọng của khu vực nông nghiệp và lương thực, góp phần tạo thêm việc làm, tăng lợi tức và sức mua, tiền tiết kiệm trong dân, tăng ngoại tệ và an toàn lương thực cho cả nước.   Tuy nhiên mặc dù sản lượng nông nghiệp của Việt Nam ngày càng tăng mạnh, khối lượng lúa xuất khẩu đã đến ngưỡng 7 triệu tấn từ năm 2010, nhưng oái oăm thay lợi tức nông dân nhất là những người trồng lúa không tăng tương xứng; đời sống đa số nông dân còn nghèo nàn. Trong khi giá lúa không tăng được bao nhiêu thì giá vật tư nông nghiệp tăng vụt họ cũng phải mua. Từ năm 2001 đến 2010 giá phân bón tăng gấp 4 lần; giá nông dược tăng gấp 2-3 lần; nhưng giá lúa gần như không tăng bao nhiêu1. Chúng ta có thể thấy rõ sự nghèo nàn này mỗi khi đến mùa thu hoạch lúa: người nông dân nào cũng đều nôn nóng bán lúa cho nhanh để trang trải nợ nần, thương lái ép giá bao nhiêu cũng phải bán, ít ai muốn neo lúa chờ giá tốt hơn mới bán. Họ nghèo nên phải làm thế; nếu đã giàu thì không ai dại gì bán lúa khi bị ép giá.  Do vậy sự đổi mới đã trải qua hơn hai thập kỷ rồi, người nông dân – những người trực tiếp làm ra hạt thóc phục vụ cho toàn xã hội và cho xuất khẩu- chiếm gần 78% dân số cả nước, từ ngàn xưa đến nay lúc nào mức thu nhập cũng đứng vào hàng thấp nhất so với những thành phần kinh tế khác. Thực tế cho thấy: dù giá lúa của nông dân có được Nhà nước bảo hộ đi nữa, thì bình quân thu nhập của nông dân trồng lúa chỉ đạt không quá 400 USD/người/năm2, trong khi dân thành phố đạt trên 2.800 USD/người/năm3.   Trước tình trạng này Đảng ta đã đề ra chính sách mới, thể hiện qua NQ26/TƯ7 (2008) tập trung đề cập đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn rất phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội nước ta hiện tại nhằm tạo chính sách mới cho nông dân được giàu lên và đưa nông nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu, làm nền tảng cho sự đổi mới trong phát triển kinh tế toàn diện của nước ta. Nghị quyết đã có, nhưng để thật sự làm tăng lợi tức của nông dân, và bộ mặt nông thôn sẽ khang trang hơn, kinh tế nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế chung của cả nước, chúng ta cần có một quyết sách về một biện pháp đồng bộ để phát triển nông nghiệp và nông thôn, chấm dứt cách cũ hiện nay mạnh ai nấy làm, sẽ xoay trở tình thế nhằm nâng cao lợi tức cho nông dân trồng lúa, đem lại uy tín của hạt gạo Việt Nam, đưa nông nghiệp nước ta tăng trưởng nhanh và hiện đại hơn các nước chung quanh ta?   Để có thể đề xuất một quyết sách như thế, trước tiên chúng ta cần phân tích bối cảnh nông thôn hiện nay từ khâu sản xuất nông nghiệp –lấy cây lúa làm điển hình- cho đến khâu tiêu thụ lúa gạo để thấy được những bất cập của cách “mạnh ai nấy làm” trong suốt quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, và sau đó chúng tôi đề xuất một biện pháp đồng bộ với tư duy lãnh đạo nông nghiệp đổi mới tạo ra nông thôn đổi mới với những nông dân và doanh nghiệp đổi mới.  BỐI CẢNH NÔNG THÔN SẢN XUẤT LÚA NGÀY NAY  Nhìn một cách tổng quát cảnh “mạnh ai nấy làm” chúng ta thấy: Đảng cho ra Nghị quyết 26 về Tam nông ai muốn triển khai thế nào thì tùy; Nhà nước tiếp thu NQ26 chỉ thị cho các Bộ ngành lập kế hoạch triển khai (thí dụ Bộ NN& PTNT lập chương trình hàng trăm tỉ đồng để mỗi năm đào tạo 1 triệu nông dân mà không chắc họ sẽ áp dụng ở đâu sau khi được đào tạo); Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đến phiên mình cũng chỉ đạo cho các ban ngành cấp mình mạnh ai nấy lập kết hoạch riêng của ban ngành mình); các doanh nghiệp cũng tự lo kết hợp với thương lái để mua hàng chục mặt hàng nguyên liệu từ nông dân; và nông dân cũng tự lo cho mình là chính. Tất cả họ không ráp vào nhau được. Người chịu thiệt thòi là nông dân. Một cách cụ thể hơn, chúng ta có thể thấy diễn biến như sau:  Trồng lúa. Từ khi có “khoán 100” (năm 1981) rồi đến “khoán 10” (năm 1988) nông dân cả nước phấn khởi tự do canh tác trên thửa đất khoán riêng của nhà mình, thoát khỏi ách hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất.   Ngành khoa học nông nghiệp đã và đang nghiên cứu để cung cấp cho nông dân giống mới, năng suất cao, ngắn ngày, kháng rầy nâu, và những biện pháp canh tác hiện đại từ bón phân, bảo vệ thực vật, tưới tiêu khoa học, cho đến những kỹ thuật sau thu hoạch và chế biến. Nhưng trong thực tế nông dân mạnh ai nấy sản xuất, một cách rất tự phát, muốn trồng giống nào thì trồng, muốn bón phân thế nào thì bón, không hoàn toàn nghe theo hướng dẫn kỹ thuật. Vì sao thế? Người ta trồng nhưng không biết ai sẽ mua, và mua với giá bao nhiêu! Nhà nước từ Trung ương đến làng xã khuyến cáo nông dân sản xuất, nhưng không ai dám chỉ cụ thể cho nông dân là ai sẽ mua sản phẩm của họ, mà chỉ giao cho doanh nghiệp một cách chung chung, không chỉ đích danh doanh nghiệp nào. Trong khi đó các doanh nghiệp thì chỉ biết đối tác với hàng trăm thương lái (bạn hàng xáo) của mình mà không cần biết gì đến nông dân. Do đó mà mỗi người nông dân trồng lúa đều phải chọn giải pháp sản xuất nào ít rủi ro nhất: vì vậy người này trồng giống A, người kia trồng giống B…; và họ dùng kỹ thuật theo ý họ. Kết quả là trên cùng cánh đồng có hàng chục giống lúa, hàng chục kiểu trồng gây ra nhiều tình huống sâu bệnh lan tràn, môi trường đất và nước bị ô nhiễm, môi trường không gian trên mặt ruộng chứa nhiều khí thải nhà kính góp phần tệ hại hơn cho sự biến đổi khí hậu.  Thu hoạch lúa. Đến khi nông dân thu hoạch lúa, ai cũng muốn bán liền tại ruộng cho thương lái, không thể chờ đến khi lúa có giá cao. Hàng triệu tấn lúa mới gặt, ít phương tiện phơi sấy hiện đại, chỉ được phơi sơ trên sân hẹp hoặc trên mặt đường lộ rồi bán liền, phẩm chất hạt lúa tiếp tục bị giảm trong suốt giai đoạn sau thu hoạch. Lúc này các doanh nghiệp phải có đủ tiền mặt trả cho đội quân thương lái đi mua lúa, gây nên một áp lực rất lớn về tiền mặt, thường Chính phủ phải lệnh cho các ngân hàng giải ngân cho các doanh nghiệp vay mua lúa. Mỗi khi bán lúa cho thương lái, đôi khi được giá thì nông dân quá hạnh phúc, nhưng thường là bị ép giá, người dân chỉ biết trông chờ vào Chính phủ cứu vớt, nhưng Chính phủ lại giao quyền cho Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA – thực chất là Tổng Công ty lương thực Vinafood) định đoạt. Kinh nghiệm nhiều năm nay, những giá lúa do VFA quy định thường chỉ bảo vệ lợi ích của Vinafood để họ cạnh tranh bán rẻ cho thương lái quốc tế, mà coi nhẹ lợi ích của người nông dân phải cực khổ một nắng hai sương làm ra hạt lúa. Người trồng lúa mua đứt bán đoạn với thương lái, nhìn hạt lúa mình ra đi mà không có gì trở lại. Nếu giá lúa có tăng mấy ngày sau khi bán, thì cái tăng đó thương lái hưởng trọn, nông dân không hưởng được gì.  Hàng chục giống lúa thương lái mua vào, được họ trộn chung, phơi sấy qua loa, cho máy bóc vỏ trấu thành gạo nguyên liệu, rồi họ bán lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc các nhà máy lau bóng gạo, sẵn sàng chờ lệnh đặt hàng của doanh nghiệp xuất khẩu để đưa ra bến cảng. Vì cách làm bát nháo như thế nên đến bây giờ gạo VN xuất khẩu vẫn không có thương hiệu danh tiếng, khách hàng mở bao gạo ra thấy nhiều thứ gạo lẫn lộn trong ấy. Dĩ nhiên họ phải trả giá thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan. Có thể thấy là phần lớn các công ty lương thực không có vùng nguyên liệu lúa, không hợp đồng với nông dân. Và Vinafood lại càng không có nông dân trồng lúa, không có vùng nguyên liệu nào để họ bảo đảm chất lượng và khối lượng lúa cần thiết, nhưng họ lại có quyền bán gạo khối lượng lớn không thương hiệu.  Hậu quả. Với hệ thống sản xuất lúa và thu mua tiêu thụ lúa như thế gạo xuất khẩu của VN luôn luôn thua kém gạo Thái Lan, không thương hiệu, chất lượng không ổn định, mất uy tín trên thị trường quốc tế. Nông dân VN trồng lúa luôn chịu rủi ro, thiệt thòi. Thậm chí có lúc giá gạo quốc tế tăng cao, nhưng nông dân bắt buộc phải bán giá thấp vì có lệnh “tạm ngưng xuất khẩu”; hoặc có lúc Hiệp hội lương thực VFA cho “giá sàn cao hơn giá quốc tế” không công ty tư nhân nào dám mua lúa để xuất khẩu, ngoại trừ các công ty lương thực của Nhà nước tha hồ mua vô với giá rẻ dưới chiêu bài “mua lúa tạm trữ cho dân”. Nếu chúng ta tiếp tục để nông nghiệp sản xuất như thế này thì chắc chắn nông dân sẽ không thể giàu, như đã chứng minh trong suốt hơn 30 năm qua. Ngày xưa các nước đế quốc bắt dân nô lệ thuộc địa sản xuất nguyên liệu nông sản cung ứng cho các doanh nghiệp đế quốc chế biến và làm giàu. Ngày nay trong một nước Việt Nam XHCN nhưng nông dân trồng lúa vẫn suốt đời làm thuê, sản xuất lúa cho các doanh nghiệp làm giàu, còn nông dân tiếp tục nghèo mãi, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa thêm. Chúng ta không thể để tình trạng này kéo dài mãi được.  MỘT LỐI RA CHO NÔNG DÂN TRỒNG LÚA: CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG NGHIỆP (CPNN)  Nghị quyết 26 của Hội nghị TW7 (Khóa X) là một cứu tinh cho nông dân trồng lúa VN. Để Nghị quyết trở thành hiện thực một cách bền vững chúng ta phải mạnh dạn tổ chức lại hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng toàn bộ tổ hợp nông dân và các công ty cung cấp vật tư đầu vào, và công ty chế biến tiêu thụ đầu ra sẽ hình thành một Công ty CPNN tại từng vùng qui hoạch.  Mục tiêu của một Công ty CPNN  1- Tổ chức nông dân thành những hợp tác xã, tập đoàn sản xuất hoặc cụm sản xuất lúa nguyên liệu, hoặc một nông sản khác, theo phương thức hiện đại, đạt mọi tiêu chuẩn thị trường cạnh tranh để cung cấp cho doanh nghiệp chế biến tiêu thụ với giá trị tối hảo.  2- Gắn kết chuỗi giá trị sản xuất nông sản, từ nguyên liệu đến thành phẩm có thương hiệu mạnh đưa ra thị trường, để lợi tức được phân bổ hợp lý cho các thành phần tham dự, trong đó bảo đảm nông dân luôn luôn có cơ hội tích lũy lợi tức trong khi doanh nghiệp cũng bảo đảm mức thu nhập.  Tổ chức xây dựng Công ty CPNN– chuyên sản xuất gạo có thương hiệu cạnh tranh  Việc hình thành công ty CPNN sẽ được lần lượt thực hiện sáu bước cơ bản sau đây (xem sơ đồ Hình 1):          HÌNH 1.  Biện pháp đồng bộ thực hiện quyết sách mới rất thực tế về  TAM NÔNG: liên kết bốn nhà theo “chuỗi giá trị gia tăng.”          1- Xâu mối các thành phần của hệ thống chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp là vai trò chủ đạo của chính quyền địa phương – tốt nhất là cấp tỉnh, có thể là từ bộ phận chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT. Đơn vị này chính là nhạc trưởng cấp tỉnh, có nhiệm vụ tổ chức xây dựng hệ thống. Việc điều hành hệ thống sẽ do một doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm phụ trách, Nhà nước không nhúng tay làm trực tiếp.  2- Qui hoạch vùng sản xuất lúa: đây là vùng có lợi thế trồng loại lúa mà một doanh nghiệp có thị trường cần có nguyên liệu để sản xuất. Đây là công việc cần sự hợp tác giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chế biến. Lực lượng khoa học tham gia xây dựng qui trình VietGAP hoặc GlobalGAP để đào tạo nông dân làm theo một cách triệt để trong quá trình sản xuất lúa nguyên liệu của hệ thống.  3- Lập kế hoạch tổng thể phát triển vùng qui hoạch: từ sản xuất nguyên liệu đến phân phối sản phẩm có thương hiệu ra thị trường. Trên cơ sở đó, lập dự án xây dựng hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị. Đây cũng là công việc cần sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và một doanh nghiệp trung tâm bao gồm các bộ phận vật tư và dịch vụ đầu vào, bảo quản, chế biến và phân phối tiêu thụ đầu ra của sản phẩm.  4- Tổ chức nông dân kết hợp nhau trong những hình thức hợp tác phù hợp: tất cả nông dân canh  tác trong vùng đã được qui hoạch sản xuất trước tiên phải được thuyết phục về tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thị trường hội nhập, và cần thấy rõ tại sao làm ăn cá thể là không còn phù hợp nữa trong thời đại kinh tế thị trường. Mục đích sau cùng là để họ tự giác hợp tác với nhau một cách dân chủ và bình đẳng cùng sản xuất lúa nguyên liệu theo dự án đã được Nhà nước duyệt. Nông dân sẽ được huấn luyện thật kỹ về qui trình sản xuất lúa nguyên liệu nông sản theo đúng tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP đã được các nhà khoa học xác định. Đây là công tác của Sở Nông nghiệp và PTNT kết hợp với Liên minh HTX và Hội Nông dân của tỉnh. Mỗi nông dân xã viên có thể mua cổ phần của công ty bằng sản phẩm lúa của mình thay vì bằng tiền. Một chính sách mới, đặc biệt áp dụng cho nông dân tham gia Công ty CPNN, cần được Nhà nước ban hành: cho nông dân xã viên được mua cổ phiếu liên tục sau mỗi mùa thu hoạch sản phẩm (vì mua một lần thì nông dân không có vốn để mua). Một cơ chế cần được sự đồng tình của nông dân là cho Công ty trả tiền chậm 10-15 ngày. Đây là biện pháp hiệu quả để giảm áp lực tiền mặt tại thời điểm thu hoạch. Công ty bảo đảm vào thời điểm trả tiền cho nông dân, giá lúa phải bằng hoặc cao hơn giá ở thời điểm nông dân giao lúa cho công ty cộng với lãi suất 10-15 ngày. Để thực hiện được chính sách bảo hộ giá cho nông dân như vậy, chúng tôi đề xuất thêm một chính sách mới kế tiếp của nhà nước: sử dụng một quỹ kích cầu cho các Công ty CPNN để bù lỗ cho công ty để bảo đảm giá lúa cho nông dân như phác họa trên đây. Hiện nay tất cả các quốc gia mạnh trên thế giới như Mỹ, Nhật, Khối EU đều trợ cấp cho nông dân họ hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thì việc Chính phủ VN trợ cấp chút ít cho giá lúa của nông dân hội viên HTXNN vẫn phù hợp với cách làm quốc tế.  5- Xây dựng khu công nghiệp của công ty. Đây là trung tâm đầu não của Công ty CPNN, bao gồm sân phơi, máy sấy, nhà kho, nhà máy xay xát chế biến gạo thành phẩm, chế biến các nông sản khác, nhà máy phát điện bằng ga trấu, cửa hàng vật tư, cửa hàng bách hóa, v.v. Đây là phần đầu tư của các doanh nghiệp thành viên của công ty, hiện đại hóa công nghệ sau thu hoạch bảo đảm không thất thoát khối lượng và chất lượng sản phẩm.   6- Thành lập bộ phận phân phối gạo thành phẩm. Những sản phẩm đạt chất lượng sẽ được phân phối ra thị trường cao cấp hoặc xuất khẩu; sản phẩm không đạt chất lượng có thể được để lại phân phối trong địa phương hoặc bán tại chỗ.  Điều hành hệ thống  Khi lãnh đạo doanh nghiệp đã xác định thị trường và sản phẩm đầu ra, thí dụ một loại gạo hạt dài để dùng làm gạo đăng ký thương hiệu “Ngọc Miền Tây”, bộ phận nông nghiệp của Công ty sẽ tham khảo các nhà khoa học xác định giống lúa thích hợp và qui trình GAP tương ứng. Mọi nông dân xã viên sẽ được đào tạo theo đúng qui trình GAP đó (đúng tinh thần NQ 26) và được tạo điều kiện vay vật tư để trồng trọt. Tất cả các khâu chăm sóc phải theo đúng qui trình, có kiểm tra thường xuyên. Đến khi thu hoạch khối điều hành nhà máy chế biến sẽ đưa phương tiện tới tận đồng ruộng của xã viên đem về phơi sấy và chế biến.  Lúa của nông dân giao cho công ty sẽ được cân và đo độ ẩm, qui về khối lượng chuẩn 14% độ ẩm, và được sấy đúng kỹ thuật trước khi được bóc vỏ trấu để bảo quản, chờ chế biến thành phẩm.  Chia lãi  Đến cuối niên vụ công ty sẽ tính toán doanh số cả năm, xác định tiền lãi để chia cho các thành viên cổ đông. Mỗi nông dân cổ đông sẽ được chia lãi theo số cổ phần của họ và đồng thời được hưởng một số tiền thưởng tính trên lượng lúa đã bán cho công ty. Như thế, nông dân tham gia công ty sẽ luôn luôn được lãi, hoàn toàn khác với nông dân cá thể mua đứt bán đoạn cho thương lái không được chia lãi gì hết. Chính sách này sẽ đổi đời nông dân, người tham gia làm chủ Cty, luôn gắn bó với Cty.  Quyền được xuất khẩu gạo  Hợp phần quan trọng trong biện pháp đồng bộ này là quyền được xuất khẩu sản phẩm gạo của các Công ty CPNN. Hằng năm Nhà nước ấn định lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam căn cứ trên diện tích và sản lượng gạo của từng tỉnh. Sau khi trừ ra phần đóng góp vào khối lượng an toàn lương thực của cả nước, mỗi tỉnh sẽ dư ra bao nhiêu tấn gạo thì được quyền xuất khẩu khối lượng đó, không cần phải qua phê duyệt lần thứ hai của Nhà nước nữa. Trên cơ sở đó các Công ty CPNN của tỉnh sẽ an tâm sản xuất để xuất khẩu. Đây là biện pháp bảo đảm khuyến khích cho sự phát triển nông nghiệp một cách đồng bộ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp “miệng lưỡi” phải về nông thôn đầu tư thật sự.  NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH ĐỒNG BỘ MỚI  Trở ngại lớn nhất trong việc thực hiện biện pháp đồng bộ mới mẻ trong nông nghiệp này là không có quyết tâm chính trị thật sự của cả 3 thành phần nòng cốt: nhà nông, nhà doanh nghiệp và Nhà nước để thực hiện theo hướng nêu trên đây. Cần có chương trình đồng bộ mới tiến hành được, trong đó nhà doanh nghiệp phải có được thị trường đầu ra ổn định; Nhà nước mạnh dạn ban hành chính sách khuyến khích; và nông dân phải khắc phục tập quán cũ, phải học trở thành nông dân đổi mới, triệt để làm theo qui trình kỹ thuật GAP, chứ không thể làm theo ý mình.  Một trở ngại không kém quan trọng nữa là sự có mặt của hàng trăm, hàng ngàn thương lái (bạn hàng xáo) cung cấp gạo nguyên liệu cho các công ty xuất khẩu gạo, và hàng trăm đại lý phân bón và thuốc trừ sâu bệnh, liệu họ có chịu tham gia vào các hợp tác xã hoặc cụm sản xuất hay không?  Quyết tâm của Đảng và Nhà nước giao quyền xuất khẩu gạo cho nơi nào làm ra hạt gạo sẽ là một quyết tâm chính trị lịch sử để chấm dứt cuộc sống khốn khó của nông dân dưới chính thể xã hội chủ nghĩa. Bằng không, thì sự phê duyệt của VFA sẽ tiếp tục là một trở ngại lớn đối với các HTX lúa gạo, những công ty xuất khẩu nhỏ, chỉ sản xuất vài trăm tấn gạo đặc sản có thương hiệu, như gạo Tứ Quý của Liên minh Công ty ADC và HTXNN Mỹ Thành, Cai Lậy, Tiền Giang, và tất cả các Công ty CPNN sẽ được thành lập sau này.  KẾT LUẬN  Trong những năm tới lúa gạo vẫn còn là một nhu cầu rất lớn cho tình hình an toàn lương thực thế giới mà cũng chính là hàng hóa sở trường phổ biến nhất của đại đa số nông dân Việt Nam cung cấp cho xuất khẩu. Nhà nước cần sớm tổ chức lại hệ thống sản xuất lúa gạo Việt Nam theo mô hình Công ty CPNN. Người nông dân Việt Nam vốn tính cần cù, lao động giỏi và sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của thị trường và đạt lợi tức ngày càng tăng nếu được tạo điều kiện gia nhập Công ty CPNN. Đây là một sự đổi mới cơ bản trong chính sách nông nghiệp của ta để thật sự chấm dứt thời kỳ nông dân làm tôi mọi để cho các doanh nghiệp làm giàu, chuyển sang thời kỳ nông dân làm chủ doanh nghiệp cổ phần để ngày càng đạt lợi tức cao hơn.  ————-  1 Vũ Duy Thanh (Điều tra nhanh nông thôn, tháng 10-2010). Trung Tâm NC Phát triển nông thôn, Đại học An Giang.  2 Tổng hợp nhiều nguồn và điều tra nhanh nông thôn của tác giả.  3 Đảng bộ TPHCM. 2010. Báo cáo Đại hội Đại biểu lần thứ IX, ngày 5-10-2010.  4 Đào Hồng Hạnh. 2007. Dấu xưa Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh: NXB Văn Nghệ.        Ngược dòng lịch sử từ thời Nguyễn#4, vào năm 1789 Chúa Nguyễn Ánh cho phép cư dân miền Tây lần đầu tiên xuất khẩu 264.000 lít gạo cho Thái Lan khi nước này bị nạn đói trầm trọng. Sau đó hệ thống kênh đào được nhà Nguyễn thực hiện đến khi nước Pháp đô hộ phát triển thêm kênh đào vừa tạo phương tiện thông thương vừa mở rộng diện tích trồng lúa. Từ 1930 Việt Nam là quốc gia cung cấp gạo danh tiếng (gạo Sài Gòn) cho các nước láng giềng như Philippines, Indonesia, và nhiều nước châu Âu và châu Phi. Đến năm 1968 Việt Nam ngưng xuất khẩu gạo vì chiến tranh khốc liệt. Mãi đến tháng 9 năm 1989, Việt Nam mới tham gia trở lại thị trường xuất khẩu gạo sau hơn 20 năm dừng xuất khẩu. Từ đó mỗi năm đã tăng dần lượng gạo xuất từ mức 2 triệu đến nay đạt gần 7 triệu tấn gạo/năm, đứng hàng thứ hai các quốc gia xuất khẩu gạo thế giới. Nhiều nước đã ngạc nhiên trước sự kiện này, nhất là các nước đang bao vây kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ.               Vào năm 1989 ấy, rất nhiều người đặt câu hỏi: làm sao Việt Nam đã xuất khẩu được trên 1,76 triệu  tấn gạo trong khi chỉ hai năm trước đó Chính phủ Việt Nam còn kêu gọi quốc tế cứu trợ lương thực cho đồng bào một số tỉnh miền Bắc và miền Trung? Ngoài các lý do như nông dân đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật và một số biện pháp liên hoàn như : giống mới ngắn ngày năng suất cao, đẩy mạnh làm thủy lợi để mở rộng diện tích cao sản, tăng thêm phân bón cùng các vật tư nông nghiệp khác, phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng,… song lý do bao trùm nhất là sự đổi mới chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp.  Đó là chính sách giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài đất canh tác cho từng hộ gia đình nông dân, chính sách về giá nông sản và các vật tư nông nghiệp, ổn định giá trị của đồng tiền Việt Nam, v.v…            Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk: Chất lượng và sáng tạo là bạn đồng hành      Để trở thành “một trong những thương hiệu có khả năng sinh lợi tốt nhất tại Việt Nam và là một cổ phiếu blue-chip tại thị trường chứng khoán trong nước”, Vinamilk luôn thực hiện phương châm “chất lượng và sáng tạo là người bạn đồng hành”.      Là một công ty chuyên về sữa và các sản phẩm từ sữa, Vinamilk đã khẳng định vị thế trên thị trường Việt Nam và bắt đầu tiến ra thị trường quốc tế. Tạp chí Forbes đánh giá Vinamilk là “một trong những thương hiệu có khả năng sinh lợi tốt nhất tại Việt Nam và là một cổ phiếu blue-chip tại thị trường chứng khoán trong nước”.  Để có được những thành công này, Vinamilk đã trải qua một quá trình “sáng tạo và không ngừng sáng tạo” mà theo Tổng giám đốc Mai Kiều Liên thì “chất lượng và sáng tạo là người bạn đồng hành của Vinamilk”. Đây cũng là lý do để Vinamilk xem đầu tư cho công tác R&D là yếu tố chủ lực trong việc thực hiện chiến lược phát triển Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín khoa học và đáng tin cậy với người tiêu dùng.   Từ Trung tâm R&D và Bộ phận An toàn thực phẩm & Tác nghiệp sản xuất, Vinamilk đã thực hiện nhiều hoạt động về nghiên cứu thành phần nguyên liệu, cải tiến và chuẩn hóa phương pháp kiểm nghiệm. Ngoài ra, Vinamilk còn phối hợp với Viện Dinh dưỡng quốc gia và các trung tâm kiểm nghiệm nhằm xây dựng, hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm nghiệm, kiểm tra các chỉ tiêu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hệ thống các phòng thí nghiệm của Vinamilk đều đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005.  Xuyên suốt quá trình nghiên cứu và sáng tạo ra những sản phẩm mới, Vinamilk đã cùng với các chuyên gia của Viện Dinh dưỡng quốc gia thực hiện nhiều dự án, như “Nghiên cứu công thức sản phẩm chuyên biệt cho người có glucose máu cao và xác định chỉ số đường huyết của sản phẩm”, “Hiệu quả sữa chua uống men sống probi lên tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và miễn dịch của trẻ 24-47 tháng tuổi”…   Kết quả của các dự án này là những sản phẩm tiêu dùng như Vinamilk Diecerna dành cho người bị bệnh đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose máu, có thể sử dụng cho những người ăn kiêng trong phòng chống các bệnh: thừa cân, béo phì, tăng lipid máu, các bệnh tim mạch, hay sản phẩm sữa chua uống men sống Probi hỗ trợ miễn dịch, cải thiện hệ tiêu hóa đồng thời giúp trẻ ăn ngon, giảm biếng ăn…  Nắm bắt kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng để tìm kiếm cơ hội và ý tưởng phát triển sản phẩm, đội ngũ nghiên cứu và phát triển sản phẩm của Vinamilk đã phát triển thêm dòng sản phẩm đồ uống bổ sung dưỡng chất thiên nhiên như linh chi kết hợp mật ong, nước táo kết hợp lô hội, nước mơ ngâm, nước trái cây bổ sung rau quả (gồm 13 loại rau củ quả)…   Nhằm cho ra thị trường những dòng sản phẩm phong phú và chất lượng, đạt yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, Vinamilk đã mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư xây dựng hàng loạt nhà máy sữa ở Cần Thơ, Bình Định, TPHCM, Nghệ An, Bình Dương, thành lập xí nghiệp Kho vận Sài Gòn nhằm đảm bảo dịch vụ vận chuyển, phục vụ khách hàng. Trong vòng năm năm, Vinamilk đã đầu tư 4.500 tỷ đồng hiện đại hóa máy móc thiết bị, công nghệ, phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ các nhà máy sữa nhằm đảm bảo một quy trình sản xuất tự động, khép kín. Các nhà máy sữa của Vinamilk đều được trang bị dây chuyền tinh chế hiện đại từ Mỹ, Đan Mạch, Đức, Hà Lan…  Ngay tại các nhà máy chế biến thành viên này cũng đều áp dụng hệ thống vận hành dựa trên giải pháp tự động hóa Tetra Plant Master, cho phép kết nối và tích hợp toàn bộ nhà máy từ nguyên liệu đầu vào cho đến thành phẩm, nhờ đó có thể điều khiển mọi hoạt động diễn ra trong nhà máy, theo dõi và kiểm soát chất lượng một cách liên tục. Hệ thống Tetra Plant Master cũng cung cấp những dữ liệu cần thiết, giúp nhà máy có thể liên tục nâng cao hoạt động sản xuất và bảo trì.  Trong quá trình phát triển, Vinamilk còn đặc biệt chú trọng đến vai trò của ứng dụng mô hình quản trị tiên tiến trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng giám đốc Mai Kiều Liên cho biết, chắc chắn sẽ thành công nếu biết áp dụng khôn ngoan và hợp lý theo mô hình quản trị quốc tế mà các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến từng áp dụng thành công hàng trăm năm nay. Vì vậy, Vinamilk đã trao quyền tự chủ trong sản xuất cho các nhà máy để phát huy năng lực, trí tuệ từ cấp cơ sở. Đây cũng là một trong những biện pháp đem lại hiệu quả trong sản xuất.   Trong năm 2012, Vinamilk là một trong số ít các doanh nghiệp Việt Nam đi tiên phong trong ứng dụng hệ thống phần mềm quản lý kênh phân phối dựa trên nền tảng các thiết bị công nghệ cao do Viettel cung cấp.   Từ những đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu, mở rộng sản xuất và quản trị, Vinamilk đã đạt được những thành công lớn như cung cấp khoảng 580.000 tấn sữa mỗi năm, tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài như Australia, Mỹ, Philippines, Campuchia… Theo tạp chí Forbes, “Vinamilk đã đạt mức tăng trưởng doanh thu 23% trong năm 2013 với doanh thu lên tới 1,3 tỷ đô la, lợi nhuận ròng tăng gần 40%, lên mức 280 triệu đô la”.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần Traphaco: Kết hợp dược liệu trong nước với công nghệ cao      Phương châm “Công nghệ mới và bản sắc cổ truyền” đã góp phần đưa công ty cổ phần Traphaco trở thành một trong những công ty dược hàng đầu Việt Nam về kết hợp giữa định hướng nghiên cứu, phát triển các sản phẩm từ nguồn tài nguyên thiên nhiên với hệ thống dây chuyền sản xuất công nghệ hiện đại.     Khi đưa ra phương châm này, Công ty Traphaco đã dành ra từ 2 đến 3% doanh thu hàng năm cho hoạt động đổi mới công nghệ. Trong kế hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất thuốc trực thuộc công ty và các công ty thành viên, Traphaco đã thành lập công ty cổ phần công nghệ cao tại Khu công nghiệp Văn Lâm, Hưng Yên và công ty Traphaco Sapa tại Lào Cai. Nếu công ty cổ phần Công nghệ cao được thành lập để điều hành hoạt động của nhà máy sản xuất đông dược theo tiêu chuẩn Thực hành sản xuất tốt GMP (Good Manufacturing Pratice) của Tổ chức Y tế thế giới WHO thì công ty Traphaco Sapa là nơi chuyên nghiên cứu phát triểm dược liệu, cung cấp nguồn nguyên liệu sạch, chất lượng cao từ vùng núi Sapa.   Hai năm một lần, Traphaco tổ chức các hội nghị khoa học và công nghệ với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu thuộc các Viện Dược liệu Bộ Y tế, ĐH Dược Hà Nội, Bệnh viện Y học cổ truyền TƯ…, nhằm tổng kết công tác nghiên cứu và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thực nghiệm, sáng kiến cải tiến… Mỗi hội nghị có tới trên 80 đề tài, dự án và sáng kiến kinh nghiệm được trình bày, qua đó đem lại những ý tưởng mới trong sản xuất, kinh doanh của công ty, như ý tưởng nghiên cứu và tạo dòng sản phẩm, phát huy tối đa công nghệ bào chế; khảo sát và thực hiện đầu tư các vùng dược liệu nhằm tạo nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định; tổ chức các hoạt động tư vấn sức khỏe miễn phí cho người tiêu dùng trực tiếp, bắt đầu từ đối tượng người cao tuổi…  Đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới, Traphaco đã phối hợp với các nhà nghiên cứu ĐH Dược Hà Nội, Viện Công nghệ sinh học – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ sinh học vào sản suất các sản phẩm có tính năng ưu việt hơn và hiệu quả hơn trong phòng và điều trị bệnh, ví dụ như công nghệ bào chế viên bao film tan trong ruột và viên bao film tác dụng kéo dài, một công nghệ tiên tiến trên thế giới và lần đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam.   Phòng R&D của Traphaco đã tập trung tìm tòi, nghiên cứu những hoạt chất mới, các dạng bào chế mới thông qua các đề tài, dự án khoa học cấp Nhà nước và bộ. Kể từ năm 2006 đến nay, năm nào Traphaco cũng có những dự án lớn, như “Hoàn thiện công nghệ sản xuất Ampelop làm thuốc điều trị viêm loét dạ dày- tá tràng”, “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất Embin làm thuốc tẩy sán từ loài chua ngút Embelia scandens (Lour.) Mez”, “Nghiên cứu chế biến Phụ tử và cao Phụ tử từ cây Ô dầu Sapa để chế tạo vị thuuoocs Bát vị Quế phụ”, “Nghiên cứu trồng chè dây an toàn làm nguyên liệu phục vụ sản xuất thuốc Ampelop và các chế phẩm phòng, điều trị bệnh viêm loét dạ dày – hành tá tràng”, Nghiên cứu xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử ở quy mô pilot”, “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang cứng Bát vị quế phụ và viên nang mềm Boganic”, đề án thuộc dự án Greenplan do Ngân hàng thế giới tài trợ thông qua Chương trình Ngày sáng tạo Việt Nam 2011…  Những dòng sản phẩm chủ lực của công ty như Hoạt huyết dưỡng não và Boganic cũng đều là những sản phẩm từ các đề tài nghiên cứu lớn và là bằng chứng cho sự thành công của áp dụng công nghệ trong sản xuất, bảo quản thuốc. Từ kết quả nghiên cứu trong 10 năm (từ năm 1985 đến 1995), Hoạt huyết dưỡng não là dạng thuốc bổ thần kinh nguồn gốc thảo dược đầu tiên ở Việt Nam đã được nghiên cứu kỹ lưỡng về các ứng dụng sinh học trên invivo (phương pháp nghiên cứu trên sinh vật sống ở trạng thái sinh lý bình thường), in vitro (phương pháp nghiên cứu trong ống nghiệm) và thử nghiệm lâm sàng trên các bệnh nhân bị thiểu năng tuần hoàn não. Dòng sản phẩm này đã được đưa ra thị trường với nhiều dạng bào chế khác nhau: viên bao đường, viên bao film, dung dịch. Được sản xuất trên dây chuyền công nghệ GMP – WHO, các sản phẩm hoạt huyết dưỡng não được kiểm tra chất lượng sau từng công đoạn sản xuất và kiểm tra chất lượng trước khi xuất xưởng tại Phòng kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn An toàn chất lượng phòng thí nghiệm GLP (Good Laboratory Practice) rồi đưa vào bảo quản trong hệ thống kho đạt tiêu chuẩn Thực hành bảo quản thuốc tốt GSP (Good Storage Practices).   Việc áp dụng công nghệ cao của Traphaco không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất mà cả quản lý và kinh doanh. Hiện công ty đang nghiên cứu phổ biến về hệ thống quản trị Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource Planning) rới toàn bộ cán bộ công nhân viên công ty để đưa vào áp dụng với một trong những bước đi đầu tiên là nối mạng nội bộ, áp dụng phần mềm quản lý văn bản.   Sau những nỗ lực đổi mới. hiện nay Traphaco là đơn vị hàng đầu Việt Nam nhận giải thưởng WIPO của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới trao tặng cùng nhiều danh hiệu khác ở tầm quốc gia.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận: Đổi mới sáng tạo là giá trị cốt lõi      Để trở thành một trong năm đại diện Việt Nam lọt vào danh sách 500 công ty bán lẻ hàng đầu châu Á – Thái Bình Dương năm 2014 theo công bố của Retail Asia Publishing Pte Ltd và Euromonitor (Asia) Pte Ltd, công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) đã trải qua một quá trình dài đầu tư vào các hoạt động đổi mới sáng tạo như cải tiến công nghệ và cải tiến quản trị doanh nghiệp.  &#160;    Vào giai đoạn khởi điểm, PNJ chỉ là một cửa hàng kinh doanh nhỏ mang tên Phú Nhuận với 20 nhân sự. Năm 1992, PNJ được chính thức chính thức mang tên Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận và bắt đầu mở ra một giai đoạn mới mà theo tổng giám đốc Cao Ngọc Dung, phát triển trên những giá trị cốt lõi là “trung thực, chất lượng, trách nhiệm và đổi mới sáng tạo”.  Để đổi mới sáng tạo thực sự phát huy được hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh, bà Cao Ngọc Dung cho rằng, vấn đề phải xuất phát từ con người, bởi “bài toán đặt ra bây giờ là phải làm mới, thay đổi tư duy chính mình và tư duy của cả đội ngũ, thay đổi thực sự từ bên trong”.   Vì vậy, vấn đề nhân lực và đào tạo nhân lực đã được PNJ đặt lên hàng đầu. Ngoài việc tiên phong áp dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource Planning), PNJ còn cử đội ngũ quản lý tham gia các khóa đào tạo chuyên môn ngắn hạn, dài hạn bằng nguồn vốn của công ty. Với khả năng quản trị tốt, PNJ đủ sức điều phối hệ thống phân phối, các trung tâm kim hoàn lớn ở Kiên Giang, Bình Dương, Biên Hoà, Hà Nội, Đà Nẵng cùng gần 200 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc.   PNJ đã thuê một công ty tư vấn của Italia xây dựng dự án tái cấu trúc và chiến lược phát triển công ty đến năm 2020, đồng thời mời ông Richard Moore, giám đốc sáng tạo của công ty Richard Moore Asociate (Mỹ) tư vấn dịch vụ chiến lược, giúp xây dựng thương hiệu nữ trang cao cấp.   Nữ trang là một mặt hàng đặc biệt, liên quan mật thiết đến tay nghề người thợ “cho dù có công nghiệp hóa hay hiện đại hóa cỡ nào đi chăng nữa” như lời bộc bạch của bà Cao Thị Ngọc Dung. PNJ đã tự đào tạo đội ngũ thợ riêng bởi “không thể tuyển bên ngoài được vì không trường nào dạy, mà nếu có dạy thì cũng không đạt đúng chuẩn của PNJ”. Hiện tại, PNJ có gần 1.000 thợ kim hoàn lành nghề, đủ khả năng chế tác những sản phẩm nữ trang phục vụ những yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.   Trong quá trình học nghề và làm nghề, đội ngũ thợ PNJ vẫn thường xuyên nâng cao trình độ chế tác ở nước ngoài hoặc tham gia khoa học tại công ty dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài từ Hội đồng Vàng thế giới. Đây cũng chính là lý do để đưa các sản phẩm thiết kế của PNJ vừa nắm bắt được xu hướng hiện đại của thế giới, vừa phù hợp với gu thẩm mỹ của người Việt.  Nhằm phát triển bền vững, PNJ cũng đã đầu tư vào một phòng R&D do chính phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật phụ trách. Phòng R&D của PNJ được giao bốn nhiệm vụ cơ bản là phát triển sản phẩm thông qua cải tiến và tạo sản phẩm mới, phát triển công nghệ, phát triển bao bì và phát triển quy trình. Phòng trào phát huy sáng kiến còn được mở rộng cả bên ngoài bộ phận R&D để tìm ra những ý tưởng thiết kế, kỹ thuật chế tác mới và quan trọng hơn, đưa việc tham gia R&D trở thành văn hóa chung của công ty.  Song song với việc đẩy mạnh đổi mới kỹ thuật, PNJ còn mở rộng quy mô phát triển nhằm thực hiện mục tiêu trở thành nhà bán lẻ hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2012, PNJ đã chính thức khai trương và đưa vào hoạt động nhà máy nữ trang lớn nhất Việt Nam sau 18 tháng thi công và tổng vốn đầu tư 120 tỷ đồng. Nhà máy của PNJ sử dụng nhiều dây chuyền công nghệ tiên tiến của thế giới theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000, đạt công suất trên bốn triệu sản phẩm một năm.   Hiện tại, các dòng sản phẩm của PNJ cũng hết sức đa dạng, phục vụ nhu cầu của nhiều phân khúc thị trường, đồng thời đủ uy tín, trình độ để “bao thầu” dịch vụ kiểm định kim cương, đá quý, kim loại quý.   Những nỗ lực này đã đưa PNJ cùng với một thương hiệu khác là Doji thống trị thị trường Việt Nam với 20% thị phần trang sức vàng và 70% thị phần trang sức bạc. Không chỉ dừng lại ở đây, PNJ còn vươn ra thị trường quốc tế, trở thành công ty sản xuất trang sức lớn thứ ba thế giới và hạng 16 trong 500 công ty trang sức lớn nhất châu Á, theo số liệu của tổ chức Plimsoll (Anh).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần Vi sinh ứng dụng: Biến nghiên cứu thành sản phẩm      Từ những công trình nghiên cứu cấp nhà nước, GS. TS Phạm Văn Ty, một chuyên gia về vi sinh vật học và công nghệ sinh học của ĐH KHTN, ĐHQG Hà Nội, đã sáng tạo ra nhiều chế phẩm sinh học hữu ích, được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nông nghiệp và xử lý môi trường.     Những ý tưởng về các chế phẩm sinh học đã được manh nha từ khi GS. TS Phạm Văn Ty còn giảng dạy tại Khoa Sinh học, ĐH KHTN. Khi đó, GS. TS Phạm Văn Ty và các đồng nghiệp trong khoa đã cùng thực hiện một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước như “Nghiên cứu áp dụng công nghệ SH trong sản xuất phân bón vi sinh hữu cơ từ nguồn phế thải hữu cơ rắn”, “Nghiên cứu công nghệ sản xuất phân bón đa chủng, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng”, “Nghiên cứu công nghệ giải pháp mới của công nghệ sinh học xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường”, “Nghiên cứu xử lý rác thải nông nghiệp, rác thải nông thôn làm phân bón tại gia đình”, “Nghiên cứu phân hủy rác làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi bằng biện pháp vi sinh vật”, “Nghiên cứu phân hủy rác làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi bằng biện pháp vi sinh vật”, “Nghiên cứu bản chất vi sinh vật trong chế phẩm EM và nghiên cứu sản xuất EM tại Việt Nam”…   Xuất phát từ những thành công trong nghiên cứu này, GS. TS Phạm Văn Ty đã thành lập công ty cổ phần Vi sinh ứng dụng nhằm triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học vào sản xuất và đời sống; thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, tạo ra các sản phẩm mới, sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và xử lý môi trường… Để mở rộng công tác R&D, đặc biệt là hoàn thiện công nghệ sản xuất các chế phẩm sinh học và tư vấn, chuyển giao công nghệ cho các đơn vị đối tác, công ty đã mời thêm một số cộng tác viên là các chuyên gia về Vi sinh vật học và công nghệ sinh học thuộc Khoa Sinh học, ĐH Khoa học tự nhiên và một số viện nghiên cứu, đại học cùng tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.           Sau nhiều lần nghiên cứu thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm theo yêu cầu thực tế, công ty cổ phần Vi sinh ứng dụng đã lần lượt cung cấp ra thị trường nhiều chế phẩm vi sinh hữu ích phục vụ lĩnh vực sản xuất chăn nuôi gia cầm, thủy sản, xử lý chất thải chăn nuôi như chế phẩm Emuniv, Emuniv.S, Emas, Emuniv. Phốt… Trong số các chế phẩm này, Eminiv được đánh giá cao bởi những công dụng đa dạng như tham gia xử lý chất thải làm phân bón hữu cơ cho cây trồng, khử mùi rác thải, chuồng trại chăn nuôi.        Emuniv bao gồm nhiều vi sinh vật có khả năng sinh emzym có thể phân giải chất hữu cơ, có khả năng cạnh tranh cạnh tranh sinh trưởng với các vi sinh vật có hại khác, sinh chất kháng sinh tự nhiên chống nấm bệnh, cung cấp nguồn cacbon cho các vi sinh  vật và phân giải các chất vô cơ khó tan như phốt phát. Hệ thống vi sinh vật này đã đem lại cho Emuniv những ưu điểm vượt trội khi chăm sóc cây trồng cũng như tránh tình trạng ô nhiễm môi trường quanh khu vực chăn nuôi. Theo định lượng, cứ 200 gam chế phẩm xử lý được một tấn rác thải làm phân bón hữu cơ.     Không dừng lại ở đó, GS. TS Phạm Văn Ty còn tiếp tục nghiên cứu để chế phẩm Emuniv có thể được sử dụng dễ dàng ở hai quy mô sản xuất hộ gia đình và quy mô công nghiệp với quá trình thực hiện đơn giản, không đòi hỏi quá nhiều kỹ thuật phức tạp.     Kể từ khi xuất hiện trên thị trường, chế phẩm Emuniv đã nhận được sự đón nhận của nhiều nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ, nhà máy xử lý rác thải cũng như nhiều dự án phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo của các dự án của các tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện tại Việt Nam.      Trong khuôn khổ Biotechmart 2014 vào trung tuần tháng 10-2014, Công ty cổ phần Vi sinh ứng dụng đã ký hợp đồng cung cấp chế phẩm Emuniv cho Trung tâm Phát triển cộng đồng bền vững (S-CODE), một tổ chức phi chính phủ Việt Nam trực thuộc Hội Nghiên cứu về Đông Nam Á, qua đó hỗ trợ bà con nông dân các tỉnh Hà Nam, Thái Nguyên xử lý nước thải, tạo nguồn phân bón hữu cơ để trồng rau hữu cơ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty cổ phần Vinamit: Sáng tạo làm nên sự khác biệt      Quá trình phát triển của công ty cổ phần Vinamit gắn liền với các hoạt động đổi mới sáng tạo. Áp lực thị trường đã buộc Vinamit không ngừng đổi mới sáng tạo từ cải tiến giống cây nguyên liệu, áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại đến mở thị trường mới.  &#160;      Tổng giám đốc Vinamit Nguyễn Lâm Viên đã từng chia sẻ về vai trò của đổi  mới sáng tạo trong quá trình điều hành Vinammit, đưa doanh nghiệp này  trở thành số một trong lĩnh vực nông sản thực phẩm khô và trái cây sấy  Việt Nam: “Đổi mới sáng tạo trong quá trình kinh doanh sẽ giúp doanh  nghiệp đưa ra nhiều ý tưởng hay, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm,  giảm thiểu chi phí đầu ra” và “muốn thành công phải có sự khác biệt  nhưng không có sáng tạo thì không có khác biệt”.     Đi đầu về ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác và chế biến nông sản  Từng tham gia lao động ở nông trường nhiều năm, ông Trần Lâm Viên đã nhìn ra được tương lai của ngành bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch ở Việ nam, khi đó “kỹ thuật là sức mạnh cốt lõi”.  Đây là lý do để Vinamit mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ mặc dù hoạt động này đòi hỏi ”thời gian dài để nghiên cứu và thử nghiệm trước khi đưa ra kết quả” và “nguồn kinh phí cho hoạt động đổi mới sáng tạo cũng là vấn đề của không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ”, như chia sẻ của ông Trần Lâm Viên.   Một trong những vấn đề quan trọng của Vinamit là khâu nguyên liệu, trong đó khoa học ứng dụng trong kỹ thuật chọn giống và canh tác được đặt lên hàng đầu. Đội ngũ cán bộ chuyên môn của Vinamit trong các phòng thí nghiệm đã bám sát các trại ươm giống để cùng nhau tìm ra những giống cây trồng mới và phân phối giống xuống những vùng sản xuất chuyên canh theo đơn đặt hàng của công ty, vốn trải rộng khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ với tổng diện tích hơn 20.000 ha.   Những giống mới của Vinamit không chỉ năng suất cao mà còn đảm bảo những đặc tính nổi trội như hàm lượng dầu và đường thấp, hương vị cô đậm, màu sắc tươi tắn, trong đó nổi lên một loại mít riêng mang tên Viên Linh có đặc điểm quả đều, vỏ mỏng, múi nhiều, xơ ít, hột nhỏ.   Việc kết hợp chặt chẽ giữa Vinamit và người nông dân ở các vùng chuyên canh về lai tạo giống mới, chuyển giao công nghệ ươm trồng đã đem lại nguồn nguyên liệu ổn định, năng suất và chất lượng cao. Đây cũng là yếu tố để sản phẩm của Vinamit đạt chuẩn từ khâu đầu vào, giảm thiểu hàng kém chất lượng, có chất bảo quản, qua đó đem lại ưu thế cạnh tranh và uy tín cho Vinamit khi gia nhập thị trường trong nước và quốc tế.   Hoa trái sau khi thu mua nếu không bảo quản kịp thời sẽ bị thối hỏng. Để tránh hiện tượng đó, Vinamit đã thiết lập hệ thống trung tâm thu mua nguyên liệu là các nhà máy đông lạnh tại các vùng nguyên liệu trọng điểm như Bình Dương, Tây Ninh, Đắc Lắc, Đồng Nai. Vì vậy trái cây đã được xử lý kịp thời theo đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo độ tươi ngon ở mức cao nhất.   Nguồn nguyên liệu sau khi xử lý ở các hệ thống trung tâm thu mua đã được chuyển về ba nhà máy của Vinamit tại Bình Dương, Đắc Lắc và Kiên Giang. Vinamit đã trang bị cho cả ba nhà máy dây chuyền công nghệ hiện đại nhập từ Đức và Đài Loan như sấy chân không, sấy gia nhiệt và sấy khô, đảm bảo sản phẩm vẫn giữ được màu sắc và hương vị nguyên bản. Cả ba nhà máy này đáp ứng được các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng quốc tế như HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points – hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), ISO 9001:2008…, và được các cơ quan uy tín như Bureau Veritas, Cục Quản lý chất lượng dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận.   Chọn hướng mở rộng thị trường  Trong chiến lược kinh doanh của mình, Vinamit xác định bám lấy thị trường nội địa đầu tiên, trong đó chủ yếu là thành thị. Vì vậy Vinamit tập trung vào giữ chất lượng sản phẩm, bao bì và đảm bảo các sản phẩm không có hương liệu (màu, mùi) và hóa chất bảo quản trong quá trình chế biến.     Bên cạnh đó, Vinamit còn chịu chơi dành một khoản kinh phí lớn để đổi mới nhận diện thương hiệu. Hiện Vinamit có 10 thương hiệu thực phẩm, cà phê và trái cây sấy quan trọng, trong đó có Vinamit, V Coffee, Jack, Đức Thành, Regina, Vinatural… Từ những cố gắng này, sản phẩm của Vinamit được người tiêu dùng ưa chuộng và dần tiến tới chiếm lĩnh 90% thị phần tiêu thụ trái cây sấy.   Không chỉ sản xuất những mặt hàng mang thương hiệu riêng, Vinamit còn hợp tác với nhiều doanh nghiệp khác để sản xuất gia công như hợp đồng với hai hệ thống siêu thị lớn là Co.op Mart và Big C với yêu cầu cả hai phải cùng đứng chung tên trên bao bì, cách làm mà ông Trần Lâm Viên ví von là “các doanh nghiệp ‘cõng nhau’ cùng đi”. Sau hai siêu thị này, Vinamit còn có thêm khách hàng vào năm 2014, Vinamit cũng tiếp tục làm hàng nhãn riêng cho hai tập đoàn bán lẻ quốc tế lớn ở Trung Quốc và Mỹ nhằm đẩy mạnh khả năng phân phối với “mấu chốt là cách thức và nội dung đàm phán giữa nhà sản xuất và phân phối”.   Sau thành công này, Vinamit đã tính đến chuyện mở rộng thị phần ra quốc tế với thương hiệu của mình thông qua nhiều loại sản phẩm đa dạng, ngoài dòng trái cây sấy còn có các dòng sản phẩm sấy dẻo, sấy tẩm bổ sung gia vị… Bước đầu, Vinamit đã chọn thị trường lớn là Trung Quốc, một nơi đầy tiềm năng về sức tiêu thụ và sự tương đồng về khẩu vị nhưng cũng ẩn chứa nhiều thách thức. Để vượt qua những áp lực từ thị trường này, Vinamit đã phải liên tục đổi mới để không bị làm nhái sản phẩm và thậm chí còn phải tham gia đấu tranh trong những vụ tranh chấp thương hiệu với chính đối tác phân phối ở Trung Quốc.   Những bài học kinh nghiệm này đã đem lại cho Vinamit những điều chỉnh trong quản lý điều hành và sản xuất, góp phần đưa tới kết quả 60% tổng sản phẩm Vinamit xuất khẩu ở Đông Nam Á, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và tiến tới thị trường châu Âu, Bắc Mỹ…        Author                Quản trị        
0.37209302325581395
__label__tiasang   Trần Ngọc Thơ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty Horus và VP9 dự cuộc thi khởi nghiệp Slush 2015      Hai công đoạt giải tại cuộc thi Khởi nghiệp Startup Discovery trong khuôn khổ Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2015 (Techfest) là Horus Glass và VP9 sẽ đại diện cho Việt Nam tham dự Ngày hội khởi nghiệp Slush tại Helsinki, Phần Lan, diễn ra từ ngày 11 đến 12/11/2015.    Horus Glass là công ty khởi nghiệp được thành lập từ tháng 1/12/2014 với những sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ thực tế ảo (virtual raelity technology), công nghệ còn rất mới tại Việt Nam  cũng như trên thế giới. Tại Techfest 2015, Horus Glass đã giới thiệu kính thực tế ảo cũng như công nghệ thực tế ảo mà công ty đang  nghiên cứu và phát triển.   Đây cũng sẽ là sản phẩm mà  Horus Glass dự định sẽ mang tới Slush 2015 vào tháng 11 tới. Theo nhận định của Horus Glass thì sản phẩm kính thực tế ảo mới trong giai đoạn bắt đầu nhưng trong tương lai, tiềm năng ứng dụng của nó sẽ rất lớn, có khả năng áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như văn hóa giải trí, giáo dục, thiết kế…  Còn VP9, công ty khởi nghiệp giành tấm vé thứ hai tới Helsinki VP9 là một doanh nghiệp spin-off (đơn vị triển khai thực hiện kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và chuyển giao kết quả đó cho các nhà sản xuất) với sự tham gia của các nhà khoa học trẻ Việt Nam dựa trên công nghệ nén audio/video để giúp truyền tải tín hiệu truyền hình qua mạng internet một cách ổn định và hiệu quả. Với hệ thống truyền dẫn mạnh nối từ Việt Nam sang Mỹ và châu Âu, VP9 có khả năng cung cấp tín hiệu truyền hình đẹp và ổn định, hỗ trợ xem trên tất cả các thiết bị chạy các hệ điều hành phổ biết như Windows, Mac, Linux, Android, iOS, BlackBerry, Windows Phone.   Hiện nay, công nghệ nén đã được công ty VP9 tích hợp và phát triển thành sản phẩm hoàn thiện là Hộp truyền dẫn truyền hình VP9, Kính thực tế ảo, tai nghe inear Vmusic, phần mềm âm thanh 3D và các phần mềm nghe nhìn khác…  Tham dự hệ sinh thái khởi nghiệp Slush 2015, Horus Glass và VP9 sẽ có nhiều cơ hội giao lưu với các công ty khởi nghiệp quốc tế, đồng thời tìm hiểu về thị trường công nghệ thế giới và gặp gỡ các nhà đầu tư thiên thần, qua đó mở rộng cơ hội phát triển ở tầm cao hơn.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty khởi nghiệp nào sẽ làm thay đổi thế giới?      Tạp chí The Atlantic vừa thực hiện cuộc trưng cầu ý kiến thường niên lần thứ hai đối với những người lãnh đạo thế giới công nghệ (bao gồm 101 vị lãnh đạo, nhà phát minh, và nhà tư tưởng lớn trong ngành) về những vấn đề “nóng” trong công nghệ, chính trị và văn hóa hiện nay. Kết quả cuộc khảo sát đã cho thấy nhiều điều hết sức thú vị và không kém phần ngạc nhiên.     Không phải công ty nào ở Thung lũng Silicon cũng muốn làm thay đổi thế giới. Một số công ty chỉ muốn làm đơn giản hóa một quy trình, loại bỏ sự thiếu hiệu quả, hoặc (nếu chúng ta thành thật với nhau) chỉ đơn giản là họ muốn kiếm tiền.  Nhưng – nếu mọi việc đều ổn – thì công ty nào sẽ làm thay đổi thế giới?  Với câu hỏi này, có một cái tên thường được nhắc đi nhắc lại: Elon Musk.  “Bất kỳ công ty nào do Elon dựng lên đều có thể làm thay đổi thế giới,” Logan LaHive, nhà sáng lập kiêm CEO  của Belly khẳng định.  Mike Olsen, nhà sáng lập kiêm giám đốc chiến lược của Cloudera, cho biết: “Khó có thể gọi Tesla Energy, công ty con mới thành lập của Tesla chuyên về công nghệ pin, là một công ty khởi nghiệp, nhưng đó là công ty thú vị nhất trên thị trường hiện nay. Nó sẽ trực tiếp làm thay đổi cách chúng ta dự trữ và phân phối năng lượng. Nhưng điều quan trọng hơn là công nghệ và lợi thế kinh tế nhờ quy mô mà nó tạo ra chắc chắn sẽ giúp hình thành nên một hệ sinh thái – và cả một thị trường hoàn toàn mới – cho phép các nhà sáng tạo khác tha hồ sáng tạo sản phẩm mới, gây dựng các công ty khởi nghiệp cũng như đóng góp thêm vào quá trình tiến hóa của năng lượng xanh.”   Một số người khác đề cử những công ty khác của Musk như SpaceX.  Tuy vậy, không phải ai cũng tập trung vào riêng mình Elon Musk. Kevin Kelly, một cây bút lâu năm cho tạp chí Wired, cho rằng hãng công nghệ tăng cường thực tế ảo Magic Leap sẽ là nhân tố làm thay đổi thế giới. Anh nói: “Thực tế ảo và tăng cường thực tế ảo sẽ là nền tảng lớn tiếp theo sau di động.”  Eric Wahlforss, nhà sáng lập Soundcloud, lại đưa ra một lựa chọn bất thường hơn. Theo anh, Inboard Skate, công ty sản xuất loại ván trượt mỏng có gắn động cơ bên trong bánh xe, mới là trào lưu bùng nổ tiếp theo. Anh nói: “Mọi người đang đánh giá thấp vai trò của những chiếc ván trượt điện trên cương vị là giải pháp cho những vấn đề cấp bách trong khi di chuyển. Suốt 5 tháng qua ngày nào tôi cũng dùng ván trượt này để đi làm, và tôi rất thích nó.”  Ngoài ra, cũng có người nhắc đến Kiva, một công ty tài chính vi mô và Patreon, công ty giúp các cá nhân gửi những khoản tiền tài trợ nhỏ định kỳ cho các nghệ sĩ.  Waldo Jaquith, giám đốc công ty Open Data, thì tỏ ra không lạc quan lắm. Anh nói: “Tôi không biết công ty nào sẽ làm thay đổi thế giới. Nhưng tôi biết rất nhiều công ty sẽ nỗ lực để giúp cuộc sống của 5% công dân Mỹ – tầng lớp được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi nhất – thêm một chút thoải mái, tiện lợi vào cuộc sống vốn đã quá tiện lợi và thoải mái của họ rồi.”  Dưới đây là một số thông tin thêm về kết quả cuộc khảo sát:  Câu hỏi: Công ty công nghệ nào được đánh giá cao quá tiềm năng thực tế nhất?  Kết quả:  –    Uber: 23% (Một công ty khởi nghiệp hoàn toàn không có tài sản hiện vật! Vậy mà Uber đang được đánh giá ngang ngửa với GM và Ford! – Alok Bhanot, Giám đốc Kỹ thuật kiêm Phó Giám đốc điều hành của VeriFone).  –    Twitter: 14%  –    Snapchat: 9%  –    Slack: 6%    Câu hỏi: Có phải chúng ta đang ở trong một quả bong bóng công nghệ?  –    Không: 57% (Chắc chắn chúng ta vẫn sẽ thấy những công ty được định giá cao ngất ngưởng và họ vẫn chứng tỏ được tính hiệu quả trong các mô hình kinh doanh của mình và vẫn hoạt động tốt. – Michael A. Brown, Chủ tịch kiêm CEO của Symantec.)  –    Có: 31% (Chắc chắn là thế rồi. Quả bong bóng này còn tồi tệ hơn quả bong bóng dot-com nữa. Hàng núi tiền đang bị ném vào các dự án ngắn hạn và chạy theo trào lưu nhất thời; không chỉ có thế, tiền lương thưởng cho những tài năng kỹ sư phần mềm đang cao ngất ngưởng. – Jay Rossiter, Phó Giám đốc cấp cao về khoa học và công nghệ của Yahoo.)  –    Có thể: 12%    Câu hỏi: Công ty công nghệ nào sẽ làm thay đổi thế giới?  Kết quả:  –    Tesla, hay bất kỳ thứ gì Elon Musk khởi tạo lên: 7%  –    Theranos: 7%  –    Slack: 5%  Câu hỏi: Giả sử Thung lũng Silicon có một vị Chủ tịch riêng, người đó sẽ là ai?  Kết quả:  –    Elon Musk: 16%  –    Sheryl Sandberg: 10%  –    Marc Andreessen: 9%  Câu hỏi: Nếu có thể loại bỏ một phát minh hay sáng kiến nào đi, bạn sẽ loại bỏ cái nào?  Kết quả:  –    Gậy tự sướng: 12%  –    Các loại vũ khí hạt nhân và nguyên tử: 9%  –    Facebook và/hoặc Twitter: 8%    Câu hỏi: Từ “hot” nhất trong làng công nghệ hiện nay là gì?  Kết quả:  –    Internet của Vạn Vật: 17%  –    Unicorn: 7%    Câu hỏi: Trung bình, bạn làm việc bao nhiêu tiếng mỗi tuần?  Kết quả:  –    60 – 69 tiếng: 27%  –    50 – 59 tiếng: 21%  –    Quá nhiều, không tính được: 19%  –    70 – 79 tiếng: 13%  –    80 tiếng hoặc hơn: 12%  –    Một số câu trả lời khác: Viết ra một con số ở đây tức là có ý rằng thực sự tồn tại một ranh giới giữa “công việc” và “đời sống cá nhân”. Bản thân tôi hiện tại không thích sự cân bằng giữa hai điều đó. – Logan LaHive, nhà sáng lập kiêm CEO của Belly. Tôi làm việc tất cả các tiếng trong tuần. – Philip Krim, đồng sáng lập kiêm CEO của Casper. Tôi làm 50 tiếng mỗi tuần. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nếu làm việc nhiều hơn số đó, chất lượng công việc của bạn chỉ có đi xuống mà thôi. – Jerremy Howard, nhà sáng lập kiêm CEO của Enlitic.    Câu hỏi: Trong 20 năm tới, công ty nào trong số các công ty sau đây vẫn còn hoạt động?  Kết quả:  –    Apple: 95%  –    Google: 94%  –    Amazon: 91%  –    Facebook: 75%  –    Microsoft: 71%  –    IBM: 54%  –    Uber: 52%  –    LinkedIn: 48%  –    PayPal: 39%  –    eBay: 29%  –    Twitter: 23%  –    Yahoo: 16%  –    Ý kiến khác: Có một câu hỏi khác thú vị hơn là trong 20 năm tới, những công ty nào sẽ xuất hiện. Trong 20 năm nữa, chúng ta sẽ phải đối mặt với những thách thức rất khác so với bây giờ. Tôi cho rằng chúng ta sẽ ít quan tâm tới mạng xã hội hơn mà tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực như năng lượng thay thế, sinh học tổng hợp, và công nghệ địa cầu. Tôi cũng hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều công ty đa quốc gia nữa. – Kate Crawford, nhà nghiên cứu trưởng thuộc Trung tâm Nghiên cứu Microsoft, Giáo sư thỉnh giảng Trung tâm Truyền thông Dân sự, Học viện Công nghệ Massachusetts. Người ta thường chỉ nhìn vào tốc độ thành công chóng mặt của các công ty mà không để ý tới sự chậm chạp của chúng trong quá trình biến mất. Lẽ ra nên hỏi về sự phù hợp với thời đại của các công ty trong tương lai thì đúng hơn. Những công ty như Yahoo đã “hấp hối” từ gần một thập kỷ nay rồi nhưng đừng mong họ sẽ nhanh chóng biến mất. – Carl Bass, Chủ tịch kiêm CEO của Autodesk.  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn:  http://www.theatlantic.com/technology/archive/2015/10/which-new-startup-will-actually-change-the-world/412924/  http://www.theatlantic.com/magazine/archive/2015/11/do-you-fear-intelligent-robots/407860/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty startup Hà Lan: “Chúng tôi muốn xóa đi định nghĩa của từ ‘rác thải’ trong từ điển.”      Công ty khởi nghiệp StoneCycling – Hà Lan đã biến những loại gạch men thải loại, bồn cầu, thủy tinh hỏng và vật liệu cách nhiệt trở thành một loại vật liệu xây dựng mới thân thiện với môi trường.      Thiết kế độc đáo của gian hàng sử dụng  gạch WasteBesedBricks: TrueTalker  Khi còn học ở Học viện thiết kế Eindhoven, Hà Lan, Tom van Soest đã thiết kế một chiếc máy xay khác với những máy xay thông thường. Thay vì trộn dâu và chuối cho món sinh tố, thì sản phẩm này có thể nghiền bồn rửa, nhựa, gạch, vật liệu cách điện cũ và thủy tinh. Từ cơ sở đó, vào năm 2013, Massa và van Soest đã thành lập StonesCycling, một công ty chuyên biến rác thải công nghiệp từ gốm sứ, thủy tinh và vật liệu cách nhiệt trở thành một loại vật liệu xây dựng mới: gạch WasteBesedBricks. Sản phẩm gạch WasteBesedBricks sử dụng ít năng lượng hơn nhiều so với quy trình sản xuất gạch truyền thống và có nhiều ưu điểm thú vị. Dưới đây là những gì Massa chia sẻ về câu chuyện của họ.  Phương châm của các bạn là hãy bắt đầu từ những vấn đề. Vậy vấn đề các bạn đang giải quyết là gì?  Vấn đề là người ta thường chỉ nhìn nhận rác thải công nghiệp đơn thuần là rác thải. Còn chúng tôi cho rằng từ rác thải công nghiệp có thể tạo ra những điều mới mẻ. Tom van Soest đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ở Học viện Thiết kế bốn năm trước đây từ ý tưởng này.  Do khủng hoảng kinh tế, rất nhiều những tòa nhà đã bị dỡ bỏ – đó là những công trình có chất lượng thấp hoặc những công trình không còn đáp ứng được nhu cầu của chủ sở hữu. Tom đã bắt đầu tìm hiều những gì xảy ra trong quá trình dỡ bỏ, xem liệu có thể tái chế những vật liệu phế thải trở thành một loại vật liệu mới có chất lượng cao hay không. Anh đã thử áp dụng một vài phương pháp kỹ thuật và nhận ra rằng, nếu kết hợp chúng theo đúng cách và thực hiện đúng quy trình, ta có thể cho ra một loại vật liệu mới rất ổn định.  Anh ấy đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực khi trình bày ý tưởng của mình trong lễ tốt nghiệp. Vì tôi từng có kinh nghiệm làm việc ở các công ty khởi nghiệp nên anh ấy đề nghị tôi cùng hợp tác. Chúng tôi quyết định tập trung sáng tạo ở mắt xích nền tảng của lĩnh vực xây dựng chính từ những phế liệu trong lĩnh vực này: đó là gạch. Vì vậy, chúng tôi thành lập  StoneCycling. Một năm sau đó, dòng sản phẩm gạch WasteBasedBricks ra đời.  Ưu điểm và hướng phát triển của gạch WasteBasedBrick là gì?  Loại gạch này có thể đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng. Ban đầu, chúng tôi sử dụng những chất phế thải từ quá trình phá dỡ trong xây dựng sau đó dần dần chuyển sang sử dụng cả chất phế thải gốm sứ trong công nghiệp bao gồm: gạch men, bồn rửa mặt, thủy tinh công nghiệp, và vật liệu chịu nhiệt. Nguồn vật liệu này có số lượng lớn hơn hẳn và chất lượng thì chỉ khác biệt rất ít. Sau đó, chúng tôi nung vật liệu này dưới nhiệt độ thấp hơn so với các loại gạch khác và cho ra sản phẩm có tính thẩm mỹ rất cao. Những tính toán sơ bộ chỉ ra rằng loại gạch này sẽ giúp tiết kiệm khoảng 25% năng lượng trong quá trình sản xuất. Trong mùa thu này, những nghiên cứu, phân tích độc lập sẽ được thực hiện để kiểm chứng điều đó.  Vì sử dụng chất phế thải trong xây dựng còn là điều rất mới mẻ, nên chúng tôi cần phát triển một sản phẩm không chỉ đáp ứng được tính bền vững mà còn phải đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người dùng. Gạch WasteBasedBricks có thể mang đến cho người dùng những sản phẩm rất cool mà vẫn đảm bảo những thuộc tính kỹ thuật.  Hiện nay, bên cạnh việc sử dụng những loại phế liệu đã nêu, chúng tôi cũng thử nghiệm với nhiều loại phế liệu khác từ các loại chất thải nhiên liệu trong các nhà máy điện và các nhà máy sản xuất đồng. Thường thì nguồn phế thải đó hoàn toàn có thể sử dụng được, nhưng những chính sách về môi trường thường không cho phép sử dụng loại nguyên liệu đầu vào đó trong sản xuất. Tuy vậy, hiện nay chính phủ ở Hà Lan và nhiều nước Châu Âu đang nỗ lực để tạo những điều kiện thuận lợi cho hướng đi này.  Song song với việc phát triển vật liệu, chúng tôi tiến hành làm việc với những nhà kinh doanh bất động sản, các công ty phá dỡ và công ty xây dựng để hoạt động phá dỡ được tiến hành có chọn lọc hơn. Nếu chúng tôi sẵn sàng mua những phế thải sạch, thì đó là động lực để những công ty phá dỡ làm việc một cách có phân loại. Đối với các công ty xây dựng, họ sẽ định hướng sử dụng những loại vật liệu nhất định trong xây dựng và đối với nhà đầu tư bất động sản, giá trị tài sản của họ sẽ gia tăng bởi vật liệu sẽ giữ giá hơn so với trước kia.  Thử thách lớn nhất đối với các bạn là gì?  Một công ty mới thành lập cần phải hoạt động liên tục. Nhưng những hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thì lại thường diễn ra chậm chạp. Thường phải mất 3 năm để một công trình nằm trong thiết kế được triển khai xây dựng. Đối với công ty chúng tôi, để lấp đầy kẽ hở thời gian này và tìm ra những dự án có thể hiện thực hóa nhanh hơn chính là thử thách lớn nhất. Đó là lý do chúng tôi tập trung vào lĩnh vực nội thất. Lĩnh vực này có chu trình hoạt động nhanh hơn nhiều.  “Giấy thông hành vật liệu xây dựng” là gì và nó mang lại những lợi ích nào?  Một giấy thông hành xây dựng là một tài liệu hoặc cơ sở dữ liệu trong đó liệt kê tất cả các loại vật liệu được sử dụng trong một công trình. Khi tiến hành phá dỡ, quá trình tìm ra những loại phế liệu còn giá trị để tái sử dụng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.  Loại gạch mới đang được sử dụng như thế nào? Bạn có thể mô tả một vài dự án không?  Các công trình xây dựng từ vật liệu phế thải vẫn còn là điều rất mới mẻ. Vì vậy chúng tôi cần tìm kiếm những nhà đầu tư có thể nhận ra được sự ưu việt của loại gạch này. Đó thường là những nhà đầu tư muốn phát triển những dự án độc đáo và bền vững  .  Bên cạnh TrueTalker, một gian hàng hình nón có lò sưởi bên trong mà chúng tôi đã xây ở Amsterdam, cùng với Studioninedots, một ngôi nhà ở Rotterda, chúng tôi đang có rất nhiều dự án thú vị khác sẽ được thực hiện trong năm sau bao gồm những ngôi nhà, các cửa hàng bán lẻ và nhiều căn hộ chung cư ở Hà Lan, Luxembourg, Anh và Belgium.  Chúng tôi nhận được ngày càng nhiều đơn đặt hàng từ những kiến trúc sư trên khắp thế giới, như ở Manhattan, Brooklyn, San Francisco… Các loại gạch Cà tím, gạch nấm Trufle và gạch Wasabi của chúng tôi được sử dụng để ốp các bức tường ở nhiều quán bar và quầy tính tiền.  Bước đi tiếp theo của StoneCycling là gì?  Chúng tôi muốn thực hiện tốt hơn nữa những công việc hiện nay. Nghĩa là chúng tôi sẽ sử dụng thêm nhiều loại phế liệu khác nhau để sản xuất vật liệu xây dựng với chất lượng tốt hơn nữa. Cuối năm nay, chúng tôi sẽ hợp tác với xưởng thiết kế Amsterdam để tổ chức một buổi triển lãm những sản phẩm nội thất làm từ loại gạch mới. Xa hơn nữa, chúng tôi muốn hợp tác với những kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất trên khắp thế giới để thực hiện những dự án độc đáo và đầy cảm hứng. Cuối cùng, chúng tôi muốn xóa đi định nghĩa của từ “rác thải” trong từ điển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty TNHH Môi trường Nano: Thành công nhờ lựa chọn con đường ĐMST      Là một công ty tư nhân có quy  mô nhỏ, Công ty TNHH Môi  trường Nano đã xây dựng thành công thương hiệu, mở rộng  thị trường, tăng doanh thu… nhờ quyết tâm đi theo con đường ĐMST.    Hơn 5 năm trầy trật nghiên cứu, ThS. Nguyễn Văn Diện (Giám đốc Công ty TNHH Môi trường Nano) và các cộng sự đã thành công trong việc áp dụng công nghệ nano để chế tạo máy ozone công nghiệp phục vụ xử lý môi trường. Trong quá trình tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện sản phẩm, công ty đã tiếp cận được với Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) và được IPP hỗ trợ “cải tạo và nâng cấp máy ozone công nghiệp”. Kết quả, Công ty Nano cùng với các chuyên gia của Đại học Quốc gia TP.HCM đã hoàn thành nghiên cứu cải tiến và nâng cấp toàn diện máy ozone công nghiệp. Sản phẩm máy ozone công nghiệp được cải tiến “made in Vietnam” có những ưu điểm như: mẫu mã nhỏ gọn, điều khiển tự động, tiết kiệm điện, hoạt động ổn định và quan trọng hơn, máy đã xử lý được mùi, màu và diệt khuẩn trong nước thải, nước sinh hoạt, nước tinh khiết, xử lý mùi nơi công cộng và các nhà máy.          Từ thành công của máy ozone công nghiệp, Công ty Nano tiếp tục ứng dụng thành công công nghệ ozone vào sản xuất modul xử lý nước thải đô thị. Modul xử lý nước thải đô thị có ưu điểm là nhỏ gọn, không chiếm nhiều diện tích, không phải đào bới xây dựng bể chứa, dễ dàng di chuyển khi cần thiết, không gây tiếng ồn và phát mùi khi hoạt động. Sản phẩm này có thể ứng dụng trong xử lý nước thải bệnh viện.   ThS. Diện cho biết, hiện tại, sản phẩm của công ty đã được đưa vào ứng dụng tại hơn 20 công trình xử lý nước thải công nghiệp và hơn 30 phòng khám, bệnh viện ở các tỉnh, thành phía Nam. Các sản phẩm đạt chất lượng tương đương máy nhập ngoại từ châu Âu nhưng giá thành chỉ bằng 1/3. Vì vậy, các sản phẩm của công ty hiện đang được nhiều khách hàng quan tâm và đặt hàng, nhất là modul xử lý nước thải đô thị. Có được thành công này là nhờ Công ty Nano đã chọn đúng hướng đi và mạnh dạn, kiên trì với con đường ĐMST.  ĐMST thực sự đã tạo nên “cú hích” đáng kể đối với kế hoạch phát triển của công ty. Sau khi ĐMST, công ty đã đạt doanh thu tăng gấp đôi, cụ thể từ 2010 – 2012 chỉ đạt bình quân 60 tỷ/năm, nhưng năm 2013 sau khi ĐMST đã đạt khoảng 120 tỷ. Đặc biệt, chất lượng dịch vụ bảo hành, sửa chữa rất chu đáo, kịp thời vì các kỹ sư của công ty đã làm chủ hoàn toàn được công nghệ. Thời gian tới công ty tiếp tục hợp tác với các chuyên gia trong và ngoài nước để nghiên cứu đưa ra sản phẩm mới; tăng cường ứng dụng sản phẩm sẵn có vào thị trường trong nước và hợp tác với các DN nước ngoài để đưa sản phẩm “made in Vietnam” xuất khẩu ra nước ngoài, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty TNHH thương mại và sản xuất Thép Việt: Hàng trăm triệu đô cho công nghệ cao      Để trở thành một công ty hàng đầu Đông Nam Á về sản xuất thép xây dựng, Công ty TNHH thương mại và sản xuất Thép Việt đã không ngần ngại đầu tư hàng trăm triệu đô cho công nghệ cao và coi đó là vũ khí chiến lược trong cạnh tranh, phát triển.      Sau sáu năm thành lập, Thép Việt bắt tay vào thiết lập một chiến lược phát triển dài hạn dựa vào công nghệ tiên tiến, điều đó cũng thể hiện đậm nét trong câu phát biểu của tổng giám đốc công ty Thép Việt, ông Đỗ Duy Thái: “Ý niệm về công nghệ sẽ cứu chúng ta” và “Tôi tin rằng công nghệ và đổi mới công nghệ tạo ra sức bật cho mỗi doanh nghiệp”. Chính vì vậy, trong cả quá trình phát triển, Thép Việt luôn dành riêng những khoản đầu tư “khủng” cho công nghệ và đổi mới quản trị nhằm hướng đến mục tiêu dài hạn là xây dựng thành công một thương hiệu thép Việt thực sự.  Xác định rõ yếu tố quan trọng “chiếm ưu thế nhờ công nghệ cao”, Thép Việt đã thực hiện những bước đi đầu tiên trong hoạt động đổi mới sáng tạo là xây dựng các nhà máy sản xuất thép. Kể từ năm 1999, Thép Việt đã lần lượt đầu tư 68 triệu đô la và thêm 300 triệu nữa để xây dựng ba nhà máy sản xuất thép Pomina 1, 2, 3 với dây chuyền công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới của Đức và Italia. Với việc xây dựng ba nhà máy hiện đại này, Thép Việt mong Việt Nam không cần phải phụ thuộc vào nguồn phôi thép nhập khẩu để có thể tự chủ động trong sản xuất từ nguyên liệu trong nước, đồng thời tiết kiệm được ngoại tệ đáng kể.   Trên thực tế, việc áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại đã đem lại cho Thép Việt nhiều ưu thế trong cạnh tranh so với nhiều nhà máy trong ngành sản xuất thép xây dựng, đặc biệt là hạn chế được mức tiêu hao năng lượng, tiết kiệm chi phí vận hành, giảm chi phí do năng suất sản xuất cao, thời gian luyện thép được rút ngắn đáng kể. Theo tính toán của Thép Việt, so với công nghệ cũ nhập của Trung Quốc thì công nghệ mới đã tiết kiệm tới 40% năng lượng tiêu thụ. Hơn nữa, sản phẩm của Thép Việt còn không ngừng được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của các bộ tiêu chuẩn thép hàng đầu thế giới như tiêu chuẩn JIS (Nhật Bản), ASTM (Mỹ).  Công nghệ sản xuất thép này của Thép Việt còn hạn chế những tác động xấu đến môi trường, cải thiện điều kiện lao động khi giảm lượng bụi thải ra từ 10 đến 12kg/tấn thép, so với 18 đến 20kg/tấn thép của công nghệ cũ.     Song song với đổi mới công nghệ trong sản xuất, Thép Việt còn mạnh dạn đầu tư 2 triệu đô la vào nâng cao năng lực quản trị với hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (SAP ERP – Systems Applications & Products Enterprise Resource Planning), không chỉ không chỉ giúp doanh nghiệp chuyển đổi cách thức mà còn giúp đạt được kết quả vượt trội trong vận hành. Khó khăn khi áp dụng hệ thống SAP ERP là buộc phải “thay đổi thói quen đã tồn tại 15 năm của nhân viên” nhưng Thép Việt vẫn kiên quyết thực hiện. Nhiều hình thức đào tạo nhân lực linh hoạt cũng được triển khai dành cho các chuyên gia, cố vấn, đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật đảm bảo để làm chủ và vận hành dây chuyền công nghệ. Nhiều lớp makerting, đào tạo kỹ năng làm việc cũng được mở cho đội ngũ cán bộ, nhân viên.    Sự đổi mới từ hai mảng công nghệ và điều hành đã đem lại cho Thép Việt những lợi thế vượt trội để đưa ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, giá thành thấp, nguồn hàng ổn định do không phải phụ thuộc vào nguồn phôi nhập khẩu. Năm 2012, công ty đã đứng đầu thị trường thép xây dựng trong nước với 15,5% thị phần. Hiện nay các sản phẩm Thép Việt chủ yếu phục vụ thị trường nội địa với 92% sản lượng nhưng trong tương lai sẽ phấn đấu mở rộng thị trường quốc tế từ 8% lên tới 30% như mong đợi của ông Đỗ Duy Thái là “vươn ra các quốc gia lân cận”.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty Việt Nam đầu tiên lọt danh sách Cool Vendors toàn cầu      Mới đây Công ty tư vấn công nghệ Gartner (Mỹ) đã công bố Danh sách công ty hấp dẫn (Cool  Vendors) tại các thị trường mới nổi trên toàn cầu, trong đó có Bkav của Việt  Nam. Đây là lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam lọt vào danh sách  này của Gartner.    Cool Vendors là những công ty mới nổi được Gartner đánh giá có sản phẩm, dịch vụ sáng tạo, đạt chất lượng tốt có thể cung cấp ra thị trường toàn cầu.     Gartner nhận định, Bkav là đại diện của một lực lượng cạnh tranh mới trên thị trường an ninh mạng, trong bối cảnh nhu cầu về phòng chống mã độc thực sự cấp bách đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng.     Ông Nguyễn Tử Quảng, Chủ tịch Hội đồng quản trị – Tổng giám đốc, cho biết: “Bkav đang đẩy mạnh chiến lược đưa sản phẩm ra thị trường toàn cầu. Công ty đã thành lập chi nhánh Bkav USA đặt tại Thung lũng Silicon, Mountain View, bang California – Mỹ. Quý III năm nay, Bkav sẽ ra mắt một số dịch vụ có khả năng thay thế và cạnh tranh với các dịch vụ của Google”.     Trong vài năm trở lại đây, Bkav không chỉ hoạt động trong lĩnh vực truyền thống là An ninh mạng, mà còn được biết đến là nhà sản xuất phần cứng với Công ty thành viên Bkav SmartHome chuyên về Hệ thống nhà thông minh. Bkav cũng đang nghiên cứu sản xuất các thiết bị điện tử thông minh và các dịch vụ Cloud Computing.     Ngoài Bkav, nằm trong danh sách Cool Vendor năm nay còn có E-Like của Brazil, DocPlanner của Ba Lan, và hai doanh nghiệp của Ấn Độ và  Nam Phi.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Corbevax có phải là vaccine hàng tỷ người mong đợi?      Trên thế giới, hiện có 30 loại vaccine corona đã được công nhận, ngoài ra còn có khoảng vài trăm loai vaccine đang được nghiên cứu. Corbevax là loại mới nhất trong số đó.      Các nhà phát triển muốn qua loại vaccine mới này đem lại sự bình đẳng đối với tiêm chủng., tuy nhiên để đạt được điều này cần phải có một số thay đổi cơ bản. Loại vaccine mới có cấu trúc khác với các vaccine Covid hiện có, đang gây xôn xao dư luận. Corbevax, như tên gọi của chế phẩm này, được phát triển với sự hợp tác giữa Trung tâm Phát triển vaccine của Bệnh viện Nhi Texas (CVD của Trẻ em Texas) và Đại học Y khoa Baylor. Không có một công ty dược phẩm lớn nào chống lưng cho loại vaccine, thực tế đây là một dạng vaccine phổ rộng.  Corbevax cần sớm tạo ra một sự công bằng trong tiêm chủng trên thế giới, bác sĩ nhi khoa Peter J. Hotez và nhà phát triển vaccine Maria Elena Bottazzi đã viết và công bố trên tạp chí Scientific American.  Corbevax là một loại vaccine protein tái tổ hợp – tương tự như Novavax, được coi là một giải pháp thay thế cho những người còn hoài nghi vaccine mRNA. Trong cả hai loại vaccine, protein đều được sản xuất nhân tạo, có cấu tạo giống hệt virus corona.  Để vaccine protein phát huy hiệu lực, cần có một chất phát huy tác dụng, còn được gọi là chất bổ trợ. Trong trường hợp của Corbevax, đây là loại alum lâu đời, là hỗn hợp của muối nhôm và chất tăng cường CpG 1018 của Dynavax.  Ban đầu, vaccine này được Đại học Y khoa Baylor phát triển như một chế phẩm để khắc phục hậu quả của dịch bệnh Sars-1 năm 2002. Tuy nhiên, sau khi đại dịch Sars kết thúc, dự án không còn được tài trợ. Nó chỉ được hồi sinh với sự hợp tác của Bệnh viện Nhi đồng Texas do xuất hiện đại dịch corona hiện nay.  Sau các nghiên cứu tiền lâm sàng trong phòng thí nghiệm của các nhà phát triển Mỹ, vaccine đã được chuyển giao cho công ty dược phẩm Ấn Độ Biological E. Limited (BioE) để sản xuất mà không cần xin cấp bằng sáng chế. Ngày 21/12/2021, dựa trên dữ liệu do công ty cung cấp, vaccine này đã nhận được giấy phép sử dụng khẩn cấp của Ấn Độ.  BioE cho hay, hiệu quả và tài liệu về tác dụng phụ đều tốt hơn so với Covshield, loại vaccine đã được phê duyệt ở Ấn Độ cho đến thời điểm đó. Về nguyên tắc, nó tương đương với vaccine AstraZeneca của Anh và Thụy Điển. Điều này dựa trên cách tiếp cận từ thiện mà các nhà phát triển tin rằng có thể giúp kiểm soát đại dịch nhanh hơn. Do không cần bản quyền sáng chế nên theo  kế hoạch  sẽ sớm sản xuất được hơn một tỷ lọ thuốc.  Chính phủ Ấn Độ đã đặt mua 300 triệu liều. Doanh nghiệp BioE dự định mỗi tháng sẽ sản xuất được 100 triệu liều. BioE dự kiến sẽ xuất một tỷ liều cho các nước khác. Điều đó có nghĩa là nhờ có Corbevax  nên không lâu nữa số người được tiêm chủng sẽ nhiều hơn số vaccine mà Mỹ và tất cả các nước G7 đã quyên góp.  Theo Hotez và Bottazzi vaccine Corbevax có những ưu điểm vượt trội, đó là “an toàn, hiệu quả và có thể sản xuất tại địa phương với chất lượng cao“. Việc bảo quản cũng khá đơn giản. Chế phẩm này rất phù hợp với các nước có thu nhập thấp và trung bình ở châu Phi và châu Á cũng như Mỹ Latinh.  Cho đến cuối tháng 12, đã có 730 triệu liều vaccine được phân phối cho nước thứ ba, đúng theo kế hoạch thì phải là 4 tỷ liều. Hiện đã có 30 loại vaccine được phê duyệt kể cả Corbevax, trong đó EU có 5 loại. Một số chuyên gia hàng đầu còn lăn tăn về hiệu lực của Corbevax. Hiện chưa rõ liệu Corbevax có tương đương với các loại vakzin đã có trên thị trường hay không.  Theo các chuyên gia, với 30 loại vaccine hiện có, là đủ để chống  lại virus corona . Không cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển các loại vaccine mới, vì đó là điều không cần thiết và chỉ gây lãng phí. Nếu cần thì đó là cần tiếp tục nghiên cứu tối ưu hóa các loại vaccine hiện có, thích ứng chúng với các biến thể mới nếu có.   Hoài Nam tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus236194362/Novavax-Alternative-Ist-Corbevax-der-Corona-Impfstoff-auf-den-Milliarden-Menschen-hoffen.html  https://www.spiegel.de/wissenschaft/medizin/corona-pandemie-open-source-projekt-corbevax-der-impfstoff-fuer-die-armen-a-e9dd0b79-4252-488e-9091-9b718e9cd607    Author                .        
__label__tiasang COVID đang thay đổi cách nghiên cứu về hành vi con người      Chỉ trong thời gian ngắn từ khi đại dịch xảy ra, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã được thực hiện theo cách thức, quy mô rất khác so với trước đây. Một số nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn ở quy mô nhỏ gần như ngay lập tức sau khi hoàn thành.    Trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19, Jay Van Bavel, nhà tâm lý học tại Đại học New York muốn xác định các yếu tố xã hội nào có thể giúp dự đoán ủng hộ của mỗi người đối với các biện pháp sức khỏe cộng đồng chẳng hạn như giãn cách xã hội hoặc đóng cửa nhà hàng. Ông đã có một số cộng tác viên sẵn sàng thu thập dữ liệu khảo sát nhưng vì đại dịch đang diễn ra khắp nơi, rất khó thực hiện nghiên cứu theo cách thức truyền thống. Vì vậy, Jay Van Bavel đã thực hiện bằng một phương pháp mới lạ.     Bavel đã đăng một mô tả về nghiên cứu trên Twitter vào tháng 4, với lời mời các nhà nghiên cứu khác tham gia. “Có lẽ tôi sẽ có thêm khoảng mười người tham gia và thêm một số điểm dữ liệu khác”, ông nhớ lại dự định của mình. Tuy nhiên, kết quả khiến ông rất bất ngờ. Hơn 200 nhà khoa học từ 67 quốc gia đã tham gia. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của hơn 46.000 người.      Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về tổng thể, những người được khảo sát cho rằng bản sắc dân tộc (national identity) là yếu tố quan trọng đối với mình thì có xu hướng tuân thủ các chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu hiện đang được đánh giá bình duyệt.      Đối với các nhà khoa học xã hội, đại dịch COVID-19 đã mang đến một cơ hội độc nhất vô nhị – một thí nghiệm tự nhiên “trên mọi nền văn hóa và các nhóm kinh tế xã hội”, Andreas Olsson, nhà tâm lý học tại Viện Karolinska ở Stockholm cho biết. Mọi người đều đang phải đối mặt với những mối đe dọa như nhau về sức khỏe và sinh kế, “vì vậy chúng ta có thể thấy cách mọi người phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa, nhóm xã hội và sự khác biệt cá nhân”. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể so sánh hành vi của mọi người trước và sau khi có những thay đổi chính sách lớn, hoặc để nghiên cứu luồng thông tin chính thống và thông tin sai lệch dễ dàng hơn.     Việc người dân các nước ủng hộ các chính sách y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, phụ thuộc một phần vào bản sắc dân tộc. Ảnh: Reuters / Alamy.     Từ nghiên cứu đến thực nghiệm nhanh chóng     Trước khi tiến hành nghiên cứu hợp tác trên quy mô lớn này, Van Bavel và một nhóm hơn 40 nhà nghiên cứu đã cùng nhau vạch ra những cách thức mà nghiên cứu hành vi có thể cung cấp thông tin và tác động đến cách thức con người phản ứng với coronavirus SARS-CoV-2, đúng vào thời điểm mà mọi người đang sợ hãi, hoài nghi và khủng hoảng thừa thông tin. Nhóm các nhà khoa học của Van Bavel cũng đã vạch lại các nghiên cứu trước đây có thể ảnh hưởng đến các chính sách, và xác định các dự án có tiềm năng trong nhận thức mối đe dọa, ra quyết định cũng như truyền thông khoa học, cùng những yếu tố khác.     Nhiều người háo hức áp dụng nghiên cứu này để hiểu được phản ứng của công chúng đối với các chính sách như giãn cách hay đeo khẩu trang. Trong cuộc khảo sát hơn 46.000 người, Van Bavel và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: những quốc gia mà người dân ủng hộ các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thường là những quốc gia thúc đẩy ý thức đoàn kết và gắn kết cộng đồng. Họ có tâm lý “tất cả chúng ta đều ngồi chung một con thuyền”, ông nói. Nhìn chung, các phân tích dự báo cho thấy ở các nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ thì có nhiều khả năng ủng hộ hơn đối với các biện pháp chống dich chặt chẽ như vậy. Van Bavel nói rằng điều này cho thấy có thể tận dụng bản sắc dân tộc khi thúc đẩy các chính sách y tế cộng đồng.     Các thí nghiệm khác đã chỉ ra rằng người đưa ra thông điệp cũng thực sự quan trọng. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 vừa qua đã khảo sát hơn 12.000 người ở 6 quốc gia – Brazil, Italia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ – về việc họ sẵn sàng chia sẻ thông điệp khuyến khích giãn cách xã hội. Khảo sát tập trung vào nghiên cứu thông điệp từ những người nổi tiếng như diễn viên Tom Hanks, Kim Kardashian hay của nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín như Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, trong đợt dịch, những người được hỏi từ tất cả các quốc gia đều sẵn sàng chia sẻ thông điệp liên quan đến dịch bệnh do Anthony Fauci phát ngôn. So với nhà khoa học, thông tin về dịch bệnh do người nổi tiếng đưa ra có hiệu quả kém hơn.     Mặt khác, việc sắp xếp thông điệp về dịch bệnh gắn với các giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, hoặc làm nổi bật xu hướng chấp thuận trong xã hội cũng có thể hữu hiệu. Cùng trong nhóm của Van Bavel, nhánh nghiên cứu do Michele Gelfand, một nhà tâm lý học tại Đại học Maryland ở College Park dẫn đầu đang nghiên cứu về các cách quảng bá việc đeo khẩu trang giữa những nhóm bảo thủ và tự do ở Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tám biện pháp can thiệp, phản ánh các giá trị đạo đức khác nhau và các yếu tố cụ thể đối với phòng chống COVID-19. Mục đích là tìm ra cách nào hiệu quả nhất trong việc khuyến khích các nhóm này tuân thủ hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng. Một thông điệp mà họ đang thử nghiệm là nhấn mạnh rằng việc đeo khẩu trang sẽ ‘giúp chúng ta mở cửa lại nền kinh tế nhanh hơn’ – một cách tiếp cận được thiết kế để thu hút các đảng viên Cộng hòa, những người có nhiều khả năng coi đại dịch là một cuộc khủng hoảng kinh tế hơn là một cuộc khủng hoảng sức khỏe. Còn một thông điệp khác, nhấn mạnh vào việc “một chiếc khẩu trang sẽ giữ cho bạn an toàn” – nhắm đến những người theo chủ nghĩa tự do.     “Chúng tôi đang so sánh các biện pháp với nhau để xem cách thức nào mang lại hiệu quả tốt với nhóm nào”, Gelfand nói. Do vậy, nghiên cứu này có thể đánh giá đồng thời nhiều biện pháp can thiệp cũng như khuyến nghị việc có thể sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau, ở các quy mô lớn, trên nhiều vùng khác nhau. Kết quả vẫn chưa được công bố.     Các nhà khoa học khác cũng bắt đầu sử dụng cách tiếp cận tương tự để truyền thông khuyến khích tiêm chủng ngay cả trước khi có vaccine SARS-CoV-2. Chương trình Sáng kiến Tốt về Thay đổi Hành vi tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia đã thử nghiệm các phương pháp khuyến khích mọi người tiêm vaccine cúm. Katherine Milkman, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp của cô đã thử nghiệm khoảng 20 chiến lược nhắn tin khác nhau để đánh giá. Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nhắn tin cho từng người để nói rằng một mũi tiêm phòng cúm đã được đặt trước, đặc biệt dành cho họ đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng.      Các phát hiện này ngay lập tức được các nhà nghiên cứu đang tìm cách tăng cường tỉ lệ tiêm phòng vaccine COVID-19 áp dụng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), đã thử lặp lại chiến lược này với những người đang được điều trị tại hệ thống Y tế UCLA vào tháng 2 và tháng 3, và nhận thấy rằng nó “khá hữu ích để tăng lượng người tiêm chủng COVID-19”, Milkman nói.     Và không lâu sau đó kết quả này được ứng dụng trong đời sống. Vào tháng 3, Milkman nhận được e-mail từ Steve Martin, giám đốc điều hành của công ty tư vấn khoa học – hành vi Influence at Work ở Harpenden, Vương quốc Anh, nói rằng nhóm của anh đã thực nghiệm các phát hiện của nhóm Milkman trên đảo Jersey thuộc eo biển Măng-sơ (giữa Anh và Pháp). Martin và đồng nghiệp Rebecca Sherrington, phó trưởng y tá của Chính phủ Jersey, nhận định rằng có thể tăng khả năng một người nào đó đến tiêm vaccine nếu họ có “cảm giác sở hữu” – ví dụ, bằng cách nói họ rằng ‘vaccine này đã được dành riêng cho bạn’. Martin nói: “Chúng tôi thực sự đã gặp phải vấn đề trong việc thu hút nhân viên chăm sóc tại nhà – đặc biệt là phụ nữ trẻ, vì nhiều người nghi ngờ về vaccine”. Nhưng sử dụng cách tiếp cận của Milkman, chương trình của Martin đã tăng độ phủ của nhân viên chăm sóc tại nhà lên 93% trên Jersey, so với khoảng 80% ở các khu vực khác.”    Một bảng quảng cáo ở London khuyến khích mọi người làm theo hướng dẫn để ngăn chặn COVID-19. Ảnh: SOPA Images/Zuma.     Thay đổi cách thức nghiên cứu     Các công nghệ như geotracking (theo dõi địa lý) đang giúp các nhà khoa học xã hội theo dõi cách mọi người thực sự hành xử như thế nào trước các khuyến nghị về di chuyển trong thời kỳ COVID. Van Bavel và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu theo dõi địa lý từ 15 triệu điện thoại thông minh mỗi ngày để xem xét mối tương quan giữa các xu hướng bỏ phiếu của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng. Ví dụ, những người ở các quận đã bỏ phiếu cho Donald Trump của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, có dữ liệu thay đổi khoảng cách từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 ít hơn 14% so với những người ở các khu vực đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Hillary Clinton.      Walter Quattrociocchi, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Ca’Foscari của Venice, Ý, cho biết các khả năng nghiên cứu được mở ra bằng geotracking là “vượt ngoài mong đợi của tôi”, vì “có rất nhiều dữ liệu để đo lường các quá trình xã hội”. Nhóm của ông đã sử dụng dữ liệu geotracking từ 13 triệu người dùng Facebook để xem cách mọi người di chuyển xung quanh Pháp, Ý và Vương quốc Anh trong những tháng đầu của đại dịch. Ba quốc gia thể hiện các mô hình di chuyển khác nhau phản ánh cơ sở hạ tầng và nền tảng địa lý của họ. Sự di chuyển ở Vương quốc Anh và Pháp lần lượt tập trung hơn quanh London và Paris, nhưng lại phân tán hơn giữa các trung tâm dân cư lớn của Ý. Theo ông, kết quả như vậy có thể giúp dự đoán khả năng phục hồi kinh tế khi đối mặt với các thảm họa khác.  `     Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng ngày càng nhiều các cuộc khảo sát dựa trên Internet, một xu hướng được đẩy nhanh bởi đại dịch. Một nghiên cứu của Hoa Kỳ về hoạt động hàng ngày của con người trong thời kỳ đại dịch – chẳng hạn như đi làm, thăm gia đình hoặc ăn uống tại nhà hàng – trung bình nhận được hơn 6.700 phản hồi mỗi ngày. Kết quả cho thấy quan điểm chính trị có tác động đến sự tuân thủ phòng dịch hơn là tỉ lệ người bị nhiễm COVID ở từng địa phương. Những người cho biết mình đảng viên Cộng hòa có mức độ di chuyển cao hơn gần 28% so với đảng viên Dân chủ và con số ngày càng tăng trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 9 năm ngoái.     Di sản hậu giãn cách     Đại dịch rõ ràng đang thay đổi phương pháp của các nhà nghiên cứu hành vi – và theo những cách có thể tồn tại lâu hơn trước các đợt giãn cách. Van Bavel nói: “Tôi nghĩ mọi người sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện những nghiên cứu lớn hơn, với nhiều phòng thí nghiệm hơn để tạo ra những phát hiện mạnh mẽ hơn và chúng có thể áp dụng rộng rãi hơn. Các mẫu được thu thập thông qua các dự án này đa dạng hơn so với các cách tiếp cận thông thường, và do đó, tác động từ các nghiên cứu này có thể cao hơn nhiều”, ông nói.     Theo Milkman, cuộc khủng hoảng COVID-19 cũng khiến các nhà nghiên cứu sẵn sàng hợp tác và chia sẻ thông tin hơn. Tốc độ xuất bản và thực hiện các nghiên cứu đã tăng nhanh, cô ấy nói. “Tôi đã viết một bài báo về một số phát hiện của chúng tôi trong những ngày lễ Giáng sinh chỉ trong một tuần,” cô nói. Cô xúc tiến bản thảo vì cảm thấy những phát hiện này là cấp thiết và muốn đưa chúng tới cộng đồng nhanh chóng.     Milkman nói rằng những hạn chế của COVID-19 đã thúc đẩy khoa học xã hội theo một hướng tốt. “Chúng ta nên làm ‘khoa học lớn’, theo cách mà các lĩnh vực như vật lý và thiên văn học làm. Thay vì thực hiện các thí nghiệm đơn lẻ, nhỏ lẻ, các nhà nghiên cứu giờ đây có thể tiến hành các nghiên cứu lớn tập hợp các nhóm lớn các nhà nghiên cứu để thử nghiệm 20 hoặc thậm chí 50 nhánh cùng một lúc”.     Wändi Bruine de Bruin, một nhà khoa học hành vi tại Đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết không có khả năng tuyển những người trong nhà (giãn cách) để tiến hành nghiên cứu cũng đã buộc các nhà khoa học phải đổi mới cách tuyển dụng và nghiên cứu những người tham gia. Cô là điều tra viên của “Nghiên cứu Hiểu về nước Mỹ”, đã nhiều lần khảo sát khoảng 9.000 hộ gia đình đại diện trên toàn Hoa Kỳ về các câu hỏi liên quan đến đại dịch, chẳng hạn như ‘Bạn có định tiêm phòng không?’ hay ‘Bạn nghĩ khả năng bị nhiễm bệnh như thế nào?’. Việc bị buộc phải xây dựng các quy trình để tuyển chọn mẫu đại diện quốc gia đã cho phép Bruine de Bruin và các đồng nghiệp của cô tuyển dụng rộng rãi hơn. “Bạn không cần phải ở tại địa phương,” cô nói, và bởi vì những người tham gia không phải vào phòng thí nghiệm, nên mẫu sẽ đa dạng hơn và sẽ dễ dàng hơn.     Các giải pháp kỹ thuật được thúc đẩy bởi đại dịch cũng có thể thúc đẩy việc củng cố khoa học. Alexander Holcombe, một nhà tâm lý học tại Đại học Sydney, Úc, nghiên cứu nhận thức thị giác, thứ mà ông mô tả là “một lĩnh vực khoa học rất hẹp, nơi mọi người không thực hiện các nghiên cứu trực tuyến trước đại dịch”. Giãn cách xã hội buộc nhóm của ông phải học các chương trình lập trình máy tính cần thiết để thực hiện các thí nghiệm trực tuyến. “Kết quả là chúng tôi có thể có được kích thước mẫu lớn hơn”, ông nói – “một cải tiến quan trọng về phương pháp”.     Brian Nosek, giám đốc điều hành tại Trung tâm Khoa học Mở, một tổ chức phi lợi nhuận ở Charlottesville, Virginia, coi đại dịch là cơ hội để suy nghĩ lại một số nguyên tắc cơ bản về cách nghiên cứu khoa học. “Đó là cơ hội cho chúng ta. Chà, chúng ta nên làm điều này như thế nào? Cách mọi người giao tiếp trong lĩnh vực này và tương tác với các cộng tác viên đã có sự thay đổi cơ bản. Tôi không nghĩ (cách nghiên cứu của) chúng ta sẽ quay trở lại (trước đại dịch).”     Đức Phát lược dịch  Nature 593 , 331-333 (2021)   doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-01317-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang COVIVAC: Khoa học mới trong công nghệ cổ điển      Làm sao một công ty nhỏ còn được ít người biết đến ngay trên chính đất nước mình lại đứng trước cơ hội làm ra được sản phẩm có chất lượng ở tầm thế giới? Thoạt nghe có vẻ khó tin nhưng điều đó đã hiện diện ở Viện Vắc xin và Sinh phẩm y tế (IVAC). Chất lượng hứa hẹn “vàng ròng” trong COVIVAC, sản phẩm vaccine dự tuyển của họ, là do những tiến bộ mới của khoa học tạo ra.      Có lẽ, ngay cả những người cả tin nhất cũng phải thấy hoài nghi về nhận định này, nhất là trong bối cảnh bùng nổ những màn tranh luận, mổ xẻ gây chia rẽ về vaccine nội trên mạng xã hội. Vậy ai có thể thuyết phục được mọi người tin tưởng rằng có sản phẩm Việt Nam đạt tới mức chất lượng lý tưởng, khi sản phẩm ấy vẫn còn chưa chạm đến màn thử nghiệm cuối cùng? Thật khó để gây dựng một niềm tin như vậy.  Nhưng thật kỳ lạ là những người làm vaccine ở IVAC vẫn tỏ ra bình thản, như thể sản phẩm mà họ xuất xưởng nay mai không liên quan đến những cuộc tranh luận này. Ở Nha Trang, giữa những ngày giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, gần như toàn bộ nhân lực của IVAC đều áp dụng phương châm “ba tại chỗ”, ngay cả viện trưởng. Điều họ quan tâm bậc nhất lúc này không phải là những lời bàn tán mà là chất lượng của sản phẩm đang trải qua các đánh giá của giới chuyên môn – các đợt thử nghiệm lâm sàng. “Cái tâm của những người làm vaccine là phải tạo ra được sản phẩm ổn định, an toàn và đạt hiệu lực bảo vệ cho xã hội trong bối cảnh đại dịch chứ không phải chạy theo dư luận hay lợi nhuận”, PGS. TS Lê Văn Bé, một trong những người nghiên cứu và phát triển vaccine kỳ cựu của IVAC, cho biết như vậy.      “Cái tâm của những người làm vaccine là phải tạo ra được sản phẩm ổn định, an toàn và đạt hiệu lực bảo vệ cho xã hội trong bối cảnh đại dịch chứ không phải chạy theo dư luận hay lợi nhuận”. (PGS. TS Lê Văn Bé)      Cái tâm ấy đã trở thành cơ sở quan trọng để đưa họ đến với một liên minh nghiên cứu quốc tế do tổ chức phi chính phủ PATH điều phối, điểm xuất phát của việc làm chủ được công nghệ nền tảng và đón nhận những thành tựu mới của khoa học. Nhưng để hội tụ tất cả những điều đó vào một sản phẩm đúng tinh thần slogan của IVAC  “Vaccine vì cuộc sống con người” có thực sự dễ dàng?  Sinh học cấu trúc cố định protein gai  “Anh ấy là một thiên tài”, Harry Kleanthous, một thành viên của Quỹ Bill&Melinda Gates, đánh giá về nhà sinh học cấu trúc Jason McLellan của trường Đại học Công nghệ Texas ở Austin (Mỹ) trên New York Times, “Anh ấy ắt phải tự hào về điều lớn lao mà mình đã làm cho mọi người”.  Từ ngày làm postdoc tại Viện Nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm và dị ứng quốc gia cách đây đã nhiều năm, McLellan đã tỏ ra xuất sắc khi tham gia phát triển một vaccine tiểu đơn vị protein chống lại virus hợp bào hô hấp (RSV).  Còn SARS-CoV-2 lại là một vấn đề khác. Cái gai đặc biệt của nó thường ‘thay hình đổi dạng’. Nó quá đỗi linh hoạt, khi xâm nhập vào tế bào, nó chuyển từ hình dạng giống một bông hoa tulip sang thành một cái mũi lao. Các nhà nghiên cứu biết rằng, kháng thể ghi nhận protein gai trong hình dạng bông hoa tulip sẽ hiệu quả hơn là hình dạng thứ hai trong việc ngăn ngừa lây nhiễm. Do đó, phải tạo ra một phiên bản ổn định của nó ở hình dạng này để làm vaccine.    Nếu ai đó nói rằng, các vaccine đình đám hiện nay như Pfizer-BioNTech, Moderna hay Johnson & Johnson cùng có điểm chung với vaccine dự tuyển COVIVAC thì ắt hẳn mọi người đều ngỡ ngàng. Nhưng đó đúng là những gì xảy ra trên thực tế. Dù có các nền tảng công nghệ khác nhau, mới lần đầu xuất hiện hay đã tồn tại ngót 8 thập kỷ, thì điểm quan trọng bậc nhất của các vaccine này là cùng chứa phiên bản đột biến hết sức ổn định của protein gai (S) ở SARS-CoV-2 và chúng từ cùng một nguồn cung: nhà sinh học cấu trúc Jason McLellan của trường Đại học Công nghệ Texas ở Austin (Mỹ).  Thật may là từ năm 2017, McLellan và đồng nghiệp đã thành công trên một con virus corona khác là MERS-CoV: tạo ra protein gai đột biến 2P (hai proline) có cấu trúc ổn định như mong muốn, sau được dùng làm cơ sở để tạo ra vaccine MERS. McLellan đã đăng ký phát minh nhưng vào thời điểm đó không ai quan tâm. Tất cả chỉ thay đổi vào một sáng thứ bảy của tháng 1/2020, khi kết quả giải trình tự gene của SARS-CoV-2 do các nhà nghiên cứu Thượng Hải đưa lên mạng. Chỉ trong vài tuần, McLellan và cộng sự đã so sánh hệ gene của SARS và MERS, tìm ra mã phản hồi và lọc ứng cử viên từ 1.000 khối cơ bản của protein gai SARS-CoV-2 có khả năng “khóa” nó. Vài ngày sau, Moderna đã sử dụng 2P để thiết kế vaccine, đi trước một loạt công ty khác.  Tuy nhiên, McLellan cảm thấy không hài lòng, anh muốn nâng cấp phiên bản này để có thể tạo ra vaccine hiệu quả hơn. Nhận tài trợ từ Quỹ Bill&Melinda Gates, tháng 3/2020, anh và cộng sự tiếp tục tạo ra 100 phiên bản protein gai đột biến khác nhau để cuối cùng chọn ra cái ưng ý nhất với sáu dòng proline mang tên HexaPro.  Đó là phiên bản được dùng để thiết kế vaccine của IVAC cũng như ở công ty GPO (Thái Lan), Butantã (Brazil).  Cấu trúc của HexaPro còn bền hơn cả 2P, thậm chí có sức chống chịu với nhiệt và tác động của các loại hóa chất mãnh liệt hơn. McLellan nghĩ rằng các vaccine chứa HexaPro dĩ nhiên sẽ còn phù hợp với cả các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nơi ít có khả năng tiếp cận vaccine so với các quốc gia giàu có. Do đó, anh quyết định thiết lập một thỏa thuận cho phép cho các công ty và phòng thí nghiệm ở 80 quốc gia đang phát triển có thể sử dụng HexaPro mà không phải trả phí bản quyền.  Nhưng đó mới là một nửa câu chuyện…  “Phép màu” khoa học trong quả trứng  Như chúng ta đã thấy, ngày nay các doanh nghiệp ở những quốc gia giàu có thiết kế vaccine COVID trên các nền tảng hiện đại, ví dụ như nuôi cấy trên tế bào, vừa có thể rút ngắn thời gian thực hiện lại vừa “gặt” được nhiều thành phẩm hơn các công nghệ cũ, ví dụ như một loại công nghệ cổ điển là nuôi cấy trên trứng gà có phôi.  Đây có phải là một sự lạc hậu và ngại thay đổi của một số nhà sản xuất vaccine? Câu chuyện không hẳn vậy, hiện 80% cúm mùa trên thế giới vẫn được sản xuất theo công nghệ quen thuộc này và 82% vaccine cúm mùa mà người Mỹ tiêm chủng trong năm 2019-2020 cũng được thiết kế trên công nghệ đó, theo số liệu của CDC Mỹ. Còn theo Văn phòng Trách nhiệm giải trình của Chính phủ Mỹ (GAO), vào năm 2017, Bộ Sức khỏe và dịch vụ dân sinh Mỹ đã trả 42 triệu USD cho hợp đồng ký với một nhà cung cấp trứng chất lượng cao của thế giới trong vòng ba năm.  Tuy nhiên có một vấn đề ở đây là virus corona chủng mới không tái tổ hợp bên trong các quả trứng giống như cách của virus cúm, do sự khác biệt về các thụ thể và những đặc điểm khác, giáo sư bệnh học lâm sàng John Nicholls ở ĐH Hong Kong nói với CNN vào tháng 3/2020.    Giáo sư Peter Palese. Nguồn: icahn.mssm.edu  Rất may là điều này đã được nhóm nhà khoa học ở trường Y khoa Icahn tại Mount Sinai, New York, do giáo sư Peter Palese dẫn dắt, nghĩ đến từ nhiều năm trước. Nhà vi sinh học Peter Palese là một chuyên gia cự phách về các virus có vật liệu di truyền là RNA, ông là người xây dựng những bản đồ di truyền đầu tiên về các virus cúm A, B và C, nhận diện chức năng của phần lớn gene virus, xác định cơ chế của các chất ức chế neuraminidase, nhà tiên phong trong lĩnh vực di truyền ngược trên các virus RNA mang điện tích âm. Hơn ai hết, ông nắm rõ những câu hỏi cơ bản về các virus – vật chủ, hiểu về cách các virus sao chép và cách chúng tương tác với tế bào để gây bệnh cho vật chủ 1, 2.  Từ những hiểu biết đó, ông nghiên cứu virus gây bệnh gà rù – virus Newcatles, đã được biến đổi và coi đó là vector hữu dụng cho việc thiết kế các vaccine chống virus cúm. Đằng sau quyết định này là một ý tưởng đột phá. Thông thường, thay đổi một công nghệ sản xuất vaccine mới đòi hỏi kinh phí nhiều triệu USD đầu tư trong một ngành công nghiệp mà lợi nhuận lại nhỏ. Do đó, việc làm chủ một công nghệ cổ điển, lại được chứng minh được trên thực tế sự an toàn, tin cậy, và sản xuất một cách ổn định như trứng gà có phôi vô cùng hợp lý với các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Theo nghĩa này, chỉ cần một con virus Newcatles đặc biệt có biểu hiện gene của bất kỳ virus gây bệnh truyền nhiễm trên bề mặt tế bào (nếu gắn nó thành công) là người ta có thể tận dụng dây chuyền sản xuất vaccine cúm để sản xuất (miễn là nó có thể tự nhân được trên trứng gà có phôi). “Nói nôm na là khi quy trình có sẵn rồi, nếu có đại dịch cúm xảy ra thì chỉ cần phân lập được con virus cúm mới là cứ thế sản xuất thôi”, TS. Vũ Minh Hương, đại diện của PATH tại Việt Nam, nói với Tia Sáng vào tháng 5/2021 như vậy.      “Với IVAC và các nhà sản xuất khác trong liên minh, từ lúc bắt đầu gây nhiễm virus trên trứng đến lúc ra sản phẩm cuối cùng hiện nay chỉ mất khoảng một tháng, tương tự như với vaccine cúm mùa và cúm đại dịch”. (TS. Dương Hữu Thái)      Giáo sư Peter Palese đã áp dụng ý tưởng này trên một phạm vi rộng, ví dụ gần đây nhất là phát triển thành công vaccine Ebola từ virus Newcatles. Các vaccine đại dịch cúm A/H5N1 và cúm mùa đa giá ba chủng của IVAC cũng từ chủng của ông, thông qua liên minh quốc tế do PATH điều phối.  Điểm lợi vô cùng quan trọng của virus Newcatles là nó không gây hại cho người, lại có liên kết ái lực với trứng gà. “Đúng là coronavirus không phát triển tốt trên trứng gà. Tuy nhiên ở đây, virus Newcatles đóng vai trò viral vector mang gene biểu hiện protein S nên nó phát triển rất tốt trên môi trường trứng gà”, câu trả lời của TS. Dương Hữu Thái, Viện trưởng IVAC, cho thấy đây là giải pháp có thể giải quyết được lo ngại của John Nicholls.  Khi biết tin tiến sĩ McLellan tạo ra được HexaPro, PATH đã tự hỏi là liệu nhóm của giáo sư Peter Palese có thể giúp tạo ra được vaccine COVID-19 dựa trên công nghệ trứng gà có phôi hay không? Thực ra Peter Palese và cộng sự đã thử nghiệm đưa protein gai vào nhưng ý tưởng của PATH mới đem lại một kết hợp hoàn hảo: phiên bản HexaPro được gắn và biểu hiện trên bề mặt virus Newcatles, qua đó mang tên NDV-HXP-S. “Một thành công mỹ mãn”, tiến sĩ Bruce Innis của Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Truy cập Vaccine của PATH  nơi điều phối việc phát triển NDV-HXP-S, nhận xét với New York Times. “Tôi nghĩ nó sẽ là một vaccine mang đẳng cấp thế giới”.  Theo cách này, các công ty ở các quốc gia có sẵn dây chuyền sản xuất vaccine trên công nghệ trứng gà có phôi hoàn toàn có thể tạo ra vaccine COVID từ NDV-HXP-S. Một lần nữa, thông qua PATH, các nhà khoa học ở Mount Sinai đã thỏa thuận cung cấp miễn phí NDV-HXP-S cho IVAC, GPO và Butantã để các nơi này có thể sản xuất vaccine đại dịch.  Vaccine cho mọi người    Các nhà nghiên cứu ở IVAC đang cấy virus Newcatles biểu hiện protein gai vào trứng gà. Nguồn: PATH/Matthew Dakin.  Cơ hội đưa NDV-HXP-S đến với người dân từng quốc gia, do đó, đã nằm trong tay từng nhà sản xuất, IVAC cũng không ngoại lệ. Ở đây có một điểm mà PATH không khỏi tự hào, đó là việc hỗ trợ IVAC xây dựng năng lực cần thiết từ hơn 10 năm qua, đủ để họ có thể sẵn sàng tiếp nhận cái mới ở trình độ quốc tế.  Dĩ nhiên trước khi gặp PATH, IVAC đã không ngừng mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực cho mình. Từng bước, chậm mà chắc, họ đã được WHO lựa chọn tham gia Chương trình hành động các vaccine cúm toàn cầu vào năm 2007, có được những hiểu biết nhất định về công nghệ trứng gà có phôi nhưng cả TS. Dương Hữu Thái và PGS. TS Lê Văn Bé đều cho rằng, công bằng mà nói thì “PATH đã đem lại bước ngoặt cho IVAC”.  Đạt được điều này là cả một quá trình kiên trì, “nếu nói riêng về cúm A thì IVAC phải trải qua rất nhiều công đoạn như đào tạo, chuyển giao công nghệ… thông qua các đề tài nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm. Riêng thử nghiệm phải trải qua nhiều việc, thứ nhất là thiết lập một quy trình công nghệ tuân thủ yêu cầu quốc tế ở nhà máy, thứ hai là một sản xuất thử nghiệm ở quy mô nhỏ, thẩm định quy trình từng bước theo từng quy mô từ một mẻ 20 ngàn liều, một mẻ 40 ngàn liều và một mẻ 60 đến 100 ngàn liều. Khi đạt được quy mô 100 ngàn liều/mẻ, nghĩa là đủ quy mô sản xuất thương mại thì mới chuyển sang quá trình phát triển ở quy mô nhà máy”, PGS. TS Lê Văn Bé kể với Tia Sáng vào tháng 5/2021.      Các nhà sản xuất sẽ cần ít virus hơn để tạo ra một liều hiệu quả bởi có thể “gặt” được từ một quả trứng từ năm đến 10 liều NDV-HXP-S trong khi với vaccine cúm mùa chỉ có từ một đến hai liều. Đây cũng là một phần lý do giải thích vì sao, một vaccine có thể đạt đẳng cấp thế giới như vậy được IVAC định giá 60.000 đồng/liều.      Nhưng sản xuất vaccine dựa trên công nghệ trứng gà có phôi, theo ý kiến của một số nhà khoa học trên CNN, có hai nhược điểm là phụ thuộc vào nguồn trứng sạch (hy vọng không xảy ra dịch cúm gà) và quá trình nuôi cấy mất khá nhiều thời gian (có thể ít nhất sáu tháng). Vậy bài toán thời gian và nguồn nguyên liệu này có phải là điểm chặn trên đường sản xuất vaccine COVID của IVAC trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng của đại dịch?  Hóa ra, IVAC nhìn xa trông rộng hơn người ngoài tưởng, họ đã hóa giải bài toán này từ khá lâu. “Với IVAC và các nhà sản xuất khác trong liên minh, từ lúc bắt đầu gây nhiễm virus trên trứng đến lúc ra sản phẩm cuối cùng hiện nay chỉ mất khoảng một tháng, tương tự như với vaccine cúm mùa và cúm đại dịch”, TS. Dương Hữu Thái cho biết.  Việc IVAC “tự cung tự cấp” nguồn trứng gà sạch kỳ công hơn một chút. “Trước khi phát triển vaccine cúm thì IVAC chưa có nhà sạch nuôi gà đâu mà phải mua trứng ở các trang trại ngoài Bắc để sản xuất. Nhưng thật ra trứng này không đạt tiêu chuẩn, ăn thì được nhưng làm vaccine thì không vì có mầm bệnh ở đó. Do vậy IVAC phải tính việc tự nuôi, đầu tiên xin WHO kinh phí làm một nhà, sau đấy mới mở rộng như hiện nay”, PGS. TS Lê Văn Bé nói. Đó là một hành trình khá gian nan bởi bước đầu, họ phải nhập gà của Pháp một ngày tuổi với giá 250.000 đồng/con, đạt tiêu chuẩn là giống không đồng huyết, thuần chủng và được kiểm soát sạch 12 bệnh.    IVAC xây dựng năm nhà gà để sẵn sàng nguồn cung nguồn trứng cho việc sản xuất vaccine. Nguồn: PATH/Matthew Dakin.  Việc IVAC có tới năm nhà gà, mỗi nhà gà có 10.000 con, một năm có thể cung cấp khoảng 10 triệu quả trứng sạch bệnh, mà TS. Vũ Minh Hương không khỏi tự hào pha lẫn hài hước gọi là “trứng kim cương”, hết sức giá trị trong bối cảnh này. Bởi họ lúc nào cũng có thể sẵn sàng chủ động, chủng mới về là có thể bắt tay vào sản xuất ngay như mong đợi của PATH. Đây cũng là một trong những lý do đưa IVAC thành nơi đầu tiên trong số ba nhà sản xuất trong liên minh có thành quả: lô mẫu vaccine COVID do họ sản xuất thử nghiệm đến tay các nhà khoa học ở Mount Sinai đầu tiên vào tháng 10/2020, sau năm tháng triển khai trên dây chuyền sản xuất ở Suối Dầu, Khánh Hòa, tiếp đến mới đến các lô của GPO và Butantã. “Cũng chỉ hơn kém nhau 10 ngày thôi, sau đó các nhà nghiên cứu ở đây đồng loạt thử nghiệm cả ba vaccine dự tuyển trên chuột và hamster”, PGS. TS Lê Văn Bé khiêm tốn cho biết.  Đi kèm lô hàng là bản báo cáo của IVAC về quy trình sản xuất vaccine cũng như những nhận xét của họ về hiệu quả của chủng mới. “Chúng tôi cũng không nói quá đâu nhưng chủng mới có sáu cái đột biến nên gai của nó gắn rất ổn định trên bề mặt tế bào. Cái ưu việt này ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng kháng nguyên và quy trình sản xuất”, PGS. TS Lê Văn Bé giải thích. Trong quá trình sản xuất vaccine, sản phẩm phải trải qua rất nhiều chuyển động cơ học trên máy lọc, máy siêu li tâm cũng như chịu tác động của hóa chất. Vì vậy, protein gai có nhiều điểm bám thì sản lượng hiệu giá “gặt” được sẽ lớn hơn. Mặt khác, độ bám chặt của protein gai càng cao thì sản phẩm càng ổn định, đặc biệt là ổn định trong điều kiện bảo quản vaccine thông thường: ba tháng nếu lưu trữ ở mức nhiệt độ từ 2 đến 80C hoặc hai tuần nếu ở mức 250C. “Hiện nay, IVAC đang có nhiều phương án khác nhau về liều tiêm như mức 3 microgram, 6 microgram và 10 microgram. Khi kết thúc giai đoạn hai, chúng tôi mới có thể xác định được mức liều chính xác nhưng nếu trong trường hợp liều tiêm của vaccine dự tuyển ở mức thấp như vài microgram mà vẫn có thể tạo ra được đáp ứng miễn dịch tốt thì chúng ta có thể tiết kiệm, thay vì chỉ được một liều, mình có hẳn ba liều”, PGS. TS Lê Văn Bé bổ sung.  Hiệu lực của vaccine dự tuyển này còn mang đến một lợi ích khác: các nhà sản xuất sẽ cần ít virus hơn để tạo ra một liều hiệu quả. Họ có thể “gặt” được từ một quả trứng từ năm đến 10 liều NDV-HXP-S trong khi với vaccine cúm mùa chỉ có từ một đến hai liều. “Chúng tôi vô cùng phấn khích về điều này bởi vì chúng tôi nghĩ rằng đó là một cách để làm ra một vaccine giá rẻ”, giáo sư Peter Palese nói với New York Time. Ước mơ “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” rút cục đã được khoa học chắp cánh theo cách như vậy.  Đây cũng là một phần lý do giải thích vì sao, một vaccine có thể đạt đẳng cấp thế giới như vậy được IVAC định giá 60.000 đồng/liều. Không tính đến chuyện kinh doanh ở một vaccine đại dịch, IVAC cho rằng, quan trọng là sự sẵn sàng làm ra một sản phẩm có tiềm năng ứng phó. Phần “lãi”, nếu gọi là như vậy, chính là kinh nghiệm và hiểu biết khi được tham gia một liên minh quốc tế xuất sắc. Những đóng góp, trao đổi giữa IVAC, GPO và Butantã với các đồng nghiệp quốc tế đã được đúc kết và bổ sung vào nội dung của một công trình mới ở dạng tiền ấn phẩm trên Biorxiv về công nghệ tạo chủng NDV-HXP-S và đánh giá trên động vật thí nghiệm3.  Cũng phải nói thêm là trước khi cùng bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng trên người, cả GPO và Butantã đều tổ chức họp báo giới thiệu về sản phẩm mang tên GPO NDV-HXP-S và ButanVac của mình, đi kèm với những tuyên bố kịch tính “Vaccine được người Thái sản xuất cho người Thái…”4, “Đây là thời khắc thông báo mang tính lịch sử cho Brazil và thế giới. ButanVac là vaccine [COVID] nội đầu tiên 100%, do Viện Nghiên cứu Butantã phát triển và sản xuất hoàn toàn tại Brazil, một niềm tự hào của Brazil”…5  Khiêm tốn và lặng lẽ, IVAC chưa cho phép mình hưởng niềm vui ấy. Họ đang nghĩ về những điều khác, không chỉ là kế hoạch chuẩn bị cho thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba ở phía trước, vốn cần một khoản kinh phí “khổng lồ” với một đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ như họ. Dẫu còn giằng xé giữa nhiều suy nghĩ về việc tìm chúng ở đâu, nguồn nào thì trong tâm trí những người đứng mũi chịu sào ở IVAC vẫn dành một góc mơ mộng về tương lai: ba năm tới mở rộng lên 8 nhà gà, 10 năm tới là 12 nhà gà để sẵn sàng cho cúm mùa và cúm đại dịch rất có thể sẽ tới. Cần bao nhiêu tiền cho mỗi nhà gà như quy mô hiện nay của IVAC? Khoảng 150.000 USD/nhà, nghĩa là cũng cần một khoản đầu tư đáng kể. Đi kèm với nó sẽ là việc mở rộng quy mô dây chuyền sản xuất nữa, khá tốn kém đấy…  Nhưng thực ra tất cả có gì nhiều nhặn đâu, khi nhìn vào đại dịch này, học phí cho việc không chuẩn bị gì còn đáng kể hơn nhiều. □  ———————-  1: https://labs.icahn.mssm.edu/paleselab/  2. https://en.wikipedia.org/wiki/Peter_Palese  3. https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.07.06.451301v1  4. https://www.reuters.com/article/us-health-coronavirus-thailand-vaccine-idUSKBN2BE0UD  5. https://www.emergency-live.com/news/butantan-institute-develops-butanvac-the-first-100-brazilian-vaccine-against-covid-19/       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang CRISPR và iPSC: Công cụ hứa hẹn cho điều trị ung thư      CRISPR (clustered regularly interspaced short palindromic repeats) là một trong những công nghệ chỉnh sửa gen hiện đại nhất hiện nay. CRISPR đã cải thiện và tăng hiệu quả các mô hình tế bào cũng như động vật mang bệnh lý của người. Sự kết hợp của hai công nghệ iPSC và CRISPR là tạo ra một công cụ đầy hứa hẹn để nghiên cứu tiến trình điều chỉnh đột biến gen trong các rối loạn di truyền phức tạp và các ứng dụng lâm sàng trong ung thư, HIV/AIDS.      Ảnh minh họa: Internet.  Kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR/CAS9  CRISPR được phát hiện bởi Ishino khi ông nghiên cứu hệ thống miễn dịch thích nghi prokaryotic ở Escherichia coli. Nhóm nghiên cứu thực hiện lặp lại nhiều lần và xen kẽ các cấu trúc đặc trưng trong chuỗi DNA của E. Coli tạo nên nhiều phiên bản bắt cặp DNA và cho chúng kết hợp với một protein có tên Cas9, và cấu trúc này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chống lại nhiễm virus. Cụ thể, trình tự lặp lại này nhận ra các yếu tố di truyền ngoại lai và cắt chúng thành các chuỗi nhỏ với protein Cas9. Do đó, CRISPR/Cas9 giúp cho vi khuẩn có khả năng chống lại sự tấn công của virus. Vào năm 2012, nhiều nhóm nghiên cứu đã áp dụng thành công CRISPR/Cas9 trong các tế bào động vật có vú như một công cụ chỉnh sửa gen theo trình tự có sẵn.  Có nhiều ưu điểm so với các công cụ chỉnh sửa gen khác như ZFN (zinc finger nucleases) và TALEN (transcription activator-like effector nucleases), CRISPR được áp dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu và công nghệ sinh học khác nhau, ví dụ, chọn giống trong nông nghiệp, mô hình hóa bệnh và trị liệu. Vào năm 2014, nhiều nhóm nghiên cứu của Zhen, Kennedy và Hu, … đã áp dụng CRISPR để làm trung gian gây gián đoạn gen E6 và E7 trong các tế bào nhiễm virus SiHa. Tương tự, năm 2014, Hu đã phá vỡ các gen virus bằng cách sử dụng CRISPR trong các tế bào bị nhiễm HIV. Đây là những ví dụ về kỹ thuật chỉnh sửa gen được áp dụng trong các dòng tế bào bệnh để nghiên cứu cơ chế phân tử và tế bào của các rối loạn di truyền và các bệnh do virus gây ra.  Đặc biệt, CRISPR/Cas9 trở thành một công cụ chỉnh sửa gen có ứng dụng mạnh trong nghiên cứu ung thư, mô hình động vật và tái tổ hợp hợp chất sinh học. Một trong những lý do khiến tế bào bình thường trở thành tế bào ung thư là do một số đột biến trong bộ gen dẫn đến biểu hiện các kiểu hình ác tính. Những đột biến này được chia thành bốn loại: gen gây ung thư, yếu tố ức chế khối u, yếu tố biểu sinh và kiểm soát cơ địa và gen kháng hóa trị. Do vậy, sử dụng hệ thống CRISPR/Cas9 có thể sửa chữa các đột biến này và điều trị bệnh ung thư.   Ngoài ra, CRISPR/Cas9 còn có thể giúp tạo ra các dòng tế bào ung thư để nghiên cứu cơ chế phân tử và tế bào gây bệnh của một số loại ung thư như ung thư phổi, ung thư bạch cầu tủy cấp tính, ung thư gan và ung thư tuyến tụy. Ngoài ra, chúng giúp tạo ra mô hình động vật có vai trò quan trọng trong nghiên cứu ung thư và các bệnh di truyền khác. Các mô hình động vật chuyển gen có thể được tạo ra bằng cách tiêm CRISPR/Cas9, với đích đến là một hoặc nhiều alen (alen là các trạng thái khác nhau của cùng 1 gen, alen được sinh ra do đột biến gen), hoặc trực tiếp vào hợp tử. Ví dụ, rối loạn thoái hóa thần kinh trong các mô hình chuột đã được tạo ra bằng cách sử dụng CRISPR này để nghiên cứu một căn bệnh phức tạp ở người. Cuối cùng, nghiên cứu về sản xuất các hợp chất sinh học không chỉ thúc đẩy nghiên cứu cơ bản mà còn có thể áp dụng trong y học, sản xuất nhiên liệu sinh học và tổng hợp hợp chất gia dụng. Trong lĩnh vực sinh học tổng hợp, các ứng dụng lớn nhất CRISPR/Cas9 là trong sản xuất công nghiệp, như các gen locus kháng nấm mốc (MLO) đã bị CRISPR/Cas9 loại bỏ để ngăn chặn lúa mì lục bội khỏi bệnh phấn trắng.  Tế bào gốc vạn năng iPSC  Năm 2006, nhóm của Shinya Yamanaka (Nhật Bản) đã sử dụng retrovirus, một phương pháp chỉnh sửa gen, để thay đổi biểu hiện gen trong nguyên bào sợi chuột và tạo các tế bào gốc chuột đa năng cảm ứng (miPSCs). Các tế bào này biểu hiện Fbx15, gen đặc hiệu của tế bào gốc phôi (ESC) và chuyển đổi hình dạng đặc trưng của ESC khi tăng sinh phát triển. Vào năm 2006 và 2007, hai nhóm nghiên cứu độc lập của Shinya Yamanaka và James Thomson đã tạo thành công tế bào gốc vạn năng cảm ứng (hiPSCs) từ nguyên bào sợi của người. Cho đến nay, ngày càng có nhiều nghiên cứu cơ bản và ứng dụng lâm sàng sử dụng công nghệ này trong lĩnh vực y tế như ung thư và các vấn đề rối loạn di truyền phức tạp.      Sử dụng CRISPR kết hợp với công nghệ iPSCs sẽ trở thành một công cụ đầy hứa hẹn của liệu pháp gen và tế bào      iPSC là các tế bào vạn năng có thể biệt hóa thành hầu hết các loại tế bào. Khi áp dụng iPSCs, bệnh nhân có thể được ngăn ngừa khỏi tác dụng phụ của việc đáp ứng miễn dịch, một trong những vấn đề lớn nhất khi cấy ghép có thể dẫn đến tử vong. Bệnh nhân có thể dùng tế bào của chính mình để tạo ra iPSC và sau đó chúng được biệt hóa thành các loại tế bào khác như tế bào thần kinh hoặc tế bào cơ tim mà bệnh nhân cần ghép.  Hiện nay, một số ý kiến phản đối việc sử dụng mô hình động vật trong nghiên cứu các cơ chế gây bệnh hoặc kiểm tra hiệu quả/độc tính của thuốc. Bên cạnh đó, việc sử dụng các dòng iPSC của người với kiểu gen đặc trưng các bệnh cụ thể có thể làm giảm hiệu quả một số mô hình động vật. Vì vậy, chỉnh sửa gen là phương pháp duy nhất để tìm ra những thay đổi cụ thể đối với bệnh mà tình trạng biểu sinh, tuổi tác, giới tính và dân tộc không thể cho các dữ liệu có thể so sánh được. CRISPR/Cas9 có thể loại bỏ nhiều gen cũng như loại bỏ các alen trong iPSC, điều mà các công nghệ chỉnh sửa gen khác như ZFN và TALEN không thể làm được. Vì vậy, việc sử dụng CRISPR kết hợp với công nghệ iPSCs sẽ trở thành một công cụ đầy hứa hẹn của liệu pháp gen và tế bào.  Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất để kết hợp CRISPR/Cas9 và iPSCs là sự an toàn và hiệu quả. Vào cuối năm 2018, một nhóm nghiên cứu của Trung Quốc tuyên bố một em bé đã ra đời và được loại bỏ gen liên quan đến HIV bằng cách sử dụng CRISPR/Cas9. Họ tuyên bố rằng việc sử dụng các công cụ chỉnh sửa gen như CRISPR/Cas9 có thể thay đổi đặc điểm của con người theo các mục đích khác, do đó, nó mâu thuẫn với quyền con người. Bên cạnh những lo ngại về đạo đức, những ứng dụng này đã mở rộng nhiều cơ hội hơn từ nghiên cứu cơ bản đến trị liệu lâm sàng để điều trị các rối loạn di truyền, ung thư và HIV/AIDS.  Huỳnh Thuý Oanh (Viện tế bào gốc, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Crowd Cow: Kết nối nông trại với người tiêu dùng      Crowd Cow có thể được ví như Uber trong…chăn nuôi bò. Hiểu một cách đơn giản, nếu Uber là nền tảng kết nối những người chạy xe nhàn rỗi với khách hàng, không cần thông qua công ty taxi thì startup của Seattle, Mỹ này kết nối những người chăn nuôi bò thả với người tiêu dùng mà không cần thông qua cửa hàng thịt hay siêu thị.      Seth Mayer chủ một trang trại ở bang Washington với con bò Wagyu của mình. Ông hợp tác với Crowd Cow để bán thịt bò. Nguồn ảnh: New York Times  Crowd Cow mỗi lần chỉ rao bán một con bò, được chia thành 50-60 phần, mỗi phần khoảng từ 4.5 – 5.5 kg, chưa kể những phần như gan, lưỡi và xương ống. Sau khi có người đăng ký mua kín hết các phần, họ mới mua bò từ trang trại, đưa bò đi mổ đúng như yêu cầu của khách hàng, phơi khô hai tuần trong điều kiện có kiểm soát (dry-age), đông lạnh nhanh bằng đá khô và vận chuyển đến tận nhà khách hàng trong túi nhựa hút chân không. Nếu không đủ người đăng ký, họ sẽ không mổ bò nữa, nhưng trên thực tế một con bò sẽ kín người xếp hàng mua ngay sau khi rao bán vài ngày.  Hai người sáng lập Crowd Cow, Joe Heitzeberg và Ethan Lowry, xuất thân từ ngành công nghệ thông tin. Họ liên hệ với các nông trại gia đình truyền thống, quy mô nhỏ gồm vài chục con bò (trong đó có cả bò Wagyu hiếm có của Nhật) nuôi theo phương pháp ăn cỏ và chăn thả. Họ sẽ lo mọi việc liên quan đến quảng bá, quản lý danh sách khách hàng, giết mổ, bảo quản thịt cho đến đóng gói và vận chuyển.  Những hộ nông dân này trước khi đến với Crowd Cow vẫn thường bán bò của mình thông qua các phiên chợ đấu giá công khai tại địa phương cho các nông trường, những cửa hàng thịt nhỏ hoặc các nhà hàng cao cấp. Cách buôn bán này không tạo nhiều điều kiện cho họ giới thiệu về truyền thống chăn nuôi, phương pháp chăn nuôi hay đam mê và sự trân trọng của họ đối với công việc này (có những nông trại có tuổi đời hơn 100 năm và “gìn giữ” qua nhiều thế hệ). Trước khi rao bán một con bò, Crowd Cow đưa lên cả nội dung giới thiệu về xuất xứ của nó. Ngoài ảnh chụp, họ còn có cả video một vài phút để người nông dân kể câu chuyện về nông trại của mình. Trên mỗi bao bì gửi đến tận nhà các khách hàng cũng ghi tên và địa chỉ của nông trại. Nói một cách tóm tắt, Crowd Cow giúp cho những người chăn nuôi đưa thịt bò của họ đến tay người tiêu dùng nhưng không lờ đi danh tính, tên tuổi của họ như trong siêu thị hay các cửa hàng thịt. “Họ bán sản phẩm của chúng tôi như thể chính chúng tôi đi bán” –Một nông dân nói về Crowd Cow trên New York Times. Những người nuôi bò giờ đây cũng giảm bớt gánh nặng về công việc “bàn giấy” phải tìm kiếm khách hàng, thuê người vận chuyển, giết mổ…bên cạnh việc “chuyên môn” là chăn nuôi đã chiếm hết thời gian của họ. Để người nông dân chủ động trong việc lo liệu đầu ra, Crowd Cow gửi lịch bán hàng của mình trong vòng sáu tháng hoặc một năm để họ đăng ký. “Giải pháp nào khiến người nông dân nhận được giá bán cao hơn, giảm chi phí sản xuất hay trong trường hợp này là chi phí marketing, với đầu ra ổn định và an toàn hơn đều rất có giá trị” – GS. Richard VanVranken về nông nghiệp và quản lý tài nguyên tại Đại học Rutgers, Mỹ trả lời phỏng vấn tờ The Guardian. Có những nông trại bán ¾ số bò mỗi năm, tương đương 52 con, thông qua Crowd Cow.  Hiện nay, Crowd Cow có doanh thu khoảng một triệu USD mỗi năm và hằng tháng họ phải xử lý hàng nghìn đơn hàng. Trong năm nay, họ sẽ mở rộng dịch vụ của mình ra khắp nước Mỹ. Phần lớn các khách hàng của Crowd Cow đều quay trở lại mua tiếp sau hai tháng.  Crowd Cow tới đây có thể sẽ phải gặp thách thức cạnh tranh gay gắt khi các siêu thị nhanh nhạy trong việc nhận ra thị hiếu của khách hàng thay đổi sang thịt bò ăn cỏ, những hộ nông dân năng động tự rao bán hàng qua mạng hay các trang web thương mại điện tử bán thực phẩm tươi sống như Amazon. Tuy nhiên, Crowd Cow vẫn có nhiều giá trị vượt trội. Việc khách hàng có thể lựa chọn mua thịt chi tiết đến từng giống bò, loại thịt bò, cách thức sơ chế và trang trại đem lại một cảm giác “sành điệu” cho món ăn của họ. Joe Heitzeberg, giám đốc và người sáng lập Crowd Cow so sánh điều này tinh tế giống như uống rượu vang và bia ủ thủ công (microbrews). Bên cạnh đó, sự minh bạch trong sản phẩm của Crowd Cow khó có một cửa hàng hay siêu thị nào có thể sánh được, đặc biệt là với món thịt bò xay, từ trước đến nay vẫn là món “thịt bí ẩn” trong các siêu thị ở Mỹ. Không ai biết món thịt xay trên bàn mình là từ của bao nhiêu con bò, nguồn gốc đến từ đâu. McDonald’s từng tuyên bố rằng, viên thịt bò trong bánh hamburger của họ có thể chứa thịt của 100 con bò khác nhau!  Hảo Linh tổng hợp  Crowd Cow gợi nhớ nhiều đến ý tưởng “Cây xoài nhà tôi” của Hợp tác xã xoài Mỹ Xương, Cao Lãnh, Đồng Tháp. Theo đó, họ tạo ra một “nền tảng” kết nối trực tiếp nhà vườn thuộc hợp tác xã tới người tiêu dùng. Toàn bộ cây xoài được rao bán đều được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, được lựa chọn và “định giá” bởi một “hội đồng” gồm các nhà vườn chuyên nghiệp và những người trồng xoài lâu năm. Người mua xoài sẽ “mua đứt” cả cây trước khi cây ra hoa và trả tiền theo năm. Mỗi năm, họ sẽ nhận xoài hai lần, tương ứng với hai vụ. Nếu gặp lúc trúng mùa, người mua sẽ nhận toàn bộ sản lượng của cây xoài, nếu không thì họ chia sẻ rủi ro với nhà vườn bằng cách chỉ nhận 70% so với năng suất trung bình của cây. Cách làm này khiến cho những người ở thành phố được mua xoài đặc sản với giá chỉ bằng một nửa so với ở các cửa hàng (ngay cả khi đã trả phí vận chuyển). Còn nhà vườn có tiền xoay sở đầu vụ và như anh Võ Việt Hưng, tác giả của ý tưởng này cho biết: “người ta an tâm cây xoài này có người mua rồi, còn chuyện ‘trúng mùa, rớt giá’ là chuyện của thiên hạ”. Tuy nhiên, những nông dân trồng xoài choáng ngợp khi tự mình vận hành một mô hình thương mại điện tử. Anh Hưng chia sẻ rất thực rằng: “Làm cái này cực lắm!”. Đó là anh mới chỉ đề cập đến việc tổ chức “hội đồng” đánh giá, liên hệ với những người mua hàng và gọi điện cho họ đến lấy hàng tại các chi nhánh của hợp tác xã xoài Mỹ Xương ở một số tỉnh hoặc tại…bến xe. Những việc như xây dựng nền tảng, cập nhật hình ảnh liên tục, marketing…anh đều chưa đủ điều kiện về nguồn lực để tính đến. Mặc dù rất hấp dẫn vì đưa ra giá rẻ nhưng cách thức hoạt động của “Cây xoài nhà tôi” lại bất tiện cho khách hàng. Có nhiều bài toán khác cả về mặt công nghệ và thương mại mà anh Hưng đang phải đối mặt: làm thể nào để nhiều người có thể mua chung một cây xoài (để họ đỡ “hốt hoảng” (theo lời anh Hưng) khi nhận được vài chục kg xoài một lúc), làm thế nào để bảo quản và đóng gói xoài sau thu hoạch để không bị dập/nát sau khi vận chuyển đến tay khách hàng, làm thế nào để có thể áp dụng công nghệ thông tin xử lý các đơn hàng một cách tự động thay vì người đứng đầu hợp tác xã phải trả lời email, gọi điện thoại trực tiếp với khách hàng liên tục? Hiện nay, số cây xoài đã bán mới là 60, tương đương với vài chục khách hàng, nhưng nếu khi khách hàng lên đến vài nghìn, nằm rải rác trên cả nước? Câu chuyện của Crowd Cow cho thấy rằng, người nông dân vẫn cần hợp tác với một đội ngũ thạo kinh doanh và công nghệ để giảm chi phí trung gian thay vì tự làm tất cả một mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Crowdfunding: Quyền năng của đám đông      Huy động vốn đám đông (Crowdfunding) được dự báo sẽ là xu hướng lớn trong thế  giới số hóa hiện nay, và đám đông sẽ trở thành một lực lượng quyền năng  trong tài chính.    Năm 2008 khi tài chính toàn cầu lâm vào  khủng hoảng, các thị trường trên thế giới lảo đảo, việc dư thừa lao động  trở nên tràn lan, thị trường đầu tư cũng thay đổi chỉ qua một đêm. Do  các ngân hàng lần lượt đóng khóa các khoản vay mượn, các doanh nghiệp  mới nảy nở phải tìm các cách khác để huy động vốn.  Từ đó mô hình huy động vốn đám đông (crowdfunding) bắt đầu hình thành, cho phép quần chúng có thể tài trợ tài chính cho các dự án. Những gì các “nhà tài trợ đám đông” này sẽ thu lại được là cổ phần và một cảm giác tự hào vì đã tài trợ được một dự án mà họ tin tưởng vào.   Bất cứ ai có một ý tưởng sáng tạo nào đó – từ một sản phẩm, vật dụng mới cho đến một dự án nghệ thuật – đều có thể đăng ý tưởng trên một trang mạng và kêu gọi mọi người tài trợ. Với tính di động, linh hoạt và liên kết cao, mô hình doanh nghiệp sử dụng vốn đám đông có thể ứng phó với các thay đổi nhanh hơn là các công ty truyền thống.  CNN đã trò chuyện với một công ty khởi nghiệp đóng tại Hamburg mang tên Protonet. Doanh nghiệp này đã huy động vốn đám đông để tài trợ cho hoạt động của mình là sản xuất tại chỗ những máy chủ cá nhân an toàn.   Ali Jelveh, người sáng lập Protonet kể: “Chúng tôi chỉ định kể câu chuyện và tầm nhìn của mình về tương lai cho đám đông và xem chuyện gì sẽ xảy ra.” Kết quả là chỉ sau chưa đầy một tiếng rưỡi, Protonet đã thu được 1 triệu đô-la. Vốn đám đông chiếm khoảng 65% tổng số vốn đầu tư của Protonet. Jelveh tin rằng trong tương lai sẽ có các công ty được tài trợ 100% vốn đám đông.   Vốn đám đông đã chạm tới một cộng đồng trực tuyến với mục tiêu sinh ra những đóng góp nhỏ từ một lượng quần chúng lớn. Theo Ben Yearsley, đứng đầu nghiên cứu đầu tư cho Charles Stanley Direct, cái khó trước mắt là phải phân loại các mức độ rủi ro, phân loại các đối tượng thị trường và đối tượng đầu tư mà các công ty nhắm tới.   Trước đây các công ty khởi nghiệp đã có thể huy động cả trăm nghìn euro từ bạn bè và người thân, và thực chất đây cũng là một hình thức huy động vốn đám đông. Oliver Gajda – chủ tịch Mạng lưới Vốn đám đông Châu Âu – dự báo đây sẽ là xu hướng thúc đẩy thay đổi trong thế giới số hóa hiện nay, và đám đông sẽ trở thành một lực lượng quyền năng trong tài chính.  Khánh Minh dịch theo CNN      Author                Quản trị        
__label__tiasang CRRC, nhà máy đóng tàu hỏa của Trung Quốc mở đường sang châu Âu      Hãng sản xuất tầu hỏa CRRC của Trung quốc đã nhận được đơn hàng quan trọng đầu tiên của Đức. Việc CRRC đóng đầu tầu chuyên dụng cho ngành đường sắt Đức là sự mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong ngành đường sắt – và là một cuộc tấn công vào Siemens.    Thông thường đơn hàng ở mức này không đáng để đề cập tới. Doanh nghiệp Deutsche Bahn mua của hãng CRRC TQ một số đầu tàu chuyên dụng cho công ty con DB Netz. Từ 2021 Đường sắt Đức sẽ nhận được bốn đầu tàu chuyên dụng cỡ nhỏ có động cơ Diesel và động cơ điện. Loại xe chuyên dụng này chuyên để chở máy xây dựng đến nơi xử dụng cũng như đến các công trường xây dựng. Giá trị đơn hàng khoảng 10 triệu Euro là quá ít so với tiền tỷ khi chi trả mua tàu tốc hành  ICE.  Tuy nhiên thương vụ này xét về trung hạn có thể gây xáo trộn với toàn ngành tàu bánh sắt. Vì nhà sản xuất CRRC Zhuzhou Locomotive không phải là một nhà máy đóng tàu bất kỳ nào đó mà đây là hãng đóng tàu lớn nhất thế giới. Hãng này từ lâu đã tìm mọi cách để thâm nhập thị trường châu Âu. Với CRRC vụ làm ăn này không quan trọng về doanh thu mà nó là cơ hội để hãng giới thiệu vời ngành đường sắt Đức và châu Âu thấy rõ năng lực về kỹ thuật, công nghệ đường sắt của doanh nghiệp này. Đây là cơ hội tốt nhất đối với CRRC. Deutsche Bahn và CRRC đã ký một thỏa thuận khung. Ngành đường sắt Đức có thể đặt tổng cộng 16 đầu tàu chuyên dụng. Điều này có nghĩa là người TQ không những phải đóng những đầu tàu này mà còn phải được cấp giấy phép hoạt động trên mạng đường ray Đức. Cơ quan đường sắt Liên bang (EBA) là cơ quan sẽ nghiệm thu những đầu tàu này, EBA nổi tiếng ở châu Âu về sự đặc biệt tỉ mỉ và nghiêm khắc. Ai đã được cơ quan này bật đèn xanh đối với kỹ thuật, công nghệ đã đăng ký thì có thể khẳng định đã làm chủ được những đặc thù đối với giấy phép cho lưu hành của Đức.  Nếu như CRRC vượt qua được quá trình cấp phép và vào được thị trường Đức thì điều này có nghĩa là tạo ra được bước ngoặt trên thị trường đường sắt châu Âu. Cách đây nhiều năm CRRC đã thành lập tại Viên một Trung tâm Châu Âu và từ đó đã nỗ lực tìm kiếm các hợp đồng hấp dẫn. Người TQ cũng tìm cách mua doanh nghiệp. Cách đây ít lâu CRRC được coi là đứng đầu bảng mua doanh nghiệp đóng xe lửa Skoda (xin không nhầm với hãng chế tạo ô tô cùng tên). Nhưng thương vụ này bị đổ bể. Tuy vậy CRRC đã thành công ở một số lĩnh vực khác: CRRC đóng những đoàn tàu địa phương đầu tiên cho công ty điều hành đường sắt tư nhân Leo Express, thí dụ như các đoàn tàu đi từ Prag đến Berlin.  Nay CRRC có mặt trực tiếp ở Đức, thị trường đường sắt quan trọng nhất ở châu Âu.    Nhà máy CRRC ở Shijiazhuang (Thạch gia trang)  Nhà nước hỗ trợ giao thông công cộng mỗi năm trên 8 tỷ Euro. Hàng năm đều có tổ chức đấu thầu mua tàu mới và các nhà chế tạo như Siemens, Alstom, Bombardier và Stadler thường được chọn. Gần đây các hãng sản xuất như Pesa của Ba lan và Skoda của Tschech cũng tham gia. Với CRRC xuất hiện thêm một hãng chế tạo nữa.  Việc Deutsche Bahn mời nhà sản xuất tàu hỏa TQ vào Đức đầu tiên vì một lý do đơn giản: CRRC là đơn vị duy nhất đóng loại tàu chuyên dụng này. Các nhà sản xuất đầu tàu khác như Siemens và Alstom thì cho rằng đơn hàng này nhỏ bé quá vì vậy từ chối tham gia chào hàng. Deutsche Bahn có thể hiểu được vì sao các hãng sản xuất tàu hỏa khác tỏ ra lừng khừng. Vì tập đoàn nhà nước đã nhiều làn tuyên bố muốn phá vỡ thế độc quyền của các doanh nghiệp châu Âu hiện đang dẫn đầu thị trường như Siemens, Alstom và Bombardier. Tăng cường cạnh tranh trong việc chế tạo xe lửa đồng nghĩa với việc giá mua sẽ tốt hơn. Điều này vào thời điểm này càng quan trọng hơn khi mà Siemens và Alstom sẽ cùng làm ăn với nhau. Các nhà quản lý cấp cao của  Deutsche Bahn đã trao đổi với nhau không lâu nữa doanh nghiệp này sẽ trở thành nhà điều hành đầu tiên về giao thông công cộng và đề ra mục tiêu nội bộ là sẽ thông qua đấu thầu để mua tàu hỏa của TQ vì giá sẽ thấp hơn.  Tuy đơn hàng làm đầu tàu chuyên dụng cho DB Netz không thể so sánh với các đơn hàng về sản xuất tàu hỏa phục vụ giao thông công cộng trong khu vực. Đòi hỏi về an toàn thấp hơn, quá trình cấp giấy phép lưu hành cũng đơn giản hơn. Nhưng điều có ý nghĩa quyết định là giờ đây CRRC có thể học được nhà đương cục Đức và khách hàng Đức có yêu cầu như thế nào. CRRC sẽ tìm cách thuyết phục Deutsche Bahn và cơ quan EBA về bản thân mình cũng như về kỹ thuật và công nghệ của mình và sẽ giao các đầu máy đúng thời hạn. Ngoài ra công ty tàu hàng Güterbahn DB Cargo cũng đã đặt CRRC làm toa chở hàng hóa.  Thị phần của các nhà chế tạo đầu tàu chạy bằng điện trên thế giới  CRRC  Doanh nghiệp nhà nước CRRC của TQ chiếm lĩnh 46% thị  phần  và đứng ở vị trí thứ nhất một cách tuyệt đối.  CLW  CLW (Ấn độ) xếp vị trí thứ hai. Tuy nhiên khoảng cách đối với người đứng đầu thị phần khá xa: 16 % đầu máy chạy điện là của CLW.  TMH  TMH của Nga dù sao cũng đạt 12 % thị phần.  Sinara  Sinara (Nga) đạt 7% thị phần.  Bombardier  Bombardier của Canada sản xuất 7% đầu tàu chạy điện thế giới.  Siemens  Siemens chiếm 4% thị phần thế giới về đầu tàu chạy điện.  Các doanh nghiệp khác  Thị phần còn lại (8%) do các doanh nghiệp khác đảm nhận.  Giờ đây người TQ cũng đã đặt chân lên đất Thụy Sĩ. Doanh nghiệp xây dựng Hupac của Thụy Sĩ muốn đặt mua tới 100 toa xe chở hàng hóa phục vụ vận chuyển bằng Container của CRRC. Trước hết nhà sản xuất xe bánh sắt TQ phải làm thử hai nguyên mẫu để đưa vào vận hành thử nghiệm, hai toa xe này cần đưa vào thử nghiệm ngay trong năm 2018 do CRRC tiến hành tại TQ. Thử nghiệm đầu tiên tại châu Âu dự kiến diễn ra vào nửa đầu năm 2019, cơ quan Giao thông Liên bang Thụy Sĩ (BAV) cấp giấy phép lưu hành cuối tháng 5.2019. Hupac và CRRC đã ký thỏa thuận hợp tác sản xuất toa  xe vào cuối tháng 12 năm 2017.  Một điều hết sức thú vị lại đang diễn ra ở gần biên giới Đức – Ba Lan. Xí nghiệp đóng toa xe  Niesky (WBN) có trụ sở tại đây. Mới đây WBN đăng ký phá sản – mặc dù doanh nghiệp này vẫn có nhiều đơn đặt hàng. Thí dụ doanh nghiệp có đơn hang sản xuất 160 toa chở hàng rời của công ty xây dựng K+S. CRRC được coi là đứng đầu bảng trong cuộc chạy đua thâu tóm WBN. “Điều này có nghĩa là: CRRC có đơn hàng và có một nhà máy nhỏ tại nước Đức, từ đây tập đoàn của TQ có thể bắt đầu bước vào thị trường Đức”, bà Maria Leenen, giám đốc điều hành công ty tư vấn quốc tế về chiến lược giao thông SCI nói. “Chiến lược này hay hơn những khoản đầu tư khổng lồ của nhà chế tạo như Bombardier.”  Để đến khi CRRC nhận được đơn hàng cho các tuyến giao thông đường dài tất nhiên còn là chuyện lâu dài. Song thị trường giao thông đường sắt rất hấp dẫn, bên cạnh Deutsche Bahn giờ đây còn có hãng Flixbus ở Muynchen. Hãng này chủ trương liên tục mở rộng các tuyến đường của mình. Cho đến nay Flixtrain dựa vào những đoàn tàu đã qua sử dụng. Điều này có thể sẽ thay đổi.  Flixbus đã mua sản phẩm của TQ phục vụ thị trường Pháp. Tại đây Flixbus đang thử nghiệm các xe buýt chạy điện đầu tiên.  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/industrie/ice-konkurrent-crrc-wie-sich-chinas-zug-gigant-nach-europa-schleicht/22781952.html  14/7/2018    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cư dân mạng ở Việt Nam      Sinh viên Việt Nam dường như tin vào khả năng của internet giúp được họ, cũng như đất nước họ, phát triển và đóng những vai trò quan trọng trên sân khấu toàn cầu.    Là một sinh viên Mỹ trưởng thành trong kỷ nguyên số, kỹ thuật internet và mạng xã hội đã đan quyện vào đời sống hàng ngày của tôi. Thông qua sự chia sẻ mọi thứ, từ hình ảnh đến ý kiến đến những câu chuyện, các mạng xã hội đã trở thành những phương tiện quan trọng đối với giới trẻ Mỹ không chỉ trong nỗ lực tạo lập các mối quan hệ mà còn làm cho chúng thêm phong phú.   Còn khi đặt chân đến thành phố Hồ Chí Minh tôi ngỡ ngàng về những chuyển động và trạng thái trong cách thức mạng xã hội được tiếp nhận và sử dụng, chẳng khác gì giao thông tít mù trên đường phố Sài Gòn.   Theo tài liệu tôi nghiên cứu khi còn ở Mỹ thì sự truy cập internet là tiện nghi bình thường ở những vùng đô thị như thành phố Hồ Chí Minh. Tôi cũng hiểu rằng mạng xã hội đóng một vai trò ngày càng lớn trong các mối quan hệ của giới trẻ. Tôi đã tìm được cứ liệu tin cậy cho là các mạng xã hội như Zing Me, Yume, và cả Facebook có hàng triệu thành viên ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi tôi bắt đầu phỏng vấn những bạn trẻ Việt Nam trang lứa ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ, tôi phát hiện là đối với người sử dụng, ít nhất là đối với những người trẻ, thì mạng xã hội không chỉ là một tiện nghi mà còn là một sự cần thiết. Từ những bạn trẻ nói với tôi là thế giới mà không có internet thì sẽ vô cùng “khủng khiếp”, đến những sinh viên thường trực lên mạng xã hội từ bất cứ nơi đâu thông qua điện thoại di động, thì rõ ràng mạng xã hội đã trở thành một kiểu thức truyền thông và định hình tính cách quan trọng đối với ngày càng đông người Việt trẻ.   Trong một hội thảo thân mật trong quán café Trung Nguyên ở Hà Nội, một sinh viên đã giải thích với tôi ở Việt Nam “cư dân mạng” nên được hiểu như thế nào. Anh nói là mặc dù gia đình anh làm chủ một tiệm café internet và anh chủ yếu lớn lên cùng máy tính, việc sử dụng internet đối với giới trẻ thường là một thói quen hơn là một ngoại lệ. Anh nói bây giờ ở Việt Nam hiếm ai nói họ không hề xài internet. Trò chuyện với nhiều sinh viên khác cũng hé cho tôi thấy một hệ quả khác của mạng xã hội, đó là quan điểm toàn cầu. Các sinh viên nhấn mạnh là mạng kỹ thuật số đang thay đổi không chỉ những cách thức mà họ tương tác với nhau, mà thay đổi cả cách họ giao tiếp với thế giới. Các bạn gặp ở cuộc hội thảo sốt sắng chỉ ra rằng internet đã cho họ điều kiện quan tâm đến không chỉ văn hóa Việt Nam mà cả văn hóa toàn cầu khi xuất hiện ở Việt Nam. Các bạn sinh viên ở quán café cũng nhấn mạnh sự kiện là người Việt đã thích nghi nhanh chóng với sự phổ biến của internet, dẫn chứng việc sử dụng internet từ nghe nhạc đồng quê đến nghiên cứu giải pháp cho các vấn đề môi trường rộng khắp thế giới.   Trong thời gian ở Việt Nam tôi nhanh chóng hiểu ra là giới trẻ Việt Nam – ít nhất là giới trẻ ở các thành phố lớn và có trình độ đại học – hội nhập cực kỳ tốt với điều được coi là nền văn hóa phi chính thống nổi trội: nền văn hóa internet. Tôi cũng đã nhận ra điều tương tự ở Mỹ, một nền văn hóa phi chính thống bắt nguồn từ việc sử dụng internet, và điều đó đã đóng vai trò quan trọng trong kết hợp kinh nghiệm toàn cầu và trải nghiệm cá nhân. Nhưng khám phá ra mạng xã hội Việt Nam còn có đặc điểm gì khác là một công việc đầy thách thức. Việc dùng internet để thám hiểm những ranh giới mới và những hình thức diễn cảm mới vốn không tồn tại trước khi mạng xã hội ra đời có thay đổi hay củng cố phẩm chất Việt Nam gì đó như thế nào?   Tôi đã cố gắng tìm hiểu điều này trong một cuộc phỏng vấn với những người quản trị mạng Yume.vn , một mạng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh có hơn ba triệu thành viên. Yume thể hiện nỗ lực tạo cho người Việt một lối thoát trên mạng để diễn tả suy nghĩ, cảm xúc, nhận định, phân tích những vấn đề thiết thân nhất đối với họ. Bằng cách cho bất cứ người viết Việt Nam nhiệt tình nào cũng mở được blog cá nhân trên mạng này, Yume nhấn mạnh vào kiểu thảo luận những vấn đề phức tạp nhưng mạch lạc mà internet cung cấp nếu sử dụng đúng. Cộng đồng và quan hệ cộng đồng, cũng giống như nhiều khía cạnh khác của xã hội Việt Nam, được mạng xã hội Yume chú trọng – và bằng một hình thức và một thiết kế chuyên nghiệp để cho mạng này hấp dẫn và dễ tiếp cận.   Những cuộc thảo luận sâu hơn với sinh viên Việt Nam cho thấy giới trẻ Việt Nam, cũng giống như giới trẻ Mỹ, muốn chia sẻ mọi thứ, với nhau và với cả thế giới. Sinh viên Việt Nam dường như tin vào khả năng của internet giúp được họ, cũng như đất nước họ, phát triển và đóng những vai trò quan trọng trên sân khấu toàn cầu. Là những người lãnh đạo tương lai của thế giới này giới trẻ có trách nhiệm làm cho đất nước mình, và thế giới, trở thành một nơi tốt đẹp hơn cho những thế hệ tương lai. Sự phát triển đã khiến thế hế chúng tôi trở thành “công dân mạng” cho thấy internet là phương tiện của tương lai để chia sẻ những câu chuyện, những ý tưởng, những viễn tượng về thế giới của chúng ta.      Lý Lan dịch  * Sinh viên khoa Tâm lý học, ĐH Western Washington, Mỹ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cú hích cho R&D ở doanh nghiệp      Mới đây, Viện Chiến lược và Chính sách KH&amp;CN Việt Nam (Bộ KH&amp;CN) đã phối hợp với Viện Sau đại học về Nghiên cứu Chính sách Nhật Bản (GRIPS) tổ chức hội thảo về Huy động nguồn lực ngoài nhà nước cho khoa học và công nghệ. Theo các chuyên gia Nhật Bản, để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho R&amp;D, cần phải tạo ra một môi trường đổi mới sáng tạo và về chính sách, cần xác định rõ các ưu tiên.    Giáo sư Atsushi Sunami, Học viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia, bắt đầu bài nói chuyện của mình bằng cách đưa ra hình ảnh bìa sách “Sự thăng trầm của những quyền lực vĩ đại” của Paul Kennedy xuất bản vào năm 1987. Trong đó, trên ba bậc thang hình cầu mô phỏng Trái đất là ba quốc gia, Nhật, Mỹ và Anh: Anh đã rời bỏ vị trí đứng đầu, Mỹ thì đang chênh vênh trên đỉnh còn Nhật thì chuẩn bị bước lên thay thế vị trí của Mỹ. Tại thời điểm cuối những năm 1980, đầu 1990 nền kinh tế của Nhật ở giai đoạn hưng thịnh nhờ sự đầu tư cho khoa học và công nghệ ở khối tư nhân.   Cho tới thời điểm hiện tại, việc đầu tư cho R&D của khu vực tư nhân ở Nhật Bản vẫn chiếm khoảng 80% tổng đầu tư cho lĩnh vực này trên cả nước và tương đương 2.5% GDP. Việc đầu tư cho R&D của các doanh nghiệp, theo GS. Atsushi, hoàn toàn tự nguyện và trong suốt hơn 20 năm qua không hề chịu sự chi phối trực tiếp của bất kì chính sách nào mà bắt nguồn từ việc cạnh tranh với thị trường ngoài nước, đặc biệt là thị trường Mỹ.  Sự tự nguyện đầu tư cho R&D là một lợi thế của nền kinh tế Nhật Bản nhưng đồng thời cũng là điểm yếu của quốc gia này. Đến năm 2007, sau cơn chấn động Lehman (ngân hàng quốc tế Lehman Brothers tuyên bố phá sản), việc đầu tư cho R&D của Nhật giảm từ 140 tỷ USD xuống còn 120 tỷ USD (2009) và thấp hơn nhiều so với Trung Quốc và Hàn Quốc. Nhật Bản đứng trước nguy cơ tuột mất vai trò lãnh đạo về công nghệ. Làm thế nào để thúc đẩy khu vực tư nhân Nhật Bản tiếp tục đầu tư cho R&D như trước? “Nhật Bản vẫn đang tìm câu trả lời” – GS. Atsushi cho biết. Ông cho rằng, việc đầu tư cho R&D là do tự thân của mỗi doanh nghiệp, chính phủ không thể bằng mọi biện pháp thúc đẩy hay ép buộc. Nhà nước cũng không thể “mời” doanh nghiệp thực hiện R&D bằng ngân sách vì chính phủ đang có chủ trương cắt giảm. Để khuyến khích đầu tư cho R&D ở khối tư nhân, theo GS. Atsushi, chỉ có thể bằng cách tạo ra một môi trường thân thiện với đổi mới sáng tạo.   Quốc gia rất thân thiện với ĐMST   Sau khi trúng cử vào năm 2012, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đưa ra chương trình “ba mũi tên” Abenomics nhằm cải cách kinh tế Nhật Bản. Trong đó, mũi tên thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế, là quan trọng nhất và hướng tới mục tiêu đưa Nhật Bản thành một quốc gia thân thiện với đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Theo đó, nguồn vốn đầu tư cho R&D mà nước này kêu gọi ngoài ngân sách là từ các tập đoàn lớn trong nước và các công ty nước ngoài.   Nhật Bản đề ra các quy định chuẩn quốc tế về công nghệ và dây chuyền sản xuất để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào R&D bởi “doanh nghiệp Nhật luôn bị thu hút bởi thị trường Mỹ” – GS. Atsushi nói. Bên cạnh đó, nước này đưa ra những cải cách để những công ty trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế và năng lượng phải quản lý trên cơ sở công nghệ thông tin. Ví dụ trong ngành y tế – chăm sóc sức khỏe, chính phủ Nhật cho phép thuê ngoài trong việc nuôi trồng tế bào, kết hợp quản lý giữa nhiều cơ sở nghiên cứu… Điều này khiến cho các cơ sở y tế của Nhật cần xây dựng một nền tảng công nghệ để quản lý nhân sự và hoạt động của mình nhằm liên lạc với các đối tác trên toàn thế giới.    Bên cạnh đó, để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp về công nghệ, Nhật Bản đã thành lập một “Hội đồng kiến tạo mạo hiểm” (Venture Creation Council) gồm các công ty và tập đoàn lớn của Nhật để tạo ra một nền tảng “mai mối” các công ty lớn với các công ty khởi nghiệp nhỏ phù hợp. Nhà nước cũng cung cấp bảo hiểm việc làm cho các thanh niên đang thành lập doanh nghiệp hoặc có ý định khởi nghiệp trong thời gian họ tìm việc làm.   Chính phủ Nhật lựa chọn tám siêu đô thị để hình thành các đặc khu kinh tế – là nơi sẽ thí điểm những đổi mới sáng tạo trong chính sách. Những thành phố này không được đầu tư về mặt kinh phí mà được nới lỏng mặt chính sách nhằm thu hút những nhà đầu tư và lao động nước ngoài. Ví dụ như, giảm thuế doanh nghiệp, cho phép giáo viên, giảng viên nước ngoài được làm việc tại Nhật Bản, các cơ sở giáo dục và nghiên cứu của nước ngoài được phép sử dụng cơ sở vật chất công… Đồng thời, họ cũng giải quyết những bất tiện thường được các doanh nghiệp nước ngoài đề cập: khắc phục rào cản ngôn ngữ bằng cách cài đặt tiêu chuẩn cho mã QR cho điện thoại để đọc thông tin sản phẩm bằng tiếng Anh, xây dựng các địa điểm công cộng có wifi miễn phí, thành lập một nền tảng cho phép các bộ trưởng đóng vai trò tư vấn đối với doanh nghiệp nước ngoài… Cuộc thử nghiệm đặt mục tiêu vào năm 2016 có thể thu hút 500 tập đoàn đa quốc gia và các cơ sở R&D. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về tính thành công của cuộc thử nghiệm này nhưng theo GS. Atsushi, đây là một cơ hội để các địa phương “tìm cách ứng dụng công nghệ vào tất cả các lĩnh vực xem kết quả thế nào”.  Xác định ưu tiên từ trước  Trong buổi hội thảo, một giáo sư khác đến từ GRIPS, GS.Patarapong Intarakumnerd, tổng kết trên kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á, cho biết, một trong những điểm quan trọng trong việc xây dựng chính sách thúc đẩy R&D ở khối các doanh nghiệp tư nhân là chính phủ cần xác định mục tiêu cụ thể và có một kế hoạch, tầm nhìn dài hạn. R&D không chỉ là tạo ra công nghệ hay sản phẩm đột phá mà còn là những giải pháp để nâng cấp hoặc sửa chữa công nghệ, dây chuyền sẵn có. GS. Patarapong cho rằng, con đường tích tụ, đào sâu năng lực của mỗi doanh nghiệp bắt đầu bằng chế tạo, thiết kế rồi đến phát triển và cuối cùng là nghiên cứu (chứ không phải ngược lại). Chính vì thế, mục tiêu của chính sách thu hút đầu tư R&D ở các khu vực tư nhân là nâng cao khả năng nội địa hóa và cải tiến công nghệ nhập khẩu. Ông lấy ví dụ, giống như Việt Nam, Singapore cũng có nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Tận dụng điều này để nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong nước, họ xây dựng chương trình LIUP (Nâng cấp các ngành công nghiệp trong nước) bằng cách yêu cầu một kỹ sư của đối tác một tập đoàn đa quốc gia tới làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ của địa phương hoặc các đối tác của tập đoàn này phải tổ chức các hội thảo đào tạo trong nước. Theo đó, chi phí hỗ trợ kĩ sư và tổ chức hội thảo do LIUP chi trả.    GS. Patarapong cho biết, nhà nước cũng cần đưa ra các công cụ tài chính như khuyến khích về thuế, cho vay có hoàn trả, tài trợ không hoàn lại và tham gia dưới dạng cổ phần để các doanh nghiệp có điều kiện mua bản quyền công nghệ nước ngoài. Đài Loan đặc biệt thành công trong việc sử dụng phương thức tham gia dưới dạng cổ phần. Nước này thành lập một quỹ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (ngoài ngân sách nhà nước, do các doanh nghiệp đóng góp) đóng vai trò như một quỹ đầu tư mạo hiểm rất lớn.   Tuy nhiên, dù với bất kì công cụ nào, các quốc gia áp dụng hiệu quả thường có sự linh hoạt trong chính sách (như khuyến khích về thuế có thể chuyển đổi thành hỗ trợ không hoàn trả với doanh nghiệp khởi nghiệp) và đưa ra những ưu tiên rất cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, năng lực cần phát triển của các công ty (thiết kế, chế tạo hay phân phối, nhãn hiệu, quản lý sở hữu trí tuệ), sản phẩm và vùng chiến lược. Bên cạnh đó, các chính phủ phải có cam kết và theo đuổi một chính sách dài hạn vì nâng cao năng lực R&D đòi hỏi hàng chục năm.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Của 1%, do 1%, và vì 1%      Người Mỹ đã và đang chứng kiến những phản kháng [ở các nước như Ai Cập, Libya, …] chống lại sự áp đặt của chính quyền nhằm thâu tóm một khối lượng lớn của cải vào tay một nhóm ít người. Tuy nhiên trong bản thân xã hội dân chủ của Mỹ, gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân tập trung vào tay của 1% dân số – tình trạng bất bình đẳng tới mức ngay cả những người giàu cũng có lý do để lo ngại.      Thật vô ích nếu cứ giả vờ rằng điều đã hiển nhiên xảy ra là còn chưa thật xảy ra. Nhóm thượng lưu 1% dân số của Mỹ hiện đã chiếm hữu gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân hằng năm của nước Mỹ. Về mặt tài sản thì nhóm ấy sở hữu 40%. Thu nhập và tài sản của họ thời gian vừa qua đã tăng lên đáng kể. Hai mươi lăm năm trước đây, phần thu nhập của họ mới là 12% và tài sản là 33%. Có thể có lời giải thích tán dương về tài năng và cơ may của những người này và cho rằng triều lên thì mọi con thuyền đều được nâng lên (nước nổi thì bèo nổi). Cách giải thích này có thể là lầm lẫn. Khi mà thu nhập của nhóm 1% giàu nhất tăng thêm 18% trong thập kỷ vừa qua thì thu nhập của nhóm trung lưu lại giảm. Đối với những người chỉ có bằng trung học, mức suy giảm này rất tệ hại: giảm 12 % trong riêng một phần tư cuối của thế kỷ vừa qua. Tất cả tăng trưởng trong những thập kỷ gần đây và có thể cả trước đó nữa đều tập trung vào tay của nhóm thượng lưu. Về bất bình đẳng thu nhập, Mỹ còn tệ hơn bất cứ quốc gia nào thuộc châu Âu già cỗi mà Tổng thống George W. Bush thường chế giễu. Đồng hành gần gũi nhất với Mỹ về mặt này còn có Nga và Iran. Trong khi những nơi có truyền thống về bất bình đẳng ở Mỹ-Latinh như Brazil đã nỗ lực trong nhiều năm và khá thành công trong việc cải thiện hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo và giảm bớt khoảng cách về thu nhập thì Mỹ lại cho phép sự bất bình đẳng tăng lên.  Biện minh và thực trạng                Các nhà kinh tế từ lâu đã cố gắng biện minh cho tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng với nhiều vấn đề tồi tệ thời kỳ giữa thế kỷ 19 – mức độ bất bình đẳng của thời kỳ đó chưa thấm vào đâu so với mức độ bất bình đẳng mà chúng ta đang thấy ở Mỹ hiện nay. Lý lẽ họ đưa ra để biện minh cho tình trạng này được gọi là “lý thuyết năng suất cận biên” (marginal productivity theory). Điểm cốt lõi của lý thuyết này là mối quan hệ giữa mức thu nhập cao với mức năng suất cao và đóng góp lớn cho xã hội. Đây là một lý thuyết luôn được người giàu yêu thích. Tuy nhiên, bằng chứng của lý thuyết này rất mong manh. Giới quản lý công ty, những người góp phần đem lại sự suy thoái trong ba thập kỷ qua với những đóng góp tiêu cực lớn lao cho xã hội chúng ta và cho công ty của họ vẫn tiếp tục nhận được những khoản tiền thưởng kếch xù. Trong một số trường hợp, các công ty xấu hổ khi gọi những khoản tiền đó là “tiền thưởng thực thi nhiệm vụ” mà thực ra họ cảm thấy cần phải đổi tên gọi ấy thành “tiền thưởng giữ chân” (thậm chí cái duy nhất giữ lại được chỉ là sự thực thi nhiệm vụ kém cỏi). Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.          Những người đã có những sáng tạo  lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong  nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin  học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách  nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa  nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.        Một số người nhìn vào bất bình đẳng thu nhập và nhún vai. Vậy điều gì xảy ra khi mà người này được lợi còn người kia chịu thiệt? Họ lập luận rằng vấn đề không phải là chia miếng bánh như thế nào mà là cái bánh to nhỏ ra sao. Lập luận này cơ bản là sai. Trong một nền kinh tế mà hầu hết mọi công dân năm sau lại có đời sống kém hơn năm trước, như nền kinh tế Mỹ chẳng hạn thì chắc không thể có sự phát triển tốt đẹp trong dài hạn. Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này:    Thứ nhất, tình trạng bất bình đẳng đang tăng lên là mặt trái của vấn đề khác, đó là sự thu hẹp cơ hội. Bất cứ khi nào mà chúng ta thu hẹp sự bình đẳng về cơ hội thì điều đó có nghĩa rằng chúng ta đang từ chối sử dụng một phần tài sản quý báu nhất của chúng ta: tài sản con người theo cách hữu ích nhất có thể.   Thứ hai, nhiều nhân tố làm méo mó sự bình đẳng trong đó có những nhân tố liên kết với độc quyền và ưu đãi về thuế vì lợi ích riêng. Những nhân tố này sẽ làm tổn hại tới tính hiệu quả của nền kinh tế. Tình trạng bất bình đẳng mới phát sinh này tiếp tục tạo ra những méo mó khác và những méo mó ấy lại tiếp tục làm tổn hại trầm trọng hơn tính hiệu quả. Lấy một ví dụ rằng có quá nhiều những thanh niên tài năng của chúng ta vì nhìn thấy những khoản thu nhập khổng lồ đã đi vào lĩnh vực tài chính mà không làm việc trong những lĩnh vực khác mà lẽ ra có thể giúp cho nền kinh tế lành mạnh và hữu ích hơn.  Thứ ba và có thể là điểm quan trọng nhất, một nền kinh tế hiện đại cần có những “việc công” (collective action). Chính phủ cần phải đầu tư vào kết cấu hạ tầng, giáo dục và công nghệ. Nước Mỹ và thế giới đã được hưởng những lợi ích lớn lao từ các nghiên cứu do chính phủ tài trợ mà từ đó ra đời Internet, các thành tựu về y tế và nhiều điều khác nữa. Tuy vậy, nước Mỹ cũng từ lâu phải chịu đựng một hệ thống hạ tầng thiếu đầu tư (hãy nhìn vào tình trạng những con đường cao tốc, cầu cống, đường sắt và sân bay của chúng ta), thiếu chi tiêu cho nghiên cứu cơ bản và giáo dục ở mọi cấp. Trong tương lai, tình trạng cắt giảm trong các lĩnh vực này sẽ còn tiếp tục.  Việc này không có gì đáng ngạc nhiên – nó đơn thuần xảy ra khi mà của cải xã hội bị phân phối thiên vị. Khi tình trạng phân hóa giàu nghèo càng sâu sắc thì người giàu càng miễn cưỡng khi chi tiền vào những nhu cầu công cộng. Nhà giàu không muốn dựa vào Chính phủ để có được công viên, nền giáo dục, sự chăm sóc sức khỏe và an toàn cá nhân vì tự bản thân họ có thể mua tất cả những thứ đó cho bản thân mình. Theo xu thế này, họ ngày càng tách xa những người bình thường và đánh mất đi sự đồng cảm mà họ có thể đã từng có. Họ cũng không hề mong muốn một Chính phủ mạnh nếu Chính phủ ấy có thể dùng quyền lực của mình để điều chỉnh cân đối xã hội, lấy bớt đi của cải của họ và biến nó thành những đầu tư công cộng. Nhóm 1% giàu nhất có thể phàn nàn về loại Chính phủ mà chúng ta đang có ở nước Mỹ, nhưng thực sự Chính phủ ấy rất vừa ý họ: quá trì trệ để có thể tái phân phối lại của cải, và quá chia rẽ để có thể làm được việc gì ngoại trừ việc cắt giảm thuế.  Nguyên nhân thực chất        Hầu hết sự bất bình đẳng hiện nay đều phát sinh từ những mánh khóe trong hệ thống tài chính, được hậu thuẫn bởi những điều chỉnh về luật pháp, được trao đi đổi lại trong bản thân hệ thống tài chính- một lĩnh vực đầu tư lời lãi chưa từng có. Chính phủ cho các thể chế tài chính vay tiền với lãi suất gần bằng không và cung cấp những khoản cứu trợ hào phóng khi không còn cách nào khác.         Các nhà kinh tế không chắc chắn rằng làm thế nào để giải thích đầy đủ tình trạng gia tăng bất bình đẳng tại nước Mỹ. Động lực thông thường của cung cầu chắc chắn có vai trò nhất định. Công nghệ cao tiết kiệm lao động đã làm giảm nhu cầu về lao động thuộc giới “cổ cồn xanh” và giới trung lưu. Toàn cầu hóa cũng tạo ra thị trường toàn cầu rộng rãi, buộc những nhân công thiếu kỹ năng nhưng đắt đỏ của Mỹ phải cạnh tranh với những nhân công thiếu kỹ năng nhưng rẻ mạt ở nước ngoài. Xã hội thay đổi cũng đóng vai trò nào đó. Các công đoàn đã từng đại diện cho một phần ba công nhân Mỹ hiện nay chỉ đại diện cho khoảng 12% lực lượng này. Tuy vậy, lý do chính của tình trạng bất bình đẳng sâu sắc hiện có là vì nhóm 1% giàu nhất muốn như vậy.   Bằng chứng rõ rệt nhất chứng tỏ điều này liên quan tới chính sách thuế. Mức thuế thu nhập tài sản giảm đi nghĩa là người giàu có thể nhận về phần lớn thu nhập liên quan tới tài sản của họ và điều đó đã cho phép những người Mỹ giàu có nhất tiến sát tới tình trạng “ăn không” (free ride). Sự độc quyền và cận độc quyền luôn luôn là một nguồn gốc của quyền lực kinh tế, giống như trường hợp John D. Rockefeller từ đầu thế kỷ trước cho đến Bill Gates vào cuối thế kỷ ấy. Sự lỏng lẻo trong việc thi hành Luật chống Độc quyền, đặc biệt là dưới thời các chính quyền Đảng Cộng hòa là cơ hội trời cho đối với nhóm 1% giàu nhất. Hầu hết sự bất bình đẳng hiện nay đều phát sinh từ những mánh khóe trong hệ thống tài chính, được hậu thuẫn bởi những điều chỉnh về luật pháp, được trao đi đổi lại trong bản thân hệ thống tài chính – một lĩnh vực đầu tư lời lãi chưa từng có. Chính phủ cho các thể chế tài chính vay tiền với lãi suất gần bằng không và cung cấp những khoản cứu trợ hào phóng khi không còn cách nào khác. Các nhà làm luật nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng thiếu minh bạch và xung đột lợi ích (conflict of interest).        Theo định nghĩa thì chính sách đối ngoại là sự cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các nguồn lực quốc gia. Nhưng khi nhóm 1% giàu nhất cầm quyền đất nước, họ không chịu trách nhiệm và cũng chẳng phải trả tiền, và như vậy thì các nguyên tắc về cân đối thu chi và cần kiệm đều bị ném ra ngoài cửa sổ.         Khi nhìn vào khối lượng tài sản hầu hết bị khống chế bởi nhóm 1% giàu nhất của đất nước này, nó dễ làm bạn tin rằng sự gia tăng bất bình đẳng như là một thành tựu của giới tinh hoa nước Mỹ. Chúng ta đã xuất phát dưới vạch, nhưng hiện nay chúng ta đang ở mức bất bình đẳng có hạng trên thế giới. Và dường như chúng ta tiếp tục phát huy thành tựu này trong nhiều năm tới bởi vì những gì làm cho nó trở thành sự thật thì hiện vẫn đang gia tăng sức mạnh của chính nó. Của cải sinh ra quyền lực và chính quyền lực lại sinh ra nhiều của cải hơn nữa. Trong vụ tai tiếng tiền tiết kiệm và cho vay thập kỷ 1980, chủ ngân hàng Charles Keating được Ủy ban Quốc hội hỏi rằng liệu 1,5 triệu USD mà ông ta rải cho một vài quan chức dân biểu chủ chốt có thể mua được ảnh hưởng hay không, ông ta trả lời “Tôi hi vọng chắc chắn như vậy”. Tòa án Tối cao trong một quyết định gần đây liên quan tới tổ chức Citizens United1 đã chú trọng bảo vệ quyền của các công ty trong việc mua ảnh hưởng tới Chính phủ bằng cách xóa bỏ giới hạn chi tiêu cho chiến dịch tranh cử. Ngày nay, vấn đề nhân sự và chính trị trở thành sự liên kết hoàn hảo. Hầu như tất cả các Thượng Nghị sĩ và đa số các Hạ Nghị sĩ Mỹ đều là thành viên thuộc nhóm 1% giàu nhất khi họ thành công trong sự nghiệp. Họ tồn tại ở vị trí quan chức ấy bởi tiền của nhóm 1% giàu nhất, và họ biết rằng nếu phục vụ tốt nhóm 1% giàu nhất, họ sẽ được đền bù bởi nhóm này khi họ rời nhiệm sở. Nhìn chung, các nhà hoạch định chính sách chủ chốt trong ngành hành pháp về lĩnh vực thương mại và chính sách kinh tế cũng đến từ nhóm 1% giàu nhất. Khi những công ty dược phẩm nhận được những món quà hàng nghìn tỷ USD thông qua các quy định cấm đoán mang tính pháp lý đối với Chính phủ với tư cách là nhà tiêu thụ thuốc men lớn nhất xã hội rằng không được mặc cả về giá thuốc, thì những khoản lợi ấy không bắt nguồn từ những lý do kỳ diệu. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu một luật thuế không được đưa ra từ nghị viện trừ phi việc cắt giảm thuế khổng lồ ấy là để đánh đổi lấy sự giàu có. Với quyền lực của nhóm 1% giàu nhất thì hệ thống chính trị không thể nào vận hành theo cách khác.                  Những hậu quả lâu dài  Sự bất bình đẳng làm méo mó xã hội chúng ta bằng nhiều cách. Hậu quả mà ai cũng thấy rõ là xu thế tất cả mọi người trong xã hội [kể cả Chính phủ] ngoại trừ nhóm 1% giàu nhất đang ngày càng gặp khó khăn, chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập của họ. Kinh tế học thấm nhập2 là điều không tưởng, nhưng hành vi theo tư duy chủ nghĩa thấm nhập thì có thực. Bất bình đẳng làm méo mó trầm trọng chính sách đối ngoại của chúng ta. Nhóm 1% giàu nhất hiếm khi phục vụ trong quân đội. Lòng yêu nước và lương bổng dành cho lực lượng vũ trang “tình nguyện” không đủ để thu hút con cái của tầng lớp này vào lính. Mặt khác, những kẻ giàu có nhất chẳng cảm thấy bị đụng chạm bởi thuế má tăng cao khi đất nước tham gia vào các cuộc chiến tranh: quốc gia cứ đi vay là có tiền. Theo định nghĩa thì chính sách đối ngoại là sự cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các nguồn lực quốc gia. Nhưng khi nhóm 1% giàu nhất cầm quyền đất nước, họ không chịu trách nhiệm và cũng chẳng phải trả tiền, và như vậy thì các nguyên tắc về cân đối thu chi và cần kiệm đều bị ném ra ngoài cửa sổ. Sẽ không có giới hạn cho mức độ phiêu lưu mà quốc gia chúng ta phải mạo hiểm; trong khi các tập đoàn và nhà thầu chắc chắn là luôn có lợi.   Những nguyên tắc của toàn cầu hóa kinh tế cũng được xây dựng theo hướng làm lợi cho người giàu. Những nguyên tắc này khuyến khích cạnh tranh giữa các nước vì mục tiêu của giới kinh doanh, trong đó có việc giảm thuế cho doanh nghiệp, hạ thấp mức bảo vệ sức khỏe và môi trường, phá hủy những gì được coi là quyền cơ bản của người lao động, trong đó có quyền đàm phán tập thể. Hãy tưởng tượng thế giới có thể khác biệt thế nào nếu như các nguyên tắc được xây dựng theo hướng khuyến khích cạnh tranh giữa các quốc gia vì mục tiêu lợi ích của người công nhân thay vì lợi ích của nhóm thượng lưu. Khi đó, các Chính phủ sẽ cần phải cạnh tranh với nhau trong việc cung cấp an ninh về kinh tế, mức thuế thấp cho người có mức lương bình thường, nền giáo dục tốt, và môi trường trong sạch. Nhưng đây là những điều mà nhóm 1% giàu nhất chẳng cần quan tâm.  Trong những tổn thất mà nhóm 1% giàu nhất gây ra cho xã hội chúng ta thì có thể tổn thất lớn nhất là sự xói mòn bản ngã, trong đó có cảm giác về sự công bằng, bình đẳng và ý thức về cộng đồng. Nước Mỹ từ lâu tự hào là một xã hội công bằng, nơi mà mọi người đều có cơ hội tiến bộ như nhau, tuy nhiên con số thống kê cho thấy không phải như vậy. Cơ hội cho một công dân nghèo, hoặc thậm chí một công dân thuộc tầng lớp trung lưu trở thành người thuộc nhóm 1% giàu nhất là thấp hơn nhiều so với các nước châu Âu. Đây là khía cạnh liên tưởng về một hệ thống bất công, thiếu cơ hội dẫn đến phát sinh tai họa như ở Trung Đông. Tình trạng tăng giá lương thực và thanh niên thất nghiệp dai dẳng đơn thuần có vai trò như một tia lửa ban đầu của đám cháy lớn. Với tỷ lệ thanh niên thất nghiệp khoảng 20% ở Mỹ (ở một số nơi và đối với một số nhóm xã hội, con số này là gấp đôi) thì cứ một trong 6 người Mỹ không thể kiếm được việc làm ổn định; một trong 7 người Mỹ sống bằng phiếu trợ cấp lương thực và một tỷ lệ tương tự là số người thiếu ăn. Có quá nhiều ví dụ chứng minh rằng có điều gì đó đã ngăn cản sự “thấm nhập” vốn được tán tụng sẽ lan tỏa từ nhóm 1% giàu nhất tới những người còn lại trong xã hội. Tất cả những điều này dẫn đến tác động có thể thấy trước là tâm lý lãnh đạm với xã hội. Số người đi bầu cử trong lứa tuổi 20 của cuộc bầu cử gần đây nhất là 21%, tương đương với con số thất nghiệp.                  Alexis de Tocqueville                    Alexis de Tocqueville đã từng miêu tả những gì mà ông thấy như là phần chủ chốt trong thiên tư kỳ dị của xã hội Mỹ, đó là thứ mà ông gọi là “tư lợi được hiểu một cách đúng đắn” (self-interest properly understood). Hai từ cuối rất quan trọng. Mọi người đều có tư lợi (self-interest) theo nghĩa hẹp: Tôi muốn những gì là tốt cho tôi ngay bây giờ! “Tư lợi được hiểu một cách đúng đắn” thì khác. Nó có nghĩa là tôn trọng sự quan tâm đến quyền lợi của người khác, hay nói cách khác là phúc lợi chung mà thực chất là một điều tiên quyết cho hạnh phúc tối thượng của bản thân mỗi người. Tocqueville không ám chỉ rằng quan điểm này là cao thượng hay lý tưởng. Thực ra, ông ta ngụ ý một điều đối lập, đó là dấu hiệu của chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Những người Mỹ thận trọng hiểu một sự thật căn bản rằng: quan tâm đến người khác thì không chỉ tốt cho tâm hồn mà còn tốt cho cả việc làm ăn.              Nhóm 1% giàu nhất trong xã hội có thể có những ngôi nhà, điều kiện giáo dục, các bác sĩ và đời sống hạng nhất, nhưng có một điều dường như tiền không đem lại được, đó là sự nhận thức rằng định mệnh của họ ràng buộc với tình trạng đời sống của 99% dân số còn lại. Suốt chiều dài lịch sử, đây là điều mà nhóm 1% giàu nhất cuối cùng cũng học được, chỉ có điều là quá muộn.          Trong vài tuần gần đây, chúng ta đã chứng kiến có tới hàng triệu người đổ ra đường phản đối những điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội trong những xã hội ngột ngạt mà họ đang sống. Các Chính phủ tại Ai Cập và Tunisia đã bị đổ. Phong trào phản đối đang trỗi dậy ở Libya, Yemen và Bahrain. Những gia đình đang cầm quyền đâu đó trong khu vực đang quan sát một cách lo ngại từ những căn nhà đắt tiền có máy lạnh của họ: liệu sắp tới sẽ là họ chăng? Họ có lý khi lo ngại như vậy. Đây là những xã hội mà một phần nhỏ dân số, dưới 1% làm chủ phần lớn tất cả của cải xã hội; đây là nơi mà của cải là nhân tố chính quyết định quyền lực; nơi mà sự tham nhũng thâm căn cố đế ở dạng này hay dạng khác là một cách sống; và đây là nơi mà những kẻ giàu có nhất thường ngáng đường các chính sách cải thiện cuộc sống chung của mọi người.  Khi nhìn vào sự sôi sục của mọi người trên phố, chúng ta tự hỏi rằng khi nào chuyện đó xảy ra ở Mỹ? Nghiêm túc mà nói thì đất nước chúng ta đã trở nên giống như một trong số những nơi xa xôi và rối loạn ấy.  (Người dịch: Bùi Đại Dũng)  Theo bài của Joseph E. Stiglitz trên báo Vanity Fair http://www.vanityfair.com/society/features/ 2011/05/top-one-percent-201105  —————  1 Citizens United là một tổ chức phi lợi nhuận của những người theo đường lối chính trị bảo thủ của Mỹ, có chủ trương giảm bớt quyền lực của Chính phủ Mỹ, tăng sự tự do cho các tập đoàn, củng cố những giá trị gia đình truyền thống, tăng chủ quyền và an ninh quốc gia.  2 Kinh tế học thấm nhập: lập luận kinh tế cho rằng nên giảm thuế cho doanh nghiệp để họ có thêm tiền tái đầu tư vào nền kinh tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cửa hàng bằng đồ phế thải      Các thành phố lớn ở các nước đang phát triển  hay mới nổi thường có nhiều rác thải dưới dạng vỏ đồ hộp, túi ni lông,  chai nhựa. Nhiều hãng sản xuất đã tận dụng nguồn rác thải này để làm ra những sản phẩm  mới. Hãng sản xuất sản phẩm thể dục,  thể thao Nike mới đây đã xây dựng một cửa hàng hoàn toàn làm từ rác thải.     Cửa hàng mang tên “X-158 Hyper Nature” ở thành phố cảng Thượng Hải (Trung Quốc). Hãng thiết kế của Đài Loan có tên Miniwiz đã thiết kế xây dựng cửa hàng này bằng 5.500 vỏ hộp nhôm, 2.000 chai nhựa PET và 50.000 đĩa CD và DVD cũ.  Tập đoàn Nike của Mỹ đã phải rất nỗ lực để có được hình ảnh xanh. Trong bảng tổng sắp 50 doanh nghiệp hàng đầu về tính bền vững do Công ty tư vấn Interbrand công bố thì Nike đứng sau đối thủ Adidas của Đức. Tháng ba vừa qua, Nike đã đặt vấn đề hợp tác chiến lược với đối tác Bluesign Technologies – nột doanh nghiệp của Thụy Sỹ có chuyên môn về lĩnh vực này.   Vì vậy cửa hàng làm bằng rác thải ở Thượng Hải hoàn toàn phù hợp với chiến lược của Nike. Trần của cửa hàng gồm hơm 1.000 tấm có mầu trắng sữa được chế tạo từ DVD cũ và chất kết dính là Siliciumdioxid chiết xuất từ vỏ trấu. Những tấm nhôm bằng vỏ lon nhôm được sắp xếp theo kiểu Origami, qua đó tạo được độ bền cần thiết của trần nhà. Số chai nhựa được sử dụng để làm giây chằng dài 1.800 mét.  Các nhà thiết kế không dùng keo dính để sau này có thể dễ dàng đưa tất cả các bộ phận của cửa hàng vào tái chế. Thay cho keo dính, người ta đã chế các vật nối bằng nhôm lấy từ vỏ lon.  Sân vận động bằng giầy thể thao cũ  Đối với tập đoàn Nike,  tái chế trở thành một chủ đề từ năm 1993. Nike có chương trình mang tên “REUSE-A-SHOE”-Programm, nhà sản xuất giầy thể thao thiết lập một mạng lưới thu gom giầy thể thao cũ, kể cả giầy nhái Nike, thay vì vứt ra bãi rác để chế thành nguyên liệu làm tấm trải sân thể thao, bãi cỏ nhân tạo, sân tennis ngoài trời hoặc sân bóng rổ trong nhà.   Nike còn dùng vỏ chai nhựa để chế tạo thành quần áo thể thao của đội bóng Hà Lan tham dự giải Euro 2012. Để làm một bộ quần áo cho các cầu thủ, Nike tiêu thụ 13 vỏ chai, và kể từ năm 2010, Nike đã tiêu thụ 115 triệu vỏ chai nhựa tái chế để sản xuất các bộ quần áo thể thao cho các đội tuyển quốc gia và các câu lạc bộ.  Theo dự kiến, đội tuyển quốc gia Brazil cũng sẽ mặc bộ đồ thể thao tái chế đặc biệt này tại Giải vô địch thế giới năm 2014, qua đó góp phần gián tiếp vào việc làm sạch đường phố ở các thành phố lớn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cửa hàng tạp hóa ảo      Một chuỗi các cửa hàng tạp hóa ảo vừa được mở ở nhà ga tàu điện ngầm  và điểm dừng xe buýt ở Seoul. Tại đó, hành khách có thể sử dụng điện thoại thông minh  để quét và mua các món hàng ảo, sau đó chúng sẽ được gửi về nhà họ.    Ngày nay, người Hàn Quốc có thể sử dụng điện  thoại để mua sắm và mua vé các phương tiện vận tải công cộng (trong khi  ở Mỹ thì ý tưởng này khá mới và Google còn đang trong quá trình cố gắng  vận động thúc đẩy). Những người lái xe taxi ở quốc gia này sẽ nhìn bạn  ngạc nhiên nếu bạn trả tiền bằng thẻ tín dụng thay vì thanh toán bằng  điện thoại.  Nhưng gần đây, Hàn Quốc lại có thêm một điều mới mẻ khác: mọi người có thể sử dụng điện thoại để mua hàng tạp hóa ở tàu điện ngầm.  5 tháng qua, Tesco – chuỗi cửa hàng của Anh – đã mở các cửa hàng tạp hóa ảo ở nhà ga tàu điện ngầm và điểm dừng xe buýt ở Seoul. Hành khách sử dụng điện thoại thông minh để quét và mua các món hàng ảo, sau đó chúng sẽ được gửi tới nhà họ.  “Nó thực sự cuốn hút sự chú ý của mọi người, và điều này tạo ra thành công ngoạn mục trong lĩnh vực bán lẻ” – ông Roberto Munoz, phát ngôn viên của công ty đang hoạt động bằng cái tên Homeplus ở Hàn Quốc này cho hay.   Các bức tường ở ga tàu điện ngầm trông giống như những chiếc kệ của một cửa hàng tạp hóa điển hình – chỉ có hàng hóa là những hình ảnh và mỗi mặt hàng được gắn một mã QR (mã vạch 2 chiều hình caro đen trắng). Người mua hàng khởi động một ứng dụng Homeplus trên máy điện thoại, sau đó quét mã QR của mặt hàng mà họ muốn mua. Tiền tự động được khấu trừ từ tài khoản ngân hàng và mặt hàng đó sẽ được gửi đến địa chỉ mà họ lưu vào hệ thống. Nếu bạn mua hàng vào trước 13 giờ thì mặt hàng sẽ đến vào cùng ngày hôm đó.  Ngày nay người ta dành cho mã QR những tán tụng quá mức, nhưng ứng dụng mới này có một số ưu điểm khá hay. Trước đây, thường thì khách hàng luôn lãng phí thời gian bằng cách dán mắt vào điện thoại trong lúc đợi tàu. Nhưng nay các cửa hàng ảo có thể giúp thời gian đó có ích hơn. Thứ hai, việc bạn nhìn thấy những bức ảnh hàng hóa bằng kích cỡ thật, có lẽ sẽ khiến mọi người muốn mua chúng hơn. Tôi thuộc kiểu người không bao giờ nhớ rằng mình đã hết sữa cho tới khi tôi nhìn thấy sữa ở đâu đó. Vì thế, cửa hàng ảo này hoạt động giống như một công cụ nhắc nhở.  Ông Monoz cho biết các cửa hàng hiện vẫn đang trong giai đoạn thí điểm, với các địa điểm tại 2 nhà ga tàu điện ngầm và 20 trạm dừng xe buýt. Tất cả đều ở Seoul. Mỗi cửa hàng ở tàu điện ngầm có thể lưu trữ được khoảng 500 sản phẩm, ông cho biết, còn mỗi điểm dừng xe buýt thông thường chỉ có thể giới thiệu được 50 sản phẩm.  “Với chúng tôi, đây là một cách làm thú vị, giúp chúng tôi có thể đặt một cửa hàng ở hầu như bất cứ nơi nào” – ông Munoz nói.     * Vào đường link để xem video: http://www.youtube.com/watch?v=nJVoYsBym88   Nguyễn Thảo (Theo CNN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cửa kính năng lượng mặt trời sẽ sớm thành hiện thực như pin gác mái      Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Nano Energy, các nhà khoa học Úc cho biết đã tạo ra những tấm pin mặt trời bán trong suốt có khả năng tích hợp vào kính cửa sổ. Điều này được xem như nhân tố có khả năng biến đổi ngành kiến trúc, quy hoạch đô thị và sản xuất điện năng.      Nhóm nghiên cứu do GS. Jacek Jasieniak dẫn dắt đến từ Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về Khoa học exciton thuộc Hội đồng nghiên cứu Úc và trường Đại học Monash đã thành công trong việc tạo ra pin mặt trời dùng vật liệu gốm perovskite thế hệ mới có thể tạo ra điện năng trong khi cho phép ánh sáng đi qua. Cùng với hãng sản xuất kính Viridian Glass lớn nhất của Úc, họ đang xem xét việc đưa công nghệ mới này vào sản phẩm thương mại.  Các nhà khoa học cho biết 2 m2 cửa sổ năng lượng mặt trời có khả năng tạo ra lượng điện tương đương với một tấm pin mặt trời tiêu chuẩn trên gác mái.  Ý tưởng về pin mặt trời bán trong suốt không phải quá mới mẻ, nhưng các thiết kế trước đó thất bại vì đắt tiền, không ổn định hoặc thiếu hiệu quả. GS. Jasieniak và các đồng nghiệp từ Khoa Khoa học vật liệu và Kỹ thuật của ĐH Monash cùng Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghiệp quốc gia Úc (CSIRO) đã sử dụng cách tiếp cận khác. Họ dùng một chất bán dẫn hữu cơ để tạo thành polymer thay thế Spiro-OMeTAD – một cấu phần thông dụng của pin mặt trời thường có độ ổn định thấp vì có thể tạo ra một lớp nước phủ vô ích. Việc áp dụng loại vật liệu này đem lại kết quả đáng kinh ngạc. GS. Jasieniak cho biết: “Thông thường, pin mặt trời trên mái nhà có hiệu suất chuyển đổi điện năng từ 15-20% còn các tế bào quang điện bán trong suốt của chúng tôi có hiệu suất chuyển đổi là 17% trong khi vẫn cho phép hơn 10% ánh sáng truyền qua. Từ lâu, người ta đã mơ ước đến những tấm cửa sổ có thể tạo ra điện năng, giờ thì nó có vẻ đã khả thi”. Đồng tác giả nghiên cứu TS. Anthony Chesman (CSIRO) cho biết, họ đang tìm cách phát triển một quy trình sản xuất kính trên quy mô lớn để có thể chuyển giao cho ngành công nghiệp, từ đó giúp các nhà sản xuất sẵn sàng tiếp thu công nghệ.  Cửa sổ năng lượng mặt trời sẽ rất có ích cho cư dân và chủ tòa nhà. Nó sẽ mang lại nhiều thách thức và cơ hội mới cho các kiến ​​trúc sư, xây dựng, kỹ sư và quy hoạch. GS. Jasieniak giải thích “có thể làm các tế bào quang điện mờ hơn hoặc trong hơn nhưng nếu tấm pin càng trong thì điện năng tạo ra càng ít, do vậy kiến trúc sư phải cân nhắc yếu tố này khi thiết kế”. Ông cũng nói thêm các tấm cửa sổ năng lượng mặt trời nhuộm màu như cửa kính thương mại hiện nay sẽ tạo được khoảng 140 watts/m2.  Có khả năng, ứng dụng đầu tiên của công nghệ này sẽ trên các tòa nhà cao tầng. Nguyên nhân là chế tạo cửa sổ lớn cho những tòa nhà này thường rất tốn kém, do đó chi phí bổ sung để kết hợp pin mặt trời bán trong suốt vào đó sẽ không đáng kể. “Chúng ta hãy nghĩ đến tương lai: ngay cả khi phải tốn thêm một chút chi phí lắp pin mặt trời chúng ta sẽ được dùng điện miễn phí” GS.Jasieniak nói. “Những tấm pin mặt trời này sẽ làm thay đổi cách chúng ta nghĩ về các tòa nhà ‘xanh’ và cách chúng vận hành. Cho đến nay, mọi tòa nhà đều được thiết kế dựa trên giả định cửa sổ thụ động nhưng giờ thì chúng có khả năng tự sản xuất ra điện… Do đó, các nhà quy hoạch và thiết kế có thể phải xem xét lại vị trí đặt tòa nhà để tối ưu hóa ánh sáng mặt trời chiếu vào các bức tường”  TS. Jae Choul Yu, tác giả chính của bài báo khoa học, nói thêm, có cơ hội đạt được hiệu suất cao với các tấm pin mặt trời này. “Dự án tiếp theo của chúng tôi là một thiết bị kép, dùng tế bào pin perovskite làm lớp dưới cùng và tế bào pin hữu cơ làm lớp trên cùng.”  Về việc khi nào thì những tấm pin mặt trời bán trong suốt đầu tiên có thể xuất hiện trên thị trường, GS. Jasieniak cho biết: “Điều này phụ thuộc vào mức độ mở rộng quy mô thành công của công nghệ, nhưng mục tiêu của chúng tôi là đạt được điều đó trong vòng 10 năm”. Jatin Khanna, Giám đốc vận hành của công ty Viridian Glass, nói thêm: “Việc phát triển pin năng lượng mặt trời cửa sổ như vậy mang đến một cơ hội có thể dẫn tới đổi mới sáng tạo về vật liệu kính và công nghệ trong tương lai”.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-04-solar-window-job-standard-rooftop.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuba tự chủ phát triển vaccine Covid-19      Mặc dù chịu cấm vận, cản trở khả năng tiếp cận các nguồn cung y tế thiết yếu trong suốt nhiều thập kỷ nhưng Cuba vẫn có những bước tiến đáng kể trong cuộc đua vaccine Covid. Cuba sẽ trở thành nước Mỹ Latin đầu tiên phát triển và sản xuất thành công vaccine nội địa.      Trong cuộc phỏng vấn mới đây trên tờ Nature, ông Vicente Vérez Bencomo, Tổng giám đốc Viện Vaccine Finlay thuộc sở hữu nhà nước Cuba tại La Habana chia sẻ về công nghệ chế tạo vaccine của Họ. Viện Finlay là nơi tạo ra trong những loại vaccine tiên tiến nhất của Cuba và đang đưa vaccine Soberana 02 (tạm dịch là “Chủ Quyền 02”), vaccine đã bước vào thử nghiệm lâm sàng pha III từ tháng 3.  Cuba đã phải chịu nhiều thập kỷ cấm vận thương mại, ngăn cản khả năng tiếp cận các nguồn cung thiết yếu. Vérez Bencomo nói chính điều này đã đem lại cho người Cuba ý thức độc lập tự chủ, thúc đẩy họ tạo ra vaccine Covid của riêng mình thay vì tham gia COVAX (sáng kiến phân phối vaccine công bằng cho mọi quốc gia do WHO điều phối).  Công nghệ áp dụng trong Soberana 02 cũng thể hiện tinh thần độc lập tự chủ này, vì khác biệt so với đa số các vaccine Covid khác trên thế giới. Soberana 02 áp dụng nguyên lý cộng hợp (conjugation) kháng nguyên yếu với kháng nguyên mạnh hơn để đảm bảo đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ. Các nhà khoa học tại Finlay đã ghép các mảnh protein spike của coronavirus (kháng nguyên yếu) với một dạng độc tố đã bị bất hoạt của vi khuẩn uốn ván, là một kháng nguyên đủ mạnh để kích hoạt hệ miễn dịch của cơ thể sản xuất kháng thể.   Vérez Bencomo sẽ cho chúng ta biết nhiều điều về quyết định tự tin của Cuba, và về những khó khăn trong nghiên cứu khoa học trong điều kiện khó khăn về kinh tế toàn diện.  Viện Finlay tham gia cuộc đua bào chế vaccine Covid -19 từ khi nào?  Vào tháng 5/2020, Chủ tịch nước Miguel Díaz-Canel kêu gọi bất cứ ai có thể phát triển vaccine chống lại coronavirus nên bắt tay vào thực hiện. Chúng tôi nhận thức được rằng nếu chỉ trông câỵ vào nguồn cung từ bên ngoài, Cuba sẽ phải chờ đợi một khoảng thời gian dài trong khi vaccine đã sẵn sàng tại các nơi khác.   Dĩ nhiên, để tham gia cuộc đua này, chúng tôi buộc lòng phải trì hoãn các dự án khác vì không đủ nguồn lực để thực hiện đồng thời. Chúng tôi tạm dùng thử nghiệm lâm sàng một loại vaccine phế cầu cũng như một loại vaccne ho gà mới rất triển vọng.   Đã có bao nhiêu vaccine của Viện Finlay được thử nghiệm tính đến hiện tại?  Chúng tôi có 3 vaccine thuộc dòng Soberana. Riêng Soberana 02 đã được thử nghiệm ở pha III trên 44,000 người, trong đó một số được tiêm giả dược. Và vì tính cấp bách của đại dịch nên chúng tôi cũng tiến hành một thử nghiệm hiệu quả trên 75,000 người nữa mà không tiêm giả dược. Tất cả mọi người không thể được tiêm vaccine đồng thời nên những người chờ đợi chính là nhóm đối chứng.  Hiện nay đã muộn để khởi động nghiên cứu giả dược mới vì các trường hợp mắc Covid -19 đang gia tăng ở Cuba. Vì vậy, chúng tôi muốn dùng vaccine Soberana 01 (cộng hợp các mảnh protein spike của coronavirus với thành phần vỏ của vi khuẩn não mô cầu để tăng cường phản ứng miễn dịch) như một nhóm so sánh với Soberana 02, thay vì dùng giả dược. Chúng tôi đang chờ đời sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước để bắt đầu thử nghiệm lâm sàng pha II.   Chúng tôi cũng tiến hành thử nghiệm trên 450 người mắc Covid -19 không triệu chứng hoặc đã hồi phục với sản phẩm Soberano Plus. Vaccine này chứa các mảnh protein spike với mục đích kích thích “trí nhớ miễn dịch”, tăng cường khả năng đáp ứng miễn dịch ở người đã từng mắc Covid -19.  Kết quả thử nghiệm Soberana 02 có đáng hứa hẹn không?  Điều tôi có thể tiết lộ là trong thử nghiệm pha II, 80% người tình nguyện đã tạo được đáp ứng kháng thể sau 2 liều. Và với liều thứ 3 của vaccine Soberana Plus thì 100% người tình nguyện đã tạo được kháng thể trung hòa ngăn chặn virus xâm nhiễm tế bào.   Vaccine có khả năng ngăn ngừa tử vong không? Tôi hoàn toàn chắn chắn vaccine có tác dụng bảo vệ. Còn về khả năng ngăn ngừa triệu chứng nặng? Đó là một phần trong thử nghiệm pha III đang được tiến hành, và chúng tôi tin điều đó sẽ được chứng minh. Kết quả sẽ sẵn sàng để công bố vào tháng 6.    Viện Vaccine Finlay tại La Habana đang thử nghiệm 3 loại vaccine Covid-19: Soberana 01, 02 và Plus. Ảnh: Mixael Porto Chiong, Javier Martínez Acosta, La Pupila Asombrada.  Vaccine Abdala (hay CIGB-66) do Trung tâm Kỹ nghệ Di truyền và Công nghệ Sinh học Cuba phát triển, được sản xuất tại Venezuela, cũng đã bước vào thử nghiệm pha III, hiện nay đang được thử nghiệm trên 124,000 người từ 19 đến 80 tuổi.  Ông có thể giải thích về cái tên của dòng vaccine này, Soberana?  Trong cuộc gặp với Chủ tịch nước, đồng chí đã nói chúng tôi phải xác lập chủ quyền bằng vaccine của mình.  Sau khi chúng tôi công bố cuộc thử nghiệm Soberana (“Chủ Quyền”) cho dòng vaccine mới, mọi người rất thích cái tên đó. Điều này gắn liền với niềm tự hào đất nước đến nỗi chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc lấy luôn tên Soberana. Mọi người thực sự tin tưởng những gì chúng tôi làm: số người xếp hàng tham gia thử nghiệm lâm sàng nhiều gấp ba nhu cầu của viện Finlay.  Cuba liệu có đủ nguồn lực cho kế hoạch chủng ngừa cho toàn bộ người dân bằng vaccine nội địa hay không?  Chúng tôi đang đẩy nhanh quá trình sản xuất Soberana 02 để đến khi các nghiên cứu vừa hoàn thành, vaccine có thể nhanh chóng được cấp phép sử dụng khẩn cấp. Chúng tôi hy vọng việc này không mất quá nhiều thời gian, vì Cuba hiện đang có tỷ lệ mắc Covid cao, đặc biệt ở thủ đô La Habana.  Để đáp ứng với tình huống cấp bách hiện nay, chúng tôi đang tổ chức lại nặng lực sản xuất của mình. Dự kiến trong năm nay, chúng tôi có thể sản xuất khoảng 10 triẹu liều mỗi tháng.  Ngay tại thời điểm hiện tại, chúng tôi đã nhận được rất nhiều yêu cầu về vaccine – nhiều hơn số lượng chúng tôi có thể sản xuất. Vì vậy, chúng tôi đang tìm kiếm các cam kết nghiêm túc [cung ứng nhà máy đặt ở nước ngoài] với các khoản thanh toán ưu đãi cho phép đầu tư thêm nguồn lực mà hiện tại chúng tôi không có để mở rộng sản xuất.  Tại sao Cuba lại chọn tự chủ phát triển vaccine thay vì tham gia sáng kiến COVAX?  Đây là một câu hỏi phức tạp. Có những sáng kiến mà tôi vô cùng tôn trọng. Nhưng tôn trọng là một chuyện, còn tin tưởng hay không là chuyện khác. Chúng tôi chỉ muốn dựa vào năng lực của chính mình để chủng ngừa cho công dân của mình, chứ không muốn dựa vào quyết định của người khác. Và thực tế chứng minh chúng tôi đã đúng: nguồn cung vaccine đang bị các nước giàu tích trữ.   Cuba tìm kiếm nguồn lực để tạo ra vaccine nội địa như thế nào?  Chúng tôi là một đất nước nghèo. Nhưng tôi có thể đảm bảo với bạn rằng không một xu nào trong ngân sách dành cho dược phẩm và thực phẩm – cả hai thứ đều khan hiếm vào thời điểm hiện tại – được chuyển sang chi tiêu cho việc sản xuất vaccine Covid.  Đó là nỗ lực tự thân tuyệt vời của Viện Finlay chúng tôi. Chúng tôi dồn hết nguồn lực cho các dự án khác vào Soberana. Chúng tôi phải sáng tạo. Chúng tôi đều đã quen làm rất nhiều [công việc] với rất ít [thứ trong tay].  Cấm vận ảnh hưởng thế nào đến việc phát triển vaccine?  60 năm nay các công ty bán vật tư cho chúng tôi vẫn thường nói “xin lỗi, chúng tôi không thể tiếp tục hợp tác vì lo ngại chúng tôi sẽ mất các mối giao thương với Bắc Mỹ”. Tình cảnh rất khó khăn. Nhưng người Cuba chúng tôi không thể bị đánh bại. Chúng tôi đã quen chiến đấu chống lại mọi nghịch cảnh.  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01126-  Hiện tại nhu cầu chủng ngừa của Cuba trở nên tương đối cấp bách. Mặc dù số ca mắc COVID trong năm 2020 hầu như không đáng kể, nhưng đã bắt đầu tăng lên kể từ khi đảo quốc 11 triệu dân này mở cửa biên giới trở lại để thu hút khách du lịch từ tháng 11 năm ngoái. Số ca mắc mới đạt đỉnh vào ngày 24/04, với gần 5,800 ca.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cụm công trình góp phần quan trọng định hình ngành khoa học vật liệu Việt Nam      Xây dựng thành công một tập thể khoa học mạnh, công bố trên 80 bài báo quốc tế ở thập niên 1980-2000, mở ra hướng nghiên cứu lâu dài và thiết thực về khoa học vật liệu, cụm công trình do GS.TSKH Thân Đức Hiền và đồng nghiệp thực hiện trong hơn 20 năm về vật liệu từ kim loại đất hiếm đã vinh dự được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN đợt 5.      GS.TSKH Thân Đức Hiền (ngoài cùng bên trái) trong chuyến tham quan Phòng  thí nghiệm vật lý nhiệt độ thấp tại Leidon (Hà Lan), tháng 2/1975.  Ở thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà địa chất và hóa học Việt Nam đã khai thác và tinh chế được một số loại oxyt đất hiếm, trước tiên là các oxyt nhóm nhẹ và đến sau này, các nhà khoa học đã chế tạo được hỗn hợp kim loại đất hiếm nhóm nhẹ và sử dụng phục vụ chế tạo các nam châm đất hiếm.  “Nếu khai thác đất hiếm để chế biến thành kim loại, oxyt riêng biệt có độ tinh khiết cao thì giá trị kinh tế sẽ rất lớn bởi đất hiếm được sử dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực như công nghệ lọc hóa dầu, xử lý môi trường, nông nghiệp, công nghiệp điện tử, siêu dẫn nhiệt độ cao, nam châm…” – GS Hiền nhận định. Ông tin rằng “Việt Nam rất giàu tiềm năng về đất hiếm, việc nghiên cứu các vật liệu chứa đất hiếm sẽ mở ra cơ hội để khai thác tiềm năng quý giá này của đất nước để phát triển”.  Từ niềm tin ấy, trong một giai đoạn đất nước còn rất nhiều khó khăn, GS Hiền, khi đó là phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ), phải nghiên cứu trong điều kiện thiếu thiết bị làm thí nghiệm, thiếu điện chạy máy móc, đội ngũ nhân lực còn non trẻ, nhưng vẫn quyết tâm đi theo hướng nghiên cứu về vật liệu từ kim loại đất hiếm.  Với những kiến thức về vật lý sau thời gian học tập tại trường Đại học Tổng hợp Lomonosov của Liên Xô, những kinh nghiệm khi làm việc tại Bộ môn Vật lý nhiệt độ thấp thuộc Khoa Vật lý (trường Đại học Tổng hợp Hà Nội), năm 1977, GS Hiền cùng các đồng nghiệp đã dần từng bước xây dựng nên phòng thí nghiệm đầu tiên của Việt Nam về vật lý nhiệt độ thấp, và đến năm 1980 bắt đầu triển khai nghiên cứu về vật liệu từ liên kim loại đất hiếm – kim loại chuyển tiếp. Nhờ sự hợp tác với một số nhà nghiên cứu và trường đại học ở Hà Lan, phòng thí nghiệm được hỗ trợ thêm về thiết bị nghiên cứu, tuy nhiên, điều kiện làm việc của nhóm thời kỳ đầu hết sức vất vả. Đồng nghiệp của GS Hiền, PGS.TS Nguyễn Thế Hiện hồi tưởng lại: “Lúc đó khó khăn lắm, chúng tôi dù từng học và tốt nghiệp đại học ở nước ngoài nhưng đều phải tự tay lắp đặt thiết bị như thợ điện, thợ nước, thợ sơn, tự tay xây tường, khoan tường, lắp đường ống nước”. Ngay cả điện cung cấp cho phòng thí nghiệm cũng thiếu nên các nhà nghiên cứu phải mua máy phát điện của Hà Lan.  20 năm kiên trì và những thành quả  Cụm công trình “Nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng các vật liệu từ liên kim loại đất hiếm – kim loại chuyển tiếp” đã góp phần phát triển nhận thức và đưa ra cách tiếp cận mới của ngành khoa học vật liệu Việt Nam trong việc nắm bắt quy luật và khả năng điều khiển các tính chất của vật liệu từ cao cấp. Cụ thể là đã phát hiện một số hiện tượng và cơ chế từ tính mới, điển hình về tương tác trao đổi, dị hướng từ riêng chỗ, hiệu ứng trường tinh thể, thuộc tính từ giả bền của các điện tử 3d, đặc tính linh động dị thường của các điện tử 4f, các hiệu ứng từ giảo tự phát, từ – điện trở; từ – nhiệt, tái định hướng và thăng giáng spin… của các vật liệu từ liên kim loại đất hiếm – kim loại chuyển tiếp.  Cụm công trình đã công bố hơn 80 bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín thuộc hệ thống ISI, Scopus. Trong đợt xét tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN đợt 5, các tác giả đã tập hợp 50 bài báo để trình Hội đồng chuyên ngành về vật lý và Hội đồng cấp nhà nước. Tổng số trích dẫn tính đến năm 2015 là 1.008 lần (nguồn Scopus), tính ra có đến 20 lần trích dẫn/bài báo. Thành quả trên một mặt chứng tỏ những vấn đề mà nhóm nghiên cứu là đúng hướng, được các phòng thí nghiệm trên thế giới quan tâm, mặt khác cho thấy nỗ lực đặc biệt đáng trân trọng của nhóm nghiên cứu trong bối cảnh thập niên 1980-1990 khi việc công bố trên các tạp chí quốc tế vẫn còn xa lạ với các cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước.  Không chỉ có những kết quả nghiên cứu cơ bản, nhóm nghiên cứu còn làm chủ được công nghệ chế tạo các nam châm đất hiếm cao cấp sử dụng nguyên liệu đất hiếm ở Việt Nam; chế tạo thành công nam châm Ce(CoCuFe)5 với năng lượng từ đạt từ 5 đến 8 MGOe và nam châm Nd2Fe14B với năng lượng từ đạt 40 MGOe, cao hơn 10 lần so với các nam châm truyền thống. Nam châm đất hiếm do các tác giả tạo ra đã được ứng dụng để chế tạo đồng hồ đo nước, mô tơ, công tơ điện, microphone, máy phát điện, động cơ gió… qua đó góp phần thúc đẩy việc sử dụng vật liệu mới, công nghệ mới vào sản xuất thiết bị ở trong nước.  Tuy nhiên, GS Hiền khẳng định giá trị “lớn nhất” mà cụm công trình đạt được là đã tạo ra một “tập thể khoa học mạnh” với những “nhóm nghiên cứu mạnh”, trong đó có vai trò quan trọng từ sự hợp tác, hỗ trợ của các trường đại học Hà Lan. “Đề tài do phía mình đưa ra, nghiên cứu ở trong nước nhưng các nghiên cứu sinh có thời gian ngắn làm việc ở Hà Lan để tiếp tục nghiên cứu theo nội dung đó và hoàn thiện luận án khi trở về nước. Hình thức hợp tác này vừa giúp nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, vừa tăng cường hợp tác quốc tế vừa tránh tình trạng chảy máu chất xám”, GS Hiền nói. Ngày nay, đội ngũ các nhà khoa học trưởng thành qua quá trình tham gia thực hiện cụm công trình như Nguyễn Phú Thùy, Nguyễn Hoàng Lương, Nguyễn Hữu Đức, Lưu Tuấn Tài, Nguyễn Huy Sinh, Nguyễn Thế Hiện, Đỗ Thị Kim Anh…, có thể coi là những cán bộ chủ chốt của ngành khoa học vật liệu Việt Nam.  Cụm công trình “Nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng các vật liệu từ liên kim loại đất hiếm – kim loại chuyển tiếp” do các tác giả GS.TSKH Thân Đức Hiền, GS.TSKH Nguyễn Phú Thùy, GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương, GS.TS Nguyễn Hữu Đức, PGS.TS Phạm Hồng Quang, PGS.TS Đỗ Thị Kim Anh, PGS.TS Nguyễn Thế Hiện, GS.TS Nguyễn Huy Sinh và TS Hoàng Ngọc Thành thực hiện. Công trình đã được Hội đồng cấp nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN. Hội đồng đánh giá rất cao những nỗ lực của GS Hiền và nhóm nghiên cứu không chỉ bởi những kết quả khoa học, mà còn bởi phòng thí nghiệm do nhóm tự tay xây dựng chính là “cơ sở” có đóng góp quan trọng vào việc hình thành ngành khoa học vật liệu của Việt Nam, ở thời điểm chỉ sau hai năm đất nước hoàn toàn giải phóng, là “tấm gương” cho việc xây dựng phòng thí nghiệm ở các cơ sở nghiên cứu và đào tạo sau này.    Author                Quỳnh Liên        
__label__tiasang Cụm/khu công nghiệp: Cần giảm sự lệ thuộc vào Nhà nước      Tại hội thảo về phát triển cụm/khu công nghiệp tổ chức ngày 22/11 tại Hà Nội, một số chuyên gia đã nhấn mạnh ngày càng phải chú trọng tới vai trò của địa phương và công ty tư nhân trong việc thiết kế và thực thi các chính sách về cụm ngành công nghiệp và hạn chế tối đa những can thiệp thiếu thực tế từ trên xuống bởi điều đó có thể “bóp chết” tính sáng tạo và sức mạnh của doanh nghiệp.    Hội thảo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức nhằm góp ý cho Đề án Phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ tạo mạng liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị. Tham gia hội thảo có nhiều chuyên gia về chính sách cụm công nghiệp và chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước.  Đại diện tổ biên tập đề án, TS. Trần Kim Hào cho biết, đến tháng 6/2011, cả nước đã có 260 khu công nghiệp (KCN) ở 57 tỉnh thành với tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, trong đó có 174 KCN đã đi vào hoạt động tới tổng diện tích 43.000 ha, 86 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng. Dù đã có những tác động tích cực tới mặt bằng kinh tế của tỉnh, của vùng và cả nước nhưng việc phát triển KCN, CCN vẫn còn nhiều hạn chế như:  •    Các KCN, CCN phát triển tràn lan, dàn trải, thiếu quy hoạch và chiến lược phát triển hữu hiệu; quá trình xây dựng diễn ra chậm chạp.  •    Sự phát tiển KCN, CCN còn thiếu bền vững do chưa tạo ra giá trị gia tăng cao, vẫn còn gây nên một số tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường đối với khu vực dân cư liên quan.  •    Mối liên kết giữa các CCN, KCN còn lỏng lẻo, ít có tác động liên kết tới các doanh nghiệp trong và ngoài cụm.  Theo TS. Trần Kim Hào, nguyên nhân của những bất cập, yếu kém đó là do chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của công nghiệp; chính sách công nghiệp còn mang tính can thiệp quá mức trong khi chưa tính đến các điều kiện chủ quan và khách quan một cách đầy đủ. Bên cạnh đó, năng lực của doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế, không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu hợp tác kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các định hướng phát triển chủ yếu mà Đề án này đề đạt là: xây dựng một cơ quan quản lý chính sách cụm liên kết ngành, phân định chức năng quản lý nhà nước của các cấp chính quyền; tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành cụm liên kết ngành đi liền với đó là kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động của các cụm ngành.  Đưa ra gợi ý cho quá trình xúc tiến phát triển cụm ngành công nghiệp tại Việt Nam, GS. Nicola Coniglio, Đại học Bari Aldo Moro của Ý, chỉ ra những nhân tố quan trọng trong thiết kế và thực thi chính sách cụm ngành công nghiệp. Ông cho rằng chính sách công nghiệp phải xác định và điều chỉnh được những rủi ro của thị trường. Trên hết, để làm được điều đó, các nhà hoạt định chính sách phải có kiến thức về điều kiện của từng địa phương đặt cụm/ ngành công nghiệp. Để giảm thiểu rủi ro thất bại của chính sách, cách tiếp cận “từ trên xuống” sẽ không hiệu quả nếu không có sự tham gia của các công ty tư nhân cũng như các bên liên quan tại địa phương. Hay nói cách khác, ngày càng phải chú trọng tới việc hoạch định chính sách “từ dưới lên” và coi trọng vai trò của các địa phương, các công ty tư nhân. Mặt khác, chính sách nên tập trung vào “nhu cầu chung” hơn là bao cấp các công ty và cần phải tránh “bị thâu tóm” bởi các lợi ích cá nhân.  Bà Tea Petrin, Trưởng nhóm chính sách cụm công nghiệp ở Liên minh châu Âu thuyết trình về các vấn đề phát triển cụm ngành từ khía cạnh nhà hoạch định chính sách và đưa ra một số bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm của các nước EU. Bà cũng cho rằng cụm ngành phải là công cụ xúc tiến năng lực cạnh tranh và tăng trưởng. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, những động lực và các nhân tố chính chi phối tăng trưởng là: các công ty kinh doanh, việc hình thành kỹ năng (đầu tư cho giáo dục); năng lực quản lý công nghệ; thu xếp các vấn đề về tổ chức và thể chế. Do đó, để đạt mục tiêu rút ngắn khoảng cách năng suất và năng lực cạnh tranh, một chính sách tích cực cần tạo điều kiện thuận lợi, tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp đồng thời giảm thiểu những rủi ro của chính sách cho các doanh nghiệp. Trong cơ cấu thực thi không thể thiếu vai trò của các cơ quan chuyên trách về kinh tế, nông nghiệp và cơ quan nghiên cứu khoa học nhưng phải giảm cách lập kế hoạch, thực hành chính sách kiểu “từ trên xuống”, thay vào đó là cách tiếp cận “từ dưới lên”.  Bà Tea Petrin nhấn mạnh, cụm ngành là một trong những công cụ then chốt để củng cố hoặc tăng cường năng lực cạnh tranh ở cấp kinh tế vi mô bởi chúng tạo nên những điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt cho việc chia sẻ ý tưởng và cơ hội kinh doanh mới. Chính sách của nhà nước là cách hiệu quả nhất trong việc tạo ra một môi trường cạnh tranh rộng lớn và lành mạnh nhưng việc thiết kế chính sách phải từ các tiếp cận thực tế, liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể trong nước. Nhưng quan trọng hơn cả, các công ty trong cụm ngành mới chính là yếu tố chi phối căn bản; vì thế sự lệ thuộc cố hữu vào hỗ trợ của Nhà nước sẽ “bóp chết” tính đổi mới, sức mạnh của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.  GS. Giorgio Simonetto, Giám đốc điều hành của vùng thương mại Veneto – khu vực hậu cần lớn thứ hai ở châu Âu, đem tới bài học từ chính sách phát triển cụm công nghiệp của Ý. Chính sách của chính quyền đối với vùng Veneto chủ yếu nhằm vào xúc tiến phát triển hệ thống sản xuất khu vực, xác định cách hỗ trợ phát triển tại địa phương, tạo thuận lợi “từ dưới lên” giữa các cơ quan xúc tiến phát triển địa phương. Về mặt quản lý chung, khu công nghiệp Veneto được tự do thiết lập mà không chịu sự áp đặt của các nhà chức trách nhưng các công cụ chính sách phải chặt chẽ; về mặt tài chính, kinh phí không bị phân tán đến từng doanh nghiệp mà hỗ trợ cho các dự án chung. Các yếu tố để phát triển bền vững các mô hình cụm ngành ở Veneto là: chuyên môn hóa trong sản xuất, lực lượng lao động trình độ cao; sự tự điều phối nội vùng và xúc tiến ra bên ngoài của các công ty tham gia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cung cấp hỗn hợp khí giàu hydro cho động cơ      Nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Bách khoa  Hà Nội mới đây đã nghiên cứu tạo ra hệ thống cung cấp hỗn hợp khí giàu  hydro cho động cơ xăng xe máy nhằm giảm phát thải độc hại và nâng cao  tính kinh tế nhiên liệu theo.    Được sự hỗ trợ của Bộ KH&CN, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nâng cao tính kinh tế nhiên liệu và giảm phát thải độc hại cho động cơ bằng cách cung cấp hỗn hợp khí giàu hyđrô cho động cơ” với tham vọng cắt giảm 10% phát thải độc hại hydroxit carbon (HC), monoxit cacbon (CO);  và giảm tiêu thụ nhiên liệu xăng từ 3-10%.     PGS.TS. Lê Anh Tuấn – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, đề tài đưa ra 2 giải pháp tạo hỗn hợp khí giàu hydro gồm: tạo hỗn hợp khí hydro và oxy bằng phương pháp điện phân nước và nạp hỗn hợp khí giàu hydro hình thành bằng cách xúc tác gia nhiệt một phần nhiên liệu cho động cơ. Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cả hai giải pháp, lựa chọn để giới thiệu giải pháp có hiệu quả cao hơn về cải thiện tính năng kinh tế và giảm phát thải độc hại.          Với 34 triệu mô tô, xe máy sử dụng nhiên liệu xăng có hàm lượng công nghệ thấp đang lưu hành hiện nay ở Việt Nam, mức phát thải HC và CO rất cao trong khi mức tiêu thụ nhiên liệu lớn. Lượng phát thải CO từ xe máy chiếm tới 79% tổng phát thải CO do phương tiện giao thông gây ra.        Nhóm nghiên cứu đã thiết kế, chế tạo thành công 3 hệ thiết bị là: hệ thống tách hydro từ một phần nhiên liệu nhờ xúc tác và tận dụng nhiệt khí thải; hệ thống thiết bị chuyển đổi nước thành hỗn hợp khí hydro và oxy (HHO) quy mô phòng thí nghiệm để cung cấp cho động cơ; hệ thống cung cấp hỗn hợp khí giàu hydro cho động cơ xăng xe máy nhằm giảm phát thải độc hại, nâng cao tính kinh tế nhiên liệu.  Kết quả thực nghiệm cho thấy, so với động cơ nguyên bản, khi cung cấp hỗn hợp khí HHO cho động cơ ở chế độ hỗn hợp nghèo: công suất của động cơ được cải thiện trung bình 2,43% và tăng cực đại tới 3,68% ở chế độ tải thấp; lượng tiêu thụ nhiên liệu giảm trung bình 5,37% và giảm cực đại tới 7,14% ở chế độ tải thấp; phát thải độc hại HC và CO giảm trung bình lần lượt là 7,70% và 13,11%, giảm cực đại tới 11,68% và 13,21% ở chế độ tải thấp; tiêu thụ nhiên liệu tăng 4,2% ở chế độ tải 40% nhưng lại được cải thiện tới 5,7% ở 70% tải; phát thải HC và CO được cải thiện đáng kể, lần lượt là 10,6%, 49,2% ở chế độ 40% tải và 99%, 87% ở chế độ 70% tải.  Giải pháp bổ sung hỗn hợp khí giàu hydro mang tính thực tiễn cao trong trường hợp hệ thống sản xuất hỗn hợp khí ở dạng liên tục và quy mô nhỏ, dễ lắp đặt trên phương tiện. Đây cũng là hướng phát triển và hoàn thiện sản phẩm của nhóm nghiên cứu.  Tin, ảnh: Nguyễn Hạnh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ làm thay đổi thế giới      Số hóa, xu hướng sử dụng robot và các thiết bị thông minh ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất công nghiệp, thị trường lao động và quá trình toàn cầu hóa. Do đó, các chuyên gia công nghệ đã gọi giai đoạn hiện nay là cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đưa ra dự báo về tương lai của nền công nghiệp như sau:      Robot của hãng Franka Emika.  Máy in 3D  Hiện nay, robot, máy in 3D và công nghệ thông tin đang tạo ra một cuộc cách mạng trong sản xuất công nghiệp. Trong đó, máy in 3D đang chinh phục thị trường bình dân. Dự kiến, đến năm 2020, doanh thu của công nghệ này trên toàn thế giới sẽ đạt 35 tỷ USD.  Cho đến nay máy in 3D có thể sản xuất ra rất nhiều sản phẩm từ nhiều nguồn nguyên vật liệu khác nhau như sành sứ, chất dẻo tổng hợp, thậm chí cả gỗ theo yêu cầu. Nhiều hãng sản xuất ô tô, ví dụ như Daimler rất quan tâm đến công nghệ này vì nhờ đó, họ có thể thay đổi hẳn phương thức sản xuất phụ tùng thay thế. Cụ thể, thay vì tích trữ các phụ tùng đắt tiền của mỗi loại mẫu mã xe này trong kho hàng năm trời, các hãng có thể sản xuất ngay khi có nhu cầu.  Các cỗ máy in 3D này cũng có thể làm ra sản phẩm theo đơn đặt hàng đúng với yêu cầu, như may quần áo vậy. Ví dụ như hãng Shapeways có thể in đồ trang sức và nhiều sản phẩm khác theo đơn đặt hàng cho từng cá nhân. Ai cũng có thể tự thiết kế mẫu sản phẩm 3D của mình rồi gửi đến đơn vị vận hành máy in 3D để chế tạo. Tới đây bệnh viện Isala ở Hà Lan dự định sẽ in từng khẩu phần ăn với chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất cho từng bệnh nhân đang được điều trị tại đây.  Ngoài ra, máy in 3D rất gọn nhẹ và có tính di động cao, phù hợp với nhiều địa bàn khác nhau. Thay vì phải xây dựng những nhà máy to lớn với các cỗ máy đồ sộ, nay người ta chỉ cần một cỗ máy có kích cỡ bằng chiếc tủ lạnh cỡ lớn, vì vậy các công ty có thể đặt máy để sản xuất ở bất cứ đâu. Hiện nay riêng ở  New York đã có trên  500 cơ sở in 3D.  Robot làm thay đổi cơ cấu lao động  Các robot cũng xuất hiện ngày càng nhiều hơn ở các nhà máy và đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau như vận chuyển, giao hàng, đóng gói sản phẩm…. Đặc biệt, chúng có thể đảm nhận các công việc nặng nhọc, nhàm chán hoặc độc hại, nguy hiểm mà con người không thể trực tiếp làm.  Theo dự báo của hãng tư vấn Boston Consulting Group (BCG), đến năm 2025 máy móc, thiết bị thông minh sẽ đảm đương 25% khối lượng sản xuất công nghiệp và giúp tăng năng xuất lao động, giảm phần lớn chi phí sản xuất. Ví dụ, chi phí sản xuất công nghiệp ở Đức sẽ giảm khoảng 21%.  Theo các nhà nghiên cứu của ngân hàng DZ ở Đức thì trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thiết bị máy móc thông minh được nối mạng sẽ tạo ra sức bật về năng xuất lao động. Dự kiến, đến năm 2025, nền công nghiệp Đức sẽ được hưởng lợi rất lớn từ các thiết bị thông minh, robot và máy in 3D. Cụ thể, năng suất lao động ở các nhà máy sẽ tăng bình quân 11,5% nhờ vào các yếu tố đó.  Trong các ngành công nghiệp, hai ngành công nghiệp hóa chất và cơ khí chế tạo máy sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Theo dự báo của các nhà khoa học, năng suất lao động ở hai ngành này tăng tới 30%. Năng suất sản xuất của ngành ô tô cũng tăng 20%, ngành công nghệ thông tin tăng 15%. Điều này không chỉ có lợi cho các nhà sản xuất mà người tiêu dùng cũng được hưởng lợi vì giá thành sản phẩm sẽ giảm.  Tuy nhiên, những điều này có tác động như thế nào đối với việc làm? Ngày càng có nhiều lời cảnh báo của các chuyên gia về một làn sóng thất nghiệp mới do trí tuệ nhân tạo và robot gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chưa làm con người mất việc nhanh như vậy, theo nghiên cứu của các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu thị trường lao động và nghề nghiệp ở Nürnberg, Đức.  Các chuyên gia này dự báo: cho đến năm 2030, lĩnh vực công nghiệp sẽ có khoảng 490.000 lao động phải “nhường” việc làm lại cho robot, máy móc và các thiết bị thông minh khác. Tuy nhiên sẽ có khoảng 430.000 việc làm mới – những việc cần con người phối hợp với robot hoặc điều khiển các máy móc thiết bị. Ví dụ người lái xe nâng hạ phải nhường chỗ cho các chuyên gia IT, những người lập trình cho hoạt động của xe nâng hạ làm việc trong nhà kho.  Như vậy con số mất việc trên thực tế chỉ là 60.000. Tuy nhiên những những lao động phổ thông, không có trình độ cao sẽ bị đe dọa mất việc. Những việc làm mới chỉ dành cho những  người có chuyên môn. Vì vậy đào tạo và bồi dưỡng nghề là điều hết sức cấp thiết.  Các nhà máy, xí nghiệp “hồi hương”  Cách mạng công nghiệp lần thứ tư này sẽ giúp làm tăng năng suất sản xuất của ngành công nghiệp nội địa ở các nước phát triển, do vậy, rất nhiều doanh nghiệp sẽ “hồi hương” các nhà máy đang đặt ở nước ngoài. Ví dụ ở nước Mỹ, câu khẩu hiệu “made in USA” đang lay động trái tim nhiều người dân Mỹ là một minh chứng cho thấy rất nhiều doanh nghiệp lớn ở Mỹ đang tính tới việc sẽ đưa các nhà máy sản xuất ở nước ngoài trở về nội địa. Hiện nay, chuỗi siêu thị Walmart đang nỗ lực đến năm  2023 có sản lượng hàng hóa nội địa trị giá khoảng 250 tỷ USD. Các doanh nghiệp hi vọng, nhờ vào tự động hóa, sản xuất nội địa ở Mỹ sẽ lại có khả năng cạnh tranh cao và các nhà máy từng di chuyển sang châu Á nay sẽ hồi hương.  Trong một cuộc thăm dò do hãng tư vấn Boston Consulting Group tiến hành đối với các tập đoàn của Mỹ có doanh thu ít nhất 1 tỷ USD trở lên thì 17% lãnh đạo tập đoàn cho biết đã bắt đầu “hồi hương” các nhà máy đang đặt ở nước ngoài. 53% cho hay đang cân nhắc tới vấn đề này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba      Khi chế tác trở thành chế tác số, nó sẽ thay đổi đến mức không còn thể nhận ra được nữa, Paul Markillie, biên tập viên mảng đổi mới sáng tạo của The Economist, nói. Và một số doanh nghiệp chế tạo sẽ quay về các nước giàu.    Bên ngoài Hội chợ Frankfurt ngổn ngang, nơi diễn ra vô số hội chợ thương mại Đức, một tượng “Người quai Búa” cao 21 mét đứng lừng lững, giơ và hạ cách tay đều đặn để đập một tấm kim loại với một chiếc búa. Jonathan Borofsky, nghệ sĩ dựng tượng này, nói đó là sự ca ngợi người công nhân dùng trí óc và bàn tay mình để tạo ra thế giới mà chúng ta sống. Đó là một câu chuyện quen thuộc. Nhưng bây giờ các công cụ đang thay đổi theo nhiều cách phi thường mà sẽ biến đổi tương lai của chế tác.  Một trong những hội chợ thương mại lớn đó ở Frankfurt là EuroMold về khuôn mẫu, giới thiệu các máy chế tạo các nguyên mẫu của các sản phẩm, các công cụ cần thiết để đưa những thứ đó vào sản xuất và tất cả các bộ đồ lề chế tác khác. Các kỹ sư truyền thống làm việc với các máy tiện, máy khoan, các quá trình dập và các máy làm khuôn. Những thứ này vẫn tồn tại, nhưng EuroMold không trưng bày máy móc được tra dầu và được chăm sóc bởi thợ mặc quần yếm nào cả. Hết gian này đến gian khác đầy các máy công cụ Mỹ, Á châu và Âu châu sạch bong, được tự động hóa cao. Hầu hết những người vận hành chúng, nam và nữ, ngồi trước các màn hình máy tính. Bạn sẽ chẳng tìm thấy một chiếc búa ở đâu cả.          Số đặc biệt về Chế tác và Đổi mới (Manufacturing and Innovation) của The Economist  ra ngày 21/4/2012 gồm tám bài giới thiệu những sáng tạo đang và sẽ làm thay đổi  ngành chế tác. Tia Sáng trân trọng giới thiệu tới bạn đọc loạt bài này qua bản dịch của TS Nguyễn Quang A.        Và tại hội chợ EuroMold gần đây nhất, tháng 11 vừa qua, một nhóm máy khác đã được trưng bày: các máy in ba-chiều (3D printer). Thay cho việc đập, uốn và cắt vật liệu theo cách đã luôn luôn được tiến hành, các 3D printer tạo ra các thứ bằng phủ vật liệu, từng lớp một. Vì lý do đó quá trình được mô tả thỏa đáng hơn như quá trình chế tác bồi thêm (additive manufacturing). Một hãng Mỹ, 3D Systems, đã dùng một trong các máy in 3D của mình để in một chiếc búa cho phóng viên của bạn, hoàn tất với chiếc cán như gỗ thật đẹp và một đầu búa kim loại.  Việc chế tác sẽ giống như thế trong tương lai. Ngày nay yêu cầu một nhà máy làm cho bạn một chiếc búa duy nhất theo thiết kế riêng của bạn và người ta sẽ đưa cho bạn một hóa đơn đòi hàng ngàn dollar. Các nhà sản xuất sẽ phải tạo ra một cái khuôn, đúc cái đầu búa, gia công giai đoạn cuối cho hợp, tiện một chiếc cán gỗ và rồi lắp các phần lại với nhau. Làm việc đó cho một chiếc búa sẽ hết sức đắt. Nếu bạn sản xuất hàng ngàn chiếc búa, thì mỗi chiếc sẽ rẻ hơn nhiều, nhờ sự tiết kiệm (tính kinh tế) theo quy mô. Đối với một 3D printer, tuy vậy, sự tiết kiệm theo quy mô có ý nghĩa ít hơn rất nhiều. Phần mềm của nó có thể được chỉnh vô tận và nó có thể tạo ra hầu như bất cứ thứ gì. Chi phí lắp đặt máy vẫn thế bất luận nó sản xuất một thứ hay bao nhiêu thứ [mà nguyên liệu] có thể chứa vừa bên trong máy; như một máy in 2 chiều đẩy ra một lá thư hay nhiều lá thư khác nhau cho đến khi hộp mực và hộp giấy cần phải thay, nó tiếp tục hoạt động, với chi phí hầu như bằng nhau cho mỗi cái [thư].  Chế tác bồi thêm vẫn chưa đủ tốt để làm ra một chiếc xe hơi hay một chiếc iPhone, nhưng nó đã được dùng rồi để làm ra các bộ phận đặc biệt cho các ô tô và vỏ theo đặt hàng riêng cho các iPhone. Mặc dù vẫn là một công nghệ còn tương đối trẻ, hầu hết mọi người có lẽ đã sở hữu cái gì đó được làm ra với sự trợ giúp của một 3D printer. Có thể là một đôi giầy, được in ra ở dạng đặc như một nguyên mẫu thiết kế trước khi được sản xuất hàng loạt. Có thể là một máy trợ thính, được may đo cho vừa hình dạng tai của người dùng. Hay có thể là một món trang sức, được đúc từ một khuôn được làm nhờ một 3D printer hay được sản xuất trực tiếp bằng sử dụng ngày càng nhiều vật liệu có thể in được.  Nhưng chế tác bồi thêm chỉ là một trong nhiều đột phá dẫn đến nhà máy của tương lai, và thiết bị sản xuất truyền thống cũng đang trở nên thông minh hơn và linh hoạt hơn. Volkswagen có một chiến lược sản xuất mới được gọi là Modularer Querbaukasten (Hộp xây dựng chéo modul hóa), hay MQB. Bằng cách quy chuẩn các thông số của các cấu thành nhất định, như các điểm gắn động cơ, nhà sản xuất ô tô Đức hy vọng có khả năng sản xuất tất cả các model xe của nó trên cùng một dây chuyền. Quy trình này được đưa vào năm nay, nhưng sẽ lấy nhịp độ khi các model mới được đưa ra trong thập niên tiếp theo. Cuối cùng nó sẽ cho phép các nhà máy của nó ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc sản xuất tại địa phương bất cứ thứ xe nào mà mỗi thị trường đòi hỏi.    Họ không còn sản xuất chúng giống thế nữa  Các nhà máy đang trở nên hiệu quả hơn rất nhiều, nhờ các máy phay có thể đổi các công cụ riêng của chúng, cắt trong nhiều chiều và “cảm thấy” nếu cái gì đó hỏng, cùng với các robot có các hệ thống nhìn và cảm biến khác. Nhà máy Anh của Nissan ở Sunderland, bắt đầu năm 1986, bây giờ là một trong những nhà máy có năng suất nhất ở châu Âu. Năm 1999 nó sản xuất 271.157 xe với 4.594 người. Năm vừa qua nó sản xuất 480.485 xe – nhiều hơn bất cứ nhà máy ô tô nào ở Anh đã từng sản xuất – với chỉ 5.462 người.  “Bạn không thể làm một số thứ hiện đại này bằng dùng các công cụ bằng tay cũ,” Colin Smith, giám đốc kỹ thuật và công nghệ cho Rolls-Royce, một công ty Anh sản xuất động cơ phản lực và các hệ thống động lực khác, nói. “Ngày của các nhà máy khổng lồ đầy người không còn nữa.”  Do số người trực tiếp sản xuất các thứ giảm đi, tỷ lệ chi phí lao động trong tổng chi phí sản xuất cũng sẽ giảm. Việc này sẽ khuyến khích các nhà sản xuất chuyển một số công việc quay lại các nước giàu, nhất là bởi vì các kỹ thuật chế tác mới khiến cho nó rẻ hơn và nhanh hơn để đáp ứng với sự thay đổi sở thích địa phương.  Các vật liệu được dùng để làm các thứ cũng đang thay đổi. Các composite sợi-carbon, chẳng hạn, đang thay thế thép và nhôm trong các sản phẩm từ xe đạp leo núi đến máy bay. Và đôi khi sẽ không phải là máy làm công việc chế tạo, mà là các vi sinh thể được biến đổi gen để làm nhiệm vụ đó.     Mọi thứ trong các nhà máy tương lai sẽ được vận hành bằng phần mềm thông minh hơn. Số hóa trong chế tác sẽ có tác động phá hủy lớn chính xác như ở các ngành khác đã được số hóa, như thiết bị văn phòng, viễn thông, nhiếp ảnh, âm nhạc, xuất bản và phim. Và các tác động sẽ không chỉ giới hạn ở các nhà chế tác lớn; quả thực, họ sẽ cần coi chừng bởi vì phần lớn cái đang đến sẽ trao quyền cho các hãng nhỏ và vừa và các nhà khởi nghiệp kinh doanh cá thể. Việc khởi đầu các sản phẩm mới sẽ trở nên dễ hơn và rẻ hơn. Các cộng đồng chào mời dịch vụ in 3D và các dịch vụ sản xuất khác mà hơi giống Facebook đang hình thành rồi trên mạng trực tuyến – một hiện tượng mới mà có thể được gọi là chế tác xã hội (social manufacturing).  Các hệ quả của tất cả những thay đổi này, báo cáo này cho rằng chẳng khác gì một cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất đã bắt đầu ở Anh vào cuối thế kỷ thứ 18 với việc cơ giới hóa ngành dệt. Trong các thập niên tiếp theo việc dùng máy để sản xuất các thứ, thay cho làm chúng bằng tay, đã lan ra khắp thế giới. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai bắt đầu ở Mỹ vào đầu thế kỷ thứ 20 với dây chuyền sản xuất, mở ra thời đại sản xuất hàng loạt.  Khi việc chế tác trở thành số (digital), một sự thay đổi lớn thứ ba bây giờ đang lấy nhịp độ. Nó sẽ cho phép các thứ được sản xuất một cách kinh tế với số lượng ít hơn nhiều, một cách linh hoạt hơn và với đầu vào lao động thấp hơn rất nhiều, nhờ các vật liệu mới, các quy trình hoàn toàn mới như in 3D, các robot dễ dùng và các dịch vụ chế tác cộng tác mới sẵn có online. Chiếc đĩa (bay được liệng ra) hầu như đang quay lại chỗ ban đầu, bỏ chế tác hàng loạt và hướng nhiều hơn đến sản xuất cá nhân hóa. Và điều đó đến lượt có thể mang một số việc làm quay về các nước giàu mà họ đã đánh mất chúng từ lâu cho thế giới đang nổi lên.  Nguyễn Quang A dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng trong thế giới vi mô      Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) đã trở thành một công cụ quan sát và phân tích quen thuộc và hữu hiệu trên thế giới trong suốt hơn 80 năm qua. Những phát triển về công nghệ ghi nhận trong thời gian gần đây càng đưa thiết bị này trở thành công cụ mạnh với các khả năng quan sát và phân tích siêu cấp mà các thiết bị khác không thể có. Những tiến bộ này đang giúp các nhà khoa học vượt qua ngưỡng cửa nguyên tử để nhìn sâu vào thế giới vi mô, không chỉ hữu hiệu đối với các nghiên cứu cơ bản mà cả các nghiên cứu ứng dụng.      David Muller bên kính hiển vi FEI Titan.  Từ kính hiển vi quang học tới kính hiển vi điện tử truyền qua  Từ nhiều thế kỷ trước, các nhà khoa học luôn khao khát nhìn được tận mắt các cấu trúc nhỏ bé mà mắt thường không thể nhìn thấy. Antonie van Leeuwenhoek (1632 – 1723), nhà khoa học người Hà Lan, với phát minh ra kính hiển vi quang học vào cuối thế kỷ 17 đã hiện thực hóa mơ ước quan sát thế giới vi mô. Sự ra đời của kính hiển vi quang học, sử dụng ánh sáng khả kiến và thấu kính thủy tinh giúp cho thế giới vi sinh vật lần đầu tiên được quan sát. Ở thời đại của Leeuwenhoek, các công cụ ghi ảnh còn rất hạn chế nên các hình ảnh quan sát được thậm chí phải vẽ lại bằng tay. Nhờ công cụ kính hiển vi, các nhà khoa học đã lần đầu tiên nhìn được các tế bào và các vi khuẩn mà trước đó họ không có cách gì nhìn được 1. Cho đến ngày nay, kính hiển vi sử dụng ánh sáng khả kiến được trang bị nhiều kỹ thuật tối tân hơn rất nhiều so với thời đại của Leeuwenhoek, với các công cụ ghi ảnh, các hệ thống tạo ảnh với nhiều cơ chế tương phản, vi chỉnh,.. Với sự kết hợp của nhiều hiệu ứng quang học đặc biệt, kính hiển vi quang học có thể phân giải tới cấp độ vài chục nanomet, và thành tựu gần đây nhất đã được trao giải Nobel Hóa học năm 2014.  Với các nhà nghiên cứu vi sinh vật, vài chục nanomet có thể là kích cỡ rất nhỏ so với các cấu trúc mà họ từng mong ước. Nhưng trong mắt các nhà nghiên cứu vật lý, vật liệu thì giới hạn phân giải này còn quá lớn đối với các thế giới vi mô, nơi các cấu trúc có kích cỡ vài trăm lần nhỏ hơn như vậy, ví dụ đơn giản như khoảng cách giữa các mặt tinh thể hay bán kính nguyên tử vào cỡ vài Å tới dưới 1 Å (1 Å = 1/10 nm = 1/10.000.000.000 m). Có nghĩa là ánh sáng khả kiến hoàn toàn trở nên vô ích khi cố “nhìn” các cấu trúc này 2. Sự phát hiện ra tia X, bức xạ điện từ có bước sóng cực ngắn, và việc sử dụng tia X trong phân tích tinh thể học giúp cho các nhà khoa học xác định chính xác các kích thước siêu nhỏ trong cấu trúc tinh thể, nhưng tia X việc tạo ra các thấu kính hội tụ X để biến thành các hình ảnh không hề dễ dàng 3.    Hình 1. Độ phân giải của kính hiển vi điện tử TEM đã được nâng cấp hàng ngàn lần kể từ khi lần đầu tiên xuất hiện hơn 80 năm trước. Hình được sửa đổi từ hình nguyên bản trên Nature4   Thật may mắn là các nhà khoa học lại nhìn thấy một loại sóng khác tiềm năng, sóng điện tử. Điện tử là một hạt vật chất (mang điện tích), nhưng theo nguyên lý de Broglie nó cũng đồng thời là một sóng khi chuyển động. Là một hạt mang điện tích âm, có khối lượng, khi được gia tốc bằng điện trường, điện tử có thể chuyển động như một sóng có bước sóng cực ngắn. Cũng nhờ điện tích, các tia điện tử có thể được điều khiển tính truyền qua từ trường tương tự như ánh sáng truyền qua thấu kính thủy tinh 5. Đây là những cơ sở quan trọng để một thiết bị hiển vi mới ra đời vào năm 1931: kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscope – TEM), bởi do công của Ernst Ruska và Ruska và Knoll. Thiết bị được ra mắt lần đầu tiên vào tháng 4/1932 với độ phóng đại chỉ vỏn vẹn 14 lần 6. Thế nhưng, chỉ sau đó vài tháng, Ruska đã nâng cấp chất lượng của thiết bị này và khiến cả thế giới kinh ngạc với độ phóng đại 12 ngàn lần – một độ phóng đại mà không một thiết bị nào khác có thể làm được khi đó. TEM khiến giới khoa học khắp thế giới mê mẩn và chạy đua để tạo ra các thiết bị mới tối tân hơn. Nó nhanh chóng được phát triển và thương mại hóa ở Anh, Đức, Mỹ, Nhật, với độ phân giải đạt tới 2 nm vào năm 1944 cùng độ phóng đại 100 ngàn lần. Và hơn 10 năm sau đó, nhân loại lần đầu tiên quan sát được hình ảnh các mặt tinh thể platinum phthalocyanine (C32H16N8Pt) bởi các nhà nghiên cứu ở Anh vào năm 1956 7, và hình ảnh các nguyên tử Silicon trong mạng tinh thể sau đó hơn 23 năm ở Đức 8, bằng kỹ thuật “hiển vi điện tử truyền qua phân giải cao” (High-resolution Transmission Electron Microscopy – HRTEM). Ngày nay, HRTEM đã trở thành một kỹ thuật chụp ảnh quen thuộc có thể thực hiện ở hầu hết các thiết bị TEM để quan sát các mạng tinh thể với độ phân giải phổ biến từ 0,8 – 3 Å (thậm chí đạt tới 0,5 Å) 9. Trong nhiều thập kỷ, TEM liên tục được phát triển với sự phát minh ra các kỹ thuật ghi ảnh như CCD camera, hay nguồn điện tử siêu đơn sắc, giúp cho TEM trở thành thiết bị quan sát tối tân với độ phân giải mà không thiết bị nào có thể đạt được. Bên cạnh khả năng quan sát, TEM là một thiết bị phân tích tối tân nhờ tương tác giữa điện tử và mẫu vật. Việc phân tích phổ năng lượng các bức xạ phát ra từ tương tác này (ví dụ tia X), hoặc phân tích phổ năng lượng điện tử truyền qua cho phép ghi nhận các nguyên tố hóa học, hay các liên kết quá học, và cho phép TEM vượt ra ngoài biên giới quan sát để trở thành một thiết bị phân tích cực mạnh với độ phân giải và chính xác cao.     Hình 2. Từ những hình ảnh phân giải cao đầu tiên của mạng tinh thể platinum phthalocyanine (a) ghi nhận lần đầu tiên năm 1959,6 cho tới các nguyên tử Ag trong mạng tinh thể của một hạt nano (b), các nguyên tử Si trong mạng tinh thể (c) và đơn nguyên tử Si (màu vàng) trong mạng tinh thể graphene (d) 10. Các bức ảnh (b,c) được chụp bởi tác giả bằng kỹ thuật HRTEM và HR-STEM tại Manchester có độ phân giải lần lượt 1,1 Å và 0,7 Å.  Một biến thể của TEM được manh nha từ năm 1938 là STEM (Scanning Transmission Electron Microscopy), có nghĩa là “kỹ thuật hiển vi điện tử truyền qua quét”, là chế độ hoạt động ở TEM dựa trên một chùm điện tử hội tụ thành một mũi dò siêu nhỏ, và quét qua mẫu (như các chùm tia điện tử quét trong màn hình TV cũ) 11. Kỹ thuật này cho phép xây dựng ra hình ảnh theo từng điểm ảnh được quét, và độ phân giải phụ thuộc vào kích thước mũi dò điện tử. Với sự phát triển của thấu kính từ và các kỹ thuật loại trừ quang sai, người ta đã xây dựng các thiết bị STEM với mũi dò điện tử siêu nhỏ tới mức dưới 0,5 Å 12. Điều này cho phép thực hiện song song việc chụp các bức ảnh hiển vi siêu phân giải kết hợp với các phép phân tích với độ phân giải siêu cao, và hiện thực ước mơ quan sát các nguyên tử của nhân loại (Hình 2).  Cách mạng quan sát và phân tích  Sự phát triển của TEM càng thôi thúc các nhà nghiên cứu phân tích vật liệu đi sâu hơn vào thế giới vi mô ở mức độ hạ nguyên tử. David Muller cùng nhóm nghiên cứu của ông tại Đại học Cornell (Hoa Kỳ) đã dành nhiều năm sử dụng TEM để phân tích cấu trúc nguyên tử của vật liệu MoS2. Họ gặp phải nhiều trở ngại khi cố tìm cách “nhìn” vị trí và động học các nguyên tử lưu huỳnh (S) trong mạng tinh thể MoS2. Điều khó khăn ở đây là nếu dùng chùm điện tử năng lượng quá cao (nhằm tạo ra độ phân giải lớn) thì lại dẫn tới việc phá hủy mạng tinh thể. Nhóm của Muller đã cố gắng hạ năng lượng chùm điện tử xuống 80 kV 13. Nhóm đã đạt một thành tựu vượt bậc với bức ảnh mạng tinh thể MoS2 (hình 3) với độ phân giải kỷ lục 0,39 Å bằng cách phát triển thiết bị ghi nhận chùm điện tử siêu nhạy (có thể ghi nhận từng điện tử đơn lẻ tới cả chùm mạnh), kết hợp với phương pháp phục hồi ảnh ptychography 14. Thiết bị ghi nhận chùm điện tử của nhóm Muller được gọi là “cảm biến mảng điểm ảnh hiển vi điện tử” (electron microscope pixel-array detector – EMPAD) với khả năng “vừa ghi nhận được các chấm đen trên mặt trời, mà đồng thời có thể chụp được ảnh khuôn mặt bạn tôi ở dưới bóng cùng một lúc” (theo lời của Muller) 4. Thành tựu này làm kinh ngạc cả các nhà sản xuất lớn về thiết bị này: “Họ đã vượt qua các hãng lớn một cách kinh ngạc” – nhận xét của Damien McGrouther, nhà vật lý ở Đại học Glasgow (Anh) đang hợp tác phát triển thiết bị này cùng với công ty Quantum Detector ở Oxford (Anh). Phát minh của Muller về cảm biến này đã được chuyển giao cho tập đoàn Fisher Scientific hiện đang sở hữu thương hiệu kính hiển vi điện tử FEI nổi tiếng. Muller phấn khích ví von về công cụ TEM của mình: “Kính hiển vi nguyên bản nếu được ví như máy bay cánh quạt thì giờ chúng tôi đang có một máy bay phản lực.”       Hình 3. David Muller bên kính hiển vi FEI Titan (trái) và hình ảnh các mạng tinh thể MoS2 trước và sau khi xử lý nhờ thuật toán ptychography. Nút khuyết nguyên tử lưu huỳnh S được chỉ ra ở vị trí mũi tên 15.  Phát triển các cảm biến và camera ghi nhận điện tử siêu nhạy và siêu nhanh đang trở thành một cuộc cách mạng trong việc nâng cao độ phân giải cho TEM. Ngày nay, các camera siêu nhanh có thể cho phép chụp tới 1000 khung hình trên giây để ghi lại các quá trình động học ở thang nguyên tử. Nhờ sự hỗ trợ của các kỹ thuật chế tạo, TEM đã không còn đơn thuần là chiếc máy chụp ảnh và phân tích tĩnh, mà nó đã và đang được biến thành một phòng thí nghiệm trong buồng chân không để quan sát các quá trình động học vi mô (từ việc đốt nóng, làm lạnh, phản ứng pha lỏng, khí,..). Và xu thế này đang giúp các nhà khoa học hiểu được tường tận quá trình phản ứng, hay động học phân tử ở cấp độ nguyên tử. Cách tiếp cận này được gọi là “in-situ TEM”, cho phép các nhà khoa học tiến hành vừa quan sát sự thay đổi cấu trúc (ở cấp độ nguyên tử) song song với việc đo đạc tính chất, qua đó hiểu một cách chính xác mối tương quan giữa tính chất và cấu trúc vật liệu, hay sự tạo thành các cấu trúc và tính chất trong các quá trình phản ứng ở cấp độ nguyên tử. Đã có nhiều nhà khoa học dùng thuật ngữ “lab in a TEM” để mô tả TEM như một phòng thí nghiệm ở cấp độ nguyên tử.  ***  Kính hiển vi điện tử truyền qua, TEM, một công cụ quan sát và phân tích tối tân được dùng trong các nghiên cứu thế giới vi mô, đã và đang âm thầm thực hiện một cuộc cách mạng trong việc tìm hiểu thế giới vi mô ở cấp độ nguyên tử và hạ nguyên tử. Trong hơn 80 năm tồn tại, nhân loại đã từng bước nâng cấp TEM và biến nó thành một “phòng thí nghiệm” phân tích tinh vi mà không một thiết bị phân tích nào có thể sánh được. Đã có hai giải Nobel được trao cho các thành tựu về TEM 16 như một sự ghi nhận sự đóng góp vĩ đại của công cụ này cho các nghiên cứu về thế giới vi mô.  Tài liệu tham khảo và chú thích  1. Các công trình của Antonie van Leeuwenhoek được xuất bản trên các tạp chí của Hiệp hội Hoàng gia Anh (Royal Society), hiện nay có thể tham khảo tại: https://web.archive.org/web/20110717184722/http://www.vanleeuwenhoek.com/Letters.htm   2. Giới hạn phân giải của các thiết bị hiển vi dùng thấu kính và bức xạ bị giới hạn bởi bước sóng của bức xạ. Trường hợp kính hiển vi quang học, ánh sáng có bước sóng từ hơn 300 nm – 700 nmm, sẽ không thể phân giải các cấu trúc nhỏ dưới một nửa thang này.  3. Tia X có bước sóng nằm trong khoảng 0,01 – 10 nm, có nghĩa là nó có khả năng tạo phân giải ở cấp độ nanomet. Ngày nay, nhân loại cũng có cả kính hiển vi tia X với độ phân giải vào cỡ 10 – 30 nm.  4. Tư liệu từ Nature (https://www.nature.com/articles/d41586-018-07448-0).   5. Các công trình của Hans Busch (1884 – 1973), một giáo sư vật lý ở Đại học Jena tiên đoán về tính chất truyền các tia điện tử qua từ trường tương tự như sự truyền sáng qua thấu kính là cơ sở cho phát minh về thấu kính từ vào năm 1928 bởi nhóm của Adolf Matthias, và là cảm hứng để Ernst Ruska và Max Knoll phát minh ra TEM vài năm sau.  6. Trong bài giảng Nobel năm 1986 khi được trao giải Nobel Vật lý 1986, Ernst Ruska thú nhận rằng lúc đầu ông và Max Knoll đã rất thất vọng và thậm chí xấu hổ không dám gọi là “kính hiển vi”.  7. J. W. Menter, F. P. Bowden, The direct study by electron microscopy of crystal lattices and their imperfections, Proc. R. Soc. A 236, 119–135 (1956).  8. Xem thêm: https://www.tf.uni-kiel.de/matwis/amat/def_en/kap_6/backbone/r6_3_4.html   9. Thiết bị Jeol ARM300F TEM được lắp đặt tại PTN Diamond (Anh) có thể đạt độ phân giải tới 50 pm (0,5 Å). Xem chi tiết: https://www.diamond.ac.uk/Instruments/Imaging-and-Microscopy/ePSIC/Capabilities/JEOL-ARM300F-.html   10. Ảnh từ SuperSTEM gallery: https://www.superstem.org/research/picture-gallery   11. STEM phải đợi tới hơn 30 năm sau mới thật sự được phát triển nhờ việc tạo ra nguồn phát điện tử có chất lượng cao.  12. Thiết bị siêu phân giải STEM mạnh nhất thế giới được xây dựng tại PTN SuperSTEM (Daresbury, Anh) có thể chụp ảnh và phân tích với độ phân giải tới 0,5 Å (xem thêm https://doi.org/10.1016/j.ultramic.2017.03.016).  13. Năng lượng chùm điện tử phổ biến ở TEM là 80 – 300 kV, một số thiết bị cá biệt dùng năng lượng cực lớn có thể từ 400 – 1000 kV.  14. Ptychography là thuật toán lần đầu được mô tả bởi Hegerl and Hoppe vào năm 1972, và sau đó được phát triển thành phương pháp khôi phục sóng dựa trên nhiễu xạ bởi nhà vật lý John Rodenburg ở Đại học Sheffield (Anh), lần đầu được giới thiệu kết hợp trong các kỹ thuật hiển vi điện tử vào năm 2012.  15. Jiang, Y. et al. Electron ptychography of 2D materials to deep sub-ångström resolution, Nature 559, 343–349 (2018).  16. Nobel Vật lý năm 1986 cho Ernst Ruska về phát minh ra TEM (cùng chia giải với Heinrich Rohrer, Gerd Binnig về phát minh ra STM), và Nobel Hóa học năm 2017 cho Joachim Frank, Richard Henderson, Jacques Dubochet về những đóng góp cho cryo-TEM.       Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Cuộc “cải cách” dùng bếp ở nông thôn, miền núi      Bếp Thế Hệ Xanh thuyết phục được người dân ở nông thôn, miền núi từ bỏ bếp hở truyền thống vốn có hại cho sức khoẻ và môi trường nhưng họ vẫn “tin dùng” từ nhiều đời nay.      Gian hàng Bếp Thế Hệ Xanh trong một hội chợ hàng Việt về nông thôn ở Tuyên Quang (Ảnh Nguyễn Tuấn Anh ở bìa phải). Nguồn ảnh: Bếp Thế Hệ Xanh.  Hình ảnh người dân dựng kiềng ba chân ở góc tường, quét sạch tro trên sàn và thay vào đó là Bếp Thế Hệ Xanh đặt ngay ngắn trong bếp được anh Nguyễn Tuấn Anh, giám đốc công ty kể lại với phóng viên Tia Sáng như một niềm tự hào nho nhỏ. Với anh, đó là sự thể hiện rõ nhất sự thay đổi hành vi tiêu dùng của những người phụ nữ vùng cao, “gác lại hẳn” thói quen bao đời dùng bếp hở sang một loại bếp khác tốt cho sức khỏe và môi trường sống hơn.  Với gần một nửa dân số Việt Nam, nấu nướng là công việc “chết chóc”. Hơn 46% người dân Việt Nam đang sử dụng chất đốt rắn để đun nấu, phần lớn ở các bếp kiềng – bếp hở khiến hơn 10 nghìn người chết mỗi năm vì khí thải từ chính căn bếp của mình1. Trên thực tế, Việt Nam đã cố gắng thuyết phục người dân chuyển sang dùng các bếp sạch, chẳng hạn như Chương trình “Triển khai diện rộng bếp đun cải tiến tiết kiệm năng lượng sử dụng phụ phẩm nông, lâm nghiệp tại các hộ gia đình nông thôn ở một số tỉnh lựa chọn” của Bộ Công Thương đã cung cấp miễn phí hơn 29 nghìn bếp cải tiến cho các hộ gia đình trong ba năm 2007-2010 và tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn để người dân tự xây loại bếp này. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức phi chính phủ khác cũng nỗ lực triển khai những chương trình tương tự. Tuy nhiên, có thể nói rằng, các chương trình này đều thất bại trong việc duy trì một kết quả bền vững, người dân đều ngay lập tức quay lưng với các loại bếp này khi chương trình kết thúc.  Công ty Cổ phần Bếp Thế Hệ Xanh được sáng lập bởi hai vợ chồng Nguyễn Tuấn Anh và Đỗ Thị Thu Giang từng học quản trị kinh doanh tại Mỹ. Khi nhận lời trả lời phỏng vấn của Tia Sáng, chị Giang gọi câu chuyện của Bếp Thế Hệ Xanh là “điên điên”, có lẽ một phần vì hai người sáng lập dám dấn thân vào một con đường đầy thách thức mà không có chuyên môn về cơ khí, cơ nhiệt cũng như chưa hề có kinh nghiệm làm việc với tập khách hàng mà họ hướng đến: những người thu nhập thấp ở nông thôn và miền núi. Khi đang làm chủ một công ty về vật liệu xây dựng, anh Tuấn Anh tình cờ quan tâm đến năng lượng tái tạo và muốn làm một sản phẩm gì đó “thân thiết” với người dân. Bếp sinh khối sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp, vừa tận dụng được rác thải sẵn có, vừa bảo vệ môi trường có vẻ là một lựa chọn khả dĩ. Anh mày mò tự thiết kế và chế tạo bếp sinh khối dựa trên các thiết kế mở của các dự án nước ngoài sao cho sử dụng được đồng thời nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp (từ trấu, rơm rạ, mùn cưa đến củi). Đó là lí do Công ty Bếp Thế Hệ Xanh ra đời.  Là loại bếp sinh khối sử dụng công nghệ khí hóa (tức là nhiệt phân các nhiên liệu hữu cơ thành các khí có thể đốt cháy được), Bếp Thế Hệ Xanh có những đặc điểm ưu việt hơn so với bếp hở truyền thống về mặt tiết kiệm nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Theo các kết quả kiểm định do công ty gửi đến các phòng thí nghiệm tại Viện Cơ – Nhiệt lạnh, Đại học Bách khoa Hà Nội và tại các phòng thí nghiệm nước ngoài do SNV (Tổ chức Phát triển Hà Lan) hỗ trợ, mỗi Bếp Thế Hệ Xanh tiết kiệm 50-60% củi đun, giảm một tấn khí thải CO2 mỗi năm, giảm 40% khí CO và giảm 85-90% bụi PM 2.5 (loại bụi có đường kính nhỏ hơn 2.5 µm, nếu phơi nhiễm lâu dài có thể dẫn đến viêm phế quản mãn tính và bệnh tim) so với bếp kiềng. Hơn nữa, bếp được châm lửa từ trên xuống thay vì từ dưới lên như những bếp truyền thống nên sẽ đốt khí sinh ra từ quá trình nhiệt phân sinh khối hiệu quả hơn, ít khói và còn tạo than sinh học (để có thể lưu trữ và đun cho lần sau nếu muốn).  Quảng cáo bằng truyền miệng  Những tác dụng “vượt trội” này của Bếp Thế Hệ Xanh lại không hề làm khách hàng ấn tượng. Anh Tuấn Anh kể lại lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm ở Tuyên Quang, có một khách hàng rất “ghê gớm”, “nói câu nào độp ngay lại câu đấy”: Khi anh giới thiệu đây là bếp tiết kiệm củi, người phụ nữ đấy ngán ngẩm: “Rừng ngay sau lưng nhà tôi củi đầy, thiếu gì”; giới thiệu là bếp giảm khí thải, chị ấy phản bác: “Ông dọa chơi chứ nhà tôi đun củi bao nhiêu đời nay, có ông nào đun xong lăn ra đùng chết đâu?”; giải thích là nếu tiết kiệm củi, thay vì một tuần chị phải chặt củi một lần thì bây giờ hai tuần mới phải chặt một lần, chị ấy nói: “Ui giời, đây có việc gì làm đâu, thời gian đây đầy”. Cuối cùng, người phụ nữ thốt lên: “Ôi hay, tôi mua!” khi anh Tuấn Anh nhắc đến một tác dụng “rất phụ” của chiếc bếp: “Cái bếp này không sợ gió, chị đem ra ngoài đun cũng được, vừa trông con, trông cháu, vừa buôn chuyện với bà hàng xóm”.  Đội ngũ kinh doanh của công ty khó lòng nhìn ra điểm bất ngờ hấp dẫn khách hàng này ở chiếc bếp nếu không kiên trì trao đổi trực tiếp với họ. Thị trường người thu nhập thấp ở Việt Nam phân mảnh, không tập trung nên việc quảng bá và mở rộng kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải đi nhiều nơi, bỏ nhiều chi phí để khảo sát. Bên cạnh đó, những khách hàng tiềm năng lại khu trú ở những nơi mà giao thông và cơ sở hạ tầng là “ác mộng” đối với việc đi lại và vận chuyển. Khó khăn vì không đến tận nơi để chăm sóc khách hàng và các đại lí thường xuyên đã đành nhưng ngay cả khi có người đặt hàng, việc vận chuyển đến nơi cũng đầy thách thức. Công ty đã từng bị “lỗ te tua” khi gửi một chuyến hàng vào đại lý ở Buôn Mê Thuột vào thời điểm giá vận chuyển của xe khách tăng gấp đôi do chính sách siết chặt tải trọng của Bộ GTVT. Mỗi chiếc bếp bán ra 200 nghìn phải chịu tới 80 nghìn tiền vận chuyển. Nhưng tăng giá bếp không phải là một lựa chọn: “có khi chỉ tăng 20 – 30 nghìn một bếp là đã quá khả năng chi trả của khách hàng rồi” – anh Tuấn Anh nói.    Một số loại bếp trưng bày trong văn phòng công ty (bếp sử dụng lõi ngô có cửa ở thân bếp đứng thứ hai từ phải sang). Ảnh: Hảo Linh   Bài toán vận tải được công ty giải quyết “tạm thời” bằng cách ký hợp đồng với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam để có thể đưa hàng đến tận xã. Hiện nay, Bếp Thế Hệ Xanh đã có mạng lưới phân phối ở 20 tỉnh phía Bắc với hơn 250 đại lý và cộng tác viên bán hàng ở các huyện. Cách thức quảng bá của họ? Truyền miệng! Thông qua việc kết hợp với Hội Phụ nữ ở các địa phương triển khai các chương trình, hội thảo, họ giới thiệu và demo sản phẩm của mình cho một nhóm nhỏ tập trung để rồi từ đó có những người thích thú với sản phẩm và đăng ký làm đại lý. Ngoài ra, họ “chăm chỉ” đi theo các chương trình hàng Việt về nông thôn. Anh Tuấn Anh kể lại, trong lần hội chợ ở Mộc Châu đã gặp một khách hàng người Mông đi đi về về mua mười mấy cái bếp vì lần nào mua xong cũng bị ai đó “lấy mất”. Sau đó, những trường hợp như vậy trở nên phổ biến: một người mua rồi mách nước cho gia đình, hàng xóm. Một chi tiết khác khá thú vị, việc chạy quảng cáo trên Facebook cũng có hiệu quả đối với vùng sâu vùng xa. Có những người ở vùng sâu vùng xa biết đến Bếp Thế Hệ Xanh trên mạng xã hội này và theo anh Tuấn Anh, là những người hứng thú với cái mới, họ không chỉ là người mua, họ trở thành người quảng bá.  Anh Tuấn Anh cho biết, để lấy được niềm tin của cộng đồng dân tộc thiểu số, bí quyết bán hàng của công ty là “Mình đến, mình thật, có đâu nói đấy”. Anh kể lại một câu chuyện vui rằng, có khách hàng nhất quyết chỉ mua bếp mẫu đang đốt, dù đã cũ và bẩn vì sợ bếp mới là bếp giả, không cháy được. Anh yêu cầu các nhân viên kinh doanh của mình phải “làm bài tập” trước khi bán hàng. Có nghĩa là, họ phải đun thử trước các nguyên liệu mới và đun hết xem bếp có thể đun trong thời gian ít nhất bao lâu để giới thiệu sản phẩm một cách chính xác.  Tối ưu trong thiết kế  Làm sao để người dân từ bỏ bếp hở cũ để chuyển sang bếp mới không chỉ là câu hỏi “đau đầu” với các chương trình ở Việt Nam mà ở tất cả các nước trên thế giới. Vấn đề của những chiếc bếp không nằm ở công nghệ mà nằm ở thiết kế. “Nếu như tôi có một cái bếp hiệu suất siêu cao, siêu sạch nhưng chưa phù hợp với nhiên liệu họ đang dùng và tập quán đun nấu thì có cho họ cũng không lấy”, anh Tuấn Anh nói. Một chi tiết nhỏ cũng có thể tạo nên sự khác biệt lớn. Thêm một chiếc cửa ở thân bếp cho phép người dùng tiếp thêm nhiên liệu bất kỳ lúc nào mới phù hợp với tập quán của cộng đồng người Thái ở Sơn La là dùng lõi ngô để đồ xôi: Người dùng không phải nhấc chõ xôi xuống để tiếp ngô (vốn là một nhiên liệu cháy rất nhanh) từ miệng bếp. Hay hộp sinh khối được bán rời, có thể tháo lắp trong lòng bếp dành cho những người sử dụng nhiều loại nhiên liệu khác nhau cùng một lúc.        Hiện nay, công ty có 11 dòng bếp với nhiều lần cải tiến. Bếp Thế Hệ Xanh có đặc điểm là thấp (bếp thấp nhất là 30 cm, cao nhất là 50 cm) và không cần quạt thổi khi đốt. Là thành viên của Liên đoàn Bếp sạch toàn cầu, anh Tuấn Anh thường xuyên trao đổi với những nhóm thiết kế bếp trên thế giới, nhưng những ý tưởng cải tiến bếp không phải lúc nào cũng thực hiện được. Nếu thêm quạt, tăng chiều dài và giảm chiều rộng thì Bếp Thế Hệ Xanh sẽ trộn khí tốt hơn, không chỉ tăng hiệu suất mà còn giảm khí thải, nhưng họ chưa thực hiện. Lí do là bởi phần lớn người dân ở nông thôn, miền núi vẫn ngồi xổm để nấu. Những bếp cao 80 cm từng được phát miễn phí bởi những chương trình bếp sạch đều bị người dân “bỏ xó”.  Thiết kế hình vuông giúp cho bếp không chỉ không bị méo khi vận chuyển đi xa mà còn tiết kiệm chi phí trong lưu trữ và sản xuất. Trước khi xuất kho, bếp có thể được lưu trữ dưới dạng các tấm rời, tiết kiệm 20 lần diện tích kho. Khi có những lô hàng gấp, lúc nào cũng có sẵn linh kiện và có thể huy động toàn bộ nhân lực ra lắp bếp. Nguồn gốc của bếp vuông là sự tình cờ với anh Tuấn Anh do… không có tay nghề cơ khí. Quá trình mày mò tự làm bếp với điều kiện thiếu thốn máy móc khiến anh quyết định làm bếp vuông (“Dù gì thì nó cũng sẽ vuông thành sắc cạnh, chứ bếp tròn cuốn bằng tay thể nào cũng méo”).  Bếp Thế Hệ Xanh là công ty đầu tiên nhận được “phần thưởng” của chương trình “Thúc đẩy thị trường bếp sạch của các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông” SNV tổ chức. Theo đó, các công ty sản xuất bếp tham gia chương trình sẽ đấu giá “phần thưởng” sau khi SNV mang sản phẩm của họ đi thử nghiệm về các tiêu chuẩn khí thải. Sau khi chiến thắng phiên đấu giá, họ sẽ đi bán bếp và với mỗi chiếc bếp bán được, họ sẽ được nhận “tiền thưởng” để tùy ý sử dụng.  Bán được 15 nghìn bếp mỗi năm, công ty có lãi nhưng “không đáng kể” và theo anh Tuấn Anh, nếu “khai phá” một thị trường mới thì thể nào cũng lỗ. Tuy nhiên, anh dùng số tiền thưởng để làm điều này: “Nhiều người có thể thu số tiền đó về bỏ túi cũng được nhưng tôi chẳng muốn thế, cái mình thực sự cần là bây giờ nhiều người dùng (bếp) hơn, nhiều người biết hơn” – anh Tuấn Anh cho biết.  —–  1Theo báo cáo của Liên đoàn Bếp sạch Toàn cầu (Global Alliance for Clean Cookstoves) với số liệu năm 2007. http://cleancookstoves.org/resources/180.html       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng      Rào cản ngăn nước ta phát triển dưới mức tiềm năng chính là những cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng, không triệt để.       Ba mươi năm Đổi mới, nhiều người giàu lên vì đất. Tôi tưởng mang cả ba-lô tiền mặt đi săn đất Phú Quốc, hiện tượng ấy chỉ có ở Việt Nam. Tôi đã lầm. Từ cổ chí kim, hàng ngàn năm nay, của cải để dành của các dân tộc tuyệt đại đa số là nhà đất. Tệ hơn nữa, thời nào của cải cũng chảy vào chỗ trũng, những nhóm nhà giàu thiểu số thời nào cũng kiểm soát hầu hết sự thịnh vượng của các quốc gia 1.  Vì bất công, nên cách mạng xảy ra liên miên, tâm điểm của những cuộc cách mạng ấy thường liên quan tới phân phối lại sở hữu. Sau giải phóng miền Nam, cũng là khi nền kinh tế kế hoạch được ấn định trên phạm vi toàn quốc, về bản chất chúng ta đã xóa đi chế độ sở hữu cũ, lập ra sở hữu mới, gọi là sở hữu toàn dân, mọi nguồn lực kinh tế đều do nhà nước kiểm soát và chỉ huy. Vượt rào, khoán chui cho tới Đổi mới, cuộc cải cách kinh tế từ 1986 cho đến nay về bản chất là trả lại quyền định đoạt sở hữu, nhất là quyền tài sản về nhà đất cho các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp.         Tuyên bố những nguồn tài nguyên này  thuộc “sở hữu toàn dân” là đúng về đạo lý, về chính trị. Song khái niệm  này không thể dùng được về mặt pháp lý. Không thể có ông chủ toàn dân.              ————-              Của  bạn, của tôi, của thành phố, của đất nước chúng ta, sở hữu phải rõ ràng  thì quốc gia mới khơi thông thêm được tiềm năng phát triển. Vì lẽ ấy,  tránh tụt hậu, không còn cách nào khác phải thúc đẩy cải cách sở hữu.           Nhờ ơn cuộc cải cách đó, hàng triệu người dân Việt Nam đã đổi đời. Từ 1986 đến nay, tính trung bình, GDP của nước ta tăng trưởng bình quân là 6.5%, một tốc độ tăng trưởng đáng tự hào trên thế giới (từ sau Thế chiến II cho đến nay chỉ có 13 quốc gia đạt mức độ tăng trưởng liên tục trên 7% một năm trong vòng 30 năm liên tiếp). Đó là mặt lấp lánh của tấm huy chương.  Mặt khác, trời thì xa nước Trung Hoa thì gần. Cũng trong 30 năm đó, Trung Quốc tăng trưởng liên tục bình quân 10% một năm. Thua kém Trung Quốc trong 30 năm qua đã đẩy Việt Nam vào thế yếu dần. Nếu như những năm 70 của thế kỷ trước, thu nhập bình quân của người Việt và người Trung Quốc là ngang nhau trong một thời gian rất dài, thì 30 năm sau, thu nhập bình quân của người Trung Quốc đã cao hơn 2,5 lần người Việt Nam. Càng yếu, càng lệ thuộc về kinh tế, càng khó giữ biển đảo, càng khó giữ chủ quyền.  Như vậy, đằng sau mặt lấp lánh tấm huy chương còn có mặt sần sùi, đó là đáng lẽ Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh và tốt hơn nữa. Nhiều cơ hội đó đã bị bỏ lỡ, chúng ta đã phát triển dưới mức tiềm năng. 10 năm sau gia nhập WTO, Trung Hoa trở thành cường quốc dẫn đầu về kinh tế, viết tiếp sự phát triển thần kỳ của các dân tộc Đông Bắc Á. Tưởng là đồng văn và ít nhiều đồng chủng, song tôi lại cũng lầm, quốc gia chúng ta dường như rất khó sánh vai với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Chúng ta đang tụt lại cùng Philippines và nhiều quốc gia kém phát triển phía Nam.  Rào cản ngăn nước ta phát triển dưới mức tiềm năng chính là những cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng, không triệt để. Là di sản của tổ tiên để lại, đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiển nhiên cần phải được hưởng dụng có lợi cho cả dân tộc, cho thế hệ này và cho các thế hệ mai sau. Như vậy, tuyên bố những nguồn tài nguyên này thuộc “sở hữu toàn dân” là đúng về đạo lý, về chính trị. Song khái niệm này không thể dùng được về mặt pháp lý. Không thể có ông chủ toàn dân.  Của bạn, của tôi, của thành phố hoặc đất nước chúng ta, mọi thửa đất phải có chủ rõ ràng. Chủ càng rõ trách nhiệm càng cao. Của đau con xót, vì lợi riêng, mọi phần tử trong xã hội sẽ ganh đua cạnh tranh, sự cạnh tranh ấy tạo nên sức mạnh bất diệt làm sinh sôi của cải, tạo ra phúc lợi chung. Vì lẽ đó, minh định sở hữu sẽ khơi thông tiềm năng phát triển.   Nói thì dễ, làm mới khó. Thúc đẩy cải cách sở hữu hiện nay rất khó. Sợ mất sở hữu công là mất công cụ kiểm soát nền kinh tế, chúng ta né tránh thảo luận tới tận cùng và chấp nhận hiện trạng nửa vời: từng chủ sử dụng đất giữ một số quyền, nhà nước giữ một số quyền, trong đó quan trọng nhất là quyền thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng và đền bù giá đất theo giá nhà nước xác định. Tất nhiên, ẩn sau nhà nước là vô số bàn tay của cá nhân và tổ chức chia nhau giữ từng quyền quản lý. Hóa ra, từ của chung có thể phát sinh lợi riêng, sở hữu toàn dân đã trở thành tấm bình phong giúp các nhóm có thế lực kiểm soát hầu hết các nguồn lực của quốc gia chúng ta, từ đất đai, rừng biển, các con sông và vốn đầu tư trong doanh nghiệp nhà nước, trong các dự án công. Các nhóm đó đã trở nên giàu sụ và hùng mạnh, họ hiển nhiên không hề muốn thay đổi chế độ sở hữu hiện hành.   Các nhà kinh tế cảnh báo nước ta sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Về thể chế pháp luật, cũng có thể dự báo nước ta có nguy cơ bị kẹt giữa những thể chế mang tính khai thác, bóc lột; của cải của quốc gia ngày càng dồn vào tay những nhóm lợi ích, tổ chức. “Ở đây muôn sự của chung, ai khéo vẫy vùng thì được của riêng”, đó là điều chúng ta không hề muốn. Của bạn, của tôi, của thành phố, của đất nước chúng ta, sở hữu phải rõ ràng thì quốc gia mới khơi thông thêm được tiềm năng phát triển. Vì lẽ ấy, tránh tụt hậu, không còn cách nào khác phải thúc đẩy cải cách sở hữu.  ———  * PGS TS Trưởng Khoa Luật UEH, nghiapd@ueh.edu.vn   1 Tham khảo cuốn sách “Chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ XXI” gây tranh luận dữ dội trong giới kinh tế học trong hai năm qua của Thomas Piketty (2013), Le Capital au XXIe siècle; Capital in the Twenty-First Century, (2014).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cạnh tranh ứng dụng thông minh giúp tìm chỗ đỗ xe      Tìm chỗ đỗ xe luôn là một nỗi ám ảnh, không những gây bực dọc, phiền toái mà còn gây ô nhiễm môi trường và tốn tiền và thời gian. Tuy nhiên tới đây điều này sẽ được giải quyết nhờ vào một ứng dụng cảm biến thông minh.    Bình quân mỗi người Đức mỗi năm mất 41 giờ đồng hồ cho việc tìm chỗ đỗ xe. Khi tìm chỗ đỗ xe phải đi lòng vòng vừa tốn thời gian vừa tốn nhiên liệu và làm tăng khối lượng khí thải độc hại ra môi trường điều này làm người Đức mỗi năm mất một khoản tiền lên tới 40 tỷ Euro. Số liệu lấy từ một công trình nghiên cứu công ty Inrix chuyên cung cấp số liệu về giao thông.    Cảm biến đỗ xe của Start up ParkHere ở Munchen.  Có cần những cách tiếp cận mới để có thể tìm chỗ đỗ xe hiệu quả hơn hay không? Trong thực tế từ lâu các thành phố lớn ở Đức đã có hệ thống chỉ dẫn bãi đỗ xe, chỉ đường cho lái xe đến bãi đỗ thậm chí còn cho lái xe biết còn bao nhiêu chỗ trống. Các thành phố như Hamburg và Köln ở Đức còn đưa cả hệ thống này lên cổng thông tin điện tử của thành phố. Nhờ đó ngay từ khi xuất phát người lái xe đã có thể ước đoán về tình hình bãi đậu xe để trù liệu.  Những người có chỗ trống ở ngõ vào nhà mình cũng có thể thông qua ứng dụng như Ampido để cho người tìm chỗ đậu xe thuê trong khoảng thời gian ngắn nhất định. Ampido – với tư cách nhà môi giới được 30% khoản tiền cho thuê mà người cho thuê đã định giá. Khách sạn, tiệm ăn có bãi đỗ xe riêng có thể thông qua ứng dụng ParkU cho thuê chỗ đỗ xe khi vắng khách. Trên thị trường, Shared Parking cũng đang tham gia giành giật thị phần giữa các start up đối với các bãi đỗ xe không phải là bãi đỗ xe công cộng. Cũng như đối với Carsharing hay Bikesharing (dùng chung xe ô tô hay xe đạp), ý tưởng ở đây là: một vật gì đó không nhất thiết chỉ thuộc về một người. Việc sử dụng Ampido và ParkU có nghĩa, nhiều người cùng chia sẻ một chỗ đỗ xe.  Các nhà cung cấp bãi đỗ xe thông minh sử dụng nhiều công nghệ khác nhau để tìm những chỗ đỗ xe còn trống. Hãng Bosch dùng các cảm biến siêu âm của nhiều ô tô để những xe này khi chạy trên đường có thể phát hiện các chỗ đỗ xe còn trống ở ven đường và Bosch còn muốn cung cấp giải pháp Smart-Parking cho các nhà chế tạo ô tô. Siemens đang thử một ra-đa giám sát các giải đỗ xe từ trên cao, Siemens coi đây là một phần của chương trình di chuyển mà tập đoàn này muốn giới thiệu với các đô thị. Một số hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Đức cũng đang nghiên cứu các công nghệ để có thể giới thiệu các vị trí đỗ xe có hiệu quả cao hơn. Start-up ParkHere hoàn thiện các cảm ứng mặt đất, những cảm ứng này sẽ được để dưới mặt lớp nhựa đường và các cảm ứng sẽ biết có hay không có xe đậu bên trên. Trong tương lai Smart Parking ở các thành phố sẽ ngày càng có vai trò quan trọng hơn, các doanh nghiệp công nghiệp, các nhà chế tạo ô tô, và các Start-ups như ParkHere đều nhất trí về nhận định này.  Từ tháng 4.2011 sân bay Düsseldorf, Đức sử dụng robot để sắp xếp hiệu quả xe của hành khách đi máy bay gửi trong nhà để xe. Xe ô tô được đưa vào chỗ để xe tựa như một gara. Hành khách sau khi nạp dữ liệu bay cần thiết vào một màn hình cảm ứng có thể yên tâm vào nhà ga, mọi công việc khác sẽ do robot đảm nhiệm – do đó tránh cho hành khách không phải mất công tìm chỗ để xe nhất là khi sắp đến giờ bay.  Một số doanh nghiệp công nghiệp lớn cũng như các nhà chế tạo ô tô có xu hướng áp dụng công nghệ để tìm các giải pháp cho Shared-Parking, đây cũng là nơi diễn ra sự cạnh tranh dành thị phần về Smart-Parking khá quyết liệt. Bosch dùng Cloud để tìm vị trí đỗ xe ở trong các thành phố được hiệu quả và dễ dàng hơn: ô tô khi tham gia lưu thông nhờ có các cảm biến siêu âm sẽ nhận biết được những chỗ đỗ xe còn trống bên vệ đường. Hiện các cảm biến này đã được lắp sẵn trong các xe đời mới: dữ liệu của các cảm biến đỗ xe  không những giúp đỗ xe chính xác tới từng xăngtimét, mà còn phát hiện các chỗ đỗ xe còn trống ở lề đường. Các thông tin này được tải về Cloud, các dữ liệu này sẽ được xử lý và dành cho tất cả các xe tham gia giao thông. Lái xe có thể thống qua hệ thống định vị đánh xe đến đúng vị trí còn trống đó. Ngay trong năm nay dịch vụ này của hang Bosch có thể được áp dụng đối với một số xe được chọn lọc.  Hãng Siemens cũng dùng Cloud để đưa các dữ liệu về các chỗ đỗ xe còn trống cho người có nhu cầu. Siemens không dựa vào thông tin của các xe chạy trên đường để thu thập dữ liệu về các vị trí đỗ xe còn trống mà dùng rada. Có thể lắp thiết bị này vào các cây cột điện đã có sẵn và từ đó giám sát tình hình về chỗ đỗ xe ven đường. Thông qua thuật toán ra đa sẽ xác định được vị trí nào đã có ô tô đỗ, vị trí nào còn trống.  Cả hai phương án của Bosch và Siemens đều có ưu điểm và nhược điểm và sẽ được tiếp tục hoàn thiện trước khi đưa ra áp dụng rộng rãi.  Một Start-up Đức dám đọ sức với các ông lớn trong ngành công nghiệp và công nghiệp ô tô  như Siemens, Audi, BMW và Bosch, thậm chí sản phẩm mới của Start-Up này lại có phần nổi trội hơn, ít ra thì đây cũng là tự đánh giá của giám đốc điều hành Felix Harteneck. Ông ta năm 2015 đồng sáng lập  Start-up ParkHere. ParkHere vốn là một bộ phận thuộc TU München và phát triển cảm biến để trong những tuyến đường giao thông với nhiệm vụ xác định chỗ có cảm biến hiện có xe đỗ hay không. Các tín hiệu này sẽ được truyền qua vô tuyến đến trạm cơ sở gần đó. Và từ đây cũng như tại Siemens hay Bosch tín hiệu sẽ chuyển vào Cloud. Người lái xe thông qua app để biết chỗ đỗ xe nào còn trống.  Loại cảm biến của doanh nghiệp München theo Harteneck là loại có một không hai ở châu Âu. Vì nó giải quyết được một vấn đề mà các loại cảm biến khác đang bị bế tắc: Các loại cảm biến này phải nạp điện và phải bảo dưỡng điều này vừa tốn kém vừa tạo ra rác thải. Trong khi đó  ParkHere tự tích năng lượng. Khi một xe ô tô chạy trên cảm biến này hình thành các tinh thể trong cảm biến do áp lực và độ rung của ô tô từ đó tạo ra năng lượng  – điều này goi là hiệu ứng Piezo.  Hiện tai  Smart Parking chưa phải là một biện pháp để thực hiện ngay: “Hiện tại người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu các công nghệ khác nhau và nhìn chung các công nghệ này còn quá đắt đỏ khó có thành phố nào có thể kham nổi về tài chính để có thể cải thiện tình hình đỗ xe dù chỉ trong trung tâm thành phố. Cho đến nay chỉ mới có thành phố San Francisco đã lắp đặt  8200 cảm ứng dưới mặt đường để quản lý các bãi đỗ xe  hiệu quả hơn. Bãi đỗ xe thông minh có thể đi vào hoạt động khi hệ thống giá được bố trí năng động: khi các bãi đỗ xe có gắn cảm biến kín chỗ thì  nâng giá – khi còn nhiều chỗ trống thì tự động hạ giá hoặc hoàn toàn miễn phí. Thông qua Internet người điều khiển xe ô tô có thể biết mức giá hiện hành trên cơ sở đó người lái có thể xem xét vào đỗ hay xử dụng phương tiện giao thông công cộng.  Cho đến nay mới có thành phố  San Francisco và vài thành phố nữa áp dụng hình thức này tuy nhiên điều này có thể sớm thay đổi: Năm 2014 doanh thu bằng giải pháp Smart-Parking ở Bắc Mỹ và châu Âu đạt trên 7 tỷ US đôla. Năm 2025 hãng tư vấn Frost & Sullivan dự báo doanh thu có thể tăng trên 43 tỷ US-đôla. Thị trường tăng nhanh tác động tới đối thủ cạnh tranh  Harteneck và Start-up của ông. Rất có thể sự tăng trưởng nhanh chóng cũng như tác động tích cực tới môi trường, điều đang diễn ra ở San Francisco sẽ lan tỏa sang các thành phố lớn của Đức cũng như các nơi khác.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/mobilitaet/smart-parking-wie-apps-und-sensoren-bei-der-parkplatzsuche-helfen/22604550.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cuộc chiến” công nghệ Trung Quốc-Đức      Người Đức ngày nay ám ảnh bởi nỗi lo ngại rằng khi Trung Quốc trở nên giàu có hơn, họ sẽ không còn cam chịu với vai trò của nhà sản xuất với nhân công giá rẻ. Trung Quốc đã và đang phát triển ngành công nghiệp sản xuất ô tô, máy bay, tàu siêu tốc, và đang xây dựng các nhà máy hóa chất đủ tầm vóc để cạnh tranh ngang ngửa với các nhà sản xuất Đức trên toàn cầu.  Nhưng Bắc Kinh không chỉ muốn bắt kịp với Đức. Mục tiêu của họ là vượt qua Đức về công nghệ.      Trung Quốc muốn quốc gia này trở thành nhà sản xuất hàng đầu của thế hệ ô tô tương lai: xe hybrid và ô tô điện. Họ cũng muốn sản xuất được máy bay dùng ít dầu lửa hơn các mẫu máy bay hiện có của Airbus, và xây dựng được những nhà máy điện xả ít khí CO2 hơn các đối thủ từ phương Tây. Một minh chứng cho tham vọng của Trung Quốc là ngành công nghiệp sử dụng công nghệ năng lượng Mặt trời, lĩnh vực mà hiện nay Trung Quốc đã hất cẳng Đức để có vị thế là nhà sản xuất hàng đầu thế giới.    Những khoản trợ cấp hào phóng   Ít năm trước đây, những công ty như Siemens và Sharp bỏ xa các đối thủ khác trong lĩnh vực sản xuất pin năng lượng Mặt trời. Nước Đức khi đó đã tìm mọi cách để giữ vị thế số 1 về sản xuất các hệ thống quang điện thế. Dư luận trong công chúng và các chính trị gia Đức đều đồng tình rằng năng lượng Mặt trời là một ngành công nghiệp quan trọng của tương lai.  Điều này dẫn đến những khoản hỗ trợ hào phóng cho năng lượng Mặt trời từ Chính phủ Đức. Những người dân Đức khi lắp đặt các tấm pin năng lượng Mặt trời trên mái nhà đều được trả một mức giá bảo đảm cho lượng điện năng được sản xuất ra khi cung cấp vào lưới điện chung của khu vực. Các chuyên gia ước tính rằng người dân Đức trong 20 năm tới sẽ phải trả khoảng 14 tỷ Euro (17,6 tỷ USD) tính riêng cho các máy phát điện dùng năng lượng Mặt trời được lắp đặt trong năm 2009.   Như vậy thì có vẻ như ngành công nghiệp năng lượng Mặt trời của Đức được hưởng lợi lớn. Nhưng thực tế không phải vậy, vì phần lớn số tiền trợ cấp này sẽ chảy sang túi của người Trung Quốc. Ngày nay, ngay cả những nhà sản xuất hệ thống phát điện năng lượng Mặt trời hàng đầu của nước Đức cũng đang lặng lẽ sử dụng pin năng lượng Mặt trời của Trung Quốc.  Bắc Kinh đã đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp của tương lai này trên đất nước mình mạnh mẽ hơn bất cứ quốc gia nào khác. Chính phủ trợ cấp cho các nghiên cứu về công nghệ năng lượng Mặt trời, và trợ cấp cho các công ty có kế hoạch sản xuất hệ thống phát điện năng lượng Mặt trời với số lượng lớn. Ngày nay, trong 10 nhà sản xuất lớn trên thế giới của ngành công nghiệp này thì có 4 nhà sản xuất là của Trung Quốc, trong khi nước Đức không có nhà sản xuất nào được xếp vào top 10. Trong khi nước Đức ngày càng giảm thị phần xuất khẩu thiết bị công nghệ năng lượng Mặt trời thì thị phần của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Một phần là vì hàng Trung Quốc rẻ hơn. Pin năng lượng Mặt trời của Đức tạo ra giá thành sản xuất điện là 1,6 Euro/watt, trong khi pin của Trung Quốc chỉ tạo ra mức giá là 1,3 Euro/watt. Các chuyên gia thậm chí còn dự kiến mức giá của Trung Quốc trong năm nay sẽ hạ xuống dưới 1 Euro.   Người Đức cảnh giác     Nhưng pin năng lượng Mặt trời của Trung Quốc có chất lượng không hề kém hàng của Đức. Chỉ vài năm trước thiết bị của Trung Quốc bị mang tiếng là dễ hỏng và gây hại cho môi trường, nhưng nay chất lượng hàng của họ đã tăng lên đáng kể. Trong một nghiên cứu gần đây của ngân hàng Landesbank Baden-Württemberg (LBBW) có trụ sở tại Stuggart đã kết luận rằng năng suất của người Trung Quốc hiện đã cao hơn các đối thủ từ Đức. Và theo TÜV Rheinland, một cơ quan giám định kỹ thuật, thì các pin năng lượng Mặt trời của Trung Quốc có chất lượng cao.   Và Trung Quốc phải phần nào cảm ơn người Đức vì đã vô tình giúp cho ngành công nghiệp năng lượng Mặt trời của mình phát triển nhanh chóng. 70% thiết bị Trung Quốc sản xuất ra là để xuất khẩu, trong đó có tới một nửa là xuất sang Đức, quốc gia có tiếng là hỗ trợ hào phóng cho điện Mặt trời.    Những gì đang diễn ra với ngành công nghiệp năng lượng Mặt trời là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm cho công nghiệp của Đức. Ngay cả những ngành công nghiệp thế mạnh của Đức như ngành sản xuất ô tô nay cũng cần phải cảnh giác về một lúc nào đó Trung Quốc sẽ ở thế thượng phong.  Trung Quốc đang dùng một lúc hai chiến thuật. Một mặt, Trung Quốc tăng cường trình độ công nghệ của mình qua các mô hình liên doanh sản xuất. Mặt khác, Trung Quốc tập trung phát triển ngành công nghiệp của tương lai: sản xuất ô tô điện. Các công ty Trung Quốc ngày nay đã ở vị thế hàng đầu thế giới về công nghệ ắc quy, qua đó tạo lợi thế chiến lược so với các đối thủ từ châu Âu và Nhật.    VW, Daimler, và BMW hiện vẫn đang xây mới các nhà máy nhằm tăng gấp đôi công suất sản xuất ở Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả các nhà máy này đều là liên doanh giữa nhà sản xuất Đức và các công ty Trung Quốc. Hình thức hợp tác này được ví von gọi là “kinh tế phi tần”. Cũng như các hoàng đế Trung Quốc trước đây tổ chức tuyển phi tần, những người làm chính sách Trung Quốc ngày nay lựa chọn các công ty nước ngoài và cho phép họ được tổ chức sản xuất với điều kiện phải hợp tác với một đối tác trong nước.   Trung Quốc áp mức thuế nhập khẩu cao khiến các nhà sản xuất ô tô Đức khó lòng xuất xe sang Trung Quốc. Họ chỉ có thể bán được một số lượng xe lớn bằng cách xây dựng nhà máy ở Trung Quốc và liên doanh với một đối tác trong nước và chia sẻ công nghệ với đối tác này.  Bắt đầu từ 5 năm trước, Bắc Kinh đã thực thi chính sách đòi các công ty phương Tây chuyển giao công nghệ cho đối tác Trung Quốc. Vào lúc đó, tạp chí kinh doanh Zhongguo Caifu công bố một bài viết có tựa đề “Đức là hình mẫu để học tập, trong đó cho rằng trong vòng 20 năm quan hệ hợp tác với Đức sẽ là vũ khí chiến lược để giúp khởi sắc các ngành công nghiệp của Trung Quốc.   Một ví dụ minh họa là chiến dịch của Tập đoàn Công nghiệp ô tô Thượng Hải (SAIC) trong mối quan hệ liên doanh với tập đoàn VW của Đức và General Motors của Mỹ. Trong khi các nhà sản xuất ô tô Mỹ phải chèo chống vất vả để vượt qua khủng hoảng trong năm ngoái, SAIC đã tận dụng cơ hội khai thác điểm yếu của đối tác, qua việc tăng cổ phần liên doanh lên 51%. Tạp chí kinh doanh Jingji Cankao Bao viết một cách tự hào: “một hình mẫu mới giữa nhà sản xuất ô tô Trung Quốc và quốc tế đã bắt đầu thành hình”.   Người Trung Quốc tự tin   Người Trung Quốc ngày nay tự tin vào bản thân hơn bao giờ hết trong mô hình liên doanh với VW. Về lâu dài, các nhà quản lý Trung Quốc sẽ không còn cho phép giám đốc điều hành của những công ty thành công nhất trên lãnh thổ của mình là những người ngồi ở tận Wolfsburg.  CEO của VW là Martin Winterkorn tin rằng Trung Quốc sẽ vẫn phải lệ thuộc vào công nghệ của Đức đối với ô tô chạy bằng xăng và dầu diesel. Nhưng Trung Quốc dự định sẽ vượt qua sự lệ thuộc này bằng cách tập trung vào nghiên cứu những công nghệ mới.  Công ty đóng vai trò chủ chốt trong nỗ lực này có tên là BYD, viết tắt tiếng Anh của “xây giấc mơ của bạn”. BYD mới bắt đầu sản xuất ô tô từ năm 2003, nhưng đây chính là nhà sản xuất pin điện thoại di động lớn thứ hai trên thế giới. Ngày nay bộ phận nghiên cứu của công ty đang dùng tới 10.000 nhân viên chỉ với mục đích phát triển loại pin điện mới cho ô tô chạy điện.   Trong lĩnh vực xây dựng các nhà máy năng lượng, Trung Quốc theo đuổi cùng một chiến lược giống như với ngành công nghiệp ô tô. Đầu tiên, Bắc Kinh mời các công ty phương Tây, chủ yếu là các công ty Đức, đến xây dựng các nhà máy năng lượng liên doanh với các đối tác trong nước. Đến nay, Trung Quốc nâng cấp các nhà máy này bằng công nghệ của chính họ. Nhà máy điện than Waigaoqiao ở Thượng Hải là một ví dụ.  Giám đốc Feng Weizhong mặc bộ đồng phục kiểu bê-rê với một huy hiệu Đảng trên ngực. Nhưng Feng không chỉ là một Đảng viên. Ông là chuyên gia tài năng nhất của Trung Quốc trong lĩnh vực điện nhiệt điện than thân thiện với môi trường. Nhà Waigaoqiao nhìn bóng loáng như mới. Trên bầu trời Thượng Hải, khói từ ba ống khói mới nhất của nhà máy nhìn sạch như vải mới giặt. Feng được cấp bằng sáng chế cho hệ thống lọc, tự hào khẳng định rằng nó có thể lọc được phần lớn các chất thải. Nhà máy hằng ngày có rất đông khách đến thăm quan này được coi là hình mẫu để các tỉnh học tập xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than của chính họ nhằm thay thế những nhà máy đã xuống cấp.  Feng không hề giấu giếm bí mật rằng đa phần công nghệ sử dụng trong nhà máy của mình là từ Siemens và tập đoàn năng lượng Alstom của Pháp. Waigaoqiao là một ví dụ điển hình cho “cải tiến thông minh”. “Đầu tiên chúng tôi nhập khẩu các công nghệ từ nước ngoài, sau đó tối ưu hóa chúng”.   Cuộc chiến âm thầm   Một tập đoàn thép có trụ sở tại Düsseldorf dành một thời gian dài tìm kiếm một dự án có tính chất chào hàng cho công nghệ tàu điện từ. Họ đã tìm được một dự án như vậy ở Trung Quốc. Đúng ngày đầu năm mới của năm 2002, Quốc trưởng Đức khi đó là Gerhard Schröder và Thủ tướng đương nhiệm Trung Quốc là Chu Dung Cơ khánh thành đoạn đường ray hoạt động thương mại đầu tiên dài 31 km, dành cho loại tàu của Đức mang tên Transrapid. Tuyến đường này ngày nay nối liền sân bay Pudong với khu tài chính của Thượng Hải.                   Không người Đức nào muốn xây tuyến giao thông ngắn ngủi này, trên đó chạy những con tàu có khả năng di chuyến với tốc độ 400 km/giờ. Quy hoạch giao thông của Thượng Hải đối với tuyến đường này cũng không thể coi là hợp lý. Nhưng các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc có một quan điểm khác. Họ coi hệ thống tàu điện cao tốc là biểu tượng cho nỗ lực tổng hợp của 1,3 triệu người để một ngày nào đó vượt qua phương Tây.  Bắc Kinh hứa hẹn rằng sau khi tuyến đường thương mại thí điểm được xây dựng, một hợp đồng liên doanh mới sẽ được ký kết, cho phép xây lắp công nghệ của Đức trên nhiều tuyến giao thông khác của Trung Quốc. Nhưng hợp đồng liên doanh xây lắp trị giá nhiều tỷ USD này tới nay vẫn chưa thành hiện thực.  Người Đức nghi ngờ rằng Trung Quốc thực ra chỉ quan tâm tới việc rút tỉa công nghệ. Băng camera an ninh thu lại được cảnh những kỹ sư Trung Quốc lẻn vào trong xưởng lắp ráp và bí mật tìm hiểu các bộ phận của tàu điện siêu tốc transrapid. Tuy nhiên, người Đức không có bằng chứng rõ ràng nào để chứng minh có việc ăn trộm công nghệ.  Ba năm trước, Trung Quốc trưng bày phiên bản tàu điện cao tốc do chính họ tạo ra tại sân Đại học Tongji ở Thượng Hải, và kể từ đó họ tiếp tục cho ra đời những phiên bản tiếp theo tân tiến hơn. Một số phiên bản được cho là có khả năng chạy với tốc độ 500 km/giờ, và tiết kiệm chi phí hơn tới 30% so với công nghệ của Đức. Tuy nhiên, tất cả đều mới chỉ là phiên bản thử nghiệm.   Năm ngoái, người Đức đàm phán một thỏa ước trong đó Trung Quốc sẽ cho phép người Đức vận hành tàu siêu tốc Transrapid trên các tuyến của Trung Quốc. Nhưng tới nay biên bản ghi nhớ vẫn chưa được thực tế hóa.  Các giám đốc tập đoàn Thyssen Krupp của Đức ở Düsseldorf ngờ rằng Trung Quốc thực ra vẫn đang tìm các phương cách nhằm thâu tóm trọn vẹn công nghệ tàu siêu tốc Transrapid. Một cuộc chiến âm thầm vẫn đang tiếp diễn.   Tràn lan hàng nhái    Nhiều công ty Đức phải ngậm bồ hòn làm ngọt trước tình trạng bị ăn cắp mẫu mã. Tại các triển lãm ô tô ở Thượng Hải hay Bắc Kinh, khách tới thăm quan thường xuyên thấy ngờ ngợ trước những sản phẩm Trung Quốc nhái theo hàng của Đức, hoặc ít nhất là nhái theo một phần nào. Mẫu xe Lifan 320, loại xe nhỏ gọn chạy trong thành phố, là hình ảnh hầu như giống hệt với mẫu xe Mini của BMW. Người Trung Quốc cũng làm nhái theo mẫu xe Smart của Daimler, gọi nó là Noble với 2 ghế nhiều hơn mẫu nguyên bản của Đức.  Daimler từng một lần cố gắng bất thành trong việc kiện hãng sản xuất xe hơi Shuanghuan của Trung Quốc, qua đó ngăn chặn mẫu xe nhái theo Smart được nhập khẩu vào châu Âu.          Mẫu xe Noble (trái) nhái theo nguyên mẫu xe Smart của tập đoàn Daimler          Đối với lĩnh vực thiết bị máy móc, Trung Quốc làm nhái theo các thiết bị của Đức và bán với giá rẻ ở khắp nơi, từ Ấn Độ, Mỹ, tới Nga. Theo tổ chức German Engineering Federation (VDMA), cứ trong ba công ty sản xuất máy móc của Đức thì có hai công ty là nạn nhân của nạn làm nhái mẫu mã, gây thiệt hại tới 6,4 tỷ Euro doanh thu. Trung Quốc, thủ phạm của 80% lượng thiệt hại này, quả là “nhà vô địch về làm giả”, nhận xét từ VDMA.   Các công ty Đức thường e ngại trong việc kiện các thủ phạm làm giả ra tòa. Họ ít tin tưởng vào sự bảo vệ của hệ thống pháp lý Trung Quốc, và sợ bị trả đũa.   Bởi vậy, một số doanh nghiệp chỉ biết bực dọc và cuối cùng rút lui khỏi thị trường Trung Quốc. Manfred Wittenstein là CEO của công ty cơ khí Wittenstein, đồng thời là Chủ tịch của VDMA. Công ty của ông từng dự định sẽ xây một nhà máy chế tạo hộp số chính xác ở Trung Quốc hồi 5 năm trước. Nhưng khi các nhà chức trách Trung Quốc yêu cầu Wittenstein hé lộ kế hoạch sản xuất và bí quyết công nghệ, ông đã hủy bỏ dự án.   Bảo vệ ưu thế công nghệ Đức   Ngày nay các doanh nghiệp Đức vẫn chưa có ý thức cao trong việc bảo vệ ưu thế về công nghệ của mình trong khi Trung Quốc ráo riết tìm cách vươn lên. Ít người quan tâm nhiều tới việc các công ty Trung Quốc bán tràn ngập hàng hóa giá rẻ với số lượng lớn. Thậm chí nước Đức còn coi đây là cơ hội để bán sang Trung Quốc các thiết bị sản xuất có công nghệ cao cấp. Nhưng tới nay, khi ngay cả những ngành công nghiệp truyền thống của Đức cũng bị đe dọa về thị phần, việc quyết liệt bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở thành mục tiêu sống còn. Điều này sẽ ảnh hưởng tới sự sinh tồn của các doanh nghiệp Đức trong thế kỷ 21, thời kỳ mà người Trung Quốc sẽ có quyền ảnh hưởng mức chiến lược.   Nếu các công ty Đức tiếp tục duy trì được lợi thế về trình độ công nghệ so với các đối thủ từ châu Á, thì việc làm ăn ở Đông Á sẽ tiếp tục gặt hái lợi nhuận cao. Nhưng nếu nước Đức để mất vị thế ưu việt về công nghệ, sớm hay muộn họ sẽ bị Trung Quốc hất cẳng. Tới khi đó, các tập đoàn khổng lồ như Siemens và Daimler sẽ buộc phải co lại trong thị phần nhỏ hẹp ở Bắc Âu.  Tuy nhiên, nước Đức vẫn đang có thể dựa vào lợi thế của nền giáo dục quy củ. Nền kinh tế Đức nay vẫn được hưởng lợi từ thực tế rằng những kỹ sư trung bình được đào tạo ở Đức hiện vẫn có chất lượng cao hơn kỹ sư được đào tạo tại Bắc Kinh hay Quảng Đông. Việc bảo vệ được lợi thế này sẽ có tầm quan trọng chiến lược cho tương lai nền công nghiệp Đức.   Nền kinh tế Đức đang đối diện với khó khăn to lớn phía trước, nhưng dường như các vị lãnh đạo doanh nghiệp của Đức vẫn còn rất rụt rè khi phải đưa ra lựa chọn. “Hoặc là chúng ta buộc phải bỏ qua một thị trường khổng lồ, hoặc là phải tuân theo luật chơi của riêng Trung Quốc”, một giám đốc ngành sản xuất ô tô nhận định. “Chẳng có phương án trung dung nào ở đây để chúng ta lựa chọn”.  ———————–  Nhóm tác giả:  Frank Dohmen, Katrin Elger, Dietmar Hawranek, Ralf Neukirch, Rene Pfishter, Christian Reier Mann, Michael Sauga, Wieland Wagner   Trần Lê dịch  (Spiegel Online International)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến của các cỗ máy      Người anh hùng Ulysses, trong&#160;sử thi của Homer, ra trận, trải lưu lạc 10 năm mới trở về quê hương. Câu chuyện về người lính chiến đấu cho tới những năm gần đây không khác gì so với 5000 năm trước: rời xa quê hương, lao vào hiểm nguy mà không hẹn ngày trở lại. Tuy nhiên, với những thành tựu trong chế tạo robot chiến đấu, khái niệm của loài người về chiến tranh sẽ thay đổi sâu sắc. Những người “lính máy” sẽ thay thế những người lính bằng xương bằng thịt trong các trận chiến. Chỉ còn là vấn đề thời gian…     Vào thời điểm những năm 1970, một nhóm các nhà khoa học, kỹ sư, cán bộ quốc phòng và lực lượng không quân Mỹ cùng nhau tạo thành một nhóm nghiên cứu. Họ cùng nỗ lực giải quyết vấn đề: làm thế nào để chế tạo nên những cỗ máy có thể tác chiến độc lập, hạn chế tối đa sự tham gia của con người và có thể tìm ra cách để thuyết phục công chúng và  Bộ Quốc phòng. Trong vòng vài thập kỷ, họ gặp nhau một hoặc hai lần một năm bàn luận về các vấn đề kỹ thuật. Hiện nay, hiệp hội các thiết bị tự động (unmanned machines) lên tới 1500 công ty thành viên, tổ chức từ 55 quốc gia. Sự phát triển diễn ra nhanh chóng tới mức tại cuộc gặp mặt tại San Diego, một vài người tham dự đã đặt câu hỏi “Chúng ta tới từ đâu? Chúng ta đang ở đâu? Đâu là nơi chúng ta muốn đến và sẽ đến”.   Việc sự dụng robot trong các trận chiến đấu tạo nên thay đổi sâu sắc nhất từ sau khi phát minh ra súng và máy bay. Trong cuộc tấn công Baghdad không có một con robot nào được mang đi cùng quân đội Mỹ. Sau đó, khoảng 7000 máy bay không người lái, 12000 phương tiện di chuyển trên mặt đất đã “đầu quân” cho quân đội Mỹ đảm nhiệm các nhiệm vụ từ tìm người bắn tỉa, tới ném bom các nơi ẩn náu của al-Qaeda tại Pakistan. Đưa lính ra khỏi hiểm nguy có thể cứu cuộc đời họ, nhưng việc sử dụng robot tăng lên cũng làm dấy lên những quan ngại về mặt chính trị, pháp lý và đạo đức về bản chất của chiến tranh rằng liệu các công nghệ có làm chiến tranh nổ ra nhanh chóng hay không.   Hệ thống định vị toàn cầu, video và các công nghệ khác làm cho robot trở nên hữu dụng trong các cuộc chiến trong thập kỷ này. Đặc biệt từ sau vụ tấn công 11/9, việc tăng khả năng quan sát, đánh dấu và tấn công mục tiêu mà không cần đưa con người vào hiểm nguy trở thành sự lựa chọn được ưu tiên và việc sử dụng các hệ thống này trên mặt đất sẽ tạo nên thành công có tác động rộng lớn. Ví dụ, trong vài tháng đầu của chiến dịch Afghan năm 2001, mẫu robot Packbot được sử dụng để dò bom, đã được gửi tới trận địa thử nghiệm. Những người lính đã thích con robot này tới mức họ không muốn gửi trả nó trở về xưởng chế tạo iRobot, loại robot này hiện nay được bán tới hàng nghìn con. Một lãnh đạo của công ty robot nói, trước 11/9 ông ta không thể nào có được phản hồi từ nhà Trắng, còn hiện nay thì họ bảo ông: Chế tạo nhanh nhất có thể.             Robot dò mìn được “tuyển quân” sang Afghan            Sự có mặt của robot quân sự trở nên rõ ràng khi cuộc chiến Iraq nổ ra. Khi lực lượng Mỹ tiến vào Iraq năm 2003, họ không có hệ thống tự động điều khiển. Vào cuối năm 2004, số lượng tăng lên 150 và năm ngoái đã lên tới 2400. Hiện nay theo thống kê của quân đội Mỹ có khoảng 1200 thiết bị tự động. Xu hướng tương tự xảy ra trên không: hiện nay không quân Mỹ có tới 7000 máy bay không người lái trợ giúp. Sự tăng trưởng này mới chỉ bắt đầu. Một tướng không quân 3 sao của Mỹ phỏng đoán: trong cuộc chiến lớn sắp tới của Mỹ có thể sẽ không phải hàng ngàn robot tham chiến mà là hàng chục ngàn robot.  “Lính máy” của ngày mai  Những công nghệ trên đã trở một phần của quân đội hiện đại tuy vẫn được xem giống như khoa học viễn tưởng. Hơn nữa, chúng chỉ là thế hệ đầu, những điều mới mẻ vẫn còn ở phía trước. Ngày nay, Packbot dò bom trên đường và Predator bay trên bầu trời Afghanistan chỉ giống như Model T Ford và máy bay của anh em nhà Wright.Các mẫu của thế hệ mới sẽ có 3 điểm thay đổi.             Robot BigDog          Thứ nhất, hình dáng, kích thước sẽ rất phong phú. Con robot BigDog của Boston Dynamics bằng kim loại, vác khối thiết bị hình vuông trên 4 chân. Nhiều con robot khác thì lai ghép như con robot theo dõi có cả chân và tay. Nhưng những hệ thống khác thì không có hình dạng gì cả. Chembot, sản phẩm của công ty iRobot và trường đại học Chicago là một khối nhỏ tròn có thể thay đổi hình dạng để có thể chui qua cái lỗ trên tường.   Thứ hai, vai trò của các con robot cũng thay đổi nhiều. Cũng giống như máy bay thời đầu trong chiến tranh thế giới thứ nhất, robot ban đầu chỉ có nhiệm vụ quan sát và ghi nhận, giờ đây nhiệm vụ của chúng đã phong phú hơn nhiều. Công ty QinetiQ North America, người tạo ra Talon, đã trình làng robot MAARS vào năm 2007, được trang bị súng và lừu đạn và có thể đảm nhận nhiệm vụ của lính gác và lính bắn tỉa.    Thứ ba, độ thông minh và khả năng hoạt động tự động tăng lên. Sự phát triển đáng kinh ngạc của máy tính có nghĩa là những người đăng lính có thể sẽ phải kết thúc binh nghiệp của mình ngồi chứng chiến các con robot được trợ giúp của máy tính với khả năng tăng lên gấp hàng tỉ lần so với các robot hiện nay.  Nắm công nghệ nắm chiến thắng?  Nhưng những bước tiến trên không nói lên được ngành công nghiệp robot sẽ đi về đâu và đâu là những tác động tới thế giới của chúng ta và chiến trận trong tương lai. Cũng như để hiểu ý nghĩa của khẩu súng không thể chỉ miêu tả về phản ứng hóa học bên trong cho phép đường đạn đi xa hơn.   Robot là một trong số ít những phát minh có thể làm thay đổi cuộc chơi. Cuộc cách mạng về công nghệ này không đưa cho bên sở hữu lợi thế vĩnh viễn vì theo các nhà phân tích công nghệ dễ dàng bị phía bên kia sao chép, học theo. Tuy nhiên, tiến bộ này sẽ là cú híc tạo ra những thay đổi không chỉ trong các trận chiến mà còn trong xã hội. Ví dụ, phát minh ra cung dài (longbow) không chỉ giúp người Anh chiến thằng người Pháp trong trận chiến Agincourt giai đoạn chiến tranh 100 năm mà nó còn giúp những người nông dân chiến thắng các hiệp sĩ và kết thúc luôn thời kỳ phong kiến.   Câu chuyện tương tự cũng xảy ra trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Những công nghệ mới vài năm trước vốn bị xem là kỳ cục thì sau đó được sử dụng phổ biến trong các trận chiến. Ví dụ, truyện ngắn “Land Ironclads” (1903) của H. G. Wells đã gợi cảm hứng cho Winston Churchill thành công trong phát triển xe tăng. Tương tự, truyện của A. A. Milne là một trong những tác phẩm đầu tiên làm lan truyền ý tưởng về việc sử dụng máy bay trong chiến đấu. Còn Jules Verne thì tiên phong đưa ra khái niệm về tàu ngầm chiến đấu.   Những người sử dụng đầu tiên sẽ có lợi thế, tuy nhiên lợi thế này nhanh chóng bị bỏ qua. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, việc phát minh ra xe tăng và khai thác nó trong trận chiến của Anh chỉ 20 năm đã không còn là lợi thế của quốc gia này khi Đức tuyên bố họ đã sử dụng vũ khí mới hiệu quả ra sao với các chiến thuật Blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng).   Sự xuất hiện của xe tăng, máy bay và tầu ngầm quan trọng vì nó đã đặt ra những vấn đề về chính trị, đạo đức và pháp lý. Ví dụ, máy bay không chỉ giúp tấn công quân đội ở khoảng cách xa mà còn làm tăng lượng bom thả trên không không chỉ vào các vị trí quân sự mà còn vào thường dân.   Chúng ta đang chứng kiến những điều tương tự với robot chiến đấu. Khoảng cách giữa người lính và nơi xảy ra chiến trận có thể làm cho cuộc diễn dễ dàng nổ ra và có thể thay đổi cách chúng ta nhìn nhận cuộc chiến. Những người điều khiển dụng cụ điều khiển từ xa có vẻ như đang chơi games, tuy nhiên họ phải trải qua gánh nặng tâm lý: cuộc sống của nhiều con người phụ thuộc vào việc điều khiển chính xác của họ.              Máy bay không người lái được quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong các cuộc chiến tại Trung Đông những năm gần đây.             Cùng với sự thông minh của robot, vai trò của con người trong trận chiến trở nên mờ nhạt. Nhiều người quan sát cho rằng xu hướng này sẽ làm giảm những nhầm lẫn trong chiến đấu cũng đảm bảo rằng các luật lệ chiến đấu sẽ được tuân theo vì chúng đều được máy tính lập trình. Tuy nhiên, họ đã quên đi sự phức tạp của môi trường chiến đấu. Một cố máy không người điều khiển có thể lôi cổ một người cầm khẩu AK-47 từ khoảng cách 1km nhưng để kết luận đó là người lính, một du kích hay chỉ đơn giản là một người bán hàng thì không hề đơn giản vì nó khó khăn ngay cả với người lính “truyền thống”. Những nhầm lẫn trên không cũng không được giảm đi. Ví dụ, công nghệ C-RAM đã nhầm lẫn xem một chiếc trực thăng của không quân Mỹ là máy bay của kẻ thù do một lỗi về lập trình.  Thời kỳ mới  Các định nghĩa và sự hiểu biết của chúng ta về chiến tranh đang có sự thay đổi. Loài người đã từng ở trong hoàn cảnh tương tự. Chúng ta thường phải nỗ lực để hiểu và sử dụng những công nghệ mới, xem những cái đã từng bị coi là kỳ lạ, không chấp nhận được là bình thường. Ví dụ rõ nhất là vào năm 1400, một quý ông Pháp đã cho rằng súng là công cụ của kẻ giết người mà người lính trọng danh dự không thèm sử dụng. Chỉ có những kẻ hèn nhát mới không dám nhìn vào mặt đối thủ mà họ hạ sát từ xa với những viên đạn đáng thương.   Chúng ta đã tiến bộ lên rất nhiều, song câu chuyện ngày nay với robot về bản chất cũng không khác gì. Làm chủ công nghệ trở nên dễ dàng hơn sơ với việc giải quyết các vấn đề về chính sách nảy sinh từ khả năng phi thường của những cỗ máy sẽ làm thay đổi thế giới xung quanh chúng. Chúng ta tạo ra những công nghệ tiên tiến đẩy lùi biên giới của khoa học  nhưng đồng thời cũng làm dấy lên những quan ngại rằng chúng ta có thể sẽ phải hối tiếc như những người chế tạo ta bom nguyên tử trước đây. Tuy nhiên cũng như những người phát minh những năm 1940, những người thiết kế robot vẫn tiếp tục công việc của họ vì điều này hữu dụng cho quân đội và mang lại lợi ích cũng chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học. Như Eisteins đã từng nói, “nếu chúng ta có thể biết điều chúng ta đang làm thì đó không gọi là nghiên cứu, chẳng phải thế sao”?  Vấn đề là những quy ước của khoa học giả tưởng phải được bàn luận nghiêm túc không chỉ tại Bộ Quốc phòng. Vì điều này không chỉ quan trọng với những nhóm nghiên cứu robot trong phòng thí nghiệm, công ty robot, mà còn liên quan tới tất cả mọi người.   Loài người có 5000 năm độc chiếm trong các trận chiến. Giờ đây, vị trí độc tôn này đã chấm dứt.   Ngọc Tú lược dịch (Scientific American, 7/2010)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến sản xuất chip thế hệ mới      Không muốn để Trung Quốc thành siêu cường về chip, Mỹ quyết định lôi kéo châu Âu về phe mình. Trung tâm của cuộc xung đột là một tập đoàn của châu Âu – nơi có công nghệ quan trọng đến mức Hoa Kỳ yêu cầu cần có một lệnh cấm nghiêm ngặt.      Cả thế giới đang săn đón cỗ máy của nhà sản xuất châu Âu ASML  Theo kế hoạch nhà máy có thể ản xuất hơn 60.000 con chip tối tân mỗi năm. Loại chip này dành cho máy tính siêu nhanh và ứng dụng cho trí tuệ nhân tạo. Trung Quốc rất nỗ lực nghiên cứu loại công nghệ hiện đại này nhưng chưa thành công. Cho đến nay Trung Quốc chỉ sản xuất được các loại chip thông thường dùng cho ô tô hoặc máy giặt. Chất bán dẫn cho phép triển khai các công nghệ của tương lai. Tuy nhiên Mỹ quyết ngăn chặn không để Trung Quốc nắm được lĩnh vực này. Chính phủ Hoa Kỳ lo ngại Trung Quốc có thể sử dụng các thành phần nhỏ bé này để chế tạo vũ khí mới hoặc mở rộng bộ máy giám sát khổng lồ của mình. Kể từ năm 2019, Mỹ cấm xuất khẩu các công nghệ tối tân này cho Trung Quốc.  Hãng ASML của Hà Lan là doanh nghiệp lớn duy nhất của châu Âu có thể chế tạo loại chịp cực kỳ hiện đại này. Hãng này cũng cấm xuất khẩu sản phẩm của họ cho Trung Quốc. Tuy nhiên các nhà sản xuất chip Trung Quốc đã tìm ra cách tận dụng tốt hơn các máy cũ của ASML, vốn đạt chuẩn cho đến năm 2019. Nhà sản xuất SMIC ở Thượng Hải vận hành các hệ thống này vượt qua giới hạn mà người Hà Lan đạt được, sản xuất chất bán dẫn có kích thước cấu trúc 7 nanomet. Đây là một sự kỳ diệu. Các thiết bị ASML vốn dĩ không thể đạt được khả năng này.  Quy mô cấu trúc là đơn vị đo lường có ý nghĩa quyết định của ngành này. Càng nhỏ thì chip càng mạnh. Các chất bán dẫn hiện đại nhất dày năm nanomet. Hiện tại các nước đã lên kế hoạch vươn tới mốc 3 nanomet.  Dù chỉ đạt bảy nanomet, nhưng con số này cũng giúp Trung Quốc rất nhiều. Đó là lý do chính phủ Mỹ hiện nay muốn ngăn chặn việc xuất khẩu các máy ASML đời cũ hơn cho TQ. Châu Âu đang bị biến thành trung tâm của cuộc chiến chip toàn cầu.  Nhà Trắng đang kêu gọi Hà Lan cấm tập đoàn ASML bán máy móc thiết bị cũ. Đây sẽ là một đòn giáng mạnh vào Trung Quốc. Bởi vì Bắc Kinh không thể đơn giản có được các hệ thống cần thiết từ một quốc gia khác. 90 phần trăm tất cả các thiết bị để sản xuất chip đến từ Hoa Kỳ, từ Nhật Bản và từ ASML ở Veldhoven.  Chính phủ Mỹ – cụ thể là nhà đàm phán của Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo – đang gây áp lực lên các quan chức EU, chính phủ Hà Lan và các nhà quản lý của ASML. Có vẻ như Mỹ muốn lôi kéo các nước châu Âu về phía mình trong cuộc chiến chống lại đối thủ kinh tế lớn là Trung Quốc.  Trong những tuần tới, chính phủ Hà Lan sẽ quyết định có chịu khuất phục trước áp lực của Mỹ và cấm xuất khẩu các máy ASML cũ hay không. Các chính phủ mỗi nước ở châu Âu chịu trách nhiệm kiểm soát xuất khẩu, không giống như chính sách thương mại do EU quyết định.  Bộ trưởng Thương mại Hà Lan Liesje Schreinemacher cam kết ủng hộ Mỹ, nhưng cũng cho biết sẽ “không sao chép từng biện pháp của Mỹ”.  Cái tên ASML không quá quen thuộc với công chúng, nhưng tập đoàn này là trung tâm của các vấn đề kinh tế lớn của thời đại chúng ta. Đây là tập đoàn duy nhất trên thế giới có thể cung cấp máy móc để sản xuất chip thế hệ mới nhất.  Kích thước cấu trúc bảy, năm hoặc thậm chí ba nanomet – cho đến nay chỉ có thể thực hiện được với các hệ thống từ ASML.  Mỹ và Trung Quốc đang tranh giành quyền lực đối với các con chip, trong khi cho đến nay châu Âu vẫn chỉ đang đứng ngoài theo dõi. EU chỉ chiếm mười phần trăm sản lượng bán dẫn đang lưu thông trên toàn thế giới. Hầu hết chúng được dùng trong công nghiệp chế tại ô tô và các loại máy móc thiết bị trong các nhà máy, nhưng không có khả năng sản xuất chip cao cấp.  Xét cho cùng, ASML và các nhà sản xuất theo hợp đồng của Đức như Zeiss và Trumpf là những nhà cung cấp quan trọng nhất cho ngành công nghiệp chip tại châu Âu. Nay châu Âu cũng muốn đóng một vai trò lớn hơn trong việc sản xuất chip trong tương lai.  Gần một năm trước, Ủy ban EU đã công bố một kế hoạch lớn cho ngành công nghiệp bán dẫn của lục địa này, cái gọi là Đạo luật Chips. Benjamin Cedric Larsen, một chuyên gia về trí tuệ nhân tạo tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở San Francisco, cho biết: “Đây là phản ứng đối với các khoản trợ cấp của Mỹ và Trung Quốc. “Vấn đề là phải đạt được chủ quyền kỹ thuật số.” Theo Larsen, dự án của EU cho thấy nghiên cứu công nghệ cao toàn cầu sẽ ngày càng bị chính trị hóa trong tương lai. EU hy vọng sẽ tăng gấp đôi thị phần thế giới của mình lên 20%.  Đạo luật Chips bảo đảm cung cấp hỗ trợ tài chính cho dự án, khoảng hơn 43 tỷ euro. Để so sánh: Trung Quốc cung cấp cho ngành này số tiền tương đương khoảng 150 tỷ euro trong 10 năm, Mỹ khoảng 52 tỷ trong 5 năm.  Đạo luật Chips là một trong những ý tưởng táo bạo nhất trong lịch sử chính sách công nghiệp châu Âu. Trong quá khứ, EU dựa nhiều vào thị trường tự do hơn là sự can thiệp của nhà nước. Kế hoạch của Ủy ban bây giờ là một bước ngoặt.  Châu Âu muốn cạnh tranh với Mỹ và Trung Quốc để trở thành một siêu cường về chip; để trở thành một khu vực không còn phải lo thiếu hụt chip và không phụ thuộc hoàn toàn vào ngành công nghiệp bán dẫn ở Viễn Đông.  Châu Âu đã nhận ra sự cần thiết phải hành động một cách khẩn trương. Bởi vì riêng lệnh cấm xuất khẩu sẽ không đạt được gì. Các kỹ sư chip của Trung Quốc đang bắt kịp nhanh chóng sự phát triển hiện nay.  Huawei đã đăng ký 22 bằng sáng chế cho máy sản xuất chất bán dẫn trong tháng 11. Theo các chuyên gia máy móc, thiết bị của tập đoàn này chưa đạt hiệu quả như ASML, Hà Lan sẽ còn dẫn đầu trong ngành công nghệ này từ 7 đến 10 năm nữa. Nhưng điều đó cũng có thể sẽ sớm thay đổi.   Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/plus243114593/Chips-Europas-Schatz-den-China-nicht-haben-darf.html    Author                .        
__label__tiasang Cuộc chiến thật giả trong chai mật ong      Không phải lúc nào mật ong cũng do những con ong cần mẫn làm nên ở trong đõ ong.      Người Đức thích dùng mật ong, tiêu thụ đầu người một năm lên đến 1 kg, cao hơn nhiều so với các nước châu Âu láng giềng. Sản lượng mật ong ở Đức chỉ đáp ứng được một phần ba nhu cầu trong nước, phần lớn mật ong bán trên thị trường Đức là hàng nhập khẩu.  Mật ong được pha trộn trong nhà máy rồi tuồn ra thị trường: trên thế giới mật ong là một trong nhưng mặt hàng thực phẩm bị làm giả nhiều nhất. Sản phẩm nhân tạo rẻ tiền, ít giá trị và rất khó phát hiện. Theo một điều tra của Hoa Kỳ thì mật ong xếp hàng sau sữa và dầu o liu về tình trạng làm giả; trong hồ sơ của Nghị viện EU năm 2013 mật ong xếp hàng thứ sáu về thực phẩm bị làm giả phổ biến nhất.  Mật ong kém chất lượng từ châu Á  Ước đoán 40% mật ong nhập khẩu là hàng giả. Mật ong rởm, kém chất lượng được bán trên thị trường và người tiêu dùng vô tình tưởng là mật ong thiên nhiên. Những thành phần quý giá như chất thơm, phấn hoa và những chất kháng khuẩn không có trong sản phẩm  “nhái”.  Ngành kinh doanh “vàng ngọt” đã trở thành  “ngành kinh doanh bẩn thỉu”. Đây là đánh giá của Walter Haefeker, cựu chủ tịch Hội Nuôi ong nhà nghề của Đức. Ông và các đồng nghiệp đấu tranh chống nạn làm mật ong giả đội danh mật ong thiên nhiên lấy từ trong đõ ong ra. Các phương pháp làm mật ong giả ngày càng tinh vi hơn. Ngành nuôi ong mật ở Đức trang bị cho các phòng thí nghiệm của mình thiết bị phân tích, đo đạc cực kỳ chính xác để chống nạn làm hàng giả. Viện nghiên cứu ong mật ở Celle, một cơ quan nhà nước, khẳng định mật ong bán trong các siêu thị ở Đức bảo đảm về chất lượng.  Phòng thí nghiệm cũng không phát hiện được  Tuy nhiên nhiều chuyên gia ngành ong không nghĩ như vậy. Theo họ, bọn làm hàng giả hơn các phòng thí nghiệm một cái đầu. “Bạn không thể hoặc khó có thể tìm thấy mật ong giả trên thị trường bán lẻ ở Đức”, Walter Haefeker. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là hàng hóa bầy trên kệ là hàng thật mà là hàng nhái. Haefeker nói không dấu diếm: “Những thứ bày bán trên các quầy hàng ở ta là hàng giả điêu luyện, với những phân tích thông thường trong phòng thí nghiệm không thể phát hiện.“  Người kinh doanh biết về điều này. Loại hàng giả làm không tốt sẽ được dùng ở các lò làm kẹo bánh, tức là những nơi, „các cơ quan thanh, kiểm tra ít ngó ngàng tới“.  Vấn đề hàng giả này không chỉ liên quan đến an toàn thực phẩm và bảo vệ người tiêu dùng mà còn liên quan cả nền sản xuất thực phẩm hiện đại. Trong sản xuất mật ong có hai triết lý đối lập nhau: nghề nuôi ong mật truyền thống, vừa tốn kém lại mất nhiều thời gian – và phương pháp có hiệu quả, và rẻ tiền của khu vực Viễn Đông.  “Tại Châu Á mật ong tổng hợp hình thành trong  nhà máy với thiết bị làm bằng kim loại quý chứ không phải trong các đõ nuôi ong”, Haefeker nói. Ông  có quan hệ với chủ các nhà máy mật ong ở Trung Quốc và ông đã nhiều lần tới thăm và chụp ảnh  các nhà máy của họ. Sản xuất tại đây khác một cách cơ bản và điều này thể hiện qua các con số thống kê: Số lượng đàn ong ở Trung Quốc thấp hơn rất nhiều so với sản lượng mật ong hàng năm của nước này. “Điều đó có nghĩa là đã có sự pha trộn rất lớn để có được sản lượng như hiện nay”, Haefeker nói.    Ông đã tới các nhà máy mật ong trong các chuyến đi thăm Trung Quốc, ở đó họ không gọi là “trại nuôi ong” mà là nhà máy mật ong. Đõ ong được xếp lên ô tô tải và di chuyển đến những nơi có nhiều nguồn thức ăn nhờ vậy chỉ trong một thời gian ngắn thu được rất nhiều mật ong và mật hoa. Khi các cầu ong đã mọng lên sau một vài ngày người ta lấy dung dịch đậm đặc, dung dịch này có hàm lượng nước cao do đó dung dịch thu được còn lâu mới là mật ong mà là sương ong (Honigtau); thường phải trải qua một quá trình khoảng một tuần thì từ dung dịch như nước đường này mới chuyển hóa thành mật ong. Trong khoảng thời gian này ong tiết ra enzyme, liên tục vẫy cánh quạt không khí làm cho hàm lượng nước trong các cầu ong giảm từ 30% xuống chỉ còn 20%.  Enzyme lấy từ danh mục các loại hóa chất  Quá trình chín tự nhiên  tương đối lâu và phức tạp này ở Trung Quốc người ta thực hiện trong nhà máy. Máy sấy loại bỏ bớt nước trong mật hoa và sương ong. “Khi mật ong chưa ngấu và còn nhiều nước thì dễ nhanh lên men – sản sinh ra men”, Haefeker giải thích. Để chặn đứng quá trình chuyển hóa  này phải hủy men. Sau đó các ông chủ nhà máy mật ong cho enzyme nhân tạo glucoseoxidase và thêm một số chất phụ gia khác để hoàn thiện mật ong tổng hợp.  Để tăng thêm lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu mua hàng giá rẻ của người tiêu dùng một số doanh nghiệp đổ thêm nước đường cô đặc vào mật ong tổng hợp. “Việc pha trộn mật ong với nước đường cô đặc vẫn là một vấn đề lớn nhất”, một chuyên gia về mật ong người Đức, xin dấu tên nói. “Người ta cô đặc một lượng lớn siro nước đường  để pha trộn và bảo đảm phòng thí nghiệm có giám sát cũng bó tay”. Chỉ khi nào pha trộn thêm từ 20 đến 30% siro thì mới hạ giá bán đáng kể để đưa ra thị trường.  Theo Haefeker, các nhà sản xuất mật ong ở châu Á lại hay chắt lọc phấn hoa. Để làm cho loại “nước xốt”  này giống như thật người ta đã trộn nó với mật ong chất lượng cao, chứa nhiều phấn hoa, nhập khẩu trên thị trường thế giới” ông kể.  “Chúng ta cũng thường nghe từ các phòng thí nghiệm: tỷ lệ phấn hoa quá thấp”. Thực tế cho thấy: trong một đợt kiểm tra năm  2019, Quỹ Warentest đã tiến hành thử nghiệm, sáu trong số 19 loại mật ong bị đánh trượt – tỷ lệ phấn hoa đặc trưng ở các mẫu này quá thấp. Ngay cả các loại mẫu khác cũng thiếu sức thuyết  phục.  Những sản phẩm này được khai báo xuất sứ từ các nước khác. Nói chung, có hiện tượng che dấu nguồn gốc xuất xứ là Trung Quốc hoặc các nước ở Trung – hay Nam Mỹ.  Phần lớn các sản phẩm này không có hương vị đặc trưng của chủng loại mà nó mang tên. Nhiều mẫu chứa hydroxymethylfurfural, một chất hình thành khi đường phân hủy ở  nhiệt độ cao, điều đó cho thấy có sự cố tình gia tăng nhiệt để giảm hàm lượng nước trong mật ong  chưa đạt độ chín hoặc để diệt các loại nấm, men.  Hàng giả nhiều khi không phát hiện được    Một phần đáng kể mật ong Trung Quốc được xuất sang EU và từ đây chuyển tiếp chủ yếu sang Anh Quốc. Hiệp hội Mật ong khẳng định, những loại mật ong kiểu này không thể lọt được vào thị trường Đức. Nếu tin vào lời ông Haefeker thì sự việc phức tạp hơn nhiều. Nhiều loại mật ong pha trộn được đưa vào thị trường  – các đại lý buôn bán mật ong cũng như các xưởng đóng chai biết rõ về các tiêu chuẩn do các phòng thí nghiệm đề ra. “Khi sản phẩm có trộn mật ong của Trung Quốc thì rất khó phát hiện”, ông nói.  Theo luật-EU, mật ong tổng hợp là hàng giả còn theo quy định về mật ong của Đức thì cấm mọi hành vi can thiệp vào mật ong sau khi thu hoạch, nghĩa là cấm không được bổ sung hoặc lấy ra  bất cứ chất gì. Điều này có nghĩa là mật ong nhân tạo của châu Á không được bán trên thị trường Đức.  Vấn đề này ở châu Âu nghiêm trọng như thế nào thể hiện qua việc phân tích 2000 mẫu mật ong và kết quả  đã  được công bố năm 2018. Trên một nửa số mẫu bị đánh trượt  do khiếm khuyết về hương vị, về thành phần phấn hoa, thành phần chất đường. Nhưng trong số 893 mẫu sản phẩm còn lại có vẻ như hoàn hảo, khi phân tích sâu hơn thì có 14 mẫu bị pha trộn sirô. Cuộc khảo nghiệm này cho thấy các sản phẩm mật ong thường không đúng với chất lượng như đã được khai báo.  Trong những năm gần đây các phòng phân tích thương mại và tư nhân ở Đức đã tăng cường nhiều loại thiết bị phục vụ khâu kiểm tra chất lượng. Với cái gọi là đo cộng hưởng từ hạt nhân, người ta có thể chỉ sau ít phút có được một dạng mã vạch cho từng loại mật ong. Từ mã vạch này có thể nhận được thông tin về hàm lượng nước, thành phần các chất đường và lượng hydroxymethylfurfural.Phòng thí nghiệm Intertek ở Bremen  mỗi năm tiến hành 200.000 thử nghiệm đối với mật ong phục vụ thị trường quốc tế. Có thể nói đây là một sự đầu tư đáng giá.  Cuộc chạy đua giữa mánh lới và tiêu chuẩn phòng thí nghiệm  “Rất tiếc lại xẩy ra một cuộc chạy đua giữa bọn lừa đảo và phòng thí nghiệm”, theo Frank Filodda thuộc Hiệp hội Mật ong nói. “Việc phát hiện được các mánh lới của chúng ngày càng khó hơn, chúng ngày càng tinh vi hơn”. Mỗi lô hàng mà ngành thương mại bán lẻ nhập về đều được đưa kiểm tra tại một phòng thí nghiệm tư nhân, theo Filodda; những người khác  cũng thừa nhận mạng lưới kiểm tra chặt chẽ này. Tuy nhiên Haefeker bổ sung: “Mọi sự giống như việc cấm dùng doping trong thể thao. Bao giờ cũng chỉ bọn cá nhỏ bị tóm”.  Khi một lô hàng lớn được làm giả thì kẻ gian kiếm được rất nhiều tiền, đến mức chúng sẽ làm mọi cách để không phòng thí nghiệm nào phát hiện được. Ông này phàn nàn: thường người ta đưa mẫu mật ong tới phòng thí nghiệm không phải để chứng minh những mẫu này là hoàn hảo – mà là để kiểm tra xem liệu làm giả như vậy còn có thể bị phát hiện nữa không.    Với phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân khó đạt được kết quả đáng tin cậy khi lượng đường siro dưới  30%. Étienne Bruneau giải thích điều này với kinh nghiệm của một giáo sư về sinh thái học tại Đại học Thiên chúa giáo Loewen ở Bỉ và hoạt động cho Hiệp hội Quốc tế những người nuôi ong Apimondia. Mới đây một nhà máy ở Ukraina đã bị lộ vì hàng năm sản xuất tới 15.000 tấn siro chuyên để pha trộn mật ong. “Chúng tôi không biết chắc chắn siro được trộn vào mật ong ngay ở châu Á hay sau này mới trộn ở châu Âu “, Bruneau nói. Chỉ biết loại siro này dùng để pha trộn mật ong – thậm chí họ còn quảng cáo với loại siro này phương pháp NMR cũng đừng hòng phát hiện, như một chuyên gia người Đức dấu tên nhấn mạnh.  Do đó các phòng thí nghiệm lại phải chạy đua tăng cường trang thiết bị: vài ba năm trở lại đây các phòng thí nghiệp áp dụng một phương pháp mới, khối phổ có độ phân giải cao (Massenspektrometrie). Với công nghệ này có thể phát hiện các chất có khối lượng vài ba nanogram trong một kilogram mật ong. “Hễ chúng tôi phát triển một phương pháp giám sát  mới đối với mật ong và đưa vào thử nghiệm sơ bộ  thì thường hay phát hiện khoảng 40% là hàng giả”, Bruneau nói. “Sau sáu tháng, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 5 đến 6%, lúc này thì ai cũng rõ phương pháp mới này”. Nói chung ngành làm hàng giả rất nhạy bén và chúng luôn tìm ra các mánh lới ngày càng khôn ngoan hơn để đối phó.  Do đó không một chuyên gia nào dám khẳng định đến một lúc nào đó mật ong tổng hợp sẽ biến mất khỏi thị trường. “Có lẽ đến một lúc nào đó sẽ có một cái tên mới thay thế cái tên cũ này”, Bruneau nói. Người tiêu dùng sẽ quyết định loại mật ong nào sẽ tồn tại chủ  yếu trên các quầy hàng – qua đó sẽ rõ mật ong thiên nhiên có giá trị thực như thế nào. “Năng lượng tội phạm không ở chỗ nhà sản xuất mà ở người thu mua sản phẩm, họ là những kẻ luôn muốn dìm giá xuống”, ông  Haefeker kết luận. “Chỉ có loại mật ong thu mua giá rẻ thì mới  bán ra được với giá rẻ”.  Ai muốn thật chắc ăn, chắc chắn mua được mật ong thiên nhiên với đầy đủ những thành phần quý báu của nó thì tốt nhất hãy tìm mua ở nơi người nuôi ong, bán mật. Họ không có đủ kiến thức và trình độ cũng như không có đủ thiết bị kỹ thuật để pha trộn làm mật ong giả và cũng không bõ công làm việc này với dăm ba lít sản phẩm mà họ thu hoạch được. “Bạn hãy đến tham quan một gia đình nuôi ong ở địa phương, xem tận mắt những đõ ong của họ”, ông Haefeker khuyên. Bằng cách đó chắc chắn bạn mua được mật ong chính cống, thậm chí chuyến đi đó còn là một kỷ niệm đáng nhớ  đối với bạn nữa.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus215895468/Die-Honig-Luege-Bienenstock-oder-Stahltank.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc về đất hiếm      Chính phủ của Tổng thống Mỹ Obama hôm 13/3  đã leo thang cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, với những ngôn từ gay  gắt nhằm thúc đẩy Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) buộc Trung Quốc  phải nới lỏng nguồn cung cấp đất hiếm rất cần thiết cho sản xuất công  nghiệp công nghệ cao.     Hiện nay Trung Quốc sản xuất hơn 95% sản lượng đất hiếm của thế giới.   Tuyên bố của Tổng thống Barack Obama thể hiện lập trường cứng rắn của chính quyền đương nhiệm đối với Trung Quốc, trong bối cảnh cuộc bầu cử đang tới gần. Thái độ này cũng nhằm gây sức ép buộc Trung Quốc phải phản hồi với WTO về vấn đề đất hiếm, một vấn đề rất quan trọng đối với nhiều nhà sản xuất công nghiệp.  Như vậy, Mỹ, theo bước Liên minh Châu Âu và Nhật Bản, đã đề nghị WTO chủ trì các cuộc đối thoại với Trung Quốc về chính sách hạn chế xuất khẩu đất hiếm.  Trung Quốc chi phối các hoạt động khai thác mỏ đất hiếm cũng như chế biến các quặng ô xít thành những kim loại rất quan trọng trong nhiều thiết bị, từ điện thoại thông minh tới xe hơi hybrid, và các thiết bị quân sự.   Những nỗ lực phản ứng của Mỹ đã được kỳ vọng từ trước bởi giới công nghiệp sau nhiều năm nỗ lực nhưng bất thành trong việc gây sức ép trực tiếp tới Trung Quốc. Mỹ sẽ đề nghị WTO yêu cầu Trung Quốc ngừng kiểm soát hạn chế sản xuất đất hiếm. Vấn đề này đã trở nên chính muồi để đưa ra WTO, trừ phi các cuộc đàm phán đạt được một tiến triển bất ngờ nào đó.    Các quan chức Trung Quốc không bình luận gì về vấn đề này. Trong quá khứ, Bắc Kinh thường viện dẫn những lý do mang tính chất bảo tồn môi trường để giải thích cho chính sách kiểm soát chặt xuất khẩu đất hiếm.  Cứng rắn với Trung Quốc là một cách để ông Obama củng cố quan hệ với công đoàn và giới công nhân, những người phản đối đường lối của ông trong một loạt các hiệp định thương mại song phương ký kết năm ngoái. Đây là những cử tri gần đây tỏ ra tương đối lạnh nhạt, trong khi sự ủng hộ của họ lại đóng vai trò sống còn cho mục tiêu tái đắc cử của vị tổng thống đương nhiệm.  Hồi tháng Một, ông Obama bổ nhiệm một nhóm đặc trách đối thoại với Trung Quốc về các hoạt động thương mại và kinh doanh, trong đó giải quyết những lo ngại gia tăng từ các doanh nghiệp Mỹ về nạn ăn cắp bản quyền sở hữu trí tuệ, và những hạn chế trong chính sách của Mỹ đối với các thị trường hàng hóa, dịch vụ quan trọng ở Trung Quốc.  Khi gần đây tiếp Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người được coi là sắp tới sẽ kế nhiệm vị trí lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, ông Obama từng nói Mỹ ủng hộ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, nhưng cảnh báo ông Tập Cận Bình rằng Trung Quốc cần tôn trọng các tiêu chuẩn kinh tế và kinh doanh quốc tế.  Mỹ đã đạt được một số thành công nhất định trong việc gây sức ép lên Trung Quốc thông qua WTO. Nhưng các vụ việc thường mất vài năm để ngã ngũ, trong đó cần thời gian để giải quyết các vụ kháng án. Mỹ và Trung Quốc đã đấu khẩu từ vài năm nay về các chính sách thương mại đối với nhiều loại hàng hóa, từ lốp xe hơi tới gà.   Việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm đã làm gia tăng lo ngại rằng Mỹ đang quá lệ thuộc vào loại vật liệu hiện rất cần cho việc chế tạo các hệ thống vũ khí.   Năm ngoái, Lầu Năm Góc trong một báo cáo lên Quốc hội Mỹ, đã cảnh báo các nhà làm luật rằng quân đội Mỹ đang bị quá lệ thuộc về nguồn nguyên liệu thô, và đề xuất những lựa chọn khác thay thế cho nguồn cung cấp đất hiếm từ Trung Quốc.  Năm 2009, Mỹ và Liên minh Châu Âu từng kiện Trung Quốc ra WTO một vụ liên quan tới các nguyên liệu thô khác, như ma-giê và kẽm, cho rằng Trung Quốc hạn chế xuất khẩu nhằm đẩy cao giá nhằm phục vụ lợi ích các nhà sản xuất trong nước.   WTO phán quyết Trung Quốc thua kiện vào Tháng Một vừa rồi, một kết quả khiến các nhà làm luật và quan chức thương mại trên khắp thế giới càng muốn thúc đẩy việc kiện Trung Quốc về chính sách hạn chế 17 loại đất hiếm. Trung Quốc trước đây rất cứng rắn trong việc bảo vệ chính sách hạn chế xuất khẩu đất hiếm, nhưng nay cũng đã có vẻ dao động vì quyết định mới đây của WTO. Các nhà hoạch định Trung Quốc cho rằng đã đến lúc cần sẵn sàng đối thoại với các nước thành viên chủ chốt trong WTO. “Chúng tôi sẵn sàng đối thoại với các nước thành viên WTO vào bất kỳ lúc nào theo quy định và quy trình của WTO”, theo lời Li Chenggang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế và hiệp định, trong bài phỏng vấn từ Xinhua ngày 1 tháng 2 vừa qua.  Trong khi quy định của WTO cho phép đặt ra hạn mức xuất khẩu với các tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ môi trường, các luật sư thương mại cho rằng chính sách hạn chế nhập khẩu của Trung Quốc vi phạm tinh thần của những quy định này. Họ chỉ ra rằng một mặt Bắc Kinh cắt giảm xuất khẩu tới các nước khác bằng việc áp dụng các hạn mức, nhưng mặt khác quốc gia này rất chậm trễ trong việc áp dụng các hạn mức phục vụ nhu cầu nội địa của mình.  TS lược dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc đấu giữa các nhà chế tạo ô tô Đức với giới sản xuất pin điện châu Á      Pin là trái tim của ô tô điện và ngành công nghiệp ô tô của Đức lại bị lệ thuộc một cách hết sức nguy hiểm. Giờ đây ngành công nghiệp ô tô của Đức đặt cược vào một công nghệ mới, có điều không ai biết chắc chắn “cái được” của công nghệ này và bao giờ nó xuất hiện.    Vào một ngày tháng 9 tràn trề ánh sáng mặt trời, ông Akira Yoshino trông có vẻ mệt mỏi. Ông vừa vượt chặng đường 9310 km, ông là nhà sáng chế loại ắc quy Lithium-Ion tới từ Tokyo. Ông dự định sẽ có một cuộc nói chuyện với các đại diện ngành công nghiệp ô tô châu Âu tại Düsseldorf. Akira Yoshino có một cảnh báo hết sức rõ ràng: “Nếu trong những thập niên tới châu Âu còn có ý định xuất khẩu ô tô, thì phải ngay lập tức xây dựng các nhà máy sản xuất pin của mình”.  Ắc quy là cốt lõi về công nghệ và kinh tế đối với tất cả các loại ô tô điện, chiếm gần một nửa giá trị gia tăng. Nó quyết định giá bán và lợi nhuận của nhà chế tạo. Để làm ra ắc quy phải có nguyên liệu và bí quyết, những yếu tố này ngày càng khan hiếm trên thị trường thế giới. Cho đến nay sản xuất ắc quy nằm trong tay một số tập đoàn ở châu Á và sự độc quyền này thể hiện sức mạnh trên thương trường: các nhà tiêu thụ cỡ nhỏ – dù hợp đồng vẫn có giá trị – thường không thể mua được các ắc quy này.  Mối quan hệ về sức mạnh này có thể tác động mạnh vào ngành công nghiệp ô tô châu Âu. Nhu cầu của châu Âu đối với ắc quy ô tô điện ngày càng tăng, nhưng thay vì đẩy mạnh tự sản xuất thì ngành công nghiệp ô tô Đức lại xây một “lâu đài trên không trung”: dù là ông chủ VW – Herbert Diess, ông chủ Conti – Elmar Degenhart hay ông trùm BMW – Harald Krüge, mỗi khi đề cập đến nguy cơ với ngành công nghiệp thì các nhà quản lý ngành công nghiệp ôtô Đức đều nói về ắc quy thể rắn.    Ngành công nghiệp ô tô Đức bị lệ thuộc vào pin  Vấn đề ắc quy cần phải giải quyết cấp bách, điều này đi liền với tăng cường khả năng vươn xa của ô tô điện: rút ngắn thời gian nạp điện, giảm giá thành và tăng độ an toàn. Đặc biệt là, giải quyết được vấn đề này có nghĩa là đuổi kịp được về mặt công nghệ khi mà người châu Á đã có sự bứt phá và tiến xa.  Công nghệ ắc quy thể rắn có nhiều hứa hẹn: Bảo vệ một ắc quy thể rắn không bị cháy đơn giản hơn so với việc chống cháy trong bình ắc quy ô tô hiện nay và đảm bảo chất lỏng đó không thẩm lậu ra ngoài. Dùng chất điện phân rắn thay cho chất lỏng còn giúp sử dụng các nguyên liệu mới làm điện cực và nguyên liệu này có khả năng tích điện nhiều hơn. Đó là lý thuyết, bởi lẽ hiệu xuất của chúng chỉ hơn hẳn trong điều kiện thí nghiệm. Không ai biết khi nào loại ắc quy thể rắn này có thể đưa ra thị trường. Vậy thì tại sao những người chế tạo ô tô lại buộc mình lệ thuộc vào loại pin này – và muốn vượt những người châu Á đang đi đầu trong lĩnh vực này?  Các nhà chế tạo châu Á đang đi đầu với khoảng cách khá xa. Loại pin Lithium-Ion-Battery (LIB), mà ông Akira Yoshino, hiện ở tuổi 70 đã phát triển từ năm 1985, và bắt đầu ca khúc khải hoàn từ đầu những năm 90, khi đó lần đầu tiên Sony đã đưa vào sử dụng đối với sản phẩm Walkman. Tuy LIB ngày nay có hiệu xuất cao hơn nhiều, nhưng về nguyên tắc chức năng hoạt động vẫn hoàn toàn như trước: các hạt tích điện của kim loại nhẹ Lithium đi từ cực dương qua dung dịch điện phân vào cực âm và ngược lại. Ưu điểm: trong quá trình đó chúng không liên kết với nhau để tạo ra một cấu trúc tinh thể, mà vẫn duy trì sự di động. Đây là lý do vì sao có thể liên tục nạp điện với LIB.   Khác với ở châu Âu các tập đoàn điện tử châu Á luôn coi pin là một ngành chiến lược trong công nghiệp và luôn đẩy mạnh sự phát triển: Họ dùng các loại pin ngày càng nhỏ hơn trong các thiết bị điện tử mang theo người. Chính vì thế chỉ có ở châu Á mới có bí quyết dùng Lithium-Ion với chất lượng đáng hài lòng đối với các loại xe ô tô hiện đại với giá cả cạnh tranh – không kể nhà máy khổng lồ của Tesla ở Nevada, tuy nhiên ngay cả ở đây Tesla dùng tế bào với cách sản xuất của Panasonic Nhật bản.  Daniel Küpper, chuyên gia Đức về công nghệ pin tại doanh nghiệp tư vấn Boston Consulting Group (BCG) cho rằng: “Trong nhiều năm nữa ắc quy Lithium-Ion sẽ vẫn là công nghệ pin duy nhất có thể tích đủ điện trong không gian hẹp và có thể tái nạp nhiều lần để chạy ô tô, xe buýt”. Trong lĩnh vực này ngành công nghiệp Đức đã chọn một con đường đặc biệt nguy hiểm. “Ai chờ sự đột phá của ắc quy thể rắn, sẽ bỏ lỡ cơ hội sản xuất hàng loạt ô tô điện”, Martin Winter cảnh báo. Chuyên gia này làm việc tại Helmholtz-Institut ở Münster, tại Trung tâm nghiên cứu Jülich và tại Uni Münster về đề tài này và là người đã quan sát thị trường này hàng chục năm nay.  Ngay từ lúc này, trong bối cảnh dự báo về sự bùng nổ sản xuất các loại phương tiện giao thông chạy điện, LIB đã trở nên khan hiếm. Có thể nói hầu như tất cả các nhà chế tạo ô tô đều cho biết năm tới và năm tiếp theo sẽ đưa ra các mẫu ô tô điện mới. Sau một thời gian dài đắn đo, nay các tập đoàn như VW, Daimler, GM, Renault-Nissan, Hyundai/Kia, Ford và BMW tuyên bố từ 2020 sẽ tung ra thị trường hàng trăm nghìn xe chạy pin. “Riêng VW cho hay sẽ có ô tô điện và ô tô hybrid sử dụng cả hai loại nguyên liệu, từ 2025 mỗi năm cần có số lượng pin với tổng công suất là 200 Gigawatt/giờ (GWh)”, theo Winter.  Để so sánh: Tính đến cuối 2017 tổng công suất tế bào pin dành cho ô tô điện là 80 GWh. Riêng năm 2017 là 30 GWh, tức bằng 5 năm trước đó cộng lại. Dự báo trong mười năm tới nhu cầu đối với tế bào pin sẽ lên tới 1000 GWh mỗi năm.  Hiện nay năng lực sản xuất tế bào được mở rộng mạnh mẽ, nhưng điều này hầu như chỉ diễn ra ở châu Á.  Chín nhà sản xuất pin lớn nhất thế giới chiếm 82% sản lượng pin toàn cầu. Đứng đầu thị trường nhiều năm là Panasonic và LG Chem, nay có thêm sự hiện diện của các nhà sản xuất có sức tăng trưởng nhanh của Trung quốc như Lishen, BYD và đặc biệt là CATL. Theo các nhà tiêu thụ pin thì sự độc quyền buôn bán ngày càng thể hiện sức mạnh thị trường, đến mức ngay cả những hợp đồng bán hàng đang còn hiệu lực cũng bị phá vỡ để có thể thực hiện bán đấu giá ở Trung Quốc nhằm đạt được giá bán cao hơn.  Thông thường người bán hàng phải chiều khách mua hàng, nhưng đối với khách hàng mua pin của các tập đoàn thì tình hình ngược lại, người mua thậm chí không đòi kiểm tra chất lượng sản phẩm và cũng không dám có nhiều đối tác cung cấp sản phẩm.  Tuy nhiên thay vì tìm cách để thoát khỏi gọng kìm của nhà cung cấp tế bào pin, giới công nghiệp ô tô Đức tỏ ra chần trừ không quyết đoán. Volkmar Denner, nhà lãnh đạo tập đoàn Bosch cho rằng: “Thật vô ích khi chạy theo cánh châu Á, họ đã vượt quá xa chúng ta về công nghệ pin”. Các quản lý cấp cao của các tập đoàn ô tô khác của Đức và các hãng cung cấp cỡ lớn như Continental cũng có suy nghĩ rất giống nhau. Họ muốn “nhập cuộc ngay tắp lự”, khi ắc quy thể rắn “chín muồi với thị trường”. Theo Degenhart điều này sẽ diễn ra vào năm 2025.  Tuy nhiên các nhà nghiên cứu tỏ ra nghi ngờ điều này. Hơn nữa cái công nghệ đang áp dụng hiện nay cũng sẽ được tiếp tục nâng cấp và cải thiện. Ắc quy thể rắn sẽ phải cạnh tranh với tế bào pin cả về phương diện kỹ thuật cũng như kinh tế. Winter, một nhà nghiên cứu về pin cảnh báo rằng đừng nghĩ đến việc xoá sổ công nghệ hiện nay: “Từ 27 năm nay công nghệ này luôn làm chúng ta ngạc nhiên và luôn thể hiện thế mạnh của nó mà chúng ta không ngờ tới”.  Một số nguyên nhân cho sự dè dặt, lừng khừng của các nhà sản xuất ô tô Đức: chi phí phát triển quá cao, khả năng thu lời chưa rõ ràng, số tiền đầu tư cho các nhà máy lên đến hàng tỷ Euro.   Đối với các tập đoàn như Conti, Bosch hay Daimler, khoản đầu tư này không hề nhỏ và không tập đoàn nào trong số này muốn chờ đợi nhiều năm trời để khấu hao khoản tiền đầu tư. Theo giới am hiểu thời gian thu hồi vốn kéo dài ít nhất sáu đến tám năm. Điều này rất khó đối với các tập đoàn niêm yết trên thị trường chứng khoán vì sẽ không nhận được sự chấp thuận của các cổ đông.  Các nhà sản xuất ô tô có nhiều quan tâm tới các startup nghiên cứu về ắc quy thể rắn: VW, có doanh thu lên đến 230 tỷ Euro, nhà chế tạo ô tô lớn nhất thế giới, đầu tư 100 triệu đôla cho startup Quantum Scape aus San José ở California để nghiên cứu về ắc quy thể rắn. Thông qua sử dụng pin thể rắn, loại xe E-Golf có thể nâng tầm chạy xa từ 300 km hiện nay lên 750 km. Renault-Nissan, đứng đầu thị trường về ô tô điện đầu tư cho loại nguyên liệu Ionic được dùng để chế tạo pin rắn. Thậm chí nhà chế tạo máy hút bụi Dyson cũng tuyên bố ồn ào về việc sẽ tung ra thị trường ô tô điện với ắc quy thể rắn và đến năm 2020 loại xe này sẽ đạt được tầm đi xa đáng kể. Dyson đã mua startup Sakti3 ở Michigan. Dyson đã chi cho chương trình mạo hiểm này 2 tỷ Euro.  Hiện tại trên thế giới có 41 nhà máy cỡ lớn sản xuất tế pin Lithium-Ion đang được xây dựng. Các nhà máy này hầu hết ở châu Á và đều theo công nghệ hiện hành là dùng điện phân lỏng. Điều hoàn toàn không rõ ràng là, liệu các nhà máy này có thể được cải tạo không một khi công nghệ vật thể rắn đi vào hoạt động. Borck nêu câu hỏi “nếu được thì giá cả như thế nào?”. Cho đến nay ông ta chưa nhận được một câu trả lời thoả đáng nào từ nhà chế tạo cũng như nhà nghiên cứu.  Ông Yoshino, nhà sáng chế ắc quy Lithium-Ion, nhấn mạnh: “Độ chênh giữa phòng thí nghiệm và thị trường bán hàng đại trà ít nhất là 8 năm, cũng có khi lên đến mười hay mười hai năm”. Vì thế các nhà khoa học nghiêm túc sẽ không khi nào tán thành với nhận định đại loại như: “Bắt đầu từ năm 2025 chúng ta sẽ có ắc quy thể rắn, loại này tốt hơn pin với chất điện phân lỏng”, Yoshino phê phán.   Khác với các kết quả nghiên cứu của các trường đại học, các nhà chế tạo có xu hướng giữ bí mật về thành quả nghiên cứu của mình: Toyota và Hyundai/Kia, hai nhà chế tạo hàng đầu ở châu Á, hiện không đề cập đến lịch biểu cụ thể, khi nào họ sẽ đưa ắc quy vật thể rắn vào sử dụng. Toyota cho đến nay luôn trì hoãn lịch biểu mà họ đã công bố. Hãng Bosch cũng đặt nhiều hy vọng vào công nghệ này và cách đây hai năm Bosch đã mua startup Seeo, chuyên nghiên cứu về ắc quy thể rắn. Tuy nhiên gần đây Bosch đã chia tay với kế hoạch pin của mình.  “Những điều này chứng tỏ trong các nghiên cứu được giữ kín của mình, các tập đoàn cũng chưa tiến xa hơn những gì diễn ra trong thực tế”, ông Janek phát biểu. Ông này tin chắc rằng bước ngoặt sang phương tiện giao thông điện vẫn dựa vào công nghệ hiện tại – tức ắc quy Lithium-Ion với chất điện phân lỏng do Akira Yoshino từng sáng chế. Ông Winter, một đồng nghiệp của Janek nói: “Lúc này các nhà chế tạo ô tô còn có cơ hội vào cuộc sản xuất pin. Sau năm hoặc sáu năm nữa cánh cửa sổ này cũng sẽ đóng lại, có thể đóng vĩnh viễn”.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/futureboard/elektroauto-batterien-so-kaempfen-deutsche-autobauer-gegen-asiens-uebermacht/23121500.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc đời Rachel Carson: Tiếng nói từ tự nhiên      Rachel Carson, tác giả của quyển sách Mùa xuân im lặng (Silent Spring) – được coi như quyển sách gối đầu giường của nhiều nhà hóa học, là người đầu tiên nhắc đến ảnh hưởng của thuốc trừ sâu DDT, là khởi nguồn của nhiều phong trào bảo vệ môi trường sau này.      Rachel Carson được phỏng vấn tại nhà cho chương trình CBS Report, tháng 4/1963.   Năm 1963, trong chương trình “CBS Report” dài 60 phút, một người phụ nữ trung niên nói năng lưu loát, bình tĩnh nêu ra rằng việc hằng năm phun 900 triệu pounds (408 triệu kg) thuốc diệt côn trùng DDT trên khắp đồng ruộng, bãi cỏ, đường phố ở Mỹ có lẽ không hẳn là tốt, bởi chúng ta không thể lường trước những hậu quả lâu dài của nó, với con người và động vật hoang dã. Người phụ nữ đó là nhà sinh vật biển và bảo tồn tự nhiên Rachel Carson.   Phát ngôn viên Robert White-Stephens của công ty hóa chất American Cyanamid phản đối quan điểm của bà. Trong chiếc áo thí nghiệm trắng và đeo cặp kính dày gọng đen, ông cho rằng Carson sai lầm khi nghĩ rằng phải cẩn trọng khi làm đảo lộn tự nhiên. Các nhà khoa học khôn ngoan hơn nhiều, ông nói. Thực tế, họ biết chắc “con người” đang rất ổn trên con đường “làm chủ” thiên nhiên.  Carson bình tĩnh đưa ra những luận điểm và chứng minh của mình. Lúc đó, bà đã đội tóc giả để che đi mái đầu không còn tóc do trị xạ ung thư vú, căn bệnh sẽ khiến bà lìa trần gian chưa đầy 1 năm sau đó. Tuy vậy, cuối cùng Carson đã giành chiến thắng trong cuộc tranh luận, và phần nào đó, chiến thắng trong một cuộc chiến dai dẳng hơn bảo vệ môi trường. Hơn một nửa thế kỷ sau, nhiều người vẫn nhớ đến bà và những câu chuyện về cuộc đời bà.  Một nhà văn bẩm sinh  Rachel Carson là một cô gái nông thôn, sinh năm 1907, lớn lên trong một trang trại rộng 60 mẫu Anh ở quận Springdale, bang Pennsylvania. Tại đó cô bé Rachel đã dành nhiều giờ lang thang trên những cánh đồng gọi tên từng loài cây hoa và con vật như mẹ cô đã dạy. Cuộc sống đó không khác mấy cảnh thôn quê miêu tả trong cuốn sách yêu thích của cô Gió qua rặng liễu hay các tác phẩm của Beatrix Potter. Nhưng cha cô không phải là một người nông dân thành công. Để đủ tiền trang trải, ông phải bán dần từng tấc đất cho những nhà xây dựng. Thế là đô thị bắt đầu len lỏi vào cuộc sống của cô bé Rachel, đường phố và cửa hàng ngày càng trở nên gần nhau hơn. Sự thay đổi sinh thái này sẽ mở ra cuộc tàn phá nghiêm trọng do thuốc trừ sâu mà về sau Carson kể tường tận trong cuốn sách Mùa xuân im lặng.  Từ năm 10 tuổi, cô bé Rachel đã là cây bút có tác phẩm được xuất bản trên tạp chí St. Nicholas, một ấn phẩm truyện kèm tranh minh họa dành cho trẻ em từng in các tác phẩm thời thơ ấu của các nhà văn nổi tiếng như F. Scott Fitzgerald, William Faulkner hay E.E. Cummings. Cô thường viết về những người lính dũng cảm trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và nhiều câu chuyện trong đó đoạt huy hiệu bạc, vàng của tạp chí St. Nicholas.   Thời trẻ, Carson đọc sách và viết lách thường xuyên. Cô sáng tác nhiều đoạn văn thơ ngắn và tiểu luận. Sau này Carson kể lại rằng cô luôn mặc định mình sẽ trở thành nhà văn. Mặc dù không thể giải thích tại sao nhưng Carson cho rằng đó là một thôi thúc bản năng không tránh khỏi. Không có gì đáng ngạc nhiên khi cô theo học chuyên ngành ngôn ngữ Anh ở Cao đẳng nữ Pennsylvania (nay là Đại học Chatham).    Rachel Carson (phải) cùng Dorothy và Stanley Freeman tại đảo Southport  Tuy vậy, trong thời gian ở trường, Carson đã tham gia một lớp sinh học và trở nên say mê bởi giáo sư Mary Scott Skinker. Ảnh hưởng của Skinker mạnh đến nỗi Carson quyết định chuyển hẳn sang ngành sinh học biển và tham gia một khóa thực tập hè để cùng làm việc với bà tại Phòng thí nghiệm Hàng hải Mỹ tại Woods Hole, Bang Massachusetts. Đó là cuộc gặp gỡ đầu tiên và vô cùng quan trọng của cô với đại dương. Sau này, mặc dù Carson nổi tiếng nhất với tác phẩm Mùa xuân im lặng về thảm họa thuốc trừ sâu, nhưng đại dương mới chính là chủ đề xuyên suốt và đam mê suốt đời của cô.  Cuối cùng thì không phải Carson đã rời bỏ tiếng Anh cho sinh học, mà đã hợp nhất cả hai niềm đam mê tuổi trẻ đó lại thành một nhà văn khoa học. Cô cũng là một trong những cây bút hiếm hoi viết về khoa học cho những người bình thường nhất cũng có thể hiểu và gắn kết được.   Phá vỡ “trần thủy tinh”  Sau khi nhận bằng cử nhân, cô đăng ký học tại Đại học Johns Hopkins vào năm 1929 để hoàn thành bằng thạc sĩ về động vật học. Năm 1932, cô đã bắt đầu chương trình tiến sĩ về nghiên cứu sinh học biển, nhưng cuộc Đại khủng hoảng đã thay đổi mọi thứ. Khi đang học tiến sĩ, gia đình Carson chuyển đến sống cùng cô. Vừa làm trợ lý phòng thí nghiệm vừa làm giáo viên, Carson trở thành trụ cột trong nhà và có trách nhiệm trợ cấp không chỉ cho cha mẹ mà còn cả một chị gái và hai người cháu gái.  Dưới áp lực tài chính nặng nề, Carson đã từ bỏ việc học tiến sĩ để kiếm một công việc hỗ trợ gia đình. Năm 1935, cha cô qua đời và hai năm sau, chị gái cô cũng mất, khiến trách nhiệm chu cấp tài chính cho mẹ và các cháu gái rơi thẳng xuống vai Carson. Từ đó, con đường học thuật của cô trở nên bất khả thi.  Đến cuối đời, Carson cũng nhận nuôi đứa cháu trai 5 tuổi Roger Christie và dành nhiều thời gian dạy dỗ cậu bé. Những cuộc dạo chơi trong rừng, ngoài bờ biển, khám phá thế giới tự nhiên bình dị mà tươi đẹp cùng đứa cháu trai đã được Carson thuật lại trong cuốn sách Kỳ thú (The Sense of Wonder, 1965).   Mặc dù bị buộc phải từ bỏ việc học sau đại học để hỗ trợ gia đình, Carson vẫn quyết định thử việc trong khối công lập. Đó là năm 1935 và Tổng thống Franklin Roosevelt đã ra quyết định tăng số lượng việc làm trong chính phủ để giúp đất nước thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng. Carson ghi điểm xuất sắc trong kỳ thi công chức. Do có nền tảng sinh học biển, cô sớm được nhận vào làm tại Ngư cục Mỹ (sau này là Cơ quan Ngư sản và Động vật Hoang dã Mỹ) với vị trí viết kịch bản radio cho các chủ đề khoa học. Carson đã trở thành người phụ nữ thứ hai từng làm việc ở đây. Song song với đó, cô cũng viết các bài tiêu điểm về lịch sử tự nhiên cho tờ báo Baltimore Sun.    Một bức ảnh chụp vào thập niên 1950 cho thấy DDT được sử dụng rất đại trà bằng cách phun để diệt muỗi và những côn trùng có hại. Những chất như DDT, PCBs và Dioxin (Chất độc màu da cam) đều có nhiều tính chất hóa học giống nhau.   Năm 1936, cô được giao làm nhà sinh vật học thủy sinh cấp dưới và năm 1943, thăng chức thành nhà sinh vật học thủy sinh. Trong suốt 15 năm làm việc tại Ngư cục, Carson hoạt động như một nhà nghiên cứu, biên tập viên và trở thành Tổng biên tập cho tất cả các ấn phẩm của cơ quan. Trong Thế chiến thứ II, Carson cũng là một thành viên trong nhóm nghiên cứu về bản chất âm thanh và địa hình dưới nước giúp Hải quân Mỹ phát triển chương trình tàu ngầm. Cô đồng thời là tác giả của nhiều tờ hướng dẫn dành cho các bà nội trợ về cách nấu cá tốt nhất cho bữa ăn trong điều kiện khẩu phần thịt ít ỏi thời chiến. Sự nghiệp của Carson là minh chứng cho việc phá vỡ những rào cản thăng tiến vô hình mà phụ nữ thường phải đối mặt thời kỳ đó.  Những quyển hướng dẫn nhỏ của chính phủ không đủ sức chứa được những bài viết xuất sắc của Carson. Khi cô gửi bài luận Thế giới nước (The World of Waters) dài 11 trang về sinh vật biển cho cấp trên, ông cho rằng nó quá xuất sắc để chỉ in trên những ấn phẩm của chính quyền do đó thuyết phục cô thử tìm một tạp chí để đăng. Carson liên hệ với biên tập viên của tờ Atlantic Monthly và họ sẵn lòng xuất bản. Bài viết xuất hiện trên tạp chí được chuyển sang tựa đề Dưới biển (Undersea, 1937) và đây là tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp hoạt động của một nhà tự nhiên học. Được khích lệ bởi thành công, Carson bắt tay vào viết một cuốn sách khác, Dưới làn gió biển (Under the Sea-Wind, 1941). Thời điểm xuất bản sách thật không thể tệ hơn, chỉ vài tuần sau đó xảy ra vụ đánh bom Trân Châu Cảng và đột nhiên không một ai có thời gian cho những cuộc khám phá thơ mộng về sinh vật biển.   Có lẽ đó là lý do tại sao tờ The Atlantic không quan tâm đến tác phẩm thứ hai của cô, Biển quanh ta (The Sea Around Us), do vậy Carson đã gửi tác phẩm của mình cho tờ The New Yorker. Wallace Shawn, biên tập viên huyền thoại của tạp chí này rất thích tác phẩm của Carson và ngay lập tức đồng ý đăng dưới dạng nhiều kỳ trên báo. Lúc đó là năm 1951. Khi tác phẩm phát hành dưới dạng sách, Biển quanh ta đã tại vị 86 tuần trong Danh sách bán chạy nhất của báo New York Times, giành được Giải hưởng Sách Quốc gia năm 1952 và đã được dịch ra 28 thứ tiếng. Cuốn sách thứ hai này, với giọng văn đầy hình ảnh nhưng không kém phần chính xác về mặt khoa học, là một cuộc khám phá kỳ quan thú vị về những gì con người đã biết về các vùng biển trên Trái đất, cách mà núi, đảo, đại dương, gió, mưa, thủy triều hình thành; các loài động thực vật đã sinh sống trên đó và bị thay đổi ra sao.  Sống và viết bên biển  Năm 1951, sau thành công của cuốn sách Biển quanh ta, Carson từ chức ở Ngư cục để theo đuổi việc viết lách toàn thời gian. Cùng với tiền thưởng giải Guggenheim Fellowship dành cho ‘những người chứng minh khả năng sáng tạo đặc biệt trong nghệ thuật’ và tiền bản quyền sách, Carson đã mua một miếng đất nhỏ trên bờ biển Maine. Ở đó, cô dành hết thời gian và tâm huyết để viết sách. Cuốn tiếp theo, Bờ biển (The Edge of the Sea, 1955) về việc nhận diện những cư dân biển “trong tất cả những biểu hiện khác nhau từ khi xuất hiện, tiến hóa và mất đi” cũng trở thành một tác phẩm bán chạy khác.   Đến lúc này, các cháu gái của Carson đã trưởng thành và mẹ cô, bà Maria, tiếp tục sống cùng cô. Mặc dù không có nhiều học vấn chính quy, bà Maria vẫn là người có đầu óc nhạy bén, tò mò và có niềm đam mê trọn đời với các loài chim.Bà đã dạy cô con gái cách phân biệt vô số âm thanh khác nhau của chim chóc ở Maine. Carson từ lâu tập chỉ trung vào cuộc sống bên dưới những con sóng và rìa đại dương giờ đây hướng sự quan tâm của mình tới những sinh vật bầu trời.  Rachel Carson không kết hôn và cũng chưa từng thể hiện sự quan tâm lãng mạn nào đối với người khác giới. Sau khi chuyển đến Maine, cô gặp một người phụ nữ tên là Dorothy Freeman. Đó là sự khởi đầu của một mối tình say đắm nhưng gần như hoàn toàn bí mật.   Với thế giới bên ngoài, hai người là bạn thân của nhau. Freeman hơn Carson gần 9 tuổi, kết hôn và có con với người chồng Stanley Freeman. Phần lớn trao đổi của Carson và Freeman tiến hành qua thư từ. Để bảo vệ bí mật, họ thường gửi hai lá thư trong một phong bì, một lá dùng khi ở đám đông để người kia có thể đọc to cho gia đình và bạn bè, lá thư còn lại riêng tư và thân mật hơn nhiều, chứa đầy cảm xúc cùng suy nghĩ, mà thế hệ đọc sau này mới hiểu được phần nào mối quan hệ thực sự của cả hai. Những lá thư riêng tư được thỏa thuận sẽ gửi vào “Hộp kín” – mật danh riêng của họ cho việc đốt bỏ sau khi đọc. Nhưng hai người phụ nữ ấy rốt cuộc không nỡ hủy tất cả những lá thư. Vào năm 1995, cháu gái của Freeman xuất bản cuốn sách Mãi mãi, Rachel (Always, Rachel) với những tờ giấy còn sót lại.  Cảnh báo về sự nguy hiểm của DDT  DDT (Dichloro Diphenyl Trichlorothane) được phát triển vào những năm 1940, lần đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh để giúp kiểm soát sự lây lan của bệnh sốt rét , sốt phát ban và các bệnh khác do côn trùng gây ra. Nhưng khi thế chiến II kết thúc, những nhà sản xuất tìm cách sử dụng thương mại chúng với hy vọng thâm nhập vào những thị trường mới nổi. Lúc đầu, DDT là loại thuốc trừ sâu cho cây trồng rất thành công, nhưng người ta không rõ ảnh hưởng của nó với sinh vật khác, bao gồm cả con người. Một số nhà khoa học đã liên tiếng báo động nhưng những rủi ro liên quan đến việc sử dụng DDT không được biết đến rộng rãi.  Từ đầu những năm 1940, Carson đã lo ngại về việc thải khối lượng lớn chất độc như thế vào môi trường. Khi ở Ngư cục, cô đọc nhiều báo cáo của chính phủ về DDT và thấy rằng nó chưa được thử nghiệm cho mục đích dân sinh, cũng như hóa chất đó giết chết động vật và côn trùng như thế nào. Carson đề xuất một bài viết về chủ đề này cho tờ tạp chí nổi tiếng Reader’s Digest, nhưng họ từ chối. Mặc dù quan tâm chính về biển, Carson vẫn lưu tâm đến những bằng chứng tích tụ ngày càng nhiều chỉ ra rằng DDT có thể không kỳ diệu như người ta vọng tưởng.  Vào năm 1958, một nhóm công dân thành lập Ủy ban chống ngộ độc hàng loạt đệ đơn kiện tại bang New York để ngừng việc phun thuốc trừ sâu trên không trung. Olga Owens Huckins, một thành viên của Ủy ban, liên lạc với Carson nhằm thúc giục cô viết về vụ kiện này. Carson tỏ ra miễn cưỡng vì điều đó đồng nghĩa với việc bà phải rời Maine đến New York. Bà có lý do hoàn toàn chính đáng cho sự lưỡng lự  này. Một mặt, Carson còn trách nhiệm nuôi nấng một đứa cháu nuôi Roger sau khi một cháu gái bà qua đời. Mặt khác, Carson bắt đầu đối mặt với căn bệnh ung thư vú. Tuy nhiên, bà vẫn rất quan tâm đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, đặc biệt là DDT. Càng tìm hiểu sâu, Carson càng tin rằng mình phải viết một cái gì đó về nó. Bà nhờ các đồng nghiệp theo dõi phiên tòa ở New York trong khi ở nhà bắt đầu nghiên cứu. Đó là những bước đi đầu tiên hình thành một tác phẩm sẽ đi vào lịch sử.  Vài phần trong bài tiểu luận Mùa xuân im lặng (Silent Spring, 1962) của Carson được đăng dưới dạng nhiều kỳ trên tờ The New Yorker và tạo ra một làn sóng dư luận ngay lập tức. Nhiều người, bao gồm cả nhà văn đáng kính E.B White, tuyên bố đây là một trong những tác phẩm hay nhất và quan trọng nhất từng được công bố trên tạp chí. Không lâu sau, tác phẩm được xuất bản thành sách.  Các ông trùm hóa chất gào lên, “Đây là cuốn sách sẽ đẩy chúng ta đến chân tường”. Những công ty có quyền lợi liên quan chuyển sang công kích Carson và cố sức làm mất uy tín của bà bằng cách gọi Carson là kẻ nghiệp dư hoặc cộng sản. Các bài báo liên tiếp ra đời “nện” cho cuốn sách tới tấp, có nhà báo gọi Carson là kẻ gàn dở tự nhiên (Nature Nut). Trong khi đó, người dân khẩn thiết kêu gọi những nhà khoa học như bà phải làm gì để ngăn chặn thảm họa gây ra bởi DDT.   Không giống như các cuốn sách trước đó chỉ nhận được lời khen ngợi, Mùa xuân im lặng nhận được tất cả phản ứng trái chiều ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy vậy, tác phẩm vẫn thống trị danh sách bán chạy nhất và thúc đẩy một loạt tranh luận mang tầm cỡ quốc gia về nguy hiểm của thuốc trừ sâu. Tổng thống John F. Kennedy đã coi cuốn sách của Carson như một nhân tố quan trọng. dưới áp lực của dư luận, Ủy ban cố vấn khoa học của Kennedy đã thực hiện điều tra, nghiên cứu và báo cáo của Ủy ban đã ủng hộ quan điểm của Carson. Việc sử dụng DDT cũng như các thuốc trừ sâu khác được quy định lại ngặt nghèo. Đến năm 1972, DDT đã bị cấm sử dụng ở Mỹ và đến 2001 thì bị cấm trên toàn thế giới. Mùa xuân im lặng được ghi nhận rộng rãi vì đã châm ngòi cho phong trào môi trường cũng như đặt nền móng cho việc hình thành Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA).  Không có gì ngạc nhiên khi Carson bị tấn công bởi ngành công nghiệp hóa chất. Bà đã lường trước được điều đó và mãnh mẽ lên tiếng chống lại những gì được coi là đe dọa với tự nhiên. Nhưng không mấy ai biết rằng lúc đó Carson cũng chiến đấu một cuộc chiến khốc liệt khác với căn bệnh ung thư vú. Bà không muốn công chúng biết điều đó. Khi làm chứng trước Quốc hội năm 1963, Carson đã đội tóc giả để che mái đầu hói do trị xạ. Các khớp xương của bà đau đớn và khó mà di chuyển được. Chỉ một năm sau, bà đã qua đời do căn bệnh di căn. Khi đó Rachel Carson mới chỉ 57 tuổi.   Carson đã trải qua đau đớn và bệnh tật đáng kinh ngạc để hoàn thành cuốn sách cuối cùng của mình. Người bạn đời Dorothy Freeman luôn cho rằng Mùa xuân im lặng đã giết chết bà. Nhưng trước khi chết, Carson viết rằng bà đang suy nghĩ về cuốn sách tiếp theo nói đến việc mực nước biển dâng lên bí ẩn. Giá như Carson còn sống, rất có thể bà sẽ là người công khai những nguy cơ của biến đổi khí hậu nhiều thập kỷ trước khi chúng trở thành mối quan tâm toàn cầu như hiện nay.  Năm 1980, Tổng thống Jimmy Carter vinh danh Rachel Carson với Huân chương Tự do của Tổng thống, giải thưởng dân sự cao quý nhất ở Mỹ, vì những cống hiến không mệt mỏi của bà về các vấn đề môi trường và nhấn mạnh “bà đã cảnh báo người Mỹ về những nguy hiểm mà con người tự đặt ra cho môi trường riêng của họ.”□  Ngô Hà tổng hợp  Nguồn: EPA, CBS, U.S. Fish & Wildlife Service, New Yorker, New York Times  Bài khung: https://science.howstuffworks.com/dictionary/famous-scientists/biologists/10-things-should-know-about-rachel-carson.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc đua của các “siêu ứng dụng” ở Đông Nam Á      Chúng ta có thể nhận thấy xu hướng chung của các ứng dụng tiêu dùng lớn trong khu vực: sử dụng cơ sở người dùng lớn của họ để cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng — gọi xe, fintech, thương mại trực tuyến và giao thức ăn. Grab tự gọi mình là “siêu ứng dụng” đầu tiên của Đông Nam Á, và thuật ngữ này giờ đây đã trở thành một cái ‘mác’ được các nền tảng cung cấp dịch vụ tiêu dùng hướng đến.    Chúng ta có thể nhận thấy xu hướng chung của các ứng dụng tiêu dùng lớn trong khu vực: sử dụng cơ sở người dùng lớn của họ để cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng — gọi xe, fintech, thương mại trực tuyến và giao thức ăn. Grab tự gọi mình là “siêu ứng dụng” đầu tiên của Đông Nam Á, và thuật ngữ này giờ đây đã trở thành một cái ‘mác’ được các nền tảng cung cấp dịch vụ tiêu dùng hướng đến.    Vào đầu năm nay, nền tảng công nghệ du lịch Traveloka ra mắt tính năng QuickRide cho phép người dân tại 16 thành phố ở Indonesia đặt xe taxi từ Bluebird – nhà cung cấp dịch vụ taxi hàng đầu trong nước. Động thái này không có gì đáng ngạc nhiên trong bối cảnh những công ty ở Đông Nam Á đang cạnh tranh phát triển các siêu ứng dụng của riêng họ, mục tiêu sau cuối là giữ cho người dùng ứng dụng của họ nhiều phút nhất có thể mỗi ngày, từ đó tạo ra nhiều giao dịch hơn.    Trước Traveloka, Shopee cũng hợp tác tương tự với Blue Bird nhằm mở rộng các dịch vụ tiêu dùng bên cạnh những dịch vụ cốt lõi (với Traveloka là đặt phòng khách sạn và chuyến bay trực tuyến, còn với Shopee là thương mại điện tử). Ngoài ra, cả hai công ty đều phát triển sang lĩnh vực fintech: Traveloka đã giới thiệu tính năng PayLater vào năm 2018 và ShopeePay chính thức hoạt động vào năm 2019.      Hình minh họa.     Chưa dừng lại ở đó, năm ngoái, cả Traveloka và Shopee đều triển khai dịch vụ giao đồ ăn với tên gọi Eats Delivery và ShopeeFood. Chỉ trong năm đầu tiên hoạt động, ShopeeFood đã giành giật thị phần của GrabFood và GoFood của Gojek – mặc dù vẫn còn một chặng đường dài để bắt kịp hai thương hiệu dẫn đầu này. Năm 2021, GrabFood kiểm soát 49% thị trường giao đồ ăn của Indonesia, theo sau là GoFood với 43% và ShopeeFood với 8%.    Ngoài ra, Traveloka cũng đang đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe từ xa. Gần đây, công ty này giới thiệu một tính năng cho phép người dùng tham vấn ý kiến ​​bác sĩ trực tuyến, đặt lịch xét nghiệm COVID-19 và hẹn khám sức khỏe.    Siêu ứng dụng là gì mà các startup lớn lại mong muốn trở thành đến thế? Thực chất, thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên để mô tả WeChat, một ứng dụng phổ biến tại Trung Quốc với khoảng 1,2 tỷ người dùng. WeChat kết hợp nhắn tin, thanh toán, thương mại điện tử và rất nhiều các tiện ích khác, giúp nó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nhiều người Trung Quốc. Những công ty như Facebook đã cố gắng xây dựng các ứng dụng tương tự cho người dùng toàn cầu, nhưng hiện chưa có ứng dụng nào thành công như vậy.    Ở Đông Nam Á, Grab và Gojek dù mang danh nghĩa “siêu ứng dụng” nhưng chúng vẫn không đa dạng tính năng như WeChat. Song Grab và Gojek vẫn là hai nhà phát triển siêu ứng dụng lớn nhất trong khu vực. Hiện tại, đã có nhiều đối thủ bắt đầu xuất hiện và tham gia vào đường đua. Năm 2020, hãng hàng không giá rẻ AirAsia có trụ sở chính tại Malaysia đã giới thiệu “Siêu ứng dụng Đông Nam Á dành cho tất cả mọi người”. AirAsia sẽ sớm triển khai dịch vụ gọi xe, giao hàng tạp hóa và chuyển phát nhanh bưu kiện tại Indonesia. Hãng này đã cho ra mắt các dịch vụ gọi taxi và giao đồ ăn tại Malaysia và Singapore.    “Các siêu ứng dụng thường khởi đầu từ một nền tảng nhắn tin. Ví dụ như WeChat ở Trung Quốc và Kakao Talk ở Hàn Quốc, đó là những công ty thống trị ở các quốc gia nơi nó sinh ra”, Bhima Yudhistira Adhinegara – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Luật (CELIOS), Jakarta – cho biết, quỹ đạo phát triển của các siêu ứng dụng ở Đông Nam Á cũng tương tự như ở Trung Quốc.    Adhinegara tin rằng cuộc chạy đua để phát triển thêm các siêu ứng dụng có thể mang lại lợi ích cho người dùng – họ sẽ không cần tải xuống hàng tá ứng dụng để giải quyết nhu cầu hằng ngày mà chỉ cần dùng một ứng dụng all-in-one. Đồng thời, họ có thể tận dụng các chương trình khuyến mãi chéo hoặc giảm giá do các nền tảng cung cấp.    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc các ứng dụng được sử dụng rộng rãi với nhiều dịch vụ lưu trữ sẽ tạo cơ hội cho kẻ xấu khai thác một lượng lớn dữ liệu cá nhân thông qua các quảng cáo. Và nếu ai đó xâm phạm được vào dữ liệu của nền tảng, người dùng có thể trở thành nạn nhân của các vụ vi phạm dữ liệu. Điều này đã xảy ra với Tokopedia vào năm 2020, khi 91 triệu dữ liệu của người dùng bị tin tặc đánh cắp và chia sẻ.    Theo Adhinegara, nhiều ứng dụng cạnh tranh với nhau đồng nghĩa với việc người dùng có nhiều lựa chọn hơn. Tuy nhiên, Grab và Gojek vẫn là những thương hiệu đi đầu trong cuộc đua siêu ứng dụng, bởi họ đã kiểm soát được thị trường đặt xe và giao đồ ăn. Hiện tại, Shopee, Traveloka và AirAsia vẫn còn một chặng đường dài phía trước nếu muốn có được danh hiệu “siêu ứng dụng”.    Bùi Dung    Author                .        
__label__tiasang Cuộc đua đo lường cảm xúc      Làm thế nào để nhận biết những sinh viên  đang ngồi trong lớp nhưng hồn lại lạc mất đi đâu? Điều khó khăn này sắp  được giải mã khi công ty Stoneware thuộc Lenov tung ra phần mềm quản lý  lớp học vào tháng 9/2015.    Stoneware tích hợp công nghệ phân tích cảm xúc vào trong phần mềm của mình để theo dõi mức độ một sinh viên/học sinh chăm chú vào bài giảng đến mức nào. Theo Stoneware, đến cuối năm 2015, sẽ có khoảng 1.000 trường học ở Mỹ và Canada sử dụng công nghệ này.     Tờ BusinessWeek dẫn số liệu từ hãng nghiên cứu thị trường Cron Consulting cho hay, trên thị trường hiện có khoảng hơn chục công ty phát triển các phần mềm hay ứng dụng tương tự, trong đó dẫn đầu là hai công ty Mỹ – Emotient, một startup ở San Diego, California, và Affectiva ở Waltham, Massachusetts.     Còn Bloomberg cũng dẫn tin từ dự đoán của Crone Consulting rằng, thị trường cho các sản phẩm phần mềm và ứng dụng phân tích cảm xúc sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới. Trước mắt, trong năm nay, giá trị sẽ chỉ xấp xỉ 20 triệu USD, nhưng đến năm sau, con số này sẽ lên đến 100 triệu USD, và năm năm sau thì đạt quy mô 10 tỉ USD.     Ứng dụng của các phần mềm nhận diện cảm xúc chỉ bằng quan sát mà không cần phải đặt câu hỏi rất đa dạng: đo lường, đánh giá phản ứng của người tiêu dùng khi xem các mẫu quảng cáo; dùng trên xe hơi để báo động khi nào tài xế có dấu hiệu mất tập trung… Các phần mềm này đều dựa trên việc xử lý các video được ghi trực tiếp, hay ghi lại về các biểu lộ khuôn mặt con người. Chẳng hạn, phần mềm của Affectiva tập trung ghi nhận các điểm trên một khuôn mặt như khóe mắt hay chân mày. Các nhà lập trình của Affectiva sử dụng các thuật toán dò tìm các kết cấu đa dạng trên khuôn mặt người khi cười lớn, cười duyên hay nhíu mày… Công ty này có một cơ sở dữ liệu lên đến 3,2 triệu video về khuôn mặt. Phần mềm của họ xử lý các video và cho ra các báo cáo về các trạng thái cảm xúc khác nhau của người dùng, từ vui vẻ đến buồn chán, từ ngạc nhiên đến dửng dưng, với độ chính xác từ 90% trở lên đối với một số cảm xúc.     Một tay chơi khác là Beyond Verbal, mới hình thành từ ba năm trước ở Tel Aviv, Israel, cũng có một kho dữ liệu lớn lên đến 1,5 triệu giọng nói. Công ty này chuyên phân tích ngữ điệu để xác định hơn 300 trạng thái khác nhau trong hơn 40 ngôn ngữ, với độ chính xác là 80%. Tuy nhiên các chuyên gia cũng nghi ngờ về những tuyên bố trên và cho rằng cần phải chứng minh hiệu quả sau một thời gian nữa, và phải nghiên cứu thêm.     Việc phân tích cảm xúc khuôn mặt đã xuất hiện từ thập niên 1970. Một nhà tâm lý học tên là Paul Ekman đã có hẳn một công trình nghiên cứu về vấn đề này. Hiện ông và các đồng sự cũng đang phát triển phương pháp đo lường các chuyển động trên khuôn mặt. Hệ thống của ông được Emotient sử dụng và bản thân Ekman được mời vào ban cố vấn. Ông cho hay việc sử dụng công nghệ nhận diện cảm xúc có thể sẽ vi phạm vào quyền riêng tư của con người và đã lên tiếng cảnh báo. Thậm chí, ông còn dọa rút khỏi vị trí trong ban cố vấn khiến cho Emotient phải quan tâm hơn tới yêu cầu của ông.    Một ông lớn khác là Microsoft thì đã phát triển các ứng dụng theo dõi cảm xúc thông qua một cảm ứng qua da trên một dải băng và một thiết bị đo nhịp tim. Khi người dùng gặp stress, thiết bị sẽ báo động và đưa ra lời khuyên làm thế nào để đối phó với cơn stress đó. Một nhóm nghiên cứu khác của Microsoft lại phát triển các ứng dụng nhận biết sự thay đổi của cảm xúc thông qua sự thay đổi màu sắc. Khi đó, nếu một người gặp chuyện buồn, tâm trạng chán chường hay stress thì bạn bè có thể nhận biết để động viên và chia sẻ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc gặp “16+1”: Các dự án nhiệt điện ở Ban Căng được Trung quốc hỗ trợ      Trong khi nước Đức đang xác định thời điểm để đóng cửa ngành than thì các nước ở vùng Balkan tại nỗ lực mở rộng, phát triển ngành công nghiệp than. Trung Quốc (TQ) đẩy mạnh “tiếp lửa” cho chủ trương này.    Những ai từng nghe nói về thảm hoạ ô nhiễm không khí ở TQ sẽ ngạc nhiên khi nghe nói về những số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về việc chỉ số về bụi mịn ở một số thành phố ở Nam Âu thậm chí còn cao hơn so với chỉ số ở các thành phố lớn TQ. Theo số liệu của WHO thì thành phố Tetovo của Macedonia là nơi có chất lượng không khí tồi tệ nhất ở châu Âu. Không khí ở các khu công nghiệp ở Tuzla và Zenica thuộc Bosnia – Herzegowina cũng rất tồi tệ.    Ngành công nghiệp than là kẻ gây ô nhiễm không khí chủ yếu tại một số thành phố ở Đông Âu – trên ảnh là thành phố Tuzla ở Bosnia.  Nguyên nhân gây nên thảm trạng này chủ yếu do ngành công nghiệp than: 13 trong tổng số 30 nhà máy nhiệt điện than tạo ra lượng khí thải độc hại trải dài từ Ba Lan cho đến tận Hy Lạp. Trong số 30 các nhà máy điện than có lượng khí thải CO2 lớn nhất thì có 12 nhà máy ở Nam Âu. Lượng khí thải CO2 dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng: hiện nay các nước như Ba lan, Czech, Bosnia-Herzegowina, Serbia, Macedonia, Hung và Rumani cũng như Hy lạp và Kosovo đều chủ trương xây dựng thêm các nhà máy điện than.  Không chỉ vấn đề người tị nạn mà vấn đề khí hậu là những yếu tố gây chia rẽ ngày càng mạnh mẽ nội bộ giữa các nước châu Âu. Trong khi chính phủ Đức thành lập Uỷ ban về than để xác định thời điểm đóng cửa ngành công nghiệp này thì các nước láng giềng phía Đông lại tăng cường phát triển vào điện than. Xu hướng phát triển này ở các nước vùng Balkan lại nhận được sự hỗ trợ tài chính của TQ. Đứng đằng sau nhiều dự án nhiệt điện là một loạt nhà đầu tư TQ. Ngay cuối tuần này trong khuôn khổ cuộc gặp gỡ “16+1” tại Sofia ở Bulgari, TQ có thể hứa tăng tài trợ cho nguồn năng lượng bẩn này.  Cách đây ít tuần, tổ chức phi chính phủ (NGO) Bankwatch Network đã công bố một bộ hồ sơ khá đầy đủ về việc TQ hỗ trợ cho ngành công nghiệp than ở vùng Ban Căng như thế nào. Theo tài liệu này thì các doanh nghiệp và ngân hàng TQ tham gia vào ít nhất 5 dự án nhà máy nhiệt điện ở Bosnia-Herzegowina và Serbia. Trong đó có Kostolac 3 ở Serbia và nhà máy nhiệt điện Tuzla 7, Banovici, Gacko II và Kamengrad ở Bosnia-Herzegowina.  Tổ chức Bankwatch Network cho rằng tất cả các dự án nói trên đều không đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường. NGO này cho rằng “Không có bất cứ dự án nào trong số này đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường hiện nay của EU”. Do vấn đề môi trường nên các dự án này cũng khó tìm được các nhà đầu tư cho nhiệt điện chạy than ngoài các nhà đầu tư đến từ TQ. Các ngân hàng châu Âu có xu hướng rút khỏi mảng kinh doanh than.  Bên cạnh tiêu chuẩn về môi trường, Bankwatch Network còn chỉ trích các điều kiện trong hợp đồng về đầu tư cho ngành than, thường các điều kiện này là gánh nặng đối với các nước Nam Âu. Hơn nữa người ta nghi ngờ về khả năng sinh lời của các dự án điện than. NGO này cho rằng các dự án nhà máy điện than Tuzla 7 và Banovici ở Bosnia-Herzegowina thiếu đi cơ chế phối hợp với nhau.  Tương lai của công nghiệp than ở vùng Ban Căng cũng có ý nghĩa then chốt đối với Kosovo. Vì đất nước rất nhỏ bé này có trữ lượng than xếp hàng thứ năm thế giới. Ước đoán trữ lượng than nâu ở đây có thể lên tới gần 15 tỷ tấn (trữ lượng này lớn hơn tổng trữ lượng than nâu ở cả Trung Quốc).  Các nhà máy điện than ở Kosovo phun ra không khí một lượng lớn bụi bồ hóng. Năm 2017, Kosovo đã ký thoả thuận với nhà điều hành ContourGlobal của Anh một hợp đồng xây dựng nhà máy điện than mới, công suất lên đến 470 Megawatt đáp ứng một nửa nhu cầu về năng lượng của đất nước này.  Không chỉ có các NGO chỉ trích dự án này mà cả tổ chức quốc tế Energy Community cũng đã chỉ trích các điều kiện hợp đồng mang tính một chiều, theo đó hầu hết rủi ro của dự án hầu như do phía Kosovo gánh chịu, có nghĩa là tất cả đều đổ lên đầu người đóng thuế ở nước này.  Igor Kalaba, nhà điều phối khu vực các nước Nam Âu của tổ chức NGO CAN Europe, cho rằng EU có nghĩa vụ phải bày tỏ quan điểm: “EU không thể khoanh tay đứng nhìn khi các nước thành viên tương lai ở vùng Ban Căng đầu tư cho điện than thay vì cho năng lượng tái tạo, thậm chí còn không thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường?  EU phải ra tín hiệu, điều này là không thể chấp nhận được”.  Theo điều phối viên Kalaba, có nhiều giải pháp để thay thế điện than. Ngay cả TQ cũng sẵn sàng tăng cường đầu tư cho năng lượng tái tạo ở vùng Ban Căng. Kabala cho rằng “vấn đề không phải là ở chỗ TQ không muốn ủng hộ năng lượng tái tạo mà là các nước vùng Ban Căng lại thiên về các dự án điện than”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/politik/europa/161-treffen-wie-china-kohleprojekte-am-balkan-befeuert/22767616.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cuộc hôn nhân” nhà đầu tư – startup: Kỳ vọng gì từ hai phía? (Phần 2)      Với phần 2, sau khi phân tích kỳ vọng của startup, chúng tôi sẽ cùng bạn chỉ ra những sai lầm thường gặp phải trong “cuộc hôn nhân” này.      Bà Melissa Bradley (thứ 2 từ phải sang), một nhà đầu tư và là Đối tác Quản lý (Managing Partner) của Chương trình Phát triển Kinh doanh 1863 Ventures. Nguồn: Medium  Ở phần 1 chúng ta đã tìm hiểu về kỳ vọng của nhà đầu tư về doanh nghiệp, về người sáng lập, về sản phẩm dịch vụ v..v. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, startup thường có xu hướng phải đi tìm nhà đầu tư và thuận theo những mong muốn của nhà đầu tư hơn là chiều ngược lại. Startup có quyền lựa chọn nhà đầu tư cho mình không? Nếu chọn thì chọn như thế nào? Có nên đặt ra những kỳ vọng của chính mình khi gặp nhà đầu tư không? Câu trả lời là: Rất nên, thậm chí còn thực sự nên bình tĩnh trước khi nói lời đồng ý. Nói một cách hình ảnh thì, nếu bạn muốn kết hôn và bạn tin là mình có quyền lựa chọn thì hãy hỏi và tìm hiểu để lựa chọn, bởi thực tế đã chứng minh, đó có thể là một đám cưới mở ra cho bạn một chặng đường mới với người bạn đời ủng hộ và chia sẻ nhưng đó cũng có thể đó là một địa ngục mà việc thoát ra không hề đơn giản và có thể đánh mất của bạn nhiều cơ hội. Với phần 2, sau khi phân tích kỳ vọng của startup, chúng tôi sẽ cùng bạn chỉ ra những sai lầm thường gặp phải trong “cuộc hôn nhân” này.    Hiểu mình – Bạn đã thực sự sẵn sàng cho cuộc chơi đầu tư?  Startup là ai trong con mắt nhà đầu tư? Thực tế không có một câu trả lời chính xác nào cho định nghĩa này vì mỗi nhà đầu tư sẽ có định nghĩa của riêng mình. Tuy nhiên, theo cách hiểu về startup – khởi nghiệp sáng tạo thì bạn thực sự cần phải có cái mới và trên con đường định hình cái mới thành một giá trị thực sự. Cái nhà đầu tư muốn nhìn thấy có thể cũng giống bạn, đó là giá trị đó sẽ nhân rộng ra và mang lại lợi ích cho nhiều người. Khi hiểu về cái mới và những giá trị mình đang có cũng như sẽ theo đuổi, bạn hãy đặt câu hỏi tiếp theo, bạn đã sẵn sàng cho cuộc chơi đầu tư?   Bạn luôn phải hỏi mình câu hỏi này trước khi chính thức nói tôi cần nhà đầu tư. Theo bà Melissa Bradley một serial entrepreneur, một nhà đầu tư, một giáo sư, một nhà nghiên cứu và hiện là Đối tác Quản lý (Managing Partner) của Chương trình Phát triển Kinh doanh 1863 Ventures chia sẻ tại buổi tọa đàm tổ chức ngày 27.3.2019 tại Trung tâm Hoa Kỳ, trong khuôn khổ chương trình GIST của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ – điều đầu tiên bạn cần chuẩn bị khi khởi nghiệp là tài chính. Ít nhất bạn cần chuẩn bị số tiền đủ để bạn có thể tồn tại trong thời gian đầu trước khi có thể gọi được vốn từ nhà đầu tư hoặc từ các nguồn khác như gia đình, bạn bè, vốn vay, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, v.v. Và ngay cả khi bạn cần tiền, hoặc rất rất cần tiền, đầu tư không phải là một phương án duy nhất để có tiền phát triển doanh nghiệp của bạn. Hãy tự hỏi mình: Còn nguồn nào khác để huy động vốn? Rủi ro của việc có nhà đầu tư là gì? Bạn có sẵn sàng từ bỏ một phần quyền sở hữu những gì bạn đang có hiện nay không? Bạn muốn đi bao xa trong câu chuyện này? Nếu đã xác định chính xác mình cần vốn đầu tư để phát triển kinh doanh và sẽ gọi vốn, điều đó đồng nghĩa với bạn bước chân vào một cuộc chơi gọi vốn liên tục. Dù muốn hay không, ngay từ bước đầu tiên, quan trọng nhất, tự bạn phải vạch ra lộ trình gọi vốn các vòng: vốn mồi, series A, B,C,  v..v. Trên thực tế, các vòng gọi vốn có thể thay đổi về thời gian, và lượng vốn cần gọi nhưng việc có một kế hoạch chứng minh, bạn đang chấp nhận cuộc chơi dài hạn.       Các vòng gọi vốn có thể thay đổi về thời gian, và lượng vốn cần gọi nhưng việc có một kế hoạch chứng minh, bạn đang chấp nhận cuộc chơi dài hạn.      Sau khi đã thực sự xác định được mình cần đầu tư, bạn sẽ phải đưa ra những thông tin cụ thể cho nhu cầu số tiền bạn cần. Điều này giúp nhà đầu tư hiểu được tiền của họ sẽ đi vào đâu và thúc đẩy doanh nghiệp của bạn ở khía cạnh nào vào thời điểm này.   Hiểu người – Bạn đã hiểu gì về nhà đầu tư?  Cũng giống như nhà đầu tư tìm hiểu về startup, startup cũng cần tìm hiểu về nhà đầu tư. Thông thường, thông tin về những nhà đầu tư thiên thần sẽ được chính họ công khai chia sẻ, những doanh nghiệp họ đã và đang đầu tư, những lĩnh vực mà họ quan tâm và quy mô đầu tư của họ. Còn với một thị trường mà thông tin đang thiếu sự minh bạch, cách tốt nhất để bạn tìm hiểu về nhà đầu tư chính là hỏi họ và hỏi những doanh nghiệp đã từng được họ đầu tư như một hình thức đối chứng. Dưới đây là một số câu hỏi bạn nên tìm hiểu hoặc hỏi trực tiếp nhà đầu tư và một số lý giải tại sao bạn phải hỏi những câu hỏi đó.   – Anh chị dự định đầu tư tối đa vào công ty tôi là bao nhiêu? Câu hỏi giúp bạn xác định xem đây có phải là nhà đầu tư phù hợp với nhu cầu của bạn không? Quá lớn hay quá nhỏ đều không phù hợp. Câu hỏi này bạn nên hỏi ngay từ đầu, thậm chí trước khi gặp gỡ.   – Quá trình due diligence (tạm dịch là: thẩm định để đầu tư) của anh chị sẽ diễn ra như thế nào?: Câu hỏi giúp bạn hình dung quá trình diễn ra để tiến đến việc bạn nhận được tiền của nhà đầu tư sẽ như thế nào, liệu nó có phức tạp hoặc quá đơn giản không.   – Nhà đầu tư thiên thần nào anh chị ngưỡng mộ? Tại sao? Câu hỏi này đương nhiên cho bạn hiểu rất nhiều về nhà đầu tư, những giá trị họ theo đuổi và những giá trị đó có phù hợp với bạn hay không.   – Anh/chị đã đầu tư bao nhiêu startup rồi? Họ là những ai? Kinh nghiệm đầu tư làm nên một nhà đầu tư chuyên nghiệp.   – Ở những doanh nghiệp này anh chị làm gì cho họ ngoài góp vốn?: Nếu bạn đang tìm kiếm những nhà đầu tư không chỉ mang lại cho bạn tiền thì đây là một câu hỏi quan trọng. Nên ghi nhớ rằng bên cạnh lĩnh vực chuyên môn với những khách hàng tiềm năng, họ còn có thể mang lại cho bạn những hiểu biết về đặc thù của ngành, thị trường và những xu hướng, thông tin quý giá.   – Lĩnh vực chuyên môn/Kinh nghiệm của anh/chị thuộc ngành nào?: Nhà đầu tư chuyên nghiệp thường đầu tư những lĩnh vực họ hiểu rõ để giảm thiểu rủi ro. Vì vậy, hỏi để tìm ra điểm tương đồng giữa lĩnh vực chuyên môn của họ với ngành mà startup của bạn đang hoạt động là cần thiết.  – Kế hoạch thoái vốn của anh/chị là trong bao lâu?: Câu hỏi giúp bạn xác định đây là nhà đầu tư chơi cuộc chơi dài hạn hay ngắn hạn.   Một số quan sát   Thực tiễn làm việc với các startup đã tiếp nhận đầu tư gồm cả những thương vụ thành công và không thành công, chúng tôi thấy rằng, ở một hệ sinh thái khởi nghiệp còn non trẻ như Việt Nam, hiểu sai về kỳ vọng của nhà đầu tư từ phía startup và/hoặc có những kỳ vọng sai lầm từ chính các nhà đầu tư có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn cho cả hai. Có thể tóm tắt trong một số điểm sau đây về sai lầm thường gặp từ cả hai phía:  Startup:  1.Không tìm hiểu và khi gặp không đặt câu hỏi: Với những quy định khá mở như đã nói ở phần 1, việc mang danh nhà đầu tư thiên thần, nhưng không phải là thiên thần ở Việt Nam không phải hiếm. Trong khi đó, với hiểu biết lơ mơ, các startup cũng mặc nhiên đưa mình vào vị thế thấp hơn so với những nhà đầu tư thiên thần mà họ gặp. Không ít startup hồn nhiên tin rằng, những doanh nhân thành đạt là nhà đầu tư thiên thần, họ có rất nhiều tiền và có thể đầu tư vào doanh nghiệp của mình. Sự hồn nhiên này dẫn đến sai lầm thường gặp phải là không tìm hiểu kỹ và cũng không đặt câu hỏi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không chỉ ở Việt Nam, theo Andrew J Scott, chỉ 2% những sáng lập viên đặt câu hỏi ngược lại với các nhà đầu tư hoặc quỹ đầu tư tiềm năng. Đây là một sai lầm trầm trọng vì bạn tự đánh mất quyền và vị thế của mình trong đầu tư. Startup dường như quên mất rằng, đây là quan hệ đôi bên có lợi, bạn không “xin” tiền mà đang tìm kiếm những người cùng bạn khiến đồng tiền của họ và ước mơ của bạn sinh sôi nảy nở và phát triển cùng nhau mà thôi.   2. Rất cần tiền nên chấp nhận thật nhanh và mọi điều kiện để nhận được tiền đầu tư: Thông thường, một nhà đầu tư rót tiền nhanh chưa hẳn đã là một nhà đầu tư tốt vì chưa có thời gian tìm hiểu. Bạn quyết định nhanh cũng có thể là một bất lợi cho bạn khi chưa hiểu rõ kỳ vọng của nhà đầu tư. Term sheet (Điều khoản đầu tư) là thứ vô cùng quan trọng quyết định chất lượng của mối quan hệ. Nếu bạn đặt bút ký vào một bản term sheet lỏng lẻo, đơn giản thật nhanh miễn là có tiền sớm có nghĩa là bạn đang tự đe dọa tương lai của chính mình. Nhà đầu tư có thể trở thành một ông chủ của bạn trong doanh nghiệp của chính bạn. Bên cạnh đó, không ít startup chấp nhận mất hơn 30% cổ phần cho nhà đầu tư thiên thần, sai lầm này dẫn đến việc không thể gọi vốn cho những vòng sau.   3. Kỳ vọng nhà đầu tư sẽ tham gia trực tiếp vào công việc kinh doanh: Đừng quên, một nhà đầu tư chuyên nghiệp không chỉ đầu tư cho một startup, bạn chỉ là 1 trong hàng chục những thương vụ đầu tư của họ. Việc kỳ vọng này không chỉ gây ra thất vọng cho chính bạn mà còn làm nhà đầu tư nản lòng vì bạn không thể tự chủ động tổ chức công việc kinh doanh của mình.   4. Kỳ vọng tiền của nhà đầu tư sẽ giải quyết mọi vấn đề: Đừng quên bạn đang tham gia vào một cuộc chơi dài hạn. Số tiền “vốn mồi” ở giai đoạn đầu này chỉ giúp bạn giải quyết một hoặc một vài vấn đề bức thiết nhất mà thôi. Nếu không làm rõ điều này, chính bạn sẽ gặp rắc rối khi chi tiêu số tiền không có trọng tâm sau này. Đó là chưa nói tới, có thể nó sẽ là bất lợi cho bạn khi không giúp nhà đầu tư thiên thần hiểu rằng, số tiền họ đầu tư cho bạn chỉ là một phần nhỏ trong cả một câu chuyện lớn mà thôi.         Chỉ 2% những sáng lập viên đặt câu hỏi ngược lại với các nhà đầu tư hoặc quỹ đầu tư tiềm năng. Đây là một sai lầm trầm trọng.      Nhà đầu tư  1.Muốn thu hồi vốn thật nhanh: Khởi nghiệp là một cuộc chơi dài hạn. Nếu nhà đầu tư nào đó nói với bạn họ sẽ thoái vốn trong khoảng 3 năm thì đó là báo động đỏ. Theo Francesca Warner- Đồng sáng lập và CEO của Diversity VC. Vương quốc Anh, họ không chấp nhận được rủi ro của việc đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, họ không thực tế và sẽ khó giúp bạn có một hợp tác thuận lợi.   2. Không tự mình làm due diligence: Một nhà đầu tư thiên thần sẽ tự mình thẩm định startup trước khi họ đầu tư, đó là quá trình giúp họ gia tăng trải nghiệm và giúp họ hiểu về startup mà mình đầu tư. Không tự thẩm định doanh nghiệp mình sẽ đầu tư hoặc đồng hành về cả người đứng đầu, đội nhóm, sản phẩm dịch vụ cho đến sức khỏe của doanh nghiệp v..v. là sai lầm dẫn đến những thất bại trong đầu tư.  3. Muốn sở hữu và thâu tóm hơn là giúp startup phát triển: Một thực tế ở Việt Nam theo quan sát của một số nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm đến từ Mỹ, các nhà đầu tư thiên thần bản địa chuyên nghiệp và thực sự là những nhà đầu tư thiên thần không nhiều. Không ít những nhà đầu tư được gọi là thiên thần đang cố gắng sở hữu hơn và thâu tóm với giá rẻ vào giai đoạn đầu của những startup hơn là thực sự đầu tư vào những doanh nghiệp này. Họ thường đòi mức cổ phần khống chế cho khoản tiền mình đầu tư, can thiệp rất sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Về lâu dài, sai lầm này không chỉ dẫn đến việc startup không phát triển được mà thậm chí, chính họ cũng mệt mỏi một khi danh mục đầu tư nhiều lên.   Có một điểm thú vị là đầu tư thiên thần ở Mỹ được nhận định là sự giao thoa giữa nhà đầu tư và một cố vấn, có lẽ cũng sẽ đúng với bối cảnh ở Việt Nam. Không chỉ là những người đến sớm để chấp nhận rủi ro cùng bạn, họ còn là những người mang lại cho bạn những giá trị giúp bạn tiến gần hơn đến ước mơ của mình. Với các nhà đầu tư, để thực sự trở thành thiên thần và mang lại lợi nhuận từ chính khoản đầu tư của mình, họ cũng cần chuẩn bị về cả năng lực tài chính và tư duy. Thay cho lời kết, những người viết bài này muốn chia sẻ với bạn câu chuyện chúng tôi được nghe từ chính người sáng lập Raegan Moya-Jones của Aden + Anais từng phát triển thương hiệu của mình từ con số không đến doanh nghiệp triệu đô và bị đẩy ra khỏi doanh nghiệp của mình. Raegan chia sẻ, gặp được những nhà đầu tư thiên thần trong cuộc đời cô là một may mắn, họ thực sự là thiên thần, tôn trọng tầm nhìn và giá trị bạn mang lại, hỗ trợ bạn, kết nối bạn với những bạn hàng và mạng lưới có giá trị. Còn nếu vội vàng với những thương vụ đầu tư chỉ tập trung vào tiền, có thể bạn cũng giống cô, bị đẩy ra khỏi doanh nghiệp chính mình tạo dựng và bắt đầu lại từ đầu với con số 0. □  ————  Tài liệu tham khảo:  https://medium.com/7percent/questions-startup-founders-should-ask-angel-investors-and-vcs-but-rarely-do-3cbb08faad09  https://medium.com/@checkwarner/a-guide-to-angel-investors-part-ii-the-questions-to-ask-angels-before-taking-their-40c067f7a09c    Author                Tạ Hương Thảo - Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang “Cuộc hôn nhân” nhà đầu tư-startup: Kỳ vọng gì từ hai phía? (Phần 1- Nhà đầu tư)      “Chọn nhà đầu tư giống như chọn bạn đời” – Mối quan hệ phức tạp giữa nhà đầu tư và startup đòi hỏi cả lý trí và tình cảm, không phải tự nhiên người ta ví von rằng mối quan hệ này giống như mối quan hệ hôn nhân bởi nó cần được xây dựng trên nền tảng của niềm tin và sự trung thực.      Bill Gross, Founder của IdeaLab, từng tư vấn và giúp đầu tư cho 100 công ty với 35 thương vụ thoái vốn thành công. Ảnh: IdeaLab  “Chọn nhà đầu tư giống như chọn bạn đời” – Mối quan hệ phức tạp giữa nhà đầu tư và startup đòi hỏi cả lý trí và tình cảm, không phải tự nhiên người ta ví von rằng mối quan hệ này giống như mối quan hệ hôn nhân bởi nó cần được xây dựng trên nền tảng của niềm tin và sự trung thực. Tuy nhiên, trên thực tế, nó phức tạp hơn rất nhiều bởi lẽ “Việc của nhà đầu tư là đầu tư và làm cho đồng tiền sinh sôi nảy nở. Với người sáng lập khởi nghiệp, phần nhiều đó là câu chuyện đam mê và ước mơ”- Malini Goyal. Để cả hai gặp nhau và đi đến một cuộc “hôn nhân” tốt đẹp đòi hỏi sự hiểu biết về kỳ vọng của cả hai phía, và điểm gặp nhau giữa những kỳ vọng này. Ở một thị trường mới mẻ như Việt Nam, việc hiểu lại càng cần thiết. Khi hiểu về đối phương và kỳ vọng thì việc chấp nhận đi cùng nhau mới có thể thực sự đơm hoa kết trái và mang lại một hợp tác mang tính hai bên cùng thắng thay vì một trò chơi tổng không – bên thắng và bên thua hoặc tệ hơn, cả hai cùng thua. Trong hai bài viết về chủ đề này, với kinh nghiệm đồng hành với cả hai phía và được chia sẻ nhiều từ các nhà đầu tư chuyên nghiệp trong và ngoài nước, chúng tôi muốn chia sẻ với bạn hai góc nhìn từ cả nhà đầu tư và startup. Chúng tôi tin rằng, khi hiểu nhau hơn, cả hai phía sẽ đặt mình vào đúng vị trí trong cả đàm phán và phát triển doanh nghiệp theo hướng lâu dài vì lợi ích của cả hai bên.   Nhà đầu tư là ai?   Một nhà đầu tư thiên thần là người sử dụng nguồn vốn cá nhân để đầu tư vào dự án doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm thu lại lợi tức trên đầu tư (ROI). Mỗi nước sẽ có quy định cụ thể về định nghĩa nhà đầu tư thiên thần. Ở Mỹ, theo Quy tắc 501 của Quy tắc D quy định bởi Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC), để được công nhận là nhà đầu tư (accredited investor), cá nhân phải có tổng giá trị tài sản ròng ít nhất 1.000.000 USD, không bao gồm giá trị cư trú chính của người đó hoặc có thu nhập ít nhất 200.000 USD mỗi năm trong hai năm qua (hoặc thu nhập kết hợp 300.000 USD nếu đã kết hôn) và có kỳ vọng sẽ kiếm được số tiền tương tự trong năm hiện tại1. Tại Việt Nam, hiện tại chưa có văn bản pháp luật định nghĩa cụ thể thế nào là một nhà đầu tư thiên thần, tại Điều 18, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nhà đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo bao gồm quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Vậy để tìm được những nhà đầu tư với điều kiện quy định như trên, ở Việt Nam việc trở thành một nhà đầu tư không phải là khó, thậm chí không có ràng buộc cụ thể nào về một con số trong tài sản.      Ý tưởng quan trọng. Nhưng thời điểm còn quan trọng hơn – Bill Gross.      Nhà đầu tư có thể bỏ vốn, bỏ kiến thức chuyên môn và bỏ tài sản là mối quan hệ (mạng lưới) của mình vào để đầu tư. Tuy nhiên, hình thức phổ biến là đầu tư bằng tiền. Việc nhà đầu tư thiên thần còn hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thông qua kết nối với mạng lưới, nguồn lực nhằm giảm mức độ rủi ro và tăng tỉ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp khởi nghiệp.   Vốn từ nhà đầu tư thiên thần thường chính là một trong những “vị cứu tinh” cho các doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn đầu mới hình thành để doanh nghiệp ít nhất có thể tồn tại, phát triển sản phẩm và tiếp cận người chấp nhận sản phẩm đầu tiên. Chính vì vậy, những doanh nghiệp tìm vốn đầu tư thiên thần thường là ở giai đoạn đầu, nhiều rủi ro, và những nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao để đầu tư vào những doanh nghiệp này có lẽ được gọi là nhà đầu tư thiên thần vì vậy.      Họ kỳ vọng gì?  Một nhà đầu tư đương nhiên mong tìm kiếm những doanh nghiệp/dự án “có thể đầu tư”. Vậy một dự án “có thể đầu tư” trong con mắt của nhà đầu tư là như thế nào? Theo bà Gwen Edwards, người được ủy thác và đồng chủ tịch của Angel Resource Institute chia sẻ tại tọa đàm do Trung tâm Hoa Kỳ tổ chức hồi tháng 3 tại Hà Nội, để đánh giá một doanh nghiệp có thể đầu tư được hay không, nhà đầu tư sẽ nhìn vào 4 tiêu chí dưới đây:   Thị trường  Đây là mối quan tâm lớn nhất của bất kì nhà đầu tư nào khi đánh giá một doanh nghiệp khởi nghiệp trước khi quyết định đầu tư. Cụ thể, nhà đầu tư sẽ đánh giá: (1) Quy mô thị trường và tốc độ tăng trưởng của thị trường đó (2) Đặc tính của thị trường (3) Chiến lược đi-ra-thị trường của doanh nghiệp/dự án khởi nghiệp (4) Thời điểm ra thị trường – Doanh nghiệp có quá sớm khi đi ra thị trường? Sản phẩm của doanh nghiệp có thực sự sẵn sàng đi ra thị trường hay không? Đây chính là yếu tố đầu tiên đóng góp vào sự thành công của một doanh nghiệp. Theo Bill Gross – Founder của IdeaLab, người đã từng tư vấn và giúp đầu tư cho hơn 100 công ty, tham gia vào hơn 300 vòng cấp vốn với hơn 3.5 tỷ USD và 35 thương vụ IPO và xác nhập thành công 2 –  cho biết sự khác biệt lớn nhất giữa doanh nghiệp thành công và thất bại chính là thời điểm, chiếm 42%, sau đó mới tới đội ngũ, ý tưởng, mô hình kinh doanh và cuối cùng là vốn (14%)3. Một ví dụ điển hình chính là Uber, bên cạnh một mô hình kinh doanh độc đáo, thời điểm chính là yếu tố làm nên thành công của Uber. Uber ra đời đúng thời kỳ kinh tế suy thoái khi các lái xe đang cần kiếm thêm thu nhập.   Đội ngũ: đội ngũ có nhiệt huyết hay không? Đội ngũ bao gồm những thành viên như thế nào?   Cũng theo Bill Gross, đội ngũ đóng góp 32% vào sự thành công của một doanh nghiệp. Đây cũng là yếu tố mà nhà đầu tư quan tâm không chỉ trong quá trình xem xét đầu tư mà còn trong quá trình đầu tư. Để làm nên một đội ngũ tốt cần rất nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố chính dưới đây: (1) Có chung một mục tiêu: một đội ngũ (team) khác với một nhóm (group) ở chỗ có chung một mục tiêu và cùng nỗ lực để tiến tới mục tiêu đó; (2) Nhiệt huyết, đam mê: nhiệt huyết, đam mê quan trọng nhưng quan trọng hơn là duy trì được nhiệt huyết và đam mê đó tới cùng. (3) Bù trừ lẫn nhau: lý tưởng nhất, một đội ngũ bao gồm các thành viên có thể bù trừ cho nhau. Ví dụ, nếu bạn giỏi công nghệ nhưng yếu kinh doanh thì trong đội ngũ của bạn nên có một người giỏi kinh doanh để bổ trợ cho bạn.   Công nghệ/ Sản phẩm: sản phẩm/ công nghệ có độc đáo và sáng tạo hay không. Những câu hỏi tham khảo để doanh nghiệp có thể trả lời được câu hỏi này của nhà đầu tư:   * Bạn đang giải quyết vấn đề gì?   * Hiện tại trên thị trường có bao nhiêu sản phẩm/ công nghệ có thể giải quyết được vấn đề đó?   * Điểm khác biệt giữa sản phẩm/ công nghệ của bạn với các giải pháp đó là gì?   * Mất bao lâu để người khác có thể bắt chước công nghệ/ sản phẩm này của bạn?   Tài chính: cách doanh nghiệp khởi nghiệp kiếm tiền và tăng trưởng  Tài chính hay nói đơn giản hơn là cách doanh nghiệp kiếm tiền là yếu tố cuối cùng nhà đầu tư quan tâm khi đánh giá một doanh nghiệp. Việc đánh giá các tiêu chí tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng đến chiến lược thoái vốn của nhà đầu tư. Một nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ cho bạn biết họ định bao lâu sẽ thoái vốn khỏi doanh nghiệp.   Nhà đầu tư thiên thần thường hỏi câu gì khi gặp bạn?   Giống như một cuộc hôn nhân, giai đoạn tiền hôn nhân chính là giai đoạn tìm hiểu. Nhà đầu tư có nhiều cách tìm hiểu về bạn, tìm kiếm trên mạng (hồ sơ LinkedIn), tìm hiểu qua những người xung quanh bạn và hỏi bạn trực tiếp. Mục đích của việc hỏi này chính là để:   Hiểu bạn là ai? – Một cuộc gặp không thế đánh giá hết tiềm năng về một sản phẩm nhưng có thể nói lên rất nhiều điều về con người làm nên sản phẩm đó. Vậy nên, trong buổi gặp đầu tiên, những câu hỏi đầu tiên nhiều nhà đầu tư sẽ hỏi không phải về sản phẩm của bạn tốt như thế nào mà về bạn là một con người như thế nào, bạn có thực sự đang hiểu bạn cần gì, mong muốn điều gì, bạn từng học ở đâu, kinh nghiệm của bạn như thế nào, những thất bại của bạn ra sao, bạn học gì từ những thất bại đó v.v. Không lấy gì làm ngạc nhiên nếu nhà đầu tư hỏi ai là mentor (cố vấn) cho bạn? Ai là người luôn ủng hộ chia sẻ khi bạn thất bại? Những câu hỏi này giúp họ hình dung được bức tranh rộng hơn về bạn, chỉ để đảm bảo rằng, bạn sẽ tiếp tục ngay cả khi thất bại. Rất đơn giản, những câu hỏi đầu tiên chỉ là về bạn mà thôi.  Hiểu vấn đề bạn đang giải quyết? – Bạn cần trả lời được tại sao doanh nghiệp của bạn quan trọng và bạn làm gì để tạo nên khác biệt cho doanh nghiệp bạn? Với những câu hỏi này thực sự bạn cần phải chứng minh cho nhà đầu tư, bạn thực sự hiểu những gì bạn đang làm bằng trải nghiệm, bằng thất bại và bằng những kiến thức mà bạn thực sự có.   Hiểu khách hàng – Hiểu rõ khách hàng của bạn là ai, vấn đề họ gặp phải, họ cần gì, mong muốn gì, v.v. Nhà đầu tư đương nhiên sẽ không bỏ tiền vào một doanh nghiệp mà không biết mình đang bán sản phẩm cho ai.   Hãy thành thật – Mọi thứ luôn thay đổi không ngừng còn con người luôn giới hạn về hiểu biết. Vậy nên, bạn cần thành thật với nhà đầu tư về những điều bạn không biết hay những thách thức, rủi ro bạn có thể gặp phải. Bạn cũng cần trình bày phương án để giảm thiểu hay giải quyết thách thức và rủi ro đó. Lẽ thông thường, chúng ta không biết những gì ta không biết, nhưng quan trọng là khi nói về những điều bạn không biết, những rủi ro tiềm ẩn, nhà đầu tư hiểu rằng bạn luôn ý thức về những rủi ro và tìm cách giảm thiểu những rủi ro tiềm tàng. Đó là những gì họ muốn.   Sử dụng con số – Đo lường và chứng minh mọi thứ bạn nói bằng các con số. Nghe thật buồn cười, nhưng sự thực là, nhà đầu tư cũng là một con người, họ luôn có xu hướng bị thuyết phục bởi các con số. Những câu chuyện hay thể hiện được bạn với đam mê và khát vọng, nhưng những con số nói lên rất nhiều về cách thức bạn hiện thực hóa những đam mê đó bằng hành động và tạo dựng niềm tin cho người sắp chọn bạn để đồng hành.   Trên thực tế, 70% các thương vụ đầu tư là thất bại, quan niệm về một giỏ đầu tư gồm 10 startup không thực sự bù đắp được rủi ro mà nhà đầu tư thiên thần gánh chịu. Điều đó cũng có nghĩa là, để giảm thiểu rủi ro, nhà đầu tư chuyên nghiệp hiếm khi đầu tư một mình. Họ thuộc về một nhóm đầu tư nào đó và có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực/ngành họ hiểu rõ. Vì vậy, nếu bạn nằm trong giỏ đầu tư của khoảng 20 dự án khác nhau này, bạn cần phải hiểu rõ chính bản thân mình, kỳ vọng của mình và của nhà đầu tư để chủ động viết nên câu chuyện của bạn. Trong phần 2, chúng tôi sẽ viết về kỳ vọng của startup với mong muốn không chỉ giúp các startup hiểu và tự trang bị cho chính mình những gì cần thiết để gặp nhà đầu tư mà còn giúp những nhà đầu tư mới hiểu về startup cũng như kỳ vọng của họ.□  ——–  Chú thích:   1https://www.investor.gov/additional-resources/news-alerts/alerts-bulletins/updated-investor-bulletin-accredited-investors  2 https://firstround.com/review/Lessons-Learned-from-Bill-Gross-35-IPOs-and-40-Failures/  3 https://www.inc.com/chris-dessi/this-ted-talk-explains-the-5-reasons-why-startups-succeed.html  Tài liệu tham khảo:   1. Hội thảo “What Investors Expect from Entrepreneur”, Trung tâm Hoa Kỳ, 3.2019 https://firstround.com/review/Lessons-Learned-from-Bill-Gross-35-IPOs-and-40-Failures/   2. https://www.inc.com/chris-dessi/this-ted-talk-explains-the-5-reasons-why-startups-succeed.html    3. http://economictimes.indiatimes.com/articleshow/46646853.cms?utm_source=contentofinterest&utm_medium=text&utm_campaign=cppst    Author                Tạ Hương Thảo - Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Cuộc khai quật bên dưới ngôi làng ở Israel      Bên dưới những căn nhà trong ngôi làng Mi’ilya là những tàn tích của một thời quá khứ lẫy lừng.     Bên dưới ngôi nhà của ông Eilia Arraf là một nhà thờ cổ xưa. Ảnh: Amit Elkayam / The New York Times  Chính giữa căn nhà của Eilia Arraf – giữa hai phòng khách, một khu vườn với các chậu xương rồng và một phòng tập thể dục tạm bợ – có hai hố lớn, dưới mỗi hố là tàn tích của một nhà thờ mà các nhà khảo cổ tin rằng đã được xây dựng cách đây khoảng 1.600 năm.  Ông Arraf đã tìm thấy dấu hiệu có một sàn khảm đá cổ ngay dưới căn nhà của mình vào năm 2020, khi ông cố gắng cải tạo phòng ngủ của dì ông và một kho chứa dầu ô liu thành nhà bếp mới. Kế hoạch xây nhà bếp nhanh chóng bị gác sang một bên. Thay vào đó, ông Arraf đã biến phần trung tâm của ngôi nhà thành một khu vực khai quật khảo cổ – và về sau là một điểm nhỏ thu hút khách du lịch.  “Chúng tôi đã mất một phần ngôi nhà của mình”, ông Arraf, một kỹ sư điện 69 tuổi, chia sẻ. “Nhưng những gì chúng ta có được bên dưới lớp đất kia là thứ không thể mua được bằng tiền.”  Trên thực tế, ở bất kỳ ngôi làng nào khác tại Israel, quyết định hi sinh phần đất của mình thành nơi khai quật khảo cổ – như ông Arraf đã làm – là điều chưa từng có trong tiền lệ. Nhưng ở Mi’ilya, một ngôi làng trên đỉnh đồi ở miền Bắc Isarel với khoảng 3.200 người sinh sống, chủ yếu là người Ả Rập theo đạo Kitô, ông chỉ là một trong số nhiều gia đình “quái đản” đi theo xu hướng này.  Kể từ năm 2017, bốn gia đình đã bắt đầu quá trình khai quật hòng tìm kiếm tàn tích của các cuộc Thập Tự Chinh và đế quốc Byzantine. Hàng trăm gia đình khác ở Mi’ilya đã tài trợ cho một dự án nhằm khôi phục một phần lâu đài Thập Tự Chinh đổ nát của ngôi làng.  Trong quá trình này, dân làng đã phát hiện ra nhà máy rượu vang lớn nhất từng được ghi nhận vào thời điểm diễn ra các cuộc Thập Tự Chinh, bức tường thành, bể chứa nước La Mã và công cụ nấu ăn thời kỳ đồ sắt – cũng như nhà thờ Byzantine bên dưới nhà của ông Arraf.  “Đó là hiệu ứng domino,” nhà khảo cổ học Rabei Khamisy, một trong những người dẫn dắt dự án, cho biết. “Ở Mi’ilya, khai quật đã trở thành một điều gì đó giống như truyền thống.”  Trong nhiều năm trở lại đây, dân làng đã nhận thức được rằng họ đang sống phía trên và giữa một loạt kho báu khảo cổ học quý giá, nhưng họ chưa bao giờ đào bới để tìm kiếm chúng. Các phần của ngôi làng ngày nay có niên đại từ thế kỷ 12, khi quân Thập Tự Chinh Frankish xây dựng một lâu đài ở đó, có thể là dưới thời cai trị của Baldwin III, một vị vua Kitô giáo thành Jerusalem.  Ngày nay, Mi’ilya vẫn là một trong số ít các ngôi làng có đa số người theo đạo Kitô ở Israel. Hầu hết cư dân trong vùng là những người Công giáo Hy Lạp, tổ tiên của họ bắt đầu định cư ở đây trong thời kỳ cai trị của Đế chế Ottoman vào giữa thế kỷ 18. Nhiều người sống trong những ngôi nhà được xây dựng từ đống đổ nát của lâu đài các hiệp sĩ Thập Tự Chinh, qua nhiều năm, nơi đây đã trở thành tổ ấm của nhiều thế hệ dân làng. Nhưng nó chưa bao giờ được khai quật hoặc phục hồi đúng cách.  “Hội đồng làng luôn nói ‘Chúng ta sẽ dựng lại lâu đài, chúng ta sẽ làm việc trên lâu đài”, TS Khamisy, người đã lớn lên dưới cái bóng của toà lâu đài, chia sẻ. “Nhưng rồi chẳng có gì xảy ra.”  Bước ngoặt đến vào đầu năm 2017, khi một phần của bức tường lâu đài bắt đầu sụp đổ, gây nguy hiểm cho cư dân.  ​​TS. Khamisy khi ấy 45 tuổi, là một chuyên gia về khảo cổ học thời Thập Tự Chinh. Lúc bấy giờ ông đang khởi động nghiên cứu mới tại một trường đại học gần đó và có rất ít thời gian để tiến hành thêm bất kỳ một dự án nào. Nhưng ông nhận ra rằng việc bảo tồn pháo đài rất quan trọng, hoặc bây giờ – hoặc không bao giờ, với ông đó là bản sắc của quê hương. “Mình sẽ trùng tu lại lâu đài,” ông tự nhủ. “Nếu không làm được điều đó, mình sẽ rời khỏi làng. Mình không thể sống ở đây”. Vì vậy, ông đã bắt đầu dự án, và cũng là dự án trùng tu, khai quật đầu tiên ở Mi’ilya.  TS. Khamisy nhờ hội đồng làng tổ chức một cuộc họp, tại đó ông thỉnh cầu các gia đình quyên góp mỗi gia đình một số tiền tương đương với chi phí mua hai bao thuốc lá. Dân làng đã đáp lại lời kêu gọi, họ đóng góp khoảng 60.000 đô la, và hội đồng đã quyên góp thêm được 30.000 đô la. Cơ quan Quản lý Cổ vật Israel nhanh chóng cấp các giấy phép hợp lệ. Vài tuần sau, đoạn tường nguy hiểm nhất đã được sửa sang và cố định trở lại.  Mi’ilya, một ngôi làng trên đỉnh đồi ở miền bắc Israel, với 3.200 người sinh sống. Ảnh: Amit Elkayam / The New York Times  Từ trước đến nay, mỗi khi tìm thấy bất kỳ hiện vật hoặc tàn tích nào, cư dân của những ngôi làng như Mi’ilya luôn thận trọng cân nhắc có nên thông báo cho cơ quan quản lý cổ vật hay không. Mặc dù chủ nhà sẽ phụ trách trông giữ tàn tích, nhưng nó lại trở thành tài sản hợp pháp của nhà nước. Điều người dân lo ngại đó là chính quyền có thể chiếm tài sản của họ, hay thậm chí là yêu cầu khai quật nền nhà lên – việc này đặc biệt tiêu tốn nhiều thời gian nếu đó là một tàn tích đáng chú ý.  Đối với các công dân Palestine sống tại Israel, nỗi sợ hãi còn lớn hơn nhiều, bởi vì chính phủ đã trưng dụng đất thuộc sở hữu của người Ả Rập trên khắp Israel trong nhiều thập kỷ sau khi thành lập nhà nước.  Song dự án trùng tu bức tường đã khiến dân làng tin tưởng hơn vào chính quyền – phần lớn là nhờ TS. Khamisy, ông trở thành sợi dây trung gian kết nối dân làng và chính phủ.  “Anh ấy là đứa con thân yêu của làng này,” Salma Assaf, một cựu kế toán, người sở hữu một số mảnh đất trong và xung quanh khu di tích lâu đài, cho biết. “Anh ấy đã phá vỡ bức tường ngăn cách giữa chúng tôi và các cơ quan quản lý cổ vật.”  Chẳng bao lâu sau, các giáo sĩ trong làng cho phép nhóm chuyên gia khai quật nhà thờ làng, nhờ đó họ phát hiện ra một số đồ gốm thời kỳ đồ sắt. Nhưng khám phá ấn tượng nhất thì đang ẩn nấp bên dưới khu đất của bà Assaf – ngay bên cạnh nhà thờ.  Bà Assaf, 69 tuổi, lúc ấy đang trong quá trình biến ngôi nhà từ thời Ottoman của gia đình mình thành một nhà hàng. Khi những người thợ xây dựng làm việc trong căn hầm, họ đã phát hiện ra một công trình kiến trúc cổ bằng đá.  Bên dưới nhà hàng của gia đình bà Assaf là một chiếc máy ép rượu thời xưa. Ảnh: Amit Elkayam / The New York Times  Được truyền cảm hứng bởi những nỗ lực gần đây của TS. Khamisy, bà Assaf đã mời ông đến để kiểm tra kiến trúc cổ. Nhà khảo cổ học nhanh chóng nhận ra đây là một khu vực chưa từng được biết đến trước đây của thị trấn – có lẽ là một phần của cỗ máy ép rượu thời Trung cổ. Quá phấn khích, TS. Khamisy đã gọi điện cho cơ quan quản lý cổ vật, xin phép được đào sâu hơn. Giấy phép được cấp nhanh chóng một cách bất thường, chỉ trong vòng vài ngày.  Tương tự như việc trùng tu bức tường đã làm cho làng bớt cảnh giác với chính quyền, các nhà chức trách giờ đây đã tin tưởng hơn vào dân làng. Họ cũng yên tâm khi có sự tham gia của TS. Khamisy. “Chúng tôi hiểu rõ anh ấy, chúng tôi tin tưởng anh ấy,” Kamil Sari, một quan chức ở miền bắc Israel cho biết. “Anh ấy thực sự để tâm đến những gì mình đang làm.”  Với bay, xẻng và cuốc, TS. Khamisy và gia đình bà Assaf bắt đầu tự mình khai quật căn hầm. Sau khi đào được hai tuần, TS. Khamisy đột nhiên nhảy cẫng và hét toáng lên. Khoảng hai thước dưới sàn nhà, ông đã tìm thấy những dấu hiệu đầu tiên của hệ thống thoát nước thời Thập Tự Chinh. Các chuyên gia sau đó kết luận rằng tòa nhà của bà Assaf nằm phía trên máy ép rượu lớn nhất từng được ghi nhận trong giai đoạn diễn ra các cuộc Thập Tự Chinh. “Đó là khoảng thời gian tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi”, Bà Assaf nhớ lại.  Như được tiếp thêm sức mạnh, bà Assaf bắt đầu mua các mảnh đất khác xung quanh lâu đài, tiến hành khai quật với sự giúp đỡ của TS. Khamisy và sau đó khôi phục chúng. Họ phát hiện ra một hệ thống cung cấp nước của quân Thập Tự Chinh và một bể chứa nước thời La Mã mà quân Thập Tự Chinh dường như đã sử dụng. Đây đều không phải là những khám phá chấn động, nhưng chúng đã giúp các nhà khảo cổ học hiểu sâu hơn về cuộc sống của quân Thập Tự Chinh vào thế kỷ 12.  “Bản thân những phát hiện này rất quan trọng đối với một nhà sử học Thập Tự Chinh và cũng là một nhà khảo cổ học như tôi”, Adrian Boas, giáo sư khảo cổ học thời Trung cổ tại Đại học Haifa, cho biết. “Người dân đang bổ khuyết thông tin vào những khoảng trống lịch sử của thời kỳ Thập tự chinh.” Nhưng có lẽ quan trọng hơn, những cuộc khai quật đã giúp dân làng “nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của quá khứ và cảm thấy gắn kết hơn với nơi họ đang sống,” Giáo sư Boas nói.  Dưới ngọn đồi, ông Arraf là người tiếp theo cảm thấy hứng thú với khảo cổ học. Vào những năm 1980, người thân của ông đã tìm thấy những bức tranh khảm Byzantine trong một hầm rượu phía sau nhà của họ. Nhưng các anh chị của ông luôn cho rằng có những sàn khảm lớn hơn và ấn tượng hơn bên dưới gian chính trong ngôi nhà – những tàn tích mà họ khẳng định là đã được phát hiện ra vào những năm 1950, nhưng rồi gia đình cứ thế im lặng để tiếp tục quá trình tu bổ căn nhà.  Sẽ thế nào nếu những lời anh chị ông kể là sự thật?  Dưới sự hướng dẫn của TS. Khamisy, gia đình Arraf đã đào trong hai tuần – xuống một feet, hai feet, ba feet. Vừa vượt quá mốc bốn feet, TS. Khamisy lại hét lên: Ông ấy đã tìm thấy thứ hóa ra là gian giữa của một nhà thờ Byzantine.  Để có một khoản nhằm trang trải chi phí khai quật, ông Arraf cho phép các nhóm du lịch đến thăm nhà của mình để thưởng lãm các bức khảm nằm bên dưới ngôi nhà hai tầng của ông.  Ông Arraf cho biết thi thoảng mình vẫn chưa tin được rằng có một nhà thờ đổ nát bên dưới phòng ngủ cũ của dì ông. “Tôi xuống xem nó mỗi ngày,” ông tâm sự. “Đó là niềm vui của riêng tôi.”  Anh Thư tổng hợp  Nguồn:   Christian Village in Israel Digs Into Its Crusader Past  Rare Overlap of Holy Days Shows Jerusalem’s Promise and Problems    Author                .        
__label__tiasang Cuộc khủng hoảng điện ở Venezuela      Tại các quốc gia có cơ sở hạ tầng năng lượng hiện đại hơn, giải pháp của họ luôn là cân bằng giữa nhiều nguồn điện năng khác nhau. Nhưng tại Venezuela lại không tồn tại sự cân bằng đó bởi 70% nguồn điện năng ở quốc gia này phụ thuộc vào thủy điện.    Người dân tại thủ đô Caracas, Venezuela xếp hàng trong một cửa hàng thực phẩm để chờ mua bơ và đường mới được chuyển tới  Ngày 13/6 vừa qua, Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro đã công bố tình trạng khẩn cấp kéo dài 60 ngày trên toàn quốc. Mặc dù quốc hội phủ quyết thông qua sắc lệnh này, song không thể phủ nhận rằng Venezuela hiện đang lâm vào một tình cảnh bi đát. Lạm phát ở quốc gia này cao tới mức chính phủ không thể mua nổi giấy in tiền. Người dân xếp thành những hàng dài tại các cửa hàng lương thực thực phẩm trong khi hàng hóa tại các cửa hàng này ngày một khan hiếm hơn. Các bệnh viện hết thuốc kháng sinh, dụng cụ phẫu thuật và các trang thiết bị y tế khác. Mạng lưới điện toàn quốc cũng rất mất ổn định. Lịch cắt điện diễn ra luân phiên hàng ngày ở mọi khu vực, kể cả thủ đô Caracas, thành phố có tỉ lệ án mạng cao nhất thế giới. Đầu tháng Tư vừa qua, Tổng thống Maduro phát lệnh rút ngắn thời gian làm việc của khối nhân viên nhà nước xuống còn 4 ngày/tuần để tiết kiệm năng lượng; và tới cuối tháng tuần làm việc còn bị thu hẹp tiếp thành 2 ngày/tuần (tức 2h/ngày). Chính phủ cũng ra lệnh điều chỉnh đồng hồ sớm hơn nửa giờ để người dân có thể tận dụng tối đa nguồn ánh sáng tự nhiên.  Ngoài yếu tố con người, hạn hán kéo dài cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình cảnh trên. Lượng mưa ở Venezuela trong ba năm qua rất ít và đặc biệt thiếu trầm trọng vào năm ngoái do hiệu ứng El Niño, một chu kỳ khí hậu toàn cầu định kỳ làm ấm một phần Thái Bình Dương và phía đông Canada, gây lụt lội ở Texas và Florida, gây hạn hán ở Indonesia và một phần châu Mỹ Latin. Kết quả là, các con đập ở Venezuela vốn là nguồn tạo ra 2/3 lượng điện cho cả quốc gia này, có mức nước thấp kỷ lục. Lượng nước ở đập Guri, nơi đặt nhà máy thủy điện lớn nhất Venezuela, hiện chỉ còn cách mực nước chết 5m. Với mực nước thấp như thế này, không khí và nước có thể sẽ lọt vào các bộ phận bên trong đập, khiến các cánh tua bin bằng sắt rung lắc từ đó phá hỏng toàn bộ kết cấu đập. Khi các hồ chứa nước của Venezuela đều khô hạn và các đập thủy điện ngừng hoạt động thì toàn bộ mạng lưới điện của quốc gia này cũng theo đó mà ngừng luôn.  Một câu hỏi được đặt ra ở đây: Tại sao Venezuela, một đất nước có nguồn nhiên liệu hóa thạch lớn nhất châu Mỹ Latin và trên thế giới, lại quyết định tạo điện từ nước, một tài nguyên ai cũng biết là rất thiếu ổn định? Dĩ nhiên, trong thế giới đề cao sự bền vững ngày nay, việc sử dụng nguồn năng lượng tái tạo là đáng hoan nghênh, nhưng trong trường hợp của Venezuela, lý do chính khiến họ ưu tiên đầu tư phát triển thủy điện là vì muốn dành nguồn dầu mỏ cho xuất khẩu. Thế nhưng, việc tạo nguồn điện, nhất là khi dựa vào những nguồn năng lượng tái chế, đòi hỏi sự đa dạng. Khi thiết kế cơ sở hạ tầng điện lực, Venezuela đã không cân nhắc đến tính khó dự đoán cố hữu của những nguồn năng lượng như nước, mặt trời và gió. Sau đợt hạn hán nghiêm trọng gần đây nhất diễn ra vào năm 2010, chính phủ nước này không hề có những biện pháp điều chỉnh/ nâng cấp. Thực ra, họ đã có kế hoạch xây dựng một số nhà máy điện chạy bằng diesel song tiến độ hoàn thành rất chậm chạp và mới xây xong một nhà máy điện chạy bằng khí gas tự nhiên có thể tạo ra một sản lượng điện bằng 4% sản lượng điện cả nước nhưng chưa bao giờ chạy hết công suất (nhưng mỉa mai thay, nhà máy lọc dầu cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy gas ở Venezuela cũng được vận hành từ nguồn điện ở đập Guri). Như vậy là hai lần chính phủ nước này đặt trứng vào cùng một giỏ. Đợt giá dầu giảm mạnh bắt đầu từ giữa năm 2014 đã làm khánh kiệt kho ngân khố vốn bị quản lý yếu kém của Venezuela, còn hạn hán đã làm suy giảm nguồn điện năng của nước này. Thực ra, nguồn điện năng ở Venezuela suy giảm theo cả một quá trình dài, bởi những thay đổi về thời tiết do El Niños gây ra tại khu vực châu Mỹ Latin bắt đầu từ thế kỷ 17, vì thế những gì xảy đến với Venezuela không phải hoàn toàn bất ngờ.  Một phần nguyên nhân gây ra tình cảnh khó khăn trên của Venezuela là do khó có thể tích trữ điện năng. Điện là một sản phẩm tức thời; khác với dầu, không thể để điện vào một kho “để dành” trong nhiều tuần hay nhiều năm được. Khi một công tắc bóng đèn được bật lên ở thủ đô Caracas chẳng hạn, dòng điện dẫn tới bóng đèn này chưa đầy nửa giây trước đó có thể chính là một giọt nước trong đập Guri ở cách đó hơn 700km. Khi nó đi qua đập, một tuabin sẽ quay và tách các electron khỏi các nguyên tử, đẩy chúng truyền qua hệ thống dây điện dẫn tới thành phố, xuyên tường đi tới công tắc và lọt vào trong bóng đèn – đây là cả một chuỗi domino âm thầm hoạt động với tốc độ ánh sáng. Và như vậy, với quy trình này, thiếu nước nghĩa là thiếu điện. Tại các quốc gia có cơ sở hạ tầng năng lượng hiện đại hơn, giải pháp của họ luôn là cân bằng giữa nhiều nguồn điện năng khác nhau. Chẳng hạn, tại Mỹ, điện gió thường đi kèm với điện làm từ khí gas tự nhiên, vì vậy, khi thời tiết thay đổi và gió ngừng thổi, các nguồn nhiên liệu hóa thạch có thể bổ sung vào nguồn điện gió bị thiếu hụt. Thậm chí, những nơi phát triển còn có thể dùng điện mặt trời để cân bằng với điện gió và ngược lại. Nhưng tại Venezuela lại không tồn tại sự cân bằng đó, bởi phần lớn nguồn dầu mỏ được khai thác từ lòng đất lên đều được đem đi xuất khẩu, và phần lớn trong số nguồn sản lượng gas tự nhiên dồi dào của họ được dùng để vận hành các giếng dầu.  Thực ra trong lịch sử nước Mỹ đã có tiền lệ về cơ sở hạ tầng điện năng tương tự như những gì Venezuela đang phải đối mặt. Năm 1977, đối mặt với cuộc khủng hoảng năng lượng do lệnh cấm vận xuất khẩu dầu mỏ sang Mỹ của OPEC, tổng thống Jimmy Carter đã đưa ra một loạt các biện pháp khác nhau. Theo đó, chính phủ Mỹ kêu gọi người dân giảm lượng tiêu thụ dầu mỏ bằng cách sử dụng các phương tiện vận chuyển công cộng và dùng chung ô tô, đồng thời tiết kiệm điện năng sử dụng trong gia đình. Một phần quan trọng khác trong kế hoạch này là chính phủ của tổng thống Carter thúc đẩy những đạo luật nhằm làm đa dạng hóa lĩnh vực điện, phát triển các loại điện hạt nhân, điện mặt trời, và thủy điện – dưới sức ép của chính phủ, các công ty hoạt động trong ngành cung cấp và duy trì cơ sở hạ tầng công cộng dù đang khó khăn về tài chính cũng buộc phải mua các loại năng lượng trên. 40 năm sau, khi nước Mỹ dần dần có thêm nhiều nguồn năng lượng tái chế, ý thức về tầm quan trọng của sự đa dạng hóa nguồn điện năng này vẫn còn in đậm trên đất nước này. Khi bất kỳ nguồn nhiên liệu nào chiếm dù chỉ 1/3 nguồn điện năng trong lưới điện thì khó có thể bảo đảm được an ninh cho lưới điện đó. Với 70% nguồn điện năng là thủy điện, nguồn dầu mỏ khai thác được chủ yếu dành cho xất khẩu, lưới điện ở Venezuela hiện nay đang đồng nhất một cách tai hại và đã đến lúc quốc gia này phải tìm cách đa dạng hóa nguồn điện năng của mình.Chi Nhân theo The New Yorker    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc thi Sáng tạo như người Thụy Điển: Cơ hội đi Thụy Điển cho các sinh viên Việt Nam      Ngày 23.8 tại Hà Nội, Đại sứ quán Thụy Điển tổ chức Lễ công bố Cuộc thi toàn quốc Sáng tạo như người Thụy Điển.      Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam phát biểu lại Lễ công bố cuộc thi – Ảnh: BTC  Tại buổi lễ, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam – ông Pereric Högberg cho biết Thụy Điển được thừa hưởng nhiều yếu tố cơ bản sẵn có như sự ổn định của nền kinh tế, hệ thống trường học – nơi mà suy nghĩ mang tính phản biện là chìa khóa, an toàn và an ninh và tiếp cận thông tin một cách đầy đủ. Trong một môi trường nhìn mọi thứ bằng sự tò mò, sự sáng tạo và trải nghiệm, mọi người sẽ có cơ hội trưởng thành, phát triển các ý tưởng của mình, chứng minh, thử nghiệm, thất bại và làm lại…  “Sáng tạo như người Thụy Điển” là cuộc thi được tổ chức hàng năm cho sinh viên Việt Nam nhằm khuyến khích sự sáng tạo và tìm ra các giải pháp mang tính sáng tạo để xử lý các thách thức ở Việt Nam. Chủ đề cuộc thi năm nay là Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) số 11 của Liên Hợp Quốc: Thành phố và cộng đồng bền vững – làm cho các các thành phố và khu vực sinh sống của con người trở nên toàn diện, an toàn, linh động và bền vững.  Với sự ủng hộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghê, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cuộc thi được tổ chức bởi Đại sứ quán Thụy Điển cùng các công ty Thụy Điển ở Việt Nam như ABB, AstraZeneca, Electrolux, Ericsson, IKEA, SKF, TetraPak cùng với Đại học Uppsala.  Sinh viên dự thi sẽ lập thành các nhóm với hai thành viên và sáng kiến của nhóm sẽ được đánh giá theo các tiêu chí: tính đổi mới, sáng tạo, khả thi, bền vững và ứng dụng trong cuộc sống cũng như tác động lâu dài của sáng kiến này. Ban giám khảo bao gồm đại diện của các công ty Thụy Điển tài trợ cuộc thi và đại diện một trường đại học Thụy Điển tại Việt Nam. Hạn chót gửi bài dự thì là ngày 28.10.2018.  Theo BTC, Giải nhất của cuộc thi là một chuyến đi Thụy Điển tới thăm trụ sở chính các công ty Thụy Điển và Trường đại học Uppsala. Các sinh viên đoạt các giải khuyến khích sẽ có cơ hội thực tập tại các công ty Thụy Điển ở Việt Nam.  Thu Anh (Motthegioi)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc thi StarUp Israel 2014 dành cho DN Việt Nam      Đại sứ quán Israel tại Việt Nam sẽ phối hợp với Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&amp;CN (Bộ KH&amp;CN) và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh  nghiệp (BSA) tổ chức cuộc thi StarUp  Israel  2014 dành cho các công  ty khởi  nghiệp tại Việt Nam trong bốn lĩnh vực nổi bật: Web, Mobile, Nông  nghiệp và Khoa học đời sống.      Giải thưởng là chuyến đi thực hành về khởi nghiệp tại Israel, nơi được mệnh danh là quốc gia của các công ty khởi nghiệp (Startup Nation).    Cuộc thi dành cho thí sinh trong độ tuổi 20-40 tuổi, có công ty đã đi vào hoạt động từ hai đến ba năm với chiến lược kinh doanh cụ thể. Các ứng viên tự đảm bảo không có vi phạm hay tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm dự thi và yêu cầu ít nhất một thành viên sáng lập có khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh.  Hồ sơ dự thi trình bày bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt bao gồm các thông tin về công ty và chiến lược kinh doanh chi tiết dưới dạng PDF. 01 video độ dài không quá 2-3 phút (bằng tiếng Anh).  Sau vòng loại hồ sơ, tám đội xuất sắc nhất sẽ lọt vào vòng phỏng vấn cuối cùng, bao gồm thuyết trình (bằng tiếng Anh) về dự án kinh doanh và phần hỏi đáp với giám khảo.  Ban giám khảo sẽ chọn ra bốn đội thắng cuộc và những đội này sẽ được cử bốn đại diện tham dự khóa tìm hiểu về khởi nghiệp tại Israel vào tháng 12 năm nay.    Đại sứ quán Israel tại Việt Nam sẽ tổ chức lễ công bố cuộc thi vào đầu tháng tới tại cả Hà Nội và TP HCM.  Hồ sơ dự thi chỉ được nhận qua địa chỉ email: political@hanoi.mfa.gov.il, hạn cuối là 8/10/2014, chỉ những hồ sơ đạt yêu cầu sẽ được liên lạc.  Để biết thêm thông tin chi tiết, có thể truy cập trang: http://embassies.gov.il/HANOI hoặc http://facebook.com/IsraelinVietnam      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc thi thuyết trình sáng tạo FameLab đã đến VN      Cuộc thi thuyết trình sáng tạo FameLab của  Anh lần đầu tiên sẽ được tổ chức ở Việt Nam vào ngày 22/4 tới để lựa  chọn một đại diện tham dự Chung kết FameLab toàn cầu tại London vào  tháng Sáu năm nay.    Bên cạnh đó, vòng chung kết tại Việt Nam sẽ trao hai giải Nhì và một Giải Yêu thích nhất. Các thí sinh này sẽ nhận được học bổng khóa học tiếng Anh myClass, khóa học mới của Hội đồng Anh cho phép chủ động lựa chọn thời gian, giảng viên và loại bài học theo nhu cầu.   FameLab bắt đầu diễn ra từ năm 2005 trong khuôn khổ Liên hoan Khoa học Cheltenham (Cheltenham Science Festival) nhằm đào tạo và hướng dẫn các cá nhân, nhà khoa học, kỹ sư, giảng viên về cách thức kết nối với công chúng thông qua việc trình bày đề tài khoa học của họ. Người tham dự FameLab trình bày một chủ đề về khoa học, công nghệ và kỹ thuật để kết nối và hấp dẫn người nghe trong tối đa ba phút.   Tới nay, Cheltenham Science Festival đã tổ chức cuộc thi FameLab tại hơn 25 quốc gia.   Ở Việt  Nam, đối tác tổ chức sự kiện này là Đại học Quốc gia Hà Nội. Không chỉ giới hạn ở giảng viên, nhà nghiên cứu, giáo viên, cuộc thi hướng tới tất cả các cá nhân có đam mê khám phá và yêu thích khoa học. 12 thí sinh có bài trình bày ấn tượng nhất trong vòng tuyển chọn sẽ trải qua khóa đào tạo kỹ năng truyền thông khoa học với chuyên gia truyền thông lĩnh vực khoa học Malcom Love, đồng thời là giảng viên chính của FameLab, trước khi bước vào vòng thi chung kết vào ngày 22/4.  Malcolm Love từng là nhà báo, nhà sản xuất truyền hình kiêm dẫn chương trình truyền hình giàu kinh nghiệm của đài truyền hình BBC. Ông cũng là chuyên gia về kết nối khoa học với công chúng, với hơn 13 năm kinh nghiệm giảng dạy truyền thông khoa học tại trường đại học Birkbeck College, London.   Là giảng viên chính của FameLab, Malcolm Love sẽ trực tiếp hướng dẫn 12 ứng viên xuất sắc nhất của Việt Nam về ngôn ngữ cơ thể, cách kể chuyện khoa học, kỹ năng phỏng vấn với báo chí, truyền hình và kỹ năng thuyết trình ba phút trước khi bước vào vòng chung kết cuộc thi.   Ban giám khảo của vòng chung kết FameLab tại Việt Nam gồm có GS Mai Trọng Nhuận, chuyên gia cao cấp của Đại học Quốc gia Hà Nội; nhà báo Tạ Bích Loan, Trưởng ban Biên tập VTV6 và Tiến sỹ Đàm Quang Minh, Hiệu trưởng Đại học FPT.  Vòng chung kết FameLab sẽ diễn ra tại Giảng đường Ngụy Như Kon Tum, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 19 Lê Thánh Tông.   Năm nay, FameLab đã thu hút sự tham gia của 5.000 nhà khoa học và kỹ sư trẻ ở hơn 25 quốc gia.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc Thi Tìm Kiếm “Ý Tưởng Chuỗi Giá Trị”      Ủy ban Dân tộc, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cùng Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia đồng phát động Cuộc thi Tìm kiếm “Ý tưởng Chuỗi giá trị” nhằm hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hạn chót nộp hồ sơ vòng 1 là ngày 31/8/2018/      Hình minh họa: Internet.  “Cuộc thi Tìm kiếm Ý tưởng Chuỗi giá trị” được phát động nhằm hỗ trợ phát triển và thực hiện các ý tưởng đổi mới, sáng tạo theo hướng phát triển chuỗi giá trị sản phẩm, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho sản phẩm của người dân tộc thiểu số Việt Nam (DTTS), góp phần bảo tồn, phát huy thế mạnh văn hóa, tri thức truyền thống của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, nâng cao vai trò và năng lực của phụ nữ và thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số trong công cuộc thoát nghèo, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Cuộc thi do Ủy ban Dân tộc chủ trì, được Ngân hàng Thế giới (NHTG) và Chính phủ Úc (thông qua Chương trình đối tác phát triển Úc – NHTG giai đoạn hai) hỗ trợ thực hiện.  Đây là sự kiện nằm trong chuỗi các hoạt động của Ủy ban Dân tộc và các đối tác quốc tế, các đối tác truyền thông, các cơ quan của Đảng và Chính phủ nhằm hỗ trợ đồng bào DTTS bắt kịp với xu thế Quốc gia khởi nghiệp hiện nay, góp phần vào công cuộc giảm nghèo, tăng giàu vùng DTTS, cụ thể gồm:  –          Các diễn đàn Quốc gia về khởi nghiệp và chuỗi giá trị DTTS;  –          Chuỗi các buổi lễ tôn vinh những gương mặt DTTS khởi nghiệp tiêu biểu;  –          Chương trình hỗ trợ kết nối sản phẩm DTTS và thị trường;  –          Chương trình truyền thông hỗ trợ khởi nghiệp DTTS;  –          Và Cuộc thi Tìm kiếm “Ý tưởng Chuỗi giá trị”.  Các ứng viên có thể tham gia đăng ký ý tưởng bao gồm: các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nhân, thuộc các đồng bào dân tộc thiểu số…. có ý tưởng hợp tác, liên kết với đồng bào dân tộc thiểu số ở bất kỳ địa bàn nào trên đất nước Việt Nam, góp phần giải quyết 1 trong 2, hoặc cả 2 vấn đề sau đây: i) Phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm mang lại lợi ích cho đồng bào DTTS; ii) Tạo dựng môi trường thuận lợi cho việc phát triển các chuỗi giá trị mang lại lợi ích cho cộng đồng DTTS, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên.  Cuộc thi được chia làm hai Vòng:  Vòng I: Chọn lựa các Ý tưởng, thời hạn nộp Ý tưởng đến hết ngày 31/8/2018. Dự kiến tối đa 50 ý tưởng sẽ được lựa chọn. Danh sách các Ý tưởng được chọn sẽ được công bố vào ngày 01/10/2018.  Vòng II: Các Ý tưởng được chọn từ Vòng I sẽ được tham gia đào tạo và hỗ trợ phát triển ý tưởng thành đề xuất dự án hoàn chỉnh. Hạn cuối để nộp đề xuất là hết ngày 15/12/2018. Danh sách Các đề xuất dự án được chọn sẽ được công bố vào ngày 18/01/2019.  Lợi ích khi tham gia cuộc thi:  Các ứng viên có ý tưởng dự án được lựa chọn trong Vòng I sẽ nhận được chuyên gia của Cuộc thi hỗ trợ, tư vấn để phát triển, hoàn thiện thành đề xuất dự án chi tiết để nộp tham gia đánh giá trong Vòng II;  Các dự án được lựa chọn trong Vòng II sẽ được hỗ trợ kinh phí để triển khai.  Để biết thêm thông tin, liên hệ:  BAN TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM KIẾM Ý TƯỞNG CHUỖI GIÁ TRỊ                                          Email: cuocthichuoigiatri@gmail.com   Website: www.vcic4em.vn  Facebook Fanpage: Vụ Hợp tác quốc tế, UBDT – International Cooperation Department, CEMA (https://www.facebook.com/HTQTICDCEMA/)  Điện thoại: 024 32115943/024 32115942    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc thi Ứng dụng vi điều khiển Việt Nam lần thứ nhất      Sở KH-CN TPHCM, Ban Chỉ đạo thực hiện Chương  trình Phát triển vi mạch TPHCM, Đại học Quốc gia TPHCM và Trung tâm  Nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch (ICDREC) vừa phát  động cuộc thi Ứng dụng vi điều khiển Việt Nam lần thứ nhất.     Từ cuộc thi này, nhìn rộng hơn, trong bối cảnh TPHCM đang gấp rút xây dựng ngành vi mạch, có khá nhiều điều đặc biệt và đáng mong đợi.  Hướng đến công nghệ thuần Việt Nam  Đối tượng tham gia cuộc thi nói trên khá mở, dành cho tất cả người, tổ chức quan tâm và yêu thích công nghệ vi điều khiển và trình biên dịch và không hạn chế về số lượng ý tưởng tham dự. Trong cuộc thi, các thí sinh đưa ra ý tưởng ứng dụng chip vi điều khiển SG8V1 trong những sản phẩm điện tử cụ thể.   Được biết, vi điều khiển SG8V1 là dự án do Sở KH-CN TP HCM đầu tư cho ICDREC thiết kế và gửi đi chế tạo thương mại với số lượng 150.000 con chip. Hiện chip SG8V1 đã được giới công nghệ vi mạch khẳng định là dư sức cạnh tranh với chip cùng chủng loại của các hãng danh tiếng thế giới về chất lượng và giá thành. Việc chế tạo 150.000 con chip để thực hiện thương mại hóa trên các sản phẩm của Công ty SaiGon Track chuyên về định vị cũng đã được xác định. Tức là từ khâu chế tạo đến đầu ra cho SG8V1 đã sẵn sàng.  Khi một sản phẩm đã tự tin khẳng định về công nghệ và thị trường thì cứ thế mà sản xuất, ứng dụng. Tuy nhiên, ban tổ chức cuộc thi mong muốn nhận được sự tham gia của cộng đồng để phát huy tiềm lực nghiên cứu và ứng dụng sản phẩm điện tử trong nước sử dụng các vi điều khiển của Việt Nam vào thực tế tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.   Ban tổ chức cũng khẳng định, các ý kiến phản biện về vi điều khiển và trình biên dịch Việt Nam xung quanh con chip SG8V1 của các chuyên gia, lực lượng nghiên cứu, sinh viên sẽ được ghi nhận và xem xét để phát triển sản phẩm hoàn thiện hơn nữa trước khi gửi đi sản xuất hàng loạt.  Tại lễ phát động, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở TT-TT TPHCM, Phó ban Chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển vi mạch TPHCM cho biết: “Chúng tôi cũng kỳ vọng là phổ biến rộng rãi, tạo được niềm tin từ nhà khoa học đến các sinh viên rằng, chúng ta bắt đầu đã có sản phẩm công nghệ của người Việt Nam và bây giờ chúng ta cùng chung tay góp sức để thực hiện, xây dựng ngành công nghiệp mới đó”.    Tại sao là chip 8 bit SG8V1?  Từ lâu, thị phần của vi điều khiển 8 bit được dự báo sẽ giảm và dịch chuyển dần sang vi điều khiển 16/32 bit nhưng đến nay, các số liệu thống kê từ thị trường vi mạch danh tiếng trên thế giới cho thấy vi điều khiển 8 bit vẫn có tổng doanh thu rất cao.   Theo ông Ngô Đức Hoàng, Giám đốc ICDREC, vi điều khiển 8 bit với đặc điểm giá thành rẻ, dành cho ứng dụng không yêu cầu tần số cao, công xuất hoạt động thấp, chương trình xử lý đơn giản và nhỏ về mặt dung lượng… được ứng dụng rộng rãi trên các sản phẩm tiêu dùng giá rẻ như máy giặt, máy lạnh, thiết bị chống trộm, thiết bị trong điều khiển thang máy… là một thế mạnh làm chip 8 bit đứng vững trên thị trường. Ông Ngô Đức Hoàng cũng cho biết, đã đến lúc đưa sản phẩm ra thi trường, “sống chết” với thị trường…  Với chip 8 bit SG8V1, đây không phải là sản phẩm mới của ngành vi mạch TPHCM nói chung và của ICDREC nói riêng. Việc sản xuất con chip này đã có kế hoạch, đi tìm đối tác từ năm 2010. Nhưng trong năm 2010 và các năm sau đó, các nhà sản xuất chip trên thế giới không nhận các đơn hàng nhỏ trong việc sản xuất chip từ các trung tâm nghiên cứu, đến nay mới có đối tác chấp nhận sản xuất SG8V1. Theo thời gian, từ năm 2010 đến nay, các tính năng đăng ký trong thuyết minh của chip SG8V1 đã lỗi thời và khó đưa vào ứng dụng. Chính vì thế các tính năng của SG8V1 đã được nâng cao, như về tập lệnh, 63 lệnh thay cho 37 lệnh trước đây; 2 mức ngắt so với 1 mức ngắt trước đây… khẳng định vẫn là sản phẩm có tính ứng dụng cao. Nói cách khác, chip SG8V1 ngày càng hoàn thiện tính năng trước khi gửi đi sản xuất hàng loạt. PGS-TS Nguyễn Hội Nghĩa, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM khẳng định, chip SG8V1 là con chip thương mại hóa đầu tiên của Việt Nam. Việc sản xuất và nắm vững công nghệ nguồn trong vị mạch điện tử không chỉ đơn thuần có giá trị về mặt tăng trường kinh tế, khẳng định vị thế về khoa học kỹ thuật mà còn có ý nghĩa đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo mật thông tin quốc gia.  Sự kỳ vọng, cầu thị, khẳng định quanh con chip SG8V1 đã rõ, nhưng đặt cuộc thi Ứng dụng vi điều khiển nói trên trong bối cảnh TPHCM đang gấp rút xây dựng ngành vi mạch mới thấy hết “sức nóng” của nó. TPHCM đã thống nhất chủ trương phát triển ngành vi mạch của TP với các mục tiêu khá rõ ràng, các “bộ máy” nhân sự liên quan cũng đã bước đầu hình thành, mục tiêu làm chủ công nghệ cũng đã đặt ra thì cuộc thi lần này hay sản phẩm chip SG8V1 sắp được sản xuất và tích hợp vào sản phẩm cụ thể như đã khẳng định phải có sản phẩm vi mạch thương mại, sẽ sống chết với thị trường.  Cuộc thi sẽ diễn ra theo lộ trình sau: Ngày 18-4 là hạn chót nộp bài thi sơ khảo; ngày 18-5-2013, công bố kết quả sơ khảo và hoàn tất huấn luyện; ngày 15-9-2013, hạn chót nộp bài thi giải pháp thực hiện. Khi tham gia cuộc thi, các thí sinh sẽ được cung cấp, giới thiệu và hướng dẫn sử dụng vi điều khiển SG8V1. Ngoài ra, khi thí sinh tham dự thực hiện mạch ứng dụng, sẽ được tài trợ toàn bộ kinh phí để thực hiện mạch in, linh kiện và lắp ráp để hoàn thành sản phẩm dự thi.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộn sách Biển Chết: Thương vụ triệu đô trên các mảnh giấy cổ      Bảo tàng Thánh kinh tại Washington D.C, Mỹ mới phải loại bỏ 5 mảnh giấy trong bộ sưu tập Cuộn sách Biển Chết do bị xác nhận giả mạo. Sự việc này chứng minh các nghiên cứu của nhiều chuyên gia quốc tế về tính đáng ngờ của các mảnh giấy được cho là từ Cuộn sách xuất hiện trên thị trường cổ vật cách đây gần 20 năm.      Bảo tàng Thánh kinh mở cửa vào cuối tháng 11 năm ngoái tại Washington D.C. (Nguồn: ABC News)  Hai chuyên gia có uy tín nghiên cứu về Cuộn sách Biển Chết – TS. Kipp Davis từ Viện Nghiên cứu Cuộn sách Biển Chết, Đại học Trinity Western, Canada và GS. Årstein Justnes từ Đại học Agder, Kristiansand, Na Uy – đã cảnh báo về sự tồn tại của các mảnh giấy giả mạo Cuộn sách Biển Chết và những hoạt động buôn bán trị giá hàng triệu đô la ăn theo nhu cầu săn tìm thánh vật của những người Tin lành giàu có tại Mỹ. Điều đó dẫn đến 90% trong số 75 mảnh giấy được bán từ năm 2002 có thể là đồ giả. Và 6 trong số 13 mảnh giấy do Steve Green, một đại gia bán lẻ và là người bảo trợ cho Bảo tàng Thánh kinh tại Washington D.C, mua lại cũng có khả năng là giả. Trị giá của những thương vụ này cũng gây sốc bởi mỗi mảnh giấy đó có thể được bán với giá trên 1 triệu USD.Sức hút của Cuộn sách Biển ChếtVào giữa những năm 1940, những người chăn cừu Bedouin tình cờ tìm ra các vò gốm chứa những cuộn giấy cổ ở hang Qumran, Palestine. Được gọi là Cuộn sách Biển Chết, các cuộn sách bản sao của Kinh thánh Hebrew này được viết chủ yếu bằng tiếng Do Thái và có niên đại từ ba thế kỷ trước Công nguyên đến thế kỷ I sau CN, sớm hơn 1.000 năm tuổi so với bất kỳ bản sao nào từng được biết đến trước đó.   Việc phát hiện Cuộn giấy Biển Chết là bước ngoặt trong nghiên cứu về kinh thánh cổ đại. Về mặt học thuật, các cuộn giấy đã cách mạng hóa hiểu biết của các học giả về thực hành tôn giáo và tín ngưỡng của đạo Do Thái cổ đại, theo sau là sự ra đời của Kitô giro.  Từ năm 1947 đến 1953, những người chăn cừu Bedouin sau khi phát hiện các cuộn giấy đã bán lại chúng cho một người thợ đóng giày kiêm nhà buôn cổ vật gốc Palestine là Khalil Eskander Shahin, có biệt danh là Kando. Đến lượt Kando bán lại các phần của cuộn giấy cho các viện bảo tàng và các nhà sưu tập cho đến năm 1970, khi việc buôn bán cổ vật tự do bị cấm bởi Công ước của UNESCO về tài sản văn hóa. Nhưng do không chịu sự quản lý của Công ước, các mảnh giấy nhỏ vẫn tiếp tục được săn lùng. Năm 1993, nhà sưu tập cổ vật người Na Uy Martin Schøyen lần đầu tiên đặt vấn đề với Kando để tìm mua các phần cuộn giấy ông ta còn giữ và bắt đầu từ năm 2002, hàng chục mảnh vụn của các cuộn giấy bắt đầu gia nhập thị trường cổ vật sau khi William, con trai của Kando, mở khóa một hầm bạc gia đình ở Zurich.  Thị trường mới sinh vấn đề mới  Cùng thời điểm đó, cũng xuất hiện một nhóm những nhà sưu tầm cổ vật từ Mỹ, vốn đồng thời là những người Tin lành bảo thủ và mộ đạo, rất quan tâm đến các hiện vật có liên hệ đến lịch sử của Giê-su Kitô và sự ra đời của đạo Thiên Chúa. Mối quan tâm tôn giáo với các cuộn giấy tập trung vào phần văn bản trong các kinh thánh Hebrew. TS. Kipp Davis cho biết: “Từ điểm nhìn này về [các mảnh kinh thánh] đưa ta đến gần hơn việc trở thành một phần của, được cảm nhận và trải nghiệm cái gì đó gần gũi với Thiên Chúa và Giêsu Kitô.”Cùng với Green và Bảo tàng Thánh kinh, từ năm 2009 đến 2014, một số mảnh giấy khác được mua lại cho Đại học Southwest dòng Báp-têm ở Missuri, Đại học Azusa Pacific, và Thư viện Thần học Lanier. Hoạt động mua bán nói trên mang dấu hiệu bất thường, theo GS. Årstein Justnes: từ năm 2002, tỷ lệ các mảnh giấy liên quan đến Kinh thánh xuất hiện trên thị trường bằng cách nào đó tăng từ khoảng 25% lên 86%. Theo ông, sự chênh lệch về tỷ lệ cho thấy ai đó đã và đang sản xuất các mảnh giấy hướng tới chính mong muốn của những người mộ đạo.  Nhà nghiên cứu đang xem xét một mảnh giấy trong Cuộn sách Biển Chết. Nguồn: DW    Vào cuối năm 2016, TS. Kipp Davis sau đó đã nhận lời mời từ ban Tu thư thuộc Viện Bảo tàng Thánh kinh, tham gia một nhóm chuyên gia của Viện Kiểm định và nghiên cứu vật liệu liên bang Đức (BAM) để kiểm tra 13 mảnh giấy từng được ông Green mua theo nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Họ dùng kính hiển vi kỹ thuật số 3D, hệ thống quét huỳnh quang tia X (XRF) và kỹ thuật phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) để phân tích thành phần vật liệu của mực viết, các lớp trầm tích bám trên giấy và thành phần hóa học của chúng.          Trước đó, những nghiên cứu tổng quan thực hiện từ năm 2016 đã chỉ ra nhiều vấn đề với các mảnh giấy. Một mảnh giấy của bảo tàng chứa nội dung của Sách Nê-hê-mi có phần chữ Hebrew bị ngắt bởi một ký tự như chữ alpha trong tiếng Hi Lạp. Ký tự alpha đó đến từ dấu chú in trong một bản Kinh thánh Hebrew xuất bản năm 1937. Một mảnh giấy khác cũng cho thấy dấu vết ngụy tạo: “Ta có thể thấy rằng chữ viết tay [của những mảnh giấy nghi vấn giả mạo] là do dự hay cố tình nhái lại một mẫu nào đó,” Justnes nói. “Nó không giống chữ viết tay của người ghi chép. Chữ viết đó là của một bàn tay ‘ngây thơ’, thậm chí là của hai bàn tay. Vấn đề khác là một số mảnh giấy dường như không phải là một phần của một cuộn giấy. Có vẻ như các chữ cái được cố tình thu nhỏ lại để vừa với phần mép giấy.” Phân tích bằng thư pháp học của GS. Ada Yardeni – chuyên gia danh tiếng về cổ ngữ Hebrew – cũng xác nhận những nét chữ trên hầu hết các mảnh giấy đều có đặc điểm tương tự nhau, cùng được viết bằng một “cây bút sậy với ngòi bị mòn”.  Về những kết luận được giám định, TS. Davis nhận xét với The Guardian: “Trên thang đo về tính xác thực hiện vật, tôi xếp sáu mảnh giấy là giả mạo. Do đây là các hiện vật không có nguồn gốc thì có khả năng tất cả đều là giả mạo.” Nghi ngờ về các mảnh giấy nhà Green sở hữu tiếp tục dấy lên khi các chuyên gia kiểm nghiệm các mảnh giấy từ các bộ sưu tập khác được mua về cùng thời kỳ. Davis, Justnes và 6 nhà nghiên cứu của BAM đã xem xét các mảnh giấy thuộc sở hữu của nhà sưu tập Na Uy Martin Schøyen – người sở hữu một trong những bộ sưu tập văn bản cổ lớn nhất thế giới – để chuẩn bị cho một cuộc triển lãm. Họ đã công bố phát hiện mới trên tạp chí Dead Sea Discoveries trong tháng 10/2017. Các kết quả được đưa ra đã gây chấn động: phân tích một mảnh giấy cho thấy lớp trầm tích đáng ra phải bám trên bề mặt giấy lại xuất hiện ở bên dưới lớp mực; mảnh giấy khác chứa các tinh thể muối cùng kích cỡ bám trên mặt giấy một cách nhân tạo với một tinh thể muối bị mực viết đáng ra phải có 2000 năm tuổi đè lên– điều không thể xảy ra nếu mảnh giấy đó là thật. Nhiều các mảnh giấy khác cũng bị viết đè lên.   Trong một thông cáo đưa ra vào tháng 10, Martin Schøyen đã thừa nhận, 15% các mảnh giấy được giao dịch trên thị trường gần đây là ngụy tạo, bao gồm cả những mảnh giấy thuộc quyền sở hữu của ông. Nhưng trong thông cáo khác gửi The Guardian, ông lại nghi ngờ về kết quả của việc kiểm tra mực trên các mảnh giấy: “Việc xác định những mảnh giấy của tôi là giả mạo dựa trên yếu tố mực viết có nguồn gốc hiện đại. Tuy nhiên, phân tích Carbon-14 không thể thực hiện được một cách tin cậy trên phần mực nhỏ như vậy. Hiện tại, những bằng chứng chi tiết về sự giả mạo của các mảnh giấy được Justnes tập hợp và công khai trên blog The Lying Pen of Scribes của mình.  Theo dấu chân của William Kando  Công bố của Justnes với một hội nghị các học giả ở Berlin năm 2017 nhận định, kể từ năm 2002, hơn 75 mảnh giấy trong Cuộn sách Biển Chết chưa từng được biết đến trước đó đột ngột xuất hiện trên thị trường cổ vật. Hầu như tất cả chúng đều có liên hệ tới William Kando – đôi khi trực tiếp, đôi khi chỉ hời hợt. “Tại sao kết nối Kando lại quan trọng đến thế? [Bởi vì] trên thực tế, liên hệ với gia đình Kando là cách duy nhất để biện minh cho nguồn gốc các mảnh giấy mới vào bộ dữ liệu [học thuật] gần 50 năm kể từ lần cuối người ta tìm thấy một cuộn giấy nào.”  Gia đình Green chưa cho tiết lộ nguồn gốc của 13 mảnh giấy họ sở hữu, nhưng điều tra của The Guardian cho rằng gần một nửa số đó được mua từ William Kando, và chính Steve Green đã đến thăm hầm bạc của nhà Kando ở Zurich để xem các mảnh giấy. Tương tự là trường hợp của Schøyen và một người mua khác, Dorothy Patterson – người đã mua các mảnh giấy tặng cho trường Đại học Southwest dòng Báp-têm.  Từ cửa hàng của mình ở Đông Jerusalem, William Kando dứt khoát phủ nhận việc liên quan đến bất kỳ mảnh giấy giả mạo nào– dù qua trao đổi trực tiếp hay qua trung gian – kể cả ông có biết hay không đi nữa. Ông mô tả những học giả dám đặt câu hỏi về các mảnh giấy đó là “ngớ ngẩn” và có ý đồ xấu.  Khi trả lời phỏng vấn của The Guardian, Kando thừa nhận việc mình đã bán 7 mảnh giấy cho Steve Green để đổi lấy 40 triệu đô la cho mỗi mảnh giấy như Green đã đề nghị. “Không có chuyện chúng tôi bị lừa,” Kando nhấn mạnh. “Những mảnh giấy này là [thật] 100% còn các thông tin kia đơn giản là sự xuyên tạc.”  Yêu cầu sự minh bạch   Sau tuyên bố của Bảo tàng Thánh kinh về việc rút các mảnh giấy giả mạo khỏi trưng bày, chúng đã được thay thế bằng các mảnh giấy khác chưa được kiểm định, đi kèm với lưu ý cho khách tham quan. GS. Michael Langlois từ Đại học Strasbourg, Pháp – người tham gia nghiên cứu bộ sưu tập Schøyen – bình luận, bước đi đó của Bảo tàng Thánh kinh chỉ có ý nghĩa tình thế. “Liệu điều này có nghĩa là các mảnh giấy còn lại là thật không? Không. Bởi vì chúng chưa trải qua các giám định tương tự.” Langlois nhận xét: “Tôi giữ nguyên quan điểm rằng 13 mảnh giấy của bảo tàng là ngụy tạo, nên câu chuyện này chưa thể kết thúc.”  Từ phía Bảo tàng, TS. Jeffrey Kloha, quản lý Bảo tàng cũng thừa nhận: “Chúng tôi đã hi vọng kết quả sẽ khác, nhưng đây là cơ hội để giáo dục công chúng hiểu được về tầm quan trọng của việc thẩm định các hiện vật tôn giáo dưới quy trình chặt chẽ, và cam kết của bảo tàng về tính minh bạch.”  Đây cũng không phải rắc rối đầu tiên mà Bảo tàng Thánh kinh gặp phải từ khi thành lập đến nay. Cuộc săn tìm thánh vật của bảo tàng cũng đã đẩy họ tới một số rắc rối với pháp luật Mỹ. Được biết đến nhiều nhất là vụ kiện hồi tháng 7 năm ngoái, khi Bảo tàng này phải hoàn trả khoảng 5.500 hiện vật khi được xác định đã bị mua bán bất hợp pháp từ Iraq.  Theo sau vụ việc này, các đơn vị sở hữu khác của các mảnh giấy bắt đầu thực hiện các giám định riêng. TS. Davis trả lời trên The Times of Israel: “Trường Southwest tổ chức chương trình [giám định] riêng, và cũng gửi các mảnh giấy cho BAM để kiểm tra và chúng tôi vẫn đang chờ đợi kết quả của họ.”  Nhưng những kiểm nghiệm này đáng ra không cần phải diễn ra nếu hoạt động buôn bán các mảnh giấy có được sự minh bạch cần thiết. Justnes và TS. Khảo cổ Josephine Rasmussen khẳng định qua trao đổi với The Times of Israel: “Cần công khai toàn bộ lịch sử sở hữu và nguồn gốc của hiện vật của các bảo tàng và các nhà sưu tập. Chúng ta có thể dùng những biện pháp kiểm chứng vật lý để xác định tính chân thực của hiện vật nhưng cách làm này vẫn không thể chứng minh được sự hợp pháp và tính đạo đức của việc sở hữu đó. Do vậy, hiện vật vẫn bị coi là đáng ngờ cho dù nó có là đồ thật hay không.”¨  Tuấn Quang tổng hợp  Nguồn: Dead Sea Discoveries, The Guardian, Times of Israel, National Geographic, The Conversation.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Curevac và Tesla sẽ in thuốc chữa bệnh như thế nào?      Ingmar Hoerr, nhà sáng lập Curevac và Elon Musk đã thúc đẩy một dự án mới – in thuốc chữa bệnh – được dự báo sẽ làm khuynh đảo nền y học.      Nguyên mẫu đầu tiên của máy in mRNA với lệnh “Ctrl + P = thuốc  chữa bệnh”  của Curevac.  Người ta chú ý nhiều tới Biontech khi hãng dược phẩm này đưa ra vaccine Covid nhưng không mấy người nhắc đến Curevac, doanh nghiệp công nghệ sinh học thứ hai ở Đức đang nghiên cứu về một công nghệ có khả năng cải thiện đáng kể vấn đề hậu cần (logistic) đối với tiêm chủng và từ đó góp phần hạn chế lây lan của virus. Hơn nữa, qua đó có thể điều trị nhiều loại bệnh khác, thí dụ như bệnh ung thư.  Ingmar Hoerr, người sáng lập Curevac – cùng với Elon Musk, ông chủ nhà máy ô tô điện Tesla đang hợp tác để nghiên cứu một loại máy in thuốc chữa bệnh để ngay tại các cơ sở y tế. Trao đổi với tạp chí Tuần kinh tế của Đức, ông Hoerr cho rằng diều này có thể tạo ra  “một cuộc cách mạng” trong sản xuất dược phẩm. Công nghệ này sẽ làm được những gì mà cho đến nay chưa hề được biết đến”.   Phòng thí nghiệm mini  Máy in của Curevac dạng nguyên mẫu hiện đã có mặt tại trụ sở của hãng ở Tübingen, kích cỡ nhỏ, dễ dàng vận chuyển và lắp đặt nhanh chóng. Theo Hoerr, “đại để nó như một cái tủ lạnh, một phòng thí nghiệm mini, có thể in mRNA”.   mRNA là chất truyền tin trong cơ thể con người nó có chức năng hướng dẫn “xây dựng” các phân tử protein, các phân tử này chịu trách nhiệm về những hoạt động của tế bào. Hiện nay các vaccine mRNA như của Biontech và Moderna được tạo ra trong các nhà máy lớn và cần có chi phí rất lớn, rất nhiều thùng lạnh và phương tiện vận chuyển chuyên dụng để vận chuyển đi các nơi. Máy in mRNA mà Curevac đang nghiên cứu được kỳ vọng là có thể giúp đơn giản hóa những phiền phức này. “Máy in có thể lắp đặt tại ngay các cơ sở bào chế dược phẩm và các cơ sở y tế như phòng khám bệnh và bệnh viện”, Hoerr giải thích. Các loại thuốc cần thiết sẽ được in ra tại chỗ.   “Ý tưởng thì có vẻ thật tuyệt vời, tuy nhiên đưa vào ứng dụng thực tế thì còn vướng ở một số điểm”, Hoerr nhấn mạnh, “tủ thuốc tự động phải cực kỳ tinh khiết, và trong quá trình bào chế thuốc tuyệt đối không được để vật lạ thâm nhập vào máy. Hơn nữa cỗ máy còn là một tủ lạnh, để tránh không để các chuỗi mRNA rất nhạy cảm bị phân hủy khi gặp nhiệt”.  Đội ngũ nghiên cứu của Curevac đã có ý tưởng về vấn đề này từ vài năm nay, chỉ có bí quyết về nguyên liệu sản xuất là chưa có. Vì vậy năm  2015 doanh nghiệp Curevac đã liên doanh với chuyên gia tự động hóa Grohmann ở Eifel. Đến  2017 thì Tesla tiếp quản Grohmann, nhằm tăng cường tự động hóa và hiệu quả của nhà máy sản xuất ô tô và nhà máy pin cho ô tô của mình. Hoerr đã đích thân gặp Elon Musk để cùng thảo luận về tương lai của máy in dược phẩm và Musk đồng ý để các kỹ sư của Grohmann tiếp tục theo đuổi dự án.   Kỳ vọng thuốc chống ung thư riêng biệt cho từng người    Curevac không chỉ nghiên cứu về một loại vaccine chống virus corona mà còn nghiên cứu để sử dụng công nghệ mRNA để chống các bệnh khác như ung thư. Nên nếu máy in mRNA  thành công thì trong tương lai các chuyên gia có thể thiết kế các loại thuốc mRNA trên máy tính để chữa nhiều loại bệnh, phù hợp cho từng người bệnh.   Máy in văn phòng thì đổ mực còn máy của Curevac thì được nạp các loại hóa chất khác nhau. Máy in sẽ nhận đơn thuốc kỹ thuật số và đưa ra thành phẩm là một loại thuốc mRNA phù hợp với từng người bệnh. Các bác sĩ gọi cách tiếp cận này là thuốc cá nhân hóa.  Sẽ còn một thời gian nữa thì công nghệ này mới trở thành hiện thực và sẽ còn mất nhiều năm nữa máy in mới được sản xuất hàng loạt.. Đến mùa hè này các chuỗi mRNA đầu tiên ở Tübingen mới được in ra để phục vụ thử nghiệm. Ông Hoerr giải thích “vẫn còn nhiều điều để tối ưu hóa”.  Nếu dự án này thành công thì sẽ đem lại lợi ích rất lớn: ngay cả những vùng hẻo lánh nhất ở các nước đang phát triển cũng có thể tự sản xuất các thuốc hay vaccine chống lại những căn bệnh nhiệt đới mà các chuyên gia ở tận đầu bên kia thế giới vừa mới thiết kế. Và các liệu pháp gene mới cho nhiều loại bệnh có thể được sản xuất ngay tại nơi bệnh nhân đang điều tri, tức trong bệnh viện, bằng máy in.  Xuân Trang tổng hợp, lược thuật  Nguồn: https://www.wiwo.de/impfstoffe-wie-curevac-und-tesla-medikamente-drucken-wollen/26974970.html  https://www.businessinsider.de/wissenschaft/curevac-entwickelt-mit-tesla-einen-drucker-fuer-mrna-medikamente/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cứu loài ong khỏi thuốc trừ sâu      Hai công trình nghiên cứu mới đây cho thấy thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến làm suy giảm khả năng sinh sản của loài ong. Điều bất ngờ là các khu đô thị lại trở thành khu vực sinh sống của loài ong.    Theo Tuần kinh tế Đức    Do cây hoa dại ngày càng hiếm, ong phải bay vào  các thành phố tìm phấn hoa và hút mật.  Chóng mặt, mất phương hướng và mẫn cảm với bệnh tật là những tác động nguy hiểm đến loài ong của một số loại thuốc trừ sâu. Vì vậy, ngay từ năm 2013 EU đã ra quyết định hạn chế tối đa việc sử dụng loại thuốc trừ sâu có chất Neonictotinoid. Những nghiên cứu mới đây càng cho thấy bước đi này là hết sức cần thiết: Một bài báo của các nhà nghiên cứu tại đại học Bern trên tạp chí “Proceedings of the Royal Society B” mang tựa đề “Neonicotinoid insecticides can serve as inadvertent insect contraceptives” (tạm dịch “Thuốc trừ sâu Neonicotinoid có thể gây vô sinh”, trong đó nêu Neonicotinoid là chất độc hại đối với côn trùng thông qua việc tác động vào tế bào thần kinh. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện, các độc tố này không chỉ làm giảm 39% lượng tinh trùng ở ong đực mà còn làm giảm cả tuổi thọ của chúng. Ngay từ năm  2012, tạp chí Science đã đăng nghiên cứu của họ về việc giảm khả năng sinh sản của ong chúa khi bị nhiễm Neonicotinoid. Trước đó, Nature cũng công bố những kết quả tương tự.  Ngoài ra, các nhà khoa học còn tìm thấy Clothianidin, cũng một dạng gây hại như Neonicotinoid làm ảnh hưởng đến ong.  Từ nhiều năm qua, việc ong chết hàng loạt đã là một vấn đề lớn. Mùa đông năm 2002, các nhà nuôi ong Đức đã báo động về điều đó và họ cũng chứng minh, hàng năm số lượng đàn ong liên tục giảm. Điều này gây hại cho người nông dân bởi lẽ ong còn thụ phấn cho cây trồng. Theo các đánh giá được thực hiện ở Đức, ong đóng góp ước khoảng 30% sản lượng nông nghiệp.  Theo một nghiên cứu ở Đức, người ta phát hiện nguyên nhân trực tiếp khiến ong chết hàng loạt không phải vì thuốc sâu mà vì loại nhện Varro hay Varroa-Milben khi kết hợp với một loại virus gây bệnh. Một câu hỏi đặt ra là có phải chúng chỉ có thể gây hại trong trường hợp ong đã bị thuốc trừ sâu làm cho suy yếu nhưng đến nay chưa ai giải đáp được nghi vấn này.  Một nguyên nhân khác dẫn đến hiện tượng ong chết là do nhiều nơi Đức mất đi nhiều diện tích hoa dại và tình trạng độc canh trong nông nghiệp. Mùa hè vừa qua ở các thành phố lớn miền đông nước Đức có hiện tượng nhiều ong bị chết vì nguyên nhân này khiến ong phải bay dạt vào các thành phố và chết tại đây.  Tuy nhiên hành động bảo vệ thái quá cũng gây ra những tác động ngược. Những người bảo vệ môi trường có thiện chí ở bang South Dakota, Mỹ cách đây vài năm đã gieo hạt một số loại cây trên cánh đồng nhằm tạo thức ăn cho ong nhưng vô tình làm hại đàn ong nhiều hơn. Theo dõi cuộc thử nghiệm này hai năm liền, các nhà khoa học Mỹ nhận thấy, số lượng ong bị còi cọc thậm chí lại tăng lên, ngay cả trên cánh đồng nuôi trồng hữu cơ của nông dân cũng có tình trạng tương tự. Trên thực tế, khi người nông dân phun thuốc sâu thì do gió thổi thuốc sâu bay sang cả các cánh đồng ở gần đó và lượng thuốc lan tỏa đó cũng đủ để gây tổn thất cho ong ở khu vực gần đó.  Trước tác động của các loại thuốc trừ sâu lên ong, nhiều quốc gia đã quyết định hành động, trong đó nước Pháp dự định đến năm 2017 sẽ xem xét việc cấm thuốc sâu Neonicotinoide và cũng sẽ kêu gọi EU ra lệnh cấm đối với hóa chất này. Tuy nhiên ở quốc gia láng giềng Đức, bộ trưởng Bộ Nông nghiệp lại tỏ ra ngập ngừng, thiếu cương quyết.  Trong khi vẫn chưa có biện pháp chính thức hữu hiệu nào từ phía các nhà làm luật thì các nhà nghiên cứu và các nhà bảo tồn ong đã nêu ra nhiều sáng kiến hay. Các nhà khoa học thuộc trường đại học Queen Mary London thậm chí còn phát động một cuộc thi đua vì ong mật: người dân thủ đô London có nhiệm vụ trồng trên ban công hay bậu cửa sổ những loại cây thân thiện với loài ong và chụp ảnh những con ong đã đánh số để tham gia cuộc thi.  Tại Berlin đã có lúc một cái xe đạp trở thành một địa điểm tạm trú của ong. Một người nuôi ong sau đó đã thu gom tổ ong này.  Thành phố Zürich lại đi theo một con đường hơi khác một chút khi kêu gọi người dân xanh hóa mái nhà nhà mình, việc làm này nhằm cải thiện sự đa dạng sinh học trên các mái nhà. Các nhà quản lý thành phố ghi lại mọi sáng kiến, những gương điển hình và những quy định của pháp luật về vấn đề này và đưa lên mạng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cựu Thủ tướng Phần Lan khuyến nghị Việt Nam tập trung vào ecosystem cho ĐMST      Đó là một trong những khuyến nghị mấu chốt mà ông Esko Aho – cựu Thủ tướng Phần Lan – muốn truyền tải khi chia sẻ về kinh nghiệm của quốc gia Bắc Âu trong quá trình phát triển kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo.      Cựu Thủ tướng Phần Lan Esko Aho tại buổi thuyết trình diễn ra tại hội trường của Bộ KH&CN ngày 18/9/2017. Ảnh: Vũ Hiệp  Buổi thuyết trình diễn ra tại hội trường của Bộ KH&CN ngày 18/9/2017, một hoạt động trong khuôn khổ của chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) giai đoạn 2.  Trong một thế giới thay đổi nhanh và ngày càng khó dự đoán, các quốc gia và các ngành công nghiệp đều phải học cách thích nghi và liên tục tự điều chỉnh một cách linh hoạt, vì vậy ông Aho cho rằng phẩm chất quan trọng nhất của người lãnh đạo (nhà nước cũng như doanh nghiệp) không phải là xây dựng và thực hiện các chiến lược cố định, mà là lựa chọn mô hình nền tảng cho sự phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn. Theo ông, mỗi quốc gia chỉ có thể học hỏi kinh nghiệm từ bài học của người khác để từ đó tự sáng tạo nên câu chuyện riêng của chính mình, chứ không thể sao chép rập khuôn bất cứ một mô hình sẵn có nào.  Với kinh nghiệm 40 năm làm việc cho cả khu vực công lẫn tư nhân, vị cựu thủ tướng đồng thời từng có giai đoạn làm phó chủ tịch Tập đoàn Nokia, đưa ra những ví dụ sinh động minh chứng cho các nhận định của mình. Phần Lan là một quốc gia Bắc Âu có diện tích gần như tương đương với Việt Nam và quy mô dân số nhỏ hơn rất nhiều (gần 5.5 triệu dân). Sau thế chiến thứ hai, Phần Lan là quốc gia chịu nhiều thiệt hại, với một nền kinh tế chủ yếu làm nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên hầu như là con số không, chưa kể điều kiện khí hậu thuộc hàng khắc nghiệt nhất trên thế giới.  Tuy nhiên, chính hoàn cảnh “hầu như không có gì đó”, Phần Lan đã biết chắt chiu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực ít ỏi, và điều quan trọng là biết lựa chọn những mô hình phát triển phù hợp. Trong thập kỷ 50-60 của thế kỷ trước, Phần Lan đã tất yếu lựa chọn con đường công nghiệp hóa để hiện đại hóa đất nước, nhưng đến thập kỷ 80-90, họ đã sáng suốt nhận ra chỉ công nghiệp hóa là chưa đủ mà phải chuyển sang một nền kinh tế lấy đổi mới sáng tạo làm trụ cột. Những lựa chọn khôn ngoan đó đã giúp Phần Lan đã vươn lên cùng với Nhật Bản, Na Uy, Singapore, là những nước có thành tựu tăng trưởng ngoạn mục nhất trong vòng một thế kỷ qua. Ông Aho cũng lấy ví dụ về câu chuyện thành công của Nokia trong thập niên 1990 khi đó đang trên bờ vực phá sản, hội đồng quản trị đã mạnh dạn tái cấu trúc lại công ty, nắm bắt được xu thế của cuộc cách mạng di động đang bùng nổ, để những năm sau đó Nokia trở thành nhà sản xuất và cung cấp thiết bị di động số 1 thế giới. Tương tự như vậy, tới những năm 2000, khi nhận thấy rằng xu thế sản xuất, kinh doanh điện thoại di động đã tới giai đoạn bão hòa, Nokia đã bán lại mảng hoạt động này để tập trung hoàn toàn vào lĩnh vực thiết bị viễn thông.  Tuy nhiên, theo ông Aho, điều kiện tiên quyết cho thành công của tất cả những quyết sách về mô hình phát triển của quốc gia cũng như các doanh nghiệp chính là nền tảng khoa học – công nghệ, và giáo dục. Bên cạnh đó, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh các yếu tố văn hóa khuyến khích đổi mới sáng tạo.  Khi được hỏi Việt Nam cần làm gì để trở thành một quốc gia đổi mới sáng tạo, ông Aho cho rằng Việt Nam cần rất nhiều nỗ lực cải cách và thay đổi trong nhận thức, như xây dựng một hệ sinh thái (ecosystem) và môi trường phù hợp cho việc triển khai các ý tưởng sáng tạo vào thực tiễn; cải cách giáo dục để người học biết vận dụng và kết hợp các kỹ năng một cách sáng tạo; biết chấp nhận rủi ro bởi đó là yếu tố luôn đồng hành cùng mọi quá trình đổi mới sáng tạo.  Đối với ngành khoa học – công nghệ, kinh nghiệm Phần Lan mà ông Aho cho rằng Việt Nam có thể tham khảo là sử dụng các nguồn lực của mình một cách khôn ngoan, cân đối giữa đầu tư sâu theo chiều dọc của từng ngành với thúc đẩy liên kết liên ngành để làm ra những sản phẩm ứng dụng phù hợp. Trong tiến trình đó, vai trò của mối liên kết công – tư và hình thức đầu tư đối ứng của Nhà nước và doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Khi cần thiết, Nhà nước có thể thúc đẩy hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, tuy nhiên, khi khu vực tư nhân đã sẵn sàng thì Nhà nước nên rút lui, ông Aho nhấn mạnh.       Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Đa dạng di truyền của loài sen châu Á trồng tại Việt Nam và Thái Lan      Trong công trình “Genetic diversity and inferred ancestry of Asian lotus (Nelumbo nucifera) germplasms in Thailand and Vietnam”, xuất bản trên tạp chí Plant Diversity, nhà nghiên cứu Hoàng Thị Nga (Trung tâm Giống cây trồng, Viện KH Nông nghiệp Việt Nam) và cộng sự Thái Lan đã sử dụng các chỉ thị phân tử trình tự lặp đơn giản EST-SSR và đa hình khuếch đại trình tự SRAP để đánh giá sự đa dạng di truyền và suy luận ra tổ tiên của loài sen nhiệt đới đang hiện diện ở Thái Lan và Việt Nam.      Sen (Nelumbo Adans.) là loại cây có lịch sử tiến hóa lâu đời, hiện chỉ có hai loài tồn tại trên thế giới, sen châu Á (N. nucifera Gaertn.), phân bố từ châu Á đến Bắc Australia và sen châu Mỹ (N. lutea Willd.) phân bố từ Trung đến Bắc Mỹ. Trước đây có những nghiên cứu về 292 giống sen trồng và dại ở châu Á đánh giá là sen có thể không cùng một nguồn gốc duy nhất mà có nguồn gốc đa nguồn và phức tạp. Bên cạnh đó cũng có nhiều nhà khoa học cho rằng Thái Lan và Việt Nam là trung tâm nguồn gốc của sen dại châu Á. Do đó, nhà nghiên cứu Hoàng Thị Nga và cộng sự đã tìm cách phân loại mối liên quan di truyền và nhận diện được cây di truyền của sen nhiệt đới ở Thái Lan và Việt Nam bằng các chỉ thị phân tử EST-SSR và SRAP.  Để thực hiện nghiên cứu này, họ đã quy tụ được 69 mẫu sen, trong đó 27 mẫu thu thập tại Thái Lan vào năm 2015, phân bố từ Bangkok đến Chiang Mai, và 29 mẫu ở Việt Nam vào năm 2016, phân bố từ Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương đến Huế, TP.HCM, Đồng Tháp, Long An và Sóc Trăng. 13 mẫu mầm sen là các mẫu sen dại và đã được thuần hóa, được dùng để làm vật liệu tham chiếu, được lấy từ Bộ sưu tập sen quốc tế ở Vườn thực vật Chenshan Thượng Hải.  Bằng các chỉ thị phân tử EST-SSR và SRAP, họ lần lượt dò được 164 và 41 dải đa hình trong số 69 mẫu, qua đó có thể thấy sen Thái Lan có tính đa dạng di truyền cao hơn sen Việt Nam.  Với các kết quả này, họ đã lập được một cây phát sinh gene, được xây dựng dựa trên kỹ thuật ma trận khoảng cách di truyền từ việc kết hợp các dải DNA của chỉ thị phân tử EST-SSR và SRAP. Cây này gồm 5 cụm chính, trong đó cụm một gồm 17 mẫu sen Thái Lan; cụm hai gồm 3 mẫu sen Thái, 11 mẫu từ các vùng miền Bắc Việt Nam, 1 mẫu sen tham chiếu; cụm ba gồm 2 mẫu tham chiếu, 1 mẫu Thái Lan, 11 mẫu Việt Nam. Từ cây phát sinh gene này, các nhà nghiên cứu đã thực hiện phân tích cấu trúc di truyền và phát hiện ra nền tảng di truyền của phần lớn các mẫu sen Thái và Việt chủ yếu là thuần chất và rất hiếm khi thấy sự nhân giống nhân tạo sen ở cả hai quốc gia. Các kết quả cũng cho thấy các chất mầm nguyên sinh của sen Thái và sen Việt đều thuộc về hai quần thể gene khác nhau. Phần lớn mẫu sen đều liên quan đến các mẫu hình phân bố địa lý ở Thái Lan và Việt Nam. Rất có thể là các chất mầm nguyên sinh sen này đã trải qua quá trình phân hóa di truyền, do đó chúng rất có khả năng trở thành những vật mẫu sáng giá cho các chương trình nhân giống trong tương lai. Tương tự như Thái Lan, phần lớn mầm sen của Việt Nam đều ở dạng thuần chất hoang dã. Điều đó cho thấy các hoạt động canh tác nông nghiệp, thường được tiến hành với việc nhân giống nhân tạo, đã ít ảnh hưởng đến dòng di truyền các giống sen.  Tuy nhiên, họ cũng phát hiện ra rất nhiều điểm tương đồng và gần gũi giữa các loại sen được trồng ở các khu vực địa lý khác. Đó là mẫu sen ‘Jianxuan 35’ và sen từ đảo Hải Nam, Trung Quốc gần gũi về mặt di truyền với mẫu sen từ miền Bắc Việt Nam. Nguyên nhân của sự gần gũi này có thể là do khoảng cách địa lý ở hai vùng, tuy nhiên cũng cần nghiên cứu thêm để xác định liệu hai mẫu sen Trung Quốc nguyên gốc ở Trung Quốc hay được di thực từ miền Bắc Việt Nam. Tương tự, họ cũng thấy có sự gần gũi giữa sen miền Bắc Việt Nam với sen Úc.  Một số điểm thú vị khác của nghiên cứu này là sự tương đồng của sen Bắc Ninh và sen Hà Nội với sen Chiba (Nhật Bản) và sen Dan Sajin – một loại sen được trồng ở cả Trung Quốc và Nhật Bản nhưng chưa rõ về nguồn gốc của chúng.□  (PV)    Author                .        
__label__tiasang Đa dạng hóa đầu tư của Tập đoàn và DNNN:  Nguy cơ lãng phí nguồn lực quốc gia      Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng h&#243;a đầu tư trở th&#224;nh y&#234;u cầu v&#224; xu hướng ph&#225;t triển ng&#224;y c&#224;ng đậm n&#233;t của c&#225;c doanh nghiệp (DN) v&#224; tập đo&#224;n kinh tế (TĐ) tr&#234;n thế giới. Tuy nhi&#234;n, xu hướng n&#224;y cũng c&#243; thể dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều DN v&#224; TĐ, đặc biệt khi c&#225;c hoạt động đầu tư n&#224;y được tiến h&#224;nh bằng vốn đi vay, trong khi thiếu cơ chế quy tr&#225;ch nhiệm v&#224; kiểm so&#225;t đầu tư hiệu quả …     Đầu tư ra ngoài lĩnh vực truyền thốngThực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng có tính hai mặt của nó: Một mặt, nếu DN đi đúng hướng và đầu tư có hiệu quả thì điều này sẽ giúp nâng cao vị thế của DN và đạt được những mục tiêu mới; mặt khác, nếu “chệch hướng” hoặc đầu tư có tính đầu cơ, chụp giựt, khai thác các cơ hội độc quyền ngắn hạn, không hiệu quả, thì hoạt động này có thể làm suy sụp hình ảnh, thậm chí đánh mất thương hiệu, gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho DN nói riêng và nền kinh tế nói chung. Khi đa dạng hóa đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực mới mẻ, ít nhiều bản thân DN đánh mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có của mình. DN rất dễ mắc sai lầm, thậm chí phải trả giá đắt do sự phân tán các nguồn lực, thiếu kỹ năng thẩm định công nghệ, thiếu các thông tin cập nhật, thiếu kinh nghiệm quản lý và phản ứng thị trường. Việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài chính hoàn toàn có thể xảy ra. Đặc biệt, với khả năng tài chính có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc DN phải tìm đến các nguồn vốn mới, với những điều khoản thương mại ngặt nghèo. Điều này rất dễ đưa họ sa vào chiếc bẫy nợ nần…               Mỗi cái “bắt tay” của các tập đoàn đều là những con số đầu tư, kinh doanh không nhỏ.Nhưng hiệu quả hoạt động thực sự lại là điều đáng bàn        Theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước năm 2008 và gần đây, sau khi thực hiện 135 cuộc kiểm toán tại 35 tỉnh thành ở 20 Bộ, 23 TĐ, nhiều tổng công ty (TCT) và tổ chức tài chính, cuối tháng 7/2009 vừa qua, Kiểm toán Nhà nước đã công bố kết luận với nhiều thông tin đáng chú ý. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang lĩnh vực gồm dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư 3.590 tỷ đồng (chiếm 4,82% vốn chủ sở hữu) sang lĩnh vực bất động sản, tài chính-ngân hàng. Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không chịu bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn nhảy sang ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế. TĐ Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) ngoài lĩnh vực chuyên sâu của mình, cũng đã đầu tư dịch vụ vận tải biển, thủy điện, tài chính, chế tạo cơ khí và dư nợ phải trả gấp hàng chục lần vốn chủ sở hữu; TCT Hàng hải (Vinalines) và TĐ Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đầu tư ra ngoài lĩnh vực chuyên môn lần lượt là 873,78 tỷ đồng (chiếm 11,8% vốn chủ sở hữu) 1.786 tỷ đồng (chiếm 16,15% vốn chủ sở hữu).   Lỗ  và NợVẫn theo kết luận nói trên của Kiểm toán Nhà nước, kết quả kiểm tra của 224 đơn vị thành viên thuộc 16 TĐ&TCT cho thấy: số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chiếm gần 10%. Chỉ riêng vụ đầu tư sản xuất điện thoại để bàn đã làm tổn thất khoảng 1.700 tỷ đồng cho một TĐ. Còn theo kết quả kiểm toán năm 2008, tổng số nợ của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) lên tới 181.000 tỷ đồng. Năm 2008, nhiều DNNN có số nợ phải trả gấp nhiều lần số vốn chủ sở hữu. Trong số 70 TĐ&TCT có báo cáo, thì có 30 đơn vị có hệ số nợ phải trả trên vốn vượt trên 3 lần, thậm chí nhiều doanh nghiệp vượt trên 20 lần, ví dụ như TCT Xây dựng công trình giao thông 5 (gấp 42 lần), TCT Xây dựng công trình giao thông 1 (gấp 22,5 lần), TCT Lắp máy Việt Nam-Lilama (gấp 21,5 lần), Vinashin (gấp 21,8 lần)… (xem box 1)Những khoản cho vay của các công ty tài chính, ngân hàng có vốn góp của TĐ&TCT Nhà nước có nhiều rủi ro vì các điều kiện và thủ tục vay vốn rất đơn giản (như không bắt buộc phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay), chưa kể những khoản cho vay này còn có nhiều ưu đãi.         Một số đơn vị thua lỗ nhiều trong năm 2006 là Tổng công ty Lắp máy Việt Nam lỗ lũy kế đến tháng 12/2007 là 23,4 tỷ đồng, Tổng công ty xây dựng Sài Gòn lỗ 90,4 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 – 93,4 tỷ đồng và Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 lỗ 102,7 tỷ đồng… Các Tổng công ty khác như Khánh Việt, Địa ốc Sài Gòn, tuy số lãi theo báo cáo là trên 600 tỷ đồng, nhưng số nợ phải trả hơn 4.600 tỷ đồng, chiếm lần lượt là 40 và hơn 60% tổng nguồn vốn. Như vậy, mặc dù lợi nhuận trước thuế, theo báo cáo của kiểm toán, đạt gần 1.800 tỷ đồng, nhưng số nợ phải trả quá lớn. ————————–Tập đoàn Dầu khí đầu tư 5.780 tỷ đồng, trong đó ngân hàng 1.100 tỷ đồng, công ty Chứng khoán 76,5 tỷ đồng, công ty Tài chính 4.005 tỷ đồng, công ty Bảo hiểm 570 tỷ đồng, Quỹ đầu tư 29 tỷ đồng; Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam đầu tư 1.894 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực ngân hàng 344 tỷ đồng, bảo hiểm 1.462 tỷ đồng (Bảo Việt), quỹ đầu tư 88 tỷ đồng… Bên cạnh đó, tình trạng DNNN thành lập quá nhiều công ty con, công ty liên kết hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác hẳn với lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước đây ngày càng phổ biến…        Đáng quan ngại hơn, một số TĐ&TCT đã dành một lượng vốn khá lớn đầu tư vào ngân hàng, bảo hiểm hoặc mua bán cổ phiếu trên thị trường… Điều này dễ dẫn đến đổ vỡ dây chuyền khi mất khả năng thanh toán. Theo báo cáo của 70 TĐ&TCT, thì có tới 28 đơn vị hoạt động đầu tư chứng khoán, thành lập công ty chứng khoán, đầu tư vào công ty quản lý quỹ, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm với tổng giá trị đầu tư là 23.344 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn chủ sở hữu và 20% tổng số vốn đầu tư ra ngoài. (xem box 2)Có thể nói, những hoạt động đầu tư “năng động quá mức”, mang tính tranh thủ khai thác các cơ hội độc quyền hoặc lợi ích ngắn hạn của các DNNN này, nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt, thì rất dễ trở thành những “trái bom hẹn giờ” có sức công phá mạnh, gây tổn thất nặng nề, thậm chí là những đổ vỡ toàn diện khó lường cho đời sống kinh tế-xã hội đất nước. Bài học nhãn tiền mới đây của nền kinh tế Mỹ có thể nói là một ví dụ sinh động nhất. Còn ở Việt Nam, tiêu cực gây thất thoát một số lượng lớn vốn của Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa của một số “Đại gia” vừa được khui ra liệu có phải là phần nổi của tảng băng chìm và coi là “ngòi nổ” cho việc phát hiện ra hàng loạt các vụ tiêu cực nhạy cảm khác?   Nhập nhèm và thiếu trách nhiệmĐặc biệt, sự sai lệch, không phản ánh đúng thực tế tài sản, doanh thu và kết quả kinh doanh là hiện tượng khá phổ biến trong báo cáo tài chính của nhiều đơn vị. Theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước, những khiếm khuyết nói trên lại tập trung ở nhiều “ông lớn” như TKV, EVN, Vinalines, Lilama, Sabeco (TCT Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn)… Vì lý do này, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị tăng thu ngân sách Nhà nước năm 2007 thêm 4.166 tỉ đồng (chủ yếu từ các khoản thuế và phí, lệ phí); đề nghị giảm chi ngân sách Nhà nước 2.731 tỉ đồng (gồm chi sai, quyết toán sai chế độ, không đúng nguồn kinh phí…).Trong năm  qua, các DNNN chiếm giữ tới hơn 50% tín dụng đầu tư Nhà nước, 70% tổng dư nợ quốc gia và hơn 80% tổng dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại. Hiệu quả đầu tư của các TĐ, TCT và DNNN nói chung cả trong và ngoài nước đều không cao, và thường là thấp nhất nếu so với các mức đầu tư và kinh doanh tương tự của tư nhân hoặc các nhà đầu tư nước ngoài.  Tình trạng trên có nhiều lý do, nhưng trong đó phải kể đến đặc điểm của chủ sở hữu. Chủ sở hữu là Nhà nước thường dẫn đến cảnh “cha chung không ai khóc”. Chưa kể tới cơ chế tuyển dụng lao động, cơ chế quản lý vốn đầu tư (bao gồm cả việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh) thường bị áp đặt hoặc dễ dãi, gắn với lợi ích cục bộ, thậm chí do lợi ích cá nhân và phe nhóm, lợi dụng vốn Nhà nước để “đánh quả” và trục lợi. Bên cạnh đó, còn phải kể đến việc cơ chế ra quyết định đầu tư vừa phức tạp, chậm trễ, vừa lỏng lẻo, theo chủ nghĩa hình thức, tạo nhiều cơ hội cho tham nhũng phát sinh, phát triển…Thực tế đang cho thấy để giữ vững sự an toàn và ổn định  hệ thống, cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội, cần có những cảnh báo cấp thiết về việc phải ngăn chặn kịp thời sự “liên minh” có thể (hoặc đã) xảy ra giữa một số TĐ&TCTNN với các ngân hàng thương mại Nhà nước và các quan chức có liên quan trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư chéo, đầu tư đa ngành có giá trị lên tới hàng ngàn tỷ đồng, nhưng lại mang đậm tính đầu cơ, trục lợi cá nhân hoặc phe nhóm, lũng đoạn thị trường và lãng phí các nguồn lực quốc gia. Thực tế cũng cho thấy để xứng đáng là trụ cột quốc gia và tấm gương sáng trong nền kinh tế, cần có những đổi mới căn bản hơn nữa về cơ chế kiểm soát và phân định, xử lý trách nhiệm thích đáng trong đầu tư, nhất là đầu tư ra ngoài nhiệm vụ chính trị chủ yếu của các DN và TĐ…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đa dạng loài san hô giúp chặn đà suy giảm đa dạng sinh học      Một nghiên cứu mới của hai nhà khoa học ở Viện Công nghệ Georgia (Hoa Kỳ) mang đến cả hy vọng và nguy cơ về một tương lai u ám của các rạn san hô bị phá hủy.    San hô là nền tảng của các rạn đá ngầm trên thế giới, nhưng áp lực từ việc đánh bắt thủy sản quá mức, ô nhiễm môi trường và đại dương nóng lên đang giết dần các rặn san hô và làm suy giảm các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng mà chúng cung cấp. Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ EPA, rạn san hô vùng Caribe đã mất đi khoảng 80-90% độ che phủ. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã mất khoảng một nửa san hô trong 30 năm qua. Trong đợt tẩy trắng năm 2015-2016, gần một nửa số san hô còn lại dọc theo rạn san hô Great Barrier (Úc) đã bị tẩy trắng và chết.  Là không gian sống của nhiều loài khác, sự suy giảm san hô sẽ kéo theo sự biến mất của các loài sống ở rạn đá ngầm. Tuy nhiên, chúng ta lại biết rất ít về tầm quan trọng của sự đa dạng các loài san hô đối với chính bản thân chúng.  Trong nghiên cứu mới trên tạp chí Science Advances, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Cody Clements và GS. Mark Hay ở Viện Công nghệ Georgia phát hiện ra rằng việc tăng cường sự phong phú của san hô bằng cách trồng nhiều loài san hô cùng nhau sẽ góp phần cải thiện sự phát triển và khả năng sống sót của san hô. Phát hiện này đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phục hồi các rạn san hô.   Clements và Hay đã đến Mo›orea, thuộc quần đảo Polynesia của Pháp, nằm ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương để trồng những khu vườn san hô gồm nhiều loài khác nhau và đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tương hỗ và cạnh tranh khi chúng sinh trưởng và tương tác theo thời gian.   Họ đã trồng nhiều loài san hô trên các ô bàn cờ dưới nước để tìm hiểu xem sự phong phú và mật độ các loài có ảnh hưởng đến năng suất và sự tồn tại của san hô hay không.  Hay cho biết, trước đây nhiều thí nghiệm tương tự đã đưa san hô vào phòng thí nghiệm để các loài cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, lần này họ thực hiện tất cả các thử nghiệm của mình trong thực tế.   Một thử nghiệm do Clements đề xuất dùng các chai Coca-Cola đã giúp các nhà khoa học sắp xếp khu vườn này. “Chúng tôi gắn nắp chai ở phía mặt bệ trồng, san hô được trồng vào các cổ chai lộn ngược đã cắt rời, sau đó vặn vào hoặc bỏ ra khỏi chỗ trồng. Nhờ đó, chúng tôi có thể sắp xếp các loài theo ý muốn và sau vài tháng có thể vặn nắp lấy chúng ra để cân đo và biết chính xác tốc độ sinh trưởng của san hô”.  “Theo sắp xếp của chúng tôi, các loài san hô đáng lẽ phải cạnh tranh với nhau, nhưng thực tế, chúng sống cùng nhau tốt hơn so với khi ở một mình”, Hay cho biết. “Chúng tôi vẫn đang tìm hiểu cơ chế tạo ra kết quả bất ngờ này, nhưng trong khu vực các rạn san hô làm thí nghiệm, các tương tác tích cực luôn áp đảo các tương tác tiêu cực. Do vậy, nếu loại bỏ một số loài ra khỏi hệ thống, những tương tác tích cực sẽ giảm xuống. Và nếu ta bỏ đi những loài san hô thiết yếu, nó sẽ tạo ra sự khác biệt lớn”.  Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy rằng sự gia tăng đa dạng sinh học mang lại lợi ích cho san hô nhưng chỉ ở mức độ nhất định. Clements lưu ý: “San hô trồng ở vườn có số lượng loài vừa phải, chủ yếu từ 3-6 loài – mang lại hiệu quả cao hơn so với những vườn có số lượng ít (1-2 loài) hoặc nhiều hơn (9 loài). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa hiểu hết về các quy trình đã tạo ra kết quả này”.  Clements cho biết cần nghiên cứu thêm để hiểu rõ hơn cơ chế này. Tại sao san hô sinh trưởng tốt hơn trong quần thể hỗn hợp đa loài so với đơn loài? Tại sao hiệu ứng này lại giảm đi khi sự đa dạng của san hô ở mức cao nhất? “Chúng ta cần tìm hiểu thêm về cơ chế này để dự đoán mất mát đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng đến san hô như thế nào, cũng như khai thác ảnh hưởng tích cực của đa dạng sinh học để bảo vệ san hô”, Clements nói. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-underwater-gardens-boost-coral-diversity.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đà Nẵng khánh thành nhà máy tái chế rác thải      Sau khi khởi động dự án hợp tác với Nhật Bản về chế biến chất thải sinh hoạt thành phân bón vi sinh dạng lỏng, ngày 27/6 vừa qua thành phố Đà Nẵng đã khánh thành Khu liên hợp Khánh Sơn, một dự án khác về xử lý chất thải sinh hoạt khác ở quận Liên Chiểu. Sản phẩm của nhà máy sẽ là các loại nhiên liệu tái tạo, phân bón vi sinh, than sinh học, gạch block &#160;       Khu liên hợp xử lý chất rắn Khánh Sơn tọa lạc tại thôn Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu trên diện tích 10 ha, có tổng vốn đầu tư gần 900 tỷ đồng. Dự án được chia làm giai đoạn: giai đoạn một với số vốn gần 400 tỷ đồng xây dựng nhà máy đảm bảo xử lý 200 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày; giai đoạn hai dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2016, đưa công suất xử lý tác lên 700 tấn/ngày.   Dây chuyền công nghệ của nhà máy có khả năng xử lý triệt để chất thải rắn không chôn lấp, không phân tán ô nhiễm thứ cấp ra môi trường và sản xuất ra các loại sản phẩm đa dạng như nhiên liệu tái tạo, khí đốt, phân bón vi sinh, than sinh học, gạch block.   Theo quy trình công nghệ đầu tiên được lắp đặt, rác thải được phân loại bằng dây chuyền tách lọc tự động để chọn ra nilon phế thải, sau đó xử lý sạch và đưa vào hệ thống nạp liệu xử lý và đưa vào thiết bị nhiệt phân cracking  để sản xuất ra dầu PO. Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng ba (Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ KH&CN) đã cấp giấy chứng nhận kiểm định của quy trình này.  Với các dây chuyền công nghệ sẽ được lắp đặt trong giai đoạn hai của dự án, rác thải sinh hoạt sau khi lọc nilon, nhựa dẻo tiếp tục chuyển sang phân loại rác hữu cơ. Thành phần này sẽ được xử lý trên dây chuyền nung yếm khí để sản xuất ra than sinh học và than biochar, vốn là nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc tái tạo đất lâm nghiệp. Với những thành phần cuối cùng sau khi đã lọc nilon, rác thải hữu cơ sẽ được tiếp tục đưa qua nhiệt để khử các thành phần ô nhiễm, nghiền nhỏ, thêm phụ gia để sản xuất gạch block, phục vụ việc xây dựng công trình công cộng và dân sinh. Trong quá trình thử nghiệm, những sản phẩm này cũng đều được kiểm định đủ tiêu chuẩn chất lượng theo quy định tiêu chuẩn ngành.  Đề cập đến công nghệ xử lý, ông Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty CP Môi trường Việt Nam cho biết: “Chúng tôi đã tìm hiểu công nghệ xử lý chất thải rắn ở nhiều nơi trên thế giới và các địa phương khác trên cả nước để tìm kiếm công nghệ phù hợp với đặc điểm rác thải Việt Nam. Sau quá trình nghiên cứu, tìm tòi và cải tiến công nghệ phù hợp, chúng tôi đã phát triển và làm chủ công nghệ có thể tái sử dụng hầu như 100% thành phần có trong chất thải rắn để tạo ra các sản phẩm hữu ích, đặc biệt đưa tỷ lệ rác chôn lấp xuống 0%”.  Với việc thực hiện thành công dự án này vào năm 2016 cũng như các dự án xử lý môi trường theo xu hướng thân thiện với môi trường khác, Đà Nẵng phấn đấu đạt mục tiêu trở thành “thành phố môi trường” vào năm 2020.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đà Nẵng lọt tốp 5 thành phố dẫn đầu về ứng phó BĐKH      Với việc triển khai mô hình “nhà chống bão”, mới đây Đà Nẵng đã được Hãng thông tấn DW (Đức) xếp vào tốp 5 thành phố dẫn đầu trong việc thực hiện chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.    Bốn thành phố còn lại là New Orleans (Mỹ), Addis Ababa (Ethiopia), Bogotá (Colombia), và Freiburg (Đức). Bài viết dưới đây giới thiệu chi tiết về sáng kiến chống biến đổi khí hậu của mỗi thành phố.    Một trong những căn nhà chống bão được thực hiện bởi dự án. Ảnh VOV.  Đà Nẵng và mô hình “Nhà chống bão”  Nằm bên bờ sông Hàn, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam và là một trong những điểm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Số lượng khách đến Đà Nẵng không ngừng tăng lên hàng năm, tuy đem lại lợi nhuận cho ngành du lịch thành phố nhưng cũng đem lại nhiều ảnh hưởng đến môi trường. Do phải hứng chịu những cơn bão từ biển Đông, các công trình xây dựng ở khu vực trũng của Đà Nẵng luôn đối mặt với rủi ro vì ngập úng.  Thời tiết ngày càng có xu hướng trở nên khắc nghiệt đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân bởi nhà của họ không đủ chắc chắn mỗi khi bão về. Họ thường xuyên phải trang trải rất nhiều khoản tiền để khắc phục nhà cửa bị tàn phá sau mỗi trận bão và cố gắng làm cho nó chắc chắn hơn trước mùa bão tới.  Một sáng kiến mang tên “Nhà chống bão” đã được triển khai để cố gắng thay đổi điều đó. Mô hình “Nhà chống lũ” đã giành được giải thưởng “Momentum for Change” (Động lực thay đổi) của Liên hợp quốc vào năm 2014. Dự án do Sở Ngoại vụ Đà Nẵng phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng và Viện chuyển đổi môi trường và xã hội Hoa Kỳ ISET (Mỹ) thực hiện với nguồn vốn tài trợ từ Quỹ Rockefeller, (Mỹ) với tổng kinh phí hơn 400.000 USD. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 2011 nhằm mục đích giúp hơn 400 hộ nghèo và cận nghèo vay vốn để xây dựng, sửa chữa nhà ở theo kỹ thuật nhà chống bão1.  Từ sáng kiến “Nhà chống bão”, với những khoản tiền được vay, dù không quá lớn, hàng trăm gia đình đã có điều kiện gia cố ngôi nhà của mình. Cách làm này của Đà Nẵng không chỉ làm vững chắc thêm các công trình xây dựng trên địa bàn thành phố mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho cuộc sống của những người dân địa phương.  New Orleans và dự án “sống chung với lũ”     Lũ phá vỡ một đoạn đe ở New Orleans  Không chỉ nổi tiếng như một điểm đến văn hóa thú vị khi được coi như nơi sinh ra nhạc jazz, New Orleans còn được biết đến như một trong những nơi bị thiệt hại nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Giờ đây New Orleans đã đủ kinh nghiệm để biết cách đối phó với lũ lụt, ngay cả khi phải đối mặt với những cơn bão khủng khiếp nhất.  Vào 11 năm trước, cơn bão cấp 8 Katrina đã càn quét New Orleans và khiến thành phố này thiệt hại 100 tỷ đô la và làm sập 1,5 triệu ngôi nhà. Thành phố đã xây dựng lại hệ thống đê điều và làm hẳn một mạng lưới trạm bơm cũng như tường ngăn lũ để có khả năng chống chịu được lũ lụt trong vòng 100 năm, dù hàng năm, khả năng tái xảy ra cơn bão tương tự Katrina cũng chỉ cỡ 1%. Tuy nhiên, họ vẫn phải đề phòng bởi biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi tất cả.  Kế hoạch gia cố khu vực ven biển mà New Orleans thực hiện là một phần trong dự án 100 thành phố chống bão lũ để sẵn sàng cùng nhau thích ứng với biến đổi khí hậu và tự cắt giảm lượng khí thải. Để đạt được mục tiêu này, cũng như các thành phố khác, New Orleans tiến hành cải thiện hệ thống thoát nước, giao thông, tăng cường tuyên truyền về bảo vệ môi trường, có chế độ ưu đãi đối với các hộ gia đình sử dụng điện từ năng lượng tái tạo cũng như hỗ trợ kinh phí để đối phó với các cơn bão lớn.  Addis Ababa phát triển hệ thống giao thông công cộng    Nhiều xe ở Addis Ababa đã cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường   Thủ đô Addis Ababa phát triển nhanh chóng sau một thời gian ngắn, chỉ trong vòng 15 năm đã gia tăng dân số gấp đôi. Có khoảng 3,3 triệu người, tức là một phần tư dân số Ethiopia, sống tại đây.  Sự gia tăng dân số của thành phố – chủ yếu là từ những cuộc di chuyển của người dân ở vùng nông thôn – tạo ra sức ép lớn vào hệ thống cơ sở hạ tầng. Phần lớn các hộ gia đình đều không được dùng nước sạch, thay vào đó là sử dụng nguồn nước tự nhiên, các sông ngòi, ao hồ, vốn phần lớn đều bị ô nhiễm nặng vì chất thải sinh hoạt hoặc chất thải công nghiệp. Nước thải đô thị cũng là vấn đề trầm trọng bởi hệ thống thoát nước không theo kịp đà tăng dân số, và không đủ đáp ứng nhu cầu chuyên chở nước thải của một thành phố lớn với hàng triệu cư dân.  Một vấn đề lớn khác của Addis Ababa là ô nhiễm không khi. Cả thành phố chật ních các loại ô tô cũ kỹ, các khu công nghiệp nhả khói lên trời và phần lớn cư dân đều dùng củi để nấu nướng.  Trước tình thế này, chính phủ Ethiopia đang nỗ lực ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường của Addis Ababa và ảnh hưởng của biến đối khí hậu bằng một chiến dịch phát triển nền kinh tế xanh, bắt đầu từ năm 2011. Mục tiêu của kế hoạch này là phát triển kinh tế nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường.  Khi triển khai kế hoạch, Addis Ababa đã thúc đẩy người dân sử dụng các phương tiện giao thông công cộng với một hệ thống giao thông đường sắt đô thị trên cao (lightrail transit system LRT) và xe buýt Sheger Express “thân thiện với môi trường”. 150 chiếc xe Sheger Express con thoi 10 phút một chuyến đã làm thay đổi bộ mặt thành phố, trước đây 60% người dân thành phố đều phải đi bộ thì nay họ có thể dễ dàng bắt xe. Chứng kiến chuyến xe Sheger Express đầu tiên lăn bánh, cựu bộ trưởng Bộ Giao thông Ethiopia, ông Mayor Deriba Kuma đã cho rằng “Việc giải quyết những vấn đề về giao thông không chỉ góp phần cải thiện chất lượng sống của cư dân thành phố nmà còn cải thiện hình ảnh đất nước chúng ta. Chúng ta đã thực thi nhiều sáng kiến trong lĩnh vực giao thông như áp dụng LRT, xe buýt, thực thi nhiều giải pháp quản lý giao thông khác… Vì vậy đây là ngày đặc biệt, ngày chứng kiến nhiều công việc đã hoàn tất.”  Thủ đô của Ethiopia đã cam kết sẽ cắt giảm lượng khí thải nhà kính, một phần trong chương trình hành động của Nhóm C40, nhóm các thị trưởng thành phố chống biến đổi khí hậu, một mạng lưới bao gồm các siêu đô thị của thế giới cùng tham gia cuộc chiến này.  Bogotá: đáp ứng nhu cầu đi lại của 70% dân số    70% dân số ở  Bogotá sử dụng xe buýt  Transmilenio  Với dân số 7 triệu người, thủ đô Bogotá của không chỉ là thành phố lớn nhất Colombia mà còn là thành phố phát triển nhanh bậc nhất Nam Mỹ.    Vào thế kỷ 16, khi người Tây Ban Nha đến khu vực mà bây giờ là trung tâm thủ đô, họ chỉ thấy một thế giới của những dải đồng hoang mọc đầy rêu và các đầm phá. Vì vậy họ đã đặt tên cho nó là « mảnh đất của sương mù ». Đó là nơi giàu có về đa dạng sinh học – 60% cây cối mọc ở đây không xuất hiện ở nơi nào khác, vì vậy Bogotá là nhà của công viên quốc gia Chingaza, nơi có nguồn nước quan trọng bậc nhất Columbia và hồ chứa nước trong lành nhất Bogotá. Nhà cung cấp nước của Colombia đã mua một nửa công viên để bảo vệ nguồn nước, đồng thời lấy nước ở đó để tưới cây cối trồng trong thành phố.  Nhưng trước sức ép của dân số, Bogotá cũng gặp phải vấn đề tương tự như tại Addis Ababa. Để cứu vãn tình thế, thành phố đang nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ môi trường, cụ thể trong lĩnh vực giao thông công cộng. Chính quyền thành phố phát triển hệ thống xe buýt Transmilenio, đáp ứng được nhu cầu đi lại của 70% cư dân. Nhờ vậy, thành phố đã cắt giảm khoảng 350.000 tấn khí thải từ các loại xe cộ hàng năm. Transmilenio hiện đang lên kế hoạch thu hồi các xe buýt cũ chạy bằng dầu diesel bằng các loại xe lai xạc điện. Một kế hoạch tương tự cũng được thực hiện với các xe tắc xi nội đô.  Freiburg phát triển năng lượng mặt trời     Các tấm pin mặt trời xuất hiện trên các nóc nhà ở Freiburg  Thành phố Freiburg thanh bình với những ngôi nhà cổ xinh đẹp và vùng ngoại ô thôn dã bao quanh, được biết đến như nơi bắt nguồn của phong trào bảo vệ môi trường Đức. Đảng Xanh của Đức đã được ra đời từ một trong những phong trào đấu tranh bảo vệ môi trường tại đây.  Thành phố này tự hào với những khu vực xanh của mình và kiên quyết bảo vệ hình ảnh đó. Kể từ đầu năm 2011, một nhóm đặc biệt về quản lý bền vững đã được phép đối thoại trực tiếp với thị trưởng Freiburg, qua đó mách nước những ý tưởng về phát triển bền vững, tập hợp những phương thức giải quyết và chuẩn bị cho những thách thức của tương lai.  Năm 2012, Freiburg được trao giải thưởng về phát triển bền vững quốc gia (National German Sustainability Award). Để tìm hiểu nguyên nhân vì sao Freiburg lại vinh dự nhận giải thưởng này, người ta có thể dạo một vòng quanh thành phố. Những tấm pin mặt trời xuất hiện ở mọi nơi, trên các sân vận động, tòa thị chính, trường học, nhà thờ và thậm chí cả trên nóc các trung tâm tái chế rác thải. Mỗi năm, Freiburg được hưởng ánh nắng mặt trời tới 1.800 giờ nên năng lượng mặt trời mang một ý nghĩa đặc biệt với thành phố này. Mục tiêu của Freiburg là từ năm 2050 sẽ sử dụng điện hoàn toàn từ năng lượng tái tạo.  ———————————————————————–  1. http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/su-kien-hang-ngay/nha-chong-bao-cua-da-nang-lot-12-du-an-noi-bat-nhat-nam-2014-a71911.html  Nguồn:  http://www.dw.com/en/five-cities-leading-on-climate-action/a-36207840  http://www.urbanafrica.net/urban-voices/15597       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Đà Nẵng tiếp nhận mô hình sản xuất phân bón từ chất thải sinh hoạt      Sau thành công của Hà Tĩnh trong việc tái chế chất thải sinh hoạt hữu cơ thành phân bón vi sinh, Đà Nẵng đã nối tiếp con đường sản xuất nông nghiệp sạch bằng dự án “Tái chế chất thải hữu cơ thành phân bón dạng lỏng phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch tại thành phố Đà Nẵng”.     Dự án “Tái chế chất thải hữu cơ thành phân bón dạng lỏng phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch tại thành phố Đà Nẵng” sẽ được triển khai trong vòng hai năm, từ 2015 đến 2017 với sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) trong khuôn khổ Chương trình đối tác phát triển hỗ trợ của JICA năm 2014. Mức tổng đầu tư tương đương 500.000 USD (100% vốn ODA không hoàn lại).   Mục tiêu của dự án là  hỗ trợ nông dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bằng việc cung cấp phân bón lỏng phục vụ nông nghiệp từ nguyên liệu chất thải nhà vệ sinh với giá rẻ, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải từ các kênh dẫn bên dưới những công trình xử lý chất thải nhà vệ sinh gây ra.  Việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón lỏng cho thành phố Đà Nẵng  phù hợp với chủ trương chính sách “Xây dựng Đà Nẵng thành thành phố môi trường đến năm 2020” nhằm tiến tới xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị năng động, thân thiện với môi trường.  Hai nội dung chính của dự án là xây dựng cơ sở sản xuất phân bón lỏng tại địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và đào tạo kỹ năng, đảm bảo làm chủ công nghệ sản xuất được chuyển giao từ đối tác Nhật Bản để chế tạo phân bón lỏng từ chất thải nhà vệ sinh. Dự kiến, nhà máy sẽ khởi công từ tháng 5/2015 và hoạt động thí điểm trong khuôn khổ chương trình dự án đến tháng 3/2017.  Theo chương trình hợp tác với JICA, những đơn vị phối hợp thực hiện chuyển giao công nghệ với Đà Nẵng là thị trấn Chikujo, Đại học Kyushu (thành phố Fukuoka), Đại học Saga (thành phố Saga), Công ty TNHH Giải pháp môi trường (Nhật Bản).   Mô hình dự án đã được triển khai thành công từ năm 1994 với hoạt động hiệu quả của nhà  máy tái chế rác thải sinh hoạt thành phân bón dạng lỏng tại thị trấn Chikujo, góp phần thị trấn thành một nơi sản xuất nông nghiệp  sạch, đảm bảo môi trường bền vững, hài hòa giữa yếu tố phát triển và bảo  tồn. Sau đó, mô hình xây dựng đã được chuyển giao tại Trung Quốc.  Trong buổi làm việc triển khai dự án với thành phố Đà Nẵng, ông Tamura Keiki, trưởng phòng Nông nghiệp, Văn phòng thị trấn Chikujo cho biết, sẽ phối hợp với thành phố Đà Nẵng xây dựng nhà máy thử nghiệm sản xuất phân bón lỏng tại quận Cẩm Lệ, đào tạo kỹ thuật cho việc vận hành nhà máy và chuyển giao công nghệ theo đúng mô hình và kinh nghiệm thực tế từ thị trấn Chikujo, Nhật Bản nhằm phát huy hiệu quả của việc phun phân bón dạng lỏng. Đồng thời thông qua dự án sẽ phối hợp tổ chức các lớp giáo dục, môi trường nhằm thúc đẩy nhận thức của người dân liên quan đến dự án và tham quan thực tế tại Nhật Bản.   Để có được dự án này, từ năm 2014, thành phố Đà Nẵng đã hợp tác với các đối tác Nhật Bản xây dựng đề án “Tái chế chất thải hữu cơ thành phân bón dạng lỏng phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch”, đến tháng 8/2014 dự án được sự chấp thuận tài trợ từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã sút bóng nhưng vẫn chưa ghi bàn      Nhiều quan chức nhà nước cho rằng kinh tế đã  có nhiều dấu hiệu sáng sủa, quí sau cao hơn quí trước, nhưng nếu nhìn  vào “nồi cơm” ngân sách thì thấy tình hình hoàn toàn ngược lại. Ngân  sách chưa bao giờ khó khăn như năm nay.     Quả thực nếu không khó khăn thì có lẽ Chính phủ đã không đề xuất tăng bội chi lên 5,3% GDP, thay vì chỉ 4,8% như đã được Quốc hội cho phép. Vậy đâu là lối ra cho nền kinh tế hiện nay?  Hết hiệp 1, tức sáu tháng đầu năm, kinh tế Việt Nam vẫn chưa làm bàn (xem TBKTSG số ra ngày 27-6-2013). Nửa hiệp 2 trôi qua, các cầu thủ đã bắt đầu phát bóng và đá về cầu môn, song thế trận toàn cục vẫn còn rất khó khăn. Có thêm tín hiệu hồi phục nhưng còn quá sớm để nghĩ đến thắng trận.  Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (24-9) cũng như của Tổng cục Thống kê (28-9), nền kinh tế đã có một số tiến bộ nhất định. Trong 15 chỉ tiêu của kế hoạch 2013, dự kiến có 12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, ba chỉ tiêu không đạt là tốc độ tăng trưởng GDP, tổng đầu tư toàn xã hội và tạo việc làm.  Bức tranh kinh tế từ những con số  Sau chín tháng, GDP tăng trưởng 5,14%, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch (5,5%) nhưng cao hơn 0,04% so với cùng kỳ năm 2012 (5,1%). Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và công nghiệp – xây dựng tiếp tục giảm sút so với năm 2011 và 2012, chỉ có dịch vụ tăng cao hơn năm 2012 nhưng vẫn thấp hơn năm 2011. Điều này cũng phù hợp với chỉ số PMI (do Ngân hàng HSBC công bố) liên tục âm trong bốn tháng, từ tháng 5-8, tuy mức độ giảm sút thấp dần hơn tháng trước.  Xuất khẩu tăng 15,7%, chủ yếu nhờ khu vực đầu tư nước ngoài tăng 22,4% trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 4,4%, trong đó chỉ riêng điện thoại di động của Samsung đã chiếm gần 16% tổng kim ngạch xuất khẩu.  Tương ứng, khu vực trong nước chỉ tăng 5,3% về nhập khẩu trong khi khu vực đầu tư nước ngoài tăng 24,8%. Các con số này cho thấy khu vực kinh tế trong nước tiếp tục gặp khó khăn và thành tích xuất khẩu chủ yếu là của đầu tư nước ngoài.  Lạm phát tháng 9 tăng lên 1,06%, tăng 6,3% so với cùng kỳ, đẩy kỳ vọng lạm phát cả năm lên khoảng 7,5%, vẫn thấp hơn năm trước. Tỷ giá với đồng đô la Mỹ được giữ ổn định là một tiến bộ.  Đầu tư nước ngoài tăng mạnh cũng là một biểu hiện tích cực. Chín tháng đã thu hút được 15 tỉ đô la Mỹ vốn cam kết, tăng 36,1%, trong khi đó vốn thực hiện ước đạt 8,6 tỉ đô la, tăng 6,4%. Hàng loạt dự án đầu tư vào casino ở Vân Đồn, Tuần Châu (Quảng Ninh), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Phú Quốc (Kiên Giang) với số vốn lên đến vài tỉ đô la cho mỗi công trình thu hút sự quan tâm sâu sắc của công luận với những ý kiến rất khác nhau.  Đã có những tín hiệu ban đầu về hồi phục niềm tin như số doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập tăng 10,8% tuy số vốn đăng ký giảm 21,6%. Trong chín tháng có 11.299 doanh nghiệp ngừng hoạt động trong khi những doanh nghiệp còn tồn tại chỉ hoạt động với 30-40% công suất. Nếu tính 150.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ năm 2011 đến nay và bình quân mỗi doanh nghiệp giảm 20 người thì số người mất việc làm và thu nhập đã lên đến 3 triệu người.  Tuy vậy, tỷ lệ thiếu việc làm vẫn thấp một cách đáng ngạc nhiên, chỉ 3,67% ở thành thị. Điều này cho thấy có thể khu vực kinh tế phi hình thức đã giúp người lao động tạm thời tìm được việc làm.  Điểm nổi bật của quí 3 là sự khởi động của Công ty Quản lý tài sản (VAMC), gói hỗ trợ 30.000 tỉ đồng cho bất động sản và các nỗ lực thoái vốn, tái cấu trúc các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.  Chờ “nụ hôn hồi sinh” từ VAMC  Chưa có thông tin cụ thể về sức khỏe của từng ngân hàng thương mại và bức tranh sở hữu chéo vẫn là một “mê hồn trận” gồm cả vốn thực và vốn ảo. Trong tình hình đó, nhiệm vụ của VAMC thật nặng nề và nan giải: chỉ có 500 tỉ đồng vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước ứng, không có vốn ngân sách nhà nước ứng trước, để giải quyết khối nợ khổng lồ đó là hoàn toàn không dễ dàng. Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu VAMC phải báo cáo kế hoạch xử lý nợ lên Ngân hàng Nhà nước, trong trường hợp đặc biệt, phải có ý kiến của Thủ tướng.  Các doanh nghiệp và ngân hàng có nợ xấu đang mong chờ VAMC như chàng hoàng tử trong truyện cổ tích cho “nụ hôn hồi sinh” nhưng “nụ hôn” đó đang bị ràng buộc bởi khá nhiều quy định hành chính. Lãnh đạo một tổ chức tài chính quốc tế trong chỗ riêng tư thậm chí đã cho rằng đây là một biện pháp trấn an tâm lý chứ chưa phải là biện pháp tài chính để giải quyết đồng bộ, từng bước số nợ xấu này.  Ước tính chi phí để tái cấp vốn cho các ngân hàng giải quyết nợ xấu có thể lên đến 10% GDP. Và vai trò của nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa được giải quyết trong khi kinh nghiệm quốc tế cho thấy khối đầu tư nước ngoài có thể mua từ 50-65% nợ xấu của một quốc gia.  Bất động sản: giải ngân gói cho vay quá chậm  Gói tín dụng 30.000 tỉ đồng để trợ giúp mua nhà ở xã hội đã được triển khai với tốc độ khác nhau. Số 30% của gói này đã được nhanh chóng cấp cho các doanh nghiệp do Bộ Xây dựng lựa chọn trong khi trợ giúp tín dụng cho tư nhân diễn ra chậm với nhiều thủ tục phức tạp.  Tính đến ngày 31-8, kết quả đã cho 331 khách hàng vay được 105 tỉ đồng. Với tốc độ này, để giải ngân hết số 21.000 tỉ đồng sẽ phải mất nhiều năm và Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã thúc giục phải tăng tốc giải ngân gói này. Trong khi đó, các thông tin từ thị trường bất động sản vẫn tiếp tục là những thông tin giảm giá, phá đáy và chưa có một giải pháp toàn diện. Giả định như sẽ giải quyết được khối bất động sản ứ đọng này trong 5-10 năm, nhưng nếu không có những cải cách về pháp lý cho thị trường bất động sản, quản lý và giám sát một cách hữu hiệu từ năng lực tài chính và kỹ thuật của nhà đầu tư, quy định về huy động vốn của khách hàng, các biện pháp kinh tế chống đầu cơ… thì có gì bảo đảm rằng trong tương lai lại không tái xuất hiện một cuộc khủng hoảng bất động sản với những nhà đầu cơ mới.  Trong khi đó, việc tái cơ cấu các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cũng gặp không ít khó khăn. Thoái vốn diễn ra rất chậm, khung khổ pháp lý đối với doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng, Luật Đầu tư và quản lý vốn nhà nước vào doanh nghiệp đã được lùi lại trong khi những bước đi đầu tiên xử lý khối nợ khổng lồ của Vinashin mới chỉ bắt đầu.  Tất cả cho thấy càng đi vào giải quyết thì khó khăn càng xuất hiện cụ thể với quy mô lớn hơn và phức tạp hơn dự kiến ban đầu. Rất cần sự quyết đoán của nhà chỉ huy, biện pháp cải cách và tái cơ cấu mạnh mẽ hơn nữa.        * Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh: Quan trọng là phục hồi động cơ tăng trưởng   Hiện nay có hai luồng ý kiến, một là kích  cầu từ đầu tư công bằng cách nới mức độ bội chi và hai là kiên trì ổn  định kinh tế vĩ mô. Theo tôi, cả hai luồng ý kiến này đều không mang  tính khoa học và cũng không hẳn mang tính chất của các nhà quản lý. Thậm  chí có ý kiến để ủng hộ luồng ý kiến thứ nhất phát biểu, mang tính  “quân sư” cho Quốc hội và Chính phủ, là vẫn lấy tiền ngân sách đầu tư  nhưng không gọi là đầu tư công nữa mà gọi bằng tên khác cho “lành”!   Về nguyên tắc, mọi sự can thiệp vào phía cầu  cuối cùng đều dẫn đến sự thay đổi ở phía cung (sản lượng và giá trị gia  tăng). Nếu phía cung khỏe mạnh thì gia tăng cầu cuối cùng sẽ kích thích  sự tăng trưởng ở phía cung. Nhưng nếu sản xuất trong nước yếu kém thì  mọi sự gia tăng từ phía cầu sẽ dẫn đến tăng giá và thâm hụt thương mại  mà thôi.   Tại Diễn đàn Kinh tế mùa thu tuần rồi ở Huế,  bài tham luận của nhóm nghiên cứu của Harvard rất hay và ấn tượng.  Trong bốn động cơ liên quan đến tăng trưởng, ba động cơ “nội” đang trục  trặc, chỉ có một động cơ “ngoại” là khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước  ngoài (FDI) đang chạy tốt. Theo nhóm nghiên cứu này, ba động cơ nội  trục trặc là do bị ảnh hưởng của thể chế trong nước, động cơ ngoại chạy  tốt do không bị hoặc bị ảnh hưởng rất ít của thể chế trong nước.   Như vậy, khi đã xác định được sự đình trệ  của khu vực sản xuất trong nước là do thể chế thì các nhà hoạch định  chính sách cần cải thiện thể chế, không chỉ là giãn, giảm thuế thu nhập  doanh nghiệp mà chính là đối xử công bằng, minh bạch và sòng phẳng với  khu vực tư nhân và nông nghiệp. Điều này không tốn kém nhưng cũng rất  khó khăn vì phải tái cơ cấu cách nghĩ! Việc đạt được thành tích tăng  trưởng thực sự không quan trọng bằng việc phục hồi ba động cơ nội   * Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Dũng, Ủy ban Kinh tế Quốc hội: Nợ đọng xây dựng cơ bản là nút thắt   Kích cầu ở thời điểm hiện tại nguy hiểm ở  chỗ lạm phát ở Việt Nam rất nhạy cảm với việc nới lỏng tài khóa, tiền  tệ, trong khi đó những yếu kém về cơ cấu làm cho hiệu quả đầu tư công  thấp, thất thoát lãng phí chưa được thay đổi, thể chế kinh tế chưa “dung  hợp” cũng như tâm lý lạm phát còn nặng nề. Thứ nữa là hệ phương trình  tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô hiện nay có quá nhiều điều  kiện ràng buộc như ngân sách khó khăn, nợ công cao và có xu hướng tăng,  tiền lương tối thiểu chưa đảm bảo mức sống, lộ trình điều chỉnh giá năng  lượng, y tế, giáo dục còn tiếp tục, năng lực thực thi chính sách kém…  làm cho những “đáp án” về chính sách hạn hẹp hơn bao giờ hết.   Trong lúc khó khăn thế này có thể nới bội  chi và tăng phát hành trái phiếu nhưng phải kiểm soát rất chặt và đảm  bảo mục đích rõ ràng là giải quyết phần nợ đọng xây dựng cơ bản vì đây  là nút thắt của nợ dây chuyền và ngân sách bây giờ không biết lấy đâu ra  mà trả. Doanh nghiệp nợ thuế một ngày là phải trả lãi nhưng chính quyền  có khối nợ quá lớn mà doanh nghiệp không biết kêu ai.    * Ông Hồ Bá Tình: Việt Nam cần theo đuổi mục tiêu dài hạn   Trong những năm qua tăng trưởng kinh tế của  Việt Nam chủ yếu là đóng góp của vốn đầu tư mà đỉnh điểm là từ năm  2007-2011. Trong khi đó, đóng góp của yếu tố tăng năng suất (TFP) lại  ngày càng đi xuống, thậm chí đạt mức âm trong năm 2008-2010.   Do tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá nhiều  vào vốn đầu tư nên khi tỷ lệ đầu tư/GDP từ mức trên 40% những năm trước,  đột ngột giảm xuống chỉ còn 33,53% năm 2012 và khoảng 30% trong chín  tháng đầu năm 2013 làm tăng trưởng GDP giảm mạnh. Như vậy, về mặt lý  thuyết khuyến nghị tăng đầu tư để cải thiện tăng trưởng là có lý, nhưng  thực tế việc làm này lại hàm chứa nhiều rủi ro.   Thực vậy, tỷ lệ tiết kiệm nội địa ở Việt Nam  chỉ quanh mức 26-30% GDP, tức là thấp hơn nhiều với tỷ lệ đầu tư. Một  phần rất lớn vốn đầu tư vào nền kinh tế là dòng vốn từ bên ngoài. Đây  cũng là lý do chính khiến cho nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức cao  trong những năm trước đó. Tỷ lệ đầu tư hiện nay cũng là môt tỷ lệ rất  cao so với các quốc gia khác và cao hơn tỷ lệ tiết kiệm nội địa. Do vậy,  một khi chấp nhận tăng thâm hụt ngân sách để tăng đầu tư thì sẽ làm  tăng nhập siêu, tỷ giá mất ổn định và lạm phát sẽ quay trở lại do tiền  được bơm ra nền kinh tế.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Đa vũ trụ: Từ vũ trụ học thuật tới vũ trụ điện ảnh Marvel      Điện ảnh có lẽ là một trong những cầu nối giúp đưa các ý tưởng khoa học thời thượng nhưng khó hiểu tới đại chúng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Gần đây, hàng loạt các bộ phim khoa học viễn tưởng từ “Vũ trụ điện ảnh Marvel” được sản xuất với cốt truyện dựa trên các ý tưởng khoa học có thể nói là “điên rồ nhất”, “khó hiểu nhất” mà loài người nghĩ ra.     Bộ phim “Doctor Strange in the Multiverse of Madness” khai thác khái niệm đa vũ trụ. Nguồn: colorsofindia.media/  Điển hình trong số đó là bộ phim Doctor Strange in the Multiverse of Madness (tạm dịch: Tiến sĩ Strange trong Đa vũ trụ điên loạn). Ngay ở tiêu đề của bộ phim, ta bắt gặp một thuật ngữ có lẽ hiếm thấy trong cuộc sống thường này, thậm chí tương đối mới mẻ với nhiều nhà khoa học, Đa vũ trụ – Multiverse. Tuy nhiên, với những người nghiên cứu vật lý lý thuyết, đặc biệt với những nhà vũ trụ học, thì thuật ngữ này không có gì xa lạ. Ít nhất họ đã từng nghe, từng đọc các bài giảng, các bài báo khoa học về chủ đề này.  Tuy nhiên với đại chúng thì đây thực sự là những khái niệm khó hiểu. Trong đầu ai đó cũng có thể ong ong với các câu hỏi “Đa vũ trụ là gì” ?, “Cơ sở khoa học cho sự tồn tại của Đa vũ trụ là gì” ?, “Nếu Đa vũ trụ thực sự tồn tại thì làm sao ta có thể nhận biết được nó”? Đây có lẽ cũng là những câu hỏi mà nhiều người sau khi xem phim Tiến sĩ Strange trong Đa vũ trụ điên loạn đặt ra cho bản thân mình. Do đó, bài viết này sẽ giúp các bạn đọc hình dung ra cách trả lời cho các câu hỏi này.  Đầu tiên, Multiverse là gì ? Về mặt ngôn ngữ, Multiverse là một từ ghép của hai từ “Multiple – Nhiều” và “Universe – Vũ trụ”. Điều đó gợi ý cho chúng ta về một Đa vũ trụ – Multiverse, trong đó nhiều vũ trụ cùng tồn tại tách biệt nhau. Để cho dễ hiểu, ta hãy hình dung mỗi vũ trụ như một bong bóng xà phòng. Khi ta thổi nhẹ một đầu ống hút với đầu còn lại đã được nhúng vào dung dịch xà phòng thì ta thấy có rất nhiều bong bóng xà phòng, lớn có, bé có, được hình thành tách biệt nhau và bay lơ lửng trong không khí. Lúc đó, các bong bóng xà phòng này tạo thành một Đa vũ trụ bong bóng. Trong Đa vũ trụ thực sự (nếu tồn tại), vũ trụ chứa Trái đất của chúng ta chỉ là một thành viên như bao vũ trụ khác.   Thứ hai, cơ sở khoa học cho sự tồn tại của Đa vũ trụ là gì ? Trước khi nói về điều này, ta cần biết rằng ý niệm sơ khai về Đa vũ trụ đã ra đời cách đây hàng nghìn năm, từ thời Hy Lạp cổ đại với học thuyết nguyên tử, khi các triết gia thời bấy giờ cho rằng các thế giới song song vô hạn được hình thành từ các va chạm của nguyên tử1. Trong văn hóa Phương Đông, sự tồn tại của “thế giới bên kia”, nơi những người sau khi qua đời đi sẽ sống ở đó, cũng là một ý niệm mơ hồ về Đa vũ trụ. Trong vũ trụ học hiện đại tồn tại nhiều phiên bản khác nhau của Đa vũ trụ2, điển hình như: (i) Đa vũ trụ dựa trên cách diễn giải đa thế giới – many world interpretation của Cơ học lượng tử do H. Everett đề xuất năm 1957 và được B. S. DeWitt phát triển trong khuôn khổ Vũ trụ học lượng tử – Quantum cosmology. Có thể nói, Đa vũ trụ của Everett là lý thuyết Đa vũ trụ dựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ đầu tiên; (ii) Đa vũ trụ dựa trên lý thuyết về sự tạo thành vũ trụ từ hư vô do A. Vilenkin đề xuất năm 1982; (iii) Đa vũ trụ dựa trên hàm sóng Hartle-Hawking; (iv) Đa vũ trụ dựa trên lý thuyết vũ trụ lạm phát – Inflationary multiverse. M. Tegmark, giáo sư vật lý của MIT, đã đưa ra bốn cấp độ Đa vũ trụ, dựa trên những lý thuyết Đa vũ trụ đã và đang được đề xuất, như sau3:  Hình 1: Mạng lưới bong bóng xà phòng như một minh hoạ cho Đa vũ trụ thu nhỏ [Nguồn: Robert Daly 4]  Cấp độ 1: Những vùng không gian nằm ngoài chân trời vũ trụ của chúng ta   Ở cấp độ này, vũ trụ chúng ta đang sống chiếm một phần trong không gian rộng vô hạn. Các định luật vật lý là như nhau tại các vũ trụ mặc dù các điều kiện ban đầu hình thành các vũ trụ có thể khác nhau.  Cấp độ 2: Các bong bóng sau lạm phát  Ở cấp độ này, lạm phát vũ trụ – Cosmic inflation được giả định tồn tại ở thời kỳ đầu. Chính lạm phát tạo thành nhiều Đa vũ trụ cấp độ 1. Các Đa vũ trụ cấp độ 1 này có thể được mô tả bởi các phương trình vật lý giống nhau nhưng khác về hằng số vật lý, số chiều, và các thành phần hạt cơ bản.  Cấp độ 3: Đa thế giới của Vật lý lượng tử   Ý tưởng cơ bản của Đa vũ trụ trong cấp độ này đó là khi ta tiến hành một phép đo lượng tử, các khả năng khác của kết quả phép đo sẽ tồn tại trong các thế giới song song với thế giới của chúng ta. Ở cấp độ này, giả thuyết được sử dụng đó là tính chất Unitary của tiến triển theo thời gian – time evolution của hàm sóng phải tồn tại. Các tính chất của Đa vũ trụ trong cấp độ 2 giữ nguyên trong cấp độ này.  Cấp độ 4: Các cấu trúc toán học khác  Ở cấp độ này, giả thuyết được sử dụng đó là các tiên đoán toán học là yếu tố tiên quyết. Hệ quả đó là các cấu trúc toán học khác nhau có thể sẽ dẫn tới các mô hình Đa vũ trụ mà ở đó các Vũ trụ được mô tả bởi các phương trình Vật lý khác nhau.   Hình 2: Hình ảnh mô phỏng đơn giản về Đa vũ trụ [Nguồn: Victor de Schwanberg 5]    Theo A. Linde (Đại học Stanford), một trong những nhà tiên phong của lý thuyết vũ trụ lạm phát, các lý thuyết Đa vũ trụ (i)-(iii) đều rất khó để tiếp cận nên chúng không được xem xét sâu rộng như lý thuyết Đa vũ trụ lạm phát (iv)2. Trong phân loại của Tegmark, Đa vũ trụ lạm phát thuộc cấp độ 2. Trong lý thuyết này, các nhiễu loạn lượng tử ngẫu nhiên trong thời kỳ lạm phát có thể dẫn tới sự hình thành của các “hạt mầm” vũ trụ khác nhau. Trong các “hạt mầm” này, năng lượng của trường lạm phát sẽ chuyển đổi thành các trường và hạt vật chất –  những viên gạch hình thành nên các vũ trụ. Vũ trụ chứa Trái đất của chúng ta là một trong các vũ trụ này. Trong một bài báo đăng trên tạp chí Physical Review D năm 2010, A. Linde và V. Vanchurin đã ước lượng được có khoảng “e^(e^180)” vũ trụ trong một Đa vũ trụ lạm phát6.  Cuối cùng, nếu Đa vũ trụ thực sự tồn tại thì làm sao ta có thể nhận biết được nó ? Trong phim Tiến sĩ Strange trong Đa vũ trụ điên loạn, tiến sĩ Strange có thể nhìn thấy các phiên bản của mình ở các vũ trụ khác thông qua giấc mơ của mình. Tiến sĩ Strange ở vũ trụ này có đời sống hoàn toàn khác với tiến sĩ Strange ở vũ trụ kia. Thường thì trong giấc mơ, những thứ điên rồ nhất đều có thể xảy ra. Chúng ta hay được nghe những câu chuyện có phần huyền bí về những giấc mơ mà ở đó con cháu gặp lại ông bà đã mất và được họ báo cho những chuyện sẽ xảy ra trong tương lai. Liệu có hay không một vũ trụ khác mà ở đó linh hồn của những người đã mất trú ngụ ? Nhiều nhà vật lý và vũ trụ học hiện vẫn nghi ngờ về sự tồn tại của Đa vũ trụ cũng như khả năng con người có thể quan sát được các vũ trụ khác trong Đa vũ trụ. Điển hình trong số này là các nhà vật lý và vũ trụ học tên tuổi như D. Gross (Giải Nobel Vật lý 2004), R. Penrose (Giải Nobel Vật lý 2020), M. Turner, V. Mukhanov, P. Steinhardt, G. Ellis, C. Rovelli, D. Spergel1. Một trong những lý do cho việc nghi ngờ này đó là các vũ trụ khác trong Đa vũ trụ nằm ngoài khả năng quan sát của các kính thiên văn hiện đại nhất. Tuy nhiên, nhiều nhà vũ trụ học và vật lý tên tuổi khác lại ủng hộ lý thuyết Đa vũ trụ, điển hình như S. Hawking, A. Guth, A. Linde, L. Susskind, S. Carroll, A. Vilenkin, B. Greene, M. Tegmark1. Lý do cho việc ủng hộ này đó là sự phù hợp về mặt lý thuyết, dù cho chưa có xác nhận cụ thể về quan sát. Hiện tại, một số nhà thiên văn học và vũ trụ học đang tìm kiếm các dấu hiệu của các vũ trụ khác thông qua các số liệu quan sát về phông nền vũ trụ viba – Cosmic microwave background radiation (CMB), thứ gắn bó chặt chẽ với lý thuyết lạm phát vũ trụ. Cuối năm 2010, S. M. Feeney và đồng nghiệp tuyên bố bằng chứng đầu tiên về sự va chạm của vũ trụ chúng ta đang sống với vũ trụ khác trong Đa vũ trụ lạm phát có thể tìm thấy thông qua các vòng tròn đồng tâm trong CMB đo bởi vệ tinh WMAP của NASA7. Năm 2017, T. Shanks và đồng nghiệp cho rằng dị thường Cold Spot trong CMB có thể là dấu hiệu của sự tồn tại của Đa vũ trụ8. Thú vị hơn, một số nhà vật lý và vũ trụ học nghĩ tới viễn cảnh có thể đi tới các vũ trụ khác trong Đa vũ trụ thông qua các Lỗ sâu vũ trụ – Cosmological wormhole, ví dụ như trong bài báo của ba nhà vật lý H. Maeda, T.Harada, and B. J.Carr đăng trên tạp chí Physical Review D năm 20099. Liệu đó có phải là cách mà cô bé Chavez sử dụng để di chuyển từ vũ trụ này sang vũ trụ khác trong phim “Tiến sĩ Strange trong Đa vũ trụ điên loạn”?   Hình 3: Cấu trúc toàn cục của một Đa vũ trụ lạm phát. Các vũ trụ con có thể không giống vũ trụ bố mẹ. Chúng thậm chí có thể có số chiều không-thời gian khác nhau. [Nguồn: tài liệu tham khảo 2]    “Đừng cho rằng họ bịa ra Đa vũ trụ. Một trong những quan niệm sai lầm phổ biến đó là việc coi Đa vũ trụ chỉ là một giả thuyết. Nó là một tiên đoán của các lý thuyết mà chúng ta có những lý do tốt để nghĩ rằng là đúng”, nhà vũ trụ học S. Carroll làm việc tại Caltech nhận định4. Dù chưa có bằng chứng quan sát thuyết phục cho sự tồn tại, nhưng Đa vũ trụ đã và đang là một trong những chủ đề gây tò mò nhất trong nhiều năm qua. Không những thế, Đa vũ trụ còn là một “cách thức hợp lý” để các nhà làm phim của vũ trụ điện ảnh Marvel xây dựng, kết nối các câu chuyện huyền bí10. Nó chắc chắn vẫn là nguồn cảm hứng, chỗ dựa cho nhiều bộ phim của vũ trụ điện ảnh Marvel trong tương lai. Chúng ta chờ đợi xem Đa vũ trụ trong các bộ phim tiếp theo của Marvel có những “nâng cấp vật lý” gì mới mẻ. □  ——  * Viện Nghiên cứu Tiên tiến Phenikaa, trường Đại học Phenikaa.  Tài liệu tham khảo  1 https://en.wikipedia.org/wiki/Multiverse  2 A. Linde, A brief history of the multiverse, Rept. Prog. Phys. 80, 022001 (2017) [arXiv:1512.01203].  3 https://space.mit.edu/home/tegmark/multiverse.pdf  4 https://www.newscientist.com/article/mg23831840-200-how-to-think-about-the-multiverse/  5 https://blogs.scientificamerican.com/observations/long-live-the-multiverse/  6 A. Linde and V. Vanchurin, How many universes are in the multiverse?, Phys. Rev. D 81, 083525 (2010) [arXiv:0910.1589].  7 https://phys.org/news/2010-12-scientists-evidence-universes.html  8 https://physicsworld.com/a/the-enduring-enigma-of-the-cosmic-cold-spot/  9 H. Maeda, T. Harada, and B. J. Carr, Cosmological wormholes, Phys. Rev. D 79, 044034 (2009) [arXiv:0901.1153].  10 https://marvelcinematicuniverse.fandom.com/wiki/Multiverse    Author                Đỗ Quốc Tuấn        
__label__tiasang Giới khoa học đứng trước yêu cầu nghiên cứu để tìm ra vaccine phổ rộng      Cho dù Omicron gây bệnh nhẹ hơn Delta nhưng vaccine không chống được lây lan, tốc độ lây lan quá nhanh vẫn gây áp lực lên hệ thống y tế. Tuy thế, niềm hy vọng vào việc tìm ra vaccine đặc hiệu chống lại biến chủng mới dường như rất mong manh. Giới khoa học đang đứng trước yêu cầu nghiên cứu để tìm ra vaccine phổ rộng.    Được xác định lần đầu tiên vào tháng 11/2021, Omicron nhanh chóng trở thành biến thể thống trị toàn cầu. Đặc tính sinh học của Omicron khác biệt rất đáng kể so với chủng virus SARS-CoV-2 gốc khiến cho các vaccine hiện nay chống lại Omicron kém hiệu quả hơn. Tiêm 3 mũi vaccine vẫn ít có tác dụng chống lại Omicron so với các biến thể khác. Vì thế các nhà sản xuất vaccine mRNA như Pfizer và Moderna đều cho biết đang sản xuất và bắt đầu thử nghiệm lâm sàng các mũi vaccine đặc hiệu chống lại Omicron.    Nhưng liệu đây có phải là lối thoát Omicron và đại dịch nói chung?        Hiệu quả chống lại Omicron của vaccine đặc hiệu không hơn các vaccine hiện tại    Tuy nhiên, một loạt các nghiên cứu ban đầu trên động vật cho thấy tiêm vaccine đặc hiệu cho Omicron không mang lại lợi ích nhiều hơn so với mũi thứ 3 của các loại vaccine hiện tại.    Cụ thể, một nghiên cứu phản ứng miễn dịch của loài khỉ vàng (Macaca mulatta) được tiêm 3 liều vaccine: 2 liều cơ bản vaccine Moderna gốc, và liều tăng cường cùng loại hoặc phiên bản đặc hiệu cho Omicron. Những con khỉ ở cả hai nhóm đều tạo được kháng thể phổ rộng chống lại tất cả các biến thể SARS-CoV-2 cần quan tâm, bao gồm Omicron. Liều tăng cường đã tác động tích cực đến tế bào B có khả năng ghi nhớ miễn dịch để tạo kháng thể. Điểm giới hạn của nghiên cứu này là nó chỉ kiểm tra khả năng miễn dịch trong bốn tuần và không theo dõi kháng thể sẽ được duy trì bao lâu.    Vaccine đặc hiệu cho Omicron kém hiệu quả trước các biến thể khác    Một nghiên cứu trên chuột chỉ được tiêm loại vaccine đặc hiệu cho Omicron cho thấy chúng tạo được lượng kháng thể mạnh chống lại Omicron, tuy nhiên lại hạn chế khả năng ức chế các biến thể SARS-CoV-2 quan trọng khác.    Các nhà nghiên cứu tại công ty HDT Bio ở Seattle đã phát triển một loại vaccine “RNA tái tạo”, mã hóa cả một đoạn virus kèm theo một enzyme khuếch đại đoạn mã này. Họ thử tiêm vaccine này trên chuột: một nhóm được tiêm 2 liều dựa trên chủng SARS-CoV-2 gốc và 1 liều tăng cường đặc hiệu cho Omicron, nhóm còn lại được tiêm liều ban đầu cho chủng SARS-CoV-2 gốc và 2 liều đặc hiệu cho Omicron. Kết quả là không có sự khác biệt về tác dụng bảo vệ giữa hai nhóm này.    Từ đó, các nhà nhà khoa học nghi ngờ rằng vaccine đặc hiệu cho từng biến thể virus đơn lẻ không phải là giải pháp. Thậm chí, David Martinez, nhà miễn dịch virus tại Đại học North Carolina, Chapel Hill, còn thẳng thừng nói đó là một chiến lược ngắn hạn, thiển cận, không bền vững.    Một loại vaccine chống được nhiều biến thể    Trước những biến thể đã xuất hiện và tương lai khả năng vẫn còn các biến thế khác của virus Corona, giới chuyên môn đánh giá, thế giới cần loại vaccine chống lại không chỉ các biến thể hiện tại mà cả các biến thể sẽ xuất hiện trong tương lai. Cố vấn y tế Hoa Kỳ Anthony Fauci cho biết còn những lỗ hổng về khoa học cần được lấp đầy để tạo ra một loại vaccine như thế. Vào mùa thu năm 2021, Viện Sức khỏe Hoa Kỳ đã tài trợ 36 triệu USD cho các nghiên cứu cơ bản về vấn đề này.    “Bạn không nên nhầm lẫn giữa nhanh chóng và dễ dàng. Chúng tôi đã phải vượt qua nhiều trở ngại khó khăn để sớm tạo ra những loại vaccine đầu tiên chống lại COVID-19”, Anthony Fauci nói trong cuộc trả lời phỏng vấn tờ Washingonpost vào ngày 15/2 vừa qua. Và với vaccine phổ rộng, chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức khoa học to lớn.    Không phải đến khi SARS-CoV-2 xuất hiện và hoành hành, các nhà khoa học mới mơ về một loại vaccine phổ rộng, trước đây họ cũng tìm kiếm cơ hội tạo ra vaccine phổ rộng chống lại SARS-CoV-1, các coronavirus gây cảm lạnh, MERS-CoV và các corona dơi có nguy cơ nhảy sang người trong tương lai. Các nhà nghiên cứu Singapore đã công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine một nghiên cứu cho biết những người sống sót sau đợt bùng phát dịch SARS năm 2003 khi được tiêm vaccine COVID-19 đã tạo ra các kháng thể có khả năng ngăn chặn một loạt các biến thể coronavirus khác nhau.    Các cách tiếp cận khác nhau về vaccine phổ rộng    Dennis Burton, chủ nhiệm khoa miễn dịch và vi sinh tại Viện Scripps cho biết, khi SARS-CoV-2 lần đầu tiên xuất hiện, nó tương đối dễ hiểu và giới nghiên cứu đã rất thành công (trong việc nghiên cứu phát triển vaccine). “Nhưng các biến thể hiện nay ngày càng nhiều mánh khóe và càng khó xử lý hơn: phải hiểu chính xác hơn về kháng thể được tạo ra thông qua vaccine”.    Hiện nay, các nhà nghiên cứu tại Trường Y khoa Duke và một nhóm khác tại Bệnh viện quân đội Walter Reed đã phát triển các loại vaccine chứa hạt nano gắn các protein gai trên bề mặt. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy chúng đem lại khả năng bảo vệ rộng hơn so với thế hệ vaccine đầu tiên, nhờ mật độ cao của các protein gai được sắp xếp lặp lại giúp kích hoạt phản ứng miễn dịch mạnh mẽ hơn.    Một cách tiếp cận khác là dùng vaccine khảm, ghép nối thành phần đặc trưng của nhiều biến thể khác nhau. Họ hy vọng chiến lược này sẽ giúp tạo ra một loại vaccine chống lại tất cả các biến thể SARS-CoV-2. Hiện nay các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ California đã tạo ra các hạt nano khảm chứa các mảnh protein của từ 4-8 coronavirus khác nhau.    Cách tiếp cận nào nêu trên đạt hiệu quả còn chưa có lời giải đáp. Nhưng bài toán đại dịch của nhân loại đang hối thúc các nhà khoa học. Chúng ta không đủ nguồn lực để cập nhật vaccine mỗi vài tháng và cứ mãi chạy theo các biến thể mới xuất hiện.    Vấn đề quan trọng khác cần được giải quyết là khả năng duy trì tác dụng bảo vệ của vaccine. CDC Hoa Kỳ vừa cho biết mũi tăng cường vaccine mRNA bắt đầu suy giảm hiệu quả kể từ tháng thứ tư. Nếu vaccine phổ rộng trở thành hiện thực nhưng có thời gian bảo vệ quá ngắn cũng không thể là giải pháp ngăn chặn hữu hiệu các đại dịch trong tương lai.    Thứ chúng ta tìm kiếm là một thứ tương tự vaccine uốn ván: chỉ cần tiêm mỗi 10 năm. Nhưng đó là một thách thức gian nan. Người ta đã nghiên cứu virus cúm 70 năm nay nhưng vẫn chưa thể tạo ra một vaccine cúm phổ rộng. Chúng ta vẫn tiếp tục cố gắng và hy vọng vào các nhà khoa học.    Đỗ Ngọc    Author                .        
__label__tiasang Đại dịch sẽ đi đến kết thúc như thế nào?      Nhà virus học Florian Krammer, hiện giảng dạy và nghiên cứu về các loại vaccine mới tại  Icahn School of Medicine, Mount Sinai Hospital ở New York, chia sẻ trên tờ WELT của Đức rằng Omicron có thể làm kéo dài đại dịch. Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với sự tiến triển tiếp theo của đại dịch và nó sẽ kết thúc như thế nào?      WELT: COVID-19 lại một lần nữa kiểm soát nước Mỹ. Tôi có nên vào một quán nhậu ở Texas đầy khách nhậu mà không đeo khẩu trang và chưa một lần tiêm chủng để cuối cùng có thể lây nhiễm biến thể Omicron?    Florian Krammer: Không nên.  WELT: Tại sao lại không, thưa giáo sư? Tôi đã tiêm chủng ba mũi rồi, vợ tôi cũng tiêm ba mũi rồi còn con trai đã hai mũi. Tôi nghĩ đến một lúc nào đó tôi sẽ va chạm con virus này. Vậy sao không làm luôn bây giờ cho nó xong đi?  Krammer: Bởi vì có một rủi ro – không chỉ cho bạn, vì bạn có thể mắc các bệnh từ trước, mà còn cho những người cuối cùng bạn có thể lây nhiễm. Bạn bị nhiễm bệnh trong quán bar, sau đó vợ bạn cũng bị nhiễm bệnh, và sau đó có thể một người nào đó có liên quan đến bạn bị suy giảm hệ miễn dịch, tức là không có khả năng hình thành phản ứng miễn dịch. Và sau đó người này có thể chết. Loại virus này vẫn gây tử vong cho nhiều người, hoàn toàn không phải là vô hại. Ngoài ra, chúng ta vẫn chưa biết liệu Omicron có gây ra vấn đề COVID kéo dài ở những người đã được tiêm chủng hay không. Chắc chắn chúng ta đã từng có những người được tiêm vaccine, bị lây nhiễm  sau đó bị mất khứu giác và vị giác. Chúng ta vẫn chưa biết những ảnh hưởng lâu dài của nó  như thế nào.  WELT: Có nghiên cứu cho thấy  ai từng bị nhiễm omicron sau đó đều được bảo vệ tương đối tốt để chống lại biến thể virus delta. Đó không phải là một lý do để lây nhiễm Omicron hay sao?  Krammer: Không. Có thể giả định bất kỳ ai về cơ bản đã được miễn dịch – nghĩa là đã được tiêm chủng hoặc đã bị lây nhiễm một biến thể tiền Omicron,  sau đó bị nhiễm Omicron đều có phản ứng miễn dịch rộng. Lý do là hệ thống miễn dịch có thể phản ứng chủ yếu với các vùng hợp nhất giống nhau giữa hai biến thể – và có một số tạo ra kháng thể trung hòa và sau đó thậm chí có thể vô hiệu hóa virus Sars-CoV-1. Đó là, theo quan điểm miễn dịch học, đây là một loại tiêm chủng để dẫn đến miễn dịch rộng rãi. Nhưng sẽ tốt hơn nếu bạn có được khả năng miễn dịch này bằng vaccine đặc hiệu chống Omicron và không bị lây nhiễm.  WELT: Đồng nghiệp của ông là  Peter Hotez ở Texas cho rằng thậm chí không thể sản xuất được loại vaccine thích ứng với Omicron  vì cái gọi là lỗi kháng nguyên di truyền (antigenerbsuende). Ông có thể giải thích về điều đó không?   Krammer: Vấn đề này liên quan đến  “recall response”, có nghĩa là  bạn có một trí nhớ miễn dịch chống lại virus cũ, và khi bạn đối mặt với virus mới, nó sẽ kích hoạt phần đó của hệ thống miễn dịch tấn công các bộ phận chung giữa virus cũ và virus mới. Bạn có thể giải thích nó như thế này: Nếu phần này của virus không tạo ra bất kỳ kháng thể trung hòa nào, thì điều đó nghĩa là bạn sẽ không được bảo vệ chống lại virus mới. Và cái đó chính là cái được gọi là lỗi  kháng nguyên di truyền. Nhưng điều đó dường như không phải là trường hợp này. Các phần giống nhau giữa Sars-CoV-2 cũ và Omicron trên protein bề mặt gai cũng là các phần phân tử tạo ra các kháng thể trung hòa. Lỗi kháng nguyên di truyền  có vẻ không phải là một mối đe dọa thực sự đối. Vì vậy, tôi không lo lắng về điều đó, mặc dù tôi tôn trọng Peter Hotez.  WELT: Có ý kiến cho rằng Omicron có thể là con đường để thoát khỏi đại dịch  vì cuối cùng nhiều người bị lây nhiễm đến mức virus không còn tìm thấy đủ ký chủ. Ngược lại ông thì cho rằng omicron sẽ kéo dài đại dịch. Vậy giờ ai là người có lý và vì sao?   Krammer: Tôi nghĩ, cả hai đều có lý. Nếu Omicron không xuất hiện lúc này thì điều gì sẽ xảy ra? Làn sóng Delta dù gì thì cuối cùng cũng xẹp xuống, điều đó hiện đã diễn ra. Biến thể Omicron sẽ còn quấy nhiễu một thời gian nữa, lúc này chủ yếu ở Châu Âu và Hoa Kỳ bây giờ bạn thấy nó  xuất hiện ở Nam Mỹ rồi lan dần sang Châu Á. Điều đó có nghĩa là nó sẽ tiếp tục hoành hành một vài tháng nữa. Cái đó thực sự là có thể, còn  đây là suy đoán, sau đó đại dịch sẽ kết thúc vì rất nhiều người đã bị lây nhiễm và có lẽ rất nhiều người có khả năng miễn dịch rộng rãi.  WELT: Liệu chúng ta phải chuẩn bị tinh thần đón bao nhiêu biến thể nữa?   Krammer: Chúng ta có thể sẽ phải chứng kiến hàng trăm biến thể mới. Vấn đề là ở chỗ các biến  thể này có gây tác hại gì không. Chúng ta đã có biến thể Iota ở New York, nó không làm được gì nhiều. Rồi biến thể Kappa bùng phát rất nhanh rồi lặn mất tăm. Giờ đây nếu một biến thể mới xuất hiện tương tự như Omicron, nhưng phản ứng miễn dịch của chúng ta hoạt động tốt, nó sẽ gây ra ít ca lây nhiễm hơn.  WELT: Một số người tin rằng, những con virus sẽ tự động suy yếu đi. Điều đó có đúng không, thưa giáo sư?   Krammer: Có những loại virus lúc đầu sống chung với vật chủ. Một số loại  retrovirus nhất định đã trở thành một phần trong bộ gene của chúng ta – chúng thậm chí không còn là virus thực sự nữa, nhưng đã chấp nhận cùng tồn tại với chúng ta, chúng không còn gây hại cho chúng ta và hệ thống miễn dịch của chúng ta  cũng không còn tìm cách tiêu diệt chúng. Nhiều loại herpesvirus lây nhiễm sang người nhưng thường không gây bệnh nghiêm trọng; có lẽ không phải lúc nào nó cũng như vậy. Nhưng đây là quá trình tiến hóa diễn ra quá lâu nên chúng ta không thể chờ đợi chúng. Đối với bệnh cúm, các chủng vi rút gây đại dịch thường gây bệnh nặng hơn so với virus cúm mùa. Lý do là: khi đại dịch virus đến từ các loài chim, chúng liên kết với các tế bào ở sâu trong phổi. Tuy nhiên, khi chúng thích nghi với con người, chúng có nhiều khả năng bám vào các tế bào ở đường hô hấp trên.  Điều này liên quan đến thụ thể, nó khác với virus cúm ở người so với các chủng cúm gia cầm. Chúng ta có thụ thể đối với cúm gia cầm nằm sâu trong phổi và thụ thể đối với virus cúm ở người ở đường hô hấp trên. Tất nhiên là tốt cho virus nếu nó chủ yếu nhân lên ở đường hô hấp trên, vì sau đó nó có thể lây truyền dễ dàng hơn.  Do ở sâu trong phổi nên bệnh thường nghiêm trọng và dễ dẫn đến tử vong, tuy nhiên lại không dễ dàng lây lan. Điều đó có sự thay đổi với  virus cúm vì đã có sự thích nghi. Tuy nhiên không nhất thiết sẽ diễn ra như vậy! Điều này cũng có thể đi theo một hướng khác. Rất có thể đến một lúc nào đó chúng ta sẽ phải đối mặt với một biến thể Sars-CoV-2 gây ra nhiều căn bệnh nghiêm trọng hơn so với Omicron hiện nay.    WELT: Vậy có khả năng trong ba tháng xuất hiện một biến thể dễ lây lan như bệnh sởi và nguy hiểm chết người như Ebola?  Krammer: Tôi không nghĩ như vậy. Vấn đề không chỉ có sự thay đổi ở virus mà còn cả tình trạng miễn dịch trong dân chúng. Điều này làm  virus gián tiếp bị suy yếu. Nếu tất cả chúng ta đều có khả năng miễn dịch cơ bản thì  virus không dễ gì có thể gây ra nhiều thiệt hại. Tất nhiên, có thể có những người bị virus  tấn công do họ không tạo dựng được miễn dịch cơ bản. Đó là những người bị suy giảm miễn dịch, trẻ em chưa được tiêm chủng hoặc những người không chịu  tiêm chủng. Nhưng với những người khác, những người có khả năng miễn dịch cơ bản, virus không còn có thể gây hại nhiều được nữa, ngay cả khi nó có thể gây bệnh nhiều hơn.  WELT: Liệu có trường hợp nào virus thoát khỏi mọi sự can thiệp của y học – nghĩa là cả tiêm chủng lẫn điều trị đều không có tác dụng?  Krammer: Không, tôi không thể tưởng tượng lại có điều đó.  WELT: Theo tờ the Economist thì đến giữa  năm 2022 sẽ có đủ vaccine để tiêm chủng cho toàn nhân loại, kể cả châu Phi. Nhưng thậm chí có những người hoàn toàn không muốn tiêm phòng. Chuyện gì sẽ xẩy ra?  Kramer: Không có nhiều chuyện có thể xẩy ra. Những người chưa bị lây nhiễm và không được tiêm chủng cuối cùng sẽ bị nhiễm Sars-CoV-2. Tất cả chỉ có thế thôi.  WELT: Chúng ta phải đợi bao lâu để có vaccine có thể được dùng dưới dạng xịt mũi?  Krammer: Để xem. Chúng ta có một loại vaccine véc tơ mới mà bạn có thể tiêm vào bắp thịt hoặc để xịt mũi – hiện đã hoàn thành giai đoạn I ở Mexico và đang chuyển sang giai đoạn II dưới dạng xịt mũi. Chúng tôi cũng đang thử nghiệm tại Bệnh viện Mount Sinai – chúng tôi muốn bắt đầu giai đoạn lâm sàng trước Giáng sinh, nhưng vì  Omicron gây ra hỗn loạn và bệnh viện quá bận rộn buộc chúng tôi  phải hoãn lại một chút. Có một vài doanh nghiệp khác cũng đang nghiên cứu về những thứ như thế, thí dụ  Đại học Hồng Kông có dữ liệu giai đoạn III về vaccine cúm, Eckard Wimmer tại Đại học Stony Brooks có vaccine sống mà bạn có thể tiêm qua đường mũi. Tôi đoán chúng ta vẫn cần một thời gian trước khi có dữ liệu giai đoạn III để được phê duyệt. Nhưng nếu có những chế phẩm như vậy thì sẽ tốt.  WELT: Những loại thuốc chống virus như Paxlovid sẽ có vai trò như thế nào?  Krammer: Hiện tại vẫn còn quá ít, nhưng đó là một điều tuyệt vời. Có thuốc thì chỉ cần uống, không cần phải truyền. Thuốc có hiệu quả khá tốt. Qua  thử nghiệm lâm sàng thuốc có thể giảm tới 89% số ca nhập viện và tử vong, đây là một yếu tố sẽ thay đổi cuộc chơi. Vấn đề duy nhất là nó khá phức tạp và tốn kém so với tiêm chủng. Và quan trọng là phải điều trị ngay, nếu đã thở oxy hay thở máy thì Paxlovid cũng sẽ vô dụng.  WELT: Israel đang tiêm mũi thứ tư cho những người trên 60 tuổi, theo giáo sư điều đó có hợp lý không?  Krammer: Tôi không biết, không có số liệu về điều đó. Điều gì xảy ra sau khi tiêm vaccine mũi thứ tư? Phản ứng miễn dịch yếu hơn so với sau khi tiêm vaccine mũi thứ hai hoặc thứ ba, có thể là gì? Chờ đợi vaccine chống Omicron có hợp lý hơn không? Mũi thứ ba quan trọng, nhưng tiêm mũi thứ tư đại đi như vậy mà không có bất kỳ dữ liệu nào, theo tôi ý tưởng này không hay lắm. Sẽ rất tốt nếu bạn thực hiện một nghiên cứu lâm sàng. Bạn phải đợi cho hệ thống miễn dịch trở lại bình thường. Đôi khi tôi có cảm giác nhiều người muốn tiêm vaccine mũi thứ tư một tháng sau mũi thứ ba, làm như vậy chẳng có ích gì.  WELT:Nhưng tất cả đều cho thấy chúng ta cứ bốn đến sáu tháng một lần lại phải tiêm chủng chạy theo một biến thể virus mới nào đó?   Krammer: Không hoàn toàn như vậy. Đúng là chúng ta phải chạy theo một biến thể virus nào đó để tiêm chủng , nhưng tôi không thể tưởng tượng  nó sẽ giống như bệnh cúm, khi bạn phải tiêm phòng hàng năm. Tôi nghĩ nó sẽ giống như tiêm phòng chống TBE, cứ vài năm lại phải nhắc lại một lần. Người ta sẽ buộc phải làm điều đó  nếu  xuất hiện biến thể có thể gây chuyện.  WELT: Quân đội Hoa Kỳ hiện đang phát triển một loại vaccine corona đa năng nhằm mục đích bảo vệ chống lại tất cả các biến thể và loại virus corona có thể  lây lan sang người. Có loại vakzin hoạt động theo cách đó không và khi nào người ta có loại vaccine như vậy?  Krammer:Tôi nghĩ rằng điều đó là có thể  nếu người ta  tiếp cận đúng cách và tạo ra các kháng thể phù hợp. Tuy nhiên, cũng có thể vaccine omicron đã làm được điều này vì hệ thống miễn dịch trước đây đã phải đối mặt với loại hoang dã, tức là Sars-CoV-2 lúc ban đầu, nhờ  tiêm chủng. Sau đó, người ta được tiêm chủng bổ sung bằng vaccine Omicron, và đó là cách hệ thống miễn dịch buộc phải tập trung vào các phần của phân tử được bảo tồn. Điều đó có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch rộng rãi.  WELT: Đại dịch này sẽ kết thúc như thế nào? Thông qua sự can thiệp của y học? Vì COVID-19 là một bệnh có thể chữa trị? Vì đã có dư số người đã bị lây nhiễm Sars-CoV-2?  Krammer: Thông qua sự hỗn hợp giữa lây nhiễm và tiêm chủng. Thực tế là khả năng miễn dịch cơ bản của dân chúng cao đến mức không thể hình thành các làn sóng mạnh mẽ – hoặc nếu hình thành các làn sóng thì  hầu hết đều là các trường hợp lây nhiễm nhẹ.  WELT: Khi nào thì không phải đeo khẩu trang, thưa giáo sư?  Krammer: Điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Bạn có thể bỏ nó nếu tỷ lệ mắc bệnh không quá cao. Nếu tỷ lệ mắc bệnh cao như ở New York hiện nay và chúng tôi không đeo khẩu trang trong  tàu điện ngầm, thì tất cả mọi người khi ra khỏi toa tàu điện ngầm đều bị lây nhiễm. Nếu chúng ta chỉ có 30 ca mỗi ngày thay vì 40.000 ca, thì tôi không cần khẩu trang, đặc biệt nếu khả năng miễn dịch cơ bản rất mạnh. Và ở New York, khả năng miễn dịch cơ bản sẽ có sau Omicron. Nó đã rất mạnh trước đó. Cuối cùng câu hỏi còn lại là: Bạn có thường xuyên bị ốm trong hai năm qua không?  Cách đây hai tháng tôi bị lây nhiễm Rhinovirus , rất nhẹ thôi. Thế  mà bạn biết không, rất là khó chịu vì hai năm liền chưa bị lần nào. Tôi nghĩ, tôi sẽ còn tiếp tục đeo khẩu trang N-95 trong mùa đông ở New York khi đi tầu điện ngầm. Đơn giản, tôi không muốn bị ốm.  WELT:Xin hỏi thêm hai câu hỏi không liên quan gì đến Corona. Thứ nhất: Tại ở Thung lũng Hula, Israel, hàng nghìn con sếu vừa chết vì một dạng cúm gia cầm mới, và người Israel đã giết cả gà để đề phòng. Điều đó có làm giáo sư lo lắng lắm không ?  Krammer: Rất lo lắng. Nhưng mặt khác chúng ta cũng cần biết chuyện này thường hay xẩy ra. Sự khác biệt là, lúc này mọi người đều nhận thấy. Ba năm trước không ai để ý. Chúng ta luôn có những đợt bùng phát cúm gia cầm, có những ca lây nhiễm gây chết người, có điều nó không lây lan quá rộng. Khi bạn nhìn vào những gì đang diễn  ra trong các đợt bùng phát dịch bệnh từ động vật lây sang người trên khắp thế giới, điều đó thật đáng kinh ngạc! Các chủng cúm gia cầm H5NX có khả năng gây bệnh cao cũng đã lan đến Bắc Mỹ vài năm trước. Tất nhiên tôi lo lắng về điều đó, đó là lý do tại sao tôi đang nghiên cứu một loại vaccine chống cúm đa năng. Nhưng lý do đó có làm tôi mất ăn mất ngủ không? Không.  WELT: Câu hỏi thứ hai: Thuốc kháng sinh của chúng ta không còn có tác dụng vì ngày càng có nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc. Chúng ta có thể tính toán không lâu nữa chúng ta sẽ bước vào thời kỳ hậu kháng sinh. Câu trả lời là gì? Thuốc tiêm chủng  MRNA? Công nghệ nano? Hay là thế hệ sau sẽ sống trong một thế giới nơi bệnh dịch hạch quay trở lại?   Krammer: Câu trả lời là, cần đầu tư nhiều tiền của vào khâu nghiên cứu. Nghiên cứu thuốc kháng sinh một thời gian dài bị coi là con rơi, con ghẻ! Không ai còn quan tâm, đoái hoài đến nó vì đã có thuốc kháng sinh phát huy tác dụng. Chúng ta cần có các loại thuốc kháng sinh mới, chúng ta cần liệu pháp phage, chúng ta cần protein phage có thể tiêu diệt vi khuẩn, sau đó cũng có những cách tiếp cận với kháng thể đơn dòng, với vaccine tốt hơn, v.v. Thật không may tất cả những cái đó lại ít được ưu tiên. Các nhà nghiên cứu và chuyên gia y tế đã cất tiếng nói tuy nhiên về mặt chính sách, điều này chưa được thừa nhận.   Xuân Hoài  dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/gesundheit/plus236279698/Vierte-Impfung-Mehr-Sinn-auf-einen-Omikron-Impfstoff-zu-warten.html    Author                .        
__label__tiasang Đại học Khoa học Huế điều chế thành công thủy tinh lỏng từ tro trấu      Trường Đại học Khoa học Huế cho biết, nhóm sinh viên Hồ Phước Điệp, Nguyễn Thị Lệ Giang và Trần Thị Liên (Khoa Hóa) vừa thành công với đề tài nghiên cứu khoa học điều chế thủy tinh lỏng từ tro trấu.    Nhóm nghiên cứu này đã phát hiện trong thành phần của tro trấu chứa một lượng lớn SiO2, khoảng 85% – 90% theo khối lượng. Đặc biệt, SiO2 trong tro trấu tồn tại ở dạng vô định hình, cấp hạt rất mịn, có hoạt tính rất cao dễ dàng phản ứng với dung dịch NaOH ngay ở điều kiện nhiệt độ thường để điều chế thủy tinh lỏng với chất lượng tương ứng phương thức sản xuất thủy tinh lỏng trong công nghiệp chủ yếu đi từ nguyên liệu cát trắng và soda.   Đề tài của nhóm nghiên cứu đã đoạt giải nhất giải thưởng “Tài năng Khoa học trẻ Việt Nam” năm 2014 của Bộ GD&ĐT. Hiện nhóm đang tìm kiếm đối tác để ứng dụng điều chế sản xuất vào thực tế, góp phần hạ giá thành sản phẩm và hạn chế ô nhiễm môi trường nông thôn từ phế thải tro trấu trong sản xuất lúa gạo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học trong tương quan với hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo      Để thực hiện được vai trò là một cấu phần quan trọng và hỗ trợ cho sự phát triển của khởi nghiệp sáng tạo (KNST) và cũng chính là nơi sản sinh ra nhiều các nhà sáng lập KNST tài năng, các trường đại học phải đối mặt với nhiều thách thức.          Trung tâm STEM của trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: Ngô Hà.  Trước kia chúng ta hay nghe nói rằng thay đổi đến từ những áp lực như đối thủ cạnh tranh, thị trường biến động v..v. Tuy nhiên thực tế cũng chứng minh, cho dù áp lực có lớn, nhưng sự thay đổi chỉ có thể diễn ra khi chúng ta thấy mình cần phải thay đổi. Chính vì vậy, áp lực lớn nhất lại nằm ở chính nội tại của mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Sự tương tác với bên ngoài cho dù là cạnh tranh hay hợp tác cũng là giúp ta nhận rõ hơn những điểm yếu, điểm mạnh và nhu cầu đổi mới nội tại của chính mình. Đặt trường đại học là một phần của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong mối tương quan với khởi nghiệp sáng tạo và các thành phần khác giúp trường đại học nhận rõ hơn những áp lực mình đang phải đối mặt và những cơ hội mà mình đang có.  Có một thực tế không thể phủ nhận, chúng ta đang chứng kiến những khó khăn trong tuyển sinh của nhiều trường đại học cao đẳng, chúng ta cũng đang chứng kiến nạn chảy máu chất xám từ trường đại học ra doanh nghiệp, ra nước ngoài và sự loay hoay của không ít các trường đại học để tìm ra cho mình một mô hình hoạt động mới, thích ứng và làm chủ sự thay đổi trong khi sáng tạo được giá trị và tạo nhiều tác động hơn. Từ những quan sát của mình, tác giả cho rằng, các trường đại học đang đứng trước ba áp lực lớn: (1) Áp lực định vị chính mình: xác định được giá trị, sự khác biệt và vai trò của mình trong bức tranh lớn từ đó xác định những kết nối với các thành phần khác nhau và giá trị mình tạo ra với họ; (2) Áp lực thu hút nhân tài và phát triển đội ngũ: Thu hút, nuôi dưỡng và phát triển nhân tài gồm sinh viên, cán bộ, giảng viên, học viên nói chung để thực hiện sứ mệnh của trường đại học (3) Áp lực tìm kiếm mô hình sáng tạo giá trị và tác động: Hiện thực hóa những điều trên bằng việc tìm kiếm và điều chỉnh mô hình hoạt động.  Những áp lực này đặt trong bối cảnh của mỗi trường sẽ giúp nhận ra những vấn đề nội tại khác nhau. Vì vậy, không thể không xác định những vấn đề cốt lõi của chính trường đại học trước khi đặt nó trong sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp. Các câu hỏi lớn đặt ra chính là sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ giúp giải quyết gì hay phần nào cho những vấn đề mà trường đang gặp phải? Từ đó mới có thể trả lời câu hỏi nên làm gì?  1. Định vị chính mình: Trường đại học ở đâu trong hệ sinh thái khởi nghiệp là một câu hỏi lớn, nhưng có lẽ câu hỏi tốt hơn chính là KNST giúp trường định vị lại chính mình như thế nào? Có hai nhà đầu tư của Nhật sau khi tiếp xúc với khoảng hơn 20 nhóm KNST băn khoăn hỏi tôi, tại sao chúng tôi chưa thấy một nhóm nào đi ra từ trường đại học? Có duy nhất một nhóm mà sáng lập còn đang học trong trường thì họ nói hầu như không biết gì đến hỗ trợ của trường đang có? Câu hỏi tiếp theo của họ chính là các trường đại học của Việt Nam hay ở Việt Nam có chương trình nào hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu của giảng viên, sinh viên, nghiên cứu viên không? Thực tế, trường đại học không thể làm tất cả mọi việc của hệ sinh thái khởi nghiệp. Sự ôm đồm tất cả mọi việc hay sự thờ ơ không làm gì đều có thể có những rủi ro tiềm ẩn. Nếu không tìm ra sự khác biệt của mình, giá trị riêng của mình, nói một cách khác là không xác định được phân khúc mình làm tốt nhất thì sẽ rất khó biết mình cần gì và nên kết nối với ai, việc nào trường nên làm và việc gì nên hợp tác. Al Reis, tác giả cuốn sách “Định vị – Cuộc chiến tâm trí” từng tổng kết “Cách tiếp cận cơ bản của định vị không phải là tạo ra cái gì đó mới hay khác đi mà thực chất là vận dụng những gì đó có trong đầu, kết nối lại những gì đã tồn tại sẵn ở đó” – Al Reis. Định vị mình trong hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ giúp định vị lại chính những khác biệt và giá trị của mình trong một bức tranh lớn.  2. Thu hút nhân tài: Ở khía cạnh nhân tài, tham gia vào cuộc chơi khởi nghiệp này, các trường được gì ngoài những phong trào phục vụ PR, marketing để tuyển sinh, giảm tỷ lệ bỏ học của sinh viên, hay giải quyết tỷ lệ thất nghiệp trong sinh viên? Không ít giảng viên tâm sự với chúng tôi rằng, khó khăn lớn nhất họ đang gặp phải là sinh viên thờ ơ với khởi nghiệp, điều này hàm chứa những khó khăn khi họ phải triển khai những hoạt động cần triển khai các chương trình khởi nghiệp tại trường. Thực chất, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc sinh viên thờ ơ với khởi nghiệp. Điều này là bình thường bởi chỉ có khoảng 5% dân số là trở thành doanh nhân nên giải pháp không thể nằm ở việc phải làm nhiều hoạt động để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp. Nếu các trường lựa chọn tập trung vào con số 5% sinh viên, thì họ đang ở đâu? Làm thế nào để tìm thấy họ và hỗ trợ họ một cách tốt nhất? Còn nếu trường định vị mình là những người trang bị cho cả các sáng lập startup và nhân sự tương lai của họ thì việc của trường là trang bị kiến thức và thúc đẩy tinh thần sáng tạo, nghiên cứu khoa học.  3. Tìm kiếm mô hình: Mô hình hỗ trợ KNST không thể tách rời khỏi mô hình vận hành của chính trường đại học. Không một mô hình nào tồn tại vĩnh viễn bởi nó sẽ bộc lộ những bất cập. Nếu tìm kiếm mô hình hoạt động tối ưu hơn và điều chỉnh là một vấn đề trường đang gặp phải thì mô hình vườn ươm cũng vậy. Không thể có một công thức chung như phần lớn các trường đại học đang thực hiện là tổ chức cuộc thi toàn trường, rồi chọn ý tưởng, đưa vào ươm tạo là xong. Chỉ khi vườn ươm ra đời từ nhu cầu thực tiễn của trường trong việc thúc đẩy những gì mình đang sẵn có và có đội ngũ cho hoạt động một cách bài thì mới có thể tìm ra những mô hình hoạt động hiệu quả. Rất ít những vườn ươm tìm ra được hướng đi riêng từ nhu cầu thực tiễn, các thế mạnh vượt trội của nhà trường kết hợp với sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp như Vườn ươm công nghệ FuturiX của HUTECH. Nói một cách khác, vườn ươm chỉ là một trong số những biểu hiện của việc tìm ra mô hình hoạt động tối ưu trong sự tương tác với hệ sinh thái khởi nghiệp. Chỉ khi nào xác định được nhu cầu của chính mình, thế mạnh của chính mình thì mới có thể tìm ra những mô hình, cách thức hiệu quả.  ***  Khởi nghiệp sáng tạo là một cơ hội giúp các trường nhận ra nhu cầu đổi mới của chính mình ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều cấp độ khác nhau. Cũng không quên rằng năm điều một trường đại học muốn ĐMST phải đối mặt đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ. Đây là kết quả nghiên cứu của hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout của cuốn Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (ĐMST 2.0- Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức). Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học ĐMST thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn. □    Author                Nam An        
__label__tiasang Đài Loan và cách tiếp cận “từ dưới lên” trong thảm họa      Đài Loan là nơi thường xuyên chịu những hiểm họa tự nhiên như bão, động đất, sạt lở…Mỗi năm, đất nước này hứng chịu trung bình 3-4 cơn bão và dưới ảnh hưởng của hiện tượng nóng lên toàn cầu, tình trạng này sẽ nặng nề hơn nữa.        Đội tình nguyên do người dân lập ra tên là Tzu Chi chuyên cung cấp sơ cứu hậu thảm họa  Cơn bão Nali năm 2001 đã gây thiệt hại do lũ lụt và tổn thất tài chính nghiêm trọng. Ngoài ra, dòng chảy các mảnh vụn trở thành một mối nguy hiểm thực sự vì sự rung chuyển rất lớn của trận động đất Jiji (còn có tên khác là 921, 7,3 độ richter) kèm theo lượng mưa lớn. Tuy nhiên, sự cứu trợ của chính phủ có thể bị trì hoãn hoặc bị ảnh hưởng do loại thảm họa, sức ảnh hưởng và các đặc điểm địa lý của khu vực. Cộng đồng, do đó, đóng một vai trò quan trọng trong việc xử lý ở giai đoạn đầu của một thảm họa thảm khốc.  Từ nửa thế kỉ trước, sau Thế chiến thứ hai, Cơ quan phòng cháy chữa cháy quốc gia Đài Loan (NFA) đã có xu hướng tuyển tình nguyện viên từ người dân để ứng phó với những tình huống khẩn cấp do thiếu nhân lực. Vào năm 1998, những “tình nguyện viên cứu hỏa” này đã có chức danh chính thức trong đội. Tiếp nối thành công đó, NFA còn thành lập Đội Phượng Hoàng có nhiệm vụ hỗ trợ y tế khẩn cấp và Đội Phụ nữ Tuyên truyền An toàn Cháy nổ nhằm mục đích phòng ngừa các đám cháy vào năm 1999. Theo đó, bất kì người dân nào cũng có thể tham gia hoạt động này miễn là họ hoàn thành một khóa huấn luyện bắt buộc. Sau trận động đất Jiji, NFA càng tập trung vào cải thiện khả năng chuẩn bị và ứng phó của cộng đồng trước thảm họa bằng cách thành lập Đội Cứu hộ Khu phố (NRT). Khác với những nhóm tình nguyện trước đó của NFA, những thành viên tham ra NRT thực sự cảm thấy nhu cầu thiết yếu của việc phải được trang bị kiến thức để đối diện với hiểm họa xảy đến cộng đồng của họ. Mục đích của NRT là làm sao để cộng đồng có thể tự lo liệu khi chưa có đội cứu hộ nào đến kịp sau một thảm họa lớn.  Ngoài các đội tình nguyện được thành lập từ chính phủ, bản thân nhiều khu vực Đài Loan cũng có những nhóm tự phát hỗ trợ người dân trước thảm họa. Ví dụ, các cư dân của làng Feng-Qiu, Nam Đầu đã cảnh báo những người sống ở khu vực hạ lưu ngay trước khi hiện tượng lở đất tràn vào và sau đó hỗ trợ người bị nạn di dời khỏi khu vực nguy hiểm. Cộng đồng Chang-Cing, Đài Bắc cũng đã tích cực tổ chức các cư dân của mình để tuần tra khu vực, phòng chống thiên tai và chuẩn bị cho các nỗ lực ứng phó khẩn cấp từ năm 1998. Tại làng Long-An và cộng đồng Wu-Gong của huyện Nam Đầu, sự tham gia của người dân vào công cuộc ứng phó đầu tiên sau trận động đất Jiji không chỉ làm giảm thiệt hại về tài sản và cuộc sống mà còn giúp cộng đồng phục hồi nhanh chóng. hiệu ứng thảm họa.  Có những điểm tương đồng trong các cộng đồng trên. Một là các cư dân tích cực hình thành các nhóm để hỗ trợ các khu phố của họ ngay lập tức sau những thảm họa lớn. Thứ hai, những cộng đồng này chưa bao giờ có sự tài trợ của chính phủ cho việc huấn luyện ứng phó khẩn cấp trước đây. Thứ ba, cư dân của các cộng đồng này thường xuyên tham gia các hoạt động cộng đồng để tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa họ.  Sau những thảm họa liên tiếp xảy ra với thiệt hại nặng nề, Đài Loan đã đưa những hoạt động trên thành một chương trình có quy mô trên cả nước và được thực hiện bài bản gọi là Quản lý Thiên tai Tích hợp dựa vào cộng đồng (ICBDM), năm 2001. Làng Shang-An, Nam Đầu là một trong những nơi thí điểm. Theo đó, những người tham gia không giới hạn ở đội cứu hỏa, tình nguyện viên, những người đứng đầu các cộng đồng dân cư mà còn có cả các chuyên gia và nhà khoa học nghiên cứu về thảm họa (tuy nhiên, người dân địa phương vẫn là những người trực tiếp lãnh đạo và triển khai dự án). Những người dân hứng thú với chương trình này sẽ được tham gia thảo luận về lịch sử thảm họa diễn ra ở địa phương; xác định khả năng tổn thương của cư dân và các khu vực, cụ thể là khoanh vùng nguy hiểm, đánh dấu những tòa nhà, công trình dễ bị ảnh hưởng; đánh giá những vấn đề sẽ gặp phải và đưa ra các giải pháp rồi từ đó tự phát triển khung và chiến lược hành động để có thể chuyển giao và hướng dẫn những nhóm cứu trợ cộng đồng sau này. Họ cũng được đào tạo và thực hành những kĩ năng ứng cứu khẩn cấp trên thực tế.  Hạnh Duyên tổng hợp  Nguồn:  https://link.springer.com/article/10.1007/s11069-005-4669-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đàm phán với những mã lệnh: Hợp đồng thông minh và vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ      Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.      Ảnh minh họa. Nguồn: arzdigital.  Xung đột pháp luật – câu đố chưa có lời giải  Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từHợp đồng thông minh.  Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh Hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thểđược xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh Hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].  Tính bất biến – nan đề khi sử dụng Hợp đồng thông minh  Đặc tính bất biến (immutability) của công nghệ blockchain áp dụng vào Hợp đồng thông minhnhư một con dao hai lưỡi. Đặc tính này, về mặt lý thuyết giúp đảm bảo thực thi những giao kết hợp đồng đã định, tránh những rủi ro liên quan đến vi phạm hợp đồng và bảo mật thông tin. Tuy nhiên, cần nhận định rằng sự thỏa thuận là một đặc điểm nổi bật của hợp đồng, do vậy đặc tính bất biến có thực sự ưu việt khi áp dụng vào trong các giao dịch phức tạp?  Câu trả lời là không. Như đã phân tích ở trên, Hợp đồng thông minh mặc định rằng thỏa thuận của các bên là cuối cùng và quá trình thực hiện không có các vấn đề ngoại cảnh phát sinh. Trên thực tế, trường hợp bất khả kháng vẫn luôn diễn ra, không kể là ở thế giới thực hay thế giới ảo.  Trong tháng 6 năm 2016, những kẻ tấn công (hacker) đã khai thác lỗ hổng phần mềm và rút hàng triệu đồng ether, tương đương hàng chục triệu đô la. Trong một bức thư ngỏ cho cộng đồng Ethereum, kẻ tấn công tuyên bố rằng hắn đã không làm bất cứ điều gì bất hợp pháp, hắn chỉ “Sử dụng tính năng được mã hoá theo các điều khoản Hợp đồng thông minh”. Tạm gác lại hành vi của kẻ tấn công sang một bên, có thể thấy rằng Hợp đồng thông minh mặc dù có khả năng “miễn nhiễm”với những “ẩn ý” hoặc “mập mờ” trong thuật ngữ pháp luật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản, nhưng vẫn dễ gặp phải lỗi mã hoá [3]. Như vậy, các yếu tố ngoại cảnh luôn rình rập để phát sinh, nhưng các bên lại bị mất đi tính linh hoạt trong việc điều chỉnh hợp đồng và thay đổi tiến trình thực hiện giao kết. Những rủi ro này, mặc dù đã được bảo vệ bởi quy định về trường hợp bất khả kháng, nhưng tương lai vẫn cần các hướng đi phù hợp khác để hạn chế tối đa những rủi ro mà giao kết hợp đồng trong môi trường ảo gây ra.  Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng– câu chuyện về bình mới rượu cũ  Theo cha đẻ của Hợp đồng thông minh – Nick Szabo, dạng thức hợp đồng này sẽ mở ra một chân trời mới cho tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch. Như vậy, mọi đối tượng, không kể người khuyết tật, người tị nạn hay những nhóm người yếu thế khác đều có thể tham gia giao dịch một cách bình đẳng và tránh được những thiệt thòi và chèn ép như khi tham gia thương lượng, thỏa thuận theo phương thức hợp đồng truyền thống. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận ở một khía cạnh khác rằng với cơ chế thực hiện theo công thức lệnh “nếu X thì Y”, quyền lợi của người tiêu dùng trong Hợp đồng thông minh liệu có được bảo vệ đầy đủ?  Với mục tiêu đảm bảo sự thuận tiện và chính xác khi chuyển đổi ngôn ngữ soạn thảo sang các mã lệnh, hợp đồng, trong trường hợp này, ít nhiều sẽ không đảm bảo các nội dung cần thiết như hợp đồng tiêu dùng truyền thống. Sự khuyết thiếu trong Hợp đồng thông minh thể hiện rõ nhất ở các điều khoản về quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng hoặc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng.  Hiện nay, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đưa ra những quy định nhằm đảm bảo rằng các cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ, hàng hóa phải đăng ký nội dung của Hợp đồng mẫu hoặc Điều kiện giao dịch chung để tránh việc soạn thảo, giao kết và thực hiện các hợp đồng chứa đựng các điều kiện và điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng. Nhưng câu chuyện muôn thuở luôn là khung pháp lý còn nhiều kẽ hở, hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành lại thiếu vắng những quy định chi tiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Mặt khác, cơ chế để người tiêu dùng có thể khiếu nại hoặc khởi kiện khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến việc giao kết và thực hiện Hợp đồng mẫu/Điều khoản giao dịch chung còn nhiều hạn chế. Như vậy, trước xu hướng phát triển nhanh của Hợp đồng thông minh– hay “Hợp đồng mẫu/ Điều khoản giao dịch chung được mã hóa”, các nhà quản lý hơn bao giờ hết nên bắt đầu suy ngẫm và đưa ra những giải pháp hữu ích để bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ này.  Chặng đường dài cho các chính sách quản lý trong tương lai  Công nghệ như một bài toán đố có kết quả vô hạn và những bước tiến của khoa học công nghệ luôn nhanh hơn một bước so với những chính sách quản lý hiện tại. Thực tế đã cho thấy không chỉ các quốc gia đang phát triển, thậm chí EU hay các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản cũng đang loay hoay trước sự chuyển mình không ngừng của công nghệ. Đã đến lúc các chính sách quản lý phải thực sự nhìn thẳng vào tiềm năng tương lai của công nghệ để có những chiến lược quản lý đường dài. Nhưng trước tiên, cần phải hiểu rõ những đột phá công nghệ là gì, các tác động của ứng dụng đó tới đời sống ra sao và từ đó đề xuất chính sách quản lý phù hợp.  Hi vọng rằng các chính sách quản lý trong tương lai sẽ không đi theo xu hướng của Dự án thí điểm Uber và Grab – cố gò ép những công nghệ sáng tạo vào khung pháp lý đã cũ. Hi vọng rằng đến thời điểm mà Hợp đồng thông minh nói riêng và các đột phá công nghệ nói chung thâm nhập vào từng ngõ nhỏ của cuộc sống,các nhà quản lý đã sẵn sàng trả lời cho những băn khoăn của dư luận, thay vì “mông lung quan ngại” và cho rằng đó chỉ là một câu chuyện viễn tưởng.  ———  Chú thích:   [1] Riccardo de Caria, A Digital Revolution in International Trade? The International Legal Framework for Blockchain Technologies, Virtual Currencies and Smart Contracts: Challenges and Opportunity, trang 7.  [2] Decentralized Blockchain Technology and The Rise of Lex Cryptographia, Aaron Wright & Primavera De Filippi, trang 1.  [3] Alexander Savelyev, Contract law 2.0: “smart” contracts as the beginning of the end of classic contract law, trang 20.    Author                Vũ Thị Diệu Thảo        
__label__tiasang Đan Mạch làm đảo nhân tạo, xây dựng hay hủy hoại tương lai?      Một công viên xanh có khả năng chống lại biến đổi khí hậu với việc làm chậm lại nước biển dâng và mang lại chỗ ở cho 35.000 người trên diện tích ba km2. Đó thực sự là một khu dân cư mới toanh – ngay trên bờ biển và được kết nối tốt với phần còn lại của thủ đô Copenhagen của Đan Mạch.      Hiện các chính trị gia Đan Mạch đang xúc tiến dự án Lynetteholm, hòn đảo nhân tạo này sẽ được xây dựng ở cảng Copenhagen.  Đan Mạch đang bị đe dọa đặc biệt bởi biến đổi khí hậu. Quốc gia nhỏ bé nằm giữa biển Bắc và biển Baltic đã biết rằng mình phải chịu nước biển dâng từ hai phía. Các dự án bảo vệ bờ biển trị giá tiền  tỷ đã được khởi xướng trong vài năm qua. Các chuyên gia dự đoán, các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ tiếp tục gia tăng do hậu quả của cuộc khủng hoảng khí hậu. Do đó xây dựng Lynetteholm là để bảo vệ Copenhagen khỏi những thảm họa thời tiết khắc nghiệt như vậy trong tương lai.  Đây là một dự án khổng lồ mang lại hy vọng trong thời kỳ biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt. 85% nghị sỹ Đan Mạch đã bỏ phiếu ủng hộ dự án hồi tháng 6 và công trình xây dựng đầu tiên có thể bắt đầu chỉ trong vài tuần nữa. Nhưng chính các chuyên gia về khí hậu và môi trường lại kịch liệt phản đối dự án Lynetteholm – nếu những người ủng hộ chỉ ra khả năng bảo vệ bờ biển thì những người chỉ trích lo ngại sự tàn phá của biển Baltic. Nơi các chính trị gia nhìn thấy hàng nghìn căn hộ mới được xây dựng, các đối thủ lại cho rằng công trường xây dựng khổng lồ này gây hại cho khí hậu.  Cuộc tranh cãi này đã leo thang trong vài tuần qua đến mức có thể Liên minh châu Âu cũng phải vào cuộc.  Nó cho thấy việc đối phó với biến đổi khí hậu có thể trở nên khó khăn như thế nào trong những thập kỷ tới. Tình hình này đòi hỏi phải có những câu trả lời có ý nghĩa quyết định? Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đó cũng là một câu hỏi có ý nghĩa then chốt về dân chủ: Ai là người ngày nay có thể ra quyết định về những gì mà người khác phải sống trong  dăm chục năm nữa?  Theo quan điểm của Đức, tốc độ lên kế hoạch Lynetteholm rất ấn tượng:  tháng 10 năm 2018, Thủ tướng Lars Løkke Rasmussen thời đó đã trình bày những kế hoạch đầu tiên – chỉ ba năm sau, việc đắp đảo đã được bắt đầu.  Những người phụ trách ước tính, công việc việc xây dựng sẽ  hoàn tất vào năm 2070. Từng bước, các khu chung cư sẽ được xây dựng, kết nối với tàu điện ngầm và một phần bờ biển hoàn toàn mới sẽ hình thành. Đây là công trình xây dựng lớn nhất trong lịch sử Đan Mạch. Hơn một trăm triệu mét khối cát và đất đá được đào xới, di chuyển để phục vụ công trình, các tòa nhà đầu tiên sẽ ra đời sớm nhất vào năm 2035.  Frederik Sandby hy vọng sẽ góp phần ngăn chặn kế hoạch này. Anh là chủ tịch của Klimabevægelsen, tổ chức bảo trợ của phong trào khí hậu Đan Mạch, trong đó Fridays for Future là một thành viên. Sandby cảnh báo: “Nếu chúng ta thực sự nghiêm túc về các mục tiêu khí hậu của Paris, thì Lynetteholm sẽ không tồn tại dưới dạng như hiện tại. Cho đến nay, dự án này chẳng quua chỉ là rửa xanh (greenwashing) mà thôi“.  Các nhà bảo vệ môi trường và khí hậu phẫn nộ vì cho đến nay vẫn chưa có đánh giá môi trường đầy đủ về dự án. Thay vào đó, Lynetteholm được chia thành nhiều dự án phụ. Trước khi bắt đầu xây dựng, người ta chỉ điều tra hậu quả của việc xây kè trên đảo. Thành phố và nhà nước sẽ quyết định phần còn lại sau này, khi các máy móc đã vào cuộc. Khả năng phản đối của công dân và tổ chức dự kiến sẽ kết thúc vào ngày 6/10. Không chỉ các nhà bảo vệ khí hậu mà các luật sư và chính trị gia đối lập cũng chỉ trích lối làm ăn này.  Ellen Margrethe Basse, giáo sư luật môi trường tại Đại học Aarhus, lo ngại hành động của chính phủ sẽ làm suy yếu hiệu lực của quyền kiểm soát dân chủ đối với dự án. Các khiếu nại, ý kiến phản kháng đã bị vô hiệu hóa với việc ra nghị quyết của Quốc hội. Peter Pagh, đồng nghiệp của Basse tại Đại học Copenhagen, cũng chia sẻ những nghi ngờ về việc liệu thủ tục này có hợp pháp hay không. “Người ta không thể kiểm tra các dự án lớn  khi chúng đang triển khai xây dựng”.  Cho đến nay, Tòa thị chính Copenhagen cũng không muốn nghe về những phản đối như vậy. “Đó là một quá trình dân chủ hoàn toàn bình thường”, Thị trưởng Lars Weiss đảm bảo trong một cuộc trả lời phỏng vấn. Rõ ràng, ông không quan tâm đến đến những chỉ trích đối với các đại dự án. “Nếu bạn tuân theo logic này, chúng tôi không còn có thể lên kế hoạch cho bất kỳ dự án nào kéo dài quá thời gian bầu cử.” Chỉ tính riêng vào đầu năm, theo thị trưởng Weiss, nhà điều hành cảng đã đầu tư số tiền tương đương hơn 13 triệu euro để khắc phục khoảng 900 kháng nghị của người dân.  Giờ đây, Lynetteholm cũng nhận được những ý kiến trái chiều từ bên kia Øresund. Các nhà môi trường Thụy Điển, 13 thành phố  và vùng Skåne cảnh báo về tác động sinh thái của dự án. Người ta lo ngại, eo biển này sẽ bị ô nhiễm bởi quá trình xây dựng kéo dài nhiều nhiều thập kỷ và việc khai thác cát từ rạn san hô Kriegers Flak đang phá hủy môi trường sống quan trọng đối với cá heo, các loài cá khác và thực vật trong vùng. Vì lý do này, Đan Mạch phải phối hợp với Thụy Điển xem xét lại dự án này nghiêm túc hơn để không vi phạm luật của EU.  Trong khi đó, tại Copenhagen, mối quan tâm chính là hậu quả của những gì đang diễn ra hàng ngày. Theo tính toán của truyền thông Đan Mạch trong quá trình mở rộng hòn đảo, mỗi ngày sẽ có thêm khoảng 350 xe tải  chạy qua thành phố trong mười năm tới. “Theo quan điểm của chúng tôi, việc mở rộng hòn đảo ít nhất cũng có vấn đề như việc san lấp đất trước đó”, nhà hoạt động khí hậu Frederik Sandby nói.  Đối với các nhà hoạt động khí hậu, không chỉ là vấn đề về tác động môi trường mà còn là những cân nhắc cơ bản đằng sau dự án lớn. Sandby nói: “Chính phủ của chúng tôi đã thông báo rằng họ sẽ giảm đáng kể lượng khí thải vào năm 2030. “Nhưng ngành xây dựng là một trong những ngành phát thải khí nhà kính lớn nhất. Nếu chúng ta muốn xây dựng Lynetteholm, chúng ta phải tiết kiệm ở nơi khác. Làm thế nào bạn có thể làm điều đó nếu bạn thậm chí chưa điều tra các tác động?”.  Để kêu gọi dừng công việc xây dựng, các nhà bảo vệ môi trường đã đệ trình một bản kháng nghị lên Nghị viện EU trong những tháng gần đây và tiến hành khởi kiện dân sự ở Đan Mạch. Giáo sư luật Ellen Margrethe Basse tin rằng dự định này có một cơ hội tốt: “Theo tôi  Tòa án Châu Âu sẽ tiếp nhận và xác nhận  những phản đối đối với bản đánh giá môi trường không đầy đủ. Qua các quy định điều này đã thể hiện quá rõ ràng.”  Dự án thế kỷ chống biến đổi khí hậu của Đan Mạch trước hết sẽ trở thành một trận chiến pháp lý lịch sử.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Lynetteholm in Dänemark: Umstrittene künstliche Insel am Öresund – DER SPIEGEL  https://de.euronews.com/2021/06/07/kunstliche-halbinsel-soll-kopenhagen-vor-uberschwemmungen-schutzen    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dàn nhạc nanophotonics: Xoắn đến ánh sáng của các hạt nano      Các nhà nghiên cứu vật lý tại trường đại học Bath ở Anh đã khám phá ra một hiệu ứng vật lý mới liên quan đến sự tương tác giữa ánh sáng và các vật liệu xoắn –một hiệu ứng dường như có các chỉ dấu cho công nghệ nano mới nổi trong truyền thông, robot nano và các hợp phần quang học siêu mỏng.    Trong thế kỷ 17 và 18, nghệ nhân làm đàn người Ý Antonio Stradivari đã chế tác ra những nhạc cụ có chất lượng huyền thoại, và nổi tiếng nhất chủ yếu là những cây đàn violin mang tên ông, Stradivarius. Điều  khiến cho những âm thanh mà các nhạc cụ này tạo ra chứa đựng cả nét đẹp vô song và sự độc đáo chính là âm sắc riêng biệt, cũng được biết đến như màu sắc âm thanh hoặc chất lượng âm thanh. Tất cả các nhạc cụ đều có một âm sắc – khi một nốt nhạc (âm thanh với tần số mẫu fs) được chơi, nhạc cụ sẽ tạo ra một hòa âm (các tần số là một hợp âm nguyên của tần số ban đầu).  Thông thường, khi một ánh sáng của một màu nhất định (với tần số trung tâm fc) chiếu lên các vật liệu thì các vật liệu này có thể tạo ra hòa âm (các tần số ánh sáng 2fc, 3fc, 4fc, 5fc, 6fc…). Hòa âm của ánh sáng phát hiện ra các đặc tính phức tạp của vật liệu, qua đó có thể tìm được những ứng dụng trong chụp ảnh y học, truyền thông và công nghệ laser.  Ví dụ, mọi vật phát laser xanh trên thực tế là một vật phát laser hồng ngoại có ánh sáng không hiển thị với mắt người. Ánh sáng xanh mà chúng ta thấy trên thực tế là hòa âm thứ hai (2fc) của vật phát laser tia hồng ngoại, nó được tạo ra bằng một tinh thể đặc biệt bên trong vật phát đó.  Trong cả hai nhạc cụ và vật liệu phát sáng, một số tần số đều bị “cấm” – đó là chúng không thể nghe hoặc thấy do nhạc cụ hoặc vật liệu ngăn cản chúng. Bởi cây kèn clarinet hình trụ thẳng, nó khử tất ce mọi hòa âm (2fs, 4fs, 6fs…) và chỉ tạo ra duy nhất một hòa âm lẻ (3fs, 5fs, 7fs…). Tương phản, một cây kèn saxophone có hình dạng nón cong cho phép tạo ra mọi hòa âm và kết quả là có âm thanh phong phú và mượt mà hơn. Một chút tương tự, khi một dạng cụ thể của ánh sáng (phân cực tuần hoàn) chiếu lên một hạt nano kim loại phân tán trong một chất lỏng, hòa âm thêm này của ánh sáng không thể truyền dọc theo chiều ánh sáng truyền đi và những màu sắc phản hồi đều bị chặn.  Hiện tại, một nhóm nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học ở Khoa Vật lý trường đại học Bath đã tìm ra một cách để phát hiện ra những màu bị “cấm”, dẫn đến việc tìm thấy một hiệu ứng vật lý mới. Để có được kết quả này, họ đã ‘uốn cong’ thiết bị thực nghiệm của mình.  Giáo sư Ventsislav Valev, người dẫn dắt nghiên cứu, nói “Ý tưởng về độ xoắn của các hạt nano hoặc các phân tử có thể được phát hiện thông qua hòa âm học của ánh sáng đã xuất hiện 42 năm trước, bắt nguồn từ một nghiên cứu sinh tiến sĩ David Andrews. David nghĩ rằng lý thuyết của ông quá khó nắm bắt để có thể đánh giá bằng thực nghiệm nhưng hai năm vừa rồi, chúng tôi đã thử thí nghiệm hiện tượng này. Hiện tại, chúng tôi đã khám phá ra là độ xoắn của các hạt nano cũng có thể được quan sát trong hòa âm thêm của ánh sáng. Thật vui mừng khi người đem đến lý thuyết mà chúng tôi kiểm chứng ngày hôm nay không phải ai khác là giáo sư David Andrews, một trong số đồng tác giả của công trình!”.  “Để tạo ra một tương tự âm nhạc, cho đến hiện tại, các nhà khoa học nghiên cứu về các phân tử xoắn (DNA, amino acids, proteins, sugars…)  và các hạt nano trong nước – nguyên tố của sự sống – đã rọi sáng chúng tại một tần số cho trước và đã quan sát tần số tương tự hoặc nhiễu của nó (các âm bội phi hòa âm riêng). Nghiên cứu của chúng tôi đã mở ra nghiên cứu về các tín hiệu hòa âm học của những phân tử xoắn. Vì vậy, lần đầu tiên chúng tôi có thể hiểu rõ giá trị ‘âm sắc’ của chúng.  Từ góc nhìn thực nghiệm, kết quả của chúng tôi mở ra một phương pháp thực nghiệm minh bạch, thân thiện với người áp dụng để đạt được một hiểu biết chưa từng có tiền lệ về sự tương tác giữa ánh sáng và những vật liệu xoắn. Những tương tác đó là tâm điểm của các công nghệ nano mới nổi trong truyền thông, robot nano và các thành phần quang học siêu mỏng. Ví dụ, sự ‘xoắn’ của các hạt nano có thể xác định được giá trị của các bit thông tin (cho xoắn về phía tay phải hay tay trái). Nó cũng thể hiện trong các chân vịt, cánh quạt của các robot nano và có thể ảnh hưởng đến hướng truyền của một chùm tia laser. Hơn nữa, phương pháp của chúng tôi có thể ứng dụng được trong độ rọi sáng ở kích thước siêu nhỏ, phù hợp với việc phân tích các hợp chất hóa học tự nhiên, vốn hứa hẹn tạo thành các loại dược chất mới ở nơi hiếm khi thấy sẵn vật liệu.  Nghiên cứu sinh tiến sĩ Lukas Ohnoutek, người cùng tham gia vào nghiên cứu, nói: “Chúng tôi đã từng suýt mất đi khám phá này. Thiết bị ban đầu của chúng tôi không ‘phù hợp’ và vì vậy chúng tôi thấy không có gì xảy ra ở hòa âm thứ ba. Tôi bắt đầu thấy mất hi vọng nhưng sau đó chúng tôi đã có một cuộc thảo luận, nhận ra những vấn đề tiềm năng và tìm hiểu chúng một cách có hệ thống cho đến khi chúng tôi phát hiện ra vấn đề. Thật tuyệt vời khi trải nghiệm một phương pháp khoa học, đặc biệt là khi nó dẫn đến một khám phá khoa học!”  Trong khi đó, người hơn 40 năm trước đề xuất lý thuyết, nay trở thành một giáo sư xuất sắc, Andrews thì cảm thấy hài lòng về những đồng nghiệp trẻ của mình “Giáo sư Valev đã dẫn dắt một nhóm nghiên cứu quốc tế tới điểm thật sự đầu tiên cho ứng dụng photon này. Khi anh ấy mời tôi tham gia, lời mời đưa tôi trở lại với công việc lý thuyết từ hồi còn làm nghiên cứu sinh. Thật vô cùng thú vị thấy điều đó cuối cùng cũng trở thành sự thật sau nhiều năm”.  Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Laser & Photonic Reviews “Optical Activity in Third‐Harmonic Rayleigh Scattering: A New Route for Measuring Chirality” 1.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-nanophotonics-orchestra-nanoparticles.html  https://www.bath.ac.uk/announcements/the-nanophotonics-orchestra-presents-twisting-to-the-light-of-nanoparticles/  —————————–  1. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/lpor.202100235    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đăng ký nhóm nghiên cứu mạnh: Mạo hiểm nhưng cần thiết      Là một trong ba đề xuất nhóm nghiên cứu mạnh đợt đầu của Quỹ Nafosted, chúng tôi biết quyết định của mình có phần mạo hiểm nhưng để có được những công bố tốt về những vấn đề chuyên sâu trong lĩnh vực Y sinh thì việc trở thành nhóm nghiên cứu mạnh và được Quỹ đầu tư là một giải pháp hữu hiệu.      TS. Hoàng Văn Tổng.  Xác định hướng nghiên cứu: Khi bắt tay vào kế hoạch hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, chúng tôi cho rằng, đây là yếu tố quan trọng bởi nhóm nghiên cứu mạnh cần phải xác định rõ hướng nghiên cứu mang tính dài hạn và chuyên sâu, đồng thời hướng nghiên cứu đó cần phải mới, không chỉ mới với Việt Nam mà phải mới ở cả trên thế giới. Có làm được như vậy thì các nghiên cứu ở Việt Nam mới có khả năng phát triển và các sản phẩm là các bài báo khoa học mới tiếp cận được với các tạp chí khoa học uy tín quốc tế.  Trong quá trình thực hiện các nghiên cứu ở lĩnh vực Y sinh, chúng tôi nhận thấy còn quá nhiều vấn đề đặt ra về mối tương tác giữa các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus và ký sinh trùng với cơ thể vật chủ cần phải được tìm hiểu rõ, đặc biệt là sự đáp ứng của hệ thống miễn dịch của cơ thể, những cơ chế tiến triển của bệnh khi virus xâm nhập vào cơ thể. Vì thế, chúng tôi đã xác định, nhóm nghiên cứu của mình sẽ tập trung vào nghiên cứu về vai trò, chức năng và cơ chế bệnh sinh của các con đường tín hiệu tế bào (như con đường tín hiệu JAK/STAT/SOCS) khi cơ thể phản ứng lại sự xâm nhiễm của virus (như virus viêm gan B, D, C và E), sự tiến triển của các bệnh lý về gan như xơ gan, ung thư gan ở những bệnh nhân bị nhiễm virus. Đi sâu vào nghiên cứu theo hướng đi này, chúng tôi sẽ có cơ hội hiểu rõ các yếu tố di truyền cũng như miễn dịch của cơ thể, của các tác nhân gây bệnh, qua đó có thể tìm ra những mắt xích quan trọng liên quan đến cơ chế bệnh sinh. Đây sẽ là những kiến thức hết sức có giá trị trong chẩn đoán, tiên lượng bệnh và điều trị bệnh mà chúng ta có thể áp dụng ngay ở Việt Nam.  Đội ngũ nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã kết nối và tập hợp được một số nhà khoa học ở Việt Nam có kinh nghiệm hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực nghiên cứu, điển hình là PGS. TS. Nguyễn Lĩnh Toàn, một trong những chuyên gia của Việt Nam trong nghiên cứu về các bệnh lý gan cũng như các mô hình ung thư thực nghiệm. Tham gia nghiên cứu còn có các thành viên chủ chốt là các nhà khoa học được đào tạo cơ bản và chuyên sâu ở nước ngoài, có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và các lĩnh vực liên quan như dịch tễ học và công nghệ sinh học.  Ngoài ra, nhóm nghiên cứu của chúng tôi cũng đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác lâu dài với các đối tác quốc tế ở Đại học Tübingen, Viện Robert Koch (Đức), quy tụ được nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực vi sinh học, bệnh học, truyền nhiễm và ung thư. Trong một thời gian dài, hai bên đã làm việc cùng nhau và triển khai thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về cơ chế phát triển của bệnh và xuất bản một số công bố trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành.  Kết hợp nghiên cứu với đào tạo: Ngoài các thành viên nghiên cứu chủ chốt (postdoc) thì đội ngũ bao gồm các nghiên cứu sinh, học viên cao học sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với một nhóm nghiên cứu mạnh, nhất là ở các lĩnh vực nghiên cứu thực nghiệm. Chính vì vậy nhóm nghiên cứu của chúng tôi rất chú trọng lựa chọn, đào tạo và tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học tham gia đề tài.  Khó khăn luôn ở phía trước  Chúng tôi đã tiên liệu một số khó khăn sẽ gặp phải như sự cạnh tranh của rất nhiều nhóm nghiên cứu khác trong cùng lĩnh vực ở trên thế giới; định hướng nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng do tính mới của các mục tiêu nghiên cứu có thể bị mất đi; nguồn kinh phí do Quỹ Nafosted hỗ trợ không đủ để thực hiện các kỹ thuật hiện đại; môi trường làm việc ở Việt Nam khác xa với môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp trên thế giới. Bên cạnh đó còn rất nhiều những khó khăn chưa thể lường trước được về mặt kỹ thuật, phương pháp cũng như cách thức tổ chức nghiên cứu…  Một thực tế quan trọng trong nghiên cứu khoa học cơ bản và nhất là với những hướng mới hoặc đi đầu trong một lĩnh vực nào đó là người nghiên cứu có thể giống như “cầm đèn đi trong đêm”. Do đó, ngoài sự định hướng nghiên cứu tốt, cần có khả năng giải quyết và tháo gỡ trong từng tình huống gặp phải trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm tòi. Chính vì vậy, với quyết tâm và kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình học tập cũng như làm việc ở môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, tôi mới tự tin với quyết định đăng ký nhóm nghiên cứu mạnh, dù đây thực sự là một quyết định có chút mạo hiểm.  —————–  * TS Hoàng Văn Tổng, Trung tâm nghiên cứu Sinh Y Dược học, Học viện Quân y.  Từng tiếp xúc với các nhóm nghiên cứu đi đầu trong một số lĩnh vực nghiên cứu về Y-Sinh học, tôi nhận thấy nguồn lực của các nhóm nghiên cứu ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Thông thường các nghiên cứu cơ bản mang tính chuyên sâu và các nghiên cứu với những giả thiết mang tính đột phá trong các nghiên cứu thực nghiệm thì kinh phí đầu tư cần thiết rất lớn. Tuy nhiên so với các chương trình nghiên cứu khoa học khác của Nhà nước và Bộ KH&CN thì nguồn tài trợ về kinh phí của Nafosted cho từng đề tài nghiên cứu cơ bản còn rất khiêm tốn.    Author                Hoàng Văn Tổng        
__label__tiasang Đằng sau các kì tích kinh tế      Vì sao một số nước không những không có tài nguyên thiên nhiên mà thậm chí còn trải qua hiểm họa lại có thể làm được những điều thần kì: đột nhiên trở thành giàu có, vượt lên trên các nước khác.&#160; Tác nhân của các kì tích kinh tế đó là gì? Các nước khác có thể học tập kinh nghiệm để đạt được tốc độ phát triển cao như thế hay không?      Tác nhân của các kì tích kinh tế  Trong thế kỉ XVII kì tích kinh tế không xảy ra ở Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha – hai nước này đều thuộc loại “vớ được kho báu” – mà xảy ra ở Amsterdam, Hà Lan, một nước nằm dưới mặt nước biển và giàu lên, bất chấp các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Sau này, Tây Đức cũng phát triển với một tốc độ thần kì ngay trên đống tro tàn của Chiến tranh Thế giới II. Một số nước châu Á như Hồng Kông và Singapore cũng tạo ra những kì tích  đáng chú ý. Còn một thí dụ nữa, đấy là Scotland, một kì tích suýt bị lãng quên nhưng có thể cho ta nhiều bài học đặc biệt giá trị.  Các kì tích kinh tế này có điểm nào chung?   Hà Lan là nước cộng hòa đầu tiên ở châu Âu có thái độ khoan dung với các tôn giáo (trong khi các nước khác vẫn còn thái độ kì thị với một số tôn giáo) và những bảo đảm về quyền sở hữu tài sản, tạo điều kiện cho thương mại và sáng kiến trong lĩnh vực tài chính phát triển một cách tương đối tự do.  Chính nhờ sự cởi mở đó mà Hà Lan đã thu hút được các thương nhân và những người “buôn tiền” (các chủ nhà băng ở miền Bắc nước Ý) có học và có quan hệ rộng tới Amsterdam – trong số đó bao giờ cũng có người Do Thái và người Huguenot, tức là những người bị cả châu Âu kì thị. Họ đã giúp đưa Amsterdam trở thành trung tâm thương mại và tài chính của thế giới. Thị trường cổ phiếu đầu tiên được thành lập ở đây, và người Pháp, người Ý từ Venise, Florence và Genoa, cũng như người Đức, Ba Lan, Hungaria, Tây Ban Nha, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Armenia, Ấn Độ, không chỉ mua bán trên thị trường cổ phiếu mà còn mua bán trên thị trường “phái sinh” phức tạp (sophisticated deriviatives) nữa.  Đây chính là “quá trình toàn cầu hoá” trong thế kỉ XVII, dù không có ai sử dụng khái niệm này. Sự khác nhau chủ yếu giữa thời đó và ngày hôm nay dĩ nhiên là ở tốc độ của thông tin. Những nhà buôn nhập cư có học và có nhiều tham vọng, có liên hệ với các bạn hàng trên khắp thế giới đã tạo ra trong thế kỉ XVII ở Amsterdam những kỳ tích kinh tế. Đấy cũng là những tác nhân đằng sau những kì tích kinh tế trong các quốc gia khác.  Lịch sử phát triển của Hamburg, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan và Tây Đức có nhiều điểm chung với Amsterdam, dù những thành phố hay những nước này theo các tôn giáo khác nhau. Đó là Chính phủ các nước này đều bảo đảm pháp luật và trật tự, thuế suất tương đối thấp, động viên dân chúng tham gia làm ăn – biện pháp thu hút người nhập cư và doanh nhân từ khắp thế giới.  Đầu thế kỷ XIX, Sir Stamford Raffle (1781 – 1826) lập ra thành phố cảng Singapore và củng cố nó bằng một hệ thống hành chính, pháp luật phù hợp, cũng như hệ thống giáo dục mở rộng cửa cho mọi sắc tộc ở đây. Sự phát triển của thương mại trong điều kiện an ninh được bảo đảm đã mang lại phồn vinh cho những người nhập cư nghèo khổ từ Indonesia và đặc biệt là từ Trung Quốc. Sự phát đạt của Hồng Kông là do làn sóng di dân liên tiếp từ Trung Quốc, đặc biệt là các nhà buôn và các nhà tư bản tài chính xuất thân từ Thượng Hải sau khi Mao Trạch Đông “giải phóng” Trung Quốc vào năm 1949- giống như sự phát triển của Amsterdam khi các nhà buôn và các nhà tư bản tài chính chạy khỏi bán đảo Iberia, khi những người Huguenot chạy khỏi nước Pháp và khi người Do Thái rời bỏ nhiều nước châu Âu để đến Hà Lan vậy.   Kế hoạch Marshall  Kì tích kinh tế của Tây Đức sau Chiến tranh Thế giới II cũng phù hợp với xu hướng này, mặc dù người ta thường thổi phồng một cách quá đáng thành tích của Đức với kế hoạch Marshall.   Theo tính toán của các nhà kinh tế học, trong giai đoạn từ năm 1948 đến năm 1950 viện trợ của kế hoạch Marshall chiếm từ 5-10% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của các nước Âu châu, tuy nhiên con số này cũng chưa hẳn là chính xác. Trong thống kê của các nước Âu châu thời đó thu nhập quốc dân thường bị đánh giá thấp vì không tính được nền “kinh tế ngầm” rất phát đạt mà nguyên nhân là do chính sách điều tiết giá cả và thuế khóa như ăn cướp. Cũng nên biết rằng sau Thế chiến I đã không có bất kì kì tích kinh tế nào mặc dù các khoản vay và viện trợ cũng chiếm khoảng 5% GNP của châu Âu. Mặt khác, sau Thế chiến II cả thế giới đều giảm hàng rào thuế quan trong khi sau Thế chiến I thì không. Như vậy nghĩa là kì tích kinh tế chủ yếu là do giảm thuế chứ không phải là viện trợ từ nước ngoài.          Hồng Kông    Nước Đức ngày nay          Vậy đâu là chất xúc tác cho kì tích kinh tế của Tây Đức? Từ năm 1945 đến năm 1961 Tây Đức tiếp đón 12 triệu người di cư mà đa số là những người có tay nghề cao. Trong số này có 9 triệu người Đức từ Ba Lan và Tiệp Khắc, số còn lại là những người đến Đông Đức. Mặc dù thống kê thời đó không tính đến sự di chuyển của “nguồn vốn con người” nhưng có thể thấy ý nghĩa quan trọng của nó nếu biết rằng tỷ lệ người làm việc so với toàn bộ dân chúng ở Tây Đức trong những năm 1950-1960 cao hơn so với các nước khác: ở Tây Đức là 50%, trong khi ở Pháp là 45%, Anh là 40%, Mỹ là 42%, còn Canada chỉ có 36%. Khi dòng người từ Đông Âu chấm dứt thì lại có làn sóng người có tay nghề cao từ các nước vùng Địa Trung Hải tràn vào. Nói cách khác, kì tích kinh tế của Tây Đức không phải là do viện trợ nước ngoài mà là do các tác nhân đã từng và sẽ còn tạo ra những kì tích tương tự ở những nơi khác: những người nhập cư có tay nghề cao và mức thuế thấp.  Kì tích Scotland  Năm 1750 Scotland còn là một nước nghèo. Đất đai cằn cỗi, dân chúng mù chữ, chỉ sống bằng nghề nông cho qua ngày đoạn tháng, không có dòng sông nào có thể dùng làm phương tiện vận tải thủy, núi trọc và những dãy đồi đá cản trở mọi phương tiện đi lại khác. Hàng xuất khẩu chủ yếu là thuốc lá đã qua chế biến. Thế mà chưa đến một trăm năm sau Scotland cùng với Anh đã đứng vào hàng ngũ những nước có nền công nghiệp phát triển nhất thế giới, mức sống của người dân cũng tương tự như ở Anh?  Vào năm 1707, Scotland trở thành một phần lãnh thổ của Vương quốc Anh. Hệ thống luật pháp, thuế khóa và tiền tệ Anh cũng được áp dụng tại đây, người Scotland cũng được tiếp xúc với thị trường Anh từ đó. Nghị viện Scotland bị bãi bỏ cho mãi đến năm 1885 Scotland vẫn không có một cơ quan quản lí hành chính riêng. Nhưng hóa ra đấy lại là một điều may mắn (giống như Hồng Kông sau này, nhờ sự cai trị từ xa của Anh mà cũng đạt được thành tựu không kém) vì hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính đã phát triển phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế cá thể không phải là phương tiện để Chính phủ thi hành chính sách tài chính.  Đến năm 1810 Scotland đã có 40 ngân hàng độc lập. Quan niệm chung của thời đó là ngân hàng chỉ cho vay khi có bảo đảm bằng hàng hoá trên đường vận chuyển hoặc đang trong quá trình gia công, mà thời hạn cũng không quá 90 ngày. Ngược lại, ngân hàng Scotland cho vay vô thời hạn và không cần thế chấp. Các khoản cho vay của ngân hàng Scotland chính là tiền thân của trái phiếu lãi suất cao với nhiều rủi ro hiện nay (junk bond). Những khoản vay lớn nhất được dành cho các nhà sản xuất công nghiệp và thương nhân, những người này cùng với hai/ba người bảo lãnh chỉ cần kí nhận là đủ.                  Cảng Thái Bình Dương trên sông Clyde là một ví dụ về sự đổi mới của Glasgow,   thành phố lớn nhất ở Scotland, và nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế   của nước này (ảnh: Wikipedia)     Ông A. W. Kerr, nhà sử học người Scotland, chuyên về lĩnh vực tài chính, đã mô tả tính chất đặc thù của thị trường tài chính của nước này như sau: “Ít bị các nhà làm luật can thiệp, đấy chính là đặc điểm của hệ thống ngân hàng Scotland cho đến năm 1844 và đấy cũng là điều may mắn của đất nước. Nó đã giữ cho hệ thống ngân hàng Scotland thoát khỏi sự điều tiết và hạn chế không cần thiết, tức là thoát khỏi chính những biện pháp đã cản trở và làm méo mó sự phát triển của hệ thống ngân hàng Anh quốc. Ở Scotland, người ta đã tạo điều kiện cho ngân hàng đồng hành với sự thăng tiến của đất nước về tài sản và tri thức. Hơn thế nữa, hệ thống ngân hàng còn có khả năng đưa đất nước vào con đường thịnh vượng và chuyển từ kinh nghiệm thực tế thành hệ thống ngân hàng tự nhiên và lành mạnh. Đấy là điều bất khả thi nếu nó cũng nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước như ở các nước khác trong cùng thời gian đó. Kinh nghiệm Scoltland cho thấy rằng đất nước, bắt đầu từ con số không muốn trở thành thịnh vượng thông qua con đường buôn bán và kinh doanh tài chính, phải không để cho hệ thống thuế khóa gây cản trở và được hệ thống chính trị và pháp lí ổn định che chở. (Xin nhớ rằng Adam Smith cũng là người Scotland).  Scotland nổi tiếng không chỉ nhờ hệ thống ngân hàng có một không hai, mà còn nhờ ở sự đầu tư vào hệ thống giáo dục nữa. R. H. Robertson, trong bài báo Năng suất lao động của các nhà khoa học Scotland đã đưa ra số liệu như sau. “Các nhà khoa học nổi tiếng” có năng suất lao động cao nhất vào giai đoạn 1800-1850, và giảm rất nhanh từ sau năm 1870. Lí do? Những người tài giỏi nhất bắt đầu di cư và kì tích kinh tế của Scotland cũng chấm dứt từ đấy.  Sự tụt hậu một cách tương đối của Scotland trong thế kỉ XX là do người ta đã chuyển hệ thống giáo dục và ngân hàng theo khuôn mẫu của nước Anh (việc “đồng hoá” hệ thống ngân hàng diễn ra từ năm 1845, nhưng tiến triển chậm). Nếu phần đông những người có tài và có chí đã ra đi, những người ở lại thì khó tiếp cận với ngân hàng hơn, vậy thì còn chờ gì nữa? Không tụt hậu mới là chuyện lạ!        Các sinh viên rồi sẽ trở thành thầy giáo và còn tiếp tục tìm hiểu huyền thoại kinh tế học vĩ mô và những ngộ nhận trong các chỉ số gộp. Sau một thời gian, một số người trong bọn họ có thể nhận ra rằng nhà “vua cởi truồng”, họ có thể sẽ phải đứng trước nan đề, giống như nhà thiên văn học Kepler đã từng gặp. Câu chuyện như sau: Kepler không tin môn chiêm tinh học, nhưng ông vẫn phải viết luận văn về chiêm tinh học vì các quân vương trả tiền cho những bài luận văn đó.              Các nhà kinh tế học đó sẽ phải, hoặc là bắt chước Kepler và che dấu niềm tin thực sự của mình hoặc là rút khỏi hoạt động “khoa học”. Những nhà khoa học tầm thường sẽ chọn phương án thứ nhất và tiếp tục phát triển môn kinh tế học vĩ mô: chính họ là những người đưa ra phần lớn “sản phẩm khoa học”, chính họ là những người kiểm tra và xuất bản các “sản phẩm” này và đòi hỏi rằng tất cả các kết quả nghiên cứu đều phải đi qua các kênh do họ kiểm soát. Đấy chính là lí do vì sao các tư tưởng sai lầm bao giờ cũng trở thành “khoa học”.          Từ trường hợp Scotland có thể rút ra được những bài học khác nữa. Tiết kiệm không phải là điều kiện tiên quyết cho sự thịnh vượng của người Scotland. Họ chẳng có gì mà tiết kiệm. Họ cũng chẳng nhận được một đồng viện trợ nào từ bên ngoài. Nhưng khi có cơ hội và thị trường tài chính phát triển một cách thuận lợi thì họ không chỉ tiết kiệm mà còn biết sử dụng đồng tiền tiết kiệm một cách có lợi nhất. Đó là tiền tiết kiệm được đầu tư vào các doanh nghiệp tư nhân, trong khi ở Anh và các nước khác lại được giao vào tay Chính phủ (tức là người dân giữ tiền mặt – ND). Người Scotland không cần Chính phủ động viên, “máu” kinh doanh của họ đã có sẵn trong huyết quản rồi. Khác với các kì tích kinh tế bên trên, không có nhiều người có tài từ khắp thế giới di cư đến Scotland. Nhưng kì tích Scotland chấm dứt ngay khi những người có tài ra đi, còn thị trường tài chính thì bị kiểm soát chặt chẽ và thuế khóa gia tăng.  Có thể rút ra được những bài học nào?  Thuế khóa và khả năng tiếp cận với dịch vụ ngân hàng.  Ưu điểm lớn nhất của thị trường tài chính tư nhân là chúng phi tập trung hóa quá trình ra quyết định và kịp thời sửa chữa các sai lầm. Kết quả là xí nghiệp nhỏ nào đáp ứng được thách thức tài chính thì sẽ phát triển. Nếu không, thiệt hại đối với xã hội sẽ rất nhỏ nếu so với sự đổ vỡ của các dự án khổng lồ do Nhà nước tài trợ- mà các dự án này lại thường được bơm thêm tiền để không bao giờ bị phá sản. Việc tiếp tục chi tiền cho các dự án như thế lại được một đội ngũ đông đảo các Nhà kinh tế học ăn lương Nhà nước – họ chính là những thầy trợ tế thời nay- sẵn sàng đưa ra ngay được những lí thuyết “sống sít” nói rằng các nhà quản lí và các quan chức khôn khéo, bất vụ lợi của Chính phủ có thể chữa được mọi khuyết tật của thị trường. Kết quả là “tiền thì mất mà tật vẫn mang”.  Có thể là trong tương lai các nhà kinh tế học sẽ tính được một cách chính xác đóng góp vào thành tích ngoạn mục của Mỹ từ những người nhập cư đầy tài năng, đầy tham vọng và có liên hệ rộng sau Chiến tranh Thế giới II đổ vào nước Mỹ từ khắp thế giới. Lúc đó chúng ta sẽ biết việc chuyển dịch cái vốn con người vô giá đó đã giúp khắc phục nhiều sai lầm đắt giá trong chính sách của Chính phủ Mỹ như thế nào.   Các Chính phủ đã có một loạt lựa chọn khi họ muốn tăng tốc phát triển. Một trong số đó là đưa ra gói thuế khóa và lợi nhuận có thể thu hút được người tài và đồng vốn từ nước ngoài. Nhưng vì chính sách này sẽ làm giảm đà tăng trưởng ở những nơi khác nên các nước khác sẽ có biện pháp đáp trả. Cho nên biện pháp hữu hiệu hơn phải là khuyến khích tính năng động của các doanh nhân trong nước. Đấy là giảm thuế thu nhập và giảm thuế lợi tức, điều đó sẽ làm gia tăng nhanh chóng số tiền mà dân chúng sẵn sàng đầu tư vào doanh nghiệp và đẩy nhanh việc tái định hướng đầu tư vào các dự án của doanh nghiệp. Và như thế hiệu quả đầu tư sẽ tăng – sai lầm (và giá phải trả) làm giảm tốc độ phát triển sẽ bị loại bỏ.   Tiêu chí tốt nhất để nói rằng thịnh vượng đã gia tăng? Dĩ nhiên là không phải con số thống kê của Nhà nước, vì đây là cách tính dựa trên phương pháp sai và lỗi thời. Đáng tin cậy nhất chính là sự thay đổi mạnh mẽ giá trị thị trường của chứng khoán hoá (securitization) – được tính bằng đơn vị tương đối ổn định như vàng chứ không phải bằng đơn vị dễ thay đổi như tiền giấy.  Dĩ nhiên là giá trị nói trên chưa phải là chỉ số dự báo hoàn hảo, nhưng đấy là chỉ số tốt nhất và đáng tin cậy nhất khi mà thị trường tài chính đã đi vào “chiều sâu”. Nghĩa là thị trường chứng khoán phải phản ánh được những kì vọng liên quan đến chính sách của Chính phủ và của ngân hàng Trung ương: luật lệ, chính sách của họ ảnh hưởng đến hoạt động của các công ty tư nhân. Nếu xã hội có ít nguồn thông tin hoặc thông tin bị kiểm soát hay những người tham gia trên thị trường bị “trói chân, trói tay” thì thị trường chứng khoán không thực hiện được vai trò của mình. Thị trường thiếu “chiếu sâu” là thị trường không có giá trị.  Những nước, vì lí do chính trị, mà thông tin bị cản trở – thí dụ như Tân Hoa xã ở Trung Quốc ngăn chặn thông tin của Dow Jones – nhất định sẽ phải chứng kiến những dao động thất thường của thị trường chứng khoán, giống như thị trường New York cách đây một trăm năm, tức là trước khi Dow Jones phát hành newsletter và báo cáo hằng năm. Trong những trường hợp như thế, cả thị trường chứng khoán lẫn thống kê của Chính phủ đều không thể cho ta biết xu hướng phát triển của nền kinh tế cũng như có thịnh vượng hay không.   Giả khoa học về kinh tế vĩ mô  Mặc dù giả khoa học về kinh tế vĩ mô là huyền thoại chứ không phải dối trá, nhưng nó đã gây ra những thảm họa do làm người ta phải choáng váng, và biết bao lầm lẫn. Tại sao nó lại trở thành huyền thoại? Việc nó tập trung chú ý vào các chỉ số gộp (aggregate) của quốc gia đã che dấu một sự thật là có nước thì các con số này phản ánh những thứ mà nhân dân thích, còn ở nước khác thì đấy là những thứ mà nhà cầm quyền và giới quyền uy thích. Ngưới ta đã quên mất rằng khởi thủy các chỉ số gộp được tính trên cơ sở giả định rằng quan hệ giữa người cầm quyền và công dân là quan hệ trao đổi “dịch vụ’, tương tự như các giao dịch trên thị trường tư nhân vậy.   Các mô hình kinh tế vĩ mô, đưa hoạt động của nền kinh tế vào mấy phương trình đơn giản, với “sản lượng” và “đầu ra”, không thể dự đoán được là kinh tế sẽ phát triển hay sẽ dẫn đến thảm họa. Vì trong các phương trình đó người ta đã đem cộng thêm số người làm việc cho Chính phủ và “đầu ra” của Chính phủ vào các chỉ số tương ứng trong khu vực tư nhân – họ làm thế là có lí do, vì đôi khi Chính phủ có lí do chính đáng (tuy không liên quan gì đến kinh tế học vĩ mô) để can thiệp – và sẽ không có gì ngạc nhiên khi chi tiêu của Chính phủ tạo ra công ăn việc làm và sản phẩm.   Các nhà kinh tế học đã sử dụng những con số này một cách thiếu thận trọng và nhờ sự trợ giúp của các cơ quan thống kê và các viện nghiên cứu, được Nhà nước tài trợ một cách hào phóng, họ đã biến cái ý tưởng ích kỉ về mặt chính trị đó thành những cuộc thảo luận “khoa học” và “khách quan” về các con số và phương pháp thống kê, mà bỏ qua vai trò của các định chế chính trị. Kết quả là kinh tế học vĩ mô đã trở thành một lí thuyết vô hại cho nhà cầm quyền và được giảng dạy ở nhiều trường đại học trên khắp thế giới.  Rất nhiều bằng chứng lịch sử đã cho thấy rằng con đường dẫn đến thịnh vượng sẽ dễ dàng hơn nếu Chính phủ chỉ làm mỗi một việc là tạo ra những định chế mà chức năng của chúng là bảo đảm cho các doanh nghiệp và thị trường tài chính hoạt động một cách năng động nhất. Có thể khẳng định: tư tưởng cho rằng nhà nước cần phải thường xuyên can thiệp vào thị trường chỉ là kết  quả của việc tạo dựng huyền thoại do chính nhà nước tài trợ mà thôi.  Phạm Nguyên Trường dịch   Nguồn: www.cato.org/pubs/policy_report/v20n3/econgrowth.pdf  * Reuven Brenner — là giáo sư kinh tế thuộc trường McGill University (Montreal Canada), đã xuất bản 7 tác phẩm về những vấn đề kinh tế khác nhau.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đằng sau thành công của nền khoa học Đức      Những nhà nghiên cứu Đức khi được hỏi về nguyên nhân giúp nền khoa học ở nước họ đang nở rộ đều sẽ nhắc đến Thủ tướng Angela Merkel. Người phụ nữ quyền lực nhất thế giới này chưa bao giờ quên bản thân là một nhà vật lý học Đông Đức.      Bộ trưởng Bộ Giáo dục Annette Schavan (phải) – người có nhiều đóng góp trong thay đổi nền học thuật Đức, luôn nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Angela Merkel. Nguồn: storiesaktuell.blogspot.com.  Trong một thập kỷ của những bất ổn tài chính toàn cầu, chính phủ của bà Merkel vẫn đều đặn tăng ngân sách chi cho khoa học hằng năm một cách rất Đức – ổn định, nhất quán và đầy chất lượng. Điều này khuyến khích sự cạnh tranh giữa các trường đại học và tăng cường hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu được tài trợ bởi Chính phủ. Dưới thời bà Merkel, Đức luôn giữ vị thế dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường; và nhờ đảm bảo hỗ trợ mạnh mẽ cho nghiên cứu cơ bản, các lĩnh vực khác cũng đang dần đón nhận những tác động tích cực. Các nhà khoa học quốc tế đang ngày càng lựa chọn đến Đức làm việc, thay vì chỉ hướng đến Mỹ và Anh như trước đây.  Tuy nhiên, lý do đằng sau thành công của nền khoa học Đức không chỉ là vấn đề ngân sách hay một thứ “hiệu ứng Merkel”, mà còn là nền tảng lâu bền của một quốc gia giàu truyền thống khoa học, theo lời Wolfgang Schön, giám đốc Viện Luật Thuế và Tài chính công Max Planck tại Munich kiêm phó chủ tịch DFG, cơ quan tài trợ chính cho các nghiên cứu khoa học tại đại học.  Từ trước thế kỷ 20 đầy biến động, Đức đã dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ với những chuẩn mực mà nhiều quốc gia hiện vẫn noi theo. Ngày nay, dù phải đối mặt với những tàn tích của hệ thống thứ bậc mà nam giới thống trị và các quy định lâu đời cứng nhắc, nền nghiên cứu của Đức đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết, đặc biệt trong xu thế các chính phủ trên thế giới ngày càng thờ ơ với khoa học. “Tôi mong sao những nhà hoạch định chính sách khoa học và ngân sách của chúng ta có thể học hỏi Đức ngay lập tức,” Kenneth Prewitt, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Columbia, New York, bày tỏ.  Cấu trúc của khoa học Đức hiện đại dựa trên ý tưởng được phát triển cách đây hai thế kỷ bởi Wilhelm von Humboldt, nhà giáo dục Phổ, người đi tiên phong trong những ý tưởng vẫn đang tiếp tục lan rộng khắp thế giới. Ví dụ như ông chính là người gợi ý các giáo sư đại học nên vừa làm nghiên cứu trực tiếp vừa giảng dạy.  Triết lý của ông là giáo dục nên vừa rộng mở vừa chuyên sâu, và đời sống học thuật cần được tự do khỏi chính trị và tôn giáo, điều ngày nay vẫn khắc sâu trong tâm tưởng người Đức. “Hệ thống Humboldt đã gắn vào DNA của chúng tôi,” Thorsten Wilhelmy, Tổng thư ký của Viện nghiên cứu cao cấp Berlin, nói. “Đấy là lý do vì sao các chính trị gia không quá bị cám dỗ bởi việc cắt bỏ nghiên cứu cơ bản khi rơi vào thời điểm [ngân sách] khó khăn.”  Những lý tưởng này đã vượt qua những biến động chính trị lớn. Đức Quốc Xã của Adolf Hitler đã lầm lạc về khoa học và khiến đất nước bị hủy hoại. Năm 1949, Đức bị chia cắt làm đôi, từng bên xây dựng lại sức mạnh khoa học của mình dưới những hệ thống chính trị đối lập.  Hiến pháp của nền dân chủ Tây Đức – vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay, tuyên bố rằng: “Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giảng dạy phải được tự do”. Để đảm bảo việc tập trung và lạm dụng quyền lực không xảy ra lần nữa, người Tây Đức đã tổ chức đất nước theo chế độ liên bang cao độ, trong đó trách nhiệm về văn hóa, khoa học và giáo dục nằm ở Länder – hay các tiểu bang, điều này có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực tới sự phát triển đại học.  Ngược lại, Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR) tổ chức nền khoa học một cách tập trung hóa và giữ sự kiểm soát chặt chẽ. Các nhà khoa học bị cô lập khỏi các đồng nghiệp phương Tây và hệ thống của họ dần trở nên nghèo nàn khi nền kinh tế DDR lụn bại.  Merkel lớn lên trong hệ thống này, bà tốt nghiệp Đại học Karl Marx ở Leipzig năm 1978 với tấm bằng vật lý sau đó chuyển đến làm việc tại Viện Vật lý Hóa học Trung ương ở Berlin – một trong những trung tâm nghiên cứu có uy tín nhất tại DDR. Ở đó, bà đã gặp người chồng thứ hai của mình, nhà hóa học lượng tử Joachim Sauer, và lấy bằng tiến sĩ danh dự. Bà đam mê vật lý nhưng không có cùng niềm đam mê đó với môn giáo dục chính trị bắt buộc. Ở DDR, không ai có được bằng tiến sĩ nếu không có chứng nhận về nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Luận văn của Merkel cho môn này có tựa đề “Phong cách sống chủ nghĩa xã hội là gì?” được chấp nhận với điểm đậu thấp nhất.  Khi hai nước Đức thống nhất vào năm 1980, các ủy ban đặc biệt của Tây Đức đã đánh giá năng lực của các nhà khoa học Đông Đức. Nhiều người mất việc nhưng Sauer được chấp nhận chuyển sang Đại học Humboldt ở Berlin. Merkel, người chưa chính thức công khai lập trường chính trị trước đây, đã bước vào chính trường và sớm gia nhập Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trung hữu. Bà đã leo lên đỉnh cao quyền lực và trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Đức vào năm 2005. Bà đã chiến thắng ở các cuộc bầu cử liên bang và đến nay vẫn tiếp tục giữ vững vị trí của mình.    Hỗ trợ ổn định  Nền khoa học dựa vào tài trợ công của Đức được tổ chức thành năm trụ cột: Các trường đại học và bốn cơ quan nghiên cứu đặc biệt, mỗi cơ quan được đặt tên theo một nhà khoa học vĩ đại trong lịch sử Đức.  Hiệp hội Max Planck, được thành lập vào năm 1948, hiện đang điều hành 81 viện nghiên cứu cơ bản, các giám đốc viện được cấp các khoản ngân sách rất lớn và tự chủ hoạt động theo ý mình. Một giám đốc trong lĩnh vực khoa học sự sống thường được nhận một gói cơ bản khoảng 2 triệu euro (2,4 triệu USD) mỗi năm để chạy chương trình nghiên cứu của viện mình, trong đó không bao gồm việc mua sắm các thiết bị chính.  Hiệp hội Fraunhofer được thành lập sau đó một năm để thực hiện việc nghiên cứu ứng dụng. Nó được đặt tên theo nhà vật lý Joseph von Fraunhofer (1787-1826), người tiên phong trong quang học chính xác.  Các trung tâm nghiên cứu quốc gia, nơi tiến hành các hoạt động nghiên cứu chiến lược quy mô lớn theo ưu tiên của chính phủ, nay nằm trong Hiệp hội Helmholtz – đặt tên theo nhà triết học và vật lý tiên phong Hermann von Helmholtz (1821-94). Nhóm các viện và cơ sở khoa học khác được tập trung lại thành một hiệp hội được đặt tên theo nhà bác học Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716).  Trong điều khoản từ năm 1949, Chính phủ liên bang chia sẻ chi phí của các tổ chức nghiên cứu với các tiểu bang. Nhưng về cơ bản tiểu bang phải tự tài trợ cho các trường đại học thuộc phạm vi của mình. Đức có khoảng 110 đại học và 230 Fachhochschulen (các trường đại học khoa học ứng dụng không cấp bằng tiến sĩ nhưng đào tạo lực lượng lao động cho ngành công nghiệp).   “Sự rõ ràng và minh bạch của cấu trúc này phù hợp với tâm lý ưa thích trật tự của người Đức,” Ferdi Schüth, giám đốc Viện Nghiên cứu Than ở Max Planck, chia sẻ. “Nó làm cho hệ thống này dễ hiểu hơn trong mắt người ngoài giới khoa học, bao gồm các chính trị gia.”  Tây Đức nhanh chóng tích cực hỗ trợ nghiên cứu trong giai đoạn Wirtschaftswunder hay Phép màu kinh tế hậu chiến. Tới thời Hậu Chiến tranh Lạnh, dù việc thống nhất nước Đức rất tốn kém, các chính trị gia trong nhiều năm vẫn duy trì sự hỗ trợ vững chắc và mạnh mẽ cho khoa học. Cho đến 2015, mỗi năm Chính phủ tăng 5% ngân sách hỗ trợ cho DFG và tất cả các tổ chức nghiên cứu. Các khoản tăng thường niên này đã giảm theo Công ước về Nghiên cứu và Sáng tạo hiện hành giữa Chính phủ liên bang và các tiểu bang, có hiệu lực đến năm 2020 nhưng vẫn duy trì ở mức đáng thèm muốn là 3%.  “Việc đảm bảo các khoản tài trợ trong tương lai cho phép chúng tôi thực sự lên kế hoạch chiến lược nghiên cứu của mình trong dài hạn. Đây là lợi thế lớn mà ít nước có được,” nhà hóa học Martin Stratmann, chủ tịch Hiệp hội Max Planck, nói.  Dòng tài trợ  Chính niềm tin vào nguồn tài trợ dài hạn đã giữ chân nhà miễn dịch học Dolores Schendel ở lại thay vì quay về Mỹ sau khi hoàn thành hai năm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Ludwig Maximilian (LMU) ở Munich vào cuối những năm 1970. Cô chỉ định tới đây để giúp thành lập phòng thí nghiệm chuột cho chương trình cấy ghép xương-tủy. Nhưng cơ sở hạ tầng ở đó rất hấp dẫn, và những nghiên cứu của cô ngày càng chuyên sâu hơn. Sau đó, cô đã chuyển đến Trung tâm Helmholtz Munich để mở rộng công việc của mình. Khi công ty khởi nghiệp của cô được mua lại, Schendel trở thành giám đốc điều hành kiêm giám đốc khoa học của Medigene – một công ty về liệu pháp miễn dịch ở Munich. Cô đang tiến hành thử nghiệm lâm sàng cho một số vaccine ung thư tiềm năng. “Tôi không chắc có thể thực hiện điều này ở Mỹ, nơi các nguồn tài trợ ngày càng eo hẹp,” cô nói.  Nhưng Schendel là một trường hợp thành công hiếm hoi. Mặc dù là quốc gia đi đầu về kỹ thuật của thế giới, Đức không có nhiều câu chuyện thành công trong việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực mới nổi, ví dụ công nghệ sinh học. Các quyết định và thay đổi diễn ra chậm chạp do vấn nạn quan liêu ở các chính quyền liên bang và tiểu bang. Hơn nữa, việc lạm dụng khoa học dưới thời Đức Quốc Xã, bao gồm thuyết ưu sinh và thử nghiệm con người, khiến cho người Đức ngờ vực di truyền học dưới bất kỳ hình thái nào và giữ quan điểm e dè về đạo đức. Tất cả những điều này làm chậm phát triển một số lĩnh vực.    Đại học Ludwig Maximilian München – trường chiến thắng các vòng Sáng kiến nhiều nhất. Nguồn: masterstudies.vn.  Sự gián đoán của quá trình thống nhất trong năm 1990 đã buộc quốc gia này khắc phục các vấn đề mang tính hệ thống như sự thiếu hợp tác giữa các tổ chức. Các chính trị gia bắt đầu tháo gỡ dần những trở ngại trong việc hợp tác.  Năm 1999, Chính phủ liên bang trước thời Merkel, tức liên minh giữa Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Xanh, đã sửa đổi luật quy định các cơ quan quản lý cấp tiểu bang quyết định tất cả các quyết sách về trường đại học, từ phân bổ ngân sách đến bổ nhiệm. Lần lượt các tiểu bang bắt đầu để các trường đại học tự quyết công việc của họ.  Cũng Chính phủ đó đã đề xuất một ý tưởng chấn động đối với các trường đại học – vốn theo truyền thống được đối xử theo lối quân bình. Một trong những chính sách cuối nhiệm kỳ vào năm 2005 là việc đưa ra “Sáng kiến xuất sắc – Excellence Initiative”. Từ đó đến nay, nó đã khuyến khích các trường đại học cạnh tranh các khoản ngân sách liên bang nhằm thúc đẩy các nghiên cứu đỉnh cao, các trường đào tạo sau đại học và quan trọng nhất là hình thành các “Cụm liên kết (cluster) xuất sắc” – một hình thức hợp tác quan trọng với các nhà khoa học từ các tổ chức nghiên cứu khác. Trường đại học nào chiến thắng ở tất cả các hạng mục sẽ giành được danh hiệu “Tinh hoa” và có thêm tiền tài trợ.  Khi bà Merkel trở thành Thủ tướng vào cuối năm đó, bà đã bổ nhiệm bạn đồng nghiệp cùng chí hướng là Annette Schavan làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Nghiên cứu, người dẫn dắt Sáng kiến Xuất sắc qua một loạt các vòng thi đua mang lại sự thay đổi cơ bản ở các trường đại học Đức. Cho đến nay, Chính phủ liên bang đã đổ 4,6 tỷ euro vào sáng kiến này và có tổng cộng 14 trường đại học đã giành danh hiệu Tinh hoa ở các vòng khác nhau. Những nơi chưa giành được danh hiệu cũng đã cải thiện năng lực của mình bằng việc cố gắng vượt qua thử thách và mở rộng hợp tác trong các cụm liên kết, từ đó mở ra các nguồn tài trợ khác. Các trụ cột từng bị cô lập của nền khoa học Đức giờ đang cộng tác với nhau.  Merkel và Schavan đã ủng hộ luật cho phép Chính phủ liên bang tài trợ trực tiếp cho nghiên cứu của các trường đại học và cho phép các trường đại học dùng mức lương cao để giữ chân các nhà khoa học hàng đầu. (Giống như công chức, các nhà khoa học Đức vốn có thu nhập ít hơn các đồng nghiệp ở nước khác hay các chuyên gia làm trong các ngành công nghiệp.)  Kết quả của hàng loạt những thay đổi này là các trường đại học ở Đức nâng cao thứ hạng trên thế giới. Năm 2005 chỉ có chín trường đại học của Đức xuất hiện trên bảng xếp hạng Time Higher Education Top 200 nhưng nay con số này là 22. Trường LMU, đứng đầu xếp hạng các trường ở Đức trong nhiều năm và chiến thắng tất cả các vòng thi đua Sáng kiến Xuất sắc, đã thăng hạng từ vị trí thứ 61 vào năm 2011 lên hạng 30 vào năm 2017.  Nhà vật lý học Axel Freimuth, hiệu trưởng trường Đại học Cologne từ năm 2005, cho biết trường của ông đã thay đổi đến mức không thể nhận ra. Ông là nhân chứng cho thay đổi đột phá nhờ Sáng kiến Xuất sắc, và cả những chuyển đổi trong công tác giảng dạy ở trường. Khoảng thời gian ông trở thành hiệu trưởng, các trường ở Đức bắt đầu chuyển từ hệ thống văn bằng đặc thù của mình sang hệ thống văn bằng tiêu chuẩn của châu Âu đối với bằng Cử nhân và Thạc sĩ, cho phép sinh viên tốt nghiệp trong 3 đến 5 năm. Với sự xuất hiện của tự chủ đại học, Freimuth đã áp dụng hệ thống quản trị mới cho trường của mình. “Chúng tôi học được cách hành động chiến lược như một trường đại học, một tinh thần hoàn toàn mới mẻ ở đây,” ông nói.  Lỗi hệ thống  Trong khi đó, các cụm liên kết nghiên cứu đã bùng nổ trên toàn nước Đức. Schavan đã đưa ra nhiều sáng kiến để các nhà khoa học từ các khu vực nghiên cứu khác nhau có thể làm việc cùng nhau và làm việc với ngành công nghiệp. Nổi bật nhất là bà đã xây dựng mạng lưới các viện quốc gia về y tế dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Helmholtz, tạo ra sự bùng nổ cạnh tranh toàn quốc giữa các tổ chức trong lĩnh vực y tế như về thoái hóa thần kinh hay bệnh chuyển hóa.  Berlin đang thử nghiệm tập hợp các bộ phận nghiên cứu liên quan đến y tế tại bệnh viện giảng dạy Charité và Trung tâm Max Delbrück về Y học Phân tử, một trung tâm thuộc Hiệp hội Helmholtz, thành một cấu trúc nghiên cứu tịnh tiến (translational-research) mới, gọi là Viện Y tế Berlin. Bang Baden-Württemberg cũng đã chi hàng trăm triệu euro vào sáng kiến Thung lũng Cyber. Ra mắt vào tháng 12 năm ngoái, đây là cụm liên kết tất cả các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo được sự hỗ trợ  của các tập đoàn lớn như BMW, Daimler, Porsche, Bosch và Facebook.  “Các cụm liên kết như vậy thực sự có nhiều lợi ích,” nhà thần kinh học Hannah Monyer, người đồng thời làm việc tại Đại học Heidelberg và Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Đức, một trung tâm thuộc Hiệp hội Helmholtz ở cùng thành phố. Mặc dù nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải dành nhiều thời gian trao đổi và tổ chức hơn nhưng cô cho rằng “đây là điều tốt nhất chúng ta có thể làm hiện nay.” Một cụm liên kết được thành lập nhân một trong những vòng thi đua của Sáng kiến Xuất sắc đã cứu nguy cho nghiên cứu của cô khi nó đụng phải một lĩnh vực xa lạ về cơ chế sinh học của sự đau đớn, cô nói. Thay vì phải nghiên cứu tất cả mọi thứ từ đầu, cô có thể hợp tác với một phòng thí nghiệm hành vi tại địa phương, nơi cung cấp tư vấn, thiết bị và hỗ trợ kỹ thuật.  Những dự án hợp tác quy mô lớn hơn thì vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Nhà sinh vật học mạch máu Holger Gerhardt đã rời bỏ vị trí ổn định tại Viện Crick ở London để gia nhập sáng kiến Viện Y tế Berlin từ năm 2014. “Tôi biết đây là một thử nghiệm rất lớn, nhưng tôi cảm thấy mình thực sự có thể tạo dựng điều gì đó mới mẻ ở đây,” ông nói.  Những cải thiện mà các nhà khoa học đang được hưởng đôi khi bị thách thức bởi văn hóa Đức đòi hỏi trật tự hành chính và đạo đức. Gerhardt nói rằng ông thường phải nhắc các đối tác trong cụm liên kết không nên thành lập mới các bộ phận nghiên cứu không cần thiết. Nghiên cứu về linh trưởng, dù được cho phép nhưng rất khó thực hiện. Và việc sử dụng tế bào gốc phôi người vẫn bị cấm, ngoại trừ các dòng cũ. Merkel vẫn bảo toàn quan điểm của mình về vấn đề này.  Những vi phạm đạo đức của người Đức bị xử lý rất nhanh và nghiêm khắc. Merkel đã phạm một sai lầm hiếm hoi vào năm 2011 khi bà bảo vệ Bộ trưởng Quốc phòng Karl-Theodor zu Guttenberg, sau khi ông bị cáo buộc đạo văn trong luận án tiến sĩ. Merkel đã lập tức lên tiếng cho rằng các cáo buộc này không liên quan đến công việc hiện tại của ông – ông không đương nhiệm như một trợ lý khoa học. Dù vậy, sau đó hai tuần, ông này đã buộc phải từ chức. Nhiều chính trị gia nổi tiếng ở Đức có bằng tiến sĩ và vụ việc này đã dẫn đến một chiến dịch kiểm tra bằng cấp của từng người. Bản thân Bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu Schavan cũng phải đối mặt với lời cáo buộc về luận án năm 1980 của bà. Dù cho nhiều nhà khoa học không cho đây là đạo văn, Schavan vẫn phải từ chức vào năm 2013.  Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể, các số liệu cho thấy một câu chuyện tích cực về nền khoa học Đức. Tỷ lệ các nhà khoa học ngoại quốc ở các trường đại học Đức tăng từ 9,3% năm 2005 lên 12,9% vào năm 2015. Đức hiện xếp trên cả Mỹ về tỷ lệ phần trăm các công bố trong số 10% được trích dẫn nhiều nhất.  Nhưng khoa học Đức vẫn còn nhiều việc phải làm, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng của trường đại học. So với sự khang trang hiện đại của các viện nghiên cứu nằm ngoài hệ thống đại học thì hạ tầng tại các trường đại học trông khá xoàng xĩnh. Các tiểu bang phải chịu chi phí do số sinh viên – là những người được học miễn phí – gia tăng và không thể đáp ứng kịp những chi phí sửa chữa xây dựng. Những mảng bê tông đổ nát trong các phòng thí nghiệm và giảng đường được mở rộng ồ ạt từ những năm 1960, 1970 thật đáng xấu hổ. Wilhelm Krull, tổng thư ký của Quỹ Volkswagen tại Hanover, quỹ tài trợ nghiên cứu tư nhân lớn nhất tại Đức, nói: “Có một sự tương phản giữa Glanz und Elend  – huy hoàng và thê thảm.”  Rất ít nhà khoa Đức cho rằng đất nước đang quay lại đỉnh cao khoa học của thế giới. Tiếng Đức có thể là một rào cản – mặc dù tiếng Anh hiện nay được sử dụng như ngôn ngữ chung tại các phòng thí nghiệm của nước này. Các quy định và thủ tục làm nản lòng nhiều người. Và nói như Krull thì “Đức vẫn còn e sợ rủi ro. Những cải cách cấp tiến, đột phá ít phổ biến tại đây.”  Và hơn nữa, nước này cần cải thiện sự tham gia của phụ nữ trong nghiên cứu. Tại các tổ chức nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ ở các vị trí khoa học hàng đầu đã tăng từ 4,8% vào năm 2005 lên mức khá hơn là 13,7% vào năm 2016. Tại trường đại học, tỷ lệ phụ nữ nắm các vị trí học thuật cao nhất đã tăng từ 10% của năm 2005 lên 17,9% vào năm 2014. Con số này thấp hơn mức trung bình của Liên minh Châu Âu. Trong các ngành công nghiệp, bức tranh càng ít sáng sủa hơn; Schendel là một trong ba vị lãnh đạo nữ duy nhất trong tổng số 160 vị lãnh đạo của 30 công ty công nghệ hàng đầu ở quốc gia này.  Nhưng các nhà khoa học nhìn chung tin tưởng xu thế tiến bộ sẽ tiếp tục một cách vững chắc. Merkel cam kết tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới, tăng ngân sách thường niên lên mức 4%. Mỗi ngày khi không phải đi công du, Thủ tướng trở về ngôi nhà của bà gần Đại học Humboldt để dành thời gian còn lại của buổi tối bên người chồng – hóa học gia của bà. Schön nói rằng đây đơn giản là việc trở về với gốc gác của bà. Ông nói: “Bà ấy biết điều gì làm nên một nhà khoa học và giá trị của nghiên cứu. Và quan điểm ấy được lan tỏa từ trên xuống.”  Minh Thuận dịch  Nguồn: https://www.nature.com/news/the-secret-to-germany-s-scientific-excellence-1.22563       Author                Alison Abbott        
__label__tiasang Dạng vật liệu thông minh mới thích ứng với thay đổi môi trường      Các vật liệu thông minh, cuộc cách mạng mới nhất trong lĩnh vực khoa học vật liệu, có thể thích ứng các tính năng của mình tùy thuộc vào thay đổi của môi trường xung quanh. Người ta có thể sử dụng chúng cho mọi thứ, từ các màn hình điện thoại di động tự hàn gắn đến các đôi cánh máy bay tự chuyển hình dạng, và phân phối thuốc nhắm đích.      Việc vận chuyển thuốc đến một mục tiêu cụ thể bên trong cơ thể sử dụng các vật liệu thông tin là điều hết sức quan trọng với những căn bệnh như ung thư, vì vật liệu thông minh không chỉ giải phóng thuốc đúng khối lượng cần khi nó dò được tế bào ung thư, để tránh làm hủy hoại tế bào lành.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu của Trung tâm Các vật liệu 2 chiều tiên tiến (CA2DM) tại trường ĐH Quốc gia Singapore (NUS) đã tạo ra một lớp các vật liệu nhân tạo. Nó có một cấu trúc vật liệu hai chiều nhưng lại hành xử như một chất điện ly – và có thể là một cách mới để vận chuyển thuốc trong cơ thể con người.  Giống như các chất điện ly truyền thống, các chất “điện ly 2 chiều” mới tách các nguyên tử của nó trong các chất dung môi khác nhau, và trở nên tích điện. Hơn nữa, việc sắp xếp các vật liệu này có thể được kiểm soát bằng các nhân tố bên trong như nhiệt độ hay độ pH, vốn được coi lad lý tưởng cho vận chuyển thuốc nhắm đích. Các chất điện ly hai chiều đã chứng tỏ có hứa hẹn cho những ứng dụng đòi hỏi một vật liệu có phản hồi với những thay đổi môi trường như những khối cơ nhân tạo và lưu trữ điện năng.  Nhóm nghiên cứu đứng đằng sau các điện ly hai chiều do giáo sư Antonio Castro Neto, giám đốc CA2DM, dẫn dắt. Họ bao gồm các nhà nghiên cứu của CA2DM cũng như Khoa Vật lý, Khoa Khoa học vật liệu và kỹ thuật NUS.  Kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên Advanced Materials.  Thay đổi hành xử của vật liệu hai chiều  Trong khoa học vật liệu, một vật liệu hai chiều là một vật liệu rắn tồn tại tong một đơn lớp các nguyên tử. Nó có thể được cho là một phiến mỏng về mặt nguyên tử có một chiều cao và chiều rộng đặc biệt nhưng không có chiều sâu, do đó, về cơ bản nó là hai chiều. Mặt khác, một chất điện ly là chất tạo ra một thể huyền phù dẫn điện khi hòa tan trong dung môi, chẳng hạn như nước.  Có vô số vật liệu hai chiều tồn tại ngày nay, và nhiều hợp chất cũng có hành xử điện phân. Tuy nhiên, nghiên cứu của các nhà khoa học NUS ho thấy lần đầu tiên vật liệu có cả cấu trúc hai chiều và các đặc tính của các chất điện phân, với một xu hướng cụ thể để chuyển hình dạng ccuar chúng một cách thuận nghịch trong môi trường lỏng. Nhóm NUS đã đạt được thành công bằng việc sử dụng các phân tử hữu cơ khi như các loài có phản ứng để tăng thêm các chức năng khác biệt cho các vật liệu hai chiều như graphene và molybdenum disulfide (MoS2).  “Bằng các nhóm hóa học khác nhau trở nên mang điện tích âm hoặc dương trong các dung môi, chúng tôi thay đổi các vật liệu hai chiều truyền thống và đem đến một lớp mới các vật liệu thông minh có các đặc tính điện tử kiểm soát bằng cấu trúc hình thái”,giáo sư Castro Neto giải thích.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này để tạo ra các chất điện phân hai chiều không chỉ cho một vài ví dụ có thể giữa rất nhiều lựa chọn tiềm năng mà khiến phát hiện này mở ra cả một khu vực nghiên cứu mới hấp dẫn để khám phá.    Từ các phiến mỏng đến cuộn lại  Đột phá lớn trong nghiên cứu này là sự định hướng của chất điện phân hai chiều có thể thay đổi thuận nghịch bằng việc các điều kiện bên ngoài. Hiện tại, lực đẩy tĩnh điện giữa điện tích bề mặt trong vật liệu có thể dẫn đến điều đó trong một phiến mỏng. Bằng việc thay đổi độ pH, nhiệt độ hoặc nồng độ ion của các thể huyền phù, các nhà nghiên cứu NUS đã chứng minh được khả năng của các phiến điện ly hai chiều thay đổi hình dạng và  tạo thành những sắp xếp dạng cuộn. Các kết quả thực nghiệm này được những phân tích lý thuyết lý giải trong đó có cơ chế vật lý bên trong sự hình thành và độ bền của vật liệu dạng cuộn.  Các định hương cuộn này có một đường kính nhỏ mà có thể miêu tả như một vật liệu một chiều, dẫn đến những đặc tính lý hóa khác biệt. Hơn nữa, có thể chuyển đổi qua lại từ vật liệu hai chiều thành một chiều và ngược lại bằng việc thay đổi các điều kiện bên ngoài trở lại những giá trị ban đầu của nó.  “Người ta có thể nghĩ về chất điện phân hai chiều như một sự tương tự chiều cao hơn của điện phân một chiều mà chúng ta vẫn gọi là điện phân đa chiều”, giáo sư Castro Neto, nói. Các ví dụ quan trọng của điện phân đa chiều bao gồm nhiều vật liệu có liên quan về sinh học như DNA và RNA.  “Khi tính a xít, các chất nền cơ bản hay muối được đưa vào, các polymer tích điện cũng trải qua những chuyển đổi thích nghi từ các chuỗi phân tử dạng một chiều thành các vật thể hình cầu không chiều, và ngược lại. Các chất điện phân hai chiều trong tương tự với các chất điện phân đa chiều chứng tỏ những chuyển đổi thuận nghịch từ hai chiều sang một chiều và ngược lại, như một chức năng của các nhân tố bên ngoài. Vì là các vật liệu  thông minh, chúng phù hợp với các công nghệ tiên tiến”, ông cho biết thêm.  Những bước tiếp theo  Việc khám phá ra một lớp vật liệu đã mở ra những vùng mới cho các nhà khoa học vật liệu, mang đến sự hợp tác giữa hai lĩnh vực nghiên cứu đã không có mối liên hệ về truyền thống như vật liệu hai chiều của vật lý và chất điện phân (trong lĩnh vực của điện hóa).  “Có một số lượng ít cách để chức năng hóa graphene và các vật liệu hai chiều để chuyển đổi chúng thành chất điện phân hai chiều. Chúng tôi hi vọng là công việc của mình sẽ truyền cảm hứng cho các nhà nghiên cứu khác từ nhiều lĩnh vực khác nhau tiến đến khám phá xa hơn các đặc tính và những ứng dụng có thể của các chất điện phân hai chiều. Chúng tôi đoán là các chất điện phân hai chiều có nhiều điểm tương tự với sinh học hoặc các hệ tự nhiên, chúng có khả năng tự tập hợp và liên kết ngang một cách đồng thời để hình thành các sợi nano đang hứa hẹn cho những ứng dụng trong các màng lọc, vận chuyển thuốc và dệt thông minh”,giáo sư Castro Neto giải thích.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-scientists-intelligent-material.html  https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/adma.202100442    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh đổi môi trường lấy  lợi ích kinh tế trước nhu cầu than của Trung Quốc      Trong khi các nước phát triển đã đóng cửa hoặc hạn chế việc xây dựng các nhà máy điện đốt than vì lo ngại các vấn đề ô nhiễm và khí thải gây biến đổi khí hậu thì thị trường than lại mở rộng nhanh chóng ở nơi khác: châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.  &#160;      Tại các cảng ở Canada, Australia, Indonesia, Colombia và Nam Phi, những con tàu đang xếp hàng để chở than tới các lò ở Trung Quốc, những cảng này mọc lên như nấm để đáp ứng nhu cầu của một trong những quốc gia nhập khẩu than hàng đầu thế giới.  Hiện nay Hoa Kỳ xuất khẩu than sang Trung Quốc qua Canada, nhưng các công ty than này đang tìm kiếm những cảng bốc dỡ mới tại tiểu bang Washington. Những mỏ than mới đang được lên kế hoạch khai thác tại các miền núi miền Tây Bắc Mỹ và Tây Bắc Thái Bình Dương. Trên thực tế, một số nước có đường lối phát triển thân thiện hơn với môi trường nay lại đang trở thành những đầu mối trung tâm xuất khẩu than, tạo ra những căng thẳng chính trị giữa kinh doanh và các mục tiêu môi trường.  Theo cách làm truyền thống thì than đá được đốt cháy gần nơi khai thác, đặc biệt là với than nhiệt hay than đốt, được sử dụng để tạo ra nhiệt năng và điện. Nhưng trong vài năm qua, hoạt động xuất khẩu than đá quốc tế theo đường dài đã gia tăng nhanh chóng bởi nền kinh tế phi mã của Trung Quốc, hiện đang ngốn tới một nửa trong số 6 tỷ tấn than mà thế giới tiêu thụ hằng năm.  Kết quả là, lượng khí ô nhiễm mà các nước phát triển tìm cách để hạn chế nay vẫn tiếp tục tuồn vào khí quyển, chưa kể còn thêm lượng khí thải từ những con tàu chở than trên tuyến vận tải dài nửa vòng Trái đất.  Việc đổ xô vào đáp ứng thị trường mới ở châu Á này đã làm cho giá than tăng gấp đôi trong năm năm qua, dẫn đến một sự hồi sinh của việc tìm kiếm và khai thác mỏ ở nhiều nơi trên thế giới.   “Đây là trường hợp xấu nhất đã xảy ra”, David Graham-Caso, phát ngôn viên của Câu lạc bộ Sierra nói, tổ chức từng tuyên bố rằng chiến dịch “Nghĩ xa hơn Than” của họ đã giúp ngăn chặn 139 dự án nhà máy đốt than đá ở Hoa Kỳ trong vài năm qua. “Chúng tôi không muốn đốt cháy than đá này ở đất nước mình, nhưng cũng không muốn nó đốt ở nơi khác. Những gì đang xảy ra phá hoại tất cả mọi thành công mà chúng tôi đã đạt được”.  Tại Úc, các nhóm nghiên cứu môi trường đã nhiều lần ngăn chặn những đoàn tàu vào bến xuất khẩu tại Newcastle vào mùa thu này, và những đội chèo thuyền kayak của người biểu tình đã trì hoãn được các chuyến hàng hoá đưa lên những chiếc tàu than có hải trình hướng tới châu Á.    Julia Gillard, Thủ tướng mới của Úc đã quả quyết mục tiêu trong chiến dịch của bà là “sẽ định giá carbon” – nói cách khác, sẽ bắt các công ty phải trả chi phí cho lượng CO2 thải ra từ than. Nhưng các nhà môi trường lại cho rằng luật đó đưa ra sẽ vô nghĩa nếu nước này vẫn tiếp tục cuộc chạy đua khai thác than và “xuất khẩu thảm họa nóng ấm toàn cầu” ra thế giới, như cách nói của nhóm Rising Tide Australia.  Mùa hè vừa rồi, một công ty Úc đã ký một hợp đồng giá trị 60 tỷ đôla với một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Phát triển Quốc tế Năng lượng Trung Quốc, nhằm cung cấp than cho các nhà máy điện của Trung Quốc kể từ 2013, từ các tổ hợp mỏ mang tên China First, sẽ được xây dựng ở các vùng hẻo lánh của Úc. “Đây là hợp đồng xuất khẩu lớn nhất của nước Úc từ trước đến nay”, công ty cho biết.  Hợp đồng làm ăn này phản ánh quan hệ “vừa yêu vừa ghét” đối với tài nguyên than ở nhiều quốc gia giàu có: trong khi luật bảo vệ môi trường làm cho càng ngày càng khó khăn hơn trong việc xây dựng các nhà máy điện đốt than mới, thì hoạt động khai thác than lại không bị giới hạn ở mức độ tương đương.   Nguyên nhân một phần là do việc tính toán mức thải gây ô nhiễm chỉ tập trung với nơi đốt than chứ không phải nơi than được đào lên; phần khác là vì việc buôn bán than là một hoạt động kinh doanh sinh lời cao; và nguyên do khác là vì ngành công nghiệp khai thác than tạo ra nhiều lao động việc làm.   Những lợi ích đó khó lòng bỏ được trong nền kinh tế suy thoái như hiện nay. Trong hai năm qua “sự phát triển của ngành khai thác mỏ đã diễn ra một cách nhanh chóng, và phần lớn sự phát triển này là do tiềm năng của những thị trường mới”, David Price, giám đốc dịch vụ tư vấn than nhiệt toàn cầu tại IHS-Cera cho biết.  Vic Svec, Phó Chủ tịch của cơ quan Peabody Energy, công ty tư nhân than lớn nhất thế giới cho biết công ty này đã lập kế hoạch để xuất khẩu than sang Trung Quốc với số lượng ngày một lớn hơn.  “Than là nhiên liệu có số lượng kinh doanh phát triển nhanh nhất trên thế giới và nó sẽ tiếp tục bị chi phối bởi nhu cầu năng lượng khổng lồ ở châu Á” ông nói.  Cuộc xung đột giữa các vấn đề môi trường và thương mại diễn ra ngày càng tăng ở Hoa Kỳ và Canada, và cả ở Australia.  Theo Ban Thông tin Năng lượng Mỹ, năm ngoái Mỹ chỉ xuất khẩu 2.714 tấn than sang Trung Quốc. Tuy nhiên, con số đó tăng lên thành 2,9 triệu tấn riêng trong sáu tháng đầu năm nay, và đây vẫn chỉ là một phần nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu than của Trung Quốc.  Thị trường than đang được mở rộng với những dự án khai thác mỏ than mới. Earthjustice, một công ty luật môi trường phi lợi nhuận đang kiện để ngăn chặn việc cho thuê đất thuộc sở hữu Nhà nước tại Otter Creek, Mont, cho công ty Arch Coal khai thác than phục vụ nhu cầu ở châu Á và các nơi khác. Tương tự như vậy, công ty Peabody Energy và công ty Ambre Energy của Australia đã mở rộng một cách độc lập các mỏ và cân nhắc ý tưởng mở ra các cảng bốc hàng ở Tây Bắc Thái Bình Dương.  Ở bang Washington, cơ quan Cảng Tacoma cho biết sẽ không cấp địa điểm cho dự án nhà máy bốc dỡ than, viện ra lý do là “những yếu tố mang tính cộng đồng và thương nghiệp”. Tuần này chính quyền tại quận Cowlitz dự kiến sẽ quyết định việc có cấp giấy phép cho những đề nghị về cảng than đá ở Longview nằm trên biên giới với Oregon hay không.  Các nhóm môi trường cũng sẽ ở đó chống lại dự án cảng này, lưu ý rằng các chính sách ở cả hai bang đều có hiệu lực trong việc ngăn chặn các nhà máy điện đốt than mới và cả hai đều có kế hoạch đóng cửa một số nhà máy còn lại. “Nhưng nếu chúng ta cho phép xuất khẩu than trong khu vực của mình thì chúng ta sẽ chỉ tiến được một bước trong khi thụt lùi 10 bước” ông Brett VandenHeuvel, giám đốc điều hành nhóm môi trường Columbia Riverkeeper cho biết.   Tương tự như vậy, các nhà vận động vì môi trường ở British Columbia, những người đã vận động ban hành thuế đầu tiên về khí thải carbon dioxide tại Bắc Mỹ hai năm trước, đã phẫn nộ khi Vancouver đã bùng nổ thành một trung tâm trung chuyển than đá. “Thật là đạo đức giả”, nhận xét từ Ben West, một phát ngôn viên của Ủy ban Thiên nhiên, một nhóm bảo tồn ở Canada.   Mùa hè này, Jim Prentice, người sau đó trở thành Bộ trưởng Môi trường của Canada, đã công bố một chương trình loại bỏ những nhà máy nhiệt điện đốt than theo công nghệ bẩn. Nhưng Henry Lau, một phát ngôn viên của Bộ cho biết các mỏ hiện nay chủ yếu vẫn nằm dưới sự quản lý của cấp tỉnh. Chính phủ Canada cho biết thêm rằng dù vẫn cam kết để thực hiện mục tiêu tới năm 2020 giảm phát thải xuống 17% dưới mức của năm 2005, thì vẫn phải cân bằng giữa lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế là của công dân.   Sự tăng trưởng và chuyển dịch trong việc xuất khẩu than sang Trung Quốc là rất ấn tượng, thậm chí tăng trưởng ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu bị suy thoái. Thương mại đường biển về  than nhiệt đã tăng từ 385 triệu tấn (2001) lên khoảng 690 triệu tấn trong năm nay.  Giá than đã tăng từ 40 đến 60 USD một tấn khoảng 5 năm trước lên mức cao điểm là 200 USD năm 2008. Hiện nay miền Nam Trung Quốc đang mua than với giá 114 USD/tấn.  Trung Quốc trước đây là một nước xuất khẩu than lâu năm, tới năm 2009 lần đầu tiên nước này đã nhập nhiều hơn là xuất, và dự kiến sẽ nhập khẩu lên tới 150 triệu tấn trong năm nay.   Việc kinh doanh than sang Trung Quốc có lợi nhuận cao và sẽ vẫn tiếp tục, thêm, Ian Cronshaw, người đứng đầu phòng đa dạng năng lượng của Cơ quan năng lượng quốc tế cho biết.  Mặc dù Trung Quốc có nguồn cung cấp dồi dào trong nước, nhưng nước này vẫn nhập khẩu than vì than của họ là loại than kém chất lượng, chứa nhiều tạp chất. Ví dụ như than từ lưu vực sông Powder của Montana và Wyoming chứa ít lưu huỳnh và điều này cho phép các nhà máy điện có thể đốt nhiều than hơn mà không vượt quá giới hạn ô nhiễm tại địa phương.  Và ngoài ra, nhiều than đá ở Trung Quốc nằm sâu trong nội địa, trong khi các nhà máy sản xuất lại nằm trên bờ biển, như vậy thông thường thì nhập than từ những tàu than từ Bắc Mỹ, Australia hay thậm chí từ Nam Mỹ tới là lựa chọn thuận tiện hơn.  Một khách hàng lớn mới nổi lên là Ấn Độ, than nhập khẩu của nước này tăng từ 36 triệu tấn năm 2008 lên 60 triệu tấn năm 2009,  năm gần nhất mà người ta có số liệu đầy đủ.  Việc tiêu thụ than đá ở châu Âu và Hoa Kỳ nay đã qua thời hoàng kim, mức tiêu thụ nhìn chung đã giảm từ 5 năm trước vì suy thoái kinh tế, các đạo luật môi trường, và sự phụ thuộc lớn hơn vào khí tự nhiên và năng lượng tái sinh.  Đối với một số nền kinh tế, Trung Quốc như một nguồn sống. Nhu cầu nhập khẩu than ở Mỹ và châu Âu giảm khiến việc xuất khẩu than từ Colombia sang các thị trường này bị sụp đổ vào năm 2008, nhưng tới năm nay thị trường ở Colombia đã khôi phục vì tìm được thị trường xuất khẩu mới sang châu Á với khối lượng tới 10 triệu tấn.  Theo thống kê của Chính phủ Australia thì kim ngạch xuất khẩu than sang Trung Quốc đã tăng từ 508 triệu USD của năm 2008 lên thành 5.6 tỷ USD vào 2009. Tuy nước này vẫn xuất khẩu nhiều than hơn cho những khách hàng quen thuộc lâu năm như Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng trật tự này có thể sẽ thay đổi sau khi các công ty khai thác than đá hàng đầu của Úc triển khai hàng tỷ USD vào các dự án mới như China First.   “ Họ đoán chắc rằng sẽ có những thị trường lớn hơn cho than ở Trung Quốc” ông Cronshaw nói.   Trần Lê dịch (Elisabeth Rosenthal, New York Times)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ: Vai trò chủ động của Doanh nghiệp      Ngày nay ở các nước phát triển, đánh giá công nghệ nói chung và đánh giá năng lực đổi mới công nghệ nói riêng là bước không thể thiếu phục vụ cho phân tích tính hiệu quả trong các quyết sách đổi mới sản phẩm và công nghệ chế tạo ra sản phẩm, trong chính sách kinh doanh, trong lựa chọn địa điểm đầu tư, v.v. Tuy nhiên ở Việt Nam, ngay từ cấp vi mô là doanh nghiệp thì vấn đề đánh giá năng lực đổi mới công nghệ vẫn tồn tại nhiều câu hỏi và khó khăn chưa được giải quyết thỏa đáng.       Đánh giá vì ai?    Đối với doanh nghiệp trực tiếp sở hữu công nghệ để sản xuất ra sản phẩm và hàng hóa hoặc dịch vụ, việc đánh giá sẽ giúp doanh nghiệp biết thực trạng, năng lực công nghệ của mình trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh cùng loại, từ đó cân nhắc xem đã đến lúc phải đầu tư để đổi mới công nghệ hay chưa. Doanh nghiệp chính là chủ thể có toàn quyền trong việc ra quyết định đổi mới công nghệ của mình.     Đối với các đối tượng khác gọi chung là nhóm thứ hai, bao gồm các bộ, ngành, chính quyền các cấp, các hiệp hội, quỹ đầu tư, cơ quan khoa học và các nhà nghiên cứu, việc đánh giá công nghệ tại các doanh nghiệp là để thu thập các thông tin phục vụ cho chức năng, nhiệm vụ của mình. Ví dụ: các bộ, ngành có thể đánh giá để tính toán đầu tư đổi mới công nghệ nhằm tăng khả năng cạnh tranh của một lĩnh vực do bộ, ngành mình phụ trách; UBND tỉnh, thành phố đánh giá để biết mặt bằng công nghệ của địa phương mình, qua đó có các chính sách đầu tư đổi mới hoặc phát triển thích hợp; các nhà khoa học đánh giá để hoàn thiện một vài hệ số ảnh hướng nào đó trong công nghệ. Điểm giống nhau của nhóm này là họ không có khả năng quyết định trực tiếp việc đổi mới công nghệ sau khi đánh giá, mà chỉ có các quyết định có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định đến công nghệ của doanh nghiệp.     Như vậy, doanh nghiệp là chủ thể hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình đánh giá, và họ phải giữ vai trò chủ động trong đánh giá. Tuy nhiên, trong thực tế, các doanh nghiệp thường không quan tâm đúng mức tới việc đánh giá, mà ngược lại, nhóm thứ hai thường là bên chủ động tổ chức đánh giá. Điều này sẽ dẫn đến một số hạn chế sau:    1/ Doanh nghiệp không nhận thức hết ý nghĩa của việc đánh giá mà coi đó như một loại công việc phát sinh nên không nhiệt tình cộng tác, thậm chí còn lảng tránh và gây khó khăn cho quá trình tác nghiệp, lấy thông tin và đánh giá.    2/ Một số thông tin phục vụ quá trình đánh giá nằm trong phạm vi bí mật kinh doanh, được pháp luật bảo hộ nên doanh nghiệp không muốn cung cấp cho người ngoài, hoặc là cung cấp thông tin không chính xác dẫn đến sai lệch kết quả khi tiến hành phân tích, đánh giá.    3/ Doanh nghiệp bị động trong quá trình đánh giá nên thiếu sự thảo luận, phản hồi dẫn đến chậm điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp đánh giá.    4/ Kết thúc quá trình đánh giá, nhóm thứ hai không có thẩm quyền quyết định các chính sách của doanh nghiệp nên các kết quả đánh giá sẽ không được sử dụng như mong đợi.  Ai sẽ đánh giá?    Do đánh giá năng lực công nghệ nói chung và đánh giá năng lực đổi mới công nghệ nói riêng là việc phức tạp, có tính chuyên sâu cao nên thường doanh nghiệp không đủ năng lực tự làm và thường phải phó thác cho các bên tư vấn là các trường đại học, các viện nghiên cứu, hoặc các đơn vị sự nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay ở Việt Nam, số lượng các đơn vị tư vấn cũng như kỹ năng và kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá công nghệ còn rất hạn chế.  Đánh giá như thế nào?    Chúng ta có thể áp dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau, ví dụ phương pháp đo lường công nghệ học, hay phương pháp tiếp cận theo đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên, các phương pháp này nhìn chung đều khó áp dụng ở các nước đang phát triển.     Ở Việt Nam, chúng ta thường dùng phương pháp Atlas công nghệ, trong đó tập trung vào phân tích đánh giá các chỉ số hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ). Phương pháp Atlas có những ưu điểm lớn trong đánh giá, quản lý và hoạch định chiến lược công nghệ, được sử dụng làm cơ sở cho khá nhiều dự án về công nghệ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, điểm hạn chế là phương pháp này khá phức tạp, cần có chuẩn, và cần có đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm.    Phương pháp luận Atlas công nghệ được các chuyên gia của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương đề xuất đưa vào Việt Nam từ năm 1998 và đến nay đã được Bộ KH&CN thống nhất áp dụng1. Tuy nhiên, để tiếp tục triển khai phương pháp này chúng ta cần giải quyết vấn đề nảy sinh là chuẩn so sánh theo ngành. Hiện nay, Thông tư 04/TT-BKHCN mới chỉ đưa ra chuẩn so sánh theo ngành áp dụng trong đánh giá trình độ công nghệ năm 2014-2015. Để có thể kế thừa các chuẩn so sánh trong đánh giá năng lực đổi mới công nghệ các năm tiếp theo cần tiếp tục cập nhật và bổ sung chuẩn so sánh theo ngành thống nhất. Nếu không sẽ dẫn tới tình trạng mỗi địa phương, đơn vị sẽ lại áp dụng, vận dụng một chuẩn so sánh khác nhau trong tính toán. Đồng thời cũng cần xác định chuẩn đánh giá khu vực (hoặc chuẩn thế giới) để có thể so sánh tương quan với Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đang thiếu các thông tin và kết quả đánh giá của các nước khi sử dụng phương pháp Atlas công nghệ nên khó xác định đâu là chuẩn của khu vực hay chuẩn quốc tế.     Giải pháp khắc phục khó khăn trong đánh giá năng lực đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp  Trước hết cần quy định rõ yêu cầu, nhiệm vụ và quyền lợi của các chủ thể tham gia đánh giá. Doanh nghiệp cần được nâng cao nhận thức để thấy rằng họ là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình đánh giá và cần giữ vai trò chủ động trong hoạt động này. Họ cần phối hợp và cung cấp thông tin đầy đủ hơn để nhóm các cơ quan bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố, các cơ quan khoa học… có thể đánh giá một cách chính xác năng lực đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Kết quả đánh giá phải được coi là một nguồn thông tin quan trọng, được sử dụng cho quá trình ra quyết định hoặc hình thành chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp    Đối với các đơn vị tiến hành đánh giá, cần đầu tư đào tạo chuyên sâu để nâng cao năng lực cho các cán bộ, chuyên gia tiến hành đánh giá; bổ sung quy định điều kiện cụ thể đối với các tổ chức làm nhiệm vụ tư vấn, đánh giá đặc biệt là điều kiện về tổ chức, nhân sự và hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên gia phục vụ cho công tác đánh giá. Đồng thời cần có quy định việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan tiến hành đánh giá và xây dựng hệ thống tri thức chuyên gia phục vụ đánh giá thống nhất trên quy mô cả nước. Bộ KH&CN cần đưa nội dung đánh giá năng lực công nghệ vào hoạt động thường xuyên hằng năm để kết quả đánh giá được liên tục, cập nhật thường xuyên và tạo thành cơ sở dữ liệu thống nhất trên toàn quốc. Cơ chế tài chính cho công tác đánh giá ở các địa phương trong cả nước cần đảm bảo tính thống nhất – hiện nay mỗi địa phương vận dụng theo một quy định khác nhau về tài chính cho công tác đánh giá.     Mặt khác, cần kịp thời bổ sung chuẩn so sánh theo ngành cho các năm tiếp theo; hoặc nên có quy định mở theo hướng so sánh theo chuẩn khu vực hoặc quốc tế để thống nhất áp dụng chuẩn so sánh trong đánh giá năng lực đổi mới công nghệ.     Đối với mỗi nhóm ngành, các tiêu chí cụ thể phản ánh các thành phần công nghệ cũng như mức độ quan trọng của từng thành phần công nghệ T-H-I-O trong cấu thành nên năng lực công nghệ rất khác nhau. Do vậy, để tiến hành quá trình đánh giá phải sử dụng các chuyên gia cho từng nhóm ngành riêng biệt phục vụ cho các công việc như: Xác định hệ thống các tiêu chí cho phép đánh giá, lượng hóa mức độ tinh xảo cũng như mức độ hiện đại của từng thành phần công nghệ cho các nhóm ngành nghiên cứu; mô tả cách đo lường, lượng hóa thông tin đối với từng tiêu chí phục vụ cho việc thiết kế bảng các câu hỏi thu thập thông tin; xây dựng hệ thống thang điểm nhằm lượng hóa đo lường mức độ hiện đại của các tiêu chí phục vụ cho các quá trình tính toán các thành phần công nghệ…   ———–  1 Thông tư số 04/2014/TT-BKHCN ngày 8/4/2014 của Bộ KH&CN hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất.        Phương pháp Atlas, được khởi xướng  từ một dự án công nghệ do Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á Thái  Bình Dương (APCTT), thuộc Ủy ban Kinh tế – Xã hội Châu Á Thái Bình Dương  (UN-ESCAP) nghiên cứu và ban hành bộ tài liệu “Nguyên lý phát triển dựa  trên cơ sở công nghệ” dùng để áp dụng cho các quốc gia trong khu  vực.v.v từ năm 1986 đến năm 1988, dưới sự tài trợ của Chính phủ Nhật  Bản*, trong đó hướng dẫn khá chi tiết các nội dung và phương pháp đánh  giá hiện trạng công nghệ của một quốc gia. Phương pháp này tập trung vào  khảo sát các chỉ số công nghệ ở ba quy mô:              * Ở cấp doanh nghiệp: xem  xét bốn thành phần công nghệ là thành phần kỹ thuật, thành phần thông  tin, thành phần con người, thành phần tổ chức. Kết quả đóng góp trực  tiếp của bốn thành phần này xác định hàm lượng công nghệ gia tăng, là cơ  sở để đánh giá năng lực công nghệ và chiến lược công nghệ.              * Ở cấp độ ngành công nghiệp: xem xét các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ.              * Ở quy mô quốc gia: xem xét môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ              Để  việc hợp nhất các xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát  triển kinh tế xã hội có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên  cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ lẫn nhau khi tiến hành các phân  tích. Nếu sử dụng bốn hình thức biểu hiện của công nghệ theo cách phân  chia theo phương pháp Atlas (thành phần kỹ thuật – Technoware, thành  phần con người – Humanware, thành phần thông tin – Infoware, thành phần  tổ chức- Orgaware) làm cơ sở để điều tra thì có thể đạt được sự bổ sung  cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế thông thường và kế hoạch hoá dựa trên  công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, tỉnh, quốc gia… tuỳ theo  mức độ dự án thực hiện.   *Tham khảo chi tiết: UN-ESCAP (1989):  “Technology Atlas Project Tokyo Program On Technology for Development in  Asie and Pacific”, Bangalore, India.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá quả khai thác tài nguyên đáy biển      Nhiều loại tài nguyên với khối lượng lớn, có giá trị cao, đang ngủ yên dưới đáy biển, nhưng việc khai thác chúng có thể gây hậu quả sinh thái khôn lường. Vì vậy các nhà nghiên cứu tìm cách đánh giá trước nguy cơ này.    Jules Verne đã viết trong cuốn sách “20.000 dặm dưới đáy biển” xuất bản năm 1870 rằng thuyền trưởng Nemo đã tận dụng tài nguyên dưới đáy biển. Giờ đây điều viễn tưởng đã trở thành hiện thực. Dưới đáy đại dương có nhiều kim loai rất cần thiết đối với nền công nghiệp công nghệ cao. Chúng ẩn trong các cục mangan, trong lớp vỏ mangan-sắt có nhiều cobalt và một lượng lớn sulfide. Đây là mối làm ăn trị giá nhiều tỷ đôla.  Ở độ sâu dưới 5000 mét dưới đáy biển có vô vàn cục mangan to như nắm tay. Nhưng sau một đợt thu hoạch luôn để lại dấu ấn của sự tàn phá. Dưới sự chủ trì của trường đại học Hamburg, năm 1989 các nhà khoa học đã cầy xới trên diện tích 11 km2 ở đông nam Thái bình dương.  29 năm sau, các nhà khoa học đã cho robot thợ lặn được điều khiển từ xa lặn xuống đáy biển và chụp hình. Kết quả thật đáng ái ngại. “Chỗ đó vẫn hoàn toàn không khác gì hồi xưa”, theo Matthias Haeckel thuộc Trung tâm GEOMAR Helmholtz về nghiên cứu đại dương ở Kiel.  Điều gây bất ngờ đối với các nhà khoa học biển là ngay cả đến các vi sinh vật cũng chưa được hồi phục hoàn toàn.  Sự tái sinh kéo dài hàng trăm năm  Một khi bị tàn phá, diện tích này sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực rất lâu dài. Theo ước đoán của Haeckel thời gian để các vi sinh vật có thể hồi phục kéo dài từ 50 đến 60 năm. Sau đó các loài như giun, ốc, bọt biển, dưa chuột biển, sao rắn và bạch tuộc nhỏ mới tái xuất hiện. “Dưới đáy biển đa dạng sinh học vô cùng phong phú”, theo Haeckel. Thậm chí có nhiều loài sinh vật còn chưa được biết đến. Sau mỗi chuyến đi khảo sát, nghiên cứu các nhà khoa học luôn phát hiện được hàng trăm loài mới.    Sao biển màu đỏ  Thời gian hồi phục của đáy biển sau khi bị thâm nhập có thể kéo dài cả trăm năm. Ở dưới đáy biển sâu, mọi sự diễn ra dường như chậm chạp hơn. Sự vận động của động vật cũng như sự phát triển của chúng đều chậm hơn, mọi sự diễn ra một cách dè dặt vì nguồn thức ăn khan hiếm. Sự “lớn lên” của các cục mangan cũng diễn ra vô cùng chậm chạp. Để đường kính tăng từ 10 đến 20 millimet chúng cần có thời gian cả triệu năm.  Có những cục mangan chào đời cách đây 15 triệu năm (rất rất lâu sau đó mới xuất hiện những con người đầu tiên ở vùng thảo nguyên châu Phi – tổ tiên của chúng ta ngày nay). Các cục mangan này chứa nhiều nguyên liệu quý hiếm như đồng, cobalt và nickel. Cùng với lớp vỏ quặng mangan các củ đa kim loại này riêng đối với cobalt có trữ lượng cao gấp 21 đến 23 lần so với trữ lượng ở đất liền.  Sau khi thu hoạch, các cục mangan cổ đại này sẽ bị bóc tách khỏi lớp trầm tích có độ dày khoảng 15 cm – đây cũng chính là lớp có nhiều loài sinh vật sinh sống nhất. Lớp trầm tích bị sục ở dưới nước sau đó lắng đọng dần và che phủ một diện tích đáy biển rộng gấp hai đến ba lần so với diện tích đã thu hoạch và hệ thống sinh thái bị ảnh hưởng. Sự sống trên cục mangan cũng bị huỷ diệt.  Cuộc chiến vì giấy phép  Hiện chưa có giấy phép khai thác trữ lượng quặng ở đáy biển khơi bên ngoài vùng biển kinh tế thuộc nhà nước (khu vực 200 hải lý). Cơ quan quốc tế quản lý đáy biển (International Seabed Authority, ISA) quản lý tài nguyên khoáng sản ở đáy biển. Tuy nhiên các kim loại dưới đáy biển lại thu hút rất nhiều sự quan tâm. 20 quốc gia, trong đó có nhiều nước châu Âu như Bỉ, Pháp, Anh quốc, Ba Lan và Nga, đã đăng ký xin giấy phép để tìm kiếm trữ lượng quặng dưới đáy biển.  Nước Đức cũng có tên trong số này. Năm 2006 Cục Liên bang về khoa học địa chất và tài nguyên (BGR)  Đức ở Hannover nhận nhiệm vụ của Chính phủ Liên bang ĐỨc đã nộp đơn mua giấy phép thăm dò trên diện tích 75.000 km2 tại trung tâm Thái Bình Dương để thu thập mẫu và lập bản đồ không gian ba chiều vùng đáy biển này. Theo ước tính của BGR chi phí đầu tư cho những cục mangan này lên tới 1,0 đến 1,5 tỷ Euro. Tuy nhiên một khối lượng khổng lồ củ mangan tập trung tại đây. Chỉ có thể sơ bộ ước lượng khối lượng này. Các nhà khoa học của BGR phát hiện trên địa điểm khoảng 2.000 km2, một phần của diện tích mà Đức được cấp giấy phép có tới 30 triệu tấn mangan.  Các kim loại chứa trong đó như Nickel, đồng và cobalt cũng tới khoảng 1 triệu tấn và có giá khoảng 334 triệu đôla Mỹ. Bên cạnh đó còn có ít nhất tám khu vực hết sức thú vị và chất chứa đầy mangan.    Một “cánh đồng” đầy các cục mangan dưới đáy biển. Trông có vẻ buồn tẻ, thiếu sức sống – nhưng trong lòng đất chứa chất nhiều loại sinh vật chưa được tìm hiểu, nghiên cứu.  Sự hợp tác của châu Âu?  Từ cuối năm 2014 các nhà khoa học châu Âu hợp tác với nhau xúc tiến dự án MiningImpact, để tìm hiểu về hệ quả sinh thái khi khai thác mỏ ở biển sâu trong tương lai. Những kết quả thu được sẽ được đưa vào các cuộc đàm phán về “Quy định khai thác” của ISA, đây là bộ quy chế quốc tế quy định về việc khai thác tài nguyên khoáng sản dưới đáy biển. “Cơ quan ISA khi soạn thảo ‘Quy định khai thác’ cần phải có sự hỗ trợ của công đồng quốc tế các nhà khoa học để qua đó có các tiêu chuẩn tốt nhất về bảo vệ môi trường”, điều phối viên dự án Haeckel giải thích.  Trên thế giới, vấn đề khai thác mỏ ở đáy biển là một điều hết sức mới mẻ và thách thức vô cùng lớn. Việc khai thác diễn ra dưới áp suất cao, không có ánh sáng và ở nhiệt độ 2oC. Cho đến nay chỉ có một số dự án thí điểm nhỏ lẻ. Nhà thầu Bỉ DEME-GSR dự định đến năm 2019 sẽ đưa vào sử dụng nguyên mẫu máy thu thập dưới đáy biển để thu hoạch mangan. Các nhà khoa học cùng làm việc với điều phối viên Haeckel và tầu nghiên cứu SONNE của Đức cũng tiến hành nghiên cứu độc lập thu thập các dữ liệu khoa học về tác động môi trường của thử nghiệm thu hoạch công nghiệp củ mangan.  Các nhà nghiên cứu cũng muốn tìm ra các giải pháp để giám sát “Quy định khai thác” ở đáy biển. Haeckel nói: “Luật biển quốc tế tạo điều kiện để các nước khai thác tài nguyên khoáng sản dưới đáy biển. Điều này không phải bàn cãi. Tuy nhiên giờ đây chúng ta còn có điều kiện cùng xây dựng điều kiện khung, để không xảy ra tình trạng khai thác bừa bãi, thiếu kiểm soát ở khu vực sống rộng lớn nhất trên trái đất này”.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://edison.handelsblatt.com/erklaeren/mangan-welche-folgen-der-tiefsee-abbau-von-rohstoffen-hat/23143748.html?ticket=ST-2701267-92xRhrR3Uwajv142m9KO-ap5    Author                Quản trị        
__label__tiasang TPHCM: Một trong 10 thành phố hàng đầu trên thế giới có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi BĐKH      Là thành phố có thể bị ảnh hưởng lớn bởi sự biến đổi khí hậu cùng với sự đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, TPHCM cần sớm có các giải pháp ứng phó chủ động, để phát triển KT – XH bền vững trong thời gian tới.    TPHCM là một trong 10 thành phố hàng đầu trên thế giới có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi BĐKH, xếp thứ 5 về số dân có thể bị ảnh hưởng của BĐKH vào năm 2070. Tính dễ bị tổn thương do BĐKH của TPHCM là mối lo ngại đặc biệt vì nó ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Việt Nam, khi thành phố này đóng góp tới 23% GDP và 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp.    Trong bối cảnh đó, nhóm tác giả Viện Nhiệt đới môi trường đã nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới phân bố dân cư, phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước sạch, vệ sinh môi trường vì đây là 3 yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng quyết định đến phát triển an sinh, kinh tế, xã hội. Nghiên cứu đã xây dựng các kịch bản phát đến năm 2030 và 2050.        Theo đó, dự báo dân số ở các quận nội thành mới (2, 7, 9, 12, Bình Tân, Thủ Đức) và các huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè) tiếp tục tăng. Đến năm 2030 sẽ chiếm khoảng 62,60% (gần 7 triệu người) và đến năm 2050 sẽ chiếm khoảng 72,92% (gần 10 triệu người). Trong khi đó, dân số ở các quận nội thành có xu hướng tăng rất chậm hoặc giảm. Đến năm 2050, dân số các quận nội thành cũ chỉ chiếm khoảng 27,08% dân số thành phố. Tổng dân số TPHCM (trừ huyện Cần Giờ) đến năm 2030 vào khoảng 11 triệu người và đến năm 2050 vào khoảng 13 triệu người, chỉ tăng 19,3% so với năm 2030. Sự tăng dân số sẽ gây áp lực đối với hạ tầng cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ngày càng tăng, nhất là trong điều kiện chịu tác động do BĐKH.    Nghiên cứu còn cho thấy, đến năm 2030, tổng nhu cầu sử dụng nước của TPHCM khoảng 3 triệu m3/ngày (tăng 46,4% so với hiện nay), đến năm 2050 nhu cầu sử dụng nước khoảng hơn 4 triệu m3/ngày (tăng 28,6% so với năm 2030). Tỷ lệ tăng nhu cầu sử dụng nước trong giai đoạn 2030-2050 giảm so với giai đoạn 2020-2030 là do mức độ tăng dân số trong giai đoạn này thấp và đã thực hiện các giải pháp hạ tỷ lệ thất thoát nước. Áp lực về vệ sinh môi trường cũng có xu hướng chuyển dịch về các quận nội thành mới và các huyện ngoại thành do sự gia tăng dân số và sự quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng về vệ sinh môi trường là chưa theo kịp tốc độ gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa.    Nhóm đề xuất, Thành phố cần lồng ghép các yếu tố BĐKH vào các quy hoạch (phát triển kinh tế – xã hội, chung, ngành..), đặc biệt chú trọng vấn đề tăng diện tích mặt nước và mảng xanh đô thị; phòng chống và giảm thiệt hại của ngập lụt. Đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình xử lý và phân phối nước; tăng cường khả năng chống chịu của mạng lưới cấp nước trước các điều kiện thời tiết khắc nghiệt….    Đối với lĩnh vực vệ sinh môi trường, cần giảm áp lực chất thải cho mỗi địa phương bằng giải pháp tăng năng lực thu gom và xử lý chất thải. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý để khuyến khích và tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho các dự án liên quan đến quy hoạch đô thị, dự án giảm phát thải khí nhà kính, thu hồi khí thải và các dự án hỗ trợ tăng cường năng lực thích nghi với BĐKH cho các khu vực dễ bị tổn thương.    Theo nhóm tác giả, các giải pháp cần được thực hiện trong tương lai gần (khoảng năm 2030-2035) vì nếu chậm, sẽ không đáp ứng được thực tiễn BĐKH.    Phạm Hải    Author                .        
__label__tiasang Đánh giá về mô hình điều trị HIV mới ở Việt Nam      “HIV clinic-based buprenorphine plus naloxone versus referral for methadone maintenance therapy for treatment of opioid use disorder in HIV clinics in Vietnam (BRAVO): an open-label, randomised, non-inferiority trial”, một đánh giá vừa được công bố trên tạp chí The Lancet HIV đã đem lại cái nhìn mới về sáng kiến lồng ghép điều trị rối loạn sử dụng opioid (opioid bao gồm các loại thuốc phiện, các loại thuốc có nguồn gốc từ thuốc phiện, bao gồm cả morphin) cùng với điều trị HIV tại Việt Nam.      Sử dụng buprenorphine là phương án cần thiết với các quốc gia muốn mở rộng khả năng tiếp cận điều trị rối loạn sử dụng opioid. Nguồn: bcpharmacy.ca  Nghiên cứu này là một trong những đánh giá khoa học đầu tiên về mô hình điều trị HIV mới ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nơi nạn tiêm chích ma túy là nguyên nhân chính gây nhiễm HIV. Nó cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xây dựng mạng lưới kết nối cộng đồng để giải quyết ‘bệnh dịch’ opioid đang tiếp tục hoành hành nước Mỹ giữa đại dịch Covid-19. Các nhà khoa học Việt Nam tại trường Đại học Y Hà Nội, Bộ Y tế và các đồng nghiệp quốc tế tại Đại học Khoa học và Sức khỏe Oregon đã phối hợp với nhau để tiến hành nghiên cứu này.    “Nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng các quốc gia muốn mở rộng việc điều trị rối loạn sử dụng opioid bằng buprenorphine nên xem xét các biện pháp can thiệp để hỗ trợ duy trì việc điều trị hướng đến mạng lưới gia đình, đồng nghiệp và nhân viên y tế cộng đồng”, giáo sư Todd Korthuis, người dẫn đầu trong lĩnh vực thuốc cai nghiện tại OHSU và là tác giả liên hệ của công trình này, cho biết.    Korthus là giáo sư y khoa (chuyên ngành nội tổng quát và lão khoa) tại trường Y OHSU. Sau quãng thời gian tham gia chương trình học giả tham cứu của Fullbright giai đoạn 2020-2023, ông đã quyết định cùng các nhà khoa học khác khởi xướng chương trình này tại Việt Nam. Họ đã thử nghiệm ngẫu nhiên nhiều địa điểm đầu tiên so sánh liệu pháp điều trị bằng buprenorphine tại phòng khám HIV so với việc chỉ đề xuất bệnh nhân HIV đến phòng khám methadone để điều trị rối loạn sử dụng opioid. Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra tác động của rối loạn sử dụng opioid và HIV, cũng như mức độ hiệu quả của việc điều trị đối với bệnh nhân.    Các nhà khoa học nhận thấy rằng việc hỗ trợ bệnh nhân liên tục là yếu tố then chốt. “Nghiện là một bệnh của não, vì vậy nó hay tái phát”, một trong số các tác giả của nghiên cứu, TS.BS Lê Minh Giang, Chủ nhiệm bộ môn Sức khỏe toàn cầu tại Đại học Y Hà Nội, cho biết trên kênh podcast của The Lancet HIV. “Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân từ bỏ việc điều trị rối loạn sử dụng opioid và sau đó lại tái nghiện. Đó là vấn đề đối với những người không được nhân viên y tế hỗ trợ tốt”.    Buprenorphine, còn được gọi là Suboxone, có thể được kê đơn và sử dụng bên ngoài phòng khám chuyên khoa cai nghiên, trong khi việc dùng methadone phải được giám sát chặt chẽ một phần vì nguy cơ quá liều cao hơn ở những cơ sở không được giám sát. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 2/2018, có khoảng 281 người đã tham gia vào dự án thử nghiệm điều trị bằng buprenorphine đầu tiên ở Việt Nam. “Phương pháp điều trị này linh hoạt hơn so với việc duy trì bằng methadone”, Korthuis nói. “Bạn có thể tích hợp nó vào các phòng khám HIV, và về mặt lý thuyết, cả phòng khám chăm sóc sức khỏe ban đầu.” Thêm vào đó, “methadone là một loại thuốc cần được kiểm soát thật cẩn thận trong một cơ sở chuyên khoa”.    Nghiên cứu mới cho thấy việc sử dụng buprenorphine là phương án cần thiết đối với các quốc gia muốn mở rộng khả năng tiếp cận điều trị rối loạn sử dụng opioid, đặc biệt là ở những bệnh nhân đang điều trị HIV. “Tôi rất ấn tượng trước sự đan kết xã hội vô cùng chặt chẽ ở Việt Nam”, Korthuis cho biết. “Không thể không nhắc đến vai trò của gia đình, vai trò của khu phố và vai trò của cộng đồng trong mọi mặt cuộc sống, trong đó bao gồm chăm sóc sức khỏe”.   Trên thực tế, Korthuis đã và đang triển khai một mô hình tiếp cận tương tự ở một số khu vực nông thôn tại Oregon, thông qua một sáng kiến do Viện Y tế Quốc gia tài trợ. Sáng kiến này được biết đến với tên gọi Oregon HOPE, hướng đến việc dựa vào những người đã khỏi nghiện để thu hút những người hàng xóm của mình tham gia vào các dịch vụ phòng ngừa và điều trị. Chương trình đang được triển khai tại một số quận trên khắp miền Nam và miền Đông Oregon. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2021-02/ohs-nse020421.ph    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dành quyền bầu cử cho những người chưa sinh?      Để giữ một sự cân bằng ổn định của hành tinh, có lẽ cần phải tính đến các lá phiếu của tất cả người dân, và đặc biệt là nguyện vọng hợp lý của các thế hệ tương lai.    Mọi chính phủ đều phải đứng trước các lựa chọn giữa tiêu dùng ngày hôm nay hay đầu tư cho tương lai. Hay nói cách khác là phải đưa ra quyết định giữa dân số hiện tại (những người bầu cử) và các thế hệ tương lai (không bầu, vì chưa ra đời). Các chính phủ có thể sống như những người dân thường, cũng có thể vay mượn; tuy nhiên, nếu một cá nhân vay mượn, thì chính anh ta chứ không ai khác sẽ phải trả theo một kỳ hạn nhất định, trong khi nếu một chính phủ vay mượn, thì chính phủ đó thường không phải trả ngay mà là các chính phủ kế tiếp phải trả. Cách thông thường nhất là chính phủ cắt giảm thuế và phát hành trái phiếu. Làm như vậy nghĩa là đã lấy gánh nặng của thế hệ hiện tại để chất lên vai của các thế hệ tương lai, những người sẽ phải trả nợ mà gần như không hề được hưởng lợi các khoản vay quá khứ.           Bác sỹ: Đó sẽ là một người bỏ phiếu trắng.   Người mẹ: Tôi biết rồi, thưa bác sỹ.        Hiển nhiên là không thể trưng cầu dân ý của những người chưa sinh, vậy chính phủ làm sao có thể tính toán đến lợi ích của các thế hệ tương lai. Đó là cách lẩn tránh vấn đề của các nhà làm chính sách. Nhưng đó không phải là cách của các nhà toán học. Trong toán học, người ta có thể tính đến “lợi ích” (hay nói cách khác là nguyện vọng) của những người sẽ sống trong n năm trong các tính toán toán học, với một hệ số 1/(1+r)n, trong đó r là lãi suất. Nhưng như thế có nghĩa là đã quên đi bản chất của vấn đề: đúng là một đồng trong n năm sẽ có giá trị thấp hơn một đồng ngày nay, nhưng tại sao nguyện vọng của các thế hệ tương lai lại có giá thấp hơn nguyện vọng của thế hệ ngày hôm nay? Đó là điều không thể chấp trên cả phương diện lý thuyết thuần túy lẫn thực tế chính sách xã hội: cần phải coi tất cả các thế hệ như nhau.  Dĩ nhiên, sự lựa chọn tỉ lệ chiết khấu ảnh hưởng lớn đến chính sách tối ưu. Liên quan đến sự khai thác các nguồn lực tự nhiên, tái sinh hay không tái sinh, sự lựa chọn hệ số 1/(1+r)n, trong đó r là lãi suất thị trường, có lợi rất lớn cho thế hệ hiện tại, và dẫn đến các lựa chọn không thể chấp nhận. Vì thế, các nhà kinh tế học người Canada C. H. Ainsworth và U. R. Sumaila đã thực hiện lại các phép tính với các hệ số cập nhật, dành cho các thế hệ tương lai nhiều quan tâm hơn. Xuất phát từ một dân số N, họ coi vào năm n sẽ xuất hiện G các thế hệ mới (G/N như vậy là tỉ lệ tái tạo), và đánh giá các kết quả tương lai bằng cách sử dụng lãi suất thị trường r. Tính toán của họ được thêm vào tính toán tổng thể, với một hệ số bình chỉnh 1/(1+R)n, trong đó R = r và nếu đặt r = G/N, thì điều này ứng với một tỉ lệ cập nhật (1+ng)/(1+r)n thay vì 1/(1+r)n. Đối với các giá trị hợp lý của R, họ nhận thấy rằng vẫn đạt được chính sách tối ưu mà không coi nhẹ nguyện vọng của các thế hệ tương lai.  Một chính phủ tính đến nguyện vọng của không chỉ những người đi bầu ra mình, mà cả những người không đi bầu bởi vì chưa đủ 18 tuổi hoặc bởi vì chưa ra đời là một chính phủ tối ưu được tất cả mọi người yêu thích. Nhưng đó không phải là diễn văn mà người ta có thể thường xuyên được nghe trong các chiến dịch tranh cử !  BẠCH DƯƠNG  Theo Pour La Science số 352      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh thức tiềm lực      Tại cuộc Hội thảo về Dự &#225;n Thủ phủ c&#224; ph&#234; to&#224;n cầu tổ chức tại Mad&#8217;răk, Bu&#244;n M&#234; Thuột ng&#224;y 15/4/2008, nh&#224; thơ Nguyễn Duy cho rằng đ&#226;y thực sự l&#224; một dự &#225;n g&#243;p phần quan trọng đ&#225;nh thức tiềm lực của T&#226;y Nguy&#234;n, v&#224; c&#225;c đại biểu đ&#227; hết sức x&#250;c động khi nghe &#244;ng đọc b&#224;i thơ &#244;ng l&#224;m c&#225;ch đ&#226;y gần 30 năm: Đ&#225;nh thức tiềm lực.  Tia S&#225;ng xin tr&#237;ch đăng một số đoạn của b&#224;i thơ đ&#243;.    Hãy thức dậy đất đai !  cho áo em tôi không còn vá vai  cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…  xin bắt đầu từ cơm no áo ấm  rồi hãy đi xa hơn – đẹp và giàu, và sung sướng hơn  Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non  châu báu vô biên dưới thềm lục địa  rừng đại ngàn bạc vàng là thế  phù sa muôn đời sữa mẹ  sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể  còn mặt đất hôm nay em nghĩ thế nào ?  lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao ?    * * *  Lúc này ta làm thơ cho nhau  đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt  ta ca hát quá nhiều về tiềm lực  tiềm lực còn ngủ yên…  ***  Tôi lớn lên trên bờ bãi sông Hồng  trong màu mỡ phù sa máu loãng  giặc giã từ con châu chấu con cào cào  mương máng đê điều ngổn ngang chiến hào  trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc  giọt mồ hôi nào có gì to tát  bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông  Bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng  thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi  khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi  hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai  đói  đói thâm niên  đói truyền đời  điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói …      * * *  Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng  một bên Trường-sơn-cây-xanh  bên còn lại Trường-sơn-cát-trắng  đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng  cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi  ngọn cỏ nhọn thành gai trốn không khỏi úa  đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ  cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi  Hạt giống ở đây chết đi sống lại  hạt gạo kết tinh như hạt muối  cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời.       * * *  Tôi về quê em – châu thổ mới bồi  sông Cửu Long giãn mình ra biển  đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển  cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi  Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt  lòng còn chát chua nào mặn nào phèn  má sung sức và ba cường tráng thế  man mác âu sầu câu hát ru em  Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm  những đồng lúa ma không trồng mà gặt  những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt  những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật  miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi !  Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi  đất nghiền phân vô cơ như người nghiền á phiện  con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng  thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển  phà Cần Thơ lê lết người ăn xin  cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ  quán nhậu lai rai – nơi thừa thiếu trốn tìm    * * *            Này, đất nước của ba miền cày ruộng  chưa đủ no cho đều khắp ba miền  ta ca hát quá nhiều về tiềm lực  tiềm lực còn ngủ yên.  quán nhậu lai rai – nơi thừa thiếu trốn tìm    * * *  ……………     * * *            Này, đất nước của ba miền cày ruộng  chưa đủ no cho đều khắp ba miền  ta ca hát quá nhiều về tiềm lực  tiềm lực còn ngủ yên.     * * *      ………………….   * * *             Tiềm lực còn ngủ yên  trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng  Tiềm lực còn ngủ yên  trong bộ óc mang khối u tự mãn  Tiềm lực còn ngủ yên  trong con mắt lờ đờ đục thủy tinh thể  Tiềm lực còn ngủ yên  trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ  Tiềm lực còn ngủ yên  trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm  Tiềm lực còn ngủ yên  trong lớp da biếng lười cảm giác  Năng động lên nào  từ mỗi tế bào từ mỗi giác quan  cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi    * * *…………………..     * * *             Tôi muốn được làm tiếng hát của em  tiếng trong sáng của nắng và gió  tiếng chát chúa của máy và búa  tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai  tiếng trần trụi của lưỡi cuốc  lang thang  khắp đất nước  hát bài hát  ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo AI: Cập nhật kiến thức KHXH để tránh nguy hại tiềm tàng      Trong nghiên cứu phân tích được đăng trên tạp chí Nature Machine Intelligence, hai nhà nghiên cứu Mỹ đã kết luận: các kỹ sư trí tuệ nhân tạo (AI) nên tranh thủ ý tưởng và chuyên môn từ một loạt nguyên tắc của ngành khoa học xã hội, bao gồm cả những nguyên tắc sử dụng phương pháp định tính, để giảm thiểu nguy hại tiềm tàng mà các AI có khả năng tạo ra, đồng thời đem lại nhiều lợi ích hơn cho toàn xã hội.      Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những công cụ tìm kiếm có thể phân biệt đối xử với phụ nữ da màu. Trong ảnh: Nếu search từ “girl”, kết quả chỉ cho ra hình ảnh các cô gái da trắng.   Mona Sloane hiện là nhà nghiên cứu tại Viện Tri thức Công thuộc ĐH New York, và Emanuel Moss, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại ĐH Thành phố New York, viết: “Một loạt bằng chứng cho thấy AI có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng, duy trì sự phân biệt đối xử và tạo ra những tác động gây hại … Do đó, để có được một công nghệ đảm bảo sự công bằng xã hội, chúng ta cần phải đưa vào đó cả khái niệm rộng lớn nhất của khoa học xã hội với những nguyên tắc đã được con người tạo ra để cố gắng nắm bắt thế giới xã hội rộng lớn. Nó cũng phải giúp chúng ta hiểu được tại sao và làm thế nào mà AI lại nổi lên như một phần của hệ thống xã hội-công nghệ rộng lớn, phức tạp, mới nổi”.   Các tác giả nêu những lý do nên áp dụng cách tiếp cận khoa học xã hội và dùng nhiều phương pháp định tính để củng cố giá trị của AI và tránh những cạm bẫy có tiền lệ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, những công cụ tìm kiếm có thể phân biệt đối xử với phụ nữ da màu, trong khi đó nhiều nhà phân tích cũng đặt câu hỏi về việc làm cách nào để xe tự lái có thể đưa ra những quyết định được xã hội chấp nhận trong các tình huống va chạm, ví dụ tránh đâm vào người thay vì vào cột cứu hỏa.  Các kỹ sư AI hiện đang tìm cách thấm nhuần việc “căn chỉnh giá trị” (Ý tưởng cho rằng máy móc nên hành động tuân theo các giá trị của con người) trong các sản phẩm sáng tạo của mình, nhưng vẫn cho rằng “thật khó để định nghĩa và mã hóa một thứ gì đó trôi chảy và theo ngữ cảnh như ‘giá trị con người’ vào một cỗ máy.”  Để giải quyết thiếu sót này, các tác giả đưa ra một kế hoạch chi tiết để đưa các ngành khoa học xã hội vào AI thông qua một loạt khuyến nghị:  * Nghiên cứu xã hội định tính có thể giúp nắm bắt các phạm trù mà qua đó chúng ta hiểu về đời sống xã hội và có thể sử dụng trong AI. Sloane và Moss quan sát thấy rằng “Các nhà công nghệ thường không được đào tạo để hiểu làm thế nào mà các danh mục chủng tộc trong học máy được tái lập như một cấu trúc xã hội có tác động thực đến việc tổ chức và phân tầng xã hội. Nhưng những câu hỏi này đã được thảo luận rất sâu trong ngành khoa học xã hội. Điều này có thể giúp tạo ra bối cảnh lịch sử-xã hội, dựa vào đó các danh mục mô tả như ‘chủng tộc’ được làm rõ”  * Tiếp cận theo hướng thu thập dữ liệu định tính có thể giúp lập nên những giao thức làm giảm thiên vị. “Dữ liệu luôn phản ánh sự thiên vị và lợi ích của những người thu thập”, các tác giả lưu ý. “Nghiên cứu định tính phản ảnh rõ ràng việc thu thập dữ liệu trong khi thực tiễn nghiên cứu định lượng trong AI thì không”  * Nghiên cứu định tính thường yêu cầu các nhà nghiên cứu phản ánh cách thức họ can thiệp vào thế giới mà họ quan sát. “Cách tiếp cận định lượng sẽ không yêu cầu nhà nghiên cứu hoặc nhà thiết kế AI phải định vị họ trong thế giới xã hội, do đó cũng sẽ không yêu cầu phải đánh giá xem ai được đưa vào những quyết định thiết kế AI quan trọng và ai không”  Sloane và Moss kết luận rằng “Khi chúng ta tiến tới kết hợp các yếu tố xã hội, văn hóa và công nghệ trong cuộc sống, chúng ta phải tích hợp các loại kiến ​​thức khác nhau vào việc phát triển công nghệ. Một tương lai công bằng và dân chủ hơn cho AI trong xã hội không thể chỉ được tính toán hay thiết kế mà phải được sống, thuật lại và rút ra từ những hiểu biết sâu sắc về xã hội.” □  Ngô Hà dịch   Nguồn: https://techxplore.com/news/2019-08-quality-ai-requires-quantitative.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo doanh nghiệp làm nông nghiệp đô thị      Square Roots là một công ty tăng tốc khởi nghiệp kỹ thuật cao trong nhà ở ngay trung tâm Brooklyn, New York.      Các doanh nghiệp giao rau tươi cho người tiêu dùng ở 80 địa điểm văn phòng trong thành phố  Họ đang cố gắng bảo đảm rằng cư dân đô thị có thể có được rau tươi bền vững suốt mười hai tháng trong năm.  Trong một trung tâm đô thị to như New York, nơi sản phẩm tươi có thể tìm mờ mắt ngay cả giữa vụ thu hoạch, Square Roots đang chứng minh tiềm năng nông nghiệp trong nhà với khí hậu được kiểm soát.  Công ty được đồng sáng lập bởi các doanh nhân Tobias Peggs và Kimbal Musk. Công ty còn có hai chuỗi nhà hàng với mục tiêu kép là thoả mãn nhu cầu sản phẩm và đào tạo một thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp mới am hiểu nông nghiệp đô thị, các hệ thống thực phẩm địa phương, và sự minh bạch cùng niềm tin mà các quan hệ cá nhân đem lại cho thực phẩm.  Sau khoá học với một chương trình dài 13 tháng, mười doanh nhân có tên là Resident Entrepreneurs của Square Roots điều hành các doanh nghiệp tại cơ sở vật lý của công ty tăng tốc doanh nghiệp, trong khi tham gia các môn học đào tạo kỹ năng, phát triển chuyên môn, học tập kinh nghiệm kinh doanh. Họ làm việc với các hệ thống nuôi trồng thuỷ canh bên trong những container vận tải cũ, cải mục đích có tên là Máy Lá Xanh do Freight Farms bán lại. Tuỳ theo loại cây trồng và các điều kiện, mỗi container có thể thu hoạch đến 22kg rau xanh mỗi tuần, chỉ tốn 30 lít nước mỗi ngày, theo Freight Farms.  Các doanh nghiệp giao rau tươi cho người tiêu dùng ở 80 địa điểm văn phòng trong thành phố, bán các loại đặc sản thông qua một số kênh bán lẻ, và làm việc với tư cách đối tác trực tiếp cùng các nhà hàng. Square Roots chia sẻ 30% tổng doanh thu với các nông gia, lên đến từ 30.000 – 40.000 USD một năm, theo đồng sáng lập viên và CEO Tobias Peggs.  “Ý tưởng là với các kỹ năng họ thu hoạch được từ Square Roots, và kinh nghiệm họ thủ đắc khi điều hành một doanh nghiệp, họ có thể tốt nghiệp một cách đáng tin cậy để thành lập tất cả các loại công ty”, Peggs nói. “Họ có thể tạo dựng các công ty phần cứng thiết kế nhiều ánh sáng hiệu quả hơn cho các nông dân đô thị. Hoặc các công ty phần mềm để liên kết tốt hơn nông dân với người tiêu dùng địa phương. Hoặc các công ty thêm giá trị để đem húng quế trồng được làm xốt pesto”.  Peggs quy cho sự thành công gần đây của công ty do hai yếu tố hàng đầu: hiệu quả cao của các mô đun sản xuất và niềm tin mà công ty xây dựng với nền tảng khách hàng của mình. “Vì chúng tôi đang trồng trọt ba chiều thay vì hai, chúng tôi có thể thu được nhiều thực phẩm từ một mặt bằng nhỏ”, ông nói. “Và luôn luôn là mùa màng trong nhà! Cho dù có nửa thước tuyết trên mặt đất ở bên ngoài, chúng tôi vẫn có thể tạo nên các điều kiện tăng trưởng hoàn hảo bên trong”.  Sự gần gũi của công ty với khách hàng là một thành tố quan trọng trong việc xây dựng niềm tin. “Tại Square Roots, chúng tôi là hàng xóm của khách hàng theo nghĩa đen”, Peggs nói. Ông cũng cho rằng xây dựng niềm tin đòi hỏi minh bạch chủ động. Vì mục đích đó, Square Roots chọn lựa lắp đặt những cửa sổ lớn trên các mô đun để cho người qua lại có thể thấy thực phẩm được trồng như thế nào, và tổ chức các sự kiện mời cộng đồng đến trang trại mỗi tháng một lần, để cư dân đô thị có thể tham quan các nông trại.  “Các khái niệm niềm tin và minh bạch này được gắn chặt vào các giá trị của chúng tôi và vào sản phẩm của chúng tôi”, Peggs nói. “Đó là điều mà người tiêu dùng kỳ vọng vào các công ty thực phẩm hiện đại”.  Hết một năm học tập, các học viên thông qua công việc canh tác thực thụ, chuyển sang doanh nghiệp mùa tiếp theo. Vì các nông gia-doanh nghiệp chỉ ở với công ty một năm, các mô đun sản xuất được thiết kế để dễ hiểu và dễ sử dụng, một sự khác biệt đáng kể so với cường độ kiến thức canh tác truyền thống. Peggs cho biết chương trình đào tạo nhận được hỗ trợ thực chất từ nông nghiệp trưởng Phil Cuddeback của Square Roots và từ các thầy làm nông đã làm việc cho các công ty như Small Hold, Eden Works, Farm.One, và Gotham Greens. Nhóm mười doanh nghiệp đầu tiên được công ty gọi là “Mùa 1”, tốt nghiệp vào cuối tháng 10.2017. Bốn trong số đó đang trong quá trình bắt đầu với doanh nghiệp của họ, hai chuyển vào các công ty chế tạo không gian đô thị nông nghiệp. Hai được Square Roots thuê lại để làm nghiên cứu và phát triển các nỗ lực, và một ở lại làm mùa sản xuất thứ hai tại cơ sở của Square Roots.  Square Roots huy động được 5,4 triệu USD tiền vốn năm 2017 và đang có mục tiêu mở rộng ra 20 thành phố cho đến năm 2020.  Nguyên Thu  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là hướng đầu tư ‘sinh lãi’ nhất !      Người ta thường biết đến Nguyễn Cảnh Bình như một nhà biên soạn sách có uy tín, đồng thời cũng là một doanh nhân thành đạt trong ngành xuất bản sách. Nhưng ít ai ngờ, giám đốc công ty sách Alpha còn “dấn thân” vào một lĩnh vực vô cùng mới mẻ: đào tạo.    Nguyễn Cảnh Bình    “Tôi đã tìm mọi cách hiện thực hóa ý tưởng của mình bằng hai chương trình được tiến hành song song tại Nhật Bản và Việt Nam: IATSS Forum và ABG”, Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ với Tia Sáng.  Từ khi nào anh nhận thấy, lĩnh vực đào tạo con người, cụ thể là nhà lãnh đạo, cũng quan trọng và thôi thúc mình “dấn bước” không kém sứ mệnh phổ biến tri thức?  Thực ra đối với tôi, cả hai lĩnh vực truyền bá tri thức và đào tạo con người luôn đặc biệt quan trọng, đều thôi thúc tôi “dấn bước”. Không phải gần đây, tôi  mới nghĩ đến việc đào tạo nhà lãnh đạo mà ý tưởng ấy đã “nảy mầm” ngay từ khi tôi là sinh viên của Đại học Bách khoa Hà Nội.  Có nhiều ví dụ cho thấy, người lãnh đạo là nhân tố quyết định sự thịnh, suy của một doanh nghiệp, một nền kinh tế, một thể chế, một đất nước. Rõ ràng là ở Việt Nam, Viettel không thể lớn mạnh nếu thiếu Nguyễn Mạnh Hùng, VinGroup không thể “thăng hạng” nếu thiếu Phạm Nhật Vượng. Nhìn ra thế giới, không có Bill Gates, Microsoft có thể “bành trướng” như ngày hôm nay? Không có Steve Jobs, Apple có thể “phủ sóng” toàn cầu? Đó là ở góc độ một công ty, còn đối với một quốc gia thì sao?Singapore có phát triển thần kỳ đến vậy nếu người đứng đầu không phải là Lý Quang Diệu? Hàn Quốc nếu thiếu Tổng thống Park Chung Hee liệu có thể “hóa rồng”? Sự hùng mạnh và sức ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên toàn thế giới phải chăng bắt nguồn từ sự kế thừa liền mạch của rất nhiều “đời” Tổng thống tài ba như: Washington, Bill Clinton, Obama…?  Anh đã “hành động” bằng cách đưa các thanh niên ưu tú của Việt Nam sangNhật tham gia IATSS Forum –  học bổng Lãnh đạo trẻ. Vì sao lại là Nhật chứ không phải một cường quốc khác, như Mỹ chẳng hạn – quốc gia theo tôi biết có nhiều khía cạnh khiến anh ngưỡng mộ và luôn muốn học hỏi?  Trong quá trình tìm kiếm một chương trình đào tạo phù hợp với Việt Nam, tôi may mắn được tiếp cận với IATSS Forum và nhận thấy, học bổng này đã tác động tích cực đến việc đào tạo nhà lãnh đạo cho các quốc gia Đông Nam Á. IATSS ra đời 35 năm trước, từ cuộc trao đổi tại một hội nghị cấp cao giữa Thủ tướng Malaysia -Mahathir Mohamed và người sáng lập tập đoàn Honda của Nhật – Soichiro Honda. Thủ tướng Malaysia đã chia sẻ với ngài Soichiro Honda: “Các quốc gia Đông Nam Á mong muốn đi theo con đường hiện đại hóa như Nhật Bản. Liệu Nhật, với vai trò là quốc gia hùng mạnh nhất châu Á, có thể phát huy trách nhiệm ‘đầu tàu’, dẫn dắt, hỗ trợ các nước Đông Nam Á cùng phát triển không?”. Soichiro Honda chấp nhận lời đề nghị đó và hai năm sau, năm 1985, IATSS Forum chính thức hoạt động với toàn bộ chi phí vận hành do phía Honda tài trợ. Theo đó, hằng năm, các quốc gia Đông Nam Á lựa chọn những học viên có tiềm năng lãnh đạo trong độ tuổi dưới 35, đưa sang Nhật học trong 55 ngày. Họ được đi thực tế tại các doanh nghiệp, cơ quan, tập đoàn; được học về văn hóa Nhật và đặc biệt, học kỹ năng lãnh đạo. Theo tôi biết, sau khi tốt nghiệp, học viên các khóa vẫn giữ liên lạc và hỗ trợ nhau khá hiệu quả. Rất nhiều người trong số họ đã đảm nhận những vị trí quan trọng tại nước mình.  Trước khi anh trở thành Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký IASST Forum tại Việt Nam, đã có 50 người Việt Nam tham gia chương trình tại Nhật, nhưng hiệu quả chưa được như mong đợi. Xin hỏi, anh đã đem đến sự khác biệt tích cực nào cho chương trình?  Tôi tự hào là mình đã góp phần “cải thiện” cả chất lượng lẫn số lượng ứng viên.Việc đầu tiên tôi làm là tìm mọi cách quảng bá, lan truyền, phổ biến về học bổng bằng tất cả các kênh có thể tận dụng, đặc biệt là mạng xã hội như facebook, fanpage chính thức của chương trình và các báo mạng…Ngoài ra, tôi liên hệ với Trung ương Đoàn; gửi công văn đến 63 tỉnh, thành trong cả nước, từ UBND, Tỉnh đoàn đến Hiệp hội Doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn, Bí thư Đoàn, Chủ tịch Hội sinh viên các trường đại học. Và trong từng câu, từng chữ, tôi cố gắng truyền tải một thông điệp mạnh mẽ nhất có thể về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của chương trình. Kết quả: Số lượng hồ sơ tăng vọt. Cụ thể: Trước đây, mỗi năm, ban tuyển chọn chỉ nhận được khoảng 15 đến 30 hồ sơ, chủ yếu đến từ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Sau khi tôi tiếp quản, năm 2015, có 55 hồ sơ. Năm 2016 có 145 hồ sơ, hơn gấp đôi so với năm ngoái và gấp 10 lần trong năm năm trở lại đây.  Số lượng hồ sơ tăng thì tất nhiên, chất lượng ứng viên cũng tăng. Những năm trước, học viên Việt Nam sang Nhật chủ yếu là các chuyên viên, nhà nghiên cứu làm việc tại các viện nghiên cứu của nhà nước. Còn hiện tại, đã có các ứng viên đến từ Sở Nội vụ, Sở Ngoại vụ các tỉnh; có các cán bộ tỉnh, bí thư đơn vị; một số bạn làm ở các tổ chức phi chính phủ; nhiều cá nhân đến từ các doanh nghiệp lớn như Toyota, Becamex Bình Dương, Castrol… Về kết quả học tập, lượt học viên đầu tiên chúng tôi gửi sang Nhật đạt thành tích xuất sắc, được đánh giá nằm trong top đầu. Tới đây, tôi sẽ đề nghị phía Nhật tăng số học viên cho Việt Nam cũng như triển khai một số hoạt động tại nước ta. Chẳng hạn, tôi đang rất mong một ngày không xa, Việt Nam đăng cai một diễn đàn đối thoại giữa các nhà lãnh đạo trẻ của Đông Nam Á.  Mỗi khóa đào tạo chỉ có bốn ứng viên Việt Nam được chọn sang Nhật trong khi số lượng hồ sơ gửi về ngày một tăng. Nếu gặp phải trường hợp các ứng viên đều “một chín, một mười”, anh sẽ dựa vào điểm nào để tìm ra người thực sự có tiềm năng lãnh đạo?  Tôi phải nói rõ, tôi không có toàn quyền lựa chọn bốn ứng viên cuối cùng. Ở vòng loại, sau khi nhận được hồ sơ, tôi sẽ mời một số nhà lãnh đạo, các doanh nhân… cùng tôi lựa chọn từ 20 đến 30 hồ sơ gửi sang Nhật. Phía bạn tiếp tục đánh giá hồ sơ. Sau đấy, một đoàn chuyên gia Nhật Bản sẽ đến Việt Nam, tiến hành phỏng vấn từng ứng viên một cách rất cẩn trọng để chọn ra bốn học viên xuất sắc nhất.  Còn nếu nói đến tiêu chí của riêng tôi, tôi luôn ưu tiên những người đã có đóng góp cho xã hội và bộc lộ khả năng lãnh đạo, có thể là thủ lĩnh của một nhóm bạn trẻ (nhỏ thôi) trong trường đại học, là người đứng đầu một nhóm sinh viên trong các hoạt động văn hóa, thể thao, thiện nguyện…  Ngoài IATSS Forum, anh còn sáng lập và điều hành ABG–một chương trình có ý nghĩa tương tự. Mục đích của ABG là gì?  Với tôi, một nhà lãnh đạo tài năng, bên cạnh vốn kiến thức về tài chính, nhân sự, marketing còn phải am hiểu về cội nguồn, truyền thống, kho tàng văn hóa phi vật thể của đất nước. IATSS không làm được điều này; và bởi thế, ABG ra đời.  Để xây dựng ABG, tôi đã tham khảo cách thức đào tạo nhà lãnh đạo của rất nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Mỹ… Trong một chuyến công tác tại Nhật Bản, tình cờ tôi biết về một ngôi trường đào tạo lãnh đạo do người đứng đầu tập đoàn Panasonic – Matsushita Konosuke sáng lập vào năm 1979. Matsushita là người cực kỳ sáng suốt và có tầm nhìn xa. Ngay trong lúc Nhật Bản đang trên đỉnh cao, ông đã nói: “Tôi thấy một ngày không xa, nước Nhật lâm nguy, rơi vào một cuộc khủng hoảng tồi tệ”. Ông tự thấy mình phải có trách nhiệm đào tạo những nhân tài có đủ năng lực đưa nước Nhật vượt qua giai đoạn “đen tối”.  Học viện Matsushita có quy trình đào tạo vô cùng khắt khe. Mỗi khóa học kéo dài bốn năm với 10 đến 12 học viên đã tốt nghiệp các đại học hàng đầu Nhật Bản và phải trải qua nhiều vòng xét tuyển gắt gao về thể lực, bản lĩnh, tầm nhìn. Sau khi trúng tuyển, mỗi học viên có một buổi gặp riêng hiệu trưởng để chia sẻ về lĩnh vực muốn theo đuổi cũng như chiến lược hành động của mình. Thầy hiệu trưởng, bằng kinh nghiệm sâu sắc và vốn kiến thức uyên thâm, sẽ cùng học viên xây dựng một kế hoạch học tập phù hợp nhất. Tức là, mỗi người có một chương trình học tập riêng. Ai chuyên về nông nghiệp sẽ đi thực tế tại các trang trại lớn, được cử vào thực tập tại Bộ Nông nghiệp, được tham dự các hội thảo chuyên ngành. Ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính sẽ có  cơ hội gặp gỡ, thảo luận với các chuyên gia hàng đầu, thậm chí cả thứ trưởng Bộ Tài chính. Tại Matsushita, tất cả học viên đều phải tự học, tự thực hành, tự tích lũy kinh nghiệm dưới sự tham vấn của thầy hiệu trưởng. Tất cả học viên đều có cơ hội trực tiếp trao đổi với các nhà hoạch định chính sách của đất nước. Trên bàn thảo luận, họ được đối xử như những nhà lãnh đạo thực sự và được khuyến khích chất vấn các khách mời đặc biệt, bao gồm: thứ trưởng, thị trưởng, chủ tịch các tập đoàn…  Ngoài kiến thức chuyên ngành, học viên còn phải hiểu rõ lịch sử, văn hóa Nhật Bản và phải chăm chỉ rèn luyện thể lực. Hai năm học đầu, họ tham gia những khóa huấn luyện trong quân đội. Còn tại Học viện, mỗi sáng, họ luôn tự giác dậy sớm chạy bộ, cào tuyết, dọn vệ sinh. Họ cũng được học kiếm đạo và trà đạo giúp tôi luyện ý chí, sức mạnh, bản lĩnh, rèn giũa lòng kiên nhẫn và sự trân trọng truyền thống dân tộc. Đến nay, trong số các học viên đã tốt nghiệp học viện Matsushita, có một người trở thành Thủ tướng Nhật Bản, 70 người là nghị sĩ Quốc hội, 10 người là Bộ trưởng các Bộ. Ngoài ra, có 100 người là CEO các tập đoàn lớn, nhiều người khác là lãnh đạo các địa phương. Không ít học viên lại chọn con đường nghệ thuật, trở thành các nghệ sĩ nổi tiếng.  Sau chuyến thăm quan học viện Matsushita, tôi quyết tâm xây dựng ABG tại Việt Nam.  Có thể thấy, tuy hình thành từ ý tưởng của một cá nhân nhưng học viện Matsushita có tiềm lực rất lớn và nhận được sự hậu thuẫn của Chính phủ Nhật Bản, còn  với ABG ra đời từ sự “tự thân vận động” của Nguyễn Cảnh Bình. Anh đã phải có những điều chỉnh gì khi áp dụng mô hình đào tạo này vào Việt Nam?  Tất nhiên, chúng tôi không đủ sức tạo dựng một học viện như Matsushita ở Việt Nam. Chúng tôi chỉ có thể học tập cách thức tổ chức và phương pháp đào tạo của Matsushita để xây dựng một chương trình phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Năm 2014, ABG tuyển sinh khóa một với 20 học viên ở độ tuổi từ 20 đến 25. Khi xét tuyển, chúng tôi không coi trọng bảng điểm mà quan tâm hơn đến kiến thức xã hội của ứng viên, đặc biệt là ý chí và kế hoạch hành động trong tương lai, sau khóa học 12 tháng, đã có 14 học viên tốt nghiệp.  Về chương trình đào tạo, tôi cố gắng áp dụng nguyên vẹn phương pháp của Matsushita. Chúng tôi có một thư viện với hàng ngàn đầu sách để học viên tự tra cứu, đọc, phân tích, tổng hợp và tích lũy kiến thức. Chúng tôi cũng thường xuyên cử học viên tham gia các hội thảo lớn và mời các chuyên gia hàng đầu đến nói chuyện, khuyến khích các bạn tranh luận cùng diễn giả. Tôi nhận thấy, học viên của ABG hết sức thích thú khi có cơ hội đàm đạo cùng những nhân vật nổi tiếng thuộc nhiều lĩnh vực, thậm chí, được nghe họ chia sẻ về những “góc khuất”, những khó khăn, trục trặc trong sự nghiệp. Những câu chuyện thực tế đó giúp các bạn trẻ trưởng thành lên rất nhiều. Học viên cũng rất phấn khích khi được đi thực tế. Các bạn đạp xe đến làng cổ Đường Lâm, tự liên hệ ăn ở nhà người dân dưới sự cho phép của chính quyền địa phương trong khoản kinh phí 50.000đ/ngày. Học viên tự chia ra các nhóm như: văn hóa-lịch sử, giáo dục và kinh và tự tiến hành công tác điều tra, khảo sát. Tôi muốn các bạn hiểu được cuộc sống vất vả của người nông dân, thậm chí nhận thấy mặt trái của nhiều vấn đề đang diễn ra tại nông thôn Việt Nam.  Tôi cũng cho học viên vào thăm quan nhà Quốc hội, đến các khách sạn năm sao, học cách thắt nơ, cách uống rượu, học cách cầm thìa, dĩa, … và thậm chí phải học cả cách viết sổ lưu niệm.  Bởi tôi cho rằng, luyện rèn phong thái của một nhà lãnh đạo là điều vô cùng quan trọng. Nếu không nắm rõ những nghi lễ ngoại giao, rất dễ lúng túng rồi mất tự tin. Như tôi, dùcó thể thoải mái thảo luận công việc với các đối tác nước ngoài; nhưng lần đầu tiên bước vào phòng khánh tiết, tôi đã bị bỡ ngỡ trước những nghi lễ ngoại giao trang trọng, vì có ai dạy mình đâu. Tôi muốn học viên của mình không chỉ am hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam mà còn phải có sự hiểu biết nhất định về lịch sử và các nền văn minh lớn của thế giới. Trong những cuộc gặp ngoại giao, nếu không thể hiện được tầm vóc văn hóa và phông kiến thức sâu rộng của mình thì sẽ khó người khác vị nể.  Do phương pháp đào tạo, đa số sinh viên Việt Nam có thói quen học thụ động và “dựa dẫm” vào thầy. Các học viên của ABG có mắc phải nhược điểm này?Và điều khiến tôi tò mò hơn cả, anh có hài lòng với kết quả học tập của khóa một?  Nhìn nhận một cách khách quan, mỗi một học viên của ABG đã thay đổi rất nhiều theo hướng tích cực so với chính mình ở “đầu vào”. Nhưng, vẫn có quá nhiều điểm khiến tôi không hài lòng. Thứ nhất, học viên chưa đủ nỗ lực và tính kỷ luật.Ví dụ, tôi yêu cầu các bạn phải đọc sách, không phải là đọc “chơi” mà phải viết cảm nhận, tự rút ra ý nghĩa của cuốn sách. Chỉ vài người hoàn thành nhiệm vụ. Không phải ai cũng nhận ra tầm quan trọng của diễn thuyết, hùng biện hay dẫn dắt tranh luận mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng cần phải có.  Thứ hai, về sức khỏe, các em chưa đáp ứng được tiêu chuẩn tôi đề ra. Chạy bộ một vòng hồ Tây (khoảng 15km): nam chạy trong 90 phút, nữ 120 phút. Chỉ tạm ổn! Tôi quan niệm, sức khỏe và tri thức như đôi chân của một con người. Chân nào yếu cũng khiến ta mất thăng bằng. Một nhà lãnh đạo còn phải làm việc 24/24 giờ trong áp lực. Không có sức khỏe không thể tập trung và giữ được trí óc minh mẫn.  Thứ ba, tôi chưa hài lòng về kết cấu nội dung học tập và trải nghiệm thực tiễn của chương trình nên muốn có sự thay đổi.  Thứ tư, tôi chưa hài lòng về chính mình.Tôi chưa dành đủ thời gian và sự quan tâm sát sao đến các học viên.  Tóm lại, rất nhiều điều tôi muốn làm trong khóa một mà chưa làm được và sẽ tìm cách cải thiện ở khóa hai, vừa khai giảng ngày 14-8 với 39 học viên. Thực ra, những khóa đầu tiên, chúng tôi vẫn đang ở bước thử nghiệm. Qua quá trình trải nghiệm này, chúng tôi mới có thể tìm ra một mô hình đúng đắn cho ABG.  Với các học viên đã tốt nghiệp khóa một ABG và cả các khóa sau này, anh có kế hoạch hỗ trợ, thúc đẩy họ tiến bước hay để các bạn trẻ “tự bơi”, tự tìm đường “vượt vũ môn”?  Đào tạo một nhà lãnh đạo cần một quá trình dài chứ không phải một khóa học là xong. Tại ABG, chúng tôi chỉ có thể trang bị cho các bạn những kỹ năng mà mỗi nhà lãnh đạo bắt buộc phải có, cũng như chỉ có thể đánh thức tiềm năng lãnh đạo trong các bạn. Tuy nhiên, tôi có kế hoạch hỗ trợ cựu học viên và tạo nên một cộng đồng các nhà lãnh đạo tiềm năng. Cứ mỗi quý, tôi sẽ tổ chức một buổi gặp mặt, để xem các bạn đang làm gì, thiếu những nguồn lực gì, cần giúp đỡ những gì? Mỗi năm, tôi muốn tổ chức một đại hội. Học viên của tất cả các khóa sẽ gặp gỡ, trao đổi, tìm cách hỗ trợ nhau phát triển. Đây là cách người Nhật vẫn thực hiện. Những chương trình đại hội kiểu này kéo dài cả ngày, ngoài cựu học viên còn có các doanh nhân và các nhà lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo cũng hào hứng không kém các cựu học viên, bởi là người dẫn đầu, họ luôn cần một đội ngũ đi theo mình, luôn muốn tìm kiếm những nhân tài cho các dự án mới, các ý tưởng mới. Tôi rất hi vọng, một mạng lưới cộng sự sẽ được hình thành từ các cuộc gặp mặt cựu học viên của ABG. Thay cho card visit, các bạn sẽ trao đổi cho nhau những bản tóm lược sở trường cá nhân, những kế hoạch đang triển khai, những trục trặc trong công việc, những ý tưởng cho tương lai… và tất cả sẽ được tập hợp thành kỷ yếu. Với tôi, đó mới là kỷ yếu đúng nghĩa. Dựa vào đây, các doanh nhân và các học viên sẽ kết nối với nhau, tạo nên các nhóm cộng sự.  Ngoài ra, tôi đã đề nghị học viện Matsushita tiếp nhận học viên Việt Nam. Phía bạn đã đồng ý nhưng với hai điệu kiện: i) Học viên Việt Nam chỉ được học tại Matsushita trong sáu tháng. ii) Họ phải được ngài Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản tiến cử. Cả hai điều kiện này, tôi nghĩ, mình đều có thể đáp ứng. Một ngày không xa, nhất định, tôi sẽ đưa các học viên ABG đến Matsushita!  Xin cảm ơn anh!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặt cảm biến ở sân bay để phát hiện virus      Thông qua  ứng dụng công nghệ kỹ thuật số người ta có thể phản ứng tốt hơn và nhanh hơn đối với dịch bệnh – Corona. Giờ đây các nhà nghiên cứu kêu gọi cần trang bị công nghệ và một hệ thống cảnh báo sớm đại dịch trên toàn cầu.    Các nhà khoa học Đức kiến nghị thiết lập hệ thống cảnh báo sớm đối với đại dịch và kiên quyết số hóa hệ thống y tế của Đức. Viện Hàn lâm Khoa học kỹ thuật Đức (Acatech) nhận nhiệm vụ của Bộ Y tế Đức  đã tiến hành một nghiên cứu về vấn đề này. Giáo sư Thomas Lenarz, trường Cao đẳng Y tế Hannover, là một trong hai người phụ trách nhiệm vụ này.    Trong báo cáo có đề cập đến việc xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn cầu sớm. Ví thử cách đây một năm chúng ta đã có một hệ thống như vậy thì điều gì sẽ diễn ra tốt hơn?  Chúng ta chắc chắn sẽ biết sớm hơn đại dịch sẽ có tầm vóc như thế nào, nếu như châu Âu có một không gian dữ liệu chung. Những ca nhiễm virus corona đầu tiên ở Ý xuất hiện sớm hơn nhiều sau đó các phương tiện truyền thông mới đề cập tới. Nếu như nhà chức trách Đức hồi đó nhận được thông tin nhanh hơn thì người ta có thể thực hiện các biện pháp bảo vệ sớm hơn. Hệ thống tổ chức ở nước ta khá cổ điển và từ đó đến nay tiếc rằng cũng không thay đổi hơn bao nhiêu. Các sở y tế trong cả nước thu thập số liệu – người ta có thể nói cách làm rất thủ công, với một cái bút chì và một tờ giấy – và sau đó gửi tới Viện Robert-Koch (RKI). Loại báo cáo này vừa chậm chạp vừa ẩn chứa nhiều sai lầm. Do đó trong báo cáo của mình mính tôi yêu cầu rất rõ ràng, thu thập dữ liệu và gửi báo cáo trong tương lai phải thực hiện hoàn toàn trên cơ sở kỹ thuật số.  Lập luận của ông bắt đầu từ vụ bùng phát Corona ở Ý. Một hệ thống cảnh báo sớm toàn  cầu thì đáng ra phải báo động sớm hơn nhiều – trong trường hợp này phải báo động từ vụ Corona đầu tiên ở Trung Quốc mới đúng?  Tất nhiên chúng ta cần có một sự hợp tác toàn cầu. Ở đây, đầu tiên phải nói đến WHO, cũng cần nói rằng tổ chức này lệ thuộc vào việc cung cấp dữ liệu của các nước. WHO chỉ có thể đánh giá đúng các dữ liệu nếu chúng được thu thập theo một tiêu chí thống nhất. Tiếc rằng cho đến nay lại không được như vậy. Ngay cả ở châu Âu cũng không. Tại châu lục của chúng ta Trung tâm châu Âu kiểm soát bệnh tật (ECDC) ở Stockholm đảm nhận công tác điều phối. Tuy nhiên mỗi nước ở châu Âu lại thu thập và xử lý dữ liệu rất khác nhau sau đó gửi chúng với các định dạng khác nhau tới Stockholm. Chúng ta nhất thiết phải có một sự hài hòa đối với châu Âu. Hơn nữa chưa có quy định thật sự rõ ràng về thẩm quyền của ECDC.  Liệu đại dịch corona ở châu Âu có diễn biến cơ bản khác đi, nếu chúng ta có một hệ thống cảnh báo sớm tốt hơn?  Diễn biến của đại dịch đương nhiên phụ thuộc chủ yếu vào các biện pháp chống dịch mà người ta thực hiện. Trong trường hợp của corona, lúc đầu người ta nghĩ rằng, chắc nó cũng không ghê gớm lắm. Các dịch bệnh trước đó cũng diễn ra nhẹ nhàng và châu Âu đã tránh được. Đã có một sự đánh giá sai lầm chết người đối với loại virus mới này. Nếu chúng ta có một hệ thống cảnh báo sớm tốt, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra số trường hợp mắc bệnh ở các vùng riêng lẻ tăng lên đáng kể như thế nào.  Có ý kiến nên lắp đặt các cảm biến trên khắp thế giới để giám sát vi sinh vật sau đó có thể lập tức phát báo động qua mạng 5G nếu như đâu đó có vấn đề khả nghi. Giáo sư đánh gía một hệ thống báo động sớm, tự động như thế, thế nào?  Rất hay. Lợi thế của một hệ thống như vậy là ở chỗ nó không bị lệ thuộc vào mỗi người và có một tốc độ rất nhanh. Về kỹ thuật điều này có thể sớm được đưa vào sử dụng.  Thưa giáo sư, việc này tiến triển đến đâu rồi?  Về công nghệ, cơ bản đã được thử nghiệm. Với các cảm biến chuyên dụng có thể tự động xác định được các loại mầm bệnh trong không khí. Điều này hoạt động tốt đối với các loại mầm bệnh mà người ta đã biết. Đối với các loại vi sinh vật mới việc nhận diện còn là một thách thức lớn, tuy nhiên không phải là không làm được. Những hệ thống giám sát thường trực này sẽ được lắp đặt ở những vị trí trung tâm, đông người qua lại – thí dụ như tại các sân bay hay ở các thành phố lớn. Chắc chắn không lâu nữa sẽ xuất hiện các hệ thống này ở Trung Quốc.  Thế còn ở ta?  Đối với Đức những đổi mới như thế này thường hay bị cản trở bởi quy chế bảo vệ dữ liệu.  Nhưng mà các cảm biến có thu thập dữ liệu liên quan đến cá nhân nào đâu, có nghĩa là về khía cạnh này nó không có gì đáng ngại?  Về nguyên tắc là vậy. Tuy thế người ta vẫn phải chứng minh và ghi lại để theo dõi. Bởi vì có thể người ta lấy dữ liệu từ hơi (sol) rồi ghép vào một người cụ thể nào đó, kẻ vừa đi qua chỗ gắn cảm biến đó. Khi đó người ta về lý thuyết có thể nói, kẻ đó bị một bệnh truyền nhiễm nhất định.  Nhưng mà nếu được thế thì tốt quá, khi thông qua cách này có thể xác định ngay người bị lây nhiễm?  Đúng ra là thế. Qua đó người ta có thể chặn đứng việc lây lan mầm bệnh. Nhưng ở đây vẫn phải chú ý đến những quy định hiện hành về bảo vệ dữ liệu. Cuối cùng thì trong không gian chính trị phải cân nhắc giữa bảo vệ dữ liệu và việc bảo vệ đại bộ phận công chúng.  Liệu các doanh nghiệp Đức có được hưởng lợi từ xuất khẩu các hệ thống cảnh báo sớm như thế này không, thưa giáo sư?   Cái đó là hy vọng của chúng ta. Ở nước mình có những công nghệ tuyệt hảo  chuyên dùng để xác minh  các hạt nano – tức virus. Nhưng trước khi nghĩ tới xuất khẩu các hệ thống này, chúng ta phải có những trải nghiệm ngay ở nước mình.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus227068017/Fruehwarnsystem-So-sollen-drohende-Pandemien-frueher-erkannt-werden.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặt cược cả Trái đất  vào sự rủi ro      Cuộc khủng hoảng hạt nhân Fukushima của Nhật Bản và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là hai thảm họa có cùng nguyên nhân: Các nhà quản lý và các nhà chính trị lừa dối xã hội về nguy cơ rủi ro của những thảm họa này. Họ không chỉ vô trách nhiệm trong nhiệm vụ của mình mà còn là những kẻ trục lợi từ việc duy trì nguyên trạng. Họ tiếp tay cho việc hình thành và duy trì một hệ thống giúp họ kiếm tiền đồng thời bảo vệ họ khỏi bị truy tố, một hệ thống nhằm xã hội hóa các tổn thất và tư nhân hóa những thắng lợi. Họ đặt cược cả Trái đất trong canh bạc lợi cho số ít và chắc chắn thiệt hại cho tất cả.      Những hậu quả của trận động đất tại Nhật Bản, đặc biệt là cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn tại nhà máy điện nguyên tử Fukushima một lần nữa cảnh báo những người chứng kiến cuộc đổ vỡ tài chính Mỹ về một kết cục dẫn tới Đại Suy thoái. Cả hai sự kiện này đều cung cấp những bài học nhãn tiền về sự rủi ro và về khả năng kiểm soát kém cỏi như thế nào của thị trường cũng như của xã hội đối với những sự cố như vậy.   Tất nhiên trong một chừng mực nhất định thì không thể so sánh thảm họa động đất, một sự cố làm 25.000 người chết và mất tích với khủng hoảng tài chính trong đó chẳng có sự quy trách nhiệm nào với những thiệt hại đau sót nào về vật chất. Nhưng khi nói đến nguyên liệu hạt nhân bị tan chảy tại nhà máy điện Fukushima thì cả hai sự kiện đã xuất hiện một vấn đề chung.  Các chuyên gia của cả ngành hạt nhân và tài chính đều đảm bảo với chúng ta rằng công nghệ hiện đại đã loại trừ được tất cả những rủi ro thảm họa. Nhưng qua hai vụ việc trên chứng tỏ họ đã sai. Rủi ro không chỉ vẫn tồn tại mà những hậu quả của chúng còn lớn đến nỗi có thể dễ dàng xóa sạch những lợi ích mà những người đứng đầu lĩnh vực này từng quảng bá.   Trước Đại Suy thoái, những người có uy tín kinh tế lớn của Mỹ, từ người đứng đầu Quỹ dự trữ Liên bang cho đến lãnh đạo các tập đoàn tài chính khổng lồ đều khẳng định rằng chúng ta đã học được việc khống chế rủi ro. Những “phát kiến sáng tạo” tài chính như công cụ phái sinh và hợp đồng hoán đổi tín dụng đã phân tán sự rủi ro ra khắp cả nền kinh tế. Bây giờ chúng ta biết rằng họ đã không chỉ đánh lừa cả xã hội mà thậm chí còn đánh lừa chính họ nữa.  Rốt cuộc là các thầy phù thủy tài chính này đã không hiểu sự phức tạp của rủi ro. Đơn cử sự nguy hiểm xuất hiện trong trường hợp “phân phối bất thường” (fat-tail distributions). Đây là một khái niệm thống kê đôi khi còn được gọi là “thiên nga đen”1 (black swan), chỉ những sự cố hiếm khi xảy ra nhưng mang lại hậu quả nghiêm trọng. Những sự cố được giả định là xảy ra một lần trong một thế kỷ hoặc thậm chí một lần trong quãng thời gian tồn tại của vũ trụ thì lại xảy ra trong từng thập kỷ. Tệ hại hơn nữa, không chỉ tần suất của những sự cố kiểu này được ước tính thấp đi mà những tổn thất vô cùng lớn mà những sự cố ấy gây ra cũng được ước tính như vậy. Điều này gần giống với những tổn thất do sự cố tan chảy các thanh nhiên liệu hạt nhân nguy cơ thường trực dai dẳng trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân.  Nghiên cứu về kinh tế học và tâm lý học giúp chúng ta hiểu tại sao việc quản lý rủi ro lại tồi tệ như vậy. Chúng ta có quá ít cơ sở thực chứng để đánh giá những vụ việc hiếm khi xảy ra, cho nên khó có thể có những ước tính sát thực. Trong bối cảnh ấy, những suy nghĩ quá bay bổng có thể xuất hiện, những suy nghĩ đó gây ra cho người khác tổn thất, thì họ lại ủng hộ việc tự dối mình. Một hệ thống nhằm xã hội hóa các thua thiệt và tư nhân hóa những lợi nhuận sẽ đương nhiên là hệ thống ấy không chủ trương khống chế rủi ro.  Thực tế, toàn bộ khu vực tài chính luôn tồn tại thịnh hành vấn đề chủ-tớ và ngoại ứng. Các tổ chức xếp hạng uy tín thường có động cơ xếp hạng cao cho các loại chứng khoán nhiều rủi ro được các ngân hàng đầu tư là phía trả tiền cho các tổ chức xếp hạng này phát hành. Những người thế chấp khởi thủy không phải chịu hậu quả từ việc làm vô trách nhiệm của họ và kể cả những người tham gia vào việc cho vay tiền một cách tà tâm, hoặc tạo ra và bán ra thị trường những chứng khoán được thiết kế với dụng ý để chộp giựt đều làm theo cách có thể bảo vệ họ khỏi bị truy tố dân sự và hình sự.  Điều này dẫn chúng ta đến câu hỏi tiếp theo: liệu còn những sự cố “black swan” sắp xảy ra chăng? Thật không may là hầu hết trong số những rủi ro ghê gớm mà chúng ta đang gặp phải hiện nay không phải là những sự cố hiếm hoi. Những rủi ro này có thể được khống chế với chi phí rất nhỏ hoặc không tốn kém gì. Nhưng để làm được điều đó thì sẽ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ những người đang trục lợi từ nguyên trạng.  Trong những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến hai trong số những rủi ro lớn nhưng chẳng có gì đáng kể được tiến hành để khống chế tình trạng ấy. Một số quan điểm còn cho rằng cách thức xử lý cuộc khủng hoảng vừa qua có thể làm tăng sự rủi ro cho một thảm họa “tan chảy” tài chính trong tương lai.  Những ngân hàng “quá to đến mức không thể thất bại” (too-big-to fail) và những thị trường mà họ tham gia hiện nay hiểu rằng họ có thể trông chờ vào sự cứu trợ nếu gặp vấn đề rắc rối. Hậu quả của tình trạng “rủi ro đạo đức” này là những ngân hàng ấy có thể vay bằng các điều khoản ưu đãi, cho phép họ có lợi thế cạnh tranh không dựa trên ưu thế kinh doanh mà dựa trên sức mạnh chính trị. Trong khi một số rủi ro quá mức đã giảm thì việc cho vay có tà ý và việc mua bán chứng khoán phái sinh ngoài sổ sách, ngoài quy chế vẫn tiếp tục. Cơ cấu khuyến khích sự lạm dụng rủi ro vẫn thực sự tồn tại và hầu như chẳng có gì thay đổi.  Cũng như vậy, khi mà nước Đức đóng cửa những lò phản ứng hạt nhân cũ thì ở Mỹ và nhiều nơi khác, nhiều lò phản ứng được thiết kế giống như lò bị tan chảy ở Fukushima vẫn tiếp tục vận hành. Sự tồn tại của ngành hạt nhân phụ thuộc vào những trợ cấp công cộng bị che dấu, đó là các chi phí mà xã hội gánh chịu khi thảm họa hạt nhân xảy ra, cũng như các phí tổn để loại bỏ chất thải hạt nhân chưa xử lý – điều mà chưa có lời giải. Như vậy là chẳng còn gì để nói đối với chủ nghĩa tư bản bất kham này!   Đối với hành tinh này, còn có thêm một rủi ro nữa có cùng đặc điểm như hai rủi ro trên và hầu như chắc chắn xảy ra, đó là sự nóng lên và biến đổi khí hậu toàn cầu. Nếu có những hành tinh khác nữa mà chúng ta có thể chuyển đến ở với chi phí thấp trong trường hợp dự đoán trên của các nhà khoa học xảy đến thì sẽ có người lập luận rằng đây là rủi ro đáng chấp nhận. Nhưng không có hành tinh nào để thay thế và như vậy rủi ro này không chấp nhận được.  Chi phí cho việc giảm bớt phát thải trở nên nhỏ bé khi so sánh với những rủi ro tiềm tàng mà thế giới phải đối mặt. Điều này vẫn đúng kể cả khi chúng ta không tính tới rủi ro hạt nhân (chi phí trong lĩnh vực này luôn bị tính thấp). Chắc chắn rằng các công ty than đá và dầu lửa sẽ phải gánh chịu và các nước có lượng phát thải lớn như Mỹ sẽ phải chi trả cao hơn so với những nước có cách sống ít hoang toàng hơn.  Tóm lại, những người đánh bạc ở Las Vegas mất nhiều hơn là thắng. Với tư cách là một xã hội, chúng ta đang đánh bạc với các ngân hàng khổng lồ, các cơ sở năng lượng hạt nhân và với Trái đất của chúng ta. Giống như ở Las Vegas, có rất ít người may mắn, đó là những ông chủ nhà băng, người đã đặt cược nền kinh tế của chúng ta vào sự rủi ro, và những ông chủ cơ sở năng lượng hạt nhân, người đã đặt cược Trái đất của chúng ta vào sự rủi ro. Nhưng chúng ta là một xã hội, giống như toàn bộ những kẻ đánh bạc ở mặt bằng chung và chắc chắn là sẽ thua thiệt.                 BÙI ĐẠI DŨNG dịch    ————-  * Joseph E. Stiglitz: giáo sư Đại học Columbia, một nhà kinh tế học lỗi lạc của thế giới, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2001.  2 “Thiên nga đen”: Một khái niệm do Nassim Nicholas Taleb, một nhà triết học người Mỹ gốc Li băng đưa ra năm 2007 chỉ một sự cố xảy ra có độ lệch vượt ra ngoài phân phối xác suất thông thường, là trường hợp cực kỳ khó dự đoán (ND).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặt người giúp việc qua mạng      Thông qua trang web và ứng dụng di động của mình, công ty Handy, có trụ sở ở New York, cho phép công chúng dễ dàng đặt những người giúp việc đã qua thẩm định đến làm các công việc vặt như lau dọn nhà cửa, sửa chữa và lắp đặt đồ đạc.    Nếu bạn cần một thợ sửa ống nước, hay thậm chí là chỉ cần người giúp lắp ghép một vật dụng gì đó cho mình, bạn chỉ cần điền vào một đơn điện tử miêu tả công việc, thời gian và địa điểm bạn cần giúp. Công ty Handy sẽ báo giá để bạn trả tiền ngay lúc đó. Sau đó đến thời gian bạn cần, một người thợ được đăng ký và chứng nhận bởi công ty Handy sẽ có mặt ở nhà bạn.  Hiện nay, dịch vụ của Handy đã có mặt ở 25 thành phố ở Mỹ, hai thành phố ở Canada . Năm ngoái dịch vụ này bắt đầu được tung ra ở Anh tại năm thành phố lớn. Với doanh thu hiện tại khoảng 108 triệu USD mỗi năm, Handy có hàng trăm nghìn khách hàng và hơn 5000 nhân viên chuyên nghiệp.  Có được sự mở rộng nhanh chóng như vậy là nhờ vào vốn đầu tư 45 triệu USD và chính sách trở thành nhà cung cấp dịch vụ này lớn nhất và nhanh nhất, để loại bỏ bất cứ đối thủ cạnh tranh tiềm năng nào. Các đối thủ khác như công ty Mopp của Anh cũng đã bị Handy mua lại. Oisin Hanrahan, ông chủ và đồng sáng lập Handy, cho biết, điều cốt lõi để thu hút khách hàng tới dịch vụ này là đội ngũ nhân viên lao động phải luôn sẵn có. Chính vì vậy mà họ phải trở thành công ty lớn nhất để sở hữu số nhân viên lớn nhất trên thị trường.  Ý tưởng kinh doanh được khơi nguồn từ… sự bừa bộn  Công ty Handy được sáng lập bởi Oisin Hanrahan, 31 tuổi và Umang Dua, 28 tuổi, vào năm 2012 khi họ là bạn cùng nhà ở Boston. Cả hai lúc đó đều đang học ở Harvard Business School và gặp nhiều khó khăn để tìm được một người đáng tin cậy có thể lau dọn, sửa chữa căn hộ sinh viên bừa bộn của mình.  Từ khó khăn riêng đó, Hanrahan và Dua đã nảy ra ý tưởng về dịch vụ đặt nhân viên lau dọn trực tuyến. Họ bỏ dở khóa học để bắt tay vào thành lập công ty Handy vào năm 2012.  Hanrahan cho biết, trong kinh doanh, tốc độ là tối quan trọng. Cảm nhận được rằng người dân trong thời đại này đang ngày càng hướng đến việc mua các dịch vụ qua mạng và ứng dụng di động, hai nhà sáng lập quyết định phải nắm lấy thời cơ thật nhanh để đi trước những công ty có cùng ý tưởng.  Chỉ trong vài tuần, họ đã có trong tay nguồn vốn 50000 đô-la từ một công ty đầu tư mạo hiểm, và nhận một khoản 2 triệu đô-la nữa vào tháng 9 năm 2012.   Ban đầu công ty có trụ sở ở Boston, nhưng sau đó nhanh chóng chuyển về New York bởi Hanrahan nhận thấy tầm quan trọng của việc phải đóng đô ở thành phố có thị trường lao động lớn nhất ở Mỹ. Sau một số quảng cáo tập trung, vài trăm nhân viên lao động đầu tiên đã đăng ký, số lượng khách hàng cũng dần tăng nhanh. Chẳng mấy chốc, dịch vụ bắt đầu lan tỏa sang các thành phố khác ở Mỹ và Canada.    Hệ thống phản hồi    Với hơn 200 nhân viên kỹ thuật và hành chính, Handy kiểm tra và xét duyệt trước từng người lao động đăng ký. Mỗi người đều phải điền vào một đơn dự tuyển trực tuyến, thực hiện một cuộc phỏng vấn qua điện thoại và sau đó là phỏng vấn trực tiếp.  Handy cũng kiểm tra tiểu sử của người dự tuyển để đảm bảo rằng họ không có tiền án tiền sự gì.  Các nhân viên lao động sau đó có thể chọn việc trên trang web của Handy theo chế độ ai chọn trước sẽ được nhận việc đó. Handy lấy 20% số tiền công.  Sau khi công việc đã được thực hiện xong, khách hàng được yêu cầu cho công ty ý kiến phản hồi về dịch vụ và đánh giá nhân viên theo thang điểm 10. Những nhân viên thường xuyên bị cho điểm thấp sẽ bị loại bỏ khỏi hệ thống dịch vụ. Mặt khác, các nhân viên lao động cũng có quyền báo cáo nếu khách hàng hành xử thô lỗ hoặc lạm dụng mình.         Khánh Minh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu cơ là nguyên nhân đội giá lương thực?      Năm 2007-2008, thế giới chứng kiến tình  trạng lương thực toàn cầu tăng giá đột biến dẫn tới bạo động và bất ổn  xã hội ở 28 quốc gia trên thế giới. Câu hỏi đến nay vẫn ám ảnh các  chuyên gia tới nay vẫn là về nguyên nhân của tình trạng này.     Cuối tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng giá tăng cao và biến động mạnh sẽ trở thành hiện tượng thường thấy trên thế giới. Điều này quả là nguy hiểm với thế giới, khi mà gần một tỷ người vẫn đang sống thiếu đói.  Những quốc gia nghèo như Tajikistan, nơi người dân dùng tới 80% thu nhập để mua lương thực, sẽ là nơi chịu thiệt hại nặng nề nhất. Giá lương thực hiện nay đang ở mức 7% cao hơn so với một năm trước.  Có những nguyên nhân rõ rệt đằng sau hiện tượng này: thời tiết xấu, như nạn hạn hán ở Mỹ, hay nhu cầu mua nguyên liệu tăng cao ở ngành nhiên liệu sinh học, hoặc do sự thay đổi khẩu phần ăn ở người dân Ấn Độ và Trung Quốc khi họ chuyển sang thói quen ăn nhiều thịt hơn (cần tới 15 kg bột để sản xuất 1 kg thịt). Nhưng ngày càng nhiều các chuyên gia cho rằng những tác nhân này không đủ mạnh để lý giải xu hướng gia tăng giá lương thực trên thế giới kể từ sau năm 2000.  Thay vào đó, các chuyên gia đang trỏ ngón tay về phía các diễn viên trên thị trường tài chính, những người ngày càng tham gia nhiều hơn vào các thị trường nông nghiệp, đánh cược trên giá các loại hàng hóa. Yaneer Bar-Yam và Greg Lindsay của Viện New England Complex Systems khẳng định rằng các mô hình toán học cho thấy chỉ có sự đầu cơ mới lý giải được sự tăng giá ở mức độ như hiện nay.  Các nhà buôn bán luôn đầu cơ trên thị trường nông nghiệp tương lai, như họ vẫn làm với các thị trường hàng hóa khác như đồng hay dầu lửa. Những người có quyền lợi – những người sản xuất và mua hàng – dùng thị trường này để đánh cược về khả năng tăng hoặc giảm giá như một cách để bảo hiểm chống lại biến động giá. Nhưng sau năm 2000, khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton ký Luật Hiện đại hóa Hàng hóa Tương lai, các ngân hàng đầu tư và tổ chức tài chính bắt đầu tham gia đánh cược như một cách đầu cơ thay vì bảo hiểm. “Trước kia chỉ có khoảng 12% người chơi là dân tài chính, ngày nay con số tăng vọt lên trên 60%”, theo lời Heidi Chow, một nhà hoạt động xã hội của Phong trào Phát triển Thế giới, một tổ chức có trụ sở tại Anh.  Tổ chức Foodwatch của Đức chỉ ra rằng đầu tư vào hàng hóa lương thực đã tăng vọt từ 65 tỷ USD lên 126 tỷ USD trong 5 năm qua. Đầu tư đầu cơ vào lương thực năm 2011 cao gấp 20 lần giá trị viện trợ lương thực của tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo Phong trào Phát triển Thế giới, tổ chức tài chính Barclays Capital kiếm được lợi nhuận ở mức 548 tỷ USD từ đầu cơ năm 2010.  Nhưng không phải ai cũng nhất trí. Ann Berg, chuyên gia về thị trường Chicago Mercantile Exchange, nay là cố vấn cho FAO, cho rằng không thể chứng minh đầu cơ là nguyên nhân gây tăng giá lương thực. Và mặc dù các nhà vận động và quản lý sẵn lòng áp dụng các hạn mức đối với đầu cơ lương thực, nhưng khó khăn lớn nhất cho các nhà quản lý là làm sao xác định mức đầu cơ nào là quá nhiều. Cho đến nay, vẫn không có định nghĩa nào cho biết mức đầu cơ nào là quá mức, dù ngày càng có nhiều lo ngại về khả năng thao túng thị trường của các quỹ đầu tư.     Nguồn:  http://science.time.com/2012/12/17/betting-on-hunger-is-financial-speculation-to-blame-for-high-food-prices/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đâu là giải pháp cho tình cảnh “sống chung với úng” của Thủ Đô?      Dự án thoát nước cho Hà Nội giai đoạn 1 có tổng vốn đầu tư 187,36 triệu USD bao gồm vốn ODA 139 triệu từ Chính phủ Nhật Bản và 48,36 triệu USD từ nguồn vốn trong nước đã gần hoàn thành. Tuy nhiên, chỉ với những cơn mưa đầu hè đã có hàng chục điểm bị ngập úng nặng gây biết bao phiền toái và rủi ro cho người dân Thủ đô. Phải chăng có điều gì đó còn “bất ổn” về tính khả thi của kế hoạch giải thoát cho Hà Nội khỏi tình trạng sống chung với úng từ nhiều năm nay của UBND thành phố?    Hà nội: mưa  là ngập  Lãnh đạo Công ty Thoát nước Hà Nội (CTTNHN) thừa nhận “Mùa mưa năm nay Hà Nội vẫn sẽ còn nhiều điểm úng ngập. Hiện nay, hệ thống thoát nước Hà Nội vẫn chưa hoàn chỉnh”(!)  Cũng theo giải thích của CTTHN thì nguyên nhân chính của tình trạng “hễ mưa là ngập” là do hệ thống thoát nước của Hà Nội còn lộn xộn. Toàn bộ hệ thống tiêu nước của thành phố gồm 4 con sông là song Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch với tổng chiều dài 39 km cùng với 32 hồ chứa nước thoát ra sông Hồng qua cụm đầu mối Yên Sở (công suất 45m3/s) và sông Nhuệ qua đập Thịnh Liệt (với công suất 30m3/s). Tuy nhiên, nguồn tiêu thứ 2 còn hạn chế do cửa điều tiết  Thanh Liệt chưa thi công xong và mực nước sông Nhuệ thường dâng lên rất nhanh nên việc tiêu rất chậm, chỉ đạt 60% như CTTN HN đã thừa nhận, vì vậy đã không kịp “giải thoát” cho Hà Nội khi bị úng ngập bao vây.  Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Nếu chúng ta hoàn tất 100% cống đường phố nội thành, hoàn tất cả việc cải tạo, làm mới các cống sông Sét thì liệu Hà Nội có thoát khỏi úng khi những cái cống thoát lũ duy nhất không thể bơm kịp như nhiều chuyên gia đã tính toán?  Hơn nữa, việc chúng ta làm tốt hệ thống cống nội thành và mở rộng đường giao thông cũng như tạo không gian mới cho các hoạt động sinh sống của cộng đồng bằng việc xây cống kín trên các con sông tiêu lũ chính trong nội thành dường như cũng không giảm được úng cho nội thành bao nhiêu mà trái lại, việc này còn làm úng lan dần ra đến khu vực mà chỉ cách đây vài ba năm còn là ngoại thành thì nay đã nằm trong phạm vi “úng hóa” như khu vực Chùa Hà là một thí dụ điển hình.                 Có nên đồng nhất hai hệ thống thoát nước?  Chúng ta đã sai lầm trong cách tiếp cận vấn đề về chống úng cho Hà Nội. Sai lầm cơ bản nhất của những cơ quan chịu trách nhiệm  đề ra các giải pháp chống úng cho Hà Nội là Quan niệm sai lầm về hệ thống thoát nước chống úng cho Hà Nội. Bắt đầu từ sai lầm này, mọi giải pháp chống úng cho Hà Nội đều không có kết quả và dẫn đến tình trạng cống mới cứ xây mà úng không những không giảm mà còn mở rộng về phạm vi và nếu chúng ta không có giải pháp hữu hiệu thì sẽ đi vào bế tắc, không có lối thoát.  Các cơ quan có trách nhiệm thiết kế và thực thi công việc chống úng đã luôn đồng nhất hóa hệ thống thoát nước thải của Hà Nội với hệ thống thoát nước mưa.  Chính sai lầm về định nghĩa mang tính hệ thống này đã dẫn đến tình trạng “đánh không trúng” mục tiêu: Thay vì đi chống úng thì chúng ta lại đi mở rộng và cải tạo hệ thống thoát nước thải cho thành phố.  Trong khi bản thân hệ thống thoát nước thải của Hà Nội dường như có thể thải toàn bộ nước dùng và sinh hoạt của Hà Nội ít nhất là cho thời điểm hiện nay thì chúng ta lại cứ đi mở rộng nó, lấp cống, mở rộng đường trên đó bằng việc bê tông hóa và bắt nó làm thêm công việc thoát úng!  Chúng ta đã thừa hưởng hệ thống thoát nước cũ của Hà Nội từ những năm giữa thế kỷ trước (theo tài liệu nghiên cứu về Hà Nội, hệ thống thoát nước thải và nước mưa của Hà nội có hình rẻ quạt tính từ trung tâm thành phố). Hệ thống này vận hành không có vấn đề gì cho đến thời điểm những năm 70 của thế kỷ đã sản sinh ra nó. Song, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở lại đây thì hệ thống có từ thời Pháp thuộc này đã không còn đáp ứng được nhu cầu thoát úng cho Hà Nội do các con sông thoát nước cho nội thành đã bị lấn chiếm dần, trong khi đó các hồ điều hòa của thành phố bị thu hẹp đáng kể, dẫn đến việc úng ngập nhanh chóng dâng cao. Trong khi số cống tăng lên không kịp trên quan điểm mạng (số lượng) cũng như chất (kích thước) thì cư dân Hà Nội đã tăng khoảng từ 8 đến 10 lần so với thời điểm mà hệ thống này được đưa vào vận hành. Diện tích của thành phố cũng được mở rộng không ngừng theo từng năm, vẫn theo bản chất vốn có của hệ thống mà chúng ta được thừa hưởng, chỉ có đúng một hệ thống cống vừa thoát nước thải vừa thoát úng khi trời mưa thì việc phân úng của Hà Nội sẽ được mô tả  như nhiều vòng tròn đồng tâm: Vòng trong là phố cũ bị úng trầm trọng có thâm niên, vòng ngoài là các khu phát triển mới, và cứ thế, mỗi năm Hà Nội lại có thêm nhiều lớp đồng tâm mới và điều tất yếu phải xảy ra – các vòng ngoài trở nên nơi tích úng cho vòng trong  và úng  lan dần ra các khu cư dân mới. Đó là điều tất yếu phải xảy ra.     Đâu là hệ thống thoát nước chống úng hữu hiệu cho Hà Nội?  Những người có trách nhiệm của các công ty xây dựng có uy tín ở Hà Nôi về hệ thống thoát nước  tại các khu đô thị mới có chất lượng cao như Trung Hòa-Nhân Chính,… khẳng định: Một khi đã ra đến hệ thống thoát nước công cộng trên đường thì nước thải và nước mưa đều hòa làm Một!  Vì vậy phải xác định rằng hệ thống thoát nước chống úng cho Hà Nội phải  độc lập với hệ thống thoát nước thải cho sinh hoạt của Hà Nội hiện nay. Đó phải là một hệ thống liên hoàn mở (hoặc ngầm tùy theo điều kiện, địa hình). Hệ thống này gồm các đường thoát tổng hợp có thể trùng hoặc không trùng với hệ thống thoát nước dựa trên 4 con sông thoát nước hiện nay của Thành phố. Phải có các đường thoát nước mưa phân nhánh trước khi dẫn vào hệ thống thoát nước mưa tổng hợp. Hệ thống thoát nước mưa phân nhánh phải độc lập với hệ thống thoát nước thải và sinh hoạt hiện nay. Đó là điều kiện tiên quyết để giải thoát cho các tuyến phố thường xuyên bị ngập lụt cũng như giải quyết một cách triệt để tình trạng này trên bình diện toàn thành phố hiện nay  Chỉ khi hai hệ thống này độc lập thì việc thoát nước (sủ dụng một vài trạm bơm ngay tại khu vực Từ Liêm, khu vực cận nội thành cũ) sẽ là một điều dễ dàng mà không phải tốn nhiều tiền của để xây dựng một hệ thống thu gom, xử lý nước thải xung quanh Hồ Tây như dự án chúng ta đang làm hiện nay.  Nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống thoát nước mưa “mở” thì, một cách tự nhiên, hệ thống thoát nước thải như hiện nay sẽ “kín”, chúng ta mới có thể phát triển các giải pháp xử lý cần thiết trước khi dẫn chúng tới các trạm bơm thoát nước hiện nay tại Yên Sở và Thanh Liệt, bên cạnh đó cũng sẽ không còn mùi hôi thối trên tất cả các vị trí miệng cống của các tuyến phố như hiện nay. Giải pháp này giúp giảm thiểu và tiến tới tránh được ô nhiễm hoàn toàn cho các vùng đệm thoát nước thải này.  Chúng ta đã tốn rất nhiều giấy mực về việc bảo vệ môi trường nước của Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây cũng như các hồ khác của Hà Nội. Một khi nước thải còn đổ ra các hồ thì chuyện ô nhiễm của nước hồ là điều không thể tránh khỏi. Hệ thống thoát nước thải phải kín và không được thoát ra các hồ. Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng chỉ có hệ thống thoát nước mưa cho thành phố là nối liền với các hồ. Trong trường hợp này, vai trò của hồ là điều hòa và điều tiết-tức là các trạm bơm thoát úng cưỡng bức chỉ hoạt động khi các hồ đã không thể tải nổi úng cho từng vùng cục bộ của Hà Nội.  Những đánh giá gần đây nhất cho thấy không phải Việt Nam thừa nước ngọt mà hiện chúng ta đang được cung cấp dưới tiêu chuẩn quốc tế về số lượng nước ngọt/đầu người. Có thể chúng ta mới chứng kiến trong mấy năm trở lại đây việc thiếu nước phát điện cho sinh hoạt và sản xuất chứ chúng ta chưa phải đặt ra vấn đề xử lý nước mưa để rồi cung cấp lại cho sinh hoạt. Tuy nhiên, nếu nhìn vào cuộc chiến tranh về nguồn Nước tại một số nước Trung Á hiện nay thì có thể thấy rằng nếu hệ thống thoát nước mưa độc lập với nước thải thì đó là điều kiện cần để chúng ta có thể dùng chính nguồn nước này cung cấp lại cho sản xuất. Singapore là một quốc gia phải mua nước ngọt về dùng. Tuy nhiên với hệ thống thoát nước mưa và giữ nước mưa như hiện nay, sau khi xử lý và lọc, đất nước đảo quốc này đã tự cấp được 40% nhu cầu nước sinh hoạt cho mình.  Hiện nay, cái chúng ta cần tránh là dẫn toàn bộ nước thải nguyên chất về 4 con sông đã kể trên. Chỉ khi chúng ta làm được việc xử lý chúng trước khi cho phép chúng đổ vào 4 con sông trên thì mới có thể xanh hóa 4 con sông rất nên thơ của Hà Nội và những dự án cải tạo mặt bằng xung quanh các con sông này mới có ý nghĩa thiết thực với cộng đồng. Nếu không chúng sẽ bị người dân “ghẻ lạnh” và mong muốn bê tông kín hóa càng nhanh càng tốt. Điều này gây kích úng và tích úng cục bộ, bịt kín khả năng tạo các dòng thông úng liên hoàn và có lưu tốc lớn, làm trầm trọng thêm tình trạng úng của Hà Nội hiện nay.  Phạm Côn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dầu olive dẫn đến khám phá định luật phổ quát mới về các chuyển pha      Một giọt dầu ô liu bình thường trong một hệ các photon dao động giữa hai tấm gương đã tiết lộ các khía cạnh phổ quát về các chuyển pha trong vật lý.      Tương tác photon-photon  Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm AMOLF của tổ chức Nghiên cứu khoa học Hà Lan đã dùng một hốc trống chứa đầy dầu trong đó ánh sáng trải qua các chuyển pha tương tự như ở trong chuyển pha ở trạng thái nước sôi. Hệ mà họ nghiên cứu này có trí nhớ bởi dầu là nguyên nhân dẫn đến các photon tương tác với chính nó. Bằng sự biến đổi của khoảng cách giữa hai tấm gương và đo đạc việc  truyền ánh sánh thông qua khoang trống, họ khám phá ra một định luật phổ quát miêu tả được các chuyển pha trong các hệ có trí nhớ.  Kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong bài báo “Universal Scaling in the Dynamic Hysteresis, and Non-Markovian Dynamics, of a Tunable Optical Cavity” xuất bản trên Physical Review Letters.   Nhóm nghiên cứu về sự tương tác của các photon tại AMOLF nghiên cứu về phi tuyến tính và nhiễu trong các hệ photon. Một trong những hệ này là một hốc được hình thành bằng hai tấm gương đặt đối diện nhau trong khoảng cách gần. Bên trong khoang, ánh sáng nảy đi nảy lại khi nó được phản chiếu trong gương. Họ đặt một thứ gì đó vào bên trong hốc quang học, thay đổi các đặc tính của hệ. “Chúng tôi tạo ra một hệ có trí nhớ bằng việc đặt một giọt dầu ô liu vào trong hốc”, Said Rodriguez, nhà nghiên cứu dẫn dắt nhóm, cho biết. “Dầu làm vật trung gian ảnh hưởng đến những tương tác photon-photon, khi đó chúng tôi có thể thay đổi bằng việc đo đạc sự truyền đi của ánh sáng laser thông qua chính hốc đó”.  Quét tốc độ  Rodriguez và nghiên cứu sinh Zou Geng và Kevin Peters đã phân tích việc truyền ánh sáng trong khi tăng và giảm khoảng cách giữa hai tấm gương tại những tốc độ khác nhau. Họ thấy lượng ánh sáng được truyền qua hốc phụ thuộc vào hướng chuyển động của gương. “Việc truyền ánh sáng thông qua hốc là phi tuyến. Tại một khoảng cách nhất định giữa hai tấm gương, lượng ánh sáng được truyền phụ thuộc vào việc liệu chúng tôi mở hay đóng hốc lại”, Rodriguez giải thích. “Hành xử này được gọi là hiện tượng trễ. Nó được quan sát trong các chuyển pha như nước sôi hoặc vật liệu từ”.  Tính phổ quát    Các nhà nghiên cứu đã đổ đầy dầu ô liu vào hốc và thay đổi vị trí của các tấm gương tại các tốc độ khác nhau. Nguồn: Henk-Jan Boluijt @AMOLF  Dẫu vậy, trong hốc với dầu ô liu, hiện tượng trễ không luôn luôn xuất hiện, các nhà nghiên cứu quan sát điều này khi họ tăng tốc độ mở hốc và đóng hốc. Rodriguez nói: “Trong các đợt quét nhanh hơn, chúng tôi thấy không còn hiện tượng trễ như một hàm của quét tốc độ. Điều này xảy ra với một tỷ lệ phổ quát, độc lập của các tham số như mật độ ánh sáng hay độ lớn của phi tuyến. Các phương trình miêu tả cách ánh sáng hành xử trong hốc chứa đầy dầu tương tự như những miêu tả về các tập hợp nguyên tử, siêu dẫn và thậm chí cả vật lý năng lượng cao. Do đó, hành xử phổ quát mà chúng tôi khám phá được cũng giống như điều được quan sát trong rất nhiều hệ”.  Ghép các hốc  Dù có thể rất thú vị khi nghiên cứu hành xử mang tính phổ quát ở nhiều cấp độ trong nhiều hệ có trí nhớ thì Rodriguez vẫn chỉ muốn tập trung vào các hốc chứa dầu. “Hệ của chúng tôi có tính phi tuyến quang học cực mạnh ở nhiệt độ phòng”, ông nói. “Vì thế hiện nay chúng tôi đang tìm hiểu cái gì xảy ra khi chúng tôi ghép đôi hai hoặc nhiều hốc lại với nhau. Bởi vì mỗi hệ đều có trí nhớ, một dãy các hốc có thể cuối cùng trở nên hữu dụng như một công cụ tính toán hoặc thậm chí có thể cho những ứng dụng về cảm biến”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-olive-oil-discovery-universal-law.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dầu tẩy rửa cặn cho thiết bị của ngành xăng dầu      Trong quá trình công tác tại Tổng công ty  xăng dầu Đức Giang, kỹ sư Phạm Thúc Thảo đã nghiên cứu giải pháp công  nghệ giúp tẩy rửa, vệ sinh các thiết bị công nghiệp phục vụ trong ngành  chế biến xăng dầu.     Trên cơ sở nghiên cứu đặc tính lý hóa của các loại dầu mazut (FO), dầu thô và cặn cáu trên máy móc thiết bị, kỹ sư Phạm Thúc Thảo đã tìm ra chế phẩm tẩy rửa TCF 0507 từ nguồn dầu thực vật (dầu ăn, dầu cặn của quá trình tinh luyện dầu thực vật), dầu thông, mỡ động vật cùng một số phụ gia khác với tỷ lệ và điều kiện thích hợp. Chế phẩm TCF 0507 sẽ làm loãng cặn dầu và hấp thụ hơi dầu độc hại.   Với việc sử dụng dầu tẩy rửa TCF 0507, sẽ không cần phải sử dụng phương pháp truyền thống là dùng dầu hỏa và nhân công trực tiếp lau chùi cặn đóng trong các bồn bể chứa dầu FO, dầu thô như trước, vốn năng suất thấp, mất rất nhiều thời gian và môi trường làm việc vô cùng độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe người làm. Hơn nữa, cách làm truyền thống khiến cặn dầu không thu hồi được và nhiều chất thải rắn nhiễm dầu tốn nhiều kinh phí xử lý để tránh tình trạng ô nhiễm môi trường. Giải pháp của kỹ sư Phạm Thúc Thảo đã giải quyết khá triệt để vấn đề này khi thu hồi được dầu cặn để tái sử dụng và giảm tới 90% chất thải rắn nhiễm dầu. Không chỉ góp phần tăng năng suất lao động lên 6,5 lần, giảm nhân lực thi công, dầu tẩy rửa TCF 0507 còn làm giảm thời gian khi đưa nồng độ hữu cơ về giới hạn đảm bảo an toàn cháy nổ khi tiến hành hàn cắt.   Giải pháp công nghệ này đã tham gia chương trình Sáng tạo Việt 2013 và được bảo hộ độc quyền bởi Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư cho khoa học; Không chỉ là đãi ngộ, tiền lương      Đối với các nhà khoa học, chế độ lương bổng, đãi ngộ mới chỉ là điều kiện thu hút ban đầu. Điều quan trọng hơn là một cơ chế đầu tư và đánh giá nghiên cứu xác đáng, công bằng.      Nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Trần Thuật tại Trung tâm Nano và năng lượng (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), một trong những phòng thí nghiệm có nhiều thiết bị hiện đại. Nguồn: NEC.  Khi chia sẻ quan điểm với các đồng nghiệp trong nước và quốc tế, tôi nhận thấy ai cũng đều có chung ý nghĩ như vậy, bởi dù làm việc tại những trung tâm nghiên cứu thuộc các cường quốc khoa học hay tại những quốc gia đang trong hội nhập về khoa học thì cơ chế đầu tư và đánh giá nghiên cứu vẫn là những điều kiện quan trọng quyết định chất lượng công việc.  Còn ở góc độ cá nhân, khi nghĩ về những điều kiện làm việc tối ưu trong các lĩnh vực khoa học, tôi thấy có bốn điểm cơ bản: Ý tưởng nghiên cứu; Đội ngũ nhân lực để phát triển và triển khai ý tưởng đó; Nguồn tài nguyên nghiên cứu; Đánh giá của cộng đồng đối với công việc của những người làm nghiên cứu. Chúng ta có thể cùng nhau điểm qua bốn điều kiện cơ bản này đối với nhà khoa học.  Thứ nhất, ý tưởng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng bởi muốn có kết quả khoa học mang tính đột quá, khác thường thì ý tưởng cũng (thường) phải đột phá, khác thường. Do đó, muốn làm nghiên cứu tốt, cần phải có những nhà khoa học có ý tưởng lớn làm trưởng nhóm, những người đảm trách việc mở rộng hợp tác quốc tế, thiết kế nghiên cứu, điều phối quá trình thực hiện…  Thứ hai, khi đã có trưởng nhóm thì trưởng nhóm sẽ làm việc với ai? Trong thực tế nghiên cứu hiện nay, có rất ít người thực hiện được những nghiên cứu một mình, ngay cả lĩnh vực lý thuyết. Nhà khoa học đóng vai trò dẫn dắt cần có những nhà khoa học khác phát triển và triển khai ý tưởng của mình, thông thường là một nhóm nghiên cứu và rộng hơn là một cộng đồng nghiên cứu để có thể cùng nhau thực hiện những công việc lớn.   Như vậy, khi xét đến điều kiện làm việc, tôi tin rằng nhà khoa học nào cũng đều có những câu hỏi “trưởng nhóm có được trao đủ nguồn lực để xây dựng nhóm nghiên cứu của mình không”?, “Có được tạo điều kiện và trao nguồn lực để xây dựng cộng đồng nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu không”? Nếu một nhà khoa học được thu hút với những điều kiện ưu đãi ban đầu mà không có nhóm nghiên cứu hoặc không hình thành được nhóm nghiên cứu thì chắc là họ sẽ khó triển khai được nghiên cứu, thậm chí không cẩn thận thì về lâu dài, việc thu hút họ về làm việc chỉ còn mang tính biểu tượng hơn là làm được những việc lớn cụ thể.  Thứ ba, trong công việc của các nhóm nghiên cứu thì vấn đề nguồn tài nguyên nghiên cứu, gồm trang thiết bị nghiên cứu, tiền đầu tư cho nghiên cứu một cách thường xuyên, liên tục, vv., là điều không thể thiếu. Thường thì những nghiên cứu mang tính đột phá đều cần những khoản đầu tư lớn và lại càng không thể thực hiện trong một thời gian ngắn. Một nhà khoa học và quản lý Nga đã từng nói “Khoa học cần những khoản tiền [đầu tư] kiên nhẫn và những con người kiên nhẫn”.       Gần đây, có một hiện tượng là chúng ta hơi quá coi trọng những trường hợp “nước ngoài”, những con người từ “nước ngoài”. Thật ra điều quan trọng là công việc của nhà khoa học cụ thể ở mức độ hiệu quả ra sao chứ đâu phải việc họ đang làm việc ở trong nước hay nước ngoài?      Trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay, ngay cả chưa đến mức có thể tạo ra đột phá thì các nghiên cứu có chất lượng cao cũng đã không hề rẻ và cần thời gian thực hiện. Tất nhiên, ở thời điểm bắt đầu thì các nhà nghiên cứu, các trưởng nhóm hoàn toàn có thể tận dụng được mạng lưới của mình ở các trung tâm lớn trên thế giới để hỗ trợ khai thác tài nguyên mà ở Việt Nam chưa có. Tuy nhiên chắc chắn một điều là không có trưởng nhóm nào muốn kéo dài việc đó mãi mãi. Muốn phát triển thì một cộng đồng nghiên cứu phải có công cụ để phát triển, ai cũng cần được chủ động tối đa trong triển khai các ý tưởng của mình, không thể chỉ làm việc đó với ý chí, giấc mơ và hai bàn tay trắng hết năm này qua năm khác.   Không phải nhóm nghiên cứu nào cũng có được một hệ thống cơ sở vật chất nghiên cứu tốt và đầy đủ từ bước khởi đầu. Để có được điều đó, nhà khoa học cần phải xây dựng hệ thống đó một cách có kế hoạch, thường xuyên và tích lũy trong thời gian dài.  Do đó, nếu muốn thiết lập một chương trình tài trợ cho các trường đại học và viện nghiên cứu trên địa bàn theo chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài, TPHCM có thể cân nhắc đến việc xây dựng và nâng cao trang thiết bị nghiên cứu theo nguyên tắc: TPHCM sẽ tài trợ kinh phí ban đầu và chi phí vận hành một thiết bị quan trọng nào đó, sau đó tạo điều kiện cho tất cả các nhà khoa học ở TPHCM và Việt Nam cùng sử dụng thiết bị. Đây cũng là cách hỗ trợ khoa học của các thành phố lớn trên thế giới.   Các tài trợ nghiên cứu cũng vậy, cần liên tục, hào phóng và đặt niềm tin vào người sử dụng các khoản kinh phí đó. Với các nhà khoa học, tình trạng duy trì quá nhiều thủ tục giấy tờ trong cơ chế tài chính như hiện nay thực sự không ổn bởi đơn cử, một trưởng nhóm cần phải có mặt thường xuyên ở các hội nghị quốc tế trong vai trò khách mời. Nếu không có kinh phí hoặc quá khó sử dụng kinh phí cho những việc đó thì các trưởng nhóm rất khó làm việc.  Thứ tư, yếu tố cuối cùng mà tôi muốn nhắc đến là đánh giá của cộng đồng, trong đó việc trả lương, thưởng chỉ là một khía cạnh của việc cộng đồng nhìn nhận thế nào về đội ngũ và công việc của đội ngũ làm KH&CN. Cộng đồng ở đây gồm những nhà quản lí các tổ chức, cơ quan, xã hội, vv… có nhiệm vụ đánh giá công việc của các nhà khoa học. Vậy họ sẽ như thế nào? dựa trên tiêu chí nào? Nhìn rộng ra, chúng ta có thể kiên nhẫn được bao lâu với một nhà khoa học mà chúng ta đã nhìn nhận họ là tài năng? Khi trả lời được những câu hỏi này một cách thấu đáo, chúng ta mới có thể tự tin cho rằng, mình đã đánh giá được nhà khoa học và công việc của họ.  Do đó, tôi cho rằng, tiền lương hằng tháng, tiền thưởng hằng năm mới chỉ là những điều kiện quan trọng  ban đầu đối với người làm nghiên cứu để họ phải bắt đầu cân nhắc lựa chọn nơi làm việc hoặc khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình. Dù ở Việt Nam hay thế giới thì việc có một mức lương tốt để nhà khoa học không phải vất vả trong cuộc sống là điều cần thiết nhưng không phải là điều kiện đủ để họ làm việc đạt kết quả tốt như bản thân cũng như cộng đồng kỳ vọng bởi mối quan hệ giữa lương và chất lượng nghiên cứu không phải là hàm tuyến tính.   Việc nhìn nhận và đánh giá luôn luôn là một mạch chảy quan trọng trong quản lý khoa học. Đôi khi những đánh giá dựa trên một số trường hợp đơn lẻ hoặc không đúng bản chất vấn đề khiến việc đánh giá không còn chuẩn xác nữa. Gần đây, có một hiện tượng là chúng ta hơi quá coi trọng những trường hợp “nước ngoài”, những con người từ “nước ngoài”. Thật ra điều quan trọng là công việc của nhà khoa học cụ thể ở mức độ hiệu quả ra sao chứ đâu phải việc họ đang làm việc ở trong nước hay nước ngoài? Dù có làm việc ở nước ngoài thì cuối cùng nhà khoa học đó cũng vẫn là một nhà khoa học người Việt và khi được coi là tài năng ở nước ngoài cần phải thu hút trở về thì với cách đánh giá này, dường như họ mất đi “hào quang” “nước ngoài” và chẳng có khả năng gì… đặc biệt cả. Do vậy, nếu chúng ta muốn tạo điều kiện cho những người làm việc thật sự và mong muốn đạt hiệu quả thật sự trong khoa học thì nên bỏ các yếu tố mang tính hình ảnh như vậy đi. Dù là nhà khoa học ở Tây hay ta, trong nước hay ngoài nước cũng cần được coi trọng và tạo điều kiện nghiên cứu, miễn là có khả năng nghiên cứu và đóng góp cho khoa học nước nhà.  Tuy nhiên, việc thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá khoa học của cộng đồng không thể diễn ra trong một sớm một chiều thì ở góc độ các nhà khoa học, chúng ta có thể tự thay đổi: làm việc tốt hơn, có nhiều kết quả nghiên cứu tốt hơn.□       Author                Trần Đình Phong        
__label__tiasang Đầu tư cho khoa học mở: Thay đổi các tiêu chí đánh giá khoa học      Khoa học mở sẽ thay đổi cách đánh giá nghiên cứu, đánh giá nhà khoa học từ trước đến nay.    Điểm chung giữa DORA, Khoa học mở và sự công bằng, hòa nhập.  Vào cuối năm 2021 vừa qua, tại phiên toàn thể Hội nghị UNESCO, 193 quốc gia thành viên của nó đã nhất trí thông qua Khuyến nghị Khoa học Mở1. Có thể nói rằng, đây là một công cụ đầu tiên đưa ra định nghĩa khoa học mở được cộng đồng quốc tế chấp nhận, đồng thời định rõ các hành động cần thiết và các bên tham gia để thúc đẩy phong trào này.  Để thực hiện được khuyến nghị này, các quốc gia thành viên của UNESCO được khuyến khích thực hiện bảy lĩnh vực hoạt động, trong đó nổi bật là tạo điều kiện chính sách thuận lợi cho khoa học mở; đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ khoa học mở; thúc đẩy hợp tác quốc tế và nhiều bên liên quan trong bối cảnh khoa học mở với quan điểm giảm khoảng cách số, công nghệ và kiến thức giữa các cá nhân trong xã hội.  Việc thực hiện các khuyến nghị này hiệu quả đến đâu, một phần dựa vào sự dẫn dắt của các nhóm làm việc cho khoa học mở của UNESCO. Trong đó, nhiều nội dung thuộc ba lĩnh vực hoạt động kể trên là do nhóm “Cấp vốn và ưu đãi” phụ trách. Nhóm này không chỉ đề xuất các cơ chế cấp vốn cho khoa học mở theo chủ đề và khu vực mà còn cả việc cải cách sửa đổi các tiêu chí đánh giá và thẩm định nghiên cứu hiện hành cho phù hợp với các nguyên tắc và giá trị cốt lõi của khoa học mở.  Ngày 9/6 vừa qua đã diễn ra cuộc họp đầu tiên của Nhóm làm việc về cấp vốn và ưu đãi cho Khoa học mở. Theo thông báo từ UNESCO, đã có 116 người tình nguyện đăng ký tham gia nhóm này, tới từ 39 quốc gia, đại diện cho nhiều cơ sở và tổ chức có liên quan đến khoa học và quản lý khoa học.  Các diễn giả khách mời trong cuộc họp đã đưa ra gợi ý về đánh giá và tài trợ cho nghiên cứu trong bối cảnh khoa học mở – rất khác so với cách thức truyền thống trước đây. Dưới đây là một vài điểm nhấn.  Cấp vốn và ưu đãi cho khoa học mở sẽ diễn ra thế nào?  Đánh giá nghiên cứu nên dựa trên nhận xét định tính. Đại diện cơ quan Khoa học mở trực thuộc Ban Tổng Giám đốc về Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo của Ủy ban châu Âu cho biết, châu Âu đang thay đổi cách đánh giá nghiên cứu để phù hợp với bối cảnh khoa học mở. Cơ quan này từ cuối năm 2021 đã khởi xướng một liên minh với một thỏa thuận đổi mới cách thức đánh giá nghiên cứu, thể hiện trong báo cáo ‘Hướng tới cải cách hệ thống đánh giá nghiên cứu2. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh rằng việc đánh giá nghiên cứu trước hết phải dựa trên các nhận định định tính, trong đó trọng tâm là hình thức bình duyệt và sau cùng mới dùng sự hỗ trợ của các chỉ số định lượng một cách có trách nhiệm. Cho tới thời điểm cuộc họp ngày 9/6/2022, đã có 334 tổ chức từ 38 quốc gia đã ủng hộ các nguyên tắc được đưa ra trong báo cáo đó, và đã tham gia trong việc cùng tạo lập một thỏa thuận để tập hợp liên minh.  Ít coi trọng chỉ số ảnh hưởng tạp chí. Hai tổ chức3, Diễn đàn châu Mỹ Latinh về Đánh giá Khoa học – FOLEC và Hội đồng Khoa học Xã hội Mỹ Latinh – CLACSO đã đề xuất điều chỉnh các ưu tiên trong đánh giá nghiên cứu nhằm thúc đẩy khoa học mở. Trong đó, các quốc gia Mỹ Latin và vùng Caribe sẽ ít coi trọng chỉ số ảnh hưởng của tạp chí khoa học JIF. Họ tiến tới loại bỏ việc sử dụng các tham chiếu tới chỉ số này và chỉ số H-index để đánh giá dự án nghiên cứu và năng lực của nhà khoa học. Thay vào đó, họ sẽ đánh giá các nhà nghiên cứu và giảng viên, các trường đại học và tổ chức nghiên cứu dựa trên sự tham gia thúc đẩy khoa học mở và sự đa dạng trong các sản phẩm khoa học.    Từ nay tới cuối năm 2022, nhóm làm việc về cấp vốn và ưu đãi sẽ xây dựng tài liệu với hai mục tiêu chính: (1) đưa ra các đề xuất về các cơ chế cấp vốn cho KHM theo khu vực và theo chủ đề; và (2) đưa ra các khuyến nghị về làm lại các tiêu chí đánh giá và thẩm định sự nghiệp nghiên cứu hiện hành. Để hoàn thành, nhóm sẽ tập hợp các đầu vào (trong tháng 6 và 7) để xây dựng bản thảo đầu tiên đưa ra thảo luận công khai và rộng rãi và sẽ hoàn thành nó vào tháng 12/2022. Dự kiến cuộc họp tiếp sau của Nhóm này sẽ diễn ra trên trực tuyến ngày 20/09/2022.    Cam kết với DORA là chia sẻ tinh thần khoa học mở. Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Nghiên cứu – DORA (San Francisco Declaration on Research Assessement) kêu gọi các tổ chức quản lý và tài trợ nghiên cứu đánh giá các công trình và dự án khoa học để cấp kinh phí dựa trên chất lượng của chính nó chứ không phải là tầm ảnh hưởng hay tên của tạp chí. Hiện nay có 19 nghìn cá nhân và hơn 2,5 nghìn tổ chức đã tham gia ký tuyên bố DORA và họ dự định sẽ kêu gọi nhiều người cam kết hơn nữa. Điểm chung của DORA và Khoa học mở là tăng sự đa dạng, hòa nhập trong khoa học và đều coi trọng nhiều loại đầu ra của nghiên cứu, từ dữ liệu, các dòng code, đào tạo kĩ năng mới…chứ không chỉ riêng bài báo đăng tạp chí.  Sáng kiến Lãnh đạo Giáo dục Đại học vì Khoa học mở – HELIOS4 (The Higher Education Leadership Initiative for Open Scholarship) xuất phát từ cuộc tọa đàm của Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật, Y sinh quốc gia Hoa Kỳ. Hiện nay họ đã có 78 trường đại học tham gia, bao trùm nửa triệu giảng viên trên toàn nước Mỹ. Các trường sẽ cam kết điều chỉnh chính sách đầu tư cho nghiên cứu, thưởng, thăng chức, bổ nhiệm, cấp biên chế cho giảng viên… để thúc đẩy nhân viên thực hành khoa học mở. Mặc dù mỗi trường, với điều kiện khác nhau, sẽ có cách làm riêng nhưng đều minh bạch và tuân thủ trách nhiệm giải trình lộ trình của mình theo khung tiêu chí của HELIOS.  Lịch trình của Nhóm Làm việc về CV&ƯĐ cho KHM của UNESCO.  Thay đổi thiết kế nghiên cứu khoa học mở. Hannah Hope, người dẫn đầu bộ phận nghiên cứu mở của quỹ Wellcome Trust – quỹ từ thiện tài trợ cho các dự án liên quan đến sức khỏe lâu đời của Anh, cho biết cần phải thay đổi cách thiết kế kêu gọi tài trợ. Thực tế, bản thân quỹ Wellcome đã từng đưa các yếu tố của khoa học mở để đánh giá cấp vốn cho các đề tài dự án, nhưng thực sự chưa tạo được tác động lớn. Bà cho rằng, việc thay đổi cách đánh giá nghiên cứu là chưa đủ, bản thân các nghiên cứu khoa học mở phải được thiết kế theo một cách khác. Đó phải là các nghiên cứu liên ngành, đòi hỏi sự tham gia của nhiều người và kết quả nghiên cứu của nó sẽ được sử dụng lại với lợi ích tối đa. Và không chỉ thay đổi thiết kế nghiên cứu mà còn phải thay đổi cả cách tài trợ cho các thiết bị, phần mềm và dịch vụ phục vụ nghiên cứu sao cho nhiều cá nhân, đơn vị, bất kể điều kiện nguồn lực đều có thể tiếp cận và chia sẻ, dùng chung.  Cần đầu tư nghiêm túc vào các tạp chí mở. Theo giám đốc điều hành của Hiệp hội Xuất bản Học thuật Truy cập Mở – OASPA5, Claire RedHead, hiện nay có rất nhiều mô hình cấp vốn duy trì cho các tạp chí mở. Mô hình có lẽ phổ biến nhất đối với các nhà khoa học Việt Nam là mô hình trả phí xử lý bài báo để được đăng trên tạp chí mở (với nhà xuất bản MDPI và Frontier). Ngoài ra còn có mô hình trả phí thuê bao, theo đó, chỉ cần số lượng người dùng nhất định sẵn sàng trả phí đăng ký đọc tạp chí, thì tạp chí sẽ trở thành tạp chí mở cho tất cả mọi người. Mô hình khác nữa là mô hình phí thành viên, mỗi tác giả mới cần chi trả một khoản tiền nhỏ, một lần duy nhất, để tạp chí có thể duy trì hoạt động. Mô hình lí tưởng nhất chính là mô hình mở kim cương – Diamond (hay cũng có khi gọi là bạch kim) khi người đăng bài không phải chi trả bất kì một khoản phí nào. Theo Claire Redhead thì mô hình công bằng nhất là mô hình trả phí thuê bao, nhưng dựa vào lòng tốt của người khác thì không bền vững. Các tạp chí kiểu này chứng kiến những người đăng ký lâu năm đang dần “rời bỏ” mình vì ai cũng nghĩ rằng nếu thiếu đăng ký của họ thì vẫn đủ người để tạp chí mở. Còn với mô hình mở kim cương lý tưởng, thì nguồn vốn của tạp chí chủ yếu đến từ tài trợ của các viện nghiên cứu, trường đại học. Các nước Mỹ Latinh đã rất thành công với mô hình này; ở Anh cũng có một trường hợp đáng lưu ý là nhà xuất bản của trường Đại học London (UCL) tài trợ cho một tạp chí mở trực thuộc hay Chương trình đầu tư cộng đồng truy cập mở LYRACIS – OACIP LYRASIS (LYRASIS Open Access Community Investment Program, nơi cộng đồng khoa học cùng góp nguồn lực để hỗ trợ tạp chí mở. Xuất bản sách mở cũng theo những mô hình tương tự, nhưng đòi hỏi nhiều tiền hơn. Mặc dù có nhiều thách thức nhưng nhiều tổ chức và nhà xuất bản đang thử nghiệm những hình thức tìm nguồn vốn mới mẻ và đầy sáng tạo. Chẳng hạn một số nơi đang áp dụng mô hình chưa từng có là mô hình “giá tầng bậc”, theo đó người nào đọc trước thì sẽ trả giá đắt nhất để đọc bài báo/sách và đến một số người đọc nhất định nào đó thì bài báo/sách sẽ mở, miễn phí cho mọi người. Với thâm niên 10 năm trong lĩnh vực xuất bản mở, Clair cho rằng kinh phí hỗ trợ các mô hình tạp chí mở vẫn rất hạn chế. Các cơ quan cấp vốn nghiên cứu và quản lý nghiên cứu cần thực sự đầu tư và hỗ trợ hơn cho hình thức xuất bản mở.    Từ năm 2023 trở đi, Việt Nam nên có các đề tài nghiên cứu về cấp vốn và ưu đãi cho Khoa học mở ở các mức quốc gia/cơ sở, tham khảo cách thức cấp vốn và ưu đãi và/hoặc đánh giá nghiên cứu và các nhà nghiên cứu theo khoa học mở của các quốc gia trên thế giới được nêu trong bài viết này để từ đó từng bước xây dựng chính sách cấp vốn và ưu đãi cho khoa học mở cho phù hợp với điều kiện phát triển KHM theo từng giai đoạn ở Việt Nam.    Một vài gợi ý cho Việt Nam  UNESCO hiện đang dẫn dắt triển khai các nội dung của Khuyến nghị Khoa học mở vào thực tế cuộc sống ở phạm vi toàn cầu với một trong những cách thức triển khai là đi qua các Nhóm làm việc về KHM, trong đó có Nhóm Làm việc về cấp vốn và ưu đãi cho Khoa học mở.  Qua các bài được chọn trình bày tại cuộc họp đầu tiên của Nhóm Làm việc về cấp vốn và ưu đãi cho Khoa học mở, có thể thấy nhiều nguồn thông tin về cấp vốn và ưu đãi cho Khoa học mở hiện có đều là những nguồn tham chiếu rất tốt cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, biết rằng việc cấp vốn và ưu đãi cho KHM ở Việt Nam còn chưa tồn tại, trong khi KHM đã trở thành một xu thể không thể đảo ngược của thế giới.  Một vấn đề rất quan trọng nổi lên là việc đánh giá nghiên cứu và các nhà nghiên cứu theo Khoa học Mở là hoàn toàn khác với theo truyền thống. Trong khi việc đánh giá nghiên cứu và các nhà nghiên cứu theo truyền thống, có lẽ như trong hầu như tất cả các trường đại học và các viện nghiên cứu của Việt Nam hiện nay, thường dựa vào các Yếu tố Tác động của tạp chí – JIF (Journal Impact Factor) và uy tín của các tạp chí mà các bài báo nghiên cứu được xuất bản trên đó; còn việc đánh giá nghiên cứu và các nhà nghiên cứu theo Khoa học Mở lại mang tính định tính nhiều hơn, dựa vào chất lượng và tác động của bản thân các bài báo nghiên cứu đó đối với cả khoa học và xã hội, rời bỏ khỏi JIF, như những gì được nêu trong nguyên tắc chung của Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Nghiên cứu (DORA)6: ”Không sử dụng các thước đo dựa vào tạp chí, như các Yếu tố Tác động của tạp chí – JIF (Journal Impact Factors), như là một biện pháp thay thế chất lượng các bài báo nghiên cứu riêng lẻ, để đánh giá những đóng góp của cá nhân nhà khoa học, hoặc trong các quyết định thuê làm, thăng tiến, hay cấp vốn”.  Các bên tham gia vì khoa học mở theo HELIOS  Dự kiến Nhóm Làm việc về cấp vốn và ưu đãi cho KHM của UNESCO sẽ hoàn thành tài liệu đề xuất các cơ chế cấp vốn cho khoa học mở theo khu vực và theo chủ đề, cũng như đưa ra các khuyến nghị về làm lại các tiêu chí đánh giá và thẩm định sự nghiệp nghiên cứu hiện hành. Hy vọng Bộ KH&CN và các bộ – ngành cùng các viện/đại học/trường đại học nghiên cứu có liên quan tận dụng được tài liệu đề xuất và các khuyến nghị này để có thể lập kế hoạch xây dựng chính sách cấp vốn và ưu đãi cho khoa học mở phù hợp cho Việt Nam cả ở mức quốc gia và tổ chức/cơ sở, trong khi tuân thủ các chuẩn mực được thế giới thừa nhận.  Gợi ý Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với các bộ – ngành – địa phương và/hoặc các hội/hiệp hội nghề nghiệp và các bên liên quan để thực hiện các công việc nêu trên càng sớm càng tốt. Đây chắc chắn là cách tốt nhất để khoa học và giáo dục Việt Nam có khả năng bắt kịp với nhịp độ phát triển KHM của thế giới.□  —-  Các chú giải  1 UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt có tại: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  2 European Commission, Directorate-General for Research and Innovation, Towards a reform of the research assessment system : scoping report, Publications Office, 2021, https://data.europa.eu/doi/10.2777/707440. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/au0fdqqdscwi8sp/KI0921484ENN.en_Vi-26062022.pdf?dl=0  3 FOLEC-CLACSO: https://www.clacso.org/en/folec/  4 HELIOS: About: https://www.heliosopen.org/about  5 Open Access Scholarly Publishing Association (OASPA): https://oaspa.org/  6 San Francisco Declaration on Research Assessement, 16/12/2012: https://www.ascb.org/files/SFDeclarationFINAL.pdf. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/t4nok8hxd0w4jnk/SFDeclarationFINAL-Vi-15042019.pdf?dl=0  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Đầu tư cho tương lai      Hướng đi của các không gian làm việc chung (co-working space) tại Hà Nội là xây dựng một cộng đồng những người làm việc tự do và các start-ups để có thể liên kết, hỗ trợ lẫn nhau.  &#160;         Không chỉ là một chỗ ngồi giá rẻ     Thông thường, những người làm việc tự do (freelancer) và các công ty khởi nghiệp (startup) chọn co- working space vì chi phí thấp. Xuất hiện ở Hà Nội chưa đầy hai năm nay, số lượng cũng mới chỉ đếm trên đầu ngón tay, đó là những không gian yên tĩnh ở Tây Hồ hoặc trung tâm thành phố với giá cho thuê từ một đến hai triệu một tháng cho một chỗ ngồi, có những nơi còn miễn phí toàn bộ trà và cà phê cho người tới làm việc. Tuy nhiên, những người thành lập không gian làm việc chung chưa bao giờ muốn xây dựng co-working space như một văn phòng cho thuê giá rẻ mà muốn sử dụng nó để kết nối cộng đồng những người tài năng và sáng tạo.      Clickspace là một trong những co-working space đầu tiên ở Hà Nội, nằm trong một biệt thự bốn tầng yên tĩnh có sân, vườn, chỗ để xe rộng rãi trên đường Tô Ngọc Vân. Hiện có 24 người trả tiền hằng tháng để làm việc tại đây, trong số đó, có hai startup của Việt Nam và hơn 10 freelancers người nước ngoài.      Người đồng sáng lập Clickspace, Jason Lusk, trước đây từng là phó chủ tịch hãng quảng cáo độc lập lớn thứ hai nước Mỹ, Cramer-Krusselt. Tới Việt Nam, ông mở công ty quảng cáo Clickable và mời chính những người ngồi làm việc ở Clickspace tham gia các dự án của mình. Ông chia sẻ: “Tôi muốn xây dựng ở Clickspace một công ty về marketing và không gian này tạo điều kiện để tôi có thể kết nối với những người giỏi nhất.”                  Theo khảo sát của trang thông tin về co-working space Deskmag cho thấy, trong số 2007 người tham gia khảo sát, 71% trả lời rằng họ tăng khả năng sáng tạo từ khi tham gia vào một co-working space trong khi 62% cho rằng, họ làm việc hiệu quả hơn ở co-working space. Ngay cả các công ty như Google, Amazon, Twitter và một nửa các công ty lọt vào top 500 công ty giàu có nhất thế giới (500 Fortune) đều đặt chỗ tại các co-working space để các nhân viên của mình tới làm việc.  
__label__tiasang Đầu tư lớn cho R&D, nước Anh tham vọng giành vị thế dẫn đầu      Chính phủ Anh vừa công bố chiến lược khoa học và công nghệ với tham vọng đưa nước Anh lấy lại vị thế một siêu cường khoa học công nghệ bằng cam kết tăng cường đầu tư cho nghiên cứu & phát triển với ngân sách chính phủ cho R&D là 22 tỉ bảng Anh.     Nước Anh sẽ tăng dần mức đầu tư R&D đạt mức 2,4% GDP vào năm 2027. Cùng với các cam kết đầu tư tài chính, Chính phủ Anh cũng phê chuẩn nhiều chính sách thu hút các tài năng khoa học công nghệ quốc tế đến làm việc như visa tài năng, visa cho các nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp.  Nước Anh vẫn được coi là quê hương của khoa học và công nghệ hiện đại với nhiều thành tựu khoa học làm thay đổi thế giới, là nơi sản sinh và nuôi dưỡng ra nhiều bộ óc vĩ đại cho nhân loại. Thế nhưng trong một vài thập kỷ gần đây, sự thay đổi cơ cấu kinh tế với nặng về dịch vụ và tài chính đã dẫn đến sự sụt giảm đáng kể đầu tư công cho khoa học và công nghệ. Mức đầu tư cho R&D trong nhiều năm gần đây ở Anh chỉ xung quanh mức 1,7% GDP (thấp hơn nhiều nếu như so với con số 2,9% GDP của Đức, hay 3,4% GDP của Nhật Bản – và là thấp nhất trong nhóm G7).  Mức đầu tư khiêm tốn khiến cho các nhà khoa học ở Anh phải làm việc với sức ép cao để duy trì chất lượng nghiên cứu ở nhóm các nước hàng đầu thế giới 2.      Hình 1. Mức đầu tư R&D hiện tại của Anh so với các quốc gia phát triển. Nước Anh đang ở mức thấp so với hầu hết các quốc gia xung quanh.  Trong công bố “Lộ trình Nghiên cứu và Phát triển Anh” (UK Research and Development Roadmap) vừa được Bộ Doanh nghiệp, Năng lượng và Chiến lược Công nghiệp Anh, công bố ngày 1/7/20203. Chính phủ Anh đã đưa ra những cải cách để thay đổi bộ mặt khoa học. Về mặt tài chính, Chính phủ Anh sẽ tăng ngân sách chính phủ dành cho nghiên cứu hàng năm lên tới 22 tỉ bảng mỗi năm cho tới năm 2024-2025, và cam kết duy trì đầu tư cho R&D ở mức 2,4% vào năm 2027. Chính phủ Anh sẽ trở lại theo đuổi các chương trình khoa học tham vọng, đầu tư lớn cho hiện đại hóa hạ tầng cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước. Công bố của Chính phủ Anh đã lấy các trường hợp điển hình từ những nghiên cứu xuất sắc tại Cambridge, Oxford, Manchester… như những trụ cột phát triển các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Chương trình này cũng sẽ đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, đầu tư mạnh cho thương mại hóa các đầu ra khoa học.  Lộ trình này cũng khẳng định tham vọng thu hút các tài năng quốc tế tới Anh làm việc thông qua cấp visa nhanh cho các tài năng khoa học và công nghệ. Văn phòng Hỗ trợ và Thu hút Tài năng sẽ được mở với việc mở rộng chương trình Visa Tier 1 (cấp cho các tài năng xuất sắc trong giới khoa học) làm việc tại Anh 4.  Bên cạnh cam kết đầu tư tài chính, cam kết cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính và các quỹ nghiên cứu nhằm giúp các nhà khoa học giảm bớt các phiền hà và tăng tốc tốc nghiên cứu cũng đã được đặt ra. Một chính sách visa mới đối với sinh viên quốc tế cũng đã được phê chuẩn, với việc tất cả các nghiên cứu sinh quốc tế tốt nghiệp tại Anh kể từ năm 2021 sẽ được cấp visa ở lại Anh tới 3 năm. Bên cạnh việc đổi mới luật cấp visa làm việc cho người nước ngoài mới được thông qua gần đây 5, chính sách này sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho các nghiên cứu sinh quốc tế ở lại làm việc tại Anh sau khi tốt nghiệp – điều mà các chính phủ trước đây đã loại bỏ.    Hình 2. Bản đồ một số trung tâm trọng điểm đầu tư R&D tại Anh. Màu sắc trên các vùng đất khác nhau cũng thể hiện mật độ đầu tư R&D.  Vài ngày trước khi công bố chính sách này, Chính phủ Anh cũng được các trường đại học Anh – nơi đang chịu những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 do nguy cơ không tuyển được sinh viên quốc tế, hoan nghênh khi công bố gói cứu trợ lên tới 2,3 tỉ bảng Anh 6, hỗ trợ các chương trình nghiên cứu tại các trường đại học đang bị thiệt hại do đại dịch. Anh cũng cam kết tiếp tục tham gia chương trình Horizon 2020 nhằm giúp các trường đại học tại Anh tiếp tục các chương trình nghiên cứu với các nước Châu Âu khác dù nước Anh chuẩn bị chính thức rời khỏi khối EU vào đầu năm 2021.   —–  Chú thích và tham khảo  1. Thống kê từ UNESCO: http://uis.unesco.org/apps/visualisations/research-and-development-spending/   2. Khảo sát năm 2019 của quỹ Welcome Trust cho thấy các phần lớn nhà nghiên cứu ở Anh luôn chịu áp lực rất lớn trong việc việc tìm kiếm tài trợ nghiên cứu. Xem thêm: https://www.theguardian.com/society/2020/jan/15/researchers-facing-shocking-levels-of-stress-survey-reveals  3. UK Research and Development Roadmap. Truy cập tại trang web chính phủ Anh: https://www.gov.uk/government/publications/uk-research-and-development-roadmap/uk-research-and-development-roadmap   4. Chương trình visa tài năng Tier 1 trong khoa học & công nghệ được bắt đầu trước khi lộ trình này được công bố. Một người được cấp visa này sẽ có thể có visa định cư vĩnh viễn tại Anh (và sau đó trở thành công dân Anh) sau 3 năm. Xem: https://www.gov.uk/tier-1-exceptional-talent  5.Luật nhập cư mới chính thức được phê chuẩn đầu năm, và sẽ thực thi từ 2021 cho được coi là sẽ mở cửa thị trường việc làm Anh cho mọi công dân nước ngoài. Xem: https://www.gov.uk/government/news/home-secretary-announces-new-uk-points-based-immigration-system   6. University of Manchester response to Government announcement on research funding, https://www.staffnet.manchester.ac.uk/news/display/?id=24434          Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Đầu tư mạo hiểm không chỉ cần tiền      Sau khi tham dự chuỗi sự kiện về nhà đầu tư thiên thần do Mạng lưới nhà đầu tư thiên thần iAngel tổ chức tại Việt Nam, TS. Alicia Robb, một nhà đầu tư thiên thần, nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm tại Mỹ chia sẻ với Tia Sáng về việc cần phải xây dựng cộng đồng và văn hóa đầu tư mạo hiểm như thế nào.      Alicia Robb chia sẻ với các nhà đầu tư thiên thần nữ. Ảnh: WISE – Tổ chức hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh.  Bạn sáng lập một startup, dù đã tiêu hết số tiền hỗ trợ của gia đình và bạn bè nhưng sản phẩm và mô hình kinh doanh vẫn chưa hoàn thiện. Bạn sẽ lấy nguồn kinh phí ở đâu để tiếp tục hoạt động? Đó là lúc những nhà đầu tư thiên thần ra tay “cứu vớt” bạn. Họ bước vào “cuộc đời” startup ở giai đoạn đầu, chấp nhận sự rủi ro lớn hơn nhiều so với các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC) và ngân hàng.  Trở thành nhà đầu tư thiên thần không phải là câu chuyện của những người giàu có sẵn sàng “ném tiền qua cửa sổ”. Nhà đầu tư thiên thần còn là những người có mong muốn đóng góp cho xã hội, tham gia định hình tương lai bằng các công nghệ mới. Họ tạo ra một lực đẩy lớn kích thích nền kinh tế đổi mới sáng tạo của Mỹ. Năm vừa qua ở nước này, chỉ có 4000 phi vụ đầu tư thông qua các VC nhưng có đến 75000 thông qua các nhà đầu tư thiên thần.  Đừng tập trung vào tiền…  90% số tiền thu về của một nhà đầu tư đến từ chỉ 25% thương vụ của họ. Điều đó có nghĩa là, phải đầu tư nhiều thì mới có cơ hội thành công. “Nếu bạn chỉ đầu tư vào một – hai công ty rồi ngồi đấy chờ đợi, thì khả năng rất cao là bạn sẽ thất bại và nhụt chí” – TS. Alicia cho biết. Lời khuyên cho những người muốn trở thành nhà đầu tư thiên thần là đầu tư từ 20 đến 25 startup, “thử và sai” trong khoảng 5-6 năm. Vốn bỏ vào mỗi startup trong giai đoạn đầu ở Mỹ là 20.000 – 50.000 USD (ở Việt Nam, số tiền đó sẽ ít hơn, có thể là chỉ khoảng 10.000 USD).  Đầu tư vào các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng trưởng nhanh rất khác so với đầu tư cho doanh nghiệp vừa và nhỏ truyền thống và đòi hỏi một sự đầu tư kiên trì. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, một cá nhân sẽ đổi tiền đầu tư của mình để lấy một tỉ lệ doanh thu hằng năm của công ty trong tương lai. Trong khi đó, với startup, cá nhân này sẽ đổi tiền đầu tư để lấy một tỉ lệ cổ phần của công ty. Với đặc trưng là tăng trưởng nhanh, giá trị của startup sẽ tăng chóng mặt theo thời gian, kéo theo giá trị cổ phần của nó. Chẳng hạn, 10 USD đầu tư vào Uber năm 2011 hiện nay trị giá hơn 100.000 USD! Ở một mức độ nào đó, càng đầu tư nhiều tiền, thì tỉ lệ cổ phần nhà đầu tư nắm giữ càng cao. Chính vì vậy, các nhà đầu tư thiên thần được khuyên là sau khi đầu tư một loạt các startup ở vòng hạt giống, hãy theo dõi họ và để dành tiền đầu tư tiếp vào những người hứa hẹn trong số đó để tăng lợi nhuận thu về.  Đầu tư mạo hiểm cũng khác so với đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư thiên thần không thể kì vọng mình mua cổ phần hôm nay và có thể bán ra vào ngày mai và năm sau được! Sau khi đầu tư vào startup ở giai đoạn hạt giống, phải chờ đợi họ vài năm để họ “lớn”, mở rộng quy mô (scale), rồi họ gây quỹ, tiếp tục mở rộng quy mô, rồi lại gây quỹ, cứ như vậy… Nhà đầu tư chỉ có thể thu lại tiền bằng hai con đường, khi: (1) Startup được các công ty lớn mua lại và (2) Startup lớn mạnh và lên sàn chứng khoán (điều hiếm khi xảy ra). Nhưng dù với con đường thoái vốn nào thì nhà đầu tư cũng phải chấp nhận đồng tiền của mình sẽ bị “găm” lại ít nhất là 5 năm, có khi tới 10 năm… Hoặc tệ hơn, công ty thất bại, bạn mất trắng.  “Nếu bạn không có tiền để mất, nếu bạn không có thời gian để đợi, thì đừng trở thành nhà đầu tư thiên thần” – Alicia Robb nói.  … mà hãy tập trung vào giá trị  Lí do nào khiến cho một người quyết định trở thành một nhà đầu tư thiên thần? “Khoản đầu tư này quá rủi ro và dài hạn. Nếu không phải là vì yêu thích thì tôi không tìm ra một lí do nào khác để làm điều đó” – TS. Alicia cười lớn và cho biết: “Tôi thấy vui khi trở thành một phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; vui khi được tham gia quá trình tạo ra sản phẩm đổi mới sáng tạo, giải quyết những vấn đề lớn của cộng đồng, đưa sản phẩm và dịch vụ ra thị trường. Biết bao nhiêu là nỗ lực và nhiệt huyết. Tôi thực sự yêu thích điều đó. Thực sự yêu thích trở thành một phần của cộng đồng như vậy”.  Chính vì vậy, một nhà đầu tư thiên thần phải biết “kiểm soát kì vọng” của mình. Họ cần chuẩn bị tinh thần về những thông tin mình nhận được từ một startup ở giai đoạn đầu. Mô hình kinh doanh, tài chính, kế hoạch phát triển thị trường và tìm kiếm khách hàng… của startup ở thời điểm này rất có thể sẽ thô sơ, không rõ ràng và sẵn sàng như những công ty đã trưởng thành. Đó là lí do các startup cần những nhà đầu tư thiên thần giúp họ vượt qua giai đoạn này và mở rộng quy mô. Thay vì sốt ruột về thời gian thoái vốn, họ nên tăng giá trị của startup bằng cách chia sẻ kinh nghiệm, cố vấn, hướng dẫn họ phát triển tư duy, kĩ năng và các mối quan hệ.  “Hãy tận hưởng niềm vui nhưng thực hành nó một cách nghiêm túc” – TS. Alicia nói về quá trình đầu tư mạo hiểm. Với Alicia, đầu tư mạo hiểm là một cách để cá nhân đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Bà đánh giá cao những nhà đầu tư thiên thần cẩn trọng trong quá trình đọc và tuyển chọn hồ sơ startup cũng như dành tâm sức trong quá trình thương thảo (due diligent) với các startup. Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tài chính vi mô (micro finance), đầu tư mạo hiểm và startup, TS. Alicia chỉ ra rằng có mối liên hệ tương hỗ giữa thời gian của một người dành cho quá trình thương thảo và đọc hồ sơ với lợi nhuận mà họ thu về được trong tương lai. Không ít nhà đầu tư thiên thần thường chỉ bỏ tiền vào một quỹ đầu tư thiên thần rồi phó mặc cho những người quản lý quỹ “muốn làm gì thì làm”. Bản thân Alicia Robb, khi lập ra quỹ đầu tư Next Wave Impact với 100 nhà đầu tư cùng góp vốn cũng thấy rằng có 20-30% là những nhà đầu tư thụ động và chỉ có 30-40% là tham gia tích cực.  Không cần là triệu phú để trở thành nhà đầu tư thiên thần  Luật pháp Mỹ quy định mỗi người chỉ được dành tối đa 10% thu nhập của mình để đầu tư mạo hiểm. Với việc bỏ ra 20.000 – 50.000 USD cho mỗi startup ở giai đoạn đầu và đầu tư tới 20-25 startup đồng nghĩa với việc cá nhân phải có thu nhập lên đến hàng triệu USD mỗi năm. Nhưng Alicia Robb không phải là một triệu phú. Vậy bà đã trở thành nhà đầu tư thiên thần như thế nào?  Alicia Robb là người sáng lập quỹ đầu tư thiên thần (angel fund) Next Wave Impact. Trị giá hơn 1 triệu USD, quỹ này gọi vốn từ 100 cá nhân, mỗi người chỉ đóng góp 10.000 USD và được điều hành bởi một hội đồng gồm 12 người là những nhà đầu tư thiên thần giàu kinh nghiệm. Alicia gọi đây là quỹ “học qua hành”, khuyến khích những người góp vốn “làm quen” với công việc “đầu tư mạo hiểm” thông qua hàng loạt các bài giảng online có sẵn trên internet (có những bài giảng gói gọn trong năm phút dành cho những người bận rộn và 30 phút cho những người nhiều thời gian hơn) và tham gia trực tiếp lựa chọn hồ sơ, phỏng vấn, thương thảo với startup. Next Wave Impact dự định sẽ đầu tư cho 15 startup trong vòng ba năm tới. Alicia cho rằng đây là một mô hình đầu tư mạo hiểm tương đối lí tưởng vì cho phép một nhà đầu tư thiên thần có thể bỏ ra một số tiền nhỏ nhưng vẫn có thể đầu tư cho nhiều và đa dạng các công ty. Hơn nữa, vì chỉ phải gửi một số tiền nhỏ vào quỹ, một cá nhân có thể dành nhiều tiền hơn để đầu tư riêng vào các công ty, con người thuộc lĩnh vực khác mà họ thực sự quan tâm và say mê.  Đừng đầu tư một mình  Trong số 75000 lượt đầu tư thiên thần, chỉ có 13000 lượt được ghi nhận là thông qua các nhóm, quỹ, hiệp hội nhà đầu tư thiên thần ở Mỹ. Tuy nhiên, việc đầu tư theo nhóm có nhiều ích lợi hơn là đầu tư độc lập và đang trở nên phổ biến ở nước này. Mỗi người thường chỉ có chuyên môn về một lĩnh vực, việc đầu tư theo nhóm giúp một cá nhân hưởng lợi ích từ “trí tuệ tập thể” để phát hiện ra những cơ hội đầu tư mới, thậm chí là nằm ngoài lĩnh vực mà cá nhân này quen thuộc, đánh giá rủi ro của một startup từ nhiều góc độ. Ngoài ra, không một nhà đầu tư thiên thần nào có đủ “ba đầu sáu tay” “chăm sóc” cho hơn 20 công ty, việc đầu tư nhóm giúp cho họ “chia sẻ” đầu việc với các đồng nghiệp, hoặc trong trường hợp khi họ góp vốn vào một quỹ thiên thần thì là san sẻ công việc cho ban quản lý quỹ. Họ chỉ cần lựa chọn và tập trung nhiều thời gian hơn vào startup mà họ thực sự ấn tượng.  Vậy tại sao vẫn có những người chỉ thích đầu tư một mình? “Tôi không biết! Tôi thực sự không biết. Tôi chưa bao giờ đầu tư một mình cả nên tôi không hiểu động lực nào khiến họ làm như vậy”. Alicia Robb nói. “Liệu họ có phải là thích hưởng thành quả một mình không?” . Alicia không loại trừ khả năng này nhưng bà cho rằng “Bạn tưởng rằng bạn chắc chắn công ty này thành công và bạn muốn lấy tất cả. Nhưng thực ra chẳng ai có thể đoán trước được điều gì đâu”.  Hãy đa dạng hóa cộng đồng đầu tư  Ở Mỹ có một hiện tượng gọi là “Homophily” (tạm hiểu là những người giống nhau thì thích chơi với nhau) và điều này cũng diễn ra trong giới đầu tư. Phần lớn những nhà đầu tư thiên thần và quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm là những người đàn ông da trắng. Họ cũng chỉ đầu tư cho những người sáng lập công ty có đặc điểm tương tự. Vì vậy, không ngạc nhiên là ở Silicon Valley có một sự phân biệt đối xử nặng nề đối với các CEO  là nữ hoặc những người da màu trong việc tiếp cận vốn. “Chỉ có 2,6% số tiền của các quỹ đầu tư được rót vào những công ty có CEO là nữ. Điều này thật vô lý, khi một nửa dân số gặp khó khăn trong việc bước chân vào lĩnh vực kinh tế tăng trưởng nhanh thì mọi người đều thiệt thòi” – Alicia nói.  Next Wave Impact của Alicia cũng là một mô hình giúp giải quyết khoảng cách giới và khoảng cách chủng tộc trong đầu tư mạo hiểm. Trong đó, những người tham gia góp vốn là “nhóm yếu thế” trong cộng đồng khởi nghiệp bao gồm phụ nữ, những người thiểu số để đa dạng hóa cộng đồng những người khởi nghiệp, kéo gần khoảng cách phân biệt đối xử về giới tính và chủng tộc trong việc tiếp cận nguồn lực startup. Hiện nay, họ đã đầu tư vào 10 startup trong đó 9 startup có nữ trong đội ngũ sáng lập, 6 startup có phụ nữ làm CEO và có ba startup có người thiểu số làm CEO.  Với một hệ sinh thái khởi nghiệp chưa trưởng thành, Việt Nam có lợi thế trong việc tránh được “vết xe đổ” của Silicon Valley bằng cách rộng mở cho nữ giới và những người thiểu số vào cộng đồng nhà đầu tư ngay từ ban đầu.  Một điều khá thú vị đó là equity crowdfunding, một nền tảng công nghệ cho phép ai cũng có thể đầu tư với số tiền chỉ vài USD và nhận cổ phần từ startup lại không được Alicia ưa thích, mặc dù đây cũng là một cách hữu hiệu cân bằng giới và tộc người trong cộng đồng nhà đầu tư và startup. Alicia không công nhận những người đầu tư trên nền tảng này là những nhà đầu tư thiên thần, không phải chỉ vì quá nhiều người chia sẻ cổ phần của startup mà còn vì “đó là một kiểu đầu tư thụ động, không tạo ra giá trị tăng thêm cho startup”.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Đầu tư tám nhóm khu kinh tế ven biển      Thủ tướng Chính phủ đồng ý lựa chọn tám nhóm khu kinh tế (KKT) ven biển trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 – 2020.      Cụ thể, tám nhóm KKT trên gồm: Nhóm KKT Chu Lai, tỉnh Quảng Nam – Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi; KKT Đình Vũ – Cát Hải, thành phố Hải Phòng; KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; KKT Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; KKT Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh; KKT Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên; KKT Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; KKT Định An, tỉnh Trà Vinh.  Thủ tướng Chính phủ  yêu cầu tập trung phân bổ vốn đầu tư cho tám nhóm KKT ven biển trọng điểm nêu trên tối thiểu bằng 70% tổng nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Trung ương trong kế hoạch hàng năm và 5 năm 2016 – 2020 cho các KKT ven biển.  Trong đó giai đoạn 2016 – 2017 tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước để cơ bản hoàn thành các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội quan trọng của KKT nhằm đáp ứng yêu cầu của các dự án đầu tư động lực, quy mô lớn đối với 05 nhóm KKT ven biển trọng điểm đã được lựa chọn trong giai đoạn 2013 – 2015.  Giai đoạn 2018 – 2020, tập trung đầu tư cho các KKT ven biển trọng điểm mới được bổ sung trong giai đoạn 2016 – 2020 gồm: KKT Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên, KKT Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và KKT Định An, tỉnh Trà Vinh.  Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng phương án bố trí vốn ngân sách Trung ương theo kế hoạch hàng năm và 5 năm 2016 – 2020 cho các KKT ven biển, tuân thủ nguyên tắc tập trung cho nhóm các KKT trọng điểm được lựa chọn; chủ trì xây dựng cơ chế huy động vốn, ưu đãi, khuyến khích, đa dạng hóa vốn đầu tư phát triển KKT ven biển từ các thành phần kinh tế.  Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và là đầu mối theo dõi quá trình triển khai việc tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 cho các KKT ven biển trọng điểm được lựa chọn, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện. Trong quý III/2018, tiến hành sơ kết việc triển khai thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.  Các bộ, ngành Trung ương nghiên cứu, xây dựng cơ chế chính sách theo lĩnh vực quản lý ngành thống nhất với pháp luật về KKT, đồng thời hướng các KKT ven biển phát triển theo định hướng lĩnh vực thế mạnh, khai thác tối đa lợi thế của KKT.   Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND, Ban quản lý KKT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tuân thủ nguyên tắc tập trung đầu tư phát triển các KKT ven biển trọng điểm đã được lựa chọn; sử dụng vốn ngân sách Trung ương được phân bổ theo đúng quy định, đảm bảo tiến độ giải ngân và xây dựng công trình.  Đồng thời chủ động bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KKT ven biển.  Bên cạnh đó phát huy vai trò chủ động của địa phương, xây dựng cơ chế phân công, phối hợp thống nhất, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với KKT theo chức năng, nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Kinh-te/8-nhom-KKT-ven-bien-duoc-tap-trung-dau-tu-giai-doan-20162020/240972.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư thiết bị như thế nào cho hiệu quả ?      TS. Trần Đình Phong, trưởng khoa Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ nano (ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội USTH) đã trao đổi ý kiến của mình về các trang thiết bị trong nghiên cứu khoa học và cách thức sử dụng chúng hiệu quả.      Các nghiên cứu sinh của phòng Vật liệu từ và siêu dẫn (Viện Khoa học vật liệu) sử dụng thiết bị hiển vi điện tử truyền qua JEOL JEM-2100.  Trong lĩnh vực khoa học vật liệu, tôi thấy có hai loại máy móc trang thiết bị phục vụ nghiên cứu:  1. Các thiết bị cỡ lớn như máy phổ quang điện tử tia X (X-ray photoelectron spectroscopy – XPS), hiển vi điện tử truyền qua độ phân giải cao (High-resolution Transmission Electron Microscopy – HRTEM), hiển vi điện tử quét hiệu ứng đường ngầm (Scanning tunneling microscope – STM) vv…, thậm chí siêu lớn như máy gia tốc, đều là những loại máy có giá thành rất cao và đòi hỏi đầu tư một lượng kinh phí rất lớn. Vì thế, nếu có chủ trương đầu tư mua các các loại máy móc đắt tiền như thế này thì chúng ta cần tính đến việc khai thác nó một cách hiệu quả, nghĩa là để cộng đồng nghiên cứu có thể sử dụng rộng rãi. Muốn đạt được mục tiêu này, thì thiết bị phải đủ mạnh, và qui tụ được nhiều người có nhu cầu sử dụng để có thể phát huy hết công suất của máy.  Trên thế giới, việc đầu tư mua sắm các thiết bị phục vụ nghiên cứu cỡ lớn như thế cũng được cân nhắc, tính toán. Vì vậy, xu hướng mà nhiều thành phố khoa học ở châu Âu hay Mỹ, nơi tập trung nhiều đơn vị nghiên cứu, vẫn làm là các đơn vị cùng với thành phố, vùng v.v.. lập các nền tảng kỹ thuật (technological platform) để cộng đồng khoa học có thể dùng chung. Ví dụ, qua hợp tác nghiên cứu với một giáo sư bên Đức, tôi thấy, để được phân tích mẫu trên máy gia tốc BESSY, ông giáo sư này phải nộp đề xuất tới ban quản lý nền tảng kỹ thuật của thành phố, trong đó nêu rõ thời điểm thực hiện, việc phân tích mẫu đó phục vụ cho thí nghiệm gì, làm với ai, trên mẫu nào và tại sao lại cần làm. Thông thường, khoảng sáu tháng, ông ấy mới có được lịch làm việc trên máy trong khoảng thời gian từ một tuần đến 10 ngày, và khi đó thì cả nhóm nghiên cứu của ông có thể chạy máy 24/24, chỉ có người tham gia phân tích mẫu nghỉ chứ cỗ máy gia tốc BESSY không nghỉ.  Việc thiết lập các nền tảng kỹ thuật còn được một cái lợi rất lớn là tập trung thiết bị máy móc ở một nơi, người ta có điều kiện thuê các kĩ sư, kĩ thuật viên chuyên trách cho các máy đó để có thể hỗ trợ các nhà khoa học trong quá trình phân tích mẫu. Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa tồn tại khái niệm này, các đơn vị nghiên cứu khoa học đều được đầu tư độc lập trong việc mua sắm trang thiết bị nên rất khó có được một hệ thống đồng bộ. Trên thực tế, với các máy lớn này thì một nhóm nghiên cứu có thể chỉ cần dùng trong một khoảng thời gian nhất định trong khi các thiết bị đó phải chạy liên tục thì mới hiệu quả. Vì thế, nếu chỉ một phòng thí nghiệm, một đơn vị đầu tư mua máy móc để cho các nhà nghiên cứu của mình sử dụng thì rất khó phát huy được hiệu quả.  2. Loại thiết bị nhỏ, bao gồm các máy dùng hằng ngày như máy điện hóa, thiết bị tổng hợp mẫu, lò nung, v.v… thì các phòng thí nghiệm có thể tự trang bị tùy theo nhu cầu sử dụng thực tế cho các nghiên cứu của mình và đầu tư dần theo kế hoạch cũng như khả năng tài chính. Ví dụ đối với các loại thiết bị này, tôi dự tính trong hai năm tới mua thêm một máy sắc kí khí, một máy sắc kí lỏng và một bộ light source nữa là nhóm nghiên cứu của tôi có thể tự thực hiện được tầm 70–80% thí nghiệm tại USTH.  Suy nghĩ như vậy nên tôi không nghĩ đến việc “phải” gửi mẫu đi phân tích như một việc gì đó khó chấp nhận. Vì gửi mẫu đi để làm những thí nghiệm mà phòng thí nghiệm mình liên kết làm được còn mình thì không. Mặt khác, dù có nhiều kinh phí (nghe có vẻ hơi mơ mộng) thì tôi nghĩ cũng chưa đến lúc đầu tư các máy ấy ở USTH ngay bây giờ. Bởi bao giờ có chừng 10 đến 20 nhóm nghiên cứu như nhóm tôi cùng làm việc liên tục thì việc đầu tư các thiết bị XPS, STM ở USTH mới thực sự hiệu quả.  Hiện nay, nhóm tôi vẫn tích cực gửi mẫu sang Nhật, Singapore và Pháp để làm các thí nghiệm cần thiết. Tôi không nghĩ đấy là sự phụ thuộc. Ngược lại, các phòng thí nghiệm ấy đồng ý làm thí nghiệm trên các mẫu của mình cũng là một tín hiệu tốt, vì chắc không ai mất thời gian và tiền của chỉ để giúp mình vì phép lịch sự cả. Nhiều khi, giá thành mẫu tôi gửi đi phân tích ở các nơi ấy lại rẻ hơn và chất lượng hơn rất nhiều so với làm ở Việt Nam. Ở Việt Nam, vẫn tồn tại chuyện cứ chuyển mẫu, trả tiền và nhận kết quả. Đấy là dịch vụ chứ ko phải hợp tác làm khoa học. Chúng ta khó mà làm được khoa học đích thực với cách làm dịch vụ đó. Hiện tại, chúng tôi chỉ mất tiền gửi bưu điện thôi còn đồng nghiệp bên đó làm miễn phí cho mình.  Tóm lại, trong khoa học vật liệu không có máy thì rất khó làm mà có làm được thì cũng rất chậm, nhưng có máy móc thì cũng không có nghĩa là làm được. Nếu cứ có máy móc tốt là có khoa học đỉnh cao thì Việt Nam chúng ta chắc chắn không có cơ may nào và Trung Quốc đã trở thành cường quốc từ lâu rồi (thực ra họ đang trên đường trở thành ông lớn khoa học!). Theo tôi nghĩ, điều quan trọng số một ở Việt Nam bây giờ là VẤN ĐỀ CON NGƯỜI. Làm sao có nhiều người trẻ được đào tạo ở nước ngoài, bắt đầu tích lũy được kinh nghiệm nghiên cứu, và đam mê làm khoa học một cách thực sự, cảm thấy Việt Nam là một nơi có thể làm việc tốt được. Có người thì sẽ có máy, còn cứ lo máy rồi đến lúc không tìm được người dùng sẽ rơi vào tình trạng “dở khóc, dở cười”.  Với câu hỏi trang thiết bị chiếm bao nhiêu % thành công hay đầu tư cho một dự án, tôi nghĩ không thể có một con số chung được vì nó rất khác nhau giữa các ngành, các lĩnh vực. Thông thường, nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học thì cần ít tiền hơn so với lĩnh vực vật lý thực nghiệm một chút. Tất nhiên nếu đến trình độ làm những thí nghiệm “độc nhất” thì ngay cả lĩnh vực hóa học cũng rất đắt tiền vì máy móc phải “thửa” riêng và phải bổ sung thật nhiều. Làm nghiên cứu khoa học thì phải có chương trình lâu dài, dự án chỉ là một bước trong chương trình nghiên cứu. Thành ra, nếu có người làm có chương trình nghiên cứu tốt thì máy đầu tư cho dự án này sẽ còn dùng được mãi cho các đề tài khác của phòng thí nghiệm đó, nhóm nghiên cứu đó còn nếu hết dự án thì máy không dùng nữa thì dù có đầu tư bao nhiêu tiền nữa cũng không đủ.    Author                Trần Đình Phong        
__label__tiasang Đầu tư thời khủng hoảng: Chạy trời không khỏi nắng      Người có tiền tiết kiệm trên thế giới hiện nay thật khó xử. Một mặt, họ bị trách không chịu tiêu xài nhiều hơn để kích thích kinh tế. Mặt khác, quỹ hưu bổng ngày càng teo tóp lại, càng khiến họ tiết kiệm nhiều hơn, nếu muốn sống thoải mái lúc về hưu.     Khi cố tìm chỗ đầu tư, hàng ngày họ đọc biết bao tin tức về những vụ bảo lãnh ngân hàng, khủng hoảng nợ công và khả năng suy thoái lần nữa. Hầu hết mọi kênh đầu tư đều đang gặp nguy. Cổ phiếu đã bước vào hai thị trường sút giảm trong chỉ hơn một thập niên và vẫn còn dễ bị rúng động trước khả năng xảy ra suy thoái ở các nước giàu; công trái không sinh lời đủ để tránh tác động của lạm phát đang tăng trở lại; hàng nguyên liệu (commodities) biến động nhiều và dễ bị rớt giá nếu Trung Quốc giảm cầu; bất động sản vẫn trong tình trạng đọng vốn sau thập niên bùng nổ vừa qua.  Nếu nhà đầu tư chọn sai thì coi như đại họa. Lịch sử có biết bao ví dụ những thị trường sút giảm xóa sạch tài sản trên diện rộng (xem bảng). Năm 1946, khi lợi suất công trái Anh giảm xuống tới 2,5% (mức hiện nay), trong 28 năm tiếp theo nhà đầu tư mất 3/4 giá trị thực (đã khử lạm phát). Người đổ tiền vào vàng lúc cao điểm trong thập niên 1980 đã chứng kiến giá giảm hai phần ba trong 20 năm tiếp sau đó. Người mua cổ phiếu Nhật vào đỉnh điểm năm 1989 hiện nay lỗ 80% giá trị danh nghĩa.    Suất sinh lời thực trên thị trường chứng khoán, %           Thời kỳ   Mỹ  Anh  Đức  Nhật   Thế giới      1914-1918       -18        -36        -66        66       -21      1919-1928        372       234       18        30       208      1929-1931       -60        -31       -59        11       -53      1939-1948        24        34        -88       -69        -19      1949-1959        426        212        4.094        1.565       562      1973-1974        -52        -71        -26       -49        -47      1980-1989        184        319        272        431        255      1990-1999        279        188        148        -42        114      2000-2002        -42       -40       -58       -49       -44      2008       -37       -32        -43        -41       -40        Nguồn: Credit Suisse Global Investment Returns Sourcebook  Trước khi khủng hoảng xảy ra, thị trường tài sản tài chính tăng mạnh khá lâu khiến lợi suất giảm xuống, một phần là nhờ những yếu tố cơ bản vững chắc – tăng trưởng kinh tế ổn định và lợi nhuận công ty tăng lên – và một phần là do tâm lý giới đầu tư. Càng lạc quan, giới đầu tư càng định giá cao hơn cho cổ phiếu và trái phiếu, tạo ra suất sinh lời cao hơn, và do vậy càng thu hút thêm nhiều người mua.  Nhưng tác động tích cực đó không kéo dài mãi. Rốt cuộc giới đầu tư đã phải đối mặt với một lôgíc không thể lay chuyển: lợi suất của một tài sản lúc khởi đầu càng thấp, suất sinh lời dài hạn có thể hưởng trên tài sản đó càng thấp. Cổ phiếu là loại tài sản đầu tư đầu tiên cảm nhận được tác động này. Thời điểm năm 2000, trong lúc nhà nhà hào hứng với internet, lợi suất cổ tức của cổ phiếu Mỹ chỉ là 1%, mức thấp nhất trong lịch sử. Và hẳn nhiên, suất sinh lời thực của cổ phiếu trong 10 năm kế tiếp đó chỉ là 0,8% / năm.  Còn giảm đến đâu?      Nếu ta xếp hạng 75 năm thị trường chứng khoán Mỹ từ năm 1925 đến 2000 theo lợi suất, ai đã mua vào trong nhóm phần năm thấp nhất của lợi suất thì sau đó có suất sinh lời thực trung bình 3,1% trong mười năm; ai mua vào trong nhóm phần năm cao nhất của lợi suất thì hưởng được 10,7% (xem đồ thị 1).      Đồ thị 1  Hiện nay rủi ro nhiều, nhưng giới đầu tư nhìn đâu cũng thấy lãi thấp. Lãi suất ngắn hạn gần ở mức bằng không, trừ ở khu vực đồng euro với lãi suất hiện nay 1,5% – vẫn là suất sinh lời âm sau khi khử lạm phát. Công trái kỳ hạn 10 năm ở Mỹ, Anh, Đức và Nhật (các thị trường công trái có tính thanh khoản cao nhất) có lợi suất từ 1% tới 2,5%.; công trái kỳ hạn ngắn hơn có lợi suất càng ngắn hơn. Suất sinh lời ít ỏi như vậy là một phần của một chính sách có chủ đích: chính phủ và ngân hàng trung ương các nước muốn các công ty có khả năng tạo việc làm bắt đầu vay mượn trở lại. Ngay cả ở Wall Street, lợi suất cổ tức chỉ ở mức 2,1%, rơi vào nhóm phần năm thấp nhất. Kinh nghiệm cho thấy lợi suất thấp như vậy sẽ gắn với suất sinh lời thấp trong nhiều năm sắp đến. Đó là do di sản của những mức định giá cao ngất ngưỡng của Wall Street vào đỉnh điểm của bong bóng dotcom.  Tại sao lợi suất lại quan trọng đến thế? Suất sinh lời dài hạn của cổ phiếu bằng với lợi suất cổ tức khởi điểm cộng với tỉ lệ tăng trưởng cổ tức (cộng hay trừ bất cứ thay đổi nào về mức xếp hạng của thị trường). Nếu ta giả định rằng cổ tức Mỹ tăng trưởng đồng điệu với GDP, như vậy tỉ lệ tăng trưởng thực (sau lạm phát) khoảng 2,5%, do vậy suất sinh lời tổng cộng có thể khoảng chừng 4,5%.  Như vậy có thể hơi lạc quan. Biên lợi nhuận doanh nghiệp đang mấp mé mức cao nhất trong 50 năm, so với GDP, và do đó có thể giảm xuống. Ngoài ra, theo Elroy Dimson, Paul Marsh và Mike Staunton thuộc Trường Kinh doanh London, tỉ lệ tăng trưởng thực dài hạn của cổ tức Mỹ xưa nay thấp hơn tăng trưởng GDP: chỉ ở mức 1,4%. Cộng con số đó vào lợi suất cổ tức khởi điểm chỉ được suất sinh lời thực chừng 3,5%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình trong lịch sử.  Hơn nữa, nếu lợi suất tăng (giả định mức cổ tức chi trả không thay đổi), giá cổ phiếu giảm xuống. Vì vậy nếu lợi suất cổ tức tăng lên gần với mức trung bình trong lịch sử, suất sinh lời thực sẽ giảm xuống thấp hơn nữa. Nghiên cứu của Deutsche Bank về suất sinh lời đầu tư dài hạn ước tính rằng nếu các mức định giá trở về mốc trung bình, suất sinh lời thực của cổ phiếu Mỹ trong mười năm tới chỉ là 0,6%. Vào đầu những thời kỳ tăng bùng nổ của thị trường cổ phiếu, chẳng hạn như giai đoạn 1948 hay 1982, lợi suất cao hơn mức hiện nay. Để mua vào ở mức lợi suất thấp hiện nay, nhà đầu tư cần phải tin rằng cổ tức sẽ tăng trưởng rất mạnh.  Đầu tư cổ phiếu thì ít lo về tác động của lạm phát hơn, nhưng cổ phiếu Mỹ vẫn có vẻ đắt nếu định giá dựa trên lợi nhuận hay giá trị tài sản. Căn cứ vào tỉ số P/E điều chỉnh theo chu kỳ kinh tế, cổ phiếu Mỹ giao dịch với tỉ số P/E 19,4, so với mức trung bình xưa nay là 16,4. Theo hãng nghiên cứu Smithers & Co, tỉ số Q (so sánh giá cổ phiếu với chi phí thay thế của tài sản ròng) cho thấy thị trường Mỹ đang giao dịch ở mức cao hơn 44% so với mức định giá trị trung bình dài hạn. Cổ phiếu Châu Âu có vẻ hấp dẫn hơn. Nỗi lo về khủng hoảng nợ đã khiến cổ phiếu Châu Âu thua kém Wall Street năm nay, khiến cho các mức định giá có vẻ rẻ hơn. Cổ phiếu ở khu vực đồng euro giao dịch với lợi suất 4,2%, và trong khu vực này tỉ số P/E điều chỉnh theo chu kỳ kinh tế là 11, theo hãng nghiên cứu Absolute Strategy Research. Nhưng cũng có lý nếu nghĩ rằng hiện nay nên giữ tiền mặt với lý do là tình hình có thể tệ hơn trước khi cải thiện.  Các thị trường mới trỗi dậy lại đáng thất vọng trong năm 2011. Nhiều nhà đầu tư hy vọng rằng thành tích tăng trưởng vững chắc của các nước đang phát triển sẽ giúp họ sinh lời hơn thị trường Mỹ và Châu Âu. Nhưng dù Trung Quốc và Ấn Độ vẫn tăng trưởng mạnh, sức mạnh đó chưa chuyển sang giá cổ phiếu; các thị trường chứng khoán mới trỗi dậy giảm 23% trong quý ba. Kết quả là cổ phiếu ở thị trường mới trỗi dậy hiện giao dịch ở mức định giá trị thấp hơn so với ở các thị trường đã phát triển. Giá rẻ có thể khiến cho giới đầu tư an tâm đôi chút, đặc biệt nếu xét đến triển vọng tăng trưởng xuất sắc ở những nước mới trỗi dậy.   Có nên đầu tư vào trái phiếu?  Nhìn bề mặt, nếu triển vọng u ám, công trái Mỹ là công cụ đầu tư tốt. Trong những đợt suy thoái trước đây, cổ phiếu Mỹ trung bình có suất sinh lời âm 15,3% trong khi công trái Mỹ có suất sinh lời dương 10,4%. Tuy có vẻ thấp, lợi suất công trái ở Mỹ, Anh và Đức có thể còn giảm nữa; ở Nhật (có tỉ số nợ công trên GDP cao hơn các nước kia), lợi suất kỳ hạn mười năm chỉ là 1%. Nỗi lo về Hy Lạp, Tây Ban Nha và Ý có lẽ đã đẩy giới đầu tư sang mua công trái Đức và Mỹ, kênh được cảm nhận là an toàn. Nhưng điều đó phụ thuộc vào lạm phát không đáng kể; và với lạm phát ở Mỹ hiện nay 3,8% và trung bình là 3,1% kể từ năm 1990, đây là một rủi ro lớn cho nhà đầu tư.   Lợi suất thấp như vậy không có nhiều chỗ cho sai lầm. Có thể so sánh lợi suất của công trái thông thường với lợi suất của trái phiếu có điều chỉnh theo lạm phát để hình dung kỳ vọng của thị trường về áp lực lạm phát. Ở Mỹ, cách tính này cho thấy lạm phát kỳ vọng trong 30 năm tới chỉ hơn 2%. Lạm phát ở Mỹ hiện nay là 3,8%, mức trung bình kể từ năm 1900 là 3,1%. Theo Dylan Grice, một chiến lược gia ở Société Générale, có vẻ như giới đầu tư đang đặt cược vào lạm phát thấp hơn mức trung bình trong lịch sử bất chấp việc hiện nay các ngân hàng trung ương đang in tiền.  Ngoài tâm lý đánh giá thấp về lạm phát, có thể còn ba yếu tố khác đang đẩy lợi suất xuống thấp. Ở phía ngắn hạn của đường cong lợi suất, lợi suất công trái được quyết định bởi kỳ vọng của giới đầu tư về lãi suất chính thức, và Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ đã gần như quyết tâm giữ lãi suất ở mức cực thấp hiện tại cho tới năm 2013.  Việc sử dụng biện pháp nới lỏng cung tiền để mua công trái có thể đã là một yếu tố làm giảm lợi suất dài hạn. Ngân hàng Trung ương Anh đã có đợt nới lỏng cung tiền lần hai vào đầu tháng 10, và Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ đã gợi ý rằng họ có thể dùng biện pháp này lần thứ ba.  Thứ ba, các ngân hàng trung ương Châu Á nắm giữ công trái như một cách quản lý tiền tệ của họ. Nếu như họ xem tỉ giá hối đoái ổn định là ưu tiên hàng đầu, họ có thể tương đối thả lỏng về lợi suất và suất sinh lời tương lai.   Thật khó biết liệu những yếu tố này là tạm thời hay lâu dài. Chẳng hạn nếu các ngân hàng trung ương bán công trái mà họ đã mua qua các đợt nới lỏng cung tiền thì sao?   Theo nghiên cứu của Deutsche Bank, nếu lợi suất trở về mức trung bình, người mua công trái Mỹ kỳ hạn 30 năm sẽ bị lỗ 3,3% / năm trong 5 năm tới, và 1,3% / năm trong 10 năm tới; công trái kỳ hạn 10 năm sẽ bị lỗ lần lượt là 4,3% / năm và 2% / năm.  Hiện thời, trái phiếu công ty là một số trong những chỗ tránh bão an toàn nhất. Lúc kinh tế ổn định, trái phiếu công ty có lợi suất cao hơn công trái vì có rủi ro cao hơn. Theo Standard & Poor’s, tỉ lệ vỡ nợ của trái phiếu công ty hiện rất thấp: trong 12 tháng tính tới tháng 9 năm nay, chỉ có 1,9% số trái phiếu bị vỡ nợ. Nỗi lo về suy thoái kinh tế khiến cho mức chênh lệch lợi suất đối với công trái đã tăng đáng kể. Theo James Tomlins thuộc tập đoàn quản lý quỹ đầu tư M&G, những trái phiếu Châu Âu có lợi suất cao hiện nay cao hơn 10 điểm phần trăm so với công trái. Như vậy, giới đầu tư có biên độ an toàn cao hơn. Nhưng, nếu kinh tế đình trệ, thậm chí trái phiếu công ty có thể lại rớt giá.  Đầu tư vào tài sản thực  Ai muốn né tránh tác động của lạm phát có thể quan tâm hơn tới những tài sản thực (bất động sản hay hàng nguyên liệu) hơn là những tài sản trên giấy. Cho tới gần đây, vàng vẫn sinh lãi cao, dễ dàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn nhất kể từ khi khủng hoảng tín dụng bắt đầu vào năm 2007 (xem đồ thị 2)         Đồ thị 2  Vấn đề với vàng, và những commodities khác là: do không có lợi suất hay lợi nhuận nên khó định giá. Cầu từ Châu Á chắc chắn đã đẩy giá lên; những commodities không phải dầu đã tăng giá gấp ba trong thập niên vừa qua. Nhưng nếu kinh tế trượt vào suy thoái, giá commodities có thể giảm mạnh; giá đã giảm gần một nửa trong thời gian từ tháng 3 tới 12/2008. Năm nay, giá đã giảm khoảng 1/5 kể từ tháng 2.  Bất động sản là kênh ưa thích của nhà đầu tư cá nhân. Lãi suất cực thấp đã giảm áp lực đối với nhiều chủ sở hữu nhà. Do vậy, thước đo của tạp chí The Economist về giá nhà dựa trên tiền thuê cho thấy phần lớn các thị trường nhà có vẻ bị định giá quá cao (Mỹ là một trong những ngoại lệ). Nhưng các tổ chức tài chính đã siết chặt tiêu chuẩn cho vay kể từ những ngày cho vay bừa bãi của thời bùng nổ tín dụng dưới chuẩn; hiện nay người đi vay mua nhà cần phải đặt cọc nhiều hơn trước đây.  Điều đó khiến cho giới trẻ khó chen chân lên bậc thang bất động sản hơn, giảm cầu ở đáy thị trường. Khi những người thuộc thế hệ baby boomer về hưu và cần thanh lý giá trị đồng vốn kẹt trong ngôi nhà của mình, nguồn cung tăng lên sẽ là gánh nặng cho thị trường.   Rồi sẽ ra sao?   Lựa chọn của nhà đầu tư tùy vào suy đoán của họ về đoạn kết của cuộc khủng hoảng này. Hy vọng tốt nhất là chính phủ các nước sẽ “lò dò cũng mò qua sông”: bình ổn khủng hoảng nợ công Châu Âu, lèo lái những nền kinh tế đã phát triển trở lại con đường tăng trưởng 2-3% / năm, đồng thời vạch ra những kế hoạch có tính thực tiễn để giảm nợ công trong trung hạn. Nhưng nếu viễn tượng tươi đẹp đó không thành hiện thực, có thể ước đoán ba kịch bản như sau.  Khả năng thứ nhất: các nước đã phát triển sẽ cố gắng chấp nhận lạm phát để xử lý nợ công, có lẽ bằng cách nới lỏng cung tiền mạnh mẽ hơn. Sự tăng vọt của giá commodities hồi năm 2010 và đầu năm 2011 đã đẩy lạm phát cao hơn một năm trước đó ở từng nước trong khối G7, cũng như ở Brazil, Nga và Trung Quốc (Ấn Độ là ngoại lệ trong khối BRIC). Lạm phát thường cho thấy giới đầu tư chuyển sang vàng. Nhưng giá vàng đã cao ngất, và hầu hết các nhà kinh tế học nghĩ rằng lạm phát sẽ giảm xuống khi nền kinh tế toàn cầu chậm lại, như vậy lại không nên giữ vàng.  Khả năng thứ hai: chính phủ các nước Châu Âu có nước cờ sai lầm chết người, để cho Hy Lạp vỡ nợ trong hỗn loạn, mà không có biện pháp nâng đỡ thích hợp cho các ngân hàng trong khu vực hay bảo vệ những nền kinh tế lớn hơn như Ý và Tây Ban Nha. Kết quả có thể là GDP Châu Âu giảm mạnh, với những tác động lây lan sang những nước giàu khác. Nếu kịch bản này diễn ra, thì nên giữ công trái Mỹ.  Theo The Economist, các chính khách Châu Âu không thể quá ngu ngốc đến mức để đồng euro sụp đổ; rất có thể họ chẳng làm gì nhiều để giúp các nền kinh tế phương Tây tăng trưởng. Vì vậy The Economist cho rằng các nước giàu sẽ đối mặt với kịch bản thứ ba: đình trệ kinh tế kiểu Nhật. Suy thoái có thể xảy ra thường xuyên hơn so với thập niên 1980 và 1990, và tỉ lệ tăng trưởng chung sẽ ì ạch. Một kết quả như vậy sẽ khiến cho các nước đã phát triển rất khó xử lý nợ công của họ; sẽ có thêm nhiều nước rơi vào bẫy nợ kiểu Nhật.  Sẽ tốt hơn cho kinh tế toàn cầu nếu người có tiền tiết kiệm đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu công ty vào lúc này, thay vì đợi có tin khả quan hơn. Nhưng cũng dễ hiểu là họ ngần ngại chưa muốn đầu tư trong khi giới chính khách vẫn lừng khừng: Châu Âu không giải quyết được khủng hoảng Hy Lạp còn Washington thì không vạch ra được một kế hoạch kết hợp kích thích kinh tế ngắn hạn với một kế hoạch dài hạn để giảm thâm hụt ngân sách. Cũng chính vì thế các chính khách cần dứt khoát hành động: có như vậy mới khuyến khích người có tiết kiệm rút tiền cất dưới nệm để bỏ vào tài sản có khả năng sinh lời.  Lược dịch từ hai bài:   1.    Asset returns – I wouldn’t start from here, The Economist, 15/10/2011, http://www.economist.com/node/21532276  2.    Investing during a crisis – Nowhere to hide, The Economist, 15/10/2011, http://www.economist.com/node/21532286    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư vào Trung Quốc có cái giá của nó!      Các doanh nghiệp phương Tây đang bất chấp mọi điều kiện để có thể tiến vào thị trường Trung Quốc. Cách dễ dàng nhất vẫn luôn là liên kết với một doanh nghiệp nội địa Trung Hoa, cho dù nó ẩn chứa nguy cơ rằng trong tương lai, doanh nghiệp Hoa sẽ trở thành chính đối thủ cạnh tranh của họ.    Từ ngày thị trường Trung Quốc mở cửa, chiến thuật của các doanh nghiệp nước ngoài khi muốn tiếp cận thị trường này luôn là liên kết với một doanh nghiệp nội địa. Hiện tại, một số các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực mạnh nhất đã tiến thêm một bước mới nữa, rủi ro cao nhưng có tiềm năng rất lớn: đó là việc cho phép đối tác Trung Hoa của họ liên kết với họ để tiến ra một phần của thị trường toàn cầu.  General Electric đang gần đạt được thỏa thuận để lập một công ty liên doanh theo tỉ lệ góp vốn là 50-50 với nhà sản xuất máy bay dân dụng và quân sự Aviation Industry Corp. Of China (AVIC). Thỏa thuận này sẽ cho phép gã khổng lồ Hoa Kỳ có thể tham gia hợp tác vào dự án của chính phủ Trung Quốc nhằm sản xuất máy bay dân dụng Comac C919, mà Bắc Kinh hy vọng rằng sẽ có thể cạnh tranh với Boeing 737 hay Airbus A320 ngay từ năm 2014.  Còn nhà sản xuất xe hơi General Motors thì lập một liên doanh với đối tác lâu năm của mình tại Trung Hoa là SAIC Motor, để sản xuất và bán các xe minivan Wuling cho thị trường Ấn Độ, tiếp đến là tiến sang thị trường Đông Nam Á rồi các nước đang phát triển khác.  Hai ví dụ trên cho thấy tham vọng vươn ra biển lớn của ngành công nghiệp Trung Hoa, cũng như là áp lực lớn mà họ đang áp đặt lên các đối tác ngoại quốc của mình. Để đạt được thỏa thuận liên doanh của mình, General Electric đã nhượng bộ rất nhiều: Tập đoàn Hoa Kỳ đã góp vào liên doanh tòan bộ mảng hàng không dân dụng của mình trên toàn cầu. Còn General Motors thì góp toàn bộ phần công nghệ, tất cả các nhà máy tại Ấn Độ của mình cũng như quyền được sử dụng nhãn hiệu Chevrolet trên đất Ấn cho công ty liên doanh.  Các thỏa thuận kiểu này là điều không thể tưởng tượng được cách đây vài năm. Nhưng ngày nay, các tập đoàn Trung Quốc đã có tiềm lực kinh tế đáng nể cũng như ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng tại các nước đang phát triển giàu tài nguyên thiên nhiên, nơi các đối thủ phương Tây của họ ít có sư hiện diện. Hơn nữa, thị trường Trung Quốc đã trở nên quá quan trọng với các tập đoàn đa quốc gia khiến các hãng Trung Hoa có thể ngồi vào bàn đàm phán trên thế thượng phong.  Chiến thuật này ẩn chứa nhiều rủi ro đối với các hãng phương Tây. Lịch sử đã cho thấy rằng, sau khi đã nắm bắt được công nghệ và học được cách quản lý Tây phương, các công ty Trung Hoa có thể lại trở thành các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các đối tác cũ của họ. “Người nước ngoài nhận ra rằng họ sẽ phải chia sẻ hoặc hy sinh một phần lợi nhuận trên thị trường toàn cầu của họ cho đối tác Trung Hoa”, Raymond Tsang, thuộc văn phòng tư vấn Bain & Co tại Thượng Hải giải thích. “Một số phàn nàn về điều này. Nhưng nếu họ không làm vậy thì các đối thủ của họ luôn sẵn sàng nhảy vào thay thế.”  Ngành năng lượng cũng không thoát khỏi trào lưu này. Từ khi Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ trở thành quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, làm ăn tại Trung Hoa trở thành sống còn với đa số các hãng đa quốc gia trong lĩnh vực này. Họ luôn liên kết với một công ty Trung Hoa để mọi việc được tiến hành dễ dàng hơn. Trong những liên kết này, các hãng phương Tây góp công nghệ và kinh nghiệm quản lý, các hãng Trung Hoa góp các mối quan hệ của mình, nguồn nhân lực giá rẻ và các khoản vay của chính phủ Trung Quốc chỉ dành cho các công ty nội địa.  Tập đoàn nhà nước China National Petroleum là một trong những công ty dầu khí nước ngoài đầu tiên kí được một hợp đồng lớn tại Irak. Năm 2009, Hãng BP của Anh xin gia nhập liên doanh với họ và đầu tư 15 tỉ USD để nâng sản lượng của giếng khoan khổng lồ Rumaila nằm ở cực nam Irak. Hè năm ngoái, Royal Dutch Shell đã liên kết cùng PetroChina, một công ty con của China National Petroleum để mua lại một phần cổ phiếu của hãng Arrow Energy với tổng giá trị 3,15 tỉ USD.  Trong quá khứ, đã có rất nhiều liên doanh có cái kết không đẹp đẽ. Sau khi giúp các công ty Trung Hoa xây dựng tuyến đường sắt cao tốc, hãng Nhật Kawasaki Heavy Industries cùng hãng Đức Siemens hiện nay phải cạnh tranh với chính những đối tác cũ với chính những công nghệ của mình mà họ đã chuyển giao. Còn hãng thực phẩm Pháp Danone, năm 2009 đã chấp nhận bán phần của mình trong liên doanh với tập đoàn Hàng Châu Wahaha (liên doanh lập năm 1996), kết thúc cuộc chiến pháp lý kéo dài vô tận, sau khi Danone lên án Wahaha đã lập một công ty con, kinh doanh cùng mặt hàng theo cùng một cách thức với công ty liên doanh mẹ.  Còn thỏa thuận giữa General Electric và AVIC cũng rất bấp bênh, Jim Watson, Chủ tịch của một văn phòng tư vấn chuyên về lĩnh vực hàng không, Growth Strategies International, đánh giá. “Một khi AVIC đã đủ lông đủ cánh, họ có thể sẽ đá General Electric và độc lập tác chiến.”  Trần Việt Dũng (dịch từ Wall Street Journal)    Author                Quản trị        
__label__tiasang David chưa thể bắt tay với Goliath, tại sao?      Chúng ta không ai xa lạ với câu chuyện thần thoại David đánh bại người khổng lồ Goliath. Trong thế giới của những biến động không ngừng, việc xuất hiện những chàng David có khả năng làm khuynh đảo trật tự và làm khó cho những người khổng lồ không phải là hiếm có.       Hitec Konec diễn ra vừa qua ở Hải Phòng với 70 cuộc kết nối, trong đó có 15 cuộc kết nối với động lực đầu tư, còn lại là để hiểu thêm về công nghệ.  Cứ thử nhìn lại điện thoại di động của chúng ta, bao nhiêu % trong số các ứng dụng trên đó của những startup? Chúng ta đều tự có câu trả lời cho chính mình và nhận ra rằng có lẽ doanh nghiệp lớn không đợi bị doanh nghiệp nhỏ đánh bại, tìm cách hợp tác với nhau để chung sống sẽ tốt hơn rất nhiều. Thực tế là, đời sống của chúng ta đang ngày càng lệ thuộc nhiều hơn vào những mô hình mới mẻ lặp lại và nhân rộng ra được mà người ta gọi là startup này. Điều đó dẫn đến một thực tế, dù một doanh nghiệp lớn đến đâu, dù là B2B hay B2C, cũng buộc phải để mắt đến những mô hình kinh doanh mới nếu muốn tồn tại, phát triển. Chính những áp lực này đặt doanh nghiệp vào những thách thức mà dù dùng những mỹ từ như chuyển đổi số hay đổi mới sáng tạo nhưng bản chất cũng phản ánh một điều rằng, nếu không thay đổi và tìm kiếm những mô hình mới, cách thức mới sáng tạo giá trị mới, ngay cả những doanh nghiệp lớn cũng sẽ không tránh khỏi gặp khó.       Trên thế giới, nhiều doanh nghiệp tập đoàn lớn tạo ra những sandbox mang tính thử nghiệm để tự mở rộng cơ hội hợp tác với startup bằng việc đơn giản hóa quy trình, ra quyết định nhanh và gia tăng tốc độ thử nghiệm.      Cũng có một thực tế là, với cái mới, người ta có xu hướng hoặc mù quáng lao vào nó, hoặc hồ hởi đón tiếp nó hoặc học hỏi, hợp tác với thái độ thận trọng, cũng có thể dè dặt, lo sợ, chống đối, phản đối cơ hội hợp tác, cạnh tranh, và cũng có thể coi thường, không chấp nhặt. Muôn kiểu thái độ phản ánh những tư duy khác nhau đang ít nhiều ảnh hưởng đến những hợp tác giữa những ông lớn và những mô hình kinh doanh mới còn đang ở giai đoạn mới mẻ chớm phát triển. Và cũng vì vậy, có rất nhiều vấn đề phải bàn để thực sự có được cái bắt tay hiệu quả giữa Goliath và David.   Trước tiên, tại sao phải có hợp tác này?   Lẽ đương nhiên, hợp tác với doanh nghiệp lớn, trưởng thành, startup có nhiều ích lợi như ta vẫn nhìn thấy, đó là mở rộng thị trường, gia tăng giá trị cho những khách hàng sẵn có của doanh nghiệp, là tận dụng nguồn lực, mạng lưới của doanh nghiệp v..v. Tuy nhiên, việc hợp tác không phải chỉ vì lợi ích của startup hay là một sự ban ân huệ cho các startup. Động lực đến từ chính cả các doanh nghiệp trưởng thành mong muốn đổi mới. Một cuộc khảo sát do Unilever tiến hành với 204 doanh nghiệp lớn và 114 startup về triển vọng hợp tác đến 2025 cho thấy, động lực học hỏi nhiều điều mới (Startup 88%/Tập đoàn: 85%); động lực gia tăng hiệu quả hoạt động (Startup 81%/Tập đoàn: 81%); động lực giải quyết vấn đề theo cách mới có thể nhân rộng ra được: (Startup 89%/ Tập đoàn: 80%)  Trên thực tế, việc hợp tác không còn là trên lý thuyết, những mong muốn động lực của doanh nghiệp thể hiện rõ qua khảo sát dưới đây mà đứng đầu bảng là mong muốn tìm hiểu khám phá các công nghệ mới và/hoặc mô hình kinh doanh mới; hiểu biết sâu sắc về xu hướng công nghiệp non trẻ; Mua lại tiềm năng các startup cùng ngành nghề hoặc bổ trợ; chứng minh rằng tổ chức của chúng tôi là “sáng tạo”; Tiếp cận tài năng và năng lượng mới; Nâng cao trách nhiệm xã hội của công ty và Kiếm lợi nhuận tài chính từ đầu tư (mạo hiểm).       Phần lớn các startup được hỏi đều trả lời họ rất khó tiếp cận các doanh nghiệp lớn, còn doanh nghiệp lớn thì rất ít có thời gian để tìm hiểu về các giải pháp mới của startup.      Cũng trong cuộc khảo sát này 80% doanh nghiệp tin rằng startup sẽ có tác động tích cực lên cách tiếp cận của công ty lớn với đổi mới sáng tạo; 89% startup tin rằng họ có thể đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp, những giải pháp này có thể nhân rộng. Tuy nhiên, ở Việt Nam điều gì đang ngăn cản họ bắt tay nhau?  Sự e dè từ hai phía: Không khó để tìm ra những ví dụ về những mối hợp tác bất thành giữa startup và doanh nghiệp trưởng thành do sự è dè từ cả hai phía. Startup với đặc thù của mình vốn không phải là một doanh nghiệp lớn thu nhỏ, thiếu sự chuyên nghiệp, thiếu quy trình chuẩn mực và thiếu hiểu biết về doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn cũng còn thiếu niềm tin với các startup. Tâm lý của những cỗ máy có thâm niên chạy ổn định luôn đối lập với những thứ mới mà ít nhiều người ta cho rằng đang theo phong trào. Thiếu thông tin, thiếu niềm tin, việc tiếp cận với doanh nghiệp lớn chưa bao giờ dễ dàng với startup. Ngay cả khi có cơ hội bắt tay hợp tác với doanh nghiệp, sự khác biệt về tư duy của hai phía xoay quanh vấn đề phát triển một sản phẩm bán được cho doanh nghiệp cũng khó đưa việc hợp tác đến thành công. Startup say sưa với sản phẩm mà quên đi vấn đề và lợi ích của các khách hàng doanh nghiệp. Ngoài ra, vòng đời bán hàng của startup buộc phải tối ưu ở mức ngắn nhất có thể để sống sót đối lập với quy trình phức tạp và tốc độ ra quyết định chậm chạp tại các doanh nghiệp tổ chức lớn. Không khó hiểu khi trên thế giới nhiều doanh nghiệp tập đoàn lớn tạo ra những sandbox mang tính thử nghiệm để tự mở rộng cơ hội hợp tác với startup bằng việc đơn giản hóa quy trình, ra quyết định nhanh và gia tăng tốc độ thử nghiệm. Ở Việt Nam, những sandbox như thế này còn rất mới mẻ và cũng là cụm từ xuất hiện hơn một năm trở lại đây. Tuy nhiên, để trở thành một hoạt động thực sự có giá trị cho doanh nghiệp, cần có sự đầu tư bài bản về con người và quan trọng hơn là tư duy của đội ngũ lãnh đạo dẫn dắt thử nghiệm.   Thiếu động lực đổi mới sáng tạo từ chính doanh nghiệp:     Hitec Konec năm 2018 kết nối các doanh nghiệp và startup trong công nghiệp phụ trợ và logistic. Mở đầu sự kiện là chia sẻ của anh Trần Mạnh Huy, công ty VBPO (Đà Nẵng) và Trần Quang Cường, công ty Nextfarm về các công nghệ mới.      Mặt khác cũng cần phải nhìn vào một thực tế là, mặc dù các doanh nghiệp đang mong muốn ứng dụng và làm chủ công nghệ như báo chí vẫn thường nói, chi cho nghiên cứu phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất thấp. Điều này xuất phát từ cả những nguyên nhân nội tại là sức ì của doanh nghiệp và những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô. Theo báo cáo của World Bank năm 2017 thì mức chi trả cho hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam đang kém hơn so với Campuchia và thuộc top dưới trong khối các nước Đông Nam Á; năm 2018 chúng ta vẫn còn đưa ra ý kiến xem có nên bỏ mức giới hạn 10% đầu tư cho đổi mới sáng tạo hay không? Nếu còn những giới hạn như vậy thì động lực đổi mới sáng tạo và đầu tư cho hoạt động này sẽ chưa thực sự có những đột phá mạnh mẽ và cửa để startup có thể tham gia một phần của câu chuyện như vườn ươm, tăng tốc, hay bán mình cho doanh nghiệp lớn chắc còn là bài toán xa ở Việt Nam.  Các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp trưởng thành, các tập đoàn với startup gồm:  ● Ươm tạo: Vườn ươm doanh nghiệp  ● Tăng tốc: Ươm tạo và tăng tốc đổi lấy cổ phần  ● Hackathons: Thiết kế sản phẩm dịch vụ trong thời gian ngắn  ● Platforms: Xây dựng nền tảng  ● Channels: Biến doanh nghiệp thành kênh bán hàng do sự phù hợp về lợi ích  ● Spinoffs: Phát triển doanh nghiệp từ hoạt động nghiên cứu phát triển của tập đoàn lớn  ● Bán hàng cho doanh nghiệp  Cần những nỗ lực phá băng  Một vài điều chúng tôi rút ra từ những câu chuyện từ thực tế triển khai việc kết nối giữa doanh nghiệp lớn và startup. HiTech Konec là một chương trình chúng tôi thực hiện bên lề của Techfest – một sự kiện thường niên cho startup công nghệ nhằm tạo một không gian cho startup gặp gỡ doanh nghiệp trưởng thành quan tâm đến công nghệ mới có cơ hội hợp tác, bán hàng cho nhau. Một phần không thể thiếu trong mỗi sự kiện này là việc mời một hoặc một vài chuyên gia có chuyên môn sâu về một công nghệ để chia sẻ xu hướng ứng dụng công nghệ cụ thể trong một hoặc vài ngành. Việc đào tạo này giúp doanh nghiệp trưởng thành có cái nhìn cụ thể hơn công nghệ mới đó có thể làm gì và làm thế nào để làm việc với các startup một cách hiệu quả. Sau 3 năm tổ chức, chúng tôi còn nhận ra cần phải hỗ trợ chính các doanh nghiệp lớn để họ nhìn ra bức tranh và cơ hội hợp tác với startup và chỉ ra cho các startup cách thức làm việc và bán hàng với doanh nghiệp lớn. Phần lớn các startup được hỏi đều trả lời họ rất khó tiếp cận các doanh nghiệp lớn, còn doanh nghiệp lớn thì rất ít có thời gian để tìm hiểu về các giải pháp mới của startup. Họ quen với những nhà cung cấp chuyên nghiệp và có bộ máy ổn định. Năm 2019, chúng tôi có dịp cùng Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN tiếp tục phát triển HiTech Konec này thí điểm trước Techfest 2019 tại Hải Phòng và với Sàn giao dịch công nghệ Hải Phòng- Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng. Các startup được gặp gỡ trực tiếp các đại điện của các doanh nghiệp tập đoàn lớn tại Hải Phòng như General Electrics, đại diện Vinmart, Nhựa Tiền Phong, Vân Long, Mega Market, Tân Phong An. Cuộc gặp gỡ diễn ra bằng màn pitching của các startup và hỏi đáp nhanh từ khán giả là các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư tiềm năng (vốn cũng là các chủ doanh nghiệp). Những câu hỏi thẳng thắn trực diện của doanh nghiệp vào giải pháp, chi phí, quy trình thực sự là một bài tập lớn cho các startup. Nó đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hiểu về nhu cầu của doanh nghiệp trước khi đi vào gặp gỡ trực tiếp 1:1 với khoảng 70 cuộc kết nối chính thức và không tại bàn trong đó 15 cuộc kết nối là với động lực đầu tư, phần còn lại là tìm hiểu công nghệ và cơ hội hợp tác. D.I.D, một startup trong mảng danh tính điện tử, dữ liệu thông minh chia sẻ: “Đây là một cơ hội quan trọng với những startup B2B như bên mình. Những gặp gỡ như thế này đã giúp D.I.D có cơ hội đi tiếp vào buổi gặp sâu hơn với đối tác mà bình thường sẽ mất rất nhiều thời gian để tìm kiếm và tiếp cận”. Khi chúng tôi hoàn thành bài viết, D.I.D đã có lịch hẹn chính thức với hai đối tác và tiếp tục về Hải Phòng để thực hiện những công việc sâu hơn. Hành trình để đi đến hợp đồng và hợp tác chính thức có lẽ còn dài, nhưng những nỗ lực ban đầu có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà vận hành các tổ chức hỗ trợ thực sự quan trọng và đáng trân trọng. Nó cũng giống như vốn mồi ban đầu cho hành trình xa hơn, bền vững hơn của startup. □  Trong 10 năm trở lại đây, tổng cộng gần 207 triệu USD đã được đầu tư vào 11.305 startup qua 579 chương trình tăng tốc trong doanh nghiệp, theo Báo cáo Chương trình tăng tốc Toàn cầu 2016 của Gust. Nguồn: http://gust.com/accelerator_reports/2016/global/    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Dạy khởi nghiệp trong trường đại học      Bài học của Đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM khiến chúng ta phải đánh giá lại những nhận định thông thường về khuyến khích khởi nghiệp trong trường đại học.    Cuối năm 2017, “Cánh tay robot đút thức ăn cho người già và bệnh nhân Parkinson” của nhóm sinh viên trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đã đoạt giải nhất trong cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc, vượt qua hàng ngàn đề tài nghiên cứu đến từ 77 trường đại học. Sau đó, dự án này được các doanh nghiệp Singapore quan tâm, ngỏ ý mua bản quyền và đầu tư cho việc tiếp tục nghiên cứu chế tạo sản phẩm ưu việt hơn, hướng tới việc thương mại hóa.    Sản phẩm “Cánh tay robot đút thức ăn cho người già và bệnh nhân Parkinson”. Ảnh: Dân Trí  Nhưng thành công đó không phải là câu chuyện thành công bất ngờ của Khoa Cơ khí chế tạo máy, trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM (HCMUTE). Trước đó, sinh viên ở đây đã từng nổi tiếng trên các báo với hàng loạt máy bán phở, bán bánh mì, bán trà sữa…tự động. Mỗi năm, riêng khoa cơ khí chế tạo của trường đều nhận được từ 30 đến 40 đơn đặt hàng của doanh nghiệp cho những thiết bị cải tiến quy trình sản xuất và dịch vụ.  Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các đại học, học viện và trung cấp cần xây dựng các chuyên đề khởi nghiệp để đưa vào chương trình đào tạo theo hướng bắt buộc hoặc tự chọn. Đây là một nội dung triển khai của Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” mới được ban hành vào cuối năm 2017. Đề án cũng đòi hỏi các trường phải có bộ phận hỗ trợ, kênh thông tin dành cho khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo đồng thời lựa chọn, ươm tạo và tìm nguồn vốn cho các dự án khởi nghiệp tiềm năng và giới thiệu họ tham dự ngày hội khởi nghiệp quốc gia hằng năm. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải đến khi đề án ra đời các trường mới quan tâm đến khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Câu chuyện này đã hiện diện ở nhiều vườn ươm, sự kiện, các cuộc thi khởi nghiệp và các khóa đào tạo kinh doanh “mọc” lên ngày càng nhiều trong các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, kết quả của những hoạt động này khá mờ nhạt. Điều này dẫn đến câu hỏi, làm thế nào để đề án không biến khởi nghiệp hay đổi mới sáng tạo trở thành một phong trào, chỉ có vẻ bề ngoài ồn ã nhưng không tạo ra những giá trị, những dự án và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thiết thực?  Bắt đầu từ thay đổi cách dạy  Một loạt dự án do sinh viên thực hiện thành công và trở thành sản phẩm bán trên thị trường của HCMUTE không đến từ môn học mang tên “khởi nghiệp” hay đổi mới sáng tạo hoặc các cuộc thi và sự kiện khởi nghiệp của trường mà đến từ việc phương pháp “học theo dự án” (project-based learning), theo đó, nội dung của hầu hết các môn học đều gắn liền với một sản phẩm phục vụ thực tiễn. “Hay nói cách khác, môn học sẽ hỗ trợ việc sản xuất chế tạo một sản phẩm nào đó” – TS. Nguyễn Trường Thịnh, trưởng khoa Khoa Cơ khí Chế tạo máy nói và cho rằng đây là xu hướng toàn cầu và “chúng ta không có cách nào khác là phải đi theo”.  Ngay từ năm thứ nhất đại học, sinh viên đã được làm quen với phương thức giảng dạy này trong môn học nhập môn. Môn học này được xây dựng xoay quanh việc sinh viên phải tự lập nhóm và triển khai một sản phẩm tự động hóa đơn giản, chẳng hạn như “tập làm múa rối nước tự động” (thay thế cho các nghệ nhân dưới nước). Các môn chuyên ngành về sau sẽ hướng tới các dự án phức tạp hơn, nhiều khi gắn liền với đặt hàng của doanh nghiệp thành sản phẩm hoàn chỉnh có thể thương mại hóa được. Ngoài “máy bán phở tự động” nói trên còn có “người hùng đường Cống” – một robot dọn rác trong đường ống ngầm hay máy lau lá chuối tự động cho công ty Thọ Phát (được biết đến chủ yếu với sản phẩm bánh bao, trước đây công ty phải có một bộ phận chuyên lau lá chuối bằng tay, năng suất thấp).        Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Trường Thịnh, có hai khó khăn chính trong việc thực hiện phương thức giảng dạy mới này. Đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp và trường đại học còn lỏng lẻo và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn thấp. Có rất ít cơ sở đào tạo ý thức thiết lập cơ sở dữ liệu về năng lực và các nghiên cứu của trường và nỗ lực quảng bá tới doanh nghiệp. Trách nhiệm vì thế phụ thuộc vào sự linh hoạt và năng động của giảng viên: “Các thầy cô, ngoài phải nghiên cứu và giảng dạy, họ còn kiêm luôn tiếp thị cho các sản phẩm của mình” – TS. Thịnh cho biết. Hơn nữa, các trường không kì vọng vào nguồn thu từ các phát minh và bằng sáng chế. Nên dù đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và có sản phẩm bán được như HCMUTE, trường cũng không có mấy động lực để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình mà dựa chủ yếu vào tính tự giác của doanh nghiệp.  Qua các dự án hợp tác với trường, doanh nghiệp cũng tuyển dụng được một đội ngũ kĩ sư giỏi. Thường ở các nước khác, họ sẽ có trách nhiệm đóng góp lại cho ngôi trường đó, có thể là thông qua quyên góp, đầu tư và hỗ trợ để nâng cao chất lượng đào tạo, để sau này doanh nghiệp có thể khai thác tiếp lực lượng kỹ sư có chất lượng cao. Nhưng điều đó nằm ngoài mối quan tâm của đa số các doanh nghiệp Việt Nam. “Họ nghĩ rằng, họ đã cho trường tên đề tài, một hướng nghiên cứu, và việc kỳ vọng nhiều hơn ở họ là rất khó khăn, ngay cả khi đã tận dụng nguồn nghiên cứu của khoa để ra sản phẩm, đi sản xuất hàng loạt.” – TS Thịnh nói.  Sinh viên “ngại” khởi nghiệp  Tại sao lại cần thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo ở sinh viên và thậm chí là cả ở phổ thông? Liệu có phải chúng ta muốn tăng số lượng các sinh viên khởi nghiệp? Chúng ta muốn có ngày càng nhiều các startup bước ra từ các trường đại học? Bản thân đề án cũng kì vọng 100% các trường đại học, 50% các trường trung cấp có ít nhất hai ý tưởng được đầu tư đến năm 2020 và năm ý tưởng đến năm 2025. Nếu đúng là như thế, thì đó là một mong ước lãng mạn. Dự án “Cánh tay robot đút thức ăn cho người già và bệnh nhân Parkinson” được nhắc đến ở đầu bài viết hiện nay đã gần như không còn hoạt động. Dù đề tài có hướng phát triển xa hơn, đầy triển vọng và được ủng hộ đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài, nhưng các sinh viên lại lựa chọn không tiếp tục.  Theo như suy nghĩ thông thường, vốn, sự hỗ trợ, tính khả thi của ý tưởng chính là những yếu tố ảnh hưởng nhất đến quyết định khởi nghiệp và đi theo đến cùng của sinh viên. Nhưng đó không phải là điều sinh viên ở HCMUTE thiếu. Sinh viên có dự án có thể đăng ký đề tài nghiên cứu cấp trường và xin cấp vốn, nhà trường có thể hỗ trợ khoảng 50 triệu để sinh viên khởi nghiệp và nhà đầu tư có thể hỗ trợ nhiều hơn. TS. Thịnh cho biết, vấn đề nằm ở chỗ sinh viên vẫn không thấy việc đảm bảo tài chính ở đây. Với việc có giải thưởng, họ dễ dàng tìm được một công việc mơ ước với mức lương hấp dẫn ở các công ty. Nếu so sánh điều đó với việc nghiên cứu một sản phẩm mà chưa rõ kết quả với nhiều khó khăn trong ít nhất một, hai năm tới, các bạn sinh viên chọn con đường dễ dàng và chắc chắn hơn.  Vậy thì tại sao vẫn cần đưa tinh thần đổi mới sáng tạo hay kĩ năng khởi nghiệp vào trong các cơ sở đào tạo? Không phải là để có ngày càng nhiều sinh viên startup hơn mà là bởi những kĩ năng làm việc nhóm, quản lý thời gian, quản lý tài chính, tư duy một cách tổng quan, kĩ năng giao tiếp – lắng nghe người khác, tinh thần dám chấp nhận thất bại, kiên trì thử và sai, đo lường học hỏi để có được kết quả tốt nhất, đón nhận những ý tưởng khác biệt…cần thiết đối với mọi vị trí công việc, mọi lĩnh vực ngành nghề và chúng chỉ có thể “học qua hành”, “học qua trải nghiệm” chứ không phải chỉ qua nghe giảng. Để làm được điều đó, không nhất thiết phải tổ chức ngày càng nhiều nhiều lớp dạy khởi nghiệp mà cần tạo ra một môi trường giảng dạy sáng tạo, liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp, cho các em “không gian” để thử nghiệm những kiến thức đã học trong việc giải quyết những bài toán thực tế trên giảng đường.    Author                Minh Châu        
__label__tiasang Đây là thời khắc có một không hai cho phát triển vaccine      Trụ sở của hãng Evotec ở Hamburg-Langenhorn không phải là một vị trí đẹp nhất ở thành phố này. Liệu nó có đủ sức cuốn hút tài năng trẻ bậc nhất nước Đức đến làm việc tại doanh nghiệp vào loại quan trọng nhất của Đức trong lĩnh vực công nghệ sinh học hay không.      Werner Lanthaler, chủ tịch Evotech cho rằng, “ngành Công nghệ sinh học đang trải nghiệm thời khắc của sự thật”  Hàng trăm nhà khoa học làm việc tại các cơ sở của Evotec ở Toulouse, Verona và Oxford. Chủ tịch Hội đồng quản trị Werner Lanthaler tin chắc rằng, đây là thời của ngành công nghiệp của ông. Giờ là lúc ngành công nghệ sinh học phải chứng minh, ngành này có thể làm gì để phục vụ cuộc chiến chống Virus Covid-19.  Thưa ông Lanthaler, qua đại dịch corona này nhiều người mới nhận ra rằng ngành công nghệ sinh học có thể góp phần tiêu diệt virus. Evotec đã làm gì với virus COVID-19?  Thí dụ chúng tôi thử nghiệm trên nền tảng của mình xem trong số những hoạt chất trong các loại thuốc chữa bệnh hiện có, có thể chống virus để sử dụng lần hai. Với cách làm này chúng tôi đã thành công trong việc tìm ra những phân tử nhỏ khác bên cạnh Remdesivir để có thể dùng làm thuốc trị Covid-19. Trong công nghệ sinh học chúng ta đang trải nghiệm một cái gì đó như khoảnh khắc của sự thật.  Cách đây mấy tháng đã có  26 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp của chúng tôi và ngành công nghiệp dược đã trao đổi qua điện thoại để thành lập một konsortium về nghiên cứu. Với cá nhân tôi thì đó quả là một khoảnh khắc kỳ diệu. Đây là lần đầu tiên chúng tôi không quan tâm ai là người sẽ về nhất trong cuộc tranh đua này mà chỉ mong muốn làm sao chúng ta có một cách nhanh nhất vaccine, chất kháng thể điều trị và thuốc chữa bệnh. Để đạt được điều đó chúng tôi đã cung cấp cho nhau những thông tin quan trọng và các dữ liệu. Đối với tôi đây là điều có một không hai.  Trong phát triển và sản xuất vaccine, sự hợp tác này tiết kiệm được bao nhiêu thời gian?  Cơ sở để bắt tay vào việc  nhanh hơn trước nhiều và bất kể ai làm việc này đều cần có sự chuẩn bị ban đầu như thế này. Tôi nghĩ so với cái thời làm gì cũng phải bí mật, che che đậy đậy trước kia thì chúng tôi cũng tiết kiệm được từ ba đến bốn năm. Cũng cần nói cơ quan thẩm quyền của chính phủ trong việc cấp phép cũng chưa bao giờ khẩn trương làm việc như bây giờ, thí dụ cấp phép để làm thí nghiệm lâm sàng nhanh hơn trước nhiều. Điều đó cũng góp phần tiết kiệm rất nhiều thời gian. Và nhà sản xuất vaccine cũng như các doanh nghiệp dược phẩm không chờ kết quả nghiên cứu mà xúc tiến xây dựng ngay cơ sở sản xuất từ bây giờ chứ không chờ đến khi vaccine được công nhận.  Điều này cũng giúp rút ngắn thời gian.  Liệu những điều đó cuối cùng có giúp cứu con người khỏi sự lây nhiễm virus không thưa ông?  Virus Covid-19 sẽ không biến mất, nhưng bệnh do nó gây ra sẽ chữa trị được. Tôi cho rằng thật sai lầm nếu chỉ chú ý tới vắc xin. Thuốc chưa bệnh cũng quan trọng không kém. Các bạn hãy xem virus – HIV, cho đến hôm nay chúng ta không có vaccine phòng bệnh này nhưng HIV đã trở thành bệnh có thể chữa trị được.  Nga đã tìm ra vaccine. Sản phẩm của họ có thể coi là bản mẫu được không?  Tôi không có điều kiện để trong một thời gian ngắn có thể xem các dữ liệu đằng sau sự phê chuẩn này. Và vì thế tôi không thể đánh giá vaccine đó. Quá trình phê duyệt có quá nhiều điều không bình thường.  Khi nào thì chúng ta có vaccine?  Tôi tính trong mười hai tháng tới sẽ có một loại vaccine và kháng thể điều trị, có nghĩa là có thuốc chữa bệnh hữu hiệu. Hiện đã có thí nghiệm để chứng minh cơ chế hoạt động chống Covid-19. Vấn đề là liệu chúng ta có cần phải chờ đợi kết quả kiểm tra về độ an toàn ở thí nghiệm đại trà như thông lệ hay không, hay được phép áp dụng trước. Thách thức tiếp theo là làm thế nào để đưa thuốc đến hàng trăm triệu người đây .  Bản thân ông có cho tiêm chủng không?  Tôi bao giờ cũng tiêm chủng, khi có điều kiện và khi tôi biết về các dữ liệu an toàn trong thí nghiệm lâm sàng.  Theo ông liệu có xảy ra tranh giành trong phân phối không, ai là người đầu tiên sẽ thắng hoặc liệu có vaccine hay không?  Không, điều đó sẽ không xảy ra. Ngành công nghiệp sẽ tiến hành sản xuất nhanh với số lượng lớn. Sự phát triển diễn ra với tốc độ cao. Bạn hãy xem bộ thử  đó: tôi nghĩ nội trong sáu tháng, người ta có thể mua bộ thử nghiệm- Covid-19 ở siêu thị Edeka với giá 30 Euro.  Qua vụ đại dịch này Châu Âu có cảm thấy sự lệ thuộc của mình vào hai nhà sản xuất thuốc lớn là Trung Quốc và Ấn Độ ? Liệu Châu Âu có giành lại ưu thế này không?  Một mặt Châu Âu nên có dự trữ lớn hơn đối với một số nguyên liệu cơ bản và các nguyên liệu nhất định, mặt khác cần phát triển khả năng tự sản xuất thuốc chữa bệnh. Không làm điều đó thì thật quá ngây thơ. Nếu chỉ dựa hoàn toàn vào nhập khẩu các nguyên liệu và phương tiện từ Ấn Độ và Trung Quốc thì quá sai lầm. Chúng ta phải tự mình bảo đảm cung cấp về cơ bản cho khoảng thời gian nhiều tháng liền, cho dù điều đó đòi hỏi phải đầu tư vài ba tỷ euro. Tuy nhiên nếu nhìn vào phân tích lợi ích, tôi cho rằng làm như thế là hoàn toàn đúng. Hoa Kỳ cũng làm như vậy, thế mới phải.  Chính phủ Đức cùng tham gia với doanh nghiệp Công nghệ Sinh học CureVac ở Tübingen, doanh nghiệp này đang triển khai làm một loại vaccine chống Virus -Covid-19. Có lo ngại về việc Tổng thống Donald Trump sẽ can thiệp?  Về cơ bản tôi vui mừng khi nhà nước liên kết với CureVac. Nếu chính phủ Liên bang đầu tư có hệ thống vào ngành công nghệ sinh học và xây dựng ngành công nghiệp này về chiến lược, đó là điều tích cực. Nhưng nếu đây là một hành động riêng lẻ nhằm đối đầu trong cuộc cạnh tranh với Donald Trump thì đó là sự phù phiếm vô bổ.  Trong hoạt động kinh tế nhà nước vốn dĩ không được coi là cổ đông tốt nhất.  Về cơ bản là như vậy. Nếu nhà nước xuất phát từ chủ nghĩa bảo hộ nên liên doanh với doanh nghiệp để bảo vệ nó thì việc làm này là vô nghĩa. Trong cạnh tranh loại vũ khí này vô tích sự. Nếu nhà nước là một cổ đông năng nổ, lý tưởng nhất khi nó hoạt động trên bình diện châu Âu để xây dựng những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như công nghệ sinh học hay khoa học sự sống thì tôi cho là tích cực.  Điều đó sẽ diễn ra như thế nào?  Lập Quỹ Nhà nước là một cách. Quỹ này nên đầu tư không chỉ cho nghiên cứu khoa học cơ bản mà cả cho khoa học ứng dụng. Sau đó nhà nước phải có chính sách để dõi theo mục tiêu đã đề ra, xây dựng những ngọn hải đăng hay đầu tầu trong ngành công nghệ sinh học. Ngành công nghiệp của chúng tôi đã làm được nhiều việc xuất sắc và tiến được khá xa. Các bạn hãy xem vấn đề ung thư, có khoảng 300 loại ung thư. Trong mười năm vừa qua chúng tôi đã thành công trong việc tìm ra  các hình thức điều trị cho mười loại bệnh ung thư trong số nói trên. Từ chẩn đoán là bệnh ung thư chết người nay chúng trở thành những bệnh mãn tính có thể điều trị được.  Vậy xin hỏi ông tại sao ngành công nghệ sinh học Đức lại không thể tự lực cánh sinh?  Có nhiều nguyên nhân. Một Startup công nghệ sinh học non trẻ khó nhận được sự hỗ trợ tài chính. Ở Đức vốn tư nhân chưa sẵn sàng cho đầu tư mạo hiểm, điều này khác với Hoa kỳ. Không phải vô cớ khi mà hầu hết các doanh nghiệp công nghệ sinh học đều đăng ký trên sàn chứng khoán Nasdaq của Hoa Kỳ. Phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Frankfurt am Main thì rất khó, vì thiếu các nhà đầu tư như Quỹ công ty chuyên về công nghệ sinh học.  Sự tài trợ này còn cụ thể bắt đầu từ đâu?  Nhà nước nên tài trợ cho nghiên cứu bằng cách bảo đảm hoàn thuế. Nước Pháp trao giải thưởng cho nghiên cứu. Ai chi 1000 Euro cho công tác nghiên cứu  thì được nhận lại 250 euro báo có về thuế (Steuergutschrift). Ngoài ra chúng ta phải đầu tư vào phần mềm tinh thần và hỗ trợ cho người tài một cách tốt nhất. Mục đich là làm sao để những tài năng trẻ sau khi được đào tạo ở Mỹ trở về Đức chứ không phải ở lại  đó và mở doanh nghiệp riêng của họ.  Tại Hoa kỳ thì các tỷ phú cỡ như  Jeff Bezos ủng hộ ngành công nghệ sinh học, ở Đức cũng có một nhúm tên tuổi làm việc này. Dietmar Hopp, Andreas và Thomas Strüngmann hay trong trường hợp của ông là Roland Oetker. Ông có cần một sự bảo trợ về lâu về dài không?  Đầu tiên tôi sẽ rất vui nếu như chính phủ trao tặng cho những con người xuất chúng này huy chương và gửi tới họ một lá thư tri ân. Nước Đức là một trong những nước giàu nhất thế giới. Chúng ta không chỉ cần năm tên tuổi nổi tiếng, chúng ta cần có 5000 người sẵn sàng hoạt động với sự giầu có của họ trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Rất tiếc là ở ta có một sự sợ hãi cơ bản mỗi khi nói đến những đề tài như vật lý hoặc hóa học. Tài trợ cho một nghệ sỹ hoặc hoạt động trên danh nghĩa một nhà từ thiện thì đơn giản hơn nhiều.  Liệu có phải vì với công nghệ sinh học khó làm ra tiền?  Giá trị doanh nghiệp được tạo ra nhờ công nghệ sinh học. Hiện nay trên thị trường chứng khoán giá trị của Evotec là 3,5 tỷ euro. Hơn nữa từ năm  2012 chúng tôi đã làm ăn có lời và trong tương lai, hàng năm,  sẽ tiếp tục như vậy. Chúng tôi đầu tư lợi nhuận thu được vào mở rộng nền tảng của mình. Hiện tại chưa chia tiền cho các cổ đông. Thí dụ chúng tôi đang xây dựng nhà máy tương lai của mình ở Seattle, Hoa Kỳ. Cơ sở này liền kề với khu vực-SpaceX của Elon Musk. Chúng tôi sẽ sản xuất kháng thể ở đây. Hiện nay 75% hoat động kinh doanh mới của chúng tôi diễn ra tại Hoa kỳ.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/plus213601222/Evotec-Chef-Ich-werde-mich-immer-impfen-lassen.html             Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề án QG về khởi nghiệp: Những điểm khuyết thiếu      Sau khi được thông tin về&#160; khung đề án “Chương trình Quốc gia hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025”, một số chuyên gia đã gửi cho Tia Sáng góp ý của họ.  &#160;      Trần Trí Dũng*: Bức tranh hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam 2025 sẽ như thế nào?  Đề án “Chương trình Quốc gia hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2020” do Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (NATEC), Bộ KH&CN xây dựng và dự kiến trình Chính phủ trong tháng 10-2015 là tín hiệu rất phấn khởi đối với cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khởi nghiệp công nghệ. Đây là nỗ lực cụ thể khẳng định ưu tiên quan tâm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Chính phủ. Quan trọng hơn, sau khi Đề án được đệ trình và phê duyệt, nhiều hoạt động và cả cơ chế sẽ được thực thi và hình thành với mục tiêu kép: (i) tạo nền tảng pháp lý và hạ tầng; và (ii) trực tiếp tác động vào hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo qua từng công việc triển khai cụ thể.    Với kỳ vọng Đề án sẽ có những tác động đáng kể tới hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia, tôi quan tâm những vấn đề sau đây khi nghiên cứu nội dung Khung Đề án:  Cách thức tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thiết kế nội dung Đề án là căn cứ thuyết phục rằng việc xây dựng Đề án đã tuân thủ các chuẩn mực của phương pháp tiếp cận khoa học, đảm bảo độ tin cậy, tính hợp lý và tính khả thi của những đề xuất trong Đề án. Khuôn khổ giới hạn 12 trang của Khung Đề án chưa trình bày nội dung này. Kết quả tra cứu thông tin trên các hệ thống truyền thông đại chúng cũng không tìm thấy kết quả nghiên cứu, khảo sát nào của NATEC về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.   Phương pháp triển khai, giám sát và điều chỉnh hoạt động chưa được đề cập trong Khung Đề án. Mục tiêu và kết quả cụ thể cần đạt được trong quá trình thực thi được trình bày rất rõ ràng. Tuy nhiên, các căn cứ để đảm bảo tính hợp lý và tính khả thi của những mục tiêu và kết quả này chưa được nhắc tới trong Khung Đề án.   Hợp tác quốc tế và hợp tác với khu vực tư nhân sẽ mang lại đóng góp quan trọng về nguồn lực, năng lực chuyên môn, và cơ hội tiếp cận thị trường cho hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam. Khung Đề án không trình bày nhiều về những nội dung này. Có lẽ, Khung Đề án được xây dựng dựa trên phép tính chủ động từ NATEC và chưa có nhiều thời gian trao đổi với các đối tác tiềm năng.  Đề án hướng tới cải thiện và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhưng chưa phác họa bản đồ hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam trong tương lai. Tới năm 2025, khi kết thúc triển khai Đề án, thì hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam sẽ có vóc hình ra sao? Từng tác nhân sẽ ở vị thế nào và có đóng góp gì vào hệ sinh thái này?  Như thế, chúng ta sẽ đồng ý với nhau rằng việc thực thi các nội dung của dự thảo Đề án như hiện nay sẽ tác động tốt tới hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam, còn tốt thế nào thì chưa biết.  Những hoạt động và kết quả dự kiến trong Khung Đề án được đặt ra đầy đủ và cụ thể nhưng các hoạt động này phối hợp và bổ trợ nhau ra sao, làm sao để đảm bảo sẽ đạt các kết quả, và tác động lan tỏa và bền vững của các kết quả sau khi kết thúc hoạt động của Đề án thì chưa được đề cập đến.  Tôi xin góp ý một số hoạt động cụ thể như sau:    Giải pháp “Kết nối các thành phần của Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo” cần được đặc biệt quan tâm bởi đây là công việc có tiềm năng thúc đẩy các giải pháp khác, đồng thời, kích hoạt nguồn lực (vốn luôn không đủ) chưa được khai  thác hoặc sử dụng chưa hiệu quả trong hệ sinh thái. Tuy nhiên, việc “Hình thành đơn vị một cửa của nhà nước để thu thập và cung cấp thông tin về khởi nghiệp cho tất cả các đối tượng quan tâm” không nhất thiết phải là của nhà nước mà có thể là tổ chức cung cấp dịch vụ công với sự tham gia của các đối tác tư nhân.   Thông tin là một loại tài sản và đầu vào của nhiều dịch vụ giá trị gia tăng. Cần làm rõ rằng thông tin được tập hợp là nhằm mục đích chia sẻ và phục vụ cộng đồng, không nhằm duy nhất mục tiêu quản lý nhà nước. Đơn vị tập hợp và vận hành hệ thống có quyền khai thác các dịch vụ giá trị gia tăng trên thông tin (báo cáo phân tích, nghiên cứu và dự báo xu thế) nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm chia sẻ và đáp ứng yêu cầu thông tin cơ bản (sẽ định nghĩa cụ thể) của cộng đồng khởi nghiệp. Chẳng hạn, danh sách doanh nghiệp KH&CN, những đơn vị được hưởng ưu đãi, có khả năng được nhận hỗ trợ của Nhà nước từ nguồn ngân sách hình thành từ thuế, cần được công bố đầy đủ  (thông tin liên lạc, giới thiệu sản phẩm, dự án).  Việc “Bộ KH&CN xây dựng tiêu chuẩn và cấp giấy chứng nhận cho những nhà đầu tư thiên thần, các tổ chức thúc đẩy kinh doanh, các tổ chức đào tạo khởi nghiệp, đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp, đào tạo nhà đầu tư khởi nghiệp” tạo sự e ngại về việc sinh thêm thủ tục hành chính, yêu cầu pháp lý, cản trở sự phát triển của các tổ chức và cá nhân này trong lúc đang cần cổ vũ và thúc đẩy. Hiệu quả thực thi của các quy định này khi đưa vào triển khai cũng cần được xét tới.   Nguyễn Anh Thi **: Không nên đặt ra quy định cấp giấy chứng nhận     Ông Nguyễn Anh Thi  Các nhóm giải pháp Đề án đưa ra phù hợp với ba quan điểm quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đã được kiểm nghiệm bởi các nghiên cứu khoa học và thực tiễn như sau: Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp hay cộng đồng khởi nghiệp cần những chính sách mang tính “quan hệ” (relational policies), hỗ trợ cho việc kết nối các bên liên quan trong hệ sinh thái khởi nghiệp1. Thứ hai, trung tâm và lãnh đạo hệ sinh thái khởi nghiệp phải là doanh nghiệp2. Thứ ba, nhà nước thúc đẩy, khuyến khích và thu hút đầu tư cho khởi nghiệp có thể thực hiện thông qua hai cơ chế là cơ chế đẩy (dùng quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và cơ chế đầu tư đối ứng) và cơ chế kéo (là quá trình đào tạo nhiều doanh nhân khởi nghiệp tài năng với các dự án khởi nghiệp chất lượng để khởi nghiệp gia tăng một cách tự nhiên).   Tuy nhiên, Đề án không nên đặt ra quy định cấp giấy chứng nhận cho các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, các tổ chức đào tạo khởi nghiệp, đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp, đào tạo đầu tư khởi nghiệp, bởi vì đối với môi trường làm khởi nghiệp cần đơn giản tối đa các thủ tục hành chính.  Giấy chứng nhận không có ý nghĩa nhiều đối với người khởi nghiệp hay các huấn luyện viên khởi nghiệp. Ta vẫn biết rằng nhà đầu tư quyết định đầu tư vào các dự án khởi nghiệp dựa vào hai yếu tố: nhà sáng lập doanh nghiệp (founder), và tiềm năng và tính khả thi của dự án. Tuy nhiên, thử hỏi nhà đầu tư có dựa vào giấy chứng nhận của Bộ KH&CN để đánh giá về founder không? Người ta cũng sẽ không chọn huấn luyện viên khởi nghiệp (mentor) cho mình hay tổ chức của mình chỉ vì người đó có giấy chứng nhận của Bộ KH&CN mà dựa trên kinh nghiệm/thành tựu khởi nghiệp của mentor. Do vậy, việc cấp giấy chứng nhận không mang lại “giá trị thực sự” gì và do vậy tất yếu cũng sẽ “không có tính khuyến khích” (mọi người đi học).   Không nên yêu cầu tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp phải sở hữu giấy chứng nhận như là điều kiện để được nhận hỗ trợ của Quỹ Đầu tư khởi nghiệp Quốc gia. Hỗ trợ của nhà nước cần rộng mở cả cho các tổ chức mới, có tiềm năng để nâng mặt bằng chung về chất và lượng của cộng đồng khởi nghiệp. Quyết định hỗ trợ chỉ nên dựa trên hiệu quả hoạt động được đánh giá theo một số tiêu chí phù hợp nhất định do Bộ KH&CN quy định.    Vấn đề “kiểm soát chất lượng” nên để thị trường tự điều tiết. Ví dụ, các startup sẽ lựa chọn các tổ chức thúc đẩy kinh doanh giúp họ “đi đúng hướng” và có thể huy động vốn thành công. Những tổ chức thúc đẩy kinh doanh không làm được điều đó sẽ không thể cạnh tranh và tự diệt vong.   Sean Lâm***: Nên ưu tiên hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương    Ông Sean Lâm  Bên ngoài những hệ sinh thái khởi nghiệp tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, còn nhiều khu vực khác tiềm năng cho ngành công nghệ chẳng hạn như Đà Nẵng và Cần Thơ. Tuy nhiên tại đây, các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp như VCCI, Hiệp hội doanh nghiệp và các cơ sở ươm tạo trong trường đại học hầu như không hoạt động hỗ trợ người trẻ khởi nghiệp, nhất là hướng đến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp cho địa phương.   Chương trình quốc gia hỗ trợ “Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2020” cần thúc đẩy phát triển hệ sinh thái ở các địa phương bằng cách tập trung vào ba điểm sau:   1) Nên ưu tiên hỗ trợ các sự kiện khởi nghiệp và cấp địa phương vì hai nơi trung tâm là Hà Nội, TP HCM không cần có chương trình quốc gia thì những người có tâm huyết từ lĩnh vực tư nhân (private sector) và những nhà/quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế cũng đã tạo nên hệ sinh thái khởi nghiệp.   2) Hình thành và phát triển các gói hỗ trợ khởi nghiệp về cơ sở vật chất – kỹ thuật (tạo ra mạng lưới các cơ sở công lập và tư nhân cung cấp không gian làm việc chung và hỗ trợ đường truyền, máy chủ cho các công ty khởi nghiệp).   3) Hình thành và phát triển mạng lưới thông tin kết nối các chủ thể của hệ sinh thái khởi nghiệp. Để làm một cổng thông tin cung cấp các dữ liệu về hệ sinh thái khởi nghiệp chỉ cần khoảng 30 triệu đồng và sau đó có thể kinh doanh (cung cấp dịch vụ có phí) trên nền tảng này.    ————   * Ông Nguyễn Anh Thi là Giám đốc Khu Công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (ITP) – một hệ sinh thái khởi nghiệp với chương trình tăng tốc khởi nghiệp iStartX do UBND TP Hồ Chí Minh tài trợ, cung cấp không gian làm việc, dịch vụ CNTT và hoạt động kết nối cộng đồng.   ** Ông Trần Trí Dũng đã có trên 10 năm kinh nghiệm tư vấn quản trị chiến lược doanh nghiệp, tham gia nhiều dự án nghiên cứu ứng dụng về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, hiện là chuyên gia M&E (Giám sát & Đánh giá) của Tigers@Mekong – dự án thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp tại các quốc gia tiểu vùng hạ lưu sông Mekong, gồm Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ.  *** Ông Sean Lâm là đồng sáng lập Panda &  ETM Partners – nhóm khởi nghiệp tại Cần Thơ, đang xúc tiến xây dựng  hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp Cần Thơ và thành lập không gian làm  việc chung (co-working space).   Chú thích:  1. Startup community: building an entrepreneurial ecosystem in youy city, Brad Feld (2012)   2. Entrepreneurial ecosystems and growth oriented entrepreneurship, Mason C. and Brown R. (2014)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Để đồng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp trở nên hiệu quả      Sau hơn một thập niên kiên trì đeo đuổi, cuối cùng thì những phiên đàm phán mệt mỏi và dai dẳng cũng kết thúc và vào ngày 07/11/2006 vừa qua, tại Genève, Thụy Sỹ, nghi thức kết nạp Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chính thức diễn ra. Đây là một niềm vui, rất vui cho NGƯờI VIệT NAM vì chướng ngại vật lớn nhất cản trở quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của chúng ta, một xu thế không thể đảo ngược đã được dỡ bỏ; đồng thời nó cũng chính là áp lực rất lớn làm cho cho một số ít người hay nhóm lợi ích vì quyền lợi cá nhân, quyền lợi cục bộ đang cố tình trì hoãn con đường đi đến phồn vinh, khả năng “sánh vai với các cường quốc năm châu” của Việt Nam không thể thực hiện ý đồ của mình.    Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui, những khó khăn nảy sinh sau khi gia nhập WTO là điều không tránh khỏi. Hai trong số những vấn đề làm Việt Nam lo lắng nhất là (1) hiệu quả và khả năng đứng vững của các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, và (2) khả năng ngân sách dựa nhiều vào thuế xuất nhập khẩu và dầu thô sẽ bị sụt giảm dẫn đến thâm hụt và mất cân bằng ngân sách sẽ gia tăng.  Có lẽ thấy rõ những thách thức đặt ra mà trong Hội nghị sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2006 – 2010 được tổ chức vào ngày 7/10 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết liệt, nhất là đẩy mạnh công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Ngay trước thời điểm được kết nạp trở thành thành viên WTO, vào ngày 06/11, Quốc Hội đã tập trung thảo luận và đưa ra những quyết sách cho vấn đề này. Thêm vào đó, các vấn đề liên quan đến ngân sách đã trở thành một trong những quan tâm hàng đầu của các đại biểu Quốc hội trong kỳ họp đang diễn ra.  Làm sao để các doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả và làm sao để tạo nguồn thu thay thế cho thuế nhập khẩu bị cắt giảm và nguồn dầu thô đang cạn kiệt là vấn đề đang được quan tâm. Bài viết xin đề xuất một giải pháp góp phần giải quyết vấn đề này.  Quản lý đồng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp như thế nào?  Đến thời điểm hiện nay, chắc không còn nhiều người chưa nhận ra tầm quan trọng và sự cần thiết việc cải cách và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, nhất là việc cổ phần hóa. Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại ở đây mà câu hỏi đặt ra là phải chăng cổ phần hóa là liều thuốc đặc trị có thể chữa căn bệnh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước? Thêm vào đó, các doanh nghiệp trọng điểm không nằm trong diện cổ phần hóa thì làm thể nào để chúng hoạt động có hiệu quả?  Câu trả lời nằm ở doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được thành lập mới trong quá trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước. Đó chính là Tổng công ty Đầu tư vốn nhà nước (State Capital Investment Corporation – SCIC), doanh nghiệp được thành lập để quản lý nguồn vốn của nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp.  Nếu đi đúng lộ trình và mục tiêu đặt ra khi thành lập, khi tất cả phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hiện nay được chuyển giao, SCIC sẽ có một số tiền gần 300 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 19 tỷ đô la). Một số tiền khổng lồ. Một siêu công ty (so với quy mô Việt Nam). Câu chuyện lúc này trở nên đơn giản hơn nhưng cũng có nhiều điểu đáng quan tâm hơn. Đơn giản là vì nếu SCIC hoạt động hiệu quả theo đúng nghĩa của nó thì lúc đó gánh nặng và những khó khăn của nhà nước trong việc quản lý hàng nghìn doanh nghiệp được dỡ bỏ, hiệu quả đồng vốn nhà nước được phát huy. Ngược lại, rủi ro sẽ nhiều hơn trong trường hợp SCIC hoạt động không hiệu quả. Chắc chắn một điều là tác hại của nó sẽ lớn hơn nhiều trong trường hợp SCIC không tồn tại.  Về phía nhà nước, cơ chế quản lý phần vốn của mình sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều. Hàng năm nhà nước chỉ yêu cầu SCIC trả một tỷ lệ “cổ tức” (lãi) trên phần vốn của mình đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm hiện tại.  Sẽ có lập luận cho rằng, gánh nặng quản lý phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hiện tại không mất đi mà chẳng qua nó được chuyển sang SCIC. Khi đó, quy mô của SCIC sẽ phình to và gây thêm rắc rối cho các doanh nghiệp cũng như tiêu tốn ngân sách nhà nước. Thực ra, nếu căn cứ vào mục tiêu lợi nhuận thì không hề có gánh nặng quản lý cho SCIC và nhiệm vụ của họ trở nên đơn giản hơn. Lúc này SCIC có vai trò như một quỹ đầu tư thụ động với danh mục đầu tư được rải đều trong tất cả các ngành. Điều không thể bàn cãi là suất sinh lợi của danh mục đầu tư này tối thiểu phải bằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (Thực ra, về nguyên tắc suất sinh lợi phải cao hơn, nhưng nhà nước chỉ lấy bằng tăng trưởng kinh tế, phần còn lại sẽ được tái đầu tư để gia tăng lợi nhuận cho các năm sau).  Đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhất là khi phần vốn nhà nước chiếm vị trí chi phối, SCIC chỉ yêu cầu họ trả cho mình một tỷ lệ “cổ tức” bằng suất sinh lợi chung của toàn ngành. Để đảm bảo khách quan và ổn định, tránh trường hợp viện dẫn khó khăn, tỷ lệ trả “cổ tức” sẽ được giao trong một khoảng thời gian từ 3-5 năm thay vì hàng năm. Nếu doanh nghiệp nào không đạt được mức sinh lợi chung của toàn ngành thì SCIC sẽ đưa ra quyết định có nên duy trì số vốn của mình trong doanh nghiệp đó không hay đầu tư vào nơi khác… Trong tình huống này, áp lực hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ được trả về cho chính doanh nghiệp. Các thông lệ và chuẩn mực thị trường sẽ đi vào thực tế Việt Nam nhiều hơn.  Một mũi tên bắn trúng nhiều đích  Nếu thu được tỷ lệ “cổ tức” trong phần vốn hiện tại tương đương với tốc độ tăng trưởng kinh tế (7,5-8%), thì hàng năm, nhà nước sẽ có thêm gần 25 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 10% ngân sách và tương đương với số thu thuế nhập khẩu theo dự toán ngân sách năm 2006. Một con số rất có ý nghĩa bù đắp cho những nguồn thu bị giảm sút sau khi gia nhập WTO.  Thêm vào đó, vấn đề hiệu quả của phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp đã được giải quyết. Với một danh mục đầu tư vào toàn nền kinh tế SCIC không có lý do gì để bao biện rằng họ không thể trả nhà nước một suất sinh lợi bằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Cũng dựa trên nguyên tắc lợi nhuận, các doanh nghiệp không có lý do gì để chống chế cho việc không đạt được suất sinh lợi bình quân chung của ngành. Các doanh nghiệp phải hiệu quả, SCIC phải hiệu quả là điều không thể bàn cãi.  Một ích lợi khác của việc áp dụng cơ chế này là mọi thứ trở nên minh bạch hơn rất nhiều. Một số doanh nghiệp không thể dựa vào cái cớ thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước giao nhằm thoái thác nghĩa vụ nộp “cổ tức”. Thêm vào đó, các chính sách hỗ trợ của nhà nước sẽ minh bạch hơn. Doanh nghiệp cứ vì mục tiêu lợi nhuận của mình. Khi cần đầu tư vào các vùng khó khăn, lĩnh vực ưu tiên, nhà nước sẽ dùng tiền của mình để “ký hợp đồng” trực tiếp với doanh nghiệp. Thay vì cứ chỉ đạo các doanh nghiệp làm sau đó ghi thu ghi chi với những con số không rõ ràng hoặc áp dụng các chính sách có tính chất riêng biệt theo từng trường hợp cụ thể rất khó kiểm soát. Khi mà mọi thứ trở nên minh bạch hơn thì môi trường kinh doanh sẽ tốt hơn và Việt Nam sẽ không còn chịu lép vế khi các đối tác dựa vào cái cớ môi trường không minh bạch để ép chúng ta trong nhiều quan hệ.  Đề xuất có vẻ đơn giản, nhưng việc triển khai không hề đơn giản một chút nào vì nó phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề liên quan và các mối quan hệ lợi ích khác nhau. Để làm được vấn đề này, đòi hỏi phải có một ý chí và một sự quyết tâm cao độ. Đây là điều không đơn giản trong đời sống thực tế. Nhưng nếu quyết tâm, chắc chắn sẽ làm được.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để giữ được chính mình?      Gần đây có rất nhiều dấu hiệu đáng quan tâm về sự dịch chuyển của việc kiểm soát hệ thống phân phối hàng tiêu dùng, đặc biệt là các sản phẩm thuộc dạng hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Các dấu hiệu đó là những cuộc thăm viếng thị trường Việt Nam của các công ty bán lẻ hàng đầu thế giới và khu vực, các cuộc hội thảo về nhượng quyền thương hiệu, về sự phát triển của hệ thống bán lẻ và trên hết là động thái của thị trường (cả từ phía người tiêu dùng lẫn các nhà sản xuất) tại từng khu vực trước các thay đổi của hệ thống phân phối. Những dấu hiệu này cảnh báo những cơn sóng thần mà hậu quả có thể sẽ rất thảm khốc đối với nền kinh tế còn rất non trẻ (khi các công ty chủ chốt vẫn còn có tiềm lực kinh tế khá nhỏ nhoi trên thị trường) và sức cạnh tranh không cao của các doanh nghiệp Việt Nam.    Tầm quan trọng của hệ thống phân phối  Hãy nhìn vào quá trình kinh doanh bình thường của một doanh nghiệp, bắt đầu bằng ý tưởng sản phẩm, sau đó định vị thị trường, nghiên cứu sự thích hợp của sản phẩm, sản xuất, bán hàng, thu tiền và tiếp tục cải tiến sản phẩm.            Khi Metro Cash & Carry ra đời, với mô hình kinh doanh mới lạ này nhiều nhà phân phối đã hoài nghi về khả năng thành công của nó, chỉ có các công ty quốc tế lập tức đã nhận ra đó là dấu hiệu đầu tiên của một cơn sóng thần sẽ thay đổi toàn bộ diện mạo không chỉ của hệ thống phân phối mà còn của cả nền kinh tế.        Nếu diễn ra một cách bình thường thì tất cả các khâu trong quá trình sản xuất và kinh doanh sẽ có mức độ quan trọng như nhau. Trong điều kiện thị trường Việt Nam hiện nay, khâu tiếp thị và bán hàng hiện đang có ảnh hưởng lớn nhất đến sự sống còn của một doanh nghiệp và chi phí dành cho công tác bán hàng không quá cao so với các doanh nghiệp tương tự ở các nền kinh tế khác và các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, có thể nói, là khá sòng phẳng dựa vào tài năng thị trường đích thực, khả năng thuyết phục người tiêu dùng và khả năng bao phủ hàng hóa trên các điểm bán hiện tại trên thị trường một cách ngang bằng và không bị hoặc không thể bị ảnh hưởng của các đối thủ. Về phía người buôn bán thì ngoại trừ một số ít rất đặc biệt, còn đại đa số các chủ cửa hàng bán lẻ đối xử công bằng với tất cả các nhà cung cấp.   Trong quá trình kinh doanh thì hệ thống phân phối có tầm quan trọng và khi doanh nghiệp càng nhỏ thì hệ thống phân phối càng quan trọng. Đối với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (có thể hình dung là đối với các doanh nghiệp có doanh thu dưới 500 tỷ/năm) thì hệ thống phân phối là yết hầu của công ty và thông thường chính người chủ doanh nghiệp phải quan tâm và thực hiện các công tác phát triển cũng như giữ vững được thị phần của mình trong một hệ thống phân phối đang có.  Tại Việt Nam hiện nay, chi phí cho hệ thống phân phối còn rất nhỏ so với chi phí dành cho các phương tiện cạnh tranh khác và điều đó góp một phần tạo nên sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nhưng bài toán sẽ khác đi rất nhiều khi có sự thay đổi trong hệ thống phân phối.  Hệ thống phân phối hiện nay chủ yếu được hình thành trên cơ sở của trên một trăm ngàn cửa hàng bán lẻ bao phủ khắp các nẻo đường và được phục vụ bởi các công ty phân phối hay còn gọi là các nhà phân phối. Các nhà phân phối này tạo ra ảnh hưởng rất lớn trong quá trình thu tiền của doanh nghiệp nhưng đây là các nhà phân phối đơn lẻ và rất dễ dàng bị thay thế bởi các nhà phân phối quốc tế có đủ lực về tài chính cũng như hiểu rành rẽ luật chơi của thị trường bán lẻ.   Hãy hình dung một viễn cảnh không xa… trên thị trường Việt Nam, các cửa hàng bán lẻ sẽ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong các con hẻm nhỏ hay ở các vùng quê và ngay cạnh nhà họ, người tiêu dùng lễ mễ khuân vác về các mặt hàng tương tự từ các siêu thị hay các trung tâm mua sắm với giá cả rẻ hơn cả giá mà các cửa hàng bán lẻ có thể mua được chứ chưa nói gì đến việc có lợi nhuận.  Sự xuất hiện của các hệ thống phân phối lớn của nước ngoài  Ở Chiang Mai – Thái Lan 2 năm trước đây, cứ một siêu thị ra đời thì bảy cái chợ biến mất và sau khi Chieng Mai có đầy đủ các anh tài trong làng kinh doanh bán lẻ như BigC, Cafour, Walmart… thì người dân Chieng Mai chỉ còn biết mua sắm tại các siêu thị đó hay là các cửa hàng thuộc chuỗi 7-11 rất nổi tiếng trong làng bán lẻ. Cùng với sự ra đi của các cửa hàng tạp hóa đơn lẻ là các nhà phân phối địa phương cũng đơn lẻ như vậy.         Khi các nhà bán lẻ quốc tế tham gia thị trường thì việc họ tuân thủ luật chơi của thị trường này một các nghiêm túc sẽ được người tiêu dùng chấp nhận và các nhà phân phối truyền thống sẽ dần dần bị tự loại bỏ ra khỏi thị trường. Không chỉ có các nhà phân phối truyền thống (99,9% là công ty Việt Nam) bị loại bỏ và bị thay thế mà ngay cả các nhà sản xuất nhỏ của Việt Nam cũng không thể bán được sản phẩm trên chính đất nước mình.          Tại Việt Nam hai năm trước đây, khi Metro Cash & Carry ra đời, với mô hình kinh doanh mới lạ này nhiều nhà phân phối đã hoài nghi về khả năng thành công của nó, chỉ có các công ty quốc tế lập tức đã nhận ra đó là dấu hiệu đầu tiên của một cơn sóng thần sẽ thay đổi toàn bộ diện mạo không chỉ của hệ thống phân phối mà còn của cả nền kinh tế. Sau đó là BigC, Parkson và các tập đoàn khác cũng không chậm trễ lâu. Xu hướng này là không thể đảo ngược. Vấn đề ở đây chỉ là ảnh hưởng của xu hướng này có thể sẽ như thế nào và liệu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để biến thành lợi thế kinh doanh hay không hay sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi trên chính mảnh đất của mình.  Hiện nay, cán cân trong hệ thống phân phối vẫn còn rất nghiêng về phía các cửa hàng tạp hóa và chợ với trên 90% doanh thu và sản lượng trên toàn quốc, nhưng tại thành phố sức mua lớn nhất thì người tiêu dùng ngày càng lựa chọn kênh siêu thị để mua sắm hàng hóa.Doanh thu của các siêu thị đã chiếm trên 30% tổng doanh thu của thị trường thành phố.                  Metro Cash & Carry đã bắt đầu xây dựng Trung tâm phân phối thứ 5 của mình tại Hải Phòng vào tháng 5 vừa qua, đánh dấu sự phát triển không ngừng tại Việt Nam. Ảnh: Thời Đại          Các nhà cung cấp – các công ty sản xuất – có thể thấy rõ sức ép của sự thay đổi này ngay từ khi đàm phán cung ứng sản phẩm: giá phải rẻ hơn, nợ phải lâu hơn, chi phí bán hàng tăng thêm nhưng hiệu quả không tăng tương ứng. Trong cuộc chơi bán hàng qua siêu thị, luật chơi của các nhà phân phối thay đổi rất nhiều và các nhà sản xuất nhỏ của Việt Nam khó mà chen chân. Đơn giản là dù là một đại siêu thị cũng không thể có đủ diện tích trưng bày tất cả các sản phẩm cũng như không có đủ trình độ quản lý để mua quá nhiều chủng loại mặt hàng. Trong trường hợp đó, các nhà quản lý sẽ ưu tiên mua các mặt hàng quen thuộc và được quảng cáo mạnh để đảm bảo doanh thu và phù hợp với khả năng quản lý. Với những tiêu chí như thế thì các công ty quốc tế có nhiều lợi thế.  Các công ty phân phối lớn của Việt Nam hiện nay có đủ tiềm lực tài chính cũng như quan hệ, tuy nhiên không nắm được kỹ năng quản lý cũng như có vẻ chưa nhìn thấy sự phát triển của thị trường nên vẫn đầu tư rất nhiều vào hệ thống phân phối hiện tại, nghĩa là tập trung mua hàng vào kho và mang hàng tới cho các cửa hàng tạp hóa trên đường phố và trong các chợ. Chỉ có Sài Gòn Coop và hệ thống City-Maxi là quan tâm đến khu vực này. Hiện nay thị trường này vẫn còn nhỏ và lợi nhuận chưa phải là cao hơn so với việc phân phối truyền thống. Tuy nhiên khi các nhà bán lẻ quốc tế tham gia thị trường thì việc họ tuân thủ luật chơi của thị trường này một các nghiêm túc sẽ được người tiêu dùng chấp nhận và các nhà phân phối truyền thống sẽ dần dần bị tự loại bỏ ra khỏi thị trường. Nếu kịch bản nảy xảy ra thì không đơn thuần là các nhà phân phối truyền thống (99,9% là công ty Việt Nam) bị loại bỏ và bị thay thế mà ngay cả các nhà sản xuất nhỏ của Việt Nam cũng đi theo họ vì không thể bán được sản phẩm trên chính đất nước của mình vì không thể tìm được nơi nào để trưng bày, cộng thêm không có cả tài chính lẫn kiến thức để thuyết phục người tiêu dùng.  Làm gì để “giữ được chính mình”?  Các phương tiện thông tin gần đây cảnh báo rất nhiều về việc các nhà phân phối Việt Nam có thể “thua ngay trên sân nhà” và nguyên nhân không phải do thiếu vốn mà là do thiếu tầm nhìn và thiếu thông tin về các “luật chơi” của thị trường mới.         Việc các công ty trong nước sở hữu những hệ thống bán lẻ bao phủ khắp các địa phương chính là nền tảng vững chắc cho việc đảm bảo các công ty trong nước có thể có cơ hội tồn tại và phát triển. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là ai sẽ là người khởi xướng công chuyện này?        Vậy liệu các nhà phân phối truyền thống có thể làm gì để đảm bảo vị trí trên thương trường của chính mình và cả của các công ty sản xuất nhỏ khác có vẫn còn có được quyền cung ứng hàng hóa ra thị trường, và qua đó có quyền để tồn tại cũng như có cơ hội để phát triển?   Với qui mô hiện nay, khó có nhà phân phối độc lập nào đủ tiền và đủ người để tự mình đơn độc đứng ra tổ chức một mạng lưới bán lẻ mặc dù trong tay họ có đủ hàng hóa cho một siêu thị nhỏ. Chỉ cần khoảng 10 nhà phân phối ngồi lại với nhau là có thể tạo dựng được một hệ thống bán lẻ mạnh trong một khu vực.  Các nhà phân phối có thể viện dẫn là không nên làm như thế vì đó là hành động lấy khách hàng của khách hàng. Điều đó không sai nếu như thị trường không có diễn biến gì mới và các cuộc chiến tranh giá cả chỉ giống như “cơn bão trong tách trà”. Lý lẽ này sẽ sai rất nhiều khi các nhà bán lẻ quốc tế tham gia thị trường, cuộc chiến ở đây sẽ hoàn toàn khác về bản chất vì sẽ là cuộc chiến giành người mua lẻ chứ không phải giành điểm bán lẻ!!!            Trong cuộc chơi bán hàng qua siêu thị, luật chơi của các nhà phân phối đã thay đổi rất nhiều và các nhà sản xuất nhỏ khó có thể chen chân. Ảnh: Thời Đại            Tuy nhiên, một trong những điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam chính là khả năng liên kết trong các hoạt động khi đứng độc lập từng doanh nghiệp. Vậy phải chăng không có cách nào khác ngoài việc đứng nhìn và đón trước việc dần dần bị loại trừ và bị đánh dạt ra các vùng nông thôn hẻo lánh, kéo theo đó là sự suy giảm của toàn bộ các nhà sản xuất địa phương đang có thị trường, có khách hàng nhưng chưa tích lũy đủ để tham gia thị trường quảng cáo và thị trường chi phí cao cho hệ thống phân phối trong siêu thị?  Một trường hợp có thể nghiên cứu là thành lập một công ty cổ phần bán lẻ và các nhà phân phối là người sở hữu một phần cũng như tham gia vào việc cung ứng hàng hóa. Việc các công ty trong nước sở hữu những hệ thống bán lẻ bao phủ khắp các địa phương chính là nền tảng vững chắc cho việc đảm bảo các công ty trong nước có thể có cơ hội tồn tại và phát triển. Động thái này chính là chia nhỏ quyền lực kiểm soát thị trường không nằm trong tay của các tay chơi quốc tế và từ đó các công ty bán lẻ Việt Nam có thể ít nhất kiểm soát được thị  trường nội địa trước khi nghĩ đến cơ hội vươn ra tầm quốc tế.      Nguyễn Duy Thuận  Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để “hiện tượng” Rạng Đông được nhân rộng ?      “Cỗ xe Rạng Đông lâu nay đi nhanh là do có động cơ mạnh, ấy là đội ngũ chuyên gia R&D”, đó là nhận xét của TS Lê Đăng Doanh trong cuộc tọa đàm “Đưa tri thức thành động lực phát triển bền vững: Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông” tổ chức hôm 24/6 vừa qua tại Hà Nội.  Cuộc tọa đàm không chỉ lý giải những kinh nghiệm giúp Rạng Đông thành công trong việc hợp tác với các nhà khoa học, chuyên gia để triển khai hoạt động R&D mà còn đưa ra những giải pháp để “mô hình Rạng Đông được nhân rộng”.    GS. TS Nguyễn Quang Thạch thực hiện nghiên cứu của Rạng Đông về nhân giống cây trồng bằng giải pháp chiếu sáng trong nuôi cấy mô.  20 năm trước ở Rạng Đông, như lời kể của một nhà khoa học tại hội thảo về kỷ niệm đến thăm nhà máy, vẫn còn cảnh công nhân thổi ruột phích nước theo cách thủ công, “20 cái thì hỏng 1 cái”, thì ngày nay, Rạng Đông đã khác trước nhiều, nhà máy đã có dây chuyền tự động sản xuất ruột phích tốc độ cao, mỗi năm làm ra 16 triệu sản phẩm, và không hề e ngại cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài. Thậm chí trong bối cảnh các nhà sản xuất Việt Nam gặp nhiều khó khăn trước hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc, thì Rạng Đông lại mạnh dạn đưa sản phẩm của mình xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng lớn – “50% ruột phích của chúng tôi được xuất khẩu sang Trung Quốc”, Tổng giám đốc Đoàn Thăng tự hào chia sẻ.    Đó chỉ là một trong nhiều thành công ấn tượng của Rạng Đông, mà ẩn chứa đằng sau là nỗ lực đổi mới và sự mạnh dạn đầu tư vào R&D của ban lãnh đạo công ty. Năm 2011, ban giám đốc Rạng Đông đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chiếu sáng (R&D). Trong vòng năm năm, Rạng Đông đã đầu tư cho Trung tâm 308 tỷ đồng, tức là vào khoảng 60 tỷ đồng/năm. Đến nay, Trung tâm đã quy tụ 90 thành viên, trong đó có 40 nhà khoa học từ các trường đại học, viện nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực, tham gia làm việc tại bảy bộ môn: Nghiên cứu điện tử; nghiên cứu nguồn sáng và đo lường chất lượng; chiếu sáng thông minh; thiết kế chế tạo sản phẩm chiếu sáng tiên tiến; Hóa vật liệu; Chiếu sáng ứng dụng công nghệ cao và một xưởng sản xuất trên quy mô pilot.  Cần sự dũng cảm của cả doanh nghiệp và nhà khoa học   Để nhà khoa học và doanh nghiệp hợp tác thành công, họ “phải trải qua một quá trình thích nghi” như lời bộc bạch của PGS. TS Đỗ Xuân Thành, giám đốc khoa học Trung tâm R&D của Rạng Đông. Đối với các nhà khoa học, những khác biệt khi làm việc với doanh nghiệp so với khi làm việc cho các tổ chức nghiên cứu mang tính hàn lâm khiến họ phải biết “gọt chân vừa giày”, tuân thủ những yêu cầu chặt chẽ của doanh nghiệp trong quá trình hợp tác. Hầu hết những đề tài nghiên cứu của nhà nước đều từ đề xuất của các nhà khoa học, trong khi làm việc ở doanh nghiệp đòi hỏi “tất cả những chương trình nghiên cứu đều phục vụ cho chiến lược phát triển của công ty cũng như chiến lược sản phẩm của công ty, và có thời hạn [hoàn thành] cụ thể…” Nếu các nghiên cứu ở môi trường hàn lâm còn có thể “du di” về mặt thời gian, được đề xuất gia hạn do những yêu cầu khách quan như cái cách mà các nhà khoa học vẫn thường trình bày với các cơ quan quản lý khi chưa hoàn thành đề tài theo dự kiến thì ở môi trường doanh nghiệp “có yêu cầu khắt khe về mặt thời gian”. Hơn nữa, “những đầu bài [cho nhà khoa học khi làm việc tại doanh nghiệp] rất cụ thể, rõ ràng với tiêu chuẩn cuối cùng là phải đạt được hai mục đích: đối với công nghệ nền, kết quả của nó phải là sản phẩm trí tuệ, tức là phải đăng ký được phát minh sáng chế – sản phẩm trí tuệ của công ty; đối với nghiên cứu phát triển sản phẩm mới thì phải góp phần thiết thực vào những sản phẩm chủ lực của công ty cũng như giải quyết được những vấn đề then chốt”, PGS. TS Đỗ Xuân Thành nhấn mạnh.     Một số tiến sỹ từ nước ngoài đã về đầu quân cho trung tâm R&D của Rạng Đông nhưng rồi lại ra đi vì không thể thích nghi. Có những người đề ra “những công nghệ tưởng chừng như rất hay, ý tưởng rất hay nhưng đem vào thực tiễn, với hoàn cảnh công nghệ, vốn đầu tư, với trình độ công nhân Việt Nam không dễ có cách thức triển khai phù hợp”. Vì vậy, “chọn lọc là điều bình thường ở Rạng Đông” và ngay cả “nhiều người làm nghiên cứu giỏi ở viện trường chưa chắc đã thích nghi được với môi trường nhiều thử thách ở doanh nghiệp”, PGS. TS Đỗ Xuân Thành giải thích.   Về phía doanh nghiệp, PGS. TS Đỗ Xuân Thành cho rằng để hợp tác thành công với nhà khoa học thì “doanh nghiệp phải có quyết tâm rất cao, xây dựng một cơ chế rất thích hợp” [qua đó tạo môi trường thuận lợi cho các nhà khoa học làm việc]. Trên thực tế, Rạng Đông đã tạo ra một môi trường làm việc thích hợp cho nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau như khoa học vật liệu, hóa học, nông nghiệp… có thể cùng ngồi lại giải quyết một vấn đề chung. Đặc biệt, việc cho phép tự do sáng tạo trong nghiên cứu là một động lực quan trọng, “cú hích lớn” để cho các nhà khoa học có ý tưởng triển khai ý tưởng của mình ở Rạng Đông”, PGS. TS Đỗ Xuân Thành nhận xét.“Trong giai đoạn vừa rồi, Trung tâm R&D của Rạng Đông chủ yếu tập trung vào giải mã công nghệ, giải quyết những vấn đề bức xúc, những vấn đề kỹ thuật của sản xuất hiện tại và có lẽ là đã làm tròn vai trong giai đoạn vừa rồi. Nhưng R&D đúng nghĩa trong doanh nghiệp phải là động lực phát triển trong tương lai. Chính vì vậy, Rạng Đông cần phải đầu tư nghiên cứu dài hạn để trong phòng thí nghiệm phải có những sản phẩm của hai hoặc hay năm năm tiếp theo. Chúng ta cần phải biết cái đích chúng ta sẽ đến và chỉ có cách làm như vậy mới có thể phát triển bền vững”. (PGS. TS Phạm Thành Huy)Bên cạnh đó, người lãnh đạo doanh nghiệp phải có khả năng lắng nghe, chắt lọc từ các ý kiến của nhà khoa học. Theo PGS. TS Phạm Thành Huy (Viện Tiên tiến KH&CN AIST, trường ĐH Bách khoa), trưởng phòng thí nghiệm chung Rạng Đông – AIST, nhà quản lý cần nhận ra chân giá trị của người cộng tác và biết cách phát huy các giá trị đó. “Mỗi nhà khoa học đều có giá trị. Nếu như chúng ta biết lắng nghe họ, có thể một ý kiến không thể đem đến thành công nhưng nếu có 5, 10 ý kiến thì doanh nghiệp sẽ đúc kết được nhiều kinh nghiệm để tạo ra những sản phẩm tốt nhất để phục vụ mình”, PGS.TS Huy nói. Anh cho rằng đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến thành công của Rạng Đông, nơi Tổng giám đốc Đoàn Thăng là người không chỉ “luôn biết lắng nghe” mà còn có khả năng “kết hợp sức mạnh của nhiều nhà nghiên cứu” và “dũng cảm chìa tay [đón nhận] các kết quả nghiên cứu ứng dụng dù nghiên cứu có nhiều rủi ro”.   Vì sao mô hình Rạng Đông chưa nhân rộng ?   Trường hợp của Rạng Đông được GS. TS Trần Xuân Hoài (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) nhìn nhận là một thành công mang tính đơn lẻ, “là một trường hợp hiếm có, là thành công cá nhân chứ không phải thành công của phong trào”. Ông đặt câu hỏi, “vậy tại sao không thể phát triển mô hình này ra được?”   Đặt ra câu hỏi, đồng thời GS. TS Trần Xuân Hoài cũng tự đưa ra lời giải đáp. Theo ông “thành công này phụ thuộc rất nhiều vào con người, ở đây là sự gặp gỡ của một doanh nghiệp thực sự có tâm huyết và các nhà khoa học thực sự có tài… Sau bao nhiêu năm nay rồi vẫn không thể phát triển [mô hình] này lên được, là do số người, số doanh nghiệp – những nhà doanh nghiệp có tâm huyết, có tầm thực sự – và những nhà khoa học có tài ngày càng hiếm trong xã hội chúng ta hiện nay.”“Chúng ta sống trong [hệ thống quản lý quan liêu] bao cấp lâu quá nên các nhà khoa học chỉ ngồi trong ‘tháp ngà’ còn các doanh nghiệp cứ lọ mọ tồn tại”  (TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN).  Vậy Nhà nước có thể làm gì để thúc đẩy mối quan hệ giữa nhà khoa học và doanh nghiệp? Theo TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, “việc đầu tiên là nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và khả thi để những người làm khoa học và doanh nghiệp có thể đến được với nhau”. Nhà nước sẽ giải quyết khó khăn trong vai trò chính phủ kiến tạo, và ông cho rằng chức năng kiến tạo đầu tiên ở đây của nhà nước, của chính phủ chính là xây dựng hệ thống luật pháp. Trong những năm qua, để tạo môi trường pháp lý thông thoáng, Bộ KH&CN đã xây dựng và trình Quốc hội ban hành rất nhiều đạo luật quan trọng, sắp tới sẽ trình Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi thay thế Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, “trong đó chắc chắn có rất nhiều nội dung đổi mới để thúc đẩy sự hợp tác giữa nghiên cứu ở các trường đại học, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, thậm chí chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài, và chúng ta cũng phải thay đổi hệ thống định chế trung gian, tức là những tổ chức chuyên nghiệp để kết nối giữa các viện nghiên cứu với các doanh nghiệp. Chính những định chế trung gian này sẽ đóng vai trò tìm hiểu nhu cầu của doanh nghiệp để giới thiệu với cơ quan nghiên cứu, đồng thời tìm hiểu năng lực của cơ quan nghiên cứu để giới thiệu cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó bản thân các doanh nghiệp phải có ý thức và nỗ lực xây dựng các trung tâm nghiên cứu bài bản như ở Rạng Đông”, TS. Nguyễn Quân cho biết.              Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang “De Materia Medica”: Văn bản cổ xưa làm thay đổi thế giới      Có một niềm thu hút và vui thích lớn lao trong việc đọc những văn bản cổ xưa bởi nó có thể kích thích trí tò mò của chúng ra về trải nghiệm của con người. Các trang viết về thảo dược cũng không ngoại lệ, vì nó đem lại cho chúng ta một cảm giác về đời sống của tổ tiên chúng ta: chống chịu, sống sót và tương tác với thế giới tự nhiên xung quanh họ.     De Materia Medica, nghĩa là Về vật liệu thuốc, là một văn bản sống sót từ thế kỷ đầu tiên do Pedanius Dioscorides (c. 40-90 CE), một bác sĩ, nhà thực vật học, dược học người Hi Lạp gốc Tiểu Á phục vụ trong quân đội La Mã. Bản thảo năm tập của ông miêu tả xấp xỉ 600 loài cây được dùng trong hơn 1.000 phương thuốc truyền thống. Hàng thế kỷ sau khi được viết, cuốn sách của Dioscorides được hậu thế ca ngợi như một nguồn tham chiếu quan trọng về thảo dược và trở thành nền tảng cho dược điển của châu Âu và thế giới phương Tây.  Truyền bá hiểu biết về thảo dược  Trong vai trò là một bác sĩ quân đội, Dioscorides đã hành quân qua nhiều nơi trong thế giới cổ đại và quan sát, thu thập và ứng dụng hàng trăm loài cây vào thực hành y khoa của mình. Do phương thuốc từ cây cỏ của ông được miêu tả chi tiết, Dioscorides đã trở thành một nguồn xác tín về hiểu biết được ứng dụng ở nhiều nơi. Cuốn sách của ông, nguyên bản được viết bằng tiếng Hi Lạp cổ đại với tên Περὶ ὕλης ἰατρικῆς, đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác, phần lớn là nhờ công của các nhà tu hành tôn giáo, sang tiếng Latin, Ả rập, Italy, Đức, Tây Ban Nha và Pháp… và ngày trở nên phổ biến hơn trong khắp châu Âu và châu Phi. Lần đầu tiên trong lịch sử, thông tin về thảo dược và các phương thuốc đã được ghi lại và phân phối khắp các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Cuốn De Materia Medica của ông, được chép lại bằng tay và in ấn không biết bao lần, ngày một trở thành tài liệu tham chiếu của các bác sĩ và những người trồng/bán thảo dược trong 1.500 năm sau.    Dioscorides trong một bức họa cổ. Ông ngồi ngoài cùng hàng dưới, bên trái bức họa. Ông đang kiểm tra một bông hoa trong khi ghi chép lại đặc điểm của nó. (“Medicine in the Middle Ages” (1906), by Veloso Salgado) NOVA Medical School, Public Domain.  Bản thảo đầu tiên được viết trong khoảng hai nghìn năm trước và chưa bao giờ được tìm thấy; tuy nhiên, văn bản sao chép lâu đời nhất dưới tên gọi Vienna Dioscorides hoặc Codex Vindobonensis Medicus Graecus 1 (ca. 512 CE), hiện được cất giữ tại Thư viện quốc gia Áo ở Vienna. Ấn bản đặc biệt này được viết bằng tiếng Hi Lạp và trang trí bằng những hình họa vẽ tay tuyệt đẹp. Nó được tạo  ra như một món quà hoàng gia cho công chúa đế quốc La Mã Juliana Anicia, một nhà bảo trợ nghệ thuật nổi tiếng. Bản thảo này, “một kiệt tác về nghệ thuật làm sách”, được UNESCO ghi nhận là một trong những Di sản tư liệu thế giới bởi “là một nguồn dược phẩm quan trọng bậc nhất trong thế giới cổ đại”.  Một minh họa san hô trong “De Materia Medica” từ phiên bản “Vienna Dioscurides” (Public Domain).  Những ấn bản được biết đến khác thuộc về các bảo tàng quốc gia Hy Lạp, Tây Ban Nha, Italy, Pháp, và Anh cũng như trong tàng thư thiêng liêng ở núi Athos, Hy Lạp, và Thư viện và Bảo tàng Morgan ở New York, có được qua một cuộc bán đấu giá vào những năm 1920. Những trang đơn từ các bản thảo cũng được thấy ở nhiều bảo tàng, nhiều nơi đã số hóa để sẵn sàng cho người xem thưởng lãm trực tuyến, bao gồm Viện Smithsonian, Bảo tàng Harvard, MET, Bảo tàng nghệ thuật Walters Art Museum… cung nhiều nơi khác.  Với những người đọc bằng tiếng Anh, ấn bản đầu tiên được dịch từ nguyên bản sang tiếng Anh lại muộn hơn, vào năm 1655. Ấn bản này gồm hơn 4.000 trang, do John Goodyer, một nhà thực vật học người Anh nổi tiếng, mất gần ba năm để hoàn thành, trong suốt thời gian đó ông đã tham khảo ít nhất 18 ấn bản khác nhau của cuốn sách này. Một phiên bản của thời Trung Cổ Anh của Goodyer đã được hoàn thành muộn hơn, trong năm 1933, do R.T. Gunther, người thành lập Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Oxford biên tập.  Danh tiếng của De Materia Medica  Điều khiến De Materia Medica nổi bật trong lịch sử y học chính là được tham chiếu rộng rãi bởi các nhà thực hành y khoa và người trồng/bán thảo dược trong nhiều thế kỷ và trong những ngôn ngữ khác nhau. Không nghi ngờ gì nữa, các văn bản y khoa cổ đại từ Trung Quốc, Vệ Đà, truyền thống Ả Rậpđều đóng góp những hiểu biết vô giá. Với thảo dược học phương Tây và châu Âu, De Materia Medica đã giúp đào tạo các nhà thực hành lâm sàng về thảo dược và nâng cao giá trị quan trọng của việc dùng các cây cỏ bản địa ở châu Âu và Địa Trung Hải trong việc chữa lành nhiều chứng bệnh tật. Cả hiểu biết và cây cỏ đã trở nên dễ dàng tiếp nhận hơn trước.  Dioscorides ghi lại tất cả những gì ông học hỏi được về cây cỏ, động vật, khoáng chất từ những chuyến hành quân của mình. Để hệ thống hóa thông tin của mình, ông đã phân chia cuốn sách của mình thành năm phần khác nhau:  Chương I: Các chất thơm  Chương II: Động vật đến thảo dượcAnimals to herbs  Chương III: Rễ củ, hạt và thảo dược  Chương IV: Rễ củ và thảo dược  Chương V: Nho, rượu vang và khoáng chất  Mỗi phần lại cung cấp một lượng thông tin lớn về nơi thảo dược phân bố, cách sử dụng và các phần được dùng làm dược liệu, và nhiều thông tin chi tiết lí thú khác mà chúng ta có thể sử dụng để suy luận ra về đời sống trong thời đại cổ xưa. Từ những phần sử dụng của cây mandrake (Mandragora officinarum, một loại của chi thực vật Mandragora trong họ cây bìm bịp Solanaceae) và hellebore (hay còn gọi là cây thiết khoái tử, cây trị điên, cây lê lư – một chi thực vật có hoa thuộc họ Mao lương) đến những loại thảo dược “hiệu quả chống lại những thứ làm đen đồng tử” (Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, p. 319) là một vài điều ghi lại cho thấy cách ứng dụng độc nhất vô nhị và một số thứ có thể ứng dụng trong dược điển Phương Tây. Một số mẩu thông tin từ cuốn De Materia Medica nghìn trang được Osbaldeston và Wood dịch:  – Celandine (tiếng Hy Lạp: Chelidonion mikron, tiếng La Mã Chelidonia minor) “có ở khắp những nơi có nước và đầm lầy. Nó sắc giống cỏ chân ngỗng, có thể làm lở loét da”. Các phương thuốc đề xuất bao gồm dịch chiết từ rễ và “trộn với mật ong để bơm vào lỗ mũi để thanh trùng đầu óc. Tương tự, việc sắc nước súc miệng với mật ong cũng thanh trùng đầu óc và thanh trùng mọi thứ bẩn khỏi lồng ngực” (Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, trang 355).  – Tỏi (tiếng Hy Lạp Skorodon), trong số rất nhiều công dụng của nó, được “thoa để trị rụng tóc nhưng khi đó phải được sử dụng dạng thuốc mỡ”. Nó cũng có thể được kết hợp “với muối và dầu [để] chữa lành các loại mụn” ( Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, trang 319)  – Cây bài hương (tiếng Hy Lạp Ussopos, tiếng Latin: Hyssopus hortensis, Hyssopus officinalis, Origanum syriacum) “đun sôi dùng với quả vả, nước, mật ong và cây cửu lý hương thành một loại nước có thể giúp chữa viêm phổi, hen suyễn, ho trong, đàm nhớt, và bệnh liệt phổi [loại bệnh hen suyễn], và giết sâu (Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, p. 399).  – Ngải cứu (tiếng Hy Lạp Apsinthion, tiếng Latin: Absinthium vulgare hoặc Seriphium absinthium, hoặc Artemisia absinthium), từng bị cấm ở Mỹ cho đến năm  2007 bởi đặc tính gây nghiện của nó, đã được biết đến từ thời cổ đại, với loại tốt nhất mọc ở Pontus và núi Taurus ở Cappadocia (hiện nay là miền nam Thổ Nhĩ Kỳ). “Nó làm ấm, se da và giúp tiêu hóa, và đồng thời làm sạch dịch trong dạ dày và ruột” (Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, p. 392).  Cho đến ngày nay, có những loài thảo dược từ thế giới cổ đại mà chúng ta vẫn còn có thể nhận diện, bao gồm cây kế (tiếng Hy lạp Akanthion), hạt cây có một khối sợi mềm trên đỉnh, có tính chất tương tự như lụa nên có thể se thành sợi. Lá và rễ của nó có thể sắc uống để giúp làm giảm chứng đau cổ (Dioscorides, Osbaldeston, & Wood, 2000, trang 384).  Thật may mắn, có nhiều trang trong De Materia Medica có thể đem lại cho chúng ta cái nhìn thấu vào thực hành sử dụng thảo dược của chúng ta. Thêm vào đó, di sản được tiếp nối để đem lại một nguồn tư liệu toàn diện và hấp dẫn không chỉ cho những nhà thực hành quan tâm đến truyền thống và kiến thức dân tộc học trong việc sử dụng cây cỏ mà còn cho cả các nhà thực vật, các nhà môi trường, khảo cổ, lịch sử và những người có tổ tiên truyền thụ những thực hành đó trong phạm vi gia đình. Vẻ đẹp của những trang viết đó và những thứ có thể khai thác không bao giờ lụi tắt.  Nguyễn Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://theherbalacademy.com/de-materia-medica/  https://www.loc.gov/item/2021666851/    Author                .        
__label__tiasang Đề nghị Hoa Kỳ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường      Chiều 14/11, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoa Kỳ Jacob J.Lew đang  có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam.    Hoan nghênh Bộ trưởng Jacob J.Lew sang thăm và làm việc tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao kết quả làm việc giữa Bộ Tài chính Hoa Kỳ và Bộ Tài chính Việt Nam cũng như hợp tác giữa hai bộ trong thời gian qua, đặc biệt là hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực thuế, kế toán công, hải quan một cửa và mô hình phân tích kinh tế vĩ mô.  Bày tỏ vui mừng trước mối quan hệ hợp tác giữa hai nước đang tiến triển tích cực, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng tiềm năng hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước còn rất lớn, do vậy hai bên cần nỗ lực thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực hợp tác nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên.  Trên tinh thần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị hai bên thúc đẩy sớm ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam-Hoa Kỳ, kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong năm 2013 như lãnh đạo các nước thành viên đã khẳng định, sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường…  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam luôn thực hiện các cam kết đã tham gia, tích cực thực hiện nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới để phát triển nhanh và bền vững.  Để đạt được mục tiêu trong đàm phán Hiệp định TPP, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong tiến trình này và đề nghị cần có sự linh hoạt phù hợp với trình độ phát triển của mỗi nước; trong đó quan tâm đến lợi ích cốt lõi của Việt Nam, điều này phù hợp với quan điểm của các nhà lãnh đạo các nước thành viên TPP là hướng tới một Hiệp định cân bằng về quyền lợi của các thành viên.  Cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dành thời gian tiếp, Bộ trưởng Jacob J.Lew cho biết chuyến thăm nhằm thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực tài chính, tiền tệ; đồng thời khẳng định Hoa Kỳ rất coi trong hợp tác với Việt Nam trên các lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư…  Chia sẻ những quan điểm của Việt Nam trong đàm phán TPP, Bộ trưởng Jacob J.Lew nhấn mạnh, Hoa Kỳ rất coi trọng sự tham gia của Việt Nam trong đàm phán TPP, mong linh hoạt trong đàm phán của Việt Nam về dịch vụ thanh toán điện tử, mở rộng thị trường…  Bộ trưởng Jacob J.Lew cũng khẳng định Hoa Kỳ tích cực trong thúc đẩy đàm phán Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa hai nước.  Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/de-nghi-hoa-ky-som-cong-nhan-viet-nam-la-nen-kinh-te-thi-truong/230117.vnp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để nông dân ĐBSCL có được lẽ công bằng      Khái quát bức tranh nông nghiệp, nông thôn và nông dân hiện nay ở ĐBSCL là: Sản xuất nông nghiệp hàng hóa khá dồi dào và phong phú.    Chỉ riêng tỉnh An Giang đã có sản lượng lúa trên 3,3 triệu tấn lớn nhất nước, sản lượng cá da trơn cũng lớn nhất nước với kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD/năm, nhưng kém tính cạnh tranh do năng suất, chất lượng không cao và không có thương hiệu; hơn phân nửa người chủ đất chỉ có 5 -7 ngàn mét vuông đất nông nghiệp và một đội ngũ lao động trẻ hùng hậu trên dưới 30 tuổi đời mà trình độ học vấn, tay nghề đang thật sự bị tụt hạng từng ngày, cho dù có một bộ phận trong họ có cố gắng, đi lao động ở các khu công nghiệp nhưng cũng chỉ bán sức lao động bằng cơ bắp, thu nhập không hơn gì ở nông thôn đi cắt lúa mướn; đó là nạn hàng gian, hàng giả, ô nhiễm công nghiệp và những “mặt trái của kinh tế thị trường”.  Cơ sở hạ tầng giao thông, học vấn, nhà ở là yếu kém nhất nước. Trong khi đó tỷ lệ phụ nữ lấy chồng ngoại và đi “bán bia” có lẽ nhiều nhất nước. Ngược lại, trong tầng lớp tinh hoa của đất nước thì rất thưa vắng những nhà quản lý, những nhà khoa học, người giàu có lớn… có gốc rễ từ đồng ruộng Cửu Long. Tình cảnh nông dân cảm thấy bị lẻ loi không được luật pháp và chính quyền bảo vệ, cùng với một nền hành chính nặng tính chính trị mà thiếu tính chuyên nghiệp và tính hệ thống thống nhất, nặng phân cấp đã tạo ra nhiều kẽ hở mà không ít nơi ở cấp địa phương, nhất là cấp xã vấn đề pháp luật và dân chủ là tùy vào một số người hành xử như ” ban phát” hoặc “từ tâm”.  Một vùng lúa gạo, trái cây và nuôi trồng thủy sản có sản lượng và xuất khẩu lớn nhất nước (nông nghiệp) mà vậy sao? Điều này không phải hoàn toàn do người nông dân, chính quyền địa phương có trách nhiệm phần lớn mà Chính phủ TW phải có trách nhiệm chung cuộc. Nó không thể sòng phẳng như phân chia trách nhiệm và lợi ích trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Đó là lẽ công bằng mà trong hạch toán kinh tế – chính trị không thể tính bằng số thập phân hay phân số mà giải mã được.  Nguyên nhân của thực trạng và nỗi bức xúc của ĐBSCL hiện nay là do có sự lệch pha, khoảng cách giữa việc làm của các bộ, ngành, địa phương với các Nghị quyết, Chỉ thị của TW và Chính phủ. Đó là điều làm cho ai quan tâm cũng “than thở” thậm chí “nghi ngờ”. Nếu chỉ kể từ Thủ tướng Chính phủ có quyết sách chiến lược về khai thác Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đến nay, đã trên dưới 20 năm, những quyết định cụ thể về những danh mục đầu tư cụ thể, nhất là hạ tầng giao thông – thủy lợi – nhà ở cũng đã có trên dưới 10 năm, vậy mà có nhiều đoạn quốc lộ về ĐBSCL thi công đến nay qua 3 thời kỳ Thủ tướng mà chưa xong. Đường quốc lộ mà kẹt xe như trong nội đô Hà Nội, Sài Gòn. Hàng chục triệu tấn hàng hóa đi về vùng này phải qua xe tải và xà lan tăng bo về cảng đầu mối thì thật là không hiểu nổi. Năm, mười năm đầu đổi mới, cả nước xem ĐBSCL là “mảnh đất vàng”, còn bây giờ với không ít người, kể cả một số người có trách nhiệm, nhìn ĐBSCL chỉ là “một vùng ngập lũ”. Những chương trình: cho vay “chuộc đất”, “xóa đói giảm nghèo”, “cứu trợ lũ lụt”, “xóa nhà tre lá”, xây “nhà tình nghĩa – nhà tình thương”v.v… đều là những giải pháp nhất thời, chữa cháy, không giải quyết đến tận gốc của vấn đề.  Sinh ra và lớn lên ở vùng châu thổ Cửu Long từ ngày Bác Hồ tuyên ngôn độc lập. Và ngần ấy thời gian theo Đảng để chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, giặc dốt cho đến gần hết cuộc đời, trở về đời sống thường dân càng thấy rõ “mặt bằng” cuộc sống của ĐBSCL nó thấp như cao trình mặt đất vùng này so với mặt biển và so với mặt bằng cả nước. Điều tôi mong ước là các nhà hoạch định và thực thi chính sách quan tâm đến lẽ công bằng trong phát triển Đồng bằng sông Cửu Long.  —————–  * Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang      Nguyễn Minh Nhị *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để nông nghiệp có giá trị gia tăng cao      Nền nông nghiệp Việt Nam từ trước tới nay  xuất khẩu rất lớn, không chỉ là lúa gạo mà còn rất nhiều loại nông sản  khác như: cà phê, điều, tiêu, cao su hay các loại rau, củ, quả… tuy  nhiên sản lượng cao nhưng giá bán lại thấp và giá trị thực sự mang lại  cho nền kinh tế Việt Nam không nhiều. Chúng tôi có cuộc trò chuyện với  ông Võ Trí  Thành, Phó Viện Trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế  Trung ương  để hiểu rõ hơn về vấn đề này.    PV: Môi trường đầu tư ở VN trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay như thế nào?  Ông Võ Trí Thành: Tính đến hiện nay, khu vực nông nghiệp so với sản xuất – chế tạo – dịch vụ chưa hấp dẫn nhiều, kể cả đầu tư trong nước lẫn nước ngoài vì những lý do sau:  Giá trị gia tăng trong nông nghiệp không được như những lĩnh vực khác. Thông thường mức giá trị gia tăng tạo ra mức độ tăng trưởng 3 – 4% trong nông nghiệp là khá tốt. Với ngành dịch vụ – sản xuất công nghiệp phải trên 6 – 9%. Yếu tố nền tảng thu hút đầu tư là kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực… khó có thể so được với các khu đô thị hoặc khu vực phát triển ngành nghề khác.  Nhưng gần đây, bức tranh ngành nông nghiệp bắt đầu thay đổi trong con mắt của nhà đầu tư. Người ta bắt đầu có cách nhìn khác về nông nghiệp. Lối sống gắn với điều kiện tự nhiên, gắn với sản phẩm nông nghiệp đang thay đổi mạnh. Nhu cầu này tạo ra giá trị gia tăng mới. Mặt khác, cái nhìn về tầm quan trọng của an ninh lương thực, thực phẩm ở khu vực và thế giới đang khác. Việc nhìn nhận này cũng tạo ra nhu cầu mới đối với ngành nông nghiệp.  Tiếp đến, cái nhìn thuần túy nông nghiệp chỉ tạo ra giá trị thấp cũng đang thay đổi. Nếu nhìn sản phẩm nông nghiệp gắn với công nghệ và chuỗi giá trị, sẽ tạo được giá trị gia tăng rất nhiều. Cách nhìn này đưa đến sự hấp dẫn mới cho nông nghiệp. Chính vì vậy, trong những năm trở lại đây các quỹ đầu tư vào nông nghiệp, các nhà sản xuất, kinh doanh lớn bắt đầu chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Lĩnh vực này bắt đầu đem lại lợi nhuận đáng kể, dòng tiền tốt và ổn định.  PV: Nói về ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp trong thời gian vừa qua chúng ta nói nhiều về mô hình của Israel, ông đánh giá như thế nào về các mô hình này khi ứng dụng vào Việt Nam?  Ông Võ Trí Thành: Thứ nhất, phải thấy vấn đề này có cả vai trò của nhà nước cũng như tín hiệu thị trường. Nhưng chúng ta đừng bao giờ quên công nghệ cao phải gắn với khả năng tạo giá trị, khả năng tạo lợi nhuận theo thị trường. Chúng ta làm công nghệ cao không phải để chứng minh mình có, mà công nghệ ấy phải được sử dụng hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và mang lại lợi nhuận thực sự cho nông dân và doanh nghiệp.  Thứ hai, muốn đưa công nghệ vào nông nghiệp phải có lợi thế về quy mô; Không tách rời những vấn đề tích tụ đất đai; Không tách rời vấn đề chuỗi giá trị để có lợi thế về mặt thị trường.  Thứ ba, công nghệ phải gắn liền với hỗ trợ nguồn nhân lực. Người dân phải hiểu cách làm, cách sử dụng công nghệ. Nói về công nghệ cao chúng ta thường hiểu nó là cái tân tiến, tinh xảo… cách hiểu ấy không sai nhưng không hoàn toàn đúng. Công nghệ theo định nghĩa khái quát là một cách làm. Hiểu theo nghĩa đó thì hoàn toàn không cần chờ quá nhiều vào nguồn lực cao. Chúng ta có thể cải tiến, sửa đổi, cải cách để nâng cao được năng suất và chất lượng. Bởi vậy, người ta thường nói không chỉ là công nghệ cứng và công nghệ mềm mà còn là cách quản trị.    PV: Hiện tại chúng ta xuất khẩu nông nghiệp giá trị gia tăng thấp. Theo ông, để tăng giá trị này cũng như nâng cao giá trị của các hợp đồng xuất khẩu chúng ta cần phải làm gì?  Ông Võ Trí Thành: Chúng ta nói giá trị gia tăng xuất khẩu nông nghiệp thấp, nhưng nông nghiệp là lĩnh vực hiện nay Việt Nam xuất siêu và đóng góp lớn. Chuyện tạo giá trị gia tăng cao cho xuất khẩu liên quan tới cách làm hiện hành, nếu chúng ta tăng được năng suất, giảm được chi phí thì bản thân điều ấy cũng làm tăng giá trị gia tăng.  Muốn tạo được giá trị gia tăng cao thì phải nhìn sản phẩm nông nghiệp từ A – Z và phải theo một chuỗi giá trị. Như nghiên cứu triển khai, đầu tư công nghệ, phân phối, làm thương hiệu, tiếp thị ở khâu cuối cùng đến người tiêu dùng… Tất cả những điều đó tạo ra giá trị gia tăng cao. Cùng là một mặt hàng nếu dịch vụ tốt, biểu hiện hàng hóa hay và chứng minh trên thực tế là tốt thì giá trị gia tăng có thể cao hơn bình thường. Tôi muốn nhấn mạnh một điểm, đầu tư công nghệ hiện đại nếu không xem xét đầy đủ mà chỉ để chứng minh ta có công nghệ ấy là không được.  Trần Quỳnh thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Để phép màu xảy ra!      Lần đầu tiên Việt Nam có ngày Khoa học và Công nghệ (18/5/2014) – “sự kiện không phải dành cho một giới, cho một lĩnh vực mà dành cho tất cả những ai có tinh thần sáng tạo, yêu khoa học… ở mọi thành phần trong xã hội. Từ những nông dân có sáng kiến tới những doanh nghiệp trong và ngoài nước, từ những người làm công tác nghiên cứu ở các Viện, Trường,… tới những học sinh sinh viên đam mê khoa học và sáng tạo,…” – Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân cho biết.     Nhân dịp này, Bộ KH&CN và Hội HVNCLC đã tổ chức Diễn đàn Quốc tế về Kinh Doanh Sáng tạo lần 1 với sự tham dự của Đại sứ Thuỵ Sĩ tại Việt Nam Andrej Motyl, các chuyên gia và doanh nghiệp đến từ Israel, Mỹ, Thái Lan, Đức, Việt Nam,… cùng chia sẻ những kinh nghiệm họ đã đổi mới sáng tạo như thế nào để duy trì, phát triển và cạnh tranh được trong môi trường kinh doanh toàn cầu ngày càng khắc nghiệt.   Họ đã làm điều đó như thế nào?  Theo thống kê của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) năm 2013, Thuỵ Sĩ là quốc gia đứng thứ nhất về sáng tạo trên thế giới. Chia sẻ với Diễn đàn, Đại sứ Thuỵ Sĩ tại Việt Nam – ông Andrej Motyl – cho biết – ngay trong và sau thế chiến II, nhờ ở thế trung lập, Thuỵ Sĩ đã trở thành điểm đến của nhiều tài năng, nhất là những người Do Thái tị nạn trốn khỏi Đức, Pháp, Ý…   Bắt đầu từ đây, Thuỵ Sĩ trở thành điểm thu hút và hội tụ nhân tài. Với diện tích rất nhỏ, dân số ít và không phải là nước giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nhưng Thuỵ Sĩ đã biến tận dụng chất xám của những người tị nạn và nhập cư, thúc đẩy sự tương tác giữa các nền văn hoá và giao thương giữa các quốc gia. Tính đến nay, Thuỵ Sĩ là đất nước có số doanh nghiệp toàn cầu trên đầu người cao nhất thế giới. Các doanh nghiệp Thuỵ Sĩ cũng chú trọng và đầu tư vào những trung tâm nghiên cứu và phát triển để sử dụng nguồn chất xám đã hội tụ, điển hình là những trung tâm R&D nổi tiếng toàn cầu tại Thuỵ Sĩ như của Novartis, Nestle,…    Ông Andrej Motyl cũng chia sẻ câu chuyện ĐMST của trường Đại học Bách khoa vùng Lausanne (EPFL) với những dự án “khủng” đầu tư vào ĐMST như dự án nghiên cứu não người với mức đầu tư 1 tỷ USD,… đã trở thành trường ĐH nổi tiếng trong cộng đồng dân cư nói tiếng Pháp với mô hình kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và Viện – Trường khi các DN có thể đặt ngay văn phòng, trung tâm nghiên cứu của họ tại trường.  Mối liên kết chặt chẽ giữa Doanh nghiệp và Viện – Trường – lực đẩy của đổi mới sáng tạo và tạo ra những thần kỳ kinh tế như Hàn Quốc (với viện KHCN Hàn Quốc – KIST), Singapore (với những Viện- trường tự định vị là Doanh nghiệp tri thức như ĐHQG Singapore NUS) cũng là chia sẻ của TS Giáp Văn Dương. Ông cho rằng chính mối liên kết này một cách tự nhiên và là nhu cầu tự thân của cả hai phía với sự hỗ trợ tạo dựng môi trường để thúc đẩy thông qua hành chính và luật pháp của Chính phủ là một trong những yếu tố quan trọng đã giúp Hàn Quốc và Singapore đạt những bước tiến dài về ĐMST và trở thành những nền kinh tế phát triển vượt bậc. Theo bảng xếp hạng của Bloomberg về 50 quốc gia sáng tạo nhất năm 2014, cả hai quốc gia này đều nằm trong Top Ten.   Chuyên gia về ĐMST đến từ Israel, bà Daphna Murvitz đã chia sẻ lịch sử tính bằng thập kỷ của Israel từ những năm 1950s tới những năm 2000s thông qua các cột mốc là những dịch chuyển về KHCN và ĐMST. Một đất nước không có tài nguyên, khắc nghiệt, dân số ít, nhỏ bé, nằm trong lòng những quốc gia đối đầu về cả văn hoá và tôn giáo,… thứ duy nhất Israel có thể khai thác chỉ là chất xám của chính mình. Theo bà, công thức sáng tạo của Israel chính là sự kết hợp giữa Tinh thần Doanh nhân, Hệ thống giáo dục, Sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro, Luôn kết hợp Kinh tế và xã hội và quan trọng nhất là luôn coi Trở ngại là lực đẩy. “Trở ngại không phải là rào cản, chính trở ngại tạo ra những cơ hội sáng tạo” – bà cho biết. Chỉ trong vòng vài thập kỷ, ngày nay, Tel Aviv – thủ đô của Israel đã trở thành trung tâm R&D và ĐMST lớn thứ hai thế giới, chỉ sau thung lũng Silicon của Mỹ. Về phía chính phủ, Israel luôn sẵn sàng chia sẻ rủi ro với DN, đặc biệt là DN khởi nghiệp – coi đây là đối tượng để hỗ trợ tài chính, pháp lý, nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo và đặc biệt chú trọng hợp tác Công – Tư giữa chính phủ và DN. Israel cũng có một hệ thống giáo dục đặc biệt “khiến Israel trở nên độc đáo” (Bill Gates) khi chú trọng đầu tư vào con người từ cấp thấp nhất “ngay cả nhà trẻ mẫu giáo cũng được trang bị công nghệ cao nhất. Triết lý của chúng tôi là Dám thử thách, Dám thay đổi”, bà Daphna chia sẻ.   Con đường duy nhất giúp DN cạnh tranh và phát triển  Cho dù Chính phủ có tạo ra những điều kiện tốt nhất giúp ĐMST hay không, thì DN vẫn phải tự mình tìm những con đường riêng – vì chính ĐMST giúp tạo ra động lực phát triển và cạnh tranh cho DN. “Lịch sử của chúng tôi là lịch sử của đổi mới sáng tạo” – ông Katsuyasua Kato – Chủ tịch HĐQT của Công ty Suntory PepsiCo Việt Nam chia sẻ. Được thành lập từ năm 1899, trải qua hơn trăm năm lịch sử với giá trị cốt lõi “Go For It” (Làm tới đi) đã thể hiện tinh thần luôn sẵn sàng tìm kiếm cơ hội và thử nghiệm điều gì đó mới mẻ. Xuất thân từ một nhà máy nhỏ bán rượu wishkey, hiện Suntory đã trở thành một tập đoàn nước uống và thực phẩm toàn cầu với doanh thu 20 tỷ USD (năm 2013). Niềm tự hào của tập đoàn này không chỉ nằm ở những con số như phát minh 133 sản phẩm mới mỗi năm mà còn ở những hiện tượng như “hoa hồng xanh” – thứ tưởng chừng phi lý và không thể – nhưng trên thực tế, bông hoa hồng màu xanh thực sự (blue rose) đầu tiên của thế giới đã nở ra trong phòng thí nghiệm của Suntory vào năm 2009 – trở thành một minh chứng tuyệt vời rằng mọi điều không thể đều có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta sáng tạo không ngừng. Ngày nay, Suntory có ba viện nghiên cứu lớn tại Nhật Bản và được xếp hạng thứ 8 trong danh sách các công ty được ngưỡng mộ nhất TG của Fortune năm 2013.  Đại diện của Misfit Wearables – một doanh nghiệp mới khởi nghiệp của nhóm doanh nhân Việt tại thung lũng Silicon với đội ngũ R&D và phần mềm tại Việt Nam – anh Trịnh Hoàng lại chia sẻ một công thức thành công khác khi kết hợp được chất xám, sự đa dạng và khác biệt giữa các nền văn hoá, môi trường,… với tinh thần lắng nghe, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm để tạo ra những sản phẩm sáng tạo. Anh Hoàng cho rằng, chính sự khác biệt, “độ vênh” giữa các nhóm làm việc đã tạo ra cơ hội để ĐMST. Với lợi thế này, sản phẩm của Misfit Wearables thậm chí đã khiến nhiều đối thủ danh tiếng toàn cầu danh tiếng hơn như Nike phải “đóng cửa” dòng sản phẩm tương tự của họ tại nhiều thị trường. Hiện sản phẩm của Misfit Wearables đã được bán trên toàn cầu , cả trong mạng lưới của hàng Apple trên các nước và nòng cốt đội ngũ sáng tạo chính là các bạn trẻ Việt Nam.  Câu chuyện được mọi người lý thú, hào hứng nhất là chuyện một người Việt Nam đã mua một thị trấn Hoa Kỳ. Với triết lý đơn giản hơn, nôm na là “Tiền ít nhưng muốn hít thơm”, ông Phạm Đình Nguyên chia sẻ lại cách làm tiếp thị sáng tạo của thương hiệu cà phê PhinDeli khi quyết định mua lại một thị trấn của Mỹ để quảng bá cho một sản phẩm – ý tưởng mà ông đã chợt có khi đã tìm hiểu rất kỹ về những cách quảng bá thương hiệu thật ít tiền nhưng hiệu quả. Ông cho rằng kênh internet và mạng xã hội là những công cụ mà DN nên tận dụng một cách sáng tạo để tối đa hoá hiệu quả quảng bá.  Bao nhiêu tiền là đủ cho nghiên cứu phát triển?  Từ bộ đo đổi mới sáng tạo i2metrix, các chuyên gia của BSA và trung tâm DHVP sau khi phỏng vấn sâu 21 doanh nghiệp đã tìm ra một điều thú vị: không cứ nhất thiết là phải nhiều tiền mới có thể nghĩ đến đổi mới sáng tạo. Có những sáng kiến được đưa ra mà không tốn đồng nào, chỉ cần biết cách huy động mọi nguồn chất xám từ bên trong. Chẳng hạn, công ty SGfood tổ chức các cuộc thi nấu ăn từ sản phẩm của chính công ty này và phát hiện ra những công thức mới cho sản phẩm mới, công ty Thiên Long thời kỳ đầu liên tục tìm ra những điểm có thể cải tiến trong việc sản xuất của mình chỉ từ ý kiến của các anh công nhân…  Các đại diện tới từ Công ty Thiên Long, Bóng đèn phích nước Rạng Đông,… cũng chia sẻ họ luôn dành ít nhất 2% doanh thu mỗi năm để tái đầu tư vào R&D và ĐMST. Theo ông Cô Gia Thọ, TGĐ Thiên Long, ngân sách R&D không chỉ đầu tư vào khoa học, công nghệ, mà còn cần phải tập trung vào quản trị và công ty đã nhận thức và làm tốt điều này ngay từ những ngày đầu khởi nghiệp. Ông Nguyễn Văn Thành từ công ty An Phú Đà Lạt cũng chia sẻ sự đeo đuổi cách làm nông nghiệp một cách chuyên nghiệp, khoa học, theo những chuẩn mực cao nhất của quốc tế,… mà giờ đây An Phú Đà Lạt đã có những sản phẩm rau quả thâm nhập được vào những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Nhật,…        Bộ công cụ giúp DN đo lường ĐMST              Vậy làm thế nào để DN có thể đo  lường được năng lực ĐMST của mình để biết “đi đâu về đâu” trên con đường  phát triển? Ông Trần Trí Dũng, đại diện của nhóm nghiên cứu công cụ đo  lường i2metrix đã giới thiệu bộ thước đo mới mẻ này – hiện đã được thử  nghiệm với 21 DN Việt Nam và mong muốn nhiều DN nữa sẽ tiếp tục tham gia  để kết quả sẽ được báo cáo tại các Diễn đàn về ĐMST trong khu vực và  quốc tế. Ông Dũng cũng đưa ra những cảnh báo về những sai lầm của DN  trong việc đầu tư vào ĐMST như “Lời nguyền tài nguyên khi DN đầu tư quá  nhiều vào khâu đầu vào, công cụ,…” mà quên mất việc đầu tư vào con  người. Tuy nhiên, ngay cả khi đầu tư vào con người, thì cách làm thế nào  để đúng và hiệu quả, cũng là một thách thức đối với DN. Cũng như những  chia sẻ của ông Kato, bà Daphna, ông Dũng cho rằng ĐMST không phải là  phép màu chỉ qua một đêm có thể thay đổi được tất cả – mà nó đòi hỏi sự  bền bỉ, liên tục, cam kết,… của DN cũng như của quốc gia.              TS Dolly  Sampson – một chuyên gia về học thuật của nhóm xây dựng i2metrix đến từ  Thái Lan cũng chia sẻ kinh nghiệm ĐMST khi kết hợp chặt chẽ giữa  Viện-Trường với DN. Bà cho rằng không chỉ sinh viên có thể học hỏi từ  DN, mà DN cũng có thể học hỏi và có được nhiều ý tưởng sáng tạo, mới mẻ  từ sinh viên. Yếu tố cốt lõi theo bà chính là việc liên kết mạng lưới –  luôn luôn tìm kiếm và mở rộng mạng lưới từ cả phía Viện-trường và DN một  cách chủ động.         Một hành trình mới              Diễn đàn Quốc tế về Kinh doanh Sáng tạo được kỳ  vọng trở thành diễn đàn thường niên về trao đổi các ý tưởng, giải pháp  giúp kinh doanh sáng tạo, mong muốn đưa ra những kiến nghị, đề xuất,…  với Chính phủ và các cơ quan chức năng để tạo điều kiện cho ĐMST được  nuôi dưỡng và phát triển – để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đạt được  trình độ KHCN ngày càng cao, ứng dụng được vào việc tạo ra những sản  phẩm chất lượng, cạnh tranh,… nhất là trong bối cảnh Việt Nam sắp tham  gia TPP và AEC,… hội nhập sâu hơn vào TG. Bộ trưởng Nguyễn Quân cam  kết “DN được đặt vào vị trí quan trọng hơn bao giờ hết trong hoạt động  KHCN của Bộ KHCN. DN vừa là trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ,  vừa là chủ thể của thị trường đổi mới công nghệ, là địa chỉ tin cậy để  ứng dụng những kết quả nghiên cứu KHCN”. Bộ trưởng nhấn mạnh: “Tình yêu  khoa học được nuôi dưỡng đều là niềm hy vọng cho bất kỳ quốc gia nào”.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Để sinh viên KH&CN tìm việc thành công      Để có được việc làm, cần hiểu được rõ nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp, qua đó chuẩn bị thật tốt kiến thức và kỹ năng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đó là những gì sinh viên các ngành KH&CN rút ra từ tọa đàm “Nâng cao cơ hội việc làm cho sinh viên KH&CN” do tạp chí Tia Sáng phối hợp tổ chức cùng các giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội, Đại học KH&CN Hà Nội, Đại học KHTN (ĐHQGHN)… và một số doanh nghiệp về công nghệ.      Các sinh viên KH&CN băn khoăn về định hướng nghề nghiệp. Ảnh: Thu Quỳnh.  Sinh viên các ngành khoa học và kỹ thuật cần chuẩn bị những gì để dễ có việc làm? Mức lương thường được nhận là bao nhiêu? Đối với công việc ở trong nước thì liệu có cần phải đi học nước ngoài? Đó là những câu hỏi mà nhiều sinh viên từ các trường Đại học Bách khoa HN, Đại học KHTN (ĐHQGHN), Đại học KH&CN Hà Nội, Học viện Kỹ thuật quân sự, Đại học Kinh doanh và công nghệ… đặt ra khi đến với cuộc tọa đàm. Lựa chọn giữa các ngành nghề cũng là vấn đề nóng được các em sinh viên và các bậc phụ huynh quan tâm. Anh Dũng (Tổng công ty Điện lực miền Bắc), dù con mới học lớp 11 cũng tìm đến tọa đàm để mong tìm được giải đáp cho câu hỏi: nên định hướng cho con vào ngành nghề gì trước bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ‘gõ cửa’?  Những băn khoăn của sinh viên và phụ huynh học sinh xuất phát từ nỗi khó khăn của sinh viên trong quá trình tìm việc làm, diễn ra khá phổ biến trong vài năm gần đây. Ví dụ theo số liệu khảo sát của Bộ LĐTBXH, có hai điểm đáng chú ý từ hơn một triệu lao động thất nghiệp của Việt Nam quý 1/2016: 1. Gần 50% là lao động ở độ tuổi thanh niên (15 – 24 tuổi); 2. Khoảng 41% là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong đó lượng lao động đạt trình độ đại học trở lên chiếm đa số 1.  Đừng hỏi lương bao nhiêu, hãy hỏi mình có thể làm được những gì?  Để giải đáp những băn khoăn trong từng ngành nghề cụ thể của các em sinh viên, cuộc tọa đàm đã tổ chức cho từng nhóm sinh viên trao đổi riêng với các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, trong phiên thảo luận chung trước đó, các em đã được cung cấp những lời khuyên cơ bản nhất, một bức tranh tổng quan về định hướng nghề nghiệp mà mỗi sinh viên trong mọi lĩnh vực ngành nghề cần phải biết.  Từ góc độ của một nhà quản lý KH&CN, TS. Doãn Hà Thắng, (Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN), cho rằng các sinh viên cần tự đặt cho mình các câu hỏi: chúng ta hiểu gì về nhu cầu của xã hội và của doanh nghiệp hiện nay, đâu là lĩnh vực ngành nghề mình có khả năng theo đuổi, và cuối cùng là bản thân mình có thể làm gì để đáp ứng nhu cầu trong từng ngành nghề cụ thể.  Để trả lời những câu hỏi có tính định hướng đó, theo TS. Tạ Văn Thạo, giảng viên Khoa Hóa, ĐH Sư phạm Hà Nội, các em sinh viên trước hết cần có thiện chí, thực tâm hướng tới những công việc mà mình đam mê, mong muốn gắn bó lâu dài, đồng thời cần có những kỹ năng tiếp cận và xử lý thông tin. Anh Nguyễn Minh Trí, CEO IFI Solution, một công ty chuyên về phát triển và gia công phần mềm công nghiệp cho các công ty Nhật Bản, Ý, Pháp, nhấn mạnh rằng khả năng lựa chọn việc làm phụ thuộc vào chính mỗi người, “nếu thực sự muốn tìm việc thì ta nên chủ động tìm hiểu, càng chủ động thì cơ hội càng mở ra trước mắt”. Sự chủ động từ tâm thế này cần được thể hiện ra ngoài bằng việc sinh viên chủ động thu nạp kiến thức cơ bản, xu hướng phát triển của lĩnh vực mình đang theo đuổi.    Xu hướng tích hợp liên ngành  Với kinh nghiệm của một người từng được mời hỗ trợ công việc tuyển dụng nhân lực ở nhiều doanh nghiệp, TS. Nguyễn Đức Khoáng đưa ra lời khuyên: ngoài việc hiểu rõ chuyên ngành của mình và định vị được chỗ đứng của mình, sinh viên cần có tư duy hệ thống và sự nhanh nhạy để nắm được những công việc, lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành của mình, và có khả năng tự đưa ra phương án xử lý những vấn đề mà mình tuy chưa học chuyên sâu nhưng từng có ít kiến thức cơ bản liên quan từ chương trình học trong trường, hay thậm chí có thể là chưa từng được học.  Chia sẻ tại tọa đàm, PGS. TS Trần Đức Tăng (Học viện Kỹ thuật quân sự) cho biết trước đây nói về ngành cơ học, người ta thường chỉ nghĩ đến những cỗ máy công nghiệp nhưng hiện nay, ngành cơ liên quan đến rất nhiều ngành nghề khác, đặc biệt là cơ điện tử, và tính ứng dụng rất cao. Anh lấy ví dụ như trong lĩnh vực y học, ứng dụng của ngành cơ tham gia trực tiếp vào các cuộc phẫu thuật chấn thương chỉnh hình cho bệnh nhân bị tai nạn hoặc xương phát triển không cân đối, khi việc xử lý hình ảnh bằng phần mềm chuyên dụng sẽ giúp các bác sỹ tính toán được phần khuyết thiếu cần điều chỉnh trên cơ thể và lấy xương ở bộ phận nào lắp vào. Để thích ứng với yêu cầu liên ngành của các ứng dụng KH&CN, PGS. Tăng cho rằng sinh viên ngày nay cần có tầm nhìn bao quát, và điều này không khó, bởi chỉ cần quan tâm thực sự đến ngành học của mình là sinh viên có thể nắm bắt được những chuyển động mới của ngành cũng như những lĩnh vực liên quan đến nó.  TS. Trần Đình Phong (Đại học KH&CN Hà Nội) nhận định “ở góc độ nào đấy thì việc các doanh nghiệp phàn nàn về chất lượng sinh viên ra trường là một sự thất bại của giáo dục”, tuy nhiên, bản thân các doanh nghiệp cũng cần chủ động hơn để tích cực đồng hành cùng các cơ sở đào tạo xây dựng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu thực tế. Để tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng hiểu được những nhu cầu thực sự của ngành công nghiệp, TS. Phong quyết định mời giám đốc BoViet, một tập đoàn về pin mặt trời ở Bắc Giang, làm giảng viên mời vào năm tới. Anh hy vọng, “những người làm trong ngành công nghiệp có thể tham gia tích cực hơn vào quá trình đào tạo, góp phần đưa những giá trị cơ bản và cốt lõi của công nghiệp vào môi trường học thuật”.    Tuy nhiên, am hiểu liên ngành không có nghĩa là trong mỗi ngành đều chỉ cần nắm hời hợt. Lấy ví dụ trong ngành cơ điện tử, anh Trương Trọng Toại, trưởng nhóm Robotics 3 T thuộc công ty Chế tạo máy 3 C chuyên nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các hệ thống robotics có độ chính xác cao, cung cấp các giải pháp tích hợp hệ thống và chuyển động thông minh, cho biết điểm mạnh của sinh viên ngành này là có thể xin vào làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau như cơ khí, điều khiển, công nghệ thông tin. Nhưng sinh viên cơ điện tử thường không được đào tạo chuyên sâu trong các chuyên ngành này, nên “khi thiết kế thì không bằng kỹ sư chế tạo cơ khí, phần điều khiển không nắm sâu bằng ‘dân’ điều khiển tự động, và thiết kế – lập trình các bo mạch điện tử không bằng các bạn chuyên ngành điện tử.” Vì vậy, người học cơ điện tử một mặt cần duy trì lợi thế nhãn quan liên ngành, mặt khác nên chủ động tự đào sâu vào một chuyên ngành nhỏ để thật giỏi trong chuyên ngành đó.  Có nhất thiết phải đi học nước ngoài nếu có điều kiện?  Trong nhiều năm gần đây, nhiều gia đình Việt Nam đã không ngại đầu tư tiền bạc cho con du học ở nước ngoài, tuy nhiên, liệu đó có phải là lựa chọn đúng đắn và mang lại sự đảm bảo chắc chắn cho việc làm tương lai? TS. Doãn Hà Thắng cho rằng, trong những năm qua, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin diễn ra hết sức mạnh mẽ, tác động một cách nhanh chóng đến mọi ngóc ngách của đời sống xã hội khiến thế hệ trẻ ngày nay có thể tự chủ động tìm kiếm những nguồn thông tin hữu ích mà không nhất thiết phải đi du học. Đồng thời xu hướng mới cũng đòi hỏi các em phải có cách tiếp cận linh hoạt và sáng tạo hơn so với các thế hệ đi trước để có thể nhanh chóng đáp ứng yêu cầu thực tế, bắt kịp các cơ hội đang mở ra. Nếu đi du học, rất có khả năng khi quay về, các bạn trẻ sẽ phải mất thời gian làm quen lại với môi trường Việt Nam, trong khi các bạn đồng trang lứa dù chỉ học trong nước lại có thể chủ động nắm bắt tình hình để tìm ra được những việc mình có thể làm, những nơi có thể nộp hồ sơ xin việc.  Đồng tình với quan điểm này, anh Nguyễn Minh Trí và TS. Tạ Văn Thạo, kể lại những trải nghiệm của chính mình sau khi du học trở về, trong đó họ nhận thấy quãng thời gian học tập tại nước ngoài dù là chương trình cao học hay tiến sỹ, đều quá dài. Theo anh Trí, “bây giờ được làm lại sẽ chọn không đi du học vì nó làm mất của tôi nhiều thứ như thời gian, tiền bạc mà không cho mình nhiều kiến thức”. Vì vậy, anh đưa ra một nhận định rất thật là nếu nhất quyết du học thì nên “chọn độ tuổi phù hợp, nghĩa là độ tuổi có thể biết suy nghĩ và đưa được ra nhiều quyết định cũng như lựa chọn khác nhau trước một tình huống”.  Tuy nhiên TS. Phan Lê Bình, chuyên viên tổ chức JICA và giảng viên ngành Cơ sở hạ tầng, ĐH Việt Nhật (ĐHQGHN) cho rằng, việc đi du học cũng có nhiều ích lợi, đó là biết thêm một ngoại ngữ, biết thêm ít nhất một nền văn hóa khác, do đó đem lại lợi thế rất lớn cho các sinh viên về sự tự tin và khả năng tiếp cận vấn đề từ những góc tư duy mới.  Vì vậy theo TS. Mai Anh Tuấn, ĐH Bách khoa HN, việc học trong nước hay nước ngoài, dừng lại ở đại học hay học lên các bậc trên tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người, mỗi gia đình. Điều quan trọng là cần phải trả lời được câu hỏi: học để làm gì, nó có trả lời cho vấn đề việc làm và sự nghiệp mà mình định theo đuổi hay không.  Làm gì để tăng cường kỹ năng mềm? TS. Phan Lê Bình (Đại học Việt Nhật) cho rằng sinh viên cần chú trọng kỹ năng làm việc nhóm, khả năng lắng nghe và thành thạo một ngoại ngữ. Để có kỹ năng mềm tốt, các bạn trẻ rất cần mở rộng phạm vi tương tác xã hội. TS. Khoáng khuyên các sinh viên không chỉ chú trọng học tập trong các phòng thí nghiệm mà hãy rèn luyện thể thao để có sức khỏe, hãy tham gia các hoạt động xã hội để học hỏi được nhiều điều cần thiết. TS. Bình cũng nêu ví dụ, ở Nhật Bản, nơi anh từng theo học, sinh viên rất chú trọng tham gia một vài câu lạc bộ trong trường đại học, không chỉ để mở mang hiểu biết mà còn thiết lập thêm các mối quan hệ, làm quen với các mạng lưới quan hệ xã hội có thể hỗ trợ công việc sau này. Tuy đây là một nét văn hóa rất riêng của người Nhật nhưng rõ ràng việc mở rộng hoạt động cũng đem lại nhiều điều bổ ích cho mỗi người, đặc biệt là khả năng dung hòa xung đột và xử lý tình huống.  —————————  1.http://cafef.vn/ca-nuoc-co-hon-1-trieu-nguoi-that-nghiep-1-2-la-thanh-nien-1-3-la-cu-nhan-dai-hoc-cao-dang-20160528185137241.chn          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Để startups và SMEs gặp nhau      Hi-Tech Konec, chuỗi sự kiện mở màn cho Ngày hội Khởi nghiệp KH&CN Việt Nam TECHFEST 2017 đã đưa ra một cách thức kết nối mới mẻ trong cộng đồng startup    Hi-Tech Konec, chuỗi sự kiện khởi động trước ngày hội khởi nghiệp khoa học công nghệ TECHFEST 2017 đưa ra một cách thức tổ chức hoàn toàn mới do ba đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp Kisstartup, Innovatube và Trung tâm dịch vụ tổng hợp khu CNC Hòa Lạc tổ chức. Thay vì kết nối giữa nhà đầu tư với các startup, Hi-Tech Konec là những cuộc gặp mặt giữa những doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ mới (Internet của vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn, Trí tuệ nhân tạo và Thực tế ảo) với…khách hàng tiềm năng của họ, những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, thay vì startup tập trung thuyết trình như ở nhiều sự kiện khác, ở đây, họ sẽ chỉ lắng nghe và học hỏi từ người khác.    Hi-Tech Konec được tổ chức nhằm khởi xướng cho những hoạt động rút ngắn khoảng cách giữa những nhà chuyên môn và những nhà công nghệ, hi vọng tạo ra những đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh doanh truyền thống. Mỗi sự kiện của Hi-Tech Konec sẽ được điều phối bởi một – hai chuyên gia vừa có hiểu biết sâu sắc về xu hướng công nghệ, vừa có trải nghiệm thực tiễn.      Những sự kiện Hi-Tech Konec tiếp theo sẽ lần lượt được tổ chức vào ngày 18/10 (chủ đề về Big Data – Dữ liệu lớn), ngày 24/10 (chủ đề về AI – trí tuệ nhân tạo) và 31/10 (chủ đề về AR – Thực tế ảo). Sự kiện tổ chức ngày 18/10 sẽ diễn ra tại KiCoworking Space với sự điều phối của ông Nguyễn Tuấn Anh, nhà sáng lập hệ sinh thái y tế đầu tiên của Việt Nam Ecomedic và Phan Nam Long, CEO, nhà sáng lập Abivin.      Sự kiện đầu tiên vừa được tổ chức vào ngày 11/10 vừa qua với chủ đề về Internet vạn vật. Người điều phối lần này là anh Nguyễn Thế Trung, tổng giám đốc công ty DTT, một trong ba đối tác cùng với Dell và Intel sáng lập IoT Lab tại Vườn ươm Khu CNC Hòa Lạc. Anh cho biết, khối lượng dữ liệu mà internet của vạn vật tạo ra mỗi ngày sẽ bằng tất cả dữ liệu tạo ra trong lịch sử trước đó. Điều này cộng với sự hội tụ của công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ cho phép tạo ra những sản phẩm dịch vụ “đo ni đóng giày” cho từng cá nhân trên thế giới. Tuy nhiên, theo anh Trung, hiện nay chúng ta mới chỉ sử dụng 1% dữ liệu này và đang bỏ qua nhiều cơ hội vì nhiều lí do. Thứ nhất, đa số chỉ nhìn các lĩnh vực một cách riêng lẻ chứ không nhìn trong tổng thể một bức tranh lớn, chẳng hạn như giao thông thông minh và du lịch thông minh là hai việc tách rời nhau hay thành phố thông minh và giao thông thông minh là khác nhau. Điều này dẫn đến lý do thứ hai là doanh nghiệp sẽ tập trung vào người dùng cá nhân (đồng hồ thông minh, điện thoại thông minh) mà bỏ qua người dùng doanh nghiệp. “Trao đổi thông tin và tích hợp hệ thống giữa các doanh nghiệp với nhau là một tiềm năng rất lớn” – Anh Trung nói. Chẳng hạn, trong một câu chuyện đơn giản, khi mỗi bộ phận của một chiếc xe ô tô gắn với một cảm biến, thì lượng dữ liệu sinh ra không chỉ có giá trị cho công ty vận tải mà còn cho cả công ty du lịch, logistic…Tuy nhiên, để giải quyết được lý do thứ hai thì lại nảy sinh lý do thứ ba, thiếu chuẩn để tương thích giữa các sản phẩm và hệ thống của các hãng sản xuất khác nhau.     Anh Nguyễn Thế Trung (bìa trái) và chị Nguyễn Đặng Tuấn Minh (bìa phải) trong sự kiện đầu tiên về IoT của Hi-Tech Konec  Thực tế trên đòi hỏi đội ngũ khởi nghiệp trong lĩnh vực IoT có “hệ năng lực chuyên môn rất rộng”, vừa phải giỏi về bảo mật (vốn là các chuyên gia viễn thông), vừa giỏi về cơ khí, cơ điện (để có sản phẩm tốt, đẹp), giỏi về phần mềm nhúng. Một nhóm thường phải có ít nhất năm người, “tinh nhuệ” và lương cao. Quan điểm này của anh Thế Trung đã khiến nhiều nhóm startup, vốn xuất thân từ kĩ sư phần mềm, dự định tạo ra những sản phẩm, dịch vụ giá rẻ đã phải suy nghĩ lại.  Nhờ việc thay đổi tư duy và điều chỉnh nhu cầu của phía doanh nghiệp và startups, sự kiện đã kết nối với doanh nghiệp bất động sản Starlands, doanh nghiệp cung cấp phần mềm quản lý khách sạn ở Đông Nam Á EZClound và một startup trong việc hình thành ý tưởng tạo ra các thiết bị giúp khách hàng tự đăng ký và check in trong các khách sạn nhỏ mà không cần sự tham gia của lễ tân hay nhân viên phục vụ.  Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung chưa thực sự quan tâm đến những công nghệ mới. Trong 6 doanh nghiệp được mời, chỉ có ba doanh nghiệp tới dự. Ngoài ra, theo chị Nguyễn Đặng Tuấn Minh, người sáng lập KisStartup, trước khi sự kiện diễn ra, đã có một khảo sát nhỏ được gửi đến chủ các doanh nghiệp này và đa số đều tránh trả lời câu hỏi: “doanh nghiệp muốn công nghệ có thể giải quyểt vấn đề gì của mình”.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Để trẻ không “thờ ơ” khi tham quan di sản      “Khi nào em lại được đi Văn Miếu?” là câu hỏi cho thấy sự hào hứng của rất nhiều học sinh trường tiểu học Lý Thường Kiệt, Q. Đống Đa, Hà Nội sau khi được trải nghiệm di sản một cách chủ động tại Văn Miếu trái với tâm lý thờ ơ, chán nản khi tham quan di sản mà chúng ta thường thấy.      Học sinh lớp một cùng thảo luận về hình ảnh con hổ tại Văn Miếu.  Đó là những kinh nghiệm về hiệu quả trong cách giáo dục di sản mới được chia sẻ tại Tọa đàm giáo dục di sản do Trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám phối hợp với Mạng lưới các bảo tàng Việt Nam tổ chức vào ngày 17/5 vừa qua.  Trẻ chưa thích vì “bị động”  Cho đến nay, hoạt động tham quan di sản vốn được đánh giá là chưa thu hút, hấp dẫn, chưa tạo được tính chủ động của học sinh trong suốt quá trình tham quan. Một hiện tượng khá phổ biến là các em học sinh luôn rất “thờ ơ” với di tích lịch sử và không có nhiều ấn tượng trước những kiến thức lịch sử khá khô cứng. “có năm chúng tôi miễn toàn bộ vé cáp treo vào mùa hè cho học sinh nhưng không em nào đến tham quan. Tại sao? Chúng tôi cho rằng tại chính các hoạt động tham quan di sản của chúng ta chưa thực sự thu hút các em”, ông Lê Trọng Thanh, Giám đốc Công ty Tùng Lâm đầu tư vào khu du lịch Yên Tử (Quảng Ninh) chia sẻ. Ngay cả các khu di tích có lượng khách tham quan và học sinh đông thì “cách tổ chức tham quan cũ chưa phát huy được tính tương tác, tính chủ động của các em học sinh”, ông Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám cho biết.  Trái ngược với cách giáo dục di sản khô cứng ở Việt Nam, giáo dục di sản ở nhiều nước luôn đề cao tính chủ động trải nghiệm ở trẻ em, “ví dụ, chủ đề nghệ thuật thời tiền sử tưởng như rất khô khan, nhưng các bảo tàng lịch sử nghệ thuật ở Thụy Sĩ không thuyết minh để học sinh hiểu ‘thụ động’ mà dẫn dắt các em trải nghiệm với việc tạo dụng cụ vẽ, màu tự nhiên bằng lá cây, đất, cát… và hướng dẫn các em vẽ lên tường giống như những người tiền sử. Các trải nghiệm như vậy đánh thức trí tò mò, kích thích các em tiếp tục tìm hiểu”, theo PGS.TS Bùi Thị Thanh Mai, PGĐ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.      Một bức tranh do học sinh lớp một vẽ hổ và muông thú sau khi tìm hiểu bức phù điêu “Mãnh hổ hạ sơn” tại Văn Miếu.   Hướng tới tính chủ động của trẻ  Trước những bất cập đó, Văn Miếu Quốc Tử Giám đã thí điểm xây dựng cách tiếp cận mới về giáo dục di sản, trong đó: đổi mới cách tham quan di sản, hướng tới cách tiếp cận các giá trị đa dạng của di sản, kích thích tính sáng tạo, chủ động của học sinh gắn liền với chương trình giáo dục đào tạo, phù hợp với chuẩn kiến thức của cấp học, khối lớp và yêu cầu của từng môn học. Học sinh được tham gia các hoạt động trải nghiệm thông qua một khung chương trình do cán bộ giáo dục tại di tích thiết kế theo 3 bước: trước thăm quan, trong thăm quan và sau thăm quan. Trước tham quan là hoạt động do giáo viên tổ chức tại lớp học, giúp học sinh chuẩn bị trước chuyến thăm quan, trải nghiệm tại di tích; gắn kết di sản với chương trình của học sinh. Trong tham quan là hoạt động tại di tích: cán bộ giáo dục hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động trải nghiệm đã được thiết kế theo chủ đề. Sau tham quan là hoạt động đặc biệt được chú trọng, đòi hỏi sự sáng tạo của học sinh và thầy cô giáo. Việc giáo viên định hướng đúng và khéo léo, linh hoạt bố trí, sắp xếp đủ thời gian sẽ giúp học sinh có được những sản phẩm sáng tạo hiệu quả sau một chuyến thăm quan trải nghiệm. Ví dụ, khi tìm hiểu về chủ đề “Lớp học xưa” tại Văn Miếu, thay vì thuần túy nghe thuyết trình về lịch sử, các em học sinh lớp bốn được chia nhiều nhóm khác nhau để mài mực tàu, vẽ tranh, in chữ, chơi đất nặn.. trong bước Trong tham quan. Khi trở về lớp học, trong bước Sau tham quan, các em tiếp tục trải nghiệm đóng kịch, học hoặc thậm chí tự viết ra những bài vè, đồng dao về lớp học thời xưa, lớp học thời nay.  Một số trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội như Tiểu học Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy, Tiểu học Cát Linh, Q. Giảng Võ, Tiểu học Lý Thường Kiệt, Q. Đống Đa… đã thí điểm cùng với Trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám cho học sinh trải nghiệm tham quan di sản theo quy trình mới này. “Các tiếp cận mới này đã tạo hứng thú cho học sinh rất lớn. Các em luôn háo hức hỏi chúng tôi là ‘khi nào con lại được đi Văn Miếu?’”, bà Nguyễn Kim Toàn, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, Q. Đống Đa, Hà Nội cho biết.  Đánh giá cao thí điểm này của Văn Miếu Quốc Tử Giám, TS. Nguyễn Thành Nam, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự, người từng tham gia biên soạn sách của nhóm Cánh Buồm cho rằng các khu di tích có thể tự tổ chức và trang trải kinh phí cho hoạt động tham quan di sản theo cách tiếp cận này. Bởi vì, khi xây dựng các gói tham quan hấp dẫn phụ huynh và học sinh, thì các khu di tích hoàn toàn có thể thương mại hóa, bán các gói tham quan.  Về phía nhà quản lý, ông Trương Minh Tiến, phó GĐ Sở Văn hóa thể thao và du lịch Hà Nội cho biết “sẽ phối hợp với ngành giáo dục nhân rộng mô hình này ra toàn thành phố Hà Nội, bởi ở mỗi làng quê, xã phường đều có di tích gắn liền với truyền thống ở quê hương. Các chương trình này sẽ giáo dục cho em về lịch sử quê hương mình tốt hơn, thông qua đó bảo vệ gìn giữ phát huy giá trị di sản”.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Đề xuất cấm sản xuất các sản phẩm biến đổi gene      Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra danh mục tám  ngành nghề bị cấm đầu tư, kinh doanh, bao gồm sản xuất các sản phẩm biến đổi gene.     Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ với các bộ ngành diễn ra ngày 19.8, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đã đề xuất chỉ còn tám ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ cấm đầu tư, kinh doanh, qua 51 ngành nghề đã rà soát.  Danh mục tám ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh đề xuất gồm có kinh doanh vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; chất ma túy; sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, tiêu dùng và xuất khẩu hóa chất, các loại pháo; Kinh doanh, tổ chức mại dâm, buôn bán người; kinh doanh thực vật, động vật hoang dã, quý hiếm, gồm cả vật sống và các bộ phận đã được chế biến; Thử nghiệm sinh sản vô tính trên người; và sản xuất các sản phẩm biến đổi gene.  Phương án nói trên đã được lãnh đạo Chính phủ và các bộ ngành nhất trí. Các ý kiến cũng đề nghị Bộ, ngành cần phối hợp để tiếp tục rà soát, đảm bảo chất lượng của danh mục đề xuất và tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn.  Điều này vừa đảm bảo được quyền tự do đầu tư, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.  Mặt khác, quy định cũng phải đảm bảo sự linh hoạt cũng như lường định và xử lý được những vấn đề phát sinh trong thực tiễn cuộc sống vốn hết sức phong phú, đa dạng và luôn vận động, phát triển.  Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tiến hành rà soát các ngành nghề bị cấm, ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện.     “Quản lý nhà nước không phải là giành thuận lợi cho chúng ta mà quản lý là để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh, làm ăn”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói.  Người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ, ngành có trách nhiệm, khẩn trương, tiếp tục và chủ động rà soát các ngành, nghề đầu tư, kinh doanh bị hạn chế hoặc phải có điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực mình quản lý để bãi bỏ nếu đã lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn, không còn cần thiết cho mục tiêu quản lý nhà nước;  Hoặc bổ sung ngành, nghề đầu tư, kinh doanh vào danh mục hạn chế hoặc phải có điều kiện kinh doanh nếu thấy nhất thiết phải quản lý.  Nhận xét về danh mục ngành, nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư, Thủ tướng nhất trí với đề xuất không ưu đãi đầu tư đối với các ngành, nghề khai thác tài nguyên, khoáng sản và khoảng 40 ngành, nghề, sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dù các ngành, nghề này đầu tư ở địa bàn ưu đãi đầu tư.  Đồng thời chính sách ưu đãi về ngành, nghề, địa bàn đầu tư sẽ do Chính phủ quy định chi tiết.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề xuất khu công nghiệp sinh thái      Ngày 29/8/2018, hội nghị thường niên lần thứ 3 “Động lực tăng trưởng kinh tế bền vững và bao trùm của Việt Nam: Sử dụng bằng chứng trong Hoạch định chính sách và Xây dựng dự án” do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) phối hợp tổ chức đã rút ra những bài học về nâng cao năng lực sản xuất song hành với bảo vệ môi trường.    Chia sẻ những kết quả nghiên cứu và phân tích chính sách liên quan đến động lực tăng trưởng bền vững và bao trùm của Việt Nam dựa trên những đánh giá và dữ liệu thực chứng, các đại biểu tham dự hội nghị đã tập trung vào các giải pháp để Việt Nam có thể vừa nâng cao năng lực sản xuất song hành với bảo vệ môi trường. PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận xét một thực tế đang diễn ra ở Việt Nam: “Dù tăng trưởng xanh là con đường tất yếu để tăng trưởng và phát triển bền vững nhưng việc lồng ghép các chiến lược tăng trưởng xanh vào các chính sách phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương còn rất hạn chế.”  Đồng ý với quan điểm này, ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu Kinh tế  (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nêu, việc phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam dù đem lại lợi ích kinh tế, ví dụ tạo việc làm cho 3,2 triệu lao động, xuất khẩu 119 tỷ USD, đóng ngân sách hơn 3 tỷ USD trong năm 2017 nhưng lại gây ra hiện tượng lãng phí các nguồn lực tự nhiên, tăng phát thải nhà kính và hủy hoại môi trường xung quanh. Nếu tính riêng về phát thải khí thì theo tính toán của Worldbank, các ngành công nghiệp và năng lượng của Việt Nam trong năm 2012 đã phát thải đến gần 200 triệu tấn CO2, chiếm 78% tổng phát thải nhà kính của Việt Nam.    Khu vực rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng tại bản Nà Khoa 1, 2 (Điện Biên). Nguồn: forlandvn.wordpress.com  Để khắc phục điều này, ông Đông đề xuất phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam, trong đó các công ty có sự cộng sinh công nghiệp, ví dụ như sản phẩm thải của nhà máy này là đầu vào của nhà máy khác, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội. Mô hình này đã được áp dụng rộng rãi và thu được thành công ở nhiều nước, đặc biệt là Hàn Quốc và Đan Mạch. Hiện nay ở Việt Nam, Quỹ Môi trường Toàn cầu, Cục Kinh tế liên bang Thụy Sỹ và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp Quốc đang tài trợ dự án Triển khai sáng kiến Khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam nhằm chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống thành khu công nghiệp sinh thái. Kết quả của dự án sẽ là tiền đề để Chính phủ xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện mô hình khu công nghiệp sinh thái trong 5 năm tới đây.  Cũng liên quan đến giảm phát thải nhà kính do hoạt động công nghiệp, ông Phạm Thành Nam, chuyên gia Biến đổi khí hậu của Dự án Trường Sơn Xanh do USAID tài trợ đề xuất thực hiện mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với hấp thụ và lưu giữ carbon. Theo đó, thay vì nộp thuế phát thải, các đơn vị phát thải lớn sẽ chi trả tiền cho người dân và các cộng đồng quản lý và bảo vệ bền vững rừng tại địa phương để họ trồng, quản lý và bảo vệ rừng. Mô hình này đã đạt được những thành công bước đầu ở Việt Nam, với khoảng 350 triệu USD đã được chi trả, 400.000 hộ gia đình đã nhận được tiền để bảo vệ rừng và 6 triệu hecta rừng được quản lý. Trong thời gian tới, mô hình này sẽ tiếp tục được mở rộng ở Việt nam, nhờ sự hỗ trợ tích cực của Bộ NN&PTNT và Ngân hàng Thế giới.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Đề xuất một cách đạt mức phát thải nhựa bằng không      Môt nhóm các nhà nghiên cứu với nhiều thành viên làm việc tại nhiều viện nghiên cứu ở Đức, Thụy Sĩ và Mỹ đã tạo ra một mô hình mà họ cho là có thể hữu dụng để đạt được mức phát thải nhựa về zero vào năm 2050.      Trong công bố xuất bản trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu này đã miêu tả mô hình của mình và những điều kiện để nó đạt được mục tiêu này 1.  Nghiên cứu chứng tỏ việc sản xuất và sử dụng nhựa hiện đã trở thành vấn đề môi trường quan trọng khi nó bị phân rã thành vi nhựa, và khiến cho mọi nguồn nước trên hành tinh đều chứa vi nhựa. Đây là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về sức khỏe của mọi sinh vật. Quá trình chế tạo ra nhựa cũng là nguyên nhân đóng góp vào vấn đề ô nhiễm toàn cầu do các loại khí phát thải trong quá trình sản xuất.  Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu được tạo ra từ 400 nỗ lực nghiên cứu nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề chất thải nhựa và phát triển một mô hình mà họ cho biết có thể dẫn đến khả năng dẫn đến một thế giới zero ô nhiễm nhựa vào năm 2050.  Mô hình này đã hoàn thiện một chu trình được xây dựng về tái chế nhựa tích hợp với việc giảm thiểu hóa chất carbon dioxide do chúng phát ra khi đốt hoặc thu thập từ sinh khối. Họ cũng đề xuất tỉ lệ tái chế thấp nhất ở mức 70% cũng có thể hiệu quả để đạt được mức phát thải bằng không, vốn có thể giúp tiết kiệm năng lượng ở mức 34 đến 53%.  Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất chi phí điều hành liên quan có thể sẽ ngang bằng với các quy trình thu giữ carbon khác. Ước tính, việc áp dụng mô hình của họ trên toàn cầu sẽ giúp tiết kiệm chi phí lên tới khoảng 288 tỷ đô la hàng năm.  Không chỉ vậy, các nhà nghiên cứu cũng nêu, lượng phát thải khí nhà kính do chế tạo nhựa hiện tại đã chiếm 6% toàn cầu. Do đó, họ lưu ý, những dự đoán hiện tại đề xuất con số có thể lên tới 20% trong 30 năm đến nếu quá trình sản xuất vẫn diễn ra với tốc độ như hiện nay. Họ kết luận là những công nghệ hiện hành đều có thể giải quyết được vấn đề ô nhiễm nhựa – tất cả đều cần thiết để giải quyết những gì ý chí đặt ra.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-net-zero-emission-plastics.html  https://eandt.theiet.org/content/articles/2021/10/net-zero-co2-plastic-could-be-more-affordable-than-expected/  ————————  1. Achieving net-zero greenhouse gas emission plastics by a circular carbon economy, Science (2021). DOI: 10.1126/science.abg9853    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề xuất mức học phí và gói tín dụng phù hợp      Để đáp ứng được nhu cầu xã hội trên cơ sở đào tạo sinh viên đại học theo cam kết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, mức học phí tối thiểu phải gấp 2,5 lần hiện nay, tức là khoảng 25 triệu đồng/sinh viên/năm. Tuy vậy, đại bộ phận các gia đình nông dân khó lòng chi trả. Do đó, giải pháp khả dĩ để giải quyết vấn đề này là nhà nước cung cấp gói tín dụng sinh viên đủ lớn và hấp dẫn. (Phần cuối trong loạt bài “Đổi mới cơ chế tài chính để nâng cao chất lượng đào tạo và công bằng xã hội trong GDĐH” của tác giả Trần Đức Viên).      Sinh viên Đại học Y dược Thái Nguyên thực tập công nghệ thông tin. Nguồn ảnh: Danviet.  Mức học phí bình quân hiện nay là 8-10 triệu đồng/sinh viên/năm. Nếu tính trung bình cho cả khóa học thì mức học phí khoảng 40 triệu đồng/sinh viên/khóa đào tạo. Tuy nhiên, mức học phí này được coi là không đủ để đảm bảo chất lượng đào tạo theo chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng trong bối cảnh hội nhập thị trường lao động quốc tế.  Để đáp ứng nhu cầu xã hội trên cơ sở thực hiện đào tạo sinh viên đại học theo cam kết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, mức học phí tối thiểu phải gấp 2,5 lần hiện nay, tức là khoảng 25 triệu đồng/sinh viên/năm (khoảng 100 triệu đồng cho cả khóa học như đã phân tích ở trên). Tuy vậy, khả năng chi trả học phí cho con em của đại bộ phận các hộ gia đình nông thôn dường như quá sức so với mức học phí mới. Do đó, giải pháp khả dĩ để giải quyết vấn đề này là nhà nước cung cấp gói tín dụng sinh viên đủ lớn và hấp dẫn cho người học để họ có cơ hội đi học, sau đó ra trường đi làm việc và trích phần tích lũy được từ thu nhập để trả nợ.  Đối với sinh viên mới ra trường, thu nhập của họ nếu tính theo thang lương hiện nay thì gần như không có tích lũy để trả nợ. Điều này đặt ra vấn đề ai là người hưởng lợi nếu sinh viên sau khi tốt nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu của nhà tuyển dụng nói riêng và nhu cầu xã hội nói chung. Rõ ràng, ngoài cá nhân sinh viên tốt nghiệp và gia đình anh ta thì bất cứ ai sử dụng lao động đều là người hưởng lợi vì chí ít là họ không phải mất chi phí đào tạo lại, hoặc chỉ chi phí tối thiểu cho đào tạo lại. Như vậy, trách nhiệm tham gia gói tín dụng sinh viên phải bao gồm cả nhà nước, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan khác.  Phương án vay trả  Giả định là, hộ gia đình của sinh viên chỉ có khả năng chi trả ở mức học phí như hiện nay, phần học phí tăng thêm để đảm bảo chất lượng đào tạo theo cam kết chuẩn đầu ra nhằm đáp ứng tốt nhu cầu xã hội phải được huy động từ gói tín dụng sinh viên của nhà nước.  Như là một điều kiện tối thiểu, gói tín dụng sinh viên cần được thực hiện dưới dạng ưu đãi cả về lãi suất và thời gian trả nợ. Theo đó, mức lãi suất tối đa chỉ nên áp dụng ở mức 2%/năm[1] và thời gian vay là 15 năm, trong đó có 5 năm ân hạn, tính từ ngày nhập học. Người vay bắt đầu trả nợ từ năm thứ 6. Nếu sau năm cuối được trả nợ vay ưu đãi mà người vay vẫn chưa trả hết, thì họ phải trả lãi theo tỷ lệ lãi bình quân tham chiếu của các ngân hàng thương mại.  Khi đó, mức tiền chi trả hằng tháng và mức thu nhập của sinh viên sau khi tốt nghiệp tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống và khả năng trả nợ được xác định như ở Bảng 3. Trong đó, mức chi tiêu cần thiết của sinh viên được xác định bằng mức lương tối thiểu hiện nay nhà nước đang quy định đối với vùng 3, hằng năm tính thêm 5% bằng mức tăng bình quân của chỉ số giá tiêu dùng (CPI).  Kết quả tính toán cho thấy so với mức lương hiện nay theo thang lương và mức lương cơ bản hiện hành (1,3 triệu đồng/hệ số), để đảm bảo duy trì cuộc sống tối thiểu và trả nợ “tín dụng sinh viên” theo cơ chế ưu đãi, mức thu nhập của sinh viên sau khi ra trường cần phải tăng thêm bình quân gần 100%, tức là thu nhập phải tăng gấp hai lần so với mức thu nhập theo thang lương và lương cơ bản như hiện nay.      Ngoài cá nhân sinh viên tốt nghiệp và gia đình anh ta thì bất cứ ai sử dụng lao động đều là người hưởng lợi vì chí ít là họ không phải mất chi phí đào tạo lại. Như vậy, trách nhiệm tham gia gói tín dụng sinh viên phải bao gồm cả nhà nước, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan khác.      Tuy nhiên, việc thay đổi hệ thống lương sẽ ảnh hưởng sâu rộng và to lớn đến toàn xã hội; vì vậy, để có thể hoàn vốn cho Quỹ tín dụng sinh viên trong điều kiện chế độ lương như hiện nay[2], chúng tôi kiến nghị: trong thời gian học đại học (không tính thời gian kéo dài do người vay không hoàn thành chương trình đào tạo) và 5 năm sau ngày tốt nghiệp (như là thời gian ân hạn của khoản vay ưu đãi) người vay không bắt buộc phải trả nợ, bắt đầu từ năm thứ 6, sinh viên vay vốn và gia đình họ bắt đầu phải trả tối thiểu 6 triệu đồng/năm chưa bao gồm tiền lãi (10 năm x 6tr/năm = 60 triệu đồng); Số tiền trả nợ hằng năm bắt đầu từ năm thứ 6, bao gồm cả nợ gốc và lãi tiền vay, được xác định cụ thể như ở Bảng 3. Phương thức trả là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc khấu trừ tự động vào lương và các khoản thu nhập có tính chất lương của họ để chuyển cho Quỹ tín dụng sinh viên. Việc thu nợ này còn có thể được thực hiện qua hệ thống thuế của nhà nước. Tình trạng vay vốn và hoàn trả này được tích hợp trong thể căn cước/CMTND, chính quyền địa phương và cơ quan/tổ chức nơi người vay làm việc có trách nhiệm đôn đốc và nhắc nhở người vay hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Quỹ Tín dụng sinh viên. Sinh viên tốt nghiệp làm việc cho khối cơ quan, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi có thu nhập từ 7 triệu đồng/tháng trở lên. Nhà nước quy định các sinh viên này có thu nhập tối thiểu 7 triệu đồng/tháng đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khác ngoài khu vực nhà nước.    Bảng 3. Phương án vay và trả nợ của sinh viên sau khi tốt nghiệp (10 năm – Đơn vị tính: Đồng)  Tổ chức thực hiện              Có thể theo hai cách:      Thời gian chuẩn bị cần 2-3 năm để làm công tác tuyên truyền, thu nhận và xử lý các ý kiến phản biện xã hội, hoàn thiện dự án, sau đó cho thực hiện.      Để tránh những thay đổi đột ngột, trong thời gian 3-5 năm đầu, Chính phủ có thể vẫn khống chế mức học phí trần (ví dụ mỗi năm học phí được tăng tối đa 25%), đồng thời cho phép mức trần này tăng dần theo từng năm; mặt khác, chính phủ cũng quy định mức học phí tối thiểu, tránh tình trạng ‘phá giá’ học phí có thể xảy ra, ví dụ thấp nhất là 20 triệu đồng/năm học. Để điều tiết linh hoạt và phù hợp với tình hình kinh tế, mức trần trên-dưới trong ngắn hạn có thể gắn với GDP đầu người.  Đối với các chính sách khác, cần áp dụng ngay các giải pháp hỗ trợ dài hạn và điều chỉnh theo từng năm căn cứ trên tình hình thực tế. Trong ba kênh hỗ trợ chính của nhà nước, cần chuyển dần từ kênh thứ nhất (hỗ trợ trực tiếp cho các trường) sang hai kênh kia (học bổng, tín dụng sinh viên và tài trợ nghiên cứu khoa học).  Lộ trình tăng học phí nhất thiết phải được song hành với yêu cầu tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của các trường đại học, vì chỉ có như vậy thì nhà nước, sinh viên, và xã hội mới có điều kiện giám sát và đảm bảo nguồn tài chính tăng thêm được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.  Trách nhiệm  Thiếu sự chia sẻ và đồng thuận của xã hội, ngành giáo dục không thể làm gì khác hơn là duy trì những gì mình đang có. Tìm kiếm một giải pháp tài chính phù hợp cho các trường đại học công lập là vấn đề bức xúc nhất hiện nay để thực hiện Quyết định 09 và Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học.  Để đảm bảo giải pháp được thực hiện thành công, cần có sự tham gia trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước:  – Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu bố trí nguồn kinh phí tín dụng hỗ trợ sinh viên. Nhu cầu vay vốn tín dụng của sinh viên được chúng tôi xác định trên cơ sở dự báo xu hướng gia tăng của số sinh viên có nhu cầu vay vốn hằng năm từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ngày 18/5/2006 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Ngoài ra, số lượng sinh viên có nhu cầu vay vốn học tập khi mở rộng đối tượng vay vốn cũng đã được dự kiến trên cơ sở tham chiếu kết quả của một số thống kê về nhu cầu sinh viên vay vốn ở một số trường đại học, cao đẳng. Theo đó, số sinh viên vay vốn dự kiến năm học 2017-2018 là 187.595 sinh viên. Trên cơ sở kết hợp số liệu xác định nhu cầu vay vốn và phương án vay nợ của sinh viên đã tính ở Bảng 3, quy mô gói tín dụng được xác định như ở Bảng 4, khoảng hơn 30 ngàn tỷ đồng[3].    Bảng 4. Dự kiến kinh phí gói tín dụng và phương án sử dụng theo năm (Đơn vị tính: Đồng)  – Bộ Nội vụ nghiên cứu phương án tính lương của sinh viên ra trường làm việc cho nhà nước và doanh nghiệp tại Việt Nam đáp ứng khả năng hoàn trả nguồn vốn vay (Bảng 3) dự kiến khoảng 7 triệu đồng/tháng. Những trường hợp làm việc cho công ty/chính phủ/tổ chức nước ngoài cần cam kết có xác nhận của đơn vị tuyển dụng trả số tiền vay theo lộ trình.  – Bộ Tài chính nghiên cứu và đề xuất mức học phí sàn phù hợp (dự kiến tăng lên khoảng 20-25 triệu/năm học, gấp 2,5 lần hiện nay) đồng bộ cho các trường đại học và cao đẳng; chính sách hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, dân tộc thiểu số và các sinh viên ra trường về vùng khó khăn công tác (có thể các sinh viên này chỉ trả 50-70% tiền vay so với sinh viên khác). Bộ Tài chính cũng xây dựng phương án sử dụng nguồn kinh phí thu hồi (có thể tái sử dụng vào nguồn tín dụng hỗ trợ giáo dục cho các năm tiếp theo).  – Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành đồng thời các giải pháp để phối hợp với giải pháp tăng học phí nhằm nâng cao chất lượng đạo tạo bao gồm: tái cơ cấu hệ thống giáo dục đai học, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, phân luồng giáo dục[4], quốc tế hóa giáo dục đại học, tự chủ đại học, kiểm định chất lượng, giám sát chuẩn đầu ra, v.v…  – Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, Ngân hàng và doanh nghiệp, các trường nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý tài chính cho vay – thu hồi khoản vay. Nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia từ khi sinh viên bắt đầu vào học đại học, sinh viên ra trường và công tác để quản lý nguồn lực và hỗ trợ việc thu hồi kinh phí của Quỹ tín dụng sinh viên.  Chúng tôi đề xuất áp dụng thí điểm phương án và giải pháp học phí mới trên cả nước trong vòng 10 năm (đủ hai thế hệ sinh viên đại học ra trường có việc làm) và đảm bảo một số sinh viên áp dụng thí điểm đầu tiên đã tham gia trả nợ, sau đó sẽ tổng kết, đánh giá hiệu quả của đề xuất này.  ——–  Chú thích:  [1] Như lãi suất WB áp dụng cho các dự án ODA ở Việt Nam.  [2] Theo số liệu điều tra của HVNNVN, chỉ có 20% sinh viên ra trường làm việc cho khối nhà nước, 80% làm việc cho khối tư nhân và các tổ chức nước ngoài hay có yếu tố nước ngoài. Nhà nước có thể quy định mức lương tối thiểu các doanh nghiệp phải trả cho sinh viên mới ra trường là 7 triệu đồng/tháng. Trên thực tế, các sinh viên tốt nghiệp từ HVNNVN làm việc cho khối tư nhân có thu nhập khởi điểm cao hơn 7 triệu đồng/tháng.  [3] Nhà nước có thể đề nghị các tổ chức quốc tế như WB, ADB,… hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi này.  [4] Chính sách học phí mới tự nó sẽ có khả năng phân luồng rất mạnh, học sinh và gia đình họ sẽ tự biết nên đi học công nhân kĩ thuật, trung cấp, cao đẳng hay đại học.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang ĐÊM GIAO THỪA VỚI NỮ THẦN TỰ DO… NGHÈO.      Christmas Eve. Chiều Giáng sinh. Chiều truyền thống của các nước phương Tây sao mà giống như không khí chiều 30 Tết của Việt Nam… đến thế! Mọi công việc làm ăn của đời sống thường ngày tạm gác qua một bên. Không khí đoàn tụ về lại trong từng mái ấm gia đình. Tâm hồn con người quay về lại với nhau. Trong những góc riêng của mỗi tấm lòng có một cái gì đó rất chung không nói được bằng lời. Có vẻ như đấy là sự im lặng thiêng liêng đầy chiêm bái. Cũng có vẻ như từng đợt sóng âm thanh bay quanh đỉnh nhọn cao vút của những cây thông Noel. Có chăng là tiếng lặng của Tâm Tưởng; của Silent Night – Đêm Thánh vô cùng…    Chiều Giáng sinh tại miền Bắc California, đã 4 giờ 30, nghĩa là chỉ còn 30 phút phù du nữa thôi là tôi có quyền phủi tay thong dong về nhà dự bữa cơm chiều sum họp Giáng sinh với gia đình. Giáng sinh không còn mang ý nghĩa là một ngày lễ hội tôn giáo mà đã trở thành một ngày lễ truyền thống tưng bừng lớn nhất trong năm tại các nước Âu Mỹ ngày nay. Nhưng một báo cáo mới vừa chuyển tới. Tôi là người cuối cùng trong ngày của nhóm trực “Ứng phó khẩn cấp” (Emergency Response) thuộc cơ quan CPS đến phiên phải thụ lý hồ sơ. Đây là một hồ sơ mới, yêu cầu ứng phó tức khắc để điều tra khẩn cấp về trường hợp trẻ con của một gia đình đang bị lâm nguy.  CPS là tên viết tắt ba chữ đầu của Cơ quan Bảo vệ Trẻ em (Children’s Protective Services). Đây là một cơ quan bảo vệ trẻ em có mặt trên toàn 50 tiểu bang của Mỹ nên hầu hết quần chúng Mỹ đều biết “CPS” là ai. Giới cha mẹ hay người giám hộ đàng hoàng, có trách nhiệm với con cái thì coi CPS là một cơ quan cần thiết và giúp ích rất lớn cho sự ổn định gia đình và xã hội. Giới phụ huynh bê bối thì coi CPS là thế lực đầy “nanh vuốt” của nhà nước. Nó chuyên gây khó dễ cho phụ huynh. Nó bắt trẻ con “bị hành hạ ngược đãi” (child abuse) ra khỏi gia đình, rồi đưa vào trung tâm Bảo vệ Thiếu nhi (protective custody) bất chấp phản ứng của cha mẹ hoặc chính nạn nhân. Trời Cali mùa đông chưa tới 5 giờ chiều đã tối. Tôi xách cặp hồ sơ, lái xe công lên đường đến nhà “khách hàng” là nơi bị báo cáo có trẻ em đang bị ngược đãi và lâm nguy.  Gia đình “nguy hiểm” nầy ở trong một khu chung cư rộng lớn có cả nghìn đơn vị gia cư. Đến ngay căn chung cư có địa chỉ ghi trong báo cáo, tôi gõ cửa đến lần thứ ba mà vẫn không có ai trả lời. Sống ngón tay nhức buốt vì lạnh và sức va chạm vào thành cửa. Rõ ràng tiếng cãi vã của người lớn từ trong nhà vọng ra vừa im bặt. Bỗng có tiếng trẻ con khóc thét lên và tiếng người lớn nói khẽ “suỵt, suỵt” để trấn áp tiếng khóc. Lần nầy, tôi mạnh dạn gõ lên khung cửa liên tiếp với chùm chìa khóa trong tay. Hình như không còn giữ mãi im lặng được nữa, một khuôn mặt đàn ông đỏ gay, râu ria tua tủa, đôi mắt trợn trừng dữ dằn ló ra sau khung cửa mở hé và hỏi như nạt nộ:  – Ai đó?  – CPS của Sacramento.  Tôi vừa trả lời vừa đưa thẻ hành sự cho người đối diện. Gã đàn ông vừa nghe 3 chữ CPS đã vội hét lên:  – Hả?! Cũng lại tụi CPS ngu ngốc đến quấy rầy chúng tao nữa sao. Chúng mày định giở trò khỉ gió gì mà làm ồn lên thế?  Tôi vẫn giữ vẻ ôn tồn và lịch thiệp nói với người đàn ông:  – Thưa ông, cơ quan CPS chúng tôi nhận được báo cáo rằng, trẻ con trong nhà nầy đang bị quên lãng, ngược đãi vì chúng nó đang đói và lạnh mà không có thức ăn trong nhà và không có máy sưởi…  Không chờ tôi nói hết lời, người đàn ông đã nóng nảy mắng át đi bằng một loại tiếng Anh thô bạo, sặc mùi hè phố với những chữ chửi thề “F…, B…, S…” liên tục:  – Mẹ kiếp! Đứa nào báo cáo ba cái thứ linh tinh này thế? Toàn là một mớ báo cáo láo khoét ngu xuẩn.  Chúng tao nuôi nấng trẻ con trong nhà này rất tuyệt vời. Chúng tao là một gia đình hạnh phúc. Tất cả trẻ con đều sung sướng. Chẳng có gì sai trái để tụi CPS chúng bây chỉa mõm vào đây cả.   – Thưa ông,  tôi chưa kết luận là báo cáo đúng hay sai gì cả. Tôi đến tận đây là để xem xét tình hình và làm sáng tỏ về báo cáo trẻ con trong gia đình này có thật sự bị ngược đãi và hành hạ hay không. Tôi đang làm việc, đang thi hành nhiệm vụ, thế thôi.  Người đàn ông lại hét tướng lên, lần nầy chỉa thẳng vào mặt tôi, ông ta tưởng lầm tôi là người Trung Hoa:  – Con mẹ nó! A, cái thằng Tàu ngu dốt dám cả gan qua xứ Mỹ này dạy chúng tao phải nuôi con như thế nào cho đúng, hả?!  Liền sau phản ứng quyết đấu của người đàn ông, có khuôn mặt một người đàn bà tóc nâu, da trắng hiện ra sau khung cửa mở hé. Đôi mắt to, mở lớn đầy hoang mang và sợ hãi. Một phần khuôn mặt ẩn sau cánh tay hộ pháp của người đàn ông, người đàn bà ra giọng can ngăn:  – John, câm miệng lại. Này, cái ông… ông gì đó CPS, chẳng có gì sai trái tại gia đình nầy cả. Chẳng có gì để CPS dính líu vào đây cả.  Tôi đã quá quen với “thực tế chiến trường” nên những lời nạt nộ thô bạo của người đàn ông hay lối giải thích vu vơ của người đàn bà chẳng có giá trị gì cả. Thản nhiên, tôi lên tiếng:  – Thưa bà, tôi đang làm nhiệm vụ là điều tra xem những điều báo cáo có đúng hay không. Bà yên tâm, nếu thực sự chẳng có gì sai thì tôi đóng hồ sơ lại mà thôi.  Người đàn bà lên giọng khó chịu:  – Thế thì ai báo cáo những điều ngu ngốc này?  Tôi trả lời như cái máy thu băng:  – Theo luật, tôi không được phép tiết lộ danh tánh hay ai là người báo cáo.  Người đàn bà vẫn khăng khăng, có vẻ như đang tìm kế hoãn binh:  – Tôi biết điều đó. Nhưng rất tiếc bây giờ là chiều Giáng sinh. Chúng tôi đang bận rộn lo cho buổi cơm chiều sum họp gia đình. Ông có thể trở lại gặp chúng tôi vào khi khác vậy.  Tôi biết giới hạn trách nhiệm của mình nên trả lời ngay:  – Tôi rất tiếc là không thể hoãn. Tôi phải thi hành luật pháp và bắt đầu việc điều tra của tôi ngay bây giờ.  Người đàn bà hỏi nhanh:  – Điều tra như thế nào?  – Kiểm tra xem trong nhà bà có đủ thức ăn đầy đủ và có máy sưởi ấm cho trẻ con hay không?  Người đàn bà trở nên đanh đá:  – Trát tòa án xét nhà đâu?  Tôi chỉ vào tập hồ sơ báo cáo CS248, trả lời:  – Đây. Theo luật pháp liên bang, báo cáo nầy là trát tòa khẩn cấp.  – Đấy không phải là trát tòa án hợp lệ.  – Nếu nghi ngờ, bà cứ gọi ngay số khẩn cấp  911…  Người đàn ông và người đàn bà quay nhìn nhau ra vẻ bối rối.  Bỗng người đàn ông tiếp tục đẩy mạnh chiến thuật tấn công “biển người” bằng cách đẩy người đàn bà ra phía trước và gào lên:  – Ê, thằng Tàu kia. Cút ngay!  Tôi vẫn thản nhiên yêu cầu gặp trẻ con và kiểm chứng những chi tiết trong báo cáo. Thái độ không nao núng của tôi làm gã ta điên tiết thêm và gào to hơn:  – Không thể được… Không thể được! Cút. Cút ngay lập tức!  Hay là… hay là, nhìn đây…  Và gã ta đưa bàn tay phải lên, chỉa thẳng ngón tay trỏ và ngón tay giữa, co các ngón tay khác lại để làm thành dấu hiệu của khẩu súng ngắn. Rồi gã ta đưa khẩu súng tưởng tượng lên mang tai của mình và miệng phát ra âm thanh nổ súng đe dọa:  – Păng… păng!  Đến nước này thì tôi chỉ còn cười nhạt và quay ra xe. Tôi gọi số đặc biệt của đội cảnh sát tuần tra và yêu cầu họ đến ngay địa điểm tôi đang làm việc để giúp bảo vệ an toàn.  Khi quay lại chổ cũ, tôi thấy cửa nhà của đơn vị chung cư đóng kín im ỉm khi hai chiếc xe cảnh sát chớp đèn chạy tới chưa đầy năm phút sau đó.  Hai nhân viên cảnh sát một nam, một nữ thay nhau gõ cửa nhưng vẫn không có tiếng trả lời. Bỗng có tiếng trẻ con khóc thét lên từ phía trong nhà vọng ra. Hai nhân viên cảnh sát trao đổi với nhau và quyết định tung cửa bước vào. Người đàn ông cố làm một cử chỉ phản kháng nhưng đã bị cảnh sát ra lệnh đứng yên để xét vũ khí trong người và giấy tờ.  Không mất thì giờ lâu để sảnh sát nhận ra rằng, gã đàn ông thô lỗ kia là một tội phạm đang đang trốn lệnh bắt giam. Lập tức, gã ta bị còng tay và dẫn ra xe chở vào nhà giam. Còn lại người đàn bà và bốn đứa con nhỏ trong căn nhà mờ tối. Trời lạnh gần độ đông đá bên ngoài mà bên trong nhà vẫn không có sưởi. Cả mấy mẹ con trùm chăn nằm co ro quanh cây thông giáng sinh đặt ngay giữa phòng khách. Những đôi mắt kinh hãi nhìn tôi chờ đợi khi tôi tiến lại gần và lên tiếng với bà mẹ:  – Xin lỗi, bà có phải là Jean Turner không?  Người mẹ trả lời không do dự:  – Vâng.  – Sandy, Alex, Ron và Amy là con của bà đang nằm trong chăn đây phải không?  – Vâng, vâng…  – Người đàn ông vừa bị bắt có phải là chồng bà và cha của mấy đứa nhỏ này không?  Người đàn bà lưỡng lự, rồi hạ giọng trả lời:  – Không. Anh ấy không phải là chồng tôi và cũng không phải là cha của đứa nhỏ nào đây cả.  Anh ta chỉ là bạn trai của tôi thôi.  – Bạn trai ở trong nhà hay đến viếng?  – Anh ta ở riêng. Nhà cửa tại đâu tôi không biết. Thỉnh thoảng anh ấy mới đến đây chơi thôi.  Cuộc thẩm tra bước qua giai đoạn nghiêm trọng khi tôi yêu cầu người mẹ chứng minh là có đủ đồ ăn cho trẻ con. Người đàn bà chui ra khỏi mền, run lập cập vì lạnh và bị mất tinh thần vì thực tế trong nhà chẳng còn thức ăn nào cho trẻ con và người lớn. Mặc cho người đàn bà lắp bắp tìm cách giải thích loanh quanh, nhưng theo luật, trước hết tôi đến kiểm tra tủ lạnh đựng thức ăn và đồ uống. Cái tủ lạnh vẫn chạy nhưng các ngăn đều trống trơn. Trong ngăn đá chỉ có mấy chai nước lạnh đã đông cứng thành đá. Tôi tiếp tục kiểm tra các tủ đựng thức ăn quanh bếp, nhưng chẳng có một món đồ ăn nào còn sót lại. Người mẹ với chiếc mền nhỏ quàng quanh người cho đỡ lạnh, liên tục nói tới những nguồn thực phẩm hứa hẹn sẽ có do hàng  xóm, bà con hứa sẽ mang đến.  Đã 9 giờ tối. Người mẹ như đã có kinh nghiệm từ trước, liếc mắt nhìn vào xấp giấy tôi vừa ký. Nhưng ngay khi tôi đưa điện thoại lên gọi cảnh sát đến chở bốn đứa trẻ ra khỏi nhà, người mẹ hất chiếc mền xuống đất và vươn tay giữ bàn tay đang cầm điện thoại của tôi lại, thảng thốt kêu lên:  – Khoan.  – ?!  Người đàn bà mở lớn đôi mắt xanh, giọng trầm xuống hỏi tôi:  – Ông là người Việt Nam phải không?  – Sao bà biết?  – Vì trên tấm danh thiếp ông trao hồi nãy, tôi đọc được ông họ Trần.  – Sao bà biết họ Trần là từ Việt Nam?  – Vì bố tôi là cựu chiến binh Việt Nam.  Không còn nhiều thời gian, tôi đi thẳng ngay vào đề:  – Vâng, tôi là người Việt Nam. Nhưng nếu là người Việt Nam hay người nước khác thì có gì khác nhau chăng?  Bà ta nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi:  – Ngày lễ lớn nhất của Việt Nam là ngày Tết thì phải? Trong bức thư cuối cùng năm 1968, bố tôi viết như thế đó. Ông cụ so sánh ngày Tết Việt Nam với ngày Giáng Sinh ở Mỹ. Đúng không ông?  – Vâng, đúng vậy. Thế ông cụ thân sinh bà qua đời rồi sao?  – Người mẹ mắt nhìn xuống, trả lời buồn rầu:  – Chưa. Bố tôi còn sống nhưng đã hoàn toàn mất trí từ năm ấy.  – Bà… bà sinh ra…  Tôi nói chưa hết lời thì người đàn bà đã hiểu ý, tiếp lời:  – Kể như không có cha, tôi là một nạn nhân vô tội của chiến tranh Việt Nam…  – ?!  Người mẹ kể lể:  – Cha tôi điên, mẹ tôi nghèo giữa một xã hội giàu có. Tôi tự do lêu lổng và hút xách, rồi bỏ học. Tuổi 16, tôi đã dính líu chuyện trai gái tình dục. Lớn lên chẳng có được một nghề gì kiếm ăn nên phải bám vào trợ cấp xã hội (welfare). Những đứa con không cha thế hệ thứ hai ra đời phải sống bằng tiền đóng thuế của người khác, như bầy con tôi mà ông thấy đó.  Suốt mười năm qua, tôi làm việc hàng ngày với mặt trái của xã hội Mỹ. Đấy là một xã hội nghèo núp bóng sau những thế lực ngự trị của một xã hội giàu sang. Một mảnh xã hội nghèo trong một quốc gia giàu có thường bắt nguồn từ tuổi trẻ chỉ biết hưởng thụ, học đòi và thỏa mãn dễ dãi trong nếp sinh hoạt không cần biết đến ngày mai. Tôi sốt ruột lên tiếng:  – Bà Turner, tôi rất tiếc là không làm gì khác hơn được trong hoàn cảnh nầy. Tôi phải đưa cả 4 cháu vào trung tâm Bảo Vệ Trẻ Em.  Người mẹ khóc nấc lên, cố năn nỉ với giọng đứt quãng:  – Thưa ông, tôi hiểu là ông đang làm công việc của ông phải làm. Nhưng ông có thể giúp mẹ con chúng tôi có được một đêm Giáng sinh với nhau, rồi sáng sớm mai ông bắt các cháu đi có được không?  Tôi trả lời thẳng băng:  – Rất tiếc, không được. Ai sẽ ở tù thay cho tôi nếu đêm nay các cháu chết vì đói hoặc vì lạnh?  Người đàn bà giọng cương quyết hơn bao giờ hết:  – Tôi sẽ đi quanh các nhà lân cận xin thức ăn.  – Nhưng trời lạnh dưới độ đông đá nầy mà không có máy sưởi, lỡ các con bà sẽ chết vì lạnh thì sao?  Đến đây, người đàn bà tuyệt vọng quàng tay ôm bốn đứa con nhỏ cúi rạp mình xuống dưới tàng cây Giáng Sinh. Bà nói nhỏ lời từ biệt và an ủi vào tai từng đứa. Nghe mẹ nói, ba đứa trẻ lớn tung ra khỏi cánh tay của mẹ và chạy trốn đâu đó ở góc nhà và đứa trẻ nhỏ nhất lồm cồm bò theo. Tiếng la hét mỗi đứa một khác, nhưng tất cả chỉ là một vọng âm:  – Không. Không! Không đi đâu hết. Con ở nhà với mẹ thôi, mẹ ơi!  Người mẹ khóc không còn ra tiếng:  – Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?  Tiếng than của Jean Turner như một lời đay nghiến mỉa mai. Với khoản trợ cấp con mọn từ quỹ xã hội tính cả tiền mặt, tem phiếu thực phẩm và phụ cấp gia cư hơn 2 nghìn đô la một tháng – bằng lương của một kỹ sư độc thân mới ra trường sau khi trừ thuế – có lẽ tất cả những người mẹ trên thế giới không có lý do than đói, than nghèo như Jean Turner. Và, cho đến khi hai người cảnh sát lần lượt dắt và bồng bốn đứa trẻ ra xe thì vẻ mặt người mẹ đanh lại và hỏi tôi nửa như tò mò, nửa như thách thức:  – Ông à, sinh ra từ một đất nước nghèo nàn như Việt Nam, chả lẽ ông chưa bao giờ biết thiếu ăn hay chịu lạnh lẽo trong ngày Tết của ông sao?  Không một chút dự phòng hay tranh cãi, tôi thành thật trả lời:  – Tôi không nhớ là đã có lần nào tôi bị thiếu ăn hay chịu rét trong đêm Giao Thừa ngày tôi còn bé, sống với mẹ ở vùng quê.  – Vì gia đình ông giàu có?  – Không, nghèo lắm, thưa bà. Nhưng mẹ tôi và những bà mẹ Việt Nam có cách hưởng thụ riêng.  – Hưởng thụ? Hưởng thụ là thưởng thức, ăn chơi thỏa mãn thì có ai khác gì ai đâu?  Chiếc xe cảnh sát chở  bốn đứa trẻ đã đi khuất. Tôi xách cặp giấy tờ chào từ giã người mẹ đứng buồn thiu bên khung cửa sổ và nói với lại:  – Hưởng thụ sự hy sinh cho con cái. Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn…  Tôi không nghĩ là người mẹ vừa mất con hiểu và chia sẻ trọn vẹn câu nói của tôi trong tiếng Anh. Khi chiếc xe tôi lái bật đèn và rời khu chung cư. Khuôn mặt người mẹ bắt ánh đèn đường bên cửa sổ. Dáng rất quen mà tôi không nhớ đã gặp từ đâu. Xe chạy nửa đường tôi mới nhớ. Dáng vẻ đón mà đưa; mời mà tiễn của tượng Nữ Thần Tự Do vào một chiều cuối năm lất phất sương mù trên cảng Nữu Ước. California, Mùa Giáng sinh 2006   Trần Kiêm Đoàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Demis Hassabis: Người kiến tạo trí óc      Người thứ hai trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là TS. Demis Hassabis, nhà phát triển trí tuệ nhân tạo đã đánh bại kỳ thủ cờ vây xuất sắc nhất thế giới. Nhiệm vụ tiếp theo của anh là giải quyết những vấn đề toàn cầu.      Trận đầu giữa Lee Sedol, nhà vô địch thế giới cờ vây và AlphaGo.  Đối với game thủ Demis Hassabis, tháng Ba đưa đến cho anh một trận đấu căng thẳng nhất trong đời dù anh thậm chí còn không trực tiếp chơi. Hassabis phải theo dõi thành quả sáng tạo của nhóm nghiên cứu của anh, chương trình máy tính AlphaGo, đối đầu với Lee Sedol, nhà vô địch thế giới cờ vây. Phần thắng thuộc về máy tính, đánh dấu một chiến thắng lớn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) đồng thời cũng làm dày thêm chuỗi thành tích của Hassabis.  Với vai trò là người đồng sáng lập DeepMind, một công ty có trụ sở ở London đã phát triển AlphaGo, Hassabis vừa vui mừng vừa nhẹ nhõm. “Nó giống như một bước nhảy vọt của chúng tôi, và nó đã thành công” – Anh nói.  Nhưng ý nghĩa của chiến thắng này vượt xa câu chuyện về cờ vây. Hassabis muốn cho thế giới thấy sức mạnh của những kỹ thuật học máy, điều mà anh hi vọng rằng một ngày nào đó sẽ xuất hiện dưới dạng gần gũi với con người hơn, có đủ khả năng giải quyết những vấn đề toàn cầu phức tạp.  Hassabis, đã định hình tầm nhìn này từ khi là đứa trẻ phát triển sớm. Là một thần đồng cờ vua, khi đang ở tuổi thiếu niên, anh đã thiết kế và bán được hàng triệu bản trò chơi điện tử độc đáo và thành lập công ty riêng vào đầu những năm 20 tuổi. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành khoa học thần kinh nhận thức, anh sáng lập DeepMind vào năm 2010. Google mua lại công ty bốn năm sau đó với giá khoảng 400 triệu bảng Anh (nhiều hơn 650 triệu USD lúc bấy giờ).  Trong công ty, những nhà nghiên cứu áp dụng những gợi ý từ môn khoa học thần kinh cho những  nhiệm vụ nổi bật của trí tuệ nhân tạo, từ tổng hợp giọng nói cho đến định vị Ga tàu điện ngầm ở London. Mỗi thuật toán được xây dựng phức tạp dần lên và ngay từ đầu, các khả năng khác nhau của AI đều được phát triển riêng rẽ. Các trí tuệ nhân tạo của DeepMind đã đi từ việc học cách nhìn và rồi hành động dựa trên những gì nó thấy, sử dụng điều này để có thể lên kế hoạch và phân tích hành động nào là hợp lí. Trong việc xử lý những vấn đề trên thực tế, nhóm đã sử dụng học máy để tiết kiệm việc sử dụng năng lượng trong những trung tâm dữ liệu của Google đến 15%, điều mà Hassabis hi vọng sẽ áp dụng trên quy mô lớn hơn nhiều.  Mặc dù những nhà nghiên cứu trong công ty vẫn xuất bản các công bố nhưng sản phẩm mà họ đang thực hiện vẫn được giữ bí mật, điều làm phật lòng nhiều người trong giới học thuật. Một số nhà vận động cho việc bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng đưa ra nhiều quan ngại đối với kế hoạch hợp tác giữa DeepMind của Google với Trung tâm dịch vụ sức khỏe quốc gia Anh Quốc. Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn tấp nập kéo đến đến làm việc tại đây.  Cá nhân Hassabis là người khiêm tốn nhưng tham vọng. Anh có biệt tài hướng người khác theo đam  mê của mình, Eleanor Maguire, giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ cho anh ở University College London nói. “Một khi anh ấy nói về điều mình hứng thú, nó rất dễ lây lan” bà nói. Vừa nghiên cứu vừa điều hành công ty bây giờ đồng nghĩa với việc dành khoa học cho một vài tiếng ít ỏi vào buổi sáng không làm Hassabis bận lòng: “Chúng tôi đang thực hiện một sứ mệnh quan trọng và tôi nghĩ là nó xứng đáng với sự hi sinh này”.  Hảo Linh dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đèn LED công nghệ Nhật hỗ trợ ngư dân Việt Nam      Dự án “Tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả công việc với trang thiết bị đèn LED đặc biệt công nghệ mới (COB) cho tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Quảng Trị” mới được Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị, Cơ quan Phát triển Tổng hợp Năng lượng mới – Kỹ thuật công nghiệp Nhật Bản (NEDO), Công ty điện tử Stanley Electric Co Ltd (Việt Nam) và Tập đoàn bảo hiểm Mitsubishi UFJ Morgan Stanley (Mỹ – Nhật) phối hợp áp dụng thử nghiệm 4 năm tại Quảng Trị.      Các thành viên dự án kiểm tra việc lắp đặt hệ thống đèn LED trên các tàu đánh cá ở Quảng Trị. Nguồn: VTV  Việc sử dụng đèn trong đánh bắt cá đã được ngư dân Việt Nam áp dụng rộng rãi trong thời gian gần đây, phần lớn họ vẫn sử dụng các loại bóng thủy ngân, halogen kim loại hay đèn LED Trung Quốc giá thành rẻ nhưng lượng dầu tiêu thụ cao và không bền. Vì vậy, dự án này được thực hiện với mục tiêu giúp ngư dân tiết kiệm năng lượng cũng như bảo vệ môi trường biển.  Theo báo cáo kết quả thực hiện dự án trong cuộc họp vào ngày 2/3/2017 tại Bộ KH&CN, 1.800 đèn LED có công suất 1000 W của các nhà cung cấp Stanley Electric Co Ltd (Nhật Bản) đã được lắp đặt trên 40 tàu đánh cá. Sau bốn năm áp dụng, những người thực hiện dự án nhận thấy không chỉ có ưu điểm về ánh sáng so với các loại bóng khác, đèn LED dự án dù có giá cao hơn (khoảng 4 triệu đồng) nhưng đảm bảo được hiệu quả đánh bắt, đồng thời giảm lượng khí thải CO2, cho thấy tiềm năng bảo vệ môi trường biển của loại đèn này. Ông Sumiya Kisanuki – đại diện của NEDO và ông Bamba – chuyên gia của Stanley Electric Co Ltd và có hơn 20 năm kinh nghiệm về sản xuất đèn chiếu sáng cho xe máy lưu hành trên thị trường Việt Nam, đưa ra một vài thông số: nhờ sử dụng đèn LED được thiết kế trên nền tảng Chip on Board (COB) do NEDO phát triển, các chủ tàu đánh cá đã cắt giảm được tới 70 % lượng dầu tiêu thụ cho chiếu sáng, tuổi thọ của bóng lên tới 10.000 giờ trong khi sản lượng cá thu được không đổi.  Tuy nhiên, theo một số cán bộ của Bộ KH&CN, để nêu bật được ưu điểm của đèn LED mới, qua đó thuyết phục được ngư dân tin dùng, NEDO và Stanley cần thực hiện thêm những nghiên cứu và đánh giá chi tiết hơn nữa đối với những ưu thế vượt trội về mặt công nghệ của thế hệ đèn LED đặc chủng này, đồng thời cam kết sẽ chuyển giao công nghệ cho một số đối tác tại Việt Nam để thương mại hóa sản phẩm, không phải trông chờ vào nguồn cung từ Nhật Bản. Ông Lê Đình Hậu, Vụ trưởng Vụ Các ngành nghề kỹ thuật (Bộ KH&CN) cho biết, Bộ KH&CN sẽ hỗ trợ cùng NEDO trong việc phổ biến, giới thiệu công nghệ LED mới này thông qua các hoạt động thường niên như Techfest, Techmart, TechDemo…    Author                Minh Nhật        
__label__tiasang Đến lúc nông nghiệp dùng phân hữu cơ vi sinh      Cách đây năm năm, Đặng Thị Thực, người sáng lập Đặng Gia Trang đã nhìn ra xu hướng tất yếu phát triển nông nghiệp phải loại bỏ dần thói quen sử dụng phân hoá học, chuyển sang phân hữu cơ vi sinh.      Xu hướng tất yếu phát triển nông nghiệp là phải loại bỏ dần thói quen sử dụng phân hoá học, chuyển sang phân hữu cơ vi sinh.  Suốt năm năm nay, kiên trì với định hướng sản xuất phân trùn quế, thuộc nhóm phân hữu cơ vi sinh, Đặng Gia Trang của Thực bước đầu đã gặt hái thành công. Ngày càng có nhiều nông dân, trang trại, người dân đô thị, kể cả khách hàng nước ngoài biết đến thương hiệu phân trùn quế SFARM của Thực.  Thị trường thay đổi  Xưởng sản xuất phân trùn quế Đặng Gia Trang ở xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Công việc hàng ngày của hơn 20 công nhân làm việc ở đây là phải giảm ẩm, sàng lọc tạp chất, rây mịn cho tơi xốp những tấn phân trùn quế nhập về từ các trang trại nuôi trùn khắp các tỉnh/thành phía Nam, sau đó đóng vào các bao để cung cấp ra 64 tỉnh/thành trong cả nước. Có cả thảy khoảng gần 100 hộ nông dân đang nuôi trùn quế cung cấp nguyên liệu phân cho Đặng Gia Trang, để công ty này đưa ra trung bình 1.000 tấn sản phẩm đưa ra thị trường bao gồm các loại.  Theo giới thiệu của Thực, thị trường của Đặng Gia Trang được chia làm hai nhóm: nhóm khách hàng đô thị là hệ thống cửa hàng vật tư phân bón cây cảnh ở đô thị cho người trồng rau sạch và hoa kiểng tại nhà, và nhóm khách hàng nông dân sử dụng cho các trang trại hoa, rau hữu cơ, hồ tiêu,  cà phê, bưởi da xanh, cam sành… hầu hết là các cây có giá trị kinh tế cao và trồng theo hướng sạch.  “Người đô thị nếu tự trồng rau thì họ thường quan tâm đến hai lý do chính, có rau an toàn và trồng rau để mang lại niềm vui. Phân trùn quế là phân hữu cơ, sạch mầm bệnh, thân thiện với môi trường nên đáp ứng tiêu chí an toàn. Tương tự như vậy là hệ thống cây kiểng văn phòng, cây kiểng gia đình, cây xanh thành phố cũng ngày càng sử dụng phân trùn quế nhiều hơn, vì phân trùn quế tạo độ xanh bền cho cây!”, người sáng lập Đặng Gia Trang chia sẻ!  Theo lý giải của Đặng Thị Thực, trước đây, nông dân thường hiểu phân trùn quế chỉ là một dạng phân chuồng cao cấp, bởi họ vẫn thường lấy phân trâu, phân bò, phân heo, gia cầm ủ một thời gian rồi bón trực tiếp cho cây trồng, và thấy vẫn mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, nếu cũng là những loại phân đó, khi chúng ta sử dụng làm thức ăn cho trùn quế, chúng sẽ giúp chuyển thành phân bón có hệ vi sinh vật đa dạng hơn, cân đối hơn, giúp cải tạo, cung cấp dưỡng chất rất tốt cho đất. Thực tế, các công ty sản xuất phân hữu cơ vi sinh cũng phải đưa vi sinh vật bổ sung vào, còn với sản phẩm phân trùn quế, hệ vi sinh có sẵn trong chất nhầy con trùn nên khoẻ hơn. Dinh dưỡng phân trùn còn là dạng dinh dưỡng hoà tan, dễ hấp thụ, có khả năng giữ ẩm cho đất, hạn chế nước tưới.  “Việt Nam có ngành chăn nuôi phát triển, chất thải phân bò, phân heo khá lớn, chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng để làm phân hữu cơ vi sinh thay thế phân hoá học!”, Đặng Thị Thực nói, đồng thời cho hay mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập số lượng lớn phân hữu cơ vi sinh về phục vụ sản xuất nông nghiệp, nếu tận dụng hết chất thải chăn nuôi sản xuất phân hữu cơ, chúng ta vừa không phải bỏ đô la nhập phân, vừa thu thêm giá trị cho ngành chăn nuôi, môi trường đất cũng được cải tạo!  “Thấy được hiệu quả cao nên có nhiều trang trại sản xuất nông nghiêp sạch như Unifarm, Vineco, Vinamit, đã từng lấy một lượng lớn phân trùn quế SFARM để sử dụng cho cải tạo đất ban đầu hoặc bón lót mỗi vụ”, Đặng Thị Thực, giám đốc Đặng Gia Trang, chia sẻ thêm.  Hy vọng một nền nông nghiệp sạch  Năm năm trước, khi bước chân vào kinh doanh phân trùn quế, Đặng Thị Thực bảo cô tự đặt cho mình hai câu hỏi cần giải đáp.Thứ nhất, liệu ngành này có thể phát triển, tồn tại được mười năm hoặc 20 năm hay lâu hơn?Thứ hai, ngành này có phát triển lên quy mô lớn? Để trả lời, cô bỏ thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, rồi nhận thấy Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… cũng có ngành nuôi trùn quế lấy phân phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch. Những nước này đã phát triển hơn Việt Nam bao nhiêu năm nhưng đến nay, họ vẫn duy trì ngành nuôi trùn quế lấy phân, vậy thì ngành nuôi trùn ở Việt Nam sẽ còn phát triển được lâu nữa. Và khi tìm hiểu ở trong nước, Thực cũng đặt câu hỏi tại sao các công ty lớn ngành phân bón không nhảy vào kinh doanh lĩnh vực này?Phải chăng, ngành này không thể phát triển lên quy mô lớn được?  Sau thời gian đắn đo, cô vẫn quyết định dấn thân vào làm phân trùn quế. Bởi cô hình dung ra tương lai muốn phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp bền vững, phải thay đổi thói quen sử dụng phân hoá học, đồng thời cần phải có một cuộc cách mạng cải tạo đất nông nghiệp Việt Nam hiện nay đã bị thoái hoá và bạc màu, do nhiều năm dùng phân hoá học. Và phân trùn quế là lựa chọn tốt nhất cho việc cải tạo đất. “Đến bây giờ mình vẫn nghĩ những trăn trở ban đầu là đúng, qua đó có thể đánh giá và nhìn ra được tiềm năng của thị trường phân trùn quế cả trong nước lẫn thế giới, để có bước đi ổn định như ngày hôm nay!”, Thực tâm sự.  Đặng Thị Thực thuộc thế hệ 8x, tốt nghiệp ngành công nghệ thực phẩm ĐH Bách khoa Hà Nội. Cô thừa nhận kiến thức học ngành công nghệ thực phẩm thiên nhiều về sinh học, giúp ích đáng kể cho chặng đường khởi nghiệp mà mình đang đeo đuổi. Với Thực, không chỉ khi mới bắt tay vào sản xuất phân trùn quế mà cả đến bây giờ, ở giai đoạn này, “tâm và trí sáng nhất”, cô vẫn luôn có niềm tin sản xuất nông nghiệp Việt Nam sẽ hoàn toàn được thay đổi. Riêng ở Đặng Gia Trang, ngoài việc tập trung quản lý chất lượng phân trùn quế hiện nay, công ty cũng có kế hoạch R&D một số sản phẩm mới, cũng theo định hướng hữu cơ sinh học mang lại hiệu quả cho bà con nông dân.  Theo Thực, sau năm năm tham gia thị trường phân trùn quế, đến nay Đặng Gia Trang đã có chỗ đứng trong ngành này. Vừa qua, còn có thêm một số công ty từ Đài Loan, Thái Lan, Campuchia liên hệ để đặt hàng. Nông nghiệp sạch hay nông nghiệp hữu cơ đang là xu hướng của cả thế giới, và vì vậy tiềm năng cho phân trùn quế không chỉ là thị trường trong nước nữa, mà bao gồm cả xuất khẩu.  Ngoài ra, Thực còn cho biết thêm lộ trình để mở rộng công ty, để có thể cung ứng sản phẩm cho thị trường Việt Nam và thế giới, thì Đặng Gia Trang phải đi qua bước gọi vốn; tập trung vào việc chuẩn hoá quy trình nội bộ. “Xu hướng của nền kinh tế thế giới nói chung là sản phẩm tốt, nhưng giá thành cũng phải tốt nữa. Đặng Gia Trang đang cố gắng tối ưu quản trị để tối ưu giá thành sản phẩm, để người nông dân có một sản phẩm chất lượng tốt, giá tốt góp phần làm thay đổi nền nông nghiệp Việt Nam”, Thực tiết lộ.  Bảo Quỳnh (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 10 khu nông nghiệp ứng dụng CNC      Theo quy hoạch Quy hoạch tổng thể khu và  vùng nông nghiệp ứng dụng CNC đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 do  Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Việt Nam sẽ có thêm tám khu nông nghiệp  ứng dụng CNC là Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Lâm Đồng,  TP. HCM, Bình Dương, Cần Thơ.       Trước đó, hai khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được phê duyệt là Hậu Giang và Phú Yên.  Về quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng CNC, các vùng sản xuất cà phê được tập trung tại Tây Nguyên, Tây Bắc và Bắc Trung bộ; các vùng sản xuất chè tại Thái Nguyên (sản xuất chè xanh) và Lâm Đồng (sản xuất chè Ô Long); các vùng sản xuất thanh long tại Bình Thuận; các vùng sản xuất rau tại Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM, Lâm Đồng; các vùng sản xuất hoa tại Lào Cai, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng; các vùng sản xuất cây ăn quả chủ lực xuất khẩu tại Đông Nam bộ và ĐBSCL.  Các vùng chăn nuôi bò sữa ứng dụng CNC sẽ tập trung tại Sơn La, Hà Nội, Nghệ An và Lâm Đồng; các vùng chăn nuôi lợn ngoại tại vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ; các vùng chăn nuôi gia cầm tại vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung bộ và ĐBSCL.  Các vùng sản xuất tôm nước mặn, nước lợ ứng dụng CNC tại vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và ĐBSCL.  Định hướng đến năm 2030, Việt Nam sẽ hoàn thành kế hoạch xây dựng và đưa vào sử dụng, hoạt động có hiệu quả 10 khu nông nghiệp ứng dụng CNC đã được thành lập thuộc quy hoạch tổng thể.   Bên cạnh đó, việc nghiên cứu quy hoạch các khu nông nghiệp ứng dụng CNC sẽ được tiến hành tại các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Đắk Nông, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang và các tỉnh còn lại.  Việc quy hoạch các khu nông nghiệp ứng dụng CNC sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia và gia tăng xuất khẩu.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đèn xe đạp laser thành công lớn nhờ vốn đám đông      Từ một sinh viên thiết kế với ý tưởng mới lạ và thiết thực về loại đèn xe đạp laser, Emily Brooke đã trở thành chủ công ty khởi nghiệp đang lớn mạnh nhờ sự trợ giúp của vốn đám đông.    Ý tưởng bắt nguồn khi Emily Brooke đang đạp xe trên một con phố nhộn nhịp và nhận ra rằng người lái xe tải phía trước không thể nhìn thấy cô. Nếu ông ta đột nhiên rẽ trái, ắt hẳn cô đã bị nghiền nát.  Suy nghĩ về vấn đề này, Brooke – khi đó đang là sinh viên năm cuối ngành thiết kế ở ĐH Brighton, Anh – đã nảy ra sáng kiến chế tạo ra một loại đèn gắn phía trước xe đạp có thêm chức năng chiếu hình ảnh laser chiếc xe đạp trên mặt đường 5m phía trước để giúp cảnh báo người điều khiển xe gắn máy về người đi xe đạp nằm trong ‘điểm mù’ (blind spot) phía sau mình.   Phát triển ý tưởng này thành dự án tốt nghiệp, Brooke đã bắt tay vào thiết kế sản phẩm mẫu thử nghiệm và mua bản quyền để tránh bị nhái ý tưởng.  Sau khi tốt nghiệp, vào năm 2012, cô chính thức thành lập công ty Blaze ở London để phát triển sản phẩm đèn này. Đèn laser Blaze được tung ra thị trường năm ngoái, và chỉ trong vài tháng đã bán được hơn 3.000 chiếc.    Thử vận may với vốn đám đông  Khi thành lập vào năm 2012, Blaze là một trong những công ty đầu tiên ở Anh kêu gọi được vốn từ hình thức huy động vốn đám đông.  Với đóng góp 60 bảng, mỗi thành viên hỗ trợ ý tưởng này được hứa sẽ nhận được sản phẩm đèn ngay khi sản phẩm được thương mại hóa và đi vào sản xuất.  Nhờ sự ủng hộ nhiệt tình của công chúng chỉ thông qua truyền miệng, Blaze đã huy động được 55.000 bảng qua trang web Kickstarter, số tiền này lớn hơn gấp ba lần so với mục tiêu đề ra ban đầu.  Cô Brooke kể, dự án huy động vốn của cô được tung ra trong cùng tháng mà trang Kickstarter bắt đầu đi vào hoạt động ở Anh, bởi vậy với công ty đó thực sự là một trải nghiệm đầy căng thẳng: họ lo rằng dân chúng chưa thật sự hiểu ý tưởng vốn đám đông của Kickstarter.  Nhưng thật ngạc nhiên là mọi người nhanh chóng bàn tán về ý tưởng này và bắt đầu đóng góp. Brooke nói: “Đây thực sự là cách tốt nhất để tôi có thể chứng minh với các nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà đầu tư mà tôi chuẩn bị gặp rằng ý tưởng này được mọi người đón nhận và sẵn sàng bỏ tiền cho nó.”  Số tiền huy động được từ đám đông đủ để thực hiện thiết kế cuối cùng và bắt đầu khâu sản xuất vào năm 2014 ở Trung Quốc.  Việc giới thiệu dự án trên Kickstarter cũng giúp ý tưởng đèn Blaze đến tai nhà tỷ phú Anh Sir Richard Branson, người sau đó đã bắt tay với công ty đầu tư toàn cầu Index Venture để đặt vào tổng cộng 300.000 bảng vốn đầu tư cho Blaze.  Một tương lai bận rộn  Được phân phối ở Anh bởi chuỗi cửa hàng toàn quốc Evan Cycles, Blaze còn bán được sản phẩm của mình cho 47 quốc gia khác qua mạng. Giá thành của một đèn này là 125 bảng. Tuy giá thành cao nhưng Brooke nói rằng nó phản ánh chất lượng của từng thành phần cấu tạo.  Với lượng hàng ngày càng bán chạy và kế hoạch tung ra thị trường một loại đèn hậu xe đạp mới cuối năm nay, công việc của doanh nhân trẻ Brooke và đội ngũ khiêm tốn của cô ở phía Đông London đang hết sức bận rộn.  Brooke nói, với những người trẻ đang nghĩ đến việc xây dựng công ty riêng, họ cần chuẩn bị tinh thần sẽ phải cống hiến hết thời gian của mình cho công việc và hi sinh đời sống riêng nhiều. Nhưng bất chấp những khó khăn để cân bằng công việc và cuộc sống, Brooke thấy rất may mắn vì được làm công việc mình say mê.      KM lược dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Công nghệ tạo cầu nối giữa nhà nghiên cứu và DN      Đại học Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội vừa ra mắt Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và hợp tác doanh nghiệp (CARBC) nhằm tạo điều kiện cho nhà khoa học bắt tay doanh nghiệp trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.    Trong buổi lễ ra mắt ngày 11/4 vừa qua, TS. Võ Đình Hiếu – Giám đốc CARBC – cho biết, Trung tâm đang triển khai một số các hoạt động như: Tổ chức các chương trình hợp tác đào tạo liên quan đến thương mại điện tử với công ty SmartOSC, Kiểm thử phần mềm với công ty GEM; Tổ chức các chương trình hợp tác đưa sinh viên đi thực tập, tham quan doanh nghiệp, tư vấn nghề nghiệp; Tổ chức tuyển dụng sinh viên; Hỗ trợ sinh viên tổ chức/tham gia các cuộc thi phần mềm công nghệ và các hoạt động ngoại khóa; Hỗ trợ học bổng cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và sinh viên có thành tích xuất sắc; Phối hợp triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học xử lý thông tin với Viettel R&D và Dự án về an ninh trên môi trường di động và proxy cho các hệ thống mail với GEM…    TS. Võ Đình Hiếu cam kết, CARBC sẽ hỗ trợ các đối tác trong việc tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn theo đặt hàng của doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp, hỗ trợ tuyển dụng và thực hiện các hợp tác nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp.    Theo thông tin từ Đại học Công nghệ, Khoa Công nghệ thông tin hiện có đội ngũ cán bộ nghiên cứu đông đảo, được đào tạo ở các trường đại học, viện nghiên cứu về công nghệ thông tin uy tín trên thế giới, và có nhiều đề tài ứng dụng vào thực tế như: Hệ thống cung cấp video 360 độ, Phân tích quan điểm cộng đồng… Khoa còn là đầu mối hợp tác và triển khai một số hoạt động đào tạo, nghiên cứu theo đặt hàng của Toshiba, Panasonic, NEC, Mitani Sangyo, Qsoft, GEM, Viện nghiên cứu và phát triển Viettel (Viettel R&D), Framgia, RikkeiSoft, SmartOSC, Ominext, Fsoft, NTT Data, FPT …   Hiện có tới 70% sinh viên của Khoa thực tập, thực nghiệp ở các công ty, doanh nghiệp đối tác, số còn lại tham gia các nhóm nghiên cứu của giảng viên. Vì vậy, việc tăng cường sự gắn kết, thỏa thuận về cả nghiên cứu và đào tạo thông qua CARBC sẽ đem lại cơ chế mở để cả hai bên cùng hợp tác phát triển.          Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Việt-Pháp và Bệnh viện K ứng dụng AI để chẩn đoán ung thư phổi      Chẩn đoán sớm ung thư phổi sẽ giúp tăng tỉ lệ chữa trị thành công cho căn bệnh ung thư đứng thứ hai cả về số ca mắc mới và số ca tử vong ở Việt Nam hiện nay (nếu được phát hiện và chữa ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm ở bệnh nhân ung thư phổi có thể đạt trên 90%).      Hình ảnh kết quả của mô hình nhận dạng nốt, khối u phổi trên ảnh cắt lớp vi tính. Nguồn: TS Trần Giang Sơn  Do đó, trong đề tài “Xây dựng hệ thống nhận dạng ảnh y tế hỗ trợ chẩn đoán bệnh ung thư phổi dựa trên học máy và tính toán hiệu năng cao” của Viện Hàn lâm KH&CN VN giao, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng một hệ thống phần mềm mẫu nhận dạng ảnh y tế nhằm hỗ trợ bác sĩ trong việc chẩn đoán bệnh ung thư phổi và tập trung vào ung thư phổi không tế bào nhỏ (dạng ung thư chiếm khoảng 85% các ca bệnh). Sau hai năm thực hiện, TS Trần Giang Sơn và nhóm tác giả từ Đại học Việt – Pháp (USTH) phối hợp với Bệnh viện K đã xây dựng thành công mô hình phát hiện và nhận dạng vị trí, kích thước các nốt, khối u phổi trên ảnh chụp cắt lớp vi tính, đồng thời xây dựng thành công mô hình phân loại các nốt, khối u phổi trên ảnh chụp chụp cắt lớp vi tính là lành tính hay ác tính. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng xây dựng được bộ dữ liệu ảnh chụp cắt lớp vi tính mẫu về ung thư phổi ở Việt Nam. Các sản phẩm cụ thể gồm: Hệ thống hỗ trợ chẩn đoán ung thư phổi LungCancer Care; công cụ gán nhãn mã nguồn mở LungTumorMarker; bộ dữ liệu mẫu về ung thư phổi tại Việt Nam.  Các nhà khoa học cho biết, việc xây dựng được bộ công cụ hỗ trợ bác sĩ trong việc phân tích và gán nhãn dữ liệu ảnh CLVT về ung thư phổi và xây dựng được hệ thống phần mềm nhận dạng ảnh có ý nghĩa bước đầu trong việc hỗ trợ bác sỹ phát hiện và nhận dạng các nốt, khối u phổi trên ảnh chụp cắt lớp vi tính. Sau kết quả bước đầu này, đề tài hướng tới việc tạo ra một hệ thống phần mềm nhằm bước đầu hỗ trợ bác sĩ ở các bệnh viện tuyến trung ương và hỗ trợ các bác sĩ ở tuyến tỉnh, các bác sĩ ở vùng sâu vùng xa trong việc nâng cao hiệu quả và độ chính xác của chẩn đoán bệnh ung thư phổi.   Đề tài mới được hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm KH&CN VN đánh giá kết quả đạt loại xuất sắc và đã công bố 2 bài báo trên tạp chí thuộc danh mục SCIE (“Improving Accuracy of Lung Nodule Classification Using Deep Learning with Focal Loss,”Journal of Healthcare Engineering, 2019 và “Fast Parallel blur detection on GPU,” Journal of Real-Time Image Processin, 2018).  Sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo và tính toán hiệu năng cao đang là xu hướng được quan tâm nhiều trên thế giới nhằm giúp các bác sĩ chẩn đoán chính xác nhiều loại bệnh. Ở Việt Nam, nếu được đưa vào ứng dụng trong thực tế, hệ thống phần mềm hỗ trợ chẩn đoán bệnh không chỉ giúp giảm tải cho bác sỹ ở các bệnh viện tuyến trung ương mà còn hỗ trợ các bác sĩ ở tuyến tỉnh, các bác sĩ ở vùng sâu vùng xa trong việc chẩn đoán bệnh chính xác và hiệu quả hơn.  Trần Giang Sơn    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐHQG Hà Nội cần đi đầu trong đổi mới sáng tạo      Để góp phần nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ĐHQG Hà Nội cần phải đi đầu trong đổi mới sáng tạo. Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã đề nghị ĐHQG Hà Nội như vậy tại lễ trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc ĐHQG Hà Nội vào sáng 19/7 vừa qua.    Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Giám đốc ĐHQG Hà Nội cho PGS.TS Nguyễn Kim Sơn. Ảnh: VGP/Đình Nam   Lễ trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc ĐHQG Hà Nội cho PGS.TS Nguyễn Kim Sơn diễn ra vào sáng 19/7. Tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã dành thời gian trao đổi với tập thể lãnh đạo, giảng viên, cán bộ nghiên cứu của ĐHQG Hà Nội về những nhiệm vụ mà ĐHQG Hà Nội cần phải thực hiện để góp phần nâng cao tiềm lực đất nước.   Đánh giá về tình hình đất nước, Phó Thủ tướng cho rằng, để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, trong 20 năm tới đây, đất nước phải duy trì tốc độ tăng trưởng trên 8%/năm, phát triển bền vững về môi trường, xã hội. Để đạt được mục tiêu này, hai việc mà Việt Nam “cần phải làm đó là nhất định phải tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao” mà giải pháp của nó là  “cần đổi mới mô hình sáng tạo theo hướng đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm xoay quanh là Nhà nước, các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học”.  Muốn làm được điều này, Phó thủ tướng nhấn mạnh đến việc “tăng cường năng lực nghiên cứu của các trường đại học” và tiêu chí để đánh giá năng lực nghiên cứu là số lượng nghiên cứu, bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học ISI, Scopus.  Đề cập đến ĐHQGHN, Phó thủ tướng cho rằng, với hơn 1.800 giảng viên trong đó có trên 1.000 tiến sĩ nhưng trường mới chỉ có khoảng 350 bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế hàng năm, con số này chưa phản ánh hết năng lực nghiên cứu của trường. Vì vậy, ĐHQGHN cần đổi mới nhanh hơn, mạnh hơn nữa để có mô hình sáng tạo, nghiên cứu khoa học xứng đáng với tiềm năng, vị thế của nhà trường.  Hiện tại, ĐHQGHN rất tích cực trong hoạt động đào tạo nhân lực chất lượng cao và đã có những bước đi đúng hướng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc tuyển sinh, kiểm soát chất lượng đầu vào với việc thành lập trung tâm kiểm định Đại học và đẩy mạnh việc quản trị đại học theo hướng tự chủ. Trong thời gian tới, các trường thành viên của ĐHQGHN cần phát huy mạnh mẽ hơn thế mạnh này bằng một loạt giải pháp như thực hiện tự chủ về chuyên môn, học thuật, bộ máy nhân sự, cơ chế tài chính, sau đó tiến tới tự chủ ở từng phòng, bộ môn…  Bên cạnh việc phát huy nội lực, Phó thủ tướng cũng đề nghị ĐHQGHN tăng cường học hỏi kinh nghiệm quản trị, giáo dục của các trường đại học quốc tế, trước mắt là của khu vực Đông Nam Á để ĐHQGHN tiếp cận theo đúng chuẩn quốc tế. Phó Thủ tướng lưu ý: “ĐHQG Hà Nội đã vươn lên trong bảng xếp hạng đại học quốc tế nhưng không thể hài lòng với top 1000 các trường đại học thế giới hay top 150 trường đại học của châu Á, top 20 trường đại học của ASEAN. Điều này đòi hỏi mỗi người đều phải nỗ lực nhiều hơn nữa”.   Có mặt tại buổi lễ, Bộ trưởng GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đánh giá, ĐHQGHN giữ vai trò then chốt trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Vì vậy, Nhà trường cần tập trung nguồn lực để thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược: phát triển đội ngũ cán bộ khoa học ngang tầm quốc tế và đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở của trường tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc.    Trước những nhiệm vụ mà Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ GD&ĐT  Phùng Xuân Nhạ giao phó, tân giám đốc ĐHQGHN, PGS.TS Nguyễn Kim Sơn cho biết:  ĐHQGHN cần thực thi các biện pháp đẩy mạnh các mặt hoạt động từ nghiên cứu khoa học, năng lực nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ cán bộ, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho đất nước những cử nhân có thể làm việc tốt trong môi trường trong nước và quốc tế.      Author                T. H        
__label__tiasang Di động nuốt dần thị phần của máy ảnh      Cùng với chức năng chụp hình của điện thoại  ngày một hoàn thiện, máy chụp ảnh mini đang dần dần bị thay thế. Liệu  máy ảnh kĩ thuật số có phải đã lỗi thời và di động sẽ thay thế cho thị  phần này?     Công ty nghiên cứu thị trường của Anh là Mintel đưa ra một báo cáo, từ khi iPhone ra đời cho tới nay đã 5 năm thì số lượng các máy chụp ảnh ngày càng giảm, đến hơn 29%.  Trên thực tế, giá di động ngày cảng giảm và chất lượng của chụp ảnh của di động ngày càng cao. Mục đích chụp ảnh giờ đây cũng thay đổi, càng ngày càng nhiều người chụp ảnh không phải để in ra, mà để chia sẻ trên mạng. Trước tình hình đó, các công ty máy ảnh thay nhau đưa ra những loại máy ảnh với tính năng cao cấp, cá tính hoá, có khi là những máy ảnh rất nhỏ.           Theo một số tài liệu nghiên cứu, điều tra cho  thấy, hiện nay có khoảng 8% số người sử dụng máy chụp hình phim, 40% sử  dụng máy ảnh kĩ thuật số, nhưng có tới hơn 45% người sử dụng dùng điện  thoại làm công cụ chụp hình chủ yếu.         Canon đưa ra thị trường 240HS, 510HS, có chức năng wifi và kết nối được với di động, máy tính bảng. Nikon cũng tung tin sẽ đưa ra thị trường một loại máy ảnh sử dụng hệ thống của Android, trừ việc không thể trực tiếp gọi điện thoại ra thì có thể chụp ảnh, gửi tin nhắn, và cả văn bản.   Chụp ảnh bằng di động khá tiết kiệm được thời gian do các thông số được cài đặt sẵm. Nhưng mặt khác, nó khó có đáp ứng được yêu cầu của những người chuyên nghiệp. Chính vì thế, di động về cơ bản chỉ có thể lấy được thị phần từ các máy ảnh nhỏ, chứ tạm thời chưa thể mon men đến thị phần máy ảnh chuyên nghiệp.   Các chuyên gia cho rằng, một bộ phận người sử dụng yêu cầu hiệu quả chụp ảnh chất lượng cao sẽ đẩy xu thế của DSLR [máy ảnh kỹ thuật số phản xạ ống kính đơn] trong tương lai thành nhỏ hơn cũng như giá bình dân hơn.   Nhị Giang dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi dưới bóng đè của gã khổng lồ      Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam  sẽ phải tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới bóng  đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.      Trong bối cảnh căng thẳng trên biển Đông ngày một gia tăng, nhiều người đã đề cập tới nguy cơ Trung Quốc cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Thậm chí, một số người còn cho rằng việc Việt Nam chần chừ, chưa khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là do e ngại nguy cơ bị Trung Quốc cấm vận.  Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích quan hệ thương mại – vốn là lĩnh vực quan hệ kinh tế quan trọng nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc, qua đó chỉ ra rằng mặc dù việc cấm vận kinh tế của Trung Quốc (nếu có) có thể gây ra những tác động tiêu cực trong ngắn hạn, nhưng trong trung và dài hạn, Việt Nam sẽ có động cơ mạnh mẽ để vừa tăng cường nội lực vừa đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, nhờ đó giảm sự phụ thuộc kinh tế đối với Trung Quốc.  Bên cạnh đó, bài viết cũng sẽ thảo luận ngắn gọn về mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia.  Quan hệ chính trị  Ngoại trừ sự gián đoạn từ năm 1979 đến 1989, đảng – nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì quan hệ trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn ở trong tình trạng bất cân xứng. Sự trịch thượng của Trung Quốc luôn xuyên suốt, thể hiện qua sự can thiệp sâu và thô bạo vào chính sự của Việt Nam – không chỉ về chính sách, mà còn về cả nhân sự và ngoại giao.  Mới đây thôi, Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc mô tả chuyến đi của ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, sang Việt Nam không chỉ như sự dạy dỗ của một ông giáo kiên nhẫn đối với gã sinh viên ương ngạnh, mà còn như người cha nghiêm khắc đối với “đứa con đi hoang” chưa chịu về nhà. Trong bối cảnh Bắc Kinh luôn nhạy cảm và sẵn sàng can thiệp vào chính sự của Việt Nam, không rõ liệu Hà Nội có muốn và có thể đi trước trong cải cách chính trị hay không.  Mặt khác, dù muốn hay không, dù sớm hay muộn thì thay đổi chính trị cũng sẽ xảy ra ở Trung Quốc. Những thay đổi căn bản về kinh tế – xã hội ở Trung Quốc trong hơn ba thập kỷ qua, đặc biệt là sự mở rộng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu trong khi dân số đang già đi, khiến cho tham nhũng, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường và sự hà khắc của chính quyền ngày càng trở nên khó chấp nhận. Rõ ràng là hệ thống chính trị của Trung Quốc cần trở nên linh hoạt và đáp ứng hơn trước yêu cầu của người dân. Chiến dịch chống tham nhũng mạnh mẽ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ngay cả khi xuất phát từ động cơ chân chính, cũng sẽ chỉ là con dao hai lưỡi nếu không đi đôi với cải cách hệ thống chính trị vốn là nguồn gốc chính của nạn tham nhũng.  Bất kể kịch bản tự do hóa chính trị ở Trung Quốc xảy ra như thế nào thì sớm muộn gì Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Không những thế, Việt Nam sẽ khó giữ vị thế bảo thủ hơn Trung Quốc vì ở Việt Nam không có một “vạn lý trường thành” để ngăn chặn thông tin từ bên ngoài, nhất là khi Việt Nam có tỷ lệ giới trẻ vào internet thuộc loại cao nhất thế giới. Như vậy, tự do hóa chính trị ở Việt Nam gắn liền với Trung Quốc theo cả hai hướng. Thực tế này cần phải được suy xét thấu đáo trong chiến lược phát triển của Việt Nam.  Bối cảnh xã hội và chính trị trong nước cũng sẽ ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc trong các mối quan hệ song phương với Việt Nam nói riêng và ở châu Á nói chung. Với gần 840 triệu dân (chiếm 62% dân số) trong độ tuổi từ 15 đến 54 – những người hoặc đang trong độ tuổi thanh niên hoặc đã trải qua tuổi thanh niên khi cuộc chiến tranh biên giới 1979 xảy ra – trong đó nam nhiều hơn nữ tới gần 26 triệu, thì ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa có thể bị thổi bùng lên bất cứ lúc nào, không chỉ trên các diễn đàn trực tuyến mà ngay trong chính sách quân sự và đối ngoại của Trung Quốc. Không chính trị gia Trung Quốc nào muốn bị coi là “bạc nhược” trong việc bảo vệ “lợi ích sống còn” của quốc gia, ngay cả khi những lợi ích này không hề có cơ sở pháp lý quốc tế. Hiểu rõ các động lực xã hội và chính trị này của các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể giúp Việt Nam tránh được các cuộc đối đầu đắt giá.  Quan hệ thương mại  Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc quan trọng hơn đối với Việt Nam. Trung Quốc hiện là nguồn nhập khẩu lớn nhất và mới đây vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Kể từ năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc dao động xung quanh mức 10%. Ngược lại, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 9% vào năm 2000 lên tới gần 28% vào năm 2013.  Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam chiếm chưa tới 2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Kết quả của quan hệ thương mại không cân xứng này là nếu như vào năm 2000, Việt Nam còn xuất siêu nhẹ sang Trung Quốc thì đến năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới gần 24 tỉ đô la Mỹ.  Thoạt nhìn, có vẻ như rất đáng lo ngại khi ngoại trừ sắt thép, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc của cả 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất đều tăng rất nhanh trong thập niên vừa qua (hình 1). Tuy nhiên, ngay cả trong 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất thì mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không đồng đều (biến thiên từ mức thấp nhất 10,1% đối với chất thải công nghiệp thực phẩm và thức ăn gia súc đến mức cao nhất 41,8% của xơ nhân tạo).  Bên cạnh đó, khoảng ba phần tư hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc ngoài Trung Quốc. Tóm lại, sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc ngày một tăng, và điều này là đáng lo ngại, song mức độ phụ thuộc không đến nỗi làm sụp đổ nền sản xuất trong nước khi có biến cố xảy ra.             Ở thời điểm này, Chính phủ Việt Nam cần quan  tâm thích đáng đối với các dự án liên quan đến tài nguyên (khai thác  bauxite hay thuê rừng đầu nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham  gia của nhiều lao động phổ thông Trung Quốc.        Liệu xu hướng gia tăng phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc có phải là một vấn nạn của Việt Nam? Nó sẽ là vấn nạn nếu thâm hụt có nguồn gốc từ hoạt động thương mại “không công bằng” hoặc do chính sách có chủ đích của Bắc Kinh. Tuy nhiên, có vẻ như với chính sách phá giá đồng tiền hay trợ cấp sản xuất trong nước, Trung Quốc “không công bằng” với cả thế giới chứ không riêng gì đối với Việt Nam. Tất nhiên Việt Nam cũng cần chuẩn bị trước cho tình huống Trung Quốc chủ tâm thao túng nền công nghiệp và thương mại của mình để có các đối sách thích hợp.  Cũng cần nói thêm rằng nếu Bắc Kinh thực sự duy lý thì họ không những sẽ không cấm vận thương mại đối với Việt Nam mà còn tìm cách thúc đẩy cán cân thương mại nghiêng tiếp về phía họ càng nhiều càng tốt. Logic này không nhất thiết áp dụng đối với các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài hay tín dụng thương mại từ Trung Quốc.  Một vấn nạn tiềm tàng khác là nguồn nhập khẩu tư liệu sản xuất quan trọng từ Trung Quốc có thể bị cắt đột ngột khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Ví dụ như nếu nguồn nguyên phụ liệu dệt may từ Trung Quốc bị cắt thì trong ngắn hạn, chắc chắn việc làm và kim ngạch xuất khẩu trong ngành này sẽ giảm mạnh. Tác động trong trung và dài hạn sẽ phụ thuộc vào tốc độ và mức độ tìm được nguồn cung thay thế, cả trong và ngoài nước. Vì Trung Quốc không phải là nước duy nhất xuất khẩu phụ liệu dệt may – cụ thể là Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 22% thị trường bông, 27% thị trường xơ nhân tạo, và 31% thị trường sợi nhân tạo toàn cầu – cho nên sẽ không quá khó để Việt Nam có thể tìm nguồn cung thay thế. Hơn nữa, vì khu vực FDI ở Việt Nam cũng đã bắt đầu bước vào ngành này nên nguồn cung trong nước sẽ trở nên dồi dào hơn.  Nói tóm lại, mặc dù cần có những biện pháp phòng ngừa cho tình huống xấu nhất – chẳng hạn như bằng cách bắt đầu tìm kiếm và thẩm định một số nguồn cung thay thế, song không nhất thiết phải cắt giảm hay từ bỏ các nguồn cung từ Trung Quốc nếu chúng rẻ hơn hay chất lượng tốt hơn. Logic này cũng áp dụng cho các ngành khác như điện tử, da giày hay xe máy. Cần nói thêm là vì đa số các hoạt động thương mại này là giữa các công ty tư nhân nên ngay cả khi muốn thì Bắc Kinh cũng không thể dễ dàng ra lệnh chấm dứt hoàn toàn hoạt động xuất khẩu, hay ngăn cấm tuyệt đối việc xuất khẩu qua nước thứ ba.  Khoảng 40% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc là máy móc và hàng tiêu dùng. Nếu Trung Quốc chủ động giảm xuất khẩu các hàng hóa này sang Việt Nam thì Việt Nam sẽ luôn có thể tìm kiếm các nguồn nhập khẩu thay thế hoặc phát triển năng lực sản xuất nội địa, nhờ đó đa dạng hóa được nguồn cung, đồng thời giảm tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc.  Cho đến thời điểm này, những phân tích của chúng tôi mới chỉ nhấn mạnh khía cạnh tiêu cực của sự phụ thuộc thương mại của Việt Nam vào Trung Quốc. Tuy nhiên, trong thế giới càng ngày càng toàn cầu hóa, các mối quan hệ thương mại luôn có tính tương thuộc. Mặc dù tỷ trọng nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam trong năm 2012 chưa tới 1%, nhưng một số nhóm hàng có tỷ lệ nhập khẩu từ Việt Nam khá lớn, chẳng hạn như trái cây (16,6%), ngũ cốc (19%), rau củ quả (21,7%), cà phê, chè, gia vị (37,2%). Điều này có nghĩa là Trung Quốc cũng sẽ phải trả giá nhất định nếu cấm vận thương mại đối với Việt Nam.  Không những thế, việc cấm vận thương mại của Trung Quốc với Việt Nam (nếu có) còn đi ngược lại lợi ích của Trung Quốc trên hai phương diện quan trọng. Thứ nhất, đứng trước nguy cơ bị cấm vận, Việt Nam một mặt sẽ phải nỗ lực tăng cường nội lực, mặt khác tìm cách đa dạng hóa thương mại và đầu tư, chẳng hạn như thông qua TPP. Kết quả là Việt Nam sẽ trở nên ít phụ thuộc hơn vào Trung Quốc, điều mà Trung Quốc không muốn. Thứ hai, các đối tác thương mại khác của Trung Quốc, nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ không thể coi Trung Quốc là đối tác thương mại đáng tin cậy được nữa, và do vậy cũng sẽ chuyển hướng thương mại ra khỏi Trung Quốc.   Tạm kết luận  Trong những năm tới, Việt Nam không thể tránh được một thực tại khách quan, đó là người láng giềng phương Bắc sẽ sớm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục phủ bóng lên nền kinh tế Việt Nam. Đối diện với thực tại này, thay vì tìm cách hạn chế quan hệ kinh tế giữa hai nước, một cách khôn ngoan hơn, Việt Nam cần chủ động tăng cường nội lực, đồng thời đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Chiến lược này vốn dĩ đã cần thiết ngay cả khi quan hệ giữa hai nước “bình thường” thì lại càng thiết yếu khi quan hệ giữa hai nước trở nên bất thường.    Bài viết này lập luận rằng trên phương diện thương mại (và tương tự như vậy trên phương diện đầu tư), chính sách cấm vận của Trung Quốc (nếu có) mặc dù sẽ gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên những tổn thất này chủ yếu có tính ngắn hạn. Trong trung và dài hạn, sức ép buộc phải điều chỉnh sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam dần thoát khỏi tình trạng “bóng đè”, trở nên độc lập và bền bỉ hơn trước mọi cú sốc đến từ người láng giềng phương Bắc.   Nếu tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc tiếp tục bành trướng, hay Trung Quốc có xu hướng kiểm soát các lĩnh vực thương mại và đầu tư trọng yếu thì Việt Nam cần triển khai những đối sách thích hợp. Ở thời điểm này, Chính phủ Việt Nam cần quan tâm thích đáng đối với các dự án liên quan đến tài nguyên (khai thác bauxite hay thuê rừng đầu nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham gia của nhiều lao động phổ thông Trung Quốc.  Nói tóm lại, về mặt kinh tế, Việt Nam cần tìm cách để được hưởng lợi từ sự phát triển năng động của Trung Quốc nhưng đồng thời không bị chi phối bởi quy mô và cự ly của nó. Về mặt chính trị, Việt Nam một mặt không muốn Trung Quốc coi mình là mối đe dọa thường trực, nhưng đồng thời vẫn phải tìm cách duy trì sự độc lập và tự chủ. Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam sẽ phải tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới bóng đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Di sản mùi hương châu Âu: Khi hương vị gợi mở đường về quá khứ      Không chỉ có những di sản hữu hình mà cả những di sản vô hình như mùi hương cũng cần được bảo tồn.      Giáo sư Matija Strlic ngửi một cuốn sách lịch sử tại Kho lưu trữ quốc gia Hà Lan. Nguồn: Matija Strlic.  Khó có giác quan nào kích hoạt cảm xúc giống như khứu giác. Chỉ cần lướt qua một tầng hầm ẩm thấp, một tấm chăn phủ đầy bụi, một quả dâu tây chín mọng, hoặc một bát mì Ý bốc khói có thể nhanh chóng gợi lên những cảm xúc và ký ức từ quá khứ. Tuy nhiên, khi nhắc đến việc tìm hiểu lịch sử, chúng ta hầu như không nghĩ đến những mùi hương từng phổ biến trong quá khứ. Các phòng trưng bày, viện bảo tàng là địa hạt của các tác phẩm nghệ thuật thu hút thị giác chứ hiếm khi gợi nhớ về mùi hương của mọi thứ – dù thơm phức hoặc hôi hám – vào thời kì tổ tiên chúng ta tồn tại trên Trái đất.   Khi ý tưởng bảo tồn di sản giác quan (sensory heritage) lặng lẽ xuất hiện trong lĩnh vực văn hóa và bảo tàng, thì dự án ODEUROPA đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để xây dựng một thư viện về các mùi hương trong lịch sử nhằm tìm hiểu mùi hương đã định hình các cộng đồng trong quá khứ như thế nào.   Với 3,3 triệu USD do Chương trình Horizon tài trợ, dự án ODEUROPA mới được ra mắt vào đầu năm nay, thu hút sự tham gia của bảy đối tác châu Âu trong nhiều lĩnh vực, từ lịch sử, lịch sử nghệ thuật đến ngôn ngữ học tính toán, mạng ngữ nghĩa, thị giác máy tính, khoa học di sản và hóa học. Phát hiện của họ dự kiến sẽ được xuất bản trong Bách khoa toàn thư về di sản mùi hương, một cơ sở dữ liệu online để khám phá những câu chuyện đằng sau 120 mùi hương lịch sử.  “Một trong những mục tiêu của chúng tôi là giúp trải nghiệm văn hóa trở nên hữu hình hơn”, Inger Leemans, giáo sư lịch sử văn hóa và trưởng dự án ODEUROPA tại Học viện Khoa học và Nghệ thuật Hoàng gia Hà Lan (KNAW) giải thích. “Mùi hương là con đường rất trực tiếp để mọi người kết nối với quá khứ. Chúng tôi muốn giúp mọi người tìm hiểu về vai trò của chúng trong lịch sử và bảo tồn những mùi hương này cho các thế hệ tương lai”.   ODEUROPA muốn tìm về những ý nghĩa văn hóa và sự liên kết được tạo ra giữa những mùi hương khác nhau theo thời gian. Những đổi thay trong quan điểm về mùi thường gắn bó chặt chẽ với những bước chuyển văn hóa lớn, giống như điều nhà lịch sử đô thị và nhà văn người Mỹ Brian Ladd viết trong The Streets of Europe: The Sights, Sounds, and Smells That Shaped Its Great Cities (Đường phố châu Âu: Những tầm nhìn, âm thanh và mùi hương định hình các thành phố vĩ đại). Vào những năm 1800, khi càng thêm hiểu biết về y học và điều kiện vệ sinh, quan điểm của người châu Âu về các chức năng của cơ thể càng thay đổi, nhiều người trở nên thờ ơ hơn với mùi hương hữu cơ. Thậm chí vào cuối thế kỷ 19 còn có thuyết chướng khí cho rằng mùi độc hại là nguyên nhân lây lan các mầm bệnh như dịch tả và bệnh dịch hạch.      Các nhà khoa học di sản cũng lên kế hoạch tạo ra một thư viện vật lý về mùi hương, trong đó có những mùi hương đóng chai có thể phân phối cho các bảo tàng quan tâm. Ý tưởng của họ là kết hợp các tác phẩm nghệ thuật cùng mùi hương để cung cấp cho khách tham quan thông tin bổ sung và nâng cấp trải nghiệm cảm xúc.      “Đóng chai” mùi hương trong thư viện  ODEUROPA đang tập trung nghiên cứu vào giai đoạn từ năm 1600-1920 vì có nhiều hình ảnh và văn bản miễn phí sẵn có về giai đoạn này, ngoài ra đây cũng là thời kỳ diễn ra những thay đổi lớn như quá trình công nghiệp hóa và sự ra đời của kỹ thuật khử mùi. GS. Leemans cho biết, dữ liệu về mùi hương giai đoạn này rất phong phú và khi đó, mùi hương được coi là một công cụ tri thức.   Một điều quan trọng của dự án là làm rõ ý nghĩa và việc sử dụng các mùi hương đã thay đổi như thế nào theo thời gian. “Chúng ta có thể thấy điều này qua lịch sử của thuốc lá, được du nhập vào châu Âu vào thế kỷ 16, ban đầu được coi là có mùi kì lạ, nhưng sau đó phổ biến nhanh chóng và trở thành một trong những mùi hương thông thường ở rất nhiều thị trấn châu Âu”, Tullett cho biết. “Đến thế kỉ 18, mọi người lại phàn nàn rất nhiều về việc hút thuốc lá trong rạp chiếu phim”. Hiện nay, mùi hương này đang dần biến mất trong thế giới khứu giác của chúng ta do các lệnh cấm hút thuốc.   Bên cạnh đó, các nhà khoa học di sản cũng lên kế hoạch tạo ra một thư viện vật lý về mùi hương, trong đó có những mùi hương đóng chai có thể phân phối cho các bảo tàng quan tâm. Ý tưởng của họ là kết hợp các tác phẩm nghệ thuật cùng mùi hương để cung cấp cho khách tham quan thông tin bổ sung và nâng cấp trải nghiệm cảm xúc. Để tạo ra mùi hương, nhóm nghiên cứu sẽ khuếch đại các mẫu nhỏ mùi hương còn sót lại, chẳng hạn như một chút bột thuốc lá từ hộp đựng hoặc sử dụng thông tin từ dữ liệu đã thu thập để tạo ra một hỗn hợp hóa học gần giống với mùi đã biến mất. “Điều sẽ làm rõ về các mùi hương từng xuất hiện trong lịch sử, tất nhiên vẫn sẽ có phần nào hư cấu”, Cecilia Bembibre, một nhà khoa học di sản từ Viện Di sản Bền vững UCL ở Anh, một thành viên trong dự án, giải thích.    Tranh “Still Life with Cheese” Floris Claesz. van Dijck – Nguồn ảnh: USEUM.  Ngày nay, nhiều người sống ở các trung tâm đô thị, nơi có rất ít mùi hương mà tổ tiên chúng ta từng trải nghiệm. Do vậy, khi đứng trước những bức tranh sống động như thật, chúng ta vẫn có thể bỏ lỡ một số cảm xúc do chỉ nhìn ngắm bằng mắt. Nhưng nếu kết hợp mùi hương vào các hình ảnh trực quan trong một triển lãm, người tham quan có thể học được nhiều thứ hơn, GS. Leemans cho biết. “Khứu giác mang lại những câu chuyện mới và có sức gợi cao”, bà nhận xét, và không phải mọi câu chuyện về mùi hương đều dễ chịu. “Đó có thể là một nhà thờ tràn ngập hương trầm, một con kênh đầy nước thải, một quán cà phê ở thế kỷ 17, hoặc một cánh đồng tẩy trắng (một cánh đồng phơi vải hoặc quần áo để làm trắng bằng nước tiểu người, sữa chua và dung dịch kiềm). Nếu chúng tôi tìm thấy nhiều tài liệu trong đó mọi người phàn nàn về mùi hương, chúng tôi sẽ theo dõi cảm xúc xung quanh để xem có thể học được gì về cuộc sống trong quá khứ”.   Máy tính “học” cách cảm nhận mùi hương  Nhưng mục tiêu của dự án không chỉ có vậy. Các nhà nghiên cứu sẽ nhờ cậy đến các công cụ hiện đại để tạo ra ra giá trị mới của mùi hương. Ví dụ như máy tính sẽ học cách tìm kiếm trong các bộ sưu tập kỹ thuật số về nghệ thuật và văn học trong lịch sử, hướng đến các tài liệu liên quan đến mùi hương. Sau đó, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng thông tin do AI tạo ra để xây dựng một kho lưu trữ kỹ thuật số mã nguồn mở về mùi hương kèm theo ý nghĩa của chúng. “Trong đó sẽ bao gồm các cuộc thảo luận về các mùi cụ thể trong quá khứ, mùi đó quan trọng với những nhóm người nào, có ý nghĩa gì với họ”, TS. William Tullett ở ĐH Anglia Ruskin tại Cambridge (Anh), một thành viên trong dự án cho biết. Chẳng hạn như với bác sĩ, “chúng ta có thể khám phá mùi hương của các loại thảo mộc như cây hương thảo dùng để chống dịch hạch, hay các loại muối ngửi trong thế kỷ 18 và 19 như một loại thuốc trị ngất xỉu”.   Mục tiêu chính của dự án là coi mùi hương như một loại di sản và lưu trữ (cùng với thông tin đặc điểm hóa học và cảm giác về mùi hương) giá trị cũng như phản ứng cảm xúc mà các mùi hương kích hoạt trên những người sống ở châu Âu trong một thời điểm lịch sử cụ thể. Bởi vì việc diễn giải mùi hương bằng văn bản sẽ dễ dàng tiếp cận và thích hợp để lưu trữ cho các thế hệ tương lai.   Đây sẽ là cả một quá trình phức tạp. “Tất cả các nhóm trên đều đang phải đối mặt với những thách thức khác nhau”, GS. Leemans cho biết. “Đầu tiên là làm thế nào để dạy máy tính tìm kiếm các tài liệu liên quan đến mùi hương trong sách vở và các hình ảnh? Rất ít người trong ngành khoa học máy tính phát triển các phương pháp theo dõi thông tin về mùi hương, và chắc chắn không thể áp dụng trên các tài liệu lịch sử với các ngôn ngữ khác nhau”. Bà cho biết bốn trong số các nhóm thuộc dự án đang giải quyết vấn đề này, họ đang phát triển các kế hoạch hướng dẫn, trong đó con người đào tạo máy tính tìm kiếm thông tin văn bản và hình ảnh liên quan đến mùi hương.   Một nhóm khác có nhiệm vụ lập danh mục và phân loại các tài liệu về mùi hương do AI tìm thấy, sau đó tìm các từ mô tả mùi hương trong lịch sử cho các khán giả hiện nay. “Với mỗi mùi, bạn phải quyết định ai sẽ ngửi và những gì gắn với trải nghiệm này”, TS. Bembibre cho biết.   Khi thực hiện công việc này, họ phải ngửi rất nhiều, kết hợp với những tài liệu về mùi hương, các nhà nghiên cứu đang cố gắng tạo ra một bức tranh toàn cảnh về mùi hương thoảng qua trong không khí ở một nơi cụ thể trong một thời điểm lịch sử nhất định. “Bạn thấy các nhân vật trong Kinh thánh bịt chặt mũi khi vòng quanh mộ Lazarus hoặc cổng địa ngục; ba đạo sĩ dâng các loại nhựa thơm như mộc dược (myrrh) và nhũ hương (frankincense) cho hài nhi Jesus; Mary Magdalene dùng dầu cam tùng (spikenard) xoa bóp chân Chúa Jesus; những căn nhà đậm mùi cà phê rang; tóc giả phủ bột; găng tay tẩm nước hoa; những đống phân và ống khói nhà máy đang tỏa mùi”, GS. Leemans giải thích. “Tất cả những thứ này giúp chúng tôi xây dựng các bức tranh về những nơi có mùi thơm”.   GS. Leemans nhận định một động lực mạnh mẽ để bảo tồn các mùi hương là việc duy trì kết nối với di sản, bên cạnh việc dân chủ hóa các bảo tàng. Những chuyến tham quan đầy mùi hương sẽ giúp người mù và người khiếm thị dễ dàng tiếp cận – điều mà các cuộc triển lãm chỉ có hình ảnh không bao giờ làm được. “Mùi hương cho phép chúng ta thoát khỏi lịch sử đã được thần thánh hóa và vũ khí hóa, đi kèm với những bức tượng nam giới. Thay vào đó, mọi người có thể chia sẻ kiến thức và giao tiếp thông qua mùi hương, chẳng hạn, họ có thể khám phá các thành phố có mùi như thế nào, và tất cả sẽ có chung cảm nhận. Mùi hương là con đường rất trực tiếp để kết nối với quá khứ. Chúng tôi muốn giúp mọi người tìm hiểu về vai trò của mùi hương trong lịch sử, từ rất lâu trước khi họ sinh ra”, Giáo sư Leemans nhận xét.   Mùi hương kết nối con người, cảnh quan  Giáo sư Leemans cho biết, dự án cũng hy vọng sẽ phát triển các chiến lược cho các chuyên gia và cộng đồng di sản để lưu trữ và bảo tồn di sản mùi hương.   Mặc dù mong muốn lưu giữ mùi hương có thể còn mới mẻ với nhiều người, nhưng ý tưởng này đang âm thầm nhận được sự ủng hộ từ nhiều nơi ở châu Âu. Tại triển lãm Fleeting — Scents in Color, thuộc bảo tàng Mauritshuis ở Hà Lan, du khách sẽ có cơ hội tham gia một chuyến du lịch lịch sử nhìn – và – ngửi vòng quanh thế giới. Đại dịch cũng không làm những người phụ trách bảo tàng nản lòng; giờ đây với một hộp nước hoa đặt mua tại nhà, người dùng có cơ hội đắm mình trong mùi thơm cũng như mùi khó chịu của thế kỷ 17 khi tham gia triển lãm trực tuyến.    Gần đây Pháp đã triển khai các bước nhằm bảo vệ các mùi đặc trưng của những lối sống nhất định, bao gồm việc thông qua đạo luật bảo vệ âm thanh và mùi hương của vùng nông thôn. Động thái này diễn ra sau nhiều năm nhiều người phàn nàn rằng các cảnh quan cảm giác (sensescapes) phổ biến khiến họ khó chịu. Gần như mọi khiếu nại, các vụ kiện về vấn đề này đều do những người mới đến từ thành phố. Luật mới sẽ xác định và bảo vệ các di sản giác quan của vùng đồng quê Pháp. “Những người đến vùng nông thôn đã phản đối tiếng gà gáy và mùi phân, nhưng giờ đây mối liên hệ quan trọng giữa con người và động vật sẽ được bảo tồn”, TS. Bembibre cho biết. Ông cũng cho rằng việc duy trì mối liên kết giữa con người và các trang trại chăn nuôi có thể đóng vai trò quan trọng với phúc lợi động vật. Do đó, những điều mà ODEUROPA đem lại có thể còn nhiều hơn mục tiêu ban đầu.  Giáo sư Leemans nói thêm: “Ở một số quốc gia, có nhiều cuộc thảo luận về việc các trang trại chăn nuôi biệt lập ở các thị trấn nhỏ, mọi người ít có sự kết nối về mặt tình cảm với các động vật trong trang trại khi họ không thể ngửi thấy chúng – chẳng hạn, họ không nghĩ đến trách nhiệm chăm sóc những con gà trong trại gà khi chúng hoàn toàn cách biệt. Do vậy, một lý do quan trọng để bảo tồn mùi hương vì đó là cách giúp mọi người nhạy cảm với những gì xảy ra trong thế giới động vật xung quanh họ”. □  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-ai-europe-historical.html   https://www.theguardian.com/science/2020/nov/17/scents-of-history-study-hopes-to-recreate-smells-of-old-europe    Author                Quản trị        
__label__tiasang Di sản nào cho năm 2014?      Năm 2013 đã trôi qua, bức tranh toàn cảnh  của nền kinh tế Việt Nam trong năm này hiện ra ngày càng rõ với những  mảng màu tối nhiều hơn sáng, và dường như sẽ để lại cho năm 2014 một di  sản không như mong muốn.     Vậy thì chúng ta cần vươn lên thực hiện bằng được những đổi mới vô cùng cấp thiết nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng “hụt hơi” và sẵn sàng cho những cơ hội, thách thức mới sẽ đến với những cam kết hội nhập sâu rộng từ năm 2015 trở đi.  Các con số thống kê được công bố chính thức cho thấy tăng trưởng GDP năm 2013 đạt 5,42%, cao hơn năm trước, trong khi lạm phát xuống mức thấp kỷ lục 6,04%. Ngoài hai chỉ số vĩ mô quan trọng hàng đầu đó, nhiều con số khác cũng đẹp: kim ngach xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh, nước ta lại xuất siêu gần 900 triệu đô la Mỹ, cả cam kết mới và giải ngân FDI đều tăng, trong khi giải ngân ODA cũng khá cao. Mối lo hụt thu ngân sách có vẻ trở thành thừa khi về cuối năm, các thành phố lớn và nhiều tỉnh lần lượt báo cáo thu vượt hay đạt chỉ tiêu dự toán. Về con số doanh nghiệp thì tuy gần 61.000 chết, nhưng lại có tới gần 77.000 mới ra đời. Thất nghiệp tuy có tăng chút ít so với năm ngoái nhưng vẫn ở mức thấp 2-3% mà nhiều quốc gia thèm muốn.  Tuy nhiên, liệu bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2013 có sáng như những biểu hiện trên không?  Nhìn sâu hơn, có thể thấy bản thân những con số đẹp cũng ẩn chứa nhiều điều đáng suy nghĩ. Ví dụ con số tăng GDP có lấy lại được lòng tin không, khi mà công nghiệp và nông nghiệp – hai lĩnh vực đóng góp lớn cho GDP và gắn với cuộc sống của đông đảo người dân và lực lượng lao động nhất – lại tăng khá thấp, chỉ đạt lần lượt 5,43 và 2,67%. Thành tích xuất khẩu thì 66,8% là do khối FDI, và tuy tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng lên, nhưng thực chất chủ yếu vẫn là sản phẩm gia công, giá trị gia tăng thấp. Trong khi ta xuất siêu gần 900 triệu, thì riêng nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới 23,7 tỷ đô la Mỹ, đồng thời cả xuất lẫn nhập khẩu các mặt hàng lớn đều phụ thuộc rất nặng vào một vài nước bạn hàng, tạo nên những rủi ro không nhỏ.  Song ở những mảng tối nhất, nhiều khi các con số không mô tả hết được.           Bài toán nông nghiệp vẫn mãi loay hoay với  cây gì, con gì, trong khi những nút thắt như đất đai, tổ chức sản xuất,  đầu tư, công nghệ, thị trường… nhằm nâng cao năng suất lao động, chất  lượng và giá trị nông sản thì vẫn còn nguyên!        Đó trước hết là năm 2013 ghi tiếp một dấu trầm buồn khi tốc độ tăng trưởng nông nghiệp mấy năm nay suy giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi đổi mới, còn thu nhập của nông dân thì có tăng về danh nghĩa, nhưng bị lạm phát và mức tăng giá các vật tư đầu vào cùng các loại phí lấy hết, để lại mức thực tế âm. Thu nhập từ nông nghiệp – nghề chính của họ – còn tệ hơn, khi rớt xuống chỉ còn mang lại chưa đến 30% thu nhập của các hộ nông dân. Với thực tế đau lòng là trồng lúa ở nhiều vùng miền Bắc chỉ đem lại nguồn thu trị giá 50.000 đến 80.000 đồng một sào mỗi tháng, thì nông dân trả ruộng, bỏ nông nghiệp là phải thôi.   Vấn đề là nông nghiệp, lĩnh vực Việt Nam còn được coi là có lợi thế, lĩnh vực tận dụng được tốt nhất cơ hội WTO, lĩnh vực Việt Nam luôn xuất siêu, liệu có còn là lợi thế trong tương lai khi đà xuống dốc của nó chưa được chặn lại và nông dân, chủ thể chính của nó cũng không còn muốn làm nông nghiệp nữa? Vấn đề là nghị quyết “tam nông” đã có rồi, chương trình tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu nông nghiệp đã có rồi, nhưng bài toán nông nghiệp vẫn mãi loay hoay với cây gì, con gì, trong khi những nút thắt như đất đai, tổ chức sản xuất, đầu tư, công nghệ, thị trường… nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng và giá trị nông sản thì vẫn còn nguyên!  Nhìn vào công nghiệp và dịch vụ cũng thấy biểu đồ doanh nghiệp ngưng họat động tiếp tục chiều hướng đi lên, tới năm 2013 đã cao gấp rưỡi mức 4 năm về trước. Điều đó chứng tỏ tất cả những khó khăn của doanh nghiệp kéo dài suốt mấy năm nay về cơ bản vẫn chưa được giải quyết. Đau hơn nữa là càng về sau càng mất đi những doanh nghiệp khá hơn, những đơn vị thuộc lớp “trung lưu” đã có cả chục năm trưởng thành và kinh nghiệm thương trường, đã bám trụ được suốt từ khi kinh tế suy giảm năm 2008, nhưng tới nay đành đầu hàng trước những bất ổn kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh bất lợi kéo dài.   Doanh nghiệp, doanh nhân thường được gọi là “lực lượng xung kích thời bình”, là “nhân vật trung tâm” trong hội nhập kinh tế quốc tế. Khoảng một phần ba lực lượng ấy đã rời trận địa. Liệu lớp người vừa gia nhập thị trường có thay thế họ được không, hay khoảng trống họ bỏ lại sẽ được các công ty và doanh nhân từ Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, ASEAN …tới lấp đầy? Vấn đề là dù FDI sẽ khai thác tiếp tiềm năng của Việt Nam, sẽ mang lại tăng trưởng GDP, sẽ đưa thêm nhiều sản phẩm danh nghĩa “made in Vietnam” ra thế giới, nhưng chỉ mươi mười lăm phần trăm giá trị đó được tạo ra tại đất nước này và ít hơn thế ở lại với người dân trên mảnh đất này. Và rồi tài nguyên của Việt Nam sẽ cạn kiệt, thời kỳ dân số vàng của Việt Nam sẽ trôi qua, chúng ta sẽ già trước khi kịp giàu, cho dù GPD danh nghĩa có thể cao hơn.  Có cách nào khắc chế sự “hụt hơi” đó không? Có chứ! Những định hướng lớn như ba đột phá chiến lược -thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng- đã có, chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế đã có. Hàng trăm sản phẩm nghiên cứu nghiêm túc với những điều tra, phân tích, dự báo, giải pháp, khuyến nghị… nhằm thực hiện các định hướng, chủ trương đó đã được đưa ra, được tranh luận, bàn thảo kỹ lưỡng, tích tụ trí tuệ, tinh hoa của hàng nghìn người trong nước và các chuyên gia quốc tế. Những bài học kinh nghiệm thành công và không thành công của Việt Nam, của các nước trong quá trình phát triển và hội nhập chưa bao giờ rõ như bây giờ. Về kỹ thuật, có lẽ chẳng còn thiếu gì. Về con người, nếu mở rộng cửa cho những người có năng lực đang làm việc đây đó ở Việt Nam hay ở các nước, cũng không thiếu. Về tiền bạc, bớt đi những dự án trăm tỉ, nghìn tỉ không mang lại lợi ích cho đa số người dân thì cũng không thiếu nốt.   Vậy thì năm 2014 phải bù vào di sản của năm 2013 cái thiếu lớn nhất là ý chí của người Việt Nam quyết tâm đạp qua những trở ngại của sự trì trệ trong tư duy, của những toan tính ích kỷ, những thói xấu ai cũng biết như “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, lãng phí… để vươn lên thực hiện bằng được những đổi mới vô cùng cấp thiết nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng “hụt hơi” và sẵn sàng cho những cơ hội, thách thức mới sẽ đến với những cam kết hội nhập sâu rộng từ năm 2015 trở đi.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm bí ẩn giếng Chăm      Nhắc tới Chăm pa, nhiều người thường liên tưởng đến những đền tháp, tác phẩm điêu khắc, đồ gốm chứ ít ai nghĩ tới kĩ năng tìm các mạch ngầm nước ngọt gần như độc nhất vô nhị của người Chăm. Vì vậy, trong rất nhiều năm, chúng tôi đã đi dọc dải đất miền Trung khảo sát chỉ để tìm câu trả lời: giếng Chăm có vị trí thế nào trong đời sống Chăm?         Nếu tháp Chàm được xem là biểu trưng của thượng tầng văn minh Champa thì giếng vuông Chàm là biểu tượng đặc thù của đời sống bình dân Chăm. Nguồn: Zing.     Những khảo sát trong quá khứ     Chúng tôi, những nhà nghiên cứu ở Viện Khảo cổ (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) không phải là người đầu tiên trong lịch sử quan tâm đến giếng Chăm. Vinh dự đó thuộc về các học giả Pháp, những người đã khảo tả, phân loại các công trình khai thác nước này từ những năm đầu thế kỷ 20, và công đầu thuộc về M.Colani bởi trong suốt những năm từ 1912 đến 1940, bà đã tiến hành nhiều đợt khảo sát trên một địa bàn rộng, gồm các vùng đất thuộc Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. Nhờ nỗ lực khai phá của bà – chắc hẳn bà đã gặp lắm trở ngại về đường xá, phương tiện vào thời điểm đó, chúng ta đã có được những khảo chứng có giá trị với một hệ thống các bản vẽ, sơ đồ, bản ảnh khá chi tiết, nhiều người đã sử dụng chúng như những tư liệu gốc, đặc biệt là khi đề cập đến một số công trình đã bị phá hủy, cải tạo hay bỏ đi không dùng nữa…    Trong các chuyên khảo của mình, M. Colani đã sử dụng thuật ngữ “Système” (hệ thống) khi nhắc đến những công trình khai thác nước bằng đá xếp tiêu biểu ở Gio An. Theo quan điểm của bà, một “Système” hoàn chỉnh nhất gồm nhiều bộ phận với công dụng chức năng riêng và các bộ phận này sắp xếp liên hoàn từ cao xuống thấp theo bình độ hạ dần của chân sườn đồi. Một nét quan trọng khác là  bà sử dụng thuật ngữ “Puits” (giếng) chỉ những hố hình tròn hay vuông để lấy và chứa nước ngầm, vách được kè đá để chống sụt lở…; thuật ngữ “Bassin” (bể hay vũng)1 để chỉ những công trình xếp đá hình tròn hoặc bầu dục ở ngay cửa mạch nước ngầm, phía ngoài có cửa thoát nước ra mương dẫn hay ruộng… Có thể những “Bassin” kết hợp với nhau tạo thành một “Système”, nối giữa chúng là các máng (hay còn gọi là vòi) được chế tác bằng các khối đá tổ ong. Đáng chú ý vào năm 1937, M. Colani đã tiến hành đào một số hố thám sát quanh một số bể và trên các con đường bậc thang dẫn xuống các công trình “Giếng Đào”, “Giếng Kình”, “Giếng Đìa”, “Giếng Ông”, và phát hiện ra một số những mảnh gốm cổ, những mảnh gốm hiện đại, vài đồng tiền niên hiệu Gia Long, Tự Đức, Thiệu Trị…    Bằng việc so sánh với các công trình thủy lợi ở Phan Rang và một số dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của Chămpa, cũng như hệ thống thủy lợi truyền thống của người Việt, Thái, Khmer, bà đã đưa ra một nhận định khá bất ngờ: chúng “thuộc về một dân tộc ngoại lai đã để lại hậu duệ của mình ở Quảng Trị, song số lượng ít, chìm vào tổng thể”, tuy không khẳng định hướng thiên di nhưng bà cho rằng, thời điểm có mặt của tộc người này có lẽ là vào những thế kỷ sau Công nguyên.    Dựa vào đó, một nhà nghiên cứu Pháp khác là linh mục L. Cadière đưa ra một số giả thiết: chủ nhân của những công trình khai thác nước bằng đá xếp là một tộc người ở đại dương đã từng tiến vào khu vực dọc bờ biển Quảng Trị và dấu vết còn lại là một thương điếm (eporium) ở làng Mai Xá có tên là Phường Hàng và một số thương điếm khác trên Cửa Việt. Tộc người này có mặt ở đây vào những thế kỷ sau Công nguyên và họ đã bị tiêu diệt vào nửa sau thế kỷ 16 – khi đám tù binh Mạc của tướng Lập Bạo bị chúa Nguyễn Hoàng đày lên xứ Cồn Tiên… Năm 1972, L.Bezacier khi nghiên cứu về văn minh Việt Nam cũng cho những “công trình thủy lợi cổ ở Gio Linh – Quảng Trị thuộc vào thời sơ sử trước Bắc thuộc”      Khi đặt các hệ thống giếng vào trong bối cảnh mà chúng tồn tại, chúng tôi phát hiện ra một nét văn hóa của những chủ nhân của các giếng cổ: sự trân trọng với từng hạt nước – hạt ngọc qua từng tầng nấc sử dụng ở giếng mở, hay sự hào phóng với ruộng đồng, nơi làm ra những hạt gạo trân quý ở giếng nửa mở. Ngày xưa con người ứng xử với thiên nhiên đẹp thế đấy.      Những tài liệu khảo sát và nhận định của M.Colani, L.Cadière sau này ảnh hưởng không ít đến nhận thức của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đặc biệt, dựa vào những tài liệu của M.Colani, nhiều học giả Việt Nam cũng bắt đầu tiếp cận và coi giếng Chăm như một chủ đề nghiên cứu tiềm năng. Năm 1985, trong cuốn “Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa nước Việt Nam”, Bùi Huy Đáp đã coi hệ thống “các công trình thủy lợi cổ ở Gio Linh – Quảng Trị” là sản phẩm của cư dân thời đại đồ đá mới ở Việt Nam.    Vài năm sau, trong cuốn “Người Chăm ở Thuận Hải”, Phan Ngọc Chiêu bất ngờ đưa ra một quan niệm khá mới mẻ: những công trình khai thác nước bằng đá xếp ở Gio Linh – Quảng Trị có thể là của cư dân Chămpa. Đồng tình với nhận định này, nhà nghiên cứu Đào Hùng viết: “Căn cứ vào vết tích hệ thống dẫn thủy vào hồ chứa nước mà M.Colani đã phát hiện ở Gio Linh – một địa bàn cư trú của người Chăm và một số dấu vết tìm thấy trong ảnh chụp một số tỉnh miền Trung, ta có thể hình dung đến hệ thống kênh mương đưa nước vào ruộng của người Chăm xưa” “Về phương thức trồng lúa của người Chăm cổ”, tạp chí Đất Quảng số 61).    Đào Hùng, Lê Duy Sơn và một số nhà nghiên cứu khác, trong đó có chúng tôi, đã khai thác những tư liệu của M.Colani và những người đi trước, đồng thời tiến hành nhiều đợt điền dã, khảo sát ở Gio Linh và Vĩnh Linh đã đi đến một kết luận: những công trình khai thác nước bằng đá xếp ở Gio Linh và Vĩnh Linh là sản phẩm độc đáo của cư dân Chămpa vốn đã từng sinh sống trên đất Quảng Trị.    Tuy nhiên, cũng có những quan điểm khác, một trong số đó là Tạ Chí Đại Trường. Trong “Về dấu vết thủy lợi sử dụng chất liệu đá xếp ở vùng Gio Linh (Quảng Trị)” trên tờ Văn Lang (California – Hoa Kỳ) năm 1991, ông đã phản bác quan điểm của M.Colani và của L.P.Cadière, chỉ ra những điều bất hợp lý và cuối cùng đã đi đến kết luận: Hệ thống thủy lợi dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp ở Gio Linh là của những chiến tù 15722.      Giếng cổ Gio An, Quảng Trị. Nguồn: Baodantoc.     Việc có những quan điểm khác biệt trong nghiên cứu khoa học là chuyện bình thường, nếu không nói là có giá trị, bởi trong trường hợp này, những “vấn nan” mà Tạ Chí Đại Trường đưa ra cũng như kết quả của đợt khảo sát thực địa mà các nhà nghiên cứu Khoa sử trường ĐH KHXH (lúc đó là Khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội) tiến hành ở Quảng Trị vào tháng 3/1992 đã gợi ý cần rà soát lại các kết luận, dù đã đương nhiên được chấp nhận. Do đó, sau khi điểm lại tình hình nghiên cứu và đưa ra những thông tin mới để đi đến kết luận của Lâm Thị Mỹ Dung: “Chúng tôi thiên về ý kiến cho rằng người Chăm là chủ nhân của các hệ thống bể giếng vùng đất đỏ Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ”.     Giếng Chăm và sự ứng xử với môi trường sống     Hơn 20 năm trước, khi còn là những người mới bước vào nghề và tuổi đời còn rất trẻ, chúng tôi không ngờ rằng, câu chuyện về những cái giếng đá suốt dọc dải đất miền Trung còn ẩn chứa nhiều nét độc đáo. Những năm 1990 đó, chúng tôi đã cùng các đồng nghiệp ở Quảng Trị lăn lội khắp các trảng cát Gio Linh, các đồi đất đỏ bazan Vĩnh Linh, Cam Lộ và tìm hiểu một loạt những giếng mà ngay lúc đó chúng tôi đã gọi là giếng đóng (giếng truyền thống), giếng mở (kiểu thủy hệ Gio Linh, Cam Lộ) và sau này bổ sung giếng nửa mở. Trên địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Ninh Thuận…, chúng tôi đã tìm thấy nhiều giếng đóng và mở ấy. Vậy giếng Chăm có gì lạ và có gì khác biệt? Thật ra, khi đặt tên giếng, chúng tôi muốn đề cập đến những điều đặc trưng của nó.     Giếng đóng là loại phổ biến nhất, phân bố cũng rộng nhất, suốt dọc miền Trung Việt Nam ngày nay (Chăm Pa xưa), đa số ở vùng biển, các làng chài, bên cồn cát, bãi ngô, ruộng lúa… Giếng hình vuông, tùy tình hình nguyên liệu mà giếng được lát gạch hay đá. Nơi có nhiều đá, nhất là đá ong thì giếng được lát đá suốt từ trên xuống dưới, nơi nhiều gạch thì được xây gạch dầy và chắc chắc toàn bộ lòng giếng… Dưới đáy luôn luôn có một cái khung gỗ bản chắc và không bị mục. Dù cố công tìm hiểu nhưng chúng tôi vẫn chưa giải thích được công dụng của tấm gỗ này.     Giếng mở mang nhiều nét đặc biệt không kém, nó lấy nước mạch từ sườn đồi, núi thấp với ba phần: phần một chảy vào khu vực được đào và kè đá, nước trong, chất lượng tốt và chỉ để ăn uống; phần thứ hai rộng hơn, cũng được kè đá, dùng để tắm giặt…; cấp ba nước chảy gần như tràn ra một hố rộng ngay trên bờ ruộng được ngăn lại bằng đá xếp sơ sài, đây là nơi trâu bò, súc vật uống và cuối cùng chảy xuống ruộng. Vài ba cái giếng như vậy đủ cung cấp nước cho cả chục mẫu ruộng.      Giếng cổ Xó La ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Hệ thống giếng Chăm ở đây vẫn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho cư dân trên đảo. Nguồn: Thanhnien.      Giếng nửa mở thường lấy nước từ những mạch nguồn ở chân những cồn cát, có nơi gọi là giếng bộng vì giữ nước bằng một khúc thân cây khoét rỗng, hoặc tấm đá lớn đục bỏ lõi, nước chảy dâng lên và thoát ra. Tuy nhiên người dân ít khi sinh hoạt quanh giếng loại này mà để nước chảy tự nhiên quanh năm ngày tháng, thoải mái tràn ra ruộng đồng. Dân Việt hiện nay gọi là Giếng Mọi, chỉ giếng của người Chăm Pa xưa. Trên thực tế, khi đặt các hệ thống giếng vào trong bối cảnh mà chúng tồn tại, chúng tôi phát hiện ra một nét văn hóa của những chủ nhân của các giếng cổ: sự trân trọng với từng hạt nước – hạt ngọc qua từng tầng nấc sử dụng ở giếng mở, hay sự hào phóng với ruộng đồng, nơi làm ra những hạt gạo trân quý ở giếng nửa mở. Ngày xưa con người ứng xử với thiên nhiên đẹp thế đấy.     Câu chuyện tìm hiểu về giếng Chăm với chúng tôi cũng là việc phát hiện ra ở độ sâu nào, kích thước nào thì giếng vẫn luôn có nước, không bao giờ cạn kiệt, dù xưa kia mỗi giếng đều cung cấp nước cho một cộng đồng chừng 30-40 hộ dùng. Để thử kiểm chứng nhận xét này, tôi đã thử dùng hai máy bơm hiệu Koler bơm liên tục mà giếng không hề cạn đến đáy, dù ngay trong mùa khô với mức nước chỉ khoảng 1m. Điều đặc biệt là ngay cả ở những giếng sát gần biển cũng đem lại dòng nước ngọt lành. Đây cũng là hệ quả ứng xử khác với môi trường sống của cư dân sống lâu đời ở miền Trung Việt Nam. Không giống nhiều vùng đất khác của đất nước, thiên nhiên ở đây vô cùng khắc nghiệt, mùa mưa lũ sông khiến nước bẩn, nước đấy chảy cuồn cuộn đấy mà không thể dùng, còn mùa khô sông nước cạn và bị nhiễm mặn. Do đó người ta phải biết tìm mạch nước tốt và đào giếng lấy nước để sống.     Trong bài “Miền Trung Việt Nam và văn hóa giao thoa (một cái nhìn địa văn hóa)”, nhà sử học Trần Quốc Vượng đã từng viết: “cần bổ sung ở nhóm sinh thái nước ngọt – nước đọng một loạt giếng (xếp đá hay/và xây gạch) của người Chămpa (“Giếng Hời” theo cách gọi của dân gian hiện tại). Đi dọc ven biển từ cửa Ròn – cửa Gianh (Quảng Bình) qua Hội An – Cửa Đại – Trung Phường – Tam Kỳ (Quảng Nam) tới cam Ranh (Khánh Hòa)… Từ năm 1982, tôi và giới khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được một loạt giếng Chàm ngay ở bờ biển, nước rất ngọt, không bao giờ cạn, nhiều giếng ấy hiện dân gian Kinh – Việt vẫn đang sử dụng và theo thư tịch cổ Ả Rập – Ba Tư (Xem L, Ferrand 1912) từ thế kỷ VIII-XVI người Chămpa vẫn cung cấp – xuất khẩu nước ngọt từ các giếng ấy cho thuyền buôn quốc tế. Điều bất ngờ nhất, tháng 8 năm 1995, khi chúng tôi phát hiện cái giếng Chàm ở sát cửa Ròn, bà chủ nhà đang quản lý cái giếng đó nói với chúng tôi rằng cho đến nay, thuyền tàu Trung Hoa đi qua vẫn ghé xin nước ngọt ở giếng của bà. Mùa khô nóng cạn kiệt mà mức nước giếng vẫn trên 50cm, mùa mưa, nước giếng dâng lên trên 1m”.     Những suy ngẫm về giếng Chăm     Theo nhận định của nhà sử học Trần Quốc Vượng, việc xây dựng hệ thống giếng là một thiên tài, một thần thái (genius) bản sắc văn hóa Chămpa. Bản sắc đó có một sức sống thật bền bỉ và khả năng giao thoa với những bản sắc văn hóa khác, ví dụ có một điều đặc biệt thú vị là kĩ thuật đào giếng, kiến thức về mạch nước và văn hóa sử dụng nước sạch (dùng nước giếng có chất lượng tốt) của người Chăm đã được lan truyền ra Đại Việt (vùng đất Bắc Việt Nam ngày nay). Qua điều tra nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam, trên địa bàn các tỉnh Bắc Bộ như Hà Nội (địa bàn Hà Tây cũ), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Yên Bái… có rất nhiều giếng cổ có kĩ thuật Chăm Pa. Giếng có dạng hình tròn, cũng có nơi có dạng hình vuông, hình chữ nhật, đáy có khung gỗ quây như cũi, nước có chất lượng rất cao và không bao giờ bị cạn.    Với mật độ giếng rất dày ở Hà Tĩnh, đặc biệt là vùng Kỳ Anh, chúng tôi cho rằng miền đất này trước khi trở thành đất Đại Việt đã có rất nhiều người Chăm sinh sống, thậm chí sau thế kỷ 10, vào thế kỷ 11, 12 thì vùng này vẫn còn nhiều người Chăm.    Giếng Chăm Pa là một loại hình di vật văn hóa vật chất rất thú vị và đáng để nghiên cứu. Giờ đây, khi các thành quách đền đài của người Chăm trên dải đất miền Trung đã bị hư hại theo thời gian, chỉ còn lại những cái giếng tràn trề nước ngon (cách nói của người miền Trung) luôn là nguồn cung cấp nước không chỉ nuôi sống cộng đồng mà còn là của quý giá cho các thương thuyền qua lại trên biển Đông ngày đó. Trong những món đồ bán cho những thương thuyền ấy không thể thiếu những thùng nước sạch từ những cái giếng bên bờ biển Chăm Pa. Nước sạch cũng là một nguồn hàng quan trọng của người Chăm bán cho những đoàn thương thuyền trong lịch sử. Ngày nay, tại các đảo ven bờ dọc biển miền Trung như đảo Lý Sơn, đảo Phú Quý, Côn Đảo, đảo Cồn Cỏ… cũng còn nhiều giếng nước kiểu này. Và quan trọng nhất là người dân trên đảo vẫn dùng nước của các giếng này hằng ngày vì không có nguồn nước nào tốt hơn và dồi dào hơn. Các con thuyền đánh cá khi đi khơi xa vẫn đến lấy nước từ những giếng này bởi chất lượng nước tốt, để lâu mà không bị hỏng.     Không chỉ là một góc quan trọng của văn hóa Chăm, một phần không thể thiếu của cuộc sống thường nhật đã góp phần tạo nên một văn minh rực rỡ trong lịch sử, các giếng Chăm cũng là một cách làm hữu hiệu để người dân miền Trung có được nguồn nước quý mỗi khi gặp hạn hán hay bão lũ, những hiện tượng thời tiết ngày một trở nên cực đoan hơn trong tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay. Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi suy ngẫm nhiều nhất là hiện nay ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ, vùng đất của Chăm Pa cũ, các giếng vuông của người Chăm đã gần như bị bỏ và lấp gần hết. Trong khoảng 15 năm trở lại đây, do có kỹ thuật khoan giếng ngầm nên người dân đã bỏ giếng truyền thống, có thể dẫn đến nguy cơ giếng cổ Chăm Pa sẽ biến mất. Kỹ thuật đào giếng và tìm mạch nước tốt của người Chăm cùng với hệ thống giếng của họ là một di sản văn hóa. □  ——  * TS. Nguyễn Tiến Đông, Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.     Chú thích:   1 Để tiện sử dụng,chúng tôi xin dùng thuật ngữ “bể”  2 Những tù binh Mạc của tướng Lập Bạo bị chúa Nguyễn Hoàng đày lên xứ Cồn Tiên năm 1572.    Author                Nguyễn Tiến Đông        
__label__tiasang Đi tìm cánh buồm nâu      Cánh buồm nâu ngược gió Bạch Đằng giờ chỉ còn là quá khứ. Đã nửa thế kỷ nay không ai còn thấy bóng dáng một cánh buồm nâu nào nữa, ngay cả ở vùng Quảng Yên, Quảng Ninh, cái nôi sinh ra của nó… Vậy ai có thể đưa nó trở lại hiện tại để đánh thức một ký ức đa diện về kỹ thuật hàng hải dân gian, lịch sử giao thông của người Việt?      Thuyền buồm Phạm Huy Thông – Bạch Đằng 01. Ảnh: Ken Preston. Nguồn: kens-vietnam-adventures.blogspot    Cứu lấy một di sản trăm năm     Thật kỳ lạ là ý tưởng đó lại bắt nguồn từ một người ngoại quốc – Pierre Paris, thành viên Viện Viễn Đông Bác cổ từ đầu thế kỷ trước. Ông đã nhận xét, nghiên cứu các nền văn minh hàng hải khó mà tiến triển được nếu không có những nghiên cứu về tàu thuyền. Có lẽ vì điều đó mà chính ông đã đưa ra những khảo tả đầu tiên về thuyền bè Việt Nam trong cuốn Phác thảo về dân tộc học hàng hải Việt Nam “những cánh buồm trông gần giống như một cái tai. Buồm làm bằng tre phân chia bởi những hàng tre quấn đầy lá. Khi kéo buồm lên hay hạ xuống, nó phát ra tiếng động hệt như mở hay khép lại một cái quạt”.    Nhưng rất tiếc cho đến hiện nay, dù việc nghiên cứu kinh tế biển và phát triển hàng hải ngày càng được chú trọng ở Việt Nam thì nhìn về quá khứ, hiểu biết về truyền thống thuyền bè Việt Nam với hàng mấy chục loại khác nhau suốt từ Bắc chí Nam vẫn còn là một khoảng trống. Do đó, kể từ cuốn sách Paris viết cách đây 100 năm trăm trôi qua, “chúng ta vẫn chưa có được những nghiên cứu bài bản, có hệ thống về lịch sử, truyền thống thuyền bè Việt Nam”, kỹ sư Đỗ Thái Bình, Phó Chủ tịch hội Khoa học kỹ thuật tàu thủy Việt Nam, không khỏi trăn trở. “Trong khi đó, cùng với miền Nam Trung Quốc, Việt Nam là nơi khởi phát, đóng góp cho nhân loại hai phát minh quan trọng trong việc sử dụng sức gió để đẩy thuyền, đó là chiếc buồm cánh dơi và chiếc xiếm”.      Quá trình phục dựng, lưu tư liệu về con thuyền này trở thành “mẫu mực” cho việc nghiên cứu tìm hiểu về thế giới thuyền bè truyền thống Việt Nam, vừa có câu chuyện, kiến thức dân gian, vừa có kiến giải bằng tri thức khoa học hiện đại.      Điều mà ông Đỗ Thái Bình muốn nhắc tới là những con thuyền buồm cánh dơi, đã từng được dùng rất phổ biến làm phương tiện chuyên chở người, chở hàng, đánh cá trên khắp các con sông cho đến ven bờ biển Đông Bắc từ thế kỷ 13-14. Giờ đây những con thuyền buồm đó đã vắng bóng và từ lâu những ngôi làng chuyên đóng thuyền từ Hải Phòng đến Quảng Ninh không còn dùng buồm mà chuyển sang dùng động cơ quạt nước. Những người cuối cùng từng đóng thuyền buồm ba vát vượt gió chạy trên sông Bạch Đằng đã lần lượt về nơi thiên cổ. Trong số con cháu họ, những ai còn nhớ được cách cha ông đóng cũng đã bước sang tuổi xế chiều và hầu như cũng không còn mấy ai biết cách “lèo lái” những cánh buồm ngược gió.    Việc phục dựng những con thuyền buồm cánh dơi, chuyển tải những tri thức dân gian ấy bằng ngôn ngữ khoa học hiện đại có lẽ là một mơ tưởng đẹp trong nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc học thuyền bè ở Việt Nam. Nếu để những kiến thức này chết theo những người nghệ nhân đóng thuyền cuối cùng còn lại ở miền Bắc, có thể chúng ta sẽ vĩnh viễn mất đi tri thức của tổ tiên tích lũy từ nhiều trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm lịch sử hàng hải, bởi vì “các bằng chứng hiện nay mà tôi tìm được cho thấy tổ tiên chúng ta sử dụng buồm từ rất sớm, trên các con thuyền mà chúng tôi phát hiện được từ thế kỷ 13 đã có các trụ dựng buồm”, TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á, cho biết. Ông còn tin rằng, có thể buồm đã được tổ tiên chúng ta sử dụng, từ thời Đông Sơn, dù chưa có trong tay bằng chứng khảo cổ học. Mặc dù chưa có sử liệu nhưng nhiều người nơi đây còn tin rằng những con thuyền này đã từng tham gia vào những trận chiến lẫy lừng trên sông Bạch Đằng…    Khác với buồm bình thường, mỗi tấm buồm chỉ gồm một miếng thì buồm cánh dơi được chia thành nhiều miếng nhỏ nhờ các thanh lát (còn gọi là thanh nan, được luồn vào trong từng túi nhỏ của chiếc buồm) như những chiếc nan của một cái quạt giấy. Nhờ các thanh lát này mà buồm có thể giương hết để đón gió hay thu nhỏ diện tích lại như xếp một chiếc quạt. Để điều khiển thuyền buồm cánh dơi, phải sử dụng một hệ thống dây bao gồm dây nâng buồm, dây lèo để điều khiển tùy theo hướng gió và dây thu buồm để điều khiển các thanh lát. Đó là nói về lý thuyết và “tưởng tượng” bởi hiện nay không nhà nghiên cứu nào còn thấy bóng dáng một con thuyền buồm cánh dơi trên sông, biển miền Bắc.       Một phần bản vẽ kỹ thuật thuyền buồm ba vát, một nỗ lực hiện đại hóa kiến thức dân gian.      Để làm sống lại một di sản quý giá có liên quan đến nhiều khía cạnh lịch sử như truyền thống kỹ thuật chế tác, sử dụng cũng như cuộc sống trên sông nước và công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh hải của dân tộc, năm 2016, TS Nguyễn Việt đã nghĩ tới việc “cấp cứu” di sản thuyền buồm cánh dơi này bằng toàn bộ nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học của Quỹ Phạm Huy Thông thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á. Việc xoay xở cho ra một khoản cỡ 500, 600 triệu để làm thuyền đã là thu vén trọn vẹn số tiền nghiên cứu của Quỹ trong năm, quá sức chi trả của một đơn vị nghiên cứu độc lập không được sự hỗ trợ của ngân sách. Tuy nhiên, ông kỳ vọng, phục dựng con thuyền này không chỉ hữu ích cho nghiên cứu, mà còn góp phần quảng bá cho hình ảnh cánh buồm truyền thống của Quảng Yên đi xa, làm một mẫu thử (pilot) để từ đây các cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân có thể học hỏi, phát triển phục vụ du lịch gắn với tri thức truyền thống hàng hải Việt Nam.     Sống lại “quy trình công nghệ” dân gian     Sau khi đi khảo sát và lựa chọn làng Phong Cốc có truyền thống đóng thuyền ở đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh, TS Nguyễn Việt may mắn tìm được nghệ nhân Lê Đức Chắn, một trong những truyền nhân cuối cùng còn biết làm và sử dụng buồm ở nơi từng là chiến địa lừng lẫy chứng kiến chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng. Ông Chắn cho biết, sẽ chế tạo con thuyền buồm cánh ba vát (hay chính là “ba vách”, gồm một long cốt – xương thuyền ở đáy, hai sườn cong vát dần về hai bên). Ba thập niên trước, cũng chính người dân làng này đã may chiếc buồm nâu để bè tre Sầm Sơn của Tim Severin giương lên vượt sóng gió Thái Bình Dương, cho phép nhà thám hiểm và sử học người Anh chứng minh giả thiết về sự giao lưu văn hóa bằng đường biển giữa châu Mỹ và châu Á thời cổ đại.      Sau ba năm khi con thuyền Phạm Huy Thông – Bạch Đằng 01 hạ thủy rời bến giương buồm trên sông Bạch Đằng thì nhóm nghiên cứu cũng chưa nhận được sự quan tâm tìm hiểu từ các trường đại học, học viện hay các cơ quan quản lý văn hóa.      Cuộc trò chuyện giữa người đi tìm và người giữ “công nghệ” cổ xưa đã đem ra một giao ước về việc làm thuyền. Đến đây nảy sinh một vấn đề, đó là nếu chỉ có nhà nghiên cứu khoa học xã hội cùng những người cuối cùng còn gìn giữ tri thức dân gian ấy cùng phục dựng, kể về cách làm con thuyền của ông cha trong quá khứ thì nó vẫn hoàn toàn là ngôn ngữ dân gian. Cả hai bên đều không có khả năng giải thích rành mạch về cấu tạo của buồm cánh dơi và chiếc xiếm, đo lực bằng ngôn ngữ khoa học hiện đại.    Chính khó khăn đó đã đẩy TS Nguyễn Việt và kỹ sư Đỗ Thái Bình, hai người ở hai đầu đất nước chưa từng gặp gỡ, chỉ biết nhau qua những trang sách từ hai chục năm trước khi một bên viết về quân thủy trong lịch sử Việt Nam, một bên tìm hiểu về lịch sử hàng hải Việt Nam, bắt tay nhau phục dựng bằng được di sản.    Thật ra, quá trình phục dựng cũng là quá trình mà ông Đỗ Thái Bình học hỏi nhiều điều. Bởi đến khi chạm tay vào từng thớ gỗ của con thuyền, chứng kiến từ lễ phạt mộc (lễ khởi công thuyền) rồi hoàn thiện, vẽ lại toàn bộ các bản vẽ kỹ thuật của thuyền buồm ba vát, ông mới biết tường tận cơ chế hoạt động của con thuyền này mà trước đây chính giới am tường kỹ thuật thuyền bè vẫn còn mơ hồ. “Khi dịch cuốn sách của Pierre Paris, có từ ‘ván tè’, tôi tra cứu khắp các từ điển tiếng Việt, các sách về kỹ thuật hàng hải nhưng không đâu giải thích ‘ván tè’ là gì. Đến khi ông Chắn giải thích ‘ván tè’ dùng để tiếp nối giữa long cốt và sườn thuyền vát dần về hai bên, tôi mới ngỡ ngàng”, kỹ sư Đỗ Thái Bình kể lại.    Theo cách như thế, những kiến thức dân gian đã trở lại, “mới” một cách lạ lùng với những người như ông Đỗ Thái Bình và Nguyễn Việt. Giờ họ mới biết được kỹ thuật sử dụng lửa hơ ván cho đủ độ đàn hồi để uốn cong các tấm ván thuyền vẫn còn được bảo lưu ở vùng này. “Giới nghiên cứu về lịch sử và kỹ thuật tàu thuyền trên thế giới rất ngạc nhiên về điều này bởi hiện nay trên khắp thế giới, để sản xuất tàu gỗ không ai còn đốt lửa nữa. Lửa là cách làm từ lúc loài người manh nha làm thuyền cả ngàn năm trước, vẫn còn sót lại đến ngày nay”, ông Đỗ Thái Bình nhận định.     Lần ngược lại lịch sử, nghiên cứu về con thuyền nhỏ gọn và linh hoạt, cơ động này cũng có thể hé lộ cho chúng ta biết một giai đoạn chuyển tiếp từ thuyền độc mộc sang thuyền ba vát. “Chính từ thuyền độc mộc ban đầu, trong một giai đoạn nào đó nó được đưa trở thành long cốt”, TS Nguyễn Việt nhận định từ việc khai quật hơn hai chục con thuyền độc mộc từ dưới sông Kinh Thầy cho thấy sự chuyển tiếp ấy. Ông cũng ngờ rằng kể từ khi có lưỡi cưa sắt do người phương Tây mang tới Việt Nam thì tổ tiên ta mới chuyển từ những con thuyền độc mộc sang tam bản vì các kết quả khai quật có thuyền tam bản đều cho thấy dấu vết gỗ được cưa dọc thân cây chứ không phải sử dụng rìu đẽo, tạc vào thân gỗ. Nhưng để chứng minh được phán đoán này, sẽ phải tiếp tục tìm kiếm các bằng chứng khảo cổ học về thời điểm xuất hiện lưỡi cưa.      Hình ảnh con thuyền ba vát trên bưu ảnh thời Pháp thuộc.  Sau một năm khởi công, con thuyền được hoàn thành, dài 1.100 cm, rộng 360 cm, mớn nước 120cm, sức chứa khoảng 20 MT, có một cột buồm, xiếm lái lòng và lái mũi, một chèo nụ và một thuyền lái, được TS Nguyễn Việt đặt tên Phạm Huy Thông-Bạch Đằng 01 với kỳ vọng sau con số 01 này sẽ còn nhiều người khác tiếp tục nghiên cứu về thuyền buồm cánh dơi để có nhiều số nối tiếp. Con thuyền này chỉ khác với thiết kế truyền thống hàng trăm năm về trước ở một điểm duy nhất: thay vì để trống lòng thuyền để chở hàng thì trong khoang thuyền chính bố trí ngăn tủ, bàn, ghế đủ chỗ cho 12 du khách với tiện nghi đầy đủ cho hành trình và sinh hoạt trên thuyền.    Các nhà kỹ thuật thuyền bè của Hội Khoa học kỹ thuật Tàu thủy Việt Nam đã phân tích tính ổn định, tính nổi của thuyền đáp ứng các yêu cầu được của tiêu chuẩn ISO 12217-2 áp dụng cho các tàu thuyền được đẩy chủ yếu bằng buồm dài từ 6 đến 24 m và công bố trên tạp chí Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Các tài liệu lưu trữ, hồ sơ kỹ thuật được TS Nguyễn Việt lưu lại ở Trung tâm tiền sử Đông Nam Á và mở cho bất kỳ ai có nhu cầu tra cứu, tìm hiểu sâu về thuyền buồm cánh dơi. Ông tự hào, quá trình phục dựng, lưu tư liệu về con thuyền này trở thành “mẫu mực” cho việc nghiên cứu tìm hiểu về thế giới thuyền bè truyền thống Việt Nam, vừa có câu chuyện, kiến thức dân gian, vừa có kiến giải bằng tri thức khoa học hiện đại. “Bây giờ muốn có bảo tàng hàng hải thì phải nghiên cứu như thế, chứ không thể cứ tìm rồi đưa cái thuyền vào bảo tàng, ném vào đấy nhưng không ai biết nó có gì đặc biệt cả. Khi anh nghiên cứu sâu, chỉ cần phân tích một điểm như ‘ván tè’ trong kinh nghiệm dân gian là gì, trong con thuyền có vai trò gì thì người đời sau mới hiểu được giá trị của kiến thức cha ông”, kỹ sư Đỗ Thái Bình nói.    Hoàn thành công việc tưởng chừng quá khó ấy, tưởng chừng ai cũng sẽ vồ vập lấy nó nhưng thực tế lại khiến người ta tuyệt vọng: sau ba năm khi con thuyền Phạm Huy Thông – Bạch Đằng 01 hạ thủy rời bến giương buồm trên sông Bạch Đằng thì nhóm nghiên cứu cũng chưa nhận được sự quan tâm tìm hiểu từ các trường đại học, học viện hay các cơ quan quản lý văn hóa. Ước mơ một ngày Việt Nam có bảo tàng hàng hải tương xứng với tri thức về sông biển cha ông để lại của TS Nguyễn Việt, kỹ sư Đỗ Thái Bình vẫn chưa thấy hi vọng trở thành hiện thực.    Một lần nữa, quan tâm đến con thuyền buồm Việt Nam lại là những người nước ngoài. Tim Severin và Ken Preston, hai vị khách yêu thuyền cổ Việt Nam đến Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á. Tim quay trở lại Việt Nam hội ngộ những người yêu thuyền bè sau hành trình đưa bè tre Sầm Sơn vượt Thái Bình Dương và lên gặp Nguyễn Việt. Còn Ken Preston, từng cùng John Doney theo đuổi giấc mơ “gìn giữ quá khứ hàng hải của Việt Nam” và khởi xướng lập Quỹ di sản thuyền gỗ Việt Nam1 đã tìm đến TS Nguyễn Việt để được xem toàn bộ tư liệu về con thuyền buồm ba vát được phục dựng này. Sau đó ông viết riêng một bài “A Vietnamese junk carries tradition into the future” [Thuyền buồm Việt Nam chở truyền thống vào tương lai] trên tạp chí Wooden Boat số tháng 5 năm 2018 để nhằm giới thiệu con thuyền truyền thống của Việt Nam đến đông đảo độc giả ở Mỹ, như trong lá thư Ken gửi cho Nguyễn Việt và Đỗ Thái Bình sau khi trở về. Kỹ sư Đỗ Thái Bình cho biết, với toàn bộ bản vẽ mà nhóm nghiên cứu đã dày công xây dựng, giới kỹ thuật thuyền bè có thể phục dựng con thuyền buồm cánh dơi cổ bất kỳ lúc nào. Ông cũng đã tặng một mô hình thuyền Phạm Huy Thông – Bạch Đằng 01 theo tỉ lệ 1/30 và tặng cho hàng không mẫu hạm Mỹ USS Carl Vinson vào năm 2018 khi con tàu cập bến Đà Nẵng để quảng bá hình ảnh thuyền bè Việt Nam.     “Dân gian mình có cả một kho tàng công nghệ dân gian về vấn đề đóng thuyền, để giải thích về kinh nghiệm đóng thuyền hằng nghìn năm nay. Nhưng tiếc là trước nay không ai ghi lại cả”, kỹ sư Đỗ Thái Bình chia sẻ. Ông kể với chúng tôi, ông biết thêm nhiều từ chuyên môn từ “những pho từ điển sống”. Ví dụ ông biết từ “chạy vát” là mô tả khi thuyền buồm đi ngược gió phải điều chỉnh hai cánh buồm lấy sức đẩy con thuyền và xiếm chống lực giạt để chạy ngược, sát gió. Những đứt gãy trong hiểu biết về tri thức dân gian mà ông bà ta chắt lọc trong câu thành ngữ dân gian vùng Đông Bắc “Chênh tè, nghểnh mạn, đứng đường hai/ Chạy vát đường dài chẳng kém ai” đến giờ mới được chắp nối. Để hiểu được câu ông Chắn đọc cũng là câu phổ biến mà người dân vùng Quảng Yên đọc, thì phải hiểu được về hàng hải, từ chạy vát lực như thế nào, mô men tác động vào cánh buồm như thế nào, thả xiếm ra sao… “đấy là cả một khoa học”, như ông Đỗ Thái Bình đánh giá.    Không thể giữ mãi con thuyền ở Quảng Yên nên TS Nguyễn Việt quyết định mang con thuyền mơ ước của mình trở về Trung tâm tiền sử Đông Nam Á ở Kim Bôi, Hòa Bình. Ngày chúng tôi lên viết bài này cũng là ngày con thuyền từ ven bờ biển Quảng Yên được đưa lên container “leo” lên đỉnh đồi ở Kim Bôi rồi yên vị ở đó để phục vụ công tác nghiên cứu của Trung tâm tiền sử. Kỹ sư Đỗ Thái Bình không khỏi tiếc nuối “chính ông Paris nêu một tấm gương đầu tiên, phác thảo ra vấn đề này, thế hệ của chúng ta đáng nhẽ phải đào sâu nhưng giờ chưa có ai tiếp nối…”.□  —  1 https://tiasang.com.vn/-khoi-nghiep/john-doney-me-thuyen-viet-4833    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Đi tìm cây kỳ diệu tồn tại 2.000 năm trước      Silphion vừa chữa trị nhiều chứng bệnh vừa khiến cho nhiều món ăn tràn ngập hương vị nhưng chúng chỉ còn tồn tại trong cổ văn. Nhờ một may mắn tình cờ vào 40 năm trước, và hàng thập kỷ nghiên cứu bền bỉ, một giáo sư của trường Đại học Istanbul cho là đã tái khám phá được kẻ sống sót của loài cây cổ đại cách gần một nghìn dặm từ nơi nó từng đâm chồi.    Từ trước khi Athens vươn tới đỉnh cao của đế chế La Mã, một trong những sản vật nổi tiếng bậc nhất ở thế giới Địa Trung Hải là silphion, một loài thực vật có chùm hoa tán vàng rực. Với các nhà y học Hy Lạp cổ đại, silphion là phương thức chữa lành bách bệnh, từ đau dạ dày đến loại bỏ mụn cơm. Với các đầu bếp La Mã, đó còn là một nguyên liệu ẩm thực, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hương vị cho các nồi xúp đậu lăng hằng ngày hoặc cho vào các đĩa hồng hạc tuyệt hảo. Ngày nay chúng ta không thể tưởng tượng nổi người La Mã yêu thích não và lưỡi hồng hạc như thế nào đâu. Chỉ những người giàu có mới có thể thưởng thức hồng hạc, nó xuất hiện trên các bàn tiệc như biểu tượng phô trương về sự giàu có. Và silphion là cách điểm thêm cho món ăn này thêm phần xa hoa. Trong cuốn sách nổi tiếng về ẩm thực La Mã De re culinaria (Về chủ đề ẩm thực), hoặc đơn giản là Apicius, của Marcus Gavius Apicius – một người sành ăn và yêu thích xa hoa sống vào khoảng thế kỷ 1 sau Công nguyên, dưới triều đại của Tiberius – đã miêu tả khá chi tiết các món từ hồng hạc rắc silphion.   Trong suốt thời kỳ Julius Caesar nắm quyền, hơn một ngàn pounds silphion đã được thu hái và lưu trữ cùng với vàng trong kho tàng của thành Rome. Silphion được định giá là tương đương với giá trị của bạc. Tuy nhiên chỉ bảy thế kỷ sau khi loài cây được yêu chuộng này được ghi lại là phân bố khắp bờ biển Cyrenaica – vào thời cổ đại là một phần của Crete của La Mã còn nay là khu vực phía Đông của Libya), silphion đã biến mất không tăm tích khỏi thế giới Địa Trung Hải. “Chỉ còn sót lại một cây duy nhất”, nhà sử học La Mã Pliny Già đã kể lại trong cuốn sách Natural History của mình vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, “và nó đã được dâng lên hoàng đế Nero”.    Nghiên cứu của Miski cuối cùng đã cho thấy chỉ một mẫu vật khác của cây này đã được thu thập – vào năm 1909 tại một địa điểm cách núi Hasan 150 dặm về phía Đông – và được nhận diện là một loài mới: Ferula drudeana.    Kể từ thời Trung Cổ, các nhà khám phá thực vật được truyền cảm hứng từ những văn bản cổ đại về loài cây kỳ diệu này đã tìm kiếm nó trên ba lục địa, và luôn lâm vào thế vô vọng. Rất nhiều nhà sử học coi sự biến mất của silphion như một loài tuyệt chủng đầu tiên được ghi nhận, từ thực vật đến động vật, và ghi lại như một câu chuyện mang tính cảnh báo về thói phàm ăn của con người có thể làm mất đi một loài thực vật khỏi thế giới tự nhiên.  Nhưng silphion có thực sự tuyệt chủng?   Một mỏ vàng hóa học  Một buổi sáng ngập nắng vào tầm này năm ngoái, Mahmut Miski đứng dưới chân một ngọn núi lửa còn đang hoạt động và vương vãi đá sỏi ở vùng Cappadocia thuộc miền Trung Thổ Nhĩ kỳ, khoát tay về phía một bụi cây có những nhánh vàng rực rỡ mọc vòng quanh thân nằm dưới bóng của các cây hồ trăn (ở Việt Nam, hạt của cây này được biết đến tên “hạt dẻ cười”). “Chào mừng đến với vùng đất của silphion”, vị giáo sư 68 tuổi nói khi cúi xuống bứng lấy một thân và nhấc bộ rễ của nó khỏi lớp đất sỏi. Bầu rễ – công xưởng hóa học của cây – tỏa hương trong không khí với một mùi thảo dược dịu dàng rất nhẹ, pha trộn giữa nhựa khuynh diệp và nhựa thông. “Với tôi, mùi hương này rất kích thích và tạo cảm giác thư giãn”, Miski giải thích. “Anh có thể thấy tại sao mọi người mới thấy silphion đã ngay lập tức bị nó cuốn hút”.    Miski, người nghiên cứu về pharmacognosy ở trường Đại học Istanbul, một hướng nghiên cứu về các thành phần tự nhiên của thuốc, lần đầu tiên thấy cái cây mà giờ ông tin là silphion của thế giới cổ đại trong khi đang làm postdoc vào 38 năm trước. Ông nhận được một tài trợ để thu thập các mẫu Ferula, một giống cây có hoa thuộc họ Hoa tán Apiaceae bao gồm cà rốt, thì là, mùi…, và nổi tiếng là chứa nhiều hợp chất mới có khả năng chống lại bệnh tật.  Vào một ngày mùa xuân năm 1983, hai cậu bé từ một làng nhỏ ở Cappadocia dẫn Miski đi học một con đường nhỏ chênh vênh ở vách đá sườn ngọn núi Hasan, nơi giúp gia đình mình trồng trọt một ít lúa mạch và đậu gà. Đằng sau bức tường đá đó là những cây được bảo vệ khỏi gia súc tàn phá, hai anh em đã chỉ cho Miski thấy những cây Ferula cao một cách bất thường với những thân cây to chắc rỉ ra một dòng nhựa thơm hắc. Nghiên cứu của Miski cuối cùng đã cho thấy chỉ một mẫu vật khác của cây này đã được thu thập – vào năm 1909 tại một địa điểm cách núi Hasan 150 dặm về phía Đông – và được nhận diện là một loài mới: Ferula drudeana.  Trực giác của Miski về mỏ vàng hóa học ở Ferula drudeana được chứng minh là chính xác: phân tích rễ cây cho thấy có 30 chất chuyển hóa thứ cấp – các hợp chất không thể đóng góp vào việc giúp cây tăng trưởng hoặc sinh sản, tuy nhiên lại đem đến một dạng lợi ích cụ thể. Trong số các hợp chất này, nhiều dạng có các đặc tính chống ung thư, ngừa thai, và chống viêm, shyobunone đóng vai trò như các thụ thể GABA đáp ứng chất dẫn truyền thần kinh axit gamma-aminobutyric, hợp chất ức chế chính trong hệ thần kinh trung ương của động vật có xương sống trưởng thành, và có thể góp phần làm nên cái mùi cuốn hút của cây. Miski tin là những phân tích tương lai về cây sẽ tiết lộ sự tồn tại của hàng tá hợp chất chưa biết đang được y học quan tâm.  “Anh có thể tìm thấy những hoạt chất tương tự trong cây hương thảo, ác ti sô, thủy xương bồ và cây galbanum, một loại cây Ferula khác”, ông nói. “Như thể anh kết hợp nửa tá cây vào một cây duy nhất vậy”.   Những điểm tương đồng hấp dẫn   Ferula drudeana rõ ràng có tiềm năng y học nhưng chỉ khi trở lại núi Hasan thêm lần nữa vào năm 2012, Miski mới bắt đầu cân nhắc về những tương đồng của nó với silphion mà ông từng đọc trong các trang sách cổ. Hai cậu bé vẫn chăm nom cây Ferula đã nói với ông về việc cừu và dê thích gặm các lá cây này như thế nào, nó nhắc nhở ông đến một miêu tả trong cuốn Natural History của Pliny là cừu thường quanh quẩn bên silphion. Miski cũng quan sát sau khi hút nhựa từ thân cây ánh màu ngọc trai, côn trùng thường bay lượn để giao phối. Điều đó khiến ông nghĩ về huyền thoại ca ngợi phẩm chất kích thích của loài cây cổ đại này.  Trong một bài báo xuất bản năm 2021 trên tạp chí Plants, Miski đã miêu tả các điểm tương đồng giữa silphion trong những văn bản cổ xưa và được khắc trên đồng xu Cyrenaica để ghi lại một sản vật nổi tiếng nhất của vùng, và Ferula drudeana: rễ tỏa nhánh dày, tương tự nhân sâm; thân phân nhánh,  mang những cụm hoa tán hình tròn ở ngọn; lá giống cần tây; các hạt mỏng như giấy hay quả nứt, trong hình dạng của những trái tim ngược.  Sự tương đồng bề ngoài không là mối liên hệ hấp dẫn duy nhất. Nguồn gốc cây silphion cho thấy nó xuất hiện một cách đột ngột sau một trận mưa như trút. Miski quan sát thấy mùa mưa đến ở Cappadocia vào tháng tư hằng năm, Ferula drudeana có thể nRy mầm trên nền đất và cao chừng 6 feet (1,83m) chỉ trong một tháng.  Bởi vì không thể trồng được silphion cổ đại nên người ta chỉ có thể khai thác nó trong tự nhiên, một nhiệm vụ mà những người Cyrenaic giàu có đã giao cho người dân du mục; hai nỗ lực (được Hippocrates ghi lại) chuyển nó về Hy Lạp đều thất bại. Miski cũng phát hiện ra là cũng khó ươm trồng Ferula drudeana; chỉ duy nhất áp dụng phân tầng lạnh, một kỹ thuật cho phép hạt được ươm khi đặt nó vào các điều kiện ẩm, lạnh như mùa đông, thì nhóm nghiên cứu của ông mới thành công trong nhà kính.    Kể từ đầu thế kỷ 19, ba loài đã được xác định như những ứng cử viên hàng đầu của silphion. Thân cây và quả của Ferula tingitana, được biết đến như một giống thì là khổng lồ, tương tự với cây trên đồng xu Cyrenaica, và nhựa của chúng được sử dụng như một phương thuốc dân gian ở Morocco, nhưng hàm lượng ammonia rất cao trong cây khiến nó không thể nào ăn được. Cachrys ferulacea có những hạt hình trái tim và tạo ra một lượng nhựa có mùi tương tự nhưng lá của nó lại không giống với miêu tả trong cổ văn; ngoài ra cũng có một cây phổ biến ở Italy và Hy Lạp, nơi những nguồn cổ văn cho thấy là rõ ràng silphion không sống nổi. Margotia gummifera có vẻ như gần với hình ảnh miêu tả trên đồng xu, nhưng phạm vi phân bố – bao gồm Đông Bắc Phi và bán đảo Iberia – cũng không khớp, thân nó quá nhỏ, và phần lớn các nghiên cứu đều kết luận là có quá ít giá trị như một cây thuốc.  “Về mặt hình thái học, Ferula drudeana dường như là một ứng cử viên xứng đáng nhất”, Shahina Ghazanfar, một nhà nghiên cứu về phân loại thực vật các loại cây Trung Đông làm việc tại Vườn thực vật hoàng gia Kew, London, nhận xét. “Thân cây phân nhánh, quả, và có thể là rễ dường như khớp với hình ảnh loài Ferula có thể từng có dấu vết được trồng ở Anatolia (Tiểu Á) mà người ta gọi là silphion”. Ghazanfar cũng chỉ ra cách phân biệt những chiếc lá được sắp xếp vòng đối nhau quanh thân. “Lá đối, vốn không tìm thấy ở những loài khác, là bằng chứng thuyết phục”.   Một kẻ sống sót ở xa?  Trong khi Ferula drudeana phù hợp với những miêu tả của cây silphion hơn bất cứ loài nào khác, vẫn còn một vấn đề: miêu tả cổ nhất trí cây silphion tốt nhất mọc ở một khu vực nhỏ quanh thành Cyrene, một địa điểm ngày nay là Shahat ở Libya. Chân núi Hasan cách đó 800 dặm về phía Đông Bắc, như một đường chim bay vòng quanh Địa Trung Hải. Khi Miski trình bày nghiên cứu của mình trước các hội thảo, ông nhấn mạnh sự thật là cây này được ghi nhận ở hai địa điểm trên Thổ Nhĩ Kỳ, cả hai đều có người Hy Lạp sống từ thời cổ đại.  Những người Hy Lạp từng ở đây nhưng kể từ năm 1923, họ bị trục xuất khỏi vùng. Người Hy Lạp định cư ở ngôi làng nằm giữa Anatolia từ thời Alexander đại đế và Miski suy luận là cách đây khoảng 2.000 năm hoặc hơn thế, một nông dân Hy Lạp đã cố gắng gieo những hạt silphion được gửi từ Bắc Phi. “Bởi vì nó mất ít nhất 10 năm để trưởng thành, họ có thể trồng nó rồi quên đi. Cây đã sống lên trong hoang dại và trở nên phổ biến ở vùng đất này”, ông đề xuất. “Rút cục thì hậu duệ của người nông dân đó cũng không thể rõ cái đồ quỉ tha ma bắt này là gì”.    Erica Rowan, một phó giáo sư cổ thực vật học tại Đại học Royal Holloway ở London, phát hiện ra là giả thuyết của Miski rất có thể đúng. “Những người cổ đại thường rất giỏi về di chuyển”, Rowan chỉ ra. “Không có nguyên nhân nào cho thấy người ở Cyrenaica lại không thể mang hạt giống đến Cappadocia và trồng chúng. Có đủ sự tương đồng, với một khí hậu kiểu Địa Trung Hải. Và loài Ferula này giống như những gì được khắc họa trên đồng xu”.  Alain Touwaide, một nhà sử học chuyên về các cây thuốc cổ đại, thì nghi ngờ và đặt ra câu hỏi về nguyên nhân “đó là người Hy Lạp vì từng có người Hy Lạp ở đó”. Touwaide lập luận là nhóm của Miski cần có bằng chứng thuyết phục hơn bằng việc cô lập được các hợp chất trong Ferula drudeana tương đồng với những hợp chất có trong silphion mà người xưa miêu tả.  Sở dĩ có vấn đề này là do các nhà cầm quyền cổ đại dường như ra quy định cây này có thể chữa trị mọi thứ. Silphion có thể chữa trị từ đau đầu đến đau răng, cho bệnh viêm màng phổi và chứng động kinh, và một loại dầu, theo một phiên bản dịch thuật, cho cả “chó cắn” lẫn “bọ cạp đốt”.   Chỉ có một cách để xác nhận liệu chúng có là một và liệu chúng ta có giữ lại được cây cổ đại để so sánh qua phân tích, ví dụ từ một cái bình có dán nhãn “silphion” có thể được khai quật từ một di chỉ khảo cổ, theo gợi ý của Lisa Briggs, một postdoc tại Bảo tàng Anh và National Geographic Explorer. Một công bố gần đây mà cô là đồng tác giả đã đề xuất Susa, một thành phố ven biển Lybia, hòn đảo Malta, và cảng Hy Lạp của Piraeus là những điểm phù hợp cho các nhà khảo cổ tìm kiếm những gì còn sót lại của những con tàu đắm có thể từng chuyên chở silphion.  “Chén Thánh” ẩm thực  Khi còn thiếu một cái bình dán nhãn silphion được trục vớt từ đáy biển sâu như vậy, phần lớn chuyên gia đều cho là chỉ còn một cách – dẫu không chắc chắn – để thuyết phục mọi người tin vào ý tưởng Ferula drudeana chính là silphion thời cổ đại: con đường ẩm thực. “Người cổ đại không chỉ coi trọng các đặc tính chữa bệnh của silphion mà còn cả các đặc điểm như một loại gia vị của nó”, Rowan nói.  Không mơ hồ khi miêu tả chi tiết như các văn bản y học cổ điển, các cuốn sách dạy nấu ăn còn sót lại từ thời cổ đại thường miêu tả tường minh về các phẩm chất và cách sử dụng nguyên liệu. Hàng tá công thức trong cuốn sách Apicius, nhắc đến việc sử dụng silphion dưới ba hình thức: nhựa trích xuất từ thân cây với tên gọi laser vivum; nhựa trộn với bột (laserpicium); hoặc rễ khô (laseris radix) được cắt ra rồi giã bằng chày cùng những gia vị khác.  Với Sally Grainger, một nhà nghiên cứu và tham gia biên tập cuốn Apicius ra tiếng Anh, “phát hiện ra silphion nguyên bản, và trải nghiệm các công thức cổ thêm một lần nữa là một dạng của Chén thánh”, hàm ý đến khả năng chứng minh Ferula drudeana là silphion.   Grainger từng là đầu bếp bánh ngọt tại khách sạn Atheneum, London năm năm trước khi theo học ngành lịch sử cổ đại, khá thông thạo về các kỹ thuật nấu nướng La Mã và miêu tả nó trên kênh Youtube của mình, A Taste of the Ancient World (Một khẩu vị của thế giới cổ đại). Cho đến giờ, bà vẫn tái tạo các công thức có silphion bằng việc sử dụng một loại gia vị thay thế phẩm cấp thấp từ Apicius là “Parthian laser”, được tin là A ngùy (Asafoetida), một loại nhựa được lấy từ một loài Ferula khác mọc ở Afghanistan. Khi silphion nguyên bản trở nên khó kiếm, các đầu bếp La Mã bắt đầu sử dụng A ngùy, rẻ và có sẵn hơn. Cuốn Apicius đã lưu ý sự khác biệt rõ ràng giữa silphion với người anh em họ phương Đông hăng và sặc mùi lưu huỳnh của mình.  Vào một buổi sáng đầy nắng tháng năm ở Vườn thực vật Nezahat Gökyiğit Istanbul, một kho lưu trữ đa dạng sinh học thực vật quan trọng bậc nhất Thổ Nhĩ Kỳ, Grainger và Miski có mặt ở đây, trong một cái bếp tạm ngoài trời để tìm hiểu xem liệu Ferula drudeana có thể là Chén Thánh của ẩm thực cổ đại hay không.  Giáo sư Miski mang các mẫu cây từ chân núi Hasan tới. Tuyết tan đã tưới tắm cho mảnh đất đó, khiến nó thành một cánh đồng ngập những chùm hoa vàng rực – khi cây Ferula bung nở có nghĩa là đám rễ có thể tràn trề dược chất nhất. Để tái tạo công thức từ Apicius, Grainger đã mang từ Anh cối và chày cũng như các loại gia vị cần thiết như rượu vang ngọt, nước mắm garum, và thảo dược như vân hương (rue, một số tài liệu cũng gọi là cửu lý hương) và cần núi.  Miski cầm một thân Ferula drudeana mập mạp rỉ nhựa trong như ngọc trai từ vết cắt, Grainger lấy một ít nhựa đã khô lại thả vào một cái chảo đã được làm nóng với dầu oliu để tạo ra laseratum. Một làn hương dễ nhận thấy bay ngập không gian. “Nó thật mãnh liệt và hấp dẫn”, Grainger thốt lên. “Khi ngửi thấy nó, nước miếng đã tự tứa ra”.   Họ nấu theo công thức trong Apicius, mỗi món có hai phiên bản, một sử dụng Ferula drudeana và một sử dụng A ngùy, loại gia vị thay thế của silphion. Hiệu ứng thật khác biệt: món dùng Ferula drudeana làm gia vị hấp dẫn và ngon miệng trong khi chính món này nhưng được nêm nếm bằng A ngùy lại tỏa ra vị hắc kinh khủng. Thành công nhất là ius in ouifero fervens, một loại sốt chấm thịt cừu được làm từ rượu ngọt, mận cắt lát và Ferula drudeana. “Thật đẹp đẽ!”, Grainger nói. “Ngay cả khi nước sốt đậm đặc thì hương vị của silphion không hề bị chìm đi mà trên thực tế còn làm nổi bật chất lượng của các loại gia vị khác”. Rõ ràng, bà tin Ferula drudeana xứng đáng là một ứng cử viên hàng đầu cho cái cây thời Hy Lạp và La Mã cổ đại.  Miski dường như hài lòng với kết quả này, dẫu vẫn lo ngại về những gì có thể xảy ra tiếp theo. “Chỉ có khoảng 600 loài thực vật mà chúng ta biết trong thế giới này”, ông chỉ ra. Ba trăm loài mọc trong tự nhiên. Một số lượng tương tự đang được trông nom trong các vườn thực vật, dẫu phải mất nhiều năm trước khi đạt đến độ trưởng thành đủ để tạo ra thế hệ tiếp theo. “Phải trồng hàng ngàn lần nhiều loại cây để tạo ra một sản phẩm thương mại”.   Hai ngàn năm sau khi nguồn cung cấp silphion bị đứt đoạn, cái cây huyền thoại có thể tái trở lại nhưng phải đối mặt với mối hiểm nguy được tiên tri từ thời cổ đại: thói ăn ngon của con người. Theo thời gian, số lượng Ferula drudeana ít đến mức nó trở thành một loài bị đe dọa tuyệt chủng. “Đó là điều tôi muốn nhấn mạnh”, Miski nói, một nốt trầm trong giọng. “Nếu mọi người bắt đầu làm nước sốt silphion thì hãy chờ đấy! Sẽ không đủ cho chúng ta đâu”. □  Tô  Vân dịch  Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/history/article/miracle-plant-eaten-extinction-2000-years-ago-silphion    Author                .        
__label__tiasang Đi tìm lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất      CHUỖI BÀI VIẾT  “THẤT BẠI TINH GỌN” Có ai đó nói rằng, khi bạn thành công thì mọi thứ trong quá trình bạn tạo ra nó đều có thể trở thành bài học thành công cho những người khác, nhưng khi bạn thất bại, chắc chắn không thể mọi việc bạn làm đều sai, nhất …    CHUỖI BÀI VIẾT  “THẤT BẠI TINH GỌN”  Có ai đó nói rằng, khi bạn thành công thì mọi thứ trong quá trình bạn tạo ra nó đều có thể trở thành bài học thành công cho những người khác, nhưng khi bạn thất bại, chắc chắn không thể mọi việc bạn làm đều sai, nhất định phải có những vấn đề mang tính căn bản và sai nhiều hơn những phần khác. Chúng tôi quyết định giới thiệu chuỗi bài viết “Thất bại tinh gọn” vì trong suốt quá trình làm việc với khởi nghiệp sáng tạo, tôi nhận thấy, rất nhiều các chủ doanh nghiệp, các nhà khởi sự kinh doanh luôn tràn trề năng lượng để bắt đầu lại, mọi thất bại đều dần quen nhưng lại rất ít ngồi một cách nghiêm túc để nhìn nhận lại thất bại. Truyền thông đưa quá nhiều câu chuyện thành công với những kết thúc có hậu, nhưng lại ít người dùng lăng kính khác để nhìn nhận về thất bại đó và để học ra những điều có ích cho hoặc thành công, hoặc thất bại lần sau và cho cả những người khác.  Chúng tôi cũng không phải là những người đầu tiên thúc đẩy tinh thần học hỏi từ thất bại tại Việt Nam. Chuỗi sự kiện FailSmart của hai sáng lập Phan Đình Tuấn Anh và Nguyễn Tiến Trung trong suốt hơn hai năm qua với sáu chương trình đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của cộng đồng để học hỏi nhiều hơn từ chính thất bại của mình và người khác. Chuỗi bài viết “thất bại tinh gọn” sử dụng cách tiếp cận khác để học hỏi từ thất bại. Với phương pháp của Khởi nghiệp tinh gọn và những công cụ có liên quan chúng tôi sẽ sử dụng để phân tích những mô hình kinh doanh theo đuổi đổi mới sáng tạo này và chỉ ra điểm mấu chốt trong mô hình kinh doanh dẫn đến thất bại.    Chúng tôi cũng may mắn được tiếp cận với những trường hợp nghiên cứu mà người chủ doanh nghiệp sẵn sàng cởi mở để chia sẻ về những thất bại và giúp chúng tôi có những thông tin chính xác để mổ xẻ thất bại đó. Trong một số trường hợp, chủ doanh nghiệp chấp nhận thất bại chính là do anh/chị đã có tiếp xúc với khởi nghiệp tinh gọn. Số khác thì không hẳn như vậy. Song điểm chung trong mong muốn của họ cũng như của chúng tôi không phải là để bạn đừng lặp lại những thất bại như của họ vì sẽ không có một câu chuyện nào giống câu chuyện nào. Chỉ mong bạn hãy tham khảo cách tiếp cận này để soi chiếu lại những gì mình đang làm và từ đó viết nên những thất bại đáng học với quy mô nhỏ của mình để tiến đến những thành công lớn trong tương lai.    Trên thị trường, cũng đang có nhiều công ty cung cấp giải pháp toàn diện trồng rau trên sân thượng.  Đi tìm lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất  Tháp trồng rau thông minh là một dự án mới của Phan Xuân Biên, đồng sáng lập của một công ty đã đi vào hoạt động trong mảng thời trang. Xuất phát từ nhu cầu có rau sạch cho cháu nhỏ trong gia đình, Biên quyết định tạo ra một mô hình trồng rau sạch tại nhà và phát triển nó thành một công ty mới.  Mô hình của Biên là một tháp trồng rau được thiết kế nhỏ gọn vừa với mọi không gian trong nhà, dễ dàng tháo lắp di chuyển, có sẵn dụng cụ và phân bón, đồng thời tối ưu hóa công sức và thời gian chăm sóc. Một giải pháp toàn diện như vậy vừa giải quyết được vấn đề an toàn thực phẩm đang nhức nhối, vừa nắm bắt được trào lưu và tâm lý của những người dân thành thị muốn trồng rau “tự cung tự cấp” cho gia đình trên ban công và sân thượng nhà mình.    Biên nhanh chóng có khách hàng đặt, kể cả các đại lý nông nghiệp từ các tỉnh ngoài và phía cung cấp vật tư để sản xuất cũng ổn định. Thậm chí dự án còn có người mở lời đầu tư. Với những bằng chứng rõ ràng như vậy, không có lý do gì Biên không tin tưởng vào sự thành công của mình nhưng anh đã đóng cửa dự án sau khi trăn trở về khả năng nhân rộng của nó.   Xây dựng – Đo lường – Học hỏi dựa trên phát triển khách hàng, mô hình tinh gọn và liên tục xem lại mô hình kinh doanh  Với mong muốn trả lời chính xác câu hỏi có nên tiếp tục dự án hay không trước khi thực sự đầu tư toàn bộ thời gian, công sức và nhận vốn, chủ dự án đồng ý cùng chúng tôi tiến hành cùng một số bước xây dựng, đo lường, học hỏi để hoàn thiện mô hình kinh doanh tinh gọn nhằm tiếp cận tốt hơn với nhà đầu tư. Để làm được điều đó, Biên phải xác định lại một cách rõ ràng ba nội dung sau: Phân khúc khách hàng nhắm tới, những vấn đề của xã hội mà dự án đang cố gắng giải quyết (ba vấn đề lớn nhất); Ba tính năng nổi bật nhất của giải pháp; Giá trị độc đáo nhất của giải pháp/sản phẩm/dịch vụ; Lợi thế cạnh tranh vượt trội của dự án; Những thang đo quan trọng về khả năng thành công của dự án; Các kênh phân phối sản phẩm và thông tin với khách hàng; doanh thu và chi phí. Những thử nghiệm được tiến hành liên tục cùng với những giả định được đưa ra và phỏng vấn với khách hàng, đối tác, gặp gỡ chuyên gia. Sau ba tháng, dự án vướng mắc nhất ở những vấn đề sau:    Một vài câu hỏi để bạn tham khảo: – Đâu là lợi thế cạnh tranh không bắt chước được của sản phẩm dịch vụ của bạn? – Dòng doanh thu của bạn gồm những gì? – Dòng chi phí của bạn gồm những gì? (bạn đã tính lương và thời gian của bạn vào đó chưa?) – Bạn đã thực sự hỏi khách hàng thực sự thích gì ở sản phẩm dịch vụ của bạn chưa? Đó có phải là những thứ bạn chủ đích cung cấp ban đầu không? – Những con số nào giúp bạn tự tin đi tiếp? Những con số nào khiến bạn tin rằng nên dừng lại?      Không thể tìm được lợi thế cạnh tranh vượt trội, bền vững mà không ai bắt chước được: Sau khi làm việc với chuyên gia về sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhận ra rằng, chậu trồng rau và tháp trồng rau của mình chỉ là một phiên bản tương đối giống so với những phát minh đã đươc bảo hộ trên thế giới. Điều đó có nghĩa là sản phẩm chưa đủ tính mới để được bảo vệ bởi pháp luật.  Điều khách hàng thích nhất ở sản phẩm lại không nằm trong những giá trị mà doanh nghiệp muốn mang lại cho họ. Hóa ra, khách hàng mua và truyền bá về sản phẩm cho người khác là vì họ thích được trò chuyện và quý mến nhân viên hướng dẫn trồng cây.  Thời gian chưa bao giờ được quy đổi ra chi phí trong doanh nghiệp này: Thời gian chăm sóc khách hàng của chủ doanh nghiệp quá lớn dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp không thể mở rộng quy mô và việc đào tạo nhân viên chắc chắn sẽ gặp khó khăn.      Tháp và chậu trồng cây của Phan Xuân Biên.  Phân khúc khách hàng nhắm tới quá nhỏ: Sau khi tiến hành các thử nghiệm với nhiều nhóm người khác nhau, doanh nghiệp nhận ra rằng, đúng là khách hàng có nhu cầu về rau sạch, nhưng tự trồng rau để ăn chỉ là một trong số những lựa chọn của họ và có nhiều giải pháp thay thế để giải quyết vấn đề đó. Phân khúc hiện tại cần co hẹp lại ví dụ chỉ tập trung vào những người có thời gian chăm sóc rau đều đặn hằng ngày, trồng như một thú vui. Nhưng như vậy thì phân khúc nhắm tới quá nhỏ để dự án thực sự có thể triển khai trên diện rộng.  Thất bại tinh gọn  Doanh nghiệp nhận ra rằng, họ không cần một ai đó khuyên họ nên tiếp tục hay dừng lại mà phải tự trả lời lời những câu hỏi liên quan đến mô hình kinh doanh, trong đó, đặc biệt là câu hỏi: “lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất” của dự án là gì?  Việc liên tục xem xét lại mô hình kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các quan sát, thử nghiệm cũng giúp doanh nghiệp nhận ra điểm yếu khiến mô hình kinh doanh của mình thất bại. Khi có được thông số thuyết phục, người sáng lập sẽ biết mình phải làm gì tiếp theo. Biên đã nói với chúng tôi rằng: “Tôi hoàn toàn thấy thanh thản khi đóng dự án này qua những thử nghiệm, những con số và trên hết, tôi tự nhận ra với dự án này, mình không thể đi xa hơn được do không tìm ra được một lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất”.  Thực ra, việc đóng cửa một công ty không phải là một điều đáng buồn, mà với cả chủ dự án và mentor lần này, đây là một thành công vì đó là một thất bại tinh gọn, tránh được mất mát thêm về thời gian, công sức và tiền bạc trong tương lai.  ——————–  Mô hình kinh doanh tháp trồng rau:  • Phân khúc khách hàng: Các hộ gia đình tại các chung cư hoặc có diện tích trồng rau hẹp ở các thành phố lớn, đặc biệt là ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Người trồng là người thích trồng cây, không có sẵn đất.  • Giá trị mang lại cho khách hàng:  o Chi phí hợp lý: 5.500đ/ngày cho 4 người  o Rau sạch do đất sạch và người trồng tự kiểm định  o Chỉ mất 5 phút trồng và chăm sóc mỗi ngày  o THÁP TRỒNG RAU THÔNG MINH – RAU SẠCH CỦA BẠN  o Tổng diện tích trồng rau của 1 tháp là 3m2  o Tiết kiệm không gian: chỉ cần 1m2 sàn là đặt được 1 tháp  o Có thể di chuyển, xoay tròn để ánh nắng chiếu đều cả tháp  o Có thể tháo rời thuận tiện khi bạn chuyển nhà  o Mỗi tháp gồm 36 chậu kích thước 21x21cm có thể tháo xuống lắp lên thuận tiện khi trồng  o Trồng được tất cả các loại rau, củ, quả (trừ các loại thân quá lớn)  o Bảo hành 2 năm, tháp làm bằng nhựa nguyên sinh màu trắng không độc hại, độ bền 6 – 10 năm  o Miễn phí vận chuyển toàn quốc  • Kênh:  o Facebook: giới thiệu sản phẩm dịch vụ và đặt hàng  o Website: giới thiệu sản phẩm dịch vụ và đặt hàng  o Điện thoại: tư vấn, giao dịch, xử lý đơn đặt hàng và chăm sóc khách hàng  o Online: Tư vấn, chăm sóc sau bán hàng  o Trực tiếp: gặp khách hàng tư vấn cách trồng, chăm rau  • Quan hệ với khách hàng  o Trực tuyến: bán hàng, chăm sóc, tư vấn  o Trực tiếp : Bảo hành  • Dòng doanh thu  o Bán sản phẩm  o Bán đất trồng cây  • Hoạt động chính:  o Marketing để bán hàng  o Đặt hàng đối tác sản xuất chậu  o Giao hàng và hướng dẫn khách hàng  o Bảo hành cho khách hàng  • Nguồn lực chính  o Tài chính: Công ty trước có nguồn doanh thu ổn định có thể hỗ trợ cho dự án mới  o Nguồn nhân lực: Đội ngũ sales: khả năng bán hàng tốt  • Đối tác chính  o Đơn vị sản xuất chậu và giá theo đơn đặt hàng  o Đơn vị sản xuất đất theo đơn đặt hàng  • Chi phí chính  o Chi phí sản xuất  o Chi phí marketing (chạy quảng cáo Facebook)                Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Đi tìm một mô hình vườn ươm mới      Hiện nay, Việt Nam có 47 cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KHCN nhưng vẫn cần một mô hình mới thực thể công – tư theo hình thức doanh nghiệp để hỗ trợ các Startups&#160;&#160;&#160;       Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thời gian qua đã trở thành một trong những chiến lược phát triển kinh tế quan trọng đối với nhiều quốc gia, trong đó “ươm tạo doanh nghiệp” là một trong số các công cụ quan trọng để hỗ trợ phát triển các SME, đặc biệt là khuyến khích các doanh nghiệp mới khởi sự, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN).Trong đó, các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp (Business Incubator) được coi là một công cụ rất hữu hiệu để hỗ trợ và phát triển các SME.   Theo số liệu của Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, hiện nay Việt Nam có 47 cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, trong đó 10 cơ sở mang tên ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, 40 đơn vị có chức năng ươm tạo doanh nghiệp KH&CN. Nhìn chung, các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp này vẫn còn đang trong giai đoạn đầu phát triển, nhưng cũng đã có một số cơ sở bắt đầu hoạt động có hiệu quả.  Hiện tại, các vườn ươm doanh nghiệp của Việt Nam có thể kể đến như:  –    Có hai vườn ươm là doanh nghiệp tư nhân: Vườn ươm FPT và Vườn ươm SBI ( Công ty TNHH ươm tạo DN phần mềm Quang Trung-HCM)  –    Có 3 Vườn ươm là các cơ quan, đơn vị sự nghiệp nhà nước:, Khu CNC Hòa lạc, Khu CNC HCM, khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM  –    Có 4 Vườn ươm thuộc trường đại học kỹ thuật: CRC-TOPIC (ĐH Bách khoa HN, đã giải thể), Vườn ươm DNCN ĐH Bách khoa TP.HCM, Vườn ươm DNCN ĐH Nông Lâm TP.HCM; Vườn ươm Đại học Cần Thơ vừa thành lập  –    Một vườn ươm dưới hình thức hợp tác công-tư: Vườn ươm DN chế biến thực phẩm Hà nội (HBI)  Hiện tại, các doanh nghiệp được ươm tạo tại hầu hết các vườn ươm ở Việt Nam được hưởng mọi dịch vụ ươm tạo, chưa phải đóng bất cứ khoản phí nào khi tham gia vườn ươm…Mặc dù nhiều ưu đãi, nhưng thực tế cho thấy mô hình này chưa đưa lại nhiều hiệu quả như mong muốn vì những khó khăn còn tồn tại như sau:  Về mặt pháp lý Nhà nước chưa có văn bản nào điều chỉnh hoạt động nói trên. Chính vì thế, mỗi vườn ươm hoạt động theo một cách riêng, chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài mà họ tích lũy được.   Về tiêu chí tuyển chọn đối tượng ươm tạo chưa rõ ràng vì vậy bất kỳ công ty khởi sự nào cũng muốn được hoạt động trong vườn ươm để hưởng những dịch vụ ưu đãi và không bị sức ép về tài chính thúc đẩy cho phát triển.   Về vấn đề sở hữu trí tuệ thuộc về ai: người nghiên cứu, người hướng dẫn, hay các đơn vị hợp tác nghiên cứu, phân quyền khi các dự án phát triển thành côngđang được đặt ra. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì nhà nghiên cứu luôn muốn giữ bí quyết, trong khi nhà đầu tư cần biết chi tiết nghiên cứu để quyết định lựa chọn đầu tư.  Vườn ươm doanh nghiệp được coi là công cụ phát triển hiệu quả, được thiết kế để thúc đẩy sự phát triển và thành công của doanh nghiệp thông qua việc cung cấp các dịch vụ và các nguồn lực hỗ trợ. Mục tiêu chính này nhằm tạo ra các doanh nghiệp hoạt động thành công trên thị trường sau khi rời khỏi vườn ươm. Trong đa số trường hợp, mục đích này gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ của các quốc gia, hoặc chiến lược phát triển kinh doanh của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong trường hợp phát triển các doanh nghiệp tiềm năng, doanh nghiệp công nghệ, thương mại hóa công nghệ, hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh…, cho nên các vườn ươm thường nhận được sự phối hợp, hỗ trợ, tài trợ… từ phía các tập đoàn, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, ngân sách gắn với mục tiêu ươm tạo cụ thể. Theo đó, phần lớn các vườn ươm hoạt động phi lợi nhuận, nhằm tạo ra các điều kiện ưu đãi thuận lợi nhất cho doanh nghiệp được ươm tạo. Như vậy,vườn ươm không phải là đơn vị kinh doanh, không bị sức ép của sự tồn tại và phát triển, nên đây cũng là một trong các lý do dẫn đến không có nhiều “bậc thầy kinh doanh giỏi” và vì thế chất lượng ươm tạo còn hạn chế.  Nhưng cũng có mô hình ươm tạo thuộc sở hữu tư nhân (Vườn ươm công nghệ FPT, Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ Tinh Vân), tuy nhiên do nhiều lý do mô hình tư này hiện nay ở Việt Nam đều thất bại.  Qua thực tế hoạt động và trong điều kiện đang phát triển của Việt Nam hiện nay, mô hình lý tưởng để điều hành vườn ươm doanh nghiệp trong tương lai là mô hình thực thể công – tư theo hình thức doanh nghiệp. Ðiều này là hợp lý và cần thiết để nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ về mặt chính sách, bảo đảm sự phát triển bền vững của vườn ươm và cung cấp những ưu đãi cho vườn ươm. Đó là lí do hình thành  Đề án Thương mại hoá công nghệ – Thung lũng Silicon Việt Nam, được xây dựng theo mô hình Business Accelerator – Tổ chức thúc đẩy doanh nghiệp, với ba chức năng chính: tạo vốn mồi (seed money) cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; truyền đạt bí quyết kinh doanh cho doanh nhân trong giai đoạn tập trung (boot camp); tổ chức diễn đàn để doanh nghiệp khởi nghiệp có cơ hội trình bày và tiếp xúc với các nhà đầu tư (Demo Day).          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm nguồn gốc của các nguyên tố nặng      Lĩnh vực vật lý hạt nhân có một bí ẩn tồn tại trong một thời gian dài là tại sao vũ trụ này được tạo ra bằng các vật chất cụ thể mà chúng ta thấy xung quanh mình. Nói cách khác, tại sao nó là loại ‘quặng’ này mà không phải là quặng khác?      Một cái nhin vào bên trong máy quang phổ kế Solenoid  ISOLDE tại CERN. Nguồn: Argonne National Laboratory  Mối quan tâm một cách đặc biệt là các quá trình vật lý là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của các nguyên tố nặng – như vàng, bạch kim và urani – được cho là diễn ra trong những cuộc sáp nhập của các ngôi sao neuton và các sự kiện bùng nổ sao.  Các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne thuộc Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) đã dẫn dắt một thí nghiệm vật lý hạt nhân quốc tế diễn ra tại CERN, sử dụng những kỹ thuật mới được phát triển tại Argonne để nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của các nguyên tố nặng trong vũ trụ. Nghiên cứu này có thể đem lại những cái nhìn xuyên suốt vào các quá trình mà những thành phần tham gia kết hợp để tạo ra hạt nhân “lạ”, và nó sẽ hình thành các mô hình về các sự kiện sao và vũ trụ sớm.  Các nhà vật lý hạt nhân trong nhóm hợp tác quốc tế này lần đầu tiên quan sát được cấu trúc neutron-vỏ của các hạt nhân với ít proton hơn chì và nhiều hơn 126 neutron — “những con số kỳ diệu” trong lĩnh vực vật lý hạt nhân.  Trong dãy số kỳ diệu đó, bao gồm các giá trị 8, 20, 28, 50 và 126, hạt nhân đều được tăng cường độ bền vững như các khí hiếm với các lớp vỏ electron đóng. Hạt nhân với các neutron quanh con số kỳ diệu 126 vẫn còn chưa được khám phá bởi rất khó tạo được ra chúng. Hiểu biết về tính chất của chúng rất quan trọng để hiểu về quá trình bắt neutron nhanh (r-process) mà qua đó đã tạo ra rất nhiều nguyên tố nặng trong vũ trụ.  Quá trình bắt neutron nhanh vẫn được cho là xuất hiện trong các điều kiện đặc biệt trên các ngôi sao như các cuộc sáp nhập sao neutron hay siêu tân tinh. Các môi trường giàu neutron là nơi hạt nhân có thể lớn lên rất nhanh, bắt các neutron để tạo ra các nguyên tố mới và nặng hơn trước khi chúng có cơ hội phân rã.  Thí nghiệm này tập trung vào đồng vị thủy ngân 207Hg. Nghiên cứu về 207Hg có thể làm sáng tỏ các đặc tính của các đồng vị láng giềng cận kề nó, các hạt nhân tham gia một cách trực tiếp vào những khía cạnh quan trọng của quá trình bắt neutron nhanh.  “Một trong những câu hỏi lớn nhất của thế kỷ này là các nguyên tố đó được hình thành tại thời điểm khởi nguyên của vũ trụ như thế nào”,nhà vật lý Ben Kay của Argonne và người dẫn dắt nghiên cứu nói. “Thật khó để nghiên cứu về nó bởi chúng tôi không thể nhảy khỏi trái đất để đào bới một siêu tân tinh, vì vậy chúng tôi phải tạo ra các môi trường có điều kiện giống thế và nghiên cứu các phản ứng xảy ra trong đó”.  Để nghiên cứu cấu trúc của 207Hg, các nhà nghiên cứu đầu tiên sử dụng thiết bị của HIE-ISOLDE tại CERN ở Geneva, Thụy Sĩ. Một chùm tia proton năng lượng cao đã được bắn vào một bia chì nóng chảy với kết quả là những va chạm tạo ra hàng trăm đồng vị “lạ” và đồng vị phóng xạ.  Sau đó họ phân tách hạt nhân 206Hg khỏi các mảnh khác và dùng máy gia tốc HIE-ISOLDE để tạo ra một chùm hạt nhân với mức năng lượng cao nhất có thể đạt trên thiết bị này. Nhờ vậy họ tập trung chùm tia này vào một bia deuteri bên trong quang phổ kế Solenoidal ISOLDE (ISS).  “Không nơi nào có thể tạo ra các chùm tia thủy ngân với khối lượng này và gia tốc chúng với mức năng lượng như vậy”, Kay nói. “Điều này cùng với độ phân giải tuyệt vời của ISS, cho phép chúng tôi lần đầu tiên quan sát được phổ của các trạng thái kích thích trong 207Hg.”  ISS là một quang phổ kế từ mới được phát triển mà các nhà vật lý hạt nhân dùng để dò các trường hợp hạt nhân 206Hg bắt một neutron và trở thành 207Hg. Nam châm solenoidal của quang phổ kế là một nam châm từ MRI siêu dẫn 4-Tesla của một bệnh viện ở Úc sửa chữa lại. Nó được chuyển đến CERN và lắp đặt tại ISOLDE nhờ vào hợp tác giữa trường đại học Liverpool, Manchester, Phòng thí nghiệm Daresbury và KU Leuven, Bỉ.  Deuteri, một đồng vị nặng hiếm của hydro, gồm một proton và neutron. Khi 206Hg bắt một neutron từ bia deuteri, proton sẽ giật lùi. Các proton phát xạ trong suốt các phản ứng di chuyển đến máy dò của ISS, và mức năng lượng, vị trí của chúng đóng vai trò thông tin quan trọng về cấu trúc của các hạt nhân và cách chúng liên kết với nhau. Các đặc tính này có một tác động đáng kể trong quá trình bắt neutron nhanh và các kết quả thu được có thể hình thành các phép tính quan trọng trong các mô hình vật lý thiên văn hạt nhân.  ISS sử dụng một ý tưởng tiên phong do nhà nghiên cứu xuất sắc của Argonne là John Schiffer đề xuất là xây dựng HELIOS, một quang phổ kế quỹ đạo xoắn ốc – thiết bị sau này truyền cảm hứng cho sự phát triển của quang phổ kế ISS. HELIOS đã cho phép khai thác các đặc tính hạt nhân mà các thí nghiệm trước đây không thể có. Tuy nhiên HELIOS cũng từng được đề xuất tại Argonne kể từ năm 2008.  Thiết bị ISOLDE của CERN có thể tạo ra các chùm tia hạt nhân hoàn toàn giống như tại Argonne.  Trong thế kỷ vừa qua, các nhà vật lý hạt nhân đã có thể tập hợp thông tin về hạt nhân từ công trình nghiên cứu thông qua các va chạm của các chùm ion nhẹ lên các tấm bia nặng. Dẫu vậy, khi các chùm tia nặng bắn vào các bia nhẹ, vật lý của sự va chạm sẽ khác đi và khó phân tích hơn. Ý tưởng HELIOS của Argonne là giải pháp để loại sự khác biệt này.  “Khi anh có một viên đạn thần công của một chùm tia bắn vào một tấm bia mỏng mảnh, động học thay đổi và kết quả là các phổ sẽ bị nén lại”. Kay nói. “Nhưng John Schiffer nhận ra là khi va chạm xảy ra bên trong một nam châm, các proton phát ra sẽ chuyển động theo mẫu hình xoắn ốc hướng về máy dò, và bằng một “mẹo” toán học, sự nén động học này được giải mã, kết quả là một phổ không bị nén tiết lộ cấu trúc đặc trưng của hạt nhân”.  Phân tích đầu tiên trên dữ liệu từ thí nghiệm ở CERN xác nhận các dự đoán lý thuyết của các mô hình hạt nhân hiện tại, và nhóm nghiên cứu lập kế hoạch nghiên cứu các hạt nhân khác trong vùng của 207Hg bằng việc sử dụng các năng lực mới, đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về những vùng còn chưa biết của vật lý hạt nhân và quá trình bắt neutron nhanh.  Kết quả nghiên cứu này đã được xuất bản với tiêu đề “First exploration of neutron shell structure below lead and beyond N = 126” (Khám phá cấu trúc vỏ neutron đầu tiên dưới chì và vượt qua N = 126) trên Physical Review Letters.  Anh Vũ dịch  TS. Lê Xuân Chung (Viện KH&KT hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-physicists-heavy-elements.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Địa kỹ thuật giải thích vì sao nước, không khí và cát tạo nên cấu trúc rắn      Nếu muốn hiểu tại sao một số lâu đài cát lại có thể cao và có cấu trúc phức tạp trong khi những lâu đài khác lại chỉ gần như là những đống cát không hình dạng, thì cần có những kiến thức nền tảng về kỹ thuật địa kỹ thuật.      Nhiều nhà địa kỹ thuật trong giờ giảng thường giải thích những mối tương tác giữa đất, nước và không khí có thể làm điều gần như không thể là tái định hình cảnh quan sau khi các kim loại được khai thác tới mức tới hạn để phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng.  Xây dựng một lâu đài cát là việc có được một hỗn hợp chuẩn gồm ba thành phần đó. Cát cung cấp cấu trúc nhưng nước giữa các hạt cát có thể đem lại lực – trong trường hợp này là lực hút – để giữ các hạt cát với nhau. Và nếu không có khối lượng hợp lý không khí và nước thì có thể các hạt cát sẽ bị đẩy ra xa nhau.  Nhưng không phải bất cứ loại cát nào  Các hạt cát, theo tiêu chuẩn của Hệ thống phân loại đất không gắn kết (Cơ quan tiêu chuẩn quốc tế ASTM), là những hạt đất có đường kính khoảng 0,003 inch (tương đương 0,075 mm) đến 0,187 inch (4,75 mm). Cát, được định nghĩa, có ít nhất một nửa các hạt thuộc phạm vi kích thước này. Phù sa và đất sét trong đất với các hạt nhỏ hơn cả cát. Và đất với các hạt lớn hơn kích thước cát là sỏi.  Kích thước của hạt cũng được xác định theo cách cát trông như thế nào và được cảm nhận ra sao. Cac hạt cát nhỏ nhất có kết cấu giống như đường bột. Các hạt lớn nhất thi giống như hạt đậu lăng khô.  Phần lớn cát sẽ có thể được dùng để xây lâu đài cát nhưng những loại cát tốt nhất có hai đặc điểm: hạt cát trong nhiều kích thước khác nhau có các góc xù xì hoặc nhọn. Điều này làm gia tăng sức mạnh của cát.  Hạt cát có nhiều góc nhọn hơn thường kết hợp với nhau tốt hơn, khiến cho các lâu đài cát thêm kiên cố. Đò là nguyên nhân tương tự với cùng nguyên nhân khiến một đống gồm các khối gỗ có góc cạnh sẽ túm túm lại thành một đống vững chắc nhưng một đống gỗ thân tròn sẽ lăn đi khắp nơi.  Đó cũng là nguyên nhân giải thích tại sao, thật đáng ngạc nhiên, loại cát tốt nhất để xây lâu đài cát không thuộc dạng cát người ta vẫn thấy trên một hòn đảo hay bờ biển. Nhiều loại hạt cát góc cạnh thường được tìm thấy ở các ngọn núi, nguồn gốc địa chất của nó. Các hạt cát này còn chưa bị gió và nước làm tròn các góc của nó. Những người xây lâu đài cát chuyên nghiệp sẽ phải đi rất xa để lấy cát sông cho công trình sáng tạo của mình.  Cuối cùng sự gần hơn của các hạt cát khiến các hạt cát trở nên mạnh hơn. Ép chặt các hạt cát ướt khiến cát gắn kết chặt chẽ với nhau hơn, bằng cách nén chặt hoặc trộn, ép các hạt cát lại với nhau có thể làm giảm kích thước của các lỗ rỗng và cuối cùng làm tăng hiệu quả của lực hút mà nước có thể có.  Did you know that suction is one of the forces holding this sand sculpture together? Credit: El Coleccionista de Instantes Fotografía & Video/Flickr, CC BY-SA  Nước là yếu tố chính  Không có nước, cát chỉ có thể tụ thành một đống cát. Nếu có rất nhiều nước thì cát lại chảy trôi như một dạng chất lỏng nhưng nếu cát khô và cát và cát bão hòa với một phạm vi rộng độ ẩm có thể tăng cường cấu trúc chắc chắn của các lâu đài cát.  Nước có tính kết dính, nghĩa là nước thích gắn với nước. Nhưng nước cũng gắn vào một số loại bề mặt nhất định. Khi nhìn vào một cốc nước chỉ đầy một nửa, người ta sẽ thấy nước dâng lên bên trong cốc một chút. Trọng lực giữ nước ở lại trong cốc nhưng nước luôn có xu hướng “leo” lên và làm ướt mặt trong cốc. Cuộc tranh giành quyền lực nhỏ bé này là những gì khiến việc xây các lâu đài cát trở nên khả thi.  Đúng tại điểm không khí và nước giao thoa có sức căng bề mặt. Giao diện không khi – nước bị kéo xuống bên dưới và cố gắng giữ nước chống lại các lực cạnh tranh của bề mặt ướt, lực hút và trọng lực. Sức căng bề mặt kéo nước giống như lớp da căng của một quả bóng. Và sức căng bền mặt cũng đẩy các hạt cát lại với nhau.  Nếu lớp thủy tinh tạo thành cốc nước trở nên mỏng mảnh hơn, giống như vỏ trấu, nước có thể dâng cao hơn và tạo ra nhiều sức căng bề mặt hơn. Thủy tinh mỏng hơn vỏ trấu thì nước càng dâng lên cao hơn nữa. Hiện tượng này gọi là mao dẫn.  Nước hành xử theo cùng cách với cát ướt. Các lỗ rỗng, hay các không gian, giữa các hạt cát giống như một bó hạt trấu rất nhỏ. Nước hình thành nên những cây cầu tí hon giữa các hạt cát. Nước trong những cây cầu này đang chịu sức căng, kéo các hạt lại với nhau bằng một lực mà các nhà địa kỹ thuật gọi là ứng suất hút    Chỉ cần đủ nước  Lượng nước trong cát và việc kiểm soát kích thước và sức mạnh của các cây cầu nước. Quá ít nước khiến ít cầu nước giữa các hạt cát với nhau hơn. Quá nhiều nước và kích thước, số lượng các cây cầu lớn hơn, gia tăng lực hút để giữ các hạt cát lại với nhau. Kết quả là thu được một lâu đài cát hoàn hảo.  Quá nhiều nước và lực hút quá yếu để giữ các hạt cát liên kết với nhau.  Có một quy tắc chung để xây các lâu đài cát lớn là dùng tám phần cát khô cùng một phần nước . Tuy nhiên, trong điều kiện lý tưởng trong phòng thí nghiệm, với lượng cát đậm đặc và không bay hơi, thì tỉ lệ khác là cứ một trăm phần cát khô thì một phần nước cũng có thể tạo ra những điều kỳ diệu. Tại bãi biển, cát với độ ẩm thích hợp thường nằm gần đường thủy triều lên khi thủy triều xuống.  Một cách tình cờ, muối từ cát biển muối từ nước biển cũng có thể giữ được sự ổn định của lâu đài cát. Lực mao dẫn ban đầu giữ các hạt cát lại với nhau, nhưng cuối cùng nước mao dẫn sẽ bay hơi, đặc biệt là vào những ngày có gió. Khi nước biển cạn đi, muối sẽ nằm lại trên bãi cát. Vì nước biển tạo thành cầu nối các hạt, muối được kết tinh tại những điểm tiếp xúc này. Theo cách đó, muối có thể giữ lâu đài cát đứng lâu sau khi cát khô. Nhưng hãy cẩn thận để không làm xáo trộn liên kết muối – cát; nó sẽ giòn và có thể sụp đổ.  Như vậy bí quyết để xây một lâu đài cát vững vàng, hãy nhớ nén chặt cát và dùng ít nước càng tốt. Các nhà địa kỹ thuật thích tạo một gò đất dày đặc, sau đó xúc một số đi và khắc lên phần còn lại để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Ai đó cũng có thể nén cát vào xô, cốc hoặc các dạng khuôn mẫu khác và xây từ dưới mặt đất lên. Chỉ cần đảm bảo cát có độ đậm đặc cao và đặt trên nền đã được nén chặt. Bàn tay đích thực là cả một công cụ nén và điêu khắc tuyệt vời, tuy nhiên xẻng xúc hay thậm chí vỏ sò cũng sẽ đem lại độ chính xác cao hơn. Chúc bạn vui vẻ, và đừng sợ bị cát dính cát!  Thanh Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-sandcastle-geotechnical-air-sand-solid.html  https://www.scientificamerican.com/article/sandcastle-engineering-a-geotechnical-engineer-explains-how-water-air-and-sand-create-solid-structures/    Author                .        
__label__tiasang Dịch vụ nông nghiệp CNC: Chưa đáp ứng được khách hàng lớn      Mô hình nông nghiệp công nghệ cao của Vineco đòi hỏi những tiêu chuẩn công nghệ khắt khe nhất để tránh mọi rủi ro khi sản xuất trên quy mô lớn. Vì vậy, với trình độ, năng lực của các công ty cung cấp dịch vụ công nghệ trong nông nghiệp công nghệ cao trong nước, việc trở thành đối tác của khách hàng tiềm năng này là câu chuyện của tương lai.      Cán bộ kỹ thuật Israel và Việt Nam trao đổi về quy trình công nghệ tại nhà kính ở trang trại Tam Đảo.   Yêu cầu khắt khe ở quy mô sản xuất lớn  Khi tới khảo sát dây chuyền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của Vineco tại trang trại Vineco Tam Đảo, ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là những ô nhà kính màu trắng của Vineco hiện ra với trang thiết bị “hiện đại” trái ngược hẳn khung cảnh đồng ruộng với những thửa ruộng nhỏ chia ô rất “truyền thống” xung quanh. Tất cả những người tham quan khu sản xuất được yêu cầu phải nhúng giày dép vào dung dịch khử trùng và bước qua hai lần cửa với gió thổi rất mạnh (để thổi bạt các loại côn trùng) mới bước vào được các nhà sản xuất rau. Trong 15 ha nhà kính ở trang trại Tam Đảo này, Vineco trồng rau theo ba dây chuyền công nghệ chính: Công nghệ rau mầm Microgreen thiết kế theo dây chuyền tự động khép kín, cho phép sản xuất rau mầm trong điều kiện có ánh sáng đảm bảo chế độ dinh dưỡng cao hơn so với công nghệ trồng rau mầm trong điều kiện tối; Công nghệ màng mỏng dinh dưỡng (NFT) đưa các lớp nước dinh dưỡng tới từng gốc cây trong ống tiết kiệm hơn so với công nghệ trồng thủy canh “ngâm” rễ cây trong dung dịch thủy canh; Công nghệ trồng cây trên giá thể cocopeat. Mỗi dây chuyền công nghệ này có thể sản xuất với năng suất 500 – 700 kg/ ngày.  Tuy sản xuất với khối lượng lớn như vậy, nhưng toàn bộ “nhà máy” trồng rau ở khu trang trại này chỉ có 2 – 3 kỹ thuật viên người Israel và người Việt thao tác điều khiển hệ thống, 8 – 10 công nhân tham gia vào khâu thu hoạch và đóng gói sản phẩm. Còn lại đều tự động hóa ở mọi khâu: đóng giá thể vào khay, cấy hạt giống, bón dinh dưỡng, đưa khay ra “trồng” ở trong nhà kính… Các dây chuyền này tự động với độ chính xác gần như tuyệt đối. Ví dụ, dây chuyền đóng giá thể vào khay, trộn dinh dưỡng, gieo hạt luôn vận hành chính xác với năng suất 30 giây cho ra một khay. Hệ thống nhà kính đều có cảm biến, tự động điều chỉnh các màng chắn nắng khi nắng quá mạnh, bật hệ thống thông gió khi quá nóng để điều kiện nhà kính luôn đúng yêu cầu cho sinh trưởng của rau. TS. Nguyễn Thị Phương Thảo, Giám đốc phụ trách kỹ thuật của Vineco cho biết, toàn bộ hệ thống nhà kính tự động này đều nhập ngoại của một trong những công ty cung ứng giải pháp công nghệ cho nông nghiệp lớn hàng đầu Israel – TAP. TAP bán “trọn gói” giải pháp cho Vineco, tức là chịu trách nhiệm dựng toàn bộ “phần cứng” là các tổ hợp nhà kính sản xuất rau mầm và rau khí canh cho đến “phần mềm” là nhân lực vận hành, điều khiển trong suốt 15 năm theo hợp đồng và bảo hành “trọn đời” bất cứ khi nào Vineco có yêu cầu trợ giúp kỹ thuật.  Không chỉ có hệ thống trồng rau sạch tự động, mà toàn bộ nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất rau như hạt giống, giá thể, dinh dưỡng cho cây, khay trồng rau mầm… cũng đều được Vineco nhập ngoại. Giá thể để trồng cây được nhập khẩu từ Phần Lan bởi giá thể trong nước được làm từ xơ dừa hoặc trấu hun đều không đủ sạch do không thể kiểm soát chất lượng chặt chẽ, rất có thể gây nhiễm bệnh và trong quy mô nhà kính lớn thì sẽ bùng phát nhanh, không thể kiểm soát, dẫn đến nguy cơ phải bỏ cả mẻ sản xuất. Mặt khác, năng suất trồng rau mầm trên giá thể xơ dừa hoặc trấu hun trong nước cũng không cao bằng giá thể nhập khẩu. Toàn bộ hạt giống rau được mua từ các nhà cung cấp trong nước nhưng … cũng đều là các giống ngoại nhập bởi vì “nhiều giống trong nước không đạt tỉ lệ nảy mầm 100% như giống ngoại nhập, và tình trạng giống ngoại nhập chiếm tới 80 – 90% trên thị trường cũng là điều mà ngành giống rau của Việt Nam đang phải đối mặt”, TS. Thảo nói.  Dịch vụ phụ trợ trong nước chưa “chuẩn hóa”  Hiện nay, phòng R&D của Vineco cũng đang tìm mua các sản phẩm công nghệ phục vụ nông nghiệp của Việt Nam, ví dụ như giá thể từ trấu hun, xơ dừa…  Tuy nhiên, TS Thảo cho biết, “nếu sản phẩm công nghệ đó chỉ cần làm giảm 1% năng suất so với công nghệ nước ngoài thì chúng tôi sẽ không sử dụng bởi vì 1% năng suất đó ở trên quy mô sản xuất của chúng tôi sẽ là thiệt hại rất lớn”. Như vậy, trên thực tế, các công ty cung cấp dịch vụ công nghệ cho nông nghiệp trong nước khó lòng giải được “bài toán” của Vineco đặt ra, bởi với nội lực hiện nay, họ chủ yếu tập trung vào “phân khúc” có yêu cầu thấp hơn, đó là các công ty làm nông nghiệp với quy mô vừa và nhỏ hoặc các nông hộ – những nơi còn đang gặp nhiều “va vấp” trong sản xuất và chấp nhận sai số nhất định.  Theo anh Lại Văn Song, giảng viên Khoa Cơ điện, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, người đang tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong nông nghiệp, “các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp giải pháp cho nông nghiệp thường chưa nghiên cứu kỹ các điều kiện môi trường, giống cây trồng có phù hợp với kiểu canh tác đó hay không. Chính vì thế, khi xảy ra sự cố họ phải nhờ tới các nhà khoa học ở Học viện nông nghiệp tư vấn”. Nhưng công việc tư vấn này của anh Song và đồng sự tương đối giống với “dập đám cháy”. Anh Song lấy ví dụ: “Mới đây có một doanh nghiệp gia đình tại Hà Nội xây dựng nhà kính trồng rau cải và cà chua trên quy mô 2.000 m2. Nhưng họ chỉ đi tham quan mô hình trồng ở Đà Lạt rồi mời nhà cung cấp dịch vụ đến lắp đặt nhà kính theo kiểu nhà kính ở Đà Lạt hoàn toàn không phù hợp với điều kiện khí hậu ở Hà Nội. Giữa mùa hè trời rất nắng nóng cộng với hiệu ứng nhà kính nhưng hoàn toàn thiếu hệ thống tản nhiệt giúp điều hòa không khí khiến cho rau chết, nhà kính gần như phải ‘bỏ không’ cho đến khi tìm tới Học viện Nông nghiệp nhờ các nhà khoa học tư vấn giải pháp ‘xử lý’ ”. “Mà những trường hợp tương tự như của doanh nghiệp đó thì ‘vô cùng nhiều’”, anh Song nói thêm.  Một vấn đề khác nữa mà các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ cho nông nghiệp trong nước còn đang mắc phải là tiềm lực tài chính chưa “hùng hậu”. Anh Song cho biết: “Trong khi những công ty như Vineco sản xuất với quy mô lớn, cần số lượng nhiều nhà kính, diện tích rộng sẽ luôn đòi hỏi những công ty cung ứng dịch vụ phải tạm ứng một khoản tiền lớn (lên tới 50% giá trị hợp đồng) để xây dựng. Nhưng các công ty cung ứng dịch vụ nông nghiệp trong nước sẽ không đủ tiềm lực tài chính để làm điều này”.  Quay trở lại câu chuyện của Vineco, TS Thảo cho biết, họ cũng muốn sẽ trực tiếp đặt hàng các viện nghiên cứu trong nước “đưa các kết quả nghiên cứu ứng dụng phù hợp vào sản xuất gồm các lĩnh vực: dinh dưỡng cây trồng (trong nhà và ngoài đồng); quản lý dịch hại tổng hợp, chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại và cải tạo đất; giá thể trồng rau mầm (thay thế giá thể nhập khẩu); công nghệ sau thu hoạch rau quả tươi vào sản xuất của Vineco”. Nhưng đó vẫn là câu chuyện trong tương lai, và ngay cả khi các kết quả nghiên cứu ứng dụng được đánh giá là “khả thi” thì vẫn cần rất nhiều thời gian để kiểm nghiệm thực tế rồi mới đưa vào quy mô sản xuất đại trà chứ không thể ứng dụng ngay trong “một sớm một chiều”.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Dịch vụ Wi-Fi 4G trên máy bay      Ngày 13/11, newsfactor.com đưa tin: trong  tuần này, công ty Gogo, nhà cung cấp dịch vụ kết nối băng rộng Wi-Fi cho  2/3 số máy bay Bắc Mỹ, vừa trình diễn công nghệ vệ tinh thế hệ mới nhất  2Ku trên các chuyến bay của một chiếc Boeing 737.     Gogo dự kiến vài tháng tới sẽ đưa 2Ku vào phục vụ khách. Wi-Fi mới có tốc độ nhanh gấp bảy lần Wi-Fi hiện dùng trên máy bay.    2Ku sử dụng vệ tinh và antena trên máy bay để nhận được kết nối có tốc độ 70 Mbps, nhanh gấp bốn lần các kết nối băng rộng. Tuy kết nối đó phải phân chia trong một máy bay đầy khách, khi 40 thiết bị được kết nối đồng thời, flyers đạt tốc độ trung bình 12 Mbps, tương đương kết nối 4G. Hiệu quả tần phổ của anten tốt cho phép phát được cả video.     Thông thường khách lên máy bay phải tắt điện thoại di động và laptop, họ giết thời giờ bằng những cách khác nhau, buồn chán vì phí thời gian. Vì thế dịch vụ Wi-Fi trên máy bay trở thành một lợi thế cạnh tranh thu hút khách.     Theo Routehappy.com, 38% chuyến bay trong nước Mỹ có trang bị Wi-Fi, tỷ lệ này ngày càng tăng. Lắp đặt Wi-Fi trên máy bay rất tốn kém, vì rất khó nhận được kết nối vô tuyến trong một ống kim loại kín bay với vận tốc 800 km/h.     Như thiết bị Wi-Fi hệ Connexion của hãng Boeing có giá thành 1 triệu USD; chi phí thuê dịch vụ vệ tinh còn cao hơn nhiều, mà tốc độ kết nối quá chậm. Khi sân bay và nhiều điểm công cộng đã có Wi-Fi miễn phí thì cước dùng Wi-Fi trên máy bay ít nhất bằng 10 USD/h. Theo Gogo, chỉ có chưa đến 1/10 số hành khách muốn dùng dịch vụ Wi-Fi trên máy bay, mặc dù dịch vụ này đã có từ bảy năm trước.    Hệ thống Wi-Fi của Gogo rất đơn giản, thu cước phí chỉ 5 USD/giờ hoặc 16 USD/ngày (cho cả chuyến bay), sau khi sử dụng công nghệ 2Ku cước phí sẽ còn giảm nữa.     Nguyên Hải tổng hợp    Nguồn chính:  http://www.newsfactor.com/story.xhtml?story_id=031000IIA069 13 Nov, 2015  Gogo Aims To Bring 4G W-Fi to Airlines    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch vụ y tế kỹ thuật số: Mạng lưới giúp các nữ bác sỹ cứu mạng người      Bác sỹ Sara Saeed (Pakistan) đã thành lập một cơ sở dịch vụ y tế kỹ thuật số nhằm tạo điều kiện cho những người dân nghẻo ở vùng hẻo lánh được khám chữa bệnh. Do đó, cô mới nhận được giải thưởng danh dự Rolex vì tinh thần sáng tạo của mình.      Nữ bác sỹ người Pakistan Sara Saeed đã thành lập cơ sở dịch vụ y tế kỹ thuật số Sehat Kahani. Doanh nghiệp này có trụ sở tại Karatschi kết nối các nữ bác sỹ ở các thành phố với các bệnh nhân ở vùng nông thôn hẻo lánh   Cộng hòa Hồi giáo Pakistan là một trong mười nước đông dân nhất thế giới. Đất nước này có núi non trùng điệp và sông ngòi chằng chịt. Mạng lưới chăm sóc y tế yếu kém, đặc biệt ở những vùng nông thôn. “Khoảng một nửa dân số nước chúng tôi cả cuộc đời mình chưa hề đối mặt với một bác sỹ“, chuyên gia y tế  Sara Saeed tiết lộ. Không kể châu Phi, Pakistan là nước có tỷ lệ tử vong ở trẻ em vào loại cao nhất thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới cứ 1000 trẻ em thì có 70 em chết khi chưa đầy năm tuổi. Trong khi đó ở châu Âu con số này, tùy từng nước giao động từ hai đến năm em.  Sara Saeed muốn cải thiện tình trạng chăm sóc sức khỏe cho người dân Pakistan trên nền tảng kỹ thuật số và các nữ bác sỹ ở nước này. Nhiều phụ nữ ở Pakistan được đào tạo trở thành thầy thuốc nhưng số đông lại không hành nghề – theo học đại học y nhiều khi chỉ để nâng cao địa vị xã hội và tạo điều kiện để có một tấm chống môn đăng hộ đối. Sara Saeed giải thích “Họ được mệnh danh là ‘cô dâu bác sỹ’, có nghĩa là họ là những phụ nữ đã học xong chương trình đại học y, đã tốt nghiệp, có bằng cấp nhưng không đi làm vì phải lo cho gia đình”. Với nền tảng y tế từ xa, Sara Saeed muốn tạo điều kiện cho hàng chục nghìn nữ bác sỹ có điều kiện hành nghề tại gia. Là sáng lập viên dự án đầy thành công này nên Sara Saeed đã được trao giải thưởng danh dự Rolex dành cho những người có ý chí sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.  Nhân kỷ niệm 50 năm ngày ra đời Rolex Oyster, chiếc đồng hồ đeo tay không thấm nước đầu tiên trên thế giới giải thưởng Rolex ra đời năm 1976. Các giải thưởng cũng như chiếc đồng hồ Rolex Oyster – và đặc biệt những người được trao giải  – là biểu thị cho giá trị của hãng Rolex kể từ khi ra đời vào năm 1905 với chủ nhân đầu tiên là ông Hans Wilsdorf, các giá trị đó là: chất lượng, sự sáng tạo, sự quyết tâm và đặc biệt là tinh thần năng động, sáng tạo của nhà doanh nghiệp.    Nữ bác sỹ Mahvish Khalid (trên màn hình) trò chuyện với người bệnh (bên trái), nữ bệnh nhân này được nữ y tá Tahira Bibiand (bên phải) điều trị.  Tại các thành phố lớn như Karatschi và Lahore có hàng nghìn nữ bác sỹ không hành nghề do phải lo quán xuyến công việc nội trợ hoặc chỉ được làm những công việc trong phạm vi gia đình mình. Trong số 170.000 bác sỹ ở  Pakistan có khoảng  70% là phụ nữ. Nhưng chỉ có khoảng 23 % nữ bác sỹ sau khi ra trường và thành lập gia đình được đi làm đúng nghề của mình.  Trước hiện trạng này, Sara Saeed đã tìm cách hóa giải bằng giải pháp kỹ thuật số và trở thành người đồng sáng lập và là CEO dịch vụ chăm sóc sức khỏe điện tử Sehat Kahani, nơi kết nối các nữ bác sỹ làm việc nội trợ với những người dân ở những vùng thiếu sự chăm sóc y tế. Bằng cách này, những nữ bác sỹ có trình độ nghiệp vụ cao được kết nối với người bệnh, chủ yếu là phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, có thể ngồi nhà tư vấn cho họ thông qua y học từ xa .  Trao đổi với bệnh nhân qua video   Sara Saeed là sinh viên y khoa và phẫu thuật tại Đại học Y khoa  Dow ở Karatschi. Sau này cô đi chuyên sâu và lấy bằng thạc sỹ tại Đại học Agha Khan ở  Karatschi về chính sách y tế và quản lý sức khỏe. Sau khi sinh đứa con đầu lòng cô buộc phải ở nhà để chăm sóc cho cô con gái nhỏ.  Năm 2017, Sara Saeed thành lập doanh nghiệp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe  Sehat Kahani, theo tiếng Urdu, ngôn ngữ chính thống ở Pakisstan tạm dịch là “Câu chuyện về sức khỏe“.   “Chúng tôi tạo điều kiện để  ‚các cô dâu bác sỹ‘ có điều kiện hành nghề thầy thuốc của mình, trong khuôn khổ chuẩn mực văn hóa của Pakistan”, Sara Saeed nói. “Thông qua internet chúng tôi kết nối họ với người bệnh ở những vùng nông thôn hẻo lánh thiếu các cơ sở chăm sóc y tế cơ bản”.  Mạng lưới tư vấn suốt ngày đêm     bác sĩ Mahvish Khalid đang khám cho bệnh nhân từ nhà qua nền tảng này   Hiện nay có khoảng 1500 nữ bác sỹ tham gia mạng lưới này. Họ quyết định về thời gian mà họ có thể tham gia tư vấn trong tuần, có thể làm cả ngày hoặc nửa ngày. Ngoài ra còn có rất nhiều nữ bác sỹ người Pakistan sinh sống ở nước ngoài, như ở Hoa Kỳ, Canada, Australia và Newseeland cũng kết nối với Sehat Kahani. Do chênh lệch về múi giờ nên hoạt động tư vấn của doanh nghiệp diễn ra 24/24.  Bệnh nhân không có smartphone có thể đến một trong những phòng khám điện tử ở Pakistan, tại đây có y tá ghi lại các dữ liệu, triệu chứng bệnh rồi kết nối với tư vấn video để tạo quan hệ trực tiếp với bác sỹ. Sau đó là một cuộc trao đổi hết sức bình thường diễn ra giữa người bệnh và thầy thuốc. Nhân viên y tế tại chỗ, như một cánh tay nối dài của bác sỹ, giúp bác sỹ đo áp huyết hoặc tiêm chích. Khi cần thiết bác sỹ có thể kê đơn hoặc chuyển người bệnh sang một phòng khám chuyên khoa. Với người bệnh có Smartphon tập thể nhân viên thuộc Sehat Kahani phát triển một  App, qua đó người bệnh có thể liên hệ trực tiếp với bác sỹ.  Bên cạnh công tác điều trị hiện nay, Sehat Kahani đảm nhiệm cả công tác phòng bệnh. Y tá của doanh nghiệp tổ chức các cuộc tập huấn dành cho chị em ở một số làng liền kề nhau, hướng dẫn họ về công tác phòng bệnh. Với việc làm này  Sara Saeed hy vọng sẽ giảm được tình trạng tử vong ở bà mẹ và trẻ em – đây là một chủ đề mà cô đặc biệt quan tâm.  Mục tiêu giảm tình trạng tử vong ở trẻ em    Sara Saeed cảm thấy tuyệt vời mỗi khi một bác sĩ kết nối với bệnh nhân.   Có thể đo lường được thành công của dự án do Sara Saeed quản lý: tại các vùng nông thôn hiện có 27 phòng khám điện tử, 1500 nữ bác sỹ kết nối mạng, trên  10.000 người sử dụng ứng dụng, trên 150.000 tư vấn hỗ trợ người bệnh. Sara Saeed mong muốn đến năm 2023 sẽ có tổng cộng 100 phòng khám bệnh điện tử và ứng dụng trên điện thoại thông minh có thể được sử dụng rộng rãi trong cả nước. Mục tiêu của cô cần đạt được là giảm 30% tỷ lệ tử vong ở trẻ em và giảm số lượng bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm 40%.  Khi một nữ bác sỹ thông qua Sehat Kahani được kết nối với người bệnh, thì đây là  “một cảm giác tuyệt vời”, Sara Saeed nói. “Cái cảm giác đó như tiếp cho chúng tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục công việc của mình”.  Sara Saeed cũng muốn thông qua Sehat Kahani tạo mọi điều kiện để thu hút nhiều nhất “các cô dâu bác sỹ” để họ có thể sử dụng kiến thức y học của mình nhằm cải thiện công tác chăm sóc y tế ở vùng nông thôn Pakistan. Sara Saeed nói: “Nếu ta đến một thôn bản mà xung quanh nơi này chừng 20, 30 km không có thầy thuốc và khi một người bệnh phải đi bác sỹ để được khám, chữa bệnh mà phải bỏ ra tới nửa tháng thu nhập, và nếu ta có khả năng tạo điều kiện về trang thiết bị kỹ thuật để một y tá có thể giúp người bệnh liên hệ trực tuyến với một bác sỹ, có thể người đó ở Mỹ, ở Australia, Kanada  hay ở bất cứ nơi nào trên đất nước Pakistan thì đây là một cảm giác thật kỳ diệu. Cái cảm giác đó tiếp thêm sức mạnh để ta tiếp tục sự nghiệp của mình”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/sponsored/rolex/perpetual-planet/article216529626/Telemedizin-Ihr-Netzwerk-fuer-Aerztinnen-rettet-Leben.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm hẹn âm nhạc mới tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam      Diễn ra trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, buổi hòa nhạc cổ điển bất ngờ thu hút sự theo dõi của đông đảo công chúng Hà Nội.    Nghệ sĩ violin Hoàng Hồ Khánh Vân, nghệ sĩ piano Hoàng Hồ Thu trình diễn bản “Songs my Mother taught me” (Những ca khúc mẹ đã dạy tôi – Antonin Dvorak), “Butterfly lovers, Violin concerto Phần 1” (He Zhanhao và Chen Gang). Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam  Trong không gian đậm chất văn hóa Đông – Tây, giữa các công trình kiến trúc như Văn Miếu Quốc Tử giám, Viện Goethe Hà Nội và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, buổi hòa nhạc cổ điển ngoài trời với chủ đề “Xuân”, do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức, như một điểm đến thú vị trong một chiều chủ nhật cuối xuân. Hàng trăm người – từ những cụ già đến các em nhỏ – đã cùng nhau yên lặng lắng nghe các giai điệu cổ điển do các nghệ sĩ tài năng của Việt Nam thể hiện. Có lẽ, để phù hợp với bầu không khí này, kịch mục của buổi hòa nhạc là chủ yếu là những trích đoạn của các tác phẩm nổi tiếng thời kỳ Lãng mạn: Habanera trích opera Carmen của Georges Bizet, Songs my Mother taught me (Những ca khúc mẹ đã dạy tôi) của Antonin Dvorak, Etude No.5 của Nicolo Paganini do Franz Liszt chuyển soạn, Salut D’Amour (Chào tình yêu) của Edward Elgar, Vocalise của Sergey Rachmaninov…, bên cạnh những La fille aux cheveux de lin (Cô gái tóc vàng) của Claude Debussy, chương một sonate No. 7 in C K309 của W.A. Mozart), chương 1 Butterfly lovers concerto violin của He Zhanhao và Chen Gang, Recuerdos de la Alhambra của Francisco Tárrega…  Để tạo điểm nhấn và thu hút người nghe, buổi hòa nhạc đã bất ngờ mở đầu bằng màn violin độc tấu của nghệ sĩ Trịnh Minh Hiền, tác phẩm Tiến quân ca do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác. Không phải bất cứ lúc nào, ở buổi hòa nhạc nào, người ta cũng được lắng nghe “phiên bản mới” của Tiến quân ca theo cách mới mẻ như thế này.  Không chỉ có những tác phẩm viết cho vioin và piano,  khán giả còn được lắng nghe những nhạc cụ khác, sáo flute, guitare. Sự xuất hiện của các tác phẩm được biểu diễn bằng các nhạc cụ khác nhau khiến mọi người cảm thấy thú vị và thấy âm nhạc cổ điển thực sự hấp dẫn với những sắc thái, cảm xúc đa dạng, tinh tế. Lựa chọn những vị trí khác nhau để thưởng thức – ngồi cùng gia đình trên bãi cỏ, tựa vào ô cửa trên tầng Bảo tàng. Không chỉ những người yêu nhạc giao hưởng mới cảm thấy phấn khích trước buổi diễn, mà rất nhiều người khác cũng bày tỏ sự thích thú. “Lần đầu tiên mình thấy một cây violin ngoài đời đấy”, một khán giả đã thốt lên như vậy khi nghệ sĩ Hoàng Hồ Khánh Vân bước ra. Một số bạn trẻ đã vào fanpage của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hỏi về tên của các bản nhạc được trình diễn, bởi “đi nghe hay quá nhưng không biết bài gì”.    Nghệ sĩ Trần Hải trình diễn khúc dạo “La fille aux cheveux de lin” (Cô gái tóc vàng – Claudio Debussy), Sonate No. 7 in C K309, 1st movt. (W.A. Mozart). Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam  Cuối cùng, hòa nhạc đã khép lại trong tiếng saxophone trình diễn ca khúc Fly me to the Moon của Bart Howard do nghệ sĩ Lê Duy Mạnh trình tấu. Có lẽ, đó là điều giữ chân họ ở lại trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam buổi chiều hôm đó và có thể dẫn lối họ trở lại trong những buổi biểu diễn ngoài trời tiếp theo. Điều này cũng trùng khớp với dự định của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – sẽ tổ chức chuỗi hòa nhạc định kỳ trong thời gian tới và hoàn toàn miễn phí vào cửa cho công chúng để tạo ra một điểm hẹn giữa âm nhạc và mỹ thuật.  Một số hình ảnh khác trong chương trình hòa nhạc:  Nghệ sĩ violin Trịnh Minh Hiền và nghệ sĩ saxophone Lê Duy Mạnh cùng trình diễn ca khúc Diễm xưa của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.    Rất đông khán giả đã đến thưởng thức buổi hòa nhạc    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Điểm nghẽn trong cơ chế tài chính giáo dục đại học      Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) của Việt Nam, phải tiến hành đổi mới đồng bộ mô hình quản trị và cơ chế tài chính. Một nền GDĐH dù được thiết kết và quản trị tốt đến mấy nhưng nếu không đủ nguồn lực tài chính hoặc nguồn lực không được phân bổ và sử dụng một cách hiệu quả thì nền GDĐH cũng không thể tạo được những đột phá về chất lượng.  “Điểm nghẽn trong cơ chế tài chính GDĐH” là phần I của loạt bài viết “Đổi mới cơ chế tài chính để nâng cao chất lượng đào tạo và công bằng xã hội trong GDĐH” của tác giả Trần Đức Viên*.      Thí sinh thảo luận sau khi làm bài thi đại học. Nguồn ảnh: Zing.  Từ nhiều năm nay, cơ chế tài chính của hệ thống GDĐH Việt Nam đang đối mặt với ba vấn đề lớn: (1) thiếu kinh phí, (2) bất bình đẳng và (3) thiếu tự chủ tài chính và không thống nhất về chính sách tài chính trong GDĐH.  Thiếu kinh phí  Thiếu kinh phí là vấn đề cần bàn đầu tiên bởi khi thiếu nguồn lực tài chính thì một nền giáo dục đại học dù được thiết kế và quản trị tốt đến mấy cũng sẽ không thể hoàn thành được những mục tiêu mà xã hội đang mong đợi về đảm bảo chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy cũng như dân chủ nội bộ và tự do học thuật. Thực tế các đại học ở Việt Nam cho thấy do thiếu kinh phí các trường buộc phải tăng quy mô đào tạo, tăng quy mô lớp, giảm giờ nghiên cứu khoa học cho cán bộ giảng dạy, giảm giờ thực tập, thực hành của sv…; sinh viên phải đóng thêm ‘chi phí hỗ trợ đào tạo’ trong khi giảng viên quá tải, không còn đủ thời gian cho nghiên cứu khoa học.  Nguyên nhân của tình trạng thiếu kinh phí trước hết là do mức đầu tư của nhà nước cho các đại học còn thấp, chỉ chiếm 14% đầu tư của ngân sách nhà nước cho giáo dục, so với GDP thì tỷ lệ đầu tư công cho giáo dục đại học là 0,9%, thấp hơn mức 1% của các nước OECD và Mỹ. Do GDP của Việt Nam thấp nên nếu tính theo số tuyệt đối, đầu tư của nhà nước cho GDĐH ở Việt Nam còn thấp hơn các nước nêu trên rất nhiều.  Mức học phí cho các trường công cũng rất thấp do bị chặn tại mức trần theo quy định của Nghị định 49/2010/NĐ-CP (Bảng 1 và Bảng 2). Nếu chiếu theo mức học phí trung bình tính trên GDP đầu người ở các trường đại học thuộc nhóm xếp hạng khá ở Mỹ thì học phí ở Việt Nam sẽ cần tăng lên từ hai đến ba lần so với mức hiện nay. Tương tự như vậy, nếu chiếu theo mức học phí của Đại học Bắc Kinh là 26.000-30.000 NDT/năm, tương đương 60-70% GDP đầu người của Trung Quốc thì học phí của đại học Việt Nam cũng cần tăng lên khoảng 25-30 triệu VND/năm theo thời giá hiện tại. Các nghiên cứu của GS Martin Hayden về chính sách giáo dục Việt Nam (1990, 2005 và 2009) cũng chỉ ra rằng, để nâng cao chất lượng đào tạo đại học Việt Nam, học phí nên ở mức 1.000-2.500 USD/năm. Công bố của Ngân hàng thế giới 2016 khi nghiên cứu chi phí đào tạo đại học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (nghiên cứu điển hình) cũng cho kết quả tương tự. Chế độ học phí hiện hành mang nặng tính bao cấp của một thời đã qua, đó chính là tư tưởng của chủ nghĩa bình quân, cào bằng trong GD-ĐT, đang có nguy cơ làm triệt tiêu động lực trong GD-ĐT [1].      Bảng 1. Mức trần học phí với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục công lập chưa tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư áp dụng theo các khối ngành, chuyên ngành đào tạo từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021 (Đơn vị: Triệu đồng/tháng/sinh viên).    Bảng 2. Mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư áp dụng theo các khối ngành, chuyên ngành đào tạo từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020 – 2021 (Đơn vị: Triệu đồng/tháng/sinh viên).  Các nguồn thu khác như nguồn thu từ dịch vụ xã hội, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, từ viện trợ, tài trợ, hiến tặng cũng quá thấp, trung bình chỉ khoảng 3% tổng nguồn thu hiện nay của các trường đại học.  Trong bối cảnh đó, để tăng chất lượng đào tạo, chỉ có hai cách: hoặc là giảm chỉ tiêu tuyển sinh để đảm bảo tỷ lệ giảng viên/sinh viên theo đúng tinh thần của Quyết định 09/2005/QĐ-TTg về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của TTCP, hoặc là tăng đầu tư nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học. Tăng học phí hay giảm chỉ tiêu để tăng chất lượng đào tạo đều có khả năng làm mất cơ hội học tập của một số sinh viên, nhất là con nhà nghèo. Tuy nhiên, giải pháp tăng học phí kèm theo chính sách cho sinh viên vay vốn học tập sẽ làm giảm nhẹ nguy cơ này hơn là giảm chỉ tiêu tuyển sinh [2].  Bất bình đẳng  Dường như cách tiếp cận học phí của chúng ta hiện nay là giữ học phí thấp để người nghèo có thể tiếp cận đại học. Tuy nhiên, cách tiếp cận này là sai lầm và nó có thể càng làm tăng bất bình đẳng xã hội vì (a) học phí thấp làm cho các trường không có đủ nguồn thu để cấp học bổng cho sinh viên nghèo, (b) học phí thấp dẫn đến đa số nguồn lực của trường phải dựa vào ngân sách nhà nước, nghĩa là chi phí đào tạo cho sinh viên, trong đó phần đa số là con em các gia đình khá giả chứ không phải các gia đình nghèo, lại được nhà nước bao cấp.  Một giải pháp cho vấn đề này là chương trình học bổng và tín dụng cho sinh viên nghèo. Hiện nay, học bổng cho sinh viên nghèo ở nước ta đã có nhưng không đáng kể. Về tín dụng, từ năm 2007, Nhà nước đã ban hành chương trình tín dụng sinh viên theo Quyết định 157/2007/QĐ-TTg và giảm được một phần gánh nặng cho một số sinh viên nghèo. Tuy vậy, mức cho vay còn thấp, chỉ đủ chi trả một phần chi phí sinh hoạt, học phí của sinh viên. Mặt khác, vì đối tượng cho vay dàn trải, và vì chưa áp dụng hình thức điều chỉnh mức cho vay theo khả năng tài chính và năng lực học tập của sinh viên nên Chương trình 157 chưa thực sự hỗ trợ được sinh viên nghèo, và cũng chưa tính đến khả năng chi trả của họ sau khi tốt nghiệp đại học.  Bất cập trong cơ chế tự chủ và giải trình về tài chính  Cơ chế tự chủ và trách nhiệm giải trình về mặt tài chính còn nhiều bất cập. Các chính sách nhà nước (từ Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV, Nghị quyết 77/2014/NQ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP) đã bước đầu trao nhiều quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học, nhưng vẫn chưa đủ mạnh và linh động để giúp các trường có khả năng chủ động tự điều chỉnh chính sách của mình nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển và sự biến động nhanh chóng của thực tiễn quản lý. Ngay những trường được thí điểm có tự chủ về phần “thu” vẫn bị hạn chế rất nhiều về phần “chi”, ví dụ như quyền quyết định lương cho giảng viên, cán bộ, quyền quyết định chi các hoạt động tái đầu tư, liên doanh, hợp tác, mua sắm tài sản, trang thiết bị, xây dựng cơ bản, v.v…  Về phía các trường, vẫn còn thói quen ỷ lại, trông chờ bao cấp từ phía nhà nước. Các nhà quản lý thì còn e ngại, chưa dứt khoát trao quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học, một phần là do vẫn thiếu những cơ chế quy định trách nhiệm giải trình mà các đại học tiên tiến trên thế giới đang áp dụng như cơ chế quản trị chia sẻ được thể hiện qua quy định về chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng trường, hoặc cơ chế đánh giá hiệu quả thực sự hoạt động của trường đại học như sự hài lòng của sinh viên và các nhà tuyển dụng. Cũng có người cho rằng, nguyên nhân sâu xa là do cán bộ thừa hành của các cơ quan quản lý nhà nước về GD-ĐT và  các bộ/ngành chủ quản chưa thực sự muốn trao quyền tự chủ cho các trường, do lo ngại mất quyền lực chi phối và quyền lợi thụ hưởng mà họ, dù muốn dù không, đã nghiễm nhiên được hưởng từ nhiều năm nay!  (Đón đọc phần 2: Giải pháp đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học)  ——  Chú thích:   * Bài viết có sự đóng góp nội dung số liệu của PGS.TS Nguyễn Việt Long, TS. Trần Quang Trung, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  [1] Về quy mô, mục tiêu của giáo dục đại học Việt Nam đến 2020 là đạt 200 SV/vạn dân, nên không thể giảm quy mô tuyển sinh  [2] Theo khảo sát năm 2012 về chi phí đào tạo của Bộ GD&ĐT tại 65 trường ĐH, học phí chỉ đáp ứng 50% so với chi phí đào tạo theo các chuẩn đầu ra của năm 2012.      Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Điểm tin KH&CN quốc tế      Những phát hiện ở các ngành khảo cổ, vật lý thiên văn đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới về thế giới.      Giới khoa học đã phát hiện tổng cộng 3 dạng hố đen của dải Ngân hà. Ảnh: NASA.  Phát hiện hố đen có kích thước trung bình trong dải Ngân hà  Một nhóm những nhà thiên văn học đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của một hố đen với kích thước trung bình trong dải Ngân hà của chúng ta – giống như sự đồn đoán từ lâu. Đây là hố đen có kích thước lớn hơn rất nhiều so với những hố đen hình thành từ sự suy sụp hấp dẫn của những ngôi sao riêng biệt, song vẫn nhỏ hơn nhiều so với kích thước của những hố đen khổng lồ nằm gần tâm của những thiên hà. Phát hiện này, nếu được công nhận, sẽ góp phần chứng minh, Ngân hà của chúng ta được hình thành từ việc “nuốt chửng” những thiên hà nhỏ hơn xung quanh nó.   Nguồn:http://www.sciencemag.org/news/2017/09/top-stories-newly-found-black-hole-water-cooling-solar-panels-and-bone-strengthening     Người Neandertal. Nguồn: Printerest.com.  Người Neanderthal có gặp tổ tiên người hiện đại ở châu Âu ?  Hang động Vindijia (Croatia) được cho là nơi mà người Neanderthal đã gặp gỡ tổ tiên người hiện đại, vào khoảng 32.000 năm trước. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu mới sử dụng phương pháp phóng xạ carbon chính xác hơn, những nhà khoa học đã phát hiện ra người Neanderthal sống ở khu vực này từ 40.000 năm trước, sớm hơn 8.000 so với thời điểm tổ tiên người hiện đại di cư sang sinh sống ở lục địa châu Âu. Phát hiện này, nếu đúng, sẽ làm sụp đổ niềm tin trước đây rằng cả hai giống người đã cùng chung sống tại châu lục.  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/09/top-stories-newly-found-black-hole-water-cooling-solar-panels-and-bone-strengthening    Bức họa The Ride of the Valkyries của Richard Wagner. Valkyry: người nữ tì trong thần thoại Bắc Âu. Nguồn: Science.  Chiến binh Viking dũng mãnh là phụ nữ   Một cuộc khai quật mộ người Viking (những năm 1880) đã phát hiện thi hài của một chiến binh quý tộc – người được an táng với gươm, rìu, mác, tên, dao găm, 2 chiến khiên cùng một đôi chiến mã, ngoài ra còn có thẻ bài và bảng dùng lập chiến thuật trước trận chiến. Suốt 130 năm, ai cũng nghĩ đó là một người đàn ông. Tuy nhiên, việc phân tích lại đặc điểm của bộ xương những năm qua cho thấy, đây rất có thể là một người phụ nữ. Tới nay, mẫu DNA đã chứng minh giới tính “nữ” của bộ xương – chưa một nữ chiến binh Viking nào được tìm thấy có địa vị cao như vậy. Điều này mang tới không ít ngạc nhiên về sự cân bằng giới trong trật tự xã hội của người Viking – vốn mang nhiều khuynh hướng bạo lực. Phát hiện này được đăng trên American Journal of Physical Anthropology.   Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/09/dna-proves-fearsome-viking-warrior-was-woman    Cloaca Maxima, một công trình đường ống dẫn nước cổ xưa nhất thế giới của người La Mã.  Hệ thống dẫn nước La Mã – Một kỳ quan về kiến trúc thời cổ đại  Người La Mã nổi tiếng bởi hệ thống dẫn nước của họ. Đó có thể coi như một kỳ quan kiến trúc với vô số những ống và cống rãnh chằng chịt giúp cung cấp nước sinh hoạt và thoát nước thải ổn định cho một lượng dân cư khổng lồ của một đế chế trên đà bành trướng. Có tương đối ít những ghi chép về việc xây dựng công trình này, tuy nhiên một nghiên cứu mới đây về lớp trầm tích ở gần nơi mà nước từ hệ thống này thoát ra đã hé mở nhiều điều.      Các nhà nghiên cứu đã tiến hành lấy 177 mẫu đất từ cảng ở một thị trấn có từ thời La Mã cổ đại, nằm ở phía Tây Nam Roma, được gọi là Ostia. Để xác định niên đại lớp trầm tích, họ sử dụng phương pháp phóng xạ đồng vị carbon, tiếp đó thực hiện phân tích thành phần hóa học mẫu đất. Phát hiện cho thấy, nồng độ chì trong lớp trầm tích tăng đột biến vào khoảng giai đoạn năm 200 TCN, cho thấy hệ thống dẫn nước có thể đã được xây dựng trong thời gian đó, kết quả được công bố trong báo cáo của Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia. Thời gian này sớm hơn khoảng 150 năm so với những bằng chứng khảo cổ tìm thấy trước đó về hệ thống ống dẫn được làm bằng chì ở Roma cổ đại. Trong dữ liệu phân tích lớp đất cho giai đoạn một trăm năm sau đó, những nhà nghiên cứu ghi được sự giảm nồng độ chì, đồng nghĩa với việc xuất hiện biến cố trong hệ thống, trùng khớp với giai đoạn nội chiến La Mã trong suốt thế kỷ thứ 1 TCN, dẫn tới sự bỏ bê trong việc bảo trì đường ống.    Trước đó, một số nghiên cứu cho rằng, chính hệ thống dẫn nước này đã góp phần gây ra tình trạng ngộ độc chì ở nhiều nơi trong thế giới cổ đại. Phát hiện mới đưa tới khả năng, rằng dòng nước thoát ra từ đường ống trên có thể đã khiến cho nguồn nước ở bến cảng bị nhiễm độc chì, đồng thời lan sang cá và những loài sinh vật biển khác.   Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/08/origins-ancient-rome-s-famed-pipe-plumbing-system-revealed-soil-samples  Diện tích cà phê ở một số nước Nam Mỹ có thể bị sụt giảm tới 90%   Tin không mấy tốt đẹp cho tương lai của ngành cà phê. Trước đây, một vài nghiên cứu đã dự đoán rằng tình trạng biến đổi khí hậu sẽ làm giảm diện tích đất phù hợp với sự sinh trưởng của cây cà phê xuống còn một nửa vào năm 2025, nguyên nhân chủ yếu bởi tình trạng nóng lên của Trái đất. Cho tới nay, một mô hình nghiên cứu sinh thái về khu vực Mỹ Latin – nơi trồng cà phê lớn nhất thế giới, còn đưa ra dự báo tồi tệ hơn: môi trường sống của cây cà phê thậm chí có thể bị thu hẹp tới 88%, đáng kể nhất là ở khu vực những vùng có địa hình thấp ở Nicaragua, Honduras hay Venezuela.  Các nhà khoa học cũng xem xét về ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu đối với loài ong nuôi và 39 loài ong bản địa khác bởi chúng giúp thụ phấn cho cây cà phê và góp phần làm gia tăng sản lượng. Mặc dù, một số điều kiện thuận lợi cho hoạt động thụ phấn đang được cải thiện ở một số khu vực có địa hình tương đối cao như Mexico, giúp nâng tỷ lệ cây cà phê được thụ phấn lên đến 22%, song người ta cũng sẽ chứng kiến sự sụt giảm số lượng loài ong tại 51% diện tích đang được mở rộng, điều này dường như sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới mùa màng. Báo cáo trên được công bố tại Kỷ yếu Hàn lâm Khoa học Quốc gia.  Người trồng cà phê cần phải làm gì? Nghiên cứu trên cũng gợi ý rằng họ nên cung cung cấp thức ăn cho những loài ong, qua việc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và đảm bảo duy trì tính đa dạng của những loài thực vật bản địa – nguồn cung cấp thức ăn của ong.       Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/09/biggest-producer-coffee-could-see-bean-growing-land-shrink-nearly-90-2050    Phụ trách trang tin KH Quốc tế: Thế Hải    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân ở Việt Nam và các nước ASEAN      Ngày 4-8-2011 tại Hội thảo lần thứ 4 về ASEAN và châu Á do Viện Các Vấn đề Quốc tế của Singapore (SIIA) tổ chức tại khách sạn Capella, Singapore, các chuyên gia đã trình ra một báo cáo về vấn đề Điện Hạt nhân ở các nước ASEAN.        Tại sao phải đi vào Điện Hạt nhân (ĐHN)?  Khi xét đến các chương trình ĐHN ở các nước ASEAN, thật thú vị nếu ta nhìn vào lý do thường được một số người đưa ra để giải thích vì sao cần phải đưa ĐHN vào sử dụng ngay lúc này, đặc biệt là ở một khu vực chưa từng có ĐHN:  – Nhu cầu điện năng trong vùng đã tăng lên nhanh chóng và người ta cho rằng kỹ thuật ĐHN sẽ giải quyết được các cuộc khủng hoảng năng lượng sắp đến. Tuy nhiên các kế hoạch xây dựng ĐHN trong các nước ASEAN chỉ đáp ứng một phần nhỏ về nhu cầu năng lượng của họ (Inđônêxia 5% nhu cầu của năm 2025, Việt Nam với 14 nhà máy ĐHN chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu của năm 2030). Vì có những vấn đề an toàn và an ninh đi theo ĐHN, có vẻ như các nước Đông Nam Á đang chấp nhận một nguy cơ lớn để có được một lợi ích tương đối nhỏ.  – ĐHN như là một bằng chứng đất nước mình đã đạt đến trình độ quốc gia phát triển, nhất là trong những quan chức và cán bộ khoa học đã bỏ nhiều thời gian và đôi khi cả sự nghiệp của mình vào lĩnh vực đặc biệt này.  – ĐHN là một nguồn năng lượng sạch, rẻ tiền và bền vững. Giá đầu tư ban đầu của các nhà máy ĐHN cao hơn nhiều so với những nhà máy dùng nhiên liệu hoá thạch và khả năng trượt giá có thể xảy ra dễ dàng như người ta thấy trong nhiều công trình ở Phần Lan. Một số người cho là có thể vay vốn với các khoản tín dụng mềm của Ngân hàng Thế giới và khi nhà máy hoạt động, giá thành điện năng có thể cạnh tranh được với các loại năng lượng khác.        Vì có những vấn đề an toàn và an ninh đi theo ĐHN, có vẻ như các nước Đông Nam Á đang chấp nhận một nguy cơ lớn để có được một lợi ích tương đối nhỏ.        Vấn đề biến đổi khí hậu không được nhấn mạnh nhiều lắm để làm hậu thuẫn cho ĐHN, nó đôi khi được các nhà chính trị nhắc đến hoặc chỉ được dùng để dẫn chứng trong các cuộc tranh cãi; đồng thời các chính phủ trong vùng chưa chú ý đến những phương án phi hạt nhân như tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo, những chính sách tương phản rõ rệt với việc phát triển ĐHN. Các phương án này thường không nhận được những kinh phí tương xứng khi so sánh với khoản đầu tư vô cùng lớn cho ĐHN. Ngoài ra dù có xây dựng ĐHN, người ta vẫn phải đẩy mạnh các nỗ lực về tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo.  Những mối quan tâm chung: An toàn, An ninh và các hệ luỵ  Sau Fukushima, dư luận quần chúng đặt nhiều câu hỏi về ĐHN. Vào tháng 7-2011, hãng Kyodo News ở Nhật Bản tiến hành một thăm dò và kết quả là trên 70% ý kiến muốn kết thúc chương trình hạt nhân. Những người ủng hộ ĐHN thì nói rằng các vấn đề ở nhà máy Fukushima-Daiichi bắt nguồn từ các nhà máy quá cũ, nhà máy Fukushima-Daiini ở gần đấy ít bị ảnh hưởng bởi động đất và sóng thần vì các nhà máy mới thì an toàn hơn. Tuy nhiên, ở Nhật, người ta không chỉ lo ngại cho các nhà máy đã 40 năm tuổi mà còn cho tất cả các nhà máy ĐHN trong nước.  Văn hoá an toàn và nạn tham nhũng  Dù đã có những tiêu chuẩn quốc tế cho việc thiết kế và xây dựng nhà máy ĐHN, các cơ quan quốc tế thường giao quyền cho các tổ chức quốc gia để thực hiện việc bảo dưỡng, đóng cửa nhà máy và giải quyết các trường hợp khẩn cấp. Fukushima đã cho thấy, ngay cả ở Nhật Bản, một quốc gia nổi tiếng về tính kỹ lưỡng và việc chú ý từng chi tiết, các biện pháp an toàn và xử lý sự cố vẫn còn nhiều thiếu sót. Ngay cả ở Mỹ, ngành công nghiệp hạt nhân vẫn bị chỉ trích nhiều về trình độ của nhân viên và việc họ luân chuyển thường xuyên. Nếu các quốc gia phát triển với những ngành công nghiệp hạt nhân đã vững chắc mà còn tồn tại các vấn đề này thì các nguy cơ lại càng trầm trọng hơn ở các quốc gia Đông Nam Á có trình độ quản lý và văn hoá an toàn yếu hơn. Nạn tham nhũng từ lâu đã là một mối lo ở các nước Đông Nam Á. Trong số bốn quốc gia ASEAN hiện đang có kế hoạch phát triển ĐHN thì không một quốc gia nào đạt mức điểm chấp nhận được trên Bảng Chỉ số Đánh giá Tham nhũng mà Tổ chức Minh bạch Thế giới trình ra hàng năm. Thách thức lớn sẽ là sự duy trì được tính minh bạch từ việc ban phát các hợp đồng xây dựng béo bở đến việc tuân thủ các biện pháp bảo vệ môi trường và các quy trình an toàn của nhà máy.    Giá cả thật của ĐHN  Những người ủng hộ ĐHN thường đưa ra lập luận là các chi phí thấp cho nhiên liệu và vận hành có thể bù trừ cho chi phí lắp đặt cao. Nhưng Fukushima đã cho thấy có một khoản chi phí khác của ĐHN: chi phí không sao tính nổi của việc làm sạch nhà máy sau sự cố. Sự cố ĐHN có thể xảy ra vào giai đoạn cuối của thời kỳ hoạt động, nhiều người gọi nó là các mối nguy “đuôi béo” (fat tail). Các lò phản ứng khi khởi động thường dễ dàng và ít tốn kém hơn là khi phải dập tắt. Dù không có sự cố như ở Fukushima thì ĐHN cũng còn nhiều vấn đề phải xét đến. Hiện nay ở Đông Nam Á chưa có nguồn urani nào được biết, do đó, các nước xây ĐHN phải nhập nhiên liệu hay quặng urani. Cũng có nhiều vấn đề về cất giữ và xử lý nhiên liệu đã cháy và khi các nhà máy ĐHN đã quá thời hạn sử dụng, người ta phải đóng cửa chúng, có thể tốn hàng triệu thậm chí hàng tỷ đôla và nhiều thập kỷ để loại hết chất phóng xạ trong cấu trúc và các thiết bị. Các nước muốn xây dựng ĐHN cần phải tính đến các chi phí phụ thêm này.  An ninh và phổ biến hạt nhân  Ngoài vấn đề an toàn, các nước Đông Nam Á còn phải đối mặt với việc bảo đảm an ninh cho địa điểm nhà máy ĐHN trước khả năng tấn công của các nhóm khủng bố như Jemaah Islamyah. Vật liệu phóng xạ có thể bị đánh cắp để làm bom bẩn. Vùng Đông Nam Á cũng phải quan tâm đến vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân, ASEAN đã xây dựng Hiệp ước khu vực Đông Nam Á phi Hạt nhân (SEANWFZ) mặc dù vẫn có những hoạt động lén lút trong vùng. Nếu phát triển ngành hạt nhân dân sự ở Đông Nam Á thì các nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ tăng lên.  Khuyến cáo về chính sách  Sau khi xét kỹ các vấn đề trên, báo cáo đưa ra những khuyến cáo sau về chính sách hạt nhân:  Trước khi thông qua chương tình hạt nhân các quốc gia phải:  – Thăm dò mọi phương án sẵn có. Xem xét khả năng sử dụng các nguồn năng lượng và vị trí khả dĩ của ĐHN trong các phương án này. Các chính phủ phải đánh giá một cách có trách nhiệm các vấn đề an toàn và an ninh hạt nhân, các phí tổn, các phương pháp để giảm thiểu tác hại của các thảm hoạ hạt nhân.  – Tìm hiểu đầy đủ các giải pháp tiết kiệm năng lượng và năng lượng tái tạo đã có ở các nước.  – Đánh giá cơ bản về nhu cầu năng lượng, văn hoá an toàn, nạn tham nhũng một cách thẳng thắn và khách quan vì chúng có thể tạo ra nhiều vấn đề cả trong giai đoạn xây dựng và trong giai đoạn hoạt động lâu dài của nhà máy. Phải nắm được khả năng khắc phục sự cố nếu có trường hợp như Fukushima xảy ra.  – Đừng đánh giá thấp tầm quan trọng của việc lấy ý kiến quần chúng. Quần  chúng tham gia vào việc lấy quyết định qua các cuộc điều trần, tham khảo ý kiến, thông tin đại chúng hay quảng cáo. Quần chúng phải có hiểu biết đầy đủ và được thông tin về các điều lợi và hại của ĐHN.  Nếu đã quyết làm Điện hạt nhân, cần:  – Quan tâm đến các nhà máy quy mô nhỏ. Các nhà máy ĐHN cỡ từ 5 đến 100 MW có nguy cơ thấp hơn. Các nước ASEAN, do chưa có kinh nghiệm hạt nhân nên lựa chọn giải pháp này. Các nhà máy ĐHN micro có thể hoạt động ở nhiệt độ thấp, dễ bịt kín vĩnh viễn. Nga đã chế tạo các nhà máy micro cũng như Trung Quốc trong hợp tác với Mỹ.  – Tuân thủ các tiêu chuẩn và bảo đảm quốc tế. Các quốc gia phải ký vào các công ước của Liên Hiệp quốc về an toàn hạt nhân như Công ước Thông báo sớm các sự cố hạt nhân, công ước về Bảo vệ vật lý các vật liệu hạt nhân và công ước về An toàn trong quản lý nhiên liệu đã cháy và An toàn trong quản lý chất thải phóng xạ.  – Xây dựng các quy chuẩn và quy phạm hoạt động cho các nhà máy ĐHN.  – Cải thiện văn hoá an toàn. Phải đảm bảo là các nhà máy hoạt động một cách minh bạch và tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn, không có những lối tắt để giảm giá thành và có hại cho an toàn.  – Quản lý sự cố là một nghệ thuật không hoàn chỉnh chứ không phải là một ngành khoa học. Nước Nhật được xem là quốc gia có khả năng giải quyết sự cố hạt nhân giỏi nhất. Nhưng sau Fukushima, thế giới đã thấy ngay những chuẩn bị tuyệt vời cũng không ngăn được thảm hoạ trong trường hợp một sự cố nóng chảy thanh nhiên liệu. Phải bắt đầu xây dựng một tổ chức liên hợp trong ASEAN để quản lý sự cố hạt nhân.  – Cần có thêm vai trò điều hành của khu vực. Mô hình khả dĩ có thể là EURATOM của Cơ quan Hạt nhân châu Âu. Cơ quan này có nhiệm vụ kiểm tra nhà máy, tạo điều kiện để trao đổi kỹ thuật và nghiên cứu, là cơ quan quản lý theo pháp luật các vật liệu phân hạch trong vùng, tăng cường hợp tác trong việc cất giữ chất thải phóng xạ.  Kết luận  Các quốc gia ASEAN cần phải biết rõ tất cả các nguy cơ trong lĩnh vực ĐHN và có quyết định đúng đắn về việc có nên làm ĐHN hay không. Nếu đã quyết định xây dựng ĐHN thì phải có các biện pháp bảo đảm những tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và có trách nhiệm giải trình không chỉ trong giai đoạn kế hoạch và xây dựng mà cả trong giai đoạn vận hành và có thể là trong trường hợp đóng cửa nhà máy. Phải có sự hợp tác của cộng đồng hạt nhân trong khu vực và trên thế giới ngoài sự cần thiết đề cao các quy trình và cách hành xử đúng đắn trong khu vực.  Trong tương lai, châu Á có thể cần đến giải pháp ĐHN vì có nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế. Nhưng ta không cần vội vã, tốt hơn là nên có những hành động thận trọng đúng đắn và cần thiết trong các giới chính quyền, trước quần chúng và đối với các quốc gia lân cận. Ngoài ra cũng có những lý do chính đáng để đánh giá các khả năng tiết kiệm năng lượng qua các công cụ thị trường, giá cả và kỹ thuật cũng như xem xét việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng thay thế khi chúng có thể thực hiện được và có sẵn trên thị trường.  Các quốc gia Đông Nam Á cần phải chú ý đến những gì xảy ra ở Nhật, Đức và nhiều nước khác nhất là khi sự kiện Fukushima bộc lộ nhiều yếu tố cần chú ý trong vấn đề Điện Hạt nhân.  Nguyễn Thọ Nhân dịch và tóm tắt  Nguồn: Examining Nuclear Energy, Ambitions in South-East Asia; www.siiaonline.org         Các tiêu chuẩn an toàn khá lỏng lẻo trong những mặt khác của cơ cấu hạ tầng của Việt Nam được xem là những dấu hiệu đáng lo ngại trong kế hoạch phát triển ĐHN của Việt Nam. Tháng 11-2010, việc tháo nước ở ba hồ thuỷ điện tại Việt Nam đã gây ra những cơn lũ nguy hại tàn phá hàng nghìn ngôi nhà, và trong cùng tháng ấy, tại thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một loạt sự cố do cơ cấu hạ tầng bị hư hỏng hay có khiếm khuyết. Tháng 6-2011, một đám cháy lớn phá huỷ ngôi chợ thành phố Vinh, nguyên nhân vẫn chưa được làm rõ. Việt Nam cũng còn phải đấu tranh để có an toàn trong giao thông đường bộ và đường sắt. Bộ Giao thông đã thông báo là có đến 4400 trường hợp tử vong do tai nạn giao thông giữa các tháng Giêng và tháng Sáu 2011. Tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên trên đường sắt, và năm 2005 tàu hoả trật bánh ở Phú Lộc đã gây ra hàng trăm trường hợp người chết và bị thương. Mặc dù gần đây chính phủ đã đẩy mạnh các nỗ lực để cải tạo cơ sở hạ tầng nhưng ta cũng nên đặt câu hỏi liệu Việt Nam có đủ văn hoá an toàn cần thiết để tuân thủ các quy phạm và tiêu chuẩn của NMĐHN vào lúc bắt đầu xây dựng năm 2014 không?          Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời cho vùng sâu, vùng xa      Trung tâm Phân tích,  kiểm nghiệm và dịch vụ KH&amp;CN Hòa Bình vừa tiếp nhận công nghệ của Viện Khoa học năng lượng – Viện KH&amp;CN Việt Nam để triển  khai dự án ứng dụng năng lượng mặt trời phối hợp động cơ  diezel để cấp điện cho vùng đặc biệt khó khăn.    Giải pháp tiết kiệm năng lượng  Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy Hòa Bình có nguồn năng lượng gió yếu; nguồn thủy năng tuy phong phú nhưng các nguồn có khả năng cho phát điện gần các điểm dân cư đã được khai thác. Chăn nuôi gia súc còn ở mức độ nhỏ, chưa tập trung nên vấn đề sử dụng khí sinh học để phát điện chưa đặt ra. Trong số các nguồn năng lượng sạch, nguồn năng lượng mặt trời ở Hòa Bình là khá lớn. Theo thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn Hòa Bình, số giờ nắng trung bình trong năm của Hòa Bình vào khoảng 1.545 giờ. Đây là con số tương đối cao đối với số giờ nắng trung bình của các địa phương trên cả nước, do đó việc sử dụng năng lượng mặt trời phát điện là giải pháp khả thi để cấp điện cho đồng bào vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn của tỉnh Hòa Bình.  Với mục tiêu xây dựng mô hình cung cấp điện độc lập sử dụng pin mặt trời phối hợp nguồn diezel cấp điện cho cụm dân cư vùng đặc biệt khó khăn, dự án được triển khai thực hiện tại xóm Mừng, xã Xuân Phong, huyện Cao Phong, Hòa Bình. Đây là một xóm đặc biệt khó khăn của tỉnh, cách trung tâm xã 10km, trên vùng núi cao 800m so với mực nước biển, đường giao thông đi lại rất khó khăn.  Dự án đã xây dựng mô hình gồm hai trạm độc lập, điều khiển tự động (mỗi trạm gồm pin mặt trời phối hợp nguồn diezel) cung cấp cho hai cụm dân cư: trạm 1 cấp điện cho 30 hộ dân và một nhà văn hóa, một nhà trẻ; trạm 2 cấp điện cho 11 hộ dân. Tổng số phụ tải là 43, mỗi phụ tải được sử dụng hai bóng chiếu sáng 2x18W (Compax), thời gian sử dụng 4h/ngày.  Trên cơ sở khảo sát tại thực địa và các số liệu tính toán, Viện Khoa học năng lượng, cơ quan chủ trì dự án phê duyệt thiết kế trạm, lưới điện cung cấp cho các phụ tải sử dụng cáp đồng ba pha: 3×2,5mm2 cho trục chính và cáp đồng ba pha 3x1mm2 cho các nhánh rẽ vào hộ dân; mỗi phụ tải được cung cấp bằng hai pha độc lập.  Công nghệ được chuyển giao đã xây dựng được hai mô hình phát điện mặt trời có công suất: 8640 Wp, phối hợp nguồn diezel dự phòng có công suất 11,5kVA. Trạm điện vận hành hoàn toàn tự động, trên cơ sở đo lượng điện năng thu được trong ngày, phụ tải sử dụng thực tế và lượng dự trữ của ác quy để tính toán thời gian cấp điện. Khi dung lượng ác quy phóng đến giới hạn thiết bị cắt bớt phụ tải có chọn lọc ưu tiên cho phụ tải chiếu sáng.  Khả năng áp dụng nhân rộng  Theo số liệu điều tra của Sở Công thương Hòa Bình năm 2011, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện còn 77 xóm, bản chưa có điện và trong tương lai vẫn còn 31 xóm chưa có điện lưới quốc gia do điều kiện khó khăn về kinh phí, địa hình hiểm trở, đường giao thông đi lại khó khăn… Trên cơ sở thực hiện thành công của dự án là cơ sở để triển khai các dự án tiếp theo tại các vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh.  KS Nguyễn Hữu Độ – Phó giám đốc Trung tâm Phân tích, kiểm nghiệm và dịch vụ KH&CN Hòa Bình, chủ nhiệm dự án, cho biết, sau khi mô hình đưa vào hoạt động từ tháng 9.2011 đến nay, mô hình hoạt động ổn định và cung cấp điện liên tục. Do đặc điểm hoạt động lao động của dân xóm Mừng ban ngày ít sử dụng điện, chỉ sử dụng cho sinh hoạt buổi tối và buổi sáng nên tiêu thụ điện không nhiều. Tổng điện năng tiêu thụ đối với trạm 1 khoảng 32% dung lượng dự trữ của ắc quy và 36% đối với trạm 2. Trong thực tế theo dõi ba tháng hoạt động có những giai đoạn mưa liên tiếp 20 ngày nhưng không có ngày nào bị gián đoạn cung cấp điện. Thực tế ngày mưa cũng có lúc tạnh, nên ắc quy được nạp bổ sung, công suất pin mặt trời có dự trữ cao nên chỉ cần có nắng 2 – 3 giờ là hệ ác quy được nạp đầy.  Bên cạnh đó, các trạm điện mặt trời hoạt động thông qua bộ hẹn giờ, cán bộ quản lý, vận hành trạm điện linh hoạt thông qua bật tắt từ xa và quan sát hoạt động trạm điện không cần phải đến trạm.  Hoạt động của mô hình không ảnh hưởng đến môi trường do sử dụng công nghệ năng lượng mặt trời để phát điện, các thiết bị chính của mô hình như ắc quy được sử dụng loại chuyên dụng không cần bảo dưỡng, đối với máy phát diezel, đây chỉ là nguồn dự phòng nên rất ít khi sử dụng, máy phát điện sử dụng của dự án có thông số kỹ thuật đạt tiêu chuẩn về tiếng ồn và khí thải phù hợp với tiêu chuẩn…  Cũng theo KS Nguyễn Hữu Độ, việc triển khai, thực hiện dự án sẽ là mô hình mẫu về sử dụng năng lượng mặt trời phối hợp nguồn diezel cấp điện cho cụm dân cư bằng lưới phân phối 220V về thiết kế, quản lý và vận hành. Vì hiện nay hầu hết các mô hình cấp điện bằng năng lượng mặt trời triển khai trong cả nước chỉ cấp điện cho các phụ tải công cộng, các dự án cấp điện cho nhà dân thường sử dụng các modul nhỏ, đặt phân tán, ở nhiều nơi trình độ dân trí còn thấp nên trong quá trình sử dụng không am hiểu và tuân thủ các quy trình kỹ thuật dẫn đến tuổi thọ của hệ thống không cao, gây nhiều lãng phí.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời sáng cả ngày lẫn đêm      Các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Karlsruhe  kết hợp pin năng lượng mặt trời, pin lithium – ion, thiết bị biến tần và  phần mềm thông minh thành một cơ sở lưu điện mặt trời lớn nhất nước  Đức.     Theo một dự án nghiên cứu đang được tiến hành ở Đức thì điện mặt trời có thể đáp ứng 70 đến 80% nhu cầu về điện năng của các hộ gia đình và chỉ với giá bằng khoảng một nửa hiện nay. Có hai lý do để đạt được điều này, trước tiên vì giá pin năng lượng mặt trời (solar cell, hay còn gọi là pin quang điện) giảm mạnh; thứ hai, nhờ công nghệ lưu điện mới mà Viện Công nghệ Karlsruhe (Karlsruhe Institute of Technology – KIT) đang thử nghiệm.   Để lưu điện, các nhà khoa học ở KIT kết hợp các tấm pin quang điện với pin lithium – ion và thiết bị biến tần chuyển điện một chiều thành điện xoay chiều. Khi không có ánh sáng trời , cơ sở này vẫn có thể cung cấp điện do các pin thithium-ion có khả năng lưu trữ năng lượng mặt trời. Tại đây, các nhà khoa học lắp đặt 100 bộ thiết bị có cấu hình khác nhau; dữ liệu về hoạt động của chúng được theo dõi và phân tích liên tục để xem cấu hình nào phù hợp nhất cho việc hòa vào lưới điện và có hiệu quả kinh tế nhất cho người sử dụng. Cơ sở này có công suất một megawatt, trở thành nơi cung cấp điện mặt trời có lưu điện lớn nhất Đức hiện nay, theo lời trưởng dự án KIT, Olaf Wollersheim.   Điều đặc biệt ở dự án của KIT là sự phát triển phần mềm điều khiển pin thông minh mang tên Competence E. Software, có thể kiểm soát các yếu tố như nhiệt độ, mức độ sạc, cường độ năng lượng mặt trời và đặc tính của pin.   Dự án đặt ra mục tiêu chính là tạo sự hài hòa giữa sản xuất điện với biểu đồ tiêu thụ điện của các hộ gia đình hoặc doanh nghiệp. Thông thường, các cơ sở điện mặt trời sản xuất nhiều điện nhất vào buổi trưa, tuy nhiên đây cũng là thời điểm tiêu thụ điện thấp. Cơ sở của KIT có khả năng tránh sự khai thác cực đại vào buổi trưa và cung cấp điện vào những thời điểm khác trong ngày.  Tại KIT, nơi làm việc và học tập của 9.400 nhân viên và 24.500 sinh viên, điện mặt trời đang phục vụ cho hoạt động của các thiết bị nghiên cứu cỡ lớn. Xét cả năm, điện mặt trời đáp ứng khoảng 2% nhu cầu và bảo đảm sinh lời: với khoản tiền đầu tư 1,5 triệu Euro và tuổi thọ là 20 năm, KIT mỗi năm tiết kiệm khoảng 200.000 Euro chi phí tiền điện. “Chúng tôi tin chắc rằng, điều này [công nghệ lưu điện mặt trời] sẽ tạo cú hích đối với sản xuất điện mặt trời, vì giá điện mặt trời thấp hơn so với giá điện từ mạng lưới công cộng,” nhà vật lý này giải thích. “Một cơ sở tích điện mặt trời có thể đáp ứng tới 80% lượng điện tiêu thụ cả năm của một khu chung cư.”  Tùy theo chi phí lắp đặt, người tiêu dùng phải đầu tư cho thiết bị lưu điện mặt trời từ 6 đến 12 cent cho một kilowatt giờ – trong khi giá điện bình quân của hộ gia đình ở Đức hiện nay vào khoảng 29 cent.  Do được sản xuất với số lượng lớn ở Trung Quốc nên giá tấm pin quang điện đã giảm mạnh, khiến người tiêu dùng dễ dàng hơn trong việc quyết định sử dụng điện mặt trời. Tuy nhiên, để chuyển sang dùng điện mặt trời, các hộ gia đình cần một khoản đầu tư ban đầu lớn bởi vậy ông Olaf Wollersheim cho rằng, trong tương lai cần có những mô hình chi tài chính đặc biệt để xử lý vấn đề này.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời sáng trên những làng nằm xa điện lưới ở châu Phi      Tuy còn rất khiêm tốn so với các dự án năng lượng tái tạo đang được triển khai ở các nước công nghiệp phát triển nhằm cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính, nhưng chính các hệ thống điện mặt trời nhỏ bé đang đóng một vai trò lớn lao và thiết yếu tại một số quốc gia châu Phi.    Nhu cầu sử dụng điện của Sara Ruto trở nên cấp thiết vào năm ngoái khi cô mua chiếc điện thoại di động đầu tiên, phương tiện không thể thiếu để cô nhận các khoản chuyển tiền, liên lạc với thân nhân ở thành phố, hay kiểm tra giá thịt gà ở chợ gần nhất.  Sạc điện thoại không phải vấn đề đơn giản ở nông thôn đặc biệt là những vùng xa lưới điện ở Kenya. Mỗi tuần, Ruto đi hai dặm để thuê một chuyến môtô chở khách, và chuyến đi mất tới 3 giờ để đến được Mogotio, thị trấn có điện gần nhất. Đến nơi, cô để điện thoại lại một cửa hàng và sạc điện với giá là 30 xu. Tuy nhiên, dịch vụ này đông khách tới mức cô phải để điện thoại lại sau 3 ngày mới có thể trở lại lấy.  Hệ thống điện mặt trời mini  Nhưng vào tháng hai cô không phải tiếp tục lịch trình nhọc nhằn này nữa vì gia đình cô đã bán một số vật nuôi và lấy số tiền đó để mua một hệ thống điện mặt trời được làm từ Trung Quốc với giá khoảng 80 đô. Hiện tại trên nóc mái tôn của nhà cô, bảng năng lượng mặt trời này được cài đặt ngay ngắn, cung cấp đủ điện để sạc điện thoại và chạy bốn đèn sáng có kèm theo công tắc.   “Chiếc điện thoại là nguyên nhân chính ban đầu, nhưng việc lắp đặt hệ thống điện đã thay đổi nhiều thứ khác nữa”, Ruto ngồi thư giãn trong 1 căn lều vách đất mà cô chung sống cùng chồng và các con năng lượng tái tạo quy mô nhỏ trở nên rẻ, ổn định và hiệu quả hơn, nó đem lại nguồn điện cho những người sống ở xa lưới điện hay xa các đường ống dẫn nhiên liệu ở các nước đang phát triển. Tuy còn rất khiêm tốn so với các dự án năng lượng tái tạo đang được triển khai ở các nước công nghiệp phát triển nhằm cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính, nhưng chính các hệ thống nhỏ bé này đang đóng một vai trò lớn lao và thiết yếu.  Kể từ khi Ruto kết nối với hệ thống điện này thì những đứa con nhỏ của cô đạt điểm số cao hơn vì chúng có đủ ánh sáng để học tập. Những đứa bé hơn thì tránh được những nguy hiểm từ đèn dầu. Và mỗi tháng, cô tiết kiệm được khoảng 15 đô chi phí cho dầu và pin, và 20 đô trước kia vẫn phải dùng cho các chuyến đi sạc điện thoại ngoài thị trấn.  Thực tế là bây giờ những người hàng xóm trả cô 20 xu để sạc nhờ điện thoại, tuy rằng công việc kinh doanh kiểu này sẽ sớm phải giải tán vì gần đây đã có 63 gia đình ở Kiptusuri cài đặt của hệ thống điện mặt trời cho gia đình của mình.  “Bạn có thể bỏ qua nhu cầu dùng đến những đường dây tải điện cố định cung cấp cho các khu vực”, ông Adam Kendall, người đứng đầu dự án năng lượng châu Phi vùng hạ Sahara của  McKinsey & Company, một công ty tư vấn toàn cầu. “Nguồn năng lượng tái tạo ngày càng trở nên quan trọng hơn tại các nước đang phát triển”.  Liên Hiệp Quốc ước tính rằng 1.5 tỉ người trên toàn cầu vẫn không có điện để dùng trong đó ở Kenya có tới 85% dân số sống thiếu điện, và hiện có 3 tỉ người vẫn nấu và đun hằng ngày bằng củi hoặc than.  Không có số liệu chính xác về sự lan rộng của nguồn năng lượng tái tạo ở quy mô nhỏ tại những vùng nằm xa các lưới điện quốc gia, một phần vì các dự án thường được thực hiện bởi các cá nhân họăc là các tổ chức phi chính phủ rất nhỏ.  Nhưng Dana Younger, cố vấn cấp cao về năng lượng tái tạo tại Tổng công ty Tài chính Quốc tế, nguồn vay tư nhân của nhóm Ngân hàng Thế giới, nói rằng không có gì phải nghi ngờ nữa rằng xu hướng trên đang ngày một gia tăng. “Đó là một hiện tượng đang lan rộng khắp Thế giới, một số lượng lớn các hệ thống này đang được cài đặt khắp nơi” Dana Younger nói.  Với sự ra đời của các bảng điện mặt trời giá rẻ và những chiếc đèn LED đầy hiệu quả, có thể giúp thắp sáng một căn phòng với chỉ 4W điện, thay vì phải dùng 60W, những hệ thống điện mặt trời loại nhỏ nay có thể cung cấp nguồn điện hữu ích với mức giá mà ngay cả người nghèo cũng có đủ khả năng để sử dụng. “Bạn có thể thấy những người gia súc ở khu vực Nội Mông sử dụng các bảng điện mặt trời được lắp ngay trên lều của họ”, ông Younger nói.  Tại châu Phi, các hệ thống thị trường mới đã nổi lên ở Ethiopia, Uganda, Malawi và Ghana cũng như ở Kenya, cho biết từ Francis Hillman, một doanh nhân về năng lượng, người gần đây đã chuyển công việc kinh doanh từ các dự án năng lượng tái tạo lớn được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ sang kinh doanh những hệ thống nhỏ có thể lắp đặt trên mái nhà.  Ngoài các dự án năng lượng tái tạo nhỏ, công nghệ năng lượng tái tạo được thiết kế cho người nghèo còn bao gồm các buồng khí sinh học đơn giản dưới lòng đất để làm nhiên liệu và điện từ phân của những con bò, và những trạm thuỷ điện loại nhỏ có thể khai thác điện năng từ một con sông địa phương cho toàn bộ ngôi làng.  Cần mạng lưới phân phối hiệu quả  Dù các hệ thống điện tự phát nằm xa lưới điện này đã chứng tỏ được giá trị của chúng, nhưng việc thiếu một mạng lưới phân phối hiệu quả và thiếu một phương thức ổn định để chi trả cho những chi phí ban đầu đã ngăn chặn chúng phổ biến hơn.  “Vấn đề lớn đối với chúng ta hiện nay là chúng ta chưa có mô hình kinh doanh chuẩn nào”, theo lời ông John Maina, điều phối viên của tổ chức Dịch vụ Phát triển Cộng đồng bền vững, hay còn gọi là Scode, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Nakuru, Kenya, nay đang nỗ lực với mục tiêu đưa điện về nông thôn.  Một vài năm trước, ông Maina đã nói, “đèn năng lượng mặt trời” đã chỉ đơn thuần là những chiếc đèn lồng cơ bản, mờ và không ổn định.  “Cuối cùng, các sản phẩm mới đã xuất hiện, người dân yêu cầu được cung cấp và họ và sẵn sàng trả chi phí. Nhưng chúng tôi không thể đáp ứng được”, ông nói. Những tổ chức nhỏ ở châu Phi như tổ chức của ông không có khả năng và quan hệ để tự đặt hàng với số lượng lớn từ các nhà sản xuất từ xa, buộc họ phải vật lộn tìm mua mỗi khi có một chuyến hàng được nhập khẩu vào.  Một phần của vấn đề là do các hệ thống mới này trái với những khuôn mẫu truyền thống, trong đó năng lượng điện được tạo ra bởi một số ít các công ty lớn của chính phủ có vai trò mở rộng dần lưới điện vào các khu vực nông thôn. Các nhà đầu tư không muốn đổ tiền vào các sản phẩm phục vụ thị trường rải rác của người tiêu dùng nghèo ở nông thôn vì họ nhìn thấy rủi ro là quá cao.  “Có rất nhiều dự án nhỏ thành công, nhưng chúng cần phải mở rộng quy mô”, ông Minoru Takada, giám đốc chương trình năng lượng bền vững của Liên Hợp Quốc cho biết. “Hệ thống điện tự phát ngoài lưới là lời giải đáp cho người nghèo. Nhưng những người kiểm soát nguồn vốn tài trợ còn phải xem xét lựa chọn này liệu có thể điều phối một cách khả thi hay không”.  Ngay cả các chương trình của Liên Hiệp Quốc và các quỹ chính phủ Hoa Kỳ thúc đẩy nguồn năng lượng than thiện với khí hậu ở các nước đang phát triển cũng thiên vềcác dự án lớn như các trang trại điện gió hoặc những dự án năng lượng điện mặt trời với quy mô công nghiệp đủ để cung cấp vào lưới điện. Tài trợ vào một dự án năng lượng mặt trời khoảng 300 triệu USD  là dễ dàng để cấp vốn và kiểm soát hơn là tài trợ cho một dự án với 10 triệu hệ thống điện quy mô gia đình cho các hộ nghèo  trên một lục địa.  Kết quả là, tiền không chảy vào những khu vực nghèo nhất.  Các chuyên gia của Liên Hợp Quốc đã ước tính rằng trong số 162 tỉ đô đầu tư vào năng lượng tái tạo thì có 44 tỉ đô đã được chi tiêu chung cho Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, và chỉ có 7,5 tỉ đô chi cho các quốc gia nghèo hơn.  Chỉ có 6-7% tấm pin mặt trời được chế tạo để sản xuất điện mà không đưa vào lưới điện, trong đó bao gồm các hệ thống như của Ruto và những tấm pin sử dụng năng lượng mặt trời chiếu sáng ở các bãi đậu xe, và các sân vận động ở Mỹ.  Tuy nhiên, một số mô hình mới đang nổi lên. Husk Power Systems, một công ty trẻ được sự hỗ trợ bởi các nguồn đầu tư của tư nhân và các quỹ phi lợi nhuận, đã xây dựng 60 nhà máy điện quy mô cỡ làng ở nông thôn Ấn Độ, sản xuất điện từ vỏ trấu tại 250 thôn, bản từ năm 2007.  Ở Nepal và Indonesia, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc đã tài trợ xây dựng rất nhiều nhà máy thủy điện nhỏ, mang điện cho các cộng đồng miền núi xa xôi. Ma Rốc trợ cấp 100 USD cho mỗi hệ thống cung cấp điện mặt trời ở các vùng sâu vùng xa nông thôn, nơi mà việc mở rộng điện lưới quốc gia quá tốn kém.  Thị trường hứa hẹn cho năng lượng tái tạo  Điều đã làm một số chuyên gia trong lĩnh vực này cảm thấy ngạc nhiên là sự xuất hiện gần đây của một thị trường thực sự ở châu Phi đối với các hệ thống cấp điện tái tạo ở quy mô gia đình và các thiết bị giúp tiêu thụ ít năng lượng hơn. Do chi phí của các thiết bị chất lượng ổn định được giảm xuống, các gia đình sẵn sàng hơn bao giờ hết để mua chúng, ví dụ như bằng cách bán một con dê, hay mượn tiền từ những người thân quen ở hải ngoại.  Sự bùng nổ của việc sử dụng điện thoại di động ở vùng nông thôn châu Phi là một nguyên nhân thúc đẩy lớn. Nhiều vùng nông thôn châu Phi không có ngân hàng, nên điện thoại di động được dùng như một dụng cụ cho các giao dịch thương mại cũng như thông tin liên lạc cá nhân, khiến người dân buộc phải có nhu cầu cần sạc điện thoại.   M-Pesa, hãng dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại lớn nhất của Kenya, hàng năm chuyển một lượng tiền tương tương lên tới hơn 10 % tổng sản phẩm quốc nội, hầu hết là qua thực hiện các giao dịch nhỏ hiếm khi vượt quá 20 USD.  Các hệ thống năng lượng tái tạo rẻ tiền cũng cho phép người nghèo nông thôn tiết kiệm tiền bằng việc đỡ phải sử dụng nến, than, pin, gỗ và dầu hỏa. “Vì vậy, người dân có khả năng chi trả và sẵn sàng trả,” ông Younger của Tổng công ty Tài chính Quốc tế cho biết.  Ở một làng Kenya khác, Lochorai, Alice Wangui 45 tuổi và Agnes Mwaforo 35 tuổi, trước đây đều là những nông dân làm đủ ăn, hiện giờ đang điều hành một doanh nghiệp phát đạt với việc bán và lắp đặt những chiếc bếp lò tiết kiệm nhiên liệu bằng đất sét và kim loại để đun nấu củi với chi phí là 5 USD. Mặc đồng phục với áo và váy màu cam sáng, họ đi bộ xuống những con đường đất với điện thoại di động thường trực gắn ở tai, lách qua những con dê và những chú cún để đến phục vụ những khách hàng đang trong danh sách chờ.  Khom mình trên chiếc bếp mới, bà Naomi Muriuki 58 tuổi nấu một nồi hầm khoai tây và đậu. Bà cho biết thiết bị này đã giúp giảm đi hơn một nửa lượng củi đun của bà. “Củi đun trở nên đắt tiền và khó kiếm hơn khi mà chính phủ đang cố gắng hạn chế nạn phá rừng” bà nói thêm.  Ở Tumsifu, bà Virginia Wairimu, 35 tuổi, một nông dân chăn nuôi bò sữa với cuộc sống khá giả hơn một chút, nay được hưởng lợi từ một bể ngầm chứa phân thải từ 3 con bò của bà, chuyển hoá số phân này thành khí sinh học sau đó bơm qua một ống cao su để sử dụng làm gas đun nấu.  “Tôi chỉ việc thức dậy và làm bữa sáng” bà Wairimu nói. Hệ thống này được tài trợ bằng một khoản vay 400 USD từ một dự án thí điểm từ lâu đã bị ngừng hoạt động.  Ở Kiptusuri, các hệ thống đèn Firefly LED được mua bởi bà Ruto có thể coi là một dụng cụ thiết yếu. Chiếc nhỏ nhất có chi phí là 12 USD bao gồm một bảng thu năng lượng mặt trời có thể được đặt trên cửa sổ hoặc trên mái nhà và được kết nối với một chiếc đèn bàn và bộ sạc điện thoại. Những chiếc có dung lượng lớn hơn có thể dùng để chạy radio và ti vi đen trắng.  Tất nhiên, những hệ thống như vậy không thể so sánh được với điện lưới ở các nước công nghiệp. Nếu trời mưa trong một tuần sẽ tương ứng với việc không có điện để dùng. Và các vật dụng như tủ lạnh sẽ cần nguồn năng lượng lớn hơn và ổn định hơn so với lượng điện mà một bảng điện mặt trời có thể cung cấp.  Tuy nhiên ở Kenya, điện lưới cũng thất thường và tốn kém, các gia đình phải trả hơn 350 USD để được nồi điện.  “Với hệ thống này, bạn nhận được ánh sáng thực sự với mức chi phí bằng lượng dầu hỏa bạn dùng trong một vài tháng”, ông Maina ở tổ chức Dịch vụ Phát triển Cộng đồng bền vững cho biết. “Khi bạn có thể thắp sáng nhà và sạc điện thoại, điều đó thật giá trị”.  (Elisabeth Rosenthal, New York Times)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời sẽ “soán ngôi” điện than nhanh hơn chúng ta tưởng      Năng lượng mặt trời từng có lúc hết sức đắt đỏ và chỉ có hiệu quả kinh tế khi được sử dụng trên tàu vũ trụ, nhưng nay đang dần rẻ đi, thậm chí sẽ khiến các nhà máy điện than và khí đốt thiên nhiên không thể kinh doanh được nữa nhanh hơn các dự báo trước đây.    Đó là kết luận rút ra từ báo cáo triển vọng về thị trường điện và nhiên liệu đến năm 2040 do tổ chức nghiên cứu New Energy Finance thuộc doanh nghiệp Bloomberg L.P (BNEF) công bố. Nhóm nghiên cứu ước tính giá điện mặt trời đã cạnh tranh với giá điện than của các nhà máy mới xây dựng ở Đức và Mỹ và tình hình sẽ tương tự ở những thị trường tăng trưởng nhanh như Ấn Độ và Trung Quốc vào năm 2021.  Bức tranh toàn cảnh cho thấy năng lượng xanh đang “bén rễ” nhanh hơn hầu hết dự đoán của các chuyên gia. Điều đó có nghĩa là ô nhiễm carbon dioxide trên toàn cầu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch có thể giảm sau năm 2026, ngược lại với dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế vốn cho rằng lượng khí thải sẽ tăng đều đặn trong hàng thập kỷ tới.  “Giá của các công nghệ về năng lượng mới đang giảm tới mức vấn đề cần cân nhắc giờ đây không phải là có sử dụng [những công nghệ này] hay không mà là khi nào”, Seb Henbest, nhà nghiên cứu tại BNEF ở London và là tác giả chính của báo cáo cho biết.  Báo cáo chỉ ra rằng cho tới năm 2040:  + Trung Quốc và Ấn Độ đại diện cho những thị trường lớn nhất về năng lượng mới, thu hút được 4.000 tỉ USD đầu tư, tương đương khoảng 39% tổng đầu tư cho lĩnh vực này.  + Giá điện gió từ các trạm điện gió ngoài khơi – cho đến gần đây vẫn là công nghệ năng lượng tái tạo chủ đạo đắt đỏ nhất – sẽ giảm tới 71%.  + Ít nhất 239 tỉ USD sẽ được đầu tư vào pin lithium-ion nhằm biến các thiết bị trữ năng lượng trở thành cách khả thi để cung cấp điện một cách hiệu quả cho các hộ gia đình và lưới điện, đồng thời tăng khả năng sử dụng ô tô điện.  + Khí thiên nhiên sẽ thu hút khoảng 804 tỉ USD đầu tư, nâng công suất phát điện lên thêm 16% và đưa nguồn nhiên liệu này trở thành đối trọng chính trong việc cân bằng thị trường năng lượng đang ngày càng phụ thuộc vào lượng điện được làm ra từ các nguồn năng lượng không liên tục như  gió và mặt trời.    Năng lượng tái tạo sẽ được đầu tư ngày càng nhiều so với năng lượng hóa thạch. Nguồn ảnh: BNEF.  Gây ấn tượng nhất là kết luận của BNEF về các nguồn năng lượng tái tạo và ảnh hưởng của chúng tới các nhiên liệu hóa thạch. Giá điện sản xuất từ các tấm pin quang điện chỉ còn gần bằng ¼ so với mức giá vào năm 2009 và có khả năng  sẽ giảm tiếp 66% vào năm 2040. Bên cạnh đó, giá năng lượng gió trên đất liền, vốn đã giảm 30% trong tám năm qua, sẽ giảm thêm 47% vào 2040.  Điều đó có nghĩa là, ngay cả ở những quốc gia đang đẩy nhanh quá trình xây dựng nhà máy điện than như Trung Quốc và Ấn Độ, thì năng lượng mặt trời vẫn bắt đầu mang lại nguồn điện có giá rẻ hơn vào đầu những năm 2020.  “Những điểm tới hạn đó đều đang xảy đến sớm hơn và chúng ta không thể phủ nhận rằng công nghệ này ngày càng rẻ hơn so với suy nghĩ của chúng ta trước đây,” ông Henbest nhận xét.  Theo BNEF, điện than sẽ là “nạn nhân” bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với các dự án có tổng công suất khoảng 369 GW bị hủy bỏ. Con số này tương đương với tổng công suất điện của Đức và Brazil cộng lại.  Sản lượng ngành than cũng sẽ giảm, ngay cả ở Mỹ, nơi tổng thống Donald Trump đang tìm cách thúc đẩy sản xuất năng lượng hóa thạch. BNEF tin rằng, đến năm 2040, sản lượng điện than ở Mỹ sẽ giảm xuống còn một nửa so với thời điểm hiện tại, sau khi các nhà máy điện than lâu năm không hòa lưới điện và đang được thay thế bởi các nguồn năng lượng rẻ hơn và ít gây ô nhiễm môi trường hơn như khí đốt và năng lượng tái tạo.  Ở châu Âu, sản lượng điện than sẽ giảm tới 87% do các bộ luật về môi trường đẩy cao chi phí đốt nhiên liệu hóa thạch. BNEF kỳ vọng rằng, nhu cầu cấp thiết về than đá trên toàn thế giới sẽ bắt đầu giảm từ khoảng năm 2026 do các chính phủ sẽ cắt giảm khí thải nhằm thực hiện cam kết theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Henbest khẳng định: “Donald Trump không thể đơn thương độc mã thay đổi cơ cấu của ngành năng lượng toàn cầu điều đó nằm ngoài khả năng của một tổng thống”.  BNEF kết luận rằng, đến năm 2040, điện gió và điện mặt trời chiếm khoảng một nửa công suất phát điện lắp đặt (tính bằng kw) của thế giới – hiện con số này là 12%, và sẽ chiếm 34% sản lượng (tính bằng kwh) của tất cả các nguồn điện, so với mức 5% hiện tại.  Lê Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.bloomberg.com/news/articles/2017-06-15/solar-power-will-kill-coal-sooner-than-you-think    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện Quang: ĐMST trong nhiều lĩnh vực      Hàng chục năm liền được bình chọn là hàng Việt Nam  chất lượng cao và xuất khẩu sản phẩm tới hơn 30 quốc gia trên thế giới –  đây có lẽ là kết quả của việc Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang đã tiến hành ĐMST trong nhiều  lĩnh vực kể từ năm 2000.    Để cải tiến chất lượng sản phẩm, công ty đã xây dựng một trung tâm R&D với nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, cải tiến chất lượng sản phẩm, nghiên cứu vật liệu mới, cải tiến công nghệ sản xuất, thiết bị sản xuất. Công ty đã tuyển dụng được một lực lượng nghiên cứu giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm, đồng thời đầu tư mua sắm nhiều trang thiết bị hiện đại, phục vụ cho nghiên cứu, thử nghiệm tại Trung tâm R&D.   Trong hệ thống phòng thí nghiệm của Trung tâm, phòng thử nghiệm về chiếu sáng và thiết bị điện được đầu tư quy củ và hiện đại nhất, được Văn phòng Công nhận chất lượng Việt Nam công nhận đạt chuẩn ISO 17025.   Nhằm tăng cường hơn năng lực nghiên cứu, Điện Quang còn hợp tác với nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, tìm kiếm thêm các đối tác trong và ngoài nước, qua đó tìm ra những giải pháp công nghệ trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Năm 2013, công ty đã cho ra đời dòng sản phẩm mới hạn chế tối đa tiêu hao năng lượng như bóng đèn compact chống ẩm, compact tiết kiệm, các loại đèn bàn an toàn cho trẻ em cũng như các sản phẩm khác như thiết bị đóng cắt điện tự động, biến tần, bộ điều khiển công sauats đèn cao áp PowerEco TKNL cho hệ thống đèn chiếu sáng công cộng… đều dựa trên kết quả nghiên cứu ở Trung tâm R&D.   Hiện nay nhiều dự án mới đang được triển khai cùng nhiều đối tác trong và ngoài ngành để hướng tới một hệ thống sản phẩm an toàn, tiết kiệm, thân thiện với môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.   Từ hoạt động của Trung tâm R&D, Điện Quang đã có sản phẩm được dán nhãn CE, đạt chuẩn về an toàn của châu Âu, được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận sản phẩm thân thiện với môi trường và được Bộ Công Thương chứng nhận sản phẩm đạt chuẩn tiết kiệm quốc gia. Hiện Điện Quang là một trong 500 doanh nghiệp lớn nhất cả nước theo bảng xếp hạng VNR500.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện thoại thông minh thay thế chìa khóa phòng khách sạn      10 khách sạn thuộc chuỗi khách sạn Starwood toàn cầu chuẩn bị sử dụng chính điện thoại thông minh của khách hàng làm chìa khóa phòng. Công nghệ này sẽ bắt đầu được phổ biến tại 150 khách sạn thuộc hệ thống Aloft, Element, và W Hotels đầu năm sau.&#160;     “Các thiết bị di động giờ đây đã trở thành điều khiển từ xa cho cuộc sống của tôi”, Frits van Paasschen- Giám đốc điều hành chuỗi Khách sạn và Khu nghỉ dưỡng Starwood nói với CNNMoney. Với những tiện ích của nó, ông thấy không có lý do gì mà không dùng thiết bị di động để ra vào phòng và đặt các dịch vụ ở khách sạn.  Khách có thể đăng ký (check-in) khách sạn thông qua ứng dụng di động của riêng Starwood, nhận số phòng và chìa khóa Bluetooth. Như vậy khi đến họ có thể đi thẳng về phòng của mình, tiết kiệm thời gian làm thủ tục tại quầy. Để mở cửa phòng, khách đơn giản chỉ phải giơ điện thoại ra trước ổ khóa và đợi một tiếng click.   Ông Van Paasschen cho biết chìa khóa di động là một lựa chọn an toàn hơn cho khách. Nếu khách làm mất thiết bị di động của mình, họ sẽ phát hiện ra ngay. Nếu khách đặt chế độ mở bằng mã khóa cho điện thoại của mình thì dù ai đó nhặt được điện thoại, họ cũng không thể mở cửa phòng của khách được.   Starwood, tập đoàn mẹ đẻ của các chuỗi khách sạn Sheraton, Westin và St.Regis, không phải là công ty duy nhất chuẩn bị giã từ chìa/thẻ khóa phòng. Tập đoàn Hilton cùng đang nghiên cứu một công nghệ tương tự.  Hầu hết các chuỗi khách sạn lớn đều đang rót tiền vào việc cải tiến các ứng dụng và dịch vụ di động của mình. Họ đang đặt cược vào các ứng dụng di động như đăng ký và thanh toán tiền khách sạn (check-in, check-out) để lôi kéo nhóm khách hàng trẻ tuổi. Các ứng dụng di động cũng cung cấp những cách tốt hơn để bán dịch vụ phòng, thực hiện lên hạng, và các khuyến mại khác.  Starwood cho biết sử dụng chìa khóa và đăng ký bằng di động mới chỉ là những bước đi đầu tiên trong chiến lược di động hóa của tập đoàn. Họ sẽ còn tiếp tục nâng cao hơn nữa các tính năng của ứng dụng của mình để có thể hiểu rõ và đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của khách hàng.  PV dịch   Nguồn: http://money.cnn.com/2014/11/04/technology/mobile/starwood-hotel-room-unlock-phone/index.html?iid=SF_T_River       Author                Quản trị        
__label__tiasang Diệt chuột ở New York bằng đá khô      Từ  nhiều năm nay  New York khốn đốn vì nạn chuột. Nay các nhà diệt dịch hại lần đầu tiên sử dụng đá khô để diệt chuột và thu được kết quả tốt.    Theo một nghiên cứu của ĐH Columbia, ở New York có khoảng 2 triệu con chuột. Từ nhiều năm nay thành phố với 8,5 triệu dân khốn đốn vì chuột. Trong điều kiện các thành phố lớn, loài chuột thường chỉ có tuổi thọ được khoảng sáu đến bẩy tháng. Tuy nhiên chúng lại phát triển rất nhanh. Một con chuột cái mỗi năm có thể đẻ trên 100 chuột con.  Hiện tại các chuyên gia diệt sinh vật gây hại đang áp dụng một phương pháp diệt chuột mới nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chúng. Đá khô là vũ khí mới nhất mà cơ quan y tế New York cho phép áp dụng để diệt chuột. Đá khô được tuồn vào hang chuột rồi lấp kín, chuột sẽ bị chết ngạt trong hang.   Rick Simeone, người phụ trách diệt vật gây hại đã cùng với đội diệt vật gây hại của ông tiến hành diệt chuột tại công viên Sara D. Roosevelt ở Lower East Side (Manhattan). Đầu tiên họ đã dành ba tiếng đồng hồ để tìm các cửa hang. Họ đã tìm thấy tổng cộng 67 cửa hang. Điều này có nghĩa ở khu vực công viên này có trên 250 con chuột.  Đội diệt chuột đã cho đá khô mầu trắng như tuyết, không có mùi vào các cửa hang. Nhiệt độ không khí làm cho đá khô, thực chất là Carbondioxid từ dạng chất rắn chuyển sang dạng khí, loài khí này lan toả vào mọi ngóc ngách của hang. Thường vào thời điểm này chuột ngủ nên bị chết ngạt. Tỷ lệ thành công: 90 đến 100 % chuột bị chết. “Phương pháp này thích hợp cho việc diệt chuột ở các công viên, cánh đồng”, Simeon cho hay.  Đá khô chủ yếu được dùng để làm lạnh. Năm  2012 John Stellberger, chuyên gia diệt vật gây hại, là người đầu tiên dùng đá khô để diệt chuột, từ mùa hè năm ngoái được chính thức cấp phép để diệt chuột ở Hoa Kỳ. Sau một loạt thử nghiệm và khảo sát, New York cũng như Boston, Chicago và Washington đã chính thức áp dụng phương pháp diệt chuột này từ đầu năm nay.  Hiện tại phương pháp này chưa được áp dụng ở một số nước như Đức. Erik Schmolz, chuyên gia về diệt trừ vật gây hại thuộc Cục Môi trường Liên bang Đức cho hay “Đức chưa cấp phép cho việc dùng đá khô để diệt chuột. Tuy nhiên chúng tôi đang tìm các phương pháp mới, thân thiện với môi trường.” Khác với dùng chất độc để diệt chuột, đá khô không gây ngộ độc với các loại động vật khác. Cho đến nay ở Đức người ta thường dùng thuốc độc hoặc dùng bẫy sập để diệt chuột.   Tuy nhiên ngay cả ở New York, phương pháp diệt chuột bằng đá khô cũng không phải là giải pháp thích hợp để diệt chuột trong mọi điều kiện. Tại những vị trí có nhiều nhà cửa, bị bê tông hoá việc tìm các cửa hang chuột khá phức tạp. Tháng 7 này thị trưởng New York Bill de Blasio thực hiện một dự án diệt chuột trị giá 32 triệu USD. Điều quan trọng nhất của dự án là triệt nguồn thức ăn của chuột. Tất cả các thùng rác đều phải có nắp và không để lưu cữu.  Robert Corrigan, giám đốc doanh nghiệp diệt vật gây hại  được biết đến dưới cái tên “vua chuột” ông này ủng hộ dự án diệt chuột của thành phố. Corrigan cho hay “Mỗi khi tôi thấy lũ chuột hoành hành tại một khu chung cư, tôi không bao giờ hỏi mình rằng ‘nên đặt mồi diệt chuột ở chỗ nào?’ mà đều tự hỏi ‘không biết lũ chuột kiếm thức ăn ở đâu?’ “.  Cùng quan điểm với các chuyên gia diệt chuột Hoa Kỳ, các chuyên gia Đức ở thủ đô Berlin cũng cho rằng: Dọn sạch rác thải thì không cần dùng đến chất độc để diệt chuột. Chính quyền Berlin khuyến cáo người dân không đổ thức ăn thừa vào nhà vệ sinh, và tuyệt đối không đổ rác bừa bãi.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/fotostrecke/trockeneis-new-york-macht-seine-ratten-kalt-fotostrecke-161818-3.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Diệt chuột vì tiếc từng hạt thóc      Nhờ  nghiên cứu tập tính và thói quen của chuột, người nông dân Trần Quang  Thiều (thôn Bình Vọng, xã Văn Bình, huyện Thường Tín, Hà Nội) đã thành  công trong việc sáng chế ra chiếc bẫy diệt chuột không cần mồi, duy trì  được hiệu quả trong nhiều năm, cứu hàng trăm nghìn tấn thóc có nguy cơ  mất đi do nạn chuột.      Xuất phát điểm chỉ là một nông dân học hết lớp 9, sau khi rời quân ngũ, ông Thiều về sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Chứng kiến chuột tàn phá mùa màng, ông đã đầu tư nhiều thời gian công sức, từ nghiên cứu đặc tính, thói quen, phản xạ, phản ứng của các loại chuột đến việc tìm các chất liệu phù hợp chế tạo ra chiếc bẫy bán nguyệt mới không cần mồi, có tốc độ sập nhanh, lực đập mạnh, hiệu quả hơn hẳn những chiếc bẫy khác trên thị trường như bẫy lồng, bẫy răng cưa, bẫy bán nguyệt… Đặc điểm chung của các bẫy này là dùng mồi nhử nhưng tốc độ sập bẫy thường chậm hơn tốc độ lướt của chuột nên chuột vẫn thoát. Thêm nữa, vào thời kì mài răng, chuột ít ăn mồi tĩnh thì bẫy chuột dùng mồi không phát huy tác dụng tối đa.   Năm 2000, nhân việc bắt được một hang chuột đồng gồm một chuột đực và 15 chuột cái, ông Thiều quyết định đem về nhà nuôi để quan sát tập tính, đường đi của chúng. Ông phát hiện ra rằng, nếu chỉ bị cắt râu, khâu mắt, hoặc cắt tai thì chuột vẫn đi đúng đường; chỉ đến khi đồng thời bị cắt râu, khâu mắt, cắt tai thì chuột mới hoàn toàn mất khả năng định hướng.   Từ những thí nghiệm, quan sát có được, ông Thiều đã sáng tạo chiếc bẫy chuột không mồi, hoạt động như một bẫy vướng (vướng là sập), tốc độ nhanh, lực đập lớn. Cấu tạo chính của bẫy gồm vành bẫy (vành tĩnh và vành động, làm bằng thép cứng), lò xo (làm từ thép ứng lực không gỉ), cần gài, lẫy đối trọng, quả đối trọng (là một miếng xốp đen gắn vào lẫy đối trọng). Thực hiện đo do TS Nguyễn Văn Biên ở ĐHSPHN tiến hành cho ra kết quả: Lực kéo lên (kéo vành động) là 100 Newton (10 kg), lực đập xuống là 670 Newton (67kg), tốc độ sập khoảng 0.01 giây, lực tác động sập bẫy là 23gr (đầu cần gài bẻ cong xuống, bẫy đặt càng dốc thì lực tác động nhỏ 1gr cũng có thể sập). Với tốc độ nhanh, lực đập lớn và độ nhậy như vậy, chỉ cần vướng vào bẫy làm miếng đối trọng mất cân bằng, không con chuột nào thoát được.   Tuy nhiên, theo ông Thiều, một chiếc bẫy như trên chỉ quyết định 50% hiệu quả diệt chuột, 50% còn lại phụ thuộc vào cách thức đặt bẫy. Ông đã tìm ra 15 dấu hiệu phát hiện chuột (vết chân, vệt nhẵn, vết cắn, lối mòn, vết trượt, vệt bơi, vết phân…) và 12 cách đặt bẫy ở các địa hình (ngoài đồng, trong nhà, trên dây, dưới nước) sao cho chuột bị tóm gọn.    Ông Thiều cũng khẳng định loại chuột leo đuôi dài (chuột từ rừng di chuyển về thành phố) là loài chuột khôn nhất, khó bắt nhất đồng thời phá hoại nhiều nhất. Không chỉ tàn phá mùa màng, cắn phá các kho nguyên liệu, thực phẩm, loài chuột này còn là nguyên nhân gây ra các vụ cháy nổ nghiêm trọng. Đặc điểm chuột leo đuôi dài rất ít tha mồi tĩnh, không ăn bả, tốc độ chạy nhanh (2,7m/giây) do vậy phải đặt bẫy đúng cách mới có thể diệt được. Một là đặt ở các góc lồi, nếu trên đường thẳng thì đặt hai bẫy liên hoàn cách nhau 15cm, vì khi gặp bẫy thứ nhất theo phản xạ nó sẽ nhảy trúng đến bẫy thứ hai…   Với phương châm thực hành trước, lý thuyết sau, đến các địa phương sản xuất nông nghiệp, ông Thiều cho người dân mượn bẫy, hướng dẫn họ đặt bẫy, sau đó người dân tự thực hành đặt bẫy và gỡ chuột. Ông Thiều cho biết, một đêm có thể đánh được hàng trăm con chuột. Từ hiệu quả trực tiếp, người dân tự quyết định có mua bẫy hay không và mua loại nào – loại 9 nghìn đồng/chiếc sử dụng trên cánh đồng, hay loại 20 nghìn đồng/chiếc sử dụng ở mọi địa hình. Người mua cũng không cần trả tiền ngay mà có thể ghi nợ. Với các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp của ông Thiều đến tận nơi bắt chuột trước, kí hợp đồng sau, đảm bảo không hiệu quả không lấy tiền. Từ năm 2000 đến nay, ông Thiều đã bán được 32 triệu bẫy chuột, 2/3 số đó phục vụ cho nông nghiệp. Thời hạn bảo hành mỗi bẫy là hai năm.   Ông đã thành lập một công ty và ba doanh nghiệp tư nhân giao cho các con quản lý, phục vụ nhu cầu diệt chuột của các cơ quan, doanh nghiệp ở thành phố. Ngoài ra, ông Thiều còn đến các địa phương ở 40 tỉnh thành trực tiếp hướng dẫn nông dân diệt chuột. Ông cho biết, chỉ cần sử dụng 20 bẫy/ha là người nông dân có thể dẹp được vấn nạn chuột.   Theo thống kê trong quá trình diệt chuột, đến nay ông Thiều đã diệt được 41 triệu con. Có số liệu cho biết mỗi năm, một con chuột cống ăn tối thiểu 9 kg lương thực, thực phẩm1. Từng sống trong cảnh bần hàn, “trông thấy cái gì bị mất là tiếc, kể cả là của thiên hạ mất cũng tiếc”, ông Thiều cho việc ông đang làm “mình cũng có lợi nhưng xã hội được lợi nhiều hơn”.    Nhận bằng độc quyền sáng chế (2007) và nhiều giải thưởng Nhà nước có giá trị, với hơn 40 lần vinh danh, xuất hiện nhiều lần trên báo chí nhưng “người ta chỉ gọi tôi là nhà khoa học chân đất, nhà sáng chế không bằng cấp, mình ở đáy giếng, đưa ra vấn đề gì cũng bị xem thường”, ông Thiều chia sẻ.   Tuy vậy, ông Thiều vẫn ấp ủ đề tài diệt chuột trên phạm vi toàn cầu. Bằng thực tế nghiên cứu; thực tế diệt chuột ở khắp các địa phương trên cả nước và ở một số nước lân cận (Trung Quốc, Campuchia), ông “vua diệt chuột” đã làm chiếc bẫy chuột hình bán nguyệt không cần mồi kích thước lớn (khi căng vành chiều rộng 22cm, chiều dài 28cm, lực kéo 20 kg, đập xuống 120kg) và tự tin về khả năng bắt được con chuột khổng lồ (kích cỡ như con mèo) ở Anh2.            Ông Thiều cho biết, hiện chưa có cơ chế thẩm  định, công nhận tính khoa học của những nghiên cứu do những người không  có bằng cấp như ông thực hiện để kết quả nghiên cứu được phổ biến và áp  dụng rộng rãi. Cũng đã có quan chức năng nói có thể phát triển các  nghiên cứu của ông về chuột thành một đề tài khoa học với điều kiện  người khác sẽ đứng tên nhưng ông kiên quyết từ chối, theo lời ông Thiều.               Chú thích:   1. http://elib.dostquangtri.gov.vn/ntmn/Include/Index. asp?option=6&ID=115&IDhoi=1782  2.http://www.vietnamplus.vn/nguoi-dan-anh-hot-hoang-vi-chuot-khong-lo-hoanh-hanh/254391.vnp                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều 292 BLHS hạn chế sự sáng tạo của startup*?      Những ngày qua, đề tài nóng nhất trong làng khởi nghiệp (start-up) trẻ của Việt Nam có lẽ chính là điều 292 trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi) mới được Quốc hội thông qua năm ngoái và sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 tới.    Nguồn: Startupkarma.co  Điều 292 xác định tội danh “cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông” và áp đặt khung hình phạt tùy theo lợi nhuận hoặc doanh thu từ hành vi vi phạm. Mức phạt tài chính cao nhất có thể là 5 tỷ đồng. Nếu không phạt tiền thì người vi phạm có thể phải chịu mức án tù cao nhất là 5 năm tù. Người vi phạm đồng thời còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm một công việc nhất định từ một đến năm năm, và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.  Không phải là “ác mộng” cho tất cả các startup…  Với nội dung hiện nay, điều 292 không phải là “ác mộng” đối với tất cả các startup công nghệ mà chỉ với các hành vi cung cấp dịch vụ trên mạng máy tính. Cần phải có một sự phân biệt rạch ròi giữa người làm ra sản phẩm công nghệ (Product/Technology Creators) và người cung cấp dịch vụ trên mạng máy tính (Service Providers).  Ví dụ: Một người lập trình game đơn lẻ (như Nguyễn Hà Đông) khó mà có thể được xem là tương đương với một người cung cấp dịch vụ game trực tuyến (như game Võ Lâm Truyền Kỳ của Vinagame). Có thể tìm được một định nghĩa pháp định đã có dành cho “dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng” trong Nghị Định 72/2013/ND-CP: “Việc cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi các trò chơi điện tử trên mạng“.  Điều 292 hoàn toàn không có mục tiêu quản lý tất cả các hành vi làm ăn liên quan đến máy tính và mạng máy tính. Những người làm ra sản phẩm công nghệ (phần mềm máy tính, ứng dụng di động, thiết bị điện tử v.v.) không chịu sự kiểm soát của điều 292 cùng những chế tài nặng nề của nó trừ phi bản thân những người đó đồng thời thực hiện hành vi cung cấp dịch vụ trên mạng máy tính theo nội dung điều 292.  Nhưng lại triệt tiêu sức sáng tạo của những công nghệ mới?  Tuy nhiên, cũng nên nhìn nhận thêm rằng trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, ranh giới giữa sản phẩm công nghệ và dịch vụ công nghệ trong nhiều trường hợp là khá mờ nhạt.  Lấy ví dụ Uber. Dịch vụ công ty này cung cấp là kinh doanh mạng lưới giao thông vận tải và taxi dựa trên một ứng dụng di động thông minh liên kết người cần xe và người lái xe. Nghĩa là Uber vừa là bên làm ra sản phẩm công nghệ (ứng dụng di động thông minh) vừa là bên cung cấp một số dịch vụ (vận tải và taxi). Nhiều người làm start-up trẻ của Việt Nam đang hướng đến những mảng dịch vụ trên nền tảng ứng dụng thông minh theo xu hướng như của Uber, kết nối doanh nghiệp với người tiêu dùng (Business-to-Consumers – B2C) hay kết nối người tiêu dùng với nhau (Consumers-to-Consumers – C2C).  Bên cạnh đó, bản chất của các phần mềm máy tính và ứng dụng di động đang thay đổi liên tục sang chiều hướng tận dụng điện toán đám mây (cloud computing), nghĩa là một phần mềm hay ứng dụng sẽ vừa có các đặc tính của một sản phẩm trí tuệ ‘một cục’ (one-off) mang tính thuần sản phẩm không phụ thuộc vào mạng máy tính, vừa có các đặc tính của một ứng dụng web vốn phải được tiếp cận thông qua mạng máy tính. Việc này tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng sử dụng trực tuyến (Application Service Providers) và các doanh nghiệp Phần-Mềm-Như-Dịch-Vụ (Software-as-a-Service – SaaS). Các loại doanh nghiệp này không trực tiếp cung cấp một dịch vụ truyền thống bất kỳ cho khách hàng, mà cung cấp dịch vụ hỗ trợ sử dụng, duy trì và bảo trì một phần mềm máy tính trực tuyến để khách hàng có thể tự xài phần mềm đó cho mục đích của họ. Hướng phát triển đầy tiềm năng này có thể nằm trong phạm vi điều chỉnh của điều 292 dựa trên khoản 1(e) ““các loại dịch vụ khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của pháp luật”.  Vì vậy, các ảnh hưởng tiêu cực của điều 292 có thể sẽ hạn chế rất mạnh sức sáng tạo của những start-up đi theo các xu hướng kinh doanh hòa trộn sản phẩm công nghệ và dịch vụ như thế.  Vì sự “an toàn” của người dân?  Sự ‘bóp nghẹt’ sáng tạo đã được nói đến sẽ không phải chỉ vì bản thân nội dung luật mà còn vì việc thi hành rối rắm, không hiệu quả của nhiều cơ quan chức năng.  Có ý kiến cho rằng, điều luật 292 BLHS chỉ quy định chế tài nặng hơn cho những trường hợp kinh doanh không xin giấy phép và hơn nữa, các startup có thể chủ động liên lạc và thảo luận với các cơ quan chức năng nếu cảm thấy việc kinh doanh của họ bị đe dọa. Tuy nhiên, lý lẽ trên chỉ đúng khi đặt trên giả định là các cơ quan chức năng cấp giấy phép cũng có khả năng thi hành, áp dụng điều luật này một cách công bằng và ít tốn kém cho giới doanh nghiệp. Đây có vẻ là một giả định quá lạc quan trước tình trạng hệ thống hành chính cồng kềnh chồng chéo, thực tế giải quyết công việc hành chính rườm rà lại vướng mắc tham nhũng như hiện nay của các cơ quan chức năng Việt Nam. Đó còn chưa kể, với công việc ngổn ngang trăm bề và tiềm lực ít ỏi, các startup nhỏ có thể chủ động liên lạc qua lại với các cơ quan chức năng là một cái nhìn thiếu thực tế.  Một ý kiến phản biện khác khá xác đáng cho rằng, nội dung điều 292 chỉ tập trung vào một số dịch vụ cần sự quản lý của nhà nước (kinh doanh vàng, sàn giao dịch thương mại điện tử, kinh doanh đa cấp, trung gian thanh toán, trò chơi điện tử) bởi vì đã có nhiều trường hợp người dân bị lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, đến mức “tan cửa nát nhà”. Tuy nhiên, việc quản lý một số dịch vụ đặc biệt để ngăn cản rủi ro ở trên hoàn toàn có thể được thực hiện bằng các biện pháp hành chính, thay vì hình sự.  Và nhìn vào nội dung điều 292, rất khó để có thể đồng ý là mục đích duy nhất của các nhà làm luật hoàn toàn là để bảo vệ người dân trước rủi ro bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.Việc hình sự hóa các vi phạm trong cung cấp dịch vụ trên mạng internet trong nội dung điều 292 đơn thuần dựa trên yếu tố người vi phạm “không có giấy phép hoặc [kinh doanh] không đúng nội dung được cấp phép”, thay vì là người vi phạm có hành vi “cố tình lừa đảo gây hậu quả nghiêm trọng”.  Khi sự nghiệp của một doanh nghiệp bị ép phải phụ thuộc vào một tờ giấy phép, và hậu quả nặng nề nhất của việc không có hay áp dụng không đúng nội dung tờ giấy phép đó có thể là tù đày thì người ta bắt buộc phải nghi ngờ thực tế của việc “những gì luật pháp không cấm, người dân được tự do kinh doanh” tại Việt Nam vốn lâu nay được xem là chủ trương của nhà nước trong thời buổi kinh tế thị trường.  Việc điều 292 trực tiếp đeo gông cùm của sự sợ hãi lên các start-up công nghệ dịch vụ không chỉ làm nhụt tinh thần sáng tạo của họ mà còn vô tình tạo ra thêm những rào cản cho sự hình thành và phát triển của các start-up nhỏ có sáng kiến dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao, nhưng không đủ điều kiện nhân tài vật lực để ‘gồng gánh’ các yêu cầu hành chính nặng nhọc, hay bằng một số cách ‘luồn lách’ yêu cầu này như các công ty, doanh nghiệp lớn có thể làm.  Việc xin các loại giấy phép con cho các hoạt động thương mại điện tử, dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có từ trước đến nay đã khó và rối, nay lại có thêm nguy cơ tù tội vì sơ suất. Khó mà trách được nếu nhiều người làm start-up có sáng kiến dịch vụ tốt và không chấp nhận rủi ro mất tất cả vì một vài sơ xuất mang tính hành chính sẽ tìm cách mở công ty ở các thị trường nước ngoài. Họ mang sáng kiến đó của họ sang bán cho người dùng tại các thị trường này, thay vì phục vụ thị trường trong nước. Đó sẽ là thiệt thòi lớn cho hệ sinh thái start-up và cho người tiêu dùng trong nước.  Đánh đổi tiềm năng của các start-up công nghệ, dịch vụ lấy sự an toàn cho người sử dụng một số các dịch vụ trên mạng internet vốn có rủi ro lừa đảo cao có vẻ không phải là một sự đánh đổi có lợi về lâu về dài.  Nội dung điều luật 292, Bộ Luật Hình sự:  1. Người nào cung cấp một trong các dịch vụ sau đây trên mạng máy tính, mạng viễn thông không có giấy phép hoặc không đúng nội dung được cấp phép, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc có doanh thu từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm:   a) Kinh doanh vàng trên tài khoản;   b) Sàn giao dịch thương mại điện tử;   c) Kinh doanh đa cấp;   d) Trung gian thanh toán;   đ) Trò chơi điện tử trên mạng;   e) Các loại dịch vụ khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của pháp luật.  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:   a) Có tổ chức;   b) Phạm tội 02 lần trở lên;   c) Có tính chất chuyên nghiệp;   d) Tái phạm nguy hiểm;   đ) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc có doanh thu từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.  3. Phạm tội trong trường hợp thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên hoặc có doanh thu 5.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.  4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”      Author                Nam Quỳnh        
__label__tiasang Điều chế vaccine bại liệt từ thực vật      Thực vật đã được sử dụng để điều chế ra loại vaccine phòng chống bệnh bại liệt. Điều này được kỳ vọng sẽ đem lại bước đột phá trong việc dứt điểm căn bệnh lâu đời này trên phạm vi toàn cầu.      Từ trái qua, từ trên xuống: VLP dạng tinh thể; Sự tái cấu trúc virus gây bệnh bại liệt (PV3); Lát cắt VLP rỗng bên trong (không chứa nucleic); Hình ảnh túi protein VP1 trên virus gây bệnh bại liệt; Hình ảnh PV3. Nguồn: John Innes Centre  Một nhóm các nhà khoa học hàng đầu tại Trung tâm nghiên cứu John Innes, Norwich (Anh Quốc) đã tạo ra một loại vaccine mới, dựa trên phương pháp sử dụng những phần tử có hình dạng giống virus (virus-like particles – VLP) nhưng không có khả năng gây bệnh, sinh trưởng trên cơ thể thực vật.  Những gene mang thông tin để tạo ra VLP được cấy vào các mô thực vật. Cây vật chủ sau đó sẽ sản xuất ra số lượng lớn VLP bằng cách sử dụng cơ chế biểu hiện protein của chính mình.  Trước đó, những phần tử VLP này đã được can thiệp về mặt sinh học, không chứa axit nucleic để virus không thể sao chép.   Những thử nghiệm ban đầu cho thấy, giống như virus, hoạt động của VLP giúp kích hoạt hệ thống miễn dịch ở cơ thể một số loài động vật (được sử dụng cho thí nghiệm).  Trước đây, mặc dù đã có những thành công nhất định trong việc sử dụng thực vật để tạo ra các VLP mô phỏng virus u nhú hay viêm gan B, nhưng VLP mô phỏng virus bại liệt lại được chứng minh là không đủ ổn định để sản xuất vaccine. Vấn đề căn bản nằm ở chỗ, sự vắng mặt của vật liệu di truyền trong VLP vốn có vài trò ngăn cản sự sao chép của virus, nhưng đồng thời cũng khiến các phần tử đó khó liên kết với nhau. Tuy nhiên, các nhóm nghiên cứu từ Viện Tiêu chuẩn và Kiểm soát Sinh học Quốc gia và Đại học Leeds (Anh) đã xác định được những đột biến trong lớp protein, giúp tạo ra các VLP đủ ổn định để hoạt động giống như vaccine. Những thử nghiệm tại Đại học Oxford cũng cho thấy, những VLP này giống hệt các virus bại liệt tự nhiên, giữ nguyên hình dạng khi được làm ấm và bảo vệ động vật hiệu quả khỏi virus bại liệt.  So với vi khuẩn, tế bào côn trùng, nấm men hay tế bào động vật có vú, thực vật là nguồn dược liệu rẻ hơn vì nó chỉ đòi hỏi dinh dưỡng đơn giản, nước, CO2, và ánh sáng mặt trời để sinh trưởng và có thể dễ dàng can thiệp, điều chỉnh với chi phí thấp.  Nghiên cứu mang tính mở đường cho việc sản xuất vaccine từ thực vật dành cho người ở quy mô công nghiệp nói trên được tài trợ bởi WHO, tổ chức có tham vọng tìm kiếm các vaccine thay thế tránh được việc phải sử dụng virus sống.  Thế Hải lược dịch  Nguồn:  https://medicalxpress.com/news/2017-08-plant-produced-polio-vaccines-eradicate-age.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều chỉnh tỷ giá – giải pháp tạm thời nhưng buộc phải làm      Việc điều chỉnh sâu tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước mới đây là bước đi không tránh khỏi, nhưng nó không giúp giải quyết bài toán lớn hơn là thay đổi một cơ cấu sử dụng, chi tiêu ngoại hối bất cân đối của quốc gia, mà đây mới thực sự là vấn đề nhức đầu của Chính phủ.     Việc tăng tỷ giá VND/USD thêm 9,3% của Ngân hàng Nhà nước gần đây thực sự là một cơn sốc đối với thị trường. Từ trước đó thị trường đã ít nhiều dự đoán về việc không tránh khỏi điều chỉnh tỷ giá, nhưng ít người hình dung Ngân hàng Nhà nước lại tiến hành điều chỉnh sâu một cách đột ngột như vậy.   Việc điều chỉnh có thể tránh khỏi không?  Một số ý kiến của chuyên gia cả trong nước lẫn nước ngoài cho rằng cách làm này của Ngân hàng Nhà nước là chưa hợp lý, vì hai lý do. Thứ nhất, điều chỉnh để đồng USD tăng giá so với VND khiến hàng hóa nhập khẩu tăng giá, gây sức ép lên lạm phát và gián tiếp gây sức ép lên cả lãi suất. Hệ lụy này gây khó cho cả người tiêu dùng lẫn nhà sản xuất. Thứ hai, đồng USD lên giá khiến các khoản vay bằng đồng USD càng trở nên khó trả nợ hơn. Có khả năng sẽ xuất hiện thêm các đơn vị đi vay phải xin hoãn thanh toán nợ, tương tự như Vinashin gần đây. Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá bị cho là gây tác động tiêu cực tới cả tiêu dùng, sản xuất, và vay trả nợ của doanh nghiệp, tựu chung lại sẽ khiến Chính phủ phải hy sinh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.  Tuy nhiên, vấn đề mà nhiều chuyên gia chưa lưu tâm đúng mức là: trong khoảng ngắn hạn, Chính phủ có cách điều hành nào tốt hơn không?  Bức tranh tỷ giá trực tiếp phản ánh tình trạng cán cân thanh toán của quốc gia. Từ nhiều năm nay, dòng tiền vào từ nguồn thu xuất khẩu chênh lệch trầm trọng so với nguồn chi cho nhập khẩu. Mức nhập siêu trong năm 2010 là 12,4 tỷ USD (1), tức là trung bình mỗi tháng hơn 1 tỷ USD. Để bù đắp lượng thâm hụt thương mại khổng lồ này, Việt Nam thường dựa nhiều vào nguồn ngoại hối từ đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) hoặc gián tiếp, kiều hối, các khoản vay nước ngoài, và trích bù đắp từ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước.   Tuy nhiên, việc bù đắp nói trên chỉ có thể coi là giải pháp mang tính thời vụ. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ngày càng mỏng. FDI năm 2010 giảm, chỉ bằng 82,2% so với 2009. Vay nợ không thể coi là giải pháp nghiêm túc để bù đắp cán cân thanh toán, đặc biệt là khi tất cả các ngưỡng an toàn nợ công mà Chính phủ đang cân nhắc gần đây (60% hay 65% GDP?) đều đang lần lượt có nguy cơ bị đe dọa vượt ngưỡng (2). Các khoản đầu tư nước ngoài gián tiếp kiểu đầu tư vào chứng khoán lại càng mang tính chất thời vụ, không phải là nguồn ngoại hối lâu dài để có thể bù đắp cho thậm hụt thương mại.  Qua đó thấy rằng về cơ bản, để cân bằng cán cân thanh toán trong lâu dài thì cán cân thương mại phải tự nó sẽ phải cân bằng, hoặc tiến triển theo xu hướng dần dần tự cân bằng. Những nguồn ngoại hối khác chỉ có thể phần nào bù đắp trong ngắn hạn.   Trong năm 2010 Ngân hàng Nhà nước phải gồng mình sử dụng biện pháp cực chẳng đã là bào mòn quỹ dự trữ ngoại hối. Cách làm này không lâu dài, và thường xuyên vấp phải chỉ trích từ các tổ chức đánh giá tín nhiệm tài chính quốc gia. Trong năm 2011, Ngân hàng Nhà nước cũng vẫn có thể tiếp tục biện pháp tạm thời và khá mạo hiểm này, giống như đánh một canh bạc với hi vọng rằng trong năm 2011 các nguồn ngoại hối khác sẽ bằng phép màu nào đó tự nhiên đầy lên để cùng chung sức gồng gánh sức ép ngày một đè nặng lên quỹ dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, có lẽ họ cũng đã dự kiến về nguồn vay và đầu tư nước ngoài rồi, thấy rằng những nguồn này có lẽ là không đủ để có thể dựa vào.  Tại sao 9,3%?  Như vậy, việc giảm giá VND so với USD là tất yếu, nhưng tại sao lại điều chỉnh tới 9,3%?   Có thể đây là con số mà Ngân hàng Nhà nước đã tính toán và thấy là cần thiết để giúp cân bằng cán cân thanh toán trong một khoảng thời gian tương đối dài (có thể là 6 tháng – 1 năm).   Vậy tại sao không điều chỉnh ít một từng bước để thị trường dần dần thích nghi (ví dụ: mỗi tháng 1-2%)? Câu trả lời có lẽ Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa ra là chính sách điều chỉnh kiểu từ từ sẽ tạo ra tâm lý kỳ vọng. Thị trường sẽ dự đoán trước được khá sát mức điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước và điều này tạo ra động cơ găm giữ đồng USD xuyên suốt cả năm. Tâm lý này sẽ đẩy giá USD trên thị trường chợ đen cao hơn mức cân bằng cung cầu, càng gây khó khăn hơn cho tiêu dùng và sản xuất. Trong khi nếu Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh quyết liệt một lần, và thể hiện sự trung thành với mức giá mới trong một thời gian đủ lâu thì thị trường sẽ có đủ cơ sở để tin vào tín hiệu mà những người làm chính sách tiền tệ đã đưa ra. Tâm lý găm giữ ngoại tệ sẽ sớm được giải tỏa sau khi cơn sốc ban đầu qua đi.  Có phải là giải pháp lâu dài?  Chắc chắn là không! Nhưng nó cần thiết để từng bước định hình một chính sách tỷ giá giúp nền tài chính tiền tệ phát triển bền vững hơn. Việc Ngân hàng Nhà nước  điều chỉnh tỷ giá sâu như đã làm vừa qua khiến các ngân hàng thương mại mất một nguồn thu mua USD với giá rẻ từ Ngân hàng Nhà nước, làm tăng nhu cầu mua từ thị trường tự do và qua đó gián tiếp đội giá USD trên thị trường tự do. Tuy nhiên, như thế mới là gần với giá thực tế của đồng USD so với VND khi nền kinh tế không còn phải ăn bám từ quỹ dự trữ ngoại hối.   Điều cần làm tiếp theo là củng cố các tiền đề để giúp cán cân thanh toán được cân bằng mà không cần phải điều chỉnh giảm giá một cách quyết liệt tương tự trong tương lai.  Trước mắt giá USD tăng có thể tạm thời làm nhu cầu mua hàng hóa nhập khẩu như ô tô và iPhone giảm xuống, giúp phần nào giảm nhập siêu. Nhưng về lâu dài mục tiêu chiến lược phải là một những nguồn thu ngoại hối ổn định và bền vững hơn. Nguồn thu đó phải bắt nguồn từ sản xuất hàng hóa xuất khẩu thay vì xuất đi tài nguyên và nguyên liệu thô khác. Cần ghi nhận rằng nguồn thu từ xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua đã bớt dần lệ thuộc vào xuất khẩu dầu thô.   Tuy nhiên, điều đáng lo là khả năng ứng dụng công nghệ của các nhà sản xuất còn thấp, khiến Việt Nam phải nhập nhiều hàng hóa đã chế biến sẵn từ nước ngoài, vì vậy hàm lượng nhập khẩu bên trong hàng hóa xuất khẩu vẫn quá cao.  Công nghệ thấp, trình độ quản lý hạn chế, nên dù nhân công rẻ thì dòng ngoại hối từ bên ngoài không chảy vào đầu tư sản xuất, mà chủ yếu vẫn đầu tư vào bất động sản. Năm 2010 đầu tư nước ngoài cho bất động sản là 6,8 tỷ USD, tức là hơn 36% FDI. Như vậy, một phần lớn lượng FDI vào Việt Nam không trực tiếp tạo ra của cải để đổi lấy ngoại tệ giúp cân bằng cán cân thanh toán. Một phần nào đó trong số FDI đầu tư vào bất động sản này có thể sẽ tạo ra các khu công nghiệp, các văn phòng cho thuê, giúp kéo ngoại hối vào Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả sẽ chỉ là động thái nhất thời nếu nền sản xuất của chúng ta không được cải thiện. Những chung cư cao tầng do nhà đầu tư nước ngoài dựng lên hiện nay đang hút ngược thu nhập của người Việt, để lợi nhuận của nhà đầu tư chuyển thành ngoại hối chảy về chính quốc.  Quay lại việc điều chỉnh sâu tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước, đó là bước đi không tránh khỏi. Nhưng nó không giúp giải quyết bài toán lớn hơn là thay đổi một cơ cấu sử dụng, chi tiêu ngoại hối bất cân đối của quốc gia. Đây mới thực sự là vấn đề nhức đầu của Chính phủ, trong bối cảnh bản thân Nhà nước cũng đang gặp vấn đề về cân đối thu chi ngân sách, và chưa thể hiện được một giải pháp rõ ràng để cải thiện hiệu quả sử dụng đồng tiền. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, việc giảm giá lại càng cần thiết, để các nhà quản lý và làm chính sách cảm nhận rõ hơn hơi thở nóng từ thực tế nền tài chính tiền tệ của Việt Nam.   —  (1) Các số liệu trong bài viết này lấy từ Tổng cục Thống kê.  (2) Trong bài An toàn nợ công – Những câu hỏi cốt lõi đăng trên Tia Sáng hồi tháng 6/2010, tác giả đã nhận định rằng 60% GDP là ngưỡng an toàn không nên bị phá.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điêu đứng số phận Motorola      Một năm trước Google mua lại Motorola và sự  kiện này trở thành một tiêu điểm chấn động trong ngành công nghệ. Một  năm sau Google mở màn một cuộc “đại phẫu” cho Motorola: Cắt giảm 4.000  nhân viên trên toàn thế giới, đóng cửa 1/3 các cơ quan.     Google nổi tiếng với danh hiệu “thiên đường của kỹ sư” và chưa từng có hiện tượng cắt giảm nhân viên với quy mô lớn như vậy. Nơi đáng ra phải bài binh bố trận tập trung nhân lực cho kinh doanh sản xuất như ở Trung Quốc thì Google cũng ra tay cắt giảm quá ngàn người. Đây có thể coi là cuộc cắt giảm nhân viên lớn nhất trong các công ty công nghệ lớn trên thế giới.   Google dùng 12.5 tỉ đô la mua lại Motorola, nhân viên trong công ty không ai không nghĩ tới chuyện sẽ có một cuộc cải tổ lại cơ cấu, điều chỉnh nhân viên, cắt giảm nhân viên. Vì vậy, không thiếu những luận điệu bi quan, cho rằng điều Google quan tâm chỉ đơn giản là những bản quyền sáng chế của Motorola, sau khi hết giá trị lợi dụng thì Motorola cũng không còn bất cứ giá trị nào.   Công cuộc cắt giảm nhân viên này cho thấy với 13 năm phát triển của mình Google vẫn còn thiếu một vốn văn hóa ứng xử, họ hoàn toàn không quan tâm tới nhân viên, thiếu công bằng và nhẫn nại trong việc xử lý cắt giảm nhân sự. Điều này cũng có thể gây ảnh hưởng tới hình tượng của Google.   Biên tập Marcus Wohlsen của tạp trí Wired nói rằng, lần cắt giảm nhân viên này không giống như cách hành xử của Google, bởi Google chưa từng có một cuộc cắt giảm nhân viên nào với quy mô lớn như vậy. Năm 2009 Google chỉ cắt giảm hơn 200 nhân viên, và với tình trạng suy thoái kinh tế lúc bấy giờ thì đó không coi là một cuộc cắt giảm.   Trên thực tế Google luôn luôn xuất hiện với hình tượng “Ông chủ tốt nhất”. Phòng làm việc thoải mái, nhà ăn với thức ăn phong phú, thoải mái trong những kỳ nghỉ phép. Gần đây thông tin về phúc lợi cho nhân viên của Google càng làm cho người ta phải ngưỡng mộ: Nếu nhân viên bị chết thì người vợ hay chồng có thể nhận một nửa số lương của nhân viên trong vòng mười năm. Con cái chưa tới tuổi vị thành niên có thể nhận được 1000$ cho tới khi 19 tuổi.   CEO mới của Motorola do Google cử tới là Dennis Woodside bản thân khét tiếng thẳng tay. Hành động đầu tiên cũng cho thấy Dennis Woodside đã thẳng thừng làm một cuộc “đại phẫu” đối với Motorola.   Số phận của Motorola sẽ ra sao?  Chuyển đổi hay tiếp tục bị bán rẻ? Dennis Woodside cho biết, ngoài việc cắt giảm nhân viên, công ty còn có kế hoạch cắt giảm những thị trường đầu tư thiếu giá trị, ngừng các sản phẩm thấp, không sử dụng chiến thuật sản xuất hàng loạt mà chỉ làm một số ít. Đồng thời Google còn tái cơ cấu quản lí của Motorola, cắt giảm 40% số lượng phó tổng. Tương lai, Motorola sẽ giảm thị phần ở Ấn Độ và Châu Á, đưa việc nghiên cứu chủ yếu về Chicago, Sunnyvale và Bắc Kinh.   Hiện nay với mục tiêu phát triển điện thoại di động của mình Google chắc chắn sẽ không để cho Motorola giữ quá nhiều công việc về marketing, mà chỉ đơn giản là một cánh cửa bước ra ngoài thị trường của Google. Điều mà Google quan tâm có lẽ chính là 17000 bằng sáng chế của Motorola và hi vọng điều đó sẽ giúp Android chống lại với sự áp đảo thị trường của Apple.   Cũng không loại trừ khả năng Google sẽ học Apple mà đưa các nguồn lực sẵn có của mình vào việc phát triển Motorola. Motorola sẽ trở thành một bước đột phá tiến ra thị trường di động của Google. Gần đây còn có những thông tin về việc Google sẽ nghiên cứu hệ thống phần mềm độc lập cho Motorola.   Apple – Samsung chiếm lĩnh thị trường   Sự suy thoái hàng loạt từ các hãng điện thoại di động trên thực tế có thể không liên quan tới việc suy thoái kinh tế. Đương nhiên, trước mắt tất cả các công ty di động trên thế giới đều gặp phải khó khăn. Không phải mình Motorola lâm vào tình trạng khó khăn, đến như Nokia gần hai tháng trước cũng đưa ra kế hoạch cắt giảm 10000 nhân viên từ nay cho tới cuối năm 2013, đồng thời cũng bán đi thương hiệu Vertu của mình.   Nokia hoàn toàn đặt cược vào hệ thống WP của Microsoft. Blackberry thì càng thê thảm hơn, thậm chí có khả năng bị bán. Công tác vận hành yếu kém khiến lợi nhuận giảm sút thể hiện qua những báo cáo tài chính không lợi nhuận của HTC, ngoài ra còn lâm vào tình trạng tăng lượng mà không tăng doanh thu.   Trái ngược với hiện tượng này thì Apple và Samsung vẫn đang phát triển một cách mạnh mẽ. Ít tuần trước Apple đạt kỷ lục mới, trở thành công ty có giá trị lớn nhất trên thế giới. Thị trường Smartphone cho tới nay vẫn cứ là một thị trường béo bở, nhưng đang cạnh tranh quá kịch liệt. Thị trường này đang bị chi phối trong tay Samsung và Apple. Khó khăn cho những công ty còn lại là chuyện đương nhiên.   Đây là một cuộc đào thải. Từ khi iPhone của Apple xuất hiện, tất cả mọi thứ đều đã thay đổi, Motorola mất đi vị thế từng đình đám một thời, Nokia cũng không còn giữ được ngôi bá chủ.   Năm 2007 khi Apple thử nghiệm Iphone đời đầu đã có không thiếu những tiếng cười chế nhạo. Nhưng bây giờ những đối thủ của Apple đã phải trả giá về sự chủ quan của mình, do iPhone đã hoàn toàn thay đổi cách sử dụng của người dùng. Tuy nhiên, cũng không ít công ty vận dụng sự thay đổi này và chớp được cơ hội để đạt được thắng lợi như Samsung.  Đầu năm nay, di động của Samsung được bán ra cao hơn hẳn so với Nokia, giành vị trí đứng đầu về điện thoại. Trên thị trường smartphone trong năm 2012 Samsung và Apple chiếm tới 49.2% thị phần, HTC, Nokia, Blackberry, ZTE chiếm 17.5% thị phần, còn lại là Motorola và rất nhiều các thương hiệu khác. Để tiếp tục không ngừng cải tiến kĩ thuật, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng gắt gao của người tiêu dùng, và tạo được một sự bứt phá lên ngôi cho các công ty khác là chuyện không hề dễ dàng!  Nhị Giang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì ảnh hưởng đến năng lực đầu tư cho các công nghệ xanh?      Các nhà nghiên cứu cho rằng, giữa vô vàn yếu tố ảnh hưởng thì quan điểm đầu tư vào R&D và việc có sẵn Chứng nhận Tiêu chuẩn Môi trường (ESC) là yếu tố quan trọng để các công ty vừa và nhỏ Việt Nam đầu tư vào các công nghệ xanh.      Nơi sản xuất mỳ Chũ Trại Lâm với sản phẩm mỳ ngũ sắc Thuận Hương được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu sang nhiều thị trường nước ngoài như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Nga, Singapore… Ảnh: Mỹ Hạnh  Đó là nội dung của công trình “Effects of R&D, networking and leadership roles on environmental innovation adoption in Vietnam’s SMEs” (Các ảnh hưởng R&D, mạng lưới hợp tác và những vai trò dẫn dắt lên sự chấp thuận trong môi trường đổi mới sáng tạo ở các công ty vừa và nhỏ Việt Nam) được xuất bản trên tạp chí Economic Research-Ekonomska Istraživanja của nhà xuất bản Francis& Taylor 1. Công trình do nhóm tác giả Lê Thanh Hà (ĐH Kinh tế quốc dân HN), Đoàn Ngọc Thắng và Tô Trung Thành (Học viện Ngân hàng) thực hiện nhằm “tìm hiểu tác động trực tiếp và vai trò điều tiết của nhà quản lý đối với các tính chất dựa trên mối liên hệ giữa định hướng quốc tế của một công ty, nguồn lực nội tại và các quyết định đổi mới sáng tạo xanh của nó” như thế nào.  Để thực hiện nghiên cứu này, họ đã sử dụng bộ dữ liệu có sẵn trong khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam giai đoạn năm 2011 đến năm 2015, do Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) thực hiện 2. Cuộc khảo sát được tiến hành trên 2.600 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tại các 10 tỉnh, thành phố bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An. Các nhà nghiên cứu đánh giá, “trong cơ sở dữ liệu này, hầu hết các doanh nghiệp tham gia khảo sát đều có quy mô siêu nhỏ (59,52%) hoặc quy mô nhỏ (39,4%)”.  Các nhà nghiên cứu giải quyết vấn đề dựa trên các vấn đề: 1) Việc đầu tư cho R&D với giả thuyết “R&D liên quan tích cực đến việc thực hiện đổi mới xanh”; 2) Năng lực tổ chức với giả thuyết “Chứng nhận Tiêu chuẩn Môi trường có sẵn sàng thúc đẩy sự thi hành các đổi mới sáng tạo xanh”; 3) Mạng lưới hợp tác với hai giả thuyết “việc có hợp tác với các ngân hàng, cơ quan chính phủ và mạng truyền thông nội bộ thúc đẩy thi hành đổi mới sáng tạo xanh của công ty”, “Có các mối hợp tác với những đối thủ cạnh tranh có làm giảm thi hành đổi mới sáng tạo xanh”; 4) Vai trò lãnh đạo với giả thuyết “các đặc điểm cá nhân của nhà quản lý, như giới, trình độ học vấn, hiểu biết quy định luật pháp về môi trường, liên quan gì đến sự thi hành đổi mới sáng tạo xanh”: 6) Hiệu quả điều phối của lãnh đạo với giả thuyết “các đặc điểm cá nhân của nhà quản lý điều phối mối quan hệ giữa xuất khẩu, R&D, và thi hành đổi mới sáng tạo xanh”.  Kết quả phân tích dựa trên dữ liệu cho thấy, 16% doanh nghiệp được khảo sát đã thực hiện các đổi mới liên quan đến môi trường, gần 10% doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, 90% doanh nghiệp có hợp tác với đối thủ cạnh tranh, gần 83% với ngân hàng và gần 71% có quan hệ với các cơ quan chính phủ. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp nhận được hỗ trợ của chính phủ chỉ gần 18%), tỷ lệ doanh nghiệp có nối mạng Internet, có web site và email lần lượt là 32,9%, 17,1% và 17,9%. Về đặc điểm của chủ doanh nghiệp, gần 20% cán bộ quản lý là nam giới và chỉ dưới 18% có kiến ​​thức tốt về pháp luật môi trường.  Hầu hết các doanh nghiệp có Chứng nhận Tiêu chuẩn Môi trường chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM. “Căn cứ vào Nghị định 80/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường, các doanh nghiệp phải nộp bản đánh giá tác động môi trường (EIA) để được cấp Chứng nhận Tiêu chuẩn Môi trường. Đánh giá tác động môi trường yêu cầu các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề môi trường khác nhau, bao gồm chất lượng không khí, ô nhiễm nước, xử lý chất thải, suy thoái đất, tiếng ồn và nhiệt. Nếu họ tuân thủ các yêu cầu này, doanh nghiệp họ sẽ nhận được chứng nhận ESC”, các nhà nghiên cứu nhận xét.  Trong năm 2011, gần 40% trong ngành thực phẩm và đồ uống, ngành cao su và chế biến, chế tạo nhưng đến năm 2015, các công ty có Chứng nhận Tiêu chuẩn Môi trường trong ngành thực phẩm và đồ uống giảm nhưng tăng trong một số ngành như may mặc, da, gỗ và chế biến chế tạo.  Sau khi triển khai dữ liệu trên các mô hình tính toán, kết quả cho thấy vai trò quan trọng của R&D, năng lực tổ chức, tổ chức mạng lưới và vai trò lãnh đạo. Đặc biệt, cả R&D và Chứng chỉ chứng nhận môi trường đều liên quan tích cực với việc thực hiện đổi mới sáng tạo xanh ở Việt Nam. “Nói cách khác, các công ty có đầu tư R&D hoặc có Chứng chỉ chứng nhận môi trường ESC có nhiều khả năng thực hiện các đổi mới xanh hơn so với các công ty không có hai yếu tố này”, các tác giả viết trong công bố.  Mặt khác, họ cũng nhận thấy, việc hợp tác với các bên khác nhau, bao gồm cả các công ty đối thủ cạnh tranh, ngân hàng và các cơ quan công…, ảnh hưởng đến quyết định của các công ty về đổi mới xanh. Các đặc điểm cá nhân của các nhà quản lý như giới tính, trình độ học vấn và kiến ​​thức về luật môi trường đóng vai trò quyết định trong các quyết định này.  —————    https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/1331677X.2021.1962381  https://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=34886&idcm=188      Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Điều hành chính sách tiền tệ: Rất cần sự mềm dẻo và linh hoạt      Nhân sự kiện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đưa ra kế hoạch phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các ngân hàng, chúng ta cùng xem xét nguyên nhân cũng như những vấn đề liên quan đến quyết định này.    Nguyên nhân của quyết định?  Năm 2007, khi chỉ số giá tăng đột biến, một số người, nhất là những người có trách nhiệm trong việc điều hành chính sách tiền tệ và giá cả cho rằng nguyên nhân chính là do những yếu tố khách quan (giá dầu tăng cao chẳng hạn) chứ không phải là do nguyên nhân tiền tệ.  Đến nay, quá trình tranh cãi đã qua, hầu hết mọi người đều thừa nhận rằng giá cả tăng cao là do trong nền kinh tế, tiền đã tăng nhiều hơn so với lượng hàng hóa được tạo ra (người viết không phủ nhận tác động của cầu kéo và chi phí đẩy). NHNN, cơ quan có trách nhiệm chính trong việc điều hành chính sách tiền tệ đã đã bắt tay vào việc kiềm chế lạm phát và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong năm 2008 (thực ra, nhiệm vụ ổn định giá cả trong nước và giá cả so với bên ngoài hay tỷ giá hối đoái luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngân hàng trung ương hầu hết các nước).  Hàng loạt biện pháp nhằm rút bớt tiền ra khỏi lưu thông để giảm sức tăng của giá cả đã được đưa ra. Đầu tiên là nâng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tiếp đến là tăng lãi suất ở tất cả các loại hình có thể. Gần đây nhất quyết định phát hành 20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc mà thực ra là một loại hình dự trữ bắt buộc với một khác biệt nhỏ là nó có thời hạn và có lãi suất. Động thái này cho thấy, NHNN đang thể hiện quyết tâm kiềm chế lạm phát của mình.  Rủi ro thanh khoản trước mắt  Việc NHNN đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát là hoàn toàn đúng đắn. Lạm phát phải được khống chế để không ảnh hưởng tới cuộc sống của những người ăn lương Nhà nước và những người lao động nghèo có thu nhập không đua kịp giá cả.  Nhưng việc đưa ra các quyết định dồn dập, nếu không nói là gây sốc, có thể tạo ra những tác động không tốt cho hệ thống tài chính nói riêng, nền kinh tế nói chung. 20.300 tỉ đồng tương đương với 2% tổng vốn huy động trong hệ thống ngân hàng hiện nay. Nghĩa là tương đương với việc nâng dự trữ bắt buộc lên 2% đối với tất cả các loại tiền gởi. Nếu chỉ tính tiền đồng thì con số này sẽ trên 3%, cộng với 11% hiện tại thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng đã lên gần 15%.  Hơn thế, nếu loại trừ các tổ chức tín dụng nông thôn có tổng số dư huy động chiếm khoảng ¼ toàn hệ thống thì mức dữ trữ bắt buộc của các ngân hàng phải mua tín phiếu còn cao hơn nữa. Tỉ lệ này tương đương với Trung Quốc hiện nay nhưng đối với Việt Nam thì khá cao trong lúc nền kinh tế đang cần tiền nhất. Vậy điều gì có thể sẽ xảy ra?  Quan sát trong thời gian qua, lãi suất liên ngân hàng đã có lúc lên tới trên 40%, đây là một mức không tưởng được.  Những thông tin được đăng tải cho thấy, sau quyết định của NHNN, nhiều ngân hàng đã đóng cửa không cho vay, nghĩa là khả năng thanh khoản của các ngân hàng có vấn đề. Khách hàng đến vay, ngân hàng có quyền từ chối. Nhưng trong trường hợp khách hàng đến rút tiền thì ngân hàng không thể từ chối được. Đến rút tiền mà không có tiền thì đầu tiền họ sẽ đặt câu hỏi sau đó là hành động và có thể tạo ra phản ứng dây chuyền từ mất thanh khoản cục bộ dẫn tới mất thanh khoản, thậm chí sụp đổ cả hệ thống.  Nguyên nhân của thị trường nóng lên bất thường có lẽ một phần là do tâm ý cố thủ của các bên liên quan khi đón nhận thông tin đột ngột và có thể vì trước tết lãi suất liên ngân hàng quá cao (lên đến 27%) nên một số lượng lớn hồ sơ bị gác lại thay vì hoàn tất xong xuôi như quan niệm và mong muốn của mọi người.   Rủi ro hệ thống lâu dài  Ở Việt Nam, trong hơn chục năm qua, chưa bao giờ lãi suất huy động vượt quá 10%. Khi lãi suất lên đến 12% có thể sẽ chạm tới ngưỡng tâm lý làm nhiều người hồi tưởng đến những sự kiện cuối những năm 80 và đầu những năm 90.  Mặt khác, lãi suất huy động quá cao, hoạt động tín dụng có khả năng sẽ gặp vấn đề bởi lãi suất cho vay cũng sẽ cao. Lúc này, chỉ có doanh nghiệp nào làm ăn với suất sinh lợi cao mới có khả năng vay vốn. Trong kinh doanh, nơi nào đầu tư sinh lời cao thì tiềm ẩn rủi ro cũng cao mà nó đồng nghĩa với nguy cơ vỡ nợ cao và vì thế, nguy cơ tạo ra nợ xấu cũng rất cao. Nợ xấu nhiều ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để bù đắp lại. Lúc này, các dự án rủi ro cao hơn mới có khả năng vay được, những dự án có suất sinh lời vừa phải, nhưng an toàn thì bó tay.  Thêm vào đó, khó khăn chồng chất khó khắn đối với những ngành hàng có suất sinh lợi không cao nhưng tạo ra nhiều công ăn việc làm và kim ngạch xuất khẩu như ngành dệt may chẳng hạn. Chi phí lãi vay tăng thêm năm ba phần trăm, trong khi doanh thu lại giảm một vài phần trăm so tiền đồng tăng giá sẽ làm cho các doanh nghiệp kiểu này khó mà trụ nổi.  Không chừng với lãi suất cao như vậy, chỉ còn có những khoản vay kinh doanh bất động sản hay những người có khả năng “lướt sóng” tốt trên thị trường chứng khoán với suất sinh lời rất cao là chịu nổi.  Lúc này, sự lựa chọn ngược có thể lên đến đỉnh điểm, các khoản vay của ngân hàng toàn là các dự án có mức độ rủi ro rất cao và nguy cơ khủng hoảng hệ thống là khó tránh khỏi. Nợ xấu nhiều, lãi suất huy động cao thì thu nhập từ cho vay chưa chắc đã đủ để trả lãi huy động và có ngân hàng phải lấy tiền gốc để trả lãi. Mô hình kim tự tháp ngược sẽ hình thành, và ngân hàng như vậy sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ.   Một điều đáng lưu ý là khác với các loại hình kinh doanh khác, chỉ cần một tổ chức tín dụng có vấn đề nếu không có cách hành xử hợp lý có thể xảy ra đổ vỡ cho cả hệ thống.  Một nữa người viết xin nhắc lại việc NHNN đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên cách thức thực hiện nên uyển chuyển và mềm mại hơn để tránh gây sốc cho thị trường. Như Trung Quốc chẳng hạn, để tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc từ 10% lên 15%, họ đã tiến hành trong một thời gian khá dài với mỗi lần chỉ tăng 1% (thậm chí là 0,5%). Với quy mô hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay, việc tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc khoảng 5% trong thời gian hơn 1 tháng là gấp.  Để kiềm chế lạm phát, Việt Nam cần phải có một gói giải pháp kết hợp giữa chính sách tiền tệ (kể cả việc điều hành tỷ giá) và chính sách ngân sách một cách linh hoạt và nhất quán, nhất là chính sách tiền tệ, cần dựa theo dòng chảy của thị trường để có những sự uốn nắn điều chỉnh hợp lý.      Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều hòa nhiệt độ trong một khí hậu biến đổi: Phân chia giàu – nghèo gia tăng      Khi khí hậu trái đất ấm lên, cư dân ở các quốc gia giàu có sẽ tìm kiếm một số cách giải quyết vấn đề này, ví dụ như điều hòa nhiệt độ. Tuy nhiên người sống ở quốc gia thu nhập trung bình và thấp có thể phải trả nhiều tiền điện hơn hoặc không có cách nào làm mát được, theo một nghiên cứu có các tác giả ở trường ĐH California, Berkeley.      Nghiên cứu này xuất bản trên Nature 1 đem lại một cái nhìn mới về cách biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm khoảng cách toàn cầu giữa các quốc gia giàu và nghèo. Ngay cả khi các mức nhiệt độ tăng lên, việc tiêu thụ điện ở Mĩ có thể chỉ gia tăng không đáng kể vào cuối thế kỷ này nhưng ở một số quốc gia nghèo thì nhu cầu điện gia tăng một cách đáng kể khi các cư dân tìm cách làm mát với điều hòa, thậm chí có những người quá nghèo đến mức điều hòa là ước mơ không thể với tới.  Các mô hình trước đây, dựa trên cơ sở các giả định và dữ liệu giới hạn, dự đoán là việc gia tăng nhiệt độ có thể làm tăng những chi phí đầu tư mới đáng kể  – “chi phí carbon xã hội” – khắp toàn cầu. Tuy nhiên các mô hình này lại có thiếu sót vì chúng chỉ được đặt trên các điều kiện của những quốc gia giàu, tác giả chính Solomon Hsiang, đồng giám đốc Phòng thí nghiệm Tác động khí hậu và giáo sư chính sách công tại UC Berkeley, nói.  “Những phân tích trước đây không có dữ liệu sử dụng năng lượng ở thế giới đang phát triển, nơi hàng tỉ người sống trong nghèo đói và thiếu điện”, Hsiang nói. “Các nghiên cứu đơn giản giả định con người ở khắp mọi nơi hành xử tương tự ở Mĩ hay Anh. Nhưng các kết luận của họ chính xác là lạc hậu. Dữ liệu của chúng tôi cho thấy người dân ở nước giàu có thể bảo vệ chính minh khỏi tác động của khí hậu ấm lên nhưng thế giới nghèo thì không được như vậy”.  Ashwin Rode, giám đốc khoa học tại Viện nghiên cứu chính sách năng lượng của trường đại học Chicago và là một thành viên của Phòng thi nghiệm Tác động khí hậu, minh họa luận điểm này với dữ liệu chính xác: ‘Trong khi một số hình thức của điều hòa nhiệt độ hiển hiện trong 90% ngôi nhà Mĩ”, điều này chỉ là 5% nhà ở Ấn Độ. Vì biến đổi khí hậu là nguyên nhân khiến các trận sóng nhiệt ngày một trở nên khốc liệt hơn và thường xuyên hơn trong các thập kỷ tương lai, dữ liệu này cho thấy điện năng để phục vụ công nghệ làm lạnh giống như quạt hoặc điều hòa nhiệt độ, vẫn còn ngoài tầm với của hơn một nửa dân số thế giới”.  Phòng thi nghiệm Tác động khí hậu là một sáng kiến chung với hơn 30 nhà nghiên cứu từ Nhóm Rhodium, Viện nghiên cứu Khoa học Trái đất, đại dương, khí quyển trường đại học Rutgers; trường Khoa học và quản lý môi trường Bren ĐH California, Santa Barbara, trường đại học Delaware, Princeton, Chicago, UC Berkeley và Phúc Đán (Trung Quốc).   Một dự án lớn cho phòng thí nghiệm này là đo đạc chi phí carbon xã hội bằng việc sử dụng các thống kê kinh tế và phân tích dữ liệu lớn, vốn có quyền lực hơn bất cứ công cụ nào từng sử dụng trong lĩnh vực này. Phân tích của việc sử dụng năng lượng chờ đợi và các chi phí là xuất bản đầu tiên trong loạt nghiên cứu thuộc dự án này, vốn tìm kiếm các chi phí carbon xã hội khác phản ánh trong nông nghiệp, sức khỏe, lao động, nước biển dâng và các lĩnh vực khác.  Ngiên cứu như thế này được hi vọng có tác động đáng kể lên các nhà lãnh đạo trên toàn cầu làm việc để phát triển các chính sách giới hạn tác động của biến đổi khí hậu lên con người. Đầu năm nay, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã ban hành lệnh đánh giá các rủi ro kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra và giải quyết những vấn đề bất bình đẳng của những biến đổi môi trường, bao gồm cả các chủ đề  của nghiên cứu này.    “Hi vọng của chúng tôi là khoa học do dữ liệu dẫn dắt sẽ hữu dụng để thiết kế các chính sách về biến đổi khí hậu tại Mĩ và quốc tế”, Hsiang giải thích.  Trong hình thức cơ bản của mình, chi phí carbon xã hội là cách làm lý tưởng nhất để nhìn vào tác động của con người lên mỗi tấn carbon dioxide làm nóng khí hậu và những khí nhà kính khác được tung vào bầu khí quyển.  Nhìn qua lăng kính toàn cầu, những con số trong nghiên cứu mới dường như có cả những tin tốt:  Với mỗi tấn carbon dioxide phát thải vào khí quyển thì chi phí năng lượng hàng năm trên một thế giới đang nóng lên sẽ giảm từ 1 đô la đến 3 đô la. Các tác giả kết luận rằng thế giới thải ra hơn 30 tỷ tấn carbon dioxide vào khí quyển mỗi năm, và con số đó tiết kiệm tới 0,17% tổng sản phẩm quốc nội của thế giới.  Nhưng những con số này che giấu sự chênh lệch quan trọng giữa các quốc gia giàu có ở các vùng ôn đới và các quốc gia nghèo gần xích đạo. Tác động của biến đổi khí hậu đối với việc sử dụng điện có thể nhẹ đối với một số người nhưng lại nghiêm trọng đối với những người khác.  Nghiên cứu cho thấy nhu cầu về điện ở Mỹ có thể tăng khiêm tốn 2,7% vào năm 2099. Nhưng ở Indonesia, con số này có thể tăng gần 100% vào cuối thế kỷ và ở Ấn Độ là 145%. Ở châu Phi, nhu cầu của Ethiopia sẽ tăng lên gấp ba, trong khi ở Nigeria sẽ tăng gần 2.100%.  Dù ở các quốc gia mới nổi như Ấn Độ, Nigeria và Mexico, nhiều người có thể sử dụng điều hòa nhiệt độ hơn trước nhưng nhu cầu này sẽ đặt ra những thách thức đối với lưới điện và đối với các nhà hoạch định chính sách, những người phải lập kế hoạch và duy trì cơ sở hạ tầng năng lượng.  Những phát hiện mới này cho thấy “vai trò quan trọng của phát triển kinh tế trong việc định hình các mẫu hình tiêu thụ năng lượng ứng phó với biến đổi khí hậu”. Các tác giả kết luận “Chúng tôi nhận thấy, trong những thập kỷ tới, phần lớn thế giới vẫn còn quá nghèo để có thể dành tiền cho các công nghệ làm mát tiêu tốn nhiều năng lượng”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-air-conditioning-climate-rich-poor.html  https://news.berkeley.edu/2021/10/13/air-conditioning-in-a-changing-climate-a-growing-rich-poor-divide/#:~:text=Air%20conditioning%20in%20a%20changing%20climate%3A%20a%20growing%20rich%2Dpoor%20divide,-By%20Edward%20Lempinen&text=But%20in%20some%20emerging%20countries,inaccessible%20dream%2C%20the%20researchers%20found.  —————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-021-03883-8       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều khiển việc tưới cây qua điện thoại di động      Dù chưa từng học qua trường lớp nào về kỹ  thuật, ông Nguyễn Phú Thạnh (ấp Thới Hòa, xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung,  tỉnh Đồng Tháp) đã sáng chế thành công hệ thống “pha thuốc tự động –  phun nước tưới vườn điều khiển từ xa” giúp tiết kiệm công sức chăm bón  cây trái.    Trước đây mỗi lần tưới vườn quýt, ông Nguyễn Phú Thạnh, xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung (Đồng Tháp) phải chạy tới máy bơm đóng cầu dao điện, chạy tới đường ống mở van, sau đó kéo ống nước để tưới cho vườn, vừa bất tiện vừa tốn chi phí.   Ý tưởng về giải pháp rút ngắn thời gian tưới tắm cây trái của ông Thạnh bắt đầu từ những bất tiện đó. Ông Thạnh cho biết: “Ý tưởng chế tạo ra hệ thống “pha thuốc tự động – phun nước tưới vườn điều khiển từ xa” xuất phát từ thực tế việc phun thuốc và tưới nước cho quýt vùng mình chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Tôi thấy việc này phải mất nhiều thời gian và chi phí nhân công mà hiệu quả không cao. Từ đó, tôi nảy ra ý tưởng chế tạo một hệ thống kết hợp được hai tính năng vừa phun, vừa tưới để giảm nhẹ chi phí”.  Từ những suy nghĩ đó, ông Thạnh vừa thu gom những máy móc có sẵn, tìm thêm các thiết bị vừa suy nghĩ các nguyên lý vận hành hệ thống. Khoảng thời gian một năm nghiên cứu chế tạo, ông mất nhiều công sức, thực hiện nhiều thử nghiệm để cho xuất xưởng hệ thống “pha thuốc tự động – phun nước tưới vườn điều khiển từ xa” vào đầu năm 2011. Thời điểm ban đầu, hệ thống của ông chỉ có thể điều khiển phun, tưới độ xa khoảng 20 – 30m.  Ông Thạnh còn tiếp tục nghiên cứu nâng cao hơn nữa cơ cấu hoạt động. Hệ thống sau khi được cải tiến có thể phun, tưới độ xa trên 500m (có thể tăng độ xa tùy theo diện tích của vườn). Theo đó, khi cần phun thuốc, chỉ cần mở nắp chai và đặt đường ống dẫn vào trong chai, hệ thống sẽ tự động bơm thuốc nguyên chất vào phi chứa để pha và điều chỉnh lượng nước. Đến lúc đủ lượng nước, bộ thăm dò lưu lượng thuốc sẽ báo tín hiệu về bộ xử lý là hoàn tất việc pha thuốc.   Riền về điều khiển, phải mất hơn bốn tháng, ông Thạnh mới làm xong hệ thống tưới tự động. Đầu tiên sử dụng điều khiển đồ chơi (remote điều khiển) thấy không ổn, ông chuyển sang cách sử dụng sóng điện thoại để điều khiển. Ông đã tích hợp sim số trên bộ điều khiển để thực hiện chức năng tắt (mở) hệ thống, khi dùng bất kỳ điện thoại nào gọi đến số tích hợp sẵn trên bộ điều khiển sẽ kích hoạt đóng (mở) điện để mô tơ vận hành bơm nước tưới.   Trong quá trình phun, tưới, khi muốn dừng hoặc tiếp tục chỉ cần điều khiển thao tác bằng sóng điện thoại di động, máy phun thuốc sẽ tự ngừng hoạt động để tiết kiệm thuốc trừ sâu và nhiên liệu máy. Không chỉ phun thuốc, hệ thống này cũng được sử dụng cho việc tưới tiêu hàng ngày. Chi phí để làm ra hệ thống “pha thuốc tự động – phun nước tưới vườn điều khiển từ xa” chỉ khoảng một đến hai triệu đồng.  Như vậy giờ đây chỉ cần một cú điện thoại, hệ thống tưới tự động hoạt động, khiến 5.000 mét vuông quýt đường ba năm tuổi vườn nhà ông Thạnh được chăm sóc đúng kỹ thuật. Ông có thể điều khiển hệ thống tưới ở bất kỳ nơi nào miễn là có sóng điện thoại, cả vườn quýt trải dài 100 mét, chỉ cần làm đường ống nước tưới cao ở hai đầu, thấp ở giữa để dễ kiểm soát lượng nước tưới ra. Toàn bộ số tiền đầu tư hơn 15 triệu đồng cho hệ thống ống tưới và điều khiển bằng điện thoại, giờ đây anh Thạnh giảm được công sức hơn trước rất nhiều lại chủ động thời gian, có thể điều khiển hệ thống bất cứ lúc nào.   Sáng kiến của anh Nguyễn Phú Thạnh đã được Trung ương Hội Nông dân khen thưởng tại Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc năm 2014.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững      Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.  &#160;    Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).  Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp shock để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism) hoặc sự tiếp cận hai đường song song (two-track approach). Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách (reforms without losers), như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có. Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đầu tư từ nước ngoài (FDI).  Chiến lược cải cách tiệm tiến nói chung được đánh giá cao không phải chỉ vì tính khả thi như vừa nói mà còn có hiệu quả về mặt cơ chế. Các cơ chế cần thiết cho kinh tế thị trường phải được xây dựng từng bước, cần thời gian. Trong khi các tiền đề này chưa hoàn chỉnh, không thể thực hiện cải cách toàn bộ trong thời gian ngắn.  Nhưng vấn đề ở đây là  chiến lược cải cách tiệm tiến này nên kéo dài bao lâu. Ở giai đoạn nào thì phải chuyển sang một chiến lược cải cách với nội dung khác về chất với giai đoạn tiệm tiến? Vấn đề này phải được đặt ra vì hai lý do:  Thứ nhất, chiến lược cải cách tiệm tiến kéo dài quá lâu (tùy theo tốc độ phát triển, tùy theo ý chí đẩy mạnh cải cách để đưa kinh tế phát triển nhanh, tùy theo bối cảnh chính trị xã hội, có lẽ có thể nói trên 15 năm thì được gọi là quá lâu) sẽ nảy sinh các tệ hại làm kinh tế phát triển kém hiệu suất và gây bất công trong xã hội. Chẳng hạn sự tồn tại của doanh nghiệp Nhà nước trong nhiều ngành kinh tế làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và những người quản lý, kinh doanh doanh nghiệp Nhà nước lợi dụng những ưu đãi về đất đai, về tín dụng để trục lợi trên thị trường tự do. Những người này còn cấu kết với quan chức để được nhiều ưu đãi đó, mặt khác doanh nghiệp tư nhân cũng khắc phục thế yếu bằng tăng cường quan hệ với quan chức tạo ra tình trạng tham nhũng.  Thứ hai, sau một giai đoạn phát triển và đã đạt một số thành quả (tương ứng với giai đoạn tăng trưởng ban đầu đã đề cập), cần có cải cách toàn diện để làm tiền đề cho giai đoạn phát triển bền vững. Cải cách toàn diện cũng có nghĩa là xây dựng một hệ thống cơ chế hoàn chỉnh hơn, quy mô rộng hơn và phức tạp nhưng vững chắc so với giai đoạn tăng trưởng ban đầu. Đặc biệt khi kinh tế hội nhập mạnh vào thị trường thế giới, nhiều vấn đề phức tạp phát sinh đòi hỏi có cơ chế hữu hiệu để tận dụng cơ hội mới và để ngăn ngừa bất ổn định. Tổng hợp các nội dung này, Rodrik (2007) gọi đây là hệ thống cơ chế chất lượng cao (high quality institutions). Cụm từ này gọn, nói lên bản chất của vấn đề nên ta mượn dùng làm một trong những thuật ngữ chính của bài viết này.   Đặc tính về cơ chế của giai đoạn mới   Có thể tóm tắt như sau:  1. Khác với giai đoạn trước trong đó tăng trưởng chủ yếu do động viên, sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư bản, đất đai, giai đoạn mới này đòi hỏi phải tăng năng suất tổng hợp đa yếu tố dựa trên việc áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến quản lý, giảm phí tổn giao dịch (transaction cost), v.v.  Dù trước thời đại toàn cầu hóa, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải liên tục tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thị trường mở rộng, tham gia phân công quốc tế sâu hơn và do đó sức cạnh tranh phải mạnh hơn là điều kiện phát triển sâu và bền vững. Ở thời đại toàn cầu hóa, các đặc tính này càng quan trọng hơn.   2. Sang giai đoạn mới, kinh tế thị trường phải phát triển sâu rộng hơn, hệ thống tài chính tiền tệ phức tạp hơn, dòng vốn lưu thông đa dạng hơn, nên vấn đề ổn định phải được quan tâm. Mặt khác, do sự tham gia phân công quốc tế và hội nhập với thế giới ngày càng mạnh, kinh tế dễ biến động theo những thay đổi trên thị trường thế giới.   Như vậy, để phát triển bền vững, phải xây dựng một cơ chế, một hệ thống các chính sách, chiến lược khác về chất và ở trình độ cao so với giai đoạn trước. Những cơ chế, chính sách này bao gồm các điểm chính như sau: (1) Tăng cường sự minh bạch (transparency), tăng khả năng dự đoán (predictability) và tăng năng lực quản lý Nhà nước (governance) để vừa giảm sự bất xác định, giảm sự rủi ro đối với nhà đầu tư, để họ mạnh dạn tiến vào những lãnh vực mới (do đó cơ cấu kinh tế mới chuyển dịch nhanh), vừa tránh đầu cơ, tránh tham nhũng và giảm các chi phí giao dịch (transaction costs). (2) Doanh nghiệp quốc doanh phải được cải cách triệt để, tạo sân chơi bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, tránh các tệ hại của chiến lược cải cách tiệm tiến quá lâu đã được đề cập. (3) Có chính sách công nghiệp tích cực để xây dựng các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh động , như vậy vừa chuyển dịch cơ cấu lên cao vừa cạnh tranh được trên thị trường thế giới. (4) Trong các loại thị trường, thị trường lao động thường hoạt động ít hiệu quả vì manh mún, có sự không ăn khớp trong cung cầu giữa các loại lao động hoặc giữa các vùng. Do đó cần có chính sách về đào tạo, về hạ tầng xã hội để xóa hoặc giảm sự bất ăn khớp đó. (5) Chấn hưng giáo dục, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng công nghệ cần có chính sách, cơ chế thích đáng của Nhà nước.  Cơ chế chất lượng cao còn đòi hỏi các điều kiện như năng lực của quan chức, sự độc lập của tòa án, tính độc lập của ngân hàng trung ương, chính sách thu chi ngân sách minh bạch, có cơ chế giám sát tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước và các hoạt động kinh tế công.   Để Việt Nam phát triển bền vững   Đối với Việt Nam trước đổi mới là thời kỳ kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm hơn 70% lao động) nhưng năng suất rất thấp, lương thực không đủ, phải nhập khẩu. Tỉ lệ tiết kiệm (trong GDP) hầu như zero và tỉ lệ đầu tư rất thấp, vốn đầu tư chủ yếu nhờ viện trợ của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu. Hơn nữa, ít nhất 60% dân số là nghèo (sống dưới tuyến nghèo –poverty line). Do đó, vào cuối thập niên 1980, Việt Nam vừa là nước kém phát triển, đứng trước nguy cơ của cái bẫy nghèo, vừa là nước có nền kinh tế theo thể chế xã hội chủ nghĩa. Nhìn một cách khái quát, giai đoạn từ cuối thập niên 1980 đến nay là giai đoạn vừa phải giải quyết các vấn đề phát triển (development) vừa nỗ lực chuyển sang kinh tế thịiệt Nam đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị trường đã đạt được một số thành quả. Và có thể nói, Việt Nam đã hoặc sắp kết thúc giai đoạn tăng trưởng ban đầu. trường (transition). Hơn 20 năm đổi mới, trên cơ bản Việt Nam đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị trường đã đạt được một số thành quả. Và có thể nói, Việt Nam đã hoặc sắp kết thúc giai đoạn tăng trưởng ban đầu.  Trong giai đoạn qua, cơ chế, chính sách của Việt Nam có những đặc tính gì?  Về mặt cơ chế, chính sách, giai đoạn vừa qua có tính chất là cởi trói những ràng buộc để các tác nhân, các chủ thể kinh tế có điều kiện phát huy năng lực sản xuất. Khoán 10 trong nông nghiệp (Nghị quyết số 10 của Bộ Chính Trị năm 1988), Luật đầu tư nước ngoài (tu chỉnh nhiều lần) và Luật doanh nghiệp (tu chỉnh nhiều lần) đều nhằm cởi trói dần các ràng buộc đối với hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các cơ chế được xây dựng không khó khăn, phần lớn chỉ là quyết tâm chính trị của lãnh đạo. Nhưng nếu các chính sách, cơ chế này được xây dựng và thực thi nhanh hơn, dứt khoát hơn thì tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều. Mặt khác, nếu chiến lược cải cách tiệm tiến được thực hiện trong thời gian ngắn hơn và chuẩn bị một cơ chế chất lượng cao hơn thì có lẽ kinh tế Việt Nam đã tránh được các khó khăn như hiện nay và đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn phát triển bền vững.  Xét đến giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện nay, ta thấy ngay là muốn phát triển bền vững trong giai đoạn tới, cần xây dựng ngay một hệ thống cơ chế chất lượng cao mới. Trước hết phải hiểu và thực hiện cho được những tiền đề của cơ chế chất lượng cao, sau đó tùy theo nhu cầu phát triển của từng giai đoạn mà có những cơ chế cụ thể, những chính sách, chiến lược cần thiết.  Từ những phân tích ở các phần trước, tôi thấy có 3 tiền đề để có cơ chế chất lượng cao.    1. Bảo đảm tính dân chủ trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách. Lãnh đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định nhưng phải trên cơ sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội. Tham gia   là một thuật ngữ được các nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu thực chứng cho thấy chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển nếu có sự tham gia của các thành phần xã hội liên hệ đều mang lại hiệu quả cao. Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế, thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước, của đông đảo dân chúng.   2. Ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị không bị chính trị chi phối. Chính trị gia không đưa ra kết luận trước để giới chuyên gia phải tìm cách chứng minh kết luận đó mà quy trình phải ngược lại, chuyên gia, giới kỹ trị phải được tự do nghiên cứu, phân tích và đề xuất chính sách, chiến lược; lãnh đạo chính trị sẽ cân nhắc, chọn lựa chính sách, chiến lược và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó.  3. Phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ quan chức vừa có năng lực vừa cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình và tránh được tệ nạn tham nhũng. Gần 15 năm trước đây tôi đã đưa kiến nghị là Nhà nước nên chọn một ngày trong năm làm ngày thi tuyển nhân tài ra làm việc nước.  Những môn thi cơ bản liên quan đến văn hóa, triết học, lịch sử, luật pháp và hành chánh vì những quan chức sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong tương lai phải am hiểu về các lãnh vực đó. Một khi đã có một trình độ nhất định về các mặt cơ bản đó, họ có thể học thêm về các chuyên ngành cần thiết khi được phân bổ vào công việc cụ thể.  Ở những nước như Nhật và Hàn Quốc, những người tốt nghiệp loại xuất sắc tại các đại học danh tiếng, phải học thêm về các môn nói trên, mới có thể thi đỗ được vào các kỳ thi tuyển quan chức Nhà nước.    Về cơ chế, chính sách cụ thể trước mắt có lẽ hai vấn đề sau đây cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược:  1. Cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Như mọi người đã thấy khu vực này ngày càng phình ra, đầu tư lung tung vào mọi ngành, nhất là trong đó không ít những dự án có tính cách đầu cơ. Hành động của khu vực này trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát và bất ổn vi mô hiện nay. Cần minh bạch hóa tài chính, có cơ chế kiểm soát tài chính, thẩm tra các dự án đầu tư của khu vực này. Thiết lập cơ chế thống quản doanh nghiệp (corporate governance) trong đó xác lập mục tiêu hoạt đông của công ty, có cơ chế kiểm soát, đánh giá thành quả của công ty và ban giám đốc phải chịu sự thưởng hoặc phạt (kể cả bị cách chức) về thành quả này. Ngoài ra, trừ những ngành cung cấp dịch vụ công cộng, doanh nghiệp Nhà nước phải  từng bước tư nhân hóa, cổ phần hóa; trong lúc chưa cổ phần hóa cũng phải hoạt động theo cơ chế thị trường chịu sự hạn chế khắt khe của ngân sách (hard budget constraint), nghĩa là không được ưu đãi đặc biệt về đất đai và vốn, và không được bù lỗ khi làm ăn thua lỗ.  2. Như trên đã nói, cơ chế trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, giai đoạn cải cách tiệm tiến rất đơn giản vì chủ yếu chỉ cởi trói các ràng buộc, hành lang pháp lý cũng không phức tạp, nhưng để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh động (xem lại chú thích số 9) để ngày càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn. Ở đây chính sách công nghiệp phải được chú trọng và nghệ thuật tạo một quan hệ hiệu quả giữa Nhà nước và doanh nghiệp là tiền đề của sự thành công. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về điểm này rất đáng tham khảo.  Ba tiền đề và hai chính sách cụ thể trên đây là nội dung của cơ chế chất lượng cao cần thiết để VN bước vào giai đoạn phát triển ổn định, bền vững, đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển nhanh.  “Đi tắt đón đầu” bằng cơ chế chất lượng cao  Trên thế giới hiện nay có 50 nước có dân số trên 20 triệu. Trong đó, có 11 nước thuộc nhóm các nước có thu nhập cao (thu nhập đầu người trên 10.000 USD), 13 nước còn ở trong vòng luẩn quẩn nghèo khó, chưa thóat ra được cái bẫy nghèo và 26 nước trên cơ bản đã thóat nghèo nhưng chưa thực sự cất cánh. Việt Nam trên cơ bản đã thoát ra khỏi cái bẫy nghèo, thoát khỏi vị trí của nhóm thứ hai và chen vào nhóm thứ ba. Trên ý nghĩa đó, thành quả đổi mới trong 20 năm qua đáng ghi nhận. Nhưng nhìn chung ta chỉ mới kết thúc hoặc sắp kết thúc giai đoạn phát triển ban đầu, còn ở vị trí gần áp chót trong nhóm 26 nước kể trên. Hơn nữa, chất lượng phát triển của ta chưa tốt. Môi trường bị ô nhiễm, chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, bụi và bất an về tai nạn giao thông, chênh lệch ngày càng tăng trong phân phối thu nhập và tài sản, v.v…  Như vậy Việt Nam hiện nay vừa phải cải thiện chất lượng tăng trưởng vừa phải nỗ lực đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển bền vững. Nhưng Việt Nam có tiềm năng (quy mô và cơ cấu dân số, vị trí địa lý, sự thống nhất về văn hóa, ngôn ngữ, v.v..) nên nếu có cơ chế chất lượng cao các nguồn lực sẽ được động viên và phát huy có hiệu quả. (Khuôn khổ của bài viết không cho phép đi xa hơn nhưng nói đến tiềm năng phải nhấn mạnh một điểm là việc chấn hưng giáo dục và nghiên cứu khoa học, công nghệ là tiền đề để tăng tiềm năng).    Từ đầu thập niên 1990, Việt Nam hay nhắc đến cụm từ “đi tắt đón đầu” trong văn cảnh phải nỗ lực để thóat khỏi nguy cơ tụt hậu. Nhưng các nhà lãnh đạo, các quan chức thường xem việc phát triển những ngành mũi nhọn, tiên tiến là con đường đi tắt đón đầu. Suy nghĩ này không hẳn đúng vì khó thống nhất ý kiến về ngành mũi nhọn cụ thể, chưa nói đến chuyện yếu tố chính trị thường chi phối sự chọn lựa đó và việc thực thi cũng dễ rơi vào tình trạng kém hiệu suất. Chí ít là phải có cơ chế chất lượng cao mới đưa ra được quyết định đúng đắn về ngành mũi nhọn, về việc thực thi chiến lược phát triển các ngành đó. Kết cuộc theo tôi, cải cách cơ chế là bí quyết đi tắt đón đầu hiệu quả nhất. Trở lại kinh nghiệm Hàn Quốc ta thấy rất rõ điều này.  Nhiều trí thức Việt Nam sang thăm Nhật Bản, Hàn Quốc,…về nước thường bức xúc đặt câu hỏi: Tại sao họ phát triển như vậy, họ khác ta những gì? Có thể trả lời như sau: Tại vì họ đã xây dựng được cơ chế chất lượng cao bảo đảm cho các nguồn lực tích cực tham gia vào qúa trình phát triển.                Trường hợp Hàn Quốc:    Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn. Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước này bắt đầu từ khi Park Chung-hee nắm chính quyền (năm 1961), thiết lập thể chế độc tài nhưng với quyết tâm phát triển đất nước. Chế độ độc tài kéo dài đến hết thời Chun Doo-hwan, trải qua mấy biến cố chính trị sôi động, đến năm 1987 họ đã thành công trong việc chuyển sang thể chế dân chủ bằng cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên. Năm 1988 Hàn Quốc tổ chức thành công Thế vận hội Seoul và năm 1996 được kết nạp vào khối OECD.  Từ lúc bắt đầu kế hoạch phát triển đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến, Hàn Quốc chỉ mất có 35 năm! Nếu kể từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt thì cũng chỉ có 43 năm. HQ cũng bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Á châu nhưng đã khắc phục được ngay (GDP đầu người chỉ giảm năm 1998) nhờ nền tảng cơ bản của nền kinh tế vững chắc và các nhóm tài phiệt mà hoạt động cho vay và đầu tư không hiệu quả của họ đã gây ra khủng hoảng là những tổ hợp tư nhân, ảnh hưởng ít đến cả nền kinh tế.              Tại sao Hàn Quốc thành công trong quá trình phát triển liên tục, chuyển từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững? Rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh nghiệm nước này. Từ góc độ tham khảo cho VN, và đặt tiêu điểm vào mặt cơ chế, tôi đặc biệt chú ý đến các yếu tố sau:   Thứ nhất, ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ mình). Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính sách của lãnh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng.  Như nhận xét của Evans (1995, p. 51), ở Hàn Quốc, Nhà nước có truyền thống chọn được nguời tài ra làm việc nước từ những người giỏi nhất ở các đại học danh tiếng nhất. Đặc biệt, Park Chung-hee lập Hội đồng hoạch định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia học ở Mỹ về, được giao toàn quyền hoạch định chiến lược.              Trong bối cảnh chung đó, tinh thần doanh nghiệp, nỗ lực học tập kinh nghiệm nước ngoài của giới kinh doanh rất lớn. Giữa thập niên 1980 tôi có đến Hàn Quốc điều tra thực tế về chiến lược đuổi bắt công nghệ của doanh nghiệp nước này, ấn tượng nhất là thấy họ đưa ra khẩu hiệu phải theo kịp khả năng công nghệ của công ty hàng đầu của Nhật trong ngành. Những người có kinh nghiệm du học cùng với sinh viên Hàn Quốc cũng dễ dàng thấy nỗ lực học tập  của họ. Quốc sách theo kịp nước tiên tiến không phải là khẩu hiệu chung chung mà từng thành phần trong xã hội đều nỗ lực thực hiện.  Thứ hai, Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu suất, hiệu quả về quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tích cực đầu tư, tích lũy tư bản (nhưng tỉ lệ tiết kiệm ban đầu quá thấp phải vay nợ trong thời gian dài), đồng thời bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ. Như vậy vai trò của Nhà nước rất lớn. Trong tình hình đó, ở nhiều nước khác, doanh nghiệp cấu kết với quan chức để được tiếp cận với vốn vay ưu đãi, với ngoại tệ khan hiếm và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu. Nạn tham nhũng dễ phát sinh từ đó. Nhưng Hàn Quốc đã tránh được tệ nạn đó nhờ có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh có tính cách kỷ luật (discipline). Cụ thể là doanh nghiệp được nhận ưu đãi phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh, chẳng hạn phải xuất khẩu nhiều hơn trước. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ sẽ không được hưởng ưu đãi trong giai đoạn sau. Nói chung, các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau, đưa ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được ưu đãi của Nhà nước.              Khi đặt xuất khẩu là mục tiêu của quốc gia thì người lãnh đạo cao nhất phải thường xuyên quan tâm. Tôi rất ấn tượng là chính Tổng thống Park Chung –hee trực tiếp chủ trì các hội nghị kiểm tra diễn tiến xuất khẩu. Mục tiêu xuất khẩu đặt ra rất lớn nhưng hầu như năm nào cũng đạt được là nhờ cơ chế như vậy.                   Thứ ba, nhận xét của Amsden (1989) rất chính xác khi cho rằng Hàn Quốc đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập (industrialization on the basis of learning). Quả đúng như vậy nếu ta xem nỗ lực của Chính phủ trong giáo dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, và nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình học hỏi nước ngoài. Tỉ trọng dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 chỉ có dưới 10% ngân sách Nhà nước, nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên 1980. Tỉ lệ học sinh cấp ba trong độ tuổi thanh thiếu niên tăng từ 34% năm 1965 lên 56% năm 1975 và 91% năm 1984. Tỉ lệ sinh viên đại học trong thời gian đó là 6%, 10% và 26%. Hàn Quốc là một trong những nước có tỉ lệ rất cao trong hai chỉ tiêu: tỉ lệ của sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỉ lệ nguời du học trở về trên tổng số sinh viên đi du học. Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến việc thi tuyển và đãi ngộ người  tài.              Ba điểm nói trên nhất quán trong suốt quá trình đuổi theo các nước tiên tiến nhưng nội dung của các cơ chế thay đổi theo nhu cầu phát triển của mỗi thời kỳ. Từ đầu thập niên 1980, vai trò của Nhà nước trong việc phân bổ nguồn lực nhỏ dần và thay vào đó tập trung vào giáo dục, nghiên cứu khoa học để tạo tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên thứ nguyên cao hơn.  Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy cơ chế động viên mọi nguồn lực của xã hội vào mục tiêu được xã hội đồng thuận, nhất là xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực, tạo quan hệ lành mạnh giữa Nhà nước với doanh nghiệp  là điều kiện để phát triển bền vững.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện nhận tài trợ từ Quỹ hỗ trợ Đổi mới công nghệ của Thụy Sĩ      Ngày 18/7/2013, tại hội thảo “Đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam “tổ chức ở Cần Thơ, bà Brigette Bruhin, Tổng giám đốc Cơ quan Hợp tác Phát triển kinh tế Thụy Sĩ tại Việt Nam, đã giới thiệu các điều kiện, tiêu chí để doanh nghiệp Việt Nam có thể nhận hỗ trợ với khẳng định “Khi doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng sản xuất sạch hơn, chẳng hạn giảm được 30% chất thải, thì chúng tôi sẽ trả thưởng 25%”.      Thành lập từ năm 1998 tại INEST, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, trong khuôn khổ dự án VIE/96/063 do Chính phủ Thụy Sĩ tài trợ thông qua UNIDO chương trình này đã phổ biến rộng rãi khái niệm sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, và khuyến khích doanh nghiệp sử dụng tài nguyên và năng lượng hiệu quả và công nghệ thân thiện môi trường, biết cách tiếp cận các nguồn tài chính để đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư trung và dài hạn vào công nghệ sạch hơn, xử lý giảm chất thải ra môi trường, đóng góp cho sự phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam.   Bà Nguyễn Lê Hằng, điều phối viên Quỹ ủy thác tín dụng xanh, Trung tâm sản xuất sạch hơn của Việt Nam (VNCPC), giải thích: Các công ty đang hoạt động, có ít nhất 51% sở hữu trong nước, độc lập với các công ty quốc tế (không phải là một phần của công ty đa quốc gia) thuộc các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ thương mại: nhà hàng, khách sạn, trung tâm hội nghị, vui chơi giải trí, tòa nhà văn phòng, giặt ủi, nhuộm… muốn thay đổi phương thức sản xuất, đầu tư mới thiết bị… đều có thể tiếp cận quỹ này.   Hiện nay cơ quan thẩm định của Quỹ đã nhận 60 hồ sơ, trong đó 40 hồ sơ đủ điều kiện sàng lọc ban đầu, 30 dự án được phê duyệt kỹ thuật, 12 dự án đã giải ngân. 7 dự án đã hoàn tất việc trả thưởng. Phí thẩm định của cơ quan điều phối (Trung tâm sản xuất sạch hơn) là 2-4% tổng giá trị tín dụng. Thời gian xem xét trung bình 75 ngày và thời gian triển khai đầu tư trong 3-6 tháng.   Quy mô tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp là từ 10.000 đến 1 triệu đô la Mỹ, tối đa là 3 triệu đô la Mỹ  cho những dự án phân bổ đầu tư tốt và tạo tác động rộng hơn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều tra thống kê thử nghiệm đổi mới sáng tạo năm 2017      Để thực hiện nội dung về tăng cường năng lực thống kê KH&CN, đổi mới sáng tạo dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, từ tháng 7/2017 đến tháng 2/2018 Tiểu dự án FIRST-NASATI  đã tổ chức cuộc điều tra thống kê thử nghiệm về đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo để có cách tiếp cận tiên tiến và áp dụng thử nghiệm phương pháp luận quốc tế trong điều tra đổi mới sáng tạo.      Một gian hàng của doanh nghiệp khởi  nghiệp đổi mới sáng tạo tại Techfest 2017. Ảnh: BTC Techfest.  Mục đích của điều tra thống kê  thử nghiệm đổi mới sáng tạo:  – Nghiên cứu hoạt động đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Đo lường mức độ đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Thu thập thông tin về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Xác định những rào cản, vướng mắc trong thực hiện đổi mới sáng tạo;  – Xác định và đưa ra những thông số về đổi mới sáng tạo để so sánh quốc tế;  – Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hoạt động và mức độ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.  Phương pháp luận thống kê đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp  Cơ sở lý luận và phương pháp luận thống kê đổi mới sáng tạo được áp dụng cho điều tra thống kê thử nghiệm lần này là dựa theo Hướng dẫn Oslo 2005 (OECD, 2005), cũng tương tự như phương pháp luận áp dụng cho các cuộc điều tra đổi mới sáng tạo ở các nước EU, được gọi là Community Innovation Survey (CIS) , hoặc như Điều tra đổi mới sáng tạo của Malaysia (National Innovation Survey-NIS), Điều tra đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc (Korean Innovation Survey-KIS).  Khái niệm đổi mới sáng tạo  Đổi mới sáng tạo (ĐMST) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý, tiếp thị để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .  Hướng dẫn Oslo 2005 định nghĩa: Một đổi mới sáng tạo là việc thực hiện/hoàn thành một sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) hay một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp tiếp thị mới, hoặc một phương pháp tổ chức và quản lý mới trong hoạt động thực tiễn kinh doanh, tổ chức sản xuất hoặc quan hệ đối ngoại. Bản chất chung của một Đổi mới sáng tạo là công việc đó phải được hoàn thành và cho ra kết quả được sử dụng.  Như vậy, theo Hướng dẫn Oslo, hoạt động đổi mới sáng tạo được thực hiện khi hoạt động đó mang lại hiệu quả cụ thể (sản phẩm được bán ra, quy trình công nghệ vận hành thành công, phương pháp tiếp thị hay phương pháp tổ chức và quản lý mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp).  Hoạt động đổi mới sáng tạo là các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức và quản lý, tài chính và thương mại để thực hiện/hoàn thành ĐMST.    Doanh nghiệp (DN) có hoạt động ĐMST là DN thực hiện các hoạt động ĐMST, trong một giai đoạn nào đó, kể cả các hoạt động đang triển khai (chưa hoàn thành) hay hoạt động bị dừng giữa chừng.  Doanh nghiệp ĐMST là DN thực hiện/hoàn thành một đổi mới sáng tạo trong giai đoạn được quan sát.  Trên thực tế, có 04 loại ĐMST chính, bao gồm: (1) Đổi mới sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) (viết tắt là: ĐMSP); (2) Đổi mới quy trình, công nghệ, thiết bị (ĐMQT); (3) Đổi mới tổ chức và quản lý (ĐMTC&QL); và (4) Đổi mới tiếp thị (ĐMTT).  Doanh nghiệp ĐMSP/ĐMQT là DN thực hiện/hoàn thành một sản phẩm hay một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể trong giai đoạn được quan sát.  Định nghĩa về DN ĐMST nêu trên được áp dụng trong các cuộc điều tra đổi mới sáng tạo của các nước thành viên OECD và các nước khác trong đó có Việt Nam (đang được kiến nghị đưa vào áp dụng).  DN ĐMST, trong một giai đoạn thời gian nào đó, là những DN, trước hết, thuộc về nhóm các DN có hoạt động ĐMST mà những hoạt động đó mang lại các ĐMST chính, như: sản phẩm (mới hay được cải tiến về kỹ thuật) được đưa ra thị trường; quy trình công nghệ (mới hay được cải tiến về kỹ thuật) được áp dụng vào sản xuất; phương pháp tiếp thị hay phương pháp tổ chức và quản lý mới mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.  Nội dung của hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp  Để có thể thu thập được thông tin trung thực, chính xác về các hoạt động ĐMST của doanh nghiệp, cần xác định cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu những nội dung cơ bản của các hoạt động ĐMST. Trong quá trình chuẩn bị các chỉ tiêu, phiếu thu thập thông tin và tài liệu hưỡng dẫn điều tra thử nghiệm, các nội dung cơ bản của các hoạt động ĐMST đã được chuẩn bị kỹ dựa theo Hướng dẫn Oslo của OECD (2005).  Phương pháp lựa chọn đơn vị điều tra  Đây là cuộc điều tra toàn bộ kết hợp với chọn mẫu các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên phạm vi cả nước.  a) Đối tượng và đơn vị điều tra: bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hạch toán kinh tế độc lập và chịu sự điều tiết bởi Luật Doanh nghiệp; hoạt động sản xuất kinh doanh trước thời điểm 01/01/2016 và hiện đang tồn tại (Bao gồm: các doanh nghiệp đang hoạt động qua các năm 2014-2016, những doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ không sản xuất đủ 12 tháng trong một năm, những doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất để đầu tư đổi mới, sửa chữa, mở rộng sản xuất, những doanh nghiệp ngừng hoạt động để chờ giải thể nhưng có bộ máy quản lý có thể trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra).  b) Tiêu chí lựa chọn đơn vị điều tra:  – Doanh nghiệp theo quy mô lao động: Doanh nghiệp được lựa chọn làm đơn vị điều tra thuộc về các loại doanh nghiệp: nhỏ, vừa và lớn theo quy mô lao động. Tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn được xác định theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ trên 10 lao động đến 200 lao động; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có trên 200 đến 300 lao động; doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có trên 300 lao động.  Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, theo số điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014 và 2015, ước tính số lượng doanh nghiệp nhỏ (10-200 lao động) là 18.500; doanh nghiệp vừa khoảng trên 1.000 và doanh nghiệp lớn khoảng 2.800. Khoảng 8.000 doanh nghiệp chế biến, chế tạo được lựa chọn dựa trên các tiêu chí ngành kinh tế và quy mô doanh nghiệp theo lao động.  – Doanh nghiệp theo ngành kinh tế: các doanh nghiệp chế biến, chế tạo thuộc lớp ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo) và các lớp ngành D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U của Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ). Theo thực tế kết quả rà soát và tổng hợp (Viện QLKTTW, 2015) danh mục các ngành nghiệp chế biến, chế tạo đưa vào điều tra cơ bản là danh mục các ngành cấp 2 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Lớp ngành C) theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Bảng 1.2 mô tả Danh mục ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bao gồm: tên gọi và mã ngành cấp 2 cũng như mã ngành cấp 2 theo phân loại của ISIC (Phân loại Ngành Công nghiệp theo tiêu chuẩn Quốc tế:  The International Standard Industrial Classification of All Economic Activities -ISIC). c) Quy mô mẫu điều tra:  – Đối với doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn: điều tra toàn bộ trên cơ sở danh sách các đơn vị đã được điều tra năm 2014, 2015. Trường hợp không còn hoặc không tìm được đơn vị cũ thì tiến hành lựa chọn đơn vị điều tra mới (nếu có) để thay thế cho đủ số lượng cần thiết. Đơn vị chọn điều tra thay thế được tiến hành theo nguyên tắc chọn doanh nghiệp liền kề cùng ngành cấp 2 và có quy mô tương đương về lao động.  – Đối với doanh nghiệp nhỏ: điều tra chọn mẫu (khoảng 20-30% số doanh nghiệp) để cùng với số lượng doanh nghiệp vừa và lớn có thể đạt được số lượng cần thiết (là 8.000 doanh nghiệp). Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, rải đều theo quy mô lao động, đại diện cho toàn quốc và ngành công nghiệp cấp 2 thuộc ngành chế biến, chế tạo. Dàn chọn mẫu là danh sách các doanh nghiệp thực tế đang hoạt động có đến thời điểm 31/12/2016 thuộc các loại hình doanh nghiệp chế biến, chế tạo. Các doanh nghiệp được chọn điều tra là danh sách các doanh nghiệp đã được chọn để điều tra các năm 2014, 2015 trên cơ sở bổ sung những đơn vị bị mất. Đơn vị chọn thay thế được tiến hành theo nguyên tắc chọn doanh nghiệp theo danh sách liền kề, cùng ngành cấp 2 và có quy mô tương ứng về lao động.  Trong Báo cáo này, khái niệm doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn được hiểu là phân loại doanh nghiệp chỉ theo quy mô lao động. Do vậy, khi nói đến doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn có thể hiểu ngay là phân loại doanh nghiệp theo quy mô lao động.  – Ngoài ra, để phục vụ cho phân tích, số liệu điều tra còn được tổng hợp theo nhóm các doanh nghiệp phân theo loại hình kinh tế doanh nghiệp. Thành phần kinh tế của doanh nghiệp được căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2005. Theo đó:  + Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp);  + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp có từ 51% vốn điều lệ trở lên là thuộc vốn nước ngoài (Khoản 1 Điều 23 Luật đầu tư);  + Còn lại là doanh nghiệp ngoài nhà nước .  Nội dung điều tra  Nội dung điều tra tập trung vào các nhóm chỉ tiêu sau:  – Loại hình doanh nghiệp đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nói chung; Doanh nghiệp đổi mới sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), quy trình công nghệ, tổ chức và quản lý, tiếp thị,…; Phương thức thực hiện để có được sản phẩm mới, sản phẩm được cải tiến đáng kể; Doanh số của các sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải tiến đáng kể; Doanh thu của các sản phẩm mới đối với thị trường của doanh nghiệp.  – Tài chính cho đổi mới sáng tạo: Tài chính dành cho các hoạt động phục vụ ĐMST; Doanh nghiệp có nhận hỗ trợ từ phía Nhà nước; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; Đầu tư cho NC&PT.  – Nguồn thông tin phục vụ đổi mới sáng tạo: Nguồn thông tin quan trọng nhất đối với hoạt động ĐMST của doanh nghiệp (từ nội bộ doanh nghiệp, từ thị trường, từ các tổ chức KH&CN,…)  – Hợp tác đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp có ĐMST và có hợp tác ĐMST; doanh nghiệp có ĐMST và có hợp tác ĐMST chặt chẽ với các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu, trường đại học,…), với khách hàng, nhà cung cấp thiết bị, cung cấp đầu vào trung gian,…  – Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Bộ phận chuyên trách NC&PT; Nhân lực NC&PT; Chi phí NC&PT, thực hiện nhiệm vụ KH&CN,…  – Đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ: Doanh nghiệp có các quyền sở hữu trí tuệ; doanh nghiệp có ĐMST và có các quyền sở hữu trí tuệ…  – Tác động tích cực của hoạt động ĐMST đối với các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.  – Nguyên nhân cản trở hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.  Trích Báo cáo điều tra thống kê thử nghiệm về đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo  Mục đích của điều tra thống kê  thử nghiệm đổi mới sáng tạo:  – Nghiên cứu hoạt động đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Đo lường mức độ đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Thu thập thông tin về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngành công nghiệp chế biến, chế tạo;  – Xác định những rào cản, vướng mắc trong thực hiện đổi mới sáng tạo;  – Xác định và đưa ra những thông số về đổi mới sáng tạo để so sánh quốc tế;  – Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hoạt động và mức độ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.  Phương pháp luận thống kê đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp  Cơ sở lý luận và phương pháp luận thống kê đổi mới sáng tạo được áp dụng cho điều tra thống kê thử nghiệm lần này là dựa theo Hướng dẫn Oslo 2005 (OECD, 2005), cũng tương tự như phương pháp luận áp dụng cho các cuộc điều tra đổi mới sáng tạo ở các nước EU, được gọi là Community Innovation Survey (CIS) , hoặc như Điều tra đổi mới sáng tạo của Malaysia (National Innovation Survey-NIS), Điều tra đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc (Korean Innovation Survey-KIS).  Khái niệm đổi mới sáng tạo  Đổi mới sáng tạo (ĐMST) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý, tiếp thị để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .  Hướng dẫn Oslo 2005 định nghĩa: Một đổi mới sáng tạo là việc thực hiện/hoàn thành một sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) hay một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp tiếp thị mới, hoặc một phương pháp tổ chức và quản lý mới trong hoạt động thực tiễn kinh doanh, tổ chức sản xuất hoặc quan hệ đối ngoại. Bản chất chung của một Đổi mới sáng tạo là công việc đó phải được hoàn thành và cho ra kết quả được sử dụng.  Như vậy, theo Hướng dẫn Oslo, hoạt động đổi mới sáng tạo được thực hiện khi hoạt động đó mang lại hiệu quả cụ thể (sản phẩm được bán ra, quy trình công nghệ vận hành thành công, phương pháp tiếp thị hay phương pháp tổ chức và quản lý mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp).  Hoạt động đổi mới sáng tạo là các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức và quản lý, tài chính và thương mại để thực hiện/hoàn thành ĐMST.    Doanh nghiệp (DN) có hoạt động ĐMST là DN thực hiện các hoạt động ĐMST, trong một giai đoạn nào đó, kể cả các hoạt động đang triển khai (chưa hoàn thành) hay hoạt động bị dừng giữa chừng.  Doanh nghiệp ĐMST là DN thực hiện/hoàn thành một đổi mới sáng tạo trong giai đoạn được quan sát.  Trên thực tế, có 04 loại ĐMST chính, bao gồm: (1) Đổi mới sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) (viết tắt là: ĐMSP); (2) Đổi mới quy trình, công nghệ, thiết bị (ĐMQT); (3) Đổi mới tổ chức và quản lý (ĐMTC&QL); và (4) Đổi mới tiếp thị (ĐMTT).  Doanh nghiệp ĐMSP/ĐMQT là DN thực hiện/hoàn thành một sản phẩm hay một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể trong giai đoạn được quan sát.  Định nghĩa về DN ĐMST nêu trên được áp dụng trong các cuộc điều tra đổi mới sáng tạo của các nước thành viên OECD và các nước khác trong đó có Việt Nam (đang được kiến nghị đưa vào áp dụng).  DN ĐMST, trong một giai đoạn thời gian nào đó, là những DN, trước hết, thuộc về nhóm các DN có hoạt động ĐMST mà những hoạt động đó mang lại các ĐMST chính, như: sản phẩm (mới hay được cải tiến về kỹ thuật) được đưa ra thị trường; quy trình công nghệ (mới hay được cải tiến về kỹ thuật) được áp dụng vào sản xuất; phương pháp tiếp thị hay phương pháp tổ chức và quản lý mới mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.  Nội dung của hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp  Để có thể thu thập được thông tin trung thực, chính xác về các hoạt động ĐMST của doanh nghiệp, cần xác định cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu những nội dung cơ bản của các hoạt động ĐMST. Trong quá trình chuẩn bị các chỉ tiêu, phiếu thu thập thông tin và tài liệu hưỡng dẫn điều tra thử nghiệm, các nội dung cơ bản của các hoạt động ĐMST đã được chuẩn bị kỹ dựa theo Hướng dẫn Oslo của OECD (2005).  Phương pháp lựa chọn đơn vị điều tra  Đây là cuộc điều tra toàn bộ kết hợp với chọn mẫu các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên phạm vi cả nước.  a) Đối tượng và đơn vị điều tra: bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hạch toán kinh tế độc lập và chịu sự điều tiết bởi Luật Doanh nghiệp; hoạt động sản xuất kinh doanh trước thời điểm 01/01/2016 và hiện đang tồn tại (Bao gồm: các doanh nghiệp đang hoạt động qua các năm 2014-2016, những doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ không sản xuất đủ 12 tháng trong một năm, những doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất để đầu tư đổi mới, sửa chữa, mở rộng sản xuất, những doanh nghiệp ngừng hoạt động để chờ giải thể nhưng có bộ máy quản lý có thể trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra).  b) Tiêu chí lựa chọn đơn vị điều tra:  – Doanh nghiệp theo quy mô lao động: Doanh nghiệp được lựa chọn làm đơn vị điều tra thuộc về các loại doanh nghiệp: nhỏ, vừa và lớn theo quy mô lao động. Tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn được xác định theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ trên 10 lao động đến 200 lao động; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có trên 200 đến 300 lao động; doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có trên 300 lao động. Bảng 1.1 mô tả cách phân loại doanh nghiệp nhỏ, vựa và lớn theo quy mô lao động của Việt Nam và một số quốc gia khác.  Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, theo số điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014 và 2015, ước tính số lượng doanh nghiệp nhỏ (10-200 lao động) là 18.500; doanh nghiệp vừa khoảng trên 1.000 và doanh nghiệp lớn khoảng 2.800. Khoảng 8.000 doanh nghiệp chế biến, chế tạo được lựa chọn dựa trên các tiêu chí ngành kinh tế và quy mô doanh nghiệp theo lao động.  – Doanh nghiệp theo ngành kinh tế: các doanh nghiệp chế biến, chế tạo thuộc lớp ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo) và các lớp ngành D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U của Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ). Theo thực tế kết quả rà soát và tổng hợp (Viện QLKTTW, 2015) danh mục các ngành nghiệp chế biến, chế tạo đưa vào điều tra cơ bản là danh mục các ngành cấp 2 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Lớp ngành C) theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Bảng 1.2 mô tả Danh mục ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bao gồm: tên gọi và mã ngành cấp 2 cũng như mã ngành cấp 2 theo phân loại của ISIC (Phân loại Ngành Công nghiệp theo tiêu chuẩn Quốc tế:  The International Standard Industrial Classification of All Economic Activities -ISIC). c) Quy mô mẫu điều tra:  – Đối với doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn: điều tra toàn bộ trên cơ sở danh sách các đơn vị đã được điều tra năm 2014, 2015. Trường hợp không còn hoặc không tìm được đơn vị cũ thì tiến hành lựa chọn đơn vị điều tra mới (nếu có) để thay thế cho đủ số lượng cần thiết. Đơn vị chọn điều tra thay thế được tiến hành theo nguyên tắc chọn doanh nghiệp liền kề cùng ngành cấp 2 và có quy mô tương đương về lao động.  – Đối với doanh nghiệp nhỏ: điều tra chọn mẫu (khoảng 20-30% số doanh nghiệp) để cùng với số lượng doanh nghiệp vừa và lớn có thể đạt được số lượng cần thiết (là 8.000 doanh nghiệp). Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, rải đều theo quy mô lao động, đại diện cho toàn quốc và ngành công nghiệp cấp 2 thuộc ngành chế biến, chế tạo. Dàn chọn mẫu là danh sách các doanh nghiệp thực tế đang hoạt động có đến thời điểm 31/12/2016 thuộc các loại hình doanh nghiệp chế biến, chế tạo. Các doanh nghiệp được chọn điều tra là danh sách các doanh nghiệp đã được chọn để điều tra các năm 2014, 2015 trên cơ sở bổ sung những đơn vị bị mất. Đơn vị chọn thay thế được tiến hành theo nguyên tắc chọn doanh nghiệp theo danh sách liền kề, cùng ngành cấp 2 và có quy mô tương ứng về lao động.  Trong Báo cáo này, khái niệm doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn được hiểu là phân loại doanh nghiệp chỉ theo quy mô lao động. Do vậy, khi nói đến doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn có thể hiểu ngay là phân loại doanh nghiệp theo quy mô lao động.  – Ngoài ra, để phục vụ cho phân tích, số liệu điều tra còn được tổng hợp theo nhóm các doanh nghiệp phân theo loại hình kinh tế doanh nghiệp. Thành phần kinh tế của doanh nghiệp được căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2005. Theo đó:  + Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp);  + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp có từ 51% vốn điều lệ trở lên là thuộc vốn nước ngoài (Khoản 1 Điều 23 Luật đầu tư);  + Còn lại là doanh nghiệp ngoài nhà nước .  Nội dung điều tra  Nội dung điều tra tập trung vào các nhóm chỉ tiêu sau:  – Loại hình doanh nghiệp đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nói chung; Doanh nghiệp đổi mới sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), quy trình công nghệ, tổ chức và quản lý, tiếp thị,…; Phương thức thực hiện để có được sản phẩm mới, sản phẩm được cải tiến đáng kể; Doanh số của các sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải tiến đáng kể; Doanh thu của các sản phẩm mới đối với thị trường của doanh nghiệp.  – Tài chính cho đổi mới sáng tạo: Tài chính dành cho các hoạt động phục vụ ĐMST; Doanh nghiệp có nhận hỗ trợ từ phía Nhà nước; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; Đầu tư cho NC&PT.  – Nguồn thông tin phục vụ đổi mới sáng tạo: Nguồn thông tin quan trọng nhất đối với hoạt động ĐMST của doanh nghiệp (từ nội bộ doanh nghiệp, từ thị trường, từ các tổ chức KH&CN,…)  – Hợp tác đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp có ĐMST và có hợp tác ĐMST; doanh nghiệp có ĐMST và có hợp tác ĐMST chặt chẽ với các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu, trường đại học,…), với khách hàng, nhà cung cấp thiết bị, cung cấp đầu vào trung gian,…  – Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Bộ phận chuyên trách NC&PT; Nhân lực NC&PT; Chi phí NC&PT, thực hiện nhiệm vụ KH&CN,…  – Đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ: Doanh nghiệp có các quyền sở hữu trí tuệ; doanh nghiệp có ĐMST và có các quyền sở hữu trí tuệ…  – Tác động tích cực của hoạt động ĐMST đối với các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.  – Nguyên nhân cản trở hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.  Trích Báo cáo điều tra thống kê thử nghiệm về đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều trị nhiễm trùng đường ruột bằng thuốc chiết xuất từ phân người      Một loại thuốc viên chứa bào tử vi khuẩn được phân lập từ phân người có thể sẽ trở thành thuốc uống điều trị nhiễm trùng đường ruột tái phát đầu tiên được chấp thuận.    Nhiễm trùng đường ruột do vi khuẩn Clostridium difficile đặc biệt nguy hiểm ở những người có hệ vi khuẩn đường ruột không khỏe mạnh, chẳng hạn như người già hoặc sử dụng kháng sinh dài hạn. Phương pháp điều trị hiện nay là cấy ghép hệ vi sinh vật trong phân (FMT): phân từ một người hiến tặng khỏe mạnh, đưa vào bệnh nhân qua đường nội soi, giúp khôi phục sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột và ngăn nhiễm khuẩn Clostridium difficile. Tuy nhiên, đây là một liệu pháp xâm lấn, chưa kể vật liệu cấy ghép rất khó để tiêu chuẩn hóa, theo Sahil Khanna, bác sĩ tiêu hóa tại Mayo Clinic, người tham gia vào các thử nghiệm SER-109 trước đây.    Đã có trường hợp phân của người hiến tặng truyền bệnh nhiễm trùng mới có hại cho bệnh nhân. Năm 2019, một bệnh nhân nam có hệ miễn dịch bị tổn hại đã tử vong sau khi nhận phân có chứa vi khuẩn Escherichia coli kháng kháng sinh. COVID-19 cũng làm tăng mối lo về an toàn: FMT có thể làm lây nhiễm SARS-CoV-2. Do đó, năm 2020, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đưa ra nhiều yêu cầu sàng lọc khắt khe hơn đối với quy trình FMT. Điều này khiến cho việc sàng lọc người hiến tặng trở nên càng khó khăn, trong khi các nguồn chế phẩm cần thiết để xử lý phân đang cạn kiệt. Nhà cung cấp lớn nhất của Mỹ, ngân hàng phân phi lợi nhuận OpenBiome, cho biết đã ngừng sản xuất từ tháng 2/2021do gặp khó khăn về tài chính và các lựa chọn thay thế FMT sắp xuất hiện.    Một trong số đó là thuốc SER-109 của công ty Seres Therapeutics đã thành công trong thử nghiệm giai đoạn 3. Phân từ những người hiến tặng được sàng lọc, rồi xử lý bằng ethanol để loại bỏ các virus, nấm và vi khuẩn “sinh dưỡng” – những vi khuẩn đang trong tình trạng phát triển và sinh sản. Quy trình xử lý chỉ để lại những vi khuẩn có thể hình thành những cấu trúc có thành dày, gọi là bào tử, phần lớn thuộc nhóm Firmicutes. Các vi khuẩn thuộc nhóm này có giá trị vì chúng có thể cạnh tranh với C. difficile trong ruột, “lấy không gian và thức ăn cũng như nguồn carbon của C. difficile”, Giám đốc Y tế Lisa von Moltke của Seres, cho biết. Firmicute cũng thay đổi thành phần của axit mật trong ruột, làm cho môi trường ruột trở nên ít thích hợp hơn đối với C. difficile.    Năm 2016, Seres đã phải tuyên bố phương pháp điều trị của họ không cho thấy lợi ích lớn hơn so với giả dược trong thử nghiệm giai đoạn 2. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu của công ty sau đó kết luận rằng liều lượng thử nghiệm quá thấp, và chưa tuyển chọn đúng những người tham gia thực sự bị nhiễm trùng tái phát. Thử nghiệm giai đoạn 3 của Seres, sử dụng liều cao hơn và xét nghiệm sàng lọc chính xác hơn, bao gồm 182 người bị nhiễm C. difficile tái phát. Những người này được chia ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhận SER-109 hoặc giả dược; cả hai nhóm đều trải qua một đợt sử dụng kháng sinh. Kết quả, tỷ lệ nhiễm C. difficile tái phát ở nhóm dùng giả dược là 40%và ở nhóm uống SER-109 là 12%, theo nhóm nghiên cứu báo cáo trên Tạp chí Y học New England.    Kết quả này tương đương với điều trị bằng FMT, theo Colleen Kelly, nhà tiêu hóa học tại Đại học Brown, người từng thực hiện một thử nghiệm SER-109 trước đây nhưng không tham gia thử nghiệm mới. Đáng lưu ý, nhiều bệnh nhân muốn tránh cảm giác khó chịu khi nội soi và sẽ chọn thuốc viên nếu có.        Các nhà nghiên cứu khác nghi ngờ liệu pháp mới chưa thể đạt hiệu quả như FMT. “Hệ sinh vật hoàn chỉnh trong phân là một tiêu chuẩn thực sự cao mà thiên nhiên đã thiết lập,” Alexander Khoruts, nhà tiêu hóa tại Đại học Minnesota, cho biết. Khoruts lưu ý rằng quá trình thanh lọc để điều chế SER-109 đã loại bỏ cả các virus tiêu diệt vi khuẩn được gọi là phage. “Chỉ cung cấp khuẩn Firmicutes vẫn tốt hơn giả dược, nhưng tôi cho rằng không thể bỏ qua các thành phần vi khuẩn khác trong phân,” Khoruts nói.    Seres đặt mục tiêu nộp đơn xin FDA chấp thuận SER-109 vào giữa năm 2022. Một số đối thủ cạnh tranh cũng đang theo sát gót. Năm ngoái, công ty Rebiotix Inc. đã công bố kết quả khả quan từ thử nghiệm giai đoạn 3 về phương pháp điều trị C. difficile tái phát – thuốc của Rebiotix Inc. là một sản phẩm phân đã lọc đưa vào cơ thể theo đường thụt hậu môn. Tháng 10/2021, Finch Therapeutics, một nhánh của OpenBiome, tuyên bố đã thử nghiệm thành công giai đoạn 2 thuốc viên chứa phân đông khô. Và công ty Vedanta Biosciences đã hoàn thành thử nghiệm giai đoạn 2 của một liệu pháp điều trị C. difficile tái phát, bao gồm tám chủng vi khuẩn được chọn lọc riêng lẻ, nuôi trong ngân hàng tế bào chứ không phải phân lập từ phân.    Với các lựa chọn thay thế FMT, “tôi không muốn phải chứng kiến ​​mô hình ngân hàng phân biến mất hoàn toàn,” Kelly nói, lưu ý rằng phân vẫn sẽ rất quan trọng đối với việc nghiên cứu các bệnh khác như bệnh viêm ruột. Nhưng ông rất háo hức về việc triển khai SER-109 cho bệnh nhân C. difficile. “Tôi nghĩ mọi người đều rất vui khi có thứ một phương pháp điều trị an toàn, ổn định và sẵn có,” Kelly nói. “Chỉ hy vọng nó không quá đắt.”    Nhật Linh    Author                phongvien        
__label__tiasang Điều trị tiểu đường típ 2 bằng công nghệ tế bào gốc của Việt Nam      Trong một báo cáo gần đây của nhóm nghiên cứu thuộc Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh, TP HCM phối hợp với Viện Tế bào gốc, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP HCM tiến hành trên bệnh nhân tiểu đường típ 2 được ghép tế bào gốc từ tuỷ xương cho thấy, sau 6 tháng được ghép tế bào, bệnh nhân đã không cần phải tiêm insulin và cũng không phát hiện bất cứ tác dụng phụ bất lợi nào.      Đây là một tín hiệu đáng mừng cho các bệnh nhân tiểu đường típ 2. Phương pháp này cũng mở ra cơ hội mới trong điều trị tận gốc bệnh lý tiểu đường típ 2.   Tiểu đường típ 2 là một trong những bệnh lý phổ biến nhất hiện nay do béo phì và lão hoá. Cơ chế của bệnh khá phức tạp nhưng thường liên quan đến kháng insulin ở người bệnh. Tiểu đường típ 2 làm tăng nguy cơ tử vong và giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh. Hiện nay, bệnh được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau như tiêm insulin và các chất điều hoà glucose tuy nhiên hiệu quả điều trị vẫn chưa cao.   Trong nghiên cứu của nhóm bác sĩ ở Bệnh viện Đa khoa Vạn hạnh và Viện tế bào gốc, một bệnh nhân nữ 55 tuổi đã được chẩn đoán mắc tiểu đường típ 2 được 10 năm. Các xét nghiệm y tế cho thấy bệnh nhân có mức glucose lúc đói là 7,27 mg/dL, sau khi ăn 2 giờ, mức glucose tăng lên ở mức 16,91 mg/DL. Chỉ số HbA1c là 7,9%. Bệnh nhân đang được điều trị  bằng tiêm Lantus 14UI dưới da vào mỗi sáng và uống 1 viên Diamicron 60mg, 1 viên Janumer 1000/500mg.   Khi tham gia vào nghiên cứu này, bệnh nhân được cấy ghép tế bào gốc tuỷ xương tự thân 2 lần, ghép cách nhau 1 tháng. Quy trình thu nhận tế bào gốc được thực hiện theo công nghệ chuyển giao từ Viện Tế bào gốc sử dụng bộ kit MNC Extration kit. Mỗi lần ghép, 100 ml tuỷ xương được thu nhận. Mỗi 30 ml tuỷ xương được pha loãng với 10ml Dilute Medium. Sau đó máu pha loãng được đặt trên 10ml separate medium trong 1 ống ly tâm khác. Ống này được ly tâm ở 400g trong 10 phút ở 18-200C. Sau khi ly tâm, lớp tế bào gốc được phân tách khỏi hồng cầu. Tế bào này được thu nhận vào 1 ống ly tâm khác và được rửa lần lượt bằng Clean–up medium và  dung dịch washing buffer. Sau bước này, phân đoạn tế bào gốc nằm dưới đáy ống ly tâm sẽ được thu nhận và được hoà trong 250 ml muối sinh lý. Tế bào được truyền vào tĩnh mạch bệnh nhân trong 45 phút. Bệnh nhân được theo dõi các chỉ số glucose và HbA1c ở các thời điểm 1, 3, 6, 9 tháng sau ghép. Bệnh nhân cũng được tiếp tục sử dụng các loại thuốc như trước khi ghép cho đến khi bác sĩ thay đổi liều.   Kết quả cho thấy   –  sau 1 tháng ghép tế bào, chỉ số đường huyết của bệnh nhân giảm từ 7,27mg/dL xuống còn 7,05 mg/dL; chỉ số HbA1c tăng  từ 7,9% lên 8%; chỉ số đường huyết sau 2 giờ ăn giảm mạnh từ 16,91mg/dL xuống còn 11,93 mg/dL.  –  sau 3 tháng ghép tế bào, chỉ số đường huyết của bệnh nhân giảm xuống còn 5,88 mg/dL; chỉ số HbA1c giảm xuống còn 7%; chỉ số đường huyết sau 2 giờ ăn giảm mạnh xuống còn 9,79 mg/dL. Tại thời điểm này, bác sĩ giảm liếu insulin cũng như các thuốc khác cho bệnh nhân. (12UI Lantus; 1 viên Diamicron 30mg trước bữa ăn và 1 viên Janumer 50/850mg sau bữa ăn).   –  sau 6 tháng ghép tế bào, chỉ số đường huyết của bệnh nhân còn 6,03 mg/dL; chỉ số HbA1c còn 6,8%; chỉ số đường huyết sau 2 giờ ăn còn 10,1 mg/dL. Ở giai đoạn này, bệnh nhân được bác sĩ chỉ định không cần tiêm insulin nữa. tuy nhiên, các thuốc uống vẫn được sử dụng: 1 viên Janumet (1000/50mg) và 1 viên Diamicron 30mg mỗi ngày.    Trong suốt 6 tháng điều trị, không có bất cứ tác dụng phụ bất lợi nào xảy ra.  Tính đến thời điểm hiện tại, sau 9 tháng điều trị, bệnh nhân vẫn duy trì các chỉ số đường huyết và HbA1c như ở giai đoạn 6 tháng và không cần phải tiêm insulin.   Kết quả này bước đầu cho thấy ghép tự thân tế bào gốc tuỷ xương có thể là phương pháp điều trị mới hiệu quả cho bệnh nhân tiểu đường típ 2.     Author                Vũ Bích Ngọc        
__label__tiasang Digitalis: Độc chất truyền cảm hứng cho van Gogh?      Cuộc đời và những kiệt tác nghệ thuật của danh họa van Gogh có quá nhiều điểm bí ẩn. Một trong số đó ẩn trong đóa hoa mao địa hoàng, vật trang trí trong bức chân dung bác sĩ Gachet. Nó có thể kể cho chúng ta một câu chuyện dài về độc chất và cái đẹp.     Trong phim Sòng bạc hoàng gia của serie phim Điệp viên 007, người ta nhớ đến cảnh chàng James Bond bất khả chiến bại loạng choạng rời ván bài poker với Le Chiffre chỉ sau một vài ngụm trong ly rượu martini nhìn bề ngoài không có vẻ gì đáng ngờ. Nhịp tim của anh bị rối loạn bởi độc dược đã đi vào mạch máu, vì vậy anh quyết định lập tức liên hệ về đại bản doanh của MI6. Trong tích tắc, họ đã kết luận là chàng điệp viên hào hoa 007 đang phải chịu đựng chứng nhịp tim nhanh trên thất (ventricular tachycardia VT), một dạng của nhịp tim bất thường, có thể do ngộ độc thực vật chứa độc chất digitalis.  Bond cận kề cái chết nhưng may mắn thoát cửa tử nhờ một cú sốc từ máy thử rung tim vào phút chót. Có thể từ đó, James Bond sẽ nhớ đến digitalis suốt đời.  Sự ranh mãnh hai mặt của digitalis  James Bond là một trong số những nạn nhân nổi tiếng của digitalis, loại độc chất có thể làm tim ngừng đập. Ít ai ngờ, những bông hoa mao địa hoàng hình chuông nhiều màu rực rỡ và trông có vẻ ngây thơ ngoài đồng cỏ lại chứa digitalis. Sự tồn tại của nó gắn liền với sự sống và cái chết bởi nó là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nhiều người và cũng cứu sống được nhiều người khác, tất cả đều nhờ vào hoạt chất digitalis của nó. Trong vòng hai trăm năm, kể từ khi William Withering – nhà thực vật học, hóa học, bác sĩ người Anh và là người nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về hoạt tính sinh học của digitalis – ủng hộ việc sử dụng chúng vào năm 1775, nó đã được sử dụng để điều trị bệnh tim mạch, chứng động kinh. Sau này, khi có bằng chứng rõ ràng về tác dụng phụ của digitalis, việc sử dụng nó đã được thu hẹp trong những trường hợp được chỉ định phải theo dõi chặt chẽ.  Mặc dù được giới thiệu vào danh sách các liệu pháp điều trị khoảng hai trăm năm trước nhưng trong suốt quá trình này luôn đi kèm với những lời cảnh báo về khía cạnh chết chóc của nó: nhịp tim không đều và cuối cùng dẫn đến nhồi máu cơ tim là những gì khiến digitalis trở nên quá nguy hiểm. Trong hơn bốn trăm năm, các nhà dược học đã đưa cây mao địa hoàng vào danh sách cây độc nhưng sự độc đáo của mao địa hoàng khiến trong thế giới văn chương, digitalis đã được sử dụng như một món đồ đoạt mạng hoàn hảo, ví dụ ở các trang sách của Mary Webb, Dorothy Sayers và Agatha Christie.  Điều khiến mao địa hoàng trở nên nổi tiếng trong lịch sử bởi tính ranh mãnh hai mặt của nó, phó giáo sư Timothy Patrick Jenkins của Khoa Công nghệ sinh học và Y sinh, ĐH Kỹ thuật Đan Mạch, viết như vậy trên sciencenordic.com. Theo cái nhìn của ông, về tổng thể thì mao địa hoàng phân bố phổ biến khắp châu Âu, Mỹ, Canada; ngộ độc digitalis diễn ra rất chậm chạp vì tác dụng độc chất chỉ biểu hiện từ 30 phút đến hai giờ sau khi uống phải, triệu chứng của nó cũng tương tự nhiều chứng bệnh khác khiến khó nhận diện; ngộ độc sẽ dẫn đến đau tim và tử vong nhưng đau tim thường do nhiều nguyên nhân gây ra nên khó có thể quy cho nhiễm độc.    Dễ tiếp cận, khó lần ra dấu vết và dễ dẫn đến tử vong, digitalis quả là một độc chất được thiết kế một cách hoàn hảo nhưng digitalis cũng là người bạn của những trái tim ốm yếu và là một trong những loại thuốc điều trị bệnh tim lâu đời nhất thế giới.    Dễ tiếp cận, khó lần ra dấu vết và dễ dẫn đến tử vong, digitalis quả là một độc chất được thiết kế một cách hoàn hảo. Lịch sử pháp y đã ghi nhận 10 trường hợp bị xét xử do dùng digitalis và vào năm 1930, một âm mưu lừa đảo các công ty bảo hiểm của các bác sĩ và luật sư bằng độc chất này đã được phanh phui, thậm chí dẫn đến một nạn nhân gián tiếp, một giáo sư ngành y đã tự sát dù vô tội. Hai trường hợp đáng chú ý khác là ở một bệnh viện tại Toronto năm 1980–1981, khi một y tá bị buộc tội giết bốn trẻ sơ sinh bằng digitalis; một trường hợp 26 người thiệt mạng năm 1935 ở Bỉ do một người phụ nữ có xu hướng giết bệnh nhân lớn tuổi.  Tuy nhiên, digitalis cũng là người bạn của những trái tim ốm yếu và là một trong những loại thuốc điều trị bệnh tim lâu đời nhất thế giới. Trên thực tế, nó là sự kết hợp của nhiều hợp chất khác nhau mà ngày nay được phân tách và sử dụng một cách đơn lẻ để điều trị nhiều chứng bệnh tim. Một trong số những hợp chất đó là digoxin, đã được WHO đưa vào danh sách như một loại dược chất thiết yếu vì lợi ích to lớn của nó trong việc điều trị những nhịp tim bất thường như suy tim sung huyết (nghĩa là tim không bơm máu hiệu quả), rung tâm nhĩ (nhịp tim không đều và quá nhanh) và các tình trạng nhịp tim khác…  Vấn đề lớn nhất của digoxin là cũng giống như mọi loại thuốc khác, nó có những hiệu ứng phụ. Để có được tác động hiệu quả lên tim, digoxin và các hợp chất liên quan tương tác với enzyme Na+/K+ ATPase, vốn là tương tác rất tiềm năng bởi Na+/K+ ATPase có mặt trong khắp cơ thể chúng ta. Thuận lợi này cũng dẫn đến mặt trái của nó: sự tương tác giữa thuốc và các enzyme có khắp mọi nơi trong cơ thể là nguyên nhân của hiệu ứng phụ. Các vấn đề chung nhất liên quan đến digoxin là sự buồn nôn và không còn cảm thấy ngon miệng nữa.  Đây là lý do vì sao bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng digoxin phải được theo dõi cẩn thận và số lượng thuốc giải độc digoxin đã được phát triển để chữa cho những người dùng quá liều.  Nhưng digoxin thì liên quan gì đến van Gogh, ngoại trừ sự xuất hiện của bông hoa mao địa hoàng trong tay bác sĩ Gachet?    Độc chất ảnh hưởng đến thị giác của van Gogh?  Chúng ta hãy cùng xem xét lại mối quan hệ giữa danh họa van Gogh và bác sĩ Gachet. Mặc dù ấn tượng ban đầu không tốt như một bức thư họa sĩ gửi em trai Theo “Anh nghĩ chúng ta không nên tin tưởng vào bác sĩ Gachet. Trước hết ông ấy ốm yếu hơn cả anh, anh nghĩ vậy. Giờ khi một người mù dẫn đường cho một người mù khác thì làm sao tránh khỏi việc rơi xuống mương được cơ chứ?” nhưng chỉ vài ngày sau, ông đã đổi ý như trong lá thư khác gửi em gái mình: “Anh đã tìm thấy một người bạn thực sự ở bác sĩ Gachet, có điều gì đó ở ông ấy gợi cảm giác thân thiết như ruột thịt, vì vậy bọn anh có nhiều điểm tương đồng về thể chất cũng như tinh thần”. Ngay trong một vài cuộc chuyện trò ban đầu, van Gogh đã nhận thấy khả năng cảm thụ cái đẹp của bác sĩ “tình cờ ông ấy cũng biết Bruyas của Montpellier 1 và có cùng cảm nhận như anh về Bruyas giống anh là ông ấy sẽ là một nhân vật quan trọng trong lịch sử nghệ thuật hiện đại”. Lúc đó, van Gogh đã quyết định vào một ngày nào đó sẽ vẽ chân dung bác sĩ.  “Là một người vô cùng yêu nghệ thuật, có một bộ sưu tập tranh Ấn tượng và bản thân ông ấy cũng là một nghệ sĩ” như lời nhận xét của họa sĩ Ấn tượng Emile Bernard, một người bạn của van Gogh, bác sĩ Gachet kết thân với nhiều họa sĩ thời bấy giờ như Camille Pissaro, Gustave Corbet, Paul Cezanne, biết Claude Mont, Auguste Renoir hay nhà văn Victo Hugo. Chính Pissaro đã giới thiệu bác sĩ Gachet cho Theo để điều trị cho van Gogh, người bị chẩn đoán mắc bệnh động kinh trong thời kỳ sống ở miền Nam nước Pháp. Bác sĩ Gachet, vốn vẫn cho mình là người hay u uất, đã chẩn đoán cho van Gogh là sầu muộn (melancholic) và ngay lập tức bị danh họa cuốn hút. Từng làm luận án tốt nghiệp trường Y Montpellier về trầm cảm vào năm 1858 nên ngay lập tức, ông cảm nhận được biểu hiện của nó ở van Gogh và coi đó là một phần làm nên phẩm chất thiên tài của họa sĩ (bác sĩ Gachet cũng nhận xét về một số nghệ sĩ có biểu hiện của trầm cảm như Paul Cezanne và Honoré Daumier – họa sĩ, biếm họa, nhà điêu khắc).  “Đồng bệnh tương liên, đồng khí tương cầu”, những gì bác sĩ Gachet chẩn đoán van Gogh cũng là điều mà họa sĩ cảm nhận được ở bác sĩ. Trong một bức thư gửi em trai, van Gogh cho rằng “Khi ông ấy nói về bộ sưu tập tranh của mình, niềm vui đã đem đến một nụ cười hiếm hoi trên khuôn mặt sầu muộn của ông ấy”. Một trong những thứ, ngoài thuốc men, mà bác sĩ Gachet đã làm cho van Gogh là những lời khuyên “phải tiếp tục làm việc thật hăng vào, và đừng nghĩ gì về tất cả những điều tồi tệ trong quá khứ”. Mỗi tuần một hai lần, van Gogh đến chơi nhà bác sĩ, “một căn nhà toàn màu đen, chỗ nào cũng đen, ngoại trừ những bức họa Ấn tượng”.  Sự gắn kết giữa van Gogh và bác sĩ Gachet đã vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường của bệnh nhân – nhà điều trị. Đó là lý do danh họa đã vẽ ba bức tranh bác sĩ Gachet, trong đó một bức chân dung có hai phiên bản, cùng được vẽ vào tháng 6/1980. “Bức chân dung bác sĩ Gachet sẽ cho em thấy một cái đầu đội mũ trắng rất đẹp, rất sáng, một cái áo khoác màu xanh sẫm và những ngọn đồi màu xanh cobalt, nó khiến cho khuôn mặt trở nên nhợt nhạt hơn, bất chấp sự thật là khuôn mặt được màu gạch của tóc tôn lên. Đôi tay, đôi tay của một bác sĩ, còn nhợt nhạt hơn cả khuôn mặt. Trước ông ấy là một cái bàn kê ngoài vườn có những cuốn sách màu vàng và bông hoa mao địa hoàng màu tía”.    Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, bông mao địa hoàng này cũng còn hàm ý về phương thuốc mà bác sĩ Gachet dùng để chữa trị cho van Gogh bởi vào cuối thế kỷ 19, mao địa hoàng luôn có mặt trong các phương thuốc chữa trầm cảm có nguồn gốc thảo dược.    Bông hoa mao địa hoàng trong cả hai bức chân dung đều có hàm ý về nghề nghiệp của bác sĩ Gachet. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, bông mao địa hoàng này cũng còn hàm ý về phương thuốc mà bác sĩ Gachet dùng để chữa trị cho van Gogh bởi vào cuối thế kỷ 19, mao địa hoàng luôn có mặt trong các phương thuốc chữa trầm cảm có nguồn gốc thảo dược. Có lẽ, chúng ta nên nhớ trong hồ sơ bệnh án của van Gogh ghi lại ông bị chẩn đoán là có xu hướng tự hủy, trầm cảm, điên… Các nhà nghiên cứu đã suy luận và tìm thấy mối liên hệ giữa hậu quả của việc dùng mao địa hoàng với sự thay đổi màu sắc ở người bệnh bởi đây cũng là thời kỳ màu vàng tràn ngập trong các bức họa của van Gogh. Theo quan điểm của họ, tình yêu với màu vàng này ở van Gogh thật bất thường, nó phi tự nhiên và có nhiều điểm tương đồng với xanthopsia, một chứng bệnh thể hiện một dạng sắc tố, một dạng bất thường về thị giác, trong đó có vật thể dường như bao giờ cũng được tô đậm bằng màu vàng.  Vậy mao địa hoàng là nguyên nhân ư, cái gì có thể giải thích cho điều đó? Nồng độ cao của enzyme đích trong digoxin được tìm thấy trong các tế bào hình nón trong võng mạc của mắt. Đó là những tế bào đem lại cho chúng ta sự nhận biết về màu sắc. Dù hiếm nhưng một số người dùng digoxin và những loại thuốc liên quan có thể phải chịu đựng chứng rối loạn thị lực xanthopsia: mọi vật trước mắt trở nên mờ mịt hoặc mọi vật đều chuyển sang màu vàng. Thi thoảng, họ nhìn thấy có những quầng màu sắc bao bọc quanh các điểm sáng. Hiếm hơn là ảnh hưởng đến kích thước đồng tử như giãn đồng tử, thậm chí co giãn không đều.  Do vậy, tiến sĩ hóa học Kathryn Harkup – người viết cuốn sách bán chạy A is for Arsenic: The Poisons of Agatha Christie (A là Arsenic: Những vụ đầu độc của Agatha Christie) – đã có đề xuất thú vị: ảnh hưởng của nhiễm độc digitalis có thể là nguyên nhân dẫn đến “thời kỳ vàng” của van Gogh, một trong số đó là bức Đêm đầy sao với bầu trời ngoạn mục và kỳ vĩ, chân dung bác sĩ Gachet và rất nhiều bức có quầng sáng hiển hiện. Người ta còn thấy một manh mối khác là một vài bức chân dung tự họa của van Gogh trong thời kỳ này có cặp đồng tử không đều. Có lẽ là hiểu biết về digoxin còn quá ít ỏi ở thời điểm đó khiến bác sĩ Gachet đã điều trị lầm lạc đến quá liều cho bệnh nhân đặc biệt của mình chăng? Phó giáo sư Timothy Patrick Jenkins nhận xét là ranh giới giữa điều trị và nhiễm độc digoxin rất mong manh. Trên thực tế, liều lượng digoxin đủ sức gây độc cho bệnh nhân chỉ gấp 1,6 lần liều điều trị, nghĩa là dùng quá liều tối thiểu cũng có thể gây ra tình trạng ngộ độc nặng.    Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vì ảnh hưởng của digitalis trong hoa mao địa hoàng mà van Gogh mắc chứng yêu thích màu vàng và thích vẽ các quầng màu vàng bao bọc quanh các điểm sáng, ví dụ như bức “Đêm đầy sao” và “Những cây oliu”.  Tuy nhiên, giả thuyết chỉ là giả thuyết vì không ai có bằng chứng đích xác về việc van Gogh dùng digoxin. Không có dòng nào trong hồ sơ bệnh án ghi lại là ông được điều trị theo cách như vậy. Mặt khác, Doğaç Demir ở trường Đại học Marmara (Thổ Nhĩ Kỳ) trong bài viết “Van Gogh and the obsession of yellow: style or side effect” (Van Gogh và nỗi ám ảnh của màu vàng: phong cách hay hiệu ứng phụ) xuất bản trên tạp chí Eye, cũng chỉ ra có nhiều manh mối cho thấy van Gogh không hề bị ảnh hưởng của digoxin, dù ông từng phải chịu đựng nhiều vấn đề về sức khỏe khác nhau. Thứ nhất là bác sĩ Gachet là người dùng thuốc hết sức cẩn trọng, thậm chí còn viết một bài báo khoa học về liều lượng digoxin trong điều trị nên không có chuyện ông cho van Gogh dùng thuốc quá liều. Thứ hai, van Gogh chỉ được bác sĩ Gachet chăm sóc có hai tháng, một quãng thời gian chưa đủ dài để phát triển thành bệnh xanthopsia. Và cuối cùng là màu vàng là màu vẽ ông yêu thích trong suốt quãng thời hoạt động nghệ thuật của mình, mặc dù ông không sử dụng digoxin.    Bác sĩ Gachet là người dùng thuốc hết sức cẩn trọng, thậm chí còn viết một bài báo khoa học về liều lượng digoxin trong điều trị nên không có chuyện ông cho van Gogh dùng thuốc quá liều. Các bức chân dung của bác sĩ Gachet cũng vậy, nó ẩn chứa rất nhiều suy ngẫm của van Gogh mà rất có thể ông còn chưa kịp nói hết với ai.    Bản thân tiến sĩ hóa học Kathryn Harkup cũng nhận thấy điều đó. Cô cho rằng những suy luận thú vị về bệnh tật của van Gogh và việc điều trị bệnh cho ông đến nay cũng vẫn chỉ là phỏng đoán thuần túy. Van Gogh có thể không được điều trị bằng digitalis và có lẽ, việc màu vàng nổi trội trong các bức họa của ông đơn giản là bởi ông thực sự yêu thích nó và ảnh hưởng của những xoáy màu sắc quanh các ngôi sao mà ông vẽ cũng đơn giản là ông thích thế. Kích thước đồng tử không đều trong bức tự họa cũng có thể là kết quả của một nét cọ trượt.  Nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận với nhau là cần phải có thêm rất nhiều bằng chứng để dẫn đến kết luận ảnh hưởng của digoxin với sự yêu thích màu vàng của van Gogh. Ví dụ van Gogh được biết đến là người uống rất nhiều rượu absinthe (không đủ để dẫn đến ảnh hưởng của màu vàng) cũng như sử dụng nhựa thông (có thể ảnh hưởng đến thị giác như không phải liên quan đến màu). “Bất kể nguyên nhân nào dẫn đến các sự lựa chọn nghệ thuật cụ thể của van Gogh thì chúng ta vẫn có thể hiểu rõ giá trị của những kiệt tác mà ông sáng tác trong một cuộc đời ngắn ngủi và bi kịch”, TS. Doğaç Demir nhận xét.  ***  Van Gogh rất ưng ý với cả hai bức chân dung bác sĩ Gachet bởi đã khắc họa được nét riêng biệt của bác sĩ và dĩ nhiên bác sĩ Gachet cũng hoàn toàn bị bức chân dung này cuốn hút. Không ai ngờ chỉ sáu tuần sau khi hoàn thành cả ba bức chân dung của bác sĩ Gachet, van Gogh đã tự tử bằng súng và qua đời vài ngày sau. Những bức họa này đã vĩnh viễn đưa bác sĩ vào lịch sử nghệ thuật. Đáng chú ý là ngay sau khi van Gogh tự tử, ông đã kịp ký họa bằng chì hình ảnh van Gogh đang hấp hối trên giường chết, cặp mắt nhắm nghiền… Hiện bức họa này được treo ở Bảo tàng D’Orsay.  Mỗi tác phẩm nghệ thuật xuất sắc đều có một câu chuyện bí ẩn của riêng nó. Các bức chân dung của bác sĩ Gachet cũng vậy, nó ẩn chứa rất nhiều suy ngẫm của van Gogh mà rất có thể ông còn chưa kịp nói hết với ai. Một trong những bức thư cuối cùng của cuộc đời mình, ông viết “Anh đã hoàn thành chân dung bác sĩ Gachet với gương mặt biểu hiện một nét sầu muộn, có thể giống như một cái cau mày, nhăn mặt với ai thấy nó… Buồn nhưng tao nhã, sáng sủa và thông minh, đó là cách nhiều bức chân dung đã được họa lại… Nhiều người thế hệ sau có thể sẽ dành thời gian ngắm bức họa, và có lẽ là khao khát được ngắm nhìn nó sau cả trăm năm nữa”.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://sciencenordic.com/health-heart-nature/introducing-the-poison-that-inspired-van-gogh-and-almost-killed-james-bond-digoxin/2060566  https://www.theguardian.com/science/blog/2017/aug/10/it-was-all-yellow-did-digitalis-affect-the-way-van-gogh-saw-the-world#:~:text=unequal%2Dsized%20pupils.-,The%20effects%20of%20digitalis%20intoxication%20have%20been%20suggested%20as%20the,him%20holding%20a%20foxglove%20flower.  ——————————–  1. Alfred Bruyas, con trai của một chủ ngân hàng giàu có ở Montpellier, là một nhà sưu tầm nghệ thuật và là bạn của nhiều nghệ sĩ quan trọng trong thời đại của mình, trong số đó có Gustave Courbet. Sau này, ông trao tặng bộ sưu tập của mình cho Bảo tàng Fabre ở Montpellier.    Author                .        
__label__tiasang Định giá startup ở giai đoạn đầu: Nghệ thuật hơn là khoa học      Đó là nhận định của Kendrick Nguyễn, đồng sáng lập Republic.co, công ty kêu gọi đầu tư từ cộng đồng (equity crowdfunding) tại Silicon Valley và từng làm việc tại AngelList, nền tảng kết nối startups, các nhà đầu tư và những người muốn làm việc cho những startup nổi tiếng nhất thế giới 1.      Các nhà đầu tư startup ở giai đoạn đầu, đặc biệt là những nhà đầu tư thiên thần nhắm vào việc trả lời hai câu hỏi khi đầu tư: những người sáng lập có “tố chất” không và startup có đang nằm trong xu hướng của tương lai hay không.  Trong thời gian làm việc tại AngelList, Kendrick Nguyễn đã đọc 1.500 bài thuyết trình của các startup và điểm mấu chốt ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư, theo anh, là con người vì “trong hàng triệu người mới có được một đội ngũ có tố chất “ngôi sao”, hiểu rõ họ đang làm gì”.  Ryu Hirota, chuyên viên (principal) của quỹ IMJ Investment Partners, Nhật Bản đưa ra tiêu chí cụ thể hơn khi nhà đầu tư đánh giá đội ngũ sáng lập doanh nghiệp: thứ nhất là đam mê, là mong muốn giải quyết vấn đề gì cho xã hội; thứ hai là khả năng triển khai ý tưởng thành hiện thực của họ. “Ý tưởng thì rẻ tiền thôi, ở đâu chẳng có, quan trọng là năng lực thực hiện.”  Một người khác, Nguyễn Ngọc Điệp, CEO của công ty VNP (tên gọi mới của Vật giá), đưa ra một tiêu chí “định lượng” hơn để đánh giá sự say mê của những người sáng lập, là làm việc như “đêm nào cũng mơ thấy có một đàn sói đuổi theo mình”, “nếu không làm việc trên 16 tiếng/ngày thì đừng có nói chuyện”.  Quá trình gọi vốn sẽ đơn giản hơn hoặc được định giá cao hơn nếu người sáng lập đã từng có công ty thoái vốn thành công hoặc đang là người đồng sáng lập của một công ty đã được đầu tư vài triệu USD. Tappy là một ví dụ như vậy: mới thành lập giữa năm 2014 và ngay một năm sau đó đã được mua lại bởi một công ty tại Silicon Valley với số tiền vài chục triệu USD dù sản phẩm mới chỉ ở giai đoạn thử nghiệm. Một trong những lí do quan trọng là đội ngũ sáng lập Tappy là những người rất thành công trước đó2: Vũ Duy Thức, người sáng lập Kangtago, một công ty giúp cho người dùng quản lý mạng xã hội được Google mua lại; Lesile Ngan Nguyen, kỹ sư phần mềm từng phát triển sản phẩm cho Groupon, Box, Cisco; và Trương Thanh Thủy, người đồng sáng lập GreenGar và được 500 Startups đầu tư.  Tuy nhiên, Đỗ Hoài Nam, người đồng sáng lập Emotiv và SeeSpace tại Silicon Valley và hiện giờ là nhà đầu tư thiên thần năng động tại Việt Nam, chia sẻ rằng, anh và nhiều đối tác đầu tư khác lựa chọn xu hướng để đầu tư trước khi nhìn vào con người. “[Chúng tôi đầu tư vào các] xu hướng mà bây giờ chưa có thị trường nhưng với dự đoán, kinh nghiệm của mình ở nước ngoài thì nó sẽ có thị trường trong tương lai” và sau đó, mới nhìn đến “ai mà tôi cảm thấy tin tưởng là có khả năng thành công trong lĩnh vực đấy nhất”. Anh dẫn ra ví dụ về thương vụ gần đây của mình với việc đầu tư cho dịch vụ cung cấp nội dung video trên mạng của HD Việt vì theo anh, trong tương lai, việc người dùng rời bỏ TV để xem video trên mạng là xu hướng tất yếu. Không chịu sự cạnh tranh từ bất kì công ty truyền hình nào, gần như một mình một thị trường, HD Việt thu hút được hơn sáu triệu người dùng dịch vụ của mình chỉ trong vòng một tháng và khi thị trường bắt đầu thể hiện tiềm năng, Netflix chuẩn bị đến Việt Nam, các công ty tương tự bắt đầu chú ý và nhanh chóng mua lại HD Việt. Anh Nam thoái vốn với giá trị gấp năm lần so với số tiền đầu tư.  Xuất sắc chỉ là điều kiện cần để được đầu tư  Startup có thể có một đội ngũ tài năng và những dữ liệu chứng tỏ quá trình tăng trưởng đều đặn về doanh thu, khách hàng hay người dùng của họ. Tuy nhiên, điều đó không bảo đảm rằng startup đó có thể nhận được vốn đúng lúc. Thời điểm và tốc độ gọi vốn đóng vai trò sống còn đối với startup, vì nếu quá muộn, họ có thể bị đối thủ qua mặt hoặc trường hợp xấu nhất là họ thất bại trước khi nhận được tiền.  Quá trình gọi vốn cần được chuẩn bị kĩ lưỡng và công phu, nhiều bước “rào trước đón sau” mà anh Đỗ Hoài Nam gọi đây là khâu “dọn bàn ăn”, nghĩa là “kết nối, trò chuyện với nhiều nhà đầu tư để họ hứng thú với việc mình đang làm nhưng lại không tiết lộ cụ thể mình làm gì và bao giờ mình gọi vốn. Dần dần, một cộng đồng các nhà đầu tư sẽ chú ý đến mình”. Anh nói: “Với các nhà đầu tư, tìm được công ty đúng là khó thật đấy nhưng nếu tìm được rồi thì họ rất sợ bị tuột tay. Trường hợp xấu nhất của họ không phải là công ty họ đầu tư thất bại mà là họ không tiêu được tiền. Nếu hiểu được tâm lý đấy thì chỉ bắt đầu gọi vốn khi họ quan tâm đủ nhiều đến công ty của mình”. Và khi thông báo gọi vốn là ngay lập tức phải có một loạt các quỹ đầu tư mạo hiểm “xếp hàng”. Việc “dọn bàn” như vậy cần diễn ra trước ít nhất thời điểm gọi vốn là sáu tháng.  Vậy làm thế nào để “dọn bàn” cho tốt?  Thứ nhất, startup không nên cố gắng mất thời gian thuyết phục những người không tin mình (non-believer) mà phải tìm kiếm những người tin mình (believer). “Lúc nào cũng sẽ có những người như thế” – anh Nam nói. Thứ hai, quan trọng hơn, phải có kế hoạch gọi vốn dài hạn, hay nói cách khác, phải xác định được những bước ngoặt mà công ty cần trải qua để đi đến thành công. Để đi từ bước ngoặt này đến bước ngoặt khác thì công ty cần bao nhiêu tiền? “Trước khi gọi vốn, bạn phải chuẩn bị kế hoạch chi tiêu ít nhất 15 tháng sau khi được nhận tiền đầu tư” – Kendrick Nguyễn chia sẻ.  Việc gọi vốn thành công cho vòng đầu tư đầu tiên có thể khiến cho các startup gọi vốn ở các vòng sau dễ dàng hơn. “Lựa chọn nhà đầu tư có tiềm năng, uy tín lớn sẽ đem lại giá trị tăng thêm cho công ty, đồng thời tạo nhiềm tin với những quỹ đầu tư mạo hiểm đến sau” – Kendrick Nguyễn nói thêm.    Tuy nhiên, để đàm phán với nhà đầu tư, những nhà sáng lập không chỉ cần các kế hoạch cho công ty hay kỹ năng giao tiếp, thuyết phục người khác mà còn cần hiểu biết về việc gọi vốn: lựa chọn hình thức gọi vốn nào (đầu tư để lấy cổ phần hay nợ chuyển đổi3), sau khi đầu tư thì phân chia cổ phần ra sao (chia cổ phần cho nhà đầu tư và cho những người đồng sáng lập như thế nào để các bên đều hài lòng cho đến những vòng gọi vốn sau. Anh Đỗ Hoài Nam cho rằng với những công ty có sáu người sáng lập, nếu cổ phần chia đều cho tất cả thì những vòng gọi vốn sau, có khả năng giá trị cổ phần của mỗi người chẳng còn bao nhiêu. Không ít trường hợp những người sáng lập bỏ công ty khi gọi vốn thành công).  “Tôi đã gặp rất nhiều bạn: ý tưởng tốt, con người tốt, nhiệt huyết làm việc 16 -18 tiếng/ngày, vắt hết cả sức lực vào sản phẩm nhưng khi nói thì các bạn lại không biết tỉ lệ cổ phần là gì, tính toán như thế nào. Nhà đầu tư và startup không nói cùng một ngôn ngữ rất khó làm việc với nhau, giải thích cái này lại nảy sinh ra khái niệm khác các bạn không hiểu. Chỉ một hai tiếng là tôi thấy nản rồi” – anh Đỗ Hoài Nam nói.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Định hướng chiến lược  phát triển của Rạng Đông      Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế nặng nề 2008-2012, trong khi hàng trăm ngàn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể, sẽ thật ngạc nhiên khi nhìn vào các con số tăng trưởng của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RALACO) với doanh số các năm 2008: 890.8; 2009: 1128.8; 2010: 1445.6; 2011: 1847.8; 2012: 2206 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế tăng từ 48.9 tỷ năm 2008 lên 96 tỷ năm 2012. Nộp ngân sách nhà nước tăng từ 65 tỷ năm 2008 lên 177.7 tỷ năm 2012.    Có được thành công này ngoài sự nỗ lực của toàn thể đội ngũ gần 3000 cán  bộ, công nhân viên của RALACO, sự định hướng đúng đắn và chiến lược  phát triển, đổi mới khoa học và công nghệ phù hợp của ban lãnh đạo công  ty, còn có sự đóng góp không nhỏ của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa  học đến từ nhiều đơn vị khác nhau trong và ngoài nước, trong đó có  Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.        Đến với doanh nghiệp  Đầu năm 2008, nhằm thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp nhà nước thuộc chương trình KC.02 “Nghiên cứu chế tạo bột huỳnh quang ba màu và bột điện tử micro, nano ứng dụng trong chế tạo đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact tiết kiệm điện năng”, các cán bộ nghiên cứu Viện Tiên tiến KH&CN (AIST) đã đến gặp và đề nghị ban lãnh đạo RALACO cùng phối hợp nghiên cứu và cho phép các cán bộ nghiên cứu của đề tài được thử nghiệm các công nghệ và vật liệu phát triển của đề tài trên dây chuyền sản xuất của RALACO. Thật trùng hợp, khi đó ban lãnh đạo RALACO không chỉ nhất trí cùng phối hợp thực hiện các nội dung đề tài, mà còn đưa ra một bảng thống kê hơn 20 vấn đề kỹ thuật và các công nghệ mới mà công ty mong muốn được phát triển. Kết thúc buổi làm việc, cả tổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị của công ty dẫn các cán bộ ĐHBKHN ra thăm quan phía sau nhà máy, nơi có một đống đèn phế phẩm khổng lồ (cỡ vài trăm tấn) đang để ngoài trời và nói “đây là thủy tinh không chì và bột huỳnh quang ba màu pha tạp đất hiếm, phải nhập khẩu rất đắt tiền, bây giờ phải bỏ đi mà chúng tôi còn phải bỏ ra thêm nhiều tiền để vận chuyển đi và xử lý rác nữa, các Thầy có cách nào thu hồi, xử lý và đưa trở lại tái sử dụng được thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều kinh phí”. Nhận thấy, việc cùng phối hợp và giải quyết các vấn đề công nghệ cấp bách của doanh nghiệp như tối ưu, chuẩn hóa các quy trình sản xuất nhằm giảm bớt các sản phẩm không đạt chuẩn, sử dụng tiết kiệm, xử lý, tái sử dụng nguyên vật liệu sẽ giúp gắn kết hai bên, cũng như có thể đưa các nội dung nghiên cứu của đề tài đến gần hơn với ứng dụng và sản xuất thực tế, các cán bộ ĐHBKHN đã lựa chọn và bắt tay nghiên cứu hai quy trình công nghệ là quy trình tráng phủ bột huỳnh quang cho đèn huỳnh quang compact và quy thu hồi, xử lý và tái sử dụng bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm và thủy tinh không chì. Trong một thời gian ngắn hai quy trình công nghệ này đã được phát triển, thử nghiệm và chuyển giao thành công cho RALACO. Việc áp dụng quy trình tráng phủ bột huỳnh quang cho đèn huỳnh quang compact vào sản xuất đã giúp giảm tỷ lệ đèn không đạt do khâu tráng phủ từ ~6,8 % xuống còn 2,8 % (trên số lượng sản xuất hàng chục triệu đèn/năm). Trong khi đối với quy trình thu hồi và xử lý bột huỳnh quang, chỉ sau thời gian áp dụng một năm, hàng trăm tấn thủy tinh và nhiều tấn bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm trị giá hàng chục tỷ đồng đã được thu hồi và tái đưa vào sản xuất. Công nghệ thương hiệu ĐHBKHN đã được RALACO chấp nhận, áp dụng và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.  Xây dựng PTN nghiên cứu chung   Sau hơn một năm cùng phối hợp nghiên cứu, cả RALACO và các cán bộ ĐHBKHN cùng nhận thấy tác dụng tích cực của việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, cũng như tính thực tiễn của nghiên cứu được nâng lên khi gắn với sản xuất. Được sự chỉ đạo và nhất trí của Ban Giám hiệu trường ĐHBKHN và Ban TGĐ RALACO hai bên đã cùng nhất chí xây dựng một PTN nghiên cứu và xưởng thực nghiệm chung HUST-RALACO. Một diện tích ~200 m2 trong khuôn viên, gần sát với các xưởng sản xuất của RALACO đã được thiết kế thành các phòng thí nghiệm và xưởng thực nghiệm dành cho các giảng viên và cán bộ của trường ĐHBKHN. Với sự ra đời của phòng thí nghiệm (PTN) nghiên cứu chung này, các cán bộ của ĐHBKHN giờ đây đã có thể xuống làm việc trực tiếp trên các dây chuyền sản xuất, phối hợp với các kỹ sư của RALACO thử nghiệm và đánh giá các công nghệ mới. Tốc độ nghiên cứu phát triển công nghệ và thời gian thử nghiệm, đánh giá công nghệ vì thế được rút ngắn, tính thực tế của các công nghệ nghiên cứu do đó cũng được nâng lên, và như là hiệu quả tất yếu của phương thức hợp tác mới mẻ nhưng hiệu quả này, một số các công nghệ do các cán bộ ĐHBKHN phát triển đã được thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng thành công tại RALACO.  Điển hình là vật liệu và công nghệ tráng phủ lớp vật liệu nano hỗ trợ khởi động nhanh cho đèn huỳnh quang đã được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (đi Brazil) thay thế hoàn toàn cho vật liệu nhập khẩu của Hàn Quốc với giá thành chỉ bằng 10-20%. Để phát huy hơn nữa chủ trương gắn liền công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học, giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh, tháng 4/2010 thỏa thuận hợp tác toàn diện giữa HUST và RALACO đã chính thức được ký kết. Đây được xem như bước đột phá tạo ra cơ sở và điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác, phối hợp nghiên cứu giữa các cán bộ, giảng viên ĐHBKHN và công ty RALACO. Ngay sau thỏa thuận này, nhiều hợp đồng nghiên cứu giữa các cán bộ của các Viện AIST, Kỹ thuật Hóa học, Vật lý Kỹ thuật, Viện Điện với RALACO đã được thực hiện như thỏa thuận cung cấp vốn đối ứng thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm chế tạo bột huỳnh quang ba màu với tổng kinh phí ~10 tỷ đồng; hợp đồng chuyển giao công nghệ chế tạo keo gắn bầu đèn huỳnh quang compact (quy mô 25 tấn/tháng, thay thế hoàn toàn keo gắn bầu đèn nhập khẩu với giá thành chỉ ~ 30% giá thành nhập ngoại).  Hình thành của Trung tâm R&D trong doanh nghiệp   Khi hiệu quả của việc đổi mới, phát triển công nghệ và ứng dụng công nghệ mới (nội địa) vào sản xuất đã rõ ràng, việc hình thành nên một bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) trong doanh nghiệp trở nên tất yếu nhằm chủ động xây dựng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cũng như cơ sở vật chất để tiếp nhận những tri thức, kiến thức khoa học và công nghệ được chuyển giao từ các đơn vị nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng như chủ động huy động các nguồn lực để xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm công nghệ cao thương hiệu Việt Nam của doanh nghiệp. Trên cơ sở mô hình của PTN nghiên cứu chung HUST-RALACO, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công ty RALACO đã được thành lập tháng 3 năm 2011. Có hai điểm đáng lưu ý trong chức năng và nhiệm vụ của trung tâm R&D của RALACO là: i) Tập hợp và khai thác hiệu quả các nguồn tri thức tiên tiến trong và ngoài công ty, trong và ngoài nước. Nghiên cứu thiết kế và tiếp nhận chuyển giao khoa học – công nghệ, xây dựng quy trình sản xuất và hướng dẫn đào tạo cho các đơn vị trong công ty tiến hành sản xuất hàng loạt; ii) Là hạt nhân phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực Khoa học – Công nghệ chất lượng cao trong Công ty. Đây chính hai điểm quan trọng bổ xung cho nút khuyết của cầu nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp, đó chính là việc chuẩn bị nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao trong doanh nghiệp và việc tiếp nhận, chuyển hóa các kết quả nghiên cứu công nghệ từ phòng thí nghiệm sang sản xuất công nghiệp, hàng loạt.   Một bước phát triển mới  Đầu năm 2013, thực hiện thỏa thuận hợp tác toàn diện giữa hai đơn vị, Ban TGĐ và Hội đồng quản trị RALACO đã nhất trí cùng đầu tư xây dựng PTN nghiên cứu chung HUST-RALACO tại ĐHBKHN. PTN sẽ tập trung nghiên cứu và phát triển công nghệ chiếu sáng rắn – một hướng nghiên cứu nằm trong 13 chương trình nghiên cứu đã được Hiệu trưởng phê duyệt – nhằm tạo ra các sản phẩm chiếu sáng chất lượng cao, thân thiện với môi trường và tiết kiệm điện năng. Đây là một bước phát triển mới của mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ giữa trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, một mối quan hệ hợp tác đã được ban lãnh đạo của cả hai đơn vị dành nhiều thời gian quan tâm, chỉ đạo thực hiện xuyên suốt từ những ngày đầu, và chắc chắn sẽ tiếp tục tạo ra những sản phẩm chiếu sáng công nghệ cao MADE IN VIET NAM.           Phát triển các sản phẩm chiếu sáng công nghệ cao, chuyên dụng cho phát triển nông nghiệp                Đứng trước nhu cầu tiết kiệm điện ngày càng cao của bà con nông dân trong dùng đèn chiếu sáng kích thích tăng trưởng, ra hoa, kết trái của một số loại cây trồng như hoa Cúc, Thanh Long và trong nuôi cấy mô nhân giống cây trồng, cuối năm 2011 Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ (AIST), Trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã phối hợp với Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RALACO) và Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (SHNN) triển khai một hướng nghiên cứu mới: “Nghiên cứu ứng dụng chiếu sáng nhân tạo trong Nông nghiệp Công nghệ cao”. Đây là một mô hình tổ chức phối hợp nghiên cứu và triển khai công nghệ mới trong đó các nhà khoa học tại trường ĐHBKHN chịu trách nhiệm nghiên cứu phát triển chế tạo các loại bột huỳnh quang cho chế tạo đèn chiếu sáng cho một số loại cây nông nghiệp đang được trồng ở quy mô lớn như hoa Cúc (~7000 hecta tại riêng Lâm Đồng), Thanh Long (25000 hécta tại các tỉnh Bình Thuận, Tây Ninh…), Công ty RALACO chịu trách nhiệm chế tạo đèn chiếu sáng chuyên dụng theo các chỉ tiêu và tiêu chuẩn của sản phẩm thương mại, Viện SHNN chịu trách nhiệm đánh giá ảnh hưởng của đèn chiếu sáng chuyên dụng mới phát triển lên các chỉ tiêu sinh học của cây trồng và thử nghiệm thực tế. Cuối năm 2012, những kết quả thử nghiệm đầu tiên của bà con nông dân được tổng hợp và tin vui cho thấy đèn chiếu sáng chuyên dụng cho cây hoa cúc (sản xuất cây giống ngắt ngọn) không chỉ đảm bảo chất lượng cây giống tương đương và tốt hơn mà còn có thể giúp ngắn được 1/3 thời gian ngắt ngọn từ 10 ngày xuống còn 7 ngày và tiết kiệm 70 % lượng điện tiêu thụ, chắc chắn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Những kết quả nghiên cứu và ứng dụng ban đầu khả quan trong chiếu sáng nông nghiệp này, cùng với nhiều các công nghệ ứng dụng mà ĐHBKHN đã chuyển giao cho RALACO trong 5 năm qua, một lần nữa giúp khẳng định tính hiệu quả của một mô hình hợp tác nghiên cứu – chuyển giao công nghệ giữa một đơn vị đào tạo, nghiên cứu, và phát triển công nghệ với một doanh nghiệp, nơi tiếp nhận, sử dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm cụ thể phục vụ xã hội.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Định hướng lạm phát: Một chính sách tiền tệ mới      Định hướng lạm phát (inflation targeting) là một chiến lược về chính sách tiền tệ “mới”, bắt đầu được các ngân hàng trung ương áp dụng từ đầu thập niên 1990. New Zealand là nước đầu tiên áp dụng chiến lược chính sách tiền tệ này. Những kinh nghiệm của New Zealand khi thực hiện thành công trong việc bình ổn cả hai mục tiêu, lạm phát và&#160; nền kinh tế thật (real economy) đã trở thành bài học cho nhiều nước.                          Ngân hàng Trung ương (dưới tên gọi này hoặc khác ở các quốc gia khác nhau mặc dù chức năng tương tự nhau) là tổ chức được thành lập để thực hiện hai nhiệm vụ chính: thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì ổn vững hệ thống tài chính của một quốc gia.  Suốt một thời gian dài trong lịch sử, các hoạt động của ngân hàng trung ương dường như nằm trong một vòng bí mật. Các chính sách, cơ chế, hay cung cách quản lý tiền tệ, tài chính được bàn bạc, dự đoán và đưa ra trong phạm vi của ngân hàng trung ương. Việc loan báo hay giải thích một vài các hành động mà ngân hàng thực hiện tới các cá thể trong nền kinh tế diễn ra theo một thời biểu không xác định trước, và thường ở vào những thời điểm cấp bách nhằm trấn an dư luận.  Kinh nghiệm của các nước  Trong suốt những năm của thập niên 1970 và nửa đầu thập niên 1980, nền kinh tế New Zealand chịu một mức lạm phát cao và thiếu ổn định. Chính sách tiền tệ sau đó được thắt chặt, lạm phát giảm.  Năm 1989, một đạo luật về Ngân Hàng Dự Trữ (Reserve Bank Act) được đưa ra, mở đường cho một chiến lược chính sách tiền tệ mới: chính-sách-tiền-tệ-với-định-hướng-lạm-phát (CSTT-ĐHLP) ra đời và đi vào áp dụng kể từ năm 1990. Chính sách này thường đi kèm với các đặc điểm liên quan đến thể chế, bao gồm: i) sự ủy nhiệm chức năng bình ổn giá cả cho ngân hàng trung ương, (ii) vai trò độc lập của ngân hàng trung ương, và (iii) trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương.          Lạm phát và nền kinh tế, tranh biếm họa nước ngoài          Cho tới nay, năm 2010, khoảng 29 nước, bao gồm cả các nền kinh tế phát triển cao và các nền kinh tế đang phát triển, đang thực hiện chiến lược chính sách tiền tệ này. Các nước trong khu vực Đông Nam Á đang theo đuổi chiến lược này bao gồm Thái Lan (bắt đầu từ năm 2000), Phi-lip-pin (từ năm 2002) và In-đô-nê-xi-a (từ năm 2005). Những quan sát cho thấy trong số các nước theo đuổi chiến lược này, chưa có nước nào từ bỏ hoặc tỏ ý hối tiếc sau khi đã áp dụng. Kinh nghiệm cũng cho thấy chiến lược này đã chứng tỏ sự uyển chuyển và khả năng phục hồi thành công đối với một loạt các cơn sốc và rối loạn kinh tế, kể cả cuộc khủng hoảng tài chính sâu rộng gần đây, ở các nước công nghiệp phát triển cao và ở cả những nền kinh tế đang lên.  CSTT-ĐHLP đặt nặng vai trò khả năng dự báo lạm phát và dựa trên ba điểm chính. i) Một mục tiêu lạm phát rõ ràng mà ngân hàng trung ương theo đuổi trong một khoảng thời gian nhất định. ii) Một chiến lược thực hiện mục tiêu lạm phát dựa trên các dự báo sao cho lạm phát nằm trong mục tiêu đã định hướng. iii) Một mức độ minh bạch (transparency) và trách nhiệm giải trình (accountability) cao.  Việc công bố các mục tiêu lạm phát đối với các ngân-hàng-trung-ương-có-định-hướng-lạm-phát (NHTW-DHLP) là một nhiệm vụ bắt buộc. Tùy thuộc vào ngân hàng mà mục tiêu này có thể là một con số hoặc là một khoảng. Ở các nền kinh tế phát triển, mục tiêu này khoảng 2%, trong khi ở các nền kinh tế đang phát triển, con số này lớn hơn khoảng vài phần trăm. Chẳng hạn, ở các nền kinh tế phát triển, mục tiêu lạm phát mà Ngân Hàng Trung Ương New Zealand theo đuổi là từ 1% đến 3%, của Ngân Hàng Trung Ương Thụy Điển và Ca-na-đa là 2% với 1% biên độ dao động được cho phép về hai phía, của Ngân Hàng Trung Ương Nauy là 2.5%, của Anh là 2%; ở Đông Nam Á, mục tiêu lạm phát cho năm 2010 của Thái Lan là 0.5% đến 3%, Phi-lip-pin là 4.5% với biên độ dao động ±1%, và In-đô-nê-xi-a là 5% với biên độ dao động ±1%. Tuy nhiên, sự khác biệt này không  làm thay đổi cách các ngân hàng trung ương tiếp cận với mục tiêu lạm phát của mình. Nếu các ngân hàng trung ương chọn mục tiêu lạm phát là một khoảng, thường họ sẽ nhắm vào điểm giữa của khoảng, trong khi, nếu  chọn mục tiêu lạm phát là một điểm, họ sẽ nhắm vào chính điểm mục tiêu lạm phát đó.  Chiến lược thực hiện mục tiêu lạm phát dựa trên các dự báo (inflation-forecast targeting) là một qui trình khá phức tạp. Tuy nhiên, về mặt cơ bản, qui trình này gồm một số bước như sau. Mỗi NHTW-ĐHLP đầu tiên sẽ xây dựng cho riêng mình một dự báo về lạm phát dựa trên các thông tin đạt được, gọi là mức-dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện, và dùng nó như một biến tham khảo trung gian.  Một công cụ chính sách sau đó sẽ được chọn  để tác động vào mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện này sao cho mức dự báo lạm phát sau khi bị tác động theo dự đoán sẽ rơi vào các mục tiêu lạm phát đã đề ra trước đó. Chính sách tiền tệ sau đó sẽ được thực thi dựa vào công cụ chính sách được chọn này và với sự tham khảo các thông tin khác có được trên thị trường.  Khi thị trường xuất hiện các cơn sốc kinh tế, cách hữu hiệu mà các NHTW-ĐHLP xử lý là xem xét lại ảnh hưởng của các cơn sốc đó đến mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện đã được đưa ra trước đây như thế nào và từ đó có những thay đổi thích hợp về công cụ chính sách (nếu cần thiết) nhằm tác động để đưa mức dự-báo-lạm-phát-có-điều-kiện hướng về lại các mục tiêu lạm phát đã đề ra.    Uy tín và minh bạch  Khi mà sự thành công của chính sách tiền tệ được đánh giá dựa vào những kết quả cuối cùng và tồn tại một khoảng thời gian từ lúc một chính sách được thực hiện đến khi chính sách có tác động, sự thành công của chính sách tiền tệ, do đó, còn tùy thuộc vào những biến chuyển xảy ra trong những khoảng thời gian này. Những biến chuyển mới phát sinh có thể bị cộng hưởng dưới tác động của các tác nhân trong nền kinh tế làm cho hiện trạng nền kinh tế trở nên bi đát hơn khi chính sách tiền tệ chưa kịp có hiệu lực.  Mức lãi suất trong một vài tuấn tới có tác động rất ít đến hành động của các tác nhân kinh tế. Cái mà  ảnh hưởng hơn nhiều đó là các dự đoán và mong đợi của các tác nhân trong nền kinh tế đối với các chính sách thiết lập lãi suất của ngân hàng trung ương. Các tác nhân kinh tế đưa ra các quyết định và hoạt động kinh tế dựa trên các dự đoán và mong đợi này. Do đó, khả năng của các ngân hàng trung ương trong việc định hướng dư luận trở thành một nhiệm vụ cực kì quan trọng.          Dự đoán chính xác xu hướng của lạm phát giúp các Ngân hàng Trung ương để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời, hữu hiệu          “Neo giữ” được niềm tin và mong đợi của các tác nhân trong nền kinh tế, ngân hàng trung ương xem như đã thiết lập được các điều kiện ban đầu nhằm bình ổn lạm phát. Và ở đây, uy tín của ngân hàng trung ương phát huy tác dụng. Một uy tín tốt là một tài sản lớn đối với bất kì một ngân hàng trung ương nào. Và khi mà xây dựng được một uy tín như vậy, ngân hàng trung ương đã thành công môt phần trong nhiệm vụ được ủy thác của mình.  Để xây dựng và duy trì một mức độ khả tín cao, ngân hàng trung ương cần một sự minh bạch cao. Các NHTW-ĐHLP thường xuyên cung cấp các báo cáo chính sách tiền tệ, giải thích ý nghĩa của chúng cũng như động lực phía sau các chính sách đó. Trong nhiều trường hợp, họ cũng sẽ khuyến cáo các chính sách có thể được thực hiện trong tương lai tới các tác nhân trong nền kinh tế. Ngược lại, một mức độ khả tín cao còn cho phép các NHTW-ĐHLP uyển chuyển hơn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Về lâu về dài, thay vì chỉ tập trung duy nhất vào việc bình ổn lạm phát, chính sách tiền tệ còn phải hướng đến các mục tiêu khác như bình ổn nền kinh tế thực, hiệu quả trong sử dụng tài nguyên, v.v. Ở đây, NHTW-DDHLP cũng phải rõ ràng khi cho các tác nhân kinh tế biết cách tiếp cận của mình.  Và sau cùng, ngân hàng trung ương là cá thể chịu trách nhiệm cuối cùng về các chính sách đề ra. Một mức giải trình (accountability) cao là điều cần thiết nhằm giúp ngân hàng trung ương có thêm động lực thực hiện những mục tiêu của mình. Khi mà các mục tiêu được đưa ra công khai và minh bạch, hoạt động của các NHTW-ĐHLP chịu sự giám sát chặt chẽ của công chúng. Trong nhiều trường hợp, các NHTW-ĐHLP còn chịu sự giám sát và trách nhiệm giải trình với các tổ chức, cơ quan khác nhau, thường là quốc hội hoặc một cơ quan chỉ định bởi chính phủ. Thống đốc ngân hàng sẽ có trách nhiệm giải trình khi lạm phát ra khỏi mục tiêu đã đề ra.  Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ, Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu và Ngân Hàng Trung Ương Nhật Bản mặc dù không công khai theo đuổi CSTT-ĐHLP nhưng đã có những bước tiến rất gần tới chính sách này và trên thực tế sự khác biệt là rất nhỏ.  Vào khi mà nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đối mặt với tình trạng lạm phát cao và mất ổn định, CSTT-ĐHLP là một chiến lược mà những nhà làm chính sách Việt Nam có thể tham khảo.  Stockholm, Tháng 7.2010  Tham khảo chính:  Svensson, Lars. E.O., 2010, “Inflation Targeting” trong “Handbook of Monetary Economics”, biên tập bởi Friedman, Benhamin M., và Michael Woodford, tập 3a, 3b, sắp xuất bản.  Svensson, Lars E.O., 2000, “Open-Economy Inflation Targeting”, Journal of International Economics 50, 155-183.  Roger, Scott, 2009, “Inflation Targeting at 20: Achievements and Challenges”, IMF Working Paper WP/09/236.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Định hướng phát triển công nghệ của Đài Loan      Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ – VISTEC (nay được đổi tên thành Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ)&#160; vừa tổ chức một khóa học ngắn hạn cho các cán bộ quản lý của Bộ KH&amp;CN và các đơn vị trực thuộc tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan (ITRI).  Tia Sáng đã có cuộc trò chuyện với bà Nguyễn Thị Thu Oanh, Phó Giám đốc VISTEC về khóa học, về sự thành công của Viện ITRI, về định hướng&#160; phát triển công nghệ của Đài Loan và những bài học đối với Việt Nam.        Xin bà cho biết ý tưởng hình thành chương trình học tại ITRI?  Chúng tôi chủ động đề xuất khóa đào tạo ngắn (10 ngày với 50 giờ học) này nhằm cung cấp và cập nhật kiến thức về quản lý và phát triển công nghệ một cách có hệ thống, từ lựa chọn vấn đề nghiên cứu, quá trình thực hiện, cho đến khi kết thúc nghiên cứu, ra kết quả và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu cho các cán bộ thuộc Bộ KH&CN và các đơn vị thành viên. Tham gia khóa học có 15 cán bộ thuộc Công nghệ cao, Vụ KHCN các ngành Kinh tế – Kỹ thuật, Vụ Đánh giá thẩm định và Giám định công nghệ, Vụ Kế hoạch- Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế và các đơn vị liên quan như Viện Ứng dụng công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Cục Ứng dụng và Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ.  Tại sao Viện lại lựa chọn Viện  ITRI và con đường phát triển công nghệ của Đài Loan đã được tiến hành như thế nào?   Đài Loan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước. Vào những năm 70, nền kinh tế của Đài Loan nói chung chỉ bao gồm các doanh nghiệp gia đình quy mô nhỏ. Thiết bị và năng lực trong các trường đại học phục vụ nghiên cứu cơ bản yếu và hầu hết doanh nghiệp không có bất cứ khái niệm nào về R&D (nghiên cứu phát triển). Con đường phát triển của Đài Loan đã trải qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu nền kinh tế dựa vào nông nghiệp (1973-1985), tiếp đó là các ngành công nghiệp nhập khẩu công nghệ, sản xuất dựa vào nhân công giá rẻ (1985-1994) và giai đoạn ba là chuyển đổi các ngành công nghiệp nội địa, tăng cường định hướng đổi mới sáng tạo (1994-2002), hiện nay đang chuyển sang phát triển nền công nghiệp giá trị cao, xây dựng kinh tế  dựa vào tri thức. Đài Loan đã tiến hành các bước đi rất bài bản và quyết liệt, tạo ra sự chuyển đổi phi thường, đưa nền kinh tế từ một mô hình dựa vào nông nghiệp sang một đất nước công nghiệp trong vòng 30 năm.           ITRI hiện là một trong những trung tâm sáng tạo công nghệ lớn nhất của Đài Loan, với hơn 1.000 patent mỗi năm. Trong ảnh có khẩu hiệu: “Sáng tạo cho một tương lai tốt đẹp hơn” của ITRI          Nói về năng lực khoa học, Đài Loan không mạnh, xuất phát điểm của họ cũng không cao, và tiềm lực khoa học sẵn có không nhiều. Do vậy, họ đã chọn hướng đi sát với thực tế để phục vụ sự phát triển. Họ tận dụng triệt để thành tựu KHCN của các nước khác để đem về ứng dụng cho mình. Đây là những kinh nghiệm phát triển KHCN rất quí báu, đặc biệt với giai đoạn Việt Nam đang muốn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào cuộc sống như hiện nay.   Cần lưu ý rằng, các hoạt động  KHCN của Đài Loan thực sự gắn kết và đóng góp cho phát triển kinh tế, một phần quan trọng là nhờ có chiến lược phát triển công nghiệp rõ ràng.   Các viện nghiên cứu ở Đài Loan có mối liên hệ thế nào với Chính phủ?          Đài Loan cũng mời nhiều chuyên gia quốc tế giúp họ trong việc lựa chọn công nghệ. Nhưng quan điểm cuối cùng của họ vẫn là: đối với các vấn đề hoạch định chính sách trong nước thì người Đài Loan mới là những người thực sự hiểu các vấn đề của mình nhất.          Các viện nghiên cứu ở Đài Loan không phải là tổ chức Nhà nước, mà chỉ nhận sự hỗ trợ của Nhà nước về mặt cơ chế, chính sách, cơ sở hạ tầng và tài chính. Nhà nước cũng không bao cấp toàn bộ, hằng năm có hỗ trợ một phần kinh phí thường xuyên (dựa vào kết quả hoạt động) và cấp kinh phí nghiên cứu thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu (tài trợ theo cơ chế cạnh tranh). Đồng thời, các viện nghiên cứu cũng phải tìm nguồn thu khác từ khu vực công nghiệp, từ bản quyền sáng chế của họ…   Đó là những tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận. Thông thường Chính phủ sẽ ủy nhiệm cho các viện nghiên cứu tiến hành thực hiện các dự án nghiên cứu và kết quả sẽ ứng dụng vào các ngành công nghiệp và phát triển kinh tế. Mặt khác, các viện nghiên cứu cũng đề xuất lên Chính phủ các chính sách cần thiết để phát triển KHCN.  Thế còn quan hệ của các viện nghiên cứu với doanh nghiệp?  Điều này phụ thuộc vào chính sách vĩ mô về phát triển doanh nghiệp để cạnh tranh theo đúng nghĩa đen của nó, có nghĩa là giúp doanh nghiệp làm ra được các sản phẩm có khả năng cạnh tranh ở cả thị trường nội địa và thị trường thế giới, chứ không phải chỉ ở các chính sách bảo hộ các sản phẩm nội địa. Chúng tôi nhận thấy, một trong những vấn đề cốt lõi mang lại sự thành công cho Đài Loan chính là sự cạnh tranh. Nó len lỏi trong mọi hoạt động của xã hội. Bản thân từng người, từng đơn vị muốn tồn tại và phát triển đều buộc phải cạnh tranh. Chính từ sự cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải quan tâm tới sự sáng tạo và đề xuất nhu cầu về công nghệ để đặt hàng cho các viện nghiên cứu. Các viện nghiên cứu hỗ trợ cho các ngành công nghiệp thông qua các hoạt động  như nghiên cứu tạo ra công nghệ mới, nâng cấp công nghệ, mời các doanh nghiệp cùng tham gia hợp tác nghiên cứu, giới thiệu, phổ biến công nghệ, phát triển hệ thống phòng thí nghiệm mở, hỗ trợ nhân lực công nghệ và giúp đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các doanh nghiệp…          Chiếc màn hình LCD 56 inch lớn nhất thế giới năm 2009 cũng là một trong những sáng chế của ITRI          Trước đây, Đài Loan cũng đã thực hiện việc giao nhiệm vụ (từ trên xuống) cho các viện nghiên cứu. Nhưng họ đã thay đổi, hoạt động của các viện nghiên cứu chủ yếu phải dựa vào yêu cầu từ thực tiễn (từ dưới lên). Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, năng lực nghiên cứu của các viện  phải thực sự mạnh. Thí dụ, viện ITRI có riêng một “Creativity Lab – Bộ phận nghiên cứu sáng tạo”, với đầy đủ không gian, thiết bị cần thiết, được thiết kế đặc biệt nhằm kích thích việc đưa ra các ý tưởng ứng dụng công nghệ cho các doanh nghiệp và có một “Hệ thống phòng thí nghiệm mở” nhằm tạo ra một kênh mở rộng công nghệ và đưa công nghệ chuyên nghiệp từ tất cả lĩnh vực lại với nhau để tạo nguồn phục vụ cho công nghiệp.   Đài Loan cũng là một trong các quốc gia thành công về ươm tạo doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dựa vào công nghệ nói riêng. Trong các trường đại học và viện nghiên cứu thường có các Trung tâm ươm tạo. Viện ITRI cũng có một Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp, với đội ngũ cán bộ là 500 nguời. Sứ mạng của Trung tâm là thu hút, hỗ trợ và nuôi dưỡng các doanh nghiệp mới có định hướng công nghệ cao. Khi doanh nghiệp trưởng thành thì nó tách ra hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào viện nữa. Thời gian ươm tạo thường không quá 3 năm.  Qua mô hình phát triển công nghệ của Đài Loan, Việt Nam có thể học hỏi được những gì?  Là các chủ thể đóng góp chủ yếu cho cả hai khâu sáng tạo và chuyển giao các công nghệ mới, sự phát triển của các tổ chức nghiên cứu và công nghệ lớn đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách khoa học và công nghệ ở phần lớn các quốc gia. Khi Đài Loan xây dựng chính sách phát triển các viện nghiên cứu, họ đã xem xét rất kĩ mô hình của nhiều nước, nhưng không bê nguyên một mô hình nào, mà nghiên cứu lựa chọn và tổng hợp lại để xây dựng nên mô hình đặc trưng riêng của họ.           Ấn tượng ban đầu của tôi về hoạt động của các viện nghiên cứu ở Đài Loan là những người đứng đầu đều được đào tạo rất tốt từ phương  Tây, nói tiếng Anh như  tiếng mẹ đẻ. Đây lại là điểm rất yếu của nhiều cán bộ khoa học VN.   Thứ hai, Đài Loan có chính sách đầu tư rất thỏa đáng cho công tác nghiên cứu và phát triển, từ năm 2000 đã là 21% GDP. Họ thành lập các viện nghiên cứu với hơn 1000 tiến sĩ có năng lực thực chất.   Và một điểm rất quan trọng trong nhận thức, là viện nghiên cứu của họ thành lập ra để hỗ trợ công nghệ, làm cầu nối công nghệ cho doanh nghiệp, chứ không phải cạnh tranh công nghệ với doanh nghiệp.                       Ông Nguyễn Quang Tuấn, Trưởng Ban KHCN,  Viện Chiến lược và chính sách KH&CN,  một thành viên của lớp học        Vấn đề đầu tiên mà Đài Loan đã nhìn ra và tiến hành thành công là nâng cao chất lượng nghiên cứu trong các viện và trường đại học. Đài Loan đã giải quyết bài toán này bằng cách thu hút được lực lượng người Đài Loan ở nước ngoài về. Một chuyên gia Đài Loan chia sẻ với tôi về chuyện thu hút nhân tài từ nước ngoài về. Theo ông, tiền lương không phải là mấu chốt. Một khi đất  nước còn chưa phát triển, không ai đòi hỏi một khoản lương tương đương với các nước giàu cả. Nhưng khi mời họ về, hãy nói với họ là đất nước đang cần tới họ và Chính phủ có thể cố gắng tạo điều kiện cho họ. Các nhà khoa học thường ít đặt vấn đề tiền lương lên hàng đầu. Điều mà họ quan tâm là có môi trường thuận lợi để phát huy chuyên môn của họ, có điều kiện đủ sống cho gia đình và có môi trường cho con cái họ được học hành.   Ở Đài Loan, khi các nhà nghiên cứu giỏi về nước làm việc, Chính phủ tạo điều kiện để họ mang cả gia đình về, cung cấp cho họ không gian sáng tạo và môi trường làm việc tự do. Có một đặc thù rất riêng của Đài Loan là các viện nghiên cứu có chế độ ưu đãi ban đầu cho các cán bộ giỏi từ nước ngoài về làm việc bằng cách tặng họ một số cổ phiếu của những công ty công nghệ. Đây cũng chính là một trong những sức hút để người làm nghiên cứu cống hiến nhiều hơn cho các doanh nghiệp công nghệ.   Đồng thời với việc thu hút lực lượng người Đài Loan từ nước ngoài về, họ cũng có chương trình cử cán bộ đi đào tạo ở các nước tiên tiến. Về chủ trương, hiện nay chúng ta cũng đang làm như vậy. Nhưng hiệu quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào cách tuyển lựa người đi học, và việc sử dụng sau khi được đào tạo.  Đài Loan cũng mời nhiều chuyên gia quốc tế giúp họ trong việc lựa chọn công nghệ. Nhưng quan điểm cuối cùng của họ vẫn là: đối với các vấn đề hoạch định chính sách trong nước thì người Đài Loan mới là những người thực sự hiểu các vấn đề của mình nhất.   Xin cảm ơn bà.  Linh Thủy và Thanh Hà thực hiện        Vài số liệu về ITRI               (Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan)  Các cơ sở chính:              Khu Kung-fu: thành lập năm 1936              Khu Hsinchu Chung Hsing: thành lập năm 1975              Khu Công viên Khoa học Taiwan: thành lập năm 2002              Công viên thiết kế vi mạch Nankang: thành lập năm 2004              Công viên Sáng tạo miền Nam: thành lập năm 2004                Nguồn lực & hoạt động              Đội ngũ R&D: 5.711 người; Ph.D: 1.158 người (20,3%)              Masters: 3.141 người (55%)              Tổng số sáng chế đã thực hiện: 14.027              Công ty Spin-offs: 162 (Số liệu tính đến 31/8/2010)   Nguồn thu chính trong năm 2009              Công nghệ R&D: 304 triệu USD (55,7%)              Các dịch vụ dựa trên tri thức: 205 triệu USD (37,7%)              Kinh doanh IP và các công ty kinh doanh mạo hiểm mới (New Ventures): 36 triệu USD (6,6%)              Năm 2008, Đài Loan đứng thứ 4 thế giới về số lượng bằng sáng chế được cấp, với 6.339 bằng sáng chế (Chỉ sau Mỹ, Nhật và Đức, trước nhiều nước công nghiệp khác như Canada, Pháp, Anh và Ý…).              Riêng tại Đài Loan, ITRI đứng thứ hai (sau Foxconn) trong số các cơ sở có nhiều sáng chế nhất, với 373 bằng sáng chế.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Định luật tổng quát cho mạch máu của Trái đất      Những định luật vật lý đơn giản đến bất ngờ lại có thể được dùng để giải thích cách các dòng sông chảy ở bất cứ đâu – dù là ở Florida hay trên sao Hỏa.      Năm 1504, Leonardo da Vinci đã phác họa con sông Arno ở phía tây Florence trong khi nghiên cứu về cách con sông này chuyển hướng. Ảnh: quantamagazine.  Khoảng năm thế kỷ trước, Leonardo da Vinci đã khảo sát sông Arno cùng Niccolò Machiavelli – để chuyển hướng tuyến đường thủy quan trọng có tính chiến lược từ Pisa đến Florence. Kế hoạch đầy tham vọng của họ không bao giờ được thực hiện. Nhưng ở một số thời điểm trong quá trình khảo sát, da Vinci đã hình dung ra toàn bộ hệ thống thủy văn sẽ trông như thế nào từ trên cao. Ông phác thảo nhánh chính của sông Arno, mà từ đó chia thành các nhánh ở thượng nguồn. Các nhánh đó lại tiếp tục phân nhánh, và cứ thể chia thành mạng lưới “tĩnh mạch” nuôi sống toàn bộ mạng lưới. Đối với da Vinci, mẫu hình này sống động đến khó tin. Mạng lưới sông, theo da Vinci, là một hệ thống tuần hoàn riêng biệt, một hệ thống chuyên chở “máu của Trái đất”. Ngày nay, các mạng lưới nhánh sông vẫn thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, nhiều người trong số họ vẫn nuôi hy vọng sẽ tìm ra một công thức toán học nào đó liên quan đến sự phân bố đó. Nhưng thực sự tìm ra điều đó chẳng hề dễ dàng.   Các nhà địa chất học từ lâu đã xem xét đến khả năng các mạng lưới sông dường như tuân theo một quy luật thống kê nào đó, ví dụ như chiều dài dòng chảy dài nhất chảy qua một lưu vực bằng diện tích của lưu vực đó mũ 0,6. Nhưng những định luật chung chung này không giúp chúng ta thực sự hiểu được điều gì hình thành nên mạng lưới kì diệu đó.   Một vấn đề nữa nảy sinh là thực tế không bỏ qua bất kì một chi tiết nào: lượng mưa, các ngõ ngách mà mưa rơi vào, lượng bùn đất bị xói mòn, hàng cây được trồng bên bờ, và lượng nước được bơm lên để phục vụ cuộc sống con người… tất cả các yếu tố trên đều thay đổi giữa các vùng khác nhau và tại các thời điểm khác nhau. Rất có thể tất cả các yếu tố đó đều đóng một vai trò nào đó.   Tuy nhiên gần đây, một công thức cơ bản để xây dựng hệ thống sông ngòi bắt đầu được hình thành. Daniel Rothman, nhà địa vật lý tại Viện Công nghệ Massachusetts, đã cùng các cộng sự trong nhóm của mình dành vài năm qua cố gắng chứng tỏ rằng một mô hình cơ bản, gần như phổ quát về mẫu hình phát triển có thể giúp giải thích hình dạng của hệ thống sông qua các vùng đất ẩm – và có lẽ còn hơn thế.    Mô hình của họ không còn chỉ là lý thuyết, chúng đã được sử dụng để giải thích hệ thống lưu vực sông trên Trái đất. Kết quả này thậm chí có thể ứng dụng ở những nơi không phải ở trên Trái đất như sao Hỏa, Mặt trăng… Công thức toán học của họ không đúng trong mọi trường hợp, nhưng nó đúng trong đa số các trường hợp. Và khi nó không đúng, nhóm nghiên cứu tin rằng, sự sai lệch đó giúp hé lộ nhiều điều về điều kiện môi trường.   Hơn nữa, công thức của họ cho hệ thống sông cũng có giá trị về mặt thẩm mỹ: “Công thức toán quả thực rất đẹp”, Christopher Paola, một nhà địa chất tại Đại học Minnesota, không phải là thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết.    Từ gồ ghề đến rẽ nhánh  Nếu Rothman nói đúng, công trình của ông có thể chỉ ra rằng hệ thống sông ngòi cũng có chung hình dạng với nhiều hệ thống phân nhánh khác trong tự nhiên. Tất cả những hệ thống này đều đi theo “sự tăng trưởng Laplacian”, được đặt theo tên nhà toán học người Pháp thế kỷ 18 Pierre-Simon Laplace. Những bông tuyết cũng có cấu trúc tinh thể đối xứng tuân theo sự tăng trưởng Laplacian. Quá trình này cũng dự đoán mô hình phân nhánh của dòng điện, cách các vi khuẩn lây lan trong các đĩa petri và cách các khoáng chất phát triển thành các đường vân trông giống như hóa thạch trên đá ở khắp nơi trên thế giới.    Các góc phân nhánh của sông Apalachicola ở Florida cho thấy sự thống nhất đáng chú ý về mặt số liệu. Ảnh: quantamagazine.  Ở mỗi trường hợp: những mẫu hình rẽ nhánh ra đời đều bắt đầu từ một điểm trồi lên từ một vị trí không hoàn hảo trên một đường biên phẳng phiu. Chẳng hạn như trên bề mặt của một bông tuyết mới hình thành, một cạnh của bông tuyết bị cọ xát bởi không khí ẩm ướt. Luôn luôn, một cạnh ban đầu trơn nhẵn sẽ có vài điểm gồ ghề trên đó – dù chỉ là vài nguyên tử nhầm chỗ. Chỗ gồ ghề đó vươn ra, đón những giọt nước trong không khí và khiến cho chúng bị đóng băng. Khi đó, những giọt nước trong không khí lại tiếp tục bồi đắp vào điểm gồ ghề khiến nó lớn dần lên. Cứ như thế, từ một nguyên tử không hoàn hảo nhanh chóng vươn ra thành một cành pha lê trong suốt.      Các hệ thống Laplace có thể khác nhau, nhưng tất cả đều tuân theo nguyên lý: sự phát triển này dẫn đến sự phát triển khác. Từ chỗ gồ ghề tạo thành nhánh. Các nhánh cứ phát triển tiếp từ ngọn. Hiển nhiên, những nhánh này lại tạo ra những điểm gồ ghề của riêng nó. Nó sẽ tạo ra những nhánh con giống hệt như những nhánh cha, chỉ là ở quy mô nhỏ hơn. Từ lâu, nhóm nghiên cứu của Rothman đã lập luận rằng các mạng lưới sông nhất định phải tuân theo quy luật nổi tiếng này.   Họ đã tìm thấy bằng chứng ở gần thị trấn Bristol, Florida, nơi có một mạng lưới nhánh sông rộng lớn dẫn nước vào sông Apalachicola. Bản thân mạng lưới này, tưởng như kết thúc ở hạ nguồn của mỗi nhánh sông, lại đang vươn ra ngày một xa thêm, tỏa ra ngày một rộng, lấn vào bờ cát đã hai triệu năm tuổi, kéo nước ngầm lên trên mặt đất. Và giống như những giọt nước trong không khí xung quanh bồi đắp cho bông tuyết ngày một nở rộng, đây cũng là môi trường lý tưởng cho tăng trưởng Laplace.   Dựa trên công trình chống xói mòn do nước ngầm của Thomas Dunne, nhà địa mạo học tại Đại học California, nhóm nghiên cứu của Rothman đã bắt đầu kiểm tra xem một định lý toán học đơn giản có thể mô tả được tình huống này hay không. Họ đã bay tới Florida, đo tốc độ nước chảy qua các nhánh sông riêng lẻ. Sau đó, họ sử dụng radar xuyên mặt đất để kiểm tra chiều cao của mực nước bên dưới.  Sau đó, họ bắt đầu so sánh thực tế với các dự đoán trên lý thuyết mà họ đã phác thảo trong vài năm qua. Cho đến nay, họ đã dự đoán và kiểm tra các chi tiết như hình dạng tròn của đầu thung lũng, hướng các nhánh sông phát triển và cách các nhánh sông lớn dần lên theo kích thước của lưu vực chứa chúng. Nhưng có lẽ kết quả đáng nói nhất của họ là để trả lời cho một câu hỏi đơn giản: dòng sông phân nhánh với một góc bằng bao nhiêu?  Tăng trưởng Laplacian cung cấp cho chúng ta một câu trả lời. Hãy tưởng tượng chúng ta phóng to đỉnh của một nhánh sông đang phát triển. Ở đó, nước ngầm chảy vào kênh từ nhiều hướng và rửa trôi những lớp cát đi cùng với nó. Và do những hạt cát bị rửa trôi mà hệ thống được nới rộng ra một chút.   Hiện tại, cả nhóm cho rằng dòng chảy phát triển theo hướng để thu hút nhiều nước ngầm nhất. Nếu nhiều nước tràn vào từ bên phải của đỉnh nhánh, dòng sông sẽ mở rộng về bên phải. Không lâu sau đó, nó sẽ rẽ về phía bên trái để nước ngầm chảy đối xứng, để có thể nhận được cùng một lượng nước từ cả hai phía.   Hãy tưởng tượng rằng một dòng chảy đã bị chia đôi, và mỗi nhánh vẫn đang tìm kiếm hướng phát triển để thu hút nhiều nước ngầm nhất. Chính hiệu ứng cạnh tranh đã giúp quyết định góc phân chia: nếu góc rộng, mỗi đỉnh của nhánh sông sẽ bị uốn vào trong, về hướng giúp tối đa hóa nguồn nước ngầm chảy về dòng chính. Và nếu như góc hẹp, hai đỉnh của nhánh sông sẽ hút nước ngầm của nhau, khiến cho chúng bị uốn ra ngoài.   Do đó, điều tốt nhất là hai nhánh sẽ tìm được một góc nằm ở đâu đó khoảng giữa, không quá nhỏ, cũng không quá to. Sự tăng trưởng Laplace dự đoán rằng góc giữa hai nhánh sẽ là 720, chính xác bằng 1/5 cung tròn (các nhà vật lý cũng đã đi đến kết luận tương tự khi xem xét các hệ Laplace khác trong tự nhiên).   Và rồi thực tế xảy ra đúng như vậy: Rothman và các cộng sự Olivier Devauchelle, Alexander Petroff và Hansjorg Seybold đã nghiên cứu và đo đạc vị trí rẽ nhánh của các dòng chảy trong mạng lưới Florida, với quy mô từ lớn đến nhỏ. Với hơn 4.966 điểm phân nhánh, kết quả cho thấy trung bình góc phân nhánh là 71,9 độ, một kết quả tốt ngoài mong đợi.   Chỉ Florida hay là trường hợp phổ quát?   Nhưng các nghiên cứu lại phải đặt ra câu hỏi: liệu Florida có phải chỉ là một trường hợp riêng lẻ hay không? Sau Florida, nhóm nghiên cứu đã lấy số đo của các góc phân nhánh trên tất cả các dòng sông có kích thước tương đối trên khắp Hoa Kỳ (só liệu cung cấp bởi cơ sở dữ liệu của cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Và lại một lần nữa, góc 72 độ lại quay lại trong dữ liệu của khoảng một nửa đất nước. Và tháng 6 năm ngoái, Seybold đã mở rộng phân tích hơn nữa để cho thấy con số đó xuất hiện trên toàn cầu, từ rừng nhiệt đới Amazon đến Vermont (Mỹ).    Các dòng suối cổ đại dường như đã chạm khắc các kênh vào miệng núi lửa Jezero trên sao Hỏa, địa điểm hạ cánh được công bố gần đây của tàu Mars 2020, NASA. Ảnh: quantamagazine.  “Tôi không bao giờ tưởng tượng được kết quả mà chúng tôi thu được lại có thể được áp dụng cho một nửa mạng lưới thoát nước trên hành tinh này”, Keith Rothman cho biết. Các khu vực càng ẩm ướt, nghiên cứu cho thấy, các góc phân nhánh dường như tiếp cận 72 độ. Điều này có thể là do mực nước ngầm cao nhất ở những khu vực ẩm ướt nhất và do đó chúng tuân theo cơ chế cung cấp nước ngầm tương tự như ở Florida. Các nhà địa chất vẫn chưa bị thuyết phục hoàn toàn: họ hoài nghi việc các góc phân nhánh là đủ để cho thấy quá trình tăng trưởng cơ bản tương tự là siêu phổ biến. Alan Howard, một nhà địa mạo học tại Đại học Virginia nói: “Tôi có cảm giác hệ thống Florida là một hệ thống rất đặc biệt”.   Vào những năm 1980, Howard đã nghiên cứu và mô phỏng mạch nước ngầm chảy ra từ sa thạch ở phía tây nam Hoa Kỳ, làm xói mòn đá trên đường chảy của chúng. Những mô hình trông rất giống với những gì chúng ta đã thấy khi nước ngầm chảy trong cát. Nhưng cả mạng lưới cát và sa thạch đều có điểm chung hiếm gặp. Chúng xảy ra ở những nơi mà mạch nước ngầm thống trị. Ở những nơi khác, nước mưa, chứ không phải là nước ngầm, làm đầy các con sông, và khi đó cơ chế này không còn đúng nữa.   Các nhà khoa học cũng gặp khó khăn khi giải thích tại sao ở những nơi khô cằn như New Mexico, mạng lưới phân nhánh lại hẹp hơn khá nhiều, chỉ khoảng 45 độ. Dù nhóm nghiên cứu vẫn chưa tìm ra câu trả lời, họ lập luận rằng ở những vùng khô cằn, đôi khi có các dòng chảy trên bề mặt Trái đất với các nhánh sông dốc hơn và các điểm kết nối hẹp hơn. Điều đó sau đó mở ra một khả năng mới: Nếu khí hậu ẩm ướt có thể tạo ra các mạng lưới sông với đặc trưng góc 72 độ giữa các nhánh, thì biết đâu sự vắng mặt đặc trưng đó là dấu hiệu cho một loại khí hậu khác?  Sông trên sao Hỏa  Nhóm nghiên cứu đã xem xét dữ liệu viễn thám từ sao Hỏa, hy vọng rằng các góc phân nhánh sẽ gợi ý về khí hậu cổ xưa bí ẩn của Hành tinh đỏ. Vào những năm 1970, vệ tinh Viking của Mỹ quay quanh quỹ đạo sao Hỏa lần đầu tiên tìm thấy các mạng lưới thung lũng phân nhánh trên hành tinh này. Nhiệt độ lạnh hiện tại và áp suất thấp không cho phép nước trên bề mặt tồn tại rất lâu ở đó, vì vậy các nhà địa mạo học tự hỏi liệu các thung lũng có thể bị xói mòn bởi nước ngầm. Các thung lũng sao Hỏa cho thấy các góc giữa các nhánh hẹp hơn, giống như ở những nơi khô cằn như phía tây nam Hoa Kỳ. Do đó công trình mới cho thấy Hành tinh Đỏ cổ đại là một nơi tương đối khô cằn: có thể thi thoảng những trận mưa như trút nước đã tạo nên những thung lũng trên sao Hỏa, chứ không phải là nước ngầm.   Bởi vậy, trong khi tăng  trưởng Laplacian có thể dùng để lý giải cho nhiều mẫu hình phân nhánh dòng sông – vấn đề thu hút biết bao nhà khoa học trong hàng thế kỉ, bây giờ, ít nhất vẫn có những mạng lưới sông khác còn là bí ẩn chưa thể giải thích được.  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/a-universal-law-for-the-blood-of-the-earth-20181128/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đinh Tiên Hoàng dưới con mắt các sử gia hiện đại      Trong thời hiện đại, biểu tượng Đinh Tiên Hoàng cũng có những nấc thăng trầm khác nhau. Nếu như đầu thế kỷ 20, biểu tượng Hoàng đế khai mở nền chính thống không còn hữu dụng khi Việt Nam bị Pháp đô hộ, thì đến từ nửa sau thế kỷ này, ông lại trở thành biểu tượng đại diện cho khả năng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc giữ gìn nền độc lập dân tộc.      Đền thờ vua Đinh vua Lê ở Ninh Bình. Ảnh: Kienthuc.net  Khước từ biểu tượng Hoàng đế chính thống  Đầu thế kỷ 20, Phan Bội Châu là người đầu tiên dỡ bỏ biểu tượng Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh và cô lập hóa biểu tượng này trong hệ tiêu chí mới, hệ tư tưởng mới của phương Tây. Ông cho rằng, thời Đinh Tiên Hoàng (968-970) tuy cũng thuộc “Thời đại chủ quyền mười phần hoàn toàn”1 giống như các thời Triệu Việt Vương Quang Phục (548-571), Ngô Vương Quyền (939-945), Lê Thái Tổ (1428-1429), nhưng ông chỉ là người thừa hưởng thành quả độc lập từ Ngô Quyền. Phan Bội Châu lý luận rằng, dù Đinh Bộ Lĩnh có chiến thắng, hay một trong số 12 sứ quân nào khác chiến thắng thì nước Việt vẫn cứ là của người Việt. Như thế Phan Bội Châu đã khước từ tiêu chí “xưng đế” và việc xây dựng mô hình nhà nước theo hình mẫu Nho giáo. Ông đang tìm kiếm những tiền lệ mới, mẫu hình mới, mà ông đang muốn hướng tới: đó là một hình mẫu lý tưởng về một quốc quyền (chủ quyền nước ta) được tự chủ, độc lập, giống như đế quốc Nhật Bản2. Các tiêu chí xưng đế, lập triều nghi, xây dựng mô hình nhà nước Nho giáo không còn được quan tâm đến nữa, thay vào đó là hệ hình viết sử mới với các khái niệm mới như “quân quyền”, “dân quyền”, “tổ quốc”, “nhân chủng”, “độc lập”, “tự chủ”…  Quan điểm này của Phan Bội Châu sau đó ảnh hưởng đến cách phân kỳ lịch sử của phần lớn các sử gia trong thế kỷ 20 đến nay (như Trần Trọng Kim 1920, Hồ Chí Minh 1941, Lê Thành Khôi 1955, Đào Duy Anh 1955), coi năm 938 là thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc, và năm 939 khi Ngô Quyền lên ngôi là mở đầu thời đại mới3. Đinh Bộ Lĩnh không còn là một biểu tượng được yêu thích như thời Nho giáo thịnh hành. Hồ Chí Minh viết:  Đến hồi Thập nhị sứ quân  Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.  Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,  Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.  Ra tài kiến thiết kinh dinh,  Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời4.  Biểu tượng cho khối đại đoàn kết dân tộc  Năm 1955, Đào Duy Anh cho rằng, Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được “một nước tự chủ hoàn toàn” với “nhà nước thống nhất” trên cơ sở tham khảo chế độ nhà Ngô và các triều đại Trung Quốc. Đào Duy Anh, dựa trên lý luận mới của chủ nghĩa Mác và kế thừa quan điểm của Phan Bội Châu, cho rằng Ngô Quyền là người đầu tiên xây dựng “nhà nước phong kiến tự chủ” còn Đinh Bộ Lĩnh chỉ là người “khôi phục cuộc thống nhất”, “xây dựng nhà nước thống nhất”. Các thuật ngữ mới đã được Đào Duy Anh khéo léo sử dụng trong quá trình phân tích tính chất các sự kiện lịch sử, như “mâu thuẫn xã hội”, “phong kiến”, “lực lượng phong kiến tập quyền”, “lực lượng phong kiến phân tán”, “cát cứ phong kiến”5,…  Năm 1971, cuốn Lịch sử Việt Nam đã kế thừa quan điểm “loạn 12 sứ quân” từ các bộ sử thời Trung đại. Cuốn sách cho rằng sự loạn lạc bắt đầu từ khi Ngô Quyền mất. Nhưng thực tế chưa tìm thấy sử liệu nào nói về việc “nổi loạn” nào của các Thứ sử nhà Ngô trong giai đoạn 944-965 ngoài sự cát cứ của Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Ngô Bình Xử ở Cổ Loa và các lãnh địa bất tuân phục triều đình như Chu Thái ở Thao Giang, hai thôn Đường – Nguyễn ở Thái Bình. Một cách nước đôi, cuốn sách này cũng cho rằng, từ năm 965 chính quyền trung ương tan rã, các lực lượng phong kiến tranh nhau nổi dậy, tranh giành lẫn nhau, mỗi người hùng cứ một phương. Danh sách 12 sứ quân được kể lại chi tiết với họ tên, địa điểm giống như các bộ sử trước đó. “Loạn 12 sứ quân” đã liên tục được chép lại trong hàng chục sử phẩm khác nhau suốt ngàn năm chép sử ở Việt Nam, và nó đã trở thành một từ khóa mang tính biểu tượng cho sự loạn lạc, cho những thế lực chống đối lại nền “chính thống”mà nhà Đinh là dòng họ đại diện.  Cho nên, Đinh Bộ Lĩnh xuất hiện và dẹp loạn lạc, cứu khổ cho nhân dân, được coi là bậc “đại ân đức”, là người có chính nghĩa. Xét ở khía cạnh thao tác, thì biểu tượng “Hoàng đế dẹp loạn” kết thành cặp đôi khăng khít với biểu tượng “loạn 12 sứ quân”, thể hiện tính hai mặt của biểu tượng. Hai biểu tượng này là đối lập với nhau về mặt nội hàm, nhưng thống nhất với nhau một cách biện chứng về mặt thủ pháp kiến tạo và mục đích xây dựng. Trong thời Trung đại, “loạn 12 sứ quân” luôn được sử dụng để làm tiền lệ lịch sử để răn đe, khuyến giới, hay bài học cho những nghịch tặc, phản thần, những kẻ có ý định chống đối triều đình. Còn “Đinh Bộ Lĩnh thì luôn được sử dụng để làm biểu tượng cho sức mạnh của “chính thống” với đội quân “nhân nghĩa” như văn bia đền Vua Đinh đã ca ngợi. Sang đến thời hiện đại, khi hệ tư tưởng đã thay đổi, cặp đôi biểu tượng này lại được tái dụng trong các nội hàm cũ mới đan xen. “Loạn 12 sứ quân” xưa là bài học cho những kẻ phản thần, thì nay là đại diện tiêu biểu cho “thù trong” gây mất khối đại đoàn kết dân tộc, gây trở ngại cho sự thống nhất đất nước. Sách Lịch sử Việt Nam đánh giá: Đinh Bộ Lĩnh là người “đã nêu cao ngọn cờ thống nhất quốc gia,… Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân.”6 Có thể thấy rõ sự thay đổi hệ hình viết sử và tư tưởng sử qua các khái niệm mới đã được cấy ghép ở đây, như “thống nhất quốc gia”, “tinh thần dân tộc”, “khối đoàn kết dân tộc”. Sự thâu tóm quyền lực của Đinh Bộ Lĩnh bằng sức mạnh quân sự được khoác thêm bộ áo cánh mới bằng những ngôn từ mới. Ta biết rằng, năm 1971, thời điểm cuốn sách này xuất bản, Việt Nam đang bước vào giai đoạn cam go nhất của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.  Biểu tượng Hoàng đế cờ lau– hoàng đế của nhân dân  Ngay từ những sử liệu sớm từ thời Tống, cho đến những sử phẩm hiện đại, sự xuất hiện của “dân” hay “nhân dân” thể hiện mối tương tác giữa quyền lực của kẻ bên trên (hữu danh) với những tập đoàn người nhỏ bé vô danh ở dưới. Cuộc chiến tranh của Đinh Bộ Lĩnh đã được mô tả lại như là một lực lượng chính trị đã thể hiện được sức mạnh nhằm bảo vệ những con người vô danh yếu đuối. Các sách Cửu triều biên niên bị yếu, Tống sử, ghi việc cha con Đinh Bộ Lĩnh đánh bại đám Ngô Xử Bình, khiến cho xứ ấy được yên, nhân dân vì thế mà cho rằng họ Đinh có ơn đức với mình, mới suy Bộ Lĩnh làm Soái, hiệu là Vạn Thắng Vương.7,8,9,10    Các sử liệu này đều nói đi nói lại về yếu tố “dân” trong mối quan hệ với cuộc chiến tranh và xưng vương của Đinh Bộ Lĩnh. Những dòng sử này được viết nên (dù ở nhà Tống) nhưng đã qua lăng kính khúc xạ của nhà Đinh (chủ yếu từ Đinh Liễn với các lần đi sứ). Có thể là, trước mặt nhà Tống, Đinh Liễn đã không ngừng gia cố thêm quyền lực, và tính chính thống của mình bằng cách dựa vào lý thuyết “dân bản” của Nho giáo. Người nắm được dân và sức mạnh quân sự, người ấy có tính chính thống. “Dân” được coi là một trong những nhân tố quan trọng làm nên “thiên vận”- một khái niệm của lý thuyết chính trị về quyền lực tiên thiên. Cái tiên thiên có trước được sử dụng như là yếu tố tiền định, bất khả tư nghì khi quyền lực đã được chính danh và bằng cách đè bẹp các lực lượng khác, nhưng vận trời cũng đã được nhà Đinh (và nhiều triều đại sau này) sử dụng như là một tham số khả biến dựa trên thời vận, và lòng dân.     Phố Đinh Tiên Hoàng ở Hà Nội.  Sang đến thế kỷ 20, tư tưởng về “dân bản” đã được tái sử dụng trong lý thuyết về giai cấp, và dân tộc11. Nhân dân là số đông, chiếm phần đa, và là yếu tố quan trọng làm nên các thành phần dân tộc. Nhân dân cũng là những người ở dưới, được định danh “giai cấp bị trị”. Cho nên, hậu quả của “loạn 12 sứ quân”được đánh giá là “đã gây ra biết bao tổn thất, đau khổ cho nhân dân và đi ngược lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc”12. Đinh Bộ Lĩnh đã cứu nhân dân thoát khỏi đau khổ loạn lạc, xưa được nhà Nho coi là “điếu dân phạt tội”, thì đến thế kỷ 20 được coi là người đại diện cho sức mạnh của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Lịch sử Việt Nam mô tả ngay từ khi Đinh Bộ Lĩnh còn trong giai đoạn xây dựng lực lượng ở Hoa Lư, thì “nhân dân trong vùng đã đều theo phục”13. Cho đến khi làm nên muôn chiến thắng, thì nhà Đinh là “đại diện cho ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân. Nạn cát cứ bị dập tắt tương đối nhanh chóng chứng tỏ trong hoàn cảnh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chế độ trung ương tập quyền là một nhu cầu tất yếu của lịch sử gắn liền với nhu cầu đoàn kết thống nhất lực lượng để giành và giữ vững nền độc lập – quyền lợi chung và cao nhất của toàn thể dân tộc”14. Như thế công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân của họ Đinh vừa như là một tiền lệ lịch sử cho tính nhân dân của cuộc chiến tranh, sức mạnh của lòng dân, là tiền lệ cho những nỗ lực củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tất yếu trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước trong những năm 1970. Đinh Bộ Lĩnh đã được xây dựng như là một biểu tượng cho sức mạnh của nhân dân, cho tinh thần đại đoàn kết đại dân tộc.  Trong khi các sử phẩm của nhà nước khắc họa tính nhân dân của Đinh Bộ Lĩnh qua việc tái sử dụng tư tưởng dân bản và lý thuyết giai cấp và tư tưởng dân tộc; thì các tác phẩm văn học nghệ thuật (cả nhà nước lẫn dân gian) từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 đã tô điểm thêm biểu tượng này bằng các thủ pháp của mình.  Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dòng nghệ thuật tranh dân gian còn lại hai tác phẩm về huyền thoại Đinh Bộ Lĩnh. Tác phẩm thứ nhất là bức thuộc dòng tranh Đông Hồ. Tác phẩm này miêu tả lại hoạt cảnh Đinh Bộ Lĩnh được rồng bảo hộ. Trung tâm của bức vẽ là hình Đinh Bộ Lĩnh cởi trần đóng khố tay trái cầm cờ lau vắt từ vai qua sau lưng, tay phải đang chỉ vào mặt Đinh Dự. Đinh Bộ Lĩnh đi chân đất đứng trên mình rồng. Gần góc bên trái bức tranh là Đinh Dự đang đứng trên bờ. Nhân vật này đứng chắp tay vái Đinh Bộ Lĩnh, thanh kiếm cắm xuống đất. Với cách khắc họa này, nghệ nhân dân gian muốn kể lại câu chuyện về tính thiên mệnh của Đinh Bộ Lĩnh như Đại Việt sử ký toàn thư đã định hướng. Tác phẩm thứ hai muộn hơn mang tên “Đinh Tiên Hoàng tập trận mấy trẻ mục đồng” được viết bằng chữ quốc ngữ, và dòng chữ Hán “丁先皇蘆旗習陣” (Đinh Bộ Lĩnh lô kỳ tập trận). Bức tranh này mô tả cảnh trẻ mục đồng chia làm hai phe để luyện quân. Bên tay phải vẽ Đinh Tiên Hoàng mặc quần áo, thắt đai, đội mũ cầm kiếm, ngồi trên lưng trâu. Quân tùy tòng người thì cầm cờ, cầm lọng che cho chủ tướng, người thì cầm lao, cầm kiếm. Phe bên kia cũng vẽ một chủ tướng cưỡi trên lưng dê, tay cầm kiếm, tay cầm cờ.  Hai bức tranh này không gì hơn là vẽ lại một tích chuyện được dân gian ưa thích, dùng cho mục đích buôn bán. Điều này cho thấy, sau khi biên soạn và in ấn Đại Việt sử ký toàn thư, quyền lực tri thức từ nhà nước đã lan tỏa xuống tầng lớp thứ dân. Huyền thoại dân gian mang tính địa phương của Hoa Lư một khi đã trở thành sản phẩm quốc định, đã quay ngược trở lại dân gian ở một biên độ phủ sóng cao hơn.      Công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân của họ Đinh vừa như là một tiền lệ lịch sử cho tính nhân dân của cuộc chiến tranh, sức mạnh của lòng dân, là tiền lệ cho những nỗ lực củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tất yếu trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh như thế đã được xây dựng như là một biểu tượng cho sức mạnh của nhân dân, cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc.      Sang đến nửa sau thế kỷ 20, dưới một quyền lực tri thức mới từ phía nhà nước, hàng chục tác phẩm nghệ thuật đã được sáng tác xoay quanh biểu tượng Đinh Bộ Lĩnh. Các loại hình nghệ thuật khác nhau cũng không ngừng tham gia công việc đưa tri thức lịch sử vào đời sống xã hội. Các tác phẩm sớm nhất hiện biết là “Đinh Tiên Hoàng: chuyện ông Đinh Bộ Lĩnh giẹp yên 12 sứ quân” của Nguyễn Tử Siêu (Nhật Nam thư quán, 1929), “Sự tích Đinh Tiên Hoàng” (Nhà in Quảng Tế, 19??),  tiểu thuyết “Ngọn cờ lau” của Đinh Gia Thuyết (Thực nghiệp, 1937). Đây là tác phẩm tiểu thuyết lịch sử về Đinh Bộ Lĩnh nằm trong seri tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử Việt Nam của tác giả này. Sau đó là tập truyện tranh lịch sử “Cậu bé cờ lau” của Tạ Thúc Bình và Phong Lan (Kim Đồng, 1963), “Cờ lau Vạn Thắng Vương” của Nguyễn Anh (Kim Đồng, 1972 ), Đinh Tiên Hoàng đế của Hà Công Tài (Văn hóa, 1988). Đến đầu thế kỷ 21, thêm các tác phẩm “Cờ lau dựng nước” tiểu thuyết lịch sử của Ngô Văn Phú, “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” của Lữ Giang (Văn nghệ, 2000), “Đinh Bộ Lĩnh: truyện tranh” trong bộ “Bé học sử Việt” của Nguyễn Văn Mùa (Trẻ, 2001), tiểu thuyết “Đinh Bộ Lĩnh” của Hàn Thế Dũng (Công an Nhân dân, 2004), “Vua cờ lau” của Phạm Minh Thảo (Từ điển Bách khoa, 2006), “Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước” của Nguyễn Văn Thảo (Mỹ thuật, 2009), “Hoàng đế cờ lau” của Nguyễn Khắc Triệu (Văn học, 2010), “Kể chuyện Đinh Tiên Hoàng” của Hải Vy (Lao động, 2011), “Đinh Tiên Hoàng và công cuộc thống nhất đất nước” của Phạm Trường Khang (Hồng Đức, 2012), “Đinh Bộ Lĩnh” (soạn theo Đại Việt sử ký toàn thư) của Nam Việt viết – Tạ Huy Long vẽ (Nhi đồng, 2012, in lần thứ 6), “Đinh Bộ Lĩnh” truyện tranh của Huy Tiến (Đại học Sư phạm TP.HCM, 2015), “Đinh Bộ Lĩnh – Dẹp loạn 12 sứ quân” của Đỗ Biên Thùy (Trẻ, 2016), “Đinh Bộ Lĩnh và nước Đại Cồ Việt” của nhóm Lương Duyên (Giáo dục, 2017), “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” của Trương Bửu Sinh (Giáo dục, 2018)  “Đinh Tiên Hoàng” tiểu thuyết của Vũ Xuân Tửu (Công an Nhân dân, 2018, 527 trang), “Đinh Tiên Hoàng Đế – anh hùng mở nền thống nhất quốc gia” của Trương Đình Tưởng (Thế giới, 2018, 278 trang). Trong khi đó, hàng chục bộ phim lịch sử, phim hoạt hình về Đinh Bộ Lĩnh đã được sản xuất và trình chiếu trên các kênh của Đài truyền hình Việt Nam và các đài địa phương. Các bộ “Hào khí ngàn năm”, “Hào khí sử Việt” tiếp tục khắc họa hình ảnh chú bé Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha, có tài chí, sau này lớn lên, đại diện cho sức mạnh của nhân dân, cứu vận mệnh nước nhà bằng cách dẹp loạn 12 sứ quân.  Những nội hàm mới được phổ thêm vào cho biểu tượng như tinh thần thượng võ, truyền thống đánh giặc nội xâm, truyền thống yêu nước, yêu dân tộc, tinh thần vì nhân dân. Đến đây, ta thử đọc lại một trích đoạn nghiên cứu trong công trình nghiên cứu Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước: “vào thế kỷ X, trong ý thức của mọi thành viên trong xã hội, chưa có sự ràng buộc của chữ ‘trung’ theo quan điểm của Nho giáo mà chỉ có sự thôi thúc của một tinh thần thượng võ nhằm bảo vệ che chở lợi ích cộng đồng, yêu thương đùm bọc cộng đồng, được mở rộng thành lòng yêu nước thương nòi. Đó là đạo đức truyền thống của dân tộc hình thành và tôi luyện trong quá trình đấu tranh lâu dài để tồn tại và phát triển.”15 Những nhận định trên đây về lịch sử thế kỷ X có lẽ là được nhìn từ góc độ của người hiện đại về một quá khứ (hình dung về quá khứ để phù hợp với hiện tại).  Xung quanh hình tượng Đinh Bộ Lĩnh – một nhân vật lịch sử có thật, các tác phẩm văn học hiện đại đang thể hiện một quá trình sáng tạo nằm trong khuôn hạn của các diễn ngôn lịch sử do nhà hướng điều hướng. Những sáng tạo cùng chiều của nghệ thuật với diễn ngôn chính trị sẽ vừa nhận được sự bảo hộ cho công tác xuất bản của nhà nước cũng như tâm tư tình cảm của các thế hệ hưởng thụ nghệ thuật. Cũng chính từ đây, chức năng giáo dục lịch sử đã xuất hiện và thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật.  Nhiều người sẽ cho rằng việc phân tích các tác phẩm nghệ thuật liên quan đến chủ đề lịch sử sẽ không thuộc phạm vi của nghiên cứu lịch sử. Bởi các tác phẩm này không phải là một sử phẩm được viết nên bởi những sử quan, hay nhà nghiên cứu lịch sử. Nhưng ở phương diện lý luận, nghiên cứu lịch sử không chỉ còn giới hạn trong sử liệu, với các sử gia, phương pháp viết sử, hay tư tưởng sử nữa, mà còn mở rộng đến phương diện quyền lực nhà nước trong công tác định hướng nghiên cứu lịch sử, và quan trọng hơn cả nghiên cứu lịch sử phải chăng đã đến lúc nên chú ý tới lịch sử của nhận thức lịch sử. Lịch sử Việt Nam không chỉ được hiện lên qua ngòi bút của sử gia hay các nhà sử học, mà còn hiện lên qua ngòi bút của các nghệ sĩ. Mối quan hệ giữa sử phẩm với người học lịch sử, mối quan hệ giữa sử phẩm với sử gia, mối quan hệ giữa sử phẩm với nhà nước, mối quan hệ giữa tác phẩm lịch sử với người đọc, người học, người tiếp nhận lịch sử có lẽ là những mảnh đất cần được chú ý đến nhiều hơn.  Tiểu kết  Qua những gì đã phân tích trên đây, Đinh Bộ Lĩnh dĩ nhiên là một nhân vật lịch sử có thật, với một hành trạng vừa rõ ràng vừa có những khuất lấp. Trong phạm vi của tư tưởng chính trị Nho giáo, Đinh Bộ Lĩnh đã được kiến tạo với tư cách là người mở đầu nền chính trị Nho gia. Sang đến thế kỷ 20, khi tư tưởng thời đại đã thay đổi, Phan Bội Châu đã gạt bỏ tiêu chí chính thống để đưa Đinh Bộ Lĩnh về vị trí thứ yếu sau Ngô Quyền. Từ nửa sau thế kỷ 20, khi hệ tư tưởng Mác – Lê Nin đã được xác lập, các vấn đề về giai cấp, nhân dân, dân tộc, độc lập, thống nhất đất nước,… trở thành các hạt nhân cốt lõi cho các nghiên cứu về Đinh Tiên Hoàng. Cũng từ đây trở đi, các kết quả của công tác nghiên cứu sử học đã thuận dòng cùng đời sống chính trị của đất nước và góp phần kiến tạo nên tri thức lịch sử của hàng triệu tầng lớp nhân dân. Sự lan tỏa của biểu tượng này còn được tiếp thêm sức mạnh từ hệ thống giáo dục, các cơ quan thông tấn, nhà xuất bản, các cơ quan quản lý văn hóa các cấp, các hiệp hội nghề nghiệp,… Một lần nữa, giá trị của tri thức lịch sử được quốc định lan tỏa đến các giai tầng xã hội  giống như Đại Việt sử ký toàn thư thời trước. Hàng chục tác phẩm nghệ thuật (từ truyện tranh thiếu nhi, tiểu thuyết lịch sử, phim hoạt hình, phim lịch sử, cho đến nghệ thuật điêu khắc, hội họa,…) đã được sáng tác và cho phép xuất bản nhằm mục đích giáo dục lịch sử và truyền thống yêu nước. Đinh Bộ Lĩnh – Đinh Tiên Hoàng, qua truyền thống ngàn năm chép sử, không chỉ là một “tiên đế tiên hoàng” của riêng nhà Đinh hay các triều đại Nho giáo, mà đã trở thành một biểu tượng đa năng với các hàm nghĩa đa chiều kích, mãi lấp lánh trong tâm khảm của biết bao thế hệ.  ——-  Chú thích:  1 Với nghĩa là chiến thắng các thế lực ngoại bang, và không xưng thần, chư hầu đối với các triều đại Trung Quốc. Xem Phan Bội Châu, 1909, Việt Nam quốc sử khảo, Shoransa, Tokyo,  VHV.1332 Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Chương Thâu dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2015, tr.37-39.  2 William J. Duiker, Phan Boi Chau: Asian Revolutionary in a Changing World, The Journal of Asian Studies, Vol. 31, No. 1 (Nov., 1971), pp. 77-88.  3 Trần Trọng Kim, 1920, Việt Nam sử lược (越南史略; Précis d’histoire de Việt Nam’), Imprimerie du Trung-Bac-Tan-Van, Ha Noi; tb. Nhã Nam – Nxb. Văn học, Hà Nội, 2015;  Hồ Chí Minh, 1941, Lịch sử nước ta, Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản, Trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, Tập 3, tr 221 – 229.  Lê Thành Khôi,1955, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, 2014, Tr.143, 162.  4 Hồ Chí Minh, 1941, Lịch sử nước ta, Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản, 1941, Trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, Tập 3, tr 221 – 229.  5 Đào Duy Anh, 1956, Lịch sử Việt Nam, giáo trình. Tb. Nxb.KHXH. Hà Nội, 2013, tr.176-177.  6 Ủy ban Khoa  học Xã hội Việt Nam, 1971, Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb.KHXH. Hà Nội, Tr.144.  7 (Tống) Trần Quân, 1223, Hoàng Triều Biên Niên Bị Yếu, Nxb.thư cục Trung Hoa, 2006, quyển 2,tr.41.  8 Vương Ứng Lân, 1296,  Ngọc hải 玉 海, quyển 133.  9 Vương Ứng Lân, 1296,  Ngọc hải 玉 海, quyển 133.  10 Mã Đoan Lâm, 1307, Văn hiến thông khảo文献通考, quyển 330  11 Viện sử học, 1984, Thế kỷ X những vấn đề lịch sử, Nxb KHXH. Hà Nội.  12,13, 14 Ủy ban Khoa  học Xã hội Việt Nam, 1971, Lịch sử Việt Nam, tr.143 – 144.  Nguyễn Minh Tường, 2012, Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước, Nxb. Lao động, Hà Nội.  15 Nguyễn Danh Phiệt, 1990, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, sđd, tr.60-61.          Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Định tuổi cho những cây đàn triệu đô      Có đúng đây là cây đàn Stradivarius? Câu trả lời này đáng giá tiền triệu đô la bởi vì trên thế giới chỉ còn khoảng 600 cây đàn Stradivarius còn lại. Nhưng làm thế nào để có thể kiểm tra tính xác thực của một nhạc cụ như vậy?      Kiểm tra vòng đời trên cây đàn violon trong phòng thí nghiệm.  Các nhạc cụ dây cũ đôi khi là báu vật và có giá cao ngất ngưởng. “Vieuxtemps”, cây vĩ cầm của nghệ nhân bậc thầy Guarneri del Gesù từ năm 1741 đã được bán với giá hơn 16 triệu đô la Mỹ vào năm 2012. Những cây vĩ cầm của Antonio Stradivari, mà đến nay một số nhạc sĩ chuyên nghiệp vẫn chơi, thậm chí còn nổi tiếng hơn.   Năm 2011, cây đàn “Lady Blunt” Stradivarius từ năm 1721 bán đấu giá với giá khoảng  11,6 triệu euro. Những nhạc cụ như vậy được coi là một ví dụ điển hình về kỹ năng của các nhà sản xuất vĩ cầm nổi tiếng ở miền Bắc nước Ý trong thế kỷ 16 đến thế kỷ 18. Các nhạc cụ dây quý hiếm này vẫn được các nhạc sĩ và nhà sưu tập nghệ thuật săn lùng, với giá hàng trăm nghìn euro ngay cả với các phiên bản rẻ hơn.  Điều quan trọng là làm thế nào để xác định liệu các nhạc cụ quý giá này có đúng là một trong 600 cây đàn của Stradivaris hay một chiếc Guarneri còn lại. Bởi vì đã có những cây đàn hàng giả, hàng nhái đã được tung ra thị trường.   Nếu chỉ  đánh giá về phong cách, thiết kế, các cấu trúc chi tiết và nước sơn của cây đàn thường không đủ để xác nhận tính xác thực của chúng. Việc xác định tuổi và nguồn gốc của gỗ có lẽ là yếu tố quan trọng nhất, ví dụ như thông qua xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ hoặc kiểm tra vật liệu hữu cơ. Tuy nhiên không ai cho phép, dù chỉ lấy một mẩu xây xước nhỏ nhất từ cây đàn Stradivarius để phân tích. Do đó người ta phải dựa vào vòng đời của cây gỗ để phân tích tuổi của các nhạc cụ và do đó xác định tính xác thực của chúng. Phương pháp xác định niên đại này được gọi là dendrochronology. Dựa trên thực tế là tuổi của cây có thể được đọc từ các vòng đời hàng năm của chúng. Phương pháp này đã được sử dụng trong khảo cổ học.  \Các vòng đời hàng năm có thể  tìm thấy trong thân cây gỗ mà từ đó một nhạc cụ dây được chế tác. Để phân tích, chiều rộng của chúng được đo trực tiếp trên thiết bị hoặc trên ảnh, nhà nghiên cứu thời gian học Cherubini viết: “Bạn cũng có thể kiểm tra gỗ bằng máy chụp cắt lớp vi tính hoặc MRI hoặc phân tích hình ảnh bằng các chương trình máy tính.” Trong bước tiếp theo, trình tự của vòng hàng năm đã được xác định niên đại. So sánh vòng đời hàng năm của cây có thể phát hiện vùng xuất xứ của gỗ mà từ đó nhạc cụ được chế tạo. Một khả năng khác là so sánh với các dụng cụ mà bạn chắc chắn biết ai đã chế tạo chúng: “Nhưng bạn luôn cần một loạt các vòng cây tham chiếu.”  Để tham khảo, bạn phải biết gỗ mà các nhà sản xuất vĩ cầm nổi tiếng sử dụng đến từ đâu – thực sự là một điểm yếu của phương pháp này, như Cherubini thừa nhận: “Thường chỉ có truyền thuyết, câu chuyện và huyền thoại.” So sánh với các cơ sở dữ liệu như “Cơ sở dữ liệu vòng cây quốc tế” của Mỹ, bộ dữ liệu này không phải lúc nào cũng đầy đủ. Do đó, Cherubini nói: “Chúng tôi cần các niên đại công khai, mới, được xác lập, thí dụ từ các cây sống và dầm gỗ ở các công trình kiến trúc cổ để so sánh.”  Phương pháp này cũng  không thích hợp với tất cả các nhạc cụ. Cherubini cho hay bởi vì trước hết phải có đủ vòng đời hàng năm trong gỗ để có thể đưa ra một trả lời chính xác về độ tuổi – ít nhất phải có từ 50 đến 70 vòng cho điều này:” Đó là lý do tại sao việc xác định này đối với cello dễ dàng hơn so với viola. “Mặt trên hoặc mặt sau của violon thường ít khi có đủ số vòng:” phương pháp này không áp dụng được cho các loại nhạc cụ cỡ nhỏ.”  Tuy nhiên, vẫn còn một yếu tố nữa cần lưu ý, nếu chỉ đo tuổi gỗ thì chỉ xác định được khoảng niên đại, còn việc xác định cụ thể năm sản xuất thì cần phải dựa vào các hồ sơ lưu trữ khác nếu có. Bởi vì việc xác định được tuổi của gỗ cũng chưa chắc đã tương đồng với thời điểm mà nhạc cụ được tạo ra. Cần phải tính đến các yếu tố không lường trước được như gỗ có thể được cất giữ trong kho nhiều năm, hoặc những khu vực gỗ có vành cây non hơn có thể đã bị mất trong quá trình xây dựng. Hoặc, đôi khi những người làm đàn vĩ cầm sử dụng lại những chất liệu gỗ rất cũ.   Xuân Hoài lược dịch  https://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/stradivari-und-co-jahresringe-koennten-falsche-geigen-entlarven-a-f9cc7877-4724-4173-a4a5-a67c82e079d       Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐMST để chinh phục thị trường đại chúng      Phân khúc thị trường đại chúng ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác của châu Á là một mảnh đất màu mỡ và rộng lớn đang chờ đón các doanh nghiệp khai thác. Nhưng để tiếp cận thị trường này một cách hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam phải có giải pháp tự cải tiến mình một cách linh hoạt.     Dưới đây là một số bài học được các chuyên  gia đưa ra tại Hội thảo “Chinh phục một tỷ khách hàng tiếp theo”, được  tổ chức cuối tháng 5 vừa qua trong khuôn khổ hợp tác giữa Hội doanh  nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao và Tập đoàn Boston Consultant Group  (BCG).  Lê Trí Thông (Phó TGĐ BCG):   Những tiềm năng có thể khai thác từ thị trường đại chúng  Thị trường của các nước đang phát triển có thể được chia thành 4 phân khúc, bao gồm phân khúc khá giả ở phía trên có thành phần khá nhỏ, tiếp đó là phân khúc trung lưu, phân khúc bình dân đại chúng (những khách hàng có mức thu nhập từ 3500– 7500 USD) và phân khúc thu nhập thấp. Phân khúc bình dân đại chúng châu Á có rất nhiều tiềm năng, với dự báo đến năm 2020 sẽ tăng đạt khoảng 1,4 tỉ người. Ở những nước đang phát triển phân khúc bình dân đại chúng sẽ chiếm hơn một nửa dân số, đặc biệt ở Việt Nam, phân khúc bình dân sẽ tăng trưởng ở mức 19%, cao hơn so với mức tăng bình quân 7% ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, không chỉ số lượng mà chất lượng của phân khúc bình dân cũng đang tăng trưởng đáng kể, một số sản phẩm như các mặt hàng thiết yếu sẽ mang lại doanh thu ngang ngửa với những phân khúc cao hơn.   Tuy nhiên, để khai thác phân khúc bình dân một cách hiệu quả và lâu dài, doanh nghiệp phải bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch một cách hợp lý, đáp ứng nhu cầu của một thị trường rộng lớn, với nhiều đặc thù riêng của các địa phương khác nhau bằng những sản phẩm, giải pháp, mô hình kinh doanh đa dạng – những mô hình thành công ở các thị trường đô thị chưa chắc mang lại thành công ở nông thôn – trong đó vấn đề mấu chốt là đáp ứng các nhu cầu khách hàng với mức chi phí sản phẩm tương ứng với sức mua của họ.   Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần tích cực triển khai ứng dụng KH&CN và đổi mới công nghệ, với quan điểm lấy người tiêu dùng làm trung tâm nhằm đưa ra những sản phẩm thực sự hữu dụng với khách hàng. Các sản phẩm cần được thiết kế và định vị rất rõ rang, ví dụ hãng LG của Hàn Quốc xác định phải sản xuất ra loại tivi có mức độ kiểm soát âm lượng cao hơn, phù hợp với đa số đối tượng khách hàng của họ là những gia đình đông người, nhà gần mặt đường có nhiều tiếng động ảnh hưởng đến âm lượng.   Tuy nhiên, trong điều kiện năng lực đổi mới sáng tạo về KH&CN còn hạn chế, doanh nghiệp vẫn có thể tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm đưa ra các sản phẩm và giải pháp kinh doanh phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, chẳng hạn tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp trong những lĩnh vực có thể bổ trợ cho sản phẩm của nhau, ví dụ hợp tác giữa hoạt động sản xuất hàng hóa với dịch vụ tài chính. Điển hình như kinh nghiệm từ công ty Singer của Thái Lan: mặc dù năng lực nghiên cứu và phát triển KH&CN không thể so sánh được với các tập đoàn lớn trên thế giới như Samsung, LG, nhưng công ty này biết cách kết hợp với những năng lực khác để cuối cùng hình thành nên một mô hình kinh doanh độc đáo có sức cạnh tranh mạnh mẽ.   Mặt khác, ứng dụng công nghệ vào đổi mới sáng tạo không chỉ tập trung ở khâu sản xuất mà còn nằm trong các khâu quản lý, phân phối sản phẩm. Bằng công nghệ mới, doanh nghiệp có thể nhìn thấy số liệu kinh doanh hằng ngày, thấy được nhân viên nào làm tốt và chưa tốt, tổng doanh thu tăng hay giảm. Các quy trình kinh doanh và phân phối sản phẩm có thể được đơn giản hóa và tăng cường kiểm soát, thiết lập những công cụ đo lường đánh giá của doanh nghiệp.   Dựa vào đó người quản lý có thể tương tác hiệu quả với nhân viên giúp họ trưởng thành hơn, đồng thời đặt ra những mức thưởng phạt hợp lý để tạo động lực cho họ. Không nên để tồn tại phổ biến tình trạng cô lập thông tin với những thông tin nội bộ chỉ riêng một bộ phận nào đó được biết, thay vào đó mỗi một nhân viên đều phải nắm được tình hình chung của doanh nghiệp, cùng nhận diện rõ ràng mục tiêu doanh nghiệp đang hướng tới và đâu là vấn đề cần được chung tay tìm cách giải quyết. Để đưa doanh nghiệp lên tầm cao mới, doanh nghiệp phải dựa vào những con người đáng tin cậy và tận dụng tối đa năng lực, trí tuệ của họ. Theo đó, doanh nghiệp sẽ xây dựng được một văn hóa, triết lý phát triển hài hòa. Nhìn vào các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy không ít những tác động tiêu cực của văn hóa kinh doanh chạy theo mục tiêu cục bộ, đơn cử như tình trạng nợ xấu quá cao ở các ngân hàng, là hậu quả của thứ văn hóa thúc đẩy nhân viên bằng mọi giá kiếm cho được những hợp đồng.     Pinpradab Boriwat (chuyên gia cao cấp của BCG):  Bốn vấn đề và năm quy tắc cho các ngân hàng     Những khách hàng trong phân khúc thị trường đại chúng là những người thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng của mình, vì vậy họ chính là đối tượng khách hàng mà các ngân hàng cần khai thác. Tuy nhiên, nhiều người trong số họ là những người tiêu dùng mới, thiếu thông tin cơ bản về các sản phẩm của ngân hàng. Ở Việt Nam, các tài khoản ngân hàng chủ yếu là ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP. HCM, còn ở những khu vực nông thôn, việc tiếp cận dịch vụ tài chính còn rất hạn chế, thậm chí đa số người dân không hiểu ngôn ngữ trong ngành tài chính hoặc không hiểu phải giải thích nhu cầu của mình như thế nào, chẳng hạn khi được hỏi về dịch vụ bảo hiểm thì không ít người sẽ trả lời rằng họ không cần được bảo hiểm. Ở chiều ngược lại, các ngân hàng cũng thường lơ là, không nhận thức đúng về tiềm năng khai thác phân khúc thị trường đại chúng, chỉ hướng tới những phân khúc thị trường khách hàng có mức thu nhập cao hơn.     Bốn vấn đề  Để có thể khai thác hiệu quả phân khúc thị trường đại chúng, các ngân hàng phải xác định ra những sản phẩm, dịch vụ tài chính, và phương thức quảng bá phù hợp. Có bốn vấn đề mà các ngân hàng phải cân nhắc.   Vấn đề đầu tiên là làm thế nào để khách hàng tiếp cận sản phẩm của ngân hàng mà không nhất thiết phải sở hữu sản phẩm đó – có thể cho phép nhiều khách hàng dùng chung sản phẩm khiến quy mô của thị trường được mở rộng – hoặc kết hợp với những sản phẩm sẵn có trên thị trường mà khách hàng có thể tiếp cận dễ dàng. Đây là mô hình đã được áp dụng rất thành công trên thế giới, chẳng hạn trong dịch vụ tài chính hỗ trợ khách hàng mua các sản phẩm đại chúng như điện thoại di động cho phép những cộng đồng dân cư nhỏ nhất cũng có thể sử dụng điện thoại di động. Những người mua điện thoại sẽ được người bán hàng cung cấp các gói hỗ trợ tài chính, và có thể sử dụng điện thoại để gửi tiền về nhà ở quê. Cách làm này cho phép mở rộng thị trường một cách nhanh chóng thông qua sự giới thiệu người nọ với người kia trong cộng đồng, giúp ngân hàng cũng như doanh nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ điện thoại di động tăng doanh thu đáng kể.  Vấn đề thứ hai cần phải xem xét là phát huy tiềm năng thị trường các tài sản ngầm của địa phương. Ví dụ ở Ghana có những người chuyên đi thu nợ góp của những tầng lớp dân cư lao động nghèo, tạo thành một thị trường mang lại lợi nhuận có thể lên tới 60% – ở Việt Nam cũng có những cửa hàng cầm đồ, cho vay lãi suất đến 40%/năm. Đây là những thị trường có mức lãi suất cao, rủi ro thấp. Ngân hàng Barclays đã thâm nhập thành công vào phân khúc thị trường này ở Ghana mà không cần phải xây dựng các chi nhánh hay mạng lưới đại lý, đơn giản chỉ bằng cách xây dựng mối quan hệ với những người thu lãi rồi cung cấp thêm tín dụng để những người cho vay có thể cho vay được nhiều hơn, trong khi những người cho vay lại tiếp tục gửi tiền vào ngân hàng.   Thứ ba là phải thu hẹp khoảng cách của các loại hàng hóa công cộng, nhất là hạ tầng để đến với những thị trường nông thôn, vùng sâu vùng xa. Ở Việt Nam thì đây là thách thức vì việc tiếp cận các khu vực này khiến chi phí tăng cao, đòi hỏi phải khắc phục những khó khăn để tiếp cận với những khách hàng sau cùng. Các ngân hàng sẽ phải tìm cách cụ thể hóa những lợi ích có được từ quy mô và tập trung hóa kinh doanh, hoặc phải tìm cách đưa cơ sở của mình đến gần với khách hàng sau cùng hơn. Chúng ta có thể khắc phục thiếu hụt về hạ tầng thông qua việc hợp tác với các tổ chức tại địa phương. Ví dụ ở vùng nông thôn của Thái Lan hay Myanmar, nơi rất hạn chế về dịch vụ y tế, thiếu các thiết bị y tế hiện đại và nguồn kinh phí để trả lương cho bác sĩ, một tổ chức phi lợi nhuận đã vận động cộng đồng qua những người đại diện tại địa phương, dùng những thiết bị công nghệ, thiết bị rất rẻ và dễ mua để chuẩn đoán bệnh ngay tại chỗ. Họ chỉ cần dùng các điện thoại thông thường để nhắn các số liệu cơ bản của người khám bệnh như tên, chiều cao, cân nặng, nhịp tim…, đưa các thông tin đó lên mạng chủ của BGF, sau đó các chuyên gia của BGF sẽ phân tích thông tin trên những bảng chuẩn đoán này. Những người có nguy cơ cao sẽ được chuyển hồ sơ lên bệnh viện hoặc bác sĩ để lấy ý kiến làm cơ sở cho việc cấp dịch vụ y tế.  Vấn đề sau cùng xuất phát từ kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp, đó là tạo ảnh hưởng đến thị trường đại chúng, có thể gọi là kiểm soát thông qua tạo ảnh hưởng, bằng cách phân quyền và ủy quyền cho nhân viên để mỗi người có những nhiệm vụ khác nhau, thống nhất giữa lợi ích nhân viên và lợi ích doanh nghiệp nhằm tiếp cận thị trường đại chúng ở các khu vực xa xôi và cung cấp sản phẩm một cách tốt nhất. Ví dụ một hãng taxi nhanh ở Indonesia đưa ra phương thức cho các tài xế thuê xe, đồng thời trả góp để sau năm năm có thể được sở hữu chiếc xe taxi này. Như vậy, các tài xế sẽ có động lực để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất vì sau năm năm họ sẽ có được một lượng khách hàng riêng, và đây chính là cơ hội kinh doanh tốt của họ khi đã hoàn toàn sở hữu xe.   Năm quy tắc  Năm quy tắc sau là định hướng để chúng ta xây dựng ra mô hình tiếp cận với thị trường đại chúng. Đầu tiên dịch vụ phải rất thuận tiện với phân khúc này. Trước khi đưa ra một sản phẩm thì chúng ta phải phát thử để xem sản phẩm đó có thành công hay không – chỉ cần 60 giây chúng ta sẽ có được câu trả lời bằng cách xem xét thời gian giao dịch là bao lâu. Thứ hai là cơ chế định giá phải rõ ràng, đưa ra các điều khoản rõ ràng về lãi suất, giải thích thật rõ cho cách tính lãi cũng như là các khoản trả góp, với phương pháp tính toán thật đơn giản để khách hàng đại chúng có thể hiểu được. Thứ ba là phải nhanh chóng, nhất quán và thật hiệu quả, đặt ra mục tiêu kết thúc giao dịch một sản phẩm trong vòng chưa đến 30 phút, xem xét duyệt khoản vay một cách tức thì. Điểm thứ tư khá quan trọng, đó là luôn đổi mới sản phẩm và phương thức kinh doanh, không bị ràng buộc bởi yếu tố quá khứ. Các ngân hàng ngày nay có tới khoảng 25 sản phẩm khác nhau, không thể kinh doanh chúng theo cùng một khuôn mẫu cố định nào đó trong quá khứ. Điểm cuối cùng là chi phí phải thấp và thời gian đưa sản phẩm ra thị trường phải nhanh, khả năng thay đổi quy mô phải linh hoạt.   Như vậy, các doanh nghiệp phục vụ cho thị trường đại chúng phải có một đặc thù khác với phục vụ thị trường truyền thống. Chúng ta phải xây dựng được một trải nghiệm mới cho khách hàng đại chúng, thân thiện và gần gũi, phục vụ mọi người tới từng cá nhân. Mô hình phân phối sản phẩm phải được chú trọng, tận dụng công nghệ chi phí thấp. Để làm được như vậy doanh nghiệp phải sử dụng những con người phù hợp, chẳng hạn trước khi bổ nhiệm một chức vụ giám đốc chi nhánh ta phải xem xét năng lực, kinh nghiệm tiếp xúc với khách hàng, sự sâu sát khi làm việc với những người nhân viên, lao động bình thường.            PV lược ghi     Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐMST đóng góp 70% cho thành công của kinh doanh!      Đó là khẳng định của chị Lương Thị Ngọc Hà, chủ doanh nghiệp TNHH MTV SX KD Hủ tiếu khô Bà Năm Sa Đéc, khi trao đổi về bộ công cụ đo năng lực đổi mới sáng tạo i2Metrix.      Trong chuyến đo năng lực đổi mới sáng tạo (i2Metrix) của các doanh nghiệp tỉnh Đồng Tháp vừa qua, các chuyên gia Trung tâm BSA và công ty DHVP có dịp làm việc với doanh nghiệp TNHH MTV SX KD Hủ tiếu khô Bà Năm Sa Đéc. Doanh nghiệp này trước kia là một cá thể làm nghề truyền thống, đến đời thứ ba, chị Lương Thị Ngọc Hà đã phát triển cơ sở lên một tầm mới – lập công ty vào năm 2010.  Mỗi ngày công ty sản xuất 900kg hủ tiếu tươi. Theo chị Hà, nếu có đủ công nghệ cần thiết thì công suất có thể lên đến 2-3 tấn/ngày. Do quy mô nhỏ, vốn ít, thiếu công nghệ nên loại sản phẩm hủ tiếu khô chỉ sản xuất khi có đơn đặt hàng. Trung bình cứ 3 tấn hủ tiếu tươi làm được 1 tấn hủ tiếu khô. Lượng tiêu thụ trung bình là 5-6 tấn/tháng. Năm 2013, doanh thu của doanh nghiệp tăng 20-30%, trong khi kỳ vọng chỉ chừng 10%. Chị Hà cho hay, dù dự báo nhu cầu sẽ tăng nhưng trở tay không kịp với thị trường vì công suất nhỏ. Có thể nói, việc làm ăn của doanh nghiệp Bà Năm Sa Đéc vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nắng và gió. Mỗi ngày nhóm lò làm từ 6 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Hiện nay doanh nghiệp đang làm hồ sơ xin tỉnh hỗ trợ đầu tư máy sấy khô để chủ động sản xuất và tăng độ an toàn VSTP.  “Đổi mới sáng tạo đóng góp 70% cho thành công của hoạt động kinh doanh!“, bà chủ Ngọc Hà khẳng định khi trao đổi về các công cụ đo i2Metrix.   Ba năm trước, chị Hà đã có ý tưởng thay đổi bao bì sản phẩm theo kiểu cổ truyền, dùng bao làm bằng giấy dầu thay cho bao nylon. Điều này xuất phát từ ký ức khi nhỏ, thực phẩm gói trong giấy dầu sẽ giúp hút bớt dầu mỡ, tốt cho sức khỏe. Với xu hướng thích những gì thuộc về truyền thống, chị quyết định đầu tư làm mẫu bao bì mới. Để thu hút người mua, nhân dịp tỉnh có chủ trương đẩy mạnh du lịch, hình nhà cổ Huỳnh Thủy Lê đã được in lên sản phẩm để quảng bá cho du lịch tỉnh nhà. Ngoài ra, trên bao bì có in nội dung không có cholesterol, thích hợp cho người ăn kiêng, khá thu hút khách du lịch.  Chưa dừng lại đó, tình yêu nghề truyền thống luôn thúc đẩy chị tìm tòi, học hỏi và làm ra những cái mới. Chị Hà đã nghiên cứu thành công loại hủ tiếu nghệ, hủ tiếu huyết rồng, và hủ tiếu tím than với giá bán gấp đôi, gấp ba giá thị trường.  Trong quá trình đo năng lực đổi mới sáng tạo, chị Lương Thị Ngọc Hà nhận ra, để phát triển doanh nghiệp, ngoài việc có vốn, doanh nghiệp cần thêm những công nghệ trong ngành. Bên cạnh đó, phải làm cho nhân viên thấm nhuần được việc đổi mới sáng tạo…  Song song với đó, các chuyên gia đo i2Metrix chỉ cho Bà Năm Sa Đéc thấy rằng, doanh nghiệp cần phải nâng cao khả năng truyền thông, nhất là giới thiệu được những sản phẩm mới trên website của mình. Ngoài ra, với vốn ít thì cần nâng cao năng suất dựa trên những yếu tố cơ bản mà doanh nghiệp đang có chứ không nhất thiết phải đầu tư thêm máy móc thiết bị. Đặc biệt, trong việc đưa sản phẩm đi xa, các chuyên gia i2Metrix hướng dẫn doanh nghiệp nên đăng ký mẫu mã bao bì, đăng ký mã vạch để có thể đưa hàng vào siêu thị. Đây là yếu tố giúp doanh nghiệp tăng thêm hệ thống phân phối cũng như học cách quản trị hệ thống phân phối sau này.  Về khó khăn trong việc tìm thêm những sản phẩm mới hay tăng tính năng của sản phẩm, chủ doanh nghiệp hủ tiếu khô Bà Năm Sa Đéc được các chuyên gia giới thiệu kết nối với các chuyên gia về công nghệ thực phẩm, chế tạo máy móc thiết bị, nghiên cứu sản phẩm…  Vị nữ giám đốc “bật mí” đang nghiên cứu các gói gia vị làm sẵn dành cho các món hủ tiếu. Khi nào đầu tư xong nhà máy hiện đại và sạch sẽ hơn thì sẽ tiến hành triển khai. Cùng với đó, chị mong muốn mở một nhà hàng để giới thiệu các món ăn làm từ hủ tiếu. Đây là mô hình tham quan du lịch khép kín để nâng cao giá trị khai thác của sản phẩm với các hoạt động như: tham quan xưởng làm hủ tiếu theo phương pháp truyền thống, tham quan nhà máy, ăn uống tại nhà hàng, mua sản phẩm làm quà.           Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐMST – Học từ châu Âu      Trong 27 nước EU, Đức đứng đầu về thành công nhờ đổi mới sáng tạo, tiếp đến là Thụy Điển, Đan Mạch và Phần Lan.     Phần Lan cũng là một trong số những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, hiện nằm trong top 10 quốc gia đứng đầu thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo và đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển). Năm 1950, Phần Lan vẫn chỉ là quốc gia nông nghiệp, nền kinh tế dựa vào lâm nghiệp là chính.  Từ thập kỷ 1990, quốc gia Bắc Âu này đã chuyển mạnh sang công nghiệp điện tử- viễn thông- thông tin, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, chế tạo máy, sản xuất xanh và giáo dục- đào tạo. Mỗi năm, Phần Lan dành hơn 2 tỷ USD cho R&D, nhưng con số này mới chỉ chiếm 30% tổng đầu tư cho R&D, điều đó có nghĩa khu vực tư nhân và nhất là doanh nghiệp cũng đầu tư lớn cho nghiên cứu đổi mới công nghệ.  Nhờ đẩy mạnh phát triển công nghệ cao, công nghệ xanh dựa trên nền tảng giáo dục và tri thức, Phần Lan trở thành một quốc gia thịnh vượng “nhất nhì” châu Âu với hệ thống phúc lợi được đánh giá tốt nhất thế giới. Năm 2012, Phần Lan là nước thứ hai thế giới được công nhận là thành công nhất về đổi mới sáng tạo, thu nhập đầu người đạt 46.000 USD/năm.  Một trong những thương hiệu nổi tiếng của Phần Lan được thế giới biết đến là Nokia. Nói đến Nokia, người ta thường nghĩ đến điện thoại di động, nhưng không phải ai cũng biết rằng khởi đầu, Nokia từng là tên một nhà máy sản xuất bột gỗ và giấy công nghiệp được thành lập năm 1865.  Sau một thế kỷ phát triển, Tập đoàn Nokia ra đời trên cơ sở thành lập ba công ty là Nokia Company (Nhà máy sản xuất bột gỗ làm giấy), Finnish Rubber Works Ltd. (Nhà máy sản xuất cao su) và Finnish Cable Works (Nhà máy sản xuất cáp). Ngoài trụ sở chính tại ngoại ô Thủ đô Helsinki. Nokia còn có nhiều nhà máy sản xuất ở Trung Ọuốc, Đức, Indonesia, Brazil,..  Nokia khai trương Trung tâm R&D không chỉ ở Phần Lan mà tại các quốc gia đông dân như Trung Quốc, Mỹ nhằm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới – cơ sở để sản xuất ra những sản phẩm “bỉểu tượng” của Phần Lan – điện thoại di động. Công nghệ thế giới biến đổi không ngừng và để đáp ứng sự biến đổi ấy, năm 1991, Nokia tạo bước đột phá khi quyết định từ bỏ những lĩnh vực hoạt động khác không phải là thế mạnh để tập trung vào “kỷ nguyên kỹ thuật số”, cung cấp mạng GSM cho hàng chục quốc gia trong và ngoài châu lục.  Sau nhiều thập kỷ phát triển, Nokia đã khẳng định vị trí số một về điện thoại di động: liên tục dẫn đầu châu Âu về doanh thu và lợi nhuận, từng xếp thứ 5 thế giới về thương hiệu toàn cầu. Thời hoàng kim, Nokia chiếm 90% thị phần trong nước và hơn 35% thị phần thế giới về điện thoại di động, mang lại 4% GDP cho quốc gia. Hiện nay, do ảnh hưởng của việc bán thiết bị cho Microsoft kinh doanh của tập đoàn giảm sút đáng kể nhưng không ai có thể phủ nhận rằng, Nokia là minh chứng rõ rệt nhất của đất nước Phần Lan về thành công nhờ đổi mới công nghệ.  Còn khi nói đến Đức, người ta nghĩ ngay đến đất nước luôn giữ vững vị trí tiên phong trong hoạt động đổi mới sáng tạo. Theo Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat), Đức dẫn đầu với 79,3% doanh nghiệp có các hoạt động đổi mới.  Ngành công nghiệp quan trọng nhất của nước này là chế tạo máy, xe hơi và đây chính là động lực đổi mới của Đức trong lĩnh vực cơ khí: khoảng 30% tổng đầu tư của các doanh nghiệp Đức dành cho nghiên cứu và phát triển ngành ô tô. Đức có một số hãng ôtô nổi tiếng như BMW, Audi, VW, Daimler… Để ngành này không ngừng phát triển, Đức đang tiếp tục nghiên cứu các loại động cơ thân thiện với môi trường, như động cơ Hybrid và các loại động cơ điện khác.  Bên cạnh đó, ngành công nghệ thông tin và truyền thông cũng thuộc một lĩnh vục kinh tế lớn của Đức. Về công nghệ sinh học và công nghệ gen, chính phủ Đức đặt mục tiêu tới năm 2015 sẽ trở thành nước đứng đầu châu Âu về thực vật và tạo giống cây trồng. Về công nghệ nano, Đức luôn giữ vị trí dẫn đầu châu lục từ nhiều năm nay với tiềm năng trí thức lớn.  Ngoài chiến lược đổi mới ở một số ngành trọng điểm, Đức cũng đang nỗ lực đổi mới nông nghiệp. Một số công ty đang thực hiện chiến lược đổi mới phát triển nông nghiệp như Gut Darß và Gut Borken. Họ không đơn thuần tạo ra sản phẩm từ các loại động vật rồi đưa vào thị trường mà có chiến lược đổi mới trong kinh doanh: sản xuất các sản phẩm sinh học bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện từ khâu phân phối tới người tiêu dùng và tạo môi trường sinh thái, du lịch “Ecological Farming” cho du khách tại các vùng chăn nuôi.  Các sản phẩm, dịch vụ của CHLB Đức luôn được đánh giá cao, không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp mà còn cho toàn bộ nền kinh tế. Sản phẩm, dịch vụ đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ sinh học, nano, công nghệ thông tin, truyền thông, sinh trác học hàng không, vũ trụ, kỹ thuật điện, cơ khí chế tạo máy, năng lượng tái tạo… Bí quyết mang lại những thành công này chính là đổi mới. Nhờ áp dụng đổi mới vào nghiên cứu và phát triển (R&D), Đức đã luôn duy trì vị thế của mình với vai trò là trung tâm KHCN hàng đầu của châu Âu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐMST không thể tách rời thực tiễn sản xuất      Nhiều người vẫn tin vào lập luận của Thomas  Friedman trong cuốn sách “Thế giới phẳng” rằng chuyển dịch cơ sở sản  xuất đến khu vực địa lý có chi phí sản xuất thấp hơn giúp cho công ty có  sức cạnh tranh cao hơn, và điều đó là có ích cho các nền kinh tế. Tuy  vậy, ngày càng có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng việc nền sản xuất bị thu  hẹp và suy giảm tại Mỹ đang tác động tiêu cực đến đổi mới sáng tạo  (ĐMST) ở chính nước Mỹ cũng như trên toàn cầu.    Trên bình diện toàn cầu, việc nước Mỹ bỏ sân chơi trong lĩnh vực sản xuất có thể là một bước lùi cho tiến trình phát triển công nghệ trên thế giới. Theo nghiên cứu của Erica Fuchs, giảng viên tại Đại học Carnegie Mellon, Mỹ, công nghệ lượng tử ánh sáng tích hợp, trong đó đèn laser và bộ điều biến được nén vào một chip duy nhất, đã không thể tiếp tục phát triển bởi các nhà sản xuất quang điện tử chuyển cơ sở sản xuất của mình ra khỏi nước Mỹ, kể từ khi ngành công nghiệp này lâm vào khủng hoảng hồi đầu những năm 2000 và nhiều doanh nghiệp viễn thông buộc phải tìm các địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn ở Đông Á, nơi những khác biệt trong phương thức sản xuất khiến việc sản xuất các con chip với công nghệ lượng tử ánh sáng tích hợp không khả thi về kinh tế. Đây là kết cục đáng buồn cho một công nghệ từng được coi là sắp trở thành tác nhân cách mạng hóa nền công nghiệp điện toán và cảm ứng sinh học.    Các nhà kinh tế học có thể lý luận rằng việc sản xuất một sản phẩm ở đâu không quan trọng, Fuchs nói, nhưng địa điểm luôn gắn với những điều kiện ảnh hưởng sâu sắc tới quyết định sản xuất hay không sản xuất một sản phẩm nào đó, đồng nghĩa với quyết định xu hướng phát triển của các công nghệ sản xuất. Bên cạnh đó, sự thui chột các nhà sản xuất cũng làm giảm đầu tư của xã hội cho nghiên cứu và ĐMST, bởi 70% quỹ đầu tư cho nghiên cứu công nghiệp ở Mỹ đến từ các ngành công nghiệp chế tạo. Ở một nước có trình độ công nghệ cao như Mỹ, tầm quan trọng hàng đầu của nền sản xuất hiện nay không nằm ở vấn đề cung cấp công ăn việc làm cho số đông người lao động – khi mà phần mềm có thể ít nhiều điều khiển quá trình sản xuất, còn các máy tự động và robot làm những công việc nặng nhọc chính, thì các nhà máy ở Mỹ không đòi hỏi quá nhiều nhân công nữa – mà chính ở vai trò quan trọng của thực tiễn sản xuất đối với ĐMST.    Nhờ sự xuất hiện của các công nghệ sản xuất hiện đại, chúng ta nghĩ rằng ĐMST có thể phát triển ở mọi nơi, bất chấp mọi rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, tập quán. Nhưng theo Michael Idelchik, một trong những nhà lãnh đạo kỳ cựu của General Electric, “nếu không trực tiếp tham gia sản xuất, năng lực ĐMST sẽ bị hạn chế nghiêm trọng”. Mặt trái của việc một nhà sản xuất thuê người khác sản xuất thay mình không chỉ là sự mai một chuyên môn kỹ thuật và trình độ công nghệ, mà còn là “sự phụ thuộc vào kết quả ĐMST của người khác cho các sản phẩm thế hệ tiếp theo”, Idelchik nói.   Khi các ngành công nghiệp Mỹ chỉ tập trung vào công đoạn thiết kế rồi thuê khoán nhà sản xuất từ các nước khác thực hiện ý tưởng của mình thì hậu quả là các ngành công nghiệp Mỹ sẽ mất dần năng lực sản xuất và bản thân các nhà nghiên cứu và kỹ sư cũng mất đi sự am hiểu về thực tiễn sản xuất. Từng có nhận định phổ biến trong những năm 1990 và 2000 rằng người Mỹ có thể chỉ tập trung vào ĐMST ở một nơi (ví dụ như Silicon Valley) và đặt cơ sở sản xuất ở nơi khác (ví dụ như Trung Quốc), nhưng thực tế cho thấy mô hình này không bền vững. Nếu phần lớn nền sản xuất thế giới tập trung ở Trung Quốc, thì các mạng lưới liên quan tới sản xuất sẽ mọc lên và phát triển ở đây, trong đó tất yếu bao gồm mạng lưới các hoạt động về ĐMST, nghĩa là sau một thời gian, toàn bộ hoặc hầu hết các hoạt động ĐMST, sẽ chỉ diễn ra ở Trung Quốc. Ví dụ điển hình nhất là năng lực ĐMST trong ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng ở Trung Quốc hiện nay đang ở vị thế dẫn đầu, đơn giản bởi không nơi nào khác trên thế giới có quy mô và sự phong phú về thực tiễn sản xuất điện tử tiêu dùng như ở Trung Quốc. Hầu như không nơi nào có thể bắt chước và đuổi kịp Trung Quốc về khả năng sản xuất hàng điện tử tiêu dùng và tốc độ đưa ra các sản phẩm mới, theo GS Willy Shih ở Đại học Kinh tế Harvard.   Trong khi đó, các nước phát triển chỉ có thể giữ được vị thế dẫn đầu của mình về ĐMST trong một số lĩnh vực mà họ giữ được các cơ sở sản xuất trong nước, ví dụ như người Đức vẫn giữ được vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực công cụ chính xác và robot tự động, hay người Mỹ trong sản xuất máy bay, ô tô. Nhìn chung, Mỹ vẫn đang giữ vai trò là đầu tàu thúc đẩy phát triển công nghệ trên toàn thế giới, nhưng điều đó chỉ có thể duy trì nếu họ tiếp tục giữ chân được các ngành sản xuất công nghiệp trên sân nhà của mình.  Hoàng Tuấn Anh tổng hợp            Vì sao Apple vẫn thành công với mô hình  thiết kế ở Mỹ, sản xuất ở Trung Quốc?    Lâu nay, công ty Apple vẫn nổi  tiếng với các sản phẩm được thiết kế ở California, Mỹ, nhưng lại được  sản xuất lắp ráp tại Trung Quốc. Công thức này cho phép Apple có thể  thành công với một cấu trúc công ty không nhiều tài sản cố định và đội  ngũ nhân viên ít hơn hẳn so với các công ty khác cùng đẳng cấp.    “Tại  sao các công ty khác không làm được như Apple?”, GS Suzanne Berger ở Học  viện Công nghệ Massachusetts (MIT) qua nghiên cứu tổ chức sản xuất của  hàng trăm công ty toàn cầu, đã nhận ra rằng, Apple không có sự tách biệt  rạch ròi giữa sản xuất và thiết kế công nghệ như người ta vẫn nghĩ.  Nhiều kỹ sư Apple dù làm việc tại California nhưng cũng phải bỏ ra ít  nhất 50% quỹ thời gian của họ ở Trung Quốc khi các sản phẩm mới được đưa  ra thị trường. Một kỹ sư giải thích với Berger rằng, việc các kỹ sư của  Apple có mặt ở Trung Quốc là vô cùng quan trọng vì hai lý do: một là để  phát hiện những vấn đề phát sinh khi các sản phẩm mẫu từ Mỹ được sản  xuất đại trà ở Trung Quốc, và hai là để “hiểu xem tôi đã bỏ qua những gì  trong quá trình thiết kế, mà khi hiểu hơn về quá trình sản xuất tôi có  thể làm tốt hơn”.                    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐMST trong doanh nghiệp: Bắt đầu từ đâu?      Rất nhiều chủ doanh nghiệp băn khoăn, thậm chí vật vã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, làm thế nào để sống sót trong thế giới đang biến động chóng mặt.    Trong khi nhiều doanh nghiệp đang đau đầu với bài toán lương, tiền, bảo hiểm cho hàng nghìn lao động, thì ở rất nhiều doanh nghiệp khác robot đang thay thế từ khâu sản xuất cho đến kế toán và thực hiện các quy trình dịch vụ tự động để tiết kiệm những chi phí nêu trên và gia tăng hiệu suất. Những khái niệm mới về chuyển đổi số trở thành một gánh nặng với rất nhiều doanh nghiệp. Điều này có thể thấy qua những cuộc hội thảo, những buổi tọa đàm với các chuyên gia, câu hỏi lớn nhất từ các chủ doanh nghiệp là phải bắt đầu từ đâu?   Vẫn biết rằng, việc chuyển đổi, đổi mới sáng tạo là cần thiết, nhưng bắt đầu từ đâu, làm thế nào không phải là câu hỏi dễ trả lời. Mọi câu trả lời về ĐMST phải bắt đầu từ con người, từ tư duy v..v. đều là những câu trả lời chung chung và khó giúp doanh nghiệp thực sự vạch ra một chiến lược đổi mới hiệu quả.    Hãy cùng chúng tôi quay trở lại những vấn đề cơ bản. Trên thực tế, trước khi trả lời câu hỏi làm thế nào, mỗi doanh nghiệp đều cần phải đặt lại câu hỏi tại sao phải đổi mới sáng tạo? Nếu chỉ trả lời chung chung là rất cần thiết, doanh nghiệp sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời xác đáng và sẽ không thể tìm ra được làm thế nào. Nếu nhìn lại cách hiểu về đổi mới sáng tạo, không phải từ góc độ định nghĩa mà là cách tiếp cận, có thể thấy rất rõ đó là một quá trình và phải có mục tiêu rõ ràng. Chính vì vậy, nó liên quan mật thiết với mô hình kinh doanh và khả năng điều chỉnh của một doanh nghiệp.     Vẫn biết rằng, việc chuyển đổi là cần thiết, việc đổi mới sáng tạo là cần, nhưng bắt đầu từ đâu, làm thế nào không phải là câu hỏi dễ trả lời. Nguồn: Eduaid  Trước hết, với câu hỏi tại sao cần thay đổi và đổi mới sáng tạo, điều tối cần thiết là doanh nghiệp cần nhìn lại toàn bộ mô hình kinh doanh của mình từ góc độ nội bộ, sau đó đặt lại nó trong bối cảnh của những thay đổi hiện tại. Ví dụ, với công cụ của 9 cấu phần trong mô hình kinh doanh canvas, doanh nghiệp có thể nhận thấy những điểm yếu, điểm mạnh, những lực cản, rủi ro và cơ hội của doanh nghiệp đang nằm ở những cấu phần nào:  ● Hiểu và lựa chọn phân khúc khách hàng hiện tại và tiềm năng, những phân khúc khách hàng mới nổi v.v…  ● Các giá trị mình mang lại cho khách hàng (những giá trị khiến doanh nghiệp khác biệt, và khiến khách hàng lựa chọn sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp mà không phải của đối thủ cạnh tranh).  ● Các kênh đưa sản phẩm dịch vụ và giá trị của doanh nghiệp đến với khách hàng (kênh nâng cao nhận thức, kênh giúp khách hàng đánh giá sản phẩm dịch vụ, kênh giúp khách hàng mua hàng, kênh giúp doanh nghiệp truyền tải giá trị.  ● Cách thức quan hệ với khách hàng.  ● Các dòng doanh thu chính.  ● Các hoạt động chính của doanh nghiệp: Sản xuất, marketing, nhập khẩu, v.v… và mối quan hệ của các hoạt động chính với dòng doanh thu và chi phí nêu dưới đây.  ● Các nguồn lực chính doanh nghiệp đang sở hữu (nguồn lực con người, tài chính, tài sản trí tuệ) – điều này liên hệ rất chặt chẽ với lợi thế cạnh tranh khó bắt chước của doanh nghiệp.  ● Các đối tác chính (thực hiện những hoạt động mà doanh nghiệp không thực hiện, mà thuê ngoài hoặc phối hợp để tiết kiệm nguồn lực và/hoặc gia tăng giá trị cho doanh nghiệp).  ● Cấu trúc chi phí của doanh nghiệp: Chi phí vốn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, nếu cấu trúc chi phí bất hợp lý có thể dẫn đến những rủi ro lớn cho toàn bộ mô hình kinh doanh. Xem xét lại cấu trúc chi phí giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả chi tiêu và đầu tư của doanh nghiệp.   Quá trình xem xét lại toàn bộ mô hình kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp nhìn nhận câu chuyện ứng dụng công nghệ mới (dữ liệu lớn, internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo hay thực tế ảo, công nghệ tài chính, công nghệ marketing hay công nghệ thân thiện với môi trường) một cách thực tế, cụ thể hơn và đặt mục tiêu rõ rang hơn rất nhiều.   Ví dụ đơn giản: Chi phí sản xuất cao do lãng phí nguồn lực đầu vào ví dụ thất thoát điện năng v.v… dẫn đến chi phí giá thành cao và giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Người chủ doanh nghiệp buộc phải đặt ưu tiên cho định hướng ĐMST của doanh nghiệp tập trung vào giảm thiểu chi phí đầu vào. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để ứng dụng công nghệ và/hoặc rà soát quy trình, thay đổi về văn hóa doanh nghiệp giúp giảm thiểu những lãng phí này.       Đổi mới sáng tạo không chỉ đơn đơn giản là thiết bị mới, ý tưởng mới hay phương pháp mới, mà nó được thực hiện qua một quá trình khám phá ra những cách làm mới. Nó cũng có mối liên hệ mật thiết với thay đổi mô hình kinh doanh và thích nghi với những thay đổi để tạo ra những sản phẩm dịch vụ tốt hơn. (Theodore Henderson, Forbes 2017).      Đương nhiên, trên thực tế, không một chủ doanh nghiệp nào đủ tất cả hiểu biết về các công nghệ mới trên thị trường để biết nên đưa công nghệ gì. Song, việc đặt ra được câu hỏi tại sao một cách cụ thể tức là doanh nghiệp đã tìm ra được vấn đề mà mình đang phải đối mặt. Gọi tên được vấn đề chính là đã giải quyết được 50% vấn đề. Trong trường hợp nêu trên, lúc này chủ doanh nghiệp có thể trả lời câu hỏi làm thế nào bằng thuê ngoài tư vấn công nghệ, tự tìm kiếm và lựa chọn các giải pháp, phát triển giải pháp nội bộ v.v… Đội ngũ kỹ thuật có thể cùng chủ doanh nghiệp tìm kiếm các giải pháp (ứng dụng IoT và Big Data) để kiểm soát thời gian thực của tiêu hao điện năng và tìm ra những bên cung cấp để lựa chọn giải pháp phù hợp. Thực tế, những khái niệm mới theo cách tiếp cận này sẽ không hề xa lạ với nhu cầu hiện tại của doanh nghiệp.   Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng: Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp sẽ thất bại nếu chủ doanh nghiệp thực hiện mọi việc một mình hoặc tạo ra một chức danh giám đốc đổi mới sáng tạo và cho thế là đủ. ĐMST là một quá trình đòi hỏi sự vào cuộc của cả tổ chức, nó không thể lệ thuộc vào một cá nhân duy nhất. Mặt khác, mọi sự đổi mới đều có thể gây ra những đổ vỡ hệ thống nếu không có tính toán cẩn trọng và chuẩn bị những thay đổi trong tư duy của mỗi con người trong tổ chức; những hiểu biết và thay đổi trong văn hóa doanh nghiệp, những nhu cầu mới về nhân sự và công nghệ. Trên thực tế, mỗi khi có những sự hiện diện của nhân tố mới, lẽ thông thường nó sẽ bị chống lại bởi những nhân tố truyền thống vốn tồn tại lâu dài trong tổ chức trước đó. Bên cạnh đó, như đã nói ở trên ĐMST là một quá trình vì vậy không thể trông chờ có kết quả ngay sau một đêm, các doanh nghiệp thực sự cần chuẩn bị tinh thần cho một giai đoạn chuyển mình mới, xây dựng lộ trình phù hợp và phải thích nghi và điều chỉnh liên tục với những thay đổi xuất hiện trong suốt quá trình. Chỉ có như vậy, quá trình đổi mới sáng tạo mới trở thành hoạt động liên tục và dài hơi thay vì cho rằng đó chỉ là một bước nhảy vọt và yên tâm với những thành quả mà nó tạo ra sẽ tồn tại bất biến.   GỢI Ý 4 BƯỚC CƠ BẢN ĐỂ BẮT ĐẦU GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG DOANH NGHIỆP  Bước 1: Nhìn nhận lại mô hình kinh doanh từng cấu phần một cách cẩn trọng cùng cả đội nhóm.  Bước 2: Lựa chọn ưu tiên để đổi mới và tính toán những rủi ro có thể gặp phải.  Bước 3: Lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với bối cảnh của doanh nghiệp (thuê tư vấn, thuê ngoài, tự làm v.v.).  Bước 4: Chuẩn bị nguồn lực và phương án phù hợp.  8 cách đưa đổi mới sáng tạo vào tổ chức  1. Cho nhân viên cảm giác tự do.  2. Cho đội nhóm những nguồn lực cần thiết để triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo.  3. Đầu tư thời gian và nguồn lực nuôi dưỡng sự sáng tạo của người lao động.  4. Đừng chỉ tập trung vào R&D.  5. Cho nhân viên cơ hội được thất bại.  6. Phát triển phong cách lãnh đạo thích ứng.  7. Đừng đánh giá thấp các cộng sự cấp dưới.  8. Ghi nhận sự đóng góp của nhân viên.  – Catherine Park, Recruit Loop- .    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang DN điện tử Việt: Tồn tại hay không tồn tại      Không chỉ yếu về sản xuất, hiện nay, những chương trình khuyến mãi, quảng cáo rầm rộ về hàng điện tử đều của các tập đoàn lớn nước ngoài, còn các doanh nghiệp Việt chỉ làm lẻ mẻ nên khó tìm khách hàng.    Lối nhỏ!  Gần đây, công ty Viết Sơn (TP.HCM) đã đầu tư dây chuyền sản xuất máy tính bảng công suất 10.000 chiếc/tháng tại Bình Dương. Theo ông Nguyễn Văn Minh, giám đốc Viết Sơn, cuối tháng 8 sẽ xuất xưởng những sản phẩm đầu tiên với thương hiệu Rosa. Ông Minh khoe, hiện các đại lý đã đặt hàng với số lượng khoảng 1.000 chiếc.  Ông Ngô Đức Hoàng, giám đốc trung tâm Nghiên cứu và thiết kế vi mạch (ICDREC) cho biết, ICDREC đang cùng với các đối tác (chưa tiết lộ danh tính) đang tính tới chuyện đầu tư nhà máy sản xuất mặt hàng điện kế điện tử vì với mặt hàng này, cả nước có 27 triệu khách hàng, riêng TP.HCM là 2 triệu. Ông Hoàng tính toán, nguồn vốn để xây dựng nhà máy sản xuất điện kế điện tử ước chừng 70 tỉ đồng.  Năm 2011, Viettel đã đầu tư nhà máy sản xuất các thiết bị di động. Giám đốc công ty thông tin M1 (Viettel) Nguyễn Cao Sơn cho biết, năm 2013, nhà máy đã sản xuất 3 triệu thiết bị di động. Trong đó có 1,2 triệu máy điện thoại di động, chủ yếu là dòng máy phổ thông giá rẻ dành cho thị trường trong nước và những quốc gia có mạng Viettel như Haiti, Đông Timor, Lào, Campuchia… Cũng theo ông Sơn, trong năm 2014, nhà máy sẽ sản xuất 4 triệu thiết bị, trong đó có 2,5 triệu chiếc điện thoại di động, còn lại là các sản phẩm điện tử như: máy thu phát vô tuyến điện, thiết bị giám sát nhà trạm BTS, thiết bị giám sát hành trình V-tracking cho ôtô và M-tracking cho xe máy… với tỷ lệ nội địa khoảng 35%.  Một số doanh nghiệp “lão làng”, từng được xem là “xương sống” của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam như VTB vừa sản xuất những mặt hàng âm thanh như loa, ampli, máy tính để bàn vừa phân phối các sản phẩm tin học như Samsung, HP… Belco, ngoài những mặt hàng truyền thống như tivi đèn hình (CRT), loa, ampli… gần đây nhảy sang sản xuất mặt hàng mới: camera, đầu ghi hình. Maseco Phú Nhuận vẫn còn trung thành với thế mạnh của mình là sản xuất đầu karaoke, loa, mới nhất là thiết bị kết nối internet chạy hệ điều hành Android dành cho tivi LCD… để đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa.  Đặt gia công – tham gia cuộc chơi toàn cầu?  Dù không có nhà máy trong nước nhưng từ năm 2010, người tiêu dùng trong nước đã nhận diện nhiều nhóm hàng, từ kỹ thuật số, công nghệ thông tin, điện lạnh, điện tử, như: điện thoại di động, máy tính để bàn, tivi LCD, quạt máy, máy lạnh, tủ lạnh, nồi cơm điện… do các doanh nghiệp trong nước như Mobiistar, Q-Mobile, FPT, Thiên Hoà, Bách Khoa… sản xuất bằng hình thức đặt hàng gia công tại các nhà máy ở Trung Quốc. Hiện nay chưa có thống kê doanh số của nhóm hàng này nhưng tỷ lệ về số lượng xuất hiện tại các siêu thị điện máy lớn khoảng 10%, còn tại các cửa hàng nhỏ tỷ lệ nhóm hàng này lên tới 50 – 60%, chủ yếu là các mặt hàng điện thoại di động, quạt máy, loa, ampli, nồi cơm điện, tivi CRT…  Theo các chuyên gia, hàng gia công hiện có hai dạng. Dạng thứ nhất là mua sản phẩm nguyên chiếc từ các nhà máy của Trung Quốc, sau đó dán nhãn riêng. Dạng thứ hai là tham gia vào thiết kế sản phẩm, chọn linh kiện, liên kết với các doanh nghiệp phần mềm trong nước để gia tăng chất xám Việt… Ông Ngô Nguyên Kha, tổng giám đốc Mobiistar cho rằng, không riêng gì doanh nghiệp Việt, mà nhiều thương hiệu lớn như Asus, Dell, Acer… cũng mua hàng từ các nhà cung cấp linh kiện khác để đặt hàng gia công sản phẩm. “Vấn đề quan trọng là nhà sản xuất phải biết được chất lượng linh kiện đó như thế nào để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Nếu làm ra được linh kiện tham gia vào cấu thành sản phẩm là điều tuyệt vời, còn nếu không phải tạo uy tín với các đối tác của mình. Đó là cách thể hiện năng lực sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Việt”, ông Kha chia sẻ. Cùng quan điểm trên, ông Minh của Viết Sơn thừa nhận: “Nếu đấu phần cứng với các thương hiệu toàn cầu, doanh nghiệp Việt sẽ chết rất nhanh. Để tồn tại, phải biết tranh thủ đối tác cũng như tạo được sắc thái riêng”. Ông Hoàng của ICDREC nhận xét, gia công hay sản xuất không quan trọng mà điều cốt yếu là doanh nghiệp phải nắm được công nghệ lõi, tuỳ thuộc vào độ lớn của sản phẩm trên thị trường mà tính toán phương thức sản xuất gia công hay đầu tư nhà máy.  Chòi đạp trên sân nhà vẫn khó  Trong vài năm gần đây, doanh số “miếng bánh” thị trường điện tử, điện gia dụng Việt Nam khoảng 5,5 – 6 tỉ USD/năm. Còn giá trị của hàng do doanh nghiệp sản xuất, giới chuyên gia nhận định, tổng doanh thu của các doanh nghiệp điện tử Việt (sản xuất nội địa và gia công) ước chừng 6.000 tỉ đồng, trong đó, nhóm hàng sản xuất tại các nhà máy trong nước ước chừng 3.000 tỉ đồng.  Gần đây, nhóm hàng điện thoại di động và nghe nhìn đã có những bước đột phá về thiết kế, chất lượng và cấu hình sản phẩm. Ông Hoàng tự tin sản phẩm điện kế điện tử và khoá điện tử của ICDREC “không hề thua kém các sản phẩm của nước ngoài về thiết kế, độ bền và tính năng nhưng giá chỉ bằng 1/2”. Còn ông Kha không giấu vẻ tự hào về dòng smartphone mới – Prime 508 với cấu hình mạnh (bộ xử lý lõi 8) và vật liệu cao cấp (kính cường lực Dragontrail của Asahi Glass và Gorilla thế hệ thứ 3 của Corning)…  Nhưng đó chỉ là nỗ lực của một vài doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài và vững bền thị trường trong nước. Còn theo đánh giá chung của giới am hiểu, sản phẩm điện tử Việt dù có giá rẻ, đáp ứng nhu cầu sử dụng của giới thu nhập thấp nhưng về chất lượng và mẫu mã vẫn ở từ mức trung bình trở xuống. Hiểu được “thân phận”, địa bàn chính của nhóm hàng Việt là các cửa hàng nhỏ, vùng quê hoặc những địa bàn vùng ngoại ô của các đô thị. “Các nhà sản xuất trong nước rất khó khăn trong hướng tìm đầu ra sản phẩm. Cũng có một vài doanh nghiệp chi tiền để tiếp thị nhưng phần đông hiện nay hữu xạ tự nhiên hương. Vấn đề là xạ đâu mà có hương”, ông Lê Văn Chính, cố vấn kỹ thuật của Soncamedia, bình luận.       Author                Quản trị        
__label__tiasang DN KH&CN gặp khó khi nhận ưu đãi theo quy định      Hiện có một thực trạng là việc chồng chéo trong áp dụng chính sách khiến doanh nghiệp  khoa học công nghệ (DN KH&amp;CN) gặp nhiều khó khăn để  được nhận ưu đãi theo quy định, không chỉ thuế mà còn về ưu đãi vốn, ưu  đãi sử dụng thiết bị tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cũng  như được hỗ trợ nghiên cứu, làm đề tài nghiên cứu khoa học…    Vẫn ưu đãi nhưng…  Theo TS. Phạm Hồng Quất, Cục phó Cục Phát triển thị trường doanh nghiệp KH&CN, bình quân doanh thu của DN KH&CN hiện là 60 tỉ đồng/năm, lợi nhuận bình quân hơn 6 tỉ đồng. Trong 9  tháng đầu năm 2013, cả nước có khoảng 6.800 DN giải thể và gần 36.000 DN ngừng hoạt động, song chỉ có 4,5% DN KH&CN ngừng hoạt động và giải thể.  Cũng theo báo cáo tại hội nghị các DN KH&CN tại Quảng Ninh tháng 11/2013, doanh thu bình quân năm 2012 của 60 DN KH&CN được khảo sát là 59,8 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân là 6,4 tỷ đồng. Bình quân thu nhập của cán bộ trong DN KH&CN là 5 triệu đồng/tháng, một số DN có kết quả sản xuất, kinh doanh tốt thu nhập của cán bộ, nhân viên bình quân đạt trên 10 triệu đồng/tháng như: Công ty CP Giống cây trồng trung ương, Tổng công ty CP Giống cây trồng Thái Bình, Công ty TNHH một thành viên Thoát nước và Phát triển đô thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu…          Mỗi năm, cả nước có gần 100 doanh nghiệp  khoa học công nghệ mới thành lập và gần 200 hồ sơ chờ  thẩm định. Mục tiêu đến hết năm 2015 sẽ hỗ trợ hình thành và phát triển  3.000 doanh nghiệp  khoa học công nghệ.          Từ thực tế trên có thể thấy, đa số các DN KH&CN rất chú trọng vào việc đầu tư, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Thậm chí nhiều DN KH&CN đã thành lập hẳn trung tâm nghiên cứu và phát triển, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho nghiên cứu thử nghiệm, tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ cao. Trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã bắt đầu hình thành mối liên kết hợp tác đầu tư nghiên cứu giữa DN KH&CN, viện nghiên cứu, trường đại học theo cơ chế đặt hàng nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực tiếp thu và làm chủ công nghệ.  Đặc biệt, các DN KH&CN trong lĩnh vực giống cây trồng, phân bón, chế biến dược liệu đã bước đầu khẳng định vị trí của mình trên thị trường với các sản phẩm đa dạng, có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, tạo doanh thu gia tăng từ các sản phẩm ứng dụng KH&CN như Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh, Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, Công ty Cổ phần Giống cây trồng trung ương, Công ty cổ phần Thiên Dược 1, Công ty cổ phần KH&CN An Sinh Xanh tại Đà Nẵng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ an toàn, môi sinh, tiết kiệm năng lượng và phòng cháy chữa cháy, Công ty TNHH Một thành viên Thoát nước và Phát triển Đô thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu… Tại các địa phương, mỗi năm các Sở KH&CN đã cấp trên 100 giấy chứng nhận DN KH&CN và đang thẩm định hàng trăm hồ sơ của các DN.  Kết quả nghe qua thì thấy có vẻ như mọi việc rất thuận lợi, nhưng thực tế hầu hết các DN KH&CN được cấp Giấy chứng nhận DN KH&CN là các DN sản xuất nhỏ và vừa tại các địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp như các công ty giống cây trồng, chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, dụng cụ, máy móc cơ khí nông nghiệp…. Số lượng DN KH&CN được ươm tạo tại các vườn ươm hoặc khởi nguồn từ các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế.  Bên cạnh đó khi chuyển đổi sang DN KH&CN thì một số DN đề nghị cấp giấy chứng nhận DN KH&CN đang gặp khó khăn trong chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước hoặc quyền sở hữu, sử dụng công nghệ có nguồn gốc nước ngoài. Nhiều DN tuy đủ điều kiện nhưng không muốn đăng ký DN KH&CN vì đã được hưởng các ưu đãi theo địa bàn đầu tư, lĩnh vực đầu tư như DN ở vùng sâu, vùng xa, DN thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, phần mềm máy tính, xử lý môi trường. Một số khác đã được hưởng ưu đãi trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.  Do vậy, để tạo động lực cho các DN này đứng vào đội ngũ DN KH&CN cần tiếp tục nghiên cứu cải tiến chính sách ưu đãi, hỗ trợ sao cho tránh trùng lặp và thiết thực hơn. Chưa kể tới một số chính sách thường được các quốc gia áp dụng là Chính phủ ưu tiên trong đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ nghiên cứu, hỗ trợ nghiên cứu thử nghiệm, hỗ trợ liên kết hợp tác đầu tư nghiên cứu, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm mới, ưu tiên trong đấu thầu công trình sử dụng ngân sách nhà nước hoặc trong hoạt động mua sắm chính phủ…  “Kinh nghiệm các nước cho thấy, Nhà nước cần hỗ trợ những điều kiện cần thiết ban đầu để DN KH&CN có thể vượt qua thách thức trong môi trường cạnh tranh khốc liệt chứ không chỉ dừng lại ở các ưu đãi truyền thống như giảm, miễn thuế thu nhập hay tiền sử dụng đất”, TS. Phạm Hồng Quất kiến nghị.    …Khó khăn trong chuyển đổi  Để thúc đẩy sự phát triển các DN KH&CN, trong thời gian qua Bộ KH&CN đã tích cực đẩy mạnh việc thực hiện các chính sách ưu đãi hỗ trợ đối với DN KH&CN như: làm việc với cơ quan thuế để tháo gỡ khó khăn cho một số DN trong quá trình tiếp cận ưu đãi thuế; phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường để có thể đưa DN KH&CN vào đối tượng hưởng miễn, giảm tiền thuê đất tại dự thảo các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai 2013 tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách quan trọng này vào thực tế.  Việc nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các DN KH&CN cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới để có thể hỗ trợ DN tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi cho các dự án nghiên cứu, đổi mới công nghệ khi mà DN khó tiếp cận các ngân hàng thương mại cho các dự án có nguy cơ rủi ro như hoạt động R&D. Các chương trình hỗ trợ của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Quỹ Hỗ trợ DN nhỏ và vừa và các chương trình quốc gia khác cũng cần xác định DN KH&CN là đối tượng chủ yếu hướng tới của các dự án hỗ trợ.  Đặc biệt, để hỗ trợ các DN trong việc đăng ký chứng nhận DN KH&CN, Bộ KH&CN đã giao Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN hướng dẫn các biểu mẫu, tài liệu có trong hồ sơ đăng ký chứng nhận DN KH&CN hay yêu cầu đơn giải hóa việc giải trình quy trình ươm tạo và làm chủ công nghệ để hỗ trợ cán bộ các Sở KH&CN, các DN thuận lợi trong quá trình tiếp cận. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy có một số lượng lớn các DN gặp khó khăn trong quá trình đăng ký chứng nhận DN KH&CN với các kết quả KH&CN do DN tự đầu tư toàn bộ kinh phí nghiên cứu hoặc nhận chuyển giao.  Để tháo gỡ khó khăn cho các DN này, việc xây dựng quy trình công nhận các kết quả KH&CN được hình thành từ nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước đang được triển khai. Khi quy trình này được ban hành và áp dụng sẽ góp phần thúc đẩy sự hình thành một số lượng lớn các DN KH&CN, hỗ trợ các DN KH&CN tiếp cận các chính sách ưu đãi thuế, góp phần làm tăng việc huy động các nguồn vốn xã hội cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.  Ngoài ra, quy định mới của Luật KH&CN về giao quyền sở hữu, quyền sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì, DN KH&CN đang được triển khai tích cực. Khi Thông tư hướng dẫn về thủ tục giao quyền đối với kết quả nghiên cứu được ban hành sẽ thúc đẩy nhanh việc hình thành các DN KH&CN tại các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức KH&CN khác.  Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các quy định điều chỉnh về DN KH&CN trong lĩnh vực KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đang chủ động phối hợp với các Bộ ngành khác để đưa quy định về DN KH&CN vào các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, thuế … nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống các quy định liên quan đến DN KH&CN và đảm bảo cơ chế thực thi đồng bộ chính sách, pháp luật thuộc phạm vi quản lý của các ngành khác nhau.  “Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường công tác phổ biến các chính sách về DN KH&CN thông qua các hội thảo, tập huấn tại các tỉnh/thành phố, giới thiệu chính sách qua các chương trình truyền hình, kết hợp linh hoạt với các triển lãm sản phẩm KH&CN tại các viện nghiên cứu, trường đại học; Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động triển lãm các sản phẩm KH&CN tiêu biểu tại các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm quảng bá các sản phẩm KH&CN tiêu biểu, kết nối DN với các viện, trường để thúc đẩy sự hình thành các DN KH&CN”, TS. Phạm Hồng Quất cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang DN nhỏ thành công nhờ công nghệ đám mây      Ngày càng nhiều các doanh nghiệp nhỏ sử dụng công nghệ điện  toán đám mây truy cập từ xa (remotely-accessed cloud technologies) để  vừa giữ được chi phí thấp và giờ làm việc linh hoạt, vừa hướng tới thị  trường toàn cầu.    Công ty bán lẻ qua mạng Babes with Babies   của Sophie Devonshire là một   trong số đó: họ không có hề có văn phòng, các nhân viên đều làm   việc qua mạng từ nhà riêng rải rác ở Anh, Dubai và Pháp.     Một doanh nghiệp hoạt động “trên đám mây” vận hành như thế nào?  Mô hình vận hành trên đám mây đã giúp công ty của bà Devonshire sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế ở Anh và cả việc di dân của gia đình bà sang Estonia từ năm 2006.   Bà Devonshire miêu tả, cũng giống như một cuộc họp bình thường, các nội dung bàn luận được ghi ra trên bảng thông báo. Mọi người đều có thể viết ra các ý kiến của mình. Việc sử dụng trò chuyện nhóm qua Skype còn giúp các thành viên gần gũi với nhau hơn, như một gia đình.  Công tác tiếp thị được thực hiện qua các mạng xã hội và trang web chính thức. Công ty đã lôi cuốn 7.000 người theo dõi trên Twitter. Việc thanh toán cũng được thực hiện trực tuyến qua Sage Pay và Paypal.   Ngoài ra, hoạt động của văn phòng ảo được hoàn thiện với một cuộc họp trực tuyến hàng tuần và việc sử dụng kho lưu trữ và chia sẻ dữ liệu Dropbox – có thể được truy cập từ bất cứ đâu.   Tuy vận hành trên mạng “ảo” nhưng công ty vẫn cần giao hàng “thật”. Công ty thuê Intermail-một hãng giao hàng ngoài với kho ở Newbury, Berkshire để đảm nhiệm việc này.   Bà Devonshire nói, đối với các doanh nghiệp hoạt động trên đám mây, các cuộc họp mặt trực tiếp vẫn có vai trò quan trọng. Công ty của bà đang lên kế hoạch hợp tác với một công ty quốc tế chuyên cho thuê phòng họp.     Xây dựng lòng tin của khách hàng  Không có được sự hiện diện như công ty truyền thống, làm sao để một công ty “ảo” thuyết phục khách hàng tiềm năng rằng công ty sẽ không tự dưng biến mất bất cứ lúc nào?   “Cần phải luôn luôn chú trọng vào dịch vụ khách hàng”, nữ doanh nhân trẻ nói.  Đội ngũ chăm sóc khách hàng được phân bố rải rác khắp các nước để có thể trả lời thắc mắc của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ múi giờ nào.  Cả 11 nhân viên chăm sóc khách hàng đều làm việc với thời gian linh hoạt và luôn được khuyến khích để làm khách hàng có cảm giác mình được quan tâm giúp đỡ trong suốt quá trình mua sắm qua mạng.  Ngoài ra, ý kiến phản hồi của khách hàng về trang web cũng luôn được tiếp thu kịp thời.  Dịch vụ điện toán đám mây lên ngôi  Trước nhu cầu gia tăng của các dịch vụ điện toán đám mây, doanh nghiệp khởi nghiệp Phần Lan Pilvi.com đã cho ra đời một cửa hàng nơi các doanh nghiệp có thể mua tất cả các dịch vụ họ cần trong một gói, nhờ vậy không phải quản lý và học cách sử dụng từng giao diện riêng cho mỗi dịch vụ.  Công ty nghiên cứu IDC dự báo mức chi toàn cầu cho các dịch vụ điện toán đám mây sẽ tăng từ 47.4 tỷ đô la vào năm 2013 lên 107.2 tỷ đô la vào năm 2017.  Triết lý đám mây  Các chuyên gia doanh nghiệp nhỏ cho rằng các dịch vụ đám mây không chỉ giúp tạo ra một cấu trúc công ty ảo chi phí thấp và hiệu quả mà còn khuyến khích một cách làm việc năng suất và sáng tạo hơn.   Các doanh nhân trẻ sẽ không còn phải dính chặt vào ghế 40 tiếng/tuần và ở cố định một nơi nữa. Họ vẫn có thể đeo đuổi công việc mình thực sự thích và có thời gian nâng cao chất lượng cuộc sống riêng hơn. Sẽ đến ngày văn phòng trở nên lỗi thời như điện thoại bàn và máy fax vậy.   Khánh Minh dịch   Nguồn: http://www.bbc.com/news/business-26716450      Author                Quản trị        
__label__tiasang DN Việt hào hứng với công nghệ nông nghiệp từ Israel      Ba doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao của Israel vừa có cuộc giới thiệu đến gần 20 doanh nghiệp nông  nghiệp Việt Nam những cách  làm để tạo bước đột phá trong nông nghiệp hiện nay.     Cuộc gặp gỡ của gần 20 doanh nghiệp nông  nghiệp Việt Nam, lãnh đạo các sở Công thương, NN&PTNT, KH&CN,  Trung tâm khuyến công tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Tây  Ninh với ba doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao của Israel đã đem lại  nhiều tín hiệu lạc quan.  Nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đặc biệt đến những quy trình, công nghệ, phương pháp làm nông nghiệp hết sức hiện đại mà doanh nghiệp Israel giới thiệu và tìm cách kết nối ngay với các đơn vị này… Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Trung tâm BSA vào chiều ngày 17.07.2014.  Nông nghiệp Israel có gì?  Những chuyên gia Israel cho rằng, Việt Nam là một đất nước có nền nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng, tuy nhiên đa số các vùng nông nghiệp của Việt Nam còn canh tác theo hướng lạc hậu và kém hiệu quả. Vì thế, doanh nghiệp Israel đã giới thiệu đến những cách làm để tạo bước đột phá trong nông nghiệp hiện nay. Tiêu biểu như: nhân giống và cung cấp các gói giải pháp phòng chống côn trùng có hại trong nông nghiệp bằng thiên địch, hạn chế sử dụng hóa chất trừ sâu; tư vấn và xây dựng trang trại chăn nuôi gia súc và gia cầm, cũng như các công trình phụ trợ khác cho ngành chăn nuôi như trại ấp trứng, trại cung cấp thức ăn, trại giết mổ; lập kế hoạch, tư vấn và quản lí trực tiếp các dự án nông nghiệp… nhằm giúp sản lượng trong các trang trại Việt có thể tăng lên 25%-100%, chất lượng hàng hóa đủ để xuất qua các thị trường như Nhật, EU…  Ông Omri Horowitz – Chủ tịch Ban Việt Nam – Israel thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, “cùng với nhau, Việt Nam và Israel có thể tạo ra rất nhiều lợi thế cạnh tranh trong nông nghiệp, cách mà doanh nhân Israel làm là hợp tác trong một chuỗi để đi đến thành công”. Hiện nay, những công ty này đã có mặt tại gần trên 40 quốc gia trên thế giới ở những nước có nền nông nghiệp hiện đại như Nhật, Colombia…  Bà Đỗ Ngọc Lan, đại diện công ty Green 2000 (Israel) giới thiệu, khu vắt sữa bò mà Green 2000 xây dựng có thể biết được bò có khỏe không, thời kỳ nào là động dục. Riêng hệ thống tưới nhỏ giọt, sản xuất giống của Israel đã có một số doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng như Trung Nguyên, Dalat Gap. Bà Lan nói, “giống của Green 2000 có doanh nghiệp Đà Lạt Gap dùng thường xuyên và chất lượng thì các bạn hãy nhìn họ xuất sản phẩm của mình qua Nhật và đánh giá”.   Trong khi đó, ông Moshe Cohen đại diện công ty Bio Bee nói “chúng tôi mong muốn cung cấp tới Việt Nam sản phẩm ong nghệ để các doanh nghiệp đang trồng cây trong nhà kính có sự đột phá mới. Với những con ong nghệ trong nhà kính, nó sẽ giúp cho việc thụ phấn được dễ dàng, hơn nữa còn giúp tăng sản lượng lên 25%”. Ngoài ra, ông Moshe Cohen còn giới thiệu đến những loại thiên địch (côn trùng có lợi), loại thiên địch này sẽ tiêu diệt những côn trùng có hại để giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển. Sử dụng thiên địch giúp người dân không lo bị tiếp xúc với hóa chất độc hại, sản phẩm có chất lượng cao hơn, bán được giá hơn và tốt cho môi trường.  Nút thắt liên kết ở đâu?  Ông  Lê Văn Cường, GĐ công ty Đà Lạt Gap cho rằng, những con thiên địch và ong nghệ của Israel rất tốt cho doanh nghiệp làm nông nghiệp công nghệ cao như Đà Lạt Gap. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có quy định, chính sách trong việc nhập loại thiên địch hay côn trùng này. Theo ông Cường, những sản phẩm của Bio Bee đã đến hơn 30 nước trên thế giới, trong đó có những nước khắt khe như Nhật thì không có lý do gì mà Việt Nam lại không cho nhập như hiện nay. Vì thế ông Cường mong rằng, các ngành chức năng hãy quan tâm đến vấn đề này.  Trong khi đó, ông Phạm Hi Bách, đại diện công ty Tropdicorp phân tích: Nhiều công ty áp dụng công nghệ cao và sử dụng nhà kính để trồng cây. Hệ thống nhà kính rất cần loại ong nghệ thụ phấn cho cây. Tuy nhiên, trước khi nhập loại ong này về chúng ta cũng cần phải thử nghiệm, nghiên cứu và xem xét sao cho hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất.  “Nếu doanh nghiệp nào có nhu cầu, chúng tôi sẽ gửi sang mẫu ong nghệ, sau đó nếu mọi việc tiến triển tốt chúng tôi sẽ đặt luôn chi nhánh để cung cấp ong nghệ cho việc thụ phấn cho hoa và cây trồng. Giống ong nghệ này đã cung cấp cho hơn 30 quốc gia trên thế giới (Nhật, Chile, Nga, Ấn Độ…và chúng tôi rất mong Việt Nam là nước tiếp theo”, ông Omri Horowitz nói.  Ông Rami Friedman, đại diện của Bio Bee khẳng định khi được doanh nghiệp hỏi về vòng đời của thiên địch, “với những loại thiên địch này, sau khoảng từ 6 – 8 tuần chúng sẽ tự chết sau khi làm xong nhiệm vụ của mình”. Một số ý kiến cho rằng, đưa thiên địch vào Việt Nam phải làm thí nghiệm và rất tốn tiền. Phía Israel khẳng định, họ sẵn sàng hợp tác với các đối tác từ Việt Nam và làm theo yêu cầu của cơ quan chức năng.  Ông Nguyễn Minh Toại, GĐ Sở Công thương Cần Thơ cho hay, đây là những mô hình rất hiện đại, rất hay, nếu xem xét và có những áp dụng ở Việt Nam thì sẽ tạo ra những sự thay đổi lớn trong nông nghiệp:“Chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi, nghiên cứu xem có thể áp dụng những công nghệ cao này ở đâu trong cơ cấu ngành nông nghiệp của Cần Thơ”.  Là một địa phương có nền nông nghiệp đang phát triển theo hướng hiện đại rất mạnh, tỉnh Đồng Tháp cũng hào hứng trong việc hợp tác nghiên cứu này. Ông Nguyễn Thanh Hùng, PCT UBND tỉnh Đồng Tháp nhận xét, để đưa tỉnh phát triển là một tỉnh có nền nông nghiệp hiện đại thì rất cần những đối tác giỏi giang và kinh nghiệm như Israel. Hy vọng sẽ tìm thấy sự hợp tác của hai bên trong thời gian tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNA lý giải bí ẩn trong Cuộn sách Biển Chết      Có rất nhiều bí ẩn xung quanh “Cuộn sách Biển Chết”, một trong những bản thảo cổ tôn giáo xưa nhất của loài người từng được phát hiện. Công bố mới đây đã hé lộ cho chúng ta thấy một bí ẩn thú vị về nguyên liệu làm sách.      Kết quả nghiên cứu mới cho thấy “Cuộn sách Biển Chết” được làm từ nhiều loại da.   Nói đến Cuộn sách Biển Chết là người ta muốn nói đến bộ sưu tập các bản thảo cổ xưa, viết vào khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên và thế kỷ thứ nhất, được phát hiện giữa năm 1947 và năm 1956 tại 11 hang động gần Khirbat Qumran, trên bờ biển phía Tây Bắc Biển Chết. Phần lớn cuộn sách này – bao gồm các bản sao chép cổ xưa nhất của Kinh thánh Hebrew, cũng như các đoạn trích về các nghi lễ huyền bí – được viết bằng tiếng Do Thái. Số ít còn lại viết bằng tiếng Aramaic  hoặc tiếng Hy Lạp. Chỉ có số ít được tìm thấy trong trạng thái nguyên vẹn, phần còn lại đã bị phân rã thành khoảng 25.000 mảnh vụn nhỏ.   “Khám phá ‘Cuộn sách Biển Chết’ 2.000 năm tuổi là một trong những khám phá khảo cổ quan trọng nhất đã được thực hiện”, giáo sư Oded Rechavi của Khoa Khoa học sự sống của trường Đại học Tel Aviv tại Israel nhấn mạnh. “Dẫu vậy thì nó cũng cho thấy hai thách thức lớn: thứ nhất, phần lớn chúng không được tìm thấy trong tình trạng còn nguyên vẹn mà còn bị phân rã thành hàng ngàn mảnh vụn, cần phải rất cẩn trọng và khéo léo ghép chúng lại với nhau trong khi không hề có hiểu biết nào về việc có bao nhiêu mảnh đó đã bị mất đi mãi mãi và cách những văn bản nguyên bản được đọc như thế nào. Cách chúng ta hiểu vẫn phụ thuộc vào việc phân loại mỗi mảnh ghép, thậm chí việc phân loại có thể làm thay đổi đột ngột nội dung diễn giải trước đó của bất kỳ văn bản nào”.  Thách thức thứ hai là phần lớn các cuộn sách này đều không được lấy trực tiếp từ 11 hang động Qumran ở gần Biển Chết mà còn qua tay của những người buôn bán, sưu tầm cổ vật. Kết quả là không rõ những mảnh văn bản đầu tiên đến từ nơi nào, điều đó khiến cho các nhà nghiên cứu thấy khó khăn hơn khi đặt chúng cạnh nhau và đặt chúng vào bối cảnh lịch sử phù hợp.  Kể từ khám phá ra Cuộn sách Biển Chết, các học giả đã cố gắng đặt chúng lại với nhau như trò chơi ghép hình, phụ thuộc chủ yếu vào những đặc tính dễ nhận thấy của các mảnh ghép theo trật tự để tìm hiểu về mối quan hệ của chúng với những mảnh ghép khác.     Oded Rechavi (trái) và Noam Mizrahi (trường Đại học Tel Aviv, Israel)  Mới đây, các nhà nghiên cứu công bố công trình “Illuminating Genetic Mysteries of the Dead Sea Scrolls” trên tạp chí Cell về việc sử dụng một manh mối đầy hấp dẫn để phần nào giúp làm sáng tỏ vấn đề: những “dấu vết” DNA được lấy từ những miếng da động vật, nguyên liệu để tạo ra những trang sách cổ.  Những mảnh ghép DNA lên tiếng  Việc đi tìm mảnh ghép DNA được một nhóm nghiên cứu liên ngành với các thành viên Rechavi, Noam Mizrahi (trường Đại học Tel Aviv, Israel) và Mattias Jakobsson (trường Đại học Uppsala, Thụy Điển) thực hiện trong vòng bảy năm. Họ cùng nhau giải mã DNA cổ xưa được trích xuất từ da động vật và tìm hiểu đặc điểm của những mối quan hệ di truyền giữa các mảnh giấy khác nhau.   Việc họ hợp tác với nhau có vẻ như phần mở đầu của một kịch bản phim: một nhà sinh học phân tử và một học giả về Kinh thánh gặp nhau trên một xe buýt của trường Tel Aviv. Được kết nối bằng mối quan tâm về các con giun (“Oded nghiên cứu về những con giun C. elegans siêu nhỏ còn tôi đang tìm hiểu về những gì các con giun này để lại cho chúng ta”, Mizrahi giải thích), họ quyết định sẽ hợp tác với nhau. Tám năm sau, cả hai cùng phát triển một kỹ thuật mới sử dụng trình tự DNA mà họ nói sẽ cho phép khớp nối hoặc phân chia các mảnh tách rời của Cuộn sách Biển Chết.  Mizrahi and Rechavi chọn được 40 đến 50 mảnh giấy cổ, trong đó có cả những mảnh có nguồn gốc mơ hồ, thuộc 13 nội dung văn bản khác nhau. Nhà sinh học phân tử Sarit Anava, người phụ trách phòng thí nghiệm của Rechav, đã nhiều lần bay sang trường Uppsala và mang theo những mảnh giấy dưới sự cho phép của Cơ quan Quản lý Cổ vật Israel. Trong phòng sạch thuộc phòng thí nghiệm của Mattias Jakobsson, chị tách chiết DNA từ các mảnh khác nhau cũng như các vật dụng bằng da như xăng đan, áo da và túi da đựng nước ở vùng Qumran. “Sau đó chúng tôi có nhiệm vụ là cố gắng tìm hiểu ý nghĩa kết quả giải trình tự gene,” Rechavi nói.      “Việc xếp đặt những mảnh nhỏ của những văn bản cổ xưa hơn trong văn cảnh đúng đắn của nó là điều thú vị và quan trọng. Nay bằng kỹ thuật ‘dấu vân tay’ DNA sẽ giúp chúng tôi làm điều đó”, Charlotte Hempel, một giáo sư về Kinh Thánh Hebrew và Do Thái giáo Dòng Đền thứ hai tại trường Đại học Birmingham (Anh), nhận xét      Bước đầu tiên họ làm là sử dụng trình tự DNA để nhận diện các loài động vật – dê, cừu, dê núi hoặc bò, những con được lấy da để làm sách. Họ tìm thấy là hầu như tất cả các mẫu trích từ Cuốn sách Biển Chết được dùng trong nghiên cứu này đều được làm từ da cừu. Chỉ có một ít, không nhiều lắm, từ da bò. Theo giáo sư Oded Rechavi, “phần lớn các mảnh trích mà chúng tôi  nghiên cứu đều được làm từ da cừu. Phần lớn nỗ lực nghiên cứu là để thực hiện nhiệm vụ vô cùng thách thức là cố gắng ghép các mảnh được làm từ da cừu lại với nhau và phân tách những mảnh từ da của những con cừu khác nhau, vốn có hệ gene được nhận diện hầu như giống nhau”.   Một điều thú vị là có hai mảnh được làm từ da bò thuộc về hai mảnh khác biệt được lấy từ Book of Jeremiah. “Trong quá khứ, các mảnh được cho là thuộc về cùng một cuộn sách. Việc không khớp nhau đã bác bỏ giả thuyết đó,” ông nói.   Rechavi nói thêm, việc nuôi bò đòi hỏi nhiều cỏ và nước, vì vậy rất có thể là da bò không được xử lý và thuộc da tại vùng sa mạc này và được mang đến các hang động Qumran từ một nơi khác. Phát hiện này có vai trò rất quan trọng bởi các mảnh da bò thuộc hai phiên bản khác nhau của Book of Jeremiah. “Việc phân tích văn tự trong những mảnh vụn này cho thấy chúng không chỉ thuộc về những cuộn sách khác nhau mà còn thuộc về những phiên bản khác nhau của một cuốn sách”, Mizrahi nói. Những phát hiện vượt ngoài mong đợi của Pnina Shor, người phụ trách Cơ quan Quản lý Cổ vật Israel: “Chúng tôi đã khám phá ra là một phần cuộn sách được làm từ da bò và cừu trong khi trước đây lại nghĩ là tất cả chúng đều từ da dê”.   Theo đánh giá của Eibert Tigchelaar, một chuyên gia về Cuộn sách Biển Chết và đạo Do Thái cổ tại trường Đại học Leuven ở Bỉ và không tham gia vào nghiên cứu này, những gì kỹ thuật DNA mới đem lại vượt ra ngoài ý nghĩa văn hóa. “Có khoảng 20 đến 30 cuốn văn bản tồn tại dưới dạng các mảnh ghép mà chúng ta còn chưa biết cách sắp xếp chúng đúng theo thứ tự ban đầu. Kỹ thuật mới đem lại cho chúng ta bằng chứng quan trọng trong việc tái cấu trúc các bản thảo này. Về mặt kỹ thuật, người ta có thể lấy mẫu để xác định dấu vết DNA của một lượng lớn các mảnh ghép, qua đó có thể hình thành một cơ sở dữ liệu, yếu tố giúp chúng ta xác định được ít nhất một số trong khoảng hàng trăm mảnh chưa được xác định vị trí.”    “Cuộn sách Biển Chết” gồm khoảng 25.000 mảnh vụn nhỏ.   Một điểm nhấn khác trong nghiên cứu này là họ đã thiết lập được mối liên hệ giữa các mảnh ghép trên cơ sở bằng chứng DNA và trên sự khảo sát đầy cẩn trọng về ngôn ngữ trong những mảnh bản thảo, qua đó chiếu rọi vào sự liên hệ giữa các bản sao khác nhau của một văn bản phi Kinh Thánh (non-biblical compositions), Songs of the Sabbath Sacrifice, được tìm thấy ở cả Qumran và Masada. Kết quả phân tích cho thấy có những bản sao ở các hang động khác nhau ở Qumran gần gũi với nhau về mặt di truyền trong những mảnh giấy da còn bản sao ở Masada lại hoàn toàn khác biệt. Phát hiện này đề xuất một điểm là trong quá khứ, phiên bản Songs of the Sabbath Sacrifice ở Qumran liên quan đến một môi trường văn hóa rộng hơn ở thời kỳ này.  Bằng chứng này xác nhận là một số mảnh ghép có nguồn gốc chưa xác định dường như đến từ những nơi khác, không phải hang động Qumran. Có mẫu, bằng chứng DNA cho thấy nó đến từ một bản sao Kinh thánh Book of Isaiah— một trong những cuốn phổ biến nhất trong thời kỳ Judea cổ đại – có lẽ thuộc về một địa điểm khác và có thể tồn tại một địa điểm mới đang chờ được xác định.  Dù bằng chứng DNA cho chúng ta  thêm hiểu biết thì “nó mới chỉ tiết lộ một phần của bức tranh mà chưa lý giải toàn bộ bí ẩn”, Rechavi nói. Họ mới chỉ trích xuất được DNA từ một lượng vô cùng nhỏ của các vật liệu – những gì mà họ gọi là “bụi” sách – và cho rằng vẫn còn nhiều cuộn sách còn chưa được lấy mẫu và một số thì không thể bởi nỗi lo sợ sẽ làm phá hủy chúng.  Dẫu vậy thì họ vẫn hi vọng sẽ có thêm nhiều mảnh được kiểm nghiệm và qua đó đưa thêm thông tin vào cơ sở dữ liệu để có được một “hệ gene” hoàn chỉnh hơn Cuộn sách Biển Chết.   Những phần của một bài toán khó  Nhiều chuyên gia tin là Cuộn sách Biển Chết do những người Essenes, một nhóm người Do Thái bất đồng sống trong thời kỳ Dòng Đền thứ hai viết khi lui về sa mạc Judaean quanh Qumran và các hang động tại đây. Nhiều người khác cho rằng, một số cuộn sách bị những người Do Thái che giấu trước cuộc truy đuổi của người La Mã. “Những kết quả nghiên cứu ban đầu đó sẽ có tác động trở lại đối với việc nghiên cứu về đời sống của người Do Thái trong suốt thời kỳ Dòng Đền thứ hai” tại Jerusalem, vốn bị những người La Mã tàn phá trong Chiến tranh Do Thái – La Mã thứ nhất, Shor nói.  Beatriz Riestra, một đồng tác giả của nghiên cứu này, cũng chỉ ra “những khác biệt trong nội dung và phong cách chữ viết cũng như da động vật làm giấy cho thấy các mảnh đều có những nguồn gốc khác biệt. Kỹ thuật “cổ sinh học hệ gene” (paleogenomics) đầy chính xác mà họ áp dụng có thể hữu dụng với việc nghiên cứu những mảnh rời văn bản cổ xưa trong tương lai. Mizrahi tự hào nói, “chúng tôi đã tạo nên một bộ công cụ khoa học siêu nhạy để nghiên cứu những đồ tạo tác cổ xưa.”   Nhiều nhà khoa học rất hào hứng với kết quả mà dự án mang lại. “Việc xếp đặt những mảnh nhỏ của những văn bản cổ xưa hơn trong văn cảnh đúng đắn của nó là điều thú vị và quan trọng. Nay kỹ thuật ‘dấu vân tay’ DNA sẽ giúp chúng tôi làm điều đó”, Charlotte Hempel, một giáo sư về Kinh Thánh Hebrew và Do Thái giáo Dòng Đền thứ hai tại trường Đại học Birmingham (Anh), nhận xét. Còn Oren Harman, nhà lịch sử học tại trường Đại học Bar-Ilan (Israel) cũng đồng thuận “Chúng ta có thể ngay lập tức thấy những điều chưa bao giờ được thấy nếu chỉ dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử, khảo cổ và văn học truyền thống”.   Tuy nhiên, dưới con mắt của giới sưu tầm cổ vật thì họ còn đòi hỏi nhà nghiên cứu nhiều hơn thế, nhất là sau vụ lùm xùm về những mảnh giả mạo trong bộ sưu tập của Bảo tàng Thánh kinh tại Washington (Mỹ). Mizrahi phân trần “Mục tiêu của chúng tôi là tiến hành nghiên cứu trên các mảnh giấy nguyên bản để tìm thấy mối liên hệ giữa giấy da và nội dung văn bản chứ không phải để xác định mảnh đó có phải giả mạo hay không.” Về nguyên tắc, dựa vào sự khác biệt trong dấu hiệu di truyền của cuộn sách được thu thập từ các địa điểm khác nhau, “có thể sử dụng những thông tin này để loại trừ mối liên hệ giữa các mảnh từ Qumran (hoặc các địa điểm cổ xưa khác) với một mảnh giấy chưa được chứng minh.” Dẫu sao, họ không thể xác nhận được trường hợp những mảnh giấy không có chữ.  “Chúng ta nên nhớ là dẫu vậy thì số lượng các mảnh giả mạo đều tương đối ít (khoảng 100 mảnh) trong khi các mảnh ‘xịn’ thì lại có tới 25.000 mảnh,” Mizrahi trao đổi với Timesofisrael qua email. “Theo quan điểm của tôi, tốt nhất là nên tập trung năng lượng vào cái thật hơn là bị phân tâm bởi những yếu tố nhiễu.” □  Tô Vân lược dịch  Nguồn bài và ảnh:    https://www.israel21c.org/dna-testing-reveals-something-unexpected-about-mysterious-dead-sea-scrolls/  https://www.scientificamerican.com/article/ancient-dna-yields-new-clues-to-dead-sea-scrolls/  https://www.sciencenews.org/article/dead-sea-scrolls-dna-genetic-clues-origins-hebrew-bible  https://cosmosmagazine.com/history/archaeology/dna-and-the-dead-sea-scrolls/  https://www.timesofisrael.com/pioneering-dead-sea-scrolls-dna-study-reveals-bible-was-changing-2000-years-ago/    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNA người cổ đầu tiên cho thấy manh mối tuyến di cư quan trọng ở châu Á      Một di cốt 7.000 năm tuổi được tìm thấy ở Sulawesi, Indonesia có thể là di cốt đầu tiên được tìm thấy từ một nền văn hóa cổ đại còn ít được nghiên cứu, được gọi là Toaleans. Đây là một phần của khu vực Wallacea, nằm ở trung tâm của xứ vạn đảo Indonesia.      Ảnh: Đại học Hasanuddin.  Di cốt gần như hoàn chỉnh này là của một phụ nữ thời kỳ đồ đá, khoảng 18 tuổi được trong một hang động đá vôi trên đảo Sulawesi, được tìm thấy vào năm 2015. Mới đây, DNA trích xuất từ hộp sọ cho thấy người phụ nữ có chung tổ tiên với người New Guinea và thổ dân Úc, cũng như với một loài người cổ đại đã tuyệt chủng.  Adam Brumm, nhà khảo cổ học tại Trung tâm Nghiên cứu về Tiến hóa của loài người tại Đại học Griffith ở Brisbane, Australia cho biết: “Đây là lần đầu tiên tìm thấy DNA của người cổ đại trong khu vực đó”.  Nhóm nghiên cứu cho rằng di cốt của người phụ nữ này có thể là của cư dân Toalean. Trước đây có rất ít các bằng chứng khảo cổ học về người Toalean, chẳng hạn như một số công cụ đá có khía đặc biệt được cho là của những người đã sống ở Sulawesi thời đồ đá.  Cửa ngõ vào Australia  Lần này, di cốt được tìm thấy cùng với các công cụ kiểu Toalean, cung cấp thêm bằng chứng trực tiếp mạnh hơn về nền văn hóa cổ đại còn ít được biết đến này.  Wallacea là cửa ngõ mà tổ tiên của người Papua New Guinea và thổ dân Châu Úc ngày nay đi qua, nhưng rất ít di cốt người cổ đại được phát hiện ở đó. Một trong những di cốt nổi tiếng nhất được tìm thấy là của loài người nhỏ bé Homo floresiensis, được tìm thấy trên đảo Flores, phía nam Sulawesi.  Môi trường nhiệt đới nóng ẩm khiến cho  DNA bị phân hủy nhanh chóng theo thời gian, may mắn là di cốt này vẫn còn giữ được thông tin di truyền này. Nhóm nghiên cứu cho rằng việc di cốt được bảo quản bên trong hang động đá vôi Leang Panninge có thể đã giúp giữ cho di cốt còn đủ DNA để phân tích.  Phân tích bộ gene đã “cung cấp nhiều hiểu biết sâu sắc hơn về con đường di chuyển và sự đa dạng di truyền của người cổ ở đây”, Brumm cho biết.   Làn sóng di cư  Selina Carlhoff, tại Viện Max Planck của Đức về Khoa học Lịch sử Nhân loại, đồng tác giả của nghiên cứu này, cho biết bộ gene của người phụ nữ có những điểm liên quan tới thổ dân Úc ngày nay và người Papua New Guinea.  Có thể tổ tiên của di cốt người phụ nữ này nằm trong làn sóng những người di cư qua Sulawesi để đến Úc và New Guinea vào khoảng 50.000–60.000 năm trước, nhưng riêng nhánh của cô đã hình thành một nhóm nhỏ vẫn ở Sulawesi. Hoặc có một khả năng khác là tổ tiên của cô là một phần của làn sóng từ Úc và New Guinea di cư quay trở lại Wallacea.  Bộ gene của người phụ nữ cũng chứa DNA Denisovan. Người Denisovan là một phân loài người cổ đại, độc lập so với Homo sapien và Neandertal, đã tuyệt chủng sống cách đây 500.000–30.000 năm, người ta mới chỉ biết đến người Denisovan qua những bằng chứng khảo cổ học ở Siberia và Cao nguyên Tây Tạng. Dấu hiệu di truyền của người Denisovan – cũng được tìm thấy ở những người ở Úc và New Guinea – cho thấy Wallacea có thể là một khu vực mà cả người Denisovan và người hiện đại sống xen kẽ và giao lưu.  Dấu vết di truyền ở cư dân hiện đại  Khu vực xung quanh Leang Panninge ngày nay là nơi sinh sống của những người thuộc các nền văn hóa Bugis và Makassar của Indonesia. Những người này là hậu duệ của những người Nam Đảo (Austronesia) từ Đài Loan đến mới trong khoảng 3.500 năm trước.  Bộ gene của người phụ nữ không cho thấy dấu vết của DNA của người Nam Đảo, bởi vì cô đã sống rất lâu trước khi người Nam Đảo tới. Nhưng một câu hỏi quan trọng đối với các nhà nghiên cứu là liệu người Bugis và Makassar có quan hệ với nhóm cổ xưa của cô ấy.  Các nhà khoa học Indonesia tham gia vào dự án nghiên cứu đã đặt tên cho người phụ nữ là Bessé “trong tiếng Bugis có nghĩa là ‘phụ nữ trẻ’ “, Muhammad Nur, Đồng tác giả nghiên cứu, một nhà khảo cổ học tại Đại học Hasanuddin ở Nam Sulawesi, cho biết: “Mặc dù khác biệt về thể chất so với dân cư hiện nay đang sinh sống ở Sulawesi, nhưng Bessé vẫn được coi là một phần của lịch sử của cư dân trên đảo.  Brumm nói rằng cho đến nay không có dấu vết nào về mối liên hệ di truyền của di cốt Bessé với các mẫu lấy từ những cư dân hiện đại của Sulawesi. Tuy nhiên, cũng có thể là do dân số đa dạng và chưa được lấy mẫu đầy đủ.  Brumm cũng nêu một giả thiết: “Cũng có thể hậu duệ của người Toalean này đã tồn tại và sinh sống ở một số vùng của Nam Sulawesi cho đến gần đây, và gene của họ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, mặc dù nền văn hóa của họ đã biến mất hàng ngàn năm trước”.  Bảo Như dịch  Nature doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-02319-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNA từ bụi trong hang động gợi mở về cuộc sống của người Neanderthal      Các nhà khoa học mới đây đã xác định chính xác những biến động trong quần thể người Neanderthal ở châu Âu – từ dấu vết của máu và phân mà họ để lại trong một hang động ở Tây Ban Nha cách đây 100.000 năm.      Mô hình người Neanderthal tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở London. Ảnh: Malcolm Park editorial/Alamy Stock Photo  Phát hiện này là minh chứng quan trọng đầu tiên cho thấy tiềm năng của một kỹ thuật mới, cho phép các nhà khoa học nghiên cứu DNA có trong trầm tích hang động. Không cần hóa thạch hoặc công cụ đá, chỉ những dấu vết nhỏ của vật liệu di truyền tích tụ trong bụi của một tầng hang động cũng đủ để vén lên bí mật quá khứ. Một nhà khoa học ví von sức mạnh của việc phân tích DNA từ cát bụi trong hang động hệt như “chiết xuất bụi vàng từ không khí”, và cho rằng phương pháp này có thể thay đổi hiểu biết về cách tổ tiên của chúng ta đã sống và sinh hoạt. GS. Chris Stringer thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, London, cho biết: “Bạn không cần phải có công cụ bằng đá hay xương hóa thạch để tìm hiểu xem người cổ đại đã sống hoặc làm việc tại một địa điểm bất kỳ hay chưa. Tất cả những gì bạn cần là DNA mà họ để lại trong đống đá vụn của ngôi nhà hang động họ từng sống. Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với tất cả những nghiên cứu khám phá”.   Trong thời gian tới, các nhà khoa học dự định sẽ phân tích DNA từ cát bụi trong hang động của người Denisovan – một nhánh thuộc họ người (hominin) đã tuyệt chủng, sống ở Đông Á cách đây hàng chục nghìn năm. Thông qua việc nghiên cứu trầm tích trong các hang động và những địa điểm khác ở Ấn Độ, Trung Quốc và các khu vực khác ở châu Á, họ có thể khám phá bức tranh toàn cảnh những nơi mà người Denisovan đã sống trước khi tuyệt chủng.    Trước đây, các nhà khoa học thường không có được bằng chứng cụ thể. Mãi cho đến năm 2017, Viện Nhân chủng học Tiến hóa Max Planck (Đức) đã phát triển kỹ thuật này và công bố một bài báo trên tạp chí Science, trong đó tiết lộ có thể xác định DNA của người Neanderthal giữa vô số các vật liệu di truyền khác có trong những hang động.   Giờ đây, bằng công cụ này, họ có thể xác định danh tính di truyền chính xác của người Neanderthal từng sống trong hang động Galería de las Estatuas ở miền Bắc Tây Ban Nha và công bố trên Science. “Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng hang động Galería de las Estatuas, và có được bằng chứng rõ ràng về việc người Neanderthal đã sống ở đó hàng chục nghìn năm”, Benjamin Vernot, tác giả chính của nghiên cứu, cho hay. “Chúng tôi không nghĩ là họ chôn người chết ở đó, nhưng chúng tôi tin rằng họ đã mổ thịt con mồi ở đó. Đôi khi, họ vô tình cắt trúng tay mình và chảy máu xuống nền hang. Tương tự, những đứa trẻ để lại phân ở đó, và do vậy, DNA của chúng cũng sẽ bị để lại theo”.   Điểm mấu chốt là các nhà cổ sinh vật học và khảo cổ học đã xem xét kỹ lưỡng Galería de las Estatuas, từ đó đưa ra những phân tích chính xác về niên đại. “Điều đó có nghĩa là chúng tôi có thể đưa ra thời điểm chính xác cho các mẫu DNA mà chúng tôi tìm thấy”, Vernot cho biết. Và nó dẫn đến một khám phá bất ngờ. Họ phát hiện ra, khoảng 100.000 năm trước, nhóm người đã sống trong hang động suốt hàng thiên niên kỷ đã bị thay thế bởi một nhóm người Neanderthal hoàn toàn khác.  Tuy thừa nhận không biết liệu đây là một sự thay thế bạo lực hay là một quá trình diễn ra từ từ nhưng  Vernot chỉ ra, vào khoảng thời gian này khí hậu Trái đất có những thay đổi đáng kể. “Có thể là nhóm người đầu tiên không thể chịu đựng hoặc sống sót qua cái lạnh ở khu vực Galería de las Estatuas và họ đã chết, hoặc quyết định rời đi. Sau đó, khi thời tiết ổn hơn, một quần thể mới – với một dấu hiệu di truyền khác – đã chuyển đến”, Vernot nói thêm.   “Rất khó để có được một bức tranh toàn cảnh về cách quần thể người cổ đại, chẳng hạn như người Neanderthal, di chuyển quanh các khu vực, nếu chỉ dựa trên những mẩu xương và công cụ đá”, ông nói. “Tuy nhiên, với kỹ thuật phân tích DNA này, nó sẽ mở ra một cơ hội hoàn toàn mới để hiểu về thời tiền sử của tổ tiên ta”. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/may/16/tiny-traces-of-dna-found-in-cave-dust-may-unlock-secret-life-of-neanderthals#_=    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNES – Một điểm đến của cộng đồng khởi nghiệp      Giống với những thành phố động lực kinh tế của đất nước như Hà Nội hay Hồ Chí Minh, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đã trở thành một nội dung trong nghị sự phát triển của Đà Nẵng. Hơn thế, Đà Nẵng hôm nay được ghi nhận như một trung tâm năng động, một điểm đến khó lòng bỏ qua của cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam: Vườn ươm Doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng, được biết tới rộng rãi với tên gọi DNES.      TS. Võ Duy Khương xem xét sản phẩm tại Fablab Đà Nẵng (không gian làm việc chung cho những bạn trẻ phát triển các sản phẩm phần cứng).  Thành lập ngày 14/01/2016, Cty TNHH Đầu tư và Hỗ trợ Khởi nghiệp Đà Nẵng (DNES) có thể xem như nỗ lực chính thức đầu tiên của chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp Đà Nẵng trong kiến tạo hệ sinh thái kinh tế-xã hội-văn hóa (i) nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo giá trị mới, (ii) cỗ vũ tinh thần dám chấp nhận bất trắc, và (iii) hoàn thiện năng lực nhận diện và hiện thực hóa cơ hội thị trường bằng giải pháp đổi mới sáng tạo. Chỉ sau 12 tháng vận hành, DNES đã tổ chức thành công hai khóa ươm tạo và tăng tốc kinh doanh với 17 nhóm dự án và công ty khởi nghiệp được lựa chọn từ hàng chục ứng viên. Bắt đầu từ ý tưởng đổi mới sáng tạo, các sản phẩm mẫu, sau thời gian được đào tạo, huấn luyện và dẫn dắt bởi các chuyên gia cố vấn (mentors), các nhóm và công ty này đã đưa sản phẩm và dịch vụ thâm nhập thị trường, thậm chí, đạt tới tăng trưởng doanh thu ổn định và huy động thành công vốn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo ra hơn 130 cơ hội việc làm. Giữa năm 2016, DNES cũng lần đầu tiên giới thiệu thành phố khởi nghiệp Đà Nẵng tới hàng trăm đại diện của cộng đồng khởi nghiệp trong và ngoài nước tại Đà Nẵng Startup Fair 2016.  Nhờ đâu mà Đà Nẵng, trực tiếp là DNES, đạt được những kết quả khích lệ như vậy chỉ trong thời gian ngắn? Một vài quan sát và ghi nhận từ thực tiễn hợp tác triển khai thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp cùng DNES trong năm 2016 phần nào lý giải nguyên nhân.  Con người chất lượng là nét nổi bật nhất của đội ngũ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp tại Đà Nẵng. Trước tiên, và có lẽ duy nhất chỉ tại Đà Nẵng, người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo các hoạt động hỗ trợ thúc đẩy khởi nghiệp là một vị lãnh đạo thành phố. Tiến sỹ Võ Duy Khương, nguyên Phó Chủ tịch thường trực UBND thành phố Đà Nẵng, là người hỗ trợ đội ngũ nhân sự trẻ, năng động của DNES. Nhờ uy tín và các mối quan hệ của mình, ông đã vận động đủ vốn để xây dựng doanh nghiệp công – tư đầu tiên hỗ trợ khởi nghiệp và tạo niềm tin với các tổ chức hợp tác với DNES.  Nhân sự của DNES có sự kết hợp của những doanh nhân dạn dày kinh nghiệm và các cán bộ trẻ, được đào tạo rất tốt và nhiệt tình công tác. Lợi ích này có được từ chương trình thu hút và đào tạo nhân tài được Chính quyền Thành phố triển khai trong nhiều năm. Những cán bộ trẻ này mau chóng nắm bắt kiến thức, phương pháp làm việc từ các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp hàng đầu thế giới và tự tin tiếp cập, khai thác nguồn lực từ các nhân tố đa dạng trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam, khu vực và quốc tế.  Tích cực phát triển hợp tác và vận động nguồn lực xã hội. Hầu như mọi tác nhân tích cực của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đều có hợp tác với DNES. Trong năm 2016, DNES ghi nhận hợp tác với chương trình tăng tốc khởi nghiệp Microsoft Expara, không gian làm việc chung Toong Coworking Space và đón tiếp nhiều lượt thăm và làm việc của các chuyên gia cố vấn cũng như nhà đầu tư khởi nghiệp. Các chương trình quốc tế thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đang hiện diện tại Việt Nam – như Chương trình Khởi nghiệp Thụy Sĩ (Swiss EP), Sáng kiến Hỗ trợ Khu vực Tư nhân vùng Mekong (MBI), Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam-Phần Lan (IPP) – cùng xác lập quan hệ đối tác chiến lược với DNES. Với vai trò tập hợp nguồn lực, DNES vận hành như cầu nối gắn kết các tác nhân của hệ sinh thái khởi nghiệp Thành phố – gồm cả các công ty khởi nghiệp và những đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp như Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt-Anh (VNUK) hay Fablab Da Nang. Theo đó, năm 2017 sẽ chứng kiến nhiều sự kiện nổi bật của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam tại Đà Nẵng, tiêu biểu là sự kiện tôn vinh các cố vấn dẫn dắt khởi nghiệp của Sáng kiến Cộng đồng Cố vấn Khởi nghiệp Việt Nam (Vietnam Mentors Initiative, VMI) được tổ chức trong khuôn khổ Đà Nẵng Startup Fair, kết hợp cùng Hội nghị và Triển lãm Công nghệ và Đầu tư Echelon 2017.  Nguồn lực xã hội, đặc biệt là kinh nghiệm và sự thấu hiểu thị trường của các doanh nhân thành đạt ở ngay tại Đà Nẵng, luôn được đội ngũ DNES chú trọng khai thác. Đầu năm 2016, khi hỗ trợ những nhóm và công ty khởi nghiệp đầu tiên, năng lực cung ứng cố vấn dẫn dắt (mentor) của DNES còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Phần lớn các cố vấn là khách mời từ những trung tâm khởi nghiệp như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Khoảng cách địa lý và lượng thời gian hạn hẹp tại Đà Nẵng đã cản trở rất nhiều tới hiệu quả hỗ trợ cho các nhóm và công ty khởi nghiệp. Từ khóa thứ hai, với sự hỗ trợ từ Chương trình Khởi nghiệp Thụy Sỹ, DNES đã định hình được dịch vụ cố vấn dẫn dắt khởi nghiệp. Hơn thế, DNES đang từng bước hình thành mạng lưới các cố vấn tại chỗ – bao gồm các doanh nhân thành đạt tại Đà Nẵng, cán bộ chuyên môn của DNES, và cả những nhà sáng lập các công ty khởi nghiệp nhận được hỗ trợ và hợp tác cùng DNES. Đại diện của DNES cũng tích cực tham gia Tổ Điều phối của Sáng kiến Cộng đồng Cố vấn Khởi nghiệp Việt Nam – mạng lưới đầu tiên liên kết các cố vấn khởi nghiệp trên toàn quốc.  DNES “khởi nghiệp” bằng công việc hỗ trợ khởi nghiệp. Tuân thủ nguyên tắc “không loại trừ” trong phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, DNES khởi đầu và luôn duy trì cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho đa dạng các nhóm dự án và công ty khởi nghiệp ở nhiều giai đoạn phát triển và đa dạng ngành nghề kinh doanh. Đồng thời, DNES từng bước xác định những ngành kinh doanh mà hệ sinh thái khởi nghiệp Thành phố có năng lực hỗ trợ tốt nhất dựa trên lợi thế cạnh tranh địa phương. Chương trình tăng tốc kinh doanh dành riêng cho các ý tưởng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực du lịch tiểu vùng Mekong (MIST) được triển khai ngay từ đầu năm 2017 – với sự hỗ trợ từ MBI và Swiss EP – phản ánh sự dịch chuyển sang phương pháp tiếp cận theo chiều sâu của DNES.  Ngày càng có nhiều hơn các nhóm và công ty khởi nghiệp đến từ các tỉnh, thành trên cả nước tham dự vào chương trình ươm tạo và tăng tốc khởi nghiệp cũng như các cuộc thi khởi nghiệp do DNES tổ chức. Cũng xuất hiện những ý tưởng đưa các công ty khởi nghiệp trong khu vực và thế giới tới Đà Nẵng chỉ để chuyên tổ chức sản xuất – nhằm tận dụng ưu thế chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, và vị trí địa lý. Bài học thành công từ các trung tâm khởi nghiệp của thế giới ghi nhận, mật độ, chứ không phải quy mô, mới là động lực thúc đẩy của cộng đồng khởi nghiệp.  Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp là công việc đòi hỏi sự kiên trì trong nhiều thập kỷ. Rất nhiều thách thức đang chờ DNES và Đà Nẵng. Những thành tựu của một năm đầu tiên, và quan trọng hơn là năng lượng khởi nghiệp trong chính mỗi con người DNES cho phép kỳ vọng vào bức tranh tươi sáng về một cộng đồng khởi nghiệp năng động và sáng tạo nơi thành phố biển miền Trung.          Author                Trần Trí Dũng        
__label__tiasang DNNN nợ hơn 1.000.000 tỷ đồng      Theo số liệu của Bộ Tài chính, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là 1,36 lần, cụ thể tổng số nợ của DNNN là 1.008.000 tỷ đồng.    Ngày 1/7, trong Chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho rằng không nên quá lo ngại trước thực tế khoảng 30 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang có số nợ quá 3 lần so với vốn chủ sở hữu.  Theo ông Vinh, Chính phủ đã ban hành nghị định quy định rõ tỷ lệ nợ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trên vốn chủ sở hữu không được vượt quá 3 lần.  Hiện nay, theo số liệu của Bộ Tài chính, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là 1,36 lần, chưa bằng một nửa so với với quy định, cụ thể tổng số nợ của DNNN là 1.008.000 tỷ đồng, còn vốn chủ sở hữu là 790.000 tỷ đồng. Trong đó, có nhiều trường hợp có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao do phục vụ yêu cầu sản xuất.  Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho rằng, việc đánh giá DNNN nói chung và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng cần thận trọng, khách quan và công bằng. Bộ trưởng nêu ví dụ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang phải vay rất nhiều để xây dựng các nhà máy điện, phát triển nguồn điện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.  Khi các nhà máy điện đi vào hoạt động, EVN mới có thể thu hồi và trả nợ. Bộ trưởng nói: “Không nên đánh giá tập đoàn, tổng công ty nhà nước là gánh nặng của ngân sách và nền kinh tế”.  Về việc để ra xảy ra sai phạm tại các DNNN, bên cạnh trách nhiệm của hệ thống tổ chức quản lý như bộ, ngành, cơ quan chủ quản, hệ thống chính trị (tổ chức đảng, công đoàn…) tại DN, Bộ trưởng Vinh cho rằng, có nguyên nhân cơ bản là do người quản lý trực tiếp, người được giao thay mặt nhà nước quản lý vốn tại DN.  Trong các vụ việc sai phạm tại Vinashin, Vinalines, các cơ quan thanh tra, điều tra đều có kết luận rõ ràng là do cá nhân cố ý làm trái. Về giải pháp, Bộ trưởng cho rằng, cốt lõi nhất là có chế tài mạnh mẽ hơn nữa để buộc các DN công khai, minh bạch thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính hàng năm. Bên cạnh đó, cũng cần có chế tài để kiểm toán bắt buộc hàng năm đối với các DNNN.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Độ ẩm là ác mộng với “Tiếng thét”      Hơi nước trong không khí chứ không phải ánh sáng đã làm cho các màu vàng trong kiệt tác của Edvard Munch bị rã ra.      Những màu sắc sống động của “Tiếng thét”, một trong những bức họa nổi tiếng bậc nhất của Edvard Munch bị nhạt dần trong hơn một thế kỷ, từ lúc nó ra đời và các nhà nghiên cứu hiểu tại sao.  “Probing the chemistry of CdS paints in The Scream by in situ noninvasive spectroscopies and synchrotron radiation x-ray techniques” (Chứng minh hóa học của các màu vẽ chứa CdS trong ‘Tiếng thét’ bằng các kỹ thuật quang phổ không xâm lấn và tia X bức xạ trên máy gia tốc synchrotron), một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Science Advance đề xuất độ ẩm đã tác động lớn vào màu vàng chứa cadmium đã được sử dụng trong phiên bản “Tiếng thét” vẽ năm 1910 (Bức họa này được treo tại Bảo tàng Munch ở Oslo, trước từng bị đánh cắp vào năm 2004 và hai năm sau mới được trả lại về vị trí cũ). Các nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng là màu vẽ từng được họa sĩ Nauy dùng để tạo ra nhân vật trung tâm, cảnh mặt trời lặn chứa đựng đầy cảm xúc và cảnh vịnh hẹp phía sau trong bức “Tiếng thét” đã bị nhạt màu do độ ẩm, ngay cả màu đen. Điều đó chỉ dấu là ánh sáng không phải là yếu tố chính làm giảm độ sáng của màu sắc.  “Bảo tàng đang xem xét liệu có áp dụng những đề xuất từ nghiên cứu này vào việc bảo quản và trưng bày bức họa trong tương lai không,” nhà bảo tồn tranh của Bảo tàng Munch Eva Storevik Tveit và nhà khoa học bảo tồn Irina Sandu nói trên CNN qua e-mail. “Vì bức vẽ này là một trong những bức vẽ nổi tiếng nhất và cũng là tác phẩm mỏng manh, nhạy cảm nhất trong bộ sưu tập của chúng tôi, do đó một chiến lược bảo tồn nghệ thuật trên cơ sở khoa học là cơ bản”.  Cho nghiên cứu này, các nhà bảo tồn đã dành nhiều thời gian phục hồi bức họa tại khu vực lưu trữ, nơi môi trường được sắp đặt ở điều kiện ánh sáng thấp và nhiệt độ ở mức khoảng 64% độ F.  “Tiếng thét” đã là chủ đề nghiên cứu trong nhiều năm kể từ khi bị trộm. Vào tháng hai năm 2020, New York Times đã đề cập đến một nghiên cứu  do Phòng thí nghiệm Phân tích khoa học trên các tác phẩm nghệ thuật ở thành phố New York, trong đó nêu ra bằng chứng là các màu vàng trên toan vẽ đang bị phân rã thành các tinh thể hóa học màu trắng.  Nhà hóa học Koen Janssens của trường đại học Antwerp và là đồng tác giả nghiên cứu cho Guardian biết, nghiên cứu mới đề xuất giả thiết là Munch đã sử dụng màu chứa nhiều tạp chất nên đây là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tác phẩm. “Kết quả nghiên cứu cho thấy thà là sử dụng cadmium sulfide như ông đã từng làm trước đây, hình như ông sử dụng một phiên bản tệ hơn, không những không sạch mà còn chứa các clorua,” Janssens nhận xét. “Tôi không nghĩ đây là một cách làm có chủ đích của ông ấy – tôi nghĩ ông ấy chỉ mua nguyên liệu không ở mức như mọi lần. Đó là năm 1910 và tại thời điểm ngành công nghiệp hóa học tạo ra các màu hóa học như vậy, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chúng đạt được mức kiểm soát chất lượng như hiện nay.”    Từ trái qua phải, các nhà nghiên cứu Annalisa Chieli (ĐH Perugia, Italy), Letizia Monico (CNR, Italy) và Gert Nuys (ĐH Antwerp) đo đạc các mảnh vi mô màu vàng chứa cadmium của bức họa tại Trung tâm Máy gia tốc châu Âu ở Pháp. Nguồn: ESRF  Trước những năm 1880, các họa sĩ sử dụng các màu được dẫn xuất từ những thành phần tự nhiên. Sự phát triển của việc chế tạo tổng hợp làm tăng thêm độ phong phú và sống động cho dải mau sắc hiện có, cho phép các họa sĩ Ấn tượng và Biểu hiện như Munch hay Vincent van Gogh sáng tạo ra những bức họa với màu sắc đậm hơn, sáng hơn. Tuy nhiên các màu vẽ tổng hợp không được kiểm thử độ bền nên nhiều bức họa vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã thay đổi màu sắc theo thời gian.  Để phân tích các màu vẽ được sử dụng trong phiên bản “Tiếng thét” năm 1910, các nhà nghiên cứu đã trích lấy những mảnh cực nhỏ màu từ những lớp dày phần vẽ bờ vịnh, những màu có thành phần hóa học tương tự màu Munch sử dụng và một mẫu trích từ những ống màu của Munch (Bảo tàng Munch Museum hiện có khoảng 1.400 ống màu do chính họa sĩ sử dụng).  Nhóm nghiên cứu sau đó đã chụp những bức ảnh những mẫu và cho chúng tiếp xúc với những mức độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng khác nhau. Tại độ ẩm 95%, các mẫu bị phân hủy thành màu sáng và tối nhưng ở độ ẩm 45% thì chúng gần như không thay đổi.  Việc được trang bị thêm hiểu biết là độ ẩm – chứ không phải ánh sáng – là căn nguyên dẫn đến những vấn đề với các bức họa, bảo tàng có thể có khả năng tìm được cách trưng bày những tác phẩm nghệ thuật này trong các điều kiện cơ bản bền vững hơn. Tiếng thét sẽ phải được bảo vệ khỏi các vị khách viếng thăm, khi hơi nước từ hơi thở của từng người có thể làm tăng các mức độ ẩm đủ để gây tác động đến bức họa này, Janssens nói với Guardian. Janssens nói: “Họ có thể bàn bạc và ra quyết định cách họ sẽ áp dụng cho trưng bày và bảo vệ nó chống lại các điều kiện môi trường bất lợi. Họ sẽ chuẩn bị các điều kiện với mức độ ẩm thấp hơn. Tiêu chuẩn là độ ẩm 50% và có thể là thấp hơn đó một chút”.  Dẫu cho phát hiện này có thể có những chỉ dấu cho việc bảo tồn các tác phẩm được tạo ra với các màu vẽ chứa cadmium sulfide, nhà hóa học và tác giả đầu Letizia Monico của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Ý tại Perugia cảnh báo là mỗi bức họa là độc nhất vô nhị và kế hoạch bảo tồn cần được xác định trên cơ sở từng trường hợp, theo Science News. “Chúng tôi hết sức hi vọng là trong tương lai, chúng tôi sẽ có cơ hội nghiên cứu về nhũng tác phẩm của Munch và những họa sĩ đương thời với ông,” Monico và nhà khoa học di sản Costanza Miliani nói với CNN.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/humidity-screams-nightmare-180974900/  https://edition.cnn.com/style/article/the-scream-painting-preservation-edvard-munch-scn/index.html  https://www.theguardian.com/artanddesign/2020/may/18/human-breath-taking-its-toll-on-munch-the-scream-say-scientists-1910-damaging-humidity-paint    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo âm thanh của một bong bóng xà phòng nổ      Một nhóm các nhà nghiên cứu từ đại học Sorbonne và Lille đã đo những âm thanh xuất hiện khi một bong bóng xà phòng nổ.      Trong công trình “Acoustic Sensing of Forces Driving Fast Capillary Flows” xuất bản trên tạp chi Physical Review Letters, nhóm nghiên cứu đã miêu tả hành động này khi bong bóng xà phòng phát nổ và những âm thanh thu phát ra như ở mọi bong bóng xà phòng thông thường.  Khi các nhà nghiên cứu muốn hiểu các quá trình có trong những sự kiện lớn như sự phun trào của núi lửa, họ thường tìm đến các sự kiện có quy mô nhỏ hơn nhưng có các đặc tính tương tự để có thể dễ dàng nghiên cứu hơn. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu cố gắng hiểu rõ hơn cơ chế nổ của các bong bóng cũng như các cách đo đạc được hoạt động này.  Để tăng thêm bối cảnh về việc nổ bong bóng xà phòng, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một môi trường nơi có thể sinh ra các bong bóng và nổ theo yêu cầu. Sau đó họ quay phim hoạt động này bằng việc sử dụng những camera tốc độ cao và ghi lại những tiếng động phát ra bằng những chiếc micro siêu nhạy.  Bằng việc xem các bong bóng nổi lên trong chuyển động chậm, các nhà nghiên cứu đã có khả năng thấy sự bùng phát này bắt đầu với cú nổ đầu tiên. Khi việc nổ bong bóng tiếp tục, lớp màng mỏng đã cho thấy những thành của bong bóng bắt đầu rút lại dọc theo biên giới nơi các bức thành này từng tồn tại. Khi đó, màng mỏng bắt đầu trở nên dày hơn khi nó hấp thụ nhiều vật liệu đã tạo ra thành bong bóng. Và khi thành bong bóng co lại, không khí bên trong bong bóng được đẩy ra. Điều này xảy ra là bởi không khí bên trong một bong bóng bị nén dưới một áp suất nhỏ tùy theo các lực mao dẫn lớn lên từ sức căng bề mặt. Cuối cùng, các bức thành này vỡ ra theo nhiều cách, và chất lỏng rơi trở lại dung dịch xà phòng được dùng để tạo ra bong bóng.  Các nhà nghiên cứu cũng tìm ra khi một lỗ được tạo ra trong bong bóng, các lực gắn kết nó lại trở nên thiếu cân bằng, kết quả là trong rìa xung quanh lỗ co lại và khiến cho cái lỗi này rộng ra. Kết quả cuối cùng là một lực lên không khí chỉ ở ngoài bong bóng với cường độ khác nhau phụ thuộc vào kích thước của cái lỗ khi rộng ra. Do đó bằng việc lắng nghe âm thanh được ghi lại, các nhà nghiên cứu đã thấy mình có khả năng tách hai âm thanh khác biệt: các bức thành co lại và không khí rút khỏi bong bóng. Sau đó bằng việc sử dụng âm thanh mà mình ghi lại được, họ phát triển một mô hình để có thể dự đoán được độ dày của thành bong bóng, nơi sự co rút được định vị tren bong bóng và nhiều tính năng khác của bong bóng ban đầu.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-soap.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo đạc chính xác bậc nhất thế giới về thời gian sống của neutron      Các neutron được xếp một cách vừa vặn bên trong các nguyên tử. Chúng tồn tại khoảng hàng tỉ năm và lâu hơn nữa khi ở bên trong một số nguyên tử đã tạo ra vật chất trong vũ trụ của chúng ta. Nhưng khi các neutron tự do “bay nhảy” một mình bên ngoài một nguyên tử, chúng bắt đầu bị phân rã thành các proton và những hạt khác. Thời gian sống của chúng rất ngắn, chỉ khoảng 15 phút.      Máy dò neutron siêu lạnh hiệu suất cao được sử dụng trong một cái bẫy dạng bồn tắm. Nguồn: Los Alamos National Lab / Michael Pierce.  Các nhà vật lý đã mất hàng thập kỷ để cố gắng đo đạc thời gian sống chính xác của một hạt nhân bằng việc sử dụng hai kỹ thuật, một bao gồm những cái chai và hai là những chùm tia. Nhưng các kết quả từ hai phương pháp này đều không tương đồng với nhau: chúng chênh lệch tới 9 giây, khoảng thời gian đáng kể cho một hạt chỉ tồn tai trong vòng 15 phút.  Giờ đây, trong một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, một nhóm nghiên cứu đã tạo ra một phép đo đạc chính xác nhất thời gian sống của một neutron bằng kỹ thuật chai. Thực nghiệm này mang tên UCNtau (cho tau của các neutron siêu lạnh, nơi tau liên quan đến thời gian sống của neutron). Nó đã cho thấy neutron tồn tại trong vòng 14.629 phút với một độ bất định của 0,005 phút. Dù kết quả này vẫn chưa giải thích được bí ẩn tại sao hai phương pháp lại có sai số nhưng nó cũng đưa các nhà vật lý tiến gần hơn đến một câu trả lời.  “Kết quả mới này đem lại một đánh giá độc lập để giúp giải quyết bài toán thời gian sống của neutron”, Brad Filippone, giáo sư vật lý danh hiệu Francis L. Moseley và là đồng tác giả của nghiên cứu, nói. Các phương pháp này tiếp tục không tương đồng với nhau, ông giải thích, bởi vì một trong hai phương pháp này có sai sót hoặc bởi vì có điều gì đó mới đang trên trong vật lý neutron mà chúng ta còn chưa hiểu hết.  “Khi kết hợp với các phép đo chính xác khác, kết quả này có thể đem đến bằng chứng được tìm kiếm nhiều cho khám phá về vật lý mới”, ông nói.  Các kết quả có thể giúp giải quyết những bí ẩn đã tồn tại từ lâu khác như vật chất trong vũ trụ sớm của chúng ta đầu tiên kết tụ lại từ một ‘nồi súp’ nóng gồm các neutron và các hạt khác như thế nào. “Một khí chúng ta biết về thời gian sống của neutron một cách chính xác, chúng ta có thể giải thích cách hạt nhân nguyên tử được hình thành trong những phút đầu tiên của vũ trụ sớm”, Filippone.  Các thử nghiệm mù  Vào năm 2017 và 2018, nhóm nghiên cứu UCNtau đã thực hiện hai thí nghiệm chai tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (LANL). Trong phương pháp này, các neutron tự do bị bẫy trong một chai từ hóa siêu lạnh có kích thước tương đương một cái bồn tắm, nơi chúng bắt đầu phân rã thành các proton. Sử dụng dữ liệu phức tạp để phân tích các phương pháp, các nhà nghiên cứu đã có thể đếm được có bao nhiêu neutron còn lại theo thời gian (trong phương pháp chùm tia, một chùm tia neutron phân rã thành các proton, và các proton được tính không phải là các neutron).  Suốt thời gian diễn ra thực nghiệm, nhóm hợp tác UCNtau tính được 40 triệu neutron.  Để loại bỏ mọi sai lệch có thể trong các phép đo, nguyên nhân do các nhà nghiên cứu chủ ý hoặc không chủ ý dịch chuyển các kết quả cho đạt với kết quả kỳ vọng, nhóm hợp tác đã phân thành ba nhóm để làm việc theo kiểu thử nghiệm mù. Một nhóm do Caltech dẫn dắt, một do trường đại học Indiana và nhóm còn lại do LANL. Mỗi nhóm được trao một cái đồng hồ không chính xác, vì thế các nhà nghiên cứu không thể biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua.  “Chúng tôi đã khiến đồng hồ của mình thiếu chính xác và sau đó giữ bí mật đến phút chót”, Eric Fries, đồng tác giả và là người dẫn dắt nhóm Caltech, nói. “Điều này khiến cho thực nghiệm trở nên thực tế hơn bởi vì không còn cơ hội cho sự thiên kiến một cách có ý thức hay không trong việc gắn các kết quả để khớp với thời gian tồn tại được chờ đợi của neutron”, Filippone cho biết thêm. “Do đó, chúng tôi không rõ thời gian tồn tại của nó trên thực tế cho đến khi chúng tôi hiệu chỉnh ở thời điểm cuối thử nghiệm mù”.    Bailey Slaughter, người tham gia dự án UCNtau, quan sát thí nghiệm diễn ra bên trong bẫy, hay là “chai” dùng để tính thời gian sống của các neutron. Nguồn: Chen-Yu Liua  Bẫy các neutron   Một thách thức trong nghiên cứu về các neutron tự do này chúng có thể dễ dàng gắn kết với các nguyên tử, Filippone nói. Anh lưu ý rằng các hạt nhân nguyên tử trong thực nghiệm có thể “’nuốt sống’ các neutron như trò chơi điện tử Pac-Man”. Do đó, các nhà khoa học đã phải tạo ra  một chân không rất vừa vặn trong buồng để giữ các khí không mong muốn lọt vào đó.  Họ cũng phải làm chậm một cách đột ngột các neutron vì vậy có thể bẫy chúng bằng từ trường để có thể đếm được. “Chúng tôi phải làm lạnh các neutron thông qua một vài bước”, Filippone nói. “Bước quan trọng tại thời điểm quyết định là khiến cho các neutron tương tác với một khối deuterium kết đông đậm đặc [một phiên bản nặng hơn của hydro] tương đương với kích thước của một cái bánh sinh nhật, vốn là nguyên nhân khiến các neutron mất năng lượng”.  Khi các thí nghiệm đã hoàn thành và dữ liệu được thu thập, mỗi nhóm sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để phân tích dữ liệu đó. Fries và nhóm Caltech sử dụng các phương pháp học máy để giúp tính số neutron. “Phần khó nhất là nhìn vào dữ liệu để chỉ ra và nói ‘vâng, trên thực tế đây là một neutron’”, Fries cho biết.  Khi tất cả các nhóm “mở mù” kết quả của mình, họ tìm thấy một mức phù hợp đáng ngạc nhiên. “Chúng tôi đều dùng dữ liệu này một cách khác nhau nhưng lại cùng đi đến một câu trả lời gần như tương tự nhau, với những khác biệt thấp hơn cả lỗi thống kê chung”, Fries nhận xét.  Cuối cùng, thời gian sống của neutron đã được đo đếm với độ chính xác tốt, khiến nó trở thành kết quả chính xác nhất hiện nya. Các thí nghiệm tương lai sẽ được tiến hành để tinh chỉnh các phép đo sử dụng bằng phương pháp chùm tia và cuối cùng là xác định liệu đó là các nhiễu hệ thống hay một thứ vật lý mới nằm sau bí ẩn thời gian sống của neutron không.  Bài báo mang tên “An improved neutron lifetime measurement with UCNtau” (Một đo đạc thời gian sống của neutron được cải thiện với nhóm UCNtau” 1.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-physicists-world-precise-neutron-lifetime.html  https://www.caltech.edu/about/news/how-long-does-a-neutron-live#:~:text=The%20experiment%2C%20known%20as%20UCNtau,using%20either%20of%20the%20methods.  ——————————-  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.127.162501    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dò được va chạm lỗ đen mạnh nhất từng được phát hiện      Những kết quả dò sóng hấp dẫn cho thấy việc sáp nhập các lỗ đen đã rơi vào phạm “vùng cấm” của khối lượng.      Sự sáp nhập của các lỗ đen có khối lượng trung bình tạo ra các sóng hấp dẫn đã được các nhà thiên văn học dò được từ Trái đất . Nguồn: Science  Bằng việc sử dụng tín hiệu sóng hấp dẫn, các nhà thiên văn học đã dò được vụ va chạm các lỗ đen gây bối rối bậc nhất, mạnh nhất và ở xa nhất. Vụ hợp nhất của hai kẻ khổng lồ này diễn ra ở thời điểm vũ trụ có độ tuổi bằng nửa tuổi hiện tại, và ít nhất một kẻ – có khối lượng gấp 85 lần mặt trời – có khối lượng từng được cho là quá lớn để tham gia một sự kiện như vậy. Và sự sáp nhập này tạo ra một lỗ đen có khối lượng gấp 150 lần mặt trời, các nhà nghiên cứu ước tính, đặt nó vào một phạm vi mà chưa lỗ đen nào được phát hiện trước đây đạt được.  “Tất cả những gì từ khám phá này là không thể tin được”, Simon Portegies Zwart, một nhà vật lý thiên văn tính toána lại trường đại học Leiden, Hà Lan, nhận xét. Ông nói, cụ thể noác nhận sự tồn tại của ‘khối lượng trung gian’ của các lỗ đen: các vật thể có khối lượng lớn hơn nhiều so với một ngôi sao thông thường nhưng không hoàn toàn lớn như những lỗ đen siêu khối lượng cư ngụ ở trung tâm của các thiên hà.  Ilya Mandel, một nhà vật lý thiên văn lý thuyết tại trường đại học Monash tại Melbourne, Australia, thì gọi phát hiện này “bất ngờ một cách kỳ diệu”.  Được miêu tả trong hai bài báo được xuất bản vào ngày 2/9/2020, sự kiện sáp nhập này được dò thấy vào ngày 21/5/2019 bằng bộ máy dò ở Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế laser (LIGO) tại Mỹ và bằng đài quan sát nhỏ hơn Virgo gần Pisa, Italy. Nó mang tên GW190521.  “Vùng cấm” khối lượng  Kể từ năm 2015, LIGO và Virgo đã đem lại nhiều cái nhìn thấu suốt mới vào vũ trụ bằng việc cảm nhận các sóng hấp dẫn. Các gợn sóng trong bề mặt đan dệt của không – thời gian có thể tiết lộ những sự kiện như sáp nhập các lỗ đen, vốn không thể phát hiện bằng các kính thiên văn thông thường.  Từ những đặc tính của sóng hấp dãn như cách nó thay đổi trong bước sóng dịch chuyển, các nhà vật lý thiên văn có thể ước tính các kích thước cũng như những đặc điểm khác của các vật thể tạo ra chúng khi chúng đang di chuyển xoắn lại với nhau. Điều này đã làm cách mạng hóa nghiên cứu về lỗ đen, đem lại bằng chứng trực tiếp cho hàng chục vật thể với phạm vi khối lượng từ gấp mặt trời vài lần đến 50 lần.  Khối lượng này thích hợp với những lỗ đen được hinh thanhg theo cách thông thường – khi một ngôi sao rất lớn mất nhiên liệu vào việc đốt cháy và suy sụp trong trọng lượng của chính nó. Nhưng lý thuyết thông thường cho rằng hiện tượng suy sụp sao không tạo ra các lỗ đen với khối lượng vào khoảng 65 và 120 lần khối lượng mặt trời. Đó là bởi vì vào giao đoạn cuối đời của chúng, các ngôi sao trong một phạm vi kích thước nhất định sẽ có lõi trở nên quá nóng đến mức chúng bắt đầu chuyển đổi các photon thành các cặp hạt và phản hạt – một hiện tượng gọi là bất ổn cặp. Điều này kích hoạt phản ứng nhiệt hạch của các hạt nhân oxy bùng nổ, khiến cho ngôi sao bị tách ra, hoàn toàn tan rã.  Trong khám phá của mình, các máy dò LIGO và Virgo cảm nhận được bốn gợn sóng cuối cùng do các lỗ đen xoắn lại, với một tần số tăng lên từ 30 đến 80 Hertz trong một phần 10 của giây. Trong khi các lỗ đen nhỏ hơn tiếp tục tạo ra sóng hấp dẫn ở những tần số cao hơn, các lỗ đen lớn sáp nhập lại sớm hơn và hầu như tới dải tần số mà các máy dò cảm hận được.  Trong trường hợp này, hai vật thể được ước tính có khối lượng gấp 85 và 66 lân khối lượng mặt trời. “Nó hoàn toàn nằm gần phạm vi một lỗ đen mà người ta có thể chờ đợi khoảng cách khối lượng bất ổn cặp có thể đạt,” theo Christopher Berry – nhà vật lý thiên văn ở LIGO và trường đại học Northwestern ở Evanston, Illinois.  Selma de Mink, một nhà vật lý thiên văn ở trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, lại cho là bất ổn căp này ở mức thấp hơn, có lẽ khoảng 45 lần khối lượng mặt trời, vốn có thể đặt hai vật thể nhẹ hơn vào “vùng cấm”. “Với tôi, cả hai lỗ đen này đều khổng lồ một cách quá lố”, bà nói.  Những lỗ đen không theo quy ước  Để giải thích cho quan sát của mình, các nhà nghiên cứu ở LIGO xem xét một loạt những khả năng, bao gồm các lỗ đen đã có mặt ở đó ngay thời điểm bắt. Trong nhiều thập kỷ, họ đã phỏng đoán là những lỗ đen “nguyên thủy” đã được hình thành một cách tự nhiên trong một phạm vi kích thước khác nhau chỉ ngay sau vụ nổ Big Bang.  Kịc bản tính mà nhóm nghiên cứu dự tính là các lỗ đen đó quá lớn bởi vì chúng là kết quả của những sáp nhập lỗ đen sớm hơn. Các lỗ đen là kết quả của vụ suy sụp sao nên nằm trong những cụm sao dày đặc và theo nguyên tắc thì chúng có thể chịu nhiều cuộc sáp nhập liên tiếp. Tuy nhiên kich bản này có vấn đề bởi theo sau cuộc sáp nhập đầu tiên, lỗ đen hệ quả này phải nhận được một tác động từ sóng hấp dẫn và bị đẩy khỏi cụm sao. Chỉ trong các trường hợp hiếm hoi có thể lỗ đen ở lại khu vực nơi nó có thể chịu thêm một sáp nhập khác.  Những sáp nhập thành công có thể diễn ra tương tự nếu các lỗ đen “định cư” tại vùng trung tâm đông đúc của thiên hà đó, de Mink nói, nơi lực hấp dẫn đủ mạnh để ngăn các vật thể khỏi bị bắn ra ngoài  Hiện vẫn chưa rõ là cuộc sáp nhập này diễn ra trong thiên hà nào. Nhưng có lẽ trong cùng khu vực của bầu trời, một nhóm nghiên cứu điểm một quasar- một trung tâm thiên hà cực sáng do một lỗ đen siêu khối lượng cung cấp năng lượng – trải qua một cơn bùng phát khoảng một tháng sau GW190521. Cơn bùng phát này có thể có một sóng sốc trong vùng khí nóng của quasar và tạo ra bằng sự nảy lại của lỗ đen, dẫu nhiều nhà thiên văn học vẫn thận trọng về việc chấp nhận việc cả hai hiện tượng này có liên quan.  Đây là lần thứ hai trong năm nhóm hợp tác LIGO–Virgo bắt tay vào tìm hiểu một phạm vi khối lượng “cấm”: trong tháng 6/2020, họ miêu tả sự sáp nhập bao gồm một vật thể có khối lượng gấp 2,6 khối lượng mặt trời – được coi là quá nhẹ để là một lỗ đen nhưng quá nặng để là một ngôi sao neutron.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02524-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo lại thế giới      Lâu nay, người ta vẫn còn đặt nhiều nghi ngờ về những dữ liệu đo đạc thế giới. Tuy nhiên giờ đây, càng có nhiều thông số chính xác do các vật thể bay không người lái và vệ tinh cung cấp. Các dữ liệu này được đưa vào mạng lưới máy tính khổng lồ và hứa hẹn đem lại nhiều ứng dụng không ngờ cho cuộc sống của các cư dân trái đất      Vệ tinh Tandem-X  Những cặp mắt của không gian  Không cái gì có thể qua mắt cặp vệ tinh sinh đôi Tandem-X, cho dù đó là các hẻm núi trong Vườn quốc gia Flinders Ranges ở Australia, các hòn đảo Canada những ngọn núi lửa hiểm trở trên bán đảo Kamtschatka của Nga. Cách trái đất trên 500 km, cặp đôi vệ tinh giám sát trái đất này có nhiệm vụ đo bề mặt trái đất.  Tandem-X hoạt động như cặp mắt nhân tạo. Do chụp được các hình ảnh giống nhau từ nhiều góc độ với độ xê xích từng góc độ ở mức rất nhỏ, các nhà khoa học thuộc Trung tâm hàng không và vũ trụ Đức (DLR) có thể tạo ra một tấm bản đồ ba chiều của trái đất với độ chính xác gấp 30 lần so với những bản đồ hiện nay. Các dữ liệu này còn đem lại nhiều thông tin về những khu vực còn nhiều bí ẩn trên trái đất khi chỉ có một vài thông tin sơ lược và không đầy đủ. Với cơ sở dữ liệu bản đồ thống nhất do Tandem-X cung cấp, DLR có thể hình thành một mô hình độ cao đồng nhất và chưa hề có trước đây về trái đất. Hệ thống dữ liệu khổng lồ này còn có thể cho họ biết rõ hơn những thay đổi về địa hình trái đất, thí dụ nguyên nhân dẫn đến những thay đổi đó là do biến đổi khí hậu hay băng tan, “thông qua những thay đổi chiều cao, sự xê dịch và thay đổi của chúng trong các mốc thời gian”, Alberto Moreira, giám đốc Viện Vi sóng và Rada DLR (Microwaves &Radar Institute DLR) giải thích.  Tandem-X chỉ là một trong nhiều dự án do DLR thực hiện nhằm mục tiêu đo đạc lại hành tinh với độ chính xác đến từng cm. Sự xuất hiện của các công cụ và phương tiện hiện đại với các phần mềm chuyên biệt như thế này đã khép lại lối đo đạc kinh điển mà con người vẫn thường sử dụng khi lên những tấm bản đồ thế giới.  Góp sức lớn vào việc đưa ra những cách thức đo đạc hiện đại này là sự phát triển của ngành khoa học vũ trụ. Sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh mang tên Sputnik đầu tiên lên quỹ đạo trái đất vào năm 1957 đã mở ra những thay đổi lớn lao trong việc quan sát trái đất bằng vệ tinh. Theo thời gian, các vệ tinh đã được đưa lên độ cao ngày càng lớn hơn, qua đó giúp con người hiểu biết rõ hơn về sự phát triển của hành tinh chúng ta.  “Ưu điểm chính của việc quan sát trái đất bằng vệ tinh là tính toàn cầu, khi đó không có đường biên giới, không có sự phân biệt giữa các quốc gia”, ông Stefan  Dech, giám đốc Trung tâm dữ liệu viễn thám DLR nhấn mạnh.  Năm 1998, Liên minh châu Âu đã xúc tiến một dự án mang tên Copernicus. Các nhà khoa học tham gia dự án đã sử dụng bảy vệ tinh chuyên dụng để nghiên cứu những gì đang diễn ra trêntrái đất. Mỗi vệ tinh đều được trang bị thiết bị công nghệ đo đạc riêng biệt. Chúng có nhiệm vụ nắm bắt sự vận động của các mảng kiến tạo, hợp chất hoá học trong không khí và những thay đổi của cây cối trên trái đất.  Trên thực tế, sự phát triển của công nghệ vũ trụ châu Âu sẽ hữu ích với trái đất. Một hội nghị được tổ chức ở Hà Lan gần đây đã cho thấy, có thể sử dụng dữ liệu từ các hệ thống vệ tinh để áp dùng vào những lĩnh vực cụ thể nào trong cuộc sống. “Nó như một bằng chứng sống động cho mọi người, đặc biệt đối với các tổ chức chính trị, về những gì diễn ra trên trái đất, ví dụ về hiện trạng đốn cây phá rừng. Chúng ta rất muốn biết ở đâu rừng đang bị phá và tình hình chung về rừng trên hành tinh của chúng ta hiện nay ra sao”, ông Stefan Dech diễn giải.  Các giữ liệu vệ tinh cũng hỗ trợ các chính phủ, các tổ chức trong việc chống lại nạn đánh bắt hải sản trái phép trên biển. Hiện tại, nhiều khu vực trên thế giới rơi vào cảnh khốn đốn vì nguồn thủy hải sản bị đánh bắt đến độ cạn kiệt. Vì vậy, dự án “Mắt biển” (Eyes on the Seas) đã ra đời nhằm thu thập các thông tin liên lạc giữa các tàu cá và hình ảnh từ vệ tinh. Trên cơ sở số liệu này, các nhà phân tích có thể khẳng định liệu trong vùng lãnh hải có tàu cá phi pháp hay không bởi ngay cả hướng đi và sự thay đổi tốc độ của tàu cũng là những dấu hiệu về việc đánh bắt phi pháp.  Thường những “con mắt bay” trên quỹ đạo là yếu tố duy nhất để quan sát những gì đang diễn ra trên biển cả mênh mông. Ngoài các tàu đánh bắt hải sản, các vệ tinh cũng có thể quan sát hải trình của tàu chở dầu vì nhiều khi những con tàu này thường lén sục và xả dầu cặn giữa biển để tiết kiệm chi phí dẫn đến những vụ ô nhiễm môi trường nặng nề.  Vệ tinh thâm nhập ngày càng sâu hơn vào cuộc sống hàng ngày của con người, ví dụ chúng ta có thể xác định lại vị trí của mình ở những khu vực lạ mà không ý thức được rằng chính các vệ tinh đã giúp chúng ta làm việc đó.   Ngày nay, nếu không có hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System GPS) thì nhiều hoạt động của con người ắt hẳn sẽ gặp nhiều khó khăn. Smartphone, máy tính bảng và thiết bị dẫn đường mà chúng ta đang sử dụng hàng ngày đều dựa trên dữ liệu của những vệ tinh bay vòng quay trái đất.  Mọi người đều có thể sử dụng hệ thống xác định vị trí GPS do Bộ Quốc phòng Mỹ thiết kế, xây dựng và quản lý này, tuy nhiên một vài quốc gia không muốn bị lệ thuộc vào GPS: Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) thiết lập một hệ thống vệ tinh riêng mang tên Galileo với 30 vệ tinh ở độ cao 23.000 km. Tương tự, Nga và Trung Quốc cũng có các hệ thống vệ tinh của riêng mình.  Các phương pháp cũ có lỗi thời?  Không chỉ các quỹ đạo vệ tinh đảm trách việc đo đạc thế giới mà ngày nay người ta vẫn thu thập nhiều dữ liệu theo cách thông thường, thí dụ thiết bị định vị (Navi) ở trong xe ô tô vẫn cần nhiều thông tin hơn cả nguồn thông tin từ không gian là không đủ vì vệ tinh làm sao biết được tốc độ tối đa của mỗi đoạn đường, làm sao biết được một tuyến đường dẫn mới vào đường xa lộ vừa được khai trương?  Các hãng như Apple, Google và Here, một công ty con của Nokia trước đây, đều tập trung vào việc thiết lập những bản đồ. Để làm được điều đó, một đội quân các nhà phân tích địa lý ngày ngày rong ruổi trên mọi nẻo đường, trên những xe chuyên dụng được trang bị  máy dò laser để phát hiện và ghi nhận các đường phố, toà nhà và các công trình khác nhau, qua đó bổ sung cho cỗ máy bản đồ những dữ liệu mới nhất.   Trên các dữ liệu thông tin. các siêu máy tính sẽ tính toán và lập bản đồ thế giới, tấm bản đồ này hoàn toàn không có gì giống như các tập bản đồ trước đây cũng như các bản đồ giới thiệu các đô thị. “Tấm bản đồ này là sự sao chụp theo thời gian thực nên thể hiện được những thay đổi nhỏ nhất”, Christof Hellmis của Chương trình định vị Gate5 Nokia giải thích. Sự chính xác này của bản đồ hết sức quan trọng đối với những thiết bị tự động, chuyên thực hiện những công việc hay hành động đòi hỏi không được mắc sai lầm.  Sự xâm nhập đời sống của các vệ tinh  Số hoá đã tham gia vào những lĩnh vực ngày càng rộng lớn hơn trong cuộc sống của chúng ta . Với đồng hồ- GPS đeo tay các bậc cha mẹ luôn biết rõ con cái họ đang ở đâu. Trong lĩnh vực y tế việc giám sát từ vệ tinh cũng sẽ ngày càng có vai trò to lớn hơn: việc đo các chức năng cơ thể của bản thân mỗi người sẽ ngày càng trở nên phổ cập hơn. Trong thể thao GPS-Tracker trong Smartphone hầu như đã trở thành trang bị tiêu chuẩn. Cảm biến về tần số tim có thể đo cường  độ của một  Work-outs và lượng calo  bị đốt cháy. Thiết bị này có thể bổ ích đối với những người bị bệnh tim, mạch  – và nó giúp để tránh xẩy ra nhịp tim quá cao. Các thiết bị  Smartwatches mới có thể chuyển các dữ liệu đã thu thập được tới thầy thuốc.  Thường giới quân sự có nguồn lực tốt nhất để phát triển công nghệ mới. Ví dụ máy bay do thám không người lái MQ-9 “Reaper” của Hoa kỳ gắn máy chụp ảnh mạnh tới mức người ta vẫn có thể đọc được biển số xe cách đó 3km. Nó được điều khiển từ những căn cứ quân sự khá xa và không chỉ làm nhiệm vụ do thám. Loại thiết bị không người lái này chỉ có thể thực hiện được nhờ hệ thống định vị GPS có độ phân giải cao và đạt độ chính xác tới từng cm.  Nhờ công nghệ vệ tinh, vấn đề an ninh, an toàn sẽ được cải thiện không chỉ trong chỉ đạo chiến tranh  mà cả trong giao thông đường bộ. Trên các tuyến đường giao thông trên khắp thế giới mỗi năm có tới trên một triệu ca tử vong vì tai nạn giao thông. Ô tô- robot sẽ thay đổi tình trạng này.  Không chỉ có các hãng sản xuất ô tô lâu đời đang nghiên cứu về vấn đề này, cuộc chạy đua để tìm ra những giải pháp cho tương lai đã diễn ra từ lâu.  Thí dụ xe ô tô của Google đang theo đuổi một sự thay đổi mang tính cách mạng, đó là  ô tô không có vô lăng. Trong xe ô tô của các hãng truyền thống người lái xe vẫn có một chỗ ngồi cố định của mình, tuy nhiên hệ thống trợ lý đang đảm nhận ngày càng nhiều công việc của người lái xe.    Liệu thế giới mới của sự di động có thực hiện được hay không, điều này sẽ được quyết định trên những con đường. Tại các cơ sở thử nghiệm trên khắp thế giới người ta thấy ngày càng có nhiều ô tô tự chạy trên các tuyến đường giao thông công cộng.  Không còn lâu nữa, người ta chỉ cần ấn nút, những chiếc xe này sẽ sẽ đưa chúng ta tới đích. Nhờ vệ tinh dẫn đường, xe có thể chạy mà không gây tai nạn. Máy tính được lắp đặt trên xe có khả năng định hướng theo dữ liệu vệ tinh và các trạm  rađa- mini lắp trong xe. Các nhà nghiên cứu đang tìm cách liên kết các hệ thống này ô tô có thể trao đổi thông tin với nhau, nhờ đó tránh gây ùn tắc và tai nạn. Sẽ đến ngày xuất hiện một loạt xe thông minh chạy tự động và bảo đảm giao thông trên các tuyến đường đều thuận lợi.   Công nghệ đo đạc hiện đại tạo ra vô vàn khả năng ứng dụng khác. Nhờ các vệ tinh chúng ta giờ đây có hình ảnh trái đất một cách rõ ràng nhất. Tuy nhiên chúng ta có nên hoàn toàn dựa vào các dòng chảy dữ liệu và khả năng của các kỹ thuật viên và các nhà lập trình? “Một câu hỏi luôn hiện hữu: liệu có quá nhiều dữ liệu không? Chúng ta đã có quá đủ thông tin rồi đấy chứ?”, Stefan Dech nói, “điều quyết định không phải là khối lượng dữ liệu mà là việc chúng ta lựa chọn gì từ các dữ liệu đó. Cần biết giữ chừng mực trước những đòi hỏi phải có thật nhiều số liệu đo đạc. Bởi lẽ sự đo đạc lại thế giới mở ra nhiều cơ hội to lớn  –  nhưng trong đó cũng ẩn chứa nhiều  rủi ro”.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article157923789/Die-Neuvermessung-unserer-Welt.html    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Đo lường quang học tại Viện Đo lường Việt Nam: Định hướng phát triển      Đo lường là một lĩnh vực khoa học và công nghệ chính xác, có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, an ninh và quốc phòng, gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế và sự thịnh vượng của mỗi quốc gia dân tộc.    Hệ thống chuẩn quang thông được nghiên cứu, chế tạo tại phòng đo lường Quang họcCông tác Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng có ở bất cứ quốc gia nào, đặc biệt công tác đo lường gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế và sự thịnh vượng của mỗi quốc gia dân tộc. Đo lường là một lĩnh vực khoa học và công nghệ chính xác có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, an ninh và quốc phòng của một quốc gia. Đo lường tham gia vào hầu hết các hoạt động trong xã hội,từ đời sống thường nhật đến những công việc thuộc phạm vi của các ngành khoa học, công nghệ cao, những công việc mang tính toàn cầu,… Đo lường chính xác và thống nhất giúp góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt; công bằng trong thương mại; đảm bảo được sự trong sạch của môi trường, sức khỏe của nhân dân và phát triển khoa học và công nghệ.  Viện Đo lường Việt Nam là Tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực đo lường, nghiên cứu, thiết lập, duy trì, bảo quản và khai thác hệ thống chuẩn đo lường quốc gia; ứng dụng khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ về đo lường. Hiện nay, Viện Đo lường Việt Nam đã đầu tư xây dựng được 11 lĩnh vực đo lường,trong đó, đo lường quang học đã được định hướng xây dựng, phát triển từ năm 2010. Chỉ trong thời gian 6 năm, phòng đo lường Quang học đã xây dựng, phát triển được các hệ thống chuẩn như: cường độ sáng; quang thông; quang phổ và màu; quang thông tin,… đáp ứng được một phần nhiệm vụ của Viện.  Để có được kết quả này, tất cả là nhờ vào tinh thần đoàn kết vươn lên, ham học hỏi, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và giảng dạy của tập thể cán bộ phòng đo lường Quang học, tiêu biểu là TS. Cao Xuân Quân (Trưởng phòng – Phó viện trưởng Viện Đo lường Việt Nam). Tiến sĩ Quân đã có trên 10 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế, 01 giải nhì giải thưởng khoa học công nghệ đo lường Việt Nam năm 2015, chủ nhiệm 02 đề tài cấp bộ, đã được công nhận chuẩn quốc gia cường độ sáng (theo Quyết định số 549/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2016 của Bộ Khoa học và Công nghệ). Đặc biệt đồng chí đã nhận được 02 bằng độc quyền sáng chế lĩnh vực đo lường quang học tại quyết định số 24224/QĐ-SHTT ngày 28/4/2016 (Tên sáng chế : Phương pháp xác định quang thông của nhiều LED công suất cao gắn trên bảng mạch không sử dụng bộ ổn nhiệt độ) và tại quyết định số 31614/QĐ-SHTT ngày 31/5/2016 (Tên sáng chế: Hệ đo quang thông).  Không chỉ trong công tác nghiên cứu khoa học, đồng chí còn tham gia hướng dẫn tốt nghiệp cho 8 sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong đó có 02 sinh viên đoạt giải nhất giải nghiên cứu khoa học cấp trường 2013-2014.  Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ; trước những thách thức và cơ hội lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, việc định hướng đúng trong xây dựng, phát triển các lĩnh vực đo lường tại Viện Đo lường Việt Nam nói chung và đối với lĩnh vực đo lường Quang học nói riêng lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, trong đó, con người là nhân tố quyết định cho sự phát triển các lĩnh vực này.    Author                P.V        
__label__tiasang Đỏ yên chi: Hơn cả lịch sử về một màu sắc      Trong suốt quá trình tồn tại của mình, axít carminic, chất được trích xuất từ những con rệp son sống trên cây xương rồng lê gai Nam Mỹ tạo ra màu đỏ yên chi, đã tác động đến đời sống tôn giáo và thế tục hơn người ta tưởng. Ngày nay, nó còn khiến các nhà khoa học đau đầu về mình.    Đỏ yên chi xuất phát từ những con bọ yên chi sống trên cây xương rồng lê gai Nam Mỹ. Màu đỏ yên chi đã được sử dụng rộng rãi trong tầng lớn trên của xã hội Inca, và thường được miêu tả là “đỏ máu”. Nguồn: blogs.getty.edu  Không ai còn xa lạ với màu đỏ – màu mang tính biểu trưng của máu, lửa, sự sinh sôi và cả quyền lực. Nhiều nghiên cứu cho thấy màu đỏ kích thích cả mạch lẫn hơi thở của chúng ta. Các nền văn hóa ở các không gian và thời gian khác nhau đều biết đến giá trị của màu đỏ. Dù với màu vẽ, mực in hay phẩm nhuộm thì màu đỏ sáng là một trong những màu phức tạp nhất và đắt giá nhất được sáng tạo ra. Mỗi nền văn hóa có một cách riêng để tạo ra màu đỏ: người Ai Cập cổ đại sử dụng quặng hematit màu đỏ cam (ô xít sắt) hoặc khoáng chất hoàng thổ đỏ để nhuộm vải linen cho các nghi lễ; người Trung Quốc thời kỳ Chiến quốc sử dụng chu sa (loại khoáng vật cinnabarit của thủy ngân sẵn có trong tự nhiên, có màu đỏ) để trang trí hoặc luyện đan; ở Peru, người ta cũng dùng ô xít sắt, chì đỏ, thủy ngân để tô màu.   Một số nền văn hóa khác ở châu Âu, châu Á sử dụng màu đỏ từ thực vật, như rễ và hoa các cây thiên thảo, cây rum, cây alkanet…, vẫn thường đem lại màu đỏ chuyển sang tía. Nhưng có lẽ không có gì sánh nổi với màu đỏ thắm và rực rỡ từ Dactylopius coccus, những con côn trùng nhỏ bé thuộc họ Cocoidea (hay còn được gọi là rệp son, bọ yên chi) – nguồn gốc của những màu đỏ nổi tiếng như đỏ kermes, đỏ cánh kiến, và đỏ cochineal (đỏ yên chi). Những màu này nổi tiếng và thu hút đến nỗi, trong tiếng Ả Rập và Ba Tư cổ, từ đỏ là qirmiz, tiếng Sankrit là krimija…   Vào những năm 1520, khi những người Tây Ban Nha trở về từ Mexico, một trong số những báu vật họ mang về là một vài mẫu nguyên liệu để sau đó tạo ra màu đỏ châu Âu thu hút bậc nhất. Và do đó, vào những năm 1550, cùng với vàng và một số sản vật khác, những con thuyền buồm Tây Ban Nha đã chở cochineal, thứ bột được chiết xuất từ xác những con côn trùng cái Cochineal (chủ yếu gồm a xít carminic). Họ dự định sử dụng món quà quý giá này của Tân thế giới về quê hương với mục đích thay thế cho những màu đỏ hiện hành.   Đó là bước đầu tiên chinh phục thế giới của đỏ yên chi, một màu sắc mà ngay lập tức đã mở ra rất nhiều điều hấp dẫn ở những nơi nó xuất hiện.  Một lịch sử thăng giáng  Khi nhìn thấy sắc thắm của đỏ yên chi trên trang phục của những người thổ dân Nam Mỹ, những người Tây Ban Nha đã hiểu ra đây là một màu nhuộm huyền thoại mà họ, thậm chí là thế giới, ao ước. Nhưng không chờ đến sự đánh giả của những kẻ xâm lược này, những người Inca đã hiểu rõ tầm quan trọng của màu. Trong cuốn Cochineal Red: The Art History of a Color (Đỏ yên chi: Lịch sử nghệ thuật của một màu sắc), Elena Phipps – một học giả nghiên cứu về vải vóc người Mỹ, cho rằng, màu đỏ yên chi đã được sử dụng rộng rãi trong tầng lớp trên của xã hội Inca, và thường được miêu tả là “đỏ máu”. Trong thực hành nghi lễ và thờ cúng tôn giáo, trang phục màu đỏ là tín hiệu biểu thị sự thiêng liêng của các vị thần linh. Đặc biệt trong nghi lễ hiến tế thần sét Ilyapa sống trên các đỉnh núi cao, những thiếu nữ Inca thường mặc quần áo nhuộm đỏ và trắng.     Đỏ yên chi vẫn là thứ màu độc quyền của người Tây Ban Nha. Họ càng có nhiều cơ hội thu bộn tiền từ nó bởi kể từ khi châu Âu biết đến đỏ yên chi, thứ màu quyến rũ này đã có mặt trên toàn thế giới với tốc độ nhanh như cháy rừng: nó được các đế chế tin dùng, xuất hiện trên những trang phục tôn giáo và hơn nữa, có mặt trên các kiệt tác hội họa. Khắp toàn cầu, đỏ yên chi có vô số tên gọi khác: ở Trung Quốc, nó là “đỏ ngoại”, ở Ý “đỏ côn trùng”, Bắc châu Âu nó là “đỏ Hà Lan”, “hỏa sắc”…    Việc độc chiếm bí quyết và nguồn nguyên liệu rệp son đã đem lại sự thịnh vượng cho người Tây Ban Nha. “Đỏ yên chi, cùng với vàng và bạc từ châu Mỹ,” Phipps viết, “đã tô điểm cho vương miện Tây Ban Nha”. Ngay lập tức, đỏ yên chi đã được dùng để nhuộm những súc lụa, nhung châu Âu và cả những tấm thảm trang trí xa hoa. Vua Louis XIV từng đặt hàng vải nhuộm để bọc ghế và cho những tấm rèm che rủ những cái giường hoàng gia ở cung điện Versailles. Người Anh cũng bị màu này thu hút đến mức dùng nó để nhuộm vải len để may quân phục. Vào năm 1648, linh mục và nhà du hành người Anh Thomas Gage viết “Người Anh giống như mặt trời của họ, cũng rực lên màu đỏ và cũng sẽ gây ảnh hưởng như thế với bộ trang phục đỏ đến chừng nào bọ son còn được những người Inca tìm thấy”.   Theo lời các học giả thì sự giàu có từ việc thương mại hàng hóa liên quan đến đỏ yên chi đã khiến nó vươn lên vị trí thứ hai sau bạc. Ở châu Âu, ai cũng thèm muốn sức mạnh này trong tay người Tây Ban Nha, đặc biệt là người Pháp. Vào năm 1776, nhà thực vật học Nicolas-Joseph Thiery de Menonville – một gián điệp Pháp đã tới Oaxaca, vùng đất thuộc địa của Tây Ban Nha ở Mexico để đánh cắp rệp son. Trong thời gian tại đây, ông đã tìm cách xoay xở mua những con bọ sống và một số cây xương rồng rồi lén lút mang báu vật đó tới Veracruz và đảo Saint-Dominque (ngày nay là Haiti), thuộc địa của Pháp. Trớ trêu là trong cuộc đời mình, ông đã thành công với vanilla (từ Oaxaca), jalap (rễ cây làm thuốc tẩy từ Mexico), chàm (từ Guatemala), bông (từ Veracruz) nhưng với đỏ yên chi thì thất bại. Vận may của ông đã hết bởi hai năm sau vụ việc, ông chết vì sốt ác tính ở tuổi 41 và các con bọ son cũng không thể sống sót.   Những người thổ dân Nam Mỹ dùng màu đỏ yên chi để nhuộm áo. Nguồn: thecommons.ku.edu  Cũng như các bậc vua chúa và chức sắc tôn giáo, các họa sĩ khao khát có những màu đỏ mới có thể giúp họ miêu tả được những sắc thái tình cảm mãnh liệt. Do đó, họ nhanh chóng nhận ra màu đỏ yên chi có khả năng “đạt được những tông màu phong phú, căng nở và rực rỡ”, như lời nhận xét của Miguel Fernández Félix, giám đốc bảo tàng The Palace of Fine Arts, nơi từng tổ chức triển lãm về vào cuối năm 2017 “Mexican Red, the Cochineal in Art” (Đỏ Mexico, đỏ yên chi trong nghệ thuật). Một trong những họa sĩ châu Âu đầu tiên sử dụng màu này là họa sĩ Ý Tintoretto với bức “Christ Carried to the Tomb”, được cho là vẽ vào những năm 1550. Trong bức tranh này, ông đã sử dụng màu đỏ yên chi để tô đậm những manh áo lụa, tạo cho người xem cảm giác sống động như chạm được cả vào mặt vải. Sau đó đến lượt những bậc thầy Phục Hưng khác là Titian, Veronese… cũng chung niềm say mê đỏ yên chi.   Các họa sĩ này đều là người ở thành phố biển Venezia, nơi các hoạt động buôn bán giao thương rất thuận lợi. Những đồng nghiệp sau đó của họ như Diego Velázquez, Francisco de Zurbarán ở Seville, Rubens, Van Dyck, Rembrandt ở Antwerp và Amsterdam – những thành phố biển khác.  Vào thế kỷ 19, màu đỏ yên chi không còn gắn liền với quyền lực như trước. Khi bị thất sủng, đỏ yên chi chỉ giá trị trong mắt các họa sĩ Ấn tượng và Hậu Ấn tượng. Cézanne dùng nó để tô cơ bắp trong bức họa “The Bathers”, Renoir vẽ bà León Clapisson ngồi trên ghế tựa đỏ phía trước bức tường thấp thoáng ánh đỏ xen kẽ màu xám, xanh lam… “Carmine là màu đỏ của rượu vang và cũng ấm áp, sống động như rượu vang”, van Gogh đề cập đến tên khác của đỏ yên chi trong thư viết cho em trai Theo vào năm 1885.    Một trong những họa sĩ châu Âu đầu tiên sử dụng màu này là họa sĩ Ý Tintoretto với bức “Christ Carried to the Tomb”, được cho là vẽ vào những năm 1550. Trong bức tranh này, ông đã sử dụng màu đỏ yên chi để tô đậm những manh áo lụa, tạo cho người xem cảm giác sống động như chạm được cả vào mặt vải.    Van Gogh, hơn bất cứ ai, thích thú khám phá các đặc tính màu sắc của đỏ yên chi. Ví dụ trong “Phòng ngủ ở Arles”, một bộ ba bức ông vẽ ở Arles vào thời điểm gần cuối đời, đỏ yên chi xuất hiện trên bức tường và giường lúc ban đầu và trong màu hồng ấm áp của sàn gỗ mòn vẹt. “Nói ngắn gọn thì khi nhìn vào bức tranh, người ta sẽ phải cảm nhận được cái thanh thản của trí óc hay thậm chí là cả trí tưởng tượng”, ông viết.  Đỏ yên chi giữa cuộc sống đời thường  Không có gì là vĩnh viễn. Thời gian đã chứng kiến sự thăng trầm của màu đỏ yên chi bởi việc sử dụng axít carminic đã đi đến tàn lụi cùng với quá trình công nghiệp hóa và sự phát triển của các màu tổng hợp vào giữa thế kỷ 19, nhà hóa học chuyên về thuốc nhuộm y sinh Dick Dapson của Ủy ban Chất màu sinh học, nơi chịu trách nhiệm thử nghiệm và cấp giấy chứng nhận cho các loại màu, nhận xét.   Tình thế chỉ đảo ngược vào những năm 1970, khi những lo ngại về sức khỏe do những màu tổng hợp gây ra nổi lên – xuất phát từ những báo cáo về mối liên hệ giữa các loại màu sắc tổng hợp và tính tăng động ở trẻ em cũng như kết quả từ một số nghiên cứu về các tế bào và động vật cho thấy, các màu tổng hợp có thể là nguy cơ rủi ro dẫn đến ung thư. Điều này cuối cùng dẫn đến việc cấm dùng một số màu tổng hợp như màu đỏ số 2 và số 4. Các màu sắc từ tự nhiên như a xít carminic, do đó, bắt đầu phổ biến trở lại, Dapson nói.  Màu đỏ yên chi vẫn tiếp tục được tin dùng trong thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm. Không độc và màu sắc thu hút, nó được giới công nghiệp chào đón. Vào giữa những năm 1967 và 2009, Ủy ban Thuốc và Thực phẩm Mỹ FDA cuối cùng đã chính thức chấp nhận việc dùng chiết xuất đỏ yên chi và carmine cho nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, các dẫn xuất đỏ yên chi từ côn trùng này vẫn có mặt trong thành phần nguyên liệu cho sữa chua, bánh ngọt, kẹo, các loại đồ uống và thịt. Cái hay của việc sử dụng sản phẩm chứa chất chiết xuất từ côn trùng là không phải e ngại về sự nhiễm độc, nhà công nghệ sinh học Liberato Portillo Martinez của trường Đại học Guadalajara và là người đã nghiên cứu về rệp son hàng thập kỷ, lưu ý. Nếu ai đó còn băn khoăn thì nên nhớ là lượng chất được lấy từ rệp son quá nhỏ – và bên cạnh đó, ông cho biết thêm là có rất nhiều loại thực phẩm đã đươc chứng thực là an toàn và được chấp thuận lưu hành trên thị trường ngay cả khi chúng chứa một phần côn trùng.  Một trong những họa sĩ châu Âu đầu tiên sử dụng màu này là họa sĩ Ý Tintoretto với bức “Christ Carried to the Tomb”. Nguồn: Wikipedia  Lịch sử phát triển của màu đỏ yên chi không vì thế mà đi lên vĩnh viễn. Các màu tổng hợp vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm Mỹ, và số lượng người ăn chay, những người thuộc phe bảo vệ động vật không muốn ăn các thực phẩm chứa các thành phần carmine, ngày một gia tăng. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cho thấy, một số người bị dị ứng với màu đỏ yên chi từ những phân tử còn sót lại của rệp son, tuy nhiên theo Frandsen thì ở mức độ thấp hơn nhiều so với những loại dị ứng thực phẩm khác.  Tuy nhiên trên bình diện toàn cầu thì nhu cầu về a xít carminic vẫn gia tăng trong các ngành công nghiệp như bánh kẹo, mứt và thịt chế biến. Mặt khác, với giá cả ngày một leo thang của nhân công lao động, đang ảnh hưởng đến ngành sản xuất màu đỏ yên chi. Ở Peru, từ năm 2013 đến năm 2019, giá carmine tăng lên 40%. “Hãy xem, diện tích của xương rồng thì hữu hạn, mức tăng trưởng của cả vật chủ lẫn rệp son thì chậm chạp, việc tách chiết thì hoàn toàn thiếu hiệu quả”, Dapson phân tích. “Cũng có những cải thiện trong việc tách chiết và tinh chế nhưng không đủ để giải quyết vấn đề cốt lõi của việc xử lý và làm ra thành phẩm từ những con bọ này”.   Những thách thức hóa sinh  Ngày nay, Peru là nhà sản xuất rệp son lớn nhất thế giới, tiếp theo là Mexico, Chile, Argentina và đảo Canary của Tây Ban Nha. Tuy cả ngàn năm đã trôi qua nhưng nhiều khía cạnh của sản xuất ra sản phẩm vẫn tương tự như người Nam Mỹ bản địa: những người công nhân bắt đầu bằng “nuôi nấng” các con rệp son trong “trang trại” xương rồng lê gai thuộc loài Opuntia (ở Việt Nam gọi lưỡi long). Sau khi thu hoạch, các con rệp son được sấy khô và bán cho các nhà sản xuất để họ chiết xuất ra chất a xít carminic, vốn chiếm khoảng 20% tổng khối lượng của một con rệp son. Tuy nhiên để làm ra chất này, họ phải nghiền rệp son khô thành bột rồi hòa lẫn với muối theo một tỉ lệ nhất định và cô lập lấy carmine. Với các phương pháp khai thác hiện nay, ước tính từ khoảng 70.000 con rệp son, người ta có thể tạo ra được một pound (4,5 lạng) rệp son khô và 0,5 pound a xít carminic (2,25 lạng). “Mất rất nhiều công sức và thời gian nhưng cũng có thể tìm ra một chút niềm vui ở đây: nếu như anh bắt đầu công việc với rệp son, anh sẽ say mê nó ngay lập tức”, Portillo Martinez nói.  Nhu cầu về màu không ngừng gia tăng theo thời gian, qua đó gây sức ép lên tự nhiên. Vì vậy một số nhà khoa học đã nghĩ đến việc dùng kỹ thuật di truyền để tạo ra được axít carminic theo cách mà họ hy vọng là trở nên rẻ hơn, sản xuất nhanh hơn và bền vững hơn. Nỗ lực này, dẫu mới chỉ là trong phòng thí nghiệm nhưng có thể làm hài lòng những người không thích nguyên liệu màu sắc từ động vật có trong đồ ăn của mình, các nhà khoa học cho biết. “Nó có tiềm năng trở thành một cú chuyển đổi mô hình về sản xuất hợp chất này”, nhà sinh học tổng hợp Rasmus J. N. Frandsen của trường Đại học Công nghệ Đan Mạch, nói.  Các nhà nghiên cứu đã hướng đến kỹ thuật chuyển hóa (metabolic) – sự điều khiển/thao tác của những phản ứng của tế bào tự nhiên để tạo ra những sản phẩm mong muốn – để xem liệu họ có thể nghĩ ra một giải pháp bền vững cho nút thắt cổ chai của sản xuất cũng như giải quyết được mối lo ngại về thành phần động vật và căn bệnh dị ứng. Ý tưởng ở đây là tìm được những con đường chuyển hóa về mặt sinh tổng hợp bên trong các vi sinh vật để làm ra axít carminic.   Cách khai thác màu đỏ yên chi ngày nay cũng giống như những người thổ dân Nam Mỹ cách đây ngàn năm. Nguồn: publications.newberry.org  Và có những khả năng có thể khác. “Ngoài ra để tạo ra axít carminic, chúng tôi cũng sẽ có thể đem lại một tí thay đổi trong axít carminic. Có lẽ, chúng tôi sẽ tạo ra màu sắc đẹp hơn và có thể là độ hoạt hóa về mặt sinh học tốt hơn”, theo nhà kỹ thuật vi sinh Yong-Su Jin của ĐH Illinois tại Urbana-Champaign từng viết về các kỹ thuật di truyền mới nổi trong sản xuất màu thực phẩm và hương vị trên Annual Review of Food Science and Technology 2022.  Nhưng có những thách thức trong các hướng đi đó. Một trong số đó là axít carminic có cấu trúc phức tạp: một cấu trúc ba vòng trung tâm gọi là anthraquinone để gắn một phân tử glucose và một vài nhóm hóa học khác. Điều này khiến việc tổng hợp axít carminic với số lượng lớn trở nên phức tạp, nhà hóa học công nghiệp David Bott của Hội Hóa Công nghiệp, cho biết.  Các nhà khoa học còn chưa biết đích xác con đường hóa sinh đầy đủ để rệp son tạo ra hợp chất này, Frandsen lưu ý. Và vì vậy trong gần thập kỷ qua, nhóm nghiên cứu của ông đã quyết định nghiên cứu về cấu trúc của sản phẩm cuối – axít carminic – và hình dung ra cách kỹ thuật đảo ngược với các enzyme từ các quá trình sinh hóa đã biết. Frandsen và cộng sự bắt đầu bằng việc dự đoán những nguyên liệu cần thiết ban đầu và các bước sinh hóa cũng như các enzyme xúc tác cho các bước đó. Họ đã tìm ra tám con đường sinh hóa tiềm năng có thể tạo ra axít carminic và thử nghiệm trên nhiều vật chủ bằng kỹ thuật di truyền để cuối cùng chọn được Aspergillus nidulans, một loại nấm đã được nghiên cứu rất nhiều. Nó khiến cho việc tìm ra những thành phần hóa học chính cho các phản ứng trở nên vừa dễ lại vừa khó.  Thông qua thử và sai, họ đã tạo ra được ba vòng nối của axít carminic sau khi xóa đi một số gene của loài nấm này (để loại đi những con đường hóa sinh có thể cạnh tranh) và gắn thêm một số gene khác (một từ cây và hai từ vi khuẩn) để có được những enzyme phù hợp. Cái lõi này sau đó được một enzyme còn chưa được xác định trong Aspergillus xử lý để tạo ra một cấu trúc trung gian là axít kermesic.   Cuối cùng, việc gắn thêm một gene từ bọ son có thể đem lại một enzyme chuyển đổi axít kermesic thành axít carminic. Khi loài nấm này được thiết kế với tất cả các gene này, thứ “nước tổng hợp” trong đó sẽ chuyển sang màu đỏ. Công trình của nhóm nghiên cứu, xuất bản vào năm 2018, đã cho thấy về mặt nguyên tắc một vi sinh vật có thể được thiết kế để tạo ra axít carminic. Nhưng hiệu quả của phản ứng này giờ mới tiệm cận mức gần với việc sản xuất ở quy mô công nghiệp, Frandsen nói. Và vẫn còn một enzyme nằm trong vòng bí mật nên vô cùng khó tối ưu được quy trình sản xuất.  “Vẫn còn là một cuộc chiến với rất nhiều thứ về mặt lý thuyết mà chưa chắc đã thành hình trong thế giới thật”, ông nói. “Sự thật về sinh hóa tổng hợp là quy trình này vẫn còn ở giai đoạn sớm và kết quả thông thường vẫn là ‘chúng tôi đã làm nó một cách dễ dàng nhưng thực tế thì luôn khác biệt’”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.nytimes.com/2017/11/27/arts/design/red-dye-cochineal-treasure-mexico-city-history.html  https://knowablemagazine.org/article/technology/2022/cochineal-red-dye-bugs-moves-lab      Author                .        
__label__tiasang Doanh nghiệp ÐBSCL vẫn “loay hoay” trước bài toán công nghệ      Chiều ngày 24/3/2015, trong khuôn khổ hội  chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao tại An Giang, điểm đến mở đầu của chuỗi  hội chợ năm 2015, 150 người gồm nông dân An Giang và các tỉnh lân cận,  các doanh nghiệp địa phương, các nhà nghiên cứu từ TPHCM, Cần Thơ và các  tỉnh khác, cùng lãnh đạo chính quyền các tỉnh, lãnh đạo các Sở  KH&amp;CN tham gia cuộc hội thảo “Giải pháp tăng hàm lượng đổi mới  sáng tạo trong tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL” nhằm thúc đẩy hợp tác thiết  thực giữa nhà  sản xuất với giới nghiên cứu KH&amp;CN. Thứ trưởng Bộ  KH&amp;CN Phạm  Công Tạc đã tham dự hội thảo.    Tại hội thảo, các đại biểu đã đưa ra nhiều dẫn chứng về những “loay hoay” khá lâu của doanh nghiệp đồng bằng trước bài toán công nghệ. Cơ sở muối sấy Ngọc Yến ở huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) tự chế ra máy xay ớt, hiện thời khó khăn lớn nhất là cần chiếc máy sấy muối ướt, nhưng đặt hàng nhiều xưởng cơ khí chưa ai làm được. Cơ sở Bánh hạnh nhân Tiến Anh (An Giang) muốn tìm máy làm bánh hạnh nhân hình bông mai nhưng không nơi nào  đáp ứng vì chất liệu bột khá đặc biệt, cơ sở phải mày mò tự làm, mất mấy năm mới tạm ổn. Cty Bột thực phẩm Bích Chi (Đồng Tháp) đã  làm ra miến ăn liền từ khoai lang, xuất được qua Mỹ, Hàn Quốc và bán chạy trong nước, nhưng đến giờ vẫn phải mua bột nguyên liệu chế biến từ khoai lang của các nhà máy Hàn Quốc ở Bình Dương mà oái ăm thay, các nhà máy này đi mua khoai nguyên liệu từ tỉnh Đồng Tháp, Vịnh Long… lân cận.  Nguyên nhân của thực trạng này có nhiều nhưng trước hết là do mối quan hệ giữa viện, trường và doanh nghiệp vẫn còn có lỏng lẻo. Trước việc anh Hà Xuân Long, giám đốc Cty CP Ramsa, tỉnh Đồng Tháp, muốn tìm công nghệ kéo dài thời gian bảo quản thành phẩm sữa sen, sau khi đã ứng dụng  thành công nghiên cứu chế biến sữa từ sen của trường ĐH Cần Thơ, ông Đỗ Việt Hà, phó trưởng BQL Khu nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh khẳng định, không khó, chúng tôi mời anh khăn gói lên, chịu khó ở lại Trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ của chúng tôi chừng một tuần, mười ngày cùng làm với các chuyên gia…  Bà Lê Hà Mộng Ngọc, Cty CP công nghệ sinh học Nấm Việt đang tìm kiếm công nghệ sấy mộc nhỉ, và ngay lập tức, tại hội trường có bốn ứng viên cùng đưa ra giải pháp.   PGS TS Dương Văn Chín, GĐ Trung tâm nghiên cứu Định Thành (Cty CP Bảo vệ thực vật An Giang-AGPPS) chia sẻ quá trình thương mại hóa các thành tựu nghiên cứu khoa học của các Viện-trường trong xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo của AGPPS và mong muốn dưới sự  điều phối chung của Bộ KH&CN, các Viện trường nghiên cứu sẽ tổ chức thêm nhiều cuộc giới thiệu công khai các thành quả nghiên cứu, công nghệ mới, và cùng doanh nghiệp bàn thảo để tiến tới thương lượng chuyển giao đưa công nghệ mới vào quá trình sản xuất nông nghiệp càng nhanh càng giảm được bất lợi thế của nông nghiệp Việt Nam.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp Bùi Văn Ngọ: Không dừng lại ở sản phẩm cơ khí      Nổi tiếng với những sản phẩm máy móc cơ khí công nghiệp, mới đây doanh nghiệp Bùi Văn Ngọ đang tập trung xây dựng thương hiệu Bùi Văn Ngọ Foods với hai sản phẩm chính là cà phê và bánh ngọt, và sắp tới là&#160; Bùi Văn Ngọ Furniture chuyên đồ nội thất.    Tại Techmart 2015, nhiều người bất ngờ khi nhìn thấy những sản phẩm mới được trưng bày trong gian hàng của doanh nghiệp Bùi Văn Ngọ, cà phê và bánh ngọt được đóng gói trong bao bì trang nhã và hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là những sản phẩm mới của Bùi Văn Ngọ Food, công ty chuyên về cà phê bột và các loại bánh.   Để có được những sản phẩm này, công ty Bùi Văn Ngọ đã bỏ ra rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu sâu về công nghệ chế biến nông sản dạng hạt các loại như lúa gạo, cà phê, đậu xanh, vừng, hồ tiêu… Công ty thực hiện song song hai vấn đề: tận dụng ưu thế kinh nghiệm về các loại máy móc cơ khí công nghiệp để chế tạo máy móc chế biến sản phẩm thực phẩm tiêu dùng và nghiên cứu thêm về tính chất, cách chế biến các loại bột nguyên liệu, quy trình làm bánh, rang xay cà phê thành phẩm. Mục tiêu của công ty là phải đảm bảo cho sản phẩm thực phẩm giữ vững nét đặc sắc của Bùi Văn Ngọ cơ khí: đạt đạt chất lượng quốc tế và có giá cả Việt Nam nhằm đưa sản phẩm đến rộng rãi với người tiêu dùng.   Trong thực tế, Bùi Văn Ngọ phải trải qua rất nhiều khảo nghiệm thiết bị, thử nghiệm công nghệ chế biến mới có những cải tiến mới, hiệu quả. Đề cập đến nỗ lực này của Bùi Văn Ngọ, ông Bùi Trọng Nghĩa, Giám đốc kỹ thuật công ty, cho biết các thiết bị ngành cà phê nhập từ Brazil không phù hợp với khẩu vị cà phê vị tự nhiên ở Việt Nam trong khi “máy móc công ty sản xuất lại giúp giữ hương vị tự nhiên của cà phê. Qua tìm tòi, doanh nghiệp đã nhận được bằng sáng chế khi đưa ra các giải pháp ứng dụng hiệu quả hơn từ khâu sấy, đánh bóng, rang xay cà phê”.  Sau khi được sản xuất thử nghiệm, những thiết bị pha cà phê sẽ được công ty hoàn thiện về chất lượng và kiểu dáng nhằm hướng tới đưa vào sử dụng tại chuỗi các cửa hàng bán cà phê của công ty, vốn đã được mở tại nhiều điểm như Bình Tân (TP.HCM), Đà Lạt, Long Xuyên, Cần Thơ… Chuỗi quán cà phê của Bùi Văn Ngọ với hai sản phẩm chính là bánh ngọt mang dáng dấp bánh Pháp và cà phê mang hương vị đặc trưng Việt Nam, đảm bảo “sạch từ trang trại đến bàn ăn”. Đây cũng là những giải pháp góp phần làm gia tăng giá trị cho hạt gạo, hạt cà phê Việt Nam. “Chúng tôi cam kết đảm bảo chất lượng, đúng tiêu chí cà phê sạch từ rang xay, đóng gói, hướng tới khả năng tham gia đầu tư khâu trồng theo hướng sạch”, ông Nghĩa cho biết.  Trong thời gian tới, doanh nghiệp Bùi Văn Ngọ sẽ còn tấn công thị trường mới, thị trường nội thất với thương hiệu Bùi Văn Ngọ Furniture.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp cần đổi mới sáng tạo      Bộ chỉ tiêu đo lường năng lực đổi mới sáng tạo (ĐMST) doanh nghiệp do Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) và DHVP Research phát triển thực hiện trong 2 tháng đầu năm 2014, với 19 thành viên của CLB Doanh nghiệp dẫn đầu (BSA/LBC); ghi nhận đóng góp trách nhiệm xã hội của nhóm doanh nghiệp sớm nhận thức giá trị của ĐMST toàn diện trong sản xuất và kinh doanh.    19 doanh nghiệp đầu tiên tham gia khảo sát hoạt động trong 8 nhóm ngành sản xuất. Nhóm doanh nghiệp này có quy mô tổng tài sản ước trên 24.000 tỉ đồng, sử dụng trên 28.000 lao động và ước đạt doanh thu 35.000 tỉ đồng trong năm 2013. Ba nhóm ngành có số doanh nghiệp tham gia nhiều nhất là gia dụng, dược phẩm và thực phẩm.     ĐMST được xem công việc khó, đòi hỏi nỗ lực đầu tư lâu dài, có ý nghĩa sống còn với doanh nghiệp trong duy trì ưu thế hiện tại trên thương trường, vừa kiến tạo tương lai doanh nghiệp. Ông Cổ Gia Thọ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thiên Long, cho rằng không thể nói vì doanh nghiệp còn nghèo mà không đầu tư cho ĐMST nếu muốn công ty còn tiếp tục sống và phát triển. Còn theo Công ty PNJ và Saigon Food, thay vì huy động nhiều hơn đầu vào, họ gia tăng lượng thông tin đầu vào cho quá trình lọc thông tin đa tầng bằng việc tăng cường tiếp xúc, trao đổi với đội ngũ nhân viên hoặc tổ chức các cuộc thi ý tưởng.     Doanh nghiệp quá tập trung vào những phát kiến mới, liên tiếp đưa sản phẩm mới ra thị trường sẽ dẫn tới “ngộ độc” ĐMST. Một giải pháp để doanh nghiệp không cần ngần ngại với các phát kiến, đó là tuân thủ một kỷ luật sáng tạo liên ngành-liên lĩnh vực, theo đó hoạt động sáng tạo, phát kiến phải gắn chặt với quá trình hoạch định và triển khai chiến lược.     Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng Giám đốc Vinamit, cho biết tại Vinamit, ĐMST phải làm liên tục, còn đem xài lúc nào thì phải tính kỹ. Khi doanh số sản phẩm truyền thống chững lại là lúc tung sản phẩm cải tiến. Còn với NaMilux và Traphaco, ĐMST phải đi liền với tinh thần trách nhiệm. Đó là trách nhiệm duy trì một nguồn cung ổn định cho các đối tác và người tiêu dùng của ông Nguyễn Mạnh Dũng (NaMilux). Đội ngũ NaMilux luôn phải tìm tòi các giải pháp cải tiến và đổi mới nhưng để ứng dụng phải trải qua một quá trình thử nghiệm và kiểm tra ngặt nghèo, kết hợp với tham vấn ý kiến chuyên môn của đối tác quốc tế. Đối với Traphaco, ĐMST không thể tiến hành bằng việc thay thế hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân bằng dây chuyền tự động hóa. Thay vào đó, ĐMST phải là những cách bán hàng thông minh hơn, gần gũi hơn với người tiêu dùng.     Trong mẫu khảo sát 19 doanh nghiệp dẫn đầu, người lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò nổi bật trong thành công ĐMST. Thực tế này gợi lên băn khoăn về tính bền vững của năng lực ĐMST trong các doanh nghiệp và khả năng tiếp nối thành công của thế hệ kế cận. Phương pháp tổ chức quá trình lao động sáng tạo và tính kỷ luật trong thực thi phương pháp mà doanh nghiệp đang theo là dấu hiệu đáng tin cậy phản chiếu sức mạnh cạnh tranh ĐMST của doanh nghiệp trong tương lai.     Từ hơn 10 năm trước sự kiện kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Minh Long đã phôi thai ý tưởng về một sản phẩm gốm đỉnh cao để đời. Sau đó là 5-6 năm tìm tòi ý tưởng. Tiếp theo là 3-4 làm thử, hỏng, và làm lại. Tận tới sáng ngày bàn giao, khi chiếc xe chuyên chở lùi vào trong xưởng thì chiếc chén ngọc – chỉ nung một lần mà rất hoàn chỉnh – mới được ra đời. Hoặc với sản phẩm ngựa cho năm Giáp Ngọ, Minh Long I đã bắt đầu 20 năm trước nhưng tới giờ mới hoàn thiện quy trình nặn tượng tới mức thợ lành nghề đều làm được ngay.             Trong đợt khảo sát ĐMST đợt này có 19 doanh nghiệp là Công ty TNHH Cơ  khí Công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, Công ty CP Công nghiệp Cao su Miền  Nam, Doanh nghiệp Tư nhân Bánh kẹo Á Châu,  Công ty CP Giấy Sài Gòn,  Công ty CP Thiết bị Nhà bếp Vina, Công ty CP Bóng đèn Điện Quang, Công  ty CP Sản xuất Nhựa Duy Tân, Công ty TNHH Minh Long I, Công ty CP Vàng  bạc Đá quý Phú Nhuận, Công ty CP Thời trang Sơn Kim, Công ty CP Tập đoàn  Thiên Long, Công ty CP Traphaco, Công ty CP Dược Hậu Giang, Công ty CP  XNK Y tế Domesco, Công ty CP Vinamit, Công ty CP Thực phẩm Dinh dưỡng  Nutifood, Công ty CP Chế biến Thủy hải sản Liên Thành, Công ty TNHH MTV  Việt Nam Kỹ nghệ súc sản – Vissan, Công ty CP Sài Gòn Food.          Theo Gia Hiển (Người Lao Động)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp ĐMST với nền kinh tế tri thức      Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ đóng vai trò trung tâm đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên kinh tế tri thức.  &#160;    “Bộ KH&CN luôn hỗ trợ, khuyến khích các  doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ công nghệ ngoại, sáng tạo ra  công nghệ nội địa và tích cực đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới có  tính cạnh tranh”, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân phát biểu mở màn  Hội thảo “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển nền kinh tế tri thức  ở Việt Nam”, diễn ra tại Hà Nội ngày 31/3.     Tại hội thảo, ban chủ nhiệm đề án cấp nhà nước “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” cho rằng, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ đóng vai trò trung tâm đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên kinh tế tri thức. Trong thời gian qua, dù gặp nhiều khó khăn nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công khi xác định kế hoạch phát triển dựa vào công nghệ cao và tri thức như FPT, Viettel, khu công viên phần mềm Quang Trung, Gốm sứ Minh Long, TH True Milk, Sơn Kova…   Tuy nhiên những doanh nghiệp đổi mới sáng tạo như vậy vẫn còn chưa nhiều ở Việt Nam. Theo xếp hạng về chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của World Bank, trong năm 2012, Việt Nam xếp hạng 104/146 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng chín bậc so với năm 2000, tăng một bậc trong 18 quốc gia châu Á trong bảng và thuộc nhóm trung bình thấp. So với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar. Về chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII), năm 2011 Việt Nam xếp hạng 51/125 quốc gia và vùng lãnh thổ và năm 2012 là hạng 76/141.         Cũng đề cập đến thực trạng đổi mới sáng tạo, TS Đào Quang Thủy (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN) nhấn mạnh tới những vấn đề mà các doanh nghiệp KH&CN Việt Nam vẫn gặp phải như 60% doanh nghiệp có hệ thống máy móc, dây chuyền công nghệ lạc hậu, số lượng đăng ký sở hữu trí tuệ chưa đồng đều, số lượng doanh nghiệp đầu tư cho R&D còn thấp, năng lực đội ngũ R&D chưa cao, mối liên kết với các nhà nghiên cứu chưa chặt chẽ…  Hội thảo do Viện Chiến lược và chính sách KH&CN (Bộ KH&CN) phối hợp với tập đoàn TH True Milk tổ chức.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp đưa công nghệ IPv6 vào ứng dụng      Đó là một trong những nội dung mà nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng được ban hành ngày 15/7.        Doanh nghiệp sẽ được tạo điều kiện cung cấp dịch vụ Internet đầu tư phát triển hệ thống mạng sử dụng công nghệ IPv6.  Công nghệ IPv6 thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển. Hoạt động nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu các thiết bị, phần mềm và hoạt động ứng dụng công nghệ IPv6 khác được hưởng các mức ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của Luật công nghệ cao.  Công nghệ IPv6 có tên viết tắt tiếng Anh: “Internet Protocol version 6”, là “Giao thức liên mạng thế hệ 6”, một phiên bản của giao thức liên mạng (IP) nhằm mục đích nâng cấp giao thức liên mạng phiên bản 4 (IPv4) hiện đang truyền dẫn cho hầu hết lưu lượng truy cập Internet nhưng đã hết địa chỉ. IPv6 cho phép tăng lên đến 2128 địa chỉ, một sự gia tăng khổng lồ so với 232 (khoảng 4.3 tỷ) địa chỉ của IPv4.  Việc sử dụng Ipv6 sẽ mang nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: giảm thiểu sự gia tăng chi phí, ngăn chặn sự gián đoạn kinh doanh đồng thời góp phần vào sự tăng trưởng trong kinh doanh nhờ internet, …  Nguồn: theo Nghị định số 72/2013/NĐ-CP; wikipedia      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp KH&CN bắt đầu được hỗ trợ      Từ ngày 8/6/2014 Thông tư về hướng dẫn quản  lý tài chính của chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&amp;CN  và tổ chức KH&amp;CN công lập thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu  trách nhiệm chính thức có hiệu lực thi hành.    Thông tư (số 49/TTLT-BTC-BKHCN của Bộ Tài chính – Bộ KH&CN) hướng dẫn quản lý tài chính thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (sau đây viết tắt là Chương trình) được phê duyệt tại Quyết định số 592/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia quản lý và thực hiện Chương trình.  Thông tư quy định rõ nội dung và mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với các dự án thuộc Chương trình. Theo đó, hỗ trợ mức kinh phí tối đa đến 80 triệu đồng cho hoạt động tư vấn của các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm: dự án hỗ trợ thành lập cơ sở và đầu mối ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; dự án hỗ trợ hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; dự án hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ; Hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn ngắn hạn trong nước cho cán bộ quản lý và người làm việc tại các cơ sở, đầu mối ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; các doanh nghiệp khoa học và công nghệ và các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.  Kinh phí sử dụng thiết bị, dịch vụ tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hỗ trợ theo định mức như sau: tối đa 50% chi phí vận hành máy móc, thiết bị (bao gồm cả chi phí nhân công) tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ của dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tối đa 30% kinh phí thực hiện các nội dung của dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm: kinh phí mua vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng trong quá trình thực hiện thí nghiệm; kinh phí thuê các dịch vụ được cung cấp bởi phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ.  Bên cạnh đó, hỗ trợ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt tối đa 50% tổng mức kinh phí đầu tư (không bao gồm giá trị còn lại hoặc chi phí khấu hao trang thiết bị, nhà xưởng đã có vào tổng mức kinh phí đầu tư) để thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm từ việc ứng dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tối đa đến 70% tổng mức kinh phí đầu tư để thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp triển khai trên địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục các tổ chức hành chính thuộc vùng khó khăn và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).  Ngoài ra, hỗ trợ tối đa 50% kinh phí thực hiện hoạt động liên kết với tổ chức hoặc chuyên gia ở nước ngoài của dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt để ươm tạo, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp KH&CN trong nước cần một sân chơi bình đẳng để tồn tại và phát triển      &#160;Hội nghị Phát triển Doanh nghiệp KH&amp;CN được tổ chức ngày 09/11 là cơ hội để nhiều doanh nghiệp KH&amp;CN bày tỏ về những khó khăn, vướng mắc mà lâu nay họ phải đối diện.    Đây là Hội nghị được tổ chức bởi Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN. Theo số liệu do Cục cung cấp, hiện nay trên cả nước đã có 87 doanh nghiệp KH&CN, với mức doanh thu trung bình năm của mỗi doanh nghiệp đạt 59,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, những chia sẻ tại hội nghị từ đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp cho thấy còn rất nhiều thách thức cho các doanh nghiệp KH&CN, như thiếu nguồn vốn vay, khó tiếp cận chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp, thiếu sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, và thiếu sự hướng dẫn, hỗ trợ từ các cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là tại các địa phương.   Có doanh nghiệp như Công ty Ngân Hà của Bác sỹ Phạm Thị Kim Loan, mặc dù đã được cấp bằng sáng chế tại nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ và Thụy Sĩ, nhưng việc đăng ký sở hữu trí tuệ tại Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn nhất, và thị trường Việt Nam cũng là nơi sản phẩm bị làm giả, làm nhái nhiều nhất.  Trái lại, có doanh nghiệp như Công ty Nhựa Hoàng Thắng của ông Phạm Hoàng Thắng, mặc dù có bằng sáng chế tại Việt Nam từ năm 2000, và đã có những sản phẩm đem lại lợi ích lớn cho người nông dân và xã hội như sáng chế thiết bị gieo hạt và máy gặt đập liên hợp – giải nhất cuộc thi Sáng chế năm 2013 – nhưng cho tới nay doanh nghiệp chưa hề được hưởng bất kỳ chính sách ưu đãi nào của Nhà nước, và phải tới gần đây mới được xét duyệt đăng ký là doanh nghiệp KH&CN nhờ sự can thiệp của Cục PTTT&DNKHCN.  Ông Diệp Bảo Cánh, TGĐ Công ty CP Năng lượng Mặt trời đỏ – công ty đầu tiên tại Việt Nam sản xuất tấm pin mặt trời – bày tỏ nỗi bức xúc vì chính sách thuế gây thiệt thòi cho các doanh nghiệp sản xuất, cụ thể là doanh nghiệp rất khó giải trình với cơ quan thuế mỗi khi phải bán hàng dưới giá thành để thu hồi vốn, đồng thời chịu thuế nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất cao hơn cả thuế nhập khẩu hoàn chỉnh. Ông kiến nghị Nhà nước cho phép các doanh nghiệp KH&CN nhập khẩu thuế suất bằng 0% với những nguyên liệu sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ. Bên cạnh đó, ông Cánh cũng than phiền vì Nhà nước thiếu hàng rào kỹ thuật cần thiết, khiến doanh nghiệp trong nước bị cạnh tranh bởi những sản phẩm kém chất lượng, hoặc những sản phẩm gian dối về các tiêu chuẩn chất lượng.  Cùng quan điểm với ông Diệp Bảo Cánh, ông Trần Anh Khiêm nhận định rằng chính sách quản lý của Nhà nước chưa thực sự đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong nước, ví dụ như hệ thống quy chuẩn chất lượng một số sản phẩm ở Việt Nam chưa được nghiên cứu để phù hợp với đặc thù trong nước, nhiều khi được hợp chuẩn một cách không cần thiết theo tiêu chuẩn của nước ngoài, khiến các sản phẩm của nước ngoài thắng thầu các dự án dù sản phẩm trong nước không thua kém chất lượng và có hiệu quả cao hơn trong đặc thù của Việt Nam. Quy định đấu thầu nhiều dự án Nhà nước là không công bằng, gây thiệt thòi cho doanh nghiệp KH&CN, ví dụ như quy định công ty tham gia thầu phải có 3-5 năm kinh nghiệm, hoặc thậm chí 10 năm kinh nghiệm, khiến các doanh nghiệp KH&CN trẻ không có cơ hội tham gia các dự án lớn, mà nếu chỉ bán cho khách hàng lẻ thì họ sẽ không thể phát triển.  Tại Hội nghị, lãnh đạo các cơ quan Nhà nước đã thẳng thắn tiếp thu những ý kiến trăn trở từ các doanh nghiệp. Ông Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN-MT của Quốc hội, cho rằng việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề đặc biệt quan trọng để phát triển thị trường, yếu tố sống còn cho các doanh nghiệp KH&CN. Ông đề nghị các Bộ, ngành tiếp tục xem xét, nghiên cứu để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hơn nữa những cơ sở pháp lý giúp bảo vệ và hỗ trợ phát triển cho doanh nghiệp KH&CN. Về phía Bộ KH&CN, Thứ trưởng Trần Văn Tùng đề nghị các doanh nghiệp KH&CN chưa được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước sớm liên hệ trực tiếp để được Cục PTTT&DNKHCN cùng phối hợp giải quyết. Ông cũng khuyến khích các doanh nghiệp KH&CN khai thác nguồn kinh phí từ các quỹ KH&CN của Nhà nước và đề nghị các cấp quản lý Nhà nước tích cực đặt hàng các doanh nghiệp KH&CN một cách bình đẳng với các tổ chức KH&CN khác, đồng thời không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp của Nhà nước với doanh nghiệp của khu vực tư nhân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp khởi nghiệp: Giai đoạn ý tưởng      Việc xác định các cơ hội ở môi trường bên ngoài chắc chắn mang lại những hiệu quả nhất định, nhưng các ý tưởng kinh doanh chỉ có ý nghĩa nếu chúng phù hợp tốt với những tiềm năng của doanh nghiệp. Nói cách khác, sự hiểu biết của doanh nghiệp khởi nghiệp về các cơ hội kinh doanh tiềm năng nên được kết hợp với những hiểu biết sâu sắc về những gì mà doanh nhân khởi nghiệp và doanh nghiệp có thể làm.    Đánh giá năng lực nội tại của doanh nghiệp  Nguồn lực và năng lực: Để đánh giá tiềm năng bên trong của một doanh nghiệp, doanh nhân khởi nghiệp phải hiểu rõ sự khác biệt giữa các nguồn lực và năng lực. Nguồn lực là những yếu tố đầu vào cơ bản mà doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh, bao gồm tiền đầu tư, công nghệ hữu ích, thiết bị và nhân viên có năng lực. Các công ty có cả nguồn lực (tài sản) hữu hình và vô hình. Tài sản hữu hình là những tài sản có thể nhìn thấy và dễ đo lường. Một tòa nhà văn phòng, thiết bị máy tính và dự trữ tiền mặt là tất cả các tài sản hữu hình. Những tài sản này rất khác với các tài sản vô hình không nhìn thấy được và khó đánh giá. Tài sản vô hình bao gồm các quyền sở hữu trí tuệ như bằng sáng chế và bản quyền, cũng như một thương hiệu đã được thiết lập và có uy tín vững chắc.  Nguồn lực về mặt kỹ thuật không giống như năng lực. Trong khi đó, nguồn lực về bản chất là suy biến, năng lực được xem là tốt nhất khi tích hợp các nguồn lực khác nhau theo cách làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Giống như một bàn phím không có giá trị thực tiễn cho đến khi nó được tích hợp vào một hệ thống các linh kiện máy tính, nguồn lực không thể cung cấp lợi thế cạnh tranh cho đến khi chúng được đưa vào một số hình thức hữu ích.  Năng lực cốt lõi: Một khi các doanh nhân khởi nghiệp có một cái nhìn chính xác về nguồn lực và năng lực của họ, họ đã sẵn sàng để xác định năng lực cốt lõi. Năng lực cốt lõi là những nguồn lực và khả năng đem lại cho một doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ của mình. Starbucks  là một ví dụ minh hoạ cho điều này. Công ty này được biết đến với nhiều loại cà phê ngon, nhưng đó không phải là lợi thế duy nhất trên thị trường của công ty. Trong thực tế, nhiều đối thủ cạnh tranh của nó – lớn và nhỏ – cũng cung cấp các sản phẩm cà phê chất lượng cao. Vậy tại sao công ty lại thành công như vậy? Hầu hết các nhà quan sát tin rằng đó là do sản phẩm cao cấp, kết hợp với “trải nghiệm Starbucks” đặc biệt, cho phép biểu tượng cà phê phát triển từ một cửa hàng duy nhất vào giữa những năm 1980 lên đến gần 12.500 địa điểm bán lẻ trên toàn thế giới hiện nay. Các năng lực cốt lõi nổi lên khi một công ty theo thời gian học cách để sử dụng các nguồn lực và năng lực của mình theo những cách độc đáo phản ánh “tính cách” của doanh nghiệp. Doanh nhân khởi nghiệp có thể xác định năng lực cốt lõi và áp dụng chúng một cách hiệu quả để giúp doanh nghiệp của họ đạt được lợi thế cạnh tranh và hiệu suất vượt trội.  Phân tích từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong  Một nền tảng vững chắc cho lợi thế cạnh tranh đòi hỏi một sự phù hợp giữa những điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp và các cơ hội và thách thức hiện tại. Sự tích hợp này được tiết lộ tốt nhất thông qua phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức), cung cấp một cái nhìn tổng quan đơn giản về chiến lược của một doanh nghiệp. Bảng 1 liệt kê một số yếu tố có thể là điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức; tuy nhiên, đây chỉ là đại diện cho vô số khả năng có thể xảy ra.  Trong thực tế, phân tích SWOT cung cấp một chế độ xem nhanh về tình hình hiện tại của công ty. Các công ty hoạt động hiệu quả trong tương lai sẽ là những công ty cải thiện khả năng của ngày hôm nay để đáp ứng những thách thức của ngày mai.  Các phương pháp tiếp cận từ bên ngoài vào trong và từ bên trong ra ngoài trong phân tích SWOT sẽ giúp một doanh nghiệp xác định các cơ hội phù hợp. Sau đó, doanh nhân có thể xác định cơ hội tốt nhất bằng cách đặt thêm một vài câu hỏi:  – Liệu cơ hội được chọn có dẫn đến những cơ hội khác trong tương lai không?  – Liệu cơ hội này có giúp xây dựng các kỹ năng mở ra các cơ hội mới trong tương lai?  – Việc theo đuổi cơ hội này có thể dẫn đến sự đối phó của các đối thủ tiềm năng?  Rõ ràng, những cơ hội hứa hẹn nhất là những cơ hội dẫn đến những cơ hội khác (cung cấp giá trị và lợi nhuận về lâu dài), thúc đẩy phát triển các kỹ năng bổ sung để trang bị cho các doanh nghiệp theo đuổi triển vọng mới và chưa kích động các đối thủ cạnh tranh tấn công lại.  Hugh Kenneth Holyoak đã học được cách thành lập một doanh nghiệp có thể dẫn đến việc thành lập một doanh nghiệp khác và các kỹ năng mới có thể mở ra những cơ hội tốt đẹp như thế nào. Holyoak, chủ sở hữu của một trại nuôi cá, một trại nuôi tôm đã đưa ra một số cải tiến về nghề cá trong những năm qua, bao gồm nhà máy cá mương nổi, thiết bị đánh vảy cá bằng điện, lồng cá nổi EZ và một loại cá do chính ông lai tạo có tên là Georgia Giant. Nhận thấy nhu cầu ngày càng cao và vùng đất ngập nước biến mất đã tạo ra một sự thiếu hụt nghiêm trọng các loài ếch nuôi để ăn thịt, ông đặt tầm nhìn vào việc nuôi ếch, cung cấp một hệ thống nuôi ếch trong nhà có thể nuôi tới 1.500 con nòng nọc chỉ trên diện tích sàn 1,1 m2. Triển vọng tương lai thật sự tươi sáng đáp ứng nhu cầu hiện tại. Và bởi vì hầu hết các trang trại nuôi ếch đều nằm ở các quốc gia có mức lương thấp và sử dụng nhiều lao động phổ thông, việc cạnh tranh của các đối thủ khác là không thể. Bằng cách đặt tầm nhìn của mình vào nghề nuôi ếch, Holyoak đã tìm ra cách để phù hợp với sự phát triển bên ngoài (nhu cầu tăng đối với ếch) với năng lực bên trong (bí quyết nuôi cá). Với hầu như không có sự cạnh tranh vào thời điểm đó, các cơ hội liên quan chắc chắn sẽ mở ra, và các kỹ năng mà Holyoak học được từ nuôi ếch có thể đem lại lợi ích cho các hoạt động liên quan đến nghề cá của mình.  Giống như hầu hết các doanh nhân khởi nghiệp thành công, Holyoak đã phát hiện ra các lĩnh vực kinh doanh khai thác tiềm năng đang nổi lên trong môi trường bên ngoài, nhưng ông đã đi theo hướng phù hợp với khả năng cá nhân và thế mạnh của các doanh nghiệp đã thành lập. Như được thể hiện trong Hình 1, đây là khu vực cơ hội tuyệt vời của doanh nhân khởi nghiệp.  Khi tiềm năng trong môi trường bên ngoài (được tiết lộ thông qua phân tích môi trường chung, môi trường ngành công nghiệp và môi trường cạnh tranh) phù hợp với khả năng và năng lực cốt lõi của doanh nhân khởi nghiệp (được làm nổi bật thông qua đánh giá bên trong), tỷ lệ thành công được cải thiện rất đáng kể. Do đó, chúng tôi khuyến khích bạn quan sát và có hệ thống trong việc tìm kiếm các cơ hội và suy nghĩ cẩn trọng về cách những gì phù hợp với nền tảng và kỹ năng cũng như sở thích và niềm đam mê của bạn. Nếu làm như vậy, bạn có nhiều khả năng tận hưởng cuộc phiêu lưu và đây không phải là một phần thưởng tệ!  Rõ ràng, tiến hành phân tích từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài và kết hợp hai phương pháp này, các kết quả sẽ đem lại một nền tảng vững chắc cho lợi thế cạnh tranh. Với nền tảng đó, các doanh nhân có thể bắt đầu tạo ra một chiến lược để đạt được hiệu suất tài chính vượt trội.  N.L.H. (Cục Thông tin KH&CN Quốc gia) tổng hợp  Bảng 1. Ví dụ một số yếu tố của phân tích SWOT             CÁC YẾU TỐ TÍCH CỰC      CÁC YẾU TỐ TIÊU CỰC          CÁC YẾU TỐ BÊN TRONG      Điểm mạnh  • Các năng lực cốt lõi quan trọng  • Thế mạnh tài chính  • Năng lực sáng tạo  • Có kỹ năng hoặc kinh nghiệm quản lý  • Chiến lược được lên kế hoạch tốt  • Bảo vệ khỏi các thách thức cạnh tranh  • Uy tín tích cực trên thị trường  • Công nghệ độc quyền      Điểm yếu    Nguồn lực tài chính không đủ  Chiến lược được lên kế hoạch không cẩn thận    • Thiếu kỹ năng hoặc kinh nghiệm quản lý  • Đổi mới không đầy đủ  • Uy tín tiêu cực trên thị trường  • Nhà xưởng không tương xứng  • Sự cố phân phối  • Thiếu kỹ năng tiếp thị  • Sản xuất không hiệu quả          CÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI      Cơ hội  • Tiềm năng thị trường chưa được khai thác  • Sản phẩm mới hoặc thị trường mới về mặt địa lý  • Sự thay đổi thuận lợi trong động lực phát triển của ngành công nghiệp  • Tiềm năng tăng trưởng của thị trường  • Công nghệ mới nổi  • Thay đổi cho phép sự tham gia của thị trường nước ngoài  • Điều tiết  • Tăng phân đoạn thị trường      Các mối đe dọa  • Đối thủ cạnh tranh mới  • Nhu cầu của người mua hoặc nhà cung cấp gia tăng  • Doanh số chuyển sang sản phẩm thay thế  • Tăng quy định của chính phủ  • Thay đổi bất lợi trong chu kỳ kinh doanh  • Tăng trưởng thị trường chậm lại  • Sở thích của khách hàng thay đổi  • Thay đổi nhân khẩu học            Hình 1. Khu vực cơ hội tuyệt vời của doanh nhân khởi nghiệp          Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp khởi nghiệp: Khó nhất là tìm vốn mồi      Chương trình quốc gia hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST dự kiến sẽ mang đến các hỗ trợ về chính sách, vốn, đào tạo khởi nghiệp, cơ sở  hạ tầng phục vụ khởi nghiệp, phổ biến và kết nối thông tin, hội nhập  quốc tế, trong số yếu tố vốn mồi (seed funding) ở giai đoạn ươm mầm của các doanh nghiệp khởi nghiệp đặc biệt được nhấn mạnh.    Sáng 25/8, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) đã tổ chức hội thảo Hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm thảo luận về các nội dung của Đề án “Chương trình quốc gia hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST”. Tham dự có các thành viên Ban soạn thảo đề án, chuyên gia khởi nghiệp quốc tế cùng đại diện nhiều công ty khởi nghiệp Việt Nam  Trình bày những nội dung chính của đề án, bà Phan Hoàng Lan (Trung tâm Đào tạo và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN) đã giới thiệu sáu yếu tố cơ bản trong khung chương trình quốc gia hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp, bao gồm: chính sách, vốn, đào tạo khởi nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ khởi nghiệp, phổ biến và kết nối thông tin, hội nhập quốc tế. Trong số sáu yếu tố này, ba yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất là vốn, đào tạo khởi nghiệp và hội nhập quốc tế.  Theo bà Phan Hoàng Lan, vốn mồi (seed funding) là khâu vướng mắc nhất với các doanh nghiệp khởi nghiệp, nhất là trong giai đoạn ươm mầm. Nếu ở nước ngoài, các doanh nghiệp này có nhiều cơ hội gọi vốn từ nhiều hình thức khác nhau, ngay từ khi bắt đầu hình thành ý tưởng như huy động vốn đám đông (crowd funding), hỗ trợ vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần… Còn tại Việt Nam, các khái niệm gọi vốn như vậy vẫn còn chưa phổ biến bởi các nguyên nhân cơ bản: 1. Thị trường công nghệ mới ở giai đoạn bắt đầu, 2. Dù rất mạnh về đầu tư bất động sản nhưng kiến thức về lĩnh vực khởi nghiệp của các nhà đầu tư còn thiếu hụt và các quỹ tư nhân chỉ quan tâm đến một số lĩnh vực thu hồi vốn nhanh… Vì vậy dù có nhiều tiềm năng nhưng các doanh nghiệp khởi nghiệp vẫn còn lúng túng trong khâu tìm vốn. Để giải quyết vấn đề này, đề án nêu lên một số giải pháp như: 1. Nhà nước kết hợp với các đơn vị đầu tư tư nhân để tìm vốn đối ứng đầu tư cho khởi nghiệp, 2. Khuyến khích tư nhân thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm; 3. Khuyến khích việc thành lập quỹ huy động vốn đám đông.  Về đào tạo khởi nghiệp, Việt Nam hiện đã hình thành một số cơ sở ươm tạo tại trường ĐH, khu CNC như Vườn ươm ĐK Bách khoa Hà Nội, TP.HCM, ĐH Đà Nẵng, vườn ươm Khu CNC TP.HCM, chương trình thúc đẩy kinh doanh tại Khu công nghệ phần mềm, ĐH Quốc gia TPHCM cùng với một số cơ sở khác như Vườn ươm Quang Trung, FPT, Topica Fouder Institute, Hub. IT, IDG Venture… Khó khăn mà đào tạo khởi nghiệp gặp phải là thiếu hụt chương trình ươm tạo đạt chất lượng cao, thiếu đào tạo cho các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp. Đề án cũng đề xuất một số giải pháp: 1. Đưa chương trình đào tạo khởi nghiệp thành chương trình bắt buộc tại các trường ĐH, 2. Thí nghiệm đào tạo khởi nghiệp tại các trường phổ thông, 3. Nhà nước đối ứng vốn với các chương trình đào tạo đối tượng hỗ trợ khởi nghiệp.   Hợp tác quốc tế, yếu tố không thể thiếu trong hệ sinh thái khởi nghiệp, được đề án đề cập đến như một giải pháp tháo gỡ vướng mắc về vốn đầu tư, gia tăng kinh nghiệm, mở ra thị trường xuất khẩu mới cho các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Để thực hiện tốt mục tiêu này, cần có được sự kết nối thông tin thông suốt giữa các nhà khởi nghiệp Việt Nam với các hệ sinh thái khởi nghiệp quốc tế, hỗ trợ họ tham gia các chương trình ươm tạo quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài tới Việt Nam làm việc và tổ chức các sự kiện thu hút nhà đầu tư quốc tế vào Việt Nam.           Được khởi động từ tháng 10/2013, Đề án thương mại hóa công nghệ theo mô  hình Silicon Valley tại Việt Nam của Bộ KH&CN nhằm tạo ra một hệ  sinh thái khởi nghiệp dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Trong giai đoạn 2013 – 2014, Đề án đã chọn ra được chín  nhóm khởi nghiệp từ hơn 100 hồ sơ đăng ký, mỗi nhóm được đầu tư 10.000  USD để đào tạo, thúc đẩy kinh doanh; đồng thời thành lập quỹ đầu tư xã  hội dành cho ươm tạo tại Việt Nam với tên gọi “Quỹ Khởi nghiệp Việt Nam”.    Trước những thành công này, Bộ  KH&CN đã quyết định nâng cấp Vietnam Silicon Valley thành đề án cấp  Quốc gia trình Chính phủ mang tên “Chương trình quốc gia hỗ trợ Hệ sinh  thái khởi nghiệp ĐMST”. Trong giai đoạn xây dựng đề án, Bộ KH&CN tổ  chức nhiều cuộc hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia quốc tế, các nhà  quản lý nhà nước, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp khởi nghiệp để bổ  sung, chỉnh sửa các vấn đề được nêu lên trong đề án, đặc biệt là chính  sách hỗ trợ, ưu đãi về huy động vốn, thuế…, những vướng mắc chính của  các doanh nghiệp khởi nghiệp.            Đọc thêm: Vietnam Silicon Valley sẽ trở thành đề án cấp quốc gia   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=8936&CategoryID=43      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp khởi nghiệp: Phân chia quyền sở hữu và lợi nhuận như thế nào?      Khi quyết định thu hút thêm nhà đầu tư, nhà sáng lập cốt lõi phải đưa ra nhiều quyết định quan trọng về người đồng sáng lập, vai trò của mỗi người và cách phân chia quyền sở hữu hay còn gọi là “Bộ 3R” – mối quan hệ (Relationship); vai trò (Role) và lợi nhuận (Reward).      Nguồn: Internet.  LỢI NHUẬN  Phân chia cổ phần và bồi thường tiền mặt  Việc phân quyền sở hữu trong một startup gây tranh cãi và xung đột nhiều hơn cả việc phân chia vai trò và chức danh. Nhiều nhà sáng lập thậm chí muốn sở hữu cổ phần hơn là nhận lương, dù cổ phần trong các startup này thường có giá trị nhỏ hơn số tiền mà họ kiếm được khi làm bất cứ công việc nào khác.  Nên phân chia cổ phần khi nào?  Các nhà sáng lập có thể chọn phân chia cổ phần ngay từ khi mới thành lập hoặc vài tháng sau đó. Dữ liệu nghiên cứu của Noam Wasserman cho thấy 73% đội ngũ phân chia cổ phần ngay tháng đầu tiên khi thành lập, một con số bất ngờ cho thấy sự thiếu chắc chắn nghiêm trọng trong thời kỳ đầu thành lập doanh nghiệp. Thực tế, việc phân chia ngay từ đầu rất dễ đánh giá thấp công sức của người này trong khi đánh giá quá cao công sức của người khác. Những sai lầm như vậy có thể gây tổn thương nhiều người. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những “mỏ neo” tâm lý ban đầu có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến những cuộc đàm phán về sau cũng như kết quả cuối cùng, khiến mọi người, thậm chí là cả các chuyên gia, khó có thể vượt qua được những hậu quả do những mỏ neo tâm lý này gây ra.  Trái lại, hành động trì hoãn phân chia cổ phần trong vài tháng hoặc thậm chí lâu hơn có thể tạo cơ hội cho các nhà sáng lập hiểu rõ ai là người sở hữu kỹ năng và mối quan hệ có thể đóng góp nhiều nhất cho doanh nghiệp, mỗi nhà sáng lập cam kết ra sao với doanh nghiệp, v.v..  Tuy nhiên, bất cứ lợi ích nào cũng đi kèm với rủi ro. Việc trì hoãn phân chia cổ phần (dù giúp nhà sáng lập có sự chuẩn bị tốt hơn và khiến họ luôn có động lực) có thể khiến doanh nghiệp mất đi cơ hội thu hút các nhà đồng sáng lập tiềm năng.  Ngoài ra, một yếu tố rất quan trọng khác cần được cân nhắc khi trì hoãn phân chia cổ phần, đó là yếu tố thuế đánh vào thu nhập từ mỗi cổ phiểu – khoản tiền thông thường sẽ tỉ lệ thuận với quãng thời gian trì hoãn và mức độ tác động tới mỗi đồng sáng lập không giống nhau.  Tiêu chí phân chia cổ phần  Nếu các nhà đồng sáng lập quyết định đàm phán phân chia cổ phần thì họ nên cân nhắc những tiêu chí nào? Thực tế, không có câu trả lời “chính xác” hay các tiêu chí khách quan nào là tuyệt đối; kết quả hoàn toàn mang tính chủ quan liên quan đến cuộc đàm phán giữa các nhà đồng sáng lập. Mặt khác, theo dữ liệu phân tích của Noam Wasserman thông qua kiểm chứng chuyên sâu hệ thống phân chia cổ phần thực sự, có ít nhất 4 tiêu chí có thể khiến các cuộc đàm phán phân chia cổ phần trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, gia tăng cơ hội hình thành nên một thỏa thuận bền vững. Những tiêu chí này bao gồm: đóng góp trước đây với doanh nghiệp, chi phí cơ hội, những đóng góp trong tương lai đối với doanh nghiệp và các động lực của nhà sáng lập.  Những đóng góp trước đây  Đầu tiên, cổ phần của mỗi nhà sáng lập thường được dựa trên một phần công sức của mỗi nhà sáng lập trong quá trình xây dựng doanh nghiệp từ trước đến nay. Quy mô đóng góp có thể phụ thuộc vào thời gian phân chia cổ phần – ngay lúc thành lập doanh nghiệp hoặc vài tháng sau đó – nhưng cho dù họ phân chia cổ phần từ khi thành lập đi chăng nữa, nhà sáng lập cũng phải đóng góp ít nhất một ý tưởng hoặc tài sản trí tuệ nào đó cho doanh nghiệp hoặc đầu tư vốn ươm mầm để thành lập doanh nghiệp.  Chi phí cơ hội  Một số nhà sáng lập không tình nguyện nghỉ công việc đang làm khi thành lập doanh nghiệp mới. Ví dụ như khi thành lập Ockham, Ken Burrows đang ở đỉnh cao sự nghiệp và công việc đó đảm bảo cho họ sự an toàn về tài chính khó có thể bỏ qua. Đối với doanh nghiệp mới khởi nghiệp, chi phí cơ hội của việc gia nhập doanh nghiệp rất cao và trách nhiệm của nhà sáng lập cốt lõi là phải tăng sức hấp dẫn của việc gia nhập doanh nghiệp nhằm thu hút được các nhà đồng sáng lập tiềm năng.  Đóng góp tương lai  Mặc dù đó là những yếu tố khó đánh giá nhất nhưng lại quan trọng nhất để phân chia cổ phần. Khả năng đóng góp của một nhà sáng lập cho startup trong tương lai thường được ước tính bằng việc xem xét nền tảng kết hợp với mức độ cam kết của từng người.  Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng kinh nghiệm thành lập doanh nghiệp có giá trị đối với tỷ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp hơn bất cứ kinh nghiệm làm việc và nguồn vốn con người có được do giáo dục. Các doanh nhân giàu kinh nghiệm thường được kỳ vọng sẽ sở hữu nguồn vốn con người và xã hội mạnh mẽ (và có thể có cả nguồn tài chính dồi dào), vì thế, được kỳ vọng sẽ đóng góp nhiều giá trị hơn cho tổ chức. Nhiều phân tích của Thomas Hellmann cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm thành lập doanh nghiệp trước đây tương ứng với 7-9% cổ phần ưu đãi.  Mức độ đóng góp tương lai phụ thuộc vào lượng thời gian mà một nhà sáng lập có thể hoặc sẽ cam kết cống hiến cho doanh nghiệp. Các nhà sáng lập toàn thời gian có xu hướng nhận được nhiều cổ phần hơn các nhà sáng lập bán thời gian.  Động lực và quyền ưu tiên của nhà sáng lập  Các động lực của nhà sáng lập giữ một vai trò quan trọng trong việc phân chia cổ phần. Các nhà sáng lập có động lực thiên về lợi ích kinh tế sẽ ưu tiên việc tối đa hóa quyền lợi của mình. Những động lực khác có thể sẽ khiến nhà sáng lập ưu tiên cho vai trò, chức danh và sự đa dạng về phong cách sống cụ thể nào đó.  PHÂN CHIA CÔNG BẰNG HAY KHÔNG?  Khó có thể xác định chính xác đóng góp của mỗi nhà đồng sáng lập vào giá trị của doanh nghiệp bởi chi phí cơ hội và động lực của mỗi người khác nhau. Vì thế, theo logic, nếu việc phân chia cổ phần phản ánh khả năng đóng góp tương ứng của một người thì việc chia đều cổ phần công bằng rất hiếm khi xảy ra. Việc phân chia cổ phần thường dựa vào:  1. Đóng góp trước đây: Nhà sáng lập đã đóng góp như thế nào trong quá trình xây dựng doanh nghiệp từ trước đến nay?  – Đóng góp ý tưởng: Các nhà sáng lập đóng góp ý tưởng ban đầu đem lại giá trị lớn cho doanh nghiệp nên nhận được cổ phần lớn hơn.  – Góp vốn: Các nhà sáng lập có đóng góp vốn ươm mầm cho doanh nghiệp nên nhận được cổ phần lớn hơn.  2. Chi phí cơ hội: Các nhà sáng lập phải hy sinh gì để theo đuổi ý tưởng thành lập và xây dựng doanh nghiệp?  3. Đóng góp tương lai: Phần lớn công việc để phát triển doanh nghiệp thành công vẫn còn ở tương lai và đóng góp của nhà sáng lập rất khó đoán trước. Mỗi nhà sáng lập được kỳ vọng sẽ đóng góp bao nhiêu vào giá trị của doanh nghiệp trên con đường phát triển?  – Các nhà sáng lập giàu kinh nghiệm: Các thành viên của đội ngũ sáng lập từng điều hành doanh nghiệp mới khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ đóng góp nhiều nguồn vốn xã hội và con người hơn cho doanh nghiệp.  – Mức độ cam kết: Các nhà sáng lập cam kết làm việc lâu dài, toàn thời gian cho doanh nghiệp được kỳ vọng đóng góp nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp.  – Chức danh: Các vị trí chính thức của mỗi thành viên trong đội ngũ sáng lập đều ảnh hưởng đến việc phân chia quyền sở hữu, trong đó CEO nhận được mức ưu đãi cổ phần lớn hơn.  4. Quyền ưu tiên và động lực của nhà sáng lập  – Các động lực về kinh tế khiến các nhà sáng lập ưu tiên tăng sở hữu cổ phần.  – Khả năng tránh rủi ro và sự lạc quan sẽ ảnh hưởng đến mức độ mà nhà sáng lập ưu tiên tăng sở hữu cổ phần hay thu nhập bằng tiền mặt.  – Khả năng chịu đựng xung đột sẽ ảnh hưởng đến sự sẵn lòng của nhà sáng lập trong việc tham gia vào các cuộc đàm phán.  •    Các mối quan hệ trước đây có thể ảnh hưởng đến các kỳ vọng về cổ phần.  PHÂN CHIA CỐ ĐỊNH HAY LINH HOẠT  Việc phân chia cổ phần cố định ngay từ đầu và không cho phép thay đổi là một trong những sai lầm lớn nhất của nhà sáng lập. Với sự tự tin vào bản thân và doanh nghiệp, niềm đam mê dành cho công việc cũng như khao khát ổn định động lực mong manh trong đội ngũ vẫn còn non trẻ, các nhà đồng sáng lập có xu hướng lên kế hoạch với những tiềm năng tươi đẹp nhất. Họ cho rằng không có sự kiện nào có thể thay đổi được cơ cấu của đội ngũ. Họ cũng “coi thường” những yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc phân chia cổ phần. Họ đánh giá quá cao giá trị đóng góp của mình với doanh nghiệp trong vài tháng đầu tiên so với giá trị mà họ muốn xây dựng vài năm sau đó, vì thế đánh giá quá cao những đóng góp trước đó so với những đóng góp tương lai cần thiết. Họ coi trọng đóng góp của mình hơn đóng góp của người khác, đánh giá chi phí và nỗ lực của bản thân theo cách phớt lờ chi phí cũng như những nỗ lực của người khác…  Tất cả những cách tiếp cận như vậy mang lại nhiều rủi ro, bởi sự bất định có mặt ở khắp nơi. Giáo sư Scott Shane cho rằng, “khoảng một nửa (49,6%) các nhà sáng lập tại startup thừa nhận rằng các ý tưởng kinh doanh sẽ thay đổi trong khoảng thời gian từ khi họ nảy ra ý tưởng đến thời gian khảo sát tiền khả thi”.  Trong những trường hợp như vậy, thậm chí việc phân chia cổ phần thoải mái nhất cũng có thể bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.  N.L.H. dịch (Nguồn: Noam Wasserman, The Founder’s Dilemmas: Anticipating and Avoiding the Pitfalls That Can Sink a Startup).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong trường đại học: Bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức      Tại Việt Nam, mô hình startup rất phổ biến hiện tại còn mô hình spinoff chưa được quan tâm, phát triển đúng mức, cho dù đã tồn tại các mô hình hỗ trợ cho các hoạt động này, như: doanh nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ (CGCN), vườn ươm, hay không gian làm việc chung tại một số ĐH (ĐHBK Hà Nội, ĐHBK Tp Hồ Chí Minh…), hay thậm chí hành lang pháp lý cho việc ra đời các doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) trong trường ĐH đã được đề cập rõ nét trong Dự thảo Luật Giáo dục Đại học dự kiến thông qua trong năm nay. Vậy nút thắt nằm ở đâu?      Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa (BKHoldings) là một doanh nghiệp phụ trách chuyển giao công nghệ và thành lập spin-off từ Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong ảnh là buổi làm việc giữa công ty này và CEO của Lotte Data Communication, Ma Young Deuk. Nguồn ảnh: BKHoldings.    Doanh nghiệp startup và doanh nghiệp spinoff  Khi đổi mới sáng tạo và công nghệ là trung tâm của hoạt động khởi nghiệp thì nơi tạo ra các ý tưởng công nghệ mới có thể được coi là “hạt nhân” của cả hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Đó chính là các cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó, đặc biệt là các trường đại học (ĐH), nơi không chỉ đóng góp các ý tưởng công nghệ đột phá, mà còn đóng góp nguồn nhân lực không những giàu tiềm năng công nghệ, mà còn đầy sức trẻ với tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ.  Hiện tại, khởi sự doanh nghiệp từ các kết quả nghiên cứu của trường ĐH có thể được chia thành hai mô hình: startup, và spinoff. Dù còn có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng theo cách hiểu phổ biến1, với doanh nghiệp startup, các đồng chủ sở hữu doanh nghiệp thường đến từ bên ngoài trường đại học, và đặc biệt họ không sở hữu công nghệ xuất phát từ trường ĐH, mà tiếp cận với nó thông qua hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (licensing). Trong khi đó, nếu trường ĐH cùng với các nhà khoa học đang sở hữu bằng sáng chế về công nghệ mà muốn mình tự xây dựng và phát triển doanh nghiệp (“tự khởi nghiệp”) để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) thì ta có mô hình doanh nghiệp “spinoff”.  Tại Việt Nam, mô hình startup rất phổ biến hiện tại còn mô hình spinoff chưa được quan tâm, phát triển đúng mức, cho dù đã tồn tại các mô hình hỗ trợ cho các hoạt động này, như: doanh nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ (CGCN), vườn ươm, hay không gian làm việc chung tại một số ĐH (ĐHBK Hà Nội, ĐHBK Tp Hồ Chí Minh…), hay thậm chí hành lang pháp lý cho việc ra đời các doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) trong trường ĐH đã được đề cập rõ nét trong Dự thảo Luật Giáo dục Đại học dự kiến thông qua trong năm nay.  Vậy nút thắt nằm ở đâu?  Khởi nghiệp sáng tạo trong trường ĐH thông qua spinoff: khó khăn bắt đầu từ sự nhận thức  Thực sự thì không phải đợi đến bây giờ, tại một số trường đại học truyền thống tại Việt Nam như: ĐHBK Hà Nội, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội), ĐH Xây dựng, ĐH Mỏ-Địa chất… từ nhiều năm qua đã thành lập các doanh nghiệp với mục đích là hỗ trợ hoạt động CGCN. Tuy nhiên, trong thực tế triển khai, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp này chủ yếu là tư vấn, giám sát, kiểm định, cung cấp dịch vụ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đến trực tiếp sản xuất, kinh doanh, thi công, trong khi hoạt động quan trọng là CGCN từ kết quả NCKH của chính đơn vị còn rất hạn chế. Đây là khó khăn căn bản khi triển khai các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo – thành lập spinoff – trong trường ĐH. Hơn nữa, khi mà lãnh đạo các trường luôn nhìn nhận danh tiếng của đơn vị mình chiếm tỷ trọng lớn trong sự thành công của doanh nghiệp, thì họ luôn mong muốn “danh tiếng” – thứ tài sản vô hình đó được quy đổi ra một tỷ lệ sở hữu lớn trong doanh nghiệp spinoff, như hiện tại con số này có thể lên tới hàng chục phần trăm, thậm chí 51% theo kiểu cũ sẽ không thể tạo động lực cho doanh nghiệp spinoff tồn tại và phát triển.  Về bản chất spinoff cũng như startup nói chung luôn tiềm ẩn các nguy cơ rủi ro. Các doanh nghiệp này tập trung vào công nghệ mới chưa đủ độ chín, với thị trường có thể chưa thành hình, trong khi trước mắt là vô vàn khó khăn từ vốn, quản trị, vận hành sản xuất, đến phân phối sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, và không thể không kể tới sự cạnh tranh khốc liệt từ thị trường. Vì vậy, thông thường ngoài sự đóng góp thông qua việc chuyển quyền sử dụng bằng sáng chế, các trường đại học sẽ chỉ đóng góp thông qua “danh tiếng”, và sự hỗ trợ ban đầu về quyền sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, cũng như nhân lực dưới dạng biệt phái cho spinoff. Ngoài ra, các trường đại học nghiên cứu thường là các trường công (bao gồm cả trường công được bao cấp, tự chủ một phần và tự chủ toàn phần), vì vậy, sẽ rất khó để dùng tiền từ các hoạt động khác cho khoản đầu tư rủi ro này. Trong khi, doanh nghiệp mới thành lập thực sự cần tiền mặt cho mọi hoạt động của mình, vì vậy, họ cần các khoản đầu tư khác, có thể từ chính tiền cá nhân của họ, hoặc kêu gọi các nhà đầu tư khác ngoài xã hội. Tuy nhiên, việc các trường ĐH chiếm tỷ lệ sở hữu lớn (thậm chí chi phối) thì sẽ làm giảm sự hấp dẫn của doanh nghiệp với các nhà đầu tư, những người thực sự “đổ xăng” cho cỗ máy spinoff có thể chạy được. Ngoài ra, chiếm giữ cổ phần lớn nghĩa là trường ĐH có khả năng chi phối mạnh các hoạt động của spinoff, trong khi chất lượng nhân sự quản lý doanh nghiệp chắc chắn không phải là một thế mạnh của trường ĐH, chưa kể, tính nhiệm kỳ trong các quyết định là một rào cản không nhỏ cho sự phát triển bền vững của spinoff. Chính vì vậy, thực tế triển khai trên thế giới cho thấy rằng tỷ lệ thành công của các spinoff sẽ càng giảm nếu tỷ lệ sở hữu của trường ĐH càng lớn2.  Vậy đến đây, câu hỏi được đặt ra lợi ích của hoạt động spinoff này là gì, nếu không phải là lợi nhuận của CGCN? Câu trả lời đôi khi phụ thuộc vào chính sách và sự ưu tiên của từng trường ĐH, trong từng giai đoạn khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể kể tới các lợi ích trực tiếp và gián tiếp như sau:  – Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm NCKH: các kết quả NCKH thông thường tồn tại ở dạng mô hình, và bản chế thử (prototype), vì vậy không hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến lợi nhuận ngắn hạn. Gần đây, Đài Truyền hình Việt Nam có phát sóng chương trình “Thương vụ bạc tỷ”, và trong chương trình này, chúng ta thường xuyên nghe thấy các nhà đầu tư yêu cầu nhà khởi nghiệp phải đảm bảo sự an toàn cho khoản đầu tư của mình, thậm chí họ còn yêu cầu được cầm cố tài sản. Chính vì vậy, trông đợi vào các nhà đầu tư ngoài xã hội trong các lĩnh vực có yếu tố rủi ro cao như đầu tư công nghệ (đặc biệt là công nghệ mới) là tương đối khó khả thi trong điều kiện Việt Nam hiện tại. Vì vậy, doanh nghiệp spinoff với sự tham gia chủ động và vai trò quan trọng của trường ĐH và đặc biệt là bản thân nhà khoa học, những chuyên gia công nghệ, người hiểu hơn ai hết về “đứa con” của mình sẽ nâng cao tỷ lệ thành công của việc thương mại hóa sản phẩm NCKH.  – Thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội: ngoài nghĩa vụ về thuế, cũng như thu hút lao động, doanh nghiệp spinoff ra đời sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, khác biệt về công nghệ, qua đó trực tiếp và gián tiếp đóng góp vào sự phát triển của xã hội, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, doanh nghiệp spinoff còn đóng vai trò hình thành các liên kết thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt tại địa phương nơi doanh nghiệp hình thành.  – Thúc đẩy sự phát triển của hoạt động đào tạo và NCKH: các doanh nghiệp spinoff sẽ góp phần tạo ra làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trong trường ĐH, qua đó hỗ trợ phát triển NCKH đặc biệt trong các lĩnh vực có khả năng ứng dụng, và tiềm năng thương mại hóa cao, đưa khoa học đến gần hơn với thực tiễn đa dạng của đời sống. Ngoài ra, doanh nghiệp spinoff tạo ra môi trường lý tưởng để sinh viên, và đặc biệt là nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động R&D, và được đào tạo bổ sung các kỹ năng thực tiễn cần thiết, để sau này có thể chính họ cũng sẽ là những hạt nhân khởi nghiệp sáng tạo cho xã hội. Thêm vào đó, sự thành công của hoạt động spinoff sẽ mang lại thêm thu nhập cho những người tham gia, qua đó tạo điều kiện cho trường đại học thu hút và “giữ chân” các giảng viên, các nhà khoa học có trình độ cao, phục vụ cho mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững. Cuối cùng, câu chuyện thành công của các spinoff còn thể hiện một phần trách nhiệm giải trình của các trường ĐH đối với sự đầu tư của xã hội, và qua đó, thu hút thêm được nguồn lực xã hội hóa vào phát triển các cơ sở giáo dục đại học trình độ cao, với định hướng nghiên cứu rõ nét, và là trung tâm của đổi mới sáng tạo.  Về bản chất, duy trì tỷ lệ sở hữu lớn là trường ĐH mong muốn có được phần lợi tức cao khi spinoff thành công (sản xuất/kinh doanh có lãi, IPO, hoặc mua bán/sáp nhập doanh nghiệp). Tuy nhiên, với doanh nghiệp spinoff tỷ lệ này không thể cao. Thống kê ở Úc (tuy nhiên kết luận này có thể áp dụng cho tình hình thế giới nói chung) cho thấy rằng, trung bình tỷ suất hoàn vốn đầu tư cho R&D từ hoạt động licensing của các trường ĐH chỉ ở mức 3%, trong đó chỉ có 10% các trường có tỷ suất dương, và mỗi trường trong nhóm này cũng chỉ thu được phí licensing của một số lượng rất hạn chế trong tổng số các phát minh mà mình sở hữu.    Mô hình spinoff trênthế giới     Trên thế giới, mô hình doanh nghiệp spinoff khá phổ biến tại các trường đại học ở các nước phát triển. Trong đó đặc biệt ở Mỹ, sự ra đời của Đạo luật Bayh-Dole vào năm 1980, với việc cho phép các đại học có được quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) từ các kết quả nghiên cứu nhận nguồn tài trợ của ngân sách liên bang đã tạo ra một làn sóng phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp spinoff.  Chính sách về doanh nghiệp spinoff có sự điều chỉnh theo từng trường đại học, tuy nhiên đa phần được xây dựng trên nguyên tắc tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp spinoff có thể tồn tại và phát triển, cụ thể:  (i) tỷ lệ sở hữu của trường ĐH khá nhỏ để spinoff trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư, cũng như tạo thêm động lực khởi nghiệp cho nhà khoa học,  (ii) các loại phí, trong đó đặc biệt là phí licensing, được ghi nhận nhưng sẽ được hoàn trả khi doanh nghiệp có lợi nhuận, và (iii) sự hỗ trợ của trường ĐH với spinoff có giới hạn về mặt thời gian, sau thời hạn được nhận hỗ trợ này, spinoff phải có nghĩa vụ đầy đủ với trường ĐH, trong khi trường ĐH thông thường sẽ thoái vốn để tạo điều kiện cho spinoff phát triển mạnh hơn với các nhà đầu tư mới, cũng như thu hồi vốn đầu tư cùng lợi nhuận (nếu có), hay chỉ đơn thuần là tạo “không gian” để hỗ trợ cho các spinoff khác.  Để cụ thể hóa các nguyên tắc nêu trên, qua đó có thể bổ sung các thông tin tham chiếu cho các trường ĐH, dưới đây, bài báo sẽ cung cấp một số thông tin tương đối giá trị về triển khai spinoff tại Mỹ (một số số liệu được lấy từ tài liệu “Hướng dẫn thành lập Spinoff” của  Đại học Carnegie Mellon (CMU) – một trong những trường hàng đầu thế giới trong các hoạt động CGCN3), cụ thể:  – Về sự hình thành: doanh nghiệp spinoff thường được xây dựng dựa trên nguyên tắc chung: (i) công nghệ “đầu vào” của spinoff phải được bảo hộ SHTT bởi bằng sáng chế; (ii) các cá nhân đề xuất là cán bộ của trường ĐH, đồng thời là tác giả của bằng sáng chế; (ii) kế hoạch kinh doanh được thông qua bởi trường ĐH.  – Về tỷ lệ sở hữu: như đã phân tích ở trên để hoạt động spinoff được phát triển và bền vững, các trường ĐH được khuyến cáo nên giữ tỷ lệ sở hữu thấp, ví dụ: tại CMU với gói thỏa thuận cơ bản, nếu spinoff muốn được độc quyền tiếp cận sáng chế, trường ĐH sẽ sở hữu 6% cổ phần, xác nhận tại thời điểm tổng vốn đầu tư vào doanh nghiệp huy động được đạt tới 2 triệu USD; còn nếu không độc quyền thì tỷ lệ giảm xuống còn 5%. Tại ĐH Los Angeles tại California (UCLA) con số này là 2%.  – Về phí sử dụng sáng chế (royalty), cơ sở vật chất, và con người: theo chính sách của CMU, trường sẽ miễn 3 năm phí sử dụng sáng chế, sau đó, phí được tính là 2% trên tổng doanh thu từ sản phẩm có được nếu độc quyền sáng chế, và con số này là 1% nếu không độc quyền sáng chế. Để việc sở hữu độc quyền không biến thành rào cản cho việc CGCN, giữa trường và spinoff sẽ đặt ra một số mốc thời gian, kèm theo đo lường mức độ hiệu quả để sau đó quyết định có tiếp tục thỏa thuận độc quyền hay không. Quyền sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm được xây dựng dựa trên kế hoạch kinh doanh được phê chuẩn, và theo nguyên tắc không gây ảnh hưởng đến hoạt động chính của trường ĐH, và thời hạn hỗ trợ không thể kéo dài (2 năm với CMU). Trong thời hạn hỗ trợ, các hoạt động này có thể miễn phí, hoặc được tính phí nhưng sẽ chỉ được thu lại khi doanh nghiệp có dòng tiền. Về vấn đề con người, các cán bộ của trường ĐH tham gia vào spinoff có thể nhận được hình thức công tác biệt phái bán thời gian, hoặc toàn bộ thời gian, và sau một khoảng thời gian, tùy theo thỏa thuận ban đầu, họ phải lựa chọn: tiếp tục làm việc cho spinoff, hoặc quay về trường ĐH.  Thực tế, khó có thể có một mô hình spinoff chuẩn có thể áp dụng cho mọi trường ĐH, đặc biệt đối với trường ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khi mà nguồn lực từ xã hội còn rất hạn chế. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, spinoff là một trong những cách thức tốt nhất, và có thể nói là văn minh nhất để chứng minh hiệu quả của hoạt động CGCN từ kết quả nghiên cứu. Tại Việt Nam, trong quá khứ đã có nhiều công ty được thành lập và lớn mạnh đến ngày nay với xuất phát điểm từ các trường đại học, và viện nghiên cứu. Có thể kể tới: Công ty FPT, Công ty Sơn Kova, Công ty Polyco, Công ty BKAV, Công ty Netnam, Công ty MISA…, tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, sự nhận thức, hành lang pháp lý và trình độ phát triển trong các giai đoạn khác nhau, nên cũng khó có thể nói đó là các doanh nghiệp theo mô hình spinoff thực sự từ các cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Trong bối cảnh mới, trước thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà chỉ số đổi mới sáng tạo được dùng để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, cũng như sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc phát triển các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong trường đại học là hết sức quan trọng, điều này không những đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội, mà còn tạo ra nguồn lực mạnh mẽ để phát triển nghiên cứu khoa học, và đào tạo trình độ cao, gắn liền với thực tiễn đời sống.  ———  Tài liệu tham khảo:  [1] Yumiko Hamano, Commercialization Procedures: Licensing, Spin-offs and Start-ups, WIPO Regional Forum on University – Industry Collaboration to Promote Technology Transfer, Hanoi, Vietnam, November 4th – 7th, 2011.  [2] Ian A. Maxwell,Why Universities are the Worst Shareholders for Spin-out Companies,The IP Strategy Journal, 31 January 2013.  [3] CMU Spin-Off Guidelines, Center for Technology Transfer and EnterpriseCreation, Carnegie Mellon Univer    Author                Tạ Hải Tùng        
__label__tiasang Doanh nghiệp khởi nghiệp và những nút thắt chính sách      Làn sóng khởi nghiệp được duy trì và tăng tốc mạnh mẽ trong những năm gần đây là điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam. Một hệ sinh thái khởi nghiệp, tuy còn non trẻ, nhưng bước đầu đã dần thành hình, trong đó động lực chính đến từ khối tư nhân.  Tuy nhiên, đáng tiếc là chính sách, thay vì trở thành động lực, vẫn đang còn là những điểm nghẽn.      Toong co-working space hiện có 6 địa điểm ở Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Cuối năm 2015, CEO của Google Sundar Pichai đã có buổi nói chuyện tại đây. Nguồn ảnh: Toong.  Mảnh ghép ‘Coworking Space’ cho hệ sinh thái khởi nghiệp  Với những người quan tâm đến lĩnh vực khởi nghiệp, câu chuyện những người sáng lập Trần Anh – thương hiệu khá đình đám trong lĩnh vực điện máy ở Hà Nội, sau khi chuyển nhượng chuỗi siêu thị bán lẻ cho Thế giới Di động, chia sẻ ý tưởng chuyển sang đầu tư vào Không gian làm việc chung (Coo-Working Space) là rất đáng chú ý trong những ngày cuối năm 2017, đầu 2018. Thị trường Co-working space đã thực sự nóng lên trong thời gian gần đây – dấu hiệu cho sự khởi sắc của hệ sinh thái khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ. Thống kê sơ bộ cho thấy, riêng tại Hà Nội, hiện đã có khoảng hơn 15 Coworking Space đang hoạt động. Thị trường này, một mặt đón nhận thêm các doanh nghiệp mới như Kiko, The Vuon… một mặt khác, các doanh nghiệp đã hoạt động như Toong, Up cũng phát triển thêm các địa điểm mới.  Điểm nổi bật của Không gian làm việc chung không chỉ là chỗ làm việc với chi phí hợp lý cho những công ty hay cá nhân khởi nghiệp. Đi cùng với không gian làm việc chung là các dịch vụ khác hỗ trợ cho khởi nghiệp, như dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, dẫn dắt (coaching, mentoring); và các hoạt động kết nối kinh doanh, chia sẻ ý tưởng … Trong bối cảnh các start-up đa phần thiếu hụt kỹ năng gọi vốn; kỹ năng làm truyền thông và quản trị doanh nghiệp – sự tham gia của doanh nghiệp chuyên về tư vấn pháp lý; tư vấn tài chính; tư vấn truyền thông … nhằm cung cấp các hoạt động hỗ trợ – kết nối là sự bổ sung quan trọng cho doanh nghiệp khởi nghiệp – vốn mới chỉ mạnh về công nghệ; về ý tưởng kinh doanh.  Vì vậy, một loạt các hình thức không gian làm việc mở ra, không chỉ Hà Nội mà còn ở nhiều thành phố khác trên khắp cả nước cho thấy hai tín hiệu tích cực. Thứ nhất, làn sóng khởi nghiệp vẫn duy trì được xu thế hứng khởi trong vài năm gần đây. Và thứ hai, với các không gian làm việc chung và các dịch vụ hỗ trợ đi kèm, một hệ sinh thái khởi nghiệp trên quy mô toàn quốc đã dần hình thành rõ nét, với động lực và nhân tố cốt lõi là khối doanh nghiệp tư nhân và các quỹ đầu tư từ nước ngoài.  Với vai trò chủ đạo và sự năng động từ khu vực tư nhân, tính bền vững và tiềm năng gia tăng mạnh mẽ trong làn sóng khởi nghiệp là đáng kỳ vọng.  Đến những điểm nghẽn chính sách  Tuy nhiên, ngược chiều những chuyển động tích cực của khối tư nhân trong hoạt động khởi nghiệp, tốc độ chuyển động của Chính sách, đặc biệt là cải thiện môi trường pháp lý lại không đồng tốc với nhịp độ phát triển sôi động của làn sóng khởi nghiệp trong thời gian qua. Những hạn chế vẫn tồn tại trên hai mặt căn bản: một mặt, những hành lang pháp lý còn trống vẫn chưa được hoàn thiện; một mặt khác, những rào cản kinh doanh – những quy định bất hợp lý vẫn không được gỡ bỏ, gây phiền toái và khó khăn cho doanh nghiệp.  Ở khía cạnh thứ nhất, một trong những vấn đề pháp lý được kỳ vọng hoàn thiện, đó là quy định cụ thể cho hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn chưa được hoàn thành. Trong khi nguồn vốn, đặc biệt là từ các quỹ đầu tư là yếu tố sống còn với doanh nghiệp khởi nghiệp, việc chậm hoàn thiện hành lang pháp lý cho quỹ khiến thị trường khởi nghiệp càng mất thêm lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực, đặc biệt là Singapore. Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đang lựa chọn thành lập pháp nhân ở Singapore thay vì Việt Nam, chính là bởi các quỹ đầu tư ở đây hoạt động thuận lợi hơn, quy trình thành lập và rót vốn nhanh hơn, với khung pháp lý rõ ràng, ổn định hơn Việt Nam.  Đó là chưa nói đến tính linh hoạt và cởi mở trong việc tạo ra các ‘ưu đãi’ về mặt pháp lý nhằm thu hút start-up của các quốc gia trong khu vực. Chẳng hạn, Singapore sẵn sàng giúp doanh nghiệp khởi nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ mới nằm ngoài khuôn khổ quy định hiện hành – tức không phải là ‘phá luật’ mà là thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ mà pháp luật chưa điều chỉnh đến do sản phẩm, dịch vụ đặt ra là chưa có tiền lệ. Ví dụ, chính phủ nước này cho phép các start-up trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) được thử nghiệm hoạt động trong một vùng quy định riêng – gọi là ‘regulatory sandbox’ – để thai nghén và phát triển các sản phẩm mới – vốn chưa tương thích, chưa có các quy định có sẵn.  So sánh với Việt Nam, trong khi môi trường pháp lý không những kém cạnh tranh hơn, một số quy định còn có thể tạo ra gánh nặng chi phí lớn hơn cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Điển hình là việc áp dụng quy định về đóng bảo hiểm xã hội trên toàn bộ thu nhập của người lao động ngay từ năm 2018. Với các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, chi phí nhân sự chiếm hầu như toàn bộ chi phí chính của doanh nghiệp. Khác với các lĩnh vực sản xuất khác – nơi tỷ trọng chi phí cho con người là thấp hơn, các ngành liên quan đến công nghệ sẽ bị ảnh hưởng lớn khi quy định về đóng bảo hiểm đi vào thực thi. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm, nội dung số sử dụng nhiều lao động đã phải tính đến việc lách luật bằng cách ký hợp đồng thuê lao động từ một bên thứ ba. Thực chất, bên thứ ba này có thể là một pháp nhân do chính họ lập ra, tuy nhiên, bằng hợp đồng thuê nhân công theo thời vụ, họ giảm bớt được chi phí đóng bảo hiểm cho nhân viên.  Trong khi đó, những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ vốn được đề cập đến từ lâu vẫn còn nằm trên giấy. Điển hình là chính sách giảm thuế thu nhập cho nhân sự trong lĩnh vực phần mềm. Cho đến nay, hầu như chưa doanh nghiệp nào thực hiện được việc giảm thuế thu nhập cho nhân viên, kể cả đó là những doanh nghiệp lớn trong ngành.  Năm 2016 từng được Chính phủ chọn là năm Quốc gia khởi nghiệp với mong muốn thúc đẩy tinh thần dân chủ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho kinh tế nước nhà. Những chuyển động mạnh mẽ từ khu vực tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực khởi nghiệp công nghệ – phản ánh một phần xu hướng đó. Tuy vậy, trong khi những tuyên bố và cam kết mạnh mẽ đến từ cấp cao nhất là Chính phủ, một trong những rào cản đáng kể cho hoạt động khởi nghiệp, lại nằm ở khâu hoàn thiện môi trường pháp lý hoặc thực thi những chính sách vốn đã được xây dựng từ cách đây nhiều năm – nằm trong phạm vi trách nhiệm của các bộ ngành. Trong khi khu vực tư nhân đang làm tốt phần việc của mình, vai trò chính sách rõ ràng là chưa tương xứng. Và hỗ trợ khởi nghiệp tốt nhất, không phải là trợ cấp vốn, tín dụng hay ưu đãi nào khác; điều quan trọng nhất vẫn là tiếp tục gỡ bỏ những giấy phép con, những quy định và thủ tục hành chính bất hợp lý tạo ra rào cản và gánh nặng kinh doanh cho doanh nghiệp.       Author                Nguyễn Quang Đồng        
__label__tiasang Doanh nghiệp sáng tạo để vươn lên      Trong bối cảnh đầy thách thức của năm 2013, nhiều doanh nghiệp vẫn thành đạt nhờ tự đổi mới mình một cách rất mạnh mẽ, áp dụng  công nghệ hiện đại, thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại, đưa ra  những sản phẩm mới với tính năng vượt trội…     Trong năm 2013 đã có 61.000 doanh nghiệp dân   doanh tuyên bố phá sản hoặc đóng cửa, cao hơn hẳn con số 53.000 doanh   nghiệp đóng cửa trong năm 2012, khép lại một năm muôn vàn khó khăn và   cay đắng cho cộng đồng doanh nghiệp. Song bên cạnh số khá lớn những   doanh nghiệp gặp khó, vẫn có một số doanh nghiệp tiếp tục phát triển   vững vàng, tăng doanh thu và thị phần trong nước và quốc tế, đạt lợi   nhuận cao như Vinamilk, Viettel, Vincom, Masan hay Ralaco Bóng đèn phích nước Rạng Đông, sứ Minh Long v.v. do các doanh nghiệp đó đã liên tục tự đổi mới, tự thay đổi nhiều trong khi vận dụng khoa học-công nghệ, đưa ra các dòng sản phẩm mới, hấp dẫn người tiêu dùng, khai thác thị phần thích hợp v.v.   Điều quan trọng là họ không cạnh tranh qua giảm giá (vì đó là đi theo đường mòn, tiếp tục sản xuất những mặt hàng cũ mà các đối thủ khác cũng sản xuất rồi, tất cả cạnh tranh với nhau trên một mảng thị trường nhỏ hẹp, trong một vũng nước bị quấy đục ngầu, sẽ bóp chết sáng tạo và dẫn tới bế tắc), mà đã tự đổi mới mình một cách rất mạnh mẽ, áp dụng công nghệ hiện đại, thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại, đưa ra những sản phẩm mới với tính năng vượt trội, đáp ứng được thị hiếu của khách hàng, chia sẻ lợi ích công bằng với người lao động. Họ không lâm vào khủng hoảng tài chính, không bị sa lầy vào những dự án đầu tư bất động sản kém hiệu quả, không đầu tư chứng khoán theo tâm lý bầy đàn, không đầu tư vào những ngân hàng yếu kém.   Thí dụ như Ralaco, một doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, ghi danh trên thị trường chứng khoán đã lập hẳn một Trung tâm nghiên cứu công nghệ, thu hút các giáo sư, chuyên gia trong nước và ngoài nước, liên tục đưa ra những sản phẩm mới như màn hình và đèn LED rất tiết kiệm năng lượng, sử dụng các nguyên liệu đất hiếm trong nước, giảm tiêu hao năng lượng và nguyên vật liệu. Ralaco cũng tổ chức tốt phong trào sáng chế, cải tiến kỹ thuật, mỗi phân xưởng, mỗi bộ phận đều phát động công nhân, kỹ thuật viên thi đua cải tiến công nghệ, đổi mới quy trình quản lý.  Mong rằng Năm Mới Giáp Ngọ sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trên con đường sáng tạo và đổi mới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp thu nhiều lợi nhuận hơn từ tái chế và cắt giảm rác thải      Các chương trình tái chế công nghệ thấp  nhưng hiệu quả cao đang được thực hiện bởi một dòng doanh nghiệp xã hội  mới thu lợi nhuận từ các giải pháp phát triển bền vững.    Ở Lagos, Nigeria, công ty WeCycler đi thu gom nhựa, lon, hộp, bao bì tại các hộ gia đình hàng tuần. Người dân được nhận điểm dựa theo khối lượng nguyên liệu tái chế thu được và có thể đổi điểm lấy thực phẩm, đồ điện dân dụng hoặc tiền mặt. Hơn 5.000 hộ dân đã đăng ký tham gia chương trình tái chế này.   WeCyclers hoạt động với sự cộng tác của Cơ quan Quản lý Rác thải Lagos và thu lợi nhuận từ việc bán nguyên liệu cho các nhà sản xuất. Ví dụ, nhựa được cắt vụn và bán để làm sợi polyester cho vải vóc hoặc ruột gối.  Một chương trình tái chế tương tự cũng đang được thực hiện tại bởi doanh nghiệp xã hội Canada Plastic Bank.  Đồng sáng lập Plastic Bank, ông David Katz nói, nếu tính giá trị theo khối lượng thì nhựa còn quý hơn thép. Bắt đầu từ Colombia và Peru, Plastic Bank đã dựng lên các trung tâm thu gom và phân loại nhựa tái chế, khuyến khích người dân đóng góp bằng cách trao đổi các sản phẩm thiết yếu với họ.  Nhưng doanh nghiệp xã hội này phát triển được là nhờ một tiến bộ trong công nghệ. Trong một dự án phối hợp với Đại học British Columbia, Plastic Bank đang chế tạo một loại máy có thể biến rác thải nhựa thành sợi tơ để làm nguyên liệu nguồn cho máy in 3D.  Công ty dự định sẽ dùng máy in này để tạo ra các sản phẩm hàng ngày như đồ dùng trong nhà, đồ chơi v.v. từ nguồn nhựa thu mua được.   Giảm phế thải trong sản phẩm  Ngược lại, một số công ty khác lại sử dụng công nghệ để giảm thiểu ngay từ đầu lượng phế liệu sẽ thải ra môi trường sinh thái.   Ví dụ, Unilever đang sản xuất thử một loại chai nhựa mới kết hợp trong thành phần các bong bóng khí. Công nghệ MuCell tiêm khí để tạo ra bong bóng trong lớp giữa của thành chai, từ đó giảm tỉ trọng của sản phẩm và lượng nguyên liệu cần đến 15%.   Công ty ước tính sẽ tiết kiệm 275 tấn nhựa trong năm đầu tiên và đến năm 2015 sẽ phổ biến rộng khắp công nghệ này cho cả các công ty cạnh tranh nữa.  Một ví dụ khác, Unilever tuyên bố với việc sử dụng công nghệ nén để sản xuất lọ xịt khử mùi nhở hơn trước 25%, họ sẽ tiết kiệm được lượng nhôm đủ để sản xuất 38,000 chiếc xe đạp.  Một công ty nữa đang ứng dụng công nghệ để giảm thiểu phế thải là wear2 ở Chester, Anh.  Cùng với Đại học Leeds, họ đang phát triển một loại sợi mới dùng làm chỉ trong may mặc. Loại chỉ này có thể được tháo dễ dàng khi cho tiếp xúc với bức xạ vi sóng mà không để lại dấu vết gì trên vải.  Sử dụng công nghệ này, các nhà sản xuất may mặc có thể tháo rời những phần của áo quần họ muốn tái sử dụng sau này một cách dễ dàng. Cách này đặc biệt hữu ích cho các nhãn hiệu may mặc lớn bởi nhiều lúc họ phải bỏ đi một khối lượng lớn sản phẩm khi công ty thay đổi lô-gô hoặc gam màu.  Khánh Minh dịch theo bbc.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp tiên phong trong nông nghiệp      Phát biểu tại “Diễn đàn Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới” vừa qua tại Hà Nội, TS. Võ Trí Thành, nguyên phó viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương CIEM (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cho rằng, để phát huy chuỗi giá trị nông nghiệp, gắn kết các khâu R&D, cung cấp nguyên liệu, sản xuất, chế biến và  tiêu thụ, qua đó đem lại các sản phẩm có thương hiệu quốc tế cho nông nghiệp Việt Nam, cần tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tiên phong.      Nguồn: vietnamnet  Trước hết, muốn xác định được thế nào là doanh nghiệp tiên phong, chúng ta cần làm rõ quan niệm doanh nghiệp nông nghiệp. Lâu nay chúng ta vẫn thường nhìn nhận nó theo nghĩa hẹp, đó là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông nghiệp; song theo tôi, doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm tất cả những doanh nghiệp tham gia vào các loại hình sản xuất và dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp nào góp phần làm giảm chi phí giá thành, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp thì đều là doanh nghiệp nông nghiệp. Lấy ví dụ, nếu doanh nghiệp làm trong lĩnh vực giao thông vận tải mà chủ yếu tham gia vận chuyển mặt hàng nông sản, nhưng với việc giao hàng đúng hạn, đúng chất lượng cũng đủ để coi họ là doanh nghiệp nông nghiệp. Việc hiểu doanh nghiệp nông nghiệp theo một nghĩa rộng không chỉ đem lại cho chúng ta một cái nhìn thấu đáo hơn về tiềm năng của nông nghiệp, mà còn gợi ý cho các cấp quản lý nhà nước cách thức hỗ trợ, đầu tư thích hợp cho các doanh nghiệp nông nghiệp.  Hiện nay có thể thấy rằng, chỉ khoảng 1% doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào nông nghiệp, số vốn và lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nông nghiệp cũng rất thấp. Ở đây có một câu hỏi đặt ra, tại sao ở một đất nước có truyền thống về nông nghiệp, có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp, mà doanh nghiệp lại không có ham thú đầu tư vào nông nghiệp và coi đó như một lĩnh vực đầu tư hứa hẹn, nhiều tiềm năng phát triển và đem lại lợi nhuận cao? Nhìn vào tình hình Việt Nam hiện nay có thể thấy tồn tại bốn vấn đề với doanh nghiệp nông nghiệp:  Thứ nhất, môi trường kinh doanh chung của Việt Nam tồn tại bốn nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp mà Báo cáo Việt Nam 2035 đã chỉ ra, đó là: (i) Quyền tài sản thiếu rõ ràng; (ii) thị trường thiếu cạnh tranh “sòng phẳng”; (iii) các thị trường yếu tố sản xuất (thị trường vốn, đất đai, lao động) méo mó; và (iv) chi phí giao dịch cho sản xuất kinh doanh cao. Nếu chúng ta hiểu doanh nghiệp nông nghiệp theo nghĩa rộng thì điều đó có nghĩa, môi trường kinh doanh hiện còn không ít khó khăn vướng mắc ảnh hưởng xấu đến hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp.  Thứ hai, doanh nghiệp không muốn đầu tư vào nông nghiệp và coi đó là cuộc chơi chính của mình là vì nếu nông nghiệp đạt mức tăng trưởng trung bình tốt nhất, theo thống kê thông thường, thì cũng chỉ ở mức trên 3%. Mức tăng trưởng giá trị gia tăng thấp như vậy thì ai còn muốn đầu tư, trong khi có nhiều lĩnh vực đầu tư khác hứa hẹn nhiều lợi nhuận hơn, ví dụ như tài chính, bất động sản… Tuy nhiên, cách nhìn và đo lường này (cũng như theo cách nghĩ của phần đông xã hội) không chuẩn và có phần lệch lạc. Nếu chúng ta nhìn sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng thì giá trị gia tăng đạt được sẽ không nhỏ và tăng trưởng sẽ không chỉ là 3%/năm. Việt Nam hiện hằng năm thu được hơn 30 tỷ USD từ việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản, trong khi mỗi năm cầu thế giới đối với lương thực, thực phẩm… là khoảng 15.000 tỷ USD. Hình ảnh đó cho thấy, với hội nhập hiện nay, doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội khai thác một thị trường khổng lồ, và qua đó có thể tạo thêm rất nhiều giá trị gia tăng.  Thứ ba có một tồn tại nữa là nông nghiệp Việt Nam không có lợi thế về quy mô khi vẫn tồn tại tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún. Tuy có tới 46% lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp nhưng giá trị gia tăng của nông nghiệp vẫn chỉ chiếm 17% GDP; năng suất lao động rất thấp. Để giải quyết hai vấn đề này, có hai con đường, đó là tích tụ đất đai, qua đó tạo khả năng hấp thụ công nghệ và vốn cao, cùng dịch chuyển cơ cấu lao động. Tuy nhiên, vướng mắc ở chỗ là cả hai vấn đề này đều không phải là chuyện riêng của nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp. Chỉ khi nào câu chuyện đất đai và dịch chuyển cơ cấu lao động được giải quyết thực sự thì mới đem lại lợi thế về quy mô và tạo ra được sức hấp dẫn của lĩnh vực nông nghiệp, qua đó dẫn đến việc liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp mà chúng ta bàn thảo rất nhiều trong thời gian gần đây.  Thứ tư là sản xuất nông nghiệp luôn ẩn chứa rủi ro cao, xuất phát từ ba nguyên nhân: sản xuất nông nghiệp mang tính chu kỳ cao; độ co dãn tiêu dùng theo thu nhập mặt hàng nông sản thấp, ngay cả khi thu nhập của người tiêu dùng có tăng mạnh thì sức tiêu thụ mặt hàng này cũng không cao hơn nhiều; sản xuất phụ thuộc lớn vào thời tiết, khí hậu, dịch bệnh.  Vậy chúng ta giải quyết ba vấn đề này bằng cách nào? Theo tôi, có hai cách làm hiệu quả, nhất là đầu tư vào khoa học công nghệ nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch bệnh,… trong sản xuất, đồng thời làm gia tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp, qua đó làm tăng độ co dãn của tiêu dùng. Cùng với đó là  thực hiện chương trình bảo hiểm cho nông nghiệp. Chúng ta đã thí điểm bảo hiểm nông nghiệp từ nhiều năm qua đối với các hộ sản xuất nông nghiệp tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, nhưng chưa đem lại kết quả khả quan như mong đợi.  Như vậy với cách nhìn rộng ra về việc hình thành và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, thì chúng ta đang đứng trước những cơ hội đầu tư và làm ăn rất lớn trong nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam thực sự hấp dẫn và là nơi có thể làm giàu. Tất nhiên, đây không chỉ là câu chuyện của riêng ngành nông nghiệp. Cả đất nước phải vào cuộc.  Từ những doanh nghiệp nông nghiệp như vậy, chúng ta sẽ hình thành được chuỗi liên kết và có được những doanh nghiệp tiên phong trong nông nghiệp. Có người hỏi tôi, thế nào là doanh nghiệp tiên phong, hiện những “ông lớn” đầu tư rầm rộ vào nông nghiệp như Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai… có phải là doanh nghiệp tiên phong hay không?  Theo tôi, muốn trở thành doanh nghiệp tiên phong thì doanh nghiệp đó phải làm chủ được ba khâu trọng yếu: thực sự có R&D, nghĩa là đầu tư vào khoa học và công nghệ và ứng dụng nó ngay trong các khâu sản xuất, chế biến của mình; tạo dựng được thương hiệu, đặc biệt với doanh nghiệp nông nghiệp thì thương hiệu đó phải gắn liền với tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm; nắm được khâu phân phối hàng hóa ra thị trường trong nước và quốc tế. Nếu doanh nghiệp trong các lĩnh vực tiêu dùng khác có thể chỉ cần làm tốt hai khâu là tạo dựng thương hiệu và nắm phân phối, thì doanh nghiệp tiên phong trong nông nghiệp phải làm được tốt cả ba khâu. Hiện nay, có thể nói chưa có doanh nghiệp nông nghiệp nào ở Việt Nam làm được trọn vẹn, đúng nghĩa ba khâu này.  Việc hình thành doanh nghiệp tiên phong sẽ góp phần thúc đẩy chuỗi liên kết giá trị trong nông nghiệp mà chúng ta đã bàn thảo khá nhiều trong những năm gần đây. Dù bước đầu một số nơi đã hình thành liên kết giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân, qua đó tạo vùng nguyên liệu và đảm bảo bao tiêu sản phẩm nông nghiệp nhưng chuỗi liên kết giá trị giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nông dân vẫn chưa được đảm bảo. Vừa qua tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long  (MDEC 2016), một doanh nghiệp đã phát biểu rất đúng về bản chất chuỗi liên kết phổ biến hiện nay trong nông nghiệp là các doanh nghiệp ở cùng một chuỗi liên kết cũng không hợp tác được với nhau, không chia sẻ được lợi ích với nhau, thậm chí còn “ngáng chân” nhau. Bên cạnh đó, việc tôn trọng hợp đồng giữa người nông dân và doanh nghiệp vẫn còn bị xâm phạm, trong đó có lỗi của cả hai phía, ví dụ nông dân thấy lợi nhuận trước mắt thì bỏ “ngang xương” việc cung cấp nông sản cho doanh nghiệp để đến với thương lái hoặc ngược lại, doanh nghiệp ép giá nông dân. Vì vậy dù các ngân hàng thương mại có cho các doanh nghiệp thực hiện chuỗi liên kết giá trị vay vốn đầu tư kinh doanh, sản xuất thì các doanh nghiệp đó vẫn khó làm tốt vai trò của mình, chứ chưa nói đến việc phải phấn đấu thành doanh nghiệp tiên phong. Để góp phần giải quyết vấn đề này, về trước mắt cũng như lâu dài, chúng ta cần làm tốt hai bài toán căn cơ, hai yếu tố đem lại sự gắn kết của chuỗi liên kết giá trị: 1. Đảm bảo lợi ích của người nông dân thông qua một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh gắn với đặc điểm địa lý, đặc thù văn hóa vùng miền; 2. Tạo sự phối hợp thực sự giữa các thành viên trong chuỗi giá trị mà chúng ta xây dựng lên. Đây đều là những bài toán gắn với sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp và tạo đà cho doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp tiên phong.  Trong bối cảnh này, vai trò hỗ trợ của nhà nước là vô cùng cần thiết và tập trung vào ba điều: 1. Tạo ra môi trường kinh doanh chung, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp; 2. Nhà nước có thể hỗ trợ hoàn toàn (tạm gọi là cho không) trong những lĩnh vực có tính lan tỏa cao như kết cấu hạ tầng, đào tạo, R&D. 3. Còn với những hỗ trợ khác cho bản thân quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (chẳng hạn như về lãi suất) thì cơ bản áp dụng theo nguyên tắc “hỗ trợ có hoàn trả”. Nhà nước có thể hỗ trợ để chia sẻ ít nhiều rủi ro ban đầu và doanh nghiệp có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh. Song đây là “trò chơi thị trường”, nên nhà nước chỉ chia sẻ rủi ro một phần với doanh nghiệp (tất nhiên có xem xét, đánh giá kỹ lưỡng) và trong trường hợp thành công,  doanh nghiệp cần hoàn trả phần hỗ trợ này.    Author                Võ Trí Thành        
__label__tiasang Doanh nghiệp trong đổi mới/sáng tạo: Những lực cản      Cuộc tọa đàm Doanh nghiệp KH&amp;CN trong đổi mới sáng tạo được Tạp chí Tia Sáng tổ chức tại Bình Dương cuối tháng 3 vừa qua, là cơ hội để tập hợp những kiến nghị chính sách cấp bách của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của quốc gia.      Hơn 20 gương mặt doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hàng đầu trên cả nước với những thương hiệu lớn như gốm sứ Minh Long, cà phê Trung Nguyên, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, v.v, cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học, và các nhà quản lý, đã đến tham dự cuộc tọa đàm1 cùng GS. Hoàng Văn Phong, Chủ tịch Hội đồng CSKH&CN Quốc gia và Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân nhằm chia sẻ những suy nghĩ trăn trở, tìm kiếm những giải pháp giúp khắc phục hạn chế trong năng lực đổi mới sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.    Theo PGS. Trần Đình Thiên, trong vòng 2 năm qua, năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã tụt 16 bậc trên bảng xếp hạng thế giới, với chỉ số sẵn sàng công nghệ đứng thứ 98, và chỉ số trí tuệ doanh nghiệp đứng thứ 100. Năng lực công nghệ yếu hạn chế khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh về giá cả cũng như chất lượng. Đơn cử như trong ngành xuất khẩu gạo, năm 2012, Việt Nam tự hào là nước đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu gạo, cao hơn Thái Lan tới 1 triệu tấn, nhưng doanh thu của chúng ta lại thua nước bạn tới 1 tỷ USD, theo nhận định của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.         Nếu chỉ làm thuê cho nước ngoài mà  không tự mình sáng tạo, các doanh nghiệp công nghệ trong nước sẽ chỉ là  những người thợ gia công, không bao giờ theo kịp đà phát triển công nghệ  của thế giới, và khoảng cách về công nghệ giữa trong nước với quốc tế  sẽ ngày càng lớn, khiến dân tộc chúng ta lụn bại đi. Nhưng nếu tự mình  sáng tạo và phục vụ đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng trong nước,  doanh nghiệp sẽ có sức sống để tồn tại, từ đó có thể tìm kiếm cơ hội  vươn ra thị trường quốc tế.   Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Công ty CP Giải pháp Tin học Tích hợp Mở – iNet Solutions        Không chỉ vấp phải khó khăn trên thị trường thương mại quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp vất vả ngay trên sân nhà, do vừa yếu năng lực công nghệ, vừa hạn chế những năng lực khác như trình độ quản trị kinh doanh hay kỹ năng đàm phán. Theo bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp – BSA, đây chính là nguyên nhân khiến rất nhiều sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam không thể trụ được trên các kệ hàng siêu thị trong nước, và nhường vị trí cho các thương hiệu của các liên doanh với nước ngoài.  Nhà nước làm khó cho doanh nghiệp  Trong tình hình đó, môi trường kinh tế vĩ mô và thể chế quản lý của Nhà nước chưa tạo điều kiện khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp bứt phá vươn lên, nếu không nói là một trở lực đáng kể. Ngoài những hệ lụy do phải chịu lạm phát, lãi suất cao – PGS. Trần Đình Thiên cho biết năm 2012, chỉ số về ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam bị tụt tới 40 bậc, rơi xuống thứ 116 trên thế giới – các doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc, rào cản trong thủ tục hành chính. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, về cơ bản tình trạng rào cản quan liêu gây vướng mắc cho các doanh nghiệp từ cuối thập kỷ 1990 đến nay vẫn chưa được cải thiện, nếu không nói là càng trầm trọng hơn do vấn nạn tham nhũng gia tăng khiến các doanh nghiệp ‘nản lòng’.  Một nguyên nhân cốt yếu của tình trạng quan liêu và lạc hậu trong quản lý hành chính ở Việt Nam, theo TS. Nguyễn Thanh Mỹ, chủ tịch tập đoàn Mỹ Lan, là các cán bộ quản lý yếu về trình độ và thiếu nghiêm túc cùng tinh thần kỷ luật trong công việc. Những yếu kém này kết hợp với cơ chế xin cho khiến nhiều chính sách của Nhà nước không đến được với doanh nghiệp, hoặc phải khiến doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian, công sức mới được đáp ứng nguyện vọng. Ông lấy ví dụ trường hợp doanh nghiệp của ông đã phải mất tới 2 năm đi xin cơ duyệt cơ chế ưu đãi thuế cho sản phẩm tấm dán kính giúp chống bức xạ nhiệt và tiết kiệm 25% năng lượng chạy điều hòa – sản phẩm mà doanh nghiệp của ông tự nghiên cứu và chế tạo sản xuất.   Song trường hợp của Tập đoàn Mỹ Lan vẫn có thể được coi là may mắn, nếu so sánh với quãng thời gian 9 năm (và vẫn đang tiếp tục kéo dài) mà Công ty Vắcxin và Sinh phẩm số I đã và đang trải qua với mong muốn chính đáng là sản phẩm vắcxin cúm A/H5N1 do công ty tự độc lập nghiên cứu được các cấp thẩm quyền trong nước chấp thuận. Đây là sản phẩm đã được thử nghiệm lâm sàng thành công, thậm chí gần đây còn được đối tác Mỹ quan tâm tìm cách cùng liên doanh đầu tư nghiên cứu triển khai, nhưng đến nay công nghệ này vẫn chưa được chấp thuận ở trong nước. “Chúng tôi cũng đã hết cách”, TS. Đỗ Tuấn Đạt, giám đốc công ty thất vọng chia sẻ.   Những điểm sáng R&D        Hiện nay, doanh nghiệp trong nước đang đối diện với sự cạnh tranh không lành mạnh từ hàng hóa Trung Quốc, điển hình như bản kẽm kém chất lượng từ Trung Quốc trợ giá được nhập khẩu vào Việt Nam bán với giá 3.1 USD/m2, trong khi giá hợp lý (giá thành sản xuất cộng chi phí khác) phải từ 4 USD trở lên. Nguyên nhân vì các doanh nghiệp Trung Quốc được chính phủ của họ trợ giá 13%.  Điều này là một bất lợi và gây sức ép lên doanh nghiệp trong nước.               Câu hỏi đặt ra là nhiều nước trên thế giới hiện nay đã xây dựng chính sách thuế chống bán phá giá đối với Trung Quốc nhưng vì sao Việt Nam vẫn chưa có chính sách để bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp trong nước để chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh này?               Bên cạnh đó, hiện nay, Việt Nam đang bị điều tra chống bán phá giá từ nhiều nước mà nguyên nhân không nhỏ là do các đại lý Trung Quốc nhập hàng Trung Quốc vào Việt Nam và xuất bán giá rẻ cho các nước khác. Năm 2013, chúng tôi nhận được giấy báo từ Thổ Nhĩ Kỳ – thị trường chiếm 40% hàng xuất khẩu của Mỹ Lan – cho biết Việt Nam bị áp thuế chống phá giá, mà nguyên nhân vì các hãng sản xuất của Trung Quốc cho nhập hàng vào Việt Nam để tái xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm né mức thuế chống phá giá 35 – 37% mà Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng với hàng xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Như vậy, chúng ta không chỉ bị điều tra về vấn đề bán phá giá mà doanh nghiệp trong nước còn gặp khó khăn khi mất dần thị trường trong và ngoài nước, và bị hàng kém chất lượng của Trung Quốc đội mác và xuất bán sang nhiều nước.   TS. Nguyễn Thanh Mỹ –  Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Mỹ Lan           Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn khách quan và chủ quan, vẫn có những điểm sáng là các doanh nghiệp Việt Nam liên tục nỗ lực vươn lên, tìm cách đầu tư tự nghiên cứu làm chủ công nghệ, tạo ra những sản phẩm được thị trường chấp nhận và đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài. Trong số đó có những thương hiệu còn khá trẻ, ví dụ như An Sinh Xanh, Thiên Dược, hay iNet Solutions (Công ty CP Giải pháp Tin học Tích hợp mở), hoạt động trong những thương hiệu giàu sức sống trong các lĩnh vực rất khác nhau: An Sinh Xanh tự nghiên cứu ra những thiết bị vệ sinh môi trường và phòng cháy chữa cháy có tính năng vượt trội so với nước ngoài, Thiên Dược nghiên cứu làm thảo dược trị khối u, còn iNet Solutions tạo ra các phần mềm quản lý hữu hiệu trên nền tảng mã nguồn mở phục vụ nhiều đối tượng khác nhau2, từ các doanh nghiệp tới khối các cơ quan quản lý Nhà nước.   Không chỉ các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp, mà một số doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn với thương hiệu từ lâu đã được biết đến rộng rãi cũng rất cố gắng trong đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ nhằm tiếp tục nâng cao sức cạnh tranh và giá trị sản phẩm. Điển hình như Công ty TNHH Minh Long I, tấm gương của những nỗ lực tự tìm tòi học hỏi không ngừng nhằm làm chủ và hoàn thiện công nghệ một cách toàn diện trong lĩnh vực sản xuất gốm sứ3, hay Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, doanh nghiệp đã mạnh dạn thành lập riêng một trung tâm R&D, nơi tập hợp những chuyên gia từ các trường và viện nghiên cứu, những người không chỉ giúp doanh nghiệp rút ngắn đáng kể thời gian và tài lực trong đầu tư nghiên cứu cải tiến công nghệ, mà cả trong công tác đào tạo nâng cao trình độ nhân lực4.   Tập đoàn Trung Nguyên cũng đang lên kế hoạch thành lập một Viện Nghiên cứu Cà phê Toàn cầu nhằm tăng cường khai thác giá trị gia tăng chiếm giữ các phân đoạn cao trong chuỗi giá trị cà phê trên thị trường thế giới. Thông qua Viện, Trung Nguyên mong muốn tập hợp được những nhà khoa học, chuyên gia có trình độ và uy tín cao, thành một hội đồng khoa học đủ năng lực để xây dựng các chuẩn mực làm cơ sở đánh giá các nghiên cứu và phát kiến trong các lĩnh vực liên quan của ngành cà phê.    Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, với sự phát triển của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia và sắp tới nếu Quỹ Đối mới KH&CN Quốc gia đi vào hoạt động, chắc chắn Nhà nước có thể hỗ trợ hiệu quả hơn cho các doanh nghiệp triển khai các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Về lâu dài, có thể Nhà nước sẽ thành lập cả Quỹ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp và những công nghệ đã được ươm tạo. Việc ra đời và phát triển những quỹ này sẽ không chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp về vấn đề nguồn vốn, mà còn đem lại những địa chỉ tin cậy về thẩm định, đánh giá các dự án nghiên cứu công nghệ, làm cơ sở để các doanh nghiệp cân nhắc, lựa chọn đầu tư.  Nhưng trước khi có được những kết quả nghiên cứu đáp ứng nhu cầu mong muốn, các doanh nghiệp cần tìm được những nhà khoa học có năng lực, nhiệt huyết, sự nhạy bén, và lòng kiên trì – những phẩm chất rất thiếu ở các tổ chức nghiên cứu Việt Nam lâu nay vốn quen với cơ chế bao cấp từ Nhà nước. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trong số 400 viện nghiên cứu của Nhà nước, hiện có rất ít các viện tạo ra được những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn mà các doanh nghiệp đòi hỏi. Cùng quan điểm này, bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó Tổng giám đốc Saigon Food chia sẻ từ kinh nghiệm của bà rằng đa số các tổ chức nghiên cứu của Nhà nước chỉ tìm cách hợp tác với doanh nghiệp trong ngắn hạn nhằm kết thúc một đề tài nghiên cứu cụ thể nào đó, mà ít quan tâm tới việc đồng hành cùng doanh nghiệp để có thể triển khai được sản phẩm ra thực tiễn đời sống.     Kiến nghị của các chuyên gia        Ngay từ năm 1968 Malaysia đã có chủ trương trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất dầu cọ – sản phẩm đáp ứng nhu cầu con người trong các xã hội hiện đại, nơi người tiêu dùng mong muốn những sản phẩm dầu ăn không có cholesterol. Chính phủ Malaysia đã triển khai thực hiện mục tiêu chiến lược này với chính sách đồng bộ, có sự phân công phân nhiệm rõ ràng, như Bộ Kế hoạch và Đầu tư phụ trách vay tiền Ngân hàng Thế giới; Bộ Nông nghiệp lo quy hoạch vùng trồng dầu cọ và thu thập các giống dầu cọ, nghiên cứu thử nghiệm xem giống nào phù hợp nhất với điều kiện của Malaysia; Bộ Thương mại đi đàm phán, khuyến mãi sản phẩm dầu cọ khắp nơi trên thế giới; Chính phủ có chính sách giảm thuế cho người đang trồng cao su chuyển sang trồng cọ dầu.  Người dân chưa có việc làm được tạo điều kiện vay vốn, được giao giống sản xuất, tới khi thu hoạch và sản phẩm được đưa vào nhà máy thì họ bắt đầu được trừ nợ.   GS. Võ Tòng Xuân        GS. Võ Tòng Xuân cho rằng cách đầu tư của Nhà nước cho KH&CN đa phần mang tính dàn trải và manh mún như hiện nay khiến các doanh nghiệp khó tận dụng được kết quả nghiên cứu. Vì vậy, Bộ KH&CN phải là cơ quan đóng vai trò thẩm định, xâu chuỗi các kết quả nghiên cứu, nhằm xây dựng được quy trình nghiên cứu và phát triển đạt tới sản phẩm cuối cùng có giá trị gia tăng cao nhất. Ông cho rằng không chỉ Bộ KH&CN mà bản thân Chính phủ phải làm chính sách KH&CN với tầm nhìn ‘chuỗi giá trị gia tăng’ như vậy, ví dụ như có thể học tập kinh nghiệm chiến lược phát triển ngành sản xuất dầu cọ ở Malaysia.   Kiến nghị này của GS. Võ Tòng Xuân phần nào có sự tương đồng với Chương trình Phát triển Sản phẩm Quốc gia đến năm 2020 mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang chủ trì xây dựng theo Quyết định 2441/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ, với mục tiêu không chỉ phát triển ra tới các sản phẩm, mà còn xây dựng được thành những thương hiệu mạnh đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc Chương trình đặt mục tiêu tới năm 2015 sẽ phát triển thành công 6 sản phẩm đầu tiên (bao gồm lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao; thiết bị siêu trường, siêu trọng; sản phẩm bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin; động cơ sử dụng cho phương tiện giao thông vận tải, sản phẩm vắc-xin phòng bệnh cho người và vật nuôi; sản phẩm phục vụ an ninh quốc phòng) có thể là khá tham vọng, và cũng chưa rõ đâu là cơ sở tính toán cho thấy những sản phẩm này đem lại giá trị gia tăng cao nhất (ngoại trừ lĩnh vực sản phẩm phục vụ an ninh quốc phòng mang tính hiển nhiên).    Theo PGS. Trần Đức Viên, trước mắt Nhà nước nên hướng tới hỗ trợ những thương hiệu mạnh sẵn có trong nước, nhằm giúp những thương hiệu này vươn ra toàn cầu. Đồng thời, cần thúc đẩy tiềm lực nghiên cứu trong nước bằng cách 1: chính sách giáo dục đào tạo phải gắn với mục tiêu của chính sách phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có mục tiêu quan trọng là đào tạo nhân lực khoa học kỹ thuật phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp; 2: đặt ra yêu cầu những doanh nghiệp và tổ chức nhập khẩu công nghệ phải có lộ trình tiến tới làm chủ công nghệ được nhập khẩu; 3: có chính sách động viên khuyến khích mọi ý tưởng công nghệ hữu ích, kể cả những ý tưởng ‘Hai Lúa’, nhằm tạo sân chơi bình đẳng và tăng cường động lực đổi mới sáng tạo trong toàn dân.        Chính phủ nên tận dụng các hiệp hội của doanh nghiệp để nhận biết rõ hơn những vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, từ đó đề ra giải pháp tháo gỡ.   Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan        Để khuyến khích doanh nghiệp làm giàu bằng tiến bộ khoa học-công nghệ thay vì đầu cơ khai thác tài nguyên và những quan hệ lợi ích nhóm, TS. Lê Đăng Doanh cho rằng Nhà nước cần ‘cải cách cơ bản động lực và hành vi của thể chế, ví dụ như cải cách chính sách thu hồi đất và đánh thuế vào đầu cơ bất động sản, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh bằng cách kiểm soát hàng nhập lậu, hàng giả, hàng nhái.   Các chuyên gia cùng chung quan điểm rằng để có một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, Nhà nước phải khuyến khích cạnh tranh tự do, trong đó giải pháp quan trọng nhất là giảm thiểu cơ chế xin cho. Càng duy trì cơ chế xin cho Nhà nước càng tạo ra những đặc quyền méo mó, tính minh bạch và công bằng càng thấp, và càng không thể đạt được một môi trường cạnh tranh tự do như chúng ta mong muốn, PGS. Trần Đình Thiên nhận định.    ————-  1 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=109&CategoryID=4&News= 6211  2 http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID= 2&News=5743  3 http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID= 2&News=6151  4 http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News= 6212&CategoryID=2      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp tư nhân bánh kẹo Á Châu: Không sợ thương hiệu ngoại      Tách ra từ thương hiệu Đức Phát vào năm 2007, đến nay doanh nghiệp tư nhân bánh kẹo Á Châu (ACB Barkery) đã trở thành một trong những thương hiệu uy tín, cung ứng sản phẩm cho các thương hiệu thức ăn nhanh tại Việt Nam và các dây chuyền làm bánh “made in Việt Nam” ra nhiều nước châu Á.      Tinh thần đổi mới từ giám đốc   Bắt tay gây dựng cơ nghiệp từ đầu, giám đốc công ty Kao Siêu Lực nhận thấy muốn phát triển doanh nghiệp cần phải có tinh thần đổi mới trong công việc: “Tôi muốn bản thân tôi, các cộng sự và toàn thể nhân viên của ABC Bakery phải không ngừng sáng tạo để luôn có những loại bánh mới cho người tiêu dùng”. Ông cũng cho rằng, mục đích kinh doanh của ACB là “không ngừng sáng tạo ra những sản phẩm mới có lợi cho người tiêu dùng và luôn làm vì cái tâm”.   Với điều tâm niệm ấy, ông Kao Siêu Lực đã dành thời gian ra nước ngoài học hỏi kinh nghiệm và công nghệ mới về nghề bánh. Năm 2000, ông tham dự khóa học về công nghệ bánh mì kéo dài sáu tuần do Hội Lúa mạch Mỹ tổ chức tại Thái Lan. Trở về nước, kiến thức về nghề bánh càng thêm phong phú, nắm được bí quyết chọn nguyên liệu và bột mì thích hợp cho từng loại bánh để vừa đạt chất luợng vừa thu lợi nhuận cao.   Trên cơ sở đó, ông đã thành lập một Trung tâm R&D và trực tiếp chỉ đạo với chức danh chủ tịch hội đồng R&D. Trung tâm này đạt tiêu chuẩn chuẩn ISO để nghiên cứu sản phẩm mới, theo dõi chất lượng nguyên liệu đầu vào và chất lượng sản phẩm sản xuất tại doanh nghiệp để sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do những kỹ sư ngành công nghệ thực phẩm Singapore đảm nhiệm.   Tìm nguyên liệu mới và công nghệ làm bánh mới  Trung tâm R&D đã tự nghiên cứu thành công nhiều loại nguyên liệu mới để làm ra dòng bánh giàu dinh dưỡng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Một trong những hướng nghiên cứu nguyên liệu bột của Trung tâm là dùng các nguyên liệu sẵn có trong nước như bột gạo, quả gấc… phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, vừa tận dụng được những sản vật cổ truyền, tiết kiệm chi phí do không phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu ngoại nhập.  Trong quá trình nghiên cứu, ABC đã tìm ra và phát triển công nghệ làm bánh mì mang tên “poolish method” đem lại hương vị đặc biệt và độ mềm cho bánh mì. Đây cũng là cơ sở để ABC Bakery tìm ra cách sản xuất “bánh mì đông lạnh”, “bánh bông lan đông lạnh”. Khi bánh mì được giao cho các cửa hàng, chỉ cần nướng sơ qua là nóng giòn như mới ra khỏi lò, hay bánh bông lan chỉ cần rã đông là thành bánh tươi ăn ngay.   Đằng sau mỗi sản phẩm của ABC Bakery, dù là bánh mì ngọt hay bánh bông lan, bánh kem, bánh Trung thu.., đều mang dấu ấn của công nghệ mới. ABC Bakery đã sử dụng những máy móc thiết bị hiện đại như lò nướng, máy cán bột điều khiển bằng chương trình của Thuỵ Sĩ. Ngoài ra các công đoạn trộn nhào bột, đóng gói cũng đã được tự động hóa. Riêng với dòng sản phẩm bánh Trung thu, một thế mạnh của công ty, các dàn máy làm bánh đều được lập trình vi tính hóa kết hợp với hệ thống lò nướng tự động của Nhật và dây chuyền làm nguội bánh của Đức, Hà Lan.   Để các nhân viên của công ty có thể sử dụng thành thạo hệ thống máy móc hiện đại này, ABC Bakery đã mời đội ngũ chuyên viên kỹ thuật quốc tế tới hướng dẫn, đồng thời thường xuyên đưa các chuyên viên đi tu nghiệp ở nước ngoài. Ông Kao Siêu Lực cũng thưởng chủ trì nhiều lớp hướng dẫn kỹ thuật làm bánh nhằm nâng cao tay nghề cho công nhân viên.   Cung cấp máy móc làm bánh “made in Vier Nam”  Không chỉ đơn thuần làm bánh cung cấp cho thị trường, ABC Bakery còn tự nghiên cứu và làm ra các loại máy móc chuyên dụng cho ngành bánh, không còn phải phụ thuộc vào dây chuyền công nghệ của nước ngoài như trước, tránh việc mất thời gian và chi phí cho mỗi lần bảo trì. Hơn nữa, việc tự sản xuất máy móc làm bánh cũng giúp doanh nghiệp tối ưu hóa các nhu cầu sản xuất cho những dòng sản phẩm mới.   Để phục vụ cho mục đích này, ABC Bakery đã xây dựng xưởng cơ khí Ba Tư, nơi hoạt động hết công suất để cung cấp sản phẩm cho các bạn hàng trong nước và xuất khẩu. Hầu hết các máy móc “made in Vier Nam” của ABC Bakery đều đồng bộ hóa công nghệ Pre – poolish đã được các công ty thực phẩm Singapore, Đài Loan, Philippines mua lại qua những đợt tham dự triển lãm quốc tế. Giữ uy tín với bạn hàng quốc tế, ABC Bakery thường cử nhân viên kỹ thuật sang tận nơi để hướng dẫn sử dụng và chỉ sau khi chắc chắn máy được vận hành tốt mới về nước.   Sau những nỗ lực đổi mới, ABC Bakery đã trở thành thương hiệu tin cậy với người tiêu dùng, bất chấp sức cạnh tranh lớn của các thương hiệu nước ngoài trên thị trường Việt Nam. Xác định chiến lược kinh doanh theo từng giai đoạn cụ thể, ABC Bakery không chỉ có những sản phẩm bánh tươi cho khách hàng mà còn là một địa chỉ tin cậy cung ứng bánh cho các công ty kinh doanh thức ăn nhanh mang thương hiệu quốc tế như KFC, Lotteria, Burger King, Mc Donald…   Dự kiến trong thời gian tới, ABC Bakery sẽ xây dựng thêm một nhà máy có diện tích 2.000m2, tổng kinh phí đầu tư 4 triệu đô la ở quận Bình Tân chuyên sản xuất các dòng bánh xuất khẩu với quy mô trang bị máy móc hiện đại hơn hẳn trước đây.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp tư nhân ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CUỘC CHƠI MỚI      Sự bành trướng của các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam, sự xuất hiện của các hệ thống phân phối hiện đại do nước ngoài làm chủ đang dần dần dẫn tới sự lép vế trong phát triển thị trường của các doanh nghiệp hàng tiêu dùng Việt Nam ngay trên “sân nhà”- thị trường nội địa. Cuộc “gặp gỡ doanh nhân” trong số này với ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Tổng giám đốc Công ty cà phê Trung Nguyên xoay quanh chủ đề nói trên. Qua đó muốn nói lên một nguy cơ không chỉ đối với các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mà cả với nền kinh tế trong nước.    Vấn đề lớn nhất mà Trung Nguyên cũng như các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam khác hiện đang phải đối mặt trong kinh doanh là gì?  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ (ĐLNV): Nguy cơ bị sụp đổ, mất khả năng kiểm soát kênh phân phối truyền thống do hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại xâm nhập, dẫn đến nền kinh tế quốc gia bị mất sự tự chủ và thiếu ổn định trong việc phát triển kinh tế. Mới đây, Vissan và kem Kido đã tuyên bố không thể tiếp tục đưa hàng vào Metro vì không chịu nổi mức đòi hỏi chiết khấu quá cao do Metro đề nghị. Mấy anh em doanh nghiệp trong nước khác tự hỏi: bao lâu nữa sẽ tới lượt mình? Và ngoài kia còn bao nhiêu doanh nghiệp bé nhỏ hơn sẽ không bao giờ có cơ hội đưa hàng vào các hệ thống siêu thị bán lẻ hiện đại.   Rõ ràng rằng với nguồn tài lực dồi dào và kinh nghiệm, thì các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đang mở rộng sự ảnh hưởng của họ đối với nền kinh tế địa phương bằng cách xây dựng nhiều rào cản như siết chặt chính sách tín dụng, đẩy cao mức chiết khấu, điều kiện giao hàng…để khắt khe hơn với sản phẩm địa phương. Tạo điều kiện và lý do cho họ hợp tác, bắt tay phân phối với các sản phẩm nước ngoài đang muốn xâm nhập vào Việt Nam qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại.                           Hệ thống phân phối truyền thống không còn trụ được…?  Ô. ĐLNV: Trên thực tế thì 90% việc phân phối hàng hóa là theo phương thức truyền thống, manh mún nhỏ lẻ và mang tính cát cứ địa phương. Nhưng với ý thức kém, tư duy kinh doanh theo kiểu tiểu thương trước một sức ép nhanh và mạnh của kênh phân phối hiện đại thì khả năng bị thu hẹp, mất dần cả về thị trường, lợi nhuận của kênh phân phối truyền thống là điều tất yếu. Năm 1995, tại Thái Lan tỷ lệ phân phối truyền thống là 90%, năm năm sau tỷ lệ này giảm xuống 20%, đến nay tỷ lệ này chỉ còn 40 – 30% phân phối bán lẻ truyền thống và dự báo đến năm 2010 thì tỷ lệ này chỉ còn là 10%.  Xuấn thân khởi nghiệp của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đều bằng đồng vốn ít ỏi, bằng kinh nghiệm truyền thống kinh doanh của gia đình nên đa phần các doanh nghiệp đầu tư rất nhiều công sức, tài lực và vật lực vào hệ thống phân phối truyền thống hiện hữu. Vì vậy một khi kênh phân phối truyền thống này mất kiểm soát thì doanh nghiệp cũng mất toàn bộ hệ thống phân phối hàng hóa và nguy cơ phá sản hàng loạt sẽ xẩy ra. Các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập thì càng khó có khả năng thiết lập một kênh phân phối và càng không thể đưa hàng vào kênh phân phối bán lẻ hiện đại.                            Và điều gì sẽ xảy ra?  Ô. ĐLNV: Một khi kênh phân phối truyền thống sụp đổ thì toàn bộ lưu thông hàng hóa của các doanh nghiệp sẽ bị các tập đoàn bán lẻ hiện đại kiểm soát và khống chế. Điều này dẫn đến mất sự tự chủ của nền kinh tế quốc gia, mất huyết mạch giao thương hàng hóa, mất cân bằng trong việc ổn định phát triển kinh tế quốc gia và hình thành sự lệ thuộc từ bên ngoài.  Trong khi đó, ý thức và bản lĩnh tiêu dùng hàng Việt của người tiêu dùng Việt còn thấp, tâm lý sính ngoại khá phổ biến. Làn sóng văn hóa phim ảnh ngoại nhập cùa Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore… du nhập một cách mạnh mẽ trên sóng truyền hình khiến ngưới tiêu dùng bị dẫn dắt, bị ảnh hưởng bởi lối sống tiêu dùng.  Thương hiệu Trung Nguyên trong những năm vừa qua, cố gắng phát triển ra thị trường nước ngoài nhưng thực tế lại gặp nhiều khó khăn ở thị trường trong nước. Giải quyết vấn đề này như thế nào?  Ô. ĐLNV: Thách thức lớn nhất của chúng tôi là chuẩn bị nguồn lực. Sau những bước đi đã qua, chúng tôi nhận thấy hạ tầng cơ sở của Việt Nam chưa đáp ứng được tốc độ phát triển, chưa sẵn sàng để làm bệ phóng. Ví dụ, hiện có rất ít người am hiểu về mô hình franchise (nhượng quyền thương hiệu) để hợp tác với chúng tôi hoặc trong thiết kế mô hình quán Trung Nguyên. Chúng tôi muốn có một mô hình mang tính quốc tế ở bề ngoài và chiều sâu văn hóa Việt Nam ở bên trong. Chúng tôi không chỉ bán cà phê mà còn muốn cung cấp một địa chỉ thư giãn mang tính văn hóa. Dù có khó khăn, song bước tiếp theo của chúng tôi trong việc chuyển đổi hình ảnh sắp tới sẽ nhanh hơn. Franchise là một phương thức tốt nhưng chúng tôi muốn cà phê Trung Nguyên  sẽ có thể xuất hiện bất cứ đâu, chứ không phải chỉ là những quán cao cấp ở các thành phố lớn nên sẽ có nhiều quy chuẩn khác nhau để áp dụng phù hợp. Hiện chúng tôi chưa hài lòng với những mô hình mà mình đang có, còn khi đã có được mô hình vừa ý thì việc nhân rộng sẽ rất nhanh.    Ông đánh giá thế nào về vai trò của người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hóa Việt? Làm thế nào để người tiêu dùng thay đổi thói quen sính hàng ngoại, để người Việt dùng và yêu mến hàng Việt?  Ô. ĐLNV: Khi nhắc đến Honda, nhắc đến Sony người ta biết ngay là đang nói đến Nhật Bản, nhắc đến Samsung, đến LG thì biết ngay đến Hàn Quốc hay nói đến Coca Cola, đến Mac Dolnald là biết đến nước Mỹ…Hình ảnh thương hiệu sản phẩm đã trở thành biểu tượng của cả một đất nước, của cả một quốc gia để đối thoại với người tiêu dùng trên thế giới. Dù Nhật Bản, Hàn Quốc không phải là một quốc gia giàu có về tiềm năng nông sản, có những sản phẩm nông sản của họ còn đắt hơn nhập khẩu của nước ngoài nhưng trên bàn ăn của người Nhật vẫn là gạo Nhật, món ăn truyền thống của người Hàn Quốc vẫn là món ăn kim chi. Vấn đề là ý thức chọn lựa và tiêu dùng sản phẩm của người tiêu dùng.  Hiện nay, người tiêu dùng đang bị bao vây bởi những làn sóng quảng cáo, tràn ngập những thông điệp truyền thông của các sản phẩm nước ngoài. Nếu họ không ý thức trong việc chọn lựa hàng hóa là một hành động tiếp sức rất quan trọng giúp cho các thương hiệu Việt vững mạnh để trở thành biểu tượng của cả một đất nước – tất nhiên khi đó là những thương hiệu Việt xứng đáng. Những cạnh tranh của các công ty tập đoàn lớn mạnh cùng với sức mạnh về truyền thông sẽ không có đất cho những sản phẩm Việt của những doanh nghiệp mới đầu khởi nghiệp, họ không có cơ hội nhiều để giới thiệu, quảng bá và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.  Trong một cuộc cạnh tranh không cân sức như vậy ngay trên đất nước mình thì chỉ có lòng tự tôn dân tộc về thương hiệu Việt, sự đồng lòng ủng hộ về sản phẩm Việt của người dân Việt Nam mới là sức mạnh quật khởi để có được nhiều hơn nữa những thương hiệu Việt mang hình ảnh của quốc gia, làm sứ giả kinh tế khi ra thế giới.  Các công ty Việt Nam cần nhất điều gì trong thương trường cạnh tranh ác liệt thời hội nhập?  Ô. ĐLNV: Chắc chắn cuộc chiến sẽ rất khó khăn, sẽ có những hy sinh và tổn thất nhưng điều quan trọng là ý chí không lùi bước, không khiếp nhược trước những sức mạnh của các “đại gia” lớn đến từ nước ngoài. Thủ tướng Phan Văn Khải đã nói rằng “doanh nhân là những chiến sĩ thời bình”, vậy những chiến sĩ thời bình không chỉ cần trang bị hệ thống nền tảng về lý luận, về phương thức ý tưởng kinh doanh mà họ phải có một tinh thần xả thân vì sự nghiệp chung, vì hình ảnh thương hiệu của cả quốc gia.  Xin cám ơn ông.              T. H thực hiện  Báo Tia Sáng số 16-5.11.2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp Úc và thách thức ĐMST      Là một quốc gia có nền khoa học và công nghệ phát triển, đứng trong 10 nước hàng đầu thế giới về chất lượng nghiên cứu, nhưng thách thức không nhỏ cho Úc là làm sao phát huy được sức mạnh tri thức vào tiến trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp để không bị tụt hậu so với các quốc gia khác trong khối OECD.    Đổi mới sáng tạo có thể giúp nâng cao năng suất cho nền kinh tế, làm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất và dịch vụ, tổ chức lao động, đồng thời giúp mở ra những thị trường mới. Đổi mới sáng tạo cũng giúp các doanh nghiệp dễ dàng tham gia kết nối vào nền kinh tế số hóa. Các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ở Úc đóng góp tới 144 tỷ AUD thị phần thương mại điện tử ở Úc năm 2010-2011, cao gấp 3 lần thị phần của những doanh nghiệp không đổi mới sáng tạo tại thị trường này1. Tuy nhiên, bản thân nước Úc vẫn phải đối diện với nguy cơ tụt hậu về đổi mới sáng tạo so với các quốc gia khác trong khối OECD.  Nguy cơ tụt hậu của nước Úc trong khối OECD  Hiệu quả năng suất ở Úc đang suy giảm trong những năm gần đây và đã có những ý kiến cho rằng các nỗ lực đổi mới sáng tạo ở Úc là chưa đủ để đảo ngược xu thế này2. Đa phần các khoản chi tiêu dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn chỉ tập trung ở các doanh nghiệp lớn, trong khi giá trị sản phẩm của khối doanh nghiệp này chỉ chiếm 42% tổng sản phẩm quốc nội, và quá tập trung vào một số ngành như khai mỏ, công nghiệp chế tạo, tài chính, và bảo hiểm. Đầu tư cho R&D của các doanh nghiệp là không nhiều, thể hiện ở số lượng đơn đăng ký miễn giảm thuế của doanh nghiệp đầu tư R&D năm 2010-2011 là 9118, chiếm một phần rất nhỏ so với tổng số doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ở Úc là 764.000.  Như vậy, chất lượng đổi mới sáng tạo ở Úc là chưa đủ để đảo ngược xu thế suy giảm năng suất. Lâu nay, Úc vẫn xếp hạng thấp so với các nước OECD trong đổi mới sáng tạo (trong khoảng từ thứ 20 tới 30) và đặc biết thấp về tính hiệu quả trong đổi mới sáng tạo3. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Úc gặp nhiều rào cản trong đổi mới sáng tạo, gây suy giảm năng suất từ đổi mới sáng tạo ở khối doanh nghiệp này. Trong khi đó, khối các doanh nghiệp lớn của Úc cũng bị xếp gần chót trong số các nước OECD về đổi mới sáng tạo và hoạt động hợp tác, cho dù họ đầu tư khá nhiều cho R&D. Mức đầu tư cho tài sản vô hình (intangible asset) – đóng vai trò keo dán giúp tạo ra giá trị từ lao động và tài sản hữu hình, đồng thời cũng được coi là yếu tố phản ánh nỗ lực một quốc gia trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lấy đổi mới sáng tạo làm động lực – ở Úc cũng thấp hơn nhiều so với bình diện chung các quốc gia OECD.          Qua khảo sát, người ta thấy rằng nếu so với những doanh nghiệp không đổi mới sáng tạo ở Úc, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có nhiều ưu việt như:              * Xác suất báo lãi cao hơn 42%;              * Xác suất tham gia hoạt động xuất khẩu cao gấp 3 lần, xác suất tăng số lượng thị trường xuất khẩu trong những năm qua cao gấp 18 lần;              * Xác suất tăng chủng loại hàng hóa dịch vụ cung cấp cao gấp 4 lần;               * Xác suất tăng lượng lao động thuê mướn cao gấp 2 lần;              * Xác suất tăng cường đào tạo nhân lực cao gấp hơn 3 lần;              * Xác suất tăng cường tham gia đóng góp cho xã hội, ví dụ như tham gia các dự án công ích cho cộng đồng, cao gấp hơn 3 lần.          Nguyên nhân của tình trạng ít đầu tư cho tài sản vô hình có thể do đa số các doanh nghiệp Úc là những người ứng dụng cải tiến công nghệ của người khác (ví dụ như mua các thiết bị do nơi khác chế ra) thay vì đi tiên phong trong nỗ lực đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, đa số các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo là những gương mặt cũ, tỷ lệ xuất hiện những gương mặt hoàn toàn mới bước chân vào thị trường đổi mới sáng tạo ở Úc là rất thấp (1,5%) so với các nước OECD (10% tới 40%).   Tổng đầu tư cho đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp Úc trong năm 2010-2011 là 23-29 tỷ AUD, được dành cho việc mua máy móc, thiết bị, công nghệ (36%); đào tạo nhân lực đổi mới sáng tạo (27%); quảng bá giới thiệu đổi mới sáng tạo (26%)4. Cơ cấu này cho thấy hệ thống đổi mới sáng tạo của Úc đang chủ yếu ưu tiên cho chiến lược làm người đi sau nhanh chân, tức là nhanh chóng áp dụng những ý tưởng của người khác thay vì tự mình đưa ra sáng kiến.  Thách thức cho nền khoa học và giáo dục của Úc  Tuy nhiên, từ những căn cứ trong báo cáo công bố tháng 5 năm 2012 của GS. Ian Chubb có tên gọi Sức khỏe Nền khoa học Úc (Health of Australian Science report), có thể thấy về cơ bản nền khoa học và giáo dục của Úc vẫn đang trong tình trạng khá tốt so với bình diện chung trên thế giới. Tỷ lệ sinh viên theo học các ngành khoa học công nghệ đang gia tăng. Các nhà nghiên cứu Úc có nhiều công bố quốc tế trên đầu người hơn đa số các nhà nghiên cứu ở các nước khác trên thế giới, và mức ảnh hưởng từ những công bố này cũng khá cao so với quốc tế trên đa số các lĩnh vực.   Nhưng vẫn tồn tại những thách thức trước mắt và trong khoảng trung hạn. Đó là tỷ lệ theo học các môn khoa học ở các trường trung học đang giảm xuống. Mặc dù mức suy giảm gần đây đã chậm lại nhưng vẫn chưa có xu hướng đi vào ổn định. So với các quốc gia khác, chất lượng đào tạo khoa học cấp trung học ở Úc cũng đang dần tụt xuống, theo đánh giá của GS. Chubb. Tuy gần đây tỷ lệ sinh viên theo học các ngành khoa học và công nghệ có tăng, nhưng trước đó cả thập kỷ tỷ lệ này đứng yên, và đến nay vẫn chưa phục hồi lại ở mức đầu thập kỷ 1990.   Cộng đồng khoa học được tăng cấp kinh phí cho nghiên cứu trong thập kỷ vừa qua, nhưng đòi hỏi từ thực tiễn nghiên cứu cũng tăng không kém và một vài lĩnh vực có dấu hiệu bị tụt hậu so với quốc tế. Theo GS. Chubb, một số lĩnh vực quan trọng cho tương lai phát triển của đất nước đang có nguy cơ suy giảm, ví dụ như khoa học nông nghiệp, và đáng lo ngại là cả những ngành cốt lõi như hóa học, toán học, và vật lý. Ông cho rằng Úc cần tập trung rõ rệt hơn cho một số lĩnh vực giáo dục và khoa học cụ thể đóng vai thiết yếu cho xây dựng, củng cố vị thế của quốc gia trong tương lai, bên cạnh đó vẫn không được xao lãng những lĩnh vực còn lại.    Những yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp  Khảo sát thực tế về các rào cản căn bản đối với đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp Úc cho thấy hai vấn đề đáng quan tâm là tình trạng thiếu nhân lực trình độ cao và thiếu kinh phí. So với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp nhỏ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động nguồn lực cho đổi mới sáng tạo. Ngoài hai vấn đề trên, một số tác nhân khác ảnh hưởng tới đổi mới sáng tạo như mức độ cạnh tranh và cởi mở trong thương mại, và tính minh bạch rõ ràng của tín hiệu giá cả trên thị trường. Ví dụ như 75% doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ở Úc tìm thấy động lực nhờ những tác nhân như sự cạnh tranh của đối thủ và nhu cầu từ thị trường5, song những tác nhân này gần đây đang suy giảm6, làm ảnh hưởng tới động lực đổi mới sáng tạo.           Theo phân tích của OECD, cứ 1% tăng đầu tư của các doanh nghiệp cho R&D sẽ đem lại 0,11% gia tăng trong mức tăng trưởng năng suất dài hạn của quốc gia. Mức đầu tư cho đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp Úc ước tính từ 23 tỷ $ tới 29 tỷ $ trong 2010-2011, chủ yếu dành cho mua máy móc, thiết bị và công nghệ (36%); đào tạo nhân lực đổi mới sáng tạo (27%); tiếp thị quảng bá đổi mới sáng tạo (26%). Xét về tỷ lệ mức đầu tư R&D của doanh nghiệp so với GDP, năm 2009-2010 nước Úc xếp thứ 12 trong khối OECD.   Nguồn số liệu:              OECD (2006) Sources of Knowledge and Productivity: How Robust is the Relationship?, STI Working Paper 2006/6, Paris.              ABS (2012) Innovation in Australian Business, 2010-11, Appendix 2, cat. no. 8158.0.        Dữ liệu khảo sát ý kiến từ doanh nghiệp cho thấy các quy định của Nhà nước đối với doanh nghiệp hiện đang gây cản trở cho đổi mới sáng tạo, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ. Khi được hỏi liệu các quy định của Chính phủ có gây cản trở cho đổi mới sáng tạo, 15,4% số doanh nghiệp quy mô từ 4 nhân viên trở xuống phản hồi cho rằng Chính phủ gây cản trở, chỉ có 7,6% cho rằng Chính phủ giúp ích; 17,6% doanh nghiệp với từ 5 tới 19 nhân viên cho rằng Chính phủ gây cản trở, chỉ 13,4% cho rằng Chính phủ giúp ích; 17,5% doanh nghiệp từ 20 tới 199 nhân viên cho rằng Chính phủ gây cản trở, chỉ 15,7% doanh nghiệp cho rằng Chính phủ giúp ích. Tuy nhiên, đa số các công ty có từ 200 nhân viên trở lên cho rằng Chính phủ có vai trò giúp ích cho đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp.  Thiếu nhân lực trình độ cao cũng là một vấn đề cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ở Úc. Nhìn chung kết quả khảo sát trên các doanh nghiệp Úc cho thấy họ thiếu nhân lực có kỹ năng bán hàng, tiếp thị, tài chính, và quản trị. Nhưng so với các doanh nghiệp khác, xác suất thiếu nhân lực trình độ cao của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo cao gấp 2 tới 3 lần trong các mảng quản trị, tiếp thị, và tài chính, và đặc biệt cao gấp 4 tới 7 lần trong các mảng khoa học kỹ thuật, nghiên cứu, và công nghệ thông tin.  Doanh nghiệp Úc cần định hướng chiến lược và văn hóa đổi mới sáng tạo   Định hướng chiến lược về đổi mới sáng tạo là nền tảng cơ sở đầu tiên cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, vừa có vai trò tạo ra ý thức sơ khởi, vừa là con đường hướng tới để doanh nghiệp có thể tập trung, tổ chức các nguồn lực. Một khảo sát quốc tế thu thập dữ liệu về quản trị doanh nghiệp trên 9.000 doanh nghiệp toàn thế giới cho thấy Úc nằm trong tốp giữa của 20 quốc gia hàng đầu thế giới, nhưng thua khá xa nhóm đứng đầu như Mỹ, Đức, hay Thụy Điển7. Ở nhóm quốc gia dẫn đầu, có tới 44% doanh nghiệp có định hướng chiến lược về đổi mới sáng tạo, còn ở Úc con số này là 18%.  Rộng hơn định hướng chiến lược về đổi mới sáng tạo là văn hóa đổi mới sáng tạo. Một nền văn hóa phục vụ cho đổi mới sáng tạo thường đòi hỏi các yếu tố như tinh thần hợp tác giữa các cá nhân và tổ chức, tính cởi mở trước các ý tưởng mới, chiến lược đổi mới sáng tạo, sự sẵn sàng đối phó và quản lý các rủi ro kỹ thuật và thương mại. Yếu tố sẵn sàng đối phó và chủ động giải quyết các thách thức là rất quan trọng trong văn hóa đổi mới sáng tạo, và đây là điều mà đa số các doanh nghiệp Úc đang thiếu.  Một khảo sát được tiến hành bởi Booz & Company8 cho thấy nhiều doanh nghiệp Úc (44%) có văn hóa đổi mới sáng tạo, có tinh thần hợp tác và cởi mở trước ý tưởng mới, biết nắm bắt nhu cầu khách hàng, nhưng phương thức còn thụ động, và có nguy cơ không kịp phản ứng trước các thách thức và cơ hội trong tương lai. 32% doanh nghiệp chưa có văn hóa đổi mới sáng tạo, và cũng chưa có định hướng chiến lược đổi mới sáng tạo – đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa rơi vào nhóm này. 6% doanh nghiệp có định hướng chiến lược đổi mới sáng tạo nhưng không đưa ra nỗ lực cụ thể nào. Chỉ có 18% doanh nghiệp có sự song hành cao, vừa có định hướng chiến lược đổi mới sáng tạo vừa có văn hóa đổi mới sáng tạo.         Tương quan đầu tư công cho R&D giữa Úc và các nước OECD                 Hoạt động nghiên cứu có nguồn gốc từ đầu tư công đóng vai trò căn bản trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, giúp tạo ra những tri thức mới và hấp thụ những tri thức sẵn có trên thế giới. Cứ 1% gia tăng đầu tư công cho R&D đem lại 0,28% gia tăng trong tăng trưởng năng suất dài hạn của nền kinh tế. Theo phép quy đổi này, hằng năm Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu (CRC) của Úc đã đem lại những công nghệ, sản phẩm, và quy trình sản xuất với tổng giá trị đóng góp lên tới 278 triệu AUD, hay khoảng 0,03% gia tăng cho tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của quốc gia.              Năm 2008, tổng đầu tư của Úc cho R&D khoảng 2,24% GDP, ít hơn một chút so với mức trung bình của khối OECD là 2,35%. Khi đó Úc xếp thứ 12 trên 31 quốc gia OECD, đứng trên Vương quốc Anh, Canada, và Pháp, nhưng thấp hơn khá nhiều so với Phần Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, và Hàn Quốc, là những nước đầu tư trung bình tới 3,8% GDP cho R&D. Trong năm 2010-2011, mức đầu tư cho R&D của Úc là 30,8 tỷ AUD, tăng 2,5 tỷ AUD so với 2008-2009 (chưa có con số để so sánh với OECD).              Cơ cấu đầu tư cho nghiên cứu ở Úc có sự chuyển dịch đáng kể trong 15 năm gần đây, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Chính phủ Úc đóng góp tới 0,77% GDP cho tổng đầu tư R&D của quốc gia, con số này cao hàng thứ 7 trong khối OECD. Tổng chi cho R&D và giáo dục bậc cao của Úc đứng trên mức trung bình của OECD. Số lượng công bố khoa học của Úc trong tổng số công bố quốc tế tăng đáng kể, đạt 3,4% vào năm 2010, đưa Úc xếp vào hàng thứ 10 của OECD, mặc dù còn thua khá xa so với nhóm 5 nước đứng đầu (riêng Mỹ đã đóng góp tới 28,7%). Cứ 1000 nhà nghiên cứu Úc thì có 402 công bố quốc tế, tỷ lệ này giúp Úc xếp thứ 7 trong khối OECD. Số trích dẫn trung bình trên mỗi công bố của Úc trong giai đoạn 2006-2010 là 5,7, tăng 19% so với giai đoạn 2002-2006, nhưng mới chỉ đứng thứ 18 trong khối OECD. Trong 19 trên 22 lĩnh vực nghiên cứu, tỷ lệ trích dẫn các công bố quốc tế của Úc cao hơn mức trung bình của thế giới.   Nguồn dữ liệu: OECD (2006) Sources of Knowledge and Productivity: How Robust is the Relationship?, STI Working Paper 2006/6, Paris.                Thanh Xuân tổng hợp  —-  1 ABS (2012) Selected Characteristics of Australian Business, 2010-11, cat. no. 8167.0.  2 D’Arcy P & Gustafsson L (2012) Australia’s productivity performance and real incomes, Reserve Bank of Australia Bulletin, June quarter  3 Tham khảo World Economic Forum (2012) Global Competitiveness Index 2012-13 http://reports.weforum.org/global-competitiveness-report-2012-2013/#=, và    INSEAD and the World Intellectual Property Organisation (2012) The global innovation index 2012; http://www.globalinnovationindex.org/gii/index.html,   [tham khảo lần cuối vào 19/9/2012].  4 ABS (2012) Innovation in Australian Business, 2010-11, cat. no. 8158.0.  5 ABS (2012) Innovation in Australian Business, 2010-11, cat. no. 8158.0.  6 D’Arcy P & Gustafsson L (2012) Australia’s productivity performance and real incomes, Reserve Bank of Australia Bulletin, June quarter.  7 Dolman B & Gruen D (2012) Productivity and structural change, paper presented to the 41st Australian Conference of Economists, Melbourne, 10 July.  8 http://www.booz.com/global/home/what_we_do/services/innovation/innovation_thought_leadership/global_innovation_1000 [Accessed    20 September 2012].    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp Việt lao đao vì “quên” đổi mới sáng tạo?      Trong một cuộc khảo sát gần đây của Bộ KH&amp;CN tại 100 doanh nghiệp ở Hà Nội và TP HCM, một con số  khiến các chuyên gia kinh tế sửng sốt: chi phí đầu tư cho đổi mới khoa  học công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam vô cùng thấp, chỉ vào khoảng  0,2-0,3% trên tổng doanh thu…       Bên cạnh đó, trong vòng 1,5 năm trở lại đây, đã có gần 94.000 doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động. Hai thông số tưởng không nhiều liên quan nhưng lại rất liên quan trong bối cảnh môi trường cạnh tranh trên thế giới đã có nhiều đổi khác. Nhiều chuyên gia chỉ ra rằng, chính việc “quên” đổi mới sáng tạo, cộng với những tác động không nhỏ của khủng hoảng kinh tế thế giới đang đẩy nhiều doanh nghiệp nhỏ vào tình cảnh hoạt động không mấy sáng sủa.  Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu, người từng giữ vai trò quản lý ngành Khoa học công nghệ trong hơn chục năm từng đúc kết, sau gần 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của doanh nghiệp Việt Nam còn ở mức thấp và khó bứt phá. Chỉ lấy một con số so sánh, tại Việt Nam, chi phí đầu tư cho đổi mới khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ chưa đầy 0,3% doanh thu thì tại Ấn Độ tỷ lệ này là 5%, Hàn Quốc là 10% và Nhật Bản gần 50%. Không quá ngạc nhiên khi tới giờ, sản phẩm của các doanh nghiệp Nhật Bản thường gắn liền với chất lượng cao, công nghệ tiên tiến.  Có một thời kỳ, khoảng những năm 1990, tại các diễn đàn gặp gỡ doanh nghiệp, kiến nghị mà doanh nghiệp đưa ra với các Bộ, ngành bao giờ cũng là vấn đề ưu đãi tín dụng, ưu đãi đất đai, nhà xưởng… rất ít khi là những kiến nghị về hỗ trợ đổi mới công nghệ hay hỗ trợ sáng chế, sáng tạo.  Kết quả của một thời kỳ dài “quên” đổi mới công nghệ là những con số đáng báo động: đa số doanh nghiệp Việt Nam còn đang sử dụng công nghệ của những năm 80 của thế kỷ trước, trong đó 52% doanh nghiệp đang sử dụng thiết bị lạc hậu, 38% sử dụng thiết bị trung bình và 10% là thiết bị hiện đại. Nhiều ngành sản xuất hiện nay như dệt may, da giày, khai thác khoáng sản vẫn tự bằng lòng với cách phát triển dựa vào nhân công giá rẻ và tài nguyên, hệ quả là kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị mang lại thì rất thấp. Công nghệ lạc hậu đã không cho phép những ngành này có thể tự chủ về nguồn nguyên liệu chất lượng cao, phải nhập khẩu nguyên liệu và xuất gia công rẻ mạt.  Để thực trạng này kéo dài nhiều năm nay, theo các chuyên gia có một phần lỗi của doanh nghiệp, trong đó nhận thức của người lãnh đạo là quan trọng hàng đầu. Không ai có thể làm thay họ trong quyết định đầu tư đổi mới công nghệ, đầu tư chiều sâu thay vì đầu tư vào những lĩnh vực “ăn xổi”. Thực tế đã cho thấy, những bài học nhãn tiền: Viettel, FPT, những doanh nghiệp được coi là trẻ có được quy mô ngày hôm nay là vì ngay từ đầu đã xác định được con đường đi lên nhờ nghiên cứu và phát triển. Cả hai doanh nghiệp này năm nào cũng dành khoảng 10% lợi nhuận sau thuế cho nghiên cứu và phát triển.  Ngoài việc doanh nghiệp “quên” đổi mới, sáng tạo, còn một nguyên nhân nữa từ môi trường chính sách. Nhiều đề tài, giải pháp hữu ích không tìm được người mua, trong khi doanh nghiệp nhỏ nhiều khi cần thông tin thực sự về công nghệ trong nước thì không biết “gõ cửa” ở đâu.  Cạnh tranh khốc liệt trong giai đoạn hội nhập và ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế đang là thách thức với doanh nghiệp nhỏ. Giờ là lúc cần nhìn lại mình để đổi mới sáng tạo. Thay vì lo sợ một ngày nào đó doanh nghiệp gặp nguy hiểm thì hãy coi giai đoạn này là thời cơ để đổi mới, vượt lên chính mình.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp Việt Nam đang thiếu lao động và yếu năng lực      Báo cáo của Viện McKinsey Toàn cầu (MGI) cho thấy Việt Nam có nguy cơ tăng trưởng chậm lại do hạn chế về số lượng, chất lượng lao động, và năng lực doanh nghiệp chưa đủ sức cạnh tranh quốc tế.      Thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng của Việt Nam trong một phần tư thế kỷ vừa qua – tăng trưởng hằng năm ở mức trung bình là 5,3% kể từ năm 1986 – là nhờ vào ba động lực kinh tế cơ bản: nguồn lao động gia tăng, dịch chuyển trọng tâm từ kinh tế nông nghiệp sang các lĩnh vực khác, và năng suất gia tăng. Trong đó, hai động lực đầu tiên là nguồn lao động gia tăng và dịch chuyển trọng tâm ra khỏi kinh tế nông nghiệp giúp đóng góp hai phần ba vào mức tăng trưởng GDP 7% của Việt Nam từ 2005 tới 2010; một phần ba còn lại là do gia tăng năng suất, theo đánh giá của Viện McKinsey Toàn cầu (MGI).    Tuy nhiên, hai động lực đầu tiên đang ngày càng giảm sức đóng góp vào tăng trưởng. Theo thống kê chính thức của Việt Nam, mức tăng trưởng của nguồn lao động sẽ giảm còn 0,6% mỗi năm trong vòng một thập kỷ tới, giảm từ 2,8%/năm trong giai đoạn 2000 – 2010. Trong bối cảnh lao động đã dịch chuyển khá nhanh từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ trong thập kỷ vừa qua, nhiều khả năng sự dịch chuyển sẽ không thể tăng tốc cao hơn nữa để có thể bù đắp sự suy giảm của tổng thể nguồn lao động.         Viện McKinsey Toàn cầu (MGI) là một doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu của công ty McKinsey & Company, được thành lập năm 1990 vì mục tiêu phát triển tri thức về sự phát triển kinh tế toàn cầu, phục vụ cho công tác quản lý và hoạch định chính sách của các doanh nghiệp, Chính phủ, các tổ chức xã hội. McKinsey & Company có hoạt động tư vấn ở hơn 50 quốc gia. Văn phòng tại Hà Nội của McKinsey được thành lập từ năm 2008.              MGI đã có những báo cáo chi tiết ở hơn 20 quốc gia, 30 ngành công nghiệp. 6 lĩnh vực nghiên cứu chính bao gồm: năng suất và phát triển; các thị trường tài chính toàn cầu; công nghệ và cải tiến; đô thị hóa; tương lai lao động; và tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu MGI tham vấn cho những nhà kinh tế hàng đầu, trong đó có những người từng đoạt giải Nobel.             Thay vào đó, Việt Nam cần tìm cách để mức tăng trưởng năng suất lao động tăng gấp đôi, đạt 6,4%, mới có thể giúp nền kinh tế đạt mục tiêu của Chính phủ là 7 tới 8% GDP vào năm 2020. Nếu năng suất không tăng, dự kiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ giảm xuống còn khoảng 5% hằng năm. Để thấy sự khác biệt, chúng ta có thể so sánh GDP năm 2020 lũy tiến theo hai mức tăng trưởng: vào năm 2020, GDP với mức tăng trưởng là 5%/năm sẽ thấp hơn 30% so với GDP của mức tăng trưởng 7%.   Việc đạt mục tiêu tăng trưởng trên 6%/năm là một thách thức lớn, nhưng không phải không làm được. Tuy nhiên, những thay đổi dè dặt sẽ không giúp đạt được mục tiêu này. Việt Nam cần một sự cải tổ cấu trúc sâu rộng, và một sự cam kết mạnh mẽ, bền vững từ các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp. Lâu nay, nhiều công ty đã thành công ở Việt Nam nhờ vào nguồn lao động tăng nhanh, ổn định, dồi dào, và rẻ. Trong tương lai, những lợi thế này sẽ không còn nữa. Do đó, các doanh nghiệp sẽ cần có những biện pháp nhằm đảm bảo mô hình kinh doanh và tài chính của mình đủ vững vàng để vượt qua những giai đoạn kinh tế tăng trưởng thấp, hoặc thậm chí các biến động kinh tế.   Những thách thức cho Việt Nam  Trước mắt, Việt Nam cần thích nghi với một môi trường kinh tế toàn cầu có nhiều biến động. Hiện nay, kinh tế Việt Nam đang chịu những rủi ro cao do sức ép kinh tế vĩ mô, trong đó đáng kể là tình trạng lạm phát cao, hệ quả của những chính sách của Chính phủ cố gắng níu kéo mức tăng trưởng ổn định bất chấp khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Từ đầu năm 2009, xuất khẩu và FDI của Việt Nam giảm mạnh, và tới nay tương lai vẫn bất định dù xuất khẩu đã phục hồi. Sự phục hồi chậm chạp của Mỹ và châu Âu, khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản, đã làm gia tăng thêm những bất ổn ngắn hạn. Để đối phó với suy thoái kinh tế, Chính phủ Việt Nam dựa vào chính sách kinh tế vĩ mô thả lỏng, gây ra không chỉ lạm phát mà cả thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, và tình trạng tỷ giá bất ổn định. Nhiều dấu hiệu cho thấy khu vực tài chính đang căng thẳng, và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đã đánh tụt hạng tín nhiệm các khoản vay của Việt Nam.  Về lâu dài, thách thức cho Việt Nam còn lớn hơn. Do sự suy giảm của các động lực cơ bản giúp duy trì tăng trưởng ổn định trước đây – như nguồn lao động trẻ và tăng nhanh, sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ – Việt Nam sẽ cần những động lực tăng trưởng mới. Mức tăng trưởng nguồn lao động, lâu nay là động lực đóng góp khoảng một phần ba sức tăng trưởng kinh tế, hiện đã bắt đầu giảm xuống. Một số doanh nghiệp bắt đầu báo cáo về tình hình thiếu lao động ở những thành phố lớn. Năm 2020, dự kiến dân số độ tuổi từ 5 tới 19 sẽ chỉ còn 22%, trong khi mức năm 2010 là 27%, năm 1999 là 34%.    Độ tuổi trung bình của Việt Nam không phải là cao, 27,4 năm, tương đối trẻ so với ở những nước khác, như của Trung Quốc là 35,2 năm. Tuy nhiên, dân số Việt Nam cũng đang già đi. Theo con số dự đoán của Chính phủ, nguồn lao động Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 0,6%/năm trong vòng một thập kỷ tới, giảm ba phần tư so với mức tăng 2,8% trong giai đoạn 2000-2010. Như vậy, tăng trưởng nguồn lao động sẽ tiếp tục đóng góp dương vào GDP, nhưng thấp hơn đáng kể so với thập kỷ trước.   Sức tăng trưởng của Việt Nam lâu nay có một phần đáng kể là do tốc độ dịch chuyển rất nhanh từ các làng mạc sang thị trấn, thành thị – từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ với năng suất tương đối cao hơn. Tuy nhiên, xu thế tái cơ cấu này cũng khó có thể tiếp tục được đẩy mạnh nhanh chóng. Thậm chí dù tốc độ tái cơ cấu này có rất nhanh thì cũng không đủ bù đắp được sự suy giảm sức tăng trưởng nguồn lao động. Nếu năng suất các ngành cứ giữ nguyên như hiện nay, dân số tham gia lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ phải dịch chuyển rất nhanh sang các lĩnh vực khác, với tốc độ cao gấp đôi so với tốc độ dịch chuyển trong thập kỷ trước – mà điều này rất khó xảy ra vì độ tuổi người làm nông nghiệp đang già đi, và số lượng người làm nông nghiệp đã giảm với tốc độ khá mạnh trong vòng mười năm qua.      Để đạt mức tăng trưởng GDP 7%/năm, năng suất lao động của Việt Nam cần có mức tăng trưởng là 6,4%/năm. Nếu không đạt mức tăng này, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể sẽ giảm xuống còn 4,5-5%/năm, thấp hơn đáng kể so với chỉ tiêu 7%/năm của Chính phủ. Với mức tăng trưởng 4,5-5%/năm, GDP năm 2020 sẽ thấp hơn 30% (khoảng 46 tỷ USD) thấp hơn so với mức tăng trưởng 7%/năm. Tiêu dùng tư sẽ thấp hơn 30 tỷ USD, và kinh tế Việt Nam sẽ mất 14 năm thay vì 10 năm để tăng gấp đôi quy mô.  Ảnh hưởng tới các doanh nghiệp  Tác động của triển vọng kinh tế Việt Nam tới các doanh nghiệp tùy thuộc vào tính chất doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh phục vụ trong nước hay nước ngoài. Những doanh nghiệp thiên về kinh doanh phục vụ trong nước như trong lĩnh vực tài chính hay bán lẻ sẽ chịu nhiều nguy cơ do tăng trưởng trong nước chậm lại, hơn là các doanh nghiệp thiên về xuất khẩu. Triển vọng tăng trưởng của các ngành khác nhau khá nhiều nên mỗi doanh nghiệp sẽ phải  xử lý những vấn đề gắn với đặc thù riêng của ngành mình.         Tư duy gia tăng chất lượng làm việc của nhân viên chưa phổ cập ở các doanh nghiệp Việt Nam. Những doanh nghiệp sở hữu bởi gia đình, chiếm một phần đáng kể trong nền kinh tế, tới nay vẫn cưỡng lại xu hướng đòi hỏi cải cách năng lực quản trị.        Nguồn lao động tăng chậm lại cũng sẽ tác động đáng kể tới các doanh nghiệp. Các nhà đầu tư từng hình dung Việt Nam là một nền kinh tế chi phí rẻ và nhiều lao động, nhưng nay họ sẽ phải điều chỉnh kỳ vọng của mình.  Vấn đề của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  Nhiều nhà đầu tư từng mở cơ sở sản xuất ở Việt Nam chủ yếu do muốn phòng ngừa rủi ro ở Trung Quốc. Tuy nhiên, họ chưa đánh giá đầy đủ triển vọng, gồm cả những mặt tiêu cực và tích cực, trong việc mở rộng kinh doanh ở Việt Nam. Những doanh nghiệp này nên tránh sa lầy quá sâu, vì kinh tế Việt Nam có thể sẽ không thể tăng trưởng mạnh như trong quá khứ, và phải đảm bảo mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình vận hành ổn định ngay cả trong trường hợp lương lao động gia tăng đáng kể.   Nhiều dư luận và căn cứ thống kê đã khẳng định rằng Việt Nam đang giảm dần lợi thế về lương lao động thấp. Vì vậy các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu, và các liên doanh với nước ngoài cần phải gia tăng năng suất để có thể cạnh tranh. Các liên doanh với nước ngoài nên đàm phán với các cấp chính quyền để giảm các rào cản xung quanh những hoạt động có ích cho cả đôi bên, ví dụ các chương trình cải thiện đào tạo nghề, hoặc gia tăng tỷ trọng đầu tư cho máy móc thiết bị trong mô hình sản xuất.     Hiện nay vấn đề dạy nghề đặc biệt quan trọng. Nhiều liên doanh với nước ngoài đã phàn nàn về tình trạng thiếu lao động cơ bản trong lĩnh vực công nghiệp cũng như dịch vụ. Các thống kê cho thấy tình trạng thiếu kỹ sư và quản lý tầm trung đủ năng lực ở Việt Nam trầm trọng hơn so với ở các nước đang phát triển khác. Các liên doanh với nước ngoài, các cấp chính quyền, và các cơ sở, tổ chức giáo dục trong và ngoài nước cần có sự phối hợp để giải quyết tình trạng này.    Khu vực kinh tế tư nhân  Các doanh nghiệp khu vực tư nhân của Việt Nam cần ưu tiên hàng đầu việc cải thiện năng lực cạnh tranh bằng những phương thức kinh doanh, sản xuất cập nhật nhất. Những doanh nghiệp này nên chú trọng giá trị dài hạn và lợi nhuận thực chất hơn là tìm cách tối đa hóa doanh thu bề nổi. Quá nhiều doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam dành nhiều nguồn lực cho việc cạnh tranh bằng giá cả, và quá ít doanh nghiệp chú trọng vào chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, nhãn hiệu, hoặc cung cấp những tính năng sản phẩm ưu việt để đem lại lợi nhuận cao.    Những doanh nghiệp này cần xây dựng những chương trình tuyển dụng và đào tạo nâng cao kỹ năng, năng suất của nhân viên. Họ cũng nên có phương thức chuyên nghiệp hơn trong việc tuyển dụng và thưởng những nhân viên giỏi nhất của mình, qua những khoản thưởng gắn với sản phẩm công việc, và gia tăng phương thức quản lý tự quản.  Tư duy gia tăng chất lượng làm việc của nhân viên chưa phổ cập ở các doanh nghiệp Việt Nam. Những doanh nghiệp sở hữu bởi gia đình, chiếm một phần đáng kể trong nền kinh tế, tới nay vẫn cưỡng lại xu hướng đòi hỏi cải cách năng lực quản trị.  Các doanh nghiệp Nhà nước  Nguồn vốn ngày một hạn chế và gia tăng cạnh tranh khiến các doanh nghiệp Nhà nước phải chủ động tìm cách tăng năng suất trước khi tình thế trở nên bắt buộc. Cải thiện quản lý và quản trị có thể giúp tăng sức cạnh tranh và tiềm năng tăng trưởng. Ví dụ như ở Trung Quốc, cải cách ở các doanh nghiệp Nhà nước đã làm tăng đáng kể năng suất cũng như lợi nhuận.        Theo kinh nghiệm quốc tế, các doanh nghiệp có thể giải quyết tình trạng thiếu lao động bằng cách tự đào tạo vừa học vừa làm. Một giải pháp hỗ trợ mà chính quyền có thể làm là cấp giấy chứng nhận cho những chương trình dạy nghề tại chỗ chứng minh được rằng người lao động sau khi được đào tạo ở đây sẽ thuần thục một số kỹ năng nhất định. Những giấy phép như vậy sẽ khuyến khích người lao động tham gia các chương trình đào tạo của các doanh nghiệp, và khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đào tạo.              Chính phủ cũng có thể cung cấp những khoản hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp tham gia vào những chương trình giáo dục và dạy nghề, trong đó có sự ưu tiên cho những chương trình đào tạo những kỹ năng phù hợp nhất cho điều kiện phát triển nền kinh tế.            Các doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam cũng cần nhận ra những thiếu hụt về nhân lực trình độ cao, để tích cực tuyển dụng những người điều hành tài năng được đào tạo ở nước ngoài, giúp tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp với quốc tế. Các doanh nghiệp Nhà nước cần tích cực đánh giá, đối chiếu năng lực của mình với những đối thủ cạnh tranh quốc tế hàng đầu, không chỉ để đo lường năng lực quản trị nội bộ mà còn xây dựng những kế hoạch có tính thực tiễn cao cho mục tiêu mở rộng và phát triển sản phẩm.  Trong bối cảnh đó, việc áp dụng những chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ giúp tạo ra những bản đánh giá năng lực chi tiết, cần thiết cho việc xác định những lĩnh vực cần cải thiện. Nhiều tập đoàn Nhà nước lâu đời sẽ phải đưa ra những quyết định khó khăn trong việc doanh nghiệp nào có thể được tiếp tục giữ lại làm vai trò cốt lõi, doanh nghiệp nào phải đào thải vì không có khả năng sinh lợi nhuận.  Việc bán cổ phần ở những doanh nghiệp này vẫn đang là trọng tâm của nhiều cuộc thảo luận chính sách ở Việt Nam. Nhưng đa số những đợt bán cổ phần được thực hiện tới nay vẫn chưa giải quyết được một cách cơ bản những vấn đề về hiệu quả sản xuất, kinh doanh, vì Nhà nước thông thường vẫn giữ vai trò cổ đông chi phối. Những bước đi quyết liệt hơn trong việc tư nhân hóa và cải thiện năng lực quản trị của các doanh nghiệp Nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp này thích nghi nhanh chóng hơn với một kỷ nguyên cạnh tranh khốc liệt với quốc tế.  Chính phủ cần cân nhắc kỹ những chính sách hỗ trợ các ngành mũi nhọn  Để thúc đẩy phát triển năng lực doanh nghiệp trong nước, Việt Nam cần xây dựng những chính sách phù hợp với điều kiện phát triển và đặc thù riêng của từng ngành công nghiệp.        Trong những lĩnh vực phát triển nhanh, đòi hỏi nhiều năng lực sáng tạo, và có nhiều đối thủ cạnh tranh toàn cầu, ví dụ như phần mềm và bán dẫn, sự vận động tự nhiên của thị trường toàn cầu và sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là động lực chủ đạo dẫn đến thành công, và rất khó để các Chính phủ gây được ảnh hưởng trực tiếp. Vì vậy, điều quan trọng hơn mà Chính phủ cần làm là tạo một môi trường kinh doanh phù hợp để các doanh nghiệp tư nhân có thể tích cực tham gia.         Ví dụ, ngành công nghiệp điện tử nội địa đang trong giai đoạn phát triển sơ khai, nên chính sách phù hợp hiện nay là khuyến khích sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lắp ráp trong nước và các nhà cung cấp phụ kiện, qua đó làm nổi lên những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Một khi những doanh nghiệp này đã đủ khả năng tận dụng thị trường trong nước làm bệ phóng hướng ra thị trường quốc tế, khi đó Chính phủ có thể cân nhắc những chính sách hỗ trợ cụ thể.  Những chương trình hỗ trợ có tính mục tiêu trọng điểm của Nhà nước cần phải được cân nhắc để dùng đúng nơi đúng chỗ. Trong những lĩnh vực phát triển nhanh, đòi hỏi nhiều năng lực sáng tạo, và có nhiều đối thủ cạnh tranh toàn cầu, ví dụ như phần mềm và bán dẫn, sự vận động tự nhiên của thị trường toàn cầu và sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là động lực chủ đạo dẫn đến thành công, và rất khó để các Chính phủ gây được ảnh hưởng trực tiếp. Vì vậy, điều quan trọng hơn mà Chính phủ cần làm là tạo một môi trường kinh doanh phù hợp để các doanh nghiệp tư nhân có thể tích cực tham gia. Nhưng ngay cả những chương trình đầu tư hỗ trợ với vai trò tham gia hạn chế như vậy của Chính phủ cũng chưa chắc đã đảm bảo thành công. Malaysia và Singapore đều từng có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ với tham vọng phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, học theo mô hình thành công của Đài Loan, nhưng đều không đạt được kết quả như mong muốn, và những thất bại đó làm tốn kém của Nhà nước hàng tỷ USD. Vì vậy, để tăng khả năng phát triển bền vững, Chính phủ cần tập trung sự hỗ trợ vào những hoạt động dựa trên cơ sở lý luận kinh doanh vững chắc, với những tiềm năng cao về lợi thế cạnh tranh.   P.V Tia Sáng lược dịch và tổng hợp theo hai báo cáo “Taking Vietnam’s economy to the next level” và “Sustaining Vietnam’s growth: The productivity challenge” của MGI.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Doanh nghiệp Việt nên học Philippines”      Trao đổi với phóng viên đài truyền hình Đồng Nai trong một cuộc phỏng vấn mới đây qua điện thoại, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã chỉ ra nhiều bài học và hướng đi trong việc hạn chế sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc.     Điều bà Lan nhấn mạnh trong cuộc trao đổi  này, bên cạnh sự điều chỉnh chính sách của Chính phủ về nhiều mặt, thì  điều quan trọng là tâm thế và sự chủ động của mỗi doanh nghiệp. Website  BSA xin đăng nguyên văn cuộc trao đổi.  PV: Thưa bà, nếu trong thời điểm hiện nay chúng ta đặt vấn đề “hạn chế sự phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc về mặt kinh tế”, là một chuyên gia kinh tế lâu năm, bà nghĩ như thế nào, đặc biệt là về góc độ luật của Việt Nam và luật pháp quốc tế?   Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ ngay trong điều kiện bình thường thì Việt Nam cũng phải thường xuyên rà soát lại quan hệ kinh doanh, quan hệ kinh tế nói chung giữa nước mình với các nước khác nhau. Đồng thời điều chỉnh những bước đi cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, tăng tính độc lập tự chủ của nền kinh tế, cũng như tranh thủ những lợi ích lớn hơn cho bản thân mình.    Riêng trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc thì Việt Nam đã rơi vào tình trạng bị lệ thuộc về một số mặt. Đặc biệt trong quan hệ xuất – nhập khẩu và đầu tư theo nghĩa giao cho Trung Quốc rất nhiều dự án quan trọng của Việt Nam, kể cả những dự án không hoàn toàn thu hút đầu tư vốn nước ngoài mà sử dụng vốn của Việt Nam đã có, hoặc các nguồn vốn ODA tài trợ cho Việt Nam. Và điều này rất cần điều chỉnh. Trong điều kiện bình thường cũng cần điều chỉnh. Trong điều kiện căng thẳng của biển Đông hiện nay thì việc điều chỉnh càng cần thiết hơn.    Có những việc cần làm. Thứ nhất là về xuất khẩu: Việt Nam nên tích cực tìm kiếm thêm những thị trường mới để có thể bán hàng của mình. Lâu nay những hàng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là những hàng về nguyên liệu và nông sản, thì Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc với một mức độ rất lớn. Xuất khẩu nguyên liệu nói chung tương đối dễ. Như khoáng sản xuất thô rất nhiều và có rất nhiều nước muốn mua, nên Việt Nam có thể tìm thị trường khác. Nếu như chưa có thị trường khác thì Việt Nam cũng nên hạn chế việc khai thác khoáng sản và bán thô như hiện nay. Vì bán thô là thua thiệt rất nhiều cho nền kinh tế và không có được tài nguyên để cho những lúc sau này – khi Việt Nam có điều kiện tốt hơn, có thể khai thác và mang lại giá trị gia tăng cao hơn hoặc là phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của các ngành công nghiệp của chính bản thân mình.   Về nông sản, cách quan trọng nhất là hiện nay, Việt Nam phải làm sao để tăng cường được chất lượng của các mặt hàng nông sản, có thể chế biến hoặc tăng thêm về chất lượng cho đạt với yêu cầu với các thị trường khác. Tôi nghĩ riêng về việc xuất khẩu nông sản, chúng ta nên học bài học của Philippines. Cách đây 2 năm, khi nước này bị Trung Quốc ép bằng cách không mua chuối của Philippines nữa, thì người dân Philippines đã chuyển rất mạnh sang thị trường khác (như Hoa Kỳ, Nhật Bản…). Các thị trường khác đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn về chất lượng và khi Philippines tập trung vào chất lượng thì kết quả cuối cùng là không những họ xuất khẩu được nhiều hơn mà thu nhập cao hơn đáng kể so với xuất sang Trung Quốc. Việt Nam nên học cách đó.    Thứ hai là về nhập khẩu. Việt Nam nhập rất nhiều từ Trung Quốc các mặt hàng mang tính nguyên liệu hoặc phụ liệu, các sản phẩm trung gian cho các ngành của mình, kể cả cách ngành kinh tế nội địa cũng như ngành xuất khẩu. Về mặt này, Việt Nam rất cần phải thực hiện chương trình đã đề ra từ lâu là phát triển công nghiệp phụ trợ. Chúng ta đề ra chính sách lâu rồi nhưng trên thực tế chưa có những chính sách thật cụ thể để thực sự khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước, hoặc nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư cho các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam. Bây giờ chúng ta phải làm liền việc này để giảm dần sự phụ thuộc đầu vào từ Trung Quốc đối với tất cả các mặt hàng.   Tôi cũng xin nói thêm là có nhiều người lo lắng. Đối với một số dự án đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia, thì có lẽ cũng không quá lo cho họ. Bởi vì các công ty đa quốc gia như Samsung, hoặc các hãng lớn làm đồ điện tử… nhập các đầu vào từ Trung Quốc và lắp ráp cho các dự án của họ tại Việt Nam. Họ là các công ty đa quốc gia và quen theo cách tổ chức sản xuất theo chuỗi (trong đó có một số sản phẩm đặt ở nước này, một số sản phẩm đặt ở nước khác, và khâu lắp ráp cuối cùng có thể ở một nước khác). Ở đây họ cũng có vị thế để mặc cả với các nơi cung cấp, chứ không phải dễ dàng có thể chèn hoặc gây khó cho họ được.   Nhưng phần các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu để rồi xuất khẩu thì có thể gặp khó khăn. Như đối với ngành hàng dệt may, da giầy, vốn lâu nay đã phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung Trung Quốc. Tôi cho rằng chính phủ Việt Nam cần sớm đưa ra những chính sách để thật sự hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Và tôi tin, vào lúc này nền kinh tế Việt Nam cũng đã có sự trưởng thành nhất định, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã ở tư thế sẵn sàng hơn cho những đầu tư vào các ngành mới, như công nghiệp hỗ trợ, chứ không chỉ là những công việc đầu cuối như gia công hay lắp ráp để xuất khẩu.    Một khía cạnh khác, ngoài vấn đề xuất – nhập khẩu, mà Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc, chính là các dự án tổng thầu. Đây không thực sự là đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam. Vì với tư cách đầu tư nước ngoài, Trung Quốc có thị phần tương đối nhỏ ở Việt Nam. Hiện nay, tổng vốn đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam trong các dự án đầu tư theo dạng FDI không nhiều, cỡ khoảng 7 tỷ USD. Nhưng Trung Quốc lại là người thắng thầu trong các dự án làm tổng thầu ở Việt Nam. Trong các dự án tổng thầu đó, lợi thế chính của Trung Quốc là thường bỏ thầu với giá rẻ và được phía Việt Nam chấp nhận. Nhưng trên thực tế thì rất nhiều dự án của Trung Quốc lại bị kéo dài về thời gian, kéo dài về tiến độ. Và như vậy, giá dần dần tăng lên và tăng cao hơn rất nhiều so với giá của các đối thủ khác đã chào hàng. Vấn đề chính là Việt Nam phải điều chỉnh lại cách bỏ thầu của mình. Hiện nay luật đấu thầu mới của Việt Nam đã chuyển theo cách tập trung coi yêu cầu số một là những người bỏ thầu phải đáp ứng được yêu cầu về mặt kỹ thuật, về mặt công nghệ; thứ hai mới là yêu cầu về giá cả. Nếu xét theo đúng quy định như vậy, tôi tin Việt Nam có thể điều chỉnh để chọn được những nhà thầu tốt hơn, có chất lượng hơn Trung Quốc, để có thể đảm bảo được các yêu cầu về kỹ thuật, tính hiệu quả về kinh tế nói chung đối với tổng thể các dự án ở Việt Nam.      Mặt khác, cũng nên khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể tham gia các dự án thầu đó, không nhất thiết cái gì cũng bỏ thầu thành những gói thầu lớn và dành tất cả cơ hội đó cho nhà đầu tư nước ngoài mà nên để cho các doanh nghiệp trong nước tham gia. Ví dụ bằng cách đưa ra yêu cầu ràng buộc sử dụng nhân công trong nước đến đâu, trong nước có thể cung cấp được đến đâu cho các gói thầu đó… Cách này có thể cải thiện được chất lượng của các dự án thầu, vừa có thể tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các dự án quan trọng và góp phần phát triển đất nước.   PV: Đối với những khó khăn của nông sản Việt Nam hiện nay (như khi hàng của Việt Nam xuất nhiều sang Trung Quốc, trong khi Trung Quốc không có nhu cầu hoặc họ vì một vấn đề nào đó mà ngưng không nhập hàng nữa, làm các nhà sản xuất nông sản Việt Nam không trở tay kịp), phải chăng vấn đề giao dịch biên giới nói riêng và giao dịch thương mại nói chung giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa có những quy định, luật lệ ký kết thống nhất với nhau?   Bà Phạm Chi Lan: Trước hết là về khuôn khổ chính sách hoặc quan hệ giữa hai nhà nước với nhau. Xem xét rà soát mối quan hệ, chúng ta có nhiều trường hợp không đưa ra được những quy định chặt chẽ để giúp chính quyền hai bên có thể kiểm soát được. Và chúng ta thường rơi vào thế bị động: khi nào Trung Quốc tạo thuận lợi thì hàng Việt Nam xuất được, khi nào họ cố tình gây khó như đưa ra những vấn đề về hàng rào kỹ thuật thì chúng ta chịu thua.    Tôi nghĩ, ngoài việc trong quan hệ chính thức, chúng ta không đưa ra đủ các công cụ và không đấu tranh đủ để bảo vệ lợi ích cho mình, thì còn có một mặt khác nữa là, trong quan hệ với Trung Quốc, nhiều khi các doanh nghiệp Việt Nam thiếu tỉnh táo, kể cả Chính phủ nhiều khi cũng ở thế bị động, để cho họ gây ra những tình huống (đôi khi tôi nghĩ đó là những cái bẫy), những thủ thuật của họ mà chúng ta không đủ sức chống lại. Và vì vậy không bảo vệ được lợi ích chính đáng các ngành xuất khẩu của mình.    Ngoài ra trong quan hệ buôn bán, chúng ta còn để cho quan hệ xuyên biên giới (quan hệ không chính thức) chi phối nhiều. Trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, phần đi qua biên giới một cách không chính thức (tiểu ngạch, biên mậu) chiếm một thị phần lớn. Đây cũng chính là phần khó kiểm soát nhất, gây ra thua thiệt cho Việt Nam về mặt sản xuất và xuất khẩu. Kể cả việc thương lái Trung Quốc sang và mua những mặt hàng rất khó hiểu, thực chất là mang tính chất phá hoại đối với nền kinh tế, như mua rễ cây/sừng – móng trâu bò… Mặt khác, hệ thống buôn bán giữa hai bên có một phần đáng kể không đưa được vào con đường chính thức mà để thông qua quan hệ mang tính chất tiểu ngạch, gây thất thu thuế cho ta.    Về nhập khẩu, cũng trong buôn bán qua biên giới, nhiều khi chúng ta để cho các hàng chất lượng kém từ Trung Quốc vào, thậm chí hàng có những nhân tố độc hại. Như trong thời gian gần đây, các cơ quan nhà nước đã phát hiện ra các lô hàng lớn về các loại rau củ quả Trung Quốc có các hóa chất bảo quản và có tiềm năng gây ra ung thư. Vậy mà chúng ta vẫn để lọt qua biên giới. Đây là điều chúng ta rất cần kiểm soát lại. Mặc dù hai nước chung biên giới với nhau, nhưng các nước khác có chung biên giới cũng vẫn có thể buôn bán với nhau một cách đường đường chính chính chứ không chỉ buôn bán tiểu ngạch hay gây khó cho nhau.     PV: Khi đặt ra vấn đề “giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc”, nếu chúng ta thực hiện nhanh quá và đột ngột, sẽ gây thiệt hại cho kinh tế Việt Nam, cũng như doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt khi thay đổi như vậy, theo bà, chúng ta nên đi theo hướng nào, và bắt đầu từ sự điều chỉnh về pháp lý hay thay đổi hẳn sang thị trường khác (trong khi việc buôn bán với Trung Quốc diễn ra từ lâu và đã trở thành một đối tác truyền thống, mặc dù theo nghĩa hết sức khó khăn, bị động cho Việt Nam)?   Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đến mức độ như hiện nay, nhiều khi không phải là một tính toán, hoặc là một chiến lược đầy đủ của Việt Nam từ ban đầu, mà là cả quá trình phát triển, nhiều khi nó tự phát và mình không điều chỉnh được kịp thời. Mặt khác, cũng có những dự án (của nhà nước, của các nhà đầu tư lớn) bị rơi vào tay Trung Quốc nhiều quá. Làm tổng thầu chính là trách nhiệm rất lớn của các cơ quan nhà nước hoặc của các đơn vị được nhà nước giao cho đầu tư đã không quan tâm đầy đủ đến các khía cạnh quan trọng khác của nền kinh tế. Tôi nghĩ các cơ quan nhà nước cần chủ động điều chỉnh và chúng ta đã bước đầu điều chỉnh bằng luật.    Luật đấu thầu được Quốc hội thông qua vào cuối năm ngoái – tức là trước khi xảy ra những tình hình phức tạp như biển Đông hiện nay. Tôi nghĩ đây là một điều đúng đắn và Việt Nam điều chỉnh Luật đấu thầu này để làm sao cho nền kinh tế Việt Nam có thể phát triển đúng hướng hơn và phù hợp với yêu cầu Việt Nam đang hội nhập quốc tế như tham gia TPP với những yêu cầu phải mở ra khu vực mua sắm công.   Tôi nghĩ việc chủ động điều chỉnh như vậy mang ý nghĩa tích cực và hoàn toàn không gây ra khó khăn gì cho Trung Quốc về nguyên tắc. Tức là không phải đặt ra vấn đề Việt Nam tự nhiên quay lại và tẩy chay Trung Quốc. Miễn là các công ty Trung Quốc đạt được các yêu cầu chặt chẽ của luật pháp Việt Nam, thì họ vẫn có thể trúng thầu được. Là hai nước cạnh nhau, bản thân Trung Quốc cũng là một cơ hội rất lớn nếu Việt Nam đặt quan hệ một cách đúng mức. Không để lệ thuộc, nhưng tính tùy thuộc lẫn nhau thì vẫn có thể có trong quan hệ thương mại hoặc quan hệ hợp tác kinh tế trên thế giới hiện nay giữa các quốc gia với nhau.    Nói chung, Việt Nam đã tham gia WTO, cũng như tham gia nhiều hiệp định mậu dịch tự do, trong đó có những hiệp định mà Trung Quốc là một thành viên. Ví dụ như cơ chế ASEAN + Trung Quốc, đang phát triển thành khu vực thương mại RCEP giữa 10 nước ASEAN và 6 nước đối tác với cơ chế tự do hóa dần. Vấn đề chính là Việt Nam không đưa ra những gì mới để phân biệt đối xử với Trung Quốc, nhưng Việt Nam phải điều chỉnh để làm sao quan hệ với các nước khác được cân bằng hơn và tranh thủ được lợi ích tốt hơn của quá trình hội nhập, kể cả trong quan hệ với Trung Quốc.    Tôi nghĩ với điều kiện như vậy và làm một cách chính đáng, thì Việt Nam không sợ đụng tới những vấn đề pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc. Trước nay không hề có một văn bản pháp lý nào của Việt Nam ràng buộc Việt Nam phải mua hàng Trung Quốc với mức độ này, phải xuất khẩu sang Trung Quốc mặt hàng kia. Nhưng thực tế diễn ra, và chúng ta không kiểm soát được. Bây giờ chúng ta phải kiểm soát và sắp xếp các quan hệ đối ngoại của mình cho tốt hơn, nó sẽ dẫn đến việc chúng ta đỡ bị lệ thuộc Trung Quốc và tăng cường được lợi ích của nền kinh tế.   Tôi nghĩ điều này hoàn toàn có thể làm được. Cũng không ngại về phía Trung Quốc có thể phàn nàn gì. Vì thực ra lâu nay trong quan hệ, họ đã giành được rất nhiều lợi ích và họ cũng sẽ phải thấy quan hệ kinh tế hai bên chỉ có thể phát triển tốt được nếu như đảm bảo đôi bên cùng có lợi. Tôi nghĩ đó là điều thiết yếu.    Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, tôi cho rằng không nên e ngại các điều chỉnh đột ngột bởi vì chúng ta đâu có điều chỉnh điều gì đột ngột. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải thấy là khi mình để lệ thuộc quá nhiều vào một thị trường nhất định, dù là thị trường nào, thì cũng có những lúc mình bị bất lợi.    Ví dụ như về nông sản, để như hiện nay xuất khẩu 30% trái cây sang Trung Quốc, thì rõ ràng bất lợi thuộc về mình. Chúng ta nên học cách như của Philippines. Phải biết chủ động để có thể phát triển được các thị trường khác, và nếu các thị trường khác khó tính hơn, thì mình phải nâng cấp sản phẩm của mình lên, mình sẽ bán được với điều kiện có lợi hơn dù trước mắt có một số khó khăn.    Mặt khác, hiện nay cả nước đang trong giai đoạn tái cơ cấu kinh tế, trong đó đòi hỏi tất cả các ngành và từng doanh nghiệp phải hướng về hiệu quả, về chất lượng, về năng lực cạnh tranh, về năng suất lao động. Bởi vì việc tái cơ cấu đòi hỏi tất cả doanh nghiệp đều phải điều chỉnh để tự nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này giúp họ với sang nhiều thị trường khác nhau, chứ không nhất thiết là Trung Quốc. Đồng thời họ sẽ nâng được năng lực của mình để thay thế bớt cho việc phải nhập khẩu quá nhiều những sản phẩm từ bên ngoài, mà nhiều khi những sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc cũng không phải là những cái quá khó, quá cao cấp đến mức người Việt Nam không tự sản xuất được.    Đây là cơ hội cho bản thân doanh nghiệp và các ngành để điều chỉnh mình theo tinh thần chung, theo định hướng chung về tái cơ cấu kinh tế mà mình đã đưa ra.    (BSA ghi)    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nhân Campuchia tiếp cận công nghệ mới trong nông nghiệp      Rithy Thul là một trong những “tiếng nói” hàng đầu về công nghệ tại Campuchia. Ông bắt đầu sự nghiệp kinh doanh khi sáng lập công ty Toursanak vào năm 2010 (trong ngành du lịch), đồng sáng lập mô hình không gian văn phòng chia sẻ đầu tiên của Campuchia vào năm 2011.      SmallWorld, không gian làm việc chung do Rithy Thul thành lập là một trong những không gian đầu tiên về loại này ở Campuchia.  Hiện nay,  Rithy Thul chuyển hướng vào mô hình khởi nghiệp, nhất là các dự án khởi nghiệp dựa trên công nghệ. Nhân sự kiện một startup của Campuchia được quỹ 500 startup của Silicon Valley tài trợ số tiền đến 6 số, tờ Southeast Asia Globe đã phỏng vấn một doanh nhân sáng giá nhất về khởi nghiệp.  Ông đã thành lập mô hình “văn phòng chia sẻ” cách đây nhiều năm. Đến nay dự án này như thế nào?  Tôi thành lập SmallWorld, mô hình “văn phòng chia sẻ” vào 2011. Ban đầu, đó chỉ là dịch vụ cung cấp không gian làm việc cho các dự án khởi nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ ở giai đoạn đầu tại Campuchia. Chúng tôi đã mở mô hình này cho bất cứ ai muốn đến Campuchia để đầu tư. Tôi nhận ra rằng, thu hút sự quan tâm của nước ngoài thật quan trọng, nhưng cũng nhân cơ hội này để nuôi dưỡng xu hướng khởi nghiệp ở Campuchia.  Tới nay, chúng tôi đã đầu tư và một số startup tại Campuchia, như BookMeBus, Codingate… Số tiền đầu tư rất ít, bù lại chúng tôi đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn để giúp đỡ các doanh nghiệp này, như giúp họ văn phòng miễn phí, nối kết các dự án với các nhà đầu tư tài chính…  Đầu năm nay, SmallWorld thiết lập một quỹ khởi nghiệp 25.000 USD.Theo kế hoạch, sử dụng nguồn tài chính từ 5.000 – 10.000 USD đầu tư cho một số startup. Hy vọng năm nay sẽ đầu tư một hoặc hai dự án khởi nghiệp.  Từ khi thành lập SmallWorld cho tới nay, điều gì khiến ông hài lòng nhất?  Đầu năm nay, SmallWorld mua 100ha đất ở ngoại thành Phnom Penh. Mục đích là tái trồng rừng khoảng 50ha, phần còn lại ứng dụng các kỹ thuật canh tác nông nghiệp có hiệu quả. Điều đó giúp chúng tôi chứng minh cho người dân và chính phủ rằng, SmallWorld có thể sử dụng đất để tìm ra nguồn thu nhập cao hơn cho nông dân. Theo quan sát của tôi, nhiều người dân ở gần rừng, thường đốn gỗ để đốt than kiếm sống. Từ dự án này, chúng tôi muốn chứng minh cho nông dân thấy rằng, có một cách sinh lợi cao hơn từ canh tác nông nghiệp hiện đại chứ không phái phá rừng.  Năm nay chúng tôi đang thực hiện một dự án giúp cho bạn trẻ Campuchia sắm được laptop để sử dụng trong công việc. Chưa thể nói chi tiết, dự tính tháng 8 tới sẽ khởi động dự án này.  Theo ông, công nghệ ở Campuchia so với các nước khác ở Đông Nam Á như thế nào?  Tôi cho rằng công nghệ ở Campuchia hiện nay khá lý thú khi chính phủ và nhóm doanh nghiệp tư nhân hợp tác với nhau chặt chẽ hơn. Theo tôi, điều đó sẽ có nhiều dự án khởi nghiệp xuất hiện.  So với phần còn lại của Đông Nam Á, Campuchia là một thị trường rất nhỏ, nhưng có những trải nghiệm tốt. Hiện chúng tôi thu hút nhiều nhà đầu tư công nghệ đến từ Trung Quốc, Đài Loan… So với nhiều quốc gia trong khu vực, nguồn lực của Campuchia ít hơn nhưng việc tiếp cận với công nghệ và những dự án có nguồn vốn lớn đang tăng lên hàng ngày.  Chính phủ Campuchia nhiều lần tỏ ra cảnh giác với tiền điện tử, ông cảm thấy tiền điện tử và công nghệ blockchain tại Campuchia hiện nay ra sao?  Blockchain là một công nghệ hữu ích, là một bước đột phá.Chính phủ và các doanh nghiệp phản ứng như thế nào không phải là vấn đề. Phần đông con người từ chối công nghệ mới vì nó quá phức tạp nhưng khi không thể từ chối, thời phải thích nghi. Thích nghi để tồn tại và phát triển.  Khởi Thức (sea-globe.com) Theo TGTT.  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nhân Dung Tấn Trung: Tôi không khuyến khích các bạn khởi nghiệp khi còn quá trẻ      Đó là một trong những lời khuyên dành cho giới trẻ của Doanh nhân Dung Tấn Trung, tổng giám đốc iCare Benefits, một Việt kiều đã được coi như huyền thoại trong giới công nghệ cao ở Mỹ.      Ông Dung Tấn Trung (ngồi giữa) trao đổi cùng các diễn giả tại buổi tọa đàm.     Nội dung chia sẻ trong buổi tọa đàm “Câu chuyện khởi nghiệp của một người xa xứ” diễn ra tại không gian Cà phê Thứ Bảy tại TP. HCM cuối tuần vừa qua trong khuôn khổ Hành trình Lập Chí Vĩ Đại Khởi Nghiệp Kiến Quốc Cho Thanh Niên Việt do Tập đoàn Trung Nguyên kết hợp cùng các tổ chức uy tín và các nhân vật truyền cảm hứng trong và ngoài nước tổ chức.  Ba bài học khởi nghiệp  Trở thành tỷ phú khi mới 33 tuổi, câu chuyện của Doanh nhân Dung Tấn Trung – một người Việt xa xứ đã được coi như một huyền thoại trong giới công nghệ cao ở Mỹ, và trở thành đề tài cho nhiều bài viết trền nhiều tạp chí nổi tiếng như Forbes, Fortune, Financial Times, Wall Street Journal, San Francisco Chronicle… Ông cũng đã được chọn là 1 trong 17 tấm gương thành công của người nhập cư tại nước Mỹ trong cuốn sách “Giấc mơ Mỹ” của Dan Rather. Trở về Việt Nam, ông sáng lập iCare Benefits – công ty cung cấp “chương trình phúc lợi nhân viên” cho các khách hàng doanh nghiệp, với gần 900 công ty Việt Nam tham gia. Bằng những kinh nghiệm mà mình có được, ông cũng đã đưa ra  một số quan điểm mấu chốt và đáng suy nghĩ về hoạt động khởi nghiệp. Theo đó, ông cho rằng:  Cốt lõi của Khởi nghiệp là tạo ra giá trị mới  Ông lấy câu chuyện về sự ra đời của dự án khởi nghiệp của ông tại Việt Nam – iCare Benefits làm ví dụ cho việc xác định mục tiêu của dự án chính là tạo ra giá trị mới phục vụ đối tượng công nhân có thu nhập thấp có cơ hội được nâng cao chất lượng cuộc sống một cách thiết thực và bền vững. Đây cũng là một trong những mô hình đang phát triển mạnh tại Việt Nam trong những năm gần đây với tên gọi Doanh Nghiệp Xã Hội (Social Enterprise).  Khởi nghiệp ở bất cứ đâu đều không dễ dàng  Doanh nhân Dung Tấn Trung nhận định, dù khởi nghiệp ở Mỹ hay ở Việt Nam hoặc bất cứ đâu đều không đơn giản bởi vì để có thể tạo ra giá trị mới thì bạn phải thực sự hiểu và tìm ra được ý tưởng, cách thức tối ưu để thực hiện ý tưởng đó. Có một số câu hỏi nền tảng mà mỗi người khi bắt đầu khởi nghiệp cần trả lời đó là: “Tôi là ai? Đối tượng khách hàng mà tôi phục vụ là ai? Tôi đang giải quyết bài toán gì? Nó mang lại giá trị gì mới?”  Thất bại chỉ là một bài học đắt tiền  Nhà sáng lập iCare Benefits chia sẻ câu chuyện thất bại khi phá sản một công ty mà ông đã mất 5 năm tâm huyết xây dựng cùng với số vốn đầu tư hơn 21 triệu đô la. Ông cho rằng mỗi thất bại là một bài học đắt tiền, ông không xem thất bại là dấu chấm hết cho hành trình khởi nghiệp mà chính là tấm bằng để bạn chứng minh được với mọi người là bạn đã học được bài học có giá trị.  Quan điểm về khởi nghiệp cần được nhìn nhận đúng đắn và cởi mở hơn  Ông cũng cho rằng quan điểm về khởi nghiệp đang bị nhìn nhận rất hạn chế tại Việt Nam, mọi người thường cho rằng khởi nghiệp là phải ra ngoài mở công ty và làm chủ, điều này tác động không tốt tới tâm lý chung của cộng đồng và thiếu tính bền vững. Bạn trẻ có thể khởi nghiệp ngay trong doanh nghiệp mình đang làm và phải quay lại câu hỏi cốt lõi là mình sẽ đóng góp được giá trị gì cho doanh nghiệp mà bạn đang làm việc. Những thành quả mà bạn mang lại cũng sẽ có tác động tích cực đối với cộng đồng xã hội. “Tôi không khuyến khích các bạn khởi nghiệp khi còn quá trẻ, vì khởi nghiệp là tạo ra giá trị mới. Để tạo ra giá trị mới thì mình phải hiểu nhu cầu của thị trường, của bối cảnh xã hội hiện tại và cần có cái hiểu rất sâu về những nhu cầu ấy. Do vậy các bạn nên học chuyên sâu về lĩnh vực nào đó bởi vì môi trường Đại Học chỉ cho các bạn những kiến thức cơ bản tổng quan.” – ông Trung khuyên các bạn trẻ.    Author                T. H        
__label__tiasang Doanh nhân Nhật Bản muốn tung hê lối cũ      Nhiều doanh nhân Nhật Bản đang có xu hướng tung hê lối làm ăn kiểu truyền thống để có thể bành trướng ra thế giới bên ngoài.       Tiếng Anh là ngôn ngữ chính  Ông Hiroshi Mikitani, “sếp” của hãng Rakuten, chỉ thị mọi nhân viên của hãng phải coi tiếng Anh là ngôn ngữ của doanh nghiệp vì “Chỉ có như vậy chúng ta mới phá vỡ được cái vỏ của mình.”  Tỷ phú 47 tuổi này giải thích một cách đơn giản vì sao biểu tượng công nghiệp Nhật Bản giờ đây bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh toàn cầu: “Giá như mọi nhân viên của Sony hay Panasonic đều biết tiếng Anh thì họ đã hơn hẳn Samsung. Tiếng Anh là công cụ có vai trò quyết định trong quá trình toàn cầu hóa.” Khi dùng tiếng Nhật, người ta có thể khôn khéo né tránh một điều gì đó, nhưng với tiếng Anh, buộc phải dứt khoát trả lời có hay không.   Có lẽ ở Nhật Bản không nơi nào có mức độ “Anh ngữ hóa” cao như doanh nghiệp Rakuten.  Cách đây hai năm, ông Mikitani đã yêu cầu các nhân viên ở Nhật phải học tiếng Anh để giao lưu làm họ vô cùng ngạc nhiên. Sau đó, ông cho tiến hành kiểm tra trình độ tiếng Anh của họ. Các nhà quản lý nói tiếng Anh chưa tốt đều phải bổ túc ngoại ngữ, nếu không muốn bị mất việc.  Việc đầu tiên được áp dụng là các buổi họp giao ban hàng tuần đều dùng tiếng Anh. Mọi bảng hướng dẫn trong khuôn viên doanh nghiệp chỉ ghi tiếng Anh. Thậm chí thực đơn ở căng tin cũng dùng mỗi tiếng Anh.   Giờ đây cabin dành cho phiên dịch tại phòng họp của Hội đồng quản trị và hội đồng hành chính bị để trống. Trình độ tiếng Anh của nhân viên được đánh giá tốt tăng từ 29 lên 84%.    Nhờ trình độ Anh ngữ tăng nên từ năm 2010 doanh nghiệp thương mại điện tử này đã mở rộng hoạt động ở 13 nước và đang chuẩn bị bành trướng ra nước thứ 14. Mặc dù doanh thu của hãng mới ở mức 4 tỷ Euro và lợi nhuận đạt 743 triệu Euro, chưa thấm vào đâu so với Amazon hay Ebay nhưng ông Mikitani có tham vọng biến Rakuten thành một “chợ internet lớn nhất thế giới”.   Đoạn tuyệt với truyền thống  Rakuten thuộc một nhóm ít những CEO đang  có xu hướng muốn tung hê lối làm ăn kiểu Nhật Bản để có thể  bành trướng ra thế giới bên ngoài. Họ đề bạt cán bộ theo năng  lực, tuyển dụng người nước ngoài, chấp nhận sự thăng tiến của  phụ nữ và lên kế hoạch sáp nhập với đối thủ.   Đồng thời các doanh nhân này cũng không e ngại khi phê phán thẳng thừng những vấn đề liên quan đến đất nước mình. Howard Stringer, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Sony, mới đây  đã chỉ trích lối suy nghĩ hướng nội của giới quản lý bậc trung. Nhiều doanh nhân trẻ thì coi nền kinh tế biển đảo của Nhật bản đang ở trong ngõ cụt của sự tiến hóa và cảnh báo: Nhật Bản không thể cứ bám mãi vào việc xuất khẩu hàng hóa chất lượng cao.  Yoshikazu Tanaka, 35 tuổi, nói “Nhiều người Nhật không hiểu được rằng, chúng tôi chỉ có thể tồn tại, nếu dám đương đầu với cạnh tranh quốc tế”. Tanaka là ông chủ của mạng xã hội Gree chuyên cung cấp trò chơi miễn phí dành cho Smartphone và đang nỗ lực để đến cuối năm 2013 thu hút được một tỷ người sử dụng trên toàn thế giới, tăng gấp năm lần so với hiện nay.      Một thí dụ khác, Tadashi Yanai và đế chế hãng may mặc Fast Retailing đã thành công rực rỡ với chuỗi cửa hàng Uniqlo dựa trên sự đoạn tuyệt kép với thông lệ. Yanai cắt quan hệ với các nhà buôn trung gian trong hệ thống bán lẻ vì qua họ giá sản phẩm đội lên quá cao. Ông đảm nhiệm khâu tự sản xuất quần áo. Đồng thời ông đập tan gông xiềng được coi là thiêng liêng ở Nhật Bản – chỉ thực hiện sản xuất ở trong nước – và cho gia công các sản phẩm của hãng ở Đông Nam Á. Nhờ đó Yanai xây dựng được một phân khúc mới về sản phẩm may mặc giá rẻ ở Nhật Bản. Giờ đây Fast Retailing đang triển khai các chi nhánh ở Thượng Hải, Paris, New York và tới đây cả ở Berlin. Đến năm 2020 riêng ở Châu Á sẽ có khoảng 2.000 cửa hàng Fast Retailing mới. Cả ông Yanai cũng coi tiếng Anh là ngôn ngữ của tập đoàn.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nhân tinh gọn      Nếu ai đó còn đang nghi ngờ về việc khởi nghiệp tinh gọn sẽ thay đổi doanh nghiệp mình như thế nào, thì quyển sách “The Lean Entrepreneur: How Visionaries Create Products, Innovate with New Ventures, and Disrupt Markets” (tạm dịch: Doanh nhân tinh gọn: Làm thế nào để những doanh nhân có tầm nhìn sáng tạo sản phẩm, đổi mới sáng tạo thành công doanh nghiệp và thay đổi thị trường) của Brant Cooper  và Patrick Vlaskovits chỉ ra rằng hơn bao giờ hết bạn cần quan tâm đến khởi nghiệp tinh gọn và cách tiếp cận của nó.      Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mà cái bạn bán và được trả tiền không phải là sản phẩm dịch vụ đơn thuần mà là giá trị mà bạn mang lại cho khách hàng. Chính vì vậy, sáng tạo giá trị trở thành trọng tâm của quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ và doanh nghiệp. Muốn sáng tạo giá trị quá trình diễn ra không thể bỏ qua phân khúc thị trường, những vấn đề của phân khúc thị trường đó, giải pháp của bạn và sự cảm nhận của khách hàng về giá trị mang lại.  Tuy vậy, để dẫn dắt một doanh nghiệp khởi nghiệp với đầy rẫy khó khăn tìm ra lối đi trong việc thử nghiệm sản phẩm và tìm kiếm khách hàng, người chủ doanh nghiệp phải xây dựng được tầm nhìn về vấn đề này. Đó là lý do cuốn sách có tên là Doanh nhân tinh gọn. Nhiều người cho rằng “tầm nhìn” là thứ không thể dạy được và là tố chất bẩm sinh của mỗi người. Cuốn sách đã đi ngược lại quan niệm đó, và đưa ra từng bước để giúp một người đang trong trạng thái mơ hồ cũng có thể tự xây dựng tầm nhìn và chiến thuật của mình nếu suy nghĩ và thực hành theo một cách nghiêm túc.  Giới thiệu nhiều cách tiếp cận khác nhau về mô hình kinh doanh trong quá trình khởi nghiệp, bắt đầu từ sản phẩm dịch vụ, hay từ vấn đề của khách hàng, từ phân khúc khách hàng v..v cuốn sách chỉ ra: Không quan trọng bạn bắt đầu từ đâu mà là bạn có chú trọng vào những vấn đề cốt lõi của một mô hình kinh doanh bao gồm những vấn đề của khách hàng, phân khúc thị trường, công nghệ để từ đó có những sản phẩm mang giá trị mà khách hàng chấp nhận hay không. Với logic này, năm chương của cuốn sách tập trung vào giải quyết những câu hỏi: làm thế nào để từng bước định hình và xây dựng tầm nhìn trong kỷ nguyên sáng tạo giá trị; làm thế nào để từng bước định hình phân khúc thị trường, xây dựng và sáng tạo giá trị, thử nghiệm và kiểm chứng thị trường với những khái niệm rất thực tiễn và hữu ích về phễu bán hàng (công cụ đo lường hiệu quả việc chuyển hóa trải nghiệm của khách hàng theo từng bước nhận) để từ đó lặp lại quy trình nhằm liên tục sáng tạo giá trị (vòng lặp giá trị). Chương 6 tóm gọn lại hành trình của khởi nghiệp tinh gọn với năm pha chính (1) Ý tưởng (2) Xây dựng sản phẩm mẫu thử với tính năng tối thiểu (MVP) (3) Phễu bán hàng (4) Đa phễu (5) Xây dựng một mô hình kinh doanh bền vững    Được minh họa bằng những hình vẽ sống động, những công cụ được thể hiện bằng hình ảnh một cách dễ hiểu dễ thực hành, kèm theo đó là các trường hợp nghiên cứu công phu, cuốn sách thực sự là một lựa chọn tốt cho các bạn trẻ khởi nghiệp, những doanh nghiệp đang tìm cách đổi mới chính mình và sáng tạo những giá trị mới cho khách hàng để tồn tại và phát triển bền vững.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Độc đáo chiếu hoa bẹ chuối      Nếu  trước đây, thân chuối và bẹ chuối chỉ để sử dụng làm thức ăn chăn nuôi  thì giờ đây, nó đã được dùng làm nguyên liệu đan chiếu, sản phẩm làm ra  đẹp không thua gì chiếu lác, chiếu cói. Đó là sáng kiến của ông Nguyễn  Phước Quang, chủ cơ sở thủ công mỹ nghệ Phước Quang (ấp Tây An, xã Thạnh  Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang).       Sau khi đan thảm lục bình gia công quá nhiều bấp bênh ông Nguyễn Phước Quang nghĩ đến khả năng dùng bẹ chuối để đan chiếu. Nguyên liệu vô cùng rẻ và dễ kiếm. Anh cho biết: “Người ta đã sử dụng dây chuối làm thành nhiều sản phẩm nhưng quả thật tôi thấy chưa có ai làm chiếu, vì vậy tôi muốn thử một chuyến xem sao. Qua thử nghiệm, thôi thấy dây chuối hột đặc biệt nổi trội hơn nhiều giống chuối khác ở tính dẻo dai”.    Nghề này khó nhất là cân go chỉ (canh chỉ cho ngay hàng) và chỉ đan chiếu chuối bằng dây gân chứ không bằng chỉ làm từ trân bố như đan chiếu lát và số lượng dây cũng nhiều hơn đan chiếu lát.  Để có được đôi chiếu đẹp, người thợ phải khéo léo trong việc đưa khung, xé dây cho đều, phân loại và chọn loại cùng màu. Cứ một cây chuối hột phơi còn hơn bốn kg bẹ chuối khô, cơ sở mua 6.500 đồng/kg. Nếu là chuối xiêm, chuối ngự thì tùy theo cây lớn nhỏ mà cho trọng lượng khác nhau, trung bình 12 kg bẹ dây chuối tươi thu được 1kg bẹ chuối khô. Để có được sản phẩm chiếu từ bẹ chuối đòi hỏi phải kỹ từ khâu đốn chuối, cắt mỗi bẹ dài từ 1,8 đến 2,5 m đem phơi khô, đến việc ngâm nước, xử lý ẩm mốc, xé dây, phân loại  dây, đan, may bìa và thổi hoa văn theo quy trìnnh chặt chẽ và phải đáp ứng thị hiếu thẫm mỹ. Màu để sử dụng nhuộm nguyên liệu cũng đều có nguồn gốc thiên nhiên, không gây độc hại cho người sử dụng.  Ban đầu, ông Quang chỉ dệt thủ công. Sau đợt đi tham quan nghề dệt chiếu ở Đồng Tháp, thấy họ dệt bằng máy nhanh và sản phẩm đẹp hơn nhiều, ông đã tiếp tục mò mẫm nghiên cứu để cải tiến chiếc máy dệt chiếu bàng thành máy dệt chiếu bẹ chuối của riêng mình. Công suất của một máy có thể dệt được 35-40m2.   Sau ba năm miệt mài, anh Quang chào hàng tại các cơ sở bán đồ thủ công mỹ nghệ ở Tri Tôn, Tịnh Biên. Với nhiều kích cỡ khác nhau (1,6 m x 2 m đến chiếu 0,6m x 0,8m), chiếu có hoa văn và màu sắc thiên nhiên khéo léo và hài hòa được nhiều người chú ý. Để đáp ứng nhu cầu từ các đơn đặt hàng, ông Quang đã thuê thêm nhân công. Hiện tại cơ sở của anh đã giải quyết việc làm thường xuyên cho 22 hộ trong ấp.  Hiện nay, cơ sở thủ công mỹ nghệ Phước Quang được siêu thị Co.opMart thành phố Long Xuyên đặt hàng và bán ra như một sản phẩm độc đáo từ nguồn nguyên liệu thô mộc ở làng quê.  Ngoài ra, ông còn được Sở KH&CN An Giang hỗ trợ để Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp giấy chứng nhận độc quyền nhằm tạo điều kiện phát triển lâu dài thương hiệu.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới nhận thức về ODA      Nghi án tham nhũng do Nhật Bản phát hiện dự án đường sắt ở công ty tư vấn JTC một lần nữa làm dấy lên sự quan tâm của công luận về những yêu cầu cấp bách đổi mới từ thể chế, bộ máy thực hiện ODA, thay đổi tư duy về ODA và ngăn chặn lạm dụng ODA cho lợi ích nhóm bất chính.    Từ năm 1993 Việt Nam đã phá vỡ được thế bao vây, cấm vận, và bắt đầu tiếp nhận  sự hỗ trợ phát triển chính thức, gọi tắt theo tiếng Anh là ODA. Đến nay sau hơn 20 năm, chúng ta đã thu hút được hơn 80 tỷ USD cam kết, giải ngân được 38 tỷ USD (hiện còn trên 20 tỷ USD chưa được giải ngân), qua đó đóng góp khoảng 30% vốn đầu tư công và đã góp phần tích cực vào cải thiện kết cấu hạ tầng và công trình phúc lợi xã hội. Song bên cạnh những lợi ích này là những mặt tiêu cực không nhỏ của vấn đề sử dụng vốn ODA, trong đó, việc Nhật Bản phát hiện vụ tham nhũng của công ty PCI với Huỳnh Ngọc Sỹ, vụ PMU 18, và vụ việc liên quan tới công ty JTC gần đây mới chỉ là những phần nổi ít ỏi được phát hiện của tảng băng chìm chưa được làm rõ.  ODA không phải khi nào cũng “ưu đãi”  Vốn ODA chủ yếu là vốn tín dụng, hoàn toàn không phải là viện trợ không hoàn lại hay “tiền chùa” như vẫn bị cố ý hiểu lầm trong một bộ phận không nhỏ cán bộ và dân chúng. Sau khi Việt Nam thoát khỏi nhóm nước thu nhập thấp, gia nhập nhóm thấp nhất trong những nước có thu nhập trung bình thì điều kiện ưu đãi giảm đi, điều kiện vay và trả nợ cũng khắc nghiệt hơn (lãi suất cao hơn, ân hạn ngắn hơn, thời gian hoàn trả ngắn hơn so với trước đây). Song những hệ lụy mang tính lâu dài này của ODA còn chưa được làm rõ trong công luận, trong khi căn bệnh “nghiện ODA” gắn liền với lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ thành tích chủ nghĩa đã và đang khiến số công trình sử dụng vốn ODA xuất hiện quá nhiều và liên tục nối nhau dẫn tới tình trạng giải phóng mặt bằng không triển khai kịp, vốn đối ứng không có đủ, khiến các công trình chậm hoàn thành, kém hiệu quả.                  Mặt khác, những điều kiện của bên tài trợ các dự án ODA hầu như không được công khai đề cập đến. Nguyên nhân là ngoài vấn đề hạn chế nhận thức về ODA còn có những sự tế nhị trong quan hệ quốc tế. Cho đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu khoa học và quy trình thực hiện ODA ở Việt Nam và xác định những tiêu cực có thể có. Tuy nhiên, chính giáo sư Sumi Kazuo (Nhật Bản) đã chỉ ra ba điểm cơ bản khiến đất nước tiếp nhận vốn ODA có khả năng chịu sự bất lợi hoặc bị lợi dụng – ông gọi đây là ba bộ phận trong “binh pháp ODA” của Nhật Bản#: Nước tài trợ tạo ra và duy trì một nhu cầu viện trợ giả tạo cho nước nhận ODA; đòi hỏi những điều kiện bảo đảm lợi nhuận của những công ty từ nước tài trợ tham gia ODA – qua đó làm mất đi hoặc giảm cơ hội, lợi nhuận của các công ty thuộc nước tiếp nhận ODA; và xuất khẩu ô nhiễm môi trường sang nước tiếp nhận ODA. Đối với một số vốn vay ODA từ Trung Quốc, ngoài ba vấn đề kể trên chúng ta còn phải đối diện với vấn đề thứ tư: điều kiện ràng buộc cho phép đưa công nhân Trung Quốc sang thực hiện dự án.   Bất cập trong quản lý vốn ODA ở Việt Nam  Mặc dù đã liên tục tiến hành đầu tư công từ khi thành lập nước đến nay, nước ta vẫn chưa ban hành Luật Đầu tư công, vai trò giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử về đầu tư công nói chung và đầu tư sử dụng vốn ODA nói riêng  chưa được quy định rõ ràng. Sự chậm trễ này là một khiếm khuyết không nhỏ trong công tác quản lý nhà nước.  Chính phủ quản lý ODA bằng nghị định, cho đến nay đã ban hành 5 Nghị định về ODA qua các thời kỳ, song vai tò của thanh tra chưa được đề cao và thực hiện đúng mức. Vai trò phản biện, giám sát độc lập trong quy trình thực hiện ODA chưa được quy định, đặc biệt là vai trò giám sát của tổ chức quần chúng và báo chí.                   Điều nổi bật trong thực hiện ODA là tính phức tạp của quy trình mang nặng tính “xin-cho” và sự thiếu công khai, minh bạch về các dự án, các điều kiện, các tiêu chí cụ thể trong quá trình phân bổ. Trách nhiệm hoàn vốn, trả nợ không được tính toán kỹ lưỡng và trình duyệt khi thông qua đề án.  Do nhu cầu đầu tư phát triển về kết cấu hạ tầng nói chung và ở các tỉnh rất lớn trong khi nguồn cung lại có giới hạn nên việc “chạy dự án” đã sản sinh ra một đội “cò dự án” chuyên nghiệp với các mối quan hệ thân quen rất phức tạp. Đã hình thành những “nhóm lợi ích” bất chính ăn bám vào ODA ở cấp trung ương và địa phương.   Người ta đã nói đến “ma trận” thực hiện ODA, xin được dự án, thực hiện dự án, huy động vốn đối ứng, giải phóng mặt bằng v.v. mỗi khâu đều phát sinh nhiều vấn đề có thể gây chậm trễ. Do quy trình không công khai nên khâu chọn thầu, đấu thầu chỉ mang tính hình thức, một số công ty mặc nhiên được chỉ định thực hiện các công trình về cầu, về đường, trong đó có không ít những công ty sân sau, thân quen. Hệ quả là sự bắt tay nhau giữa thi công-giám sát-nghiệm thu dẫn đến giá thành công trình bị đội lên rất cao trong khi chất lượng và tuổi thọ công trình rất thấp. Một ví dụ đặc trưng điển hình cho tình trạng trên xảy ra gần đây được dư luận quan tâm rộng rãi, đó là vụ Cầu treo Chà Và đổ gây chết người, thực tế cũng là một công trình ODA trong đó cơ quan thực hiện do con rể của quan chức đầu tỉnh thực hiện!  Kết luận  Đã đến lúc Việt Nam phải có sự đổi mới tư duy về huy động và sử dụng ODA, có sự chọn lọc chặt chẽ hơn trong sử dụng nguồn vốn này và ban hành Luật Đầu tư công, trong đó có quy định chặt chẽ về trách nhiệm quy trình, thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai minh bạch khi sử dụng nguồn vốn này.  Cần có một chương riêng về vốn ODA trong Luật Đầu tư công và Luật Quản lý nợ công, trong đó quy định rõ các tiêu chí để chấp nhận vốn ODA, thực hiện công khai minh bạch toàn bộ số vốn, dự án ODA, công bố rõ quy trình phân bổ vốn và dự án ODA với các tiêu chí rõ ràng, giảm tối đa cơ chế “xin-cho”. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân về từng dự án đồng thời công bố công khai tên những người chịu trách nhiệm; quy định có phản biện độc lập về dự án, trong đó phân tích rõ tác động kinh tế-xã hội của dự án, khả năng thu hồi vốn để trả nợ vốn vay; tổ chức việc giám sát của tổ chức quần chúng, hiệp hội chuyên ngành trong quá trình thực thi dự án.   Cũng đã đến lúc cần có một công trình nghiên cứu độc lập về các khía cạnh liên quan đến ODA nói chung và của từng nước nói riêng, chỉ ra những nhóm lợi ích liên quan đến ODA ở nước tài trợ và trong nước, các mặt lợi và bất lợi của ODA, từ đó đề xuất chiến lược sử dụng có chọn lọc ODA theo lộ trình giảm dần, tiến đến Việt Nam không cần ODA nữa và trở thành một quốc gia tài trợ ODA trong tương lai xa, khi Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển GDP/người vượt 12.000 USD.  —————-  1 http://www.viet-studies.info/kinhte/NLHKhoi_SatThuNhatBan.htm#_ednref1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo giúp trẻ khiếm thính chuẩn bị đến trường      Chương trình thí điểm của Dự án Giáo dục trẻ khiếm thính trước tuổi đến trường (IDEO) đã hỗ trợ giáo dục bằng ngôn ngữ ký hiệu (NNKH) và đem lại kết quả rất tốt cho trẻ khiếm thính trước khi vào lớp Một.    Trẻ khiếm thính. Nguồn: Mamnonhoanhap.edu.vn  Dự án IDEO đã áp dụng mô hình sáng tạo bằng cách xây dựng các nhóm hỗ trợ gia đình – bao gồm một hướng dẫn viên khiếm thính, một phiên dịch viên NNKH và một giáo viên nghe để dạy NNKH cho trẻ em khiếm thính và gia đình trẻ tại nhà. Trong vòng 5 năm qua, dự án đã giúp cho 255 trẻ khiếm thính dưới 6 tuổi tại một số địa phương gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Bình và thành phố Hồ Chí Minh học NNKH tại nhà.  Những kết quả đánh giá ban đầu cho thấy viêc sử dụng NNKH đã giúp cải thiện khả năng phát triển ngôn ngữ và nhận thức cũng như khả năng giao tiếp của trẻ. Điểm số phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ 5-7 tuổi trong dự án IDEO là 7,6/10, so với điểm số 8/10 của trẻ nghe bình thường ở lứa tuổi lên 5.  Dự án cũng đào tạo cho hơn 50 người khiếm thính trưởng thành trở thành hướng dẫn viên cho trẻ khiếm thính. Khoảng 200 giáo viên nghe cũng được tập huấn NNKH để có thể giúp đỡ trẻ khiếm thính hiệu quả hơn. Khoảng hơn 50 người nghe đã được đào tạo để trở thành phiên dịch viên NNKH hay hỗ trợ viên giao tiếp.  Ông Achim Fock, Quyền Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam cho biết: “Phần lớn trẻ khiếm thính ở Việt Nam không được hỗ trợ khi học mẫu giáo trong khi cha mẹ trẻ lại không có những hỗ trợ chuyên môn cần thiết. Những kết quả tích cực của dự án IDEO đã khẳng định sự hỗ trợ tại trường học của những giáo viên khiếm thính và người nghe đã qua đào tạo cùng phiên dịch viên NNKH là cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ khiếm thính.”  Dự án cũng đã triển khai một website tương tác (http://ideo.org.vn ) để cung cấp các video học NNKH trực tuyến, từ vựng NNKH, trò chơi và các sản phẩm giáo dục khác cho trẻ khiếm thính và gia đình trẻ, cho giáo viên và cộng đồng. Một loạt các video ngắn dạy NNKH dự kiến sẽ được phát sóng trên kênh truyên hình Giáo dục Quốc gia (VTV7) để hướng tới nhiều đối tượng hơn.  Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nguyễn Thị Nghĩa đánh giá: “Dự án IDEO không chỉ mở ra một hướng tiếp cận giáo dục mới “Ngôn ngữ kí hiệu” phù hợp nhu cầu và khả năng của trẻ khiếm thính mà còn thúc đẩy sự tham gia của các cơ sở giáo dục và các tổ chức liên quan góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khiếm thính ở Việt Nam.”  Dự án được Quỹ Phát triển Xã hội Nhật  Bản tài trợ, Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Thế giới quản lý và Tổ chức Quan tâm Thế giới thực hiện.    Author                T.Q        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo: Góc nhìn từ người nông dân      Thời gian qua, cụm từ “Đổi mới sáng tạo” được nhắc nhiều trên các diễn đàn quốc gia và quốc tế. “Đổi mới sáng tạo” luôn nằm trong các phát biểu của những chính khách, nhà khoa học, doanh nghiệp, chuyên gia tư vấn. Và thật sự, “Đổi mới sáng tạo” là sự kỳ vọng của mỗi quốc gia trên con đường tìm kiếm sự thịnh vượng và bứt phá trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.      Đất nước mình đại đa số là nông dân, những người đang bắt tay vào tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, hình như còn xa lạ với câu chuyện đó. Làm sao để hàng chục triệu nông dân không bị bỏ quên và đứng ngoài làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp và xu thế “Đổi mới sáng tạo” đang diễn ra trên khắp hành tinh này? Cách mạng 4.0 và nông nghiệp 4.0 làm sao đến được người nông dân, những người được xem như là một chủ thể, một nguồn lực, một động lực trong cuộc cách mạng nông nghiệp và nông thôn? Ai và bằng cách nào dẫn dắt người nông dân nhanh chóng tiếp cận trào lưu của thế giới? Hay “Đổi mới sáng tạo” là câu chuyện chỉ dành riêng cho giới tinh hoa, chỉ được luận bàn trong các bộ ngành, viện trường?  Quả thật, đây đó trên mảnh đất hình chữ S này, có biết bao người nông dân sáng tạo, đến nỗi còn được tôn vinh là “Những nhà khoa học chân đất – những anh Hai lúa”. Họ có thể thiếu những kiến thức hàn lâm, nhưng lại thừa khát vọng và những sáng kiến, sáng tạo đều xuất phát từ nhu cầu của chính họ và từ cuộc sống muôn màu. Có thể những sáng kiến, sáng tạo chưa hoàn mỹ, khó có thể thương mại hoá, nhưng đa phần đã giải quyết được những bức xúc trong cuộc sống và sản xuất. Những nông dân lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi. Những nông dân cải tiến, chế tạo các thiết bị phục vụ sản xuất như: bơm tưới tự động, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp, máy đào mương, máy cấy lúa. Những nông dân còn chế tạo thuyền năng lượng mặt trời, máy bay, tàu lặn… Có nông dân còn được phong là “vua sáng chế”.  Tự hào lắm những nông dân sáng tạo như vậy, nhưng đồng thời cũng thấy còn gì đó có khoảng cách với xu thế “Đổi mới sáng tạo”. Cuộc cách mạng 4.0 bắt đầu từ sự đột phá mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Vậy không biết có bao nhiêu nông dân xứ mình biết sử dụng những thiết bị thông minh để làm giàu tri thức trong cuộc sống, để tối ưu hoá quy trình sản xuất, để tận dụng được sức mạnh công nghệ, để tham gia vào thương mại điện tử…? Thế giới người ta đang tiến vào nền nông nghiệp 4.0 còn nông nghiệp, nông dân xứ mình đang “chấm” nào? Muốn “Đổi mới sáng tạo” phải chăng bằng cách mỗi người có thể tiếp cận được kho tàng tri thức của nhân loại. Từ tiếp cận đến tận dụng được kho tàng đó để rồi tìm cơ hội sáng tạo từ trong đó là cả một hành trình cần đến cách tiếp cận mới.      Làm sao để hàng chục triệu nông dân không bị bỏ quên và đứng ngoài làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp và xu thế “Đổi mới sáng tạo” đang diễn ra trên khắp hành tinh này?      Tri thức không dành riêng cho giới tinh hoa, mặc dù giới tinh hoa luôn là những người dẫn dắt nhân loại tiến từ cuộc cách mạng này sang cuộc cách mạng khác. Nhưng hình như ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, giới tinh hoa vẫn chỉ là thiểu số, những người dân mới là đa số. Nếu những người dân được tạo điều kiện tiếp cận kho tàng tri thức chắc chắn sẽ là sức mạnh vô cùng to lớn cho mỗi quốc gia, địa phương. Sức mạnh của nhân dân đã được khẳng định qua các cuộc cách mạng của nhân loại, dù là cách mạng chính trị hay cách mạng khoa học kỹ thuật. Ý tưởng của con người là như nhau, nhưng khác nhau điều kiện và cách thức thực thi.  Đổi mới sáng tạo bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng, mà ý tưởng thường xuất phát từ một người nhưng để hoàn thiện ý tưởng đó thường phải cần đến nhiều người. Vậy thì cần phải có không gian cộng đồng để những người đến với nhau. Đó là một trong những lý do Đồng Tháp hình thành các hội quán nông dân. Hội quán được nhiều chuyên gia đánh giá là một sáng kiến cộng đồng, một thiết chế tự nguyện của người dân. Mọi sự sẽ bắt đầu thay đổi từ những không gian như thế. Những thông tin, kiến thức được chia sẻ ở đó. Những ý tưởng sáng tạo cũng sẽ được bàn bạc thảo luận ở đó cùng với các chuyên gia, nhà khoa học. Hạ tầng viễn thông cùng với công nghệ thông tin được đầu tư sẽ kết nối những người nông dân với thế giới. Người nông dân sẽ không còn sống trên những “ốc đảo” tri thức nữa. Người nông dân sẽ biết thế giới này người ta thay đổi nhanh chóng như thế nào, trong khi đó thì mình đang đứng ở đâu trong vòng xoáy của sự thay đổi đó. Có định vị được mình, có so sánh giữa mình với thiên hạ mới kích hoạt sự mới mẻ, và từ sự mới mẻ đó mới kích thích đổi mới sáng tạo trong những người nông dân.  Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Hệ tri thức Việt số hóa là một bước đi cần thiết để kết nối tri thức. Nhưng suy cho cùng phải cần đến sự sẵn lòng và sẵn sàng từ xã hội, trong đó có những người nông dân. Hãy cùng chung tay để sự kết nối thành công, để tri thức ngày càng lan toả, để đổi mới sáng tạo đến tận xóm làng.  Một nền tảng dân trí và nắm bắt sức mạnh công nghệ thông tin sẽ là động lực cho một xã hội đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và rộng khắp.       Author                Lê Minh Hoan        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo là cứu cánh của doanh nghiệp      “Đổi mới hay phá sản?” – Đó là câu hỏi mà Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân nêu ra tại hội thảo “Doanh nghiệp và vấn đề sống còn: đổi mới quản trị” do Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội DN Hàng VN Chất lượng cao và Sở khoa học Công nghệ TP.HCM tổ chức hôm 25.9.      Doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo  Phát biểu tại hội nghị với hơn 100 đại diện của các sở ban ngành, các viện trường và doanh nghiệp cả nước, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng: “Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ của đất nước và là địa chỉ để ứng dụng những kết quả nghiên cứu của giới nghiên cứu của giới khoa học trên cả nước. Bộ KH&CN hết sức coi trọng vai trò của các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp có tình thần khoa học, dám ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong nước và nước ngoài để tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập quốc tế”.  Bộ trưởng cũng chia sẻ một số chính sách mới mà Bộ Khoa học và công nghệ đang thúc đẩy nhằm tối ưu hóa không gian đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp cũng như cảnh báo một số điểm hạn chế mà Bộ cũng đang cố gắng tháo gỡ cho doanh nghiệp: Quỹ đổi mới công nghệ sẽ đi vào hoạt động từ đầu năm 2014; đổi mới cơ bản cơ chế tài chính như cấp phát kinh phí nghiên cứu, đổi mới công nghệ qua các quỹ khoa học; thay đổi định mức chi, đinh mức thanh quyết toán khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, để thuê chuyên gia, mua công nghệ, trả thù lao thiết kế….                   Là một trong những người gắn bó với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp của cả nước, Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng đề cao vai trò của các doanh nghiệp dũng cảm đi đầu và tạo ra những bước đột phá trong sản xuất kinh doanh thông qua việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ quản trị.  Đẩy mạnh tam giác Nhà nước – Viện trường – Doanh nghiệp  Tại hội thảo, ban tổ chức đưa ra hai phiên thảo luận với hai nhóm đề tài: Đẩy mạnh quan hệ nhà nước và DN về đổi mới sáng tạo và Làm thế nào để gia tăng hợp tác giữa doanh nghiệp và viện trường.   Ông Văn Đức Mười, tổng giám đốc công ty Vissan “than thở” là chúng tôi lập quỹ KH&CN cách đây 10 năm với mức trích 10%/năm lợi nhuận trước thuế. Gần đây Nhà nước thay đổi quy định trích lợi nhuận sau thuế, có nghĩa là doanh thu và lợi nhuận đều phải cao hơn hẳn trước đây và điều này là không tưởng vì hiện nay đầu vào ngày càng tăng, sức mua kém, lấy đâu ra tiền để trích 10%. Còn bà Chủ tịch HĐQT dược Hậu Giang thì đề nghị Bộ trưởng Nguyễn Quân cần có giải pháp giúp cho công ty của bà có cách tiêu được hàng trăm tỉ đồng của quỹ đổi mới công nghệ của công ty tồn đọng từ nhiều năm nay. Một mô hình tư nhân hoàn toàn khác là ông Cổ Gia Thọ, chủ tịch công ty Thiên Long thì nói những sản phẩm của công ty đến nay không những chỉ cạnh tranh được trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu chủ yết do nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, từ lúc còn rất nhỏ thì trích phần tiền nhỏ, cứ nuôi bộ phận nghiên cứu phát triển (R&D) và truyền lửa liên tục, sự hợp tác với các viện trường hầu như không đáng kể. Cũng như thế, bà Lê Thị Thanh Lâm, phó tổng giám đốc SaigonFood chạy đi chạy về với trường ĐH Nông Lâm – vốn là trường cũ của bà nhưng cũng không đạt được các công việc nghiên cứu sản phẩm mà công ty mong đợi. Đó là chưa kể đến việc “không biết các trường, các thầy có công trình gì để đi tìm mà hợp tác”.  Đó là những ví dụ khá điển hình về mối liên kết còn lỏng lẻo và hiệu quả thấp giữa viện, trường và doanh nghiệp.  Vậy làm gì để thay đổi tình hình này? Cần công khai danh mục các nghiên cứu để doanh nghiệp tiếp cận. Bà Vũ thị Thuận, chủ tịch công ty Traphaco nói, doanh nghiệp nên chủ động tìm tới các Viện trường. Một số ý kiến cho rằng, Bộ chỉ nên cấp tiền cho nghiên cứu những công trình nào đã có DN đặt hàng, tránh tình trạng công trình xong bỏ vào ngăn tủ.  Ông Phan Minh tân, giám đốc sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cũng là giảng viên Đại học Bách Khoa nói về việc Sở có liên kết với 3 trung tâm ươm tạo, DN nên qua Sở tiếp cận: ĐH Bách Khóa TP.HCM, ĐH Nông Lâm và Khu Nông nghiệp CN Cao. Ông Tân cũng đề nghị DN nên lập bộ phận hay phân công người quản lý công nghệ (CTO).  Đi tìm một hướng phát triển chung  Với tiêu chí cùng nhau bàn luận, hợp tác, xây dựng và cùng nhau phát triển, hội nghị đã thu hoạch được những kết quả khả quan từ các bên Nhà nước, doanh nghiệp và viện trường hay còn gọi là tam giác đổi mới sáng tạo. Nhận thức về vấn đề quan trọng trong đổi mới sáng tạo trong khoa học và công nghệ, hơn ai hết doanh nghiệp đã nhân cơ hội này để bày tỏ những nguyện vọng được hợp tác với giới nghiên cứu khoa học để đầu tư phát triển công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường đồng thời cũng mong nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi từ các cơ quan nhà nước.  Là đơn vì đồng hành cùng doanh nghiệp trong hơn 17 năm qua, Hội DNHVNCLC đã luôn cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong nhiều lĩnh vực từ xây dựng thương hiệu cho đến việc hỗ trợ đưa sản phẩm đến khâu người tiêu dùng. Tuy nhiên, sẽ là không đủ khi mà hiện nay chúng ta bị sức ép của các hiệp định thương mại quốc tế, các cuộc hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới trở nên thành hơi nóng tỏa phía sau lưng rất mạnh mẽ và quyết liệt. Hội DNHVNCLC đã cùng ngồi với các doanh nghiệp để “bắt mạch” và trở thành cầu nối tìm ra những giải pháp đổi mới sáng tạo trong khoa học và công nghệ để doanh nghiệp có thể phát triển bền vững. Ngoài đề án hợp tác với Bộ, Hội DNHVNCLC cũng đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM thực hiện chương trình “Doanh nghiệp và vấn đề sống còn: Đổi mới công nghệ và quản trị” với nhiều chương trình hỗ trợ cho doanh nghiệp. Cụ thể như hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí chuyển giao công nghệ trong chương trình hỗ trợ phát triển các sản phẩm quốc gia đến năm 2020; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động R&D, đổi mới công nghệ trong chương trình đăng ký chứng nhận hợp đồng chuyển giao công nghệ; hỗ trợ 100% lãi vay các dự án đầu tư như cơ khí, điện tử – CNTT, hóa dược – cao su,… trong chương trình kích cầu đầu tư; …   Hội thảo 25/9 là dấu mốc quan trọng trong hành trình kết nối cùng nhau tận dụng những thế mạnh và cùng nhau phát triển giữa Nhà nước – Viện trường – Doanh nghiệp.        6 nội dung hợp tác giữa Hội DN Hàng VN Chất lượng cao với bộ KH&CN  Khảo sát thực trạng Đổi mới sáng tạo hàng năm và kiến nghị chính sách.   Xây dựng Câu lạc bộ Doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo: Tập  hợp các doanh nghiệp có quan tâm, có hoạt động Đổi mới sáng tạo ; các  chuyên gia, Viện trường trên cơ sở nòng cốt là CLB doanh nghiệp dẫn đầu  LBC; kết nối với các cơ quan chức năng của Bộ KH&CN để tư vấn, hỗ  trợ DN về chuyên môn, về nguồn lực (tài chính, nhân lực, giải pháp…).   Hợp tác về Sở hữu trí tuệ: kết  nối cơ quan chuyên trách của Bộ, tạo điều kiện để DN am hiểu,bảo vệ,  thực hiện quyền SHTT. Mỗi quý, tổ chức tọa đàm cho doanh nghiệp để trang  bị kiến thức, hướng dẫn, giải quyết các trường hợp bị xâm phạm quyền  SHTT. Tổ chức phổ biến kiến thức về Sở hữu trí tuệ cho DN và lực lượng  truyền thông; Phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức 2 cuộc hội thảo  chuyên đề /năm.   Xúc tiến thị trường công nghệ: Tìm nguồn vốn  cho hoạt động đổi mới sáng tạo từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác;  trợ vốn đầu tư rủi ro cho sản phẩm công nghệ mới; và thử nghiệm hình  thức “Gọi vốn cộng đồng” (crowdfunding). Đồng thời xúc tiến thị trường  công nghệ trong nước: Tổ chức các hoạt động (họp báo, triển lãm mini về  ĐMST trong không gian hội chợ HVNCLC năm 2014), giới thiệu về thành tựu  đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ của DN tại hội chợ công nghệ trong  nước và quốc tế, tham gia tổ chức “Tuần lễ ĐMST KHCN và quản trị kinh  doanh”.   Truyền thông: Trung tâm BSA (BSA Media) kết hợp với  Tạp chí Tia Sáng và hợp tác với các chương trình truyền thông do các cơ  quan của Bộ KHCN kết hợp thực hiện với các báo đài; tổ chức các chương  trình mới có chủ đề doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo trên cơ sở các công cụ  truyền thông của Hội hay theo các mô hình hợp tác vốn có của Hội  DNHVNCLC với các báo đài.   Hỗ trợ một số doanh nghiệp hạt giống tiếp  nhận sự trợ giúp của Bộ, từ tài chính đến các tư vấn về thủ tục, về  kiến thức khoa học và công nghệ để tiến hành đổi mới công nghệ.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt để tăng trưởng năng suất      Đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là then chốt để tăng trưởng năng suất – đây là chia sẻ chung của các diễn giả tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam 2017, do Bộ Kế hoạch Đầu tư và World Bank phối hợp tổ chức ngày 13/12 vừa qua.    Dù Việt Nam đã và đang có những thành tựu kinh tế ấn tượng như duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ổn định, bình ổn lạm phát ở mức một con số, kiểm soát tỷ giá hối đoái và duy trì vị thế xuất siêu, tuy nhiên ông Ousmane Dione – Giám đốc WB Việt Nam cho rằng thách thức hiện nay là tốc độ tăng trưởng năng suất còn thấp. Năng suất chính là yếu tố quyết định việc liệu các quốc gia liệu có khả năng thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” hay không, và Việt Nam cần quan tâm tới năng suất nếu muốn không đi vào vết xe đổ mà Thái Lan, Indonesia, Brazil,.. để lại – tăng trưởng nhưng lại không thể vươn lên thành nước phát triển.  Đóng góp của TFP vào tăng trưởng còn thấp so với khu vực  Phát biểu tại diễn đàn, GS. Kenichi Ohno (Học viện Quốc gia về Nghiên cứu Chính sách GRIPS, Nhật Bản) cho rằng tăng trưởng trong quá khứ của Việt Nam chủ yếu dựa vào thâm dụng vốn và lao động, không phải do chất. Những thay đổi trong năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam phản ánh những thay đổi của mức độ thâm dụng vốn – khối lượng đầu tư, trong khi đó Năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factors Productivity – TFP) không có nhiều thay đổi. Tỷ lệ đóng góp của TFP – phản ánh năng lực công nghệ của Việt Nam vào tăng trưởng GDP chỉ mới ở mức 20% trong giai đoạn 2000 – 2014, thấp hơn nhiều nước trong khu vực như Thái lan (60%), Indonesia (30%), Philippines (39%), Malaysia (23%), Trung Quốc (37%),… Đồng thời, năng suất lao động của Việt Nam cũng còn thấp so với các nước trong khu vực. năm 2015, NSLĐ của Singapore gấp 14,3 lần Việt Nam, Malaysia là 5,7 lần, Philippines cũng gấp đến 1,8 lần.  Đồng thời, theo TS. Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, doanh nghiệp Việt Nam thâm dụng vốn cao nhưng năng suất vốn lại thấp nhất trong khu vực, nghĩa là thâm dụng vốn không gắn với đầu tư đổi mới công nghệ. Và năng suất lao động tăng chủ yếu là nhờ chuyển dịch từ nông nghiệp –có NSLĐ thấp sang công nghiệp và dịch vụ – nơi có NSLĐ cao hơn.  Đây là bài toán khó đối với Việt Nam, bởi theo các chuyên gia tại Diễn đàn, Việt Nam cần phải tăng NSLĐ lên bình quân khoảng 6%/năm, tăng 26% so với giai đoạn 2011 – 2017 thì mới có thể đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,85%/năm trong năm 2018.  Ngoài ra, chất lượng chính sách nói chung và chính sách công nghiệp nói riêng còn nhiều hạn chế, theo đánh giá của GS. Ohno, Việt Nam đang ở trong nhóm các nước đạt mức thu nhập trung bình nhưng chính sách công nghiệp còn yếu. Trong khi đó, công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng NSLĐ nhanh nhất cũng như nơi diễn ra phần lớn các hoạt động đổi mới sáng tạo. Một thực trạng bất ngờ hiện nay là theo khảo sát, đầu tư cho khoa học công nghệ lại chủ yếu diễn ra ở khu vực công, khu vực tư mới chỉ bắt đầu quan tâm còn vẫn tiếp tục chuyển giao công nghệ từ nước ngoài về. Điều này dẫn tới những hạn chế trong triển khai và lan tỏa hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.  Cải thiện chính sách ĐMST để giải phóng năng suất  Trước thực trạng đó, TS. Rajah Rasiah – Cố vấn cao cấp của UNDP tại Việt Nam đã nghiên cứu câu chuyện thành công của Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan để đưa ra những khuyến nghị tăng trưởng năng suất gồm: Tài trợ cho đổi mới, sáng tạo và Đầu tư xây dựng hạ tầng sáng tạo khoa học công nghệ. Chính phủ Đài Loan và Hàn Quốc đã dành những ưu đãi lãi suất và các khoản trợ cấp hoạt động R&D cho các công ty được xác định có khả năng nâng cấp công nghệ. Các nước này cũng đặt trọng tâm vào giáo dục khoa học, công nghệ cho các tập đoàn kinh tế lớn – nhân tố chính tác động lên chiến lược công nghiệp hóa (Hàn Quốc); xây dựng các viện nghiên cứu và công viên khoa học (Đài Loan, Singapore). TS. Rajah tổng kết: “Sáng tạo là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng năng suất”.  Cũng đồng tình với quan điểm trên, GS. Michael Woods – Nguyên phó chủ tịch Hội đồng năng suất quốc gia Australia đã lý giải sự trì trệ của năng suất đa nhân tố (Multi-factors Productivity – MFP) – yếu tố tác động tới tăng năng suất, là do các đổi mới sáng tạo lan tỏa chậm giữa các công ty trong ngành. Ông Sudhir Shetty (Chuyên gia kinh tế trưởng khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, WB) khuyến nghị khi Việt Nam phát triển các chính sách về đổi mới sáng tạo, không chỉ cần phải đầu tư hạ tầng, kỹ thuật mà còn cần cải thiện cả năng lực (quản lý, thực hành) của doanh nghiệp và chính quyền.  Thảo luận tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Phạm Đại Dương nhận xét các diễn giả đã nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ trong phát triển xã hội nói chung và nâng cao năng suất, chất lượng nói riêng. Tuy nhiên, đổi mới luôn đi kèm với rủi ro và chi phí lớn vì vậy vấn đề hiện nay là thúc đẩy đổi mới đồng thời giảm thiểu rủi ro liên quan. Thứ trưởng cũng kêu gọi các bộ ngành, địa phương và các doanh nghiệp có sự quan tâm đúng mức cho công tác đầu tư khoa học công nghệ Việt Nam cùng với đó là đổi mới cách thức triển khai hỗ trợ năng suất bằng cách cung cấp gói giải pháp tổng thể thay vì hỗ trợ các công cụ đơn lẻ.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo mở và vài gợi ý      A. Định nghĩa và khái niệm   Trước khi đưa ra định nghĩa và “Đổi mới sáng tạo Mở”, có lẽ cũng cần nhắc lại khái niệm “Đổi mới sáng tạo”, có thể được nêu như sau: Đổi mới sáng tạo là quy trình biến một ý tưởng hoặc phát minh thành hàng hóa hoặc …        A. Định nghĩa và khái niệm     Trước khi đưa ra định nghĩa và “Đổi mới sáng tạo Mở”, có lẽ cũng cần nhắc lại khái niệm “Đổi mới sáng tạo”, có thể được nêu như sau: Đổi mới sáng tạo là quy trình biến một ý tưởng hoặc phát minh thành hàng hóa hoặc dịch vụ tạo ra giá trị hoặc các khách hàng sẽ trả tiền cho hàng hóa/dịch vụ đó. (Theo Business Dictionary).  Cũng như với nhiều khái niệm khác, khái niệm “Đổi mới sáng tạo Mở” – OI (Open Innovation) cũng có nhiều định nghĩa khác nhau trong quá trình tự tiến hóa. Nổi bật trong số chúng được GS. Henry Chesbrough, khi đó là trợ lý giáo sư của Trường Kinh doanh Harvard ở Boston, diễn giải lần đầu vào năm 2003 trong tác phẩm ‘Kỷ nguyên của Đổi mới sáng tạo Mở’ của ông như sau: Các công ty đang ngày càng suy nghĩ lại những cách thức họ tạo ra các ý tưởng và mang chúng tới thị trường – khai thác các ý tưởng bên ngoài, hoặc tận dụng nghiên cứu và phát triển trong nội bộ về những vấn đề nằm ngoài các hoạt động hiện hành của doanh nghiệp.  Nói một cách khác, “Đổi mới sáng tạo Mở” là khái niệm kinh doanh khuyến khích các công ty giành được các nguồn Đổi mới sáng tạo (ĐMST) từ bên ngoài để cải thiện các dòng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và rút ngắn thời gian cần thiết để mang sản phẩm tới thị trường và thương mại hóa; hoặc phát hành kết quả ĐMST phát triển trong nội bộ mà chưa phù hợp với mô hình kinh doanh của công ty nhưng có thể được sử dụng ở đâu đó hiệu quả.     B. Đổi mới sáng tạo Mở hiện diện ngày càng nhiều – ví dụ điển hình tại châu Âu     Nhiều bài báo, tài liệu dẫn chiếu cho thấy ngày càng nhiều công ty ở mọi quy mô, lĩnh vực khác nhau đã và đang tiếp cận OI nhằm mục đích giành ưu thế cạnh tranh và kiếm tìm lợi nhuận từ công nghệ.  Từ các tập đoàn lớn như Xerox, IBM, Lucent Technologies, General Motor, Facebook, Samsung, Apple, .v.v. đến các chương trình có tác động xã hội sâu rộng như dự án gene Hợp nhất (cho phép nhiều nhà khoa học khắp nơi trên thế giới nghiên cứu trên một cơ sở dữ liệu mở về gene người), sắp hình Lego (người chơi tự thiết kế các bộ xếp hình riêng và tải lên website của Lego, bộ nào được nhiều hưởng ứng nhất sẽ được sản xuất hàng loạt) .v.v.  Có thể thấy, các thực hành OI bắt nguồn bên trong các hãng lớn, và bây giờ đã lan truyền tới các chính phủ và các tổ chức khu vực xã hội. Nổi bật nhất về triển khai tiếp cận OI trong khu vực chính phủ không thể không nhắc tới ‘Đổi mới sáng tạo Mở, Khoa học Mở và Mở ra với Thế giới – Tầm nhìn cho châu Âu’ của Liên minh châu Âu (EU), vì nó giới thiệu OI trong phạm vi vài chục quốc gia châu Âu có tầm phát triển và là đối tác của hàng trăm quốc gia khác trên thế giới. EU coi: Đổi mới sáng tạo Mở là mở ra quy trình Đổi mới sáng tạo cho tất cả các tay chơi tích cực sao cho tri thức có thể lưu thông tự do hơn và được biến đổi thành các sản phẩm và dịch vụ tạo ra các thị trường mới, nuôi dưỡng văn hóa khởi nghiệp mạnh mẽ hơn.  Và: Khái niệm Đổi mới sáng tạo Mở đang liên tục tiến hóa và dịch chuyển từ các giao dịch tuyến tính, hai chiều và các cộng tác để hướng tới các hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo năng động, có kết nối mạng, cộng tác đa chiều;   Mục đích bài viết để làm quen với những điều cơ bản của khái niệm OI vẫn còn đang tiến hóa đối với mọi tác nhân trong xã hội tham gia vào hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo Mở. Dưới đây sẽ nêu một vài điểm nổi bật từ tài liệu trên của Ủy ban châu Âu (EC):    Các nguyên tắc tương phản giữa Đổi mới sáng tạo Mở và Đóng             NGUYÊN TẮC CỦA ĐMST ĐÓNG      NGUYÊN TẮC CỦA ĐMST MỞ          Những người thông minh trong lĩnh vực này đều làm việc cho công ty      Không phải tất cả những người thông minh đều làm việc cho công ty; cần phải làm việc với cả những người thông minh ở trong và ngoài công ty          Để thu lợi từ nghiên cứu và phát triển (R&D), công ty phải tự làm tất cả từ việc phát hiện, phát triển sản phẩm và đưa sản phẩm đến tận nơi.      Việc mở rộng R&D ra bên ngoài có thể tạo ra giá trị đáng kể. Các hoạt động R&D nội bộ vẫn cần thiết để đòi hỏi quyền lợi tại một vài phần trong giá trị đó.          Nếu công ty tự phát hiện ra thì họ sẽ là người đầu tiên đưa nó ra thị trường.      Công ty không cần phải là người khởi sướng nghiên cứu để có thể thu lợi từ nó.          Công ty đầu tiên đưa sản phẩm ĐMST ra thị trường sẽ là kẻ chiến thắng.      Công ty xây dựng được mô hình kinh doanh tốt hơn sẽ giành được nhiều lợi ích hơn so với việc đưa sản phẩm ra thị trường trước tiên.          Nếu công ty tạo ra được hầu hết các ý tưởng tốt nhất về ĐMST trong ngành thì họ sẽ là kẻ chiến thắng.      Nếu công ty tạo lập được thị trường cho những ý tưởng tốt nhất từ bên trong và bên ngoài công ty thì họ sẽ là kẻ chiến thắng.          Công ty phải kiểm soát các tài sản trí tuệ (IP) để các đối thủ cạnh tranh không thể hưởng lợi được từ ý tưởng của họ      Công ty nên thu tiền từ việc kẻ khác sử dụng tài sản trí tuệ của họ, cũng như nên mua các tài sản trí tuệ của bên khác nếu điều đó phục vụ cho mô hình kinh doanh của họ.                Hình 1. Sự tương phản các nguyên tắc của Đổi mới sáng tạo Mở và Đóng.    Hình 1 cho thấy EU/EC coi ĐMST ‘có thể không còn được xem như kết quả của các hoạt động ĐMST xác định trước và biệt lập, mà thay vào đó như là kết quả đầu ra của một quy trình đồng sáng tạo phức tạp có liên quan tới các dòng chảy tri thức xuyên khắp toàn bộ môi trường kinh tế và xã hội. Việc cùng sáng tạo này diễn ra ở các phần khác nhau của hệ sinh thái ĐMST và đòi hỏi trao đổi tri thức cũng như năng lực hấp thụ từ tất cả các tác nhân tham gia, bất kể là doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở tài chính, chức trách nhà nước hay công dân’. Từ nhận thức này, EU/EC đã đưa ra các cơ chế của Đổi mới sáng tạo Mở như Hình 2 bên dưới.    Hình 2  Hai yếu tố chính trụ cột cho khái niệm OI gần đây nhất khi giới hàn lâm đưa ra khái niệm Đổi mới sáng tạo Mở 2.0 gồm:  – Người sử dụng nằm ở vị thế nổi bật: Phát minh trở thành một ĐMST chỉ khi những người sử dụng trở thành một phần của quy trình tạo lập giá trị (xem Hình 3).    Hình 3    – Tạo lập hệ sinh thái vận hành tốt, cho phép đồng sáng tạo trở thành động lực cơ bản của OI: Trong hệ sinh thái này, các bên tham gia đóng góp sẽ cộng tác xuyên suốt các chuỗi giá trị đặc thù của từng lĩnh vực và nền công nghiệp để cùng tạo ra giải pháp cho các thách thức về kinh tế – xã hội và kinh doanh.  Đổi mới sáng tạo Mở của Ủy ban châu Âu đặc trưng bởi:   – Kết hợp sức mạnh của ý tưởng và tri thức từ những tác nhân khác nhau (bất kể tư nhân, nhà nước hay xã hội dân sự) để cùng sáng tạo các sản phẩm mới và tìm kiếm giải pháp cho những nhu cầu của xã hội;  – Tạo dựng nền kinh tế chia sẻ và những giá trị xã hội, bao gồm khả năng tiếp cận của công dân và việc lấy người dùng làm trung tâm;  – Thương mại hóa dựa vào tác động của các xu thế như số hóa, tham gia cộng tác của đại chúng;  Yếu tố quan trọng cần nhớ khi thảo luận về Đổi mới sáng tạo Mở là nó không thể được định nghĩa theo các khái niệm chính xác tuyệt đối. Tốt hơn, hãy hình dung khái niệm này như một điểm trong chuỗi liên tục, rằng ĐMST có các dải hoạt động phụ thuộc vào những giai đoạn khác nhau – từ nghiên cứu, phát triển, tới thương mại hóa sản phẩm – trong đó có những khâu mà vài hoạt động được mở hơn so với các hoạt động khác.             KHU VỰC NHÀ NƯỚC      CÔNG DÂN  Công dân, những người sử dụng và các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm và qua lại trong việc bắc cầu cho ĐMST tới thị trường. Họ tạo ra nhu cầu cho các sản phẩm, dịch vụ có tính ĐMST. Họ có thể góp vốn hoặc cung cấp tài chính cho những dự án liên quan đến mình. Họ cũng có thể trở thành nguồn cung cấp các ý tưởng ĐMST đáng để mở rộng. Đồng thời họ có thể cung cấp ý kiến về việc nghiên cứu nào có ý nghĩa với họ và những tác động của chúng đối với đời sống.             Khu vực nhà nước đóng vai trò trung tâm trong Đổi mới sáng tạo Mở. Đầu tiên và trên hết, nó tạo ra môi trường pháp lý để các tác nhân vận hành; đặt ra các quy định và công cụ để khuyến khích lưu thông tri thức theo hướng mở và hợp tác các bên nhằm đưa ra thị trường những giải pháp có tính ĐMST. Thứ hai, nó đặt ra những phương pháp phối hợp tốt hơn giữa các nhân tố kinh tế để cải thiện năng suất và giá trị. Thứ ba, nó tạo ra nhu cầu cho ĐMST thông qua các công cụ pháp lý trên hoặc bằng chính việc nhà nước mua sắm các sản phẩm ĐMST.          KHU VỰC TÀI CHÍNH          ĐMST có thẻ có rủi ro kinh doanh, do vậy việc tiếp cận vốn và nguồn tài chính không phải lúc nào cũng dễ dàng. Việc xây dựng các công cụ tài chính và thể chế thân thiện hơn với ĐMST cùng với việc thúc đẩy quá trình tích hợp các nguồn vốn và công cụ đang có là điều thiết yếu để hỗ trợ Đổi mới sáng tạo Mở. Điều quan trọng là nhà đầu tư ở nhiều lĩnh vực cần quan tâm hơn đến việc đầu tư vào ĐMST          CÁC DOANH NGHIỆP CÓ TÍNH ĐMST          Các doanh nghiệp đóng vai trò chính trong hoạt động ĐMST. Để có khả năng mang sản phẩm ĐMST ra thị trường, doanh nghiệp phải có khả năng tối đa hóa lợi nhuận từ các nguồn lực phân bổ cho ĐMST.          GIỚI HỌC THUẬT          Các trường đại học, cơ sở giáo dục bậc cao, viện nghiên cứu nhà nước, tổ chức công nghệ và nghiên cứu đều đóng vai trò then chốt trong hệ sinh thái ĐMST. Họ không chỉ tạo ra tri thức mà còn đồng thời tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng. Thách thức chính ở đây là khả năng hợp tác đồng sáng tạo giữa các trường đại học, xây dựng động lực cho những người người nghiên cứu làm việc cùng người dùng, và năng lực hấp thụ tri thức hàn lâm trong các doanh nghiệp.          Hình 4  Xây dựng hệ sinh thái cho Đổi mới sáng tạo Mở: EU/EC xây dựng chính sách dựa vào 3 trụ cột hành động gồm: (1) Cải cách môi trường pháp lý; (2) Thúc đẩy đầu tư của tư nhân vào nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo; và (3) Tối đa hóa các tác động;  – Đổi mới sáng tạo mở kết nối với Khoa học mở và Mở ra với Thế giới: Như Henry Chesbrough nêu năm 2015, việc ưu tiên cho Khoa học Mở không lập tức đảm bảo các kết quả nghiên cứu và tri thức khoa học sẽ được thương mại hóa hoặc biến thành giá trị kinh tế-xã hội. Để có được điều đó, phải có Đổi mới sáng tạo Mở giúp kết nối, khai thác các kết quả từ nghiên cứu khoa học mở thành ứng dụng và đẩy nhanh quá trình quá trình đó ra thị trường.  – Triển khai đồng thời “3 Mở” gồm: Đổi mới sáng tạo Mở, Khoa học Mở và Mở ra với Thế giới. EU/EC hiện tiếp cận triển khai cùng lúc cả 3 công việc mở này với hy vọng đưa tri thức mới ra thị trường nhanh nhất và được nhiều lợi ích nhất.     C. Quan hệ giữa Đổi mới sáng tạo Mở với phần mềm mã nguồn mở     Từ những ví dụ Đổi mới sáng tạo Mở của các tập đoàn lớn và những điểm nổi bật trong hướng dẫn Đổi mới sáng tạo Mở của EU/EC cho thấy: dù khái niệm OI được cho là do Henry Chesbrough lần đầu đưa ra vào năm 2003, nhưng một số vấn đề được nêu ở đây có nguồn gốc từ phong trào phần mềm tự do (Free Software) và phần mềm nguồn mở – OSS (Open Source Software) những năm 1980-1990 của thế kỷ trước, khi bản chất của mô hình phát triển những phần mềm này dựa vào sự tham gia của cộng đồng – không chỉ từ các lập trình viên phần mềm trong nội bộ một công ty, mà còn từ cả những tác nhân bên ngoài công ty như người sử dụng trên toàn cầu, khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, các trường đại học và cộng đồng lập trình viên.    Hình 5. Mô hình phát triển của một dự án phần mềm nguồn mở điển hình.  Hình 5 cho thấy cả cộng đồng các lập trình viên (gồm cả các lập trình viên bên ngoài một công ty) và cộng đồng những người sử dụng đều tham gia vào các bước phát triển phần mềm của một dự án phần mềm nguồn mở.      Hình 6. Mô hình cộng đồng dự án phần mềm tự do nguồn mở.  Hình 6 cho thấy, đơn vị tham gia phát triển một dự án phần mềm tự do nguồn mở sẽ làm việc cộng tác trong cộng đồng, bao gồm các lập trình viên và những người sử dụng, cả bên trong và bên ngoài đơn vị đó để xây dựng phần mềm chung cho cả cộng đồng đó trên phạm vi toàn cầu.  Đáng lưu ý, mô hình phát triển hợp tác của những phần mềm tự do nguồn mở cùng với những đặc thù khác như việc ngược dòng để chuyển mã nguồn được các đơn vị ở vị trí khác nhau về kho mã nguồn gốc rồi sau đó chia sẻ tự do cho bất kì ai truy cập là lý do dẫn tới các mô hình liên quan khác phái sinh, ví dụ mô hình cấp phép mở, mô hình xây dựng và quản lý cộng đồng dự án, vấn đề bản quyền và sở hữu tài sản trí tuệ, và đặc biệt mô hình kinh doanh mới. Tất cả hệ thống này đều khác biệt hoặc mới mẻ so với thế giới phần mềm nguồn đóng thuần túy.      Hình 7. Hệ sinh thái của phần mềm nguồn mở với các tác nhân khác nhau.  Hình 7 cho thấy hình ảnh Hệ sinh thái của phần mềm nguồn mở được phản ánh gần tương tự với hình ảnh hệ sinh thái của Đổi mới sáng tạo Mở, với nhiều bên tham gia đóng góp và có vai trò tương ứng khác nhau.  Bản thân Henry Chesbrough cũng cho rằng với sự xuất hiện của Internet và Web, các chuẩn mực hành vi của khoa học đã được diễn giải dựa trên các cơ sở mới, thậm chí một lần nữa tạo ra lượng tri thức lớn hơn và thậm chí khuếch tán nhanh hơn. Một ví dụ cụ thể là phần mềm nguồn mở. Ông viết:  ‘Phần mềm nguồn mở là phương pháp phát triển phần mềm ở đó kho mã nguồn được mở ra để tất cả những người tham gia soi xét. Điều này tạo xúc tác cho phần mềm đó lan truyền nhanh tới những người khác, và cũng cho phép các thủ tục chung trong phần mềm đó được áp dụng nhanh chóng trong các ngữ cảnh khác. Cùng lúc, mã này được vô số các lập trình viên và các kiểm thử viên độc lập kiểm thử, bằng cách đó phần “các lỗi” phần mềm nhanh chóng được dò tìm ra và sau đó được sửa. Theo châm ngôn nổi tiếng của Richard Stallman, “Với đủ các cặp mắt soi vào, tất cả các lỗi đều sẽ lộ ra” (With enough eyes, all bugs are shallow). Điều này cho phép phần mềm nguồn mở sản xuất mã chất lượng cao và tin cậy’.     D. Vài gợi ý cho Việt Nam     Một vấn đề nóng bỏng, mới mẻ và phức tạp như Đổi mới sáng tạo Mở sẽ rất cần yếu tố ĐMST ở tất cả các bên tham gia như đã được mô tả phía trên. Bất kỳ ai, đặc biệt là giới hàn lâm và các công ty đều có thể học hỏi được cả về lý thuyết cũng như những bài học thực tế từ cuốn sách của GS. Henry Chesbrough. Nội dung của một trong các cuốn sách đó cũng đã được tác giả biên soạn và Nhà in Trường Kinh doanh Harvard xuất bản thành các bài giảng cho khóa học về Đổi mới sáng tạo Mở với nhiều nội dung như: (1) Quản lý Đổi mới sáng tạo; (2) Phát triển sản phẩm mới; (3) Thiết kế kỹ thuật công nghiệp; (4) Quản lý chung; (5) Tinh thần khởi nghiệp của tập đoàn; và (6) Quản lý sở hữu trí tuệ;  Vì Đổi mới sáng tạo Mở có một vài nội dung với nguồn gốc từ phong trào phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở, ngụ ý rằng bất kỳ ai đều có thể tìm kiếm hiểu biết về về mô hình của thế giới nguồn mở để phục vụ cho Đổi mới sáng tạo Mở, tránh đi theo kiểu ‘Tráng qua hàng mở’ – Open Washing (nói mở nhưng thực tế không mở gì cả hoặc không đáp ứng được các tiêu chí của mở), như thường thấy ở Việt Nam hiện nay.  Một lần nữa, có lẽ trách nhiệm Đổi mới sáng tạo hướng tới Đổi mới sáng tạo Mở, trước hết, lại đặt lên vai giáo dục Việt Nam, bất kể ở cấp học nào.   ——-  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Xác định ưu tiên và thay đổi hệ thống tài trợ      Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu (Global Innovation Index-GII) là bảng xếp hạng năng lực của các quốc gia trên thế giới về đổi mới sáng tạo do Đại học Cornell (Mỹ) kết hợp với Đại học ISEAD (Pháp) và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO ban hành với 82 tiêu chí. Đầu năm 2017, chính phủ đã ban hành nghị quyết 19 để phân công cho từng bộ, ban ngành đề xuất phương án tăng điểm của 82 chỉ tiêu này với hi vọng Việt Nam sẽ tăng hạng trong những năm tới. Tuy nhiên, có nên lấy GII làm chỉ dấu cho phát triển chính sách? Tia Sáng đã có buổi trao đổi với ông Svend Otto Remøe, cố vấn đặc biệt của Hội đồng nghiên cứu Na Uy (RCN) về vấn đề này.      Ở nước nào thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chiếm phần lớn thị trường. Vấn đề là Nhà nước làm thế nào để sử dụng các công cụ và hỗ trợ tài chính để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của họ. Ảnh: Nhà máy sản xuất gốm sứ của Minh Long I. Nguồn: Tạp chí Nội thất.   Gần đây Chính phủ Việt Nam đang rất chú ý đến Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu. Theo quan sát và kinh nghiệm của ông thì một quốc gia nên nhìn vào chỉ số kiểu này như thế nào?   Tôi thấy đây là vấn đề khá nan giải. Có rất nhiều ví dụ cho thấy những chỉ tiêu của GII không mấy ý nghĩa về mặt định hướng chính sách. Chẳng hạn như chỉ tiêu về số lượng sáng chế, không phải lúc nào cũng quan trọng đối với năng lực đổi mới sáng tạo của một quốc gia. Nó còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng những sáng chế đó của nền kinh tế và nền công nghiệp của tại nước này. Ví dụ, một quốc gia có một nền công nghiệp theo ngành dọc đã phát triển rất mạnh mẽ (chẳng hạn như Đức với ngành sản xuất ô tô) thì đúng là họ sẽ có rất nhiều sáng chế liên quan nhưng nếu một quốc gia xác định tập trung vào phát triển nông nghiệp hoặc dựa vào tài nguyên thiên nhiên thì số lượng sáng chế sẽ thấp hơn nhiều.   Cứ lấy những tiêu chí đó làm mục tiêu phấn đấu thì dễ quá. Nhưng điều quan trọng là người ta phải nhìn những gì đằng sau đó và xem xét một cách cẩn trọng nền tảng kinh tế – xã hội có khiến cho những tiêu chí đấy có nghĩa hay không. Rất có thể với một quốc gia nào đó, việc hạ thấp tầm quan trọng của một chỉ tiêu này và nâng tầm quan trọng của chỉ tiêu khác lại là điều cần thiết.   Chẳng hạn, có một cuộc chạy đua giữa nhiều quốc gia châu Âu trong việc tăng tỉ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển trong GDP. Ở Việt Nam, con số đấy là 0.6%, ở Singapore là 2.1% và Phần Lan, khá cao là 3.1%. Tiền dành cho R&D là sự đầu tư. Việc dồn rất nhiều tiền vào nghiên cứu cơ bản thì đơn giản nhưng nếu các nghiên cứu này hoàn toàn không có liên hệ gì với nền kinh tế, với nhu cầu xã hội của Việt Nam thì lợi nhuận đem lại sẽ thấp hơn chúng ta nghĩ. Với Việt Nam, câu hỏi đặt ra là bạn phải ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực nào? Còn nếu chỉ muốn tăng tiền đầu tư cho khoa học nhằm tăng một chỉ tiêu trong GII? Thế thì chẳng khôn ngoan chút nào cả.   Ở Việt Nam gần đây, đổi mới sáng tạo thường được gắn liền với khởi nghiệp. Ý kiến của ông thế nào?  Không, nó lớn hơn rất nhiều. Dĩ nhiên tinh thần khởi nghiệp của cá nhân thì rất quan trọng nhưng giá trị nó tạo ra thì ít ỏi thôi. Những công ty khởi nghiệp rất thành công như Google hay Facebook chỉ là ngoại lệ. Đổi mới sáng tạo là năng lực có thể tự làm mới mình của một nền kinh tế thông qua việc doanh nghiệp kết hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc nhận những lợi ích từ khách hàng, từ nhà cung cấp…mang lại để liên tục tạo ra những công nghệ mới, sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới…Đổi mới sáng tạo còn là quá trình những khám phá mới đi từ các nghiên cứu và phát triển được đẩy ra thị trường như thế nào. Nó là sự vận hành của cả một bộ máy lớn và đó là lí do cần một điều kiện khung (điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, luật pháp…) thật tốt để các công ty có thể đi đúng đường.   Khi nói về mối quan hệ giữa giới học thuật và giới doanh nhân ở Việt Nam, người ta thường nói rằng hầu hết các công ty ở Việt Nam đều là vừa và nhỏ, rất khó có khả năng tài chính để đổi mới công nghệ và các công ty lớn thì đều không quan tâm đến nghiên cứu và phát triển hoặc nếu có thì họ không tin vào năng lực của các viện, trường ở Việt Nam  Ở nước nào thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chiếm phần lớn thị trường. Vấn đề là Nhà nước làm thế nào để sử dụng các công cụ và hỗ trợ tài chính để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của họ. Ở nhiều nước, họ hỗ trợ kinh phí cho các mạng lưới kết nối doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực với các trường đại học và viện nghiên cứu. Ở Na Uy, có chương trình đào tạo tiến sĩ kết hợp giữa doanh nghiệp và trường đại học, theo đó, nghiên cứu sinh được trường đại học cấp bằng nhưng việc nghiên cứu hoàn toàn  được thực hiện trong khối tư nhân.   Cách này cũng có thể áp dụng với các công ty lớn. Để phá vỡ định kiến của các công ty này thì không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn cả của các trường đại học. Các giáo sư nếu chỉ ẩn mình trong tháp ngà nghiên cứu thì dễ quá, họ nhận tài trợ của nhà nước là để giúp cộng đồng phát triển. Chúng tôi gọi đấy là nhiệm vụ thứ ba của trường đại học – đổi mới sáng tạo, bên cạnh hai nhiệm vụ còn lại là giảng dạy và nghiên cứu.   Ý ông là những nhà khoa học phải đi vào doanh nghiệp sao?   Đúng rồi. Tôi nghĩ thế. Họ phải học cách làm điều đấy. Họ phải có phản ứng gì chứ. Nhưng cũng cần phải tạo ra nhu cầu thị trường. Ở Na Uy, chúng tôi đưa ra một phương thức gọi là đổi mới sáng tạo có địa chỉ người dùng (user-oriented innovation). Theo đó các công ty nhận tiền từ ngân sách để mua và sử dụng các nghiên cứu từ trường đại học. Tức là mình bắt buộc các công ty trong một số ngành nhất định phải hợp tác với viện trường.   Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể không cần nhiều nghiên cứu và phát triển mà có thể chỉ là giải quyết vấn đề kỹ thuật mà thôi. Trong trường hợp này thì có thể triển khai một chương trình ở quy mô địa phương, kết nối để các giáo sư có thể tư vấn cho doanh nghiệp. Đây cũng là cách đưa những kiến thức từ trường đại học ra ngoài thực tế. Các nhà khoa học chỉ dừng lại ở công bố quốc tế cũng tốt nhưng một quốc gia như Việt Nam cần nhiều hơn thế, nó cần sự kết nối giữa hoạt động nghiên cứu với thực tế của các doanh nghiệp. Vả lại khi bước ra môi trường ứng dụng như vậy lại khơi gợi những ý tưởng tốt cho những nhà khoa học quay trở lại nghiên cứu ở các trường đại học. Điều này diễn ra rất thường xuyên ở nhiều nước.  Có rất nhiều cách để thúc đẩy sự hợp tác này, chính phủ có rất nhiều công cụ để triển khai nếu họ thực sự muốn làm chứ không phải là giấu mình sau những chỉ tiêu của GII. Họ phải nhìn xa hơn, và xem xét xem liệu có công cụ nào có thể dùng để khuấy động sự năng động, sự liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp và viện, trường. Vấn đề là chính phủ có sẵn sàng làm không? Có muốn xác định thứ tự ưu tiên của các ngành không?   Đổi mới sáng tạo như ông nói ở trên là một sự vận hành của một bộ máy lớn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội…Vậy thưa ông, cơ quan nào chịu trách nhiệm xây dựng điều kiện khung cho đổi mới sáng tạo?  Đổi mới sáng tạo không chỉ là trách nhiệm của Bộ KH&CN mà còn là của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp…Vì vậy, tạo ra điều kiện khung cho đổi mới sáng tạo là trách nhiệm của toàn chính phủ. Nếu điều kiện khung càng kém thì nền kinh tế càng không có khả năng sử dụng các nghiên cứu khoa học. Điều đó, về lâu dài khiến việc đầu tư cho R&D chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ. Đó là lí do tôi thấy rằng tăng mấy chỉ số mà không xác định những lĩnh vực ưu tiên để năng lực của khu vực nghiên cứu ăn khớp với khu vực tư nhân thì chẳng đi đến đâu cả.   Ông có nghĩ rằng việc đổi mới sáng tạo của một quốc gia nên được dẫn dắt bởi một bộ không?   Có vẻ như Bộ Tài chính đóng một vai trò lớn vì họ nắm giữ việc chi tiêu ngân sách nhưng các bộ khác cũng phải có những chính sách tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo phát triển trong lĩnh vực của mình. Một vài năm trước, Na Uy ra đời chính sách đổi mới sáng tạo toàn diện, trong đó tất cả các bộ ngành phải xác định vai trò của mình trong đó. Khi đó, các bộ nhận ra họ có thể làm được rất nhiều, có thể là một cách gián tiếp như cải thiện bộ máy và môi trường pháp lý. Cuối cùng, các bộ sẽ được Thủ tướng phân công nhiệm vụ và rà soát lại những hoạt động họ đang làm để đảm bảo chính sách hiện tại hỗ trợ đổi mới sáng tạo và phù hợp với Bộ Khoa học và giáo dục.   Từ kinh nghiệm làm việc ở Việt Nam, theo ông vấn đề lớn nhất trong chính sách đổi mới sáng tạo của Việt Nam có phải là xác định lĩnh vực ưu tiên đầu tư?   Đúng, nhưng ngoài ưu tiên ra còn có vấn đề về cấu trúc của hệ thống tài trợ nghiên cứu nữa.   Việc sắp xếp lại hệ thống tài trợ nghiên cứu là nhiệm vụ hàng đầu, đó là làm thế nào để có rất ít các quỹ đầu tư nhưng mỗi quỹ lại rất lớn (theo tôi thì Nafosted nên lớn gấp 10 lần bây giờ) để họ có thể chuyên nghiệp hóa, có trách nhiệm và đáng tin cậy hơn. Và để có thể làm điều này một cách hiệu quả, Bộ KH&CN sẽ chịu trách nhiệm về chính sách vận hành quỹ còn cơ quan quản lý quỹ thì có toàn quyền trong việc triển khai và báo cáo lên bộ định kỳ. Việc này có vẻ phụ thuộc vào văn hóa. Ở nhiều nước, chính phủ kiểm soát (việc chi tiêu ngân sách cho KH&CN) rất chặt và can thiệp sâu vào hoạt động tài trợ. Điều đó thật là thảm họa. Đó là dấu hiệu của việc thiếu niềm tin.   Ngoài ra, không cần cố gắng phân định rạch ròi giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Giờ này ai còn quan tâm giữa cơ bản và ứng dụng nữa chứ? Điều quan trọng là nghiên cứu đấy có tốt và có ý nghĩa đối với Việt Nam hay không. Các nghiên cứu chất lượng cao có thể là sự pha trộn giữa cơ bản và ứng dụng hay liên ngành.   Xin cảm ơn ông!   Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo qua mua sắm công hiệu quả và công bằng      Chính phủ Mỹ không có chủ đích sử dụng mua sắm công để thúc đẩy đổi mới nhưng nhờ thiết lập nguyên tắc hiệu quả chi phí và cạnh tranh công bằng, hoạt động mua sắm công ở Mỹ đã và đang tạo ra nhiều sản phẩm cấp tiến thành công.      Ngoài bộ tiêu chuẩn mua sắm công liên bang FAR thì các cơ quan có thể tự đề ra quy định mua sắm công của ngành mình. Ví dụ như Quy định mua sắm của Bộ Y tế và Dịch vụ dân sinh – HHSAR. Ảnh: Một bệnh viện công ở Mỹ.     Cứ mười năm một lần, Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ lại tổ chức điều tra dân số toàn quốc. Trước năm 1960, công việc này khá vất vả khi các điều tra viên phải sử dụng bản đồ giấy chỉ dẫn khu vực và đi gõ cửa từng nhà. Nhà cửa, đường xá thay đổi mỗi năm và bản đồ giấy nhanh chóng lỗi thời. Cùng với đó việc mã hóa các thông tin theo cách thủ công đã dẫn tới những khó khăn khi phải sử dụng cùng lúc nhiều loại bản đồ khác nhau. Cục nhận thấy rằng cần có một bản đồ tốt hơn, thống nhất về quy mô và ở dạng số hóa, và có ý tưởng sử dụng Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS). Sau hai lần thử nghiệm công cụ GIS tương đối thành công vào năm 1970 và 1980, Cục tham vọng xây dựng một cơ sở dữ liệu không gian điện tử quốc gia nhằm hỗ trợ cho các cuộc điều tra kế tiếp.  Sau khi Cục phát động dự án, nhiều công ty phần mềm GIS đã ra đời để theo đuổi các giải pháp về hệ dữ liệu theo yêu cầu từ Cục Thống kê. Cuối cùng, Hệ thống mã hóa và hiển thị địa lý tích hợp theo thuật toán topo (Topological Integrated Geographic Encode and Reference System – TIGER) đã ra đời và đã được sử dụng thành công trong cuộc điều tra dân số năm 1990. TIGER bao gồm dữ liệu địa lý của toàn bộ lãnh thổ và tất cả các đặc điểm địa lý cần thiết cho việc thu thập dữ liệu điều tra dân số và lập các bảng thống kê phân tích. Việc phải ghi chú thủ công và xử lý cùng lúc nhiều bản đồ đã lùi vào dĩ vãng. TIGER được đánh giá là “dự án lớn nhất và bao trùm toàn bộ các dự án GIS dân sự từng có”.  Thành công của TIGER đã dẫn tới nhu cầu xây dựng công cụ GIS riêng cho các tổ chức và làm bùng nổ ngành công nghiệp GIS. TIGER đã được phát triển và mua sắm để hỗ trợ và cải thiện quy trình tiến hành các Điều tra mười năm của Cục. Cuối cùng nó trở thành một công cụ đổi mới cho sự phát triển của cả ngành công nghiệp GIS. Đây là một ví dụ tiêu biểu cho mua sắm công dùng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo rất nhiều cách, bằng việc tạo ra thị trường mới, đẩy cầu và cung cấp một nơi thử nghiệm cho các sản phẩm sáng tạo.  Khung pháp lý linh hoạt  Hoạt động mua sắm công của các cơ quan liên bang Mỹ không được tùy tiện mà phải tuân thủ một quy định khung Quy định mua sắm liên bang (Federal Acquisition Regulation – FAR), còn chính quyền các bang có quyền tự chủ cho hoạt động mua sắm của bang mình. Tuy vậy bản thân các bang khi thiết kế quy định mua sắm công vẫn thường tham khảo các nội dung trong FAR.  Cụ thể, FAR chỉ thiết lập các thủ tục và luật lệ chung mà các cơ quan liên bang cần tuân thủ, tuy nhiên những vấn đề kỹ thuật chi tiết lại được bỏ qua nhằm tạo cơ chế thông thoáng cho các cơ quan tự quyết định những gì là cần thiết đối với mình. Ví dụ như FAR đề ra quy trình đánh giá tiêu chuẩn nhà cung ứng nhưng không liệt kê những tiêu chí nào dùng để đánh giá. Một số ngoại lệ cũng có thể được xem xét nếu cần thiết. Bên cạnh đó, bản thân các cơ quan liên bang cũng có thể thay thế FAR bởi các quy định tương tự để điều chỉnh FAR phù hợp với đặc thù của họ, như Quy định mua sắm của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ – AIDAR hay Quy định mua sắm của Bộ Y tế và Dịch vụ dân sinh – HHSAR.  Ngoài ra, còn một số văn bản có chức năng tương đương FAR như Sắc lệnh do Văn phòng Tổng thống ban hành và các thông tư và biên bản ghi nhớ của Phòng Quản lý và Ngân sách thuộc Nhà Trắng. Các văn bản này không thiết lập luật lệ nhưng hướng dẫn thủ tục cho các cơ quan liên bang. Trong giai đoạn 2006 – 2010, ba hạng mục mua sắm liên quan đến mua sắm đổi mới bao gồm: phát triển công nghệ truy cập, công nghệ vũ trụ và các sản phẩm thân thiện với môi trường. Chính phủ khuyến khích mua sắm và phát triển các giải pháp để đạt được các mục đích xã hội như bảo vệ môi trường, bảo tồn năng lượng, giúp đỡ các nhóm người thiệt thòi… Như vậy, có thể thấy tuy Chính phủ không định hướng thúc đẩy đổi mới qua mua sắm công nhưng bản thân các văn bản quy định và hướng dẫn của Mỹ đã định hướng các cơ quan chính phủ trong mua sắm các sản phẩm để đạt được những mục tiêu đổi mới sáng tạo.  Nguyên tắc hiệu quả chi phí và cạnh tranh công bằng  FAR có khung khá thông thoáng nhưng đòi hỏi bắt buộc tuân thủ hai nguyên tắc quan trọng – được coi là phần cố hữu trong tất cả các quyết định mua sắm, là nguyên tắc hiệu quả chi phí và cạnh tranh công bằng.  FAR đòi hỏi các cơ quan phải trình các tài liệu mô tả nhu cầu mua sắm công của mình với những yêu cầu rất chi tiết, điều này đảm bảo các cơ quan không mua sắm những hàng hóa, dịch vụ không cần thiết. Quy định kế toán cần tuân thủ cũng được hướng dẫn chi tiết giúp hạn chế việc công, viên chức sử dụng các tiểu xảo để thay đổi giá trị các khoản kê khai.  FAR dành một phần riêng trình này các nguyên tắc tính giá, phương pháp tính giá nhằm đảm bảo có được giá tốt nhất, tương đương thị trường nhất. Khi các cơ quan đã thực hiện đúng các quy định về kế toán và tài chính, thì việc chi phí mua sắm hàng hóa công cao hơn so với giá thị trường sẽ là vấn đề được đặt nghi vấn, và các cơ quan mua sắm công cần trình các giấy tờ giải trình.  Hiệu quả chi phí và cạnh tranh công bằng là hai yếu tố tương hỗ nhau. Cần cạnh tranh công bằng, minh bạch thì mới có thể lựa chọn được bên cung cấp tốt nhất với chi phí hiệu quả nhất.  Về cơ bản, FAR yêu cầu việc mua sắm công phải được đấu thầu công khai nhiều vòng. Ví dụ như khi Cục Hàng không Mỹ muốn phát triển hệ thống xử lý dữ liệu ADS-B, họ đã tổ chức một chuỗi các ngày hội công nghiệp nơi các công ty quan tâm sẽ tới và trình bày về ý tưởng phát triển ADS-B. Dựa vào những thông tin đó, Cục Hàng không Mỹ tham khảo sẽ cân nhắc, xây dựng kế hoạch chính thức cho việc phát triển ADS-B. Nhờ đó, thay vì bỏ kinh phí lớn để mua sắm thiết bị, Cục Hàng không đã tìm ra giải pháp thuê dịch vụ để tiết kiệm chi phí. Cục Hàng không cũng không cần phải lo lắng về chất lượng bởi nhà thầu – bên cung cấp dịch vụ sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo quy trình hoạt động trơn tru.  ***  Không chỉ ở Mỹ, mua sắm công thúc đẩy đổi mới sáng tạo không mới trên thế giới và có nhiều bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi. Giống như Mỹ, Việt Nam không cần nâng tầm đổi mới sáng tạo trở thành nhiệm vụ của mua sắm công thì hoạt động đổi mới sáng tạo thông qua việc mua sắm của chính quyền vẫn xuất hiện. Điều cần thiết là đã thiết lập khuôn khổ chính sách đủ chặt chẽ, chuẩn hóa quy định về mua sắm công. Đồng thời, trao quyền tự xác định chi tiết kỹ thuật và tiêu chuẩn đánh giá hạng mục mua sắm cho các đơn vị. Và, miễn là các nguyên tắc về hiệu quả chi phí và cạnh tranh công bằng còn được thực hiện nghiêm túc, đổi mới sáng tạo sẽ là kết quả mà các cơ quan nhận được.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn: N.S.Vonortas (2011), Public Procurement and Innovation in the United State Federal Acquisition Regulation, 2005 Edition  https://www.census.gov/newsroom/press-releases/2014/cb14-208.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp lớn: Một số mô hình và xu hướng năm 2023      “Tôi tin làn sóng tiếp theo của tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (ĐMST) sẽ thuộc về những công ty đã hoạt động lâu năm” (TS. Marc Sniukas). Niềm tin này không phải không có cơ sở bởi lẽ, khi các tập đoàn cảm thấy một sự cấp bách cần phải đổi mới. Với nguồn lực, chiến lược, tầm nhìn của mình, họ sẽ có những bệ phóng mạnh mẽ cho những đổi mới. Năm 2023 đang đến gần, chúng tôi xin giới thiệu một số mô hình đã thực hiện trên thế giới, một số xu hướng với hy vọng mang lại những góc nhìn nhiều chiều xung quanh đổi mới sáng tạo tại tập đoàn, doanh nghiệp lớn.      Sự kiện hackathon Google Hash Code mở cho tất cả những kĩ sư phần mềm trên thế giới tham gia.  Các mô hình phổ biến   Tăng tốc trong nội bộ tập đoàn  Internal Accelerator, chương trình tăng tốc trong nội bộ tập đoàn là mô hình chương trình tăng tốc dành cho nhân viên để phát triển, thử nghiệm và phát triển ý tưởng mới, sau đó có thể mở rộng ra các startup trong cùng ngành hoặc bổ trợ cho ngành. Ví dụ, Nestlé phát triển chương trình InGenius – Chương trình tăng tốc trong nội bộ tập đoàn Nestlé. Kết quả thu được 48 dự án trong năm năm; Bosh phát triển chương trình Grow – Chương trình ươm tạo và nền tảng cho startups và intrapreneurs trong Tập đoàn Bosch. Kết quả đạt được: hơn 200 doanh nhân khởi nghiệp nội bộ với hơn 400 dự án, trong đó có sáu dự án thoái vốn.  Hackathon  Hackathon (hay hackfest hoặc hackday) là nơi tập hợp các lập trình viên trong một thời gian ngắn làm việc với cường độ cao. Hackathon diễn ra ít nhất một vài ngày nhưng không quá một tuần. Tùy thuộc vào mục tiêu của tập đoàn có thể lựa chọn Internal Hackathon (Hackathon nội bộ doanh nghiệp) hoặc External Hackathon (Hackathon nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp)1.  Internal Hackathon là cách tốt để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nội bộ doanh nghiệp. Nếu làm tốt, hackathon có thể giúp  – Thành lập quy trình lên ý tưởng sáng tạo  – Xây dựng sản phẩm mẫu thử nhanh  – Bước đầu xây dựng lộ trình phát triển sản phẩm  – Đưa ra danh sách lộ trình trong tương lai  – Thúc đẩy hợp tác đa chức năng giữa đội kỹ sư và không phải kỹ sư  Công ty giao thức ăn trong 30 phút ele.me được Alibaba mua lại.  External Hackathon, doanh nghiệp thu hút cả nhân tài trong và ngoài tổ chức tham gia, có thể là cộng đồng những nhà lập trình phát triển sản phẩm, cộng đồng nhà khoa học dữ liệu hay thậm chí là cộng đồng nói chung để:  – Khám phá các công nghệ mới  – Thúc đẩy đổi mới sáng tạo doanh nghiệp  – Tạo ra các startup tiềm năng  – Thương hiệu của các sản phẩm / tổ chức  – Tạo ra các giải pháp hướng tới giải quyết vấn đề xã hội  – Phân tích dữ liệu để đưa ra phỏng đoán  – Công nhận tư duy đổi mới sáng tạo  Ví dụ, Google thực hiện chương trình Google Hash Code và Google Cloud and EPAM’s Healthcare and Life Science Hackathon2.  Mua bán & Sáp nhập (M&A)  Thay vì đổi mới sáng tạo từ bên trong, các tập đoàn mua lại các startup thành công và tích hợp vào hệ sinh thái hiện tại của tập đoàn. Cũng có nhiều tập đoàn tiến hành nhiều hoạt động song song. M&A là cách nhanh chóng nhất để đưa được những sản phẩm mới vào bổ sung cho hệ sinh thái sản phẩm dịch vụ của tập đoàn. Quá trình Mua bán và Sáp nhập có nhiều bước và thường cần từ sáu tháng cho đến vào năm để hoàn tất thủ tục. Tuy nhiên, cũng có những khó khăn cho startup và tập đoàn trong sự tương thích với nhau khi tích hợp startup với hệ thống của tập đoàn; quá trình này có thể tốn thời gian và đòi hỏi những thay đổi văn hóa doanh nghiệp. “Các công ty khởi nghiệp lo sợ các tập đoàn sẽ làm họ chậm lại. Các tập đoàn lại lo sợ rằng các công ty khởi nghiệp sẽ thất bại nhanh chóng”.  Về ví dụ của M&A, có thể kể đến trường hợp nền tảng thương mại điện tử nổi tiếng Trung Quốc Alibaba mua lại ELE.me – dịch vụ giao thực phẩm với cam kết giao hàng trong 30 phút, với giá 9.5 tỉ USD; Amazon mua lại PillPack với giá dưới 1 tỉ USD – một hiệu thuốc online giao thuốc đến tận nhà người đặt. Hiện tại, Amazon đang đẩy mạnh vào ngành y và đó là lý do tại sao họ đã mua PillPack – để đi trước các tổ chức dược phẩm khác.3  Đặt hàng  Mô hình hợp tác ở đó tập đoàn đặt bài toán cho startup. Bài toán là những vấn đề hiện tập đoàn mong muốn tìm kiếm giải pháp công nghệ để giải quyết. Theo đó, startup sẽ thiết kế giải pháp cho bài toán tập đoàn đưa ra hoặc bán giải pháp của mình cho tập đoàn  Đầu tư  Đầu tư (Corporate Venturing) là hình thức các quỹ đầu tư của tập đoàn vào các công ty startup bên ngoài. Các tập đoàn thực hiện đầu tư thông qua thỏa thuận đầu tư liên doanh hoặc mua cổ phần. Giai đoạn đầu tư có thể bắt đầu từ lúc khi startup đang “chập chững” vận hành (Early-stage), chưa có sản phẩm thương mại hóa hay bán hàng. Startup ở giai đoạn này tiêu tốn lượng tiền lớn để phát triển sản phẩm và marketing nội bộ4; Khi đó, các tập đoàn có thể cung cấp vốn hạt giống (Seeding) cho startup để họ để bù đắp các chi phí vận hành nội bộ, phát triển các sản phẩm mẫu, thử nghiệm mô hình kinh doanh, để thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm khác về sau. Các Quỹ đầu tư Tập đoàn (CVCs) cũng có thể đầu tư cho startup ở giai đoạn mở rộng, khi startup đã triển khai các sản phẩm mới, mở rộng xưởng sản xuất, cải thiện sản phẩm và marketing. Tuy nhiên, giai đoạn mà phần lớn các CVCs (Corporate Venturing Capital) nhắm đến là khi startup đã gần trưởng thành, chuẩn bị lên sàn chứng khoán (IPOs).  Honeywell đã thành lập một nhóm chuyển đổi số trong công ty, dẫn dắt các đổi mới như thiết bị kết nối IoT. Trong hình là chiếc mũ thông minh được dùng trong nhà xưởng, đóng vai trò như một trợ lý cung cấp tất cả các thông tin về hoạt động của nhà máy trong thời gian thực thông qua điều khiển bằng giọng nói.  Đây là lựa chọn mà một số tập đoàn Việt Nam đang sử dụng. Tuy nhiên, không dễ để các doanh nghiệp/tập đoàn có thể chủ động tìm kiếm (startup scouting), theo dõi, đánh giá startup. Bản thân tập đoàn cũng phải chứng minh rõ ràng giá trị đem lại cho startup vì startup có nhiều lựa chọn về vốn khác ngoài vốn của tập đoàn. Tập đoàn cũng cần hiểu rõ tại sao muốn đầu tư vào startup (chiến lược lớn phát triển của tập đoàn hay tài chính).  Ví dụ, Boeing thành lập quỹ Horizon X Ventures, tìm kiếm đầu tư startup giai đoạn phát triển sản phẩm mẫu thử nghiệm, có tiềm năng mở rộng, đội ngũ tốt. Hiện nay họ đã đầu tư vào 21 công ty5. Hay Intel phát triển quỹ Intel Capital. Ở thời kì đầu vào những năm 1990, quỹ này tập trung đầu tư các startup từ giai đoạn hạt giống đến giai đoạn tăng trưởng. Hiện nay, danh mục đầu tư của họ đã lên đến 1544 công ty tại 57 quốc gia (trong đó có 670 công ty đã IPO/ được mua lại) với tổng số tiền đầu tư là 12.4 tỉ USD6.  Mô hình phát triển hệ sinh thái  Cùng là cách tạo dựng hệ sinh thái để các startup sử dụng công nghệ của mình, phát triển giải pháp cho các đối tác, các công ty công nghệ như SAP hay Qualcomm đã có những cách làm rất khác nhau. Với SAP, họ phối hợp với các tập đoàn và trường đại học, đào tạo design thinking (tư duy thiết kế) để giúp sinh viên giải quyết bài toán của doanh nghiệp trên nền tảng của SAP. Nếu lời giải nào tốt, sẽ được SAP đầu tư và sử dụng. Với Qualcomm, tại Việt Nam, và Ấn Độ, Đài Loan, phát triển chương trình ươm tạo, giúp các dự án tiếp cận và sử dụng công nghệ của Qualcomm, được đội ngũ kỹ thuật của Qualcomm hỗ trợ, hoàn thiện sản phẩm và cả tư duy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của người sáng lập. Những doanh nghiệp được Qualcomm hỗ trợ sau đó sẽ được tiếp cận với hệ sinh thái của Qualcomm, mạng lưới những nhà đầu tư, đối tác của Qualcomm để tiếp tục phát triển kinh doanh.  Xu hướng đổi mới tập đoàn 2023  Đổi mới sáng tạo mở đang trở thành một xu hướng quan trọng trong đổi mới sáng tạo tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Theo MindtheBridge, một tổ chức châu Âu chuyên tư vấn sáng tạo mở cho các tập đoàn, xu hướng đổi mới mở toàn cầu có thể được tóm gọn bằng những từ như thử nghiệm. Nếu mô hình tập đoàn sáng lập và ươm tạo các startup là một lựa chọn mới của năm 2022, thì năm 2023, xu hướng này sẽ vẫn chỉ dừng ở việc thử nghiệm, trong khi đó mô hình đặt hàng có tiềm năng áp dụng rộng rãi hơn nhưng sẽ đòi hỏi sự kiên nhẫn từ cả hai phía tập đoàn và startup.  Mặc dù, nhiều tập đoàn từng lựa chọn thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm, nhưng giờ đây nhiều nơi đang từ bỏ chiến lược này. Cũng theo MindtheBridge, các nhà lãnh đạo công nghệ toàn cầu, các tập đoàn không đặc biệt tích cực trên mặt trận M&A startup.  Chuyển đổi số trong tập đoàn để hiệu quả hơn. Bên cạnh câu chuyện về đổi mới sáng tạo theo hướng khởi nghiệp, hợp tác với khởi nghiệp hay ĐMST mở, một xu hướng quan trọng là chuyển đổi số trong các tập đoàn đang diễn ra mạnh mẽ để tối ưu hóa mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số.  Năm 2023 sẽ chứng kiến chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ theo đó dữ liệu trở thành một tài sản quan trọng của doanh nghiệp phục vụ ra quyết định của doanh nghiệp. Có thể thấy, bên cạnh những thành công, những thử nghiệm vẫn đang được tiếp tục thực hiện, cũng có những thất bại mà cần thời gian người ta mới có thể đánh giá hết được.  Bên cạnh những câu chuyện thành công bước đầu như Honeywell, vẫn có những câu chuyện thất bại như GE, để thấy rằng: “các chuyên gia tin rằng việc mở khóa thành công chuyển đổi số không phải là sở trường của tất cả mọi người”7□  —–  Xu hướng Đổi mới sáng tạo mở của các tập đoàn năm 2023  – Hầu như tất cả các nhà lãnh đạo đổi mới đã đặt chỗ ở Thung lũng Silicon (cộng với Israel), trong khi nhiều công ty đang mở rộng dấu ấn của họ bằng cách thành lập các hub – các trung tâm công nghệ toàn cầu tại những thị trường mới nổi như Hàn Quốc.  – Các chương trình khởi nghiệp nội bộ vốn được coi là công cụ đào tạo nhân sự theo cách tiếp cận truyền thống, giờ đây vượt ra ngoài các mục tiêu đào tạo đơn thuần và trở thành nguồn sáng tạo cho ra đời các thương vụ đầu tư.   – Do mối lo ngại ngày càng tăng về tính bền vững và kết quả tài chính, các chương trình tăng tốc doanh nghiệp đang ngày càng được cơ cấu lại, ủy quyền cho bên thứ ba hoặc loại bỏ hoàn toàn  – Các mô hình mới như Venture Builder vẫn đang trong quá trình thử nghiệm  Mô hình Khách hàng mạo hiểm (Venture Client model) tức là quá trình mua sản phẩm và giải pháp từ một khởi nghiệp, được áp dụng rộng rãi, nhưng đòi hỏi phải có phạm vi tiếp cận toàn cầu để có hiệu quả. Thông thường, mô hình Khách hàng mạo hiểm đòi hỏi  yêu cầu một danh sách dài các khách hàng tiềm năng mang tính thăm dò khoảng 1.000-5.000 mỗi năm, trong đó khoảng 1% chuyển sang các thỏa thuận thương mại để triển khai toàn diện.   Nguồn: https://research.mindthebridge.com/report/2023-open-innovation-italy  ——-  Trường hợp 1: Honeywell là nhà sản xuất trong danh sách Fortune 100 hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp, bao gồm công nghệ xây dựng và hàng không vũ trụ. Honeywell đã tăng doanh thu từ 40 đô la lên 43 tỷ USD vào năm 2018 (mặc dù doanh thu giảm xuống còn 38 tỷ USD sau đó) và giá cổ phiếu tăng từ 95 USD lên 174 USD. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi số, Honeywell đã cắt giảm hoạt động từ tám thị trường xuống còn sáu thị trường để cải thiện chất lượng và giúp áp dụng các chiến lược số dễ dàng hơn. Honeywell đã thành lập một nhóm chuyển đổi số trong công ty, dẫn dắt các đổi mới như thiết bị kết nối IoT, cung cấp sản phẩm dựa trên dữ liệu và kiểm soát quy trình công nghiệp tiên tiến. Dữ liệu khách hàng đã được phân tích và sử dụng để cải thiện dịch vụ sản phẩm, giúp khách hàng đưa ra quyết định tốt hơn và làm cho quy trình sản xuất hiệu quả hơn.  ———-  Trường hợp 2: General Electrics từng nổi tiếng khi bắt đầu hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của mình khi nhận định tương lai của kinh doanh và kinh doanh số và GE phải tìm được vị trí của họ trong thế giới đó. Với ý nghĩ đó, GE Digital ra đời và ra mắt sản phẩm số lớn đầu tiên của mình, Predix, “nền tảng sức mạnh công nghiệp đầu tiên thuộc loại này cung cấp một cách tiêu chuẩn và an toàn để kết nối máy móc, dữ liệu lớn công nghiệp và con người”. GE đưa khởi nghiệp tinh gọn vào đổi mới sáng tạo trong tập đoàn của mình dưới sự hỗ trợ của Eric Ries, cha đẻ của khởi nghiệp tinh gọn vào 2013. Họ chi hàng triệu USD để thuê nhân viên bán hàng, công nhân nhà máy và kỹ sư. Để tránh làm phức tạp thêm vấn đề, GE Digital còn được giao nhiệm vụ tập trung hóa và tối ưu hóa các hoạt động CNTT trên diện rộng của công ty. Mặc dù GE có khả năng số hóa và tự động hóa nhiều quy trình kinh doanh để tiết kiệm nguồn lực nhưng không gia tăng được giá trị để đổi mới mô hình kinh doanh. Câu chuyện cổ tích GE tiết kiệm 80% chi phí phát triển thông qua ứng dụng khởi nghiệp tinh gọn trong nội bộ  và phát triển GE Digital trên quy mô lớn dừng lại. Cuối cùng, khi rõ ràng là GE Digital không còn khả thi nữa, các bộ phận của doanh nghiệp đã được bán đi trong khi phần còn lại được dồn vào GE power.  ———–  1 https://www.hackerearth.com/community-hackathons/resources/e-books/guide-to-organize-hackathon/#organizing-hackathons  2 https://codingcompetitions.withgoogle.com/hashcode  3https://valuer.ai/blog/biggest-startup-acquisitions-of-2018/  4 Nguồn: https://corporatefinanceinstitute.com/resources/knowledge/finance/corporate-venturing-corporate-venture-capital/  5 http://www.boeing.com/company/key-orgs/horizon-x/ventures/  6 https://www.intel.com/content/www/us/en/intel-capital/our-focus-infographic.html  7 https://www.techtarget.com/searchcio/tip/4-examples-of-digital-transformation-success-in-business    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh - Tạ Hương Thảo        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo trong du lịch: Loay hoay tìm cái mới      Du lịch – một ngành từ lâu được coi là công nghiệp không khói, một ngành mũi nhọn của Việt Nam. Có thể vì lý do đó, nên giống như nhiều quốc gia phát triển khác, chúng ta đang cố gắng phát triển du lịch bằng mọi giá, đặt du khách vào trung tâm của sự phát triển.      Du lịch Sơn Đoòng qua thực tế ảo (càng ít tiếp xúc với khu hang động này thì càng bảo tồn được nó). Ảnh: Save Sơn Đoòng.  Mặt tích cực của nó là phát triển cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm v..v. Tuy nhiên, bản thân việc phát triển bằng mọi giá dẫn đến những hệ lụy khó lường và tác động lâu dài. Không thể quên rằng có rất nhiều mặt trái của ngành du lịch cần phải nhìn nhận đúng đắn, đó là sự tàn phá môi trường, sự bền vững và cân bằng sinh thái, sự biến mất của những bản sắc văn hóa vốn được gìn giữ cả nghìn năm v..v. Những quốc gia lệ thuộc vào du lịch còn có nguy cơ không thể chống đỡ lại được trước những biến động từ bên ngoài.   Với con số tăng trưởng du lịch ấn tượng, trước những xu hướng mới trong du lịch, đây là lúc du lịch Việt Nam nhìn lại những cơ hội, thách thức và tìm ra những hướng đi bền vững hơn cho mình bằng sáng tạo những mô hình kinh doanh bền vững hơn, mang lại nhiều giá trị lâu dài hơn. Đây cũng là lúc nhìn ra những điểm hạn chế hiện tại của ngành để có những hướng đi phù hợp. Với đặc thù là một ngành công nghiệp liên ngành, sự phối hợp giữa dịch vụ và những sản phẩm để phục vụ trải nghiệm của ngành du lịch là vô cùng mật thiết, trong khi đó sự dung hòa giữa gia tăng giá trị trải nghiệm cho khách hàng và tìm kiếm mô hình kinh doanh hiệu quả, bền vững chưa bao giờ là một bài toán dễ. Trong chuỗi bài về đổi mới sáng tạo trong du lịch, chúng tôi sẽ tập trung vào những hạn chế trong việc tìm kiếm những mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, đặt vào xu hướng chung của du lịch toàn cầu; điểm sáng và những mô hình tiềm năng; những trường hợp nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở Việt Nam và những bất cập hiện tại và những đề xuất.   Xu hướng toàn cầu  Bài đầu tiên sẽ tập trung vào phân tích những hạn chế hiện tại trong mối tương quan giữa 5 bước cơ bản và những xu hướng hiện tại của ngành du lịch. Những xu hướng chính của ngành du lịch toàn cầu hiện tại bao gồm:   ● Sự nổi lên của nhóm Millennials (những người trẻ sinh từ giữa năm 1990 đến đầu những năm 2000), họ trở thành một nhóm khách hàng quan trọng nhất và vì vậy, toàn bộ ngành du lịch đều phải có những điều chỉnh để thay đổi, thích nghi và phục vụ nhu cầu của nhóm này. Cũng cần phải lưu ý rằng, Millennials là một thế hệ rất quan tâm đến sự phát triển bền vững và du lịch có trách nhiệm. Thay vì tập trung vào du lịch tiện nghi, nhóm Millennials có xu hướng hướng đến những trải nghiệm thật về văn hóa, gần gũi với thiên nhiên và đời sống của những người dân bản địa. Họ cũng ưa chuộng những sản phẩm thân thiện với môi trường, giàu hàm lượng văn hóa và sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm có hàm lượng giá trị cao chân thực này.   ● Du lịch có chủ điểm: Đi du lịch ẩm thực. Tuần lễ chỉ phụ nữ. Du lịch sinh thái, Du lịch cộng đồng v..v. tất cả những chủ điểm này đang phản ánh nhu cầu du lịch có chủ điểm và chú trọng vào chất lượng của trải nghiệm. Điều đó phản ánh nhu cầu về sản phẩm dịch vụ có khả năng cá nhân hóa cao và phục vụ những ngách thị trường cụ thể.   ● Chụp ảnh và những giá trị cộng hưởng. Máy ảnh kỹ thuật số và truyền thông mạng xã hội đang không chỉ để giới thiệu các chuyến đi, để kể về trải nghiệm mà thực chất đang góp phần quảng bá cho những sản phẩm dịch vụ du lịch độc đáo của những cộng đồng nhỏ còn ít được biết tới. Du lịch cộng đồng cũng nhờ đó đang tạo ra những câu chuyện thực sự ấn tượng trên những mạng xã hội như Facebook, Instagram v.v. Điện thoại di động cũng đang tạo ra cơ hội cho những cộng đồng làm du lịch nhỏ có thể tự mình marketing sản phẩm dịch vụ tới những khách du lịch tiềm năng qua mạng xã hội.       Đổi mới sáng tạo có thể là những gì? • Mở một thị trường mới. • Tạo ra một sản phẩm mới. • Sửa đổi một sản phẩm hiện có. • Cải tiến phương thức sản xuất. • Tìm kiếm một nguồn cung cấp mới. • Tạo một hình thức tổ chức mới.      ● Sự tích hợp của các công nghệ mới như: thực tế ảo gia tăng trải nghiệm trước chuyến đi của khách hàng; trí tuệ nhân tạo và chatbots; Internet kết nối vạn vật; sự tập trung vào những dữ liệu thu thập được để phân tích và hiểu hành vi của người dùng đang tạo cho ngành du lịch những cơ hội mới.     5 bước cơ bản mang tên “Google 5 stages of travel” (bao gồm – Ước ao – Lên kế hoạch – Đặt chỗ – Trải nghiệm – Chia sẻ) và những cơ hội và thách thức đổi mới sáng tạo có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu trong 5 bước này.     Việt Nam đang ở đâu?  Nếu nhìn vào 5 bước trên, và để ý sự nổi lên của một số startup trong mảng du lịch tại Việt Nam trong thời gian qua, đặt trong bối cảnh các xu hướng nêu trên, có thể thấy một số hạn chế sau đây:    Một trong những xu hướng du lịch trên thế giới có nhắc đến sự nổi lên của nhóm Millennials (những người sinh giữa năm 1990 và đầu 2000) quan tâm đến những dịch vụ du lịch có trách nhiệm và phát triển bền vững. Ảnh của VEO – Volunnteer for Education Organization, một tổ chức du lịch kết hợp làm tình nguyện.   Dreaming & Planning: Cho đến thời điểm này, du lịch Việt Nam vẫn còn đang loay hoay bước chân vào ước mơ của khách hàng. Các kênh quảng bá du lịch của chúng ta chưa có sự đột phá cả về số lượng và chất lượng. Việc quảng bá sử dụng công nghệ mới chỉ được nhắc đến thành một chiến lược lớn năm 2018. Bản thân các doanh nghiệp, mặc dù đã ứng dụng internet để quảng bá nhưng không có sự đầu tư vào nội dung sáng tạo mà chỉ mới cạnh tranh bằng từ khóa, hình ảnh và những công cụ phổ biến. Có thể nói ở hai bước đầu, ngành du lịch nói chung và doanh nghiệp du lịch nói riêng đều đang khá lúng túng và thiếu đột phá. Có thể sự thiếu đột phá này còn xuất phát từ chính sự nghèo nàn trong thiết kế trải nghiệm của khách hàng. Thiếu những chất liệu đầu vào, nội dung không thể sáng tạo và tìm kiếm những cách thể hiện mới được. Sự xuất hiện lác đác của một số doanh nghiệp trong mảng AR/VR tham gia vào ngành du lịch chưa thực sự tạo ra những đổi mới trong cách thức đưa Việt Nam ra thế giới. Tỷ phú Jeff Hoffman khi sang Việt Nam đã chia sẻ với các startup du lịch rằng: “startup Việt Nam cần phải để thế giới thấy Việt Nam theo một cách khác”. “Một cách khác” ở đây đòi hỏi chúng ta tư duy một cách tổng thể hơn, đột phá hơn và nắm bắt xu hướng đang diễn ra mạnh mẽ của việc ứng dụng những công nghệ mới song song với tạo dựng những giá trị thực để có thể tận dụng tối đa những gì công nghệ mang lại.   Booking: Có thể thấy, booking đang là mảnh đất startup Việt và cả các doanh nghiệp khai thác nhiều nhất hiện nay. Nó nằm trong bước trước khi trải nghiệm của khách hàng và có thể diễn ra trong khi trải nghiệm khi nhu cầu mới phát sinh. Có điều, các mô hình vay mượn trong booking và nỗ lực bản địa hóa không giúp các startup thoát ra khỏi câu chuyện cạnh tranh trên đại dương đỏ với những startup và doanh nghiệp đình đám của nước ngoài. Booking đang gặp phải nhiều vấn đề ở mạng lưới, ở năng lực vận hành, năng lực công nghệ, khả năng tài chính để chơi cuộc chơi lớn và có thể nói các nỗ lực hiện nay đều manh mún, thiếu sự liên kết. Các startup Việt vẫn đang cạnh tranh trên những sản phẩm cũ, cách làm cũ chứ chưa thực sự tạo ra một thị trường mới hay tạo ra sản phẩm mới, tìm kiếm những nguồn cung mới v..v. Nói một cách khác, họ chưa tạo ra được những đột phá dựa trên lợi thế sân nhà của mình.   Experiencing: Đâu đó người ta nói rằng dữ liệu lớn, internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo và nói chung là những công nghệ tiên phong đang thay đổi thế giới này hoàn toàn. Nhưng đâu đó chính những chuyên gia cũng đang nói rằng “you can’t have Internet of things without things” – Không thể có internet kết nối vạn vật nếu không có “vạn vật” thực sự. Điều đó hàm ý rằng, mặc dù công nghệ đang chiếm thế thượng phong trong đổi mới sáng tạo, đang làm tiền đề cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nổi lên, đang thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống thì không thể phủ nhận một thực tế là chúng ta sẽ không thể phát triển những giải pháp bền vững nếu như không thực sự kết hợp hiểu biết về công nghệ với thực tiễn giải quyết vấn đề của những thứ hiện hữu có thể cầm nắm, cảm nhận được. Đối với ngành du lịch, cho dù công nghệ có giúp doanh nghiệp quảng bá hình ảnh đến đâu thì khoảng cách giữa kỳ vọng ước mơ với những hiện thực có thể sẽ rất lớn và gây ra thất vọng cho khách du lịch. Một bãi biển đẹp như mơ trên các video clip, những cái phẩy tay lướt trên màn hình để trải nghiệm trước một thắng cảnh có thể tạo ra ước mơ, dẫn khách hàng nhanh chóng đến đặt chỗ khó có thể thay thế cho cảm xúc thất vọng khi thấy một bãi biển đầy rác, những dịch vụ và trải nghiệm nghèo nàn và những đồ lưu niệm thiếu sáng tạo tinh tế. Cho dù chúng ta bắt đầu xây dựng những ứng dụng gia tăng trải nghiệm của khách hàng như ứng dụng du lịch gia tăng trải nghiệm của từng thành phố thì thực sự những ứng dụng trên điện thoại di động mới chỉ dừng lại ở cung cấp những gì mình có, hoàn toàn thiếu những hiểu biết thực sự về nhu cầu và trải nghiệm của người dùng. Đó là chưa nói đến, trải nghiệm di động mới chỉ là một phần nhỏ trong trải nghiệm tổng thể của khách hàng. Thực tế cho thấy chưa có một ứng dụng nào của startup Việt được khách du lịch cả trong nước và nước ngoài rỉ tai nhau chia sẻ nhất định phải sử dụng khi đi du lịch ở Việt Nam.   Sharing: Cuối cùng, cũng cần phải chỉ ra những điểm đang hạn chế sự chia sẻ – bước cuối cùng trong 5 bước. Những con số 93% du khách hài lòng với du lịch Việt Nam, 40% quay lại dường như là những con số lạc quan thái quá. Nếu nhìn vào thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng phần mềm quản lý khách hàng để chăm sóc lại khách hàng và thiếu vắng những chiến dịch động lực để họ chia sẻ trải nghiệm với khách hàng tiềm năng mới thì những con số trên không phản ánh những thách thức với du lịch. Việc thu thập thông tin về trải nghiệm của khách hàng manh mún, thiếu hệ thống và không có sự liên kết giữa các khâu nên việc ứng dụng những công nghệ mới như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, IoT, blockchain sẽ là một rào cản lớn. Đó là chưa nói đến, nhận thức của doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ mới là vấn đề đầu tiên mang tính quyết định.   Việc chỉ ra những hạn chế thực chất là bước đầu để chúng ta cảm thấy sức ép phải đổi mới sáng tạo. Đã qua rồi thời của khai thác những gì thiên nhiên ban tặng một cách vô trách nhiệm. Việc chỉ thu hút khách du lịch đến những thắng cảnh mà không đầu tư để bảo tồn những thắng cảnh đó thì rất khó để phát triển bền vững và gia tăng giá trị trên đó. Trên con đường đi tìm những hướng đi và mô hình bền vững hơn của ngành du lịch, cần có một cái nhìn tổng thể để thực sự trả lời cho câu hỏi đầu tiên, quan trọng nhất: tại sao du lịch cần đổi mới sáng tạo hơn. Trong bài viết sau, chúng tôi sẽ cùng bạn khám một số mô hình có thể trở thành những điểm sáng tiềm năng, những trường hợp nghiên cứu ở Việt Nam và đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế khiến mô hình khó mở rộng và lặp lại được theo tinh thần của startup.   Tài liệu tham khảo:   Top Travel Trends For 2019. https://www.forbes.com/sites/alexandratalty/2018/12/31/top-travel-trends-for-2019/  Tháng 2/2019: Việt Nam đón lượng khách quốc tế lớn nhất từ trước đến nay  https://bvhttdl.gov.vn/thang-2-2019-viet-nam-don-luong-khach-quoc-te-lon-nhat-tu-truoc-den-nay-20190228152701671.htm    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh - Siu Hrill        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp      Đổi mới sáng tạo (ĐMST) không chỉ là R&D mà nên hiểu là một quá trình học hỏi để cải tiến một cách liên tục. Hệ thống ĐMST nên được hiểu là một mạng lưới các tổ chức, các tác nhân cùng với các thể chế chính sách góp phần tạo ra sản phẩm mới, quy trình mới, phương thức tổ chức mới, được áp dụng để mang lại lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội. Với cách tiếp cận như vậy ta sẽ hiểu về ĐMST trong nông nghiệp một cách rộng hơn, cho phép sự tham gia, hợp tác của mọi đối tác, trong đó bao gồm các doanh nghiệp và nông dân, ở mọi quy mô sản xuất – kinh doanh. Bản thân người nông dân có thể tham gia vào quá trình ĐMST, chứ không chỉ thụ động chờ đợi được chuyển giao công nghệ từ các nhà khoa học.      Kỹ sư Hồ Quang Cua liên tục đổi mới, cải tiến để đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của thị trường. Nguồn: Báo Nông nghiệp VN.  Đó là những ý được nêu trong báo cáo “Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào” được Ngân hàng Thế giới đưa ra tháng chín vừa qua mà tôi rất tán thành.  Một ví dụ điển hình về vai trò tham gia tích cực của người nông dân trong ĐMST là trường hợp kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các cộng sự trong doanh nghiệp Hồ Quang. Quá trình ĐMST của họ là quá trình miệt mài nghiên cứu, tìm tòi, cải tiến từng loại giống lúa, và làm việc trực tiếp với nông dân trong từng quy trình, từng việc làm để tạo ra các dòng sản phẩm lúa thơm đặc sắc, trong đó mỗi một sản phẩm mới đều qua nhiều lần thử nghiệm cho đến lúc đạt được sự tối ưu để có thể đưa ra thị trường, và rồi lại tiếp tục được đổi mới, cải tiến để đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của thị trường.  Một ví dụ khác là trường hợp ông Nguyễn Lâm Viên của công ty Vinamit. Tại Hội thảo về “Phát triển thị trường cho gạo Việt sạch và nông sản an toàn hữu cơ” tổ chức ở Hà Nội ngày 7-10, ông chia sẻ rằng cách đây mấy năm ông từng nghĩ nông nghiệp hữu cơ (organic) là cái gì đó mới mẻ, ứng dụng những công nghệ rất hiện đại của thế giới. Nhưng rồi ông nhận ra rằng một số sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đã tiệm cận organic, vì được canh tác theo phương pháp truyền thống lâu đời: nuôi trồng tự nhiên, không phân bón hóa học, không thuốc bảo vệ thực vật. Vậy là ông lên những vùng núi phía Bắc gặp nông dân trồng lúa nương và các cây trái vườn nhà, về miền Tây gặp những người trồng mít, trồng dừa theo kiểu truyền thống, và khuyến khích họ: “cứ làm theo cách truyền thống cho tôi, đừng đưa những cái mới theo kiểu bón phân này để cây tăng trưởng nhanh, phun hóa chất kia diệt sâu bệnh…”.  Với cách tiếp cận như vậy, những người nông dân không chỉ đóng vai trò thụ động tiếp nhận công nghệ, mà chính họ có thể tham gia, cung cấp kinh nghiệm bản địa cho doanh nghiệp và những người làm công nghệ về những cách thức sản xuất hợp lý hơn, tiết kiệm, ít tốn đầu vào, mang lại sản phẩm chất lượng tốt, sạch và đáng tin cậy hơn cho người tiêu dùng.  Cả hai ví dụ nêu trên cũng cho thấy quá trình vừa triển khai, vừa tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh liên tục là vô cùng quan trọng trong ĐMST. Rộng hơn, ĐMST không chỉ gắn với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, mà còn là quá trình tương tác liên tục giữa những cá nhân, các tổ chức, thể chế… liên quan trong xây dựng, thực hiện chính sách KH&CN, mở rộng thị trường cho công nghệ và sản phẩm của nó. Nếu khâu tương tác cần thiết nào đó bị bỏ qua thì ta sẽ bị hụt hẫng, không đồng bộ hoặc lỡ nhịp. Những người sáng tạo và những người ứng dụng sản phẩm sáng tạo rất cần hợp tác, cũng như những đổi mới lớn cần đi cùng với những đổi mới riêng lẻ trong quá trình tương tác và phát triển liên tục thì mới có thể hoàn thiện và tạo nên đột phá.  Cá biệt hóa và tôn trọng sự đa dạng  Chúng ta cần cá biệt hóa các sản phẩm, các quy trình, sao cho phù hợp với điều kiện của từng nơi, từng nhóm người tiêu dùng. Sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay cho phép khả năng cá biệt hóa rất cao, đáp ứng nhu cầu chi tiết, cụ thể của từng nhóm tiêu dùng nhỏ. Ví dụ, ngành sữa hay ngành gạo hoàn toàn có thể làm những sản phẩm riêng cho những nhóm người bị bệnh tiểu đường, mỡ máu, huyết áp, hay những người ăn kiêng, hiện đang rất phổ biến trong nước cũng như trên thế giới.  Mặt khác, dù ĐMST cần những đột phá, nhưng đồng thời cũng phải chấp nhận cả những bước đi từ từ. Sự đa dạng trong xã hội và những khác biệt giữa các vùng đòi hỏi bước đi phải phù hợp với từng nơi, không thể yêu cầu tất cả cùng nhảy vọt. Có chỗ vượt lên, có chỗ cần chấp nhận đi chậm hơn, đừng ép tất cả mọi người phải đi như nhau. Những người vượt lên sau này sẽ dẫn dắt hoặc tạo điều kiện cho những người đi sau. Chúng ta đã trải qua bao nhiêu bài học về hậu quả của việc áp đặt một hệ thống chung cho tất cả mọi người. Những cú nhảy vọt luôn kèm theo rủi ro, mà nếu áp đặt tiến hành trên quy mô rộng thì rủi ro sẽ dội lên tất cả. Vì vậy, chấp nhận sự đa dạng theo vùng, miền, thậm chí theo từng cộng đồng, chính là một giải pháp nhằm hạn chế rủi ro. Đơn cử như vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có những mô hình phong phú đa dạng, có nơi một lúa một tôm, có nơi hai lúa, có nơi một lúa một màu …, thuận theo tự nhiên.  Tương tự như vậy, cần áp dụng các điều kiện tín dụng linh hoạt, phù hợp cho các đối tượng khác nhau. Dĩ nhiên ai cũng mong muốn Nhà nước có một cơ chế tín dụng ưu đãi tối đa cho mình, nhưng phải hiểu bản chất các ngân hàng thương mại cũng là những người kinh doanh, với những trách nhiệm và yêu cầu cần thiết nhằm tránh rủi ro kinh doanh của họ. Bản thân những người tham gia các khâu khác nhau trong chuỗi kinh doanh nông nghiệp cũng có năng lực và mức độ rủi ro khác nhau, vì vậy đòi hỏi tất cả mọi đối tượng làm nông nghiệp đều đáp ứng những điều kiện như nhau để được những ưu đãi như nhau về tín dụng là điều không thể được.  Những vấn đề cần giải quyết để tránh khúc mắc giữa nông dân và doanh nghiệp  Thứ nhất, mọi khúc mắc nói chung thường xuất phát từ lợi ích, do vậy vấn đề quan trọng nhất là làm sao hài hòa được lợi ích của các bên. Doanh nghiệp thường biết tính toán cho lợi ích xa hơn, rộng hơn, trong khi người nông dân luôn phải lo cuộc sống hằng ngày nên cách nhìn lợi ích có phần ngắn hạn và hẹp hơn. Để dung hòa khác biệt này, doanh nghiệp phải tự đặt mình vào vị thế của nông dân, phải nghĩ một cách sòng phẳng xem lợi ích của nông dân cần được đảm bảo như thế nào, từ đó mới thuyết phục và xây dựng được lòng tin giữa hai bên.  Thứ hai, giữa nông dân và doanh nghiệp ở nước ta có chênh lệch lớn về vị thế. Nông dân là người có đất thật đấy, nhưng chỉ là quyền sử dụng đất với quy mô hạn chế và giá trị của đất trong nông nghiệp không được cao, trong khi doanh nghiệp có vị thế kinh doanh với nhiều cách thức khai thác mang lại giá trị lớn hơn. Nhìn vào chuỗi giá trị thì điều này càng rõ. Nông dân phần nhiều chỉ nắm khâu sản xuất nông sản, còn doanh nghiệp là người nắm cả đầu vào lẫn đầu ra trong chuỗi giá trị, dẫn tới vị thế của doanh nghiệp cao hơn nhiều so với nông dân. Chính vì vậy doanh nghiệp cần có cách phân công hợp lý, thuyết phục, hỗ trợ nông dân để người ta có thể đi cùng với mình và có vị trí được nâng cao dần trong cả chuỗi.  Thứ ba, về tiếp cận các nguồn lực như thông tin, kiến thức, tri thức cần thiết trên thị trường, nông dân không thể có điều kiện bằng doanh nghiệp, phần lớn họ không biết cụ thể thị trường cần gì, giá cả trên thị trường biến động như thế nào, bán ở trong nước hay xuất khẩu có lợi hơn, v.v. Họ cũng không thể nhanh nhạy như doanh nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn công nghệ, kỹ thuật hay dịch vụ hỗ trợ. Vì vậy, doanh nghiệp rất cần chia sẻ và hỗ trợ nông dân thực hiện cách làm phù hợp hoặc ứng dụng công nghệ mới, tổ chức lại quy trình sản xuất, nâng cao năng lực của nông dân trong quản trị hộ sản xuất, tổ hợp tác hay hợp tác xã. Nông dân cũng cần cố gắng học hỏi để có thể làm việc được với doanh nghiệp ngày một hòa hợp và bình đẳng hơn.    Vấn đề cuối cùng là yếu tố pháp lý của việc hợp tác. Lâu nay liên kết bốn nhà khó thành công một phần bởi công cụ pháp lý không đảm bảo. Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng thường rất khó xử lý, vì cứ vướng giữa tình và lý. Trên thực tế, nhiều khi doanh nghiệp phải chịu thiệt thòi hơn vì xã hội và Nhà nước nói chung thường đứng ra bênh vực người nông dân, kể cả khi người nông dân vi phạm hợp đồng – ví dụ đã tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp nhưng lại đem bán sản phẩm cho ai trả giá cao hơn chứ không bán cho người đã đầu tư cho mình. Rất cần có thể chế pháp lý nghiêm minh, bảo đảm sự tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên, như vậy mới có thể tạo niềm tin lâu dài. Bên cạnh đó cũng không thể thiếu thể chế pháp lý và hệ thống giám sát cần thiết để thúc đẩy toàn ngành nông nghiệp phát triển theo yêu cầu mới, đảm bảo chất lượng, an toàn, truy xuất được nguồn gốc và có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.  Trong đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, chúng ta không chỉ bàn về các yếu tố kỹ thuật và quy trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới có giá trị cao hơn, mà còn cần xây dựng phương thức tổ chức mới. Phương thức tổ chức mới là điều hết sức quan trọng, bởi lâu nay chúng ta kêu gọi rất nhiều về hợp tác bốn nhà, nhưng trên thực tế sự hợp tác đó phần lớn không thực chất và kém hiệu quả. Cần cách thức hợp lý, thông minh hơn, giúp cho các bên tham gia đứng vững và phát triển được trong điều kiện thay đổi của tự nhiên, của thị trường, của các yếu tố trong kinh doanh nông nghiệp cũng như sự phát triển của các công nghệ mới. Chỉ với cách tiếp cận rộng như vậy, nông nghiệp Việt Nam mới có thể thích ứng với bối cảnh mới với bao thách thức đang nảy sinh: vấn nạn biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn nước; tiến trình đô thị hóa cùng sự già hóa dân số làm cho nhân lực trong nông nghiệp bị cạnh tranh dữ dội bởi các lĩnh vực khác; sự gia tăng tầng lớp trung lưu và nhu cầu thay đổi của người tiêu dùng tạo nên đòi hỏi cao hơn về chất lượng, dinh dưỡng, độ an toàn, thay đổi cấu trúc bữa ăn…; những thách thức do cạnh tranh và hội nhập quốc tế…       Author                Phạm Chi Lan        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo với tinh thần tiết kiệm      Khan hiếm nguyên liệu, gánh nặng nợ nần, sự già hóa đang là vấn nạn chung của cả thế giới. Theo nhà nghiên cứu về đổi mới sáng tạo Navi Radjou [hiện sống và làm việc ở Anh và Mỹ], vấn nạn đó buộc ngành công nghiệp công nghệ cao phải tạo ra các sản phẩm mới đơn giản hơn, rẻ và có hiệu quả cao hơn, và để làm được điều này các tập đoàn cần học hỏi ở các nước nghèo.      Navi Radjou cùng hai đồng nghiệp Jaideep Prabhu và Simone Ahuja đã xuất bản cuốn sách “Jugaad Innovation”. Từ Jugaad trong ngôn ngữ Hindi ở bắc Ấn Độ có nghĩa là khôn khéo, năng động – là đặc trưng của các doanh nghiệp thành đạt ở những nước mới nổi vốn năng động sáng tạo trong hoàn cảnh khan hiếm nguyên liệu và vốn. Cuốn sách này đang gây tranh luận sôi nổi trong giới lãnh đạo ngành công nghệ cao. Tạp chí Tuần kinh tế (WirtschaftsWoche – WiWo) đã có bài phỏng vấn Navi Radjou xung quanh vấn đề đổi mới sáng tạo.    WiWo: Thưa ông Radjou, chúng ta có thể học được gì từ các doanh nghiệp ở những nước mới nổi?  Navi Radjou: Chúng ta học họ cách đổi mới sáng tạo với tinh thần tiết kiệm. Doanh nghiệp ở các nước mới nổi hàng ngày phải đối mặt với sự thiếu thốn tài chính hoặc yếu kém về cơ sở hạ tầng, thậm chí không có. Vì thế họ cực kỳ nhạy bén, sáng tạo trong việc sử dụng nguồn kinh phí ít ỏi để tạo ra những sản phẩm hữu ích và từ đó họ còn sáng tạo ra cả những mô hình kinh doanh mới.  Xin ông nêu một ví dụ?  Bác sỹ phẫu thuật người Ấn Độ Devi Shetty đã giảm chi phí phẫu thuật tim nhờ đưa ra mô hình bệnh viện mới. Hay giám đốc Harish Hande ở Công ty năng lượng đã cho các chủ cửa hàng ở nông thôn thuê các tấm pin mặt trời để họ nạp điện vào bình ác quy rồi bán cho khách hàng.  Vậy là cái khó ló cái khôn!  Đúng là như thế! Bác sỹ Shetty không muốn chứng kiến cảnh nhiều người dân Ấn Độ không thể phẫu thuật tim, Hande thì không muốn chấp nhận tình trạng người dân nông thôn không thể sử dụng năng lượng điện. Trong khi đó, các doanh nghiệp ở phương Tây thường thiếu sự thích ứng này và thiếu sự sẵn sàng đi đến tận cùng để tìm ra giải pháp, hoặc có thể có những trở lực ngăn cản họ.  Thưa ông, về điểm này thì bất kỳ nhà doanh nghiệp phương Tây nào cũng có thể khẳng định họ cũng làm được như vậy.  Có thể là như thế. Nhưng ở phương Tây, đặc biệt là ở thung lũng Silicon, chúng tôi đang đứng trước nguy cơ đánh mất đi khả năng này.  Nhưng thưa ông điều này liên quan đến chúng ta ở mức độ như thế nào?  Nó liên quan nhiều hơn chúng ta tưởng. Hiện nay phương Tây cũng đang đứng trước tình trạng nợ nần nặng nề. Nguyên liệu và năng lượng ngày càng đắt đỏ, các chính phủ cũng như người tiêu dùng phải chi tiêu dè sẻn, tiết kiệm hơn, các doanh nghiệp chịu áp lực buộc phải giảm giá thành và sử dụng tài nguyên có chừng mực hơn.  Điều này thể hiện rõ nhất là ở lĩnh vực y tế, ví dụ như ở Mỹ. Các hãng bảo hiểm và các bệnh viện đang tìm những phương pháp điều trị mới vẫn đảm bảo hiệu quả nhưng chi phí thấp hơn. Vấn đề ở đây không chỉ liên quan đến các sản phẩm hoặc các mô hình kinh doanh mới, mà là sự tác động của các ý tưởng mới. Chúng ta không còn có thể tách mình ra khỏi một thế giới toàn cầu hóa.    Ý ông muốn nói cụ thể ở đây là gì?  Một ví dụ điển hình là ý tưởng thiết kế loại xe ô tô Tata Nano giá rẻ nhất thế giới của doanh nhân người Ấn Độ Ratan Tata. Điều đó làm các hãng sản xuất ô tô phương Tây đã sớm nhận thức được rằng ý tưởng này sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh của họ. Do đó Carlos Goshn, nhà quản lý hãng Renault-Nissan đã thúc đẩy kế hoạch sản xuất dòng ô tô Logan có giá khoảng 10.000 đôla. Goshn biết rất rõ, ông ta không thể triệt để như Tata nhưng trong trường hợp này Goshn đã tạo ra một sự thách thức và động viên, khích lệ đối với các kỹ sư của hãng. Nếu thiếu điều đó, có thể họ đã nhanh chóng bỏ cuộc.  Nhưng giờ đây xe Tata Nano không phải là một nhãn hiệu thành công.  Nhưng ý tưởng về một loại ô tô với giá cả hợp lý thì vẫn còn đó. Tata và xe Nano của ông đã làm thay đổi ngành công nghiệp ô tô. Vấn đề ở chỗ xe Nano bị quảng bá là xe dành cho người nghèo, thay vì phải tiếp thị là sự lựa chọn khôn ngoan của khách hàng có ý thức về giá cả. Hầu như không có ai muốn công khai thừa nhận là mình chỉ có thể kham nổi loại ô tô dành cho người nghèo.  Có nghĩa là không thể đưa ra thị trường một phiên bản giá rẻ đối với một sản phẩm của phương Tây?  Điều này là không thể, bởi thông qua các kênh truyền thông, người Ấn biết rất rõ về các sản phẩm và không chấp nhận phải tiêu thụ những bản sao rẻ tiền. Thậm chí họ còn rất ý thức về nhãn hiệu. Thử thách ở đây là phải biết phát huy khả năng sáng tạo của lực lượng kỹ thuật bản xứ để đưa ra mức giá có thể chấp nhận được nhằm nâng cao tính khả năng cạnh tranh của sản phẩm.  Những doanh nghiệp nào có thể coi là mẫu mực về vấn đề này?   Cho đến nay chưa có nhiều ví dụ thành công, nhưng số lượng các doanh nghiệp này đang ngày một tăng: Renault, Danone, Pepsi, Procter & Gamble… cả SAP và Siemens cũng thuộc diện này.   Ông có thấy nguy cơ núp dưới cái vỏ sáng tạo tiết kiệm, người ta sẽ giảm ngân sách dành cho phát triển từ đó có thể dẫn đến những sản phẩm kém giá trị?   Nếu làm như vậy thì doanh nghiệp sẽ bị thất bại. Giờ đây nếu chất lượng không được bảo đảm, khách hàng có thể trút nỗi bực bội của mình trên mạng Internet và từ đó sự đàm tiếu lan tỏa rất nhanh. Tất nhiên các doanh nghiệp cần biết tập trung xem liệu một sản phẩm có nhiều chức năng khác nhau có hơn sản phẩm chỉ tập trung vào một chức năng chính? Đôi khi tốt có nghĩa là vừa đủ tốt. Cả điều này người ta cũng có thể học được ở các nước mới nổi, có nghĩa là phải làm thể nào để đơn giản hóa sản phẩm.   Trong cuốn sách của mình, ông nói Steve Jobs thấu hiểu thế nào là đổi mới sáng tạo trong tinh thần tiết kiệm, nhưng Steve Jobs chắc sẽ tống khứ ông ngay lập tức khi ông nói với ông ấy về “tốt có nghĩa là vừa đủ tốt”.  Jobs vốn nổi tiếng là một người rất cầu toàn, luôn đòi hỏi mọi sự phải thật hoàn hảo. Nhưng ông ấy cũng còn nổi tiếng về nghệ thuật biết vứt bỏ nếu điều đó làm cho sản phẩm giản tiện hơn. Jobs đã có ý tưởng bán nhạc với giá 99 Cent, thiết lập thị trường nhạc online có giá phải chăng đối với nhiều người. Cũng như tập đoàn bán lẻ hàng tiêu dùng Procter & Gamble đã học các nhà buôn Ấn Độ về việc phân chia dầu gội đầu thành nhiều gói nhỏ, nhờ đó nhiều khách hàng mới có thể mua được sản phẩm này.  Xuân Hoài  dịch theo Wiwo (09/2012)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới trong “thời khổ hạnh”      Ông Trần Văn Phát, Giám đốc điều hành Công  ty cổ phần đầu tư ROBOT (TP Hồ Chí Minh), chia sẻ nhiều tâm sự trong  cuộc trò chuyện về “đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Việt Nam thời  hội nhập”. Với ông, đổi mới sáng tạo nên được bắt đầu bằng việc thay đổi  cách tư duy về thị trường, về cách thức lãnh đạo doanh nghiệp.    Khi người giàu cũng… tiết kiệm  Bây giờ là thời khó! Nhưng dù cho có suy thoái kinh tế hay không, người tiêu dùng vẫn phải tiêu dùng, phải chăm sóc hình thức của mình để giữ sự tự tin về ngoại hình, nhưng hành vi mua sắm của họ thì đã thay đổi. Khi tôi đến Cosco, một siêu thị bán sỉ lớn ở Hoa Kỳ, người mua hàng thường đứng hàng giờ để tuyển lựa những chiếc quần jeans với giá dưới 10USD. Trong nước, các con đường chính trước đây tràn ngập cửa tiệm kinh doanh thời trang, nay thay vào đó là sự xuất hiện không ít các bảng hiệu cho thuê nhà. Người tiêu dùng đang dè sẻn từng đồng, mua sắm ít hơn với những giải pháp tiêu dùng thông minh hơn. Trải qua gần một thập kỷ sống với tăng trưởng khá, tiếp thu những cái mới trong công nghệ, thông tin, bây giờ họ mua ít hơn nhưng tận dụng quyền lựa chọn. Trước đây họ chú trọng đến chất lượng sản phẩm và đẳng cấp (cao cấp), nhưng trong tình trạng trì trệ của nền kinh tế, giá cả có vai trò quyết định.   Nhìn xa hơn, người tiêu dùng Nhật Bản là những người khó tính. Hàng hóa chúng ta muốn vào họ vẫn phải có chất lượng cao, nhưng với cơn bĩ cực này, họ cũng quan tâm đến giá cả. Họ đang lo lắng về công việc làm hơn là để ý đến hàng hóa xa xỉ như trong thập niên trước. Esprit là thương hiệu thời trang cao cấp, nay cũng định vị lại là một thương hiệu quốc tế dành cho giới trẻ với sản phẩm cao cấp nhưng giá phải chăng. Cũng như thế, không phải ngẫu nhiên mà Ford – nhà sản xuất xe hơi hàng đầu của Mỹ và thế giới – đã thay đổi “concept” về sản phẩm. Trước đây, khi nghĩ đến hãng xe Ford, người ta nhận ra ngay những chiếc xe to lớn, hầm hố kiểu Mỹ, nhưng giờ đây đã khác. Những chiếc xe lớn, tiêu hao nhiều nhiêu liệu của Mỹ bây giờ nhường bước cho concept mới, đó là những chiếc xe compact nhỏ gọn, thuận tiên, mà Ford Focus là dòng xe điển hình cho phân khúc này.   Trong nước, hai đại gia của ngành siêu thị bán lẻ là Metro và BigC, cũng đã thay đổi cách kinh doanh của mình. Hai anh lớn này đẩy mạnh hơn lúc nào hết nhãn hàng riêng, dùng thương hiệu của chính BigC và Metro để thu phục niềm tin của khách hàng. Không còn là cách bán hàng “cả gói” mà sản phẩm đã được “chẻ nhỏ” hơn để bán. Ai cũng muốn chứng tỏ cách làm là phù hợp với hành vi tiêu dùng mới.     Chứng tỏ sự phù hợp toàn diện của sản phẩm  Trong môi trường kinh tế trì trệ như hiện nay, doanh nghiệp, các thương hiệu cũng phải tiếp tục kích thích mua sắm bằng cách chứng tỏ sự phù hợp toàn diện của sản phẩm của họ với nhu cầu khách hàng và các đề xuất của họ với khách hàng là xứng đáng đến từng xu.  Điều này thật khó nhưng các doanh nghiệp buộc phải làm, và các nghiên cứu đã chứng minh yêu cầu thay đổi theo hành vi tiêu dùng hiện nay. Đây là một trong các cách tìm cơ hội trong khủng hoảng. Những ai giỏi về tiếng Hoa đều bóc tách hai phần ghép thành chữ khủng hoảng, trong “nguy” luôn có “cơ”, khủng hoảng luôn tiềm chứa những cơ hội.   Như vậy, có phải trong khủng hoảng, Ford đã thay đổi concept nên đã tạo ra cơ hội? Vậy các CEO của công ty Việt đang làm gì, và phải làm gì để làm chủ được năng lực lãnh đạo thích ứng trong thời đại mới?  Thời kỳ trước, năng lực lãnh đạo được tính bằng công thức: “Tố chất + cảm hứng + quan hệ”, nhưng với sự thay đổi chóng mặt về môi trường và yêu cầu mới, theo Tiến Sĩ Lê Thẩm Dương, công thức này phải thay đổi, không phải dùng dấu cộng (+) mà là dấu nhân (*). Thiếu một trong các thành tố trong đẳng thức này thì xem như năng lực bằng không.   Trong thời kỳ trước, nếu sự trao đổi, nhận biết thông tin có thể kéo dài thì ngày nay, kỷ nguyên số đã len sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Người tiêu dùng chỉ cần một cái ấn bàn phím là đã biết được thông tin từ doanh nghiệp và sản phẩm. Không phải ngẫu nhiên, những công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành công, điều này không phải nhờ có nhiều tài sản, đất đai mà nhờ sức mạnh và giá trị bền vững của thương hiệu của họ. Sức mạnh của thương hiệu lại tùy thuộc hiệu quả ứng dụng công nghệ và quản lý, kể cả giá trị “nhân hiệu” của những người điều hành.  Đối với các nhà đầu tư, họ tìm ra ngành phù hợp như thế nào? Theo tính toán, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt tiềm năng ở mức 7%, tức là mức bảo đảm cho sự ổn định xã hội và phát triển. Thời kỳ 2008, mức cung tiền tăng nhanh, qua 2010 thì mức cung tiền bị hạn chế do chính sách tiền tệ thắt chặt, và mức tăng trưởng GDP của Việt Nam đang ở dưới tiềm năng này. Khi mức tăng GDP lao xuống đáy khủng hoảng là 5% như hiện nay, chắc chắn các ngành thực phẩm vẫn tăng trưởng vì đây là ngành phục vụ các nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Khi những chỉ dấu cho thấy, kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi thì các ngành nguyên vật liệu phục vụ cho công cuộc sản xuất sẽ được quan tâm. Nhà đầu tư và sản xuất phải cảm nhận được các xu hướng thị trường để ứng xử phù hợp.  Như vậy, trong thời buổi hiện nay, cần tìm ra được “ngách” của cơ hội trong khủng hoảng và đọc được các chỉ tiêu để có những quyết định phù hợp. Doanh nghiệp cần hiện đại hóa chính mình bằng cách đổi mới về công nghệ quản trị và mở rộng thị trường, tìm ra các thị trường mới chứ cũng không nên cứ đầu tư phần cứng vào đất đai nhà xưởng với quy mô lớn. Cần nhanh chóng nhìn nhận thị trường cho hàng của mình, không chỉ là 85 triệu dân mà là hơn 500 triệu dân (khu vực Asean), thậm chí là thị trường tiêu dùng 4 tỷ dân hơn là chỉ loay hoay với thị trường trong nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới vẫn bị tụt hậu do khủng hoảng kinh tế      Theo Tổ chức Hợp tác &amp; Phát triển Kinh tế, đổi mới vẫn tụt hậu do khủng hoảng kinh tế, tuy nhiên, Trung Quốc và Hàn Quốc lại đang phát triển bùng nổ.    Các nước công nghiệp đã đặt hy vọng vào nghiên cứu và phát triển (R&D) để thúc đẩy phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế. Nhưng những hy vọng này chủ yếu vẫn chưa hoàn thành, theo báo cáo “Triển vọng Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp năm 2012” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) mới được công bố ngày vào ngày 13 tháng 9.  Do cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong nửa thế kỷ qua, tất cả các lĩnh vực trên toàn thế giới đều giảm đổi mới trong năm 2009. Trung bình chi tiêu cho R&D ở các doanh nghiệp thuộc 30 nước thành viên của OECD giảm kỷ lục khoảng 4,5% trong năm đó. Dù ở nhiều nơi mức chi này lại được nâng lên nhưng vẫn không trở về được mức trước khủng hoảng, theo ông Dominique Guellec, người đứng đầu người đứng đầu Bộ phận Nghiên cứu và tầm nhìn ở các quốc gia trong Ban Giám đốc KH&CN và công nghiệp của OECD ở Paris.  Chính phủ các nước thành viên OECD từng coi đổi mới là động lực then chốt để phục hồi, đặt mục tiêu tăng tổng chi tiêu cho R&D lên 9% vào năm 2009. Điều này phần nào bù đắp sự sụt giảm đầu tư của khối doanh nghiệp, nhưng lại khiến ngân sách các nước sớm chịu nhiều áp lực. Trong năm 2010, các nước thành viên OECD (đến 2010 có 34 thành viên) đã cắt giảm mức chi công cho R&D tổng cộng 4%.  Ở các nước đông và nam Âu như Hy Lạp, nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao và chi tiêu R&D thấp, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Ngược lại, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác ở châu Á đang đổi mới vượt trội so với phương Tây. Lượng hồ sơ sáng chế ở các nước này đã tăng từ năm 2007, và “có thể sẽ tiếp tục trong tương lai”, báo cáo dự đoán. Tỷ trọng chi tiêu của Trung Quốc trong chi tiêu R&D toàn cầu đã nhảy vọt từ 7% năm 2004 đến 13% trong năm 2009, và vấn đề đổi mới cũng đã được quan tâm chú trọng hơn trong các chương trình nghị sự tại Ấn Độ và Brazil.  Đôi khi kinh tế khó khăn có thể đánh thức tinh thần kinh doanh của một quốc gia, nhưng điều đó không xảy ra với đa số các nước trong vòng bốn năm qua: tỉ lệ mở công ty mới cũng như đầu tư mạo hiểm vẫn còn thấp hơn đáng kể so với năm 2007. “Điều này đặc biệt đáng lo ngại”, ông Guellec nói. “Do triển vọng kinh tế vẫn còn nhiều rủi ro, ít có các nhà đầu tư mạo hiểm xuất hiện”.  Báo cáo cho thấy, cuộc khủng hoảng đã thúc đẩy những thay đổi trong chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo ở các nước thuộc OECD. Các biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy R&D – như ưu đãi thuế, hỗ trợ bằng sáng chế, cải thiện các quy định về sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng mới cho công nghệ thông tin và truyền thông – đã được áp dụng rộng rãi hơn so với trước khủng hoảng.  Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ trích các chính phủ chưa có chính sách hỗ trợ đủ mạnh để khuyến khích đầu tư. “Nếu cả khu vực công và tư không chú ý nhiều hơn đến đổi mới và nghiên cứu phát triển, họ sẽ không thể đạt các mục tiêu khôi phục tăng trưởng kinh tế và việc làm ở mức độ có thể chấp nhận được”, Guellec đưa ra cảnh báo.   Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/innovation-still-lags-after-economic-crisis-1.11414    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới/Sáng tạo: Trước hết là đổi mới chính mình      Đổi Mới – Sáng Tạo (ĐM-ST) để tìm ra các mô hình kinh doanh mới, nguồn lực mới, thị trường mới. Để ĐM-ST, cần tư duy mới, luôn dựa trên Thay-Đổi (Change) để ứng với vạn biến bên ngoài. Nói cách khác, trước hết là đổi mới chính mình.      ĐM-ST tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực: công nghệ và kinh doanh. Đầu tiên là xoá bỏ cơ chế cứng nhắc, mang nặng tính hàn lâm, lập cơ chế mới dựa vào thị trường, doanh nghiệp. Ngoài công nghệ hữu hình mới, điều quan trọng là tái chế tạo các quá trình hoạt động (re-engineering), gắn các ngành, nền kinh tế mang tính quốc gia vào các chuỗi cung ứng, nền kinh tế thế giới. ĐM-ST để tìm ra các mô hình kinh doanh mới, nguồn lực mới, thị trường mới. Để ĐM-ST, cần tư duy mới, luôn dựa trên Thay-Đổi (Change) để ứng với vạn biến bên ngoài. Nói cách khác, trước hết là đổi mới chính mình.  Hai cách tiến hành Đổi Mới – Sáng Tạo   Cách một là: Nhà nước thiết kế, phát động, hay “từ trên xuống” (top-down). Tức là, Nhà nước lập ra một tổ chức, một hệ thống (thường gọi là Quốc Gia canh tân hệ, national innovation system-NIS) để thiết kế, triển khai chương trình canh tân. Cách này mang tính chủ động, tích cực, thể hiện rõ trách nhiệm, tính cam kết, tầm nhìn của quốc gia. Đại hội Đảng Trung Quốc năm 2007 tuyên bố: “Trung Quốc sẽ phát triển dựa trên khoa học”. Bị đe dọa các nước khác qua mặt, thông điệp liên bang của Tổng thống Mỹ Obama ngày 25-1-2011 kêu gọi “thế giới đã thay đổi, nước Mỹ phải thay đổi”. Trong đó, ông chủ yếu hối thúc nước Mỹ ĐM-ST.   Cách tiếp cận top-down có hiệu quả cao hơn vì được lồng ghép hợp lý khoa học-công nghệ-đổi mới (ví dụ các phác đồ công nghệ, technology mapping) với mục tiêu kinh tế-xã hội; Và, cái chính là: tạo ra được “cơn bão” của không chỉ Tri-Thức mà Tâm-Huyết, một phong trào của cả dân tộc và hiệu ứng cộng năng (synergy effect) giữa các lĩnh vực.         Cách tiếp cận top-down có hiệu quả cao hơn vì được lồng ghép hợp lý khoa học-công nghệ-đổi mới (ví dụ các phác đồ công nghệ, technology mapping) với mục tiêu kinh tế-xã hội; Và, cái chính là: tạo ra được “cơn bão” của không chỉ Tri-Thức mà Tâm-Huyết, một phong trào của cả dân tộc và hiệu ứng cộng năng (synergy effect) giữa các lĩnh vực.        Chỉ cách này mới đem lại những tái cấu trúc lớn cho nền kinh tế quốc dân, như việc đảo ngược tỷ lệ lĩnh vực nông nghiệp-phi nông nghiệp (chủ yếu là công nghiệp-dịch vụ), ví dụ từ 70%-30% thành 30%-70%, để chuyển người làm nghề nông sang những chuỗi giá trị cao hơn với giá trị gia tăng lớn hơn.   Cách hai là tự các cá nhân trong xã hội thấy có lợi cho mình thì làm. Đây cũng không nhất thiết là “từ dưới lên” (bottom-up) vì chưa chắc việc các cá nhân làm ở dưới đã “lan tỏa” được lên trên!   Cách này bắt đầu từ các cá nhân trong xã hội. Khi họ có kỹ năng, trình độ, họ sẽ nắm bắt cơ hội để làm giàu cho chính họ. Theo cách này, các tổ chức ĐM-ST có thể đào tạo, huấn luyện về công nghệ, kinh doanh (đặc biệt về các mô hình kinh doanh-công nghệ trong bối cảnh mới), về tư duy, cách nhìn và cả những quan điểm mới. Qua đó, mọi người nhận biết cơ hội mới, quét hết các tình huống, giải pháp có thể được. Việc tự tạo ra máy cắt cỏ, xay sát gạo, máy làm đất, máy bay trực thăng của các anh “hai lúa” hay các cải tiến do người lao động tự làm là biểu hiện đặc trưng ở cách tiếp cận thứ hai này.  Vốn xã hội thế nào thì ĐM/ST thế nấy  ĐM-ST nảy mầm từ nền tảng xã hội. Ta không thể tạo ra, thậm chí sử dụng một cách bền vững, công nghệ của người khác (hiện đại hơn với nền văn minh của ta). Bài học rút ra là: việc tạo ra, hay sử dụng hiệu quả, công nghệ mới phải làm đồng bộ với việc tạo dựng ở ta một nền tảng xã hội thích hợp.         Việc tạo ra, hay sử dụng hiệu quả, công nghệ mới phải làm đồng bộ với việc tạo dựng ở ta một nền tảng xã hội thích hợp.        Các quốc gia có mức độ Thịnh Vượng (Wealth of the Nation) khác nhau. Khi một người Mexico nhập cư vào Mỹ thì năng suất lao động của anh ta sẽ tăng lên năm lần so với khi ở Mexico. Vì sao vậy? Đơn giản vì khi thành người Mỹ, theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, anh ta được thụ hưởng một tài sản vô hình là 418.000 USD; trong khi đối với người Mexico, tài sản này chỉ là 34.000 USD mà thôi! Sự thịnh vượng Quốc gia phụ thuộc ít vào các yếu tố hữu hình (tangible) như máy móc, công nghệ, tài nguyên, mà chủ yếu vào yếu tố vô hình (intangible) như lòng tin của con người trong xã hội, nền pháp chế hữu hiệu, quyền sở hữu trí tuệ minh bạch và năng lực của Chính phủ. Nguồn vốn vô hình này làm tăng năng suất lao động của người lao động. Như vậy, vốn con người (human capital) và giá trị của các thể chế (Nhà nước pháp quyền) tạo ra phần lớn sự thịnh vượng của quốc gia.  Công nghệ nhập khẩu mà không dựa trên một nền tảng xã hội tương thích thì không thể bền vững. Gần đây, khi gặp khó khăn vì các khu công nghệ cao không hiệu quả, các nhà hoạch định ĐM-ST của Trung Quốc ngộ ra rằng: họ phải có những “Einstein” thì những “thung lũng Silicon” của họ mới phát huy được! Einstein ở đây là để chỉ con người ĐM-ST, như sản phẩm của một xã hội ĐM-ST với đầy đủ nguồn vốn vô hình thích hợp với thung lũng Silicon. Nhiều khu công nghệ cao của nhiều nước không có hiệu quả, thậm chí không hoạt động vì những hạt giống công nghệ cao đó không thể nảy mầm trên một mảnh đất cằn cỗi, không có ĐM-ST. Ngược lại, khi đã hội đủ các yếu tố thích hợp, công nghệ cao sẽ phát triển như một tiến trình tất yếu. Các nhà hoạch định công nghệ cao thế giới đã minh họa điều này một cách hóm hỉnh rằng “Thung lũng Silicon của Mỹ là khu công nghệ cao duy nhất trên thế giới mà ra đời không dựa trên việc lập kế hoạch!”        Vốn con người (human capital) và giá trị của các thể chế (Nhà nước pháp quyền) tạo ra phần lớn sự thịnh vượng của quốc gia.        Nhiều chương trình quốc gia trên thế giới như về công nghiệp hoá, cơ khí hoá, công nghệ cao, kinh tế tri thức… đã, đang bị trì trệ, trì hoãn hay phá sản chủ yếu vì các Chính phủ không tạo ra đủ các yếu tố xã hội vô hình này.     Câu chuyện của chim ưng  Kinh nghiệm cho thấy: các nền khoa học-công nghệ, hạt nhân của ĐM-ST, đặc biệt ở nước đang phát triển, quá chú trọng vào những yếu tố vật chất, vào thiết bị, máy móc, vào xây cơ sở hạ tầng,.. Chỉ sau một thời gian dài, (may ra) họ mới thấy rằng: ta phải có các cơ chế, các tư duy, quan điểm mới. Nói cách khác: đổi mới đầu tiên là đổi mới chính chúng ta.   Câu chuyện chim ưng giúp minh hoạ điều này.  Cuộc đời chim ưng kéo dài khoảng 70 năm. Nhưng để sống được quãng đời đó, nó phải trải qua một quyết định khó khăn.  Đến 40 năm tuổi, móng vuốt chim ưng dài ra, mềm đi làm nó không còn bắt và quắp mồi được nữa. Mỏ dài và sắc của nó nay cùn đi, cong lại… Đôi cánh trở nên nặng nề với bộ lông mọc dài làm nó vất vả khi bay lượn, bắt mồi.   Lúc này, nó đứng trước hai sự lựa chọn. Một là, cứ như vậy và chịu chết. Hai là, nó sẽ phải tự trải qua một tiến trình thay đổi đau đớn kéo dài 150 ngày. Trong tiến trình đó, nó bay lên một đỉnh núi đá và gõ mỏ vào đá cho đến khi mỏ cũ gãy ra. Chim ưng chờ cho mỏ mới mọc ra, rồi dùng mỏ bẻ gãy các móng vuốt cũ đã mòn. Khi có móng vuốt mới, nó nhổ các lông già trên mình đi. Và sau năm tháng, chim ưng lại bay lượn chào mừng cuộc tái sinh và sống thêm ba mươi năm nữa.   Để tồn tại, ta phải thay đổi chính mình. Đôi khi cần phải loại bỏ những ký ức, quá khứ, thói quen già cỗi. Chỉ khi thoát khỏi gánh nặng của quá khứ, ta mới sống hết mình trong hiện tại được.  Việc này chắc chắn gian khổ, phải sửa chính cái mình đã lập ra và đòi hỏi vượt lên chính mình.   Theo Keynes, “khó khăn không phải là có ý tưởng mới, mà ở chỗ thoát khỏi các tư duy cũ” (The difficulty lies, not in the new ideas, but in escaping from the old ones).          Bí quyết ĐM-ST ở đâu?              Các nhà học thuật, chuyên gia đưa ra rất nhiều giải pháp, từ ưu đãi đến bộ máy, từ kinh nghiệm quốc tế đến đặc thù mỗi nước. Có người nói đến những bí quyết như những phép màu, hay sự xuất hiện của một ông tiên…              Nhưng có lẽ, bí quyết cho ĐM-ST cũng như chuyện học võ Kungfu của con gấu Panda vụng về, mập ú, để thắng con Ta-Lung hung dữ, khoẻ hơn đến ngàn lần (xem film Gấu Kungfu Panda). Không được sư phụ dạy, nhưng nó tự ngộ ra ngón đòn hiểm và ngộ ra bí quyết của cuộc đời. Đó là: chẳng có bí quyết gì cả, mà chỉ là sự đam mê, quán hết tâm vào điều mình muốn làm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối thoại với tác giả “Khi Rồng muốn thức dậy”      Sau “Đánh thức con rồng ngủ quên”, TS Phạm Đỗ Chí và nhóm  tác giả đã tiếp tục cho ra mắt “Khi rồng muốn thức dậy” nhằm tiếp tục góp ý những chính sách cần thiết để ổn  định tình hình kinh tế vĩ mô đang ở biên giới của một cơn khủng hoảng  tài chính và thay đổi mô hình kinh tế để thực hiện tăng trưởng bền vững  trong 10 năm tới. Tia sáng đã có cuộc trò chuyện với TS Phạm Đỗ Chí về cuốn sách này.    PV:  Thưa ông, nguyên nhân từ đâu khiến ông có ý định tập hợp biên soạn cuốn sách này?  TS Phạm Đỗ Chí (TS PĐC): Động lực thật sự cho công việc này là hoàn cảnh kinh tế khó khăn của một số đông gia đình công nhân lương thấp ở các thành phố hay nông thôn, được thể hiện trong các bài viết như: “Công chức trẻ cũng có gì hơn” trong cuốn sách. Bài viết  kể về cặp vợ chồng đều là công chức Nhà nước có mức lương tổng thể là 3,2 triệu đồng, phải tằn tiện chi li từng chút một để trả chi phí thuê nhà, nuôi con, sinh hoạt…  Ông kỳ vọng gì khi cuốn sách được xuất bản?  Tương tự như cuốn sách “Đánh thức con rồng ngủ quên” đã xuất bản 10 năm trước, khi xuất bản cuốn sách này, chúng tôi muốn tiếp tục đóng góp các ý kiến cho Nhà nước, Chính phủ nhiều chính sách cần thiết để ổn định tình hình kinh tế vĩ mô một cách dài hạn và thay đổi mô hình kinh tế để thực hiện được tăng trưởng bền vững trong 10 năm tới.                  Ông có thể nhận xét vắn tắt trong 100 chữ về tình trạng của nên kinh tế VN hiện nay được không?  Tôi thấy không gì hay hơn là những điều được vắn tắt sau đây của một tác giả vô danh gửi nhắn tin SMS đến điện thoại nhiều người sáng 13/5/11 như sau đây:  “Đau đầu vì điện. Điên đầu vì đô. Ngây ngô vì vàng. Ngỡ ngàng vì đất. Ngất vì tỷ giá. Ngã vì lãi suất. U uất vì lương. Hết đường với thuế. Ế vì lạm phát. Nát vì giá xăng. Băng hà vì chứng khoán”.  Ông nghĩ về thế hệ Những nhà kinh tế trẻ (tuổi từ 30-40 hiện nay), liệu họ có đủ năng lực và tư duy để cáng đáng công việc về định hình tư duy, chính sách vĩ mô cho nền kinh tế không? Theo ông, họ có những điểm mạnh và điểm yếu nào?  Tôi thật sự thú vị khi tìm ra và mời được sự cộng tác của đa số các tác giả đóng góp là các tác giả trẻ trong nước khi chủ biên cuốn sách mới này. Họ có trình độ học thuật (đa số có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ) và kinh nghiệm kỹ thuật tương đối cao sau nhiều năm (5-7) giảng dạy hay nghiên cứu, và nhất là đều nắm vững tình hình kinh tế đất nước. Họ hoàn toàn đủ sức đóng góp thiết lập các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ cho nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn hiện nay.  Chỉ có điểm yếu, không phải lỗi của họ, là họ vẫn chưa được dùng trong một cơ quan tư vấn chính sách kinh tế quốc gia có tầm vóc “ngang thời đại” để có các đóng góp xứng đáng về chính sách cho các nhà lãnh đạo hay các cơ quan kinh tế Chính phủ.  Với bối cảnh hiện nay, theo ông, nếu có thể đưa ra 3 hành động mạnh mẽ, quyết liệt và cụ thể để cải cách nền kinh tế… thì đó là 3 biện pháp nào?  Thứ nhất, áp dụng thật sự chính sách tài khóa chặt bằng cách giảm đầu tư công tương đương 2% GDP mỗi năm trong ngân sách (không phải giảm đầu tư công trong danh sách dự án “ảo” của các doanh nghiệp nhà nước, như con số 97.000 tỷ DVN dự án của các DNNN đang được đề nghị cắt cho năm nay 2011) để giảm bội chi ngân sách ngay từ năm nay và trong 2-3 năm tới nhằm giảm áp lực lên chính sách tiền tệ trong trung hạn và giúp tích cực chặn mức lạm phát xuống dưới 5% một năm từ năm 2012.  Thứ hai, thật sự áp dụng cơ chế thị trường cho nền kinh tế, cho khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo.  Thứ ba, nâng cao vai trò nông nghiệp và nông thôn nhằm tăng cường mãi  lực của thị trường nội địa trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới, thay  vì mô hình cũ dựa vào xuất khẩu và đầu tư công cao.        Năm 2001, cuốn sách “Đánh thức con rồng ngủ quên” do TS Phạm Đỗ Chí làm  chủ biên đã ra mắt người đọc giữa thời kỳ Đổi Mới để góp ý về các chính  sách  vĩ mô và phát triển kinh tế trên bình diện rộng lớn bao gồm lý  thuyết kinh tế và định hướng cơ cấu, thể chế, xã hội, giáo dục, vv.   Sách nhấn mạnh cơ chế “thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ”ond  best” (gần tối ưu) mà Việt Nam và cả Trung Quốc đã chọn lựa.              Sau  hơn 20 năm áp dụng cơ chế nói trên tại Việt Nam, những kết quả thuận lợi  (tăng trưởng nhanh, xóa đói giảm nghèo, vv) cũng như bất lợi (bất ổn  định vĩ mô, nền kinh tế không hiệu quả, ICOR tăng gấp đôi từ 4 lên 8,  vv) chúng ta đều thấy rõ.  Đặc biệt, sự chênh lệch quá mức về thu nhập  và tài sản trong xã hội đã và đang gây rất nhiều khó khăn cho một khối  đông dân cư như công nhân viên, công nhân tại các thành phố và dân nghèo  ở nông thôn. Đa số họ đang phải vật lộn trong cuộc sống hằng ngày với  lạm phát hai con số, trong khi một thành phần khác được tiếp tục thụ  hưởng các đặc lợi kinh tế một cách bất quân bình.            Và với tình trạng lãi suất và BĐS căng thẳng như hiện nay, ông nghĩ chúng ta/Chính phủ nên làm gì và dự đoán của ông đối với lãi suất và thị trường BĐS?  Thị trường BĐS Việt Nam phức tạp và còn tùy thuộc hình thức đất hay nhà cùng yếu tố quan trọng là địa điểm từng vùng. Tuy nhiên, một phân khúc của bong bóng BĐS đang “xì hơi” dần là các căn hộ cao cấp giá xuống 20-30% trong năm nay và được dự báo sẽ còn giảm độ 10-20% nữa trong năm 2012, nhưng bóng khó nổ tung do các tài sản BĐS ở VN phần lớn được trả bằng tiền mặt chứ không do tín dụng ngân hàng như ở nhiều nước khác.  Việc thu hẹp nguồn cung VND nằm trong một kế hoạch tổng thể nhằm nâng giá trị cho đồng nội tệ, tạo sức ép để các Ngân (NHTM) phải bán ra USD cho NHNN. Trong quý II và quý III, thị trường tiền tệ có thể sẽ tiếp tục căng thẳng và mặt bằng lãi suất VND vẫn đứng ở mức cao. Nguyên nhân chính là do khối tín dụng lớn chung quanh 350.000 tỷ VND cho khu vực bất động sản vẫn còn bị đóng băng. Với quyết định dưới nghị quyết 11 là giảm mức tăng tín dụng tổng thể năm nay xuống dưới 20%, NHNN đã thêm thông tư giảm tỷ lệ tín dụng phi sản xuất (gồm chứng khoán và BĐS) xuống 22% vào tháng 6/2011 và dưới 16% vào cuối năm.   Việc tuân thủ các qui định này của NHNN sẽ duy trì tình trạng căng thẳng thanh khoản và buộc một số NHTM phải giảm tín dụng BĐS, và theo đó nhiều chủ đầu tư khu vực BĐS (nhất là cho các dự án căn hộ cao cấp) phải xét đến việc giảm giá quan trọng, như dự đoán trên đây, nếu muốn trả bớt số vay. Nợ xấu sẽ tăng nhiều. Nếu chính sách tín dụng thắt chặt được NHNN tiếp tục áp dụng, không loại trừ khó khăn phá sản phải sáp nhập cho vài ngân hàng nhỏ.  Trong bối cảnh đó, CP không còn lựa chọn nào khác hơn là tích cực áp dụng nghị quyết 11, nhất là việc thắt chặt thật sự chính sách tài khóa, để giảm lạm phát từ quý II và sau đó sang quý III, hy vọng giảm mặt bằng lãi suất để giúp BĐS từ từ ra khỏi tình trạng đóng băng hiện tại.   Nguyễn Cảnh Bình thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đơn độc trong cách nghĩ phi truyền thống?      Ban đầu, những suy nghĩ phi truyền thống của ông Phạm Minh Thiện, tổng giám đốc công ty TNHH Cỏ May, có vẻ như còn lâu mới có thể sinh lợi, nhưng cách đây không lâu ông Thiện cho hay: năm nay, Cỏ May sẽ khởi động ba dự án lớn: nhà máy chiết xuất protein gạo, dự án sen, dự án dầu cám hợp tác với Nhật Bản.      Ông Phạm Minh Thiện, tổng giám đốc công ty TNHH Cỏ May, đánh thức nguồn nguyên liệu bản địa từng bị bỏ quên.  Trung tâm R&D đầu tiên  Năm 2015, ông Phạm Minh Thiện lập trung tâm R&D nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, mức đầu tư khởi điểm là 20 tỷ đồng. Nhóm khoa học trẻ làm việc tại trung tâm này đã nghiên cứu trích ly thành công dầu từ cám gạo, nghiên cứu giá trị từ sen, thảo dược; đến nấm rơm sạch, hạt nêm, nước mắm, gấc, mè, sả, v.v. Ông Thiện dè dặt nói: công việc chẳng qua là đưa nguyên liệu vào thiết bị công nghệ, đánh thức nguồn nguyên liệu bản địa từng bị bỏ quên, chứ chưa mang lại giá trị thương mại. Chính vì vậy cần bỏ thêm vốn vào đây, đầu tư thêm nguồn lực cho trung tâm này.  Món ngon chưa tròn trịa  Năm ngoái, Cỏ May Imexco đã xuất nguyên liệu da cá tra sang Singapore với giá cao hơn 1,5 lần giá bán phụ phẩm trong nước. Tuy nhiên ông Thiện cho rằng, còn có thể đạt được giá trị gia tăng cao hơn nếu Cỏ May Imexco trực tiếp sản xuất và xuất khẩu snack từ da cá tra. Cooking Show do ông tổ chức ở Cỏ May Sài Gòn Café, là cách phát huy nguồn lực của Cỏ May Essential và Cỏ May Imexco, theo quy trình từ lab đến biz, thực ra cũng là một cách nghĩ phi truyền thống. Được thành lập từ tháng 8.2016, Cỏ May Imexco chuyên chế biến thuỷ sản. Tuy mới thành lập, nhưng ở đây có một trăm mấy chục năm kinh nghiệm khi cộng mấy anh bên đó lại, ông Thiện nói vui. Sẽ liên kết chuyên gia ẩm thực, tiếp tục nghiên cứu sản phẩm giá trị gia tăng… là kế hoạch mở, tiếp xúc với những nghệ nhân mọi miền, là không gian nghiên cứu không giới hạn, gặp gỡ những đầu bếp, khuyến khích họ đóng góp giá trị mới bên ngoài bàn ăn, theo ông Thiện.  “Tuy chưa tròn trịa, nhưng dù sao cũng nhìn thấy nhiều tiềm năng hiện hữu, ít nhất cũng cho mình thấy được những triển vọng so cái đã làm”, ông Thiện vẫn “máu lửa” với dự án sen và hoa hồng, có thêm trung tâm nghiên cứu hoa nhiệt đới và sen đặt tại Sa Đéc. Điều hành các nhà máy thuộc ngành gạo, thức ăn chăn nuôi, bao bì, chế biến thuỷ sản, trung tâm R&D… trong ma trận đó, doanh số lớn nhất là thức ăn chăn nuôi, nhưng “anh” có doanh số lớn nhất chưa phải là anh có chất xám nhiều nhất; anh nổi tiếng nhất không phải là anh lớn nhất; anh có chất xám nhiều nhất lại là anh nhỏ nhất.  Cỏ May Essential đứng đầu trong bảng xếp hạng đơn vị có hàm lượng công nghệ cao, có bổn phận nghiên cứu phát triển sản phẩm phi truyền thống, nhưng kinh phí hoạt động cho đơn vị này là tiền túi của ông Thiện, chứ chưa động chạm gì tới ngân sách công ty.  “Đâu phải lúc nào nghiên cứu là thành công. Nhưng nếu khó giải thích quá thì thôi, cứ làm một mình. Mỗi năm ông Thiện lấy tiền riêng bỏ vào hoạt động nghiên cứu sáng tạo. Đó là nơi nuôi hoài bão, mặc dù về lâu về dài vẫn là kiếm tiền, nhưng kiếm tiền bằng cách khác, bằng những sản phẩm phi truyền thống.  “Tận dụng lợi thế vùng nguyên liệu, khai thác sức mạnh công nghệ tạo ra sản phẩm dựa theo yêu cầu của đối tác, từ yêu cầu đối tác mà thôi thúc đầu tư, mặc dù chưa chắc họ bao tiêu sản phẩm cho mình; phải nói thật chưa có sản phẩm phi truyền thống nào quy ra tiền, vì đó là những dự án sắp tới”, ông đặt lòng tin vào các công ty chuyên nghiên cứu thị trường có uy tín thực hiện một khế ước, giúp ông thấy được bức tranh tổng thể và nhận định chính xác về thị trường trước khi quyết định đầu tư.  Sẽ ra sao nếu không nghĩ khác?  Suy nghĩ phi truyền thống dựa vào công nghệ mới có ý nghĩa gì khi lúa gạo, rơm rạ, cá mắm… vẫn trồng, vẫn nuôi, vẫn bán? Ông Thiện chia sẻ góc nhìn: nếu không bày ra nhóm sản phẩm phi truyền thống, những “cái truyền thống” cũng bước vào giai đoạn cạnh tranh ráo riết, cao trào, gay gắt.  Thức ăn chăn nuôi, gạo, chế biến thuỷ sản… sau những trận khủng hoảng đang được sàng lọc lại. Ngành chế biến thuỷ sản còn không nhiều, nhưng những ông còn lại có sức đề kháng rất tốt. Ai cũng trong trạng thái sức khoẻ tốt, vận động nhiều; ngược lại ai vận động ít hơn, chậm hơn, lười hơn sẽ bị bỏ lại phía sau, hoặc thua trận sẽ rời cuộc chơi. Thực trạng hiển hiện ngày càng rõ, biên lợi nhuận của thức ăn chăn nuôi hẹp dần, chế biến thuỷ sản không hẹp nhưng thay đổi theo kiểu khác, thị trường ngày càng khó tính, môi trường mỗi ngày một kém đi, dịch bệnh mỗi ngày một khó chữa, đủ thứ tác động lên mảng truyền thống. Ngành gạo cũng vậy, nào giờ Cỏ May làm thị trường nội địa, đâu ai cho Cỏ May xuất khẩu, bây giờ nhiều người muốn tham gia sâu hơn thị trường nội địa, nhưng ít người theo kênh truyền thống vì lợi nhuận bọt bèo. Xu hướng dân số Việt Nam tăng, nhưng hồi đó mỗi người ăn bình quân ba chén cơm, bây giờ dữ lắm chừng một chén rưỡi. Thị trường không mở rộng, trong khi thị phần chia nhỏ lại và ai cũng quyết chiến đấu với nhau.  Ông Thiện nhận định về mối liên hệ giữa tư duy phi truyền thống và hiện trạng các ngành hàng –có sự liên đới một cách không chính thức – trong trường hợp những thành công từ hoạt động R&D được phát huy, khu vực truyền thống vẫn “mạnh giỏi” nhờ những tác động trong cùng hệ thống quản trị chuyển đổi tương thích.  bài, ảnh: Hoàng Lan       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dọn đường cho doanh nghiệp đầu tư vào KHCN trong nông nghiệp      Chính sách thu hút doanh nghiệp (DN) đầu tư vào KHCN nhiều, nhưng DN chỉ đầu tư khi có lợi. DN chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực này, có nghĩa là chính sách chưa tạo thuận lợi cho họ.      Đây là ý kiến của đại diện Học việc Nông nghiệp Việt Nam tại hội thảo “Cơ chế, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN trong nông nghiệp” do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 2/7, tại Hà Nội.  Đại diện cho các DN đầu tư vào lĩnh vực KHCN trong nông nghiệp, ông Trần Mạnh Báo, Tổng Giám đốc Công ty Giống cây trồng Thái Bình cho biết, có tới hai luật và hàng chục nghị định, thông tư về nông nghiệp, rất nhiều văn bản, nhưng DN cần xin cái gì cũng không biết ứng vào đâu.   Nhiều DN cho rằng, để đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao đòi hỏi đầu tư một lượng tiền rất lớn. DN nông nghiệp rất khó tiếp cận được nguồn vốn lớn, dài hạn, lãi suất thấp. Chính vì vậy DN nông nghiệp bị yếu thế do công nghệ thấp, khó cạnh tranh, chi phí cao dẫn đến lợi nhuận thấp không có kinh phí để mở rộng và nghiên cứu công nghệ mới hơn.  Ông Trần Mạnh Báo cho rằng, việc xã hội hóa nghiên cứu KHCN sẽ khai thác được nguồn lực của xã hội và các đề tài nghiên cứu sẽ có hiệu quả hơn. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đủ mạnh và tạo điều kiện cho DN nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN, đặc biệt là ứng dụng nghiên cứu.   Nhà nước cũng cần tạo điều kiện để các DN được tiếp cận với các sản phẩm, chương trình nghiên cứu, hợp tác quốc tế và đào tạo sử dụng ngân sách Nhà nước để các DN nhanh chóng nâng cao trình độ và nhận thức về KHCN, không nên bán bản quyền.  Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát nhận định, tất cả các chính sách cần phải gom hết lại, chỉ nói chung “khuyến khích, tăng cường” là vô nghĩa. Chẳng hạn như giảm thuế cho DN cần giảm như thế nào, hỗ trợ lãi suất cần hỗ trợ bao nhiêu… Chính sách nào khuyến khích DN vào nghiên cứu, chính sách nào hỗ trợ DN chuyển giao, DN nhập khẩu giống đầu dòng về thì chính sách như thế nào… Những chính sách đó phải rạch ròi để DN biết và áp dụng.  Tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cũng chỉ đạo những công việc rất cụ thể như: Đưa thêm một số loại sản phẩm DN đã nghiên cứu và ứng dụng thành công vào danh mục hưởng ưu đãi là các sản phẩm KHCN nông nghiệp.  Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng yêu cầu Vụ KHCN của Bộ NN&PTNT thành lập một bộ phận chuyên trách làm việc với DN. Đây sẽ là đầu mối giải quyết mọi khúc mắc của DN khi đầu tư vào KHCN trong nông nghiệp trong thời gian tới.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Don-duong-cho-doanh-nghiep-dau-tu-vao-KHCN-trong-nong-nghiep/230691.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đón nhận chu kỳ Kondratiev thứ sáu      “Những chu kỳ kinh tế lớn”, mà tác giả là nhà kinh tế lỗi lạc người Nga Nikolai D. Kondratiev đã chỉ ra rằng mỗi chu kỳ kinh tế đều gắn liền với những công nghệ nhất định và phải trải qua các giai đoạn hưng thịnh, giảm sút, suy thoái và cải thiện. Loài người đã biết đến 5 chu kỳ kinh tế lớn như vậy và đang chuẩn bị đón chào chu kỳ Kondratiev thứ 6.      Nikolai Dmitrievich Kondratiev (1892-1938), nhà kinh tế Xô Viết lỗi lạc nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu hoạt động kinh doanh của Liên Xô đến năm 1928, người đã có đóng góp trực tiếp vào hình thành Chính sách Kinh tế mới của Lenin. Năm 1925, ông đã công bố cuốn sách “Những chu kỳ kinh tế lớn” sử dụng các số liệu thống kê kinh tế, công nghệ, xã hội phát hiện ra những chu kỳ dài tới 50-60 năm trong các nền kinh tế thị trường gắn liền với  sự ra đời, hưng thịnh và suy tàn của một số công nghệ nhất định.   Do quan điểm kinh tế của ông ủng hộ kinh tế thị trường, chủ trương ưu tiên phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, trái với chính sách công nghiệp hóa trên cơ sở ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, ông đã bị bắt năm 1928, đày đi Siberi 10 năm và xử tử năm 1938.   Nhà Kinh tế học người Mỹ gốc Áo Alois Schumpeter trong tác phẩm “Chu kỳ kinh doanh” công bố năm 1939 đã đề nghị đặt tên Kondratiev cho những chu kỳ như vậy và đã được cộng đồng khoa học hưởng ứng. Sau khi ông mất đi, người ta đã tiếp tục phát hiện các chu kỳ Kondratiev mới và đến nay chu kỳ Kondratiev thứ sáu đã bắt đầu.  Các chu kỳ Kondratiev  Phân tích các số liệu thống kê kinh tế-xã hội, Kondratiev thấy mỗi một chu kỳ trải qua giai đoạn hưng thịnh (P), sau đó bị giảm sút (R), suy thoái (D) và cải thiện (I) rồi được thay thế bằng những công nghệ mới khác. Bản thân Kondratiev đã phát hiện ra 3 chu kỳ như vậy. Chu kỳ thứ 1 từ 1785 khi công nghệ luyện kim, máy hơi nước và công nghệ trồng bông trong nông nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp dệt và thương mại, đã đóng góp cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của kinh tế, được nối tiếp bởi chu kỳ thứ 2 từ năm 1845 với ứng dụng động cơ hơi nước trong phát triển đường sắt 1850, kéo theo sự phát triển của công nghệ sắt thép, chu kỳ thứ 3 từ 1900 với sự phát triển của công nghệ điện, hóa chất và động cơ đốt trong.           Công nghệ mô phỏng sinh học, một trong những công nghệ sẽ phát triển mạnh trong chu kỳ Kondratiev thứ 6. Trong ảnh là các chậu pin năng lượng Mặt trời được thiết kế và sắp xếp giống như những chiếc lá trên cành cây.          Chu kỳ thứ 4 bắt đầu từ 1950 với công nghệ hóa dầu, điện tử, ô tô và hàng không. Chu kỳ thứ 5 bắt đầu từ 1990 với hệ thống kỹ thuật số, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học cho đến bây giờ. Người ta dự đoán rằng chu kỳ thứ 6 đã bắt đầu và sẽ phát triển mạnh từ 2020 với hàng loạt công nghệ mới như công nghệ mô phỏng sinh học (biomimicry), hóa học xanh (green chemistry), sinh thái học công nghiệp (industrial ecology), năng lượng tái sinh, công nghệ nano xanh (green nanotechnology).   Nếu như năm chu kỳ trước đây đều gắn liền với việc tiêu thụ thêm rất nhiều năng lượng và nguyên vật liệu. Báo cáo tổng quan của Stern về Kinh tế học của thay đổi khí hậu đã cảnh báo về nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, Trái đất nóng lên, v.v. có thể dẫn đến sự cáo chung của nền văn minh nhân loại và đề ra nhiệm vụ tiếp tục tăng trưởng trong khi giảm bớt lượng khí thải tới 80% vào giữa thế kỷ thứ 21. Chu kỳ Kondratiev thứ 6 bắt đầu với những công nghệ mới không tăng thêm tiêu thụ năng lượng và tàn phá môi trường mà cho phép giảm tỷ lệ sử dụng và tiêu thụ năng lượng truyền thống và giảm mức độ tàn phá môi trường.   Đón bắt chu kỳ kinh tế thứ 6  Người ta đang nghĩ đến việc phải thay đổi cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cách tiêu dùng của 7 tỷ người trên Trái đất  bằng cách áp dụng những công nghệ mới và cải tiến các công nghệ truyền thống. Nhà nước phải đầu tư vào việc tạo ra những điều kiện khung thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu và đầu tư vào những công nghệ mới, làm cho những công nghệ tiết kiệm năng lượng và tài nguyên này có lãi hơn những công nghệ truyền thống.           Một mẫu xe của Mercedes-Benz được thiết kế mô phỏng theo hình một con cá đuối          Điều đó có nghĩa là phải tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội- từ Nhà nước đến doanh nghiệp và người tiêu dùng- trong việc làm xanh công nghiệp, nông nghiệp, vận tải, du lịch và dịch vụ. Giá dầu tăng cao đã làm cho người tiêu dùng Mỹ quay lưng lại với những ô tô đồ sộ ngốn nhiều xăng và sử dụng những xe gọn nhẹ, sử dụng hỗn hợp xăng và điện, từ bỏ những ngôi nhà ở xã nơi làm việc và làm giảm mật độ đi lại của các xe, tàu nối liền ngoại ô và nội đô. Những thay đổi như vậy cần tiếp tục ở tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Thuế môi trường sẽ được đánh lên nhiều sản phẩm và dịch vụ làm cho người dân thay đổi thói quen tiêu dùng và khuyến khích sử dụng những sản phẩm công nghệ mới. Người ta đã phê phán việc Nhà nước Mỹ, Trung Quốc v.v… đã bỏ ra quá nhiều tiền để cứu giúp các doanh nghiệp và ngân hàng phá sản trong khi chi quá ít tiền để thúc đẩy công nghệ xanh và chuẩn bị cho chu kỳ Kondratiev thứ 6 này.  Hy vọng chu kỳ công nghệ mới này sẽ góp phần để nhân loại đối phó với các cuộc khủng hoảng về năng lượng, lương thực và thay đổi khí hậu bằng nền kinh tế “xanh”, sạch và có hiệu quả hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đơn vị đo lường mới: Theo chuẩn các hằng số tự nhiên      Trong Hệ các đơn vị quốc tế mới, tất cả các phép đo lường sẽ được mô tả bằng các hằng số cơ bản của tự nhiên và được suy ra thông qua các thí nghiệm. Lần đầu tiên kể từ năm 1875, chúng ta có những định nghĩa mới về các đơn vị đo lường.    Ý tưởng định nghĩa tất cả các đơn vị đo lường dựa trên các hằng số của tự nhiên – vốn không thay đổi và không thuộc về một quốc gia nào – đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX. Nhưng phải mất gần 150 năm để các nhà khoa học có thể xác định các giá trị hằng số với đủ độ chính xác để thực hiện ý tưởng này.  Tại cuộc họp vào ngày 16/11/2018 tại Hội nghị liên hiệp chính phủ về Trọng lượng và Đo lường ở Versailles, Pháp, 60 đại biểu đến từ các quốc gia đã nhất trí bỏ phiếu để thay đổi cách định nghĩa 4 đơn vị cơ bản ampere (đo cường độ dòng điện), kilogram (đo khối lượng), kelvin (đo nhiệt độ) và mole (đo số hạt nguyên tử hoặc phân tử của các chất). “Có lẽ từ thời Lưỡng Hà cách đây 5.000 năm, về nguyên tắc mỗi vật thể đơn lẻ đều tự có khối lượng hay trọng lượng chuẩn tùy thuộc vào vị trí”, Terry Quinn, nguyên Giám đốc cơ quan Trọng lượng và Đo lường Quốc tế (BIPM) nói. “Từ ngày 20/5/2019, nguyên tắc này sẽ không còn nữa. Tôi nghĩ điều đó thật phi thường. ”  Nhưng Hệ thống đơn vị quốc tế (SI – International System of Unit) vẫn còn những điểm yếu, David Newell, nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ (NIST), nhận xét. Các nhà đo lường học sẽ phải tiếp tục nghiên cứu để cải thiện định nghĩa về đơn vị đo thời gian giây và có thể đưa thêm nhiều đơn vị đo lường nữa vào Hệ SI. “Nó giống như phần cuối của loạt truyện Harry Potter: chiến thắng là tốt nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm”, Newell nói. Trong hệ SI, “còn một mớ hỗn độn cần được sắp xếp gọn ghẽ”.  Sử dụng các hằng số  Thông thường, các phép đo phải được thực hiện dựa trên việc tham chiếu và các tham chiếu chuẩn phải được đảm bảo là có thể so sánh các đơn vị với nhau mà vẫn giữ được sự nhất quán trên toàn cầu – từ việc định lượng milligram các loại thuốc đến sự cân chỉnh thời gian của Hệ thống định vị toàn cầu GPS. Đối với khối lượng, mọi phép đo phải được truy nguyên trở lại theo đơn vị kilogram đặt ở Pháp.     Với quyết định đưa ra ở Versailles, “Le Grand K” – khối hình trụ kim loại có kích thước bằng lòng bàn tay được xác định là khối kilogam tiêu chuẩn, nằm trong một cái hầm ở Sèvres, ngoại ô Paris từ năm 1889 – từ nay sẽ mất đi vị thế đặc biệt của nó.   Mặc dù theo định nghĩa, Le Grand K luôn luôn có số cân chính xác là 1 kilogram nhưng các bản sao của nó thì có thay đổi một chút về khối lượng. Nguyên nhân là các đồ tạo tác dễ bị hao hụt hoặc bị hư hỏng về mặt vật lý, do đó, sự thay đổi chuẩn sẽ làm cho định nghĩa khối lượng đáng tin cậy hơn. Hiện chưa thể nói liệu Le Grand K có thực sự mất hay tăng các nguyên tử hay không, chúng ta cần phải chờ kết quả của các nghiên cứu trong tương lai.    Về đơn vị đo điện tích, các nhà đo lường đã tinh lọc các thí nghiệm đếm dòng các electron riêng lẻ, qua đó cho phép họ sử dụng điện tích trên một đơn hạt để định nghĩa ampere – định nghĩa cũ dựa trên một thí nghiệm với giả thuyết liên quan đến hai sợi dây dẫn bằng kim loại dài vô hạn. Sự tái định nghĩa lượng tử này sẽ đem lại sự chính xác cao hơn so với những tiêu chuẩn trước đây.     Đơn vị nhiệt độ Kelvin sẽ sớm được xác định bằng hằng số Boltzmann – đại lượng chuyển đổi cơ bản giữa nhiệt độ và năng lượng do Max Planck phát hiện ra và đặt tên theo nhà vật lý Ludwig Boltzmann, thay vì tham chiếu đến các điều kiện tương ứng với nhiệt độ nước xác định.    Trong khi đó đơn vị mole – một phép đo vật chất tương đương với số lượng nguyên tử trong 0,012kilogam đồng vị carbon -12, sẽ sớm bằng hằng số Avogadro, hằng số được lấy tên theo nhà hóa học kiêm vật lý Amedeo Avogadro.  Những vấn đề còn lại   Trong trường hợp của đơn vị đo khối lượng kilogram, việc định nghĩa lại có nghĩa là phải đo được hằng số Planck, một con số xác định kích thước của các gói năng lượng ở kích thước lượng tử, với độ chính xác tinh tế. Một phương pháp xác định hằng số Planck (phương pháp cân Kibble) bằng cách cân khối lượng đã biết theo lực điện từ. Ngoài ra phải kể đến phương pháp đếm số phân tử trong hai quả cầu silicon-28 để thu được giá trị hằng số Avogadro, nhằm chuyển đổi ra hằng số Planck.    Áp dụng hai phương pháp này, các nhóm nghiên cứu chỉ đạt được giá trị có độ chênh lệch đủ nhỏ vào năm 2015. “Chỉ cần cân bằng nhau ở vài phần triệu đã là điều phi thường, bởi vì chúng đều là những định nghĩa dựa trên các lĩnh vực vật lý hoàn toàn khác nhau,” Quinn nói.  Các hằng số sẽ được cố định theo các giá trị thống nhất của chúng – giống như việc cố định tốc độ ánh sáng khi nó là cơ sở cho việc định nghĩa mét năm 1983. Để xác định các đơn vị, các nhà đo lường sẽ lật lại các thí nghiệm các hằng số trước đó, ví dụ dùng giá trị cố định của hằng số Planck trong cân Kibble để xác định lực điện từ và trọng lượng của một vật thể chưa xác định.  Những giá trị mới không chỉ được ghi nhận trong hệ thống SI mà với cả các nhà đo lường tại NIST: một số người gần đây đã liên tục xăm hằng số Planck trên cánh tay mình.    Vẻ đẹp của Hệ SI là bất kỳ thử nghiệm nào cũng đều có thể được sử dụng để xác định các đơn vị đo lường, Estefanía de Mirandés, một nhà đo lường tại BIPM, nói. Điều này không chỉ làm cho các giá trị của hệ thống bình đẳng hơn mà còn là “minh chứng tương lai” cho định nghĩa về các đơn vị đo lường, để chúng có thể được dùng trong các thử nghiệm mới hơn, chính xác hơn trong tương lai. Có khả năng đây sẽ là chìa khóa cho các ngành công nghệ mới.  Thực tế là nó cho phép đo các vật thể có khối lượng rất lớn và rất nhỏ với độ chính xác cao hơn nhiều so với phép đo ở thời điểm hiện tại, cô giải thích.  Đơn vị kilogram mới  Các nhà đo lường học không thể đi thẳng vào thế giới mới nhiều thử thách này. Mặc dù sự thống nhất giữa các thí nghiệm đủ đưa đến tái định nghĩa đơn vị khối lượng nhưng nó vẫn không đủ hoàn hảo. BIPM sẽ đóng vai trò như một trọng tài cho đến khi những sai số nhỏ giữa các phép đo khối lượng tốt nhất thế giới được giải quyết. Họ sẽ yêu cầu mỗi nhóm nghiên cứu thực hiện các phép đo đạc trên cùng một đối tượng, và đưa ra các giá trị khối lượng trung bình mà thế giới có thể so sánh. Theo De Mirandés, có thể sẽ mất đến 10 năm giải quyết được những bất đồng đó.  Ngay cả ở thời điểm này, các mẫu khối lượng vật lý quý giá vẫn được các phòng thí nghiệm đo lường quốc gia cất giữ bởi ít phòng thí nghiệm có đủ các thiết bị cần thiết để xác nhận được một kilogram, trọng lượng đóng vai trò chuyển đổi tiêu chuẩn khối lượng từ các phòng thí nghiệm quốc gia như NIST sang các ngành công nghiệp cần đến chúng, chẳng hạn như hàng không vũ trụ và công nghệ sinh học.   NIST và các phòng thí nghiệm quốc gia ở Anh và Đức đều đang sử dụng các cân để bàn Kibble rẻ hơn, nhằm mục đích để các công ty và các phòng thí nghiệm nhỏ hơn có thể tự mình đo đạc khối lượng trong một ngày nào đó.   Chỉ một giây thôi  Việc tái định nghĩa các đơn vị đo lường làm mất nhiều thời gian của các nhà đo lường học, ít nhất là từ năm 2005. Tiếp theo, họ sẽ chuyển sang đơn vị giây, đơn vị hiện đang được mô tả trong mối liên hệ với tần số của ánh sáng vi ba hấp thụ và do các nguyên tử cesium-133 phát ra. Các nguyên tử này giờ đây đã trội hơn cả “đồng hồ quang học” khi sử dụng các nguyên tử khác nhau tương tác với ánh sáng khả kiến có tần số cao hơn và có khả năng xác định thời gian chính xác hơn: chỉ 1 giây so với tuổi vũ trụ.   Để cập nhật định nghĩa thứ hai vào năm 2026 như nhiều nhà đo lường hy vọng, cộng đồng sẽ cần phát triển các phương pháp để so sánh các đồng hồ quang học trên khắp thế giới và quyết định xem nguyên tử hoặc những nguyên tử nào sẽ được chọn làm chuẩn.   Một vấn đề khác mà các nhà đo lường cố gắng giải quyết là tìm ra cách hợp lý hơn để “bao bọc” cả các đại lượng không thứ nguyên, chẳng hạn như radian – tỷ lệ chiều dài vòng cung của vòng tròn với bán kính, trong hệ SI. “Một số cộng đồng nỗ lực thúc đẩy cho điều đó”, De Mirandés nói.  Đối với BIPM, đơn vị được thành lập vào năm 1875 để lưu trữ các tiêu chuẩn vật lý về metre và kilogram, cuộc cách mạng của hệ SI là sự trộn lẫn của vị ngọt và đắng. Trong khi các diễn giả tại cuộc họp vui vẻ chuyện phiếm là sẽ không cần phải đi đến Paris để “đọ chuẩn” nữa, BIPM thì biết rằng hàng núi công việc đang chờ đón họ trong tương lai. De Mirandés nhận xét: “Sự kết thúc của một thời kỳ cũng là sự khởi đầu của một thời kỳ mới.” ¨    TS. Lê Xuân Chung (Viện KH&KT hạt nhân, Viện NLNTVN) lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07424-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng chảy không khí tiết lộ các chiến lược giảm lây nhiễm COVID-19 trong nhà      Đeo khẩu trang, cách xa nhau ba mét, tránh tụ tập. Khi thế giới đang chờ đến một loại vaccine an toàn và hiệu quả, việc kiểm soát đại dịch COVID-19 xoay quanh việc làm đúng theo những hướng dẫn của y tế công cộng. Nhưng khi thời tiết lạnh hơn buộc người ta phải dành nhiều thời gian trong nhà hơn, việc ngăn cản đại dịch lây truyền sẽ trở nên nhiều thách thức hơn trước.      Tại cuộc họp của ngành Động lực dòng chảy trong khuôn khổ phiên họp thường niên lần thứ 73 của Hội Vật lý Mĩ, các nhà nghiên cứu đã trình bày một loạt các nghiên cứu tìm hiểu về khí động lực học của việc lây nhiễm bệnh dịch. Các kết quả nghiên cứu đã đề xuất những chiến lược giảm thiểu nguy cơ rủi ro tren cơ sở hiểu biết một cách chăt chẽ về cách cac hạt lan truyền trộn lẫn với không khí trong những nơi có không gian hạn chế.  Ban đầu các nhà nghiên cứu tập trung vào vai trò của những hạt lớn có vận tốc di chuyển nhanh do ho và hắt hơi gây ra. Tuy nhiê, các sự kiện siêu phân tán được ghi lại đã gợi ý là việc lan truyền trong không khí của những hạt rất nhỏ từ những hoạt động hàng ngày có thể là vật gây lây nhiễm nguy hiểm. Ví dụ 53 trong số 61 ca sĩ ở bang Washington bị lây nhiễm sau hai tiếng rưỡi hát trong buổi diễn tập với dàn hợp xướng vào tháng 3/2020. Trong số 67 hành khách có hai tiếng trên xe buýt ở Chiết Giang, Trung Quốc với một người đã bị nhiễm COVID, 24 người đã bị phát hiện dương tính sau đó.  William Ristenpart, một kỹ sư hóa học tại trường đại học California, Davis, tìm thấy: khi con người nói hoặc hát to, họ đã tạo ra một lượng cực lớn các hạt có kích thước micro, so với khi họ chỉ sử dụng âm lượng trung bình. Các hạt tạo ra trong suốt thời điểm đó vượt quá mức hạt tạo ra từ việc bị ho. Trong những con chuột lang nhà, họ quan sát thấy cúm có thể lây truyền qua việc nhiễm các hạt bụi. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu điều này đúng với SARS-CoV-2, các vật chủ phát ra những hạt bụi ô nhiễm như các mô, có thể đưa ra nguy cơ rủi ro.  Abhishek Kumar, Jean Hertzberg và những nhà nghiên cứu khác từ trường đại học Colorado, Boulder, đã tập trung vào việc virus này có thể lây truyền qua những buổi biểu diễn âm nhạc. Họ thảo luận về kết quả thu được từ thực nghiệm được thiết kế để đo đạc việc ô nhiễm sol khi từ các nhạc cụ.  “Ban đầu, mọi người đều vô cùng lo ngại về các cây sáo nhưng thật ra sáo lại không phát sinh nguy cơ nhiều lắm”, Hertzberg nói. Nói theo cách khác, các nhạc cụ như clarinet và oboe, vốn có những bề mặt rung ẩm ướt, có xu hướng tạo ra một lượng lớn sol khí. Tin tốt là điều này có thể được kiểm soát. “Khi anh đặt một khẩu trang phẫu thuật lên phần loe của kèn clarinet hoặc trumpet, nó sẽ làm giảm lượng sol khí phát ra xuống mức giọng nói thông thường.  Nhóm các kỹ sư do Ruichen He  dẫn dắttại trường đại học Minnesota tìm hiểu một cách giảm nguy cơ rủi ro theo hướng tương tự trong nghiên cứu ở lĩnh vực dòng chảy và các sol khí tạo ra từ nhiều loại nhạc cụ. Dẫu mức các sol khí được sinh ra từ các nghệ sĩ hoặc các nhạc cụ thì chúng cũng hiếm khi di chuyển quá một bước chân. Trên cơ sở phát hiện này, họ đã sáng chế ra một mô hinh chỗ ngồi cho một dàn nhạc biểu diễn và miêu tả nơi đặt các màng lọc và các khán giả để giảm bớt rủi ro.  Trong khi nhiều người đã bắt đầu hình thành thói quen làm việc từ nhà, người ta vẫn khám phá ra những cách để tái trở lại văn phòng một cách an toàn bằng việc giữ khoảng cách xã hội hiệu quả giữa các cá nhân. Sử dụng các mô phỏng hai chiều để mô hình hóa con người như các hạt, Kelby Kramer và Gerald Wang từ trường đại học Carnegie Mellon đã nhận diện được các điều kiện có thể giúp tránh tụ tập và kẹt lại trong những nơi có không gian chật hẹp như những hành lang.  Việc di chuyển tới và rời các tòa nhà trong những chiếc xe vận chuyển nhỏ cũng cho thấy rủi ro lây nhiễm. Kenny Breuer và đồng nghiệp của anh tại trường đại học Brown đã lập nhũng mô phỏng số cách không khí chuyển động thông qua cabin xe để nhận diện chiến lược có thể giảm thiểu nguy cơ rủi ro. Nếu không khí vào và ra một căn phòng tại các điểm xa hành khách có thể làm được điều này. Trong một chiếc xe điều đó đồng nghĩa với việc mở và đóng một vài cửa sổ.  Các nhà toán học MIT Martin Bazant và John Bush đã đề xuất một hướng dẫn an toàn mới được xây dựng trên các mô hình lây truyền bệnh dịch trong không khí hiện tại để nhận diện các mức cực đại của phơi nhiễm trong một loạt môi trường trong nhà. Hướng dẫn của họ phụ thuộc vào một metric gọi là “thời gian phơi nhiễm tích lũy”, vốn được dùng để xác định nhân số người trong một phòng bằng khoảng cách phơi nhiễm. Độ cực đại phụ thuộc vào kích thước và tỉ lệ thông gió trong phòng, việc đeo khẩu trang, khả năng lây nhiễm của các hạt trong sol khí cùng những nhân tố khác. Để có thể thực hiện được hướng dẫn này, các nhà nghiên cứu cùng với kỹ sư hóa học Kasim Khan thiết kế một ứng dụng và bảng tính online mà mọi người có thể sử dụng để đánh giá nguy cơ lây truyền trong nhiều cài đặt khác nhau. Khi Bazant và Bush viết bài báo, họ cho rằng việc giữ khoảng cách ba mét “đem lại một an toàn vừa phải với những sol khí mang mầm bệnh trong không gian trong nhà”.  Trên cơ sở động lực học dòng chảy, những hiểu biết về cách các hạt lây nhiễm chuyển động trong một phòng có thể cuối cùng sẽ đem lại nhưng chiến lược phòng ngừa bệnh dich thông minh hơn.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-airflow-reveal-strategies-indoor-transmission.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đóng cửa nhà máy điện hạt nhân có thể làm gia tăng ô nhiễm không khí      Việc đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân và bù đắp bằng những nguồn năng lượng gây ô nhiễm khác có thể dẫn đến hơn 5000 ca tử vong sớm mỗi năm.    Gần 20% điện ở Hoa Kỳ hiện nay đến từ năng lượng hạt nhân. Hoa Kỳ có số lượng nhà máy điện hạt nhân nhiều nhất thế giới, với 92 lò phản ứng nằm rải rác trên cả nước. Nhiều nhà máy trong số này đã hoạt động hơn nửa thế kỷ và sắp hết tuổi thọ dự kiến.  Các nhà hoạch định chính sách đang tranh luận về việc nên đóng cửa hay nâng cấp các nhà máy này để tiếp tục sản xuất điện hạt nhân, vốn được nhiều người coi là giải pháp carbon thấp thay thế cho than, dầu và khí tự nhiên.  Giờ đây, các nhà nghiên cứu của MIT cho biết có một yếu tố khác cần cân nhắc khi quyết định tương lai của năng lượng hạt nhân: chất lượng không khí. Nếu không có năng lượng hạt nhân, mô hình ô nhiễm không khí sẽ thay đổi như thế nào và ai sẽ chịu tác động?    Nhóm nghiên cứu của MIT đã trả lời những câu hỏi này trong một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Nature Energy. Họ đưa ra một kịch bản mọi nhà máy điện hạt nhân trong nước đều ngừng hoạt động và xem xét các nguồn khác như than đá, khí tự nhiên và năng lượng tái tạo sẽ đáp ứng nhu cầu năng lượng như thế nào.  Nghiên cứu cho thấy ô nhiễm không khí sẽ tăng lên, khi các nguồn than, khí đốt và dầu tăng lên để bù đắp cho điện hạt nhân. Điều này có thể không mấy bất ngờ, song phát hiện đáng quan tâm là nhóm nghiên cứu dự đoán gia tăng ô nhiễm không khí sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, gia tăng 5.200 ca tử vong do ô nhiễm không khí mỗi năm.  Nhưng nếu có nhiều nguồn năng lượng tái tạo hơn, theo dự đoán đến năm 2030, ô nhiễm không khí sẽ được hạn chế, mặc dù không hoàn toàn. Nhóm nghiên cứu nhận thấy ngay cả trong kịch bản tích cực hơn, ô nhiễm không khí vẫn tăng nhẹ ở một số khu vực Hoa Kỳ, dẫn đến 260 ca tử vong do ô nhiễm không khí mỗi năm.  Khi xem xét các cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi ô nhiễm không khí gia tăng, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng cộng đồng người Mỹ gốc Phi – một số lượng bất cân xứng sống gần các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phải chịu mức độ phơi nhiễm lớn nhất.  “Phát hiện này bổ sung tác động xã hội và môi trường khi ngừng điện hạt nhân”, Lyssa Freese, nghiên cứu sinh ở Khoa Khoa học Trái đất, Khí quyển và Hành tinh (EAPS) của MIT, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  “Trong cuộc tranh luận về việc duy trì hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân, chất lượng không khí không phải là trọng tâm của cuộc thảo luận,” GS. Noelle Selin tại Viện Dữ liệu, Hệ thống và Xã hội (IDSS) của MIT, đồng tác giả nghiên cứu cho biết thêm. “Chúng tôi thấy ô nhiễm không khí do các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch nguy hiểm đến nỗi bất cứ điều gì khiến việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch gia tăng, chẳng hạn như ngừng nhà máy điện hạt nhân sẽ dẫn đến tác động lớn và không cân bằng giữa các cộng đồng”.  Loại bỏ trong tương lai  Trong quá khứ, việc đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân đã dẫn đến sự gia tăng sử dụng nhiên liệu hóa thạch để đáp ứng nhu cầu. Năm 1985, việc đóng cửa các lò phản ứng ở Thung lũng Tennessee khiến lượng than sử dụng tăng đột biến, một nhà máy ở California bị đóng cửa năm 2012 đã dẫn đến sự gia tăng khí đốt tự nhiên. Ở Đức, nơi năng lượng hạt nhân gần như đã bị loại bỏ hoàn toàn, nhiệt điện than đã tăng lên để lấp đầy khoảng trống.  Nhận thấy những xu hướng này, nhóm MIT đã tự hỏi mạng lưới năng lượng của Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào nếu năng lượng hạt nhân bị loại bỏ hoàn toàn.  “Có rất nhiều nghiên cứu xem xét tác động của việc giảm sử dụng than với chất lượng không khí. Nhưng không ai tìm hiểu về chất lượng không khí và điện hạt nhân – nguồn năng lượng cũng đang suy giảm”, Freese nói.  Trong nghiên cứu mới, các tác giả đã sử dụng mô hình điều phối mạng lưới năng lượng do nhà nghiên cứu Alan Jenn ở Đại học California (UC Davis), đồng tác giả nghiên cứu phát triển để đánh giá phản ứng của hệ thống năng lượng ở Hoa Kỳ khi dừng điện hạt nhân. Mô hình mô phỏng hoạt động của tất cả nhà máy điện trên cả nước và chạy liên tục để ước tính nhu cầu năng lượng tại 64 vùng trên toàn quốc theo từng giờ.  Giống như cách vận hành của thị trường điện thực tế, mô hình chọn tăng hoặc giảm sản lượng điện dựa trên chi phí: Các nhà máy điện rẻ hơn sẽ được ưu tiên cung cấp cho lưới điện nhiều hơn so với các nguồn năng lượng đắt tiền.  Nhóm nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu về lượng khí thải và chi phí năng lượng của từng nhà máy trong cả năm cho mô hình. Sau đó, họ chạy mô hình theo các kịch bản khác nhau, bao gồm: lưới điện không có điện hạt nhân, lưới điện cơ sở tương tự hiện nay bao gồm điện hạt nhân, và lưới điện không có điện hạt nhân, kết hợp các nguồn năng lượng tái tạo dự kiến sẽ được bổ sung vào năm 2030.  Ngoài ra, họ cũng kết hợp với một mô hình hóa học khí quyển để mô phỏng sự di chuyển của khí thải ở từng nhà máy trên khắp cả nước, đánh dấu trên bản đồ mật độ dân số. Các nhà nghiên cứu đã tính toán nguy cơ tử vong của những người dân sống trong con đường ô nhiễm này dựa trên mức độ phơi nhiễm.  Phản hồi hệ thống  Nghiên cứu trên cho thấy một mô hình rõ ràng: không có năng lượng hạt nhân, ô nhiễm không khí sẽ tồi tệ hơn, ảnh hưởng chủ yếu đến các khu vực ở Bờ Đông, nơi tập trung phần lớn các nhà máy điện hạt nhân. Khi các nhà máy này đóng cửa, nhóm nghiên cứu thấy hoạt động của các nhà máy nhiệt điện than và khí đốt tăng lên, dẫn đến 5.200 ca tử vong liên quan đến ô nhiễm trên toàn quốc, so với kịch bản cơ sở.  Họ cũng tính toán rằng nhiều người cũng có nguy cơ tử vong sớm do gia tăng phát thải carbon dioxide tác động xấu đến khí hậu. Điều này có thể dẫn đến thêm 160.000 ca tử vong trong thế kỷ tới.  “Chúng ta cần suy nghĩ kĩ càng về việc dừng các nhà máy điện hạt nhân”, Freese nói. “Việc đóng cửa một thứ không trực tiếp phát thải vẫn có thể làm gia tăng lượng khí thải, bởi hệ thống lưới điện sẽ phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện”.  “Điều này có thể đồng nghĩa với việc chúng ta cần triển khai nhiều nhà máy sản xuất năng lượng tái tạo hơn nữa, để lấp đầy lỗ hổng do điện hạt nhân để lại”, Selin cho biết thêm. “Nếu không, chất lượng không khí chắc chắn sẽ suy giảm”.  Nghiên cứu này được hỗ trợ một phần bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ.  Thanh An dịch  Nguồn: https://news.mit.edu/2023/study-shutting-down-nuclear-power-could-increase-air-pollution-0410    Author                .        
__label__tiasang Dòng doanh nghiệp sáng tạo công nghệ kính hiển vi di động phát triển nhanh      Một dòng doanh nghiệp mới đang thử nghiệm  dùng camera gắn trên điện thoại thông minh để chụp ảnh và rà soát các  triệu chứng của các bệnh như đục thủy tinh thể, tiểu đường, ung thư, và  các loại nhiễm trùng.     Họ đang thử nghiệm ở các nước đang phát triển để xem điện thoại thông minh có thể giúp nhân viên y tế chẩn đoán cho bệnh nhân từ xa không.   Thiết bị soi tai Oto  Daniel Fletcher, giáo sư Kỹ thuật Sinh học (Bioengineering) tại Đại học Berkeley, đã tiến hành một dự án cho sinh viên của mình nghiên cứu cách biến camera trên điện thoại thành loại kính hiển vi dùng trong phòng thí nghiệm. Kết quả là họ đã thiết kế được một loại kính hiển vi điện thoại di động.   Trên cơ sở nghiên cứu đó, một công ty khởi nghiệp mang tên CellScope đã ra đời. Họ thiết kế lại máy soi tai truyền thống mà các bác sỹ thường dùng thành một camera đặt tên là Oto, có thể gắn vào iPhone và chụp lại hình ảnh trong ống tai. Thiết bị này không chỉ dành cho bác sỹ mà còn cho cả cha mẹ, y tá ở trường học v.v. để họ có thể kiểm tra nhanh tai của trẻ. Một hạn chế hiện tại là thiết bị này được thiết kế cho iPhone, bởi vậy sẽ khó có thể phổ cập đại trà toàn cầu.   Fletcher và các sinh viên của mình đang tiếp tục nghiên cứu các cách ứng dụng khác của kính hiển vi di động như kiểm tra các bệnh da liễu, sốt rét v.v.   Thiết bị kiểm tra mắt EyeMITRA  Ramesh Raskar, người đứng đầu nhóm nghiên cứu Văn hóa Camera của Phòng Thí nghiệm Truyền thông thuộc Viện Công nghệ Massachusetts, đã cho ra đời thiết bị kiểm tra mắt di động cho các nước đang phát triển từ năm 2011 với tên gọi EyeNetra. Hai năm sau, Raskar thiết kế thêm một công cụ chẩn đoán bằng camera khác là EyeMITRA (thiết bị Mô tả Hình ảnh và Dự đoán Phân tích Võng mạc Di động). Chỉ cần người dùng liếc qua ống kính camera của điện thoại, thiết bị được gắn trên đó sẽ có thể phát hiện bệnh tiểu đường – một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa hàng đầu toàn cầu. Raskar cho biết, với giá thành dự đoán khoảng 20-50 đô-la, thiết bị này hướng tới các nước đang phát triển. Anh cho rằng, các công nghệ cần có giá thành thấp và dễ tiếp cận để có thể giúp được nhiều người hơn.  Thiết bị soi cổ tử cung MobileOCT  Một doanh nghiệp trẻ của Israel là MobileOCT đang hi vọng giúp được gần 500.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung mỗi năm trên thế giới. Họ đã biến camera của điện thoại thành một máy soi cổ tử cung di động, bán với giá 400 đô-la (dụng cụ kiểm tra truyền thống có giá 10.000 đô-la). Dụng cụ này có thể thay thế cho việc xét nghiệm mẫu dịch cổ tử cung và nhắm tới phụ nữ toàn cầu chứ không chỉ ở những nước đang phát triển.   ***  Dòng doanh nghiệp sáng tạo công nghệ kính hiển vi di động đang phát triển nhanh, nhưng cũng còn gặp nhiều trở ngại. Manu Prakash – giáo sư Kỹ thuật sinh học tại Đại học Stanford và là nhà sáng tạo ra kính hiển vi điện thoại Oscan dùng để phát hiện các bệnh khoang miệng – nghi ngại rằng nhiều bộ phận dùng trong điện thoại thông minh không có để áp dụng vào các ứng dụng khác, gây khó khăn cho việc phát triển các ứng dụng mới.  Fletcher cũng nhận thấy khó khăn này. Ông cho biết: “Các ống kính camera điện thoại được thiết kế cho việc chụp ảnh thông thường chứ không phải chụp hình ảnh hiển vi. Nếu chúng được thiết kế cùng với ống kính mà chúng tôi thêm vào để biến điện thoại thành kính hiển vi di động thì chất lượng hình ảnh sẽ tốt hơn rất nhiều.”  Trong khi đó, Raskar đang nỗ lực khuyến khích sáng tạo nhiều hơn từ cấp cơ sở. Ông đang cộng tác với Viện Mắt LV Prasad ở Hyderabad (Ấn Độ) để giúp sinh viên địa phương xây dựng được những giải pháp mới tốt hơn cho ngành chăm sóc mắt. Những sáng kiến có khả năng thương mại hóa sẽ nhận được hỗ trợ từ các nhà cố vấn kinh nghiệm, và nhà sáng chế sẽ được nhận bản quyền.   Khánh Minh dịch theo Forbes.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng hồ chính xác nhất thế giới có thể nói điều gì về trái đất và vũ trụ?      Hãy tưởng tượng, phải mất tới 15 tỉ năm để đồng hồ đặt tại phòng thí nghiệm của Jun Ye ở tầng hầm trường đại học Colorado sai tới một giây – khoảng thời gian tồn tại của vũ trụ.      Với phát minh này, nhà khoa học Mỹ gốc Trung Quốc cùng với đồng nghiệp Nhật Bản Hidetoshi Katori cùng chia sẻ Giải thưởng Breakthrough 2021 dành cho vật lý cơ bản trị giá ba triệu USD.  Làm việc một cách độc lập, các kỹ thuật do cả hai phát triển sử dụng những tia laser để bẫy và làm lạnh các nguyên tử, sau đó khai thác các dao động của chúng để định hướng cái mà người ta gọi là “những đồng hồ tinh thể quang”, thiết bị đo thời gian chính xác bậc nhất mà người ta từng thiết kế.  Có thể so sánh, các đồng hồ nguyên tử hiện tại cứ 100 triệu năm lại sai mất một giây.  Nhưng điều gì đem lại độ chính xác tuyệt vời này?  “Đây thực sự là một thiết bị có thể cho phép anh chứng minh kết cấu cơ bản của không thời gian trong vũ trụ”, Ye nói với AFP.  Trong phòng thí nghiệm của Ye, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ thời gian chuyển động chậm hơn khi đồng hồ được đặt gần hơn với mặt đất bằng một đơn vị vật chất của centimeter, phù hợp với những tiên đoán về hấp dẫn của Einstein.  Ứng dụng công nghệ hiện hành, các đồng hồ đó có thể cải thiện độ chính xác trong định vị của GPS đến phần nghìn hoặc giúp một phi cơ không người lái hạ cánh an toàn xuống sao Hỏa.  Một lược sử ngắn của thời gian  Cải thiện độ chính xác của vật “lưu trữ” thời gian là mục tiêu có từ thời Ai Cập và Trung Quốc cổ đại khi tạo ra những đồng hồ mặt trời.  Một đột phá quan trọng đến với phát minh về đồng hồ pendulum vào năm 1656, vốn phụ thuộc vào vật mang khối lượng dao động, và một vài thập kỷ sau đó chronometers đã chính xác hóa đủ để xác định kinh độ của một con tàu trên biển.  Vào đầu thế kỷ 20, người ta thấy sự tiên tiến của đồng hồ tinh thể thạch anh, vốn cộng hưởng với điện ở những tần số rất đặc biệt hoặc số các tích tắc trong một giây. Các đồng hồ thạch anh được sử dụng phổ biến trong các thiết bị điện tử hiện đại nhưng vẫn còn dễ bị ảnh hưởng đến độ nhạy do quá trình sản xuất hoặc các điều kiện bên ngoài như nhiệt độ.  Bước nhảy vọt tiếp theo trong việc đo đếm thời gian là từ các chuyển động của các nguyên tử bị kích thích, phát triển các đồng hồ nguyên tử, vốn miễn nhiễm với các hiệu ứng của các biến thiên môi trường.  Các nhà vật lý biết rằng một tần số siêu cao sẽ có thể là nguyên nhân khiến các hạt electron quay quanh quỹ đạo của các hạt nhân của một dạng nguyên tử cụ thể nhảy đến một trạng thái năng lượng cao hơn, để chuyển động theo một quỹ đạo ra xa khỏi các hạt nhân.  Các đồng hồ nguyên tử tạo ra một tần số xấp xỉ là nguyên nhân khiến các nguyên tử của nguyên tố Cesium nhảy đến mức trạng thái năng lượng cao hơn.  Sau đó, một máy dò sẽ đếm con số các nguyên tử bị kích thích đó, chấp thuận tần số nếu cần thiết để khiến đồng hồ chính xác hơn.  Đến năm 1967, mỗi giây được xác định như 9.192.631.770 dao động của một nguyên tử Cesium.  Khám phá vũ trụ và trái đất  Các phòng thí nghiệm của Katori và Ye đã tìm kiếm những cách để cải thiện các đồng hồ nguyên tử bằng cách chuyển những dao động tới điểm cuối của phổ điện từ, với những tần số cao hơn một trăm ngàn lần so với những đồng hồ nguyên tử hiện hành – để khiến chúng thêm chính xác.  Họ nhận thấy họ cần một cách bẫy các nguyên tử nay lại – trong trường hợp này là nguyên tử của nguyên tố strontium – và giữ cho chúng ở các mức nhiệt độ siêu thấp để giúp đo đạc thời gian một cách đúng hơn.  Nếu các nguyên tử đều bị ảnh hưởng bởi hấp dẫn hoặc những chuyển động khác, chúng sẽ mất độ chính xác cần thiết và thuyết tương đối có thể là nguyên nhân dẫn đến những hiệu ứng nhiễu trên đồng hồ. Để bẫy các nguyên tử, các nhà sáng chế đã tạo ra một “mạng tinh thể quang” được làm từ các sóng laser chuyển động theo nhưng hướng ngược nhau để hình thành một hình dạng tĩnh giống hộp trứng.  Ye rất vui khi nghĩ đến tiềm năng sử dụng của đồng hồ đặc biệt này, ví dụ như đồng bộ hóa các đồng hồ trên thế giới ở các đài quan sát xuống đến mức độ nhỏ nhất của một giây cũng có thể cho phép các nhà thiên văn học khái niệm hóa các lỗ đen tốt hơn.  Các đồng hồ chính xác hơn có thể rọi ánh sáng mới vào các quá trình địa chất học trên trái đất.  Lý thuyết hấp dẫn nói với chúng ta rằng thời gian chuyển động chậm hơn khi tiếp cận một vật thể có khối lượng lớn, vì vậy một đồng hồ đủ độ chính xác có thể nói với các nhà khoa học sự khác biệt giữa các vật chất đá rắn và nham thạch núi lửa bên dưới lớp bề mặt, giúp dự đoán một đợt phun trào mới. Hoặc thậm chí đo đạc độ khác biệt của các đại dương, hoặc có bao nhiêu nước bên dưới một sa mạc.  Thách thức tiếp theo, Ye nói, sẽ là tinh giản hóa công nghệ này để mang nó ra ngoài phòng thí nghiệm. Các nhà khoa học thừa nhận, nhiều lúc thật khó để có thể giải thích được các khái niệm cơ bản của vật lý với công chúng. “Nhưng khi họ nghe nói về những chiếc đồng hồ, họ có thể cảm nhận được đó là một điều kỳ điệu, họ có thể tạo một kết nối với vật lý và đó thực sự là một phần thưởng cho chúng tôi”, anh nói.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-world-accurate-clock-earth-cosmos.html  https://www.newscientist.com/article/2149568-the-most-precise-atomic-clock-ever-made-is-a-cube-of-quantum-gas/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng hồ đeo tay bằng giấy điện tử      Sony vừa chế tạo một loại đồng hồ đeo tay  làm từ giấy điện tử (e-paper) trong một thử nghiệm sáng kiến sử dụng  loại vật liệu này để sản xuất các sản phẩm thời trang.     Loại đồng hồ đeo tay Fes Watch có kiểu dáng thiết kế tối giản, đơn sắc, mặt và dây đồng hồ đều có mặt hiển thị giấy điện tử và sử dụng mực điện tử – tương tự như công nghệ sử dụng trong các loại sách điện tử như Kindle của Amazon. Điều này cho phép đồng hồ có thể thay đổi giữa một số kiểu dáng mặt và dây.  Tuy thiếu một số tính năng mà các đồng hồ thông minh (smartwatch) hiện nay thường có nhưng bù lại, pin của đồng hồ giấy điện tử này lại bền hơn, có thể lên đến khoảng 60 ngày sử dụng.   Chuyên gia đồ tiện ích công nghệ Stuart Miles của công ty Pocket-lint dự đoán trong năm tới thời trang sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong ngành công nghiệp công nghệ.   Theo tờ Wall Street Journal thì Sony đã chủ ý không làm rầm rộ quá trình phát triển loại đồng hồ này mà giao cho một đơn vị phụ của công ty là Fashion Entertainments phụ trách.   Bộ phận Fashion Entertainments đã triển khai một chiến dịch huy động vốn đám đông để tài trợ cho dự án chế tạo đồng hồ này với hi vọng thu hút sự quan tâm chú ý của cộng đồng tới ý tưởng. Tổng cộng chiến dịch đã thu được 3.5 nghìn yên (30.000 đô-la Mỹ).  Một thành viên dự án nói với báo chí rằng họ đã giấu tên của Sony để kiểm tra giá trị thật của sản phẩm, xem liệu thị trường có thực sự có nhu cầu cho ý tưởng này hay không. Phát ngôn viên của Sony cũng đã khẳng định Fashion Entertainments là một bộ phận thuộc New Business Creation Department (Ban Sáng tạo Kinh doanh Mới) của họ và hiện tại đang thử nghiệm một số sản phẩm giấy điện tử khác như giầy, kính đeo mắt và nơ bướm.  Một điểm yếu của giấy điện từ so với màn hình tinh thể lỏng là sự thiếu hụt một số tính năng do khả năng hiển thị hạn chế của giấy điện tử. Tuy vậy, ông Miles dự đoán đây sẽ không phải là một hạn chế quá lớn cho các sản phẩm công nghệ thời trang làm từ giấy điện tử. Trên thị trường hiện nay, loại đồng hồ thông minh Pebble đang rất được ưa chuộng cũng sử dụng loại giấy điện tử này.  Sony chưa công bố cụ thể ngày tung ra thị trường sản phẩm Fes Watch.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Động lực của cảng biển miền Trung      Đã từng có ý kiến cho rằng, phát triển “ồ ạt” hệ thống cảng biển miền Trung sẽ là động lực để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH những khu vực lạc hậu, chậm phát triển; thậm chí sẽ cho ra đời những cụm đô thị, chuỗi đô thị và thậm chí các đại đô thị hình thành như những trục liên kết giữa các cảng biển. Thực tế đã chứng minh ngược lại: Phải có động lực trước, các thương cảng mới phát triển. Khi không còn động lực, thương cảng sẽ lụi tàn, và phố thị cũng sẽ không còn lý do để tồn tại.    Rất nhiều năm nay phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu ở miền Trung buộc phải mang hàng của mình vào thành phố Hồ Chí Minh hoặc ra Hải Phòng. Họ không thể sử dụng cảng biển ở địa phương mình vì một lý do rất ngược đời là thời gian vận chuyển kéo dài, phí vận chuyển cao. Cụ thể để xuất một container 20 feet đến Osaka (Nhật) thông qua cảng Đà Nẵng, thời gian vận chuyển chậm hơn từ 7 đến 10 ngày, chi phí cao hơn từ 35 đến 45 USD (chưa tính chi phí vận chuyển bằng đường bộ) nếu so với việc xuất container đó từ cảng Sài Gòn. Bất hợp lý này đến nay vẫn chưa khắc phục được xuất phát từ thực trạng năng lực sản xuất cũng như thị trường miền Trung quá nhỏ lẻ, dẫn đến hệ quả là các thương cảng luôn luôn đói hàng. Cảng Sài Gòn, thương cảng lớn nhất nước, cũng chưa phải lúc nào cũng đủ hàng. Những chuyến hàng xuất qua cảng này thông thường vẫn phải ngược xuống cảng Singapore để gom hàng hoặc chuyển hàng qua những đội tàu lớn hơn trước khi thực hiện hải trình lên Đông Bắc Á.  Ông Ngô Lực Tải, Phó Chủ tịch Hội khoa học biển TPHCM nhận định: “Khó khăn ở chỗ là sự phân bố giữa các vùng và khu vực lại không đồng đều. Các cảng phía Bắc chiếm 25-30% khối lượng vận tải nên công suất vẫn còn thừa. Các cảng miền Trung chiếm 13% khối lượng, đang ở tình trạng thiếu hàng hóa, chỉ sử dụng một phần công suất. Còn các cảng phía Nam chiếm 57% khối lượng vận chuyển, riêng về container đến 90% khối lượng, hiện đang ở tình trạng quá tải”. Phân bố cảng như trên dẫn đến tình hình: nói “đủ” cũng được, nói “thiếu” cũng dễ nghe, nói “thừa” cũng không sai.  Không có được động lực bền vững như cảng Hải Phòng hay Sài Gòn, việc quy hoạch những cảng biển miền Trung có lẽ ít nhất phải đáp ứng được hai yêu cầu. Thứ nhất, đó phải là cảng biển nước sâu. Thời cơ dành cho những cảng cơ khí thay thế cho cảng thuyền buồm đã qua rồi, cảng biển VN với trang thiết bị lạc hậu, không đủ độ sâu đáy nước nên không đủ khả năng tiếp nhận tàu biển quốc tế vận tải cỡ lớn. Với năng lực tiếp nhận các tàu trọng tải từ 8 đến 12 nghìn DWT hoặc tàu chở container từ 5 đến 7 nghìn TEUs, cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn đã trở nên lạc hậu so với các cảng trung chuyển quốc tế trong khu vực như Singapore, Hong Kong, Kaohsiung, Laem Chabang… Việc chọn các cảng biển nước sâu như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội,Vân Phong… đều có thể phù hợp, nhưng khai thác như thế nào cho hiệu quả vẫn còn là một câu hỏi lớn với những phác thảo mờ mịt. Dễ nhận thấy nhất trong vấn đề phát triển cảng biển chính là sự bị động của đội tàu biển nội địa. Hiện nay trong toàn bộ khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của VN, thị phần cung ứng của đội tàu nội địa chỉ chiếm chưa tới 13%, phần còn lại thuộc về các hãng tàu lớn trên thế giới với một mạng lưới hùng hậu tàu container chuyên đi gom hàng. Nếu không cải thiện được năng lực của đội tàu nội địa, không có gì bảo đảm các cảng nước sâu của VN có thể cạnh tranh được với những cảng trung chuyển khác trong khu vực. Vì sao vậy? Vì thời buổi này, làm ăn ở đâu cũng cần phải có đối tác. Mình không ngang tầm, ai làm đối tác với mình? Và đó cũng là lý do có yêu cầu thứ hai.  Thứ hai, cần phải có một cơ chế phù hợp dành cho những cảng biển quốc tế trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Cơ chế này chính là điều kiện cần thiết để bù đắp cho việc thiếu các yếu tố mang tính động lực của các cảng biển miền Trung. Để cho dễ hiểu, xin dẫn chứng kinh nghiệm từ nước Mỹ. Chính quyền G. Bush mới đây đã gây ra nhiều luồng dư luận khác nhau ở chính nước này với việc trao quyền kiểm soát 6 thương cảng quan trọng tại các thành phố lớn như New York, Baltimore, Philadelphia… cho một công ty thuộc sở hữu của chính phủ Các tiểu vương quốc ẢRập thống nhất (UAE), Công ty Dubai Ports World. Thật ra trước đó quyền điều hành 6 thương cảng nói trên thuộc một công ty của Anh, Công ty Hàng hải Hơi nước Peninsular and Oriental (P&O). Trong thương vụ chuyển nhượng P&O cho Dubai P.W mặc dù có bao gồm cả quyền quản lý 6 thương cảng, nhưng vấn đề vẫn là nước Mỹ có gật đầu hay không. Theo một số chuyên gia phân tích, ngoài nguyên nhân chính trị, thì động lực lớn đứng sau quyết định “dũng cảm” này của Nhà Trắng chính là Dubai, gương mặt tiêu biểu trong số 7 tiểu vương quốc thuộc UAE, với thương cảng Dubai đang là ngôi sao sáng, thiên đường mua sắm của thế giới và là điểm trung chuyển gần như chưa thể thay thế giữa châu Á với châu Âu. Đến những thương cảng lớn của nước Mỹ mà vẫn phải cần đến động lực duy trì phát triển, thì yêu cầu đó đối với các cảng biển VN chắc là không thừa.  Những thương cảng lụi tàn  Trước khi thương cảng Hội An (Quảng Nam) đạt đến thời cực thịnh trong thế kỷ 17-18, thì trước đó rất lâu (từ thế kỷ 2 sau Công nguyên), vùng đất này thuộc địa bàn phân bố của văn hóa tiền Sa Huỳnh và là một cảng thị trọng yếu của Champa (từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 15). Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian khá dài, Chiêm cảng Lâm ấp Phố, tên gọi của Hội An trong thế kỷ 9-10, đóng một vai trò quan trọng trong việc kết nối kinh thành Trà Kiệu với thế giới bên ngoài. Những phế tích móng tháp, giếng nước và những pho tượng Chăm (vũ công Thiên tiên Gandhara, thần tài lộc Kubera, voi thần…) cùng những mảnh gốm sứ Trung Quốc, Đại Việt, Trung Đông có niên đại thế kỷ 2-14 được lấy lên từ lòng đất khu di tích đền tháp Mỹ Sơn càng làm sáng tỏ một giả thiết rằng trước Hội An (thời ÐĐại Việt), từng tồn tại một Chiêm cảng với nhiều thương thuyền Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm mà đích đến chính là với kinh thành Trà Kiệu.  Thương cảng Thanh Hà (Huế) đã từng góp phần vào lịch sử thương mại Việt Nam và tiến trình phát triển đô thị thời phong kiến trong 3 thế kỷ (1636-1945). Thanh Hà là cửa ngõ thông thương với nước ngoài, nơi triều đình nhà Nguyễn độc quyền mua bán xuất nhập khẩu. Mỗi năm triều đình trưng dụng hàng trăm chiếc thuyền chở gạo từ Đồng Nai, Gia Định ra cung cấp cho dinh phủ Phú Xuân và bán cho nhân dân Thuận Hóa, cùng nhiều mặt hàng thủ công như gốm, dệt, đúc đồng. Chưa hết, một thị trường mua bán vũ khí nóng bỏng đã diễn ra ở thương cảng Thanh Hà khi cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn đạt đến đỉnh điểm (1627-1672). Cùng với vũ khí là các mặt hàng cao cấp phục vụ cho dinh phủ của chúa cũng như các quan lại. Đây mới là lý do để thương cảng Thanh Hà ra đời và phát triển một cách thuận lợi. Việc những thương nhân Trung Hoa ào ạt nhập cư vào Đàng Trong nhờ chính sách mở cửa của chúa Nguyễn, vào Thanh Hà di trú lập phố buôn bán chỉ bắt đầu từ giữa thế kỷ 18. Song chưa tới một thế kỷ sau, ngọn triều thương mại qua đi, Thanh Hà trở lại với tiền kiếp một làng quê nghèo.  Thương cảng Phố Hiến (Hưng Yên) là một minh chứng nữa. Thế kỷ 16-17, tư bản phương Tây theo đường biển bắt đầu mở rộng thị trường sang phương Đông. Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan đến nước ta ngày càng nhiều và mục tiêu của họ ở Đàng Ngoài chính là kinh thành Thăng Long. Tuy nhiên chúa Trịnh lại chủ trương ngăn cấm việc ra vào tự do của ngoại kiều ở kinh đô. Các thương nhân nước ngoài đến buôn bán phải dừng lại ở bến đảo Vân Đồn ngoài biển, rất xa Thăng Long. Năm 1663, Trịnh Tạc đã ra lệnh khu biệt người Hoa không cho ở lẫn với người Việt Nam. Năm 1717 Trịnh Cương quy định những người Hoa mới sang bằng đường thủy thì cư trú ở Lai Triều (thị xã Hưng Yên ngày nay). “Vào thời điểm này Phố Hiến là nơi dừng lại của tất cả các thuyền bè nước ngoài từ bốn phương đến buôn bán ở Đàng Ngoài” (An Nam ký du của Phan Đình Khuê, viết năm 1688). Không có chủ ý nào cả nhưng các chúa Trịnh đã tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú ngày càng đông ở Phố Hiến, mục đích là để khai thác việc kết nối giao thương giữa Thăng Long với thế giới bên ngoài. Nói cách khác, nếu không có Thăng Long và lệnh cấm của chúa Trịnh, sẽ không bao giờ có thương cảng Phố Hiến. Và khi bị thay thế bởi thương cảng Hải Phòng, hào quang của thứ nhì Phố Hiến (thứ nhất kinh kỳ) chỉ còn tồn tại trên sử sách.  ——–  CHÚ THÍCH ẢNH: Thời gian vận chuyển và chi phí bốc dỡ của cảng Đà Nẵng còn bất hợp lý      Hải Văn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng nghiên cứu – Người dân tự làm được những gì?      Trở thành người nghiên cứu về chính mình, các nhóm dân tộc thiểu số có thể làm thay đổi mối quan hệ “quyền lực” trong nghiên cứu và đưa ra những gợi ý chính sách, hay thậm chí tham gia thiết kế chính sách phát triển?      Người dân tự xác định vấn đề nghiên cứu, thực hiện thu thập thông tin và công bố. Trong ảnh: Nhóm đồng nghiên cứu đang thực hiện phỏng vấn anh Vi Xuân Toòng – người cùng xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn về việc hỗ trợ giống keo. ​  Lợi thế của sự thấu hiểu  Trước nay, nghiên cứu xã hội là vùng “đặc quyền” của các nhà nghiên cứu được đào tạo bài bản, còn người dân là đối tượng được nghiên cứu. Trong khi đó, đồng nghiên cứu (co-researcher) – phương pháp mới được các nhà nghiên cứu phát triển đề xuất, sẽ thay đổi mối quan hệ này: người dân đóng vai chính trong xác định chủ đề nghiên cứu, thu thập thông tin, tổng hợp, phổ biến và sở hữu kết quả nghiên cứu, còn nhà nghiên cứu lúc này chỉ là người hướng dẫn. Quan trọng hơn, sau khi nhà nghiên cứu rút đi, người dân sẽ vẫn tiếp tục nghiên cứu mà không cần sự hỗ trợ bên ngoài. Phương pháp này được kỳ vọng là sẽ giúp người dân tăng cường năng lực, tự phân tích được chính sách và đưa ra các kiến nghị chính sách với các cấp chính quyền (thông qua nhiều kênh: báo cáo, tổ chức hội thảo). Phạm vi ứng dụng của phương pháp này tương đối rộng, tất cả các dự án nghiên cứu phát triển xã hội đều có thể sử dụng, nhằm thúc đẩy tiếng nói của người dân, trở thành nguồn thông tin cho việc hoạch định chính sách gần gũi với thực tiễn hơn.   Tuy nhiên, khi Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội, Môi trường (iSEE) đưa ra ý tưởng về đồng nghiên cứu thì “nhiều nhà nghiên cứu rất nghi ngờ tính khả thi, họ đều nghĩ làm nghiên cứu phải rất hàn lâm, còn những người dân, thậm chí không biết chữ thì làm nghiên cứu kiểu gì?”, chị Lương Minh Ngọc, Viện trưởng iSEE chia sẻ với chúng tôi.  Những nghi ngờ đó có thể sẽ tan đi, khi Mạng lưới Tiên phong vì tiếng nói người dân tộc thiểu số tự tổ chức hội thảo “Nghe từ lòng dân”, vào giữa tháng 10 vừa qua tại Hà Nội, nhằm công bố một nghiên cứu đánh giá chính sách giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số. Tôi cũng như nhiều người tham dự đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.   Hội thảo bắt đầu với những thành viên nòng cốt của Mạng lưới Tiên phong vì tiếng nói người dân tộc thiểu số từ Lạng Sơn, Thái Nguyên cho tới Sóc Trăng… tự giới thiệu về nhóm  trong tiếng đàn ta lư vui tươi của Kray Sức đến từ Quảng Trị. Rồi những thước phim ngắn khoảng 10 – 15 phút do người dân tự kể về quá trình nghiên cứu của họ cho thấy, từ quá trình thiết kế, tiến hành nghiên cứu cho đến cách tiếp cận, đặt câu hỏi cho những thành viên khác trong cộng đồng của những nhà nghiên cứu nghiệp dư này thực sự “có nghề”. Chẳng hạn, một nhóm nghiên cứu người Tày tìm hiểu quá trình cấp giống cây keo cho các hộ nghèo ở xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn. Không một câu hỏi mang tính áp đặt quan điểm hay gợi ý sẵn nội dung nào từ phía người hỏi, còn chia sẻ của người trả lời thực lòng, không e dè. Chị Nguyễn Thị Luyện trả lời: “Tôi muốn lấy keo hạt nhưng họ lại cho giống keo hom. Khi lên nhận cây, tôi có hỏi lý do, nhưng chị cán bộ xã bảo ‘sao hỏi nhiều thế, được cây gì thì trồng cây đó’, nhà tôi bực lắm, nhưng ‘không nói gì được, vì nó là cán bộ mình là dân không thể nói lại được’”. Những câu chuyện khác như cấp máy cắt cỏ cho hộ gia đình… không có cỏ và cuối cùng trở thành cục sắt gỉ, hay cấp phân cho hộ gia đình… không có đất canh tác cũng lần lượt được kể. Tự người dân phân tích rất rành rọt cặn kẽ những bất cập như chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp không phù hợp với điều kiện canh tác, lãng phí, thiếu minh bạch trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo ở thôn và đề xuất các phương án đồng tổ chức, tự giám sát chương trình nhằm tiết kiệm, minh bạch hóa và đảm bảo hiệu quả.      Các nhà nghiên cứu hướng dẫn chứ không áp đặt chủ đề nghiên cứu, không làm thay, làm hộ mà phải chấp nhận hệ thống tri thức bản địa, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nghiên cứu viên cộng đồng.      Đánh giá về nghiên cứu của nhóm, TS Phạm Quỳnh Phương (Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) cho biết, “năm 2010 chúng tôi có báo cáo đánh giá Chương trình giảm nghèo 135 giai đoạn hai, nhưng bây giờ chúng tôi thấy phải học các anh chị rất nhiều. Hồi đó chúng tôi có đề cập đến những vấn đề của các anh chị nói hôm nay nhưng không chạm được đến tâm can như thế này”. Bởi vì người dân có một lợi thế mà không một nhà nghiên cứu khoa học xã hội nào có được – thời gian để tương tác và “thấu hiểu” cộng đồng. Trong khi một nghiên cứu nhân học đòi hỏi phải ở khu vực thực địa một năm, đủ chu kỳ 4 mùa, thì các nhà nhân học Việt Nam hiện nay hầu như rất ít khi dành nhiều thời gian như vậy.  Nhà nghiên cứu chuyên nghiệp: đồng hành chứ không áp đặt  Mạng lưới Tiên phong dưới sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của các tổ chức của các đơn vị gồm iSEE, Cơ quan Viện trợ Ireland (Irish Aid), Tổ chức CARE Quốc tế, Trung tâm nâng cao năng lực cộng đồng (CECEM) đã được tham gia nhiều khóa tập huấn về nâng cao năng lực cộng đồng từ khoảng 10 năm nay. Trong đó, các anh chị đã thực hiện nhiều hoạt động tìm hiểu, sưu tầm và quảng bá về tri thức bản địa. Kể từ năm 2014, khi Viện iSEE cùng một số đối tác bắt đầu triển khai chương trình đồng nghiên cứu thì thành viên của Mạng lưới Tiên phong được tập huấn về phương pháp này.  Chính người dân “hiểu con đường, từng mạch nước” quê hương đã có đủ khả năng xác định đúng vấn đề của chính mình. Cái họ cần là cung cấp một bộ công cụ, phương pháp xác định mà thôi. Lúc này, các nhà nghiên cứu “bên ngoài” cộng đồng đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc các tổ chức phát triển vốn có kiến thức về lý thuyết, phương pháp thu thập và phân tích thông tin sẽ là người chuyển tải các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu cho nghiên cứu viên cộng đồng. Cụ thể, các công việc của nhà nghiên cứu chuyên nghiệp lúc này là: Xây dựng năng lực -Tập huấn cho nghiên cứu viên cộng đồng về phương pháp nghiên cứu;  Tư vấn và hướng dẫn -Hướng dẫn với các tình huống cụ thể khi thu thập và phân tích thông tin; Kết nối: Kết nối nghiên cứu viên cộng đồng với những người có chuyên môn trong chủ đề nghiên cứu mà cộng đồng lựa chọn. Tùy thuộc vào mục đích của dự án đồng nghiên cứu mà nhà nghiên cứu ngoài cộng đồng có thể tham gia hoặc không tham gia vào quá trình thu thập và phân tích thông tin.  Các nhà nghiên cứu viên bên ngoài cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc không áp đặt chủ đề nghiên cứu, không làm thay, làm hộ công việc của nghiên cứu viên cộng đồng, mà phải chấp nhận hệ thống tri thức bản địa, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nghiên cứu viên cộng đồng.  Nhờ quy trình này, Mạng lưới Tiên phong đã xây dựng được một dự án nghiên cứu bài bản và các kết quả được kể trong câu chuyện trên mới chỉ là một phần rất nhỏ trong nghiên cứu của 51 thành viên nòng cốt của Mạng lưới tiên phong trong 3 tháng, tại các vùng ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách giảm nghèo ở 10 tỉnh khác nhau nhằm xây dựng một báo cáo nhằm đánh giá giữa kỳ Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Nhóm đang tiếp tục hoàn thiện dự thảo báo cáo, nhưng hai vấn đề căn bản nhất đã được đưa ra thảo luận: Quan niệm “Nhà nước cho”, “của Nhà nước” vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở cả người triển khai, thực thi chính sách và người tiếp nhận chính sách là không phù hợp và trở thành một rào cản lớn đối với việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường của người dân; Người dân sẽ đề xuất các phương án để người dân phát huy nội lực, tinh thần trách nhiệm của cộng đồng.  Chẳng hạn, trong hội thảo “Nghe từ lòng dân”, anh Giàng A Của, đến từ Sa Pa, Lào Cai cho biết, nhóm đồng nghiên cứu tại đây đã cùng tổ chức đánh giá những vấn đề của các điểm trường cho học sinh và tự phân công thay phiên nhau đến nấu cơm hàng ngày cho các điểm trường. Và Mạng lưới Tiên phong đều cho rằng, người dân đủ khả năng quản lý các dự án phát triển với mức độ kỹ thuật không quá phức tạp, mức đầu tư tài chính không quá lớn ở cấp thôn, cấp xã.  “Tôi tin vào nội lực của cộng đồng, vì những cộng đồng tồn tại qua nhiều thăng trầm trong lịch sử thì nội lực của họ rất mạnh mẽ. Vậy thì chúng ta làm sao để tăng thêm cái nội lực ấy thay vì làm suy yếu nội lực đó”, TS. Phạm Quỳnh Phương nhấn mạnh. ¨       Author                Bảo Như        
__label__tiasang Dòng sản phẩm sứ nhà hàng, khách sạn hạn chế chất tẩy rửa      Mới đây, Công ty Minh Long I đã đưa ra thị  trường dòng sản phẩm chuyên dụng dành cho nhà hàng, khách sạn có khả  năng hạn chế bám bẩn, giúp tiết kiệm thời gian và chất tẩy rửa.    Dòng sản phẩm này mang thương hiệu LY’S HORECA (ghép từ ba từ HOtel, REstaurant và CAtering), được nung ở nhiệt độ cao và phủ men siêu mịn bằng công nghệ nano, nhờ vậy có bề mặt men láng bóng, hạn chế tối đa hiện tượng bám bẩn, đồng thời có tính chất siêu cứng  và chịu được độ sốc nhiệt lớn. Bên cạnh đó, sản phẩm cũng an toàn cho sức khỏe người sử dụng vì không chứa chì và cadimium.  Theo ông Lý Huy Sáng, Phó Tổng giám đốc Công ty Minh Long I, LY’S HORECA được sản xuất với công nghệ tự động hóa cao hơn so với các dòng sản phẩm khác của công ty để có giá cả hợp lý.  Ông cũng cho biết, LY’S HORECA có màu trắng ngà ấm áp nhờ công nghệ nung đặc biệt là bí quyết và kết quả nghiên cứu nhiều năm qua của công ty. “Thiết bị là của Đức, còn bí quyết nung là của chúng tôi,” ông Sáng tự hào nói.  Mặc dù công năng và kiểu dáng của LY’S HORECA được thiết kế theo nhu cầu của nhà hàng, khách sạn nhưng theo ông Sáng, dòng sản phẩm này cũng rất phù hợp sử dụng trong gia đình, với giá thấp hơn các dòng sản phẩm gia dụng khác của công ty từ 10-30%.  Sau tám năm nghiên cứu, LY’S HORECA đã chính thức ra mắt hồi tháng Mười năm nay, với 250 mã hàng mang nhiều kiểu dáng Âu, Á khác nhau nhưng chỉ một màu trắng ngà và không hoa văn.   Theo một khảo sát của Tia Sáng, hằng năm Minh Long I đầu tư 3% doanh thu cho R&D và trên 70% nội dung R&D là do công ty tự làm lấy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng sở hữu tác phẩm nghệ thuật: Xu hướng mới của các bảo tàng?      Phương thức mới này sẽ giúp các bảo tàng nghệ thuật đủ sức xoay sở trong nguồn ngân sách eo hẹp của mình. Tuy nhiên, đi kèm với đó, các bảo tàng sẽ phải bỏ ‘cái tôi’ của mình sang một bên để chia sẻ quyền sở hữu và sắp đặt tác phẩm với các tổ chức khác.        Đầu năm nay, Dia Art Foundation và Bảo tàng Mỹ thuật Houston cùng mua lại tác phẩm khổng lồ Double Merge (1968) của Sam Gilliam. Tác phẩm hiện được trưng bày tại Dia:Beacon. Ảnh: Bill Jacobson studio       Khách đến tham quan bảo tàng Dia:Beacon không mất nhiều thì giờ để mê mẩn tác phẩm trừu tượng với màu sắc rực rỡ Double Merge (1968) của Sam Gilliam, một tấm vải bạt khổng lồ đổ xuống như thác nước từ trần nhà. Bảo tàng đã mượn tác phẩm này từ một nhà sưu tập tư nhân và trưng bày nó cách đây hai năm. “Khách tham quan của chúng tôi say mê tác phẩm”, giám đốc Dia Art Foundation – và cũng là người đứng đầu bảo tàng, Jessica Morgan, cho biết, “Với những tác phẩm trong Dia:Beacon, một khi bạn sắp đặt chúng, bạn sẽ nhận ra rằng chúng đang mở ra những cánh cửa và con đường cho tiềm năng của bộ sưu tập, ngoài ra bạn còn chứng kiến mối quan hệ giữa các tác phẩm – điều mà trước đây bạn chưa từng tưởng tượng ra. Chúng tôi càng nóng lòng hơn mỗi khi nghĩ về việc ‘làm sao có thể đưa tác phẩm này vào bộ sưu tập?’”. Tác phẩm của Gilliam đã tăng lên hàng triệu đô trong vài năm qua, một con số quá cao đối với hầu hết các bảo tàng, nhất là khi ngân sách của họ vô cùng khiêm tốn.     Tuy nhiên, vào tháng 3 vừa qua, công chúng đã sửng sốt khi biết tin Dia đã mua được tác phẩm – bằng một cách thú vị: họ mua chung với một tổ chức cách đó gần 1.700 dặm, Bảo tàng Mỹ thuật Houston (MFAH). Với phương thức này, tác phẩm sẽ được trưng bày ở Houston vào năm tới, và sau năm năm, nó sẽ trở lại Beacon.      Năm vừa qua là một năm khó khăn đối với các bảo tàng. Hàng loạt bảo tàng đã lâm vào tình cảnh khó khăn về mặt tài chính và cuối cùng phải đóng cửa, cắt giảm nhân sự. Vào tháng 6 vừa qua, Liên minh các Viện bảo tàng Hoa Kỳ đã công bố kết quả một cuộc khảo sát, ước tính rằng các cơ sở nghệ thuật Hoa Kỳ sẽ mất “nhiều năm” để phục hồi sau cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu; cuộc khảo sát cũng tiết lộ rằng 56% đã đưa ra thông báo cắt giảm hoặc sa thải nhân sự kể từ tháng 3 năm 2020.      Đồng thời, các bảo tàng đang có một nhu cầu cấp thiết đó là mua lại các tác phẩm của những nữ nghệ sĩ và nghệ sĩ da màu – nhằm đa dạng hóa tác phẩm, từ đó phản ánh tốt hơn toàn bộ phạm vi lịch sử nghệ thuật. Tuy nhiên, nhiều nghệ sĩ trong số đó, như Gilliam, đã trở thành mục tiêu săn lùng giữa các nhà sưu tập tư nhân. “Việc mua lại những tác phẩm lớn ngày càng khó, vì giá cả đã đạt đến mức mà chỉ một số nhà sưu tập tư nhân mới trả nổi”, Morgan chia sẻ. Một số bảo tàng đã chuyển sang nhượng quyền tác phẩm, chẳng hạn như Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco đã bán một tác phẩm của Mark Rothko vào năm 2019 để mua các tác phẩm của Mickalene Thomas, Frank Bowling, Leonora Carrington và nhiều nghệ sĩ khác. Nếu các bảo tàng có thể giải quyết được một số vấn đề hậu cần thì việc mua chung có thể là một phương án hợp lý giúp họ thêm các tác phẩm mới vào bộ sưu tập của mình mà vẫn xoay sở được với nguồn ngân sách eo hẹp.      “Tôi nghĩ đồng sở hữu là một ý tưởng tuyệt vời”, giám đốc MFAH Gary Tinterow nói. Các tổ chức nghệ thuật phải “cung cấp cho công chúng những trải nghiệm thị giác phong phú nhất, tốt nhất, đa dạng nhất và thú vị nhất. Đó là công việc của chúng tôi. Và có ba cách để làm điều đó: sở hữu các tác phẩm nghệ thuật, mượn các tác phẩm nghệ thuật, cùng sở hữu các tác phẩm nghệ thuật.” Theo ông, Double Merge là “một trong số những nỗ lực đáng chú ý của bảo tàng” nhằm có được nhiều tác phẩm hơn của những nghệ sĩ da màu.      “Đó có vẻ như là một phương án tuyệt vời đối với tất cả các tổ chức”, Morgan nói. “Quan trọng là chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng các tác phẩm, tôi nghĩ sẽ thật đau khổ khi có những tác phẩm không bao giờ được đưa ra ngoài ánh sáng vì bất kỳ lý do gì. Nhìn chung, đây có vẻ là một hướng đi đầy cấp tiến và nó chắc chắn sẽ là xu hướng tương lai trong việc xây dựng bộ sưu tập.”      Khó khăn dồn dập     Thực chất, việc mua chung hiện vật trưng bày đã diễn ra từ đầu thế kỷ 20, nhưng thường là với các hiện vật khảo cổ học. Nó chỉ được áp dụng với lĩnh vực nghệ thuật hiện đại và đương đại trong thời gian gần đây, và đến thế kỷ 21 thì nó thậm chí còn mở rộng sang các hình thức hợp tác quốc tế. Năm 2003, Bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Whitney ở New York, Phòng trưng bày Tate ở London, và Trung tâm Compidou ở Paris đã cùng mua lại video tác phẩm sắp đặt Five Angels for the Millennium (2001) của Bill Viola. Các bảo tàng châu Âu, vốn không nhận được sự hỗ trợ từ khu vực tư nhân như các viện nghệ thuật ở Mỹ, có thể dễ dàng mua các tác phẩm nghệ thuật hơn; bên cạnh tiền mua, các cơ sở cũng chia sẻ các chi phí liên quan đến việc duy trì và lưu trữ hệ thống lắp đặt quy mô lớn.         Năm 2003, Bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Whitney ở New York; Phòng trưng bày Tate ở London và Trung tâm Pompidou ở Paris cùng mua bản video tác phẩm sắp đặt Five Angels for the Millennium (2001) của Bill Viola. Ảnh: Kira Perov/ Bill Viola Studio    “Đây là một bước ngoặt đối với các bảo tàng ở New York, vì nó đã mang lại cơ hội được sở hữu một tác phẩm có độ phức tạp cao, quy mô lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức để sắp đặt”, Maxwell Anderson, người khởi xướng vụ mua chung, lúc bấy giờ là giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Whitney, cho biết.      Thoạt nghe có vẻ phức tạp, nhưng theo Anderson, “quyền đồng sở hữu không hề rủi ro hơn so với các hợp đồng được ký kết một cách lặng lẽ và đầy miễn cưỡng của các bảo tàng trên toàn quốc”. Tuy vậy, kể từ tác phẩm của Bill Viola trở đi, “chúng tôi đã chứng kiến một số nơi cũng nỗ lực tiến hành các thỏa thuận đồng sở hữu, nhưng đều không thành công. Giám đốc MFAH Gary Tinterow cho rằng “một trở ngại lớn đối với các tổ chức là quyền kiểm soát” – vì các bên tham gia thương vụ mua chung không có quyền đơn phương bán hoặc trưng bày một tác theo ý muốn. Viễn cảnh bị hạn chế quyền tác động và sở hữu tác phẩm khiến các bảo tàng mất hứng và không muốn ký kết thỏa thuận mua chung. (Trên thực tế, vào thời điểm mua tác phẩm của Viola, Kathy Halbreich, lúc đó là giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Walker ở Minneapolis, đã chia sẻ với New York Times rằng “những ngày này không ai trong chúng tôi có đủ khả năng để tự lực”, vì vậy “chúng tôi chỉ cần đặt cái tôi của mình sang một bên”.)     Những yếu tố khác cản trở các thỏa thuận đồng sở hữu giữa bảo tàng đều rất thực tế. Đối với các tác phẩm phức tạp như Double Merge của Gilliam hay bất kỳ hiện vật nào, vận chuyển càng nhiều lần thì mức độ rủi ro càng gia tăng. Ngoài ra, các bên mua chung còn phải đối diện với những vấn đề về bảo quản, lưu trữ, đơn xin cho vay và các vấn đề phức tạp về pháp lý khác. Paul Martineau, giám tuyển khu trưng bày nhiếp ảnh tại Bảo tàng Getty ở Los Angeles – nơi đã bổ sung thêm hơn 2.000 tác phẩm của Robert Mapplethorpe vào bộ sưu tập của mình, cho rằng đồng sở hữu là một phương án hợp lý đối với các tổ chức muốn mua một tác phẩm “hoàn toàn ngoài tầm với, nhưng nó cũng kéo theo những khó khăn về mặt hậu cần”, ông lưu ý. “Và đôi khi nó là yếu tố lớn cản trở thỏa thuận hợp tác.”      Cố vấn cho các tổ chức văn hóa, András Szántó, cho rằng một bất lợi nữa là các bảo tàng vẫn chưa quen với việc đồng sở hữu tác phẩm, dù rằng “hoạt động này mang lại các lợi ích về ngân sách, khả năng trưng bày, lưu trữ và bảo quản các tác phẩm.”      Theo ông, “các bảo tàng đã có những cơ chế rõ ràng cho việc mượn tác phẩm và tổ chức triển lãm lưu động, nhưng phương thức đồng sở hữu thì vẫn còn khá mới mẻ, mà các bảo tàng thì lại không quen thử nghiệm những cách thức mới”. Đối với các bảo tàng, “bất cứ điều gì chưa từng có trong tiền lệ hoặc không phù hợp với cơ chế thì sẽ đều trở thành thách thức. Tôi nghĩ, nhìn chung mọi người sẽ nhất trí rằng việc đồng sở hữu là một ý tưởng hay, tuy nhiên việc thực hiện thì lại quá phức tạp, rắc rối – và điều đó khiến mọi người nản lòng.”      Tương lai bỏ ngỏ     Bất chấp việc nhiều bảo tàng không mấy mặn mà với việc đồng sở hữu tác phẩm, thập kỷ qua vẫn chứng kiến nhiều thương vụ mua chung đáng chú ý. Vào năm 2013, Viện bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan ở New York và Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco cùng mua lại tác phẩm sắp đặt đa phương tiện The Refusal of Time (2012) của William Kentridge; và vào năm 2016, SFMOMA và Bảo tàng Nghệ thuật Dallas đã hợp tác để cùng mua tác phẩm Large Rod Series: Circle/Rectangle, 5, 7, 9, 11, 13 (1986) của Walter De Maria.          Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York và Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco đã cùng mua lại tác phẩm sắp đặt đa phương tiện The Refusal of Time (2012) của William Kentridge vào năm 2013. Ảnh: AP/ Doug Peters.    Và những thương vụ đồng sở hữu không chỉ giới hạn ở các tác phẩm nghệ thuật. Vào năm 2020, Bảo tàng Nghệ thuật Harvard ở Cambridge, Massachusetts và Bảo tàng Georgia O’Keeffe ở Santa Fe, New Mexico, đã cùng nhau mua lại 20 dạng màu bột – bao gồm cả các sắc độ của màu đen và màu chàm mà O’Keeffe đã sử dụng. Họ đã mua lại những lọ màu này tại buổi đấu giá Sotheby’s New York vào mùa xuân năm ngoái với giá khoảng 56.000 USD. Narayan Khandekar, giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Nghiên cứu Kỹ thuật Straus và là chuyên gia bảo tồn tại Bảo tàng Nghệ thuật Harvard, cho biết chúng sẽ giúp các chuyên gia nghệ thuật hiểu rõ hơn về quá trình sáng tác của O’Keeffe. .      Đây là một phần trong nỗ lực hợp tác nghiên cứu giữa hai bảo tàng, họ sẽ sử dụng những mẫu vật liệu nhỏ vào mục đích nghiên cứu khoa học. Khandekar ví thỏa thuận với Bảo tàng O’Keeffe là “quyền đồng bảo hộ”, và việc quản lý các lọ bột màu sẽ phụ thuộc vào việc tổ chức nào giữ chúng trong thời điểm ấy.        Georgia O’Keeffe đã bảo quản các lọ bột màu của mình trong một chiếc thùng gỗ. Trong hình là một số lọ bột màu đã được Bảo tàng Nghệ thuật Harvard chọn lọc trong bộ sưu tập. Ảnh: Caitlin Cunningham/ President and fellows of Havard College.     Những thỏa thuận khác thì phân chia thời gian cụ thể hơn. Chẳng hạn, Double Merge sẽ được trưng bày qua lại giữa Dia và MFAH sau mỗi năm năm. Bảo tàng sở hữu tác phẩm sẽ phải đảm bảo việc bảo dưỡng và quyết định thời gian trưng bày nó. Tuy nhiên, Khandekar cho rằng không nên quá bận tâm hay tính toán chi li về số ngày và giờ mỗi bên sở hữu, đó không phải là ý nghĩa của việc đồng sở hữu. “Với tôi, điều quan trọng là việc mua các lọ bột màu sẽ thu hút sự chú ý của công chúng. Nếu mọi người quan tâm đến việc này, chúng tôi sẽ hiểu rằng mình đang đi đúng hướng trong việc khơi gợi sự hứng thú của mọi người.”      Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi bỏ ngỏ: Liệu các vụ mua chung có phải là xu hướng trong tương lai của giới nghệ thuật hay không khi các bảo tàng bắt đầu thích nghi với bối cảnh hậu COVID-19. Các hiện tượng gần đây như cơn sốt NFT và những trải nghiệm nhập vai như tác phẩm sắp đặt Infinity Mirror Room của Yayoi Kusama và những buổi triển lãm số tác phẩm của van Gogh có thể thay đổi cách đầu tư và xây dựng các hiện vật trong bộ sưu tập, Anderson cho biết. “Công chúng dường như đang tập trung vào các trải nghiệm và sự kiện tạm thời, điều này góp phần gia tăng áp lực đối với các bộ sưu tập hiện vật”, ông nói.      Szántó cũng chỉ ra rằng thế giới nghệ thuật có “mong muốn hợp tác một cách hệ thống, bài bản, nhưng có rất ít những thương vụ hợp tác đã diễn ra trên thực tế”, ngay cả trong bối cảnh  họ phải chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu.      Dù vậy, nhiều bảo tàng vẫn tỏ ra lạc quan về tương lai của hình thức đồng sở hữu tác phẩm. Một lợi ích quan trọng đó là nhiều người, ở nhiều khu vực khác nhau, sẽ có thể chiêm ngưỡng các tác phẩm này. “Đây là một tác phẩm nghệ thuật cực kỳ quan trọng”, Morgan nói về tác phẩm của Gillian. “Và sẽ tốt hơn nếu nó được trưng bày ở nhiều địa điểm thay vì chỉ duy nhất một nơi.”      Anh Thư tổng hợp  Nguồn: Why Joint Acquisitions May Be the Way Forward for Cash-Strapped Museums    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đóng tàu để làm gì?      Khi bàn về sự cần thiết phải có biện pháp cứu Vinashin người ta thường nói chung chung tới chiều dài 3200 km đường biển, coi như có biển dài, nhất định phải có công nghiệp đóng tàu. Điều đó không sai, nhưng đâu phải cứ có biển dài là phải đóng tàu xuất khẩu, phải trở thành cường quốc hàng đầu về công nghiệp đóng tàu của thế giới.                        1. Qua việc đánh giá những gì mà Vinashin đã làm được … “Từ chỗ vốn chủ sở hữu chỉ hơn 100 tỷ đồng và chỉ đóng được tàu 1 nghìn đến 3 nghìn tấn, đến nay vốn chủ sở hữu của Vinashin tăng lên 8 nghìn tỷ đồng, giá trị tài sản 104 nghìn tỷ đồng, đóng được tàu hàng đến 53 nghìn tấn, tàu chở dầu thô đến 105 nghìn tấn”, chúng ta mới chỉ thấy những con số về một đơn vị phình to, đóng tàu to chứ hiệu quả đem lại cho nền kinh tế quốc dân, cho an ninh bảo vệ Tổ quốc vẫn còn là một ẩn số.  Trong những năm vừa qua, Vinashin đã giành được một số hợp đồng đóng tàu xuất khẩu, vậy hiệu quả kinh tế của nó ra sao, cần có một vài con số cụ thể? Có lẽ đây không phải là một con số bí mật thuộc phạm vi quản lý quốc gia, và cũng không thuộc phạm vi bí mật kinh doanh quốc tế vì các nhà môi giới mua bán tàu đều biết rất rõ. Và cũng chẳng cần phải chờ thanh tra kiểm toán mới có con số này vì Vinashin đã công bố luôn luôn có KPMG, công ty kiểm toán quốc tế lừng danh giúp sức, còn việc thanh tra là việc tìm các sai sót trong quản lý để trừng trị tham lận. Các loạt tàu 6.500 dwt, 11.500 dwt, 22.000, tàu dầu, tàu chở hóa chất, tàu sê ri Diamond 53.000 dwt… lời lãi ra sao, khấu hao được tính thế nào? Trên cơ sở, tổng kết những con số cụ thể mới có phương hướng đầu tư đúng mức.  2/ Giả sử tính toán thấy kinh doanh đóng tàu xuất khẩu vẫn có lời, thì phương hướng của Hội đồng quản trị Vinashin báo cáo Chính phủ “…sơ bộ tính toán các năm 2010-2012 còn lỗ, dự báo năm 2013, 2014 bắt đầu có lãi và sau 2015 phát triển ổn định…”, tức là tới  năm 2013 thì phục hồi trả hết nợ và 2015 bắt đầu có lãi (!!) là dựa trên cơ sở nào, từ những dự báo tại phố Ngọc Khánh hay những dự báo trên cơ sở của Lloy’d,Drewry…, một vài tổ chức nghiên cứu dự báo bài bản. Như chúng ta đều biết, đóng tàu là một thị trường toàn cầu, cung luôn lớn hơn cầu. Khi đã nhảy vào canh bạc đóng các con tàu bulker, tàu chở hóa chất, tàu chở ô tô… Vinashin đã đầu tư hối hả và thực sự đang lạc trong mê hồn trận của thị trường này. Trên một số bản tin nội bộ, trước khi bỏ một tí tiền khích lệ đầu tư cho những người nông dân Hải Hậu đã cả gan tự mình đóng tàu lớn (dự án Hoàng Anh đã phá sản!), Vinashin đã gọi họ một cách thân mật là những anh Hai Lúa đóng tàu. Không rõ anh Hai Lúa Vinashin có quá tự tin với các dự báo liều  mạng cho năm 2015  không? Người dân chỉ thấy việc đã qua, để giành được 1,5% trên thị phần đóng tàu thế giới và được xếp thứ năm trong bảng sắp hạng thế giới đóng tàu, Vinashin đã đổ một đống tiền với những hệ quả như mọi người đã rõ. (Xem hình kèm theo: bảng sắp hạng đóng tàu trong Từ Điển mở Wikipedia chữ Shipbuilding)                  3/ Các con tàu bán vũ trang và vũ trang thuộc nhiều lực lượng (tuần tra, kiểm ngư, tàu chiến) có được đóng tại các đơn vị của Vinashin không? Người dân sẽ rất hoan nghênh khi được biết Vinashin giúp sức tăng cường sức mạnh thật sự trên biển dù biết rằng đóng tàu không phải là một ngành kinh doanh kiếm lời. Ở nhiều nước, đóng tàu dân sự và quân sự có một mối liên hệ hết sức mật thiết. Nhiều con tàu chiến được đóng tại xưởng dân sự, kể cả việc lắp các vũ khí thông thường lên tàu. Chỉ khi lắp các khí tài điện tử, con tàu mới cần được điều về xí nghiệp quân sự đặc biệt. Tại các nhà máy đóng tàu Trung Quốc cũng áp dụng phương pháp tương tự như thế, trong Tập đoàn đóng tàu Trung Quốc CSSC có vụ hải quân theo dõi việc đóng các tàu quân sự.      Có thể nói, giải pháp cứu Vinashin không chỉ là quyết định “tái cơ cấu toàn diện”, không có nhiều ngành nghề như trước đây mà trước hết phải trả lời được câu hỏi: Chúng ta đóng tàu để làm gì?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật có vú có thể thở bằng ruột      Nghiên cứu “Mammalian enteral ventilation ameliorates respiratory failure” được công bố trên tạp chí Med cho thấy động vật gặm nhấm và lợn khi bị suy hô hấp vẫn có thể hấp thụ oxy qua mô trong trực tràng để hồi phục sức khỏe. Các tác giả cho rằng một ngày nào đó, việc hấp thụ oxy qua trực tràng có thể giúp cứu sống con người nếu các phương pháp thông khí thông thường không khả dụng.    Sean Colgan, một chuyên gia về tiêu hóa ở Đại học Colorado tại Boulder (Hoa Kỳ), người không tham gia vào nghiên cứu, nhận xét: “Ý tưởng này có vẻ điên rồ. Nhưng nếu nhìn vào dữ liệu, đó thực sự là một câu chuyện rất thuyết phục”.  Hầu hết các loài động vật có vú đều thở bằng miệng và mũi, đưa oxy vào cơ thể qua phổi. Một số loài động vật sống dưới nước như hải sâm và cá da trơn có thể thở bằng ruột. Con người có thể dễ dàng hấp thụ dược phẩm qua mô ruột. Tuy nhiên, không ai biết ở động vật có vú, oxy có thể đi vào máu thông qua ruột hay không.     Động vật có vú có thể hấp thụ oxy qua ruột. Nguồn: sciencemag  Để tìm hiểu về vấn đề này, Takanori Takebe, một nhà nghiên cứu về tiêu hóa ở bệnh viện Nhi Cincinnati (Hoa Kỳ) và các cộng sự đã thử nghiệm một số phương pháp thông khí qua đường ruột cho chuột và lợn bị thiếu oxy trong thời gian ngắn. Trong nhóm thứ nhất gồm 11 con chuột, họ đã rửa ruột bốn con để làm mỏng lớp niêm mạc và cải thiện khả năng hấp thụ oxy. Sau đó, họ tiêm oxy tinh khiết cao áp vào đại tràng của những con đã rửa ruột và bốn con khác trong số bảy con không được rửa ruột.   Tiếp theo, họ rút oxy khỏi chuột, khiến chúng bị giảm oxy máu động mạch (hypoxic). Ba con không được rửa ruột, không được tiếp oxy qua đường ruột chỉ sống được khoảng 11 phút. Những con không được rửa ruột được thêm oxy qua hậu môn sống được khoảng 18 phút. Chỉ có những con chuột được rửa ruột và thông khí mới sống qua một tiếng đồng hồ, với tỉ lệ sống sót là 75%.    Tuy nhiên, Takebe và các cộng sự muốn loại bỏ quá trình rửa ruột khó khăn và nguy hiểm. Bởi vậy, họ thay thế oxy cao áp bằng chất lỏng perfluorocarbon có thể vận chuyển lượng lớn khí oxy, thường dùng thay thế cho máu trong quá trình phẫu thuật. Do perfluorocarbon có tỉ trọng cao nên chúng có thể hỗ trợ loại bỏ dịch nhầy trong ruột. Các nhà nghiên cứu bơm oxy giàu perfluorocarbon vào hậu môn của ba con chuột và bảy con lợn bị rút oxy. Để đối chứng, họ bơm nước muối sinh lý vào ruột của hai con chuột và năm con lợn bị thiếu oxy.  Trong khi nồng độ oxy trong máu của các nhóm đối chứng giảm mạnh, nồng độ oxy của những con chuột được thông khí ổn định vẫn ở mức bình thường. Với những con lợn được tiếp oxy, mức oxy bão hòa trong máu tăng khoảng 15%, làm giảm các triệu chứng thiếu oxy của chúng. Trong vài phút, làn da và tứ chi của con vật đã có màu sắc và độ ấm trở lại.  Takabe cho biết, hai kết quả trên chứng minh rằng động vật có vú có thể hấp thụ khí oxy qua ruột – và “cách tiếp cận kì lạ” mới này an toàn. Phương pháp mới sẽ cần kiểm tra an toàn trên người, nhưng Takebe cho biết ông có thể hình dung việc tiếp chất lỏng chứa oxy qua hậu môn để cứu sống tính mạng con người nếu không có sẵn các phương pháp thông khí chuẩn như trong bối cảnh đại dịch COVID-19 này.  Tuy nhiên, Markus Bosmann, nhà nghiên cứu phổi ở Trường Y thuộc Đại học Boston, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết ngay cả khi được chứng minh tính an toàn, phương pháp thông khí qua hậu môn cũng có thể không mang lại nhiều hiệu quả. Ông muốn các nhà khoa học so sánh kỹ thuật này với các phương pháp điều trị hô hấp thông thường như thở máy. Colgan tán thành, cần phải thử nghiệm nhiều hơn, và nhấn mạnh rằng nếu phương pháp thông khí hậu môn được sử dụng với bệnh nhân thì cũng chỉ sử dụng trong thời gian ngắn. Bởi lẽ, việc đưa oxy vào trong ruột có thể giết chế nhiều loại vi sinh vật tham gia vào quá trình tiêu hóa.  Dù vậy, Caleb Kelly, một nhà nghiên cứu về tiêu hóa ở Trường Y, Đại học Yale, người đã tham gia xét duyệt bài báo cho biết, về mặt lý thuyết, việc thông khí qua đường ruột sẽ không gây ra ảnh hưởng lâu dài. Dĩ nhiên, điều này cần được chứng minh bằng các thí nghiệm thực tiễn, nhưng “họ có thể cho thấy nó sẽ mang lại hiệu quả trong điều kiện thiết kế thích hợp”, Kelly nói.   Thanh An dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/05/mammals-can-breathe-through-their-intestines       Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật đang mất dần những kiến thức “gia truyền” trong quần thể      Không chỉ con người, động vật cũng có kiến thức “gia truyền”. Những kiến thức ấy quyết định trực tiếp đến khả năng sinh tồn của loài.      Cá voi đầu bò Bắc Đại Tây Dương ở Vịnh Fundy, New Brunswick, Canada. Cá voi là một trong số nhiều loài động vật được biết đến là có văn hóa cao. Ảnh: All Canada Photos/Alamy    Vào cuối những năm 1800 – thời kỳ đỉnh cao của ngành công nghiệp săn bắt cá voi, đã có hàng nghìn con cá voi đầu bò Bắc Đại Tây Dương bị giết. Những kẻ săn bắt cá voi không chỉ lấy xương và thịt cá voi ra khỏi đại dương, mà còn lấy đi những ký ức độc đáo và bãi kiếm ăn, kỹ thuật săn mồi và phương thức giao tiếp. Đó là kiến thức mà những con cá voi đã có được qua nhiều thế kỷ, truyền qua nhiều thế hệ và chia sẻ giữa đồng loại. Loài cá voi được xếp vào dạng cực kỳ nguy cấp này vẫn còn tồn tại, nhưng phần lớn kiến thức của chúng giờ đã vĩnh viễn mất đi.     Giáo sư Hal Whitehead, một nhà sinh vật biển thuộc Đại học Dalhousie, cho biết cá voi là một trong số những loài động vật có tính văn hóa cao. “Văn hóa là thứ mà những cá nhân học hỏi lẫn nhau, để một loạt các cá nhân sẽ cư xử theo một cách giống nhau”, ông giải thích.     Cá voi đầu bò Bắc Đại Tây Dương không còn xuất hiện trong nhiều khu vực kiếm ăn của tổ tiên chúng. Whitehead nghi ngờ điều này có thể là do kiến thức văn hóa về những bãi kiếm ăn này đã mất đi khi quần thể cá voi bị xóa sổ bởi nạn săn bắt cá voi. Nếu hoạt động của con người gây suy giảm các khu vực kiếm ăn còn lại của cá voi, chúng sẽ không thể đoán được đâu là nơi săn mồi tốt. “Càng có nhiều bãi kiếm ăn, chúng càng có nhiều khả năng tìm thấy, lựa chọn đâu là nơi để có được thức ăn cần thiết.”      Văn hóa động vật không chỉ giới hạn ở đại dương. Chim, ong, chuội chũi không lông, cá và thậm chí cả ruồi giấm đều nằm trong số những loài học hỏi xã hội và tạo ra nền văn hóa. Khi danh sách này tăng lên, các nhà nghiên cứu bắt đầu hiểu văn hóa động vật là yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn.     Whitehead là một trong những người tiên phong kêu gọi coi trọng văn hóa động vật trong công tác bảo tồn. Sự đa dạng văn hóa sẽ mang lại cho mỗi loài động vật một bộ công cụ hành vi lớn hơn khi đối mặt với những thách thức mới, ông lập luận. “Con người cũng tương tự như vậy, sự đa dạng của các nền văn hóa là sức mạnh của chúng ta”.     Whitehead là thành viên Ủy ban về Tình trạng Động vật Hoang dã Nguy cấp ở Canada, cơ quan quyết định những loài nào có nguy cơ tuyệt chủng. “Điều khó khăn nhất mà chúng tôi làm là quyết định làm thê nào để phân chia quần thể của một loài”, ông nói. Chẳng hạn, với tuần lộc, tuần lộc đồng bằng ít nguy cơ tuyệt chủng hơn tuần lộc núi. “Chúng ta có đánh giá tuần lộc núi khác với những con khác không?”, Whitehead đặt câu hỏi.     Thông thường, các nhà khoa học sẽ đưa ra quyết định bằng cách đánh giá xem các nhóm động vật khác nhau về mặt di truyền như thế nào. “Nhưng tôi cho rằng thông tin văn hóa cũng rất quan trọng”.     Các nỗ lực bảo tồn nhằm mục đích duy trì sự đa dạng của một loài, vì sự đa dạng hỗ trợ sự tồn tại. Tính đa dạng của các loài có thể là “chúng làm gì, chúng trông như thế nào, đặc điểm sinh lý của chúng, v.v.”, Whitehead cho biết. “Rất nhiều trong số đó được xác định về mặt di truyền, nhưng cũng có những đặc điểm được xác định về mặt văn hóa.”     Những hành vi của một quân thể có thể tác động đáng kể đến môi trường mà chúng sống. “Nếu chúng ta mất hết tuần lộc núi, điều này có thể làm thay đổi hệ sinh thái của một loạt các ngọn núi”, Whitehead cho biết.         Đàn voi di chuyển tới một hố nước tại khu bảo tồn quốc gia Amboseli ở Kenya. Kinh nghiệm của các những con voi cái lão làng trong đàn giúp tăng tỷ lệ sinh sản của những con cái trẻ hơn. Ảnh: Tony Karumba/AFP/Getty Images      Nghiên cứu của Whitehead về văn hóa cá voi đã truyền cảm hứng cho Philippa Brakes – nghiên cứu sinh tại Đại học Exeter, đồng thời là nghiên cứu viên tại Bảo tồn Cá voi và Cá heo. Brakes đã cùng các đồng nghiệp xuất bản một bài báo vào tháng 4, lập luận rằng các nỗ lực bảo tồn nên xem xét cách thức văn hóa ảnh hưởng đến sinh sản, sự phân tán loài và khả năng sống sót.     Brakes đã lấy đàn voi châu Phi làm ví dụ trong nghiên cứu của mình, cô cho rằng việc biết được ai là người nắm giữ kiến thức văn hóa trong một quần thể sẽ là chìa khóa quan trọng. “Tuổi của voi cái trong đàn có ảnh hưởng [tích cực] đáng kể đến tỷ lệ sinh sản của những voi cái ít tuổi hơn”, cô cho biết. “Kinh nghiệm của voi cái về nơi có các hố nước, nơi kiếm ăn tốt, và những đàn voi nào thân thiện, có ảnh hưởng rõ ràng đến tỷ lệ sinh sản của những voi cái trẻ hơn trong đàn của nó”.     “Nếu những con voi có kiến thức chết đi vì bị săn bắt, điều này có thể gây tác động trầm trọng hơn nhiều so với những gì chúng ta tưởng.”     Nỗ lực tái tạo kiến thức    Tuy nhiên, khi một quần thể đã mất đi kiến thức văn hóa của mình, có trường hợp những kiến thức đó có thể được tái tạo lại.    Vào đầu những năm 1970, tình trạng buôn bán động vật hoang dã và phá hủy môi trường sống đã làm số lượng khỉ vàng sư tử Tamarin (một loài khỉ nhỏ ở Brazil) suy giảm xuống còn 200 cá thể. 43 tổ chức ở 8 quốc gia đã giám sát việc nhân giống nuôi nhốt nhằm gia tăng số lượng của chúng, việc này thuận lợi đến mức các nhà bảo tồn có thể trả loài khỉ này về tự nhiên từ năm 1984. Nhưng ban đầu, tỷ lệ sống của lũ khỉ này quá thấp do chúng không thích nghi được với môi trường sống mới. Brakes cho biết đây là tình trạng điển hình của những nỗ lực kiểu như vậy.     Do đó, các nhà nghiên cứu khỉ sư tử vàng Tamarin đã phát triển một chương trình hỗ trợ chuyên sâu sau khi thả khỉ về rừng, bao gồm cho ăn bổ sung và cung cấp các vị trí làm tổ, giúp khỉ có thời gian học những kỹ năng sinh tồn cần thiết trong rừng. Điều này giúp tăng gấp đôi tỷ lệ sống sót, đó là một khởi đầu tốt. Tuy vậy, phải đến thế hệ sau, loài này mới bắt đầu phát triển mạnh trở lại. “Bằng cách cho chúng cơ hội học hỏi từng cá nhân trong tự nhiên và chia sẻ kiến thức với nhau, thế hệ khỉ sư tử vàng kế tiếp có tỷ lệ sống sót là 70% – một con số đáng kinh ngạc”, Brakes phân tích. Những nỗ lực bảo tồn tích cực đã được đền đáp, và vào năm 2003, khỉ sư tử vàng Tamarin đã được giảm từ mức cực kỳ nguy cấp xuống còn nguy cấp.       Tỷ lệ sống sót của những chú khỉ sư tử vàng Tamarin thế hệ sau tăng lên khi chúng được hưởng lợi từ các kỹ năng sinh tồn mà cha mẹ chúng đã học được. Ảnh: Andreia Martins/AP    Brakes cho biết, mặc dù nghiên cứu này đầy hứa hẹn, nhưng các nền văn hóa động vật đang tuyệt chủng với tốc độ nhanh hơn so với tốc độ tái tạo của chúng.    “Chúng tôi chỉ mới bắt đầu hiểu văn hóa ở các loài động vật khác, nhưng chúng muốn nhanh chóng phát triển các phương pháp đo lường và phân tích văn hóa, vì chúng tôi đang chứng kiến nó biến mất trước mắt mình mỗi ngày.”    Hà Trang tổng hợp    Nguồn:  Culture shock: how loss of animals’ shared knowledge threatens their survival  A deepening understanding of animal culture suggests lessons for conservation    Author                .        
__label__tiasang Đồng vị nặng Mendelevium-244 mới và bối rối về phân hạch trong thời gian ngắn      Tăng thêm hiểu biết về các nhân tố làm giới hạn sự tồn tại của các nguyên tố nặng bền là câu hỏi tồn tại cả thập kỷ của các nhà vật lý và hóa học. Các nguyên tố siêu nặng, các nguyên tố hóa học với các số nguyên tử lớn hơn 103, không xuất hiện trong tự nhiên và được tạo ra một cách nhân tạo với các máy gia tốc hạt. Chúng chỉ tồn tại trong vòng vài giây ngắn ngủi.      Bản đồ các hạt nhân trong vùng hạt nhân mendelevium. Mỗi ô thể hiện một hạt nhân nguyên tử với số lượng các proton gia tăng trong chiều dọc và số lượng các neutron trong chiều ngang. Hạt nhân đa biết hiển thị trong các ô tô màu, nơi màu sắc hiển thị phân rã dạng hạt nhân: phân rã alpha (vàng), phân rã beta (nâu), phân hạch tự phát  (xanh lá cây). Các ô khung đậm chỉ dấu các hạt nhân lẻ – lẻ, trong đó phân hạch beta trễ được dự đoán xuất hiện với xác suất >1 %  trong số tất cả các phân rã beta (dữ liệu từ J. Khuyagbaatar, Eur. Phys. J. A 55, 134 (2019)). Các xác suất được chỉ dấu màu xanh. Các đặc tính vị trí và phân rã trong đồng vị mới mendelevium-244 đã được ghi. Nguồn: J. Khuyagbaatar, GSI Helmholtzzentrum für Schwerionenforschung  Một nhóm nghiên cứu từ GSI Helmholtzzentrum fuer Schwerionenforschung Darmstadt, trường đại học Mainz Johannes Gutenberg (JGU), Viện nghiên cứu Mainz Helmholtz (HIM) và trường đại học Jyvaeskylae, Phần Lan, do tiến sĩ Jadambaa Khuyagbaatar từ GSI và HIM dẫn dắt, đã đem lại những cái nhìn mới vào các quá trình phân hạch trong những hạt nhân lạ và cho đến nay là nguyên tố mendelevium-244. Các thực nghiệm này là một phần của “FAIR Phase 0”, giai đoạn đầu tiên của chương trình thực nghiệm FAIR. Các kết quả này mới được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters.  Các hạt nhân nặng và siêu nặng không bền tương phản với quá trình phân hạch, trong đó các hạt nhân phân tách khỏi hai lớp mảnh vỏ nhẹ hơn. Nó phụ thuộc vào lực đẩy Coulomb mạnh hơn giữa số lượnglớn các proton mang điện tích dương trong các hạt nhân và là một trong những giới hạn cho sự tồn tại của các hạt nhân nặng không bền.  Được khám phá hơn 80 năm qua, quá trình phân hạch hạt nhân được tập trung nghiên cứu rất nhiều. Phần lớn dữ liệu thực nghiệm về phân hạch tức thời là bởi các hạt nhân với số lượng các proton và neutron – gọi là “hạt nhân chẵn – chẵn”. Hạt nhân chẵn chẵn chứa toàn bộ các cặp proton và neutron và các đặc tính phân hạch của chúng đã được các mô hình lý thuyết miêu tả rất tốt. Trong hạt nhân với một số lẻ hoặc  các neutron hoặc các proton, một trở lực của quá trình hạt nhân khi so sánh các đặc tính của hạt nhân chẵn – chẵn đã được quan sát và truy dấu trở lại thành ảnh hưởng của một cấu tử đơn không tạo cặp trong các hạt nhân.  Tuy vậy, trở lực phân hạch này là ‘hạt nhân lẻ – lẻ’, chứa cả một số lẻ proton và số lẻ neutron, vẫn còn chưa được biết đến nhiều. Dữ liệu thực nghiệm hiện có chỉ ra quá trình phân hạch tự phát trong hạt nhân  là lực cản cực lớn, lớn hơn ngay cả với các hạt nhân chỉ có dạng thành phần số lượng lẻ.  Một khi xác suất phân hạch giảm đi, quá trình phân rã phóng xạ khác được mô hinh hóa như phân rã alpha hoặc beta trở thành có thể. Trong phân rã beta, một proton chuyển đổi thành một neutron (hoặc ngược lại) và như vậy hạt nhân lẻ – lẻ chuyển thành hạt nhân chẵn – chẵn, vốn có khả năng phân hạch cao. Do đó, nếu một hành động phân hạch được quan sát trong các thực nghiệm tạp ra các hạt nhân lẻ – lẻ, hoặc không thể bắt đầu từ ‘chị em’ phân rã beta chẵn – chẵn, vốn sau đó có thể trải qua quá trình phân hạch trễ beta. Trong thời gian gần đây, tiến sĩ Jadambaa Khuyagbaatar từ GSI và HIM đã dự đoán quá trình phân hạch trễ beta này có thể có liên quan với các hạt nhân nặng nhất và trên thực tế có thể là một trong những hình thức phân rã chính của các hạt nhân siêu nặng phân rã beta.  Trong các hạt nhân siêu nặng, vốn rất khó để tạo ra trong các thực nghiệm, phân rã beta không được quan sát một cách đầy đủ, ví dụ trong trường hợp của nguyên tố nặng nhất được tạo ra tại GSI Darmstadt, tennessine (nguyên tố 117), chỉ có hai nguyên tử của hạt nhân lẻ – lẻ tennessine-294 được quan sát trong một thực nghiệm kéo dài một tháng. Lượng sản phẩm được tạo ra quá nhỏ làm giới hạn việc xác nhận và nghiên cứu chi tiết về quá trình phân hạch trễ phân rã beta. Vi vậy dữ liệu thực nghiệm mới đã rọi ánh sáng vào quá trình này và giúp hiểu thêm về các hạt nhân lạ như những thứ có tỉ lệ proton và neutron thiếu cân bằng. Nhóm nghiên cứu từ GSI, JGU, HIM và trường đại học Jyväskylä đã tạo ra hạt nhân mendelevium-244, một hạt nhân lẻ – lẻ chứa 101 proton và 143 neutron.    Thiết bị TASCA dùng để hướng hạt nhân mendelevium vào trong một máy dò silicon phù hợp để ghi đo việc ghép các hạt nhân cũng như quá trình phân rã tiếp theo của chúng  Ước đoán lý thuyết đề xuất, cứ một trong năm trường hợp thì phân rã beta của hạt nhân này sẽ xuất hiện sau quá trình phân hạch. Tùy thuộc vào mức giải phóng năng lượng của quá trình phân hạch, có thể dò được hiện tượng này nhưng ngược lại, phân rã beta lại khó có thể đo đạc được. Để giải quyết tình huống này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một chùm tia titanium-50 hội tụ, vốn sẵn có tại máy gia tốc UNILAC của GSI để chiếu lên một bia vàng. Sản phẩm của phảm ứng là các hạt nhân titanium và vàng được phân tách trong thiết bị Transactinide Separator and Chemistry TASCA, nơi hướng hạt nhân mendelevium vào trong một máy dò silicon phù hợp để ghi đo việc ghép các hạt nhân cũng như quá trình phân rã tiếp theo của chúng.  Phần đầu của nghiên cứu này thực hiện trong năm 2018 đã dẫn đến quan sát bảy nguyên tử mendelevium-244. Trong năm 2020, các nhà nghiên cứu đã dùng chùm tia titanium-50 năng lượng thấp hơn, không đủ để dẫn đến việc tạo ra mendelevium-244. Thậm chí các tín hiệu từng được cho là mendelevium-244 trong nghiên cứu năm 2018 cũng không có trong bộ dữ liệu này, làm vững thêm tính chính xác của dữ liệu và xác nhận khám phá ra đồng vị mới.    Tiến sĩ Jadambaa Khuyagbaatar từ GSI và HIM dẫn dắt nghiên cứu  Tất cả bảy hạt nhân nguyên tử được ghi lại đều trải qua phân rã alpha, sự phát thải của một hạt nhân helium-4, dẫn đến đồng vị “chị em” einsteinium-240, được khám phá bốn năm trước bằng một thí nghiệm  tại trường đại học Jyväskylä. Phân rã beta đã không được quan sát – việc quan sát cho phép lập giới  hạn trên của dạng phân rã này tới 14 %. Nếu 20% xác suất  phân hạch của mọi hạt nhân phân rã beta là chính xác, tổng xác suất cho phân rã trễ beta có thể là 2,8 % và việc quan sát nó có thể cần thiết để tạo ra các hạt nhân mendelevium-244 trong khám phá thực nghiệm thêm bền vững hơn.  Thêm vào phân rã alpha của mendelevium-244, các nhà nghiên cứu đã thấy các dấu hiệu của các sự kiện phân hạch thời gian ngắn với các đặc tính chưa từng biết tới liên quan đến số lượng của chúng, xác suất tạo ra, và thời gian bán rã. Hiện nay người ta chưa thể chỉ ra chính xác nguồn gốc của chúng và trên thực tế là hiểu biết hiện nay về quá trình tạo ra và phân rã của các đồng vị trong vùng này ở mendelevium-244 chưa thể lý giải được. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ đem đến cho bộ dữ liệu nhiều chi tiết quý giá hơn, vốn có thể giúp rọi thêm ánh sáng vào quá trình phân hạch trong các hạt nhân lẻ – lẻ.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2020-10-heavy-isotope-mendelevium-puzzling-short-lived.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng vốn chảy vào vượt nhiều lần giá trị 500 tấn vàng      “Việt Nam vẫn “chưa mạnh” không phải vì  thiếu vốn”, TS Lê Hồng Giang nhận định về đề án huy động vàng trong dân  để phục vụ cho phát triển kinh tế.    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cho biết sắp tới sẽ trình Chính phủ đề án huy động vàng trong dân với ước tính vào khoảng 300 – 500 tấn, để phục vụ cho phát triển kinh tế.  Dưới đây là trả lời phỏng vấn của Tiến sĩ Lê Hồng Giang, hiện đang Quản lý danh mục đầu tư ngoại hối, quỹ phòng hộ của Tactical Global Management, xung quanh vấn đề đang được quan tâm.    Là một chuyên gia kinh tế độc lập, ông có thể phân tích về vấn đề huy động vàng thuần túy trên quan điểm kinh tế học?  Trên quan điểm thuần túy lý thuyết kinh tế học vĩ mô, thử tưởng tượng một nền kinh tế đóng, không có trao đổi ngoại thương và đầu tư với bên ngoài. Giả sử nền kinh tế đó có “500 tấn vàng trong dân” và người dân mong muốn giữ 400 tấn như một hình thức tiết kiệm (cất giữ giá trị), 100 tấn còn lại được các tiệm vàng giao dịch hàng ngày như một dạng trung gian trao đổi song song với nội tệ.  Vào một thời điểm nào đó người dân bất ngờ có nhu cầu giảm tiết kiệm và muốn bán bớt vàng, có thể vì họ cần tăng chi tiêu hay xuất hiện một số cơ hội đầu tư tốt. Điều này cho thấy họ lạc quan hơn về tương lai kinh tế của mình và của cả xã hội. Nếu mong muốn giữ vàng giảm xuống còn 300 tấn, tổng số vàng được giao dịch sẽ tăng lên 200 tấn.  Vì vàng không bị cấm sử dụng như một hình thức trung gian trao đổi, việc lượng vàng được giao dịch hàng ngày tăng lên tương đương như cung tiền tăng. Việc tăng cung tiền này nằm ngoài ý chí của ngân hàng trung ương, hoàn toàn vì người dân thay đổi mong muốn của mình vì họ thấy lạc quan về tương lai.  Trong ngắn hạn, tổng cầu (AD) tăng lên dẫn đến lạm phát tăng (nhưng giá vàng giảm), tổng cung (AS) sẽ tăng trong tương lai (vì đầu tư tăng) còn trong ngắn hạn nó phụ thuộc vào năng lực sản xuất, nghĩa là nền kinh tế hiện tại đã sử dụng hết công suất hay chưa.  Nếu nền kinh tế đã hết công suất, tổng cung (AS) không thể tăng trong ngắn hạn nên GDP không tăng và kết quả là chỉ có lạm phát gia tăng, nghĩa là người dân đã sai lầm khi quá lạc quan vào tương lai kinh tế và đẩy nền kinh tế phát triển quá nóng.  Theo ông, việc huy động vàng trong dân có tác động thế nào đối với nền kinh tế?  Những lập luận trên cho thấy việc “huy động” thêm 100 tấn vàng trong dân sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào khả năng “hấp thu” thêm số vốn này của nền kinh tế, nói cách khác là nền kinh tế còn năng lực để sản xuất thêm hay không.  Điều này cũng đúng với bất kỳ loại tài sản tiết kiệm nào khác chứ không chỉ với vàng. Khi người dân bán bớt của cải (vàng, đô la, đất đai,…) để đầu tư hay tăng tiêu dùng, có thể vì họ lạc quan hơn hay họ nghe theo lời kêu gọi “huy động vốn trong dân” của nhà nước, thì tác động cuối cùng phụ thuộc vào năng lực sản xuất thực của nền kinh tế vào thời điểm đó.  Xét trên quan điểm tiền tệ, ngân hàng trung ương hoàn toàn có thể tăng cung tiền mà không cần người dân bán vàng hay các tài sản khác nếu cơ quan này cho rằng nền kinh tế còn năng lực sản xuất dư thừa. Những nhà kinh tế học Keynes và tiền tệ cho rằng việc cung tiền tăng do ngân hàng trung ương chủ động làm như vậy tương đương như trường hợp người dân lạc quan hơn và gián tiếp làm tăng cung tiền thông qua việc bán bớt tài sản.  Tất nhiên việc đánh giá năng lực sản xuất của nền kinh tế không dễ nên nếu ngân hàng trung ương không “giỏi” thì tốt nhất nên để người dân và nền kinh tế tự quyết định có nên tăng cung tiền hay không. Tương tự như vậy, kêu gọi hay ép buộc “huy động vốn/vàng trong dân” vừa thừa, vừa có rủi ro khi người làm chính sách đánh giá sai tình trạng năng lực sản xuất hiện tại.  Theo đánh giá của NHNN thì “lượng vàng trong dân tương đối lớn, khoảng 300 – 500 tấn. Nếu chúng ta không huy động được số vàng này trong dân để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội thì đất nước chưa thể mạnh lên được”, ông đánh giá gì về quan điểm trên của thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình?  Tôi không rõ ý ông Bình nói “đất nước chưa thể mạnh lên” nghĩa là gì, nếu chỉ đơn thuần về mặt kinh tế thì e rằng không chính xác. 500 tấn vàng tương đương khoảng 30 tỷ USD ở thời giá hiện tại, đây là một con số lớn nhưng nếu so với các nguồn vốn khác của xã hội nó không quá quan trọng. Trong 15-20 năm qua chỉ riêng kiều hối, FDI, ODA chảy vào nền kinh tế đã vượt nhiều lần giá trị của 500 tấn vàng, Việt Nam vẫn “chưa mạnh” không phải vì thiếu vốn.  Vấn đề của Việt Nam theo tôi là giới hạn năng lực sản xuất của nền kinh tế. Với một nền kinh tế mở chứ không đóng như giả định ban đầu, năng lực sản xuất sẽ bớt chặt vì người dân có thể bán vàng ra nước ngoài để đổi lấy máy móc, hàng hóa, dịch vụ về cho mục đích đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên điều này chủ yếu giúp cho lạm phát không tăng cao chứ GDP không được lợi gì (sản xuất trong nước không tăng) nếu năng lực sản xuất nội địa đã tới hạn.  Giới hạn năng lực của nền kinh tế do cơ sở hạ tầng yếu kém, bị thắt cổ chai, nhân công không đủ trình độ, kỷ luật lao động kém, và nhất là hệ thống hành chính có bản chất đúng với nghĩa đen “hành là chính”. Thêm vào đó, trong cái năng lực sản xuất vốn đã quá hẹp này nhà nước lại muốn phần của mình thật nhiều, tất nhiên sẽ chèn lấn năng lực sản xuất đáng ra phải dành cho khu vực tư nhân.  Duy Linh (thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột biến có thể tiết lộ cách coronavirus phát tán nhưng vẫn cần cẩn trọng      Hơn 350 giải trình tự hệ gene đã được chia sẻ trên nền tảng trực tuyến GISAID kể từ khi virus xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Các nhà khoa học đã nắm được các manh mối về cách virus mới SARS-CoV-2 lây truyền và tiến hóa.      Nhà virus học Christian Drosten  Nhưng bởi các trình tự gene này mới là một phần rất nhỏ của các trường hợp mắc bệnh và mới cho thấy một vài khác biệt, nên có thể sẽ bị dễ dàng diễn giải vấn đề một cách quá mức, theo quan điểm của nhà virus học Christian Drosten, đại học Charité Berlin. Ngay sau khi công bố trên mạng một giải trình tự gene coronavirus mới vào ngày 28/2/2020, ông đã đưa ngay một cảnh báo như vậy trên tài khoản Twitter của mình.    Ông đã giải trình tự gene virus từ mẫu bệnh phẩm lấy từ một bệnh nhân Đức bị lây nhiễm COVID-19 ở Ý. Hệ gene virus này trông tương tự như hệ gene virus thấy trên một bệnh nhân ở Munich, thủ phủ xứ Bavaria, mắc hơn một tháng trước; cả hai đều có ba biến dị chưa từng được thấy trước đó ở các trình tự gene từ Trung Quốc. Drosten nhận ra, điều này có thể củng cố thêm ý tưởng là dịch bệnh ở Ý đã được “ươm mầm” từ một người ở Bavaria, nơi được các quan chức y tế liên bang cho là đã dập tắt bằng việc truy dấu và cách ly tất cả những người tiếp xúc với 14 trường hợp xác nhận bị lây nhiễm. Tuy nhiên ông cho rằng, đó như một biến thể của virus từ Trung Quốc và mang ba đột biến – đã vào các nước này theo các tuyến đường khác nhau. Hệ gene được giải trình tự mới “không đủ để dẫn đến tuyên bố có sự liên hệ giữa trường hợp ở Munich với Italy,” Drosten viết trên tài khoản Twitter của mình.    Cảnh báo của ông không được ai chú ý. Một vài ngày sau đó, Trevor Bedford, ở Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson, người từng phân tích nhiều hệ gene virus này và thảo luận về chúng trên Twitter, đã viết rằng này cho thấy dịch bệnh ở Bavaria đã không được ngăn chặn và dẫn đến dịch bệnh ở Ý. Technology Review đã xác nhận “trường hợp ở Munich có thể có phần liên quan tới cơn bùng phát dịch bệnh ở châu Âu” và những người sử dụng tài khoản Twitter kêu gọi Đức phải xin lỗi.  Nhà virus học Eeva Broberg ở Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh châu Âu đã đồng ý với Drosten là có nhiều kịch bản hợp lý về cách dịch bệnh chạm đến Bắc Ý hơn là một sự lây lan chưa được xác định từ Bavaria. Những nhà khoa học khác nói Bedford đã làm quá. “Tôi phải đá cho anh ta một cái vì điều đó”, Richard Neher, một nhà sinh học tính toán tại trường đại học Basel vẫn hợp tác với Bedford. “Đấy là câu chuyện mang tính cảnh báo,” Andrew Rambaut, một nhà sinh học tiến hóa phân tử tại trường đại học Edinburgh nói. “Anh không thể tuyên bố nếu chỉ dựa vào mỗi sự phát triển chủng loại.” Bedford sau đó đã lý giải thêm là ông tin tưởng vào việc có hai nguồn riêng rẽ mang mầm bệnh từ Trung Quốc sang châu Âu. “Tôi nghĩ là tôi phải cẩn thận hơn với những phát biểu trên Twitter,” ông nói.  Đây chỉ là một nghiên cứu cụ thể về quyền lực và sự nguy hiểm của việc phân tích thời gian thực về các hệ gene virus. “Đây là một dịch bệnh quan trọng đến kinh ngạc. Chúng ta cần hiểu về cách nó di chuyển,” Bette Korber, một nhà sinh học tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos đang nghiên cứu về hệ gene SARS-CoV-2, bình luận. “Với một sự tiến hóa vô cùng giới hạn, các nhà nghiên cứu đang làm những gì có thể và họ đang đưa ra các đề xuất”.  Dữ liệu về giải trình tự gene là những thông tin vô cùng quan trọng ở thời điểm ban đầu, Kristian Andersen – một nhà sinh học tính toán tại Scripps Research, nói. Trình tự gene sớm đầu tiên vào đầu tháng 1/2020, đã trả lời cho câu hỏi cơ bản nhất: Cái gì là mầm bệnh gây ra dịch bệnh này? Những kết quả trình tự gene tiếp theo cũng là những đề xuất thuyết phục về việc chỉ có một nguồn duy nhất đưa virus vào người từ một loài động vật. Nếu virus này vượt qua rào cản về loài cụ thể theo nhiều nấc thời gian, các nhà khoa học có thể thấy rất nhiều biến thể giữa những trường hợp mắc bệnh đầu tiên ở người.  Hiện tại có rất nhiều sự đa dạng đang xuất hiện. Giống như tất cả các loại virus, SARS-CoV-2 tiến hóa theo thời gian thông qua các đột biến ngẫu nhiên, chỉ một vài đột biến trong số đó có thể được cơ chế sửa lỗi di truyền của virus bắt và hiệu chỉnh. Với độ dài hệ gene là trên 30.000 cặp base, SARS-CoV-2 tích lũy trung bình khoảng một đến hai đột biến mỗi tháng, Rambaut cho biết. “Nó chậm hơn cúm thường khoảng hai đến bốn lần,” ông nhận xét. Với thay đổi ít như vậy, các nhà nghiên cứu có thể vẽ ra được các cây phát sinh loài, giống như cây xác định tương đồng hệ gene (phylogenetic trees), giống như cây phả hệ (family tree). Họ có thể tạo ra các kết nối giữa các trường hợp nhiễm bệnh khác nhau và đo lường xem liệu có phải không dò được sự lan truyền của virus hay không.    Ví dụ, khi các nhà nghiên cứu giải trình tự hệ gene virus thứ hai ở Washington- lấy từ một thiếu niên mắc bệnh vào ngày 27/1/2020 – nó giống như một hậu huệ trực hệ của hệ gene đầu tiên, một trường hợp phát hiện sáu tuần trước đó, với ba đột biến. Bedford đã viết trên tài khoản Twitter của mình là ông đã cân nhắc khả năng “rất khó xảy ra” việc hai hệ gene đó đến từ những nguồn riêng rẽ. “Tôi  tin rằng chúng ta đang đối mặt với một dịch bệnh thực sự tại Washington mà đến giờ chúng ta vẫn chưa dò được”, ông viết. Kết quả phân tích cho thấy điều này là chính xác: Washington đã thông báo có hơn 100 trường hợp nhiễm bệnh và 15 người chết, những hệ gene virus được bổ sung từ mẫu bệnh phẩm đã củng cố thêm mối liên hệ đó. Trong trường hợp này, giả thiết của Bedford lại có vẻ đúng bởi hai bệnh nhân cùng từ Snohomish County, Rambaut nhận định: “Không chắc đúng là virus lại đến chính xác cùng nơi ở Washington”.  Một số kết luận đáng tin cậy khác về sự lây truyền của virus, một phần bởi sự phong phú của hệ gene virus vẫn chỉ là một mảnh nhỏ trong số hơn 100.000 ca mắc bệnh trên toàn thế giới. Dẫu Trung Quốc chiếm tới 80% số ca nhiễm của dịch COVID-19, thì chỉ có 1/3 hệ gene virus được công khai đến từ Trung Quốc – và một số ít trong số đó là từ các ca nhiễm gần đây nhất. Và bởi vì nó từ những ca xuất hiện đầu bệnh dịch, phần lớn các hệ gene vẫn còn rất nhiều điểm tương tự nhau nên rất khó rút ra kết luận. “Chúng ta mới có một vài đột biến, khiến cho việc phân nhóm rất mơ hồ,” Neher nói. “Khi dịch bệnh bùng phát, chúng ta chờ đợi là sẽ thấy nhiều sự đa dạng về hệ gene hơn và nhiều giống dễ nhận biết hơn. Và khi đó sẽ dễ dàng hơn để đặt mọi thứ cạnh nhau để so sánh về mặt di truyền hơn.”  Các nhà khoa học sẽ làm rõ sự đa dạng về hệ gene qua các đột biến có thể thay đổi cách mầm bệnh nguy hiểm như thế nào hay lây lan nhanh như thế nào. Cảnh báo đó cũng được kiểm chứng. Một bài báo của Lu Jian và đồng nghiệp ở trường đại học Bắc Kinh vào ngày 3/3 tại tạp chí National Science Review đã phân tích 103 hệ gene virus và chỉ rõ là họ đã tìm ra một trong hai kiểu gene riêng biệt là S và L, được phân biệt bởi hai biến thể. Bởi 70% giải trình tự hệ gene SARS-CoV-2 thuộc về kiểu L, kiểu gene mới nhất, các tác giả kết luậnlà virus đã tiến hóa và trở nên nguy hiểm hơn, lan truyền nhanh hơn.  Nhưng họ còn thiếu bằng chứng, Rambaut nói. “Những gì họ đã làm về cơ bản là thấy hai nhánh xuất hiện và nói, ‘một cái lớn hơn vì vậy virus phải trở nên độc hại hơn hoặc dễ truyền lây hơn,’” ông nhận xét. Dẫu vậy, chỉ một con virus bị “sổng” và dẫn đến một cơn bùng phát lớn ở nơi nào đó không có nghĩa là nó đang hành xử một cách khác biệt: “Một trong những dòng virus đang trở nên lớn hơn dòng khác chỉ bởi sự tình cờ”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng cần rút lại bài báo này. “Những tuyên bố này được tạo ra một cách rõ ràng là vô căn cứ, nhất là trong bối cảnh sự nguy hiểm của thông tin sai lan truyền tại tâm điểm dịch bệnh”, bốn nhà khoa học tại trường Glasgow viết một bài phản hồi về bài báo trên trang www.virological.org (Lu cũng phản hồi và cho rằng cả bốn nhà khoa học này đã hiểu lầm về nghiên cứu của ông).    Phần lớn những thay đổi về hệ gene không làm thay đổi hành xử của virus, Drosten nói. Cách duy nhất để xác nhận một đột biến có ảnh hưởng là để nghiên cứu trong những nuôi cấy tế bào hoặc các mô hình động vật và chứng tỏ là nó có thể xâm nhập tế bào tốt hơn hoặc truyền lây nhanh hơn, ví dụ như thế. Và nếu virus thay đổi theo cách quan trọng như vậy, nó có thể dẫn đến một điều khác, làm cho nó trở nên ít nguy hiểm hoặc nguy hiểm hơn. Vào năm 2018, nhóm nghiên cứu của Drosten đã chứng tỏ vào vào đầu dịch SARS năm 2002–2003, virus đã mất một đoạn nhỏ trong hệ gene của chúng, 29 cặp base trong một gene. Việc đưa trở lại các cặp base trong phòng thí nghiệm để tạo ra virus tốt hơn nhiều so với phần lớn các mô hình nuôi cấy tế bào.  Drosten cho rằng, dường như có vẻ kỳ lạ nếu một đột biến nào đó có thể làm yếu con virus này nhưng điều đó cũng có thể xảy ra khi virus nó xâm nhập vào quần thể người và không phải cạnh tranh với các chủng thiếu đột biến. “Thật đáng buồn, chúng ta không thể loại trừ được virus mới này”, ông cho biết thêm.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/03/mutations-can-reveal-how-coronavirus-moves-they-re-easy-overinterpret    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá hóa dược có thể dẫn đến những loại thuốc tốt hơn      Các loại dược phẩm được phát triển và sản xuất đều hiệu quả với phần lớn những người sử dụng nhưng do di truyền, có những người có thể chuyển hóa thuốc nhanh hơn người khác. Vì thế, họ thường cần những liều thuốc cao hơn trong điều trị. Với những trường hợp đặc biệt này, quá trình chuyển hóa có thể tạo ra các chất phụ có độc, dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn.      Giáo sư hóa W. Dean Harman. Nguồn: Dan Addison, University Communications  Dẫu vậy, điều này có thể được hạn chế với công trình mới của một nhóm nghiên cứu do giáo sư hóa học W. Dean Harman của trường đại học Virginia dẫn dắt. Ông và cộng sự đã phát triển một phương pháp mới để các nhà sản xuất dược phẩm có thể giảm bớt liều lượng cũng như các tác dụng phụ, dẫn đến những cải thiện đáng kể trong an toàn và hiệu quả của những loại thuốc mới.  Công trình “Preparation of cyclohexene isotopologues and stereoisotopomers from benzene” được xuất bản trên Nature. Harman và các cộng sự của mình, giáo sư hóa học Brooks Pate của trường đại học Virginia và Xiaoping Wang của Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Oak Ridge gần Knoxville, Tennessee, đã miêu tả một phương pháp mới cho phép họ bổ sung deuterium, một đồng vị hydro, vào benzene, một hợp chất  thơm thông thường được tìm thấy trong dầu thô – một phần có tính chất quan trọng của quá trình chuẩn bị những hợp chất hoạt hóa về mặt dược lý.  “Với việc sử dụng phương pháp của chúng tôi, các nguyên tử hydro trong một phân tử thuốc có thể được thay thế với một loại đồng vị là deuteri”, Harman nói. “Deuteri hoạt động trong như hydro nhưng nó hình thành được các liên kết carbon chỉ mạnh hơn hydro một chút, do đó nó có thể làm chậm tốc độ tan rã của trong cơ thể người, sau đó còn có thể biến đổi những hợp chất mà thuốc phân hóa.  “Điều này cho thấy thuốc chứa deuteri có thể làm giảm các liều lượng thuốc cần thiết và có thể ít tác dụng phụ hơn”.  Gần đây, một hợp chất là Deutetrabenzine trở thành thuốc chứa deuteri đầu tiên được Cơ quan Quản lý  Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt cho điều trị chứng bệnh Huntington – một loại rối loạn di truyền dẫn đến cái chết của các tế bào não; dẫu vây thì công trình này cho rằng, các phương pháp hiện hành để tích hợp deuteri trong quá trình tổng hợp thuốc có thể trở nên khó đo lường.  “Chúng tôi đã có khả năng ấn định về mặt định lượng không chỉ cho các vị trí của những nguyên tử deuteri ở mức độ nguyên tử”, Xiaoping Wang – đồng tác giả nghiên cứu, giải thích, “mà còn có thể xác định được một cách chính xác cách bao nhiêu chất được bổ sung vào phân tử benzene”.  Công trình không nhắm đến một loại thuốc cụ thể hoặc một ứng dụng cụ thể, Harman nói, “Đúng hơn, chúng tôi đang phát triển một công cụ mới mà một ngày nào đó, cộng đồng hóa dược có thể sử dụng để tạo ra các biến thể mới của những loại thuốc hiện có hoặc hoàn thiện những loại thuốc mới – các loại kháng virus mới, kháng thể mới, thuốc chống ung thư…”.  Nhóm nghiên cứu của Harman đang hợp tác với một công ty dược phẩm lớn để bắt đầu kiểm tra xem khả năng có thể dẫn đến việc phát triển những loại thuốc mới.  “Dự án nghiên cứu này đã dẫn chúng tôi đến một mối hợp tác đầy thú vị với nhóm nghiên cứu Pate của đại học Virginia, những người đã phát triển những công cụ tiên tiến trong quang phổ quay để phân tích các sản phẩm mà chúng tôi đang tạo ra”, Harman nói. “Những hợp chất đồng vị này có thể rất khó dò được bằng các phương pháp thông thường”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-medicinal-chemistry-breakthrough-pharmaceuticals.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá khoa học vật liệu thách thức cách hiểu về phát xạ quang      Chính xác thì ánh sáng là gì – và được tạo ra từ cái gì? Đó là câu hỏi đã có từ thời thượng cổ và là một trong những chủ đề quan trọng bậc nhất của các nhà khoa học trong quá trình tìm hiểu về bản chất của thực tại.    Câu hỏi ánh sáng bao gồm những gì – một hình thức của năng lượng vì nó giúp kiểm tra các vật thể, cho phép chúng ta thấy được thế giới – đã dẫn đến những cuộc tranh cãi và thảo luận trong cộng đồng khoa học, thúc đẩy sự ra đời của một lĩnh vực hoàn toàn mới: cơ học lượng tử.  Điều cơ bản của cuộc tranh luận về bản chất của ánh sáng là một bí ẩn khác. Đó là ánh sáng có hành xử như sóng hay là như hạt? Khi Albert Einstein vào đầu thế kỷ 20 đề xuất ánh sáng là cả hạt trong tự nhiên (bao gồm các hạt nhỏ mà người ta gọi là photon) và như sóng, nhiều người cảm thấy thú vị nhưng cũng không cảm thấy dễ chấp nhận về phát hiện của ông.  Einstein chứng minh lý thuyết mới của mình thông qua công trình mà ông gọi là hiệu ứng quang điện, lý do để ông được trao giải Nobel Vật lý vào năm 1921. Phát hiện đầu tiên do Heinrich Rudolf Hertz tìm ra vào năm 1887, hiệu ứng quang điện miêu tả quá trình mà ánh sáng do các hạt electron bắn ra từ một vật liệu khi được chiếu một nguồn sáng vào.  Hiện tại, một thực nghiệm đã được các nhà khoa học triển khai bằng việc sử dụng các đặc trưng hóa học và điện tử của vật liệu, phát xạ quang đã đem đến nhiều ứng dụng thực tế trong nhiều công nghệ, cụ thể là những ứng dụng phụ thuộc vào việc dò ánh sáng hoặc các máy phát chùm tia điện tử như các thiết bị hình ảnh y khoa và ngành sản xuất bán dẫn…  Nhưng các nhà nghiên cứu ở Northeastern đã có một khám phá thách thức những gì chúng ta biết về phát xạ quang, đặt nền tảng cho một hiểu biết mới về cách ánh sáng tương tác với vật liệu.  Trong một bài báo xuất bản trên Nature mới đây, các nhà nghiên cứu đã quan sát những gì được họ miêu tả là “các đặc trưng phát xạ quang bất thường” của một vật liệu hạt, strontium titanate – một ô xít của một cặp nguyên tố hóa học phổ biến hơn một nửa thế kỷ qua, chủ yếu để mô phỏng kim cương.  Trong thực nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng strontium titanate như một cực âm photon, hoặc một bề mặt có thể chuyển đổi ánh sáng thành các electron thông qua hiệu ứng quang điện.  Các cực âm photon được sử dụng trong các máy dò photon hoặc các thiết bị có sensor, như các đèn nhân quang điện; chúng cũng được sử dụng trong các camera hồng ngoại, các bộ tăng cường hình ảnh – và các thiết bị chuyển đổi hình ảnh.  Trước đây, strontium titanate từng được coi là ứng cử viên sáng giá cho cực âm photon, theo Arun Bansil, giáo sư vật lý trường đại học Northeastern, đồng tác giả nghiên cứu. “Loại vật liệu này còn có nhiều ứng dụng khác nữa”, Bansil nói.  Sử dụng năng lượng photon ở phạm vi 10 eV (electron-volt), các nhà nghiên cứu đã có thể tạo ra một “phát xạ quang thứ cấp liền mạch tập trung” mạnh hơn so với những loại tương tự trước đây, Bansil nhận xét. “Đây là cái tốt nhất bởi vì không có cơ chế nào trong hiểu biết của chúng ta có thể tạo ra hiệu ứng tương tự”, Bansil cho biết. “Nói theo cách khác, chúng tôi không có lý thuyết nào cho hiệu ứng trong vật liệu này, vì vậy đó là một đột phá kỳ diệu”.  Phát xạ electron thứ cấp được miêu tả như một hiện tượng mà các electron sơ cấp bị loai ra đều bị mất năng lượng do các va chạm diễn ra trước đó trong vật liệu. “Khi anh kích thích các electron, một số chúng trên thực tế sẽ thoát khỏi trạng thái rắn”, Bansil nói. “Các electron sơ cấp liên quan đến những electron không tán xạ còn các electron thứ cấp do chúng đã phải chịu va chạm trước đó và không còn ở trạng thái rắn nữa”.  Nhóm nghiên cứu, bao gồm các nhà kha học từ ĐH Tây Hồ Trung Quốc, ĐH Công nghệ Lappeenranta-Lahti (LUT) ở Phần Lan và Northeastern, cho biết một kết quả chỉ ra “những quá trình mới nằm bên trong” mà chưa được biết đến. “Sự đột sinh liền mạch được quan sát trong quá trình phát xạ quang thứ cấp cho thấy sự phát triển của một quá trình mới bên trong những quy trình có trong khung lý thuyết phát xạ quang hiện tại”, họ viết trong bài báo.  Bansil nói các kết quả này hất nhào những gì mà các nhà khoa học đã biết về quá trình phát xạ quang, mở ra cánh cửa cho những ứng dụng mới khắp các ngành công nghiệp, có thể khai thác được sức mạnh của các vật liệu lượng tử phức tạp.  “Tất cả chúng ta đều nghĩ mà mình đã hiểu được thứ vật lý cơ bản trong đó, đến mức mà sự phát triển của các ứng dụng đã tuân theo đúng mô thức lý thuyết có sẵn”, Bansil nói. “Như cách tự nhiên vẫn thường làm, đây là nơi bài báo ném một quả bóng vào tất cả những điều tưởng chừng hiển nhiên đó để có thể làm thay đổi mọi thứ”.  Tô Vân  tổng hơp  Nguồn: https://news.northeastern.edu/2023/03/13/breakthrough-discovery-materials-science-photoemission-quantum/  https://phys.org/news/2023-03-breakthrough-discovery-materials-science-current.html    Author                .        
__label__tiasang Đột phá mới trong điện tử học spin có thể thúc đẩy công nghệ dữ liệu tốc độ cao      Các nhà khoa học đã tạo ra một đột phá mang tính nền tảng trong lĩnh vực điện tử học spin mới nổi (spintronics), vốn có thể dẫn đến một công nghệ dữ liệu hiệu quả về năng lượng với tốc độ xử lý cực nhanh.      Trong các thí nghiệm về spin, có bốn cơ chế có thể xảy ra về vận chuyển một dòng điện spin thông qua một lớp phản sắt từ (xanh blue) bị kẹp giữa hai lớp sắt từ (tía và cam). (Từ trên xuống). Dòng điện spincó thể được vận chuyển bằng các sóng spin THz nhất quán, bằng các sóng spin khó nắm bắt GHz, thông qua một dòng điện spin rời rạc được dẫn động bằng một gradient nhiệt, hoặc thông qua một thay đổi từ trực tiếp giữa hai lớp sắt từ. Thực nghiệm mới chỉ dấu khi vật liệu phản sắt từ NiO bị kẹp giữa các sắt từ NiFe và FeCo, vận chuyển spin giữa NiFe và FeCo xuất hiện qua một sóng spin nhất quán. Nguồn: Physics (2020). DOI: 10.1103/Physics.13.83  Một nhóm nghiên cứu quốc tế, bao gồm các nhà khoa học trường đại học Exeter, đã có một khám phá mang tính cách mạng có tiềm năng mang lại cách sử dụng một số thiết bị điện tử thường được sử dụng bậc nhất thế giới với mức tiêu hao năng lượng thấp và tốc độ cực cao.  Trong khi công nghệ thông tin của thế giới ngày nay phụ thuộc vào các thiết bị điện tử tiêu tốn nhiều năng lượng, các điện tích trong các dòng điện có thể vận chuyển một hình thức mô men động lượng mà người ta vẫn gọi là spin.  Các thiết bị điện tử chứa spin hay còn gọi là điện tử học spin khai thác dòng điện spin, có tiềm năng không chỉ truyền dẫn nhanh hơn một cách đáng kể mà còn đạt được hiệu quả năng lượng tốt hơn nhiều. Các nhà khoa học mới đây khám phá ra một số vật liệu phản sắt từ cách điện là các vật dẫn của dòng điện spin nguyên bản.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học của đại học Exeter hợp tác với trường đại học Oxford, California Berkeley và Cơ sở máy gia tốc tiên tiến Advanced & Diamond Light Sources đã chứng minh bằng thí nghiệm các dòng điện spin xoay chiều tần số cao có thể được vận chuyển bằng, và thi thoảng được khuếch đại, các lớp mỏng phản sắt từ NiO.  Kết quả chứng minh dòng điện spin trong các lớp NiO mỏng có trung gian là các sóng spin khó nắm bắt, một cơ chế liên quan đến đường hầm cơ học lượng tử.  Việc sử dụng các lớp NiO mỏng để vận chuyển và khếch đại dòng điện spin xoay chiều tại nhiệt độ phòng và các tần số gigahertz có thể dẫn đến công nghệ truyền thông không dây trong tương lai hiệu quả hơn.  Nghiên cứu “Coherent Transfer of Spin Angular Momentum by Evanescent Spin Waves within Antiferromagnetic NiO” (Vận chuyển nhất quán mô men động lượng spin bằng các sóng spin khó nắm bắt) được xuất bản trên Physical Review Letters.  Maciej Dabrowski, tác giả thứ nhất của công bố tại trường đại học Exeter, cho biết: “Việc xác nhận cơ chế sóng spin khó nắm bắt đã chứng tỏ thí nghiệm của chúng tôi chỉ dấu sự vận chuyển của mô men động lượng giữa các spin và mạng tinh thể phản sắt từ có thể thực hiện được trong các màng mỏng NiO  và mở cánh cửa tới việc xây dựng các bộ khuếch đại dòng điện spin ở cấp độ nano”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-breakthrough-spintronics-boost-high-technology.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá mới trong nghiên cứu về biến đổi gene trên thực vật      Một đột phá mới đã giúp khắc phục hạn chế và mở rộng phạm vi áp dụng của phương pháp biến đổi gene trên thực vật đang phổ biến hiện nay.      Mặc dù việc thương mại hóa các sản phẩm biến đổi gene còn đang gây rất nhiều tranh cãi nhưng các nhà nghiên cứu vẫn tập trung vào cải tiến liên tục để tạo ra các giống mới tốt hơn.  Đối với các loại ngũ cốc, các nhà khoa học không ngừng tìm ra những phương pháp để biến đổi gene của chúng sao cho đạt năng suất cao, chống chịu lại sâu bệnh, kháng nấm, thuốc trừ sâu… Các nhà khoa học thường sử dụng phương pháp cấy Agrobacterium (một loại vi khuẩn đã được chỉnh sửa gene) vào mô thực vật, sau đó nuôi cấy mô đó thành cây hoàn chỉnh. Phương pháp này có kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp, cây trồng ổn định qua nhiều thế hệ nhưng lại chỉ có thể thực hiện được với một số loại ngũ cốc nhất định.  Trong một nghiên cứu mới đăng trên tạp chí The plant cell, các nhà khoa học đã tìm ra biện pháp khắc phục hạn chế này, mở rộng phạm vi ứng dụng phương pháp cấy Agrobacterium sang nhiều giống, loài cây khác nhau. Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã ghép một loại gene tạo hình (morphogenic gene – là loại gene đã được chỉnh sửa và được sử dụng rộng rãi trong sản xuất các loại mô phôi) cùng với gene đã được chỉnh sửa từ trước đó vào trong hệ gene của Agrobacterium, sau đó cấy vào mô thực vật và nuôi cấy mô đó thành cây hoàn chỉnh. Khi sử dụng phương pháp mới này, tỉ lệ các giống ngũ cốc được biến đổi gene tăng cao hơn rất nhiều so với trước đây. Kỹ thuật này có thể được áp dụng rộng rãi trên các các giống cây khác như lúa miến, lúa nước và mía.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá trong công nghệ chăn nuôi bằng cám bổ sung Bio-Zeem™      Các nghiên cứu khoa học về lợi ích của cám bổ sung men tiêu hóa  Bio-Zeem™ cho thấy, đây là một trong những sản phẩm mang tính đột phá trong công nghệ chăn  nuôi lợn.    Hội nghị khoa học về thức ăn gia súc tổ chức tại TPHCM ngày 23/6 đã đề cập đến những nghiên cứu về việc bổ sung men tiêu hóa trong thức ăn chăn nuôi, hứa hẹn về khả năng giảm thiểu các bệnh tiêu hóa thường gặp trên lợn, góp phần tăng cường sức khỏe tiêu hóa và nâng cao hệ miễn dịch cho lợn ngay từ những bữa ăn hàng ngày. Từ các nghiên cứu cho thấy, đa số các tế bào miễn  dịch của lợn đều nằm trong đường tiêu hóa. Vì vậy, hệ tiêu hóa khỏe mạnh  chính là nền tảng vững chắc cho sức khỏe của lợn, qua đó giúp người chăn nuôi không phải cho lợn uống thuốc kháng sinh, yếu tố khiến dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt cao.   Điều làm nên đột phá trong cám bổ sung men tiêu hóa  Bio-Zeem™ là có chứa enzyme Phytase, giúp ức chế chất kháng dinh dưỡng Phytate, vốn có trong cám gạo, bột đậu nành… và là nguyên nhân gây thất thoát chất nội sinh, suy giảm miễn dịch, khiến lợn chậm lớn. Ngoài ra, men tiêu hóa  Bio-Zeem™ còn có enzyme  Xylanase, có vai trò sản xuất ra Pre-biotic là thức ăn cho lợi khuẩn, giúp chúng  phát triển trong điều kiện thuận lợi hơn, đồng thời giảm độ  nhớt trong ruột để hấp thụ chất dinh dưỡng một cách tốt nhất.     Sự kết hợp enzyme Phytase với enzyme Xylanase còn có tác dụng hỗ trợ giải phóng các dưỡng chất thiết  yếu nhanh hơn, nhất là các axit amin và các khoáng chất cần cho các tế  bào của hệ miễn dịch vốn tập trung chủ yếu trong đường tiêu hóa. Nó góp phần giải quyết những vấn đề thường gặp ở các bệnh  thường gặp trên lợn là hệ tiêu hóa yếu, qua đó tăng cường sức đề kháng cho lợn.   Trước khi giới thiệu về  tại hội nghị, cám bổ sung men tiêu hóa  Bio-Zeem™ đã được áp dụng khảo nghiệm trên đàn lợn gần 60 con có cân nặng 20 đến 50 kg. Kết quả cho thấy, lợn ăn cám bổ sung Bio-Zeem™ tăng bình quân 26 đến 28kg, tiết kiệm tới 6% so với lượng thức ăn so với khi dùng cám thông thường, giảm chi phí đầu vào cho người chăn nuôi.  Hội nghị do Công ty cổ phần dinh dưỡng nông nghiệp quốc tế (ANCO) và Công ty cổ phần Việt-Pháp sản xuất thức ăn gia súc (PROCONCO) phối hợp tổ chức.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phát phát triển: Kinh nghiệm và bài học      Thực tiễn phát triển kinh tế của thế giới hiện đại chỉ ra nhiều sự kiện được coi là đột phá phát triển. Đặc biệt, kinh nghiệm tạo ra sự “thần kỳ” kinh tế ở một loạt nước Đông Á trong vòng 50 năm trở lại đây cho thấy vai trò to lớn của các cú đột phá phát triển trong toàn bộ tiến trình, trong đó hai kinh nghiệm đột phá phát triển được coi là điển hình đó là: Sự lên giá đồng Yên Nhật Bản năm 1985 và sự thay đổi chính sách tỷ giá hối đoái ở Trung Quốc năm 1994 và xu hướng lên giá đồng nhân dân tệ hiện nay.    Đồng Yên Nhật lên giá (1985) và sự thay đổi mô hình tăng trưởng.  Trong quá trình phát triển “thần kỳ” kéo dài gần suốt nửa cuối thế kỷ XX của Nhật Bản, bước ngoặt xảy ra dưới tác động đột phá của sự lên giá đồng Yên sau Hiệp ước Plaza 1985.  Chúng ta hãy xem xét chi tiết hơn trường hợp này.   a/ Tình huống đột phá:  Từ một nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh thế giới thứ II, đến giữa thập niên 1980, Nhật Bản đã vươn lên mạnh mẽ và “tham gia vào bộ ba quyền lực đứng đầu thế giới (gồm Mỹ, Tây Đức và Nhật Bản – TG)” (K. Seitz 2004). Yếu tố cơ bản tạo ra điều thần kỳ đó chính là mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu mà một trong những trụ cột quan trọng nhất là chính sách tỷ giá hối đoái “đồng Yên yếu”. Việc duy trì một đồng Yên yếu so với đồng USD kéo dài mấy thập niên đã giúp cho hàng hóa Nhật Bản tăng sức cạnh tranh so với hàng hóa của các nền kinh tế phát triển ở Tây Âu, Bắc Mỹ. Nhờ đó, trong suốt thập niên 1970 và nửa đầu thập niên 1980, Nhật Bản đánh bại hầu như tất cả các địch thủ kinh tế ở bất cứ lĩnh vực nào mà các công ty Nhật Bản chọn làm chiến trường cạnh tranh. Các nền kinh tế – đối thủ cạnh tranh của Nhật Bản bị mất dần thị phần của nhiều sản phẩm mang tính biểu tượng vào tay Nhật Bản. Được mệnh danh là “những kẻ luôn luôn chiến thắng”, các ngành công nghiệp và các công ty Nhật Bản đã đẩy đối thủ phương Tây vào cuộc tháo chạy kéo dài, kể cả ở những mặt trận vốn được coi là niềm tự hào của họ. Ô tô và hàng điện tử gia dụng là những ví dụ điển hình cho chiến thắng kinh tế huy hoàng của Nhật Bản và là nỗi cay đắng của các đối thủ cạnh tranh Mỹ và Tây Âu trong giai đoạn này1. “Chẳng có quốc gia công nghiệp nào có được thặng dư mậu dịch về sản phẩm chế tạo với Nhật Bản” (L. Thurow 1994). Đặc biệt, nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng nặng nề trong quan hệ buôn bán với Nhật.                     Khi phân tích nguyên nhân sinh ra mối đe dọa từ phía Nhật Bản, một cường quốc công nghiệp bị chiến tranh tàn phá chỉ mới phục hồi nhưng lại luôn luôn có thặng dư thương mại với phần còn lại của thế giới, các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách hàng đầu của các nền kinh tế phương Tây nhận thấy vai trò đặc biệt to lớn, thậm chí có thể coi là quyết định, của chính sách tỷ giá hối đoái mà Chính phủ Nhật Bản áp dụng. Đó là chính sách có mục tiêu duy trì đồng Yên giá trị thấp so với đồng USD, được Chính phủ Nhật Bản kiên trì áp dụng trong hơn 20 năm, biến nó thành động lực quan trọng bậc nhất, giúp nền kinh tế Nhật Bản triển khai thành công mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu.  Thực tế của Nhật Bản phù hợp với nguyên tắc lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và thành tích xuất, nhập khẩu, được phản ánh trong một nguyên lý kinh tế học đơn giản, thông thường nhưng rất hiệu quả: một chế độ tỷ giá, trong đó, đồng nội tệ bị “đánh giá thấp” so với đồng ngoại tệ, sẽ có tác động thúc đẩy xuất khẩu và kiềm chế nhập khẩu, giúp nền kinh tế thu được thặng dư thương mại; ngược lại, đồng nội tệ được “đánh giá cao” trong quan hệ tỷ giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và cản trở xuất khẩu, trở thành một trong những nguyên nhân chính gây thâm hụt mậu dịch.  Nhận thức được sức mạnh thực tiễn của nguyên lý đó trong trường hợp Nhật Bản, các Chính phủ phương Tây đã sử dụng chính nó để “phản đòn”. Họ đi tới kết luận vốn rất thông thường về mặt lý thuyết rằng việc thay đổi tỷ giá theo hướng giảm giá đồng USD, tăng giá đồng yên sẽ “triệt tiêu” động lực tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản, giúp các nền kinh tế phương Tây thoát khỏi tình trạng thâm hụt mậu dịch trường kỳ trong quan hệ thương mại với Nhật.  Nhận định trên là cơ sở để 5 cường quốc tài chính là Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật gặp nhau ngày 22/9/1985 tại khách sạn New Yorker Plaza để tìm kiếm một giải pháp nhằm chặn đứng xu hướng gia tăng thặng dư thương mại theo cấp số nhân của Nhật và giảm thiểu mức độ tăng thâm hụt thương mại tương ứng của Mỹ. Giải pháp được chọn để đạt mục tiêu là phá giá mạnh đồng USD, tăng giá các đồng tiền khác, trong đó, đích ngắm chính là đồng Yên.  Tại cuộc gặp lịch sử Plaza, trước áp lực rất mạnh của Mỹ và các đối tác châu Âu, Nhật Bản buộc phải chấp nhận nâng giá đồng Yên. Hiệp ước Plaza có tác dụng tức thì. Giá trị đồng Yên nhanh chóng tăng vọt (bảng 1).  Bảng I.1. Tỷ giá yên – USD (yên/1USD).  Thời điểm         1971 1985 1986 1/1987  Yên/1 USD 3        60  245   200  121  Nguồn: P.A. Donnet 1991, K. Seitz 2004.  Bảng trên cho thấy, ngay sau Hiệp ước Plaza, trong năm 1985, đồng Yên lập tức tăng giá 30%. Và chỉ sau đó chưa đầy một năm rưỡi, đồng Yên lại tăng giá thêm 50%. Từ cuối năm 1985 đến đầu năm 1987, giá trị tỷ giá của đồng Yên đã nhân đôi. Thật sự đã diễn ra một sự đảo ngược tỷ giá.  Theo lý thuyết, không có động lực tăng trưởng xuất khẩu nào có thể tồn tại sau cú đòn tỷ giá mang tính “hủy diệt” như vậy. Một “thảm họa” xuất khẩu hay đại loại như vậy là điều được nhiều người dự báo sẽ nhanh chóng xảy ra đối với nền kinh tế Nhật Bản với việc áp dụng giải pháp “đảo ngược” tỷ giá. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra. Và chính cái sự không – xảy – ra như vậy lại tạo nên một trong những điều “thần kỳ” ấn tượng nhất trong toàn bộ sự thần kỳ kinh tế Nhật Bản diễn ra trong các thập niên 1950-1980.     Hiệu ứng:  Trên thực tế, tác động của chính sách tăng giá đồng Yên có làm cho thâm hụt xuất khẩu của Mỹ giảm đi phần nào nhờ tăng trưởng xuất khẩu từ Tây Âu giảm xuống (vì các đồng tiền Tây Âu cũng bị lên giá mạnh) và xuất khẩu từ Nhật Bản bị chững lại. Song chính nhờ thay đổi tương quan tỷ giá, nước Nhật, các công ty Nhật và người Nhật trở nên giàu lên, cũng đột ngột như sự lên giá của đồng Yên. Thực chất của vấn đề là: việc tăng giá đồng Yên làm tài sản của người Nhật và nước Nhật tăng tương ứng. Sau hơn hai thập niên trường kỳ tăng trưởng với tốc độ cao, Nhật Bản đã kịp tích luỹ một khối lượng tài sản tài chính khổng lồ. Khối lượng tài sản đó được chuyển đổi từ đồng Yên sang đồng USD và nhờ “đòn tỷ giá” đã nhân đôi chỉ sau hai năm. Đó đích thực là bước nhảy thần kỳ, làm ngỡ ngàng cả những bộ óc lạnh lùng nhất.  Năm 1982, trong bảng xếp hạng ngân hàng toàn cầu, hai ngân hàng lớn nhất thế giới đều là của Mỹ – NY Citicorp và Bank of America. Còn các ngân hàng Nhật Bản xếp hạng cao nhất chỉ đứng thứ 8 và 10.  Tuy nhiên, đến 1989, trật tự xếp hạng đã đảo ngược: cả 10 ngân hàng lớn nhất đều của Nhật Bản. Trật tự cũng tương tự như vậy với các hãng kinh doanh chứng khoán: 4 hãng lớn nhất là của Nhật Bản: Nomura, Daiwa, Nikko và Yamaichi; sau đó mới là các hãng Mỹ đã từng đứng đầu, gồm Merrill Lynch (K.Seitz. 2004, tr. 93).  Như vậy là từ một cường quốc xuất khẩu, chỉ sau một thời gian rất ngắn, ngắn đến mức khó tưởng tượng cho cả những bộ óc giàu trí tưởng tượng, Nhật Bản đã trở thành một siêu cường tài chính và công nghiệp toàn cầu. Đằng sau bước nhảy kỷ lục này là vai trò nổi bật của “cú đòn tỷ giá Plaza 1985”.  Trở thành cường quốc tài chính, nước Nhật có điều kiện (và buộc phải) thay đổi mô hình tăng trưởng. Từ chỗ chỉ dựa vào xuất khẩu hàng hóa, sau Hiệp ước Plaza, mô hình tăng trưởng của Nhật Bản chuyển sang dựa mạnh hơn vào cầu trong nước. Trong mô hình đó, xuất hiện một trụ cột tăng trưởng mới: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Dòng FDI từ Nhật Bản đã tăng vọt kể từ năm 1986.  Bảng 1.2. dưới đây phản ánh bước chuyển đó.                   Trên cơ sở các số liệu trên, đồ thị dưới đây (đồ thị I.1) giúp nhận diện trực quan tính đột biến của dòng FDI từ Nhật Bản dưới tác động của Hiệp ước Plaza.   Chính sự bùng nổ dòng FDI này của Nhật Bản đã giúp các nền kinh tế ASEAN (Singapore, Malaysia, Thái lan và Indonesia) có điều kiện và cơ hội trỗi dậy mạnh mẽ để trở thành “rồng” trong thập niên 1970-1980. Có nghĩa là sự đột phá phát triển của nền kinh tế Nhật Bản đã gây hiệu ứng lan tỏa phát triển đặc biệt mạnh mẽ ở khu vực Đông Nam Á. Tất nhiên, sự trỗi dậy của các nền kinh tế ASEAN đó không có nguyên nhân đơn nhất từ dòng FDI của Nhật Bản. Phải có thêm những điều kiện bên trong chín muồi – sự sẵn sàng các điều kiện vật chất, kỹ thuật, nhân lực, một khát vọng và quyết tâm phát triển mạnh mẽ cộng với một thái độ chính sách thu hút FDI tích cực (điều kiện cần) thì dòng FDI của Nhật Bản (điều kiện đủ) mới có thể phát huy tác dụng gây bùng nổ.  Đồ thị I.1. Động thái FDI ra nước ngoài của Nhật Bản trong thập niên 1980                Nguồn: Xem bảng I.2.  Về phần mình, nước Nhật đã thu lợi lớn từ việc gia tăng mạnh đầu tư ra nước ngoài. Thay vì xuất khẩu hàng hóa, giờ đây, nước Nhật còn là cường quốc xuất khẩu vốn. Tiềm lực sản xuất và tiềm lực vốn to lớn bảo đảm cho Nhật Bản đứng vững trên hai cột trụ quan trọng nhất của nền kinh tế hiện đại: xuất khẩu và đầu tư. Giờ đây, trong cuộc cạnh tranh với Nhật Bản, thế giới rơi vào thế lưỡng nan: nếu tỷ giá cao (đồng Yên bị đánh giá thấp), Nhật Bản tăng cường xuất khẩu hàng hóa, đẩy thế giới lâm vào tình trạng thâm hụt mậu dịch; nếu tỷ giá thấp (đồng Yên được đánh giá cao), các công ty Nhật Bản sẽ đẩy mạnh đầu tư ra bên ngoài, tổ chức sản xuất và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài tại chỗ để thu lợi.   Tóm lại, nền kinh tế Nhật Bản đã có một sự đột phá cực kỳ mạnh mẽ từ một giải pháp- sự cố giống như là đơn nhất: tăng giá đồng tiền. Giá trị to lớn của sự đột phá này không bị giới hạn lại một cách đơn giản ở thành tích thúc đẩy tăng trưởng đầu tư ra nước ngoài thay cho thành tích tăng trưởng xuất khẩu, cho dù chỉ sự thay thế này cũng đã đủ tạo nên một kỳ tích phát triển, hiểu theo nghĩa nó giúp nền kinh tế Nhật Bản thoát hiểm trước sự phản công quyết liệt của tất cả các đối thủ cạnh tranh. Trên một tầm rộng lớn hơn, thực tế cho thấy rằng thông qua sự thay đổi chính sách tỷ giá, nền kinh tế Nhật Bản đã thay đổi cả một mô hình tăng trưởng. Kéo theo sự thay đổi này là sự hình thành một động thái phát triển kinh tế mới ở Đông Á: mô hình “đàn sếu bay” ra đời kéo theo sự tăng trưởng của cả một khu vực rộng lớn mà hiệu ứng của nó còn lan tỏa đến tận bây giờ và có tác động mạnh đến nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc.  Nhìn nhận sự thay đổi tiến trình phát triển theo cách đó, người ta nói nước Nhật chính là tác giả phát minh ra “trò chơi” toàn cầu mới: tiến hành toàn cầu hóa bằng cả hai chân- thương mại và đầu tư – một cách nhịp nhàng. Trước Nhật, chưa có nước nào làm được điều đó một cách có ý thức và hiệu quả như vậy.   (Xem tiếp kỳ sau)  ——–  1 Để minh họa, hãy xem sự thay đổi thị phần thị trường bộ nhớ điện tử thế giới ở bảng sau (%):   (Nguồn: P.A. Donnet. Nước Nhật mua cả thế giới. NXB Thông tin Lý luận 1991).  Có thể lấy thêm rất nhiều ví dụ khác tương tự – về đồng hồ, ô tô, đóng tàu… để minh họa. Những ví dụ này có rất nhiều trong các công trình nghiên cứu về “sự thần kỳ Nhật Bản” được thực hiện trong các thập niên 1970, 1980 và 1990, ví dụ “MITI và sự thần kỳ Nhật Bản” (Chalmer Johnson), “Nước Nhật mua cả thế giới” (P.A. Donnet, 1991); “Tại sao Nhật Bản thành công” (M. Morishima); “Đối đầu” (L. Thurow, 1994)…        Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Drone ong biết xây dựng và sửa chữa các cấu trúc bằng in 3D khi bay      Công nghệ này đã được kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm, cuối cùng có thể hữu dụng trong sản xuất và xây dựng trong những địa điểm nguy hiểm hoặc khó truy cập như các tòa nhà cao tầng hoặc hỗ trợ công việc xây dựng sau thảm họa, các nhà nghiên cứu cho biết.    In 3D trong ngành công nghiệp xây dựng đang được tiếp thêm động lực. Cả trong nhà máy, các vật liệu in các robot có khả năng di chuyển và tĩnh tại nữa để sử dụng trong các dự án xây dựng như thép và các cấu trúc bê tông.  Cách tiếp cận mới cho in 3D printing – do các nhà khoa học ở ĐH Hoàng gia London và Các phòng thí nghiệm KH&CN vật liệu liên bang Thụy Sĩ phát triển – đã sử dụng các robot biết bay hay còn gọi là các drone (thiết bị bay không người lái), sử dụng các phương pháp xây dựng thu thập được truyền cảm hứng từ những nhà xây dựng của thế giới tự nhiên như ong mật và ong bắp cày, những con vật sống theo đàn có thể cùng nhau tạo ra các cấu trúc lớn và phức tạp.  Các drone này, được biết đến như các thiết bị bay được sản xuất theo công nghệ đắp bồi (Aerial-AM), được làm từ một bản mẫu duy nhất, hoạt động đúng theo các kỹ thuật thiết kế. Chúng cũng vận hành tự động hoàn toàn khi bay nhưng được giám sát bằng một người kiểm soát thông qua việc kiểm tra tiến trình và can thiệp khi cần thiết, trên cơ sở thông tin mà drone cung cấp.  Nhà nghiên cứu dẫn dắt nghiên cứu, giáo sư Kovac, của Trung tâm Vật liệu và công nghệ Robotics của Empa và Khoa Hàng không của Đại học hoàng gia London, nói, “Chúng tôi đã chứng tỏ là các drone có thể tự vận hành và kết nối việc xây dựng và tu sửa các tòa nhà cao tầng, ít nhất là trong phòng thí nghiệm chứng tỏ như vậy. Giải pháp của chúng tôi có thể mở rộng quy mô và có thể giúp chúng tôi xây dựng và tu sửa ở những nơi khó tiếp cận trong tương lai”.  In 3D các hình dạng  Aerial-AM sử dụng cả in 3D và khung hoạch địch chuyển động để hỗ trợ các drone đáp ứng với những biến thiên của địa hình cấu trúc như các quá trình xây dựng. Hạm đội này bao gồm BuilDrones, vốn giữ các vật liệu trong suốt chuyến bay, và ScanDrones kiểm soát chất lượng có thể đo lường liên tục kết quả và thông tin của BuilDrones trong những bước biến chuyển hành động tiếp theo của chúng.  Để kiểm tra ý tưởng này, các nhà nghiên cứu đã phát triển bốn khối hỗn hợp xi măng trộn sẵn để các drone này xây dựng. Qua quá trình xây dựng, các drone đã đánh giá địa hình theo thời gian thực và đảm bảo đạt được những yêu cầu kỹ thuật với độ chính xác trong sản xuất trên phần công việc thử nghiệm là công trình có độ cao 5 milimét.  Thí nghiệm in thuộc dạng chứng minh khái niệm này bao gồm một cylinder cao 2,05 mét (72 lớp) với vật liệu bọt chứa polyurethane, và một cylinder 18 milimét (28 lớp) với một vật liệu xi măng cấu trúc thiết kế đặt hàng.  Công nghệ này đưa ra những khả năng có thể trong tương lai để xây dựng và sửa chữa những cấu trúc nhà cao tầng hoặc những địa điểm khó tiếp cận. Bước tiếp theo, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục làm việc với những công ty xây dựng để đánh giá các giải pháp và cung cấp những năng lực sửa chữa và sản xuất. Giáo sư Kovac nói, “Chúng tôi tin là phi đội drone của chúng tôi có thể giúp giảm thiểu chi phí và rủi ro trong xây dựng trong tương lai so với các phương pháp truyền thống”.  Thanh Phương tổng họp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/s41586-022-04988-4  https://finance.yahoo.com/news/flying-3d-printer-drones-bees-053749505.html?guccounter=1&guce_referrer=aHR0cHM6Ly93d3cuZ29vZ2xlLmNvbS8&guce_referrer_sig=AQAAAAEzvvDM9kVR8D7cHW2mIEFPNkdTuZj4PsSP11hdRvS7eENbEkVIzQhZxWV_OUKm3g33FTqdDu6AjVx-gOWtZQdgV0orxQ3m_bPa030DFcnHiJen-a2IMnIS2-k6yqZpcfgxdWUUyMlX-rRQOqWmT8VRVgau9U3yq1cuYJlcDjlx    Author                .        
__label__tiasang Drone tiếp cận nông nghiệp ĐBSCL      Với giá 18.000 – 20.000 USD/1 thiết bị bay không người lái (drone), tương đương 400 – 450 triệu đồng, thời gian sử dụng năm năm, dùng phun thuốc BVTV sẽ giảm 20 – 30% lượng thuốc sử dụng, rút ngắn thời gian phun thuốc tới 80%.      Trình diễn phun thuốc bằng drone.  Thiết bị bay không người lái được sử dụng tại Nhật từ 1980 đến nay, ông Phạm Ngọc Phúc, phụ trách kỹ thuật công ty DMM Technologies (Nhật Bản), cho rằng  drone nhỏ gọn, chỉ nặng 5 – 7kg, mang theo 5 – 10kg dung dịch thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thời gian phun 10 – 20 phút cho 1ha, tốc độ bay 20km/h, phù hợp với địa hình Việt Nam. Tháng 4/2017, tại hợp tác xã  Mỹ Đông 2, drone biểu diễn mang 5 lít thuốc BVTV bay ở độ cao 2 – 3m, cự ly bay 250m, phun 10 lít thuốc BVTV trong 10 phút/ha. Giá thực nghiệm 300.000 đồng/ha, khi triển khai thực tế giá khoảng 450.000 đồng/ha, chưa tính thuốc BVTV.  Mới đây, công ty CP Đại Thành bắt đầu đưa UAV (Unmanned Aerial Vehicle) do công ty Eagle Brother UAV tại Thâm Quyến, Trung Quốc vào Việt Nam, giá bán 400 triệu đồng/thiết bị UAV.  Một tỉnh thuộc Đồng Tháp Mười “hết hồn” khi tổng hợp khối lượng thuốc BVTV mà nông dân sử dụng trong năm 2017 gần 11.000 tấn. Drone có thể làm được nhiều việc hơn, nhưng vì sao các chuyên gia bán hàng chỉ nói tới chuyện phun xịt thuốc trong khi nông nghiệp phụ thuộc hoá chất còn biết bao hệ luỵ!? Mỗi năm, Việt Nam chi 600 – 700 triệu USD nhập thuốc BVTV, thiết bị thông minh sẽ làm thay nông dân phun xịt thuốc BVTV, cách truyền thông tiếp cận nông dân về drone của các doanh nghiệp thực sự chưa mấy thuyết phục.  Ông Nguyễn Văn Hùng, phó giám đốc sở Khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Tháp, cho rằng xét tổng thể, nền nông nghiệp nước ta vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, muốn ứng dụng các thành tựu ứng dụng công nghệ thông tin, IoT… vào thực tế thì chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp phải thông thoáng và thực sự hấp dẫn. Doanh nghiệp nước ngoài từng biểu diễn thực nghiệm phun thuốc BVTV bằng máy bay không người lái, nhưng giá thành còn cao. Một người nông dân chỉ có trong tay 2 – 3 công đất, công vườn thì làm sao mua nổi cái thiết bị bay 400 – 450 triệu đồng. Còn mua để làm dịch vụ thì giá cao là bất lợi. Việc cấp phép cũng không đơn giản? Muốn làm thì phải có doanh nghiệp lớn, các HTX hay trang trại có trình độ, có vốn, quy mô lớn.  Tổng giám đốc công ty CP Đại Thành, cho biết công ty đã hoàn thiện thủ tục giấy tờ liên quan đến việc cấp phép bay cho các đơn vị đăng ký sử dụng UAV, đào tạo huấn luyện, cấp chứng chỉ. Cung cấp dịch vụ và hỗ trợ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị UAV. Theo ông, với thiết bị UAV của Trung Quốc có thể phun thuốc, gieo hạt giống, đo chỉ số bức xạ cảnh báo sâu bệnh hại…  Drone cũng có thể thu thập thông tin để tạo ra các thuật toán phát triển công nghệ hoặc ứng dụng phục vụ nuôi trồng thuỷ sản và các trang trại nuôi thuỷ sản xa bờ. Công ty Sail Drone thu thập dữ liệu, phân tích sinh khối thuỷ sản nuôi, theo dõi tình trạng môi trường cho nuôi trồng thuỷ sản ở xa bờ… Thiết bị không người lái này kết nối với máy tính bảng, điện thoại thông minh hoặc máy tính của nhà sản xuất, cho phép thu thập và phân tích thông tin toàn bộ quá trình nuôi.  Nếu nhập drone từ nước ngoài về thì không có gì khó, một nhà khoa học từ Mỹ về nước, cho biết: mất mấy tháng trời xin sản xuất drone phục vụ nông nghiệp, cứu hộ tại Việt Nam; nhưng không được, thủ tục cấp phép bay hết sức nhiêu khê.  Vân Anh – Ngọc Bích (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang DTT hợp tác với EMOTIV thành lập chuỗi phòng thí nghiệm nghiên cứu dữ liệu sóng não      Chiều 1/8, tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), Công ty Công nghệ DTT và EMOTIV – công ty tiên phong trên thế giới trong việc phát triển thiết bị đeo trên người đo điện não đồ đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác về việc thành lập chương trình chuỗi phòng thí nghiệm về dữ liệu sóng não (Neuro Lab) tại Việt Nam.    Theo đó, EMOTIV sẽ hợp tác với DTT để thúc đẩy và mở rộng nghiên cứu điện não đồ (EEG), cùng với các đối tác toàn cầu như Sapien Labs – một tổ chức phi lợi nhuận xây dựng kho dữ liệu mở và các công cụ phân tích dữ liệu về bộ não con người. Ban đầu sẽ có hai phòng lab được đặt tại phòng thí nghiệm IoT Lab tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Học viện STEM sau đó sẽ mở rộng ra tại các trường phổ thông và Đại học trong cả nước.   Chia sẻ trên trang cá nhân của mình, anh Nguyễn Thế Trung, Giám đốc công ty DTT cho biết, mục tiêu của dự án này là hướng đến 100 phòng lab trên khắp Việt Nam và hàng trăm công bố quốc tế về lĩnh vực sinh học số hóa trong một vài năm tới. Anh cũng kêu gọi sự tham gia của những trường đại học và nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học dữ liệu ở Việt Nam tham gia dự án này.     Anh Nguyễn Thế Trung và chị Lê Thị Thái Tần (bìa phải) là bạn từ thời Đại học nhưng Neuro Lab là lần hợp tác chính thức đầu tiên giữa DTT và EMOTIV. Theo chia sẻ trên trang cá nhân, anh Trung cho biết, cả hai công ty đã dành ba năm trao đổi và chuẩn bị cho dự án này.   Theo chị Lê Thị Thái Tần, CEO của EMOTIV, sinh học số hóa là một trụ cột của Cách mạng công nghiệp 4.0, vì thế Việt Nam cần lưu ý phát huy lĩnh vực này, cụ thể là chú trọng vào dữ liệu đặc thù như dữ liệu về sóng não. Hiện nay, EMOTIV là công ty hàng đầu thế giới trong việc sở hữu công cụ và nền tảng dữ liệu về não.   Các thống kê cho thấy ngành nghiên cứu về thần kinh học của con người hiện đang bị chi phối bởi một số ít quốc gia. 80% các ấn phẩm nghiên cứu về điện não đồ (EEG) vào năm 2015 đều đến từ Mỹ và Tây Âu.   Tuy nhiên, những thách thức và cơ hội về não bộ lại mang tính toàn cầu và những kết quả nghiên cứu của phương Tây có thể không dùng được cho nơi khác vì bộ não có sự đa dạng và phụ thuộc vào bối cảnh. Vì vậy phát triển cộng đồng khoa học quốc tế toàn cầu là điều rất cần thiết.  Phát biểu tại lễ ký, anh Nguyễn Thế Trung bày tỏ kỳ vọng rằng, hệ thống Neuro Lab trước hết là tạo cơ hội cho học sinh Việt Nam được tham gia các khóa học STEM liên quan tới não bộvà đây cũng sẽ là bước khởi đầu cho những kế hoạch dài hạn nghiên cứu về dữ liệu não bộ của DTT và EMOTIV. Anh tin rằng việc hợp tác này không chỉ mang lại lợi ích cho học sinh, sinh viên mà còn cả cộng đồng nghiên cứu và cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam thông qua việc tiếp cận được các cơ sở dữ liệu lớn về điện não đồ và gắn kết với các nghiên cứu của hệ thống Emotiv và Sapien Labs để tiến vào công nghiệp dữ liệu não bộ.   (Bài viết sử dụng tư liệu từ thông cáo báo chí do DTT cung cấp)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án “Ăn sạch” hướng tới thị trường rau Hà Nội      Với mong muốn nâng cao nhận thức cho người nông dân về tác hại của thuốc bảo vệ thực vật cũng như cung cấp các biện pháp trồng rau an toàn, hiệu quả, một dự án mang tên “Ăn sạch” đã ra đời, góp phần tạo ra thị trường rau sạch an toàn hơn cho người tiêu dùng Hà Nội.  &#160;    Đây là dự án phi lợi nhuận về phát triển nông nghiệp bền vững được thành lập bởi một nhóm bạn trẻ Hà Nội vào ngày 4/1/2015. Dự án hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn thực phẩm.  Trọng tâm của dự án hướng đến là rau sạch, nhằm giảm tỉ lệ người bị ngộ độc thực phẩm và hướng đến một tương lai xanh, sạch, an toàn thông qua việc nâng cao nhận thức cho người nông dân, người tiêu dùng và tư vấn kiến thức, thay đổi cách trồng rau theo hướng rau hữu cơ.  Để thực hiện mục tiêu trên, dự án “Ăn sạch” sẽ tập trung vào việc truyền thông nâng cao nhận thức cho người sản xuất về nguy cơ do hóa chất bảo vệ thực vật gây ra đối với sức khỏe con người và môi trường sinh thái.  Bên cạnh đó, dự án cũng hướng dẫn kĩ thuật trồng rau sạch cho người dân. Đặc biệt, dự án sẽ là cầu nối giữa chuyên gia-nông dân và thị trường tiêu thụ, đưa nguồn rau sạch đến thị trường rau Hà Nội và các tỉnh lân cận.  Theo số liệu khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), hiện nay có tới 73% người bán rau tại Hà Nội không thể phân biệt được rau bẩn và rau an toàn, trong khi tỉ lệ này ở người mua lên tới 95%.  Từ con số IPSARD đưa ra có thể thấy, việc tổ chức tuyên truyền kiến thức về sản xuất rau sạch đến người nông dân của nhóm bạn trẻ Hà Nội là vô cùng cần thiết.  Chính vì thế, dự án “Ăn sạch” ra đời, ngay lập tức đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các chuyên gia và người dân.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/ra-mat-du-an-an-sach-huong-toi-thi-truong-rau-an-toan-tai-ha-noi/319306.vnp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án “đóng gói” văn hóa và môi trường      C&#243; thể thấy hai vấn đề &#8220;n&#243;ng&#8221; lu&#244;n đi k&#232;m c&#225;c dự &#225;n ph&#225;t triển kinh tế l&#224; văn h&#243;a v&#224; m&#244;i trường. C&#243; vẻ như sau giai đoạn tho&#225;t ngh&#232;o tức giai đoạn &#8220;kiếm ăn&#8221;,&nbsp; bằng mọi gi&#225; với hai lợi thế tiềm năng l&#224; t&#224;i nguy&#234;n, sản phẩm th&#244; v&#224; c&#244;ng nh&#226;n gi&#225; rẻ th&#236; vấn đề bền vững từ chỗ được đặt sau từ tăng trưởng như một t&#237;nh từ đi k&#232;m đ&#227; trở th&#224;nh một danh từ độc lập, một kh&#225;i niệm ti&#234;n quyết, chủ động đặt điều kiện cho tăng trưởng. Bền vững c&#243; nhiều nội dung. Nội h&#224;m của n&#243; phong ph&#250;, phức tạp nhưng chắc chắn trong đ&#243; c&#243; hai th&#224;nh tố quan trọng l&#224; văn h&#243;a v&#224; m&#244;i trường. Nếu tăng trưởng l&#224;m hại văn h&#243;a v&#224; m&#244;i trường th&#236;&nbsp; những thiệt hại ấy l&#224; kh&#244;ng thể cứu v&#227;n, b&#249; đắp nổi. Ta đ&#227; c&#243; qu&#225; nhiều th&#237; dụ về điều n&#224;y. Mặt kh&#225;c đ&#227; tới l&#250;c sản phẩm ti&#234;n tiến muốn cạnh tranh phải đ&#243;ng g&#243;i cả c&#225;c gi&#225; trị văn h&#243;a v&#224; m&#244;i trường. Kh&#244;ng c&#243; ch&#250;ng th&#236; kh&#244;ng thể l&#224;m ra tiền được nữa!    Triết lý cà phê trong Dự án Thủ phủ cà phê toàn cầu của Tập đoàn Trung Nguyên có tham vọng “đóng gói” ấy. Đằng sau triết lý về vai trò làm xăng dầu cho kinh tế tri thức của hạt cà phê – không phải ngẫu nhiên (!) có hình hai bán cầu não là về việc cần có một OPEC cà phê và Tây Nguyên.Về việc Buôn Mê Thuột phải đóng vai trò thủ phủ toàn cầu của vành đai cà phê thế giới nơi loại cây quý này được gieo trồng mà dân vẫn đói nghèo. Về tham vọng lấy lại sự công bằng về lợi nhuận cho họ, không để cho các nước không trồng cà phê làm giàu trên mô hôi nước mắt của người gieo trồng. Về một “văn hóa cà phê” vừa độc đáo kết tinh văn hóa Việt Nam vừa thâu tóm tinh hoa văn hóa cà phê toàn thế giới…vv và vv… Tôi vẫn thấy dự án này có nhiều điều thú vị. Dự án muốn có 65.000 ha đất ở vùng đất Bazan cà phê lý tưởng với một mô hình đồn điền kiểu mẫu cho kinh tế sinh thái, kinh tế xanh, tạo việc làm và điều kiện làm việc lý tưởng cho người dân Tây Nguyên, tạo chọ họ một “thánh địa” hay một “thiên đường”. Kết hợp với sản xuất chế biến bằng công nghệ tiên tiến là du lịch cà phê sinh thái, spa lý tưởng và du lịch văn hóa đỉnh cao với văn hóa cồng chiêng, lễ hội hoa cà phê (sẽ hơn hẳn lễ hội hoa anh đào của Nhật). Những làng văn hóa cà phê sẽ là nơi hành hương của hàng tỷ người ham uống cà phê toàn cầu. (Một “Làng cà phê Trung Nguyên” đã được gấp rút hoàn thành (chưa thật thành công lắm), nhưng lễ hội hoa cà phê thí điểm lần đầu thì đã thu hút được sự đồng thuận, thích thú của cộng đồng).                      Đêm lễ hội tại làng cà phê Trung Nguyên – Buôn Mê Thuột  Nếu như môi trường được đóng gói trong các dự án du lịch tận dụng các thác nước, hồ suối, rừng nguyên sinh, thảm thực vật chữa bệnh, đá núi lửa… thì văn hóa sẽ được đóng gói trong các công trình văn hóa “kỳ vĩ bậc nhất của nhân loại”. Đó là một bảo tàng cà phê nhất thế giới, hiện đại, toàn diện, phong phú và mở! Nhiều chuyên gia cho rằng việc này khả thi; dù quy mô, tầm cỡ làm được tới đâu cũng là cần và rất hay. Đó là một ngôi đền khổng lồ bằng đá núi lửa, một đặc sản vô giá của Tây Nguyên, sánh ngang với các công trình to đẹp nhất của nhân loại như Kim Tự Tháp, Parthenon, Ăngko, Borobudur… và sẽ đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của văn minh nhân loại(!) Tất nhiên chưa mấy ai bàn đến tính khả thi của ngôi đền khổng lồ này. Song sự lãng mạn thật đáng yêu và tôi tin rằng nếu một dự án kinh tế có sự lãng mạn văn hóa thì nó sẽ thêm sức mạnh.  Dự án của Trung Nguyên có hạt nhân là muốn đóng gói văn hóa và môi trường vào sản phẩm. Đó là một hướng tiên tiến đáng được cổ vũ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án FIRST: Cần tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính      Khi chúng tôi tới Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Đức Bách, Trưởng khoa đang tất bật vừa làm thí nghiệm, chuẩn bị lắp đặt khoảng 2km đường ống để nuôi tảo Haematococcus pluvialis vừa làm hồ sơ thủ tục đón đoàn chuyên gia từ Israel sang Việt Nam để hỗ trợ nghiên cứu “Phát triển công nghệ thu nhận astaxanthin từ mô hình nuôi tảo Haematococcus pluvialis trong hệ thống photobioreactor”.      Trung tâm R&D của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, đơn vị nhận được tài trợ từ hợp phần 2B2 của dự án FIRST.  Đơn vị thụ hưởng vẫn “lúng túng” trước nhiều thủ tục  Đề tài của TS Bách là một trong hai đề xuất của Học viện Nông nghiệp Việt Nam được nhận tài trợ đợt một từ hợp phần 1A thuộc dự án FIRST cho phép các đơn vị nhận tài trợ mời chuyên gia giỏi nước ngoài sang Việt Nam để hợp tác nghiên cứu.  Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình mời chuyên gia Israel sang Việt Nam lại lâu hơn dự kiến rất nhiều, bởi vì từ khi nộp đề xuất, nhóm nghiên cứu đã phải “chờ đợi” tới gần hai năm mới được tài trợ. Sự chậm trễ này đã ảnh hưởng tới tiến độ nghiên cứu dự kiến của đề tài. Mặt khác, thủ tục nộp hồ sơ để phê duyệt và thanh toán cho các khoản chi tiêu của đề tài lên ban quản lý dự án FIRST là “phức tạp hơn hệ thống đề tài cấp Bộ1 mà các đơn vị đang thực hiện nên các nhóm nghiên cứu khá lúng túng”, chị Lê Thị Bích Liên, phó trưởng ban Hợp tác quốc tế, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chia sẻ với Tia Sáng. “Ví dụ, với đề xuất xin tài trợ của FIRST, khi mời chuyên gia, làm hội thảo thì phải xin xét duyệt TOR [Term of reference – điều khoản tham chiếu]. Với các khoản thanh toán của hội nghị, hội thảo trong đề tài cấp Bộ, chúng tôi chỉ đưa ra dự kiến trong kế hoạch ban đầu chứ không phải giải trình TOR và có nhiều thủ tục bằng”.  Tương tự trường hợp nhóm nghiên cứu của TS Bách, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, đơn vị đang nhận được tài trợ vào tháng 9/2016 từ Hợp phần 2B2 của FIRST cho nghiên cứu “NC&PT công nghệ sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm LED dùng trong chiếu sáng nhân tạo nông nghiệp CNC tại thị trường Việt Nam” cũng phải chờ đợi trong hai năm kể từ khi nộp đề xuất. Trong thời gian này, nhóm nghiên cứu đã phải thực hiện cả chục lần giải trình về các khía cạnh công nghệ, kỹ thuật và tài chính trước các vụ chức năng của Bộ KH&CN chứ không chỉ giải trình với ban quản lý dự án FIRST. Anh Dương Đức Duy, Trưởng ban quản lý dự án Trung tâm R&D chiếu sáng, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông cho biết: “Vì bị lui lại nên chúng tôi cũng lỡ nhịp vụ mùa thanh long của các hộ nông dân mà chúng tôi đã liên kết để thử nghiệm sản phẩm”. Không chỉ gặp khó khăn trong triển khai nghiên cứu, sự chậm trễ này sẽ ảnh hưởng tới thời gian thâm nhập thị trường. Khi Rạng Đông đưa ra đề xuất nghiên cứu này đã có dự kiến sản phẩm sẽ đón đầu xu hướng trên thị trường. Nhưng tốn từng nào thời gian dành cho giải trình có nghĩa là sản phẩm đèn LED trong nông nghiệp CNC sẽ có mặt trên thị trường muộn từng đó thời gian. “Lợi thế của Rạng Đông so với doanh nghiệp nước ngoài là có khả năng xâm nhập thị trường sớm hơn họ. Nhưng với sản phẩm này, vì quá trình nghiên cứu sẽ kéo dài hơn dự kiến nên quả thật chúng tôi rất ‘sốt ruột’ vì các doanh nghiệp nước ngoài bây giờ thâm nhập vào thị trường rất nhanh chóng. Nếu mình bắt đầu trước nhưng có sản phẩm sau họ thì lại tốn thêm nhiều chi phí truyền thông, trình diễn, thuyết phục khách hàng”, anh Dương Đức Duy nói thêm.  “Vừa làm vừa điều chỉnh”  Trên thực tế, lần kêu gọi tài trợ đầu tiên vào tháng 11/ 2014 còn một số bất cập trong quá trình thương thảo tài trợ: Chưa có được quy trình đánh giá trùng lặp đề tài một cách thống nhất cho các đơn vị được thụ hưởng tài trợ; Khi điều chỉnh lại quy trình và biểu mẫu sẽ dẫn tới trường hợp các đơn vị thụ hưởng tài trợ lâm vào thế “bị động” phải sửa đổi nội dung lẫn hình thức của các hồ sơ về kỹ thuật và tài chính nhiều lần2; Trong quá trình thương thảo các đề xuất, sau khi tổ chuyên gia (TEC) đánh giá các đề xuất, các vụ chức năng của Bộ KH&CN mới kiểm tra từng nhóm vấn đề của khoản tài trợ chứ không tham gia thương thảo ngay từ đầu. Điều đó dẫn tới tình trạng mỗi khi ban quản lý dự án FIRST kiểm tra đến từng hạng mục của các đề xuất tài trợ và thấy “vướng mắc” thì lại đề nghị các đơn vị thực hiện đề tài giải trình trước các vụ chức năng của Bộ KH&CN.  Theo bà Nguyễn Thị Thu Oanh, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án FIRST, rút kinh nghiệm từ việc kêu gọi tài trợ lần thứ nhất, ban quản lý dự án FIRST đã điều chỉnh, sửa đổi quy trình đánh giá và lựa chọn trao tài trợ. Cụ thể một số nội dung sửa đổi chính gồm: điều chỉnh tiêu chí đánh giá, bổ sung cách chấm điểm (bổ sung cách tính trọng số với từng tiêu chí đánh giá, mời thêm chuyên gia đánh giá độc lập với tổ TEC nhưng không cho điểm và xếp hạng); thay vì lấy ý kiến của các Vụ chức năng thuộc Bộ KH&CN cho từng nhóm vấn đề trong quá trình thương thảo, ban quản lý dự án FIRST mời các đơn vị chức năng cùng tham gia trong suốt quá trình đánh giá, bao gồm từ khâu đầu tiên là kiểm tra tính hợp lệ của các đề xuất cho đến khâu cuối cùng là hoàn thiện thỏa thuận tài trợ. Sự thay đổi này được ghi rõ trong Sổ tay hướng dẫn Tài trợ của dự án FIRST bản mới nhất. Lần điều chỉnh này cùng với việc áp dụng quy trình đánh giá, lựa chọn rõ ràng, minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế – được các nhà khoa học đánh giá là giúp “loại bỏ được tâm lý nể nang khi xét duyệt”3 đã giúp rút ngắn thời gian, tiết kiệm nguồn lực đánh giá. Điều chỉnh trong quy trình xét duyệt, thương thảo tài trợ lần thứ hai này của FIRST thật sự là bước cải tiến tốt trong công tác quản lý khoa học, ưu việt hơn so với cách xét duyệt đề tài theo kiểu truyền thống.  Nhờ đó, thời gian đánh giá, lựa chọn của đợt kêu gọi tài trợ lần thứ hai chỉ còn năm tháng (ký kết tài trợ vào ngày 8/5 vừa qua), ngắn hơn nhiều so với lần một. Tuy nhiên, từ quá trình xem xét tài trợ có thể thấy “các đơn vị nộp đề xuất cũng thiếu kỹ năng, kinh nghiệm và chưa quen với quy trình xin tài trợ ở quy mô lớn như dự án FIRST nên vẫn còn mất thời gian trong quá trình thương thảo. Ở các nước khác, các viện đều có bộ phận chuyên trách hỗ trợ cho các nhà khoa học một cách chuyên nghiệp nên việc chuẩn bị hồ sơ đề xuất sẽ tốt  hơn”, bà Nguyễn Thị Thu Oanh cho biết.  Vẫn còn rào cản về cơ chế tài chính  Nỗ lực của ban quản lý dự án FIRST để điều chỉnh quá trình xét duyệt, thương thảo các đề xuất tài trợ mới chỉ giúp các đơn vị thụ hưởng giảm bớt được một số thủ tục hành chính. Tuy nhiên, thủ tục tài chính, một trong những vấn đề mấu chốt khiến nhiều nhà khoa học “đau đầu” vẫn chưa giải quyết được.    TS. Nguyễn Thị Lang giới thiệu giống lúa chịu hạn đang được trồng thử nghiệm tại Viện lúa ĐBSCL. Viện lúa ĐBSCL là đơn vị được nhận tài trợ từ hợp phần 2A của dự án FIRST. Nguồn ảnh: TTXVN.  Nhiều người tin rằng dự án FIRST do Ngân hàng Thế giới ký kết tài trợ sẽ có cơ chế tài chính “thoáng”, nghĩa là chỉ xét tới kết quả đầu ra mà không “rà soát” từng hạng mục chi tiêu của đề tài. “Khi tiến hành dự án phát triển đèn LED cho người thu nhập thấp do cơ quan phát triển Anh (DFID) tài trợ, chúng tôi cũng đối ứng 51% vốn, họ chỉ yêu cầu nộp báo cáo cuối cùng để đánh giá kết quả đầu ra mà không đòi hỏi giải trình quá nhiều chi tiết về kỹ thuật, tài chính trong suốt quá trình nộp đề xuất như với dự án FIRST”, anh Dương Đức Duy cho biết. Về bản chất, số tiền tài trợ của dự án FIRST cho các đơn vị thụ hưởng được coi là tiền ngân sách, do đó, “khâu xét duyệt về mặt kỹ thuật và tài chính của dự án phải tuân thủ theo các quy định hiện hành của Việt Nam. Ví dụ, chi tiêu cho các đoàn ra công tác nước ngoài, đoàn vào, khảo sát… phải bám theo các thông tư liên bộ Tài chính – Bộ KH&CN”. Thêm nữa, “vì đây là dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ, nên khi các đơn vị thụ hưởng tài trợ mua sắm trang thiết bị thì phải tuân thủ các yêu cầu đấu thầu của Ngân hàng Thế giới, vốn chặt chẽ và mất thời gian hơn đấu thầu thông thường”, bà Thu Oanh giải thích.  Nhận xét chung về quá trình thực hiện dự án FIRST trong thời gian vừa qua, ông Suhas D. Parandekar, chuyên gia phụ trách dự án FIRST của Ngân hàng Thế giới cho rằng, những yêu cầu về thủ tục tài chính của Việt Nam vẫn là “quá khắt khe” và ví von: “Cách kiểm soát tài chính công này để chống kẻ trộm vào nhà nhưng dường như gây khó dễ cho chủ nhà nhiều hơn là để chống kẻ trộm”.  Tuy nhiên, sẽ rất khó để các doanh nghiệp nhận tài trợ của dự án FIRST hay được tài trợ từ các dự án ngân sách công khác hiểu được những vướng mắc đằng sau những quy định tài chính rất phức tạp này. Với họ, “Quan trọng nhất là chúng tôi đã bỏ ra hơn 50% vốn đối ứng và kết quả đầu ra phải phù hợp với doanh nghiệp, phù hợp với thị trường. Khi đó chúng tôi mới ‘sống được’. Chúng tôi không hiểu tại sao phải quá nhiều thủ tục rườm rà và báo cáo chi tiết đến vậy?” anh Dương Đức Duy nói. Nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục mất thời gian cho những thủ tục hành chính, tài chính thì hệ quả ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của họ, “trong dự trù của chúng tôi, hết năm 2017 là phải có sản phẩm mẫu và trình diễn đúng thời vụ thanh long. Chỉ cần chậm 1 – 2 tháng thì lại lỡ mất vụ thanh long”, anh Dương Đức Duy nói thêm.  Trong lần ký kết đợt hai cho các nhóm nghiên cứu nhận tài trợ hợp phần 1A về chuyên gia giỏi nước ngoài tại Hà Nội ngày 8 tháng 5 vừa qua, ông Lương Văn Thắng, Phó giám đốc phụ trách ban quản lý dự án FIRST cho biết: “Trong thời gian tới, chủ trương của Bộ KH&CN và Ngân hàng Thế giới là sẽ mạnh dạn thí điểm một cơ chế trao quyền tự chủ, quyền tự quyết trong hoạt động đấu thầu và chi tiêu tài chính. Tức là các đơn vị thụ hưởng tài trợ có quyền tự chủ, tự quyết chi tiêu đồng vốn như thế nào cho hiệu quả và phải tự chịu trách nhiệm với những quyết định của mình. FIRST chỉ giám sát và quản lý kết quả đầu ra thay vì kiểm soát hàng ngày hàng giờ, từng chồng hoá đơn gửi cho nhau”.  “Chúng tôi rất mong chờ sự thay đổi nhằm đơn giản hóa các thủ tục tài chính, hành chính của dự án”, chị Lê Thị Bích Liên chia sẻ với Tia Sáng.  ———  1 Cơ chế tài chính trong quản lý hệ thống đề tài cấp Bộ vốn đã được cho rằng còn nhiều thủ tục chưa “thông thoáng”, nên sửa đổi. Hiện nay, cơ chế tài chính của Quỹ Nafosted được các nhà khoa học đánh giá là rất thuận lợi.  2 Quy trình đánh giá tính trùng lặp của hai đề tài do Rạng Đông và Polyvac thực hiện vào tháng 2 năm 2016 cũng đã cho thấy sự chậm trễ trong quá trình thẩm định phê duyệt, giữa cơ quan quản lý dự án, các vụ chức năng và các đơn vị thụ hưởng vẫn còn “lệch pha”. Xem thêm: http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/vi-sao-du-an-cua-rang-dong-va-polyvac-trien-khai-cham-9423  3 Ý kiến GS Trần Đức Viên trên Tia Sáng. http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/loai-bo-tam-li-ne-nang-khi-xet-duyet-de-tai-8929    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Dự án khởi nghiệp lần 2 năm 2016: 22 dự án vào chung kết      22 dự án của các nhà khởi nghiệp trẻ trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ có cơ hội giành giải thưởng cuộc thi “Dự án khởi nghiệp lần thứ hai năm 2016” mà còn có thể được các nhà đầu tư trong nước và quốc tế chú ý khi tham dự vòng chung kết vào ngày 1 và 2/10 tới tại TPHCM.    T.H    Khu trưng bày dự án Gạo sạch của nhóm  Võ Văn Tiếng (Đồng Tháp).  Được mở màn từ tháng 6/2016, trong vòng hai tháng, cuộc thi “Dự án khởi nghiệp lần 2” đã nhận được gần 70 dự án đăng ký tham gia từ nhiều địa phương trên toàn quốc, trong đó chủ yếu thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và TPHCM. Sau khi tiến hành sàng lọc, ban tổ chức cuộc thi đã tuyển chọn được ra 54 dự án vào vòng bán kết theo các tiêu chí: ý tưởng khởi nghiệp mới, độc đáo, tính sáng tạo, có khả năng triển khai trong thực tế, có áp dụng khoa học công nghệ, sức ảnh hưởng trong cộng đồng… Bên cạnh đó, các dự án liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp như chế biến nông sản, nâng cao giá trị nông sản địa phương… cũng được ban tổ chức cuộc thi ưu tiên.  Trước khi bước vào vòng thi bán kết, ban tổ chức đã mở các lớp tập huấn kỹ năng khởi nghiệp, kỹ năng kinh doanh… cho các nhà khởi nghiệp trẻ – chủ nhân của 54 dự án và mời  các chuyên gia giàu kinh nghiệm, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư thiên thần trực tiếp hướng dẫn. Đây là cơ hội để các nhà khởi nghiệp tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện dự án của mình. Vì vậy trong vòng thi bán kết được tổ chức tại TPHCM (ngày 10 và 11/9) và Đồng Tháp (ngày 14/9), các thành viên ban giám khảo đã nhận xét, chất lượng các dự án năm nay vượt trội hơn năm trước như trình bày một cách rõ ràng, thuyết phục và được đầu tư kỹ về phần trưng bày sản phẩm. Phần lớn những dự án được đánh giá cao ở vòng chung kết đều là các dự án đã cho ra được sản phẩm như dự án “Sản xuất – chiết xuất dược liệu đa năng tại HTX H’Mông Cát Cát” của nhóm Má A Nủ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), “S&E – Máng ăn cho heo tự động” của nhóm Phạm Minh Công (Đà Nẵng), “Gạo sạch” của nhóm Võ Văn Tiếng (Đồng Tháp), “Sản xuất và kinh doanh hoa sen sấy khô: Ecolotus” của nhóm Ngô Chí Công (Đồng Tháp), “Thanh Long lên men” của nhóm Mai Văn Tự (Phú Yên)…  Qua hai vòng bán kết, ban tổ chức đã chọn ra 22 dự án, trong đó vòng thi ở TPHCM là 13 dự án, vòng thi Đồng Tháp 9 dự án, lọt vào chung kết tại TPHCM. Để tạo điều kiện cho các nhà khởi nghiệp có thêm cơ hội hoàn thiện dự án của mình, ban tổ chức sẽ mời thêm các những nhóm chuyên gia trực tiếp hướng dẫn, huấn luyện và góp ý cho từng nhóm khởi nghiệp trước vòng thi chung kết.  Tuy chỉ có một số dự án xuất sắc được xét trao giải thưởng nhưng theo ban tổ chức, cơ hội được các nhà đầu tư thiên thần “để ý” và rót vốn đầu tư sẽ mở rộng với cả 22 dự án lọt vào vòng chung kết, ví dụ  trong cuộc thi “Dự án khởi nghiệp lần thứ nhất” diễn ra vào năm 2015, hai dự án “Trồng cây chúc giống” của nhóm Nguyễn Long Huy (An Giang) và “Phát triển kinh tế gia đình bằng mô hình nuôi dê” của nhóm Võ Nhật Nam (An Giang) lọt vào chung kết dù không đoạt giải nhưng vẫn được các nhà đầu tư quan tâm hỗ trợ kinh phí.  Bên lề cuộc thi, ban tổ chức còn mở nhiều hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm từ các dự án tham gia cuộc thi qua Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, phiên chợ Hàng Việt về nông thôn, phiên chợ Xanh tử tế…        “Dự án khởi nghiệp lần thứ hai năm 2016” là cuộc thi do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA), Tập đoàn cà phê Trung Nguyên và Quỹ Startup Vietnam Foundation t tổ chức, dành cho thanh niên có ý tưởng và dự án khởi nghiệp trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ thông tin, thủ công nghiệp… Ban tổ chức sẽ trao 1 giải nhất, hai giải nhì, 2 giải ba và nhiều giải khuyến khích với tổng giá trị giải thưởng trên 100 triệu đồng.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án nhiệt hạch hạt nhân ITER: Khởi động giai đoạn lắp ráp các thiết bị      Dự án nhiệt hạch hạt nhân lớn nhất thế giới bắt đầu giai đoạn lắp ráp trong vòng 5 năm tại miền Nam nước Pháp, dự kiến sẽ tạo ra plasma cực nóng lần đầu tiên vào cuối năm 2025. Dự án nhằm chứng minh có thể tạo ra điện nhiệt hạch – nguồn năng lượng sạch ở quy mô thương mại.      Bộ phận đầu tiên của lò phản ứng Iter tokamak đang được lắp đặt phần bên dưới. Toàn bộ lò phản ứng nặng khoảng 23.000 tấn. Nguồn: EJF Riche/Iter  Dự án Lò phản ứng Thí nghiệm Nhiệt hạch Quốc tế (ITER) trị giá 20 tỷ Euro (18,2 tỷ bảng) được kì vọng là bản sao của mặt trời, tái tạo những phản ứng như tổng hợp hạt nhân, hứa hẹn cung cấp nguồn năng lượng sạch và vô hạn. Dù đã trải qua 60 năm nghiên cứu, các nhà khoa học vẫn chưa vượt qua được những thách thức về kỹ thuật khi các dạng lò như vậy ngốn lượng năng lượng cực khủng.   “Cỗ máy” khổng lồ này được lắp ráp bởi hàng triệu linh kiện với trọng lượng 23.000 tấn. Dự án là những nỗ lực chuẩn bị không biết mệt mỏi của các nhà khoa học cho kỹ thuật phức tạp nhất trong lịch sử. 200km dây siêu dẫn sẽ kết nối gần 3.000 tấn nam châm siêu dẫn, nặng hơn một chút so với “nữ hoàng bầu trời” – máy bay phản lực cỡ lớn (jumbo jet); tất cả được giữ ở âm 269 độ C tại nhà máy đông lạnh lớn nhất thế giới.  Tổng thống Pháp, Emmanuel Macron, đã phát động giai đoạn lắp ráp của đại dự án. Song hành cùng ông là các nhân vật cấp cao như các thành viên ITER, EU, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe tin tưởng những đổi mới mang tính đột phá sẽ đóng vai trò quan trọng để giải quyết các vấn đề toàn cầu bao gồm thay đổi khí hậu và hiện thực hóa một xã hội bền vững không các-bon.  Ông Bernard Bigot, Tổng giám đốc ITER ca ngợi việc sử dụng được nguồn năng lượng sạch và có một không hai như mục đích của dự án nhiệt hạch sẽ là phép màu đối với hành tinh chúng ta. Ông cho biết, bên cạnh năng lượng tái tạo, nhiệt hạch sẽ tạo ra nguồn điện chạy liên tục phục vụ cho giao thông, các tòa nhà và các ngành công nghiệp.  Tuy nhiên, ông cho rằng, lắp từng bộ phận cho “cỗ máy” sẽ giống như ráp một mô hình 3D theo tiến trình rối beng, phức tạp mà vẫn phải đảm bảo độ chính xác của một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ. Dự án ITER hình thành vào năm 1985 nhưng đã bị trì hoãn nhiều lần.  Phản ứng tổng hợp hạt nhân giải phóng ra năng lượng khổng lồ khi các nguyên tử hydro nặng hợp nhất với nhau, nhưng đòi hỏi nhiệt độ nung nóng lên tới 150 triệu độ C, nóng gấp 10 lần so với lõi của mặt trời. Nhiên liệu hydro được lấy từ nước biển; chỉ cần một vài gram nhưng bắt buộc phải có những khối nam châm khổng lồ để chứa plasma cực nóng trong buồng chân không hình vòng xuyến được gọi là tokamak.  Giống như các lò phản ứng phân hạch hạt nhân thông thường, bản thân quá trình nhiệt hạch không phát ra CO2 làm khí hậu nóng lên, mặt khác, các lò phản ứng nhiệt hạch không tan chảy và tạo ra lượng chất thải phóng xạ ít hơn nhiều.  ITER sẽ là dự án đầu tiên đạt tới dòng plasma tự duy trì đốt nóng (self-heating) và dự kiến tạo ra nhiệt lượng gấp 10 lần so với lượng nhiệt được đưa vào, nhiều hơn bất kỳ nỗ lực thử nghiệm nào trước đó. Khi hoạt động, dự án sẽ tiêu tốn lượng điện đáng kể cho nam châm và các công cụ khoa học, tuy nhiên, đây là dự án thử nghiệm để kiểm tra tính khả thi của lò nhiệt hạch quy mô lớn, không phải thiết kế cho lò phản ứng thương mại trong tương lai.  Trong số các bộ phận đang được lắp ráp có máy điều lạnh với đường kính 30 mét, do Ấn Độ sản xuất, bao quanh lò phản ứng và giữ lò ở nhiệt độ cực thấp. Một thành phần quan trọng do Mỹ chế tạo, Central solenoid, là loại nam châm điện tạo ra từ trường cực mạnh, đủ mạnh để nâng một tàu sân bay.  Rất nhiều công ty tư nhân theo đuổi dự án về tổng hợp hạt nhân thông qua các thiết bị nhỏ hơn nhiều, như công ty Tokamak Energy có trụ sở tại Anh và đã huy động được 117 triệu bảng đầu tư. Phó Chủ tịch điều hành Tokamak Energy, ông David Kingham bày tỏ niềm hân hoan trước những tiến bộ tại ITER và coi đây là một dự án khoa học tuyệt vời, một minh chứng kinh điển cho các thiết bị tokamak. Tuy vậy, ông cho rằng, dự án vẫn có thể đạt được những tiến bộ nhanh hơn nữa, do nhu cầu năng lượng không các-bon tăng mạnh cùng nỗ lực hỗ trợ từ phía đầu tư tư nhân, thiết kế mô-đun, vật liệu mới và các công nghệ tiên tiến. Theo các kỹ sư của ITER, siêu dự án của họ là nơi hội tụ những công nghệ đã qua chứng minh, xác thực.  Các công ty tổng hợp hạt nhân khác phải kể đến là Tri Alpha Energy hiện khai thác công nghệ máy gia tốc hạt và đang hợp tác với Google, General Fusion – những công ty sử dụng hệ xoáy chì và lithi nóng chảy để chứa plasma và được hỗ trợ bởi ông chủ của Công ty Amazon, Jeff Bezos và First Light Fusion.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2020/jul/28/worlds-largest-nuclear-fusion-project-under-assembly-in-france    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án “Sartre”: Không đụng tay đến vô lăng!      Bốn chiếc xe tự động chạy trên xa lộ ở Tây Ban Nha vượt qua quãng đường 200 km trong khi lái xe đọc báo, nhâm nhi cà phê, hoặc tự cho phép mình ngủ gà ngủ gật. Điều ngạc nhiên là công nghệ này thực ra đã ít nhiều đã có sẵn trong các xe ô tô hiện hành.    Hầu như trong mọi ngày chúng ta đều có thể chứng kiến ai đó viết tin nhắn hoặc xem bản đồ khi dừng xe trước đèn đỏ. Nhưng nếu như khi chạy với tốc độ cao trên xa lộ mà người lái xe có những hành động tương tự thì không khỏi gây ngạc nhiên với những người xung quanh. Tuy nhiên, mới đây người ta đã được chứng kiến điều ngạc nhiên này ở Tây Ban Nha. Một xe tải và ba xe du lịch chạy sát nhau trên một xa lộ, vượt chặng đường dài 200 km. Mọi người trong xe, kể cả người ngồi ở vị trí lái xe cũng không hề quan tâm đến việc điều khiển xe. Họ làm đủ thứ công việc, từ đọc báo, uống cà phê hoặc làm việc với chiếc laptop – không một ai đụng vào vô-lăng, chân phanh hoặc chân ga. Trong suốt chuyến đi không hề xảy ra một sự cố gay cấn nào.  “Chúng tôi hoàn toàn hài lòng”, bà Linda Wahlström phát biểu sau chuyến đi. “Chuyến đi thử thành công của đoàn xe này diễn ra trên tuyến đường có nhiều người tham gia giao thông, qua đó đánh dấu một bước ngoặt trong dự án của chúng tôi”. Dự án mang tên “Sartre”, viết tắt từ cụm từ “Safe Road Trains for the Environment” (tạm dịch: xe an toàn vì môi trường).   Linda Wahlström làm việc tại hãng sản xuất ô tô Thụy Điển Volvo và chịu trách nhiệm về hoạt động của dự án “Sartre”. Ngoài Volvo còn có sáu doanh nghiệp khác ở châu Âu cùng tham gia. Dự án cũng được EU tài trợ một phần.   Ai được phép điều khiển cả đoàn xe?   Sáng kiến – “Sartre” đã xuất hiện từ ba năm nay và đã thực hiện khoảng 10.000 km thử nghiệm. Tuy nhiên trước đây xe chưa chạy một lần nào trên các tuyến đường giao thông công cộng. Nhưng đến nay công nghệ xe ô tô tự điều khiển đã diễn ra an toàn và chắc chắn, cho phép người ta mạnh dạn thử nghiệm bước tiếp theo. Chiếc xe tải đi đầu là của hãng Volvo, bên trong có người điều khiển. Chạy nối sau là bốn chiếc xe ô tô khác, cùng được điều khiển bởi một hệ thống điện tử. “Xét về mặt kỹ thuật thì mọi chiếc xe ô tô đều có thể làm xe dẫn đường cho cả đoàn xe. Tuy nhiên người điều khiển chiếc xe dẫn đường này cần được đào tạo đặc biệt vì người này chịu trách nhiệm với cả đoàn xe theo sau” – bà Wahlström giải thích.  Một khi xe chạy tự động theo đoàn sau xe dẫn đường trở thành sự thật thì vấn đề được đặt ra là ai là người được lái xe dẫn đường và người đó phải được đào tạo như thế nào? Điều này cho đến nay chưa được làm rõ. Chuyến xe thử nghiệm vừa qua chỉ được phép chạy trên đường giao thông công cộng nhờ có một giấy phép đặc biệt. Nói chung cho đến thời điểm này đi xe ô tô theo đoàn như trên là không được phép tại EU vì theo Công ước Viên người lái xe luôn phải kiểm soát được xe của mình.   Theo pháp luật hiện hành thì những người ngồi trên đoàn xe tự vận hành đọc báo hoặc ngủ gật là phạm luật và có thể bị phạt.   Công nghệ lắp trong xe ô tô chạy thử thực ra đã được sử dụng từ nhiều năm nay đối với các loại ô tô đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Hầu như các nhà sản xuất ô tô đều có cung cấp hệ thống trợ lý (Assistenzsysteme) như Tempomat hay trợ lý phanh xe khẩn cấp, thiết bị giữ khoảng cách với xe khác nhờ laser, máy chụp rađa (Radarkameras) và các loại cảm biến. Tóm lại đây là các trang thiết bị đã được lắp đặt từ lâu trong các loại xe ô tô hiện đại, và chúng đã được coi là trang bị chuẩn đối với một xe ô tô.   Tuy nhiên những xe đi theo đoàn, có hướng dẫn này sử dụng một loại phần mềm đặc biệt và mới được phát triển. Nhờ phần mềm này các xe liên hệ được với nhau và liên hệ cả với xe dẫn đường. Khi phần mềm này được khởi động thì các xe lập tức tự động đi thành đoàn nối đuôi nhau, đoàn xe có thể đi với tốc độ 90 km/giờ và luôn đi ở luồng bên phải, khoảng cách giữa các xe với nhau khoảng 6 m.    Tận dụng đường tốt hơn và an toàn hơn     Ý tưởng về các đoàn xe tự động kể trên thực sự là đơn giản và tuyệt vời: Trong tương lai các đoàn xe tự động góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng đường giao thông, giảm đáng kể nguy cơ gây tai nạn, giảm mức tiêu thụ nhiên liệu, từ đó giảm lượng khí thải CO2 và bảo vệ thần kinh của người lái xe. Vì người lái xe không phải tập trung cao độ vào việc điều khiển xe, họ có thể làm những việc hoàn toàn khác khi xe chạy. Khi đoàn xe đến gần đích thì các xe liền tự tách rời nhau và được người lái xe đưa về địa điểm cần đến. Khi có một chiếc xe rời khỏi đoàn thì các xe khác tự động kết nối lại với nhau.   “Mọi người luôn nghĩ rằng lái xe tự động theo đoàn là chuyện khoa học viễn tưởng”, Linda Wahlström nói. “Nhưng trong thực tế thì các điều kiện về kỹ thuật để thực hiện điều này đã có từ lâu.” Trong bước nghiên cứu thử nghiệm tiếp theo, các chuyên gia “Sartre” sẽ tìm cách xác định mức độ tiết kiệm nhiên liệu của hệ thống xe này. Triển vọng rất sáng sủa vì rào cản kỹ thuật đã được giải quyết. Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề còn hoàn toàn bị bỏ ngỏ, đó là những vấn đề về pháp lý. Tuy nhiên giám đốc dự án Wahlström tỏ ra khá lạc quan: “ Việc giao thông tự động bằng các đoàn xe sẽ trở thành thực tế trong nay mai.” 1    Hoài Trang dịch theo Spiegel 13.6/2012    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án thống kê số người chết vì biến đổi khí hậu: Những nỗ lực đầu tiên      Biến đổi khí hậu đã và đang đẩy con người vào tình thế khó khăn, nhưng các quốc gia hiện vẫn chưa có công cụ nào hiệu quả giúp thống kê số ca tử vong do biến đổi khí hậu, để từ đó có cơ sở đưa ra những chính sách phù hợp.      Cầu Tháp London vào mùa đông. Chiến dịch tiêm phòng cúm trên diện rộng, trợ giá hóa đơn máy sưởi và gia tăng cách nhiệt trong nhà đã giúp người dân nước Anh hạn chế được các vấn đề về sức khoẻ trong những ngày lạnh giá.   Biến đổi khí hậu gây chết người theo nhiều cách. Có những cách trực tiếp – cháy rừng, bão và lũ lụt – nhưng cũng có những cách gián tiếp như nhiệt độ tăng cao dẫn đến lây lan dịch bệnh, khiến nguồn thực phẩm khan hiếm, tăng nguy cơ xung đột.  Mặc dù chúng ta nhận thức được những rủi ro kinh hoàng này, nhưng những nỗ lực nhằm xác định số ca tử vong do biến đổi khí hậu vẫn còn quá chắp vá. Một nghiên cứu gần đây ước tính rằng biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây ra 37% số ca tử vong do nắng nóng trong ba thập kỷ qua. Năm 2021, Daniel Bressler, một nghiên cứu sinh tại Đại học Columbia ở New York, ước tính rằng đến cuối thế kỷ này, cứ khoảng 4.400 tấn carbon dioxide phát thải sẽ gây ra một ca tử vong liên quan đến nhiệt. Anh gọi con số này là “phí tổn tử vong của carbon”.  Nghiên cứu nhằm đưa ra một con số về tử vong do khí hậu không chỉ là một nỗ lực có ý nghĩa trong giới học thuật. Con người đang chết dần chết mòn vì nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, chúng ta có thể dự đoán trước được rằng điều này sẽ ngày càng trầm trọng hơn khi hành tinh vẫn đang nóng lên. Nếu chính phủ các nước muốn đưa ra những chính sách hợp lý để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực, họ cần có cách đo lường chính xác số ca tử vong và tình trạng sức khỏe kém liên quan đến thực trạng Trái đất ấm lên. Do đó, các nước đang nỗ lực tìm kiếm để biết phí tổn tử vong thực sự của carbon.  Là nước đầu tiên tiến hành đo lường vấn đề này, Vương quốc Anh đã đưa ra được con số về số ca tử vong do biến đổi khí hậu. Văn phòng Thống kê Quốc gia Vương quốc Anh (ONS) —một cơ quan chính phủ độc lập chịu trách nhiệm thu thập, tính toán, công bố dữ liệu chính thức — đã báo cáo những ca tử vong và nhập viện liên quan đến khí hậu ở Anh và xứ Wales . Báo cáo khảo sát giai đoạn từ 2001 đến 2020, nhưng trong tương lai họ sẽ công bố các báo cáo thường niên, trong đó họ đã tiết lộ thông tin chi tiết về tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe ở hai quốc gia. (Số liệu thống kê cho Scotland và Bắc Ireland được thu thập riêng.)  Kết quả điều tra không giống như dự đoán. Báo cáo cho thấy số người chết liên quan đến nhiệt độ nóng hoặc lạnh thực sự giảm từ năm 2001 đến năm 2020. Trung bình, chưa đến 27.755 người chết mỗi năm do nhiệt độ nóng hoặc lạnh bất thường. Nói cách khác, biến đổi khí hậu có thể đã ngăn chặn hơn nửa triệu ca tử vong ở Anh và xứ Wales trong giai đoạn này. Năm 2001, có 993 ca tử vong liên quan đến khí hậu trên 100.000 người ở Anh và xứ Wales. Đến năm 2019, con số đó đã giảm xuống còn 771.  Nhưng khoan vội đánh giá rằng đây là kết quả sai lệch. Myer Glickman, trưởng nhóm dịch tễ học, khí hậu và y tế toàn cầu tại ONS cho biết, có một số lý do khiến số ca tử vong liên quan đến nhiệt độ thực tế giảm trong giai đoạn này. Đầu tiên, các nhà thống kê đã đưa ra một định nghĩa tương đối hẹp về các trường hợp tử vong liên quan đến khí hậu. Họ chỉ tính đến những trường hợp tử vong do các điều kiện mà trước đây các nhà khoa học đã phát hiện mối liên hệ rõ ràng giữa nhiệt độ và bệnh tật, và họ cũng loại trừ bất kỳ tình trạng sức khỏe nào mà phân tích của riêng họ không cho thấy nó liên quan đến nhiệt độ. Điều này có nghĩa là dữ liệu về tỷ lệ tử vong không bao gồm các trường hợp tử vong do bạo lực hoặc các lực lượng tự nhiên (chẳng hạn như bão, lở đất hoặc lũ lụt).  Phân tích cũng loại trừ các ca tử vong do ô nhiễm không khí, mà Tổ chức Y tế Công cộng Anh ước tính tương đương với từ 28.000 đến 36.000 ca tử vong mỗi năm ở Anh. Glickman thừa nhận rằng khó mà chấp nhận được việc nhóm khảo sát đã loại trừ ảnh hưởng của việc Trái đất ấm lên với ô nhiễm không khí. Báo cáo của ONS có phần quá thận trọng.  Ngoài ra, có một yếu tố quan trọng lý giải tại sao số ca tử vong do biến đổi khí hậu ở Anh và xứ Wales không nhiều: khí hậu rất ôn hòa. Mặc dù nhiệt độ trung bình ở Anh đã tăng 0,9 độ so với giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1990, nhưng người dân nước này không nằm trong số 3 tỷ người phải đối mặt với tình trạng bất ổn nếu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính tăng nhanh. Một mặt, các ca tử vong liên quan đến thời tiết lạnh giá đã giảm xuống ở Anh và xứ Wales; mặt khác, vào những ngày ấm áp hơn, số người nhập viện vì nguyên nhân thời tiết thực sự gia tăng. Vì sao lại như vậy? Có thể là do tiết trời ấm áp khiến nhiều người hoạt động ngoài trời hơn, hoặc có thể vì nhiệt độ ấm hơn dẫn đến gia tăng các vụ bạo lực và các vấn đề sức khỏe tâm thần.  Tỷ lệ tử vong thấp hơn cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy nỗ lực chống chọi với thời tiết lạnh giá của chúng ta đang phát huy tác dụng. Glickman cho rằng việc tiêm phòng cúm trên diện rộng, trợ giá hóa đơn máy sưởi và gia tăng cách nhiệt trong nhà đã giúp giảm thiểu các vấn đề về sức khoẻ trong những ngày lạnh giá. Những ngôi nhà ấm áp hơn đã mang lại kết quả tích cực, nhưng khi mùa hè ở Anh trở nên nóng hơn và điều hòa không khí vẫn chưa phổ biến, người dân bắt đầu phải đối diện với nhiều vấn đề.  Người dân tụ tập tại đồi Primrose (London) trong mùa hè. Khi thời tiết ở Anh trở nên nóng hơn và điều hòa không khí vẫn chưa phổ biến, người dân bắt đầu phải đối diện với nhiều vấn đề.  Một công cụ thống nhất  ONS dự định sẽ công bố dữ liệu này hằng năm, đồng thời thời gian tới Glickman cũng sẽ xem xét kỹ hơn những thay đổi về nhiệt độ ảnh hưởng đến các khu vực khác nhau như thế nào. “Chúng tôi sẽ đi sâu hơn vào nhiệt độ ở từng địa phương”, ông cho biết. “Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì đang xảy ra và mọi người đang như thế nào.” Chẳng hạn, tác động của biến đổi khí hậu có thể phụ thuộc vào mức độ giàu có của một khu vực, hoặc liệu cư dân của khu vực đó có dễ dàng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe hay có nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng hay không.  Glickman cũng đang ấp ủ dự định tìm hiểu những tác động gián tiếp của khí hậu đối với sức khỏe. “Đây sẽ là mối quan tâm lớn trong những năm tới”. Ví dụ, nếu nhà của ai đó bị ngập lụt, nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp hoặc làm tinh thần của họ sa sút. Các nhà nghiên cứu của Anh đã phát hiện ra rằng những người mắc bệnh tâm thần có nhiều nguy cơ tử vong hơn khi thời tiết trở nên nóng bức. Chúng ta không biết chính xác tại sao lại như vậy, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng có thể là do những người mắc bệnh tâm thần vốn đã không lấy làm khoẻ mạnh, điều này khiến họ dễ bị tổn thương hơn khi nhiệt độ tăng.  Không chỉ ONS, còn có rất nhiều nhóm nghiên cứu đang nỗ lực tạo ra một hệ thống toàn cầu để thống kê các tác động của khí hậu lên sức khỏe con người. “Chúng ta đang thiếu một công cụ thống kê hiệu quả có thể phân loại tác động của khí hậu đối với sức khoẻ”, Bilal Mateen, quản lý cấp cao về công nghệ kỹ thuật số tại Wellcome Trust, tổ chức từ thiện y tế tài trợ cho sáng kiến nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe, cho biết.  Mateen cho biết dự án sẽ dành một năm đầu tiên để xác định các quốc gia muốn hợp tác để cùng nhau phát triển và thử nghiệm các cách đo lường số ca tử vong do biến đổi khí hậu khác nhau phù hợp với từng quốc gia cụ thể. Ý tưởng của họ là sử dụng dữ liệu này để giúp các quốc gia đưa ra các chính sách hợp lý giúp giảm thiểu tác động đến sức khỏe của biến đổi khí hậu. “Chúng ta có thể bắt đầu tìm hiểu xem chính sách nào hiệu quả, chính sách nào không và chúng ta nên hỗ trợ triển khai những biện pháp can thiệp giảm thiểu và thích ứng nào”.  Nếu đúng là việc những ngôi nhà ấm áp hơn và vaccine cúm đã giúp giảm tử vong do biến đổi khí hậu ở Anh và xứ Wales, thì đó là một dấu hiệu cho thấy những quốc gia ít bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu hơn nói chung có thể sống sót tốt hơn trước một thế giới đang ấm lên. Các quốc gia khác cũng cần những chính sách phù hợp với họ. “Tất cả các chính sách hiện tại đều là chính sách y tế”, Mateen nói. “Rõ ràng các nước còn cần phải tính đến hỗ trợ ổn định việc làm, giải quyết tình trạng đói nghèo và mọi chính sách khác nằm ngoài quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Y tế”.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  A Project to Count Climate Crisis Deaths Has Surprising Results  The burden of heat-related mortality attributable to recent human-induced climate change  Climate-related mortality and hospital admissions, England and Wales: 2001 to 2020    Author                .        
__label__tiasang Dự báo cả lạm phát và tăng trưởng đều rất thấp      Cả hai chỉ tiêu là tỷ lệ lạm phát và tăng  trưởng kinh tế cùng được dự báo là sẽ vào khoảng 5% cho năm 2013, thấp  hơn nhiều so với mục tiêu của Chính phủ.      Đây là báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia phục vụ cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 7.  Theo tính toán của ủy ban, lạm phát năm nay chỉ ở mức 5%, nếu chưa tính đến việc điều chỉnh giá do nhà nước quản lý và tác động chính sách.  Tính toán này dựa trên cơ sở tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng 7 so với tháng 6 (0,27%), vẫn thấp hơn dư địa cho phép trong mỗi  tháng cuối năm (bình quân khoảng 0,76%).  Dư địa để thực hiện mục tiêu lạm phát thấp hơn năm ngoái (6,81%) còn khoảng trên 4% cho những tháng cuối năm, tương ứng với mức 0,76%/tháng.  Ủy ban cho rằng, với xu hướng tăng CPI như vậy, kết hợp với yếu tố giá cả hàng hóa thế giới được dự báo không có nhiều biến động từ nay đến cuối năm và sức mua trong nước vẫn còn yếu, thì kiểm soát  lạm phát  theo kế hoạch đề ra cho năm 2013 đang có những thuận lợi.  Liên quan đến tăng trưởng kinh tế, ủy ban cho rằng mục tiêu cả năm 5,5% vẫn là thách thức lớn căn cứ vào kết quả GDP 6 tháng đầu năm ở mức 4,9% so với cùng kỳ, là mức thấp so với nhiều năm trở lại đây.  Lý do cơ bản nhất liên quan đến tiêu dùng nội địa suy giảm. Bằng chứng là chỉ số doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 7 tháng đầu năm đạt 213 ngàn tỉ đồng, nếu loại trừ yếu tố giá tăng khoảng 5,2%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái (6,7%).  “Sự suy yếu của cầu nội địa đang  tạo lực cản đáng kể cho tăng trưởng. Sản xuất của nền kinh tế vì vậy tiếp tục phải chịu sự chi phối lớn từ cầu tiêu dùng bên ngoài”, ủy ban nhận xét.  Phân tích chỉ số PMI-HSBC tháng 6/2013 cho thấy khá rõ về nhận định này. Cụ thể, khi lượng đơn đặt hàng xuất khẩu trong tháng 6 sụt giảm, chỉ số PMI đã có tháng thứ 2 liên tiếp giảm dưới ngưỡng 50 điểm và ở mức thấp hơn tháng.  “Điều này cho thấy nền kinh tế sẽ khó có thể thực sự hồi phục ổn định khi cầu trong nước không được cải thiện”, báo cáo nhận xét.  Theo đánh giá của ủy ban, nguyên nhân chính khiến tổng cầu suy yếu là do tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt thấp, vào khoảng 29,6% GDP trong 6 tháng đầu năm, thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm 2012 (34,5% GDP).  Liên quan đến tỷ giá, ủy ban nhận xét tỷ giá có biến động trong một  thời gian ngắn chủ yếu là do yếu tố tâm lý.  Bên cạnh yếu tố tâm lý, tỷ giá biến động vì một số nguyên nhân khác như nhu cầu cân bằng, điều chỉnh trạng thái ngoại hối của các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp tăng; các nhà đầu tư nước ngoài điều chỉnh danh mục đầu tư và chốt lời (tính từ tháng 6 đến nửa đầu tháng 7, nhà đầu tư nước ngoài đã rút xấp xỉ khoảng 450 triệu đô la Mỹ trên thị trường trái phiếu và khoảng gần 100 triệu đô la Mỹ trên thị trường cổ phiếu).  Tuy nhiên, ủy ban cho rằng, sự biến động này chỉ mang tính nhất thời, cung – cầu ngoại hối trên thị trường trong những tháng cuối năm vẫn ổn định, dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng khá.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo các dòng chảy?      Các nhà quản lý nguồn nước đang sử dụng những mô hình dự báo để đảm bảo đủ nguồn cung cấp nước cũng như phòng ngừa những rủi ro và thiên tai từ sông nước.      Lưu vực sông Hằng (Ấn Độ) nhìn từ vũ trụ. Nguồn: Twitter.  Sông ngòi nuôi dưỡng cuộc sống và là nhiên liệu cho các nền văn minh. Chúng cung cấp nước uống, tưới cây lương thực và giúp chúng ta tạo ra mọi thứ từ ô tô đến máy tính. Nước làm quay các turbine thủy điện tạo ra năng lượng sạch. Sông thậm chí đã hỗ trợ phát triển vật lý hạt nhân làm thay đổi cục diện chiến tranh thế giới khi các tổ hợp thủy điện của Dự án lưu vực Columbia và Cơ quan quản lý Thung lũng Tennessee tham gia vào các dự án làm giàu uranium và plutonium tốn nhiều năng lượng trong đại Dự án Manhattan.   Sông luôn là con đường giao thông quan trọng. Quá trình khai phá, định cư và phát triển kinh tế của châu Mỹ phụ thuộc rất nhiều vào giao thông đường sông. Sông Danube cũng đóng vai trò tuyến đường thương mại ở châu Âu giống như con đường La Mã 2000 năm trước và ngày nay nó chuyên chở hàng hóa thương mại xuyên lục địa.   Các con sông cũng là mái nhà của các hệ sinh thái quý giá. Sông nuôi cá và cũng là nơi vui chơi giải trí và là nguồn thu du lịch quan trọng. Đó là chưa kể đến giá trị văn hóa to lớn của chúng: văn học Mỹ sẽ khác rất nhiều nếu không có hồi ức của Mark Twain về những trải nghiệm lái thuyền trên sông Mississippi.  Nhưng sông cũng có thể làm con người thiệt mạng. Lũ lụt là lực lượng thiên nhiên tàn phá nặng nề; hạn hán nhỏ hơn lũ lụt nhưng được coi là gây thiệt hại hơn trên quy mô toàn cầu.   Mặc dù các cuộc chiến tranh về nước được Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới Ismail Serageldin dự đoán vào năm 1995 nhưng khó có thể thành hiện thực khi đó. Thực tế cho thấy, các cuộc cạnh tranh về nguồn nước khan hiếm cũng đã dẫn đến bạo lực, ví dụ Israel và Syria giao tranh vào giữa những năm 1960 về nguồn nước ở lưu vực sông Jordan. Việc dự đoán sự biến động và những thay đổi dài hạn của dòng chảy sông rất quan trọng để quản lý tài nguyên nước một cách tối ưu và tránh rủi ro. Các dự báo thủy văn như vậy được thực hiện trên nhiều thang thời gian cho nhiều mục đích. Dự báo lũ lụt được thực hiện trước sự kiện thời tiết vài giờ đến vài ngày và được sử dụng để đưa ra các quyết định sơ tán khẩn cấp. Còn để đánh giá lâu dài về tác động của việc sử dụng đất và biến đổi khí hậu, các quy hoạch cần được thực hiện trong nhiều thập kỷ hoặc thậm chí nhiều thế hệ. Để dự báo được thành công chúng ta cần một loạt các phương pháp mô hình định lượng liên ngành.      Mạng lưới sông là một ví dụ cổ điển về hình học fractal và lý thuyết hỗn loạn hiện đang giới hạn khả năng dự đoán của thời tiết trong khoảng thời gian lý thuyết khoảng hai tuần. Hiện không có khái niệm toán học hiện đại nào xuất hiện rõ ràng trong các mô hình dự đoán dòng chảy sông nên cách tiếp cận theo hướng Hệ phức hợp có thể kết hợp các mô hình lại.      Các mô hình thủy văn địa hình hoạt động thế nào và dựa trên những nguyên tắc vật lý nào? Mỗi mô hình thường bao gồm kiến thức của nhiều ngành: kỹ thuật dân dụng, địa vật lý, kỹ thuật nông nghiệp, khí tượng, khoa học khí hậu, băng hà và những ngành khác. Với sự phức tạp đó các nhà thủy văn học làm thế nào chọn ra các cấu phần và quy trình nào để đưa vào mô hình cuối? Làm thế nào lựa chọn mẫu đại diện phù hợp và chạy mô hình một cách hiệu quả? Tóm lại, vật lý học đằng sau các mô hình dự đoán dòng sông là gì?   Điều gì đang ẩn giấu?   Các mô hình dự báo sông thường được thực hiện trên quy mô lưu vực – toàn bộ diện tích đất mà nước trên đó thoát đến những điểm nhất định trên dòng sông. Lưu vực thường được ngăn cách bởi địa hình, chẳng hạn như một sườn núi ngăn cách một đầu nguồn của lưu vực sông này với lưu vực sông khác.   Nhiều quá trình địa vật lý và lý sinh như đóng băng và tan chảy tuyết, lượng mưa xâm nhập, dòng nước ngầm, bốc hơi và thoát hơi nước của thực vật tạo nên thủy văn của lưu vực. Bằng cách tính toán các quá trình đó, một mô hình tái tạo và dự đoán động lực của dòng nước trong toàn bộ lưu vực và cuối cùng là tại một điểm xác định trên sông. Thường thì điểm đó được chọn trùng với vị trí đo lưu lượng sông hay còn gọi là trạm thủy văn, cũng là nơi thu thập dữ liệu quan sát cần thiết để xây dựng và thử nghiệm mô hình. Điểm quan tâm cũng có thể được chọn để giúp trả lời một câu hỏi thực tế như liệu điểm có thích hợp cho một nhà máy điện cần nước để làm mát hay không.  Đầu ra của mô hình thường là một chuỗi thời gian của tốc độ dòng chảy trung bình của sông, thường tính bằng mét khối trên giây, tại một hoặc nhiều điểm quan tâm. Tần suất trung bình theo thời gian phổ biến nhất là hằng ngày, nhưng nó có thể dao động từ hằng phút đến hằng năm.   Trong nhóm mô phỏng, các mô hình dựa hoàn toàn trên vật lý sử dụng phương trình cơ bản của chuyển động chất lỏng là phương trình Navier – Stokes. Các phương trình phi tuyến hoàn chỉnh chưa bao giờ được sử dụng trực tiếp cho mô hình thủy văn lưu vực vì chúng rất khó có thể giải bằng số và không thực tế để triển khai ở các độ phân giải và quy mô không thời gian trong bài toán thủy văn. Năm 1969, Allan Freeze và Richard Harlan đưa ra một phương pháp được cho là tiêu chuẩn vàng cho mô hình thủy văn: Xuất phát từ các phương trình Navier – Stokes đầy đủ với các giả định đơn giản hóa, phương pháp tiếp cận theo hướng vật lý mô tả và dự đoán thiên nhiên thông qua một hệ thống các phương trình vi phân biểu thị lưu lượng nước thông qua các yếu tố cảnh quan.    Các dòng sông và nguồn nước thay đổi thích nghi với các yếu tố tự nhiên và con người. (a) Xã hội tiên tiến trong tàn tích Ancestral Puebloan (trước đây gọi là Anasazi) gần Los Alamos, New Mexico, di chuyển vào khoảng năm 1200 sau Công nguyên, một phần là do khí hậu khô hạn. (b) Hồ Nevada’s Walker là tàn tích của Hồ Lahontan thời kỳ băng hà; mực nước của nó đã giảm 55 m kể từ thế kỷ 19, chủ yếu do chuyển hướng nhu cầu cho nông nghiệp. (c) Sông McKenzie bắt nguồn từ một tầng chứa nước núi lửa tại Thác Tamolitch ở Oregon Cascades là một minh chứng ấn tượng về sự tương tác giữa sông và tầng chứa nước. Việc nắm bắt chính xác các hiệu ứng trữ nước có thể rất quan trọng đối với việc dự báo lưu lượng sông. (d) Sông Los Angeles là địa điểm quay phim yêu thích của những cuộc rượt đuổi bằng ô tô trong các bộ phim Hollywood. Những con sông đô thị hóa cao như vậy không còn cơ chế lưu trữ và giải phóng nước tự nhiên như ở sông McKenzie. Do đó, chúng thay đổi nhiều hơn và dễ xảy ra lũ lụt hơn, điều này làm cho việc dự báo chính xác trở nên quan trọng và thách thức hơn. (Ảnh của Sean Fleming.)   Các mô hình được áp dụng mới chỉ dựa trên hai điều: động lực di chuyển của nước trên mặt đất và sự cân bằng nước tổng thể của lưu vực sông. Những yếu tố đó tạo nên cốt lõi của bất kỳ mô hình dự đoán sông cơ học nào. Nhưng một con sông và đầu nguồn của nó có thể có nhiều thành phần khác nhau, chẳng hạn như cây cối, tòa nhà, đầm lầy và cánh đồng băng. Trong thực tế, hầu hết các mô hình mô phỏng quá trình đều ở dạng mô-đun; ngoài cốt lõi của chúng, chúng thường tích hợp một số mô hình con đại diện cho các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến luồng nước.   Các mô hình con cũng giống như các lõi nhưng khác nhau về cách tiếp cận và mức độ chi tiết. Chúng có thể đại diện cho sự thoát hơi nước của rừng và mùa màng, bốc hơi từ các hồ và bề mặt đất, tích tụ và tan chảy của băng tuyết, hoặc băng tan từ các sông băng trên núi, khác với tuyết tan theo mùa. Chúng cũng có thể giải thích cho các động lực khí tượng thủy văn gần bề mặt, như sự phụ thuộc của pha mưa vào nhiệt độ và độ cao, có thể thay đổi đáng kể ở các lưu vực núi hiểm trở.   Các mô hình cũng có thể tính đến các biến đổi tự nhiên hoặc nhân tạo như kết hợp những thay đổi trong việc sử dụng đất, tác động rừng làm giảm tán cây hoặc đô thị hóa các vùng đất nông nghiệp làm tăng diện tích không thấm nước. Điều này có thể giúp dự đoán những thay đổi tương ứng về thoát hơi nước, động lực tuyết và xâm nhập. Những thay đổi đó có thể ảnh hưởng đến dòng chảy của sông, chẳng hạn, làm tăng tần suất và mức độ lũ lụt.   Nhà thủy văn học thời dữ liệu   Không giống như các mô hình mô phỏng quá trình, các phương pháp phân tích dữ liệu xem mỗi lưu vực sông như một bộ lọc động lực học với các tín hiệu đầu vào và đầu ra như lượng mưa và dòng chảy. Mô hình ngầm mô tả toàn bộ các quá trình vật lý vào trong một hàm chuyển, hàm này sẽ ánh xạ từ đầu vào đến đầu ra một cách thực nghiệm. Phương pháp dự đoán dựa trên dữ liệu tiếp cận từ trên xuống như vậy sử dụng các kỹ thuật thống kê và máy học và đang bổ sung sức mạnh và độ linh hoạt cho các mô hình vật lý là cách tiếp cận từ dưới lên.  Mô hình thống kê Gaussian tuyến tính từ lâu đã được sử dụng để dự đoán dòng chảy sông. Ví dụ, trong những năm 1960 mô hình Thomas – Fiering được dùng các quá trình chuỗi thời gian tuyến tính tiêu chuẩn để dự báo dòng chảy sông ngắn hạn. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi để đưa ra dự đoán từ các bộ dữ liệu có tính tồn tại lâu dài theo thời gian.   Mô hình Máy học là một nhánh của trí tuệ nhân tạo (AI) sử dụng các thuật toán để phát hiện các mối quan hệ trong dữ liệu và sau đó sử dụng các mối quan hệ đó để đưa ra dự đoán. Cách đây 25 năm đã bắt đầu xuất hiện việc áp dụng máy học vào thủy văn; và bây giờ cách tiếp cận này hiện đang trở nên thịnh hành khi AI tràn ngập thế giới hàng ngày. Ngay cả Google cũng đang vào cuộc bằng cách sử dụng AI để thử nghiệm dự báo lũ lụt quy mô lớn ở Ấn Độ.    Các mô hình cũng có thể tính đến các biến đổi tự nhiên hoặc nhân tạo trên các lưu vực sông. Ảnh: Một nhà máy thủy điện trên dòng sông Mekong, phần chảy qua Lào. Nguồn: NYT.  Các chương trình nghiên cứu và phát triển R&D hiện tại về học máy trong dự đoán dòng chảy sông đang thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và hệ thống dự báo hoạt động trực tiếp. Các giải pháp kết hợp kết hợp AI với các yêu cầu kỹ thuật và quản lý cụ thể, bao gồm cả tính dễ sử dụng và phù hợp với kiến ​​thức thuỷ văn hiện có, đang diễn ra tích cực.  Các mô hình theo hướng dữ liệu có thể dễ dàng kiểm tra tác động của việc cập nhật các thông tin mới có ích cho các biến số dự báo. Các nhà khí hậu học thường xuyên tổng hợp dữ liệu nhiệt độ đại dương liên quan đến các hiện tượng như vậy vào một chỉ số ngắn gọn như chỉ số Niño. Các nhà thủy văn có thể dễ dàng kết hợp các chỉ số đó với các biến dự báo khác trong mô hình hồi quy WSF hoặc mô hình dựa trên AI để cải thiện độ chính xác của nó. Cách làm như vậy khá là phổ biến trong các hoạt động dự báo. Do khoa học khí hậu phát triển nhanh chóng nên các mô hình theo hướng dữ liệu hiện đang giúp cho việc kiểm định các giá trị dự đoán dòng chảy sông của dữ liệu phát sinh trở nên đơn giản. Chúng đang là những công cụ quan trọng để cho những nghiên cứu về khí hậu thủy văn sau này.  Ráp các mô hình thành chuỗi  Thủy văn lưu vực là một thành phần của một môi trường lớn hơn, vì vậy nhiều mô hình thường được liên kết với nhau để có một cái nhìn toàn diện hơn. Ví dụ như đầu vào cho các mô hình dự báo dòng chảy sông chính là đầu ra của các mô hình dự báo thời tiết số. Chuỗi mô hình đó tạo cơ sở cho việc dự báo lũ, cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý khẩn cấp và an toàn đập; hay tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra quyết định xem có nên đưa ra thông báo sơ tán hay xả nước từ hồ chứa. Các cơ quan chính phủ và các nhà điều hành đập tạo ra và sử dụng những thông tin đó hằng ngày.       Phương pháp tiếp cận theo hướng vật lý mô tả và dự đoán thiên nhiên thông qua một hệ thống các phương trình vi phân biểu thị lưu lượng nước thông qua các yếu tố cảnh quan.      Đầu ra từ các mô hình thủy văn đầu nguồn cũng có thể là đầu vào cho các mô hình thủy văn sông để lập bản đồ ngập lụt và lan truyền. Các mô hình đó dự đoán nước lũ sẽ đi đến đâu và sẽ đạt được bao xa. Kết quả của họ được sử dụng để lên kế hoạch khẩn cấp, thậm chí tính ra tỷ lệ bảo hiểm nhà và dự đoán lũ lụt ở các con sông lớn như Mississippi, nơi sóng lũ từ các cơn bão ở xa thượng nguồn có thể mất nhiều ngày để lan truyền xuống hạ lưu. Các mô hình thủy lực cũng cung cấp thông tin đánh giá tác động môi trường, bảo tồn sinh vật.  Chuỗi mô hình cũng được sử dụng để đánh giá các tác động có thể có của biến đổi khí hậu đối với các con sông. Kết quả từ các mô hình khí hậu toàn cầu có thể được sử dụng để thúc đẩy dự báo về dòng sông; tuy nhiên các kết quả đầu ra trước tiên phải được giảm tỷ lệ và hiệu chỉnh phù hợp để điều chỉnh tính hệ thống và cung cấp thông tin về các lực đẩy khí tượng ở quy mô không gian và thời gian thích hợp.   Độ phức tạp, sự lựa chọn và sự kết hợp   Dự đoán dòng chảy sông có thể sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. Ví dụ như mô tả đặc điểm bề mặt đất, như bản đồ lớp phủ thực vật và diện tích bề mặt không thấm nước; các chỉ số thời tiết, chẳng hạn như nhiệt độ, lượng mưa, tốc độ gió và bức xạ Mặt trời; mô hình độ cao số và mạng lưới sông ngòi; và các bản đồ về đặc điểm địa chất thủy văn chẳng hạn như các loại đất. Các nguồn dữ liệu này được cung cấp từ các trạm quan trắc môi trường dài hạn, viễn thám trên không và vệ tinh và kết quả từ các mô hình khác. Việc lựa chọn mô hình dự báo dòng chảy sông phải phản ánh phần nào dữ liệu có sẵn: Sử dụng mô hình dự báo thủy văn đơn giản khi có nhiều loại dữ liệu và dữ liệu lớn có thể giảm khả năng trích xuất thông tin từ dữ liệu, trong khi sử dụng mô hình phức tạp nhưng không đủ dữ liệu có thể tạo ra cảm giác sai lệch về năng lực dự báo và có khả năng kết quả không chính xác.  Người ta thường ít đánh giá về ưu và nhược điểm của mô hình mà quan trọng là tìm được công cụ phù hợp cho mỗi công việc. Điều này cũng có thể là một thách thức bởi có rất nhiều mô hình dự đoán dòng chảy sông. Nói chung, các mô hình hướng vật lý rất phù hợp để kiểm tra các định luật thủy văn bởi vì chúng dựa trên các quá trình xác định cụ thể. Các lưu vực ảo của chúng cũng có thể mô phỏng trực tiếp các kịch bản của biến đổi khí hậu, đô thị hóa, cháy rừng và những thay đổi môi trường dài hạn khác. Mặt khác, các mô hình theo hướng dữ liệu lại có chi phí xây dựng và vận hành thấp hơn nhiều. Các mô hình này cũng có khả năng đưa ra các dự báo ngắn hạn về nguồn cung nước và lũ lụt chính xác hơn, cũng như đưa ra khoảng tin cậy tốt hơn.   Giá trị của dự đoán   Dự đoán dòng chảy sông là một vấn đề được đặt cược cao và ngày càng cao. Ước lượng một cách khiêm tốn thì những cải tiến về độ chính xác của WSF cũng có thể tạo thêm giá trị hơn 100 triệu đô la hàng năm cho một lưu vực sông. Độ chính xác và thời gian thực hiện của các dự báo lũ cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn: Rủi ro lũ lụt đang leo thang cùng với sự phát triển ngày càng tăng của các vùng đồng bằng ngập lụt, các hiện tượng mưa cực đoan hơn do biến đổi khí hậu và các tổn thất do đô thị hóa gây ra trong khả năng hấp thụ mưa của cảnh quan.   Hơn nữa, vẫn còn hai tỷ người hiện đang sống mà không được tiếp cận đầy đủ với nước uống và UNESCO dự kiến ​​nhu cầu nước toàn cầu sẽ tăng 55% trong vài thập kỷ tới do dân số và tăng trưởng kinh tế. Việc tránh những tổn thất toàn cầu và mất ổn định kinh tế xã hội khi đáp ứng các nhu cầu cấp nước cơ bản sẽ đòi hỏi chúng ta có các phương pháp quản lý nước tốt hơn dựa trên nền tảng kiến thức và khả năng dự đoán về động lực dòng chảy sông trên nhiều phạm vi không gian và thời gian.   Những việc cần làm khá rõ ràng là: Kỹ năng dự đoán cần được cải thiện trong những môi trường khó khăn như sa mạc, lưu vực núi cao và các thành phố đông đúc. Cần chú ý hơn đến khoa học Hệ phức hợp, một lĩnh vực đã thu hút sự quan tâm lớn trong cơ học thống kê, sinh thái học và vật lý xã hội học. Mạng lưới sông là một ví dụ cổ điển về hình học fractal và lý thuyết hỗn loạn hiện đang giới hạn khả năng dự đoán của thời tiết trong khoảng thời gian lý thuyết khoảng hai tuần. Nói chung, không có khái niệm toán học hiện đại nào xuất hiện rõ ràng trong các mô hình dự đoán dòng chảy sông; một cách tiếp cận theo hướng Hệ phức hợp có thể kết hợp các mô hình lại.  Nếu chúng ta tiếp tục tận dụng cuộc cách mạng dữ liệu sẽ thúc đẩy tiến bộ trong ngành thủy văn. Các yếu tố như phát triển các kiểu dữ liệu mới, khám phá thông tin dự báo về khí hậu, và khám phá các hướng phân tích mới để hỗ trợ giám sát và dự đoán môi trường tất cả đều mang lại cơ hội phát triển. Đẩy mạnh các hướng nghiên cứu và ứng dụng đó sẽ là yếu tố quan trọng để quản lý các con sông và tài nguyên nước trong một tương lai ngày càng không chắc chắn.  Nguyễn Quang lược dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/full/10.1063/PT.3.4523    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo “NÓNG”      KHÍ HẬU                    2007 SẼ LÀ NĂM NÓNG NHẤT: Các chuyên gia dự đoán, 60% khả năng cho rằng năm 2007 sẽ là năm nóng nhất từ trước tới nay. Đây là một cảnh báo quan trọng về sự thay đổi khí hậu toàn cầu và minh chứng cho những hành động của con người đang làm nguy hại tới bầu khí quyển. Nguyên nhân của sự nóng lên này là do các ảnh hưởng của Mặt trời, El Nino, sự tập trung của khí nhà kính và những ảnh hưởng từ nhiều thập kỷ. Sự kiện thời tiết El Nino ở Thái Bình Dương sẽ đẩy nhiệt độ toàn cầu lên cao. Hiệu ứng nóng lên của El Nino sẽ tăng cường và vì vậy nó có ảnh hưởng lớn đối với nhiệt độ bề mặt toàn cầu trong suốt cả năm. Năm nóng nhất gần đây được ghi nhận là năm 1998. El Nino được coi như là một ảnh hưởng lớn nhất lên sự biến đổi khí hậu của Trái đất từ năm này đến năm khác. Trong khi El Nino của năm nay không mạnh như năm 1997 và 1998 nhưng sự liên hệ của nó với sự tăng ổn định của nhiệt độ do sự nóng lên toàn cầu từ các hoạt động của con người đủ để phá vỡ sự ghi nhận nhiệt độ cao nhất từ những năm trước.  Y TẾ     SẼ CÓ VACXIN HIỆU QUẢ NGĂN NGỪA CÚM GIA CẦM VÀO CUỐI NĂM 2007:                Ngày nay, cúm gia cầm tiếp tục lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc và Indonesia, và đã giết chết 157 người. Và gần đây, số người chết vì cúm gia cầm ở Indonesia đã lên tới 65 người. Sự phát triển lan tràn của dịch cúm gia cầm đã trở thành vấn đề bận tâm toàn cầu trong suốt năm qua, nó đã giết chết nhiều người và tác động đến sự phát triển nền kinh tế toàn cầu. Mùa đông cũng là mùa của những loài chim hoang dã di trú, đây cũng là một trong những mầm mống lây lan mầm bệnh. Các chuyên gia dự đoán, trong 2007 này, nhiều nơi trên thế giới dịch cúm gia cầm bùng phát thành đại dịch trở lại. Nhưng các nhà nghiên cứu cũng tin rằng, cúm gia cầm sẽ được ngăn chặn hiệu quả vào cuối năm 2007. Sẽ có vacxin mới hiệu lực có thể xóa sạch loại bệnh dịch đang hoành hành này và các công ty, cộng đồng nghiên cứu đang làm việc cật lực để sản xuất ra các loại vacxin tương tự.                     AIDS TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN: 25 năm trước, AIDS lần đầu tiên được phát hiện. Tốc độ phát triển của vi rút HIV vào năm 2006 lên đến 4 triệu trường hợp mới. Theo thống kê nhân ngày phòng chống AIDS năm ngoái, trên thế giới hiện có khoảng 39.5 triệu người đang sống chung với AIDS. Xu hướng gần đây chỉ ra rằng, những điểm nóng AIDS tiếp tục tăng nhanh trong năm 2007. Ngoài châu Phi, Thái Lan, Ukraine, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn là những nơi có tốc độ người bị nhiễm HIV lớn hơn mức trung bình của thế giới. Tổ chức phòng chống AIDS thế giới hy vọng rằng, năm 2007 mọi người có thể tiếp cận gần gũi hơn nữa những dịch vụ cộng đồng để điều trị và ngăn ngừa căn bệnh thế kỷ này.     VACXIN CHỐNG UNG THƯ:                Vào ngày 17 tháng 5 năm 2006, ban quản trị lương thực và thuốc FDA đã tuyên bố rằng thuốc Gardasil có thể dùng an toàn. Điều này sẽ mở ra một hướng mới trên con đường chống lại bệnh ung thư. Loại thuốc này có thể ngăn chặn những virut khối u ở người và được xem như vacxin chống ung thư đầu tiên từ trước tới nay. Vào năm 2007, loại vacxin này sẽ được khuyến khích sử dụng.  KINH TẾ  NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU SẼ PHÁT TRIỂN CHẬM LẠI VÀO NĂM 2007: Nền kinh tế toàn cầu, bao gồm cả những nền kinh tế mạnh như Mỹ, sẽ phát triển chậm lại so với năm 2006. Theo các chuyên gia dự đoán, sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc sẽ dần dần xuống dốc tới 6% sau khi đã thu được sự tăng trưởng hai con số trong những năm gần đây. Việc giá trị của đồng nhân dân tệ giảm chống lại đồng đôla đã phần nào làm giảm tác động của lạm phát lên nền kinh tế của nó do giá cả tăng  vọt của năng lượng và lương thực. Nền kinh tế Nhật Bản cũng được xem là sẽ phát triển chậm lại trong năm nay do xuất khẩu tồn đọng. Sự xuống dốc của nền kinh tế Mỹ sẽ ảnh hưởng đến các nền kinh tế khu vực Mỹ Latinh.                Tuy nhiên, một số nước như Venezuela, Ecuador và Argentina dự đoán sẽ hưởng lợi do giá cả tăng vọt của hàng hóa. Các nền kinh tế ở Nam Á và Đông Nam Á cũng sẽ chững lại. Các nhà kinh tế lo ngại rằng, sự bất ổn chính trị ở hai khu vực này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, Châu Âu lại ít chịu tác động từ nền kinh tế toàn cầu. Theo các nhà kinh tế, cộng đồng châu Âu tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để ngăn ngừa sự mất giá của đồng Euro.    KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ                     SỰ THÂM NHẬP CỦA MẠNG BĂNG THÔNG RỘNG VÀ MẠNG KHÔNG DÂY TỐC ĐỘ CAO cũng như sự phát triển ứng dụng mới nhằm khai thác những mạng tốc độ cao này phát triển rất mạnh trong thời gian gần đây. Năm 2007, chúng ta bắt đầu thấy các mạng băng thông rộng (không dây và vệ tinh) được khai thác trong các thị trường mới cũng như là sự thay đổi nhanh chóng ở các thị trường cũ. Một ví dụ là trong năm 2007 sẽ có nhiều tiền hơn đầu tư vào quảng cáo trực tuyến so với hình thức quảng cáo truyền thống bằng cách in ra giấy, pano, áp phích.                     MỘT THIẾT BỊ KHOA HỌC PHỨC TẠP NHẤT Từ TRƯỚC TỚI NAY ĐÃ ĐƯỢC XÂY DỰNG và sẽ đi vào hoạt động trong năm 2007, máy gia tốc hạt cơ bản LHC. Máy gia tốc này được xây dựng ở Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu (CERN) sẽ chi phối nền vật lý quốc tế trong 15 năm tới và mở ra một chân trời mới cho các khám phá về vật lý hạt cơ bản. Đây là máy gia tốc hạt lớn nhất và mạnh nhất. Với thiết bị này, các nhà khoa học hy vọng sẽ kiểm chứng được nhiều tính chất của tự nhiên trong môi trường năng lượng siêu cao mà lý thuyết đã tiên đoán. Đặc biệt, họ sẽ tái tạo những điều kiện ngay sau Big Bang bằng việc cho hai dòng hạt chuyển động ngược chiều nhau với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng va chạm vào nhau. LHC sẽ là một công cụ hữu hiệu giúp tìm kiếm các boson Higgs để giải thích cho khối lượng của các hạt và khám phá ra sự tồn tại của không gian nhiều chiều.                  THẾ GIỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CŨNG CHỨNG KIẾN MỘT VÀI SỰ LẬT ĐỔ VỚI CÁI CHẾT CỦA VI XỬ LÝ ĐƠN và thay vào đó là sự nổi lên của vi xử lý bội được ứng dụng như là một chuẩn mới. Sự thay đổi này sẽ có ảnh hưởng đến toàn bộ ngành công nghiệp. Lập trình sẽ phải thay đổi từ cách tiếp cận tuyến tính sang một cách tiếp cận mới dựa vào nền tảng hình ảnh, là cách tiếp cận với sự trợ giúp của xử lý song song đồng bộ và khả năng lưu trữ mới. Một phần của khả năng lưu trữ mới này trong năm 2007 sẽ là các bộ nhớ di động. Trong năm 2007, xấp xỉ 17 fab khác nhau sẽ được đưa vào các sản phẩm và hầu hết các fab này sẽ tạo nên các chíp tốc độ cao.                     CHÚNG TA ĐÃ KHÁM PHÁ RA HÀNG TRĂM HÀNH TINH NGOÀI HỆ MẶT TRỜI bằng việc sử dụng những kính viễn vọng tối tân. Nhưng vẫn chưa có lời khẳng định cho sự tồn tại một hành tinh có điều kiện vật lý thích hợp cho sự sống hoặc ít nhất có những đặc điểm gì đó gần giống Trái đất. Các nhà khoa học hy vọng năm 2007 sẽ đưa ra những câu trả lời thú vị về những người sinh đôi của Trái Đất trong vũ trụ.                     NĂM 2007, NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TIẾP TỤC CHO RA ĐỜI NHỮNG SẢN PHẨM MỚI với nhiều tính năng nổi trội. Khách hàng sẽ bị hấp dẫn bởi những sản phẩm này, vì vậy năm 2007 được hy vọng là năm có tốc độ tăng trưởng nhảy vọt cho ngành công nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, niềm lạc quan cho năm 2007 sẽ bị dịu đi bởi những rủi ro liên quan đến việc chuyển giao nhiều sản phẩm mới tới rất nhiều khách hàng hay thay đổi thị hiếu.  NĂM 2007, CÁC NHÀ KHOA HỌC SẼ PHÓNG VÀO KHÔNG GIAN MỘT TRONG NHỮNG KÍNH VIỄN VỌNG KHÔNG GIAN LỚN NHẤT từ trước tới nay, đài thiên văn                không gian Herschel, có đường kính gương 3.5 mét. Nhiệm vụ của Herschel là thu thập các bức xạ hồng ngoại bước sóng dài từ những thiên thể xa nhất và lạnh nhất trong vũ trụ. Đây cũng là đài thiên văn không gian duy nhất quan sát trong một vùng phổ từ hồng ngoại xa đến dải sóng dưới milimét.  NANO LUÔN LÀ MỘT KHOA HỌC MŨI NHỌN tạo ra những đột phá công nghệ cao. Năm 2007 là năm mà các nhà khoa học cùng nhau ngồi lại đưa ra những định hướng phát triển hợp lý dựa trên những tri thức nền tảng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano để có được những hiểu biết sâu sắc hơn nữa dẫn đến những công nghệ mới. Quang học nano, kỹ thuật nano, cấu trúc và                vật liệu nano, ứng dụng công nghệ nano trong y học và sinh học, công nghệ nano cho công nghiệp sẽ là những hướng mũi nhọn sắp tới.                  SỰ HỘI TỤ SỐ ĐI ĐẾN MỘT GIAI ĐOẠN MỚI CỦA SỰ LỚN MẠNH VÀ CUỐI CÙNG là việc bắt đầu khai thác những lợi ích của hội tụ số ngang. Nhu cầu để có lợi nhuận cao hơn, có những sự hợp tác có giá trị, tiết kiệm thời gian buộc các công ty truyền thống     phải tìm kiếm các giải pháp và các khả năng bên ngoài những ngành công nghiệp dọc của họ. Ví dụ, công nghiệp chăm sóc sức khỏe hướng đến bảng điều khiển trò chơi mới Nintendo Wii với chuyển động nhạy với sự điều khiển như là cách thúc đẩy các liệu pháp trị liệu và luyện tập. Sự hội tụ ngang này sẽ được xây dựng để tiến xa hơn trên cơ sở chuyển từ nhập linh kiện sang xuất linh kiện.     THƯƠNG MẠI DI ĐỘNG TĂNG NHANH.                Điều này thúc đẩy tầm quan trọng của điện thoại và các thiết bị thông minh đi cùng với sự tác động của Internet. Vào cuối năm 2006, sự thâm nhập của internet chỉ khoảng 20% trên toàn thế giới. Hầu hết những ấn tượng đầu tiên của người sử dụng mới về Internet sẽ là về các thiết bị cầm tay mà không phải là các thiết bị máy tính để bàn hoặc xách tay. Sự tăng trưởng số người sử dụng thúc đẩy phát triển những ứng dụng mới ủng hộ cho thương mại di động và trả tiền trực tuyến. Sự chấp nhận hoàn toàn cách thức trả tiền trực tuyến ở Bắc Mỹ sẽ được thực hiện trong 3 đến 5 năm tới, nhưng vị trí và sự chấp nhận của người dùng sẽ đạt đến điểm phát triển tăng tốc của thị trường vào cuối năm 2007.  Đức Phường tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 5,5% năm 2022      Dự báo GDP Việt Nam trong năm 2022 tăng trưởng lên 5,5% so với 2,6% năm 2021, theo Thông cáo về Báo cáo Điểm lại Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới.      Báo cáo nhận định khu vực dịch vụ của Việt Nam sẽ dần phục hồi  Với giả định đại dịch COVID-19 sẽ được kiểm soát trong và ngoài nước, báo cáo nhận định khu vực dịch vụ của Việt Nam sẽ dần phục hồi khi người tiêu dùng và nhà đầu tư lấy lại niềm tin, trong khi lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo được hưởng lợi nhờ nhu cầu ổn định từ Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Trung Quốc. Thâm hụt ngân sách và nợ công được kỳ vọng ​​sẽ vẫn bền vững, với tỷ lệ nợ trên GDP dự kiến ​​là 58,8%, thấp hơn nhiều so với mức trần theo quy định.      Tuy nhiên, triển vọng này vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro, đặc biệt là diễn biến chưa rõ ràng của đại dịch. Sự bùng phát của các biến thể mới có thể dẫn đến việc phải tái áp đặt các biện pháp giãn cách xã hội, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Nhu cầu trong nước yếu hơn kỳ vọng ​có thể ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của Việt Nam. Ngoài ra, nhiều đối tác thương mại của Việt Nam đang phải đối mặt với dư địa tài khoá và tiền tệ bị thu hẹp, có thể sẽ hạn chế khả năng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế của các nước này nếu cuộc khủng hoảng kéo dài. Điều này có thể làm chậm sự phục hồi toàn cầu và làm suy yếu nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.    Các chính sách ứng phó cẩn trọng có thể giảm thiểu những rủi ro trên. Các biện pháp về chính sách tài khóa có thể hỗ trợ tổng cầu trong nước, trong đó có tạm thời giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (VAT) và tăng chi cho y tế và giáo dục. Các hỗ trợ dành cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng cần có quy mô lớn hơn và tập trung hơn. Các chương trình an sinh xã hội cần xác định đúng các nhóm đối tượng cần trợ giúp và triển khai thực hiện hiệu quả hơn để giải quyết những hậu quả xã hội nặng nề và không đồng đều của cuộc khủng hoảng. Rủi ro đang gia tăng trong khu vực tài chính cần được giám sát chặt chẽ và chủ động giải quyết.    Với tiêu đề “KHÔNG CÒN THỜI GIAN ĐỂ LÃNG PHÍ: Những thách thức và cơ hội đối với phát triển thương mại xanh tại Việt Nam”, ấn phẩm báo cáo Điểm lại kỳ này cho rằng Việt Nam cần ưu tiên xanh hóa ngành thương mại. Thương mại là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 2 thập kỷ qua, nhưng cũng là ngành có cường độ phát thải các-bon cao — chiếm một phần ba tổng lượng phát thải khí nhà kính của cả nước — và gây nhiều ô nhiễm.    Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm phát thải các-bon trong các hoạt động liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, Việt Nam cần hành động quyết liệt hơn nữa để ứng phó với áp lực gia tăng từ các thị trường xuất khẩu chính, khách hàng và công ty đa quốc gia với yêu cầu những sản phẩm và dịch vụ phải xanh và sạch hơn.    “Thương mại sẽ là hợp phần chính trong chương trình hành động vì khí hậu của Việt Nam trong những năm tới,” Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết. “Thúc đẩy thương mại xanh sẽ không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà còn giữ được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đảm bảo thương mại tiếp tục là nguồn tạo thu nhập và việc làm quan trọng.”    Báo cáo khuyến nghị Chính phủ hành động trên 3 lĩnh vực: tạo thuận lợi cho thương mại hàng hóa và dịch vụ xanh, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh, và phát triển các khu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và không phát thải các-bon.  (B. Như)    Author                phongvien        
__label__tiasang Dự cảm năm 2014      Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên trao đổi với TBKTSG về những vấn đề của năm 2014.      TBKTSG: Nền tảng vĩ mô đã dần được khôi phục khi năm 2013 qua đi. Liệu nó có giúp đặt nền tảng tốt cho năm 2014, theo góc nhìn của ông?  – Ông Trần Đình Thiên: Tôi không thấy có gì thay đổi đặc biệt cả. Ngay cả IMF và WB cũng dự báo, GDP chỉ ở mức 5-5,5% trong năm 2014, tức vẫn trì trệ. Thử đặt câu  hỏi, vì sao tăng trưởng tín dụng giảm mạnh như vậy mà tốc độ tăng trưởng kinh tế không bị tác động nhiều? Nền kinh tế này tăng trưởng phụ thuộc vào vốn, tới 80%, mà tăng trưởng tín dụng giảm từ 30% trước đây xuống khoảng 10% gần đây, tức là giảm hai phần ba mà tăng trưởng chỉ giảm từ 7% còn hơn 5% thì có phi lý không.  Chúng tôi chỉ thấy cái lý thế này: trước đây, bùng nổ tín dụng chủ yếu đổ vào bất động sản và chứng khoán. Chúng tôi không bóc tách được là bao nhiêu, nhưng chắc chắn là lớn. Còn bây giờ, tín dụng vào bất động sản có thể giảm đi nên cũng không tác động đến GDP. Song, tác động như thế nào thì chưa tính được.  Hơn nữa, xu hướng doanh nghiệp phá sản vẫn tiếp tục, với 60.000 doanh nghiệp biến mất trong năm 2013. Họ đã tồn tại qua mấy năm khó khăn vừa qua, nhưng nay thì không thể trụ nổi. Chuyện các doanh nghiệp này chết đi khác hẳn những doanh nghiệp mới đăng ký, chưa sản xuất, hay kinh doanh được gì cả. Mà còn có tới hơn 100.000 doanh nghiệp đã phá sản trong hai năm trước đó. Những doanh nghiệp phá sản này theo tôi cũng chiếm tới 30% công suất của các doanh nghiệp đang tồn tại. Bộ Tài chính còn cho biết có tới hai phần ba doanh nghiệp báo lỗ. Tình trạng của khu vực doanh nghiệp như vậy thì còn đâu động lực cho tăng trưởng nữa.    Nhưng lãi suất đã giảm, bằng mức của năm 2006, ông có cho đây là dấu hiệu tích cực không?  – Lãi suất giảm có thể là tích cực, nhưng có thể là tiêu cực nếu nhìn từ góc độ không ai vay. Hiện nay nền kinh tế đã lạnh đến mức không ai vay nữa, như tôi từng cảnh báo hai năm trước. Câu chuyện về doanh nghiệp phá sản như tôi vừa nói là một ví dụ.  Nhiều người vẫn băn khoăn, lãi suất giảm là tín hiệu chứng tỏ xu thế ổn định là chủ đạo, hay là xu thế nền kinh tế lạnh đi, tức thiểu phát. Dù thiếu nhiều cơ sở dữ liệu để đo lường, song tôi thiên về xu hướng nền kinh tế lạnh đi từ góc độ phân tích tình cảnh của doanh nghiệp. Ngay cả các chỉ số tốt là xuất nhập khẩu thì lại phụ thuộc vào khu vực FDI.    Nói tóm lại, nền tảng để năm tới tăng trưởng cao hơn theo ông là không vững chắc?  – Không chỉ tôi, mà các định chế nước ngoài như WB đều cho rằng, ổn định kinh tế vĩ mô mới chỉ là ban đầu và các nền tảng tăng trưởng còn rất yếu như hiệu quả vốn đầu tư thấp, tái cơ cấu doanh nghiệp chưa làm được gì thực chất, nợ xấu vẫn còn nguyên và ngân hàng vẫn rủi ro cao.  Chẳng hạn, về nợ xấu, mà nhiều người ước tính lên đến hơn 500.000 tỉ đồng, nếu ngân hàng thắt túi nợ lại, cho doanh nghiệp vay tiếp, liệu họ có chết vì những dòng tiền mới không, nhất là khi thị trường chưa tốt hơn. Doanh nghiệp chưa cải thiện được sản xuất kinh doanh, chưa cải thiện được năng lực trả nợ, mà được vay tiếp thì rủi ro nợ xấu lại tăng lên. Đó mới chỉ là một vấn đề.  Tái cấu trúc nói mãi mà chưa làm gì thực chất, vì sao vậy?  – Tái cơ cấu không diễn ra được, theo tôi do có hai lẽ:  Thứ nhất, là động đến các nhóm lợi ích, nên thường là cuộc đấu tranh gian nan, tốn thời gian.  Thứ hai, muốn tái cơ cấu được, phải hiểu được bản chất của nó là thay đổi hệ thống phân bổ nguồn lực, chứ không đơn giản là số lượng doanh nghiệp nhà nước nhiều hay ít, hay có bao nhiêu ngân hàng là vừa.  Hiện nay, cái trục quan trọng nhất trong các hệ thống nguồn lực là trục giá cả, có tính quyết định nhưng lại bị lờ tịt đi. Có thể trong 1.000 loại giá, đã có 996 loại đã đi theo cơ chế thị trường, chỉ còn bốn loại chưa được thị trường hóa. Nhưng đây là bốn loại giá cực kỳ quan trọng, là giá năng lượng (xăng, dầu, điện, than – đụng vào là xã hội nhảy lên đành đạch), giá đất đai (là thị trường lớn nhất, nhưng giá đầu cơ và giá đền bù đều không phải là thị trường), lãi suất (giá vốn, tỷ giá), và cuối cùng là giá lương rẻ mạt.  Cả bốn loại giá này không ai dám đụng đến và được Nhà nước điều tiết toàn bằng công cụ hành chính. Nếu bốn loại giá này mà không thay được thì không tái cơ cấu gì được. Chừng nào hệ thống giá chuyển sang cơ chế thị trường đầy đủ và nếu Nhà nước có can thiệp thì bằng biện pháp kinh tế là chính, thay vì hành chính, thì mới có thể tái cơ cấu được. Khi thay đổi giá, tự tập đoàn Điện lực (EVN), hay tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản (TKV) sẽ phải thay đổi. Họ không còn tìm thặng dư từ đây nên sẽ hết đầu tư ngoài ngành.  Đó là ở tầm vĩ mô về quản trị phân phối nguồn lực. Đương nhiên, ở tầm vi mô, liên quan đến quản trị doanh nghiệp cũng rất quan trọng trong tái cơ cấu kinh tế. Tóm lại, khi còn phân bố hỏng, thì không thể thay đổi được.  Ông nói về tự do hóa giá cả mà không nhắc gì việc thị trường không được tự do hóa, tức không có cạnh tranh thì làm sao giải quyết được vấn đề? Chẳng hạn, TKV độc chiếm ngành than, EVN độc quyền điện, như vậy không có cạnh tranh vậy làm sao có giá tốt nhất?  – Khi cấu trúc thị trường bị méo mó, nếu muốn cải cách nó thì phải chấp nhận trả giá và cũng không thể làm được trong ngày một, ngày hai. Nhưng vấn đề là phải bắt tay vào làm. Ví dụ, lĩnh vực điện cho thành lập ba công ty điện để họ cạnh tranh với nhau. Hệ thống giá đủ cạnh tranh thì người khác mới đầu tư. Như vậy, phải thị trường hóa giá cả lẫn cấu trúc thị trường.  Nhưng nếu quan sát thực tế sẽ thấy, khi đề cập đến thị trường hóa giá cả thì tư duy áp đảo là chỉ nhắm vào tăng giá, thay vì làm thị trường trở nên cạnh tranh?  – Vì thế mới khó tái cơ cấu được. Nhưng tôi khẳng định, nếu không làm như thế thì không thể có thị trường cạnh tranh được, và đất nước này phải trả giá.  Ông nghĩ vai trò của Nhà nước ra sao trong quá trình đó?  – Phải làm theo cách khác. Nhà nước phải bỏ tiền cho tái cơ cấu, chứ không thể tái cơ cấu mà không mất gì như hiện nay. Chẳng hạn, Nhà nước phải có tiền nếu muốn cải cách giá điện để bù cho nhóm người yếu thế; hay lo cho những người mất việc làm ở khu vực doanh nghiệp nhà nước. Số tiền này có thể đi vay. Hiện tại sức yếu rồi, nên cần chọn vài trọng tâm về giá thị trường như hồi cải cách trước. Cho nên, tôi vẫn nói, Nhà nước sẽ chẳng tái cơ cấu được nền kinh tế khi mà chưa xác định chi phí cho nó. Còn Nhà nước đừng bỏ tiền lo tăng trưởng. Nếu Nhà nước chỉ lo tăng trưởng theo cách cứ bơm tiền như hiện nay, mà không lo các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng thì thị trường sẽ quay lưng lại, do môi trường vĩ mô bất ổn, lòng tin bị ảnh hưởng. Tức là phải thực hiện tái cơ cấu theo cách khác.  Xét từ góc độ các địa phương, ông có thấy động lực của cải cách?  – Các địa phương đang vùng vẫy xin cơ chế riêng, đó là dấu hiệu cho thấy nhu cầu thay đổi là rất mạnh trong bối cảnh thể chế chung vẫn đang bí. Động lực đang đòi hỏi rất mạnh từ địa phương, nếu tái cơ cấu từ trên cao, các địa phương có điều kiện để cởi mở hơn. Mô hình tăng trưởng hướng tới chất lượng sẽ kéo địa phương đến với các ngành tốt hơn  Những góp ý của ông thường bị phê phán. Ông có thấy bi quan không?  – Tôi hay nói về các điểm yếu không có nghĩa là tôi bi quan. Tôi tin là sẽ có thuốc để chữa được, còn cứ tô hồng thì chưa chắc.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự đoán các xu hướng kinh tế và công nghiệp năm 2012      Trang tin tài chính Bloomberg điểm qua một số xu hướng kinh tế và công nghệ đáng chú ý trong năm 2012.      Xẹp bong bóng bất động sản ở Trung Quốc  Giá bất động sản ở Trung Quốc hiện nay đã quá cao, khiến chính các quan chức Trung Quốc cũng phải ngấm ngầm thừa nhận rằng đang có bong bóng. Nhưng tới nay thì giá đã giảm, và giới nhà giàu Trung Quốc đang hướng tới những kênh đầu tư khác.  Sức mạng năng lượng của Nga gia tăng  Giá dầu trong thời gian qua đã giúp duy trì vị thế của Chính phủ Putin (hay Putin-Medvedev) trong gần một thập kỷ. Ngày nay, đường ống dẫn khí tự nhiên Nord Stream càng làm gia tăng sức mạnh này.                   Dịch chuyển sản xuất tới những nơi nhân công rẻ hơn    Trung Quốc từng có lợi thế về nhân công rẻ, nhưng nay nhiều nơi khác lại thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc. Việt Nam, Philippines, và Ấn Độ đang là chân trời mới cho các nhà sản xuất công nghiệp.                  Chi tiêu bằng thẻ tín dụng của người Mỹ gia tăng trở lại   Trong và sau suy thoái kinh tế, người tiêu bớt vay mượn, và ngân hàng cũng cắt giảm cho vay. Nhưng nay kinh tế khá hơn, dự đoán thói quen tiêu dùng bằng thẻ tín dụng sẽ gia tăng trở lại.  Thị trường nghệ thuật sẽ bành trướng   Thị trường nghệ thuật toàn cầu có giá trị bao nhiêu? Lớn hơn bạn tưởng nhiều. Phiên đấu giá loạt tác phẩm của nghệ sĩ Zhang Daquian hồi năm ngoái đạt doanh thu là 506,7 triệu USD, còn của Qi Bashi là 445,1 triệu USD. Trong số các nghệ sĩ đang còn sống, 11 gallery của công ty Gagosian trưng bày một đợt triển lãm quy mô khổng lồ, với 331 tác phẩm theo phong cách spot painting của Damien Hirst. Riêng một tác phẩm trong số đó đã có giá trị kỷ lục là: 3,48 triệu USD.                  Google OS lên ngôi   Trên khắp thế giới, Android đang có vị thế thống trị trong số các hệ điều thành điện thoại thông minh. Trên máy tính, Chrome dự kiến trở thành browser chiếm vị trí số hai. Amazon chính là tác nhân đã giúp Android lên ngôi. Cũng giống như cách Apple từng xây dựng được một eco-system hùng mạnh, năm nay sẽ là năm của Google.                    Theo Bloomberg  http://www.bloomberg.com/slideshow/2012-02-01/watch-list-2012.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự đoán rủi ro bệnh dịch với cây ăn quả và đa dạng hóa ngành công nghiệp hoa      Mỗi ngày, hàng triệu người trong chúng ta đều chọn các loại hoa quả tươi và hoa tươi để vào giỏ hàng của mình. Nền thương mại toàn cầu cho hoa cắt cành và quả chi Cam chanh trị giá khoảng 30 tỉ euro. Khi nhắc đến các công nghệ hiện đại, thì dường như các doanh nghiệp vẫn còn e ngại và có xu hướng bám víu lấy quá khứ.    Vào năm 2017, tình cờ Martina Drobná có được mối liên hệ với nhà sinh học và côn trùng học, tiến sĩ Bruno Gábel. “Tất cả đều bắt đầu từ mẹ tôi”, Drobná, một nhà thiết kế đồ họa người Slovakia và hợp tác với dự án CITRUS-PORT, 1 kể lại. “Bà ấy nói với tôi về người hàng xóm mới của bà ở Modra (Slovakia), một nhà khoa học cừ khôi, hiện đang đi theo hướng hỗ trợ những người trồng cây ăn quả việc dự đoán bệnh tật và rủi ro do côn trùng gây ra cho mùa màng của họ”,cô nói.  Khi hai bên gặp nhau, Gábel giải thích cách anh tính toán có thể hỗ trợ những người trồng nho địa phương dự đoán được những rủi ro bệnh dịch tại các thời điểm khác nhau như thế nào. Điều đó có nghĩa là có thể nhắm đích phun thuốc khi xử lý bệnh dịch xảy ra với cây cối của họ và họ không cần phun liên tiếp như trước kia nữa.  Cùng với một doanh nghiệp IT là Roman Korbačka, họ lập ra một trang web và một ứng dụng điện thoại tên là VitiPort.  “Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra một hệ thống hỗ trợ ra quyết định có thể khuyên những người trồng là liệu có nên xử lý dịch bệnh không hoặc khi nào thì nên tiến hành việc đó”, cô giải thích. Kêu gọi mọi người sử dụng VitiGroup, nhóm đã bắt đầu thương mại hóa Vitiport, và phát triển một nền tảng khác tương tự, Genimen-port, dành cho những người trồng táo và lê.  Hỗ trợ người trồng trọt   Hiện tại, họ sử dụng công nghệ tương tự để hỗ trợ những người trồng cây ăn quả như chanh, nho, cam, những loài hoa quả được trồng phổ biến ở các quốc gia Địa trung hải. Hawqngf năm, mùa vụ của người trồng cam chanh bị đe dọa bởi dịch bệnh và côn trùng như mốc xám, thối nâu và bệnh nấm đốm đen, cũng như sâu cam và sâu vẽ bùa.  “Trong nhiều khu vực trồng trọt, chúng tôi phát hiện ra điểm chung là phun thuốc hàng tuần nhưng lại sớm trở thành một cái vòng luẩn quẩn của phun quá nhiều thuốc”, Drobná nói. “Anh càng phun thuốc nhiều thì càng nhiều mầm bệnh có khả năng trở nên kháng thuốc và do đó anh lại càng phun nhiều hơn để kiểm  soát nó. Nó chỉ khiến mọi việc ngày một trở nên tồi tệ hơn”.  Với CitrusPort, cả nhóm hi vọng sẽ thách thức được những quan điểm thông thường về tầm quan trọng của việc phun thuốc thông thường bằng việc cung cấp thông tin đúng lúc, thân thiện với người sử dụng về việc phun thuốc vào thời điểm nào và như thế nào là tốt nhất để diệt trừ mầm bệnh. Những người đóng tiền để tải ứng dụng này có thể tìm thấy vị trí trang trại của mình qua GPS và từ đó, mỗi tuần sẽ nhận được chỉ dấu chính xác về rủi ro bệnh dịch và lời khuyên về việc xử lý chúng.  Drobná hi vọng là CitrusPort có thể sẽ lặp lại được những kết quả ấn tượng mà họ đã đạt được với nho và táo. Ở Champagne, nơi VitiPort được vận hành từ năm 2018, thông tin định hướng về thời điểm phun thuốc đã làm giảm lượng thuốc trừ sâu tới 58%.  Họ đã nhìn thấy tiềm năng cho CitrusPort với những mối quan tâm từ Australia, Mỹ và Tunisia.  Spotify dành cho hoa    Doanh nhân Eric Egberts có một niềm đam mê với hoa và một lịch sử 30 năm gắn bó với công việc này. Một điều khiến ông cảm thấy lúng tunhs là thị trường đòi hỏi yêu cầu chặt chẽ và những sự lựa chọn giới hạn của khách hàng.  “Tôi quen thấy nhiều loại hoa trong chuyến đi của mình và mang những loại khác nhau về nhà để tặng bạn bè”, ông nói. “Mọi người thường hỏi’ tôi có thể mua chúng ở đâu?’. Lúc đó tôi nhận ra rằng, ở hầu hết những nơi bán hoa, sự lựa chọn của mọi người chỉ tập trung vào những loài bán chạy nhất như hồng đỏ, daisy hồng, cúc trắng và vàng”, Egberts nói.  Ông thường thích ví ngành công nghiệp hoa với ngành công nghiệp âm nhạc thời kỳ trước khi có các dịch vụ streaming. “Giống như sự hỗ trợ âm nhạc khi chúng ta chỉ nghe nhạc qua radio, với những bông hoa, bạn chỉ có mỗi cách đón nhận đề xuất khi DJ biểu diễn”, ông nói.  “nhưng cũng có những đề xuất khác nữa có thể sẵn sàng”.  Quan điểm của ông là mở ra những báu vạt hoa quý khắp thế giới thông qua đổi mới sáng tạo số. Với dự án do EU tài trợ, FLOURISH 2, – bao gồm những người trồng, người bán buôn và một nhóm các nhà khoa học máy tính  tham gia, ông hi vọng sẽ làm được những gì với ngành công nghiệp hoa như Spotify đã làm với âm nhạc.  Kế hoạch này nhằm gia tăng sự lựa chọn của khách hàng trong khi đề xuất một tuyến đường mới cho thị trường hoa.  Trao quyền cho những đóa hoa  Hệ thống của ông cho phép những người bán hoa kiểm kê hàng trong kho của họ, Egberts giải thích. Thay vì phụ thuộc vào những người bán hoa để giới thiệu những bó hoa làm sẵn, sự đổi mới của Egberts giúp người mua có điều kiện phối trộn và kết hợp các loại hoa phù hợp với tâm trạng và mong muốn của họ thông qua một ứng dụng. Ông nói: “Hệ thống của chúng tôi có thể tạo ra những bó hoa tự động dựa trên sở thích của người tiêu dùng, cũng như dựa trên sự lựa chọn trước đây của họ, đồng thời có khả năng giới thiệu hàng nghìn loại hoa mới cho khách hàng.  “Đối với người tiêu dùng, đó là điều chỉnh các bó hoa phù hợp với sở thích và theo từng yêu cầu cá nhân hóa. Đối với người trồng, đó là việc mở ra khả năng tiếp cận thị trường mới, cung cấp cho họ cái nhìn sâu sắc hơn về nơi hoa của họ tới và nơi chúng được yêu thích phổ biến”, ông nói.  Từ quan điểm môi trường, hệ thống này cho phép người mua chọn nơi trồng hoa có lượng khí thải carbon thấp hơn hoặc chỉ từ những người trồng địa phương. Ông nói: “Hiện tại, với tư cách là một người tiêu dùng, bạn thường bị giới hạn về những thông tin như thế này.  Phải thừa nhận rằng, với những lựa chọn này thì chi phí cho hoa sẽ cao hơn một chút và thời gian giao hàng lâu hơn một chút do các loại hoa khác nhau đều có nguồn gốc từ các địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, Egberts tin rằng luôn có nhu cầu thực sự cho kiểu tiêu dùng và thưởng thức hoa mới này.  Ông đã thực hiện một phần công việc thông qua trang web BloomyPro và hiện nhóm nghiên cứu muốn có một đối tác thương mại lớn tham gia để mở rộng quy mô.  Egberts đam mê hoa và có hoài bão lớn trong công việc. Ông nói: “Hoa là đánh dấu rất nhiều cột mốc quan trọng trong cuộc đời chúng ta. Bản thân tôi muốn mang hoa đến cho nhiều người hơn, và tôi muốn có ứng dụng có sẵn trong điện thoại di động của mọi người trên thế giới để giúp thực hiện điều này”.  Thanh Hương tổng hơp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-05-disease-pest-fruit-crops-diversifying.html  https://industry-update.com/predicting-disease-and-pest-risk-to-fruit-crops-and-diversifying-the-flower-industry-through-digital-innovation/39449/  ——————————————-  1. https://cordis.europa.eu/project/id/888156  2. https://cordis.europa.eu/project/id/877778    Author                .        
__label__tiasang Du lịch Việt trước áp lực đổi mới thời 4.0      Thị trường du lịch trực tuyến tại Việt Nam đang tăng trưởng mạnh nhờ những tiến bộ của internet và ứng dụng di động, dự kiến có thể đạt 9 tỷ USD vào năm 2025[1]. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nội đang để những hãng nước ngoài như Agoda hay Brooking thâu tóm thị phần – chiếm tới 80% [2]. Vì vậy, ngành du lịch của chúng ta đang đứng trước áp lực rất lớn phải tự đổi mới để thích nghi và cạnh tranh trong thời đại 4.0; đó là những yêu cầu về chuyển đổi số, khai thác dữ liệu và cá thể hóa dịch vụ.      Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Toquoc.vn  Thực hiện triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 16/CT-Ttg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 6/10/2017 tại Hà Nội, Tổng cục Du lịch và Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đã cùng tổ chức Hội thảo:“Du lịch thông minh – Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”. Mục tiêu của Hội thảo, như Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đại Dương chia sẻ, là nhằm thiết lập và duy trì các nhóm hoạt động theo chủ đề, qua đó tiếp tục trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm cũng như giải pháp chuyển đổi thành công. Khu Công nghệ cao Hòa Lạc sẽ đóng vai trò như một cầu nối để hỗ trợ các hoạt động thúc đẩy nhận thức về du lịch thông minh, hướng tới đi tìm giải pháp và hoàn thành mục tiêu.  Doanh nghiệp cần nhanh chóng chuyển đổi số  Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Dương nhấn mạnh, để tận dụng những cơ hội từ Cách mạng 4.0, các doanh nghiệp trong ngành du lịch phải sẵn sàng cho sự chuyển đổi số. Đây là một cuộc cạnh tranh sống còn, không thể chậm trễ.  Về thực trạng ứng dụng CNTT trong ngành du lịch, ông Vũ Thế Bình – phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam đưa ra số liệu: hiện 100% các doanh nghiệp đã sử dụng internet trong liên hệ, quảng bá sản phẩm, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những khâu cơ bản, chưa khai thác được hết các lợi thế của công nghệ trong cạnh tranh, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Thực trạng này dẫn tới năng suất và tính cá thể hóa của các sản phẩm dịch vụ còn thấp.  Theo ông Trần Trọng Kiên – chủ tịch Tập đoàn Thiên Minh, một công ty lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực du lịch với doanh thu trong mảng này đạt tới 2000 tỷ đồng năm 2016, hiện có 3 xu hướng lớn đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của toàn ngành: sự lớn mạnh của những công ty phân phối sản phẩm trực tuyến (Online Travel Agency – OTA), xu hướng tự động hóa, và nền kinh tế chia sẻ. Những phương pháp marketing truyền thống như in ấn, theo ông Kiên đã không còn hiệu quả, các doanh nghiệp cần đầu tư nhiều hơn cho quảng bá trực tuyến.  Cùng chia sẻ tầm nhìn, ông Nguyễn Thế Trung – CEO Công ty Công nghệ DTT cho rằng cuộc cách mạng 4.0 đang dẫn tới nhu cầu phải cá thể hóa các sản phẩm tiêu dùng, trong đó có du lịch. Để làm được điều này, chúng ta phải hiểu rõ hơn nhu cầu của du khách thông qua những công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) hay dữ liệu lớn (Big Data), … Chuyển đối số là điều bắt buộc phải làm, tuy nhiên các doanh nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn, đó là làm sao để số hóa được toàn bộ quy trình kinh doanh, ông Trung phân tích.  Chia sẻ kinh nghiệm của Thiên Minh, ông Kiên cho biết tập đoàn đã và đang đầu tư lớn cho những nghiên cứu và ứng dụng dữ liệu lớn để phân tích thói quen và xu hướng đi du lịch của khách hàng, từ đó hướng tới cá thể hóa sản phẩm dịch vụ. Ông đề xuất Nhà nước nên có những chính sách kiến tạo môi trường bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp nội, như có các ưu đãi về thuế và lập hàng rào kỹ thuật để giúp các doanh nghiệp nội có đủ thời gian lớn mạnh, tích lũy nguồn lực, đổi mới công nghệ và cạnh tranh hiệu quả với những OTA nước ngoài  – có tiềm lực chính công nghệ mạnh hơn rất nhiều. Đơn cử là trường hợp của Ctrip – OTA lớn nhất Trung Quốc, doanh số hơn 1,2 tỷ USD (2015), hãng này thuê tới 1.500 kỹ sư công nghệ, làm việc theo nhóm và lựa chọn giải pháp có chất lượng tốt nhất từ các nhóm.  Tại phiên Hội thảo chuyên đề, hai chủ đề chính xoay quanh những trụ cột của ngành du lịch, đó là: “Ứng dụng CNTT hướng tới Du lịch thông minh – Giải pháp cho các doanh nghiệp du lịch” và “Ứng dụng CNTT hướng tới Du lịch thông minh – Giải pháp cho các cơ quan quản lý và điểm đến du lịch”. Đại diện của một số công ty du lịch và nhà cung cấp công nghệ đã có bài tham luận chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu sản phẩm như Tripi.vn và Gotadi – 2 OTA uy tín tại Việt Nam, AntBuddy – chuyên về dữ liệu đám mây (Cloud Computing), hay Moca  với giải pháp thanh toán thông minh trực tuyến, vv. Những doanh nghiệp trên cho biết, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, họ đang rất nỗ lực để đổi mới, bắt kịp công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trước sức ép từ những đối thủ nước ngoài.  Ngoài ra, đại diện của các cơ quan quản lý như Sở Du lịch Hà Nội và Trung tâm Thông tin –   Tổng cục Du lịch cũng có bài phát biểu, chia sẻ từ cái nhìn thực tiễn nhằm giúp các doanh nghiệp nhận thức được nguy cơ cũng như cơ hội, hướng tới đi tìm giải pháp cho yêu cầu chuyển đổi số, đáp ứng nhu cầu phát triển mới.  Du lịch là lĩnh vực được Nhà nước đặc biệt ưu tiên phát triển. Theo ông Nguyễn Văn Tuấn – Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ngành du lịch Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng cao, chúng ta kỳ vọng tới năm 2020 sẽ đón 17 tới 20 triệu lượt khách quốc tế (so với năm 2016 là 10 triệu). Tuy nhiên, “Ngành du lịch cần lấy công nghệ làm giải pháp mang tính đột phá nhằm tăng sức cạnh tranh, qua đó đạt các mục tiêu tăng trưởng được giao”, ông Tuấn chia sẻ.  Thông tin chi tiết về Hội thảo có thể xem tại: http://dulich.chuyendoiso.com/  ——–  Chú thích:   [1] Theo báo cáo của Temasek Holding, Singapore (2015)  [2] Theo báo cáo nghiên cứu thị trường của Tập đoàn Thiên Minh (2016)    Author                Thế Hải        
__label__tiasang Dữ liệu ảnh vệ tinh tiết lộ quy tắc vận hành đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong      Thiếu những dữ liệu chi tiết về những đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, không ai có thể kiểm chứng được chính xác là liệu chúng có phải là nguyên nhân chính dẫn đến hạn hán, khô kiệt ở hạ nguồn hay không.    Đập Nọa Trát Độ trên sông Lan Thương (Mekong) ở Phổ Nhĩ, Vân Nam, Trung Quốc. Nguồn: landee.cn  Để làm sáng tỏ điều đó, một nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam là Vũ Trung Dũng (ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore), Đặng Đức Thành (ĐH Nam Florida, Mỹ) và đồng nghiệp quốc tế đã thực hiện nghiên cứu và xuất bản công bố “Satellite observations reveal 13 years of reservoir filling strategies, operating rules, and hydrological alterations in the Upper Mekong River basin” (Các quan sát vệ sinh tiết các chiến lược tích nước hồ chứa, các quy tắc vận hành và những biến đổi thủy văn trên lưu vực thượng Mekong) trên tạp chí Hydrology and Earth System Sciences.  Trên thực tế thì việc chứng minh những lời chỉ trích các đập thủy điện thượng nguồn của Trung Quốc là đúng cũng đầy thách thức vì thiếu dữ liệu một cách đầy đủ và chi tiết. Trung Quốc thường không mấy công khai với cộng đồng quốc tế dữ liệu vận hành các đập thủy điện hay chế độ thủy văn của chúng. Những thông số này rất quan trọng bởi “sông Mekong chảy trong biên giới Trung Quốc hơn 2.000 km và tạo ra một thứ quyền lực tự nhiên phi đối xứng với tất cả các quốc gia ven sông”, các nhà nghiên cứu viết như vậy trong công bố. Mặt khác, dù chỉ có 11 trên hơn 100 đập thủy điện ở thượng Mekong nhưng các đập của Trung Quốc lại có dung tích lưu trữ khổng lồ và kiểm soát một cách khá lớn lưu lượng dòng chảy. “Hiểu biết về những quyết định trong quản lý đóng vai trò quan trọng với các quốc gia hạ nguồn sông”, TS. Stefano Galelli (ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore), tác giả chính của nghiên cứu chia sẻ trên trang web của trường. “Ngành công nghiệp năng lượng Lào có thể sử dụng dữ liệu này để vận hành các đập tốt hơn, nhất là trong các đợt hạn hán. Nông nghiệp, một lĩnh vực kinh tế quan trọng khác ở Campuchia và Việt Nam, cũng có thể sử dụng những dữ liệu này”.  Vì vậy, với bài toán này, các nhà nghiên cứu quyết định sử dụng các hình ảnh vệ tinh (Landsat 5, 7 và 8), mô hình độ cao kỹ thuật số (DEM) và các mô hình thủy văn có độ phân giải cao, vốn là những công cụ hữu hiệu để các nhà khoa học có được dữ liệu theo thời gian. Từ đó, họ đã thử ước tính cách nước được tích lại trong hồ chứa và xả trong một tháng trong từng đập trong suốt một thập kỷ, từ năm 2008 đến năm 2020.  Những gì họ thu được là 11 đập của Trung Quốc được xây dựng trên dòng chảy chính của sông Mekong, trong đó đáng chú ý là đập Tiểu Loan và Nọa Trát Độ, có năng lực lưu trữ khoảng 42 km3, tương đương 55% lưu lượng chảy hằng năm ở Bắc Thái Lan và Lào. Khả năng lưu trữ nước của các đập này dao động hằng năm, theo các mùa khô và mùa mưa, dạng khí hậu phổ biến của vùng nhiệt đới gió mùa. Theo các nhà nghiên cứu thì đây chính là điểm thú vị: kết quả phân tích chỉ dấu là sự vận hành của các đập không hề thay đổi ngay trong thời kỳ hạn hán ảnh hưởng đến cả vùng vào năm 2019-2020.  Nhận xét về phát hiện này, TS. Galelli cho biết “chúng tôi đã tự hỏi là liệu việc xả nước khẩn cấp của các đập thượng nguồn này có giúp làm giảm bớt tác động của hạn hán hay không”. Khi các đập quyết định lưu trữ nước trong các hồ chứa, lượng nước chúng giữ lại khá lớn, ví dụ trong khoảng hai năm, hai đập Tiểu Loan và Nọa Trát Độ, được xây dựng lần lượt vào năm 2009 và 2012, đã hoạt động ổn định nhờ giữ lại 15% đến 23% lưu lượng hàng năm. Do đó, nếu các đập này tích nước thì lưu lượng hạ nguồn sẽ  bị giảm sút.  “Việc khám phá ra mẫu hình tích nước đem đến những thông tin bổ sung rất quan trọng, vì 65 km3 nước khác trên sông Mekong đã được lập kế hoạch tích trữ”, TS. Vũ Trung Dũng, tác giả thứ nhất và là một nghiên cứu sinh của trường ĐH Công nghệ và thiết kế Singapore, nói. “Việc hiểu về các chiến lược tích nước có thể giúp các quốc gia hạ nguồn chuẩn bị cho tình trạng khan hiếm tạm thời”. Và sau đó, hỗ trợ cho câu hỏi có thể làm gì để cải thiện cách quản lý nước trên sông Mekong.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Dữ liệu cá nhân trở thành dữ liệu mở ?      Quy định Bảo vệ Dữ liệu chung – GDPR (General Data Protection Regulation) hiện được coi là “một trong những quy định toàn diện nhất làm việc với dữ liệu cá nhân, và làm thay đổi cách các tổ chức thu thập và sử dụng dữ liệu” trên toàn thế giới. GDPR lấy lại toàn bộ quyền sở hữu, sửa chữa, thu thập, xử lý…tất cả các dữ liệu cá nhân cho người dùng từ tay các công ty, tổ chức công nghệ. Điều này không khỏi khiến ta tự hỏi liệu dữ liệu cá nhân có khi nào có thể trở thành dữ liệu mở – sẵn sàng cho bất kỳ ai truy cập, sử dụng, và chia sẻ hay không1? Câu trả lời là có.    Một vài khái niệm  Không phải mọi dữ liệu cá nhân đều cần phải bảo mật tuyệt đối, không thể tiết lộ và chia sẻ cho cộng đồng. Để có thể làm việc tốt với dữ liệu cá nhân, cần phải phân biệt rõ thế nào là dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu riêng tư.  Dữ liệu cá nhân (Personal Data) được GDPR2 định nghĩa là: “bất kì thông tin nào liên quan đến việc xác định hoặc có thể xác định một thể nhân (‘chủ thể dữ liệu’). Một thể nhân là một cá nhân cụ thể có thể được nhận dạng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một mã định dạng chẳng hạn như tên, số căn cước công dân, dữ liệu về địa điểm, mã định danh số hoặc thông qua một hoặc vài yếu tố đặc thù khác về thể chất, sinh lý, di truyền, tinh thần, kinh tế, văn hóa hoặc xã hội của cá nhân đó”.  Dữ liệu nhạy cảm (Sensitive Data): là dữ liệu có thông tin mật, thông tin lưu hành nội bộ của đơn vị hoặc do đơn vị quản lý, nếu lộ lọt ra ngoài sẽ gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, tài chính và hoạt động của đơn vị3.  Thông tin riêng tư (Private Information4): là thông tin liên quan tới một pháp nhân hoặc thể nhân có thể nhận dạng được; không là trong phạm vi công cộng hoặc kiến thức chung; và nếu để lộ có thể gây cho họ thiệt hại, tổn thất hoặc đau khổ cho họ. Định nghĩa này là rất giống với những gì GDPR gọi là dữ liệu danh mục đặc biệt5.  Hình 1. Quan hệ giữa dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu riêng tư.  Trước khi mở, dữ liệu cá nhân sẽ được xử lý thông qua quy trình ẩn danh cùng sự cân nhắc và lường trước các kẻ tấn công phát hiện các thông tin riêng tư giữa bể dữ liệu đã được ẩn danh. Theo đó:  Ẩn danh (Anonimisation) là quy trình sửa một tập hợp dữ liệu để làm giảm rủi ro tái nhận dạng nó càng nhiều càng tốt.  Kẻ tấn công (Adversary): Thực thể có khả năng truy cập tới một tập hợp dữ liệu được ẩn danh để tìm cách tái nhận dạng cá nhân hoặc để biết thêm thông tin về các cá nhân đó. Đối thủ không nhất thiết có ý định gây hại. Vì thế các quy trình ẩn danh được mô tả cũng bao trùm sự ngăn chặn mở ngẫu nhiên hoặc phát hiện thông tin riêng tư.  Một mặt, một khi dữ liệu vừa là dữ liệu cá nhân, vừa là dữ liệu nhạy cảm, thì nó được gọi là dữ liệu riêng tư của cá nhân. Mặt khác, một khi dữ liệu cá nhân được mở ra, hay còn được gọi là dữ liệu mở của cá nhân, thì nó không còn là dữ liệu nhạy cảm nữa, vì dữ liệu nhạy cảm, như định nghĩa của nó, là dữ liệu không sẵn sàng để mở công khai hay lộ lọt ra ngoài. Bởi vì, bất kì dữ liệu nhạy cảm hay riêng tư nào cũng có khả năng biên tập hoặc ẩn danh để có thể chia sẻ hoặc xa hơn nữa là mở.  Phổ của dữ liệu  Trên thực tế, không hiếm những quan điểm cứng nhắc về mở và chia sẻ dữ liệu cá nhân. Một phía cho rằng dữ liệu cá nhân không bao giờ có thể là dữ liệu mở. Phía kia thì khẳng định dữ liệu mở không bao giờ gồm thông tin nhận dạng cá nhân. Thậm chí người ta còn cực đoan tới mức nghĩ rằng bất cứ dữ liệu nào bắt nguồn từ dữ liệu cá nhân, dù là khi nó được trải qua các bước ẩn danh (anonymised), được giả danh (pseudonymised) hoặc được tổng hợp (synthesised), đều không thể là dữ liệu mở. Nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm.  Hình 2. Phổ dữ liệu của Viện Dữ liệu Mở (ODI).  Theo Hình 2 về phổ dữ liệu của Viện Dữ liệu mở6, trải dài từ dữ liệu đóng (chỉ trao đổi trong nội bộ tổ chức), tới dữ liệu chia sẻ (lan truyền giữa các nhóm thỏa mãn một số điều kiện nhất định) và cao nhất là dữ liệu mở (ai cũng có thể tiếp cận). Ta có thể thấy một ví dụ về dữ liệu cá nhân vừa mang tính riêng tư vừa mang tính nhạy cảm đó là bệnh án hoàn toàn có thể được ẩn danh hóa để trở thành dữ liệu chia sẻ, cho phép một số nhóm người nhất định truy cập như các nhà khoa học, y bác sĩ… để phục vụ mục đích nghiên cứu. Nếu được ẩn danh hóa sâu hơn, dữ liệu này còn có thể trở thành số liệu thống kê y tế, được cấp phép mở, cho bất kì ai cũng có thể truy cập, chia sẻ, xử lý và phân tích.         Dữ liệu về con người có thể là dữ liệu mở nếu điều đó có lợi cho xã hội. Ví dụ, hãy nghĩ về việc mở công khai dữ liệu về các tội phạm nguy hiểm cho xã hội, hay việc mở công khai dữ liệu về chi tiêu từ ngân sách của các đại biểu Quốc hội được bầu. Nói một cách khác, khi bạn có ý định mở dữ liệu về con người, hãy cân nhắc tới những lợi ích của xã hội và rủi ro gây hại cho những con người đó. Quan trọng hơn, để dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân trở thành dữ liệu mở, kỹ thuật ẩn danh thường được sử dụng.  Ẩn danh là gì?  Ẩn danh là một quy trình gồm nhiều hành động. Ẩn danh không chỉ là về kỹ thuật, không chỉ là công cụ, và không chỉ là tập hợp các phương trình toán học. Ẩn danh liên quan tới nghiên cứu, các cân nhắc về pháp lý và đạo đức, phân tích và kiểm thử rủi ro. Để ẩn danh hiệu quả, quy trình đó nên bao gồm suy nghĩ nghiêm túc về điều gì xảy ra với dữ liệu sau khi ẩn danh; dữ liệu sẽ được chia sẻ với ai; liệu có những sai lầm nào có thể diễn ra và liệu có biện pháp giảm nhẹ nào có thể tránh được điều đó không.  Nhiều người hiểu một cách quá đơn giản là ẩn danh chỉ là loại bỏ các mã nhận dạng cá nhân (phần lớn là tên người) khỏi các tập hợp dữ liệu. Kỹ thuật ‘bỏ nhận dạng’ (de-identification) này có thể thích hợp trong một vài nhưng không phải tất cả các trường hợp. Trong an toàn dữ liệu, kĩ thuật này thậm chí được coi là rất hạn chế, nếu chỉ bỏ mỗi mã nhận dạng như tên hay số căn cước công dân chẳng hạn, thì các thông tin còn lại trong tập hợp dữ liệu đó vẫn có thể giúp người khác tái nhận diện cá nhân đó.  Ẩn danh đã trở thành một lĩnh vực lớn với đa dạng các kĩ thuật được phát triển liên tục trong hàng thập kỉ qua. Các kĩ thuật ẩn danh có thể tạm thời chia thành ba loại:  1. Ngăn chặn (Suppression): loại bỏ các mã nhận dạng hoặc các mẩu thông tin có thể dẫn đến việc tái nhận dạng  2. Thường hóa (Generalisation): tổng hợp các điểm dữ liệu sao cho mức độ chi tiết thô hơn hoặc loại bỏ các chi tiết để che khuất đi dữ liệu về con người trên cơ sở từng cá nhân.  3. Gián đoạn (Disruption): thêm nhiễu và thay đổi các giá trị đến mức ngày càng khó để biết bằng cách nào hoặc liệu có thể khôi phục hoặc suy luận ra thông tin về các cá nhân cụ thể hay không.  Để hiểu hơn về kĩ thuật ẩn danh, chúng ta có thể đến với ví dụ thống kê số buổi làm việc trên trực tuyến trong tuần sau đây:  Trong ví dụ này, giả thiết một tổ chức tiến hành khảo sát tất cả các nhân viên của mình để thu thập dữ liệu về số buổi làm việc trên trực tuyến theo tuần nhằm tối ưu hóa chi phí văn phòng. Bây giờ, họ đang xem xét liệu có thể phát hành một phiên bản ẩn danh kết quả khảo sát để có thể chia sẻ lợi ích cho các công ty khác hay không.  Dữ liệu thô có thể thấy giống như thế này:        Họ và tên  Ngày sinh  Số buổi làm việc trực tuyến trong tuần      Nguyễn Văn A  16/03/1969  5      Trần Thị H  02/12/1985  1      …  …  …      Phạm Thị T  26/05/2000  2        Người quản trị dữ liệu (người thu thập, duy trì và chia sẻ dữ liệu) với trách nhiệm phát hành phiên bản ẩn danh dữ liệu này, có thể quyết định bước kỹ thuật đầu tiên là loại bỏ tất cả các tên (ngăn chặn), thay thế chúng bằng các mã nhận dạng giả (giả danh hóa – pseudonymisation – một dạng của ngăn chặn):        Họ và tên  Ngày sinh  Số buổi làm việc trực tuyến trong tuần      1  16/03/1969  5      2  02/12/1985  1      …  …  …      753  26/05/2000  2        Tuy nhiên, loại bỏ tên vẫn có thể chưa đủ. Nếu bạn biết ngày sinh của đồng nghiệp mình, bạn có thể dễ dàng nhận dạng ra họ trong dữ liệu đó, và suy luận ra thói quen làm việc trực tuyến của họ như thế nào. Người quản lý dữ liệu vì thế có thể quyết định cũng thay thế các ngày sinh rất chính xác đó bằng độ tuổi (generalization – thường hóa):        ID  Độ tuổi đến tháng 2/2019  Số buổi làm việc trực tuyến trong tuần      1  40–50  5      2  30–40  1      …  …  …      753  10–20  2        Giả thiết thông tin về số buổi làm việc trực tuyến trong tuần là rất nhạy cảm, nên họ cũng có thể muốn thêm “nhiễu” vào dữ liệu đó, ví dụ bằng việc hoán đổi các giá trị với một tỷ lệ nhất định (sự gián đoạn):        ID  Độ tuổi đến tháng 2/2019  Số buổi làm việc trực tuyến trong tuần (tới 10% các giá trị đã được hoán đổi giữa các hàng)      1  40–50  1      2  30–40  5      …  …  …      753  10–20  2        Mỗi lần lặp lại đó sẽ dẫn đến một dạng “dữ liệu được ẩn danh” – cũng như sự kết hợp vô hạn của các kỹ thuật ẩn danh.  Với từng bước như vậy, người quản lý dữ liệu đã loại bỏ được lượng nhất định các chi tiết, mức độ chi tiết và độ chính xác từ dữ liệu đó. Điều này ngụ ý dữ liệu đó là ít đặc thù hơn và ít chính xác hơn. Ẩn danh làm giảm ‘tiện ích’/tính hữu dụng của dữ liệu đó.  Tiện ích (Utility) là khái niệm tương đối: sau hai bước ẩn danh đầu tiên ở trên, tập hợp dữ liệu đó sẽ là ít hữu dụng hơn cho ai đó cần trả lời cho câu hỏi: “Ông A có bao nhiêu buổi làm việc trực tuyến trong tuần?”, nhưng vẫn có tính hữu dụng cao cho ai đó muốn trả lời câu hỏi về việc liệu, trong tập hợp dữ liệu này, những người ở độ tuổi 20 làm việc trực tuyến nhiều hơn hay ít hơn so với những người ở độ tuổi 50.  Dĩ nhiên dữ liệu thô đầy đủ, không được ẩn danh có thể là dữ liệu có giá trị lớn nhất vì nó cho phép đa dạng mục đích và khả năng sử dụng lớn nhất có thể. Và ở một cực khác, dữ liệu có thể hầu như vô dụng khi bị ẩn danh quá mức, như trong ví dụ (cực đoan) này:        Số buổi làm việc trực tuyến trong tuần (được ẩn danh)      Vài người đôi lúc làm việc trực tuyến.        Từ ví dụ này cho thấy, kỹ thuật ẩn danh đối với một tập hợp dữ liệu thô có thể là vô tận. Càng nhiều kỹ thuật ẩn danh được áp dụng, tính hữu dụng của dữ liệu sẽ càng ít đi. Vì thế, có thể nói rằng: “Dữ liệu có thể hoặc cực kì hữu dụng hoặc được ẩn danh tuyệt đối, nhưng không bao giờ có cả hai”.  Dữ liệu mở và rủi ro tái nhận dạng  Ẩn danh dữ liệu ở mức nào là sự cân nhắc vừa đánh đổi giữa rủi ro và tiện ích nhưng cũng vẫn đảm bảo sự tuân thủ với các luật và quy định bảo vệ dữ liệu. Quyết định này không chỉ dựa vào đánh giá bản thân nội dung dữ liệu mà còn bao gồm các nguy cơ trong ngữ cảnh mà dữ liệu đó được sử dụng, như dữ liệu sẽ được chia sẻ với ai, khi nào và như thế nào. Tiện ích càng nhiều thì rủi ro càng lớn, và ngược lại. Khi ẩn danh đạt tới mức độ không còn rủi ro, thì cũng là lúc dữ liệu được ẩn danh trở thành vô dụng!  Một trong những quan điểm ẩn danh dữ liệu là coi phổ dữ liệu (Hình 2) cũng chính là phổ mức độ quản trị dữ liệu và mức độ chắc chắn về những rủi ro mà dữ liệu cá nhân có thể bị xâm phạm. Theo đó:  – Cực đóng của phổ dữ liệu có sự chắc chắn nhất về ai có thể truy cập và sử dụng dữ liệu đó, và sự điều hành khắt khe nhất về truy cập, các quyền, .v.v.  Syngenta là một trong số những công ty nông nghiệp xuất bản dữ liệu công ty dưới dạng mở.  – Khi dữ liệu ở dạng chia sẻ, dù đã quy định ai có thể truy cập và sử dụng dữ liệu đó và khi nào, nhưng vẫn tiềm tàng sự không chắc chắn ở mức độ nhất định, và vì thế vẫn phải giảm nhẹ rủi ro qua vài bước ẩn danh.  – Cực mở của phổ dữ liệu tạo ra tiềm năng lớn nhất cho truy cập, sử dụng và xử lý, nhưng quản trị càng dễ dàng thì mức độ không chắc chắn về rủi ro dữ liệu cá nhân bị xâm phạm càng cao.  Có thể nói rằng, luôn luôn tồn tại khả năng dù lớn hay nhỏ, có một kẻ tấn công có động lực lớn, kĩ năng cao, nhiều nguồn lực để tái nhận diện những dữ liệu ẩn danh. Bởi vậy, phần lớn các dữ liệu ẩn danh đều được quản trị và kiểm soát hết sức nghiêm ngặt. Tuy nhiên, vẫn có một số ví dụ về dữ liệu ẩn danh vừa mở nhưng vừa duy trì được tính tiện ích đáng kể. Một trong số đó là dữ liệu thống kê.  Khi các cơ quan thống kê phát hành dữ liệu định kì, các dữ liệu này có rủi ro thấp tới mức không ai dám “cãi” điều này sẽ xâm phạm đến quyền riêng tư. Theo các nhân viên thống kê của Chính phủ Anh, điều này có thể được lí giải như sau:    Khi các cơ quan thống kê phát hành dữ liệu định kì, các dữ liệu này có rủi ro thấp tới mức không ai dám “cãi” điều này sẽ xâm phạm đến quyền riêng tư.    1. Trước hết, những người chuyên nghiệp về số liệu thống kê có hiểu biết sâu sắc về kiểm soát công bố số liệu thống kê, trong đó bao gồm các phương pháp nhằm đảm bảo tổng hợp số liệu thống kê không vô tình tiết lộ thông tin về các cá nhân.  2. Thứ hai, các cơ quan thống kê hiểu biết sâu sắc về sự cân bằng giữa quyền riêng tư và các quyền cũng như các kết quả đầu ra khác.  3. Cuối cùng, dù các dữ liệu đã trải qua quy trình xử lý khiến các tiện ích đã sụt giảm đáng kể nhưng vì quy mô dữ liệu cực lớn nên nó vẫn vô cũng giá trị với cộng đồng.     Nên hiểu rằng những lí do này không chỉ phù hợp với các cơ quan thống kê của nhà nước mà cũng đúng với cả khối tư nhân. Các công ty hoàn toàn có thể chia sẻ dữ liệu mở 7 liên quan đến hoạt động của họ vì mục đích minh bạch, nhưng các dữ liệu này hoàn toàn có thể được thu thập và xử lý ở mức gần như loại bỏ hoàn toàn các thông tin nhạy cảm.□  —-  Ẩn danh là quy trình loại bỏ thông tin cá nhân có thể nhận dạng được khỏi dữ liệu. Vì thế, dữ liệu đó không còn được tham chiếu tới như là “dữ liệu cá nhân” và không còn phải tuân thủ với GDPR. Bằng việc đảm bảo rằng dữ liệu cá nhân được xử lý minh bạch, nghiêm ngặt tuân theo GDPR, nó có thể làm giảm rào cản xuất bản và sử dụng lại dữ liệu nói chung, Dữ liệu Mở nói riêng. Vì thế, GDPR có thể tạo thuận lợi cho nền kinh tế do dữ liệu dẫn dắt, sinh ra các sản phẩm và dịch vụ mới để tạo ra giá trị cho xã hội, trong khi vẫn tôn trọng các quyền của công dân8.  ———-  Các chú giải  1 Open Data Institute: What makes data open?: https://theodi.org/article/what-makes-data-open/  2 European Union (2016): Regulation (EU) 2016/679 (General Data Protection Regulation) Art 4. Definitions: https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:32016R0679  3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Thông tư 31/2015/TT-NHNN Quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Xem Điều 2, khoản 8: https://thukyluat.vn/vb/thong-tu-31-2015-tt-nhnn-dam-bao-an-toan-bao-mat-he-thong-cntt-trong-ngan-hang-49223.html#dieu_2-8  4 Office for National Statistics (2009): National Statistician’s Guidance on Confidentiality of Official Statistics: https://gss.civilservice.gov.uk/wp-content/uploads/2012/12/Confidentiality-of-Official-Statistics-National-Statisticians-Guidance.pdf  5 Information Commissioner’s Office (2018), ‘Guide to Data Protection’: https://ico.org.uk/for-organisations/guide-to-data-protection/guide-to-the-general-data-protection-regulation-gdpr/lawful-basis-for-processing/special-category-data/#scd1  6 Open Data Institute (2016): The Data Spectrum: https://theodi.org/about-the-odi/the-data-spectrum/  7  Syngenta (2018): ‘Open data agriculture’: https://www.syngenta.com/who-we-are/our-stories/open-data-agriculture  8 data.europa.eu: Protecting data and opening data: General Data Protection Regulation (GDPR) as a supporter for Open Data: https://data.europa.eu/en/datastories/protecting-data-and-opening-data. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/du-lieu-mo/bao-ve-du-lieu-va-mo-du-lieu-634.html  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Dữ liệu lớn chưa được sử dụng giải quyết các vấn đề xã hội hiệu quả (Phần 2)      Khi đánh giá big data trong bối cảnh của các vấn đề xã hội, các nhà khoa học đã rút ra một kết luận: Đối với hầu hết các vấn đề xã hội đều không có dữ liệu lớn.    Khi nói đến các vấn đề xã hội, phần nhiều dữ liệu không có cấu trúc và thường giới hạn ở các con số, thay vì các loại dữ liệu khác. Lấy ví dụ, vấn đề buôn bán người với ước tính khoảng 30 triệu người bị buôn bán mỗi năm. Mặc dù động lực giải quyết vấn đề này rất cấp thiết, nhưng có rất ít chương trình sử dụng dữ liệu lớn để giải quyết vấn đề này. Trong khi đó, ngày càng có nhiều kẻ buôn người sử dụng điện thoại di động, phương tiện truyền thông xã hội, rao vặt trực tuyến và các nền tảng Internet khác. Dữ liệu từ các công nghệ này có thể được thu thập và sử dụng để xác định, theo dõi và truy tố những kẻ buôn người. Nhưng có một sự thật là: Bản chất bất hợp pháp của nạn buôn người làm cho việc thu thập dữ liệu sơ cấp trở nên khó khăn, dữ liệu sơ cấp thu thập từ một số tổ chức có thể không đáng tin cậy và thiếu các chỉ số đáng tin cậy để đo lường thành công của các chương trình và chính sách chống buôn bán. Hơn nữa, hầu hết thông tin thu thập được về nạn buôn người được lưu trữ theo tinh thần đáp ứng với nhu cầu của tổ chức, chứ chưa phải là nhu cầu toàn cầu. Vì vấn đề bảo mật và an toàn dữ liệu, dữ liệu được lưu giữ bởi các tổ chức khác nhau hiếm khi được chia sẻ dưới dạng thô, làm hạn chế tạo ra những bộ dữ liệu lớn mang tầm toàn cầu. Thêm vào đó là tình trạng cạnh tranh giữa các tổ chức chống vấn nạn buôn người. Ví dụ, Dự án Polaris hoạt động chống nạn buôn người bằng cách sử dụng một hướng tiếp cận toàn diện kết hợp giữa  vận động, dịch vụ khách hàng, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình toàn cầu và đường dây nóng quốc gia. Từ 2003 tới 2006, Polaris đã cung cấp các đường dây nóng cho những nạn nhân buôn người. Năm 2007, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ đã chọn Polaris là đường dây nóng quốc gia đầu tiên. Trong những năm qua, Polaris được cho là đã nhận hơn 75.000 cuộc gọi. Tuy nhiên, truy cập vào dữ liệu vẫn bị hạn chế và chưa xác định được độ tin cậy và nguồn của những cuộc gọi này. Nếu thông tin của Polaris được công khai và tích hợp với các nguồn dữ liệu khác, chẳng hạn như các chỉ số kinh tế, lộ trình vận chuyển, thống kê giáo dục và các dịch vụ cứu nạn. Chỉ khi dữ liệu được tập hợp với các dữ liệu khác, được phân tích, trực quan hóa và có thể tiếp cận được với các bên liên quan thì cơ sở dữ liệu đó mới thực sự có giá trị. Chỉ khi đó, dữ liệu nhỏ mới có cơ hội phát triển thành dữ liệu lớn và giúp con người chống lại nạn buôn bán người một cách hiệu quả.  Một dấu hiệu lạc quan là vào năm 2012, Google đã tài trợ cho Polaris và hai tổ chức chống buôn người quốc tế khác  3 triệu USD để tổng hợp dữ liệu được thu thập từ ba đường dây nóng của họ và mở rộng đường dây nóng của họ thành đường dây nóng quốc tế. Hợp tác với nhau, cả ba tổ chức đã hình thành nên “Mạng lưới đường dây nóng chống buôn bán người toàn cầu”.  Những rào cản  Có bốn lý do chính cho việc tương đối thiếu dữ liệu lớn có cấu trúc đối với các vấn đề xã hội: Dữ liệu bị “chôn” trong hệ thống hành chính, thiếu các tiêu chuẩn quản trị dữ liệu, dữ liệu thường không đáng tin cậy, và dữ liệu có thể gây hậu quả không lường được.  Dữ liệu bị “chôn” trong hệ thống hành chính: Hầu hết các tổ chức thu thập dữ liệu để đáp ứng với nhu cầu hoạt động và những dữ liệu đó thường được lưu trong hệ thống quản trị của tổ chức. Để khắc phục vấn đề này, các tổ chức đang cố gắng tìm cách xây dựng các tập dữ liệu lớn có thể được sử dụng rộng rãi hơn. Ví dụ, với ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe của Mỹ, quản lý dữ liệu lớn không hiệu quả đã khiến chi phí tốn từ 100 tỷ USD đến 150 tỷ USD cho chi phí hành chính một năm. Viện Toàn cầu McKinsey ước tính rằng nếu ngành công nghiệp này chuyển đổi việc sử dụng dữ liệu lớn đạ hiệu quả và chất lượng cao hơn, thì ngành này có thể tạo ra hơn 300 tỷ đô la giá trị mỗi năm.  Thiếu tiêu chuẩn quản trị dữ liệu: Thách thức thứ hai đối với việc sử dụng dữ liệu lớn giải quyết các vấn đề xã hội đó là thiếu các tiêu chuẩn quản trị dữ liệu thích hợp, có khả năng xác định cách thu thập, lưu trữ và lựa chọn để giải trình dữ liệu. Kết quả là, tồn tại những mâu thuẫn lớn và dữ liệu được thu được thường không phù hợp để phân tích. Trong nhiều trường hợp, dữ liệu cần phải được chuyển đổi trước khi có thể sử dụng và việc chuyển đổi gây tốn kém. Các nhà phân tích thường rất vất vả với việc tích hợp các tập dữ liệu khác nhau vì họ thiếu metadata (siêu dữ liệu: dữ liệu mô tả về dữ liệu) tốt và chất lượng dữ liệu kém. Một ví dụ về khó khăn này là Sáng kiến “data.gov” năm 2009 của chính phủ Mỹ, với mục đích công khai rất nhiều dữ liệu của sáng kiến để các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp và những cơ quan khác có thể sử dụng dữ liệu cho những mục đích sáng tạo. Sáng kiến này gặp trở ngại bởi rất khó đảm bảo rằng dữ liệu ở định dạng có thể sử dụng được. Chất lượng dữ liệu giữa các cơ quan khác nhau rất nhiều, với một số cơ quan, ví dụ như Cục Bảo vệ Môi trường thường xuyên phát hành dữ liệu ở định dạng có thể đọc được bằng máy, trong khi các cơ quan khác xuất bản dữ liệu ở các biểu mẫu khó thao tác như PDF hoặc định dạng tệp cũ hơn.  Dữ liệu thường không đáng tin cậy: Dữ liệu dồi dào mang lại những cơ hội tuyệt vời để các nhà nghiên cứu cố gắng tìm hiểu và giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng tiếc là phần lớn dữ liệu không đáng tin cậy. Có nhiều dữ liệu không có nghĩa là có nhiều dữ liệu tiêu biểu và có độ tin cậy. Ví dụ, năm 2011, chính quyền Obama đề xuất Dự án đường ống dẫn Keystone XL để vận chuyển dầu cát từ Alberta, Canada, đến Texas. Dự án này gây ra rất nhiều mối lo ngại cho các chủ đất, nông dân, chủ trang trại và các nhà hoạt động môi trường sống ở vùng lân cận của đường ống. Mặc dù vậy, Viện Dầu khí Mỹ và các đồng minh vận động hành lang của họ đã thao túng dư luận xã hội để ủng hộ dự án. Họ thao túng bằng cách sử dụng Twitter gửi rất nhiều đoạn tweets ủng hộ cho dự án, việc  này không thể hiện chính xác quan điểm chung của công chúng. Mạng lưới Hành động Rainforest (RAN) đã phát hiện ra sự gian lận này và chỉ trích các công ty dầu mỏ sử dụng các tài khoản Twitter giả để thể hiện sự ủng hộ cho dự án.  Dữ liệu có thể gây ra hậu quả ngoài ý muốn: Người dùng Big data có thể phải đối mặt với những hậu quả ngoài ý muốn từ việc khai thác dữ liệu lớn mà không quan tâm đến chất lượng dữ liệu, tính hợp pháp, ý nghĩa dữ liệu khác nhau và chất lượng xử lý. Ví dụ về trường hợp một tờ báo ở New York bị kiểm soát do công bố thông tin về các chủ sở hữu súng. Sau vụ thảm sát bằng súng ở trường học bang Connecticut, một nhóm các nhà báo của tờ The Journal News đã sử dụng Đạo luật Tự do Thông tin để lấy thông tin về các chủ sở hữu súng sống ở ngoại ô Westchester, Rockland và Putnam. Nhóm nhà báo đã đăng một bài báo về các chủ sở hữu súng được cấp phép sống trong khu phố và cung cấp một bản đồ trực quan về tên và địa chỉ của các chủ sở hữu súng cá nhân. Thông tin này đã được công bố để thông báo cho công chúng về những người sở hữu vũ khí, nhưng đồng thời thông tin này cũng giúp cho bọn tội phạm nhắm vào những chủ nhà không sở hữu súng để tấn công hoặc nhắm vào chủ nhà có súng để cướp súng.  (Đón đọc kỳ 3: Làm sao thúc đẩy sử dụng hiệu quả dữ liệu lớn?)  Phương Anh  (Theo Big data for social innovation, Standford Social Innovation Review)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu lớn thay đổi cách thức  phân tích và dự báo kinh tế      Phân tích và dự báo kinh tế dựa trên việc sử dụng dữ liệu lớn có thể mang lại tính chính xác và khả năng cập nhật nhanh chóng so với các phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là khả năng xử lý dữ liệu phức tạp này.      Dùng dữ liệu lớn xây dựng hệ thống giá lương thực-thực phẩm để dự báo tác động kinh tế.  Ảnh minh họa: TTXVN.  Cải thiện đáng kể việc tính toán   Từ lâu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thường được coi là thước đo lạm phát quan trọng trong nền kinh tế, được tính bằng phần trăm phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng (dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện) theo thời gian. Mặc dù có nhiều lợi ích nhưng việc xây dựng chỉ số CPI đòi hỏi nguồn chi phí và nhân lực lớn để thu thập, trong khi đó tính chính xác và khả năng cập nhật lại hạn chế, dẫn đến tình trạng đôi khi quyết định chính sách ngắn hạn không thể sử dụng chúng. Một số nhà nghiên cứu đang tìm cách trả lời vấn đề này bằng việc ứng dụng Dữ liệu lớn vào phân tích và dự báo kinh tế.  Vào cuối tháng 11/2018, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) ĐHQG HN đã giới thiệu một chỉ số giá cả trực tuyến (tạm gọi: Online Price Index – OPI) tại Việt Nam. VEPR cho biết, thông qua quá trình tự động thu thập thông tin trên các website bán hàng từ tháng 4/2018, họ đã có hàng triệu lượt quan sát mỗi ngày để theo dõi biến động của giá cả niêm yết và phân tích thống kê, tính toán ra chỉ số OPI tương tự như cách tính chỉ số CPI.  Nhóm nghiên cứu từ VEPR nhận định, sử dụng dữ liệu lớn thông qua nguồn trực tuyến có tính ưu việt và đem lại thông tin nhanh hơn, tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với điều tra trực tiếp. Tuy nhiên, theo PGS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, phương pháp này không thay thế hoàn toàn cho chỉ số CPI mà sẽ là “công cụ bổ trợ tích cực” bởi sử dụng dữ liệu lớn từ trực tuyến vẫn còn hạn chế do một vài nhóm hàng hóa cơ bản chưa được số hóa hoặc giá một số mặt hàng online không phản ánh đặc tính biến động thực tế. Chỉ một số nhóm hàng hóa như lương thực-thực phẩm có xu hướng biến đổi OPi tương tự với chỉ số CPI, mới có ý nghĩa về mặt tư vấn chính sách.  Bên cạnh đó, sử dụng dữ liệu lớn cũng giúp nhóm nghiên cứu kiểm nghiệm vấn đề kinh tế nổi bật trong ngắn hạn. Ví dụ, chỉ trong vòng 3 ngày, nhóm đã tổng hợp được báo cáo từ hơn 1 triệu quan sát thu thập trên 25 website lớn trên toàn quốc và đưa ra kết luận về ngày Black Friday Việt Nam (23/11) – rằng các hãng bán hàng online không hề thực sự giảm giá mạnh như quảng cáo –trung bình mức giảm chỉ vào khoảng 0,5% – 1%. PGS. Nguyễn Đức Thành hào hứng chia sẻ: “Bản thân tôi cảm thấy kinh ngạc. Trước đây, không có bất kỳ một cuộc khảo sát hay công cụ nào cho phép nhà quan sát hoặc người lãnh đạo chính sách có thể ra được những kết luận đó. Chỉ bây giờ, trong thời đại [số] này, chúng ta mới có được những công cụ mạnh mẽ như vậy.”  Ví dụ trên chỉ ra tiềm năng sử dụng dữ liệu lớn có trong phân tích và dự báo kinh tế.   Hiện nay, dữ liệu lớn có thể cải thiện đáng kể việc tính toán các mô hình kinh tế vĩ mô bằng cách cung cấp thông tin chi tiết và cụ thể hơn. Các nhà phân tích có thể tích hợp dữ liệu ở cấp độ cá nhân và mô tả hành vi chi tiêu theo giới tính, thế hệ, khu vực, thu nhập … từ dữ liệu chi tiêu thực của hàng trăm triệu người tiêu dùng. Bên cạnh đó, dựa trên các dạng chi tiêu, họ có thể xác định những người tiêu dùng có cùng sở thích hoặc cách ứng xử để xây dựng mô hình hành vi tương ứng. Vì tiêu thụ là cấu phần lớn nhất trong tổng thể nền kinh tế nên việc hiểu biết người tiêu dùng ở mức độ vi mô không chỉ giúp các nhà hoạch định thiết kế các công cụ chính sách phù hợp mà còn hỗ trợ họ ra quyết định dựa trên bằng chứng thay vì phải giả định hoặc kinh nghiệm như truyền thống. Hơn nữa, theo báo cáo của Elshendy & Colladon (2017) về gợi ý dự báo các chỉ số kinh tế vĩ mô, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng các dự đoán kinh tế khác – như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lạm phát hoặc lãi suất – trong khi bỏ qua các thông tin về sự tác động liên đới trong mạng lưới kinh tế-xã hội. Ngày nay, những dữ liệu về sự tương tác là điều mà dữ liệu lớn có thể sẵn sàng cung cấp.  Trong dự án của VEPR, PGS. Nguyễn Đức Thành đặc biệt nhấn mạnh đến khả năng ứng báo (nowcasting) khi sử dụng dữ liệu lớn – những thứ đang xảy ra ngay trong hiện tại để có những phản ứng tình thế, so với việc dự báo (forecasting)- những thứ có thể xảy ra trong vài tháng, vài năm tới. Những thông tin chỉ báo ngay, sẽ giúp đẩy nhanh quá trình ra quyết định, đôi khi mang tính bước ngoặt.  Thách thức khả năng xử lý   Tuy nhiên, để gặt hái được những lợi ích từ dữ liệu lớn, chúng ta phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Các công cụ kinh tế lượng, thống kê và dự đoán truyền thống không hoàn toàn có khả năng xử lý các biến động liên quan đến dữ liệu lớn. Các phương pháp thống kê giúp các nhà phân tích kinh tế rút ra suy luận trước đây khó có thể được áp dụng cho dữ liệu lớn bởi các tập dữ liệu mới này có khoảng thời gian quan sát ngắn hơn, độ phức tạp cao hơn và số lượng khổng lồ. Thêm vào đó, với sự thay đổi của tính chất dữ liệu, ngành dự báo kinh tế đang đòi hỏi các thuật toán có cấu trúc xử lý được cả dữ liệu lịch sử và thời gian thực – điều mà hầu như các công cụ truyền thống khó có thể đáp ứng được. Nguy cơ tạo ra các “khám phá giả” từ dữ liệu lớn cũng rất đáng chú ý, bởi do kích cỡ dữ liệu quá lớn khiến việc phân biệt giữa các kết quả ngẫu nhiên và có ý nghĩa thống kê trở nên khó khăn hơn. Có nhiều khả năng, chúng ta báo cáo ra một kết quả được coi là “có ý nghĩa thống kê” gây hậu quả hiểu lầm cho các bên quan tâm. Trong báo cáo đặc biệt năm 2010 mang tên “Dữ liệu khắp mọi nơi” của tạp chí The Economist, Kenneth Cukier tin rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây (2007-2008), các mô hình tài chính được dùng không thể xử lý nổi lượng dữ liệu đồ sộ nhập vào hệ thống do đó dẫn đến các dự báo không chính xác.  Mặt khác, “Dữ liệu lớn liên quan tới sự phức tạp nhiều hơn tới kích thước lớn”, như GS. TS Hồ Tú Bảo – Viện trưởng Viện John von Neumann nói, bởi có những tập dữ liệu có dung lượng chỉ 2-3 GB như cảm biến máy bay hay lò hạt nhân nhưng đòi hỏi khả năng phân tích cao. Trong dữ liệu lớn, việc trích xuất các tín hiệu có ý nghĩa (signal) ra khỏi các thông tin nhiễu (noise) được thực hiện phức tạp hơn. Phần lớn các kỹ thuật dự báo truyền thống sẽ dự phóng cả tín hiệu và nhiễu, và mặc dù cách này vẫn hoạt động tương đối tốt trong các tập dữ liệu truyền thống, với tập dữ liệu lớn nó có nhiều khả năng làm sai lệch tính chính xác của dự báo.  Một trở ngại khác là do các nhà nghiên cứu đã có vài chục năm kinh nghiệm sử dụng các kỹ thuật thống kê truyền thống, nên việc phát triển các kỹ năng mới và nhân lực chuyên môn để phân tích và dự báo với dữ liệu lớn là một trong những thách thức quan trọng nhất trong ngành. Để khắc phục vấn đề này, các cơ sở đào tạo bậc cao (CĐ, ĐH…) phải nâng cấp giáo trình nhằm tích hợp các kỹ năng cần thiết giúp cho việc hiểu, phân tích, đánh giá và dự báo với dữ liệu lớn. Hiện nay ở Việt Nam có rất ít các chương trình đào tạo chuyên sâu về dữ liệu lớn nói riêng và Khoa học Dữ liệu nói chung, có thể kể đến một vài cơ sở đi đầu khai phá như trường ĐH Công nghệ Thông tin (ĐHQG TP.HCM), trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN),…  Ở một cấp độ cơ bản hơn, rào cản lớn khi ứng dụng dữ liệu lớn trong phân tích và dự báo kinh tế tại Việt Nam là việc chúng ta chưa hoàn thiện quá trình số hóa, dẫn đến việc dữ liệu có thể nhiều nhưng chưa đủ. Dữ liệu lớn có thể đến từ nhiều nguồn: giao dịch kinh doanh, quy trình làm việc, thiết bị cảm biến, mạng xã hội… do đó, theo TS. Lê Đăng Trung, Giám đốc công ty RT Analytics, để bắt đầu khai thác dữ liệu lớn, “trước tiên hãy ngừng làm việc với giấy, phần còn lại là số hóa.”. Chính phủ hiện đang nỗ lực làm điều đó, và các khu vực khác như kinh tế tư nhân cũng đang không ngừng số hóa để đuổi kịp nhu cầu này. Anh Trung cho biết thêm, “làm việc với dữ liệu lớn là đắt đỏ” bởi Việt Nam không chỉ cần đầu tư cho hạ tầng lưu trữ hay hệ thống máy tính mạnh mẽ hơn để xử lý dữ liệu mà còn cần những công nghệ và hệ kỹ năng hoàn toàn mới đi kèm.¨    Author                Ngô Hà        
__label__tiasang Dữ liệu mở: Không chỉ là vấn đề công nghệ      Dữ liệu mở hữu dụng với các cơ quan nhà nước cũng như công dân nhưng để thu được lợi ích từ nó, cần phải một cú chuyển lớn về cách nghĩ.         Một cú chụp màn hình GIS của thành phố Corona, California cho thấy sự tăng trưởng và phát triển của các dự án đang diễn ra ở khắp thành phố.   Vào tháng 4/2016, khi Chris McMasters chuyển tới thành phố Corona, California để phụ trách văn phòng thông tin, ông ngạc nhiên thấy những người lãnh đạo thành phố rất ít khi dựa vào dữ liệu để ra quyết định. “Tôi đã quen điều hành công việc bằng việc sử dụng các bảng điều khiển và phân tích dữ liệu về những điều cơ bản hằng ngày. Đó là việc quá bình thường nhưng ở đây mọi người không làm như vậy, nó xa lạ với họ”.   Do đó, McMasters đã liên hệ làm việc với trường Đại học Harvard, Trung tâm xuất sắc GovEx tại trường Đại học Johns Hopkins – nơi tập trung thúc đẩy việc sử dụng dữ liệu và bằng chứng thu thập được trong các thành phố có quy mô trung bình để hỗ trợ việc đưa ra chính sách của chính quyền thành phố thông qua sáng kiến What Works Cities. Kết quả là từ tháng 7/2018, thành phố Corona, đã mở một cổng dữ liệu mở để lưu trữ và trưng bày dữ liệu trực quan cho công chúng có thể truy cập. Được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có cả các biểu đồ về phân bổ ngân sách của thành phố, bản đồ GIS về quá trình sửa chữa đường xá…, dữ liệu hết sức phong phú và được bộ phận kỹ thuật “làm sạch” với những định dạng thống nhất để dễ dàng sử dụng, đặc biệt giới công chúng có thể coi đây là một phương pháp mang lại nhiều hiệu quả hơn mà các cơ quan từng áp dụng trước đây.      Dữ liệu mở tự thân nó không thể là mục tiêu cuối cùng của các sáng kiến về dữ liệu của chính phủ. Các chính phủ phải coi dữ liệu như một tài sản chiến lược và là một công cụ giúp việc quản trị dữ liệu của chính phủ tốt hơn.      “Tôi nghĩ những người lãnh đạo chính phủ đang bắt đầu coi dữ liệu mở như một nguồn tài liệu thiết yếu hỗ trợ cho công việc họ đang làm và là công cụ hữu ích để tăng thêm lòng tin của công chúng với chính quyền… và cũng là một cơ hội để mở ra một cách tương tác khác với cử tri của mình mà có lẽ chưa từng có trước đây”, Andrew Nicklin, giám đốc phụ trách bộ phận thực hành dữ liệu tại GovEx nhận xét.  Việc mở kho dữ liệu để cho mọi người truy cập đem lại lợi ích cho chính các cơ quan của chính phủ. “Hiện tại, khi có một phòng ban nào tải thông tin lên kho dữ liệu này là các đơn vị khác cũng có thể lấy về để sử dụng”, Mark Balch, người phụ trách OpenGov, một trung tâm dữ liệu mở và cung cấp dịch vụ đám mây nhận xét. “Thay vì phải nhấc điện thoại lên và làm phiền ai đó phân tích dữ liệu thì họ có thể sử dụng ngay kho dữ liệu mở đó. Bằng cách ‘tự phục vụ’, chính mình theo kiểu này, họ có thể nâng cao hiệu quả công việc và thời gian thực hiện”.  Dẫu sao, cần có những thay đổi về tư duy trên phạm vi lớn trước khi dữ liệu mở có thể thực sự trở thành công cụ phục vụ nhu cầu công việc của cả chính quyền lẫn người dân. Đây là một chặng đường nhiều thách thức vì những gì ngày nay chúng ta gọi là dữ liệu mở hoàn toàn khác với những gì chính phủ hình dung và thực hành về nó vào đầu thập kỷ này.  Minh bạch và công khai mới là sự khởi đầu  Về thực chất, nhiều kho dữ liệu mở xuất hiện trong vòng 5 năm trở lại đây xuất phát từ mong muốn minh bạch hóa các vấn đề quản lý, Mark Balch cho biết. Các trang web này liên quan đến chính quyền đơn giản là vì nó thu thập được nhiều dữ liệu công khai của các cơ quan chính phủ và sau đó là đăng tải nó trên một trang web để tiện tra cứu. Andrew Nicklin coi những nỗ lực sớm nhằm tạo ra các kho dữ liệu kiểu đó là “tự phát dữ liệu”.   “Khi nhìn vào những kẻ đi tiên phong… có thể thấy những người phụ trách dữ liệu ở một số thành phố và nhìn rộng ra là một số quốc gia, công việc của họ đôi khi chỉ là công khai hóa dữ liệu. Thực chất đó là những gì họ đã làm”, Alan Shark, giám đốc điều hành của Viện nghiên cứu Công nghệ Công và là  phó giáo sư tại trường Đại học George Mason, nói. “Tôi ước có thể nói với họ ‘được thôi, vậy anh sẽ làm gì với dữ liệu này?’ Có thể họ nói ‘ồ, đó không phải là quan tâm của chúng tôi’.” Câu nói của Alan Shark đã phản ánh thực chất những gì xảy ra với các kho báu mở ở thời điểm “bình minh của dữ liệu mở”.  Các kho dữ liệu kiểu này có thể đem lại những giá trị lớn cho những nhà nghiên cứu hiểu biết nhưng với phần lớn người dân khi truy cập vào đó, họ không biết là nó giúp ích gì được cho mình và mình có thể biết được gì từ đó. Vì vậy trong thời kỳ đầu, có những câu hỏi treo lơ lửng trên các kho dữ liệu mở là liệu tiện ích của chúng có vượt ra ngoài phạm vi công khai thông tin trên các trang web, Balch nhận xét.      “Ngay cả khi đã loại bỏ các ‘lô cốt’ dữ liệu số đóng và dữ liệu dưới dạng thực thể vật lý thì việc đem đến một văn hóa chia sẻ dữ liệu vẫn quan trọng bởi lúc nào có thể thúc đẩy công nghệ nhưng nếu không có một thứ văn hóa sẵn sàng chấp nhận và tăng cường giá trị của công nghệ thì anh sẽ không thể gặt hái gì được nhiều” (Mark Balch, phụ trách OpenGov).      May mắn là trong vài năm qua, các chính phủ bắt đầu nhận biết được giá trị của các kho dữ liệu mở với công việc điều hành ngân sách và hiệu suất quản lý. Dữ liệu mở cung cấp cho công chúng khía cạnh công khai ngân sách và quy trình tiến hành các hoạt động quản lý, qua đó giúp chính phủ có con đường ngắn hơn trong giao tiếp với công chúng, theo quan sát của Balch. Trao cho công chúng một cơ hội nhìn vào các mục tiêu định hình ngân sách chi tiêu hằng năm cũng như kết quả mà việc đầu tư này mang lại cho đất nước không chỉ làm minh bạch hóa hoạt động chi tiêu ngân sách mà còn giúp công chúng hiểu rõ hơn công việc của chính phủ. Rõ ràng điều đó cải thiện mối quan hệ giữa hai bên, điều không dễ thực hiện từ trước đến nay.  Tuy nhiên, dữ liệu mở tự thân nó không thể là mục tiêu cuối cùng của các sáng kiến về dữ liệu của chính phủ. Các chính phủ phải coi dữ liệu như một tài sản chiến lược, Nicklin nói, “dữ liệu mở là một công cụ giúp việc quản trị dữ liệu của chính phủ tốt hơn.”  Muốn làm được như vậy thì việc vượt qua những rắc rối ban đầu về công khai dữ liệu không phải là điểm kết thúc bởi sau khi thúc đẩy sự minh bạch và trao cho công chúng quyền truy cập dữ liệu thì “hành động thực sự là [chính phủ] ra quyết định dựa trên dữ liệu”, Shark nói.   Chính niềm khao khát có được những quyết định quản lý dựa trên dữ liệu là những gì thúc đẩy thành phố Corona bắt đầu thực hiện từ sáng kiến về dữ liệu của mình.  Từ dữ liệu riêng lẻ thành kho dữ liệu chung   “Khi các nhà quản lý thành phố Corona thuê tôi về làm việc, ý tưởng của họ ‘muốn có một thành phố được điều hành bằng dữ liệu, và muốn nó được mở và kết nối.’ Vì thế, đó là nhiệm vụ của tôi,” McMasters kể lại công việc khi anh bắt đầu tại Corona.  Khi đó, McMasters phát hiện ra đây là một thành phố với nhiều loại dữ liệu riêng rẽ. Mỗi cơ quan đều có một loại công việc của riêng mình, và mỗi cơ quan đều có những loại phần mềm thực hiện công việc. Và thách thức lớn nhất với thành phố này là sở hữu những bộ dữ liệu phức tạp từ các nguồn riêng rẽ và cần được tổng hợp, đồng bộ dữ liệu mới có thể dẫn đến khả năng ra các quyết định dựa trên dữ liệu.       Briges và cộng sự mở các khóa tập huấn, thu hút cả những người bên ngoài các cơ quan chính quyền tham gia tạo ra đối thoại về dữ liệu ở cách tiếp cận khác.    Không riêng McMasters, Nicklin cũng cho rằng, việc phá vỡ các “lô cốt” dữ liệu như vậy là vô cùng quan trọng để có thể tạo được một kho dữ liệu phục vụ việc điều hành, quản lý thành phố. Nó không chỉ tạo ra một điểm đến cho những công dân quan tâm đến dữ liệu mà còn cho phép chính phủ tích hợp dữ liệu từ nhiều cơ quan quản lý, qua đó có được kho dữ liệu chiến lược.  Đó chính là cách Corona tiến hành để giải quyết vấn đề các “lô cốt” dữ liệu. Các viên chức của thành phố đã sử dụng giao diện lập trình ứng dụng (APIs) của chính phủ để trích rút thông tin từ các bộ dữ liệu phong phú của chính quyền thành phố, McMasters kể. Sau đó họ đưa dữ liệu đó vào các cơ sở dữ liệu được lưu trữ bằng công nghệ điện toán đám mây để cuối cùng tạo ra một hồ sơ dữ liệu chung, một nơi có chứa tất cả các dữ liệu cần thiết của thành phố.   Dữ liệu được tái định vị bằng điện toán đám mây có thể lưu trữ được nhiều thông tin dữ liệu hơn và điều quan trọng là tạo khả năng truy cập cho mọi loại thiết bị, bất kể thời gian và địa điểm. “Tôi muốn một nơi có thể đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu nhưng tôi cũng muốn dữ liệu có thể cung cấp thông tin online cho mọi công dân”, McMasters nói. “Đó là ý tưởng kép.”  Ngay cả khi đã loại bỏ các “lô cốt” dữ liệu số đóng và dữ liệu dưới dạng thực thể vật lý thì việc đem đến một văn hóa chia sẻ dữ liệu vẫn là một nội dung quan trọng cần thực hiện. “Văn hóa này rõ ràng là điều mấu chốt”, Balch nói. “Lúc nào anh cũng có thể thúc đẩy công nghệ nhưng nếu không có một thứ văn hóa sẵn sàng chấp nhận và tăng cường giá trị của công nghệ thì anh sẽ không thể gặt hái được gì nhiều.”  Việc thay đổi một thứ văn hóa đã tồn tại rất lâu trong các cơ quan chính quyền địa phương luôn đi kèm với những vấn đề của riêng nó.  Sốc văn hóa  Năm 2016, Little Rock, thủ phủ của Arkansas, trở thành thành phố đầu tiên của bang Arkansas thiết lập cổng dữ liệu mở.  Mặc dù cổng thông tin này được mở vào năm 2014, khi giám đốc IT của Little Rock theo đuổi việc mở một nền tảng dữ liệu mở để thúc đẩy minh bạch hóa dữ liệu với công chúng cũng như trong các cơ quan của thành phố. Melissa Bridges – điều phối viên Đổi mới sáng tạo và hiệu suất của thành phố, đã làm việc với các thành viên phụ trách IT của thành phố để nhanh chóng thiết lập một kho dữ liệu, đồng thời làm việc với các cơ quan chính quyền nhằm định hình những thông tin được đưa vào đó. Tuy vậy thành phố thiếu một cấu trúc quản trị để kết nối các cơ quan này.   Năm 2015, Little Rock được chọn vào sáng kiến What Works Cities, qua đó, Bridges và cộng sự của bà đã làm việc với những người phụ trách các cơ quan về ý tưởng hợp tác trên dữ liệu đồng thời giải thích tại sao vấn đề đó lại quan trọng và vì sao nó có thể đem lại lợi ích cho công việc của họ. Bên cạnh đó, bà cũng giải thích với họ tầm quan trọng của việc xác định được các tiêu chuẩn về dữ liệu và sau đó mã hóa chúng thành các thủ tục hành chính trực tuyến và chính sách.  “Việc đưa mọi người ra khỏi lối suy nghĩ quen thuộc ‘tốt nhất là làm theo những gì chúng ta đã làm’ có lẽ là thách thức lớn nhất”, Bridges nhận xét. “Và việc trao đổi với các đồng nghiệp trên khắp thành phố để cùng làm việc này, tôi nghĩ cũng là vấn đề thách thức không kém.”  Dẫu vậy thì Bridges và cộng sự đã nhận ra một vấn đề: những người hằng ngày xử lý dữ liệu và cập nhật dữ liệu không hay biết về cổng dữ liệu mở của thành phố hay sáng kiến What Works City, đồng thời thiếu các điều phối viên dữ liệu ở các phòng ban trong thành phố. Do đó trong suốt một năm, Bridges và cộng sự đã làm việc với mọi người theo nhiều cách khác nhau để gắn kết với từng người phụ trách dữ liệu cấp phòng ban, hướng dẫn họ về tiêu chuẩn hóa dữ liệu, mở cả các khóa tập huấn cho nhân viên thành phố về nền tảng dữ liệu mở. Bà cũng thu hút cả những người bên ngoài các cơ quan chính quyền tham gia các khóa học để tạo ra đối thoại về dữ liệu ở cách tiếp cận khác.  Công chúng là một bên quan trọng trong việc kết nối với dữ liệu mở. Do đó, Little Rock đã thúc đẩy thói quen sử dụng dữ liệu mở của thành phố qua truyền thông xã hội, qua việc thông báo rộng rãi mỗi khi thành phố đưa ra được một bộ dữ liệu mới, hướng dẫn truy cập qua ứng dụng NextDoor và kết nối với các tổ chức cộng đồng, Bridges nói.  Kể lại câu chuyện   Phải mất rất nhiều công sức để gắn kết và huấn luyện mọi người về dữ liệu, đặc biệt khi việc đó khiến họ nhận thức ra sự tồn tại và hữu dụng của nó. Với McMasters, xây dựng một câu chuyện về dữ liệu là vô cùng quan trọng để chứng tỏ vai trò của dữ liệu. “Dữ liệu thường kể một câu chuyện và việc tường thuật câu chuyện quan trọng vì nó góp phần bối cảnh hóa dữ liệu mà bạn thấy,” McMasters giải thích. “Còn tại sao dữ liệu quan trọng ư? Tại sao tôi phải quan tâm đến nó? Nguyên nhân là nếu chúng tôi chứng tỏ được điều đó thì nó cũng là cách chúng ta đánh giá chính mình và cách đưa ra quyết định.”  Nếu Little Rock đã thúc đẩy các dự án dữ liệu thông qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm truyền thông xã hội, kết nối cộng đồng và thảo luận xã hội thì Corona làm được điều đó bằng việc “phá” các bộ dữ liệu hiện có thành những phần nhỏ hơn liên quan đến kế hoạch phát triển chiến lược của thành phố như an ninh, tài chính, phát triển kinh tế, McMasters nói. Các khu vực này đóng vai trò trung tâm và dữ liệu liên quan là đến các chủ đề đó cho thấy cách thành phố ra quyết định như thế nào và cách công dân đánh giá như thế nào về chính quyền.  Một cạm bẫy lớn là các chính quyền có thể mắc phải là cảm thấy các dữ liệu của mình cần phải hoàn hảo 100% khi tung ra, Nicklin nói và cho biết thêm, xu hướng này thay đổi khi ngày càng có nhiều chính quyền đưa ra các bộ dữ liệu mở cùng với nhận thức rằng nó vẫn có nhiều lỗi và khiếm khuyết. “Thay vì tìm cách phòng thủ, nên có cách nhìn nhận là dữ liệu của chúng tôi còn lộn xộn, còn thiếu hoàn hảo và công việc của bạn là cùng chúng tôi sửa chữa điều đó”, ông nói.   Khi Little Rock mở nền tảng Citizen Connect vào năm 2017 như một công cụ kết nối công dân trực tuyến, thành phố chỉ có mỗi thông tin về an ninh được tải lên trên đó, Bridges kể. Các công chức thành phố biết rằng các bộ dữ liệu khác cần được “làm sạch” trước khi tải lên cổng dữ liệu mở và nỗ lực làm điều đó để cập nhật. Theo thời gian, Little Rock đã có thêm gấp ba dữ liệu.  Giống như các hình thức khác của đổi mới công nghệ, dữ liệu mở là một công cụ có tính tiến hóa. Những thay đổi trong văn hóa làm việc và công nghệ có thể gây nhụt chí bởi vì quá khó để áp dụng. Dẫu sao, quan trọng là giữ mục tiêu tiến về phía trước. “Giống như mọi người làm công việc này, chúng tôi đang cày xới một nền tảng mới và thay đổi từng ngày. Vì thế, để công việc tiếp tục tiến triển, chỉ cần giữ vững điều cốt lõi là làm việc thật tốt và hiểu rõ thách thức sẽ gặp”, Bridges đưa ra cách mà mình và cộng sự vượt qua khó khăn. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.americancityandcounty.com/2019/04/01/data-democratization/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu mở trong quá trình trình chuyển đổi số      Không ai phủ nhận được vai trò của dữ liệu bởi nói một cách hình ảnh như chuyên gia tư vấn và tác giả người Mỹ Geoffrey Moore “Vắng dữ liệu, chúng ta như kẻ mù và điếc giữa ngã ba đường”. Tuy nhiên để thực sự trở thành một trong những nguồn tài nguyên thiết yếu mới của thế giới thời kỳ chuyển đổi số, dữ liệu cần phải được mở, đặc biệt là dữ liệu quốc gia.         Dữ liệu mật độ giao thông tại các điểm có thu thập tín hiệu sẽ góp phần giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông đô thị.    Trong tiến trình số hóa và chuyển đổi số đang diễn ra trên toàn cầu, người ta thường quan tâm đến vấn đề quan trọng là thu thập dữ liệu và phát triển các công nghệ xử lý dữ liệu nhưng không phải ai cũng thấy rằng, chính các nguồn dữ liệu mở cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng. Với các tiêu chí như có thể tìm kiếm được, truy cập được, có khả năng tương hợp được và tái sử dụng được, dữ liệu mở sẽ đem lại nhiều cơ hội mới cho các startup phát triển các ý tưởng sáng tạo của mình.    Chúng ta có thể điểm qua một số yếu tố quan trọng mà dữ liệu mở có thể mang lại:  1.Tạo cơ sở cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ như phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tích hợp số.  2. Tiết kiệm công sức thu thập và chi phí mua dữ liệu của các doanh nghiệp và cá nhân. Khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân tạo ra các ứng dụng có giá trị phục vụ người sử dụng dựa trên bộ dữ liệu.  3. Kiểm tra khả năng sẵn sàng số hóa dữ liệu của chính phủ, tổ chức và tạo sự minh bạch về quản lý thông tin, có thể phát hiện ra các đặc tính, vấn đề mới từ bộ dữ liệu mà chủ sở hữu dữ liệu chưa phát hiện ra.  4. Có thể chia sẻ việc khai thác thương mại, thị trường khi kết hợp bộ dữ liệu với một ứng dụng khác.  Một số lĩnh vực cần dữ liệu mở ở Việt Nam  Để thúc đẩy tiến trình số hóa, mỗi quốc gia nên có các bộ dữ liệu bao phủ hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên không phải quốc gia nào, dù ở tình trạng phát triển, cũng có thể ngay một lúc sở hữu rất nhiều bộ dữ liệu mở bao phủ khắp các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội… bởi đây là một quá trình lâu dài với lượng kinh phí đầu tư lớn và đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều nhân lực. Do đó, mỗi quốc gia sẽ có những ưu tiên nhất định về việc cần tập trung xây dựng những bộ dữ liệu mở nào trước. Dù có rất nhiều cơ sở và lý do lựa chọn nhưng việc xây dựng dữ liệu cần phụ thuộc vào nhu cầu của cộng đồng, khả năng cung cấp thu thập, cung cấp dữ liệu từ các bộ, ngành hay tổ chức hoặc xã hội hóa hay một nhóm đứng ra thu thập, công bố, quản lý dữ liệu với tài trợ nhà nước hoặc tổ chức.  Chúng ta có thể điểm qua số bộ dữ liệu mở tại một số khu vực và quốc gia phát triển:          Quốc gia      Số bộ dữ liệu      Nguồn          Thụy Sĩ      ~7’000      https://opendata.swiss/en/          Australia      ~80’000      https://data.gov.au/search          Canada      ~80’000      https://open.canada.ca/en          Mỹ      ~230’000      https://www.data.gov/          Châu Âu      ~800’000      https://www.europeandataportal.eu            Có một xu hướng chung trong quá trình xây dựng dữ liệu mở ở nhiều quốc gia: hầu hết họ đều tập trung vào hình thành những bộ dữ liệu rất quan trọng và hữu ích cho cộng đồng với tiêu chi có càng sớm, càng đầy đủ càng tốt là dữ liệu địa lý, đơn vị hành chính và chi tiết địa chỉ (ví dụ chi tiết đến tọa độ, đường phố) vì sẽ hỗ trợ cho rất nhiều lĩnh vực như giao thông vận tải, giao hàng hóa trong các thương mại điện tử và bưu điện, xây dựng quy hoạch, du lịch v.v…  Vậy với Việt Nam, chúng ta có cần những bộ dữ liệu này? Câu trả lời là rất nên có, ngoài ra các lĩnh vực khác “nóng” ở Việt Nam cũng nên sớm có các bộ dữ liệu như:  Quản lý, hành chính: Dữ liệu về mức chi công của chính phủ, Dữ liệu về một số bộ luật, văn bản nhưng dưới khuôn dạng máy truy cập được (json, xml).  Xây dựng và phát triển đô thị: Dữ liệu quản lý quy hoạch, dữ liệu về các địa điểm phục vụ cộng đồng (sân chơi, điểm bắt phương tiện công cộng, nhà vệ sinh, vòi nước, hòm thư, điểm rút tiền, v.v.)  Quản lý tội phạm, an ninh: Danh sách các vụ án hình sự theo thời gian, địa điểm  Khoa học giáo dục: Cơ sở dữ liệu về các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, dữ liệu về các xuất bản khoa học của Việt Nam. Dữ liệu về kết quả thi các kỳ thi lớn (không để tên người thi). Dữ liệu về các phát minh đã đăng ký ở Việt Nam  Giao thông vận tải: Dữ liệu tọa độ di chuyển các loại thuyền bè trên biển và sông ngòi Việt Nam trong một khoảng thời gian. Dữ liệu mật độ giao thông tại các điểm có thu thập tín hiệu. Dữ liệu về tai nạn giao thông và địa điểm   Năng lượng, viễn thông: Dữ liệu các trạm phát sóng 3G, 4G, 5G. Các địa điểm cường độ nắng, gió, dòng chảy hỗ trợ tạo nguồn điện.  Sức khỏe, y tế: Dữ liệu một số loại bệnh tật, phân bố theo địa điểm, thời gian. Dữ liệu địa điểm các bệnh viện, phòng khám, hiệu thuốc đã đăng ký.  Môi trường, khí hậu: Dữ liệu về thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm, mức mưa, v.v.) tại các vùng, địa điểm. Dữ liệu về ô nhiễm, khói, bụi, tiếng ồn, ngập lụt tại các điểm dân cư. Dữ liệu về mức độ ô nhiễm nguồn nước tại các khu vực.  Thị trường, giá cả: Giá cả một số mặt hàng thiết yếu như điện, nước, xăng…  Còn rất nhiều lĩnh vực khác như cũng hoàn toàn có thể cung cấp các bộ dữ liệu hữu ích cho cộng đồng nghiên cứu, xây dựng ứng dụng như Thể thao văn hóa (các kết quả thành tích thể thao), Chính trị (một số kết quả bầu cử chi tiết), Tài chính (thuế các mặt hàng, thị trường tiền tệ, chứng khoán), Công việc, thu nhập (Dữ liệu cung/cầu lực lượng lao động, mức lương), nhà ở, bất động sản, an toàn thực phẩm, thống kê dân cư…  Lưu ý khi xây dựng dữ liệu mở  Do là nguồn dữ liệu mở có khả năng làm nền tảng cho các nghiên cứu, ứng dụng khác nên các tổ chức, cá nhân chuẩn bị cho bộ dữ liệu trước khi công bố nên cố gắng đầu tư công sức khi “làm sạch” cho bộ dữ liệu. Nếu không, người sử dụng dữ liệu sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn là lợi ích mà bộ dữ liệu mang lại.  Một trong các yêu cầu là dữ liệu mở cần tuân theo khuôn dạng chuẩn nhất định để trao đổi giữa các hệ thống máy nhưng cũng dễ hiểu bởi con người dễ chia sẻ và xử lý. Khuôn dạng thông dụng nhất hiện nay là CSV (Comma Separated Value) cho các loại dữ liệu bảng biểu và json (JavaScript Object Notation) hay XML cho các cấu trúc dữ liệu phức tạp, đòi hỏi phân cấp. Đây là một trong các vấn đề mà nhiều cơ sở dữ liệu ở Việt Nam gặp phải khi chỉ xây dựng một giao diện Web cho người dùng tra cứu mà không hỗ trợ việc tải dữ liệu hay giao diện lập trình ứng dụng (Application programming interface API) để người quan tâm có thể dùng bộ dữ liệu theo cách của mình.  Tên các trường dữ liệu nên tuân theo một danh sách từ vựng tiếng Anh đã được chấp nhất bởi các tổ chức lớn như https://schema.org/ để tránh việc nhập nhằng hay hiểu sai dạng dữ liệu. Ví dụ dữ liệu địa lý ở Việt Nam có khái niệm “thành phố” nhưng cũng có thể là thành phố cấp trung ương ngang một “tỉnh” hay thành phố trực thuộc tỉnh ngang một “huyện”.  Khuôn dạng dữ liệu nên theo các chuẩn ISO như ISO 8601 hiển thị thông tin thời gian (2019-07-10T21:09:25+07:00), ISO 6709 hiển thị thông tin tọa độ địa lý hay chỉ nên dùng một loại font chữ utf-8 cho các dữ liệu dạng văn bản. Một ví dụ đơn giản như xử lý thời gian, rất nhiều doanh nghiệp bị vấn đề này vì không thống nhất dạng biểu diễn, gặp các khó khăn trong các hệ thống thông tin như không so sánh theo thứ tự vì ngày để trước tháng năm, sai múi giờ khi phải xử lý dữ liệu có tính chất quốc tế, hay bị thiếu độ chính xác vì không lưu trữ chi tiết đơn vị giây hay milli giây.  Tuy nhiên, để các nguồn dữ liệu mở được vận hành và cung cấp thông tin một cách hiệu quả cho những người sử dụng, các nguồn dữ liệu này cần phải đáp ứng một số yêu cầu cả về hình thức và nội dung:  Một số các yêu cầu khác với các bộ dữ liệu mở là:  ·  Dữ liệu phải đầy đủ và cập nhật   · Mỗi bộ dữ liệu nên có định danh số (DOI: Digital Object Identifier)  · Có phiên bản dữ liệu khác nhau (version) nếu có cập nhật, thay đổi theo thời gian.  · Không có thông tin ảnh hưởng đến mỗi con người cụ thể (ví dụ không nên có dữ liệu mở về lịch  sử bệnh tật một người có tên, tuổi thật)  · Có hỗ trợ lấy dữ liệu theo từng khối nhỏ nếu bộ dữ liệu quá lớn  · Luôn online và miễn phí, không yêu cầu đăng ký, không bị gắn với bản quyền, phát minh sáng chế  · Nguồn dữ liệu phải tin tưởng và có tổ chức chịu trách nhiệm với mỗi bộ dữ liệu, có chữ ký điện tử, xuất xứ, thời gian của bộ dữ liệu.   · Có tài liệu mô tả về dữ liệu đi kèm  · Có thể hỗ trợ API để truy cập và tìm kiếm, lọc dữ liệu cần lấy. Với API cần có yêu cầu đăng ký để giám sát API được ai dùng, dùng vào các việc gì.  · An toàn khi mở ra: ví dụ không chứa mã độc, mã lệnh thực hiện trên máy người lấy hay dùng dữ  liệu, không quá to để gây nghẽn mạng.  · Có danh sách các ứng dụng liên quan đã sử dụng bộ số liệu.  Cuối cùng các bộ dữ liệu sau khi thu thập và công bố cho cộng đồng nên được tổ chức một cách khoa học qua việc phân loại, thống kê, dễ tìm kiếm, lọc theo tiêu chí, hỗ trợ các khuôn dạng khác nhau. Nên sử dụng một hệ thống mã nguồn mở để quản lý các bộ dữ liệu. Ví dụ https://ckan.org, đã được sử dụng bởi rất nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới.  Lời kết  Theo nguồn opendatahandbook, có rất nhiều các bài học giá trị do nguồn dữ liệu mở mang lại. Tại Đan Mạch, sau 8 năm, nguồn địa chỉ mở được hình thành từ năm 2002 đã có hơn 1.000 doanh nghiệp và tổ chức sử dụng, mang lại giá trị trực tiếp ít nhất là 62 triệu Euro. Một nhân viên chỉ mất 15 phút để giúp Chính phủ Anh tiết kiệm hàng triệu bảng Anh nhờ việc phát hiện các khoản chi tiêu trùng lặp trong dữ liệu chi tiêu công của chính phủ.  Phân tích nguồn dữ liệu mở về các ca phẫu thuật ở Anh giúp giảm bớt hàng nghìn ca tử vong vì phẫu thuật tim mỗi năm. Dữ liệu mở cũng giúp việc quản lý nguồn cứu trợ của các tổ chức phi chính phủ hiệu quả hơn ở Nepal, cắt giảm hàng chục triệu USD do chi phí dược phẩm tại Nam Phi…  Việt Nam đã bắt đầu phát triển khá nhanh về hạ tầng số và ứng dụng các công nghệ số. Tuy nhiên đây là giai đoạn các nguồn dữ liệu mở sẽ cần phải sẵn sàng để góp phần vào quá trình chuyển đổi số một cách bài bản và bền vững.    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Du xuân cùng  slogan… du lịch      Cuối tháng 11 vừa qua, trang mạng familybreakfinder.co.uk đã cung cấp Bản đồ Slogan Du lịch của các quốc gia trên thế giới bao gồm slogan của 159 nước. Đọc hết những slogan du lịch (SD) này, khác gì dạo chơi trong vườn hoa Xuân đầy những lời hay ý đẹp, đầy những gợi mở về các địa danh kỳ thú, về các đặc trưng độc đáo của biết bao đất nước cũng như khả năng sáng tạo của những người làm nên SD.      Hang Én, hang động lớn thứ ba thế giới, một điểm đến mới đang hút khách của du lịch Việt Nam.  Ta hãy bắt đầu bằng thuật ngữ “slogan”. Slogan là một dạng khẩu hiệu “liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ được quảng cáo”, thường đi cùng logo.  Slogan du lịch của Việt Nam bắt đầu xuất hiện và biến đổi như thế nào, ta hãy xem bảng sau đây.    Theo bảng thống kê trên, trong 16 năm qua, du lịch Việt Nam đưa ra bốn slogan chứa đủ bốn lần tên Việt Nam, chậm rãi giới thiệu điểm đến và mời đến; chỉ cho khách thấy vẻ đẹp tiềm ẩn rồi khẳng định nó bất tận. Thay đổi SD theo từng thời kỳ là một việc làm bình thường của tất cả các nước, nhất là nước đang phát triển mà ngành du lịch luôn thấy rằng kết quả chưa xứng với tiềm năng.  Khác với motto có truyền thống sử dụng chữ latin đa nghĩa, SD thường dùng tiếng Anh làm song ngữ nên buộc những người thiết kế slogan phải tận dụng triệt để từng con chữ để nó phát huy nhiều liên tưởng nhất trong đầu du khách. Bản đồ Slogan Du lịch… thế giới cho thấy một số xu hướng trong việc sáng tạo SD.  Một trong những xu hướng lớn nhất là gắn SD của nước mình với địa danh nổi tiếng hoặc quen thuộc trên thế giới. Có tới 22 quốc gia hiện đang làm như vậy. Ví dụ: Kyrgyzstan: Oasis on the Great Silk Road (Ốc đảo trên Con đường Tơ Lụa vĩ đại). Malawi: The warm heart of Africa (Trái tim ấm áp của châu Phi). Malta: Truly Mediterranean (Địa Trung Hải đích thực). Peru: Land of the Incas (Miền đất Inca). Tonga: The true South Pacific (Nam Thái Bình Dương đích thực).  Một xu hướng khác là dùng câu đơn giản. Nhiều nước Tây Âu – Bắc Mỹ, có thể do hoạt động du lịch đã ổn định nhiều năm, thường dùng câu đơn giản. Ví dụ – Bỉ: The place to be (Nơi đáng đến). Canada: Keep exploring (Cứ khám phá). France: Rendez vous en France (Điểm hẹn ở nước Pháp). Đức: Germany – The travel destination (Đức – Điểm đến du lịch). Italia: Made in Italy. Mỹ: All within your reach (Tất cả trong tầm tay của bạn)…  Xu hướng chơi chữ cũng khá phổ biến. Ví dụ – Djibouti: Djibeauty (Djibouti tươi đẹp). Ấn Độ: Incredible!ndia (Lạ thường Ấn Độ! – thay chữ I trong India bằng dấu “!”). Ma-rốc (Morocco): Much Mor (Nhiều hơn nữa). Slovenia: I feel sLOVEnia (Tôi thấy yêu Slovenia). Ukraine: It’s all about U (Tất cả là về Bạn/Ucraina – U là chữ đầu của Ucraina hoặc tắt của You)… Việc dùng các âm tiết có chữ cái đầu trùng với chữ cái đầu của tên quốc gia, lại là một cách chơi chữ khác như Live Love Lebanon (Sống Yêu Liban).  Ngoài ra, có nhiều nước tận dụng nét đặc thù, độc đáo của mình để làm SD, như Israel: Land of Creation (Vùng đất của Sáng tạo); Colombia: Colombia is magical realism (Colombia – hiện thực huyền ảo – liên tưởng tới Marquez); Bhutan: Land of Gross National Happiness (Xứ xở của Tổng Hạnh phúc Quốc dân – Bhutan là nước duy nhất trên thế giới dùng GNH thay cho GDP để đánh giá sự phát triển của quốc gia); Lesotho: The Kingdom In The Sky (Vương quốc trên trời – toàn bộ nước Lesotho ở độ cao trên 1.400m so với mực nước biển); Madagascar: A genuine island, a world apart (Một hòn đảo đích thực, một thế giới tách biệt – Đảo quốc Madagascar có một hệ động-thực vật khác biệt với toàn thế giới còn lại); Holland: Add some orange (Hãy thêm một ít màu cam – bạn có nhớ Cơn lốc màu Cam?)  Bản đồ Slogan Du lịch… thế giới cũng cho thấy vài trường hợp lạ, như Slovakia: Little big country (Nước lớn tí hon)! Phải hiểu sao về SD hài hước đầy mâu thuẫn này? Hay như một quốc gia không có biển, quốc gia kia toàn biển bao quanh nhưng họ đều thấy mình Simply beautiful (Đơn giản là đẹp) và cùng chọn câu này làm SD! Vấn đề bản quyền thế nào nhỉ? Đó là nước Lào hàng xóm và nước Saint Lucia ở tận mãi biển Caribbe (Trung Mỹ).  Tuy nhiên, vẫn còn tới hơn 1/6 số nước trên thế giới chưa có SD. Dễ hiểu khi phần lớn các nước đó ở châu Phi hoặc Trung Đông, đang nội chiến hoặc nghèo đói (Afganistan, Sudan…); nhưng cũng khó hiểu vì có cả những nước không nghèo đói và chiến tranh (Angola, Turmenistan).  … Và, bạn có thể tiếp tục phân loại SD từ bản đồ này theo các tiêu chí MÌNH MUỐN, hẳn sự thích thú sẽ còn kéo dài… Ví dụ như, nếu ở Việt Nam ta, từ thuở tập viết đã chép “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” – thì ở Vương quốc trên trời kia, motto của họ lại là “Khotso, Pula, Nala” (Hòa bình, Mưa, Thịnh vượng)! Ôi, Mưa!…  Phần đi tiếp trên bản đồ Bản đồ Slogan Du lịch của các nước trên thế giới thuộc về bạn.       Author                Nguyễn Bá Dũng        
__label__tiasang Đưa cây chè dây từ bắc vào nam      Là cây thuốc quen thuộc ở vùng miền núi phía Bắc nhưng chè dây lại trở thành nguồn nguyên liệu cho một doanh nghiệp ngành lâm nghiệp ở Lâm Đồng.  &#160;    Ý tưởng về việc sản xuất loại chè mới bắt đầu đến với anh Hoàng Duy Thành khi được người dân Đam Rông mời cốc trà dây thơm ngon, đắng nhẹ nhưng ngọt hậu. Tuy nhiên trước khi bắt tay vào thực hiện ý tưởng này, anh Thành đã phải tìm tài liệu khoa học để nghiên cứu thêm về cây chè dây và phát hiện chính xác những tác dụng dược lý của loại cây này như thanh nhiệt, giải độc, chữa các bệnh mất ngủ, ợ chua, đau rát thượng vị… Vốn là loại cây gốc ở khu vực miền núi phía bắc, khi xuất hiện tại vùng đất cao nguyên này, chè dây lại có thêm hương vị riêng biệt, đậm đà. Đây là yếu tố khiến anh Thành cho rằng chè dây Lâm Đồng sẽ có sự hấp dẫn đặc biệt với người tiêu dùng và đủ sức cạnh tranh với nhiều loại chè khác trên thị trường. Vì vậy anh Thành có thêm quyết tâm trồng và sản xuất thử nghiệm cây chè dây ở khu vực rừng núi Đam Rông.   May mắn là vào thời điểm bắt đầu, anh Thành đã nhận được sự ủng hộ của UBND huyện Đam Rông. Do nhận thấy tiềm năng của cây chè dây và cơ hội tạo công ăn việc làm lâu dài cho dân địa phương, huyện Đam Rông đã hỗ trợ anh Thành 80 triệu đồng. Cùng với tiền vốn của mình, anh Thành đã làm vườn ươm quy mô nhỏ tại xã Liêng Srônh. Trong những tháng đầu, việc ươm giống cây liên tục thất bại nhưng anh Thành vẫn không nản chí. Cuối cùng sau nhiều nỗ lực, việc ươm giống đã thành công, giúp anh Thành mở rộng diện tích trồng cây lên.   Quy trình sản xuất chè của anh Thành rất chặt chẽ và đảm bảo thành phẩm thu hái là “chè sạch”, đồng thời giữ được hương vị tươi ngon sau khi chế biến. Nhằm đạt được yêu cầu này, trong quá trình chăm bón, các công nhân không bón thuốc trừ sâu hay chất kích thích tăng trưởng lên cây. Việc thu hoạch và chế biến chè dây cũng diễn ra trong vòng một ngày trên dây chuyền khép kín, đem lại cho sản phẩm chè dây dù dưới dạng túi lọc hay sao khô đóng gói cũng vẫn có hương vị đặc trưng. Sản phẩm “Chè dây Cao nguyên” đã được các cơ quan kiểm nghiệm ở Lâm Đồng và TPHCM xác nhận giá trị, hàm lượng dược tính và được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) chứng nhận “phù hợp với quy định hiện hành về chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm và được phép lưu hành…”.   Được người tiêu dùng đón nhận, sản phẩm chè dây Cao nguyên đã có mặt trên khắp cả nước. Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, anh Thành đã tiếp tục mở rộng quy mô diện tích trồng cây chè dây, đem lại cơ hội tham gia cung cấp nguyên liệu của người dân địa phương vùng sâu, vùng xa, qua đó góp phần ổn định thu nhập và cuộc sống của họ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa công nghệ nano phát sáng vào hệ thống đèn xóm ngõ      Kỹ sư Phạm Tài, giám đốc Công ty Quản lý vận  hành Điện Đà Nẵng, đã đưa ra giải pháp công nghệ Đèn ngõ xóm sử dụng  công nghệ nano phát sáng nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng của các thiết  bị chiếu sáng công cộng, thân thiện với môi trường.     Xuất phát từ thực tế như đèn chiếu sáng ngõ xóm không cần loại công suất lớn, quang thông cao; địa điểm chiếu sáng là các ngõ hẹp, quanh co, kéo dài nên cần những mẫu đèn gọn, nguồn sáng phù hợp, kỹ sư Phạm Tài đã chế tạo ra loại đèn NanoLed. Công nghệ Nano phát sáng cấu tạo trên những cấu trúc dưới dạng nanomet, hay còn gọi là chấm lượng tử, chuyển đổi điện năng với hiệu suất cao hơn các kết cấu khác.   Về ưu điểm, đèn NanoLed có độ phát sáng đảm bảo theo tiêu chuẩn chiếu sáng nhân tạo cho ngõ xóm. Dù điện áp đầu vào không ổn định thì độ phát sáng vẫn không thay đổi. Hơn nữa, các linh kiện LED được lắp ráp và sản xuất tại Việt Nam và công nghệ lắp đặt cũng hoàn toàn theo kiểu dáng Việt Nam. Đèn LED Nano có tổng công suất tổ hợp 24W, quang thông 2.160, vỏ đèn bằng nhôm đúc định hình, tản nhiệt tốt, giá thành rẻ hơn rất nhiều so với loại đèn do Đài Loan hay Philips sản xuất. Về tuổi thọ, đèn NanoLed có thời gian sử dụng cao hơn so với các loại đèn Mercury hoặc compact huỳnh quang hiện nay. Do giảm được lượng khí thải nhà kính CO2, bóng đèn NanoLed được đánh giá là thân thiện với môi trường.  Đây cũng là lý do để sản phẩm đèn chiếu sáng ngõ xóm đã được Cục Bản quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả, được trao thưởng Công trình KHCN, Giải thưởng Sáng tạo KH-CN Việt Nam VIFOTEC 2009.   Giái pháp cũng được BTC Chương trình Sáng tạo Việt xếp vào nhóm 52 sáng chế/giải pháp có khả năng ứng dụng cao.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa công nghệ thông tin vào quản lý khoa học      Không thể phủ nhận, sự phát triển KHCN nước nhà còn dưới tiềm năng, và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong đó, tất cả các tác nhân tham gia vào hoạt động KHCN như: nhà khoa học, đơn vị chủ trì, nhà quản lý và doanh nghiệp tiếp nhận chuyển giao đều cần có sự thay đổi lớn trong tư duy, tự “cải tổ” chính mình để hoạt động KHCN thực sự khởi sắc.      PGS.TS Tạ Hải Tùng, Giám đốc Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) thuộc Đại học Bách Khoa Hà Nội.  Trải qua 5 năm hoạt động khoa học ở trong nước, cá nhân tôi cảm nhận được sự sáng dần lên của bức tranh khoa học công nghệ (KHCN) nước nhà. Trước đây, hoạt động KHCN khá trầm lắng với sự tham gia chủ yếu của các đơn vị truyền thống như: hai viện hàn lâm, các trường đại học lớn, và dồn chủ yếu vào các nhà khoa học có tên tuổi, được xem là “cây đa, cây đề” trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cùng với sự khởi sắc của kinh tế – xã hội, cộng thêm nhu cầu từ thực tiễn phát triển, cũng như “quả ngọt” từ các chính sách cử người đi đào tạo ở nước ngoài thông qua các đề án 322, 911, hay các nguồn học bổng nước ngoài, hoạt động KHCN ở Việt Nam đã có những bước thay đổi cơ bản về cả lượng và chất, hướng mạnh mẽ tới hội nhập quốc tế. Qua trải nghiệm hoạt động nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước, tôi cho rằng, mọi khó khăn đều là khó khăn chung. Nên xem đó như “chất xúc tác” để chúng ta “nẩy” ra động lực mới, suy nghĩ mới và cách làm mới.  Không thể phủ nhận, sự phát triển KHCN nước nhà còn dưới tiềm năng, và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong đó, tất cả các tác nhân tham gia vào hoạt động KHCN như: nhà khoa học, đơn vị chủ trì, nhà quản lý và doanh nghiệp tiếp nhận chuyển giao đều cần có sự thay đổi lớn trong tư duy, tự “cải tổ” chính mình để hoạt động KHCN thực sự khởi sắc. Sau đây, tôi sẽ phân tích cụ thể từng vấn đề cần phải đổi mới để bức tranh KHCN ngày một tươi sáng hơn.  Thứ nhất, về công tác quản lý khoa học, bên cạnh các vấn đề được nhiều người đề cập như yêu cầu tinh giản thủ tục hành chính hay tăng quyền nhiều hơn cho nhà khoa học và đơn vị chủ trì, tôi muốn nhấn mạnh đến yếu tố tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong mọi khâu của hoạt động quản lý khoa học công nghệ: từ xét duyệt đề tài/dự án, giám sát triển khai cũng như công khai cơ sở dữ liệu các đề tài/dự án, cơ sở dữ liệu các tổ chức chủ trì, và nhà khoa học. Đây là cách để tăng cường hiệu quả quản lý, hướng tới công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho sự phát triển lành mạnh của nền KHCN.  Đối với việc “đặt hàng” và ra đề bài cho các nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu khoa học, trong một môi trường KHCN phát triển, đầu bài có thể đến từ hai nguồn: Nhà nước và các chương trình của nhà nước; các doanh nghiệp đề xuất nhu cầu và đặt hàng. Từ đấy, nhà nước sẽ chọn ra một nhóm các chuyên gia để có được các đề bài chất lượng, bám sát thực tế. Tuy nhiên, đó là viễn cảnh của tương lai. Hiện tại, nhà nước không ra đầu bài mà là các nhà khoa học (ở dưới) gửi đề xuất lên. Sau đó, cơ quan quản lý khoa học sẽ tiến hành duyệt qua nhiều cửa, và hiện tại, cửa khó nhất là có đơn vị đặt hàng. Đây chính là rào cản lớn. Do các đơn vị đặt hàng phải là các bộ, ngành, địa phương, nên việc có được các đơn đặt hàng này là rất khó khăn, đặc biệt, khi nhà khoa học gửi đề xuất đến bộ không phải là đơn vị chủ quản của mình (ví dụ: nhà KH từ  trường ĐH trực thuộc Bộ GD&ĐT gửi đến các bộ ngành khác). Theo tôi, nếu muốn đổi mới, chúng ta có thể lấy mô hình Nafosted như một mô hình chuẩn ở thời điểm hiện tại với khâu lựa chọn được đưa về cho các nhà khoa học và doanh nghiệp. Và điều quan trọng hơn, cần phải đưa CNTT vào quá trình này. Lâu nay, do quá nhiều thủ tục, giấy tờ, không ít đề tài bị “ách” lại ở khâu nào đó tới hàng tháng mà không rõ nguyên nhân. Nếu ứng dựng CNTT, sẽ biết ngay bộ phận nào phải chịu trách nhiệm để có chế tài xử lý.  Một trong những điểm khác cần cải tiến là công tác quản lý quá trình triển khai đề tài. Thường sau khi thẩm định và giao đề tài xong, bộ phận quản lý KHCN coi như đã hoàn thành trách nhiệm; chỉ đến giai đoạn cuối cùng mới “can thiệp” để tiến hành nghiệm thu. Còn ở nước ngoài, mỗi một đề tài được duyệt sẽ có một chuyên viên quản lý theo sát trong từng bước triển khai. Nếu đề tài không “đi” đúng định hướng thì có thể bị “cắt” hỗ trợ. Tôi cho rằng, chúng ta nên học theo cách này nhằm tạo sức ép cần thiết với các nhà khoa học, để họ làm việc nghiêm túc và “ra” được sản phẩm.  Thứ hai, về phía doanh nghiệp, tôi có cảm giác, các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít nhu cầu cải tiến công nghệ. Rất nhiều lần, chúng tôi đã trao đổi cùng các doanh nghiệp với thiện chí hợp tác nhưng đều không “ra” kết quả. Và với Luật KHCN mới, có khả năng, các doanh nghiệp lại càng “thờ ơ” với các nhà khoa học do được phép giữ lại 10% kinh phí từ lợi nhuận trước thuế để làm nghiên cứu khoa học. Họ hoàn toàn có thể dùng số tiền đó để thành lập các viện/trung tâm nghiên cứu  riêng và nếu như thế, các đơn vị nghiên cứu hiện có, và kể cả các doanh nghiệp “start up” – một trong những trung tâm của đổi mới sáng tạo – với nguồn lực hạn chế sẽ rất khó khăn trong cạnh tranh. Thực ra, nếu hoạt động nghiên cứu khoa học được xã hội hóa một cách lành mạnh thì cũng là điều rất tốt, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư KHCN của cả xã hội. Tuy nhiên, từ đấy cũng dễ nảy sinh những cạnh tranh không công bằng nếu cách tiếp cận của doanh nghiệp với hoạt động KHCN không đúng với mục đích tự thân của hoạt động này. Tôi cho rằng, doanh nghiệp cần nhận thức rõ vai trò của KHCN trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cần sử dụng quỹ KHCN sao cho vừa đúng mục đích, vừa hiệu quả, vừa có trách nhiệm, tránh việc sử dụng nguồn ngân sách này gây áp lực cạnh tranh không lành mạnh lên các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như các tổ chức nghiên cứu khoa học công lập trong cùng lĩnh vực như đã và đang xảy ra gần đây..  Thứ ba, các cơ quan nghiên cứu khoa học và nhà khoa học – đối tượng thụ hưởng kinh phí đầu tư – nên nghiên cứu chuyển đổi hướng tiếp cận và hướng tới thị trường. Các nhà khoa học cần hiểu, thực chất, đó chính là tiền thuế của nhân dân và chúng ta phải có trách nhiệm khi sử dụng khoản tiền đó vào hoạt động nghiên cứu khoa học.  Tất nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại, việc chuyển giao công nghệ là một thách thức lớn với các nhà khoa học. Để có thể thương mại hóa sản phẩm, nhà khoa học phải tham gia vào rất nhiều khâu ngoài chuyên môn và nếu như thế thì chắc chắn, không còn nhiều thời gian dành cho nghiên cứu khoa học. Hơn nữa, không phải nhà khoa học nào cũng có năng lực kinh doanh. Để giải quyết ổn thỏa vấn đề này, theo tôi, nhà khoa học cần định hướng hoạt động nghiên cứu của mình sao cho cân bằng giữa mong muốn cá nhân với nhu cầu thực tế của thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Chỉ có thế, các kết quả nghiên cứu mới có tính thực tiễn cao.  Ngoài ra, các đơn vị chủ trì cũng cần tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chúng ta có rất nhiều viện nghiên cứu, nhưng chất lượng hoạt động chưa thực sự cao. Theo tôi, nên xem tự chủ, tự chịu trách nhiệm là cơ hội, sau mới là thách thức. Cho dù đơn vị mình có được nhà nước bao cấp từng phần đi chăng nữa thì người quản lý cũng như từng cán bộ nghiên cứu vẫn cần phải thấm nhuần tư duy “cấp tiến”. Cao hơn, nên xem đấy vừa là đòi hỏi tự thân vừa là yêu cầu của xã hội.  Ghi chú: Trích ý kiến của PGS. Tạ Hải Tùng tại buổi gặp gỡ giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và các nhà khoa học trước thềm Xuân Đinh Dậu    Author                Tạ Hải Tùng        
__label__tiasang Đưa đặc sản phía Bắc vào Hội chợ HVNCLC      Hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh chủ động đề nghị Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC) giúp quảng bá những đặc sản của khu vực miền núi, các tỉnh biên giới phía Bắc tại các hội chợ HVNCLC trong tình  hình giao thương biên giới ngày càng căng thẳng, nhằm giúp các sản phẩm  đặc sản của địa phương tìm được thị trường tiêu thụ tốt hơn.    Buổi làm việc giữa Sở Công thương tỉnh Lạng Sơn và Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh Quảng Ninh với Bộ Công Thương và Hội Doanh nghiệp HVNCLC diễn ra vào chiều thứ Bảy, 31.5.  Theo ông Nguyễn Quốc Hải, phó giám đốc sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, tỉnh có hồi là cây đặc sản với diện tích khoảng 32.000ha, sản lượng 5.000-6.000 tấn hồi khô/năm. Tỉnh đã có chỉ dẫn xuất xứ địa lý cho cây hồi nhưng chưa tổ chức được thị trường. “Thị trường chính của cây hồi Lạng Sơn hiện nay là xuất khẩu. Cần thêm kết nối để cung cấp nguyên liệu hồi thô cho sản xuất trong nước hoặc chế biến”, ông Hải nói.  Cùng nhu cầu, ông Nguyễn Kiên, giám đốc trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh Quảng Ninh đề nghị bộ Công Thương giúp đưa các sản phẩm đặc sản tại một số tỉnh biên giới phía Bắc vào hội chợ HVNCLC để vừa quảng bá, vừa hỗ trợ các doanh nghiệp làng nghề tìm thị trường và tạo cơ hội để các doanh nghiệp liên kết với nhau.  Bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch Hội DN HVNCLC, giám đốc Trung tâm BSA, khẳng định: lời đề nghị từ tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh sẽ mở ra cơ hội đa dạng hóa thị trường cho sản phẩm đặc sản các tỉnh miền núi phía Bắc vào các kênh phân phối nội địa. “Nông sản Việt Nam hiện nay thường được xuất thô sang Trung Quốc rồi chế biến để xuất đi các nước hoặc xuất ngược lại Việt Nam. Bởi vậy, kiên trì kết nối nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến và phân phối là việc làm thiết thực hỗ trợ các tỉnh địa đầu”.  Ông Dương Duy Hưng, phó vụ trưởng vụ Thị trường trong nước (bộ Công Thương) nói tại cuộc họp, cuộc kết nối đầu tiên giữa các tỉnh biên giới phía Bắc với Trung tâm BSA, giá trị mua bán có thể chưa nhiều nhưng sẽ mở ra giải pháp tích cực cho các tỉnh biên giới thúc đẩy hơn việc “người Việt dùng hàng Việt”.  Dự kiến, các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh sẽ chọn thêm các mặt hàng đặc sản để có thể trưng bày tại Hội chợ HVNCLC tổ chức vào giữa tháng 6 này tại Cần Thơ và các Hội chợ tiếp theo.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa dược phẩm Việt xuất ngoại      Sau nhiều năm nhập khẩu thuốc ngoại, giờ đây  dược Việt Nam đã có sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Mỹ, thuốc Crila  forte® được bào chế từ cây Trinh nữ hoàng cung. Để có được thành công  này, TS.DS. Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Giám đốc Cty TNHH Thiên Dược đã phải  mất nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi để phát hiện những dược tính kỳ diệu  trên cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam.  &#160;    20 năm nghiên cứu cây trinh nữ hoàng cung  DS Nguyễn Thị Ngọc Trâm bắt đầu quan tâm đến cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam kể từ năm 1990. Khó khăn lớn nhất vào thời điểm đó là quá ít tài liệu viết về cây trinh nữ hoàng cung. Và trên thực tế, trong quá trình thực địa, bà phát hiện ra có tới bảy loại Trinh nữ hoàng cung khác nhau và dược tính của các loại này cũng không hề giống nhau. Chỉ có cây trinh nữ Crila do bà phát hiện mới có khả năng điều trị khối u, còn những loại cây tương tự khác không chỉ không có tác dụng mà còn gây hại đến chức năng gan thận.Vì vậy, để bước đầu phân biệt được loại cây Trinh nữ hoàng cung có dược tính cần tìm, bà đã phải dùng đến biện pháp xác định gene (ADN) để chọn giống từ thiên nhiên. Sau khi chọn đúng giống có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của tế bào khối u và kích thích hệ miễn dịch, TS Trâm đặt tên cho cây là “Trinh nữ crila” (crinum latifolium L.var crilae Tram & Khanh), họ Náng.  Vào thời điểm đó, việc xây dựng quy trình nuôi trồng thu hái chế biến lấy sản phẩm chuẩn xác để đưa vào phòng thí nghiệm và bắt đầu quá trình nhiều công đoạn nghiên cứu về thành phần hóa học, phương pháp chiết xuất, tác động sinh học, đánh giá lâm sàng diễn ra hết sức khó khăn.   Sau quá trình gian nan này, DS Nguyễn Thị Ngọc Trâm hoàn thành sản phẩm viên nang Crila vào năm 2004. Đây là sản phẩm nghiên cứu của bốn đề tài khoa học cấp bộ, hai dự án sản xuất thử nghiệm cấp bộ và cấp nhà nước như đề tài KC.10.DA17 “Hoàn thiện quy trình công nghệ chiết xuất hoạt chất từ cây trinh nữ hoàng cung để sản xuất viên nang điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt”; dự án “Phát triển nguồn gene cây trinh nữ hoàng cung để có nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung”. Thuốc Crila đã được thử nghiệm lâm sàng tại Viện lão khoa Trung ương, bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, bệnh viện Y học cổ truyền TP HCM, bệnh viện Phụ sản Trung ương, bệnh viện Từ Dũ qua 3 giai đoạn 1, 2, 3.   Kết quả điều trị của thuốc Crila đối với bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt đạt 89,18% và đối với bệnh u xơ tử cung đạt 79,5%. Những kết quả xét nghiệm khẳng định người bệnh có thể tin tưởng vào sản phẩm thảo dược Việt Nam chất lượng, an toàn. Loại thuốc này còn có ưu điểm giá thấp hơn thuốc nhập khẩu cùng loại và không có tác dụng phụ.   Trên cơ sở này, Cục Quản lý Dược Bộ Y tế đã chính thức cấp phép cho Crila được lưu hành trên thị trường từ năm 2005. Thành công của Crila đã đem lại cho TS Nguyễn Thị Ngọc Trâm nhiều vinh dự như giải thưởng Kovalevskaia năm 2007, giải thưởng cấp Nhà nước về KH&CN cho cụm công trình nghiên cứu về cây trinh nữ hoàng cung…  Đưa thuốc sang thị trường Mỹ   Khi thành lập công ty Thiên Dược, TS Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã tòm khu vực làm nơi sản xuất nguyên liệu nhằm ổn định sản xuất trên quy mô lớn. Bã đã chọn vùng đất Long Thành – Đồng Nai, nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây Trinh nữ hoàng cung. Với hệ thống tưới tiêu, trồng trọt và thu hái nghiêm ngặt, cây trinh nữ hoàng cung từ Long Thành đảm bảo quá tiêu chuẩn về dược liệu. Vùng trồng cây Trinh nữ hoàng cung tại Long Thành còn được Cục Quản lý Dược công nhận đạt tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” (GACP-WHO) của Tổ chức Y tế thế giới.   Nhà máy sản xuất thuốc của công ty Thiên Dược với hệ thống dây chuyền công nghệ hiện đại đặt tại Khu công nghiệp Nam Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. dược cũng đạt đủ các tiêu chuẩn quốc tế như thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành kiểm nghiệm thuốc tốt (GLP), thực hành bảo quản thuốc tốt (GSP).   Đây cũng là những bước đi quan trọng để đảm bảo thuốc đủ tiêu chuẩn an toàn cho người Việt, đồng thời hé mở khả năng xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, vốn hòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng…  Để chuẩn bị cho quá trình này, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã đưa hai sản phẩm Crila For Prostate và Crila For Menopause sang phòng thí nghiệm có uy tín về phương pháp kiểm tra các chất pha trộn vào sản phẩm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng như Euorfins và trường ĐH Illinois tại Mỹ kiểm nghiệm các chỉ tiêu về dư lượng thuốc trừ sâu, biến đổi gen, độ nhiễm kim loại nặng (đồng, sắt, asen…), chất gây dị ứng, chất estrogen (ảnh hưởng đến sự phát triển khối u… Sau kiểm nghiệm, kết quả cho thấy Crila vượt qua tất cả các chỉ tiêu này theo quy định của Mỹ. Vì vậy Crila có đầy đủ tiêu chuẩn thuyết phục người tiêu dùng Mỹ và gia nhập thị trường Mỹ rộng lớn.  Sau quá trình nghiên cứu và khảo sát thị trường, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã quyết định chọn Crinum Health, công ty chuyên phân phối các sản phẩm từ dược thảo ở Mỹ làm đối tác. Công ty Crinum Health đã lập trang web cho hai sản phẩm là www.crilahealth.com để quảng bá và qua đó, khẳng định sự hiện diện của sản phẩm trên thị trường Mỹ từ năm 2010.   Công nghệ hiện đại nâng khả năng chiết xuất trinh nữ hoàng cung  Để nâng cao giá trị trong sản phẩm Crila forte và Crila For Menopause, dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang cứng Crila forte® đáp ứng nhu cầu xuất khẩu” thuộc chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KC.06.DA.14/11-15 đã được bộ KHCN giao cho bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm chủ trì trong vòng ba năm, từ 2012 đến 2015.  Mục tiêu của dự án là hoàn thiện quy trình công nghệ chiết xuất alcaloid từ lá cây trinh nữ hoàng cung, đổi mới công nghệ bào chế nâng thời hạn sử dụng của viên nang Crila forte lên 36 tháng.   Trước nhiệm vụ này, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm cùng với cộng sự bắt tay vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ chiết xuất, chiết kiệt hàm lượng hoạt chất sinh học trong lá cây trinh nữ hoàng cung, tạo ra nguyên liệu cao khô đạt hàm lượng alcaloid có hoạt tính sinh học ức chế, ngăn chặn sự phát triển của tế bào u, kích thích miễn dịch… Phương pháp HPLC (sắc ký lỏng hiệu năng cao) với hai chất chuẩn tinh khiết crinamidin và ambellin cũng được công ty xây dựng. Công ty cũng nhập công nghệ sản xuất, bào chế thuốc để tăng thời hạn sử dụng thuốc thêm 12 tháng nữa.   Thông qua dự án này, bộ hồ sơ khoa học về cây trinh nữ hoàng cung và quy trình sản xuất thuốc Crila đã tiếp tục được hoàn thiện, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm cho biết.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa khởi nghiệp tinh gọn vào tập đoàn lớn      Khởi nghiệp tinh gọn – phương thức để phát triển sản phẩm hay kinh doanh dựa trên nguyên tắc thất bại nhanh, thất bại rẻ (fail cheap – fail fast), tung sản phẩm tốt vừa đủ cho đến khi hoàn thiện qua một loạt các bước thử – và – sai đã thay đổi cả thế giới với cách tiếp cận mới mẻ và trở thành ngôn ngữ giao tiếp giữa nhà đầu tư và giới khởi nghiệp.      Đổi mới sáng tạo đã đưa General Electrics từ một công ty chuyên sản xuất phụ tùng thành một công ty sản xuất phần mềm quản trị các phương tiện cơ giới với chi phí rẻ và tiết kiệm thời gian  Tuy nhiên, không chỉ ứng dụng đối với những doanh nghiệp khởi nghiệp, khởi nghiệp tinh gọn còn được áp dụng bởi cả các tập đoàn khổng lồ, đa quốc gia. Cách đây ít lâu, trong một lần tới Việt Nam, đại diện của hãng General Electrics tại châu Á chia sẻ, việc sử dụng khởi nghiệp tinh gọn để khởi tạo các dự án đổi mới sáng tạo trong công ty đã tạo ra cuộc chuyển mình của General Electrics từ một công ty chuyên sản xuất phụ tùng thành một công ty tạo ra phần mềm quản trị các phương tiện cơ giới với chi phí rẻ và tiết kiệm thời gian.  Được ca ngợi là cuốn sách đầu tiên nói về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, áp dụng triệt để tinh thần và các bước của khởi nghiệp tinh gọn và tư duy thiết kế (design thinking), “The Innovator’s method: bringing lean startup into your organisation”1 là cuốn sách rất nên đọc nếu bạn đang băn khoăn sẽ áp dụng khởi nghiệp tinh gọn như thế nào vào doanh nghiệp.  Sinh tồn trong kỷ nguyên đầy biến động đòi hỏi các doanh nghiệp, tổ chức phải có cách tiếp cận khác để đổi mới sáng tạo. Những kế hoạch kinh doanh đã trở nên lỗi thời, dịch vụ tư vấn đắt đỏ đôi khi không còn là câu trả lời, đặc biệt trong thời buổi khó khăn thì các bước trong khởi nghiệp tinh gọn chính là một cách tiếp cận thú vị. Nếu đặt khách hàng và phát hiện những vấn đề của họ vào trung tâm theo tinh thần của tư duy thiết kế, doanh nghiệp sẽ phát hiện ra những vấn đề chưa ai đáp ứng nhu cầu. Câu chuyện thành công của thương hiệu Rent-the-runaway (công ty cung cấp dịch vụ cho thuê trang phục và phụ kiện thiết kế online, được gọi là Netflix của thời trang) đi từ con số 0 trở thành một trong những công ty thời trang – công nghệ nổi tiếng ở Silicon Valley là một minh chứng rõ ràng cho điều này: Hai cô gái trẻ đi hết các bước thử nghiệm và phỏng vấn này đến thử nghiệm và phỏng vấn khác. Cho đến khi tiếp cận nhà đầu tư, họ cũng không có kế hoạch kinh doanh nào, chỉ có con số thử nghiệm thị trường để tiếp cận và thuyết phục tính khả thi của dự án. Họ cũng bỏ ngoài tai những lời khuyên về việc sử dụng tư vấn, họ tin họ hiểu vấn đề của mình hơn ai hết.  Sau khi phát hiện ra vấn đề, cũng giống như các doanh nghiệp khởi nghiệp, việc cần làm đối với các doanh nghiệp lớn là phải “bước chân ra ngoài”, đưa ra sản phẩm mẫu với tính năng tối thiểu cho đến những sản phẩm mẫu tuyệt vời, rồi đến kiểm định chiến lược đi ra thị trường rồi nhân rộng sản phẩm dịch vụ. Ở mỗi bước, bạn sẽ được hướng dẫn chi tiết làm gì, làm như thế nào với những câu chuyện thực tế minh họa hết sức sinh động.  Cuốn sách rõ ràng không chỉ dành cho các khởi nghiệp mà cho cả các doanh nghiệp đang muốn xây dựng một văn hóa khuyến khích nhân viên thử nghiệm và phát triển những điều mới mẻ.1  ———  1 The Innovator’s method: bringing lean startup into your organization (Phương thức của người đổi mới sáng tạo: Đưa khởi nghiệp tinh gọn vào tổ chức của bạn).  Tác giả: Nathan Furr & Jeff Dyer  Nhà xuất bản: Havard Business Review Press.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Đưa nghệ thuật về cộng đồng, TP Tam Kỳ được trao Giải Cảnh quan đô thị Châu Á      Làng Bích họa và Con đường Thuyền thúng – hai sáng kiến đưa nghệ thuật vào không gian sống của cộng đồng ở xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – mới đây đã đem lại Giải Cảnh quan đô thị châu Á (Asian Townscape Award) 2017 cho địa phương này.      Các bức tranh tường ở Làng Bích họa thường mô tả chân dung cư dân thuộc mọi lứa tuổi của thôn. Ảnh: Nguyễn Ngọc Pháp.  Sở hữu địa thế đặc biệt trước mặt là biển sau lưng là sông, thiên nhiên hoang sơ, văn hóa còn giữ nét truyền thống, phù hợp với phát triển du lịch dựa trên bản sắc địa phương, thế nhưng suốt bao năm nay, người dân xã Tam Thanh kiếm sống chủ yếu bằng nghề chài lưới và nuôi trồng thủy sản. Mãi cho đến giữa năm 2016, cái tên Tam Thanh mới bất ngờ xuất hiện một cách ấn tượng trên bản đồ du lịch cùng với sự ra đời của “Làng Bích họa”. Những bức tường nhà cũ kỹ ở thôn Trung Thanh, một trong bảy thôn của xã, được các họa sĩ tình nguyện Hàn Quốc và Việt Nam “làm mới” bằng những bức tranh vui tươi, sặc sỡ. Sáng kiến này của Korea Foundation đã giúp Tam Thanh thu hút hơn 1.000 khách du lịch đến thăm vào mỗi dịp cuối tuần.    Con đường Thuyền thúng dài 1,5km, chạy dọc theo các thôn trong xã.  Con đường Thuyền thúng lại là một sáng kiến nghệ thuật cộng đồng khác, nằm trong Dự án thí điểm “Phát triển Du lịch Tam Thanh với sự tham gia của Cộng đồng” do TP Tam Kỳ triển khai từ tháng 9/2016 đến tháng 6/2017. Dài 1,5km, chạy dọc theo các thôn trong xã, Con đường Thuyền thúng được trang trí bởi hơn 100 thuyền thúng cũ, phần lớn do ngư dân hiến tặng, và các họa sĩ như Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Thượng Hỷ, Lê Kinh Tài, Hiếu Mường, Đào Châu Hải, Lê Đình Nguyên, Nguyễn Nghĩa Cương…, vẽ tình nguyện. Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của các họa sĩ, người dân địa phương cùng tham gia trang trí cho các vật dụng thúng, lu… mà gia đình vẫn đang sử dụng.  Góp phần không nhỏ vào việc làm mới cảnh quan của Tam Thanh còn có những cải tiến về hạ tầng du lịch như đặt lại tên đường cho vui hơn và ý nghĩa hơn. Những con đường trong xã trước đây được đánh số khá buồn tẻ giờ mang tên mới theo tên các loài cá nước ngọt (với những con đường chạy về phía sông) hay cá nước mặn (với những con đường chạy về phía biển). Các cột chỉ đường trong hệ thống biển báo cũng được thiết kế có thẩm mỹ, mô phỏng hình dáng mái chèo.  Bằng việc đưa nghệ thuật vào không gian sống của cộng đồng ở xã Tam Thanh, TP Tam Kỳ muốn thử nghiệm những giải pháp bền vững nhằm cải thiện môi trường sống và tạo sinh kế cho người dân. Hỗ trợ TP Tam Kỳ trong nỗ lực này có hơn 70 tình nguyện viên là các giảng viên, sinh viên đến từ các đại học trong và ngoài nước như ĐH Kiến trúc Đà Nẵng và Hồ Chí Minh; ĐH Bách Khoa Đà Nẵng; ĐH Duy Tân; ĐH FPT TP.HCM; ĐH KHXH&NV TP.HCM; ĐH Quảng Nam; Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore cùng một số chuyên gia truyền thông, thương hiệu, marketing…  Giải Cảnh quan đô thị Châu Á do UN-Habitat Châu Á-Thái Bình Dương phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Đô thị Châu Á Fukuoka (Fukuoka Asian Urban Research Center), Hội Nhân cư Châu Á (Asian Habitat Society), Hội Thiết kế Cảnh quan Châu Á (Asia Townscape Design Society) tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh những mô hình thiết kế cảnh quan sáng tạo, giàu sức sống, và hài hòa với văn hóa địa phương. Lễ trao giải năm nay sẽ diễn ra vào ngày 28/9 tại TP Ngân Xuyên, thủ phủ của khu tự trị Ninh Hạ, Trung Quốc.  Tài liệu tham khảo:   Tóm tắt nội dung Dự án thí điểm “Phát triển Du lịch Tam Thanh với sự tham gia của cộng đồng” của UBND TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam    Author                Thái Thanh        
__label__tiasang Đưa người lên Mặt trăng: Vẻ đẹp và sự điên rồ      Kennedy quảng cáo Apollo “vừa là thước đo, vừa là nơi huấn luyện kĩ năng tốt nhất của nước Mĩ    Vào một buổi sáng đẹp trời ở Florida, một lớp băng mỏng hình trụ với kích thước như một kho silo trữ nông sản[i] treo lơ lửng cách mặt đất 15 mét. Sương giá bắt đầu hình thành vào đúng thời khắc chuyển giao sang ngày mới của một đêm tràn ánh sáng đèn chiếu, khi các nhân viên kĩ thuật tại Trung tâm vũ trụ Kennedy bắt đầu bơm oxy lỏng vào khoang chứa lớn đặt trên đỉnh nóc tầng thứ nhất của hệ thống tên lửa Saturn V – phải đến hơn 1 triệu lít oxy, ở nhiệt độ -183°C. Thành khoang chứa cũng chính là lớp vỏ tên lửa, và nhiệt độ quá thấp bên trong khiến hơi nước từ bầu khí quyển ẩm ướt vùng Đại Tây Dương lập tức bị đóng băng trên bề mặt kim loại giá buốt đến nhức nhối.  Khí oxy được bơm vào, một phần sôi lên trong bể chứa; qua các cửa thông hơi trên nóc bể, hơi oxy phun ra để áp lực bên trong không bị lên quá cao. Đúng 9h30, các cửa thông hơi đồng loạt được đóng kín. Ngay sau đó, heli lỏng được bơm vào khoảng trống nhỏ còn chừa lại trên chóp bể. Áp lực lại bắt đầu tăng lên.    Vào ngày 16/7/1969, tên lửa Saturn V thực hiện nhiệm vụ Apollo 11 phóng lên từ Pad A, Tổ hợp phóng 39 (Launch Complex 39), Trung tâm vũ trụ Kenedy  Bên dưới bể oxy là một bể nhỏ hơn chứa đầy dầu hỏa tinh luyện. Bên dưới nữa, xếp theo hình năm chấm tròn trên mặt xúc xắc, là hệ thống động cơ F-1 – yếu tố quyết định đem lại thành công cho toàn bộ dự án lên mặt trăng: một cỗ máy được thiết kế tinh xảo, được chế tác tinh vi và có sức mạnh dữ dội không tưởng.  Hai phút sau khi các cửa thông khí được đóng chặt, van dưới đáy bể trên được mở ra, và oxy bắt đầu chảy xuống các động cơ F-1. Ở đây có hai đường dẫn khác nhau. Một phần oxy được dẫn vào các bộ tạo khí ga và quay tua-bin điều khiển máy bơm. Ở đây, oxy được trộn với dầu hỏa và được đốt lên.  Phần oxy còn lại được dẫn vào buồng đốt nhiên liệu. Ở đó, oxy gặp luồng khí xả với hàm lượng dầu hỏa cao được thải ra từ các tua-bin. Hỗn hợp này được đốt cháy một lần nữa. Khói đen bắt đầu cuồn cuộn xả ra từ những cửa thoát khí trên các động cơ F-1. Tên lửa bắt đầu rung chuyển. Các máy bơm tăng lưu lượng nhiên liệu và oxy tiếp tục được dẫn xuống các buồng đốt bên dưới.  Chúng ta đang chứng kiến một vũ điệu được biên đạo kĩ lưỡng của nhiệt độ và năng lượng. Các máy bơm sử dụng năng lượng từ các bộ tạo khí ga dùng nhiên liệu đốt để tiếp thêm nhiều nhiên liệu hơn nữa vào các buồng đốt, lượng nhiên liệu này lại được truyền theo đường xoắn ốc qua các ống dẫn quấn quanh hệ thống cửa thoát khí của động cơ. Quá trình này làm mát các cửa thoát khí vốn phải chịu một sức nóng khủng khiếp. Nó đồng thời cũng làm nóng nhiên liệu, khiến tốc độ đốt được duy trì ở mức tốt nhất tại khâu cuối cùng trong khoang đốt.        Hệ thống máy bơm quay nhanh dần lên; vũ điệu trở nên gấp gáp. Năm giây sau khi lửa bùng lên, các van nhiên liệu được mở hết cỡ, và chỉ trong vòng vỏn vẹn một giây, các động cơ đã đạt gần đến mức đẩy tối đa. Đầu tiên, động cơ trung tâm đạt mức công suất tối đa, sau đó đến bốn động cơ vòng ngoài. Hỗn hợp nhiên liệu lúc này đã giàu oxy hơn, quá trình đốt nhiên liệu diễn ra sạch hơn, sản sinh ít muội than hơn, và cũng mạnh mẽ hơn. Trong vòng một hai giây sau khi động cơ cuối cùng khởi động, tên lửa vẫn được giữ chặt trên mặt đất bằng bộ kẹp lực lưỡng. Liền sau đó nó được thả ra và phóng lên.  Luồng lửa phun ra từ bên dưới tên lửa đang lao vút vào không trung không phải là thứ lửa nhảy nhót, liếm láp hay bỡn cợt; đó là thứ lửa của lò nung và nồi nấu. Đó là thứ lửa tập trung như từ mỏ hàn của thợ hàn kim loại, ở quy mô có thể cắt lìa hay gắn hàn thế giới. Nhiệt độ trong khoang đốt lên tới hơn 3000°C. Áp suất lên tới hơn 60 atm. Vẫn những chiếc máy bơm tốc lực 90 lần/giây, đủ mạnh để bơm mỗi lúc một nhiều oxy và nhiên liệu vào lò lửa. Sóng lửa phun ra với tốc độ nhanh gấp 6 lần tốc độ âm thanh. Chỉ trong hai phút, năm động cơ F-1 sinh ra tới 60 gigawatt năng lượng, tương đương với hiệu suất phát điện của tất cả các nhà máy điện trên khắp nước Anh.  Chỉ mất 10 giây để tên lửa bay lên vượt cao hơn tháp đỡ. Rồi mất tới hơn 10 giây để tiếng gầm dữ dội của động cơ – thứ âm thanh to hơn bất cứ một tiếng ồn nào con người có khả năng tạo ra trước đây – truyền đến khán đài khách VIP cách điểm phóng tầm 6 km. 60 đại sứ, phân nửa thành viên Quốc hội, và khoảng một phần tư các thống đốc bang, đã chứng kiến cảnh tượng này với đầy kính nể, rung lên trước “một âm thanh choáng ngợp muốn nhập làm một vào cơ thể bạn”, như trong miêu tả của họa sĩ Robert Rauscgenberg.    Cựu Tổng thống Lyndon B. Johnson và phó Tổng thống Spiro Agnew là một trong những khán giả chứng kiến Apollo 11 được phóng trên bầu trời bởi Saturn V.   Tiếng gầm kéo dài chưa đầy ba phút. Nhưng đến khi các động cơ F-1 tắt, tên lửa đã đạt tới gần 8000 km/giờ. Apollo 11 chính thức lên đường tới mặt trăng.  Khả năng chế tạo một lên lửa hạng nặng như Saturn V không chỉ đóng vai trò trọng yếu đưa đến thành công của Apollo; mà còn là ý tưởng nền tảng của toàn bộ dự án. Vào năm 1961, khi tổng thống Kennedy tuyên bố nước Mĩ sẽ là quốc gia tiên phong đưa người mặt trăng, Liên Xô đã tiến xa hơn trong cuộc đua vũ trụ, thể hiện qua việc phóng thành công vệ tinh đầu tiên trong lịch sử và đưa con người đầu tiên vào quỹ đạo. Nhưng những tên lửa Liên Xô sử dụng lúc bấy giờ không khác lắm với kiểu tên lửa của Mĩ hồi đó, về cơ bản chỉ là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa dạng cải tiến. Mặc dù có khả năng thích nghi không gian vũ trụ tốt hơn và đạt tốc độ cao hơn hẳn tên lửa Mĩ, chưa một tên lửa nào do Liên Xô sản xuất đủ tiêu chuẩn thực thi sứ mệnh lên mặt trăng. Tình thế này đòi hỏi phải cho ra đời một tên lửa được thiết kế sao cho đủ sức phóng vào quỹ đạo một trọng lượng nặng hơn nhiều so với vài đầu khí cụ hay đầu đạn hạt nhân. Nếu thước đo nhuệ khí siêu cường là phải có được một thế hệ tên lửa hoàn toàn mới, thì lợi thế của Liên Xô đang đứng trước nguy cơ giảm sút.  Mĩ đặt cược vào động cơ F-1 hùng mạnh. Saturn V đòi hỏi một kiến trúc tinh tế hơn nhiều so với các tên lửa trước đó để thực thi sứ mệnh. Có hai khả năng được đưa ra cân nhắc: khả năng thứ nhất là phóng một phi thuyền đủ sức đáp xuống mặt trăng, tháo rời các phần, quay về riêng rẽ rồi ghép nối lại với nhau trên quỹ đạo. Khả năng thứ hai là có hai tàu vũ trụ, một sẽ hạ cánh và ở lại trên mặt trăng, một quay trở về, được phóng từ trái đất cùng một lúc. Phương án này sẽ giảm bớt trọng tải đáp xuống mặt trăng, và quan trọng hơn, giảm bớt trọng tải đưa trở lại trở vào không gian.  Cuối cùng, mô hình ghép nối trên quỹ đạo mặt trăng đã chiếm ưu thế. Ưu điểm của nó là mỗi nhiệm vụ sẽ được hoàn thành chỉ bằng một lần phóng Saturn V. Nhược điểm là nó không thiết kế một quy trình hay bất cứ một cơ sở hạ tầng nào cho việc ghép nối trên quỹ đạo. Trước khi Apollo trình làng, mọi dự đồ gắn với khát vọng “chinh phục không gian” đều được hình dung với bước đầu tiên cần tiến hành là phải xây dựng một trạm không gian làm nơi dừng đỗ và tái lắp ráp phi thuyền để từ đó, tiếp tục tiến xa hơn vào vũ trụ. Phiên bản ghép nối trên quỹ đạo Trái đất của Apollo không đặt ra yêu cầu này. Tuy nhiên, nó đã bước đầu thiết lập các quy trình và cơ sở hạ tầng làm tiền đề để xây dựng một trạm không gian như thế trong tương lai. Còn cách ghép nối trên quỹ đạo mặt trăng của Apollo lại chỉ được thực hiện bằng một lần phóng duy nhất. Điều ấy khiến cho sau khi hoàn tất, trên phương diện cấu trúc phần cứng – hay ở một mức độ nào đó, về mặt chuyên môn – gần như chưa hề một sự thay đổi nào diễn ra.  Vào thời điểm đó, chẳng ai bận tâm đến vấn đề này. Họ đang thực thi một sứ mệnh gần như không tưởng – đến mức chẳng còn thời gian mà lo nghĩ tới những khâu sau đó. Chỉ cần một khi đã chứng minh cho cả thế giới thấy được điều mình có thể làm, họ mới đặt ra khả năng hoàn thiện những bước tiếp theo. Đương nhiên điều ấy nằm trong tầm tay của họ. Tại sao không? Họ sẽ một lần nữa, thực hiện bước nhảy lên sao Hỏa. Thay vì xây dựng các trạm không gian trước khi lên mặt trăng, họ sẽ xây dựng chúng sau khi đã thành công trong việc lên mặt trăng – những trung tâm được xây dựng nơi miệng núi lửa, hàng loạt tên lửa tối tân được tiếp nhiên liệu từ các lò phản ứng hạt nhân, những trang bị thiết yếu nhất cho buổi bình minh của Kỷ Nguyên Không Gian – tất cả đều được từng bước hoàn thiện. Rõ ràng, con người sẽ không chỉ lên mặt trăng, nhìn ngắm xung quanh, cảm thán một chút về vẻ đẹp của Trái đất, nhặt vài mẩu thiên thạch, trở về nhà rồi cất những kỉ vật không gian ấy vào góc tủ. Nếu chỉ vậy thôi thì quả thực hết sức điên rồ.  Kennedy quảng cáo Apollo “vừa là thước đo, vừa là nơi huấn luyện kĩ năng tốt nhất của nước Mĩ”. Tính đến năm 1976, Apollo đã sử dụng khoảng 400000 nhân công làm việc trong các cơ sở thương mại cũng như trong cơ quan nhà nước, chiếm tới 4% ngân sách chi tiêu của chính phủ Mỹ (dù đây cũng chính là giai đoạn đang diễn ra chiến tranh). Apollo đã kích thích tối đa những trí tuệ xuất chúng nhất trong ngành hành không vũ trụ Mĩ, và khai mở những lối suy nghĩ và hành động mới trên toàn lục địa – khi công dân toàn cầu theo dõi hành trình của tàu không gian qua các thiết bị truyền thông.    Tổng thống Richard M. Nixon và các phi hành gia của tàu Apollo 11  Nhưng Apollo cũng rất nhỏ bé. Một phần hành trình là phải làm sao để tàu vũ trụ thực sự chạm xuống được mặt trăng. LM (lunar module, phần phi thuyền hạ cánh xuống mặt trăng) bởi vậy, phải nhẹ nhất có thể. Trong thiết kế ban đầu, tổng khối lượng phi thuyền chỉ lên đến 11 tấn. Nhưng trong quá trình phát triển, trọng lượng tăng dần. Dù vậy, LM vẫn là một vật thể nhỏ xinh. Nhỏ gọn, nhưng là cả thế giới. Hay ít nhất, đó là một phiên bản thế giới gói gọn trọn vẹn các chức năng với đầy đủ nhiên liệu, khí đốt, oxy, thiết bị suy trì sự sống, pin, máy tính… LM cung cấp cho các phi hành gia thức ăn và nước uống; duy trì nhiệt độ ổn định; bảo vệ họ khỏi các mảnh thiên thạch. Máy tính dẫn đường cho họ. Và một khi LM đã tách rời khỏi mô-đun chỉ huy, nó trở thành phần còn lại duy nhất Mẹ Trái Đất trao tặng cho những đứa con xa nhà lao mình vào vũ trụ. Nói cách khác, đó là một hành tinh vi mô chỉ của hai người.  LM, không chỉ thế, là hiện thân cho chủ nghĩa hiện đại phi truyền thống – là cách thiết kế đề cao công năng lên trên hết, mặc cho hình thức có thể trông kệch cỡm và phi lí thế nào. Chính vì vậy mà nửa dưới của LM, công bằng mà nói, khá là thô kệch. Đó là một bệ đỡ được gắn động cơ và chân tàu – ba chân trong bản thiết kế đầu tiên, rồi tăng lên năm, và cuối cùng là bốn. Hình bát giác, bề mặt phẳng, hai bình nhiên liệu và hai bình chứa oxy được đặt đối xứng quanh trục trung tâm với chức năng chính là giảm tốc độ LM khi trên quỹ đạo mặt trăng, hạn chế độ rơi và điều chỉnh hướng đáp sao cho khớp với vị trí được chỉ định trước. Bên trong, không có ghế ngồi. Một căn buồng chỉ đủ chỗ cho hai người đứng, gần bên nhau, cùng nhìn ra bên ngoài những ô cửa sổ dốc đứng một cách lạ thường. Bộ điều chỉnh và cần điều khiển trước mặt. Một giếng trời được bố trí ngay trên đầu thuyền trưởng – một chức vụ cao quý – cùng một kính thiên văn loại nhỏ. Cửa dẫn xuống mặt trăng đặt giữa hai người, cao tới đầu gối. Phía trên cửa dẫn là bàn phím và màn hình chỉ dẫn. Trên nữa là 3 bảng điều khiển. Cùng hàng tá bảng điều khiển khác được đặt khắp nơi trên thân tàu.  Cửa sổ có ý nghĩa trọng yếu. Nhiều người kể lại rằng trong thiết kế đầu tiên của đầu tên lửa Mercury không hề có cửa sổ: các kĩ sư thiết kế nghĩ rằng việc để cho các phi hành gia nhìn ra bên ngoài là không cần thiết, bởi về cơ bản họ cũng chỉ là một dạng trọng tải được chở trên tàu. Dù vậy, hạ cánh xuống mặt trăng không phải là một việc có thể chỉ dựa hoàn toàn vào sự điều khiển nơi mặt đất – dù với sóng radio, mất tới 1 giây để truyền đến mặt trăng và cũng từng đấy để nhận hồi đáp trở lại.  Nói như Jack Myers, nhà nghiên cứu thiết bị hỗ trợ sự sống tại Đại học Texas vào thời điểm đó: “Con người bay vào vũ trụ, không phải như một hành khách, mà trong tư cách một bộ phận thiết yếu của một bộ máy đang cố hoàn thành nhiệm vụ.” Những ô cửa sổ cho phép cả thuyền trưởng và phi công LM hạ cánh chính xác, cho phép họ quan sát được công việc mình đang tiến hành, cho phép họ kết nối những gì đang thấy trước mắt với mô hình hiển thị trên máy tính, từ đó, có những điều chỉnh phù hợp nhất. Ra đời như một bằng chứng vững chắc cho những đam mê khoa học viễn tưởng về du hành vũ trụ, Apollo giống như một tuyên ngôn mới cho sự thông minh và quyền năng thống trị của con người trong một thế giới của những cỗ máy biết tư duy.    Apollo 11 Lunar Module Eagle (đơn vị mặt trăng) đang chuẩn bị hạ cánh được chụp trong quỹ đạo mặt trăng từ Đơn vị chỉ huy (Command and Service Module). Trong đơn vị mặt trăng có chỉ huy Neil Amstrong và phi công điều khiển Buzz Aldrin.    Tất cả các chi tiết phức tạp của LM đều được thiết kế bằng tay, rất nhiều trong số đó cũng được chế tác bằng tay. Nhôm mỏng tới mức không thể dập tạo hình, mà phải nhờ đến bàn tay người chế tác. Nhưng máy tính vẫn đóng một vai trò cực kì quan trọng, không chỉ bên trong LM, mà còn trong quá trình chế tạo LM.  Máy tính là biểu thị cho một tương lai khiến tương lai trở nên khả thi. Máy tính cũng khiến tương lai khả thị, tổng kết kinh nghiệm cho những thứ tưởng như chưa từng có kinh nghiệm nào trước đó. Chưa từng có bất cứ một dự án nào được tập dượt trước một cách triệt để thông qua các phiên bản mô phỏng như dự án Apollo. Nhu cầu cần có vô số những mô phỏng trước này đưa máy tính vào một địa hạt ảo mới. Cảnh quan ảo được kiến tạo, máy tính hiển thị trước hình ảnh dự phóng về mặt trăng cho những người vẫn còn đang chuẩn bị đặt những bước chân đầu tiên.  Dù vậy, giữa chỉ dẫn trừu tượng lạ lẫm này, sự thân thuộc vẫn không mất đi – cảm giác ấy được đưa lại qua bộ đồ dành cho phi hành gia. Định kiến thông thường cho rằng đó là một bộ đồ được làm từ vật liệu cứng, bó chặt lấy thân thể cùng những khớp nối ở khuỷu tay khiến người mặc chẳng khác gì robot. Sự thật không phải như vậy. Bộ đồ của các phi hành gia được làm từ những vóc vải mềm mại, được may bởi bàn tay của những nữ nhân công làm việc ở nhà máy may Singer. Đồng phục phi hành gia là một thế giới được tiếp tục thu nhỏ hơn nữa sau ba lần rút giảm, tiếp xúc trực tiếp và ôm lấy da thịt. Từ bầu không khí ấm áp của bang Florida đến mô-đun chỉ huy; từ mô-đun chỉ huy đến LM; từ LM đến bộ phục trang. Sau mỗi lần rút giảm, không khí lại được khóa kín thêm một lần; cho đến vòng cuối cùng, toàn bộ thế giới cho phép sự thở đã thu hẹp lại tối đa chỉ còn một vòng mũ ôm quanh đầu cùng balo sau lưng. Đó là những bộ đồ đem lại cảm giác thoải mái cho người mặc hơn bất cứ một phục trang nào, được may với độ chính xác cao gồm tổng cộng 21 lớp xếp chồng, không cho phép xuất hiện bất kì một nếp nhăn dù lớp bên ngoài luôn phải đảm bảo rộng hơn so với lớp bên trong. Mỗi lớp vải lại được lót bằng các ống dẫn nước có chức năng làm mát da, bởi khi tiếp xúc quá gần với luồng ánh sáng mặt trời trong khi việc trao đổi khí với khí quyển bên ngoài là bất khả, con người phải đối mặt với nguy cơ bị thiêu đốt. Nhưng bộ đồ ấy đồng thời cũng có chức năng. Có thể nói, đó là những bộ đồ dành cho những người đàn ông, được làm từ bàn tay của những người phụ nữ. Tất cả những phi công thử nghiệm của NASA khi đó đều là đàn ông.  Dẫu không nhiều, nhưng đã có một số ý kiến chất vấn lại điều này. Khi Kennedy tuyên bố “con người đã đặt chân lên mặt trăng”, điều đó không đồng nghĩa với một tuyên ngôn dành cho cả hai giới. Nói đúng hơn, phát biểu thực chất nghĩa là: người đàn ông đầu tiên đã đặt chân lên mặt trăng. Không những là nam giới, các phi hành gia khi ấy còn phải đảm bảo tiêu chuẩn có màu da trắng, trắng như màu của bộ trang phục phi hành gia vậy. Tuy nhiên, định kiến này sớm bị xóa bỏ. Nhà Trắng nhận thức được rằng sự xuất hiện của một phi hành gia da màu sẽ dễ dàng đưa lại cho họ một chiến thắng lớn, và chiến lược tuyển dụng sau đó của NASA đã được tiến hành theo định hướng này. Dù vậy, vấp phải sự phản đối của nhiều chính trị gia, phải đợi đến năm 1983, mới có phi hành gia Mĩ gốc Phi đầu tiên bay vào vũ trụ, cùng thời điểm với nữ phi hành gia Mĩ đầu tiên bay vào không gian trên tàu con thoi, đúng 20 năm 2 ngày sau khi Valentina Tereshkova[ii] cất cánh trên tàu Vostok 6.  Ra khỏi cửa hầm sinh tử, bước xuống thang, với vô số thiết bị đảm bảo cho sự sống quấn chằng chịt quanh mình, những người đàn ông từ LM đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng. Theo một cách họ chưa từng làm trước đó. Được bảo bọc, giữ cho khô ráo, thậm chí được quấn tã, họ được giữ vẹn nguyên trong cái thế giới từ đó họ đã sinh ra và rồi sẽ trở về. Họ không cảm nhận được nhiệt độ mặt trăng, thứ nhiệt độ họ đang cảm thấy chỉ là nhiệt độ thân thể mình. Họ không hít thở bầu khí quyển trên mặt trăng, không cả để lại nổi trên đó một bãi nước tiểu, thậm chí không thực sự chạm vào bề mặt nó; mang trên mình chiếc găng tay – một kì quan của sự khéo léo và tinh xảo tới mức đảm bảo được cho họ khả năng cảm nhận độ dày vật thể, nhưng một cảm giác xúc giác thực sự là hoàn toàn không thể có. Tất cả những âm thanh họ nghe được chỉ là tiếng nói của chính mình, cùng những thanh âm đưa lại từ sóng radio, vọng từ một nơi nào đó quá đỗi xa xăm.  Nhưng trong vài giờ, hay vài ngày, tùy theo nhiệm vụ được giao, họ đã cư trú ở nơi chốn đó. Trên đó, họ đã đi lại, đã nhảy lên thật cao để cảm nhận một cú sốc nhẹ nơi đầu gối khi hệ cơ bắp hấp thu vận động của toàn thân thể. Trên đó, họ cảm nhận thời gian trôi. Dù từ điểm nhìn ấy, mặt trời hầu như không dịch chuyển, nhưng thời gian được họ đong đếm bằng từng nhịp đập trái tim, bằng cả nguồn dự trữ sự sống đang dần cạn kiệt. Họ nhìn bề mặt của mặt trăng bị xuyên thủng thế nào khi cố công đào xới tìm nguồn nước, và bằng toàn bộ hệ cơ bắp của mình, họ cảm nhận được bề mặt ấy đang phải chịu những lực tác động nào. Họ ngắm nhìn những đường viền mềm mại, những khoảng cách khó đoán định, những đường chân trời gần ngay trước mắt mà bất khả viếng thăm. Có điều, họ không trông thấy nhau, hay nói đúng hơn, không nhìn thấy mặt nhau. Ánh mặt trời vàng ruộm chiếu lên khung kính của chiếc mũ bảo hiểm không phản chiếu bất cứ một đường nét nào trên gương mặt để những người đi cùng nhận diện. Khi nhìn nhau, tất cả những gì họ trông thấy trên tấm kính chắn là hình ảnh của mặt trăng. Hệt như khi chúng ta cố nhìn gương mặt họ qua những bức ảnh họ chụp cho nhau rồi mang về trái đất. Nhìn nhau, họ thấy những khung hình mà những người quan sát mặt trăng thường hay thấy. Họ thấy chính mình.    Phi hành gia Buzz Aldrin bước trên bề mặt mặt trăng. Người chụp bức ảnh này là chỉ huy trưởng của nhiệm vụ Apollo 11 Neil Amstrong.   Họ chỉ trải nghiệm mặt trăng bằng toàn bộ da thịt sau khi đã quay về LM, mang theo bụi và mạt đá trên những bộ đồ. Họ ngửi thấy mùi hăng nồng như mùi thuốc súng lan tỏa trong bầu không khí nhỏ hẹp của LM khi mũ bảo hiểm bật mở. Cảm giác điện từ bị xóa bỏ hoàn toàn khi ở trong môi trường chân không dần xuất hiện trở lại.  Thứ vật chất đẹp đẽ trên bề mặt mặt trăng vụt trở thành bụi khi bám phủ lên những nội thất trong khoang tàu. Đây cũng chính là cách nhà nhân học Mary Douglas định nghĩa từ “ô nhiễm”: ô nhiễm, đó là những vật chất được đặt không đúng chỗ. Trong trường hợp này, đó là những vật chất thuộc nơi chốn phi-thế giới vừa bị đưa vào thế giới mới.  Trong LM, trước khi bước chân vào làn bụi mịt mờ, Buzz Aldrin đã cử hành một buổi lễ ban thánh thể, lấy bánh mì và rượu vang làm thức đồ dâng cúng trên một hành tinh khác. “Ta là rượu,” anh nói, “Các người là những nhánh cây. Bất cứ ai trung thành với ta, ta sẽ ban cho nhiều hoa thơm trái ngọt. Thiếu ta người không thể làm nổi bất cứ điều gì.” Đó không chỉ là bí tích duy nhất về mặt trăng. Trong cuốn Những hành tinh (The Planets, 2005), Dava Sobel kể lại câu chuyện về cô bạn Carolyn của mình, khi được cậu bạn trai trong ngành nghiên cứu khoa học hành tinh tặng một nhúm bụi mặt trăng, như có một lực cám dỗ bên trong thúc đẩy, cô đã ăn hết nó.  Dù không chủ đích, nhưng tất cả các phi hành gia tàu Apollo đều đã tiêu hóa chính thứ bụi mặt trăng ấy. Trong chiếc LM đầy bụi, những hạt vi bụi thẩm thấu qua phế nang phổi, ngấm qua thành ruột rồi đi vào máu, xâm nhập vào từng mô tế bào. Họ đưa mặt trăng về nhà bằng cách hợp nhất nó với thân thể mình. Họ đưa chính mình về nhà trong sự thay da đổi thịt.  Thái Hà lược dịch  Theo Mặt trăng: Một Lịch sử dành cho Tương lai (The Moon: A History for the Future) của Oliver Morton, Econimist Books & PublicAffairs xuất bản, tháng 6, 2019.     Nguồn ảnh trong bài: Kho lưu trữ của NASA           Bản dịch này đã có sự thay đổi so với bản đăng trên báo giấy ra ngày 20/7/2019.   [i] Silo là một dạng kết cấu bằng thép, bê tông hoặc vật liệu tổng hợp. Thông thường silo có dạng hình chữ nhật hay hình tròn thường được sử dụng để bảo quản nguyên vật liệu dạng sá (dạng hạt rời) như xi măng, lúa, ngô ,…      [ii] Valentina Tereshkova tên đầy đủ là Valentina Vladimirovna Tereshkova là một nhà du hành vũ trụ Liên Xô và là nhà nữ du hành vũ trụ đầu tiên trong lịch sử thám hiểm vũ trụ của loài người, trong chuyến bay Chayka trên tàu Vostok 6 vào ngày 16 tháng 6 năm 1963.        Author                Oliver Morton        
__label__tiasang Đưa tri thức mới vào nền kinh tế      Từng là Bộ trưởng Kinh tế Slovenia ngay  từ những ngày đầu tách khỏi LB Nam Tư, Tea Petrin tham gia hoạch định những chính sách phát triển kinh tế của đất nước. Theo quan  điểm của bà, kinh tế tri thức là sự kết nối giữa các thành phần kinh tế  trong xã hội để tạo ra dòng chảy tri thức cập nhật mà tất cả mọi người  cùng được hưởng lợi.     Dưới đây là bài phỏng vấn bà Tea Petrin của tạp  chí Tia Sáng.   Bà có thể điểm qua một số thay đổi chính của Slovenia sau khi độc lập?  Trước khi độc lập, Slovenia có một thị trường lớn ở Nam Tư. Năng lực chế tạo của chúng tôi khá phát triển, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao trong ngành điện tử, công cụ, dệt may. Các sản phẩm này được bán rộng rãi tại các nước thuộc Liên bang Nam Tư và các nước Đông Âu.   Tuy nhiên, những thị trường truyền thống này bị mất khi Slovenia độc lập. Trong khi thị trường nội địa với 2 triệu dân là quá nhỏ, Slovenia buộc phải cạnh tranh với nhập khẩu từ Tây Âu đồng thời tìm cách tăng xuất khẩu vào thị trường này. Chúng tôi nhận thức rằng năng xuất và sản phẩm của chúng tôi không đạt được ở mức tiêu chuẩn cao so với các nước châu Âu khác. Điều đó thúc đầy các công ty của Slovenia phải nâng cao trình độ công nghệ, quản lý và tổ chức.           Tea Petrin hiện là giáo sư kinh tế và khởi  sự kinh doanh tại khoa Kinh tế đại học Ljubjana và là giáo sư thỉnh  giảng đại Đại học California, Berkeley, Đại học Massachusetts.    Bà từng là Bộ trưởng Kinh tế của Slovenia (1999-2004) và là đại sứ của Cộng hòa Slovenia tại Hà Lan (2004-2008).    Giáo sư Tea Petrin là Trưởng nhóm chính sách cụm của Liên minh châu Âu (2009-2010).   Bà là chuyên gia của tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc từ những năm 1990.          Đâu là vai trò Chính phủ trong việc đổi mới cải thiện năng lực sản xuất của nền kinh tế?  Mặc dù tính cạnh tranh, đổi mới và tinh thần kinh doanh thường tới từ lĩnh vực tư nhân, không thể phủ nhận rằng thành công kinh doanh phụ thuộc vào chính sách của Chính phủ trong việc tạo ra những điều kiện phù hợp cho nền kinh tế hoạt động.  Tôi làm việc cho Chính phủ vào thời điểm đó. Chúng tôi đã tập hợp thông tin về nền kinh tế bằng cách đi thăm các công ty, và tìm kiếm qua các nghiên cứu. Dựa vào các thông tin này chúng tôi đã đề ra các chính sách mới. Nguyên tắc của chúng tôi là không trợ giúp nhiều cho những doanh nghiệp không hiệu quả mà khởi động những chương trình kinh tế trên quy mô rộng, sử dụng những khoản tiền nhỏ cho việc truyền bá vào nền kinh tế những kinh nghiệm và tri thức cơ bản phục vụ kinh doanh sản xuất trong bối cảnh thị trường còn thiếu những kinh nghiệm này.   Chính sách này đã được thiết kế để khắc phục chênh lệch khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vào năm 1999. Khi đó, tăng trưởng của chúng tôi chỉ là 3%. Chúng tôi hiểu tầm quan trọng của tri thức để đạt được vị trí phát triển mới. Tri thức không ngừng được tạo ra trong xã hội, và trên thế giới nhưng nếu bạn không bắt kịp bạn sẽ không tiến bộ. Bên cạnh đó, nếu chỉ đưa ra một vài mục tiêu nhưng không có kế hoạch chiến lược để đạt được các mục tiêu này thì tất cả chỉ là mong ước. Đó là lý do tại sao các chính sách chiến lược lại quan trọng.   Cụ thể là nhà quản lý đã tương tác với doanh nghiệp như thế nào?  Chúng tôi nhận thấy sự phát triển về kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển về công nghệ, tri thức và tinh thần kinh doanh. Các quốc gia phát triển ở mức cao là những quốc gia có trình độ công nghệ phát triển và luôn có những tiến bộ. Vấn đề chính là phải giúp các công ty nâng cao trình độ công nghệ. Tinh thần kinh doanh là động cơ của thay đổi và phát triển. Doanh nhân luôn tìm kiếm những cái mới (về công nghệ, sản phẩm hay thị trường), có nghĩa là họ mang đổi mới tới cho nền kinh tế. Ở đây, không chỉ đổi mới mang tính chất đột phá mới cần thiết, mà thường những đổi mới nhỏ như những thay đổi về thiết kế, chất lượng, quy trình sản xuất cũng rất quan trọng.   Khi chúng tôi đưa ra các chính sách mới, chúng tôi mời các công ty, đại diện của các công ty nhỏ và lớn vì chúng tôi muốn tác động tới cả nền kinh tế. Chúng tôi đã thành lập các ủy ban về cạnh tranh, công nghệ, du lịch… Thành viên của các ủy ban là đại diện từ các bộ, trường đại học, doanh nghiệp và các cơ quan phát triển. Chúng tôi gặp mặt hai tuần một lần kể từ đầu năm 1999, rồi sau này mỗi tháng một lần.   Chúng tôi làm việc chặt chẽ và chuyên nghiệp với công ty. Chúng tôi học từ họ và cố gắng tìm hiểu xem họ biết gì, đâu là những vấn đề tồn tại, làm thế nào để giúp họ, ví dụ như trong việc khuyến khích đổi mới công nghệ.   Làm sao để đảm bảo các chính sách gắn kết với thực tiễn?  Chúng tôi cố gắng hiểu về thực trạng của nền kinh tế. Nếu chúng tôi chỉ ở trong các văn phòng và đề ra các chính sách không gắn với thực tế, sẽ không có kết quả. Chúng tôi muốn có những tri thức hữu dụng. Hiệu quả của việc đầu tư vào nền kinh tế tùy thuộc vào mức độ hiểu biết về vấn đề của nền kinh tế. Khi chúng tôi hiểu rõ những vấn đề chính, chúng tôi có thể đề ra các chính sách và các hợp đồng thầu để khuyến khích các công ty nâng cấp và khắc phục các vấn đề của họ.   Chính sách mà chúng tôi đề ra nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề chính của nền kinh tế: trình độ công nghệ, quản lý, và tổ chức còn tương đối thấp. Để cải tiến công nghệ, chúng tôi đưa ra các hợp đồng về hỗ trợ cải tiến công nghệ trong đó tất cả các công ty đều có thể nộp hồ sơ. Chúng tôi không đưa tiền trực tiếp cho bất cứ công ty nào mà tiến tuyển chọn cạnh tranh. Ví dụ, khi công ty muốn thực hiện sản xuất tinh gọn họ cần tri thức nhất định về quá trình sản xuất và quản trị. Tri thức này thiếu vắng trong hầu hết các công ty. Các công ty mong muốn nâng cấp công nghệ phải nộp hồ sơ xin hỗ trợ, sau đó nếu đáp ứng được các tiêu chí của chúng tôi thì sẽ nhận được hỗ trợ của Chính phủ.           Không chỉ đổi mới mang tính chất đột phá mới cần thiết, mà thường những đổi mới nhỏ như những thay đổi về thiết kế, chất lượng, quy trình sản xuất cũng rất quan trọng.        Các hợp đồng hỗ trợ cải tiến công nghệ không dễ viết. Chúng tôi phải đưa ra thông điệp rõ ràng cho các công ty: họ sẽ phải làm gì, chúng tôi mong muốn gì ở họ. Ví dụ Bộ kinh tế đã đưa ra các hợp đồng hỗ trợ cho 20 chương trình trọng điểm (“20 keys program”). Bộ kinh tế khuyến khích và hỗ trợ về tài chính cho việc vận dụng các cách tiếp cận thực tế theo những kinh nghiệm quốc tế thành công đã được công nhận trên thế giới để đưa ra chiến lược đổi mới từng bước. 20 chương trình trọng điểm bao gồm tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, cho phép các công ty tham gia có thể xác định được họ đang ở đâu so với các công ty hàng đầu thế giới. Với việc triển khai 20 chương trình trọng điểm, tính cạnh tranh của một doanh nghiệp được nâng cao bắt nguồn từ quản lý công nghệ và việc tổ chức cải tiến công việc một cách liên tục từ cấp độ sản xuất thô sơ nhất, cho phép phát triển sản phẩm nhanh hơn với chất lượng cao hơn và chi phí ít hơn.     Vì sao cần phát triển các cụm công nghiệp?  Khi bắt đầu triển khai chương trình chính sách công nghiệp mới, hầu hết các công ty đều mong muốn nâng cao năng suất. Chúng tôi giải quyết ở cả hai mặt: với công ty và với các quần thể công nghiệp. Đối với nâng cao năng suất của quần thể công nghiệp, chúng tôi khuyến khích phát triển các cụm kinh doanh trong đó khả năng đổi mới sáng tạo được xây dựng và tăng cường thông qua sự tương tác giữa các công ty trong cụm và giữa các cụm với nhau. Để nâng cao năng suất công ty, chúng tôi tìm cách để giúp các công ty thu nhận tri thức mới nhất cần thiết cho việc tổ chức sản xuất.           Vấn đề phổ biến hiện nay thiếu một dòng luân chuyển tri thức giữa khu vực công nghiệp và giới khoa học cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau. Mỗi thành phần như những ốc đảo cô lập.        Nếu bạn muốn trở nên sáng tạo, bạn phải quan sát và tìm hiểu thông tin qua khách hàng cũng như các nhà cung cấp. Vấn đề phổ biến hiện nay thiếu một dòng luân chuyển tri thức giữa khu vực công nghiệp và giới khoa học cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau. Mỗi thành phần như những ốc đảo cô lập. Những người làm nghiên cứu nói rằng họ làm nghiên cứu tốt nhưng các doanh nghiệp thì không cần các nghiên cứu này; trong khi đó các công ty thì than phiền bên nghiên cứu không tạo ra được tri thức liên quan tới nhu cầu của họ. Những người ở các trường đại học thì rất giỏi nói về điều nên làm nhưng rất yếu trong việc biến tri thức của họ trở thành các sản phẩm bán được trên thị trường.   Đó là lý do tại sao chúng tôi khuyến khích phát triển cụm hợp tác để tạo điều kiện phát triển kết nối giữa công ty và các cơ sở nghiên cứu nhằm chia sẻ tri thức và thông tin. Ở đây, lòng tin đóng vai trò quan trọng. Các công ty không dễ chia sẻ tri thức vì họ xem các công ty khác là đối thủ. Đây là cách suy nghĩ cũ. Chúng tôi cần phải khuyến khích họ khắc phục cách kinh doanh theo kiểu cũ này.   Làm thế nào để khuyến khích kết nối giữa các công ty và các cơ sở hỗ trợ?  Đầu tiên, chúng tôi giải thích về khái niệm cụm công nghiệp. Chúng tôi tổ chức các cuộc gặp tại văn phòng thương mại, mời đại diện của các công ty, cơ sở nghiên cứu, trường học và các cơ quan. Chúng tôi bàn luận về khái niệm cụm và làm thế nào để khuyến khích sự hợp tác giữa các công ty độc lập, và các đơn vị liên quan khác, về lợi ích của tạo lập cụm. Bằng cách chia sẻ tri thức bạn sẽ nâng cao nhận thức chung và tạo ra sự thông hiểu lẫn nhau, điều không thể có nếu chỉ đơn thuần đầu tư bằng tiền bạc. Chúng tôi cũng tổ chức đào tạo cho quản lý cụm.           Chúng tôi hỗ trợ các công ty trong cụm thí điểm và cũng hỗ trợ các quản lý trong vòng 3 năm. Nếu mạng lưới hoạt động tốt, các công ty nhận thấy lợi ích, cụm sẽ được phát triển và các công ty mới sẽ tham gia cụm.         Chúng tôi khuyến khích việc thành lập các cụm bằng cách đưa ra hợp đồng mời các nhóm khoảng 10 doanh nghiệp và 3 tổ chức hỗ trợ (nghiên cứu phát triển hoặc trường đại học). Khi nộp đơn, họ sẽ phải nói rõ mong muốn, cam kết làm việc cùng nhau và kỳ vọng từ việc tạo dựng mạng lưới, đưa ra kế hoạch hành động với sứ mạng và tầm nhìn về dự định họ sẽ hoàn thành trong giai đoạn 5 năm. Với hợp đồng đầu tiên dạng này, 6 nhóm nộp đơn và chúng tôi lựa chọn 3 nhóm để thành lập cụm thí điểm về ô tô, vận tải và chế tạo công cụ.   Tại các cụm thí điểm này, người ta bầu ra một người đại diện gọi là quản lý cụm. Các quản lý cụm độc lập với các công ty và họ làm việc vì lợi ích của công ty. Họ là những người khuyến khích kết nối giữa các công ty trong cụm. Họ tìm kiếm cơ hội phát triển kinh doanh, đưa thông tin tới công ty. Chúng tôi hỗ trợ các công ty trong cụm thí điểm và cũng hỗ trợ các quản lý trong vòng 3 năm. Nếu mạng lưới hoạt động tốt, các công ty nhận thấy lợi ích, cụm sẽ được phát triển và các công ty mới sẽ tham gia cụm. Chúng tôi khuyến khích sự hợp tác của các công ty trong một chuỗi giá trị. Cụm ô tô đã rất thành công. Người quản lý cụm này đã được nhận giải thưởng đầu tiên cuả EU, sau đó từ năm 2006 EU bắt đầu có giải thưởng dành cho quản lý cụm.   Các trường học và cơ quan nghiên cứu gắn kết với các cụm công nghiệp như thế nào?  Chúng tôi làm việc với các bộ khác như Bộ khoa học và giáo dục để khuyến khích hợp tác giữa các công ty và các cơ sở R&D, trường đại học. Ví dụ, để lôi kéo những người làm nghiên cứu sang doanh nghiệp, chúng tôi có những hợp đồng theo đó Chính phủ sẽ trả lương cho nghiên cứu trẻ trong hai năm. Công ty sẽ phải viết báo cáo về nghiên cứu trẻ đang làm gì trong thời gian nhận tài trợ, nếu công ty không đáp ứng được các yêu cầu được quy định trong hợp đồng thì sẽ phải trả lại tiền. Nhưng những trường hợp như vậy đã không xảy ra. Công ty đều sử dụng các nhà nghiên cứu trẻ để mang tới giá trị thặng dư cho công ty.   Để kết nối công ty với giới khoa học, chúng tôi đưa ra chương trình voucher (một hình thức tài trợ của Chính phủ, với các voucher này, doanh nghiệp có thể tiến hành thuê tư vấn bên ngoài mà không phái trả tiền hoặc chỉ trả một phần) dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ năm 2004, với hệ thống này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ được khuyến khích tiếp xúc với các tổ chức hỗ trợ để tiếp thu tri thức mới. Ban đầu khi chương trình được đưa vào, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sử dụng voucher để thuê công ty tư vấn nâng cao khả năng quản lý, sau đó voucher về tư vấn, đổi mới được đưa vào. Hiện nay voucher được đưa vào nhằm mục đích hỗ trợ quá trình tái cấu trúc kinh doanh (nhấn mạnh tới phát triển bền vững). Hệ thống voucher này đã được EU thừa nhận là một trong những biện pháp hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.   Làm sao để đảm bảo tính minh bạch cho quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của Chính phủ dành cho các công ty?          Để tăng sự minh bạch, chúng tôi đưa ra những tiêu chí và quy trình tuyển chọn rõ ràng qua qua các công thông tin đại chúng để mọi người có thể kiểm tra. Bên cạnh đó, chúng tôi có một ủy ban đánh giá độc lập bao gồm những người hiểu rõ về công nghiệp, quản lý và tài chính, và có vai trò độc lập về chính trị.        Để tăng sự minh bạch, chúng tôi đưa ra những tiêu chí và quy trình tuyển chọn rõ ràng qua qua các công thông tin đại chúng để mọi người có thể kiểm tra. Bên cạnh đó, chúng tôi có một ủy ban đánh giá độc lập bao gồm những người hiểu rõ về công nghiệp, quản lý và tài chính, và có vai trò độc lập về chính trị. Ví dụ, Quỹ Doanh nghiệp của Slovenia (SEF), cơ quan nhà nước, được thành lập để xét duyệt tài chính cho các giai đoạn phát triển khác nhau của công ty – các dự án thương mại của các công ti vừa và nhỏ, và cung cấp vốn cho các công ty mới thành lập dựa trên nguyên tắc cạnh tranh. SEF cũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tài chính của quốc gia và quốc tế, ví dụ các ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển Slovenia, Quỹ đầu tư châu Âu (EIF) và Hiệp hội bảo hiểm châu Âu. Một công ty mới thành lập nếu thành công trong đấu thầu có thể nhận được từ SEF 70.000 euros để khởi sự và hoạt động trong vòng 3 năm. Một số doanh nghiệp khởi đầu bị thất bại, nhưng một số trở thành những công ty thành công. Theo triết lý của đầu tư mạo hiểm, đây là tiền “giống” để các công ty mới xuất hiện. Thành công chỉ của một vài công ty nhưng doanh thu đủ lớn để bù đắp lại những hao hụt của quỹ đầu tư đã rót vào các công ty thất bại.         Mối liên hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy ở Slovenia   Tea Petrin đang giảng dạy tại ĐH  Ljubjana, một trong những trường đại học tốt nhất của Slovenia và được  xếp trong số 500 trường đại học tốt nhất của thế giới. Đội ngũ cán bộ  giảng dạy ở đây cũng đồng thời nghiên cứu và giảng dạy do quan điểm cho  rằng không có nghiên cứu thì tri thức trở nên lỗi thời. Tại trường của  Tea Petrin, 20-30% lương của giáo sư từ nghiên cứu. Các giảng viên cố  gắng mang những tri thức mới nhất vào giảng dạy.    Các giảng viên và trợ giảng cần phải có 3  tháng ở nước ngoài trước khi đảm nhận vị trí cao hơn ở trường đại học.  Các giáo sư quốc tế được mời tới giảng dạy ở các chương trình tiến sĩ.  Trường đại học cũng là nơi tổ chức hội thảo cho công chúng bên ngoài  (công ty và các cơ quan nhà nước) nhằm trao đổi tri thức. Sinh viên đánh  giá giáo sư sau mỗi khóa học. Viêc này làm tăng thêm áp lực cho đội ngũ  giảng dạy nhưng giúp chúng tôi tự đánh giá.    Tại một số trường kỹ thuật, thiết bị tại các  phòng thí nghiệm ban đầu khá lạc hậu. Do vậy, người ta đã đề ra sáng  kiến: thuyết phục các công ty tốt nhất mua các thiết bị cho các trường  kỹ thuật và những chi phí này sẽ không phải chịu thuế. Bên cạnh đó, các  công ty còn có thể cử nhân viên tới làm việc tại các phòng thí nghiệm  này.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Dubna nghiên cứu đồ tạo tác tìm thấy ở eo biển Kerch      Các nhà nghiên cứu thuộc nhóm Phân tích kích hoạt Neutron tại Phòng thí nghiệm Vật lý neutron Frank JINR, cùng với các đồng nghiệp tại Trung tâm nghiên cứu quốc gia Viện Kurchatov cùng các nhà khảo cổ của Viện nghiên cứu Khảo cổ (Viện Hàn lâm Khoa học Nga) đang nghiên cứu về một đầu tượng cổ đại. Tạo vật này được tìm thấy ở sâu trong trầm tích ở đáy biển, khi xây dựng chiếc cầu Crime.      Các nhà khoa học tin là đất sét – nguyên liệu làm tượng, được lấy từ vùng mà ngày nay là Italia.  Cái đầu tượng bằng đất nung độc đáo này được tìm thấy vào năm 2017, gần với Cape Ak-Burun ở eo biển Kerch, nơi nối biển Đen và biển Azov, trong khi xây dựng các cột trụ của cầu. Một phần lớn của tượng đất nung đã được tìm thấy trong đất cùng với nhiều đồ tạo tác khác – chủ yếu là gốm Đức, các mảnh vò hai quai Hi Lạp, La Mã cổ đại. Đầu tượng đất nung này là một chiếc đầu nam kích cỡ như người thật và được làm bằng đất sét, được ước đoán là đầu thần linh hoặc anh hùng cổ đại. Điều này vô cùng hiếm vì ít khi đầu đất nung cổ đại lại cao quá 40 cm.  Hiện tại, một nhóm các nhà khảo cổ, hóa học, vật lý, trong đó có các nhà nghiên cứu của Viện liên hợp hạt nhân Dubna, đang nghiên cứu báu vật này.  Trong buổi seminar vào ngày 26/4 vừa qua, Wael Badawy của JINR và Eduard Greshnikov của Viện Kurchatov đã trình bày những kết quả ban đầu về nguồn gốc của các vật liệu thô làm tượng.  Các nhà nghiên cứu muốn tái tạo lại nguồn gốc xuất hiện của đồ tạo tác gốm đặc biệt này, xác định bằng kỹ thuật sẵn có của mình, phân loại tuổi của nó, xác định các trung tâm chế tác (bởi vì nhìn bên ngoài thì vật liệu làm ra nó không giống với đất sét của địa phương) và truy dấu các mối giao thương liên quan. Nghiên cứu này là một thách thức bởi vì các nhà khoa học phải xác định được nguồn của đất sét đã tạo ra sản phẩm đồ gốm này. Trước khi sản phẩm đồ gốm được hoàn thiện bằng quá trình nung trong lò, một số lượng các tạp chất, cũng như các chất làm sạch, đã được đưa vào đất sét trong quá trình tạo tác gốm. Do đó, vô cùng khó để biết được nguồn gốc địa lý của vật liệu này.  Lựa chọn của các phương pháp nghiên cứu cũng giới hạn. “Đồ tạo tác này là một tác phẩm nghệ thuật. Chủ thể của tượng, có lẽ là một chi tiết trong tổng thể thiết kế kiến trúc của một ngôi đền, là một bản sao có một không hai, một tác phẩm có bản quyền tác giả. Đồ gốm này không chỉ có giá trị với bảo tàng Kerch, nơi đang triển lãm nó mà còn có giá trị với cả những nơi như Louvre hay Hermitage, nơi những bản sao La Mã từ những tác phẩm nguyên gốc Hi Lạp không được thường xuyên triển lãm vì được cất đặt trong điều kiện bảo quản nghiêm ngặt. Tuy nhiên đồ gốm tìm thấy ở Crimea chưa rõ nguồn gốc,” Eduard Greshnikov nói. Để bảo quản nó, người ta vẫn chưa chấp nhận sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận bởi hiện chỉ có một số ít phương pháp kiểm tra không xâm lấn, cho phép tác động tối thiểu lên mẫu vật. Viện Kurchatov và Phòng thí nghiệm Vật lý neutron Frank JINR hiện đang có những phương pháp như vậy. Do đó, đồ tạo tác độc đáo này đã được trao cho họ nghiên cứu.    Các phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích kích hoạt neutron, nhiễu xạ synchrotron, quang phổ hồng ngoại, quét electron, quang phổ quang học, và vi phân tích tia X năng lượng phân tán. Vì vậy, khi nghiên cứu bức tượng, phần nhựa thông đã được tìm thấy ở khu vực tóc, râu. Các mẫu trích xuất được gửi đến bộ phận giám định niên đại bằng phóng xạ carbon ở trường đại học Georgia (Mỹ). Kết quả là bức tượng được quét nhựa thông và được chế tác vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Các chuyên gia  cũng đã có thể xác định được loại nhựa thông: những người thợ thủ công đã sử dụng sandarac, loại nhựa thông đươc lấy từ những cây họ Bách ở Tây Địa Trung Hải.  Thêm vào đó, chì cũng được tìm thấy bên trong các hốc rỗng, khi các nhà nghiên cứu sử dụng máy sắc ký khối phổ kiểm tra các tỉ lệ đồng vị bền. Nó có thể được lấy từ các mỏ Lavrion ở gần Athens (Hy Lạp), nơi cung cấp chì nguyên liệu cho việc làm tượng. Chì khai thác ở Athens đã được xuất khẩu đi khắp những thuộc địa của Hi Lạp cổ đại thông qua đường biển Địa Trung Hải. “Có lẽ người thợ cổ đại đã dùng chì để giữ sự cân bằng hoặc để cố định các phiến gốm. Phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi trong thế giới cổ đại”, các nhà nghiên cứu lưu ý.  Nghiên cứu về các màu vẽ có trong các lỗ trống của gốm cho thấy tóc của tượng đã được bao phủ bằng màu. Màu này được làm bằng các hợp chất chứa iron-manganese để tạo ra màu tóc đen nâu. Màu đất son được dùng để tô môi. Phần khác của đầu tượng cũng được sơn phết.  Phương pháp chụp cắt lớp máy tính cho thấy hỗn hợp gốm của đầu tượng giàu pyroxen có nguồn gốc từ núi lửa. Sau đó, sử dụng nhiễu xạ tia X để phân tích và so sánh với các thành phần khoáng chất của gốm và những thành phần của các mẫu vật tham chiếu do Viện Khảo cổ cung cấp. Jacobsite, một hợp chất giàu sắt-manganese được hình thành trong khi lớp bùn chứa manganese và ô xít sắt bị nung, góp phần tạo ra sự độc đáo của thành phần hỗn hợp tượng gốm. Lớp đất sét thuộc về khu vực có hàm lượng manganese cao. Một trong những mẫu đất sét được phân tích, gần với những đặc điểm địa hóa của hỗn hợp gốm của tượng, đã được lấy gần mỏ manganese Mazzano Romano của Ý.  Tuy nhiên, thêm vào đó, một trong những biến thiên về hàm lượng của clinopyroxene được tìm thấy trong hỗn hợp gốm là những mẫu điển hình của đất ở thành phố Sinope, vùng Puglia, và một số vùng ở Trung Ý. Do đó, nghiên cứu này đã giúp thu hẹp đáng kể vùng địa lý của nguồn gốc các vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất của gốm.    Giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu này được tiếp tục tại FLNP JINR. Việc phân tích thành phần nguyên tố mang tên phương pháp phân tích kích hoạt neutron, sử dụng luồng xung tại lò phản ứng IBR-2. So sánh với kết quả đạt được, cầm phải có một nhóm các vật liệu tham chiếu là các thành phần nguyên tố đã biết. Vì vậy, người ta sẽ sử dụng cơ sở dữ liệu của Ý, cũng được thành lập dựa trên phương pháp phân tích kích hoạt neutron. Thêm vào đó, các nhà khoa học ở FLNP không chỉ sử dụng phương pháp này mà còn cả huỳnh quang tia X (XRF) như một phương pháp bổ sung để dò các nguyên tố vĩ mô. Với mục tiêu này, Viện Khảo cổ đã cung cấp 14 mẫu gốm tham chiếu cho phân tích so sánh thành phần nguyên tố. “41 nguyên tố hóa học đã được dò bằng huỳnh quang tia X và phân tích kích hoạt neutron. Nó cho thấy thành phần nguyên tố của vật liệu làm bức tượng tương đồng với các thành phần của những mẫu vật khác, chủ yếu đều bắt nguồn từ Trung Ý”, Wael Badawy của JINR nói.  Sau đó các nhà nghiên cứu ứng dụng nhiều phương pháp phân tích thống kê để kiểm tra kết luận này. Trong sự tương đồng với các phép đo và quá trình xử lý thống kê sau đó, các mãu vât từ vùng Latium, Trung Ý, hóa ra là gần gũi nhất về các đặc điểm đia hóa của lớp đất sét làm gốm này. Kết luận này được gia cố thêm bằng các  kết quả nghiên cứu quang học và dữ liệu của pha phân tích hỗn hợp gốm làm tượng, cũng như phân tích của thành phần nguyên tố của chất bổ sung, ví dụ như clinopyroxenes.  Cũng phải nói thêm các nghiên cứu như vậy đang là tiên phong ở Nga. Công trình này do các nhà nghiên cứu xuất sắc thực hiện, bao gồm: M.V. Kovalchuk, E.B. Yatsishina, E.A. Greshnikov, P.V. Dorovatovsky, N.N. Presnyakova, R.D. Svetogorov, I.N. Trunkin, Kashkarov P.K. (Viện Kurchatov); N.A. Makarov, V.S. Olkhovsky (Viện Khảo cổ); W.M. Badawy, A. Yu. Dmitriev, V. V. Lobachev, N. N. Chepurchenko (Phòng thí nghiệm Vật lý Neutron Frank, JINR).  Thanh  Vân tổng hợp  Nguồn·http://www.jinr.ru/posts/jinr-studies-unique-artifact-found-in-kerch-strait/  https://tass.com/society/936787    Author                .        
__label__tiasang Đức đầu tư kỷ lục cho R&D      Năm 2015, nước Đức đã đầu tư kỷ lục cho R&D với việc chi 62,4 tỷ euro (tương đương 66,2 tỷ USD), tăng 9,5% so với năm 2014. Đi đầu trong lĩnh vực này là ngành sản xuất ô tô.      Ngành hóa dược cũng đầu tư quyết liệt vào R&D  Đây là kết quả nghiên cứu mới công bố ngày 11/12 của Stifterverband, một tổ chức liên bang có nhiệm vụ giải quyết những thách thức trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu chỉ ra, ngành công nghiệp sản xuất ô tô đã chi 21,7 tỷ euro cho R&D, nghĩa là chiếm tới 1/3 tổng đầu tư của cả nước.  TS. Gero Stenke, giám đốc phụ trách bộ phận thống kê của Stifterverband, giải thích, “Mọi người nên nhớ, ngành sản xuất ô tô đang phải đối diện với nhiều thách thức lớn như xe điện, xe tự lái… Vì thế ngành sản xuất ô tô truyền thống chịu sức ép ngày càng tăng và cố gắng giữ vững vị thế trong cuộc chạy đua ở tầm quốc tế này”.  Trong các hãng sản xuất ô tô Đức, Volkswagen đi tiên phong với việc dành 12,2 tỷ euro (tương đương 13,2 tỷ USD) cho R&D, tăng 400 triệu USD so với năm 2014, theo một nghiên cứu của công ty tư vấn PwC công bố hồi tháng 7/2016. Đứng kế Volkswagen là Daimler và Siemens. Trên phạm vi quốc tế, Volkswagen vượt qua nhiều tên tuổi như Apple, Google hay Microsoft về đầu tư cho R&D.  Nghiên cứu của Stifterverband cũng chỉ ra sự đầu tư mạnh tay của ngành hóa dược Đức khi chi tới 10,5 tỷ euro cho R&D, tăng 4% so với năm 2014 hoặc tương đương 5% tổng doanh thu cả năm của toàn ngành. Hiện có khoảng 10% trong tổng số 42.000 người hoạt động trong ngành hóa dược làm việc ở bộ phận R&D, đại diện Hiệp hội ngành công nghiệp hóa học Đức (VCI) cho biết.  Thomas Wessel, chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu và Khoa học thuộc VCI, nhận định, “Cuộc cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt ở các thị trường mới nổi, khiến chúng tôi phải đổi mới”.  Bên cạnh đó, các chuyên gia của Stiftungsverband cũng nhận xét, một xu hướng mới xuất hiện là các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Đức đầu tư nhiều hơn vào R&D với nguồn nhân lực tăng đến 16%/năm. “Chúng tôi đã thấy những thay đổi đáng kể ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt vào giai đoạn cuối năm. Dù chỉ có ít doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung vào đổi mới sáng tạo nhưng họ tập trung toàn lực,” theo TS. Gero Stenke.  Bộ trưởng Bộ Khoa học Đức, Johanna Wanka, nhận xét, sau nhiều năm trì trệ, việc đầu tư vào R&D sẽ tạo ra đà phát triển đáng mừng, “R&D là yếu tố quan trọng tạo nên thế mạnh để Đức thành điểm đến của các công ty công nghệ”.  Theo các số liệu của Stifterverband thì đây là lần đầu tiên Đức đạt mục tiêu dành ít nhất 3% GDP hằng năm cho R&D (so với Pháp đạt 2,2% và Anh chỉ đạt 1,7%), củng cố thêm vị trí cường quốc khoa học và công nghệ ở châu Âu.  Được biết, ở Đức, các doanh nghiệp chiếm tới 67% tổng đầu tư cho R&D; các trường đại học chiếm 18%; 15% còn lại thuộc các tổ chức nghiên cứu ngoài doanh nghiệp và trường đại học.  Nguồn:  http://www.dw.com/en/german-rd-spending-hits-record-high/a-36734928  http://www.zmescience.com/science/germany-research-development-science-12122016/  https://www.vci.de/vci-online/presse/pressemitteilungen/new-record-high-of-research-budgets-in-german-chemical-industry-vci-presents-12-point-plan-to-strengthen-germanys-innovation-ability.jsp    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Đức lập một mạng lưới nghiên cứu mới để chống chọi đại dịch      Cùng với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Nghiên cứu (Đức) Anja Karliczek, nhà vi trùng học tại bệnh viện Charité, Christian Drosten đã giải thích vì sao tỷ lệ tử vong vì virus corona ở Đức tương đối thấp, đồng thời đề cập tới một mạng lưới nghiên cứu mới.    “Chúng ta có ít ca tử vong vì chúng ta đã tiến hành rất nhiều chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn”, nhà vi trùng học Christian Drosten nói trong một cuộc họp báo tại Berlin. Ông hiện là cố vấn chính phủ.  Hiện tại ở Đức mỗi tuần tiến hành khoảng trên nửa triệu xét nghiệm về corona. Ông Heyo Kroemer, chủ tịch HĐQT Charité, bổ sung, so với các nước khác cũng bị đại dịch Corona đe doạ thì Đức đã tiến hành xét nghiệm sớm hơn.  Tại cuộc họp báo này, ông cùng các chuyên gia y học và Bộ trưởng Anja Karliczek giới thiệu một mạng lưới nghiên cứu mới với lực lượng được Bộ Giáo dục và Nghiên cứu tập hợp từ các cơ quan nghiên cứu khoa học và các bệnh viện trường đại học. Theo bà Karliczek,  Thủ tưởng Đức đã gọi điện thoại cho bà đề nghị huy động và thống nhất lực lượng hỗ trợ chính phủ. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu sẽ hỗ trợ 150 triệu Euro để xây dựng mạng lưới này. “Lực lượng đặc nhiệm quốc gia” (Nationale Taskforce) này sẽ phát triển các ý tưởng và các phác đồ điều trị hiệu quả nhất nhằm bảo vệ tốt nhất người bệnh. Các bệnh viện sẽ trao đổi kinh nghiệm và đề ra kế hoạch về những biện pháp sẽ được triển khai. Ngoài ra, họ sẽ tập hợp mọi dữ liệu liên quan đến các bệnh nhân Covid-19, nhằm có cái nhìn tổng quan về lịch sử và trạng thái  bệnh nhân.  Từ tập hợp dữ liệu này, những người đề xuất sáng kiến này, hai ông Heyo Kroemer và Christian Drosten hy vọng sẽ có cái nhìn sâu sắc về quản lý đại dịch và phát triển vác xin cũng như phương pháp điều trị. “Các bệnh viện trường đại học có sự gắn bó gần gũi nhất với người bệnh cũng như với công tác nghiên cứu”, chuyên gia Drosten nhận xét. Cùng với các cơ sở nghiên cứu khác và với cơ quan nhà nước các bệnh viện này có thể có những phản ứng nhanh nhậy, kịp thời hơn.  Theo ông Christian Drosten việc hạn chế các sinh hoạt nơi công cộng có thể được dỡ bỏ từng bước vào thời điểm thích hợp. Dù không đề cập tới thời điểm cụ thể nhưng ông cũng giải thích là việc tiến hành giãn cách xã hội này cần được người dân hiểu rõ là trước hết thực hiện ở đâu, vì ai. “Ở đây cần có tiếng nói của giới khoa học, cần có mô hình về dự báo dịch bệnh bởi sẽ không thực hiện được kế hoạch cách ly khi các nhóm có nguy cơ như người cao tuổi bị cách ly một cách đơn giản”, ông nhận định.  Theo các xu hướng gần đây nhất, Đức hy vọng sẽ giảm dần các ca lây nhiễm mới. Điều này có thể được thể hiện qua các số liệu thu thập được trong những ngày tới.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: sug/dpa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đức sẽ thu gom rác nhựa trên biển      Nhiều doanh nghiệp Đức đang cùng nhau xây dựng một hệ thống thu gom và tái chế rác thải nhựa trên biển nhằm cứu các đại dương đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề.    Túi ni lông “bơi” lơ lửng trên biển  Một mạng lưới gồm khoảng mười doanh nghiệp Đức đang xây dựng hệ thống thu gom, tái chế nhằm dọn rác nhựa trên biển trên phạm vi toàn thế giới và dự kiến chính thức đưa hệ thống này vào hoạt động từ năm 2018.  Trong dự án này, nhiều con tàu cũ được cải tạo lại và có trang bị lưới vớt nhựa sẽ chạy vào những vùng biển chứa nhiều rác nhựa nhất để thu gom chúng. Sau đó lượng rác thải này sẽ được tái chế hoặc tạo ra năng lượng trên một con tầu chuyên dụng. Để tìm được nơi nào có nhiều rác nhựa nhất trên biển, các nhà khí tượng học sẽ tính toán dựa trên cơ sở hướng gió, sóng biển và mưa. Nhóm điều phối dự án gồm mười doanh nghiệp này hi vọng sẽ có một số  hãng vận tải tàu biển của Đức tham gia dự án vì hiện tại một số hãng vận tải biển có tình trạng dư thừa công suất, và thay vì tháo dỡ tàu cũ người ta có thể cải tạo chúng để phục vụ hệ thống bảo vệ môi trường biển.   Theo ước tính, hiện tại lượng rác thải nhựa trên biển vào khoảng 140 triệu tấn, mỗi năm có thêm 10 triệu tấn. Rác thải nhựa khi trôi ra đến biển có thể tồn tại hàng trăm năm. Do bị cọ xát, dưới tác động của nước biển, của tia cực tím rác, nhựa sẽ rã thành những mảnh nhỏ và có thể bị các loài hải sản ăn vào để rồi lại có mặt trong chuỗi thức ăn của con người. Do đó, ngành thủy sản và du lịch bị ảnh hưởng rất lớn bởi lượng rác thải này và phải mất rất nhiều phí tổn để khắc phục. Ví dụ, dọc bờ biển Brazil, từ Rio de Janeiro đến São Paulo mỗi năm có tới 70.000 tấn rác nhựa bị vứt xuống biển và phải huy động 9 con tàu để thu gom rác và một tàu chuyên dụng để chế biến lượng rác thải này.   Có 192 quốc gia bị ô nhiễm rác thải nhựa trên biển, trong đó một số nước châu Á như Trung quốc, Indonesia, Philippin và Việt nam nặng nề nhất.  Đức cũng bị ảnh hưởng của rác thải nhựa trên biển, tuy nhiên so với các nước châu Á thì không nhiều bằng, lượng rác thải nhựa trên biển hàng năm của Đức “chỉ khoảng” 20.000 tấn ở vùng biển Bắc và biển Baltic.   Chính phủ Liên bang Đức khuyến khích, hỗ  trợ  dự án này. Đức là quốc gia có nền kinh tế tái chế chất thải phát triển ở trên đất liền. Đức có thể phát triển hệ thống bảo vệ môi trường biển và có khả năng góp phần quan trọng vào việc chống rác hóa biển.   Xuân Hoài lược dịch theo “Tuần kinh tế” Đức.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đức thử nghiệm thành công xe bay      Startup Lilium Jet của Đức đã qua mặt Google và Uber khi thử nghiệm thành công xe điện có thể cất cánh và hạ cánh.      Chiếc xe bay được điều khiển từ xa trong các cuộc thử nghiệm. Ảnh: dailydot.com  Khái niệm từng được coi là không tưởng về những chiếc xe bay dường như đã tiến một bước gần hơn đến hiện thực, sau cuộc thử nghiệm thành công của Lilium Jet ở Đức.  Lilium Jet có trụ sở tại Munich, được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư trong đó có nhà sáng lập Skype, Niklas Zennström, cho biết chiếc “phản lực” năm chỗ, cất cánh và hạ cánh theo phương thẳng đứng, có thể sử dụng trong các dịch vụ taxi bay và dịch vụ đi chung ở đô thị.  Chiếc xe bay được trang bị 36 động cơ phản lực gắn trên cánh dài 10 mét, bên dưới 12 nắp di động. Khi cất cánh, các nắp hướng xuống dưới để cung cấp lực nâng thẳng đứng. Còn khi đã ở trên không trung, các cánh tạt nghiêng dần cho đến khi ở vào vị trí nằm ngang, cung cấp lực đẩy về phía trước.  Trong các cuộc thử nghiệm, chiếc xe bay được điều khiển từ xa, nhưng các nhà điều hành Lilium Jet cho biết chuyến bay có người lái đầu tiên của họ sẽ sớm ra mắt. Công ty tuyên bố rằng pin điện của xe “tiêu thụ năng lượng ít hơn khoảng 90% so với máy bay không người lái (drone)”, cho phép nó bay được quãng đường 300 km với tốc độ hành trình tối đa 300km/h.  Hàng không dùng năng lượng điện vẫn còn rất non trẻ. Xe điện với hệ thống pin nặng hàng trăm kg thường chạy được tối đa khoảng 480km sau mỗi lần sạc. Chiếc máy bay điện tinh vi nhất hiện nay bay liên tục được trong một giờ với tốc độ khoảng 160km/h – không tính thời gian cất cánh và hạ cánh. Tuy nhiên, Patrick Nathen, đồng sáng lập Lilium Jet và người đứng đầu bộ phận tính toán và thiết kế, cho biết công nghệ pin của họ sẽ cải thiện khâu này.  Các đối thủ cạnh tranh tiềm năng đối với Lilium Jet bao gồm những công ty lớn hơn rất nhiều như Airbus, nơi cũng đang có kế hoạch thử nghiệm một mẫu xe bay tự hành một chỗ ngồi vào cuối năm nay.  Công ty AeroMobil của Slovakia cho biết tại một cuộc triển lãm xe hơi ở Monaco hôm 20/4 rằng họ sẽ bắt đầu nhận đơn đặt hàng cho mẫu xe lai, vừa bay trên không vừa chạy trên đường bộ, dự kiến bắt đầu được sản xuất từ năm 2020.  Tuy nhiên, các nhà sản xuất ô tô bay vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản, trong đó bao gồm việc thuyết phục các nhà quản lí và công chúng rằng sản phẩm của họ an toàn. Chính phủ các nước vẫn đang phải “vật lộn” với các quy định đối với máy bay không người lái drone và xe không người lái.  Xe bay của Lilium Jet, tiêu thụ điện năng tương đương với một chiếc ô tô điện, có thể cung cấp các chuyến bay chở khách với mức giá tương đương taxi thông thường nhưng tốc độ nhanh gấp năm lần, startup này cho biết.  Những đối thủ tiềm năng khác của Lilium Jet bao gồm e-volo, một công ty được hình thành bằng cách gây quỹ cộng đồng, có trụ sở gần Mannheim. Công ty này nói rằng họ hi vọng chiếc “multicopter” hai chỗ ngồi với 18 rotor của họ sẽ được phép sử dụng như taxi bay trong các dự án thí điểm vào năm 2018.  Terrafugia, công ty có trụ sở ở ngoại thành Boston, Mỹ, được thành lập từ 11 năm trước bởi một số sinh viên MIT, cũng nhắm tới việc phát triển một chiếc xe bay cho thị trường đại chúng, trong khi công ty Joby Aviation của Mỹ và Israel cho hay họ đang nghiên cứu một chiếc máy bay không người lái bốn chỗ ngồi.  Google, Tesla và Uber cũng cho thấy mối quan tâm của họ đối với công nghệ mới này.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:   https://www.theguardian.com/business/2017/apr/21/electric-flying-car-lilium-google-uber-vtol-jet-taxi  http://www.theverge.com/2017/4/20/15369850/lilium-jet-flying-car-first-flight-vtol-aviation-munich    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng AI cho nghiên cứu vật lý hạt nhân và vật lý hạt      Mô hinh chuẩn của vật lý hạt miêu tả tất cả những hạt cơ bản đã biết và ba trong bốn lực cơ bản chi phối hoạt động trong vũ trụ; tất cả ngoại trừ lực hấp dẫn. Ba lực này – lực điện từ, tương tác yếu và tương tác mạnh, ảnh hưởng đến cách các hạt hình thành, tương tác và phân rã.      Các kiến trúc học máy mã hóa đối xứng chuẩn cho lý thuyết trường trên lưới 2 D một cách rõ ràng. Nguồn: MIT-DeepMind collaboration.  Việc nghiên cứu về vật lý hạt và vật lý hạt nhân trong cái khung này, dẫu sau, là một khó khăn và phụ thuộc vào những ngiên cứu số ở quy mô lớn. Ví dụ, nhiều khía cạnh của lực tương tác mạnh đòi hỏi mô phỏng về số lượng động lực ở cấp độ 1/10 đến 1/100 kích thước của một hạt proton để trả lời những câu hỏi cơ bản về những đặc tính của các hạt proton, neutron, và hạt nhân.  “Cuối cùng, chúng tôi đã giới hạn được về mặt tính toán trong nghiên cứu về proton và cấu trúc hạt nhân với việc sử dụng lý thuyết trường trên lưới”, trợ lý giáo sư vật lý Phiala Shanahan nói. “Có nhiều vấn đề thú vị mà chúng tôi biết để giải quyết về mặt nguyên tắc nhưng chúng tôi không đủ năng lực tính toán, thậm chí ngay cả khi chúng tôi sử dụng các siêu máy tính mạnh nhất trên thế giới”.  Để thúc đẩy việc vượt qua những giới hạn này, Shanahan dẫn dắt một nhóm nghiên cứu kết hợp vật lý lý thuyết với các mô hình học máy. Trong bài báo của họ “Equivariant flow-based sampling for lattice gauge theory” (Mẫu dựa trên dòng chảy đẳng biến cho lý thuyết trường chuẩn) xuất bản trên Physical Review Letters, họ chứng tỏ cách hợp nhất các đối xứng của những lý thuyết vật lý vào các kiến trúc học máy và  trí tuệ nhân tạo có thể đem lại nhiều thuật toán có khả năng xử lý vấn đề nhanh hơn cho vật lý lý thuyết.  “Chúng tôi sử dụng học máy không chỉ để phân tích một số lượng lớn dữ liệu mà còn để gia tốc lý thuyết mang những nguyên tắc đầu tiên theo một cách không ảnh hưởng đến tính chính xác của cách tiếp cận này”, Shanahan nói. “Công trình nghiên cứu này đã chứng tỏ chúng tôi có thể xây dựng các kiến trúc học máy với một số đối xứng của Mô hình Chuẩn mà vật lý hạt và vật lý hạt nhân đã tạo ra, và gia tốc vấn đề mẫu chúng tôi đang hướng đến bằng các bậc khuếch đại”.  Shanahan mở ra dự án này với học viên cao học MIT Gurtej Kanwar và Michael Albergo, người hiện thời ở NYU. Dự án này còn có thêm dự tham gia của các postdoc Daniel Hackett và and Denis Boyda của Trung tâm Vật lý lý thuyết, giáo sư NYU Kyle Cranmer và nhà khoa học chuyên về học máy ứng dụng cho vật lý tại Google Deep Mind, Sébastien Racanière và Danilo Jimenez Rezende.    Phiala Shanahan trình bày một bài giảng về vật chất trong vũ trụ. Nguồn: MIT  Bài báo của họ là một phần trong chuyên đề nhằm tăng cường các nghiên cứu trong vật lý lý thuyết hiện đang thách thức về mặt tính toán. “Mục tiêu của chúng tôi là phát triển các thuật toán mới cho một hợp phần chính của các tính toán số trong vật lý lý thuyết”, Kanwar cho biết. “Những tính toán đó cung cấp cho chúng tôi về những hoạt động bên trong của Mô hình chuẩn của vật lý hạt, lý thuyết cơ bản bậc nhất của chúng ta về vật chất. Rất nhiều tính toán vô cùng quan trọng để so sánh với những kết quả từ các thực nghiệm vật lý hạt, như ở Máy gia tốc hạt lớn LHC ở CERN, cả việc ràng buộc mô hình này chính xác hơn và để khám phá nơi nào mô hình này bị phá vỡ và phải mở rộng ra những thứ thậm chí còn cơ bản hơn nhiều”.  Phương pháp duy nhất được biết về kiểm soát hệ thống của nghiên cứu Mô hình Chuẩn của vật lý hạt trong chế độ phi nhiễu loạn (the nonperturbative regime) đặt trên một mẫu chụp nhanh của các thăng giáng lượng tử trong chân không. Bằng việc đo đạc các đặc tính của những thăng giáng này, ngay trong một lần đo cũng có thể suy ra được các dặc tính của các hạt và những va chạm nhà nghiên cứu quan tâm.  Kỹ thuật này đến với nhiều thách thức, Kanwar giải thích. “Mẫu này rất đắt, và chúng tôi đang chờ được sử dụng các kỹ thuật học máy được xây dựng với cảm hứng từ vật lý để làm ra được các mẫu một cách hiệu quả hơn”, anh nói. “Học máy cũng đã đạt được những bước tiến lớn trong việc tạo ảnh, ví dụ gần đâty là công việc của NVIDIA với những bức ảnh khuôn mặt “mơ ước” bằng các mạng thần kinh. Nghĩ về những cú chụp nhanh hình ảnh chân không, chúng tôi cho rằng việc chuyển sang các phương pháp tương tự để giải quyết vấn đề của mình là hoàn toàn tự nhiên”.  Shanahan thì cho rằng “Trong cách tiếp cận để lấy mẫu các cú chụp nhanh lượng tử đó của chúng tôi, chúng tôi đã tối ưu một mô hình có thể đưa chúng tôi từ một không gian dễ dàng cho láy mẫu đến không gian mục tiêu: với một mô hình đã được huấn luyện, việc lấy mẫu sau đó hiệu quả hơn vì anh chủ cần lấy những mẫu độc lập trong một không gian dễ dàng lấy mẫu và biến đổi nó thông qua một mô hình đã được huấn luyện”.  Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã giới thiệu một khuôn khổ cho xây dựng các mô hình học máy tôn trọng một lớp các đối xứng, gọi là “đối xứng chuẩn”, quan trọng cho nghiên cứu vật lý năng lượng cao.  Shanahan và đồng nghiệp đã sử dụng khuôn mẫu đó của họ để huấn luyện các mô hình học máy để mô phỏng một lý thuyết hai chiều, kết quả là hiệu quả các bậc khuếch đại tăng lên theo các kỹ thuật tiên tiến và các dự đoán trong lý thuyết đó chính xác hơn nhiều. Điều này đã mở đường cho việc tăng tốc một cách đáng kể nghiên cứu các lực cơ bản của tự nhiên sử dụng học máy được hình thành từ các quy luật vật lý.  Một số bài báo của nhóm nghiên cứu đã được thảo luận về việc ứng dụng kỹ thuật học máy này cho lý thuyết trường trên lưới đơn giản và phát triển lớp tiếp cận về compact, kết nối các đa tạp vốn mô tảnhiều lý thuyết trường phức tạp hơn của Mô hình Chuẩn. Hiện tại, họ đang nghiên cứu để tăng quy mô kỹ thuật đó đến những tính toán ở mức tiên tiến hơn.  “Tôi nghĩ trong năm qua chúng tôi đã cho thấy có rất nhiều hứa hẹn trong việc kết hợp những hiểu biết về vật lý với kỹ thuật học máy”, Kanwar nói. “Chúng tôi đang nghĩ về việc loại các rào cản còn lại tên con đường thực hiện những mô phỏng ở quy mô đầy đủ với cách tiếp cận này. Tôi hi vọng sẽ nhìn thấy ứng dụng đầu tiên của những phương pháp này để có thể đem lại những tính toán ở quy mô đó cho vài năm tiếp theo. Nếu chúng tôi có khả năng vượt qua được những chướng ngại đó, điều đó hứa hẹn sẽ mở rộng được những gì chúng tôi có thể làm với nguồn lực giới hạn, và tôi mơ về việc thực hiện những tính toán sớm để có thể giúp chúng tôi có được những cái nhìn mới vào những gì nằm bên ngoài hiểu biết của chúng ta về vật lý ngày nay”.  Ý tưởng về những thuật toán học máy hình thành trên hiểu biết vật lý được nhóm nghiên cứu gọi là “ab-initio AI” (AI từ điểm bắt đầu), một chủ đề quan trọng mà Viện Trí tuệ nhân tạo và các tương tác nền tảng do MIT và Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ đầu tư (IAIFI), nơi Shanahan là người điều phối nghiên cứu về vật lý lý thuyết.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-provably-exact-artificial-intelligence-nuclear.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng AI để giải quyết một trong những vấn đề tồn tại của kiểm tra sức khỏe      Hình ảnh y sinh là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất để kiểm tra sức khỏe với hàng tá nghiên cứu hình ảnh về sức khỏe bệnh nhân có được. Các nghiên cứu đã được sử dụng để tìm hiểu thông tin về các triệu chứng nhất định của một bệnh nhân hoặc điều kiện mà họ đã được điều trị nhưng thường xuyên đem lại những phát hiện tình cờ không liên quan đến chỉ định ban đầu.       Khi những phát hiện tình cờ được ghi lại trong hồ sơ X quang, cũng có những thông tin không được ghi nhận bởi vì người ta chỉ tập trung vào giải quyết mục tiêu ban đầu. Dẫu vậy có một thực tế là trong khi nhiều phát hiện ban đầu đem lại tín hiệu tốt lành nhưng cũng có một số vấn đề có thể tiến triển theo chiều hướng xấu theo thời gian nên việc phát hiện sớm những triệu chứng cũng là cách có thể ngăn ngừa bệnh tật cho người bệnh theo dài hạn.  Sự chậm chễ hoặc bỏ lỡ những triệu chứng trong những chấn đoán hình ảnh tình cờ là một trong những vấn đề phát sinh nhiều nhất ảnh hưởng đến hàng triệu bệnh nhân và làm tăng thêm chi phí dài hạn. Ở Mỹ, xét tại quy mô quốc gia, ước tính các bệnh viện và hệ thống chăm sóc sức khỏe mất khoảng 43 triệu USD hằng năm do để lỡ cơ hội phát hiện riêng bệnh ung thư phổi.  “Vấn đề này là một trường hợp nghiên cứu để ngăn ngừa thiệt hại: có tài liệu nhưng phát hiện không được ghi nhận có thể dẫn đến một can thiệp có ý nghĩa về mặt sức khỏe nên bệnh tật ở bệnh nhân có thể phát triển mà không phát hiện được”, tiến sĩ Mozziyar Etemadi, giám đốc phụ trách công nghệ tiên tiến tại Northwestern Medicine, nói.  Ghi nhận mối nguy hiểm với bệnh nhân và rủi ro tài chính, Northwestern Medicine đã cử một nhóm liên ngành với các thành viên ở chuyên ngành X quang, bộ phận QA/QC, An toàn cho bệnh nhân, Cải tiến quy trình, Chăm sóc ban đầu, Điều dưỡng, Tin học… giải quyết vấn đề này. Nhóm nghiên cứu đã tạo ra một hệ sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tích hợp hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR) có thể chạy trên gần như mọi hình ảnh có được ở 1 hệ thống sức khỏe bệnh viện. Khi được đặt yêu cầu, hệ AI này kích hoạt một lệnh trong EHR để hiển thị một cách rõ ràng những phát hiện và những đề xuất tiếp theo trong dòng chảy dữ liệu.  Một khi hệ này được kích hoạt bởi một lệnh, nó sẽ dò theo toàn bộ những đề xuất trên cả những phát hiện tình cờ và điều người ta dự kiến ban đầu. Nếu không đưa ra cảnh báo để lên lịch chụp ảnh bổ sung hoặc cần những theo dõi khác, hệ thống sẽ cảnh báo để ngăn chặn sự chậm trễ trong chăm sóc và cải thiện kết quả chẩn đoán của bệnh nhân.  Northwestern Medicine ban đầu thử nghiệm công nghệ này vào tháng 12/2020 để tìm kiếm thông tin về phổi và tuyến thượng thận, sau đó thử nghiệm trên nhiều bộ phận khác trong hơn một năm. Các kết quả của nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí NEJM Catalyst Innovations in Care Delivery. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên có triển vọng về một công cụ AI được thực hành lâm sàng.  Nghiên cứu trên tạp chí Catalyst đã nhìn vào dữ liệu được thu thập trong vòng một năm sau khi hoàn thiện hệ AI vào tháng 12/2020. Hơn 460.000 hình ảnh đã được sàng lọc và 23.000 bức đã được dán nhãn vì có những khuyến nghị tiếp với tỉ lệ 5% phát hiện bất thường về phổi xuất hiện hoặc liên quan trong các bức ảnh – phát hiện 68 bức mỗi ngày.  “Dữ liệu của chúng tôi cho thấy sự phổ biến của những phát hiện ngẫu nhiên này trong các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh và hỗ trợ thêm khả năng tìm kiếm một giải pháp có thể mở rộng”, tiến sĩ Etemadi nói. “Nhóm của chúng tôi đã phát triển hệ thống xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) tích hợp trong hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR) để có thể tự động tìm ra các bức ảnh X quang được khuyến nghị cần theo dõi thêm”.  Một ví dụ của cách hệ này hoạt động là một bệnh nhân có một bức chụp tia X ngực để kiểm tra bệnh viêm phổi và một u nhỏ ở phổi đã được một chuyên gia X quang nhận diện, ghi lại trong hồ sơ về phổi và đề xuất việc chụp CT ngực. Hệ AI dò theo thông tin của chuyên gia X quang, vì vậy khung tích hợp được kích hoạt một biện pháp tư vấn điều trị tốt nhất để cảnh báo với bác sĩ đã đề nghị AI kiểm tra. Biện pháp tư vấn điều trị tốt nhất có thể hiển thị trong EHR và không đòi hỏi bác sĩ phải tìm thêm một chương trình nào khác.  “Việc hiểu sai thường thấy là người ta cho rằng AI được phát triển để đưa ra các quyết định điều trị lâm sàng, nhưng đây không phải là trường hợp này – các quyết định điều trị lâm sàng đều do các chuyên gia X quang và bác sĩ yêu cầu AI kiểm tra”, Jane Domingo, người ở Văn phòng cải thiện hiệu suất điều trị thuộc Northwestern Medicine và một đồng tác giả của nghiên cứu, nhận xét. “Hệ này được phát triển để nhận diện các báo cáo về triệu chứng với những phát hiện liên quan đến dữ liệu hình ảnh, vốn trước đây chưa từng tồn tại. Nó tạo điều kiện để bác sĩ ra quyết định hơn là ra quyết định thay bác sĩ. Một phần quan trọng trong nghiên cứu của chúng tôi là việc họp bàn với các bác sĩ và giúp họ hiểu rằng nó chỉ hỗ trợ họ trong việc đưa ra các quyết định điều trị lâm sàng”.  Để tăng thêm khả năng cảnh báo cho các bác sĩ, bệnh nhân cũng nhận được thông báo từ hồ sơ online của mình với kết quả hình ảnh X quang. Các bệnh nhân không có hồ sơ online hay không có hồ sơ online do các bác sĩ ở Northwestern Medicine trực tiếp quản lý thì các y tá chăm sóc họ sẽ nhận được thông báo.  “Chúng tôi thường tin là ‘không có gì mới, đó là tin tốt’ và nếu không nghe được thông tin từ bác sĩ sau một xét nghiệm, chúng ta thường có xu hướng giả định mọi thứ là tốt và không quan tâm đến những gì tiếp theo”, Domingo nói. “Bằng việc tạo cho bệnh nhân thông báo về tiến trình chẩn đoán, chúng tôi đã tăng thêm một lớp an toàn cho bệnh nhân và đem lại lợi ích cho chính họ”.  Mọi yếu tố của hệ thống mà chúng tôi xây dựng đều là từ nỗ lực của chính Northwestern Medicine. Một trong những yếu tố thách thức nhất để xây dựng một hệ AI là quá trình dán nhãn, vốn đòi hỏi một lượng dữ liệu cực lớn và phải được các chuyên gia lâm sàng nhận diện.  “Cụ thể, việc dán nhãn dữ liệu do bên thứ ba thực hiện và đòi hỏi rất nhiều thời gian và nguồn lực tài chính nhưng lại cho những kết quả không đều”, tiến sĩ Etemadi giải thích. “Tại Northwestern Medicine, chúng tôi sử dụng nguồn lực của mình để hoàn thành phần khó này của dự án – các nhân viên y tế và những thành viên thực hiện chụp X quang đều không thể có được khả năng này . Họ đã phải qua quá trình huấn luyện như những chuyên gia có khả năng đọc và hiểu các bức ảnh chụp X quang và thực hiện trên nhiều văn bản liên quan từ các báo cáo X quang đã được chọn lọc. Điều này dẫn đến chất lượng cao hơn và chuyên gia đánh giá dữ liệu đã được dán nhãn một cách hiệu quả”.  Cùng với nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Catalyst, Northwestern Medicine đã thông báo kết quả trên một trang web về quá trình xây dựng và thử nghiệm hệ AI để các bệnh viện và hệ thống y tế khác có thể học hỏi, áp dụng vào những chương trình chăm sóc y tế của mình.  Hiện tại, hệ thống này đang được tiếp tục được sử dụng để kiểm tra một số bệnh khác như gan, tuyến giáp và buồng trứng.  Hoàng Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:  https://medicalxpress.com/news/2022-03-ai-health-problems.html  https://www.prnewswire.com/news-releases/using-artificial-intelligence-to-solve-one-of-health-cares-most-enduring-problems-301504387.html  —————————–  1.https://catalyst.nejm.org/doi/10.1056/CAT.21.0469    Author                .        
__label__tiasang Dùng AI tính sản lượng trái cây      Giới nghiên cứu đại học Northwest Nazarene (NNU), Hoa Kỳ đang thực hiện một dự án dùng trí tuệ nhân tạo (AI) để ước tính trái cây nhanh và chính xác hơn vào đầu mùa.      Các nhà nghiên cứu đại học Northwest Nazarene đang sử dụng AI để ước tính sản lượng trái cây.  GS Duke Bulanon của NNU năm ngoái đã nhận được khoản tài trợ của bộ Nông nghiệp bang Idaho để phát triển một thuật toán chuyên sâu, nhằm ước tính chính xác hơn sản lượng trái cây sớm trong vụ mùa. Cách làm hiện nay trong công tác ước tính này chỉ thuần thủ công qua đếm trái trên một số cây được chọn rồi dùng con số bình quân lượng trái để tính năng suất. Làm thế tốn nhiều thời gian, công sức và chỉ dựa vào cỡ mẫu hạn chế cho ra kết quả với độ tin cậy thấp, Bulanon nói. Dùng AI đảm nhiệm công tác này sẽ cải thiện việc ước lượng năng suất nhờ đếm nhanh hơn và nhiều loại cây hơn trong một khu vườn, ông nói.  Có được ước tính năng suất đáng tin cậy sớm trong mùa vụ sẽ giúp cho nhà vườn lên kế hoạch thu hoạch và các nguồn lực cần huy động sớm, nhờ vậy việc chuẩn bị hậu cần sau thu hoạch tốt hơn, gồm các khâu đặt thùng đựng và bao bì, sắp xếp thiết bị lưu trữ và đặt nhà đóng gói. Chưa hết, nhà vườn còn có thể rao hàng tốt hơn, giá cả có thể cạnh tranh hơn đến 15%, theo tính toán của Bulanon. “Dự báo năng suất trái cây, cụ thể là sớm trong vụ  mùa, rất quan trọng đối với nông dân vì nếu họ bán trái cây cuối mùa, giá sẽ giảm. Nếu họ có được dự báo sản lượng đáng tin cậy sớm, giá bán sẽ cạnh tranh hơn”, Bulanon nói.  Theo yêu cầu từ khoản tài trợ dành cho Bulanon, “Dự án này sẽ đưa Idaho lên vị trí hàng đầu về công nghệ nông nghiệp chính xác, đối với các loại cây trồng đặc sản”. Để phát triển chương trình AI này, Bulanon và nhóm các nhà nghiên cứu thị giác robot của ông tại NNU sẽ phát triển một thuật toán học chuyên sâu, giúp nhận diện chính xác trái trên cây giữa thời kỳ đậu hoa và thời cây trái chín. Làm được điều đó cần phải chụp hàng ngàn ảnh nụ hoa và trái chưa chín và cung cấp chúng cho một máy tính.“Cũng giống như dạy cho một đứa trẻ.Máy sẽ phải học nhận biết một trái táo.AI mô phỏng cách con người học tập”, Bulanon nói.  “Chúng tôi phải nói cho máy biết, ‘đây là một trái táo’, khi học được điều đó, công cụ AI có thể thực hành một cách tự động và nhận biết nhanh hơn so với con người”, Connor Nogales, thành viên nghiên cứu nhận định.Anh ta cho rằng gọi tên chính xác hơn là quá trình “học máy”, vì “công cụ không có trí tuệ riêng.Chúng ta phải dạy nó thôi”.  Tyler Hestand, một thành viên nghiên cứu, cho biết thuật toán sẽ dự đoán năng suất trái cây nhanh hơn so với bất kỳ người nào.“Bạn phải chụp một tấm ảnh và chớp mắt sau nó sẽ đưa ra ước tính bạn sẽ có bao nhiêu trái.Tốc độchắc chắn là một lợi thế lớn với AI”, anh nói.  Bulanon sẽ thực hiện dự án với các nhà vườn địa phương. Chad Henggeler, giám đốc hiện trường của hãng Henggeler Packing, một trong những công ty trái cây lớn nhất bang Idaho, cho biết việc ước tính sản lượng trái cây rất sớm trong vụ có thể chứng minh nó mang lại lợi ích cho công ty Fruitland khi tiếp thị trái cây của hãng. “Nếu thành công, nó sẽ giúp cho nhà vườn thông tin mà chúng tôi cần để chúng tôi biết được thị trường có bao nhiêu”, ông nói.Khi đề cập đến những khâu như lưu trữ, đóng thùng và nhân công, “Tất tật các thứ chắc chắn sẽ tạo ra một sự khác biệt”, ông nói thêm.  Michael Williamson, giám đốc Williamson Orchards và Vineyards ở Caldwell, cho biết hầu hết các công ty trái cây đều bán trước. “Chúng tôi sẽ có doanh thu tốt nhất nếu bán vụ này vào tháng 5 hoặc tháng 6.Nếu chúng tôi có thể dự báo sản lượng sớm một cách chính xác, điều đó vô cùng hữu ích”, ông nói.  Đây không phải lần đầu tiên Bulanon lãnh đạo những dự án đem lại lợi ích cho nông dân Idaho. Ông và cộng sự cũng đang thực hiện một nền tảng robot có tên là “IdaBot”, giúp nông dân kiểm soát chi phí đầu vào ít tốn kém thông qua công dụng của tự động hoá robot. Mục tiêu của dự án là tạo ra một robot đơn giản có thể theo dõi vườn cây hoặc vườn nho một cách tự động, và cho biết cần dùng các loại thuốc trừ sâu nào.  Bulanon cũng đã khởi xướng một dự án phát triển một thiết bị bay không người lái chụp hình ảnh đa năng, để nông dân có thể phân tích nhanh trên máy tính của họ, ngõ hầu xác định cây cối của họ đang bị bệnh gì, thiếu hay đủ nước cũng như dưỡng chất. Ông cho rằng, các dự án như thế và dự án đang tiến hành là những nỗ lực dài hạn, có thể giúp cho các nhà sản xuất ở Idaho trong tương lai. “Chúng tôi có thể không tạo tác động đến nhà vườn trước mắt, nhưng chúng tôi có thể làm được việc đó trong mươi mười lăm năm nữa”, ông nói.  Khởi Thức (theo TGHN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dung trí tuệ nhân tạo xây dựng mô hình xác định cơn rung nhĩ tại nhà      TS. Nguyễn Hồng Quang (ĐH Bách khoa Hà Nội) và đồng nghiệp đã xây dựng được mô hình giúp người bệnh xác định cơn rung nhĩ tại nhà bằng máy đo tín hiệu điện tim cầm tay với độ chính xác khoảng 84%.    Rung nhĩ là một dạng rối loạn nhịp tim rất phổ biến và có nguy cơ khiến bệnh nhân hình thành huyết khối trong tâm nhĩ. Nếu không phát hiện sớm và xử lý kịp thời, chứng rối loạn này sẽ có thể dẫn đến đột quỵ, suy tim, tắc mạch và bệnh mạch vành.    Để xác định được các cơn rung nhĩ, thông thường người bệnh sẽ cần đến bệnh viện để đo bằng máy điện tim 12 đạo trình và cần phải có chuyên gia giỏi để đọc và phát hiện được. Tuy nhiên, cái khó lại nằm ở chỗ, “cơn rung nhĩ này không phải lúc nào cũng diễn ra mà có khi chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện thoáng qua, dẫn đến việc khi người bệnh ở nhà thì có cơn rung nhĩ nhưng lúc đến bệnh viện để đo thì lại hết rồi và mãi không phát hiện ra”, TS. Nguyễn Hồng Quang, Trưởng nhóm nghiên cứu Tin học y sinh (Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Trí tuệ nhân tạo BK.AI, Đại học Bách khoa Hà Nội) cho biết.        Hướng đến theo dõi tại nhà    Do đó, hiện nay thị trường đã tung ra nhiều loại máy đo điện tim cầm tay để giúp người bệnh theo dõi ngay khi họ cảm thấy có vấn đề trong cơ thể. Tuy nhiên thiết bị này mới chỉ giúp bệnh nhân ghi lại những biến thiên của dòng điện tim, còn “làm sao để từ các tín hiệu thu được ấy, mình có thể ngay lập tức dự đoán xem liệu bệnh nhân có bị rung nhĩ hay không, hay đó chỉ là nhịp tim bình thường, là tín hiệu bị nhiễu, hay là một loại rối loạn nhịp tim khác,.. thì lại là một bài toán thực tế cần phải giải quyết”, TS. Quang cho biết.    Bởi vậy, trong nghiên cứu “Stacking segment-based CNN with SVM for recognition of atrial fibrillation from single-lead ECG recordings” công bố trên tạp chí Biomedical Signal Processing and Control, TS. Quang đã phối hợp với các đồng nghiệp ở Đại học Victoria Wellington và Viện Công nghệ Wellington để xây dựng một mô hình giúp tự động phát hiện cơn rung nhĩ với máy đo điện tim cầm tay bằng phương pháp học máy. Do chưa có tập dữ liệu điện tim của bệnh nhân tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một bộ dữ liệu gồm 8.528 mẫu đo điện tim cầm tay từ cơ sở dữ liệu về dấu hiệu sinh lý nổi tiếng trên thế giới là PhysioNet để nghiên cứu và huấn luyện cho mô hình. Mỗi mẫu trong tập dữ liệu có độ dài dao động từ 7,3 – 60 giây, được đo ở 300 Hz, đồng nghĩa với việc mỗi mẫu có 2,200 – 18,000 điểm đo. Các mẫu này cũng đã được các chuyên gia đọc và phân loại thành bốn nhóm là: tín hiệu bình thường; có cơn rung nhĩ; loại rối loạn khác; và tín hiệu nhiễu.    Dù tập dữ liệu cơ bản đã được phân loại như vậy, nhóm nghiên cứu vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Trong đó, điểm khó đầu tiên đến từ việc “bản thân chất lượng tín hiệu đo điện tim cầm tay một đạo trình đã không thể nào bằng tín hiệu đo 12 đạo trình ở bệnh viện, do đó dữ liệu thu từ máy này sẽ có rất nhiều ‘nhiễu’”, TS. Quang giải thích. Thêm vào đó, người đo ở đây lại là bệnh nhân hoặc người nhà – những người không có chuyên môn sâu hay kỹ thuật đo chuẩn như bác sỹ, dẫn đến việc chất lượng tín hiệu đo bị suy giảm đáng kẻ. Một vấn đề khác là cơn rung nhĩ thường chỉ diễn ra trong một vài giây, trong khi đó khoảng thời gian đo có thể kéo dài khoảng 30 giây – 1 phút, làm sao để tìm ra được đúng một đoạn ngắn bị rung nhĩ ấy là một khó khăn không nhỏ. Và cuối cùng, “các mẫu có cơn rung nhĩ rất thấp, trong khi đó số lượng mẫu cho kết quả bình thường hoặc một loại rối loại nhịp tim khác thì lại rất nhiều, do đó tập dữ liệu này bị chênh lệch mẫu nghiêm trọng”, TS. Quang cho hay.    Để giải quyết vấn đề, nhóm nghiên cứu cho rằng, việc đầu tiên cần phải xử lý chính là làm thể nào để cân bằng lại dữ liệu. “Phương án chúng tôi lựa chọn chính là chia tín hiệu điện tim thành các đoạn nhỏ và điều chỉnh độ dịch khung. Do các đoạn được chia càng gần nhau thì số lượng đoạn mình có càng nhiều, các đoạn càng xa nhau thì số lượng đoạn càng ít đi, cho nên với các mẫu bình thường (vốn có quá nhiều), chúng tôi sử dụng độ dịch khung lớn còn các mẫu rung nhĩ (vốn có ít mẫu) thì chúng tôi chọn độ dịch khung ngắn để làm sao tổng số đoạn của mỗi nhóm dao động từ 20,000 – 22,000 đoạn”, TS. Quang giải thích.    Sau khi đã cân bằng dữ liệu và nhận biết được tình trạng của từng đoạn (có rung nhĩ hay không), nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình thuật toán SVM (có nơi dịch là máy vector hỗ trợ) để học sự phân bố của các đoạn đó rồi mới đưa ra kết luận về tình trạng của cả mẫu. Lý do là bởi, “nếu mình chỉ đưa ra quyết định trực tiếp mà không sử dụng thuật toán này thì sẽ không hợp lý vì đa phần các đoạn tín hiệu là bình thường chứ không phải có rung nhĩ. Việc học sự phân bố này sẽ cho phép phân loại chính xác mỗi mẫu đấy có phải là rung nhĩ hoặc là nhiễu hay không”, TS. Quang giải thích.    Kết quả thử nghiệm cho thấy, mô hình của nhóm TS. Quang có khả năng đưa ra dự đoạn với độ chính xác khoảng 84,19%. “Chúng tôi cũng làm thử nghiệm này 5 lần, mỗi lần lại chia một phần tập dữ liệu để huấn luyện và một phần để kiểm tra. Việc này nhằm khẳng định kết quả của mình không bị lệch quá vào một nhóm dữ liệu nào đấy”, TS. Quang cho biết thêm. Và “cả năm lần thử nghiệm đều cho thấy kết quả không chênh lệch nhau nhiều, chứng tỏ phương pháp của nhóm là ổn định với các tập dữ liệu”.    Dễ dàng sử dụng    Không chỉ có độ ổn định, khi so sánh với các phương pháp hiện đại khác cũng sử dụng cùng một bộ dữ liệu như nhóm của TS. Quang, kết quả cũng cho thấy mô hình của nhóm anh có độ chính xác cao hơn. Lý giải về điều này, anh cho rằng, nhóm đã dựa trên giả định là khi một người bị bệnh rung nhĩ thì sẽ không bị rung nhĩ trên toàn bộ cả tín hiệu dài 60 giây mà thường chỉ có dấu hiệu trong một đoạn thời gian rất ngắn. “Bằng cách phân tách thành từng đoạn nhỏ như vây, chúng tôi đã có thể ‘bắt’ được chính xác mẫu rung nhĩ đang xảy ra ở đâu, từ đó có thể học được cách xác định chuẩn xác hơn”, TS. Quang chia sẻ.    Hiện tại, mô hình này đang được nhóm nghiên cứu chạy trên server của mình. Theo TS. Quang, việc kết hợp chương trình của nhóm với các thiết bị đo cầm tay sẽ giúp người bệnh hay người nhà bệnh nhân có thể đo bất cứ lúc nào và tại địa điểm nào, chương trình cũng có thể xác định được ngay liệu người đó có bị rung nhĩ hay không, hay tín hiệu của họ bình thường và chỉ bị hồi hộp một chút. “Bản thân các thiết bị điện tim đấy cũng kết nối với điện thoại thông minh, do đó có thể dễ dàng thu thập lại và gửi cho bác sỹ lâm sàng”, TS. Quang nói.    Trang Anh    Author                .        
__label__tiasang Dùng các mạng thần kinh sâu dự đoán cách não xử lý các âm thanh tự nhiên      Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã gia tốc và đổi mới việc sử dụng các kỹ thuật học máy trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có khoa học thần kinh. Bằng việc nhận diện dữ liệu thực nghiệm, các mô hình này có thể dự đoán các quá trình thần kinh liên quan đến các trải nghiệm cụ thể hoặc với sự xử lý của các kích thích cảm giác.    Các nhà nghiên cứu tại CNRS và trường đại học Aix-Marseille và trường đại học Maastricht gần đây đã cố gắng sử dụng các mô hình tính toán để dự đoán cách bộ não con người chuyển đổi âm thanh thành phép miêu tả ngữ nghĩa của thứ đang xảy ra ở môi trường xung quanh. Công bố của họ, được xuất bản trên Nature Neuroscience, cho thấy một số mô hình dựa trên mạng thần kinh sâu (DNN) có thể dự đoán tốt hơn các quá trình xử lý thần kinh từ hình ảnh thần kinh và dữ liệu thực nghiệm 1.  “Mối quan tâm chính của chúng tôi là tạo ra các dự đoán số về cách các âm thanh tự nhiên được đón nhận và biểu diễn trong bộ não, và sử dụng các mô hình tính toán để hiểu cách chúng ta chuyển đổi tín hiệu âm thanh nghe thấy thành một biểu diễn ngữ nghĩa về các vật thể và sự kiện trong môi trường”, Bruno Giordano, một trong số các nhà nghiên cứu thực hiện công bố này, nói với Medical Xpress. “Một rào cản lớn trong quá trình thực hiện điều này là việc thiếu các mô hình tính toán và cả thiếu hụt các so sánh hệ thống về năng lực của chúng cho việc giải thích hành vi hoặc dữ liệu hình ảnh thần kinh”.  Đối tượng chính của nghiên cứu này của Giordano và cộng sự là sự so sánh một cách hệ thống hiệu suất khác nhau của các mô hình tính toán dự đoán sự biểu diễn thần kinh của các âm thanh tự nhiên. Tring thực nghiệm của mình, nhóm nghiên cứu đã đánh giá ba lớp mô hình tính toán mang tên các mạng thần kinh sâu âm thanh, cảm giác và âm thanh thành sự kiện.  “Chúng tôi bắt đầu nói về sự cần thiết phải có được một so sánh hệ thống về các mô hình tính toán trong suốt những tháng đầu của đại dịch COVID”, Giordano giải thích. “Sau khi một vài cuộc bão não từ  xa, chúng tôi đã nhận ra là chúng tôi đã có dữ liệu cần thiết trả lời cho câu hỏi của chúng tôi: một bộ dữ liệu hành vi thu thập từ năm 2009 với 20 người Canada tham gia ước tính sự khác biệt được nhận thức của bộ 80 âm thanh tự nhiên, và một bộ dữ liệu fMRI thu thập năm 2016 với năm người Hà Lan tham gia, nghe bộ tập gồm 288 âm thanh tự nhiên khác nhau trong khi chúng tôi ghi nhận những phản hồi fMRI của họ”.  Không cần đến việc thu thập dữ liệu mới trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã có được duwxl liệu để thử nghiệm ba cách tiếp cận mô hình hóa mà họ lựa chọn bằng việc sử dụng dữ liệu thu thập được từ những thực nghiệm trước đó. Cụ thể hơn, họ lập bản đồ các kích thích âm thanh đã có từ những người tham gia trên những mô hình tính toán khác nhau, sau đó đo đạc mức độ để dự đoán cách những người tham gia phản hồi với kích thích và cái gì diễn ra trong họ.  “Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên về mức độ mà các mạng thần kinh sâu chuyển đổi từ âm thanh thành sự kiện do Google phát triển gần đây vượt trội hơn so với các mô hình ngữ nghĩa và âm thanh khác”, Giordano cho biết. “Chúng đã dự đoán được hành vi và dữ liệu fMRI của chúng tôi chính xác thông qua việc lập bản đồ âm thanh trên mạng thần kinh sâu. Nhờ vậy, chúng tôi có thể dự đoán được hành vi của những người Canada tham gia năm 2009 từ phản hồi fMRI của những người Hà Lan năm 2016, ngay cả khi âm thanh họ nghe được hoàn toàn khác biệt”.  Giordano và đồng nghiệp phát hiện ra là các mô hình dựa trên mạng thần kinh sâu còn vượt qua cả phương pháp tính toán dựa trên âm học và kỹ thuật mô tả phản ứng của não đối với âm thanh bằng cách đặt chúng vào các danh mục khác nhau (ví dụ giọng nói, âm thanh đường phố, v.v.). So với các phương pháp tính toán có phần truyền thống hơn này, mạng thần kinh sâu có thể dự đoán được hoạt động thần kinh và hành vi của người tham gia với độ chính xác cao hơn đáng kể.  Dựa trên những quan sát và kết quả do các mô hình dựa trên mạng thần kinh sâu tạo ra, các nhà nghiên cứu đã nêu giả thuyết là não người tạo ra ý nghĩa về âm thanh tự nhiên tương tự như cách não xử lý từ ngữ. Trong khi ý nghĩa của từ được suy ra từ quá trình xử lý các chữ cái, hiện tượng và âm tiết đơn lẻ, ý nghĩa của âm thanh dường như có được từ việc kết hợp một tập hợp khác của các đơn vị cơ bản.  “Chúng tôi đang làm việc trên bộ dữ liệu hình ảnh âm thanh mới để thử nghiệm các giả thuyết cụ thể mà nghiên cứu của chúng tôi đã đặt ra theo hướng những đơn vị cơ bản”, Elia Formisano cho biết thêm. “Chúng tôi cũng đang huấn luyện các mạng thần kinh mới và giống bộ não nhiều hơn để xử lý âm thanh tự nhiên. Ví dụ, đồng tác giả Michele Esposito đã phát triển một mạng thần kinh học sự biểu diễn số của bộ mô tả âm thanh bằng lời nói (sự nhúng ngữ nghĩa), thay vì danh mục sự kiện âm thanh. Mạng lưới này đã được trình bày tại hội nghị quốc tế về Xử lý Âm học, lời nói và tín hiệu (ICASSP) 2023 và vượt qua cả hiệu suất của các mạng thần kinh do Google phát triển trong dự đoán các âm thanh tự nhiên”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-04-deep-neural-networks-natural-brain.html  https://builtin.com/artificial-intelligence/deep-learning-applications  ————————————————  1.https://www.nature.com/articles/s41593-023-01285-9    Author                .        
__label__tiasang Dùng các phương pháp nhóm tái chuẩn hóa để tìm hiểu về cách não xử lý thông tin      Nghiên cứu về khoa học thuật kinh trước đây đề xuất là các mạng thần kinh sinh học trong não có thể tự tổ chức thành trạng thái tới hạn. Trong vật lý, một trạng thái tới hạn là một điểm ghi dấu một chuyển pha giữa các pha trật tự và hỗn loạn của vật chất.    Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Jülich, trường đại học RWTH Aachen và ĐH Sorbonne gần đây đã giới thiệu một lý thuyết có thể giúp giải thích sự tới hạn trong não bộ. Lý thuyết này, được giới thiệu trong một bài báo xuất bản trên Physical Review Letters, dựa trên lý thuyết trường thần kinh dạng mẫu thử, hay còn được gọi là “phương trình Wilson-Cowan ngẫu nhiên”.    “Những công trình trước đây đã đem lại bằng chứng là não vận hành tại một điểm tới hạn”, Lorenzo Tiberi, Jonas Stapmanns, Tobias Kühn, Thomas Luu, David Dahmen, và Moritz Helias – những người thực hiện nghiên cứu này, trao đổi với Phys.org qua email. “Nhưng vẫn còn chưa rõ ràng về việc có bao nhiều dạng có thể của tới hạn của não và có thể khai thác sự tới hạn đó cho tính toán tối ưu như thế nào”.  Để phân loại được các dạng khác nhau của tới hạn, các nhà vật lý đã sử dụng các phương pháp mà người ta gọi là nhóm tái chuẩn hóa (RG). Đó là những cách tiếp cận thông thường có thể sử dụng để tìm hiểu một cách hệ thống về những thay đổi trong một hệ vật lý ở các mức tới hạn.  Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã áp dụng những phương pháp truyền thống và tích hợp chúng với một mô hình trường thần kinh mẫu thử, đầu tiên do Wilson và Cowan đề xuất. Họ đã ứng dụng chúng cho trường khoa học thần kinh để kiểm tra sự tới hạn trong các mạng thần kinh sinh học. “Chúng tôi nghiên cứu các phương trình của Wilson-Cowan với thông số đầu vào ngẫu nhiên, vì vậy mô hình chúng tôi sử dụng không hề mới”, Tiberi, Stapmanns và cộng sự nói. “Tuy nhiên, việc sử dụng các kỹ thuật tái chuẩn hóa khiến chúng tôi tới một kết quả thuần chất”.  Để hoàn thành phần việc tính toán, phần việc nhận thức liên quan đến tính toán, não người cần có đủ khả năng ghi nhớ dữ liệu đầu vào mà nó nhận được, sau đó kết hợp chúng theo những cách phức tạp. Điều này cho phép nó xử lý thông tin và giải quyết được nhiệm vụ tính toán.  “Chúng tôi khám phá là sự tới hạn trong mô hình trường thần kinh Wilson-Cowan là dạng Gell-Mann-Low, giữa tất cả các dạng tới hạn khác, cụ thể là đề xuất một sự cân bằng tối ưu giữa sự ghi nhớ dữ liệu đầu vào và kết hợp nó theo những cách phức tạp”, Tiberi, Stapmanns và đồng nghiệp giải thích.  Sử dụng các phương pháp tái chuẩn hóa, các nhà nghiên cứu đã có thể tìm hiểu các hiệu ứng của những tương tác phi tuyến trong mô hình Wilson-Cowan, vốn đóng vai trò quan trọng để hiểu cách não bộ xử lý thông tin. Đây là một thành công xuất sắc vì các phương pháp trường do các nhóm khác sử dụng trước đây không thể nắm bắt được những hiệu ứng này, cụ thể khi các tương tác đủ manh để định hình động lực não ở cấp độ vĩ mô.  “Chúng tôi chờ đợi các phương pháp tái chuẩn hóa cũng sẽ hữu dụng để nghiên cứu về những quá trình phi tuyến trong các mạng thần kinh”, nhóm nghiên cứu giải thích. “Hơn nữa, chúng tôi rút ra những kết nối với những vùng khác của vật lý: khái niệm tới hạn Gell-Man-Low xuất phát từ lý thuyết trường lượng tử và mô hình Kardar-Parisi-Zhang, vốn liên quan gần gụi với mô hình của chúng tôi, vốn ban đầu được dùng để mô tả phát triển của các giao diện về động lực học”.  Trong tương lai, lý thuyết do nhóm nghiên cứu này giới thiệu có thể dùng để kiểm tra vô số quá trình động lực học của não và thần kinh, vượt ngoài trạng thái tới hạn. Thêm vào đó, nó có thể cuối cùng tiến đến việc sáp nhập về mặt lý thuyết vật lý và khoa học thần kinh.  “Trong não bộ, cường độ của những kết nối giữa các dây thần kinh với nhau biến thiên tới một khoảng mà xấp xỉ đầu tiên cũng có thể được miêu tả là ngẫu nhiên”, các nhà nghiên cứu cho biết thêm. “Chúng tôi hiện giờ lên kế hoạch áp dụng phương pháp của mình để các mô hình thần kinh phản ánh được đặc điểm này và xem ảnh hưởng của nó, nếu có, lên dạng tới hạn mà chúng tôi tìm thấy ra sao”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-05-renormalization-group-methods-brain.html  Using renormalization group methods to study how the brain processes information & More Science News      Author                .        
__label__tiasang Dùng chất thải xử lý chất thải      Các nhà khoa học trẻ thuộc Đại học Khoa học  Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội vừa nghiên cứu thành công phương pháp  xử lý màu nước thải dệt nhuộm bằng kỹ thuật Fenton dị thể sử dụng xúc  tác tro bay biến tính với chi phí giảm thiểu đáng kể.    Xử lý màu nước thải bằng tro bay     Có thể nói, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã, đang và sẽ tiếp tục đem đến những sự đổi thay kỳ diệu trong chất lượng đời sống của con người. Tuy nhiên, cùng với đó tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp đang là một vấn đề đáng báo động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, đời sống sinh hoạt của con người.  Ở Việt Nam, dệt may và điện lực là hai trong số những ngành công nghiệp trọng điểm, giữ những vị trí then chốt, chiến lược quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, do đặc thù sản xuất, mỗi ngành công nghiệp trên lại có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định tới môi trường. Ở ngành dệt nhuộm, vấn đề điển hình nhất là nước thải, trong khi bài toán nan giải của ngành nhiệt điện lại nằm ở vấn đề chất thải rắn – tro bay. Tìm lời giải cho bài toán nước thải, tro bay là những yêu cầu cấp thiết, và cũng là những bài toán nan giải của các nhà quản lý, khoa học của nước nhà.  Về mặt nguyên lý và kỹ thuật, để xử lý nước thải dệt nhuộm, người ta có thể dùng nhiều kỹ thuật khác nhau, trong đó kỹ thuật oxy hóa tiên tiến được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước chú ý bởi nó có khả năng xử lý hoặc tiền xử lý nhiều nguồn thải chứa phẩm màu – đối tượng không hoặc khó phân hủy sinh học, khó xử lý bằng các kỹ thuật thông thường. Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ thuật oxy hóa nằm ở vấn đề chi phí hóa chất. Một trong những hướng đi ưu tiên, gần đây được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu là phát triển một số hệ vật liệu rẻ tiền có khả năng ứng dụng làm xúc tác cho các quá trình Fenton dị thể. Theo hướng này, một số nghiên cứu đã thành công với bùn đỏ, pyrit…  Xuất phát từ yêu cầu thực tế, với sự ủng hộ của Văn phòng Các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ KH – CN, Ths Đào Sỹ Đức – Giảng viên Khoa Hóa học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các đồng nghiệp đã nghiên cứu biến tính tro bay làm xúc tác cho quá trình oxy hóa tiên tiến, ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm, mã số KC.08.TN05/11-15.  Chỉ trong một thời gian ngắn (chưa tới 12 tháng), với sự hỗ trợ của Bộ KH – CN, đề tài đã thành công trong việc đề ra được quy trình xử lý màu nước thải dệt nhuộm sử dụng tro bay biến tính với hiệu suất loại bỏ màu trên 90%.  Ths Đào Sỹ Đức cho biết, đây là nghiên cứu đầu tiên trong nước (và là hướng nghiên cứu rất mới trên thế giới) biến tính tro bay với mục tiêu làm xúc tác, ứng dụng trong mục tiêu phân hủy phẩm màu. Thành công của đề tài mở ra một hướng đi mới, tiềm năng, đó là việc sử dụng tro bay (một loại chất thải đang cần xử lý) để xử lý hiệu quả các nguồn thải khó xử lý, chứa các loại phẩm màu. Điều này góp phần giải quyết đồng thời hai vấn đề môi trường lớn ở hai ngành công nghiệp quan trọng và hoàn toàn đi theo định hướng ưu tiên của Nhà nước trong khía cạnh sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.  Khả năng ứng dụng cao trong thực tế  Đề tài đã tiến hành phân tích, xác định được các thành phần cơ bản của tro bay lấy tại Công ty TNHH Một thành viên Nhiệt điện Uông Bí, Quảng Ninh; nghiên cứu biến tính tro bay bằng các hợp chất của sắt.  Theo đó, các kết quả nghiên cứu cho thấy tro bay hoàn toàn có thể biến tính bằng quy trình đơn giản, sử dụng muối sắt (III) nitrat (hoặc sắt (III) clorua) cho mục tiêu làm xúc tác cho quá trình Fenton dị thể, ứng dụng trong phân hủy phẩm màu, xử lý nước thải dệt nhuộm.  Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở những điều kiện phù hợp, quá trình Fenton dị thể sử dụng tro bay biến tính có thể xử lý hiệu quả nước thải chứa một số loại phẩm màu như Reactive Blue 181, Reactive Blue 182… Điều đáng chú ý, xúc tác sau quá trình xử lý đã được chỉ ra có khả năng thu hồi, tái sử dụng với hiệu quả cao; góp phần hạ chi phí xử lý, giảm thiểu được những ảnh hưởng thứ cấp vốn là hạn chế của các kỹ thuật Fenton đồng thể thường được ứng dụng trong xử lý môi trường. Sản phẩm sau biến tính cũng được chứng minh là có khả năng hấp phụ cao hơn hẳn so với trước biến tính. Nếu tiếp tục được quan tâm, đầu tư, hoàn toàn có thể tin tưởng việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài trong thực tế sản xuất.  Việc sử dụng xúc tác Fenton dị thể sử dụng tro bay biến tính còn khắc phục được một số nhược điểm của kỹ thuật Fenton đồng thể như hạn chế việc hình thành bùn, dễ dàng thu và tái sử dụng xúc tác; ở lần tái sử dụng thứ ba, hiệu quả xử lý màu vẫn đạt xấp xỉ 90% sau khoảng 50 phút xử lý. Chi phí xử lý được giảm thiểu đáng kể khi sử dụng kỹ thuật Fenton dị thể với xúc tác tro bay biến tính.  Đánh giá kết quả đề tài, TS Phương Thảo –  Đại học Khoa học Tự nhiên cho rằng, quy trình công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm bằng kỹ thuật Fenton dị thể sử dụng tro bay biến tính được xây dựng khá hợp lý, các bước vận hành đơn giản và dễ dàng kiểm soát cũng như dễ dàng tối ưu hóa các điều kiện để triển khai ứng dụng thực tế.  Cũng theo TS Phương Thảo, việc sử dụng xúc tác dị thể biến tính tro bay là giải pháp thông minh, vừa góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm tro bay (dùng chất thải để xử lý nước thải), vừa khắc phục được nhược điểm của phương pháp xúc tác đồng thể như hình thành bùn trong quá trình xử lý, lượng lớn sắt mất đi và đi vào môi trường, hay khó khăn trong việc thu hồi và tái sinh xúc tác…  Những kết quả nghiên cứu thử nghiệm ban đầu trên nước thải thực tế cho thấy tiềm năng và hy vọng ứng dụng được những kết quả nghiên cứu của đề tài vào thực tế, đặc biệt là khi có thể xử lý các nguồn thải dệt nhuộm tại nguồn trước khi trộn lẫn với các nguồn thải khác (đặc biệt là nguồn thải sinh hoạt).  Ths Đào Sỹ Đức cho biết, trong giai đoạn tiếp theo, đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu, triển khai nhằm từng bước ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế trong xử lý màu nước thải dệt nhuộm, trước mắt tập trung tại các làng nghề sản xuất các mặt hàng dệt may như Dương Nội, Vạn Phúc (Hà Nội).  Việc triển khai thành công các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hạ chi phí xử lý các nguồn thải mang màu (dệt nhuộm, giấy…) do sử dụng các vật liệu thải (tro bay), rẻ tiền; góp phần bảo vệ môi trường các cơ sở sản xuất có sử dụng phẩm màu. Đồng thời, mở ra một giải pháp tiềm năng cho bài toán tro bay ở các cơ sở sản xuất nhiệt điện; biến tro bay từ một chất thải có ảnh hưởng không tốt tới môi trường và sức khỏe con người thành vật liệu có khả năng ứng dụng trong xử lý các nguồn thải mang màu và một số nguồn thải hữu cơ khác. Đã có 1 bài báo là kết quả của đề tài được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế (ISI) và 6 bài báo được đăng và nhận đăng trên các tạp chí uy tín trong nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng đất làm nghệ thuật      Các nhà địa chất ở California và Wyoming đã sử dụng các bảng màu độc đáo được chế tạo từ đất để truyền thụ kiến thức khoa học.    Các mẫu đất được thu thập ở miền Tây Mỹ cho thấy sự đa dạng của khoáng chất và màu sắc.  Vào tháng chín, khi đám cháy lan ở rừng quốc gia Medicine Bow, Karen Vaughan nhìn khói bay phủ đặc bầu trời Wyoming. Mặt trời chỉ còn là một cái đĩa màu hồng neon mờ đục đằng sau khói mù và Vaughan lo ngại khi nghĩ về địa điểm nghiên cứu trên ngọn núi đang cháy. Một trong những nghiên cứu sinh của cô vẫn còn phải mất vài ngày nữa để hoàn tất công tác thực địa và những ngả đường dẫn đến đó đã bị chặn lại vì quá nguy hiểm.  Gia đình của Vaughan – chồng cô và hai đứa nhỏ – đang ở bên ngoài theo dõi lớp tro bụi mờ xám cuộn theo gió thổi khắp chốn. Tro và những sắc màu rực rỡ luôn khuấy động một cảm xúc kỳ lạ trong con người Vaughan bởi cô vẫn theo đuổi cảm hứng mới từ màu sắc mình tạo ra. Cô bắt đầu nhanh chóng cạo lớp bụi từ mặt đất và khuyến khích con mình thu thập đám bụi mịn đó. Cô quyết định tích hợp tro vào các màu nước với sắc độ phản chiếu màu lửa, lưu giữ vĩnh viễn khoảnh khắc này. Những mẻ bột nho nhỏ này sẽ được gửi đến những người bạn và các nghệ sĩ địa phương, có thể dùng để giúp tạo ra những miêu tả về sức mạnh cường bạo của tự nhiên và cho phép họ sáng tạo. “Khi nhìn ra ngoài trời, anh sẽ thấy những quầng sáng màu cam kỳ lạ”, Vaughan nói. “Anh không thể giúp ngăn lửa cháy nhưng có thể khai thác một phần từ đó”.  Là một giáo sư nghiên cứu về khoa học đất tại trường Đại học Wyoming, Vaughan từng thấy rất nhiều loại đất hơn bất cứ ai khác và tất nhiên biết rõ chúng. Trong nhiều năm tìm hiểu chúng, cô hiểu sâu vẻ đẹp tự nhiên của chúng và sự biến động khôn lường của chúng. Hai năm trước, cô bắt đầu tìm hiểu về một sản phẩm mà cô có thể chia sẻ nó với cả thế giới: đưa những nắm đất mà cô yêu quý thành những loại màu nước. Hiện tại, cô và đồng nghiệp của mình là Yamina Pressler, một nhà khoa học đất tại trường Đại học Bách khoa California, dùng đất để tạo ra màu sắc và các bức họa, bắc cầu cho khoa học và nghệ thuật. Bằng việc chia sẻ cả quá trình sáng tạo và hiểu biết khoa học trên các nền tảng xã hội và kết nối với các nghệ sĩ, nhà khoa học và công chúng, họ hướng đến mục tiêu truyền thụ về khoa học đất một cách thú vị.  Lĩnh vực nghiên cứu của Vaughan là thổ nhưỡng học, tìm hiểu những thay đổi tinh tế và nhanh chóng trong đất. Liệu kích thước hạt đất có thay đổi không? Những màu sắc đó có dễ bị pha vào nhau hay bị đứt đoạn một cách đột ngột? Những sinh vật có trong đất ở mức độ nào? Bản chất tự nhiên của lĩnh vực này mang dấu ấn chủ quan. “Đó là một hình thức nghệ thuật”, cô nói. “Cần phải có một con mắt riêng để nhận thấy những thay đổi thực sự trong lòng đất”.  Công việc nghiên cứu đòi hỏi cô phải nhìn vào các hố khoan sâu, định hình ra những thay đổi tinh tế mà chỉ ít người nhận biết và giải thích nó. Chuyên ngành hẹp của cô là nghiên cứu về nước trong đất: nó có nhiều không? Nó xuất hiện từ khi nào? Nó làm thay đổi tính chất hóa học của đất ra sao? Những đặc điểm cơ bản nào phía sau nó? Nghiên cứu của cô giúp mọi người hiểu về sự hình thành của đất trong những điều kiện riêng biệt như vùng đất ngập nước ở vùng núi Wyoming và cách những loại đất dễ bị tổn thương như tầng đất đóng băng vĩnh cửu có thể phản hồi như thế nào với biến đổi khí hậu.    Bằng việc giải thích với các nghệ sĩ và những người tò mò về việc vô số màu sắc trong đất có thể được tạo ra và chia sẻ chúng thông qua những tác phẩm của chính mình và cả của những nghệ sĩ khác, cô hy vọng sẽ đem lại năng lực để thấy đất đai có nhiều điểm thú vị hơn cả vẻ bề ngoài “bẩn thỉu”.    Với những người không chuyên, quang cảnh ở Wyoming thật buồn tẻ với màu đất nâu vàng. Nhưng đó chính là nơi Vauhgan đang cố gắng tạo ra sự thay đổi thông qua nghệ thuật của mình. Bằng việc giải thích với các nghệ sĩ và những người tò mò về việc vô số màu sắc trong đất có thể được tạo ra và chia sẻ chúng thông qua những tác phẩm của chính mình và cả của những nghệ sĩ khác, cô hy vọng sẽ đem lại năng lực để thấy đất đai có nhiều điểm thú vị hơn cả vẻ bề ngoài “bẩn thỉu”.  Đất, màu và mẫu  Đất, màu và mẫu vải từ những bộ sưu tập mẫu được thu thập ở Wyoming và Utah cho phép người ta nhìn khắp vẻ đẹp tự nhiên dưới sâu của vùng Tây Mỹ.  “Thi thoảng nghệ thuật mở ra cánh cửa cho những người muốn tìm hiểu về khoa học”, theo nhận xét của Laura Guertin, một giáo sư địa chất tại bang Pennsylvania – Brandywine, người cũng muốn mang nghệ thuật vào khoa học, cho cả các sinh viên và cộng đồng của mình, bằng việc đan cài các hồ sơ nhiệt độ và các câu chuyện biến đổi khí hậu. “Việc sử dụng những cái nhìn khác nhau để đưa vào một chủ đề như đất có thể giúp con người hiểu và kết nối”.  Đất thường dễ bị bỏ qua, Guertin nói. “Không có đất, anh không có phần còn lại của các hệ thống trên Trái đất. Đó là một vật liệu rất cơ bản, đó là vấn đề cơ bản của hệ thống lương thực, thực phẩm của chúng ta”.  Vaughan bắt đầu tạo ra các màu vẽ như một cách làm thú vị để gắn kết với những đứa con của mình, một lên bảy và một lên chín, và giữ cho chúng khỏi chúi mũi vào máy tính hay điện thoại. Chúng thu thập mẫu cùng với cô, và giúp trộn chất màu và sơn. Nhưng nguyên nhân chính của việc cô tạo các chất màu là để chia sẻ cái nhìn về vẻ đẹp vốn có của đất với công chúng. “Tôi tìm thấy tất cả những màu sắc đẹp kỳ diệu của đất”, Vaughan nói, “và tôi muốn làm điều gì đó với chúng. Tôi muốn chúng tồn tại lâu hơn”.  Vaughan thu thập các mẫu đất để làm các chất màu ở hầu hết mọi nơi mình đặt chân tới, từ đất được lấy từ một vùng đất ngập nước trên núi cao đến mẫu than nằm dưới sân sau nhà mình. Ngay cả trong một chuyến đi chơi cùng gia đình tới Florida, cô cũng đeo một ba lô nhỏ để thu thập đất ở mọi đểm dừng, với mục tiêu tạo ra một bảng màu phản chiếu ký ức. Trong thời kỳ đại dịch, cô đã cùng con đi xe đạp đến một nơi gần nhà vì muốn tìm màu mới cho dải cầu vồng mong ước. Cô có một bảng màu gồm đỏ, nâu, cam, trắng, vàng và tía. Và dĩ nhiên là cô đã có bảng ba màu từ cuộc cháy rừng tháng chín.  Các màu từ đất ở Wyoming được nghệ sĩ Tina Pressler dùng để tạo ra một con bò bison với những mảng màu rực rỡ.  Vaughan đã phân phát những màu được làm từ bụi tro với các nghệ sĩ địa phương và vài khách hàng để tạo ra những tác phẩm về cuộc cháy rừng. Tina Pressler, nữ nghệ sĩ ở California và mẹ của Yamina, vẽ một con bò bison châu Mỹ với nhiều mảnh ghép lại với nhau, và Bethann Merkle, một nghệ sĩ Wyoming và một nhà truyền thông khoa học, tạo ra một bộ gồm ba bức họa trừu tượng về khung cảnh rừng cháy. Những màu chứa tro bụi kết lại thành dòng chảy và cho nó sức nặng, Tina nói. “Việc đưa thêm tro vào khiến mọi thứ thật hơn và tôi yêu nó”.  Bước đầu tiên của quá trình xử lý để tạo màu từ đất của Vaughan là loại bỏ các phần chứa cát khỏi đất, chỉ để lại mỗi bùn mịn và đất sét trộn với nước, sau đó cho vào lò trong vài giờ. Sau khi nước bốc hơi hết, đất khô cong và nứt nẻ như một miếng bùn sau một đợt hạn mùa hè. Vaughan nghiền bùn thành một thứ bột mịn và đồng nhất, sau đó phối trộn với một màu nước trung gian – một hỗn hợp nước, gum arabic, mật ong và glycerin thực vật. Chỉ khi đó mới có thể biết được màu cuối cùng là gì. “Anh có thể khởi động với một mẫu đất màu xanh kỳ lạ nhưng đột nhiên nó trở thành màu xanh trắng đục”, Vaughan nói. “Luôn luôn là một màu mà tôi chưa từng biết trước đây, nó thật kích thích”.  Nghe đất kể chuyện  Màu sắc đến thẳng từ phần địa chất của đất: đỏ sáng và cam nghĩa là đất đã được khai phá đến các hiệu ứng ô xy hóa của khí hậu hoặc tác động của thời gian hoặc cả hai. Nâu sẫm và đen cho thấy giàu vật chất hữu cơ, phản chiếu một chu trình của sự sống tại bề mặt Trái đất. Các màu sáng hơn là kết quả của các khoáng chất với những nguyên tố đặc biệt; sự hiện diện của đồng thêm vào tạo ra màu xanh lục và xanh lá cây cho các khoáng chất, lưu huỳnh tạo ra màu vàng sáng và măng gan tái hiện màu tía nhạt. Màu trắng có nghĩa là a xít từng nhỏ giọt xuống đất từ một cây thông hoặc tro từng lan tràn khắp mặt đất giống như cách Vaughan từng thu thập vào tháng chín. “Mọi thứ đều có một câu chuyện của nó”, Guertin nói. “Những gì đã diễn ra trong quá khứ? Những màu này đến từ đâu? Những vật chất gì trao cho chúng ta màu sắc đó? Tôi yêu cách Vaughan nói về khoa học đất và chứng tỏ là có thể phá vỡ các vật chất đó để đem lại các màu sắc”.  Vaughan miêu tả bộ sưu tập đất của mình, quá trình nghệ thuật của mình và khoa học trong mỗi loại đất trên Instagram, nơi cô trả lời những câu hỏi về hóa học, vị trí và địa chất. Thi thoảng có các nghệ sĩ gửi các câu hỏi về khoa học trong việc tạo màu sắc nhưng nhiều người cũng quan tâm đến việc học hỏi về thế giới tự nhiên. Thậm chí để trả lời về những chi tiết mọi người muốn, cô sẽ gửi cả những bài báo khoa học cho họ. Do nhiều người quan tâm thật sự đến đất, Vaughan lập kế hoạch sẽ kể một câu chuyện về mỗi bảng màu.  Những kết nối của Vaughan với các nghệ sĩ thi thoảng trở thành một cơ hội làm việc với nhau. Diana Baumbach, một nghệ sĩ ở Wyoming hợp tác với Vaughan từ vài năm nay, yêu thích việc nhà khoa học này săn tìm các vật liệu tự nhiên, bao gồm đất. “Trước đây tôi chưa từng nghĩ về đất như một loại vật liệu nghệ thuật”, Baumbach nói. “Việc nhìn vào các hồ sơ đất với Vaughan hoàn toàn mới với tôi. Chúng tôi cùng lôi kéo nhau bước vào lĩnh vực của mình, tôi nghĩ chúng hoàn toàn khác biệt với nhau. Và cuối cùng thật ngạc nhiên là có biết bao giao điểm tồn tại giữa công việc của tôi và cô ấy”.  Sức hút từ tự nhiên  Pressler kết nối với công chúng qua mạng xã hội. Cô tổ chức các buổi vẽ trực tiếp trong “xưởng vẽ nghệ thuật từ đất ảo” trên Instagram, mời những người làm đủ mọi ngành nghề tham gia để tập trung vào tìm hiểu sự sáng tạo nghệ thuật từ đất ở nơi họ sống. Các buổi trao đổi kéo dài hai giờ đồng hồ này dành cho cả người lớn và trẻ em, nhà khoa học và những người tò mò.  Tatiana Prestininzi, người tốt nghiệp ngành khoa học nông nghiệp nhưng lại chưa từng quan tâm đến khoa học đất, giờ đem cả mấy đứa cháu tới theo dõi các buổi giảng của Pressler. “Không chỉ bổ ích ở khía cạnh nghệ thuật mà còn ở khía cạnh khoa học nữa”, cô nói. “Không chỉ có những người ở lứa tuổi 15 đến 30 theo dõi của Instagram mà còn có cả những ‘học trò’ lên 5 và 7 tuổi. Giờ tôi có thể cùng đứa cháu 9 tuổi lang thang khắp San Diego và cùng trao đổi về những loại đất mà nó nhìn thấy. Nó cũng hỏi cả về việc vẽ và gửi tác phẩm tới ‘tiến sĩ đất’”.  Thông qua nhánh nghệ thuật và giáo dục của cả Vaughan và Pressler, các nhà khoa học hướng đến việc trao lại cho mọi người những xúc cảm của trẻ thơ khi đào xới mặt đất bẩn thỉu và kinh ngạc về thế giới xung quanh mình. Quá trình tìm màu trong đất của Vaughan có đem lại cảm giác về một trò chơi và nó thực sự dễ lan truyền, Baumbach nói. Và khi Pressler vẽ bằng màu từ đất, cô cũng có được những nét vẽ ngoằn ngoèo kỳ dị phản xạ xúc cảm của mình về đất, điều cô chia sẻ qua các buổi giảng trên Instagram cùng với những câu chuyện khoa học đằng sau chúng.  Việc khai thác khía cạnh nghệ thuật giúp Vaughan tái tưởng tượng những gì có thể truyền thụ về khoa học đất trong trường đại học. Cô nhận được những bản phác thảo của sinh viên và cũng thường yêu cầu họ vẽ bằng màu đất. Việc hợp tác với Baumbach đem cả hai đến việc “lai chéo” khoa học và nghệ thuật nhiều hơn, với Baumbach là mang nghệ thuật của mình tới sinh viên và khoa học trong phòng thí nghiệm của Vaughan tới nói về màu sắc. Vaughan cũng thuyết trình trong các bài giảng về vật liệu nghệ thuật của Baumbach. “Thực sự là những điều cơ bản như quan sát và phân tích đều là điều cốt lõi của công việc mà chúng tôi làm, và chúng tôi truyền đạt thông qua các vật liệu và hình thức hiển thị”, Baumbach nói. “Các sinh viên mới chỉ bắt đầu nghĩ rộng ra hơn về các vật liệu, vì vậy được nghe nói về đất như một vật liệu thô cũng thực sự thú vị với họ”.  Để thuyết trình về khoa học đất và sự sống như một nhà nghiên cứu tại các trường học và bảo tàng, Pressler đã làm việc với các giảng viên, trao đổi với họ về lĩnh vực thổ nhưỡng để họ có trải nghiệm với đất. “Sau đó họ có thể tới cùng học trò và nói về đất đai và sinh thái, về quá trình diễn ra trong đất từ góc nhìn của mình”, Pressler nói. “Nó có nhiều ý nghĩa với học trò”.  Michelle Bartholomew, một giáo viên giảng về khoa học ở trường phổ thông, tóm ngay lấy cơ hội cùng với Pressler thực địa ở Colorado và Alaska. Họ cùng nhau phat triển các bài giảng về khoa học đất, làm ít màu vẽ và nghiên cứu về đất. “Đó là điểm nhấn trong quãng thời gian tôi làm việc với cô ấy, trên từng mẫu đất lấy ở lãnh nguyên”, Bartholomew nói. “Đó cũng là khoa học phải không? Ngay cả quá trình giảng dạy về khoa học trước đây, tôi chưa từng làm theo cách này. Nó làm tôi cảm thấy trẻ lại… và trao cho tôi nhiều cách mới về giảng về những khái niệm cũ”.  Pressler và Vaughan tin vào điều quan trọng của việc hình thành các mô hình sẽ phá vỡ sự chia cắt trong các ngành khoa học ngày nay. “Nó cũng chứng tỏ những người trẻ sẽ có nhiều cách để trở thành một nhà khoa học”, Pressler nói, “Ai cũng có những màu sắc khác nhau, có thể khám phá những phần khác nhau mà trí tò mò gợi mở và trở thành một nhà khoa học”.  Vaughan nói “Giờ đây tôi cảm giác là chúng tôi hầu như đã hoàn toàn trở thành một nghệ sĩ trong khi vẫn là một nhà khoa học, và ngược lại”.□  Anh Vũ dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/meet-western-soil-scientists-using-dirt-make-stunning-paints-180976796/    Author                .        
__label__tiasang Dùng dịch chiết vỏ trái ca cao làm tác nhân khử và ổn định cho quá trình tổng hợp nano đồng      Sử dụng dịch chiết vỏ quả ca cao làm tác nhân khử và ổn định cho quá trình tổng hợp nano đồng có thể thay thế cho các phương pháp hóa học và vật lý tốn kém khác; đồng thời giải quyết được một phần lượng phế phẩm của cây ca cao.    Theo nhiều nghiên cứu, hạt nano đồng có nhiều tính năng ưu việt không thua kém nano bạc hay vàng. Bên cạnh đó, đồng còn được biết đến là chất xúc tác có hoạt tính cao trong quá trình ô xy hóa các khí gây ô nhiễm nói chung và các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) nói riêng. Đồng lại là kim loại khá dồi dào, phổ biến, và dễ tìm thấy trong tự nhiên.  VOCs là một trong những nguyên nhân chủ yếu góp phần vào sự thay đổi khí hậu. Mặt khác, các VOCs thơm như benzene, toluene và xylene có thể gây ung thư và bệnh bạch cầu khi tiếp xúc lâu dài. Nano đồng được xem như một trong những xúc tác tốt, có hiệu quả cao nhất cho quá trình oxy hóa xử lý các VOCs. Chính vì vậy, hạt CuNP đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu.  Hiện có nhiều phương pháp để tổng hợp CuNP như hủy nhiệt, hóa học, sinh học, vật lý,… Trong đó, phương pháp khử hóa học thường được sử dụng khá phổ biến do hiệu suất cao, dễ thực hiện. Tuy vậy, trở ngại của phương pháp này là thời gian phản ứng dài, ở nhiệt độ quá cao, lượng chất khử còn dư có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Để khắc phục hạn chế đó, phương pháp sử dụng dịch chiết các loại thực vật làm chất khử, được xem an toàn, chi phí thấp, không sử dụng đến hóa chất.    Vỏ trái ca cao đang hiện chưa được xử lý triệt để. Ảnh: Internet  Vỏ trái ca cao là một phụ phẩm của cây ca cao, chiếm 60% khối lượng trái, mỗi hecta ca cao thải ra từ 5 – 8 tấn/năm. Sau khi thu hoạch lấy hạt, một phần nhỏ vỏ trái được đem phơi khô để đốt, phần lớn còn lại bị đổ xuống sông, hoặc bỏ trở lại gốc của nó cho phân hủy tự nhiên. Tuy nhiên, nếu không xử lý tốt, thì đây là môi trường cho nhiều loại sâu bệnh hại phát triển, lây lan do vỏ trái chứa nhiều thành phần dinh dưỡng.  Hiện nay, người dân trồng ca cao đang lúng túng trong việc xử lý lượng vỏ thừa này. Trong khi đó, chiết xuất từ vỏ trái ca cao chứa nhiều chất dinh dưỡng và các thành phần như asparic acid, alanine, glumatic acid, flavonoid, polyphenol. Các thành phần này rất phù hợp để sử dụng làm chất khử mang lại hiệu quả cao cho quá trình tổng hợp CuNP.  Trước thực tế đó, nhóm nghiên cứu ở Viện Công nghệ hóa học đã thực hiện đề tài “Sử dụng dịch chiết vỏ quả ca cao để tổng hợp nano đồng có hoạt tính cao oxy hóa sâu VOCs”.  Theo đó, nhóm tác giả đã xây dựng quy trình công nghệ tổng hợp CuNP bằng phương pháp hóa học xanh, với nguyên liệu là CuA(NO3)2 (đồng nitrat), sử dụng dịch chiết vỏ ca cao làm tác nhân khử. Các hạt CuNP tổng hợp được có dạng hình cầu, kích thước đồng đều 30 – 40nm. Thử nghiệm hoạt tính xúc tác của CuNP bằng việc ô xy hóa sâu benzen trong khoảng nhiệt độ từ 275 – 450 độ C. Kết quả cho thấy, độ chuyển hóa benzen đạt trên 90%. Ngoài ra, CuNP còn có khả năng ức chế các vi khuẩn E.coli và Salmonella.  Theo ThS Nguyễn Phụng Anh, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, sử dụng dịch chiết vỏ quả ca cao làm tác nhân khử và ổn định cho quá trình tổng hợp CuNP giúp tạo ra được những hạt nano đồng sạch, có thể thay thế cho các phương pháp hóa học và vật lý tốn kém khác, đồng thời giải quyết được một phần lượng phế phẩm của cây ca cao hiện nay.  Kết quả đề tài đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm nay.  KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng gel từ tảo nâu và polime hòa tan để bảo vệ mô hiến tặng      Các nhà khoa học Thụy Sĩ đã giải quyết thành công tình trạng các mô cấy ghép bị hệ miễn dịch tấn công và đào thải bằng cách sử dụng một loại hydrogel bảo vệ, được bào chế trên cơ sở natri alginate từ tảo nâu và các polymer hòa tan trong nước để bọc mô hiến tặng. Thành tựu này giúp giải quyết luôn tình trạng thiếu mô hiến tặng trong cấy ghép nội tạng và loại trừ việc phải dùng thuốc ức chế miễn dịch sau cấy ghép.      Với sự giúp đỡ của Natalia Giovannini ở Văn phòng chuyển giao công nghệ (bên trái), hydrogel do Nhóm vật liệu sinh học chức năng phát triển và Sandrine Gerber thử nghiệm, đã được cấp bằng sáng chế – Ảnh: Alain Herzog  Theo Mirage News, từ lâu y học vẫn phải giải quyết tình trạng các mô cấy ghép bị hệ miễn dịch tấn công và bị đào thải.Vì vậy, mô cấy ghép phải đấu tranh để sinh tồn trong môi trường ký chủ. Điều này đã dẫn đến sự thiếu hụt mô cấy ghép phù hợp cho bệnh nhân có các tế bào và các cơ quan rối loạn chức năng, khiến các nhà nghiên cứu đưa ra các chiến lược thay thế. Một ý tưởng mà một số đội nghiên cứu đã làm việc trong những năm gần đây là bọc tế bào hiến tặng, và thậm chí cả tế bào động vật, bằng một loại gel bán thấm để bảo vệ khỏi bị tấn công, và có nghĩa là bệnh nhân có thể nhận được mô hiến mà không cần phải dùng thuốc ức chế miễn dịch.  Mới đây, các nhà khoa học Thụy Sĩ đã tìm ra cách khắc phục tình trạng đào thải mô cấy ghép qua thử nghiệm với các tế bào tuyến tụy (pancreatic islet cell). Họ đề xuất sử dụng một loại hydrogel bảo vệ, được bào chế trên cơ sở natri alginate từ tảo nâu và các polymer hòa tan trong nước.  Gel hoạt động như một bộ lọc chọn lọc, ngăn chặn các tế bào của hệ miễn dịch và kháng thể, nhưng lại cho phép oxy và các phân tử khác đi qua theo cả hai hướng. Điều này cho phép chuyển hóa tế bào diễn ra bình thường và các tế bào sống sót. Gel cũng cho phép các tế bào tiết ra các sản phẩm phụ trong quá trình trao đổi chất như insulin, mở ra những ứng dụng đầy hứa hẹn để điều trị bệnh tiểu đường thể 1.  Gel tạo thành một cái kén mềm và về mặt cơ học, giúp bảo vệ các tế bào cấy ghép, đồng thời hạn chế tình trạng viêm trong cơ thể, vì viêm cản trở hoạt động của mảnh cấy ghép và thúc đẩy sự hình thành mô sẹo.  Hiện công nghệ đã được chuyển giao cho Cell-Caps SA, một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Geneva chuyên về điều trị bệnh tiểu đường do các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Geneva, Thụy Sĩ, thành lập.  Vũ Trung Hương (Motthegioi)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng hỗn độn để phát hiện trật tự      Các nhà nghiên cứu của Đại học Twente, Hà Lan, đã phát triển một mạng lưới thần kinh nhân tạo lấy cảm hứng từ não người có khả năng tiết kiệm năng lượng và hoạt động ở nhiệt độ phòng.      Cấu trúc pha tạp Bo nhìn từ trên xuống (ảnh quyét bằng kính hiển vi điện tử) và nhìn ngang. Nguồn: Đại học Twente  Dựa trên công nghệ silicon, họ đã phát triển được mạng lưới đặc biệt này. Với cơ chế dẫn truyền “nhảy cóc”, hệ thống có thể tự tìm đến giải pháp mà không cần sử dụng các cấu phần thiết kế trước như cách vận hành thông thường. Nghiên cứu “Classification with a disordered dopant atom network in silicon” (Phân loại với việc dùng mạng nguyên tử pha tạp hỗn độn trên nền tảng silicon) được xuất bản trên tạp chí Nature.  Một mạng lưới hỗn độn có khả năng phát hiện ra các khuôn mẫu trật tự, nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng lại rất gần với cách não người hoạt động. Bộ não có khả năng nhận dạng khuôn mẫu rất tốt. Trong một vài trường hợp, trí tuệ nhân tạo có khả năng làm tốt hơn nhưng cái giá đi kèm là công suất tính toán khổng lồ, trong khi não bộ chỉ tiêu thụ năng lượng tầm 20 watt. Ngành công nghiệp bán dẫn hiện đang áp dụng các chiến lược thiết kế máy tính mới lấy cảm hứng từ chức năng não bộ, chẳng hạn bộ xử lý Loihi của Intel có các neuron và khớp thần kinh. Tuy nhiên, việc bắt chước một tế bào thần kinh cần tới hàng ngàn bóng bán dẫn, trong khi đó bộ não có tới hàng chục tỷ tế bào thần kinh. Người ta nghĩ đến cách tiếp cận tiểu hình hóa linh kiện (miniaturization) nhưng công nghệ này đang đạt đến giới hạn vật lý.  Bài báo về mạng nguyên tử pha tạp hỗn độn mới đăng trên Nature sử dụng cách tiếp cận hoàn toàn khác: thay vì dùng các neuron hoặc mạng điện tử được thiết kế trước, các nhà khoa học dùng các thuộc tính vật liệu. Cách tiếp cận này vừa tiết kiệm được năng lượng vừa không chiếm nhiều bề mặt không gian của vật liệu.  Trong lĩnh vực điện tử, việc pha thêm tạp chất vào mạng tinh thể silicon ở nồng độ đủ cao là cách làm phổ biến để tạo ra các tính chất mới của bóng bán dẫn. Trong trường hợp này, nồng độ nguyên tố Bo (B) thấp trong vật liệu sẽ dẫn đến trạng thái nhiều nhà thiết kế muốn tránh nhưng đó chính là cách để mạng lưới hỗn độn hoạt động hiệu quả nhất với cơ chế “nhảy cóc” – các electron nhảy từ nguyên tử Bo này sang nguyên tử Bo khác, tạo ra việc truyền điện – tương tự như việc tế bào thần kinh liên kết để phân loại thông tin. Chẳng hạn, mạng lưới thần kinh được cung cấp 16 mẫu cơ bản gồm bốn chữ số và mỗi mẫu tạo ra một tín hiệu đầu ra khác nhau. Với hệ cơ số 16 này, người ta có thể nhận biết một cơ sở dữ liệu chữ viết tay với tốc độ và độ chính xác cao. Các mẫu cơ bản hiện có đường kính 300 nanomet, chứa khoảng 100 nguyên tử Bo và tiêu thụ khoảng 1 microwatt năng lượng.  Trong các hệ thống tương lai sử dụng loại mạng hỗn độn này, việc nhận dạng mẫu có thể được thực hiện trong phạm vi nhỏ mà không cần sử dụng năng lực tính toán từ xa. Chẳng hạn với xe tự lái, để đưa ra quyết định chúng cần nhận diện các đối tượng trên đường. Điều này đòi hỏi một hệ thống máy tính có khả năng tích hợp hoặc kết nối đám mây băng thông cao, thậm chí là cả hai. Nhưng với cách tiếp cận này thì chỉ cần truyền tải ít dữ liệu hơn. Ngành công nghiệp sản xuất ô tô đã quan tâm đến phương pháp mới của Đại học Twente. Loại điện toán biên này cũng có thể sử dụng để phát hiện khuôn mặt.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-01-brain-like-network-disorder.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng kính hiển vi điện tử mới để đo đạc các tương tác van der Waals yếu      Một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học Trung Quốc, Hà Lan và Saudi Arabia đã sử dụng một loại kính hiển vi điện tử mới để đo đạc các tương tác van der Waals yếu. Trong bài báo xuất bản trên Nature, nhóm nghiên cứu này đã miêu tả việc sáng tạo ra cái mà theo họ như một la bàn phân tử để đo các tương tác van der Waals yếu. Kính hiển vi này được phát triển tại Hà Lan.      Các lực van der Waals là các lực tĩnh điện giữa các phân tử không tích điện – chúng tăng lên tùy thuộc vào sự tương tác giữa các moment lưỡng cực điện – đo đạc chúng đòi hỏi một cách cụ thể việc sử dụng các thiết bị có độ phức tạp cao. Trong nỗ lực này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một cách mới để đo đạc những tương tác của chúng bằng việc sử dụng thiết bị ít phức tạp.  Công trình này đã được thực hiện bằng một dạng kính hiển vi điện tử mới do một nhóm nghiên cứu Hà Lan sáng tạo ra. Được gọi một cách chính thức la kính hiển vi điện tử quét truyền qua tương phản pha cấu vi sai tích hợp (integrated differential phase contrast scanning transmission electron microscopy), công nghệ mới này đem lại cho các nhà khoa học những hình ảnh ở cấp độ nguyên tử sử dụng dữ liệu hình ảnh, vốn đem lại những kết quả với các tỉ lệ tín hiệu so với nhiễu cao hơn. Điều này nghĩa là các mức electron nhỏ hơn có thể được sử dụng hơn so với những kính hiển vi điện tử khác.  Để đo đạc các tương tác van der Waals, các nhà nghiên cứu đã dùng ZSM-5, một dạng zeolite có các vòng hạt nhân oxygen và silicon liên kết  xung quanh các lỗ trong những phiến tinh thể. Họ xếp phần lớn các phiến đó chồng lên nhau, sắp xếp theo một cách tạo ra những kênh nhỏ. Sau đó, họ đặt các phân tử para-xylene vào các kênh bằng việc sử dụng một máy ly tâm. Sau đó, họ sử dụng các phân tử para-xylene như một cái kim trong một dạng la bàn. Họ lưu ý rằng việc chuyển các phân tử liên quan với các nguyên tử oxygen và silicon chỉ dấu những thay đổi trong những tương tác van der Waals yếu. Họ đo đạc sự chuyển hướng đó bằng việc sử dụng những năng lực hình ảnh của kính hiển vi điện tử mới.  Các nhà nghiên cứu thử nghiệm kỹ thuật của họ bằng việc so sánh những thay đổi trong định hướng ở các kim para-xylene với những thay đổi về hình dạng trong các vòng tròn. Họ đề xuất kỹ thuật của mình có thể hữu dụng để tối ưu những ứng dụng như những thứ liên quan đến chuyển đổi cồn thành xăng.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-kind-electron-microscopy-weak-van.html  https://www.chemistryworld.com/news/molecular-compass-traces-van-der-waals-interactions-within-a-zeolite/4013621.article    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng kỹ thuật hạt nhân kiểm soát sâu bệnh và bệnh sốt rét      Tại Nam Phi, nhiều sáng kiến sử dụng kỹ thuật hạt nhân kiểm soát dịch bệnh đang bước vào giai đoạn nghiên cứu nâng cao nhằm đưa ra một giải pháp hiệu quả góp phần kiểm soát bệnh sốt rét cũng như sâu đục thân mía.      Biểu đồ hiển thị khu vực trồng mía đường và khu vực bị ảnh hưởng bởi bệnh sốt rét  Với sự hỗ trợ của IAEA và Tổ chức Lương thực – Nông nghiệp (FAO) của Liên hợp quốc, nhiều dự án áp dụng kỹ thuật hạt nhân đã kiểm soát thành công sự phát triển của loài bướm cam châu Phi, một loại côn trùng chuyên phá hoại cam và các cây thuộc chi cam chanh khác.  “Do đã tận mắt thấy những hiệu quả vô cùng ấn tượng của kỹ thuật triệt sản côn trùng (sterile insect technique SIT) trên cây chanh, chúng tôi đang nỗ lực phát triển một giải pháp tương tự để giải quyết loài bướm Eldana”, Des Conlong, nhà côn trùng học tại Viện nghiên cứu Mía Nam Phi (SASRI), và quản lý dự án, cho biết.  Bướm Eldana đẻ trứng trên cây mía và khi ấu trùng nở, nó đục lỗ trên thân mía để hút dịch, do đó làm ảnh hưởng đến vụ mùa. Từ những năm 1970, bướm Eldana đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng mía đường Nam Phi, còn hiện tại, mỗi năm nó làm mất đi khoảng 750 triệu rand (48 triệu đô la), tương đương với 10% tổng thu nhập của ngành mía đường, bao gồm gần 22.000 nông dân, từ các nông dân sản xuất quy mô nhỏ đến quy mô trang trại.  Kỹ thuật SIT là một hình thức kiểm soát côn trùng bằng việc sử dụng chiếu xạ ion hóa để triệt sản côn trùng với liều lượng thích hợp tại các cơ sở chuyên biệt. Côn trùng bị chiếu xạ được thả vào các khu vực bị sâu hại tàn phá và giao phối với côn trùng tự nhiên, sau đó con cái vẫn đẻ trứng nhưng trứng sẽ không nở do ảnh hưởng của tia gamma. Theo cách này, kỹ thuật SIT có thể trừ khử được côn trùng và trong nhiều trường hợp thường diệt trừ được cả quần thể côn trùng. Là một trong những phương pháp thân thiện với môi trường, SIT thường được áp dụng trên những diện tích cây trồng lớn như một phần không thể thiếu trong các chiến dịch kiểm soát các loại côn trùng gây hại mùa màng. Hiện nhóm hợp tác về sử dụng kỹ thuật hạt nhân trong lĩnh vực Lương thực và nông nghiệp FAO/IAEA (Joint FAO/IAEA Division of Nuclear Techniques in Food and Agriculture) nỗ lực đi đầu trong nghiên cứu về SIT.  Kiểm soát Eldana   SASRI đã giới thiệu nhiều phương pháp để kiểm soát sự sinh sản của loài bướm Eldana trong nhiều thập kỷ qua nhưng không có giải pháp nào đem lại kết quả như mong muốn. Dẫu cho nhiều giống mía có khả năng kháng sâu bệnh đã được tìm ra nhưng lại ít được nông dân chọn bởi họ thường thích giống ít kháng bệnh nhưng năng suất cao hơn. Người ta cũng có thể dùng thuốc trừ sâu để diệt sâu bệnh trên những diện tích lớn nhưng giá thuốc lại quá đắt với các hộ tiểu nông. Việc sử dụng một biện pháp sinh học khá phổ biến như đưa các loài ký sinh vào tấn công vòng đời của bướm cũng không có tác dụng bởi vì các loài ký sinh không coi cây mía như môi trường sống chung của nó với bướm Eldana nên không quay sang tấn công bướm, Conlong giải thích.    Nhộng của loài bướm Eldana phá hoại cây mía đường   Conlong và cộng sự đã chứng tỏ rằng bướm Eldana có thể bị triệt sản bằng phóng xạ tia gamma mà không ảnh hưởng đến bản năng giao phối của chúng. “Tất cả các nghiên cứu của chúng tôi đều chỉ ra rằng SIT là một giải pháp hoàn hảo”, Conlong cho biết. Họ đã xây dựng một hệ thống xử lý và nuôi dưỡng côn trùng để thực hiện các kỹ thuật chiếu xạ. Bước tiếp theo, họ chờ đợi một cuộc thử nghiệm trên một khu vực riêng biệt trồng mía rộng 5 ha bị loài Eldana tàn phá ở tỉnh KwaZulu-Natal. Với dự án này, cần mua một chiếc máy chiếu bức xạ trị giá khoảng 8 triệu rand (500.000 đô la). “Vài năm qua ngành mía đường đã bị khốn đốn bởi hạn hán kéo dài, dẫn đến việc thiếu kinh phí thực hiện dự án’, ông kể và cho biết thêm, hiện chính quyền Nam Phi cũng đang chuẩn bị cấp một phần kinh phí để mua máy chiếu xạ cho dự án.  Diệt trừ bệnh sốt rét   SASRI còn chờ đợi được tham gia cùng Viện nghiên cứu bệnh truyền nhiễm quốc gia (NICD), nơi đang hy vọng dùng kỹ thuật SIT để diệt trừ những tác nhân của bệnh sốt rét – các con muỗi mang mầm bệnh ở vùng đông bắc đất nước, nơi có khoảng 10% cư dân Nam Phi sinh sống.  Nhờ những biện pháp kiểm soát bệnh sốt rét khác, số lượng các ca mắc bệnh sốt rét đã giảm từ 60.000 ca từ năm 2000 xuống còn 9.000, nhưng cũng khó có thể giảm hơn được nữa số ca mắc bệnh cũng như số lượng các loài côn trùng mang ký sinh trùng gây bệnh nếu chỉ sử dụng phương pháp truyền thống là phun thuốc trong nhà, Lizette Koekemoer, người đang điều hành dự án về bệnh sốt rét tại NICD, cho biết. Vấn đề là ở chỗ muỗi Anopheles, vật trung gian mang ký sinh trùng và là tác nhân chính làm lây bệnh ở người, trú ngụ cả ở trong và ngoài nhà. Vì vậy, dẫu cho bị diệt hết trong nhà thì muỗi vẫn còn nhiều cơ hội sống sót và lây lan bệnh sốt rét.  Với sự hỗ trợ của IAEA và FAO trong vòng 5 năm, NICD đã nghiên cứu cách ứng dụng kỹ thuật SIT để kiểm soát loài muỗi Anopheles. IAEA cung cấp các thiết bị phục vụ chiếu xạ và nuôi dưỡng côn trùng và cùng với FAO, tập huấn các nhà nghiên cứu của NICD trong các phòng thí nghiệm của IAEA ở Áo về việc cung cấp chất dinh dưỡng, nuôi dưỡng và triệt sản bằng tia gamma, Lizette Koekemoer cho biết. Việc tham gia mạng lưới các nhà nghiên cứu về SIT quốc tế đã giúp cho các thành viên của NICD học hỏi rất nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật SIT. “Thay vì tự lần mò thử nghiệm, việc trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế giúp chúng tôi rút ngắn được thời gian nghiên cứu hơn”, bà đánh giá.  NICD đã có khả năng xác định được liều lượng phóng xạ phù hợp với việc bất dục muỗi mà không làm chúng chết hoặc ảnh hưởng đến bản năng giao phối của chúng, nhà nghiên cứu Givemore Munhenga cho biết. Họ hiện đang tập trung vào việc kiểm soát muỗi đực bị bất dục cũng như tìm kỹ thuật thích hợp để phân loại con đực khỏi đàn. Việc phân loại này là vấn đề chính trong trường hợp loài muỗi: chỉ muỗi cái mới là vật truyền dịch bệnh và vì vậy việc loại muỗi đực không chỉ làm giảm nguy cơ tăng lượng muỗi trong tự nhiên mà còn làm giảm khả năng lây lan bệnh sốt rét.  Thông qua việc hợp tác với Sáng kiến Kỹ thuật hạt nhân trong y tế và khoa học sinh học (NTeMBI), NICD đã có thêm kinh phí để xây dựng một cơ sở xử lý côn trùng ở gần Johannesburg, qua đó thực hiện một dự án thử nghiệm về bất dục muỗi tại một ngôi làng ở phía bắc KwaZulu-Natal. Kinh phí còn được bổ sung từ Tổng công ty phát triển công nghiệp Nam Phi bởi ngoài việc giải quyết điểm nóng bệnh sốt rét, chương trình còn có thể giúp xử lý cả loài bướm Eldana. “Với việc gia nhập dự án của SASRI, chúng tôi có thể đánh bại được cả hai loài côn trùng gây hại bằng một phương pháp”, Koekemoer nói.  Ông Michel Warnau, phụ trách Ủy ban hợp tác kỹ thuật khu vực châu Phi của IAEA cho biết, IAEA ủng hộ sự hợp tác này và đang tìm cách tốt nhất để thiết lập cơ sở chiếu xạ. “Nam Phi đã áp dụng thành công kỹ thuật SIT trong việc kiểm soát một số loài côn trùng và thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, IAEA sẵn sàng hỗ trợ họ nhiều hơn nữa để thực hiện những giải pháp ở tầm quốc gia”.   IAEA đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện một dự án tương tự, “Xử lý côn trùng hại quả thanh long xuất khẩu, áp dụng công nghệ mới SIT” do Viện Bảo vệ Thực vật (Bộ NN&PTNT) chủ trì. Kết thúc giai đoạn 1 vào năm 2015, thành công bước đầu của dự án VIE 5017 được IAEA đánh giá cao và là cơ sở cho việc tiếp tục triển khai giai đoạn tiếp 2016-2019 với tổng ngân sách là 7,3 triệu euro, trong đó chi phí xây dựng cơ sở ứng dụng kỹ thuật SIT là 3 triệu Euro. Bên cạnh kinh phí, IAEA còn chuyển giao cho các nhà nghiên cứu Việt Nam các kỹ thuật liên quan như kỹ thuật nhân nuôi quần thể ruồi hại quả bằng thức ăn nhân tạo, kỹ thuật SIT, quản lý ruồi hại quả diện rộng, đồng thời cử chuyên gia sang giúp Việt Nam thực hiện các nội dung nghiên cứu, hỗ trợ trang thiết bị chuyên dụng… Sau khi làm chủ kỹ thuật SIT, các nhà nghiên cứu Viện Bảo vệ thực vật sẽ ứng dụng kết quả dự án ngay trên các trang trại thanh long ở Bình Thuận, địa phương dẫn đầu cả nước về trồng và xuất khẩu thanh long.  Nguồn: https://www.iaea.org/newscenter/news/south-african-experts-advance-in-researching-nuclear-technique-to-fight-malaria-sugarcane-pest       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Dùng kỹ thuật quan sát thiên văn học để quan sát hình ảnh y khoa      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một hệ hình ảnh y khoa sử dụng một máy dò bán dẫn nguyên thủy được phát triển cho quan sát vũ trụ bằng tia X cứng và tia gamma. Họ đã sử dụng một phương pháp phân tích phổ từ thiên văn học để có được những hình ảnh chính xác về các nuclit đa phóng xạ trong những động vật kích thước nhỏ.     Kết quả được nêu trong bài báo xuất bản trên Nature Biomedical Engineering.  Hiện tại, các chất đánh dấu huỳnh quang được sử dụng để chụp ảnh phân bố của các đa phân tử trong mẫu được đặt vào kính hiển vi. Việc sử dụng các chất đánh dấu có thể tiết lộ sự phân bố của vô số phân tử ở mức hết sức chi tiết. tuy nhiên, khi dùng nó để chụp ảnh các phân tử bên trong cơ thể sinh vật, bao gồm cả con người, điều này lại có nhiều thách thức bởi các mô cơ thể sinh vật hấp thụ phần lớn ánh sáng. Vì vậy các nhà nghiên cứu sử dụng các nuclit phóng xạ  làm đầu dò àm đầu dò vì bức xạ được các mô động vật hấp thụ ít hơn nhiều so với ánh sáng quang học, qua đó cho phép họ thu được các hình ảnh về sự phân bố của các chất đánh dấu bên trong cơ thể.  Tuy nhiên, các công nghệ hiện hành khiến cho khó để phân biệt được giữa hai hoặc nhiều nuclit, và có độ phân giải không gian thấp. Do đó thật khó để loại bỏ nhiễu trong hình ảnh do phóng xạ từ các nguồn khác tạo ra.  Để cố gắng giải quyết vấn đề này, một nhóm hợp tác gồm các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực trước đây chưa từng kết hợp với nhau, do trợ lý giáo sư Atsushi Yagishita của Viện nghiên cứu Vật lý và toán học vũ trụ Kavli (Kavli IPMU), RIKEN, Viện nghiên cứu Không gian và Khoa học vũ trụ, Trung tâm nghiên cứu ung thư quốc gia Nhật Bản, dẫn dắt, đã khởi động một dự án vào năm 2018. Mục tiêu của họ trong dự án này là ứng dụng công nghệ sử dụng quan sát không gian cho nghiên cứu y học.  Nghiên cứu mới nhất của họ được đánh dấu bằng hai thành công.  Một trong số đó là phát triển một máy hình ảnh đặt tên là IPMU được trang bị một máy dò bán dẫn cadmium telluride với độ phân giải năng lượng cao, nghĩa là có năng lực phân biệt các phóng xạ ở các mức năng lượng khác nhau, và một ống chuẩn trực có đa lỗ đường kính nhỏ có thể giúp họ đạt được độ phân giải cao cho các hình ảnh nuclit phóng xạ. Thiết bị hình ảnh IPMU này có thể phân biệt dễ dàng các phóng xạ với những mức năng lượng khác nhau.  Tuy vậy vẫn còn chỗ để cải thiện vấn đề tốt hơn. Máy hình ảnh IPMU Imager có thể không loại bỏ được tất cả các nhiễu, cụ thể khi hai nuclit phóng xạ phát ra những bức xạ tương tự nhau.  Vì vậy thành công thứ hai của nhóm nghiên cứu là sử dụng “điều chỉnh” bằng một phương pháp phân tích tia X kính quang phổ vốn được dùng phổ biến trong lĩnh vực thiên văn học. Những gì chúng có thể tìm ra là sử dụng kỹ thuật này để cho phép nhận diện được nguôn của tất cả các loại phóng xạ. Điều này giúp loại trừ phóng xạ nhiễu và khiến cho có thể thu nhận những hình ảnh chính xác chỉ bằng phóng xạ từ nuclit đích.  Khi các nhà nghiên cứu tự tin với kỹ thuật của mình, họ chuyển nó vào thử nghiệm trên chuột. Ba loại chất đánh dấu với technetium-99m, Indium-111, và Iodine-125 được sử dụng trong thực nghiệm này. Các chất đánh dấu tích tụ trong các nốt bạch huyến và tuyến giáp. Các hình ảnh thô cho thấy nhiễu và mờ do phóng xạ từ những nguồn khác nhưng khi sử dụng kỹ thuật “điều chỉnh”, các nhà nghiên cứu đã có thể nhận diện những nguồn phong xạ không mong muốn. Khi chụp ảnh bằng iodine-125, chỉ tuyến giáp (tuyến to ở phía trước cổ, tạo ra hóc môn điều khiển sự lớn lên và phát triển của thân thể) nơi iodine-125 được quy tụ có thể mô tả một cách chính xác với việc loại trừ nhiễu nền và bóng mờ.  Các nhà nghiên cứu cho rằng vẫn còn phải nhiều việc phải làm. Nếu nghiên cứu này là một thực nghiệm bao gồm một mẫu thử SPECT, họ đã phát triển một thiết bị hình ảnh SPECT hoàn thiện.  Phương pháp của nhóm nghiên cứu có thể ứng dụng trong nghiên cứu y sinh, phát triển dược phẩm phóng xạ và các kỹ thuật chẩn đoán lâm sàng.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-technology-astronomical-biomedical-imaging.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/04/220407101105.htm    Author                .        
__label__tiasang Đừng lo tạo thêm việc làm, hãy phát triển những doanh nhân chân chính      Nếu như tỉ lệ thất nghiệp cao là triệu chứng của một nền kinh tế yếu kém thì tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới chỉ là một giải pháp tình thế; phương thuốc thực sự nằm ở sự hồi sinh của các hoạt động khởi tạo kinh doanh.    Ai cũng canh cánh trong mình nỗi lo về công việc, hay đúng hơn là về tình trạng thiếu việc làm.  Khắp nơi trên thế giới, thất nghiệp là một vấn đề tuy lúc trầm trọng lúc không nhưng chưa bao giờ biến mất hẳn. Số lượng công ăn việc làm là một vấn đề (không đủ); chất lượng công ăn việc làm là một vấn đề khác (quá nhiều công việc ở trình độ thấp, thu nhập thấp); và ngoài ra còn tồn tại một thực trạng đáng buồn là thiếu cơ hội cho những người có đủ năng lực làm việc và muốn đóng góp sức lao động của mình nhưng đã bị đẩy ra khỏi thị trường lao động (các cựu chiến binh, những người trên 55 tuổi, những người không có bằng cắp, những người khuyết tật,…).  Trên chặng đường tìm kiếm “thủ phạm” cho vấn nạn thất nghiệp, nhiều người trong số những chuyên gia nghiên cứu về tình trạng việc làm và nền kinh tế đã cho rằng lỗi nằm ở các chính phủ. Đúng là nhiều chính sách của các chính phủ đã và đang bóp nghẹt sức phát triển kinh tế bằng cách lấy đi những “enzyme phát triển” ra khỏi các doanh nghiệp vừa và nhỏ; song đó vẫn không phải là “thủ phạm” chính ở đây.  Những người khác thì đưa ra những nguyên nhân khác, chẳng hạn như hệ thống giáo dục yếu kém, chu kỳ đói nghèo, áp lực cạnh tranh toàn cầu, hay sự phát triển chóng mặt của công nghệ. Hiển nhiên tất cả những điều đó đều có tác động, song vẫn chưa phải là mấu chốt của vấn đề.  Càng suy ngẫm về chuyện này, chúng ta sẽ càng nhận thấy mỗi lúc một rõ hơn rằng vấn đề không nằm ở việc làm mà nằm ở hoạt động khởi tạo kinh doanh.  Sở dĩ thiếu những công việc có ý nghĩa là do thiếu doanh nhân – những doanh nhân chân chính, những người gây dựng lên các doanh nghiệp đồng thời là những người kiến tạo việc làm.  Một doanh nhân thực thụ khởi đầu bằng một cảm hứng, một ý tưởng sáng tạo, và động lực của anh ta là triển vọng về sự phát triển và sáng tạo. Chúng ta hãy đừng nhầm lẫn vị doanh nhân chân chính này với những kẻ vốn cũng được xã hội nhầm tưởng gọi là doanh nhân chỉ vì thấy họ cũng xây dựng doanh nghiệp, dù rằng cái doanh nghiệp đó chỉ cung cấp những sản phẩm, dịch vụ na ná như trăm ngàn sản phẩm, dịch vụ khác sẵn có trên thị trường và vì thế mà nó chẳng có gì nổi bật cả.  Khi đã nhận ra sự khác biệt giữa hai loại người trên, bạn sẽ hiểu được tại sao xã hội chúng ta lại thiếu công ăn việc làm, thiếu những công việc có ý nghĩa. Và từ đó chúng ta mới có thể nhìn thấy cơ hội thực sự – cơ hội xây dựng tinh thần doanh nhân chân chính.  Thế giới này cần có thêm nhiều và ngày càng nhiều hơn nữa những doanh nhân chân chính – những người mà chúng ta hãy gọi họ là những Doanh nhân Mới. Họ sẽ là nguồn cảm hứng sáng tạo, nguồn cảm hứng đổi mới, nguồn cảm hứng để chúng ta cùng chung tay xây dựng nên một thế giới hoàn toàn mới, một thế giới mà trong đó nguồn cảm hứng tạo đà cho đổi mới, và sự đổi mới này lại làm nảy sinh ra những sự đổi mới khác để chúng ta kiến tạo nên những điều mới mẻ, theo những cách thức mới mẻ, vì những lý do mới mẻ.  Vậy, bạn có nằm trong số những Doanh nhân Mới này không?  Gần đây bạn đang theo đuổi những công cuộc đổi mới nào?  Bạn làm gì để thay đổi cách thức làm việc hàng ngày của mình tại nơi làm việc?  Bạn đã có những đóng góp gì để làm biến chuyển nền kinh tế và gia tăng những công việc có ý nghĩa, mang lại nguồn thu nhập cao?  Bởi lẽ, giải pháp cho tình trạng thất nghiệp không phải là kiến tạo thêm công ăn việc làm mà là có thêm những doanh nhân chân chính.    Thu Trang dịch  Nguồn: inc.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng người máy lao động thay nông dân già      Nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động do già hóa dân số, Nhật Bản dự định thay thế nông dân già bằng một số loại máy móc.    Nông dân Nhật Bản sử dụng máy trong canh tác chè  Thảo luận tìm phương án giải quyết tình trạng lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng thiếu hụt do không có người thay thế nông dân già đã trở thành một nội dung trọng tâm tại hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp khối G7 – gồm các nước Mỹ, Anh, Đức, Ý, Pháp, Nhật, Canada – họp tại huyện Niigata ở phía Bắc Nhật Bản vào cuối tháng tư vừa qua.  Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ Tom Vilsach từng cảnh báo năng lực sản xuất lương thực thực phẩm thế giới sẽ gặp khó khăn nếu không giải quyết vấn đề già hóa nông dân. Số liệu của Liên Hợp Quốc cho biết nông dân trong các nước phát triển hiện có độ tuổi trung bình vào khoảng 60.  Trong cuộc họp, Bộ trưởng Nông nghiệp Nhật Hiroshi Moriyama đã trình bày ý tưởng về vấn đề thay thế nông dân già bằng loại máy kéo tự điều khiển (autonomous tractors) và người máy kiểu ba lô (backpack-carried robots) do Nhật nghiên cứu chế tạo.  “Vấn đề nông dân già hóa đang đe dọa sự ổn định của cộng đồng nông nghiệp ở Nhật trong khi số dân thế giới ngày một tăng lên kéo theo sự gia tăng nhu cầu lương thực thực phẩm. Các thành viên G7 chia sẻ nỗi lo ấy và muốn thảo luận tìm ra giải pháp.” – Bộ trưởng Moriyama nói.  Số liệu của Bộ Nông nghiệp Nhật cho thấy, do ngày càng có nhiều nông dân nghỉ hưu, trong hai thập niên qua, diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang ở Nhật đã tăng gần gấp đôi, lên tới 420.000 hecta vào năm 2015. Khoảng 65% nông dân Nhật có độ tuổi 65 hoặc hơn, trung bình 67 tuổi. Tình trạng thiếu nông dân trẻ đã làm tăng nỗi lo ngại về việc Nhật sẽ phải nhập khẩu lương thực ngày một nhiều hơn – hiện nay 60% nhu cầu lương thực thực phẩm của Nhật là do nước ngoài cung ứng.  Nhật đã có kế hoạch chi 36 triệu USD trong năm tài chính 2016 (tính từ tháng ba) để chế tạo các loại máy tự động dùng trong nông nghiệp và hỗ trợ phát triển 20 loại robot khác nhau, trong đó một loại có thể tách được quả đào chín khi hái quả.  Kubota Corp., nhà sản xuất máy nông nghiệp lớn nhất Nhật Bản đã triển khai mẫu đầu tiên của loại máy kéo tự lái dùng trên những cánh đồng trồng lúa. Được trang bị hệ thống định vị toàn cầu GPS, loại máy này có thể căn cứ vào tình trạng thổ nhưỡng để cày đất và bón phân sau khi đã kiểm tra. Hai công ty Iseki và Yanmar cũng phát triển loại máy kéo tự lái và máy gặt.  Kubota còn phát triển và quảng cáo một thiết bị có dạng chiếc áo khoác có thể giúp nông dân hái và vận chuyển rau-quả. Bộ Nông nghiệp Nhật hy vọng những robot kiểu ba lô đeo trên vai có thể giúp nông dân già hoặc nữ nông dân làm những công việc khó tự động hóa.“Áp dụng công nghệ mới vào canh tác sẽ thu hút giới trẻ vào làm việc trong lĩnh vực này, tăng phần đóng góp của lao động trẻ trong nông nghiệp.” – Takaki Shigemoto, nhà phân tích ở JSC Corp. nói.   Nguyễn Hải Hoành dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng tín hiệu não điều khiển robot      Để các robot làm đúng theo những gì chúng ta muốn thì trước hết chúng phải hiểu được chúng ta, điều này đòi hỏi phải dạy cho robot về sự phức tạp của ngôn ngữ con người, hay đưa ra những mệnh lệnh rõ ràng cho những nhiệm vụ cụ thể. Nhưng liệu có thể phát triển những con robot làm việc theo chỉ đạo của con người như một phần tự nhiên của cơ thể và thực hiện điều chúng ta đang nghĩ đến?      Hệ thống của CSAIL sử dụng tín hiệu não để điều khiển robot.  Một nhóm các nhà khoa học từ Phòng thí nghiệm Khoa học máy tính Trí tuệ nhân tạo (CSAIL) của viện MIT và Đại học Boston đang nghiên cứu vấn đề này, tạo ra một hệ thống hồi đáp mà con người có thể điều chỉnh những lỗi của robot ngay lập tức chỉ với bộ não của họ.  Sử dụng dữ liệu từ máy điện não đồ (EEG) ghi lại những hoạt động của não, hệ thống này có thể cảm ứng mỗi khi con người phát hiện ra lỗi của robot trong quá trình nó thực hiện một nhiệm vụ phân loại đối tượng. Những thuật toán học máy (machine-learning) mới của nhóm nghiên cứu cho phép hệ thống này phân loại các sóng não trong khoảng từ 10 đến 30 phần nghìn giây.   “Hãy tưởng tượng có thể ngay lập tức bảo một robot thực hiện một hành động cụ thể mà không cần gõ lệnh, nhấn nút hay thậm chí là không cần nói thành lời”, giám đốc CSAIL Daniela Rus nói. “Cách tiếp cận như vậy sẽ nâng cao khả năng giám sát của con người đối với các robot trong nhà máy, ô tô không người lái, và những công nghệ khác mà chúng ta thậm chí còn chưa phát minh ra”.  Công bố về nghiên cứu này được nghiên cứu sinh tiến sĩ Đại học Boston, Andres F.Salazar-Gomez, nghiên cứu sinh tiến sĩ Joseph DelPreto của CSAIL và nhà khoa học Stephanie Gil tiến hành, dưới sự hướng dẫn của Rus và giáo sư Frank H. Guenther, Đại học Boston.  Sự tương tác giữa robot và con người theo trực giác  Các nghiên cứu trước đây về công nghệ kiểm soát robot bằng điện não đồ đòi hỏi huấn luyện con người “suy nghĩ” theo một cách thức phù hợp mà máy tính có thể nhận biết.  Nhược điểm của phương pháp này là quá trình đào tạo và hoạt động của việc điều chỉnh suy nghĩ của một người có thể yêu cầu rất cao, đặc biệt là đối với những người giám sát những nhiệm vụ điều hướng hoặc xây dựng đòi hỏi sự tập trung cao độ.  Nhóm của Rus muốn tạo ra một phương thức tự nhiên hơn. Họ tập trung vào những tín hiệu não được gọi là “những tiềm ẩn liên quan đến lỗi” (ErrP), được tạo ra bất cứ khi nào não của chúng ta chú ý đến một lỗi. Khi robot cho thấy lựa chọn mà nó định thực hiện, hệ thống này sẽ sử dụng ErrP để xác định xem liệu lựa chọn đó có được con người chấp thuận.  “Khi bạn giám sát robot, tất cả những điều bạn phải làm là suy nghĩ đồng ý hay không đồng ý với những gì nó đang làm”, Rus nói. “Bạn không phải trải qua sự huấn luyện để nghĩ theo một cách cụ thể – chiếc máy sẽ thích nghi theo bạn thay vì bạn phải thích nghi theo nó”.  Những tín hiệu ErrP rất mờ nhạt, điều đó có nghĩa là hệ thống này phải được hiệu chỉnh để phân loại được tín hiệu đồng thời đưa nó vào quy trình phản hồi để truyền đạt đến người vận hành. Ngoài việc theo dõi ErrP ban đầu, nhóm nghiên cứu cũng tìm cách phát hiện “những lỗi thứ cấp” xảy ra khi hệ thống không nhận ra được sự điều chỉnh ban đầu của con người.  “Nếu robot không chắc chắn về quyết định của bản thân, nó có thể chủ động xin chỉ đạo của con người để có được câu trả lời chính xác hơn”, Gil nói.  Hiện hệ thống này vẫn chưa thể nhận ra những lỗi thứ cấp trong thời gian thực. Khi hạn chế này được khắc phục, Gil hi vọng mô hình có thể cải thiện độ chính xác lên đến 90%.  Nhóm nghiên cứu tin rằng những hệ thống tương lai có thể mở rộng sang những nhiệm vụ có nhiều lựa chọn phức tạp hơn.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://news.mit.edu/2017/brain-controlled-robots-0306       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng tơ lụa để thay thế một số loại vi nhựa      Vi nhựa, những hạt nhỏ bé hiện thời được tìm thấy trong không khí, nước, đất, đang được ghi nhận ngày một gia tăng như một nguồn gây ô nhiễm trầm trọng, và đã được tìm thấy trong mạch máu động vật cũng như con người khắp thế giới.    Một số loại vi nhựa đang được đưa thêm vào nhiều loại sản phẩm hàng hóa, bao gồm các loại hóa chất trong nông nghiệp, sơn, mỹ phẩm, thuốc tẩy – riêng ở châu Âu, ước tính khối lượng vi nhựa là 50.000 tấn mỗi năm, theo Cơ quan Hóa học châu Âu. Châu Âu hiện mới công khai tuyên bố là những loại các vi nhựa không phân hủy sinh học sẽ phải được loại bỏ vào năm 2025, vì vậy họ đặt mục tiêu tìm kiếm các chất thay thế bền vững cho vi nhựa.  Hiện tại, một nhóm các nhà khoa học ở MIT và ở nhiều nơi khác trên thế giới đã phát triển một hệ dựa trên lụa có thể đem lại một vật thay thế trong sản xuất một cách dễ dàng và không tốn kém. Quá trình mới được miêu tả trong một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Small, do postdoc Muchun Liu, giáo sư kỹ thuật dân sự và môi trường Benedetto Marelli, và năm người khác tại công ty hóa chất BASF ở Đức và Mỹ thực hiện.  Vi nhựa được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm công nghiệp về cơ bản là để bảo vệ một số thành phần hoạt hóa cụ thể (hoặc nguyên liệu) khỏi bị phân rã khi phơi lộ trong không khí hoặc độ ẩm, cho đến thời điểm cần thiết. Chúng dẫn đến một cuộc phát thải lâu dài thành phần hoạt hóa theo một chu kỳ thời gian và tối thiểu hóa các hiệu ứng ngược với môi trường xung quanh. Ví dụ, các vitamin thường được phân phối theo hình thức vi nhộng được gói trong một viên thuốc hoặc viên nhộng, thuốc trừ sâu và phân bón cũng được đóng gói theo cách tương tự. Nhưng vật liệu được sử dụng ngày nay trong nhiều loại vi nang là nhựa lại bền vững trong môi trường theo thời gian dài. Cho đến hiện tại, vẫn chưa có sẵn sàng vật liệu thay thế giá rẻ thích hợp để có thể phân hủy sinh học một cách tự nhiên.  Rất nhiều gánh nặng vi nhựa trong môi trường đến từ nhiều nguồn khác, như sự phân rã theo thời gian của các loại nhựa cỡ lớn như chai nước, túi nhựa, lốp ô tô xe máy. Mỗi nguồn đều đòi hỏi những giải pháp của riêng nó để giảm thiểu sự phát thải, Marelli nói. Cơ quan Hóa học châu Âu đã ước tính các vi nhựa trong phụ gia chiếm xấp xỉ 10 đến 15% tổng khối lượng vi nhựa trong môi trường nhưng nguồn này có thể dễ dàng được giải quyết bằng chất thay thế có khả năng phân hủy sinh học một cách tự nhiên, ông cho biết. “Chúng ta không thể giải quyết được mọi vấn đề của vi nhựa với một giải pháp phù hợp cho tất cả”, ông nhận xét. “10% của một con số lớn vẫn là số lớn… Chúng ta sẽ giải quyết biến đổi khí hậu và ô nhiễm của thế giới ở mức 1% ở một thời điểm”.  Không giống như sợi tơ chất lượng cao sử dụng để dệt nên loại vải quý, protein lụa được sử dụng trong vật liệu thay thế mới được sử dụng một cách rộng rãi và không hề đắt đỏ, Liu nói. Trong khi các kém tằm phải được ươm tơ một cách cẩn thận để tạo ra những sợi tơ mịn mượt cần cho công đoạn dệt thì với cách này, có thể sử dụng những chiếc kén không đủ chấ lượng cho dệt vải và sợi tơ có thể trải qua một quá trình xử lý bằng nước. Việc làm ra vật liệu này đơn giản và có thể sử dụng các cơ sở hiện hành.  Tơ được ghi nhận là có thể sử dụng an toàn với thực phẩm và dược phẩm vì nó không độc và phân rã một cách tự nhiên trong cơ thể. Trong các cuộc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã thấy loại vật liệu đóng kén có thể hữu dụng trong để làm ra các sản phẩm thuốc trừ sâu đóng kén có thể tan trong nước, sau đó kiểm tra nó trên những cây ngô trồng trong nhà kính. Thử nghiệm cho thấy nó còn hiệu quả hơn nhiều so với các sản phẩm hiện bán trên thị trường, Liu nói.  Dù các nhóm khác đã đề xuất các loại vật liệu đóng gói có khả năng phân hủy ở quy mô nhỏ phòng thí nghiệm nhưng theo quan điểm của Marelli, “rất cần đạt được thành công để tạo cơ hội thương mại hóa sản phẩm. Chỉ có cách duy nhất để có tác động là nơi chúng ta không thể chỉ thay thế được một polymer tổng hợp với một vật liệu có khả năng phân hủy sinh học mà còn đạt được hiệu suất tương tự, nếu không muốn nói là tốt hơn”.  Bí mật để làm ra vật liệu tương thích với thiết bị tồn tại, Liu giải thích, là khả năng có thể điều chỉnh của vật liệu lụa. Việc điều chỉnh chính xác sự sắp xếp của các chuỗi polymer của vật liệu lụa và đưa thêm vào một chất hoạt động bề mặt có thể đem lại những đặc tính mong muốn của lớp phủ bên ngoài khi khô và cứng lại. Vật liệu này có thể kỵ nước (không thấm nước) ngay cả khi được xử lý trong dung dịch nước hoặc có thể hút nước (ưa nước), hoặc ở bất kỳ điểm nào giữa hai tính chất đó. Đối với một ứng dụng nhất định, nó có thể được chế tạo phù hợp theo đặc điểm của vật liệu mà nó sẽ thay thế.  Nhưng để có một giải pháp thực tế, Liu phải phát triển một cách làm đông lại các hạt của vật liệu nang hóa khi chúng hình thành để nghiên cứu sự hình thành một cách chi tiết. Cô đã sử dụng hệ làm đông – phun đặc biệt và quan sát chính xác cách hoạt động của công đoạn đóng gói để có thể kiểm soát chúng tốt hơn. Một số vật liệu chịu “tải trọng” kết nang, cho dù chúng là thuốc trừ sâu hay dưỡng chất hay các enzyme, đều có thể hòa tan trong nước còn một số thì không, và chúng tương tác theo những cách khác nhau với vật liệu phủ.  “Để nang hóa các vật liệu khác nhau, chúng tôi phải nghiên cứu về cách các chuỗi polymer tương tác và cho dù chúng tương thích với các vật liệu hoạt hóa khác nhau trong thể huyền phù”, cô nói. Vật liệu tải trọng và lớp áo phủ được trộn với nhau trong một dung dịch và sau đó được phun. Khi các giọt hình thành, sự tải trọng có xu hướng được gài vào trong một lớp vỏ của vật liệu phủ, cho dù đó là nhựa tổng hợp ban đầu hoặc vật liệu tơ mới.  Phương pháp mới có thể hữu dụng với loại tơ chất lượng thấp không đạt yêu cầu cho dệt lụa và có số lượng lớn đang bị loại bỏ bởi không có ý tưởng sử dụng, Liu nói. Nó có thể dùng lụa đã thải bỏ, chuyển hóa nó thành vật liệu cần thiết. Hiện tại, 90% lụa trên thế giới được sản xuất ở Trung Quốc, Marelli nói, phần lớn là do Trung Quốc đã hoàn thiện được kỹ thuật tạo tơ chất lượng cao để dệt được các loại vải chất lượng cao. Tuy nhiên, việc dệt lụa có thể dễ dàng mở rộng ở các nơi khác trên thế giới để đáp ứng nhu cầu tại chỗ nếu quy trình này được sử dụng rộng rãi, ông nói.  “Đây là một nghiên cứu xuất sắc mở ra một vật liệu thay thế bền vững và có khả năng phân hủy sinh học để thay thế vật liệu hóa kén vi nhựa, vốn tạo ra thách thức với môi trường”, Alon Gorodetsky, một phó giáo sư kỹ thuật hóa học và sinh học phân tử tại ĐH California ở Irvine và không tham gia nghiên cứu này, nói. “Hệ mô đun vật liệu và khả năng mở rộng quy mô của các quá trình sản xuất là những thuận lợi chính và báo hiệu chuyển đổi cho các ứng dụng trong thế giới thực”.  Quá trình này “cho thấy một thuận lợi có tiềm năng cao trong việc cung cấp thành phần hoạt hóa cho một loạt các ngành công nghiệp có thể sử dụng, cụ thể là trong nông nghiệp”, Jason White, giám đốc Cơ sở thực nghiệm nông nghiệp Connecticut, người cũng không tham gia vào nghiên cứu này, đánh giá. “Những thách thức hiện nay và tương lai về an ninh lương thực, sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu, các chiến lược mới cần có nhiều giải pháp như thế này”.  Tô Thanh Vân   thực hiện  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-07-silk-alternative-microplastics.html  https://www.paintsquare.com/news/view/?25328#:~:text=Researchers%20from%20the%20Massachusetts%20Institute,and%20an%20easily%20manufactured%20substitute.  https://www.azocleantech.com/news.aspx?newsID=32045    Author                .        
__label__tiasang Dùng vật lý lượng tử để hiểu về đột biến DNA      Sinh học lượng tử là lĩnh vực mới xuất hiện của khoa học, khi được bắt đầu biết đến vào những năm 1920. Nó xem xét liệu có phải thế giới hạ nguyên tử của cơ học lượng tử đóng vai trò trong các tế bào sống không ? Cơ học lượng tử là một lĩnh vực liên ngành của khoa học tự nhiên, mang các nhà vật lý hạt nhân, hóa sinh và sinh học phân tử lại với nhau.      Trong một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Physical Chemistry Chemical Physics “Quantum and classical effects in DNA point mutations: Watson–Crick tautomerism in AT and GC base pairs” (Các hiệu ứng lượng tử và cổ điển trong các đột biến điểm DNA: hiện tượng tautome Watson–Crick trong các cặp đơn vị cơ bản AT và GC), một nhóm nghiên cứu từ Trung tâm đào tạo tiến sĩ sinh học lượng tử của Surrey đã sử dụng các mô phỏng máy tính tiên tiến và các phương pháp cơ học lượng tử để xác định vai trò của đường hầm proton, một hiện tượng thuần túy lượng tử, với những đột biến tự nhiên bên trong DNA.  Đường hầm proton có sự biến mất khỏi vị trí một cách tự nhiên của một proton và sự tái xuất hiện của một proton tương tự ở gần đó.  Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy các nguyên tử hydrogen, vốn rất nhẹ, tạo ra các liên kết nắm giữ hai chuỗi đường xoắn kép DNA lại với nhau và có thể, dưới những điều kiện nhất định, hành xử như những sóng lan rộng có thể tồn tại trong nhiều vị trí cùng lúc nhờ đường hầm proton. Điều này dẫn đến việc những nguyên tử đó thi thoảng được hình thành trên sợi DNA lỗi, qua đó hình thành các đột biến.  Dẫu thời gian tồn tại của các đột biến này rất ngắn nhưng nhóm nghiên cứu thấy họ vẫn có thể tái tạo được cơ chế sao chép DNA bên trong các tế bào và có thể có tiềm năng dẫn đến những vấn đề về sức khỏe.  Tiến sĩ Marco Sacchi, người phụ trách dự án tại trường đại học Surrey, nói: “Nhiều người từng nghi ngờ về việc thế giới lượng tử – vốn bí ẩn, phản trực giác và cũng kỳ diệu – đóng một vai trò nào đó trong sự sống mà chúng ta đã biết. Dù với nhiều người, ý tưởng là cái gì đó có thể hiện diện ở cả hai vị trí trong cùng thời điểm có thể ngớ ngẩn, nó vẫn xảy ra trong mọi thời điểm của thế giới lượng tử, và nghiên cứu của chúng tôi xác nhận đường hầm lượng tử xảy ra trong DNA tại nhiệt độ phòng”.  Louie Slocombe, một nghiên cứu sinh tại Trung tâm và là đồng tác giả của nghiên cứu, nói: “Vẫn còn một con đường dài hấp dẫn đưa chúng ta đến việc hiểu các quá trình sinh học hoạt động ở cấp độ hạ nguyên tử như thế nào nhưng nghiên cứu của chúng tôi – và những nghiên cứu khác trong những năm gần đây – đã xác nhận cơ học lượng tử có đóng một vai trò nhất định. Trong tương lai, chúng tôi hi vọng sẽ tìm hiểu cách các chất hỗn biến do đường hầm lượng tử tạo ra có thể nhân rộng và sinh ra các đột biến di truyền”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-reveals-quantum-physics-mutations-dna.html  https://www.surrey.ac.uk/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đuốc diệt cỏ dại bằng ánh sáng và nhiệt      Một loại đuốc diệt cỏ dại bằng ánh sáng và nhiệt đã mở ra hi vọng mới trong lộ trình tìm ra phương pháp diệt cỏ mới không cần dùng tới hóa chất.      Đuốc diệt cỏ NatureZap  Mỗi năm các nước tiêu thụ hàng chục nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật, ví dụ như nước Đức tiêu thụ khoảng 40.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Chất độc chứa trong các thuốc này không chỉ diệt cỏ dại mà còn gây hại cho môi trường, con người và động vật. Do đó, việc tìm ra một phương pháp diệt cỏ mới có ý nghĩa rất quan trọng với môi trường.  Mới đây, Global Neighbor, một doanh nghiệp Mỹ đã đưa ra thị trường loại thiết bị diệt cỏ với hy vọng có thể thay đổi triệt để các biện pháp diệt cỏ dại hiện nay: thiết bị mang tên NatureZap có thể diệt ngay lập tức các loại thực vật mà ta không mong muốn. Theo thông báo của hãng sản xuất thì chức năng diệt cỏ là do tác động của nhiệt và tia UV cũng như tia hồng ngoại.  Thiết bị NatureZap chạy bằng pin, có hình dạng một cây đuốc, đầu ngọn đuốc toả nhiệt và các tia. Nhiệt và tia này có khả năng diệt từ 70 đến  80 % cỏ dại, chậm nhất sau ba ngày cỏ dại bị chết và không có khả năng phục hồi. Tia sáng và nhiệt ngấm sâu vào đất 5 xăngtimet và có thể diệt cây dại rất trúng đích. Hiện nay giá NatureZap vào khoảng 120 Euro.  Thông qua một chương trình của chính phủ Hoa kỳ, nhà sản xuất này đã được hỗ trợ 900.000 USD trong quá trình nghiên cứu phát triển đuốc NatureZap. Nhà sản xuất không chỉ được  hỗ trợ về tài chính để phát triển chương trình diệt cỏ dại bằng cơ giới mà còn nhận được sự giúp đỡ về kỹ thuật của các kỹ sư thuộc không lực Mỹ. Một căn cứ không quân ở miền nam California đã tiến hành thử nghiệm đuốc diệt cỏ này. Mới đây, cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ cũng đã ra quyết định yêu cầu các căn cứ quân sự của Mỹ phải cắt giảm sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Được, mất trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 – 2009      Cái nhìn toàn cục  Chuyện khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối cùng là chuyện của thế giới phân cực trở lại thời kỳ chiến tranh lạnh. Một thời mà cuộc đối đầu ý thức hệ đã đi vào quá khứ. Một kỷ nguyên mới xuất hiện. Kỷ nguyên của thông qua chiến tranh tiền tệ để chiếm giữ thị trường thế giới, tranh giành năng lượng và lương thực toàn cầu trong thời kỳ bùng nổ các ngành công nghiệp mới và dân số.      Người Trung Quốc đã biết sử dụng 2 lợi thế quan trọng của mình là đông dân và giá nhân công rẻ. Họ đã bắt tay vào một thời kỳ phát triển mới sau những sai lầm của thời kinh tế bao cấp. Sau 30 năm bắt tay với người Mỹ, chuyển đổi kinh tế thị trường, người Trung Quốc đã chiếm lĩnh hầu hết thị trường tiêu thụ hàng tiêu dùng trên khắp toàn cầu với chiến lược giá rẻ. Họ đã mang lại sự tăng trưởng cho đất nước họ bằng những tỷ lệ nóng 10% GDP trong suốt 13 năm liên tiếp. Khi đạt được dự trữ ngoại tệ có thể đủ sức chống lại những tay đầu cơ tài chính thế giới. Họ đã kềm giá đồng Nhân dân tệ (NDT)ở giá thấp để phục vụ cho chiến lược xuất khẩu hàng giá rẻ, mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng không thể cạnh tranh lại.  Người Mỹ đã quá tự kiêu và tự mãn đã dựa vào sự thao túng của phố Wall làm đồng USD là chủ soái cho mọi giao dịch toàn cầu. Họ còn tự mãn khi họ nắm toàn bộ các nền công nghiệp nặng đang dẫn đầu thế giới. Họ mải mê men say của kẻ vô địch sau sự sụp đổ Liên Xô cũ và Đông Âu. Một ngày đẹp trời họ choàng tỉnh giấc mơ, thì cơn nóng hầm hập đang phà ra phía sau gáy là cuộc rượt đuổi của con hổ châu Á Trung Quốc đang cận kề. Khi đảng Cộng hòa đã sử dụng đồng tiền của dân đóng thuế liên tục phục vụ cho những cuộc chiến tranh giành những vùng năng lượng trên toàn cầu. Thâm thủng ngân sách và mất lòng toàn thế giới là điều không thể tránh khỏi, để rồi họ vội vã tìm lại hình ảnh của chính mình trong con mắt của người dân sở tại và của toàn cầu.   Thế giới các nước đã phát triển Âu – Á cũng vì thói thực dụng đã tận dụng nhân công giá rẻ và đông dân của Trung Quốc. Họ đã đầu tư quá sâu vào nền kinh tế Trung Quốc hầu hết các công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng. Thậm chí họ chỉ làm đơn đặt hàng rồi đem hàng đó về nước mình đóng lại nhãn mác để kiếm lời, mà không phải làm gì. Họ cũng đã giật mình khi con hổ ngủ bao nhiêu năm bừng tỉnh và là tai họa cho nền kinh tế với nhân công cao ngất trời của họ.   Gậy ông lại đập lưng ông vì thói thực dụng và hám lợi của thế giới tư bản đang huênh hoang tự đắc. Người Trung Quốc quay lại dạy cho họ một bài học thấm thía: Kiến ăn cá rồi có ngày cá lại ăn kiến!  Người Mỹ đã làm gì?   Họ đã thay đổi cách ứng xử bằng đưa lên một vị Tổng thống da màu thuộc Đảng Dân chủ đã từng theo Hồi giáo, để cải thiện cái nhìn thiện cảm hơn của thế giới Hồi giáo. Họ đã cải cách những lỗ hổng chết người trong quản lý tài chính, y tế, v.v… bằng cách tạo ra cuộc khủng hoảng toàn cầu, để dạy người Mỹ biết yêu nước, biết tiết kiệm và biết nhìn lại mình. Họ đã làm cho hàng loạt tổ chức tài chính đang ăn nên làm ra và chiêu dụ cả thế giới đổ tiền vào mua những tờ cổ phiếu với giá rất nóng, đi đến sụp đổ. Họ biết cách giật tiền của thế giới bằng luật phá sản và giảm giá đồng USD thống soái toàn cầu. Đã thế, họ còn buộc người Trung quốc phải mở hầu bao để cho họ mượn cho việc kích cầu lên đến hơn 800 tỷ  USD Ngậm đắng nuốt cay sau cú thua giật tiền theo phong cách Mỹ, người Trung Quốc phải cứu vớt anh bạn đối tác Mỹ để hy vọng tiến trình sụp đổ theo thuyết Domino bớt ảnh hưởng đến chiến lược xuất khẩu hàng giá rẻ của mình.   Các nhà chiến lược cho rằng thâm thủng ngân sách thương mại là nguyên nhân khủng hoảng. Các nhà quản lý tài chính thế giới cho rằng yếu kém trong quản lý tài chính là nguyên nhân. Nhưng các nhà theo trường phái thuyết âm mưu cho rằng đây là âm mưu sắp đặt của người Mỹ, mà đứng sau lưng là các nhà tài phiệt phố Wall và FED đã tạo ra để nước Mỹ có dịp tái cơ cấu mọi việc, và cũng là dịp hôi của của họ đối với thế giới còn lại, kể cả những người dân Mỹ đã và đang còng lưng làm ra của cải.  Được – Mất  Không chỉ có Trung quốc thiệt hại, mà còn nhiều nước trên thế giới bị thiệt hại theo sự suy thoái mà người Mỹ tạo ra. Singapore là điển hình rõ nhất, khi đầu năm 2009 họ tính toán lại thì hơn 50 tỷ đô la Singapore đã đi theo những sụp đổ các tổ chức tín dụng Mỹ. Châu Âu cũng không khá hơn gì khi đồng Euro tăng giá từ 1 Euro ăn chỉ 0.9USD thì sau đó chỉ vài tháng 1 Euro ăn đến hơn 1.4USD. Mọi xuất khẩu của châu Âu ngưng trệ, du lịch đi vào thời kỳ đình đốn. Mọi chống đỡ của châu Âu không thể cứu vãn những thành viên nghèo nhất như Iceland và Hy Lạp mới đây, tương lai còn Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đang chờ ngày hấp hối. Cú tung tiền của người Đức cứu Hy Lạp là muốn chứng tỏ đầu tàu châu Âu. Nó đã là miếng mồi ngon cho những cái mũi rất thính ở phố Wall làm mưa làm gió trên giá vàng, trên cuộc chiến tiền tệ đã được lắp kíp nổ chờ ngày khai hỏa.  Dù có thiệt hại do thất nghiệp và một số hủy hoại môi trường làm thức tỉnh cho sự phát triển quá nóng của kinh tế Trung Quốc chạy theo tăng trưởng GDP, mà không quan tâm đến những tai hại khác mang đến. Nhưng người Trung Quốc họ vẫn còn món lợi xuất khẩu hàng giá rẻ. Họ giữ được tăng trưởng kinh tế cao dù có khủng hoảng đi đến đỉnh điểm năm 2009 vẫn 8.7%, năm 2008 vẫn 10.4% và dự kiến năm 2010 này vẫn con số 8.8%. Ngoài ra đây là một bài thuốc cảnh tỉnh họ về vấn nạn môi trường, cơn vỡ bong bóng bất động sản và bao nhiêu di họa về một rối loạn hình thái xã hội do các quyền lợi nhóm sẽ bùng phát, khi làn sóng công nhân bị bóc lột tự vẫn liên tục mấy tháng qua. Họ đã kịp cứu nguy bằng lý thuyết xã hội hài hòa để đưa nền văn minh đến nông thôn, nơi mà lâu nay bị bỏ bê.   Tóm lại, suy thoái kinh tế đã đưa Trung Quốc lưỡng đầu thọ địch khi thế giới cùng nhau tấn công chiến lược hàng giá rẻ của Trung Quốc. Nhưng thế giới lòng tham không cưỡng lại được hàng giá rẻ. Và Trung Quốc vẫn theo đường lối: “chó cứ sủa, đoàn người vẫn cứ đi”. Và suy thoái còn giúp họ quan tâm đến phát triển nội địa, tạo công ăn việc làm trên chính đất nước họ, giúp họ hoàn thiện hơn trước đây là chỉ áp dụng chính sách một nhà nước mạnh và ổn định chính trị để phát triển, mà bỏ quên tầng lớp nhân dân bần cùng ở nông thôn như trước suy thoái kinh tế.  Người Mỹ luôn thực dụng, dù thực dụng đã là gậy ông đập lưng ông trong quan hệ giao thương với Trung Quốc. Người ta cho rằng mối quan hệ Mỹ – Trung đã đến thời kỳ như cặp vợ chồng đồng sàng nhưng dị mộng. Họ không ly dị nhau được, nhưng họ vẫn sẵn sàng tranh đua nhau giành vị thế độc tôn. Mỹ luôn lớn tiếng kêu gọi Trung Quốc phải tăng giá đồng NDT. Trung Quốc vẫn hứa và hứa, vì Trung Quốc biết đây là chiêu tuyệt kỷ để họ lấy làm sức mạnh với “thế giới còn lại”. Dù cả thế giới kêu gào hơn 2 năm qua, nhưng chỉ mới cách đây vài hôm – ông Hồ Cẩm Đào – chính thức “hứa” sẽ cải cách tài chính, nhưng theo cách riêng của họ, độc lập với mọi yêu cầu của “thế giới còn lại”.  Cuối cùng, chỉ có Mỹ và Trung Quốc có lợi trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2009. Họ giúp nhau và cho nhau vay tiền. Dù sau cuộc vay người Mỹ nâng số nợ của mình lớn nhất thế giới – hơn 9.000 tỷ USD, nhưng chỉ chiếm 6.25%GDP của Mỹ thì có thấm vào đâu. Và dù Trung Quốc tăng trưởng nóng suốt 13 năm qua, nhưng GDP của họ (8.789 tỷ USD năm 2009) cũng chỉ bằng 61.6% GDP Mỹ (14.260 tỷ USD năm 2009), trên một đất nước đông dân hơn Mỹ 4 lần. Trong khi đó, Mỹ làm được nhiều điều. Mỹ lấy lại sự tăng trưởng ngoài mong đợi của FED, lên đến hơn 3% trong mấy tháng đầu năm 2010. Số công ăn việc làm tăng thêm 29.000 trong tháng 4/2010. Công nghiệp xây dựng nhà gia tăng 5.8%. Doanh số bán lẻ chung tăng 1.6%. Thâm hụt ngân sách giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đồng Euro bắt đầu xuống dốc khi người Đức tung tiền để cứu giúp nền kinh tế Hy Lạp sắp sụp đổ. Châu Âu đang bấn loạn. Người Trung Quốc bắt đầu lạm phát gia tăng khi 44 trong 77 mặt hàng nông sản thực phẩm tăng giá từ 25% đến 100%. Tình hình tự tử của công nhân và vấn nạn thảm sát cộng đồng do áp lực cuộc sống liên tục xảy ra gần đây. Và cái bong bóng tăng trưởng đã đẩy những đầu tư bất động sản của Trung Quốc đến hồi căng phồng sắp vỡ. Ho đã khôn ngoan “hứa” sẽ cải cách tài chính sau một cuộc đua dài kềm giá đồng NDT ở mức thấp.  Suốt bốn thập kỷ qua, thế giới như một tam quốc phân tranh: Mỹ – Nga và Trung Quốc. Đầu thập kỷ 1970, người Mỹ đã kéo Trung Quốc về phía mình, kết quả là sụp đổ Liên Xô cũ và Đông Âu. Sự trỗi dậy của Trung Quốc gần đây là mối đe dọa ngôi vị số 1 của Mỹ. Họ đã dùng chiêu bài cũ khi kéo người Nga đồng thuận về phía mình. Vài tháng gần đây, người Nga đã bắt đầu thuận thảo với Mỹ về vấn đề Iran và Bắc Hàn. Cuộc chiến tranh tiền tệ kéo dài 4 năm từ 2006 đến nay đã đến hồi kết thúc. Ai được – ai mất thì đã rõ. Có phải chăng vị thế số 1 thế giới của người Mỹ đã được khẳng định lại, khi Trung Quốc tuyên bố ngưng viện trợ Bắc Hàn, và hậu thuẫn bao vây kinh tế Iran. Hai  đối tác để Trung Quốc dùng làm đối trọng với “thế giới còn lại”. Ngoài ra lạm phát cho thấy hậu quả tăng trưởng nóng suốt 13 năm qua đã bắt đầu gây tác hại, khi sàn chứng khoáng của họ bắt đầu rớt giá sâu nhất trong một năm qua. Nên họ bắt đầu tung cờ trắng để lùi lại, và tuyên bố ẫm ờ là sẽ cải tổ tài chính trong cuộc chiến tiền tệ? Hãy chờ xem đoạn kết vẫn còn dài.  Bất kỳ lãnh tụ quốc gia nào cũng thế, họ chỉ vì quốc gia dân tộc họ. Khi nguy nan, lúc thăng tiến họ đều vì mục tiêu tối hậu này. Các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thực chất là khủng hoảng thừa do lòng tham con người lợi dụng kẽ hở quản lý. Khủng hoảnh kinh tế toàn cầu là hiểm họa mà cũng là thời cơ. Quốc gia nào biết lợi dụng nó thì sẽ được lợi, và ngược lại. Đó là hai bài học rút ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vô tiền khoáng hậu 2007-2009.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đương đầu lạm phát      Cuộc chiến chống lạm phát chúng ta sẽ khó thành công nếu không điều chỉnh được dòng tiền chảy một cách tuần hoàn, hợp lý, kịp thời có các biện pháp nhanh chóng khắc phục hiệu ứng phụ của chính sách thắt chặt tiền tệ hiện nay.    Kinh tế thế giới vẫn chưa có gì sáng sủa  Mặc dù chính phủ và ngân hàng quốc gia của nhiều nước, đặc biệt là Mỹ, đã hết sức nỗ lực nhưng tình hình kinh tế thế giới vẫn chưa có gì khả quan. Chứng khoán toàn cầu bất ổn. Kinh tế Mỹ đang đối đầu với nguy cơ suy thoái nặng nề nhất trong hơn 20 năm trở lại đây. EU và Nhật Bản đều đứng trước nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng xấu từ nền kinh tế Mỹ. Đồng USD mất giá, câu chuyện về nguy cơ sụp đổ của hệ thống tiền tệ này ngày càng được nhắc tới nhiều hơn. Dầu đã vượt ngưỡng 100 USD/thùng vào ngày 19/2 tại thị trường New York. Vàng tăng cao chưa từng thấy, vượt mức 1000 USD/ounce (tức là trên 18 triệu đồng 1 chỉ). Niềm hy vọng của thế giới đổ dồn hết vào các nền kinh tế đang lên: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga. Nhưng ngay chính bản thân các nền kinh tế này cũng đang phải đối mặt với áp lực lạm phát gia tăng. Tâm trạng chung của giới đầu tư toàn cầu là bất an. Bóng mây khủng hoảng tài chính, điều mà chỉ cách đây mấy tháng nhiều người vẫn cho là hoang đường, nay đã lộ cuối chân trời.  Kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn  Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức. Trước hết là lạm phát. Tết đã qua rồi, nhưng hầu hết giá các mặt hàng tiêu dùng chưa hề có dấu hiệu hạ nhiệt. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2008 tăng 2.38% so với tháng 12/2007, trong đó tăng mạnh nhất vẫn là nhóm hàng lương thực – thực phẩm, tăng 3.76% và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng – tăng 2,88%. Một mức tăng kỷ lục trong vòng mười năm trở lại đây. Điều đó có nghĩa là đại đa số người dân, đặc biệt là nông dân đang nghèo đi từng ngày. Bên cạnh đó, đợt rét đậm, rét hại kỷ lục gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất vụ đông xuân. Thị trường chứng khoán bất ổn, VN-Index đã tụt dần về mốc 700 điểm – điều mà ít  nhà đầu tư nào nghĩ tới. Trước các biện pháp thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các ngân hàng thương mại (NHTM) đang lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động. Lần đầu tiên trong lịch sử ngân hàng Việt Nam lãi suất cho vay qua đêm tăng cao đạt mức kỷ lục lên tới 43%  (26/2) mà vẫn chưa có điểm dừng. Trong khi các doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp dân doanh, đang lao đao đứng trước nguồn vốn vay ngày càng hạn hẹp và đắt đỏ. Đã thế, ngày 25/2, giá xăng dầu bán lẻ lại tiếp tục điều chỉnh tăng thêm 1500đồng/lít, tạo tiền đề cho một làn sóng tăng giá tiêu dùng mới.  Nỗ lực chống lạm phát của chính phủ  Lạm phát. Chúng ta hiểu mối lo thường trực của Chính phủ và hoan nghênh các biện pháp thắt chặt tiền tệ gần đây của Ngân hàng Nhà nước. Sau khi nâng mức dự trữ bắt buộc ở các ngân hàng thương mại, từ 1/2/2008, NHNN đã tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm. Động thái này nhằm tăng lực hấp dẫn cho VND đồng, hút bớt lượng tiền lưu thông. Tuy nhiên mạnh tay nhất là dự định phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc bằng tiền đồng tới đây với lãi suất 7,8%/năm. Bắt buộc có nghĩa dù không muốn các NHTM đều phải mua với một định mức cho trước. NH Đầu tư và Phát triển (BIDV), NH Công thương và NH Ngoại thương phải mua 3.000 tỉ đồng mỗi đơn vị. ACB với 1.500 tỉ đồng. Sacombank – 1200 tỷ. Các ngân hàng khác gồm Techcombank, Eximbank, Đông Á… mỗi đơn vị được phân bổ mua 500 tỉ đồng. Đây là đợt hút tiền lưu thông qui mô nhất từ trươc tới nay.  Coi chừng hậu quả khó lường  Đành rằng lạm phát là lạm phát chung, chống lạm phát là sự nghiệp chung, nhưng xem ra câu chuyện này hơi lạ trong kinh tế thị trường. Các NHTM đang phải huy động vốn trong dân với lãi suất từ 10-11%/năm. Trong khi bị bắt buộc mua tín phiếu của NHNN với lãi suất 7,8%. Chưa buôn đã thấy lỗ ít nhất 2,2%/năm. Biết lỗ nhưng vẫn phải gánh. Vì sao? Vì công việc chung? Tất nhiên, NHTM sẽ không bao giờ chịu gánh một mình, họ sẽ tìm cách chia sẻ với bạn hàng. Là ai? Chính là các doanh nghiệp đang cần tiền để phát triển sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay dài hạn trên thị trường tài chính không bao xa nữa chắc chắn sẽ được nâng lên một mặt bằng mới, vượt xa ngưỡng 15%/năm hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc chi phí sản xuất sẽ tăng cao, có nghĩa là giá thành sản phẩm sẽ không thể nào giảm được. Giá cả vì thế lại tiếp tục leo thang. Như vậy, nếu tình trạng này kéo dài, cuộc chiến chống lạm phát do NHNN khởi xướng với những công cụ tưởng như rất kịp thời và đúng tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu gánh nặng lạm phát cho doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân về bản chất đang trở thành cuộc đùn đẩy trách nhiệm và chi phí chống lạm phát sang cho chính họ (doanh nghiệp và người dân). Chống lạm phát như thế có thể được ngay hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài sẽ để lại hậu quả thật khó lường. Sản xuất đóng băng, tăng trưởng suy giảm, nền kinh tế rất dễ sa vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân ngày càng chật vật.    Cần phải làm gì?  Tới đây, áp lực lạm phát chắc chắn còn tăng cao. Nhưng người dân không có lỗi khi lạm phát vượt ra ngoài tầm kiểm soát, cũng như không hề có lỗi khi làm xe tự chế, hay rong ruổi gánh hàng rong khắp phố phường Hà Nội tìm kế mưu sinh… Cái khó của người làm quản lý là làm sao ra được các quyết sách vừa hợp lòng dân mà lại đúng qui luật. Thực ra, ý tưởng không có tiền – sẽ không còn lạm phát đã quá lỗi thời. Tiền phải có, càng nhiều càng tốt nhưng phải đúng nơi, đúng chỗ. Ở ta trật tự đang bị đảo lộn, nơi cần tiền – không có (với khối doanh nghiệp dân doanh); nơi không cần tiền – chính xác hơn là sử dụng tiền không hiệu quả, nhiều khi sai mục đích – thì lại quá dồi dào (khối DNNN với vốn đầu tư từ ngân sách). Người ít tiền lại phải nai lưng chịu phí chống lạm phát, trong khi kẻ sẵn tiền vẫn ung dung hưởng ưu tiên. Rõ ràng, cuộc chiến chống lạm phát chúng ta sẽ khó thành công nếu không điều chỉnh được dòng tiền chảy một cách tuần hoàn, hợp lý, kịp thời có các biện pháp nhanh chóng khắc phục hiệu ứng phụ của chính sách thắt chặt tiền tệ hiện nay. Nếu không hậu quả sẽ thật khó lường, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn quá nhiều bất ổn như hiện nay.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường năng lượng mặt trời      Một đôi vợ chồng Mỹ say mê mày mò sáng tạo  đã quyên góp được hơn một triệu đôla để sản xuất hàng loạt những con  đường ghép từ nhiều tấm năng lượng mặt trời (solar panel).    Theo tính toán của Julie và Scott Brusaw, nếu tất cả các con đường cao tốc ở Mỹ được thay thế bằng đường quang điện thì lượng điện được sản xuất ra từ đây sẽ nhiều gấp ba lần lượng điện mà Mỹ tiêu thụ hằng năm. Tuy nhiên, giá thành sản xuất đường quang điện cũng đắt gấp ba lần so với đường cao tốc thông thường.   Để biến ý tưởng của mình thành hiện thực, vợ chồng Brusaw đã sử dụng phương thức huy động vốn đám đông (crowdfunding) và quyên được con số vượt xa 1 triệu đôla mà họ kỳ vọng. Chưa có ý tưởng nào được nhiều người ủng hộ như vậy – đến nay là hơn 40.000 người.  Ông Brusaw cho biết, những tuần đầu, chiến dịch crowdfunding diễn ra hết sức ì ạch. Mãi cho đến khi một video clip được tung ra trên YouTube thì dự án mới trở nên nổi tiếng. Thời gian quyên góp đã được gia hạn để hút thêm nhiều vốn. “Với khoản tiền bổ sung này, có thể tiến hành sản xuất sớm hơn,” ông Brusaw nói.   Ý tưởng đường quang điện đã được vợ chồng Brusaw thử nghiệm ở bang Idaho: khoảng 40m2 của một bãi đỗ xe ở đây được lát bằng những solar panel hình lục giác với 69% diện tích phủ tế bào quang điện. “Khi sản xuất hàng loạt thì 100% diện tích panel đều có tế bào quang điện,” Scott cam kết. Solar panel không chỉ giúp việc nạp điện cho xe ô tô điện trở nên dễ dàng mà khi được kết nối với lò sưởi, chúng còn giải quyết vấn đề đường bị đóng băng khi trời lạnh.   Trên cùng là một lớp kính chịu lực cao, có khả năng chống trơn trượt với độ bám còn hơn cả nhựa đường. Con đường kiểu mới đã chứng tỏ có thể chịu được sức nặng của các loại phương tiện giao thông chạy trên đó. Scott giới thiệu một video clip cho thấy khi chiếc máy kéo có trọng lượng 1,13 tấn chạy qua, mặt kính vẫn không bị hư hại. “Chúng tôi đã vượt qua được mọi thử nghiệm, kết quả thu được thậm chí hơn cả trông đợi,” ông Brusaw nói. Tuy nhiên, tuổi thọ đường quang điện có cao hơn đường nhựa thông thường hay không là câu hỏi phải chờ thời gian trả lời.   Thử nghiệm ở bãi đỗ xe mới là bước khởi đầu. Kế hoạch của vợ chồng Brusaw lớn hơn nhiều: Họ có ý định triển khai ý tưởng của mình trên đường cao tốc, đường dành cho người đi bộ, thậm chí cả đường băng cất cánh và hạ cánh ở các sân bay. Danh mục các loại đường quang điện rất dài, theo vợ chồng Brusaw thì tất cả những nơi có ánh mặt trời chiếu vào đều thích hợp để làm đường quang điện.  Sau khi thành công với nguyên mẫu, đã đến lúc triển khai sản xuất đại trà. Với khoản tiền quyên được, vợ chồng Brusaw đã lập hãng Solar Roadways và dự kiến xây dựng tại mỗi bang ở Mỹ một xưởng sản xuất, sau đó sẽ dần mở rộng ra nhiều nước khác.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đường truyền điện cung cấp năng lượng cho ô tô từ mặt đất      Ô tô tương lai có thể được cung cấp năng lượng bằng những con đường truyền điện. Công nghệ như vậy cho phép các xe chạy điện từ bỏ những chiếc pin nặng nề không những làm tăng trọng lượng xe, làm tốn năng lượng khi di chuyển, mà còn khiến xe phải dừng lại khi nạp.    Ý tưởng này đã được nghĩ tới từ vài thập kỉ nay. Những nỗ lực trước đó sử dụng dây cảm điện trên đường để tạo một trường điện từ tương tác với cuộn dây gắn theo xe. “Do các cuộn dây phải được đặt chính xác mặt đối mặt để đạt hiệu năng cao, kế hoạch này có thể hữu dụng nếu nạp điện cho xe trong khi đỗ, nhưng lại không hiệu quả cho xe chạy”, chuyên gia Masahiro Hanazawa ở phòng thí nghiệm R&D Tokyo nói.  Hanazawa và Takashi Ohira tại ĐH Kĩ thuật Toyohashi ở Aichi đang phát triển một hệ thống truyền điện năng qua cuaroa sắt ở trong hai lốp xe và một đĩa kim loại trên đường. “Cách tiếp cận của chúng tôi khai thác cặp lốp xe vốn luôn tiếp xúc với mặt đường”, Hanazawa cho biết.  Để kiểm tra bao nhiêu năng lượng bị mất khi điện năng đi qua lốp xe cao su, Hanazawa và Ohira dã thiết lập thí nghiệm trong đó họ đặt đĩa kim loại trên sàn và trong lốp xe. “Chưa đến 20% lượng điện truyền đi bị thất thoát trong quá trình”, Ohira nói. Nhóm đã giới thiệu công trình của họ trong Hội thảo sóng vi ba quốc tế về chuyển tải điện năng không dây ở Tokyo, Nhật.  Với đủ điện năng, hệ thống có thể chạy những xe chở khách điển hình, và nhóm đang thiết kế một mẫu thử nghiệm trên phạm vi nhỏ để chứng minh điều này. Tuy nhiên anh thừa nhận là năng lượng thất thoát “cao hơn nhiều so với pin thông thường”.  John Boys, một kĩ sư điện của ĐH Auckland, New Zealand, lưu ý rằng miếng đệm kim loại trên đường cần khoảng 50,000 volt để cung cấp năng lượng cho xe, bằng với lượng điện sử dụng cho súng điện. “Chẳng ai muốn lỡ dẫm chân lên đó”, ông nói.  Hơn nữa, với mức năng lượng này, các đĩa điện sẽ sản sinh ra một từ trường lớn sẽ “khiến tần số radio nhiễu loạn đáng kể, điều này có thể gây hỗn loạn tới mọi hệ thống điện ở gần”.  Sẽ khá tốn kém để “đào đường và lắp đặt hạ tầng cần thiết”, nhận xét từ Daniel Friedman của Đại học New South Wales, Sydney, Úc, nhưng anh nói có thể xử lý theo cách khác bằng cách chỉ dùng xe có đĩa kim loại trên các tuyến cao tốc chính, và trên những con đường khác cho chạy xe sử dụng pin.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Duy trì lãi suất thực âm: Nguy hiểm      Lạm phát chỉ trong 3 tháng đầu năm 2008 đã lên tới hơn 9% và được dự đoán sẽ có thể vượt 15% vào năm 2008. Tuy nhiên vừa qua Hiệp hội các Ngân hàng vừa thống nhất áp dụng lãi suất trần cho vay 11%/năm khiến lãi suất thực(1) sẽ ít nhất là âm 4%/năm. Lãi suất thực âm luôn là lợi bất cập hại, nó có thể vô hiệu hóa các chính sách kiềm chế lạm phát của Chính phủ hiện nay.    “Lạm phát chỉ trong 3 tháng đầu năm 2008 đã lên tới hơn 9% và được dự đoán sẽ có thể vượt 15% vào năm 2008. Tuy nhiên vừa qua Hiệp hội các Ngân hàng vừa thống nhất áp dụng lãi suất trần cho vay 11%/năm khiến lãi suất thực (1) sẽ ít nhất là âm 4%/năm. Lãi suất thực âm luôn là lợi bất cập hại, nó có thể vô hiệu hóa các chính sách kiềm chế lạm phát của Chính phủ hiện nay.”  Lạm phát hiện đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu của Việt Nam hiện nay. Bài viết ngày 30/3 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với tiêu đề: “Phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh xã hội và tăng trưởng bền vững” (2) đặt mục đầu tiên là kiềm chế lạm phát phần nào phản ánh điều này. Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ cũng đã có những chính sách quyết liệt như thắt chặt tín dụng, hạn chế chi tiêu công lãng phí, và linh hoạt tỷ giá (2). Tuy nhiên, Hiệp hội các Ngân hàng vừa thống nhất áp dụng lãi suất trần cho vay 11%/năm khiến cho lãi suất thực sẽ ít nhất là âm 4%/năm. Lãi suất thực âm luôn là lợi bất cập hại và có thể làm phá sản các chính sách kiềm chế lạm phát khác.  Trong thị trường Tài chính tiền tệ, lãi suất thực được coi là “giá” của tiền, một mặt hàng đặc biệt, nó làm cân bằng giữa cung và cầu tiền. Thị trường tiền tệ chỉ có thể tồn tại bền vững nếu như giá của tiền là dương vì giá âm sẽ dẫn đến hậu quả là không tồn tại cung hàng (ở đây là tiền gửi) trong kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, chống lạm phát có thể hiểu là chống mất giá trị của đồng tiền hay nói cách khác là duy trì sức mua ổn định của đồng tiền.Hai vấn đề này liên quan mật thiết đến nhau do vậy chống lạm phát bằng các chính sách khác không thể hiệu quả nếu như giá của tiền là âm.  Thông thường người dân giữ tiền mặt với mục đích thanh toán cho các hoạt động kinh tế và dự trữ tài sản, Nhà nước có đặc quyền phát hành tiền nhưng cũng có nghĩa vụ duy trì giá trị của đồng tiền bằng các chính sách kinh tế và pháp luật. Lạm phát là một loại thuế vô hình đánh vào tất cả mọi người dân giữ tiền mặt còn lãi suất thực âm có thể coi như chính sách “thuế” đánh vào tài sản của người dân khi họ gửi tiền (tài sản) của họ trong Ngân hàng.  Thí dụ như hiện tại 100.000 VNĐ tương đương với 10 cân gạo và lãi suất danh nghĩa của tiền gửi Ngân hàng là 11%/ năm. Năm sau người gửi tiền nhận được 111.000 tiền mặt nhưng nếu như lạm phát 15%/ năm dẫn tới lãi suất thực là âm 4% thì với số tiền mặt nhận được này họ chỉ mua được 9.65 cân gạo, giá trị tài sản của người gửi tiền tại Ngân hàng không những không sinh lời mà còn bị hao hụt đi. Khi Nhà nước và hệ thống Ngân hàng không đảm bảo giá trị tài sản của người dân dưới dạng tiền gửi thì người dân sẽ sớm nhận ra và xoay sở để tự bảo vệ giá trị tài sản của mình dưới nhiều hình thức khác, thí dụ như chuyển đổi sang ngoại tệ có sức mua ổn định và vàng. Họ cũng có thể tiến hành đầu cơ vào Chứng khoán (nếu kỳ vọng sinh lời), bất động sản (BĐS) và các loại hàng hóa có khả năng bảo đảm giá trị tài sản khác, tạo lên cầu giả tạo. Lãi suất âm sẽ dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế như:  · Trừ một số lượng ít cần thiết cho hoạt động thanh toán hàng ngày, người dân sẽ tìm cách chuyển đổi tài sản của mình sang ngoại tệ như USD, Euro, Yên… Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ càng được ít “ưu chuộng” và nó thúc đẩy tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Đô la hóa có thể khiến chính sách tiền tệ ít hiệu quả hơn và đồng thời đưa nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều hơn với biến động của kinh tế thế giới.  · VNĐ ít được “ưa chuộng” thậm chí bị chối bỏ đồng nghĩa với việc VNĐ bị mất giá trở lại khiến lạm phát có thể tăng cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực tới các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ như thắt chặt tín dụng và linh hoạt tỷ giá.  · Khi người dân nhận thấy gửi VNĐ tại Ngân hàng kém hấp dẫn, thậm chí thua thiệt, họ sẽ rút tiền (tài sản) ra khỏi hệ thống Ngân hàng khiến một số Ngân hàng hiện nay hiện đã thiếu thanh khoản càng khó khăn hơn nữa và có thể bị phá sản. Khủng hoảng thanh khỏan có thể xảy ra.  · Tìm kiếm cách đầu tư sinh lời và lưu trữ tài sản thay thế gửi tiền tại Ngân hàng, người dân có thể đầu cơ vào BĐS và các hàng hóa commodity (4) khác khiến cho bong bóng BĐS lại càng phình to hơn, giá các mặt hàng commodity cũng tăng cao giả tạo, đẩy lạm phát lên cao hơn. Thực tế cho thấy, tại các nước khác, lãi suất thực thấp hoặc âm đều đã dẫn đến bong bóng tài sản (asset bubble) và đầu cơ trong hàng hóa commodity. (5)  Ngắn gọn, duy trì lãi suất thực âm là hạ thấp giá trị của VNĐ có thể khiến người dân mất niềm tin vào VNĐ. Khi niềm tin vào VNĐ bị suy giảm, người dân sẽ nghĩ ra trăm nghìn kế sách để đảm bảo giá trị của cải và tài sản của mình khiến nền kinh tế sẽ không hoạt động hiệu quả theo quỹ đạo bình thường.  Dễ nhận thấy rằng áp dụng lãi suất trần thấp cũng có ý định nhằm ổn định và hạ nhiệt thị trường tài chính nhưng đây là chính sách lợi bất cập hại và không đồng nhất với ưu tiên kiềm chế lạm phát của Chính phủ vì it nước nào trên thế giới lại áp dụng lãi suất âm trong ưu tiên số một là kiềm chế lạm phát. Những người ủng hộ chính sách này lập luận rằng đặt mức lãi suất trần thấp sẽ hỗ trợ doanh nghiệp, nhà sản xuất vay vốn hiện nay nhưng khiến cho lãi suất thực âm là quá đà, phi thị trường vì người vay vốn không những không phải chịu chi phí mà lại còn hưởng lợi khi vay. Trở lại thí dụ trên, nếu như lãi suất danh nghĩa cho vay là 14%, người vay 100.000 VNĐ tương đương với 10 cân gạo để sản xuất (gạo), sau một năm sẽ phải trả cả vốn lẫn lãi là 114.000 VNĐ bằng 9.9 cân gạo, thấp hơn giá trị thực khi đi vay. Chỉ khi lãi suất danh nghĩa cao hơn lạm phát, lãi suất thực dương, người vay vốn mới phải trả chi phí và người cung cấp vốn mới được hưởng lãi, tức là thị trường tiền tệ mới hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Chúng ta không nên nhầm lẫn và đánh đồng giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa vì lãi suất thực mới là yếu tố ảnh hưởng đến các hành vi kinh tế. Hơn nữa, lãi suất thực âm tưởng như là hỗ trợ doanh nghiệp người vay vốn nhưng trong trung và dài hạn là hoàn toàn là phản tác dụng vì nếu đánh vào gốc của thị trường tiền tệ là nguồn cung tiền gửi, vào những người cho Ngân hàng vay tiền, gây thiệt hại cho họ thì họ sẽ rút tài sản ra để tự bảo vệ mình, lúc đó hệ thống Ngân hàng thiếu thanh khoản dẫn đến khủng hoảng thì lấy đâu ra vốn để cho doanh nghiệp vay?  Tại Mỹ hiện nay cũng như một số nước khác trong lịch sử chỉ cho phép lãi suất thực thấp khi nền kinh tế đi vào chu kì suy thoái, giảm lãi suất thực để thúc đẩy nền kinh tế và hiện tại là ví dụ điển hình. Lãi suất 12% hiện nay là không thấp nhưng với ưu tiên chống lạm phát hàng đầu nhất thiết phải duy trì lãi suất thực dương, tức là lãi suất phải cao hơn tỉ lệ lạm phát (kỳ vọng). Ngay tại những nước phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và Anh vào những năm 79-80 họ còn cho phép lãi suất lên tới 15-16% để chống lạm phát. Thị trường có tiếng nói và quy luật riêng của nó, Chính phủ có thể giám sát và điều chỉnh thị trường nhưng đừng “ép” quy luật của thị trường quá mức vì nếu làm vậy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực lại cho nền kinh tế. Neo tỷ giá cứng nhắc trước đây đã là một ví dụ minh họa nên rất mong các nhà hoạch định rút kinh nhiệm trong vấn đề chính sách lãi suất.  30/3/2008    ——————-  Chú thích:  (1) Lãi suất thực (real interest rates) được tính bằng lãi suất danh mục (nominal) trừ đi tỉ lệ lạm phát (kỳ vọng). Thỏa thuận của Hiệp hội các Ngân hàng:  http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=01&id=cf9055daf7d617　  (2): Xem tại: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/03/775841/  (3) Xem thêm “Chống lạm phát bằng chính sách tỷ giá…” của tác giả tại http://www.tiasang.com.vn/news?id=2464  (4) Hàng hóa commodity là các hàng như lương thực, sắt thép, xăng dầu, vân vân…  (5) Thí dụ như Giáo sư Frankel tại Harvard cho rằng giá các hàng hóa commodity như lương thực, xăng dầu tăng cao là do lãi suất đồng USD tại Mỹ thấp và có xu hướng âm dẫn đến đầu cơ vào các thị trường này:  Xem tại: http://www.voxeu.org/index.php?q=node/1002      Nguyễn Quốc Hùng, ĐH British Columbia, Canada      Author                Quản trị        
__label__tiasang Duyên sáng chế máy nông nghiệp của chủ doanh nghiệp nhựa      Với hàng loạt máy móc phục vụ sản xuất nông  nghiệp như máy gieo hạt thẳng hàng, xe phun xịt dung dịch tự động và máy  gặt đập liên hợp, ông Phạm Hoàng Thắng, chủ doanh nghiệp tư nhân Nhựa  Hoàng Thắng (phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ) được tín nhiệm  bởi máy móc do ông sáng chế đã đem lại hiệu quả kinh tế, hỗ trợ công việc đồng áng cho bà con nông dân suốt từ quá trình gieo hạt đến thu hoạch.       Phạm Hoàng Thắng sinh năm 1962 ở vùng  nông thôn thuộc huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang (nay thuộc thành phố Cần  Thơ). Khởi nghiệp của ông là ngành nhựa nhưng đến năm 1999, ông chuyển sang ngành Cơ khí nông nghiệp. Năm 2003, ông chuyển về  Cần Thơ thành lập Công ty TNHH một thành viên Nhựa Hoàng Thắng.  Là chủ một cơ sở sản xuất nhựa dùng cho sinh hoạt nhưng ông Phạm Hoàng Thắng lại có duyên với máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ông kể: “Sinh ra trong gia đình nông dân nên từ nhỏ, tôi đã phụ giúp gia đình  trong việc đồng áng. Hiểu được những cái khó nhọc của người  nông dân trong các khâu canh tác lúa, tôi suy nghĩ phải  làm thế nào để chế tạo ra những máy móc thiết bị hỗ trợ cho người nông  dân trong quá trình canh tác lúa, giúp họ phần nào giảm bớt những  nhọc nhằn, khó khăn”.  Từ những suy nghĩ này, ông Thắng đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu, thử nghiệm những sáng chế, máy móc phục vụ nông nghiệp. Ông cho rằng, việc  nghiên cứu chế tạo sản phẩm hết sức khó khăn vì phải chế tạo ra các thiết bị máy móc phù hợp với môi trường luôn chịu ảnh hưởng bởi thời  tiết nắng mưa, sình lầy…, trong khi đó “bản thân tôi chưa  qua trường lớp đào tạo nào về cơ khí, chế tạo máy móc hay học nghề…”. Theo đánh giá của ông, nghiên cứu tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề đạt hiệu  quả tốt là một việc khó làm, để biến ý tưởng thành hiện thực lại càng  khó khăn hơn.  Tuy nhiên vượt qua những khó khăn đó, ông Thắng đã cho ra đời những dòng sản phẩm như máy gieo hạt thẳng hàng, máy gặt đập liên hợp, xe phun xịt thuốc bảo vệ thực vật tự động được bà con nông dân tin dùng.   Thiết bị gieo hạt thẳng hàng của ông Thắng làm bằng nhựa, nhẹ,  bền, độ nhạy các hộc chứa lúa cao và người sử dụng có thể dễ dàng điều  chỉnh độ rơi của lúa. Sau bốn lần cải tiến, đến nay, máy gieo hạt thẳng  hàng của Hoàng Thắng đã đáp ứng được cả yêu cầu của khách hàng khó  tính. Nhờ máy gieo hạt thẳng hàng này nên chi phí sản xuất giảm, lượng  giống giảm tử 10 đến 15 kg lúa giống/1.000m2 đất, tiết kiệm sức lao  động, phân bón, thuốc trừ sâu…   Tuy là giải pháp sáng chế khá đơn giản nhưng đã thay đổi tập quán sạ lang (gieo sạ bằng tay) của người  nông dân Nam Bộ, khuyến khích người nông dân ứng dụng trong  chương trình Ba giảm ba tăng (giảm giống, giảm phân, giảm sâu bệnh, tăng  năng suất,  tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế).  Máy gặt đập lúa liên hợp của ông Thắng chế tạo đảm bảo song song các yếu tố: hoạt động trên địa hình phức tạp, đồng  ruộng sình lầy mà vẫn đáp ứng được các khâu cắt gặt, đập tuốt, sàng sẩy  lấy hạt. Đây là thành quả lao động của ông  Thắng sau bốn năm nghiên cứu thử nghiệm mà “điều khó khăn là mỗi lần chỉnh sửa, nâng  cấp thì phải đợi đến mùa vụ thu hoạch lúa mới thử nghiệm được nên khiến  cho việc chế tạo máy kéo dài thời gian”, ông Thắng chia sẻ.   Kết quả là máy MGĐLH-180 của ông có chế tạo buồng đập, hệ  thống truyền lực giúp máy hoạt động hiệu quả hơn nhiều loại máy nhập  khẩu từ Trung Quốc. Nó đem lại hiệu quả cao như so với các máy gặt đập ngoại  nhập cùng loại: giảm 3% lượng lúa hao hụt mà giả rẻ hơn một nửa. Một mẫu máy gặt đập liên hợp khác 4LL-1.8 còn có tính năng gặt  được lúa đổ ngã, lúa ướt sương mà vẫn đảm bảo tỷ lệ hao hụt ở mức thấp  nhất.   Xe phun xịt dung dịch thuốc tự động được ông Thắng nghiên cứu chế tạo nhằm giúp người nông dân tránh được độc hại trong  việc phun thuốc trừ sâu bệnh. Xe gắn động cơ xài xăng , công suất một mã lực để tạo áp lực. dàn phun có thể điều chỉnh phun trên toàn tán cây hoặc phun sát gốc lúa.   Với mày mò sáng tạo này, ông Thắng đã nhận được nhiều giải thưởng như giải nhất Hội  hi Máy thu hoạch lúa các tỉnh phía Nam năm 2010, giải nhất cuộc thi Sáng chế Tp Hồ Chí Minh năm 2011, giải nhất cuộc thi Sáng chế năm 2013.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Edmund S. Phelps      Edmund S. Phelps, người Mỹ, 73 tuổi, giáo sư Đại học Columbia, vừa được Hàn lâm Viện Thụy Điển trao tặng giải Nobel năm 2006. (Thực ra, kinh tế học không phải là một trong năm ngành mà chính Alfred Nobel chọn để cho giải thưởng, mà do Ngân hàng Thụy Điển lập ra năm 1968 để tưởng nhớ Nobel).    “Ned” Phelps không được nhiều người biết vì các công trình nghiên cứu của ông rất kĩ thuật, hàn lâm, chính đồng nghiệp của ông cũng thấy “khó nuốt”. Tuy nhiên, với một số đóng góp quan trọng, ngay từ những năm 1970 Phelps đã nằm trong danh sách ngắn mà dân trong nghề cho là đáng được Nobel. Có điều là, sau khi công trình mà Lucas dựa vào Phelps nhận được giải năm 1995, rồi năm 2004 tới lượt Kydland và Prescott – cũng là những người chịu ảnh hưởng của Phelps, nhưng ít hơn – thì ai cũng tưởng Phelps đã “lỡ thời”. Việc Hàn Lâm Viện Thụy Điển quay lại trao giải cho ông làm nhiều người ngạc nhiên là vì thế. Có kẻ xấu miệng cho rằng các ông Hàn lâm Thụy Điển hối hận đã “quên” Phelps, và ngại rằng chẳng bao lâu nữa thì không còn có thể trao giải cho ông (Nobel chỉ có thể trao cho người chưa khuất núi). Trễ còn hơn không!                     Hành trình đưa Phelps đến Stockholm có thể được xem như khởi đầu từ năm 1958. Năm ấy, A. W. Phillips (người Tân tây lan) khám phá rằng ở Anh, khi thất nghiệp thấp thì lạm phát cao, và ngược lại, khi thất nghiệp cao thì lạm phát thấp. Trên biểu đồ mà hai trục là suất thất nghiệp và tốc độ lạm phát thì liên hệ ấy có dạng một đường cong lõm, dốc âm, tiệm cận hai trục. Sau Phillips, nhiều người khác cũng phát giác là hầu hết các nước phát triển đều có biểu hiện tương tự. Đó là “đường cong Phillips” mà mọi sinh viên kinh tế đều phải học trong gần nửa thế kỷ qua.  Khám phá của Phillips là một bước ngoặc trong môn kinh tế vĩ mô, và có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy các nhà làm chính sách ở Tây phương trong thập niên 1960. Tuy rằng liên hệ Phillips là một thất vọng cho những đồ đệ thuần túy của Keynes (đã tin rằng có thể, nếu khôn khéo, toàn dụng lao động mà hoàn toàn không lạm phát), nó cũng còn cho phép nhà chính sách chọn một trong hai chỉ tiêu: thất nghiệp thấp hoặc lạm phát thấp, miễn là chấp nhận sự đánh đổi (lạm phát cao hoặc thất nghiệp cao). Hơn nữa, ai cũng đinh ninh rằng cái “giá” của sự đánh đổi này là bất biến theo thời gian.  Trong bối cảnh đó, ba bài nghiên cứu viết từ 1967 đến 1970 của Phelps (gần như đồng thời với Friedman, người được Nobel năm 1976, về cùng một đề tài) gây chấn động trong giới kinh tế với những nghi vấn căn bản về sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát qua đường cong Phillips.  Trước hết, Phelps nhấn mạnh rằng Phillips (vốn dĩ là một kỹ sư điện) chỉ đúc kết những con số thống kê mà không đưa ra một giải thích lý thuyết nào.  Kinh tế học không thể dừng ở đó. Cụ thể, đường cong Phillips (lúc ấy) thiếu một căn bản lý thuyết về hành vi của cá nhân hoặc doanh nghiệp, và cũng không nói gì đến tính ổn định của thị trường lao động.                     Đóng góp của Phelps, nói theo người trong nghề, là xây dựng một “nền tảng vi mô” cho sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Theo Phelps, lạm phát không chỉ tuỳ thuộc vào mức thất nghiệp, nhưng còn vào kỳ vọng  lạm phát của lao động lẫn doanh nghiệp. Nghĩa là, lạm phát sẽ gây kỳ vọng là lạm phát sẽ tiếp tục, thậm chí sẽ cao hơn, và chính kỳ vọng ấy thúc đẩy lao động đòi tăng lương, doanh nghiệp tăng giá, làm lạm phát trầm trọng hơn. Lương đuổi giá, giá đuổi lương, vòng trôn ốc ngày càng gia tốc.   Rất may, vòng trôn ốc lạm phát đó sẽ không tiến đến vô cực bởi vì, như Phelps phân tích trong mô hình của ông, có một suất thất nghiệp mà lạm phát sẽ ngừng gia tốc. Ban đầu, ông gọi suất ấy là “suất thất nghiệp tự nhiên”, nhưng sau khi có người chỉ ra là chữ “tự nhiên” có thể gây ngộ nhận là suất ấy do thượng đế quyết định, con người không làm gì được, thì ông đổi tên nó lại là “suất thất nghiệp mà lạm phát không gia tốc”. Đó là suất thất nghiệp khi kỳ vọng lạm phát trùng với lạm phát thực tế, và không ai cần thay đổi gì nữa. Kinh tế trở lại trạng thái cân bằng, dù có thất nghiệp. Mô hình này của Phelps cũng biểu hiện bằng một đường Phillips, song đây là “đường Phillips có bổ sung kỳ vọng” mà sinh viên kinh tế ngày nay phải học bù đầu!  Từ mô hình của ông, Phelps kết luận: vì mỗi nền kinh tế có một suất thất nghiệp “tự nhiên” (xin dùng lại chữ ấy, cho gọn), nhà nước chỉ có thể giảm thất nghiệp dưới mức ấy một cách tạm thời, bởi lẽ sớm muộn gì nền kinh tế cũng “bung” về mức thất nghiệp đó (và gia tăng lạm phát). Nói cách khác, theo Phelps (và nhiều kinh tế gia khác, như Friedman), đồ đệ của Keynes là sai lầm khi dựa vào đường Phillips nguyên thuỷ, cho rằng có thể dùng công cụ tiền tệ và thuế khóa (lẫn chi tiêu) để hạ suất thất nghiệp đến bất kì con số nào, và giữ mãi ở mức đó, miễn là chấp nhận tốc độ lạm phát tương ứng. Không, Phelps khẳng định, thất nghiệp mà dưới mức “tự nhiên” thì lạm phát sẽ gia tốc, và tiếp tục gia tốc. Do đó, Phelps khuyến nghị các nhà làm chính sách không nên nhìn vào các đánh đổi ngắn hạn giữa thất nghiệp và lạm phát, song nên lèo lái nền kinh tế đến mức thu dụng lao động tối hảo và bền vững dài lâu.  Có người sẽ hỏi: Phelps là kinh tế gia “bảo thủ”, tin tuởng ở sự màu nhiệm của thị trường (như kiểu Friedman), hay “tiến bộ”, cho là nhà nước phải tích cực can thiệp (kiểu Keynes)? Nhìn chung thì Phelps có vẻ bảo thủ, tên ông hay được ghép chung với Friedman (giả thuyết Phelps-Friedman) và với một tác giả bảo thủ trẻ là John Taylor (giả thuyết Phelps-Taylor), thứ trưởng ngân khố trào Bush con. Tuy nhiên, mô hình của Phelps chi tiết hơn, khoa học hơn của Friedman về cách kỳ vọng được hình thành và vai trò của sự không đầy đủ thông tin. Ông cho rằng lao động lẫn doanh nhân đều không đủ thông tin, do đó thường sai lầm khi ước đoán tương lai. Về điểm này, ông chống trường phái “kỳ vọng hợp lý” (một trong những sáng lập viên là Lucas, Nobel 1995). Chính Lucas mới là hậu duệ trí thức của bảo thủ kiểu Friedman.   Mặt khác, Phelps có nhiều nhận xét gần gũi với phe “tiến bộ”. Ngay từ năm 1961, ông đặc biệt lưu tâm đến những vấn đề công bằng và phân phối thu nhập, và khi triển khai những mô hình tăng trưởng tân cổ điển, ông đặt câu hỏi là thế hệ này phải để lại cho thế hệ tương lai bao nhiêu vốn? Ông hay than phiền rằng kinh tế đã không quan tâm đúng mức đến nền tảng đạo đức của xã hội nói chung.   Thuyết “suất thất nghiệp tự nhiên” có một lổ hổng to lớn: dù đồng ý trên nguyên tắc rằng có một suất như vậy, cũng khó xác định nó là bao nhiêu (vào thời Clinton, ở Mỹ, các nhà kinh tế cứ phải tính đi tính lại suất thất nghiệp tự nhiên của nước này). Và nếu nó cao hơn mức tự nhiên thì nhà nuớc có thể giúp hạ nó được lắm chứ! Hơn nữa, chính Phelps cũng nhận rằng suất thất nghiệp này có thể thay đổi qua thời gian, và nếu như vậy thì ý niệm này gần như rỗng tuếch. Song đáng để ý nhất là Phelps nhận rằng kỳ vọng của các tác nhân kinh tế tùy thuộc vào “thể chế” (cụ thể là thị trường lao động và vai trò công đoàn), và vào mức tín nhiệm của người dân đối với nhà nước.  Nói cách khác, nếu thể chế thay đổi thì kỳ vọng về lạm phát của lao động và doanh nhân cũng thay đổi theo, và suất thất nghiệp “tự nhiên” có thể giảm đi. Vậy là, nhìn kỹ, thuyết của Phelps cũng có thể được dùng để biện hộ cho cải tổ thể chế.    Gần gũi với quan điểm “tiến bộ”, Phelps cũng cho rằng tăng trưởng kinh tế tùy thuộc rất lớn vào giáo dục. Có thể xem ông là tiên phong trường phái “tăng trưởng nội sinh” thịnh hành hiện nay (thủ lĩnh là Paul Romer, được nhiều người tiên đoán sẽ có Nobel trong tương lai không xa). Nổi bật nhất là ý kiến của Phelps cho rằng mức lương không đủ sống của các công việc loại thấp (không cần tay nghề) là nguyên nhân chính của nhiều tệ nạn xã hội như nghiệp ngập, tội ác…  Cũng như lạm phát gây hậu quả tai hại cho kỳ vọng lâu dài của doanh nghiệp, Phelps nhấn mạnh, thất nghiệp tẩm độc ước vọng lâu dài của lao động, và đề nghị nhà nước trợ cấp xí nghiệp để thêm lương cho lao động ít tay nghề. Như những kinh tế gia tiến bộ (đặc biệt là Stiglitz, (Nobel 2001) đồng nghiệp của ông ở Columbia), Phelps nhìn nhận tầm quan trọng của thể chế. Thiếu cơ sở hạ tầng thích hợp thì “hàng đống tiến sĩ” cũng không làm kinh tế phát triển được, có lần ông đã nói. Phelps cũng phản đối chính sách thuế của Bush. Các nhà bình luận bảo thủ ít khi nhắc đến những ý kiến này của Phelps.  Vào các thập niên 1960-70, phân tích của Phelps quả là “cách mạng”. Tuy nhiên, sau những tiến bộ trong kinh tế học gần bốn mươi năm qua, và nhất là dưới ảnh hưởng của Friedman, các ý kiến của Phelps đã đã trở thành “chính thống”. Nhìn lại hành trình tri thức của Phelps, khó xếp ông là “bảo thủ” hoặc “tiến bộ”, có lẽ chỉ nên nói rằng ông là một lý thuyết gia phức tạp, không thành kiến, giáo điều.  Vợ của Phelps là người Argentina. Hai ông bà thích xem opera, gặp gỡ bạn bè và hiện sống trong một căn hộ 3-phòng rất hiện đại, nhìn ra Central Park, ở New York.  Trần Hữu Dũng       Author                Quản trị        
__label__tiasang e-Estonia – mô hình mẫu của chính phủ điện tử      Khi đề cập đến những chính sách phát triển của Estonia, tờ Atlantic đã nhận định Estonia – đất nước nhỏ bé ở phía bắc châu Âu với 1,3 triệu dân, đã trở thành một chính phủ điện tử (e-government) kiểu mẫu.      Mart Laar- Thủ tướng Estonia giai đoạn 1992-1994, 1999 – 2002, là người áp dụng thuế căn hộ đầu tiên ở châu Âu. Nguồn: Oslo Freedom Forum  Có lẽ, thế giới biết nhiều về Estonia chính là từ The Daily Show, chương trình truyền hình Mỹ trong vòng nửa tiếng phát vào đêm muộn thứ ba hằng tuần, khi ông Taavi Rõivas , cựu Thủ tướng nước này xuất hiện vào tháng 3/2016 để đối thoại về mô hình Estonia điện tử (e-Estonia). Mô hình này nhằm mục tiêu tạo ra một quy trình hiệu quả bằng việc đưa nhiều quy trình về thủ tục truyền thống lên hệ thống trực tuyến, ví dụ như bỏ bầu cử phiếu. Việc xây dựng mô hình e-Estonia gắn liền với sự phát triển của đất nước Estonia hiện đại.  Bắt đầu từ những năm 1980, Estonia, một quốc gia thành viên của Liên bang Xô viết, đã trở thành tâm điểm của sự phát triển công nghệ và phát triển phần mềm cũng như đi đầu trong chính sách giáo dục. Sau sự tan rã của Xô viết vào đầu những năm 1990, Estonia đã nhanh chóng chuyển đổi để tận dụng khả năng công nghệ đã được tích lũy của mình, và những nhà chính trị trẻ như Mart Laar – người tạo ra thuế căn hộ đầu tiên của châu Âu, cũng như các nhà lãnh đạo giàu tinh thần đổi mới sáng tạo như Toomas Hendrik Ilves và Taavi Rõivas, đã trở thành những “nhà lãnh đạo tri thức” (intellectual leader) ở khu vực Trung và Nam Âu. Họ chính là những người tạo ra bước đột phá trong đổi mới cho đất nước này kể từ khi tách ra độc lập.  Dưới sự lãnh đạo của họ, Estonia trở thành một quốc gia luôn luôn thử nghiệm những điều mới mẻ, thử nghiệm những ý tưởng chính sách mới. Với việc thực hiện những điều đó, Estonia đã tạo ra một nền văn hóa chính trị tập trung vào đổi mới sáng tạo, trong đó điểm nhấn là mô hình “e-Estonia”. Trong khoa học chính trị, người ta vẫn gọi đó là một phiên bản của chính sách khởi nghiệp và với việc này, Estonia đã xây dựng thương hiệu của mình là một trung tâm đổi mới sáng tạo.  Những đổi mới trong chính sách quản lý  Một trong những đổi mới sáng tạo trong chính sách nổi bật là việc Estonia áp dụng thuế đồng đều (flat tax) – loại thuế áp dụng theo cùng tỷ lệ nộp tiền cho mọi đối tượng, vào năm 1994 và trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên bãi bỏ phương pháp thu thuế truyền thống. Điều này cho thấy, Estonia đã sẵn sàng tiếp cận những thách thức kinh tế và chính trị bằng việc mạnh dạn thử nghiệm chính sách. Trong những năm tiếp theo, Estonia trở thành quốc gia đầu tiên áp dụng hình thức bỏ phiếu từ xa bằng các thiết bị điện tử, trong đó bỏ phiếu tại nhà qua máy tính cá nhân nối mạng được áp dụng vào năm 2005 và bỏ phiếu qua tin nhắn dạng SMS trên điện thoại di động năm 2011.  Estonia còn là quốc gia cựu thành viên Xô viết đầu tiên tham gia Khu vực đồng tiền chung euro (Eurozone) vào năm 2011 và đi tiên phong trong việc dạy mã HTML ở cấp tiểu học vào năm 2012.  Joseph M. Ellis, PGS ngành khoa học chính trị tại trường Đại học Wingate, Bắc Carolina (Mỹ) đánh giá, Estonia chính là một mô hình kiểu mẫu về chính quyền điện tử. E-Estonia được xây dựng để hỗ trợ công việc vận hành kinh tế của chính phủ thêm hiệu quả, bền vững, dân chủ và minh bạch hơn. Nền tảng của mô hình này là một cơ sở dữ liệu quốc gia cho phép mọi người dân có thể giải quyết mọi việc từ nộp thuế đến bỏ phiếu. Mỗi người sẽ được chính quyền cấp một thẻ căn cước điện tử kèm một mã định danh kỹ thuật số (digital ID pin). Nhờ vậy, họ có thể thực hiện được bất kỳ giao dịch điện tử nào từ trả thuế đến trả vé xe buýt ở mọi nơi, mọi lúc trên đất nước.  Đổi mới sáng tạo ở Estonia không giới hạn ở khu vực công mà còn lan sang cả lĩnh vực tư bằng sự khuyến khích đổi mới sáng tạo về công nghệ thông tin và truyền thông. Đất nước này là một trong số những quốc gia tiên phong trong việc lắp đặt mạng Wi-Fi chất lượng cao với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân. Skype – sản phẩm ứng dụng phần mềm có thể kết nối hội thoại và hình ảnh miễn phí giữa những người sử dụng máy tính bảng, máy tính và thiết bị di động khác…, là một trong những câu chuyện thành công đáng chú ý nhất của Estonia. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Estonia đã tập trung phát triển phần mềm để đem lại nhiều tiện ích của Skype, kết quả là không chỉ người ở Estonia hưởng lợi trực tiếp từ sự thuận tiện khi sử dụng Skype mà Skype còn chọn Estonia để đặt nhiều văn phòng đại điện.  Sự tương tác giữa lĩnh vực công và tư đã góp phần tạo ra không khí đổi mới sáng tạo tại Estonia. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 trên The Guardian, Tổng thống Ilves đã nhấn mạnh đến di sản giáo dục và thực tế quy mô đất nước nhỏ của Estonia, vì vậy chính phủ nước này đã tập trung nguồn lực vào công nghệ. Như Nền tảng chính sách đổi mới sáng tạo (Innovation Policy Platform), một trang web theo dấu các xu hướng đổi mới sáng tạo, đã viết về Estonia: “Trong giai đoạn 2014-2020, chính phủ đã phân bổ 155 triệu USD vào Chương trình phát triển doanh nghiệp và Chương trình Chứng nhận đổi mới sáng tạo, 87 triệu USD cho những chương trình khởi nghiệp khác và 12,7 triệu USD cho riêng các startup đổi mới sáng tạo”.  Năm nguyên nhân nền tảng của thành công  Vậy nền tảng cho văn hóa đổi mới sáng tạo ở Estonia là gì? Theo đánh giá của Phó giáo sư Joseph M. Ellis, có năm nguyên nhân chính:  Thứ nhất, sau khi Xô viết sụp đổ, không giữ thái độ “địa phương chủ nghĩa” hoặc “mặc cảm” dân tộc – những yếu tố khiến một quốc gia trở thành kẻ bên lề đời sống quốc tế, Estonia đã nhanh chóng mở cửa với thế giới để sẵn sàng chào đón các trí thức phương Tây, doanh nghiệp và chuyên gia chính sách đến với mình. Nhờ vậy Estonia đã nhanh chóng thu hút được các ý tưởng từ khắp nơi trên thế giới. Các ý tưởng xuyên quốc gia như vậy vẫn có ảnh hưởng trong những cuộc đối thoại chính trị và kinh tế của Estonia.  Thứ hai, Estonia học hỏi từ Phần Lan. Quốc gia láng giềng này đã thu hút sự quan tâm của Estonia từ ngày họ còn là thành viên của Liên bang Xô viết và họ nhanh chóng nhận định, đây chính là bài học đổi mới cho chính mình.  Thứ ba, Estonia có một quá trình xây dựng chính quyền mới khá suôn sẻ và thuận lợi hơn so với nhiều quốc gia thành viên Xô viết khác như Moldova, Belarus và Ukraine. Thuận lợi này đã tạo điều kiện cho các nhà cải cách trong cả lĩnh vực công và tư có thể cùng thực hiện được các dự án lớn mà không gặp phải cản trở nào.  Thứ tư, môi trường hoạt động mới mẻ trong lĩnh vực công của Estonia cũng cho phép các nhà hoạch định chính sách tiên tiến và bảo thủ đón nhận những ý tưởng mới. Việc tái sinh của một quốc gia Estonia mới khiến cho nó có thể “bỏ qua” về các loại lợi ích và tư tưởng cũ ở những quốc gia đã được xây dựng từ hàng thập kỷ trước như phương Tây hay Mỹ. Sự trẻ trung của môi trường chính trị Estonia tạo điều kiện cho những ý tưởng mới được thực hiện, do đó Mart Laar trở thành Thủ tướng ở tuổi 31 hay Rõivas ở tuổi 34.  Cuối cùng, tại Estonia, đổi mới sáng tạo có tác động thúc đẩy đổi mới sáng tạo tiếp theo, đem đến một văn hóa quốc gia về đổi mới sáng tạo. Các công chức chính phủ và công dân cũng tự hào với ghi nhận của thế giới về thương hiệu quốc gia “người tiên phong” hoặc đổi mới sáng tạo. Ngược lại, các nhà hoạch định chính sách Estonia cũng không sợ bị cử tri phàn nàn vì dám thử nghiệm những điều mới mẻ và giữ quan điểm chấp nhận rủi ro.  Đám mây điện toán chính quyền (government Cloud) – cơ sở hạ tầng của chính quyền điện tử đã được Estonia tạo dựng như một nền tảng công nghệ có thể cung cấp dịch vụ và quản lý dịch vụ về công nghệ thông tin cho khu vực công một cách đơn giản nhưng an toàn. Estonia đã thực hiện một giải pháp thu hút sự tham gia của các thành phần công – tư, trong đó có Quỹ Truyền thông thông tin quốc gia (RIKS) – một quỹ phi lợi nhuận được thành lập năm 2000 và do chính Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Truyền thông quản lý cùng một số doanh nghiệp tư như Cybernetica, DELL EMC , Ericsson, OpenNode và Telia – mỗi doanh nghiệp đều có một vai trò cụ thể. Họ đã cùng thảo luận về cách triển khai nền tảng dữ liệu bằng tiếng Estonia, cách đám mây điện toán chính quyền có thể chia sẻ tài nguyên dữ liệu và nhận ra rằng cơ sở hạ tầng vẫn còn chưa sẵn sàng. Một trong những giải pháp là họ tập trung giảm bớt số lượng các khu lưu trữ dữ liệu từ 100 xuống còn 4 vào năm 2012. Do đó, các trung tâm dữ liệu trở nên an toàn hơn, sẵn sàng cho truy cập hơn, linh hoạt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ lưu trữ và tư vấn. Điểm mạnh của nền tảng công nghệ này được kết nối với những trung tâm dữ liệu khác và những bên hưởng thụ chính là các Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp và Bộ Cơ sở hạ tầng, Bộ Nội vụ. Để có một hệ thống đám mây điện toán hoàn hảo, cần có sự hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng và đối tác. Đến nay, Đám mây điện toán chính quyền Estonia có 12 khách hàng ký kết hợp đồng, nó còn được sử dụng trong các cuộc bầu cử quốc gia.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang EFF và những vụ kiện chưa có tiền lệ      Trước cả khi The New York Times, Washington Post, Los Angeles Times tung ra loạt phóng sự về chương trình nghe lén điện thoại và đọc trộm e-mail của Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) vào cuối năm 2005 thì trong tiểu thuyết Pháo đài số viết từ năm 1998, tác giả Dan Brown đã mô tả hết sức tỉ mỉ công việc này của NSA và cả những “va chạm” giữa NSA với EFF (The Electronic Frontier Foundation)- một tổ chức đòi quyền tự do ngôn luận trên mạng internet hết sức mạnh mẽ. Giống như trong Pháo đài số, trên thực tế, EFF liên tục tiến hành các vụ kiện chưa từng có tiền lệ để chống lại “khả năng nghe trộm thông tin trong một chế độ chuyên chế của các cơ quan chính phủ”.    Tháng 3 năm 1990, Sở Mật vụ Hoa Kỳ tiến hành truy lùng một tài liệu bị phát tán bất hợp pháp, mô tả hệ thống cứu hộ khẩn cấp 911, được gọi là tài liệu E911. Sở Mật vụ lo sợ rằng, nếu nắm được quy trình hoạt động của hệ thống này thì các hacker có thể gây ra tình trạng nghẽn mạng giả tạo.  Sở Mật vụ nghi ngờ Công ty Trò chơi điện tử Steve Jackson là nơi phát tán E911 nên đã tiến hành tịch thu nhiều thiết bị điện tử của công ty, bao gồm cả hệ thống bảng tin điện tử (electronic bulletin board system), tiền thân của thư điện tử ngày nay,  mà không cần sự cho phép của cơ quan luật pháp. Do sự cố này, Steve Jackson đã buộc phải cho thôi việc một nửa số nhân viên của mình và công việc kinh doanh của ông gần như phá sản. Mãi đến cuối tháng 7 năm 1990, sau khi không tìm thấy dấu vết nào của  E911, Sở Mật vụ mới đem các thiết bị điện tử trả cho công ty.  Nhận lại thiết bị, Steve Jackson mới phát hiện toàn bộ thư điện tử trong hệ thống bảng tin điện tử đã bị đọc trộm. Vô cùng tức giận, ông quyết định kiện Sở Mật vụ. Trước sự kiện này, ba thành viên của cộng đồng IT là Mitch Kapor, John Perry Barlow, và John Gilmore tuyên bố sẽ giúp Steve Jackson. Họ lập ra EFF, có trụ sở ở TP San Francisco, Caliornia, và đâm đơn kiện Sở Mật vụ dưới danh nghĩa đại diện cho Steve Jackson. Kết quả, tại phiên toà tổ chức vào năm 1993, Steve Jackson đã giành phần thắng: ông được nhận 50 nghìn USD bồi thường thiệt hại, và 250 nghìn USD cho các chi phí kiện tụng. Phiên toà cũng đồng thời kết luận, Sở Mật vụ đã tịch thu các thiết bị của Công ty Trò chơi điện tử Steve Jackson một cách thiếu cẩn trọng và không tuân thủ đầy đủ quy trình pháp lý. Đây cũng là lần đầu tiên có một phiên toà chỉ ra rằng, các e-mail cũng cần được bảo vệ ít nhất là như các cuộc điện đàm, và các cơ quan an ninh đều phải xin phép cơ quan luật pháp mỗi khi muốn thâm nhập hộp thư điện tử của ai đó.           Pháo đài số: cuốn sách lấy cảm hứng từ cuộc đối đầu giữa EFF và NSA        Sau đó, EFF cũng rất thành công trong vụ giúp Dan Bernstein kiện Chính phủ Mỹ. Bernstein, nghiên cứu sinh ngành toán của trường ĐH California, bị cấm tung lên mạng một phần mềm mật mã (encryption software) do anh tự viết ra, giúp người sử dụng bảo vệ bí mật các văn bản của mình bằng cách biến chúng thành mật mã. Trước đó, mật mã bị chính phủ liệt vào danh sách các loại vũ khí phải kiểm soát , bên cạnh bom và súng phun lửa… Các công ty và các cá nhân muốn xuất khẩu những mặt hàng trong danh sách này, bao gồm cả phần mềm mật mã, cần phải được sự cho phép của Bộ Ngoại giao.  Bộ Ngoại giao đã thật sự làm khó Bernstein khi cho biết, anh cần phải có giấy phép xuất khẩu vũ khí trước khi tung phần mềm mật mã của mình lên mạng; và họ cũng nói luôn, họ sẽ từ chối cấp cho Bernstein một giấy phép như vậy bởi vì “vũ khí” của anh ta quá nguy hiểm.  Phiên toà diễn ra vào năm 1995 đã kết luận rằng, phần mềm mật mã cũng là một đối tượng được bảo vệ bởi Tu chính thứ nhất (một phần của Luật về các quyền của Mỹ, không cho phép QH xâm phạm vào sáu quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp)… Phiên toà phúc thẩm một lần nữa khẳng định kết luận “kiểm soát việc công bố trên mạng phần mềm mật mã là vi phạm quyền tự do ngôn luận”. Kết quả, Chính phủ đã phải thay đổi nguyên tắc kiểm soát xuất khẩu của mình. Ngày nay, bất kỳ cá nhân nào ở Mỹ cũng có thể “xuất khẩu” các phần mật mã bằng cách phổ biến trên mạng mà không cần phải xin phép chính quyền. Một lần nữa, EFF đã đấu tranh thành công cho quyền lợi của các công dân trên mạng thông qua một phiên toà chưa có tiền lệ.  Gần đây nhất, ngày 31-1-2006, EFF đã đâm đơn kiện AT&T, một công ty viễn thông khổng lồ ở Mỹ, vì cho rằng công ty này xâm phạm quyền bí mật cá nhân của các khách hàng khi hợp tác với Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) trong một chương trình nghe lén điện thoại và đọc trộm e-mail lớn nhất từ trước đến nay mà không cần sự cho phép của cơ quan luật pháp.  Tháng 12 năm 2005, báo chí Mỹ, trong đó có The New York Times, Washington Post và Los Angeles Times, tung ra loạt phóng sự về chương trình này, cho biết, chương trình được Tổng thống Mỹ đồng ý ít nhất là từ năm 2001 và giao cho NSA tiến hành. NSA đã sử dụng những máy tính cực mạnh để nghe lén các cuộc điện đàm và đọc trộm e-mail của những người có “hành vi đáng ngờ”, liên quan đến khủng bố.  Nhưng chính quyền không hành động đơn độc, họ đã yêu cầu sự hậu thuẫn từ những công ty viễn thông lớn để tiến hành chương trình này. Với hàng triệu lượt khách hàng gọi điện thoại và truy cập internet thông qua dịch vụ của mình mỗi ngày, AT&T nắm trong tay một trong những kho dữ liệu lớn nhất thế giới. Đơn kiện của EFF buộc tội AT&T đã mở cửa kho dữ liệu của mình cho NSA và một số cơ quan khác của chính phủ truy cập vào, tiết lộ nội dung các trao đổi trên điện thoại hoặc qua e-mail của khách hàng, xâm phạm trắng trợn quyền tự do cá nhân của họ và những người được họ gọi điện hay trao đổi e-mail.  Thay mặt khách hàng của AT&T và các tầng lớp dân chúng, EFF yêu cầu chính phủ phải chấm dứt chương trình theo dõi bất hợp pháp này và đòi AT&T phải chịu trách nhiệm về việc hợp tác với chương trình gián điệp quốc nội của chính phủ , vì hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền tự do cơ bản của người dân Mỹ.  Vào ngày 31 tháng 3 và ngày 5 tháng 4 vừa qua, EFF đã trình toà các tài liệu tố cáo hành vi bất hợp pháp của AT&T. Trong số đó, phải kể đến lời chứng của Mark Klein- một kỹ sư đã về hưu của AT&T, và J. Scott Marcus- một chuyên gia viễn thông từng làm việc tại Uỷ ban Viễn thông Liên bang. Do tính nhạy cảm của vấn đề và do phải tuân thủ các nguyên tắc của toà án, EFF tạm thời chưa công bố rộng rãi những tài liệu này, tuy nhiên, EFF đã đề nghị toà cho phép công bố càng sớm càng tốt.  Ngày 15 tháng 5, Chính phủ Mỹ ra văn bản đề nghị toà án bác vụ kiện của EFF. EFF không được tham khảo văn bản này, nhưng theo một bài báo đăng công khai, Chính phủ nói rằng, cần phải chấm dứt ngay vụ kiện AT&T bởi vì bất kỳ điều tra nào liên quan đến việc AT&T có vi phạm luật hay không cũng đều có thể làm lộ bí mật quốc gia và ảnh hưởng đến an ninh của đất nước.  Dù thất bại ở phiên toà “không được xử” này thì vấn đề EFF xới lên từ vụ kiện đã kịp thu hút mối quan tâm của rất nhiều người dân Mỹ. Sau sự kiện 11-9, nhiều người dân Mỹ nói rằng, họ sẵn sàng hy sinh một phần tự do cá nhân để đổi lấy an toàn cho cả cộng đồng, nhưng trong cuộc khảo sát hồi tháng 5 vừa qua do tờ Newsweek tiến hành, có đến 53% người dân Mỹ cho rằng, việc NSA nghe lén điện thoại và đọc trộm e-mail đã xâm phạm nghiêm trọng tự do cá nhân.  Điều đáng ngạc nhiên là trước khi báo chí tiết lộ chương trình nghe lén điện thoại và đọc trộm e-mail của Chính phủ thì trong tiểu thuyết Pháo đài số viết từ năm 1998, tác giả Dan Brown đã mô tả hết sức tỉ mỉ hoạt động này của NSA và cả những “va chạm” giữa NSA và EFF. NSA thì cho rằng mình có quyền đọc e-mail của bất cứ đối tượng nào đáng ngờ- tất cả là vì sự an toàn của cộng đồng, nhưng công việc “ý nghĩa” này không phải lúc nào cũng được cộng đồng đánh giá đúng và thông cảm. Còn  EFF được mô tả là một tổ chức đòi quyền tự do ngôn luận trên mạng internet hết sức mạnh mẽ và tuyên truyền về những mối đe doạ khi sống trong thế giới số.  Dan Brown kể rằng, có lần, một sinh viên đã bị Sở Mật vụ giải đi ngay giữa giờ giảng của ông chỉ vì anh này gửi e-mail cho bạn nói rằng, anh căm ghét Tổng thống Clinton và muốn ám sát Tổng thống. Sở Mật vụ bắt giữ anh sinh viên để xác minh những gì anh ta nói chỉ là chuyện phiếm hay thật sự là chuyện nghiêm túc. Sau vài cuộc tra vấn, Sở Mật vụ kết luận, anh sinh viên hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, điều làm nhà văn phải suy nghĩ mãi là tại sao Sở Mật vụ lại biết những điều anh ta viết trong e-mail. Qua tìm hiểu, ông được biết, NSA có những siêu máy tính có thể “quét” ra những e-mail mà ở đó các từ “giết” và “Clinton” có thể cùng đứng trong một câu. Chính từ sự việc này, Dan Brown nảy ra ý định viết Pháo đài số.  Bản thân Dan Brown cho rằng, tự do cá nhân khó có thể tồn tại trong thời đại số ngày nay. Tuy nhiên, theo ông điều này có khi lại đem lại những tác động tuyệt vời mà chúng ta chưa tưởng tượng ra. “Nó có thể làm cho xã hội trở nên đạo đức hơn. Nếu chúng ta biết mình luôn bị giám sát, hành vi của chúng ta chắc chắn sẽ tốt đẹp hơn. Hãy thử nghĩ xem… nếu cả thành phố biết bạn lẻn lên mạng internet để nhìn trộm rình mò đời tư các ngôi sao, chẳng thà bạn làm việc gì khác còn hơn, tỉ như nằm cuộn tròn với một cuốn sách thú vị trong tay”- ông nói.  Đỗ Lập Em      Author                Quản trị        
__label__tiasang EIC loan báo 1,7 tỉ euro cho các startup và các nhà đổi mới sáng tạo      Hội đồng Đổi mới sáng tạo châu Âu (EIC) lên kế hoạch trong năm 2022 là rót 1,7 tỉ euro cho các startup và các nghiên cứu mang tính đột phá.    EU muốn tài trợ cho các nghiên cứu ươm mầm cho các đột phá công nghệ, ví dụ AI, Deep learning. Nguồn: EU.  Trong năm thứ hai được đưa vào gói tài trợ của chương trình Horizon Europe, EIC sẽ tiếp tục thực hiện tài trợ cho các nhà khởi nghiệp như trong năm 2021, tuy nhiên có thay đổi một chút về quy định tài trợ: đó là lần đầu tiên chương trình cung cấp cho các nhà khởi nghiệp khoản tài trợ trên 15 triệu euro, hỗ trợ nhiều hơn cho công ty do phụ nữ nắm quyền và tăng ngân sách cho đợt kêu gọi tài trợ trong các lĩnh vực như y tế, kỹ thuật số và khí hậu lên hơn 750 triệu euro, Jean-David Malo, người đứng đầu EIC, phát biểu như vậy tại hội nghị thường niên của Science|Business tuần này.  Nhưng EIC sẽ không kiểm soát toàn bộ quá trình tài trợ cho các startup mà chuyển sang quản lý gián tiếp, ông Jean-Eric Paquet, người phụ trách mảng nghiên cứu của Hội đông châu Âu, cho biết như vậy trong hội nghị Science|Business.  Ông cho biết là kế hoạch này sẽ được chuyển giao cho Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB) và ngân hàng sẽ rót các khoản tài trợ cho tất cả các startup do Hội đồng tài trợ. “Hướng quản lý hiện tại là EIB sẽ giám sát khoản tài trợ của EIC về mặt kỹ thuật nhưng EIB cũng có thể chấp nhận các quyết định của hội đồng”, ông Paquet nói.  Nghị viện châu Âu và các thành viên đang đặt câu hỏi là liệu sự thay đổi này có phù hợp với tầm nhìn ban đầu của EIC, vốn đầu tư vào các công ty khởi nghiệp có công nghệ có tính rủi ro cao, không có khả năng thu hút các nhà đầu tư tư nhân, để thu hút các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các vòng tài trợ sau cùng. “Ủy ban đã chấp nhận rủi ro và tài trợ cho các công nghệ quan trọng về mặt chiến lược nhưng không xem xét về năng lực tìm kiếm nguồn tài chính, ông Christian Ehler, đồng soạn thảo báo cáo  Horizon Europe, nhận xét. “Tôi nghĩ [sự thay đổi trong quản lý] hoàn toàn trái ngược với những gì chúng tôi đã dự kiến”.  Cuộc tranh cãi về cách EIC tài trợ có thể làm trì hoãn chương trình giải ngân của năm 2022 cho các công ty đã được phê duyệt hồ sơ tài trợ vào năm 2021. Điểm chốt chặn trong quản lý tài trợ này mới được gỡ bỏ khi các quốc gia thành viên đã bỏ phiếu đồng ý với quy tắc cũ trong khi vẫn tìm kiếm một sửa đổi phù hợp trong tương lai.  Các nguồn tài trợ thay thế  Vào năm 2022, EIC mở rộng khung Xuất sắc cho chương trình Tăng tốc cho các công ty khởi nghiệp của mình nhưng không thêm vào tài trợ bởi vì ngân sách của EIC đã được tài trợ hết. Vì vậy họ có thể sử dụng mác chất lượng EIC để cố gắng nhận được tiền tài trợ từ những nguồn khác của EU, như các chương trình tài trợ được thiết kế để phục hồi sau đại dịch.  EIC đã hướng đến việc tìm kiếm các khoản tài trợ mà nhiều công ty đang chờ đợi khi họ đã bắt đầu có những ý tưởng đầu tiên và cần một lượng vốn đáng kể để mở rộng quy mô mong đợi.  Năm 2018, EIC thiết lập chương trình thử nghiệm, rồi sau đó nó trở thành một phần của chương trình Horizon Europe với ngân sách 10 tỉ euro cho bảy năm. Trong năm 2021, nó mới giải ngân được 1,5 tỉ euro.  Chiếm phần quan trọng trong chương trình này là Chương trình Tăng tốc EIC 7 tỉ euro, vốn trao các khoảng tài trợ và hỗ trợ tài chính phù hợp cho các công ty khởi nghiệp sở hữu các công nghệ có tính rủi ro cao. Nó là chương trình đầu tiên của EU mà Hội đồng châu Âu hỗ trợ phù hợp với các công ty khởi nghiệp.  Bên cạnh đó còn có thêm chương trình Người tìm đường (Pathfinder), vốn cung cấp các khoản tài trợ cho các nhóm nghiên cứu liên ngành để ươm mầm cho các đột phá công nghệ, và các khoản tài trợ Chuyển tiếp (Transition) nhằm định hình các kết quả nghiên cứu cơ bản thành những sản phẩm có thể đầu tư được.  Các khoản tài trợ tạm hoãn  Quyết định tài trợ dựa trên những quy tắc hiện hành có thể giúp giải ngân được kinh phí dành cho 102 công ty khởi nghiệp được phê duyệt tài trợ từ năm 2021, với những quyết định đầu tư được chờ đợi sẽ thi hành vào mùa xuân và hè năm 2022. Các quy tắc tương tự sẽ được áp dụng cho những công ty khởi nghiệp đã được lựa chọn nhận tài trợ trong đợt mở tài trợ đầu tiên của năm nay. “Đó là thỏa thuận tiếp tục theo cách chúng tôi sẽ quản lý tài trợ phù hợp trong năm 2022”, một thành viên Ủy ban châu Âu cho biết. “Các hướng dẫn đầu tư sẽ được chúng tôi cải thiện đôi chút nhưng chúng sẽ phù hợp với những phương án bền vững”.  Các đợt mở tài trợ năm 2022   Tăng tốc EIC  Có khoảng 1,16 tỉ euro cho các nhà khởi nghiệp và công ty vừa và nhỏ với các khoản tài trợ và hỗ trợ tài chính. Dẫu một nửa số kinh phí này sẽ được dành cho các cuộc mở quỹ dành cho các thách thức công nghệ xanh và quyền tự trị mở. Các khoản tài trợ này sẽ hết hạn nhận hồ sơ vào ngày 23/3, 15/6 và 5/10/2022. Những người đã từng thất bại trong lần mở tài trợ năm ngoái cũng sẽ có cơ hội cải thiện các điểm yếu của mình và tiếp tục nộp hồ sơ.  Người tìm đường EIC  Ngân sách cho nghiên cứu các công nghệ đột phá là 350 triệu euro, trong đó có 167 triệu dành cho các công nghệ xanh giải quyết các vấn đề thách thức, sức khỏe và số hóa. Các khoản tài trợ sẽ lên tới 4 triệu euro. Hạn chót cho các đề xuất của các nhóm nghiên cứu là ngày 3/5, và 19/10 cho các gợi ý của EU.  Chuyển tiếp EIC  Dành cho các dự án hướng đến mục tiêu chuyển đổi các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm mang tính đổi mới sáng tạo là khoản kinh phí 131 triệu euro, bao gồm 60,5 triệu euro cho các thách thức về công nghệ xanh và các liệu pháp điều trị dựa trên các kết quả nghiên cứu về RNA và chẩn đoán các bệnh phức hợp và bệnh di truyền hiếm gặp. Giá trị tài trợ cho các đề xuất có thể lên tới 2,5 triệu euro, các đề xuất này phải được xây dựng dựa trên các dự án Người tìm đường EIC hoặc của ý tưởng nghiên cứu của Hội đồng nghiên cứu châu Âu. Năm nay, thay vì một, sẽ có hai thời hạn cho các đề xuất từ dưới lên và các kêu gọi từ trên xuống là ngày 4/5 và 28/9.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eic-announces-eu17-billion-start-ups-and-innovators-2022  https://eic.ec.europa.eu/index_en       Author                .        
__label__tiasang EKiD Studio và EBIV giành suất dự Slush 2016      Hai nhóm khởi nghiệp là EKiD Studio và EBIV đã giành suất tham dự Slush 2016, một sự kiện khởi nghiệp quốc tế sẽ diễn ra tại Phần Lan vào cuối năm 2016 sau khi đoạt giải cuộc thi cuộc thi dành cho giới khởi nghiệp về công nghệ, HATCH! BATTLE, mới tổ chức tại TPHCM.         Đại diện hai nhóm EKiD Studio và EBIV nhận giải thưởng cuộc thi. Nguồn: HATCH! FAIR 2016  HATCH! BATTLE là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ HATCH! FAIR 2016, triển lãm dành cho khởi nghiệp do Sở KH&CN TPHCM chủ trì tổ chức. Là sân chơi dành riêng cho cho giới khởi nghiệp về công nghệ, HATCH! BATTLE thu hút sự theo dõi của giới khởi nghiệp trong cả nước. Cuộc thi năm nay có 18 nhà khởi nghiệp đến từ ba miền Bắc, Trung, Nam tham gia tranh tài. Để có mặt tại HATCH! BATTLE, họ đều phải trải qua cuộc thi vòng loại mang tên ROAD TO HATCH! FAIR  vào tháng 8 và  tháng 9. Những nhà khởi nghiệp lọt vào HATCH! BATTLE được ban tổ chức huấn luyện qua hai khóa đào tạo về kỹ năng thuyết trình, đàm phán đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khởi nghiệp trẻ chuẩn bị tốt nội dung thuyết trình.  Kết thúc đêm chung kết, giải nhất thuộc về EKiD Studio Group, nhóm phát triển phần mềm sử dụng công nghệ 3D để thực hiện các trò chơi và thiết bị giáo dục thông minh cho trẻ em cũng như những đối tượng khác. Người sử dụng không chỉ giải trí và học hỏi từ những trò chơi mà còn có thể mở rộng mạng xã hội thông qua công nghệ 3D. Sản phẩm mà  EKiD Studio Group mang đến cuộc thi là bộ đồ chơi thẻ có ứng dụng 3D trên điện thoại và tablet, giúp trẻ còn có thể tương tác với card thông tin. Phần thưởng dành cho EKiD Studio Group là 100 triệu vốn đầu tư ban đầu và suất tham dự sự kiện khởi nghiệp hàng đầu thế giới SLUSH 2016 sẽ diễn ra tại Slush, Phần Lan vào cuối năm 2016.  Một suất khác dự SLUSH 2016 được trao cho nhà khởi nghiệp đoạt giải nhì là EBIV – công ty công nghệ chuyên cung cấp giải pháp xây dựng và phát triển chỉ số tín nhiệm cá nhân và tổ chức Ebrand Index Value (EBIV) từng lọt vào tốp 20 dự án khởi nghiệp về công nghệ thông tin tốt nhất Việt Nam do BSSC, đơn vị điều hành chương trình Vườn ươm Doanh nghiệp trẻ TPHCM tổ chức. Sản phẩm giúp EBIV đoạt giải là phần mềm về tìm kiếm, đánh giá, bình luận các sản phẩm và dịch vụ, qua đó giúp người dùng có những trải nghiệm online an toàn hơn.  Giải nhì thứ hai thuộc về bTaskee, công ty chuyên cung cấp dịch vụ giúp việc nhà, làm vệ sinh văn phòng theo nhu cầu, bao gồm dọn dẹp vệ sinh nhà cửa, lau chùi hệ thống điều hòa và hệ thống ống dẫn… Phầm mềm bTaskee giúp khách hàng có thể dễ dàng liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ trong thời gian ngắn nhất, đánh giá và nhận xét nhân viên giúp việc để góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ. Hiện có hơn 2000 khách hàng đã và đang sử dụng btaskee, và 95% các yêu cầu của khách hàng đều được đáp ứng. Phần thưởng dành cho nhóm khởi nghiệp này là chuyến tham gia sự kiện DEMO của Vườn ườm Rehoboth, Hàn Quốc tại Seoul, Hàn Quốc.  Nhận xét về chất lượng cuộc thi HATCH! BATTLE, bà Shuyin, thành viên hội đồng ban giám khảo cho biết: “Lĩnh vực kinh doanh của các khởi nghiệp tham gia HATCH! BATTLE năm nay khá đa dạng, từ công nghệ trong giáo dục cho đến nền kinh tế theo yêu cầu (on-demand economy) và các dịch vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”.     Diễn ra trong hai ngày 7 và 8/10 tại Trung tâm Hội nghị Grand Palace, TPHCM, HATCH! FAIR 2016 giới thiệu những sản phẩm, dịch vụ mới của các doanh nghiệp khởi nghiệp giai đoạn đầu.Ở lần thứ tư tổ chức, chương trình HATCH! FAIR 2016 gồm các chuỗi hội thảo và bàn tròn thảo luận với sự tham gia của hơn 70 diễn giả đến từ 20 quốc gia tại ba không gian “Future”, “Invisible” và “Work”.  Các diễn giả chủ yếu chia sẻ kinh nghiệm phát triển, điều hành và quản lý sáng tạo trong khởi nghiệp và thảo luận về chủ đề hội nhập công nghệ, phụ nữ trong khởi nghiệp, cách thức xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và đầu tư doanh nghiệp khởi nghiệp và xã hội.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Elena Long: Người tiên phong khác biệt      Elena Long là nhà vật lí là người chuyển giới đã mở đường cho việc chấp nhận rộng rãi hơn những nhóm thiểu số.      Các nhà vật lí có thể cởi mở nhìn nhận thế giới theo những cách mới, nhưng họ cần xem xét dữ liệu này trước. Điều này đã đặt ra một vấn đề cho Elena Long, một nhà vật lí hạt nhân, người đã đấu tranh cho lĩnh vực của mình bao gồm nhiều người từ các nhóm thiểu số về tình dục và giới tính. “Chúng tôi không có bất kỳ dữ liệu nào vì mọi người coi điều đó quá kinh khủng để đặt câu hỏi xem liệu chúng tôi có tồn tại. Đó là một vấn đề nan giải”. Long là một trong số những người tạo ra loại khảo sát đầu tiên do Hiệp hội Vật lí Hoa Kỳ (APS) tiến hành, lập biểu đồ về trải nghiệp của các nhà vật lí là người đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, chuyển giới hoặc từ nhóm tình dục hoặc giới tính khác (LGBT).  Những kết quả này, đã được đưa ra tại buổi họp của APS vào tháng Ba năm 2016, rất đáng buồn. Trong số 324 nhà khoa học tham gia khảo sát, thì có hơn 1/5 đã cho biết đã bị ngăn cản, đe dọa hoặc quấy rối tại nơi làm việc vào năm trước đó. Những nhà vật lí là người chuyển giới cho biết ảnh hưởng lớn nhất là sự kì thị. Bản thân Long là một người chuyển giới, đã không lấy làm bất ngờ. Vào năm 2009, cô bắt đầu là nghiên cứu sinh tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Thomas Jefferson tại Newport News, Virginia, nơi thiếu sự bảo vệ và những phúc lợi chăm sóc sức khỏe cho những công việc có người chuyển giới. Cô cảm thấy bị cô lập, không có mạng lưới hỗ trợ những người LGBT. “Tôi yêu thích công việc tôi làm lúc đó và tôi cũng yêu việc nghiên cứu. Nhưng điều đó thật khó khăn”, cô nói.  Vì thế cô đã sáng lập ra nhóm hỗ trợ những nhà vật lí và những người LGBT và bắt đầu đẩy mạnh sự công nhận trên diện rộng tại APS, nơi cuối cùng cũng đã lập ra một ủy ban để thu thập dữ liệu về sự kì thị. Theo cô, nhiều nhà vật lí thậm chí có thể không hiểu được sự cần thiết của một nghiên cứu như vậy. Nhờ Long và các đồng nghiệp của cô, ngành vật lí đang nổi lên như một hình mẫu trong cách tiếp cận với những vấn đề này, theo Samuel Brinton, một thành viên hội đồng của Hiệp hội Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học dành cho cộng đồng LGBT. “Chúng tôi chính xác là đang sử dụng kết quả dữ liệu của họ để bắt đầu những thay đổi cho những điều tốt đẹp hơn trong nhiều lĩnh vực”, ông nói. APS đã chấp thuận những khuyến nghị đưa ra trong báo cáo hồi tháng Ba. Và vào tháng Tám, văn phòng chính của APS đã chọn chuyển buổi họp vào năm 2018 ra khỏi Charlotte, Nam Carolina, để đáp lại việc luật pháp bang buộc mọi người sử dụng những nhà vệ sinh công cộng tương ứng với giới tính họ đã được ghi nhận từ lúc sinh ra.  Trong khi đó Long đã giành hai giải thưởng nhà khoa học trẻ do phòng thí nghiệm nơi cô làm việc đề xuất và trở thành người đồng đứng đầu hai thí nghiệm máy gia tốc mới. “Tôi biết rất nhiều người theo đuổi nghiên cứu sau tiến sĩ đã hoàn thành công việc tình nguyện, và thường thỏa hiệp với kiến thức khoa học của họ. Tôi chưa từng thấy điều đó ở Elena”, theo Karl Slifer, người hướng dẫn nghiên cứu sau tiến sĩ của Long tại Đại học New Hampshire, Durham. (Long coi trọng việc quản lí thời gian khắt khe của một chương trình máy tính cô đã thiết kế, trong đó lập bảng từng giờ trong ngày).  Hiện tại, Long đang giúp thiết lập một nhóm thành viên APS tập trung vào sự đa dạng và tính bao hàm, trong đó cô hi vọng sẽ khiến cho nó dễ dàng hơn cho các nhà khoa học ở nhiều nhóm thiểu số khác phát triển. “Tôi chắc chắn rằng có những người khác đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong đây mà tôi chưa từng nghĩ đến. Tôi không muốn họ chờ đợi đến bảy năm để có được một nơi họ có thể cất tiếng nói”, cô nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk: Con người tuyệt vời nhất thế giới (Kỳ 1)      Với những ai chưa biết, Elon Musk là con người tuyệt vời nhất trên thế giới này.  Trong  bài viết này, tôi sẽ lí giải con đường đưa Elon Musk trở thành tỉ phú  tự lập, đồng thời là nguyên mẫu đời thực của nhân vật Tony Stark trong  bộ phim Iron Man (Người Sắt).       Nhưng trước tiên, hãy để Richard Branson  có đôi lời ngắn gọn:  Bất kể điều gì mà những kẻ hoài nghi nói rằng không thể làm được thì Elon đã đứng lên và thực hiện được. Bạn còn nhớ những năm 1990 chứ, mỗi khi cần đặt mua món đồ gì là chúng ta lại phải gọi điện và đọc số thẻ tín dụng của mình cho người bán hàng, dù không biết họ là ai? Khi ấy, Elon đã hình dung ra một thứ gọi là PayPal. Các công ty Tesla Motors và SolarCity của anh đang biến giấc mơ năng lượng tái tạo trở thành hiện thực… Hãng SpaceX của anh thì đang mở ra con đường khám phá vũ trụ… Thực là một nghịch lí khi Elon vừa nỗ lực cải thiện hành tinh này lại vừa đóng tàu vũ trụ để giúp con người rời khỏi nó.  Cách đây mấy ngày, tôi, lúc đó còn đang ở nhà với nguyên bộ quần áo ngủ trên người, cuống quít khi nhận được cuộc điện thoại của Elon Musk. Chúng tôi nói chuyện về Tesla, về SpaceX, về các ngành công nghiệp ô tô, hàng không, và năng lượng mặt trời, và anh cũng tâm sự với tôi về những gì anh nghĩ là đang khiến người ta nhầm lẫn giữa các lĩnh vực này. Anh nói nếu tôi có nhã hứng viết về những đề tài này, và nếu thấy cần thiết, tôi có thể tới California để ngồi trao đổi trực tiếp với anh.  Với tôi, đây là một quyết định đơn giản và nhanh chóng nhất mà tôi từng đưa ra. Không chỉ bởi vì Elon Musk là Elon Musk, mà bởi vì đây chính là hai vấn đề mà tôi đã đặt kế hoạch viết từ lâu, cụ thể là tôi đã có hai gạch đầu dòng cho mình như sau:  – “Ô tô điện – ô tô hybrid – ô tô chạy bằng gas, giao dịch với Tesla, năng lượng bền vững”  – “Spacex, Musk, Sao Hỏa? Học cách điều khiển tên lửa như thế nào?”  Tôi vốn đã muốn viết về những đề tài này, vì cũng như với đề tài về Trí thông minh nhân tạo mà tôi đã viết, tôi biết chúng sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tương lai trong khi tôi lại chưa thực sự hiểu rõ về chúng. Mà Musk thì lại đang là lá cờ đầu dẫn dắt một cuộc cách mạng trong cả hai lĩnh vực trên.  Chuyện này cũng giống như việc bạn lên kế hoạch viết về quy trình tạo sấm sét thì đột nhiên thần Zeus gọi hỏi bạn có muốn hỏi ông ấy điều gì không vậy.  Vậy là lịch trình được vạch ra. Tôi sẽ tới California, tới thăm hai nhà máy Tesla và SpaceX, gặp gỡ với một vài kĩ sư ở cả hai nhà máy, rồi ngồi nói chuyện với Musk. Thật thú vị làm sao!  Công việc đầu tiên quả thực đáng sợ. Tôi không thể gặp gỡ những kĩ sư và nhà khoa học tên lửa hàng đầu thế giới mà không biết chút gì về bất cứ điều gì cả. Thế là tôi phải cấp tốc học hỏi một chút.  Còn vấn đề với Elon Musk thì lại nằm ở chỗ anh chàng tình cờ có chân trong tất cả các lĩnh vực sau đây:  –   Ô tô  –   Hàng không vũ trụ  –   Năng lượng mặt trời  –   Dự trữ năng lượng  –   Vệ tinh  –   Vận chuyển trên mặt đất với tốc độ cao  –    Và mở rộng dấu vết của con người tới nhiều hành tinh khác  Có lẽ thần Zeus còn ít stress hơn anh chàng của chúng ta.  Vậy là hai tuần trước khi tới Bờ Tây, tôi cắm cúi đọc và nghiền ngẫm, và rồi tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi sẽ phải viết cả một loạt bài sắp tới, vì có quá nhiều thứ liên quan.  Chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu các công ty của Musk cũng như các ngành công nghiệp xung quanh chúng trong các bài viết tiếp theo, nhưng hôm nay chúng ta hãy bắt đầu bằng việc tìm hiểu xem anh chàng này là ai, và tại sao anh ta lại quan trọng đến vậy.  Con đường lập nghiệp của Elon Musk  Musk sinh năm 1971 tại Nam Phi. Anh có một tuổi thơ không mấy hạnh phúc ở cả gia đình cũng như tại trường học, nơi anh chưa từng hòa nhập được. Nhưng, cũng giống như tiểu sử của những vĩ nhân, từ sớm anh đã có tinh thần tự học rất năng nổ. Kimbal, em trai anh, từng tiết lộ rằng, Elon thường đọc sách tới 10 tiếng mỗi ngày, ban đầu là cậu ngốn những cuốn sách khoa học giả tưởng, và sau đó chuyển sang những cuốn sách khoa học thực sự. Năm lớp Bốn, cậu đã thường xuyên vùi đầu vào cuốn Bách khoa Toàn thư Britannica.  Trong những loạt bài viết này của tôi, bạn sẽ nhận thấy một điều rằng Musk coi con người là những cỗ máy tính – mà về nghĩa đen thì đúng là như vậy. Phần cứng của con người là cơ thể và não bộ của anh ta. Phần mềm nằm ở cách anh ta học cách tư duy, hệ thống giá trị, các thói quen, tính cách cá nhân. Mà việc học, đối với Musk, thì chỉ đơn thuần là quá trình “tải dữ liệu và các thuật toán vào não bộ của bạn”. Một trong những điều khiến anh bất mãn với phương pháp học trên lớp là nó “làm chậm lại tốc độ tải” vì nó bắt học sinh phải ngồi thụ động trong lớp nghe giáo viên giảng bài. Cho tới ngày hôm nay, phần lớn những gì Musk biết được là nhờ tự đọc sách.  Lên chín tuổi, anh lại mê mẩn với một niềm đam mê thứ hai khi được chạm tay vào chiếc máy tính đầu tiên của mình, một chiếc Commodore VIC-20. Chiếc máy tính có bộ nhớ 5 kilobyte và một quyển sách hướng dẫn lập trình được thiết kế để người dùng nghiên cứu trong 6 tháng. Ấy thế nhưng cậu bé Elon, chín tuổi, lại hoàn thành nó trong vẻn vẹn ba ngày. 12 tuổi, cậu dùng các kỹ năng học được để tạo ra một trò chơi video có tên Blastar mà theo như chia sẻ của Elon với tôi thì đó là “một trò chơi nhỏ, nhưng còn khá khẩm hơn Flappy Bird”. Nhưng vào thời điểm năm 1983 thì trò chơi nhỏ đó cũng đã đủ hay ho để có thể đem bán cho một tạp chí về máy tính với giá 500 USD (theo thời giá hiện nay là 1.200 USD) – quả là một thành tích không tồi cho một cậu bé 12 tuổi.  Musk chưa bao giờ cảm thấy mình có mối liên hệ nào đó với Nam Phi – anh không hòa nhập được vào nền văn hóa của người Nam Phi da trắng, và quả thực đây là một quốc gia tồi tệ cho những doanh nhân tiềm năng. Anh coi Thung lũng Silicon là miền đất hứa, và vào năm 17 tuổi, anh đã rời khỏi Nam Phi mãi mãi. Ban đầu anh tới Canada; mẹ anh là công dân Canada nên chuyện nhập cư với anh được thuận lợi hơn. Một vài năm sau, anh tới Mỹ qua một chương trình trao đổi sinh viên với Đại học Pennsylvania.  Ở trường, anh tìm hiểu về điều mình muốn làm trong cuộc sống, và anh thường bắt đầu bằng câu hỏi: “Điều gì sẽ tác động nhiều nhất đến tương lai loài người?” Câu trả lời mà anh tìm ra được là một danh sách bao gồm năm thứ: “Internet; năng lượng bền vững; thám hiểm vũ trụ, nhất là việc kéo dài sự sống ra khỏi trái đất; trí thông minh nhân tạo; và tái lập trình mã gene của người”.   Anh không chắc chắn lắm về tác động tích cực của hai yếu tố sau, và tuy lạc quan về ba yếu tố đầu, nhưng khi đó anh vẫn chưa tưởng tượng được rằng mình sẽ can dự vào chuyện thám hiểm vũ trụ. Vì vậy, anh còn lại hai sự lựa chọn là internet và năng lượng bền vững.  Anh quyết định theo lĩnh vực năng lượng bền vững. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh theo học khóa đào tạo tiến sĩ của ĐH Stanford và nghiên cứu về tụ điện năng lượng cao, một công nghệ nhằm tìm ra cách dự trữ năng lượng hiệu quả hơn so với các loại pin truyền thống; anh biết rằng công nghệ này là chìa khóa để mở cánh cửa đến với nguồn năng lượng bền vững của tương lai, đồng thời giúc đẩy nhanh sự xuất hiện của ngành sản xuất xe điện.  Nhưng chỉ sau hai ngày nhập học, anh lại nhấp nhổm không yên bởi khi đó là năm 1995, và anh “không thể đứng nhìn internet trôi đi – [anh] muốn nhảy vào và cải tạo nó.” Vậy là, anh bỏ học và quyết định thử vận may với internet.  Hành động đầu tiên của anh là cố gắng kiếm được một công việc tại “gã khổng lồ” về internet thời điểm đó, Netscape. Kế hoạch của anh là đường đột xuất hiện ở sảnh công ty này, đứng lơ ngơ một lúc, không dám bắt chuyện với ai vì quá nhút nhát, rồi quay ra.  Sau lần tìm việc không mấy ấn tượng đó, Musk hợp tác với em trai Kimbal để thành lập công ty riêng của họ, Zip2. Zip2 giống như sự kết hợp sơ khai giữa Yelp và Google Maps, mà thời đó thì bóng dáng của cả hai dịch vụ này vẫn còn chưa xuất hiện. Mục tiêu của họ là làm sao để các doanh nghiệp nhận ra rằng việc có tên trên Những Trang Vàng sẽ tới lúc trở nên lỗi thời, và đến lúc họ cần phải có tên trong một danh bạ trực tuyến. Hai anh em không có tiền, ngủ nghỉ luôn tại văn phòng, tắm nhờ văn phòng của Hiệp hội Thanh niên Cơ-đốc (YMCA). Elon, lập trình viên chính của công ty khi đó, ngồi như nhập thần trước chiếc máy tính bật 24/24. Năm 1995, khó có thể thuyết phục được các doanh nghiệp tin rằng internet sẽ đóng vai trò quan trọng – nhiều người thậm chí còn nói với họ rằng chuyện quảng cáo trên internet là “chuyện ngớ ngẩn nhất họ từng nghe thấy”. Nhưng cuối cùng họ cũng tìm được khách hàng và công ty dần phát triển. Vào giai đoạn internet bùng nổ những năm 1990, các công ty mới thành lập được mua đi bán lại rất nhộn nhịp, và tới năm 1999, Compaq mua lại Zip2 với giá 307 triệu USD. Musk, khi đó 27 tuổi, thu về 22 triệu USD. (Còn tiếp)  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://waitbutwhy.com/2015/05/elon-musk-the-worlds-raddest-man.html        Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk: Con người tuyệt vời nhất thế giới (Kỳ 2)      Musk không phải gã ngốc, và anh chưa từng  kiến tạo công ty nào tồi tệ cả. Thực ra những công ty anh tạo dựng nên  đều là những công ty cự phách.       Thói quen của Musk là ngay sau khi kết thúc ở một công ty, anh liền bắt tay vào xây dựng một công ty khác, với độ khó khăn và phức tạp gấp nhiều lần công ty cũ. Thông lệ của các triệu phú giai đoạn này là sau khi thành công trong bong bóng internet thập kỷ 1990, họ hoặc là rút lui vào hậu trường để tận hưởng cuộc đời nhàn nhã và tham gia hoạt động đầu tư thiên thần, hoặc, nếu vẫn còn tham vọng, thành lập một công ty mới bằng tiền của người khác. Nhưng Musk không có ý định đi theo thông lệ, và anh đã dành 3/4 số tiền có trong tay để thực hiện một ý tưởng mới – một kế hoạch táo bạo nhằm xây dựng một ngân hàng trực tuyến có tên X.com chuyên cung cấp các dịch vụ kiểm tra số dư tài khoản, gửi tiết kiệm, và các tài khoản môi giới. Điều này là bây giờ là bình thường, nhưng vào năm 1999, chưa từng ai nghe đến chuyện một công ty internet mới thành lập lại có ý định cạnh tranh với các đại gia ngân hàng bao giờ.  Trong cùng tòa nhà nơi đặt trụ sở của X.com còn có một công ty tài chính internet nữa tên là Confinity do Peter Thiel và Max Levchin thành lập. Một trong nhiều tính năng của X.com là dịch vụ chuyển tiền dễ dàng, và về sau Confinity cũng phát triển một dịch vụ tương tự. Cả hai công ty đều bắt đầu nhận thấy nhu cầu rất lớn đối với dịch vụ này nên đã lao vào cuộc cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng cuối cùng, cả hai quyết định sát nhập lại thành cái mà ngày nay chúng ta gọi là PayPal.  Sự sáp nhập này cũng đồng thời là hành động quy tụ nhiều ngôi sao dưới một vòm trời nên không tránh khỏi bất đồng; vậy nên tuy công ty phát triển nhanh chóng song trong nội bộ lại thiếu hòa khí. Những xung đột này trở nên gay gắt vào giai đoạn cuối năm 2000, và khi Musk đang trong chuyến công tác tìm nhà tài trợ kết hợp với việc hưởng tuần trăng mật với người vợ đầu Justine thì những người chống lại anh đã thực hiện “đảo chính”, đưa Thiel lên làm CEO thế chỗ anh. Musk đã có cách hành xử rất hợp lý; tuy bây giờ anh cho biết anh không đồng tình với quyết định đó của mình nhưng anh hiểu tại sao họ lại làm như vậy. Anh vẫn ở lại công ty và giữ một vai trò lãnh đạo cao cấp, anh thậm chí còn đóng vai trò chủ chốt trong việc bán PayPal cho eBay với giá 1,5 tỉ USD năm 2002. Khi đó, Musk, cổ đông lớn nhất của công ty, ra đi với 180 triệu USD bỏ túi.  Những gì anh làm trong 13 năm tiếp theo cho tới ngày hôm nay sẽ là chủ đề mà chúng ta khai thác trong các loạt bài sau, còn trong bài viết này, tôi xin tóm gọn câu chuyện như sau:  Năm 2002, trước khi thương vụ bán PayPal hoàn tất, Musk đã bắt đầu nghiên cứu về công nghệ tên lửa, và tới cuối năm đó, với 100 triệu USD trong tay, anh khởi sự thực hiện một trong những chuyến phiêu lưu chưa từng ai nghĩ tới: xây dựng một công ty tên lửa có tên SpaceX. SpaceX nêu mục tiêu là cách mạng hóa chi phí du hành vũ trụ nhằm biến loài người thành một loài sống được ở nhiều hành tinh thông qua việc đưa ít nhất một triệu người lên Sao Hỏa trong thế kỷ sau.  Thế rồi, vào năm 2004, khi “dự án” này vừa mới khởi động thì Musk quyết định ôm đồm thêm một chuyến phiêu lưu kì quặc nữa: xây dựng công ty sản xuất ô tô chạy bằng điện Tesla. Mục tiêu của Tesla là cách mạng hóa ngành công nghiệp ô tô toàn thế giới bằng cách đẩy nhanh sự ra đời của thế giới trong đó ô tô điện chiếm đa số, từ đó đưa loài người thực hiện một bước nhảy vọt tới tương lai của năng lượng bền vững. Musk cũng bỏ tiền túi ra để thực hiện ý tưởng này; anh đã rót vào đó 70 triệu USD, bất chấp cái thực tế rằng lần thành công gần nhất của một hãng sản xuất ô tô mới thành lập ở Mỹ là trường hợp hãng Chrysler năm 1925, và chưa từng có tiền lệ về một hãng sản xuất ô tô điện thành công nào.  Và, vài năm sau đó, vào năm 2006, anh lại bỏ ra 10 triệu USD để thành lập một công ty khác với các anh em họ của mình. Công ty này có tên là SolarCity, có mục tiêu cách mạng hóa việc sản xuất năng lượng bằng cách tạo ra một hạ tầng kỹ thuật rộng lớn để lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời vào nhà của hàng triệu người, từ đó giảm đáng kể lượng tiêu thụ điện năng sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch, và cuối cùng “đẩy nhanh quá trình sử dụng đại trà năng lượng bền vững.  Nếu quan sát tất cả những sự kiện này trong bốn năm sau thương vụ bán PayPal, hẳn bạn sẽ nghĩ rằng đây là câu chuyện buồn về một triệu phú internet mắc bệnh hoang tưởng, ôm đồm hàng loạt những dự án bất khả thi chỉ để phung phí số tiền mà gã đã kiếm được.  Tới năm 2008, điều không tưởng dường như đã thực hiện được. SpaceX đã tìm ra cách sản xuất tên lửa, nhưng không phải là tên lửa hoạt động thực tế. Tính đến thời điểm này họ đã phóng thử tên lửa ba lần, và cả ba lần tên lửa đều nổ tung trước khi tiếp cận được quỹ đạo. Để nhận được nguồn đầu tư bên ngoài hay các hợp đồng chuyên chở hàng hóa lên vũ trụ thì SpaceX phải chứng tỏ được rằng họ có thể phóng được tên lửa. Lúc này, Musk nói anh chỉ còn đủ tiền để thực hiện thêm một lần phóng tên lửa nữa mà thôi. Nếu lần thứ tư vẫn thất bại thì SpaceX coi như bị xóa sổ.  Trong khi đó, ở Bay Area, Tesla cũng đang khốn đốn. Họ vẫn chưa thể đưa ra thị trường chiếc xe đầu tiên Tesla Roadster, và thị trường lúc này cũng đang bất ổn. Blog Valleywag, một blog chuyên buôn chuyện ở Thung lũng Silicon, đã xếp Tesla Roadster là thất bại công nghệ số 1 trong năm 2007. Mọi chuyện lẽ ra cũng chưa thực sự tồi tệ, nhưng nền kinh tế toàn cầu đột nhiên đi xuống, khiến dòng chảy đầu tư vào ngành ô tô bị ngưng lại hoàn toàn, đặc biệt là đầu tư vào những công ty sản xuất ô tô mới thành lập. Và thế là Tesla nhanh chóng cạn ngân sách.  Trong lúc sự nghiệp gặp hai cuộc lao đao kép này thì cuộc hôn nhân kéo dài tám năm của Musk cũng kết thúc trong một cuộc li dị phức tạp và đau đớn.  Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ, Musk không phải gã ngốc, và anh chưa từng kiến tạo công ty nào tồi tệ cả. Thực ra những công ty anh tạo dựng nên đều là những công ty cự phách. Vấn đề ở đây là tạo ra một tên lửa có khả năng bay được là chuyện khó như lên giời, cũng giống như việc xây dựng một công ty sản xuất ô tô vậy; và bởi vì không ai muốn đầu tư vào những chuyến phiêu lưu mang đầy màu sắc hoang tưởng, tham vọng, và chắc chắn thất bại đó, nên Musk đành phải dựa vào chính nguồn lực của mình. PayPal đã giúp anh giàu có, nhưng chưa đủ giàu để có thể duy trì các công ty mới này trong thời gian dài. Vậy là, thiếu nguồn tiền bên ngoài, mạng sống của cả SpaceX và Tesla đều chỉ còn tính từng ngày. SpaceX và Tesla không phải là những ý tưởng tồi, chỉ là họ cần nhiều thời gian hơn, trong khi thời gian lại không còn nữa.  Thế rồi, vào thời khắc tối tăm nhất, mọi chuyện lại xoay vần (Còn tiếp).  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://waitbutwhy.com/2015/05/elon-musk-the-worlds-raddest-man.html  Kỳ 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8893      Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk: Con người tuyệt vời nhất thế giới (Kỳ 3)      Musk gần như trở thành một huyền thoại sống.  Trong việc xây dựng thành công một hãng sản xuất ô tô và mạng lưới trạm  tiếp nhiên liệu trên toàn thế giới, Musk được ví với Henry Ford và John  D. Rockefeller.       Trước tiên, vào tháng 9/2008, SpaceX phóng tên lửa thứ tư – và có thể là tên lửa cuối cùng của họ nếu họ thất bại. Lần phóng này thành công. Thật tuyệt vời.  Vậy là đủ để NASA tin tưởng Musk. Họ đã đánh một ván bạc khi giao cho SpaceX một hợp đồng trị giá 1,6 tỉ USD để thực hiện 12 lần phóng tên lửa. SpaceX đã được cứu.  Ngày hôm sau, vào đêm trước Giáng sinh năm 2008, khi Musk vét nốt khoản tiền cuối cùng mình có thể xoay sở được để duy trì Tesla thì các nhà đầu tư khác của công ty này cũng đành miễn cưỡng làm theo anh. Vậy là mạng sống của Tesla được kéo dài hơn. Năm tháng sau, tình hình bắt đầu tiến triển và một khoản đầu tư quan trọng khác, 50 triệu USD từ Daimler, cũng xuất hiện. Tesla cũng đã được cứu.  Tuy 2008 chưa phải là dấu chấm hết cho những thăng trầm của Musk, nhưng câu chuyện của bảy năm tiếp theo sẽ là câu chuyện về những thành công vượt trội của Elon Musk và các công ty của anh.  Sau ba lần phóng tên lửa thất bại, SpaceX đã thực hiện 20 lần phóng tên lửa thành công. NASA hiện giờ là một trong nhiều khách hàng thường xuyên của họ, bởi các sáng tạo ở SpaceX đã giúp họ chuyển hàng hóa lên vũ trụ với mức giá thấp nhất trong lịch sử. Và trong 20 lần phóng tên lửa đó mang lại rất nhiều cái “đầu tiên” cho một công ty tên lửa. Tính tới nay, trong lịch sử chỉ có bốn nơi đưa được tàu vũ trụ vào quỹ đạo và quay trở về thành công là Mỹ, Nga, Trung Quốc, và SpaceX. SpaceX hiện đang thử nghiệm tàu vũ trụ mới, có thể đưa người lên vũ trụ; ngoài ra, họ cũng đang bận rộn với kế hoạch thiết kế một tên lửa lớn hơn, có thể đưa 100 người lên Sao Hỏa mỗi lần. Mới rồi, Google và Fidelity cũng rót tiền đầu tư vào SpaceX, và công ty này hiện trị giá 12 tỉ USD.  Mẫu xe Model S của Tesla vừa có một thành công ngoạn mục, làm rung động cả ngành công nghiệp ô tô; mẫu xe này được thứ hạng cao nhất từ trước tới nay do tạp chí Consumer Reports bình chọn (99/100), đồng thời cũng được thứ hạng cao nhất trong lịch sử về độ an toàn do Ủy ban An toàn đường bộ quốc gia Mỹ đánh giá (5,4/5). Hiện giờ họ đang sắp ra mắt một mẫu xe đột phá mới, Model 3, với giá phải chăng hơn. Giá trị thị trường của Tesla hiện nay là gần 30 tỉ USD. Họ cũng đang trên đà trở thành công ty sản xuất pin đáng nể nhất trên thế giới; hiện nay họ đang xây dựng siêu nhà máy tại Nevada, dự kiến sẽ làm tăng gấp đôi tổng lượng sản xuất pin lithium trên toàn thế giới.  SolarCity cổ phần hóa năm 2012 và hiện giờ có giá trị thị trường gần 6 tỉ USD; họ cũng là nhà lắp đặt pin mặt trời lớn nhất nước Mỹ. Hiện công ty này đang xây dựng nhà máy sản xuất pin mặt trời lớn nhất nước tại Buffalo, và có khả năng họ sẽ bắt tay với Tesla để cho ra mắt sản phẩm kết hợp với loại pin mới của Tesla là Powerwall.  Như thể vẫn còn chưa đủ, vào thời gian rảnh rỗi, Musk lại đang phát triển một phương thức vận chuyển mới là hệ thống tàu siêu tốc Hyperloop.  Trong mấy năm tới, khi các nhà máy mới của các công ty này hoàn thiện, các công ty của Musk sẽ là đơn vị tuyển dụng của trên 3.000 nhân công. Sau khi gần như phá sản vào năm 2008 và rơi vào tình cảnh sắp phải “chuyển tới sống ở tầng hầm ở nhà bố mẹ vợ”, Musk hiện nắm trong tay khối tài sản trị giá 12,9 tỉ USD.  Tất cả những điều trên đã biến Musk gần như trở thành một huyền thoại sống. Trong việc xây dựng thành công một hãng sản xuất ô tô và mạng lưới trạm tiếp nhiên liệu trên toàn thế giới, Musk được ví với Henry Ford và John D. Rockefeller. Những công trình tiên phong của công nghệ tên lửa do SpaceX tạo ra đã đưa Musk lên ngang hàng với Howard Hughes, và nhiều người thậm chí còn đưa ra những điểm tương đồng giữa Musk và Thomas Edison vì những tiến bộ về kỹ thuật và Musk đã đạt được ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng có lẽ anh thường được ví với Steve Jobs hơn cả, vì ở anh có năng lực đặc biệt để tạo ra những khác biệt trong những lĩnh vực vốn đã tồn tại lâu đời; anh đã đem đến những điều mà khách hàng thậm chí còn không biết là họ muốn có chúng. Phóng viên viết về công nghệ và cũng là người viết tiểu sử của Musk, Ashlee Vance, cho rằng những gì mà Musk đang xây dựng “có thể còn lớn hơn bất kì điều gì mà Hughes hay Jobs đã tạo ra. Musk đã tiếp nhận những ngành công nghiệp mà nước Mỹ đã từ bỏ, như ngành ô tô và hàng không vũ trụ, và thổi luồng không khí mới mẻ, tuyệt vời vào đó.”   Chris Anderson, người điều hành TED Talks, tôn vinh Musk là “doanh nhân đáng kính nhất đương đại”. Những người khác thì đơn giản gọi anh là “Người Sắt ngoài đời” – và họ có lý do chính đáng cho việc đó: Jon Favreau đã cử nam diễn viên Robert Downey tới gặp Musk ở nhà máy của SpaceX trước khi khởi quay tập phim Người sắt đầu tiên, để qua đó, diễn viên này có thể mô phỏng hình tượng Musk trong vai diễn của mình.   Trong lần trao đổi với tôi qua điện thoại, Musk nói rõ rằng anh không tìm đến tôi để nhờ quảng cáo cho các công ty của anh mà chỉ muốn tôi giúp anh lí giải những gì đang xảy ra trong các thế giới xung quanh những công ty đó, và tại sao những gì xảy đến với những chiếc ô tô điện, với việc sản xuất năng lượng bền vững, và với hàng không vũ trụ lại có tầm quan trọng đến thế.  Musk cảm thấy rất nhàm chán khi gặp những người dành thời gian để viết về bản thân anh ấy. Theo Musk, có vô vàn điều quan trọng hơn đang diễn ra trong những lĩnh vực mà anh tham gia vào, và mỗi lần có người viết về anh, anh lại ước rằng thà họ viết về nguồn cung cấp nhiên liệu hóa thạch thay những cải tiến trong việc sản xuất pin hay tầm quan trọng của việc đưa con người lên nhiều hành tinh khác nhau còn hơn (điểm này được thể hiện rất rõ trong cuốn tiểu sử về anh sắp ra mắt, ngay trong lời giới thiệu tác giả đã nêu rất rõ rằng Musk không thích có người viết tiểu sử của mình).  Vậy nên tôi chắc rằng bài viết đầu tiên này sẽ làm anh ấy bực mình lắm lắm.  Nhưng tôi có lý do của tôi kia mà. Với tôi, có hai lý do đáng để đọc bài viết này:  1. Để tìm hiểu xem tại sao Musk lại làm những điều mà anh đang làm. Musk thực lòng tin tưởng rằng anh quan tâm tới những gì có thể mang lại cho con người cơ hội tốt nhất để kiến tạo một tương lai tốt đẹp. Tôi muốn khai thác sâu những điều đó và tìm hiểu lý do tại sao anh ấy lại quan tâm đến chúng.  2. Để tìm hiểu xem tại sao Musk lại có thể làm được những điều mà anh đang làm. Con số những người làm thay đổi cả thế giới xuất hiện ở mỗi thế hệ chỉ đếm trên đầu ngón tay, nên cần phải tìm hiểu về họ. Họ có những cách làm khác với tất cả mọi người, do đó tôi cho rằng chúng ta có vô vàn điều cần học hỏi từ họ.  Vậy là tôi đến California với hai mục đích trong đầu: tìm hiểu càng nhiều càng tốt về những việc mà Musk và các nhân viên của mình đang hăng hái làm cũng như lý do tại sao chúng lại quan trọng như thế, và tìm hiểu điều gì đã khiến Musk có khả năng làm thay đổi thế giới tới như vậy (Còn tiếp).     Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://waitbutwhy.com/2015/05/elon-musk-the-worlds-raddest-man.html  Đọc thêm:  Kỳ 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8893  Kỳ 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8896      Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk: Con người tuyệt vời nhất thế giới (Kỳ 4)      Musk trên cương vị ông chủ thì thế nào? Tôi gặp những lời tán dương anh không  ngớt, nhưng cũng có những lời bình luận hết sức bất bình, thậm chí có cả  cảm giác cay đắng nữa… Nhưng thường thì tôi gặp cả hai trạng thái đó ở cùng một con người.      Tới thăm các nhà máy  Các nhà máy Tesla (ở phía bắc California) và SpaceX (phía nam California), ngoài quy mô đồ sộ và tuyệt vời, có rất nhiều điểm chung với nhau.  Cả hai nhà máy đều khang trang sáng sủa, sạch sẽ với màu sơn trắng và trần nhà rất cao. Cả hai đều mang dáng vẻ của những phòng thí nghiệm hơn là các nhà máy truyền thống. Và ở cả hai nơi, các kĩ sư và thợ kĩ thuật được cố ý xếp vào làm việc chung tại một khu để họ có thể phối hợp với nhau chặt chẽ hơn, thuận tiện hơn cho việc trao đổi. Musk cho rằng những người chế tạo máy cần phải làm việc cạnh chính nơi sản xuất những chiếc máy đó. Trong khi môi trường nhà máy truyền thống không phù hợp với những kĩ sư ngồi làm việc bên máy tính, hay môi trường văn phòng truyền thống không phù hợp với những nhân viên kĩ thuật làm việc tay chân, thì một phòng thí nghiệm khang trang, hiện đại sẽ phù hợp cho cả hai. Ở cả hai nhà máy, hầu như không có văn phòng nào đóng kín, mọi người đều tiếp xúc gần gũi với nhau.  Khi tới nhà máy Tesla, điều khiến tôi ấn tượng trước hết là quy mô của nó; vì thế mà tôi không hề ngạc nhiên khi tìm hiểu và biết rằng nó có tầng hầm rộng nhất thế giới.  Nhà máy này trước đây thuộc quyền sở hữu của GM và Toyota, sau đó được chuyển sang tay của Tesla năm 2010. Đầu tiên, chúng tôi làm một chuyến tham quan khắp nhà máy, và tôi gặp vô vàn những con robot màu đỏ đang chế tạo ô tô.   Ngoài ra còn có nhiều thứ thú vị khác, chẳng hạn như một khu vực rất rộng dùng làm nơi chế tạo pin cho ô tô, và một khu khác chứa những cuộn nhôm nặng hàng chục tấn mà họ cắt ra rồi hàn vào xe.  Còn có cả một chiếc máy nén khổng lồ trị giá tới 50 triệu USD dùng để nén kim loại với áp lực nặng tới 4.500 tấn (tương đương với áp lực khi chồng 2.500 chiếc ô tô lên một vật nào đó).  Nhà máy Tesla đang nỗ lực để nâng năng suất từ 30.000 ô tô/năm lên 50.000, tức tương đương 1.000 chiếc/tuần. Những chiếc ô tô được hoàn thiện một cách nhanh chóng, vậy nên tôi thực sự kinh ngạc khi biết rằng lúc họ mua lại nhà máy này từ Toyota, năng suất của hãng này là 1.000 ô tô/ngày.  Tôi có cơ hội tới thăm xưởng chế tạo của Tesla (tôi không được phép chụp ảnh). Ở đó, các nhà thiết kế ngồi phác họa thiết kế xe trên máy tính, còn ở một góc khác của phòng trưng bày những mô hình xe bằng đất sét có kích cỡ như xe thật. Khi tôi đến, các chuyên gia đang đứng quanh mô hình chiếc Model 3 sắp ra mắt; họ tỉ mẩn nặn từng chi tiết trên xe, mài bớt từng milimet để kiểm tra độ bóng ở từng đường cong xe. Ngoài ra còn có một máy in 3D có thể nhanh chóng “in” ra một mô hình xe thu nhỏ để chuyên gia thiết kế có thể tận mắt chứng kiến phác thảo của mình ở những góc độ khác nhau. Quả là một mô hình sản xuất của tương lai.  Ngày hôm sau, tôi đến thăm nhà máy SpaceX với nhiều điều thậm chí còn thú vị hơn nữa. Nhưng tòa nhà này chứa những công nghệ tên lửa tiên tiến, mà theo cách gọi của chính phủ thì đó là “công nghệ vũ khí”, nên các blogger tự do không được phép chụp ảnh trong đó.  Dù sao, sau mỗi chuyến viếng thăm, tôi đều có dịp ngồi lại trao đổi với một số kĩ sư và nhà thiết kế cao cấp ở đó. Tôi hỏi han họ về công việc, về suy nghĩ của họ đối với công ty và lĩnh vực mà họ làm việc, rồi tôi còn hỏi thăm về mối quan hệ giữa họ với Elon và cảm tưởng của họ khi làm việc cho anh ấy. Tất cả những người tôi gặp đều rất thân thiện, cởi mở, tất cả đều toát lên vẻ thông minh tới mức dị thường nhưng không hề giả tạo. Musk từng nói rằng anh có chính sách tuyển dụng nghiêm ngặt, không chấp nhận những người khó ưa, và điều đó đã được thể hiện qua những cuộc gặp này.  Vậy Musk trên cương vị ông chủ thì thế nào?  Ta hãy bắt đầu bằng những thông tin trên Internet. Trên trang Quora có người tạo chủ đề với câu hỏi: “Làm việc với Elon Musk thì như thế nào?”  Câu trả lời đầu tiên là của một cựu nhân viên của SpaceX. Chị miêu tả cái ngày mà vụ phóng tên lửa lần thứ ba thất bại – đó là một tổn thất nặng nề cho công ty và cho tất cả những ai đã lao tâm khổ tứ hàng năm trời vì nó.  Chị nói, Elon đã kịp thời xuất hiện và có một buổi nói chuyện để động viên tinh thần nhân viên. Chị cho biết: “Sau buổi nói chuyện đó, tôi nghĩ hầu hết chúng tôi đều hân hoan trở lại như người vừa từ địa ngục trở về. Đó là sự thể hiện bản lĩnh lãnh đạo ấn tượng nhất mà tôi từng chứng kiến.”  Ngay sau câu trả lời đó là một câu trả lời nữa, của một kĩ sư SpaceX giấu tên. Anh viết: “Khi nào có người vừa rời khỏi một cuộc gặp với Elon là ta biết ngay: họ đã bị đánh cho tơi tả… Những gì bạn đã làm là chưa đủ, vậy nên bạn phải tìm ra giá trị của riêng mình. Đừng trông chờ vào những lời tán dương để tồn tại qua những tuần làm việc kéo dài tới cả 80 tiếng.”   Đọc những lời bình luận về Musk trên mạng và trong cuốn tiểu sử sắp ra mắt của Vance, tôi thấy rằng hai nhận xét trên ở trang Quora là tiêu biểu cho ý kiến của mọi người về chuyện làm việc cho Musk. Trong quá trình tìm hiểu, tôi gặp được những lời tán dương anh không ngớt, nhưng cũng có những lời bình luận hết sức bất bình, thậm chí có cả cảm giác cay đắng nữa. Nhưng thường thì tôi gặp cả hai trạng thái đó ở cùng một con người. Chẳng hạn, cũng trong chủ đề về Musk ở trang Quora trên, có người viết: “Làm việc với anh ta chẳng có gì thoải mái cả. Anh ta chưa bao giờ hài lòng với bản thân mình nên cũng chưa từng hài lòng với những người xung quanh… Vấn đề nằm ở chỗ, anh ta là cái máy, còn người khác thì không thế.” Và cũng chính người này sau đó đã thú thực rằng cách cư xử của Elon là “có thể thông cảm được”, vì rằng anh luôn bộn bề với nhiều dự án cùng lúc, và rằng “đó là một công ty tuyệt vời, và tôi yêu nó.”  Những cuộc trao đổi trực tiếp giữa tôi và các kỹ sư, nhà thiết kế của Musk cũng mang đến những thông tin tương tự. Một người trong số họ bảo tôi: “Elon lúc nào cũng muốn biết: Tại sao không thể làm nhanh hơn? Anh ấy luôn muốn mọi thứ to hơn, tốt hơn, nhanh hơn.” Cũng chính cái anh chàng ca cẩm trên vài phút sau lại kể chuyện Musk thường quan tâm và công bằng ra sao khi quy định những điều khoản dành cho những nhân viên mới bị sa thải.  Một người khác thì phàn nàn rằng anh ta đã có nhiều đêm thức trắng, nhưng vẫn quả quyết rằng được làm việc ở đây thật là hạnh phúc, và anh hi vọng mình sẽ không bao giờ phải rời đi.  Một lãnh đạo cao cấp nói về việc tiếp xúc với Musk như sau: “Mỗi cuộc trao đổi đều ẩn chứa rủi ro lớn, bởi anh ấy rất cứng đầu, và anh ấy có thể đào sâu vấn đề hơn bạn tưởng, hoặc có kiến thức sâu rộng hơn bạn về đề tài nào đó.” Cũng chính vị này, từng làm việc tại một công ty công nghệ lớn, nói: “Musk là tỉ phú thực tế nhất mà tôi từng làm việc cùng.”  Nhưng rồi tôi hiểu ra rằng, cả hai trạng thái cảm xúc ấy, rốt cuộc đều gặp nhau ở một điểm là sự kính trọng dành cho Musk. Những người làm việc cho Musk, dù họ có suy nghĩ như thế nào về cách quản lý của anh, đều rất mực tôn trọng anh, vì sự thông minh ở anh, vì đạo đức nghề nghiệp, vì lòng can đảm, và vì trọng lượng của những sứ mệnh mà anh đã và đang đảm đương – những sứ mệnh mà khi đặt bên cạnh nó, mọi công việc khác trở nên nhỏ nhặt và vô nghĩa lý.   Nhiều người trong số những người tôi nói chuyện cũng thể hiện lòng kính trọng anh vì sự trung thực ở con người anh, mà một nét thể hiện của nó là sự nhất quán của Musk. Trong những cuộc phỏng vấn rải đều suốt một thập kỷ qua, anh vẫn nói về cùng một việc, thậm chí còn dùng lại chính xác những lời anh đã nói, dù trải qua bao nhiêu năm rồi. Anh nói những gì anh nghĩ, trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Một nhân viên thân cận với Musk tiết lộ với tôi rằng thường thì sau mỗi cuộc họp báo hay thương thảo chuyện làm ăn, khi còn hai người với nhau, anh này thường hỏi Musk xem quan điểm thực sự của anh về những vấn đề được nói đến là gì, và thực sự thì anh nghĩ gì. Lần nào cũng vậy, Musk đều đưa ra câu trả lời chán ngắt rằng: “Tôi nghĩ cái mà tôi đã nói ấy.”  Một số người tôi gặp còn cho biết Musk rất tôn trọng sự thực và sự chính xác. Anh không ngần ngại, thậm chí còn khích lệ, những nhận xét không hay về anh, nếu anh cho rằng những nhận xét ấy là đúng. Nhưng khi báo giới nói điều gì đó sai trái về anh và các công ty của anh, anh thường nhất quyết phải lôi họ vào cuộc và bắt họ sửa sai. Anh không thích những câu nói mơ hồ mang tính quan trọng hóa vấn đề như “Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng”, hay “Giới khoa học không đồng ý”. Anh cũng từ chối thẳng thừng việc quảng cáo cho Tesla, trong khi quảng cáo gần như là việc phải làm đối với hầu hết những công ty mới thành lập, bởi với anh, quảng cáo là thứ điều khiển người khác và không trung thực.  Sự trung thực còn được thể hiện đâu đó trong những yêu cầu khắc nghiệt của Musk đối với nhân viên, bởi có thể anh là một kẻ chuyên chế, nhưng anh không hề sống giả tạo. Những nhân viên phải làm việc 80 tiếng mỗi tuần thường cũng không có gì phải phàn nàn bởi ít ra thì vị CEO của họ còn làm việc tới 100 tiếng mỗi tuần nữa kia.  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://waitbutwhy.com/2015/05/elon-musk-the-worlds-raddest-man.html  Đọc thêm:  Kỳ 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8893  Kỳ 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8896  Kỳ 3: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=8904&CategoryID=43      Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk: Con người tuyệt vời nhất thế giới (Kỳ cuối)      Elon Musk không tin vào việc so sánh giữa con kiến với con người, và con người với loài nào thông minh hơn họ, bởi anh tin rằng con người giống như những chiếc máy tính yếu, và rằng nếu có cái gì đó thông minh hơn con người, thì nó cũng giống như chuyện có một chiếc máy tính mạnh hơn mà thôi.       Bữa trưa của tôi với Elon  Sau khi ngồi xuống bàn ăn được vài phút, tôi mới có dịp đặt ra câu hỏi đầu tiên, một câu hỏi bắt chuyện về vụ phóng tên lửa thất bại gần đây. Tôi nghe tiếng được tiếng mất câu trả lời của anh, vì tôi vẫn còn chưa hết bàng hoàng về những gì đã xảy ra. Khi tôi choàng tỉnh thì lại không dám yêu cầu anh nhắc lại những gì anh đã nói.  Cuối cùng tôi cũng thu hết can đảm để có cuộc trao đổi nghiêm túc với anh, và đó là một trao đổi hết sức thú vị kéo dài hai tiếng. Musk quan tâm tới rất nhiều lĩnh vực. Chỉ tính riêng trong bữa trưa này thôi, chúng tôi đã nói về rất nhiều đề tài khác nhau: xe điện, thay đổi khí hậu, trí thông minh nhân tạo, ý thức, nghịch lý Fermi, tên lửa tái sử dụng, đưa người tới Sao Hỏa, tạo bầu khí quyển trên Sao Hỏa, lập trình gene, con cái của anh, sự suy giảm dân số, vật lý so với kĩ thuật, đánh thuế về lượng thải khí carbon, định nghĩa về một công ty, Galileo, Shakespeare, Henry Ford, Isaac Newton, vệ tinh, và kỉ nguyên băng hà.  Tôi sẽ chia sẻ chi tiết những gì mà chúng tôi đã nói về những chủ đề này trong các bài viết sau, nhưng tạm thời tôi có hai điều chú ý ở đây:  – Musk là một anh chàng cao to, vạm vỡ.  – Anh gọi một chiếc bánh mỳ kẹp thịt và trong vòng 15 giây đã “xử gọn” chiếc bánh bằng hai-ba miếng. Tôi chưa từng gặp ai như vậy.  – Anh rất, rất quan tâm tới trí thông minh nhân tạo. Anh từng nói, anh sợ rằng khi tạo ra trí thông minh nhân tạo, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta “chiêu hồn quỷ dữ”. Anh cho biết, sự an toàn khi sử dụng trí thông minh nhân tạo là một trong ba điều khiến anh quan tâm nhất (hai điều còn lại là năng lượng bền vững và việc đưa loài người vào vũ trụ). Anh biết rất nhiều về trí thông minh nhân tạo, và mối quan tâm thành thực của anh về vấn đề này khiến tôi cảm thấy sợ.  – Nghịch lý Fermi cũng khiến anh lo lắng. Tôi từng có bài viết chia những người nghiên cứu nghịch lý Fermi thành hai nhóm – một là nhóm nghĩ rằng không có cuộc sống thông minh nào tồn tại ngoài vũ trụ vì còn có Bộ Lọc Lớn (the Great Filter), và một là nhóm tin vào sự tồn tại của cuộc sống văn minh ngoài trái đất, chúng ta không nhận ra dấu hiệu của chúng là vì lý do nào đó mà thôi. Musk không chắc nhóm nào đúng hơn, nhưng anh cho rằng có lẽ chuyện Bộ Lọc Lớn đang xảy ra. Anh nghĩ rằng nghịch lý này “thật khó hiểu”, và rằng nó “càng lúc càng đáng lo hơn”. Cái ý nghĩa rằng có thể chúng ta là nền văn minh hiếm hoi vượt qua được cái bộ lọc đó càng khiến anh vững tin vào sứ mệnh của SpaceX: “Nếu nền văn minh của chúng ta là hiếm hoi, thì tốt nhất là chúng ta phải nhanh chóng có mặt ở các hành tinh khác nữa, bởi vì nền văn minh này không vững bền, nên chúng ta phải làm bất cứ điều gì có thể để cải thiện khả năng sinh tồn ít ỏi của mình.” Một lần nữa, mối lo ngại của anh lại khiến tôi dè chừng.  – Một chủ đề tôi không nhất trí với anh là chủ đề về bản chất của ý thức. Tôi nghĩ ý thức là một trạng thái giống như trí thông minh của con người. Chúng ta thông minh hơn, và “có ý thức hơn” so với loài vượn, và loài vượn thì có ý thức hơn loài gà… Và một người ngoài hành tinh thông minh hơn chúng ta thì chúng tương tự như chúng ta thông minh hơn so với một con vượn, hay một con kiến. Chúng tôi đã trao đổi về vấn đề này, và Musk dường như cũng bị tôi thuyết phục rằng ý thức con người là một điều gì đó rõ ràng như trắng với đen vậy, rằng nó giống như cái nút bấm tại một thời điểm nào đó trong quá trình tiến hóa mà không loài vật nào khác có được. Nhưng anh không tin vào việc so sánh giữa con kiến với con người, và con người với loài nào thông minh hơn họ, bởi anh tin rằng con người giống như những chiếc máy tính yếu, và rằng nếu có cái gì đó thông minh hơn con người, thì nó cũng giống như chuyện có một chiếc máy tính mạnh hơn mà thôi, chứ đó không phải là thứ gì đó vượt qua tầm hiểu biết của chúng ta, khiến chúng ta không thể hiểu nổi sự tồn tại của nó.  – Tôi trao đổi với anh một chút về chuyện lập trình gene. Anh không tin rằng các nỗ lực của công nghệ chống lão hóa hiện nay là hiệu quả, bởi anh cho rằng con người có ngày “quá đát” đã được định sẵn rồi và không thể thay đổi được. Anh nói: “Toàn bộ cơ thể con người sẽ tới giai đoạn lão hóa. Không có chuyện một người 90 tuổi vẫn chạy rất nhanh dù mắt đã kèm nhèm. Toàn bộ cơ thể con người đều thoái hóa. Để thay đổi điều đó một cách thực sự, anh phải lập trình lại bộ gene người, hoặc thay thế từng tế bào trong cơ thể người kia.” Tôi chỉ còn biết nhún vai đồng ý, bởi anh đã nói đúng. Nhưng đây là Elon Musk kia mà, và Musk thì vẫn cải thiện đời sống cho loài người đấy thôi. Tôi phải làm gì đây?  Tôi: Nhưng chẳng phải đây cũng là một lĩnh vực quan trọng hay sao? Anh chưa từng quan tâm tới điều này sao?  Elon: Vấn đề là tất cả các nhà gene học đều nhất trí rằng sẽ không tái lập trình DNA của loài người. Như vậy, đây không phải là trận chiến về kỹ thuật, mà là trận chiến về đạo đức.  Tôi: Thì anh chẳng từng chinh chiến nhiều mặt trận rồi đấy thôi? Anh có thể tự tạo ra mọi thứ anh muốn. Anh có thể đưa những nhà gene học tới đây, xây cho họ một phòng thí nghiệm, và rồi anh có thể thay đổi tất cả.  Elon: Anh biết không, tôi gọi vấn đề này là Vấn đề Hitler. Hitler một mực muốn tạo ra một chủng tộc thuần khiết. Làm thế nào để tránh được Vấn đề Hitler này? Tôi không biết.  Tôi: Tôi nghĩ có một cách đấy. Trước đây anh từng nói rằng Henry Ford luôn nghĩ ra cách đi vòng để giải quyết bất kỳ trở ngại nào. Và anh cũng vậy, anh luôn có cách. Tôi cho rằng vấn đề này cũng quan trọng và đầy hoài bão, đủ để đưa nó lên thành một sứ mệnh như những sứ mệnh anh đang thực hiện, nên nó cũng đáng để đấu tranh đấy chứ.  Elon: Ý tôi là tôi thực lòng tin rằng… để giải quyết được triệt để những vấn đề này, chúng ta cần phải tái lập trình DNA của loài người. Đó là cách giải quyết duy nhất.  Tôi: Mà suy cho cùng thì DNA cũng chỉ là một loại vật chất mà thôi.  Elon: [Gật đầu, rồi ngừng lại trầm tư] Đó là phần mềm.  Bình luận của tôi:  1) Thật thú vị khi tạo áp lực để khiến Elon Musk đảm nhận thêm một nhiệm vụ tưởng chừng như bất khả thi nữa, và tỏ ra thất vọng vì anh ấy chưa lãnh nhận trách nhiệm ấy, dù rằng chưa ai có thể làm hơn những gì anh đang làm cho loài người.  2) Cũng thật vui khi gạt đi các vấn đề đạo đức xung quanh chuyện lập trình gene người bằng cách nói rằng DNA thực ra chỉ là một dạng vật chất nhỏ bé mà phức tạp – nhất là khi tôi hoàn toàn không hiểu mình đang nói cái gì. Bởi lẽ, đây sẽ là những điều mà Musk phải tìm hiểu chứ không phải tôi.  3) Tôi nghĩ tôi đã gieo được thành công một hạt giống. Nếu Musk bước vào lĩnh vực nghiên cứu gene người thì chắc 15 năm tới, tất cả chúng ta sẽ có thể hưởng tuổi thọ tới 250 tuổi. Khi đó thì các bạn nợ tôi một chầu rượu đấy nhé.            Tim Urban, tác giả bài viết, là người đồng  sáng lập ra blog “Wait but Why” (một blog bàn đủ mọi thứ trên đời với  một phong cách viết thú vị). Anh được đích thân Elon Musk mời tới nói  chuyện và đi thăm xưởng chế tạo Testla và Space X.   Nói về Elon Musk, anh Đỗ Hoài Nam (CEO của  SeeSpace ở Silicon Valley) – người từng tiếp xúc với ông, trả lời phóng  viên Tia Sáng: “Những gì ông ta (Elon Musk) làm được là quá vĩ đại.  Nhưng đó là con người rất lạnh lùng. Dường như ông ta bị mắc một thứ  bệnh tự kỷ không quan tâm đến cảm xúc của người khác. Đó là lí do mà  nhiều nhân viên xuất sắc làm việc cùng ông ấy đều ra đi”.            Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://waitbutwhy.com/2015/05/elon-musk-the-worlds-raddest-man.html  Đọc thêm:    Kỳ 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8893  Kỳ 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8896  Kỳ 3: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=8904&CategoryID=43  Kỳ 4: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=8907         Author                Quản trị        
__label__tiasang Elon Musk giới thiệu ngói mặt trời      Ông chủ Tesla, Elon Musk mới đây đã giới thiệu với công chúng một loại ngói lợp nhà pin mặt trời thế hệ mới (solar roof) có khả năng thay thế các loại pin mặt trời vẫn được lắp trên các mái nhà trong tương lai.      Elon Musk đứng trước màn hình giới thiệu về ngói mặt trời.  Điều độc đáo mà nhà sáng chế tiên phong này thực hiện là thay vì lợp các tấm ngói mặt trời lên một ngôi nhà bình thường, ông đưa nó lên mái ngôi nhà được sử dụng để quay bộ phim truyền hình ăn khách “Những bà nội trợ kiểu Mỹ” (Desperate housewives). Đây thực sự là cách quảng bá hết sức thông minh của Elon Musk.   Như vậy là sau khi cho ra đời ô tô điện, phát triển các loại pin điện, Elon Musk đi tiếp bước thứ ba là lắp đặt ngói mặt trời. “Ở một mức độ nhất định thì đây là một dạng tích hợp trong tương lai: ô tô điện, powerwall 1, ngói mặt trời. Điểm mấu chốt của nó là phải đẹp, giá thành rẻ và có khả năng kết nối liền mạch”, Musk nói rõ thêm về quan điểm của mình trong buổi giới thiệu về ngói mặt trời ở trường quay Hollywood, California.  Ngói mặt trời sẽ là một phần quan trọng trong bộ ba quyền lực điện năng trong một ngôi nhà hiện đại theo quan điểm của Musk – ngói mặt trời hút các tia nắng trong suốt cả ngày và điện được chuyển hóa từ ngói được lưu trong hệ thống ắc quy Powerwall. Điện được dùng trong các buổi tối, không chỉ cho nhu cầu sinh hoạt thường ngày mà còn để sạc ô tô điện trong ga ra. “Ngói mặt trời và các ắc quy song hành với nhau như bơ lạc và mứt quả”, Musk nói.   Loại ngói mặt trời của Tesla có nhiều ưu điểm hơn những loại cùng loại thông thường: bền hơn, chuyển hóa điện tốt hơn, rẻ hơn. Không hé lộ thông tin chi tiết về giá cả loại sản phẩm mới này, Musk chỉ đưa ra so sánh: chi phí cho mái nhà kiểu mới này sẽ thấp hơn so với việc lợp ngói truyền thống và lắp pin mặt trời lên trên. Vả lại, tổng chi phí của ngói mặt trời sẽ còn phụ thuộc vào thiết kế của từng ngôi nhà. Và một điều hiển nhiên, ngói mặt trời của ông đẹp hơn.  Với việc tung ra sản phẩm mới này, Tesla còn đặt hy vọng sẽ đem lại sự đột phá cho thị trường ngói mặt trời. Ngay trong năm nay, công ty Dow Chemical đã phải tuyên bố dừng bán loại sản phẩm ngói mặt trời sau năm năm chào bán.  Đồng sở hữu công ty chuyên về các sản phẩm liên quan đến điện mặt trời, SolarCity, Peter Rive, anh họ của Musk, tiết lộ rằng ngói mặt trời kiểu mới sẽ chính thức xuất hiện trên thị trường vào năm tới và có thể dễ dàng chiếm 5% thị phần ngói mặt trời trong vòng một đến hai năm. \Musk hiện chiếm đa số cổ phần đối với hãng ô tô điện Tesla cũng như SolarCity. Ông muốn kết hợp hai doanh nghiệp này lại với nhau với giá 2,6 tỷ đôla. Thương vụ này đang gây nhiều tranh cãi còn bản thân Musk cho rằng nếu không nhập được hai doanh nghiệp này thì khó để có thể đưa được ngói mặt trời ra thị trường. Biểu quyết về việc  mua doanh nghiệp này dự định sẽ tiến hành vào ngày  17/11 tới.  ————————————————————————————  1. Năm 2015, Musk mới tung ra thị trường loại ắc quy có dung lượng từ 7kWh đến 10kWh, được thiết kế thanh thoát và đẹp mắt, có thể gắn trên tường như những vật trang trí nhiều màu sắc. Tham khảo: https://www.tesla.com/powerwall.   Nguồn:   https://www.welt.de/wirtschaft/article159133259/Musk-stellt-Solar-Dachziegel-vor.html  http://www.businessinsider.com/everything-about-tesla-powerwall-2-battery-2016-10/#the-powerwall-can-store-electricity-generated-by-solar-panels-and-draw-electricity-from-the-utility-grid-when-rates-are-low-to-store-for-later-use-it-also-provides-homeowners-with-backup-power-in-the-event-of-an-outage-all-powerwall-installations-must-done-by-a-trained-electrician-3  http://www.reuters.com/article/us-tesla-solarcity-idUSKCN12T01T  https://www.theguardian.com/environment/2016/oct/29/tesla-boss-elon-musk-unveils-solar-roof-tiles    Author                Hoài Trang        
__label__tiasang Elon Musk sẽ thử nghiệm chip cấy ghép trong não trên người      Chip cấy ghép trong não, mà Elon Musk nói có thể giúp những người bị liệt đi lại, đã được thử nghiệm trên khỉ và lợn, hiện đang được xây dựng kế hoạch thử nghiệm trên người.    Musk, người đồng sáng lập Neuralink vào năm 2016, đã hứa rằng công nghệ này “sẽ cho phép những người bị liệt có thể sử dụng điện thoại thông minh bằng trí óc nhanh hơn so với một người sử dụng điện thoại bằng tay”.    Neuralink, công ty ở Thung lũng Silicon, đã cấy ghép thành công vi mạch trí tuệ nhân tạo vào não của một con khỉ tên là Pager và một con lợn tên là Gertrude, và hiện đang tuyển dụng một “giám đốc thử nghiệm lâm sàng” để chạy thử nghiệm công nghệ này trên người.        “Là giám đốc thử nghiệm lâm sàng, bạn sẽ hợp tác chặt chẽ với một số bác sĩ sáng tạo nhất và kỹ sư hàng đầu, cũng như làm việc với những người tham gia thử nghiệm lâm sàng đầu tiên của Neuralink,” theo thông tin tuyển dụng giám đốc thử nghiệm lâm sàng cho Neuralink ở Fremont, California. “Bạn sẽ lãnh đạo và giúp xây dựng nhóm chịu trách nhiệm cho các hoạt động nghiên cứu lâm sàng của Neuralink và phát triển các quy định đi kèm với một môi trường có nhịp độ nhanh và không ngừng phát triển.”    Musk, người giàu nhất thế giới với tài sản ước tính 256 tỷ USD, cho biết vào tháng trước ông lạc quan một cách thận trọng rằng việc cấy ghép có thể giúp những người liệt nửa người đi lại. “Chúng tôi hy vọng sẽ có đạt được kết quả này ở những người thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi, đó sẽ là những người bị chấn thương tủy sống nghiêm trọng, [thử nghiệm] đang chờ FDA [Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm] phê duyệt,” Musk phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh Hội đồng Giám đốc điều hành của Wall Street Journal.    “Tôi nghĩ với Neuralink, chúng ta có cơ hội phục hồi chức năng toàn thân cho một người bị chấn thương tủy sống. Neuralink đang hoạt động tốt ở khỉ và chúng tôi đang thực hiện rất nhiều thử nghiệm để xác nhận rằng nó rất an toàn và đáng tin cậy, và rằng thiết bị Neuralink có thể được gỡ bỏ một cách an toàn.”    Tuy nhiên, Musk thường tỏ ra lạc quan quá mức về tốc độ phát triển của công ty mình. Vào năm 2019, ông dự đoán rằng thiết bị này sẽ được cấy ghép vào hộp sọ người vào năm 2020.    Musk cho biết thiết bị sẽ được “cấy ghép với hộp sọ và sạc không dây, vì vậy người sử dụng trông và cảm thấy hoàn toàn bình thường”.    Neuralink trước đó đã phát hành một đoạn video về một con khỉ được cấy chip để chơi trò chơi điện tử Pong chỉ sử dụng trí óc mà không cần thao tác bằng tay.    Neuralink, với sự hậu thuẫn của nhiều công ty lớn của Thung lũng Silicon bao gồm công ty mẹ của Google là Alphabet, cũng đang tuyển dụng “điều phối viên thử nghiệm lâm sàng” để giúp xây dựng một nhóm người để điều hành thử nghiệm và liên lạc với các cơ quan quản lý. Các ứng viên được thông báo rằng họ có “cơ hội để thay đổi thế giới và làm việc với một số chuyên gia thông minh và tài năng nhất từ ​​các lĩnh vực khác nhau”.    Phạm Hài Tổng hợp    Author                phongvien        
__label__tiasang Elon Musk- triệu phú xanh      Mục tiêu đầy tham vọng của Elon Musk là ngăn chặn thảm họa khí hậu. Vì vậy nhà triệu phú này không chỉ tập trung đầu tư vào lĩnh vực xe ô tô chạy điện và điện Mặt trời, mà còn ôm mộng khai thác vũ trụ.      Khi lên 10 tuổi cậu bé  Elon Musk đã tự học lập trình. Ở tuổi 12 cậu bán trò chơi computer đầu tiên của mình. Khi 30 tuổi Musk đã có một khoản tài sản cá nhân lên tới trên 100 triệu USD. Nhưng ông không quan tâm đến chuyện tiền bạc. Musk khao khát giải quyết những vấn đề lớn của xã hội.  Giao dịch thanh toán qua mạng Internet?   Năm 1995 khi là một nghiên cứu sinh (Musk từng học vật lý và kinh tế) ở trường Đại học Tổng hợp Stanford thuộc California, ông bỏ không bảo vệ luận án tiến sỹ để đứng ra thành lập doanh nghiệp phần mềm Zip2. Cùng với người anh em là Kimbal ông cung cấp nội dung cho các công ty truyền thông. Musk từng nói “Hồi đó tôi chỉ có một chút hy vọng đối với cơ hội của doanh nghiệp – Dotcom”. Phần đóng góp ban đầu của ông gồm: 2000 USD, một ô tô và một Computer. Bốn năm sau Musk bán cơ ngơi này với cái giá không tưởng tượng nổi là 307 triệu USD cho hãng Compaq. Cho tới thời điểm đó thì đây là mức giá cao nhất đối với một doanh nghiệp Internet.   Với khoản tiền này ông thành lập X.com và phát triển hệ thống thanh toán – Online thông qua E-mail. Gần một năm sau X.com sáp nhập với hãng đối thủ cạnh tranh Confinity. Hãng này đi chuyên sâu vào một loại sản phẩm tương tự: PayPal. Những tháng sau đó PayPal trở thành hệ thống thanh toán online quan trọng nhất thế giới. Năm 2002 thì hãng này được bán cho eBay với giá cao ngất ngưởng là 1,5 tỷ USD, khi đó Musk có 11,7 % vốn và là cổ đông lớn nhất.  Việc khai thác vũ trụ  Năm 2002 Musk thành lập hãng du hành vũ trụ SpaceX. Hãng chuyên cung cấp các chuyến bay không người điều khiển, sau đó lên kế hoạch về những chuyến bay có người. Musk ước muốn làm sao để sự sống có thể nảy nở trên các hành tinh khác. Kể từ chuyến bay thành công của Falcon 1 hồi tháng 9.2008 SpaceX trở thành hãng đầu tiên phóng được tên lửa chạy bằng nhiên liệu lỏng lên quỹ đạo hoàn toàn bằng nguồn tài chính tư nhân. Chi phí cho sự khởi động này chỉ bằng một phần ba so với các chuyến bay lên vũ trụ tương tự do nhà nước cấp kinh phí.   Sản xuất ô tô chạy điện          Tesla S              Tốc độ cao nhất: 195 km/giờ              Từ 0 lên 100 km/h trong vòng: 5,6 giây              Khoảng cách chạy hoàn toàn bằng điện đạt 480 km              Thời gian nạp điện tại mạng lưới điện thông thường (220V) cho đến lúc đầy là 45 phút              Sẽ có mặt trên thị trường từ 2012              Giá: từ 40.000 Euro          Năm 2006 Musk thành lập Solar City. Doanh nghiệp này sản xuất và vận hành các cơ sở sản xuất năng lượng Mặt trời. Và ngay trong năm ra đời 2003, Musk đã đầu tư vào lĩnh vực ô tô chạy điện Tesla Motors. Theo ông thì thành lập một doanh nghiệp – Internet là chuyện khá đơn giản. Nhưng sản xuất ô tô thì khó hơn nhiều. Để làm ra sản phẩm phải đầu tư rất nhiều tiền của và có nhiều đối thủ cạnh tranh. Ông nói “Hầu như không thể kiếm tiền ở lĩnh vực này“.  Để có thể duy trì sản xuất hàng loạt loại xe Tesla-Roadsters ông phải chi 40 triệu USD lấy từ tài sản cá nhân của mình và sa thải 20% nhân viên. Tuy vậy vẫn cần có sự tham gia của một nhà đầu tư nữa: công ty cổ phần Daimler. Thoạt đầu người ta không mấy tin tưởng khi chàng trai trẻ Hoa Kỳ đăng đàn diễn thuyết. Nhưng ít lâu sau Daimler đã mua 10% của Tesla và đặt mua bình ắc quy cho loại ô tô chạy điện-Smart. Cuối cùng Musk không giấu giếm “Daimler là ông anh của chúng tôi. Không có Daimler thì Tesla không thể kham nổi”.  Sau đó Musk muốn đưa Tesla lên niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ông đưa ra cái mồi để nhử là: Model S. Loại Limousine cao cấp này tầm vóc tương tự như loại BMW 5 và sẽ được sản xuất hàng loạt từ năm 2012, khoảng 20.000 xe một năm. Tuy nhiên khác với việc sản xuất thủ công 500 xe thể thao, để sản xuất lớn loại xe này cần phải có một dây chuyền sản xuất lớn. Nhưng khi đó Tesla chỉ có một xưởng sản xuất đã được cải tạo của Chevy.   Cũng thời điểm đó ở California tình cờ có một nhà máy còn bỏ trống. Đó là nhà máy New United Motor Manufacturing, gọi tắt là Nummi, một trong những nhà máy sản xuất ô tô lớn nhất ở Hoa Kỳ: diện tích 500.000m2, chiều dài của dây chuyền sản xuất là 2,5 km. Toyota từng sản xuất xe Corolla ở nhà máy này. Nhưng hiện nhà máy không còn được sử dụng. Musk đặt vấn đề với ông Akio Toyoda, chủ hãng Toyota, về việc mua lại cơ sở này. Ông dốc toàn bộ số tiền còn lại trong két của hãng là 42 triệu USD để chi trả. Đúng là một trò cười. Nhưng ông Toyoda vẫn chấp nhận đề nghị đó vì bản thân ông cũng bị sự trẻ trung đầy hấp dẫn của Musk lôi cuốn.  Ngày 29/6/2010 Tesla niêm yết trên thị trường chứng khoán với 13,3 triệu cổ phiếu, giá một cổ phiếu là 17 USD. Ngay đêm trước đó số lượng cổ phiếu đã tăng 20% . Ông Musk nói chắc “Tương lai thuộc về điện”. Nhưng con đường tới cái đích đó “đầy chông gai và vô vàn khó khăn”. Nhưng cho đến nay đối với Elon Musk thì không có chông gai nào mà không thể vượt qua.                         Xuân Hoài dịch  (Spiegel 7.5)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Emile Berliner: Nhà phát minh lập hãng đĩa Deutsche Grammophon      Buổi hòa nhạc kỷ niệm 120 năm thành lập Deutsche Grammophon (DG), hãng thu âm lâu đời nhất thế giới, tại Berlin Philharmonic Hall với sự tham gia của nghệ sỹ violin Anne-Sophie Mutter và nghệ sỹ piano Lang Lang vào ngày 6/11/2018, để nhớ lại thời khắc Emile Berliner – người góp phần phát triển công nghệ điện thoại và máy ghi âm, đã lập DG.              Nhà phát minh Emile Berliner đang tìm hiểu về vật liệu phủ cho đĩa ghi của máy quay đĩa. Nguồn: DW  LTS. Nhà phát minh Đức Emile Berliner (1851-1929) là một trong những nhân vật nổi bật của giới công nghiệp thế kỷ 19. Dù thôi học vào năm 14 tuổi nhưng tinh thần học hỏi không ngừng đã đưa ông đến với những phát kiến quan trọng trong công nghệ truyền dẫn điện tín và thu âm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đồng thời  góp phần mở ra những ngành công nghiệp mới ở cả châu Âu và châu Mỹ. Thành công nhưng khiêm tốn, nên tên tuổi của Emile Berliner vẫn khuất lấp đằng sau những nhà phát minh nổi tiếng thời đó như Alexander Graham Bell hay Thomas Alva Edison.   Không chỉ có nhiều đóng góp trong lĩnh vực, công nghiệp, Emile Berliner còn là một người nỗ lực hỗ trợ y tế công cộng và giáo dục như thành lập các tổ chức xã hội để ngăn ngừa bệnh dịch, xuất bản “11 nguyên tắc bảo vệ sức khỏe” cho học sinh phổ thông… Năm 1908, ông lập học bổng “Sarah Berliner Research Fellowship” dành cho các nhà nghiên cứu nữ trẻ trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học với mong muốn đem lại cho họ các cơ hội giáo dục ngang bằng với nam giới và góp phần tạo dựng sự bình đẳng trong khoa học. Christine Ladd Franklin trở thành phụ nữ đầu tiên được Đại học Johns Hopkins trao bằng tiến sỹ từ học bổng này. Về cuối đời, Emile Berliner còn đóng góp để tái thiết Palestine và xây dựng trường Đại học Hebrew.  “120 năm trước đây, công nghệ tốt nhất thế giới của Deutsche Grammophon đã góp phần mang âm nhạc cổ điển đến với thính giả trên toàn thế giới. Đó cũng là những điều chúng tôi đang làm hôm nay, cách chúng tôi chia sẻ các bản thu âm và các màn trình diễn của những nghệ sỹ hàng đầu”, lời phát biểu của Frank Briegmann, chủ tịch và CEO của Universal Music Central Europe và Deutsche Grammophon đã thể hiện niềm tự hào về Emile Berliner và những gì ông đã tạo dựng.       Phát minh đột phá của Emile Berliner Để hiểu về đóng góp của Emile Berliner với ngành công nghiệp thu âm, chúng ta hãy nhìn lại bầu không khí nghiên cứu về âm học điện (electronic acoustics) vào những năm 1870. Nền tảng lý thuyết về sự truyền dẫn sóng điện tử là công lao của Heinrich Hertz – một nhà nghiên cứu có một nửa dòng máu Do Thái đã đưa quang học, âm học và điện động lực học cổ điển vào một lĩnh vực và có khám phá mang tên mình “sóng Hertz” mô tả sự truyền dẫn của sóng điện từ qua không gian, và Leo Graetz – con trai nhà sử học Do Thái nổi tiếng Heinrich Graetz và là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng tán sắc của sóng điện từ. Bắt đầu từ nghiên cứu của Hertz và Graetz, máy điện báo, điện thoại, radio và truyền hình đã ra đời.  Lĩnh vực mới mẻ này đã thu hút nhiều nhà vật lý, trong đó có Charles Bouseouil, một trong những người sớm tin điện có thể đưa được giọng người qua không gian và Phillip Reis – người muốn chuyển ngay lý thuyết đó thành hiện thực là một nhân vật dính líu nhiều đến những xung đột phát minh với những tên tuổi lớn nhất thời kỳ này, trong đó có Alexander Graham Bell. Reis đã cải tiến “tai điện tín” – một thiết bị bắt chước chức năng của tai người mà ông từng tạo ra một cách thô sơ khi còn nhỏ, và giới thiệu nó cho các thành viên của Hội Vật lý Frankfurt, Đức vào ngày 26/10/1861. Ông đặt tên cho nó là telephony.   Vào thời điểm đó, Emile Berliner đã được nhận vào làm trợ lý trong phòng thí nghiệm hóa học nổi tiếng của TS. Constantine Fahlberg – nhà khoa học gốc Nga khám phá ra hợp chất tạo ngọt nhân tạo saccharin. Môi trường khoa học ở đó hết sức phù hợp với Berliner. Khi không trong phòng thí nghiệm hoặc không đọc sách trong thư viện của Viện nghiên cứu Cooper, Berliner tiếp tục làm các thí nghiệm trong căn phòng của mình ở phố Columbia. Một cuốn tiểu sử Emile Berliner đã mô tả “Berliner sống ở tầng ba một ngôi nhà xây dựng theo mẫu nhà trung lưu điển hình thời kỳ đó ở Washington, trong một căn phòng giống hệt phòng thí nghiệm với dây điện, pin và hầm bà lằng vật liệu điện khác nhồi đầy mọi chỗ. Ông đã kịp lắp một bộ ‘điện thoại’ giữa cửa sổ và kho, một bộ khác với chằng chịt dây điện quanh phòng khách của bà chủ nhà trọ, vốn bị ép phải tham gia vào thí nghiệm của ông”. Trong căn phòng chật hẹp của mình, Berliner đã tạo ra các bộ mẫu thử ống vi âm và bộ truyền dẫn, hai phần cơ bản của truyền thông điện tín. Sau này chúng được tích hợp trong các loại điện thoại, radio, truyền hình và hệ truyền thanh công cộng và đem đến những tiềm năng thương mại khổng lồ.   Đầu tháng 4/1877, Berliner đã tạo ra một bộ truyền dẫn dạng màng sắt. Ông đục thủng đáy một hộp xà phòng bằng gỗ và thay nó bằng một tấm sắt để làm diaphragm rồi đặt một thanh ngang vào giữa hộp… Ông đã thử nó với một điện kế và thấy rằng dòng điện đã thay đổi. Do đó, ông có thể nhận được giọng nói một cách rõ ràng”. Cái hộp xà phòng mẫu thử này đã trở thành hộp xà phòng nổi tiếng nhất trong lịch sử khi được đưa vào Bảo tàng quốc gia Mỹ cùng nhiều thiết bị khác của Berliner vào năm 1925.   Emile Berliner bên một trong những chiếc máy quay đĩa đầu tiên của ông. Nguồn: wikipedia.Trong vòng một tháng sau khi tạo ra mẫu thử thô sơ này, ông đã giải quyết được vấn đề nảy sinh ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh, đó là sự suy giảm của cường độ dòng điện theo khoảng cách. Bằng việc gia cố thêm một cuộn cảm ứng – phần biến áp mới khuếch đại sóng điện từ hay các xung điện và giữ cho những truyền động được liên tục, bộ truyền dẫn tín hiệu đã trở thành một công cụ giao tiếp khác thường và không còn mang dáng dấp của một thứ “đồ chơi” thô sơ nữa. Lần đầu tiên, một biến áp được thiết kế để duy trì dòng điện liên tục và trờ thành nguyên mẫu của tất cả các máy biến thế tiếp trong các trạm biến thế, nhà máy điện trên khắp thế giới và radio ngày nay.   Với những đổi mới sáng tạo này, ống vi âm đã tái tạo âm thanh một cách trung thực và đáng tin cậy, và bộ phận biến áp giúp truyền tín hiệu qua không gian hiệu quả. Như vậy từ telephony của Reis và teletrofono của Meucci, Berliner đã đi một con đường dài để trở thành một nhà phát minh với một thiết bị hữu hiệu về mặt thương mại.   Bỗng chốc Berliner trở thành nổi tiếng và nhiều người tò mò đã nườm nượp đến căn phòng của ông để quan sát các thí nghiệm, trong đó có A. S. Solomons, một nhà kinh doanh sách. Ông ta giới thiệu Berliner với giáo sư Joseph Henry, người đứng đầu Viện nghiên cứu Smithsonian và thu xếp một buổi giới thiệu tại viện vào ngày 2/10/1877. The National Republican of Washington đã viết về sự kiện này: “Buổi triển lãm thú vị tại Viện Smithsonian diễn ra chiều qua về những khám phá và phát minh của ông E. Berliner, bao gồm một dụng cụ cải tiến và những phương thức truyền tin bằng điện tín. Thiết bị đầu tiên được triển lãm này là một “điện thoại tiếp xúc” để truyền những dao động âm thanh từ chỗ này sang chỗ khác, vì vậy tạo khả năng giao tiếp cho con người. Thiết bị thứ hai là “điện thoại tia lửa điện” có khả năng truyền tia điện. Thiết bị thứ ba là một “vật chuyển giao điện thoại” được thiết kế để truyền âm thanh bằng những thay đổi trong cường độ dòng điện trong mạch điện.   Bằng sáng chế cho biến áp của Berliner đã được chấp thuận vào ngày 15/1/1878. Cho đến nay, ống vi âm và bộ biến áp – hai yếu tố của thiết bị mà giờ chúng ta gọi là điện thoại, đã được công nhận là phát minh của Emile Berliner.     Cuộc chiến giữa các nhà phát minh    Điện thoại là một trong những sản phẩm gây tranh cãi bậc nhất trong lịch sử phát minh. Đến bây giờ, người ta vẫn chưa chắc thực sự nó có đúng là do Alexander Graham Bell sáng tạo ra hay là do một trong số những người khác như Charles Bourseul, Innocenzo Manzetti, Antonio Meucci, Johann Philipp Reis, Elisha Gray, Emile Berliner… mà chỉ có thể nói rằng, chiếc điện thoại là sản phẩm của rất nhiều bộ óc, mỗi người có công phát triển một, hai chi tiết.   Tuy nhiên chỉ ở thời điểm này mọi chuyện có thể được phân định như thế, còn trong quá khứ, mọi chuyện lại diễn ra hoàn toàn khác, thậm chí còn là một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Ví dụ khi Berliner đã thông báo về sản phẩm của mình vào ngày 4/4/1877 thì bốn tháng sau, vào ngày 21/7/1877, Thomas Alva Edison đã đệ đơn xin cấp bằng sáng chế cho một thiết bị tương tự. Trước đó, Alexander Graham Bell cũng có cuộc tranh chấp về bản quyền với Reis, bất chấp việc sản phẩm của Reis được giới thiệu trước và được biết đến rộng rãi qua 50 bài báo xuất bản tại nhiều quốc gia. Ốm yếu và nghèo khó, Reis qua đời vào năm 1874 mà không có cơ hội biết rằng, hai năm sau, ứng dụng của Bell – một thiết bị phát triển từ “tai điện tín” của ông, được trao bằng sáng chế.       Năm 1898, Berliner lập hãng Deutsche Gramaphon Gesellshaft ở Hanover và Britain’s Gramophone Co. Ltd. để thương mại hóa sản phẩm và các bản thu âm của mình ở châu Âu. Năm 1907, một nhà máy sản xuất đĩa hát ở Hanover với những cỗ máy có thể tạo ra 200 bản sao mỗi lần chạy máy. Thành công này của Berliner đã góp phần mở ra một ngành công nghiệp thu âm và sản xuất đĩa hát trên thế giới.       Biết thiết bị của mình có thể biến ước mơ điện thoại thành hiện thực, Berliner đã đề xuất bán quyền sử dụng thiết bị của mình cho Bell Company. Tháng 9/1878, đại diện của Alexander Graham Bell đã thỏa thuận với Berliner và trả ông 50.000 USD cộng thêm một vị trí được trả lương cao – kỹ sư trưởng công ty. Berliner chấp nhận. Chiếc điện thoại đầu tiên xuất hiện trên thị trường với tên gọi “điện thoại Bell-Berliner”.   Trong thời gian làm ở Bell Company, Berliner đã thực hiện nhiều cải tiến thiết bị khác, quan trọng nhất là sửa chữa sai sót của một dạng ống vi âm do Francis Blake, một nhà nghiên cứu hợp tác với Hội Khảo sát trắc địa Mỹ ở Washington, chế tạo.    Sự ra đời của đế chế Deutsche Grammophon    Khi có được một số vốn nhất định, Berliner trở về Đức vào năm 1881 và cùng với anh em trong nhà lập công ty Telephon-Fabrik Berliner. Công việc thuận lợi, công ty có chi nhánh tại Vienna, Berlin, Budapest, London, và Paris. Cùng thời điểm đó, nhiều nhà phát minh tập trung vào vấn đề tái tạo âm thanh cơ học. Một trong những thiết bị đầu tiên là của Leon Scott, ra đời vào đầu năm 1855. Scott đã  rạch một rãnh xoắn ốc trên một ống hình trụ quay trong để tạo ra âm thanh và gọi đó là máy ghi chấn động âm. Năm 1859, ông bán cho các nhà nghiên cứu để phân tích âm thanh.  Cũng giống như cách làm trước đó, cả Bell và Thomas Edison đã nhanh chóng sao chép sản phẩm và tạo ra thiết bị tương tự với cùng một nguyên lý của Scott. Tuy nhiên do khôn ngoan hơn, bằng sáng chế được cấp cho Edison vào năm 1878 với thành quả đầu tiên là việc ghi lại bài bát “Mary có một con cừu nhỏ”. Tuy nhiên cả hai sản phẩm này đều không hoàn hảo: âm thanh nhỏ tí và chỉ phát trong vòng hai phút.  Nhân kỷ niệm 120 năm thành lập, Deutsche Grammophon phát hành toàn bộ các tác phẩm do nhạc trưởng Herbert von Karajan chỉ huy. Nguồn: Deutsche Grammophon.Dĩ nhiên Berliner quan tâm đến thiết bị của Scott và thực hiện nghiên cứu độc lập về việc ghi lại âm thanh cơ học. Dẫu vậy, ông còn tham khảo những nguyên lý chính của những nhà tiên phong khác và tìm cách giải quyết khuyết điểm của các thiết bị đã có bằng việc tạo ra các vật liệu ghi âm mới, một nguyên lý ghi âm mới và một thiết bị mới để có thể phát các âm thanh được ghi lại. Vậy ông làm cách nào? Tin vào khả năng ghi của một bề mặt phẳng hơn là ống hình trụ, Berliner quyết định ghi trên các đĩa phẳng. Tìm các vật liệu có độ bền làm đĩa, ông thử nghiệm với celluloid, cao su cứng, kẽm và nhiều loại kim loại khác. Cuối cùng ông chọn nhựa cánh kiến (shellac). Các đĩa shellac đem lại âm thanh khá tốt, có khả năng sao chép với giá rẻ nên có tiềm năng thương mại lớn.   Do tạo ra cách ghi âm thanh theo chiều ngang trên đĩa phẳng thay vì tiếp xúc với ống hình trụ nên Berliner đã bổ sung thêm một cây kim. Sau đó, Berliner thiết kế một máy quay đĩa mà ông gọi là Gramophon bằng cách cắt bộ truyền dẫn của điện thoại (đây chính là ống vi âm của ông), gắn kim vào diaphragm và di chuyển nó dọc theo rãnh xoắn ốc đã được khắc bản ghi âm. Tất cả những điều đó đã đem lại lại chất lượng cho âm thanh mà không thiết bị tương tự nào trước đó làm được. Năm 1887, Berliner đã được cấp bằng sáng chế tại Mỹ và Đức. Ông liên tiếp lập công ty tại Mỹ và Canada. Bản thu âm đầu tiên được sản xuất tại Canada tháng 1/1900 (ghi một mặt). Năm 1898, Berliner lập hãng Deutsche Grammaphon Gesellshaft ở Hanover và Britain’s Gramophone Co. Ltd. để thương mại hóa sản phẩm và các bản thu âm của mình ở châu Âu. Năm 1907, một nhà máy sản xuất đĩa hát ở Hanover với những cỗ máy có thể tạo ra 200 bản sao mỗi lần chạy máy. Thành công này của Berliner đã góp phần mở ra một ngành công nghiệp thu âm và sản xuất đĩa hát trên thế giới.   Năm 1913, với sự phát triển của công nghệ, bản thu âm hoàn chỉnh một tác phẩm cho dàn nhạc đầu tiên đã được thực hiện: nhạc trưởng Arthur Nikisch và dàn nhạc Berlin Philharmonic thu âm bản giao hưởng số 5 của Ludwig van Beethoven trên 4 đĩa (ghi 2 mặt). Những bản thu âm thế hệ đầu còn xa mới đạt tiêu chuẩn trung thực trong âm thanh khi mới chỉ truyền tải một phạm vi rất hẹp của sắc thái và sự biểu cảm của tác phẩm, tuy nhiên lại trở thành những tư liệu quý để thế hệ sau này còn được lắng nghe giọng hát của các nghệ sỹ sống ở giai đoạn đầu thế kỷ cũng như tư liệu để nghiên cứu về lịch sử phát triển ngành công nghiệp thu âm.   Sự phát triển của Deutsche Grammaphon gắn liền với tên tuổi của các nghệ sỹ cổ điển và các dàn nhạc qua nhiều thế hệ. Họ tìm mọi cách có được hợp đồng của các nghệ sỹ nổi tiếng bậc nhất, lăng xê tên tuổi họ qua các bản thu âm và biến nó trở thành sản phẩm văn hóa bán chạy trên thị trường âm nhạc; ngược lại, những nghệ sỹ cổ điển cũng cảm thấy vinh dự khi trở thành nghệ sỹ độc quyền của “nhãn hiệu vàng”, một thương hiệu đầy tự hào như slogan của họ “Deutsche Grammophon là âm nhạc cổ điển”.Thanh Nhàn tổng hợp    Nguồn: https://www.hebrewhistory.info/factpapers/fp027-1_berliner.htm;%20https://www.dw.com/en/deutsche-grammophon-120-years-old-but-not-treading-softly/a-46173538          Author                Quản trị        
__label__tiasang Emily Weiss và thế hệ phụ nữ hiện đại      Nếu bạn hỏi cô gái 30 tuổi Emily Weiss rằng cô coi dòng  sản phẩm chăm sóc da Glossiercủa mình là một công ty bán sản phẩm hay là  một hãng truyền thông trực tuyến có cửa hàng trưng bày bên ngoài, thì  với cả hai phương án, cô đều sẽ đơn giản trả lời là “Đúng.”      Weiss từng là sinh viên mỹ thuật của Trường Đại học New York, sau đó cô làm thực tập sinh ở tạp chí Teen Vogue và làm trợ lý thời trang tại W và Vogue. Năm 2010, cô lập website riêng mang tên Into the Gloss để học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm làm đẹp từ những phụ nữ mà cô ngưỡng mộ như Arianna Huffington,Jenna Lyons,giám đốc sáng tạo của nhà bán lẻ J.Crew, và nhiều nghệ sĩ trang điểm hàng đầu thế giới. Nhờ có kinh nghiệm viết bài về thời trang nên cô liên hệ được với nhiều người trong số họ; từ sự hứng thú với các chế độ làm đẹp của họ, cô đưa thêm vào website của mình mục The Top Shelf, trong đó cô và nhóm cộng sự tới thăm nhà của từng chuyên gia về sắc đẹp này để tìm hiểu những sản phẩm họ đang sử dụng và vì sao họ lại sử dụng chúng.   Những hoạt động của cô đã tạo được sự chú ý của phụ nữ – đặc biệt là thế hệ 8X và 9X – và website Into the Gloss nhanh chóng thu hút được trên 1 triệu khách truy cập mỗi tháng. Feed Instagram của website đã có tới 184,000 người theo dõi trước khi Glossier ra mắt. Weiss chia sẻ: “Tôi coi tất cả những độc giả đó là những người đồng sáng lập với mình. Chúng tôi đã tạo dựng một cộng đồng xung quanh từng người phụ nữ, hướng dẫn họ cách tự khám phá và đưa ra định nghĩa riêng của mình về vẻ đẹp chứ không bị nhồi nhét tư tưởng bởi những tạp chí thời trang và công ty mỹ phẩm.”     Dòng sản phẩm Glossier là kết quả của việc lắng nghe cộng đồng đó và những nhu cầu thiết thực của họ. Weiss chia sẻ: “Phụ nữ ngày nay chỉ có 5 phút trang điểm trước khi phải vội vã lao ra khỏi nhà. Đó là thực tế cuộc sống của họ, nhưng dẫu bận rộn, họ vẫn muốn mình trông thật đẹp và họ cần phải làm đẹp mà không phải mất quá nhiều công sức cho nó.”     Để đáp ứng các nhu cầu này, ban đầu Weiss tập trung vào một bộ bốn sản phẩm chăm sóc da với giá phải chăng, bao gồm kem lót dưỡng ẩm, son môi, nước xịt, và nước hoa – không sản phẩm nào có giá vượt quá 26 USD và tất cả đều nhằm phục vụ một mục đích là giúp khách hàng có được khuôn mặt tươi tắn nhất.     Weiss đưa ý tưởng này trình bày với các nhà đầu tư mạo hiểm và thu về tổng cộng 10,4 triệu USD sau hai vòng gọi vốn – vòng đầu tiên diễn ra năm 2013 do hãng đầu tư mạo hiểm Forerunner Venturescủa Kirsten Green dẫn đầu, vòng thứ hai diễn ra năm ngoái do hãng đầu tư Thrive Capital và Andy Dunn, nhà sáng lập công ty thời trang nam Bonobos, dẫn đầu.     Weiss chia sẻ kinh nghiệm của mình về các nhà đầu tư: “Khi tôi chỉ ra phạm vi ảnh hưởng của website Into the Glosstrên mạng xã hội thì việc gọi vốn trở nên dễ dàng hơn. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng thích dung lượng thị trường cho mặt hàng mỹ phẩm (trị giá 250 tỉ USD trên toàn thế giới); đồng thời, họ cũng quan tâm tới cơ hội mang lại nét mới mẻ cho một ngành công nghiệp vốn đã lạc hậu trong việc marketing tới giới phụ nữ trẻ hiện đại. Cách làm của nhiều công ty khác là xây dựng nội dung và kiến tạo một cộng đồng xung quanh một sản phẩm đang có. Ngược lại, chúng tôi kiến tạo một cộng đồng và rồi đưa ra một dòng sản phẩm để hỗ trợ cộng đồng ấy.”     Trong chưa đầy một năm, từ những ngày đầu gian nan khi Weiss cùng nhóm cộng sự 15 người phải đi quảng bá công thức của từng sản phẩm, hiện nay cô đã kiếm được thu nhập vài triệu đô và quản lý một đội ngũ nhân sự gồm 30 người. Dòng sản phẩm Glossier ra mắt cũng giúp thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của website Into the Gloss: lượng độc giả trên Instagram của website này đã tăng tới 45%, tức 236.000 người theo dõi.     Weiss cho biết: “Khách hàng của chúng tôi sử dụng Instagram – đó là địa điểm và cũng cũng là phương thức mà họ đang áp dụng để xây dựng cá tính của mình trên mạng. Vì thế chúng tôi cũng phải có mặt ở đó. Chúng tôi dùng Instagram để ra mắt dòng sản phẩm Glossier, và đó chính là nơi hình thành và phát triển của thương hiệu Glossierư.”  Twitter cũng là một “cơ sở” lớn khác của công ty với 6.000 người theo dõi Glossier, ngoài ra website Into The Gloss cũng thu hút được 125.000 người theo dõi. Weiss thích khai thác nhiều nền tảng mạng xã hội khác nhau, song cô không cung cấp một loạt những news feeds đơn thuần mà sáng tạo để các page của công ty mang dáng vẻ của những cửa hàng riêng biệt với những sản phẩm và cơ sở khách hàng riêng biệt. Cô tiết lộ: “Năm ngoái chúng tôi ra mắt Glossier. Năm nay chúng tôi đang nỗ lực nghiên cứu cách thức kết hợp làm một cả nội dung, cộng đồng, và hoạt động thương mại.”  Và thoạt nhìn, hẳn ai cũng thấy rõ rằng những nỗ lực của họ đang phát huy hiệu quả tích cực.     Bùi Thu Trang tổng hợp     Nguồn:  https://www.entrepreneur.com/article/249344  http://www.entrepreneur.com/article/249328  https://www.entrepreneur.com/article/249330  https://www.entrepreneur.com/article/249337  https://www.entrepreneur.com/article/249338      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ernest Lawrence – Thất bại đáng giá (kỳ 2)      Lawrence, người tạo ra máy gia tốc cyclotron, cũng từng cố gắng đưa những máy vô tuyến truyền hình màu đầu tiên tới người tiêu dùng Mỹ. Câu chuyện về những nỗ lực của ông tiết lộ mối liên hệ giữa lịch sử vô tuyến truyền hình với vật lý học và quân đội.      Hình 1: Ernest Lawrence, Edwin McMillan, Luis Alvarez (từ trái qua phải) và một chiếc Chromatron hoàn thiện (nguồn: Thư viện Bancroft, Đại học California tại Berkeley).  Đổi mới và quy định  Trong mùa hè năm 1950, các kế hoạch của họ bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh Triều Tiên. Lawrence và các đồng nghiệp đang bận xây dựng hai cỗ máy gia tốc bằng tiền ngân sách, nhưng họ vẫn muốn cạnh tranh với các công ty vô tuyến truyền hình tư nhân, trong thời chiến. Chromatic ra một thông cáo báo chí đề nghị FCC lùi việc ra tiêu chuẩn vô tuyến truyền hình màu.  FCC không đồng ý. Mùa thu năm đó, hệ thống cơ của CBS được thiết lập làm chuẩn quốc gia. FCC đã bỏ qua báo cáo của Condon, trong đó ý tưởng của Lawrence được đề cao, và bỏ phiếu ngược lại quy định của chính họ về duy trì phát sóng đen trắng. Tuy nhiên, sau quyết định này, một phiên tòa liên bang ra lệnh hoãn sản xuất vô tuyến truyền hình màu để không bị phân tán tài nguyên cho cuộc chiến. RCA kiện để đòi một tiêu chuẩn tốt hơn. Họ đã phát triển một vô tuyến truyền hình với ba chùm tia đi qua các lỗ nhỏ trên một tấm kim loại gọi là màng bóng1, tạo ra hình ảnh sắc nét hơn. RCA khăng khăng rằng các nhà hành pháp đã ủng hộ một hệ thống cơ học không phù hợp với thời đại điện tử.  Cùng ngày FCC đưa ra tiêu chuẩn, Gaither cho Alvarez biết rằng “mẫu ti-vi gắn bơm2 mới nhất vừa mới được đưa đến Chromatic. Nếu nó chạy tốt, chúng ta có thể ra thông cáo báo chí tối nay hoặc ngày mai”. Lawrence lạc quan đến mức trước đó đã liên hệ với các nhà sản xuất để cấp phép cho nó. Nhưng nó thất bại, và Alvarez phải thiết kế một chiếc vô tuyến truyền hình cơ học để tuân theo tiêu chuẩn dường như không thể tránh khỏi.  Tuy nhiên, trong vòng một tuần, Lawrence nói với Hodgson về một ý tưởng mới, một lưới kim loại mà Alvarez và McMillan cho rằng rất hứa hẹn. Ông dự định thử nó trong ga-ra ở Diablo. Trong lúc cố gắng tập trung các chùm tia trong máy gia tốc thẳng, Alvarez đưa vào một lưới dây dẫn. Lawrence và kỹ thuật viên James Vale tạo ra một chiếc “lược” gồm các dây tích điện, nó tập trung và tăng tốc các electron theo cách tương tự. Màng bóng của RCA tập trung các chùm tia, nhưng nó cũng hấp thụ quá nhiều electron, khiến cho hình ảnh bị mờ. Hơn nữa, thiết bị của RCA có ba súng electron, trong khi cái của Lawrence chỉ có một.  Trong con mắt của các nhà vật lý học, thiết kế của Lawrence rất đẹp. Nhiều năm sau, McMillan xác nhận rằng các nguyên lý đằng sau nó chính là các nguyên lý của chiếc máy gia tốc của ông. Thế nhưng, McMillan chỉ xây dựng một máy synchrotron, còn Chromatic muốn làm ra hàng triệu chiếc ti-vi.  Phát minh của Lawrence – một dải dây vừa hoạt động như một thấu kính, vừa “thúc”3 các electron – gần như không thể được sản xuất hàng loạt. Nó phải được dệt bằng tay như vải mỏng, và các thông số kỹ thuật của nó vượt quá khả năng của mọi nhà sản xuất. Nhưng Balaban vẫn bịa với các cổ đông của Paramount: “Tôi có thể thông báo rằng Chromatic đã tạo ra được vô tuyến truyền hình màu thực sự. Chúng có vẻ cũng có giá trị cho các mục đích quân sự”.  Năm 1951, Tòa án Tối cao bảo lưu tiêu chuẩn cơ học của FCC, và truyền hình màu dự kiến sẽ được phát sóng vào tháng 6 năm đó. Nhưng CBS không làm được màn hình lớn hơn 12 inch, và hình ảnh của nó thì vẫn giật. Sẽ chẳng bán được cho ai, nên các lãnh đạo CBS tìm cách mua lại quyền sản xuất ti-vi của Lawrence. Thế nhưng Chromatic lại cùng với RCA thúc giục FCC thông qua một tiêu chuẩn điện tử.  Lawrence và các đồng nghiệp tiếp tục mày mò với chiếc ti-vi của mình. Sau nhiều tháng chỉ toàn thất bại và thủy tinh vỡ, họ in lụa phốt-pho lên một màn thủy tinh hữu cơ và gắn nó vào một khung kim loại. Một bơm hút chân không ồn ào chạy liên tục để hút hết không khí bên trong. Không nghe được gì ngoài tiếng ồn của cái bơm, và màn hình thì bằng nhựa, nhưng Lawrence và các đồng nghiệp đã có một sản phẩm mẫu chấp nhận được.      Hình 2:  Một tờ rơi quảng cáo máy Chromatron nhấn mạnh khoa học đằng sau chiếc ti-vi (nguồn: Lưu trữ Quốc gia tại San Francisco).    Ngày 19 tháng 9 năm 1951, Lawrence trình diễn máy vô tuyến truyền hình của mình cùng với tấm lưới dệt thủ công tại trụ sở chính của Paramount tại New York. Nhà báo William Laurence sôi nổi thuật lại trong tờ New York Times rằng chiếc ti-vi “tái hiện màu sắc một cách chân thực như đời thật, không có bất cứ sự mờ nhạt rõ ràng nào.” Lawrence thì chủ yếu quảng cáo ứng dụng của nó trong quốc phòng, như ông đã làm với các máy gia tốc của mình.  Trong vài tuần, Lawrence đã đăng ký bằng sáng chế cho một tấm lưới cải tiến, với những dây thép luồn qua các lỗ trên một khung đỡ. Vale dệt một sợi gốm vuông góc với các dây thép đó để giảm những rung động làm phân tán chùm tia. Chromatic mua một tòa nhà ở Oakland để làm phòng thí nghiệm phát triển ở Bờ Tây. Các xe tải chở thép và thủy tinh đi đến đó hằng ngày. Lawrence và các cộng sự cảm thấy áp lực từ sự đầu tư của Paramount. Don Gow, một trong các kỹ thuật viên của Lawrence, sau này cho biết Chromatic đã đánh giá thấp chi phí. Các nhân viên vốn quen làm việc trong một phòng thí nghiệm được nhà nước hỗ trợ, không quen vận hành một công ty.  Chromatic và các đối thủ còn có một vấn đề lớn hơn. Tháng 10 năm 1951, Cơ quan Sản xuất quốc gia4 lệnh cho các công ty một lần nữa ngừng sản xuất vô tuyến truyền hình màu, để các kỹ sư và các nguyên vật liệu hiếm không bị phân tán khỏi các ưu tiên quân sự. Các công ty được phép tiếp tục các hoạt động nghiên cứu và phát triển, với điều kiện không làm chậm các hợp đồng với nhà nước.  Lawrence không để những quy định đó ảnh hưởng tới công việc. Ông đã tạm ngừng làm máy Bevatron để hoàn thiện Mark I, mà chính nó cũng bị chậm và đội ngân sách, nhưng [việc phát triển] vô tuyến truyền hình do Lawrence thiết kế thì không hề giảm sút. Mùa thu năm đó, McMillan nhận giải Nobel Hóa học. Chromatic trở thành công ty đầu tiên ở Mỹ và thứ hai trên thế giới có hai thành viên được giải Nobel. Chromatic khai thác danh tiếng này, cùng với các mối quan hệ của Lawrence, để xúc tiến một tiêu chuẩn điện tử.  Năm 1952, tờ Wall Street Journal đưa tin “Chromatic mới tấn công mạnh mẽ vào lệnh cấm.” Trong các cuộc gặp, do Chromatic tạo điều kiện, giữa các nhà cầm quyền với các công ty vô tuyến truyền hình, CBS, RCA, và Chromatic tranh luận để hủy lệnh ngừng sản xuất. CBS thậm chí quyết định rằng hệ thống cơ học của họ là thiếu sót, và công ty tuyên bố sẽ ủng hộ việc thay thế tiêu chuẩn cơ học bằng một tiêu chuẩn điện tử.  Cùng mùa hè, Lawrence bán căn nhà ở Diablo và đưa công ty ra khỏi ga-ra. Từ Oakland, ông và các đồng nghiệp tiếp tục căng dây trên các lưới, lúc này sử dụng các nút vặn và ngựa đàn như của đàn ghi-ta. Paramount trình diễn chiếc ti-vi mới nhất của Lawrence với một màn hình 22 inch. Tờ Wall Street Journal viết vào ngày 23 tháng 12: “Nhược điểm có lẽ duy nhất là màu sắc có xu hướng quá ‘sâu’.” Lawrence đặt tên cho nó là Chromatron để gợi nhớ đến chiếc máy cyclotron yêu quý của ông (hình 1).     Chìm vào màu sắc     Tháng 1 năm 1953, Lawrence cùng gia đình đi vòng quanh thế giới và gặp gỡ các ngôi sao điện ảnh địa phương. Trong lúc ông vắng mặt, đại biểu Quốc hội Charles Wolverton (đảng Cộng hòa, bang New Jersey) xếp lịch các phiên điều trần để xác định tình trạng của vô tuyến truyền hình màu. Vị đại biểu đặt câu hỏi: “Khi nào thì ti-vi màu trở thành hiện thực trong các gia đình Mỹ?”  Lawrence gửi lời xin lỗi từ Địa Trung Hải, vì vậy Hodgson đọc một bài phát biểu. Chromatic hiện mỗi ngày sản xuất được vài chục chiếc ti-vi có thể hiển thị mọi chương trình được phát sóng. “Chúng tôi không nói về một tia sáng lóe lên trong mắt nhà khoa học, cũng không phải một bản thiết kế, hay chỉ một mô hình trong phòng thí nghiệm,” ông xác nhận. “Chúng tôi nói đến những chiếc ti-vi hoàn thiện, đã được trình diễn thành công.” Để chứng minh, tháng 6 năm đó, Chromatic đã phát hình buổi lễ đăng quang của Nữ hoàng Elizabeth II trước các bệnh nhân trẻ em trong một bệnh viện ở London.  FCC đồng ý xem xét lại tiêu chuẩn. RCA nộp một bản kiến nghị 700 trang về một hệ thống điện tử mà họ đã tiêu tốn 40 triệu USD để thiết kế. Paramount cũng có những lo toan tài chính của họ. Hãng vừa mới giới thiệu phim màn ảnh rộng và phim 3D, và họ vừa mới mua lại lô đất của hãng Warner Brothers trên đại lộ Sunset, Los Angeles, để đầu tư vào điện tử. Paramount muốn thu lại lợi nhuận.  Chromatic in một tờ rơi màu, trong đó có cả tiểu sử của các nhà vật lý của công ty, để bán ti-vi dựa vào danh tiếng của họ (hình 4). Tháng 11 năm đó, Crosley Radio and Television trở thành công ty đầu tiên sản xuất Chromatron. Mặc dù các nhà bán lẻ cầu xin FCC đừng tuyên bố một tiêu chuẩn mới trước kỳ nghỉ lễ [Giáng sinh và năm mới], ngày 18 tháng 12 năm 1953, hệ thống điện tử của RCA được duyệt. Kỷ nguyên vô tuyến truyền hình màu chính thức bắt đầu.  Ở Oakland, Lawrence và các đồng nghiệp vội vã chuẩn bị sẵn sàng cho chiếc ti-vi của họ. Họ nộp đăng ký bằng sáng chế cho các kiểu đan dây khác nhau và thuê một nhà máy sản xuất ở Emeryville gần đó. Mỗi thứ bảy, họ gặp nhau ở đó để xem xét tiến triển. Alvarez kể lại: “Quá trình tốn kém quá đáng này giống như một chi nhánh trong thành phố của Phòng thí nghiệm Bức xạ.” Mùa đông năm đó, Chromatic ký hợp đồng sản xuất đầu tiên, họ sẽ cung cấp các màn hình ra-đa màu xanh lục và da cam cho Hải quân Mỹ.  Phần lớn năm 1954, báo chí viết về cuộc cạnh tranh chiếm vị trí dẫn đầu về vô tuyến truyền hình giữa RCA, CBS, và Chromatic. Chromatic tuyên bố ti-vi của họ có màn hình lớn nhất và có giá bán lẻ là 500 USD. RCA hạ thấp giá xuống và tuyên bố các máy Chromatron phát ra bức xạ, vì vậy người tiêu dùng sợ vấn đề khoa học của chúng thay vì mua về.  Tuy vậy, Chromatic và các công ty sản xuất vẫn gặp khó khăn trong việc sản xuất lưới tăng tốc. Như Hodgson thừa nhận, “một trong hai mươi cái [ti-vi] đạt yêu cầu, số còn lại sẽ phát nổ.” Mặc dù thế, trước năm 1955, RCA chỉ làm ra 50 000 chiếc ti-vi màu, tức là một phần tư mục tiêu của công ty. Các máy của họ cũng cần được nối dây một cách thủ công, và các phốt-pho chỉ thẳng hàng với mỗi một màng bóng.     Cuộc tháo chạy     Năm 1954, khi Alvarez là phó chủ tịch của Chromatic, ông bảo các đồng nghiệp trẻ ở Phòng thí nghiệm Bức xạ làm một buồng bọt5 nhỏ chứa đầy hydrogen lỏng để ghi lại sự tán xạ của các hạt tích điện. Sau đó, ông đề xuất xây dựng một cái rộng gần hai mét. Ông muốn làm một cái máy dò lớn cho Bevatron thay vì sản xuất hàng loạt cái nhỏ cho những máy khác. Trong khi thiết kế buồng bọt, Alvarez nhận thấy nó sẽ thu được quá nhiều dữ liệu. Các nhà vật lý học sẽ phải quét hàng nghìn bức ảnh, hoặc phải tự động hóa quá trình tìm kiếm của mình. Lawrence giúp Alvarez xin được 1 triệu USD để phát triển phần cứng và phần mềm để nhận biết các hạt trên các màn hình. Cuộc cách mạng máy tính đã đến Berkeley trước khi nó nổ ra ở phía bên kia vịnh San Francisco.  Tháng 2 năm 1956, một câu chuyện trên trang nhất tờ Wall Street Journal gọi Chromatron là “trêu ngươi”. Trong khi đó, Lawrence vẫn lấp đầy cuốn sổ của mình với những ý tưởng. Ngày 4 tháng 3, ông viết trong sổ tay rằng màu sắc và độ sáng của mẫu mới nhất cực tốt, thậm chí tốt hơn ti-vi của RCA.  Tuy nhiên, Chromatic tan rã chỉ trong vòng vài tuần. Giám đốc nghiên cứu Craig Nunan đột nhiên nghỉ việc. Ông và ba kỹ sư khác được Varian Associates, một công ty do các nhà vật lý học ở đại học Stanford, lôi kéo. Varian cũng sản xuất bóng điện tử chân không cho vô tuyến truyền hình và máy gia tốc, đó là công ty đầu tiên trong Khu công nghiệp Stanford. Sau đó, chủ tịch Hodgson cũng tuyên bố rời công ty. Một năm sau, ông ký tấm ngân phiếu thành lập Fairchild Semiconductor, công ty này cũng chuyển đến Khu công nghiệp Stanford. Đó là công ty sản xuất các con chip silicon, nguồn gốc cái tên Thung lũng Silicon.  Lawrence tìm kiếm một thỏa thuận để cắt đứt mối liên hệ với Chromatic. Ngày 1 tháng 1 năm 1957, Litton Industries mua nhà máy sản xuất của Chromatic ở Oakland để sản xuất màn hình ra-đa. Alvarez viết cho một người bạn rằng Litton cũng mua cả các nhà vật lý học của công ty như một phần của gói hợp đồng. Alvarez từ chức ở Chromatic khi ông được bổ nhiệm vào ban giám đốc của Hewlett Packard, một công ty cũng vừa mới chuyển từ một ga-ra tới Khu công nghiệp Stanford.  Giữa tháng 1, Paramount rốt cục cũng mua nốt phần còn lại của Lawrence và Gaither với giá 160 000 USD. Phòng thí nghiệm của Chromatic trong tòa nhà Paramount trở thành trụ sở chính của một công ty con mới, Autometric, với nhiệm vụ phát triển “các phương pháp nhanh, tự động để xử lý các lượng lớn thông tin phức tạp và mâu thuẫn, và từ đó rút ra quyết định.” Điều mà Alvarez làm cho các nhà vật lý học, Autometric làm cho gián điệp.  Mùa hè năm 1958, Lawrence đang ở Geneva để thương lượng một hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân thì đổ bệnh. Năm ngày sau khi Tổng thống Eisenhower tuyên bố hoãn thử vũ khí hạt nhân, Lawrence qua đời. Gaither đọc điếu văn. Một năm sau, ông đồng sáng lập Draper, Gaither, and Anderson, công ty đầu tư mạo hiểm đầu tiên ở Thung lũng Silicon.    Thành công ở nước ngoài     Năm 1961, Masaru Ibuka và Akio Morita, các nhà sáng lập và tổng giám đốc của tập đoàn Sony, chứng kiến một buổi trình diễn ti-vi của Lawrence tại một triển lãm thương mại ở New York. Ngày hôm sau, Morita thương lượng một giấy phép với Paramount. Khi đó, Nhật Bản là nước duy nhất trên thế giới, ngoài Mỹ, có phát sóng truyền hình màu, nhưng cả nước cũng chỉ có khoảng 1000 ti-vi RCA. Senri Miyaoka, một nhà vật lý học, sang New York để nhận chiếc Chromatron từ Autometric.  Sony trình làng chiếc vô tuyến truyền hình màu đầu tiên của mình tại Tokyo vào năm 1964. Họ khoe là đã cải tiến vượt bậc một công nghệ Mỹ, nhưng thực ra cũng gặp khó khăn khi sản xuất hàng loạt, hệt như các nhà vật lý học ở Berkeley. Năm sau đó, Sony tung ra chiếc ti-vi Chromatron đầu tiên của họ, với ba súng electron thay vì một, để tránh phải chia một chùm electron làm ba. Giá bán chưa đến một nửa giá thành, để công ty có thể cạnh tranh với RCA. Mặc dù bảo hành trọn đời, Sony cũng chỉ bán được 18 000 chiếc. Morita tuyên bố công ty chưa vội đưa chiếc Chromatron vào thị trường Mỹ. Một công ty đã thử: Fairchild Semiconductor được Paramount cấp phép sản xuất chiếc ti-vi, nhưng cũng không sản xuất hàng loạt thành công.      Hình 3: Một chiếc Sony Triniton bán ở Anh (nguồn: Science Museum Group Collection).   Sau cú đầu tư vào Chromatron, Sony ở trên bờ vực phá sản. Nhưng một kỹ sư Sony tên là Susumu Yoshida đề nghị chỉ dùng một súng electron như trong thiết kế gốc của Lawrence. Ông ta cùng Miyaoka tạo ra một chiếc ti-vi chia chùm tia làm ba rồi làm tụ nó lại hai lần nhờ một thấu kính điện tử lớn và các lăng kính nhỏ. Các chùm tia sau đó được tăng tốc nhờ một tấm vỉ thay vì một tấm lưới. Miyaoka làm việc 13 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần, cho đến khi ông và các đồng nghiệp có được một chiếc ti-vi truyền được hình ảnh rõ ràng. Năm 1967, Ibuka đặt tên cho chiếc ti-vi công ty tự làm là Triniton, dựa theo tên gốc Chromatron và ba chùm tia từ cùng một nguồn hội tụ.  Hệ thống Triniton là ruột của mọi chiếc ti-vi bán chạy nhất trên thế giới, và của các màn hình màu đồng hành với tuổi thơ của hầu như mọi người Mỹ (hình 3). Tới năm 1973, nó chiếm 38% doanh số của công ty, và được coi là một nhân tố hàng đầu trong thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Nhật Bản. IBM cài đặt Triniton trong các máy tính cá nhân của hãng, và Cục Hàng không liên bang chỉ dùng mỗi chúng trong các ra-đa. Sony thậm chí còn mua hãng phim Columbia Pictures và trở thành tập đoàn truyền thông mà Paramount từng hướng đến.  Những cống hiến cho vô tuyến truyền hình màu của Lawrence ít được nhớ đến. Nhưng những phát kiến hiếm khi là thành quả của một thiên tài đơn lẻ làm việc cật lực trong một ga-ra. Thường thì nó cũng không đến từ những quyết định sáng suốt trong kinh doanh. Sự ra đời của màn hình màu không phải là sản phẩm của cả hai. Không một công ty nào có ba người được giải Nobel mà thất bại đầy kịch tính như Chromatic Television. Sony thành công nhờ cải tiến công nghệ nước ngoài, nhưng chỉ vì sự bền bỉ cứng đầu trong giai đoạn cận kề phá sản. Và như thế, quá trình phát triển của những chiếc màn hình màu hiện diện khắp nơi là một câu chuyện bẩn thỉu tại điểm giao của chính phủ, khoa học, hàn lâm, và thương trường. Cũng như bao câu chuyện sáng tạo khác.      Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn bài và ảnh: https://physicstoday.scitation.org/doi/full/10.1063/PT.3.4162  ——–  Chú thích của người dịch  1 Shadow mask.  2 Bơm hút chân không. – ND.  3 Nguyên văn “prod”, gậy xua gia súc của người chăn. – ND.  4 National Production Authority.  5 Bubble chamber.        Author                Joshua Roebke        
__label__tiasang Dự án thiết kế các chiến lược sơ tán khi có lũ lụt      Trong quá trình lên kế hoạch sơ tán đề phòng sự cố thiên tai, chúng ta khó lòng có thể vẽ ra giấy những yếu tố phức tạp như đặc điểm địa lý, hành vi của con người.    Nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và Pháp đã mô hình hóa tất cả những yếu tố này, giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng quan sát các kịch bản có thể xảy đến, từ đó có cơ sở để đưa ra quyết định dễ dàng hơn.    Năm 1971, trận đại hồng thủy khiến hệ thống đê sông Hồng vỡ hàng loạt, hàng triệu hộ gia đình vùng Đồng bằng Bắc Bộ bị ngập lụt nặng. Sẽ thế nào nếu một sự kiện tương tự diễn ra trong hiện tại? Liệu chúng ta có thể tránh được những tổn thất nặng nề? Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ, đặc biệt trong bối cảnh cuối năm 2021, báo chí đã ghi nhận nhiều vị trí sạt lở đê nghiêm trọng ven bờ sông Hồng. Thêm vào đó, “mật độ dân cư tại các vùng ven đê ngày càng lớn khiến việc sơ tán trở nên khó khăn, hệ sinh thái đô thị suy yếu, hệ thống thoát nước không đáp ứng được tiêu chuẩn đô thị hiện nay”, GS. Alexis Drogoul, Viện Nghiên cứu vì sự Phát triển (IRD), nhận định.        Việc có thể quan sát và dự đoán trước những gì có thể xảy đến đối với từng phương án xây dựng hạ tầng, kế hoạch dự phòng, trở thành một nhu cầu bứt thiết đối với các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Nhu cầu này đã khơi gợi nên cho các nhà khoa học máy tính những ý tưởng mới, từ đó tạo ra các phương pháp mô hình hóa tích hợp khác nhau giúp mô phỏng thế giới kèm theo những bất cập có khả năng xảy ra như hỏa hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm không khí.    Các nhà khoa học tại ĐH Thủy lợi, Viện Nghiên cứu vì sự Phát triển (IRD), Viện Nghiên cứu Quốc gia về Nông nghiệp, Thực phẩm và Môi trường (Pháp) cũng không đứng ngoài xu thế đó, họ đã dành nhiều năm cùng nghiên cứu nên một phương pháp GAMA (GIS & Agent-based Modeling Architecture) mô hình hóa dựa trên tác tử, cho phép chúng ta hình dung thế giới tương ứng với hành vi của các tác nhân và môi trường xung quanh một cách cụ thể, và nhóm đã thử nghiệm công nghệ này tại Việt Nam thông qua dự án ESCAPE – dự án thiết kế các chiến lược sơ tán trong trường hợp lũ lụt.    Mô hình hóa hành vi của xã hội    Cũng giống như những mô hình tích hợp khác, một trong những điểm thú vị nhất của mô hình GAMA đó là nó cho phép chúng ta thỏa sức tưởng tượng và quan sát những kịch bản có thể xảy ra, trong khi thực tế thì không thể. Điều khác biệt của GAMA đó là hệ nền này giúp người dùng có một môi trường thực hiện mô phỏng đa tác tử. Có thể hiểu tác tử phần mềm (agent) là một phần mềm máy tính tồn tại trong một môi trường nhất định, tự động hành động phản ứng lại sự thay đổi của môi trường nhằm đáp ứng mục tiêu đã được thiết kế trước. Trong kịch bản sơ tán người do lũ lụt, chúng ta sẽ có các dữ liệu là tác tử người, tác tử sông, tác tử đường,v.v và sự tương tác giữa các tác tử.    Cái khó của nhóm nghiên cứu đó là tác tử phải được thiết kế với những tính chất cụ thể, phản ánh hiện thực cuộc sống. “Khi đề cập đến một rủi ro, chúng tôi lưu ý ba yếu tố chính: mối nguy (hazard), mức độ phơi bày (exposition) và tính dễ bị tổn thương (vulnerability) của những người liên quan đến mối nguy đó”, GS. Alexis Drogoul giải thích tại tọa đàm “Phát triển đô thị và những nguy cơ mới” diễn ra vào tuần qua. Cụ thể, ông cho biết có thể đánh giá mức độ phơi bày tiềm năng dựa trên thang đo và những yếu tố như việc con người, cơ sở hạ tầng, nhà ở có nằm trong vùng đối mặt với rủi ro hay không. “Chẳng hạn, khi xây dựng mô hình lũ lụt, ta có thể thấy mức độ phơi bày của người dân vùng ngoài đê An Dương sẽ cao hơn so với những người sống bên trong đê.” Còn với mức độ dễ bị tổn thương, nhóm sẽ quan tâm đến những khía cạnh về thể chất, sinh lý, kinh tế – xã hội v.v. của người dân.    Tuy nhiên, các tính chất trên vẫn chưa phải là thứ khó dự đoán nhất đối với nhóm, những yếu tố biến động khó lường nhất chính là hành vi, cảm xúc của cá nhân trong xã hội. Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Doanh (trường ĐH Thủy lợi), nghiên cứu mô hình hóa là một nghiên cứu liên ngành, đòi hỏi cần phải có “các nhà khoa học hành vi cùng tham gia giải quyết”. Khi đối diện với một sự cố, con người thường có xu hướng mất bình tĩnh, dẫn đến nhiều hành vi bất ngờ. “Chúng tôi phải đặt ra hàng tá câu hỏi: Quá trình nhận thức, cảm xúc, chuẩn mực đạo đức của các cá nhân sẽ diễn biến như thế nào? Trong trường hợp xảy ra sự cố, người dân có vội vã đi đón con đang học trên trường không? Họ có đến tìm bạn bè mình không? Mối quan hệ xã hội tác động đến hành vi của họ đến mức nào?” – GS. Patrick Taillandier, thành viên nhóm nghiên cứu, nhấn mạnh rằng người thiết kế “phải nhận thấy xã hội luôn trong trạng thái động, và đây là một thách thức lớn”.    May mắn là nhóm nghiên cứu đã có kinh nghiệm thiết kế mô hình sơ tán cho các thành phố tại Pháp. Tại thành phố Saumur, cực Tây Pháp, nhóm đã có được dữ liệu về trận lũ lụt lịch sử năm 1856, mực nước dâng lên gần 7m, nhấn chìm làng xã xung quanh. “Tại Pháp, các thành phố đều phải có kịch bản sơ tán, cứu trợ trong trường hợp thiên tai. Bằng việc mô hình hóa, chúng tôi đặt ra những câu hỏi như điểm tập trung cứu trợ ở đâu? Người dân đã được thông tin đầy đủ về rủi ro có thể xảy đến hay chưa?”, GS. Taillandier lý giải.    Người dân hành xử như thế nào còn tùy thuộc một phần vào chính sách của địa phương. Chẳng hạn, tại La Ciotat, địa điểm này trước đây đã gặp nhiều vấn đề về lũ lụt, nhưng hiện nay người dân đã bắt đầu chủ quan và không có sự chuẩn bị phòng ngừa nào. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều kịch bản cho chính quyền: kịch bản người dân không nắm được thông tin về nguy cơ lũ lụt, nhưng hệ thống đê điều vẫn được gia cố thường xuyên; kịch bản người dân nắm được thông tin nhưng hệ thống đê điều, thoát nước bị bỏ bê nhiều năm v.v. Với mỗi kịch bản, chính quyền sẽ đánh giá và dựa vào đó đưa ra những chính sách tuyên truyền, củng cố hệ thống thoát nước, gia cố đê phù hợp.    Thử nghiệm tại phường Phúc Xá    Dù đã có kinh nghiệm lên kịch bản sơ tán tại Pháp, nhưng việc hiểu về đặc điểm địa lý, hành vi của người dân tại Việt Nam lại là một câu chuyện rất khác. Là người chuyên nghiên cứu về mô hình hóa hành vi con người và xem xét những khía cạnh của nhận thức, xã hội và cảm xúc trong việc ra quyết định, khó khăn trên lại chính là nguồn cảm hứng kích thích GS. Taillandier tìm kiếm phương án tích hợp các yếu tố về thủy lợi, địa lý, đa tác tử, đặc biệt là quá trình tư duy, nhận thức của con người một cách hiệu quả và đúng với thực tế nhất.    Nhóm nghiên cứu quyết định thử nghiệm mô hình GAMA tại phường Phúc Xá (Hà Nội). Đây là phường duy nhất của quận Ba Đình nằm ở phía ngoài đê sông Hồng với diện tích 0,92 km², mật độ dân số đạt 23.939 người/km². “Với mật độ dân cư lớn, việc di tản sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, gây cản trở cho công tác quản lý thiên tai, rủi ro”, ông cho hay.    Để chạy mô hình, bên cạnh những thông tin về đặc điểm địa lý, tình hình thủy lợi, nhóm còn cần dữ liệu đầu vào là thói quen đi xe của người dân. Nhóm nghiên cứu đã đặt camera quan sát thực tế giao thông tại khu vực phường, ghi nhận tỷ lệ sử dụng phương tiện như xe hơi, xe máy, xe đạp, taxi, xe buýt, đi bộ. Đáng chú ý, mặc dù đường phố ở Phúc Xá khá hẹp, nhưng mật độ di chuyển bằng xe hơi vẫn rất đông. “Tất nhiên chúng tôi cũng ghi nhận sự thay đổi hành vi cá nhân nữa, có những người thường ngày đi bộ, nhưng nếu có sự cố thì họ dùng đến xe hơi”.    Nhóm nghiên cứu sau đó tiến hành chạy mô hình, hiệu chỉnh dựa trên những dữ liệu thực đo được. Kết quả cho thấy nếu người dân sơ tán cùng lúc, sẽ có một số trường hợp xảy ra: với kịch bản hầu hết người dân đều dùng xe hơi, đường bị tắc và phải mất 2 tiếng để sơ tán người dân đến nơi an toàn; với kịch bản người dân sử dụng nhiều loại phương tiện như xe đạp, xe máy, xe hơi, chạy bộ, thời gian sơ tán sẽ giảm đi. Bên cạnh đó, để tìm kiếm tuyến đường sơ tán nhanh nhất, tránh khu vực ngập lụt, nhóm nghiên cứu đã chạy mô phỏng nhiều lần với các khu vực, thời điểm khác nhau.    Mỗi nhóm đối tượng sẽ đối mặt với mối nguy đó bằng khả năng chống chịu, mức độ phơi bày, mức độ dễ bị tổn thương khác nhau. Đó là một bức tranh với nhiều mảnh ghép. Có rất nhiều yếu tố buộc các nhà khoa học trong nhóm phải tính đến, chẳng hạn như sức khỏe, tốc độ chạy; người già, trẻ con, những người dễ bị tổn thương cần được ưu tiên di tản trước.    Bên cạnh việc giúp các nhà quản lý quan sát được kịch bản sơ tán, mô hình hóa còn hỗ trợ đề xuất một số chính sách điều chỉnh cơ sở hạ tầng và công tác tuyên truyền. Người dân sẽ bình tĩnh hơn nếu họ đã được cảnh báo từ trước, nhận được lời khuyên nên làm gì trong trường hợp mưa lũ lớn, “mặc dù tiến hành khảo sát một số người Pháp, chúng tôi nhận thấy không phải ai cũng tuân theo những lời khuyên này”, GS. Taillandier đề cập đến các biến số. Cùng với việc tuyên truyền, các nhà quản lý cần cân nhắc đến việc cải thiện hệ thống đê điều và hệ thống đường bộ để giảm thời gian sơ tán. “Chỉ cần khơi thông, mở rộng một số tuyến đường, nút thắt quan trọng, chiến lược di tản sẽ diễn ra thuận lợi hơn nhiều”.    Dù đã chạy được rất nhiều kịch bản khác nhau, nhưng GS. Taillandier thừa nhận rằng công cụ hiện đang cần thêm rất nhiều dữ liệu về tâm sinh lý, hành vi của con người. “Dữ liệu là điều kiện cần nếu muốn ứng dụng mô hình đa tác tử này. Nếu được cung cấp thêm nhiều dữ liệu, chúng tôi có thể phát triển ra nhiều mô hình sát với thực tế hơn”.    Dẫu vậy, cần lưu ý rằng việc mô hình hóa chỉ là một công cụ gợi ý chứ không phải là phương thức ‘kỳ diệu’ giúp dự đoán trước tương lai. Mục tiêu của nhóm nghiên cứu khi đề xuất phương pháp mô hình hóa GAMA “không phải để yêu cầu các nhà quyết sách phải làm gì, mà chúng tôi chỉ muốn cung cấp thông tin nhằm hỗ trợ ra quyết định”, ông nhấn mạnh. “Việc mô hình hoá sau rốt chỉ là sự giả định. Các nhà quyết sách có thể đưa ra quyết định khác với kết quả kịch bản, bởi họ có những lập luận khác dựa trên tình hình thực tế và kinh nghiệm của bản thân”.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Esther Duflo: Chuyên gia Pháp trong cuộc chiến đói nghèo      Esther Duflo, một trong ba người nhận giải Nobel kinh tế, là một học giả nổi tiếng ở Mỹ và Pháp vì cách tiếp cận mang tính thực tiễn trong nghiên cứu về cách con người có thể thoát khỏi cái bẫy đói nghèo ra sao.         Duflo cưới Banerjee, người hướng dẫn luận án tiến sĩ của cô,   Cô là người phụ nữ thứ hai giành được giải thưởng này. Trước đó, cô được nhiều người biết đến khi giành giải thưởng John Bates Clark danh giá vào năm 2010, vốn thường được coi là một bước đệm tới giải Nobel. Với độ tuổi, giới và chuyên ngành – kinh tế phát triển – đã khiến cô khác biệt so với những người từng nhận được giải trước đó, về cơ bản là nhiều tuổi hơn, là đàn ông và thường là người Mỹ.  Cô đã giành giải Nobel với nhà nghiên cứu Mỹ gốc Ấn Độ Abhijit Banerjee và một nhà nghiên cứu Mỹ khác, Michael Kremer, bởi theo đánh giá của Ủy ban giải thưởng “cho cách tiếp cận mang tính thực tiễn trong đấu tranh vượt qua đói nghèo trên toàn cầu”.  Duflo cưới Banerjee, người hướng dẫn luận án tiến sĩ của cô, và cả hai đều là giáo sư Viện công nghệ  Massachusetts (MIT).  Duflo đã được biết đến về những nghiên cứu về các cộng đồng nghèo ở Ấn Độ và châu Phi, cân nhắc tác động của các chính sách như khuyến khích giáo viên thể hiện mình trong công việc hay đo lường quyền của phụ nữ. Được ví như các ca điều trị lâm sàng cho các loại thuốc, các thử nghiệm của cô tập trung vào xem xét việc nhận diện và chứng minh những đầu tư nào khiến tình trạng xấu đi và có tác động lớn nhất đến đời sống của những người bần cùng nhất. Cô nói với AFP trong một cuộc phỏng vấn tháng 9/2017 khi thảo luận về mục tiêu công việc và nghiên cứu ở MIT ở Boston. “Chúng ta cần hiểu được những chướng ngại mà những người nghèo nhất phải đối mặt và cố gắng nghĩ về cách chúng ta có thể giúp họ vượt qua”.   Dường như người ta có thể tìm thấy Duflo ở những làng nghèo đói nhất và bụi bặm nhất miền bắc Ấn Độ, nơi cô cùng các nhà nghiên cứu địa phương làm việc, nhiều như thời gian cô dành để đến các giảng đường ở Mỹ. “Tôi yêu thích nó”, cô nói về công việc nghiên cứu của mình như vậy trong một cuộc phỏng vấn với The Financial Times năm 2012. “Tôi yêu tất cả những gì thuộc về nó. Đó là cách duy nhất để người ta làm việc, để nhận được ra bằng trực giác cách con người thực sự sống cuộc đời của họ như thế nào”.  Và kết quả là, cô đã mang góc nhìn tươi mới vào lĩnh vực kinh tế phát triển, mở ra một con đường mới giữa những các đề xuất chuyển các khoản hỗ trợ lớn tới các quốc gia nghèo và những người từ chối sự giúp đỡ dưới hình thức của chủ nghĩa gia trưởng nước lớn.  Những người bạn có tầm ảnh hưởng lớn    Cô được nhiều người biết đến khi giành giải thưởng John Bates Clark danh giá vào năm 2010,  Bất chấp việc chứng kiến tận mắt cảnh bần cùng, thiếu dinh dưỡng bởi đói nghèo, các nhà nghiên cứu  vẫn lạc quan, họ nhấn mạnh rằng đói nghèo đang giảm dần trên quy mô toàn cầu. “Câu chuyện của cuộc chiến chống lại đói nghèo cho thấy sự thành công. Tình trạng đói nghèo một cách cùng cực đang bị loại bỏ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh giảm một nửa, học sinh đến độ tuổi đi học được tới trường đang trở thành phổ biến trên toàn cầu”, cô trả lời AFP năm 2017 như vậy.  Công trình của cô đã nhận được sự ủng hộ của tỷ phú Bill Gates, và cô từng là một trong những cố vấn của tổng thống Mỹ Barack Obama. Duflo cũng là bạn của nhà kinh tế cánh tả Pháp Thomas Piketty, tác giả cuốn sách bạn chạy về thịnh vượng và bất bình đẳng “Tư bản thế kỷ 21” (Capital in the Twenty-First Century”, và cuốn mới nhất “Tư bản và ý thức hệ” (Capital and Ideology). “Chúc mừng Abhijit, Esther và Mike! Tất cả đều xứng đáng!”, Piketty đã viết như vậy trên tài khoản Twitter của mình khi biết tin.  Duflo yêu nhạc cổ điển, cô lớn lên ở Paris và là con gái của một nhà toán học và bác sĩ nhi khoa, những người cô tin rằng đã đem lại cho cô lòng trắc ẩn muốn giúp những người kém may mắn hơn mình.  Duflo từng học ở ngôi trường danh tiếng Lycée Henri-IV ở Paris và sau đó giành được một chỗ tại trường đại học Sư phạm Paris (Ecole Normale Superieure university), một nơi chuyên đào tạo những nhân vật tinh hoa và học giả hàng đầu Pháp. Tuy nhiên sau đó cô rời Pháp để tới Mỹ làm nghiên cứu sinh vào năm 1999 và bảo vệ luận án khi mới 29 tuổi, ngay lập tức đưa cô trở thành một ngôi sao đang lên.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-esther-duflo-french-specialist-combatting.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang EU cập nhật chiến lược công nghiệp      Theo các thành viên của Nghị viện Châu Âu và các tổ chức nghiên cứu, sẽ cần có thêm nhiều điều chỉnh chiến lược công nghiệp của EU để nó phù hợp với các chương trình tài trợ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong bảy năm tới.      Siêu máy tính Vega mới được khai trương tháng 4/2021 tại Maribor đã đưa Slovenia leeb bản đồ toàn cầu của các siêu máy tính. Nguồn: gov.si  Theo thông báo gần đây của Ủy ban Châu Âu, EU sẽ cho ra mắt các liên minh công nghiệp mới để phát triển các bộ vi xử lý, công nghệ bán dẫn, dữ liệu công nghiệp, công nghệ đám mây, tên lửa phóng tàu vũ trụ và hàng không không phát thải. Đây là một phần trong bản cập nhật của chiến lược công nghiệp đã bắt đầu vào tháng 3/2020 của EU – có mục tiêu tăng cường sự độc lập cho khối EU này khỏi các sản phẩm và dịch vụ công nghệ do các quốc gia khác trên thế giới phát triển và sản xuất.   Liên minh công nghiệp đầu tiên của EU được thành lập vào năm 2017 nhằm đưa EU trở thành khối dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực phát triển và sản xuất pin bền vững cho ngành công nghiệp ô tô. Hiện nay, EU mong muốn có thể dựa trên nền tảng này để tiếp tục xây dựng các liên minh mới giúp thúc đẩy chủ quyền công nghệ. Theo Phó Chủ tịch điều hành Ủy ban Margrethe Vestager: “Chúng tôi đang phát triển các sáng kiến tương tự trong lĩnh vực nguyên liệu thô và hydro sạch, và chúng tôi đang chuẩn bị thành lập các liên minh về bộ xử lý, công nghệ bán dẫn, dữ liệu công nghiệp, mạng edge và đám mây”. Bà nói thêm, “chúng tôi cũng đang xem xét việc chuẩn bị thành lập một liên minh về tên lửa và một liên minh về hàng không không phát thải, để bổ sung cho liên minh nhiên liệu tái tạo và carbon thấp – một liên minh cũng đang được xem xét”.  Hiệp hội các tổ chức nghiên cứu và công nghệ Châu Âu (EARTO) nhận định, các liên minh công nghiệp mới nên phát triển dựa trên quan hệ đối tác công tư ở Horizon Europe – một chương trình kéo dài 7 năm về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Theo EARTO, Liên minh Châu Âu cần phải quản lý tốt hơn các kế hoạch đầu tư nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong các công nghệ chiến lược, điều phối các quan hệ đối tác của Horizon Europe cũng như lộ trình công nghệ công nghiệp trong khu vực European Research và các mô hình synergy (hiệp lực) đã được công bố cho các ngành công nghiệp dân dụng, quốc phòng và vũ trụ.  Các thành viên thuộc Đảng Bảo thủ của Nghị viện Châu Âu cho rằng, cần điều chỉnh bản chiến lược này nhiều hơn nữa cho phù hợp với chương trình tài trợ trong bảy năm tới. “Thật không may chiến lược được trình bày hôm nay cho thấy có rất nhiều điều còn đang bỏ ngỏ”, Christian Ehler, báo cáo viên người Đức của nghị viện châu Âu và Horizon Europe cho biết. Các thành viên thuộc Đảng Xanh của nghị viện thì nhận định, Ủy ban nên đưa vào chiến lược những mục tiêu đầu tư rõ ràng hơn cho những công nghệ mới trong vật liệu xây dựng và năng lượng sạch để giúp EU cắt giảm 55% phát thải carbon vào năm 2030.   Tự chủ chiến lược  Kể từ khi Ủy ban Châu Âu ra thông báo về các mục tiêu khí hậu đầy tham vọng của mình, các bên liên quan đã tự hỏi rằng làm thế nào để có thể đạt được các mục tiêu này trong thực tế và ngành công nghiệp cần phải làm gì để thích ứng.  Không chỉ vậy, các thành viên nghị viện Châu Âu cũng nêu lên những lo ngại về mục tiêu “dần tự chủ trong công nghệ chiến lược” và họ kêu gọi các bên đưa ra những bản kế hoạch cụ thể và thực tế. Chẳng hạn, một số người bày tỏ sự nghi ngờ về chuyện EU có thể tự sản xuất bộ vi xử lý và chất bán dẫn. Tuy nhiên, Ủy viên thương mại EU cho rằng, ngành công nghiệp và các nhà hoạch định chính sách có những gì họ cần. “Chúng tôi có thể tự tổ chức để làm được việc đó”, Thierry Breton nói.  Trên con đường đạt được quyền tự chủ chiến lược, EU đã ra mắt thế hệ mới của máy tính hiệu năng cao đầu tiên tại Slovenia và đã triển khai liên minh pin. “Từng bước một, chúng ta sẽ biến quyền tự chủ chiến lược trở thành một thứ hữu hình”, Vestager nói.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/commission-updates-plans-industry-alliances    Author                Quản trị        
__label__tiasang EU thiết lập hợp tác 11 tỉ euro dành cho bán dẫn tiên tiến      Các loại chip mà Sáng kiến châu Âu hướng đến có thể giúp ngăn ngừa những thiếu hụt bán dẫn và khiến cho châu Âu trở nên ít phụ thuộc hơn vào các công nghệ của Trung Quốc.      Châu Âu mới loan báo về chương trình Chip cho châu Âu (Chips for Europe), một hợp tác R&D trị giá 11 tỉ euro để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và sản xuất các bộ vi xử lý.  Sáng kiến này được hình thành trên cơ sở là một phần của Đạo luật Chip nhằm mục tiêu giúp châu Âu có thể kiểm soát một phần năm thị trường thế giới vào cuối thập kỷ này. Hội đồng châu Âu ước tính, châu lục này sẽ phải nhân doanh số bán bộ vi xử lý hàng năm với hệ số 5 để đạt được mục tiêu đó.  “Sáng kiến Chip cho châu Âu liên quan chặt chẽ với Chương trình Horizon Europe và sẽ phụ thuộc vào các nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tiếp theo để phát triển các chip thế hệ mới nhỏ hơn và hiệu quả năng lượng hơn”, Mariya Gabriel, thành viên Hội đồng EU phụ trách nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, nói.  Kế hoạch này, được chủ tịch EU Ursula von der Leyen thông báo lần đầu tại bài phát biểu của bà trước các đại diện quốc gia thành viên EU vào tháng 9 năm ngoái, nhằm phản hồi lại tình trạng thiếu hụt vi chip của thế giới khiến các nhà sản xuất ô tô và các sản phẩm hàng hóa khác ở châu Âu giảm năng suất.  Pháp, quốc gia hiện tại nắm quyền chủ tịch Hội đồng châu Âu, đang cố gắng thuyết phục các quốc gia thành viên ủng hộ một mô hình mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ít phụ thuộc vào các công nghệ của Trung Quốc và Mỹ.  Trao đổi tại một hội thảo do Pháp chủ trì, thời điểm trước khi loan báo đạo luật về chip, Phó chủ tịch Hội đồng châu Âu Věra Jourová cho rằng, đại dịch COVID-19 đã khiến EU phải nghĩ lại về cách tiếp cận kinh tế của mình. “Đại dịch này là bằng chứng mới nhất nhắc nhở chúng ta là một kỷ nguyên của toàn cầu hóa tràn đầy niềm vui đã qua”, bà nói. Hiện tại, cần phải có một cách tiếp cận thận trọng để đảm bảo những gì bà ngụ ý là “tính vị kỷ quốc gia và lợi ích quốc gia” không cản trở hợp tác quốc tế.  Ngân sách 11 tỉ euro cho hợp tác về chip sẽ đến từ việc tái định hình những khoản tài trợ đang có trong chương trình nghiên cứu và số hóa châu Âu, Horizon Europe và Digital Europe.  Hội đồng châu Âu muốn tăng cường đầu tư cho nghiên cứu hiện có để tăng tốc sản xuất những bán dẫn tiên tiến, bằng việc tài trợ cho những dự án sản xuất thử nghiệm các sản phẩm mẫu, tập huấn các thành viên và thiết lập các cơ sở để thử nghiệm các thiết bị mới.  “Chúng ta cần chuyển đổi các kết quả nghiên cứu xuất sắc thành những đổi mới sáng tạo của ngành công nghiệp”, bà von der Leyen nhấn mạnh như vậy trong buổi loan báo về dự án chip. “Với Đạo luật Chip, chúng ta sẽ có thể tăng cường sức mạnh cho các nghiên cứu xuất sắc và giúp nó chuyển từ phòng thí nghiệm tới nhà xưởng – từ những căn phòng thực nghiệm tiêu chuẩn đến nơi sản xuất”, ủy viên phụ trách thương mại Thierry Breton bổ sung.  Về tổng thể, Đạo luật Chip được chờ đợi sẽ có khoảng hơn 43 tỉ euro đầu tư công và tư, cho phép EU lường trước và phản hồi với sự đứt gãy của chuỗi cung cấp tương lai.  Đạo luật Chip được xây dựng trên các sáng kiến đã có. Vào tháng 6 năm 2021, Hội đồng châu Âu thiết lập một liên minh công nghiệp về các bộ xử lý và bán dẫn, giờ đóng vai trò tư vấn trong Sáng kiến Chips for Europe.  Trước khi các quy định pháp lý mới có hiệu lực, Nghị viện châu Âu và các quốc gia thành viên châu Âu sẽ  thảo luận và bỏ phiếu cho đề xuất của Hội đồng châu Âu.  Cristian Bușoi,chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu và công nghiệp của Nghị viện (ITRE), cho biết luật không được là các rào sản giữa châu Âu và các phần còn lại của thế giới. “Nhưng chúng tôi muốn xây dựng một cơ sở công nghiệp châu Âu thống nhất, bởi vì các con chip mang tính chiến lược và là vấn đề cốt lõi của những chuyển tiếp số hóa và khí hậu”, ông nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://sciencebusiness.net/news/eu-launch-eu11b-joint-undertaking-advanced-semiconductors  https://digital-strategy.ec.europa.eu/en/policies/european-chips-act    Author                .        
__label__tiasang EU và Mỹ cùng đi đến thỏa thuận nguyên tắc về dòng chảy dữ liệu      Sau một năm đàm phán, những quy tắc mới đang được hai bên đồng thuận. Một khung làm việc trong tương lai sẽ được phân định rõ để các công ry có thể sử dụng các dòng chảy dữ liệu, bao gồm cả mục đích nghiên cứu.    Châu Âu và Mỹ đã chạm đến một thỏa thuận mang tính nguyên tắc về các dòng chảy dữ liệu, bao gồm dữ liệu cho nghiên cứu, khắp Đại Tây dương.  Việc chia sẻ dữ liệu đã bị ảnh hưởng phần nào kể từ khi Tòa án châu Âu phán quyết bác bỏ các quy định cũ do lo ngại về sự giám sát của chính phủ Mỹ trong tháng 7/2020.  Khung quy tắc sự riêng tư của dữ liệu Xuyên Đại tây dương trong tương lai sẽ giới thiệu một bộ quy tắc bảo vệ an toàn dữ liệu của người châu Âu chảy suốt Đại Tây dương, khi Hội đồng châu Âu tuyên bố là sẽ tạo ra nền tảng cho “900 triệu eoro cho các hoạt động thương mại xuyên biên giới hằng năm”.  Thỏa thuận mới, được thiết lập để thay thế cho Khung quy tắc Bảo vệ sự riêng tư đã bị tòa án EU bác bỏ, đạt được sau hơn một năm đàm phán. Đó là một thỏa thuận về mặt nguyên tắc và sẽ được đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật, để cả hai phía châu Âu và Mỹ chấp thuận.  Vào thời gian này, hy vọng là Khung nguyên tắc này không làm gây ra bất cứ ảnh hưởng nghiêm trọng nào. “Quan trọng là tìm ra được một giải pháp kiểm chứng trong tương lai, vì chúng ta không thể thất bại lần thứ ba trong chủ đề này”, Edit Herczog, thành viên của Liên minh nghiên cứu dữ liệu và cựu thành viên của Nghị viện châu Âu, nói.  Dữ liệu này bao gồm dữ liệu nghiên cứu được các công ty chia sẻ trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu châu Âu, như các kết quả dữ liệu lâm sàng được đòi hỏi để đi đến việc chấp thuận lưu hành các loại thuốc mới.  Kristina Irion, phó giáo sư tại Viện nghiên cứu Luật Thông tin tại trường đại học Amsterdam, cho biết còn quá sớm để có được bất cứ đánh giá nào nhưng chỉ ra là thỏa thuận này đã chứng tỏ Mỹ đã “đồng ý với tia sáng cuối đường hầm” với những yêu cầu của châu Âu về quyền riêng tư của dữ liệu. “Vì thế đó là một biểu hiện của sự tăng cường khung bảo vệ dữ liệu châu Âu”, bà nói với Science|Business.  Với lĩnh vực sức khỏe phụ thuộc vào những dòng chảy dữ liệu lớn ở quy mô toàn cầu để duy trì công việc, thỏa thuận về nguyên tắc hứa hẹn sự chắc chắn về mặt pháp lý.  Brendan Barnes, giám đốc IP và bảo vệ dữ liệu tại Liên doanh ngành công nghiệp dược phẩm châu Âu, cho rằng phản ứng đầu tiên với thỏa thuận này hết sức tích cực dẫu còn quá sớm để rút ra các kết luận về tác động của nó.  Trong một ngành tập trung nhiều nghiên cứu như ngành dược phẩm, có ba dạng dữ liệu được vận chuyển có thể bị ảnh hưởng bởi các quy định: các hợp tác nghiên cứu, sự minh bạch dữ liệu để các tổ chức điều phối và dữ liệu sức khỏe công cộng.  “Thật vui mừng là hai bên đã cùng nhau để tạo ra một số quy định pháp lý cho việc vận chuyển dữ liệu từ Mỹ sang châu Âu và ngược lại”, Barnes nói ngắn gọn.  Tính bất định hiện nay về việc vận chuyển dữ liệu đã có nhiều tác động lên vấn đề hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, đặc biệt là khi nghiên cứu nhận được tài trợ của chính quyền Mỹ, Barnes lưu ý. Môt khung làm việc rõ ràng sẽ đem đến sự ổn định và có thể tạo điều kiện cho các công ty châu Âu có thêm nhiều sức hút với các đối tác trong những dự án nghiên cứu toàn cầu. “Nếu nhìn vào một lĩnh vực rất khu biệt như dược phẩm, có rất nhiều vấn đề dấy lên khi nghiên cứu được thực hiện ở quy mô toàn cầu. Vì vậy các công ty dược phẩm phải tìm kiếm những đối tác xuất sắc mà họ có thể tìm thấy ở quy mô toàn cầu. Nếu có những rào cản, sẽ dẫn đến giới hạn sự lựa chọn của họ và có thể giới hạn sức cạnh tranh của họ nữa”, Barnes lưu ý.  Với các trường đại học, điều này sẽ khiến cho dễ dàng hơn khi đón nhận các dịch vụ số hóa cho giảng dạy, nghiên cứu và truyền thông như Zoom và Microsoft 365, cung cấp chủ yếu bởi các công ty Mỹ.  “Khi anh làm đánh giá tác động về sự vận chuyển dữ liệu cá nhân, điều này có thể dẫn đến cái gọi là sự rủi ro của giám sát, chúng tôi không thể sử dụng các dịch vụ dạng này trừ phi có các quy định an toàn bổ sung, Irion nói. “Điều này sẽ được sửa chữa một khi chúng ta có một thỏa thuậ mới và cuối cùng là thi hành nó trên thực tế”.  Đó chỉ là điểm khởi đầu của những thay đổi lớn đến với lĩnh vực số. Tuần trước, các nhà hoạch định chính sách châu Âu đã chạm đến một thỏa thuận tạm thời về Đạo luật thị trường số, được đặt ra để giới hạn quyền lực của các nền tảng online lớn để lĩnh vực số thêm cạnh tranh hơn và sòng phẳng hơn.  Như một phần của đạo luật mới này, Hội đồng châu Âu hướng đến việc bảo đảm các tiêu chuẩn cao của quản lý dữ liệu, có thể đem lại lợi ích dài lâu cho các nhà nghiên cứu khi họ lập ra các công ty để thúc đẩy chất lượng của các dữ liệu hiện hành. Ngày nay, “trong thời đại của siêu máy tính, các nhà nghiên cứu vẫn mất đến 80% thời gian của mình vào xử lý dữ liệu,” Herczog nói. “Đặt các thực hành đúng đắn và nguyên tắc dữ liệu FAIR – có thể tìm thấy, có thể truy cập được, có thể tích hợp được và có thể tái sử dụng được – lại với nhau có thể tạo ra một bước thay đổi tiềm năng cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo”.  Trong vài tháng tới, Irion nói các trường đại học đang tìm kiếm sự chấp thuận Đạo luật Dịch vụ số, “họ hàng gần” với chính sách Đạo luật Thị trường số, có những đòi hỏi về sự minh bạch mới cho các công ty. “Nó sẽ giúp chúng ta có được những nghiên cứu về tin giả, ảnh hưởng chính trị từ bên ngoài, cách thông tin tiêu cực lan truyền trên các trang mạng xã hội”, Irion dự báo.  Thanh Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu-and-us-come-agreement-principle-data-flows  https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/IP_22_2087    Author                .        
__label__tiasang Facebook chiêu mộ các nhà sáng lập công ty Endaga      Tuần này các lãnh đạo Endaga, công ty đưa internet đến  với các khu làng vùng sâu vùng xa bằng những hộp phát sóng mạng di động  (cellular network1), thông báo họ sẽ gia nhập Facebook và dần thu hẹp các  hoạt động kinh doanh của mình lại.      Trong một bài đăng trên blog, CEO Lance Condray và các nhà đồng sáng lập Endaga, Kashif Ali, Kurtis Heimerl và Shaddi Hasan cho hay họ muốn cùng chung tay với Facebook trong nỗ lực mang kết nối internet đến với mọi người. Họ sẽ làm việc trong khối kỹ thuật chung của Facebook  Các lãnh đạo Endaga viết: “Chúng tôi thành lập công ty Endaga nhằm mang tầm nhìn về một cộng đồng sử dụng cellular network tới tất cả những ai vẫn chưa có cơ hội tiếp cận mạng kết nối toàn cầu. Trong một năm qua, chúng tôi đã nỗ lực rất nhiều để giúp đỡ các cộng đồng theo cách này, và chúng tôi tin rằng sứ mệnh của Facebook nhằm kết nối thế giới cũng phù hợp với mục tiêu mà chúng tôi đang theo đuổi.”  Endaga ra đời từ Trường Đại học California tại Nhóm Nghiên cứu Công nghệ và Cơ sở Hạ tầng cho các Khu vực đang phát triển Berkeley. Nhóm này đã xây dựng được một mạng viễn thông di động có thể phát sóng từ một thiết bị nhỏ gắn trên một cái cây tại các khu làng ở vùng nông thôn.  Tin tức về quyết định này của các nhà sáng lập Endaga xuất hiện sau khi Mark Zuckerberg thông báo Facebook sẽ hợp tác với Eutelsat để cung cấp internet cho khu vực tiểu vùng Sahara tại châu Phi.  1Cellular network – mạng thiết bị di động là một mạng vô tuyến được phục vụ bởi các máy phát cố định. Các công ty viễn thông lớn trên thế giới cũng sử dụng cellular network ở những nơi hẻo lánh, cho phép các thiết bị di động ở những nơi này có thể thông qua cellular network kết nối với mạng điện thoại và Internet công cộng.   Bùi Thu Trang dịch    http://techcrunch.com/2015/10/05/facebook-hires-founders-of-cellular-network-in-a-box-company-endaga/?ncid=rss&utm_source=feedburner&utm_medium=feed&utm_campaign=Feed%3A+techcrunch%2Fsocial+%28TechCrunch+%C2%BB+Social%29         Author                Quản trị        
__label__tiasang Facebook mua WhatsApp với giá 19 tỉ đô-la      Cách đây mấy hôm khi doanh nghiệp  Rakuten của Nhật Bản mua lại Viber với giá 900 triệu đô-la, nhiều nhà phân tích đã  than giá quá cao. Nay không biết họ sẽ bình luận gì về thương vụ đáng  kinh ngạc này.    Trong một diễn biến hoàn toàn bất ngờ với thị trường, Facebook vừa mới tuyên bố mua lại WhatsApp trả bằng 4 tỉ đô-la tiền mặt cộng với 12 tỉ đô-la trả bằng cổ phiếu Facebook.          WhatsApp Inc. do Brian Acton (người Mỹ) và Jan Koum (người Ukraine) thành lập năm 2009, có trụ sở ở TP Mountain View, California. Trước đó cả hai đều từng làm việc cho Yahoo! (Theo wikipedia).         Nếu tính cả 3 tỉ đô-la cổ phiếu sẽ tặng cho các nhà sáng lập và nhân viên WhatsApp mang tính hạn chế không được bán trong vòng 4 năm thì giá mua một doanh nghiệp chỉ mới thành lập cách đây 5 năm, có dịch vụ tương tự Viber hay Line có thể lên đến 19 tỉ đô-la.  Thế mà cách đây mấy hôm khi doanh nghiệp Nhật Bản, Rakuten, mua lại Viber với giá 900 triệu đô-la, nhiều nhà phân tích đã than giá quá cao. Nay không biết họ sẽ bình luận gì về thương vụ đáng kinh ngạc này.  Trước mắt, báo chí Mỹ đã gọi đây là “giá điên khùng” vì WhatsApp chỉ có 55 nhân viên. Hiện nay WhatsApp có 450 triệu người dùng thường xuyên hàng tháng, 70% số đó dùng thường xuyên hàng ngày. Mỗi ngày WhatsApp thu hút thêm 1 triệu người dùng.  Dịch vụ chủ yếu của WhatsApp là cho phép người dùng gởi tin nhắn miễn phí đi khắp thế giới, kể cả tin nhắn là hình ảnh hay video. Cũng như Viber, WhatsApp đi theo mô hình không quảng cáo, người dùng tải phần mềm về miễn phí nhưng sau đó hàng năm sẽ trả phí 0,99 đô-la. Hàng ngày họ phải xử lý chừng 50 tỷ tin nhắn trên 7 nền tảng, số lượng tin nhắn gần bằng tổng lượng tin SMS của các hệ thống di động.  Trong một tuyên bố viết sẵn, CEO của Facebook Mark Zuckerberg cho rằng “WhatsApp đang gần đến mốc kết nối 1 tỷ người. Những dịch vụ đạt đến mốc đó đều cực kỳ có giá trị”.  Theo thỏa thuận do hai bên vừa công bố, nhà sáng lập và là CEO của WhatsApp là Jan Koum sẽ tham gia Hội đồng quản trị Facebook nhưng WhatsApp sẽ tiếp tục hoạt động độc lập bên trong Facebook, như mô hình của Instagram.  Trong trường hợp cơ quan quản lý không cho phép vụ sáp nhập này thì Facebook sẽ trả cho WhatsApp 2 tỉ đô-la tiền đền bù (gồm 1 tỉ đô-la tiền mặt và 1 tỉ đô-la cổ phiếu).  Nhắn tin chỉ là một dịch vụ bề mặt, các dạng dịch vụ như Line, Viber, WhatsApp có một tiềm năng to lớn trong vai trò là nền tảng để chuyển tải thông tin từ doanh nghiệp đến người dùng một cách hữu hiệu nhất. Ai nắm được số lượng người dùng lớn nhất sẽ chiếm được miếng bánh to nhất. Mua WhatsApp nằm trong chiến lược đẩy mạnh hoạt động về hướng người dùng di động của Facebook.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Facebook sẽ biến mất trong 5 năm tới?      Các nhà phân tích dự đoán mạng xã hội Facebook sẽ biến mất trong khoảng thời gian từ 5 đến 8 năm nữa.    Thông tin này gây xôn xao trên mạng Internet suốt tuần qua. Tuy nhiên, các nhà phân tích không quá sốc nếu dự đoán đó trở thành hiện thực.  Eric Jackson, người sáng lập hãng Ironfire Capital, cho rằng, trong 5 đến 8 năm tới, “Facebook sẽ biến mất theo cách giống như Yahoo biến mất”. Cho dù Yahoo vẫn kiếm tiền, vẫn có lợi nhuận, vẫn có 13 nghìn nhân viên làm việc cho họ nhưng họ chỉ còn 10% giá trị so với thời điểm cao nhất vào năm 2000. Điều đó đồng nghĩa với việc biến mất.   Jackson lưu ý  rằng, cho đến thời điểm này, thế giới đã phát triển ba thế hệ các công ty Internet. Thứ nhất là Yahoo, một cổng thông tin Web. Đây là một ví dụ tuyệt vời như một nhà tiên phong trong lĩnh vực trực tuyến. Facebook sau đó như là thế hệ thứ hai với làn sóng của các phương tiện truyền thông xã hội. Thế hệ thứ ba là thế giới điện thoại di động.  Một trong những vấn đề đối với Facebook là công ty không thể kiếm tiền từ cơ sở đang phát triển của điện thoại di động. Theo Jackson, Facebook sẽ gặp phải những thách thức khi di chuyển vào thị trường điện thoại di động giống như những khó khăn Google gặp phải khi thâm nhập vào lĩnh vực mạng xã hội.   Mặt khác, dự báo về sự sụp đổ của Facebook xuất hiện chỉ vài tuần sau khi mạng xã hội gặp rắc rối với cổ phiếu IPO. Nhiều nhà phân tích tài chính dự định cổ phiếu của công ty chào bán quá cao và không bao giờ có thể bật trở lại lên mức ban đầu.   Dan Olds, một nhà phân tích của tổ chức tư vấn Gabriel Consulting Group, đồng tình với quan điểm của Jackson, điện thoại di động sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với bất kỳ công ty Internet nào, đặc biệt là mạng xã hội. Tuy nhiên, ông cho rằng, còn quá sớm để nói tới việc Facebook sẽ bị đánh bật khỏi cuộc chơi di động.   Dan Olds cho rằng: “Facebook đang tiến triển chậm trong lĩnh vực điện thoại di động. Hầu hết người dùng thấy giao diện Facebook dành cho điện thoại di động khó nhìn và sử dụng. Tuy nhiên, Facebook gần đây đã thiết kế lại giao diện dành cho điện thoại di động để xem hình ảnh dễ dàng hơn. Nhưng Facebook cũng cần xây dựng một mô hình kinh doanh di động nâng cao để có thể thu hút các nhà quảng cáo.   Brad Shimmin, một nhà phân tích của CurrentAnalysis, đồng ý với quan điểm cho rằng, điện thoại di động là quan trọng, nền tảng này có thể giúp Facebook phát triển thịnh vượng và cũng có thể khiến Facebook gục ngã.       Author                Quản trị        
__label__tiasang FameLab: Tìm kiếm nhà truyền thông khoa học truyền cảm hứng      Trong năm cuối cùng được tổ chức trên toàn cầu với sự hợp tác cùng Hội đồng Anh, FameLab – một trong những cuộc thi về truyền thông khoa học lớn nhất trên thế giới, sẽ là phiên bản đặc biệt dưới hình thức trực tuyến “Cuộc thi FameLab Truyền thông về Biến đổi Khí hậu”.        Phạm Hà My (Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam) là Quán quân FameLab Việt Nam 2017. Ảnh: euraxess     Sau 15 năm hợp tác, đây sẽ là năm cuối cùng cuộc thi FameLab được tổ chức trên toàn cầu với sự hợp tác cùng Hội đồng Anh. Nhằm kỷ niệm chặng đường này, ban tổ chức đã triển khai phiên bản đặc biệt mang tên Cuộc thi FameLab Truyền thông về Biến đổi Khí hậu cùng các buổi tương tác trực tuyến giữa những người tham gia trên toàn thế giới.     Cụ thể, ở Việt Nam, Cuộc thi FameLab hướng đến các cá nhân từ 21 tuổi trở lên, bao gồm các sinh viên, giáo viên (dạy môn khoa học và có bằng cấp về khoa học); nghiên cứu viên hiện đang có các đề tài nghiên cứu chuyên ngành hoặc nghiên cứu tổng hợp; cá nhân làm việc liên quan đến Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ, Y học, Toán học và Biến đổi khí hậu tại các tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, tổ chức về môi trường, công ty khởi nghiệp công nghệ, lực lượng vũ trang, cơ quan chính phủ, doanh nghiệp. Ứng viên tham gia cuộc thi sẽ quay một đoạn phim ngắn trong ba phút với phần tự thuyết trình bằng tiếng Anh về chủ đề “Tin vào Khoa học Khí hậu” (Trust in climate science). “Chúng tôi muốn lắng nghe ý kiến chia sẻ từ những người đam mê khoa học và mong muốn thu hút khán giả toàn cầu cùng hành động để chống lại biến đổi khí hậu”, Ban tổ chức cuộc thi cho biết.      Mười ứng viên gây được ấn tượng với ban giảm khảo qua cách kể chuyện khoa học hấp dẫn của mình sẽ được lựa chọn vào vòng chung kết, tiếp tục bước vào giai đoạn tiếp theo để tham gia khoá học trực tuyến kéo dài hai ngày cùng các nhà truyền thông khoa học hàng đầu thế giới để trau dồi các kỹ năng của mình. Những ứng viên lọt vào vòng chung kết sau đó sẽ đối đầu trực tiếp trên sân khấu trực tuyến để tìm ra giải nhất tại Vòng chung kết cuộc thi FameLab Truyền thông về Biến đổi Khí hậu. Sự kiện sẽ được phát trực tuyến trên kênh YouTube vào tháng Chín năm 2021.     Từ cuộc thi này, ứng viên đứng đầu cuộc thi FameLab Truyền thông về Biến đổi Khí hậu sẽ tiến tiếp vào Trận chung kết thi trực tiếp được tổ chức trực tuyến quy mô quốc tế diễn ra vào tháng 11 năm 2021.      FameLab sẽ không dừng lại       FameLab được Cheltenham Festivals khởi xướng vào năm 2005 trong Lễ hội Khoa học UKby Cheltenham. Đến năm 2007, nhà sáng lập cuộc thi đã hợp tác với Hội đồng Anh để lan tỏa cuộc thi này ra các nước trên thế giới. Kể từ đó đến nay, cuộc thi đã thu hút 40.000 người tham gia, với hơn 200 tổ chức đối tác hỗ trợ Famelab tại hơn 35 quốc gia, tiếp cận với hàng triệu người trên khắp thế giới. Những người thắng cuộc tại mỗi quốc gia sẽ cùng nhau tiến vào Chung kết FameLab Quốc tế – thường được tổ chức tại Festival Khoa học Cheltenham vào tháng 6 hằng năm. Có thể nói, FameLab Quốc tế đã trở thành một trong những cuộc thi về truyền thông khoa học lớn nhất trên thế giới, xây dựng một hệ sinh thái sôi nổi gồm các nhà khoa học và kỹ sư trong nhiều lĩnh vực.      Không chỉ Việt Nam, Hội đồng Anh còn lan tỏa cuộc thi đến các nước Albania, Azerbaijan, Bangladesh, Bosnia và Herzegovina, Botswana, Brazil, Trung Quốc, Colombia, Ethiopia, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Kazakhstan, Mexico, Nepal, Pakistan, Peru, Philippines, Serbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Uganda.       Kể từ lần đầu đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2015, FameLab đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học và kỹ sư trẻ tuổi. FameLab trở thành một bệ phóng vững chắc khi nhiều thí sinh đã lựa chọn khoa học như một sự nghiệp riêng cho mình sau khi bước ra từ cuộc thi. Đơn cử như Cao Minh Tâm – cựu thí sinh FameLab 2015 hiện đang là giáo viên STEM tại Học viện Sáng tạo S3 hay Nguyễn Kiều Trang – cựu thí sinh FameLab 2015, Lương Trung Tiến – cựu thí sinh FameLab 2016 hiện cũng đang giảng dạy khoa học tại Trung tâm AmericanSTEM Việt Nam.       Bên cạnh đó, Lương Trung Tiến cùng một số người bạn của mình đã sáng lập ra dự án “Táy máy tò mò”, thông qua kênh Youtube để giải thích các sự kiện, hiện tượng khoa học thú vị trong cuộc sống và hướng dẫn thực hiện những thí nghiệm ấn tượng, tự tạo ra những đồ dùng hữu ích trong cuộc sống hằng ngày.        Nhìn lại tác động của FameLab Quốc tế, ông Adrian Fenton, Cố vấn cao cấp về Khoa học tại Hội đồng Anh chia sẻ: “Khoa học là một phần quan trọng để hiểu về thế giới của chúng ta. Khoa học tác động đến tất cả các nền văn hóa trên toàn cầu, vì vậy việc nuôi dưỡng những kỹ năng như truyền thông khoa học một cách hiệu quả là một thành tựu ý nghĩa của FameLab Quốc tế.”       Nhà nghiên cứu đến từ Thụy Sĩ Sauradeep Majumdar đã trở thành quán quân cuộc thi FameLab Quốc tế 2020. Ahmad Maani từ Qatar và Rebecca Ellis từ Vương quốc Anh là Á quân, và Gabriela Ramos Leal từ Brazil đoạt giải thí sinh được khán giả yêu thích nhất. Ảnh: Still Moving Media     Đồng tình với ý kiến này, bà Ali Mawle, Giám đốc Học tập và Tương tác Công chúng tại Cheltenham Festivals cho biết: “FameLab đã xây dựng được lòng tin trong các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và công chúng, đồng thời kết nối các nhà khoa học trẻ trên khắp thế giới. Rất nhiều người người đã đóng góp vào thành công của chương trình và tạo ra một gia đình FameLab toàn cầu. 15 năm nữa, rất nhiều thứ sẽ thay đổi. Chúng ta có thể tự hào nhìn lại những gì FameLab đã đạt được và đón chờ những thử thách mới.”     Dù vậy, Cheltenham Festivals cho biết họ sẽ cam kết hợp tác làm việc, ủng hộ thế hệ các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong tương lai và cung cấp nền tảng cho những tài năng mới. Cả hai tổ chức đều mong muốn duy trì di sản từ FameLab, đặc biệt là trong việc hỗ trợ sự phát triển của các nhà nghiên cứu trẻ bao gồm các kỹ năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. “Hợp tác hiệu quả lần này sẽ gợi mở những hợp tác tiềm năng mới trong tương lai”, ban tổ chức cho biết.        Các cá nhân tham gia cuộc thi cần gửi bài dự thi trực tuyến trước 23:59 ngày 27 tháng Bảy năm 2021 (giờ Vương quốc Anh) tại đường link: www.britishcouncil.org/education/he-science/famelab-climate-change-communicators/enter    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Fargreen: Phát triển hài hoà với lợi ích cộng đồng      Đằng sau chuyện “trồng nấm trên rơm rạ” của Fargreen là lời giải cho một bài toán khó nhưng đầy tiềm năng về cả mặt xã hội và kinh doanh.        Bà Lưu Thị Sim đang thu hạch nấm được trồng trong thùng nhựa đựng thực phẩm có thể tái chế.   Làm sao để người nông dân đừng đốt rơm rạ?  Cách đây hai năm, Trần Thị Khánh Trang được giới truyền thông của Việt Nam chú ý sau khi chị được tạp chí Foreign Policy bình chọn là một trong 100 Global Thinkers năm 2015 với cương vị là người sáng lập Fargreen, một startup xây dựng và kết hợp với một mạng lưới các hộ nông dân trồng nấm trên rơm rạ như một mũi tên trúng hai đích: vừa đảm bảo sinh kế cho người dân, vừa bảo vệ môi trường. Đây là danh sách gồm những người đến từ nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có những ý tưởng và hành động thiết thực giải quyết những vấn đề nóng bỏng của thế giới.  Mỗi năm, có 20-50 triệu tấn rơm rạ sau mỗi mùa gặt ở Việt Nam được đem đốt, thường là ở không gian công cộng và khoảng 80% khối lượng này chuyển thành khí nhà kính thải ra ngoài môi trường. Mặc dù biết điều này có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường nhưng người nông dân vẫn làm vì họ cần diện tích cấy ngay sau đó vài ngày và đó là biện pháp rẻ tiền nhất. Đốt rơm rạ chỉ là một trong những hành động nguy hiểm mà người nông dân làm vì không có lựa chọn nào khác mà hậu quả là vô hình trung đã đẩy họ vào một vòng luẩn quẩn không hồi kết: môi trường bị ảnh hưởng, mùa màng kém đi, sức khỏe của họ bị giảm sút và họ đã nghèo lại càng nghèo. Làm thế nào để người nông dân đừng đốt rơm rạ? Từ trước đến nay, cách làm thông thường vẫn là cấm (giống như UBND Hà Nội đã làm) và giáo dục để “nâng cao nhận thức”.  Khánh Trang là người xuất thân từ cả lĩnh vực phát triển và kinh doanh (từng có ba năm làm việc cho các doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo và y tế cộng đồng trước khi sang Mỹ học Thạc sĩ Quản trị kinh doanh ngành doanh nghiệp xã hội bền vững toàn cầu tại Đại học Colorado). Chị nhanh chóng nhận ra điểm yếu của biện pháp cấm đốt rơm rạ cũng như việc giáo dục và nâng cao nhận thức người dân là chỉ thấy một góc của câu chuyện, bỏ qua vấn đề về sinh kế, thói quen và văn hóa của người nông dân. Chính vì thế, Trang đi tìm một giải pháp toàn diện và bền vững, tiếp cận theo cách từ dưới lên, giúp người dân chủ động trong việc liên kết với nhau thay đổi cuộc sống và hệ sinh thái quanh mình.    Khánh Trang cho biết, mặc dù trồng nấm trên rơm rạ là giải pháp không khó khăn về mặt công nghệ nhưng về mặt kinh tế và xã hội thì rất phức tạp: Liệu giải pháp và mô hình kinh doanh mình đưa ra có nảy sinh ra vấn đề khác mà xã hội buộc phải giải quyết không? Sản phẩm của mình có được thị trường chấp nhận hay không? Mô hình kinh doanh có thể nhân rộng (scale up) được không?. “Tôi mất thời gian hai năm ở Mỹ để đánh giá giải pháp của mình. Khi tôi quay trở lại đây, Fargreen mới được hình thành” – Khánh Trang kể lại.    Được thành lập từ năm 2015, đến nay Fargreen đã tái sử dụng 20* tấn rơm rạ. Người nông dân sau khi thu hoạch có thể “ném” rơm vào vùng nguyên liệu của công ty. Rơm được…để không trong nhiều tháng rồi mới đem vào sử dụng để tránh tồn dư thuốc bảo vệ thực vật.   Liên kết bằng niềm vui  Từ trước đến nay, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp luôn phải “vật lộn” trong việc liên kết với người nông dân. Người nông dân thì sợ doanh nghiệp thu mua sản phẩm với giá rẻ mạt, doanh nghiệp thì e ngại người dân phá vỡ hợp đồng, sẵn sàng bán cho nơi khác trả giá cao hơn, “mất trắng” vốn đầu tư giống và vật tư đầu vào cho họ. Ngoài ra, nếu hướng đến phân khúc thị trường cao cấp, doanh nghiệp còn phải “đau đầu” với việc kiểm soát chất lượng nông sản bằng cách cử kĩ sư “kè kè” đi theo người dân, đảm bảo rằng họ sản xuất “đúng quy trình”. Nhưng với Fargreen, họ chưa từng gặp những trở ngại này. Để kiểm soát chất lượng, họ làm các khâu quan trọng trong sản xuất nấm như xử lý rơm rạ, cấy giống và ươm sợi tại một khu vực riêng. Khâu này diễn ra từ 15 ngày đến một tháng tùy theo từng loại nấm. Sau đó mới chuyển vào nhà các hộ dân để họ chủ động chăm sóc và thu hoạch. Chi phí trả cho các hộ dân không dựa trên sản lượng mà được tính theo tiền công chăm sóc và tiền thuê địa điểm, được trả cố định theo tháng. Những đợt mất mùa, Fargreen chịu toàn bộ rủi ro. Fargreen không thuê kĩ sư để giám sát, quản lý và liên kết các hộ dân mà lấy chính những người dân địa phương, đào tạo để họ thực hiện công việc này.    Fargreen cố gắng tạo ra một không khí cởi mở và thân thiện với người nông dân. Họ tuân theo bảy nguyên tắc để lựa chọn hộ nông dân, đối tác và nhân viên của mình: chuyên nghiệp, tin cậy, hợp tác, bền vững, tôn trọng, minh bạch và vui vẻ. Bước vào văn phòng của Fargreen được sơn và trang trí nội thất với tông màu chủ đạo là xanh lá cây, người ta sẽ bắt gặp bảy nguyên tắc này được vẽ nổi bật trên tường, trong đó “vui vẻ” được đặt cao hơn sáu nguyên tắc còn lại.    Lưu Thị Sim, người quản lý hộ dân hiện nay của Fargreen, là một người phụ nữ gần** 60 tuổi. Trái với vẻ ngoài có phần khắc khổ của một người phụ nữ từng làm nông hàng chục năm, chịu nhiều vất vả trong cuộc sống, bà năng động và nhanh nhạy trong việc sử dụng công nghệ thông tin. Từ khi vào Fargreen, bà học cách sử dụng thành thạo các phần mềm văn phòng như Word, Excel, Powerpoint; các ứng dụng giao tiếp và quản lý công việc như Skype và Slack. “Cái hay nhất [khi tham gia Fargreen] là mang lại niềm vui cho tôi, vui hơn cả lúc tuổi trẻ. Tôi được đi rất nhiều nơi, tham quan rất nhiều mô hình, gặp nhiều người. Nhiều tuổi rồi, có lẽ còn hơn tuổi bố mẹ của các bạn làm việc ở đây mà tôi vẫn được “chơi bời” và “đú” với lớp trẻ” – bà Sim chia sẻ với phóng viên Tia Sáng. Bà cũng rất hiểu lí do mình được lựa chọn: “Không bạn nào ‘chiến thắng’ được tôi ở điểm tôi là “thổ địa” ở đây, hiểu rõ văn hóa và cách làm của người dân ở đây”. Bà có thể từ chối các hộ dân xin tham gia mà vẫn không làm mất lòng họ.  Những người làm việc trực tiếp cho Fargreen trong các hộ dân phần lớn là phụ nữ hoặc những người già về hưu. Trước đây, trong những đợt không phải mùa vụ, họ thường đi làm “bất cứ việc gì có tiền”, từ phụ hồ, bốc vác đến gia công, may mặc nhưng thu nhập ít ỏi và bấp bênh. Sau hai tháng “thử việc”, nếu đạt yêu cầu, họ sẽ ký hợp đồng với Fargreen. Ngoài chăm sóc nấm, họ còn tham gia đóng rơm hoặc cấy giống, sử dụng phụ phẩm từ nấm để trồng lúa và rau, củ quả cho công ty. Thu nhập của họ không chỉ tăng gấp đôi so với trước kia mà họ còn tìm thấy nhiều niềm vui trong một công việc nhẹ nhàng, linh hoạt và gắn kết cả gia đình: “Nó nở như một vườn hoa, thích lắm” – chị Trần Thị Hiền, một hộ dân tham gia trồng nấm dẫn phóng viên Tia Sáng đi tham quan “nhà trồng nấm” rộng khoảng 35 m2, trước kia từng là căn nhà cũ của gia đình chị. Khi cần thu và chở rơm cho Fargreen, chồng chị cũng tham gia. Ba người con của chị cũng tưới và hái nấm thường xuyên. Văn phòng của Fargreen ở Thái Bình vẫn chào đón những đứa trẻ từ các hộ dân trồng nấm đến chơi và gọi chúng là “thành viên nhí”.  Ít nhất là mỗi tháng một lần, Khánh Trang lại có một buổi gặp gỡ riêng hoặc chung với các hộ dân để nghe họ chia sẻ câu chuyện hoặc kinh nghiệm của mình. Chị Lưu Thị Đượm, giám đốc sản xuất của Fargreen thường xuyên bắt xe từ Hà Nội về Thái Bình (đến nỗi tài xế lái xe quen mặt và biết cả gia cảnh nhà chị) để làm việc với các hộ dân. Trước đây, chị Đượm cũng làm trong lĩnh vực phát triển. Những người làm ở văn phòng Fargreen ở Hà Nội bắt buộc phải tới nông trại ít nhất là mỗi tháng một lần công tác. Thành viên và đối tác của Fargreen thi thoảng vẫn được các hộ dân “bao ăn ở”.  Tận dụng tối đa nguồn lực địa phương  Vùng nguyên liệu đầu tiên của Fargreen được đặt ở tỉnh Thái Bình, một trong những vựa lúa của miền Bắc. Đây cũng là một nơi có không khí trong lành, chưa có sự can thiệp “thô bạo” của những dự án xây dựng và công nghiệp. “Mình đến chỉ làm cho nó tốt lên chứ không phải là tệ đi. Mình cẩn trọng về việc mình làm” – Khánh Trang nói.  Fargreen không chỉ trồng trọt theo hướng hữu cơ mà còn đặt ra những nguyên tắc chặt chẽ hơn nữa: không có nhà máy, tìm những giải pháp mang tính địa phương cho các vấn đề trong sản xuất, tận dụng tối đa cơ sở vật chất, nguyên liệu tự nhiên và con người tại nơi đó. (Chỉ như vậy mới có thể nhân rộng đến các vùng với điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội khác nhau.)  Trang là người không thỏa hiệp với những nguyên tắc mà chị đã đặt ra: “Nếu không có tính kỷ luật thì mình sẽ tạo ra những vấn đề khác mà xã hội phải giải quyết”. Fargreen không xây nhà máy sản xuất nấm mà tận dụng diện tích nhà ở của các hộ nông dân. Họ không sử dụng các bịch ni lông để trồng nấm như đa số trang trại nấm ở Việt Nam và trên thế giới mà trong các thùng nhựa tái chế đựng bơ sữa ở châu Âu. Họ không đốt lưu huỳnh để diệt khuẩn trong nhà trồng nấm vì có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà để không khí tự cân bằng. Họ không sử dụng than, điện hấp thanh trùng rơm, rạ mà sử dụng phương pháp truyền thống ngâm với vôi nóng và lên men sinh nhiệt để diệt khuẩn. Với sản phẩm nấm khô, họ chế tạo máy sấy nấm bằng năng lượng mặt trời được làm chủ yếu từ các vật liệu địa phương (chủ yếu là gỗ)…  Mặc dù đặt ra những nguyên tắc khắt khe và giá thành sản phẩm cao nhưng chưa bao giờ các nhân viên của Fargreen phải trực tiếp “thuyết phục” các hộ dân hay khách hàng đến với mình. Bắt đầu từ việc nhỏ – họ xây dựng mạng lưới hộ nông dân xuất phát từ bà Lưu Thị Sim “làm mẫu” trồng nấm ở nhà: “Khi người ta thấy việc mình làm là đúng đắn, người ta sẽ tìm đến mình”. Dần dần, khi các hộ gia đình cảm thấy hiểu và thoải mái với các nguyên tắc của công ty, họ tiếp tục đăng ký trồng thêm lúa gạo, rau củ sử dụng phụ phẩm từ nấm cho Fargreen theo hướng hữu cơ. Mặc dù có hàng chục hộ dân đăng ký “xếp hàng” để tham gia vào mạng lưới của Fargreen nhưng sau hai năm, họ vẫn giữ số lượng là bảy hộ để tập trung nuôi dưỡng mối quan hệ, hướng dẫn và đào tạo để họ hiểu và thoải mái với các nguyên tắc của công ty, tiến đến trở thành “hộ Sim phẩy”, tạo điều kiện cho việc mở rộng trong tương lai. Khánh Trang gọi đây là quá trình “nuôi bộ rễ thật chắc”.  Nấm của Fargreen nhắm tới thị trường cao cấp. Bao bì được thiết kế đẹp mắt với nấm được xếp như hoa trong những hộp giấy không thấm nước bọc màng bọc thực phẩm trong suốt, không cần rửa trước khi chế biến (vì trong quá trình sản xuất, nấm được tưới bằng nước khoáng). Mặc dù nhận được nhiều lời mời từ các nhà phân phối, họ rất kĩ tính trong việc lựa chọn đối tác, đều là những cửa hàng phân phối thực phẩm sạch, hữu cơ được sáng lập bởi những người khởi xướng lối sống “quay trở về với tự nhiên”. Thông qua sản phẩm, họ kể câu chuyện về phát triển bền vững và nhờ “người tiêu dùng tỉnh thức” (conscious customer – từ ngữ dùng để chỉ những người mua hàng không chỉ quan tâm đến tính an toàn của sản phẩm mà còn cả những yếu tố đạo đức của nhà cung cấp) lan tỏa dần ra xã hội.  Tuy nhiên, sự khắt khe và “thủ công” trong quy trình sản xuất của Fargreen có một điểm yếu: sản lượng thấp. Điều này tạo động lực cho họ mở ra quy trình sản xuất mới, lôi kéo nhiều chuyên gia vào hợp tác. Hiện nay, Fargreen đang hợp tác với Bộ môn Nấm, Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Họ là người cung cấp giống, tư vấn và nghiên cứu quy trình trồng nấm cho Fargreen. Sắp tới, Khánh Trang cho biết sẽ hỗ trợ các sinh viên Học viện Nông nghiệp nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quy trình sản xuất của Fargreen, đồng thời cũng có một bộ phận nghiên cứu cơ hữu ở công ty.  Hiện nay, việc thực hiện nghiên cứu trong Fargreen là sự kết hợp giữa các nhà khoa học nước ngoài tới làm việc thông qua các chương trình tình nguyện hay mối quan hệ bạn bè với đội ngũ sản xuất của Fargreen, những nhà khoa học đến từ Học viện Nông nghiệp và các hộ nông dân. Những đổi mới sáng tạo trong quy trình sản xuất của Fargreen là kết quả của sự liên kết như vậy.  Fargreen xác định sẽ có lãi trong vòng ba năm nữa. Hiện nay, với tiền bán sản phẩm, họ đã đủ để trả lương cho các hộ nông dân hàng tháng. Còn các chi phí vận hành khác, họ vẫn dựa vào số tiền đầu tư trị giá hơn 250.000 USD mà Fargreen nhận được trong các cuộc thi khởi nghiệp trên thế giới, trong đó có cuộc thi lớn nhất thế giới về khởi nghiệp trong lĩnh vực phát triển bền vững, Poscode Lottery Green Challenge. Trong một vài năm nữa, Fargreen sẽ nhân rộng mô hình ở nhiều tỉnh khác trên cả nước với các điều kiện khí hậu đa dạng, đảm bảo các loại nấm và các sản phẩm nông nghiệp đa dạng mang tính đặc trưng vùng miền, quanh năm. Họ tham vọng tiếp đó không chỉ xuất khẩu nấm và các sản phẩm nông nghiệp khác mà còn cả mô hình của mình đến nhiều nước trên thế giới.  Mặc dù có nhiều nhà đầu tư đã bày tỏ sự quan tâm nhưng Khánh Trang quyết định chờ thêm một thời gian nữa mới gọi vốn: “Tôi không muốn phát triển nóng, tôi muốn đội ngũ của mình, những người tham gia hợp tác với mình đều tự tin đối với việc mở rộng”. Là người không chỉ làm việc lâu dài trong lĩnh vực phát triển, Trang còn là người tập chạy marathon. Điều đó dạy cho chị phải kiên nhẫn trong việc chờ đợi những tác động mà Fargreen mang lại cho cộng đồng. “Không bao giờ có giải pháp gì giải quyết được vấn đề của mình ngay và luôn. Nếu có, thì một là nó đã được thực hiện rồi và không cần mình nữa, hai là nó không còn gì thú vị cả” – Khánh Trang nói.   ——-  Nguồn ảnh sử dụng trong bài: Fargreen  * Sửa lại so với bản in là 10 tấn  ** Sửa lại so với bản in là “ngoài 60 tuổi”    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang FDI từ Trung Quốc: Không như kỳ vọng      Các liên doanh nước ngoài thường được coi trọng trong vai trò chuyển giao công nghệ và làm đối tác hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp bản địa. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Julia Kubny và Hinrich Voss cho thấy các liên doanh của Trung Quốc tại Việt Nam không mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bản địa đúng với kỳ vọng trên đây.       Nghiên cứu này của Kubny và Voss có tựa đề Được lợi gì từ FDI của Trung Quốc? Đánh giá quan hệ kết nối hàng dọc ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam1 đăng trên tạp chí International Business Review. Theo hai chuyên gia này, về cơ bản các liên doanh nước ngoài thường mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp bản địa, trước hết là trong vai trò nhà cung cấp nguyên liệu hoặc mua sắm sản phẩm của các doanh nghiệp bản địa. Ngoài ra, để củng cố cho quan hệ đối tác này, các liên doanh nước ngoài còn có các hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp bản địa, bằng cách tư vấn và đào tạo nâng cao năng lực, cung cấp nguồn tín dụng ưu đãi, v.v.  Đặc biệt các liên doanh của nước đang phát triển tại một nước đang phát triển khác thường dễ đem lại lợi ích hơn so với liên doanh lập ra bởi nhà đầu tư đến từ các nước đã phát triển, bởi chênh lệch trình độ công nghệ giữa các nước đang phát triển không lớn, đồng thời có sự tương đồng giữa các quốc gia này về thể chế, các điều kiện, hoàn cảnh sản xuất, kinh doanh khiến việc chuyển giao công nghệ và thông hiểu, hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp được thuận lợi hơn.  Tuy nhiên, Kubny và Voss chỉ ra rằng đối với các liên doanh Trung Quốc, nhiều nghiên cứu cho thấy mục đích thành lập liên doanh của họ ở các nước đang phát triển chủ yếu nhằm xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ở các nước này. Các liên doanh Trung Quốc thường không có nhu cầu mua nguyên liệu sản xuất từ các doanh nghiệp bản địa, thay vào đó họ thường dựa vào nguồn cung cấp hàng hóa, nguyên liệu từ các doanh nghiệp Trung Quốc khác, hoặc nhập khẩu hàng từ các doanh nghiệp Trung Quốc ở đại lục (trong đó có thể bao gồm cả công ty mẹ của cổ đông tham gia cổ phần tại liên doanh Trung Quốc ở nước ngoài).   Những nghiên cứu về các liên doanh Trung Quốc tại châu Phi và Nam Mỹ cho thấy các liên doanh này thường tập trung vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhưng rất ít khi mua hàng hóa sản xuất từ doanh nghiệp bản địa, thay vào đó chỉ mua hàng từ công ty mẹ ở Trung Quốc đại lục. Một nghiên cứu của Amendolagine và một số chuyên gia khác2 khẳng định tỉ trọng mua hàng hóa từ doanh nghiệp bản địa ở các liên doanh Trung Quốc là 8%, tức là chỉ bằng một nửa tỉ trọng ở các liên doanh nước ngoài khác.  Ở Việt Nam thì sao?  Kết quả nghiên cứu của Kubny và Voss đã cho thấy các liên doanh có sự tham gia của Trung Quốc tại Việt Nam ít khi mua các sản phẩm phụ trợ do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, có chăng chỉ mua vào những sản phẩm giá trị thấp, như vật liệu đóng gói, thép tấm, cáp, chỉ, ống chỉ, kim, v.v. Với những vật liệu giá trị cao hơn như các thiết bị máy móc họ thường nhập khẩu, hoặc mua của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Lí giải điều này, các liên doanh Trung Quốc đưa ra một số lí do như các doanh nghiệp Việt Nam không sản xuất được sản phẩm như yêu cầu, hoặc sản phẩm làm ra không đạt chất lượng, hoặc giá thành quá cao. 71% doanh nghiệp Trung Quốc cho rằng họ không thể mua được sản phẩm của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đòi hỏi. Ví dụ, nhà sản xuất phụ tùng xe máy cho biết họ không thể mua được những sản phẩm như bu-lông, ốc vít, đai ốc đáp ứng yêu cầu chính xác về kích cỡ như mong muốn tại Việt Nam, vì thế bắt buộc phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Một nhà sản xuất khác cho biết sản phẩm do Việt Nam sản xuất giá cả thường lên xuống thất thường, gây khó khăn cho người mua khi muốn hoạch định kế hoạch kinh doanh. Các doanh nghiệp dệt may thì than phiền vì sản phẩm phụ trợ của Việt Nam giá thành quá cao, ví dụ như chỉ may.   Nhìn vào nguyên nhân sâu xa, có thể thấy rằng mặc dù Chính phủ Việt Nam đã triển khai một số chương trình nhằm nâng cao năng lực của các nhà sản xuất phụ trợ trong nước, ngành công nghiệp phụ trợ vẫn chưa thể phát triển để đáp ứng đòi hỏi về chất lượng sản phẩm mà các khách hàng Trung Quốc đặt ra. Một doanh nghiệp điện tử gia dụng của Trung Quốc cho rằng trước giai đoạn cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam được quản lý và kiểm soát một cách lỏng lẻo. Sau khi cổ phần hóa, năng lực của những doanh nghiệp này được cải thiện hơn nhưng vẫn chưa thể đạt tới năng lực mong muốn trong một sớm một chiều. Vì vậy, khi làn sóng các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tràn vào trong nước, sự chênh lệch về trình độ tổ chức và KHCN giữa hai khối doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là quá lớn. Một doanh nghiệp sản xuất động cơ cho biết họ từng có ý định thành lập một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ ở Việt Nam do trình độ lao động ở Việt Nam quá thấp. Một nhà sản xuất điện tử còn bổ sung rằng họ không dám mua sản phẩm phụ trợ của Việt Nam, bởi điều đó sẽ gây tổn hại tới uy tín chất lượng thương hiệu của mình.  Một số doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của các đối tác khách hàng Trung Quốc, ví dụ như được đối tác hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực công nhân qua các khóa đào tạo kỹ thuật ngắn hạn – nhằm đảm bảo phía doanh nghiệp Việt Nam cung cấp sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu mà phía Trung Quốc đặt ra – hoặc được đối tác cho vay hay tạm ứng trước trong giao dịch làm ăn. Tuy nhiên, nhìn chung những hoạt động hỗ trợ như vậy từ các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ xảy ra khi họ đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó với các đối tác Việt Nam, song điều này còn khá hiếm hoi.  Đó là với những doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò là nhà cung cấp nguyên liệu, sản phẩm cho doanh nghiệp Trung Quốc, còn với những doanh nghiệp Việt Nam trong vai trò là nhà tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp Trung Quốc thì sự hỗ trợ từ phía các doanh nghiệp Trung Quốc còn mờ nhạt hơn nhiều, đặc biệt hầu như không có các hoạt động hướng dẫn, đào tạo, nâng cao năng lực trình độ từ phía Trung Quốc cho phía Việt Nam.  Hoạt động chuyển giao công nghệ của Trung Quốc cho Việt Nam còn hạn chế  Từng có những nhận định cho rằng việc chuyển giao công nghệ giữa các nước đang phát triển sẽ diễn ra thuận lợi hơn so với giữa nước đã phát triển và nước đang phát triển, bởi khoảng cách trình độ công nghệ giữa các nước đang phát triển là không quá lớn, đồng thời môi trường sản xuất, kinh doanh, và thể chế chính sách giữa các nước đang phát triển có nhiều điểm tương đồng, khiến mô hình sản xuất kinh doanh và những công nghệ kèm theo ở nước này dễ triển khai ở nước khác. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, Kubny và Voss cho rằng chưa có đủ cơ sở bằng chứng thực tế ủng hộ cho nhận định trên. Qua kết quả khảo sát ở Việt Nam, Kubny và Voss đánh giá rằng các doanh nghiệp Trung Quốc rất tích cực làm ăn tại Việt Nam, nhưng họ chỉ chú trọng vào việc chiếm lĩnh thị trường hơn là tăng cường hợp tác sản xuất kinh doanh theo cách chuyển giao tiến bộ công nghệ, kỹ thuật cho đối tác Việt Nam.  Kubny và Voss đưa ra ba giả thuyết để lý giải hiện tượng này. Một là năng lực hấp thụ tiến bộ kỹ thuật và công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Hai là các doanh nghiệp Trung Quốc không nhận biết được nhu cầu công nghệ của phía Việt Nam, hoặc không hứng thú với việc chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam. Ba là một số các doanh nghiệp Việt Nam không muốn nhập khẩu công nghệ của Trung Quốc, mà muốn nhập khẩu từ các nước khác có công nghệ tiên tiến hơn.   ———————  1 Julia Kubny, Hinrich Voss. (2014) Benefitting from Chinese FDI? An Assessment of Vertical Linkages with Vietnamese Manufacturing Firms, International Business Review 23, trang 731-740    2 Amendolagine, V., Boly, A., Coniglio, N. D., Prota, F., & Seric, A. (2013). FDI and local linkages in developing countries: Evidence from Sub-Saharan Africa. World Devel-opment, 50, 41–56.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Fintech: Nhiều tiềm năng phát triển nhưng còn rào cản pháp lý      Bên cạnh rào cản về pháp lý, tự thân các doanh nghiệp Fintech cũng đang gặp những khó khăn do tuổi đời khá trẻ (dưới 5 năm), khả năng xác định vấn đề cũng như cách giải quyết vấn đề còn hạn chế.           Các diễn giả tại Hội thảo.   Đó là những vấn đề chính được thảo luận tại Hội thảo của Làng khởi nghiệp công nghệ tài chính (Fintech Village), tổ chức trong khuôn khổ Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia (Techfest Vietnam 2018) ngày 30/11/2018, tại Đà Nẵng.        Tại Việt Nam, các startup fintech “sinh sau đẻ muộn” (từ khoảng năm 2015) so với thế giới nhưng có nhiều tiềm năng phát triển. Hiện cũng đã có khoảng 100 doanh nghiệp fintech, trong đó lĩnh vực hoạt động chủ đạo là thanh toán. Theo nghiên cứu của Solidiance, tính đến hết năm 2017, thị trường fintech Việt Nam đã đạt mức 4,4 triệu USD (dựa trên giá trị giao dịch) và dự kiến có thể đạt ngưỡng 7,8 tỉ USD vào năm 2020.      Ông Nghiêm Thanh Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cho biết, hiện có 26 tổ chức đã được NHNN cấp phép cung ứng dịch vụ trong thời gian thanh toán. Thanh toán di động trở thành xu hướng với các công nghệ như mã QR/tiếp xúc trường gần NFC/số hóa thông tin thẻ (tokenization)/ví điện tử… Có 16 ngân hàng đã triển khai dịch vụ thanh toán QR Code, khoảng 30.000 điểm chấp nhận thanh toán QR Code, 78 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet, 41 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán điện thoại di động.       Tuy nhiên, theo các chuyên gia tại Hội thảo, việc phát triển thị trường fintech Việt Nam còn gặp trở ngại lớn nhất là vấn đề pháp lý. Cụ thể, thể chế quản lý hoạt động fintech hiện chưa được đề cập tại bất kỳ văn bản cụ thể nào, cũng chưa có quy định về đơn vị chuyên trách hỗ trợ, xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động fintech. Ngoài ra, tự thân các công ty fintech cũng gặp các vấn đề khác như tuổi đời còn khá trẻ (dưới 5 năm), nhiều công ty như chưa xác định được vấn đề cần giải quyết cũng như cách thức giải quyết.      Cơ sở hạ tầng cho fintech cũng còn nhiều hạn chế. Theo ông Phạm Trung Kiên – Phó Chủ tịch Viettel Telecom, mở rộng hạ tầng cho Fintech cũng là bài toán khó. Việc mở rộng chi nhánh, cây ATM đang là gánh nặng chi phí. Tại Việt Nam trung bình cứ 3 chi nhánh phục vụ 100.000 dân, 24 ATM phục vụ 100.000 dân, trong khi đó trung bình trên thế giới, 10 chi nhánh phục vụ 100.000 dân, 53 ATM phục vụ 100.000 dân.      “Bắt tay” giữa ngân hàng – fintech và techfin      Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp fintech phát triển, các đại biểu tại hội thảo đã thảo luận và đưa ra gợi ý giải pháp “sự bắt tay” giữa ngân hàng – tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính thông qua công nghệ kỹ thuật số (fintech) – công ty công nghệ cung cấp các sản phẩm tài chính (techfin)… Bởi vì nếu phát triển độc lập, fintech sẽ có ít niềm tin từ khách hàng, khó tăng trưởng quy mô người dùng, còn techfin sẽ thiếu kinh nghiệm trong hoạt động tài chính ngân hàng, và ngân hàng sẽ khó khăn trong việc mở rộng mạng lưới do bài toán hiệu quả chi phí, quy trình, thủ tục giao dịch phức tạp. Theo ông Nghiêm Thanh Sơn, việc kết hợp này sẽ biến Fintech trở thành “cánh tay nối dài” của các ngân hàng tới những người dùng chưa tiếp cận dịch vụ truyền thống, mang lại những trải nghiệm tốt, linh hoạt, nhiều tiện ích cho khách hàng, hỗ trợ đắc lực cho phổ cập tài chính (financial inclusion) sâu rộng hơn.      Về phía doanh nghiệp, ông Phạm Trung Kiên cũng đánh giá, việc “kết nối chia sẻ” sẽ tập trung sức mạnh, huy động được tài chính, công cụ, nguồn lực đầu tư, dữ liệu lớn. Mỗi bên đều có những thế mạnh: Viettel có tập khách hàng lớn, hạ tầng viễn thông (3G, 4G, 5G,…), am hiểu hành vi tiêu dùng, hạ tầng công nghệ được đầu tư mạnh, kênh phân phối rộng khắp; Các công ty Fintech mang tính chất là startup (khởi nghiệp) nên rất sáng tạo và năng động, có nhiều sản phẩm mới. Họ đánh giá dịch vụ ngân hàng dưới góc độ của khách hàng và sẵn sàng cung cấp các dịch vụ mang lại trải nghiệm tốt hơn cho người dung; Ngân hàng có kinh nghiệm tài chính, nguồn vốn dồi dào, niềm tin lớn từ khách hàng, am hiểu khả năng tài chính của khách hàng,…      Các diễn giả đều thống nhất, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tổng thể cho lĩnh vực fintech bởi đây là nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh phát triển của cuộc CMCN lần thứ tư. Chính phủ cần có ưu đãi hỗ trợ về thuế, nhân lực cho các fintech. Chính phủ có thể ban hành cơ chế quản lý thử nghiệm khi chưa thể xây dựng được một khuôn khổ pháp lý tổng thể ngay lập tức.      Ông Nghiêm Thanh Sơn cho biết, nhận thức được tầm quan trọng của Fintech và tương lai phát triển của lĩnh vực này tại Việt Nam, thực hiện Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025″, NHNN đã thành lập Ban Chỉ đạo lĩnh vực Công nghệ tài chính (Fintech) của NHNN vào tháng 3/2017 với mục tiêu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ sinh thái Fintech ở Việt Nam. NHNN đang tập trung nghiên cứu một số vấn đề trọng tâm như công nghệ chuỗi khối (blockchain), cho vay ngang hàng (P2P Lending), định danh khách hàng điện tử (e-KYC), giao diện chương trình ứng dụng mở (Open API), thanh toán điện tử (e-payments).   Tin&ảnh: Hạnh Nguyên          Author                Quản trị        
__label__tiasang FIRST tài trợ đợt 2 cho nhóm nghiên cứu hợp tác và tổ chức KH&CN công lập      Kể từ ngày 1/9, Dự án FIRST sẽ bắt đầu mở tài trợ đợt 2 năm 2016 cho các nhóm nghiên cứu hợp tác và tổ chức KH&CN công lập về KHCN và đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn quốc. Đây là những khoản tài trợ thuộc Tiểu Hợp phần 2b2 của Dự án FIRST.    T. N    Với đối tượng là nhóm nghiên cứu hợp tác về KHCN và đổi mới sáng tạo (consortia), dự án FIRST sẽ tập trung hỗ trợ triển khai các dự án kinh doanh dựa trên kết quả nghiên cứu, ý tưởng sáng tạo giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu và trường đại học thuộc nhóm ngành ưu tiên – công nghệ thông tin và truyền thông; công nghệ sinh học và nông nghiệp; vật liệu mới; cơ khí và tự động hóa; các hàng hóa và dịch vụ công ích.  Để nhận được tài trợ của FIRST, nhóm hợp tác phải đạt được các tiêu chí: Có ít nhất là năm thành viên, trong đó có ít nhất hai công ty tư nhân, ít nhất một viện nghiên cứu hoặc trường đại học. Các thành viên còn lại là các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư mạo hiểm… Mỗi nhóm hợp tác phải có một thành viên đại diện chịu trách nhiệm quản lý tài chính.  Dự án FIRST sẽ tài trợ theo phương thức có đối ứng và không vượt quá 50% kinh phí thực hiện với số tiền tối đa không quá ba triệu đô la cho nhóm liên kết có ít nhất 10 thành viên. Phần kinh phí đối ứng sẽ do đơn vị tham gia Nhóm hợp tác trực tiếp đóng góp. Đề xuất thực hiện Dự án của các Nhóm Hợp tác tối đa là 24 tháng.  Với đối tượng là tổ chức KH&CN công lập về KHCN và đổi mới sáng tạo (GRI), dự án FIRST sẽ hỗ trợ cho các tổ chức thực hiện thành công dự án chuyển đổi theo định hướng tự chủ và phát triển bền vững về tài chính thông qua việc nâng cao năng lực nghiên cứu và năng lực quản lý tổ chức và đầu tư các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu. Các tổ chức KH&CN công lập này phải hoạt động trong các ngành ưu tiên: công nghệ thông tin và truyền thông; công nghệ sinh học và nông nghiệp; vật liệu mới; cơ khí và tự động hóa; hàng hóa và dịch vụ công ích thuần túy như trắc địa, bản đồ, đo lường, khí tượng, thủy văn, bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu. Dự án FIRST sẽ tài trợ cho các tổ chức này không vượt quá mức tối đa tương đương với bốn triệu đô la trong vòng 24 tháng.  Tổ chức KH&CN công lập được thụ hưởng tài trợ gần đây nhất của Dự án FIRST là  Viện lúa ĐBSCL khi được Ban Quản lý Dự án FIRST tài trợ 66 tỷ đồng (tương đương hơn ba triệu đô la) thông qua dự án “Làm chủ công nghệ chọn tạo và nâng cao năng lực sản xuất giống lúa có các đặc tính nổi trội và giá trị kinh tế cao, góp phần đảm bảo sự tự chủ của Viện lúa ĐBSCL” vào cuối năm 2015.  Để hỗ trợ các đơn vị quan tâm lập hồ sơ đề xuất, Ban Quản lý Dự án FIRST dự kiến sẽ tổ chức ba cuộc hội thảo “Giới thiệu Dự án FIRST và hướng dẫn viết hồ sơ đề xuất” tại TP Hồ Chí Minh (ngày 13/9), tại Đà Nẵng (ngày 15/9), tại Hà Nội (ngày 17/9).    Author                Quản trị        
__label__tiasang FIRST tài trợ dự án nghiên cứu và sản xuất vaccine phòng bệnh cho lợn nuôi trang trại      Dự án “Nghiên cứu công nghệ chế tạo vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại” do Nhóm hợp tác mà công ty cổ phần thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet là đại diện thực hiện sẽ có tổng số vốn đầu tư 76 tỷ đồng (tương đương 3,4 triệu đô la), trong đó Dự án FIRST tài trợ hơn 40% tổng kinh phí thực hiện (tương đương 1 triệu đô la), phần còn lại là kinh phí đối ứng của công ty. Đây là một trong những dự án góp phần nâng cao năng lực cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sản xuất vaccine cho vật nuôi của Việt Nam.    T. N    Các đại biểu đi tham quan nhà máy sản xuất  vaccine của công ty Marphavet. Nguồn: Marphavet  Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác tài trợ dự án “Nghiên cứu công nghệ chế tạo vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại” giữa Ban Quản lý Dự án FIRST và công ty cổ phần thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet đã diễn ra vào ngày 27/8 vừa qua tại Thái Nguyên.  Dự kiến thực hiện trong vòng 34 tháng, dự án “Nghiên cứu công nghệ chế tạo vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại” sẽ bao gồm nhiều công đoạn, bao gồm việc nghiên cứu phân lập chủng vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại ngay tại Việt Nam nhằm thay thế vaccine nhập khẩu cùng loại, sau đó là hoàn thiện quy trình để có thể ứng dụng sản xuất vaccine trên quy mô công nghiệp và thương mại hóa trên thị trường nội địa. Với một chu trình nghiên cứu và sản xuất liên hoàn như vậy, Nhóm hợp tác thực hiện dự án là sự kết hợp của nhiều thành viên, mỗi thành viên này đảm trách một mảng công việc chuyên biệt, trong đó đơn vị phụ trách công tác nghiên cứu là Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đơn vị phụ trách sản xuất và makerting là công ty cổ phần thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet cùng nhiều doanh  nghiệp khác.  Theo thỏa thuận hợp tác, ngoài nhiệm vụ sản xuất, công ty cổ phần Thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet sẽ thay mặt Nhóm hợp tác quản lý tài chính, đấu thầu các hạng mục đầu tư của dự án. BQL Dự án First có trách nhiệm triển khai, giám sát Nhóm hợp tác thực hiện và tuân thủ theo các nội dung đã ký kết.  Hiện nay, Marphavet có nhà máy sản xuất thuốc thú y với ba dây chuyền sản xuất thuốc tiêm, thuốc dung dịch uống và thuốc bột đạt tiêu chuẩn GMP/WHO của Tổ chức Y tế thế giới, nhà máy sản xuất vaccine  với ba dây chuyền sản xuất vaccine vi khuẩn, vaccine virus trên tế bào và vaccine virus trên phôi trứng. Cả ba dây chuyền sản xuất vaccine này đều là công nghệ châu Âu và được vận hành ổn định, dù mới được lắp đặt. Ngoài ra, Marphavet còn có Trung tâm R&D với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành, có nhiều kinh nghiệm thực tế. Đây sẽ là bộ phận tiếp nhận kết quả nghiên cứu phân lập chủng vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và hoàn thiện quy trình sản xuất để chuyển giao quy trình cho các đơn vị sản xuất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang FIRST tài trợ hợp phần chuyên gia giỏi nước ngoài lần 2      Dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ (FIRST) đã ký thỏa thuận tài trợ hợp phần chuyên gia giỏi nước ngoài cho bảy đơn vị nghiên cứu trong nước vào ngày 8/5 tại Hà Nội.      Ban QLDA FIRST ký thỏa thuận tài trợ với Học viện nông nghiệp Việt Nam.  Được sự đồng ý của Bộ Khoa học Công nghệ và Ngân hàng Thế giới, Ban Quản lý Dự án FIRST đã ký thỏa thuận tài trợ cho bảy đề xuất của các đơn vị thụ hưởng thuộc hợp phần 1A – Chuyên gia giỏi nước ngoài. Các đề xuất bao gồm: Hợp tác nghiên cứu sàng lọc dược liệu có tác dụng ngăn ngừa/ hỗ trợ điều trị bệnh suy giảm trí nhớ và cơ chế tác dụng (Viện Dược liệu); Nghiên cứu ứng dụng vật liệu composite nhiệt dẻo gia cường CFRTP/PEEK vào chế tạo cấu trúc vệ tinh nhỏ ở Việt Nam (Trung tâm vệ tinh Quốc gia). Nâng cao năng lực, xây dựng và kiểm nghiệm phương pháp chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam (Trung tâm Thiết kế, chế tạo và thử nghiệm – Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, Bộ KH&CN); Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chuẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên); Tăng cường năng lực xây dựng chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam thông qua chuyển giao tri thức từ chuyên gia giỏi nước ngoài (Viện Chiến lược Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN); Nghiên cứu chọn tạo dòng lợn nái Landrace và Yorkshire kháng vi khuẩn gây tiêu chảy bằng chỉ thị phân tử (Học viện Nông nghiệp Việt Nam); Phát triển quy trình công nghệ thiết kế tổng hợp và chế tạo một số vật liệu hữu cơ quang điện trên cơ sở các dẫn xuất của Silole (Đại học Sư phạm Hà Nội). Giá trị mỗi khoản tài trợ dao động vào khoảng 150.000 – 200.000 USD (tối đa 200.000USD) tùy theo từng đề xuất.  “Bảy đơn vị thụ hưởng được chọn trong tổng số 74 đơn vị nộp hồ sơ. Tổng thời gian kêu gọi tài trợ và thương thảo cho tới lúc ký kết thỏa thuận tài trợ là sáu tháng”, theo ông Lương Văn Thắng, Phó giám đốc phụ trách ban quản lý dự án FIRST. Ông cũng cho biết thêm: “Với số lượng hồ sơ lớn như vậy, các đơn vị gửi đề xuất có sự cạnh tranh rất lớn. Điều đó cũng cho thấy quá trình tuyển chọn và thương thảo tài trợ rất minh bạch”.  Hợp phần tài trợ cho các chuyên gia giỏi nước ngoài về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo là một trong những hợp phần quan trọng của dự án FIRST. Khoản tài trợ này sẽ được cấp cho các tổ chức công nghệ công lập hoặc tư nhân nhằm khuyến khích các nhà khoa học giỏi nước ngoài bao gồm người Việt Nam ở nước ngoài về Việt Nam và hợp tác với các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và doanh nhân ở Việt Nam. Kết quả đầu ra từ hoạt động này sẽ là các dự án nghiên cứu và phát triển hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học trong nước với các chuyên gia giỏi nước ngoài trong đó có người Việt Nam ở nước ngoài, các đề xuất dự án tiếp tục hợp tác nghiên cứu phát triển hoặc hoàn thiện sản phẩm công nghệ, thành lập các doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam. Mạng lưới nghiên cứu xuất sắc được tăng cường và các chính sách sử dụng các nguồn lực ngân sách nhà nước để tiếp tục thu hút các chuyên gia giỏi và người Việt Nam ở nước ngoài cũng sẽ là kết quả đầu ra của hợp phần này.    Author                T.Q        
__label__tiasang Fossil Group mua Misfit với giá 260 triệu USD      Tập đoàn Fossil Group Inc. vừa đồng ý mua  lại startup Misfit, hãng sản xuất thiết bị đeo theo dõi sức khỏe, với  giá 260 triệu USD.    Sonny Vũ, Giám đốc điều hành kiêm nhà đồng sáng lập Misfit, cho biết: “Nếu không có thương hiệu, anh sẽ không thể làm ăn đàng hoàng trong thời đại này.” Sau khi quá trình mua lại hoàn tất vào cuối năm nay, anh sẽ trở thành chủ tịch kiêm giám đốc công nghệ mảng thiết bị kết nối của Fossil.  Trong năm vừa qua, áp lực cạnh tranh trên thị trường thiết bị theo dõi sức khỏe đã gia tăng đáng kể nên việc một startup hoạt động độc lập lại càng khó khăn hơn. Các công ty như Xiaomi cho ra mắt những sản phẩm giá rẻ, Apple vào cuộc với sản phẩm Watch cũng có chức năng theo dõi sức khỏe và thói quen ngủ. Một phần do sức ép cạnh tranh, Jawbone đã có một năm khá chật vật. Tuy nhiên, Fitbit lại đón được xu hướng mới và đã thực hiện một cuộc IPO suôn sẻ vào tháng Sáu vừa qua với mức giá 20 USD/cổ phiếu rồi tăng dần lên tới 51,9 USD/cổ phiếu, mặc dù thời gian gần đây giá cổ phiếu của Fitbit đang có chiều hướng đi xuống.  Greg McKelvey, Giám đốc chiến lược của Fossil, cho hay: “Chúng tôi cho rằng vấn đề ở đây không nằm ở tính năng của sản phẩm mà là sự kết hợp giữa tính năng sản phẩm, thiết kế, và làm thương hiệu. Chúng tôi nhìn thấy những cơ hội phát triển rất lớn. Những sản phẩm trang sức và đồng hồ của chúng tôi cũng có thể trở thành những thiết bị kết nối.”  Fossil hy vọng ngay trong năm tới họ sẽ có thể đưa công nghệ của Misfit vào các sản phẩm có hình dáng như những chiếc đồng hồ truyền thống hơn là hình dạng những thiết bị đo lường sức khỏe bằng cao su như trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên, các sản phẩm riêng của Misfit vẫn sẽ tiếp tục được sản xuất. McKelvey chia sẻ rằng sáng tạo về tuổi thọ pin của Misfit đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Fossil.  Vụ mua lại này có thể giúp Fossil làm mới danh mục sản phẩm của mình. Doanh số bán hàng của tập đoàn bị chững lại trong suốt nửa đầu năm nay. Việc Fossil tham gia vào lĩnh vực này là khá bất thường, bởi đa phần các nhà sản xuất thiết bị theo dõi sức khỏe hiện nay đều là các công ty công nghệ (ngoại trừ Nike với sản phẩm FuelBrand; tuy nhiên, Nike cũng đã giảm bớt các kế hoạch phát triển phần cứng).  Dòng sản phẩm theo dõi sức khỏe và thói quen ngủ của Misfit có tên gọi Shine, ngay từ khi ra mắt đã nhấn mạnh đến kiểu dáng thời trang. Sau một chiến dịch crowdfunding thành công trên Indiegogo, Misfit ra mắt sản phẩm đầu tiên năm 2013. Trước đó nữa, Misfit đã mời được các thương hiệu như Speedo và Swarovski làm đối tác.  Ông Vũ cho biết: “Những sản phẩm ban đầu đó đã bán rất chạy. Thương hiệu thực sự là một yếu tố rất quan trọng.” Nhưng cũng theo ông chia sẻ, việc mời gọi đối tác như vậy đòi hỏi khá nhiều công sức.  Theo ông Vũ, khi gia nhập vào Fossil, công nghệ của Misfit sẽ tận dụng được thương hiệu của Fossil cùng khả năng phân phối và sản xuất lớn của tập đoàn này. Trung bình mỗi năm, Fossil bán 50 triệu chiếc đồng hồ và phụ kiện thời trang ở 150 quốc gia.  Misfit thành lập năm 2011 và sau ba vòng gọi vốn họ đã thu về được khoảng 63 triệu USD từ các nhà đầu tư Xiaomi, GGV Capital, JD.com, Horizons Ventures, Founders Fund, và Khosla Venturesand Norwest Venture Partners.  Fossil mua lại Misfit với giá 260 triệu USD (đã bao gồm các chi phí giao dịch) bằng tiền mặt và vay ngân hàng.  Hiện Misfit có khoảng 220 nhân viên ở Burlingame, California; TP Hồ Chí Minh; Thâm Quyến, và Bắc Kinh. Fossil vẫn tiếp tục tuyển dụng toàn bộ số nhân viên này. McKelvey cho biết, việc thâu dụng một đội ngũ kỹ sư lớn là rất quan trọng với Fossil trong quá trình thâm nhập vào thị trường thiết bị kết nối đeo tay.  Ông Vũ từ chối tiết lộ loại hình lợi nhuận mà các nhà đầu tư sẽ nhận được sau khi cuộc mua lại hoàn tất nhưng ông chia sẻ: “Các nhà đầu tư chắc chắn sẽ không để chúng tôi tham gia vào thương vụ này nếu họ không nhận được khoản lợi nhuận nào đó.”    Trang Bùi dịch    Nguồn:  http://blogs.wsj.com/venturecapital/2015/11/12/fossil-group-to-buy-misfit-for-260-million/    Author                Quản trị        
__label__tiasang FPT hợp tác với Fujitsu trồng thử nghiệm rau sạch      Trung tâm hợp tác nông nghiệp thông minh FPT – Fujitsu mới đây đã hoàn thành hai mô hình trồng thử nghiệm những loại rau có giá trị gia tăng cao, phổ biến như cà chua, xà lách….      Rộng hơn 400m2, đặt tại Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, Trung tâm là một phần trong khuôn khổ dự án hợp tác nông nghiệp thông minh giữa Tập đoàn FPT (Việt Nam) và Tập đoàn công nghệ thông tin Fujitsu (Nhật Bản).   Trong dự án này, những giải pháp nông nghiệp hiện đại, góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng thông  qua việc cải cách kỹ thuật sản xuất, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật  trên rau quả sẽ được thử nghiệm trước khi chuyển giao vào Việt Nam.   Hai mô hình đầu tiên mà trung tâm triển khai là “Nhà kính – Green house” và “Nhà máy rau – Vegetable factory” sẽ trồng những loại rau có giá trị gia tăng cao, phổ biến như cà chua, xà lách…     Ưu điểm của mô hình “Nhà kính – Green House” là cho ra sản phẩm cà chua cỡ vừa, có hàm lượng dinh dưỡng và độ ngọt tự nhiên rất cao. Điều này được thực hiện thông qua dịch vụ “SaaS ứng dụng trong nhà kính” của công nghệ Akisai. Khi đó, hệ  thống cảm biến sẽ thu thập thông tin về môi trường (nhiệt độ,  độ ẩm, CO2, lượng ánh sáng, lượng mưa, hướng gió, tốc độ gió… tại thời  gian thực để có thể tự động điều khiển mành che, cửa sổ, quạt… cho phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua.   Còn mô hình “Nhà máy rau – Vegetable Factory” phù hợp với đặc điểm của cây ăn lá như xà lách. Đây là hình thức trồng trọt hoàn toàn khép kín đã được vận hành tại nhà máy Aizuwakamatsu Akisai Nhật Bản.   Sau giai đoạn vận hành thử nghiệm công nghệ Akisai, FPT và Fujitsu sẽ chính thức khai trương Trung tâm, dự kiến vào ngày 24/2/2016.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Fracking là không tránh khỏi      Ông Christof Rühl (ảnh bên), nhà kinh tế trưởng và Phó  chủ tịch của Tập đoàn Dầu khí đa quốc gia BP, là một trong những người  cho rằng phương pháp Fracking khai thác dầu và khí đốt từ đá phiến đang  gây nhiều tranh cãi hiện nay sẽ còn tiếp tục được triển khai rộng rãi  trên thế giới trong những năm tới. Theo ông, Fracking thậm chí còn góp  phần vào việc chống biến đổi khí hậu.     Đầu tháng giêng mới đây, Ba Lan đứng trước một tin vui: Giữa mùa đông giá rét, một doanh nghiệp năng lượng loại nhỏ của Ireland có tên là San Leon Energy lần đầu tiên khai thác trong nhiều ngày liền một khối lượng lớn khí đốt từ đá phiến. Tới đây ông Oisin Fanning, giám đốc San Leon Energy, dự kiến sẽ triển khai tiếp một loạt mũi khoan nữa. Ông này cho rằng tiềm năng khai thác tại dự án của mình ở miền bắc Ba Lan cũng to lớn không kém so với nguồn khí đốt của Mỹ.   Cho đến lúc này, chưa thể nói liệu việc khai thác khí đốt từ đá phiến có bùng nổ ở Đông Âu tương tự như ở Mỹ hay không. Tuy nhiên điều này là một sự khích lệ mạnh mẽ đối với những người từng ước ao tràn ngập khí đốt ở cả thế giới. Trong khi những người chống đối Fracking [kỹ thuật bơm nước áp lực cao trộn với cát và hóa chất để cắt phá đất đá, qua đó giải phóng dầu và khí đốt bị kẹt lại trong lớp đất đá; phần nước thải trào lên từ những giếng khoan này sau đó sẽ được đổ vào các giếng khoan khác dùng chung kỹ thuật] ái ngại nạn ô nhiễm nguồn nước ngầm ở khu vực có giếng khoan.    WirtschaftsWoche (Tuần Kinh tế): Thưa ông Rühl, nhiều nhà bảo vệ môi trường đòi các doanh nghiệp như doanh nghiệp của ông không được phép tiếp tục tìm kiếm những mỏ dầu, khí mới. Thậm chí người ta còn đòi cả các mỏ đã phát hiện không được phép khai thác triệt để, để tránh không thúc đẩy quá trình biến đổi khí hậu. Ngay cả việc khai thác khí từ đá phiến cũng là điều cấm kỵ. Phải chăng đây là một ý tưởng hay?   Christof Rühl: Không phải như thế vì chúng ta còn phải dùng nhiên liệu hoá thạch trong một thời gian dài nữa. Vì thế chúng ta vẫn phải tìm các nguồn trữ lượng mới. Và chừng nào điều này không bị cấm thì các doanh nghiệp năng lượng và các cổ đông của những doanh nghiệp đó có quyền quyết định liệu họ có sẵn sàng chịu rủi ro khi tìm kiếm những mỏ dầu và khí đốt mới hay không.   Một đòi hỏi nữa là: nhà nước cần đưa những tổn thất về khí hậu và môi trường vào giá thành của nhiên liệu hoá thạch. Phải chăng giá dầu mỏ, khí đốt và than còn quá rẻ?   Tôi tán thành cộng thêm giá carbon dioxide (CO2) vào giá của nhiên liệu hoá thạch. Tuy nhiên tôi không tin là từ đó sẽ chấm dứt việc sử dụng các nguồn nhiên liệu hoá thạch.   Thưa ông, tại sao?   Vấn đề là ở chỗ chúng ta đang nói với nhau về loại tài nguyên gì. Nếu như chúng ta có một cái giá cho CO2 ở mọi nơi trên thế giới, thì những doanh nghiệp thí dụ như doanh nghiệp khí đốt sẽ được lợi khi sử dụng khí đốt để sản xuất điện chứ không phải dùng than: một kilowatt giờ từ khí đốt chỉ sản sinh ra một nửa lượng CO2 so với điện do than tạo ra. Như vậy thì ngành than là ngành chịu trận đầu tiên. Tôi là người rất tán thành cơ chế thị trường. Nếu quyết, từ năm X các người sẽ không được phép khai thác dầu mỏ và khí đốt nữa, như vậy chẳng giúp ích cho ai cả.    Thưa ông trữ lượng dầu mỏ hiện nay có còn đủ cho những thập niên tới không? Dù gì đi nữa thì sản lượng ở các khu mỏ đang hoạt động mỗi năm giảm bình quân 5%.     Không phải như vậy! Lượng dầu khai thác trên toàn thế giới mỗi năm một tăng – và trữ lượng các khu dầu mỏ và khí đốt được phát hiện cũng tăng lên. Để bù lại cho sự giảm sút tỷ lệ khai thác ở các mỏ dầu lớn, doanh nghiệp năng lượng phải bù đắp từ những chỗ khác. Cho đến nay việc này vẫn tiến hành tốt. Vả lại chúng tôi cũng đạt được những tiến bộ kỹ thuật to lớn. Một mặt áp dụng những phương pháp mới để lấy dầu từ đá phiến, mặt khác nhờ tiến bộ kỹ thuật, chúng tôi cũng khai thác được nhiều dầu hơn từ những mỏ hiện có. Như đã nói, những trữ lượng đã phát hiện hiện nay lớn hơn so với cách đây 20 năm và còn tiếp tục tăng.     Các doanh nghiệp dầu mỏ và khí đốt như BP hy vọng nhiều vào việc khai thác từ đá phiến. Giới chỉ trích thì cho rằng chỉ có một sự bùng nổ nhất thời mà thôi.   Tỷ suất khai thác từ đá phiến cho đến nay đã làm chúng tôi bất ngờ tích cực. Đối với đá phiến dầu, chúng tôi cũng đồ rằng việc khai thác ở Mỹ trong những thập niên tới sẽ giảm sút. Nhưng điều đó sẽ được bổ sung từ các khu mỏ ở những nước khác, lượng bổ sung này sẽ cao hơn chứ không phải chỉ cân bằng. Theo tính toán của chúng tôi, đến năm 2030, khai thác dầu từ đá phiến sẽ đạt khoảng 7% so với tổng sản lượng dầu mỏ nói chung của thế giới.   Thưa ông nhưng ở các trạm xăng người tiêu dùng không cảm nhận được về sự bùng nổ này. Nếu như hiện nay có nhiều đá phiến dầu như vậy thì tại sao giá dầu mỏ không giảm?  Ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cách đây sáu năm, giá dầu đã từ 152 đôla/thùng xuống còn 32 đôla/thùng. Vì vậy các nước OPEC đã giảm mạnh lượng khai thác và giá dầu lại vượt ngưỡng 100 đôla/thùng. Trong ba năm qua – với sự mở đầu của Mùa xuân Ả rập – thì việc khai thác dầu ở các nước như Iran, Libya, Syria và Ai Cập đã giảm sút tới mức chưa từng có kể từ khi Liên Xô xảy sụp đổ. Hoàn toàn tình cờ, đúng vào thời điểm đó, khai thác đá phiến dầu ở Mỹ bắt đầu bùng nổ. Sản lượng của Mỹ đã bù đắp được nguồn cung của khu vực Bắc Phi và Cận Đông. Giá dầu được ổn định trong ba năm qua chính là nhờ kết quả của các yếu tố này.   Có nghĩa là thế giới tình cờ mà thoát khỏi một cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng?    Bạn có thể nói như vậy. Nhưng cũng có thể hiểu ngược lại: sự bùng nổ dầu mỏ ở Mỹ xét về khía cạnh lịch sử đã dẫn đến sự tăng sản lượng chưa từng có ở đây. Và Mỹ đã sản xuất dầu mỏ từ năm 1859! Ví thử Mùa Xuân Ả rập không làm giảm mạnh sự khai thác thì ngày nay giá dầu mỏ sẽ chịu áp lực nặng nề vì có quá nhiều tài nguyên này trên thị trường. Ngược lại, ví thử chúng ta chỉ có Mùa Xuân Ả rập thì có lẽ giá dầu đã tăng vọt. Cho đến nay sự bất ổn về chính trị và sự tăng sản lượng của Mỹ đã giữ được sự cân bằng cán cân cung cầu. Tất nhiên không ai biết tương lai giá dầu sẽ phát triển như thế nào, nhưng gì thì gì điều này không liên quan đến sự khan hiếm tài nguyên.  Thưa ông, còn tình hình đối với khí đốt như thế nào?  Đối với khí đốt, chúng tôi cũng nhận thấy sẽ diễn ra một sự bùng nổ kéo dài đối với việc khai thác từ đá phiến. Theo tính toán của chúng tôi thì trong hai chục năm tới, Mỹ sẽ khai thác khí đá phiến nhiều hơn lượng khí đốt thông thường mà nước này đã khai thác trong thời gian qua. Tỷ trọng khí đá phiến trên thế giới sẽ chiếm khoảng 20% so với sản lượng khí đốt toàn cầu. Các châu lục và các vùng lãnh thổ sẽ ngày càng noi theo Mỹ phát huy nguồn dự trữ của mình.  Dường như các nhiên liệu hoá thạch có tương lai sáng sủa. Nhưng điều này có ý nghĩa như thế nào đối với biến đổi khí hậu, thưa ông?  Đây là một câu hỏi đúng. Mọi dấu hiệu đều cho thấy nồng độ CO2 trong bầu khí quyển đang tiếp tục tăng chứ không giảm. Nếu bạn thấy những nhận thức về khoa học là có cơ sở thì đây là một tin xấu. Chừng nào mà còn chưa có giá cho CO2 thì khó có thể trông chờ vào sự thay đổi – hiện chưa có những giải pháp kỹ thuật đủ tầm cỡ cần thiết.   Thưa ông, nhưng hiện đang diễn ra sự bùng nổ đối với năng lượng mặt trời, ngày càng có nhiều ô tô chạy điện được bán ra thị trường. Chúng không cần xăng. Với tư cách là người kinh doanh dầu, ông có cảm thấy ái ngại về điều này không?  Không. Thứ nhất là vì dù có nhiều ô tô chạy điện thì lượng khí thải CO2 vẫn tăng lên – trên thế giới vẫn còn nhiều điện được sản xuất từ than. Thứ hai, ô tô chạy điện đơn thuần hiện nay vẫn ít hơn xe lai (Hybrid). Loại xe này vẫn dùng chủ yếu xăng hay diesel. Điều đó chứng tỏ vấn đề đối với dầu đâu đến nỗi tồi.   Nhưng thưa ông, dùng dầu thay thế than cũng là biện pháp lâu dài.  Hoặc chỉ là một tiến bộ nho nhỏ, điều đó đúng. Vì thế chúng tôi muốn dùng khí đốt thay cho than để chạy các nhà máy điện. Chúng tôi đã làm một bài tính: Nếu chúng ta chỉ cần thay thế một phần trăm sản lượng điện từ than đá sang khí đốt trên toàn thế giới thì có thể giảm lượng khí thải CO2 tương đương với việc tăng tỷ trọng năng lượng tái sinh lên 11%.    Vậy theo ông kịch bản nào có ý nghĩa hơn?   Điều trong thực tế có thể thực hiện ngay đó là thay thế một phần trăm sản lượng điện từ than bằng khí đốt. Ngược lại, để tăng được mười phần trăm năng lượng tái sinh là rất khó, mất rất nhiều thời gian và nhất là vô cùng tốn kém.     Vậy tại sao chúng ta lại không sử dụng khí đốt nhiều hơn, thưa ông?   Vì chẳng có ai phù hợp với vấn đề này. Giới bảo vệ môi trường thì muốn ngay lập tức phải loại bỏ tất cả các loại nhiên liệu hoá thạch. Giới công nghiệp và một số chính phủ cũng không mấy thích thú vì ở nhiều nơi trên thế giới giá khí đốt còn cao hơn giá than.     Vì thế chúng ta cần phải làm một cuộc cách mạng khí đốt?  Tôi rất thận trọng khi dùng từ cách mạng. Nhưng đúng là nhờ các công nghệ mới và nhờ tiếp cận được với khí đá phiến, chúng ta có thể thay thế than bắng khí đốt ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng hiện tại thì người ta coi Fracking là điều kinh dị. Trong khi hiện tại Mỹ nước giảm lượng khí thải CO2 mạnh nhất vì ở đó khí đá phiến giá rẻ đã thay thế được than, tuy nhiên sự liên quan này không được đề cập tới ở châu Âu.   Thưa ông, ông hãy nói điều này với những người dân ở gần các khu vực khai thác khí đá phiến.   Fracking là một vấn đề tiềm năng và mang tính địa phương còn biến đổi khí hậu là một vấn đề trừu tượng mang tính toàn cầu. Tôi nghĩ, tất cả chúng ta tiếc rằng đều biết, vì sao kết cục lại như thế.  ***  Christof Rühl, 55 tuổi, từ năm 2007 là nhà kinh tế trưởng của BP. Trước đó ông làm việc tại Ngân hàng Thế giới, từng là chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới ở Brazil và Nga.   Xuân Hoài dịch theo Spiegel 21.2. 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Francis Fukuyama và bước ngoặt của nước Mỹ      Năm 1989, Francis Fukuyama, lúc ấy còn là một chuyên viên ít tên tuổi trong Bộ Ngoại giao Mỹ, viết một bài làm chấn động giới trí thức Mỹ, và toàn cầu. Đó là bài “Điểm tận của Lịch sử” (The End of History), khai triển thành cuốn “Điểm tận của Lịch sử và Người cuối cùng” (The End of History and the Last Man) xuất bản năm 1992. Chứng kiến sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và những sự thay đổi lớn lao ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) trong những năm ấy, ông táo bạo viết: “Chúng ta đang chứng kiến không chỉ là sự chấm dứt của chiến tranh lạnh, hoặc sự đã qua của một giai đoạn lịch sử nhất định… mà còn là điểm tận của lịch sử: nghĩa là, điểm cuối cùng của sự tiến hóa ý thức hệ của nhân loại, và sự phổ cập hóa của thể chế dân chủ phóng khoáng kiểu Tây phương như là hình thức chính phủ tối hậu của loài người”.    Luận đề này của Fukuyama đã gây sôi nổi từ khi ấy (và thường được so sánh với luận đề cũng nổi tiếng không kém, song gần hoàn toàn trái ngược, về “Đụng độ giữa các nền văn minh” của Samuel Huntington). Dù không khó chỉ trích luận đề của Fukuyama, phải nhìn nhận rằng ông thường bị hiểu sai. Như Fukuyama giải thích sau này, ông không có ý cho rằng điểm tận lịch sử sẽ là một nền “dân chủ phóng khoáng” (như cụm từ này đuợc hiểu ở phương Tây), rằng lịch sử sẽ ngừng nơi đó, song chỉ muốn nói rằng mọi người, dù ở đâu, cũng có ý nguyện được sống trong một xã hội hiện đại, và lịch sử luôn luôn tiến theo hướng ấy.  Nhưng xin để dành câu hỏi “lịch sử có điểm tận hay không?” cho dịp khác. Ở đây, chỉ xin ghi lại rằng Fukuyama tiếp tục được chú ý trong những năm 1990, một phần là do nhiều tác phẩm (với nhiều ý kiến mới mẻ, ở các lãnh vực khác) ông tiếp tục cho ra đời, nhưng phần khác là do quan hệ của ông với nhóm trí thức tân bảo thủ ở Mỹ. Nhóm này (độ vài chục người) gồm một số nhà chiến lược ngoại giao và quốc phòng cao cấp, nhà báo nổi tiếng, đa số là gốc Do Thái, thỉnh thoảng có những kiến nghị kêu gọi Mỹ phải cứng rắn hơn trong chính sách ngoại giao, nhất là đối với Trung Đông (mà họ luôn luôn ủng hộ quyền lợi Israel). Khi Bush (con) đắc cử thì, tuy Fukuyama (hiện là giáo sư đại học Johns Hopkins) không tham chính, hầu hết bạn bè ông đều được giao những chức vụ quan trọng (nổi bật nhất là Paul Wolfowitz, phụ tá tổng trưởng quốc phòng). Ảnh hưởng của nhóm tân bảo thủ lớn đến nỗi hầu hết các nhà bình luận đều cho rằng chính sách ngoại giao và quốc phòng của Bush là hoàn toàn trong tay phe này.  Ai cũng đinh ninh rằng Fukuyama, với “tiểu sử” ấy, hẳn nhiệt tình ủng hộ chiến tranh Iraq, ít nhất vì mục đích “xây dựng dân chủ” mà nhóm tân bảo thủ (và không chỉ nhóm này) vẫn tin là một lý do khiến Mỹ tung quân vào Iraq. Tuy nhiên, từ giữa năm 2004 đã có dấu hiệu cho thấy quan điểm của Fukuyama về Iraq, và về chiến tranh chống khủng bố nói chung, không hoàn toàn giống với nhóm tân bảo thủ. Trong một loạt tranh luận với các “đồng chí” cũ (đặc biệt là với nhà bình luận Charles Krauthammer của báo Washington Post), Fukuyama đã bộc lộ nhiều bất đồng với chính sách Iraq của Bush (đến mức công khai ủng hộ Kerry trong cuộc bầu cử năm 2004). Cuốn “Nước Mỹ ở bước ngoặt” (America at the crossroads) vừa xuất bản, và đang gây sôi nổi ở Mỹ cũng như Âu Châu, là cố gắng của Francis Fukuyama để khai triển những ý kiến của ông về chính sách của Mỹ ở Iraq, sắp xếp lại và trình bày mạch lạc hơn những phát biểu rải rác đó đây của ông trong hai năm qua.  ***  Trước hết, Fukuyama kể lại nguồn gốc của tân bảo thủ ở Mỹ. Có thể phân biệt hai nhánh cội rễ: một nhánh bắt đầu từ triết gia Leo Strauss, trốn thoát Đức Quốc Xã, sang Mỹ định cư từ năm 1937. Ảnh hưởng của Strauss là mạnh nhất qua quan niệm của ông đối với dân chủ, tự do, và liên hệ giữa nội bộ của một quốc gia và cách cư xử của quốc gia ấy đối với nước khác. Nhánh thứ hai phát xuất từ nhà chiến lược quân sự Albert Wohlstetter, nổi tiếng với chủ thuyết “đánh phủ đầu” của ông ta. Thế hệ tân bảo thủ đầu tiên là một nhóm trí thức cựu Trốt kít, đa số gốc Do Thái, cực lực chống cộng, thường gặp nhau ở Đại học Thành phố New York vào những thập niên 1930-40.  Từ những nguồn gốc khác nhau ấy, nhóm tân bảo thủ đề xuất bốn nguyên tắc. Một là, họ cho rằng chính sách đối ngoại của một quốc gia tùy thuộc vào chính trị nội bộ của quốc gia ấy (quan điểm này trái ngược với quan điểm của trường phái “thực tế”, điển hình là Kissinger). Cụ thể, họ cho rằng các quốc gia dân chủ sẽ không hiếu chiến, cư xử thân thiện hơn trong bang giao quốc tế. Do đó Mỹ phải đi mọi nơi để gieo rắc dân chủ và nhân quyền. Hai là, theo những người tân bảo thủ, quyền lực của Mỹ có thể dùng để phục vụ “đạo đức”. Ba là, họ không tin là các tổ chức và luật lệ quốc tế có thể hữu hiệu được. Và, bốn là, cũng theo những người tân bảo thủ, nhà nước không thể nhào nặn xã hội ở bất cứ đâu.  ***  Từ bối cảnh ấy, và từ nhận xét về tình hình Iraq, Fukuyama cho rằng những người tân bảo thủ (và bây giờ ông tự xem như không còn thuộc nhóm ấy) đã phạm bốn lỗi lầm. Lỗi lầm thứ nhất là họ thiếu kiên nhẫn. Vì tưởng đâu khi Hussein bị lật đổ thì Iraq sẽ trở thành một nước dân chủ, Mỹ vội vã xâm lăng Iraq, không nghĩ gì về những khó khăn hậu Hussein. Lỗi lầm thứ hai của những người tân bảo thủ là họ ngây thơ tin rằng một nước Mỹ hùng cường sẽ được các nước khác ngoan ngoãn chấp nhận là một “bá quyền nhân từ”. Lỗi lầm thứ ba là họ quá sức phóng đại nguy cơ của các nhóm Hồi giáo cực đoan (để lấy cớ “đánh phủ đầu”). Lỗi lầm thứ tư là sự mâu thuẫn rõ rệt trong triết lý tân bảo thủ: Một đàng (như trong chính sách nội bộ của Mỹ) họ cực lực chống sự can thiệp của nhà nước để “nhào nặn” xã hội, đàng khác, họ lại không chút nghi ngờ là Mỹ có thể đi vào một quốc gia có một chiều sâu lịch sử và một văn hóa xa lạ như Iraq (mà họ hầu như không biết gì cả) để nhào nặn lại nước ấy. Chính điều này đã gây ra nhiều lỗi lầm khác trong thời gian Mỹ chiếm đóng Iraq.                  Ngay từ đầu, Fukuyama đã chống lại chủ thuyết “đánh phủ đầu” vì ông cho rằng chiến lược này đòi hỏi biết trước tương lai, ít nhất là có nhiều tình báo chính xác – điều mà Mỹ không có. Rồi khi thấy cách Mỹ áp dụng thuyết này ở Iraq thì ông lại bị “sốc” hơn nữa vì sự bất tài của những người cầm đầu nước Mỹ hiện nay. Chẳng hạn, ông không hiểu tại sao có nhiều cách (có tính thuyết phục hơn) để biện hộ cho chiến tranh Iraq mà Bush không dùng; ông cũng hoang mang về cách Mỹ đối xử với đồng minh (như Pháp, Đức) một cách mất lòng như vậy, rồi Fukuyama không thể tin là (như ngày càng thấy rõ) chính phủ Bush đã không hề nghĩ trước cách đối phó với kháng quân Iraq.  ***  Fukuyama viết: “Tôi kết luận rằng tân bảo thủ, như một biểu trưng chính trị cũng như một chủ thuyết, đã thành một thứ mà tôi không thể ủng hộ được nữa”. Fukuyama đề nghị một chính sách mới mà ông gọi là “chủ nghĩa thực tế Wilson”. Có lẽ cần nhắc lại, chủ nghĩa Wilson (theo tên Woodrow Wilson, tổng thống Mỹ từ năm 1913 đến 1921) cho là Mỹ có bổn phận đem dân chủ đi truyền bá ở những nước khác. (Trái lại, những người theo “chủ nghĩa thực tế”, như Kissinger, thì xem chính trị quốc tế như một ván cờ mạnh được yếu thua, không nước nào cần truyền bá lý tưởng gì sất). Fukuyama thêm bổ từ  “thực tế” vào “chủ nghĩa Wilson” để nhấn mạnh giới hạn của quyền lực Mỹ (không phải cái gì cũng làm được) và nhu cầu cộng tác đa phương. Fukuyama cũng “dè dặt” hơn: thể chế chính trị của một quốc gia phải tự phát từ nội bộ của quốc gia ấy, không thể áp đặt từ ngoài, nhất là khi sự áp đặt ấy là qua vũ lực.     Fukuyama kêu gọi Mỹ nên xem chiến tranh chống khủng bố không như một chiến tranh quân sự, nhưng là một đấu tranh chính trị để mua chuộc trái tim của đại đa số người Hồi giáo trên toàn thế giới. Theo ông, Mỹ cũng nên dựa nhiều hơn vào các tổ chức quốc tế, đa phương.  Ngay từ đầu, Fukuyama đã chống lại chủ thuyết “đánh phủ đầu” vì ông cho rằng chiến lược này đòi hỏi biết trước tương lai, ít nhất là có nhiều tình báo chính xác – điều mà Mỹ không có. Rồi khi thấy cách Mỹ áp dụng thuyết này ở Iraq thì ông lại bị “sốc” hơn nữa vì sự bất tài của những người cầm đầu nước Mỹ hiện nay. Chẳng hạn, ông không hiểu tại sao có nhiều cách (có tính thuyết phục hơn) để biện hộ cho chiến tranh Iraq mà Bush không dùng; ông cũng hoang mang về cách Mỹ đối xử với đồng minh (như Pháp, Đức) một cách mất lòng như vậy, rồi Fukuyama không thể tin là (như ngày càng thấy rõ) chính phủ Bush đã không hề nghĩ trước cách đối phó với kháng quân Iraq.                Nhìn lại nguồn gốc nhóm tân bảo thủ Mỹ, họ chính là “con tinh thần” của, một bên, kinh nghiệm Đức Quốc Xã, trước đó nữa là tư tưởng cổ La Hi (qua Leo Strauss), và bên kia, tư duy chiến tranh lạnh (qua Albert Wohlstetter), có nghĩa là hoàn toàn triết lý chính trị và quân sự, không biết gì về những nền văn minh khác (ngoài Tây phương) và cũng không biết gì về phát triển kinh tế. Thực vậy, trong nhóm tân bảo thủ, chỉ có Fukuyama (người Mỹ gốc Nhật) là tương đối biết về Châu Á nhiều hơn cả (cũng có thể kể thêm Paul Wolfowitz, từng làm đại sứ Mỹ ở Indonesia). Một số chỉ trích của Fukuyama trong cuốn này có vẻ bắt nguồn từ sự hiểu biết của ông về các nền văn minh ngoài Tây phương ấy. Tuy nhiên, khó hiểu là Fukuyama vẫn không nói gì đến yếu tố dân tộc tính, cụ thể là tính bất khuất của bất cứ dân tộc nào khi bị ngoại xâm. Là một trí thức, Fukuyama đôi lúc quên rằng chính trị thực tế có những động cơ tầm thường hơn là “dân chủ” hay “tự do” Có thể có những người như Fukuyama cho rằng chính sách Bush là nhằm thiết lập “dân chủ”, “nhân quyền” ở nước khác, nhưng thực tế thì quyền lợi kinh tế, áp lực chính trị nội bộ (trong nước Mỹ)… hẳn là nhiều ảnh hưởng hơn. Nói cách khác, Fukuyama vẫn tin rằng triết lý tân bảo thủ là quan trọng, rằng nó là động cơ chính của đường lối ngoại giao và quân sự của Mỹ hiện nay. E rằng ông đã phóng đại ảnh hưởng này.  Khi những người tân bảo thủ, kể cả Fukuyama, khẳng định rằng chỉ có những quốc gia “dân chủ” kiểu Tây phương là tin được (theo nghĩa tôn trọng những cam kết quốc tế), là hiếu hòa, thì họ lại quên nhìn trong gương: nước Mỹ của họ (mà họ mặc nhiên coi là tiêu biểu của dân chủ ấy) có hiếu hòa, có “tin” đuợc không? Một điều nữa: họ không hề nói đến quyền tự quyết của một dân tộc và tự phong cho nước Mỹ quyền “thừa sai”, đem “dân chủ” áp đặt lên nước khác. Dù có thể chấp nhận “dân chủ” như một ước vọng căn bản nhất của con người, nhưng con người còn có những nhu cầu khác (cơm ăn áo mặc là trước tiên), và mỗi nước có thể có những lựa chọn khác nhau về thứ tự và lộ trình phát triển của họ.  Những người tân bảo thủ hình như không để ý đến sự khác nhau này. (Thực vậy, triết lý của Leo Strauss khẳng định sự hiện hữu của những giá trị chung, hằng cửu, nghĩa là phủ nhận sự có thể khác nhau về giá trị giữa văn hóa này và văn hóa khác.)  Oái oăm là, nhiều người tân bảo thủ (như Aaron Friedberg, trong một bài điểm sách Fukuyama) giải thích sự “không kiên nhẫn” của họ bằng cách nhìn nhận rằng quyền lực Mỹ đang trong thời tột đỉnh, và nếu Mỹ không chộp lấy thời cơ này để sắp xếp lại bàn cờ thế giới thì khó có thể làm được trong tương lai.  Nhưng luận điệu này mở ra một chỗ yếu, vì lẽ nếu sự áp đặt này của Mỹ có thành công, nhưng nếu nó gây mầm “ghét Mỹ” thì liệu Mỹ có duy trì nó nổi không, nhất là khi khoảng cách quyền lực (nhất là kinh tế) giữa Mỹ và các nước khác ngày càng nhỏ, như chính những người này nhìn nhận? Tiếc thay, đây là lối “phản biện” của phe Bush hiện nay: cho là Fukuyama “yếu bóng vía”, thiếu kiên trì, rằng Fukuyama không tin là dân Iraq yêu chuộng “dân chủ”.                  Một nhận xét nữa: Sau “Điểm tận của lịch sử”, Fukuyama đã quay sang nghiên cứu về vai trò của tin cẩn trong xã hội và tính khả thi của “xây dựng quốc gia”, đưa ra nhiều ý kiến đáng chú ý. Rõ ràng là những phát hiện mới này của Fukuyama đã ảnh hưởng đến cách ông nhìn Iraq hiện nay. Tuy rằng Fukuyama có nói đến những yếu tố kinh tế trong sách của ông, ông hầu như bị ám ảnh hoàn toàn bởi chiến tranh Iraq và rộng hơn là chiến tranh chống khủng bố của Mỹ. Người đọc khó tránh ý nghĩ rằng thử thách lớn nhất cho nước Mỹ, về lâu về dài, không phải là vấn đề Trung Đông nhưng là sự trỗi dậy của Châu Á. Nói khác đi, Fukuyama, một học giả vẫn tự xem như có cái nhìn sâu về lịch sử, oái oăm thay, hầu như bị lịch sử bỏ lại đằng sau.  Fukuyama khẳng định là ông vẫn bảo lưu ý kiến của “Điểm tận của lịch sử”, vẫn tin rằng nhân loại sẽ tiến đến một nền dân chủ phóng khoáng, mọi nền kinh tế rồi sẽ là kinh tế thị trường. Tuy nhiên, người đọc quyển này có cảm tưởng Fukuyama ngày nay khiêm tốn hơn, cụ thể là trong suy nghĩ của ông về vai trò của nước Mỹ trong tiến trình đi đến “điểm tận” ấy. Nuớc Mỹ không còn là một tấm gương đạo đức mà các nước khác ngưỡng mộ, quyền lực Mỹ cũng không phải là vô địch, và nhất là những nhà lãnh đạo nước này đã tỏ ra kém khôn ngoan, thiếu sáng suốt, đến độ không ngờ. Tuy không đi quá xa như Samuel Huntington trong tiên đoán sẽ có một sự “đụng độ giữa các nền văn minh”, đọc Fukuyama không khỏi có ấn tượng rằng dù vẫn có đề nghị này, ý kiến kia, Fukuyama ngày nay bi quan hơn mười mấy năm trước. Hầu như ông cho rằng những sai lầm của chính quyền Bush ở Iraq là quá nặng nề, sẽ còn rất lâu (nếu có khi đó) mới hàn gắn đuợc.  Nhìn lại, Francis Fukuyama có cái “khiếu” bắt chộp được “màu thời gian”. Cuốn “Điểm tận của lịch sử” phản ảnh tính “đắc thắng” của Mỹ trước những sự cố ở Đông Âu, còn cuốn này, có vẻ buồn hơn, đánh dấu kinh nghiệm đau đớn của Mỹ sau thời kỳ “tân bảo thủ”. Với sự “ra đi” của Fukuyama, nhóm tân bảo thủ mất đi một nhà tư tưởng có nhiều ý kiến táo bạo.  ————  * Dayton, Ohio (Mỹ)    Trần Hữu Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Fukushima chuẩn bị xả nước thải phóng xạ      Hơn mười năm trước, sóng thần gây ra thảm họa tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi nằm bên bờ biển phía đông Nhật Bản. Sau thảm họa, đại dương bị ô nhiễm bởi một lượng lớn phóng xạ, vì vậy, nước này phải ấn định một vùng biển cấm, gây thiệt hại lớn cho ngành đánh bắt cá trong khu vực.    Từ đó đến nay, nước thải ô nhiễm đã tích tụ thành một lượng khổng lồ tại địa điểm nhà máy. Hơn 1.000 bể chứa được xây dựng tại chỗ, chứa hơn một triệu tấn nước nhiễm phóng xạ.  Tuy nhiên, địa điểm này sắp hết chỗ chứa và các bể chứa có khả năng bị rò rỉ, nhất là khi xảy ra bão hoặc động đất. Do vậy, các nhà chức trách Nhật Bản đã cho phép địa điểm này xả nước phóng xạ lưu trữ thông qua đường ống dẫn ra Thái Bình Dương.  Tác giả của bài viết này là một nhà khoa học môi trường, đã nghiên cứu về tác động đến môi trường của các chất ô nhiễm phóng xạ trong hơn 30 năm và tác giả cho rằng xả thải chính là lựa chọn tốt nhất.  Nước thải nhiễm phóng xạ  Trước quá trình lưu trữ, nước thải tại Fukushima được xử lý để loại bỏ hầu hết các nguyên tố phóng xạ như coban 60, stronti 90 và cesium 137, nhưng vẫn còn lại nguyên tố triti—đồng vị phóng xạ của hydro.  Khi một trong những nguyên tử hydro trong nước được thay thế bằng triti, nó tạo thành nước triti hóa phóng xạ. Về mặt hóa học, nước triti hóa giống với nước thường, khiến cho việc tách triti ra khỏi nước thải trở nên đắt đỏ, tốn nhiều năng lượng và thời gian. Vào năm 2020, một đánh giá về các công nghệ tách triti cho thấy, sẽ không khả thi nếu phải xử lý lượng nước triti khổng lồ như ở Fukushima.  Khi các nguyên tố phóng xạ được loại bỏ khỏi nước thải, triti tương đối lành tính và sự tồn tại dưới dạng nước triti làm giảm tác động môi trường của nguyên tố này. Do giống với nước thường về mặt hóa học, nước triti đi qua các sinh vật cũng giống như nước và do đó không tích tụ mạnh trong cơ thể của các sinh vật.  Nước triti có hệ số tích lũy sinh học khoảng bằng 1, đồng nghĩa là động vật bị phơi nhiễm nước triti sẽ có nồng độ triti trong cơ thể gần tương đương với nước xung quanh.  Trong khi đó, cesium 137 có hệ số tích lũy sinh học trong môi trường biển là khoảng 100. Khi thải ra biển một lượng lớn chất phóng xạ này sau sự kiện Fukushima và từ cơ sở hạt nhân Sellafield của Vương quốc Anh vào những năm 1960 và 1970,  động vật biển có thể hấp thụ phóng xạ cesium cao hơn khoảng 100 lần so với khi chúng ở trong môi trường nước thường do hàm lượng Caesium bị nhân rộng trong chuỗi thức ăn.  Liều phóng xạ thấp  Triti phân rã, tạo ra hạt beta (một electron chuyển động nhanh có thể phá hoại DNA nếu ăn phải). Nhưng hạt beta của triti không chứa nhiều năng lượng. Một người phải ăn rất nhiều mới bị hấp thụ một liều lượng bức xạ đáng kể.  Tiêu chuẩn nước uống của Tổ chức Y tế Thế giới đối với triti là 10.000 Becquerel (Bq) mỗi lít. Con số này cao hơn nhiều lần so với nồng độ dự kiến của nước thải tại Fukushima.  Ngoài vấn đề khó tách triti khỏi nước thải, tác động đến môi trường của nước triti cũng hạn chế, cho nên các cơ sở hạt nhân trên khắp thế giới thải nước triti ra biển trong nhiều thập kỷ. Nhà máy Fukushima Daiichi dự kiến giải phóng khoảng 1 Petabecquerel (PBq – số 1 và15 số 0 sau nó) triti với tốc độ 0,022 PBq mỗi năm.  Nghe có vẻ là một con số ngất ngưởng nhưng trên toàn cầu, 50-70 PBq triti được tự nhiên tạo ra trong bầu khí quyển bởi các tia vũ trụ mỗi năm. Trong khi hàng năm, địa điểm tái chế nhiên liệu hạt nhân Cap de la Hague ở miền bắc nước Pháp thải ra Eo biển Manche khoảng 10 PBq triti.  Tỷ lệ phát thải từ Cap de la Hague cao hơn đáng kể so với kế hoạch tại Fukushima. Đến nay chưa có bằng chứng nào về tác động lớn đến môi trường do phát thải này, ngoài ra, liều bức xạ đối với con người cũng thấp.  Xả thải an toàn  Tuy nhiên, phải thực hiện xả nước nhiễm phóng xạ đúng cách.  Các nghiên cứu của Nhật Bản ước tính rằng nước thải sẽ được pha loãng từ hàng trăm nghìn Bq/1 lít triti trong bể chứa thành 1.500 Bq/1 lít nước thải. Pha loãng nước thải trước khi thải ra ngoài sẽ làm giảm liều bức xạ cho con người.  Liều bức xạ đối với con người được đo theo đơn vị Sievert, hoặc một phần triệu Sievert (microsievert), trong đó liều 1.000 microsievert thể hiện 1/25.000 khả năng tử vong sớm do ung thư. Liều ước tính tối đa từ nước thải của Fukushima sẽ là 3,9 microsievert mỗi năm. Con số này thấp hơn nhiều so với 2.400 microsievert mà con người nhận được từ bức xạ tự nhiên trung bình mỗi năm.  Các nhà chức trách Nhật Bản cũng phải đảm bảo rằng trong nước thải ra ngoài không có lượng lớn “triti hữu cơ” (“organically bound tritium”), nghĩa là khi một nguyên tử triti thay thế hydro thông thường trong một phân tử hữu cơ. Các phân tử hữu cơ chứa triti sau đó ngấm vào trầm tích và làm thức ăn cho các sinh vật biển.  Giữa những năm 1990, các phân tử hữu cơ chứa triti thải ra từ nhà máy dược phẩm Nycomed-Amersham ở Vịnh Cardiff, xứ Wales đã dẫn đến các yếu tố tích lũy sinh học cao tới 10.000.  Khi xử lý loại bỏ các nguyên tố phóng xạ khác nguy hiểm hơn trong nước thải, vẫn có thể còn sót lại một lượng nhỏ các nguyên tố này. Nước thải lưu trữ tại Fukushima sẽ được xử lý lại nhằm đảm bảo mức độ của các nguyên tố này đủ thấp để xả thải an toàn.  Xét trên quy mô rộng lớn của các vấn đề môi trường mà chúng ta phải đối phó hiện nay, xả nước thải từ Fukushima là một việc tương đối nhỏ, nhưng lại có thể khó khăn thêm cho ngành công nghiệp đánh bắt cá của Fukushima. Chính trị và truyền thông trong tương lai sẽ quan tâm vào vấn đề xả thải này.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/nhat-ban-fukushima-chuan-bi-xa-nuoc-thai-phong-xa-chuyen-gia-giai-thich-ly-do-day-co-the-la-lua-chon-tot-nhat/    Author                .        
__label__tiasang G7 dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan 3 trong 1      Số liệu của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen đã xác nhận, trong năm 2011 và quý 1 năm 2012, sản phẩm G7 của Trung Nguyên đã dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan loại 3 trong 1 (cà phê, sữa, đường) ở Việt Nam cả về thị phần và sản lượng.      Nielsen cho biết: trong năm 2011, sản  phẩm  G7 chiếm 38% thị phần, còn trong quý 1 năm 2012, sản phẩm này chiếm 40% thị phần và 35% sản lượng của ngành cà phê hòa tan 3 trong 1.     Trung Nguyên cho biết các sản phẩm của tập đoàn, trong đó có G7, được sản xuất từ những loại hạt tốt nhất từ các vùng trồng cà phê ở Tây Nguyên và cả từ những  vùng  có  cà  phê  ngon  nhất  thế  giới  của  Brazil,  Jamaica,  Indonesia,  Columbia, Ethiopia …   Công ty cũng đang phát triển hệ thống nhà máy với các dây chuyền công nghệ hiện đại nhất từ Đức như  E&E và Anhydro được trang bị hệ thống thu hồi hương hiện đại, thiết bị lọc nano, hệ thống rang Probat, dây chuyền đóng gói tự động (MESTPACK, ROVEMA).     Ngoài ra, hệ thống rang cà phê của công ty sử dụng công nghệ của NEUHAUS NEOTEC  –  Đức, với máy RFB 350 hiện đại và lớn nhất thế giới hiện nay.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Gabriela Gonzalez: Do thám sóng hấp dẫn      10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do tạp chí Nature bình chọn hoạt động trong nhiều lĩnh vực: vật lý thiên văn, trí tuệ nhân tạo (AI), sinh học, hóa học khí quyển… Nhà khoa học đầu tiên trong danh sách này là Gabriela Gonzalez, nhà vật lý giúp “bắt” những dấu hiệu đầu tiên của sóng hấp dẫn.      Gabriela Gonzalez  là phát ngôn viên của Nhóm Hợp tác khoa học LIGO. Ảnh: Quanta Magazine  Một năm trước đây, hai máy giao thoa kế lớn nhất thế giới đặt tại Mỹ đã chộp được những tín hiệu của sóng hấp dẫn – những gợn sóng trên không thời gian đã được Albert Einstein tiên đoán nhưng 100 năm sau chưa có ai kiểm nghiệm trực tiếp điều đó. Công việc của Gabriela Gonzalez là hỗ trợ hơn 1.000 nhà nghiên cứu xác nhận độ chính xác của việc phát hiện về sóng hấp dẫn trước khi chính thức công bố kết quả.  Những tin tức có giá trị như vậy thường rất ít khi được giữ kín trong một thời gian dài nhưng do tầm quan trọng của phát hiện mà nhóm nghiên cứu đã phải dành tới năm tháng để phân tích dữ liệu thu được từ các máy dò đặt tại hai đài quan sát sóng hấp dẫn (LIGO) ở Washington và Louisiana. Với tư cách là phát ngôn viên của Nhóm Hợp tác khoa học LIGO, Gonzalez là một trong những gương mặt chủ chốt điều hành các phân tích do các nhóm nghiên cứu làm việc rải rác tại nhiều địa điểm trên thế giới, bao gồm cả các nhà nghiên cứu tại máy giao thoa kế Virgo gần Pisa, Italy, nơi chia sẻ dữ liệu với LIGO.  Gonzalez được giao trọng trách này bởi người ta tin tưởng vào tài năng đa diện của cô. Thông thường, phần lớn các nhà vật lý đều biết sớm hay muộn thì mình sẽ trở thành một nhà vật lý lý thuyết hay vật lý thực nghiệm nhưng Gonzalez là một trường hợp khác: cô bắt đầu nghiên cứu với tư cách là một nhà vật lý lý thuyết và sau đó lại bị cuốn theo thực nghiệm. Rainer Weiss, nhà vật lý Viện MIT ở Cambridge và là một trong những người sáng lập LIGO nói, “đó là nguyên nhân đưa cô ấy trở thành nhà nghiên cứu [vật lý] hàng đầu”.  Gonzalez mới chỉ làm được “chút ít” tại LIGO như cách cô nói. Có thời điểm, cô đảm trách nhiệm vụ quan trọng là kiểm tra hiệu suất của các máy giao thoa kế nhằm để đảm bảo máy vẫn giữ được độ nhạy chưa từng thấy – đủ khả năng dò được những thay đổi khoảng cách trong các cánh tay giao thoa kế dài bốn km, với độ lệch tỷ đối cỡ 1 trên 10^21, tương đương với chiều rộng của một DNA so với quỹ đạo của Sao Thổ. Không chỉ dẫn đường các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu, cô còn thúc đẩy các nhà nghiên cứu về sóng hấp dẫn và các đồng nghiệp vật lý thiên văn ký kết các hợp tác nghiên cứu. Giờ đây họ lại cùng nhau truy tìm những hiệu ứng kết hợp cả sóng hấp dẫn và sóng điện từ, một phần của thiên văn học đa tín hiệu.  Vào thời điểm bận rộn trước khi loan báo về phát hiện của LIGO, Gonzalez và đồng nghiệp phải cẩn trọng để xác nhận đó là những bằng chứng chính xác về sóng hấp dẫn. Sự thận trọng này không thừa bởi kinh nghiệm “xương máu” của nhóm hợp tác quốc tế BICEP2 khi công bố kính thiên văn tại South Pole phát hiện ra những dấu hiệu trực tiếp của các dao động vũ trụ vào năm 2014 nhưng tới đầu năm 2015 phải ngậm ngùi rút lại tuyên bố.  Áp lực tiếp tục đè nặng lên LIGO bởi chỉ sau một tuần phát hiện, các phóng viên đã bắt đầu gọi đến do rò rỉ tin đồn. Gonzalez cho biết, suốt cả quãng thời gian dài thực hiện phân tích, cô chưa bao giờ đưa ra một quyết định quan trọng nào mà không tham khảo ý kiến của đồng nghiệp. Tuy vậy tất cả đều ca ngợi lãnh đạo của mình. Weiss cho biết “những gì Gaby làm là kiểm soát tất cả để đưa chúng tôi cùng bước qua giai đoạn khó khăn này”.  Gonzalez làm việc chính thức tại ĐH Louisiana ở Baton Rouge, gần với giao thoa kế LIGO ở Livingston. Năm 2008, cô trở thành người phụ nữ đầu tiên được phong giáo sư tại khoa của mình. Cô cho biết, cô chưa bao giờ bị phân biệt đối xử nhưng “có lẽ tôi phải chứng minh bản thân mình nhiều hơn những người khác”.   Gonzalez từng nói sau khi kết thúc vai trò là người phát ngôn LIGO vào tháng 3/2017 sẽ không đảm nhiệm vai trò này nữa bởi cô quyết định dành toàn bộ thời gian cho nghiên cứu. Cô đã nhìn thấy những tín hiệu tươi sáng ở thiên văn sóng hấp dẫn, lĩnh vực mà mình đã góp phần tạo dựng lên, “đó là một cuộc truy tìm thú vị, và bây giờ thì nó thậm chí còn hấp dẫn hơn”.  Thanh Nhàn dịch  TS. Phùng Văn Đồng hiệu đính  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157          Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 1/3 dân số thế giới thừa cân và béo phì      Theo một nghiên cứu bao quát và có căn cứ nhất về tình trạng thừa cân và béo phì toàn cầu trên tạp chí New England journal of medicine mới đây, gần 1/3 dân số thế giới đang gặp các vấn đề về sức khỏe do thừa cân và béo phì. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong hai nước có tỷ lệ béo phì thấp nhất, mới chỉ ở mức 1% dân số.      Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm chuyên gia gồm 2.300 người do Viện Đo lường và Đánh giá sức khỏe (IHME) tại ĐH Washington, Seattle, đứng đầu, và sử dụng số liệu của 195 nước thu thập trong khoảng từ năm 1980 đến năm 2015.  TS. Ashkan Afshin (IHME), tác giả chính của nghiên cứu, cho biết, tình trạng thừa cân và béo phì đang ảnh hưởng đến sức khỏe của gần 1/3 dân số thế giới, tức hơn 2 tỷ người. Điều này dẫn đến “một cuộc khủng hoảng y tế công cộng ngày quy mô và đáng lo ngại” trên toàn cầu, như nghiên cứu mô tả.  Năm 2015, gần bốn triệu người tử vong vì những căn bệnh liên quan đến cân nặng, phổ biến nhất do bệnh tim. Nhưng trong số đó, chỉ có 60% người được tính là béo phì, tức những người có chỉ số BMI (body mass index) trên 30; 40% còn lại, tương đương 1,6 triệu người, bị thừa cân (tức những người có BMI từ 25 đến 29) nhưng chưa đến mức béo phì.  Được tính dựa trên tỷ lệ giữa cân nặng và chiều cao, BMI không phải lúc nào cũng cho đánh giá chính xác đối với từng cá nhân (do không tính đến tương quan giữa cơ và mỡ), nhưng nó vẫn cho đánh giá chính xác về nguy cơ của cộng đồng dân cư.  Các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cho biết có quá nhiều người vẫn tin mình sẽ ổn trừ khi họ đã rõ ràng là béo phì. Azeem Majeed (trường Đại học Hoàng gia London), một trong số các tác giả của nghiên cứu, cho biết, “nguy cơ tử vong và mắc bệnh tăng lên theo cân nặng. Người thừa cân cũng có nguy cơ tử vong và mắc bệnh cao [vượt qua cả người béo phì]. Người ta thường cho rằng rất béo mới thực sự nguy hiểm. Nhưng một khi chạm tới chỉ số BMI 25, nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, bệnh tim, ung thư của bạn tất cả đều bắt đầu tăng lên.”  Nghiên cứu cũng cho thấy tình trạng thừa cân hay béo phì liên quan đến các bệnh ung thư thực quản, đại tràng, trực tràng, gan, túi mật, ống mật, tuyến tụy, vú, thận, tử cung, tuyến giáp, bệnh bạch cầu, bên cạnh bệnh tim và đột quỵ. Nó cũng lưu ý rằng, cân nặng là yếu tố quan trọng dẫn đến khả năng khuyết tật vận động bởi các rối loạn cơ xương.  Số người béo phì đã tăng lên gấp đôi kể từ năm 1980 ở hơn 70 nước và tăng lên đều đặn ở nhiều nước khác. Mặc dù tỷ lệ béo phì ở trẻ em thấp hơn nhiều so với người trưởng thành nhưng ở nhiều nước, tỷ lệ trẻ béo phì lại có xu hướng tăng nhanh hơn so với người trưởng thành.  Trong số 20 nước đông dân nhất trong cuộc khảo sát này, Mỹ là nước có tỷ lệ trẻ em và thanh niên béo phì cao nhất, gần 13%. Ai Cập là nước có tỷ lệ người trưởng thành béo phì cao nhất, 35%. Trung Quốc và Ấn Độ có số trẻ em béo phì đông nhất, lần lượt là 15,3 triệu người và 14,4 triệu người. Trong khi đó, Việt Nam và Bangladesh có tỷ lệ béo phì thấp nhất – chỉ tương đương 1% dân số.  Hiện IHME đang trao đổi dữ liệu với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) để tìm hiểu nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thừa cân và béo phì.     Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2017/jun/12/being-overweight-not-just-obese-kills-millions-a-year-say-experts    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 2.000 dự án tham gia cuộc thi Startup Wheel      Gần 2.000 dự án đến từ 24 quốc gia trên giới tham gia cuộc thi Startup Wheel 2021 tập trung nhiều vào các lĩnh vực y tế, giáo dục và thương mại điện tử – những lĩnh vực có khả năng trụ vững và phát triển trong bão Covid.    Cuộc thi do Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (BSSC) và Hội Doanh nhân trẻ TPHCM (YBA) tổ chức, dưới sự bảo trợ bởi Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam tại TP.HCM, Sở KH&CN TP.HCM và Văn phòng Đề án 844.  Diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế – xã hội chịu nhiều tác động tiêu cực do đại dịch Covid-19, lượng hồ sơ dự thi đến từ các quốc gia như Ấn Độ và châu Âu giảm mạnh.  Theo Ban Giám khảo, tỷ lệ các hồ sơ ở mảng y tế, giáo dục và thương mại điện tử tăng mạnh. Nguyên do đây là những lĩnh vực có khả năng “trụ vững” và phát triển trong “bão Covid”, bà Nguyễn Thị Diệu Hằng, Giám đốc BSSC, nhận định.    Mắt kính thông minh hỗ trợ người khiếm thị Ảnh: NVCC  Sau 4 tháng sơ tuyển, 100 dự án xuất sắc nhất thuộc bảng Việt Nam đã được Hội đồng Ban giám khảo chọn lựa. Trong số đó, có thể kể đến một số dự án như: Mắt kính thông minh hỗ trợ người khiếm thị di chuyển và nhận diện người thân, vật thể, tiền mặt, đọc sách…; Ứng dụng thu mua phế liệu VECA giúp người bán đặt lịch hẹn và chờ các đại lý thu mua, đồng thời với kết nối các đại lý đến các bãi phế liệu; Ứng dụng thiết bị châm cứu thông minh chăm sóc sức khoẻ từ xa tính toán và định vị chính xác các huyệt đạo; Ứng dụng Cancer ID phỏng và dự đoán ung thư; Gỗ công nghiệp sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp; Gel trị lành vết thương từ lá sống đời; Hệ sinh thái giáo dục trực tuyến Shub…  Cuộc thi có tổng giá trị giải thưởng gần 10 tỷ đồng, cùng nhiều hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp khác cho các dự án.  KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 30 nghìn tổ chức có tiềm năng trở thành doanh nghiệp xã hội      Một nghiên cứu mới đây cho thấy Việt Nam hiện có 25.600 tổ chức có tiềm năng trở thành doanh nghiệp xã hội, tức là những doanh nghiệp đặt mục tiêu xã hội  làm trọng tâm, và lợi nhuận được tái phân phối cho các mục tiêu xã hội.    Ngày 16/5 tại Hà Nội, Hội đồng Anh cùng với Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Trung tâm Hỗ trơ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) đã tổ chức hội thảo công bố báo cáo nghiên cứu “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, Bối cảnh và chính sách”.   Kết quả nghiên cứu chỉ ra những tiêu chuẩn được thừa nhận rộng rãi trên thế giới để xác định một doanh nghiệp xã hội (DNXH), bao gồm: có hoạt động kinh doanh, đặt mục tiêu xã hội làm trọng tâm, lợi nhuận được tái phân phối cho các mục tiêu xã hội, sở hữu mang tính xã hội, phục vụ nhu cầu của nhóm đáy và một số tiêu chuẩn khác.  Tiếp cận khái niệm DNXH dựa trên các tiêu chuẩn đó, báo cáo thống kê có tới 25.600 tổ chức có tiềm năng trở thành DNXH, trong đó có 1.000 tổ chức phi chính phủ, 6.900 hội và hiệp hội, 9.500 hợp tác xã, 8.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ,… Thống kê cũng ước tính có tới 140.000 nhóm tổ chức tình nguyện cộng đồng không có tư cách pháp nhân (có thể bao gồm tổ hợp tác), nơi chứa đựng những yếu tố có thể phát triển thành DNXH.   Phân tích dữ liệu của 167 DNXH ở Việt Nam, báo cáo chỉ ra rằng 68% số DNXH theo cách nào đó hướng tới đóng góp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập thông qua giáo dục, đào tạo nghề, tăng cường kỹ năng, thiết bị và kiến thức. Ngoài ra, có 48% DNXH có mục tiêu liên quan đến môi trường như cung cấp sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, hoạt động theo cách thức thân thiện với môi trường và tăng cường nhận thức trong cộng đồng về vấn đề môi trường.  Tuy là mô hình tổ chức mang tính xã hội cao, các DNXH ở Việt Nam lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc hình thành và hoạt động. Báo cáo cho thấy nhận thức của xã hội về DNXH còn rất hạn chế, chủ yếu do tính mới mẻ của mô hình này ở Việt Nam. Việc chưa hình thành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của các DNXH cũng khiến cho các cá nhân, nhóm cá nhân gặp nhiều khó khăn trong việc thành lập và vận hành DNXH. Bên cạnh đó, vốn là bài toán nan giải ở hầu hết các DNXH và các tổ chức này cũng tỏ ra thiếu hụt năng lực quản lý, trong điều kiện xã hội còn thiếu các dịch vụ hỗ trợ cho các DN này.   Báo cáo kêu gọi các cơ quan hữu quan sớm công nhận các DNXH này bằng các văn bản pháp lý xác định rõ khái niệm DNXH ở Việt Nam, thành lập các cơ quan quản lý chuyên trách đối với loại hình DN này, cũng như đề xuất có cơ chế pháp lý cho việc chuyển đổi một số đơn vị công lập thành DNXH.   Một số biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích DNXH được báo cáo đề xuất, trong đó có việc đẩy mạnh truyền thông, hỗ trợ tài chính thông qua các quỹ chuyên biệt; miễn, giảm thuế và hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực của các DNXH.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 39 triệu USD cho dự án sản xuất gạch không nung      Với tổng kinh phí 38,88 triệu USD, dự án  “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” hướng đến  mục tiêu gia tăng số lượng nhà cung cấp dịch  vụ, cung ứng gạch không nung có năng lực chuyên môn và  tay nghề cao ở các địa phương.  &#160;    Bộ KH&CN là cơ quản chủ trì, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, và Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) điều hành toàn bộ dự án.   Trong phiên họp đầu tiên của ban chỉ đạo Dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” hôm 21/5 tại Hà Nội, ông Nguyễn Đình Hậu, Phó vụ trưởng Vụ KH&CN các ngành kinh tế – kỹ thuật (Bộ KH&CN), người được giao chủ trì dự án, đã báo cáo sơ bộ về chương trình dự án.   Theo báo cáo, dự án diễn ra trong vòng năm năm, từ 2014 đến 2019 do UNDP tài trợ không hoàn lại từ nguồn viện trợ của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF). Tổng tổng hạn mức vốn của dự án là 38,88 triệu USD, trong đó, vốn ODA do GEF viện trợ không hoàn lại thông qua UNDP là 2,8 triệu USD; vốn đối ứng bằng tiền mặt của Bộ KH&CN là 140.000 USD; vốn đồng tài trợ bằng hiện vật từ cơ quan phối hợp thực hiện của Việt Nam tương đương 10,19 triệu USD; vốn đồng tài trợ bằng hiện vật của UNDP 550.000 USD; vốn đồng tài trợ từ các định chế tài chính là 25, 2 triệu USD.   Dự án bao gồm bốn hợp phần: hỗ trợ chính sách đối với việc phát triển công nghệ sản xuất gạch không nung; xây dựng năng lực kỹ thuật để ứng dụng, vận hành sản xuất gạch không nung và sử dụng các sản phẩm gạch không nung; hỗ trợ tài chính bền vững cho việc ứng dụng công nghệ sản xuất gạch không nung; trình diễn công nghệ sản xuất gạch không nung, đầu tư và nhân rộng mô hình.   Với hợp phần một, dự án hướng đến một khuôn khổ pháp lý hoàn thiện được phê duyệt và thực thi để khuyến khích sản xuất và sử dụng gạch không nung rộng rãi tại Việt Nam. Bên cạnh đó, dự án cũng nhằm tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan quản lý trong việc điều tiết việc phát triển sản xuấ, sử dụng gạch không nung.    Với hợp phần hai, dự án đặt mục tiêu đem lại nhiều nhà cung cấp dịch vụ và cung ứng gạch không nung ở các tỉnh thành trên toàn quốc với năng lực chuyên môn và tay nghề kỹ thuật ngày càng vững vàng hơn để lên kế hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành các nhà máy sản xuất gạch không nung sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thông qua đó, đội ngũ kỹ sư, kiến trúc sư, chủ đầu tư hoạt động trong lĩnh vực này có kiến thức tốt hơn về tính ưu việt và cách thức sử dụng gạch không nung, từ đó góp phần gia tăng nhu cầu gạch không nung trên thị trường toàn quốc.   Với hợp phần ba, dự án sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiềm năng và doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận nhiều và ổn định hơn các nguồn tài chính để đầu tư vào nhà máy sản xuất gạch không nung và chế tạo thiết bị sản xuất gạch không nung.  Với hợp phần bốn, việc ứng dụng và nhân rộng công nghệ sản xuất gạch không nung sẽ góp phần tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý vào tính khả thi về mặt kỹ thuật và tài chính, lợi ích kinh tế, môi trường của việc sản xuất gạch không nung.   Thông qua việc thực hiện dự án, các nhà quản lý mong muốn tăng cường chính sách, hướng dẫn tiêu chuẩn, quy chuẩn về gạch không nung, gia tăng số lượng các nhà cung cấp dịch vụ, cung ứng gạch không nung ở các địa phương có năng lực chuyên môn và tay nghề cao, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận nguồn vốn, phát triển các nhà máy sản xuất gạch không nung Việt Nam, qua đó tăng thị phần của gạch không nung trong thị trường xây dựng.  Trong năm 2015, ban chỉ đạo dự án dự kiến sẽ cập nhật thông tin để bổ sung vào bản báo cáo đã thực hiện năm 2014 về thực trạng sản xuất gạch không nung ở Việt Nam hiện nay. Đây là cơ sở để tiếp tục rà soát, kiến nghị các chính sách khuyến khích gạch không nung ở Việt Nam về việc giảm hoặc miễn thuế doanh thu đối với xi măng và nguyên liệu đầu vào khác để sản xuất gạch không nung, các chính sách về chuyển giao công nghệ, qiy định về thử nghiệm bắt buộc các tiêu chuẩn chất lượng gạch không nung; báo cáo phân tích về thị trường hoạt động của các lò gạch ở Việt Nam, bao gồm lò truyền thống, lò nung kiểu đứng, và lò tunnel hoàn chỉnh; báo cáo rà soát tình hình hiện tại các tiêu chuẩn sản phẩm và quy chuẩn xây dựng, quy định về gạch không nung..  Hiện tại gạch không nung chưa thể cạnh tranh với gạch đất nung do những vấn đề tồn tại về chính sách hỗ trợ, ưu đãi, giá cả, nhận thức của các chủ công trình dù gạch không nung có nhiều ưu điểm về bảo vệ môi trường, giảm lượng phát thải khí nhà kính và một số ưu điểm về chuyên môn khác như cường độ chịu lực, khả năng cách âm, cách nhiệt, tiết kiệm thời gian thi công… Một vài doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn đầu tư vào sản xuất gạch không nung nhưng không thành công.   Vào ngày 29/5 tới, hội thảo giới thiệu dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” sẽ được tổ chức với các nội dung chính: giới thiệu nội dung, mục tiêu của dự án, giới thiệu các công nghệ sản xuất gạch không nung tiên tiến của thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam…                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 6,5 tỷ USD vốn ODA cam kết cho VN      Số vốn cam kết tài trợ cho Việt Nam tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam CG năm 2012 giảm gần 1 tỷ USD so với năm ngoái và là năm giảm thứ ba liên tiếp.    Theo thông tin từ CG năm 2012 tổ chức hôm 10/12, các nhà tài trợ cam kết hỗ trợ cho Việt Nam là 6,485 tỷ USD trong năm 2013.  “Đây là con số không nhỏ trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới. Việt Nam cam kết sẽ sử dụng hiệu quả vốn tài trợ này”, Bộ trưởng Vinh nói.  Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam. Theo đại sứ Nhật Bản, ông Tanizaki Yasuaki cho biết, trong năm tài chính 2013 tới, Nhật Bản có thể cấp khoản viện trợ trị giá 2,6 tỷ USD cho Việt Nam. Hàn Quốc cung cam kết tài trợ 1,2 tỷ USD.  Liên minh Châu Âu (EU) cũng công bố năm tài chính 2013, các nước thuộc tổ chức này sẽ cung cấp khoảng 965 triệu USD cho Việt Nam, Pháp là nhà tài trợ lớn nhất trong khối này với gần 340 triệu USD.  Năm ngoái, các nhà tài trợ cam kết hỗ trợ cho Việt Nam gần 7,4 tỷ USD, giảm so với 7,9 tỷ USD năm 2010 và 8 tỷ USD năm 2009. Như vậy, tổng vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam đã giảm 3 năm liên tiếp.  Theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, CG năm sau sẽ được đổi tên thành “Diễn đàn quan hệ đối tác phát triển Việt Nam”. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, với sự thay đổi này, năm sau hội nghị với các nhà tư vấn sẽ chỉ họp 1 lần, thay cho việc họp 2 lần một năm trong thời gian qua.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gắn kinh doanh với trách nhiệm xã hội      Li&#234;n tục trong năm 2008, Viettel đ&#227; đưa ra c&#225;c chương tr&#236;nh mang t&#237;nh x&#227; hội như miễn ph&#237; đưa Internet cho trường học, hỗ trợ mỗi sinh vi&#234;n mỗi th&#225;ng 25.000 đồng sử dụng điện thoại di động trong suốt thời gian đi học, hỗ trợ mỗi c&#225;n bộ chiến sĩ nơi bi&#234;n giới, hải đảo 50.000 đồng/th&#225;ng sử dụng điện thoại di động, hỗ trợ mỗi hộ n&#244;ng d&#226;n 35.000đồng/th&#225;ng sử dụng điện thoại cố định. Những chương tr&#236;nh n&#224;y xuất ph&#225;t từ triết l&#253; kinh doanh của Viettel với những n&#233;t tương đồng với tư tưởng của Bill Gates.  &#212;ng Nguyễn Mạnh H&#249;ng, Ph&#243; tổng gi&#225;m đốc Viettel đ&#227; trao đổi với Tia S&#225;ng về vấn đề n&#224;y.    Trong thời gian gần đây, Viettel lại liên tục thực hiện các chương trình mang tính xã hội như đưa Internet miễn phí đến trường học, hỗ trợ sinh viên… và ông có nói những chương trình này có ảnh hưởng từ những tư tưởng của Tổng giám đốc Microsoft Bill Gates. Vậy tư tưởng đó là gì?  Những chương trình của chúng tôi trong thời gian gần đây gốc là xuất phát từ triết lý kinh doanh của Viettel gắn kinh doanh với trách nhiệm xã hội, với sự phát triển bền vững của xã hội, và cũng có cú huých từ bài phát biểu của Bill Gates tại Diễn đàn kinh tế thế giới được tổ chức tại Davos, Thụy Sỹ. Trong bài phát biểu này đã có 4 ý được truyền thông. Thứ nhất, lâu nay người ta vẫn nghĩ nền văn minh của nhân loại chỉ phụ thuộc vào tầng lớp trí thức và giàu có. Hiện thế giới có 2 tỷ người nghèo, nhưng nền văn minh của nhân loại lại phụ thuộc nhiều vào số lượng người này. Thế giới của chúng ta đang phụ thuộc vào lớp người đứng ở đáy và đó là thước đo văn minh của nhân loại. Vì vậy, nếu chúng ta không nghĩ ra cách để 2 tỷ người này văn minh và giàu có lên, thì loài người khó có thể văn minh lên được.   Thứ hai, vậy cách nào để làm cho 2 tỷ người này giàu lên được? Bill Gates cho rằng, người nghèo sẽ không nghèo mãi với điều kiện khi họ nghèo chúng ta giúp đỡ họ, đưa tri thức cho họ, cho họ có cơ hội tiếp cận với thông tin thì họ sẽ có cơ hội làm giàu. Vì vậy, trong lúc họ nghèo thì chúng ta đầu tư cho họ đến khi họ giàu sẽ trở thành khách hàng của mình. Câu chuyện này giống như chúng ta đầu tư cho một nhà máy sản xuất. Việc xây nhà máy mất 3 năm, 3 năm đầu mới ra sẽ lỗ và đến năm thứ 7 mới thu lãi. Ai cũng hiểu đây là quá trình đầu tư cho nhà máy sản xuất. Thế nhưng, việc đầu tư vài trăm tỷ đồng cho khách hàng mỗi năm để khi họ giàu có họ sẽ trở thành khách hàng của mình thì ít người nghĩ đến. Tôi cho rằng, đây cũng là quá trình đầu tư giống như xây dựng nhà máy, thậm chí quá trình đầu tư này còn mang lại nhiều lợi nhuận và đặc biệt, nhiều ý nghĩa nhân văn hơn.    Thứ 3, một doanh nghiệp thường bỏ ra rất nhiều để xây dựng uy tín và thương hiệu qua cách thức quảng cáo hình ảnh, làm từ thiện… Vì uy tín của một doanh nghiệp cũng sẽ quyết định có bán được nhiều hàng hay không. Trong xã hội hiện đại việc hơn hẳn người khác về chất lượng rất khó, nên sự khác biệt về sản phẩm không nhiều, nhưng lại có sự khác biệt lớn về thương hiệu, thí dụ như Coca Cola và Pepsi. Vì vậy, khi chúng ta bỏ tiền ra đầu tư cho người nghèo chưa có lãi nhưng sẽ tạo ra uy tín xã hội và thương hiệu. Đây là cách làm thương hiệu với chi phí tương tự nhưng có ý nghĩa nhân văn và thiết thực hơn cho xã hội.   Thứ 4, con người có yếu tố tư lợi, nhưng cũng có mong muốn được giúp đỡ người khác. Và như vậy, sẽ tạo ra vòng tròn phản ứng dây truyền cho mọi người giúp đỡ nhau và làm xã hội tốt đẹp hơn. Cách tốt nhất để doanh nghiệp có thể giúp đỡ người nghèo là tìm cách kinh doanh cho đối tượng này nhưng có lãi, vì chỉ có lãi thì mới giúp đỡ lâu dài được. Con đường để doanh nghiệp thực hiện điều đó là đầu tư cho đối tượng này, trong tương lai họ sẽ là khách hàng và quay trở lại ủng hộ doanh nghiệp đã giúp đỡ mình.   Trong 4 tư tưởng của Bill Gates được truyền tải ở Hội nghị Davos thì tư tưởng nào ông tâm đắc nhất?  Tôi ấn tượng nhất 2 quan điểm của Bill Gates là văn minh của nhân loại phụ thuộc vào người đứng dưới và người nghèo không bao giờ nghèo mãi nếu có sự giúp đỡ. Đây là 2 tư tưởng đầu tiên xuất phát quan trọng nhất. Khái niệm thứ 3 cũng rất quan trọng là việc đầu tư cho người nghèo không phải là mang đi cho mà là đầu tư cho khách hàng trong tương lai.  Ngoài chương trình mà Viettel đang làm như đưa Internet đến trường học và sắp tới là đưa điện thoại cố định HomePhone đến với người dân vùng nông thôn, thì Viettel có thực hiện tiếp các chương trình khác hay không?     Thực ra tư tưởng của Bill Gates chỉ là cú huých cho chúng tôi. Nền tảng của các hành động này là xuất phát từ triết lý kinh doanh của Viettel. Chúng tôi quan niệm rằng, lợi nhuận mà Viettel có được là từ xã hội hơn 80 triệu dân Việt Nam tạo ra, là do kinh tế phát triển, chính trị xã hội ổn định. Viettel đã được hưởng thụ trong đó nên phải mang một phần lợi nhuận quay lại tái đầu tư cho xã hội để cho xã hội tốt đẹp hơn. Khi xã hội tốt đẹp hơn thì thị trường cũng sẽ phát triển hơn, và chúng tôi lại kinh doanh tốt hơn. Chắc chắn sẽ có nhiều chương trình tương tự như như miễn phí cho Internet trường học, điện thoại cố định cho nông dân, hỗ trợ mổ tim, mổ hàm ếch cho trẻ em nghèo… Trên nền tảng triết lý kinh doanh, hiện nay các chi nhánh của chúng tôi tại các tỉnh cũng đã thực hiện nhiều chương trình xã hội. Chẳng hạn như có chi nhánh Viettel ở tỉnh đã thực hiện lấy đóng góp của nhân viên để làm nồi cháo miễn phí cho người nghèo. Đấy cũng là hình thức giúp đỡ những người khó khăn và trả lại một phần lợi nhuận cho xã hội. Có chi nhánh thì nhận người tàn tật về làm việc cho mình. Những người khuyết tật này có thể làm các công việc phù hợp với họ như Callcenter để trả lời khách hàng. Đây chỉ là những ví dụ sinh động xuất phát từ nền tảng triết lý kinh doanh của Viettel.    Cảm ơn ông!      Author                Quản trị        
0.34782608695652173
__label__tiasang   Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang GART 6520: CLB robot có một không hai ở Việt Nam      Ở khu vực Đông Nam Á hiện nay mới có 2 CLB robot đủ khả năng tham gia FIRST Robotics Competition, cuộc thi robot quốc tế quy mô và thách thức về mặt kỹ thuật hàng đầu thế giới. Một trong hai CLB đó là Green Ams Robotics Team với biển số thi đấu 6520 của trường THPT Chuyên Hà Nội-Amsterdam, hay gọi tắt là GART 6520.      Chuyên gia STEM của ĐH Quốc gia Singapore giao lưu với các thành viên GART 6520 tại hội thảo quốc tế về giáo dục STEM do ĐH Quốc gia Singapore và ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức, Hà Nội, tháng 11/2019. Ảnh: ĐHS    Các nước ASEAN khác như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines đều chưa có CLB tham dự cuộc thi này. Ngay Singapore tuy tham gia từ năm 2014 nhưng đến năm 2019 mới bắt đầu lập thêm một đội nữa để thi đấu vòng loại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương vào tháng 3 tới ở Úc.   GART 6520 được khởi động từ năm 2016 bởi các giáo viên và học sinh của nhà trường, sau khi tham dự trại hè robot ở Israel. Ban đầu GART 6520 chỉ có khoảng 20 học sinh và trong lần đầu tham gia giải FRC khu vực năm 2017, CLB đã đoạt giải Rookie Inspiration cho những hoạt động truyền cảm hứng.   Trong mùa thi đấu FRC 2019, GART 6520 vào tới vòng tứ kết khu vực và các bạn trẻ học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm từ những trận thua do robot bị robot đối phương húc hỏng. Húc robot của đối phương để ngăn chặn là một nội dung thú vị, tăng độ khó và tạo sự khác biệt đậm chất thể thao của các giải đấu FRC.   Hiện nay số thành viên GART 6520 đã tăng lên gần 100 và sẽ thi đấu 2 giải khu vực ở Úc vào tháng 3/2020 – hai giải vòng loại này được tổ chức liên tiếp để tăng cơ hội kiếm điểm cho các đội thi.  Để GART 6520  phát triển, ban giám hiệu nhà trường đã cấp cho CLB một phòng lab riêng rộng hơn 50 m2 và cử 5 giáo viên nhiều kinh nghiệm, trong đó có một thầy giáo là phó hiệu trưởng, làm cố vấn. Nhà trường cũng tích cực kêu gọi các nhà tài trợ và phụ huynh giúp đỡ tài chính, trang thiết bị, dụng cụ và cả chuyên môn cho CLB theo hình thức tự nguyện.   Kể từ khi ra đời tới nay, được sự quan tâm của Đại sứ quán Israel, cứ đến hè là GART 6520 lại được cử gần 20 học sinh cùng học sinh một số trường THPT Việt Nam khác sang học trại hè robot ở “quốc gia khởi nghiệp” này trong thời gian gần hai tuần. Chính phủ Israel tài trợ tiền ăn ở và học trong thời gian trại hè robot, cha mẹ học sinh chỉ phải trả tiền vé máy bay.   Chia sẻ tri thức giáo dục STEM với cộng đồng  Ngoài việc chuẩn bị cho giải đấu FRC 2020, GART 6520 còn tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng để quảng bá giáo dục STEM tại các sự kiện như Ngày hội Toán học mở, Ngày hội STEM quốc gia cũng như địa phương với những bài trình diễn robot.   Bên cạnh đó, từ mấy năm nay, các thành viên của GART 6520 còn thiết kế và điều hành các hoạt động khuyến STEM do Trung tâm Hoa Kỳ thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam tổ chức cho các học sinh 12-14 tuổi như Trại Hè Robot (trong một tuần) và Techfair.    Chia sẻ tri thức giáo dục STEM với cộng đồng chính là một nhiệm vụ quan trọng của các CLB robot tham gia FRC trên toàn cầu.  Mới đây nhất, từ cuối tháng 11/2019, GART 6520 bắt đầu “tour tình nguyện” hướng dẫn về robot, máy in 3D, và tái chế vật liệu… cho học sinh một số trường tiểu học và THCS trên địa bàn thành phố, bao gồm Trường THCS Minh Khai và  THCS Thụy Phương ở quận Bắc Từ Liêm và Trường Tiểu học Trần Quốc Toản ở quận Hoàn Kiếm.  Cũng trong chuỗi hoạt động này, các thành viên của GART 6520 đã bước đầu thử nghiệm mô hình dạy học STEM online: từ phòng lab robot GART 6520, hai học sinh khối 10 trường dùng Internet kết nối để giảng về STEM cho các học sinh lớp 8 đang ngồi ở Makerspace (phòng lab STEM) của thư viện THCS Minh Khai, cách trường chuyên Amsterdam gần 10km. Thử nghiệm trên đã thành công về mặt kỹ thuật, mở ra khả năng GART 6520 có thể chia sẻ tri thức về giáo dục STEM với nhiều trường học hơn, kể cả các trường ở xa.    Các giảng viên ĐH Bách Khoa Hà Nội và ĐH Điện lực trao đổi kinh nghiệm thiết kế và lập trình điều khiển robot với các thành viên của GART 6520 tại Ngày hội Toán học mở, Hà Nội, tháng 11/2019. Ảnh: ĐHS  Học qua các trải nghiệm thực làm, qua những thất bại khi thi đấu, qua những sai lầm khi thiết kế chế tạo robot, và qua các hoạt động STEM tại cộng đồng – GART 6520 dần trưởng thành theo những cách đó.  Tháng 10/2019, trong lần đến ĐH Bách Khoa Hà Nội thỉnh giảng, chuyên gia robot hàng đầu thế giới – GS John Hollerbach (ĐH Utah, Mỹ) – sau khi được nghe kể Việt Nam có CLB robot tham gia cuộc thi FRC thì đã hỏi ngay biển số đăng ký của CLB bởi ông cũng tham gia gây dựng hệ thống cuộc thi FRC cho bang Utah.   Sau khi xem các ảnh thi đấu của GART 6520 ở giải FRC khu vực Châu Á-Thái Bình Dương 2019, GS Hollerbach hết sức đánh giá cao việc một trường THPT của Việt Nam đã cố gắng gây dựng được CLB robot riêng để tham gia cuộc thi robot tầm cao như FRC. Ông còn thiện chí mời GART 6520 tham dự vòng loại của cuộc thi FRC ở bang Utah nếu các bạn trẻ thấy tham gia thi đấu ở đó vui thích hơn. □  Đôi điều về độ khó của giải đấu robot FRC   FRC được thành lập từ năm 1989 ở Mỹ bởi các chuyên gia robot. Tham gia thi đấu tại giải này, các học sinh trung học có thể học cách thiết kế và chế tạo robot có kích thước khá lớn và giống với robot công nghiệp. Trên thế giới có nhiều cuộc thi robot dành cho học sinh nhưng FRC được coi là một trong các cuộc thi khó nhất vì những lý do sau:  1- Kích thước và khối lượng của robot tự chế tạo khá lớn: chiều cao tối đa 2m và nặng gần 60kg.  2- Đề thi hằng năm theo các chủ đề khác nhau và được công bố trước khi thi đấu 60 ngày, chỉ vừa đủ để các đội thi có thể thiết kế, chế tạo và thử nghiệm nhanh 1 con robot.  3- Hình thức thi đấu vừa cạnh tranh vừa hợp tác rất cao ở cả cuộc thi khu vực và vòng chung kết giải thế giới: mỗi trận đấu thường có 6 robot bất kỳ tham gia và được chia làm hai đội; các robot phải “đưa bóng vào các rổ” để ghi điểm trong điều kiện được phép húc nhau, cản phá đúng luật trên sàn đấu kích thước lớn tới 8m X 16m trong khoảng 3 phút; sau đó các robot phải quay về leo dốc thẳng đứng cao khoảng 30-50cm để tiếp tục ghi điểm. Những quy định về kích thước, khối lượng của robot và nội dung thi trên sân đấu lớn như vậy làm cho cuộc thi trở nên rất khó ngay cả với học sinh Mỹ vốn đã được tiếp xúc khá lâu với nhiều thể loại sân chơi robot. Ở giải đấu khu vực, với sự tham gia của 60-80 đội, mỗi đội thường thi đấu 14 trận.  4- Các CLB phải vượt qua vòng loại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ở Úc rồi mới được dự vòng chung kết ở Mỹ .  5- Các CLB phải tự gây quỹ để chuẩn bị cho việc thi đấu. Thế giới hiện có gần 4.000 CLB robot tham gia cuộc thi FRC ở 33 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ có khoảng 3.000 CLB, Canada có khoảng 250 CLB, Trung Quốc có khoảng 80 CLB…    Author                Đỗ Hoàng Sơn        
__label__tiasang Gates Foundation mở tài trợ 90 triệu USD để tìm kháng virus “đón lõng” đại dịch tương lai      Tài trợ cho khám phá kháng virus đại dịch (The Pandemic Antiviral Discovery Fund) nhằm mục tiêu cùng với đối tác hợp tác về vaccine CEPI thúc đẩy các sản phẩm hiện có sang pha phát triển thứ hai nhằm sẵn sàng đôi đầu với cuộc tấn công của các đại dịch tiếp theo.    Gates Foundation, Novo Nordisk Foundation (Đan Mạch) và Open Philanthropy, một quỹ từ thiện do các đồng sáng lập Facebook và công ty phần mềm Mỹ Asana thành lập, đã cùng hợp lực để hình thành Cuộc khám phá Kháng virus đại dịch(Pandemic Antiviral Discovery PAD), một sáng kiến mới với 90 triệu USD để làm chất xúc tác cho việc khám phá và phát triển ở giai đoạn ban đầu các loại thuốc kháng virus cho các đại dịch tương lai.  Mục tiêu của PAD là giúp các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới tái khám phá và thúc đẩy pha thử nghiệm lâm sàng thứ hai trong phát triển các loại thuốc kháng virus những loại virus được xác định là mầm bệnh có thể dẫn đến các đại dịch trong tương lai. Mối tập trung là ba họ virus – virus corona, virus paramyxo, và virus orthomyxo – đều là những loại có tiềm năng kích hoạt những dịch bệnh lan truyền trên phạm vi lớn.  Nhiều bệnh tật nguy hiểm do chúng gây ra, ví dụ như bệnh sốt Nipah, ban đầu ảnh hưởng đến những người ở các quốc gia thu nhập trung bình và thấp, do đó ban đầu thiếu những khuyến khích từ thị trường để nghiên cứu và phát triển những loại thuốc hiệu quả cho điều trị. Một đặc điểm chính yếu khác mà PAD xác định hỗ trợ là có sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận thuốc của những người dân ở các quốc gia nghèo với bất cứ loại thuốc kháng virus nào.  Điều này sẽ giúp họ đảm bảo tập trung vào phát triển các loại thuốc phân tử nhỏ để chúng trở nên rẻ hơn cho sản xuất ở quy mô lớn và không đòi hỏi những điều kiện bảo quản đặc biệt. Nó tương phản với các liệu pháp dựa trên kháng thể được hình thành để phát triển các vaccine kháng virus COVID-19 tiên tiến, vốn đòi hỏi kinh phí lớn để sản xuất và điều kiện ngặt nghèo trong vận chuyển và bảo quản khi phải giữ ở nhiệt độ cực thấp. “Khoảng thời gian mà một loại vaccine kháng thể ở đại dịch COVID-19 nhắc nhở chúng ta là thế giới cần đầu tư nhiều hơn vào những công cụ thế hệ mới để chiến đấu với những mối nguy hiểm mầm bệnh mới xuất nổi”, Mads Krogsgaard Thomsen, CEO của Novo Nordisk Foundation, nói. “Chúng ta không thể chờ cho đến khi đại dịch tiếp theo đe dọa mới bắt đầu phát triển chúng”.  Đợt mở tài trợ đầu tiên để đón nhận các đề xuất sẽ còn phụ thuộc vào phiên họp tuần tới của Hội nghị quốc tế về nghiên cứu kháng virus ở Seattle vào tuần tới. PAD ban đầu sẽ tập trung vào hỗ trợ các dự án mà mục tiêu là tăng cường hiểu biết về bnr chất sinh học của ba họ virus này, trong đó khám phá và đánh giá những mục tiêu mới cho các kháng virus phân tử nhỏ.  Cũng còn có một cuộc kiếm tìm vật chất hóa học mới, bao gồm việc sàng lọc các thành phần có trong cơ sở dữ liệu và cấu trúc nó thành thuốc. Hứa hẹn sẽ đem lại các loại thuốc mới có thể chuyển sang thử nghiệm lâm sàng an toàn pha 1 và các nghiên cứu về tác dụng dược lý.  “Chúng tôi đang thấy cơ hội hứa hẹn để giải quyết một trong những mối nguy cơ rủi ro đến sự thịnh vượng toàn cầu,” Alexander Berger, đồng CEO của Open Philanthropy, nói. “Trước những nguy cơ tiềm năng bị hủy hoại bởi những virus có thể gây đại dịch tương lai, chúng tôi quan tâm đến những nghiên cứu đột phá và khả năng áp dụng nó trên một phạm vi rộng lớn các dạng mầm bệnh”.  PAD mong muốn hợp tác với các chính phủ, các tổ chức nghiên cứu và các nhà tài trợ tư nhân để phát triển các biện pháp phòng ngừa rủi ro, gia tăng xác suất tiến đến các pha thử nghiệm lâm sàng, Trevor Mundel, chủ tịch ủy ban sức khỏe toàn cầu của Gates Foundation, nhấn mạnh. “Chúng tôi háo hức muốn hợp tác với những nhà tài trợ khác trong khắp các lĩnh vực công và tư, phi lợi nhuận để gia tốc những sáng kiến quan trọng giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong việc cấp cận thuốc tại vấn đề cốt lõi của chúng”.  Mundel còn nói thêm rằng trong khi đại dịch COVID-19 có thể đến hồi kết thúc thì nhu cầu đầu tư vào các công cụ để ngăn ngừa và chặn đứng các mối nguy hiểm do mầm bệnh gây ra trong tương lai sẽ vẫn tiếp tục diễn ra. “Đảm bảo cho các kháng virus được phát triển trong thời gian ngắn hơn, chi phí thấp hơn để có thể đến được với bất cứ ai cần chúng là một bước tối quan trọng, nếu chúng ta muốn sẵn sàng đối đầu với đại dịch tiếp theo”, ông nói.  Tô Thanh Vân  tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://sciencebusiness.net/news/gates-foundation-launches-90m-fund-discover-antivirals-future-pandemics  https://www.pmlive.com/pharma_news/pandemic_antiviral_discovery_initiative_created_by_the_novo_nordisk_foundation,_open_philanthropy_and_the_gates_foundation_1389023    Author                .        
__label__tiasang GDP 6 tháng đầu năm tăng 4,9%      Theo Báo cáo sơ bộ tình hình kinh tế – xã  hội tháng Sáu và 6 tháng của năm 2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI),  hiện nền kinh tế đã có những chuyển biến nhất định, hầu hết các ngành,  các lĩnh vực đều có những cải thiện, song vẫn chưa thể chủ quan bởi  trước mắt những thách thức, khó khăn vẫn còn rất nhiều.     Báo cáo cho biết, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 6 tháng qua ước đạt 4,9%, đạt xấp xỉ mức tăng cùng kỳ năm trước là 4,93%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,07%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,18%, dịch vụ tăng 5,92%.  Hàng tồn kho giảm  Tốc độ tăng trưởng GDP quý II/2013 ước đạt 5%, cao hơn mức tăng 4,76% của quý I/2013. Báo cáo đánh giá mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP của quý II và 6 tháng đầu năm 2013 không cao như mong đợi, nhưng đây cũng là mức hợp lý trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước còn nhiều khó khăn, phải ưu tiên tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong một thời gian khá dài.  “Tuy nhiên, diễn biến các chỉ tiêu kinh tế trong quý II cho thấy nền kinh tế đang dần phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các ngành, lĩnh vực khác đều đã có những chuyển biến tích cực, đúng hướng,” báo cáo trình bày.  Theo đại diện Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân (MPI), sản xuất công nghiệp đã bắt đầu có chuyển biến khi hàng tồn kho đang giảm dần. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã tăng dần qua từng tháng và trong 6 tháng qua, chỉ số IIP ước tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước.  Cụ thể, chỉ số IIP quý II/2013 tăng 6%, đạt mức khá cao so với mức tăng 4,5% trong quý I. Thể hiện rõ nét nhất ở nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo, tăng từ mức 4,6% ở quý I lên 6,9% trong quý II.  Bên cạnh đó hàng tồn kho ngành công nghiệp chế biến đã có xu hướng giảm dần kể từ đầu năm, tại thời điểm 1/6/2013 tăng 9,7%, so với cùng thời điểm năm trước đã giảm mạnh (mức tăng tại thời điểm 1/1/2013 là 21,5%).  Doanh nghiệp vừa và nhỏ phục hồi    Về hoạt động phát triển doanh nghiệp, ông Lê Quang Mạnh, Cục trưởng Cục Quản lý Kinh doanh cũng đưa ra những tín hiệu khả quan, số doanh nghiệp đăng ký mới đã được cải thiện và bắt đầu tăng so với cùng kỳ trong các tháng gần đây, 6 tháng của năm 2013 ước tăng 7,8%. Trong khi đó, doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động đã bắt đầu quay trở lại hoạt động, 6 tháng qua đạt khoảng 9.300 doanh nghiệp.  Ông Mạnh nhấn mạnh, trên thực tế các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đang có xu hướng thích ứng tốt hơn so với doanh nghiệp lớn. Về yếu tố vùng miền, các doanh nghiệp tại  khu vực trung du miền núi phía Bắc và Bắc trung bộ duyên hải miền trung phục hồi và thành lập mới có tốc độ  tăng cao, tuy nhiên khu vực đồng bằng sông Hồng vẫn ở trong tình trạng khó khăn.  Ngoài ra ông Mạnh cũng cho biết, các lĩnh vực có số lượng doanh nghiệp hồi phục nhanh là khu vực bán lẻ, hoạt động dịch vụ lao động việc làm, cho thuê máy móc thiết bị… giáo dục đào tạo, y tế. Trong đó, một số lĩnh vực lại có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ với sự đào thải cao như xây dựng, đường sắt, đường bộ, vận tải viễn thông… Bên cạnh đó, khu vực tiếp tục khó khăn là ngân hàng, tài chính và nông, lâm, thủy sản…  Đáy “chữ  U”  Báo cáo trên đã đưa ra những dự báo về triển vọng kinh tế Việt Nam, trong đó tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 5,5%.  Chỉ số giá tiêu dùng trong những tháng cuối năm có thể sẽ cao hơn so với đầu năm chủ yếu là do hoạt động sản xuất kinh doanh dần hồi phục, sức mua được cải thiện, một số hàng hóa dịch vụ thuộc diện Chính phủ quản lý (điện, viện phí…) cùng với các giải pháp giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản… sẽ làm tăng tổng cầu. Nhưng chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2013 sẽ ở mức khoảng 7%, thấp hơn so với mục tiêu khoảng 8% do Quốc hội đề ra.  Tuy nhiên ông Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng Cục Thống kê cũng thận trọng cho rằng, chu kỳ 3 năm của kinh tế thế giới có thể chấp nhận được và  sự hồi phục có thể vào cuối năm nay. Tuy nhiên chu kỳ hồi phục Việt Nam sẽ có độ trễ và nhanh nhất cũng phải là cuối sang năm.  “Như vậy, theo những số liệu từ Tổng Cục thống kê, năm 2013 có thể là đáy để năm 2014 phục hồi, mô hình tăng trưởng phục hồi đang đi theo đáy chữ U, do đó mức tăng trưởng 5,5% đặt ra là khó khăn và phải rất nỗ lực mới có thể đạt được”, và ông Thức dự báo, mức tăng trưởng cả năm khoảng 5,1% – 5,2% là phù hợp và sang năm có thể tăng là 6%.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/Home/Tang-truong-GDP-6-thang-dau-2013-uoc-dat-49/20136/203629.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang GDP: Một chuẩn đo lỗi thời      GDP là một thước đo gây ngộ nhận khi được dùng để đánh giá thành công của một quốc gia. Do đó, đã tới lúc cần tìm cách áp dụng những thước đo khác.    Chỉ số GDP được hình thành từ những thập niên 1930 – 1940, trong bối cảnh rối loạn của cuộc Đại Khủng hoảng và chiến tranh thế giới. GDP chủ yếu đánh giá các giao dịch thị trường mà bỏ qua các tổn thất về mặt xã hội, các tác động tới môi trường, và sự bất bình đẳng trong thu nhập. Tuy nhiên, kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới II, việc thúc đẩy chỉ số tăng trưởng GDP vẫn là một mục tiêu lớn trong chính sách quốc gia của hầu hết các nước.  Trong khi đó, các nhà nghiên cứu đã và đang ngày càng đưa ra được nhiều phương pháp mới đánh giá những yếu tố có đóng góp giá trị cho đời sống. Họ có thể ước tính được các tác động về mặt môi trường và xã hội cũng như sự bất bình đẳng về thu nhập do tăng trưởng GDP. Những cuộc điều tra đánh giá mức độ hạnh phúc của con người có thể được tiến hành một cách toàn diện hơn và được định lượng hóa. Rất nhiều thử nghiệm đã diễn ra, giới thiệu những chuẩn đo mới thay thế cho GDP giúp đánh giá tiến trình phát triển của xã hội.    Những hạn chế của chuẩn đo GDP  Khi chuẩn đo GDP được thiết lập cách đây bảy thập kỷ, nó được xem là một chỉ số hợp lý để đánh giá sự phát triển bởi lúc đó, sự gia tăng các họat động kinh tế được coi là nguyên nhân chính đem lại công ăn việc làm, thu nhập, các tiện nghi và giúp làm giảm các mâu thuẫn xã hội cũng như góp phần ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới khác.           Nếu một doanh nghiệp thực hiện công tác kế toán dựa theo phương pháp của GDP, thì họ sẽ chỉ tìm cách tối đa hóa doanh thu tổng, mặc dù điều đó có thể ảnh hưởng tới lợi nhuận, hiệu suất làm việc, sự ổn định, hay tính linh động.        Nhưng, thế giới ngày nay đã khác xa cái thế giới của những nhà lãnh đạo toàn cầu từng gặp gỡ nhau để bàn định về nền kinh tế thời hậu chiến năm 1944 tại Bretton Woods, New Hampshire. Các họat động kinh tế gia tăng đã dần dần làm xói mòn các nguồn tài nguyên quốc gia. Phần lớn số tài sản được tạo ra lại bị phân phối không đồng đều, dẫn tới một loạt những hệ lụy xã hội khác.   Hơn 200 năm trước, nhà triết học John Stuart Mill đã chỉ ra rằng, sau khi đảm bảo được một mức sống phù hợp, con người cần hướng tới theo đuổi những tiến bộ về xã hội, đạo đức và giải trí, thay vì vật lộn giành giật những tài sản vật chất.  Những hạn chế của chuẩn đo GDP đã trở nên rõ ràng. Tỉ lệ phạm tội gia tăng không giúp nâng cao đời sống cho người dân, nhưng chúng có thể làm tăng chỉ số GDP bằng cách đẩy cao các khoản chi phí đầu tư vào các hệ thống an ninh. Mặc dù vụ tràn dầu của dàn khoan dầu Deepwater Horizon năm 2010 và cơn bão Sandy năm 2012 đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, song cả hai sự kiện trên đều góp phần nâng cao chỉ số GDP của nước Mỹ bởi chúng thúc đẩy hoạt động tái xây dựng.  Các chuẩn đo thay thế  Có thể chia các chuẩn đo phát triển thay thế thành ba nhóm lớn như sau:  Các chuẩn đo kinh tế sửa đổi. Các chuẩn đo này được thể hiện dưới dạng các đơn vị tiền tệ, do đó, có thể dễ dàng so sánh với chỉ số GDP hơn. Đây là các chỉ số về mức thu nhập hằng năm, số tiền tiết kiệm được, và số lượng tài sản; ngoài ra, các tổn thất cũng như lợi ích về mặt môi trường cũng có thể được tính vào. Một ví dụ của chuẩn đo này là chỉ số phát triển đích thực (GPI). Chỉ số GPI được tính bằng cách lấy số lượng chi dùng cá nhân (vốn là một chuẩn đo chi tiêu cá nhân và là một hợp phần lớn trong chỉ số GDP) rồi đem cộng trừ với hơn 20 yếu tố khác, chẳng hạn như giá trị của các việc làm tình nguyện, tổn thất về ly dị, phạm tội, và ô nhiễm môi trường…  Khác với các chuẩn đo khác trong nhóm, GPI có tính tới tác động do mức độ bất bình đẳng thu nhập. Một đô la tăng thêm trong thu thập của một người nghèo sẽ được coi trọng hơn so với một đô la thêm vào trong thu nhập của một người giàu. Bất bình đẳng thu nhập là vấn đề rất được quan tâm ngày nay, bởi sự chênh lệch giàu -nghèo tại một quốc gia, dễ thấy như ở Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, thường gắn với những bất ổn xã hội, trong đó tỉ lệ sử dụng ma túy, phạm tội, lừa đảo gia tăng, sự giảm sút sức khỏe tinh thần và thể chất.          Việc chú trọng vào chỉ số GDP tại các quốc gia phát triển giờ đây lại càng làm gia tăng tình trạng không bền vững cả về mặt xã hội và môi trường. Nó cũng khiến các quốc gia đang phát triển bỏ qua những cơ hội áp dụng các mô hình phát triển bền vững hơn.          Một số nơi đã và đang có những suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề này. Trong 3 năm qua, hai bang của Mỹ là Vermont và Maryland đã sử dụng GPI làm chuẩn đo phát triển, và họ đã thực thi nhiều chính sách cụ thể để nâng cao chỉ số này.  Các chuẩn đo sự thịnh vượng một cách chủ quan. Chuẩn đo toàn diện nhất trong nhóm này là dự án Nghiên cứu các Giá trị Thế giới (WVS) bao phủ khoảng 70 quốc gia, trong đó có các câu hỏi về mức độ hài lòng của người dân với đời sống hiện tại. Bắt đầu từ năm 1981, WVS được tiến hành theo từng “đợt”, và tính tới nay đã có tổng cộng 6 đợt nghiên cứu. Một ví dụ khác là chỉ số hạnh phúc quốc gia được sử dụng tại Bhutan. Chuẩn đo này được tính toán dựa trên các cuộc điều nghiên kỹ lưỡng về mức độ hài lòng của người dân ở 9 lĩnh vực: sự thịnh vượng về mặt tâm lý, mức sống, chính phủ, sức khỏe, giáo dục, họat động cộng đồng, sự đa dạng văn hóa, việc sử dụng thời gian, và sự đa dạng về sinh thái.  Chuẩn đo này đã được nghiên cứu rộng rãi, và nhiều ý kiến cho rằng đây là chuẩn đo phù hợp nhất để đánh giá sự tiến bộ của xã hội. Song các chỉ số chủ quan này lại khó có thể dùng để so sánh giữa các xã hội và các nền văn hóa khác nhau. Chẳng hạn, chúng ta chỉ có thể so sánh tình trạng sức khỏe tự đánh giá của người dân với tỉ lệ sinh/tử báo cáo chính thức trong cùng một quốc gia, chứ không thể so sánh các chỉ số này giữa các quốc gia với nhau. Hơn nữa, người dân không phải lúc nào cũng nhận thức được đầy đủ về những yếu tố dự phần vào việc nâng cao sự thịnh vượng của họ.   Tính trọng số của nhiều chỉ số kết hợp lại. Chuẩn đo này đem lại một bức tranh tổng thể về sự hài hòa của sự thịnh vượng xã hội bằng cách kết hợp các chỉ số khách quan và chủ quan. Một ví dụ là Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh do Hiệp hội Kinh tế mới tại Anh đưa ra năm 2006. Chỉ số này lấy mức độ hài lòng với cuộc sống nhân với tuổi thọ, và đem tổng lượng sản phẩm chia cho chỉ số đo lường mức độ chịu ảnh hưởng của hệ sinh thái.          Một nghiên cứu thực hiện năm 2013 nhằm so sánh chỉ số GDP và GPI trên đầu người ở 17 quốc gia (chiếm hơn nửa dân số toàn cầu) đã cho thấy những sự khác biệt đáng kinh ngạc giữa hai chuẩn đo này. Hai chỉ số này có nhiều điểm tương đồng nhau trong giai đoạn 1950 – 1978, sau đó chúng ngày một khác biệt khi các tổn thất về mặt môi trường và xã hội sau giai đoạn này vượt trội hơn so với những lợi ích mà sự gia tăng của chỉ số GDP đem lại. Rõ ràng, sự hài lòng với cuộc sống có liên quan nhiều đến chỉ số GPI chứ không mấy liên quan tới chỉ số GDP.        Các chỉ số khác trong nhóm thứ ba này bao gồm nhiều biến số khác nhau, chẳng hạn như thu nhập, nhà ở, việc làm, sức khỏe, mức độ tham gia vào đời sống dân sự, sự an toàn, và mức độ hài lòng với cuộc sống. Chỉ số Cuộc sống Tốt đẹp do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đưa ra còn duy trì một website cho phép người dùng tự chọn cách đặt trọng số cho các biến, theo đó có thể thấy việc chú trọng tới những biến số khác nhau có thể ảnh hưởng tới vị trí của các quốc gia trong bảng xếp hạng như thế nào.  Hiện cũng đang có rất nhiều cuộc thí nghiệm khác nhau để tìm ra những chuẩn đo phù hợp. Các chuẩn đo hiện nay chưa thực sự hoàn hảo, song chúng là nền tảng để chúng ta tìm ra được một chuẩn đo khác tốt hơn GDP.  Tại sao chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ?  Rất nhiều người nhất trí rằng xã hội toàn cầu phải hướng tới một chất lượng sống cao, và chất lượng đó phải được phân bố đồng đều và bền vững. Nhiều nhóm nghiên cứu và một số báo cáo ở tầm quốc gia và quốc tế đã đi đến kết luận rằng với tư cách là chuẩn đo chất lượng sống, GDP hoàn toàn không phù hợp. Kết luận này cũng được phản ánh trong bản tuyên bố “Tương lai Mong muốn của Chúng ta”- đây là bản tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh Rio + 20 về Phát triển Bền vững đã được thông qua bởi tất cả các thành viên Liên Hợp Quốc.  Tuy vậy, GDP vẫn là một thành trì kiên cố, trong đó phải kể đến một phần trách nhiệm của những lợi ích nhóm. Nỗ lực hướng tới một “chỉ số GDP xanh” của cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, trong đó có tính đến những hệ lụy tới môi sinh do sự phát triển kinh tế gây ra, đã vấp phải sự phản ứng dữ dội từ ngành than mỏ. Song, nguyên nhân lớn nhất là hiện vẫn chưa có ai xây dựng một chuẩn đo thay thế thực sự nổi trội.  Cơ hội loại bỏ GDP          Chỉ số thay thế cho GDP phải là một bộ thông số mới, lồng ghép những kiến thức đương đại về vai trò của hệ sinh thái, kinh tế học, tâm lý học, và xã hội học đối với việc xây dựng và đo lường sự thịnh vượng bền vững. Các thông số này phải nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các bên liên quan trong những cuộc họp quy mô quốc tế diễn ra sắp tới.          Để tạo ra được một chuẩn đo thay thế thành công, cần có những nỗ lực bền bỉ của nhiều bên liên quan, từ đó hợp nhất các chỉ số và xây dựng sự đồng thuận. Hiện nay, cơ hội loại bỏ GDP đang tới gần. Tới năm 2015, Liên Hợp Quốc sẽ công bố các Mục tiêu Phát triển Bền vững, trong đó bao gồm những mục tiêu ở tầm quốc tế nhằm cải thiện đời sống cho con người. Cùng với sự ra đời của các mục tiêu này, cần có những chuẩn đo phát triển tương ứng, và đây chính là cơ hội để cộng đồng quốc tế định nghĩa lại thịnh vượng bền vững là gì, làm thế nào để đo lường được điều đó, và làm thế nào để đạt được điều đó. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, chúng ta sẽ tiếp tục dung dưỡng cho tình trạng bất bình đẳng đang ngày một gia tăng cũng như tiếp tay cho sự tàn phá các tài sản quốc gia vốn là điểm tựa của sự sống trên trái đất.  Khi được đông đảo các thành phần tham gia thực hiện một cách hiệu quả, công cuộc truy tìm “kẻ kế vị” GDP có thể được hoàn thành vào năm 2015. Đương nhiên, quá trình này còn gặp nhiều trở ngại lớn, như sự trì trệ ngại thay đổi của các chính phủ, và xu hướng làm việc riêng rẽ, thiếu sự hợp tác giữa các chính phủ, giới học giả, và các nhóm khác. Song với sự lãnh đạo, dẫn dắt xuyên suốt, những trở ngại này có thể vượt qua, đặc biệt là ngày nay chúng ta có thể liên lạc với nhau dễ dàng hơn so với trước kia rất nhiều. Liên minh vì sự Bền vững và Thịnh vượng mới được thành lập gần đây chính nhằm mục tiêu làm chiếc cầu thông tin đó. “Mạng lưới của mạng lưới” này, được vận hành qua internet, có thể truyền đạt thông tin về các nghiên cứu liên quan tới chất lượng sống bền vững và các yếu tố cấu thành nên nó, từ đó giúp kiến tạo sự đồng thuận giữa hàng nghìn bên liên quan.       Thu  Trang dịch  Nguồn:   http://www.nature.com/news/development-time-to-leave-gdp-behind-1.14499    Author                Quản trị        
__label__tiasang GDP năm 2012 chỉ đạt 5,03%      Cả lạm phát và tăng trưởng GDP đều thấp hơn dự tính, số người thất nghiệp đã gần 1 triệu… -&#160; số liệu này do Tổng cục Thống kê công bố hôm 24-12.     Cụ thể, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, kết quả tăng GDP năm 2012 chỉ đạt 5,03%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm 2012 cũng thấp hơn dự tính, chỉ ở mức 6,81%.  Tổng cục Thống kê công nhận CPI năm nay có “bất thường” khi CPI không tăng quá cao vào tháng tết nhưng lại tăng cao nhất vào tháng 9. Các năm trước nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng cao nhưng năm nay nhóm hàng khiến CPI tăng mạnh lại là giá dịch vụ y tế, giáo dục…  Một “điểm sáng” chứa đựng cả buồn vui cũng như yếu tố “bất thường” là năm 2012 là lần đầu tiên sau 20 năm, VN lại thành nước xuất siêu với mức xuất siêu 248 triệu USD (năm 1992 xuất siêu khoảng 40 triệu USD).  Cho rằng có “bất thường” nhưng ông Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho biết xuất siêu này đến chủ yếu nhờ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) xuất khẩu mạnh và nhu cầu nhập khẩu trong nước thấp đi.  Các mặt hàng xuất khẩu chính của khu vực doanh nghiệp FDI có tốc độ gia tăng nhanh như điện thoại, linh kiện điện thoại, hàng điện tử thì chủ yếu VN… gia công. Nên dù xuất khẩu cao nhưng giá trị thu về cho đất nước không lớn.  Dù xuất khẩu tăng mạnh nhưng Tổng cục Thống kê cũng công nhận chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến ngày 1-12 vẫn tăng 20,1% so với cùng thời điểm năm trước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Gene gây bệnh Alzheimer có thể giúp chống lại chứng mất trí nhớ      Kết quả nghiên cứu mới này có thể giúp lý giải tại sao gene APOE4 vẫn tồn tại trong suốt bao nhiêu thế hệ loài người.      Người mắc bệnh Alzheimer thường có các mảng amyloid (màu xanh lá cây) trong não. Ảnh: Kateryna Kon/Science Source.  APOE4 là một đột biến gene phổ biến ở người, thường làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Bởi vậy, nhiều người đặt ra câu hỏi: Nếu APOE4 có hại như thế, tại sao nó vẫn chưa biến mất khỏi quần thể? Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Nature Aging cho thấy một kết quả bất ngờ: gene APOE4 có thể tác động tích cực đến khả năng nhận thức của con người. Nó không chỉ giúp tăng cường trí nhớ ngắn hạn mà còn góp phần chống lại chứng mất trí nhớ nhẹ trong giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer.  Theo Jonathan Schott, nhà thần kinh học ở ĐH College London (UCL) và là đồng trưởng nhóm nghiên cứu, điều này không chỉ giúp lý giải tại sao biến thể này vẫn tồn tại trong quần thể người, mà còn mở đường cho các phương pháp điều trị Alzheimer trong tương lai.  Gene APOE mã hóa một loại protein chuyển hóa chất béo gọi là apolipoprotein E. Trung bình cứ bốn người thì có một người mang một bản sao của đột biến APOE4  – làm tăng gấp ba lần nguy cơ mắc Alzheimer khởi phát muộn (một số ít người có hai bản sao của APOE4, tăng nguy cơ mắc bệnh lên 12 lần).   Tuy nhiên, một số nghiên cứu nhỏ cho thấy APOE4 cũng mang lại lợi ích như tăng cường khả năng sinh sản và nhận thức. Năm ngoái, một nghiên cứu lớn phát hiện ra những người mang gene APOE4 ở nhiều độ tuổi khác nhau có kết quả kiểm tra trí nhớ tốt hơn một chút so với những người không mang gene đó.  Theo đó, các nhà khoa học tại UCL đã theo dõi 398 người kể từ sơ sinh đến khoảng 70 tuổi. Trong bài kiểm tra nhận thức tiêu chuẩn, tất cả những người tham gia đều có kết quả bình thường, không ai bị chẩn đoán mắc Alzheimer. Khác với các nghiên cứu trước đây, lần này các nhà khoa học đã tiến hành quét não và phát hiện ra một số người có các mảng amyloid trong não.  Để kiểm tra tình trạng suy giảm nhận thức, các tình nguyện viên sẽ ngồi trước màn hình máy tính, trên màn hình xuất hiện chớp nhoáng hình ảnh của một vật thể kiểu phân dạng (fractal). Sau vài giây, một vật thể mới sẽ xuất hiện, tình nguyện viên sẽ phải xác định đâu là vật thể họ thấy trước  đó và di chuyển nó về vị trí ban đầu.  Kết quả cho thấy, những người mang gene APOE4 có khả năng xác định vật thể tốt hơn 14% và khả năng xác định vị trí tốt hơn 7% so với những người không mang đột biến này. Với những người có các amyloid trong não – nhìn chung có kết quả kiểm tra kém hơn 19% trong thí nghiệm này, gene APOE4 cũng cho thấy tác dụng tích cực trong nhiệm vụ xác định lại vị trí vật thể, đặc biệt là ở những người có mức amyloid cao. “Đây là những thay đổi rất nhỏ, nhưng nó cho thấy amyloid và APOE4 có tác dụng ngược lại so với những gì đã biết về trí nhớ thị giác ngắn hạn”, Schott nói.  “Điều đáng chú ý là ích lợi [của APOE4] về nhận thức cũng xuất hiện ở những người đã mắc Alzheimer,” nhà tâm lý học thần kinh Duke Han ở ĐH Nam California, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết.  Tuy nhiên, lợi ích của APOE4 cũng khá hạn chế. Dù những người mang gene này thể hiện tốt hơn trong một số bài kiểm tra trí nhớ ngắn hạn về ngôn ngữ, song kết quả kiểm tra trí nhớ dài hạn lại không như vậy. Theo các tác giả, khi amyloid tích tụ thêm, hậu quả của sự suy giảm nhận thức có thể sẽ lấn át những lợi ích mà APOE4 đem lại.  Nhà tâm lý học Nahid Zokaei ở ĐH Oxford, tác giả chính của một bài báo đăng năm 2020 về APOE4 và trí nhớ ngắn hạn, cho biết phát hiện này có thể làm sáng tỏ “cơ chế của bệnh Alzheimer và cách bộ não của chúng ta hoạt động”, thông qua việc phát hiện “cách thức các cơ chế bù trừ này vận hành”.  Nghiên cứu cũng cho thấy các phương pháp điều trị Alzheimer bằng cách ngăn chặn protein APOE4 nên được tạm dừng. Theo Schott: “Nếu nghĩ đến các phương pháp điều trị nhắm đích APOE4, chúng ta phải thực sự biết rõ các ưu điểm và nhược điểm của nó đối với từng độ tuổi khác nhau”.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.science.org/content/article/most-common-alzheimer-s-risk-gene-may-also-protect-against-memory-loss    Author                Quản trị        
__label__tiasang George Ohr: Người khiến đồ gốm có giá như vàng      Nếu không có George Ohr đem tới một cuộc cách mạng cho đồ gốm vào khoảng 1900 thì những người thợ gốm sẽ mãi mãi chỉ là những người thợ thủ công bình thường.    Chất lượng và sức mạnh thẩm mỹ những sản phẩm gốm của George Ohr cho đến tận ngày này vẫn là có một không hai – và cuối cùng thì chúng có cái giá rất đắt, đúng như người tạo ra chúng từng mong muốn.      George Edgar Ohr tự coi mình là “greatest art potter on earth (nghệ sĩ gốm vĩ đại nhất trên Trái đất)”. Người ta phải dịch là nghệ sỹ gốm, nếu gọi là thợ gốm nghệ thuật thì hoàn toàn không ổn. Đúng là ông đã có tất cả những gì mà một thiên tài thường có: cái vẻ ngoài điên điên khùng khùng, bộ ria mép dài và xoăn, khi làm việc ông phải buộc chòm râu mình ra phía sau gáy, một con người vô cùng phóng khoáng – ông có một trí tưởng tượng vô bờ bến và không ngừng tuôn trào.   Trong những năm từ 1880 đến 1909 ông sáng tác các loại bình gốm hoàn toàn khác với những sản phẩm đã được làm trước đó. Ngày nay ông hầu như ít được công chúng biết đến nhưng trong giới chuyên môn thì có thể nói ông là số Một, ông là người đã đưa gốm từ vị trí thủ công mỹ nghệ lên vị thế của nghệ thuật hiện đại.  Tại sao có thể được như vậy, cho đến nay điều này vẫn còn là một điều bí ẩn. Đơn độc một mình, xa lánh mọi trào lưu tiên phong thời đó, Ohr sáng tác gốm tại thị trấn nhỏ ven biển Biloxi ở tiểu bang Mississippi, không chỉ là các loại bình gốm đơn thuần: những cái bình này đậm vẻ hoang dã điểm xuyết với các họa tiết nhiều loại động vật hiếm lạ, đôi khi chúng bị xoắn lại, đan xen nhau đến độ không nhận ra được hình hài của chúng, lớp men nhiều màu sắc, sặc sỡ mang dáng dấp của chủ nghĩa ấn tượng trong những năm 50, đèn Lava những năm 60 và đi trước cả hậu hiện đại của những năm 70. Những tác phẩm của ông không cái nào giống cái nào.   Ohr học nghề gốm từ một người bạn của cha mẹ ông. Sau đó ông đi biệt hai năm liền qua các tiểu bang ở miền Nam nước Mỹ, hấp thụ tất cả những gì liên quan đến nghề gốm. Không lâu sau ông tham gia các triển lãm bán hàng. Một thầy giáo cũ đã nhờ ông giúp một tay tại xưởng, sau khi câu lạc bộ gốm nghệ thuật ra đời năm 1884 gần New Orleans.   Tầm ảnh hưởng của nơi này, nơi nghệ thuật được đề cao, tác động không nhỏ đến Ohr, con trai của một người thợ rèn. Đây cũng là nơi chàng trai trẻ sắp được làm cha kiếm được khá bộn tiền và chàng cũng thích trình diễn trước công chúng cơ bắp của mình. Cũng thời gian này ông mở một xưởng gốm của riêng mình tại Biloxi.    Vỏ ốc và cua, 1899   Không ai có thể so sánh với quái nhân Ohr  Tuy nhiên không có một nghệ nhân gốm nào hoặc thậm chí cả nghệ sỹ gốm sứ thời đó tạo nên một cái gì đó tương tự như của quái nhân Ohr. Sự đơn giản tuyệt vời của sản phẩm gốm Nhật Bản, xuất hiện trên thị trường phương Tây từ thời Minh Trị 1868 tưởng như không có đối thủ cạnh tranh, những cái bát nuột nà của nghệ nhân gốm cỡ ngôi sao nước Anh như Bernard Leach hay những thiết kế bằng chất liệu đất sét của Bauhaus so với gốm của Ohr bỗng nhiên trở nên nhạt nhẽo, vô vị.   Tại California vào thời gian trước đó, các nhà điêu khắc như Peter Voulkos, Ron Nagle và Ken Price đã bắt đầu nhào nặn đất sét theo trí tưởng tượng của họ thành những hình khối không nhằm bất kỳ mục đích sử dụng nào. Nhưng lúc này thế giới nghệ thuật vẫn chưa đạt độ chín để gốm có thể đứng độc lập. Mãi đến thời của của Ohr gốm mới trở thành một xu thế với những nghệ sỹ như Rosemarie Trockel, Thomas Schütte và Sterling Ruby, tuy nhiên các nghệ sỹ này chỉ nỗ lực cạnh tranh với một dòng tác phẩm duy nhất – tác phẩm của George Ohr.  Bởi điều kinh ngạc nhất là sự tinh tế thể hiện trong sự quằn quại phá cách trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật của Ohr. Cho dù vẻ bên ngoài của chúng xù xì, dị hợm nhưng thực ra những bình, những chậu của ông thường rất mảnh mai như tờ giấy lụa – nó thể hiện phẩm chất điêu luyện về tay nghề mà cho đến nay không mấy ai có thể đạt được. Có lẽ điều này liên quan đến loại đất sét mà Ohr lấy từ dòng sông Tchoutacabouffa rồi chở bằng ca nô về xưởng gốm của mình đặt trên nền đất của cha mẹ ông.   Sau khi bố mẹ, qua đời ông vẫn kiên quyết không rời mảnh đất của các cụ mặc dù anh chị em ông đã bán mảnh đất này cho người khác; rồi xưởng gốm của ông với hàng ngàn hiện vật bị thiêu trụi. Nhưng ngọn lửa đó đã làm bùng lên sự quyết tâm tìm tòi cái mới; ông tái thiết lại mọi thứ nhờ vào sự tài tình, khéo léo của mình nhưng cuối cùng ông vẫn buộc phải đóng cửa xưởng gốm của mình. Đơn giản vì ông hét giá quá cao cho những cái bình hình thù dị dạng, quái đản. Ông mất năm 1918 ở tuổi lục tuần vì bệnh ung thư vòm họng, để lại một bộ sưu tập gốm đồ sộ cho những người thừa kế, tuy nhiên bộ sưu tập đó đã bị đắp chiếu ngủ yên hơn 50 năm ở sau xưởng sửa chữa ô tô của Ojo, con trai ông.    Cho dù vẻ bên ngoài của chúng xù xì, dị hợm nhưng thực ra những bình, những chậu của ông thường rất mảnh mai như tờ giấy lụa.  Tái phát hiện sau 50 năm  Mãi cho đến năm 1968 khi nhà buôn đồ cổ Jim Carpenter ở New Jersey tới Biloxi tìm mua phụ tùng ô tô cũ. Khi Ojo gạn hỏi, liệu ông có muốn ghé qua kho đồ gốm của bố ông không, thì bà vợ nhà buôn đồ cổ Carpenter có vẻ tò mò. Và thế là hai vợ chồng đã có mặt tại kho chứa toàn bộ sản phẩm gốm của Ohr, cái thì để trên bàn, cái thì đóng gói trong các thùng carton. Cho dù chưa một lần nghe nói đến tên George Ohr nhưng tay buôn đồ cổ sành sỏi Carpenter lập tức cảm thấy đây là một kho báu.   Ông ta ngỏ ý sẵn sàng mua cả tất cả với giá 15.000 USD, vị chi bình quân khoảng 2 USD một món. Sau khi trao đổi với anh em trong nhà, ông Ojo lắc đầu không bán. Sau một hồi cò kè họ chấp nhận mức giá 50.000 USD. Nhưng đến khi Carpenter định mở hầu bao thì Ojo đòi 1,5 triệu USD. Thương vụ này ba năm sau mới hoàn tất và toàn bộ tác phẩm của người bố đã được vận chuyển sang bờ biển phía Đông.  Và tại đây, được sự quảng bá của Carpenter và do được giới thiệu tại Phòng trưng bày Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ Jordan-Volpe ở thành phố New York, nên sự nghiệp của George Ohr đã được hồi sinh và thật sự cất cánh.  Jasper Johns, Robert Rauschenberg và Andy Warhol là một trong những nhà sưu tầm đầu tiên của ông, cũng như người phụ trách bảo tàng David Whitney, người bạn đời của kiến trúc sư Philip Johnson. Sau đó là Steven Spielberg và Jack Nicholson. Các cuộc đấu giá của nhà buôn gốm sứ David Rago, người đã hợp tác chặt chẽ với Carpenter, lúc nào cũng thu hút đông đảo khán giả chẳng khác gì các buổi thánh lễ ở nhà thờ.  Tháng 10/1994 – đúng 100 năm sau cái ngày xảy ra hỏa hoạn tại xưởng gốm của George Ohr – Rago đã khai trương một cuộc triển lãm tại phòng trưng bày ở Upper East Side, và đã được tờ “New York Times” khen ngợi. Hầu như tất cả vật trưng bày của Ohr tại cuộc triển lãm này đã được bán hết. George Ohr trở thành một nghệ sỹ đã phá mọi tiêu chí về sản phẩm gốm, về nghệ thuật cũng như về thủ công mỹ nghệ.  Năm 2010, tại Biloxi đã khai trương bảo tàng đầu tiên ở nước Mỹ chỉ nhằm tôn vinh nhà nghệ sỹ gốm duy nhất – bảo tàng này do kiến trúc sư Frank Gehry thiết kế, nó có dáng dấp như một cái bình của George Ohr. Từ hai năm nay các tác phẩm của Ohr cũng có mặt trong Bảo tàng Metropolitan và Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại ở New York. Từ lâu giá thị trường ổn định ở mức cao: năm 2006 giá một cái bình của Ohr tại Sotheby’s đạt mức kỷ lục đối với gốm là 132.000 USD. Tháng giêng 2020 một cái bình được bán tại David Rago với giá 100.000 USD.  Gã thợ gốm điên khùng ở Biloxi đã tính giá sản phẩm của mình theo giá vàng, một cái bình nhỏ méo mó ông hét giá 500 USD. Hồi ấy mọi người chỉ biết lắc đầu lè lưỡi. Duy chỉ có George Ohr mới biết ông có lý như thế nào.     Bình đất nung tráng men của George Ohr   Xuân Hoài tổng hợp – Nguồn bài và ảnh: Welt.de    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ghép tế bào gốc gạc hươu lên chuột: Mở ra hiểu biết mới về cơ chế tái tạo xương      Ảnh minh họa. Nguồn: iflscience.com Theo một nghiên cứu mới đây, công bố trên tạp chí Science*, các nhà khoa học đã khiến một chú chuột nhỏ mọc gạc trên đầu bằng cấy ghép tế bào gốc gạc hươu vào chuột. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng động vật có vú đã mất …      Ảnh minh họa. Nguồn: iflscience.com  Theo một nghiên cứu mới đây, công bố trên tạp chí Science*, các nhà khoa học đã khiến một chú chuột nhỏ mọc gạc trên đầu bằng cấy ghép tế bào gốc gạc hươu vào chuột. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng động vật có vú đã mất khả năng tái tạo một bộ phận trong cơ thể vẫn có thể chứa một số gen tái tạo. Phát hiện này có tiềm năng ứng dụng vào y học trong tương lai.  Những chiếc gạc của hươu, nai, phát triển với tốc độ 2,75 cm (khoảng 1 inch) mỗi ngày, là một trong những mô tái tạo nhanh nhất trong giới động vật và đem lại bằng chứng hoàn hảo hiếm hoi về cách động vật có vú có thể tái tạo tế bào một cách thường xuyên.  Gạc đặc biệt thú vị vì động vật có vú nói chung đã mất khả năng tái tạo các cơ quan và hầu hết các mô khác. Do đó, việc hươu nai có gạc, thậm chí mọc lại lộc non mới sau khi bị cắt đi mang lại hiểu biết chưa từng có, giúp ích cho việc nghiên cứu cơ chế của thuốc tái tạo xương.  Trong quá trình theo đuổi các loại thuốc tái tạo, nhà nghiên cứu Trung Quốc Toa Qin và các đồng nghiệp đã tìm hiểu sâu về cơ chế mọc gạc của hươu Sika – chúng rụng gạc đi và mọc lại hàng năm. Họ nghiên cứu và lập ra một “tập bản đồ” tái sinh của gạc hươu Sika, phân lập nhiều tế bào đơn lẻ và gen quan trọng trong sự phát triển của mô gạc.  Ở thời điểm mười ngày trước khi gạc bị rụng, các nhà nghiên cứu đã xác định được một loại tế bào gốc có vai trò quan trọng với quá trình tái tạo lại gạc và những tế bào này sẽ ở lại trong gạc một thời gian ngắn sau khi rụng. Đến ngày thứ năm sau hươu rụng gạc, một loại tế bào gốc mới sẽ xuất hiện.  Sau khi xác định các giai đoạn phát triển của gạc, nhóm nghiên cứu đã lấy các tế bào gốc có khả năng tái tạo cao nhất (từ gạc rụng khoảng năm ngày tuổi) và nuôi cấy trong đĩa Petri trước khi cấy vào đầu chuột.  Sau 45 ngày, những con chuột đã phát triển các gạc nhỏ có thể nhìn thấy rõ ràng, nhờ các tế bào gốc biệt hóa thành mô xương khớp. Gạc đã dài ra nhanh chóng, cho phép các nhà nghiên cứu nghiên cứu rõ các cơ chế di truyền dẫn đến sự phát triển của gạc. Những hiểu biết chi tiết về cơ chế này mang lại tiềm năng hữu ích cho việc nghiên cứu chữa trị gãy xương, tái tạo xương khớp.  Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu này có thể gây ra những lo ngại về đạo đức đối với việc cấy ghép tế bào giữa các loài, cũng như các thử nghiệm an toàn.  Mặc dù kết quả nghiên cứu này chưa thể tạo ra một tác động trực tiếp ngay cho các nghiên cứu chữa trị về xương khớp nhưng đã mang đến một cái nhìn hoàn toàn mới về cách thức động vật có vú có thể tái tạo mô nhờ cơ chế sẵn có trong bộ gen và cấy ghép tế bào gốc gạc hươu.  PV   Nguồn: https://www.iflscience.com/mini-antlers-grown-on-mice-heads-after-scientists-implant-deer-cells-67977  *Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science: https://www.science.org/doi/10.1126/science.add0488    Author                .        
__label__tiasang Ghép tế bào gốc tạo máu: Triển vọng và thách thức      Ứng dụng ghép tế bào gốc tạo máu ở Việt Nam dù được đánh giá là có triển vọng và nhiều tiến bộ nhưng để phát triển được kỹ thuật này vẫn phải tính đến nhiều yếu tố, mà thách thức lớn nhất hiện nay là vấn đề tài chính và khung pháp lý.     Hy vọng cho những người mắc bệnh hiểm nghèo  Trong những năm vừa qua, ứng dụng ghép tế bào gốc trong chữa bệnh đã được đưa vào Việt Nam dù muộn mằn hơn thế giới đến vài chục năm. Ứng dụng đầu tiên về ghép tế bào gốc ở Việt Nam bắt đầu từ Bệnh viện Truyền máu và Huyết học TP.HCM. Năm 2002, bệnh viện này đã bắt đầu tiến hành ghép tế bào gốc tạo máu bằng máu cuống rốn. Bệnh viện cũng chuẩn bị khá kỹ lưỡng từ khâu thu thập mẫu máu cuống rốn, sinh học máu cuống rốn, triển khai quy trình gia công, bảo quản và nuôi cấy tế bào gốc tạo máu in vitro để xây dựng ngân hàng máu cuống rốn trong nước.   Đến nay, có không dưới 10 nhóm nghiên cứu về tế bào gốc đang làm việc rải rác tại các bệnh viện và phòng thí nghiệm trong cả nước. Nhiều cơ sở y tế triển khai nghiên cứu và ứng dụng ghép tế bào gốc tạo máu trong điều trị như: Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện 108… Đáng kể như Viện Huyết học – Truyền máu trung ương tiến hành ghép tế bào gốc tạo máu trị bệnh cho 37 ca; bệnh viện Truyền máu huyết học TP. Hồ Chí Minh ghép cho hàng chục bệnh nhân các bệnh lý huyết học ác tính, bệnh thiếu máu di truyền bẩm sinh hoặc suy tủy.  Mới đây, nhiều chuyên gia trong Hội thảo quốc tế về Ghép tế bào gốc tạo máu đánh giá kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu ở Việt Nam có thể sánh tầm khu vực. Việt Nam không chỉ thực hiện được ghép tế bào gốc đồng loài mà còn thành công trong nhiều ca ghép tế bào gốc tự thân. Đây là một kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao, chuyên môn giỏi nhưng hiệu quả lại vượt trội như: không gây suy tuỷ kéo dài, giúp người bệnh giảm bớt đau đớn so với điều trị thông thường (dùng hóa chất), giảm nguy cơ tử vong do các biến chứng nhiễm trùng, xuất huyết mang lại cuộc sống bình thường cho người bệnh từ 5 năm trở lên.  Ứng dụng hứa hẹn nhất của tế bào gốc xuất phát từ chính khả năng biến đổi thành nhiều loại tế bào trưởng thành khác nhau với đầy đủ chức năng. Bất cứ căn bệnh nào gây tổn hại mô đều có thể được điều trị nhờ liệu pháp tế bào gốc. Các ứng dụng tiên tiến trong ghép tế bào gốc tạo máu hiện đã có thể điều trị bệnh bạch cầu, bệnh u bạch huyết, nhiều bệnh rối loạn máu di truyền… Những thành tựu đó mở ra một triển vọng mới trong điều trị các chứng bệnh nan y, mang lại nhiều hi vọng cho bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.  Vuớng mắc về tài chính  Hoàn toàn có thể tin tưởng rằng ghép tế bào gốc tạo máu nói riêng và ghép tế bào gốc trong điều trị bệnh nói chung sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Tuy vậy, khoảng cách từ những ca ghép thử nghiệm tới chữa trị phổ biến còn rất xa.   Phát biểu tại Hội thảo quốc tế về Ghép tế bào gốc tạo máu tổ chức tại Hà Nội, GS.TS. Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học truyền máu trung ương cho rằng cần phải có một chiến lược quốc gia về ghép tế bào gốc trong điều trị bệnh, đồng thời cần có sự quan tâm một cách đồng bộ từ các cơ quan hữu quan.   Báo cáo tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng ghép tế bào gốc tạo máu ở Việt Nam từ trước tới nay tại hội thảo nói trên cũng cho thấy dù đã được nhà nước quan tâm đầu tư nhiều, nhưng để đưa kỹ thuật này vào chữa trị rộng rãi còn nhiều nan giải. Với điều kiện cơ sở vật chất hiện nay, chỉ có những bệnh viện, viện nghiên cứu hiện đại của Việt Nam mới có khả năng đảm đương các thí nghiệm và ghép tế bào gốc tạo máu chữa bệnh. Mới đây, Nhà nước đã đầu tư 40 tỷ đồng để xây một phòng thí nghiệm tế bào gốc cho Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh nhưng để phát triển công nghệ tế bào gốc của Việt Nam thành thương hiệu phải đầu tư hàng trăm triệu USD1.  Về phía người bệnh, những ai là người có khả năng chữa bệnh bằng phương pháp ứng dụng ghép tế bào gốc tạo máu? Các chuyên gia ghép tế bào gốc tạo máu tỏ ra quan ngại về khả năng đưa ứng dụng này vào chữa trị ở nước đang phát triển như Việt Nam. Theo tính toán của các chuyên gia trong Hội thảo Quốc tế về ghép tế bào gốc tạo máu, chi phí cho một ca ghép tế bào gốc tạo máu ở Việt Nam vào khoảng 35.000 USD, mặc dù được cho là thấp hơn nhiều quốc gia khác, nhưng vẫn là mức giá không phải người bệnh nào cũng có thể trả.  Do đó, nhiều chuyên gia và nhà quản lý nghĩ tới phương án sử dụng nguồn vốn xã hội hoá, để cho các công ty, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực hiện đại và đầy triển vọng này. Hiện ở Việt Nam đã có bốn ngân hàng tế bào gốc được thành lập, là ngân hàng tế bào gốc của Bệnh viện quân y 103, Bệnh viện Truyền máu và huyết học TP. HCM, công ty cổ phần Mekophar, công ty cổ phần Ngọc Tâm.  Vướng mắc về khung pháp lý   Sử dụng nguồn vốn xã hội hoá là giải pháp để phát triển, mở rộng ứng dụng trong lĩnh vực này vào chữa trị bệnh, đây cũng là xu hướng được đề cập nhiều trong chiến lược phát triển y tế. Nhưng khi để các cá nhân và công ty tham gia lại vấp phải khung pháp lý hiện hành.   Nếu như trên thế giới, nghiên cứu tế bào gốc phải bước trên con đường chông gai vì các rào cản đạo đức, tôn giáo thì ở Việt Nam lại chưa có đầy đủ khung pháp lý quy định chặt chẽ các vấn đề liên quan tới ghép tế bào gốc tạo máu. Bản thân việc thành lập các ngân hàng tế bào gốc cũng “đi trước luật” vì chưa có quy định các ngân hàng tế bào gốc đó sẽ cho tặng hay kinh doanh như thế nào. Luật “Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” cũng chưa có điều khoản về hiến tặng tế bào gốc. Do đó, không chỉ thiếu những quy định, hướng dẫn mà còn thiếu cả chế tài xử phạt (theo Luật, không được phép kinh doanh các bộ phận cơ thể, nhưng thực tế việc này đã diễn ra. Ứng dụng ghép tế bào gốc rất rộng rãi, không chỉ trong chữa bệnh mà có thể sử dụng cho cả công nghệ thẩm mỹ, do đó không loại trừ nhiều trường hợp kinh doanh vẫn được thực hiện).  Ghép tế bào gốc tạo máu trong chữa bệnh và kỹ thuật ghép tế bào gốc nói chung sẽ ngày càng phổ biến trong tương lai. Nhưng để những ứng dụng này đưa vào chữa trị cần có những tính toán kỹ lưỡng về năng lực tài chính và quy định chặt chẽ về mặt luật pháp.  —  1. Theo ông Đỗ Việt Hà, Phó chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP. Hồ Chí Minh, đăng trong bài Tế bào gốc, Mạnh ai nấy tiến, tiến sao nổi trên VietnamNet    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ghi chép thời Trung cổ giúp hé lộ những vụ phun trào núi lửa trong quá khứ      Các nhà nghiên cứu đã mất gần 5 năm để xem xét hàng trăm biên niên sử và ghi chép trên khắp châu  u và Trung Đông, nhằm tìm kiếm các tài liệu về nguyệt thực toàn phần và màu sắc của chúng. Hiện tượng nguyệt thực chính là cơ sở để họ tìm ra dữ kiện về các vụ phun trào núi lửa trong quá khứ.     Những lần nguyệt thực tối đen nhất đều xảy ra trong vòng một năm hoặc lâu hơn sau các đợt phun trào núi lửa lớn. Vì chúng ta biết chính xác ngày xảy ra nguyệt thực, điều này đã giúp các nhà khoa học thu hẹp thời điểm các vụ phun trào xảy ra. Ảnh: Medievalists  “Cùng năm đó, trong kỳ Trăng tròn, Mặt trăng chuyển vàng, đỏ và nhiều sắc màu khác” – vị tu sĩ người Anh Bartholomew de Cotton, viết về các sự kiện năm 1287.  Bằng cách quan sát bầu trời đêm, các tác giả thời trung cổ đã vô tình ghi lại một số vụ phun trào núi lửa lớn nhất trong lịch sử. Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế do Đại học Geneva (UNIGE) dẫn đầu đã khảo sát các tài liệu châu Âu và châu Á thế kỷ 12 và 13, cùng với dữ liệu lõi băng và vòng cây, để xác định niên đại chính xác của một số vụ phun trào núi lửa lớn nhất từng ghi nhận Kết quả của họ, được công bố trên tạp chí Nature, cung cấp những thông tin mới về một trong những thời kỳ núi lửa hoạt động dữ dội nhất trong lịch sử Trái đất, mà một số người cho rằng đã góp phần kích hoạt Thời kỷ tiểu băng hà (Little Ice Age), một khoảng thời gian lạnh giá hình thành nên các sông băng tại châu u.  Các nhà nghiên cứu đã mất gần 5 năm để xem xét hàng trăm biên niên sử và ghi chép trên khắp châu Âu và Trung Đông, nhằm tìm kiếm các tài liệu về nguyệt thực toàn phần và màu sắc của chúng. Nguyệt thực toàn phần xảy ra khi Mặt Trăng đi vào vùng bóng tối của Trái Đất. Lúc này ánh trăng sẽ bị mờ đi và Mặt Trăng sẽ có màu đỏ đồng hoặc màu cam sẫm. Nhưng sau một vụ phun trào núi lửa lớn, có thể sẽ khiến bụi tồn tại quá nhiều trong tầng bình lưu, khiến mặt trăng bị lu mờ và gần như biến mất.  Các nhà biên niên sử thời trung cổ đã ghi lại và mô tả tất cả các sự kiện lịch sử, bao gồm từng lời đi nước bước của các vị vua và giáo hoàng, những trận chiến quan trọng, thiên tai và nạn đói. Họ cũng cho rằng những hiện tượng thiên thể có thể là điềm dữ, báo trước những tai họa, biến cố trên. Trong Sách Khải Huyền, tác giả cho rằng trăng máu là điềm báo trước cho một sự kiện trọng đại của thời mạt thế, vì vậy các trang viết đặc biệt cẩn thận lưu ý đến màu sắc của mặt trăng. Trong số 64 lần nguyệt thực toàn phần xảy ra ở châu u trong khoảng thời gian từ 1100 đến 1300, các nhà biên niên sử đã ghi lại một cách tỉ mỉ 51 lần. Trong 5 trường hợp trong số này, họ cũng báo cáo rằng mặt trăng rất mờ mịt.  Đóng góp của các nhà ghi chép Nhật Bản  Khi được hỏi điều gì đã khiến ông quyết định kết nối các ghi chép của các tu sĩ, các nhà chép sử về độ sáng và màu sắc của mặt trăng bị che khuất với sự phun trào núi lửa, tác giả chính của công trình, Sébastien Guillet, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện khoa học môi trường tại UNIGE, cho biết: “Trong khi nghe album Dark Side of the Moon của Pink Floyd, tôi nhận ra rằng những lần nguyệt thực tối đen nhất đều xảy ra trong vòng một năm hoặc lâu hơn sau các đợt phun trào núi lửa lớn. Vì chúng ta biết chính xác ngày xảy ra nguyệt thực, điều này đã giúp các nhà khoa học thu hẹp thời điểm các vụ phun trào xảy ra.”  Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng những người ghi chép ở Nhật Bản cũng chú ý đến nguyệt thực. Một trong những người nổi tiếng nhất, Fujiwara no Teika, đã viết về hiện tượng nguyệt thực tối chưa từng thấy vào ngày 2 tháng 12 năm 1229:  tự thuở hồng hoang, Mặt trăng chưa bao giờ như thế này, không thể nhìn thấy vị trí của Mặt trăng, tựa như nó đã biến mất trong nguyệt thực… Quả thực là điều đáng sợ.  Bụi tầng bình lưu từ các vụ phun trào núi lửa lớn không chỉ là nguyên nhân khiến mặt trăng biến mất. Nó cũng làm mát nhiệt độ mùa hè bằng cách hạn chế ánh sáng mặt trời chiếu tới bề mặt Trái đất. Tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cây trồng nông nghiệp.  (a) Ghi chép từ tu viện Santo Domingo de Silos, gần Burgos, Tây Ban Nha, 1090–1109 , (b) Ghi chép của Johannes de Sacrobosco, mô tả nguyệt thực vào thế kỷ 13, (c) Bản sao ghi chép của Fujiwara no Teika, mô tả nguyệt thực toàn phần ngày 2 tháng 12 năm 1229  Kiểm tra chéo văn bản và dữ liệu  “Từ nghiên cứu trước đây, chúng tôi biết rằng các vụ phun trào nhiệt đới mạnh có thể khiến trái đất giảm nhiệt khoảng 1°C trong một vài năm”, Markus Stoffel, giáo sư tại Viện khoa học môi trường tại UNIGE, một chuyên gia về chuyển đổi các phép đo vòng cây sang dữ liệu khí hậu, người đồng thiết kế nghiên cứu, cho hay. “Chúng cũng có thể dẫn đến những biến đổi về lượng mưa, gây ra hạn hán ở một nơi và lũ lụt ở một nơi khác.”  Bất chấp những tác động này, con người vào thời điểm đó không thể tưởng tượng được rằng mùa màng thất bát hay nguyệt thực bất thường lại có liên quan gì đến núi lửa – bản thân các vụ phun trào đều không được ghi nhận, trừ một vụ. “Chúng tôi chỉ biết về những vụ phun trào này thông qua dấu vết mà chúng lưu lại trong băng ở Nam Cực và Greenland”, đồng tác giả Clive Oppenheimer, giáo sư tại Khoa Địa lý tại Đại học Cambridge, cho biết. “Bằng cách tổng hợp thông tin từ lõi băng và những dòng mô tả từ các văn bản thời trung cổ, giờ đây chúng tôi có thể ước tính chính xác hơn về thời gian và địa điểm xảy ra một số vụ phun trào lớn nhất trong thời kỳ này.”  Để kết hợp hiệu quả tất cả những dữ kiện này, Sébastien Guillet đã làm việc với các nhà lập mô hình khí hậu để tính toán thời điểm phun trào. “Biết được núi lửa phun trào vào mùa nào trong năm là điều cần thiết, vì nó ảnh hưởng đến sự lan rộng của bụi núi lửa và quá trình biến đổi nhiệt độ cũng như các yếu tố khí hậu khác liên quan đến những vụ phun trào này.”  Bên cạnh việc thu hẹp được thời điểm và mức độ phun trào, nghiên cứu còn ghi nhận được các thông tin quan trọng từ lõi băng: khoảng thời gian từ năm 1100 đến 1300 là một trong những thời kỳ núi lửa hoạt động mạnh nhất trong lịch sử. Trong số 15 vụ phun trào được xem xét trong nghiên cứu mới, một vụ xảy ra vào giữa thế kỷ 13 sánh ngang với vụ phun trào Tambora nổi tiếng năm 1815 đã dẫn đến sự kiện “mùa hè biến mất” vào năm 1816. Tác động chung của các vụ phun trào thời trung cổ đối với khí hậu Trái đất có thể đã dẫn đến đến Thời kỷ tiểu băng hà, khi các hội chợ mùa đông được tổ chức trên những dòng sông đóng băng ở châu u. “Việc hiểu hơn về những vụ phun trào bí ẩn này sẽ giúp chúng ta biết được liệu núi lửa trong quá khứ có ảnh hưởng như thế nào đến không chỉ khí hậu mà còn cả xã hội trong thời Trung cổ”, nhóm nghiên cứu kết luận.  Bài báo, “Lunar eclipses illuminate timing and climate impact of medieval volcanism” của Sébastien Guillet, Christophe Corona, Clive Oppenheimer, Franck Lavigne, Myriam Khodri, Francis Ludlow, Michael Sigl, Matthew Toohey, Paul S. Atkins, Zhen Yang, Tomoko Muranaka, Nobuko Horikawa và Markus Stoffel, đã được đăng tải trên tạp chí Nature.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   Medieval texts help modern scientists better understand volcanoes  Lunar eclipses illuminate timing and climate impact of medieval volcanism    Author                .        
__label__tiasang Gia công phần mềm: Điểm sáng trên bức tranh kinh tế      Giữa lúc nhiều doanh nghiệp trong cả nước đang gặp khó khăn thì các doanh nghiệp gia công phần mềm ra nước ngoài lại làm ăn khá thuận lợi, dự báo năm nay sẽ là năm được mùa và xu hướng thị trường đang tiếp tục tốt lên.    Các doanh nghiệp cho biết được vậy là nhờ ngành kinh tế này trên toàn cầu vẫn phát triển tốt, trong khi các doanh nghiệp hiện đã đạt những kinh nghiệm và quy mô nhất định sau nhiều năm tham gia thị trường, vì thế khả năng hồi phục sau khủng hoảng đã nhanh hơn. Với tình hình khả quan như vậy, nhiều doanh nghiệp đã đạt mục tiêu cả năm ngay từ quý 3, và càng về cuối năm càng có thêm các dự án mới có quy mô lớn và dài hạn.  Tốt hơn mong đợi  Theo ông Ngô Văn Toàn, phó tổng giám đốc Global CyberSoft (GCS), tình hình đã tốt hơn nhiều so với mong đợi. Trong tám tháng đầu năm GCS tăng trưởng doanh thu 40% so với cùng kỳ và đạt 70% kế hoạch năm.  Ông Ngô Hùng Phương, tổng giám đốc CSC Vietnam, cũng cho biết nhân sự cho mảng gia công phần mềm của CSC đã tăng 30% so với năm trước, lên xấp xỉ 800 người.  Tháng 7 vừa rồi TMA Solutions cũng đạt mốc 1.000 kỹ sư, tăng 20% so với năm trước và kỳ vọng đạt 1.200 người vào cuối năm nay. Theo chủ tịch Nguyễn Hữu Lệ, sở dĩ khả quan như vậy là nhờ có thêm nhiều khách hàng mới từ Úc và châu Âu bên cạnh thị trường Bắc Mỹ khá ổn định.  Đối với LogiGear thì nhân sự cho hai dự án chính về dầu khí và bảo mật của Halliburton và McAfee đang tăng trưởng nhanh. Vài tháng nay LogiGear đã mở thêm văn phòng miền Trung để tuyển dụng, khả năng cuối năm nay vượt qua con số 600 kỹ sư so với 400 người hồi năm 2010.  Tính ở quy mô, hiện nhiều doanh nghiệp đã đáp ứng được những dự án với hàng trăm kỹ sư trong nhiều lĩnh vực. Ví dụ GCS vốn thiên về mảng tự động hoá ở thị trường Nhật thì hiện nay phát triển giải pháp phần mềm cho mạng viễn thông vệ tinh của một khách hàng Bắc Mỹ, sử dụng hơn 100 kỹ sư và đang tiếp tục tăng lên, bên cạnh mảng quan trọng khác cũng phát triển tốt là hệ thống nhúng. Ở CSC, ngoài hai mảng trọng tâm hàng chục năm nay là y tế và viễn thông thì năm nay phát triển giải pháp bảo hiểm cho hãng Jurich lên đến cả trăm kỹ sư và dự án kéo dài nhiều năm. Ông Lệ cũng lý giải, sau khi có kinh nghiệm ở mảng viễn thông nhiều năm thì đến nay thị trường dịch vụ ứng dụng di động phát triển, doanh nghiệp trong mảng này cũng tận dụng được cơ hội khởi điểm cùng với xu hướng chung của thị trường.  Theo ông Phương, vấn đề khả quan không chỉ ở phần trăm tăng trưởng mà quan trọng nhất là mức tăng trên quy mô cũng như chất lượng hiện lớn hơn nhiều so với những năm trước. Thị trường cũng có những khác biệt tích cực nữa là ngày càng có nhiều doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu cao hơn trong các ngành công nghiệp, chứ không chỉ gia công đơn thuần. Ông Phương phân tích, xu hướng của ngành gia công toàn cầu là dịch vụ bảo hành bảo dưỡng chiếm giá trị 70%, việc phát triển phần mềm chỉ 30%. Đây là một đặc trưng đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải có nguồn nhân sự giỏi từ tiếng Anh, có năng lực ngành công nghiệp, khả năng tư vấn cho khách hàng và người của công ty gia công phải hỗ trợ khách hàng 24/7.  Theo ông Lệ, xu hướng dịch chuyển gia công để giảm chi phí vẫn đang phát triển và cơ hội này đang diễn ra trên toàn cầu chứ không riêng Việt Nam. Vấn đề quan trọng là các dự án vào Việt Nam hiện đòi hỏi kỹ thuật cao hơn, và doanh nghiệp đã đáp ứng được nhờ doanh nghiệp đã đạt được những cột mốc nhất định và được biết đến nhiều hơn. Các kỹ sư hiện nay tay nghề cũng vững hơn dù chi phí lao động giá rẻ trong nước không còn nhiều lợi thế nữa. “Nhân tố tích cực cho mảng gia công là nhân sự trong ngành đã tham gia được vào dự án chất lượng cao chứ không chỉ làm thợ IT”, ông Lệ nói.  Thêm thị trường mới  Rút kinh nghiệm về những khó khăn khi gặp khủng hoảng, đa số doanh nghiệp hiện đã phát triển đa dạng thị trường nên các rủi ro không bị dồn vào một rổ. Ví dụ, CSC mạnh ở thị trường Mỹ thì nay tăng mạnh ở thị trường châu Âu và Úc. FPT Software có lượng khách hàng lớn tại Nhật nên gặp nhiều khó khăn do đơn hàng bị giảm sau vụ động đất hồi tháng 3. Tuy nhiên, công ty này vẫn hoàn thành 70% kế hoạch năm từ quý 3, tăng 25% về doanh số và 20% lợi nhuận so với cùng kỳ. FPT Software cũng đẩy mạnh thị trường Âu – Mỹ nên cho biết vẫn đạt mục tiêu tăng trưởng 30% năm nay.  Theo ông Nguyễn Hải Triều, giám đốc Pyramid Consulting Vietnam, nhóm khách hàng Nhật của họ cũng bị suy giảm do sự cố sóng thần ảnh hưởng đến một số tập đoàn xe hơi. Tuy nhiên, nhờ tăng trưởng mạnh ở các nhóm khác nên năm nay Pyramid vẫn tăng trưởng khoảng 20%. Đặc biệt, hợp đồng lớn phát triển ứng dụng di động cho cả iOS, Android và BlackBerry tại thị trường Nam Phi sẽ hỗ trợ cho kế hoạch tăng trưởng dài hạn của Pyramid sắp tới. Nếu so với năm năm trước thì hiện khả năng hài lòng của khách hàng với đối tác Việt Nam cao hơn rất nhiều, các doanh nghiệp cũng đã linh hoạt tìm kiếm các khách hàng mới nên chắc chắn sẽ duy trì được công ăn việc làm tốt. “Điều quan trọng là nỗ lực cải tiến phương pháp phát triển dự án sao cho chi phí thấp mà chất lượng vẫn cao để cạnh tranh tốt hơn trong dài hạn”.  Ông Toàn cho biết lo ngại lớn nhất của GCS trước nay là thị trường Nhật vì đây là nơi chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhưng đến nay, ông đã “thở phào” vì các khách hàng của họ không bị ảnh hưởng và dự án đang tăng lên. Tương tự, ông Lệ cho biết trước đây TMA chỉ có mỗi khách hàng Nhật là Toshiba với các dự án nhỏ thì mới đây, TMA giành được dự án của Toshiba chuyển từ Đại Liên (Trung Quốc) sang Việt Nam. “Ảnh hưởng từ thị trường Nhật là có nhưng chỉ ngắn hạn, trong khi xu hướng dịch chuyển của công ty Nhật ra nước ngoài đang tăng lên, hứa hẹn đây tiếp tục là mảng thị trường gia công tốt trong những năm tới”.  Các doanh nghiệp nhận định rằng nhu cầu thị trường toàn cầu vẫn cao, các tập đoàn đều muốn đa dạng đối tác bên cạnh việc tập trung lớn vào Ấn Độ, vì thế doanh nghiệp Việt Nam đang có cơ hội. “Theo kinh nghiệm nhiều năm dẫn dắt công ty qua các chu kỳ tăng trưởng và suy giảm của ngành, theo tôi ngành mình đã thật sự bắt đầu một chu kỳ tăng trưởng mới, chu kỳ đó đã phát tín hiệu tốt từ đầu năm và sẽ tiếp tục tốt lên trong những năm tới”, ông Phương nhận định.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá dầu tăng – vận may và tai ương      Nhờ dầu mỏ, nước Nga không những thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế như nhiều chuyên gia tiên liệu mà còn tăng ngân sách gấp mười lần trong vòng chưa đầy mười năm qua. Tuy nhiên, cũng vì dầu mỏ mà nền kinh tế nước này phát triển có phần mất cân đối, và lạm phát cũng như nhập khẩu đều tăng vọt.    Từ bốn năm nay, giá dầu thế giới luôn ở mức cao và đã gần chạm ngưỡng 100USD/thùng hồi đầu tháng này. Giá dầu tăng mạnh làm cho thế giới tốn thêm từ 4 đến 5 tỷ USD mỗi ngày so với năm năm trước, và 2 nghìn tỷ USD đã được chuyển vào túi các công ty dầu mỏ và các nước sản xuất dầu mỏ chỉ riêng trong năm nay.  Ở Mỹ, xăng nhập khẩu tăng giá không chỉ ảnh hưởng đến túi tiền người tiêu dùng mà còn làm lạm phát tăng, tình hình thâm hụt thương mại trở nên tồi tệ hơn, đồng  suy yếu thêm, và Cục Dự trữ Liên bang khó lòng cân bằng được hai mục tiêu chống lạm phát và duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, do giá dầu mỏ tăng cao, kể từ tháng chín năm nay, mỗi người dân ở Alaska, vùng đất nhiều dầu mỏ, được chia lợi tức 1.654 USD/năm, tăng 547 USD so với năm ngoái.                     Lợi nhuận từ nguồn tài nguyên dầu mỏ, đến 700 tỷ USD/năm, chảy cả vào túi các nước xuất khẩu dầu mỏ. Hai trong số những nước này là Iran và Venezuela, có thể sẽ càng xem thường chính quyền của ông Bush hơn, nhờ thế mạnh về dầu mỏ. Venezuela cung cấp dầu mỏ cho khắp Nam Mỹ để giành giật ảnh hưởng ngay ở những nước vốn là đồng minh lâu năm của Mỹ. Iran có thể sẽ ít bị ảnh hưởng bởi những lệnh trừng phạt nhằm ép nước này phải từ bỏ ý đồ theo đuổi chương trình hạt nhân hoặc phải mở cửa cho các đoàn thanh sát quốc tế.  Ở Nga, nước xuất khẩu dầu mỏ thứ hai trên thế giới, tài nguyên dầu mỏ đang chứng tỏ vai trò của mình trong lĩnh vực chính trị cũng như kinh tế. Khi ông Putin nhậm chức Tổng thống vào năm 2000 – hai năm sau khi đồng rúp suy yếu thảm hại và nước Nga không thanh toán nổi các món nợ nước ngoài – các nhà hoạch định chính sách của nước này lo rằng nước Nga sẽ lâm vào một cuộc khủng hoảng tài chính khác. Nợ nước ngoài phải trả của Nga lên đến con số kỷ lục – 17 tỷ USD – vào cuối năm đó.  Thế nhưng, giờ đây, khi ông Putin sắp sửa kết thúc nhiệm kỳ tổng thống thứ hai thì khoản nợ này thành quá nhỏ bé. Chỉ tính từ tháng bảy năm nay, dự trữ vàng và ngoại tệ của Nga đã tăng một khoản lớn hơn con số nợ nước ngoài nói trên. Giá dầu tăng đã giúp nước Nga tăng ngân sách liên bang lên 10 lần kể từ năm 1999 trong khi vẫn trả hết nợ nước ngoài và trở thành nước có dự trữ ngoại tệ mạnh và vàng lớn thứ ba thế giới, khoảng 425 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người ở nước Nga đã tăng gấp đôi dưới thời của tổng thống Putin và số người sống dưới mức nghèo khổ cũng giảm một nửa.  “Nga tin tưởng có thể chống chọi bất kỳ cuộc khủng hoảng kinh tế nào xảy ra trong nước,” ông Vladimir Milov, Giám đốc Học viện Chính sách về năng lượng, nguyên Thứ trưởng Năng lượng của Nga, nói. Bằng lợi nhuận dầu mỏ, Nga còn xây một quỹ dự phòng trị giá 150 tỷ USD, gọi là Quỹ Ổn định. Nước Nga đã khôi phục được ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế như thời còn là Liên bang Xô Viết. Không cần phải quỵ lụy các nước sản xuất dầu mỏ cũng như các nhà băng của phương tây, nước Nga dám chống lại những hành vi mà nước này cho là chủ nghĩa bành trướng kiểu Mỹ, đặc biệt đối với việc mở rộng NATO và kế hoạch phòng thủ tên lửa của Mỹ ở Đông Âu. Nước Nga cũng luôn bày tỏ quan điểm độc lập đối với những vấn đề gây tranh cãi như chương trình hạt nhân của Iran.  Nhưng nhiều nhà kinh tế học lại gọi lợi nhuận từ dầu mỏ là tai ương với lý do chúng làm cho các nước giàu thứ tài nguyên này không chịu đa dạng hóa nền kinh tế của mình để tạo ra sự thịnh vượng đều khắp. Chẳng hạn, ở Nga, tình trạng lạm phát và nhập siêu đều tăng mạnh, đầu tư mới cho những ngành kinh tế kích thích tăng trưởng lại rất hẻo.  Ở Trung Quốc, từ ngày 31-10, xăng bán lẻ tăng giá gần 10% và tình trạng khan hiếm nhiên liệu xảy ra trên quy mô toàn quốc,  kể cả ở những thành phố lớn như BắcKinh, Thượng Hải và những thành phố cảng ở miền đông vốn không bao giờ thiếu nguồn cung. Tuần này, ở thành phố cảng Ninh Bộ, người dân có khi phải xếp hàng đến ba tiếng mới đến lượt mua xăng. Dư luận đồn thổi rằng chính phủ Trung Quốc đầu cơ xăng dầu chờ tăng giá, khiến Tân Hoa xã phải đăng lời cảnh báo, bất kỳ ai bị phát hiện tung tin giá xăng dầu tăng sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”.  Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế, hiện Trung Quốc tiêu thụ 9% sản lượng xăng dầu của thế giới, năm năm trước con số này là 6,4%. Do Trung Quốc trợ giá nhiên liệu nên mười năm qua, lượng xăng dầu tiêu thụ ở Trung Quốc tăng mỗi năm 8,7%, bất chấp giá nhiên liệu tăng mạnh và bất chấp những ảnh hưởng đối với môi trường.  Ở Nhật Bản, nước gần như phụ thuộc 100% vào xăng dầu nhập khẩu, ai cũng ít nhiều chịu thiệt khi giá xăng dầu tăng cao, trừ Toyota. Việc xăng tăng giá đã đánh bóng tên tuổi của dòng xe lai hybrid Prius cũng như các dòng xe tiết kiệm nhiên liệu khác của hãng này như Camry và Corolla. Mặc dù chững lại ở Nhật Bản nhưng những dòng xe này bán rất chạy ở các nước Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Chỉ riêng trong tháng 10, Toyota đã bán được hơn 13 nghìn xe Prius, tăng gấp rưỡi so với cùng kỳ năm ngoái. Tháng Năm năm nay, tổng số xe hybrid Toyota bán ra đã vượt con số 1 triệu.  Từ nhiều năm nay, Nhật Bản vẫn tìm cách  “cai” xăng dầu. Nước này đã giảm nhập khẩu xăng dầu 16% so với năm 1973, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng hơn hai lần trong thời gian đó. Nhật Bản đầu tư hàng tỷ USD để nghiên cứu biến các hệ thống phát điện chạy bằng xăng dầu thành các hệ thống sử dụng khí đốt tự nhiên, than, năng lượng nguyên tử hoặc các nhiên liệu thay thế. Nhật Bản sản xuất gần một nửa, chính xác là 48%, điện mặt trời của toàn thế giới, trong khi Mỹ chỉ chiếm 15%. Tỷ lệ sử dụng bóng đèn huỳnh quang ở Nhật Bản là 80%, so với 6% ở Mỹ.  Tuy nhiên, giá xăng tăng vẫn làm cho giá nguyên liệu thô, nguyên liệu công nghiệp cũng như các mặt hàng thực phẩm, vốn phụ thuộc vào vận chuyển, tăng cao. Từ tháng giêng tới, hãng sản xuất mì ăn liền hàng đầu thế giới của Nhật Bản là Nissin sẽ tăng giá từ 7 đến 11% – lần tăng giá đầu tiên suốt 17 năm qua.  Ở Anh, giá xăng trung bình trên toàn quốc cũng đạt đỉnh 1 bảng/lít (tương đương 33.505 đồng, theo tỷ giá ngày 12-10). “Nhưng rất ít báo chí nói về vấn đề này – anh sẽ không thấy nhiều dòng tít kiểu như ‘Kỷ lục mọi thời đại của giá xăng'”, Chris Skrebowski, biên tập viên tờ Petroleum Review do Viện Năng lượng ở London xuất bản, nói. “Điều này khác với ở Mỹ. Ở đây, mọi người chấp nhận thực tế là xăng thì phải đắt”.  Theo Skrebowski, trong chuyện này, chính phủ được lợi nhiều nhất bởi vì thuế chiếm đến 80% giá xăng. Hiện nay, Anh gần như tự đáp ứng được nhu cầu xăng dầu trong nước, bởi vậy ảnh hưởng của việc dầu thô tăng giá trên thị trường thế giới đối với nền kinh tế nước này cũng không đến nỗi nặng nề. Sản lượng dầu của Anh đạt khoảng 1,4 đến 1,6 triệu thùng/ngày, trong khi nhu cầu vào khoảng 1,7 triệu thùng/ngày. Thế nhưng Thủ tướng Gordon Brown vẫn đưa vấn đề không phụ thuộc về năng lượng thành một ưu tiên trong các chính sách của mình.  Theo các nhà phân tích, ảnh hưởng của việc dầu thô tăng giá đối với một số nước châu Âu nhập khẩu xăng bằng đồng đô la Mỹ cũng được giảm nhẹ phần nào do đồng đô la Mỹ đang mất giá kỷ lục so với đồng euro và đồng bảng.      THÁI THANH (Theo Washington Post)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá dầu thế giới sụt giảm trước những lo ngại về kinh tế thế giới      Giá dầu thế giới giảm sang ngày thứ hai  trước những lo ngại rằng các lãnh đạo Châu Âu không đạt được tiến triển  về giải quyết khủng hoảng nợ công trong khu vực, đồng thời với những báo  cáo cho thấy kinh tế Mỹ – nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới – đang  có tín hiệu suy giảm.    Các mức giá giao dịch tương lai giảm tới 0,7%. Thủ tướng Đức Angela Merkel khẳng định rằng bà và Tổng thống Pháp Francois Hollande tại cuộc gặp với Thủ tướng Hy Lạp Antonis Samaras tại Berlin hôm nay và ngày mai sẽ tiếp tục duy trì sức ép đòi hỏi Hy Lạp kiểm soát nền kinh tế của mình. Trong khi đó, các báo cáo hôm qua cho thấy chỉ số thất nghiệp của Mỹ hiện đã lên mức cao nhất trong tháng và lòng tin người tiêu dùng  trượt xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1.  Giá dầu giao hàng vào tháng 10 đã giảm giá tới 69 cent xuống còn 95,58 USD một thùng, theo giá giao dịch điện tử trên Sàn Giao dịch New York, và đạt mức 95,75 USD vào 2:56 chiều theo giờ Singapore. Giá giao dịch theo hợp đồng hiện tại vào hôm qua đã giảm 1% xuống còn 96,27 USD, là mức thấp nhất kể từ 20/8. Như vậy, nhìn chung giá dầu đã giảm 0,3% trong tuần này và giảm 3,1% trong năm. Giá dầu thô brent giao hàng tháng 10 giảm 39 cent, tức là 0,3%, xuống còn 114,62 USD một thùng trên sàn giao dịch tương lai ICE tại London (London-based ICE Futures Europe exchange).  Xu hướng giá dầu giảm trượt theo một biểu đồ đi xuống bắt đầu từ ngày 1/3, theo dữ liệu thu thập bởi Bloomberg. Đường đi xuống này cho thấy giá dầu trượt xuống từ đỉnh 110,55 USD, và đến ngày hôm nay có lúc xuống còn 98,48 USD.  Tuy nhiên, sang tuần tới, giá dầu thô New York có thể tăng lại do những phỏng đoán về gói kích thích tài chính của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, và lo ngại về gián đoạn nguồn cung ở Trung Đông, theo một điều tra của Bloomberg. Bão Nhiệt đới Isaac hiện đang mạnh lên ở Biển Caribe dự kiến sẽ gây mưa và gió lớn tại Vịnh Mexico trong tuần tới, gây đe dọa các cơ sở sản xuất năng lượng. Đây là nơi sản xuất 29% nguồn cung dầu của Mỹ, 6,3% nguồn khí tự nhiên, và 40% năng lực chế xuất, theo Bộ Năng lượng Mỹ.  Tổ chức OPEC sẽ cắt giảm số lượng vận chuyển dầu trong tháng này. OPEC cung cấp tới 40% dầu trên thế giới, trong vòng 4 tuần tính tới 8/9 sẽ chỉ xuất khẩu 23,9 triệu thùng dầu mỗi ngày, so với mức 23,94 triệu thùng dầu/ngày của một tháng trước. Dữ liệu này chưa tính tới Angola và Ecuador.  Thanh Xuân lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2012-08-24/oil-falls-a-second-day-on-u-s-jobless-claims-european-crisis.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá điện tăng tiếp?      Mặc dù đã được điều chỉnh tăng giá điện trên 15% vào đầu năm 2011, nhưng do thiếu nợ chồng chất hàng ngàn tỉ đồng nên Tập đoàn Điện lực VN (EVN) vẫn tiếp tục đề xuất tăng giá lần hai, với mức dự kiến giá điện sẽ tăng thêm 11% vào tháng 11.    Lỗ nên phải tăng…  Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, EVN đã trình phương án tăng giá lần thứ hai trong năm 2011 với mức trên 10% và nhiều khả năng phương án tăng 11% sẽ được chọn, chứ không phải 13% như một số báo đã đưa tin.   Nếu phương án này được thông qua thì trong năm 2011, EVN được tăng giá hai lần (tháng 3 tăng 15,28%) và tổng mức tăng hai lần là khoảng 26,3% – đúng bằng mức mà Bộ Công thương đề xuất trong phương án một trình Chính phủ hồi đầu năm 2011.   Với phương án này, Bộ Công thương tính toán giá điện sẽ ở mức 1.360 đồng/kWh so với giá bán điện bình quân thực hiện năm 2010 là 1.076,64 đồng/kWh và so với giá điện hiện tại là 1.242 đồng/kWh.  Lý do chính khiến EVN phải tăng giá là tập đoàn này đang lỗ lớn, hiện đang nợ chính các công ty phát điện của các tập đoàn khác đến hơn 10.000 tỉ đồng. Tập đoàn Dầu khí và Tập đoàn Than – khoáng sản đã nhiều lần đề nghị EVN trả nợ nhưng nhiều tháng qua EVN vẫn không trả nổi. Các số liệu về mức lỗ của EVN và lý do lỗ, ông Nguyễn Bình Niệm cho biết EVN đã công khai. Cụ thể năm 2010, EVN phải huy động nguồn điện chạy dầu với mức giá 3.000-5.000 đồng/kWh, trong khi chỉ bán được cho người tiêu dùng với giá bình quân 1.242 đồng/kWh.   Tổng mức lỗ do việc mua điện giá cao này đã lên đến khoảng 8.000 tỉ đồng. Ngoài ra, EVN còn chịu khoản lỗ do điều chỉnh tỉ giá, chi phí lãi vay vốn lưu động cho mua dầu phát điện trong mùa khô năm 2011… với tổng số tiền cũng lên đến cả chục ngàn tỉ đồng.   Theo một quan chức EVN, nếu theo đúng cơ chế thị trường, các khoản chi phí trên phải được phân bổ vào chi phí để tính giá thành điện năm 2011.          Tăng giá hai lần…   Đầu năm 2011, để chuẩn bị cho việc tăng giá điện theo lộ trình vào tháng 3-2011 trên cơ sở đề xuất của EVN, Bộ Công thương đã trình Thủ tướng ba phương án tăng giá là 26,3%, 18% và 30,3%. Kết quả, Thủ tướng đã cho phép tăng 15,28%. Nhiều chuyên gia khẳng định nhiều khả năng năm 2011 sẽ phải tăng giá điện hai lần.   Theo phương án tăng giá điện 26,3% vào tháng 3-2011 của Bộ Công thương, giá than năm 2011 sẽ được tăng 10% so với giá than năm 2010, tỉ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước tại các nhà máy điện hạch toán phụ thuộc EVN sẽ ở mức 6%, tỉ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước các khâu truyền tải điện và phân phối điện giữ ở mức 8%.    Với mức tăng trên, EVN vẫn chưa được tính vào chi phí 8.000 tỉ đồng lỗ năm 2010 mà chỉ được phân bổ vào giá điện năm 2011 các khoản: 2.000 tỉ đồng chi phí phát điện giá cao của năm 2010, 257 tỉ đồng chi phí mua điện Cà Mau năm 2008-2009, 761 tỉ đồng chi phí tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn của năm 2009…         Về mức tăng giá, một quan chức EVN cho biết Bộ Tài chính đã công nhận nếu để EVN thu đủ chi, mức tăng giá điện vào tháng 3-2011 phải lên tới 62%. Trong khi EVN mới được tăng trên 15% vào tháng 3-2011 nên EVN bị mất cân đối tài chính nghiêm trọng. Ngay trong năm nay, EVN đã phải chịu lỗ lớn vào tháng 9 và tháng 10 do phải huy động nguồn nhiệt điện giá cao khi hai hệ thống khí Nam Côn Sơn và khí PM3 phải dừng để bảo dưỡng định kỳ.   Với hàng loạt nhà máy điện miền Nam có công suất từ 1.500-5.300MW (tùy thời điểm) không có khí để phát điện, để không phải cắt điện luân phiên, EVN đã phải bỏ tiền ra mua dầu chạy điện nên khoản lỗ ít nhất là hàng trăm tỉ đồng.  Mới đây, Bộ Công thương đã có quyết định thành lập tổ công tác kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2010 tại EVN với thành phần hùng hậu, gồm cả Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), các cục, vụ của Bộ Công thương… Một quan chức Bộ Công thương xác nhận việc kiểm tra là cơ sở để Bộ Công thương xem xét phương án tăng giá điện của EVN.  Sẽ ảnh hưởng mạnh đến CPI  Theo ông Nguyễn Đức Thắng – vụ trưởng Vụ Giá (Tổng cục Thống kê), nếu giá điện tăng vào tháng 11-2011, chắc chắn chỉ số giá (CPI) sẽ bị tác động mạnh do giá điện là giá mặt hàng đầu vào quan trọng, tác động đến nhiều ngành sản xuất.   Mặc dù trên thực tế giá điện nếu tăng vào tháng 11 thì tháng 12 người dân mới trực tiếp chi trả, ảnh hưởng đến chỉ số CPI nhưng về mặt tâm lý, rất có thể giá các mặt hàng khác sẽ tăng ngay khi tăng giá điện nếu không kiểm soát tốt. Đặc biệt, giá điện nếu tăng trên 10%, theo ông Thắng, sẽ ảnh hưởng ngay đến chỉ số chi tiêu cho hộ gia đình và người dân sẽ phải tăng tiền chi cho điện.  Ông Nguyễn Đức Thắng phân tích việc giữ chỉ số CPI cả năm 2011 ở mức 17-18% trong điều kiện bình thường như hiện nay đã rất khó và những tháng cuối năm chỉ số giá thường cao lên, nếu cộng với tác động giá điện cùng với tình hình mưa bão, rất khó khẳng định CPI cả năm sẽ ở mức nào.  Ông Nguyễn Văn Sơn, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng công nghệ bảo vệ người tiêu dùng, thừa nhận EVN đang gặp khó khăn do giá điện bị kìm nén quá lâu, tuy nhiên ông Sơn băn khoăn về thời điểm vào dịp cuối năm như tháng 11-2011.   Theo ông Sơn, giá điện ảnh hưởng chung đến tất cả các ngành, giống như xăng dầu. “Xăng dầu khi đòi tăng giá, bộ trưởng Bộ Tài chính đã có ý kiến và chỉ đạo phải xem xét kỹ các doanh nghiệp lỗ cụ thể ra sao. Do đó điện có lẽ cũng nên như vậy rồi hãy quyết tăng” – ông đặt vấn đề.   Nếu các bộ đã kiểm tra thì nên công khai các số liệu để người dân hiểu. Với EVN, nếu tăng giá thì họ sẽ có lợi, sẽ bớt một phần khó khăn để tăng khả năng đảm bảo điện nhưng theo ông Sơn, hàng ngàn doanh nghiệp khác cũng đang khó khăn giống EVN do tác động khách quan, nên cần tính toán một cách rất thận trọng việc tăng giá.        * Ông Võ Văn Đức Bảy (phó giám đốc Công ty Nhựa Chợ Lớn):               Phải bù thêm 39 triệu đồng/tháng   Ngành nhựa sử dụng điện nhiều nhất để tạo ra nhiệt năng, trong đó chi phí điện chiếm khoảng 10% chi phí sản xuất. Công ty chúng tôi sử dụng khoảng 10.000 kWh/ngày, với giá bình quân 1.500 đồng/kWh, tức hết 15 triệu đồng/ngày. Nếu giá điện tăng bình quân 11% thì chi phí tiền điện sẽ đội lên khoảng 1,5 triệu đồng/ngày, tương ứng khoảng 39 triệu đồng/tháng.   Đây là một chi phí rất lớn đối với doanh nghiệp trong bối cảnh tình hình sản xuất hết sức khó khăn khi sức mua trong nước đang bị ảnh hưởng rất lớn bởi tình hình bão lụt, nhu cầu sử dụng hàng thiết yếu được người tiêu dùng cân nhắc, doanh nghiệp không thể nào tăng giá bán được. Tôi cho rằng nếu tăng giá điện ở thời điểm này chỉ làm tình hình kinh tế trong nước càng thêm khó khăn mà thôi.    * Ông Nguyễn Quốc Hoàng (phó tổng giám đốc phụ trách sản xuất Công ty cổ phần Bibica): Điện tăng, nhiều mặt hàng sẽ “ăn theo”    Hằng tháng công ty chi khoảng 500 triệu đồng cho chi phí tiền điện. Nếu giá điện tăng lên thì công ty phải bỏ ra thêm 50 triệu đồng/tháng, mức này chỉ chiếm khoảng 1% trong chi phí sản xuất.   Ngành hàng của chúng tôi tuy không ảnh hưởng nhiều bởi giá điện tăng nhưng các chi phí đầu vào như vận tải, xăng dầu chắc chắn sẽ “ăn theo” giá điện. Đây là điều mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng lo lắng vì nó sẽ gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.   * Ông Phạm Xuân Hồng (chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần May Sài Gòn 3):  Sẽ giảm mạnh lợi nhuận    Hằng năm công ty chi khoảng 10 tỉ đồng cho chi phí tiền điện. Chi phí điện hiện chiếm khoảng 10% trong chi phí giá sản xuất gia công của doanh nghiệp. Nếu giá điện tăng 11% thì số tiền phải trả không chỉ tăng lên 11,1 tỉ đồng/năm mà chi phí cho sản xuất gia công sẽ tăng nhiều hơn mức 10% vì các yếu tố khác cũng lấy cớ giá điện tăng để tăng theo.   Trong khi giá bán cho nhà nhập khẩu không thể tăng vì giá đã chốt theo hợp đồng ký trước lâu rồi. Doanh nghiệp chỉ còn cách tiết kiệm tối đa và chấp nhận giảm lợi nhuận.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá lương thực tăng và bất ổn trên thế giới      “Thế giới đang hướng về một thời kì dài bất ổn và nguy cơ những cuộc xung đột do lương thực tăng giá và khan hiếm đang hiện rõ. Chúng ta đang tới gần một giai đoạn khủng hoảng lâu dài và những xung đột cũng như làn sóng bất ổn ở cấp khu vực sẽ trở nên không kiểm soát nổi. Trước đây đã có tới 854 triệu người luôn trong tình trạng thiếu lương thực, và ngày nay khi giá lương thực tăng cao số người này sẽ còn nhiều hơn nữa. Đó thực sự là một cuộc tàn sát được báo trước” – Mới đây, Jean Ziegler báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc (LHQ) về vấn đề lương thực đã tuyên bố như vậy.    Đây không phải là lời cảnh báo phóng đại, mà là một nguy cơ thực tế bởi đã xảy ra các cuộc  biểu tình, bạo loạn vì thiếu hụt lương thực tại một số nước. Tại Haiti, việc tăng giá và thiếu hụt lương thực trầm trọng dẫn tới làn sóng bạo lực khiến 5 người chết và 20 người bị thương đã làm cho Thủ tướng Jacques Edouard Alexis phải từ chức. Ngân hàng Thế giới ngay lập tức chi 10 triệu USD, đồng thời gửi chuyên gia tới để giải quyết vấn đề khủng hoảng lương thực. Vừa qua Tổng thống Haiti René Préval cũng thông báo giảm giá gạo để tránh lặp lại làn sóng bạo lực.  Sự kiện trên một lần nữa nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng lương thực đang tác động lên các quốc gia nghèo. Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế Dominique Strauss Kahn dự kiến việc tiếp tục tăng giá lương thực sẽ còn gây ra những hậu quả khủng khiếp, vì “như chúng ta đã từng có bài học trong quá khứ, tình trạng này có thể kết thúc bằng xung đột và chiến tranh”.  Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tính đến tháng 2/2008, giá lúa mỳ trên thế giới đã tăng 181% so với trước đây 36 tháng còn giá lương thực nói chung tăng 83%. Việc tăng giá một cách khủng khiếp này dẫn tới hàng loạt cuộc biểu tình ở Ai Cập, Cameroon, Bờ Biển Ngà, Mauritani, Ethiopia, Madagascar, Philippines Indonesia… Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, có ít nhất 33 quốc gia trên thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn chính trị- xã hội do giá lương thực tăng cao. Tại nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới là Philippines, quân đội đã phải giám sát việc cung cấp gạo tại các khu vực nghèo của Thủ đô Manila, “bất cứ ai bị phát hiện ăn cắp gạo sẽ bị tống giam”, Tổng thống Gloria Arryo tuyên bố.  Vấn đề giá lương thực sẽ được đưa ra thảo luận tại hội nghị tài chính của nhóm G8 diễn ra vào tháng 6 tới tại Nhật Bản. “Nhưng thẳng thẳn mà nói, chúng ta không thể đợi tới lúc đó” –  Robert Zoellick, Giám đốc Ngân hàng Thế giới phát biểu. Robert Zoellick đã yêu cầu các quốc gia giàu cần cung cấp ngay lập tức ít nhất 500 triệu USD mà Chương trình lương thực thế giới đang cần để đối phó với cuộc khủng hoảng hiện nay. Ngân hàng Thế giới dự tính cần tăng gấp đôi số tiền để các quốc gia châu Phi có thể ứng phó với vấn đề khủng hoảng lương thực hiện thời, tức khoảng 800 triệu USD.  Không chỉ cư dân nghèo vùng sâu vùng xa mà cả cư dân đô thị cũng là nạn nhân của thiếu hụt lương thực và tăng giá lương thực. Đây là thách thức mà LHQ và các tổ chức cứu trợ quốc tế từ trước tới nay chưa dự liệu. Ví dụ, ở Pakistan có tới 1/3 trong tổng số 56 triệu dân cư thành thị đang trong tình trạng thiếu lương thực – điều này gây ra không ít khó khăn cho các tổ chức trợ giúp lương thực vì không nhiều kinh nghiệm hoạt động trong các khu vực này.  Cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, nay là Chủ tịch của một quỹ mang tên ông (Quỹ JC Vì phát triển bền vững và đối thoại văn hoá) đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hợp tác giải quyết vấn đề tăng giá lương thực. Theo đó, cộng đồng quốc tế cần được huy động cho 3 mục tiêu cụ thể sau:  –    Trước tiên để giải quyết vấn đề khẩn cấp, Hội đồng Bảo an LHQ phải đưa ra các biện pháp cần thiết để tránh những bất ổn tại các quốc gia đang bị đe doạ nhiều nhất bởi vấn đề này.  –    Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ cần giải ngân khoản tài trợ khẩn cấp cho chương trình lương thực thế giới để trợ giúp các nước đang bị tác động nhiều nhất.  –    Để giải quyết vấn đề một cách nền tảng, cần đưa ra các biện pháp dài hạn thay thế các biện pháp mang tính tình thế. Cần phải có tính đột phá trong cách suy nghĩ và hành động đối với vấn đề phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp  Trần Hy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị nhất với startup là được cố vấn      Jeff Hoffman là một trong hơn 500 tỷ phú của Mỹ, người đứng sau một loạt các công ty công nghệ đã lên sàn chứng khoán như Priceline, Ubid và startup đình đám ColorJar.      Jeff Hoffman  Khác với nhiều người, ông xuất thân là một kỹ sư công nghệ trước khi bước vào lĩnh vực kinh doanh. Gần đây, ông đã có ba buổi nói chuyện liên quan đến khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại TP. HCM và Đà Nẵng. Trong đó, đặc biệt ấn tượng là buổi nói chuyện về cố vấn khởi nghiệp với các thành viên sáng lập Sáng kiến cố vấn khởi nghiệp Vietnam Mentor Initiative – VMI tại SURF- Đà Nẵng ngày 22.7.2017 – nó như một sự khẳng định cho những nỗ lực của những người đang lựa chọn và xây dựng văn hóa cố vấn khởi nghiệp.  Ngồi trong phòng họp trong khuôn khổ của SURF- Đà Nẵng 2017, Jeff bắt đầu câu chuyện rất ngắn gọn khi nói về Cố vấn theo ba nội dung: Tại sao? Ai? Như thế nào?  Tại sao?  Theo Jeff, có ba lý do khiến chúng ta nên trở thành mentor:  Niềm tự hào dân tộc: Jeff kể, khi ông gặp một doanh nhân và đề nghị người này mentor (cố vấn) cho một startup trẻ. Ông ta hỏi lại: Tại sao tôi phải cố vấn cho cậu ta? Tôi không phải là cha cậu ấy”. Khi nhận ra các doanh nhân thành đạt khác cũng có nghi ngờ tương tự về lí do họ nên trở thành người cố vấn, Jeff xoay sang hỏi họ: Vậy ông muốn thấy tương lai của đất nước ông ra sao? Tất cả các doanh nhân đều có khát vọng cống hiến cho đất nước và Jeff đã nhanh chóng giúp họ nhận ra rằng, những doanh nhân trẻ chính là tương lai của đất nước và trở thành mentor cho những người này là cách xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.  Học tập và trau dồi: Là doanh nhân thành đạt không có nghĩa là chúng ta biết hết mọi thứ. Việc trở thành một cố vấn chính là cách học tập nhanh nhất từ thế hệ trẻ. Đó là động lực của những doanh nhân luôn muốn mình học thêm những điều mới mẻ.  Thấy trước những điều vĩ đại của tương lai: Việc trở thành một cố vấn là chuẩn bị để mình hòa nhập với dòng chảy thời đại và thậm chí có thể trở thành một phần của điều vĩ đại trong tương lai. Jeff kể rằng, ông đã từng làm cố vấn của Jack Ma và tiên đoán đây là người sẽ làm nên điều vĩ đại tiếp theo. Lúc bấy giờ, mọi người đã cười trước nhận xét này của ông. Nhưng sự việc xảy ra năm năm sau chứng minh rằng ông đã đúng: Alibaba đã có một cuộc chào bán cổ phiếu lần đầu trước công chúng (IPO) lớn nhất trong lịch sử thế giới.  Ai có thể trở thành cố vấn?  Nhiều người quá dè dặt khi trở thành cố vấn khởi nghiệp. Trên thực tế, có rất nhiều kinh nghiệm, trải nghiệm và kiến thức của bạn vô cùng hữu ích với các doanh nhân trẻ. Xuất thân từ một người làm kỹ thuật, Jeff tin rằng mình có được ngày hôm nay là nhờ các mentor. Vì vậy, khi cố vấn mỗi người hãy tập trung vào: (1) những gì mình giỏi (2) những gì mình biết (3) những gì mình thoải mái để chia sẻ.  Sẽ thật sai lầm nếu gồng mình lên và mong muốn giải quyết mọi vấn đề cho người được cố vấn và cho những lời khuyên vượt quá khả năng. Trở thành người cố vấn “biết tuốt” trong mắt người được cố vấn không phải là lựa chọn tốt vì chính điều đó sẽ làm hại người được cố vấn với sự hiểu biết không đầy đủ của bạn. Sự trung thực từ phía người cố vấn là vô cùng quan trọng. Ví dụ: thay vì cho lời khuyên về những gì bạn không biết, bạn có thể chia sẻ điều đó nằm ngoài hiểu biết của bạn và giới thiệu họ đến những người trong mạng lưới của bạn (nếu bạn thoải mái) hoặc xin phép khi cho lời khuyên.  Làm cố vấn như thế nào?  Để giúp mối quan hệ mentoring đi đúng hướng, theo Jeff cách tốt nhất là:  Hãy đặt ra kỳ vọng từ cả hai phía và viết ra. Hãy cùng nhau xác định mục tiêu của các buổi gặp một cách cụ thể và cùng nỗ lực để đạt đến điều đó.  Hãy lắng nghe nhiều hơn thay vì khuyên nhủ hoặc làm hộ. Việc làm giúp người được cố vấn sẽ chỉ khiến họ ỷ lại và không bao giờ trưởng thành.  Hãy dừng lại nếu một trong hai phía không cảm thấy thoải mái và hãy thẳng thắn khi cần thiết. Với các chương trình cố vấn chuyên nghiệp, luôn cần có một kênh giúp các bên phản hồi một cách tự nhiên, thẳng thắn và thân thiện về mối quan hệ này.  Đừng đầu tư cho ai khi đang là cố vấn của người đó. Chỉ khi dừng mối quan hệ cố vấn, bạn hãy trở thành nhà đầu tư (nếu muốn). Rất nhiều chương trình không cho phép nhà đầu tư trở thành cố vấn của khởi nghiệp.  Một vài suy ngẫm về những thách thức và cơ hội xây dựng văn hóa cố vấn khởi nghiệp tại Việt Nam  Người viết là một cố vấn khởi nghiệp, là một thành viên của SME Mentoring 1on1, tổ chức đầu tiên phát triển văn hóa cố vấn khởi nghiệp tại Việt Nam và cũng là người đang nỗ lực phát triển chương trình cố vấn khởi nghiệp tại Hà Nội. Từ góc độ này, tôi có một vài chia sẻ về kinh nghiệm với những tổ chức đang chuẩn bị phát triển văn hóa khởi nghiệp tại Việt Nam.  Trên thực tế, những gì Jeff nói không quá xa lạ với những gì chúng tôi đang làm và không phải là việc cố vấn chưa từng có ở Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, rất nhiều doanh nhân đã hỗ trợ những doanh nhân trẻ trên con đường lập nghiệp, nhiều tổ chức cũng phát triển mô hình này để hỗ trợ thế hệ đi sau. Tuy vậy, xây dựng một văn hóa khởi nghiệp đòi hỏi:  Sự thay đổi về nhận thức của những doanh nhân đi trước: chừng nào trở thành cố vấn khởi nghiệp xuất phát từ một trong ba động cơ mà Jeff đã nêu trên (nếu không muốn nói là cả ba) thì mối quan hệ mentoring mới có thể trở nên bền vững. Những thất bại trong mối quan hệ mentoring tôi bắt gặp có thể là do người cố vấn cho quá nhiều lời khuyên hoặc quá tự tin vào những gì mình có mà ít có ý thức học hỏi ngược lại.  Sự kiên nhẫn: Giống như hôn nhân, mối quan hệ bền vững nào cũng cần thời gian để tìm hiểu và triển khai. Không mối quan hệ cố vấn nào ngắn dưới sáu tháng mà sinh ra những kết quả tích cực. Thời gian đủ dài cho một mối quan hệ để hiểu, học và chia sẻ với nhau thường kéo dài trong giai đoạn từ sáu tháng đến một năm và có thể duy trì mãi mãi sau đó. Sự vội vã trong mối quan hệ cố vấn và ghép cặp một cách cơ học có thể dẫn đến sự đổ bể. Từ đó suy rộng ra, xây dựng một chương trình cố vấn khởi nghiệp cũng không thể vội vàng và muốn cho ra kết quả sớm.  Sự kỳ vọng: sự thất vọng xuất phát từ kỳ vọng quá lớn. Dù xuất phát từ người phát triển hoạt động cố vấn, hay từ chính các cố vấn và người được cố vấn, nếu kỳ vọng đặt ra không khớp nhau sẽ rất khó giúp chương trình và mối quan hệ đi xa.  Cố vấn nói chung và cố vấn khởi nghiệp nói riêng thực chất là một văn hóa. Chẳng hạn, nếu mỗi sinh viên được chia sẻ, trò chuyện và định hướng bởi một cố vấn từ khi còn ở trong trường đại học, thì khi họ trưởng thành, việc tiếp tục trở thành cố vấn với họ là lẽ tự nhiên. Khi chúng ta phải xây dựng hoạt động cố vấn từ khi còn sơ khai trở thành một văn hóa, cần một tư duy, thái độ, hành động đúng đắn. Để xây dựng một thái độ cầu thị, kiên nhẫn, luôn lắng nghe và học hỏi cho các cố vấn và cho những người xây dựng chương trình cố vấn đòi hỏi một nỗ lực không ngừng. Không phải ngẫu nhiên, nhiều tổ chức nước ngoài hướng đến việc phát triển cộng đồng khởi nghiệp của một quốc gia, chẳng hạn như SECO EP và các quỹ đầu tư tìm hiểu thị trường lại nhìn vào chất lượng cố vấn mà các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đang có. Jeff đã kết thúc bài phát biểu và chia sẻ của mình bằng câu nói: “Thứ quý giá nhất mà startup có được không phải là tiền, mà là được cố vấn” kèm theo lời nhắn nhủ với những cố vấn có mặt trong buổi nói chuyện: “Các bạn đang làm những điều vĩ đại.”    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Giấc mơ bắt sa mạc nở hoa      Ông Đại sứ Israel tại Việt Nam Enphrain Ben Matityau là người thích đưa ra những điểm tương đồng giữa Israel và Việt Nam. “Kibbutz” của Israel- theo ông- khá gần gũi với mô hình hợp tác xã của Việt Nam cách đây 30 năm. Ông bảo: “Tuổi thơ của tôi ở Kibbutz. Dù đi đâu, quê hương của tôi vẫn là Kibbutz, với giấc mơ bắt sa mạc nở hoa”.    Từ thương nhân thành nông dân  Năm 1882, khi Đế quốc Nga ban hành “Đạo Luật Tháng 5” bài xích người Do Thái, làm “1/3 người Do Thái lưu vong, 1/3 chấp nhận cải đạo và 1/3 chết đói” (Elliot Rosenberg. Họ có từng tốt với người Do Thái?, Birch Lane Press, 11/1997). Người Do Thái phản ứng bằng nhiều cách: một số gia nhập đảng Cộng sản để làm nên nước Nga mới, một số di cư sang Tây Âu, còn khoảng 15.000 người với lý tưởng tìm lại cội nguồn đã tìm đường trở về Palestine. Đợt sóng người Do Thái đến Palestine hồi thập kỷ 80 của thế kỷ 19 được gọi là Aliyah Thứ nhất. Năm 1883, Tờ Biên niên ký Do Thái ở London viết về những người Do Thái di cư đến Palestine từ “thương nhân xanh xao, bạc nhược, đã trở thành những nông dân vạm vỡ, rám nắng và đầy nam tính” .  Đầu thế kỷ 20, một làn sóng ngược đãi người Do Thái mới bùng phát ở Nga, một làn sóng di cư mới lại bắt đầu. Những người Do Thái của đợt Aliyah Thứ hai– đồng thời là những người sáng lập ra những Kibbutz đầu tiên– đã kinh hãi khi thấy làng xóm của người Do Thái cũ giống hệt nơi họ rời đi: thay vì một cộng đồng tương thân tương ái, ở đây người Do Thái làm công việc sạch sẽ, những người làm thuê thuộc cộng đồng khác phải làm công việc bẩn thỉu. Josheph Baratz, một trong những người sáng lập Kibbutz đầu tiên viết: “Hạnh phúc được cày cấy, song chúng tôi càng ngày càng chắc rằng lối sinh sống cũ không phù hợp. Chúng tôi không mong một đất nước mà người Do Thái ở tầng lớp trên, người Arab làm thuê. Có lẽ không nên trở thành ông chủ hay thuê mướn gì cả. Phải có biện pháp tốt hơn”.  Trên khắp thế giới, người Do Thái bỏ từng xu vào những chiếc “hộp xanh” góp cho Josheph Baratz và các đồng chí mua đất ở Palestine. Năm 1909, Josheph Baratz cùng 9 đàn ông, 2 phụ nữ định cư ở vùng đất phía Nam biển Galilee, gần làng “Umm Junni” của người Arab. Khi đó họ đều là những thanh niên đôi mươi, hằng ngày làm thuỷ lợi, xây nhà và giúp những người Do Thái già cả. Sau vụ thu hoạch đầu tiên, họ tự gọi cộng đồng của mình là “Kvutzat Degania” – Đó là Kibbutz (“cộng đồng”, tiếng Hebrew) đầu tiên trên thế giới.  Những người sáng lập Kibbutz đã làm việc rất vất vả để xây dựng lại vùng đất tổ tiên và mở rộng “cách mạng xã hội”. Một người tiên phong kể lại: “Cơ thể rã rời, chân không nhấc nổi, đầu đau nhức, mệt mỏi dưới cái nắng thiêu đốt”. Một nửa thành viên không thể làm việc nổi, nhiều người trẻ rời Kibbutz tới sống ở thành phố.  Dầu khó khăn, Kibbutz vẫn tăng trưởng và mở rộng. Đến 1914, Degania đã có 50 thành viên. Một Kibbutz khác được lập ở Thung lũng Zezreel. Những người sáng lập Degania cũng rời Kibbutz của mình để truyền bá cách trồng trọt và chủ nghĩa xã hội cho các Kibbutz mới.  Nước Israel thành lập, làn sóng người Do Thái đổ về từ châu Âu và từ thế giới Hồi giáo như Marocco, Tunisia, Iraq. Được cả Mỹ và Liên Xô công nhận ngay từ ngày lập quốc, trong 3 năm đầu, Israel là nước không liên kết, sau đó mới ngả dần theo phương Tây.  Thời hưng thịnh nhất của Kibbutz là những năm 60, thậm chí chất lượng sống trong Kibbutz còn cao hơn so với bên ngoài. Đến cuối thập kỷ đó, hầu hết Kibbutz đã có bể bơi.  Lý tưởng cộng đồng  Lý tưởng đầu tiên của Kibbutz là xây dựng lại quốc gia bằng lao động. Để quyên tiền từ người Do Thái trên khắp thế giới, những thành viên Kibbutz đầu tiên đã giới thiệu công việc của mình là “bắt sa mạc nở hoa”. Khi đó các thành viên của Kibbutz- các kibbutznik- đã không lường được xung đột mà đoán người Palestine sẽ vui mừng vì lợi ích kinh tế mà người Do Thái đem tới. Những thành viên cánh tả của phong trào Kibbutz tin rằng kẻ thù của người Arab là địa chủ, không phải là người Do Thái “cùng giai cấp”.  Mơ ước của những kibbutznik đầu tiên còn vượt xa các nông dân Palestine: Họ mơ xây dựng một thế giới không còn bóc lột, tất cả đều bình đẳng, thực hiện câu nói của Marx: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Tuy nhiên kibbutznik không phải là những người theo chủ nghĩa Marx- họ tin rằng trong tương lai vẫn sẽ tồn tại quốc gia. Những người cộng sản “truyền thống” cũng không hoan nghênh chủ nghĩa phục quốc (Zionism), kể cả việc thực hành lý tưởng cộng sản của họ. Sau cái chết của Stalin (1953) và bài diễn văn của Khrushchev, nhiều thành viên Kibbutz theo chủ nghĩa cộng sản rời bỏ lý tưởng, song vẫn còn rất nhiều thành viên khác giữ lập trường cánh tả, đến cả tận ngày  nay.  Dù thực hành lý tưởng cộng sản, các kibbutznik cũng không tin chủ nghĩa xã hội sẽ có hiệu quả ở khắp nơi. Các đảng của Kibbutz cũng chưa bao giờ kêu gọi từ bỏ quyền tư hữu. Các kibbutznik xem Kibbutz là mô hình “xí nghiệp tập thể” (collictive enterprise) trong lòng hệ thống tư bản và không bao giờ kêu gọi “chuyên chính vô sản”.  Cuộc sống tập thể  Bình đẳng là nguyên tắc cao nhất trong Kibbutz cho đến tận thập kỷ 70. Kibbutznik không có tài sản riêng như gia súc, dụng cụ, thậm chí cả quần áo. Thu nhập, đến cả quà tặng từ bên ngoài là của chung. Nếu một thành viên nhận được món quà “phi vật thể” –  như lời mời ra nước ngoài – thì buổi tối các thành viên Kibbutz sẽ họp bàn về việc chấp nhận nó.  Những đứa trẻ được sinh ra trở thành vấn đề thực sự của Kibbutz. Nếu tất cả trong Kibbutz đều là của chung, vậy ai sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc bọn trẻ? Câu trả lời là: tất cả, thậm chí các bà mẹ mới sinh có thể cho con của người khác bú. Với hầu hết các thành viên Kibbutz, trẻ em khiến họ “tỉnh mộng”. “Thấy những đứa trẻ đầu tiên trên trong Kibbutz giành giật đồ chơi, chúng tôi cảm thấy cay đắng. Điều đó có nghĩa, lối sống cộng đồng không diệt trừ được khuynh hướng vị kỷ. Ý niệm về một xã hội bình đẳng dần dần biến mất” (Gavron, Daniel. Kibbutz: Tỉnh giấc Utopia)  Thập kỷ 20, theo một lý thuyết rằng cô giáo chuyên nghiệp sẽ tốt hơn các ông bố bà mẹ “nghiệp dư”,  trẻ em trong Kibbutz được tách ra khỏi cha mẹ và sống tập thể trong “Xã hội trẻ em” (Mossad Hinuchi). Người ta cho rằng nhờ “Xã hội trẻ em” mà quan hệ giữa con cái và cha mẹ sẽ tốt lên do trẻ không phải chịu “phức cảm Ơ-đíp”. Người ta cũng hy vọng việc tách con nhỏ ra sẽ giải phóng người mẹ khỏi “bi kịch sinh học”: Thay vì chăm sóc con cái, phụ nữ có thể ra ngoài để làm việc và vui chơi.  Sau này được người ngoài Kibbutz đặc biệt quan tâm quan tâm tới “Xã hội trẻ em”. Thời “Xã hội trẻ em” thịnh hành, cha mẹ chỉ dành 2 tiếng mỗi ngày cho con cái. Ở Kibbutz Artzi, cha mẹ bị cấm đưa con đi ngủ. Con lớn hơn chút nữa thì có khi vài ngày không gặp cha mẹ. Một số người từng sống trong “Xã hội trẻ em” thích thú với cuộc sống đó, một số khác nửa thích nửa không. Song tất cả đều công nhận cuộc sống thiếu cha mẹ rất khó khăn. Nhiều năm sau, một người miêu tả tuổi thơ của mình trong Kibbutz: “Cứ 4 tiếng lại được bú, bị bỏ mặc và thoải mái khóc và gào, chúng tôi lớn lên mà thiếu sự chăm sóc cơ bản… Cứ đến giờ là ngồi bô. Chúng tôi được dạy dỗ để trở thành giống nhau. Nhưng tất cả chúng tôi đều khác nhau… Buối tối, khi nhóm lớn tắt hết đèn, bạn biết rằng mình sẽ tè ra giường vì sợ tới nhà vệ sinh”.  Bruno Bettelheim trong cuốn “Đứa trẻ của mơ ước” kể lại: “Trong khi bọn con gái Mỹ tự trang điểm, tỏ ra càng sexy càng tốt thì chúng tôi kín đáo, không mặc những chiếc áo hở ngực hay có vẻ thời trang”. Tỷ lệ li dị ở Kibbutz đặc biệt thấp, song số lấy nhau của những người lớn lên trong “Xã hội trẻ em” cũng ít tương đương. Nhiều người cho đó là kết quả của “hiệu ứng Westermarck” (Westermarck effect): những đứa trẻ lớn lên cùng nhau thường không chọn nhau làm bạn tình.  Lối sống, kiểu giáo dục của Kibbutz khiến Bettelheim dự đoán từ năm 1969: “Những đứa trẻ Kibbutz sẽ không trở thành lãnh đạo hay nhà triết học, sẽ không đạt thành tựu gì trong khoa học hay nghệ thuật”. Bettelheim hoàn toàn sai. Gần 30 năm sau, một nhà báo đã tìm lại những đứa trẻ mà Bettlheim từng phỏng phấn: họ rất thành công trong đủ các lĩnh vực, từ học thuật, kinh doanh, âm nhạc và binh nghiệp.  Còn lại sau giấc mơ  Đời sống vật chất khá lên đi cùng sự suy tàn của Kibbutz. Tính chất tập thể dần phai mờ từ đầu thập kỷ 80. Từ khi lắp công tơ và sử dụng điện không còn miễn phí, các gia đình phải có tài khoản riêng để trả. Dù vẫn thường xuyên thăm viếng nhau hơn bất kỳ ở đâu khác thì các gia đình trong Kibbutz đều đã có đầu DVD, internet như mọi gia đình Israel khác. Có lẽ biến đổi quan trọng nhất là các Kibbutz đã từ bỏ nguyên tắc bình đẳng và áp dụng bảng lương khác nhau. Lương của giám đốc nhà máy trong Kibbutz cao hơn nhiều công nhân. Hầu hết Kibbutz cũng đã từ bỏ “Xã hội trẻ em” để quay về mô hình gia đình hạt nhân. Lý do có nhiều. Một số cho rằng cuộc sống tập thể gây bệnh tâm lý cho trẻ em- họ vẫn còn nhớ nỗi khiếp sợ khi ở trong bóng tối, xa cha mẹ (song trẻ em trong Kibbutz hiện vẫn không giống trẻ em ở ngoài, nhiều Kibbutz cho chúng phòng riêng; một số Kibbutz vẫn còn “Xã hội trẻ em” cho trẻ từ 12 trở lên). Hình tượng kibbutznik là những người tiên phong, hy sinh bản thân và bảo vệ biên giới dần trở thành hình tượng những người kỳ quặc, sống nhờ trợ cấp trong mắt người ngoài.  Một số Kibbutz bị chỉ trích vì từ bỏ nguyên tắc chủ nghĩa xã hội và chạy theo chủ nghĩa tư bản. Kibbutz Shamir có công ty sản xuất kính quang học và niêm yết trên thị trường chứng khoán NASDAQ. Rất nhiều Kibbutz chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và kinh doanh.  Cuối thập kỷ 80, đầu 90, lượng người sống trong Kibbutz giảm hẳn. Các kibbutznik cũng không còn hy vọng biến phần còn lại của Israel, hay của cả thế giới thành xã hội tập thể. Dầu vậy họ vẫn không từ bỏ ước nguyện thay đổi thế giới bằng những công việc nhỏ bé. Kibbutznik giờ là những người tiên phong trong đấu tranh bảo vệ môi trường – một số Kibbutz chuyển sang dùng điện mặt trời. Kibbutznik cũng là các chiến sĩ tiên phong đấu tranh vì hòa bình ở Israel. Năm 2003, số lượng thành viên Kibbutz bắt đầu tăng lên sau một thời gian dài suy giảm, xu hướng đó vẫn giữ được đến tận ngày nay.  Dù thế nào, Kibbutz cũng giữ vai trò rất lớn trong xã hội Israel. Một trong những lý do khiến những người cộng sản hồi đầu thế kỷ 20 hết sức ủng hộ việc thành lập nhà nước Israel là các Kibbutz đại diện cho chủ nghĩa cộng sản ở hình thức thuần khiết nhất. Giấc mơ “bắt sa mạc nở hoa” của Kibbutz trở thành một phần của giấc mơ Israel đến tận ngày nay.  VIỆT ANH (theo tài liệu của Đại sứ quán Israel và Wikipedia)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấc mơ trồng hoa sạch của chàng trai tuổi 20      Đào Hải Triều, 25 tuổi, cùng cha chăm sóc gần 4.000m2 trồng hoa ở làng hoa Sa Đéc. Là con trai duy nhất, khi Triều tốt nghiệp phổ thông, như bao thanh niên khác, cậu quyết định đi Sài Gòn lập nghiệp với ước mong đổi đời.      Có nhiều lý do đưa chàng trai tuổi 20 này quay lại với vườn hoa của gia đình, để từ đó chàng bắt đầu yêu nghề. Ảnh: CK.  Nhưng sau hai năm kham khổ ở thành đô, ông bà nội và cha mẹ cũng đã lớn tuổi và yếu đi, Triều nghe lời cha quay lại về quê nhà, vừa có điều kiện chăm sóc gia đình, vừa bắt đầu học nghề trồng hoa. Nhưng ngay từ lúc gieo những hạt mầm đầu tiên, Triều đã nghĩ, mình cần phải làm khác đi những gì người đi trước.Khác ở điều gì?  Vườn hoa của hai cha con cùng canh tác, mà em muốn làm khác đi, ba em cũng đồng ý sao?  – Ba là người hiền lành, vườn nhà em ba chỉ trồng sứ kiểng.Lúc đầu nhà chỉ có một công, nhà khó khăn lắm nên em mới lên thành phố.Nhưng khi ba gọi về, em đã nghĩ nếu làm vườn thì sẽ trồng nhiều loại hoa khác nhưng mà giống người ta, mình cũng cực khổ như vậy nữa.Trước khi trồng cùng với ba, em đi thăm các vườn khác, đi học lóm nghề của mấy chú bác cách chăm sóc hoa. Em lên mạng tìm hiểu và thấy trồng hoa sạch – bón bằng phân vi sinh hay trừ sâu bằng cây củ hay quá, trồng theo cách này thì hoa sống được lâu, người ta chơi lâu hơn thì tất nhiên họ sẽ mua của mình. Chỉ có cách đó mới khác được.Em chủ động tìm giống hoa, chú trọng đến loại hoa càng nở càng bung ra, màu sắc tươi đẹp.Chất lượng hoa cao và số lượng ổn định. Nếu dùng phân bón vi sinh hay hữu cơ, trồng 10 cây sẽ được 9 cây, còn phân hoá học có khi chỉ được 5, 6 cây thôi, hao hụt cũng nhiều hơn. Nhưng hiện tại, ở đây những người trồng hoa bón phân hữu cơ vẫn dùng khoảng 20% phân bón hoá học. Ở đây còn tuỳ thuộc vào người mua, nếu biết, họ sẽ chọn cây hoa trồng phân bón hữu cơ, còn nếu không biết họ sẽ chọn hoa xịt phân thuốc hoá học, vì mới nhìn những cây này hoa to hơn, đẹp hơn.  Về quê trồng bông rồi, giờ Triều đã thấy mình muốn gắn bó lâu dài với nghề này chưa?  – Lúc đầu em ghét lắm.Tại vì ngày còn nhỏ, mỗi lần đi học về là ba mẹ bắt làm vườn cực khổ lắm.Con nít đứa nào cũng ham chơi, thèm được đi chơi mà cứ bị bắt làm, em thấy cực khổ quá. Đi học buổi sáng, buổi chiều về phải cắm đầu vô vườn nên ghét luôn. Học xong phổ thông là em đi Sài Gòn liền.Sau khi ba gọi về, em nghĩ nếu mình trồng thì mình sẽ trồng các loại hoa, vì em thích hoa hơn là thích mấy gốc sứ kiểng của ba.Em trồng chừng hai năm thì hoa của em bán chạy, vì được chăm kỹ. Mà giá cũng thấp hơn người ta, do em muốn mình đã trồng hoa phải bán được cho người thích hoa. Giờ thì em mê rồi.  Em có định tiếp tục học nghề để tiến tới tạo những giống hoa hay cây trái phong phú cho làng hoa Sa Đéc?  – Em mới đi Đà Lạt về, ở trên đó gần cả tháng để tìm hiểu các giống hoa, trái.Chủ yếu là tìm hiểu cách họ chăm sóc.Sắp tới em sẽ đi Hà Nội.Trồng hoa, học từ kinh nghiệm là chính, chứ sách vở không nhiều đâu chị. Công thức là vậy nhưng còn tuỳ vào đất, nước, ánh sáng, và cả sự thay đổi của thời tiết mà không có sách vở nào cập nhật được. Thực tế khác xa lắm. Đi Đà Lạt mấy lần, chỉ đi vườn thôi, nên ai hỏi Đà Lạt em đâu có biết gì đâu.Nhưng em đã học được cách trồng dâu tây rồi, ra trái nhóc luôn.Em chỉ khác họ là dùng phân hữu cơ chớ không xịt thuốc nhiều. Dâu trồng ở Sa Đéc ăn thơm và ngọt hơn dâu trên đó. Em trồng nhiều loại giống lắm và cuối cùng thì tuyển lại được giống này. Dâu rất chịu ra rễ, khi trồng xuống đất rồi thì nó lan ra nhanh lắm. Hiện tại ở đây thấy em trồng người ta cũng trồng đó, nhưng để cho ra trái dâu chất lượng thì còn phải thêm thời gian.Nhà em đã thuê thêm hai công đất để trồng bông hoa và trái. Không biết sao mà em có tay chăm trái, giờ cây hoa nào cũng cho trái. Em lấy trái đó để làm giống luôn, khỏi mua giống. Ngoài ra, để tăng thêm thu nhập, em còn trồng thêm các loại cây phong thuỷ được nhiều người ưa chuộng, mà cũng dễ bán. Thu nhập năm rồi của hai cha con cũng hơn 200 triệu đồng, coi như mỗi tháng có hơn 10 triệu, nhà em cũng đỡ rồi.  Hiện tại, em có một nhóm bạn nhận đi xa để làm vườn hoa cho các gia đình có nhu cầu. Tụi em đến tận nơi, ăn ở vài ngày và làm vườn cho chủ nhà. Hoa thì chủ nhà chọn.Sau khi đã trồng rồi, tụi em hướng dẫn chủ nhà tưới, bón.Nếu không chăm được, tụi em sẽ thoả thuận với chủ nhà đến chăm sóc định kỳ.Đây là dịch vụ mới của em đó.  Chân Khanh thực hiện (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấc mộng co – working space      Tôi là một doanh nhân khởi nghiệp và giảng viên ở Mỹ nhưng sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 2006. Tôi luôn hứng thú với việc khởi nghiệp và các startup, đồng thời cũng từng sáng lập vài công ty, trong đó có hai co-working space dành cho cộng đồng khởi nghiệp. Ở đây, tôi muốn chia sẻ một chút về kinh nghiệm của mình cũng như góc nhìn của người trong cuộc về các co-working space và việc khởi nghiệp ở Việt Nam.      Các không gian làm việc chung bắt đầu manh nha ở San Francisco và New York vào cuối những năm 1990 và giờ đây đã trở nên phổ biến ở rất nhiều thành phố trên khắp thế giới. Tôi từng đến thăm nhiều co-working spaces từ Singapore đến Thụy Sĩ, và nhận ra rằng mỗi không gian có một đặc điểm riêng, được hình thành bởi cộng đồng tạo nên từ chính các thành viên của nó. Ví dụ, chuỗi co-working space The Hub ở Zurich và Singapore đặc biệt tập trung vào các doanh nghiệp xã hội trong khi hầu hết các không gian ở South of Market Area tại San Francisco lại tập trung vào các công ty khởi nghiệp ở lĩnh vực web hay di động. Cộng đồng thực sự là trái tim của co-working space bởi cũng chính cộng đồng là người trả tiền để không gian này hoạt động.  Tôi từng điều hành một đội ngũ nhỏ chuyên phát triển phần mềm ở Sài Gòn từ năm 2006. Khi công việc outsourcing [gia công phần mềm] có lãi, tôi quan tâm hơn đến khởi nghiệp và đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác. Vào năm 2010, tôi lập ra một nhóm các nhà đầu tư thiên thần dưới hình thức một tổ chức Việt-Mỹ tên là Diễn đàn các nhà đầu tư SAVVi (SAVVi Investors Forum) và chúng tôi bắt đầu tổ chức các sự kiện nhằm tìm kiếm những dự án tiềm năng để đầu tư. Cũng có một số dự án nổi trội nhưng chẳng đủ để chúng tôi thực hiện một phi vụ đầu tư đáng kể. Vì vậy, sau một năm xem xét, chúng tôi tính rằng trích một khoản tiền nhỏ trong các quỹ của mình để mở co-working space có lẽ sẽ giúp thu hút được nhiều doanh nhân khởi nghiệp tiềm năng hơn.   Vì từng điều hành một văn phòng nhỏ nên tôi tình nguyện đứng ra xây dựng không gian này. Với nguồn kinh phí xin được từ một dự án do World Bank đầu tư và từ các thành viên khác trong nhóm đầu tư thiên thần, chúng tôi có đủ tiền để thuê một ngôi nhà và một đội ngũ nhỏ – không gian The Start Center cho những doanh nhân khởi nghiệp ra đời.   Sau một thời gian hoạt động, chúng tôi có một cộng đồng startup ở đây, bao gồm Terra Motors đến từ Nhật Bản, Adatao và Sentifi, mà các đồng sáng lập đều là những nghiên cứu sinh ngành Khoa học Máy tính ở Mỹ theo chương trình Vietnam Education Foundation và về nước để khởi nghiệp với những công ty đổi mới sáng tạo đáng kinh ngạc. Vào năm 2014, công ty Atadao đã kêu gọi thành công 18 triệu USD từ những nhà đầu tư ở Silicon Valley.  Đầu năm 2013, nhóm nhà đầu tư thiên thần của tôi và tôi quyết định tiến hành một dự án lớn hơn nữa. Tên gốc của dự án này là Saigon Open Innovation Labs (tạm dịch là Không gian sáng tạo mở Sài Gòn), nhưng chúng tôi rút ngắn tên đó lại thành Saigon Hub. Chúng tôi tìm được một không gian lớn (300 m2) trong một tòa nhà văn phòng cũ tại Quận 1 và thiết kế lại nội thất cho giống với các văn phòng hiện đại ở SiliconValley. Không gian này được thiết kế để có thể tổ chức những sự kiện và các khóa đào tạo lớn cho các doanh nhân khởi nghiệp, đồng thời là một địa điểm để làm việc và hội họp. Hơn 50 sự kiện và cuộc họp nhóm đã được tổ chức ở đây trong năm đầu tiên.  Saigon Hub gặp đầy thách thức. Khi kêu gọi vốn ban đầu và lên kế hoạch tài chính cho dự án, chúng tôi dự kiến sẽ gọi được 100.000 USD từ tổng cộng 10 nhà đầu tư. Nhưng đến phút cuối, hai trong số những nhà đầu tư lớn nhất rút lui và bởi vậy, tôi và các nhà đầu tư khác phải lo bổ sung cho đủ. Rốt cuộc, chúng tôi vẫn không thể kêu gọi đủ vốn đầu tư và vì vậy chúng tôi thiếu nhân viên điều hành không gian này. Chúng tôi cũng không đủ tiền để sắm tất cả những thiết bị cần thiết.   Sau sáu tháng vận hành, điều trở nên rõ ràng là chúng tôi không thể đạt tới điểm hòa vốn. Lúc đó, tôi nêu vấn đề với Ban điều hành và chúng tôi bắt đầu thương lượng với chủ sở hữu tòa nhà về việc hạ giá thuê không gian của mình. Chúng tôi nói rõ với họ rằng nếu giá thuê không giảm, chúng tôi không thể tiếp tục hoạt động được nữa. Nhưng họ không đồng ý. Bởi vậy, chúng tôi buộc phải dừng hoạt động vào tháng 4/2014.   Khi Saigon Hub khai trương, nhiều co-working space khác cũng được mở ra ở Sài Gòn. Trong khi những địa điểm này đều cung cấp một môi trường tốt để mọi người cùng làm việc, không có nơi nào có một không gian sự kiện rộng lớn như Saigon Hub và cá nhân tôi nghĩ điều đó là điều quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng một cộng đồng khởi nghiệp mạnh mẽ.   Một yếu tố mấu chốt khác trong việc tạo ra một môi trường tốt cho các startups trong co-working space nói riêng và hệ sinh thái khởi nghiệp nói chung, đó là xây dựng một chủ đề để vừa thu hút vừa phát huy năng lực mỗi thành viên trong cộng đồng vì một mục tiêu chung, ví dụ chủ đề vận dụng đổi mới sáng tạo để tạo ra các startups có khả năng phát triển sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.  Gần đây, tôi có cơ hội làm việc với một dự án được chính phủ Phần Lan và Việt Nam tài trợ để phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia với tên gọi Chương trình Hợp tác Đổi mới sáng tạo (Innovation Partnership Program – IPP). Tôi nghe nói về IPP lần đầu tiên vào năm 2012 khi được mời phát biểu tại một hội nghị do IPP tổ chức ở Hà Nội. Thời gian đó, IPP đã kết thúc hợp phần một và đang chuẩn bị cho hợp phần hai. Đầu năm nay, tôi được mời hỗ trợ thiết kế các chương trình sẽ được triển khai vào ba năm tới ở hợp phần này của dự án. Tôi hy vọng hợp phần hai của IPP sẽ cung cấp những hỗ trợ cần thiết cho những dự án mới giúp thúc đẩy đổi mới sáng tạo của các cộng đồng startup tại Việt Nam.             Chúng tôi đang lên kế hoạch hỗ trợ tám hệ thống dự án đổi mới sáng tạo ở Việt Nam và một trong số đó có thể sẽ có dạng co-working space, tùy thuộc vào nhu cầu của hệ sinh thái khởi nghiệp ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay Cần Thơ. Tất cả mọi người đều có thể đăng ký tiếp cận nguồn vốn này và tìm hiểu thêm thông tin ở website của chúng tôi, www.ipp.vn.  Tôi hi vọng kế hoạch này sẽ truyền cảm hứng cho những doanh nhân khởi nghiệp trong tương lai, những người sẵn sàng đương đầu với thử thách của việc tạo dựng cộng đồng những người muốn tạo ra sự khác biệt trên thế giới.   Về mặt cá nhân, bản thân tôi là người khuyết tật bẩm sinh, tôi đã bị mất đi 90% thị lực. Nhưng ngay cả với khiếm khuyết đó, tôi vẫn may mắn gặp được những người tốt và hào phóng, và cùng với nhau, chúng tôi đã làm được nhiều điều để tạo dựng những cộng đồng và startup mới. Vậy nên, tôi thực sự tin rằng, nếu tôi làm được thì bất cứ ai cũng có thể.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấc ngủ giúp não bộ xóa bớt ký ức như thế nào      Một nghiên cứu mới đây đã đưa ra những bằng chứng cho thấy giấc ngủ có thể phục hồi sự cân bằng tế bào trong não bộ và giúp chúng ta quên đi những thông tin không cần thiết.      Hình 3D cho thấy cấu trúc của phần đuôi gai trong phần vỏ não trước của chuột. Nguồn ảnh: The Guardian  Chúng ta dùng một phần ba cuộc đời để ngủ nhưng không biết chính xác lí do tại sao con người cần phải ngủ. Có nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng bộ não vẫn tiếp tục “dọn dẹp” và xóa đi những thông tin không cần thiết khi chúng ta ngủ. Theo một giả thuyết khác, giấc ngủ đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục lại sự cân bằng của các khớp nối synapse (phần tiếp xúc giữa hai neuron thần kinh trong não, có chức năng chuyển thông tin từ tế bào này sang tế nào khác) trong não nhằm nâng cao khả năng học tập, và hai nghiên cứu mới được đăng trên Science đã cung cấp thêm bằng chứng trực tiếp nhất để chứng minh giả thuyết này.  Chúng ta biết rằng giấc ngủ rất quan trọng cho việc tổng hợp những ký ức mới. Trong khi thức, chúng ta học được rất nhiều loại thông tin, theo cả cách có chủ đích và không có chủ đích. Để lưu trữ chúng, bộ não phải chỉnh sửa một số lượng lớn các khớp nối thần kinh synapse (synaptic connections), làm cho chúng lớn hơn và khỏe hơn. Và khi chúng ta ngủ, những synapse sẽ bị yếu đi hoặc bị phá hủy. Nhờ đó, những thông tin mới, quan trọng sẽ được lưu giữ lại để sau này sử dụng, trong khi những thông tin không cần thiết có thể sẽ làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức sẽ bị loại bỏ.  Tuy nhiên, nhà thần kinh học Giulio Tononi (ĐH Wisconsin) tranh luận ngược lại rằng, việc tăng cường các tiếp xúc thần kinh đó để hỗ trợ cho việc học tập đã làm tăng mức tiêu hao năng lượng của não bộ và có thể khiến cho bộ não bị quá tải trong quá trình lưu trữ thông tin. Giả thuyết tự cân bằng synaptic của ông cho rằng, giấc ngủ đã bình thường hóa lại toàn bộ synapse của tế bào não và một lượng lớn synapse sẽ bị “thu hẹp” khi bộ não nghỉ ngơi trong lúc ngủ để tái cân bằng sau khi đã não bộ đã hoạt động trí óc mạnh mẽ  trong quá trình học tập.  TS. Tononi và đồng sự Chiara Cirelli đã chỉ ra rằng ngay cả trong những quãng ngắn ngủi trong lúc ngủ hoặc thức, hoạt động của các khớp thần kinh synaptic này cũng biến đổi ở nhiều cấp độ, và làm cho chúng co lại hoặc lớn lên một cách trình tự. Nghiên cứu gần đây nhất của họ dường như đã chỉ ra rằng các khớp thần kinh synaptic trong bộ não của chuột bị thu hẹp lại trong khi chúng ngủ.  Trong một nghiên cứu mới đây, của Luisa de Vivo, đã theo dõi não bộ của 4 con chuột đã ngủ, 4 con được giữ cho tỉnh táo để chơi đồ chơi mới và 4 con tự tỉnh táo, và sử dụng kỹ thuật dùng kính hiển vi điện tử quét và phác thảo khuôn mặt theo thứ tự để tạo ra hình ảnh 3D có độ phân giải cao của khoảng 7,000 khớp thần kinh trong 2 khu vực khác nhau của vỏ não trước (nhóm nghiên cứu đã mất hơn bốn năm để triển khai kỹ thuật này).  Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra hàng nghìn hình ảnh, để nhằm tính toán tổng khu vực bề mặt giữa đoạn cuối dây thần kinh và phần đuôi gai (dendritic spines), phần nhỏ nhô ra giống hình ngón tay, nơi hoạt động như điểm tiếp nhận cuối cùng của các synapse và cũng là phần phát triển lớn nhất khi các synapse trở nên mạnh mẽ hơn. Họ đã phát hiện ra rằng khi bọn chuột đang ngủ, tỉ lệ này đã giảm khoảng 18% so với những con chuột tỉnh táo. Nói cách khác, nó giảm toàn bộ số lượng các khớp thần kinh. Và đúng hơn là trở về hình dạng cũ, phần bị thu hẹp chỉ hạn chế trong phần gai nhỏ và dư thừa một lượng lớn synapse sản sinh ra trong khi học tập – phù hợp với ý kiến cho rằng các khớp thần kinh sẽ giảm xuống trong quá trình ngủ.  Nghiên cứu thứ 2 đã cung cấp thêm bằng chứng cho giả thuyết tự cân bằng synaptic và cũng chỉ ra cơ chế phân tử bên trong quá trình tự thu hẹp các tiếp hợp thần kinh khi ngủ.  TS. Graham Diering ở đại học Johns Hopkins và các đồng nghiệp đã khảo sát xem các synapse biến đổi như thế nào trong vòng tròn ngủ – thức. Họ đã sử dụng hình ảnh 2-photon để hiển thị định dạng huỳnh quang của những tiếp hợp protein trong não của chuột sống và sử dụng các phương pháp proteomic để lọc và phân tích những protein từ những đuôi gai.  Họ cũng đã phát hiện ra rằng giấc ngủ có liên quan đến sự suy giảm kích thước của những đuôi gai và với khoảng 20% sự thu hẹp cấp độ của một phân tử gọi là đại phân tử AMPA – đã bị chuyển ra khỏi những phần gai bị co lại. Khi những con chuột còn thức, một loại tế bào được gọi là Homer đã ràng buộc những thụ thể (receptor) và những cặp phân tử khác trong một tổ hợp và chúng được lưu trữ tại synapse bên dưới màng tế bào. Trong khi ngủ, một biến thể ngắn gọi là Homer 1a xâm nhập vào những đuôi gai để tách rời những tổ hợp này và làm di chuyển những thụ thể AMPA đã bị co lại và yếu đi trong liên kết.  Họ đã tạo con chuột biến đổi gene – bỏ đi gene Homer 1a. Thì những con chuột này vẫn trao đổi chất bình thường khi ngủ, nhưng cấu tạo protein trong những đuôi gai không thay đổi, đã chứng tỏ rằng Homer 1a hoạt động với vai trò chủ yếu trong quá trình thu hẹp các synapse.  Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã nhóm đàn chuột vào một vị trí cố định để thực hành việc sốc điện và tiêm cho vài con trong số đó một loại thuốc ngăn chặn Homer 1a xâm nhập từ đuôi gai. Sau đó, họ chuyển đàn chuột đến môi trường mới. Những con chuột không bị tiêm thuốc rất thoải mái khám phá nơi ở mới nhưng những con đã bị tiêm thuốc thì chỉ nằm một góc – một kiểu hành động khi lo lắng và sợ hãi – đã cho thấy rằng chúng vẫn lưu trữ những ký ức khi bị bị sốc điện trước đó.  Cùng với đó, nhiều nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng xác thực giả thuyết về sự tự cân bằng synapse. Chúng giúp chúng ta giải thích được tại sao giấc ngủ có lợi ích lớn cho chức năng thần kinh và tại sao – “uốn lưỡi trước khi nói” (“sleep on it”) ” lại có thể giúp chúng ta suy nghĩ thấu đáo hơn.  Tuy nhiên, nhiều câu hỏi vẫn còn đang bỏ ngỏ. Ví dụ như,các synapse thu hẹp như thế nào? Người ta vẫn biết rằng các tế bào miễn dịch được gọi là tiểu thần kinh đệm (microglia) “quét dọn” bớt các synapse, nhưng chúng cũng tham gia quá trình thu hẹp các synapse hay không? Quá trình thu hẹp synapse có mối liên kết như thế nào đến hoạt động thần kinh trong quá trình tiếp thu kiến thức và ghi nhớ? Và điều đó đóng góp vào quá trình tạo ra những ký ức lâu dài như thế nào?  Hồng Nhung dịch  TS. Dương Quốc Chính (Trưởng khoa Sinh học phân tử, Viện Huyết học truyền máu trung ương) hiệu đính.  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/neurophilosophy/2017/feb/03/sleep-may-help-us-to-forget-by-rebalancing-brain-synapses    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Abel 2023: Người tiên phong của vật lý ‘trơn’ thắng giải thưởng toán học      Công trình nghiên cứu của Luis Caffarelli bao gồm các phương trình nằm trong các hiện tượng vật lý như băng tan và các dòng chất lỏng.    Nhà toán học sinh ra ở Argentinia Luis Caffarelli đã thắng giải Abel 2023 – một trong những giải thưởng danh giá bậc nhất của Toán học – cho công trình về các phương trình đóng vai trò quan trọng cho miêu tả các hiện tượng vật lý, ví dụ như sự tan chảy của băng và các dòng chảy chất lỏng. Ông là người đầu tiên ở Nam Mỹ giành giải thưởng này.  Các kết quả nghiên cứu của Caffarelli “xuất sắc về mặt kỹ thuật, bao phủ nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học và những ứng dụng của nó”, theo thông cáo báo chí của Helge Holden, một nhà toán học tại Đại học KH&CN Nauy ở Trondheim, chủ tịch Hội đồng giải thưởng Abel.  Luis Caffarelli cho biết việc đón nhận tin vui là một khoảnh khắc giàu cảm xúc bởi vì ‘nó cho thấy có một số người hiểu đúng tôi và khoa học của tôi”.  Caffarelli sinh ra tại Buenos Aires vào năm 1948. Sau khi làm nghiên cứu sinh tại Mỹ vào năm 1973, ông làm việc tại nhiều viện nghiên cứu khác nhau, bao gồm Viện nghiên cứu tiên tiến Princeton, New Jersey. Hiện ông làm việc tại ĐH Texas ở Austin.  Những nghiệm đều  Nhiều kết quả xuất sắc của Caffarelli là làm về tính chính quy/tính đều của các nghiệm cho các phương trình vi phân riêng phần. Nó thuộc về những phương trình quan trọng nhất của toán học và vật lý, bao gồm các đa biến, cụ thể về thời gian và một hoặc nhiều chiều không gian. Tính đều nghĩa là tính trơn, vì vậy các nghiệm không hình thành các nút hoặc chạy về vô hạn. Trong vật lý toán, các nghiệm thường được chờ đợi là đều bởi vì các phương trình mô phỏng hiện tượng tại các cấp độ vĩ mô – nơi những đối tượng như thời gian hoặc áp suất phân bố dường như đều – và nơi các vô hạn có thể là phi vật lý.  Trong đột phá đầu tiên của mình, Caffarelli tạo ra một bằng chứng cho tính đều của sự tan băng –  chứng tỏ bề mặt của một tảng băng còn lại chủ yếu là mịn mượt khi nó trở thành nước. Kết quả của ông được nhà toán học đoạt giải thưởng Fields Alessio Figalli tại Viện công nghệ liên bang Thụy Sĩ và cộng sự tinh chỉnh lại vào năm 2021.  Với những bài báo xuất sắc khác, Caffarelli nghiên cứu cùng Louis Nirenberg, người được trao giải Abel năm 2015, và Robert Kohn, tại ĐH New York năm 1982, để tấn công vào một trong những bài toán thách thức nhất của vật lý toán – tính đều của chuyển động chất lỏng, được miêu tả bằng lý thuyết tiêu chuẩn của động lực học chất lỏng- các phương trình Navier–Stokes.  Bộ ba đã chứng minh một kết quả cụ thể, đến nay vẫn là nghiệm tốt nhất – và được coi là thành công đáng tự hào nhất của Caffarelli. Nhưng tính đều đầy đủ vẫn là một nghiệm mở, và trong năm 2000 đã được Viện Toán Clay đưa vào danh sách bảy bài toán thiên nhiên kỷ – với phần thưởng một triệu USD cho người đầu tiên giải được nó. Về nguyên tắc, vẫn có thể là phương trình đó sai để có tính đều và nó có thể cho phép vận tốc của dòng chảy rối ‘thổi tung’ tính vô hạn – khiến cho lý thuyết này hiển thị một mô hình không phù hợp với thế giới thực, như Caffarelli giải thích trong một bài giảng chính thức giới thiệu về bài toán thiên niên kỷ này. Trong những năm gần đây, Caffarelli đã chuyển sang phương trình Monge–Ampère, một phương trình rất quan trọng với hình học.  Trực giác kỳ lạ  Trong một cuộc thảo luận 2002, Nirenberg nói Caffarelli có “một trực giác kỳ lạ” nên rất khó để những người cộng tác đuổi kịp ông. “Ông ấy có lẽ nhìn thấy lập tức mọi điều mà những người khác không thấy nhưng lại thật khó để giải thích chúng”, Nirenberg nói. Nirenberg cũng từng van nài Caffarelli xuất bản nhiều hơn bởi Caffarelli có thói quen viết lại một phần nhỏ những ý tưởng mà ông có thể thảo luận với đồng nghiệp. “Mọi người thường hỏi, ‘làm thế nào mà ông ấy có thể nghĩ ra nó?’. Ông ấy có thể làm ra những kết quả mà không ai ngờ tới”, Holden nói.  Caffarelli miêu tả phong cách của mình là làm toán như “một niềm vui thích”. “Tôi tận hưởng các hợp tác, sự sáng tạo và tình bạn lâu bền”, ông nói.  Sự thật là việc Caffarelli lớn lên và học hành ở Argentina đã đem lại cho giải thưởng này một ý nghĩa đặc biệt, Holden cho biết thêm. “Tôi nghĩ điều này sẽ có tác động vô cùng lớn với Nam Mỹ”, ông nói. “Nó chứng tỏ tài năng có thể đến từ muôn nơi”.  Caffarelli sẽ nhận giải thưởng cùng với 7,5 triệu kroner Nauy (700.000 USD) vào ngày 23/5 trong một lễ trao giải trang trọng ở Oslo. Dẫu được mô phỏng từ giải Nobel – giải dành cho những khám phá đặc biệt, nhưng giải Abel được coi như giải sự nghiệp. Trong số 26 người được trao thì chỉ có duy nhất Karen Keskulla Uhlenbeck là nữ.    Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-023-00833-4  https://www.theguardian.com/science/2023/mar/22/the-messi-of-maths-argentinian-luis-caffarelli-wins-abel-prize      Author                .        
__label__tiasang Giải bài toán tồn tại 127 năm      Anh đã giải quyết được một vấn đề vật lý đã tồn tại 127 năm trong một bài báo và chứng minh có thể tồn tại những vết sóng phía sau thuyền. Năm năm sau, các thí nghiệm đã chứng minh anh đúng.         Bên bờ biển Hà Lan năm 2016, Những vòng tròn nước được hình thành một cách kỳ quặc. Hiệu ứng tương tự mà mà chúng ta đang thấy có như vậy? Tại đây nhiều hiệu ứng đang diễn ra. Nguồn: Simen Andreas Ådnøy Ellingsen, NTNU  “Ngày nhìn thấy các bức ảnh xuất hiện trên màn hình máy tính là ngày đẹp nhất kể từ ngày tôi bắt đầu công việc nghiên cứu”, Simen Ådnøy Ellingsen, một phó giáo sư tại Khoa Năng lượng và quy trình kỹ thuật trường đại học KH&CN nauy (NTNU), nói.  Đó là ngày nghiên cứu sinh Benjamin Keeler Smeltzer và học viên cao học Eirik Æsøy đã chứng tỏ bằng thí nghiệm rằng Ellingsen đã đúng và gửi cho anh những bức ảnh thu được từ trong quá trình thực hiện thí nghiệm. Năm năm trước, Ellingsen đã đón nhận một thách thức từ năm 1887 và bằng giấy bút đã giải quyết được vấn đề.  Đó là vấn đề mà giới vật lý và cơ học vẫn gọi là góc Kelvin trong sóng thuyền, vốn đã tồn tại như một thách thức các nhà nghiên cứu trong vòng 127 năm. Đuôi sóng thuyền là một mẫu hình chữ V mà con thuyền hoặc cano thường để lại phía sau khi chuyển động trên mặt nước. Chắc chắc là ai cũng có thể nhìn thấy mẫu hình này vào một lúc nào đó trong đời.  Góc 390  Đã từ lâu người ta vẫn cho là góc của sóng nước hình chữ V phía sau một con thuyền luôn luôn dưới 390, miễn là nước không quá cạn. Bất chấp là liệu nó là sóng nước phía sau một tàu chở dầu siêu lớn hay một con vịt cũng vậy, nó luôn luôn là như thế. Hoặc không. Bởi như nhiều sự thật được chấp nhận thì điều này hóa ra là sai, hoặc ít nhất là không phải lúc nào cũng như vậy. Ellingsen đã chứng tỏ điều đó.  “Với tôi, đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới, và không ai có thể nói với tôi là nó khó như thế nào”, Ellingsen giải thích khi anh lần đầu tiên tìm ra khám phá này.  Sóng đuôi thuyền trên thực tế có thể có một góc hoàn toàn khác biệt dưới các tình huống nhất định, và có thể lệch tâm với hướng của thuyền. Nó có thể xảy ra khi có các dòng chảy khác nhau trong những lớp khác nhau của nước, vốn được biết đến dưới tên gọi dòng chảy trượt (shear flow). Với dòng chảy trượt, lý thuyết của Kelvin về vệt sóng thuyền không thể ứng dụng được.  “Những người vĩ đại như Cauchy, Poisson và Kelvin đã giải quyết được những bài toán về sóng này, thậm chí trong trường hợp đơn giản nhất của sóng tĩnh không dòng chảy. Nhờ đó mà chúng ta dễ dàng hơn trong việc định hình những trường hợp tổng quát sau này, giống như việc chúng ta đã làm ở dây”, Ellingsen giải thích.  Các vòng tròn hình thuôn  Các sóng nước hình vòng luôn luôn đem lại điều thú vị trong những tình huống nhất định. Nếu bạn ném một viên sỏi xuống một mặt hồ trong một ngày hè êm đềm, mẫu hình sóng nước sẽ luôn đẹp hoàn hảo với những vòng tròn đồng tâm. Nhưng không xảy ra trường hợp như vậy nếu ở đó có dòng chảy trượt. Khi đó, các vòng tròn có thể chuyển thành hình trái xoan. Ellingsen cũng dự đoán điều này, và mở rộng lý thuyết có từ năm 1815 của Cauchy và Poisson.  “Sau khi thực hiện những tính toán đầu tiên, tôi đã ra bờ biển Hà Lan để ngắm nước chảy trở lại sau mỗi con sóng. Tôi đã tạo ra một số vòng tròn trên nước và chụp vài tấm ảnh. Nhìn kỹ chúng sau đó, tôi thấy các vòng tròn trở thành thuôn và tôi cảm thấy hết sức hứng khởi với nó. Đây không hẳn là khoa học, dĩ nhiên rồi, nhưng bây giờ lại là vậy, Ellingsen nói.  Nghiên cứu ở phòng thí nghiệm sau các tính toán  Công trình nghiên cứu của Ellingsen đã được lên bìa của tạp chí Journal of Fluid Mechanics. Tất cả các tính toán của anh đã được nêu trong đó, và được thực hiện dựa trên quan sát mang tính kinh nghiệm.    Con thuyền chuyển động cùng vận tốc trong tất cả các bức ảnh, 50 cm/s. Theo lý thuyết của Kelvin, tất cả sóng đuôi thuyền đều phải trông như nhau nhưng thực tế là không như vậy. Hãy cố gắng đếm  các sóng ngang phía sau thuyền (các điểm trắng nhỏ ở phía trên mỗi bức ảnh). Trái: Sóng hình thoi lệch. Tại đây, bề mặt không chuyển động nhưng đây là một dòng chảy dưới bề mặt. Trung tâm: Cùng tốc độ, với bề mặt tĩnh lặng nhưng trong trường hợp này, dòng chảy ngầm ngược hướng của chuyển động. Phải: trong trường hợp này, con thuyền và dòng chảy dưới mặt nước cùng một hướng, vẫn không có chuyển động bề mặt. (Con thuyền mới chuyển động, vì thế bạn có thể thấy sóng nước ơ rất gần với sau thuyền). Nguồn: NTNU  Giờ đây, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã ủng hộ công việc của anh, đó là công trình của nghiên cứu sinh và học viên cao học, những người có khả năng thực hiện các thí nghiệm theo một nhiệm vụ phát triển nghiên cứu dưới sự tư vấn của chính Ellingsen.  Eirik Æsøy có nền tảng hiểu biết như một kỹ thuật viên với việc dành nhiều thời gian và tiền bạc trong xây dựng phòng thí nghiệm này. Tuy nhiên cũng phải mất tới 6 tháng để xây dựng và vận hành nó. “Æsøy và tôi đã thiết lập tất cả các thiết bị nhằm tạo dựng các dòng chảy mà chúng tôi cần”, Smeltzer giải thích.  Kết quả thí nghiệm của họ đã được xuất bản trên chính Journal of Fluid Mechanics. “Thật là một điều tuyệt vời khi các thí nghiệm từ các con sóng nhỏ trong bồn thí nghiệm của chúng tôi lại được xuất bản ở đây”, Smeltzer nói.  Các ứng dụng thực tiễn  Những kết quả từ nghiên cứu của họ về góc Kelvin có thể đem lại những kết quả thiết thực, như có tiềm năng giúp cắt giảm việc tiêu thụ nhiên liệu trong các con tàu. Một lượng lớn nhiên liệu trên các chuyến tàu trên thực tế thường tạo thành sóng.  “Việc tiêu thụ nhiên liệu có thể tăng lên gấp đôi nếu con tàu đi xuôi dòng so với thượng nguồn”, Ellingsen nói.  Những tính toán đó được thực hiện dựa trên những dòng chảy tại nơi bắt nguồn sông Columbia tại Oregon ở Mỹ. Tại đây, các dòng chảy rất mạnh. Vì vậy việc nghiên cứu về các con thuyền và tàu trong những dòng chảy khác nhau rất quan trọng với bất cứ ai quan tâm đến việc cắt giảm việc tiêu thụ nhiên liệu và do đó dẫn đến khả năng ô nhiễm.  Sóng thuyền phía trước  Ellingsen vẫn tin tưởng là kết quả nghiên cứu của họ không bác bỏ được lý thuyết của Kelvin mà chỉ mở rộng nó. Góc Kelvin vẫn đúng miễn là không có những lớp dòng chảy dưới bề mặt, trong trường hợp khi ở dưới sâu mặt nước.  Nhưng chuyển động giữa các lớp nước càng sớm, các lớp khác nhau chuyển động với tốc độ khác nhau thì góc sẽ thay đổi. Về lý thuyết, với những dòng chảy mạnh chuyển động vuông góc với hướng di chuyển của thuyền, sóng đuôi có thể xuất hiện ở phía trước một bên thuyền.  “Có lẽ khi đó anh nên đánh thuyền di chuyển tới một chỗ khác”, Ellingsen  gợi ý.  Phương Thanh  dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-year-old-physics-riddle.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải bí ẩn 120 tuổi của phản ứng Grignard      Phản ứng Grignard thường được sử dụng để tổng hợp các liên kết carbon-carbon, một bước quan trọng để tạo ra các phân tử mới để sử dụng trong nghiên cứu cũng như công nghiệp. Mục tiêu của các hoạt động nghiên cứu trong hơn 100 năm qua là tìm kiếm những phương pháp hiệu quả và có chọn lọc cho phản ứng này, sử dụng những vật liệu giá rẻ và những nguồn năng lượng tối thiểu.      Phức hợp phản ứng của phản ứng Grignard, bao gồm hai phân tử của chất phản ứng Grignard CH3MgCl tương tác với acetaldehyde, và với ba phân tử tetrahydrofuran aether. Những phân tử có khả năng hòa tan khác như pentagon. Credit: Michele Cascella  Tuy nhiên cho đến bây giờ, điều đó dường như vẫn là chưa đủ vì người ta vẫn còn chưa rõ về cơ chế của phản ứng Grignard. Khi chúng ta biết được cơ chế phản ứng thì có thể sẽ tìm được cách để cải thiện nó.  Không chỉ có nhà hóa học mới biết được tầm quan trọng của mạch carbon. Trên thực tế, các phân tử được hình thành trên cơ sở carbon không chỉ là các đoạn ghép cơ bản của bất kỳ cơ thể sống nào, bao gồm các axít nucleic, chất béo, protein, enzyme mà còn là các thành phần thiết yếu cho các vật liệu thường nhật nhất, ví dụ nhiên liệu hydrocarbon, nhựa, hoặc dược phẩm. Nếu chúng ta không thể tổng hợp được các liên kết carbon-carbon thì sự sống của chúng ta có thể  hoàn toàn khác. Ví dụ hãy hình dung ra cảnh chúng ta không thể tạo ra các loại dược phẩm cần thiết hoặc bất kỳ vật liệu nhẹ hữu dụng hàng ngày nào!  Tất cả bắt đầu từ 120 năm trước khi phản ứng Grignard lần đầu tiên cho phép chúng ta có thể hình thành các liên kết carbon-carbon theo ý muốn. Kể từ đó, phản ứng này đã được sử dụng rộng rãi và dẫu được nghiên cứu nhiều thì vẫn còn quá nhiều điều chúng ta cần hiểu biết đầy đủ về nó.  Giành giải Nobel Hóa học nhưng vẫn thiếu lời giải thích sâu sắc  Vào năm 1900, Victor Grignard đã thấy rằng kim loại magiê bị hòa tan trong ether với sự hiện diện của bromoalkene. Hợp chất tạo thành, sau đó được gọi là tác nhân Grignard, phản ứng với những dạng cụ thể của các phân tử (các aldehyde hoặc các ketone) để hình thành những sản phẩm mới, được mô tả như một chất được hình thành từ sự dung hợp của hai dạng ban đầu. Phản ứng này, sau đó mang tên Grignard, được công bố dưới dạng thông báo tại “Comptes Rendus Hebdomadaires de l’Académie des Sciences” và ngay lập tức thu hút được sự chú ý. Năm 1901, Grignard đã hoàn thành luận án tiến sĩ ở trường đại học Lyon, và 11 năm sau, ở tuổi 41 nhận giải Nobel Hóa học.    Kể từ đó, phản ứng Grignard đã được ghi nhận một cách rộng rãi, được đưa vào các giáo trình hóa học cơ bản và mở rộng phạm vi sử dụng, và cho đến ngày nay vẫn hiện diện trong thế giới hóa hữu cơ.  “Không hiểu sâu đến mức độ phân tử quá trình cơ bản này là điều thiệt thòi cho các nhà hóa học. Trên thực tế, thiếu hiểu biết sẽ khiến các nhà khoa học không thể tìm ra cách để tối ưu quá trình này”, giáo sư Odile Eisenstein, một trong những nhà khoa học tham gia nghiên cứu về phản ứng Grignard, cho biết.  Đặt câu hỏi đúng với đúng người tại đúng thời điểm   Năm năm trước, giáo sư Odile Eisenstein đã thực hiện một seminar tại trường đại học Oslo. Lúc đó trước một câu hỏi về sự phức tạp trong hóa học của giáo sư Mats Tilset, bà đã trình bày phản ứng Grignard như một ví dụ kiểu mẫu của một hệ thống quá phức tạp để hiểu. Trình bày này đã khơi gợi sự tò mò của giáo sư Michele Cascella, một trong số những người tham gia seminar, và muốn có một cái nhìn gần hơn về phản ứng này. Sự hợp tác cùng giải quyết vấn đề đã được sinh ra theo cách đó.  “Tôi đoán là tên của phản ứng Grignard đã rung lên tiếng chuông trong tâm trí bất cứ nhà hóa học nào. Đó có lẽ là phản ứng hữu cơ đầu tiên mà tôi học được khi còn là sinh viên,” Cascella kể.  Quan sát hóa học thực nghiệm bằng các phương pháp tính toán  Ngay cả khi biết rõ về về thành phần hóa học của tác nhân Grignard, vẫn không thể xác định được cấu trúc ba chiều của chúng. Trên thực tế, các thí nghiệm cho thấy sự tồn tại của nhiều cấu trúc và các cấu trúc này chuyển đổi lẫn nhau liên tục, quá trình này được gọi là “cân bằng Schlenk”. Vấn đề càng  trở nên phức tạp khi có chứng cứ cho thấy cân bằng này bị các nhóm khác nhau liên kết với nguyên tử megiê ở trung tâm và dung môi ảnh hưởng.  Eisenstein và Cascella quyết định thử giải quyết vấn đề này bằng các mô phỏng tính toán. Mô hình hóa cả tác nhân và dung môi theo một cách vẫn sử dụng trong thực tế, họ có khả năng xác định được các dạng hóa học phức tạp trong quá trình cân bằng Schlenk. Quan trọng hơn, nghiên cứu của họ đã xác định được toàn bộ quá trình chịu ảnh hưởng của sự liên kết hoặc phân tách của các phân tử dung môi với các nguyên tử magiê. Hoạt động này của dung môi quyết định sự trao đổi của các chất tham gia vào quá trình đó với nguyên tử magiê để đạt đến sự cân bằng Schlenk và hình thành các hợp chất trong dung dịch này.  Điệu vũ của tác nhân Grignard  Tác nhân Grignard được biết đến không phải là một hợp chất hoàn toàn xác định mà nó giống như một “vũ công” ưa thay đổi, có thể thấy điều đó khi nhìn vào phản ứng. Điều này cho chúng ta thấy nhiều thách thức khác tại các mức độ phức tạp khác nhau của vấn đề này. Cặp vũ công trong vở ballet Schlenk có thể luân chuyển các bạn nhảy một cách nhanh nhất? Điều đó có nghĩa là, các hợp chất gì trong dung dịch đang phản ứng thực sự và phản ứng sẽ như thế nào?  “Một trong những ưu điểm của  nghiên cứu tính toán trên máy tính là anh có thể không bị giới hạn bằng thực tại vật lý, anh có thể kiểm tra các giả thiết phức tạp một cách hệ thống, và xác định được cái nào là tốt nhất bằng kinh nghiệm hoặc thực nghiệm”, Cascella nói.  Nhờ có mối hợp tác với giáo sư Jürgen Gauss (trường đại học Johannes Gutenberg, Mainz, Đức) mà các mô phỏng trên máy tính được bổ sung cả dữ liệu hóa lượng tử, họ có thể thiết lập một chuỗi các điểm quan trọng. Đầu tiên, hầu hết các cặp vũ công sẽ kết thúc việc hình thành các liên kết carbon-carbon bền, nghĩa là tất cả các phân tử được tạo ra từ cân bằng Schlenk thúc đẩy sự hình thành các liên kết carbon-carbon, mặc dù với các tốc độ khác nhau. Thứ hai, các cặp vũ công khác nhau sẽ có những bước nhảy khác nhau trong điệu nhảy này; nghĩa là các phân tử chất nền khác nhau sẽ phản ứng theo những cơ chế khác nhau biểu thị bằng sự phân tách dị li hay đồng li của liên kết magnesium-carbon (hai electron của liên kết này đều thuộc về carbon, hoặc được chia đều cho magiê và carbon).  “Những gì chúng ta luôn biết về phản ứng Grignard là trong thực tế, một nhóm các phản ứng xảy ra một cách song song trong cùng một mẫu”, Cascella nói.  Nghiên cứu của họ cho thấy không giống như những phản ứng thông thường khác, trong trường hợp này chất dung môi “dẫn dắt” toàn bộ tiến trình hóa học. Đây là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao sau nhiều năm trôi qua thì phản ứng Grignard vẫn còn ẩn chứa bí ẩn: “Rất khó để nghiên cứu các hệ thống bị  dung môi chi phối”, Eisenstein nêu. Cấu trúc của chúng luôn luôn thay đổi, và các phương pháp thực nghiệm thường được sử dụng lại không đủ tốt để quan sát những gì thực sự diễn ra. Giống như cố gắng dùng một máy ảnh với tốc độ cửa chập quá chậm để chụp một bầy chim. Tất cả những gì anh có thể thấy trong bức ảnh đó là một đám lông vũ nhòe nhoẹt và có hình dạng giống những con chim nhưng anh không thể xác định được có bao nhiêu con trong đó, cách chúng bay như thế nào hoặc thậm chí gồm những loài nào. Chúng ta không thể xác định bất kỳ điều gì từ đó cả. Đó là nơi các phương pháp tính toán có một cơ hội xen vào”.   Một cái lồng lạnh bất ngờ nóng lên    Giáo sư Odile Eisenstein trình bày báo cáo tại một hội thảo  Việc nhận diện cơ chế của phản ứng không phải là điểm kết của câu chuyện này; thậm chí, đó mới chỉ là một bắt đầu.  “Chúng tôi chỉ mới xới qua được bề mặt”, Eisenstein nói. “Từ lâu người ta đã biết rằng các phản ứng cơ kim có thể được tăng cường với rất nhiều chất phụ gia như muối, dẫn xuất của các hợp chất kim loại khác… Các chất phụ gia có thể khiến cho một phản ứng diễn ra nhanh hơn và sạch hơn. Dẫu vậy, không ai thực sự biết cách chúng hoạt động như thế nào. Hiện tại thì chúng ta mới có khả năng hiểu được phản ứng Grignard, chúng ta có thể xây dựng được từ đó. Một khi biết cách làm một cái bánh ngọt, chúng ta có thể làm cho nó ngon hơn và đẹp hơn. Nói theo cách khác, chúng ta có thể hiểu được vai trò của các chất phụ gia và đầy hi vọng để đề xuất những phụ gia mới”.  “Với tương lai, điều đó có nghĩa là có thể có nhiều cách để dự đoán những khả năng hoàn thiện phản ứng này, với tất cả các gợi ý điều này sẽ có tại những nơi cần thiết cho quá trình tổng hợp các phân tử, như trong hóa học y tế và công nghiệp. Phản ứng này mà mẫu thử cho rất nhiều phản ứng khác với kim loại”, Cascella nói. “Và ngay cả khi không chờ đợi thì chúng ta đã tìm thấy các chất hoạt động hóa học mạnh nhất có hình dạng và cấu trúc tương tự với các vị trí hoạt động của một nhóm enzyme đóng vai trò quan trọng của sự tồn tại của chúng ta: các endonuclease”.  Các endonuclease là các enzyme xử lý DNA trong các tế bào, và chúng xúc tác cho sự phá vỡ/hình thành liên kết bằng cách sử dụng magiê như một đồng nhân tố, giống như trong điệu vũ Grignard. Điều này mở ra những khả năng thú vị cho hiểu biết về sự biến hóa của các enzyme này. Nó giống như thể ban đầu họ sử dụng các cách làm ít phức tạp, ít hiệu quả cho phản ứng này rồi sau đó từng nấc một tiến hóa bằng việc lựa chọn cách làm hiệu quả nhất. Mặt khác, việc thiết kế các phối tử quanh các nguyên tử magiê bắt chước cấu trúc của các enzyme có thể là một lộ trình xuất sắc cho việc tự cải thiện phản ứng Grignard.  Mỗi ngày một hoàn thiện, phản ứng Grignard được xác nhận ngày nay là một nguồn truyền cảm hứng lớn cho các nhà hóa học.  Cả hai công trình về cân bằng Schlenk và phản ứng Grignard đều được xuất bản dưới dạng truy cập mở.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-year-cold-case-grignard-reaction.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải đáp bí ẩn cơ học chất lỏng tồn tại nhiều thập kỷ      Một giáo sư kỹ thuật môi trường của trường đại học bang Oregon đã giải quyết được một bí ẩn tồn tại nhiều thập kỷ liên quan đến hành xử của chất lỏng, một lĩnh vực nghiên cứu có những ứng dụng trải rộng từ y học, công nghiệp đến môi trường.      Nghiên cứu của Brian D. Wood, xuất bản trên Journal of Fluid Mechanics, đã xóa đi một chướng ngại vật đã thách đố các nhà khoa học tới gần 70 năm và giúp cho chúng ta thấy một bức tranh sáng sủa hơn về cách các chất hóa học hòa trộn với nhau trong chất lỏng như thế nào.  Theo cách đó, một hiểu biết hoàn thiện hơn về nguyên lý cơ bản đó đem lại nền tảng cho những tiên tiến trong một loạt những lĩnh vực – từ cách các chất ô nhiễm lan truyền trong khí quyển đến cách các loại thuốc được truyền đi  tới các mô trong cơ thể con người như thế nào.  Được Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF) tài trợ, nghiên cứu của Wood với lý thuyết phân tán, vốn được xây dựng trên nghiên cứu của một trong những nhà khoa học xuất sắc bậc nhất lịch sử trường đại học bang Oregon, Octave Levenspiel. Tiến sĩ kỹ thuật hóa học và sau là nhà nghiên cứu của trường, Levenspiel vào năm 1957 đã xuất bản một công trình quan trọng về sự phân tán trong các phản ứng hóa học, qua đó trở thành người đầu tiên của trường vào Viện Hàn lâm Kỹ thuật quốc gia Mỹ.  Quan trọng hơn, nghiên cứu của Wood đã lấp đầy khoảng trống, vốn tồn tại trong khoảng thời gian dài, về một trong những nguyên lý cơ bản của cơ học chất lỏng: lý thuyết phân tán Taylor. Được mang tên nhà vật lý và toán học Anh G.I. Taylor, tác giả của một bài báo có sức ảnh hưởng về sau viết năm 1953, lý thuyết này liên quan đến hiện tượng trong đó các dao động trong trường  vận tốc của một chất lỏng là nguyên nhân khiến cho các chất lan truyền trong đó.  “Quá trình của việc lan truyền phân tán có xu hướng tăng theo thời gian cho đến khi nó chạm tới một mức ổn định”, Wood nói.  Lý thuyết của Taylor là lý thuyết đầu tiên cho phép các nhà nghiên cứu dự đoán được mức ổn định của phân tán khi sử dụng phương trình phân tán vĩ mô. Phương trình này có thể được miêu tả chuyển động kiểu mạng lưới của một dạng hóa chất trong một chất lỏng – đem đến một thời gian đủ để hòa tan khi hóa chất vào chất lỏng.  “Đó là một phát hiện có ý nghĩa vào thời điểm này”, Wood nói, “Nó tương tự như những gì mà các nhà nghiên cứu đang thực hiện về mặt lý thuyết ở các ngành khác, ví dụ như cơ học lượng tử”.  Trong khi lý thuyết của Taylor được đánh giá là thành công và mang tính cách mạng thì các nhà nghiên cứu vẫn còn vật lộn với vấn đề là cách lan truyền phân tán từ những động lực đó như thế nào, hành xử như thế nào – những gì là điều kiện ban đầu của nó – cho đến khi nó đạt được giá trị cân bằng lớn hơn như Taylor dự đoán.  Các nhà khoa học đã từng đạt được thành công khi đưa thêm vào phương trình này một hệ số phân tán phụ thuộc thời gian nhưng hệ số này lại có những vấn đề của chính nó, điều dẫn đến những nghịch lý.  “Ví dụ, nếu các chất hòa tan được đưa vào một dòng chảy tại hai thời điểm chồng chéo khác nhau, thời điểm nào anh gán cho hệ số phân tán? Wood nói. “Bản thân Taylor hiểu rằng, nơi một hệ số phân tán phụ thuộc thời gian được chấp thuận, các lý thuyết hiện tại sẽ vi phạm những quy luật cơ bản của luật nhân quả trong vật lý”.  Wood và cộng sự đã sử dung một lý thuyết khác, lý thuyết của các phương trình vi phân riêng phần, để chứng tỏ các vấn đề với hệ số phân tán phụ thuộc thời gian phát sinh từ việc bỏ qua sự hồi phục của chất hòa tan – hóa chất đưa vào chất lỏng hoặc dung dịch – từ điều kiện ban đầu của nó.  “Khi các chất hóa học được đưa vào chất lỏng, hành xử của chúng không nhất thiết phải phù hợp với một phương trình dạng phân tán”, Wood giải thích. “Thay vào đó, điều kiện ban đầu phải mang tính ‘nới lỏng’. Trong suốt thời gian đó, có một số hạng được thêm vào để giải thích cho điều còn khuyết thiếu trong phương trình phân tán vĩ mô của Taylor”.  Trong một phương trình, một số hạng được quy cho một số riêng lẻ hoặc một biến, hoặc những số và những biến số được nhân lên với nhau.  Số hạng mà Wood tăng thêm đã hiệu chỉnh phương trình phân tán để giải thích cho hình dạng ban đầu của các hóa chất chuyển động quanh chất lỏng. Điều ngạc nhiên nhất là, Wood nói, lý thuyết này lại giải quyết được những nghịch lý trong những lý thuyết khác với những hệ số phân tán phụ thuộc thời gian.  “Trong lý thuyết mới, không bao giờ tồn tại câu hỏi về hệ số phân tán gì có thể được sử dụng khi các hóa chất tan vào nhau. Việc điều chỉnh quá trình lan truyền được tính một cách tự động bằng sự hiện diện của số hạng thêm vào đó”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-team-mystery-paving-advances-medicine.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Đột phá 2016      Mới đây, giải Đột phá (Breakthrough Awards), một trong những giải thưởng khoa học có giá trị tiền thưởng lớn nhất thế giới, đã công bố người chiến thắng tại buổi lễ ở Trung tâm Nghiên cứu Ames của NASA, Mountain View, California.      Lễ trao giải Đột phá 2016 hôm 4/12 ở Trung tâm Nghiên cứu Ames của NASA.  Đây là giải thưởng được trao hằng năm cho tác giả của những phát hiện khoa học nổi bật trong ba lĩnh vực: Toán học, Vật lý cơ bản và Khoa học sự sống do vợ chồng những nhà khởi nghiệp nổi tiếng sáng lập, gồm: Mark Zuckerberg – Priscilla Chan, Sergey Brin – Anna Wojcicki, Yuri Milner – Julia Milner, và Jack Ma – Cathy Zhang.  Những lý thuyết không được kiểm chứng  Trong khoa học, việc nêu ra vấn đề cũng xứng đáng được tưởng thưởng như việc giải quyết vấn đề. Năm nay, khám phá về Nghịch lí tường lửa lỗ đen, một trong những vấn đề cùng được nhiều người nêu ra nhất trong vật lý những năm gần đây, đã mang về 3 triệu USD cho ba nhà khoa học. Một trong số họ là Joseph Polchinski (Đại học California, Santa Barbara), đồng tác giả của một phân tích công bố năm 2012 cho rằng hoặc các lỗ đen được bao quanh bởi một vòng các hạt năng lượng cao gọi là tường lửa – điều này mâu thuẫn với thuyết tương đối tổng quát – hoặc những hiểu biết về thuyết lượng tử của các nhà vật lí là sai. Cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận về việc thuyết tương đối tổng quát hay thuyết lượng tử có chỗ sai.  “Tôi đã lập một danh sách gồm khoảng 11 lời giải do một số người tên tuổi nhất trong lĩnh vực vật lí đề xuất, nhưng không có lời giải nào hoàn toàn thuyết phục, và cũng không có lời giải nào sai rõ rệt”, Polchinski nói. “Tôi hết sức bối rối”.  Andrew Strominger và Cumrun Vafa, đều của Đại học Harvard, Cambridge, Massachussetts, là hai người còn lại cùng chia giải với Polchinski. Cả ba đều nghiên cứu vật lí lỗ đen từ quan điểm của lí thuyết dây.  Giải Đột phá về Vật lí trước đó đã bị chỉ trích vì vinh danh những nhà lí thuyết dây do lý thuyết dây nằm ngoài khả năng kiểm nghiệm trực tiếp. Nhưng người đồng sáng lập giải thưởng, tỉ phú người Nga Yuri Milner, lập luận rằng điều này giúp cho giải Đột phá khác biệt với những giải như Nobel vốn đòi hỏi các ý tưởng phải được kiểm chứng bằng thí nghiệm. “Các giải về vật lí này thực sự công nhận những thành tựu trí tuệ”, ông nói. Trong trường hợp của Nghịch lý tường lửa, thì “giá trị của nó nằm ở việc nêu câu hỏi, hơn là ở việc tìm ra câu trả lời”.  Tháng Năm năm nay, Giải Đột phá cũng tạo thêm một khác biệt  với giải Nobel khi công bố trao giải đặc biệt cho một tập thể hơn 1.000 nhà khoa học đang làm việc trong dự án LIGO (Đài quan sát sóng hấp dẫn – giao thoa kế laser). Trước đó, hồi tháng Hai, dự án LIGO thông báo đã trực tiếp đo được sóng hấp dẫn từ kết quả của việc hai lỗ đen sáp nhập vào nhau tạo thành một lỗ đen quay mới.  Ba nhà vật lý thành lập dự án LIGO – Ronald Drever và Kip Thorne của Viện Công nghệ California, Pasadena, và Rainer Weiss của Viện Công nghệ Massachusetts, Cambridge – sẽ chia nhau 1 triệu USD; 2 triệu USD còn lại được chia cho 1.012 nhà vật lí đã làm việc cho dự án. “Hội đồng chọn giải vật lí muốn gửi đi một thông điệp rõ ràng rằng vật lí thực nghiệm là hợp tác”, Milner nói.  Giải Khoa học sự sống  Harry Noller, nhà sinh học phân tử của Đại học California, Santa Cruz, được vinh danh trong lĩnh vực Khoa học sự sống cho nghiên cứu khám phá vai trò trung tâm của RNA với quá trình tổng hợp protein. Một số người cho rằng ông bị trượt “oan” giải Nobel Hóa học năm 2009 vì giải này chỉ được chọn ba người. Và người giành giải Nobel Sinh lý học hay Y học 2016, Yoshinori Ohsumi của Viện Công nghệ Tokyo, Nhật Bản, cũng được trao giải cho nghiên cứu về cơ chế tự thực (autogaphy) ở tế bào.  Được trao giải ở lĩnh vực Khoa học sự sống còn có nhà di truyền học Stephen Elledge của Trường Y Harvard, Boston, nhờ làm sáng tỏ cách các tế bào cảm nhận và phản ứng với sự phá hủy DNA; nhà sinh học phát triển Roeland Nusse của Đại học Stanford, California với nghiên cứu tiên phong về protein Wnt giúp tái tạo xương nhanh chóng; và nhà di truyền học Huda Zoghbi của Đại học Y khoa Baylor, Houston, Texas, với việc tìm ra nguyên nhân của các chứng rối loạn thần kinh, thoái hóa tiểu não, và hội chứng Rett [rối loạn di truyền ảnh hưởng đến phát triển não, hầu như chỉ xảy ra ở bé gái].  Trong lĩnh vực Toán học, giải thưởng thuộc về Jean Bourgain của Viện Nghiên cứu Cao cấp, Princeton, New Jersey với nghiên cứu hình học không gian đa chiều và các kỹ thuật giải phương trình vi phân riêng phần (PDE) cùng những ứng dụng vào vật lý lượng tử cũng như các nghiên cứu khác.  Nguồn: http://www.nature.com/news/black-hole-fireworks-win-big-in-multimillion-dollar-science-prizes-1.21087    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giải mã bí ẩn về màu sắc của trứng chim      Các nhà khoa học đã giải mã bí ẩn tại sao trứng chim có màu sắc khác nhau, với nghiên cứu mới cho thấy nó liên quan đến nhiệt độ.      Sự xuất hiện của trứng chim bắt nguồn từ hai sắc tố xanh lục và nâu đỏ. Nồng độ khác nhau của các sắc tố này, cùng với canxi cacbonat màu trắng của vỏ, tạo ra các màu từ xanh đậm đến trắng – xanh và nâu đậm.  Nhưng những gì ảnh hưởng đến màu sắc của những quả trứng mà các loài chim khác nhau? Đây là chủ đề tranh luận sôi nổi, với các nghi vấn bao gồm nhu cầu ngụy trang khỏi động vật ăn thịt, giảm thiểu tác động có hại của tia UV lên DNA của phôi thai, giúp chim nhận ra trứng nào là của chúng – và thậm chí các màu khác nhau có thể có đặc tính kháng khuẩn khác nhau. Các nhà nghiên cứu cho biết trong khi các yếu tố trên vẫn có thể đóng một vai trò – đặc biệt ở cấp khu vực – thì một ảnh hưởng quan trọng ở quy mô toàn cầu là nhiệt độ.   “Trứng ở những nơi lạnh hơn có màu nâu đậm hơn. Ở vùng nhiệt đới và thậm chí vùng ôn đới  có quá nhiều áp lực cạnh tranh, do đó, có nhiều sự thay đổi về màu sắc.” Tiến sĩ Daniel Hanley – đồng tác giả từ Đại học Long Island. “Khi nhiệt độ toàn cầu tăng,  nó sẽ làm dấy lên một mối lo ngại lớn đến các sinh vật có đặc điểm thích nghi đặc biệt, như chim chẳng hạn.”  Viết trên Nature Ecology and Evolution, Hanley và các đồng nghiệp đã miêu tả cách họ phân tích màu sắc và độ sáng của từng quả trứng từ mỗi 634 loài chim từ khắp nơi trên thế giới và xem xét phạm vi sinh sản của từng loài. Sau đó, họ đã lấy trung bình độ sáng và màu sắc của trứng trên khắp các cộng đồng của các loài chim trong một khu vực nhất định và tạo ra một bản đồ phân bố.   Bản đồ cho thấy những quả trứng sẫm màu có xu hướng phổ biến hơn ở những vùng có cường độ mặt trời thấp hơn và khí hậu mát hơn. Trong khi đó trứng có nhiều biến đổi hơn, sáng hơn, ở những vùng có cường độ mặt trời cao hơn. Mặc dù mức độ bức xạ UVB cũng cao hơn ở những khu vực có cường độ mặt trời lớn, nhóm nghiên cứu cho biết điều này khó có thể mang lại kết quả vì trứng màu xanh lam đậm sẽ tốt nhất trong việc ngăn chặn ánh sáng như vậy, nhưng trứng ở khu vực bức xạ cao hơn thường sáng hơn hơn ở những nơi lạnh. Trong mọi trường hợp, ánh sáng khó truyền qua vỏ trứng.  Nhóm nghiên cứu cho biết, điều này có ý nghĩa đối với độ sáng và thậm chí màu sắc của trứng có liên quan đến nhiệt độ. Trứng tối hơn, hấp thụ nhiệt nhiều hơn có thể là một lợi thế ở vùng lạnh hơn vì phôi trong trứng cần phải được giữ trong một phạm vi nhiệt độ hẹp và ổn định – điều mà bản thân nó không có cách nào tự điều chỉnh điều này.  Để chứng minh giả thuyết, nhóm nghiên cứu đã lấy trứng từ các giống gà khác nhau và đặt chúng dưới ánh sáng mặt trời. Họ phát hiện ra rằng những quả tối màu hơn bị làm nóng nhanh hơn những quả sáng và nhiệt độ bề mặt của chúng cao hơn trong thời gian dài.  Họ nói thêm rằng sự thay đổi về màu vỏ trứng và thậm chí độ sáng ở vùng ấm hơn có thể giảm nhu cầu hấp thụ nhiệt và liên quan nhiều đến các yếu tố cạnh tranh khác như đặc tính kháng khuẩn, động vật ăn thịt hoặc độ cứng vỏ, có thể có lợi cho các màu khác nhau.  Giáo sư Simon Griffith, một chuyên gia về sinh thái gia cầm tại Đại học Macquarie ở Úc, người không tham gia vào nghiên cứu, nhận xét, “nghiên cứu cho thấy các loài chim trên khắp thế giới đã điều chỉnh màu sắc của trứng như thế nào trước những thách thức của điều kiện môi trường”.  Tuy nhiên theo quan điểm của ông thì vẫn còn vấn đề về độ sáng của vỏ trứng nói chung nhưng “điều này có thể bị ảnh hưởng bởi cả màu nền và số lượng và loại đốm hoặc vệt sọc trong khi “nNghiên cứu này không làm sáng tỏ lý do tại sao một số trứng lốm đốm, một số thì sọc và một số có màu đồng nhất.”  Đức Phát dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2019/oct/28/scientists-crack-mystery-of-bird-eggs-colour-variation       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã ý thức: Một bài toán nan giải      Một cách thông thường ta hiểu ý thức như sau (theo từ điển Meriam Webster): Ý thức là khả năng hay trạng thái của một đối tượng nhận thức được mọi điều xảy ra trong chính đối tượng; là khả năng nhận thức mọi đối tượng, trạng thái, sự cố bên ngoài. Ý thức được đặc trưng bởi cảm giác, xúc cảm, mong muốn và suy nghĩ.    Song vấn đề không phải đơn giản như vậy. David Chalmers đã liệt bài toán giải mã ý thức là một bài toán nan giải “hard problem” (1995, 1996).  Có phải chỉ có con người là có ý thức?  Chúng ta biết con người không những chia sẻ các cấu trúc giải phẫu (anatomy), sinh lý (physiology) và di truyền học (genetics) với các động vật khác mà còn các hệ thị giác, thính giác, ký ức và (cảm xúc (emotional) nữa. Có phải chỉ có con người mới có ý thức?  Đây là một bài toán khó –hard problem. Khó ngay từ định nghĩa của từ ý thức!      Hình 1. Con bạch tuộc có 1/3 số neuron nằm trong bộ não, phần còn lại nằm trên các xúc tu. Nếu bạch tuộc có ý thức thì ý thức nằm ở đâu?    Một khía cạnh của vấn đề còn khó hơn: bằng cách nào những trải nghiệm chủ quan lại đột sinh từ sự hoạt động khách quan của não bộ? Bằng cách nào mà những neuron vật lý, với các liên kết hóa học và điện lại tạo ra được cảm giác đau đớn hay cảm giác xúc động khi ngắm một hoàng hôn hay khi nghe một tiếng kèn clarrinet?  Những câu hỏi này làm phân chia các nhà nghiên cứu ý thức thành hai nhóm.  Nhóm B: (triết gia Daniel C. Dennett) nhóm này bâng khuâng (agonize) trước bài toán và cho rằng đó là sự tồn tại của những “xác sống” (zombie) không khác gì chúng ta song không có ý thức. Những “xác sống” này là những động vật có khả năng thấy, nghe, ăn uống, giao phối song lại không có ý thức chủ quan nào! Nếu quả vậy thì ý thức là một khả năng đặc biệt được cộng vào (additional) vào bản thân chúng ta đã tiến hóa và chúng ta may mắn có được.  Nhóm A: phản đối sự tồn tại các “xác sống”  và cho bài toán khó đó (triết gia Patricia Churchland) có nội dung là ý thức hoặc là hoạt động của cơ thể và bộ não hoặc song hành với mọi yếu tố mà chúng ta chia sẻ với động vật.  Sự chịu đựng đau khổ (Suffering)  Khi tôi dẫm chân vào đuôi con mèo, tôi làm đau nó. Ta có thể thiết lập những cảm biến áp suất (pressure sensor) vào đuôi một con mèo robot và kích động một tiếng kêu nhưng ta chưa thể nói là robot cảm thấy đau đớn thông qua ý thức.  Một con tôm hùm sẽ phát lên một tiếng kêu thất thanh lớn khi bị luộc sống song đó chỉ có thể là do luồng không khí gây nên khi thoát khỏi vỏ tôm hùm. Điều này gây cảm giác như chúng đang chịu đau đớn!  Nhà sinh học Úc Brian Key cho rằng, những hiện tượng như vậy gây cảm giác con vật như chịu đựng đau đớn song không chứng minh được con vật thật sự cảm thấy đau đớn một cách có ý thức.  Ông ta cho rằng ý thức con người dựa trên khả năng khuếch đại tín hiệu (signal amplification) và tích hợp toàn cục (global integration) còn các động vật thì thiếu cấu trúc thần kinh để thực hiện các khả năng trên. Key bỏ qua những hoạt động sinh lý học đó nhằm cho rằng ý thức là của riêng con người.      Hình 2. Người ta đặt nhiều cảm biến quanh đầu để phát hiện những hoạt động của bộ não, song não bộ đã tạo nên trạng thái ý thức như thế nào vẫn còn là bí ẩn.     Nhiều loại não bộ     Nếu những suy nghĩ trên không dẫn chúng ta đến việc giải bài toán ta hãy sử dụng trực tiếp bộ não vậy. Có phải vì con người có bộ não lớn hay không? (Susan Greenfield- người Anh). Nếu như vậy loài voi chắc có  ý thức đầy đủ hơn chúng ta, người Dalmatians có ý thức nhiều hơn người Bắc Kinh? Có thể không phải kích thước mà là cấu tạo bộ não và các nhiệm vụ (function) thực hiện trong bộ não? Nhiều loài (kể cả cá, bò sát, côn trùng,…) đều có nhịp sinh lý (circadian) và hoạt động phản ứng mạnh. Như vậy có thể hỏi: chúng có ý thức?  Nhiều nhà nghiên cứu (Anil Seth) cho rằng ý thức phát sinh do tương tác giữa đồi thị (thalamus – trên vỏ não) và cortex, chất xám (gray matter) (trên bề mặt não)? Những “vòng thalamocortical” đó giúp tích hợp thông tin. Một số loài có vú có cấu trúc đó vậy theo Seth chúng có ý thức?  Có lẽ chúng ta cần nhiều giả thuyết hơn.  Chung ta có giả thuyết Lý thuyết không gian làm việc toàn cục (Global workspace theory – GWT) mà Bernard Baars và những người khác theo đuổi: bộ não được cấu trúc chung quanh một không gian làm việc gọi là workspace – đó là một vùng ký ức. Mọi nội dung tâm thức sẽ từ đó lan truyền đến các vùng không ý thức của bộ não. Và sự lan truyền toàn cục (global) đó đã làm nên ý thức.  Như vậy, các động vật sống ở đại dương như cá sao (starfish), nhím biển (sea urchins), sứa (jellyfish),  bạch tuộc (octupuses) đều không có ý thức.  Lý thuyết Thông tin tích hợp (Integrated information theory IIT) mà nhà khoa học thần kinh Giulio Tononi ở trường Đại học Wisconsin phát triển lại là một lý thuyết toán học trên cơ sở một hàm Φ = số đo của thông tin trong một hệ. Các bộ não như của chúng ta số Φ cao (độ khuếch đại và tích hợp các hoạt động thần kinh trên toàn não bộ là lớn). Các hệ đơn giản thì có số Φ thấp.  Khác với lý thuyết không gian làm việc toàn cục (global workspace), lý thuyết Thông tin tích hợp cho rằng một số động vật có ý thức nhiều hơn (và có thể là các máy cấu tạo với Φ cao).  Hai lý thuyết đó giúp chúng ta tìm ra các đối tượng có ý thức. Song hai lý thuyết đó lại mâu thuẫn nhau trong nhiều số trường hợp.  Ta có thể kể thêm lý thuyết tạo ý thức sử dụng lý thuyết giản đồ (theory graph), xin xem tài liệu3.     Tiến hóa của ý thức     Khi so sánh với nhau, các lý thuyết trên đều ẩn chứa mâu thuẫn. Hãy xét đến sự tiến hóa của ý thức.  Nhóm B cho rằng chúng ta có ý thức vậy ý thức đã phát sinh từ tỷ năm cho nên trải qua một lịch sử tiến hóa. Baars (tác giả global workspace) cho rằng ý thức đã xuất hiện trên những loài có vú đã 200 triệu năm. Steven Mithen lại cho rằng thời điểm đó là 60.000 năm.  Jayne lại cho rằng 3.000 năm về trước con người chưa có những trải nghiệm chủ quan (subjective experiences).  Liệu trong các giả thuyết trên cái nào là đúng?  Nhóm A lại cho rằng các giả thuyết trên đều không đúng: ý thức không có nhiệm vụ độc lập hoặc nguồn gốc. Theo Patricia và Paul Churchland cho rằng ý thức chỉ là sự đốt cháy (firing) của các neuron thần kinh cũng như ánh sáng là bức xạ điện từ.  Mọi giả thuyết trên đều không chứng minh được là con người là động vật duy nhất có ý thức.  Một số nhà khoa học lại cho rằng ý thức chỉ là một ảo ảnh (illusion). Chúng ta là động vật duy nhất có ý thức chỉ vì chúng ta là những động vật duy nhất có khả năng tự lừa dối bản thân trong việc tin rằng có tồn tại ý thức “ta”. (We humans are unique because we alone are clever enough to be deluded into believing that  there is a conscious “I.”).     Kết luận     Vậy vấn đề ý thức là gì là một bài toán nan giải (hard problem). Nan giải ngay từ việc định nghĩa từ đó.  Một con bò khóc với nước mắt trước lò mổ, đó có phải là một triệu chứng đau đớn có ý thức hay đó chỉ là hệ quả tác động thần kinh khách quan? Một robot cất tiếng kêu khi ta dẫm phải nó đâu có phải là một tiếng kêu có ý thức (trừ trong tương lai ta tạo được robot có ý thức theo một định nghĩa hay lý thuyết nào đó).  Trước tình huống trình bày trên đây, Chalmers cho rằng chúng ta nên có thái độ: xem ý thức như một đối tượng tồn tại trong bản thể triết học (ontology) mà không quy giản được (unreduced) như là hấp dẫn hay điện động lực học.  Như vậy chúng ta đối diện với một bài toán đặc biệt thuộc bản thể học (ontological) mà lời giải không tìm ra được bằng phương pháp rút gọn (reductive). □     TÀI LIỆU THAM KHẢO  1S- SAN BLA-, Decoding the puzzle of human consciousness-the hardest problem, Scientific Amerrican số tháng 9/2018  2David J. Chalmers,The Character of Consciousness Article  in  Philosophy January 2012 DOI: 10.2307/41441514  3Cao Chi, Vật chất đã tạo ra ý thức như thế nào? Tia Sáng số 14-20.07.2019    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Giải những bài toán mà cuộc sống cần      PGS. TS. Lê Văn Cảnh được sinh viên trong trường gọi giản dị hai tiếng “thầy Cảnh”. Còn với truyền thông, đa phần biết đến thầy qua danh hiệu khoa học Quả Cầu Vàng năm 2013 được Bộ KH&amp;CN trao tặng nhờ nghiên cứu “Công nghệ tính toán ứng dụng vào kỹ thuật xây dựng” giúp việc thi công nền móng của một trung tâm thương mại ở Cần Thơ tiết kiệm hơn năm tỉ đồng.      Tìm hướng đột phá   Là một nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu định hướng ứng dụng, mục tiêu số một của PGS Cảnh là  xây dựng giải pháp thiết kế thi công kết cấu tiết kiệm tối đa chi phí cho chủ đầu tư và nhìn rộng ra là mang lợi ích chung cho xã hội. Đó là lý do tại sao năm 2009, ngay khi còn là một nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ tại Anh, anh đã cùng bốn người bạn tại Việt Nam thành lập Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư xây dựng Lập Việt với 10 thành viên, chuyên tham gia thiết kế, tư vấn giải pháp kết cấu và nền móng an toàn và tiết kiệm cho các công trình xây dựng. Với phương châm đảm bảo an toàn cao nhất với chi phí tối ưu, Lập Việt luôn suy nghĩ để đưa ra những giải pháp thiết kế phù hợp cho từng công trình dựa trên những nghiên cứu khoa học lý thuyết của PGS Cảnh kết hợp với trải nghiệm thực tế của đồng nghiệp.    Sau gần sáu năm thành lập, từ một công ty non trẻ, đến nay nhân viên Lập Việt đã lên con số 50; doanh thu trong công tác tư vấn tăng từng năm theo tỷ lệ 50%, doanh số năm 2014 đạt 15 tỷ, và năm 2015 dự kiến đạt 20 tỷ. Và theo thời gian, với những công trình đã thực hiện như thiết kế tối ưu kết cấu cho bốn tháp chung cư cao 27 tầng tại Quận 8, TP. HCM, tiết kiệm hơn 40 tỷ đồng, Lập Việt không chỉ tạo dựng được uy tín với các đối tác trong nước mà còn thu hút được sự chú ý của các đối tác nước ngoài làm việc tại Việt Nam.   Khi được hỏi, chìa khóa trong công nghệ mà anh đã sử dụng tại công trình Trung tâm Thương mại Cần Thơ, PGS Cảnh cho biết, vấn đề nằm ở tính phục hồi độ ma sát của từng loại đất khác nhau. Thông thường kỹ sư xây dựng sẽ dùng máy ép công nghiệp ép cọc xuống với tải dừng ép theo tiêu chuẩn (1,5 – 2,5)Ptk, tức lực ép sẽ gấp 1,5 – 2,5 lần so với khả năng chịu lực theo thiết kế của nền móng. Thông số 1,5 hoặc 2,5 chính là hệ số an toàn chịu lực.    Tuy nhiên, tải dừng ép này chỉ phù hợp với nền đất tốt, cọc có sức kháng mũi là chính. Đối với các khu vực nền đất yếu như khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các khu vực đất yếu tại TP.HCM thì cọc làm việc chủ yếu là sức kháng hông (lực ma sát xung quanh thân cọc với đất nền) nên để đạt được tải dừng ép (1,5 – 2,5)Ptk thì cọc phải hạ vào đất nền rất sâu, gây ra các hiện tượng cọc siêu dài rất lãng phí.    Thực nghiệm cũng cho thấy, đối với cọc ma sát chỉ cần lực dừng ép là (0,8 -1,2)Ptk và khi cho cọc nghỉ để phục hồi lực ma sát sau 7 – 10 ngày thì sức chịu tải giới hạn có thể lên (2,0-2,5) Ptk, tiết kiệm cho chủ đầu tư đến 20% – 50% chi phí cọc và thời gian thi công.    Tại sao vậy? Điều này được PGS Cảnh lý giải, đối với cọc ma sát, sức chịu tải chủ yếu là lực ma sát giữa đất và cọc. Khi chúng ta ép, lực ma sát không thể hiện đúng qua thông số lực ép do nền đất bị phá hoại, sự xáo trộn cấu trúc của đất và tốc độ ép cọc. Sau khi ép xong từ 7-10 ngày, dưới tác động của trọng lượng bản thân, nền đất có xu hướng cố kết làm cho lực ma sát giữa đất và cọc được phục hồi, làm tăng sức chịu tải của cọc.   Nguyên tắc thì rất đơn giản, nhưng làm sao tính chính xác được khả năng chịu lực của cọc, làm sao thuyết phục chủ đầu tư tin tưởng vào giải pháp mà bạn đưa ra, đó là câu chuyện của năng lực, từ năng lực nghiên cứu khoa học đến năng lực thi công, PGS Cảnh chia sẻ.  Trong vai trò PGS hay kỹ sư…   Là một PGS trẻ và rất hút sinh viên trên giảng đường Khoa Kỹ thuật xây dựng, ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, cũng như những đề tài nghiên cứu, tuy vậy PGS Cảnh tự nhận cái chất của mình vẫn là một anh kỹ sư. “Là một kỹ sư, tôi thích lăn lộn vào cuộc sống. Tôi muốn giải những bài toán mà cuộc sống cần, tôi muốn những công trình nghiên cứu của tôi, của sinh viên do tôi hướng dẫn sát sườn với nhu cầu của doanh nghiệp. Có như vậy, khoa học mới có thể tồn tại và phát triển. Đây cũng là nguyên tắc chung của khoa học thế giới, chứ không riêng gì Việt Nam,” PGS Cảnh nói.    “Những kiến thức từ công việc khi làm với Lập Việt giúp tôi rất nhiều trong việc giảng dạy. Bài giảng của tôi có tính thực tế nên mang tính thuyết phục cao. Lý thuyết tôi có, thực tế tôi cũng đã trải nghiệm ngay tại các công trình lớn nhỏ ở Việt Nam, những điều này đem lại sự chú ý và quan tâm của sinh viên. Nó giúp tôi biết mình nên nghiên cứu như thế nào, nên hướng dẫn sinh viên, học viên của mình nghiên cứu như thế nào. Và ngược lại, việc nghiên cứu với tư cách là một PGS giúp tôi có thể đưa ra các giải pháp thiết kế an toàn hơn, tiết kiệm hơn để đem lại lợi ích cho các công trình,” PGS Cảnh chia sẻ.   Về lâu dài, điều PGS Cảnh thật sự mong muốn là có hẳn một doanh nghiệp/công ty trong viện nghiên cứu hoặc trường đại học. Đây là một mô hình khá phổ biến trên thế giới với tên gọi công ty công nghệ spin-off, được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà phát minh, và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu và bán sản phẩm ra thị trường qua các kênh phân phối thích hợp. Hoặc ở quy mô thấp hơn, công ty spin-off có thể là một kênh trung gian để tiếp tục phát triển công nghệ nhằm chuyển giao tới các doanh nghiệp sản xuất lớn hơn. “Mô hình này giúp các nhà khoa học toàn tâm toàn ý dành hết công sức cho nghiên cứu. Nó không chỉ tốt cho nhà khoa học mà còn tốt cho nhà trường, viện nghiên cứu và cả một nền khoa học”, PGS Cảnh cho biết.   Cùng với những mong muốn nêu trên, PGS Cảnh còn nghĩ tới việc xây dựng và phổ biến đại trà một phần mềm phân tích kết cấu và nền móng công trình ở trạng thái giới hạn của mình để đem lại sự thuận lợi cho các kỹ sư Việt. “Trên thế giới, phần mềm tính toán Plaxis rất nổi tiếng nhưng không dễ sử dụng ở các khía cạnh kỹ thuật, hàng rào ngôn ngữ và tài chính (chi phí mua bản quyền phần mềm này không dưới 5.000 USD). Tôi sẽ xây dựng một phần mềm phân tích và thiết kế kết cấu và nền móng ở trạng thái giới hạn phù hợp hơn cho cộng đồng kỹ sư Việt”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel cho nghiên cứu về kinh tế học hành vi      Giải Nobel kinh tế năm 2017 được trao cho GS Richard H. Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho những đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tố tâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế.      GS Richard H. Thaler. Ảnh: AP  Giải thích những quyết định kinh tế “vô lý” của con người  Cho đến nay, quan điểm chủ đạo trong kinh tế học truyền thống giả định rằng tất cả mọi người đều đưa ra các quyết định kinh tế dựa trên những tính toán duy lý. Quan điểm đó cũng ảnh hưởng tới giới làm chính sách, ví dụ, những nhà quản lý ban hành chính sách về kinh tế, xã hội thường dựa trên quan điểm là nếu chính sách đó có tác động tốt trên lý thuyết thì khi đưa vào thực tế sẽ được đón nhận. Nhưng từ khoảng 20 năm trước, kinh tế học hành vi ra đời và cho thấy điều ngược lại, đó là, con người không đưa ra các quyết định dựa trên lựa chọn duy lý mà bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý. GS. Richard H. Thaler chính là người đã tiên phong xây dựng lý thuyết về tâm lý học hành vi, hay nói một cách ngắn gọn là ông đã đưa kiến thức tâm lý học vào trong ngành kinh tế học, theo TS. Phạm Khánh Nam, nhà kinh tế học nghiên cứu về kinh tế học hành vi, đến từ ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  Hội đồng giải thưởng Nobel năm 2017 cho biết, Richard H. Thaler đã khám phá một cách có hệ thống về hệ quả của các yếu tố xã hội như tính duy lý bị hạn chế, sở thích xã hội và tính thiếu kiềm chế bản thân sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định của mỗi cá nhân cũng như tới thị trường (mặc dù có thể quyết định đó không mang lại lợi ích trong dài hạn). Cụ thể, ông đã phát triển hệ thống lý thuyết và những công cụ thử nghiệm để đo lường trong kinh tế học hành vi gồm1:  Tính duy lý bị hạn chế: Ông đã phát triển lý thuyết về “kế toán tinh thần”, giải thích về việc các cá nhân thường đơn giản hóa các quyết định tài chính của mình bằng cách tưởng tượng và chia nhỏ tài khoản của mình thành các tài khoản nhỏ hơn, sau đó đưa ra quyết định dựa trên từng tài khoản nhỏ đó thay vì đưa ra một quyết định mang tính tổng thể. Ông cũng đưa ra khái niệm “hiệu ứng sở hữu” (endowment effect), thông qua phân tích tâm lý sợ rủi ro và mất mát của con người để giải thích về việc tại sao con người lại đánh giá cao giá trị của những vật mà mình đang có hơn là khi không sở hữu nó.  Sở thích xã hội: Thaler đã đưa ra một công cụ là “trò chơi độc tài” (dictator game) để thực nghiệm về quan điểm công bằng ở mỗi cá nhân, trong đó “nhà độc tài” sẽ được quyền tùy ý chia một khoản tài trợ cho người thứ hai. Hành vi chia tiền của “nhà độc tài” sẽ thể hiện quan điểm của anh ta về sự công bằng (có hào phóng chia đều không hay không chia). Công cụ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đo lường thái độ đối với sự công bằng trong các nhóm người khác nhau trên khắp thế giới.  Tính thiếu kiềm chế bản thân: Thaler đã phân tích tính kiềm chế bản thân của con người thông qua việc sử dụng mô hình lập kế hoạch, giống như cách các nhà tâm lý học và thần kinh học sử dụng để quan sát mối quan hệ giữa việc xây dựng kế hoạch dài hạn với việc thực hiện kế hoạch đó trong ngắn hạn. Theo đó, những “cám dỗ” trước mắt thường là nguyên nhân quan trọng làm thất bại các kế hoạch dài hạn như tiết kiệm tuổi già hoặc một lối sống lành mạnh, hoặc đơn giản là chúng ta thường hào hứng lên kế hoạch vào đầu năm nhưng rất khó lòng thực hiện được.  Phạm vi ứng dụng rộng rãi  Dù mới ra đời và phát triển trong hai thập kỷ trở lại đây nhưng kinh tế học hành vi đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các nước phát triển, theo TS. Phạm Khánh Nam. Các nghiên cứu của GS. Thaler đã ảnh hưởng tới việc ra quyết định chính sách kinh tế xã hội ở một số nước trong thời gian gần đây. Dưới thời tổng thống Obama, đã có một ủy ban cố vấn về kinh tế học hành vi được thành lập để phân tích các yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng như thế nào tới chính sách xã hội và Thaler cũng từng là cố vấn cho ủy ban này. Ông đồng thời cũng là nhà tư vấn để đưa các ý tưởng về kinh tế hành vi vào xây dựng chính sách cho chính phủ Anh và tư vấn cải tiến hệ thống lương hưu của Thụy Điển2. Hay trước sự kiện Brexit ở Anh, ông cho rằng các cử tri Anh đã không đưa ra lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế dựa trên thông tin mà giới tinh hoa và truyền thông ở Anh cung cấp. “Hầu hết cử tri Anh đã không suy nghĩ [về việc bỏ phiếu Brexit] một cách có phân tích”, ông nói trong cuộc trả lời phỏng vấn của Marketwatch vào năm ngoái3.  Ở Việt Nam, kinh tế học hành vi vẫn là một xu hướng học thuật mới mẻ, chỉ được nghiên cứu trong khoảng năm năm trở lại đây, theo TS. Phạm Khánh Nam. Ở khu vực phía Nam, có hai nhóm nghiên cứu về kinh tế học hành vi ở ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ còn ở khu vực phía Bắc mới chỉ có nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Việt Cường, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong quan tâm. Đến nay, trong hệ thống đề tài của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), đã có hai đề tài về kinh tế học hành vi được tài trợ.  Tuy nhiên, “môn kinh tế học hành vi chưa được dạy hoặc dạy rất ít ở các trường đại học”, TS. Nguyễn Việt Cường cho biết. “Còn việc đưa ứng dụng của ngành này vào xây dựng các chính sách kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thì vẫn còn xa lắm”, TS. Phạm Khánh Nam nói.  ——  Chú thích:  1 https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/  2 https://www.ft.com/content/aa08d810-acd8-11e7-aab9-abaa44b1e130  3 http://www.marketwatch.com/video/richard-thaler-brits-are-voting-with-their-guts/00CDC7BC-4A32-45E4-8556-BAAE4CD41596.html    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Giải Nobel Hóa học: Khi các nhà hóa học bắt chước Mẹ thiên nhiên      Hai nhà nghiên cứu phát triển các kỹ thuật để tăng tốc và kiểm soát các phản ứng hóa học đã đoạt giải Nobel Hóa học 2021.      Nhà hóa học David MacMillan trong phòng thí nghiệm của mình ở Princeton. Nguồn: ĐH Princeton.  Các nhà hóa học có thể tạo ra các phân tử mới bằng việc gắn kết các khối hóa học nhỏ cơ bản lại với nhau nhưng việc kiểm soát các loại vật chất “vô hình” để chúng liên kết với nhau theo cách họ mong muốn là điều vô cùng khó. Benjamin List và David MacMillan đã độc lập phát triển một công cụ đầy khéo léo để xây dựng các khối phân tử: các chất xúc tác hữu cơ. Việc áp dụng công cụ hiệu quả này dẫn đến việc cho ra đời những dược chất mới và giúp cho hóa học trở nên “xanh” hơn.   Được biết đến vào những năm 1990, khái niệm hóa học xanh được áp dụng rộng rãi để giảm thiểu sử dụng các vật liệu hay tạo ra các chất độc hại, qua đó ngăn ngừa ô nhiễm môi trường ngay tại nguồn. Do đó nhiều ngành công nghiệp và nhiều lĩnh vực nghiên cứu phụ thuộc vào năng lực của các nhà hóa học trong việc tạo ra các phân tử có chức năng mới. Những phân tử này có thể là các hợp chất có khả năng “bắt” ánh sáng trong các tấm năng lượng mặt trời hay lưu trữ năng lượng trong các loại pin, cũng có thể là các phân tử có thể tạo ra những đôi giày cực nhẹ hoặc loại dược chất có thể giúp ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh dịch trong cơ thể con người.   Tuy nhiên, nếu so sánh năng lực của tự nhiên trong việc xây dựng nên các tạo vật hóa học như vậy với năng lực của chúng ta, thì thực ra chúng ta vẫn còn sa lầy trong thời kỳ Đồ đá. Quá trình tiến hóa đã tạo ra những công cụ vô cùng đặc biệt, các enzyme cho việc cấu tạo nên các khối phức hợp phân tử, góp phần định hình nên sự sống, màu sắc và chức năng của chúng. Ban đầu, khi các nhà hóa học cô lập các kiệt tác phân tử này, họ thường ngắm chúng đầy ngưỡng mộ. Sau đó, với những “cái búa” và “đục” trong hộp công cụ của mình, họ chỉ có thể tạo ra những phân tử thô sơ và không đáng tin cậy. Do đó, khi bắt chước các tạo vật của tự nhiên, họ thường kết thúc công việc với rất nhiều sản phẩm phụ không mong muốn.   Trong bối cảnh đó, vào đầu những năm 2000, Benjamin List và David MacMillan cùng phát triển độc lập một dạng mới của chất xúc tác. Kỹ thuật này – hay còn gọi là các chất xúc tác hữu cơ bất đối xứng – ngày nay được sử dụng một cách rộng rãi để chế tạo dược phẩm hoặc các hóa chất khác. Về cơ bản, các chất xúc tác họ phát triển có thể phân biệt đối xứng phải với trái, cho phép tổng hợp các phân tử mà có sự phân biệt giữa chúng và hình ảnh trong gương.   Hai nhà khoa học phát triển “một công cụ thực sự tao nhã để tạo ra các phân tử – đơn giản hơn điều mà người ta có thể hình dung”, thành viên Ủy ban Nobel Hóa học Pernilla Wittung-Stafshede nói tại lễ công bố giải thưởng. “Cho đến năm 2000, chúng ta chỉ có thể biết đến hai hình thức của chất xúc tác. Nhưng sau đó thì tất cả đã thay đổi. Benjamin List và David MacMillan đã giải thích một cách riêng rẽ rằng anh có thể thấy các phân tử hữu cơ nhỏ cùng làm một việc như những enzyme và những phản ứng xúc tác kim loại chính xác, rẻ, nhanh và thân thiện với môi trường”. Nếu nhìn vào thực tế là các chất xúc tác hóa học có mặt trong 35% tổng sản phẩm nội địa trên toàn cầu thì mới thấy tầm quan trọng và triển vọng mà các chất xúc tác hữu cơ do Benjamin List và David MacMillan tạo ra.   “Tôi hoàn toàn không chờ điều ngạc nhiên lớn này – anh thật sự khiến ngày hôm nay thành một ngày đặc biệt”, List nói với các phóng viên tại một buổi họp báo sau lễ công bố. “Khi lần đầu làm thực nghiệm này, tôi còn không rõ những gì có thể xảy ra và tôi nghĩ nó có thể là một ý tưởng ngốc nghếch, hoặc ai đó đã cố làm ra nó. Khi tôi thấy nó diễn ra, tôi mới cảm nhận đây có thể thực sự là điều gì đó lớn lao”.     Nhà hóa học Đức Benjamin List chia sẻ niềm vui giành giải Nobel Hóa học 2021 cùng đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu Than đá Max Planck ở Muelheim. Nguồn: AP Photo/Martin Meissner.  Những chất xúc tác thay thế  Các chất xúc tác, các chất liệu gia tốc các phản ứng mà không bao giờ được dùng hết một cách trọn vẹn, là các công cụ cơ bản cho các nhà hóa học. List, làm việc tại Viện Nghiên cứu Than đá Max Planck ở Mülheim an der Ruhr, Đức và MacMillan, tại trường Đại học Princeton ở New Jersey, đã phát triển các chất xúc tác có thể điều khiển quá trình xúc tác bất đối xứng, trong đó phản ứng tạo ra phiên bản đối xứng trái của một phân tử nhiều hơn là phiên bản đối xứng phải và ngược lại.  Vào năm 2000, Benjamin List đã có ý tưởng đột phá trong khi nghiên cứu các kháng thể xúc tác. Thông thường, các kháng thể tấn công các virus bên ngoài hoặc vi khuẩn trong cơ thể chúng ta nhưng các nhà nghiên cứu tại Scripps đã tái thiết kế chúng, vì vậy chúng có thể định hướng các tương tác hóa học. Nghĩ về cách các enzyme hoạt động trên thực tế, List nhận thấy các phân tử lớn được tạo ra từ hàng trăm amino acids. Bên cạnh các amino acids này, một tỉ lệ đáng kể các enzyme chứa kim loại có thể thúc đẩy các quá trình hóa học. Nhưng nhiều enzyme cũng tạo ra xúc tác cho các phản ứng mà không cần đến kim loại. Thay vào đó, các phản ứng được một hoặc vài amino acids trong enzyme định hướng. Do đó, Benjamin List đã tự hỏi: amino acids có là một phần của một enzyme để tạo xúc tác cho một phản ứng hóa học? hay chỉ một amino acid, hoặc một phân tử đơn giản tương tự có thể làm được chuyện này?  Một số nghiên cứu từ đầu những năm 1970 đã sử dụng một amino acid là proline làm chất xúc tác nhưng nếu proline thực sự là một chất xúc tác hiệu quả thì nó có thể hiệu quả trên những phản ứng gì? Cuối cùng, List đã chứng tỏ proline amino acid có thể đóng vai trò như một chất xúc tác trong một phản ứng aldol, trong đó các nguyên tử carbon từ hai phân tử khác nhau đều liên kết với nhau và có thể được điều khiển thành xúc tác phi đối xứng.   Cùng thời điểm đó, MacMillan chuyển từ Harvard đến UC Berkeley. Tại Harvard, ông đã tập trung vào cải thiện các xúc tác bất đối xứng bằng việc sử dụng kim loại. Đây là một lĩnh vực thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu nhưng MacMillan biết rằng các chất xúc tác được phát triển lại hiếm khi phù hợp với ngành công nghiệp. Do đó, ông bắt đầu suy nghĩ tại sao và giả định vấn đề là các kim loại có độ nhạy cao đơn giản là quá khó và quá đắt cho việc ứng dụng. Việc đạt những điều kiện về độ ẩm hay khả năng chống oxy hóa của một số chất xúc tác quá đơn giản trong phòng thí nghiệm nhưng việc làm như vậy trong sản xuất công nghiệp ở quy mô lớn là điều vô cùng phức tạp. Ông cho rằng, để phát triển các công cụ hóa học hữu dụng, cần phải xem xét lại vấn đề.  Các chất xúc tác hữu cơ đóng vai trò hết sức quan trọng trong ngành công nghiệp dược, vốn thường cần các xúc tác phi đối xứng. Cho đến khi các nhà hóa học có thể tạo ra các chất xúc tác này, nhiều dược chất chứa cả hai hình ảnh gương của một phân tử, một có tính hoạt hóa trong khi hình ảnh còn lại thi thoảng lại tạo ra những hiệu ứng không mong muốn. Một ví dụ là scandal thalidomide vào những năm 1960, trong đó một hình ảnh hương của dược chất thalidomide đã trở thành nguyên nhân gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng cho hàng ngàn thai nhi đang phát triển.  Bằng việc sử dụng các xúc tác hữu cơ, giờ đây các nhà nghiên cứu có thể gia tăng số lượng các phân tử bất đối xứng khác nhau một cách đơn giản. Ví dụ, họ có thể tạo ra các hợp chất có khả năng chữa bệnh trong phòng thí nghiệm thay vì chỉ có thể tách được một lượng nhỏ hợp chất đó trong các dược thảo hiếm hoặc các sinh vật dưới đáy biển sâu.  Tại các công ty dược phẩm, phương pháp này thường được áp dụng để tổng hợp ra một lượng lớn sản phẩm từ các dược chất đã có. Một vài ví dụ như paroxetine, thường dùng điều trị chứng căng thẳng và trầm cảm, và thuốc kháng virus oseltamivir, vốn dùng điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp.    MacMillan đã bắt đầu thiết kế các phân tử hữu cơ đơn giản. Chúng ta biết là các phân tử hữu cơ là các khối cơ bản của sự sống và có khung các nguyên tử carbon bền, và chúng thường xuyên chứa cả oxy, ni tơ, sulphur hay phosphorus. Tính chất của các phân tử hữu cơ phụ thuộc vào việc các nguyên tố này được đặt cạnh nhau như thế nào. MacMillan đã lựa chọn nhiều phân tử hữu cơ với những đặc tính cần thiết và thử nghiệm tính năng của chúng trong việc định hướng một phản ứng Diels–Alder, phản ứng mà các nhà hóa học dùng để tạo các vòng nguyên tử carbon. Một vài phân tử hữu cơ đã xuất sắc trong vai trò xúc tác bất đối xứng. Giống như hai hình ảnh đối xứng nhau qua gương, một hình ảnh giống đời thực tới 90%. Cuối cùng, ông đã thiết kế các phân tử nhỏ để có thể cung cấp hoặc đón nhận các điện tử và do đó thúc đẩy các phản ứng một cách hiệu quả.  Vào tháng 1/2000, trước khi Benjamin List xuất bản công bố của mình, David MacMillan gửi bản thảo lên một tạp chí khoa học. Trong phần giới thiệu của bài báo, ông viết “Tại đây, chúng tôi giới thiệu một chiến lược mới cho chất xúc tác hữu cơ mà chúng tôi hy vọng sẽ mở ra một phạm vi những chuyển hóa bất đối xứng”.  Cho đến khi những đột phá này được họ tạo ra, hiểu biết chung của các nhà hóa học là một xúc tác tổng hợp các phân tử bất đối (những phân tử có độ cứng lớn nhất) đều là một enzyme hoặc chứa một kim loại chuyển pha như sắt. “Đó thực sự là một chuyển đổi về khái niệm,” nhà hóa học Cathleen Crudden của trường Đại học Queen ở Kingston, Canada, nói. “Trong một quãng thời gian dài, mọi người đều nghĩ kim loại và enzyme chỉ là một”.  “Các xúc tác hữu cơ” do List, MacMillan và đồng nghiệp của họ phát triển đều không chứa kim loại. Và không như các enzyme, chúng là các phân tử hữu cơ nhỏ, “thứ mà tôi nghĩ là vô cùng thú vị”, nhà hóa học Claudia Felser của viện nghiên cứu Hóa Lý chất đậm đặc ở Dresden, Đức, nói. Các chất xúc tác hữu cơ đều rẻ hơn những loại chứa kim loại.  Khó có thể liệt kê hàng trăm ví dụ về việc ứng dụng các chất xúc tác hữu cơ – nhưng tại sao không ai nghĩ đến chất xúc tác phi đối xứng đơn giản, xanh và rẻ sớm hơn? Có nhiều câu trả lời cho thắc mắc này. Một trong số đó là ý tưởng đơn giản thường rất khó để hình dung. Cái nhìn của chúng ta thường bị che mờ bởi những khái niệm đã có về cách thế giới phải vận hành, như ý tưởng chỉ có các kim loại hoặc các enzyme mới có thể “lèo lái” các phản ứng hóa học. Benjamin List và David MacMillan đã thành công trong việc bỏ qua các khái niệm đã có thể tìm ra một giải pháp đầy khéo léo cho vấn đề mà các nhà hóa học đã vật lộn trong nhiều thập niên. Các chất xúc tác hữu cơ do đó đang lại – theo cách đúng đắn như hiện nay – lợi ích lớn lao cho con người.  Món quà từ tự nhiên  Các nhà hóa học tự biết nhiệm vụ của họ là bắt chước Mẹ thiên nhiên. Nhưng quả thật đây là những nhiệm vụ vô cùng khó. Ví dụ như về các chất xúc tác hữu cơ, vốn có thể dẫn đến việc xây dựng các phân tử hiệu quả là là sự tổng hợp diễn ra trong tự nhiên, như trường hợp của phân tử strychnine phức tạp (một chất độc có trong cây mã tiền). Những ai đọc các tiểu thuyết trinh thám với vô số vụ giết người bí ẩn của Agatha Christie hẳn đều biết tác dụng khủng khiếp của strychnine. Tuy nhiên với các nhà hóa học thì strychnine lại giống như một khối Rubik lập phương: một thách thức lớn bởi nếu muốn giải quyết chỉ trong vài bước là không thể. Khi strychnine được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1952, nó đòi hỏi 29 phản ứng khác nhau và chỉ có 0,0009% vật liệu ban đầu có thể hình thành nên strychnine. Phần còn lại đơn giản là vô tác dụng. Vào năm 2011, các nhà nghiên cứu mới có thể sử dụng các chất xúc tác hữu cơ và một phản ứng nối tầng để tạo ra strychnine trong 12 bước, và quá trình sản xuất đã hiệu quả hơn 7.000 lần.  Trong phạm vi của các hiện tượng và các tỉ lệ khác nhau rất lớn, tự nhiên dường như có khuynh hướng thuận tay này hơn tay khác, Felser cho biết thêm. Điều này cũng được phản ánh một sự thật là từ thuở ban sơ, vũ trụ được tạo ra từ vật chất chứ không phải là phản vật chất, và sự sống sử dụng các amino acids thuận trái và đường thuận phải.  “Tại sao trong thế giới sinh học chỉ thuận một tay? Tại sao chúng ta có sự ưu tiên này trong tự nhiên? Chúng ta thường không biết”, List nói. “Khuynh hướng thích một hướng thuận này thể hiện rõ ràng trong phản ứng xúc tác lên các chất nền vì vậy anh sẽ có nhiều hơn các phân tử thuận một hướng. Đó là một món quà vĩ đại. Tôi có thể nói, tự nhiên đem lại các phân tử đó cho chúng ta”.  “Với tôi, tính bất đối xứng là câu hỏi thú vị bậc nhất trong vật lý và hóa học, thậm chí có thể là sinh học”, Felser nói và cho biết thêm là việc thông báo giải Nobel Hóa học có thể “truyền cảm hứng cho thế hệ sau nhìn vào các vi phạm đối xứng trong tự nhiên”.  “Theo quan điểm của tôi, cuộc cách mạng thật sự của những gì chúng ta có – trong các phát hiện của chúng tôi – chỉ là một chút trên bề mặt”, List nói và cho biết thêm là việc nhận giải Nobel có thể cho phép ông có thêm sự tự do để theo đuổi các ý tưởng mới trong nghiên cứu của mình. “Tôi hi vọng tôi sẽ sống với sự ghi nhận này và tiếp tục khám phá những điều thú vị”.□  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nobelprize.org/prizes/chemistry/2021/summary/; Nature    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Kinh tế 2012: Thuật toán cứu người      Không nhiều nhà kinh tế trên thế giới tự nhìn nhận mình là người có vai trò cứu mạng sống cho đồng loại. Al Roth cũng vậy, nhưng công trình của ông đã giúp cứu sống hàng trăm, hay thậm chí hàng nghìn người.    Giáo sư Al Roth đã ứng dụng một mô hình toán học đã được Lloyd Shapley nghiên cứu từ cách đây 50 năm, và kết quả là Roth đã giúp cứu mạng sống cho hàng trăm, thậm chí có thể hàng ngàn người. Tháng 10/2012, Giáo sư Al Roth đã cùng Lloyd Shapley vinh dự nhận Giải Nobel Khoa học Kinh tế năm 2012.   Từ “thuật toán trì hoãn nhận lời”…  Câu chuyện bắt đầu vào năm 1962 khi Lloyd Shapley và David Gale xuất bản một bài báo trong đó họ lý giải nhờ đâu mà một thuật toán – một phương pháp tính toán lần lượt từng bước một – có thể giải quyết thứ mà họ mô tả là “vấn đề hôn nhân bền vững”. Cụ thể nếu bạn có một nhóm đàn ông, một nhóm phụ nữ, liệu bạn có thể xây dựng một thuật toán giúp ghép họ thành đôi trong một cuộc hôn nhân bền vững không? Tính bền vững ở đây có nghĩa là không có tình trạng tồn tại 2 người thích ở bên nhau hơn là ở bên vợ/chồng của mình”. “Ý tưởng của họ (Shapley và Gale) là người đàn ông sẽ bắt đầu lựa chọn người phụ nữ yêu thích của họ, và người phụ nữ sẽ từ chối tất cả ngoại trừ lời đề nghị từ người mà họ ưng ý nhất. Tuy nhiên, họ cũng sẽ không ngay lập tức chấp nhận lời đề nghị đó”, Giáo sư Al Roth giải thích. “Tất cả mọi tuyên bố nhận lời đều sẽ được hoãn đến thời điểm cuối cùng. Vì vậy thuật toán này được gọi là “thuật toán trì hoãn nhận lời”.  Người phụ nữ sẽ “giữ lại” lời đề nghị tốt nhất mà họ nhận được từ người đàn ông và từ chối những người khác. Những người đàn ông bị từ chối sau đó sẽ đưa ra lời đề nghị cho người phụ nữ tiếp theo mà họ lựa chọn. Tại mỗi thời điểm, người phụ nữ sẽ nhận một lời đề nghị mới và họ sẽ so sánh nó với lời đề nghị mà họ đang giữ. “Người phụ nữ sẽ chọn lời đề nghị được cân nhắc là tốt nhất, và từ chối mọi đề nghị khác. Vì thế đề nghị từ một người đàn ông được giữ lại từ vòng đầu, nhưng sang vòng thứ hai có thể vẫn bị loại”, Roth nói.   Quá trình trên đây sẽ tiếp tục cho đến khi không có bất kỳ người đàn ông nào đưa ra lời đề nghị mới, và cũng không còn bất kỳ người phụ nữ nào đưa ra lời từ chối – và kết cục này sẽ sớm xảy ra vì không có người đàn ông nào đưa ra tới 2 lời đề nghị với cùng một người phụ nữ. Tại thời điểm kết thúc, những người trong lòng đã nhận lời sẽ được phép lên tiếng nhận lời chính thức”.   Không ít người cảm thấy thuật toán này quả là rắc rối, nhưng nó hoàn toàn hợp lý, và kết quả đạt được cuối cùng có thể coi là một trạng thái “cân bằng”, vì sẽ không thể tồn tại tình trạng có hai người nào đó cùng thích sống bên nhau hơn là sống với người bạn đời mà thuật toán đã phân phối cho họ.   “Nếu một người đàn ông thích một người phụ nữ hơn là người vợ mà thuật toán đã phân cho ông, thì hẳn là trước đó ông ta đã đưa ra lời đề nghị với người phụ nữ đó và bị cô ta từ chối rồi”, Roth nói.  Dù có sự hợp lý về mặt logic, nhưng dù sao thuật toán trên đây nghe vẫn có vẻ xa vời vì khó có thể hình dung trong đời thực người ta có thể thử nghiệm việc tìm hiểu các bạn đời tương lai của mình một cách nhanh chóng và dễ dàng như vậy. Tuy nhiên, trong thực tế tính ứng dụng của nó là vô cùng đáng kể, là nền tảng cho nghiên cứu của Al Roth giúp cứu sống nhiều mạng người.    … tới thiết kế hệ thống giao dịch hoán đổi thận   “Tôi bắt đầu nghĩ rằng làm cách nào để đưa thuật toán ứng dụng vào thực tế thị trường”. Một trong số các ý tưởng của Giáo sư Al Roth là một hệ thống giao dịch mua bán một thứ mặt hàng rất khác thường nhưng hết sức quan trọng: thận người.   Tuy có rất nhiều người cần một quả thận mới, đồng thời cũng có nhiều người sống khỏe với một quả thận và sẵn lòng hiến hoặc bán quả thận kia của mình, nhưng thông thường chúng ta không thấy thoải mái với ý tưởng mua bán một bộ phận trong cơ thể con người.   Vì vậy, Giáo sư Al Roth không giống như nhiều nhà kinh tế học khác, nhìn nhận rằng đa số các nơi trên thế giới không thể có một thị trường mua bán thận theo cách thương mại thông thường. Ông bắt đầu sử dụng “thuật toán làm mối” để thiết kế nên một cách thức giao dịch mua bán thận mà không có vai trò của đồng tiền.   “Khi bị hỏng các quả thận người ta vẫn có thể sống trong một thời gian bằng cách chạy thận nhân tạo, nhưng dù sao thì họ vẫn rất cần được được ghép thận”, Roth nói. “Không có nhiều thận hiến tặng từ người đã mất, vì vậy, tốt hơn hết trong mọi trường hợp là nhận thận từ người sống hiến tặng”.   Người ta thường sẵn sàng từ bỏ một quả thận cho người thân của mình. Nhưng đôi khi thận của người hiến tặng và người nhận lại không tương thích, vì vậy cần có hoạt động giao dịch hoán đổi thận. “Một cặp (gồm người cho thận và người nhận thận) có thể không tương thích với nhau, nhưng họ có thể hoán đổi thận cho một cặp không tương thích khác, và nhờ đó cả hai người bệnh đều được nhận quả thận tương thích với mình”, Roth giải thích.    “Một giao dịch đơn giản như vậy gồm 2 cặp cho – nhận thận. Nhưng [bằng cách áp dụng thuật toán] chúng tôi có thể giúp tổ chức một chuỗi giao dịch phức tạp hơn, cho phép có nhiều người hơn được nhận thận sống phù hợp với mình.   Câu hỏi cần đặt ra là làm sao tính được số lượng ca cấy ghép [tối đa] từ một tập hợp các cặp cho – nhận nhất định.   Giả sử có 2 cặp cho – nhận không tương thích nhau tại một bệnh viện, nhờ giao dịch hoán đổi mà tạo ra được 2 ca cấy ghép, vậy cũng là tốt rồi. Nhưng thay vì tiến hành hoán đổi với nhau, rất có thể 2 cặp này nên tiến hành hoán đổi với 2 cặp không tương thích khác để tạo ra được tới 4 ca cấy ghép. Như vậy, sẽ là một sự lãng phí nếu không cân nhắc kỹ lưỡng, dẫn tới tiến hành một giao dịch hoán đổi duy nhất và làm mất cơ hội tiến hành các khả năng giao dịch khác đạt số lượng ca cấy ghép cao hơn”.  Không giống như “vấn đề hôn nhân bền vững”, ứng dụng hoán đổi của Roth không chỉ thuần túy lý thuyết. Nhiều giao dịch hoán đổi thận ngày nay đang tận dụng trên thuật toán của ông. “Người ta triển khai chậm hơn so với mong muốn của chúng ta”, Roth nói, “nhưng vài nghìn ca cấy ghép đã được tiến hành theo cách này”.   Hiển nhiên là công trình của Roth – dựa trên khám phá của Shapley và Gale – đang giúp gia tăng số các ca cấy ghép thận và cứu sống cho nhiều mạng người. Nhưng dường như các nhà kinh tế không quen với sự tôn vinh này. Giáo sư Al Roth muốn dành tất cả công quả cứu người cho các bác sĩ. “Vâng như quý vị biết”, Roth nói, “chúng tôi chỉ hỗ trợ phần việc thiết kế thị trường để giúp các bác sĩ phẫu thuật cứu người”.   Nguyễn Thanh Hải dịch   Nguồn: http://www.bbc.co.uk/news/magazine-20004050     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel về khoa học kinh tế năm 2005: Xung đột và hợp tác qua lăng kính của lý thuyết trò chơi      Giải Nobel về Khoa học Kinh tế năm 2005 đã được trao cho Robert Aumann và Thomas Schelling vì những đóng góp của hai ông trong việc “nâng cao hiểu biết của chúng ta về các hành vi xung đột và hợp tác thông qua các phân tích của lý thuyết trò chơi”    Tại sao một nhóm người, một tổ chức, hay một số quốc gia có thể làm nảy nở và duy trì sự hợp tác, trong khi ở những nơi khác lại tồn tại xung đột giữa các bên? Những công trình của Robert Aumann và Thomas Schelling đã cho thấy lý thuyết trò chơi – hay lý thuyết ra quyết định trong các điều kiện tương tác chiến lược – là một cách tiếp cận hiện đang chiếm ưu thế trong việc trả lời cho câu hỏi muôn thuở này. Bài diễn văn của Viện khoa học Hoàng gia Thụy Điển nhiệt thành tuyên dương hai ông đã có những đóng góp to lớn trong việc “nâng cao hiểu biết của chúng ta về các hành vi xung đột và hợp tác thông qua việc mở rộng và áp dụng lý thuyết trò chơi – một phương pháp được sử dụng để phân tích các tương tác chiến lược giữa các tác nhân với nhau. Những công trình của họ đã vượt xa khỏi ranh giới của kinh tế học và góp phần chuyển hóa các môn khoa học xã hội khác. Các nghiên cứu của Aumann và Schelling tiếp tục định hướng cho các thảo luận về sự hình thành các thể chế xã hội”.  Thomas Schelling  Đàm phán trong nỗi ám ảnh của chiến tranh lạnh  Các nghiên cứu của Thomas Schelling, được tổng kết trong cuốn sách kinh điển “Chiến lược của xung đột” (The Strategy of Conflict) hình thành trong bối cảnh của cuộc chạy đua hạt nhân vào những năm 1950 giữa hai cường quốc thế giới lúc bấy giờ là Liên Xô và Mỹ. Ông đã rất ngạc nhiên và thích thú khi phát hiện ra rằng ưu thế của mỗi bên trên bàn đàm phán chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là các lựa chọn khả hữu của mỗi bên cũng nhưng khả năng chủ động thay đổi những lựa chọn này của họ. Bằng các công cụ toán học, ông đã chứng minh được một “nghịch lý” rằng, trước một tình huống xung đột với đối thủ, một bên có thể chiếm ưu thế bằng cách “phế bỏ” một số lựa chọn đangcó của mình. Kết luận này làm chúng ta nhớ lại câu “đặt vào chỗ chết thì sống, đặt vào chỗ mất thì còn” trong binh pháp Tôn Tử hay tích “qua sông đốt thuyền” của Hàn Tín. Trong thời đại ngày nay, những chiến lược như thế này vẫn tiếp tục được vận dụng một cách linh hoạt. Bill Gates nổi tiếng của nước Mỹ cũng thường nói: “Chúng ta đặt cược cả công ty vào Internet!” Còn ở bán cầu bên kia của trái đất, Triệu Tử Dương đã kiên quyết “tự buộc” Chính phủ Trung Quốc vào những cam kết nghiêm ngặt với cộng đồng thế giới khi gia nhập WTO để đẩy mạnh cải cách trong nước vì ông hiểu rõ rằng, khó khăn lớn nhất của Trung Quốc không phải là trên bàn đàm phán mà là ở các thế lực chống đối của các nhóm lợi ích trong nước. Thế mới thấy trực giác của người xưa và trí tuệ thời này dường như có một sự tương thông tuyệt hảo, chỉ khác là ngày nay các nhà khoa học sử dụng những công cụ phân tích thông qua các mô hình toán ngày càng tinh vi và chặt chẽ hơn.  Schelling cũng chỉ ra rằng trong các tình huống có xung đột, chính khả năng “trả đũa” (chứ không phải là khả năng kháng cự hay tấn công) mới là điều quan trọng. Hơn thế, ông còn cho rằng trả đũa “xuất kỳ bất ý” sẽ làm cho đối thủ “ngán” hơn nhiều, và vì vậy giúp tăng cường độ tin cậy và hiệu quả cho các biện pháp trả đũa. Điều này làm chúng ta nhớ tới tài cầm quân xuất quỷ nhập thần của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc.  Không chỉ quan tâm tới xung đột, Schelling còn nghiên cứu các quá trình thiết lập môi trường cho sự tin cậy, nhờ đó sự hợp tác trong dài hạn tác có thể được duy trì. Trong quá trình hợp tác này, các bên cũng sẽ nhận thấy về lâu về dài họ cùng có thể được lợi nếu như ban đầu họ chịu hy sinh một phần quyền lợi của mình.   Schelling cũng quan tâm tới khả năng hợp tác của các cá nhân trong hoàn cảnh không tồn tại xung đột đáng kể về lợi ích giữa các bên, nhưng tất cả các bên sẽ cùng phải trả một giá khá đắt khi sự hợp tác bị phá vỡ. Trong nghiên cứu của mình, đặc biệt là trong những thí nghiệm ở trên lớp với sinh viên, Schelling phát hiện ra rằng các kết cục hợp tác (mà ông gọi là tiêu điểm) thường xảy ra nhiều hơn so với dự đoán của lý thuyết. Năng lực hợp tác xem ra phụ thuộc vào khung quy chiếu chung của các bên. Các quy ước và chuẩn mực xã hội (tục lệ, tập quán, quan niệm về đạo đức v.v.) là một bộ phận hữu cơ của khung quy chiếu chung này. Công trình của Schelling trong lĩnh vực này là nguồn cảm hứng cho nhà triết học David Lewis (mặc dù không phải là người đầu tiên) đi đến ý tưởng cho rằng ngôn ngữ được hình thành như là phương tiện để phối hợp các hoạt động có tính tập thể của cộng đồng.  Tại sao nảy sinh hiện tượng cô lập giữa các nhóm người?  Một chủ đề lặp đi lặp lại trong các nghiên cứu của Schelling là câu hỏi “điều gì sẽ xảy ra khi kế hoạch và mô thức hành vi của các cá nhân va chạm với nhau trong các bối cảnh xã hội” và đây cũng là chủ đề chính trong cuốn sách nổi tiếng nhất của Schelling, “Động cơ vi mô và hành vi vĩ mô” (Micromotives and Macrobehavior) xuất bản năm 1978. Trong cuốn sách này tác giả cung cấp những lời giải thích hết sức lý thú về mô thức (pattern) xuất hiện các hiện tượng vĩ mô là hệ quả của những tương tác vi mô dường như hoàn toàn “ngẫu nhiên”. Dùng lý thuyết của mình, Schelling có thể lý giải tại sao phân bổ về khu vực sinh sống giữa người giàu và người nghèo ở nhiều thành phố châu Âu và Mỹ lại xảy ra theo một mô thức nhất định nào đó, hay cách thức một người chọn ghế ngồi trong một rạp hát hay sân vận động, cũng như các vấn đề về phân biệt chủng tộc và giới tính v.v.  Robert Aumann  Nếu như Schelling xuất thân là một nhà kinh tế học thì Robert Aumann lại được đào tạo để trở thành một nhà toán học.            R. Aumann, nhà toán học Mỹ gốc Israel. Anh AFP        Cũng vì lý do nguồn gốc nghề nghiệp khác nhau như thế nên mặc dù hai ông chia sẻ nhiều quan điểm chung nhưng cách tiếp cận của Schelling thiên về trực giác, trong khi đó Auman lại say sưa với những mô hình toán học tinh vi và chặt chẽ.  Hợp tác lâu dài  Một trong những quan tâm chủ yếu của Aumann là khả năng duy trì hợp tác giữa các bên (ngay cả khi chúng có mâu thuẫn về lợi ích) nhờ những tương tác lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian đủ dài. Theo Aumann, trong những quan hệ như thế này, chỉ cần một bên “thất tín” thì bên kia có thể “trừng phạt” một cách có hiệu quả vì khi tương tác có tính lặp đi lặp lại thì sức nặng của đòn trừng phạt sẽ cao hơn nhiều. Vì vậy, chính sự lặp đi lặp lại của những tương tác này trong một khoảng thời gian đủ dài là cơ sở để duy trì sự hợp tác tự nguyện của các bên vì mỗi bên đều  “tin” rằng bên kia không có động cơ để thất tín.  Đọc đến đây độc giả có thể tự nhủ: Khoan đã, thế lý thuyết của Aumann giải thích sự kiện điện kế điện tử vừa qua như thế nào? Rõ ràng là quan hệ giữa công ty điện lực TP. Hồ Chí Minh và người dân sử dụng điện là một tương tác lặp, kéo dài trong một khoảng thời gian dài và không biết trước điểm dừng.                “Thông tin” hay “hiểu biết” của các bên chơi sẽ ảnh hưởng thế nào tới kết cục của cuộc chơi? Điều này đã được Aumann giải thích trong “Lý thuyết của trò chơi”            Theo lý thuyết thì đây là một hoàn cảnh lý tưởng để hai bên “thủ tín” với nhau, đặc biệt là về phía công ty điện lực luôn phải có động cơ chăm sóc khách hàng thật chu đáo mới đúng. Ấy thế mà trên thực tế điều ngược lại đã xảy ra, vậy lý thuyết của Aumann không áp dụng được ở Việt Nam sao? Thực ra thì không phải vậy. Trong lý thuyết của Aumann, ông giả định rằng cả hai bên đều có những phương tiện nhất định để “trừng phạt” bên kia một khi bị bội tín, trong đó phương tiện trừng phạt tối thiểu nhất là không… chơi với kẻ bội tín nữa mà đi tìm đối tác khác vì “nhất độ thất tín, vạn sự bất tin”. Người tiêu dùng điện của Việt Nam, đáng tiếc, lại không có lựa chọn này và vì vậy chỉ còn biết kêu lên nhà nước. Chỉ khi nào có một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn thì người dân mới có khả năng tự bảo vệ mình (dù là tối thiểu) trước những hành vi lạm dụng quyền lực thị trường của các công ty độc quyền mà không cần phải cầu cứu sự can thiệp của nhà nước.  Từ những kết quả thu được về khả năng duy trì hợp tác nhờ những tương tác lặp đi lặp lại mà ta có thể giải thích những hiện thực khác của cuộc sống. Chẳng hạn như tại sao trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới và cho đến tận ngày nay người ta nói nhiều đến hành vi kinh doanh chộp giật của nhiều doanh nghiệp. Một nguyên nhân cơ bản là nếu giao dịch giữa các bên thường chỉ xảy ra một lần và nếu khả năng chế tài của hệ thống luật pháp yếu thì ứng xử “tối ưu” của nhiều doanh nghiệp tư nhân khi ấy là “đánh quả” rồi… bay chạy cao xa!  Từ một góc độ khác, chúng ta cũng có thể giải thích tại sao trên thực tế tồn tại các phường hội kinh doanh và tại sao các mối quan hệ bạn hàng lại quan trọng đến như vậy. Đây là một ví dụ về việc trong bối cảnh luật pháp chưa đủ tin cậy thì các thể chế phi chính thức (phường hội) sẽ ra đời để thay thế các thể chế chính thức (luật) nhằm điều chỉnh hành vi của những người trong cuộc. Vì tương tác giữa các thành viên trong cùng một phường hội lặp đi lặp lại và gần như mọi người đều biết danh tính của những thành viên còn lại, chỉ cần một người thất tín thì sức mạnh của phường hội sẽ phát huy tác dụng thông qua cơ chế… “hội đồng tổng cốc” – tức là trừng phạt tập thể. Một lần nữa, chính bản chất của tương tác lặp đã giúp cơ chế trừng phạt trở nên đáng tin cậy.  Qua những ví dụ trên chúng ta cũng thấy khung thời gian của tương tác đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc ảnh hưởng tới hành vi của các bên. Chẳng hạn nếu ai cũng biết là giao dịch chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định thì họ có thể hợp tác trong giai đoạn đầu, nhưng gần đến khi giao dịch kết thúc, nếu có điều kiện (ví dụ khi hệ thống luật pháp yếu kém) thì để tối đa hóa lợi ích của mình, các bên sẽ có động cơ bội ước vì họ biết rằng bên kia không còn cơ hội để trừng phạt mình nữa. Có thể thấy điều này trong các hành vi “hạ cánh an toàn” ở Việt Nam, “triệu chứng 59 tuổi” ở Trung Quốc hay các “chu kỳ chính trị” phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.  Hiểu biết chung (common knowledge) và các cân bằng tương quan (correlated equilibria)  Một đóng góp quan trọng nữa của Aumann là về cơ sở nhận thức (cognitive foundation) của lý thuyết trò chơi, cụ thể là thông tin (information) hay hiểu biết (knowledge) của các bên có ảnh hưởng thế nào đến kết cục của “cuộc chơi”. Ở đây hiểu biết này không chỉ là hiểu biết của các bên về chính mình, mà còn bao gồm hiểu biết của các bên về hiểu biết của các bên còn lại theo kiểu “tôi biết rằng anh biết tôi biết…”  Trong buổi bình minh của lý thuyết trò chơi, các bài toán thường giả định một cách đơn giản thái quá rằng tất cả các bên tham gia trò chơi biết mọi khía cạnh về trò chơi, bao gồm cả niềm tin hay các thông tin cá nhân khác của tất cả các bên còn lại. Điều này có vẻ giống như trong thế giới của vật lý học khi ta giả sử rằng các vật chuyển động trong môi trường chân không và không hề có ma sát. Thế nhưng cuộc sống thì sinh động và phức tạp hơn thế nhiều. Hiểu biết không đồng đều cũng là một nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong thế giới này. Những thua thiệt của các nhà sản xuất tôm cá của Việt Nam trước các đối thủ cạnh tranh ở Mỹ trong thời gian qua là một ví dụ điển hình. Rõ ràng một số hiệp hội ở Mỹ khi biết rằng chúng ta không hiểu hết những điều lắt léo trong luật pháp của nước Mỹ và luật thương mại quốc tế đã tận dụng hiểu biết này để ép chúng ta. Thế nhưng cũng không nên ngộ nhận rằng có nhiều thông tin hơn bao giờ cũng tốt. Dân gian có câu “khuất mắt trông coi” quả không sai. Nếu ai trong chúng ta đã từng rơi vào hoàn cảnh “thà rằng chẳng biết thì thôi” thì sẽ hiểu nguyên lý này một cách thấm thía.  Trên nền lý thuyết này Aumann phát triển một khái niệm cân bằng mới, đó là cân bằng tương quan, yếu hơn khái niệm cân bằng của John Nash, nhà toán học danh tiếng của trường đại học Princeton được giải Nobel kinh tế năm 1994. (Có lẽ Nash còn nổi tiếng hơn qua bộ phim “The beautiful mind” của đạo diễn Ron Howard. Vai John Nash do nam diễn viên Russel Crowe, còn vợ Nash do nữ diễn viên Jennifer Connely đóng, cả hai đều rất đạt). Khái niệm cân bằng tương quan có thể giải thích tại sao một số bên lại muốn nhờ một bên trung gian khách quan nói chuyện với các bên còn lại, có thể riêng rẽ hoặc với sự có mặt của mình. Điều này làm ta liên tưởng ngay tới các cuộc ngoại giao con thoi và họp bàn 6 bên về vấn đề vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên cũng như các cuộc hội đàm liên quan tới số phận của hai dân tộc Palestin và Israel trong thời gian qua.  Giới hạn của tính duy lý  Liệu con người có phải là một động vật thuần lý? Liệu có giới hạn đối với năng lực duy lý của con người? Và liệu có tồn tại một lời giải thích duy lý cho những hành động phi lý, hay nói một cách khác, liệu có tồn tại “logic của điều không thể”?  Robert Aumann và Thomas Schelling cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đối với một số khía cạnh đang bị các lý thuyết hiện có bỏ quên. Thông qua việc phát triển các khái niệm và công cụ để phục vụ cho việc nghiên cứu các vấn đề này, Robert Aumann và Thomas Schelling đã góp phần mở rộng phạm vi phân tích. Một kết quả gặt hái được từ nỗ lực vượt bậc này của họ là ngày nay khái niệm duy lý đã được diễn giải với ý nghĩa rộng rãi hơn trước nhiều. Một số hành vi trước đây bị coi là phi lý (irrational) nay đã trở thành duy lý (rational) và có thể hiểu được. Những nghiên cứu của hai học giả đạt giải Nobel này đã góp phần to lớn trong việc thu hẹp lại khoảng cách vốn rất lớn giữa kinh tế học với các khoa học xã hội và hành vi khác.  Giới thiệu tóm tắt về tiểu sử hai tác giả của giải Nobel kinh tế  Robert J. Aumann sinh năm 1930 ở Frankfurt, Đức (hiện có hai quốc tịch Israel và Mỹ). Nhận học vị tiến sỹ ngành toán năm 1955 ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Cambridge, MA, USA. Hiện Aumann là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu tính duy lý (Center for Rationality) thuộc Trường Hebrew University, Jerusalem, Israel.  Thomas C. Schelling sinh năm 1921 ở Oakland, bang California Mỹ (là công dân Mỹ). Nhận học vị tiến sỹ ngành kinh tế học năm 1951 ở Đại học Harvard, Cambridge, MA, USA. Hiện Schelling là giáo sư danh dự của Khoa kinh tế và của Trường Chính sách công thuộc trường Đại học Maryland, College Park, MD, USA. Ông cũng là giáo sư danh dự ngành Khoa học chính trị của trường Đại học Harvard.  Tài liệu tham khảo  Trang web giải Nobel: http://nobelprize.org/economics/laureates/2005/index.html  Vũ Tự Thành Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ      Hội thảo “Sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại toàn cầu: Giải pháp khắc phục điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam” do Cục Sở hữu Trí tuệ, tạp chí Tia Sáng, và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao phối hợp tổ chức ngày 28.5 tại TP.HCM góp phần lý giải nhiều vấn đề mà DN thực sự quan tâm: vì sao DN và cơ quan quản lý chưa gặp nhau,&#160; vì sao DN trong nước bị “bắt nạt” về sở hữu trí tuệ khi ra nước ngoài, và những giải pháp trước mắt của DN là gì khi Việt Nam tham gia ngày càng sâu hơn vào các hiệp định thương mại toàn cầu.    Lỗ hổng từ ý thức và quá trình thực thi  Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển, đã trở thành một công cụ bảo hộ đắc lực cho các doanh nghiệp và được thực thi một cách hiệu quả, trong khi đó tại Việt Nam cả người sở hữu và cơ quan bảo vệ đều chưa thực sự hiểu đầy đủ về nó. Doanh nghiệp (DN) thì muốn cơ quan nhà nước đứng ra bảo vệ quyền lợi của mình ở mọi lúc mọi nơi mọi thời điểm, còn cơ quan có trách nhiệm thì cho rằng nếu DN không lên tiếng, không đấu tranh đến cùng và không tự bảo vệ mình thì cơ quan thực thi cũng bó tay.   Tại hội nghị nhiều DN cho rằng mình vẫn bị xâm phạm về quyền SHTT và chưa được các cơ quan thực thi bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Bà Ngô Thị Báu – Phó TGĐ công ty TNHH SX – Nguyên Tâm – Foci cho hay: Công ty đã đầu tư rất nhiều thời gian và tiền bạc để điều tra cũng như tố cáo các đối tượng có hành vi làm hàng giả hàng nhái thương hiệu của Foci tuy nhiên vừa không có được kết quả như mong muốn lại vừa “mệt mỏi vô cùng” vì phải nhiều lần tiếp đón cơ quan quản lý thị trường đến kiểm tra chất lượng hàng hóa rất nghiêm ngặt ở công ty.   Đại diện công ty cổ phần may Việt Tiến cũng chia sẻ, tuy đã phối hợp với các cơ quan chức năng, được tư vấn về vấn đề bảo vệ quyền SHTT nhưng sau khi tiến hành kiểm tra các điểm bán hàng giả, hàng nhái của thương hiệu mình trên thị trường thì “đến khâu xử lý cứ bị tắc mà chúng tôi không biết gỡ thế nào”.  Đại diện công ty nước giải khát Bidrico thì thắc mắc không hiểu vì sao cùng một sản phẩm, chúng tôi đăng ký quyền bảo hộ trước không được còn một công ty sau đó đăng ký thì được. Không những vậy, đại diện công ty Cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận cho biết công ty từng đâm đơn kiện nhưng thủ tục hành chính thì khá rườm rà, thời gian đợi để được cơ quan chức năng vào cuộc giải quyết, xử lý rất lâu khiến công ty cảm thấy mình phải dừng cuộc chơi.  Về phía các cơ quan chức năng – theo bà Hoàng Tố Như, Phó trưởng Phòng sở hữu trí tuệ (Sở KH&CN TP.HCM), nhiều trường hợp chính các cơ quan thực thi còn phải lung túng vì hành vi vi phạm SHTT rất tinh vi, và đa dạng. Chúng không chỉ nhắm đến các mặt hàng rẻ tiền mà nay còn lấn sang các mặt hàng cao cấp có giá trị cao tới vài chục triệu được bày bán ở các trung tâm thương mại lớn. Do vậy để chống lại việc xâm phạm quyền SHTT, trước hết cần sự nỗ lực từ cả các DN và cơ quan bảo đảm quyền và cơ quan thực thi.  Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Bảy – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo, Cục Sở hữu trí tuệ thừa nhận: Tuy hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam đầy đủ, nhưng việc thực thi còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến việc cơ quan thực thi không thể kiểm soát và phát hiện, xử lý triệt để vì thiếu sự phối hợp giữa các DN với đơn vị quản lý thị trường nên nhiều trường hợp không thể biết hết thương hiệu nào đã đăng ký quyền SHTT.  Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng mà hầu hết các DN chưa chú trọng đó là cơ quan tư vấn pháp luật. Bà Nguyễn Thị Vân – Giám đốc chi nhánh miền Nam công ty Vision & Associates, cho rằng bản thân DN chưa nhận thức được vai trò của văn phòng luật sư, nơi sẽ tư vấn cho họ cách bảo vệ công ty của họ ngay từ những ngày đầu sơ khai. Có rất nhiều trường hợp DN chỉ tìm đến văn phòng luật sư khi mọi chuyện đã rồi, khi đó đã là quá muộn để có thể bảo vệ quyền lợi của họ.   Con người chính là giải pháp tốt nhất về quyền sở hữu trí tuệ  Phát biểu khai mạc hội thảo, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã khẳng định việc Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) sẽ mang lại những cơ hội lớn cho các DN nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ với các tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT. Các DN có thể phải chi phí cao hơn cho hoạt động quyền SHTT; người tiêu dùng của Việt Nam có thể phải trả giá cao hơn cho các sản phẩm được bảo hộ quyền SHTT. Nhưng ngược lại, DN Việt Nam lại có cơ hội được bảo hộ quyền SHTT đầy đủ và toàn diện ở các nước thành viên của các điều ước quốc tế liên quan, hưởng môi trường đầu tư lành mạnh hơn, người tiêu dùng được bảo đảm quyền để tránh mua phải hàng giả, hàng nhái…   Vậy giải pháp nào sẽ giải quyết cho vấn đề hàng giả hàng nhái khiến cả DN và cơ quan chức năng phải “lực bất tòng tâm”.  Một trong những giải pháp được coi là hay nhất đó là yếu tố con người. Theo ông Võ Trí Thành – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương, với thực tế là các biện pháp thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (xác lập, đăng ký, thực thi) ở Việt Nam còn yếu, các DN cần phải tự bảo vệ mình bằng cách không ngừng sáng tạo, đây là cách bảo vệ tốt nhất. DN phải nhận thức rằng sở hữu trí tuệ chính là sở hữu sự sáng tạo, phát minh của con người. Vì vậy DN phải luôn tạo ra năng lực cạnh tranh trong thu hút người có tài. Và khi có được người tài rồi thì phải giữ và nuôi dưỡng được cái tài đó thì doanh nghiệp sẽ luôn luôn phát triển bền vững. Còn ông Phạm Phi Anh, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, thì cho rằng, giải pháp để các DN đối phó với các hàng giả hàng nhái trên trị trường đó là liên tục đổi mới với những sáng chế độc đáo, kéo dài thời gian bảo hộ, liên kết sáng chế với đăng ký mới,…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp cho hố ngăn cách số      Giải pháp nào cho hố ngăn cách số trong một xã hội thông tin, khắc phục các nhược điểm của Internet như thế nào…là những vấn đề cơ bản được 176 quốc gia tham dự Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin (SMSI) diễn ra tại Tunis (16-18.11) đi tìm lời giải. Được coi là “Hội nghị thượng đỉnh của các giải pháp”, nhưng SMSI đã không đạt được bất kỳ tiến bộ đáng kể nào.    18.000 người tham gia Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin trở về với những tâm trạng khác nhau, một số hài lòng, còn một số người “bi quan” cảm thấy đến đây thật vô ích. Chương trình nghị sự Tunis đưa ra một chiến lược toàn cầu về phát triển công nghệ thông tin và viễn thông trong các nước phương Nam, nhằm lấp đầy hố ngăn cách tồn tại giữa các nước giàu và nước nghèo, nhưng lại không quy định bất kỳ nghĩa vụ nào đối với các nước giàu trong việc cung cấp nguồn tài chính cho chiến lược này. Đúng là phải coi công nghệ thông tin “là những công cụ hữu hiệu để thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định và tăng cường dân chủ, gắn kết xã hội”, và “phòng chống tất cả những lạm dụng công nghệ thông tin vào các mục đích tội ác và khủng bố”, nhưng thực hiện tất cả những mong muốn này như thế nào mới là điều quan trọng. Tuyên bố Tunis mới chỉ dừng lại ở “cơ chế đổi mới và tự nguyện mở cho tất cả các bên quan tâm” thông qua các Quỹ đoàn kết số mà ý tưởng đã được đưa ra từ năm 2003 tại Genève. Cho tới nay, Quỹ này mới tập hợp được 8 triệu euro.  Rắc rối vì Internet  Thư rác, virut, nghẽn mạch, lừa đảo… Mạng thông tin toàn cầu đang chao đảo. Hệ thống thông tin của một nhà máy hạt nhân bị rối loạn trong hai tiếng tại bang Ohio, Mỹ. Tại Melbourn, Úc, một nhà ga xe lửa bị phong tỏa trong một tuần. Tại Stockholm, Thụy Điển, hai bệnh nhân bị buộc phải chuyển viện vào phút chót vì máy phát tia tử ngoại bị virut phá hỏng. Tại Paris, Pháp, hàng nghìn cuộc điện thoại được nối nhầm tới đội cứu hỏa… Đó không phải là kịch bản trong cuốn tiểu thuyết bi thảm của Tom Clancy, mà là một loạt các rắc rối có thực xảy ra trong 10 tháng gần đây, tất cả đều do sai sót của Internet.  Ngày nay, nhờ có mạng toàn cầu người ta có thể làm được mọi thứ ở nhà (tải dữ liệu, gửi thư điện tử, tham gia các diễn đàn, mua bán, quản lý các tài khoản ngân hàng và gọi điện). Nhưng đúng lúc trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống thường nhật, thì Internet lại dở chứng với vô số rắc rối.  Sở dĩ Internet đang chao đảo, chính bởi vì ngay từ khi ra đời nó đã không được xây dựng cho các chức năng mà hiện nay nó đang phải đảm nhận. Vào năm 1962, đúng lúc chiến tranh lạnh đang gay gắt, Bộ quốc phòng Mỹ đã quyết định trang bị một hệ thống thông tin cho phép truyền thông tin, kể cả trong trường hợp bị tấn công nguyên tử. Ý tưởng của Cục nghiên cứu dự án cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ (US Defense Department’s Advanced Research Projects Agency-Arpa) đã được áp dụng. Một thông tin được trao đổi giữa hai máy tính sẽ được chia thành nhiều gói; mỗi gói mang một số và một địa chỉ nhận có thể lan truyền bằng một con đường khác, và đến bất cứ nơi đâu theo lệnh. Khi đến, chúng được tập trung lại để tái tạo thành văn bản gốc. Như vậy, độ bảo mật gần như tuyệt đối, bởi vì chỉ duy nhất người nhận có thể thực hiện việc tái tạo này. Hơn nữa, nếu một gói bị thiếu, máy tính của người nhận sẽ hỏi, và gói này sẽ đi theo một con đường khác. Đáng lẽ dự án này phải nằm trong «bí mật quốc phòng», thì nó lại được áp dụng cho các trường đại học và sự tăng trưởng của nó đã diễn ra quá nhanh, lại chịu nhiều thỏa hiệp, nên không hoàn thiện.  Nguy hiểm hơn, càng kết nối rộng thì nguy cơ bị virut tấn công càng cao. Virut đầu tiên xuất hiện năm 1983. Từ đó đến nay chúng sinh sôi nảy nở với tốc độ không một ai mong muốn: một nghìn loại vào năm 1991, đến năm 1997 chúng đã tăng lên gấp mười lần. Hai năm sau, số lượng lại tăng lên gấp hơn ba lần, khoảng 33.000 loại và đến tháng 11.20005, tổng cộng đã có tới hơn 150.000 virut hoành hành. Đành rằng các chuyên gia bảo vệ mạng đã nghĩ ra các phần mềm diệt virut, nhưng các sửa chữa chắp vá này không giải quyết được triệt để vấn đề, vì tội phạm mạng đã chuyên nghiệp hóa: Nếu như Chen Ing-hau khi bị bắt, tháng 4.1999 vì đã phát tán virut Tchernobyl, mới 24 tuổi, thì nay trong số những kẻ phát tán virut có cả những người như Saad «Jay» Echouafni người Maroc 40 tuổi, chủ của một công ty viễn thông, bị cảnh sát Mỹ truy nã từ năm 2002 vì đã tạo ra một loại virut phá hủy vĩnh viễn hệ thống thông tin của các đối thủ cạnh tranh. Một báo cáo gần đây của Chính phủ Mỹ thống kê mỗi năm có tới 250.000 vụ tấn công “chuyên nghiệp” vào hệ thống máy tính toàn cầu.  Một hạn chế nữa của Internet: thật dễ dàng gửi một bức thư, nhưng thật không dễ để từ chối nhận một bức thư khác. Các hộp thư đã trở thành những thùng rác thực sự. Các bức thư có tính chất quảng cáo (bán thuốc viagra, du lịch…) hiện chiếm 70% số lượng thư điện tử. Các thư rác không phá hỏng máy tính nhưng lại gây rất nhiều phiền nhiễu, thời gian, và như vậy là tiền bạc, cho người nhận vì suốt ngày phải đi xóa. Việc gửi thư rác này không gây tốn kém gì cho người gửi-chỉ cần vài cái nhấp chuột là có thể gửi được hàng triệu bức thư kiểu này- nên tỷ lệ 1/200.000 bức thư được mở đã là thành công trong lĩnh vực quảng cáo. Trở thành tỷ phủ trong vòng chưa đầy 5 năm, Jeremy Jaynes người Mỹ, bị kết án 9 năm tù vào tháng 4.2005 vì tội lừa đảo, đã gửi hơn 10 triệu thư mỗi ngày…                Mối nguy hiểm chính của thư rác là ô nhiễm mạng. Ban đầu, Internet chỉ cho phép gửi vài dòng văn bản, nhưng hiện nay người ta có thể sử dụng nó để tải từ điển bách khoa, bài hát hay hàng chục giờ phim. Vấn đề ở chỗ mạng thông tin toàn cầu hiện nay không thể đáp ứng được hoàn hảo những ứng dụng này. Trên thực tế, hầu hết các thao tác tải hình ảnh đều bị nghẽn một vài giây. Đối với một cá nhân dường như điều này không gây vấn đề gì, nhưng cứ thử nhân một vài giây này với hàng tỷ người sử dụng mỗi ngày thì cũng đủ biết mức độ thiệt hại lớn đến mức nào. Mà đấy là chưa kể lãng phí thời gian và tiền bạc của những người mắc bệnh nghiện mạng. Hiện trên thế giới có hơn 10 triệu người nghiện Internet. Các bệnh nhân này bị mệt mỏi, co rút ngón tay, khô mắt, đau đầu… Nhưng các rắc rối do thiếu mạng còn tồi tệ hơn: cáu bẳn, cuồng ám, trầm cảm, hoảng loạn… Viện quân y Bắc Kinh hiện đang chữa trị cho rất nhiều người nghiện mạng với chi phí 48 USD mỗi ngày để họ có thể không chạm vào bàn phím nữa.    Mỹ vẫn tiếp tục kiểm soát Internet  Kể từ 1998, điều hành mạng toàn cầu đã là công ty Internet đăng kiểm tên và số Internet (Icann), một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân đặt trụ sở ở Los Angeles. Tổ chức này hoạt động theo luật Bang California và do Bộ Thương mại Hoa Kỳ giám sát. Icann là một tổng đài khổng lồ của Internet được trang bị 13 máy tính siêu lớn gọi là máy phục vụ gốc (root server), 10 máy đặt ở Mỹ, 3 máy đặt ở Đức, Thụy Điển và Nhật Bản. Vai trò chính của Icann là điều phối hệ thống quản lý tên miền (DNS), hệ thống mở đường cho việc duyệt web. Mỗi máy tính kết nối Internet đều đòi hỏi một địa chỉ kết nối riêng (IP). Ở dạng ngắn gọn, những địa chỉ này là một dãy số. Vì dãy số này là rất khó nhớ nên DNS cho phép biến chúng thành tên miền dưới dạng chữ. Thay vì gõ địa chỉ bằng một dãy số dài, người sử dụng chỉ cần gõ tên địa chỉ vào công cụ duyệt web. Sau đó, DNS sẽ chuyển đổi tên miền thành địa chỉ IP và máy tính sẽ kết nối vào trang web mong muốn.                  Máy tính xách tay giá 10USD     Việc sản xuất sẽ được triển khai vào đầu năm tới. Negroponte dự tính sẽ cung cấp những chiếc máy tính xách tay đầu tiên vào cuối năm 2006. Với sản lượng từ 100-150 triệu mỗi năm kể từ năm 2007, chi phí sẽ giảm xuống dưới mức 100USD/máy. Negroponte đã giải quyết được mâu thuẫn: giá rẻ mà máy vẫn tốt và tốc độ xử lý cao để có thể truy cập Internet dễ dàng, bằng cách kết hợp các công nghệ tiên tiến nhất. Máy sử dụng một bộ nhớ bằng thẻ flash thay vì các đĩa cứng. Nó cũng sẽ được lắp một bộ xử lý AMD 500 MHz và vận hành trên phần mềm Linux. Màn hình sẽ là một LCD (tinh thể lỏng) giá rẻ, giống với các đầu đọc DVD xách tay. Vì người sử dụng thường sống ở những khu vực hẻo lánh, nguy cơ mất điện thường xuyên xảy ra, nên máy có thể được sạc điện thông qua một máy phát điện quay tay gắn trong máy.   Expresso Lisbonne             Icann luôn khẳng định sẽ “cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sự ổn định của Internet; cho thúc đẩy cạnh tranh, tăng cường sự hiện diện của Internet trên toàn cầu; cho chính sách phát triển phù hợp với chức năng của mình qua các quá trình dựa trên nguyên tắc đồng thuận”. Nhưng tính đến nay, đồng thuận đâu không thấy chỉ thấy các làn sóng phản đối sự kiểm soát Internet của Mỹ ngày càng gay gắt. Tháng 9.2004 đã diễn ra một hội nghị trù bị ở Genève, trước thềm Hội nghị Tunis, giữa Mỹ và EU. Hợp đồng giữa Icann với Bộ Thương Mại Hoa Kỳ sẽ hết hạn vào tháng 9.2006, và 25 nước EU đã nhất trí ra yêu cầu thay đổi toàn diện cách giám sát Internet vào mốc thời gian đó. Song Washington đã phản đối thẳng thừng bất kỳ sự thay đổi nào, và các cuộc thảo luận đã không đạt được bất kỳ kết quả nào.  Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, thông tin là một tài sản, thậm chí là nền tảng của kinh tế tri thức. Vì thế nước nào kiểm soát được Internet nước đó sẽ giành được lợi thế chiến lược mang tính quyết định. Một bài học lịch sử không xa: đầu thế kỷ XIX, việc làm chủ đường biển đã giúp đế quốc Anh thao túng cả thế giới.  Trên lý thuyết, quyền bá chủ internet trao cho Mỹ quyền ngăn chặn bất kỳ ai truy cập vào bất kỳ website nào ở bất kỳ một nước nào. Mỹ cũng có thể chặn đứng bất kỳ email nào đến từ bất kỳ xó xỉnh nào trên thế giới. Điều này khiến các quốc gia khác lo lắng.  Và Hội nghị Tunis là dịp để các nước yêu cầu Washington ngừng giám sát Icann. Thay vào đó, Icann sẽ được chuyển đổi thành một tổ chức độc lập nằm dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, các đại biểu tham gia hội nghị đã không đạt được điều mà hầu khắp tất cả các nước trên thế giới mong muốn: trao quyền kiểm soát Internet cho Liên Hiệp Quốc. 176 nước đã phải đi đến một thoả hiệp cho tương lai của cơ quan kiểm soát mạng Internet ngay trước lúc bế mạc. Icann sẽ vẫn tiếp tục điều hành kĩ thuật mạng nhưng một Diễn đàn quản lí Internet (IGF) sẽ được thành lập và hoạt động song song. Hy vọng, Diễn đàn này sẽ giúp tất cả chính phủ các nước có quyền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm bình đẳng hơn trong việc quản lí Internet toàn cầu. Nó sẽ không xâm phạm nhiệm vụ của Icann mà tập trung giải quyết các vấn đề an ninh mạng.  Quốc Vinh (Tổng hợp)    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp chủ yếu giải quyết vấn nạn nghèo đói:  KHƠI DẬY TIỀM NĂNG CỦA CHÍNH HỌ      Cứu trợ cho người ngh&#232;o gần như trở th&#224;nh lời hứa hẹn &#8220;cửa miệng&#8221; của c&#225;c nh&#224; từ thiện hoặc c&#225;c ch&#237;nh kh&#225;ch tr&#234;n thế giới ng&#224;y nay. Thế nhưng, liệu th&#224;nh lập bộ m&#225;y quan li&#234;u khổng lồ trong lĩnh vực an sinh x&#227; hội c&#243; phải l&#224; giải ph&#225;p tốt nhất cho vấn nạn n&#224;y hay kh&#244;ng? Sự hỗ trợ vật chất nhất thời c&#243; phải l&#224; c&#225;i m&#224; người ngh&#232;o cần nhất? Hay họ cần một c&#225;i kh&#225;c bản chất hơn, cốt l&#245;i hơn để tự khơi dậy tiềm năng của ch&#237;nh họ?    Một thách thức lớn  Đói nghèo trên diện rộng vẫn là một vấn nạn của cộng đồng thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì năm 1988 có 1,2 tỷ người sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối với mức sống ít hơn 1 USD/ngày. Một nửa trong số đó nằm trong các khu vực Nam Á. Mặc dù trong những năm vừa qua tỉ lệ nghèo đói có giảm bớt, nhưng đây vẫn là một trong những vấn đề lớn nhất của nhân loại.  Một lần nữa, xin được nhắc lại những hậu quả thảm khốc mà đói nghèo gây ra. Trước hết, nó làm cho người ta luôn phải đau khổ vì đói khát và buộc con người phải thường xuyên lo lắng vì những mục tiêu hạ cấp nhất. Đói nghèo làm cho người ta trở thành cục cằn, nó không chỉ đẩy một số người đến những hành động bạo lực mà còn làm băng hoại quan hệ giữa người với người, nhất là trong gia đình. Nghèo đói là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hành động bạo hành đối với phụ nữ. Nhiều người  phụ nữ Nam Á nói rằng: khi tình trạng kinh tế của người nghèo được cải thiện thì một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự hòa thuận trong gia đình gia tăng, cũng có nghĩa là bạo hành trong gia đình đã giảm.                  Nghèo đói làm cho người ta không thể thể hiện được hết năng lực cá nhân của mình. Không được học hành, người nghèo không thể phát triển được các khả năng, không thể nâng cao được năng suất lao động. Trong thời đại của chúng ta, khi người ta nói rất nhiều và rất hay về vai trò của giáo dục và phát triển khả năng của con người thì vẫn đang tồn tại hàng tỷ người không có điều kiện học hành, bỏ phí những tiềm năng của mình.  Nhiều người không nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề này, họ cho rằng vấn đề chính đáng quan tâm nhất là nạn gia tăng dân số. Theo họ, nghèo đói trên diện rộng là lỗi của chính người nghèo. Đấy là một thái độ cực kỳ vô trách nhiệm, nó chẳng những không phù hợp với kinh nghiệm lịch sử mà còn đi ngược lại các lý thuyết kinh tế. Một nước đang giàu có không thể trở thành nghèo đi vì sinh suất cao. Kinh tế luôn luôn phát triển ở những thành phố đông dân chứ không phải ở các làng quê hẻo lánh. Còn trong lý thuyết kinh tế thì việc sản xuất và phân phối thu nhập quốc dân là một tiến trình động, phụ thuộc vào nhiều biến số mà dân số chỉ là một trong số đó. Nếu công nhận rằng mỗi người đều có thể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội thì ta phải công nhận rằng số dân cũng có ảnh hưởng tích cực đối với quá trình phát triển đó. Chỉ có trong các xã hội với hệ thống kinh tế rối loạn, trì trệ, thiếu năng động và không tạo điều kiện cho người dân thể hiện hết năng lực của mình thì việc gia tăng dân số mới thành vấn đề. Trong những điều kiện như thế vấn đề nghèo đói sẽ càng trầm trọng thêm. Người nghèo cảm thấy có lợi khi sinh thêm con, vì như thế là thêm nguồn lao động, là gia tăng thu nhập lúc còn trẻ và bảo đảm kinh tế cho tuổi già.   Hậu quả chính trị cũng không kém phần quan trọng. Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác. Cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày làm cho người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc. Quyền lợi của họ không được nói tới và vì vậy mà bị bỏ qua. Người nghèo thường bị buộc phải dựa dẫm vào một “kẻ bảo trợ”, có thể là một “cụ lớn” trong làng hay chủ khu “xóm liều” hoặc chủ thầu nào đó. Không còn lựa chọn nào khác, họ buộc phải bán quyền lợi chính trị của mình cho người bảo trợ để mong được an toàn. Khi các quan hệ chủ – tớ giữ vai trò chủ đạo, thí đó chính là nguy cơ nghiêm trọng đối với các nguyên tắc của quyền tự do cá nhân và những quyền bất khả xâm phạm của con người.    Mong muốn giúp đỡ là phản ứng tự nhiên trước tình trạng nghèo đói và chắc chắn rằng những người nghèo đến mức không thể cất đầu lên được thực sự cần đến sự giúp đỡ. Nhưng nếu cứ giúp đỡ mãi sẽ khiến họ trở nên lệ thuộc. Mặt khác chúng ta đã quên một khía cạnh quan trọng hơn nhiều: Trước đây người ta thường phải giải quyết vấn đề nghèo đói bằng chính nỗ lực của mình: bằng lao động cần cù, tiết kiệm, đầu tư cho con cái học hành, sẵn sàng di chuyển để tìm những cơ hội thuận lợi hơn, sẵn sàng đánh đổi, kể cả đổi chỗ làm việc. Dĩ nhiên là có những người suy sụp đến mức không thể tự lực được, nhưng đấy không phải là đa số.   Hầu hết người nghèo không cần sự giúp đỡ trực tiếp, họ cần được bình đẳng trong cơ hội và được pháp luật bảo vệ để có thể thoát khỏi sự áp chế của những kẻ muốn tước đoạt thành quả lao động của họ.Vì vậy chính sách Nhà nước cần hướng tới là tạo điều kiện cho tất cả các công dân, đặc biệt là người nghèo, cơ hội sở hữu tài sản tư nhân. Điều này giúp người ta độc lập về tài chính và như vậy là củng cố được tự do cá nhân.              Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác. Cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày làm cho người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc.        Dĩ nhiên là có những trường hợp cần phải trợ cấp, nhất là để chặn đứng nạn đói sau những vụ thiên tai. Trợ cấp trong những trường hợp như thế sẽ hiệu quả hơn là kiểm soát giá cả, thí dụ như kiểm soát giá lương thực, thực phẩm, mà người ta thường áp dụng nhân danh bảo vệ người nghèo, nhưng những biện pháp như thế thường làm méo mó các động cơ kinh tế và sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Cố tình giữ giá lương thực thực phẩm thấp có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các điền chủ và nền nông nghiệp và sẽ làm cho nhiều nông dân nghèo, tức là đa số người nghèo trên thế giới, mất việc làm.  Chúng ta nên tìm những phương tiện giúp người nghèo có thêm tài sản như góp vào quĩ hưu bổng, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất nghiệp, chứ không nên bắt người ta phải đóng thuế cao rồi lấy tiền phân phối lại cho người nghèo. Tiết kiệm hoặc bảo hiểm bắt buộc giúp cho các công ty tư nhân hoạt động hữu hiệu hơn (những công ty này có sự kiểm soát của Nhà nước, trong đó có yêu cầu về tái bảo hiểm). Còn thu thêm thuế để tái phân phối có thể tạo ra bộ máy quan liêu cồng kềnh, ăn hết phần lớn số tiền thu được.  Trong thời đại ngày nay, các Chính phủ cần tập trung trí tuệ tạo ra khung pháp lí phù hợp cho các ngân hàng tư nhân và các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các tổ chức tín dụng đơn giản, dễ tiếp cận với người nghèo ở khu vực nông thôn, hoạt động. Cũng cần phải thành lập các định chế kiểm soát hoạt động của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, còn chính các định chế này thì phải được bảo đảm là hoạt động khách quan, độc lập.    Giáo dục – vũ khí xóa đói giảm nghèo  Không nghi ngờ gì nữa, giáo dục là vũ khí xóa đói giảm nghèo hữu hiệu nhất. Nó cung cấp cho người ta kiến thức và tay nghề đủ sức cạnh tranh, tức là giúp họ tìm được công việc tốt hơn bố mẹ họ và như vậy là có thể bước lên những nấc thang cao hơn. Giáo dục phổ thông giúp giảm thiểu tình trạng kì thị phụ nữ. Giáo dục các bé gái giúp giảm thiểu một cách rõ rệt tỉ lệ sinh vì những người phụ nữ có học lấy chồng muộn hơn, biết cách phòng tránh thai và biết cách chăm sóc gia đình, đặc biệt là sức khỏe trẻ em.   Nếu mục đích của giáo dục là nâng cao tính năng động xã hội thì cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng giáo dục dành cho người nghèo. Chúng tôi nhấn mạnh “cần phải” là vì, điều làm người ta ngạc nhiên là nhiều nhà cải cách chỉ đổ nhiều công sức vào phát triển số lượng người được đào tạo. Họ muốn phát bằng cấp cho thật nhiều người mà hầu như không quan tâm đến chất lượng của những tấm bằng đó. Kết quả là sự phân tầng xã hội sẽ càng vững chắc hơn. Hiện tượng tương tự như thế xảy ra ở cả những nước phát triển, thí dụ như nước Đức, và nhiều nước đang phát triển.  Tại phần lớn các nước Nam Á, chất lượng học tập trong các trường công lập kém đến nỗi người dân phải chịu hi sinh về mặt tài chính chỉ để đưa con em vào các trường tư thục với chất lượng học tập cao hơn, và thường là được dạy bằng tiếng Anh. Nhưng ở nông thôn, các trường như thế là của hiếm, cho nên người nghèo ở đô thị và đa số dân nông thôn đành phải chấp nhận học ở các trường công lập hoặc không đi học nữa. Ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan, ít nhất là 40% ngân sách dành cho giáo dục được đổ vào các trường đại học mà sinh viên chủ yếu con em các gia đình trung lưu. Trong khi đó các trường cấp I không đủ cơ sở hạ tầng để đưa tất cả các trẻ em vào học, tức là không phải đứa trẻ nào cũng thoát nạn mù chữ.  Gia tăng hơn nữa quyền kiểm soát nhà trường cho người dân địa phương phải là bước tiến quan trọng trên con đường hiện đại hóa giáo dục. Điều đó có thể được thực hiện bằng cách chuyển trách nhiệm về giáo dục từ Bộ sang chính quyền huyện và chính quyền làng xã. Chính quyền Trung ương có thể chỉ tập trung sức lực vào việc đặt ra và đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn giáo dục mà thôi. Việc phân chia trách nhiệm như thế sẽ làm gia tăng tính minh bạch các khoản chi tiêu của nhà trường, vì phụ huynh học sinh sẽ dễ dàng kiểm soát những việc diễn ra ở huyện hoặc làng xã. Việc tách tổ chức qui định các tiêu chuẩn giáo dục ra khỏi những cơ quan hành pháp chắc chắn cũng sẽ nâng cao thêm chất lượng giáo dục.   Triệt để hơn nữa là ở các thành phố, Chính phủ có thể giúp người nghèo bằng cách trả tiền học phí cho con em họ và cho phép họ chọn lựa trường, thí dụ, bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng (voucher). Chính phủ thiết lập tiêu chuẩn và mục tiêu giáo dục rồi tập trung sức lực vào việc áp dụng và kiểm tra. Các trường công lập không còn nhận tài trợ từ ngân sách nữa mà sẽ phải tự hạch toán trên cơ sở thu hút thêm nhiều học sinh bằng cách cung cấp cho người học chất lượng giảng dạy tốt hơn. Hệ thống như thế sẽ giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường với nhau. Phụ huynh học sinh sẽ lựa chọn trường trên cơ sở chất lượng dạy và học, còn nhà trường sẽ buộc phải tìm những biện pháp hiệu quả nhất trong việc dạy và học.   Khi chất lượng học tập của học sinh nghèo không phải là mục tiêu của cải cách giáo dục thì người nghèo sẽ vẫn bị tước mất phương tiện quan trọng nhất để phát triển, còn xã hội thì không khai thác được tiềm năng ở những con em của người nghèo.  Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo              Các bệnh viện của Hà Nội đều trong tình trạng quá tải         Do nhiều nguyên nhân, người nghèo dễ bị ốm đau. Hệ thống y tế kém chất lượng sẽ gây nên những căn bệnh hiểm nghèo và tình trạng nhiều người nghèo chết trẻ. Từng người và toàn xã hội phải trả giá đắt cho hệ thống như thế.   Mọi người đều công nhận rằng Nhà nước phải cung cấp cho dân chúng dịch vụ y tế chủ yếu. Tuy nhiên, ở nhiều nước hiện nay, dịch vụ y tế miễn phí có chất lượng cực kỳ thấp. Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, điều này đã thúc đẩy sự phát đạt của thị trường chăm sóc sức khỏe tư nhân. Tất cả những ai đủ sức trả tiền đều sử dụng dịch vụ này. Người nghèo cũng phải chi nhiều tiền cho dịch vụ tư nhân vì không có dịch vụ y tế miễn phí của Nhà nước, hoặc có cũng vô ích vì chỉ được vào bệnh viện công sau khi đã phải trả một khoản tiền lớn.  Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước có thể thử nghiệm nhiều biện pháp khác trong việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Thí dụ như cung cấp tín dụng, trợ giúp bảo hiểm y tế tư nhân và phi tập trung hóa – kể cả ngân sách –  chuyển cho chính quyền địa phương.  ***  Đáng buồn là những cuộc cải cách theo hướng tự do hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường hiếm khi được thực thi. Nguyên nhân không phải là vì chúng không thực tiễn mà do sự cản trở của một số nhóm lợi ích và những người đang lợi dụng hệ thống xin-cho. Họ chống lại mọi đề nghị cải cách bằng lập luận rằng thay đổi sẽ làm cho người nghèo càng thiệt thòi thêm.  PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG  dịch   ——-   * Tiến sĩ Otto Graf Lambsdorff là cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, hiện giữ chức Chủ tịch Quĩ Friedrich Naumann.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp công nghệ cho vấn nạn “thừa cung” của ngành mía đường      Ngày 25-7, tại Thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tổng kết niên vụ 2012-2013, Hiệp hội mía đường Việt Nam đã thừa nhận những khó khăn và thách thức trong sản xuất- tiêu thụ mía-đường ở 25 tỉnh&#160; thành.      Với năng suất bình quân trong cả nước : 63,9 tấn /ha, đã diễn ra tình trạng “thừa cung” ít nhất 200.000 tấn, đồng thời tổn thất sau thu hoạch còn khá lớn do chưa đưa nhiều phương tiện cơ giới vào rẫy mía, chất lượng thành phẩm thích ứng nhu cầu chế biến công nghiệp không nhiều, chi phí sản xuất cao, nạn đường nhập lậu ngày càng nhiều hơn khiến cho 40 nhà máy đã sản xuất trên 1,5 triệu tấn đường trong niên vụ qua rơi vào khê đọng kéo dài.  Hiệp hội thảo luận nhiều về giải pháp chuyển hoạt động của ngành đường theo chuỗi sản xuất phức hợp, có sự can thiệp của công nghệ để tạo ra nhiều sản phẩm cạnh tranh. Đặc biệt, Hiệp hội  khuyến cáo các thành viên nên đầu tư công nghệ lò hơi trung cao áp và turbin trích ngưng tụ ( condensing extraction steam turbin) kèm theo các giải pháp tiết kiệm năng lượng, có thể đạt mức điện phát ra lưới từ 70-130 KWh/ tấn mía. Hiệp hội đề nghị ngành điện mua toàn bộ điện sinh khối được sản xuất với điều kiện ưu đãi, nhất là dự án điện đồng phát từ bã mía nối lưới điện quốc gia. Được biết chương trình 500 MW điện sinh khối cần khoảng 10.000 tỷ và Hiệp hội đề nghị được ưu đãi tín dụng.    Chất dẻo sinh học, nguyên liệu làm phân hữu cơ từ bã bùn, ván ép MDF, cồn nhiên liệu từ mía và mật rỉ…là xu hướng đa dạng hóa để tồn tại và lấy lại thế cạnh tranh bên cạnh những chính sách chống buôn lậu hữu hiệu là lời kêu gọi của Hiệp hội mía đường khi kết thúc niên vụ với những chỉ số gia tăng: diện tích, sản lượng và tình trạng dư thừa nhưng không có chính sách dự trữ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp cung cấp năng lượng tái tạo cho “Internet của vạn vật”      Một thiết bị mới có thể khai thác năng lượng gió và năng lượng mặt trời để cung cấp cho “internet của vạn vật” (internet of things – viết tắt IoT) vốn cần nhiều năng lượng để hoạt động.    Mô hình áp dụng thiết bị này  Các chuyên gia trong ngành công nghiệp máy tính dự đoán hàng chục tỉ tiện ích sẽ tạo nên “Internet của vạn vật” chỉ trong vòng năm năm tới. Người ta sẽ đồng bộ vào hệ thống IoT từ nhà máy sản xuất cà phê tới đồng hồ báo thức, hệ thống quản lý đèn hay điều chỉnh nhiệt độ không khí… Nhưng hệ thống “Internet của vạn vật” cần nhiều năng lượng mà trước đây nguồn cung cấp cho hệ thống này vẫn đến từ năng lượng hoá thạch.  Để giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hoá thạch, một nghiên cứu mới đã chế tạo ra một thiết bị khai thác năng lượng tái tạo từ gió và mặt trời để cung cấp cho hệ thống IoT. Thiết bị mới này được thiết kế nhỏ gọn, giúp khắc phục được thách thức lớn trước đây khi đưa mô hình khai thác năng lượng tái tạo vào trong lòng các thành phố – không đủ không gian cho các turbine gió. Thiết bị này tích hợp hai công nghệ thu năng lượng trong một, gồm: một tấm pin năng lượng mặt trời silicon và một máy phát điện nano có thể chuyển đổi năng lượng gió thành điện.  Các tấm pin năng lượng mặt trời của thiết bị này sẽ cung cấp khoảng 8 miliwatt điện (1 miliwatt có thể thắp sáng 100 bóng đèn LED). Hợp phần thu năng lượng gió của thiết bị có thể thu được 26 miliwatt điện năng. Trong điều kiện thu được cả điện gió và điện mặt trời, cụm bốn thiết bị này đặt trên một mái nhà có thể đủ để cung cấp điện cho các bóng đèn LED và làm hoạt động được cảm biến nhiệt độ trong nhà. Khi áp dụng các thiết bị này trên quy mô lớn (ở nhiều mái nhà trong thành phố), thiết bị này có thể cung cấp điện đủ cho “thành phố thông minh” –  mô hình thành phố áp dụng công nghệ vào mọi quản lý và sinh hoạt.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp định vị rùa Hồ Gươm      Những ai theo dõi các thông tin liên quan đến việc chữa trị và chăm sóc lâu dài cho Rùa hồ Gươm hẳn biết việc “tranh cãi về việc gắn thiết bị theo dõi cụ Rùa” của một số nhà khoa học, trong đó nổi bật lên ba ý kiến: (1) Gắn thiết bị – các nhà sinh vật học, (2) không gắn thiết bị – Tiến sĩ Hà Đình Đức và (3) ủng hộ gắn, nhưng khó khả thi – Tim McCormack, điều phối viên chương trình Rùa châu Á.      Điều ngạc nhiên là người chủ trương không gắn thiết bị là tiến sĩ Hà Đình Đức, với lập luận chủ quan, thiếu cơ sở khoa học khi cho rằng cụ Rùa đâu phải tù binh, khi nào có bệnh thì quây bắt đưa lên và không gắn chip thì mỗi lần cụ Rùa nổi lên mới thiêng liêng. Kết quả là Sở KH&CN Hà Nội đề xuất không gắn thiết bị theo dõi Rùa hồ Gươm.  Vì sao cần gắn thiết bị theo dõi cho Rùa hồ Gươm?   Rùa sống phần lớn thời gian dưới nước nhưng phải ngoi lên để thở hoặc bò lên gò phơi nắng… nên vấn đề định vị gặp nhiều khó khăn, vì không có thiết bị nào có thể định vị vừa dưới nước vừa trên cạn (tức là môi trường không khí). Mỗi môi trường có một đặc điểm riêng nên có phương pháp định vị riêng:                Môi trường      Thiết bị/công   nghệ      Ghi chú          Trên cạn      GPS      Sai số lớn khi đối tượng di   chuyển chậm, có thể lên đến vài chục hoặc trăm mét trong lúc mới nhận được   tín hiệu.  Tiêu hao năng lượng lớn, bảo   quản đơn giản nhưng lắp đặt khó.                 Định vị dùng sóng radio như   mạng zigbee, RFID…      Độ chính xác phụ thuộc vào mật   độ của mạng lưới thiết bị lắp đặt.  Không có sản phẩm thương mại   chuyên dùng trong trường hợp này, chủ yếu phát triển ở phòng thí nghiệm.  Năng lượng thấp và giá thành   rẻ, bảo quản phức tạp.          Dưới nước      Dùng sóng radio tần số thấp      Một số thiết bị radio có thể   hoạt động ở tần số thấp, tầm hoạt động khoảng vài mét. Có thể sử dụng được   nhưng kém linh động.                 Dùng la bàn số      Chỉ thích hợp cho dẫn hướng cho   thợ lặn.                 Siêu âm      Nếu như sóng radio là vô địch   trên cạn thì sóng siêu âm không có đối thủ ở dưới nước. Tất cả các thiết bị   tầm ngư, định vị dưới nước đều dùng siêu âm, từ rẻ tiền đến thiết bị quân sự   đắt tiền.          Theo một số tài liệu, Rùa sống khoảng 90% thời gian ở dưới nước, việc Rùa ngoi đầu lên thở vẫn được tính là thời gian ở dưới nước, do đó định vị dưới nước phải được ưu tiên hàng đầu. Từ đó, vấn đề định vị trở thành: Tìm kiếm thiết bị siêu âm thương mại phục vụ định vị Rùa hồ Gươm. Sở dĩ tôi dùng từ “thương mại” vì thời gian này không đủ để chúng ta làm nghiên cứu nữa, mà cần phải mua ứng dụng của các công ty để phục vụ cho việc định vị, theo dõi Rùa hồ Gươm.    Về mặt địa hình, hồ Gươm có diện tích khoảng 12 hecta (theo như số liệu tôi đọc được trên Internet), nhưng chiều sâu chỉ khoảng 1 mét. Điều này khiến các thiết bị có nguyên tắc như thiết bị tầm ngư không thể hoạt động, vì tầm quét (có dạng hình nón) sẽ rất nhỏ. Hơn nữa, mục tiêu của chúng ta là định vị, theo dõi Rùa, do đó việc gắn một thiết bị phát sóng siêu âm trên thân rùa là điều cần thiết.   Giải pháp định vị cho rùa Hồ Gươm  Trong vai một người đang tìm kiếm giải pháp định vị siêu âm cho Rùa hồ Gươm, tôi đã liên hệ với bộ phận bán hàng của một công ty (VEMCO Division AMIRIX Systems Inc.) tại Canada với yêu cầu về một giải pháp định vị cho Rùa ở hồ Gươm, bộ phận định vị nhỏ gọn, có thể gắn dễ dàng vào cơ thể Rùa. Họ đã gửi cho tôi một giải pháp dùng hệ thống định vị hai chiều (2D) VPS (Vemco Positioning System) tiên tiến nhất hiện nay phục vụ dân dụng.  Hệ thống này sử dụng một “lưới” các thiết bị nhận siêu âm, làm cơ sở để định vị thiết bị phát sóng.  R01-R13: 13 bộ nhận siêu âm WR2W, trên mỗi bộ nhận có 1 tag đồng bộ thời gian.             Sơ đồ gợi ý lắp đặt các bộ nhận siêu âm            Một tag gắn trên cơ thể Rùa phục vụ cho việc định vị đối tượng, nếu cần theo dõi thêm các cá thể khác, chỉ cần gắn thêm tag này. Ngoài chức năng định vị, tag này còn có khả năng thu nhận nhiệt độ của cơ thể Rùa và truyền về hệ thống. Tag này có đường kính 9mm, dài 39mm, có thể dùng liên tục trong 1 năm hoặc 2 năm tùy lựa chọn, rất thuận lợi để gắn lên cơ thể Rùa.   Thông tin về giải pháp định vị dưới nước tham khảo thêm tại đây:  http://www.vemco.com/products/receivers/vps.php;  http://www.vemco.com/education/tutorials/vps/vps_webinar.htm  Giải pháp này của công ty đưa ra nhằm đạt được độ chính xác cao nhất của cảm biến (khoảng 5 mét). Tuy nhiên chúng ta có thể giảm khoảng một nửa số lượng cảm biến (giá thành còn khoảng 20.000USD) để có được độ chính xác kém hơn (khoảng 10 mét) nhưng kinh tế hơn.             Thiết bị nhận WR2W    Thiết bị phát sóng, gắn trên cơ thể Rùa          Tóm lại, giải pháp để định vị và theo dõi Rùa hồ Gươm là hoàn toàn khả thi với một gói giải pháp tổng thể từ phần cứng đến phần mềm. Chi phí cho giải pháp là tiết kiệm hay lãng phí hoàn toàn phụ thuộc vào cách ta khai thác thiết bị như thế nào. Nếu như sau khi đầu tư, các nhà khoa học có thêm thông tin để phục vụ nghiên cứu, công bố nghiên cứu khoa học trên các tạp chí uy tín của quốc tế, các chuyên gia có thêm tư liệu khoa học quý… thì việc đầu tư là rất có ý nghĩa.   —————  * Phòng thí nghiệm Định vị, trường Đại học Kỹ Thuật Đài Loan.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học      Trong phần II của loạt bài viết “Đổi mới cơ chế tài chính để nâng cao chất lượng đào tạo và công bằng xã hội trong GDĐH”, tác giả đề xuất các giải pháp cải cách tài chính cho hệ thống trường đại học Việt Nam. Trong đó cần tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên: tăng đầu tư toàn xã hội vào hệ thống giáo dục đại học, bao gồm cả hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và đóng góp của xã hội, trong đó có đóng góp của người học và gia đình họ; tự chủ cho các đại học, trong đó có tự chủ tài chính; thay đổi cách phân bổ ngân sách cho từng trường.      Giảng viên hướng dẫn sinh viên đại học Võ Trường Toản thực tập Thực vật dược. Nguồn ảnh: Đại học Võ Trường Toản.  Đồng thời, Chính phủ cần can thiệp để giảm thiểu các khuyết tật: bất công bằng trong giáo dục khi chỉ người khá giả, giàu mới đủ tiền cho con em đi học; thiếu thông tin về chất lượng của các trường để người đi học lựa chọn đúng ; các trường tập trung đào tạo theo nhu cầu của thị trường và xem nhẹ những ngành có lợi ích lâu dài cho xã hội.  Tự chủ và trách nhiệm của các trường  Các trường cần được toàn quyền quyết định các vấn đề như số lượng tuyển sinh, mức học phí, chương trình và chất lượng đào tạo, chủ động sử dụng nguồn kinh phí (từ nhà nước, từ học phí, từ hỗ trợ của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ) cho các khoản chi như lương và đầu tư khác như xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, v.v… theo như những gì các trường đại học tự chủ của các nước tiên tiến được giao quyền. Quy luật thị trường sẽ điều tiết các hoạt động này của nhà trường.  Tuy nhiên, để các trường không lạm dụng quyền tự chủ, cần có cơ chế giám sát nội bộ và từ bên ngoài (giám sát chứ không phải kiểm soát). Nhà nước nên xây dựng cơ chế cung cấp thông tin cho người dân và người học lựa chọn trường, và quy định trường đại học phải trích một phần nhất định từ nguồn thu học phí làm học bổng cho sinh nghèo và giỏi, giai đoạn đầu chính phủ có thể quy định mức bắt buộc sau đó điều chỉnh dần cho hợp lý (ở Hoa Kỳ tỷ lệ này thường là 20-24% từ tiền thu học phí).  Hỗ trợ của nhà nước  Hỗ trợ trực tiếp của nhà nước cho từng trường cần được tính một cách công khai, minh bạch và ổn định dựa trên các tham số sau: tổng số sinh viên, số đầu sinh viên trong từng ngành nhà nước cần nhưng thị trường có nhu cầu thấp (ví dụ ngành nông lâm ngư), vùng miền và các địa phương khó khăn. Tiền hỗ trợ của chính phủ hằng năm nếu không được sử dụng hết có thể được chuyển vào Quỹ hiến tặng, không phải trả lại ngân sách.  Hỗ trợ nhà nước thông qua học bổng và tín dụng sinh viên cần những chương trình tín dụng mới hiệu quả hơn thay thế cho chương trình tín dụng 157, trong đó: (i) Quy định nhiều định mức cho vay tương ứng với từng đối tượng sinh viên theo những mục đích học tập khác nhau của người học (đại học, cao đẳng, trung cấp, du học, trao đổi sinh viên, thực tập sinh ở nước ngoài,…) thay vì một định mức chung như hiện nay, có thể cho vay đủ để trang trải cả tiền học phí và sinh hoạt phí; (ii) Căn cứ định mức cho vay dựa trên đánh giá năng lực tài chính của sinh viên và kết quả học tập; (iii) Có thể áp dụng hình thức trả nợ theo mô hình tín dụng tùy theo thu nhập: chỉ bắt đầu trả nợ khi sinh viên tốt nghiệp đi làm có mức lương trên ngưỡng tối thiểu, mức trả nợ tỷ lệ với thu nhập hàng tháng; (iv) Có thể áp dụng quy định chỉ cho sinh viên học tại các chương trình đã được kiểm định đượcvay học phí nhằm khuyến khích các trường tham gia kiểm định chất lượng.  Bên cạnh đó cần tăng cường hỗ trợ thông qua tài trợ nghiên cứu khoa học (vấn đề này sẽ phân tích trong một bài viết riêng) và hỗ trợ nâng cao chất lượng giảng viên và nghiên cứu viên, thông qua các chương trình học bổng như các Đề án 322, 911, v.v…  Ngoài ra, nhà nước có thể hỗ trợ qua một số kênh khác cho các trường đại học như chính sách (a) ưu đãi thuế, quyền sử dụng đất, tạo điều kiện cho các trường liên doanh, liên kết với các đại học và tổ chức trong và ngoài nước; (b) nhà trường được xã hội hóa các dịch vụ công như giảng đường, KTX, công trình công cộng; (c) khuyến khích chính quyền các địa phương đầu tư thêm cho các đại học trong địa bàn của mình, (d) cấp học bổng, toàn phần hoặc từng phần, cho các ngành nhà nước có nhu cầu nhưng xã hội khong hoặc ít có nhu cầu như thủy sản, khuyến nông… để các trường có thêm nguồn lực đầu tư cho nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH).  Cần tuân thủ theo nguyên tắc là tổng số hỗ trợ của nhà nước cho giáo dục đại học cả nước (chứ không phải từng trường) không được giảm, đảm bảo bù trượt giá, và cần tăng lên trong điều kiện có thể bằng hoặc cao hơn mặt bằng quốc tế tính theo GDP đầu người hoặc phần trăm GDP chi cho đại học.  Tín dụng sinh viên  Đây là nội dung nhà nước cần xây dựng thành một chương trình, bao gồm:  (1) Xác định mức học phí phù hợp trong giai đoạn hiện nay;  (2) Thành lập Quỹ tín dụng sinh viên trên cơ sở xác đinh phương án vay, trả và đề xuất nguồn tín dụng;  (3) Phương án sử dụng nguồn thu tăng thêm phục vụ nâng cao hiệu quả giáo dục đại học: từng trường buộc phải xây dựng một đề án riêng, dựa trên các tiêu chí cơ bàn là tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp 6 tháng, 12 tháng, lương khởi điểm, tỷ lệ kinh phí NCKH, tỷ lệ nguồn thu học bổng trên tổng thu, số lượng các tiến bộ kĩ thuật, công nghệ mới, bài báo công bố trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI và Scopus, thu nhập của viên chức và người lao động, v.v…;  (4) Đề xuất chính sách liên quan đến trách nhiệm của chính phủ, tổ chức tài chính, và nhà tuyển dụng, trước hết là chinh sách thu nhập của người có trình độ đại học sau khi tốt nghiệp.  (5) Tổ chức tuyên truyền thực hiện chủ trương chính sách tài chinh mới trong giáo dục đại học, nhằm đạt được sự đồng thuận và ủng hộ cao của các doanh nghiệp và của xã hội.  Trong giai đoạn hiện nay, giải pháp tăng học phí kèm theo chính sách cho sinh viên vay vốn và chính sách trả nợ hợp lý sau khi ra trường, có việc làm, là một chính sách được xã hội đồng thuận và ủng hộ. Tăng học phí hợp lý là một điều kiện dẫn đến tăng chất lượng GD-ĐT, và về thực chất là vì quyền lợi của người học.  Mức tăng học phí không vượt quá khả năng chi trả của người nghèo. Ví dụ: Những năm 2000-2005, học phí cao gấp 120% đến 225% so với chuẩn nghèo nhưng chính sách học phí vẫn có sự đồng thuận cao của xã hội. Hiện nay, theo chuẩn nghèo Thủ tướng vừa ban hành năm 2016 thì mức học phí nên là 1,6 -2 triệu đồng/tháng, như vậy sẽ phù hợp với khả năng chi trả của người nghèo ở nông thôn, phần thiếu hụt sẽ được nhà nước hỗ trợ qua hệ thống Quỹ tín dụng sinh viên.  Các nguyên tắc đổi mới giáo dục đại học:  (a) Đổi mới cơ chế tài chính không nên hiểu là chỉ tăng học phí, mà là cách huy động các nguồn lực của nhà nước, của xã hội, và sự chia sẻ trách nhiệm của người học, của gia đình họ cho sự nghiệp nâng cao chất lượng giáo dục đại học. (b) Nếu coi GD-ĐT như một ngành ‘sản xuất’ đặc biệt với sản phẩm đặc biệt là nhân cách con người, bao gồm cả phẩm chất và năng lực, với chất lượng ngày càng cao thì việc tăng cường đầu tư vốn tài chính cho GDĐH là vô cùng quan trọng. Nếu coi GDĐH như một ‘dịch vụ công’, người học là người ‘mua’ dịch vụ ấy để phát triển nhân cách của chính mình, để có tri thức, để có một nghề, để mưu sinh, thì việc anh ta phải trả tiền là lẽ đương nhiên, đây cũng chỉ là sự đầu tư cho tương lai của chính bản thân họ. (c) Tự chủ không có nghĩa là Nhà nước giảm hỗ trợ cho giáo dục đại học. Ngược lại, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này, nhất là ưu tiên đầu tư về nghiên cứu khoa học, vì đây là đối tượng đầu tư quan trọng trong sự phát triển lâu dài của Việt Nam. (d) Tăng tự chủ đại học, trong đó có tự chủ tài chính, là một phương thức giúp nhà nước phân bổ ngân sách hỗ trợ cho đại học một cách hiệu quả hơn thay vì cào bằng, hay theo những chỉ tiêu thiếu sức thuyết phục. (e) Cơ chế thị trường cần được coi là động lực mạnh mẽ nhất để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, để huy động nguồn thu và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Dùng đòn bảy thị trường làm động lực có nghĩa là tăng tự chủ, tạo điều kiện cho các trường (công và tư) cạnh tranh về chất lượng giáo dục, mức học phí, và số lượng tuyển sinh, và qua đó, phục vụ xã hội tốt hơn. Cùng với các cơ chế khác, cơ chế thị trường sẽ điều tiết các hoạt động của trường đại học (tuyển sinh, giảng dạy, học phí, học bổng, nghiên cứu khoa học, dân chủ nội bộ, trách nhiệm giải trình, v.v…) hướng tới môi trường giáo dục và học thuật lành mạnh, hiệu quả.  (Đón đọc phần 3: Đề xuất mức học phí và gói tín dụng phù hợp)    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Giải pháp “đủ tốt” để tăng hiệu quả nền kinh tế      Họ “không có ai là đối thủ cạnh tranh ở Việt Nam” và bài toán của họ “ít người giải được”.    Startup này sau đó đã nhận được lời đề nghị từ 3/5 nhà đầu tư trong chương trình và họ lựa chọn anh Nguyễn Mạnh Dũng, Đại diện của quỹ CyberAgent tại Việt Nam và Thái Lan, được coi là vua Midas trong giới đầu tư mạo hiểm Đông Nam Á, với 200.000 USD (trong đó 100.000 USD là đầu tư lấy 10% cổ phần và còn lại là cho vay chuyển đổi).  Abivin thường giới thiệu về mình bằng một câu hỏi, hay chính xác hơn là vấn đề mà họ đang giải quyết: “Làm thế nào để sinh được một lộ trình tối ưu với 40 xe cho 1000 đơn hàng/địa điểm?”  Đó là một ví dụ về vấn đề họ đang giải quyết. Thực chất, tối ưu hóa lộ trình đường đi của phương tiện (vehicle routing problem) là bài toán kinh điển trong ngành toán và tin học được đặt ra cách đây nửa thế kỉ: Tìm một con đường ngắn nhất cho một số lượng nhất định xe giao hàng, xuất phát từ một hoặc nhiều điểm đến một loạt khách hàng/địa chỉ khác nhau cho trước trên bản đồ. Với bài toán của Abivin, để tìm được một con đường ngắn nhất tuyệt đối, tức là phải đánh giá tất cả mọi tổ hợp của 40 xe và 1000 đơn hàng, sẽ là một khối lượng tính toán khổng lồ, mất hàng tuần, hàng tháng có khi đến hàng năm với năng lực tính toán của máy tính hiện giờ (1).  Việc giải bài toán này sẽ còn khó khăn và phức tạp lên đến nhiều lần nếu như tính đến những điều kiện trong thực tế:thời gian đóng mở cửa hàng; điều kiện giao thông; tải trọng và thể tích của xe chở (nếu trong 40 xe đó có cả xe tải, cả xe máy?); loại hàng hóa (không phải hàng hóa nào cũng có thể chất đầy tải trọng của xe, ví dụ như bỉm, nhẹ nhưng diện tích rất lớn, có những hàng hóa cần được bảo quản lạnh, có những hàng hóa không cần); khấu hao của xe, thời gian nghỉ trưa; các ca làm việc của các xe khác nhau; phân bố giờ làm việc đều nhau giữa các lái xe (để họ không ganh tị nhau)…  Khó có thể nói, bài toán của Abivin “ít người giải được”. Vấn đề không phải là “giải được hay không” mà là kết quả đầu ra hiệu quả đến đâu. Trên thực tế, không một công ty nào trong lĩnh vực này có khả năng và tham vọng tìm ra một giải pháp hoàn hảo. Điều họ có thể làm chỉ là một giải pháp “đủ tốt” mà thôi. Nếu có gì đặc biệt ở Abivin, thì đó là có một thuật toán machine learning (máy học), “học hỏi” từ lịch sử giao hàng của công ty (như người lái xe nào quen thuộc khu vực nào nhất, khu vực nào hay tắc đường, vào thời gian nào…) để từ đó liên tục cung cấp một dữ liệu đầu vào tốt hơn cho thuật toán tối ưu lộ trình. Ngoài ra, thường xuyên, theo yêu cầu của khách hàng họ lại bổ sung thêm những điều kiện mới vào bài toán mà họ đang giải quyết. So với bài thuyết trình trên Shark Tank là 20 điều kiện, con số giờ đây đã lên đến gần 30. Chính vì vậy, họ tự tin rằng, những đối thủ đến giờ mới bước chân vào thị trường sẽ chậm chân hơn họ về độ khó của bài toán và chắc chắn luôn đi sau họ trong việc thu thập và học hỏi từ dữ liệu.  Hơn nữa, “đủ tốt” không chỉ là câu chuyện của thuật toán tìm ra con đường ngắn nhất có thể. Khi tìm định nghĩa từ “đủ tốt”, một cách dễ hiểu nhất, Phạm Nam Long cho rằng, đó là “hiệu quả hơn những gì khách hàng đã từng làm”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi giải pháp của họ không chỉ dừng lại ở việc giúp cho nhân sự logistics lập kế hoạch phân tuyến cho các xe giao hàng mà còn theo dõi xem các tài xế đang ở đâu, làm gì, đã giao hàng hay chưa, giúp cho các quản lý cấp cao có thể theo dõi hiệu suất làm việc của đội ngũ logistics thông qua bản báo cáo minh họa toàn bộ dữ liệu được ghi lại trên phần mềm.  Từ trước đến nay, các công ty đều mất hàng tiếng đồng hồ mỗi ngày để phân tuyến bằng tay. Kể cả công ty công nghệ hàng đầu như Viettel, trả lời phỏng vấn của báo KH&CN cũng chia sẻ rằng ở mỗi bưu cục có khoảng 5 bưu tá, mỗi bưu tá phụ trách 200 điểm nhận thư của Viettel Post cũng không dùng phần mềm định tuyến. Nhưng Abivin giảm thiểu thời gian khách hàng của họ xuống còn dưới 30 giây. Trước đây, nếu như những người đứng đầu các công ty nghi ngờ về hiệu suất làm việc của đội ngũ logistics thì giờ đây, họ hoàn toàn có thể kiểm chứng được điều đó. Trước đây, họ cần 40 xe để giao 1000 đơn hàng nhưng bây giờ, họ có thể chỉ cần 29 xe.    Anh Phạm Nam Long trong một hội thảo do Báo KH&PT/Ấn phẩm Tia Sáng tổ chức.  Trở thành người “không có đối thủ trên thị trường” đòi hỏi nhiều hơn một thuật toán tốt – điều nằm trong khả năng của một người từng tốt nghiệp Khoa học máy tính của Đại học Cambridge, từng là kỹ sư của Google như Phạm Nam Long – CEO và đồng sáng lập của Abivin. Nhưng điều quan trọng là anh đã có được một bài toán cụ thể, tìm ra hướng đi cho công ty mình giữa nhiều ứng dụng còn mơ hồ lúc đó của big data và machine learning ở Việt Nam.  Phạm Nam Long nhấn mạnh nhiều lần từ hiệu suất. Dưới góc nhìn của anh, bài toán của Abivin là bài toán hiệu suất từ của doanh nghiệp cho đến của cả nền kinh tế với hơn 4 triệu người tham gia vào khâu logistics ở Việt Nam. Chi phí logistics hiện nay trong nước đang chiếm 18% – 21% GDP (2), con số tương đương với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á – khu vực có hoạt động logistics lãng phí hàng đầu thế giới (3). Gần đây, trong buổi thuyết trình tại Startup Week, Hàn Quốc, anh Long bày tỏ tham vọng của mình, sẽ giảm con số này xuống dưới 10% trong vòng năm năm tới.  Bản thân Phạm Nam Long cũng coi hiệu suất như một tôn chỉ trong sống và làm việc. Lấy Google một trong hai công ty có số doanh thu trên mỗi nhân viên cao nhất thế giới làm “hình mẫu”: “Nếu luôn hiệu quả trong top của thị trường thì mới tồn tại, không thì ngay cả doanh thu lớn cũng có thể thất bại”. Trong công ty, anh Long cũng lập kế hoạch cho mỗi nhân viên của mình, tất cả giống như một chuỗi cung ứng trơn tru: ai làm gì, vào lúc nào, được làm bao lâu, lúc nào phải trả lời, làm được hay không làm được, báo cho ai… Anh cũng dùng nhiều phần mềm quản lý, theo dõi tiến độ của từng người.  Mô hình kinh doanh của Abivin dựa vào khách hàng doanh nghiệp (B2B). Doanh thu của họ đến từ phí người dùng hàng tháng (15 USD/người) và phí triển khai một lần (tích hợp vào phần mềm quản trị của doanh nghiệp, thậm chí có những tùy chỉnh về mặt thuật toán cho phù hợp với điều kiện của họ).  Nguyễn Mạnh Dũng, mặc dù phải cạnh tranh với hai nhà đầu tư khác trên show truyền hình Shark Tank để giành quyền đầu tư cho Abivin, lại không đặt nhiều niềm tin vào mô hình của startup này. “B2B nói chung là… chuối, khoai lắm, không dễ đâu” và bật cười khi startup này bày tỏ tham vọng muốn trở thành Unicorn đầu tiên của Đông Nam Á về B2B.  Trong danh sách khách hàng của Abivin, hầu hết đều là những cái tên lớn về hàng tiêu dùng nhanh ở Việt Nam như P&G, FrieslandCampina (sở hữu thương hiệu Cô Gái Hà Lan, Fristi), Habeco… và họ đã mở rộng sang Myanmar với Kospa – nhà phân phối cho Coca Cola và KFC. Nhưng với mỗi khách hàng, họ phải mất thời gian thương thảo từ 3 – 6 tháng, có khi tới một năm, họ không chỉ phải tích hợp, chỉnh sửa phần mềm mà còn thay đổi thuật toán với những điều kiện khác nhau, đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn nhân lực, đưa đến nhiều câu hỏi về khả năng và tốc độ mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Hơn nữa, Abivin chỉ có thể giúp tối ưu chi phí logistics từ phía quản trị doanh nghiệp, còn những yếu tố liên quan đến các chi phí liên quan đến thủ tục hải quan và BOT cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, chiếm 33% tổng chi phí logistics, lại nằm ngoài khả năng giải quyết của phần mềm (4).    Kospa, Myanmar sử dụng phần mềm của Abivin trong quản lý chuỗi cung ứng.  Nhưng Abivin có vẻ không bận tâm quá nhiều đến điều này. Trước mắt, họ sẽ thu phục 20 tập đoàn toàn cầu về logistics lớn nhất Việt Nam và sau đó mở rộng sang Đông Nam Á. Họ đặt mục tiêu sẽ trở thành Google về định tuyến đường đi. Trong 2019, bài toán của Abivin sẽ không dừng lại ở những công ty về lĩnh vực tiêu dùng nhanh mà còn mở ra cho dịch vụ (chẳng hạn như điều phối tối ưu một đội ngũ những người thợ sửa chữa đến các gia đình), cho xe chở khách…Lí tưởng nhất, là trong tương lai họ sẽ hình thành một giải pháp, bao trùm tất cả những điều kiện của các khách hàng, hướng đến một sản phẩm hoàn thiện mà họ không còn phải dành thời gian để tinh chỉnh. Nhưng, với Phạm Nam Long, cũng giống như Google, cần 15-20 năm để hoàn thiện thuật toán của mình, anh cũng cho rằng sản phẩm Abivin đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức nữa: “Đến lúc nào đó, bạn nghĩ ra điều kiện gì thì nó cũng đều có trong thuật toán của tôi hết rồi”.     Chú thích:  1. https://www.technologyreview.com/s/608640/inside-the-increasingly-complex-algorithms-that-get-packages-to-your-door/  2. https://www.worldbank.org/en/news/speech/2017/12/15/world-bank-country-director-remarks-at-vietnam-logistics-forum-2017, http://bdg-asia.com/vietnams-logistics-issues-future-plans/  3. https://www.logisticsmgmt.com/article/asean_logistics_building_collectively  4. http://documents.worldbank.org/curated/en/536421528929689515/pdf/127168-WP-TakingStockENG-PUBLIC.pdf  Nguồn  http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/giai-phap-du-tot-de-tang-hieu-qua-nen-kinh-te/20190122044359605p1c160.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp giảm histamine trong nước mắm      Ngoài mục đích giải quyết bài toán về tiêu chuẩn sản xuất, việc thực hiện những nghiên cứu như giải pháp giảm histamine trong nước mắm của TS. Trần Thị Thu Hằng và các cộng sự ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam được kỳ vọng giúp nước mắm truyền thống trở về đúng vị trí của mình trên thị trường hơn 90 triệu dân.    Bài toán histamine    Những tranh cãi về histamine trong nước mắm ở Việt Nam bắt đầu dấy lên kể từ khi dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm (TCVN-12607:2019) được công bố vào năm 2019. Mục đích của việc xây dựng tiêu chuẩn là tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và nâng cao chất lượng cho sản phẩm nước mắm. Tuy nhiên, quy định về việc kiểm soát hàm lượng histamine trong quá trình sản xuất dường như đang “khai trừ” nước mắm truyền thống – vốn được làm từ cá và muối lên men nên có hàm lượng histamine cao. Sau đó, dự thảo đã được tạm dừng song tiêu chuẩn về histamine vẫn là nỗi lo không nhỏ của những người sản xuất nước mắm.        Có lẽ, chỉ có những người trong ngành mới hiểu vấn đề histamine đã khiến cho nước mắm Việt Nam khốn đốn như thế nào. Cách đây hơn 20 năm, Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (Ủy ban Codex Alimentarius) đã ban hành quy định hàm lượng histamine trong nước mắm không được lớn hơn 40 mg/100g vào năm 2011. “Điều này dẫn đến câu chuyện rất bất lợi cho Việt Nam, kể từ khi có tiêu chuẩn Codex này, nước mắm của chúng ta bị hạn chế xuất khẩu rất nhiều do không đạt yêu cầu về chỉ tiêu histamine”, TS. Trần Thị Thu Hằng và các cộng sự ở Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp cho biết. Xuất phát từ thực tế trên, chị và các cộng sự đã quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh để giảm hàm lượng histamine trong nước mắm truyền thống” (thuộc Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đến năm 2020 do Bộ Công thương chủ trì, diễn ra từ 2018-2020) với mong muốn gỡ bớt một phần rào cản này.    Vậy histamine là gì? “Đây là một amin sinh học tham gia vào rất nhiều chức năng sinh lý trong cơ thể, chẳng hạn điều chỉnh nhiệt độ và trọng lượng cơ thể, kiểm soát giấc ngủ, giảm huyết áp,… Nếu tiêu thụ quá mức có thể gây ngộ độc, biểu hiện thông thường như mẩn ngứa, nôn mửa, đau bụng, nặng hơn có thể ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp”, TS. Trần Thị Thu Hằng nói. Trong thực phẩm, histamine phát sinh từ quá trình chuyển hóa của một loại axit amin là histidine với sự tham gia của enzyme decarboxylase do vi sinh vật sinh ra. Do vậy, thực phẩm nào có nhiều đạm (nhiều protein) và có quá trình lên men thì hàm lượng histamine trong đó sẽ cao.    Khi nghe những thông tin này, chắc hẳn nhiều người sẽ thấy lo ngại về độ an toàn của nước mắm truyền thống. Tuy nhiên, “hiện nay chưa có bằng chứng về ca ngộ độc histamine nào do ăn nước mắm”, TS. Trần Thị Thu Hằng cho biết. Hơn nữa, sự an toàn của nước mắm truyền thống đã được chứng minh qua bao thế hệ người dùng. Nước mắm vốn là một loại gia vị nên mỗi bữa thường dùng một lượng rất nhỏ, thậm chí có những trường hợp dung nạp lượng nước mắm rất nhiều như các ngư dân uống mắm khi ra khơi hoặc lặn xuống biển, giúp họ tăng nhịp tim và huyết áp, tránh tình trạng kiệt sức.    Dù vậy, ý kiến này sẽ không đủ sức thuyết phục nếu thiếu bằng chứng nghiên cứu khoa học bài bản. Kể cả khi có bằng chứng thì việc chờ đợi sửa đổi quy định về histamine trong nước mắm của tiêu chuẩn Codex cũng là một con đường rất dài. Do đó, nghiên cứu về phương pháp giảm histamine trong nước mắm mà TS. Trần Thị Thu Hằng và các cộng sự thực hiện có lẽ là một trong những “lối thoát” gần nhất của nước mắm truyền thống hiện nay, nhất là trước sức ép của các loại nước chấm pha chế (nước mắm công nghiệp) – vốn chứa rất ít nước mắm được làm từ cá và muối, nên có thể dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn về histamine.    Giải pháp từ các nhà khoa học    Thực ra histamine trong thực phẩm không phải là vấn đề mới trên thế giới. Do chứa nhiều protein có axit amin histidin cao và trải qua quá trình lên men, “các sản phẩm như pho mát, thịt lên men,… cũng gặp phải các vấn đề về histamine”, theo TS. Trần Thị Thu Hằng. Điểm khác với Việt Nam là các quốc gia trên thế giới đã đầu tư nhiều nghiên cứu để xác định ngưỡng an toàn và tìm cách giảm hàm lượng histamine trong các loại thực phẩm này. Chẳng hạn, “một số quốc gia châu Âu và Mỹ, Canada quy định hàm lượng histamine trong các sản phẩm thủy hải sản, phô mai, xúc xích,… ở mức 200 mg/kg”.    Trong quá trình tìm hiểu về giải pháp giảm histamine, nhóm nghiên cứu nhận thấy sử dụng vi sinh vật là một trong những hướng khả thi nhất. “Có nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như chiếu xạ (phương pháp vật lý) có tác dụng song có thể dẫn đến những biến đổi có hại không kiểm soát được,… Phương pháp hóa học sẽ sử dụng các chất bảo quản để hạn chế sinh ra enzyme chuyển hóa tạo thành histamine lại không tốt cho sức khỏe. Ngoài ra người ta có thể sử dụng tinh dầu hoặc một số hợp chất kháng khuẩn, nhưng giá thành đắt và có thể ảnh hưởng đến hương vị”, TS. Trần Thị Thu Hằng giải thích. Trong khi đó, “phương pháp sử dụng vi sinh vật sẵn có trong nước mắm sẽ đảm bảo an toàn và không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm”.    Với kinh nghiệm ứng dụng vi sinh vật trong công nghệ thực phẩm, việc tìm ra các chủng vi khuẩn phù hợp là điều “nằm trong tầm tay” của nhóm nghiên cứu. “Chúng tôi lấy mẫu ở các chượp mắm vào các thời điểm lên men khác nhau, từ rất nhiều nơi làm mắm nổi tiếng như Hải Hậu (Nam Định), Cát Hải (Hải Phòng), Ba Làng (Thanh Hóa), Diễn Châu (Nghệ An),… Sau đó chọn ra các chủng theo đích đến của mình: chịu được mặn cao (vì dùng cho nước mắm) và có khả năng phân giải histamine”, TS. Trần Thị Thu Hằng cho biết. Dù phân lập được một bộ sưu tập hơn 500 chủng vi khuẩn, song qua quy trình tuyển chọn, họ đã chọn ra hai chủng vi khuẩn Exiguobacterium profundum CH2.1 và Virgibacilus campisalis TT8.5 có khả năng chịu được nồng độ muối 25% và hiệu suất phân giải histamine đạt 43%.    Những công đoạn này đều gắn liền với quy trình làm mắm truyền thống, có thời gian ủ chượp kéo dài từ 12-18 tháng. Do vậy, để đảm bảo mọi thứ “chuẩn ngay từ ban đầu”, tránh phải làm đi làm lại tốn nhiều thời gian, họ đã thực hiện từng bước rất kĩ càng. Chẳng hạn, “để nắm rõ các yếu tố liên quan đến các chủng vi khuẩn trong quá trình làm mắm, chúng tôi đã hợp tác với TS. Bùi Thị Thu Hiền và các cộng sự ở Viện nghiên cứu Hải sản nhằm tìm hiểu về phân loại cá, quy trình làm nước mắm truyền thống,… Đây cũng là bên phụ trách phần triển khai với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chúng tôi còn phối hợp với Học viện Quân y để kiểm tra độc tính cấp của các chủng vi khuẩn đã phân lập”, chị cho biết.    Nhờ đó, ngoài việc chọn ra các chủng vi khuẩn phù hợp, nhóm nghiên cứu còn phát hiện thêm những thông tin thú vị về histamine trong nước mắm truyền thống. “Chúng tôi thấy nước mắm Việt Nam có dải histamine rất rộng, xuất phát từ đặc điểm nguyên liệu, gồm loại cá, độ tươi của cá, kỹ thuật bảo quản, xử lý cá sau khi đánh bắt và phương pháp sản xuất nước mắm theo từng vùng miền. Chẳng hạn nếu cá tươi, đánh bắt xong đem ủ chượp đủ muối luôn thì hàm lượng histamine sẽ thấp”, TS. Trần Thị Thu Hằng cho biết.    Với mục tiêu đưa ra giải pháp ứng dụng thực tế chứ không dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu của TS. Trần Thị Thu Hằng đã xây dựng quy trình công nghệ và mô hình thiết bị sản xuất chế phẩm vi sinh ưa mặn, có khả năng phân giải histamine ở quy mô 50l/mẻ. Chế phẩm vi sinh sẽ được bổ sung vào giải đoạn đầu của quá trình chượp mắm. Kết quả sản xuất thử nghiệm hơn 13 nghìn lít nước mắm ở công ty CP chế biến hải sản Nam Định cho thấy hàm lượng histamine trong nước mắm có sử dụng chế phẩm giảm xuống khoảng 30%, tiệm cận với tiêu chuẩn Codex. Nhờ tính mới và giá trị ứng dụng cao, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đăng ký bảo hộ giải pháp hữu ích cho quy trình sản xuất chế phẩm vi khuẩn phân giải histamine tại Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN).    Dù đạt được kết quả bước đầu khá tốt song nhóm nghiên cứu biết rằng, họ vẫn còn rất nhiều việc cần làm nếu muốn tiến tới thương mại hóa và mở rộng quy mô trong thực tế. Chẳng hạn, “để sản xuất chế phẩm ở quy mô lớn thì phải nghĩ đến nguồn nguyên liệu có giá thành hợp lý, hoặc để áp dụng ở nhiều nơi thì quy trình phải có tính ổn định, nhưng sản xuất nước mắm ở mỗi vùng có đặc điểm riêng, rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, mình chưa thể khẳng định 100% áp dụng được cho tất cả mọi nơi. Hiện nay, chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu cải tiến quy trình và tìm thêm những phương pháp mới để giảm histamine trong nước mắm”, TS. Trần Thị Thu Hằng cho biết.    Minh Đức    Author                .        
__label__tiasang Giải pháp lương thực cho các thành phố trong tương lai?      Một siêu thị ở Đức hưởng ứng trào lưu xây dựng nông trại trong đô thị với mô hình vườn thẳng đứng công nghệ cao.    Vườn Kräutergarten tại siêu thị Berlin Metro  Siêu thị Berlin Metro đang hợp tác với Infarm, một startup chuyên cung cấp các giải pháp làm nông nghiệp trong nhà, để thực hiện một dự án thí điểm trong chính siêu thị này. Tại một khu trưng bày sản phẩm, siêu thị này đã dựng lên một vườn thẳng đứng mang tên Kräutergarten (vườn thảo dược) với chiều dài 3,2m. Khu vườn này sử dụng các nguyên tắc thủy canh để trồng rau trong nước hòa dưỡng chất. Cây trồng được sắp xếp theo chiều dọc trong một môi trường được bảo vệ cẩn thận. Ứng dụng Infarm liên tục giám sát mọi mặt trong công nghệ nông trại và kiểm soát các yếu tố như nồng độ pH. Hai lần một tuần, nhân viên của Infarm lại tới thu hoạch các loại rau ở đây và bày bán trực tiếp tại siêu thị. Theo thông tin từ Infarm, kể từ khi khu vườn này được triển khai tại Berlin Metro, mỗi tháng siêu thị này bán được khoảng 400 gói rau từ vườn Kräutergarten. Họ hi vọng rằng chương trình thí điểm này sẽ trở thành mô hình kiểu mẫu cho các siêu thị khác ở châu Âu.  Mô hình trang trại thẳng đứng có thể giải quyết một số vấn đề khó khăn thường gặp trong mô hình trang trại truyền thống, chẳng hạn như nó chiếm ít diện tích hơn, sử dụng ít nước hơn, không cần thuốc trừ sâu, và đất canh tác cũng không bị thoái hóa do trồng một loại cây trong một thời gian. Tuy vậy, mô hình này hiện vẫn chưa được sử dụng phổ biến. Theo một nghiên cứu mới đây do Trung tâm Johns Hopkins thực hiện, một trong những nguyên nhân chính là khả năng tiếp cận hạn chế của công chúng đối với mô hình này cũng như chi phí vận hành cao.  Lãnh đạo Infarm cho hay họ đang tích cực giải quyết những hạn chế trên, và họ vẫn cho rằng nông trại đô thị sẽ là một nhân tố thay đổi đầy tiềm năng trong hoạt động sản xuất lương thực toàn cầu. Được thành lập từ năm 2013 với ba đồng sáng lập là Osnat Michael, Guy Galonska và  Erez Galonska, Infarm đang vạch ra những kế hoạch lớn lao. CEO công ty, Erez cho biết họ hi vọng rằng một ngày nào đó họ có thể mang những khu vườn thẳng đứng này đến từng văn phòng, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, và thậm chí là từng gia đình. “Chúng tôi mơ ước đến một tương lai trong đó các thành phố đều có thể tự cung tự cấp nguồn lương thực của mình. […] Một trong những câu hỏi nhức nhối nhất thời đại chúng ta ngày nay là làm thế nào để có thể có đủ thực phẩm để nuôi sống 9 tỉ người trong năm 2050. Chúng tôi thì cho rằng câu trả lời nằm ở chỗ biết đặt đúng câu hỏi: Làm thế nào để 9 tỉ người có thể tự nuôi sống chính mình? Sứ mệnh của chúng tôi là phát triển một công nghệ giúp giải quyết thách thức này”, Erez nói.  Đăng Quang tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp mới cho nông nghiệp đô thị      Farm66 – Công ty khởi nghiệp theo mô hình nông trại thẳng đứng chứng minh nông nghiệp – kết hợp với công nghệ – sẽ giúp người dân ở các thành phố, sa mạc và thậm chí cả… ngoài không gian, có thể tự cung tự cấp nguồn thực phẩm tươi sống.    Vào đầu tháng hai, người dân Hong Kong – trung tâm tài chính châu Á với dân số 7,4 triệu người – phải đối mặt với tình trạng thiếu thực phẩm tươi sống. Kệ rau của những siêu thị trong thành phố đều trống rỗng, điều này bắt nguồn từ việc Trung Quốc – nguồn cung thực phẩm chính của Hong Kong – đang đóng cửa biên giới nhằm kiểm soát sự lây lan dịch bệnh.        Hong Kong là một khu vực đông dân, nơi các tòa nhà chọc trời mọc lên dày đặc, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi chỉ có 0,6% diện tích đất nơi này là đất nông nghiệp. Hơn 90% thực phẩm của Hong Kong, đặc biệt là các sản phẩm tươi sống như rau quả, là hàng nhập khẩu – trong đó nhà cung cấp chính là Trung Quốc. Ông Gordon Tam, đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành của doanh nghiệp canh tác nông trại thẳng đứng Farm66 ở Hong Kong, mô hình canh tác nông nghiệp trong đó cây được trồng theo lớp xếp chồng lên nhau thay vì những cánh đồng trải dài theo chiều ngang, chia sẻ.    Do Hong Kong thiếu đất nông nghiệp nên ước tính chỉ có khoảng 1,5% lượng rau quả nơi đây được sản xuất tại địa phương. Nhưng ông tin rằng các trang trại thẳng đứng như Farm66, với sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại, gồm cảm biến IoT, đèn LED và robot, có thể thay đổi nền nông nghiệp địa phương — thậm chí có thể chuyển giao bí quyết của mình sang các khu vực khác. “Canh tác thẳng đứng là một giải pháp hữu hiệu vì nó giúp rau có thể được trồng giữa lòng Hong Kong”, ông Tâm nói. “Chúng ta có thể tự trồng rau để không phải phụ thuộc vào hàng nhập khẩu”.    Năm 2013, ông Tam đã cùng ông Billy Lam – người hiện tại là COO của công ty – thành lập nên Farm66. Lúc này, họ là những nhà tiên phong canh tác nông nghiệp theo chiều dọc công nghệ cao ở Hong Kong. Điểm khác biệt giữa họ với các startup nông nghiệp theo chiều dọc khác, đó là Farm66 sử dụng công nghệ bước sóng và ánh sáng LED tiết kiệm năng lượng trong trang trại. “Chúng tôi phát ra rằng các màu sắc khác nhau trên quang phổ ánh sáng giúp thực vật phát triển theo những cách khác nhau. Đây là bước đột phá công nghệ của chúng tôi”, ông Tam tiết lộ. Chẳng hạn, ánh sáng xanh có thể làm tăng kích thước lá. Ánh sáng đó khiến lá nhỏ hơn, nhưng thân cây sẽ cao hơn.    Đối với một số loại cây, như rau diếp, Farm66 định hướng trồng lá to hơn; trong khi đối với cà chua hoặc dâu tây, lá nhỏ hơn giúp dồn năng lượng và chất dinh dưỡng vào trái. Công ty đã thử nghiệm các điều kiện trồng trọt khác nhau để tạo ra nhiều loại kích thước cây trồng – thậm chí họ có thể trồng cây húng quế có lá lớn đến mức che được khuôn mặt của một người.    Farm66 còn sử dụng các cảm biến IoT để kiểm soát chất lượng và giúp quản lý trang trại trong nhà, đây là điểm giúp họ tuyển dụng và giữ chân công nhân. “Một vấn đề lớn đối với ngành nông nghiệp canh tác truyền thống là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao”, ông Tam giải thích. “Con cái của những người nông dân không muốn tiếp quản những trang trại. Họ cho rằng đó là một công việc quá đỗi tẻ nhạt”.    “Song bằng cách ứng dụng công nghệ, chúng tôi có thể cải thiện môi trường làm việc để những người trẻ sẵn sàng dấn thân làm nông nghiệp. Farm66 hiện có 15 nhân công toàn thời gian, bao gồm các nhà phân tích dữ liệu, nhà khoa học về thực phẩm, kỹ sư cơ khí, cùng tham gia sản xuất đến 7 tấn rau củ mỗi tháng”.    Hướng đi này của Farm66, đặc biệt là việc phân tích dữ liệu về cường độ ánh sáng, dòng nước và điều hòa không khí, đã gây ấn tượng cho ParticleX, một quỹ đầu tư mạo hiểm tập trung vào công nghệ ở Hong Kong, khiến họ quyết định đầu tư vào công ty. “Tôi đánh giá cao việc Gordon Tam và nhóm của ông đã chú trọng quá trình phân tích dữ liệu về phương thức canh tác”, ông Mingles Tsoi, giám đốc khảo sát thị trường của ParticleX lý giải. “Đó là lý do tại sao chúng tôi chọn doanh nghiệp này làm mục tiêu chính để đầu tư”.    Những nhà đầu tư khác của Farm66 gồm Quỹ Doanh nhân Alibaba, nhà phát triển bất động sản Sino Group của tỷ phú Singapore Robert Ng, Cyberport của Chính phủ Hong Kong, Khu Công viên Khoa học công nghệ Hong Kong. Cho đến nay, công ty đã huy động được khoản tiền tài trợ lên tới 4 triệu USD.    Đầu năm nay, Farm66 đã nhận được nguồn tài trợ từ Hengqin Financial Investment của Chính phủ Trung Quốc và được chấp thuận tham gia Quỹ Thiên thần HK Tech 300, một chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của Đại học Thành phố Hong Kong (nơi đồng sáng lập Lam nhận bằng cử nhân hóa học ứng dụng). Năm ngoái, công ty đã lọt vào danh sách Forbes Asia 100 to Watch đầu tiên, với tư cách là công ty khởi nghiệp đáng chú ý đang trên đà phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.    Bước vào trang trại của Farm66, bạn sẽ nhìn thấy rau quả được trồng trong hệ thống aquaponics – một hệ thống sản xuất thực phẩm bằng cách phối hợp giữa nuôi trồng thủy sản thông thường với thủy canh trong một môi trường cộng sinh.    Trong hệ thống aquaponics đã được cấp bằng sáng chế của mình, Farm66 lắp đặt bể cá bên dưới các kệ chứa đầy các loại rau và thảo mộc xanh tươi. Trong nuôi trồng thủy sản thông thường, chất bài tiết từ các loài động vật thải ra có thể tích lũy trong nước làm tăng độc tính của nước. Tuy nhiên, với hệ thống của Farm66, cây trồng sinh trưởng nhờ chất dinh dưỡng từ chất thải của cá thay vì phân bón thương mại Sau đó, thực vật lọc nguồn nước nuôi cá, tạo ra một hệ sinh thái trong nhà tự điều chỉnh.    Ngoài việc đóng gói sản phẩm để bán cho các siêu thị, khách sạn và các cửa hàng bán lẻ cao cấp, Farm66 gần đây cũng nhận được đơn hàng từ các gia đình, trường học và tổ chức tư nhân để giúp họ tự trồng thực phẩm trong nhà bếp và không gian nhỏ. “Chúng tôi cung cấp hệ thống từ trang trại đến bàn ăn cho các tổ chức để họ có thể tự trồng rau cho bản thân”, ông Tam, người có bằng thạc sĩ về phát triển đô thị bền vững từ Đại học Bách khoa Hong Kong, cho biết. “Chúng tôi muốn thúc đẩy nông nghiệp đô thị và các nguyên tắc ESG (một bộ tiêu chuẩn để đo lường các yếu tố liên quan đến phát triển bền vững và ảnh hưởng của doanh nghiệp đến cộng đồng) để cải thiện chất lượng cuộc sống”.    Farm66 đã làm việc với các ngân hàng địa phương hàng đầu. Ông Tam cho biết thêm, công ty đang có kế hoạch hợp tác với các nhà phát triển bất động sản như Tập đoàn Sino, Tập đoàn Chinachem và Tập đoàn Henderson của tỉ phú Lý Triệu Cơ để đưa hệ thống canh tác đô thị của mình vào các tòa nhà dân cư và thương mại, chẳng hạn như trang trại không sử dụng đất chạy bằng năng lượng mặt trời hoặc gió trên các mái nhà.    Dù đã thành lập gần 10 năm và gây dựng được lượng khách hàng lớn, nhưng ông Tam cho biết Farm66 hiện đang hoạt động chưa đến 30% công suất. Theo ông, chi phí thiết lập các trang trại thẳng đứng quá cao đã đẩy giá bán lên, trở thành một rào cản khiến họ khó thu về lợi nhuận. Do đó, công ty đang chuyển trọng tâm sang nghiên cứu và đổi mới, đồng thời đang tìm cách cải tiến để tối ưu hóa quá trình vận hành trang trại.    Công ty đã phát triển các robot nguyên mẫu giúp tự động hóa quy trình thu hoạch và trồng trọt. Thông qua việc hợp tác với các nhà máy ở Trung Quốc để sản xuất robot trên quy mô lớn, Tam tin rằng mình có thể cắt giảm chi phí trồng trọt trong tương lai.    “Rồi sẽ đến lúc mọi người nhận thức được việc nhập khẩu thực phẩm gây ra các vấn đề nghiêm trọng về môi trường, xã hội như thế nào – nó tiêu thụ nhiều năng lượng hơn và thải ra nhiều carbon hơn”, ông Tsoi, giám đốc và là thành viên sáng lập của Viện Phân tích tác động xã hội Hong Kong, cho biết. “Tiêu dùng sản phẩm địa phương là hành vi tiêu dùng bền vững”.    Ông Tam hiện có kế hoạch mở rộng Farm66 ra ngoài Hong Kong, bằng cách xuất khẩu các hệ thống canh tác đô thị và chuyển giao bí quyết sang các khu vực khác. Chẳng hạn, Farm66 đã tạo ra một trang trại di động từ một container vận chuyển cho các thành phố sa mạc ở Trung Đông.    Cũng giống như các tỷ phú Elon Musk và Jeff Bezos, ông đang ấp ủ tham vọng vươn ra ngoài vũ trụ. “Chúng tôi đang nghiên cứu những cách thức canh tác trong không gian”, ông Tam tiết lộ. “Hiện tại chúng tôi là doanh nghiệp đi đầu trong việc nghiên cứu về công nghệ tiên tiến ứng dụng vào nông nghiệp, chẳng hạn như trồng cây trong môi trường không trọng lực”.    “Chúng tôi có rất nhiều ý tưởng canh tác sáng tạo”, ông tự tin. “Chúng tôi hy vọng sẽ giúp mọi người nhận ra rằng nông nghiệp, kết hợp với công nghệ, sẽ tạo ra một tương lai đầy hứa hẹn”.    Trang Anh    Author                .        
__label__tiasang Giải pháp mới giải quyết rủi ro hệ thống      Những rủi ro mang tính hệ thống như biến đổi khí hậu, an ninh mạng và đại dịch mang đặc điểm là độ phức tạp cao, bất định, mơ hồ và những hệ quả của nó vượt quá hệ thống ban đầu mà nó được sinh ra. Đó là lý do giải thích tại sao cách tiếp cận và những đo đạc điều chỉnh của nghiên cứu mới lại không thể thiếu trong đánh giá và quản lý các rủi ro đó.      Việt Nam được đánh giá là một trong số các quốc gia kiểm soát tốt đại dịch Covid-19. Nguồn: TTXVN  Một nhóm nghiên cứu liên ngành vừa xuất bản một công trình về chủ đề này trong một ấn bản đặc biệt của tạp chí Risk Analysis do Ortwin Renn và Pia-Johanna Schweizer của Viện nghiên cứu sự bền vững tiên tiến biên tập.  Những tác động tiêu cực của rủi ro hệ thống thường vượt xa những khu vực, nơi có thể nhìn thấy một cách rõ ràng nhất thiệt hại xảy ra – khủng hoảng coronavirus là một trường hợp điển hình. Các tác giả của bài báo “Systemic Risks from Different Perspectives” (Những rủi ro hệ thống từ những góc nhìn khác biệt) đã phân tích những thách thức hiển hiện qua rủi ro hệ thống từ góc nhìn của những lĩnh vực khác nhau, trải rộng từ toán học đến khoa học các hệ phức hợp, kỹ thuật, sinh học, sinh thái học và khoa học xã hội. Họ nhấn mạnh vào những cái nhìn cụ thể của từng quan điểm khoa học và kết hợp chúng lại để tạo ra một cách hiểu mang tính liên ngành về rủi ro hệ thống và những đo lường quản lý rủi ro hiệu quả.  Các nhà nghiên cứu đã khuyến nghị các công cụ mô phỏng tích hợp và dữ liệu kinh nghiệm theo trật tự để tăng thêm việc tích hợp hiểu biết về rủi ro hệ thống mà có thể hữu ích cho tư vấn chính sách. “Các tương tác của con người và những yếu tố mang sức ép không thể lường trước cần được xem xét tại đây, cũng như những hệ quả kết lại khi rủi ro lan truyền từ hệ này sang hệ khác”, đồng tác giả Pia-Johanna Schweizer giải thích. Để đạt được cả tính hiệu quả và xã hội chấp nhận, việc quản lý rủi ro hệ thống đòi hỏi sự hợp tác liên ngành và xuyên lĩnh vực, một hệ thống kiểm tra sát sao và sự gắn kết nhà khoa học, nhà vận hành và các chủ thể. Trong nghiên cứu, các tác giả đưa ra một chuỗi phương pháp theo từng bước để xử lý các thách thức đó.  Họ cũng nhấn mạnh vào tầm quan trọng của công chúng và chủ thể tham gia trong hạn chế rủi ro. Trong các xã hội có tính dân chủ, việc quản lý rủi ro thành công nhiều hơn.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-solutions.html; https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/risa.13657    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp mới trong điều trị bệnh béo phì      Công ty dược phẩm Novo Nordisk, có trụ sở tại Bagsværd, Đan Mạch, đã giới thiệu một loại thuốc chống béo phì hứa hẹn cho trẻ vị thành niên. Kết quả của loại thuốc này rất đáng kinh ngạc: tiêm thuốc hằng tuần trong gần 16 tháng, cùng với một số thay đổi về lối sống, sẽ làm giảm cân nặng xuống ít nhất 20% ở hơn 1/3 số người tham gia.    Vài năm trở lại đây, nghiên cứu trong lĩnh vực y học béo phì diễn ra vô cùng sôi động. Sau vài thập niên tìm tòi, các nhà nghiên cứu cuối cùng cũng nhìn ra những dấu hiệu thành công: một thế hệ thuốc chống béo phì mới có thể giúp người dùng nhanh chóng giảm cân mà không có các tác dụng phụ nghiêm trọng như các loại thuốc trước đó.    Những loại thuốc này xuất hiện trong một kỷ nguyên mà số người béo phì tăng theo cấp số nhân. Tình trạng béo phì trên toàn thế giới đã tăng gấp ba lần kể từ năm 1975; trong năm 2016, khoảng 40% người trưởng thành quá cân và 13% bị béo phì, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Cân nặng tăng thường kéo theo nguy cơ mắc bệnh cao hơn, chẳng hạn như tiểu đường loại 2, bệnh tim và một số loại ung thư. WHO khuyến nghị người dân nên có chế độ ăn lành mạnh hơn và tập thể dục để giảm béo phì, nhưng không có nhiều loại thuốc trợ giúp người bệnh khi thay đổi lối sống. Loại thuốc mới này mô phỏng hormone incretins, giúp giảm đường huyết và hạn chế thèm ăn. Một số loại thuốc đã được phê duyệt để điều trị tiểu đường loại 2, và chúng bắt đầu được công nhận để dùng cho giảm cân.        Khả năng giảm cân nhờ điều chỉnh sinh học củng cố ý tưởng cho rằng béo phí là một loại bệnh. Trong quá khứ, các nhà khoa học và công chúng thường cho rằng những người béo phì đơn giản là thiếu ý chí để giảm cân. Nhưng ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy hầu hết cơ thể mọi người có một kích cỡ tự nhiên, khó mà thay đổi được. “Cơ thể sẽ bảo vệ cân nặng của nó”, nhà hóa học Richard DiMarchi tại Đại học Indiana Bloomington cho biết.    Một số nhà nghiên cứu lo ngại những loại thuốc này sẽ góp phần vào nỗi ám ảnh của xã hội về một thân hình thanh mảnh. Kích cỡ cơ thể không phải lúc nào cũng là một chỉ báo tốt cho sức khỏe.    Nhiều câu hỏi đã được đặt ra về nghiên cứu này, như ai sẽ đáp ứng tốt với thuốc và liệu có phải dùng thuốc này suốt đời hay không. Ngoài ra, việc điều trị đòi hỏi chi phí cao: mỗi tháng tiêm thuốc tốn tới khoảng 1.000 USD.    Tuy thế, các nhà nghiên cứu về béo phì đang ăn mừng bước phát triển này. Lần đầu tiên, các nhà khoa học có thể thay đổi cân nặng bằng dược phẩm an toàn, theo nhận định của bác sĩ – nhà khoa học Matthias Tschöp, giám đốc điều hành của Helmholtz Munich ở Đức.    Hạt giống cho thành công hôm nay đã được gieo từ vài thập niên trước, khi Jeffrey Friedman, nhà di truyền học tại Đại học Rockefeller, TP New York, cố gắng tìm ra đột biến gene nào đã khiến các con chuột trong phòng thí nghiệm của ông ăn tới mức béo phì. Năm 1994, Friedman khám phá ra đó là gene mã hóa leptin bị lỗi, một hormone do tế bào chất béo sản sinh ra và giảm cảm giác no. Bổ sung thêm leptin cho chuột thiếu loại hormone này sẽ giảm cảm giác đói cùng cân nặng của chúng.    Theo sau đó là sự bùng nổ các nghiên cứu về căn nguyên của béo phì, bên cạnh nghiên cứu về các dược phẩm điều trị. Nhưng những loại thuốc sơ khai chỉ giúp giảm số cân khiêm tốn và đi kèm với nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, nhất là đối với tim.    Thậm chí trước khi khám phá ra leptin, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm những hormone kiểm soát mức đường huyết, và tìm thấy một hormone có tên GLP-1. Dường như GLP-1 có tác dụng trái ngược với bệnh tiểu đường loại 2, nó tăng cường sản xuất insulin và giảm lượng đường trong máu. Chính vì thế, đây được xem là một phương pháp hấp dẫn để điều trị bệnh béo phì, theo Jens Juul Holst, nhà sinh lý học y tế tại Đại học Copenhagen, người khám phá ra GLP-1.    Trong những năm 2000, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) bắt đầu phê duyệt những loại thuốc mô phỏng GLP-1 làm phương pháp điều trị bệnh tiểu đường loại 2. Các nhà khoa học nhận thấy những người tham gia thử nghiệm lâm sàng cũng giảm cân, do tác động của GLP-1 lên các thụ thể trong não chi phối sự thèm ăn và những thụ thể trong ruột làm tiêu hóa chậm. Qua thời gian, các công ty bắt đầu thử nghiệm điều trị giảm cân bằng những loại thuốc trị tiểu đường này. Giữa những năm 2010, một loại thuốc như vậy – liraglutide – có thể giúp giảm trọng lượng cơ thể trung bình khoảng 8%, nhiều hơn 5% so với những người dùng giả dược.    Nhưng đến đầu năm 2021, các nhà khoa học kinh ngạc trước một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III nghiên cứu một loại thuốc mới cùng loại: semaglutide. Đây là phiên bản chỉnh sửa của liraglutide, nó đem lại tác động tương tự nhưng kéo dài hơn. Nó cũng có thể tiếp cận các vùng trong não chi phối sự thèm ăn tốt hơn.    Những người tiêm semaglutide hằng tuần giảm trung bình 14,9% trọng lượng cơ thể sau 16 tháng điều trị, trong khi những người dùng giả dược giảm trung bình 2,4%. Năm 2021, bốn năm sau khi phê duyệt loại thuốc này để điều trị tiểu đường, FDA đã chấp thuận cho dùng semaglutide ở người lớn béo phì giảm cân.    Giờ đây đã xuất hiện một loại thuốc còn hiệu quả hơn thế: tirzepatide do Eli Lilly (Indianapolis, Indiana) phát triển. Tirzepatide không chỉ nhắm vào các thụ thể GLP-1 mà nó còn mô phỏng các hormone khác tham gia tiết insulin gọi là GIP. Năm 2022, FDA cho phép dùng tirzepatide để trị tiểu đường loại 2. Khi dùng liều cao nhất, người dùng giảm được trung bình 21% trọng lượng cơ thể, so với 3% khi dùng giả dược.    Chưa rõ lý do vì sao mô phỏng cả hai loại hormone lại có kết quả tốt hơn so với khi chỉ sao chép một loại. Mức cân nặng giảm khi dùng tirzepatide thường chỉ đạt được nhờ phẫu thuật chữa béo phì. Phẫu thuật giúp người béo phì giảm được tới 30% cân nặng sau sáu tháng, và tiếp tục giảm trong một hay hai năm tiếp theo.    Trong lịch sử, dùng các phương pháp dược học để giảm hơn 10% trọng lượng cơ thể một cách an toàn là không khả thi, theo Timo Müller, nhà sinh vật học và giám đốc của Viện Bệnh tiểu đường và Béo phì Helmholtz Munich. Bên cạnh đó, những cách điều trị tân tiến còn tăng cường sức khỏe tim mạch, trái ngược với các loại thuốc trước đó.    Tuy tirzepatide có những kết quả đầy hứa hẹn, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thực sự hiểu được cơ chế của nó. Từ lâu, các nhà khoa học đã cho rằng GIP thực ra kích thích béo phì: chuột có các thụ thể GIP bị rối loạn có khả năng chống lại béo phì. Do đó, để giảm cân, các nhà nghiên cứu cho rằng phải tắt được các thụ thể này. Nhưng tirzepatide làm điều ngược lại.    Müller cùng các đồng nghiệp biết rằng GIP kích thích tiết insulin dựa vào lượng đường huyết, giống như GLP-1. Vì thế, họ phát triển các phân tử mô phỏng cả hai loại hormone này. Sau các nghiên cứu ban đầu chứng minh kích hoạt cả thụ thể GIP và GLP-1 làm giảm cân, các công ty dược phẩm tạo ra các phân tử riêng và đạt được các kết quả tương tự, do đó khẳng định được phương pháp này có hiệu quả.    Tuy nhiên, không phải tất giới chuyên môn đều thay đổi quan điểm về GIP, có ý kiến cho rằng nó không thực sự gây tác động. Do đó, Eli Lilly đang tiến hành các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu với những thuốc chỉ nhắm vào GIP.    Công ty dược phẩm sinh học Amgen, có trụ sở tại Thousand Oaks, California, đang theo đuổi một loại thuốc kích hoạt thụ thể GLP-1 trong khi ngăn chặn thụ thể GIP. Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng ban đầu cho thấy cách điều trị này giảm trọng lượng cơ thể tới 15% sau 12 tuần.    Các tiếp cận khác bao gồm ‘ba chất đồng vận’ mô phỏng GLP-1; GIP; và hormone thứ ba là glucagon, cũng kích thích tiết insulin. Các nhà nghiên cứu còn đang khám phá các hormone đường ruột khác liên quan tới sự thèm ăn, chẳng hạn như peptide YY. Và một số nhà khoa học đang tìm hiểu kháng thể đơn dòng bimagrumab, tăng khối lượng cơ và giảm chất béo.    Một câu hỏi lớn mà các nhà nghiên cứu còn bỏ ngỏ là liệu có cần dùng những loại thuốc này suốt đời để duy trì cân nặng hay không. Một nhóm nhỏ những người tham gia thử nghiệm lâm sàng ngừng sử dụng semaglutide và dừng các can thiệp về lối sống của nghiên cứu đã tăng khoảng 2/3 số cân giảm được sau một năm.    Một ẩn số khác là ai sẽ đáp ứng với những loại thuốc này – và ai không. Vẫn còn quá sớm để nói, song tác động của thuốc lên cân nặng ở người mắc tiểu đường loại 2 dường như kém hiệu quả hơn người không mắc. Các vấn đề như gan nhiễm mỡ và mỡ nội tạng cũng có thể ảnh hưởng tới mức độ đáp ứng với các loại thuốc khác nhau.    Một số nhà nghiên cứu cũng lo ngại rằng các giải pháp giảm cân sẽ càng làm cho xã hội đề cao thân hình gầy mảnh. Họ e ngại người dân sẽ dùng thuốc hoặc phẫu thuật để thoát khỏi sự kì thị cân nặng, thay vì phục vụ mục đích sức khỏe, bất chấp những tác dụng phụ nghiêm trọng như buồn nôn và nôn.    Một nghiên cứu phát hiện gần 30% số người được cho là béo phì có sự trao đổi chất khỏe mạnh. Lại có nghiên cứu cho thấy các vấn đề sức khỏe khác chỉ báo tốt hơn về nguy cơ tử vong so với cân nặng, như vậy cần xem xét các yếu tố khác ngoài cân nặng khi đánh giá tình trạng sức khỏe.    Nỗi lo nữa là thuốc giảm cân sẽ khiến mọi người nghĩ rằng đây là giải pháp cấp tốc – vốn là một quan niệm sai lầm về phẫu thuật giảm cân.    Thêm vào đó, việc tiếp cận loại thuốc này không hề dễ dàng cho tất cả những ai cần nó, dù thuốc đã có mặt trên thị trường. Giá -của chúng rất đắt đỏ – semaglutide của hãng Wegovy có giá khoảng 1.300 USD/tháng – và nhiều công ty bảo hiểm ở Mỹ từ chối trả chi phí, chủ yếu do hiểu sai nguyên nhân gây béo phì và coi cách điều trị này là “phù phiếm”.    Dù thế, một số nhà khoa học nhấn mạnh rằng giải quyết được nạn béo phì có thể giúp cho các hệ thống y tế tiết kiệm được khoản tiền khổng lồ nhờ giảm được rất nhiều tình trạng sức khỏe liên quan đến căn bệnh này.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Giải pháp tối ưu cho các ngã 3, ngã 4 đã bị bịt tại Hà Nội      &#160;&#160;&#160; Chúng ta vẫn ca ngợi phố Cổ Hà Nội với những giá trị văn hóa mà không hề biết rằng phố Cổ còn một giá trị khác để cho đời sau chiêm nghiệm – đó chính là sự đặc biệt thông thoáng trong giao thông mà hầu như không có ùn tắc giao thông xảy ra tại các khu này.          Những người thiết kế và xây dựng Hà Nội xưa đã tạo ra một không gian giao thông đa chiều đan xen với một hệ thống phân lập từ trong ra ngoài với các ngã 3, ngã 4 đặc biệt hợp lý.         Trong nhiều năm, tư tưởng ‘kẻ thẳng làm to’ với những dự án hoành tráng, bao cấp từ tư duy phân luồng của một số nước đã được áp dụng máy móc cho sự phát triển của Thủ đô. Thực chất, những nước phát triển chỉ  kẻ thẳng làm to khi họ đã xây dựng được một hệ thống rẽ nhánh – tức lối thoát (Exit) đủ để giải phóng tắc đường. Điều mà trong tư duy, chúng ta chưa tính đến, hoặc có nhưng chưa đủ độ thoát.       Nói đến lối thoát, thí dụ điển hình là suốt cả hai chiều của cầu Chương Dương, không hề có một lối “thoát” nào! Hệ quả là đã có những lúc, đến xe cứu thương cũng không biết đi thế nào trước tình cảnh cả 2 đầu trước sau đều không thể nhúc nhích. Rất tiếc, điều mà chúng ta không học lại tồn tại sờ sờ ngay trên cây cầu Long Biên- dù chỉ là một khoảng đủ rộng để có thể xoay sở khi cần.       Khái niệm Exit cũng không tồn tại trên các tuyến độc đạo ra vào nội đô-đây cũng chính là tình cảnh dở khóc dở cười của hàng cây số xe máy khi vào thành phố mỗi buổi sáng và ngược lại là buổi chiều dài dằng dặc giờ tan tầm để trở về ngoại đô.       Phải khẳng định rằng tình trạng không có lối thoát-tức không tồn tại Exit là một trong các nguyên nhân chính gây ùn tắc giao thông, nhất là trong bối cảnh giao thông xe máy như hiện nay…       Trên các phương tiện thông đại chúng, người Hà Nội đã có những phản ứng khác nhau về tình trạng một số ngã 3, ngã 4 bị bịt và thay vào đó là việc người tham gia giao thông phải đi xa hơn để tìm lối rẽ thích hợp cho mình.       Một cách vô tình hay hữu ý, cái “hồn” của giải pháp này chưa thấy các nhà quản lý hay sáng tạo ra giải pháp này giải thích rõ ràng trước công chúng. Thực chất, cốt lõi của giải pháp này là tạo thêm lối thoát – tức tạo Exit tại những nút giao thông tiềm ẩn nguy cơ ùn tắc.       Tiếc thay, người ta đã giải thích và hiểu theo nhiều cách khác nhau về việc bít một số ngã 3, ngã 4 như hiện nay tại Hà Nội để rồi chưa thể có một kết luận nào mang tính thực tiễn ngõ hầu từ “thử nghiệm” trở thành giải pháp đại trà một cách thuyết phục. Trên thực tế, giải pháp này “học” được tư tưởng kiến trúc giao thông của phố cổ Hà Nội là tạo ra nhiều “Exit=lối thoát” bằng cách mở lối thông giữa hai làn đường ngược chiều mà bấy lâu nay chỉ có thể exit bằng ngã 3, ngã 4. Và những lối Exit này được coi là đặc biệt phù hợp với tư duy của người tham gia giao thông bằng xe máy tại Hà Nội-thói quen bỏ qua sự hiện diện của hệ thống đèn đỏ đèn xanh.       Tuy nhiên, đáng lẽ cùng với  “mở thêm Exit” bằng việc tạo ra lối thoát giữa 2 làn ngược chiều, đồng nghĩa với việc mở thêm cơ hội cho xe máy thì chúng ta lại tạo thêm nguy cơ tiềm ẩn ách tắc cho ô tô bằng việc bít đi một lối thoát truyền thống nhất-đó là bít ngay cái ngã 3 hay ngã 4 mà ta vừa mở thêm lối thoát.       Có thể thấy rất rõ rằng, trừ các đường đặc biệt rộng như Liễu Giai hay Nguyễn Chí Thanh, còn hầu hết các lối Exit này luôn có nguy cơ gây ách tắc, thậm chí còn rất nguy hiểm cho các loại ô tô khi phải quay vòng như một xe máy. Báo chí đã chụp những cảnh “tắc tị chết người” tại các lối Exit này vào giờ cao điểm – đơn giản vì đã không có đèn xanh đèn đỏ, lại nguy hiểm hơn vì thường không có cảnh sát giao thông tại các lối thoát này (cảnh sát giao thông thường chỉ có mặt tại các nút giao thông có đèn đỏ).       Việc phân tích bằng mô hình đã chỉ ra một bất hợp lý rằng:  Trong khi việc mở thêm các lối Exit là có lợi cho giao thông xe máy, và ít nhiều đã có lợi trong con mắt của nhiều người thì tại sao chúng ta lại không tiếp tục sử dụng các ngã 3, ngã 4 theo truyền thống?       Kiến nghị của chúng tôi là: Ngã 3, ngã 4: Hoạt động bình thường theo đèn đỏ, đèn xanh và chỉ ô tô được rẽ trái (cấm xe máy rẽ trái) + Lối mở thêm (Exit) chỉ dành cho xe máy (cấm ô tô rẽ ở đây).       Chúng tôi đã có những buổi quan sát và thấy rằng giải pháp này giải quyết được tất cả các mâu thuẫn hiện nay tại các ngã 3, ngã 4 này. Đặc biệt nó giải quyết được bài toán cho người đi bộ qua đường tại những lối đi truyền thống dành cho họ.       Thực ra, giải pháp kết hợp này mang tính dung hòa và cũng chỉ mang tính thời gian nhất định. Nó tránh sự phung phí hàng nghìn tỷ đồng đã được đầu tư vào hệ thống đèn tín hiệu tại các ngã 3, ngã 4  đang bị bít mà nay đang nhấp nháy, không chỉ tốn điện mà còn tạo nên cảm giác chai lỳ trong đầu người tham gia giao thông. Ban đầu, người tham gia giao thông còn để ý đến đèn xanh đèn đỏ, song vì có những ngã 3, ngã 4 đã bị bịt mà đèn đỏ cứ sáng và không phục vụ cho việc điều tiết giao thông, nên thời gian đã vô hình trung tạo cho họ ít nhiều cảm giác mất phản xạ với những tín hiệu xanh, đỏ truyền thống mà lẽ ra họ phải tuân thủ theo qui định một cách rất tự nhiên.       Giải pháp này cũng duy trì được lối đi bộ dành cho người qua đường – điều mà những người sáng tạo ra giải pháp bịt ngã 3, ngã 4 không thể làm hài lòng công luận trên cả bình diện lý thuyết và đặc biệt không có lời giải trên thực tiễn khi người ta căng băng rôn: “nhường đường cho người đi bộ” trước các lối thoát vừa mở một cách khiên cưỡng!       Hơn thế nữa, giải pháp này cũng tránh được đại trà hóa việc bít các ngã 3 ngã 4 mà từ sự thí điểm tại Hà Nội, nay đã đang phổ biến tại Hải Phòng và sẽ thật tốn kém khi nhiều thành phố khác trên cả nước chắc chắn cũng đang “học tập Hà Nội”.  Rất mong các nhà quản lý giao thông lưu tâm, đặc biệt là nên mở lại ngay các ngã 3, ngã 4 đã bịt trước ngày lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long lịch sử mà mật độ giao thông được dự báo sẽ tăng cao gấp 10 lần so với bình thường.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp ứng phó với nước biển dâng tại ĐBSCL      Với tốc độ sụt lún đất ngày càng nhanh chóng – chủ yếu do khai thác nước ngầm, suy giảm trầm tích sông và mực nước biển dâng cao – như hiện nay, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu & Đại học Wageningen (WUR) cùng Đại học Utrecht dự đoán rằng, vào năm 2050, nếu không có gì thay đổi, phần lớn Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ chìm xuống dưới mực nước biển.     Chúng ta có thể làm gì để giữ ĐBSCL cao hơn mực nước biển?      Vào năm 2050, nếu không có gì thay đổi, phần lớn ĐBSCL sẽ chìm xuống dưới mực nước biển    Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã sử dụng những mô hình tính toán mới để xem xét vùng châu thổ ĐBSCL sẽ phát triển như thế nào trong 30 năm tới, bao gồm các dự đoán về sụt lún đất, mực nước biển dâng và tình trạng suy giảm trầm tích. “Chúng tôi thấy rằng vùng châu thổ có thể rất nhanh sẽ chìm xuống dưới mực nước biển”, Frances Dunn, nhà nghiên cứu tại Đại học Utrecht và là một trong hai tác giả của nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Communications Earth and Environment, cho biết.    “ĐBSCL vốn vẫn chìm xuống như một quá trình tự nhiên, nhưng trong những năm gần đây, tình trạng sụt lún đất đã gia tăng nhanh chóng hơn do khai thác nước ngầm không bền vững”, Philip Minderhoud, trợ lý giáo sư tại Đại học Wageningen và tác giả thứ hai của nghiên cứu, nhận định. “Sự kết hợp giữa sụt lún đất và mực nước biển dâng này được chúng tôi gọi là ‘mực nước biển dâng tương đối’ (relative sea-level rise), và đây là thứ mà người dân ở khu vực này đang trải qua.”    Dunn cho biết thêm, “Tỷ lệ mực nước biển dâng tương đối này sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến tương lai của người dân sống và có sinh kế phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên ở khu vực này.”    Xác định khu vực bồi đắp    Để góp phần giảm thiểu tác động của nước biển dâng, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp như tích tụ trầm tích tại một số vị trí nhất định trong khu vực nhằm bù lắng phần đất lún và nâng cao đồng bằng. Dữ liệu cho thấy, ngay cả trong những giả định lạc quan nhất thì lượng trầm tích dự kiến vẫn không đủ để bù đắp vào lượng sụt lún đất trên khắp các khu vực rộng lớn, “chỉ khi chiến lược bồi lắng tập trung vào một khu vực nhỏ thì mới tạo ra được khác biệt rõ rệt”.    “Chúng tôi đã xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu ta tập trung vào quá trình bồi lắng xung quanh thành phố Cần Thơ”, Dunn mô tả. Độ cao của khu vực tăng lên, nhưng “ngay cả thế, bạn vẫn chỉ có thể bảo vệ một bên của thành phố bằng phù sa, và phần còn lại của đồng bằng thì chìm nhiều hơn vì nó không nhận được bất kỳ lượng phù sa nào.”    Tuy nhiên, bồi lắng cục bộ vẫn không phải là giải pháp toàn diện cho ĐBSCL. “Đơn giản là số phù sa để bù đắp quá ít so với tốc độ chìm xuống của ĐBSCL”, Minderhoud chia sẻ. Dù vậy, các nhà nghiên cứu cho biết chúng ta có thể kết hợp chiến lược bồi lắng cục bộ với các biện pháp ngăn chặn sự sụt lún đất do con người gây ra như các chiến lược để giữ lại chất hữu cơ từ hoạt động canh tác trong nông nghiệp. Nhờ đó, Việt Nam có thể trì hoãn đáng kể mực nước biển dâng trong tương lai, giúp người dân trong vùng có đủ thời gian để tìm ra phương án thích ứng.    Minh Hải  tổng hợp    Author                .        
0.3333333333333333
__label__tiasang    Ý kiến của bạn?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải quyết nghèo kinh niên: một chìa khóa để phát triển bền vững      Tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm đáng kể trong giai đoạn 2010 – 2020 trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng mạnh, giáo dục đạt nhiều thành quả, và có sự dịch chuyển khỏi nông nghiệp, dù bất bình đẳng có tăng nhẹ trong nửa sau của giai đoạn mười năm vừa qua, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới.      Người di cư từ TP HCM trở về quê trong đại dịch COVID. Ảnh: Trương Thanh Tùng.  Đại dịch COVID-19 đã đẩy lùi tiến bộ đạt được trong giảm nghèo và bất bình đẳng được dự báo ​​sẽ tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, Việt Nam cần đảm bảo rằng có các đường hướng dịch chuyển kinh tế bền vững nhằm thực hiện khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao trong vòng trong hai thập kỷ tới.      Thông cáo về Báo cáo mới của Ngân hàng Thế với về Đói nghèo và Bình đẳng với tựa đề “Từ Chặng đường cuối đến Chặng đường kế tiếp” đưa ra đánh giá về tiến độ giảm nghèo của Việt Nam trong một thập kỷ tính đến năm 2020 và xem xét những yếu tố cần có để duy trì sự dịch chuyển kinh tế theo hướng lên trên và đảm bảo an ninh kinh tế của hàng triệu người đã thoát nghèo.      Từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ nghèo theo chuẩn của Ngân hàng Thế giới đối với các nước có thu nhập trung bình thấp là 3,20 đô-la Mỹ mỗi ngày đã giảm từ 16,8% xuống 5%, nghĩa là 10 triệu người đã thoát khỏi đói nghèo. Tuy nhiên, trong nửa sau của thập kỷ, tăng trưởng tiêu dùng của các hộ giàu đạt tốc độ nhanh hơn so với tăng trưởng tiêu dùng của các hộ nghèo, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Tốc độ giảm nghèo ở Tây Bắc và Tây Nguyên của Việt Nam cũng chậm hơn.    Gần đây hơn, COVID-19 đã làm gián đoạn quá trình tạo việc làm và tăng thu nhập, có khả năng đẩy lùi tiến bộ trong giảm nghèo và gia tăng bất bình đẳng hơn nữa do thu nhập của phụ nữ, những người làm việc trong khu vực phi chính thức và các hộ gia đình nghèo nhất phục hồi chậm nhất từ ​​giữa năm 2020 đến tháng 3 năm 2021.    Để Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, việc hình thành vốn con người mang tính công bằng và tăng năng suất lao động là chìa khóa quan trọng. Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 6,7% hàng năm, điều kiện cần để Việt Nam đạt được vị thế quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng năng suất trên mỗi lao động sẽ cần phải tăng từ 5,3% mức ghi nhận trong giai đoạn 2012-2018 – mức cao nhất trong ba thập kỷ qua – lên 6,6%.    Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức trong việc chuyển đổi sang việc làm với kỹ năng cao hơn nếu không tiếp tục cải cách giáo dục, phát triển kỹ năng và chuyển đổi thị trường lao động. Đặc điểm chính của thị trường lao động là các ngành nghề có kỹ năng cao lại có tốc độ tăng trưởng chậm, tỷ lệ phi chính thức cao và lực lượng lao động già hóa. Việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học sẽ là một bước quan trọng.    Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Việt Nam đã giúp nhiều người thoát khỏi đói nghèo, nhưng một bộ phận dân số đáng kể vẫn trong tình trạng dễ bị tổn thương về kinh tế. Cứ khoảng 5 người Việt Nam thì có một người sống dưới ngưỡng an ninh kinh tế là 5,50 đô-la Mỹ một ngày và 1/10 người dễ bị tổn thương có nguy cơ đôi lúc bị rơi xuống dưới ngưỡng do các cú sốc gây ra. Mức độ bao phủ trợ giúp xã hội của Việt Nam thấp hơn nhiều nước láng giềng Đông Á và Thái Bình Dương và cần được hiện đại hóa để mang lại sự bảo vệ tốt hơn.    Chính sách tài khóa đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy Việt Nam tiến tới vị thế thu nhập cao một cách toàn diện. Mở rộng nguồn thu ngân sách, nghiên cứu các sắc thuế mới đồng thời có thể hạn chế các hoạt động không mong muốn và tăng thu ngân sách, đồng thời loại bỏ các khoản trợ cấp kém hiệu quả, tất cả đều có thể giúp tài trợ cho các khoản đầu tư công cần thiết để xóa bỏ đói nghèo và phát triển tầng lớp trung lưu an toàn về kinh tế.      Thanh Nhàn    Author                phongvien        
__label__tiasang Giải thích bản chất cơ học của việc tiêm      Cảm giác về một cái kim tiêm xuyên qua làn da với nhiều người hết sức bình thường, đặc biệt là trong thời gian tiêm chủng ngừa COVID-19 gần đây làm tăng động lực tiêm. Nhưng chính xác thì cái gì diễn ra khi một cái kim xuyên qua da?       Câu trả lời đã được tiết lộ trong một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Journal of the Mechanics and Physics of Solids, “Piercing soft solids: A mechanical theory for needle insertion” 1.  Mattia Bacca, trợ lý giáo sư tại trường đại học British Columbia, thường nhìn vào thế giới tự nhiên để tìm câu trả lời khi anh phải đối mặt với một bài toán kỹ thuật – ví dụ như cách một con tắc kè có thể bám dính vào một bề mặt với miếng đệm trên các ngón chân của nó, hoặc một con kiến có thể cắt xuyên một cái lá to gấp nhiều lần kích thước cơ thể của chúng.  Việc truyền cảm hứng từ thế giới sinh vật như vậy giúp cho tiến sĩ Bacca cùng với nghiên cứu sinh Stefano Fregonese trả lời được câu hỏi là cơ chế của việc đâm xuyên lên các vật liệu mềm như da chẳng hạn, như thế nào.  “Việc cắt xuyên diễn ra thường xuyên và phổ biến trong cuộc sống thường nhật của chúng ta”, Bacca giải thích. “Khi chúng ta nhai nghiền thức ăn, chúng ta cắt nhỏ mô để tiêu hóa nó. Hầu hết mọi loài trong thế giới động vật đều tiến hóa với năng lực cắt mô để cung cấp chất dinh dưỡng và tự vệ, nhờ vậy đã có được những đặc điểm hình thái và thể chất đặc biệt, cho phép quá trình này hiệu quả”.   Họ đã tạo ra một lý thuyết về cơ chế để xác định lực tới hạn cần có cho việc ấn kim tiêm vào da – hiện tượng chủ yếu của đâm xuyên. Công trình của họ đem lại một mô hình bán phân tích đơn giản để miêu tả quá trình này, từ những đổi chiều đến phân tích phần tử hữu hạn.  Trong lĩnh vực kỹ thuật suốt nhiều thập kỷ, người ta đã quan tâm đến cơ học với việc cắt mô mềm, ban đầu với những tìm hiểu vào các đặc tính của cao su. Các cách tiếp cận trước đây là nhằm xác định lực cần thiết để xuyên một cái kim vào mô sau khi đâm vào nó, sử dụng các thực nghiệm vật lý vốn không đo đạc được hoàn toàn sự biến dạng và những cơ chế thất bại phức tạp trong việc phá vỡ bề mặt của một vật liệu mềm.  Trái lại, mô hình mới do Fregonese và Bacca tạo ra cuối cùng có thể dự đoán được lực đâm và đánh giá nó thông qua những thực nghiệm trước. Họ khám phá ra một điều là lực đâm xuyên của kim tỉ lệ thuận với độ dẻo của mô và tỉ lệ nghịch với bán kính của kim – nghĩa là độ mỏng của kim đòi hỏi ít lực hơn. Mặc dù cả hai quan sát này đều mang tính trực giác nhưng chúng cũng cung cấp dự đoán định lượng. Tuy nhiên, điều phản trực giác là vai trò của độ cứng vật liệu trong quá trình đâm xuyên. Độ cứng vật liệu tỉ lệ ngược với lực đâm xuyên, với các mô mềm đòi hỏi lực mạnh hơn (cùng độ mềm). Nhóm nghiên cứu ở UBC hiện đang thực hiện một số thí ngiệm thêm vào và tinh chỉnh mô hình để nhìn “sâu hơn” vào tính chất vật lý của vấn đề.    Cơ chế bám dính của các ngón chân tắc kè gợi ý cho các nhà nghiên cứu về nhiều ứng dụng trong cuộc sống   Đến giờ thì những kết quả của họ đều đến từ những giải pháp từ thế giới động vật. Đầu tiên, Fregonese tham gia Phòng thí nghiệm Cơ học Micro & Nano của tiến sĩ Bacca qua một dự án liên quan đến cơ học trong bám dính của động vật như tắc kè. Khám phá những khoảng trống trong lĩnh vực này và bài toán cắt, họ bắt đầu tìm hiểu những vấn đề cơ bản của việc cắt và mối liên hê với sự tiến hóa về hình thái của động vật, với nhóm nghiên cứu quốc tế nghiên cứu về kiến cắt lá cùng chuyên gia cơ chế sinh học động vật David Labonte (Imperial College), chuyên gia lý sinh về cơ bắp Natalie Holt (đại học California). Họ hợp tác với tiến sĩ Kevin Golovin và tiến sĩ kỹ thuật cơ học Gwynn Elfring ở UBC để nghiên cứu về tương tác giữa đường đạn và chất sệt.  Mô hình lý thuyết mới của họ có thể giúp cho các kỹ sư phát triển rất nhiều ứng dụng như các thiết bị bảo vệ, các quá trình tự động hóa bao gồm thực phẩm và kỹ thuật về robot phẫu thuật mới nổi.  Nó có thể tác động đến cách mọi người trải nghiệm việc tiêm trong tương lai, điều mà luôn nằm trong đầu mọi người khi tiêm chủng COVID-19. Ví dụ công nghệ tương lai có thể cung cấp các lựa chọn như miếng gắn vi kim dùng một lần và có thể tự dùng – giống như thứ mà tiến sĩ Boris Stoeber của UBC từng thiết kế – được làm để xuyên qua da với độ sâu thích hợp và lực dùng thích hợp.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-mechanics.html  https://www.sciencetimes.com/articles/32480/20210727/piercing-works-scientists-uncover-mechanics-behind-puncture-soft-solids.htm  ——  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0022509621001654       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Abel vinh danh sự kết hợp của toán học và khoa học máy tính      Công trình của László Lovász và Avi Wigderson, những người thắng giải Abel 2021, đã góp phần tạo ra những ứng dụng từ an ninh mạng đến khoa học mạng lưới.      László Lovász (trái) và Avi Wigderson cùng nhận giải Abel 2021. Nguồn: Hungarian Academy of Sciences/Laszlo Mudra/AbelPrize; Cliff Moore/Institute for Advanced Study, Princeton/AbelPrizea  Hai nhà tiên phong của lý thuyết tính toán đã thắng giải Abel 2021, một trong những giải thưởng danh giá nhất của toán học.  Nhà toán học Hungary László Lovász và nhà khoa học máy tính Avi Wigderson sẽ cùng chia sẻ giải thưởng trị giá 7,5 triệu kroner Nauy (tương đương 886.600 USD) “cho những đóng góp mang tính nền tảng của họ cho lý thuyết khoa học máy tính và toán rời rạc, cũng như vai trò dẫn đầu của họ trong việc đưa những lĩnh vực này trở thành trung tâm của toán học hiện đại”, Viện Hàn lâm Khoa học Nauy cho biết như vậy trong một thông báo vào ngày 17/3/2021.   Avi Wigderson, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu Tiên tiến (IAS) ở Princeton, New Jersey, nói với Nature rằng giải thưởng này đã tôn vinh lý thuyết tính toán chứ không chỉ cho mỗi phần nghiên cứu của ông. “Tôi nghĩ nó vô cùng có ý nghĩa với lĩnh vực khoa học này”, ông nói.  “Ngày nay ngày càng khó khăn trong việc phân biệt toán học thuần túy và toán học ứng dụng – và tôi nghĩ đó là một điều tốt”, Lovász, hiện làm việc tại trường đại học Eötvös Loránd ở Budapest, nói.  Các thuật toán – vốn bao gồm những phương pháp đơn giản mà trẻ em học ở trường, như phép chia số dài – từng là trung tâm của toán học ít nhất là từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Nhưng kể từ khi xuất hiện máy tính vào thế kỷ 20, tầm quan trọng trong nghiên cứu đã thay đổi từ câu hỏi “một thuật toán có thể giải quyết bài toán này không?” thành “ít nhất là về nguyên tắc, một thuật toán có thể giải quyết bài toán này trên một máy tính thông thường và trong một khoảng thời gian hợp lý không”?  Lovász và Wigderson đóng vai trò trung tâm trong những phát triển đó, Peter Sarnak, một nhà lý thuyết số tại IAS, nói. “Lý thuyết về tính phức hợp của các thuật toán và nghiên cứu về tốc độ giải các bài toán đã được phát triển trong những năm 1960 và 1970, và cả hai người họ đều chứng tỏ được rằng mình là những người đứng đầu”.  Từ toán học đến tính toán    Lovász sinh năm 1948 tại Budapest, lớn lên trong một môi trường mà những đứa trẻ tài năng được khuyến khích giải những bài toán khó. Paul Erdős, một trong những nhà toán học xuất sắc của kỷ nguyên hiện đại, đã truyền cảm hứng cho Lovász. Công việc nghiên cứu của Erdős tập trung vào toán học của các đối tượng rời rạc và sự liên hệ giữa chúng – ví dụ như các nút trong một mạng lưới – hơn là vào các biến liên tục vốn đặc trưng trong nhiều lĩnh vực như hình học, nhà toán học Péter Pál Pálfy tại Viện nghiên cứu toán học Alfréd Rényi ở Budapest nói.  Lovász bắt đầu sự nghiệp tại thời điểm khi các chủ đề trong toán rời rạc như lý thuyết mạng lưới – từng bị các nhà toán học “thuần túy” coi thường – trở nên quan trọng cả trong các lĩnh vực khác của toán học và ứng dụng như phân tích dữ liệu lớn. Ông quan tâm đến nghiên cứu cơ bản cũng như những ứng dụng của nó, và làm việc toàn thời gian cho Microsoft trong vòng bảy năm khi giữ các vị trí nghiên cứu học thuật. Ông đã giải quyết những bài toán lớn về lý thuyết toán học của mạng lưới như tính toán số các cách có thể để tô màu các điểm nút mà vẫn đảm bảo cho hai điểm cạnh nhau luôn luôn có màu sắc khác nhau.  Một trong những kết quả xuất sắc nhất của Lovász là một thuật toán mà ông tạo ra cùng với hai nhà lý thuyết số Hà Lan, hai anh em Arjen và Hendrik Lenstra. Thuật toán mang tên LLL này đã chia một vectơ lớn được tạo ra từ những số nguyên thành tổng của những vectơ ngắn nhất có thể của dạng này. Nó có nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của toán học thuần túy và trở thành cốt lõi với nghiên cứu về mã hóa dữ liệu. Các khóa mật mã được thiết lập trên cơ sở các vertor nguyên được xem là có nhiều hứa hẹn cho an ninh mạng tương lai bởi vì không giống như những khóa mật mã thường được sử dụng trong truyền thông hiện nay, nó được cho là không dễ bị phá bởi các máy tính lượng tử.   Lovász là chủ tịch Hội toán học quốc tế từ năm 2007 đến 2010. Ông cũng là chủ tịch Viện Hàn lâm KH Hungary từ năm 2014 đến 2020, và trong suốt những năm đó đã đi đầu trong một nỗ lực táo bạo nhưng cuối cùng thất bại – nỗ lực ngăn cản chính phủ Hungary tiếp quản các viện nghiên cứu của Viện hàn lâm. Ông và nhiều nhà khoa học khác cho rằng điều này có thể làm giảm tính độc lập của các nhà nghiên cứu.  Từ tính toán đến toán học    Wigderson sinh ra tại Haifa, Israel năm 1956. Ông nghiên cứu tại Israel và Mỹ và làm việc tại nhiều cơ sở nghiên cứu trước khi chuyển tới IAS vào năm 1999, nơi ông làm việc từ đó đến nay. Giải Abel mà ông nhận được ghi nhận đóng góp của ông cho nhiều lĩnh vực thực tiễn của khoa học máy tính, trong đó ông “tấn công” vào bất kỳ bài toán nào với các công cụ toán học bất kỳ mà ông tìm thấy, ngay cả công cụ từ các lĩnh vực xa xôi. Đam mê của Wigderson cho lĩnh vực nghiên cứu của mình rất dễ “lây nhiễm” cho người khác, Sarnak nói. “Khi ông ấy nói với anh, anh hoàn toàn cảm thấy là ‘Chúa ơi, tốt hơn là mình nên gac lại những gì mình đang làm và bắt đầu tìm hiểu về điều đó’”.  Một trong những thành công nổi tiếng bậc nhất của Wigderson là sự phân loại vai trò của ngẫu nhiên trong tính toán. Trong nhiều trường hợp, như tìm kiếm đường thoát khỏi một mê cung, thì việc tung một đồng xu ngẫu nhiên cũng có thể là một thuật toán giúp tìm ra đường nhanh chóng, mặc dù các lý do vì sao tìm được thì lại không rõ ràng. “Rất nhiều chương trình chạy nhanh hơn nếu như anh cho phép chúng thực hiện sự lựa chọn ngẫu nhiên đó”, Sarnak nói.  Cùng với những cộng sự trong những năm 1990, Wigderson chứng tỏ là nếu việc sử dụng một thuật toán ngẫu nhiên dường như đạt hiệu quả thì phải tồn tại một thuật toán phi ngẫu nhiên gần như hiệu quả. Điều này đem lại một sự cam đoan về mặt lý thuyết  rằng các thuật toán ngẫu nhiên thực sự tìm được các giải pháp đúng.   Một công trình lớn khác của Wigderson đang ngày một trở nên phù hợp với nền kinh tế thông tin. Nó bao hàm giao thức phi kiến thức, một cách cho phép người ta xác nhận được sự đúng đắn của một tuyên bố mà không cần tiết lộ bất kỳ thông tin nào về những gì tuyên bố đó nói ra.  Giao thức phi kiến thức là trung tâm trong những loại tiền số như Bitcoin, và có thể giúp xác định được danh tính của một cá nhân. Bằng việc trả lời những câu hỏi của người thẩm tra, người ta có thể đưa ra một giao thức phi kiến thức có mật khẩu chính xác, ví dụ như vậy, mà không cần tiết lộ chính mật khẩu đó. Wigderson và cộng sự đã chứng minh vào năm 1991 là tất cả những tuyên bố toán học về bản chất có thể được diễn dịch theo một cách cho phép một giao thức phi kiến thức – có thể là điều gây ngạc nhiên nhất, nghịch lý nhất” của những kết quả nghiên cứu, Wigderson nói.  Kể từ khi thành lập giải Abel vào năm 2003, Lovász là người Hungary thứ ba và Wigderson là người Israel thứ nhì thắng giải. Với ngoại lệ của Karen Keskylla Uhlenbeck vào năm 2019, mọi người thắng giải này đều là nam.  Thanh Phương tổng hợp  TS. Nguyễn Quang (ĐH Duy Tân) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-00694-9; https://www.abelprize.no/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Chất lượng Quốc gia 2016: Giải Vàng giảm      Số doanh nghiệp đạt giải Vàng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia 2016 chỉ còn 15, so với 20 của năm trước.    Đó là thông tin được đưa ra tại buổi họp báo sáng nay, 28/3, tại Trụ sở Bộ Khoa học và Công nghệ về Giải thưởng Chất lượng Quốc gia và Giải thưởng Chất lượng Quốc tế châu Á-Thái Bình Dương (GPEA) 2016  Bà Phạm Thu Giang, Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, thành viên hội đồng Giải thưởng, cho biết, các doanh nghiệp phải đạt 800/1.000 điểm cho 7 tiêu chí thì mới được nhận giải Vàng.  Bảy tiêu chí đó bao gồm: Vai trò của lãnh đạo (120 điểm); Hoạch định chiến lược (85 điểm); Định hướng vào khách hàng và thị trường (85 điểm); Đo lường, phân tích và quản lí tri thức (90 điểm); Quản lí, phát triển nguồn nhân lực (85 điểm); Quản lí quá trình hoạt động (85 điểm); Kết quả hoạt động (450 điểm).  Doanh nghiệp đạt từ 600 điểm trở lên sẽ nhận giải Bạc.  Kể từ năm 1996, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Việt Nam được trao hằng năm cho những doanh nghiệp có thành tích nổi bật trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội.  Giải thưởng do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) chủ trì, hướng đến các loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp dịch vụ có quy mô trên 300 lao động chính thức và quy mô đến 300 lao động chính thức.  Việc đánh giá doanh nghiệp được chia làm hai giai đoạn: Đánh giá trên hồ sơ và đánh giá tại doanh nghiệp.  Tính đến năm 2015, đã có 1690 lượt doanh nghiệp được trao giải Vàng và Bạc, trong đó 40 lượt doanh nghiệp (đạt Giải Vàng hai lần) được xem xét, lựa chọn tham dự Giải thưởng Chất lượng Quốc tế châu Á-Thái Bình Dương.  Theo ông Trần Văn Vinh, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Giải thưởng năm nay có điểm khác so với những năm trước là đội ngũ đánh giá được đào tạo bài bản; và sử dụng hình thức tự đánh giá thông qua các tiêu chí sẵn có (không cần viết báo cáo) để giảm thiểu thời gian chuẩn bị hồ sơ cho các doanh nghiệp tham gia.  Lễ trao giải sẽ diễn ra vào ngày 2/4/2017 tại Hà Nội.    Author                Nhàn Vũ        
__label__tiasang Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019: Nhiều điểm mới      Với những công bố xuất sắc trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 của danh sách tạp chí ISI có uy tín, PGS. TS Phạm Đức Chính (cơ học), PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (y sinh) và TS. Lê Trọng Lư (vật lý) đã trở thành ba nhà khoa học giành giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019. Với kết quả này, danh sách các lĩnh vực khoa học có công trình đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu đã được mở rộng thêm hai ngành mới là cơ học và y sinh, đồng thời ghi nhận lần đầu tiên có nhà khoa học nữ được vinh danh.       PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Bộ Y tế) là nhà nghiên cứu nữ đầu tiên đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu. Ảnh: Thanh Nhàn  Trong phiên họp đánh giá giải thưởng ngày 14/4/2019, GS. TS Ngô Việt Trung, Chủ tịch Hội đồng giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019, đã nhận định, “nếu so với những năm trước thì năm nay là một năm khó khăn cho việc bỏ phiếu lựa chọn, bởi các ứng viên đều có công trình rất tốt trên các tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực của mình”. Trong số 8 công trình lọt vào chung kết của các ngành Toán, Vật lý, Khoa học trái đất và môi trường, Cơ học, Khoa học sự sống – Y sinh dược học, ba công trình của PGS. TS Phạm Đức Chính, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng và TS. Lê Trọng Lư đã thuyết phục được Hội đồng giải thưởng bởi đảm bảo được các tiêu chí cơ bản theo quy định: các công trình nghiên cứu xuất sắc, được thực hiện ở Việt Nam và xuất bản trên các tạp chí quốc tế có uy tín; nhà khoa học được đề cử phải là người có đóng góp quan trọng nhất vào công trình đó; công trình được lựa chọn cần có ít nhất 2/3 số phiếu chấp thuận.  Nêu giả thiết mới về lý thuyết dẻo tái bền động học giới hạn  PGS. TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người trong mấy chục năm qua bền bỉ theo đuổi hướng nghiên cứu về thích nghi và hỏng dẻo kết cấu chịu lực, đã xuất bản công trình “Consistent limited kinematic hardening plasticity theory and path-independent shake-down theorems” trên International Journal of Mechanical Sciences, một tạp chí quốc tế có uy tín của nhà xuất bản Elservier về cơ học cấu trúc, cơ học và ứng dụng của vật liệu tiên tiến, cơ học dòng chảy, nhiệt động lực học vfa phân tích quá trình biến đổi của vật liệu.  Là một chuyên gia uy tín của thế giới về thích nghi và hỏng dẻo kết cấu chịu lực – được mời viết về lĩnh vực này cho “Bách khoa thư về mài mòn, ma sát và bôi trơn” (nhà xuất bản Springer 2013) và “Bách khoa thư về cơ học môi trường liên tục (nhà xuất bản Springer, đang chuẩn bị ra mắt), PGS. TS Phạm Đức Chính đã nêu được giả thiết “hysteresis dương” trong công trình “Shakedown theory for elastic plastic kinematic hardening bodies” trên tạp chí Int J Plasticity năm 2007 và thêm 2 giả thiết tái bền ổn định mạnh và Baushingger đa chiều trong “Consistent limited kinematic hardening plasticity theory and path-independent shake-down theorems”. Hai giả thiết này góp phần lý giải và xử lý được cội nguồn của một số mâu thuẫn xảy ra khi áp dụng tính toán thích nghi-hỏng dẻo cho vật thể đàn dẻo tái bền trong một số bài toán cụ thể.  Cùng với giả thiết hao tán dẻo tối đa gắn liền với các tên tuổi lớn của ngành Cơ học thế kỷ 20 như Hill, Drucker và Prager, các giả thiết mà PGS. TS Phạm Đức Chính nêu đã đem lại một lý thuyết thich nghi không phụ thuộc đường đặt tải theo tinh thần cổ điển. Đặc biệt, các định lý thích nghi dẫn tới các bài toán tối ưu quy hoạch phi tuyến đặc thù, mở ra cánh cửa cho phát triển các phương pháp số thích hợp để giải quyết các vấn đề ứng dụng ứng với các lớp kết cấu-vật liệu chịu lực cụ thể.  Phân tích sự tiến hóa của virus HPAI H5N1 trong mối tương tác người và động vật  Tập trung vào các hướng nghiên cứu về virus cúm mùa, các virus lây truyền từ động vật sang người và nổi trội (SARS-CoV, cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, virus MERS-CoV, Ebola…), Ricketssia, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Bộ Y tế) đã có nhiều công bố quốc tế. Công trình “Highly Pathogenic Avian Infuenza A(H5N1) Viruses at the Animal– Human Interface in Vietnam, 2003–2010” xuất bản trên The Journal of Infectious Diseases – một tạp chí có uy tín về nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm được xuất bản từ năm 1904 của Hiệp hội Bệnh truyền nhiễm Mỹ, được chị xuất bản năm 2017. Công trình tập trung vào tương tác của virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam giai đoạn 2003-2010: sự tiến hóa nhanh của virus, thống kê các đột biến trong tương tác người – động vật của virus, mối tương quan về không gian và thời gian giữa sự xuất hiện của virus trên gia cầm và người. Chị và đồng nghiệp tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (Bộ Y tế), Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương, Cục Thú y (Bộ NN&PTNT), Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (US-CDC) đã chọn lựa và phân lập virus từ mẫu bệnh phẩm của người và gia cầm tại Việt Nam, từ những trường hợp mắc bệnh đầu tiên (2003) đến trường hợp gần đây nhất (2010) để phân tích gia hệ, phân tích phân tử các virus…  Kết quả nghiên cứu cho thấy: virus HPAI H5N1 có sự phân tách thành 6 nhóm kháng nguyên tạo thành từ 8 kiểu gene; 34 amino axit trên protein của virus thay đổi sau khi virus từ gia cầm lây nhiễm sang người; mối tương quan về thời gian và không gian giữa sự xuất hiện của virut HPAI H5N1 ở gia cầm và sự lây truyền của nó sang người.   Trên cơ sở này, công trình của PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng đã cung cấp một danh sách các đột biến được xác định trong tương tác giữa người – động vật trong virus HPAI H5N1, có giá trị trong giám sát phân tử virus cho các nghiên cứu trong tương lai tại Việt Nam và trên thế giới. Số liệu này có thể giúp các nhà khoa học phát hiện và xác định các đột biến liên quan đến sự thích ứng của virus cúm HPAI H5N1 trên động vật có vú, đồng thời cung cấp các số liệu tham chiếu cho nghiên cứu về các virus cúm A khác đang lưu hành trên động vật, gia cầm.     Với việc nắm bắt kịp thời các xu hướng mới, chị đã hướng đến áp dụng “One Health” – một cách tiếp cận liên ngành mới do Tổ chức Y tế thế giới đề ra nhằm quy tụ các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực thực hiện các nghiên cứu từ quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường.    Tổng hợp các hạt nano từ ferit cobalt với kiểm soát kích thước, hình dạng và thành phần   Nghiên cứu về vật liệu nano, TS. Lê Trọng Lư (Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) xuất bản công trình ‘’Synthesis of magnetic cobalt ferrite nanoparticles with controlled morphology, monodispersity and composition: The influence of solvent, surfactant, reductive agent and synthetic condition” trên Nanoscale – tạp chí chuyên về nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết trong các lĩnh vực KH&CN nano của Hiệp hội Hóa học Hoàng gia Anh, hệ số IF 7,233.  Tổng hợp các hạt nano từ (MNPs) để hướng đến việc sản xuất vật liệu nano ống carbon (CNTs) là mục tiêu theo đuổi của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Một tiến sỹ ở Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nhận xét, chất lượng của vật liệu CNTs thể hiện ở các khía cạnh như từ tính, quang, xúc tác phụ thuộc rất nhiều vào kính thước, hình dạng, độ đồng đều của hạt nano từ. Đây là lý do giải thích vì sao, các nhà nghiên cứu mong muốn tìm được các phương pháp tổng hợp các hạt nano từ mới, trong đó có thể kiểm soát được các thông số của hạt.  Trong quá trình tìm hiểu các phương pháp tổng hợp tác hạt nano từ, TS. Lê Trọng Lư nhận thấy hầu hết phương pháp hiện hành đều dựa trên quá trình tổng hợp rất nhiều bước để đạt mục tiêu này, ở một số trường hợp, sự tham gia của các tác nhân trong phản ứng để tạo thành hạt nano từ như dung môi, chất hoạt động bề mặt, chất khử cũng như các điều kiện khác còn chưa rõ ràng.  Do đó, anh đã nghiên cứu và thiết kế một quy trình tổng hợp tương đối đơn giản các hạt nano từ ferit với kích thước, hình dạng, độ đồng đều và thành phần hoá học có thể được điều khiển một cách linh hoạt, đồng thời làm rõ vai trò quyết định của các chất hoạt động bề mặt, dung môi, chất khử trong quá trình này đối với việc kiểm soát kích thước, hình dạng và độ đơn sắc của các hạt nano từ. Anh cũng phát hiện ra một số chất xúc tác như OCD-ol, 1-octadecene có giá thành thấp nhưng có hiệu quả cao có thể thay thế được một số chất vẫn được dùng rộng rãi trong tổng hợp nano từ.  Việc tìm ra phương pháp tổng hợp này có ý nghĩa lớn trong việc chế tạo các hạt nano từ có nhiều ứng dụng trong thực tế, đặc biệt trong y sinh.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022: Trên đường trở thành sự kiện của năm      Sau một năm trống vắng giải thưởng, không còn nghi ngờ gì nữa, giải thưởng Tạ Quang Bửu sẽ là một trong những sự kiện khoa học nổi bật nhất năm 2022 của khoa học Việt Nam, bất kể ai là người được trao giải.     Như thường lệ, Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022 là nơi quy tụ những công trình nghiên cứu có giá trị của các nhà khoa học Việt Nam, được công bố trong vòng năm năm trước thời điểm xét giải. Theo quy chế của giải thưởng, các công trình này lần lượt trải qua các vòng đánh giá và xét chọn ở Hội đồng khoa học chuyên ngành Quỹ NAFOSTED, rồi qua vòng cuối cùng là Hội đồng Giải thưởng. Do đó, những thông tin mới nhất từ cuộc họp xét chọn giải thưởng của Hội đồng giải thưởng, diễn ra vào ngày 23/4 đã thu hút sự chú ý của cộng đồng khoa học Việt Nam, dẫu cả năm công trình lọt vào vòng xét giải thưởng đã được công bố rộng rãi từ cách đây vài tháng – ba công trình cho hạng mục chính của GS. TS Ngô Việt Trung (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu (Trường ĐH Bách khoa TPHCM, ĐHQG TPHCM), PGS. TS Phạm Quang Thái (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Bộ Y tế) và hai công trình hạng mục trẻ của TS. Đoàn Lê Hoàng Tân (Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Cấu trúc Nano và Phân tử – ĐHQG TPHCM), TS. Trần Tiến Anh (ĐH Hàng hải Việt Nam).    Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022 dưới sự chủ trì của chủ tịch hội đồng, giáo sư Nguyễn Hải Nam (ĐH Dược HN) đã tiến hành xét chọn năm hồ sơ lọt vào chung kết  Thậm chí, danh sách 10 nhà khoa học trong Hội đồng giải thưởng 2022 cũng được quan tâm đặc biệt bởi kết quả xét chọn cuối cùng có xứng được coi là “chọn mặt gửi vàng” và được cộng đồng khoa học “tâm phục, khẩu phục” hay không cũng phụ thuộc rất lớn vào Hội đồng. Mặt khác, vì giáo sư Ngô Việt Trung – Chủ tịch Hội đồng giải thưởng nhiều kỳ trước, lại là ứng viên của giải thưởng chính năm nay, nên việc ai sẽ đảm trách vai trò của ông trong Hội đồng giải thưởng cũng là điều mọi người tò mò. Rút cục, đội hình 10 nhà khoa học, trong đó có giáo sư Pierre Darriulat (Trung tâm Vũ trụ Việt Nam), giáo sư Nguyễn Sơn Bình (ĐH NorthWestern), do giáo sư Nguyễn Hải Nam (ĐH Dược HN) làm chủ tịch Hội đồng, đã khiến mọi người có thể yên tâm về một kết quả công tâm và minh bạch.  Ai xứng đáng được trao giải?  Có một câu hỏi tò mò được đặt ra, không chỉ từ cộng đồng khoa học mà còn cả những người quan tâm đến khoa học, là ứng viên nào sẽ xứng đáng được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022? Thật khó có thể tưởng tượng là có thể đưa ngay ra một kết luận ở cả hai hạng mục chính và trẻ bởi cả năm nhà khoa học và năm công trình lọt vào vòng xét giải đều thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau. Việc đặt các ứng viên này lên một bàn cân và so sánh họ để chọn ra những người xuất sắc nhất quả thật không dễ dàng, ngay cả với các thành viên Hội đồng Giải thưởng có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và đánh giá. Đó là lý do vì sao, họ đã phải mất gần năm tiếng đồng hồ để cân nhắc, thảo luận và bỏ phiếu để chắc chắn sự lựa chọn của mình, dù rằng trước đó, các hồ sơ đề cử này đã được gửi tới các phản biện quốc tế trong cùng lĩnh vực để đón nhận các đánh giá bên ngoài.  Theo TS. Phạm Đình Nguyên, phó giám đốc phụ trách Quỹ NAFOSTED, cũng như các giải thưởng trước, các công trình này đều được gửi đi lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia quốc tế trước khi bước vào vòng xét giải. “Chúng tôi đã gửi hồ sơ tới ít nhất hai phản biện ngoài hội đồng, một của chuyên gia trong nước và một chuyên gia quốc tế để có được những ý kiến nhận xét khách quan từ bên ngoài”. Có lẽ, chính sự cẩn trọng như vậy đã góp phần đem lại những gợi ý quan trọng cho Hội đồng Giải thưởng trước giờ bỏ phiếu. “Đây là giải thưởng vinh danh các nhà khoa học Việt Nam là tác giả chính của các công trình xuất bản trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành nên việc có những ý kiến, nhận xét của các nhà khoa học quốc tế sẽ đem lại những cái nhìn bao quát lên các công trình được đề nghị xét giải. Với chúng tôi, ý kiến của họ rất có giá trị đối với việc lựa chọn cuối cùng”, giáo sư Nguyễn Hải Nam cho biết.  Bên cạnh việc có được những nhận xét hết sức xác đáng của các chuyên gia quốc tế, một chi tiết khác khiến quyết định của Hội đồng giải thưởng trở nên tin cậy hơn là mời được giáo sư Nguyễn Sơn Bình, một nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài từng nhiều lần có tên trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới, vào hội đồng. Nhìn nhận sự có mặt lần đầu tiên của ông trong hội đồng, giáo sư Nguyễn Hải Nam nói “Qua các buổi làm việc và qua trao đổi email, tôi thấy ý kiến đánh giá của giáo sư Nguyễn Sơn Bình hết sức sắc sảo và công tâm, đúng chuẩn mực quốc tế. Thực ra các chuyên gia trong nước cũng có đánh giá công tâm như vậy thôi nhưng khi chúng ta có thêm tiếng nói từ các nhà khoa học quốc tế thì chúng ta càng có thêm điều kiện tăng chất lượng cho giải thưởng lần này”.  Vậy trên cơ sở đánh giá công bằng đó, ai xứng đáng được trao giải thưởng? Khi chưa có một kết quả chính thức thì dường như mọi chuyện chỉ là phỏng đoán, nhất là khi chất lượng hồ sơ được đánh giá là khá đồng đều. “Về chất lượng hồ sơ đề cử, sau khi phân tích và bỏ phiếu, có thể chia các hồ sơ này vào hai nhóm, nhóm được đề xuất trao giải thưởng và nhóm còn lại. Tất nhiên, việc phân loại đó không hẳn nói lên được chất lượng vì các hồ sơ đã vào được vòng này nói chung là có chất lượng tốt”, giáo sư Hồ Tú Bảo cho biết.    Giáo sư Ngô Việt Trung đã bền bỉ 40 năm qua nghiên cứu đại số giao hoán và hình học đại số.  Khi nhìn nhận các hồ sơ ứng cử cho giải thưởng chính, giáo sư Hồ Tú Bảo nhấn mạnh đến “một công trình đặc biệt xuất sắc của giáo sư Ngô Việt Trung ở lĩnh vực đại số giao hoán. Giáo sư đã giải quyết được một vấn đề hết sức quan trọng của lĩnh vực đại số giao hoán, có hai giả thuyết tồn tại đã lâu và có ý nghĩa quan trọng thì anh Trung đã giải quyết cùng với một cộng sự. Để giải được bài toán khó đã tồn tại nhiều năm, ông đã sử dụng kỹ thuật của đại số giao hoán, hình học đại số và cả lý thuyết tổ hợp với cách nối thêm vào lĩnh vực mà mình đã theo đuổi nhiều năm”.  Không phải ngẫu nhiên mà giáo sư Ngô Việt Trung thực hiện được nghiên cứu này bởi theo đánh giá của giáo sư Hồ Tú Bảo “Kết quả này dựa trên một quá trình nghiên cứu bền bỉ và lâu dài của giáo sư Ngô Việt Trung, một người làm nghiên cứu về đại số giao hoán trong hơn 40 năm, đủ năng lực kết hợp kỹ thuật đã quen thuộc với những kỹ thuật mới để giải quyết một vấn đề quan trọng và đăng trên một tạp chí hàng đầu ngành toán”.  Không chỉ có chuyên gia trong nước mà chuyên gia nước ngoài cũng đánh giá cao công trình này. “Có ý kiến phản biện cho rằng, đây là công trình toán học xuất sắc được làm ở trong nước nhiều năm qua khi giải quyết được vấn đề lớn trong toán học”, giáo sư Hồ Tú Bảo lưu ý.  Bên cạnh ý nghĩa khoa học, việc đánh giá các chỉ số định lượng như chất lượng tạp chí cũng cho thấy sự xuất sắc của công trình này. “Kết quả được đăng trên tạp chí xếp thứ ba trong tạp chí chuyên ngành toán học. Đây là công trình được giới toán học nhìn nhận, đánh giá rất cao trong hai năm vừa rồi vì bài của giáo sư Ngô Việt Trung và cộng sự là bài đầu tiên ở Việt Nam và được đăng trên tạp chí đó”.  Không chờ đến công trình này thì sự bền bỉ ấy đã đem đến cho giáo sư Ngô Việt Trung nhiều sự tưởng thưởng và ghi nhận, mặc dù điều đó không phải là cái đích của người yêu toán: năm 2018, ông cùng hai cộng sự là giáo sư Nguyễn Tự Cường và giáo sư Lê Tuấn Hoa được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN với công trình “Các bất biến và cấu trúc của vành địa phương và vành phân bậc”. Có lẽ, ý nghĩa của giải thưởng Tạ Quang Bửu hay những giải thưởng dành cho khoa học khác nằm ở chỗ, nói như giáo sư Pierre Darriulat, “Chi phí cho giải thưởng thường nhỏ so với lợi ích mà nó mang lại và, tạo nên một giải thưởng có ý nghĩa đồng nghĩa với việc chúng ta đã sử dụng tốt nguồn tài nguyên, hơn là dành tiền mua những thiết bị đắt tiền mà gần như không được sử dụng. Chúng ta cần đầu tư vào bộ não chứ không phải thiết bị”.  Thanh Nhàn          Các công trình được đề cử giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022  Ba đề cử giải thưởng chính  1. GS.TSKH Ngô Việt Trung (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) với công trình “Depth functions of symbolic powers of homogeneous ideals” xuất bản trên tạp chí Inventiones Mathematicae.  Công trình này nghiên cứu một bất biến rất cơ bản đối với một đối tượng rất quan trọng nhưng lại khó nghiên cứu trong đại số giao hoán và hình học đại số.  2. PGS.TS Nguyễn Thị Lệ Thu (ĐH Bách khoa, ĐHQG TPHCM) với công trình “Tailoring the Hard−Soft Interface with Dynamic Diels−Alder Linkages in Polyurethanes: Toward Superior Mechanical Properties and Healability at Mild Temperature” xuất bản trên tạp chí Chemistry of Materials năm 2019.  Công trình nghiên cứu chế tạo một hệ vật liệu polyuretan mới, với cấu trúc chứa liên kết thuận nghịch Diels-Alder không nằm ngẫu nhiên mà được thiết kế đặc biệt sắp xếp tại bề mặt phân cách giữa pha cứng và pha mềm của polyuretan. Đối với các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới, vật liệu polyuretan trên cơ sở liên kết thuận nghịch Diels-Alder đều có cơ tính thấp hoặc chỉ có thể “tự lành” ở nhiệt độ cao (110-180 oC). Hệ vật liệu nghiên cứu trong công trình này là vật liệu polyuretan trên cơ sở liên kết Diels-Alder được công bố đầu tiên trên thế giới cho thấy có tính năng “tự lành” tốt ở nhiệt độ dịu nhẹ (60-70 oC) mà vẫn đảm bảo có cơ tính cao, nhờ vào sự sắp xếp của liên kết thuận nghịch tại vị trí bề mặt phân pha. Việc nghiên cứu ra các hệ vật liệu tự lành mới và nghiên cứu cải tiến tính chất của chúng đem lại tiềm năng to lớn cho khả năng ứng dụng và hiệu quả kinh tế nói chung. Vật liệu có thể “tự lành” khi xuất hiện vết rạn tế vi giúp cho sản phẩm có tuổi thọ sử dụng cao, nhờ đó giảm thiểu chi phí sửa chữa, đem lại hiệu quả ứng dụng của sản phẩm và hiệu quả kinh tế, giúp tiết kiệm năng lượng, tài nguyên và chất thải.  Công trình đã được trích dẫn 40 lần (bởi hầu hết là các bài báo đăng trên tạp chí Q1 và sách chuyên ngành của nhà xuất bản Springer và Elsevier). Đặc biệt, công trình của nhóm nghiên cứu được thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam, với toàn bộ tác giả là người Việt Nam.  3. PGS. TS. Phạm Quang Thái (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương) “The First 100 Days of Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 (SARS-CoV-2) Control in Vietnam” trên tạp chí Clinical Infectious Diseases năm 2021.  Công trình khái quát hóa quá trình kiểm soát dịch do virus SARS-CoV-2 gây ra tại Việt Nam trong đó tổng kết được bài học kinh nghiệm trong chống dịch tại Việt Nam, bao gồm các biện pháp chỉ đạo từ chính phủ cho tới hoạt động cụ thể của các tuyến từ đó giúp xác định giá trị của các biện pháp can thiệp. Đặc biệt, bài báo cũng đưa ra những bằng chứng quan trọng trong việc kết luận bệnh có thể lây truyền từ những cá thể nhiễm bệnh nhưng không hề có biểu hiện triệu chứng (nhiễm trùng không triệu chứng). Đây là luận điểm quan trọng bởi tại thời điểm đó vẫn còn quan điểm cho rằng chỉ người có triệu chứng mới có thể là nguồn lây nhiễm. Công trình cũng chia sẻ kinh nghiệm chống dịch của Việt Nam ra thế giới. Kết quả về lây truyền không triệu chứng cũng như biện pháp phòng chống dịch ngay lập tức được WHO, US CDC thu thập và sử dụng để khuyến cáo các biện pháp kiểm soát dịch cho các nước trên thế giới.  Kết quả này góp phần rất lớn vào công tác phòng chống dịch như thay đổi chiến lược sàng lọc tại sân bay (những kết quả phân tích ban đầu của công trình đã được sử dụng ngay làm khuyến cáo đối với Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch để đưa ra chiến lược phù hợp). Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh chưa có biện pháp bảo vệ đặc hiệu như vắc xin hoặc thuốc kháng virus. Công trình hiện đã được trích dẫn lại 66 lần cho thấy mức độ ảnh hưởng cũng như giá trị mang tính thời điểm của công trình.  * Hai đề cử giải thưởng trẻ:  1. TS. Đoàn Lê Hoàng Tân (Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Cấu trúc Nano và Phân tử – ĐHQG TPHCM) với công trình “Microwave-assisted synthesis of nano Hf-and Zr-based metal-organic frameworks for enhancement of curcumin adsorption” trên tạp chí Microporous and Mesoporous Materials.  Chủ đề nghiên cứu của công trình này liên quan đến tổng hợp vật liệu xốp tiên tiến – vật liệu khung hữu cơ kim loại MOF – có khả năng lưu trữ/nhả dược chất kháng ung thư Curcumin nhằm xử lý tế bào ung thư. Để đáp ứng yêu cầu của vật liệu nano chứa thuốc, TS. Đoàn Lê Hoàng Tân và cộng sự đã tạo ra một hệ vật liệu có độ tương thích sinh học, phân hủy sinh học, xốp, đạt yêu cầu về lưu trữ và dẫn truyền thuốc. Dựa trên nghiên cứu này, nhóm đã nghiên cứu và công bố các bài báo khác liên quan đến điều trị tế bào ung thư trên cơ sở vật liệu nano MOF mang dược chất kháng ung thư như curcumin, paclitaxel, cordycepin thành công đến các dòng tế bào ung thư như ung thư dạ dày (AGS), ung thư phổi (A549) và ung thư cổ tử cung (OVCAR-8), có thể tiêu diệt hiệu quả tế bào ung thư ở nồng độ dược chất thấp 80 µg/mL nhưng hệ vật liệu ít gây độc đến tế bào thường.  Bên cạnh đó, anh còn phát triển một phương pháp tổng hợp vật liệu nano MOF tâm Zr và Hf mới bằng cách sử dụng vi sóng thay cho các phương pháp tổng hợp truyền thống sử dụng nhiệt dung môi với ưu điểm nổi bật là thời gian tổng hợp rất ngắn, vật liệu chế tạo được có sự đồng đều cao về kích thước hạt.  Do đó, từ năm 5/2020 đến nay, công trình được trích dẫn 35 lần theo WoS (hoặc 43 theo Google Scholar) bởi các công bố khoa học khác (8 tự trích dẫn).  2. TS. Trần Tiến Anh (Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, ĐH Hàng hải Việt Nam) với công trình “Effect of ship loading on marine diesel engine fuel consumption for bulk carriers based on the fuzzy clustering method” xuất bản trên tạp chí Ocean Engineering.  Điểm mới trong công trình nghiên cứu này là đạt được sự kết hợp độc đáo giữa lý thuyết với thực nghiệm trong quá trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật điều khiển thông minh vào lĩnh vực hàng hải và khai thác tàu biển. Công trình đề xuất được những điểm mới khi khai thác các ưu điểm từ lý thuyết điều khiển gom nhóm mờ (fuzzy clustering) rất mới trong kỹ thuật thông tin – điều khiển kết hợp với chiến lược quản lý hiệu quả trong hệ thống quản lý năng lượng, qua đó áp dụng thành công vào lĩnh vực hàng hải và khai thác tàu biển.  Một đóng góp nổi bật của công trình là lần đầu đề xuất mới hệ thống hỗ trợ ra quyết định hiện đại MCDM được triển khai áp dụng cho những nhà quản lý tàu biển của các công ty vận tải biển ở Việt Nam. Nhân tố đánh giá hiệu quả năng lượng cho đội tàu biển dựa trên lượng hàng hóa chuyên chở tại mỗi chuyến đi của tàu. Lượng hàng hóa này thay đổi tùy thuộc vào kế hoạch chạy của tàu cũng như tuyến luồng hàng hải mà chủ tàu vạch ra tại mỗi chuyến đi. Khi đó, nghiên cứu này đã tiến hành nghiên cứu yếu tố trọng tải của tàu cùng với thay đổi lượng hàng hóa tại mỗi chuyến đi khác nhau để từ đó đưa ra quyết định để hỗ trợ cho người khai thác tàu, và công ty quản lý tàu biển nhằm đảm bảo khai thác năng lượng hiệu quả.  Công trình có tính sáng tạo về công nghệ, đạt tính liên ngành cao giữa Cơ học – Cơ khí – Hàng hải – Vận trù (Logistics) – Điều khiển. Các kết quả cả lý thuyết và thực nghiệm được thực hiện và phân tích nghiêm túc, có độ tin cậy cao, có giá trị và ý nghĩa khoa học; công trình được công bố trên tạp chí có uy tín, chất lượng tốt, có chuyên ngành phù hợp; đã được nhiều công bố trên các tạp chí uy tín trích dẫn theo hướng đánh giá rất tích cực.  Công trình của PGS. TS Nguyễn Thị Lệ Thu triển khai theo một hướng rất hay là phát triển tính năng tự lành (self healing) và nâng cấp cơ tính của PU composite theo cơ chế D-A. Vật liệu PU khá bền và rẻ, có thể tổng hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu đã qua sử dụng như dầu cọ, dầu ăn… nên tốt cho môi trường. Có thể nói, đây là bài tiên phong trong xu hướng vật liệu PU composites tự lành, một hướng rất có tiềm năng ở Việt Nam. Có lẽ bài hoàn toàn từ trong nước nên chưa được quan tâm đúng mức nhưng tôi nghĩ, lượng trích dẫn sắp tới sẽ còn tăng nhiều”. (TS. Nguyễn Thanh Sơn, Viện nghiên cứu Công nghệ quốc gia, Kushiro College, Kushiro, Nhật Bản)               Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giải thưởng tiền triệu vì có công biến chất thải nhựa thành thức ăn      Chất thải nhựa sẽ đổ đi đâu? Các nhà nghiên cứu Mỹ có một giải pháp đầy bất ngờ: biến chất thải nhựa thành protein, chất đạm, có thể ăn được, cơ sở để có thể tính đến chuyện giải quyết vấn đề nạn đói trên thế giới.      Khi có điều gì đó để nói về rác thải nhựa, hiếm khi là chuyện tốt lành: nó thường kết thúc ở các bãi chôn lấp bất hợp pháp ở châu Á, gây ô nhiễm biển và kết tập thành các hòn đảo nhân tạo giữa trùng dương. Hiện tại chỉ có 14% chất thải nhựa trên thế giới được tái chế – và những sản phẩm tái chế thường kém về chất lượng.  Tuy nhiên hai nhà nghiên cứu Mĩ Ting Lu và Stephen Techtmann, trong rác thải nhựa có các nguyên liệu thô có giá trị. Do đó không chỉ nghĩ đến tái chế, họ còn muốn tạo ra một thứ thậm chí còn có giá trị hơn bản thân nó, đó là protein, chất đạm. Lu nói: “Chúng tôi đang biến nhựa thành thực phẩm”.  Ting Lu, giáo sư về kỹ thuật sinh học tại tại Đại học Illinois Urbana-Champaign bắt đầu nghĩ về những kỹ thuật  mới để sản xuất thực phẩm trong một chuyến đi đến các nước đang phát triển và chứng kiến người nông dân dù ở bất cứ nơi đâu hầu như cũng không có đủ lương thực để sinh sống.   Về phần mình, Techtmann là phó giáo sư về khoa sinh học tại Đại học Michigan. Từ nhiều năm nay ông chuyên nghiên cứu về vi khuẩn phân hủy dầu mỏ trong phòng thí nghiệm nhằm phục vụ khôi phục môi trường sau các vụ rò rỉ dầu ngoài hiện trường. Techtmann nói “Plastic cũng là một dạng của dầu. Vậy tại sao không cho lũ vi khuẩn phàm ăn phân hủy chất thải nhựa?”  Hai nhà khoa học đã xúc tiến một dự án chung. Chìa khóa cho dự án của họ là những loại vi sinh vật  xuất hiện từ hàng triệu năm với vô vàn biến thể trong tự nhiên. Techtmann cho biết: “Qua hàng triệu năm, vi khuẩn đã phát triển các cách phá vỡ vật chất, chẳng hạn như cellulose hoặc lignin từ thực vật”. Tuy nhiên, khi nói đến đồ nhựa thì các chú vi khuẩn bé li ti đành bất lực. Techtmann nói: “Nhựa là một phát minh còn non trẻ. Đó là lý do tại sao rác thải nhựa có thể tồn tại hàng trăm năm dưới đất rừng hay trong nước biển.   Tạo ra những sinh vật ăn nhựa  Dù sao cũng có một số loại vi khuẩn có thể phân hủy một số loại polymere nhất định, cho dù quá trình này diễn ra hết sức chậm chạp và không hoàn chỉnh. Hai nhà nghiên cứu đã để cho những loại sinh vật đơn bào có nhiều triển vọng nhất phân hủy plastic. Họ phân tích bộ gene của chúng và với các thủ thuật công nghệ sinh học mới, thay đổi các gene riêng lẻ của chúng.  Các ứng viên được chọn lọc từ quá trình hun đúc theo kiểu này là những nhà tái chế nhựa có hiệu quả: trong vòng vài ngày, chúng có thể phân hủy các chai nhựa trong phòng thí nghiệm, trong trường hợp cụ thể này là polyethylene terephthalate (PET), thành các thành phần phân tử của nó – và sử dụng chúng để sản xuất protein và các chất liệu khác như axit béo. Lu nói: “Kết quả trông giống như đường nâu, chúng tôi tạo ra một dạng bột từ rác thải và chúng có thể  ăn được”.  Một mình những vi sinh vật này không thể đảm đương được công việc này. Các nhà nghiên cứu phải thêm vào một số hóa chất để ban đầu nghiền nhỏ các phân tử nhựa. Hiện tại, họ mới xử lý được một số loại nhựa tinh khiết nhất định nhưng “chúng tôi sắp đến ngày có thể nhặt nhạnh rác thải nhựa trong thùng rác mang về phòng thí nghiệm để tái chế”,  Techtmann nói.  Cơ hội ứng dụng ý tưởng này vào thực tế vừa tăng lên đáng kể đối với Lu và Techtmann: công ty dược phẩm và hóa chất Merck có trụ sở tại Darmstadt, đã trao giải thưởng Future Insight cho hai nhà nghiên cứu này giải thưởng thường niên dành cho các công nghệ có tính đột phá. Số tiền thưởng là một triệu euro.  Trong tương lai, theo tầm nhìn của các nhà nghiên cứu, các nhà máy công nghiệp lớn có thể nuôi các vi sinh vật đặc biệt bằng rác thải nhựa trong các bồn chứa, giống như những thứ được sử dụng để nấu bia – và sản phẩm cuối cùng để thu hoạch là bột protein. Sản phẩm này không chỉ là thực phẩm dành cho các vận động viên thể hình mà còn được chế biến thành nhiều loại thực phẩm khác, chẳng hạn như thịt nuôi cấy từ nguyên liệu thực vật  Bước tiếp theo, hai nhà sinh vật học muốn nâng cấp các vi khuẩn của mình, cải thiện hiệu quả của chúng nhằm nâng cao giá trị dinnh dưỡng của sản phẩm bột protein của họ. Sẽ còn mất nhiều năm nữa trước khi đưa công nghệ này vào sản xuất lớn. Tuy nhiên cơ hội không chỉ có vậy, Lu và Techtmann với dự án của họ đang ở trong một môi trường nghiên cứu rộng lớn và không ngừng phát triển: mới đây, các nhà khoa học đại học Edinburgh đã trình diễn một phương pháp để có thể chế biến từ vỏ chai nhựa phế thải thành vani. Thành công này đã thôi thúc các nhà khoa học nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tạo protein với sự hỗ trợ của vi khuẩn, ánh sáng trời, không khí và khí hydro.  Tăng sản lượng thu hoạch gấp mười lần  Các nhà nghiên cứu tại Viện Sinh lý thực vật phân tử Max-Planck và một số cơ quan nghiên cứu khác đã nghiên cứu kiểm tra tiềm năng của các cách tiếp cận này. Từ các bể công nghệ sinh học trên một bề mặt như nhau người ta có thể tạo ra một lượng protein nhiều gấp 10 lần so với trồng đậu tương ngoài đồng ruộng.   Liệu giá protein làm từ nhựa thải có mức giá như gía thực phẩm trên thị trường hay không còn phải chờ thực tế trả lời.  Ý tưởng này cũng còn phải cạnh tranh với  phương pháp tiếp cận biến plastic thành hydro hay thành dầu diesel. Hiện tại nguồn nguyên liệu rất dồi dào: mỗi năm, nhân loại tạo ra 380 triệu tấn plastic, phần lớn cuối cùng bị tống ra bãi rác hoặc bị đốt cháy. Với phương pháp sinh họctới đây người ta có thể chế biến chúng thành các sản phẩm vừa hiệu quả vừa bảo vệ môi trường.   Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Plastikmüll: Forscher machen Lebensmittel aus Kunststoffabfall (wiwo.de)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải trình tự vùng mã hóa trong hệ gene để xác định đột biến gây vô sinh nam      Mặc dù các yếu tố di truyền khiến nam giới vô sinh nhưng hiện nay mới chỉ có khoảng 25% các trường hợp này có thể được giải thích. Một nghiên cứu mới công bố hồi tháng 6 vừa qua đã phát hiện ra yếu tố di truyền mới có liên quan đến vô sinh nam. Khám phá này sẽ giúp phát triển các xét nghiệm chẩn đoán tốt hơn cho vô sinh nam.         Hình minh họa: Internet.   Trên thế giới, cứ sáu cặp vợ chồng thì có một cặp gặp phải hiện tượng này, trong đó một nửa số trường hợp có nguyên nhân là từ nam giới. Trong nghiên cứu do Schultz và cộng sự thực hiện năm 2003, có hơn 900 gene vô sinh nam đã được mô tả trong cơ sở dữ liệu Tin học bộ gene chuột (MGI) của Phòng thí nghiệm Jackson (http://www.informatics.jax.org/) và 2.300 gene làm giàu tinh hoàn hiện được biết đến ở người. Mặc dù các yếu tố di truyền khiến nam giới không thể sản xuất tinh trùng bình thường đã được biết, hiện tại chỉ có khoảng 25% các trường hợp này có thể được giải thích. Một nghiên cứu được trình bày tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Di truyền người châu Âu vào tháng 6/2019 vừa qua đã phát hiện ra yếu tố di truyền mới có liên quan đến vô sinh nam. Khám phá này sẽ giúp phát triển các xét nghiệm chẩn đoán tốt hơn cho vô sinh nam.  Bà Manon Oud, từ Trung tâm Y tế Đại học Radboud, Nijmegen, Hà Lan, cùng nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu giải trình tự vùng mã hóa exome (phương pháp xác định các biến thể trên tất cả các vùng mã hóa trong hệ gene) đầu tiên để đánh giá vai trò của các đột biến de novo trong vô sinh nam. Exome là chuỗi DNA của các gene được dịch mã thành protein. Đột biến de novo được biết đến là những thay đổi về mặt di truyền mà không có trong DNA của cha mẹ. Hầu hết các đột biến gây bệnh được biết đến hiện nay liên quan đế đột biến trong cấu trúc của exome.  “Những đột biến de novo này được tìm thấy ở mỗi cá thể và là một phần của sự tiến hóa bình thường của bộ gene”, bà Oud giải thích. “Hầu hết chúng không ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta. Nhưng trong một số trường hợp, chúng có ảnh hưởng mạnh đến chức năng gene và có thể dẫn đến bệnh tật. Cho đến nay, vai trò của chúng trong vô sinh nam vẫn chưa được nghiên cứu.”  Các nhà khoa học đã nghiên cứu DNA từ 108 người đàn ông vô sinh, và cả từ cha mẹ của họ. So sánh DNA của cha mẹ với con cái cho phép xác định các đột biến de novo. “Chúng tôi đã tìm thấy 22 gene liên quan đến việc sinh tinh trùng”, bà Oud nói, “không một gene nào trong số đó trước đây từng được biết là gây vô sinh ở người.”  Hiện tại vẫn còn quá sớm để đưa ra những chẩn đoán xác định cho các bệnh nhân này, và các nghiên cứu tiếp theo đang được tiến hành. Các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ sàng lọc nhiều bệnh nhân và cha mẹ của họ để tìm kiếm các vị trí của các đột biến mới và tìm hiểu thêm về chức năng của các gene bị ảnh hưởng. “Chúng tôi đang nghiên cứu vai trò của các gene này trong vật liệu từ sinh thiết tinh hoàn của bệnh nhân và thực hiện các thí nghiệm trên ruồi giấm để xem liệu sự gián đoạn của các gene này có gây vô sinh ở chúng hay không”, bà Oud nói.  Kết quả sẽ giúp thiết lập các xét nghiệm chẩn đoán mới, có thể cung cấp cho bệnh nhân một phân tích chi tiết về lý do vô sinh và cho phép chăm sóc sức khỏe cá nhân. Bằng cách thiết lập nguyên nhân gây vô sinh ở cấp độ phân tử, nguy cơ truyền vô sinh sang thế hệ khác có thể được dự đoán.  “Các đột biến de novo dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ lỗi DNA xảy ra trong quá trình sản xuất tế bào tinh trùng và trứng của bố mẹ hoặc trong quá trình phát triển sớm của phôi. Mặc dù về bản chất, không thể dự đoán được những đột biến tự phát này, nhưng ở những bệnh khác, các bệnh nhân có biểu hiện rất giống nhau về bệnh thường có đột biến trong cùng một gene. Do đó, chúng tôi dự đoán rằng có nhiều người đàn ông vô sinh trên thế giới, có đột biến trong cùng một nhóm gene với nhóm bệnh nhân chúng tôi nghiên cứu”.  “Chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi tìm thấy rất nhiều đột biến de novo tiềm ẩn những tác động  gây ra vô sinh nam, vì thực tế là trong những năm trước chỉ có một vài gene mới được phát hiện trong tình trạng này. Mọi người vẫn có xu hướng nghĩ rằng thất bại trong việc thụ thai có nhiều khả năng bị gây ra bởi một yếu tố do nữ giới. Chúng tôi rất vui vì đã có thể đóng góp cho lĩnh vực vô sinh nam môt thông tin vốn ít được hiểu rõ”, bà Oud kết luận.  Nguồn tin: https://m.medicalxpress.com/news/2019-06-discovery-genetic-male-infertility.html  Toàn văn công bố: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6456656/  Vũ Bích Ngọc dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm 1% một loạt lãi suất chủ chốt      Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành một loạt chính sách, được xem là  động thái thúc đẩy giảm lãi suất cho vay, gỡ khó cho hoạt động tín dụng,  giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận vốn ngân hàng hơn.    Ngày 10/4, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành quyết định số 693/QĐ-NHNN, giảm 1% một loạt lãi suất chủ chốt.    Hàng loạt chính sách mới  Theo quyết định trên, từ ngày 11/4, lãi suất tái cấp vốn giảm 1%/năm từ mức 14%/năm xuống còn 13%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 12% xuống còn 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 15%/năm xuống còn 14%/năm. Với quyết định này, các ngân hàng thương mại sẽ có thêm điều kiện để giảm lãi suất cho vay.  Cũng trong ngày 10/4, Thống đốc ban hành thông tư số 08/2012/TT-NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới một tháng là 4%/năm; đối với tiền gửi có kỳ hạn từ một tháng trở lên là 12%/năm; riêng quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ một tháng trở lên là 12,5%/năm.  Quy định này có hiệu lực thi hành từ 11/4. Các mức lãi suất này đều thấp hơn quy định cũ. Có thể nói, quy định này giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn rẻ.  Cùng ngày, Thống đốc NHNN đã ban hành văn bản số 2056/NHNN-CSTT yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với khả năng huy động vốn và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa theo quy định của NHNN; ưu tiên vốn tín dụng phục vụ các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động….  Thống đốc cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng này cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động khách quan của nền kinh tế làm cho sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chậm tiêu thụ, ứ đọng tồn kho hàng hoá; chủ động phối hợp với khách vay để tháo gỡ khó khăn trong việc trả nợ và tiếp cận vay vốn nhằm tạo điều kiện cho khách hàng vay từng bước phục hồi, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh, đảm bảo khả năng trả nợ từ đó giảm nợ xấu; tiếp tục xem xét cho vay mới với các nhu cầu vay vốn có hiệu quả và đảm bảo khả năng trả nợ.  Việc cho phép cơ cấu nợ là rất có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay. Bởi, tình trạng đóng băng tín dụng đã được uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia đề cập trong báo cáo mới đây. Nguyên nhân, theo chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính Vũ Viết Ngoạn là do tình hình tài chính của nhiều doanh nghiệp xấu đi nghiêm trọng không đáp ứng đủ điều kiện vay vốn ngân hàng, trong khi các ngân hàng thận trọng hơn trong chủ trương cấp tín dụng.    Và những chướng ngại trước mắt  Dù vậy, trong điều kiện thực tế hiện tại, ngân hàng vẫn còn nhiều khó khăn phải vượt qua.  Thanh khoản được cải thiện khiến nhu cầu vay mượn liên ngân hàng cũng như tình trạng vượt rào lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng đã giảm rõ rệt. Theo báo cáo của NHNN ngày 10.4, giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục “hạ nhiệt” khi lãi suất bình quân VND trên thị trường này tiếp tục giảm đối với các kỳ hạn ngắn từ 3 tháng trở xuống. Hiện mức lãi suất liên ngân hàng thấp nhất còn 9,38%/năm đối với kỳ hạn 1 tuần và cao nhất là 13,50% đối với kỳ hạn 9 tháng và trên 12 tháng. Lãi suất huy động cũng đã hình thành đường cong, thay vì “thẳng băng” như trước.  Tạm khắc phục được vấn đề thanh khoản, nhưng các ngân hàng vẫn đối mặt với mối lo đầu ra cho tín dụng.  Chẳng hạn, ngân hàng thương mại cổ phần B., sau khi tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỉ đồng lên 3.000 tỉ đồng và đổi tên hồi cuối năm ngoái, lượng vốn đổ vào chỉ riêng tại chi nhánh ở Hà Nội của ngân hàng này đã tăng thêm gần 1.000 tỉ đồng trong thời gian chưa đầy một tháng. Song cũng từ đầu năm đến nay, ngân hàng này gần như không tìm được khách hàng tốt để giải ngân.  Phó tổng giám đốc ngân hàng ACB Nguyễn Thanh Toại xác nhận, như tình trạng chung của hệ thống ngân hàng, tăng trưởng tín dụng của ACB cũng chậm lại, nợ quá hạn tăng lên. Để tìm đầu ra cho tín dụng, ACB đã xây dựng một kế hoạch tái cơ cấu các khoản vay, nhất là với các khoản trung, dài hạn với lượng vốn dành cho chương trình này trước mắt là 1.000 tỉ đồng. Theo đó, ngân hàng sẽ tiến hành rà soát toàn bộ khách hàng, năng lực tài chính, các yếu tố rủi ro… Trên cơ sở đó, xem xét điều chỉnh thời hạn vay, trả nợ của doanh nghiệp.   “Có những doanh nghiệp, nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ cần thời hạn bảy năm, song ngân hàng chỉ cho vay thời hạn năm năm, nên doanh nghiệp rất khó khăn trong cân đối nguồn tài chính, trả nợ. Nay chúng tôi sẽ ngồi với doanh nghiệp, cùng nhau tìm giải pháp, giúp họ không chỉ tái cấu trúc khoản vay mà còn tái cấu trúc tài chính, để vượt qua giai đoạn khó khăn này. Bởi chúng tôi xác định, doanh nghiệp sống được, ngân hàng mới sống được”, ông Toại nói.   Ông còn cho biết thêm, dù ACB thanh khoản tốt, vốn tín dụng dư thừa và được phép tăng trưởng tín dụng ở mức cao nhất, song lãnh đạo ngân hàng “chưa an tâm về thanh khoản chút nào” trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế, và vẫn phải dự phòng những phương án xử lý với tình huống khó khăn nhất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm dần xuất khẩu sắn thô      “Giảm dần xuất khẩu sắn thô là một trong những định hướng phát triển về lâu dài với cây sắn”, ông Phạm Vũ Hà, tổng thư kí Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết tại hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững cây sắn Việt Nam”, do Hiệp hội Sắn Việt Nam phối hợp tỉnh Tây Ninh tổ chức vào ngày 15/1 tại Tây Ninh.  &#160;    Theo ông Hà, suốt 20 năm nay, ngành sắn Việt Nam chỉ quan tâm đến sản xuất tinh bột, nhưng công nghệ, chất lượng, thương hiệu không bằng Thái Lan và bị phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Trong khi đó, thu mua nhiều tinh bột của Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc gia công chế biến rồi xuất khẩu lại Việt Nam. Vì vậy, mục đích của hội thảo là tìm biện pháp giúp những người làm sắn trong nước nhìn lại vị trí của mình, không chỉ sản xuất tinh bột nữa mà còn là chế biến sau tinh bột, làm ra những sản phẩm ứng dụng khác như thực phẩm, cồn ethanol… Về lâu dài, ngành sắn sẽ hướng tới giảm dần lượng xuất khẩu sắn thô để tập trung đáp ứng nhu cầu sản xuất nội địa, nghiên cứu chuyển giao các sản phẩm mới từ sắn, đồng thời tìm ra các loại sắn mới có năng suất cao hơn, có khả năng thích nghi với sinh thái nhiều vùng trong cả nước, qua đó phát triển các mô hình sản xuất sạch, bảo vệ môi trường,…    Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu sắn năm 2014 đạt 1,3 tỉ USD, đứng thứ tư sau cây cà phê, lúa, điều, trong đó, 80% sắn tinh bột và sắn lát được xuất khẩu sang Trung Quốc. Tuy nhiên, việc phát triển cây sắn gần đây giảm dần hiệu quả do chi phí đầu vào (phân bón, vật tư, thuốc…) trong sản xuất nông nghiệp và chế biến (xăng dầu, giá nguyên liệu, điện…) tăng, trong khi giá đầu ra giảm (giá xuất khẩu bình quân 2014 giảm 14,7% so với năm 2013), thị trường tiêu thụ không ổn định.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm đầu tư cho ĐMST: Ngôi vị số 1 của Mỹ sẽ lung lay?      Tuy các nhà khoa học tại Mỹ đang được đầu tư  và hỗ trợ nhiều nhất thế giới, nhưng mức đầu tư của Liên bang ngày càng  giảm. Hậu quả của việc này, theo kết luận của các lãnh đạo hơn 200 Viện  – trường của Mỹ là nước Mỹ sẽ ngày càng thiếu hụt các nhà khoa học cũng  như các thành tựu đột phá về công nghệ.  &#160;      “Đang có một cuộc chạy đua cho đổi mới sáng tạo mạnh mẽ trên toàn cầu. Những lựa chọn chính sách công của chúng ta có thể làm chững lại hoặc đẩy mạnh vị thế của chúng ta trong cuộc đua này. Chúng ta có sẵn sàng để nắm bắt thời cơ này không?” Câu hỏi được đưa ra chỉ một tuần trước đây của Susan Hockfield – Cựu Chủ tịch Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đang nói thay nỗi lo của rất nhiều tổ chức nghiên cứu, Viện- trường cũng như các lãnh đạo doanh nghiệp của Mỹ trước việc Chính phủ nước này bắt đầu thực thi chính sách cắt giảm ngân sách cho các hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo (ĐMST)  Thời của chạy đua R&D và ĐMST  Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, chưa bao giờ khoa học công nghệ lại phát triển rực rỡ tới mức những đầu óc giàu tưởng tượng nhất cũng khó hình dung. R&D và ĐMST đã thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt đầu lan toả từ những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của hai cuộc Thế chiến, với mục tiêu ban đầu nhằm cải thiện đời sống xã hội sau chiến tranh cũng như tăng cường việc bảo vệ an ninh quốc phòng của các cường quốc. Từ những đồ gia dụng cho tới những công cụ như internet, điện thoại thông minh, các thiết bị điện tử, các ứng dụng sinh hoá hay vật lý tinh vi,… ngày nay đã thay đổi toàn diện không chỉ thói quen, sinh hoạt trong đời sống thường nhật của mỗi quốc gia, mà còn thay đổi những cấu trúc xã hội, tác động mạnh mẽ tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới.    Bản đồ mức độ đầu tư vào R&D và ĐMST của Tài liệu chỉ số khoa học kỹ thuật Hoa Kỳ năm 2014 cho hay, ba khu vực đầu tư nhiều nhất cho các hoạt động R&D và ĐMST trên toàn cầu cũng chính là ba khu vực tập trung những nền kinh tế mạnh nhất và tăng trưởng cao nhất thế giới. Đó là khu vực Bắc Mỹ bao gồm Hoa Kỳ, Canada và Mexico với tổng mức đầu tư là 462 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 32,2% tổng ngân sách đầu tư cho R&D và ĐMST toàn cầu, tiếp theo là khu vực Đông và Đông Nam Á (bao gồm cả Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN,…) với con số 456 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 31,8% và đứng thứ ba là khu vực EU với 22 nước với tổng số 345 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 24%.  Trong ba khu vực đầu tư nổi trội cho R&D và ĐMST này của toàn cầu nổi lên ba cường quốc có thành tựu R&D lớn nhất là Hoa kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản với tổng đầu tư của ba quốc gia này cho hoạt động R&D và ĐMST lên tới trên 700 tỷ USD trong năm 2011. Tuy nằm trong top đầu về đầu tư cũng như thành tựu gặt hái từ R&D và ĐMST, nhưng trên thực tế Hoa kỳ đã bị giảm tỷ lệ thành tựu R&D từ 37% năm 2001 xuống còn dưới 30% vào năm 2011, trong khi đó các quốc gia Đông và Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore lại tăng từ 25% năm 2001 lên 34% sau một thập kỷ.  Tỷ lệ tăng trưởng R&D của Trung Quốc trong vòng một thập kỷ (2001-2011) sau khi đã tính cả tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức cao một cách bất ngờ – 18%/năm.  Một nguồn số liệu khác từ Ngân hàng thế giới cũng cho thấy trong khoảng thời gian từ 2009-2013, nhiều quốc gia Đông và Đông Nam Á đã lọt vào top 10 toàn cầu về tỷ trọng đầu tư cho R&D và ĐMST so với GDP, trong đó đặc biệt phải kể đến Hàn Quốc với tỷ trọng lên tới khoảng 4% tổng GDP, Nhật Bản khoảng 3,4%, Đài Loan khoảng 3%, Trung Quốc trên 2,8% và Singapore trên 2%.  Với mức đầu tư mạnh mẽ vào các hoạt động R&D và ĐMST, chỉ trong vòng 10 năm, khu vực Đông và Đông Nam Á đã trở thành những tâm điểm mới của thế giới khoa học công nghệ và kinh doanh sáng tạo của thế giới. Theo số liệu của Tổ chức kêu gọi Chính phủ Liên bang Mỹ ngừng việc cắt giảm đầu tư cho R&D và ĐMST công bố vào đầu năm 2014 thì trong một thập kỷ qua, trong khi ngân sách đầu tư cho R&D và ĐMST của Mỹ không tăng thì con số này ở Trung Quốc tăng tới 90% và tại Hàn Quốc tăng tới 50%. Điều này cũng lý giải tại sao chỉ tính riêng năm 2008, trong khi Trung Quốc có tới trên 15000 kỹ sư mang trình độ tiến sĩ thì tại Mỹ chỉ có chưa tới 8000 và trong số các quốc gia phát triển nhất thế giới, Mỹ chỉ đứng thứ 12 về tỷ lệ thanh niên có bằng cấp cao đẳng đại học trở lên.  Thiếu R&D, Ngôi vị số 1 của Mỹ lung lay?  Trong bối cảnh chạy đua về đầu tư R&D và ĐMST của các quốc gia như vậy, câu hỏi của Susan Hockfield là nỗi lo chung của giới doanh nghiệp dẫn đầu và giới Trường – Viện tại Mỹ dấy lên từ sau Đạo luật Kiểm soát ngân sách năm 2011 đưa ra việc sẽ cắt giảm khoản đầu tư vào các hoạt động R&D và ĐMST, đặc biệt ở các Viện – Trường kéo dài từ 2014-2021.  Ngay khi Đạo luật được đưa ra, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ cộng đồng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp dẫn đầu của Hoa Kỳ như Google, Intel, Microsoft, IBM, Qualcomm,… cho tới các Viện – Trường uy tín như Princeton, MIT,… cũng như Liên đoàn Đại học Hoa Kỳ và hàng trăm tổ chức nghiên cứu và xã hội khác trên toàn nước Mỹ.  Trong hai lá thư gửi tới Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thượng viện Mỹ vào tháng 9 và tháng 10/2013, khoảng 200 đại diện của các tổ chức này đã nhấn mạnh rằng việc đầu tư vào R&D và ĐMST “đóng góp mạnh mẽ vào sự tăng trưởng kinh tế lâu dài”. Nhóm này cũng cho rằng vai trò của nước Mỹ là “nhà lãnh đạo đổi mới sáng tạo của thế giới” và vai trò này đang gặp nguy cơ nghiêm trọng vì thiếu sự ủng hộ của liên bang cho nghiên cứu và đào tạo STEM (Science: Khoa học; Technology: Công nghệ; Engineering: Kỹ thuật; Math: Toán học). Họ cho rằng “Nước Mỹ phải duy trì sự cam kết với tính cạnh tranh của nó và năng lực ĐMST trong tương lai. Sự cam kết này là sống còn đối với sự tăng trưởng kinh tế lâu dài, đặc biệt trong nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh”. Dù hiểu được rằng nước Mỹ đang bị thách thức bởi sức ép tài chính và việc kiểm soát ngân sách nhưng nhóm này cũng cho rằng việc giảm bớt sự ủng hộ của đất nước cho R&D và đào tạo STEM sẽ không giải quyết được vấn đề này mà nó chỉ “làm chậm động cơ thúc đẩy ĐMST và tăng trưởng kinh tế – điều cần thiết đối với việc giảm nợ và thâm hụt lâu dài”.  Các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp khoa học công nghệ dẫn đầu cũng như Chủ tịch của các Viện, Trường,… tham gia ký tên trong những lá thư gửi tới Tổng thống Mỹ và Nghị viện Mỹ cho rằng những đột phá về khoa học công nghệ không hề rẻ và cũng không thể một sớm một chiều. Nó đòi hỏi một quá trình đầu tư lâu dài, với dẫn chứng rõ ràng nhất là những gì nước Mỹ hiện đang có là thành quả của sự đầu tư ngay từ sau Thế chiến II. Một ví dụ là về mạng giáo dục đào tạo mở edX do MIT và Harvard đưa ra cách đây gần 2 năm thực chất là một mô hình đào tạo toàn cầu xây dựng trên những tính năng nổi bật của công nghệ máy tính nằm trong dự án nghiên cứu của Cục Quốc phòng từ những năm 1960-1970. Hiện edX có tới 1,4 triệu người theo học và đang phát triển chóng mặt. Theo tính toán, những công nghệ nổi trội được phát triển sau 1945 với các chip điện tử, công nghiệp năng lượng hạt nhân, nhựa, sợi, phân bón,… này đã đóng góp tới hơn một nửa vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ sau Thế chiến II.  Tuy các nhà khoa học tại Mỹ đang được đầu tư và hỗ trợ nhiều nhất thế giới, nhưng mức đầu tư của Liên bang ngày càng giảm. Hậu quả của việc này, theo kết luận của các lãnh đạo hơn 200 Viện – trường của Mỹ là nước Mỹ sẽ ngày càng thiếu hụt các nhà khoa học cũng như các thành tựu đột phá về công nghệ, nước Mỹ sẽ thiếu nguồn nhân lực được chuẩn bị, có kỹ năng; thiếu dần các phát minh, các công ty khởi nghiệp, các sản phẩm và tất nhiên – việc làm. Trong khi Mỹ được coi như hình mẫu để nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc,… học tập để tạo ra con đường và mô hình phát triển của họ thì những thiếu hụt nói trên gây ra bởi việc cắt giảm ngân sách cho R&D và ĐMST sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc mở rộng thị trường của Mỹ, việc chuyển hướng các trung tâm ĐMST và R&D thế giới sang những quốc gia mới nổi khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế và hệ quả cuối cùng là vị thế số 1 của Mỹ về kinh tế, khoa học – kỹ thuật hay quân sự sẽ khó giữ.  Cuộc hội thảo của liên đoàn các trường đại học Mỹ diễn ra hồi đầu năm cũng đã nghiêm túc đánh giá thực trạng này và tại hội thảo, nhiều đại diện của các quốc gia đang đầu tư mạnh cho R&D và ĐMST từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,… đã được mời tới để chia sẻ những kinh nghiệm “bắt kịp” và “kịch bản vượt qua” Mỹ thế nào. Đáng chú ý như đại diện từ Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ Seoul cho hay Chính phủ Hàn Quốc đã đặt trọng tâm vào tri thức học thuật là một phần của chương trình nghị sự quốc gia mang tên Kinh tế Sáng tạo với mục tiêu thay thế “mô hình bắt kịp” mà Hàn Quốc từng đặt ra với mong muốn đuổi kịp Mỹ để chuyển sang việc thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác giữa các Viện trường với các ngành công nghiệp, nếu Viện trường không hợp tác và không đưa ra được những mục tiêu cụ thể cho việc ứng dụng vào các ngành công nghiệp phát triển của đất nước, “họ sẽ không nhận được quỹ hỗ trợ nghiên cứu từ chính phủ” – đại diện này cho hay.  Ba chân kiềng của một cường quốc ĐMST  Với trường hợp của nước Mỹ, ba chân kiềng quan trọng nhất tạo nên sức mạnh về khoa học công nghệ chính là bộ ba: Viện – trường; Doanh nghiệp và Chính phủ.  Năm 2011, giới doanh nghiệp Mỹ là giới tạo ra nhiều thành tựu R&D  nhất, chiếm tới 69% tổng số các thành tựu của toàn quốc với tổng trị giá khoảng 294,1 tỷ USD. Trong suốt hai thập kỷ, từ 1991-2011, giới này luôn đóng góp từ 68-74% trong thành tựu và hiệu quả R&D.  Đứng thứ hai chính là giới nghiên cứu học thuật – Viện – trường với mức đóng góp khoảng 15% và tạo ra giá trị tương đương 63,1 tỷ USD trong năm 2011. Đây cũng là khu vực có tốc độ tăng trưởng về R&D cao nổi bật trong vòng gần mười năm qua. Tiếp đó là khu vực của các tổ chức chính phủ với mức đóng góp khoảng 12% trong năm 2011 và các tổ chức phi lợi nhuận khác.  Với chính sách cắt giảm mới của Chính phủ Mỹ, giới nghiên cứu Viện – Trường sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất – điều này lý giải tại sao có tới 200 lãnh đạo các Viện – trường danh tiếng của Mỹ tham gia ký tên vào lá thư gửi Tổng thống Obama và Nghị viện. Với những “lãnh địa” của khoa học công nghệ như các trường ĐH và bệnh viện tại khu vực Boston – nơi được mệnh danh là “thủ đô công nghệ sinh học của thế giới” – hậu quả của việc cắt giảm rất nghiêm trọng khi chỉ riêng năm 2013, Massachusetts nhận được ít đi tới 125 triệu USD trong phần hỗ trợ của Liên bang cho các hoạt động nghiên cứu y học so với nhu cầu thực sự của nó, kéo theo việc cắt giảm việc làm và làm chậm quá trình nghiên cứu ĐMST. Hai tổ chức vốn là hai nguồn gieo quỹ chính của Liên bang là Viện Y tế quốc gia và Quỹ Khoa học quốc gia cũng vì bị cắt giảm ngân sách mà chỉ trong năm tài chính 2013 đã giảm số lượng tài trợ các dự án tới 600-650 dự án.  Dù tiến hành chiến dịch kêu gọi Chính phủ Mỹ xem xét lại việc cắt giảm ngân sách cho R&D và ĐMST, nhưng tự giới Viện-trường và Doanh nghiệp dẫn đầu của Mỹ cũng đang phải tìm cách “sống sót” và phát triển. Nhiều dự án giữa các Viện – trường với giới doanh nghiệp được đưa ra thảo luận. Trên thực tế, tại các Viện trường như Princeton hay MIT, các dự án R&D và ĐMST chủ yếu được bảo trợ và gieo quỹ nhờ các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp được cho là dẫn đầu thế giới như Công nghệ truyền dẫn, sinh hoá,…đều tự tái đầu tư lợi nhuận vào công tác R&D.  Và cho dù giới nghiên cứu của Hoa Kỳ muốn hay không, những “thung lũng Silicon xanh” đang có vẻ được gây dựng và phát triển ở bên ngoài nước Mỹ như tiên đoán của CEO Google Eric Schimidt đưa ra cách đây 4 năm.  Chiến dịch kêu gọi Chính phủ Mỹ xem xét để ngừng việc cắt giảm ngân sách cần thiết trong R&D và ĐMST đang tiếp tục những động thái ngày càng mạnh mẽ. Đây được coi như một thách thức đối với chính quyền Obama nhằm duy trì sức mạnh thực sự và ngôi vị bá chủ của Mỹ cũng như duy trì hình ảnh của một giấc mơ Mỹ. Trong khi Susan Hockfield cho rằng “những quyết định khôn ngoan lúc này có thể tạo ra di sản quyền lực cho những thế hệ tương lai của nước Mỹ” thì Eric Schmidt tin rằng con người là nhân tố quan trọng nhất: “Chúng ta có tất cả mọi thứ chúng ta cần để ra khỏi vũng lầy hiện tại. Ngay bây giờ, đâu đó trên nước Mỹ, ai đó đang làm việc bên một bàn bếp, trong một phòng ký túc hay ở một ga-ra để phát triển những ý tưởng không những có thể tạo ra một ngành công nghiệp mới nhưng còn có thể thay đổi thế giới này. Nếu chúng ta cung cấp được môi trường cần thiết, người đó sẽ làm điều còn lại”         Author                Quản trị        
__label__tiasang Giám đốc công nghệ Microsoft: Covid-19 sẽ tạo ra làn sóng công nghệ thay đổi hệ thống y tế      Chương trình không gian Apollo những năm 1960 và tầm nhìn của Tổng thống John F. Kennedy về một sứ mệnh hạ cánh lên Mặt trăng đã mê hoặc Giám đốc công nghệ của Microsoft Kevin Scott trong suốt quãng thời gian trưởng thành. Giờ đây, hệ quả của dịch Covid-19 đã làm ông hình thành trong đầu một dự án tham vọng không kém.    Hệt như việc Chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư (khoản tiền tương ứng với khoảng 200 tỷ USD ngày nay) để đưa Neil Armstrong và những người khác lên Mặt trăng vào năm 1969, Scott cho rằng một khoản tài trợ tương tự cho trí tuệ nhân tạo (AI) có thể sẽ giúp làm thay đổi cho hệ thống chăm sóc sức khỏe đang bị quá tải.  Trong bối cảnh đại dịch, Scott nhận thấy những thiệt hại lớn do virus corona gây ra buộc công chúng và chính phủ phải nhìn nhận lại các yếu tố cốt lõi của hệ thống chăm sóc sức khỏe và từ đó đề ra phương án cải thiện chúng.  “Thay vì nghĩ đến những chuyện viển vông, chúng ta nên hướng đến chuyển đổi triệt để hệ thống chăm sóc sức khỏe vì lợi ích công cộng,” Scott nói. “Chi phí cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe phổ quát và có chất lượng là rất cao và đang tăng nhanh hơn tổng sản phẩm quốc nội. Muốn thay đổi, phải có sự can thiệp của công nghệ. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta đưa ra một loạt đầu tư có chủ ý, thì AI có thể tạo ra thay đổi đó”.  Ông tin rằng, sử dụng công nghệ để phát hiện các nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn không chỉ giúp điều trị bệnh nhân và ngăn ngừa sự lây lan đại dịch trong tương lai, và “phản ứng của chúng ta đối với đại dịch này có thể tạo ra một làn sóng đầu tư và đổi mới trong công nghệ sinh học mang tính quyết định đối với giai đoạn 75 năm tới,” Scott nói. Điều này tương tự “cách mà chúng ta tiến hành công nghiệp hóa sau Thế chiến II – đã định hình 75 năm qua.”  Không nói suông, Scott đang cùng gã khổng lồ công nghệ của mình áp dụng AI vào khoa học y tế, và gần đây nhất là trong cuộc chiến Covid-19. Scott và Microsoft đã dành nhiều tuần để làm việc với công ty Adaptive Biotechnologies, đặt trụ sở tại Seattle để sử dụng AI lập bản đồ hệ thống miễn dịch và cách cơ thể phản ứng với các bệnh khác nhau. Adaptive Biotechnologies hy vọng sẽ sớm có bản đồ này đối với Covid-19.  Microsoft đã sử dụng các công cụ AI tương tự khi làm việc với ImmunityBio để mô hình hóa các kiểu di chuyển của “protein gai” của virus SARS-CoV-2 dùng để xâm nhập vào tế bào người. Microsoft và ImmunityBio đã làm được điều này trong vòng vài tuần, thay vì vài tháng như trước đây, giúp các nhà khoa học nghiên cứu về phương pháp điều trị và vaccine Covid-19.  Không chỉ có ý nghĩa trong dịch Covid-19, việc lập bản đồ và phát hiện sớm như vậy có thể có ý nghĩa đối với y tế sau này. “Các hệ thống máy học đang được phát triển để chẩn đoán bệnh sớm ngày càng tốt hơn,” Scott nói. “Chăm sóc sức khỏe tốt là phát hiện bệnh càng sớm càng tốt. Phát hiện càng sớm, khả năng khỏi và hồi phục càng cao.”  Scott cũng là nhà đầu tư của Cardiogram, một công ty có trụ sở tại San Francisco sở hữu ứng dụng sử dụng dữ liệu nhịp tim từ các vòng tay và đồng hồ thông minh để dự đoán các tình trạng như rung tâm nhĩ, tăng huyết áp và tiểu đường loại 2.  Scott cũng nhắc đến các “vòng thông minh” cảm nhận sinh trắc học đang được các nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Zuckerberg San Francisco sử dụng để theo dõi nhiệt độ cơ thể, dữ liệu nhịp tim và độ bão hòa oxy trong máu để dự đoán sớm Covid-19.  “Hãy tưởng tượng một cảm biến sinh trắc học giá rẻ đeo trên người có thể theo dõi tất cả các bệnh này… điều này thực sự có thể thay đổi cơ bản chi phí chăm sóc sức khỏe của những người có khả năng sử dụng các công nghệ này.” Và tất cả mọi người đều có thể sử dụng, Scott nói, khi chi phí công nghệ đang  tiếp tục giảm.  Dân số thế giới ngày càng già đi và sẽ ngày càng có nhiều người cần chăm sóc sức khỏe, và AI có thể giúp giảm tải cho hệ thống. “Tôi nghĩ rằng thời điểm này sẽ tạo ra một áp lực để làm mọi thứ theo một cách khác”, ông nói. “Hy vọng chúng ta sẽ tận dụng được thời cơ này.” □  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-04-microsoft-exec-coronavirus-big-shift.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm ô nhiễm ở sông Nhuệ nhờ áp dụng kỹ thuật hạt nhân      Một dự án do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) thực hiện dưới sự hỗ trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) giúp giảm thiểu ô nhiễm sông Nhuệ.      Bón một lượng lớn phân N-P-K cho lúa một tháng sau khi trồng có thể gây ra hiện tượng phú dưỡng ở các thủy vực tiếp nhận. Nguồn ảnh:  Viện KH&KT hạt nhân.  Sông Nhuệ là phụ lưu của sông Đáy, chảy qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam. Con sông này hiện đang bị bồi lắng và ô nhiễm rất nặng do nước thải của các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt gây ảnh hưởng tới sức khỏe của những người dân sống trong lưu vực này.  Do hàm lượng oxy hòa tan rất thấp nên con sông này đã trở thành “dòng chết”, tôm cá không thể sống được. Vào mùa khô, dòng sông cạn kiệt, trơ đáy bùn, tồn đọng chất thải khiến nhiều khúc sông thành bãi rác lộ thiên. Sự phát triển quá mức của thực vật và tảo tại sông Nhuệ là kết quả của việc dư thừa các chất dinh dưỡng – hiện tượng phú dưỡng, đến mức nó không còn được sử dụng để đánh cá, du lịch hoặc thậm chí là tưới tiêu, dẫn đến mất mùa, đe dọa an sinh và ảnh hưởng đến kế sinh nhai của hơn người dân sống trong khu vực lưu sông.  Các nhà khoa học của Viện KH&KT hạt nhân (VINATOM), và Viện Thổ nhưỡng nông hóa (Viện KH nông nghiệp VN) đã sử dụng kỹ thuật hạt nhân (phân tích đồng vị bền nitơ) để xác định hàm lượng đóng góp của phân bón vào nitơ trong nước sông Nhuệ. Bằng cách lấy mẫu nước trong các nhánh sông nhỏ và ao ở thượng nguồn sông, nơi trồng các loại rau và hoa màu khác nhau để xác định thành phần đồng vị của nước và chất dinh dưỡng trong đó, các nhà khoa học có thể theo dõi dòng ô nhiễm. Ông Joseph Adu-Gyamfi, chuyên gia Quản lý Tổng hợp Đất và Phân bón tại Trung tâm Hợp tác FAO/IAEA về kỹ thuật hạt nhân cho nông nghiệp và thực phẩm và là người tham gia điều phối dự án, giải thích: “Các đồng vị có thể được sử dụng chất đánh dấu để theo dõi các chất ô nhiễm phốt pho và nitơ. Từ đó, giúp xác định các nguồn gây ô nhiễm, sự phân bố và sự chuyển dịch của chúng”.  Về cơ bản, khi sự ô nhiễm đến từ nhiều nguồn như sông, lạch hoặc ao hồ thì việc giám sát thông thường không thể xác định được nguồn gốc của các chất ô nhiễm ở đâu. Đồng vị bền, là dạng nguyên tử không phóng xạ, có thể được sử dụng làm chất đánh dấu nhờ các đặc điểm độc đáo của chúng. Thành phần đồng vị của từng chất dinh dưỡng có thể là dấu vân tay của nguồn gốc xuất xứ. Chúng có cùng đặc tính hóa học như nguyên tử “thông thường” nhưng có số khối khác nhau và do đó có thể phân biệt được.  Nhờ ứng dụng này, các nhà khoa học đã xác định được nguồn gây ô nhiễm trên sông Nhuệ có quá nhiều nitơ, phốt pho và đang thực hiện các bước để cải thiện chất lượng nước của con sông này.   Dựa trên kết quả đồng vị nitơ, các nhà khoa học nghiên cứu về đất có thể xác định thời điểm bón phân và lượng phân bón phù hợp với nhu cầu của cây trồng thông qua vòng đời của chúng, đồng thời đưa ra khuyến cáo cho nông dân về việc họ đã sử dụng nhiều phân bón hơn mức mà cây trồng có thể hấp thụ, lượng hóa chất dư thừa đi vào các nhánh sông nhỏ và ao rồi chảy ra sông Nhuệ. Khi áp dụng phương pháp này, lượng phân bón chảy tràn đã giảm và trong một số trường hợp, giảm ô nhiễm và phú dưỡng hoàn toàn.   Tiến sĩ Đặng Đức Nhận, chuyên gia của Viện KH&KT hạt nhân đồng thời là người tham gia dự án, cho biết: “Suy thoái nguồn nước vẫn chưa được giải quyết triệt để, vì ô nhiễm nước do hoạt động công nghiệp và nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình vẫn đổ ra sông. Tuy nhiên, chất lượng nước đã phần nào được cải thiện và sẽ có tác động thay đổi nhận thức ngày càng lớn khi có nhiều nông dân tham gia vào chương trình ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong quản lý phân bón và nguồn nước này hơn”.   Trong khuôn khổ của một dự án thử nghiệm, Viện Nông hóa thổ nhưỡng đã tổ chức các khóa đào tạo về kỹ thuật bón phân đồng bộ và thích hợp cho 500 nông dân. Anh Đỗ Trọng Thắng, một trong những nông dân tham gia khóa tập huấn này cho biết: “Bây giờ tôi mới biết chúng tôi đã từng rất lãng phí tiền của, do bón phân không đúng cách, có tới 70% lượng phân bị thoát ra ngoài ruộng do bay hơi, rửa trôi hoặc chảy tràn. Chúng tôi có thể giảm hơn một nửa lượng urê bón cho cây trồng trong khu vực, từ 75.130 tấn xuống còn 34.560 tấn một năm”.  Thu Hà (VINATOM)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giám sát điều trị từ… một màn hình!      Một màn hình vi tính lớn cập nhật liên tục  thông tin về mọi hoạt động điều trị nội, ngoại trú đang diễn ra giúp  Bệnh viện Nhi đồng 1 TP.HCM xử lý tốt nhất những ca bệnh bất thường và  điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý trong việc kê đơn thuốc hoặc chăm  sóc bệnh nhân.      Tiết kiệm cho bệnh viện lẫn bệnh nhân  Một ngày giữa tháng 7/2013, Tiến sĩ, bác sĩ Tăng Chí Thượng, Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 1 TP.HCM, hồ hởi dẫn tôi vào phòng Quản lý chất lượng. Chỉ lên chiếc màn hình, ông nói: “Anh là người ngoài đầu tiên được tôi cho xem công cụ giám sát điều trị nội trú này đấy.”  Nhờ một nhân viên trong phòng nhấp chuột vào chiếc máy tính để bàn, ông cho tôi xem danh sách 14 trường hợp đang nằm tại Khoa Hồi sức sơ sinh của bệnh viện có chi phí điều trị hơn 200 triệu đồng/ca. Muốn xem chi tiết một ca bệnh, ông lại nhờ nhân viên nhấp chuột vào một cái tên để xem tiếp. Đó là một ca bệnh nằm điều trị cả năm trời. Ông giải thích: “Ca này được bảo hiểm y tế chi trả rất ít, nhưng những chi phí khác lên đến hơn 150 triệu đồng, chủ yếu là chi phí thở máy. Cần đặt câu hỏi với những ca có chi phí điều trị cao bất thường như thế này: Vì sao chữa hoài không khỏi? Do cách điều trị không hiệu quả? Có cần chuyển sang cách điều trị khác? Sử dụng thuốc có đúng phác đồ hay không? Nhờ công cụ này mà chúng tôi có thể phát hiện ngay những bất thường và có cách can thiệp ngay.”  Không chỉ các trường hợp ở Khoa Hồi sức sơ sinh, chương trình tin học còn giám sát được toàn bộ các trường hợp ở những khoa khác của bệnh viện. Sau khi nhặt ra những ca “bất thường” như thế, Ban Giám đốc bệnh viện sẽ mời trưởng khoa xuống lý giải. Nếu hợp lý, khoa có thể điều trị tiếp; nếu không hợp lý, Ban Giám đốc sẽ can thiệp. Chẳng hạn chuyển bệnh nhân về địa phương để chữa tiếp vì bệnh đã qua giai đoạn khó khăn. Điều này tiết kiệm chi phí cho bệnh viện lẫn cho bệnh nhân. Cụ thể người thân bệnh nhân không tốn kém phải đi xa thăm nom và chăm sóc.   Nâng cao chất lượng điều trị  Có thể xem bệnh viện Nhi đồng 1 là nơi đi đầu TP.HCM trong ứng dụng tin học vào quản lý để nâng cao chất lượng điều trị. Ở đây, một phòng tin học ra đời với hàng chục nhân viên tin học, vừa tham gia bảo trì hệ thống mạng, vừa viết chương trình đáp ứng đặt hàng của Ban Giám đốc. Điều này tiết kiệm chi phí cho bệnh viện rất nhiều, đồng thời chủ động xây dựng được chương trình, chứ không như nhiều bệnh viện khác – chọn cách mua chương trình phần mềm ở bên ngoài.   “Tôi có thể khẳng định cả nước chưa một bệnh viện nào làm được công cụ giám sát điều trị nội trú như thế này,” Tiến sĩ, bác sĩ Tăng Chí Thượng đoan chắc với tôi. Để xây dựng được chương trình do Ban Giám đốc đề nghị, nhóm chuyên viên tin học của bệnh viện phải bỏ ra hơn ba tháng trời làm việc.   Chương trình giám sát điều trị nội trú là bước kế tiếp của chương trình giám sát điều trị ngoại trú đã được bệnh viện xây dựng thành công từ vài năm qua. Ở đây, cũng từ phòng quản lý chất lượng, ban lãnh đạo bệnh viện giám sát được toàn bộ việc kê toa thuốc của bác sĩ đang điều trị ở khu vực khám bệnh bên ngoài. Những toa thuốc có số lượng thuốc kê nhiều hay giá trị quá cao đều được nhận diện dễ dàng, vì thế tránh được chuyện lạm dụng thuốc cho bệnh nhân. Không chỉ thế, bệnh viện có thể biết được toàn bộ diễn biến thực tế ở khu khám ngoại trú như số lượt bệnh nhân đã khám, số bệnh nhân đang chờ xét nghiệm, số bệnh nhân chờ khám. Từ đây, có thể điều tiết bệnh nhân đang ngồi chờ khám, giảm thời gian chờ đợi của họ. Muốn làm được điều này, toàn bộ các hoạt động nhận bệnh, kê toa thuốc đều được vi tính hóa.   Cũng thông qua vi tính, vài năm qua bệnh viện đã xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm tương tác thuốc. Trường hợp bác sĩ vô tình kê toa có những thuốc tương kỵ nhau, phần mềm sẽ nhận diện và báo lỗi để bác sĩ điều chỉnh kịp thời.   Đó chỉ là một trong nhiều đổi mới và sáng tạo trong làm việc của Bệnh viện Nhi đồng 1 bằng công cụ tin học, giúp nâng cao chất lượng điều trị và phục vụ cho bệnh nhân, giảm thiểu nguy cơ trong điều trị, giảm thời gian chờ khám, tránh lãng phí…   Trả lời câu hỏi “Có nhân viên nào phản ứng với những sáng kiến này không?”, Giám đốc Tăng Chí Thượng nói: “Dĩ nhiên bước đầu cũng có người phản ứng vì phải thay đổi thói quen, nhưng rồi thì ai cũng ủng hộ khi thấy những lợi ích mang lại.”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm thiểu biến đổi khí hậu: Một số quốc gia hưởng lợi từ năng lượng hạt nhân      Theo một nghiên cứu quốc gia nằm trong dự án kéo dài 3 năm do IAEA điều phối, các nước từ Armenia và Ghana đến Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tiềm năng đáng kể khi sử dụng năng lượng hạt nhân để giảm phát thải khí nhà kính và đáp ứng các mục tiêu về biến đổi khí hậu, bao gồm cả những mục tiêu đã được thống nhất tại hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26.      Các kết quả của Dự án Nghiên cứu Phối hợp trên (Coordinated Research Project – CRP) minh họa phạm vi tiềm năng do tăng cường sử dụng năng lượng hạt nhân nhằm hỗ trợ mạnh mẽ hơn các mục tiêu giảm thiểu biến đổi khí hậu quốc gia, được đề cập trong “Hiệp ước Khí hậu Glasgow” và nhận được đồng thuận tại COP26 vào tháng trước. Khoảng 30 quốc gia đưa năng lượng hạt nhân vào các kế hoạch đệ trình theo Thỏa thuận Paris 2015 – bao gồm cả các mục tiêu ngắn hạn (năm 2030) trong bản Đóng góp do quốc gia xác định (NDC) và các chiến lược dài hạn hướng tới phát thải ròng bằng 0. Kết quả của Dự án Nghiên cứu Phối hợp đã phản ánh sức nóng của điện hạt nhân ngày một gia tăng khi các quốc gia đang loay hoay tìm cách thực thi những mục tiêu khí hậu tham vọng hơn.  Ông Hal Turton, nhà kinh tế năng lượng IAEA, thư ký khoa học của Dự án CRP cho biết: “Nhìn chung, nghiên cứu của các quốc gia đều chứng minh, năng lượng hạt nhân có tiềm năng đáng kể, góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi nước. Các nhóm nghiên cứu cũng nêu bật tính phù hợp của năng lượng hạt nhân trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì an ninh cung cấp năng lượng bằng cách giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đảm bảo hệ thống điện linh hoạt và đáng tin cậy, hỗ trợ các mục tiêu tầm cỡ hơn phục vụ phát triển bền vững”.  Dự án CRP có tên “Đánh giá vai trò tiềm năng của năng lượng hạt nhân trong các chiến lược quốc gia về giảm thiểu biến đổi khí hậu”, tập hợp các nhóm nghiên cứu từ 12 quốc gia hiện đang phải đối mặt với một loạt thách thức về năng lượng, phát triển và khí hậu, thực hiện nghiên cứu thăm dò xem năng lượng hạt nhân, cùng với các nguồn năng lượng các-bon thấp khác sẽ hữu ích ra sao. Họ đã phát triển và áp dụng các khuôn khổ phân tích và công cụ mô hình khác nhau để dự báo nhu cầu năng lượng trong vài thập kỷ tới, đánh giá các lựa chọn và danh mục cung cấp về công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu dự kiến và đánh giá tác động của các danh mục đó đối với phát thải khí nhà kính.  Các nhóm nghiên cứu ở Armenia, Pakistan, Ba Lan, Ukraine và Thổ Nhĩ Kỳ đã xác định được tiềm năng đáng kể của năng lượng hạt nhân trong giảm thiểu biến đổi khí hậu ở chính quốc gia của họ. Nếu giải quyết được chi phí đầu tư trả trước và các rào cản tài chính thì điện hạt nhân sẽ trở nên ngày càng hấp dẫn ở Chile, Ghana và Nam Phi. Tại 3 quốc gia – Croatia, Lithuania và Việt Nam – điện hạt nhân hiện được coi là không thể cạnh tranh với các loại năng lượng khác. Australia và Ukraine đã chia sẻ kiến thức chuyên môn theo nhiều báo cáo khác nhau.  Ghana và Ba Lan nằm trong số khoảng 30 quốc gia “tân binh” về hạt nhân đã bắt tay vào việc hoặc đang xem xét về năng lượng hạt nhân. Armenia và Nam Phi đã vận hành các nhà máy điện hạt nhân và cân nhắc mở rộng. Pakistan đang xây mới để bổ sung vào đội ngũ các lò phản ứng hiện có. Thổ Nhĩ Kỳ đang xây dựng các lò phản ứng đầu tiên, trong khi điện hạt nhân của Chile có thể cần được xem xét trong tương lai.  Tại một sự kiện của IAEA tại COP26 tháng trước, Bộ trưởng Năng lượng Ghana Matthew Opoku Prempeh cho biết nước này đang cân nhắc sử dụng năng lượng hạt nhân để sản xuất điện các-bon thấp, nguồn năng lượng thủy điện không còn duy trì được nữa. Ông Seth Kofi Debrah, Giám đốc Viện Năng lượng Hạt nhân của Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Ghana cho biết: “Kết quả của Dự án CRP đã hỗ trợ Chương trình Điện hạt nhân Ghana, thêm minh chứng vững chắc để đưa hạt nhân vào hỗn hợp năng lượng, và vào bản NDC.” Ông nói thêm rằng Ghana đã sửa đổi NDC vào tháng 11/2021, trong đó đã bổ sung điện hạt nhân.  Đối với Armenia, quốc gia này đã dựa vào một lò phản ứng điện hạt nhân duy nhất cho khoảng 1/3 sản lượng điện. Việc đánh giá một số kịch bản năng lượng chỉ ra rằng, sử dụng năng lượng hạt nhân có thể giúp nước này tuân thủ đầy đủ các cam kết trong Thỏa thuận Paris. Giống như Ghana, Armenia cũng cập nhật NDC, trong đó lần đầu tiên có năng lượng hạt nhân góp mặt vào năm 2021.  Đối với Ba Lan, nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của năng lượng hạt nhân đối với giảm thiểu biến đổi khí hậu trong tương lai, phù hợp với kế hoạch quốc gia xây dựng 6 lò phản ứng điện hạt nhân lớn trong hai thập kỷ tới để hỗ trợ cả mục tiêu khí hậu và an ninh năng lượng. Vì Ba Lan hiện phụ thuộc vào than để tạo ra khoảng 70% điện năng, nên những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế và xã hội của đất nước có thể cần thiết để đáp ứng các cam kết của Hiệp định Paris và nghiên cứu của CRP cho thấy rằng, bổ sung hạt nhân vào hỗn hợp có thể mang lại nhiều việc làm hơn và GDP cao hơn để đảm bảo quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch này hỗ trợ các mục tiêu phát triển của xã hội.  Ngoài việc hỗ trợ các nỗ lực quốc gia đánh giá vai trò tiềm năng của năng lượng hạt nhân, Dự án CRP còn giúp nâng cao kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia  tham gia nghiên cứu trong đánh giá các chiến lược và chính sách về năng lượng và biến đổi khí hậu một cách rộng rãi hơn. Theo Giáo sư Mladen Zeljko, Giám đốc Điều hành cho biết Cán bộ của Viện Năng lượng Hrvoje Pozar ở Croatia, bằng cách “trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia từ các quốc gia khác… [CRP đã giúp nâng cao] trình độ kiến thức… và cũng tạo điều kiện xác định các yếu tố quyết định quan trọng nhất của các văn bản và kế hoạch chiến lược quốc gia trong lĩnh vực năng lượng”.  Nhiều nhóm nghiên cứu quốc gia, bao gồm cả Croatia, đã sử dụng các công cụ mô hình năng lượng của IAEA, đánh giá tiềm năng của năng lượng hạt nhân trong CRP. Nghiên cứu của Croatia, quốc gia cùng vận hành một nhà máy điện hạt nhân với nước láng giềng Slovenia, cho thấy, xây mới một nhà máy điện hạt nhân lớn không có tính cạnh tranh về tài chính và giá các-bon hiện tại, nên nước này dự định theo dõi sự phát triển của các SMR như một lựa chọn tiềm năng với giá cả phải chăng và tạo điện các-bon thấp linh hoạt.  Giáo sư Mladen Zeljko chia sẻ, “CRP mang lại lợi ích to lớn cho chúng tôi trong phát triển các kế hoạch chiến lược quốc gia liên quan đến khí hậu và năng lượng, giúp hình thành các kịch bản nhất quán, đặt ra các mục tiêu chính cho sự phát triển lâu dài và những tác động của ngành năng lượng đối với biến đổi khí hậu”.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/giam-thieu-bien-doi-khi-hau-mot-so-quoc-gia-huong-loi-tu-nang-luong-hat-nhan-theo-cac-nghien-cuu-moi/       Author                .        
__label__tiasang Gián điệp mạng thông qua phát tán virus sẽ trở thành ngành “công nghiệp”      Các chuyên gia BKAV cảnh báo, hoạt động gián điệp mạng thông qua phát tán virus sẽ trở thành ngành “công nghiệp” trong năm 2013.    Một bản báo cáo tình hình an ninh mạng năm 2012 và nhận định năm 2013 vừa được BKAV đưa ra. Theo đó, BKAV nhận định, đa phần người sử dụng vẫn ngộ nhận rằng file văn bản (Word, Excel, PowerPoint) là loại file an toàn, không có virus. Không đơn giản để thay đổi quan điểm này trong tương lai gần và đó chính là điều kiện “lý tưởng” để giới tội phạm phát triển một mạng lưới gián điệp.  Những hình thái phát tán mã độc vốn chỉ thấy trên môi trường máy tính sẽ chuyển hướng bùng phát trên môi trường smartphone trong năm 2013. Các phần mềm nổi tiếng, phần mềm an ninh cho điện thoại di động sẽ là đối tượng bị giả mạo nhiều nhất.  Theo thống kê của Bkav, trong năm 2012 vẫn có tới 2.203 website của các cơ quan doanh nghiệp tại Việt Nam bị tấn công, chủ yếu thông qua các lỗ hổng trên hệ thống mạng. So với năm 2011 (có 2.245 website bị tấn công), con số này hầu như không giảm.  Thực trạng này cho thấy, an ninh mạng vẫn chưa thực sự được quan tâm tại các cơ quan, doanh nghiệp. Theo nhận định của các chuyên gia Công ty Bkav, hầu hết cơ quan doanh nghiệp của Việt Nam chưa bố trí được nhân sự phụ trách an ninh mạng hoặc năng lực và nhận thức của đội ngũ này chưa tương xứng với tình hình thực tế. Đó là những nguyên nhân chính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giàn khoan tự nâng Tam Đảo 05: Chủ động khoan thăm dò ở vùng nước sâu có độ nghiêng lớn      Sau khi chế tạo thành công giàn khoan Tam Đảo 03 chất lượng  tương đương với giàn khoan do Mỹ, Singapore, Trung Quốc chế tạo, Công ty  cổ phần Chế tạo giàn khoan dầu khí (PV Shipyard – được thành lập bởi  các cổ đông chiến lược là: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN),  Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Tổng Công ty Lắp máy  Việt Nam (Lilama), Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin)  chuyên chế tạo các loại giàn khoan và các phương tiện nổi dầu khí) tiếp  tục làm tổng thầu chế tạo giàn khoan tự nâng Tam Đảo 05 cùng với chủ đầu  tư là Liên doanh Việt – Nga (Vietsovpetro).          Trước khi khởi công chế tạo Tam Đảo 05, Vietsovpetro và PV Shipyard cùng với sự tham gia của các đơn vị liên quan đã đàm phán về giá, các điều khoản hợp đồng và đi đến thống nhất đóng mới giàn khoan trong tháng 11-2013. Giàn khoan tự nâng Tam Đảo 05 đã được khởi công chế tạo vào ngày 10-12-2013 và đây cũng là dự án khoa học – công nghệ cấp Nhà nước.   Việc đóng mới và đưa vào hoạt động Tam Đảo 05 có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược sản xuất, kinh doanh, giúp tiết giảm ngoại tệ, tăng cường năng lực và tạo thế chủ động cho Vietsovpetro trong công tác khoan thăm dò, khoan khai thác ở các vùng nước sâu có độ nghiêng lớn hơn, khó hơn trong tương lai. Đại diện của PVN khẳng định: “Giàn khoan Tam Đảo 05 có tổng trọng lượng 18.000 tấn và là công trình lớn nhất về cơ khí được khởi công trong năm 2013. Đây còn là công trình kết thép lớn nhất từ trước đến nay, đòi hỏi kỹ thuật công nghệ rất cao, đã trở thành công trình quan trọng của ngành cơ khí Việt Nam…”.  Vietsovpetro đã yêu cầu tổng thầu PV Shipyard trong quá trình triển khai dự án phải bảo đảm an toàn, đúng tiến độ, chất lượng trong khuôn khổ đã ký. Vietsovpetro cam kết sẵn sàng hỗ trợ tối đa khi có yêu cầu từ PV Shipyard để bảo đảm công trình triển khai đúng tiến độ và đạt chất lượng tốt nhất. Ngày 25-10-2014, PV Shipyard đã đặt Ky (Keel laying) cho Tam Đảo 05 sau gần 12 tháng thi công, đánh dấu bước chuyển quan trọng của một công trình mang tầm cỡ quốc gia, có thể sánh vai cùng với các công trình trong khu vực và thế giới. Điều đó chứng tỏ ngành cơ khí chế tạo của Việt Nam nói chung và cơ khí chế tạo trong PVN nói riêng, nhất là tại PV Shipyard đang từng bước được nâng tầm công nghệ ngang bằng với thế giới.  Tại nhà máy Chế tạo giàn khoan Tam Đảo 05 thuộc PV Shipyard, những khối hàng khổng lồ đang được vận chuyển, kết nối để tạo nên một giàn khoan tự nâng 120m nước. Với sự nỗ lực của tập thể PV Shipyard, hơn 1/3 chặng đường thi công chế tạo Tam Đảo 05 đã đi đúng hướng và những người thợ tự tin hơn trước. Bởi sau khi chế tạo thành công giàn khoan Tam Đảo 03, đội ngũ những người trẻ đó đã từng bước trưởng thành, làm chủ công nghệ, tự tin hơn khi đóng mới Tam Đảo 05.  Theo đại diện của PV Shipyard, với giàn khoan Tam Đảo 05, đội ngũ kỹ sư của đơn vị phải thiết kế 800 bộ bản vẽ chi tiết: bố trí thiết bị, chạy hệ thống đường ống, phân bổ không gian… Mặc dù giá trị chỉ chiếm 6% của toàn dự án, nhưng thành công của công tác thiết kế chi tiết lại chiếm vai trò quan trọng, bởi chỉ một sai sót sẽ ảnh hưởng lớn đến tiến độ dự án.   Giàn khoan Tam Đảo 05 có sức chứa 140 người, khả năng chuyên chở 2.995 tấn (tối đa 6.488 tấn) với tổng khối lượng dự kiến khoảng 18.000 tấn. Phạm vi hoạt động của giàn khoan ở độ sâu nước biển hơn 120m (400ft) nước và khả năng khoan tới mỏ dầu khí với độ sâu 9km (30.000ft). Tổng mức đầu tư cho giàn khoan Tam Đảo 05 có giá trị trên 200 triệu USD và dự kiến sẽ hoàn thành sau 32 tháng thi công.   Giàn khoan Tam Đảo 05 có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi trường và sẽ được cơ quan Đăng kiểm Hàng hải Hoa Kỳ (ABS) và Đăng kiểm Việt Nam (VR) chứng nhận trước khi đưa vào sử dụng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gian nan chuyển đổi nền kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường      Khác với Việt Nam, Trung Quốc, Nga và các  nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, chuyển đổi hoàn toàn tự lực, và không  có đối chứng so sánh, khó định lượng được mức độ gian nan và trường kỳ  của quá trình chuyển đổi, nền kinh tế Đông Đức được Tây Đức đổ bao nhân,  tài, vật lực, công cụ luật pháp hỗ trợ, nhưng tới nay vẫn còn cần tiếp  50 năm nữa mới đuổi kịp đối chứng Tây Đức, vốn cả hai cùng xuất phát  điểm năm 1945 hoàn toàn tương đương nhau về mọi mặt.     Để có sơ sở xây dựng đối sách chuyển đổi tối ưu, kể từ năm 1997, hàng năm, nhân ngày tái thống nhất 3/10, Chính phủ Đức đều đưa ra báo cáo tổng kết về thực trạng phát triển kinh tế Đức, phân tích đánh giá so sánh giữa hai miền, bao gồm cả quá trình lũy kế tính từ năm thống nhất lẫn năm hiện tại.   Kết quả báo cáo năm nay, công bố đầu tháng này cho thấy, sau 23 năm tái thống nhất nước Đức kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ, kinh tế Đông Đức vẫn đình trệ, thậm chí tụt nhiều so với các tiểu bang Tây Đức. Theo đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người năm 2011 tại Đông Đức chỉ bằng 71% Tây Đức. Về tốc độ tăng trưởng, nếu loại bỏ yếu tố lạm phát 2,5%, thì các tiểu bang Đông Đức nằm dưới mức trung bình toàn Liên bang tới 3%. Sang nửa đầu năm nay, kinh tế Đông Đức tăng trưởng 0,5% trong khi kinh tế Tây Đức tăng tới 1,2%, tức trên gấp đôi. Thu nhập từng hộ gia đình tại Đông Đức thấp hơn 1/5 Tây Đức. Sức mua tại các tiểu bang Đông Đức thấp hơn mức trung bình toàn Liên bang 16%. Về lao động, số người có việc làm tại Đông Đức không ngừng tăng kể từ năm 2005, tới năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp xuống cực tiểu chỉ còn 11,3%, mức thấp nhất kể từ sau tái thống nhất, nhưng so với Tây Đức vẫn cao gấp đôi!          Sau  23 năm, GDP đầu người Đông Đức mới chỉ  tương đương hơn 2/3 Tây Đức,  mặc dù tổng cộng đã có khoảng từ 1 tới 2,5  nghìn tỷ Euro được đổ vào  đây để giúp chuyển đổi nền kinh tế.        Hệ quả chênh lệch các chỉ số trên, dẫn tới thay đổi cơ cấu địa kinh tế. Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2008, dân số Đông Đức giảm 11,7% do chuyển sang Tây Đức sinh sống, và xu hướng này dự báo còn giảm tiếp tục trong những năm tới.     Nếu biết rằng nước Đức đã phải đổ vào Đông Đức tổng cộng tới nay ước chừng từ 1 tới 2,5 nghìn tỷ Euro, mà sau 23 năm chỉ mới đưa được GDP đầu người Đông Đức lên tương đương hơn 2/3 Tây Đức, mới thấy cái giá vực dậy nền kinh tế quản lý tập trung, chuyển đổi nó sang nền kinh tế thị trường tốn kém khủng khiếp ở mức độ nào, đằng đẵng tới bao lâu.  Về tài chính, chỉ riêng người lao động, theo luật SolZG họ phải trích lương đóng khoản tiền tái kiến thiết Đông Đức được gọi là phí đoàn kết từ năm 1991 ở mức 7,5% thuế lương, và từ năm 1998 mới giảm xuống còn 5,5%. Tính ra, hàng năm, nhân dân cả nước Đức đã đóng góp tài chính cho Đông Đức thông qua Quỹ trên lên tới trên dưới 10 tỷ Euro ngang ngửa thu ngân sách Việt Nam, liên tục từ 23 năm qua. Quỹ thống nhất nước Đức FDE thành lập năm 1990 để đầu tư trang bị cho cơ quan nhà nước phía Đông từ 1990-1994 là 115 tỷ DM, sau đó được nâng lên 146,3 tỷ, và tháng 3/1993 nâng lên mức cuối cùng 160,7 tỷ. Tổng cộng 5 tiểu bang Đông Đức nhận từ Liên bang Đức mỗi năm 20,6 tỷ Euro. Quỹ thống nhất nước Đức lần 2 đổ tiếp vào Đông Đức, bắt đầu từ năm 2004, có giá trị tới 2019 với mức 156,5 tỷ Euro, trong đó có 105,3 tỷ Euro được dùng đầu tư cơ sở hạ tầng.          Chỉ   9% người dân Đông Đức muốn trở lại thời Đông Đức, trong khi 11% dân  Tây  Đức muốn dựng lại tường thành chia đôi Berlin trước kia do họ không   muốn chịu đựng hơn nữa gánh nặng Đông Đức – theo điều tra nới đây của  Trung tâm  Nghiên cứu khoa học xã hội Berlin và Brandenburg         Trong khi ở Việt Nam, doanh nghiệp phải loay hoay học hỏi tìm kiếm thử nghiệm mô hình tập đoàn trên thế giới để mong “tạo ra những cú đấm thép“ cạnh tranh toàn cầu, và hệ quả chục năm sau vẫn phải tìm kiếm giải pháp tái cơ cấu lại nó, thì doanh nghiệp Đông Đức đã có sẵn mô hình áp dụng cùng hành lang pháp lý Tây Đức điều chỉnh, đó là một lợi thế độc nhất trên thế giới không một quốc gia nào chuyển đổi nền kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường có thể có được. Nghĩa là Đông Đức không chỉ được đầu tư nhân, tài, vật lực tối đa cho quá trình chuyển đổi, mà còn tránh được, không phải trả giá mầy mò cho quá trình đó, ấy thế mà con đường phấn đấu nhắm đích ngang ngửa trình độ phát triển Tây Đức còn phải trông đợi những 50 năm tới. Nền kinh tế Việt Nam, Trung Quốc, Nga, và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ không có được cơ may như Đông Đức, liệu có đủ nỗ lực gấp bội họ nhiều lần để có thể đuổi kịp thế giới trong cùng quãng thời gian như họ? Nếu không, sẽ đằng đẵng tới bao giờ?    Thống nhất đất nước là khát vọng chung của mọi quốc gia chia cắt, nhưng cái giá phải trả dẫn tới sự nhìn nhận về nó không phải người nào cũng giống người nào. Kết qủa khảo cứu mang tên: “Điều tra xã hội học năm 2012, nước Đức thống nhất từ năm 1990-2012, chỗ đứng của công dân„ do Trung tâm Nghiên cứu khoa học xã hội Berlin và Brandenburg, Đức, tiến hành, công bố đầu tháng này, cho thấy: 37% công dân Tây Đức cho rằng mình bị thiệt thòi bởi thống nhất, trong khi phía Đông chỉ 24%. Ngược lại 42% công dân phía Đông coi thống nhất là thắng lợi vẻ vang, trong khi phía Tây chỉ 37%. Có hơn một nửa vừa không muốn quay trở lại nước Đức, nhưng cũng không coi cuộc sống hiện tại đã thực sự hạnh phúc, nghĩa là không thể bằng lòng với nó mà còn phải phấn đấu. Chỉ 9% người dân Đông Đức muốn trở lại thời Đông Đức, bởi số này đã quen thích nghi với nền kinh tế đó như máu thịt, trong khi 11% dân Tây Đức muốn dựng lại tường thành chia đôi Berlin trước kia do họ không muốn chịu đựng hơn nữa gánh nặng Đông Đức. Dù tư tưởng ngược lại khát vọng chung của dân tộc, nhưng họ cũng là nhân dân, đồng chủ nhân đất nước, được quyền bày tỏ chính kiến riêng mình và là một căn cứ không thể bất chấp khi nhà nước hoạch định chính sách.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học ở Tây Ban Nha mất điểm vì bê bối      Sinh viên Đức có học bổng Erasmus rất ưa chuộng học tại Tây ban nha, không phải do chất lượng giảng dạy tốt.    Các vụ bê bối về bằng thạc sĩ dởm cho thấy sinh viên Đức có học bổng Erasmus yêu thích Tây Ban Nha không phải vì chất lượng giảng dạy đại học ở nước này.  Đối với sinh viên Jonas Zetzsche ở Hamburg thì mấy tháng trải nghiệm học bổng Erasmus ở Tây ban nha chẳng khác gì mấy tháng nghỉ hè: “Trình độ các khoá học về cơ bản thấp“, Jonas 22 tuổi, năm 2017 đã theo học nửa năm tại Universidad Autónoma de Madrid ở thủ đô Madrid, một trong số 15 trường cao đẳng cỡ lớn ở thủ đô Tây Ban Nha cho biết.  Thủ đô Berlin chỉ có 4 trường đại học lớn, “Ngược lại bên chúng tôi người ta vẫn coi trọng số lượng hơn chất lượng. Chúng tôi thích khuếch trương thành tích“, Ignacio Sánchez-León, một giảng viên từng dạy đại học ở Tây Ban Nha đã nói như vậy, ông cũng đã từng sinh sống ở Đức và hiện là nhà tư vấn doanh nghiệp ở Barcelona.  Luật sư và nhà hoạt động Miguel Gallardo còn nói: “Các trường đại học của chúng tôi còn bị bê bối vì nền kinh tế ngầm, và những kẻ thuê người khác viết luận văn tiến sỹ và thạc sỹ “, luật sư người Tây Ban Nha. Ông từng tham gia nhiều vụ xét xử những vụ gian lận ở các trường đại học.     Universidad Autónoma de Madrid ở thủ đô Madrid, một trong số 15 trường cao đẳng cỡ lớn ở thủ đô Tây Ban Nha.  Các sinh viên Đức được học bổng Erasmus như Jonas hầu như không trực tiếp chứng kiến các vụ bê bối đó. Họ lại chỉ cảm thấy khá vui : “Ở Tây Ban Nha, người ta có nhiều thời gian rảnh rỗi. Tôi đã tận hưởng triệt để điều đó. Cuộc sống về đêm ở Madrid hoàn toàn khác lạ và đâu đâu cũng sôi động, tràn ngập niềm vui“, chàng sinh viên kinh tế nghĩ lại về quãng thời gian đã trôi qua ở Tây Ban Nha. Bên cạnh yếu tố ngôn ngữ, “không khí sôi động” và thời tiết cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho các trường đại học ở Tây Ban Nha được xếp hạng cao và được các sinh viên Đức đánh giá là nước chủ nhà đáng yêu nhất. Quản lý ở các trường lại khá lỏng lẻo nên càng được sinh viên ưa chuộng. Mỗi năm có khoảng 5000 sinh viên Đức có học bổng Erasmus theo học tại các trường đại học ở Tây Ban Nha.  Yêu cầu chất lượng không cao cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các trường đại học kinh doanh tư nhân như Esade, IE và IESE  là điểm nóng cho bằng MBA, nhưng lại không có tên trong danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Shanghai Ranking, thay vào đó các trường này thuộc diện top các trường đại học ở châu Âu về gian lận. Một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Meinungsforschungsinstituts YouGov và hãng Headhunter Milata KG của Đức tiến hành năm 2016 cho thấy những trường hợp chỉ có bằng thạc sĩ trên giấy tờ. Trong số 10 nước được phân tích, trong đó có nước Đức, thì Tây Ban Nha, theo đánh giá của giới sinh viên, đứng hàng thứ nhất về các trường đại học tham nhũng, trước Italia và Rumani.  Theo cuộc khảo sát này thì 46% những người tham gia cho rằng họ là nhân chứng về sự ưu ái do có quan hệ cá nhân giữa thầy và trò. 29% trong số này cho rằng, điều này cũng diễn ra khi trao bằng cấp kể cả danh hiệu tiến sỹ. Những người tham gia khảo sát chấm điểm những điều không bình thường ở các trường đại học mà họ theo học. Số điểm càng cao thì tình hình càng tồi tệ hơn (thang điểm từ 0 đến 500).  Anh: 44 điểm  Thuỵ Điển: 63 điểm  Pháp: 86 điểm  Ba Lan: 88 điểm  Hungary: 107 điểm  Đức: 115 điểm  Séc: 127 điểm  Rumani: 139 điểm  Italia: 145 điểm  Tây Ban Nha: 170 điểm  Trong một báo cáo “Chất lượng các cơ quan ở Tây Ban Nha” mới công bố gần đây của Hiệp hội các nhà doanh nghiệp Tây Ban Nha, thì lĩnh vực giáo dục ở Tây Ban Nha hết sức tồi tệ. Chất lượng giảng viên cũng như hệ thống đánh giá các trường đại học bị chỉ trích nặng nề.  Giảng viên đại học José Penalva Buitrago năm 2011 đã trình bày trong cuốn sách “Tham nhũng ở các trường đại học” về những gì đang diễn ra ở các trường đại học Tây Ban Nha. Lúc đó ông đã có thể bị trường đại học ở Murcia đuổi việc, vì bằng đại học, thạc sĩ có thể đáng giá nhiều triệu Euro ở Tây Ban Nha. Ai muốn đạt một vị trí trong quản lý thì cần phải có MBA. Giá của nó ở các trường đại học hàng đầu lên tới từ 40.000 đến 60.000 Euro. Đây là tấm vé vào cửa đối với các doanh nghiệp hàng đầu ở Tây Ban Nha. “Người Tây Ban Nha, từ các bậc phụ huynh cũng như các doanh nghiệp rất chuộng bằng cấp. Việc có được các văn bằng đó qua các con đường mờ ám là điều không có gì lạ“, chính trị gia Josep Antoni Duran i Lleida đã thừa nhận điều này. Ông đòi xem xét lại một cách đầy đủ toàn bộ hệ thống giáo dục của Tây Ban Nha.  Cũng chính nhờ sự sùng bái bằng cấp một cách thái quá nên các trường đại học ở nước này mỗi năm có doanh thu lên đến gần 1 tỷ Euro (theo tờ báo kinh tế của Tây Ban Nha“El Economista” ). Đứng hàng đầu là Madrid Universidad Europea, một trường đại học tư thục. Tất cả các trường đại học đều được hưởng lợi vì ở Tây ban nha hầu như tất cả học sinh sau khi tốt nghiệp đều học bậc đại học, khác với ở Đức – nơi mà dạy nghề cũng được coi trọng và không phải ai cũng có thể tốt nghiệp trung học phổ thông.  Ở Tây Ban Nha hầu như ai cũng có thể học đại học tư thục miễn là có tiền, còn ở các trường công lập, nhiều lĩnh vực có chỉ tiêu về số lượng sinh viên được nhập học. Do đó dẫn đến tình trạng tràn ngập những người tốt nghiệp đại học và cũng vì thế nên mức lương khởi điểm bị hạ xuống. Hầu như không có nước nào có nhiều người tốt nghiệp đại học làm bồi bàn như ở Tây Ban Nha và chính người Tây Ban Nha càng ngày càng tỏ ra bất bình khi bằng đại học hầu như không có giá trị ở nước này. Lương bình quân của sinh viên tốt nghiệp đại học là 1500 Euro một tháng; hơn chút đỉnh so với lương của một người làm nghề lau chùi quét dọn không thông qua đào tạo.  Cách đây không lâu gian lận, trí trá ở các trường đại học cũng như trong lý lịch vẫn được coi là chuyện thường ngày ở Tây Ban Nha. Có nhiều trường hợp, những kẻ có quyền thế dùng bằng giả và lý lịch gian dối mà vẫn bình chân như vại. Nhưng mới đây sau vụ bê bối liên quan đến Cristina Cifuentes, thống đốc vùng Madrid, tình hình đã thay đổi. Bà này bị buộc tội sử dụng bằng thạc sĩ giả của đại học Madrider Universidad Rey Juan Carlos và bà ta cũng hoàn toàn không làm luận văn thạc sĩ Hiện tại bà này đã bị tước bằng và do áp lực của phe đối lập cũng như của công luận nữ chính trị gia này đã phải từ chức.  “Cho dù hiện nay vụ Cifuentes vẫn tiếp tục bị chỉ trích, nữ chính trị gia phái bảo thủ đã vô tình làm một điều tốt đẹp cho Tây Ban Nha. Cuối cùng thì không chỉ tình trạng tham nhũng giữa doanh nghiệp và giới chính khách mà cả việc làm ăn kinh tế mờ ám của các trường đại học cũng bị phanh phui, điều này có thể giúp cho sự đổi mới giáo dục ở Tây Ban Nha“, nhà tư vấn doanh nghiệp Ignacio Sánchez-León nói.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/erfolg/hochschule/bildung-spanische-unis-sind-zersetzt-von-korruption/21217612.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục nhân văn trong thời kỳ truyền thông – công nghệ: Giáo dục STEM hay CORE?      Gần đây, một số nhà giáo dục và nhà nhân văn chủ nghĩa đã phải xem xét lại vai trò và cách thức giáo dục nhân văn như thế nào để có thể “sống tốt hơn”, để con người đúng là con người mà không bị đánh mất, lép vế nhân tính trong thời đại số/trí tuệ nhân tạo. Vấn đề hóc búa này, nghiễm nhiên còn lâu mới hết các bàn luận, cũng góp phần làm nảy sinh một lượng lớn chưa từng có các phương pháp giáo dục thực hành nhân văn. Dẫu vậy, điểm mấu chốt, trước hết, phải bắt đầu từ một ý niệm căn bản và cụ thể về việc giáo dục nhân văn trong thời đại số cần triển khai theo những bước nào.         Gần đây, nhiều giáo viên mầm non/tiểu học bắt đầu áp dụng hành vi “chào yêu thương” học sinh bằng cách “ôm, cụng tay, bắt tay” các em trước cửa lớp. Trong ảnh: Màn chào hỏi trẻ ấn tượng và đầy yêu thương của các cô giáo Trường Mầm non Thanh Bình (Hải Dương). Nguồn: Vietnamnet  Bộ khung định hình giáo dục nhân văn trong thời đại số     Trong tiểu luận Humanity in the Digital Age: Cognitive, Social, Emotional, and Ethical Implications, hai tác giả Junko Yamamoto và Simeon Ananou cho rằng “cách thức con người sử dụng công nghệ đã làm suy yếu nhân tính của họ ở một số khía cạnh”.  Hai tác giả phác họa khung nhân tính, bản chất người bao gồm bốn khía cạnh: nhận thức, tương tác xã hội, cảm xúc và đạo đức1. Bộ khung này cũng được dùng để định hình việc giáo dục nhân tính/nhân văn trong thời đại số với mục tiêu làm thế nào để các ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ không giảm thiểu nhân tính, để nhân tính/nhân văn được truyền đi tích cực trong/bởi các phương tiện công nghệ.  Hai tác giả đưa ra một số gợi ý kèm ví dụ để thiết kế khung giáo dục nhân văn đó: 1/ Tăng cường sự tự nhận thức: tự suy nghĩ về việc đã lãng phí bao nhiêu thời gian trên phương tiện truyền thông xã hội có thể khiến một người giải độc nghiện công nghệ. Các quyết định, chẳng hạn, từ bỏ/giảm thiểu facebook hoặc tweet đều phản ánh nhận thức và đạo đức của cá nhân. Lựa chọn đó cuối cùng trở thành thói quen, và “thói quen có thể dẫn đến sự hình thành nhân cách”; 2/ Các bước phục hồi sau nghiện công nghệ: tập trung vào liệu pháp nhận thức hành vi. Trong khi đòi hỏi kiêng Internet là không thực tế (vì cuộc sống hiện nay của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào Internet) thì vẫn có thể tạo lập hành vi xóa các dấu trang yêu thích (bookmark) như game, cờ bạc hoặc khiêu dâm. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng các nhà giáo dục không có đủ điều kiện để quản lí liệu pháp điều trị nghiện, họ chỉ có thể lấy các tác phẩm giáo dục để nâng cao nhận thức và ngăn ngừa nghiện; 3/ Giáo dục kiểm soát xung động (impulse control education): con người rất dễ bị hút vào bất cứ thứ gì thuộc về công nghệ – truyền thông, dù đó chỉ là tia nhấp nháy trên màn hình, âm thanh tin nhắn, tiếng chuông… Vì thế, giáo dục kiểm soát xung động là cách rèn luyện ý thức không phản ứng với chúng, mà tập trung vào điều gì khác quan trọng hơn; đồng thời, tạo ra mối bận tâm vào sự “trì hoãn thỏa lòng”, “chống lại thôi thúc phản hồi ngay”2. 4/ Dạy trung thực học thuật: Nội dung này hướng đến việc ngăn chặn đạo văn trong thời kĩ thuật số. Trường đại học phải có chương trình “liêm chính học thuật” trong giáo trình để sinh viên (nhất là sinh viên năm đầu) nắm rõ quy cách trích dẫn tài liệu (văn bản, hình ảnh, âm thanh, video) hợp lí. Các công cụ phát hiện đạo văn trên mạng cũng cần sớm đưa vào sử dụng để người học, người hướng dẫn cùng nhau giám sát việc tuân thủ đạo đức học thuật3.      Bộ khung nhân văn trong thời đại số [J. Yamamoto, S. Ananou, 2015].    Bộ khung nội dung giáo dục nhân văn của J. Yamamoto, S. Ananou, tuy ở dạng đề đạt nhưng cho thấy, nếu muốn triển khai giáo dục nhân văn trong môi trường truyền thông công nghệ số, ngoài khía cạnh hiểu biết về nguyên tắc, kĩ thuật công nghệ, cần phải có tri thức về tâm lí học, đặc biệt là khả năng tác động vào thế giới cảm xúc của người học. Đây là yêu cầu, theo tôi, đánh thức nhà sư phạm đầu tư nhiều hơn với các sản phẩm giáo dục vừa tích hợp sức mạnh công nghệ, thích ứng môi trường kĩ thuật số, vừa đảm bảo yếu tố nhân văn/nhân tính khiến người học tập trung.  Tôi lấy ví dụ: sinh viên có thể tạo ra những tình huống khiến giáo viên ức chế, dẫn đến có lời lẽ, hành động bất thường. Và với điện thoại thông minh trong tay, sinh viên sẽ quay, chia sẻ lên mạng tình huống đó chỉ với suy nghĩ rằng đây là clip giải trí vui vẻ. Tuy nhiên, nếu ở lớp học đó, sinh viên đã từng được giải thích những clip tương tự gây nhiều hệ lụy xấu, hay đã được học các nội dung về lòng trắc ẩn trước nghịch cảnh, chắc chắn họ sẽ không tham gia hoặc dừng lại trò giải trí truyền thông thiếu cân nhắc như vậy. Yếu tố tích lũy cảm xúc, nhận thức trong trường hợp này đã “trì hoãn” thói quen dùng công nghệ truyền thông số.     Hướng vào các yếu tính con người, kiến tạo thế hệ tương lai không dễ bị thải loại bởi công nghệ     Để có thể tạo dựng, bồi đắp cảm xúc mà từ đó, thay đổi nhận thức và hành động của người học thì các môn học phải hướng đến kích thích sự sáng tạo, tôn trọng cá tính và khơi gợi trách nhiệm của người học trước các vấn đề không chỉ của bản thân mà còn của cộng đồng.  Trong cuốn sách Technology vs Humanity của Gerd Leonhard mà tôi đã nhắc đến ở bài trước, nhà tương lai học này gợi ý nên có thêm giáo dục CORE [viết tắt của: Creativity/Compassion (Tính sáng tạo), Originality (Tính độc đáo), Reciprocity / Responsibility (Sự đáp đền/Trách nhiệm) và Empathy (Lòng thấu cảm)] bên cạnh giáo dục STEM4.  G. Leonhard cho rằng trong tương lai, những công việc thuộc lĩnh vực STEM sẽ không đồng đều, cụ thể hơn, những việc lặp đi lặp lại và không cần sáng tạo ngày càng được thay thế bởi robot, máy tính và trí tuệ nhân tạo. Trong khi đó các lĩnh vực CORE thì hướng vào các yếu tính con người, bồi đắp và phát triển nhu cầu cảm xúc, sáng tạo, thẩm mĩ, các băn khoăn và bận tâm mang tính trách nhiệm với xã hội. Nói rộng hơn, giáo dục CORE khai thác sâu năng lực của con người với tư cách là cá thể với những cá tính, cảm xúc riêng rẽ, không thể sao chép như máy móc. Đặt CORE bênh cạnh STEM là phương án giáo dục nhắm vào sự cân bằng giữa công nghệ và nhân văn.  Đáng chú ý, phong trào giáo dục STEM ở Việt Nam đang ngày một lan rộng và bài bản. Thúc đẩy giáo dục STEM cũng được thể hiện trong tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông mới. Tuy vậy, nếu mải mê lựa chọn STEM, các môn học CORE sẽ sụt giảm và điều này, như vòng tròn luẩn quẩn, gián tiếp tạo ra khủng hoảng khoa học xã hội nhân văn. Do đó, hướng điều chỉnh thích hợp trong điều kiện Việt Nam, một quốc gia đang đi tắt đón đầu phát triển công nghệ truyền thông nhưng không muốn rời bỏ các mục tiêu xây dựng con người nhân văn, có lẽ là đặt STEM và CORE theo quan hệ giao thoa, hài hòa.  Dựa trên sức mạnh giáo dục STEM, các lĩnh vực giáo dục CORE (mà môn học của nó phổ biến trong các bậc học ở Việt Nam như văn chương, nghệ thuật, lịch sử, văn hóa, triết học, mỹ học…) có thể cải tiến phương pháp tiếp cận và tối đa hóa đóng góp xã hội của mình.  Ngược lại, CORE đặt nền tảng cho các giá trị STEM không bị chệch theo hướng loại bỏ con người, phi nhân hóa. STEM và CORE là hai lực đẩy song song và tương hỗ của hệ thống giáo dục trong mục tiêu kiến tạo thế hệ tương lai không dễ bị tổn thương, thải loại bởi công nghệ.  Điểm giao thoa giữa STEM và CORE, theo tôi, cho phép các chương trình giáo dục coi trọng cảm xúc, trải nghiệm nội tâm và đạo đức, bổn phận, trách nhiệm cá nhân.  Ở Việt Nam, một thời gian dài, giáo dục nhân văn thường được quy thành giáo dục luân lý/đạo đức5 và với sự hỗ trợ của hệ thống văn chương nghệ thuật, nhân văn được nhìn nhận chủ yếu ở các giá trị như quyền sống, khát vọng, tự do và hạnh phúc của con người.  Tuy vậy, tôi cho rằng, giáo dục nhân văn hiện nay không những phải khác kiểu giáo dục đạo đức trước đây mà còn, một cách nghiêm túc, phải có những bước đi sáng tạo để không lệch nhịp với sự chuyển đổi của thời đại công nghệ – truyền thông số. Trong đó, bước thứ nhất, là khơi gợi cảm xúc và tiếng nói nội tâm của người học.  Khác với giáo dục đạo đức/đạo lí truyền thống áp đặt quyền uy người dạy lên người học, giáo dục CORE coi trọng tinh thần, phương pháp đối thoại. Để cá nhân tự nhận thức/tự quản lí cảm xúc và hiểu biết của mình, đối thoại giữa những người tham gia trở thành nguyên tắc hàng đầu. Bởi tin rằng những suy nghĩ và nhận thức tốt chỉ có thể diễn ra khi tiếng nói của mỗi cá nhân được lắng nghe, tôn trọng, giáo dục CORE biến quá trình tiếp nhận theo trình tự gợi mở, chi tiết và toàn diện theo cấu trúc “4’C”: quan tâm (caring), hợp tác (collaborative), phê phán (critical) và sáng tạo (creative)6.  Với quan điểm và phương pháp có ưu thế riêng đó, các trường học, bậc học cũng nên cân nhắc, lựa chọn việc giáo dục cảm xúc, giáo dục lòng thấu cảm, trách nhiệm, giáo dục sáng tạo như là một hồi đáp thiết yếu trước sự áp đảo của giáo dục khoa học công nghệ. Xét đến cùng, khi môi trường giáo dục vẫn còn chăm chút cho từng tính cách, cảm xúc thì dẫu thời đại máy móc hóa có diễn ra, nhân tính vẫn sẽ hiện hữu. ♦     Đón đọc kỳ 3: Gợi dẫn những mô hình từ thực tế Việt Nam  —-  1 Junko Yamamoto, Simeon Ananou. 2015. “Humanity in the Digital Age: Cognitive, Social, Emotional, and Ethical Implications”. Contemporary Educational Technology, 6 (1), tr.1  2 Giáo dục cách “trì hoãn thỏa lòng” [delayed gratification], hoặc “chống lại thôi thúc phản hồi ngay” [resisting an urge to respond immediately] sẽ kiểm soát được phần nào cơn xung động của con người trước công nghệ-truyền thông. Dường như chưa có những nội dung giáo dục thật sự tạo ra thái độ tôn trọng và hài lòng về tính “trễ muộn”, “trì hoãn” trong đời sống thường ngày.  3 J. Yamamoto, S. Ananou, Tlđd, tr.10-13.  4 Gerd Leonhard. Technology vs Humanity: The coming clash between man and machine. Fast Future Publishing Ltd, 2016, tr.24.  5 Giáo dục đạo đức ở Việt Nam thời hiện đại, trước hết, gắn với giáo dục luân lý do các nhà nho duy tân đề xuất và biên soạn. Ấu học luân lý, Luân lý giáo khoa thư, Chu Tử gia huấn, bằng chữ Hán và Quốc ngữ, là những tài liệu giảng dạy ở bậc sơ học thời Pháp thuộc. Sau Cách mạng Tháng 8, giáo dục đạo đức được hiểu như là giáo dục công dân, trong đó nhấn mạnh nội dung xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Những năm gần đây, tuy giáo dục công dân đã có thay đổi nhưng nhìn chung, giáo dục công dân không tương đồng với giáo dục nhân văn mà bài viết đang bàn đến.  6 Một tham khảo ngắn: Neil Phillipson. “Education and Dialogue of Humanity” tại địa chỉ:  https://www.routledge.com/authors/i15526-neil-phillipson/rss/  7 Elias, M. J. (2004). The connection between social-emotional learning and learning disabilities: Implications for intervention, tr. 53–63.  8 Tham khảo các thông tin, nội dung, khung chương trình và phương pháp triển khai giáo dục SEL tại website chính thức: https://casel.org/.    Một tham khảo về giao thoa giữa STEM và CORE    Mô hình Giáo dục Cảm xúc và Xã hội – SEL” vận hành trong sự hỗ trợ và liên kết mang tính tổng thể: Gia đình và cộng đồng → Chính sách toàn trường → Chương trình và hướng dẫn SEL.     Giữa những năm 1990, nhà báo khoa học Daniel Goleman xuất bản cuốn sách “Emotional Intelligence: Why It Can Matter More Than IQ”, đưa khái niệm trí tuệ cảm xúc trở nên phổ biến. Tiếp theo đó, cụm từ “Giáo dục Cảm xúc và Xã hội” [Social and Emotional Learning – SEL] bắt đầu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu và thực hành về trí tuệ cảm xúc áp dụng cho các trường học bởi nó phản ánh sự thừa nhận mạnh mẽ vai trò của cả hai yếu tố xã hội và cảm xúc trong học tập thành công7. Hiện nay, SEL đang trở thành xu hướng giáo dục được nhiều trường học Mỹ và các nước khác áp dụng. Tôi nghĩ SEL là một tham khảo sáng giá trong điểm giao thoa giữa STEM và CORE bởi, trước nhất, SEL được tích hợp với chương trình giảng dạy học thuật/chính quy như ngôn ngữ nghệ thuật, toán, nghiên cứu xã hội, y tế… Thứ nữa, SEL đòi hỏi cả trường phải tạo ra một bầu không khí thân thiện và văn hóa xuyên suốt các lớp học, yếu tố cần thiết để giáo viên và học sinh hứng thú duy trì khóa học. SEL đề cao 5 giá trị cốt lõi dành cho cộng đồng: tự nhận thức (biết rõ điểm mạnh và hạn chế của bản thân với tinh thần lạc quan, tự tin và tư duy phát triển); tự quản lí (khả năng quản lí hiệu quả căng thẳng, kiểm soát các xung động và thúc đẩy bản thân thiết lập, đạt được các mục tiêu); nhận thức xã hội (khả năng hiểu, thấu cảm với người khác, bao gồm cả những người đến từ các hoàn cảnh và văn hóa khác nhau); kĩ năng thiết lập quan hệ (giao tiếp rõ ràng, lắng nghe tốt, hợp tác với người khác, chống lại áp lực xã hội không phù hợp, đàm phán xung đột một cách xây dựng và đề nghị giúp đỡ khi cần thiết); ra quyết định có trách nhiệm (đưa ra các lựa chọn mang tính xây dựng về hành vi cá nhân và tương tác xã hội dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức, an toàn và các chuẩn mực xã hội)8. Trọng tâm của SEL, như vậy, hướng đến giáo dục “trái tim” và bằng cách đó, tạo dựng sức mạnh của mỗi cá nhân theo “trí tuệ của trái tim”, của cảm xúc và cảm hứng hơn là “trí tuệ của trí tuệ” thiên về lí trí, tư duy thuật toán.    Author                Mai Anh Tuấn        
__label__tiasang Giáo dục nhân văn trong thời kỳ truyền thông – công nghệ: Gợi dẫn những mô hình từ thực tế      Ở Việt Nam, không kể đô thị hay nông thôn, một thế hệ trẻ có dấu hiệu nghiện công nghệ truyền thông đang gây lúng túng cho môi trường giáo dục từ gia đình đến nhà trường. Tuy thế, nếu công nghệ truyền thông có những ý tưởng hoặc cách giáo dục nhân văn thích hợp, chúng ta vẫn tìm thấy những tác động tích cực về nhân văn/nhân tính được lan truyền.         Sau khi đăng lên facebook và nhận được sự cộng cảm rất lớn, các ghi chép của Trang Nguyễn được cô tập hợp, cân chỉnh, biên tập, xuất bản thành sách Trở về nơi hoang dã (2018). Ảnh: INT    Một số mô hình tôi đưa ra dưới đây, trước hết, dựa trên quan sát cá nhân về sự thay đổi trong nội dung truyền thông của cá nhân, nhóm hay đơn vị/cơ quan. Thứ nữa, trong các nội dung đó, nhìn chung, có sự tích hợp giữa giáo dục STEM và giáo dục CORE1 nhằm khơi dậy tối đa cảm xúc, hứng thú và nhận thức của người tiếp nhận.     Mô hình “truyện kể”     Truyện kể vừa tạo dựng thế giới vừa soi chiếu thế giới. Giáo dục nhân văn sử dụng truyện kể, về bản chất, là đặt cá nhân vào vai trò bộc lộ cảm xúc, tự thể hiện mình. Cá nhân từng được chủ nghĩa nhân văn xem là thước đo giá trị con người. Nhưng trong thời công nghệ truyền thông số, cá nhân lại là thực thể dễ bị mất bản sắc và thay thế bởi những phiên bản được nâng cấp. Kể chuyện, rút cuộc, là quyền năng gần như cuối cùng để cá nhân chứng minh sự hiện diện, tồn tại của mình giữa thế giới người máy và AI. Trong thời của chủ nghĩa kết nối, số đông dễ dàng loại bỏ, bỏ quên/bỏ rơi cá nhân. Song chính câu chuyện của một cá nhân lại khiến số đông chú ý, tập trung và chia sẻ.    Tất cả đều diễn ra trong môi trường công nghệ số nhưng kết quả trên thực tế đã cố kết ít nhất một nhóm/cộng đồng tìm thấy nhau ở lòng trắc ẩn, niềm vui và hi vọng.    Truyền thông và mạng xã hội Việt Nam luôn đầy ắp những “truyện kể” dưới hai bản dạng phổ biến: truyện kể được hình thành tự phát, ngẫu nhiên; truyện kể được tạo tác như một sản phẩm báo chí, truyền thông.  So với tự phát, các truyện kể dưới hình hài báo chí thường qua bàn tay chọn lọc, tinh chỉnh và do đó, nội dung, cấu trúc, thông điệp của chúng hẳn nhiên rõ ràng hơn. Theo tôi, hình thức này giàu khả năng tham gia giáo dục nhân văn vì bản thân nó đồng thời thỏa mãn nhiều mức độ: nhân vật, câu chuyện, hình ảnh, xúc cảm, khả năng truyền cảm hứng, khả năng tỉnh thức cảm quan sống ý nghĩa.  Lựa chọn chuyên mục “Tôi kể” trên báo điện tử VnExpress làm ví dụ mẫu, tôi tạm hình dung bốn điểm nhấn trong mô hình truyện kể nhận được phản hồi tích cực từ cộng đồng: 1/Chủ thể câu chuyện là cá nhân cụ thể, “thường dân” (khác với các câu chuyện của chính trị gia, nhà khoa học, nhà kinh tế hoặc giới Celeb); 2/Câu chuyện thể hiện các quan điểm, sở thích, năng lực riêng của cá nhân. Dĩ nhiên, ở đây, câu chuyện phải có những đặc điểm nổi bật, hấp dẫn; 3/Tính chất “truyện kể” hình thành khi câu chuyện được thể hiện qua dạng video báo chí, trong đó, thao tác quay/dựng phim đòi hỏi tính sáng tạo. 4/ Thông qua cách xây dựng video, cấu trúc truyện kể được xử lí nhanh, đơn giản và hiệu quả.    Gần 500 sinh viên khoa quản trị kinh doanh trường ĐH Công nghiệp TP.HCM tham gia vẽ tranh hưởng ứng chiến dịch “Tôi đồng hành” hướng về bệnh nhi ung thư. Ảnh: http://iuhers.com    Mô hình truyện kể cũng có thể xuất hiện trong các hình thức khác: phỏng vấn, chân dung hoặc đối thoại. Ở Việt Nam, mạng xã hội và Youtube là hai phương tiện truyền thông chiếm thị phần lớn, dễ dàng cá nhân hóa nhờ khả năng tạo lập, tương tác và nhân rộng. Do đó, truyện kể trên Youtube sẽ là hiện tại và tương lai của các kênh “truyền hình” cá nhân.     Mô hình “trải nghiệm”     Trải nghiệm, với tư cách là yếu tố cấu thành nên hiểu biết của con người, theo Y. Harari, không thể như các đại lượng đo đếm được (nguyên tử, sóng điện từ, protein hay các con số) mà là “một hiện tượng chủ quan tạo thành từ ba yếu tố chính: cảm giác, cảm xúc và suy nghĩ”2. Các tác động của cảm xúc, cảm giác sẽ tạo thành vốn hiểu biết của mỗi cá nhân. Chính những trải nghiệm mới thúc đẩy mối bận tâm của chúng ta trước điều tốt/xấu và nhận thức được các phẩm chất đạo đức mà mình tôn trọng. Nhưng lựa chọn trải nghiệm nào cho giáo dục nhân văn, theo tôi, cần đặt trên hai chiều hướng: những trải nghiệm mang cảm xúc, nhận thức về trách nhiệm, bổn phận với cộng đồng/xã hội; những trải nghiệm biểu lộ thái độ và quyết định đạo đức của cá nhân.  Là một nhà bảo tồn động vật hoang dã, hiện là đại sứ cho Quỹ United for Wildlife của Hoàng gia Anh, Trang Nguyễn, trên facebook cá nhân, đã kể lại chân thực hành trình năm năm trải nghiệm, tham gia các hoạt động bảo tồn động vật hoang dã ở Nam Phi, Campuchia và Việt Nam.      Các nhà sư phạm, các nhà giáo dục cần nắm bắt nhanh thời điểm lí tưởng này, thời của công nghệ số, để tối đa hóa sức mạnh giáo dục nhân văn.      Lời kể cùng với hình ảnh thực tế gây ấn tượng rằng trải nghiệm của cô gái này, dù khá trẻ (sinh năm 1990), mang đến những cảm xúc, cảm giác rất khác biệt: bảo vệ và giải cứu động vật hoang dã. Những gì Trang trải nghiệm gợi nhắc tầm quan trọng của thiên nhiên và sẽ là dẫn chứng chính xác cho cái cách thiên nhiên đối lập, đối thoại với nhân thế ra sao. Trang không chỉ gióng tiếng chuông cấp bách về tình trạng buôn bán, bắn giết động vật quý hiếm, mà còn đánh động chúng ta nhìn lại mình trước số phận của thiên nhiên.  Mỗi trải nghiệm, tùy sức đẩy của cảm xúc, sẽ thúc giục cá nhân đi đến những quyết định thể hiện thái độ, đạo đức và nhận thức của mình. Cuối năm 2017, cộng đồng mạng xôn xao trước đoạn clip quay cảnh một em bé trần truồng, co ro giữa trời giá lạnh. Người đăng clip còn cho biết em bé bị liệt hai chân, không thể đi lại. Phản ứng chung của mạng xã hội là bày tỏ cảm giác xót xa, trắc ẩn với hoàn cảnh của bé. Ngay tức khắc, gia đình chị Nguyễn Ngọc Phương (TPHCM) đã quyết định lên nơi em bé sống, huyện vùng cao Mường Lát (Thanh Hóa), thăm hỏi và giúp đỡ em. Khi biết thêm rằng mẹ em bị tâm thần, không có điều kiện nuôi nấng con cái, bản thân em đã 6 tuổi nhưng chỉ nặng 10kg và cao 80cm, chị Phương đã xin gia đình nhận nuôi em. Kể từ đó, cái tên em bé Vàng Thị Pàng và nhật kí ngày tháng chăm sóc, chữa trị và dạy dỗ em của gia đình chị Phương thu hút hàng ngàn lượt người theo dõi. Báo chí, truyền thông cũng đưa tin về sự kiện này và họ gọi đó là “câu chuyện cổ tích” giữa thời hiện đại.  Trải nghiệm của chị Phương không xảy ra theo chủ đích sắp xếp, lên kế hoạch từ trước mà đến từ quyết định giàu tính cảm xúc, cảm giác. Sự thay đổi một cách tích cực tốt đẹp của bé Vàng Thị Pàng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực của chị Phương. Mặt khác, đối với cộng đồng theo dõi trải nghiệm của bé Pàng và chị Phương, họ có cơ hội được tích lũy và bày tỏ thái độ xúc cảm của mình. Tất cả đều diễn ra trong môi trường công nghệ số nhưng kết quả trên thực tế đã cố kết ít nhất một nhóm/cộng đồng tìm thấy nhau ở lòng trắc ẩn, niềm vui và hi vọng.     Mô hình “chia sẻ”     Chia sẻ dường như là mô hình dễ dàng với tất cả những ai tham gia truyền thông công nghệ số. Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh rằng “chia sẻ” ở đây không phải là việc bình luận, bấm like hay share bất kì điều gì diễn ra trên mạng xã hội mà là, theo phương pháp của giáo dục nhân văn, thách thức/phê phán hay cộng hưởng một ý tưởng nào đó.      Nhật kí chăm sóc, chữa trị và dạy dỗ bé Vàng Thị Pàng của gia đình chị Phương thu hút hàng ngàn lượt người theo dõi.    Một ý tưởng của cá nhân hay nhóm chỉ được coi là hữu dụng khi thuyết phục cộng đồng đánh giá rằng nó khiến cho “thế giới trở nên tốt đẹp hơn”. Trong khi các dạng thức chia sẻ thông thường (ảnh, clip, video, status, email, messenger…) đều có nguy cơ trao tay dữ liệu cá nhân cho “Dữ liệu giáo” thì sự chia sẻ các sáng kiến, ý tưởng tốt mang lại cảm hứng thực hành tức thời. Trong truyền thông công nghệ số, mô hình chia sẻ cũng cần đến các quy tắc có tính ràng buộc để cá nhân tập trung nhận diện hành vi chia sẻ nào là đúng đắn hoặc không.  Chiến dịch “Tôi đồng hành” là một sự kiện có sức lan tỏa lớn trên mạng xã hội trong năm 2018. Ban tổ chức yêu cầu người tham gia thực hiện các bước đơn giản: vẽ tranh hoặc làm hoa hướng dương, viết thông điệp yêu thương dành cho bệnh nhi ung thư; đăng ảnh chụp bức vẽ đó trên facebook cá nhân với hashtag #ngayhoihoahuongduong2018, #uocnguyenhong2018; tag mời thêm bạn facebook của mình tham gia. Mỗi bông hoa đăng trên facebook theo đúng yêu cầu sẽ được một công ty tài trợ ủng hộ 30.000 đồng thực hiện quà ước nguyện của bệnh nhi.  Nhờ sự hưởng ứng của cộng đồng, khi chiến dịch kết thúc, đã có hơn 300 nghìn bài viết chia sẻ hoa hướng dương. Nhà tài trợ đã trao tặng số tiền hần 5.6 tỷ đồng cho chương trình. Điều đáng nói là, trong số các bài chia sẻ, có đến hơn 300 ngàn bài không hợp lệ theo yêu cầu của ban tổ chức, nhưng chính con số này đã cho thấy cộng đồng (với nhiều thành phần xã hội khác nhau) hiểu rõ ý nghĩa của hành động chia sẻ. Họ chủ yếu nhắm đến cảm xúc được thực hiện một việc làm tốt đẹp dành cho người khác. Và sự hợp tác, chia sẻ cùng nhau khiến các quy định bắt buộc đã phải nhượng bộ. Chia sẻ, như vậy, cũng góp phần để các vấn đề xã hội lớn và phức tạp hơn được nhìn nhận, giải quyết thực chất.  Ngược lại, các cá nhân hoặc tổ chức muốn cộng đồng xã hội cùng hợp tác triển khai ý tưởng, thì phải nhờ đến truyền thông số. Các chiến dịch quy mô thế giới như Giờ trái đất hay Cuộc chạy Marathon Hy vọng đều cần đến sự chia sẻ âm thầm và trách nhiệm từ hàng triệu cá nhân không cùng chung ngôn ngữ, màu da, sắc tộc nhưng có chung tương tác truyền thông và nhận thức về hành động nhân văn.  Sự đồng thuận về ý tưởng cũng nói lên sở thích, cảm hứng và nhận thức chung. Nhóm “Lối sống tối giản” (Minimalism Lifestyle) tuy mới xuất hiện (tháng 6/2017) nhưng đã có hơn 34 nghìn thành viên. Chủ đề chính của nhóm là các ý tưởng và cách thực hành lối sống tối giản. Mỗi thành viên chia sẻ các thu nhận, hiểu biết hoặc băn khoăn của mình về lối sống này. Thoạt nhìn, cách tồn tại của nhóm không có gì đặc biệt hơn so với vô số nhóm kín hoặc công khai trên mạng xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, “minimalism” (chủ nghĩa tối giản) lại đang nằm trong xu hướng lớn từ nghệ thuật đến lối sống trên thế giới. Những gì mà minimalism tạo ra trong kiến trúc, thiết kế, bài trí, văn chương, điện ảnh,… là sự chống lại các ràng buộc vật liệu, chất liệu từng chi phối tư duy con người.  Trên thế giới, chủ nghĩa tối giản đang kích thích nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ độc lập, dấn tới những dự định sáng tạo ở phạm vi vừa sức của các điều kiện, trong đó có điều kiện tài chính, mặt khác, đặt họ vào tiếng nói tương thông liên cá nhân vốn rất cấp thiết trong thời đại truyền thông.  Đặt trong bối cảnh đó, những người theo “Lối sống tối giản” tự định hình sở thích và nhận thức của mình như một giá trị xứng đáng theo đuổi. Mặt khác, ở Việt Nam gần đây, đằng sau sự trương phình của chủ nghĩa tiêu dùng đang gây khủng hoảng môi trường và áp lực tâm lí, “lối sống tối giản” có thể là sự “trở về” cội nguồn phương Đông đề cao tính “vô”, tính Thiền trong hình hài và tâm tưởng. Đó là lí do khiến nhóm “Lối sống tối giản” thường quan tâm đến hoạt động trao đổi đồ cũ, đồ tái chế hoặc tặng quần áo/vật dụng cho người có nhu cầu. Một lần nữa, ý thức về chia sẻ của nhóm có dịp tìm kiếm những lá phiếu đồng thuận.  Nhìn lại, có thể thấy bản thân các hoạt động công nghệ truyền thông số ở Việt Nam cũng hướng đến khả năng mở rộng sự tiếp nhận của người dùng. Đấy không chỉ là thông tin, các tính năng ảo diệu của công nghệ. Đấy còn là các câu chuyện, trải nghiệm hay chia sẻ mà chỉ con người mới thấu hiểu những cảm xúc, sự cộng cảm và ý thức về trách nhiệm chung ở đó. Và vì thế, mỗi người trở nên tích cực hơn trong hành động, hiểu biết nhân văn. Các nhà sư phạm, các nhà giáo dục cần nắm bắt nhanh thời điểm lí tưởng này, thời của công nghệ số, để tối đa hóa sức mạnh giáo dục nhân văn, một nền tảng giáo dục căn bản nhưng đang bị thử thách nghiêm trọng như hiện nay. □     Chú thích:  1 Trong bài thứ hai, “Lựa chọn giáo dục STEM hay CORE”, tôi đã cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, nên có sự giao thoa hài hòa giữa giáo dục các lĩnh vực khoa học – công nghệ (STEM) và giáo dục khơi gợi cảm xúc, nhận thức nhân văn (CORE). Bởi thế, ở bài này, các ví dụ thực tế đưa ra đều được lựa chọn, phân tích để chỉ ra sức mạnh công nghệ truyền thông số đã trở nên “đắt giá” như thế nào khi chứa đựng tinh thần giáo dục nhân văn.  2 Y. Harari. 2018. Homo Deus. Lược sử tương lai. Dương Ngọc Trà dịch. NXB Thế giới, H., tr.283.    Author                Mai Anh Tuấn        
__label__tiasang Giáo dục nhân văn trong thời kỳ truyền thông – công nghệ (Kỳ 1: Con người đã sẵn sàng thoái vị trước máy móc?)      Trước sự phát triển mau chóng và ngày càng tỏ ra chi phối trực tiếp, mạnh mẽ đến cuộc sống của con người, một số nhà nhân văn chủ nghĩa nêu quan điểm cần phải thay đổi cách thức giáo dục nhân văn, nhân tính (humanity) cho cộng đồng thì mới đảm bảo mối quan hệ hài hòa thay vì đối kháng giữa công nghệ truyền thông và con người. Giáo dục nhân văn, theo đó, phải là quá trình và cách thức tìm kiếm, truyền dẫn, xây dựng nhân tính, để nhân tính không bị bào mòn hoặc mất đi trước sức mạnh công nghệ-truyền thông số. Bản thân công việc giáo dục nhân văn cũng không nên đặt hoàn toàn vào vai trò các nhà sư phạm, mà cần sự hợp tác của các nhà tương lai học, các nhà nhân văn chủ nghĩa chính hiệu. Trong loạt bài viết của mình, tôi cố gắng tạo một sự kết dính giữa nỗi bất an về thực tế công nghệ làm suy giảm nhân tính và cách thức hành động của giáo dục nhân văn để bảo vệ, phục hồi, di dưỡng nhân tính. Lựa chọn của tôi vẫn là tìm kiếm các mô hình giáo dục nhân văn khả thi dựa trên thực tế Việt Nam. Xét đến cùng, mỗi mô hình không quan trọng ở tên gọi mà ở cách làm như thế nào để có hiệu quả cao nhất.         Giáo dục nhân văn là chất đề kháng cho con người trong bối cảnh công nghệ thay đổi chóng mặt. Ảnh: Trẻ em tham gia ngày hội văn hóa tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.    Công nghệ và nhân tính: đối đầu hay hài hòa?     The Inevitable: Understanding the 12 Technological Forces That will shape Our future [Không tránh khỏi: Hiểu về 12 sức mạnh công nghệ sẽ định hình tương lai chúng ta] xuất bản năm 2016 của Kevin Kelly chỉ là một trong số hàng trăm cuốn sách, chuyên khảo gần đây trực tiếp bàn về những tác động ghê gớm, đa chiều, luôn luôn và ngày một khó lường của công nghệ đối với đời sống con người. Trong đó, đáng chú ý hơn cả, chỉ khoảng 30 năm nữa, theo K. Kelly, sự xuất hiện của Robot, Dữ liệu lớn (Big Data) và Trí thông minh nhân tạo (AI) sẽ can thiệp vào tất cả mọi lĩnh vực, từ chăm sóc sức khỏe, thể thao, âm nhạc cho đến mua sắm, học tập, việc làm, kết nối cộng đồng…  K. Kelly khá lạc quan khi đưa ra những tiềm năng mà con người có thể đạt được khi làm chủ công nghệ, nhấn mạnh nhiều lần rằng động lực đón nhận công nghệ đang diễn ra khắp toàn cầu, không chỉ ở Bắc Mỹ mà còn ở Ấn Độ, Mali, Peru hay Estonia. Ông không quên khẳng định, với thiện cảm thầm kín, rằng các sức mạnh tiếp nhận công nghệ sẽ cho phép mỗi người cảm thấy được tự chủ, tự quyết hơn thay vì bị phụ thuộc hoặc bị điều khiển. K. Kelly cũng lưu ý việc cần phải kiểm soát và quản lí những phát minh mới để ngăn ngừa những nguy hại thực tế.  Tuy thế, những lời khuyên trôi chảy và biện luận hấp dẫn như của K. Kelly, không ngăn được nhiều người khỏi băn khoăn và bất an khi họ nhận thấy tự động hóa sẽ làm thay công việc thường ngày của họ với hiệu quả cao hơn và chi phí thấp hơn. Vincent Liu, sinh viên Đại học Duke, khi nhắc đến thực tế đó trong bài viết về giáo dục của mình, lập tức quay lại câu hỏi giản đơn nhưng thảng thốt: “Điều gì khiến chúng ta trở thành con người?”      Con người, nhân tính là gì trong dòng chảy công nghệ truyền thông hiện đại, tùy thuộc rất lớn vào các can dự của chủ nghĩa nhân văn. Nói cách khác, để ứng phó với các thành tựu công nghệ, truyền thông ẩn chứa hiểm họa ở thế kỉ 21, con người không có nhiều lựa chọn ngoại trừ sức mạnh và nguồn giá trị từng có là chủ nghĩa nhân văn.      Cũng trong năm 2016, nhà tương lai học và nhân văn chủ nghĩa Gerd Leonhard công bố chuyên khảo, Technology vs Humanity. The Coming clash between man and machine [Công nghệ và Con người: Cuộc đụng độ tất yếu giữa nhân loại và máy móc] – một tựa đề ngắn gọn nhưng dường như bao quát toàn bộ viễn cảnh không mấy thuận hòa giữa công nghệ máy móc với những gì được coi là con người.  Theo G. Leonhard, những thay đổi thực sự lớn (ông gọi là “the megashifts” – “siêu chuyển đổi”) và quan trọng do công nghệ mang đến, dù thích hay không, sẽ diễn ra nhanh hơn bất kì ai có thể tưởng tượng.  Trái ngược với K. Kelley, G. Leonhard giữ một thái độ trầm tư hơn khi phân tích các trạng huống mà mỗi cá nhân phải đối mặt khi công nghệ khoan sâu vào thể chất lẫn tâm trí. Trước hết, chúng quyến rũ con người bằng mức độ ảo diệu (magic) của các chức năng công nghệ, tạo ra những hưng cảm (manic) trải nghiệm khác lạ và nhờ đó, lần lượt chiếm chỗ cuộc sống, ràng buộc con người một cách thủ công nhất. Đây là điểm mấu chốt để G. Leonhard cho rằng khi từng hooc-môn đều bị vít chặt vào các phương tiện công nghệ truyền thông xã hội (như Iphone chẳng hạn), con người phải gánh chịu những độc hại (toxic) thực sự và sâu sắc từ lối sống, sức khỏe đến sự phát triển của trí não.  Trong cái nhìn của G. Leonhard, công nghệ không hề có đạo đức nên mặc dù công nghệ có thể ngày càng mô phỏng và thay thế giáo dục nhưng không bao giờ có thể trở thành “chúng ta”. Việc công nghệ xâm nhập vào cuộc sống riêng tư và các quá trình sinh học của chúng ta, vì thế, cần phải được xem xét, “đàm phán” như một ưu tiên hàng đầu của mỗi công dân và doanh nghiệp. Từ đó, khác với các quan điểm cổ vũ robot hóa (robotization) và xã hội tự động hóa (automating society), G. Leonhard chất vấn rằng con người đã thực sự sẵn sàng thoái vị chủ quyền của mình cho các lực lượng vô danh của công nghệ, và liệu rằng chúng ta đã sẵn sàng cho sự mất mát lớn nhất của ý chí tự do và kiểm soát cá nhân?        Kevin Kelly (trên) khẳng định, với thiện cảm thầm kín, rằng các sức mạnh tiếp nhận công nghệ sẽ cho phép mỗi người cảm thấy được tự chủ, tự quyết hơn thay vì bị phụ thuộc hoặc bị điều khiển; trong khi Gerd Leonhard (dưới) lo ngại khi phụ thuộc vào công nghệ, con người phải gánh chịu những độc hại thực sự và sâu sắc từ lối sống, sức khỏe đến sự phát triển của trí não.     Thời của “Internet Vạn Vật phi nhân”?     Càng khác với niềm lạc quan về mạng lưới Internet Vạn Vật kết nối tất cả, đạt đến quyền uy vô biên, G. Leonhard đặt ra khái niệm “Internet Vạn Vật phi nhân” (Internet of Inhuman Things) dự báo sự thừa mứa thông tin, dữ liệu vô nhân đạo sẽ cuốn chìm con người. Trong chương gần cuối của cuốn sách, chương 11, G. Leonhard đặt vấn đề “Earth 2030: Heaven or Hell”, vẫn là 2030 như tầm nhìn của K. Kelley, còn thiên đường hay địa ngục, theo tác giả, tùy thuộc lựa chọn của mỗi người nhưng tất yếu phải làm ngay từ bây giờ.  Trong bài trả lời phỏng vấn Paul Armstrong nhan đề “Technology vs Human – Who is going to win?” [Công nghệ và con người: Ai sẽ thắng?], G. Leonhard, thêm lần nữa, đặt chúng ta vào những âu lo dai dẳng.  Trả lời câu hỏi “cú sốc tương lai là gì” và “tại sao ông nghĩ rằng con người và máy móc sẽ đụng độ? Tất cả không thể hòa thuận ?”, G. Leonhard nhấn mạnh: “[…] một điều khá rõ ràng là hàng ngàn tỉ đô la được sử dụng để làm thế giới trở nên ‘thông minh hơn’ (thành phố thông minh, nông nghiệp thông minh, năng lượng thông minh…) nhưng lại rất ít chi cho cách làm con người sẵn sàng đón tương lai đó. Trong khi máy móc trở nên thông minh hơn, chúng ta thực sự có thể trở nên ngu ngốc […] Sẽ rất sốc khi nhiều người trong chúng ta phải đối mặt với thực tế là máy móc đã tiếp quản nhiều thứ, nếu không muốn nói là hầu hết các nhiệm vụ của con người, như nhận chỉ đường, đặt lịch hẹn, tìm bạn tình và thậm chí là chẩn đoán y khoa”.      Ba mức độ của quá trình công nghệ-truyền thông số tác động đến con người [Gerd Leonhard, 2016].    Về sự giằng co, mâu thuẫn cố hữu giữa công nghệ/máy móc và vấn đề đạo đức, G. Leonhard chỉ ra một tình thế trớ trêu: “việc biến thế giới thành một cỗ máy khổng lồ sẽ tạo ra vô số tiền, trong khi đảm bảo tính nhân văn thì sẽ ít có cơ hội kinh doanh hơn”.  Song, như nhiều trí thức ưu thời, ông không quên truyền cảm hứng những gì cần phải làm: “đầu tư mạnh vào cái mà tôi gọi là ‘chủ nghĩa nhân văn theo cấp số nhân’, tức là thực sự đầu tư vào việc phát triển con người (và tất nhiên, phải đặt con người lên trên công nghệ), bảo vệ tính người [humanness] của chúng ta như chúng ta đã và đang bảo vệ thiên nhiên. Có những điều chúng ta có lẽ không nên làm, ngay cả khi chúng ta có thể”.          Nhân tính trong dòng chảy công nghệ hiện đại     Không chỉ G. Leonhard, các nhà tương lai và nhân văn chủ nghĩa, nhìn chung, không cố ý trầm trọng hóa cuộc xung đột giữa công nghệ và con người, các phương tiện công nghệ truyền thông và nhân tính. Họ đều xuất phát từ các dữ liệu và biên độ quan sát rộng, cập nhật để tránh những khái quát mang tính tiên tri, phỏng đoán vô sở cứ. Nhưng hơn hết, họ đều nhận thức được rằng để trả lời “điều gì xác định chúng ta là con người” trong thời đại truyền thông công nghệ số hoàn toàn không đơn giản. Những điểm mù mờ kết luận vẫn còn đó và đe dọa các hiểu biết sơ sài, các nhận thức lầm lạc và niềm tin cũ kĩ.      Phải thúc đẩy giáo dục nhân văn, coi đây như chất đề kháng để công nghệ truyền thông số không làm suy yếu thêm các đặc tính người vốn đang bị lung lay dữ dội.      Trong cuốn sách gây tiếng vang Homo Deus: Lược sử tương lai, học giả Yuval Noah Harari đã đưa ra những phân tích, lập luận vô cùng chặt chẽ, thông thái về chân dung loài người trong tương lai gần mà những nét chính, thậm chí, còn có nhiều mảng tối và khó nắm bắt hơn so với phác thảo của G. Leonhard. Ở đây, tôi chỉ tóm lược ba điểm mà tôi lấy làm cơ sở cho diễn giải của tôi ở phần sau bài viết.  Thứ nhất, Harari cho rằng, vấn đề mới cần giải quyết của loài người, giờ đây, không phải là nghèo đói, dịch bệnh hay chiến tranh, mà là mục tiêu “bất tử, hạnh phúc và quyền năng thần thánh”. Con người sẽ nâng cấp mình từ Homo sapiens [người tinh khôn] thành Homo deus [người thần thánh].  Thứ hai, muốn đạt mục tiêu đó, con người đang ra sức sáng tạo và ứng dụng những công nghệ – kĩ thuật mới có khả năng tạo ra những phiên bản người siêu việt. Nhưng đồng thời, bất kể ai, cũng đang và sẽ thuộc về công nghệ nhiều hơn là thuộc về nhân tính: “Những công nghệ mới của thế kỉ 21 do đó có thể đảo ngược cuộc cách mạng nhân văn, tước bỏ thẩm quyền khỏi con người, và thay vào đó trao quyền cho các thuật toán phi con người”. Google, Facebook nhờ vào thuật toán, sẽ trở thành các vị vua cai trị; “Dữ liệu giáo” sẽ lên ngôi, “không tôn kính thần linh hay con người, nó sùng bái dữ liệu”, nó biến cá nhân trở thành một con chip nhỏ trong hệ thống khổng lồ mà chẳng ai thực sự hiểu cả; một thế hệ AI (trí tuệ nhân tạo) sẽ ưa thích học máy (machine learning) hơn là những chỉ dẫn của con người.  Thứ ba, trước thực tế đó, chủ nghĩa nhân văn, hay “cuộc cách mạng nhân văn”, sẽ phải thay đổi cách tiếp cận và các giá trị quy chiếu thì mới có thể tạo ra một “giải pháp thay thế”.  Đối với Y. Harari, điều chỉnh quan trọng trong chủ nghĩa nhân văn hiện tại là những “trải nghiệm tầm thường của những người bình dân” chứ không chỉ nhắm vào tầng lớp ưu việt như trước đây. Tuy nhiên, một lần nữa, công nghệ sinh học và trí thông minh nhân tạo lại tiếp tục đe dọa chủ nghĩa nhân văn mà Homo Sapiens, bắt đầu từ thế kỉ XVIII, đã khuấy động với những giá trị như tự do, bình đẳng, bác ái. Công nghệ sinh học và AI đã thay đổi bản chất của sự sống, thay đổi các cấu trúc tâm thể gốc, biến Homo Sapiens trở khác biệt với công nghệ ưu sinh, chỉnh sửa gene, lắp ghép nội tạng,… Đó là một phần lí do khiến Homo Deus chỉ giữ lại “một số đặc tính con người cần thiết” bên cạnh việc tận hưởng các năng lực thể xác và tinh thần đã được nâng cấp.      Yuval Harari cũng dự đoán rằng, những công nghệ mới của thế kỉ 21 có thể đảo ngược cuộc cách mạng nhân văn, tước bỏ thẩm quyền khỏi con người, và thay vào đó trao quyền cho các thuật toán phi con người.    Như vậy, con người, nhân tính là gì trong dòng chảy công nghệ truyền thông hiện đại, tùy thuộc rất lớn vào các can dự của chủ nghĩa nhân văn. Nói cách khác, để ứng phó với các thành tựu công nghệ, truyền thông ẩn chứa hiểm họa ở thế kỉ 21, con người không có nhiều lựa chọn ngoại trừ sức mạnh và nguồn giá trị từng có là chủ nghĩa nhân văn. Con người có thể giảm dần năng lực ghi nhớ, tập trung, tính toán chính xác so với công nghệ nhưng con người vẫn còn đó mơ mộng, xúc cảm và thế giới nội tâm. Con người hoàn toàn không đủ sức ôm chứa và phân tích dữ liệu nhưng con người vẫn còn đó cảm giác, tâm trạng trong mỗi quyết định. Một tài xế lần đầu lái xe thì vẫn còn chút hồi hộp, luống cuống, khác với robot hoặc hệ điều hành tự lái xe cầm vô lăng theo lập trình. Cỗ máy Deep Blue có thể đánh bại Garry Kasparov (1996) và phần mềm AlphaGo của Google có thể thắng đậm nhà vô địch cờ vây Lee Sedol (2016) nhưng con người vẫn còn đó chút ít băn khoăn về tự do, hạnh phúc. Không thể ngăn cản, lảng tránh hay chối từ sự có mặt của các công dân kiểu Sophia nhưng con người vẫn còn đó những cảm hứng nghệ thuật để mô tả, tưởng tượng, suy tư về chúng…  Những biểu hiện nhân tính tuy không thể định lượng rõ ràng ấy, đối với nhiều người, sẽ là cơ sở của niềm tin rằng nhân loại/nhân tính/nhân văn có thể biến dạng, biến đổi nhưng không bị nuốt chửng hoàn toàn bởi công nghệ. Và để niềm tin đó càng được củng cố, con người, với tất cả sự yếu thế lẫn lo lắng của mình, phải thúc đẩy giáo dục nhân văn, coi đây như chất đề kháng để công nghệ truyền thông số không làm suy yếu thêm các đặc tính người vốn đang bị lung lay dữ dội.□     Đón đọc kỳ 2: Lựa chọn STEM hay CORE?  ——  Chú thích  1 Kevin Kelly. The Inevitable: Understanding the 12 Technological Forces That will shape Our future. Viking Press. 2016. Tham khảo bản dịch tiếng Việt: The Inevitable. Làm chủ công nghệ làm chủ tương lai. Khánh Linh dịch. NXB Đại học Kinh tế quốc dân, H., 2018. Kevin Kelly sinh năm 1952 tại Pennsylvania (Mỹ). Từ năm 1984-1990, K. Kelley làm xuất bản và biên tập viên tạp chí Whole Earth Review. Từ năm 1993, ông là đồng sáng lập và là Tổng biên tập trong bảy năm đầu tiên của tạp chí Wired.  2Nội dung cơ bản của các trạng thái và đồng thời là sức mạnh cần có để đón nhận công nghệ, theo K. Kelley, bao gồm: 1/Trở thành (becoming): 2/Cải tiến (cognifying); 3/Dòng chảy (flowing); 4/Trình chiếu (screening); 5/Truy cập (accessing); 6/Chia sẻ (sharing); 7/Sàng lọc (Filtering); 8/Pha trộn (Remixing); 9/Tương tác (interacting); 10/Theo dấu (tracking); 11/Đặt câu hỏi (questioning); 12/Bắt đầu (beginning).  3Vincent Liu. 2018. “The Inevitable Future of Humanity in Education – And What to Do about it”.  Nguồn: https://edsurgeindependent.com/the-inevitable-future-of-humanity-in-education-and-what-to-do-about-it-d7ff5d16b68e  4 Gerd Leonhard. Technology vs Humanity: The coming clash between man and machine. Fast Future Publishing Ltd, 2016. G. Leonhard sinh năm 1961 tại Bonn (Đức), cư trú ở Zurich lẫn San Fransisco. Ông là nhà tương lai học, nhà nhân văn chủ nghĩa, diễn giả quốc tế về mối quan hệ giữa công nghệ và con người, kĩ thuật số và nhân văn.  5Ngay trong phần Dẫn nhập, G. Leonhard đã khẳng định: “tôi tin rằng quy mô thay đổi gây ra bởi các sự kiện gần đây, không lường trước được như Brexit, sẽ rất nhỏ so với tác động của một thay đổi công nghệ có thể định hình lại bản chất của nhân loại và mọi khía cạnh cuộc sống trên hành tinh của chúng ta”. G. Leonhard. Sđd, tr.i.  6“Công nghệ không có đạo đức” (“technology doesn’t have ethics”) là một luận điểm của G. Leonhard. Những bàn luận này chủ yếu tập trung ở chương 10 “Digital Ethics” của cuốn sách.  7Paul Armstrong. “Technology vs. Human – Who is going to win? An interview with Gerd Leonhard”.  Nguồn:https://www.forbes.com/sites/unicefusa/2019/05/03/tropical-cyclone-fani-hits-the-indian-coast/#6dbe4a8e133c  8Yuval Noah Harari. Homo Deus. Lược sử tương lai. Dương Ngọc Trà dịch. NXB Thế giới, H., 2018. Y. Harari hiện là giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Hebrew (Israel). Cùng với Homo Deus, cuốn sách khác của ông, Sapiens: Lược sử về loài người (2015) là công trình gây tiếng vang nghiên cứu về “Homo Sapiens”, tạo căn nền để ông phân tích về “Homo Deus”.  9Y. Harari. 2018. Sđd, tr.29.  10Y. Harari. 2018. Sđd, tr.410.  11Y. Harari. 2018. Sđd, tr.436.  12Đơn cử, gần đây, các bộ phim xoay quanh chủ đề công nghệ-truyền thông hiện đại vẫn tiếp tục được khai thác với những suy tư, hiệu ứng nghệ thuật mới mẻ, sâu sắc: Robot and Frank (2012), Disconnect (2012), Her (2013); Blade Runner 2049 (2017), Searching (2018)…    Author                Mai Anh Tuấn        
__label__tiasang Giáo dục STEM: Yêu cầu cấp thiết của thị trường lao động      Hiện nay, lo ngại robot hóa và tự động hóa khiến cho tỷ lệ thất nghiệp lên đến 50%, thậm chí 70% của nhiều nhà kinh tế và công nghệ cách đây vài năm đang dần trở thành hiện thực. Ngày càng có nhiều công việc yêu cầu ít kỹ năng, lặp đi lặp lại, lương thấp bị thay thế bởi robot và quy trình tự động hóa. Tuy vậy, nguồn nhân lực có kỹ năng STEM1 lại không đủ đáp ứng cho thị trường lao động, cả hiện tại và trong thập niên tới.  Lao động giản đơn dần dần bị đào thải      Robot ngày càng có khả năng thay thế con người trong nhiều lĩnh vực. Ảnh: Fortune.com  Một báo cáo gần đây của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết, trên toàn thế giới có khoảng 1,5 tỷ việc làm đòi hỏi ít kỹ năng, lương thấp, chiếm 46% tổng số việc làm. Trong số này, trên 70% tập trung ở các nước Nam Á và châu Phi vùng hạ Sahara. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á được dự báo là sẽ tiếp tục tăng ổn định. Ở một số ngành nghề, số lượng việc làm ngày càng giảm đi như ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt, khai khoáng, và chế tạo lắp ráp.  Đối với các nước phát triển, thất nghiệp cũng là bài toán hóc búa của các chính phủ vì quá trình robot hóa, tự động hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, như nhận xét của MacAfee và Brynjolfsson (MIT). Nếu như các nước chậm phát triển chịu nhiều ảnh hưởng của robot hóa thì các nước phát triển chịu ảnh hưởng bởi cả robot hóa và tự động hóa các quy trình, nhất là các quy trình văn phòng, và hệ thống dịch vụ tài chính ngân hàng.  Cơn lốc robot hóa và tự động hóa được cho là xuất phát từ một số nguyên nhân chính sau: công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển theo cấp số mũ, nhiều doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho R&D, chi phí đầu tư cho robot hóa và tự động hóa ngày càng rẻ, hiệu quả về mặt kinh tế tăng khi năng suất lao động tăng, tỷ lệ sai sót trong sản xuất giảm, và rút ngắn thời gian sản xuất.  Trong một báo cáo vào tháng 01/2016 của Citibank và Đại học Oxford, nhiều khả năng 77% việc làm ở Trung Quốc, 72% việc làm ở Thái Lan và 69% việc làm ở Ấn Độ sẽ được thay thế bằng robot và tự động hóa do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, trong đó có kỹ thuật in 3D. Những minh chứng cho quá trình robot hóa, tự động hóa ngày càng nhiều, có thể liệt kê ra một số trường hợp điển hình như sau: 1) Hãng Foxconn, một tập đoàn gia công chính cho Apple, Google và Amazon đã thay 60,000 công nhân bằng robot, 2) Hãng Adidas may giày bằng robot, dự kiến di chuyển các nhà máy về lại Đức, 3) Hãng SoftWear Automation (Hoa Kỳ) với máy khâu tự động, một sự đe dọa với  các xưởng may gia công ở các nước Nam Á và Đông Nam Á, 4) một lãnh đạo của tập đoàn McDonald nói rằng, nếu lương tối thiểu ở Hoa Kỳ tăng lên 15 USD/giờ, đầu tư cho một cánh tay robot giá 35000 USD sẽ hiệu quả hơn cho công việc đóng gói khoai tây chiên, 5) Các công việc có tính chất lặp đi lặp lại trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, kế toán ở các nước phát triển được thay thế dần bằng các quy trình tự động hóa, các phòng giao dịch ngân hàng trong tương lai gần sẽ không tồn tại nữa vì IoTs.  Thị trường lao động cần nhiều STEM hơn  Mặc dù robot và tự động hóa quy trình “lấy đi” việc làm của rất nhiều người, nhưng chính điều này cũng tạo ra nhiều việc làm mới, đòi hỏi nguồn lực lao động phải có những thay đổi để thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường lao động. Một nghiên cứu của một giáo sư MIT tiến hành ở một xưởng sản xuất của BMW cho thấy sự phối hợp giữa con người và robot đem lại hiệu suất cao hơn nếu chỉ có hoàn toàn con người hoặc hoàn toàn robot trong xưởng.  Đơn cử như Hoa Kỳ, một thị trường lao động lớn và trình độ phát triển cao, hiện đang có sự mất cân đối lớn giữa nhu cầu tuyển dụng lao động có STEM và nguồn cung lao động. Báo cáo việc làm tháng Năm vừa qua của Hoa Kỳ cho thấy hiện có khoảng 5,8 triệu việc làm tìm ứng viên, phần lớn công việc này liên quan đến STEM trong các lĩnh vực như năng lượng, sản xuất, chế biến thực phẩm và chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, số lượng việc làm gắn với STEM ở Hoa Kỳ chiếm khoảng 50%, và theo tính toán của các chuyên gia, nhu cầu tuyển dụng việc làm STEM ở Hoa Kỳ tăng mỗi năm khoảng 17%. Để bù cho phần thiếu hụt, Chính phủ Hoa Kỳ có những chính sách thu hút du học sinh và những lao động nước ngoài có gắn với STEM.  Cộng đồng châu Âu cũng thấy được nhu cầu to lớn của thị trường lao động đối với STEM. Chương trình EU STEM Coalition cho biết, từ năm 2003 đến 2013, số lượng việc làm liên quan đến STEM tăng 12%, gấp ba lần với mức chung của EU. Tuy nhiên, nguồn lao động của châu Âu không đáp ứng đủ nhu cầu tuyển dụng liên quan quan đến STEM, nhất là trong lĩnh vực ICT.  Phát triển giáo dục STEM ở Việt Nam  Từ năm 2010, công ty DTT và anh Nguyễn Thế Trung, một người tâm huyết với giáo dục và công nghệ, đã đem chương trình STEM vào Việt Nam. Qua thời gian, tính hiệu quả của chương trình STEM đã thuyết phục được nhiều phụ huynh và học sinh: ở một số thành phố lớn, đã có các các trung tâm, câu lạc bộ theo mô hình STEM để hướng các bạn trẻ vui học và thực hành, tạo hứng thú với STEM.  Trong STEM, hai môn học quan trọng nhất là toán học và tin học (lập trình). Vì vậy để tạo sự yêu thích STEM, cần gợi mở cho học sinh thấy “vẻ đẹp” của tin học và toán học bên cạnh các ứng dụng khô khan. Thực tế cho thấy, các câu lạc bộ Robotics vận dụng kỹ năng lập trình và các đầu sách của Sputnik Education đang làm tốt công việc này và cần nhân rộng.  Trong một trao đổi gần đây với tác giả, GS Phạm Hi-Đức1, cho biết “chất liệu căn bản của STEM là con người, và Việt Nam có vẻ phù hợp vì truyền thống coi trọng việc học ở Việt Nam. Thêm vào đó, một số môn khoa học trong STEM được dạy lý thuyết khá tốt ở Việt Nam, minh chứng qua kết quả khảo sát PISA”.  Trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, hướng phát triển giáo dục STEM có nhiều điều kiện thuận lợi. Nhờ có Internet, cơ hội tiếp cận các khóa học STEM cả lý thuyết và thực hành là như nhau ở các nước. Hiện có rất nhiều khóa học MOOC và các video hướng dẫn thực hành trên các trang web như YouTube. Không những thế, với kiến thức và kỹ năng STEM tốt, cơ hội việc làm rộng mở, không bị giới hạn về địa lý cho những công việc mang tính chất freelance, crowd working, tận dụng thời gian rảnh để giải đáp thắc mắc (như GotIt). Nói như vậy, có nghĩa một bạn trẻ ở Việt Nam hoàn toàn có thể học STEM và gia nhập thị trường lao động toàn cầu.  Tuy nhiên, theo GS Đức, một trở ngại trong việc học tập nói chung và STEM nói riêng, ở Việt Nam là quá coi trọng kiến thức đến từ người Thầy: “Việc học ngày nay phải đến từ ba nguồn: người Thầy, tự học (chẳng hạn qua mạng Internet), và thực hành ở hãng xưởng. Tùy giai đoạn và lĩnh vực mà vai trò của ba nguồn này khác nhau. Có khi Thầy chỉ có vai trò dẫn dắt chứ không truyền kiến thức được, vì chính Thầy có khi đã học cách đây cả chục năm. Những kiến thức trong STEM phát triển rất nhanh.”  Để đảm bảo cho sự phát triển thông minh, bền vững bao gồm tăng trưởng kinh tế và việc làm chất lượng cho thế hệ trẻ, cần có nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ sự phát triển của giáo dục STEM, trong đó việc lồng ghép STEM vào chương trình giáo dục chính thức, từ độ tuổi thấp nhất có thể, đang là điều cần thiết mà nhiều nước đang thực hiện. Mặc dù không có mô hình mẫu cho tất cả các quốc gia, nhưng cách tiếp cận “bottom-up”, hay xác định những nhân tố thúc đẩy chính cho STEM, mỗi quốc gia có câu trả lời cho riêng mình. Cũng cần lưu ý rằng, trong đào tạo STEM, không được quên các kỹ năng mềm đa dụng như giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp trong môi trường kinh doanh hiện đại, khả năng sáng tạo, khả năng linh hoạt và đầu óc doanh nhân.   ——————————————————————————————————-  1. Trưởng khoa tính toán định lượng & tài chính trường kỹ sư ECE Paris, chủ nhiệm chương trình tài chính định lượng tại viện JVN (Tp.HCM)  Tài liệu tham khảo:  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=8267&CategoryID=6  http://www.csreurope.org/sites/default/files/uploads/EU%20STEM%20Coalition%20-%20Brochure%202016.pdf  https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/06/TheHiddenSTEMEconomy610.pdf  http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/ public/-dgreports/-dcomm/-publ/documents/publication/wcms_443480.pdf  http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/ public/-dgreports/-dcomm/-publ/documents/publication/wcms_337069.pdf  http://www.oxfordmartin.ox.ac.uk/ downloads/reports/Citi_GPS_Technology_Work_2.pdf    Author                Võ Đình Trí        
__label__tiasang Giáo dục trong thời đại AI: “Cơ hội cho ai?”      ChatGPT và những ứng dụng AI khác trong tương lai góp phần mở ra cơ hội hay dẫn đến nhiều thách thức cho giáo dục Việt Nam?      Dù xuất hiện chưa lâu nhưng ChatGPT, một ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI), đã tạo ra một cơn sốt trên toàn thế giới, thậm chí ở Việt Nam. Lần đầu tiên, đại chúng được tiếp cận với một sản phẩm AI có khả năng tạo ra các đối thoại, giải toán, làm văn, viết thơ, trả lời câu hỏi… theo cách rất giống với ngôn ngữ của con người.  Điều này khiến nhiều người đặt câu hỏi: ChatGPT và những ứng dụng AI khác trong tương lai, liệu góp phần mở ra cơ hội hay dẫn đến nhiều thách thức cho giáo dục Việt Nam?  Vậy với những lợi thế của mình, trên thực tế ChatGPT sẽ đặt ra những cơ hội và thách thức nào cho giáo dục Việt Nam? Giáo dục cần phải điều chỉnh gì trước sự ra đời của các sản phẩm AI như ChatGPT? Thực tế hiện nay một số cơ sở giáo dục đã bắt đầu sử dụng ChatGPT và các ứng dụng AI khác vào hỗ trợ hoạt động giảng dạy và học tập như thế nào?…  Để trả lời các câu hỏi này, và nhiều câu hỏi liên quan khác nữa, Tạp chí Tia Sáng tổ chức buổi toạn đàm “Giáo dục trong thời đại AI: Cơ hội cho ai?”.  • Thời gian: 14.30-16.30, ngày 4/3/2023 (Thứ Bảy);  • Địa điểm: Café Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội;  • Diễn giả: TS. Giáp Văn Dương và bà Lê Minh Đức, CEO Tổ chức giáo dục trực tuyến FUNIX  Chương trình dự kiến:  – 14h30-14h35: Giới thiệu chủ đề và hai diễn giả;  – 14h35-15h30: Hai diễn giả thuyết trình về ChatGPT và những ảnh hưởng với giáo dục;  – 15h30-16h30: Thảo luận tại chỗ.  Quý vị quan tâm, xin vui lòng đăng ký theo đường link sau để tham gia:  Link đăng ký tham dự tọa đàm: https://bit.ly/Toa_dam_GD_thoidai_AI   Trân trọng thông báo,    Author                phongvien        
__label__tiasang Giáo dục và tự do      (Nhân đọc L.Tolstoi và F.Nietzsche bàn về giáo dục)       Xây dựng nền giáo dục “hình thành trên cơ sở quyền tự do của thế hệ học trò mới”, đó là mơ ước của L.Tolstoi về giáo dục thế kỷ XXI. Ảnh: Lớp học đa thông minh (iTeach) tại Trường tiểu học Yên Lập, xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Nguồn: thanhnien.vn.  Tự do là một trong những thứ quí giá nhất của con người. Hạnh phúc không chỉ là có cơm ăn áo mặc. Hạnh phúc là có Tự do. Độc lập tức thoát khỏi mọi phụ thuộc cũng là để được Tự do. Dân chủ cũng là một hình thức của Tự do, nhằm đạt đến Tự do. Tự do hiểu đơn giản là sự thoải mái, được hành động, làm theo ý mình, sức mình, không bị áp đặt và trói buộc, kể cả tự trói buộc mình, giống như cảm giác của một người vừa chủ trì cuộc họp, phát biểu chỉ dạy trước đám đông được trở về nhà, cởi cà-vạt, tháo giày, ngồi thoải mái một mình trong căn phòng yên tĩnh, cảm thấy mình là chính mình, thoát khỏi mọi lo âu vì trách nhiệm phải hoàn thành, vì sự trừng phạt có thể xảy ra, thoát khỏi cái vai mà mình phải sắm, phải diễn. Ở mức cao hơn Tự do là quyền sống, quyền làm ăn, thoát khỏi xích xiềng, là tự do ngôn luận, tự do tinh thần. Không có Tự do, con người như mất không khí thở. Người ta có thể chết vì mất Tự do, và cũng có thể sẵn sàng chết cho Tự do, hy sinh vì Tự do. Khi có Tự do, con người có thể làm được rất nhiều thứ theo ý mình. Đó là thời điểm khởi đầu cho vui chơi và sáng tạo. Nhà thơ Đức F. Schiller từng nói: “Con người chỉ chơi khi nó là người trong ý nghĩa đầy đủ của từ này và con người chỉ thực sự đúng là người khi chơi”. Với F. Schiller, khi chơi là lúc con người tự do, mà chỉ khi tự do thì con người mới thực sự là người. Sáng tạo cũng vậy. Người ta vẫn có thể sáng tạo theo mệnh lệnh, nhưng chủ yếu và quan trọng nhất là sáng tạo theo ý mình, tức sáng tạo như một hành động tự do. Chỉ khi có tự do thực sự mới có sáng tạo thực sự, dù là trong công việc hằng ngày, trong khoa học hay trong sáng tác nghệ thuật.  Tự do có quan hệ hữu cơ với Giáo dục. “Những nhà giáo dục của anh – F.Nietzsche viết – sẽ chẳng là gì hết nếu họ không phải là những người giải phóng anh”(1). “Giải phóng anh” ở đây là mang lại cho anh tri thức, giúp anh hiểu biết, giúp anh thoát khỏi màn đêm u tối bao quanh, giải phóng anh thoát khỏi các tín điều, giúp anh tìm lại chính mình và nhờ đó anh có Tự do. Cùng với cuộc đấu tranh để thay đổi các thiết chế xã hội và cải cách kinh tế, giải phóng cá nhân thông qua giáo dục là con đường đi đến tự do xã hội. Một xã hội tự do là xã hội của những con người tự do, do những người có hiểu biết và có ý thức về tự do tạo dựng nên.  Giáo dục không chỉ giải phóng mà còn vun bồi và nuôi dưỡng Tự do. Giáo dục tự bản thân mình là văn hóa nhưng đồng thời cũng là con đường để hình thành văn hóa, giúp con người biết ăn ở, biết lao động, biết thờ cúng, biết vui chơi, biết làm khoa học hay sáng tác thơ ca, nghệ thuât. Giáo dục và Văn hóa mở ra chân trời cho Tự do, mở cửa đi đến Tự do, tạo điều kiện để con người sử dụng và thực hiện tự do của mình, phát huy khả năng và ý muốn của mình và cũng chính nhờ đó việc có Tự do không biến người ta thành những kẻ vô công rồi nghề, bản thân Tự do cũng không trở nên xa xỉ hay vô nghĩa. Đặc biệt nhờ có Giáo dục và Văn hóa, Tự do được nuôi dưỡng và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác để nó được lưu giữ, không bị tiêu tan hay hao mòn dưới áp lực của mọi thứ chủ nghĩa danh lợi, khủng bố hay độc tài, toàn trị. Tự do là tinh thần tự do, ý thức về Tự do. Nhà trường và thơ ca hoặc ngấm ngầm hoặc công khai bao giờ cũng ấp ủ hay thổi bùng ngọn lửa tình yêu Tự do, tinh thần Tự do trong trái tim và khối óc của thế hệ trẻ cũng như trong toàn xã hội. Đồng thời, mặt khác, nhờ Giáo dục và Văn hóa, Tự do không chỉ trút bỏ tính hoang dã của mình mà còn khắc phục được những biểu hiện của thói tự tung tự tác và vô chính phủ (anarchy) thường bắt gặp trong các cuộc cách mạng hay trên con đường đi tìm sự bình đẳng và bản ngã cá nhân vốn đầy trắc trở và bi kịch. Không có Tự do thì không có con người, nhưng con đường Tự do là con đường đau khổ. Nhà trường và Thơ ca không chỉ khơi dậy khát vọng về Tự do mà còn làm quen những người trẻ tuổi với đau khổ của Tự do. Đó cũng là một cách chuẩn bị để thế hệ trẻ trưởng thành, vững vàng bước lên con đường đến với Tự do mà không dễ dàng chùn bước hay nản chí mỗi lần bị vấp ngã.  ***  Nhưng Giáo dục không chỉ là khai trí, là con đường dẫn đến Tự do. “Giáo dục – L.Tolstoi viết – là biểu hiện cái mặt tồi tệ trong bản chất con người, nó là một hiện tượng chứng minh trình độ phát triển thấp của tư duy con người”. Tại sao vậy? Vì “Giáo dục là ý nguyện của một người muốn biến người khác thành một kẻ giống anh ta”. Ý nguyện ấy, theo L.Tolstoi, đi ngược lại quyền tự do của con người và không thể tồn tại: “Sự giáo dục với nghĩa là một quá trình cố ý hình thành người khác theo những khuôn mẫu nhất định, không hiệu quả, không hợp pháp và cũng không thể làm được”(2) Ở đây ý nghĩ của L.Tolstoi trùng với tư tưởng của F.Nietzsche khi triết gia này cho rằng “ý nghĩa nguyên thủy và bản thể chủ yếu” của con người là “những cái chống lại mọi hình thái giáo dục, mọi sự tác thành”(3).  Nói giáo dục như “cái mặt tồi tệ trong bản chất con người” và đi ngược lại “ý nghĩa nguyên thủy và bản thể chủ yếu của con người” nghe có vẻ lạ lùng, nhưng thực tế cho thấy điều đó không phải là sai. Cái gì cũng có hai mặt của nó. Vũ khí hạt nhân là sáng tạo của con người, nó cũng là văn hóa, nhưng vũ khí hạt nhân có thể sử dụng vào mục đích hòa bình mà cũng có thể dùng để gây chiến tranh hủy diệt. Đến như nghệ thuật là một trong những sáng tạo kỳ diệu nhất của con người nhưng dưới con mắt L.Tolstoi nó cũng có thể là điều ác: “Toàn bộ cái gọi là nghệ thuật – đó là một điều ác khổng lồ, một điều ác được đưa thành hệ thống. Cho dù những gì tôi nhận được ở cái gọi là nghệ thuật ấy quan trọng đến chừng nào thì dẫu sao bây giờ nếu có phải chọn lại một lần nữa giữa nghệ thuật như người ta vẫn hiểu và không có nghệ thuật thì chắc tôi sẽ chọn cái sau, cho chính mình cũng như cho những ai tôi mong sao họ được tốt lành”(4).  Quan hệ của Giáo dục với Tự do cũng tương tự. Giáo dục có thể là hình thức khai mở con đường đi đến Tự do, nuôi dưỡng và kích thích khát vọng tự do, nhưng Giáo dục cũng có thể là công cụ chế ngự Tự do, sự phát triển tự do, nhất là tự do tư tưởng, tự do tinh thần. “Giáo dục tư tưởng” có thể hướng tới những mục tiêu tốt đẹp, nhưng nó cũng có thể biến thành sự kìm kẹp về tư tưởng, triệt tiêu tư tưởng, nhất là khi những tư tưởng ấy mới mẻ, độc lập, khác với tư tưởng của người truyền đạt, của nhà trường, nhà nước. L.Tolstoi và F.Nietzsche phản đối bất cứ hình thái giáo dục nào mà ở đó những điều truyền dạy bao giờ cũng được coi là chân lí bất di bất dịch, là duy nhất đúng, ở đó học sinh chỉ được phép ghi nhớ và học thuộc chứ không có quyền thảo luận và nói lại. Lối giáo dục ấy, nếu về phương diện xã hội có gốc rễ trong tính chất chuyên chế của nhà nước, thì về phương diện cá nhân, theo L.Tolstoi, nó là “biểu hiện cái mặt tồi tệ trong bản chất con người” – đó là sự coi thường con người, coi mình tốt hơn người khác, có những đức hạnh mà người khác không có và từ đó tự cho mình có quyền “giáo dục” người khác.  Giáo dục – nếu có cái gọi là “giáo dục”, thì đối với L.Tolstoi, đó phải là một nền giáo dục tự do. “Chuẩn mực của giáo dục – ông viết – chỉ có một mà thôi – đó là Tự do”(5). Thế nào là một nền giáo dục tự do? L.Tolstoi giải thích: “Tự do là điều kiện thiết yếu của mọi qui trình đào tạo chân chính đối với người học cũng như người dạy… Chỉ riêng sự tự do hoàn toàn này, tức không có cưỡng bách và lợi lộc cũng đã giải thoát mọi người khỏi phần lớn những tệ nạn mà qui trình đào tạo cưỡng bách và lợi lộc hiện thời đang phát sinh”(6). Sự thoát khỏi mọi “cưỡng bách và lợi lộc” thể hiện trong tất cả “các qui trình đào tạo”, cả ở “người học và người dạy” đến lượt mình sẽ mang đến những hình thức dạy học mới, không lấy sự thuyết giảng theo lối áp đặt của thầy giáo làm chính, không dùng thi cử như một cách trừng phạt hay cưỡng bách ngấm ngầm và lúc ấy bản thân khái niệm “nhà trường” cũng không còn như cũ. “Nhà trường có thể không phải là cái nhà trường như chúng ta thường quan niệm, nghĩa là có bảng đen, có bàn học sinh, có bục giảng giáo viên hay giáo sư – nó có thể là một gánh xiếc, một nhà hát, thư viện, bảo tàng hay một cuộc đàm thoại-tổ hợp môn học…”. Trong cái nhà trường kiểu ấy thầy giáo có thể “bắt đầu dạy đại số và hình học giải tích cho những học sinh chưa biết số học…, dạy lịch sử Trung đại cho những học sinh chưa học thuộc lòng Lịch sử Cổ đại” (7). Những lời trên đây của L.Tolstoi thật là kinh ngạc. Nghe cứ như của các nhà giáo dục đổi mới hôm nay chứ không phải của đại văn hào Nga hơn 100 năm trước!  ***  Chúng ta đang muốn thay đổi căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam và như vậy phải bắt đầu từ Triết lí. Nhưng Triết lí giáo dục ấy sẽ là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là quan niệm nêu lên mục tiêu giáo dục hướng tới việc hình thành những con người tự do, có óc sáng tạo, chứ không phải con người chỉ biết phục tùng và làm theo những khuôn mẫu có sẵn. Nhưng làm thế nào để có được những con người như vậy? L.Tolstoi đã từng trả lời câu hỏi ấy khi ông ước mơ về giáo dục trong thế kỷ XXI – đó là xây dựng nền giáo dục “hình thành trên cơ sở quyền tự do của thế hệ học trò mới”. Đó là một kiểu văn hóa giáo dục mới đặt nền tảng trên sự thương yêu và tôn trọng con người, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ, khuyến khích sở trường và tài năng, khơi dậy tìm tòi, khám phá và sáng kiến cá nhân, không áp đặt và trừng phạt. Đó là một kiểu nhà trường mới không phải như nơi ban phát chân lí và yêu cầu học thuộc, thấm nhuần mà là môi trường mở về tri thức, tự do tư tưởng, là nơi mọi người cả thầy và trò cũng như trò và trò cùng học lẫn nhau, cùng trao đổi, phản biện, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là nơi cùng với sự phát triển tự do về tri thức, năng lực và tư duy sẽ hình thành những con người biết sống, biết yêu thương, trung thực và chuộng công lí, chuộng lẽ phải. Tóm lại đó là kiểu nhà trường “hoàn toàn tự do”, thoát khỏi mọi “cưỡng bách và lợi lộc”. L.Tolstoi tin rằng xây dựng kiểu nhà trường như vậy chính là con đường đưa con người đến hạnh phúc.  “Để công cuộc đào tạo mang lại kết quả ngày càng tốt đẹp hơn, tức là thúc đẩy sự vận động của nhân loại đến hạnh phúc ngày càng lớn thì cần phải làm sao để sự nghiệp đào tạo được tự do”.  L.Tolstoi viết những lời này một năm trước khi qua đời, khẳng định lại những điều ông đã nói nhiều lần hơn bốn mươi năm trước đó trong những trích dẫn ở trên. Niềm tin và hy vọng của L.Tolstoi cũng là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Tin vào tầm quan trọng của Giáo dục và hy vọng sẽ có một nền giáo dục tự do trong tương lai.  —-  (1)(3) F. Nietzsche: Schopenhauer – nhà giáo dục. (Bản dịch của Mạnh Tường-Tố Liên), Nxb. Văn học, HN, 2006, tr.12  (2)(5)(6)(7)(8) L.Tolstoi: Các bài báo: Về Giáo dục quốc dân, Về Giáo dục và Đào tạo, Bàn về Giáo dục, in trong “Đường sống – Văn thư Nghị luận chọn lọc” (Bản dịch của Phạm Vĩnh Cư và các cộng sự), Nxb. Tri thức, HN, tr. 30,22,821,59,822  (4) L.Tolstoi: Toàn tập (tiếng Nga), tập 30, tr. 211-212       Author                Lê Ngọc Trà        
__label__tiasang Giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc địa: Một cái nhìn đa diện về quá khứ      “Với tư cách là độc giả của lịch sử, ngày nay chúng ta phải có cái nhìn đa diện để đánh giá đúng di sản thuộc địa”, TS Nguyễn Thụy Phương cho biết trong cuộc trao đổi với chúng tôi xung quanh cuốn sách “Giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc địa: Huyền thoại đỏ và Huyền thoại đen” của chị vừa xuất bản.      TS Nguyễn Thụy Phương. Ảnh: FB nhân vật.  Lý do nào thôi thúc chị viết cuốn sách này?  Cuốn sách này là phần đầu tiên không thể thiếu trong luận án tiến sỹ của tôi thuộc chuyên ngành lịch sử giáo dục. Trước khi phân tích chủ đề giải thực dân văn hóa trong giai đoạn hậu thuộc địa của luận án, tôi muốn lý giải thêm 2 điểm mà tôi cho là then chốt của nền giáo dục thực dân tại Đông Dương: 1. Tìm hiểu nguồn gốc luận thuyết sứ mạng khai hóa, được coi là biểu tượng cho thiết chế thuộc địa của đế chế Pháp, và 2. phân tích chính sách đào tạo cản bước tầng lớp tinh hoa Việt.  Cuốn sách của chị có nhan đề phụ đọc lên nghe rất ấn tượng, tại sao lại là Huyền thoại Đỏ và Huyền thoại Đen?  Tôi mượn lại 2 thuật ngữ Huyền thoại Đỏ và Huyền thoại Đen từ sử gia Marc Ferro trong cuốn sách của ông Lịch sử các nền thuộc địa, in năm 1994, với hàm ý nhận định về di sản giáo dục của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Đây là phép ẩn dụ về 2 quan điểm đánh giá di sản này: 1 quan điểm tô hồng ca tụng và 1 quan điểm chỉ trích phê phán. Hai quan điểm này đều được phát ngôn bởi cả hai phía người thống trị – nhà cầm quyền và người bị trị – và thụ hưởng văn hóa Pháp.  Chị mở đầu cuốn sách này bằng câu đề từ, trích dẫn lời của Thống đốc Nam kỳ Maurice Cognacq nói dằn mặt nhà cách mạng Nguyễn An Ninh nhân một buổi gọi ông lên thẩm vấn vào năm 1924: “Tụi trí thức hả, chúng tôi đâu có cần!” Chị có thể cho biết rõ hơn về chính sách đào tạo cản bước tầng lớp tinh hoa Việt của chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ và sự tranh đấu của “Thế hệ 1925” – những người được thụ hưởng một nền giáo dục ca tụng tự do cá nhân và tinh thần phản biện?  Chính sách giáo dục này nằm trong logic của chính quyền thuộc địa, đó là không bao giờ để thuộc địa phát triển bằng chứ đừng nói là hơn chính quốc vì thuộc địa không được phép cạnh tranh với chính quốc. Điểm này đặc biệt rõ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và sản xuất.       Vấn đề cấp thiết với thế hệ trẻ ngày nay là nới rộng biên độ ký ức của quá khứ chung và cùng kiến tạo tương lai. Để sao cho sức nặng của quá khứ không tiếp diễn ở hiện tại qua sự tồn tại dai dẳng của thứ chủ nghĩa chủng tộc hay sự trỗi dậy của các đảng cực hữu trên chính trường và trong đời thường.      Chính sách giáo dục cản bước đó là phân chia thành nhiều bậc – cấp học, cộng với đó là các loại bằng cấp và kỳ thi, tạo nên những vật cản khiến đa số học sinh khó tiếp tục học lên cao được. Chỉ có khoảng 1 triệu học sinh trên tổng số 12 triệu trẻ đến tuổi đến trường được đi học. Năm 1943, chỉ có 1 trên 10 học sinh qua được bậc tiểu học, 1 trên 100 học xong cao đẳng tiểu học, và dưới 2 trên 1.000 học sinh chạm đến cánh cửa trung học và đại học.   Như vậy, một thiếu niên Đông Dương học trường làng thì vận may học cao tiến xa là rất thấp, nếu không muốn nói đó như một giấc mơ. Chính một vị đại diện của Bộ Thuộc địa được cử từ chính quốc sang tiến hành một cuộc khảo sát vào năm 1927 cũng chỉ trích chính sách giáo dục này ở các góc độ sau: “quá đào thải, chất lượng giáo dục ‘xoàng’ một phần vì chương trình ‘quá Pháp’ và vì đào tạo đội ngũ giáo viên không đủ.”    Trưng bày trong tọa đàm ra mắt sách “Giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc địa” của TS. Nguyễn Thụy Phương, do Omega+ kết hợp cùng Viện Pháp tại Việt Nam tổ chức ngày 15/11.  Tuy nhiên, giữa và cuối giai đoạn thuộc địa, chính quyền thuộc địa nhận ra rằng họ đã đào tạo nên một tầng lớp tinh hoa Việt hấp thụ văn hóa phương Tây. Những học sinh Việt xuất sắc đứng trên đỉnh ngọn kim tự tháp giáo dục là những người đầu tiên trải nghiệm những mâu thuẫn giữa sự phi lý của một nền giáo dục ca tụng tự do cá nhân và tinh thần phản biện thế nhưng những cuộc biểu tình đòi tự do, bình đẳng lại bị đàn áp. Một bộ phận của thế hệ này, mà nhà xã hội học Trịnh Văn Thảo gọi là “Thế hệ 1925”, đã gia nhập vào hàng ngũ đấu tranh bằng cả chính trị và vũ lực, theo cộng sản hay quốc gia.  Họ đã huy động và vận dụng trình độ, chuyên môn, kiến thức lĩnh hội được trong trường học dùng làm vũ khí cho cuộc đấu tranh giành độc lập.   Jules Harmand từng nêu ra một vấn đề gây ám ảnh chính quyền thuộc địa rằng, “Trong số tất cả các vấn đề gây khó cho kẻ chinh phục ngoại quốc trong công cuộc thống trị thì giáo dục dân bản xứ là một trong những vấn đề khó xử nhất.” Theo chị, vì sao giáo dục dân bản xứ lại trở nên “khó xử” như vậy?   Giáo dục dân bản xứ lại trở nên “khó xử” trong con mắt nhà cầm quyền bởi vì dân bị trị được học hành, được nâng cao kiến thức, được tiếp nhận nhiều luồng gió tư tưởng mới đến từ Tây phương chứ không còn thu hẹp trong hệ hình Khổng giáo nên họ sẽ là những “con dao hai lưỡi” mà mũi dao đáng sợ này chính là hai bậc học: trung học và đại học. Nhà sử học Pierre Brocheux đã sử dụng khái niệm “vũ khí phản ngược” (retournement des armes) để chỉ những người Việt, thông qua nhà trường hay tự đọc tự học, đã sử dụng chính những giá trị của thế kỷ Ánh Sáng, của Cách mạng Pháp như tư tưởng canh tân, tinh thần đấu tranh, ý thức độc lập để đấu tranh giành bình đẳng, tự do. Những giá trị phổ quát này bị nhà cầm quyền coi là “thuốc độc”.  Sứ mạng khai hóa ở cuối thế kỷ 19 được coi như là một trong những nền tảng trụ cột của công cuộc thực dân Pháp. Những nhà tư tưởng thực dân Pháp tuyên bố thực dân “khai hóa” của Pháp khác hẳn với thực dân “con buôn” của Anh hay Hà Lan. Lập luận khai hóa này giúp cho người Pháp phản bác lại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc bình đẳng, tự do bắt nguồn từ Cách mạng Pháp với sự phục tùng của các dân tộc bị trị. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện về nền móng của chính sách thuộc địa, chính khách Jules Ferry khẳng định rằng công cuộc thực dân không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ: đó là nghĩa vụ khai hóa những giống nòi hạ đẳng!  Như vậy, giáo dục là đại diện khía cạnh tinh thần của sứ mệnh khai hóa thì y tế (vệ sinh, tiêm chủng…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, đường sắt, thủy lợi…) và an ninh (chống trộm cắp, sự bành trướng của những nước láng giềng) là khía cạnh vật chất.  Giải thuộc địa, giải thực văn hóa, giáo dục… là tinh thần cần có khi tiếp cận kho sách Đông Dương và nghiên cứu về Đông Dương một thuở, từ nội dung cho đến tranh ảnh. Quan điểm của chị như thế nào về vấn đề này?  Cá nhân tôi, với tư cách là nhà nghiên cứu thì đây không chỉ là cách tiếp cận trong quá trình nghiên cứu mà còn là chủ đề trọng tâm cho công việc nghiên cứu.  Với tư cách là độc giả của lịch sử, ngày nay chúng ta phải có cái nhìn đa diện để đánh giá đúng di sản thuộc địa, nó bao gồm cả hai thứ huyền thoại đỏ và đen, và để nhìn nhận lại những nhân vật lịch sử như Victor Hugo. Ông vẫn là đại thi hào, vẫn là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn Pháp nhưng cũng là người ủng hộ hết mình cho công cuộc thuộc địa. Hay như Alexandre Yersin, bác sỹ, nhà khoa học, nhà thám hiểm, cả cuộc đời dấn thân cho khoa học, vì cộng đồng, nhân loại, nhưng chúng ta không thể không nhận ra sự nghiệp đó được ủng hộ và bảo trợ bởi chính quyền thực dân mà ông là một trong những viên chức cao cấp khá mẫn cán và được trọng dụng.  Thực ra đã có những cuộc giải thực dân như cuộc chiến tranh chống Pháp hay cuộc chiến ở Algérie, đây là những cuộc giải thực dân bằng súng đạn, nó đau và nhanh. Còn giải thực dân tinh thần diễn tiến lâu hơn và cần tri thức và phải tiến hành ở hai phía: cựu thống trị và cựu bị trị.   Với tư cách là công dân của một quốc gia cựu bị trị và cựu thống trị, ngày nay, người Việt, người Maroc, người Senegal hay người Pháp, người Anh, người Bỉ, đều là các thế hệ hậu duệ xuất thân từ hai phe yếu thua – mạnh thắng. Chúng ta cùng phải sinh trưởng và đồng hành trong một thế giới hòa bình. Dù muốn hay không, chúng ta đều là những người thừa kế “bất đắc dĩ” của những quá khứ xung đột. Theo tôi, vấn đề cấp thiết với thế hệ trẻ ngày nay là nới rộng biên độ ký ức của quá khứ chung và cùng kiến tạo tương lai. Để sao cho sức nặng của quá khứ không tiếp diễn ở hiện tại qua sự tồn tại dai dẳng của thứ chủ nghĩa chủng tộc hay sự trỗi dậy của các đảng cực hữu trên chính trường và trong đời thường.  Trân trọng cảm ơn chị về cuộc trao đổi!  Nguyễn Quang Diệu thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao lưu với những nhà khởi nghiệp      Hai nhà khởi nghiệp Nguyễn Minh Trường, người sáng lập dự án Chopp.vn, Lê Thị Hiền – quán quân cuộc thi Dự án Khởi nghiệp 2017 mới đây đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tế và những cảm hứng họ được truyền từ cuốn sách “Khuyến học” của Tủ sách Nền tảng đổi đời với sinh viên Đại học Sư phạm TPHCM.      Các diễn giả trao đổi với sinh viên Đại học Sư phạm TPHCM về vai trò của sách trong khởi nghiệp  Khởi nghiệp để mang lợi ích cho cộng đồng  Anh Nguyễn Minh Trường sáng lập dự án Choop.vn, một dịch vụ trực tuyến có khả năng hỗ trợ người tiêu dùng đi chợ ngay tại nhà. Đây là một dự án mà anh mong muốn thực hiện với hai mục tiêu: kết nối người tiêu dùng với nguồn thực phẩm có chất lượng và góp phần giải quyết đầu ra cho nông sản sạch. Sau hai năm thành lập hiện Chopp.vn đang là đối tác của 40 siêu thị lớn nhỏ ở TP.HCM, mỗi ngày nhận khoảng 150 đơn hàng. Với kinh nghiệm gần 10 năm làm việc ở Mỹ và Canada, anh Trường cho biết, tiềm năng thương mại điện tử ở Việt Nam rất lớn nhưng ít nhà đầu tư quan tâm vì chi phí lớn.  Anh Minh Trường chia sẻ, để có thành công như bây giờ, cả gia đình đã phải dốc hết nguồn lực để đầu tư vào con đường học tập của anh. Đối với anh, đây thực sự là cơ hội đổi đời vì “tiếp cận với kiến thức từ môi trường học tập nước ngoài, gặp các thầy cô nhìn nhận và đánh giá được khả năng của mình”. Vì thế, anh tập trung vào những dự án khởi nghiệp mang lại nhiều đóng góp cho cộng đồng như Chopp.vn.  Trong buổi giao lưu, anh Minh Trường đã đưa ra nhiều lời khuyên hết sức bổ ích với các sinh viên Đại học Sư phạm TPHCM, trong đó một trong những điều quan trọng nhất là đầu tư vào kiến thức để chuẩn bị cho cuộc sống và nghề nghiệp của mình: “Nếu gặp những việc mình chưa từng biết tới thì không nên bỏ cuộc mà cần xem đó là cơ hội trải nghiệm, học hỏi”. Để có thêm hiểu biết, ngoài những vấn đề học hỏi được từ cuộc sống, các bạn trẻ cần tích lũy từ những trang sách, “vì khi đọc sách, các bạn sẽ thấy nhiều người cùng trải qua thách thức, khó khăn, điều đó khuyến khích chúng ta suy nghĩ người khác làm được thì ta cũng làm được”.  Sách là bạn đồng hành khi khởi nghiệp  Cùng chung quan điểm về việc liên tục học tập, chị Lê Thị Hiền, người vừa giành ngôi quán quân cuộc thi Dự Án Khởi Nghiệp 2017 cho rằng “qua việc học tập, các bạn sẽ bổ sung được những phần còn thiếu, và sẽ có sự sáng tạo khắc phục các chướng ngại”.  Con đường khởi nghiệp của Lê Thị Hiền cũng có nhiều thất bại. Với thế mạnh là kỹ sư công nghệ thực phẩm, thoạt tiên Lê Thị Hiền khởi nghiệp bằng sản phẩm cafe bột nhưng không ngờ lại thất bại. Chuyển sang sản phẩm than không khói, Hiền rút kinh nghiệm nghiên cứu rất kỹ về thị trường, và tìm hiểu chuỗi cung ứng bên cạnh việc tối ưu sản phẩm của mình… Do ôm đồm nhiều việc, trong thời gian đó, chị đã vấp phải nhiều khó khăn trong công tác quản lý, kinh doanh, giải pháp mà cô áp dụng là tự học mọi thứ. Hiện tại, dự án đã đạt được những thành công bước đầu, sản phẩm được xuất khẩu tới các thị trường khó tính như Châu Âu, Mỹ, Nhật.  Nhìn lại chặng đường đã đi qua, Lê Thị Hiền khẳng định sách chính là người bạn đồng hành cùng cô: “Những lúc rơi vào trạng thái hụt hẫng và hoang mang, sách là nguồn cảm hứng để tôi đi tiếp. Sách cho tôi kinh nghiệm và góp phần thúc đẩy tôi hành động”.  Giống như nhà khởi nghiệp trẻ Lê Thị Hiền, á hậu Lệ Hằng – người từng tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ thế giới 2016, và là MC chương trình truyền hình thực tế “Tôi là Hoa Hậu Hoàn Vũ Việt Nam”, lấy sách làm bạn đồng hành. Từng là sinh viên ngành Quản trị tài chính của trường Đại học Công nghệ TPHCM, á hậu Lệ Hằng quyết định quay trở lại giảng đường sau 6 năm tạm nghỉ học vì “khi bắt đầu hành trình khởi nghiệp, tôi nhận ra mình còn thiếu sót rất nhiều kiến thức”.  6 năm gián đoạn học tập khiến cuộc trở lại giảng đường của á hậu Lệ Hằng có nhiều khó khăn và áp lực. Chị chia sẻ “Kiến thức hổng rất nhiều nên Hằng sợ sai, sợ mọi người đánh giá. Nhưng dần dần, tôi nhận ra, điều quan trọng là tăng thêm sự hiểu biết, cho nên cần tiếp nhận mọi lời khen chê”. Qua câu chuyện của mình, Lệ Hằng hi vọng các bạn sinh viên biết tận dụng cơ hội, tích lũy đủ kiến thức để lúc ra trường làm khởi nghiệp sẵn có kiến thức phụ trợ.  Trong tháng 12 này, các chương trình thuộc Hành trình lập chí vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho Thanh niên Việt sẽ tiếp tục diễn ra định kỳ vào các thứ 7 hàng tuần tại các Không gian Trung Nguyên Legend và Cà Phê Thứ Bảy, gần nhất là cuộc giao lưu với sinh viên Đại học Công nghệ Sài Gòn và Đại học Ngoại thương Hà Nội. Được tiến hành từ năm 2012, đến nay chương trình đã trao tặng hơn 2 triệu cuốn sách đổi đời đến các tầng lớp thanh niên trên khắp cả nước và hỗ trợ nhiều chương trình khởi nghiệp cũng như kết nối nhiều nhân vật nổi tiếng.       Author                T. H        
__label__tiasang Giao lưu với tác giả cuốn sách “Quản trị thương hiệu trực tuyến”      Hành trình Lập chí vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho thanh niên Việt đã tiếp tục đến với các sinh viên của Đại học Công nghệ TPHCM vào ngày 12/10/2017 với sự tham gia của á hậu Hoàng Oanh, MC Đông Quân – Tổng giám đốc Apex Media và ông Charlie Pownall – Sáng lập viên và Giám đốc điều hành Công ty tư vấn quản trị thương hiệu CPC & Associates về chủ đề “Khởi nghiệp: Từ ý tưởng đến thực tế”.      Ba diễn giả tại chương trình, từ trái qua phải: MC Đông Quân – Tổng giám đốc Apex Media, á hậu Hoàng Oanh, và ông Charlie Pownall – Sáng lập viên và Giám đốc điều hành Công ty tư vấn quản trị thương hiệu CPC & Associates  Ông Charlie Pownall chia sẻ góc nhìn từ Uber, Grab, Taxi truyền thống  Tham gia buổi tọa đàm, diễn giả Anh Quốc, Ông Charlie Pownall, tác giả cuốn sách Quản trị thương hiệu trực tuyến vừa mới xuất bản tại Việt Nam đã chỉ ra cho các bạn trẻ thấy rằng có rất nhiều trường hợp khởi nghiệp thất bại sau hai năm, không chỉ do thiếu nguồn vốn mà còn vì chưa xác định được giá trị cốt lõi và chưa làm tốt việc xây dựng được thương hiệu. Ông Charlie Pownall đưa hai thương hiệu Uber và Grab để làm ví dụ về việc xây dựng danh tiếng từ những tiêu chuẩn cụ thể, hướng tới lợi ích của khách hàng. Nhà sáng lập Công ty tư vấn quản trị thương hiệu CPC & Associates hướng dẫn các bạn trẻ cách thức quản trị thương hiệu trong môi trường mạng truyền thông xã hội cho biết: “Danh tiếng của mỗi người được xây dựng hằng ngày thông qua việc chúng ta giao tiếp, ứng xử với người khác”và “Khi hình ảnh thương hiệu tốt sẽ nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng, đó là một trong những giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh”.  Á hậu Hoàng Oanh nỗ lực thực hiện ước mơ   Hoàng Oanh được nhiều người biết đến như một người đẹp với nhiều danh hiệu từ nhiều cuộc thi nhan sắc, việc tham gia các cuộc thi sắc đẹp chính là giải pháp để cô tìm kiếm cơ hội thực hiện giấc mơ trở thành người dẫn chương trình truyền hình. Không chỉ có vậy, cô còn đăng ký tham gia các khóa học thuyết trình và tự rèn giọng bằng cách đọc nhiều hơn, và nói đi nói lại hàng chục lần kể cả với những câu dẫn bình thường để giọng nói trở nên cuốn hút và truyền cảm hơn. Những nỗ lực này đã đưa Hoàng Oanh trở thành một trong những người đẹp đa tài khi vừa là người dẫn chương trình chuyên nghiệp của Đài Truyền hình TP.HCM vừa là một diễn viên trẻ đầy tiềm năng với nhiều giải thưởng: Én đồng Người dẫn chương trình 2013, tốp 3 Nữ MC được yêu thích nhất – giải thưởng truyền hình HTV Awards 2015. Sau những thành công đó, Hoàng Oanh chia sẻ, “Điều quan trọng nhất chính là sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng đương đầu với khó khăn và lấy khó khăn như sự trải nghiệm để hoàn thiện những điều còn thiếu sót”.  MC Đông Quân: Thành công từ học hỏi trong sách vở  MC Đông Quân cho biết, để từ một sinh viên ngành Ngữ văn đến doanh nhân thành đạt như ngày hôm nay anh đã trải qua rất nhiều lần thay đổi công việc, nhưng tất cả đều là để phát huy hết năng lực lõi của mình. MC Đông Quân chia sẻ giải pháp mà anh đã ứng dụng trong 20 năm khởi nghiệp, trước tiên là tìm ra thế mạnh của bản thân, sau đó là lập kế hoạch cụ thể, tìm người đồng hành giúp mình thực hiện kế hoạch và dám đương đầu với thất bại. MC Đông Quân nhấn mạnh “Nếu không muốn ý tưởng mãi mãi chỉ là ý tưởng thì nên chuẩn bị tri thức, các bạn trẻ không nên thụ động mà mỗi người phải thường xuyên rèn luyện kỹ năng, tích lũy kiến thức để phát huy tốt nhất năng lực của mình”.  Vì vậy, các sinh viên có thể tự tạo cho mình một “cuốn sổ thông thái” để ghi chép những kinh nghiệm hay mà các bạn học được, và sách là nơi các bạn nên tìm đến “Sách là cách thức ít tốn kém nhất để gặp gỡ các nhân vật vĩ đại, tiếp cận những tư tưởng lớn, tạo ra nguồn cảm hứng để hành động”. Lấy ví dụ từ những cuốn sách trong Tủ sách Nền tảng đổi đời của Tập đoàn Trung Nguyên, MC Đông Quân chia sẻ với các bạn sinh viên: “Người thành công cũng bình thường như những người khác, cũng trải qua những vấp ngã thất bại, nhưng họ đã tiếp tục theo đuổi đam mê, đi tới cùng mọi vấn đề, phát huy hết năng lực lõi của mình. Các bạn trẻ có thể đọc để soi chiếu bản thân, học hỏi và định hình tính cách trước khi khởi nghiệp”.   Á hậu Hoàng Oanh cũng khuyên các bạn trẻ nên dành thời gian đọc sách để học được bí quyết thành công của những người khác. Hoàng Oanh bật mí “Những lúc khó khăn, bế tắc và muốn bỏ cuộc, Oanh thường tìm đến sách như một người bạn tâm giao. Người bạn này mang lại cho Oanh cảm xúc tích cực, và là nguồn động viên để Oanh sẵn sàng đón nhận mọi thử thách trong cuộc đời”.  Trong buổi tọa đàm, các diễn giả đã giải đáp nhiều thắc mắc của sinh viên, giúp các bạn có cái nhìn rộng hơn trong việc khởi đầu một sự nghiệp mang lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng, từ đó, các bạn trẻ có sự chuẩn bị nền tảng vững chắc để tự lập một kế hoạch triển khai ý tưởng hiệu quả trong thực tế.  Các sự kiện thuộc Hành trình lập chí vĩ đại – khởi nghiệp kiến quốc cho thanh niên Việt diễn ra định kỳ vào thứ Bảy hằng tuần tại các Không gian Trung Nguyên Legend và Cà phê Thứ Bảy. Bên cạnh đó, trong tháng 10, Hành trình tiếp tục diễn ra tại các trường Đại học, cao đẳng trong cả nước sẽ cũng sẽ diễn ra tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành vào ngày 19/10.    Author                T. H        
__label__tiasang Giáo sư Đào Văn Phan: Những nghiên cứu về thuốc hạ huyết áp      Không phải đến thời điểm hiện nay, khi tỷ lệ người trưởng thành và cao tuổi Việt Nam mắc bệnh cao huyết áp chiếm tới hơn 40% dân số thì người ta mới quan tâm về căn bệnh này. Từ những năm 1960, ở trường đại học Y Hà Nội, đã có một nhà nghiên cứu tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về thuốc hạ huyết áp và được ứng dụng trong thực tế, đó là giáo sư Đào Văn Phan.    Gợi ý từ các bài báo quốc tế   Hơn 60 năm trước, việc nghiên cứu của các nhà khoa học trong trường đại học cũng không khác nhiều so với hiện nay khi một phần công việc của họ cũng là học hỏi và tham khảo những thông tin mới qua công bố của đồng nghiệp quốc tế được xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành. Dược sĩ Đào Văn Phan khi đó mới vừa tốt nghiệp trường đại học Dược khoa và được nhận vào trường Đại học Y, tham gia giảng dạy Dược lý, một môn học tìm hiểu và giải thích về cơ chế tác dụng của thuốc để đảm bảo cho việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý. Ông đã đặc biệt quan tâm đến một số bài báo trên các tạp chí quốc tế nói về việc dùng một dược chất là pituitrin (nội tiết tố thùy sau tuyến yên) để điều trị hiện tượng nôn ra máu do giãn tĩnh mạch thực quản trên bệnh nhân có tăng áp tĩnh mạch gánh.     Giáo sư Đào Văn Phan năm 1963.  Ở thời điểm đó, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang có xu hướng áp dụng biện pháp phẫu thuật cắt bỏ một phần gan để điều trị gan bị thương tổn. Việc thực hiện phẫu thuật đứng trước khá nhiều thách thức, trong đó có việc phải kẹp cuống gan trong một thời gian nhất định, dễ làm huyết áp tĩnh mạch gánh tăng cao và nhiều khả năng dẫn đến tai biến. Xuất phát từ ý tưởng của thầy Nguyễn Trinh Cơ và bác sĩ Nguyễn Nguyên Khôi qua một câu hỏi “Có thể dùng pituitrine để hạ huyết áp tĩnh mạch gánh được không?”, ông Đào Văn Phan bắt tay thực hiện nghiên cứu, một hướng đi về điều trị hạ huyết áp mà không ngờ sau này ông đã đi theo cả đời.  Dĩ nhiên, không thể so sánh những điều kiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ngày đó với hiện nay. Giáo sư Đào Văn Phan nhớ lại những thiếu thốn thời kỳ đó: trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu lúc đó, “không có áp kế, chúng tôi phải tự mày mò chế tạo” bởi bộ môn chỉ có một số kymographe trục hun khói – thiết bị ghi hoạt động của tim, lưu động của ruột… – hai máy ghi huyết áp của động vật làm thí nghiệm, hai thermostat – máy đo thể tích – và một số trang bị khác do Liên Xô viện trợ, nhưng chủ yếu là để dành cho công tác giảng dạy. “Tôi cảm thấy mọi chuyện rất phức tạp khi lần đầu thực hiện đo cùng lúc ba huyết áp là tĩnh mạch gánh, tĩnh mạch đùi, động mạch cảnh trên một con chó thí nghiệm. Chúng tôi thất bại rất nhiều lần mới thành công”, ông kể.   Nhờ vậy đến tháng 12/1963, ông và đồng nghiệp đã hoàn thành được nghiên cứu về việc dùng pituitrine để hạ huyết áp tĩnh mạch gánh trên 9 con chó, xuất bản công trình trên tạp chí Y học Việt Nam (số 4, năm 1964). Đây là công trình nghiên cứu về hạ huyết áp đầu tiên của bác sĩ Đào Văn Phan và được báo cáo trong Hội nghị Khoa học của trường Y. Thành công này không những giúp các nhà y học tự tin trong việc sử dụng thuốc pituitrine theo như công dụng các tài liệu nước ngoài đã công bố mà còn là bước đệm để bác sĩ Đào Văn Phan vững tin hơn vào con đường nghiên cứu của mình.  Cũng vào cuối năm 1963, khi dược sỹ Đoàn Thị Nhu (sau là giáo sư, Viện trưởng Viện Dược liệu) kết thúc chương trình thực tập sinh ở Bulgaria đã mang theo tài liệu về thực nghiệm tác dụng hạ huyết áp của một cây thuốc do bà nghiên cứu (tài liệu viết bằng tiếng Bulgaria và được dịch sang tiếng Pháp). Với việc đề cập đến những phương pháp thực nghiệm và quy trình tiến hành nghiên cứu dược lý thực nghiệm, đây là tài liệu quý cho bác sĩ Đào Văn Phan tham khảo và trở thành tài liệu “gối đầu giường” của ông nhiều năm.  Tìm dược chất hạ huyết áp trong cây thuốc quý   Trong quá trình nghiên cứu về thuốc hạ huyết áp, bác sĩ Đào Văn Phan đã được giáo sư Đỗ Tất Lợi (trường đại học Dược khoa HN) giới thiệu về cây dừa cạn (Vinca Rosea), một loại cây đang được giới y – dược trên thế giới quan tâm thời điểm đó bởi có nhiều dược chất như alcaloid như reserpin, ajmalicin… có tác dụng làm hạ huyết áp, hay vincaleucoblastin và leurosin có thể điều trị được bệnh u lympho ác tính Hodgkin. Dược sỹ Nguyễn Văn Hợi, khi đó là trưởng khoa Dược, Bệnh viện Bạch Mai, đã tạo điều kiện cho bác sĩ Đào Văn Phan có được dừa cạn dưới dạng cao lỏng có chứa alcaloid toàn phần của cây. Với hỗ trợ quý giá của đồng nghiệp, trong gần một năm rưỡi, ông đã tự mày mò nghiên cứu theo đúng quy trình khoa học để có thể phân tích tác dụng và cơ chế gây hạ huyết áp của cây dừa cạn trên các hệ thần kinh trung ương, thần kinh thực vật, hay trên cơ quan được cô lập như tim, mạch, ruột, đồng thời tiến hành thử độc tính, xác định liều dùng cho người… Trước khi áp dụng trên người, ông cũng tiến hành thử nghiệm trên nhiều loại động vật phổ biến với sự tăng dần về khối lượng và độ hoàn thiện của các cơ quan như ếch, thỏ, mèo, chó. Theo cách này, đây là nghiên cứu dược lý có hệ thống đầu tiên về cây dừa cạn được tiến hành ở bộ môn.    Cây dừa cạn có nhiều dược chất như alcaloid như reserpin, ajmalicin… có tác dụng làm hạ huyết áp.  Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí Y học Việt Nam năm 1965 và được chọn đăng trong tạp chí Travaux Scientifiques xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1969 của trường Đại học Y Hà Nội. Bác sĩ Đào Văn Phan được nhận bằng khen của Bộ Y tế năm 1968, giấy khen của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1968. Và với sự phê chuẩn của Bộ Y tế, kết quả nghiên cứu trên của ông đã được Xí nghiệp Dược phẩm 2 đưa vào sản xuất với sản phẩm viên Vinca chữa tăng huyết áp. Qua thành công này, ông rút ra một kết luận: “Muốn nghiên cứu dược lý thì trước tiên phải có phương pháp thực nghiệm, phải có mô hình thực nghiệm và phải có dạng thuốc thích hợp”.  Bên cạnh cây dừa cạn, bác sĩ Đào Văn Phan còn phối hợp với những nhà nghiên cứu khác là giáo sư Đặng Thị Hồng Vân, dược sĩ Nguyễn Tường Vân để tìm hiểu một cây thuốc khác, cây nhàu (Morinda citrifolia L.), tập trung vào tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết xuất từ rễ. Do loại cây này không trồng được ở miền bắc nên nhóm nghiên cứu đã phải vào Huế mua rễ cây nhàu đem về nghiên cứu. Khi chuyển về Học viện Quân y vào tháng 9/1980, ông vẫn tiếp tục thực hiện công trình này và hướng dẫn bác sĩ nội trú chuyên khoa Dược lý Nguyễn Trọng Thông bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp (vào những năm 1990, ông trở lại Đại học Y HN và giữ chức chủ nhiệm bộ môn Dược lý).  Cả hai công trình nghiên cứu về thuốc hạ huyết áp với dược chất chiết xuất từ cây dừa cạn và cây nhàu của giáo sư Đào Văn Phan đều được ứng dụng, đưa vào sản xuất chữa trị bệnh huyết áp và được nhiều người đón nhận. Thế nhưng, thật không may là hai loại thuốc này của ông, cũng như nhiều loại đông dược Việt Nam khác, không thể vượt qua khỏi cơn lốc “thuốc tây” vào cuối những năm 1980, khi nhiều công ty dược phẩm chỉ sản xuất đông dược cầm chừng để dồn lực nhập thuốc tây về. Rút cục, thuốc của ông đã ngừng sản xuất và chỉ còn lại trong những trang báo cáo và tài liệu ngành y dược về các phương thuốc hạ huyết áp từng được nghiên cứu ở Việt Nam.   Ngày nay, khi đông dược bắt đầu được coi trọng trở lại, những dòng thực phẩm chức năng chuyên về hạ huyết áp như Hạ áp ích nhân với thành phần chính là giun đất, xuất hiện trên thị trường khiến người ta không khỏi ngậm ngùi về số phận hai loại thuốc của giáo sư Đào Văn Phan trong quá khứ. Có lẽ đây cũng là một bài học kinh nghiệm để chúng ta thấy rằng: đôi khi, nỗ lực của những người làm nghiên cứu không đủ, vẫn cần sự hỗ trợ của doanh nghiệp và định hướng của các nhà quản lý để gìn giữ và phát triển các công thức thuốc quý.      —  * Bài viết được Tia Sáng biên tập, bổ sung dựa trên tư liệu và ảnh của Trung tâm Di sản các nhà Khoa học Việt Nam.     Author                Hoàng Thị Liêm        
__label__tiasang Giáo sư gốc Việt và xe lăn thông minh tự điều khiển bằng ý nghĩ      Bản tin cuối tháng 8/2012 của website news.com.au cho biết Giáo sư – Tiến sĩ gốc Việt – Hùng Nguyễn, Chủ nhiệm Khoa Kỹ thuật và Công nghệ Thông tin của ĐH Sydney (UTS, Australia) và các cộng sự vừa công bố đã chế tạo thành công chiếc xe lăn điều khiển được bằng ý nghĩ khi có thể tự vận hành bằng chính bộ não robot của nó để vượt qua chỗ đông người…    Giáo sư – Tiến sĩ Hùng Nguyễn tên thật Nguyễn Tấn Hùng, định cư, sinh sống ở Castle Hill (bang New South Wales) từ năm 1979. Nhiều năm qua, ông thường xuyên có những phát minh hữu ích đối với các bệnh nhân. Một trong những phát minh y tế mang tính đột phá là sáng kiến Aviator (công nghệ “xe lăn thông minh”) đã được tạp chí sáng tạo kinh doanh Australian Anthill xếp thứ 3 trong danh sách “100 phát minh hàng đầu Australia”.   Ông Hùng Nguyễn cho biết: “Từ hơn 10 năm trước, tôi đã dành phần lớn tâm trí để nghiên cứu về lĩnh vực này. Lý do thật ra cũng đơn giản: Con trai tôi là Jordan Nguyễn, năm nay 27 tuổi, từng bị chấn thương nặng khi lao xuống hồ bơi hồi năm 2005 và tai nạn này khiến Jordan suýt bị liệt. Chính con trai tôi đã cộng tác cùng tôi trong công trình này và dùng nó làm đề tài nghiên cứu lấy học vị tiến sĩ. Dĩ nhiên chúng tôi không tạo ra những chiếc xe lăn, song chúng tôi tạo ra những thiết bị điều khiển đi kèm chúng dựa trên điều khiển của bộ não. Theo đó, nó được thiết kế có chức năng như một robot có thể tự di chuyển và né tránh các vật thể mà chúng nhìn thấy được qua camera lắp đặt sẵn trên xe. Vì vậy, chiếc xe lăn có thể di chuyển theo mệnh lệnh từ cái lắc đầu, ánh mắt, thậm chí là suy nghĩ của chủ nhân. Tôi tin tưởng chiếc xe lăn thông minh này sẽ tạo ra cuộc cách mạng lớn cho những người bị chứng bại liệt. Thời gian vừa qua, chiếc xe lăn đã được thử nghiệm thành công và có thể được thương mại hóa trong vòng từ 1 – 5 năm tới tùy thuộc vào nguồn vốn đầu tư. Ngoài phục vụ cộng đồng ở Australia, tôi rất mong muốn một ngày gần đây sẽ mang sản phẩm phát minh này về Việt Nam, phục vụ cho đồng bào người Việt mình..”.  Bên cạnh sáng kiến Aviator, Giáo sư – Tiến sĩ Hùng Nguyễn và cộng sự còn có nhiều phát minh y tế khác, như phát minh HypoMon với thiết bị chuyên theo dõi chứng bệnh tiểu đường, giúp đo được lượng đường trong máu giảm xuống dưới mức quy định và kết nối với một hệ thống báo động giúp bệnh nhân tránh khỏi những biến chứng do giảm glucoza huyết mà không cần phải lấy máu làm xét nghiệm, hoặc thiết bị tim nhân tạo, thiết bị chuyên phát giác bệnh ung thư vú sớm, máy báo chứng bệnh parkinson, máy kiểm tra sức khỏe dành cho các tài xế…      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư người Anh Angus Deaton đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế      Giải Nobel Kinh tế 2015 đã được trao cho giáo sư Angus Deaton người Anh thuộc trường Đại học Princeton về phân tích mối quan hệ giữa tiêu dùng, nghèo đói và phúc lợi.      “Để thiết kế được chính sách kinh tế thúc đẩy phúc lợi và giảm nghèo khó, chúng ta trước hết phải hiểu rõ những lựa chọn tiêu dùng cá nhân,” Viện Hàn lâm Thụy Điển khẳng định khi công bố giải thưởng này vào ngày 12/10.  “Hơn ai hết, Angus Deaton đã tăng cường sự hiểu biết đó.”  Giải thưởng kinh tế, vốn có tên gọi chính thức là Giải thưởng Sveriges Riksbank trong lĩnh vực Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel, được lập ra vào năm 1968. Nó không phải là một phần của nhóm giải thưởng ban đầu được lập theo chúc thư của Nobel vào năm 1895.  Trước đó, vào ngày 9/10, Ủy ban Nobel Na Uy thông báo giải thưởng Nobel Hòa bình 2015 đã được trao cho Bộ tứ Đối thoại dân tộc Tunisia vì những đóng góp mang tính quyết định của nhóm này trong việc xây dựng nền dân chủ đa nguyên ở Tunisia sau Cách mạng Hoa Nhài năm 2011.  Giải trị giá 8 triệu crown (960.000 USD), sẽ được trao tại Oslo vào ngày 10/12 năm nay.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/giao-su-nguoi-anh-angus-deaton-doat-giai-thuong-nobel-kinh-te-2015/348906.vnp         Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng: Lần thứ bảy liên tiếp vào top 1% thế giới      Có mặt trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới năm 2020, bao gồm 6.167 nhà nghiên cứu của 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Trung tâm nghiên cứu liên ngành, trường đại học Công nghệ TPHCM) lần thứ bảy liên tiếp được vinh danh.      Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (giữa).   Theo xác nhận của Clarivate Plc, công ty quản lý thông tin khoa học hàng đầu thế giới với cơ sở dữ liệu Web of Science 1, những đóng góp của giáo sư Nguyễn Xuân Hùng trong lĩnh vực cơ học tính toán, khoa học máy tính, in 3D, toán ứng dụng, học sâu, phân tích đẳng hình học… là hơn 200 bài báo quốc tế, 9.498 lượt trích dẫn và h-index là 58. Những bài báo đưa anh trở thành nhà khoa học được nhiều người trích dẫn nhất (top 1% trích dẫn) trong bảy năm liên tiếp kể từ năm 2014 đến năm 2020 là thuộc lĩnh vực khoa học máy tính.  Tương tự như những năm trước, trong danh sách năm nay, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng vẫn là nhà nghiên cứu duy nhất có địa chỉ ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có một số nhà khoa học người Việt ở nước ngoài như giáo sư Võ Văn Ánh (trường đại học công nghệ Swinburne Úc) – toán học với 261 bài báo, 7.327 lượt trích dẫn, h-index 42; giáo sư Đặng Văn Chí (Viện nghiên cứu ung thư Luwig, Mỹ) – khoa học liên ngành với 312 công bố, 39.884 lượt trích dẫn, h-index 91; giáo sư Trần Phan Lam Sơn (trường đại học Công nghệ Texas và Viện RIKEN) – lĩnh vực khoa học thực vật và động vật;  giáo sư Ngô Hữu Hào (trường đại học Công nghệ Sydney) – lĩnh vực sinh học và hóa sinh với 64 bài báo, 15.283 lượt trích dẫn, h-index 57.  Số lượng nhà khoa học Việt Nam trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất vô cùng nhỏ bé so với những đồng nghiệp quốc tế. Dẫn đầu danh sách này là Mỹ với 2.650 tác giả, chiếm 41,5% danh sách. Tuy nhiên số lượng này cũng đã giảm xuống so với 44% trong năm 2019.  Trung Quốc vẫn có mặt ở vị trí thứ hai thế giới với 770 người, chiếm 12.1% hoặc 1/8 danh sách, tăng lên so với số lượng năm 2019 – 636 người, chiếm 10,2% với sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu trường đại học Thanh Hoa (vươn lên vị trí thứ 9trong danh sách các cơ sở giáo dục, nghiên cứu có nhiều nhà khoa học được trích dẫn nhất – năm 2019 là vị trí thứ 19), trường đại học Bắc Kinh và Chiết Giang.  Xét trên bình diện toàn cầu, những cơ sở nghiên cứu và giáo dục có nhiều nhà khoa học lọt vào danh sách là trường đại học Harvard 188 người, Broad Institute – một viện nghiên cứu liên kết về y sinh giữa MIT và Harvar – và MIT lần lượt chiếm 61 và 53 người.  ——  1. https://recognition.webofscience.com/awards/highly-cited/2020/          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giao thông công nghệ: khi viễn tưởng thành hiện thực      Jetpack, động cơ giống như một chiếc balo đeo sau lưng giúp con người bay vọt lên như siêu nhân trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng kinh điển có thể không lâu nữa sẽ có mặt trong đời sống hiện thực khi lĩnh vực giao thông vận tải bùng nổ với cuộc cách mạng công nghệ 4.0.    Taxi bay  Bước cải tiến từ chiếc máy bay chở hàng không người lái là chiếc máy bay Volocopter 2X hai chỗ ngồi, một loại máy bay VTOL 18 cánh quạt (cất và hạ cánh thẳng đứng) được chạy bằng chín bộ ắc quy dung lượng cao. Chiếc máy bay này có thể được lái hoặc có thể bay tự động trong những khu vực cho phép. Chiếc Volocopter 2X nặng 290kg có tải trọng tối đa 160kg và phạm vi bay là 27km với tốc độ hành trình là 70km/h; thời gian bay tối đa là 27 phút khi ở tốc độ hành trình 50km/h. Taxi bay được trang bị nhiều bộ phận dự phòng cho các thành phần quan trọng như cánh quạt, động cơ, nguồn điện, thiết bị điện tử, điều khiển và hiển thị chuyến bay, cộng với dù khẩn cấp tuye nhiên nhà sản xuất tuyên bố “bạn sẽ không bao giờ phải sử dụng tới nó”.  Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của taxi bay Volocopter, được nhà sản xuất Đức tiến hành như một dịch vụ gọi xe theo yêu cầu bằng điện thoại thông minh, đã diễn ra vào tháng 9 năm 2017 tại Dubai. Tại sự kiện này, Florian Reuter, Giám đốc điều hành Volocopter đã công bố kế hoạch triển khai dịch vụ taxi bay trong vòng năm năm tới.  Tại Mỹ, Uber và NASA đang hợp tác trong một chương trình taxi VTOL có tên là Uber Elevate, với các chương trình thí điểm được dự kiến cho tới năm 2020 và một dịch vụ sẽ được triển khai vào năm 2023.  Hyperloop  Có lẽ công nghệ vận tải mang tính “viễn tưởng” nhất chính là Hyperloop, một sự kết hợp giữa tàu chạy trên đệm từ với ống chân không (một phần) có khả năng đẩy “viên nhộng” hoặc một cái “kén” chứa hành khách và / hoặc hàng hóa với vận tốc gần tới tốc độ của âm thanh.  Mặc dù dựa trên những ý tưởng có từ lâu, nhưng khả năng trở thành hiện thực gần đây của Hyperloop đã được doanh nhân nổi tiếng Elon Musk hé lộ trong sách trắng mã nguồn mở mang tên “Hyperloop Alpha” vào năm 2013. Cuốn sách đã mô tả công nghệ cũng như chỉ ra tính phù hợp của nó trong việc “liên kết các cặp thành phố có mật độ giao thông lớn ở cách nhau khoảng cách 1500 km”. Ngoài điểm này, Musk cho rằng du lịch hàng không siêu âm sẽ trở nên rẻ hơn và nhanh hơn.  Cho tới nay, những thử nghiệm của các hệ thống Hyperloop đã đạt tới tốc độ 387km/h, bằng một phần ba tốc độ 1.200km/h (tốc độ âm thanh) do Musk đề ra trong sách trắng năm 2013 của mình.  Hyperloop cuối cùng có thể sẽ đạt được tốc độ tối đa, nhưng sẽ còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết trước khi được công chúng chấp nhận, trong đó đáng lưu ý là quy định và tiềm năng kinh doanh. Trong một cuộc khảo sát trực tuyến gồm 1.346 người Mỹ trưởng thành được tiến hành vào tháng 2 năm 2017, 17% người được hỏi cho biết họ sẽ chọn chuyến đi một lần Hyperloop thay vì chọn chuyến đi một lần vào vũ trụ. Điều này có lẽ đã khích lệ những người ủng hộ công nghệ, nhưng cuộc khảo sát cũng cho thấy 43% nghi ngờ Hyperloop không thể trở thành hiện thực khi họ còn sống. Nếu thiết bị này trở thành hiện thực và đi vào hoạt động, 37% trả lời họ sẽ sử dụng, với 8% từ chối hoàn toàn.  Xây dựng một hệ thống Hyperloop là một thương vụ lớn, cho dù ống chân không nằm trên hoặc, tốn kém hơn, dưới mặt đất. Elon Musk đã thành lập doanh nghiệp đào hầm của mình, Công ty Boring, với một trong số những mục tiêu quan trọng là giảm chi phí xây dựng đường hầm, hiện đang lên đến 1 tỷ đô la mỗi dặm. Không chỉ chi phí xây dựng, Hyperloop còn phải đối mặt với các vấn đề khác liên quan như thu hồi đất và quyền xây dựng/đào hầm, tác động môi trường, các tiêu chuẩn an toàn và an ninh.  Không một trở ngại nào trong số những trở ngại nêu trên có thể khiến các công ty khởi nghiệp chùn bước trên tiến trình tìm kiếm tiến bộ và triển khai công nghệ Hyperloop. Ngoài SpaceX/Tesla của Elon Musk, startup nổi tiếng khác là Hyperloop One – gần đây đã đổi tên thành Virgin Hyperloop One sau khi nhận một khoản đầu tư (không được tiết lộ) của nhóm Richard Branson, cũng đang “nhăm nhe” nhắm đến công nghệ này.  Những cột mốc quan trọng Hyperloop One bao gồm: Global Challenge, được khởi động vào tháng 5 năm 2016, đã xác định 10 tuyến đường tiềm năng từ danh sách rút gọn 35 tuyến; DevLoop, một thử nghiệm tuyến ở Nevada, được hoàn thành vào tháng 3 năm 2017; và bản ghi tốc độ Hyperloop hiện tại, được thiết lập vào tháng 12 năm 2017 trên DevLoop. Mặc dù Virgin Hyperloop One cho biết công ty đang ” tích cực làm việc để hoàn thành mục tiêu có ba hệ thống sản xuất đi vào hoạt động vào năm 2021″, nhưng bất cứ ai theo dõi những nỗ lực yếu ớt của Galactic, startup có chung tham vọng với Hyperloop One đều có quyền nghi ngờ về mục tiêu đầy tham vọng của Hyperloop One.  Những startup khác trong hệ sinh thái mới này bao gồm Hyperloop Transportation Technologies (HTT), Transpod và Arrivo.  Thành phố thông minh  Các công nghệ vận chuyển viễn tưởng khi được sử dụng rộng rãi sẽ hoạt động trong một thế giới thông minh hơn, kết nối hơn. Điều này sẽ có ý nghĩa sâu sắc đối với cách các thành phố được thiết kế (hoặc được tái thiết kế) và được quản lý, và sẽ biến đổi trải nghiệm di chuyển bên trong và giữa các thành phố. Nhưng đó chỉ là những ngày đầu.  Thành phố thông minh, cụ thể hơn, nơi có các phương tiện tự lái di chuyển, là chủ đề của một phiên thảo luận tại CES (Hội chợ công nghệ do Hiệp hội Công nghệ Tiêu dùng tổ chức) vào tháng Giêng, là dịp để các chuyên gia trong ngành công nghệ đã mô tả chi tiết về tình hình phát triển thành phố thông minh.  Mike Abelson, phó chủ tịch của General Motors cho biết, từ thử nghiệm của General Motors ở San Francisco, những gì mà nhóm nghiên cứu đang tiến hành là tìm hiểu cách các phương tiện giao thông tương tác với môi trường xung quanh: người đi bộ, người đi xe đạp, tất cả các phương tiện giao thông khác. Những thí nghiệm về cách các phương tiện tự lái vận hành sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các kỹ sư tái thiết và tái tạo lại thành phố. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu vẫn chưa đến được giai đoạn đó. Mike Abelson cho rằng phải có một đội ngũ quy mô đủ lớn để triển khai và làm việc với thành phố để tiến hành một số thử nghiệm. Hiện tại, General Motors vẫn đang tìm kiếm tương tác đó, bởi vì các phương tiện tự lái sẽ có tác động quan trọng và cơ bản lên cách hoạt động và quy hoạch của các thành phố.  Đối với Erez Dragan, phó chủ tịch cấp cao của Mobileye, việc lập bản đồ là một yếu tố quan trọng. Ông cho rằng, một yếu tố rất quan trọng của lái xe tự động là bản đồ được cập nhật “động” về môi trường và cách thực hiện việc này bằng công nghệ của hãng là công nghệ crowd-sourcing (khai thác nguồn lực đám đông) sử dụng các phương tiện giao thông có độ tự hành thấp, camera đơn.  Các dự án như vậy đòi hỏi một mức độ kết nối cao. Vấn đề này được giải quyết bởi Nakul Duggal, phó chủ tịch, quản lý sản phẩm tại công ty Qualcomm. Ông cho biết,  trong 15 tháng gần đây, công ty đã bắt đầu tập trung vào lĩnh vực “Phương tiện giao thông với Vạn vật” (V2x: Vehicle-to-Everything). Nếu chúng ta tiến hành trang bị cho cơ sở hạ tầng ở các thành phố với cảm biến, ví dụ như ở các đèn giao thông, khu vực xây dựng v.v, thì việc này sẽ cho phép chiếc xe có lắp cảm biến có thể “thấy” được chính xác môi trường trông như thế nào. Do thành phố tương lai bắt đầu được hiện đại hóa về mặt kết nối: chuyển sang kết nối 5G, có những hệ thống mạng dày đặc hơn, nên mạng lưới giao thông cũng cần phải thông minh hơn. Khi mạng lưới này được kết nối bằng công nghệ có khả năng giao tiếp với phương tiện giao thông, con người có thể có bối cảnh cục bộ. Ví dụ, một giao lộ sẽ có thể thông báo cho những chiếc xe tốc độ trung bình tại thời điểm đó.  Bản đồ động, cơ sở hạ tầng được trang bị cảm biến và kết nối thông minh sẽ cho phép định tuyến và đỗ xe hiệu quả hơn ở các thành phố thông minh. Cùng với các phần mềm chia sẻ xe và xe điện, những phát triển này có thể tiết kiệm thời gian, giải phóng đất đai, và giảm ô nhiễm và ùn tắc trong các thành phố tương lai.  Tăng quy mô nền kinh tế  Mặc dù các khía cạnh tiêu dùng của vận tải công nghệ nhận được mức độ quan tâm cao, nhà phân tích Forrester cho rằng thế giới thương mại có đột phá đầu tiên. Trong một báo cáo tháng 7 năm 2017 có tiêu đề “Phương tiện giao thông tự hành sẽ định hình lại nền kinh tế thế giới”, ông chỉ ra sáu lĩnh vực chủ chốt được cho là “sẵn sàng chuyển đổi sâu sắc” gồm: ô tô, vận chuyển hàng hóa và logistics, bảo hiểm, chính phủ, truyền thông và bảo mật dữ liệu và quyền riêng tư. Forrester cho biết, trước khi các công nghệ vận tải mới được người tiêu dùng chấp nhận, các công ty vận chuyển hàng hóa và logistics như Amazon, DHL, và UPS sẽ đi tiên phong trong việc ứng dụng thương mại các phương tiện tự hành. Trên thực tế trong mọi điều tra mà công ty của ông thực hiện đều có chung một kết quả, đó là vận tải hàng hóa và logistics là lĩnh vực mà giao thông tự hành có tiềm năng nhất.  Nghiên cứu mới của hãng điều tra thị trường Tractica cũng ủng hộ quan điểm này, với dự đoán doanh thu và doanh số bán từ xe tải và xe buýt tự lái sẽ tăng từ 343 và 84 triệu USD năm 2017 lên 188.000 và 35 tỷ USD vào năm 2022.  Rõ ràng, giao thông đang sắp sửa bước vào một sự khởi đầu mới với công nghệ là đòn bẩy, nếu xét những khía cạnh như khả năng dễ xảy ra tai nạn, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn tài nguyên và tốn kém thời gian của nhiều phương pháp vận tải truyền thống. Ngay bây giờ, nhiều công nghệ vận tải mới đang được thử nghiệm trong đó nhiều công nghệ thu hút sự quan tâm đang tranh giành vị trí trong hệ sinh thái bắt đầu phát triển này. Các chi tiết vẫn đang dần định hình, nhưng các hệ thống giao thông trong tương lai chắc chắn sẽ được kết nối, được tri phối bởi dữ liệu và có độ tự động hóa cao. Tuy vậy, điều quan trọng là phải đặt những vấn đề an ninh và quyền riêng tư lên đầu và trọng tâm khi các hệ thống này được phát triển. Cuộc hành trình để biến viễn tưởng thành hiện thực hứa hẹn sẽ là một hành trình hấp dẫn.  Phương Anh tổng hợp  (theo TechRepublic, The new commute: How driverless cars, hyperloop, and drones will change our travel plans)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao thông phản ánh tình hình kinh tế?      Theo một công trình nghiên cứu thì năm 2011  những lái xe người Đức bình quân bị mất 36 giờ đồng hồ vì ùn tắc giao  thông, giảm ba giờ so với năm trước. Nếu người ta tin vào những  nghiên cứu này thì đây là một dấu hiệu xấu đối với nền kinh tế.  &#160;    Năm ngoái, theo tính toán bình quân mỗi người lái xe ô tô ở Đức bị mất một ngày rưỡi vì nạn ùn tắc giao thông. Số giờ bị tắc nghẽn cũng lệ thuộc vào nơi người ta ở và đi xe, thí dụ ở Stuttgart khoảng 58 giờ, ở Koeln 57 giờ và ở Hamburg 55 giờ.   Hãng Inrix của Mỹ chuyên cung cấp thông tin về giao thông, đã điều tra, tính toán về vấn đề này. Theo thông tin của Inrix thì ở châu Âu nạn ùn tắc giao thông ở các thành phố như Mailand, Brüssel, Antwerpen, Paris và Manchester là tồi tệ nhất, nơi thời gian các lái xe thường phải chờ đợi lên tới 70 giờ.   Nhìn chung thời gian bị ùn tắc giao thông trong năm ngoái có giảm. Theo Inrix thì tình trạng ùn tắc giao thông trên toàn thế giới đã giảm 17%, ở Đức là 8%. Lý do giảm ùn tắc là do giá xăng dầu đắt đỏ và tình trạng khủng hoảng kinh tế với nạn thất nghiệp cao.   Stuart Marks, nhà quản lý của Inrix, cho rằng: “Tình hình giao thông phản ánh tình hình kinh tế. Tắc nghẽn giao thông là một chỉ báo khá xác thực về tình hình phát triển kinh tế. Giao thông phản ánh tình trạng thất nghiệp, các doanh nghiệp có gửi sản phẩm của mình đi các nơi không và người tiêu dùng có chi tiền không.”  Điều này thể hiện rõ ở các nước châu Âu đang bị nợ ngập đầu: tại Bồ Đào Nha nạn ùn tắc trong năm 2011 giảm một nửa so với 2010, tại Ireland ùn tắc cũng giảm 25%, tại Tây Ban Nha 15% và ở Italia giảm 12%.   Theo các dữ liệu của Inrix thì nguy cơ ùn tắc giao thông ở Đức tập trung vào chiều thứ sáu hàng tuần và chiều thứ hai hàng tuần nạn ùn tắc ít xẩy ra nhất. Inrix đo các sự cố giao thông ở Đức dựa trên các cảm biến trên đường giao thông, dựa vào số liệu thống kê và thời gian thực tế phản ánh qua thiết bị GPS đặt trong xe ô tô.  Xuân Hoài dịch theo Spiegel     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao thông và khủng hoảng Covid-19: Thế giới bị ngưng trệ      Cuộc khủng hoảng Covid-19 đã và đang thay đổi bức tranh toàn cảnh của ngành giao thông trên thế giới, một cách dữ dội và đột ngột: Các chuyến bay bị hủy, đường xá vắng tanh vắng ngắt, những du thuyền không có khách trôi bồng bềnh.    Tuần báo Spiegel của Đức đã thu thập và đánh giá nhiều dữ liệu liên quan đến giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Các số liệu này cho thấy tác động thê thảm và dữ dội của cuộc khủng hoảng Covid-19. Giao thông đường bộ cũng như đường hàng không và đường thủy đều bị ảnh hưởng hết sức nặng nề. Chỉ có ngành tàu biển chở container hàng vẫn là ngoại lệ.  Giao thông đường bộ có những biến chuyển rõ rệt. Dựa vào dữ liệu phân tích của nhà cung cấp dịch vụ định vị TomTom có thể đánh giá chính xác về mật độ giao thông hiện nay. Thông qua thiết bị định vị cố định hoặc điện thoại thông minh, TomTom có thể theo dõi từ 10-20% lưu lượng xe ô tô di chuyển ở Đức – và cũng tương tự ở hầu hết các nước khác.  Quan sát lưu lượng xe ở chín thành phố ở châu Âu, trong đó có những thành phố bị coi là ổ dịch Covid-19 như Bergamo, Mailand và Madrid cùng bốn thành phố lớn của nước Đức cho thấy lượng di chuyển bằng ô tô luôn duy trì ở một mức ổn định vào các ngày làm việc trong tuần.     Biểu đồ 1: Mật độ giao thông đường bộ giảm sút ở một số thành phố lớn ở châu Âu (ngày 20 tháng ba so với ngày 24 tháng giêng 2020)  Tuy vậy từ khi xảy ra dịch bệnh thì các con số này giảm sút rất nhanh: Mật độ giao thông ở những địa phương bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề như Bergamo và Mailand vào ngày 20 tháng 3 chỉ còn bằng 17% so với những ngày trước khi bùng phát dịch (ngày 24 tháng 1) – xem biểu đồ trên. Trong đó con số này ở Wien hôm thứ sáu là 43%, còn Berlin là 64%. Lệnh hạn chế đi lại ở Áo được áp dụng có phần nghiêm ngặt hơn so với ở Đức.    Biểu đồ 2: Mật độ giao thông tại một số thành phố lớn của Đức trong các ngày 9.3; 15.3 và 21.3. Trong biểu đồ là mật độ giao thông ở Munchen vào ngày 21.3 đã giảm xuống chỉ còn 22% so với hồi tháng 1.  Biểu đồ số 2 thể hiện rõ mức giảm sút về mật độ giao thông đường bộ tại các thành phố lớn ở nước Đức. Tại đây, khi so sánh với tình hình hồi tháng 1, ta thấy mật độ giao thông hằng ngày trong 14 ngày qua đã giảm rất nhiều. Mức giảm mạnh nhất là 22%, đo hôm 21.3 tại München, do quy định hạn chế có phần nghiêm ngặt hơn so với Berlin hay Hamburg.  Mật độ giao thông ở Ý và Tây Ban Nha giảm rõ rệt cách đây ít hôm. Tại đây lệnh phong tỏa có hiệu lực sớm hơn – và các biện pháp cũng được áp dụng bài bản hơn so với ở Đức.  Cuộc khủng hoảng Covid-19 ảnh hưởng đặc biệt nặng nề đến ngành hàng không. Số lượng các chuyến bay thương mại ngày một giảm. So sánh với số liệu năm 2019, có thể thấy rõ số chuyến bay trong những tuần đầu tiên của năm 2020 có sự tăng trưởng ít nhiều, sau đó từ tháng hai bắt đầu giảm sút nhẹ – và sang tuần thứ 12 (tuần vừa qua) thì lao dốc.  Khủng hoảng Covid-19 bắt đầu từ Trung Quốc, lan sang các nước châu Á khác và cuối cùng lan cả sang châu Âu. Điều này thể hiện rất rõ ở số lượng các chuyến bay khởi hành ở các sân bay khác nhau từ hồi đầu năm.   Ngành du lịch hàng hải đã bị sụp đổ hoàn toàn. Không có gì lạ: Một con tàu với hàng nghìn người bị nhồi nhét trong một không gian hẹp có thể sẽ trở thành môi trường lý tưởng cho virus phát tán. Trong thực tế đã xảy ra nhiều ổ dịch bắt nguồn từ các du thuyền.  Dữ liệu về doanh nghiệp của hãng dịch vụ thông tin hàng hải Vesseltracker ở Hamburg cho thấy các khách sạn nổi này đã phải ngưng hoạt động chỉ sau ít tuần. Tuy nhiên, có một ngoại lệ. Bất chấp mọi sự cố trong năm 2020, mật độ giao thông của tàu container vẫn diễn ra tương đối bình thường. “Số liệu hiện tại không có khác biệt gì lớn so với năm trước đó”, theo Bengt van Beuningen, người phát ngôn cảng Hamburg. Bình thường tàu biển xuất phát từ Trung Quốc cần sáu tuần để cập cảng Hamburg. Tình trạng sản xuất tê liệt ở Trung Quốc phải mất mấy tuần nữa mới có thể khiến số tàu biển của Trung Quốc tới Hamburg bị sụt giảm.  Nếu nhìn vào số lượng tàu rời bến từ 10 cảng biển lớn nhất của Trung Quốc thì phải đến khoảng cuối tháng giêng mới thấy có sự sụt giảm, đó là khi Trung Quốc đang phải vật lộn với Covid-19.    Để có được cái nhìn đúng đắn về tình hình phát triển sản xuất trong năm nay, không nên dựa vào số chuyến tàu xuất phát hằng ngày hoặc hằng tuần từ bến. Bởi lẽ các số liệu này biến động tương đối nhiều.  Thay vào đó, nên tính toán số lượng các tàu container có chiều dài từ 300 mét trở lên đã xuất bến từ 10 cảng biển lớn nhất của Trung Quốc. Từ ngày 1.1.2020 đến 24.3.2020, con số này là gần 2900 – giảm 11% so với năm 2019.  Rất có thể những con tàu khổng lồ này chưa được khai thác hết công suất như thường lệ. Tuy nhiên hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh sản xuất – và số lượng tàu xuất bến ở Trung Quốc cũng sẽ tăng, ông van Beuningen, người phát ngôn cảng Hamburg khẳng định. Điều này phần nào có thể bù đắp cho sự thiếu hụt vừa qua.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/wirtschaft/corona-krise-massive-rueckgaenge-im-flug-schiffs-und-autoverkehr-a-c859587d-6ca6-439b-a420-f0583741170c#     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo viên phải làm việc dưới cường độ cao hơn so với 25 năm trước      Nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Oxford Review of Education của các nhà khoa học thuộc Đại học College London (UCL) cho thấy những người giáo viên đang làm việc chăm chỉ hơn bao giờ hết, và cũng hơn bất kỳ nghề nghiệp nào khác.      Nghiên cứu không chỉ cho thấy giáo viên đang phải làm việc cực kỳ vất vả cả về thể chất lẫn tinh thần, mà sự vất vả ngày càng tăng một cách nhanh chóng (16% năm 1992 so với 58% năm 2017). Ảnh: pinterest  Cường độ làm việc cao  Nghiên cứu của ông dựa trên bộ dữ liệu từ năm 1992 đến 2017 của Khảo sát Kỹ năng và Việc làm (SES). SES thu thập thông tin về những gì mọi người, bao gồm các giáo viên, làm tại công sở, các kỹ năng họ sử dụng và cách họ tiến hành công việc ở Anh. Tổng cộng có 857 giáo viên từ 20 đến 60 tuổi tham gia khảo sát về chất lượng công việc và sự hài lòng trong công việc nói chung, họ đang làm việc tại các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học và trường dành cho học sinh đặc biệt. Đa số là nữ (72%) và sống ở Anh (86%), trong đó chỉ có 13% giáo viên dạy trường tư.   Nghiên cứu do Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội tài trợ, nó không chỉ cho thấy giáo viên đang phải làm việc cực kỳ vất vả cả về thể chất lẫn tinh thần, mà sự vất vả ngày càng tăng một cách nhanh chóng (16% năm 1992 so với 58% năm 2017). Nhìn chung, giáo viên ở Scotland cho thấy cường độ làm việc của họ thấp nhất so với những khu vực khác ở Anh.  90% số người được hỏi cho rằng công việc của họ đòi hỏi trình đào tạo rất cao, tăng 2/3 (90% so với 54%) sau 25 năm. Dữ liệu này cũng cho thấy phúc lợi liên quan đến công việc không xứng đáng với khả năng và sức ảnh hưởng của giáo viên đối với nhiệm vụ của họ. Dữ liệu lần đầu tiên cho thấy chất lượng công việc sụt giảm không chỉ liên quan đến mức lương hay giờ làm. Việc đào tạo, ảnh hưởng của giáo viên đối với nhiệm vụ của họ và phúc lợi liên quan đến công việc cũng giảm sút.  Chất lượng công việc được định nghĩa là cách thức đáp ứng những nhu cầu liên quan đến công việc của người lao động. Các nghiên cứu cho đến nay tập trung vào lương và giờ làm, nhưng GS Green đã phân tích thêm cường độ làm việc và những yếu tố bổ sung khác như cách những người quản lý kiểm soát giáo viên trong suốt thời gian làm việc và đào tạo.   Họ cho biết bản thân thường xuyên hoặc luôn luôn tan làm trong tình trạng kiệt sức (72% của năm 1997 so với 85% của năm 2017), cao hơn bất kỳ một nghề nghiệp nào khác trong cùng thời kỳ (44% của năm 1997 so với 45% của năm 2017). Chỉ các nhà quản lý dịch vụ xã hội và y tế, cùng các chuyên gia pháp lý mới có cùng cường độ công việc mà giáo viên đang phải đối mặt.   Tác giả nghiên cứu, GS Francis Green thuộc Viện Giáo dục UCL cho biết những phát hiện này cho thấy mối liên hệ giữa việc giảm sút độ hạnh phúc trong công việc và giảm chất lượng công việc, không phụ thuộc vào thời gian làm việc của giáo viên. Ông nói rằng cần có những phương án nhằm giải quyết vấn đề vốn là một yếu tố có thể dẫn đến giảm tỷ lệ duy trì giáo viên (tỷ lệ phần trăm giáo viên của trường vẫn giữ nguyên vị trí công tác từ năm này sang năm tiếp theo). “Đặc điểm nổi bật nhất trong nghề giáo là cường độ làm việc cao và liên tục làm tăng cường”.   “So với những nghề lao động trí óc khác, giáo viên làm việc với cường độ cao hơn và điều này đã tăng lên hơn bao giờ hết. Bất kỳ một cải thiện nào trong công việc của giáo viên hậu Covid-19 đều có lợi – không chỉ cho giáo viên, mà còn cho các trường học và học sinh, những người phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng giảng dạy.”  Cần thêm bằng chứng trực tiếp   Ngoài cường độ làm việc, những yếu tố chính cho thấy chất lượng công việc của giáo viên ngày càng tệ hơn, bao gồm:    Tỷ lệ giáo viên có nhiều ảnh hưởng đến cách họ thực hiện công việc giảm từ chỉ dưới một nửa (48%) vào năm 2012 xuống dưới một phần ba (31%) vào năm 2017. Số giáo viên muốn bản thân được quyền kiểm soát nhiều hơn đến cách họ làm việc đã tăng từ 15% đến 24%.   Vào năm 2020, không có một báo cáo nào liên quan đến trạng thái căng thẳng khi làm việc dưới cường độ cao, tuy nhiên đến năm 2017 đây trở thành một vấn đề nghiêm trọng (27%). Giáo viên có gấp đôi khả năng mắc phải loại căng thẳng này so với các ngành nghề lao động trí óc khác (16% so với 9%).    So với 45% vào năm 2012, khảo sát năm 2017 cho thấy chỉ có 10% giáo viên cho rằng mình được quyền tham gia đáng kể vào quá trình ra quyết định.   Tỷ lệ được tham gia các buổi đào tạo giảm (92% năm 2006 so với 86% năm 2017), trong số đó chỉ chưa đầy một phần ba (31% năm 2017) đồng ý rằng kỹ năng của họ được cải thiện đáng kể thông qua những buổi đào tạo. Con số này vào năm 2006 là 41%.     Mặt khác, cáo giáo viên có mức độ hài lòng cao hơn so với những ngành nghề lao động trí óc khác về cơ hội thăng tiến. Cơ hội thăng tiến của họ đã tăng lên đáng kể, và mức độ đảm bảo công việc vẫn ở mức cao.   Tuy nhiên, nghiên cứu không đưa ra bằng chứng trực tiếp nào để giải thích tại sao giáo viên nhận thấy chất lượng công việc giảm sút. Một hạn chế khác là dữ liệu của SES không bao gồm điều kiện làm việc hoặc hỗ trợ xã hội.    Anh Thư dịch  Nguồn: Teachers having to work harder than any other professionals, says study       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy Sài Gòn: Tiên phong về công nghệ tái chế      Đầu tư trang bị dây chuyền sản xuất hiện đại, nhờ đó tái sử dụng 90% nước thải và tái chế giấy – đây là một trong những yếu tố chính đưa công ty cổ phần Giấy Sài Gòn trở thành đơn vị dẫn đầu ngành giấy Việt Nam.  &#160;    Chỉ nhập khẩu công nghệ hiện đại  Từ cơ sở sản xuất Giấy Sài Gòn thành lập năm 1997 chuyên về bao bì carton với vỏn vẹn một máy xeo giấy, năm 1998, công ty cổ phần Giấy Sài Gòn (lúc đó là công ty TNHH Giấy Sài Gòn đã có diện tích mặt bằng xưởng sản xuất rộng hơn 2.000m2 với 30 công nhân viên. Năm 2004, tức là một năm chuyển đổi sang tên mới, công ty cổ phần giấy Sài Gòn đã mở rộng quy mô sản xuất bằng việc đầu tư xây dựng nhà máy Giấy Mỹ Xuân tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A, Bà Rịa- Vũng Tàu với tổng diện tích 50.000m2, tổng số vốn đầu tư 392 tỷ đồng, gồm các xưởng bột, xưởng xeo giấy vệ sinh, xưởng thành phẩm, xưởng IP xeo giấy công nghiệp. Năm 2007, dự án mở rộng nhà máy Mỹ Xuân với Mỹ Xuân 2 đã được tiếp tục khởi công với tổng diện tích gần 90.000m2, tập trung vào các mặt hàng giấy cao cấp.  Cả hai nhà máy của Giấy Sài Gòn có tổng công suất sản xuất giấy tiêu dùng 48.360 tấn/năm và giấy công nghiệp 224.640 tấn/năm, đưa công ty trở thành công ty sản xuất giấy công nghiệp lớn nhất và tốp hai giấy tiêu dùng Việt Nam.   Để đạt được con số ấn tượng này, Giấy Sài Gòn đã nhập khẩu toàn bộ công nghệ sản xuất giấy từ các nhà cung cấp công nghệ giấy hàng đầu thế giới của Andritz (Áo), Kadant Lamort (Pháp), Eimco (Phần Lan), GL&V (Canada), Voith (Đức), ABB (Thụy Sỹ)…, đảm bảo xử lý đồng đều ở các giai đoạn sản xuất từ hệ thống chuẩn bị bột, xeo giấy đến chia cuộn và đóng gói, ra thành phẩm.   Ví dụ với công đoạn xeo giấy công nghiệp, công ty nhập dây chuyền PM4 của Black Clawson (Mỹ), có tốc độ thiết kế 550m/phút, đạt công suất 124.800 tấn/năm. Ưu điểm nổi trội của PM4 là có hệ thống gia keo đạt tiêu chuẩn kỹ thuật châu Âu, hệ thống kiểm soát chất lượng (Quick Connect System Frame) hiện đại, nên sản phẩm giấy công nghiệp của Giấy Sài Gòn đạt chất lượng cao với giá thành hợp lý. Với các sản phẩm tiêu dùng, Giấy Sài Gòn nhập dây chuyền xeo giấy tráng phấn PM5 của UMV (Tây Ban Nha) với công suất 46.800 tấn/năm, tốc độ 270m/phút, sản xuất được nhiều dòng sản phẩm. Yếu tố công nghệ cao trong dây chuyền này giúp sản phẩm chất lượng đồng đều và tiết kiệm chi phí do không phải xử lý giấy kém chất lượng, cuộn giấy ít mối nối hơn.  Ở công đoạn chia cuộn, đóng gói, Giấy Sài Gòn nhập các dây chuyền công nghệ tự động như dây chuyền Sofia, dây chuyền chia cuộn A.Celli, dây chuyền đóng gói tự động Chanli của Ý và Đài Loan nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cao về an toàn và vệ sinh, có khả năng tạo hình hoa văn đa dạng, yêu cầu quan trọng với loại sản phẩm cao cấp, đặc biệt với loại khăn giấy, khăn hộp.  Tiên phong về công nghệ tái chế  Một trong những mục tiêu của Giấy Sài Gòn là phát triển bền vững, thân thiện với môi trường. Để thực hiện điều đó, Giấy Sài Gòn đã không tiếc tiền mua hệ thống chuẩn bị bột giấy theo công nghệ tái chế mới nhất của tập đoàn Kadant Lamort (Pháp) với hệ thống nghiền thủy lực tốc độ cao và sàng áp hiện đại. Công nghệ này có thể lọc tái sử dụng tối đa các sợi bột từ hầu hết các loại giấy đã qua sử dụng, giảm thiểu chất thải cần xử lý nhưng vẫn đảm bảo các loạt bột giấy đạt tiêu chuẩn tương đương giấy nguyên chất ở đầu ra. Hệ thống chuẩn bị bột giấy này đạt công suất 800 tấn/ngày.   Ở công đoạn xeo giấy, các dây chuyền hiện đại cũng góp phần tích cực vào khả năng tái chế. Hai dây chuyền PM4 và PM6 chuyên về giấy công nghiệp và giấy tiêu dùng đều có thể sản xuất các loại giấy thành phẩm từ nguyên liệu bột giấy tái chế (bao bì carton cũ, giấy loại, giấy đã qua sử dụng), điều không phải dây chuyền công nghệ nào cũng làm được.   Không chỉ có sự trợ giúp của máy móc, Giấy Sài Gòn còn huy động sức người thông qua việc thiết lập hệ thống thu mua nguyên liệu, tận dụng nguồn giấy loại trong cộng đồng. Năm 2005, Giấy Sài Gòn bắt đầu xây dựng hệ thống này ở khu vực miền Trung và Tây Nam Bộ với ba trạm thu mua ở TPHCM và Đồng Nai. Chỉ tính riêng trong năm 2012, Giấy Sài Gòn đã thu mua trung bình 4000 tấn giấy bìa carton, gần 2800 tấn giấy viết mỗi tháng. Bên cạnh đó, Giấy Sài Gòn còn mở rộng việc thu mua giấy loại qua kênh nhập khẩu để đảm bảo nguồn cung cho sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất, đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường.   Ý thức tiết kiệm chi phí đi đôi với bảo vệ môi trường đã đưa đến việc Giấy Sài Gòn áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại hàng đầu hiện nay của Eimco (Phần Lan), đạt công suất 17.000m3/ngày thông qua việc dùng vi sinh hiếm khí, thời gian lưu bể ngắn, độ hòa tan tốt, không cần đến hóa chất và tiết kiệm điện. Công nghệ tiên tiến giúp Giấy Sài Gòn tái sử dụng tới 90% lượng nước thải từ sản xuất, không chỉ góp phần giảm bớt chi phí về nước mà còn đem lại thương hiệu xanh thân thiện với môi trường khi nước thải đạt tiêu chuẩn với ngành sản xuất giấy.   Đổi mới chiến lược sản phẩm   Song song với việc tiết kiệm nguyên liệu, giảm chi phí đầu vào và áp dụng công nghệ tiên tiến, Giấy Saig Gòn còn liên tục cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua công tác nghiên cứu thị trường.   Một trong những công việc quan trọng mà Giấy Sài Gòn xác định phải làm đầu tiên là nghiên cứu nhu cầu thực tế và đón đầu những yêu cầu tiềm năng của khách hàng. Đây sẽ là những cơ sở đầu tiên để Giấy Sài Gòn xác định những sản phẩm phù hợp trước khi đưa vào sản xuất và tung ra thị trường.   Với ba loại mặt hàng giấy tiêu dùng, giấy công nghiệp và giấy nguyên liệu, công ty đã xác định những phân khúc thị trường khác nhau, từ bình dân đến cao cấp. Riêng với mặt hàng giấy tiêu dùng, công ty bỏ qua khu vực bình dân để tập trung vào hai khu vực trung và cao cấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng trong nước.   Hướng tới thị trường quốc tế, Giấy Sài Gòn dã nghiên cứu thị trường và quyết định chọn các quốc gia châu Á, châu Phi, nơi sản phẩm của công ty có khả năng cạnh tranh lớn nhất. Hiện nay, các thị trường này là nơi nhập khẩu các loại giấy công nghiệp chất lượng cao của Giấy Sài Gòn. Đây cũng là mặt hàng thế mạnh của công ty nên Giấy Sài Gòn đã đầu tư nhiều máy móc, tăng cường diện tích nhà xưởng cho sản xuất. Để thuyết phục được khách hàng, công ty đã đưa ra mức giá thấp hơn từ 3 đến 5% so với các nhãn hàng khác và thấp từ 5 đến 7% so với hàng nhập khẩu có chất lượng tương đương, còn với thị trường xuất khẩu, công ty đảm bảo hai vấn đề giá cả và chất lượng luôn được giữ vững và tương đương với nhiều nhãn hàng quốc tế khác trên thị trường.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Giầy tạo kỷ lục về tốc độ ở Tokyo      Tại Olympic Tokyo, điều nổi bật là sự xuất hiện một loạt kỷ lục mới ở môn điền kinh. Một trong những nguyên nhân là nhờ giày công nghệ cao của các vận động viên. Karsten Warholm, kỷ lục gia mới ở môn chạy vượt rào 400 mét, nói: “Chính đôi giầy đã khiến tôi có sức bền lâu hơn”.      Trước Thế vận hội năm 1968 ở Mexiko, một loại giày kỳ diệu đã làm giới điền kinh trầm trồ. Hãng sản xuất dụng cụ thể thao Puma của Đức đã phát triển một loại giày chạy bộ rất tuyệt vời nhờ nó một loạt kỷ lục đã bị các vận động viên Hoa Kỳ về chạy tốc độ phá vỡ. Thông thường, loại giày này có từ sáu đến tám đinh dài, riêng loại “giầy bàn chải” này có tới 68 đinh ngắn ở phía trước phần đế. Hồi đó mới xuất hiện đường chạy bằng nhựa tổng hợp, loại đế này có độ bám đất rất cao và giảm thiểu tối đa lực cản.  Điều này không những đã làm cho các vận động viên chạy khác bức xúc với các vận động viên Mỹ mà đối thủ cạnh tranh của Puma ở Đức là Adidas cũng nổi đóa. Do đó, Adidas đã lưu ý Liên đoàn điền kinh thế giới mẫu giầy mới này phạm quy. Các kỷ lục đã bị thu hồi và loại giày này bị cấm sử dụng trong Thế vận hội. Hơn 50 năm sau lại có những đổi mới về công nghệ dưới đôi chân các vận động viên điền kinh gây xôn xao dư luận.  Trong chung kết cự ly 400 mét rào nữ, tuyển thủ người Mỹ Sydney McLaughlin đã giành HCV chỉ trong 51,46 giây. Cô gái 21 tuổi này đã cải thiện kỷ lục thế giới của mình vào cuối tháng 6 thêm 44% giây. Ở vị trí thứ hai, cựu kỷ lục gia thế giới Dalilah Muhammad rõ ràng không đạt được thành tích tương đương kỷ lục cũ. Còn giật gân hơn nữa là chung kết 400m rào nam, Karsten Warholm của Na Uy phá kỷ lục chạy vượt rào 46 giây trong thành tích 45,94 giây, sau đó Rai Benjamin (46,17) và Alison dos Santos (46,72) cũng đạt tốc độ giới hạn của nội dung này.  Usain Bolt chỉ trích   Trong màn lên ngôi của các kỷ lục trong môn điền kinh có vai trò đáng kể của cuộc chiến vật chất trong ngành sản xuất đồ thể thao. Đối với cú chạy tuyệt vời, đôi giầy của Warholm tỏ ra cực kỳ hữu ích. Hãng trang bị đồ thể thao Puma đã kết hợp với các kỹ sư của cuộc đua công thức 1 của Mercedes để phát triển một loại đinh-công nghệ cao. Phần nguyên liệu bên cho phần trên được làm bằng sợi carbon, phần đế cũng là một miếng carbon có thể uốn cong và ngay lập tức trở về hình dáng. “Loại giày này giúp tôi giữ được sức bền lâu hơn để dồn vào cú bung sức ở 100 mét cuối cùng”, Warholm đã nói về hiệu ứng này của đôi giầy. Bên cạnh Warholm còn có Andre De Grasse, vận động viên cự ly tốc độ người Canada, sử dụng loại giầy này.  Huyền thoại về môn chạy tốc độ Usain Bolt đã chỉ trích sự phát triển này trước khi diễn ra Thế vận hội. “Khi người ta kể với tôi về chuyện này, quả thật tôi không nghĩ chúng ta lại đi đến mức như vậy. Chúng ta đã biến những cái đinh công nghệ cao tạo lợi thế cho vận động viên để có thể chạy nhanh hơn”. Puma đã phản ứng rất khôn khéo và ngoại giao trước những lời nhận xét này . “Thật khó nói là liệu với đôi giầy này, Usain Bolt có chạy nhanh hơn hay không. Tuy nhiên theo thời gian thì đương nhiên những đôi giầy cũng phải phát triển và quả là chúng đã nhẹ hơn”, theo lời phát ngôn viên của Puma. Từ lâu đã có sự tranh luận về tác động của khoa học đến thể thao, đây là một thực tế.  Năm 2016, hãng Nike đã đưa  “Swoosh”, loại giầy công nghệ cao đầu tiên ra thị trường. Lập tức các vận động viên chấp nhận ngay và tạo ra một loạt kỷ lục thế giới trên các đường đua, kể cả nội dung marathon. Nếu cách đây nửa thế kỷ, giữa các hãng sản xuất và các vận động viên điền kinh rộ lên sự tranh cãi về sự không công bằng trong cạnh tranh nhưng lần này Liên đoàn điền kinh thế giới đánh giá công nghệ mới là “hợp chuẩn”. Và một loạt nhà sản xuất đã chạy theo xu hướng này.  1% cũng có thể quyết định chiến thắng hay thất bại  Hiện nay, giầy của tất cả các vận động viên hàng đầu, kể cả vận động viên chạy marathon đều dùng loại giầy có trang bị tấm carbon. Giầy của các vận động viên chạy đường dài còn có đế với một loại xốp đặc biệt không những có khả năng lưu giữ năng lượng của vận động viên mà còn có thể nhả ra năng lượng. Mỗi bước có một hiệu ứng phóng nho nhỏ tiếp sức cho vận động viên rảo bước nhanh hơn và cải thiện thành tích của mình. Nhờ cải thiện công nghệ, cơ bắp và các khớp ở vận động viên được bảo vệ nhiều hơn, do đó tạo hiệu quả cao hơn khi luyện tập và sự phục hồi cũng nhanh hơn.  Nhiều kỷ lục trong thời gian qua trong môn điền kinh không thể chỉ được giải thích với những đôi giày được cải tiến. Ví dụ như ở sân vận động Olympic ở Tokyo, đường đua do công ty Mondo của Ý phát triển đóng một vai trò quan trọng. Bề mặt của nó bao gồm các hạt cao su ba chiều cho phép hấp thụ sốc và hoàn trả năng lượng – gần giống như tấm bạt lò xo. “Đổi mới là quan trọng và là một phần của thể thao. Trong quá khứ, người ta đi trên tro, sau đó là tartan, ngày nay là Mondo. Trong quá khứ, đinh được làm bằng da, ngày nay chúng được làm bằng carbon. Đó cũng là một phần của sự phát triển của thời đại.  Tuy nhiên phải có một ngăn cách mọi sự không vượt ra khỏi tầm kiểm soát, không để xảy ra sự cố như với bộ môn bơi lội. Trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, bộ quần áo bơi lội toàn thân công nghệ cao của các vận động viên bơi lội có một lớp phủ đặc biệt giúp các vận động viên trườn nhanh hơn và đạt tốc độ cao hơn. Riêng tại Thế vận hội ở Bắc Kinh năm 2008 đã có 25 kỷ lục thế giới mới, một năm sau tại cuộc đua thế giới về bơi lội ở Roma thậm chí có tới 43 kỷ lục thế giới mới. Năm 2010, “bộ đồ thần kỳ” đã bị Hiệp hội bơi thế giới cấm. Để ngăn điều này xảy ra trong môn điền kinh, người ta hy vọng các huấn luyện viên sẽ có một cách tiếp cận nhất quán hơn.  Theo Liên đoàn điền kinh thế giới, một nhóm công tác đặc biệt sẽ thu thập các thông số sau các trận đấu để tạo sự cân bằng giữa đổi mới, lợi thế cạnh tranh và tính sẵn có của sản phẩm. Đây có thể là một cuộc chiến vật chất đầy cam go.  Và như trong rất nhiều môn thể thao, còn có một cuộc chiến chống lại doping. Bởi vì với nhiều kỷ lục thể thao, luôn rộ lên nghi ngờ liệu thành tích thi đấu xuất sắc là do tiến bộ kỹ thuật, đào tạo và tài năng – hay còn có sự trợ giúp của những chất “dinh dưỡng”, thúc cơ bắp không được phép sử dụng. Do ảnh hưởng của đại dịch nên hệ thống chống doping toàn cầu ít nhiều đã phải giảm hoạt động, có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng doping trên thế giới. Niềm vui trước những thành tích tuyệt vời về thời gian ở Tokyo không thể làm chúng ta không nghĩ đến vấn đề lạm dụng doping. Ranh giới giữa thành tích của bản thân vận động viên và tác động của công nghệ luôn là một lĩnh vực rất khó để phân biệt rành rọt.  Xuân Hoài lược dịch   Nguồn: Olympia 2021: Das Geheimnis der Rekordflut von Tokio – WELT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy “thông minh” có khả năng cảm ứng      Nhờ tính năng cảm ứng, một loại giấy “thông minh” có thể giúp người dùng kết nối với các phương tiện kỹ thuật số qua các thao tác chạm, vuốt trên giấy.      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Washington, Trung tâm Nghiên cứu Disney và Đại học Carnegie Mellon đã tạo ra cách để biến những mảnh giấy thông thường có thể nhận các lệnh bằng cử chỉ và kết nối với các thiết bị kỹ thuật số. Phương pháp này dựa vào các thiết bị tần số vô tuyến nhỏ (RFID) được ghim vào giấy nhằm tạo ra một giao diện gọn nhẹ, có tính tương tác, mà nhờ đó người dùng có thể thực hiện rất nhiều thao tác, từ điều chỉnh âm nhạc cho tới bỏ phiếu trong một lớp học trên tờ giấy đó.  Các tờ giấy sử dụng công nghệ này – gọi là PaperID, có các thẻ RFID tuỳ chỉnh được ghim lên đó, không cần pin, có thể được nhận diện bởi một thiết bị đầu đọc (reader device) được đặt trong cùng một phòng với mảnh giấy ấy. Mỗi một thẻ RFID này có một bộ phận nhận dạng duy nhất mà qua đó ăng ten của thiết bị đầu đọc có thể nhận dạng tín hiệu tương tác từ phía người sử dụng. Mỗi thẻ RFID này chỉ có giá 10 cent và có thể được ghim lên tờ giấy. Ngoài ra, các dạng tối giản của ăng ten này cũng có thể được vẽ lên tờ giấy bằng một loại mực có tính dẫn diện (conductive ink).  Khi một người chạm, vuốt lên tờ giấy này, chuyển động của bàn tay có thể làm gián đoạn các đường dẫn tín hiệu từ thẻ RFID của tờ giấy và đầu đọc của nó. Các thuật toán sẽ nhận ra các chuyển động cụ thể của ngón tay sau đó phân loại các gián đoạn tín hiệu do cử động tay gây ra ra thành các lệnh cụ thể. Ví dụ: có thể di chuyển bàn tay để chơi một bản nhạc trên tờ giấy cảm ứng, thiết bị số nhận tín hiệu từ tờ giấy này sẽ phát ra âm thanh theo lệnh từ bàn tay của người chơi.  Các nhà nghiên cứu đã phát triển các phương pháp nhằm tích hợp RFID vào các dạng tương tác mà người dùng muốn sử dụng. Ví dụ, một tờ giấy cảm ứng dạng đơn giản nhất sử dụng nút on/ off, còn ở các dạng phức tạp hơn, người dùng có thể thực hiện các thao tác như trượt, bấm nút.   Kỹ thuật này có thể được sử dụng trên các phương tiện khác ngoài giấy để cho phép cảm biến nhận diện các cử chỉ của người đặt lệnh nhưng giấy được các nhà nghiên cứu ưu tiên chọn lựa một phần vì nó phổ biến, linh hoạt, có thể tái chế và có giá thành rẻ. Rõ ràng, PaperID có thể tạo ra một cách mới để liên kết thế giới thật và thế giới số thông qua một giao diện đơn giản, giá thành rẻ và rất phổ biến.  Bảo Như lược dịch  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/05/160511133154.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gilauri và những giải pháp chống tham nhũng tại Grudia      Là một đất nước nhỏ bé nhưng Grudia chính là quê hương của Stalin, đồng thời là nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ cho các thi hào Pushkin và Lermontov. Từng là một trong 15 nước cộng hòa của Liên Xô cũ, Grudia có những địa điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng nhất thời Xô viết, chỉ dành cho các ủy viên Bộ Chính trị hay lãnh đạo cao cấp nhất Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã, đất nước này rơi vào cảnh kiệt quệ và tăng trưởng âm. Tuy nhiên, ngày nay Grudia đã lột xác, tiến đến các tiêu chuẩn của EU nhờ vào những người lãnh đạo đầy tài năng, nhiệt huyết, và đặc biệt còn rất trẻ, mới chỉ hơn 30 tuổi. Trong đó phải kể đến vị Thủ tướng Nika Gilauri, một gương mặt không kém phần ấn tượng so với Tổng thống Justin Trudeau của Canada hay Emmanuel Macron của Pháp.      Thủ tướng Grudia Nika Gilauri.  Nika Gilauri sinh năm 1975, chỉ mới 29 tuổi khi bắt đầu sự nghiệp lãnh đạo cấp cao với vị trí Bộ trưởng Năng lượng. Ông đã đưa Grudia trong vòng tám năm từ một đất nước trì trệ trở thành một quán quân trong khu vực. Không những có tài lãnh đạo, ông còn thuyết phục người nghe bằng tiếng Anh lưu loát, với cách nói khúc triết, giản dị, dí dỏm, thẳng thắn và rất sắc bén trong trả lời các câu hỏi đặt ra.  Nika Gilauri bắt đầu nhiệm kỳ bốn năm làm Bộ trưởng Năng lượng (2004-2007) trong bối cảnh Grudia vẫn “nguyên sơ” như thời tiền sử, thường xuyên mất điện cả tháng. Sau đó, ông làm Bộ trưởng Tài chính (2007-2009), tiếp nhận một ngân khố rỗng không. Rồi đến chức Phó Thủ tướng thứ nhất (2008-2009) và Thủ tướng (2009-2012) khi đất nước có GDP tăng trưởng âm (-) 9%. Sau nhiệm kỳ của ông, Grudia trở thành nước xuất khẩu năng lượng, GDP tăng 25% với mức tăng có năm cao nhất tới 12%, năm cuối nhiệm kỳ (2012) tăng 8%, và hiện tăng 5% ổn định trong hai năm gần đây. Trước đây Grudia đứng trong nhóm các nước tham nhũng cao như Philippines, Việt Nam, Bangladesh v.v, nay chỉ xếp sau Mỹ và nhóm các nước ít tham nhũng nhất như các nước Bắc Âu, New Zealand, Hàn Quốc, Singapore.  Vậy bằng cách nào Grudia có được những bước tiến thần kỳ như vậy dưới sự lãnh đạo của Gilauri? Câu trả lời là “Nếu không có tham nhũng thì tăng trưởng của toàn cầu sẽ gấp đôi” và “Chỉ cải cách mới mang lại phát triển”. Nhưng chống tham nhũng như thế nào và cải cách ra sao, đó mới là thách thức cho chính phủ. Dưới đây là những cách mà chính phủ của Thủ tướng Gilauri đã làm và những bài học ông rút ra để chia sẻ.  1. Các quan chức phải đoạn tuyệt và cách ly với doanh nghiệp. Nếu trước khi bước vào “cửa quan” mà có cổ phần hay kinh doanh gì thì phải tuyên thệ từ bỏ hết. Chính phủ thiết lập một hệ thống kiểm soát sự trung thực của cán bộ.  2. Chính phủ phải được tổ chức và điều hành như một doanh nghiệp, nghĩa là lương thưởng theo trách nhiệm và thành tích, ai không làm được sẽ bị sa thải ngay lập tức. Rất hạn chế sử dụng lãnh đạo và nhân viên từng làm trong hệ thống hành chính kiểu cũ vì họ vẫn giữ tư duy cũ và bám lấy hệ thống vận hành cũ như gia đình mình. Lương công chức rất cao, đảm bảo sự ổn định và đủ nuôi sống cả gia đình, qua đó giảm thiểu khả năng nảy sinh ý đồ tham nhũng. Theo điều tra thì phần lớn những cơ quan thời trước chỉ có khoảng năm cán bộ thực sự làm việc, những người khác chỉ là khâu nối chạy đèn cù vòng quanh năm người này, vậy nên Chính phủ mới sa thải hết, chỉ giữ lại những người thực sự làm việc và cho họ hưởng lương tương đương với cả cơ quan ngày trước. Một ví dụ khác là ngành cảnh sát giao thông. Toàn bộ cảnh sát bị sa thải chỉ trong một ngày. Ba tháng liền không có CSGT mà giao thông lại tốt lên. Sau sáu tháng, một cơ quan CSGT mới được thành lập. Trước đây bất kỳ một ai tham gia giao thông cũng phải tốn ít nhất 1USD/ngày cho CSGT mà không vì bất cứ sai phạm nào. Nay CSGT là tổ chức đứng thứ hai, chỉ sau Nhà thờ, chiếm được lòng tin cao nhất của xã hội. Đây thực sự là những liệu pháp mạnh, có thể quá mạnh, và có thể là một trong những lý do khiến Chính phủ của Gilauri đã thua trong cuộc bầu cử 2012. Bài học rút ra là Chính phủ cũng cần biết điểm dừng ở đâu trong các quyết sách cải cách của mình.  3. Đơn giản hóa các thủ tục và luật lệ. Khẩu hiệu là “đơn giản hóa chính là thủ tục thông minh nhất”. Đừng chờ CNTT phát triển và đừng ngụy biện là CNTT mới là đơn giản hóa. CNTT chỉ là bước tiếp theo, là công cụ cho quá trình đơn giản hóa thủ tục. Thủ tục càng đơn giản, nhân viên càng không có kẽ hở để tham nhũng. Rất nhiều ví dụ cho việc này, điển hình trong số đó là thủ tục hải quan. Nếu như năm 2004, xuất khẩu hàng đầu của Grudia là sắt phế liệu, thì năm 2014 là ôtô, mặc dù Grudia không có công nghiệp sản xuất hay lắp ráp ôtô. Nguyên nhân là thủ tục hải quan cho xuất nhập xe ở Grudia chỉ mất đúng 40 phút, do vậy cả khu vực đổ về Grudia để mua bán xe theo hình thức: nhập, mua rồi xuất ngay lập tức. Chính phủ không mấy quan tâm là liệu hàng hóa kiểu này có thực sự đáng được gọi là “xuất khẩu thứ thiệt” không, điều quan trọng là nó mang lại nguồn thu và tạo việc làm trong nước: kết quả thực tế là dịch vụ này đã tạo ra 20.000 việc làm và lượng thu thuế khổng lồ cho nhà nước.  4. Tạo lập một chính phủ vì dân phục vụ (citizen-oriented). Chính phủ không ôm đồm các dịch vụ. Chúng được thuê ngoài (outsourcing), theo đó được thực hiện hiệu quả hơn và chuyên nghiệp hơn. Các công ty cung cấp dịch vụ được yêu cầu tuyển nhân viên trẻ, có tiếng Anh, năng động. Do vậy chất lượng dịch vụ được nâng cao rất nhiều, mang đẳng cấp quốc tế.  5. Cải cách, tư nhân hóa và cổ phần hóa, tái đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên của cải cách về cơ sở hạ tầng. Chìa khóa thực hiện thành công việc này là bắt đầu cải cách từ hàng ngũ lãnh đạo các ngành và doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu các ngành đề xuất các dự án mới để Chính phủ xem xét đầu tư. Có mấy ví dụ được đưa ra. Trước hết là ngành đường sắt. Khi Grudia vừa có ý định tư nhân hóa đường sắt thì nước láng giềng Azerbaijan đã tiếp cận với quan điểm đặt giá cao bao nhiêu cũng mua. Chính phủ thấy nguy cơ rủi ro cao nên dừng ngay lại để tìm phương án khác. Lời giải rất đơn giản là không tư nhân hóa ngành đường sắt nhưng buộc doanh nghiệp nhà nước này phải phát hành trái phiếu trên thị trường châu Âu. Ngay lập tức, doanh nghiệp thay toàn bộ lãnh đạo, mọi thay đổi xảy ra chóng mặt: sạch sẽ, đúng giờ, an toàn… theo đúng tiêu chuẩn châu Âu. Ví dụ thứ hai là cải cách giáo dục. Nguyên tắc đầu tư là “tiền chạy theo sinh viên”. Nghĩa là thay vì cấp kinh phí cho các trường, Chính phủ phát voucher cho sinh viên (chu cấp học phí). Sinh viên có thể đi học bất cứ nơi đâu trong hay ngoài nước, bất cứ trường nào. Điều này tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các trường. Trường tốt sẽ có sinh viên đến và mang theo tiền đóng cho trường để sinh tồn. Trường kém sẽ phá sản tự đóng cửa. Sinh viên dễ dàng được nhập học, nhưng thi tốt nghiệp mới là quyết định. Ra trường sinh viên có được nhận vào làm việc hay không là phụ thuộc vào CV, bảng điểm và kết quả phỏng vấn việc làm. Vì vậy sinh viên phải chọn trường tốt, có tiếng tăm, chương trình đào tạo bài bản và toàn diện. Thêm vào đó hằng năm đích danh Tổng thống xếp hạng các trường: top 10% sẽ có giải thưởng, Hiệu trưởng các trường 10% cuối bảng sẽ bị sa thải. Ví dụ nữa là lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe, trong đó cải cách theo ba hướng: thiết lập các trung tâm y tế vùng theo nhóm (cluster) thay vì đầu tư dàn trải; tư nhân hóa; và áp dụng phương thức hợp tác công tư (PPP). An ninh năng lượng cũng là một lĩnh vực ưu tiên cao bị yêu cầu phải cải cách triệt để. Chính phủ Grudia đã rất sáng suốt chọn ra những lĩnh vực ưu tiên cải cách, đặc biệt đối với chất lượng dân số và cuộc sống.  ———–  Ông Gilauri có bài nói chuyện tại Ngân hàng Phát triển châu Á ngày 17/3/2017 và tạo ấn tượng mạnh khi nhanh chóng và sắc sảo trả lời các câu hỏi đặt ra. Sau đây là một số nội dung hỏi đáp cụ thể:  Câu hỏi: ADB hay các nhà tài trợ khác có thể làm gì để giúp Grudia và các nước nói chung, đấu tranh chống tham nhũng thành công?  Trả lời: Có ba yếu tố trong chống tham nhũng: (i) Chống tham nhũng phải được Chính phủ nhận thức như là căn bệnh nội tại, là vấn đề quốc gia chứ không được trông chờ cứu giúp bên ngoài, (ii) Xã hội đã chán ngán và bất bình cực điểm với tham nhũng, và (iii) Lãnh đạo đất nước phải là người trong sạch với bộ máy giúp việc có năng lực. Nếu không có ba yếu tố này, ADB hay bất cứ định chế tài chính quốc tế nào cũng không giúp được gì.  Làm thế nào để thay đổi Grudia từ một xã hội dựa trên văn hóa ứng xử (kiểu phương Đông) sang xã hội dựa trên luật pháp?  Giáo dục và nhận thức, cộng với thành tựu kinh tế. Nếu như cách đây 10 năm hỏi các cậu bé muốn làm gì khi lớn lên thì hơn 90% sẽ bảo: muốn thành đại gia (hay đứng đầu các tổ chức Mafia theo tiếng Grudia), còn 99% các cô bé sẽ bảo muốn trở thành vợ của các đại gia. Chỉ sau sáu năm, cũng với câu hỏi đó, các học sinh trả lời là muốn trở thành cảnh sát, luật sư, bác sỹ hay nhà ngoại giao. Rõ ràng xã hội đã thay đổi một cách căn bản.  Liệu chính phủ trong sạch mà ngài đã thiết lập có đứng vững được lâu? Liệu bao lâu nữa Grudia sẽ được như Singapore?  Chắc chắn là có, dù hiện nay có Tổng thống và Thủ tướng khác. Khi đã có một chính phủ trong sạch nhận được sự tín nhiệm của nhân dân thì xã hội sẽ không bao giờ chấp nhận để tham nhũng quay trở lại. Họ đã thấy sự khác biệt và họ không cho phép tham nhũng xảy ra nữa. Tôi tin tưởng rằng những cải cách tôi thực hiện sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả. Nhưng Chính phủ mới cần tiếp tục cải cách, không bao giờ được phép thỏa mãn và dừng cải cách, phải cải cách những thứ đã được cải cách. Cải cách tạo ra thời cơ. Chỉ có cải cách mới có tăng trưởng. Hiện nay Grudia đang tăng trưởng 3-4%/năm. Phải đạt mức tăng trưởng 7-8% thì mới có thể trở thành Singapore được.  Xin cám ơn!  ————  *TS. Trần Thị Thanh Phương, Chuyên gia môi trường cao cấp, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Bài viết này được tác giả lược ghi theo phát biểu của Thủ tướng Grudia Nika Gilauri tại Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ngày 17/03/2017.  Chú thích:  Số liệu và thông tin sử dụng trong bài được tham khảo tại website www.reformatics.com  Sách tham khảo: Nika Gilauri, Practical Economics: Economic Transformation and Government Reform in Georgia 2004–2012, Palgrave Macmillan, 2017.    Author                Trần Thị Thanh Phương*        
__label__tiasang Giới chuyên môn ngỡ ngàng trước hiệu quả của liệu pháp điều trị ung thư      Các nhà khoa học đã phát triển một liệu pháp để điều trị bệnh ung thư tự miễn dịch lupus ban đỏ (Lupus erythematodes).  Đáng chú ý, theo nhóm nghiên cứu, quy trình này cũng có thể giúp điều trị bệnh đa xơ cứng (Multiple Sklerose).    Andreas Mackensen (trái) và Georg Schett cùng người bệnh.   Đây là một ý tưởng táo bạo mà Georg Schett và Andreas Mackensen đã đề xuất cách đây gần một năm rưỡi. Cả hai đều là bác sĩ tại Bệnh viện Đại học Erlangen; một người là bác sĩ hàng đầu về thấp khớp, một người là bác sĩ chuyên khoa về các bệnh ung thư máu. Schett đã kể với đồng nghiệp của mình về một bệnh nhân trẻ tuổi mắc một dạng bệnh tự miễn dịch đặc biệt nghiêm trọng được gọi là lupus ban đỏ hệ thống (Lupus erythematodes) (SLE). Với trường hợp mắc bệnh này, hiện chưa rõ nguyên nhân, hệ thống miễn dịch chống lại chính cơ thể của mình và gây ra tình trạng viêm mãn tính. Mức độ nghiêm trọng của bệnh từ nhẹ đến nguy hiểm chết người.  Thông thường các thầy thuốc sẽ tìm cách làm dịu hệ thống miễn dịch bằng nhiều liệu pháp khác nhau: một loại thuốc trị sốt rét cũ có tác dụng tương đương với cortisone trong các đợt bùng phát cấp tính. Với các ca nghiêm trọng hơn, các bác sĩ sử dụng các phương pháp được sử dụng cho người ghép tạng. Nhưng cũng có những ca mà liệu pháp này không mang lại hiệu quả, như trong trường hợp nữ bệnh nhân của bác sỹ Schett.  Tuy nhiên, bác sĩ ung thư Andreas Mackensen đã quá quen thuộc với chính các tế bào bạch cầu tạo thành kháng thể hủy diệt tế bào B. Ông biết liệu pháp tế bào CAR-T có thể được áp dụng để chống lại một số dạng bệnh bạch cầu và ung thư hạch trong một vài năm gần đây. Mackensen nói với WELT: “Tế bào T được lấy từ máu của người bệnh. Chúng cũng là một phần của hệ thống miễn dịch và tiêu diệt các tế bào cơ thể đã bị nhiễm virus.”  Cách đây ít năm, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ tự hỏi, liệu có thể kết hợp các tế bào phá hủy T với một kháng thể chỉ nhận ra các tế bào bạch cầu thoái hóa; giống như các kháng thể có khả năng nhận dạng tế bào máu trắng ác tính; tựa như protein đột biến nhận dạng coronavirus hay không?. Vì vậy, họ đã tạo ra cái gọi là “tế bào T thụ thể kháng nguyên chimeric”, tế bào CAR T.  Đoạn kháng thể nhận ra tế bào B và tế bào T gắn kèm, có nhiệm vụ tiêu diệt nó. Cách thức này phát huy kết quả. Điều kiện duy nhất trên tế bào B bị bệnh phải có một cấu trúc nhất định có tên là CD19, mà đoạn kháng thể hướng tới. Sự phát triển đã tạo ra một cú hích đối với thuốc điều trị ung thư máu, cho dù trong những năm đầu tiên bị thất bại vì những tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuy nhiên cho đến nay các bác sỹ đã có thể kiểm soát vấn đề này.  Áp dụng liệu pháp điều trị ung thư đối với bệnh thấp khớp?  Khi bác sỹ Georg Schett kiểm tra máu của bệnh nhân trẻ tuổi của mình, ông phát hiện các tế bào B của bệnh nhân cũng có dấu hiệu CD19. Vì vậy, ông trao đổi với bác sỹ Mackensen, nếu liệu pháp điều trị ung thư này được sử dụng cho bệnh nhân SLE thì sao? Vấn đề này đã được thử nghiệm trên chuột. Liệu nó có hoạt động ở người không? Câu trả lời là có. Vấn đề này đã được công bố trên Tạp chí Y học New England năm 2021. Trong khi đó, các bác sĩ đã điều trị cho 4 bệnh nhân khác bị SLE nguy hiểm đến tính mạng bằng các tế bào T đã được điều chỉnh. Hiện họ đã công bố kết quả của nghiên cứu đầu tiên này trên tạp chí “Nature Medicine”.  Kết quả cho thấy, các bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn đáng kể từ tháng thứ ba sau khi điều trị. Bệnh không tái phát ở bất kỳ bệnh nhân nào trong số năm bệnh nhân. Trưởng nhóm nghiên cứu Schett cho biết, đến nay, sự thuyên giảm này đã kéo dài từ 5 đến 20 tháng. Ngay cả khi các tế bào B xuất hiện trở lại sau trung bình khoảng 100 ngày, tình trạng viêm cũng không tái phát. Điều này cho thấy các tế bào B mới hình thành là “vô hại” và không gây ra các phản ứng tự miễn dịch nữa, Schett nói. “Chúng tôi tin rằng điều này thực sự có hiệu quả.” Đặc biệt các bệnh nhân không bị tác dụng phụ nào ngoài các phản ứng viêm nhẹ như sốt.  Công trình này gây xôn xao giới chuyên môn. Marko Radic, nhà miễn dịch học tại Trung tâm Khoa học Truyền thông Khoa học thuộc Đại học Tennesee, cho biết: “Mặc dù cho đến nay mới chỉ có tương đối ít bệnh nhân được điều trị nhưng kết quả rất nhất quán và cho thấy đây là một liệu pháp có hiệu quả đối với SLE. Stephan Fricke, chuyên gia tế bào CAR-T từ Viện Fraunhofer về Liệu pháp Tế bào và Miễn dịch học ở Leipzig giải thích: “Việc mở rộng nguyên tắc trị liệu tế bào CAR-T sang các chỉ định trị liệu khác, đặc biệt là để điều trị các bệnh tự miễn kháng điều trị, là những phát triển quan trọng của hình thức trị liệu này. “  Cho đến nay vẫn chưa rõ liệu việc điều trị thành công đối với 5 bệnh nhân này có mang lại lâu dài hay không và có thể áp dụng đối với các bệnh nhân khác hay không. Nhưng bác sĩ thấp khớp Martin Aringer của Bệnh viện Đại học Dresden vẫn cho đây là một sự đột phá: “Thật ngạc nhiên khi chúng tôi đã chứng kiến thành công sâu rộng như vậy,” ông nói. Ông tin rằng phương pháp này cũng có thể giúp chống lại một số bệnh tự miễn dịch khác như bệnh đa xơ cứng.   Hoài Nam tổng hợp  Nguồn: Erfolg einer Krebstherapie verblüfft die Fachwelt    Author                .        
__label__tiasang Giới phân tích: Kinh tế Nga sắp lâm vào khủng hoảng      Theo Reuters ngày 17/3, Thứ trưởng Kinh tế Nga Sergei Belyakov đã cảnh cáo rằng nền kinh tế nước này đang lâm vào khủng hoảng.      Phát biểu tại một hội nghị các doanh nghiệp trong nước, Thứ trưởng Belyakov khẳng định có “nhiều dấu hiệu rõ ràng” cho thấy nền kinh tế Nga đang lâm vào khủng hoảng.  Cùng chung ý kiến trên, giới phân tích nhận định nền kinh tế Nga sắp chịu tổn thất do đồng rup tiếp tục suy yếu và bất đồng giữa Tổng thống Vladimir Putin với Phương Tây liên quan tới vấn đề Ukraine.  Sau khi điều chỉnh lại mức dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm trong tháng Hai, Ngân hàng trung ương Nga đã dự đoán nền kinh tế Nga sẽ tăng trưởng từ 1,5-1,8% trong năm 2014.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/gioi-phan-tich-kinh-te-nga-sap-lam-vao-khung-hoang/249217.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới thượng lưu đô thị chiếm hữu lợi ích của các đô thị lớn      Tình trạng bất bình đẳng đô thị ở châu Âu và Mỹ ngày càng gay gắt khi giới thượng lưu đô thị chiếm lấy phần lớn lợi ích từ hiệu ứng tích tụ mà các đô thị lớn đem lại, trong khi phần lớn dân số đô thị lại nhận được ít hơn, thậm chí là không nhận được gì.      Trong một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Nature Human Behaviour, các nhà nghiên cứu tại ĐH Linköping cho thấy những kết quả cao hơn kỳ vọng của các đô thị lớn vô cùng phụ thuộc vào kết quả của số ít thành công.  Ở những năm gần đây, các nhà nghiên cứu từ khắp các ngành đã nhận diện được các mối quan hệ nổi bật và dường như là phổ quát giữa kích thước của đô thị và hoạt động kinh tế xã hội của nó. Các thành phố tạo nên nhiều liên kết, thịnh vượng và sáng tạo trên mỗi công dân khi chúng tăng trưởng theo quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, sự thật là những gì đúng với dân số đô thị nói chung lại không đúng với mỗi cá nhân sống ở đô thị.  “Các kết quả kinh tế cao hơn cả mong đợi của các đô thị lớn phụ thuộc chặt chẽ vào kết quả của số ít thành công. Không tính đến sự phụ thuộc vào điều này, những nhà hoạch định chính sách sẽ có nguy cơ đánh giá quá cao tính bền vững của tăng trưởng đô thị, đặc biệt trong [việc tính] tính cơ động không gian cao giữa giới thượng lưu đô thị và hoạt động của họ với nơi tiền đổ về”, Marc Keuschnigg, phó giáo sư Viện nghiên cứu Xã hội học phân tích tại ĐH Linköping và giáo sư Viện Xã hội học ĐH Leipzig.  Trong nghiên cứu trên Nature Human Behaviour, các nhà nghiên cứu đã phân tích vi dữ liệu mã hóa địa lý về các tương tác xã hội và kết quả kinh tế ở Thụy Điển, Nga và Mỹ. Nó chứng tỏ bất bình đẳng lan tràn trong thu nhập và đổi mới sáng tạo cũng như trong các kết nối đô thị 1.  Năng suất của một cá nhân phụ thuộc vào môi trường xã hội địa phương mà ở đó họ tìm thấy chốn cho chính mình. Do các thành phố lớn rất đa dạng nên những người có kỹ năng và năng lực cụ thể có xu hướng tìm thấy những người có kỹ năng có thể bổ sung cho công việc của mình. Điều này cho phép tạo ra những sản phẩm ở trình độ cao và có cơ hội học hỏi lớn hơn trong lòng các thành phố lớn.  Nhưng không phải ai cũng có thể tiếp cận với những môi trường xã hội hiệu quả do các thành phố lớn đem lại. Sự khác biệt từ bối cảnh được tích tụ theo thời gian đã khiến gia tăng sự bất bình đẳng một cách đáng kể.  Các nhà nghiên cứu đã truy dấu theo 1,4 triệu người làm công ăn lương Thụy Điển theo thời gian và phát hiện ra những người ban đầu thành công ở các thành phố lớn có được thu nhập lớn hơn so với những người thành công ở các đô thị nhỏ hơn. Tương phản, các cá nhân cụ thể ở các đô thị lớn và nhỏ đều trải qua quỹ đạo tiền lương hầu như là giống nhau.  Bởi vậy, những người thành công ban đầu trong những đô thị lớn hơn có khoảng cách thu nhập ngày một gia tăng với những cá nhân khác trong chính đô thị của mình, tạo ra sự bất bình đẳng trong đô thị lớn này, và những người thành công nhất trong các đô thị nhỏ hơn, tạo ra sự bất ình đẳng giữa các thành phố.  Nghiên cứu phát hiện ra nhóm những người hưởng lương cao có xu hướng rời đô thị nhỏ hơn là rời các đô thị lớn, và những người thành công có xu hướng chuyển đến các đô thị lớn nhất. Sự thiếu cân đối về tỉ lệ di cư của những người thành công bậc nhất từ các đô thị nhỏ là kết quả của một quá trình thúc đẩy nhiều người hứa hẹn nhất ở các vủng ít dân cư rời đi và bổ sung họ vào các đô thị lớn hơn.  Các đô thị lớn nhất vô cùng nhộn nhịp vì nơi này là nơi tập trung nhiều người có sức sáng tạo, có khả năng hòa nhập xã hội và có kỹ năng nhất. Những người bên ngoài đó làm tăng thêm sự thiếu cân đối của các kết quả có được ở đô thị – một quá trình “nước chảy chỗ trũng”, “đã giàu lại càng giàu thêm” – mang đến những lợi thế chồng chất cho các đô thị lớn.  Từ tầm nhìn chính sách, nghiên cứu xem xét tính bền vững của đời sống đô thị với nền tảng gia tăng bất bình đẳng đô thị.  “Khoa học đô thị đã tập trung lớn vào mức trung bình của đô thị. Cách tiếp cận đã thành hình này chỉ nhin vào một điểm dữ liệu trên mỗi thành phố, ví dụ như thu nhập trung bình. Với sự tập trung vào các mức trung bình, những nghiên cứu trước đã bỏ qua những bất bình đẳng trầm trọng tồn tại trong lòng các thành phố khi thực hiện các dự đoán về sự tăng trưởng đô thị ảnh hưởng đến trải nghiệm cuộc sống của cư dân đô thị”, Marc Keuschnigg nói.  Với việc tập trung vào bất bình đẳng đô thị, nghiên cứu này khiến người ta chú ý hơn vào phần bị loại khỏi lợi ích kinh tế xã hội chung của phần đông cư dân ở các đô thị đang tăng trưởng. Đời sống của họ, khác biệt với giới thượng lưu đô thị, được hưởng ít lợi ích về vị trí địa lý hơn. Khi ước tính chi phí cuộc sống trong các thành phố lớn hơn, các cư dân của đô thị này sẽ phải đối mặt với tình trạng xấu nhất khi so sánh với những cư dân sống ở các thành phố nhỏ hơn.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://liu.se/en/news-item/storstadslivets-fordelar-endast-for-eliten  https://phys.org/news/2023-01-urban-elites-seize-benefits-big.html  —————————————–  1.https://www.nature.com/articles/s41562-022-01509-1    Author                .        
__label__tiasang Giới trẻ Hong Kong bỏ nghề văn phòng theo nghề nông      Ling Yin Kung ngày ngày lui tới Society of Indigenous Learning, một nông trại cộng đồng rộng chừng 2.800m2 ở Sheng Shui lúc 9h sáng để thu hoạch rau củ.      Fai Hui làm có bắp tại nông trại hữu cơ Wildroots của ông.  Thu nhập của người đàn ông 29 tuổi này chỉ bằng một nửa so với thu nhập hồi anh còn làm tiếp viên hàng không. Nhưng đối với anh, thay đổi cách ăn của người dân ở Hong Kong, một đô thị phải nhập hơn 90% thực phẩm, là một đánh đổi đáng giá.  “Tôi muốn tìm ra một phương thức tự túc nhiều hơn vào lúc này, và để biết nhiều hơn về thực phẩm của thế giới – chớ không phải McDonald’s hay KFC”, anh nói. “Tôi không mua nổi một căn hộ. Nhưng rồi tôi tự hỏi, liệu mình có phải bỏ ra cả đời chỉ để mua một căn hộở Hong Kong”, Kung giải thích thêm.  Kung là một phần của thế hệ nông dân có ăn học ở Hong Kong. Ít người trong số họ có kinh nghiệm làm thứ công việc chân lấm tay bùn. Họ đang đánh đổi cuộc sống “cổ cồn trắng” để làm việc thủ công ngoài trời trong nhiều giờ liền. Một số bị vỡ mộng vì công việc văn phòng sạch sẽ, một số quay về với đất đai để bảo vệ một lối sống đang biến mất, trong khi một số khác chỉ đơn giản muốn làm điều gì đó có ý nghĩa cá nhân hơn.  Chưa có con số chính thức từ chính phủ, nhưng Kung ước tính có khoảng 100 người trẻ hiện đang dành ra ít nhất là bán thời gian để làm ở các nông trại khắp Hong Kong. Họ đối mặt với một trận chiến quyết liệt ở thành phố, nơi mà các nhà phát triển bất động sản đang quơ quào đất với những mức giá kỷ lục. Nhưng những người chấp nhận thách thức này đang sống cuộc đời mới với nghề nông.Họ đang góp phần làm cho nghề nông chậm suy thoái trong nhiều thập kỷ qua.  Ở Sheng Shui, Fai Hui là một trong những nông dân chứng tỏ điều đó có thể thành hiện thực. Ông nông dân 47 tuổi này dành chín tháng để làm quen với các dân làng địa phương, trước khi tìm được một lô đất rộng 3.250m2 để lập nông trại hữu cơ Wildroots, một không gian xanh có một hướng nhìn thấy núi, còn hướng kia là nhà cao tầng. Giờ đây Hui chia thời gian của ông làm hai phần: dành cho nông trại và đô thị, nơi ông mở các lớp huấn luyện cho sinh viên đại học và tư vấn cho các dự án canh tác trên sân thượng.  Khi phóng viên Coconuts HK đến thăm vào một ngày cuối tuần mới đây, Hui đang lui cui dùng cuốc vun gốc cho các cây bắp non. Ông thường làm việc chung với một nông dân “tập sự” Kit Wong, 38 tuổi, một nhà thiết kế đồ hoạ tự do, muốn gần gũi với thiên nhiên sau bao năm miệt mài 8 giờ mỗi ngày trước máy tính và Angeline Chan (26 tuổi), một nông dân tập sự khác đang dự tính bỏ nghề luật sư để theo học nghề nông. Họ đã làm quen với nông dân láng giềng vốn theo nghề từ những ngày nghề nông còn thịnh.  Mặc dầu hàng xóm không chia sẻ các phương pháp hữu cơ, nhưng Hui biết kiến thức ông ấy có được qua nhiều thập kỷ trồng rau xanh và hoa là vô giá. Những nông dân như Kit và Angeline là niềm hy vọng để giữ nghiệp nhà nông. “Vài năm nữa, ông ấy về hưu trong khi nhà ông ấy không ai nắm được bí quyết. Tuy không trồng những loại cây giống nhau, nhưng chúng tôi đã học hỏi nhiều điều của ông ấy”, Hui nói.  Đặng Kính (theo TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giống lúa mới chịu hạn tốt      Nhóm nghiên cứu thuộc Viện lúa ĐBSCL và Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã tiến hành lai chọn lọc được giống lúa OM8901 có khả năng chống hạn và cho năng suất cao. Giống lúa mới này đã được đề nghị công nhận là giống chính thức cho ĐBSCL.    Nhóm tác giả bao gồm Nguyễn Thị Lang, Bùi Phước Tâm, Nguyễn Thị Nhiên và Bùi Chí Bửu đã bắt đầu công việc nghiên cứu lai tạo giống OM8901 từ năm 2005 trên cơ sở hai giống lúa OM14901 và OM4495. Mục đích của việc lai tạo này là chọn lọc lấy những đặc tính quan trọng của hai giống trên như khả năng chống chịu hạn, sâu bệnh, có năng suất cao, chất lượng gạo tốt… Bằng các công cụ marker phân tử, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra, đánh giá trên quần thể con lai mang gene mục tiêu trong phòng thí nghiệm. Sau đó, những hạt giống OM8901 này được tiếp tục chọn lọc ngoài đồng và kể từ vụ đông xuân 2008-2009 bắt đầu được trồng thử nghiệm trên các thửa ruộng của Viện Lúa ĐBSCL, Trung tâm Giống ĐBSCL cùng năm tỉnh miền Đông, bảy tỉnh miền Trung. Kết quả thu hoạch mùa vụ cho thấy, giống OM8901 phù hợp với nhiều vùng đất khác nhau, và thể hiện được rõ rệt những đặc tính của giống như tăng trưởng và phát triển trong thời gian ngắn (từ 90 đến 105 ngày tùy mùa vụ và chế độ nước), năng suất cao (vụ đông xuân từ sáu đến tám tấn/ha, vụ hè thu từ bốn đến sáu tấn/ha), bông dài, hạt chắc, chỉ số thu hoạch cao (53%), hàm lượng protein trong gạo cao (8,81%), giống sinh trưởng phù hợp ở nhiều vùng đất khác nhau có khó khăn về nước tưới…   Bên cạnh đó, giống lúa này còn có khả năng kháng bệnh cháy bìa lá ở mức độ ba. Cũng do đặc điểm chịu được hạn nên trong giai đoạn cuối trước thu hoạch nếu bị ngập sâu, thời gian sinh trưởng của cây lúa sẽ bị kéo dài và tăng tỷ lệ đổ ngã trên ruộng. Vì vậy khi canh tác, các nhà nghiên cứu khuyến cáo, nông dân cần phải chú ý nhiều hơn đến yếu tố mùa vụ, thời tiết.  Với những ưu điểm này, giống lúa OM8901 đã được đưa vào sản xuất trên diện rộng tại các tỉnh ĐBSCL, bước đầu đem lại những kết quả khả quan.   Trước giống lúa OM8901, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu đã tham gia tuyển chọn, lai tạo thành công nhiều giống khác như giống OM7262 có khả năng chịu nhiễm phèn mặn, có khả năng chống chịu bệnh đạo ôn và cháy bìa lá mức độ ba.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giữ máy tính lượng tử mở trên toàn cầu      Cuộc chạy đua đầu tư vào máy tính lượng tử hiện không chỉ làm chảy máu chất xám trong các trường đại học mà còn gây xáo trộn cả lĩnh vực nghiên cứu này.         Một nhà nghiên cứu làm việc trên một thiết bị làm lạnh cho bộ xử lý tăng cường lượng tử do D-Wave Systems tại Burnaby, Canada, phát triển. Nguồn: D-Wave Systems.    Chỉ trong vài năm, nghiên cứu về máy tính lượng tử có xu hướng dịch chuyển một cách nhanh chóng từ môi trường học thuật ra xã hội và nhận được sự quan tâm của cả khối doanh nghiệp tư nhân. Mục tiêu cuối cùng của nó là tạo ra một máy tính lượng tử “phổ quát” – có khả năng vừa thực hiện được mọi phép tính toán và vừa có thể hiệu chỉnh được nhiễu, sai lỗi và không ổn định, những tiêu chuẩn đã được đề ra từ nhiều thập kỷ. Hiện hàng tỷ USD đang được đầu tư chỉ để thương mại hóa những kết quả đầu tiên.  Công ty công nghệ Mỹ IBM và công ty Canada D-Wave Systems đang sẵn sàng tiến đến các máy tính tăng cường lượng tử. Google, Microsoft và Intel lập kế hoạch làm được điều đó trong vòng 3 đến 5 năm. Những thiết bị ban đầu này có thể thực hiện được phép tính nhanh hơn máy tính thông thường. Dẫu sao, chúng vẫn còn ít linh hoạt và kém về năng lực xử lý hơn một máy tính lượng tử thực sự, và hiện vẫn còn dễ dẫn đến các lỗi sai và nhiễu. Một số lĩnh vực như học máy và tối ưu có thể đem lại lợi ích cho việc hoàn thiện máy tính lượng tử – nếu có thể khắc phục được những thách thức về kỹ thuật.  Nhưng thật bất ngờ là cuộc chạy đua để có được đầu tư vào nghiên cứu và thiết kế này lại đang gây xáo trộn cả lĩnh vực lượng tử. Các công ty đang đổ xô vào việc xây dựng các nhóm nghiên cứu lớn, bòn rút tài năng trong các trường đại học. Hàng trăm công ty khởi nghiệp đang đăng ký sáng chế các kết quả nghiên cứu từ những công trình do lĩnh vực công tài trợ, ảnh hưởng đến các nguyên tắc về tài trợ.   Các khoản đầu tư công dành cho máy tính lượng tử đang bùng nổ. Nhưng con đường tới mục tiêu làm được phần cứng đang hết sức gập ghềnh. Các viện nghiên cứu Bắc Mỹ đang thắng thế, và đang dẫn dắt sự phát triển của lĩnh vực này theo nhiều hướng phù hợp với mục tiêu và khả năng của mình, ví dụ họ tập trung vào các công nghệ siêu dẫn nên nhiều viện nghiên cứu khác cũng bị hướng theo lối này. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thiếu các phòng thí nghiệm đủ lớn và cơ sở hạ tầng đi kèm nên khó có khả năng cạnh tranh. Các rào cản về địa chính trị nổi lên như an ninh quốc gia và các mối quan tâm thương mại cũng làm nóng cuộc chạy đua này.   Tất cả những hoạt động đầu tư và nghiên cứu này đang diễn ra tại một thời điểm quan trọng. Học máy đang mở các cánh cửa của mình ra đón các ngành công nghiệp mới. Chúng ta không thể chờ hàng thập kỷ cho “lợi thế lượng tử”: thời điểm một bộ xử lý tượng tử giải quyết vấn đề mà không máy tính cổ điển nào có thể làm được. Nó gợi cho chúng ta sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác, ví dụ như công nghệ sinh học với kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR đã tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực này sau 20 năm tưởng chừng như đã phát triển lên tới đỉnh điểm của những năm 1990.  Lượng tử toàn cầu  Phần lớn các khái niệm mang tính trụ cột về máy tính lượng tử đều đến từ các nghiên cứu do chính phủ tài trợ. Hiện tại, do nhận thấy nhiều tiềm năng ở tính toán lượng tử nên nhiều chính phủ đang hào phóng đầu tư cho nghiên cứu. Một số quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Thụy Điển, Singapore, Canada và Trung Quốc đang đứng đầu xu hướng này. Con số tài trợ không ngừng tăng lên: năm 2017, mỗi cam kết tài trợ cho nghiên cứu về máy tính lượng tử dao động từ 100 triệu đến 300 triệu USD hằng năm; năm 2018, Mỹ và châu Âu cùng có những khoản kếch xù hàng tỷ USD thông qua Sáng kiến Lượng tử Mỹ kéo dài 5 năm và Chương trình Lá cờ đầu Các công nghệ lượng tử EU trong 10 năm nhằm chạy đua với Anh, quốc gia từ năm 2014 đã đạt mốc 1 tỷ USD đầu tư từ lĩnh vực công và tư; Trung Quốc mở phòng thí nghiệm lượng tử lớn nhất thế giới vào năm 2020 với tổng kinh phí 10 tỷ USD.   Nhiều quốc gia khác cũng cố gắng bám đuổi họ. Ấn Độ và Hàn Quốc đều hướng tới rót hàng chục triệu USD cho máy tính lượng tử mỗi năm. Nga đưa công nghệ lượng tử vào danh sách các sáng kiến công nghệ tầm quốc gia cần được ưu tiên. Một số lượng lớn các trung tâm nghiên cứu đang được hình thành để kết nối nguồn lực công và tư cho R&D, một số dự án khác cũng nhận được 300 triệu USD ngay trong pha đầu tiên.   Tuy nhiên, có một số vấn đề xuất hiện trong quá trình đầu tư này. Lợi ích của các doanh nghiệp tư nhân và cả bầu không khí chính trị quốc tế khiến các nhà nghiên cứu gặp khó trong quá trình hợp tác và chia sẻ thông tin. Điều đó có thể khiến việc nghiên cứu đi vào ngõ cụt. Ví dụ những vấn đề an ninh quốc gia đã được nhấn mạnh trong một báo cáo về chương trình máy tính lượng tử năm 2019 của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, chương trình do Văn phòng Ban giám đốc Tình báo quốc gia (Office of the Director of National Intelligence) tài trợ. Các nhà khoa học được Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ hiện đang phải đối mặt với lệnh cấm hợp tác với các nhà nghiên cứu của khoảng 30 quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Nga.   Những khoảng cách về nghiên cứu   Công nghệ lượng tử đang có nguy cơ trở thành một cuộc chạy đua cỡ “Moonshot” đầy tham vọng, trong đó những kẻ thắng cuộc sẽ được tất. Khu vực Bắc Mỹ hiện đang gây dựng vị thế dẫn đầu về phần cứng lượng tử. Các công ty như Google ở California và D-Wave ở Canada vẫn cấp quyền truy cập tự do vào thiết bị của họ, tuy nhiên chỉ thông qua đám mây dữ liệu. Không ai có thể chạm vào các bộ xử lý của họ.  Các chính trị gia châu Âu sợ hãi khả năng có thể lỡ suất trên chuyến tàu công nghệ này. EU không chỉ là nơi sản xuất phần cứng máy tính lớn (Atos/Bull tại Pháp, một công ty đa quốc gia có tầm hoạt động bao phủ nhiều lĩnh vực, đặc biệt là viễn thông), nơi cũng có chương trình về công nghệ lượng tử, mà còn đầu tư mạnh về phát triển phần cứng lượng tử tương tự Mỹ từ Sáng kiến lá cờ đầu. Ngoài ra, EU còn đang triển khai một số cách tiếp cận khác giống như Mỹ. Tuy nhiên, họ đang có nguy cơ tụt hậu về ứng dụng lượng tử hoặc các thuật toán cho tính toán lượng tử do chưa tập hợp được nhiều ngân sách đầu tư ngay từ vòng đầu của Sáng kiến. Hiện cũng có một số dấu hiệu cho thấy, họ sẽ gắng rót được nhiều kinh phí hơn cho phần mềm lượng tử trong vài năm tiếp theo.   Nhiều nhà nghiên cứu hi vọng các công ty sẽ bù đắp vào khoảng trống ứng dụng lượng tử này. Tuy nhiên các doanh nghiệp lại ít quan tâm đến việc giải quyết vấn đề cơ bản của quá trình xử lý lượng tử, điều này có nghĩa là sự phát triển của các startup và thương mại hóa phần mềm lượng tử trong giai đoạn đầu có thể ảnh hưởng đến việc phát triển các phương pháp lý thuyết và công cụ phần mềm lượng tử.  Nguy cơ lạc hậu có thể trở lại lĩnh vực lượng tử. Một phạm vi các ứng dụng công nghệ có tăng cường lượng tử bị giới hạn nhưng không được nêu ra, thậm chí hiểu biết về một số công nghệ đi kèm, ví dụ như học máy, vẫn còn rất nghèo nàn. Các thiết bị có thể không được cải tiến như dự kiến. Các kiến thức hiện tại trong các cuốn sách giáo khoa về các thuật toán, như thuật toán phân tích lượng tử Shor hay thuật toán tìm kiếm Grover dường như không hoạt động trên các thiết bị còn xa mới đạt được độ lý tưởng như mong muốn. Vậy các nhà lập trình có thể viết những mã hiệu quả hơn để các thuật toán có thể hoạt động trên các thiết bị hiện có tùy thuộc vào khả năng loại nhiễu?  Những gì chờ đợi tiếp theo?  Các nhà nghiên cứu hàn lâm phải định hình được các ý tưởng của máy tính lượng tử và ứng dụng của nó một cách đầy đủ hơn, góp phần giải quyết những vấn đề gây khó cho ngành công nghiệp cũng như các startup công nghệ, vốn không có khả năng làm được điều đó. Nhưng chúng ta còn cách các thiết bị lý tưởng đó bao xa? Liệu có xảy ra một số phát triển bị đình trệ, ảnh hưởng đến quy mô đầu tư chung cho công nghệ lượng tử?  Để tránh điều này xảy ra, các chính phủ phải có những khoản đầu tư thẳng vào phần mềm lượng tử. Các nhà thực nghiệm sẽ hạnh phúc với một lượng kinh phí lớn để xây dựng bộ xử lý lượng tử, nếu thành công có thể đem về cả giải Nobel. Các nhà tài trợ khác cũng cần phải hiểu rằng đây là một cuộc chơi lâu dài và đòi hỏi nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các startup cần phải làm việc nhiều hơn với các trường đại học, đồng thời đầu tư nhiều hơn vào các nghiên cứu về lý thuyết và phát triển các vấn đề cơ bản của công nghệ lượng tử.  Do đó, các nhà nghiên cứu ở cả lĩnh vực hàn lâm lẫn ngành công nghiệp phát triển các ứng dụng lượng tử trong một tinh thần khoa học mở. Nhìn rộng ra, mối hợp tác quốc tế về công nghệ lượng tử cần được củng cố với sự tham gia của các chính phủ nhằm giữ cho các thỏa thuận khoa học được thực hiện, bất chấp ảnh hưởng của môi trường chính trị bởi nghiên cứu về lượng tử cần được mở, quốc tế hóa trên quy mô toàn cầu. □  Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02675-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giữa sự sống và cái chết: Các nhà khoa học đã có thể hồi sinh tế bào trong não lợn đã chết      Trong một nghiên cứu nhằm đưa ra các giả định về sự chết não, các nhà khoa học đã đưa được một số tế bào trở lại với sự sống – hoặc gần như vậy. Nghiên cứu này có thể nói đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc về ranh giới giữa sự sống và cái chết.    Bộ não của lợn đã bị giết mổ không lấy lại được dù chỉ một phần ý thức: không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy tín hiệu điện phối hợp (chúng cần cho các chức năng cao hơn như nhận thức và trí thông minh). Tuy nhiên, trong một điều trị thử nghiệm, các mạch máu ở não lợn bắt đầu hoạt động và một số tế bào não đã bắt đầu trao đổi chất trở lại, thậm chí phản ứng với thuốc. Khi các nhà nghiên cứu thí nghiệm trên các lát mô não, họ phát hiện ra xung điện hóa ở một số tế bào thần kinh.  Thí nghiệm còn sơ khai và không có ý nghĩa ngay lập tức trong điều trị chấn thương não ở người. Nhưng chính ý tưởng cho rằng các bộ phận của não có thể phục hồi sau khi chết lại mâu thuẫn với niềm tin vốn có trong y học về nội tạng và đặt ra những câu hỏi mang tính siêu nhiên.  Nghiên cứu vừa mới được công bố đã xác nhận một lần nữa rằng chúng ta biết quá ít về não cũng như tình trạng “chết não”.  Các nhà sinh học như Tiến sĩ Farahany đã thật sự bất ngờ và bị thu hút bởi phát hiện vừa được công bố trên tạp chí Nature. “Nó thật sự rất bất ngờ” Jonathan Moreno, một nhà đạo đức sinh học tại Đại học Pennsylvania cho biết. “Nếu có một vấn đề đáng được chú ý trong cộng đồng về đạo đức khoa học và y học, thì chính là nó.” Cho đến bây giờ, người ta vẫn cho rằng hoạt động của bộ não suy giảm nhanh chóng khi nguồn cung cấp máu bị cắt đứt. Các tế bào trở nên xấu đi, và các kết nối giữa các tế bào thần kinh bị vỡ vụn. Các nhà khoa học vẫn luôn tin rằng những thay đổi đó là không thể đảo ngược trừ khi máu được phục hồi nhanh chóng.  Các nhà nghiên cứu tại Đại học Yale đã mua được đầu của 32 con lợn bị giết để lấy thịt. Sau đó, họ cưa hộp sọ và loại bỏ bộ não. Vào thời điểm thí nghiệm bắt đầu, bộ não đã không còn máu và được đặt ở nhiệt độ phòng trong bốn giờ. Nhóm nghiên cứu đã phát triển một hệ thống có tên BrainEx nhằm bơm một dung dịch vào bộ não còn nguyên vẹn của lợn. Họ hy vọng công nghệ này sẽ giúp chỉ ra các phương pháp điều trị mới cho đột quỵ, chấn thương sọ não và các bệnh như Alzheimer.    Nơ ron (xanh), tế bào hình sao (đỏ), nhân tế bào (xanh lục) trong bộ não của lợn. Hình trái là tế bào não để không 10 tiếng sau khi chết, hình bên phải là tế bào não trong thí nghiệm. Ảnh: Stefano G. Daniele và Zvonimir Vrselja, Đại học Y khoa Yale.  Các nhà khoa học đã bơm dung dịch vào não lợn trong sáu giờ. Dung dịch này mang oxy đến mô và chứa các hóa chất cho phép các nhà khoa học theo dõi dòng chảy của nó bằng siêu âm. Ngoài ra, nó cũng chứa hóa chất nhằm ngăn chặn tín hiệu thần kinh. Các nhà khoa học lý giải rằng các tế bào não có thể được bảo quản tốt hơn – và quá trình trao đổi chất của chúng dễ dàng được khởi động lại – nếu các tế bào không hoạt động.  Nhưng chính họ cũng không muốn có bất cứ cơ hội nào cho bộ não có thể tỉnh lại, dù điều này gần như không thể xảy ra. Nếu họ thấy bất cứ hoạt động nào của não cho thấy nó đang lấy lại ý thức, họ sẽ bơm thêm thuốc gây mê để ngăn chặn quá trình đó.  Ngoại trừ các bộ não được bơm dung dịch BrainEx, các nhà khoa học cũng tiến hành kiểm tra những bộ não không được truyền dịch hoặc được truyền dịch giả. Não trong cả hai nhóm không có dấu hiệu hoạt động và các tế bào của chúng đã bị hủy hoại.  Viện Y tế Quốc gia, nơi hỗ trợ nhóm nghiên cứu, đã tổ chức một cuộc họp ngắn để thảo luận về ý nghĩa của nó.  Bác sĩ Nenad Sestan, nhà khoa học thần kinh tại Đại học Yale và đồng thời là người đứng đầu nghiên cứu, cho biết: “Đây không phải là bộ não sống, mà là bộ não có sự hoạt động của tế bào. Chúng tôi muốn kiểm tra xem các tế bào trong bộ não đã chết nhưng vẫn nguyên vẹn có thể phục hồi một số chức năng hay không”.  Một số người dường như đã chết sau khi ở trong môi trường lạnh kéo dài đã được cấp cứu và bộ não của họ tiếp tục hoạt động, ông lưu ý. Não của một số bệnh nhân đột quỵ đã chết được 16 giờ với một cục máu đông chặn một phần của não đã lấy lại chức năng sau khi các bác sĩ loại bỏ cục máu đông này.  “Đây là một tiến bộ thực sự”, Andrea Beckel-Mitchener, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu não bộ tại N.I.H cho biết. “Điều này chưa từng được thực hiện trước đây trong một bộ não còn nguyên vẹn của động vật có vú.  Christine Grady, trưởng khoa đạo đức sinh học tại trung tâm lâm sàng của N.I.H. cho rằng công trình đã “lần đầu tiên cho thấy cơ hội nghiên cứu toàn bộ não của động vật có vú ở bên ngoài cơ thể sau khi chết.”  Nó cho phép các nhà nghiên cứu lập bản đồ các tế bào và kết nối giữa chúng theo cách chưa từng có trước đây, bà nói thêm. Kỹ thuật này cũng có thể giúp mở rộng nghiên cứu về chấn thương não và sửa chữa tế bào, cũng như các loại thuốc ảnh hưởng đến não.  Các vấn đề đạo đức được đặt ra bởi nghiên cứu về hồi sinh mô não là gần như chưa từng có trước đây. Trong số đó có câu hỏi về quyền lợi của động vật được dùng trong thí nghiệm.  “Đây là một vấn đề hoàn toàn mới”, Stephen R. Latham, một nhà đạo đức sinh học tại Yale cho biết. “Đây không phải là nghiên cứu trên động vật vì bộ não đến với các nhà nghiên cứu từ một động vật đã chết.”  Làm thế nào để các nhà đạo đức học có thể quyết định được liệu mục đích y học có đủ để biện minh cho sự đau đớn gây ra cho một bộ não vẫn còn “sống một phần” hay không?  “Mặc dù không có xung điện trong não, nhưng chúng ta có thể khôi phục nó”, Tiến sĩ Farahany, một nhà sinh học và giáo sư luật tại đại học Duke và các chuyên gia khác cho biết. Không thể biết điều gì sẽ xảy ra nếu dung dịch được bơm vào não không chứa chất ức chế thần kinh.  Bà cũng đặt ra câu hỏi: “Khi đối mặt với một bộ não mà tế bào vẫn còn hoạt động, các biện pháp bảo vệ thích hợp là gì? Chúng ta có thể coi nó như một con vật sống hay đối xử với nó như một con vật đã chết? Chúng ta nên nhìn nhận thế nào về “ý thức” của một con lợn?  Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa đối với việc hiến tạng.  “Ở Pháp và Tây Ban Nha, nếu một người bị đau tim và mất máu, nhân viên dịch vụ y tế khẩn cấp cố gắng trong 30 phút hoặc lâu hơn để khởi động lại trái tim.” Stuart Youngner, nhà sinh học tại Đại học Case Western Reserve, cho biết. Nếu họ thất bại, nhân viên cấp cứu sẽ bảo quản các bộ phận nội tạng bằng máy trợ tim di động để bơm máu vào cơ thể, họ cũng chèn một quả bóng để ngăn máu lên não. Bằng cách đó, bệnh nhân có thể trở thành người hiến tạng vì não đã chết.  “Nhưng khi giờ đây đã có dung dịch BrainEx, tại sao chúng ta không thử dùng nó thay vì cố gắng lấy nội tạng của họ?” Tiến sĩ Youngner đặt ra câu hỏi. Một hệ thống như BrainEx rất có thể sẽ khuyến khích các bác sĩ và nhân viên cấp cứu cố gắng nhiều hơn, trong thời gian dài hơn để hồi sức cho bệnh nhân. Kết quả rất có thể sẽ là có ít bệnh nhân chết não và ít người hiến tạng hơn.”  Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh sẽ mất nhiều năm trước khi hồi sức não được thử nghiệm dù chỉ là sơ bộ ở người. Nhưng bác sĩ Farahany cho biết bà hoàn toàn có thể tưởng tượng một ngày nào đó hồi sức não sẽ trở thành một quy trình y tế tiêu chuẩn. Rất có thể điều đó sẽ được thực hiện ngay khi chúng ta còn đang sống.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc-thuong-thuc/giua-su-song-va-cai-chet-cac-nha-khoa-hoc-da-co-the-hoi-sinh-te-bao-trong-nao-lon-da-chet/2019042509498794p160c921.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giúp người bị liệt dùng ý nghĩ điều khiển cánh tay      Dù bị liệt từ cổ trở xuống do tai nạn giao thông nhưng mới đây Bill Kochevar lại có thể cầm cốc, cầm dĩa sau khi được cấy ghép hệ thần kinh nhân tạo, cho phép ông kiểm soát cử động của tay bằng ý nghĩ.      Sau tám năm bị liệt, giờ đây Bill Kochevar đã tự ăn uống được mà không cần người trợ giúp.  Công nghệ thử nghiệm nói trên, được thực hiện bởi Đại học Case Western Reserve, Cleveland, Ohio, Mỹ, là công nghệ đầu tiên trên thế giới phục hồi các cử động với tay và cầm nắm do não bộ kiểm soát ở những người bị liệt hoàn toàn.  Các cử động tay của người bệnh hiện nay còn tương đối chậm, nhưng các nhà khoa học nói rằng đây mới là bước chứng minh khái niệm và họ hi vọng sẽ cải tiến công nghệ này cho đến khi nó trở thành một phương pháp điều trị ổn định cho những người bị liệt. Họ còn nói, trong tương lai, công nghệ này sẽ được kết nối không dây và những mảng điện cực hay các cảm biến sẽ đều được cấy dưới da chứ không bị lộ ra ngoài.  “Nghiên cứu của chúng tôi đang ở giai đoạn đầu, nhưng chúng tôi tin rằng hệ thần kinh nhân tạo này có thể cung cấp cho những người bị liệt khả năng phục hồi cử động cánh tay và những chức năng của bàn tay để làm các việc hằng ngày, mang lại cho họ nhiều sự độc lập hơn”, theo TS Bolu Ajiboye, tác giả chính của nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học Lancet.  Phương pháp kích thích điện chức năng (FES) đối với các cơ và thần kinh đã được thử nghiệm trước đây ở những bệnh nhân bị liệt, nhưng họ buộc phải dùng một cử động nào đó của cơ thể, chẳng hạn như nhún vai hoặc gật đầu, để kích hoạt nó. Tuy nhiên, Kochevar chỉ cần nghĩ về những gì ông muốn làm.  Đầu tiên, Kochevar được cấy ghép các cảm biến vào vùng vỏ não phụ trách cử động của tay. Tiếp đó là bốn tháng luyện tập, suy nghĩ về việc xoay cổ tay hoặc nắm những ngón tay để dẫn đến cử động của cánh tay thực tế ảo, nhờ đó máy tính nhận ra những tín hiệu cần thiết từ vỏ não vận động.  Sau đó, ông được cấy 36 điện cực kích thích cơ vào cả bắp tay và cẳng tay. Các điện cực này được bật lên vào thời điểm 17 ngày sau ca phẫu thuật cấy ghép và bắt đầu kích thích các cơ tám giờ một tuần trong suốt 18 tuần để cải thiện lực tay, cử động và giảm mỏi cơ.  Cuối cùng, toàn bộ hệ thống này được kết nối để các tín hiệu từ não bộ, thông qua một thiết bị giải mã, được chuyển thành các xung điện kích thích cử động ở các cơ và dây thần kinh trên cánh tay.  Cho đến giờ, hạn chế của công nghệ này là số cơ được kích thích còn ít và dây rợ lộ hết ra bên ngoài.  GS Steve Perlmutter ở Đại học Washington nhận định đây mới chỉ là bước chứng minh về mặt nguyên tắc rằng phương pháp điều trị này là khả thi chứ chưa sẵn sàng cho việc áp dụng bên ngoài phòng thí nghiệm. Ông cũng chỉ ra một số điểm chưa hoàn thiện như cử động còn thô và chậm, đòi hỏi phản hồi liên tục từ mắt, giống như trường hợp của hầu hết các giao diện não – máy hiện có, và còn phải sử dụng thiết bị hỗ trợ cử động vai, song nhìn chung ông công nhận “nghiên cứu này là một đột phá bởi đây là lần đầu tiên ghi nhận một người thực hiện được những cử động cầm nắm phức tạp bằng cánh tay bị liệt nhờ hệ thần kinh vận động nhân tạo”.  Nhà Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/mar/28/neuroprosthetic-tetraplegic-man-control-hand-with-thought-bill-kochevar    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gỗ trong suốt: vật liệu bền vững trong tương lai?      Năm 2016, sau một thời gian dài nghiên cứu và phát triển, các nhà khoa học tại Học viện Công nghệ Hoàng gia KTH đã cho ra mắt sản phẩm gỗ trong suốt, với kỳ vọng đây sẽ là một loại vật liệu đột phá dùng trong các công trình xây dựng. Nó cho phép ánh sáng tự nhiên chiếu xuyên qua và thậm chí có thể lưu trữ nhiệt năng. Tuy nhiên, làm thế nào để loại gỗ này trở thành vật liệu thân thiện với môi trường?      Trước đây, các nhà khoa học thường loại bỏ lignin trong gỗ và lấp đầy các lỗ trống bằng polymer làm từ nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, cách làm đó lại khiến vật liệu này trở nên không thân thiện với môi trường. Ảnh: phys     Năm 2016, sau một thời gian dài nghiên cứu và phát triển, các nhà khoa học tại Viện Công nghệ Hoàng gia KTH đã cho ra mắt sản phẩm gỗ trong suốt, với kỳ vọng đây sẽ là một loại vật liệu đột phá dùng trong các công trình xây dựng. Nó cho phép ánh sáng tự nhiên chiếu xuyên qua và thậm chí có thể lưu trữ nhiệt năng.      Chìa khóa để biến gỗ thành vật liệu composite trong suốt là loại bỏ lignin của nó (lignin là một hợp chất cao phân tử có cấu trúc vô định hình. Nó là thành phần cấu tạo của hầu hết thành tế bào thực vật trên cạn, liên kết các tế bào, sợi và mạch), đây chính là thành phần hấp thụ ánh sáng chính trong gỗ. Tuy nhiên, những lỗ hổng do không còn lignin cần được lấp đầy bằng một thứ gì đó, điều này giúp phục hồi độ bền của gỗ và cho phép ánh sáng xuyên qua.      Trong các phiên bản vật liệu composite trước, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Gỗ Wallenberg của KTH đã sử dụng các polymer làm từ nhiên liệu hóa thạch. Giờ đây, họ đã thử nghiệm thành công một giải pháp thay thế, thân thiện với môi trường: limonene acrylate, một monome được làm từ limonene. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trên Advanced Science.     “Chất limonene acrylate mới được làm từ cam quýt. Chúng ta có thể tận dụng phế phẩm, chẳng hạn như chất thải vỏ lấy từ ngành công nghiệp nước cam”, tác giả chính, nghiên cứu sinh Céline Montanari, cho biết.     Phần chiết xuất từ quá trình sản xuất nước cam được dùng để tạo ra loại polymer khôi phục đồ bền của gỗ và cho phép ánh sáng đi qua.        Lời giải cho vấn đề mà các nhà khoa học đã ‘đau đầu’ lâu nay chính là chiết xuất cam quýt. Ảnh: Céline Montanari     Theo nhóm nghiên cứu, vật liệu composite mới đạt độ truyền quang khoảng 90% ở độ dày 1,2mm và 30% với mức sương mù thấp. Không giống như các vật liệu tổng hợp gỗ trong suốt khác đã ra mắt trong 5 năm qua, vật liệu của KTH đóng vai trò quan trọng trong kết cấu của tòa nhà. Nó cho thấy hiệu suất cơ học hạng nặng: với độ bền 174 MPA (25,2 ksi) và độ đàn hồi 17 GPa (hay khoảng 2,5 Mpsi).     Ngay từ đầu, tính bền vững vẫn là ưu tiên hàng đầu của nhóm nghiên cứu, Giáo sư Lars Berglund, người đứng đầu Khoa Công nghệ Sợi và Polymer của KTH, cho biết. Chính vì vậy, “một trong những thách thức lớn mà chúng tôi cần giải quyết trong việc tạo ra gỗ trong suốt bền vững, đó chính là làm thế nào để thay thế các polymer làm từ nhiên liệu hóa thạch”, GS Berglund nói.      Ông cho biết, nhóm nghiên cứu luôn quan tâm đến các yếu tố môi trường và cái gọi là hóa học xanh. Vật liệu được tạo ra không có dung môi, và tất cả các hóa chất đều làm từ nguyên liệu thô có nguồn gốc sinh học.      Những điểm tiến bộ này có thể gợi mở ra một loạt các hướng nghiên cứu mới, chẳng hạn như trong công nghệ nano gỗ, Berglund nói. Có thể kể đến cửa sổ thông minh, gỗ giúp giữ nhiệt, gỗ có tích hợp chức năng chiếu sáng – hay thậm chí là laser gỗ.      “Chúng tôi đã xem xét nơi ánh sáng đi qua, và điều gì sẽ xảy ra khi nó chạm đến cellulose”, Berglund chia sẻ. “Một số tia sáng đi thẳng qua gỗ và khiến cho vật liệu trở nên trong suốt. Một số tia sáng bị khúc xạ và phân tán ở các góc độ khác nhau và mang lại hiệu ứng thú vị trong các ứng dụng chiếu sáng”     Nhóm nghiên cứu hiện tại đang phối hợp với nhóm quang tử học của Sergei Popov tại KTH để khám phá thêm nhiều khả năng của công nghệ nano trong thời gian tới.      Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   https://www.eurekalert.org/pub_releases/2021-05/krio-cdm050421.php  https://phys.org/news/2019-11-transparent-wood-material-future.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Göbekli Tepe: Hình học dẫn dắt xây dựng ngôi đền cổ nhất thế giới?      Các điểm trung tâm của ba vòng tròn cự thạch tại Göbekli Tepe, ngôi đền cổ nhất thế giới nằm ở Tiểu Á, đã hình thành một tam giác gần như hoàn hảo. Phát hiện này của các nhà khảo cổ Đại học Tel Aviv (Israel) buộc chúng ta phải nghĩ lại về những người săn bắn – hái lượm bởi rất có thể họ đã biết cách xây dựng đền thờ trên một sơ đồ hình học chính xác.      Một phục dựng về hoạt động ở Göbekli Tepe. Nguồn: National Geographic  Cuộc tranh cãi bất tận  Göbekli Tepe, một di chỉ khảo cổ thời đại Đồ đá mới (bắt đầu từ khoảng năm 10.200 trước Công nguyên) nằm trên một ngọn núi đá vôi ở Đông Nam Tiểu Á (Anatolia), một bán đảo châu Á nhưng ngày nay thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, được cho là có tuổi đời khoảng 11.500 năm. Các cột đá hình chữ T của ngôi đền này được chạm khắc những hình vẽ động vật, những biểu tượng trừu tượng và những bàn tay người đầy bí ẩn. Chúng được xếp thành hình những vòng tròn và trái xoan khổng lồ – mỗi cấu trúc đều được tạo thành bởi hai cột trụ tâm lớn, xung quanh là những cột nhỏ hơn hướng vào trung tâm. Cũng như khu đá cổ Stonehenge ở Anh, Göbekli Tepe được các nhà khảo cổ tin rằng đây là một địa điểm thiêng liêng. Những đợt khai quật trước đây đã khám phá ra là địa điểm này có thể thuộc về một nền văn hóa thờ cúng đầu lâu (skull cult).  “Göbekli Tepe là một kỳ quan khảo cổ”, theo Avi Gopher, một nhà khảo cổ ở trường Đại học Tel Aviv và là một trong hai tác giả của nghiên cứu mới về ngôi đền trên tạp chí Cambridge Archeological Journal, do chưa có bằng chứng về việc thuần hóa cây cối hay loài vật trong thời điểm xây dựng ngôi đền nên địa điểm này được tin là do những người săn bắn – hái lượm tạo thành. Dẫu vậy thì sự phức tạp về kiến trúc của các cột cự thạch khổng lồ tạo nên vẻ hùng vĩ huy hoàng của ngôi đền là dấu hiệu vô cùng bất thường ở họ”.   Kể từ khi các chuyên gia khảo cổ trường Đại học Istanbul và Đại học Chicago phát hiện vào năm 1964, họ vẫn bác bỏ khả năng ngôi đền này là một nghĩa trang thời Trung cổ. Tuy nhiên vào năm 1994, nhà khảo cổ học người Đức Klaus Schmidttieets công bố độ tuổi thật của khu kiến trúc đá này đã thổi bùng một làn sóng gây sốc trong lĩnh vực khảo cổ và thách thức một lý thuyết tồn tại khá lâu là hình thái tôn giáo có tổ chức chỉ có thể xuất hiện sau khi có nông nghiệp. Một cuộc tranh cãi nảy lửa về nguồn gốc thật sự của ngôi đền đã xảy ra và ngày nay vẫn còn tiếp tục.      Ngay cả khi cả ba khối kiến trúc đá cùng với nhau lập thành hình một tam giác trên lý thuyết thì nó cũng không có nghĩa là một kiến trúc được xây dựng đầu tiên và sau đó là hai kiến trúc còn lại được xây muộn hơn để “anh kết thúc với một tam giác đều”.      Độ tuổi của Göbekli Tepe – và sự thiếu bằng chứng về việc trồng trọt hay thuần hóa loài vật xuất hiện gần đó – đề xuất rằng các nỗ lực điều phối cần thiết để xây dựng ngôi đền có thể dẫn đến việc định cư hơn là hệ quả của nó. Do đó nảy ra hàng loạt câu hỏi mà đáng chú ý là làm thế nào mà những người săn bắn hái lượm với một cấu trúc xã hội được tin là xã hội nguyên thủy lại có thể xây dựng được nhiều vòng tròn đá khổng lồ trên đỉnh một ngọn đồi cằn cỗi ở nơi mà ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ? Một xã hội phần lớn là du canh du cư, nay đây mai đó tại thời điểm là bình minh của nền nông nghiệp lại có thể sắp đặt được các nguồn lực và cái mà ngày nay chúng ta gọi là know-how để tạo ra ngôi đền cổ xưa nhất thế giới?   Rất nhiều địa điểm của ngôi đền đã được khai quật để làm rõ hơn các câu trả lời. Những nghiên cứu đó đã cho thấy có thêm 15 vòng tròn được tạo ra từ những cột đá khổng lồ khác vẫn còn nằm im lìm dưới lớp đất sỏi. Một trong những câu hỏi nổi bật về di chỉ cổ đại này là liệu các kiến trúc này được xây dựng một cách đồng thời hay từng cái một.   Mẫu hình không chờ đợi  Giáo sư Avi Gopher và Gil HQaklay, nghiên cứu sinh của ông và làm việc tại Cơ quan quản lý cổ vật Israel, đã tập trung vào việc lý giải câu hỏi “các kiến trúc này được xây dựng một cách đồng thời hay từng cái một?” bằng việc xác định liệu những khu vực bao quanh của ngôi đền có phải là một phần của một sơ đồ kiến trúc gắn kết thực sự hay chúng được xây dựng mà không có sự liên quan đến nhau. Việc họ trả lời được câu hỏi này có thể góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đang gây tranh cãi về ngôi đền. “Phát hiện đầu tiên về di chỉ này đã là một bất ngờ lớn và chúng tôi đang chứng tỏ là việc xây dựng chúng thậm chí còn phức tạp hơn điều chúng ta nghĩ”, Haklay nói với Haaretz, một tờ báo của Israel.     Mẫu hình mà hai nhà khảo cổ Israel phát hiện được. Nguồn: Avi Gopher/Gil Haklay  Để giải quyết điều đó, họ sử dụng một cách tiếp cận khác trước đây: sử dụng những thuật toán máy tính là phân tích hình thái kiến trúc, vốn hay được sử dụng để truy dấu các nguyên tắc lập kế hoạch và các phương pháp dùng trong thiết kế các cấu trúc để phân tích kiến trúc còn bị ẩn dấu trong di chỉ khảo cổ này. Họ đã đo đạc các khoảng cách bên trong những khu vực có đá bao quanh và giữa chúng với nhau. Kết quả cho thấy khoảng cách lớn nhất là khoảng 20 mét.   Họ phát hiện ra hai cột đá ở vị trí trung tâm nhất sắp hàng một cách chuẩn xác với trung điểm của các cấu trúc hình tròn. Tiếp theo, khi vẽ ra một đường ảo kết nối các tâm điểm của ba kiến trúc hình tròn lại, họ tìm thấy một hình tam giác đều gần như hoàn hảo, hoặc một tam giác với ba cạnh có độ dài gần như bằng nhau. “Dĩ nhiên là tôi không chờ đợi điều này”, Haklay kể lại, “Các khu vực có đá bao quanh đều có kích thước khác nhau và các hình dạng khác nhau nên việc hình thành tam giác đều từ các điểm trung tâm đó là ngẫu nhiên thật khó xảy ra”.   Điều đó cũng có nghĩa là có ba cấu trúc được những người xây dựng lên kế hoạch cùng lúc và được xây cất theo một “thiết kế hình học”, Gopher giải thích. Các nhà khảo cổ tin là những người săn bắn – hái lượm phải  đào bới và vận chuyển những khối đá vôi từ một mỏ đá ở gần đó.   Việc xây dựng một trong ba kiến trúc này đã là một dự án lớn nhưng việc lập kế hoạch xây cả ba có nghĩa là những người đó phải có rất nhiều nguồn nhân lực và nhiều năng lượng”, Gopher trao đổi với Live Science như vậy.   Tuy nhiên, dù cho rằng ba khu rào đá này dường như cùng thuộc về một dự án thì các phương pháp xác định niên đại không thể chứng tỏ liệu chúng có được xây dựng cùng thời gian hay có lẽ, một vài tháng hay vài năm riêng rẽ, Gopher nói.   Trong nghiên cứu “Geometry and Architectural Planning at Göbekli Tepe, Turkey” (Hình học và lên kế hoạch kiến trúc tại Göbekli Tepe, Thổ Nhĩ Kỳ”, họ cho rằng “Sự phức tạp của thiết kế kiến trúc phải cần đến một lược đồ hoặc sơ đồ mà những người xây dựng đã sử dụng làm hướng dẫn để tái tạo các cấu trúc lớn hơn”. Điều đó có nghĩa là các tổ tiên săn bắn – hái lượm cổ xưa của chúng ta có một hiểu biết nhất định về khái niệm của một kế hoạch có mặt bằng xây dựng phức tạp và có thể tái tạo nó ở bất cứ quy mô nào, có thể sử dụng những sợi dây để đo đạc vị trí để lắp ráp từng cột trụ. Tại thời điểm mà phát minh ra chữ viết còn sau thời điểm làm đền cả thiên niên kỷ thì có thể là họ sử dụng các cây sậy có chiều dài bằng nhau để tạo ra một phép đo đạc.  Những nghiên cứu trước đây của Avi Gopher và Gil Haklay ở những di chỉ khác cho thấy các kiến trúc sư trong thời kỳ Đồ đá mới hoặc thậm chí là thời đại Đồ đá cũ không thể xây dựng các khu định cư và nhà nhưng có khả năng áp dụng các nguyên tắc hình học sơ đẳng và sáng tạo những đơn vị đo lường tiêu chuẩn.    Chưa hết băn khoăn  Rút cục, phát hiện của hai nhà nghiên cứu Israel lại mở ra những tranh luận mới, bởi theo họ thì xã hội thời Đồ đá mới đã có cấu trúc phức tạp.   Nghiên cứu của họ cho thấy “đây là nơi bắt đầu của mọi thứ: sự chia sẻ cơ bản của các xã hội săn bắn – hái lượm đã được giảm thiểu và sự bất bình đẳng đang lớn lên; một số người điều hành công việc – tôi không biết là liệu đó có phải là những ‘thầy đồng’ hay những nhà lãnh đạo xã hội, nhưng đó là một xã hội có một nhà kiến trúc và ai đó đủ quyền năng thiết lập một dự án như vậy và có uy lực để khiến dự án diễn ra”, Gopher diễn giải.   Các cột hình chữ T lớn và niềm tin vào những hình giống người và vật đã được diễn giải như những totem: có lẽ thể hiện những linh hồn che chở, có thể là những tổ tiên đã khuất núi, một số người trong số đó được tin là đã hiển hiện dưới hình thức một con vật. Ý tưởng những hình hiệu thú và hình hiệu người có thể tái hiện cái chết được sùng kính được củng cố bằng một nghiên cứu gần đây về các mảnh sọ được biến đổi chôn cất tại di tích này, vốn được nhiều nhà nghiên cứu coi là bằng chứng về hình thức tôn giáo của tổ tiên.  Việc nhận diện ra mẫu hình học được giấu kín làm tăng thêm quan điểm Göbekli Tepe như một địa điểm tôn giáo, Haklay và Gopher nhận xét. Cạnh phía Nam của tam giác đều chạy qua các cột đá trung tâm của khu vực lân cận, tạo thành một hình đa giác. Trục vuông góc với đường thẳng này chạy qua toàn bộ di tích và kết thúc ở trung tâm của một khu rào đá khác, có thể được coi là đỉnh của một kim tự tháp.  Nghiên cứu mới là “một đóng góp đáng kinh ngạc cho hiểu biết của chúng ta” về di tích kì bí này, Anna Belfer-Cohen, một giáo sư khảo cổ tại trường Đại học Hebrew tại Jerusalem và là một chuyên gia về thời tiền sử. Tuy vậy dù đã khai quật nhiều vòng tròn đá tại Göbekli Tepe và các địa điểm liền kề thì chúng ta vẫn chưa biết là kết luận từ nghiên cứu này có thể áp dụng cho mọi khu vực hay không, Belfer-Cohen băn khoăn.  “Có ba khu rào đá có thể được xây cùng nhau nhưng điều đó không có nghĩa là những khu khác không được xây dựng như những khối kiến trúc riêng lẻ, có lẽ là chúng đều do những nhóm người khác nhau xây lên”, cô nêu vấn đề. “Chúng ta chỉ có thể khám phá ra đỉnh tảng băng của hiện tượng này nhưng dường như, có nhiều nhóm khác nhau đã coi toàn bộ khu vực này là linh thiêng và hội tụ về đây để dựng lên các khu rào đá”.  Tuy nhiên, cũng có ý kiến còn thận trọng hơn về diễn giải của hai tác giả, đó là quan điểm của Tristan Carter, một chuyên gia về chính đền thờ này, làm việc tại Khoa Nhân học trường Đại học McMaster, Canada. Ông cho rằng không có gì đảm bảo là một vài kiến trúc sư bậc thầy lập kế hoạch cho cả ba cấu trúc đá này. Các nhà nghiên cứu Israel đã “tạo ra một khối kiến thức có thể đây chúng ta theo hướng đó”. Ngay cả khi cả ba khối kiến trúc đá cùng với nhau lập thành hình một tam giác trên lý thuyết thì nó cũng không có nghĩa là một kiến trúc được xây dựng đầu tiên và sau đó là hai kiến trúc còn lại được xây muộn hơn để “anh kết thúc với một tam giác đều”, Carter trả lời Live Science. Tuy vậy ông cũng thừa nhận là “nếu họ đúng thì điều đó cũng rất thú vị”, và có thể trao cho chúng ta một ý tưởng về cách nơi này được điều hành.  Theo ông, cho dù câu chuyện nguồn gốc Göbekli Tepe là gì thì nó “vẫn là một nơi đáng chú ý bậc nhất”. Con người không xây dựng những thứ vĩ đại và phức tạp ở thời điểm quá sớm như vậy. Trong thời kỳ mà các kiến trúc sư của Göbekli Tepe sống, có một sự thay đổi lớn đã diễn ra. Một số nhà khảo cổ lập luận là sự thay đổi tự nhiên trong môi trường hoặc khí hậu thúc đẩy xã hội đến với nông nghiệp, một số khác lại cho là có một thay đổi về ý thức.   Đó là một giai đoạn rất xáo động, có những điều cứ diễn ra trong trí não con người”, Gopher nói. Con người đang thay đổi các suy nghĩ và mối liên hệ của mình với tự nhiên và những thay đổi đó dường như thôi thúc họ tạo ra một địa điểm như Göbekli Tepe và cuối cùng đưa họ chuyển sang nông nghiệp.   “Điểm kết của lối sống theo kiểu săn bắn – hái lượm là sự chuyển đổi ý thức hệ hơn là một chuyển đổi về kinh tế hoặc kỹ thuật”, Gopher bảo vệ quan điểm của mình. “Những người săn bắn – hái lượm không thể thuần hóa được cái gì bởi nó đi ngược thế giới quan vốn được đặt trên sự công bằng và niềm tin của họ. Một khi ý thức thay đổi, toàn bộ cấu trúc xã hội được chuyển đổi và một thế giới mới được sinh ra”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://www.smithsonianmag.com/smart-news/ancient-geometry-discovered-worlds-oldest-temple-180974991/  https://www.haaretz.com/israel-news/.premium-israeli-archaeologists-find-hidden-pattern-at-gobekli-tepe-1.8799837  https://www.livescience.com/gobeklitepe-built-with-geometry.html    Author                Quản trị        
0.03888888888888889
__label__tiasang Gọi video trực tuyến: Có đảm bảo bí mật dữ liệu cho người dùng?      Không phải ứng dụng gọi trực tuyến nào cũng đảm bảo dữ liệu chỉ người gửi và người nhận được biết. Sau những ầm ĩ về lỗ hổng bảo mật của Zoom, các nhà nghiên cứu thuộc mạng lưới chuyên gia Việt Nam tại Nhật Bản VANJ đã thử tìm hiểu xem 9 ứng dụng thay thế khác có gặp vấn đề tương tự.        Do dịch COVID-19, học và làm việc online trở nên phổ biến và bắt buộc ở một số nơi, mở ra cơ hội sử dụng một loạt ứng dụng công nghệ để họp nhóm trực tuyến từ hàng chục đến hàng trăm người. Điều này hỗ trợ không nhỏ trong việc vận hành doanh nghiệp và tổ chức hoạt động trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế…. Tuy nhiên cùng với đó, thế giới cũng dấy lên một số nghi ngại về tính bảo mật và đảm bảo quyền riêng tư.  Nguy cơ tổn thương người dùng  Sự việc đình đám nhất liên quan đến gọi họp trực tuyến gần đây là làn sóng cấm/hạn chế sử dụng ứng dụng Zoom Cloud Meetings (gọi tắt là Zoom).  Cuối tháng 3, tạp chí MotherBoard đã công bố một bản báo cáo cho thấy ứng dụng Zoom trên nền tảng iOS đã chia sẻ dữ liệu người dùng với Facebook ngay cả khi người dùng không có tài khoản Facebook. Không lâu sau đó, Cục điều tra liên bang Mỹ FBI đăng cảnh báo về điểm yếu của phần mềm và đưa ra 5 khuyến cáo với người dùng về các cài đặt cuộc họp công khai. Vài ngày sau, phòng nghiên cứu Citizen Lab của ĐH Toronto cũng công bố phân tích cho thấy một số cuộc gọi của người dùng Zoom ở Bắc Mỹ được chuyển hướng tới Trung Quốc.  Trước những khuyến cáo như vậy, nhiều cơ quan chính phủ (Mỹ, Đức, Đài Loan,..) và tập đoàn lớn (Google, Tesla, NASA, SpaceX,…) đã cấm nhân viên, công chức sử dụng ứng dụng này trong công việc. Nhưng những hậu quả đáng tiếc đã xảy ra. Đầu tháng 4, Bộ giáo dục Singapore đã yêu cầu giáo viên ngừng sử dụng Zoom để giảng dạy tại nhà sau sự kiện tin tặc chiếm quyền phát trực tuyến bài học để hiển thị hình ảnh tục tĩu lên màn hình một số học sinh. Một học sinh 13 tuổi kể lại với mẹ mình rằng trên màn hình lớp học của em tự nhiên xuất hiện hai người lạ nói với các bạn nữ rằng “hãy khoe ngực ra đây”.  Tại Việt Nam, đã có nhiều vụ việc học sinh lập nhóm chia sẻ thông tin ID, mật khẩu, giờ học và rủ nhau vào quấy phá các lớp học Zoom trực tuyến với lý do “không thích học”. Rõ ràng, những điểm yếu trong tính năng và bảo mật của một ứng dụng phổ biến (và miễn phí) có thể tạo ra cơ hội khiến người dùng lâm vào thế bất lợi hoặc tổn thương trước những can thiệp chủ đích từ bên ngoài.  Ứng dụng nào mã hóa đầu cuối  Nhưng không phải chỉ Zoom mới có vấn đề về bảo mật. Các nhà nghiên cứu thuộc mạng lưới chuyên gia Việt Nam tại Nhật Bản (VANJ) vừa công bố báo cáo xem xét tính năng và bảo mật* của 9 ứng dụng họp nhóm video phổ biến hiện nay là Zoom, Microsoft Teams, Cisco Webex, Google Hangouts, Skype, Facebook, Line, Jitsi, Mozilla Hubs và thấy rằng tính đến thời điểm báo cáo 13/4, nhiều ứng dụng có điểm yếu về mã hóa đầu cuối (end-to-end encryption – E2E). Nghĩa là bên thứ 3 có thể tiếp cận thông tin.  Nhìn rõ nguy cơ này từ lâu, nhiều quốc gia đã luật hoá việc xây dựng hệ thống bảo mật cũng như bảo vệ thông tin riêng tư của người dùng. Chẳng hạn, từ 2017, luật APPI (Act on the Protection of Personal Information) của Nhật Bản yêu cầu tất cả các doanh nghiệp phải bảo vệ dữ liệu người dùng (thay vì trước đó chỉ yêu cầu doanh nghiệp có quy mô từ từ 5,000 người)  “Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng ý thức rằng bảo mật hệ thống cũng chính là bảo vệ con đường kinh doanh của họ vì trong thế giới số hiện nay, mối nguy hiểm từ tin tặc không những ngày càng nhiều hơn mà còn tinh vi hơn. Ngay cả doanh nghiệp nhỏ, startup, nếu không may gặp phải sự cố về bảo mật thì rất khó để lấy lại uy tín và thậm chí con đường phát triển gần như đóng lại trong thời buổi có nhiều cạnh tranh như hiện nay”, TS. Trần Phương Thảo, nghiên cứu viên chuyên ngành Công nghệ thông tin và Bảo mật tại Đại học Tokyo, đồng tác giả trong báo cáo của VANJ cho biết.  Mã hóa đầu cuối E2E được chọn là một tiêu chí đánh giá độ bảo mật nổi bật trong báo cáo, bởi nó thiết lập một giao thức truyền tin riêng tư tốt nhất trên Internet có khả năng ngăn chặn dữ liệu bị đọc được hoặc sửa đổi một cách bí mật. Về nguyên tắc, các gói tin được mã hóa bởi người gửi và chỉ có người nhận mới có thể giải mã được, ngoài ra không ai có thể giải mã.  Nhưng trên thực tế, có những ứng dụng không hỗ trợ phương thức này dẫn đến việc tin tặc, các công ty viễn thông, cơ quan chính phủ, thậm chí bên cung cấp dịch vụ/server cũng có khả năng can thiệp vào nội dung và đường truyền dữ liệu.    Sau sự “thất sủng” của Zoom, Microsoft Teams hiện thu hút được một lượng đông đảo người dùng, nhưng họ cũng có điểm yếu tương tự như Zoom là không hỗ trợ mã hoá E2E. Microsoft Teams cho biết dữ liệu của họ mã hoá khi đang truyền đi và khi nằm trên thiết bị lưu trữ (“in transit and at rest”) – điều này không đồng nghĩa với E2E, do vậy vẫn có những rủi ro nhất định về bảo mật. Tương tự, Google Hangouts cũng chỉ mã hóa dữ liệu khi truyền (“in transit”). Nếu dữ liệu người dùng tới được máy chủ thì Google có quyền truy cập hoàn toàn vào nội dung.  Ứng dụng Line chỉ mã hóa ở tầng vận chuyển (“Transport-level”, dùng LEGY encryption hoặc HTTPS) với cuộc gọi nhóm, nhưng có thực hiện mã hóa E2E khi gọi video 1-1 hoặc khi trò chuyện bằng tin nhắn văn bản, không phải video.  Trong khi đó, Facebook, thương hiệu mang nhiều tai tiếng về vấn đề quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu người dùng trong mấy năm gần đây, vì nhiều lý do đã quyết tâm chuyển sang hướng đi “khóa” hết cửa tiếp cận dữ liệu người dùng. Ứng dụng Facebook Messenger đang hỗ trợ mã hóa E2E với cuộc gọi có hình. Tuy vậy, điều này chỉ diễn ra khi người dùng bật chế độ đối thoại ẩn (“Secret Conversation mode”). Facebook cho biết việc mã hoá E2E ở chế độ mặc định sẽ mất nhiều năm nữa mới có thể thực hiện được.  Các phần mền thương mại như Cisco WebEx, Skype đều có mã hóa E2E với cuộc gọi video nhóm, cho phép từ 50-100 người tham gia. Ứng dụng mã nguồn mở Jitsi hồi giữa tháng 4/2020 đã công bố hỗ trợ mã hoá E2E và đang trong giai đoạn kêu gọi người dùng giúp đỡ báo cáo các lỗi bảo mật để phát triển hoàn chỉnh tính năng này. Jitsi cho phép tối đa 75 người tham dự cuộc gọi cùng lúc và có thể hơn nếu máy chủ riêng của người dùng có năng lực tính toán cao hơn. Ứng dụng mã nguồn mở Mozilla Hubs mặc dù có thể hỗ trợ cuộc gọi tới 200 người nhưng chưa rõ về khả năng mã hóa đầu cuối.  Cuộc tranh luận chưa ngã ngũ  Bảo mật dữ liệu là điều mà phần lớn mọi người đều đồng thuận. Nhưng bảo mật đến mức sử dụng mã hóa đầu cuối lại là câu chuyện gây tranh cãi từ lâu trong giới công nghệ và các chính phủ. Những người ủng hộ E2E, đặc biệt phần lớn các chuyên gia bảo mật, đều đánh giá cao cách tiếp cận này vì nó bảo vệ dữ liệu người dùng tốt hơn khỏi tin tặc và các bên thứ ba có thể muốn theo dõi, và do đó đảm bảo quyền riêng tư và bảo mật. Điều này đồng nghĩa với việc không có điểm nào ngăn chặn thông tin ở giữa dòng, do vậy cá nhân có thể tự do trao đổi bất kì điều gì mà không lo sợ bị giám sát.  Đối đầu lại với ý kiến đó, các chính phủ thấy rằng mã hóa đầu cuối – một mặt đảm bảo an toàn cho các công dân lương thiện, cùng đồng thời đảm bảo một không gian an toàn cho các tội phạm liên lạc với nhau mà không ai tiếp cận được. Công nghệ cũng đồng thời bảo vệ sự bí mật của tội phạm. Nếu máy chủ có thể giải mã dữ liệu, có thể can thiệp vào việc truyền dữ liệu, thì các cơ quan thực thi pháp luật sẽ có một công cụ đắc lực giúp bắt giữ kẻ xấu hoặc lấy bằng chứng xét xử những vụ việc sai phạm. Chính phủ Hoa Kỳ, Anh và Úc là những bên đang đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ việc đóng sập những tùy chọn can thiệp này.  Nhìn những bằng chứng có sẵn cho đến nay thì dường như mã hóa có thể được sử dụng cho cả mục đích tốt và xấu. Ngay cả việc thiết lập những cửa hậu (Backdoor) để thỏa hiệp hai luồng tranh luận trên cũng có thể rơi vào thế tiến thoái lưỡng nam như mã hóa E2E nếu không biết chìa khóa mở cửa rơi vào tay người tốt hay kẻ xấu.  Các công ty cân nhắc sự đánh đổi  Vậy các công ty công nghệ thì sao? Rất khó để yêu cầu họ nên đi theo hướng nào – hỗ trợ hay không hỗ trợ E2E – bởi cả hai đều đem lại những lợi ích và chi phí nhất định với từng công ty khác nhau.  Nếu triển khai mã hóa đầu cuối, một công ty có thể thu được lòng tin của người dùng, tránh được những lệnh đòi hỏi can thiệp của chính quyền bởi chính bản thân họ cũng không thể can thiệp vào dữ liệu, và tiết kiện được một loạt thời gian, tiền bạc và rắc rối từ việc kiện tụng. Nhưng họ cũng phải bỏ ra lượng công việc khổng lồ để cải thiện công nghệ. Thậm chí có những công ty mà mô hình kinh doanh được xây dựng dựa trên nền tảng tiếp cận dữ liệu người dùng thì rõ ràng việc đảm bảo bảo mật cao như vậy sẽ ảnh hưởng toàn bộ đến hoạt động kinh doanh.  Chẳng hạn như gã khổng lồ Facebook. Facebook bắt đầu triển khai mã hóa E2E trên ứng dụng WhatsApp khi công ty này mua lại nó vào năm 2016 nhưng quá trình chuyển đổi cũng kéo dài kéo dài mấy năm và rất vất vả, tốn kém. WhatsApp lúc đó đơn giản hơn rất nhiều so với ứng dụng tin nhắn của Facebook là Messeger hiện nay, cho nên chuyển đổi Messeger và nhiều nền tảng như Instagram sẽ mất nhiều năm nữa mới có thể trở thành hiện thực.  Lý do, không chỉ bởi những rào cản của việc thực thi luật chống mã hóa ở Mỹ hay phải dịch chuyển mô hình kinh doanh của công ty, mà về mặt kỹ thuật, kỹ sư của Facebook thú nhận họ cần “xem xét lại hầu hết toàn bộ nền tảng”. Facebook đang kêu gọi sáng kiến từ cộng đồng cho bài toán khổng lồ này.    Facebook Messenger hỗ trợ mã hóa E2E chỉ khi người dùng bật chế độ đối thoại ẩn  Với ứng dụng Zoom, giáo sư mật mã học Matthew Green, ĐH Johns Hopkins cũng chỉ ra rằng Zoom rất khó để mã hóa E2E, vì ứng dụng này cần phát hiện ra người dùng nào đang nói để chọn videostream ở độ phân giải cao từ người đang nói và chỉ chọn videostream ở độ phân giải thấp cho những người còn lại. Điều này khiến Zoom cần thấy những bản ghi rõ, hay còn gọi là nội dung không được mã hoá.  Nếu tương lai, Zoom chọn mã hoá E2E thì họ sẽ phải thêm các cơ chế bổ sung để đảm bảo việc chọn video của người đang nói để truyền đi mà không làm rò rỉ thông tin. “Đây là một sự đánh đổi [trade-off] nhưng khả thi”, GS. Green cho biết. Apple đã áp dụng tương tự cho dịch vụ FaceTime của mình.  Việc thiết lập mã hóa E2E cũng có thể khiến ứng dụng ít tiện lợi và có thể kém hấp dẫn hơn với người dùng phổ thông. Ví dụ, Cisco WebEx mặc dù có độ an toàn của E2E nhưng đặc điểm mã hóa đó khiến nó không thể hỗ trợ việc bảo mật khi phát trực tiếp media streams (tức gửi các file đã được chia nhỏ và hiển thị ngay cả khi nó vẫn đang trong quá trình tải), lưu lại các bản ghi, biên bản cuộc họp, tải lên tài liệu vào cuối cuộc họp,…  Chúng ta không chắc các công ty sẽ thay đổi bảo mật mã hóa E2E đến đâu. Người dùng đại chúng cũng ít khi nắm rõ được ứng dụng mình đang sử dụng an toàn đến mức nào và họ cần nhớ thực hiện những thao tác gì để bảo vệ bản thân. Họ luôn đứng trước lựa chọn giữa việc đánh đối sự riêng tư và bảo mật của mình lấy sự tiện lợi, dễ dàng và miễn phí.  Hơn bao giờ hết, người dùng cần sự minh bạch của các công ty công nghệ và khuyến cáo kịp thời từ các mạng lưới, nghiên cứu và tổ chức an ninh trên không gian số./.  _______________________________  Xin cảm ơn nhóm tác giả VANJ đã hỗ trợ thông tin hữu ích cho bài viết này.  Quý độc giả có thể theo dõi báo cáo đầy đủ về “Tính Năng và Bảo Mật của Một Số Ứng Dụng Video Conference Phổ Biến”, Trần Phương Thảo, Tạ Đức Tùng, và Lê Đức Anh, Vietnamese Academic Network in Japan (VANJ), Tokyo, Nhật Bản. Cập nhật 13/04/2020. Nguồn: https://vanj.jp/2020/04/22/tinh-nang-va-bao-mat-cua-mot-so-ung-dung-video-conference-pho-bien/  _______________________________  Nguồn: Ngô Hà/Báo KH&PT        Author                Quản trị        
__label__tiasang Gọi vốn cộng đồng? Trước tiên hãy kiểm tra dự báo thời tiết!      Thời tiết xấu sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của các nhà đầu tư. Nghiên cứu mới của Trường Kinh doanh Copenhagen khuyến cáo các doanh nghiệp đang tìm kiếm nguồn vốn nên chú ý đến bản tin dự báo thời tiết khi họ muốn thực hiện chiến dịch gọi vốn cộng đồng.      Các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu rằng liệu tâm trạng bị ảnh hưởng do thời tiết sẽ tác động như thế nào đến quyết định của những người góp vốn cộng đồng (crowdfunder), tập trung vào vai trò của tâm trạng và cảm xúc của các nhà đầu tư, bao gồm cả những quyết định theo ngày trên nền tảng gọi vốn cộng đồng Companisto.  “Đầu tư tài chính có vai trò quan trọng đối với sự thành công của kinh doanh mạo hiểm (entrepreneurial venture). Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vào những ngày âm u, các nhà đầu tư bỏ ít tiền hơn 10-15% vào cổ phần rủi ro trong các chiến dịch gọi vốn cộng đồng”, trợ lý giáo sư Ali Mohammadi ở khoa Chiến lược và đổi mới sáng tạo, Trường Kinh doanh Copenhagen cho biết.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhà đầu tư nam và nữ, đồng thời thấy rằng những nhà đầu tư mới tương tác nhiều hơn khi thời tiết ảm đạm”, Mohammadi cho biết.  Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Journal of Corporate Finance “Too gloomy to invest: Weather-induced mood and crowdfunding” với đồng tác giả Kourosh Shafi, trợ lý giáo sư về khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship) ở ĐH bang California East Bay, Hayward, CA, Hoa Kỳ.  Những biến động tâm trạng  Nghiên cứu này bổ sung bằng chứng hiện có về mối liên hệ giữa thời tiết (được coi là yếu tố kích thích tâm trạng) và kết quả trên các thị trường tài chính khác nhau. Điểm khác biệt trong nghiên cứu này là tập trung vào gọi vốn cộng đồng cổ phần.  Dữ liệu nghiên cứu định lượng đến từ công ty Companisto của Đức, một trong những nền tảng gọi vốn cộng đồng cổ phần lớn nhất châu Âu. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 102 chiến dịch gọi vốn đã nhận được 67.982 cam kết đầu tư. Từ đó, họ có thể quan sát thành phố nơi nhà đầu tư sinh sống, liên kết dữ liệu thời tiết với nhà đầu tư và ngày chính xác của mỗi khoản đầu tư.  “Thước đo thời tiết chỉ đơn giản là độ che phủ mây, thay đổi từ hoàn toàn không mây (0) đến nhiều mây (1). Do đó, chúng tôi có thể thấy sự biến động thời tiết trong thời gian gọi vốn của một chiến dịch. Cách tiếp cận này cho phép chúng tôi tách biệt ảnh hưởng của thời tiết với ảnh hưởng từ những đặc tính của nhà đầu tư và doanh nhân. Điều thú vị là tâm trạng không liên quan trực tiếp đến giá trị kinh tế hoặc lợi nhuận đầu tư”, trợ lý giáo sư Mohammadi cho biết thêm.   Tối đa hóa thành công gây quỹ  Mặc dù các doanh nhân không thể dự đoán chính xác thời tiết để chọn thời điểm khởi động chiến dịch nhằm tối đa hóa thành công trong việc gọi vốn, nhưng các nhà nghiên cứu khuyến nghị một số chiến lược có thể cân nhắc để bù đắp những tác động bất lợi trong những ngày âm u. “Những chiến lược này bao gồm việc nhắm mục tiêu đến các nhà đầu tư có kinh nghiệm hơn và tham gia vào các chiến dịch ở giai đoạn phát triển mạo hiểm sau này. Vào những ngày âm u, các doanh nhân có thể tăng cường hoạt động tiếp thị theo những cách làm giảm tác động tiêu cực của thời tiết”, Mohammadi kết luận.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-crowdfunding-weather.html  https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0929119920302054?via%3Dihub    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gonzola Moratorio: Thợ săn coronavirus      Một nhà virus học đã hỗ trợ Uruguay kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19.      Gonzalo Moratorio. Ảnh: Pablo Albarenga for Nature  Gonzalo Moratorio bỗng chốc trở thành người nổi tiếng trong đại dịch Covid-19. Mọi người nhận ra anh trên những con phố ở Montevideo, thủ đô của Uruguay. Thỉnh thoảng họ mua tặng anh cốc bia khi anh đến quán bar. Thậm chí, họ còn đến gặp anh trên mặt nước, bất cứ khi nào Moratorio ra ngoài lướt sóng với bạn bè. Và họ cảm ơn anh ấy.   Họ biết ơn vì Moratorio đã giúp Uruguay tránh được những hậu quả tồi tệ nhất của đại dịch. Moratorio là một nhà virus học ở Viện Pasteur và ĐH Cộng hòa ở Montevideo (Uruguay), anh và các cộng sự đã thiết kế một phương thức xét nghiệm coronavirus và một chương trình quốc gia để chính phủ có thể triển khai, nhằm ngăn chặn các ca nhiễm Covid-19 khi đại dịch tràn qua các nước Mỹ Latin – bao gồm cả các quốc gia láng giềng của Uruguay, Argentina và Brazil. Uruguay tiếp tục duy trì thành tích là một trong những quốc gia có tỉ lệ tử vong thấp nhất thế giới – chỉ có 87 người tính đến ngày 10/12.  “Chúng tôi thuộc phần khác biệt”, anh nhận xét. “Chúng tôi đang kéo dài thời gian, điều này rất quan trọng cho đến khi có thuốc hoặc vaccine”.  Moratorio khởi đầu năm 2020 một cách hào hứng khi lần đầu tiên, anh trở thành người đứng đầu phòng thí nghiệm riêng của mình, sau khi hoàn thành postdoc ở Paris vào năm 2018. Anh đang lên kế hoạch nghiên cứu cơ chế biến đổi của virus và cách làm giảm độc lực của chúng. Nhưng vào những ngày đầu tiên trong tháng 3, Moratorio và các nhà nghiên cứu ở các viện Pasteur khác trên khắc châu Mỹ đã họp trực tuyến đã thảo luận về những việc cần làm khi các vụ bùng phát coronavirus đang nhanh chóng gia tăng.  Một số nhà nghiên cứu tỏ ra không mấy lo lắng. Carlos Batthyány, một nhà dược học đứng đầu Viện Pasteur ở Montevideo, nói với các đồng nghiệp rằng ông nghĩ Uruguay gần như sẽ tránh được đại dịch. “Tôi không tin lắm về tác động của nó”, ông cho biết.  Sự tự tin của Batthyány hoàn toàn có lý do. Uruguay – một quốc gia có dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân, hệ thống giám sát dịch tễ học mạnh mẽ và dân số nhỏ, khoảng 3,5 triệu người – hầu hết đều không mắc các bệnh sốt vàng da, Zika và các bệnh truyền nhiễm khác mà các nước láng giềng đều mắc phải.   Tuy nhiên, Moratorio hiểu rõ về nguy cơ của Covid-19. “Gonzalo lao ra ngoài cuộc họp và bắt đầu làm việc”, Batthyány kể lại. “Khi cậu ấy thuyết phục chúng tôi rằng cần làm gì đó, cậu ấy sẵn sàng san bằng cả núi. Cậu ấy là Don Quixote theo cách đấy”.  Moratorio thấy rằng để tránh trường hợp dịch bệnh bùng phát không thể kiểm soát, cần xét nghiệm trên diện rộng và cách ly các ca dương tính. Tuy nhiên, không lâu sau đó, nhu cầu về bộ dụng cụ xét nghiệm trên thị trường toàn cầu tăng vọt. Anh và cộng sự lâu năm của mình, nhà virus học Pilar Moreno, biết rằng điều này sẽ khiến Uruguay không thể mua được các bộ xét nghiệm và hóa chất cần thiết. “Đó là thời điểm chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi phải tìm cách nào đó để có thể tự xoay sở mà không phụ thuộc vào ai”, Moreno nhận định.  Vào ngày 13/3, quốc gia này đã xác nhận trường hợp mắc Covid-19 đầu tiên và tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe. Chính phủ đã đóng cửa các cơ sở kinh doanh và trường học, thông báo hạn chế các chuyến bay và cửa khẩu, yêu cầu người dân tự cách ly. Sau đó, Moratorio, Moreno và các thành viên của phòng thí nghiệm đã nghiên cứu phương pháp xét nghiệm riêng, sử dụng kỹ thuật “chuẩn vàng” phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để phát hiện các dấu hiệu phân tử đặc trưng của SAS-CoV-2.  Trong vòng vài tuần, các nhà nghiên cứu đã phát triển phương pháp xét nghiệm này thành một bộ kit đơn giản và hiệu quả, chỉ với 3 ống và chiếm 1 giếng trong máy PCR. Và với sự hỗ trợ của Bộ Y tế công cộng, họ đã đào tạo và hình thành nên một mạng lưới phòng thí nghiệm chẩn đoán Covid-19 trên quy mô quốc gia.  Vào cuối tháng 5, Uruguay đã thực hiện hơn 800 xét nghiệm/ngày, và tự sản xuất một nửa số bộ kit. Hiện nay, con số đã lên tới khoảng 5000 – trong đó khoảng 30% sử dụng bộ kit của Moratorio. Tốc độ và sự phối hợp trong phản ứng của Uruguay thực sự ấn tượng, theo nhận xét của Zulma Cucunubá, nhà dịch tễ học bệnh truyền nhiễm ở Đại học Hoàng gia London. “Phải nói rằng các nước khác hầu hết đều ghen tị khi Uruguay đạt được điều này từ sớm”.  Cuộc sống ở Uruguay gần như đã trở lại bình thường. Các trường học và nhà hàng đã mở cửa trở lại, nhiều người cũng quay lại làm việc. Ngay cả Moratorio và nhóm nghiên cứu của anh cũng dần quay lại với nghiên cứu ban đầu. Tuy nhiên, anh vẫn giữ cảnh giác. “Hi vọng điều này sẽ kéo dài”, anh bày tỏ. “Tôi sợ rằng một lúc nào đó chúng ta sẽ không thể duy trì được”.     Thanh An dịch  Nguồn: Gonzalo Moratorio: Coronavirus hunter (Nature’s 10: ten people who helped shape science in 2020)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Google bước vào cuộc đấu trí tuệ nhân tạo với Microsoft      Trong một thông báo, Giám đốc điều hành Google Sundar Pichai nói rằng AI đối thoại Bard của Google sẽ được thử nghiệm với kế hoạch phát hành rộng rãi hơn “trong vài tuần tới”. Bard của Google dựa trên LaMDA, hệ thống Mô hình ngôn ngữ dành cho đối thoại của công ty, đã được phát triển trong vài năm.    AI hiện đang được quan tâm nhờ khả năng bắt chước cách viết của con người. Google tới đây sẽ phát hành một chatbot đối thoại có tên Bard, bước vào cuộc đấu trí tuệ nhân tạo với Microsoft, công ty đã đầu tư hàng tỷ USD vào ChatGPT.    ChatGPT, do công ty OpenAI ở San Francisco tạo ra, đã gây chú ý nhờ khả năng viết luận, làm thơ hoặc viết mã lập trình theo yêu cầu chỉ trong vòng vài giây, làm dấy lên lo ngại lan rộng về gian lận hoặc làm cho một số ngành nghề trở nên lỗi thời.    Tháng trước, Microsoft đã công bố rằng họ đang đầu tư vào OpenAI và đã bắt đầu tích hợp các tính năng ChatGPT vào nền tảng Teams của mình, với kỳ vọng rằng sẽ tích hợp ứng dụng này vào công cụ tìm kiếm Bing.    Google và công cụ tìm kiếm thống trị thế giới của họ có thể sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh chưa từng có từ đối thủ AI. Google cũng chịu áp lực cạnh tranh, trong bối cảnh doanh thu kém được công bố vào tuần trước, không đạt được kỳ vọng của nhà đầu tư. Vào tháng trước công ty đã thông báo rằng họ sẽ sa thải 12.000 người.    “AI tạo sinh là một yếu tố thay đổi cuộc chơi và giống như sự trỗi dậy của Internet đã đánh chìm những gã khổng lồ mạng trước đó, công nghệ này có khả năng thay đổi động lực cạnh tranh trong ngành tìm kiếm thông tin”, nhà phân tích công nghệ Rob Enderle cho biết.    “Google phần lớn vẫn sống dựa vào công cụ tìm kiếm được sử dụng rộng rãi nhất, AI mới có thể thay đổi tình hình này”, ông nói thêm.      Trong một thông báo, Giám đốc điều hành Google Sundar Pichai nói rằng AI đối thoại Bard của Google sẽ được thử nghiệm với kế hoạch phát hành rộng rãi hơn “trong vài tuần tới”. Bard của Google dựa trên LaMDA, hệ thống Mô hình ngôn ngữ dành cho đối thoại của công ty, đã được phát triển trong vài năm.    Pichai cho biết: “Bard tìm cách kết hợp bề rộng kiến thức của thế giới với sức mạnh, trí thông minh và sự sáng tạo của các mô hình ngôn ngữ lớn của chúng tôi. Nó dựa trên thông tin từ web để cung cấp phản hồi chất lượng cao”. Thông tin này ám chỉ rằng ứng dụng sẽ đưa ra phản hồi dựa trên dữ liệu liên tục cập nhật, trực tuyến, điều này ChatGPT không thể làm được.    Các nhà nghiên cứu sử dụng các mô hình ngôn ngữ giống như Bard hoặc ChatGPT đã cho thấy công nghệ này tiềm ẩn nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch hoặc vô nghĩa trên quy mô lớn. Meta, chủ sở hữu của Facebook, vào tháng 11 đã buộc phải gỡ bỏ việc phát hành mô hình ngôn ngữ lớn của họ có tên là Galactica sau 3 ngày ra mắt, sau khi người dùng phát hiện nhiều thông tin sai lệch mà AI đưa ra.    Pichai nhấn mạnh rằng các câu trả lời do Bard đưa ra sẽ “đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng, an toàn và tính có căn cứ của thông tin”. Google cũng nói rằng người dùng sẽ sớm thấy các tính năng do AI cung cấp trong công cụ tìm kiếm của họ.    Thierry Poibeau, thuộc trung tâm nghiên cứu CNRS ở Paris, nói với AFP rằng các công cụ tìm kiếm được tăng cường bởi AI “sẽ đưa ra câu trả lời dưới dạng dễ tiếp cận hơn”.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Google công bố công cụ tìm kiếm cho dữ liệu mở      Công cụ này, được gọi là Google Dataset Search, sẽ giúp các nhà nghiên cứu tìm thấy dữ liệu họ cần một cách dễ dàng hơn.      Giao diện thử nghiệm của Google Dataset Search.  Google đã công bố một công cụ tìm kiếm để giúp các nhà nghiên cứu định vị và sử dụng dữ liệu trực tuyến sẵn có. Công ty đã ra mắt dịch vụ vào ngày 5 tháng 9, và cho biết rằng dịch vụ này có thể hữu ích cho “các nhà khoa học, nhà báo dữ liệu, chuyên viên dữ liệu, hoặc bất kỳ ai khác”.  Tìm kiếm tập dữ liệu (Dataset Search), hiện nay mớiđược đưa vào sử dụng cùng với các công cụ tìm kiếm chuyên dụng khác đã được sử dụng từ lâu của Google, chẳng hạn như tin tức và hình ảnh – cũng như Google Scholar và Google Books – tìm các tệp và cơ sở dữ liệu trên cơ sở cách chủ sở hữu phân loại chúng. Nó không đọc nội dung của các tập tin, theo cách mà các công cụ tìm kiếm làm đối với trang web.  Các chuyên gia cho rằng công cụ này có thể đóng góp đáng kể vào sự thành công của phong trào dữ liệu mở – nhằm làm cho dữ liệu có thể công khai sử dụng và tái sử dụng.  Các cơ quan chính phủ, nhà xuất bản khoa học, các viện nghiên cứu và thậm chícá nhân các nhà nghiên cứu duy trì hàng nghìn kho dữ liệu mở trên thế giới, chứa hàng triệu bộ dữ liệu. Nhưng khi các nhà nghiên cứu muốn biết những loại dữ liệu nào có sẵn, hoặc mong muốn tìm được dữ liệu mà họ đã biết, thường phải dựa vào thông tin “truyền miệng”, theo Natasha Noy, nhà khoa học máy tính tại Google AI ở Mountain View, California.  Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với các nhà nghiên mới, chưa được “kết nối” vào một mạng lưới các mối quan hệ nghề nghiệp, Noy nói. Tìm kiếm dữ liệu cũng là một khó khăn đối với những người làm nghiên cứu đa ngành – ví dụ, một nhà dịch tễ học cần truy cập vào dữ liệu khí hậu có thể liên quan đến sự lây lan của virus.  Tìm kiếm phân loại  Noy và Dan Brickley, đồng nghiệp tại Google, lần đầu tiên mô tả một chiến lược để giải quyết vấn đề đó trong một bài viết của họ đăng trên blog vào tháng 1 năm 2017.  Các công cụ tìm kiếm điển hình hoạt động theo hai giai đoạn chính. Đầu tiên là lập chỉ mục các trang có sẵn bằng cách liên tục rà soát Internet. Thứ hai là xếp hạng các trang được lập chỉ mục đó, để khi người dùng nhập cụm từ tìm kiếm, công cụ có thể cung cấp kết quả theo thứ tự mức độ liên quan.  Để hỗ trợ các công cụ tìm kiếm trong việc lập chỉ mục các bộ dữ liệu hiện có,theo Noy và Brickley, những người sở hữu các bộ dữ liệu nên ‘gắn thẻ’ (tag) chúng, sử dụng kho từ vựng đã được tiêu chuẩn hóa gọi là Schema.org – một sáng kiến được thành lập bởi Google và ba công cụ tìm kiếm khổng lồ khác (Microsoft, Yahoo và Yandex) và Brickley quản lý. Nhóm Google cũng đã phát triển một thuật toán đặc biệt để xếp hạng các bộ dữ liệu trong kết quả tìm kiếm.  Theo Mark Hahnel, giám đốc điều hành của công ty chia sẻ dữ liệu Figshare ở London, với sự thống trị của Google trong tìm kiếm trên web, việc công ty đang hướng đến hệ sinh thái dữ liệu nhanh chóng khiến những tổ chức lớn trong ngành phải đi theo và chuẩn hóa siêu dữ liệu của họ. (Figshare được điều hành bởi Tập đoàn xuất bản Holtzbrinck, tập đoàn này cũng có cổ phần lớn trong nhà xuất bản của Nature).  “Vào tháng 11, tất cả các trường đại học chúng tôi đang làm việc cùng đều đang ‘đánh dấu’ các dữ liệu của họ,” Hahnel nói. “Tôi nghĩ rằng đây là một bước ngoặt cho dữ liệu mở trong cộng đồng học thuật.”  Các cơ quan tài trợ đôi khi yêu cầu rằng dữ liệu trong nghiên cứu phải được cung cấp mở, mục tiêu cuối cùng của việc này chỉ có ý nghĩa khi thông tin có thể được “tìm và truy cậpmột cách hiệu quả”, ông nói.   Quan hệ đối tác với các cơ quan  Các tổ chức đã sớm ủng hộ thử nghiệm của Google là Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA). Cơ quan này có nhiệm vụ nghiên cứutừ thủy sản đến vành nhật hoa của Mặt trời; các kho lưu trữ của nó chứa gần 70.000 bộ dữ liệu – bao gồm cả nhật ký tàu bè từ những năm 1800. “Kho báu” này lên đến hơn 35 petabyte, tương đương với nội dung của 35.000 ổ đĩa cứng.  Công cụ của Google sẽ giúp NOAA đáp ứng nhiệm vụ mởdữ liệu của mình, Giám đốc dữ liệu của NOAA Edward Kearns ở Asheville, North Carolina cho biết. Kearns nói thêm: “Chúng tôi muốn tìm kiếm những cách thức mới để làm cho những dữ liệu đó sẵn sàng để dùng cho mọi người”.  Để tìm kiếm tập dữ liệu hoạt động, sự hợp tác của chủ sở hữu dữ liệu là một yếu tố rất quan trọng. Mặc dù hệ thống có thể trở nên tinh vi hơn trong tương lai, Google hiện không có kế hoạch thực sự đọc dữ liệu hoặc phân tích chúng, cũng như với các trang web hoặc hình ảnh. “Một công cụ tìm kiếm như thế này chỉ có ý nghĩa nếu siêu dữ liệu được các nhà xuất bản dữ liệu cung cấp”, Noy nói.  Giống như Google Scholar, Tìm kiếm dữ liệu hiện không cung cấp quyền truy cập cho truy vấn tự động hoặc giao diện lập trình ứng dụng (API) – mặc dù công ty cho biết rằng nó có thể thêm chức năng đó trong tương lai.  Noy nói rằng khi các nhà nghiên cứu bắt đầu sử dụng công cụTìm kiếm dữ liệu, Google sẽ quan sát cách họ sử dụng thông tin đó để cải thiện kết quả tìm kiếm. Google hiện không có kế hoạch kiếm tiền từ dịch vụ này.  Khi công cụ Tìm kiếm tập dữ liệu phát triển, nó cũng có thể được tích hợp với Google Scholar, để kết quả tìm kiếm trên một nghiên cứu cụ thể có thể liên kết đến các tập dữ liệu có liên quan.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06201-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Google đưa nhiều vệ tinh giám sát mới lên vũ trụ      Google đã đưa bốn vệ tinh giám sát lên không gian nhằm mục đích đánh giá sâu và kỹ hơn những gì diễn ra trên trái đất. Các vệ tinh này có khả năng nhận biết được mọi thứ trên trái đất nếu các vật đó lớn hơn  90 cm.      Google đã cung cấp ảnh vệ tinh cho Google Maps  Bây giờ người ta mới hiểu vì sao Google đã từng chi tới gần nửa tỷ đôla vào mùa thu 2014 để mua lại Satellit Skybox Imaging của Hoa Kỳ, dù hãng này thuộc diện khá nhỏ. Giờ đây, Skybox mang tên mới Terra Bella và Google, dịch vụ tìm kiếm trên mạng internet lớn nhất thế giới iện nay cũng có thêm một công ty khác, Alphabet. Thoạt  đầu, Skybox có nhiệm vụ hàng ngày cập nhật  dịch vụ bản đồ Google Maps nhưng giờ đây mọi chuyện ngày càng rõ ràng hơn, các kế hoạch giám sát không gian thực chất rộng lớn hơn nhiều. Terra Bella đã đảm trách việc đưa bốn vệ tinh giám sát lên không gian.  Với bốn vệ tinh được phóng lên không gian để thu thập dữ liệu, Google đã thực sự lao vào thương vụ “Big Data”. Từ các bức hình hoặc video chụp từ độ cao vài trăm km, người ta có thể chọn lựa những dữ liệu kinh tế cực kỳ quý giá, ví dụ như việc đếm số xe ô tô trên bãi đỗ quanh các siêu thị có thể đem đến dự đoán về doanh thu mà khách hàng có thể đem lại, hay dựa vào số container ở các cảng bốc dỡ để phân tích và xác định sức mạnh kinh tế của một vùng.  Terra Bella mới tuyên bố về khả năng phát hiện các vật có kích thước lớn hơn 90 cm của bốn vệ tinh mới phóng lên không gian bằng tên lửa Vega của châu Âu, trong đó nhấn mạnh, tuy những bức ảnh của hãng cung cấp không thể nhận mặt người hay một biển số xe nhưng mọi vật có kích thước vượt quá ngưỡng này đều không thể lọt qua mắt Google. Ngoài ra, từ độ cao 600 km có thể được ghi hình video với tốc độ 30 hình/giây.  Hãng chế tạo vệ tinh Space System Loral của Mỹ đã làm ra bốn thiên thể nhân tạo có kích cỡ 60 x60x80 cm, nghĩa là chỉ bằng một cái va li cỡ lớn, cho Google. Với bốn vệ tinh mới SkySats 4-7 này, Google có tổng cộng bảy vệ tinh giám sát trên không gian, qua đó có thể quan sát từ trên cao bất kỳ điểm nào trên trái đất.  Hiện vẫn còn chưa rõ Terra Bella sẽ “rao bán” các dữ liệu vệ tinh này  như thế nào. Từ lâu đã có sự cạnh tranh về việc cung cấp hình ảnh chụp từ không gian có sự phân tích đánh giá bằng máy tính của nhà cung cấp dịch vụ. Về công nghệ vệ tinh, hiện đứng đầu là giới quân sự nhưng do yêu cầu bảo mật thông tin nên chưa ai rõ độ tinh xảo của những bức ảnh này ra sao. Hiện tại ngày càng có nhiều vệ tinh giám sát được phóng đi với tần suất dày đặc, ví dụ trong khoang tên lửa Vega mang theo vệ tinh của Terra-Bella còn có thêm vệ tinh giám sát của Airbus dành cho Peru. Cách đây vài ngày, Israel cũng phóng một vệ tinh do thám và Planet Labs cho đến nay đã đưa lên quỹ đạo trên 60 vệ tinh giám sát trái đất cỡ nhỏ, hãng này gần như tuần nào cũng đưa những vệ tinh cực nhỏ từ Trạm không gian quốc tế lên quỹ đạo.  Hãng Digital Globe của Mỹ, ông lớn trong lĩnh vực thương mại hóa hoạt động giám sát, doanh nghiệp, mới đây cùng với WorldView4 phóng những vệ tinh giám sát hiện đại nhất. Loại vệ tinh này có khả năng thể hiện những vật thể có kích cỡ 31 cm là một điểm pixel trên ảnh, nghĩa là nó có khả năng cung cấp hình ảnh chính xác hơn nhiều so với vệ tinh giám sát của Google.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Tăng cường hỗ trợ các startup về trí tuệ nhân tạo      Với tư cách là người đứng đầu đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp của Google ở châu Á – Thái Bình Dương, ông Mike Kim nhận thấy các startup AI trong khu vực đang sở hữu rất nhiều lợi thế quan trọng: chính phủ các nước ngày càng quan tâm đầu tư vào công nghệ, đội ngũ nhân tài dồi dào và dân số già hóa nhanh chóng.    Đáp ứng nhu cầu của người trẻ    Tính cách nôn nóng, thiếu nhẫn nại của thế hệ trẻ châu Á là một trong nhiều lý do tại sao ông Mike Kim, người đứng đầu Google for Startups (Chương trình của Google dành cho các công ty khởi nghiệp) khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tin tưởng vào tiềm năng phát triển mạnh của các công ty khởi nghiệp trí tuệ nhân tạo trong khu vực.    Điều này thoạt nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng “những người trẻ châu Á hiện nay muốn mọi thứ đều trong tầm tay”, ông chia sẻ trong một cuộc trò chuyện với Forbes qua Google Meet, “nhờ có AI, ta chỉ cần bấm nút một cái, là sẽ truy cập được các dịch vụ từ y tế đến tài chính. Đó là lý do tại sao mọi người hào hứng với những công nghệ này.”        Ông Kim hiểu rất rõ nhu cầu về sự nhanh chóng của người châu Á. Ông trưởng thành từ Thung lũng Silicon và làm việc ở Mỹ trong khoảng một thập kỷ tại các công ty công nghệ như LinkedIn và nhà sản xuất trò chơi di động Zynga. Sau đó, vào cuối năm 2014, ông Kim – một người Mỹ gốc Hàn – đã chuyển đến Seoul để đầu quân cho Woowa Brothers, công ty khởi nghiệp về giao đồ ăn hàng đầu của Hàn Quốc. Tại đây ông đã tận mắt chứng kiến văn hoá “vội vàng” của đất nước. “Chúng tôi gọi đó là văn hóa “ppalli-ppalli”, trong tiếng Hàn có nghĩa là ‘nhanh lên, nhanh lên’”. Cụm từ này được dùng rất thường xuyên, nó phản ánh chính tính cách của người Hàn.    Hai năm sau, ông đầu quân cho Google for Startups với vị trí giám đốc quan hệ đối tác khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vỏn vẹn một năm sau đó, ông được thăng chức làm Tổng Giám đốc Google for Startups của khu vực và chuyển đến Singapore, một trung tâm khởi nghiệp đầy sôi động. Trong vai trò giám sát bộ phận hỗ trợ khởi nghiệp của Google tại châu Á, ông Kim nhận thấy các công ty khởi nghiệp AI trong khu vực đang sở hữu rất nhiều cơ hội phát triển – chính phủ các nước ngày càng quan tâm đầu tư vào công nghệ, đội ngũ nhân tài dồi dào và dân số tăng nhanh v.v.    Ông nhắc đến startup AI For Pet có trụ sở tại Seoul như một ví dụ điển hình về công ty khởi nghiệp đang phát triển nhanh chóng tại châu Á. Ba năm trước, Euna Hur đã thành lập ra AI For Pet, một ứng dụng dành cho điện thoại thông minh có thể phát hiện các bệnh về mắt và da ở chó mèo thông qua máy ảnh điện thoại và các thuật toán AI. Công ty hiện đang nỗ lực mở rộng khả năng chẩn đoán cả các bệnh nha chu và tình trạng bất thường về khớp.    Thay vì phải đến phòng khám thú y, xếp hàng và đợi vài giờ – đôi khi là rấ lâu – để xem lý do tại sao chú cún của mình bị ốm, khách hàng có thể ngồi tại nhà, chụp cho chú cún một bức ảnh và chờ một phút để nhận chẩn đoán. AI For Pet cho biết mô hình AI sử dụng hơn một triệu mẫu dữ liệu hình ảnh đã được các chuyên gia thú y dán nhãn.    AI For Pet đã huy động được hàng triệu USD tiền tài trợ của các nhà đầu tư như Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, Công ty Chứng khoán Đầu tư Tài sản Hàn Quốc và POSTECH Holdings – công ty được Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang, một trong những trường đại học công nghệ hàng đầu của Hàn Quốc, hậu thuẫn.    Năm ngoái, AI For Pet đã ‘tốt nghiệp’ chương trình Shinhan Square Bridge Incheon, một chương trình hỗ trợ khởi nghiệp do Tập đoàn Tài chính Shinhan của Hàn Quốc, Cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ và khởi nghiệp Hàn Quốc, chính quyền thành phố Incheon và nhà sản xuất thuốc Celltrion của tỷ phú Hàn Quốc Seo Jung-jin, phối hợp tổ chức. Và đầu tháng này, AI For Pet đã tiếp tục hoàn tất chương trình Cloud Academy của Google For Startups, một chương trình kéo dài ba tháng, nơi các công ty khởi nghiệp được đào tạo và tư vấn về phân tích dữ liệu, học máy.    Tận dụng những yếu tố bất lợi    Một lý do khác khiến ông Kim lạc quan về tương lai của các công ty khởi nghiệp AI đó là dân số châu Á đang già đi nhanh chóng. Theo một báo cáo năm 2019 của Liên Hợp Quốc, châu Á có bảy nước có tốc độ dân số già hóa thuộc tốp nhanh nhất trên thế giới: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Ma Cao, Maldives, Thái Lan và Hồng Kông. Nhật Bản đã nắm giữ ‘danh hiệu’ nước có dân số già nhất thế giới từ giữa những năm 2000 đến hiện tại.    Hãng nghiên cứu Euromonitor dự đoán đến năm 2040, khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ là ‘mái ấm’ của hơn một nửa người già trên thế giới (65 tuổi trở lên). “Nhật Bản sẽ vẫn là quốc gia của các bậc cao niên, với tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên cao nhất thế giới. Đồng thời, Hàn Quốc và Singapore sẽ xuất hiện trong danh sách tốp 5 quốc gia có dân số già nhất thế giới do tỷ lệ sinh thấp trong nhiều thập kỷ”, theo báo cáo của Euromonitor.    “Với những quốc gia với dân số già như Hàn Quốc và Nhật Bản, họ sẽ phải nghiêng về phát triển những công nghệ và robot tận dụng trí tuệ nhân tạo. AI có thể hỗ trợ các công ty khi họ thiếu hụt nguồn nhân lực”, ông Kim giải thích. “Các quốc gia dân số già sẽ phải tận dụng AI nhiều hơn vì họ cần nó”.    Startup Latona của Nhật Bản đang giúp các công ty hiện thực hóa điều đó. Công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Tọkyo cung cấp công nghệ hỗ trợ AI giúp tự động hóa và số hóa các quy trình sản xuất. Vào tháng 12/2020, Latona đã ra mắt một ứng dụng hỗ trợ có tên OMOTE-Bako giúp số hóa các quy trình quản lý cho khách sạn và ryokans (nhà trọ truyền thống của Nhật Bản), chẳng hạn như đặt phòng và nhận phòng. Năm ngoái, startup này đã nhận được khoản đầu tư trị giá 10 triệu USD từ Tập đoàn SoftBank của tỷ phú Masayoshi Son và nhà quản lý tài sản Nhật Bản Sparx Group.    Giám đốc điều hành Kyoto Otawa đã đồng sáng lập nên Latona vào năm 2018 sau một quãng thời gian đảm nhận vị trí tư vấn công nghệ và tài chính tại Công ty Tư vấn CNTT Accenture và công việc cố vấn tại Công ty Thương mại điện tử khổng lồ Rakuten của tỷ phú Hiroshi Mikitani. Năm 2020, Otawa là một trong bảy nhà sáng lập nữ ở châu Á được mời tham gia chương trình Immersion: Women Founders của Google for Startups, chương trình cung cấp cho các startup cơ hội được cố vấn và mở rộng mạng lưới kết nối. Và vào tháng năm, Latona đã hoàn thành chương trình tăng tốc tại Nhật Bản của Google for Startups, tại đây công ty khởi nghiệp được đào tạo về các sản phẩm của Google, như nền tảng máy học TensorFlow, nhận lời khuyên từ nhân viên của Google và các chuyên gia trong ngành.    Ông Kim cũng nhận thấy lĩnh vực fintech đang phát triển nhanh chóng trong khu vực, đặc biệt là ở Ấn Độ và Đông Nam Á, nơi hàng triệu người không có tài khoản ngân hàng. “Đây là cơ hội để bạn sáng tạo nên những mô hình ngân hàng và cách thức đầu tư mới, AI có thể giúp bạn làm được điều đó”, ông nêu ví dụ về NIRA, startup có trụ sở tại Trung tâm Công nghệ Bengaluru, miền Nam Ấn Độ.    NIRA do Nupur Gupta và Rohit Sen thành lập vào năm 2017, cả hai trước đây đều làm việc tại Goldman Sachs, ngân hàng đầu tư đa quốc gia của Mỹ. NIRA là một ứng dụng chuyên cung cấp các khoản vay cá nhân nhỏ (lên đến 100.000 rupee hoặc 1.250 USD). Công nghệ AI được sử dụng để tăng tốc độ chấm điểm tín dụng và bảo lãnh khoản vay. Vào năm 2019, công ty đã hoàn thành chương trình cố vấn do TechStars tổ chức và tham gia chương trình tăng tốc tại Ấn Độ của Google for Startups.    Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, gần 1/4 tổng số người trưởng thành Ấn Độ, tương đương 230 triệu người, vẫn chưa có tài khoản ngân hàng. “Một tỷ lệ lớn trong dân số không có ngân hàng”, ông Kim cho biết. “Vì vậy, theo một nghĩa nào đó thì đây là một thách thức, nhưng theo hướng khác thì đây là một cơ hội tuyệt vời”.    Tại Việt Nam, vào năm 2020, đã có hai startup Việt Nam là Thuocsi.vn – nền tảng phân phối thuốc trực tuyến và TopCV – nền tảng tạo cv trực tuyến và kết nối ứng viên với nhà tuyển dụng được lựa chọn tham gia chương trình “Google for Startups Accelerator: Southeast Asia” kéo dài ba tháng. Và mới đây, vào ngày 15/7, Google đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư ra mắt chương trình hỗ trợ khởi nghiệp cho doanh nghiệp công nghệ – Google for Startups: Startup Academy – tại Việt Nam.    Trang Anh    Author                .        
__label__tiasang Google tuyển dụng như thế nào?      Thomas Friedman, cây bút bình luận chính trị – kinh tế nổi tiếng của tờ New York Times hôm nay bỗng nhảy sang một lãnh vực mới: viết về cách Google tuyển dụng nhân viên!     Nhưng đây không phải là bài viết bày cách xin việc với những lời khuyên thường thấy trên các báo quản trị nhân lực. Friedman, qua bài này, muốn nói lên những thay đổi trong xu hướng tuyển dụng, trong giáo dục – đào tạo hay trong việc hình thành con người của thế kỷ 21 nói chung.  Đầu tiên là chuyện không mới: Google không coi trọng bằng cấp hay điểm tốt nghiệp. Laszlo Bock, phó chủ tịch phụ trách nhân sự ở Google từng nói với tờ New York Times: “Điểm tốt nghiệp là vô giá trị khi xem nó là tiêu chí tuyển dụng, điểm kiểm tra cũng vô giá trị. Chúng tôi thấy điểm không dự báo được điều gì cả”. Bock cho biết tỷ lệ người chưa từng học đại học ở Google đang tăng dần theo thời gian – có bộ phận đã lên đến 14%.  Đó là xuất phát điểm để Thomas Friedman đến phỏng vấn thêm Laszlo Bock về chuyện tuyển dụng ở Google.  Gặp Friedman, Bock “nói lại cho rõ” rằng “điểm cao không phải là chuyện gì xấu”. Nhiều công việc ở Google đòi hỏi kỹ năng toán, tin học và lập trình nên nếu điểm cao phản ánh người xin việc giỏi về các lãnh vực đó thì rõ ràng điểm là lợi thế. Nhưng Google chú trọng nhiều đặc điểm hơn.  Có 5 đặc điểm tuyển dụng mà Google tập trung đánh giá ứng viên. “Với mọi công việc, điều số 1 mà chúng tôi tìm kiếm là năng lực nhận thức nói chung. Nó không phải là chỉ số thông minh (IQ). Nó là khả năng học hỏi. Nó là khả năng xử lý tại chỗ. Nó là khả năng sắp xếp lại những mẩu thông tin rời rạc [thành bức tranh chung]” Bock giải thích.  Điểm thứ nhì là “tính lãnh đạo – mà phải là tính cách lãnh đạo đang hình thành so với loại lãnh đạo truyền thống”, Bock nhấn mạnh. “Lãnh đạo truyền thống là, bạn có từng làm chủ tịch câu lạc bộ cờ tướng? Bạn từng là phó tổng giám đốc tiếp thị? Bạn thăng tiến nhanh nhờ đâu? Chúng tôi không quan tâm mấy chuyện đó. Điều chúng tôi quan tâm là, khi phải đối diện với một vấn đề và bạn là thành viên trong một nhóm, vào thời điểm thích hợp, bạn có nhảy ra và dẫn dắt hay không? Và cũng quan trọng không kém, bạn có biết lùi lại, ngưng dẫn dắt, và để người khác lãnh đạo không? Bởi vì để làm một nhà lãnh đạo hữu hiệu trong môi trường này, quan trọng là bạn phải biết từ bỏ quyền lực”.    Còn gì nữa? Đó là sự khiêm cung và tính làm chủ. “Đó là cảm giác về tính trách nhiệm, tính làm chủ thúc đẩy bạn phải bước ra, cố gắng giải quyết bất kỳ vấn đề nào nổi lên cũng như sự khiêm cung để lùi lại và chấp nhận ý tưởng hay hơn của người khác” – Bock nói.  Không phải chỉ là sự khiêm cung trong quan hệ, để người khác đóng góp mà còn là khiêm cung về trí tuệ. Vì thế những người tốt nghiệp ở các trường danh tiếng thường không có đột phá, không xuất chúng. “Người thông minh, thành công ít khi trải qua thất bại nên không học được từ thất bại”, Bock lý giải.  Thay vào đó, họ phạm phải sai lầm cơ bản là gán ghép; thành công thì ghép cho mình – thất bại thì gán cho người khác. Ông kể những người thành công nhất ở Google chuyên cãi lại, hăm hở tranh luận, bảo vệ chính kiến nhưng khi được trình bày những dữ kiện mới họ sẽ sẵn sàng thay đổi ý kiến để dung nạp ý mới. “Cần cái tôi to và cái tôi nhỏ trong cùng một con người vào cùng một thời điểm”, Bock kết luận.  Điểm ít quan trọng nhất mà Google tìm kiếm là “tay nghề chuyên môn”, xếp cuối cùng.  Như vậy cách Google tuyển người là thừa nhận tài năng thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, cho nên nhà tuyển dụng phải biết cách đánh giá tài năng bằng những thước đo khác ngoài danh tiếng của trường vừa tốt nghiệp hay điểm tốt nghiệp. Ngược lại, Thomas Friedman cũng rút ra kết luận cho riêng mình, dù làm việc ở Google hay ở bất kỳ nơi nào khác: Thế giới chỉ quan tâm và trả tiền để sử dụng điều mà bạn có thể làm được với kiến thức của bạn (học ở đâu, học từ đâu thiên hạ cũng không quan tâm).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Google và môi trường làm việc sáng tạo      Google đang xây dựng một chuẩn mực chung cho các văn phòng của mình trên thế giới nhằm truyền tải những thông điệp văn hóa, và hơn hết, là một cách để giữ chân nhân viên của mình gắn bó với công ty.      Giám đốc truyền thông khu vực Đông Dương của Google châu Á – Thái Bình Dương, Amy Kunrojpanya, là một người nói được 6 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. Cô lại đang tập tành một ngôn ngữ mới khác khi Google chuẩn bị mở một văn phòng ở một thị trường mới nổi trong khu vực.   Amy nói được tiếng Việt bởi lẽ trước đây cô đã có thời gian mấy năm làm ở Coca Cola Việt Nam. Nay ở Google, dù không rành về công nghệ, nhưng Amy lại rất thích thú với môi trường làm việc mới, đầy sáng tạo. Ở đây, mỗi tuần, cô có thể làm việc ở nhà, bởi lẽ, với một công ty về công nghệ, các dữ liệu đều được lưu giữ trên “đám mây” (cloud), vì thế cô vẫn có thể xử lý được tất cả công việc của mình trong khi ở nhà hay đi dã ngoại.   Amy dẫn chúng tôi bước qua trên những viên gạch lát nền được thiết kể giả cổ trong khuôn viên hai tầng lầu một tòa nhà kế bên Vịnh Marina, Singapore, nơi Google đặt trụ sở vùng Châu Á – Thái Bình Dương. Ấn tượng đầu tiên đập vào chúng tôi là một không gian ẩm thực khổng lồ và trung tâm giải trí phong phú. Tất cả nhằm giữ chân những nhân viên tài năng và để cho họ một không gian thỏa sức sáng tạo.  Amy trao lại “chức” hướng dẫn viên cho Lâm Vũ, một trong 20 Googler người Việt Nam đang làm việc tại đây. Vũ dẫn chúng tôi đi xuyên qua những dãy bàn ăn dài nơi để các nhân viên các bộ phận khác nhau có thể tụ họp vừa ăn vừa trao đổi. Hai nhà ăn chính rộng rãi và thoải mái, phục vụ các món ăn từ lúc 12-14 h hàng ngày, đang đón các thực khách là nhân viên của Google, thường gọi là Googler, vào giờ trưa. Thực đơn của bữa ăn được đưa lên mạng và mỗi nhân viên hàng ngày có thể biết được hôm nay có các món ăn nào. Các món ăn thay đổi hàng ngày và rất phong phú, đủ khẩu vị của các quốc gia có nhân viên làm việc tại trụ sở. Các quầy kệ được bố trí khá bắt mắt, từ khu ăn uống đa quốc gia, đến khu dành cho các món ăn của người Ấn Độ, từ khu tiệc mặn đến khu ăn chay, rồi đến quầy giải khát và tráng miệng, tất cả như một nhà hàng buffet hảo hạng phục vụ các thực khách khó tính.  Đặc biệt, cứ chiều thứ 6, và lúc 4 giờ chiều, ngày mọi người thở phào “Thanks God it’s Friday”, các Googler được phục vụ nhiều món ngon hơn, có cả bia và sâm banh sau một tuần làm việc cật lực. Chưa hết, mỗi nhân viên hàng tháng được dẫn thêm hai người bạn vào cùng ăn uống.           Trao đổi công việc          Vũ cho biết hơn 300 Googler ở đây có thể chọn cho mình nhiều nơi chốn để làm việc hoặc thư giãn. Google luôn tạo ra một phong cách làm việc mở, chính vì thế trong khuôn viên trụ sở các nhà ăn, khu vui chơi giải trí, thư viện và nơi làm việc không hề có sự ngăn cách. Bất cứ mọi người, mỗi khi có chuyện cần trao đổi đều có thể kéo nhau vào các phòng họp, quán cà phê, ghế thư giãn, bàn ghế đủ loại hình thù hay những thiết kế rất riêng tùy chọn. Những phòng họp nhỏ được bài trí khá bắt mắt, với đầy đủ các thiết bị hiện đại nhất, đều dành cho nhân viên sử dụng. Đặc biệt, mỗi phòng họp được đặt tên và trang trí theo phong vị của một thành phố châu Á để nhắc nhở về văn hóa cổ truyền của phương Đông mà Nha Trang là một phòng trong đó.  Những bà mẹ có con nhỏ thì đã có phòng riêng cho mình để lấy sữa chăm con. Ai mệt mỏi nhưng không muốn nghỉ ngơi thì có thể dùng một trong hai phòng massage mà công ty xây ngay trong khuôn viên. Khỏe thì đánh bóng bàn, chơi billards, banh bàn. Muốn nhâm nhi thì có góc cà phê khá riêng tư và tĩnh lặng. Không thích thì kéo nhau ra thư viện để vừa ăn, vừa đọc sách, vừa nói chuyện, trao đổi, chia sẻ, lại vừa có thể tranh thủ chợp mắt trong những quầy nhỏ, kín đáo. Muốn đánh giấc thì kê mình lên những chiếc võng rộng rãi và êm ái. Ai thích ngắm cảnh thì bưng đồ ăn vào một phòng có vách ngăn, nhìn ra vịnh Marina ngắm những con tàu đến và đi hay các tòa tháp chọc trời đang nối đuôi nhau mọc lên, cũng đủ thấy thú vị. Chưa hài lòng nữa thì ra bếp nhỏ, nơi có đồ ăn, thức uống ngay bên cạnh chỗ làm việc, chẳng phải phiền lòng đi xa.   Hãng dịch vụ tìm kiếm này trong nhiều năm qua được đánh giá là một nơi đáng để đầu quân nhất trên thế giới. Google đang xây dựng một chuẩn mực chung cho các văn phòng của mình trên thế giới nhằm truyền tải những thông điệp văn hóa, và hơn hết, là một cách để giữ chân nhân viên của mình gắn bó với công ty. Dường như, họ không phải đi đâu nữa, mà ngay chính nơi làm việc của mình đã trở thành nhà và là chốn thư giãn.   Những nhà hàng của Google không hẵn chỉ làm nhiệm vụ duy nhất: phục vụ bữa ăn cho nhân viên, mà hãng này đã rất tinh tế khi biến giờ ăn là khoảng thời gian không chỉ gặp gỡ chuyện trò mà con để trao đổi và bàn bạc công việc. Những khoảng khắc giải trí sẽ khiến cho nhân viên của mình có thời gian thoải mái để biến công việc trở nên hiệu quả hơn. Công việc của các nhân viên có thể được giải quyết bất cứ lúc nào, từ phòng họp, bàn ăn, bàn billards, trên võng hay ở một góc thư viện và cả trong phòng tắm ngay tại trụ sở. Những màu sắc lạ lẫm, những hình thù lạ mắt tất cả đều từ yêu cầu và sự sáng tạo từ chính các nhân viên đang làm việc nhằm tạo tâm lý thoải mái và tự do để các Googler có thể đưa ra các ý tưởng sáng tạo mới.   Dĩ nhiên, Google không phải là nơi mà nhân viên chỉ đến ăn và chơi, mà chính những đãi ngộ đó đòi hỏi các nhân viên phải hết sức nghiêm túc trong công việc và phải thực sự có năng lực đủ để đáp ứng cường độ công việc cao. Chính từ môi trường làm việc thoải mái như vậy, những sản phẩm công nghệ đột phá, độc đáo, làm thay đổi thế giới đã ra đời.         Với một môi trường làm việc cực kỳ thoải mái, biến văn phòng thành ngôi  nhà và là nơi giải trí, Google đã khơi dậy được sự sáng tạo và cống hiến  của nhân viên mình.        Quả thật, với một môi trường làm việc cực kỳ thoải mái, biến văn phòng thành ngôi nhà và là nơi giải trí, Google đã khơi dậy được sự sáng tạo và cống hiến của nhân viên mình. Hãng công nghệ này cho phép nhân viên dành một thời gian nhất định trong công việc hàng ngày để tham gia các dự án sáng tạo. Google thường xuyên mời rất nhiều diễn giả nổi tiếng, từ ca sĩ, nghệ sĩ, nhà văn, chính trị gia… đến công ty để diễn thuyết. Các chương trình này được quay phim lại và được chia sẻ qua trang web video trực tuyến của họ là You tube trong chuyên mục Google Talk. Chính những chương trình này luôn khơi dậy và giữ cho trí não luôn học hỏi, phát triển và tư duy sáng tạo.   Chả trách, doanh thu năm 2012 của Google đạt mức kỷ lục, với 50 tỉ đô la Mỹ. 6 tháng đầu năm nay, doanh thu cũng đã đến con số 28tỷ đô la Mỹ, hứa hẹn một năm tăng trưởng tiếp theo của Google.       Author                Quản trị        
__label__tiasang GPEA – phần thưởng cho sự không ngừng tự hoàn thiện      Là một trong hai công ty của Việt Nam vinh dự được trao Giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương năm 2011, Công ty Minh Long I đã trải qua nhiều nỗ lực nhằm tự hoàn thiện mình trên nhiều lĩnh vực. Dưới đây là một số chia sẻ của ông Lý Ngọc Minh – người sáng lập, đồng thời là giám đốc Công ty Minh Long I.    Trước hết, xin chúc mừng quý công ty vừa đạt được “Giải thưởng chất lượng Quốc Tế Châu Á Thái Bình Dương”. Ông có thể chia sẻ thêm thông tin về giải thưởng này không?  Xin cám ơn lời chúc của anh. Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á -Thái Bình Dương (Global Performance Excellence Award – GPEA) được Tổ chức Chất lượng Châu Á -Thái Bình Dương (APQO) thiết lập tháng 7/1999 theo sáng kiến của Tiến sỹ Harrington – Nguyên Chủ tịch sáng lập của APQO.    APQO là tổ chức phi lợi nhuận, tập hợp các hội chất lượng hàng đầu của các nước hai bên bờ Thái Bình Dương hoặc các nước Châu Á. Để được xét trao giải, một doanh nghiệp của một quốc gia nào đó phải đáp ứng tối thiểu hai điều kiện. Một là Được trao Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (Giải Vàng Chất lượng Việt Nam) trong vòng 3 năm gần nhất. Hai là được Cơ quan Giải thưởng Chất lượng Quốc gia đề cử tham dự GPEA.    So với rất nhiều giải thưởng khác mà công ty đã gặt hái, giải thưởng lần này có ý nghĩa như thế nào với công ty Minh Long I?  Công ty Minh Long I từ trước đến nay nhận được rất nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, tuy nhiên giải thưởng lần này là một nguồn động lực rất lớn cho ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty vì đây là giải thưởng mang tầm quốc tế do một tổ chức hết sức uy tín kết hợp với cục Chất Lượng Quốc Gia kiểm tra, đánh giá và trao giải.   Việc giành giải thưởng GPEA giúp khẳng định rằng công ty Minh Long I đã và đang đi đúng hướng trong việc nâng cao hệ thống quản lý, tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo, xây dựng hệ thống quy trình sản xuất sử dụng công nghệ tiên tiến, và đáp ứng một tiêu chí hết sức quan trọng là đảm bảo chất lượng môi trường làm việc thân thiện, hài hòa cho công nhân viên, đồng thời bảo vệ môi trường xung quanh.  Giải thưởng lần này cũng giúp Minh Long I giới thiệu đến bạn bè trong nước và quốc tế về một thương hiệu Việt Nam với sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, bời vì xưa nay trong cảm nhận của người tiêu dùng, chỉ có hàng Nhật, Mỹ hay Châu Âu mới là sản phẩm tốt, còn hàng Trung Quốc, Việt Nam vẫn được nhìn nhận là một sản phẩm kém chất lượng.  Để đạt được giải thưởng này, công ty mình đã phải chuẩn bị như thế nào, trải qua những khó khăn gì thưa ông?  Thật sự công ty từ trước đến nay luôn cố gắng hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm mang lại cho người tiêu dùng sản phẩm với chất lượng tốt nhất, an toàn cho sức khỏe nhất mà không có mục đích đoạt bất kỳ giải thưởng nào cả. Do đó công ty không hề có sự chuẩn bị cho giải thưởng này. Tuy nhiên, trước khi đạt được giải thưởng này, công ty đã trải qua rất nhiều khó khăn trong việc vượt qua chính mình để mang lại những gì hoàn hảo nhất. Trước hết là việc cải tạo quy trình sản xuất, sử dụng máy móc, công nghệ hiện đại từ Đức, Nhật Bản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, kế đến là hệ thống xử lý chất thải nhằm tái sử dụng nguyên liệu, hạn chế tối đa tác động đến môi trường và cuối cùng là nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên chức của công ty. Nếu tham gia giải thưởng này 5 năm trước thì có thể nói Minh Long I chưa thể đạt được.  Ông có thể mô tả chi tiết hơn các thành tựu, cải tiến mà Minh Long I đã đạt được trong những năm qua? Kết quả mang lại lợi ích gì cho người tiêu dùng?  Chẳng hạn như trong quy trình sản xuất, công ty đã sử dụng hệ thống tự thông tin giám sát xuyên suốt dây chuyền sản xuất từ khâu xử lý nguyên liệu đầu vào đến kiểm tra lỗi sản phẩm trong quá trình sản xuất và ngay khi xuất xưởng. Hệ thống này đã giúp công ty phát hiện khâu nào cần được cải thiện, nâng cấp.   Trong công tác bảo vệ môi trường, công ty đang áp dụng hệ thống xử lý chất thải hiện đại nhằm đảm bảo tái sử dụng hầu hết nguyên liệu như đất sét, men, chất màu… Nếu tham quan cơ sở sản xuất, các bạn có thể thấy nước thải sau khi qua hệ thống xử lý này trong và sạch không khác gì nước sinh hoạt hằng ngày. Chính những thay đổi này giúp chúng tôi mang đến người tiêu dùng sản phẩm có chất lượng tốt nhất, hết sức an toàn cho sức khỏe khi sử dụng và điều đặc biệt là môi trường sống luôn được công ty quan tâm và bảo vệ.   So sánh với các công ty trong khu vực cùng được trao giải, ông có đánh giá ra sao? So với họ, công ty Minh Long I có điểm tương đồng và khác biệt như thế nào?  Khi đến tham gia buổi trao giải tại Singapore, điều đầu tiên mà tôi cảm nhận được là tất cả đều là những công ty nổi tiếng, có tiềm lực rất mạnh và thương hiệu thì đã có được vị trí rất vững vàng trên trường quốc tế. Điều này cũng là niềm hãnh diện của công ty Minh Long I khi được sánh vai cùng những công ty này trên bục nhận giải. Điểm tương đồng lớn nhất của Minh Long I và các đơn vị trên là việc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm mang lại những gì tốt nhất cho khách hàng cũng như không ngừng cải tiến chất lượng cuộc sống cho công nhân viên chức. Còn điều khác biệt duy nhất mà tôi thấy được đó là các công ty bạn đi nhận giải với lực lượng rất hùng hậu, cả chục người thì công ty Minh Long chỉ có vài người đại diện. Điều này cho thấy những người làm việc ở các công ty bạn thật sự hãnh diện khi công ty mình đạt được giải thưởng danh giá này. Lần sau có lẽ Minh Long I cũng sẽ có nhiều người khi tham gia nhận giải hơn (cười).  Sau khi đoạt giải thưởng “Giải thưởng chất lượng quốc tế Châu Á Thái Bình Dương”, công ty có kế hoạch để đạt được những giải thưởng cao quý hơn không? Nếu có thể, ông vui lòng chia sẻ với chúng tôi một số danh hiệu mà quý công ty đang nhắm đến.  Việc giành giải thưởng “Chất lượng quốc tế Châu Á Thái Binh Dương” – một giải thưởng rất có uy tín – là niềm hãnh diện của bất kỳ công ty nào. Tuy nhiên, giải thưởng không làm chúng tôi tự bằng lòng và dừng lại, mà là nguồn động lực lớn lao cho công ty tiếp tục cải thiện mình. Trong tương lai, một trong số những giải thưởng khác mà chúng tôi sẽ phấn đấu để được công nhận là giải thưởng Deming của Nhật và các giải thưởng về chất lượng thiết kế, mỹ thuật trong sản phẩm. Tất nhiên chúng tôi không bao giờ đặt ra điểm dừng cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Đối với chúng tôi, những giải thưởng đơn thuần là những điểm mốc trên con đường vượt lên chính mình của công ty Minh Long I.  Cám ơn ông đã dành thời gian quý báu và những chia sẻ chân thành. Chúc công ty Minh Long I đạt được thêm nhiều thành công!   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Grab và chặng đường chinh phục thị trường Đông Nam Á      GrabTaxi hiển nhiên là một trong những startup “siêu sao” của khu vực Đông Nam Á – và họ đã không ngần ngại chứng tỏ điều này trong buổi ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới đầy sôi động vào cuối tháng 1 vừa qua, theo đó ứng dụng này sẽ mang một cái tên mới hấp dẫn hơn: Grab.    Một đêm thứ sáu. Trời mưa tầm tã. Bạn vừa rời khỏi quán nhậu và muốn tìm một chiếc taxi để về nhà. Nhưng phố phường vắng hoe. Bạn khổ sở loay hoay một mình trong màn mưa đêm lạnh giá.  Trên đây là một trong những tình huống phổ biến với nhiều người và là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của GrabTaxi tại Kuala Lumpur vào năm 2011 – CEO kiêm nhà sáng lập startup này, Anthony Tan, chia sẻ. Ba năm rưỡi sau đó, tính tới giờ ứng dụng này đã có tới 11 triệu lượt tải và 200.000 tài xế hoạt động trên 6 quốc gia. GrabTaxi đã trở thành một sự thách thức không nhỏ đối với “ông lớn” Uber. Tháng 10/2015, tạp chí TechinAsia cho hay ứng dụng có gốc gác từ Malaysia này không chỉ đang dần bắt kịp mà thậm chí còn có khả năng “vượt mặt” Uber trên thị trường Đông Nam Á.   GrabTaxi hiển nhiên là một trong những startup “siêu sao” của khu vực Đông Nam Á – và họ đã không ngần ngại chứng tỏ điều này trong buổi ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới đầy sôi động vào cuối tháng 1 vừa qua, theo đó ứng dụng này sẽ mang một cái tên mới hấp dẫn hơn: Grab.   Tuy vậy, song nhà đồng sáng lập Tan Hooi Ling lại thú thực rằng đằng sau thành công của họ không có điều gì bí mật cả. Tất cả vẫn chỉ nhờ vào lòng kiên trì mà thôi. Cô nói: “Nếu bạn muốn biết tại sao chúng tôi lại thành công đến vậy, thì lý do là đây: chúng tôi không ngừng nỗ lực. Chúng tôi không sáng tạo ra một mô hình nào rồi ngồi tưởng tượng rằng ngay khi vừa ra mắt nó đã đốn gục trái tim của tất cả mọi người.”   Triết lý hoạt động của công ty rất đơn giản: Hãy giải quyết những vấn đề xung quanh mình.   Và một trong những vấn đề đầu tiên mà Grab muốn giải quyết là vấn đề an toàn. Trước khi Grab ra đời, một phụ nữ trẻ như Tan Hooi Ling khi bắt taxi về khuya trên đường phố Kuala Lumpur thường sẽ phải vừa ngồi trên xe vừa giả vờ như đang nói chuyện qua điện thoại với một ai đó. Có thể coi đây là một cách “bắn tin” với người tài xế xa lạ đang ngồi sau vô-lăng rằng có người biết cô đang ngồi trong xe taxi và nếu có điều gì bất thường xảy ra thì người đó sẽ biết ngay. Sau khi ra mắt GrabTaxi ở Malaysia – ban đầu, ứng dụng này mang một cái tên rất “địa phương” là MyTeksi – ban lãnh đạo công ty nhận thấy đây là một nỗi sợ rất phổ biến ở các quốc gia khác như Thái Lan hay Philippines. Từ đó, họ quyết định mở rộng hoạt động sang các quốc gia này.   Để làm được điều đó, trước tiên phải nhận diện và “chẩn đoán” được một vấn đề mà người dân ở một khu vực gặp phải, sau đó tìm ra giải pháp đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của dân trong khu vực đó. Chẳng hạn, trong những ngày đầu hoạt động, các nhà sáng lập của Grab phải đi tới từng quán cà phê, địa điểm dừng chân quen thuộc của cánh tài xế taxi mỗi khi rảnh rỗi. Họ lại gần bắt chuyện rồi chạy thử ứng dụng và thuyết phục các tài xế thử dùng xem sao. Thậm chí họ còn phải hướng dẫn một số tài xế chưa quen công nghệ cách bật smartphone như thế nào!   Tan Hooi Ling nhớ lại: “Những buổi ban đầu ấy… ai cũng nghĩ rằng chúng tôi bị mất trí. Mà đúng là chúng tôi bị mất trí thật… nhưng theo một nghĩa tốt.”   Còn giờ đây, các đội phụ trách sản phẩm và thiết kế của Grab đang tích cực tìm đến với những hành khách và tài xế ở 6 quốc gia mà Grab hoạt động để tìm hiểu xem điều gì đã khiến họ sử dụng hay không sử dụng ứng dụng này.   “Bằng cách lắng nghe, chúng tôi có thể ngày càng phát triển thêm nữa”, Anthony Tan chia sẻ. Nhờ lắng nghe mà Grab đã có thể ra mắt ứng dụng gọi xe ôm đầu tiên trong khu vực, ban đầu là ở Việt Nam và sau đó mở rộng sang Indonesia. Hành khách ở các quốc gia này thường thích bắt xe ôm hơn taxi bởi xe máy có thể dễ dàng “luồn lách” qua những làn đường đông đúc. Hiện nay Grab đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ ứng dụng Go-Jek của Indonesia. Theo dự đoán của các nhà lãnh đạo Grab, tới cuối năm 2016, Go-Jek sẽ “nuốt gọn” 50% thị phần trong phân khúc gọi xe taxi/ xe ôm ở Indonesia. Có lẽ đây là một dự đoán có phần hơi quá, bởi những gì mà Grab đã và đang làm được gần đây đã giúp họ ngày càng vững chân hơn trên thị trường.   Mới đây nhất, Grab tổ chức Grab Freedom Day, một hoạt động quyên góp vốn để thành lập các phòng thí nghiệm có nhiệm vụ tìm ra các giải pháp di chuyển dành riêng cho người khuyết tật.   Liên tục đánh giá và điều chỉnh là một quá trình đầy mệt mỏi. Làm sao để kiên trì đây? Theo Tan Hooi Ling, niềm đam mê là nhân tố quan trọng nhất. Cô nói: “Với tất cả những ai đang nghĩ đến chuyện khởi nghiệp, theo tôi điều quan trọng nhất là bạn hãy nghĩ xem vì lý do gì mà bạn muốn khởi nghiệp. Trên chặng đường gian nan này, cách duy nhất để bạn đưa mình tiến lên phía trước là bạn phải có niềm đam mê.”  Bùi Trang dịch  Nguồn: http://inc-asean.com/grab-for-glory-how-a-malaysian-start-up-is-winning-against-uber/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Grant Thornton: Nhà đầu tư lạc quan trở lại      Các nhà đầu tư tư nhân bắt đầu lạc quan trở  lại với nền kinh tế VN khi chứng kiến những nỗ lực kiềm chế lạm  phát, cắt giảm lãi suất và tái cơ cấu DNNN của Chính phủ cũng như sự  phục hồi của thị trường chứng khoán, theo báo cáo khảo sát vừa được Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính Grant Thornton Việt Nam  công bố hôm&#160; 11/6.    Báo cáo khảo sát cho thấy, so với 6 tháng trước, mức độ lạc quan về nền kinh tế Việt Nam của các nhà đầu tư tư nhân đã gia tăng trở lại. Bằng chứng là có 34% những người được hỏi tỏ ra lạc quan về nền kinh tế trong 12 tháng tới, tăng gấp đôi so với 6 tháng trước dù còn thấp hơn giai đoạn 12-18 tháng trước.  Theo Grant Thornton, thực tế này bắt nguồn từ việc các nhà đầu tư đã và đang chứng kiến nỗ lực kiềm chế lạm phát, cắt giảm lãi suất và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Chính phủ. Thêm vào đó là sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trong quí 1.  Quan điểm này cũng được thể hiện ở việc nhiều nhà đầu tư quyết định tăng vốn đầu tư vào Việt Nam trong 6 tháng tới. Các nhà đầu tư cũng cho rằng “tài sản xấu” từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể trở thành cơ hội đầu tư.  Nền kinh tế nên Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất ở châu Á khi có đến 53% người được hỏi đồng ý với ý kiến này, tăng 5 điểm phần trăm so với quí 4 -2011 (cuộc khảo sát gần nhất), nhất là với các quỹ đầu tư Nhật Bản và hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN. Tuy nhiên, quan điểm “kém hấp dẫn hơn” với tỷ lệ 28% vẫn được duy trì.  Tuy nhiên, Myanmar, đất nước đang có những chuyển biến cũng nổi lên là một đối thủ đáng gờm trong thu hút đầu tư đối với Việt Nam khi có tới 62% người được hỏi cho rằng sẽ chọn đất nước này nếu phải cân nhắc thêm một thị trường đầu tư mới.  Trong các lĩnh vực triển vọng đầu tư ở Việt Nam, lần khảo sát này lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, dược phẩm nổi lên là các ngành thu hút các nhà đầu tư tư nhân nhiều nhất khi cùng nhận được 48% ý kiến đánh giá cao.  Giáo dục, chăm sóc sức khỏe và dược phẩm là những lĩnh vực hấp dẫn nhất trong mắt các nhà đầu tư tư nhân. Đồ họa của Grant Thornton Việt Nam  Ngược lại, bất động sản, vốn là lĩnh vực hấp dẫn trong nhiều năm trước trở thành ngành kém hấp dẫn nhất. Nguyên nhân là do lạm phát, tình trạng lãi suất cao, thiếu vốn và hạn chế xây dựng đã làm trì hoãn, thậm chí ngưng triển khai nhiều dự án của các nhà đầu tư.  Đáng lưu ý, lĩnh vực nông nghiệp đã được cải thiện đáng kể trong khảo sát lần này, từ ngành kém hấp dẫn nhất trong nhiều năm trước thành lĩnh vực hấp dẫn thứ hai sau giáo dục, chăm sóc sức khỏe, dược phẩm. Thế vị trí cuối bảng của nông nghiệp là lĩnh vực dịch vụ tài chính.  Báo cáo của Grant Thornton Việt Nam cũng cho thấy, một số nhà đầu tư đang đến chu kỳ thoái vốn khi có đến 53% ý kiến tin rằng mức độ thoái vốn sẽ tăng lên. Và cách thoái vốn hấp dẫn là chào bán cho các nhà đầu tư trong ngành, trong đó phổ biến là lựa chọn “ban giám đốc mua lại”, trong khi cổ phần hóa (IPO) không còn được coi là một lựa chọn. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư cũng tỏ ra lo ngại là sẽ bị mắc kẹt tài sản khi thoái vốn. 55% nhà đầu tư được hỏi đã trả lời “Có” trước câu hỏi có quan ngại hay không.  Về trở ngại đầu tư, các nhà đầu tư tư nhân đã khẳng định tham nhũng chính là trở ngại lớn nhất đối với họ khi xem xét thị trường Việt Nam với 83% ý kiến Tiếp đó là tình trạng quan liêu, thủ tục hành chính và cơ sở hạ tầng yếu kém (cùng 77%).  Kết quả trên được rút ra từ cuộc khảo sát lần 7 do Grant Thornton Việt Nam, một thành viên độc lập của Grant Thornton International thực hiện trong tháng 4-2012. Đây là khảo sát thường niên diễn ra vào quí 2 và quí 4 hàng năm. Người tham gia trả lời câu hỏi là những người ra quyết định đầu tư trong lĩnh vực đầu tư tư nhân đang hoạt động cả trong và ngoài Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Graphene: chìa khóa mới cho công nghệ đèn LED      Bằng cách ứng dụng vật liệu graphene với ưu  điểm dẫn nhiệt tốt, các nhà nghiên cứu – trong đó có cả sự tham gia của  người Việt – đã mở ra bước tiến mới cho công nghệ đèn LED.    Việc kết hợp vật liệu graphene, một loại vật liệu mới kỳ diệu, với công nghệ đèn LED, tương lai của công nghệ chiếu sáng, sẽ đem lại một tiến bộ vượt bậc về công nghệ. Mặc dù đây không hoàn toàn là mục tiêu ban đầu của hai nhóm nghiên cứu tại Hàn Quốc và Việt Nam, nhưng thực sự cuối cùng họ đã đạt được sự kết hợp hoàn hảo này.   Qua công bố mới được xuất bản trên tạp chí Nature, họ đã chứng minh rằng việc sử dụng vật liệu graphene cho phép đèn LED trở nên sáng hơn nhờ vào đặc tính dẫn nhiệt tốt của vật liệu graphene.    Một thách thức về mặt công nghệ được đặt ra ở đây là làm cách nào trồng được lớp tinh thể GaN trong cấu trúc đèn LED lên trên nền vật liệu graphene với những khác biệt rất lớn về cấu trúc tinh thể và hằng số mạng tinh thể. “Giải pháp công nghệ được nhóm nghiên cứu đưa ra là sử dụng một lớp đệm khuôn mẫu oxit graphene (hình c) với kích thước micro trên đế sapphire.”         Đây thực sự là một tiến bộ mới trong công nghệ của bóng đèn LED, cho phép tiêu tốn năng lượng chỉ bằng 20% so với bóng đèn sợi đốt thông thường, và theo các nhà sản xuất tuổi thọ bóng sẽ kéo dài trong khoảng 25năm.    Đèn LED được sản xuất và bán nhiều trên thị trường chiếu sáng nhưng vẫn đang phải đối mặt với những thách thức. Chưa phổ biến loại bóng đèn LED công suất cao (khoảng 1600 lumen) một phần vì lượng nhiệt mà chúng phát ra ở những độ sáng cao có thể làm hỏng thiết bị.    Năm ngoái, các nhà sản xuất lớn như GE, Philips và Osram đều công bố cho ra mắt đèn LED tương đương 100-watt. Ngoài ra một loại bóng đèn LED 100-watt siêu hiệu quả có tên gọi Nanolight được công bố trên trang web Kickstarter. Nhưng đó mới chỉ là bước ban đầu.    Những tiến bộ công nghệ vừa rồi ở châu Á có thể khởi đầu cho bước tiến lớn tiếp theo.  “Việc đưa vào lớp oxitgraphene đã giúp gia tăng đáng kể khả năng phát sáng của đèn LED so với những bóng đèn LED thông thường, bằng cách phát tán lượng nhiệt phát sinh trong đèn LED và gia tăng khả năng chịu nhiệt của đèn. Giải pháp công nghệ đơn giản nàycó thể cho phép tích hợp vật liệu graphene với diện tích lớn vào các thiết bị quang điện tử khác để loại bỏ nhiệt một cách hiệu quả”, các nhà nghiên cứucho biết.    Tác giảcủa bài báo bao gồm Nam Han, Han Min và S. Chandramohan từ Đại học Quốc gia Chonbuk ở Hàn Quốc, Trần Việt Cường đến từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tại Việt Nam, và những người kháctừ Chonbuk và từ Viện Khoa học cơ bản Hàn Quốc và Viện công nghệ chiếu sáng Hàn Quốc.    Trần Việt Cường lược dịch từ  http://www.smartplanet.com/blog/bulletin/the-key-to-led-brightness-graphene/12272  Tài liệu tham khảo    “Direct epitaxial growth of GaN-based light emitting diodes on patterned graphene oxide: a solution for heat dissipation issues”    Nam Han, Tran Viet Cuong, Min Han, BeoDeulRyu, S. Chandramohan, Jong Bae Park, JiHye Kang, Young-Jae Park, Kang Bok Ko, Hee Yun Kim, Hyun Kyu Kim, Jae HyoungRyu, Chel-Jong Choi, and Chang-Hee Hong  Nature Communications Vol. 4 (2013): p. 1452        Author                Quản trị        
__label__tiasang Graphene – Từ một phát minh  đoạt giải Nobel  đến những  sản phẩm kì diệu      Những đặc điểm phi thường, cộng với câu chuyện đầy hấp dẫn liên quan đến giải Nobel, đã khiến graphene trở thành tâm điểm chú ý vào một thập kỉ trước. Nhưng vẫn còn phải làm nhiều việc để dẫn đến thương mại hóa vật liệu này, chẳng hạn như tìm ra cách tốt nhất để chế tạo và bảo quản graphene; tìm kiếm các ứng dụng có ý nghĩa kinh tế; và dần dần xây dựng thị trường mới. Thế rồi, graphene chìm vào quên lãng. Tuy nhiên, giờ đây, thời điểm của chất liệu kỳ diệu này có thể sắp đến.      Tai nghe GQ của Ora.  Lấy một mẩu băng dính và chạm vào đầu bút chì. Bóc băng dính ra và trên đó có thể giữ lại vài mảnh graphite (chì). Gấp đôi mẩu băng dính lại rồi tách nó ra, để chia chính những mảnh graphite thành hai lớp. Cứ gấp đôi và mở ra như vậy 10 đến 20 lần, nếu kĩ thuật của bạn đủ tốt, thì xin chúc mừng bạn – bạn vừa tạo ra vật liệu mỏng nhất và gần như bền nhất được biết tới trên thế giới hiện nay.   Kĩ thuật băng dính vừa nhắc đến phía trên chính xác là những gì hai nhà khoa học Andre Geim và Konstantin Novoselov đã làm để phân lập graphene – một lớp carbon có độ dày đúng bằng đường kính nguyên tử – tức là một lớp carbon hai chiều, tại Đại học Manchester ở Anh vào năm 2004. Sáu năm sau, hai nhà vật lý này giành giải Nobel cho nỗ lực tạo ra graphene, và đó là sự ghi nhận xứng đáng.   Bởi, graphene có những đặc tính phi thường, thể hiện ở ngày càng nhiều các sản phẩm sử dụng vật liệu này: graphene giúp tai nghe tạo ra âm thanh tốt hơn, điện thoại thông minh tản nhiệt tốt hơn, mặt đường cứng và bền hơn, thậm chí cả bao bì dầu gội cũng trở nên thân thiện với môi trường hơn.  Graphene không chỉ là vật liệu mỏng nhất và bền thứ hai trên thế giới – chỉ đứng sau một dạng carbon một chiều tên là carbyne – mà còn siêu nhẹ và trong suốt. Nó có thể rất dẻo hoặc rất cứng, tùy thuộc vào cách xử lý. Graphene vừa là một trong những chất dẫn nhiệt tốt nhất và dẫn điện nhanh nhất vừa rất tốt trong việc hút nước nhưng chặn lại tất cả những thứ khác khiến nó thành một màng lọc hay tấm chắn vật chất siêu hạng. Và, như Geim và Novoselov đã chứng minh, graphene không khó chế tạo.  Hãy lắng nghe  Gustavo Dudamel, giám đốc âm nhạc của Los Angeles Philharmonic, nói một cách say mê về chiếc tai nghe GQ do một công ty khởi nghiệp của Canada có tên là Ora sản xuất: “Tôi có thể nghe rõ từng chi tiết âm nhạc – điều mà tôi chỉ từng trải qua khi đứng trên bục sân khấu trước cả một dàn nhạc giao hưởng”.   Khai thác độ cứng, độ nhẹ và đặc tính giảm chấn của graphene – khả năng dừng dao động ngay lập tức khi dòng điện ngừng đi qua nó – Ora đang sử dụng graphene oxide để tạo ra màng cho tai nghe và loa. Bản thân Novoselov cũng ca ngợi công ty hết lời vì đã giúp “graphene chính thức ra khỏi phòng thí nghiệm và bước vào thế giới âm thanh”.  Ari Pinkas, người đồng sáng lập Ora giải thích rằng, từ trước đến nay, các nhà thiết kế loa luôn phải thỏa hiệp giữa độ cứng, độ nhẹ và độ giảm chấn. Nhưng giờ đây với graphene, họ không phải quan tâm đến điều đó nữa. “Trong gần hai thập kỉ, các đặc tính lý thuyết của graphene khiến người ta xem nó như một vật liệu “trời cho” đối với màng ngăn của loa” – anh nói.   Pinkas cho biết công ty của anh đang làm việc với các thương hiệu lớn về máy tính xách tay và điện thoại thông minh để tạo ra loa nhỏ hơn nhưng với âm lượng lớn hơn cho thiết bị của họ, với một số thiết kế dự kiến ​​ra mắt vào năm 2022. Tuy nhiên, do các thỏa thuận không tiết lộ, Pinkas không nêu tên bất kỳ công ty nào.  Và lên đường  Sức mạnh của Graphene đang khuấy động sự quan tâm trong ngành xây dựng. Ngành công nghiệp này vốn luôn bị mang tiếng xấu về khí thải; 8% lượng khí thải CO2 trên thế giới đến từ sản xuất bê tông. Việc bổ sung graphene vào hỗn hợp có thể giúp cắt giảm lượng khí thải đó, vì nó sẽ giúp bê tông cứng hơn, đồng nghĩa với việc có thể sử dụng ít bê tông hơn. Hơn nữa, khả năng dẫn nhiệt nhanh chóng và hiệu quả của graphene (một đặc tính dẫn đến việc sử dụng nó trong một số điện thoại thông minh Huawei gần đây) cũng tỏ ra cực kì hữu ích.  Cây cầu thay thế cho chiếc cầu cao tốc bị sập trong vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra vài năm trước tại Genoa, Ý được xây bằng nhựa đường có chứa bột graphene do Directa Plus, một công ty khởi nghiệp của Ý sản xuất. Điều này giúp phân phối nhiệt qua mặt đường, do đó, kể cả khi nhiệt độ xuống mức đóng băng, những điểm lạnh hơn trên đường ít có khả năng nứt vỡ tạo hàng loạt ổ gà trên mặt đường.    Taavi Madiberk (trái) và Oliver Ahlberg (phải), hai đồng sáng lập của Skeleton Technologies – công ty sở hữu công nghệ độc quyền tạo ra graphene cong để tạo ra các siêu tụ điện.   “Đặc tính ấn tượng nhất là chất phụ gia này là việc nó có thể tăng tuổi thọ của đường lên gấp ba:  từ sáu đến bảy năm lên 18 đến 21 năm”, Giulio Cesareo, đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Directa Plus tuyên bố. Nhưng đó không phải là cách sử dụng duy nhất cho các lớp graphene nano (nanoplatelet) của công ty.  Điều quan trọng trong phương pháp sản xuất graphene của Directa Plus là dựa trên vật lý chứ không phải hóa học – thay vì sử dụng hóa chất để phát triển chất này trên kim loại, họ sử dụng nhiệt và áp suất cực lớn để tách graphene khỏi các hạt graphite. Cesareo cho biết, điều này giúp cho việc sản xuất các loại vải làm từ graphene trở nên dễ dàng và giá thành rẻ hơn, đồng thời có thể an toàn trên da, trong quần áo và khẩu trang (cả hai loại sản phẩm có chứa graphene sản xuất bởi Directa Plus đều đã có mặt trên thị trường).  Công ty cũng đã làm việc với Lukoil đến từ Nga và OMV đến từ Áo để khử nhiễm đất và nước đã bị ô nhiễm do tràn dầu ở Romania. Vì graphene có thể chặn hầu hết các chất lỏng trong khi chỉ cho nước đi qua, bột Directa Plus đang được sử dụng trong các tấm chắn có khả năng hấp thụ dầu tràn, làm sạch khu vực và môi trường xung quanh. Khi bão hòa, người ta có thể vắt dầu từ bột này ra và sử dụng lại một cách hiệu quả. Cesareo cho biết: “Chúng tôi đã loại bỏ 400 tấn dầu thô và chúng được gửi trở lại nhà máy lọc dầu”.  Bao bì xanh hơn  Việc Graphene có thể được sử dụng như một tấm chắn vật chất linh hoạt còn tiện dụng trong thế giới bao bì – một lần nữa, khả năng bảo vệ môi trường của Graphene lại được phát huy.   Trong tháng này, một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Vương quốc Anh có tên Toraphene đã tiết lộ một dạng nhựa sinh học mà lần đầu tiên cung cấp giải pháp thay thế cho nhựa có thể hoàn toàn phân hủy sinh học và phân hủy hữu cơ, đồng thời rất khả thi về mặt thương mại. Loại vật liệu cùng tên là sự kết hợp của graphene với polyme tự nhiên từ thực vật, đang được bắt đầu sử dụng trong việc sản xuất các túi đi chợ.  Nhưng bước đột phá thực sự – sự khởi nguồn cho hành trình của Toraphene vào năm 2011 với những người đồng sáng lập bao gồm các nhà nghiên cứu tại Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy – nằm ở việc đóng gói các chất lỏng.  Giám đốc điều hành Gaute Juliussen cho biết tập đoàn hàng tiêu dùng khổng lồ Unilever đã tiếp cận Toraphene bốn năm trước, yêu cầu một bao bì tốt hơn cho các gói dầu gội dùng một lần (Unilever xác nhận rằng các công ty đã thảo luận nhiều lần với Toraphene). Các gói dầu gội hiện tại trên thị trường phải sử dụng một vài lớp nhựa để tăng cường độ bền và một lớp nhôm oxit để ngăn các chất lỏng rỉ ra. Nhưng Toraphene cho biết vật liệu của họ vừa cung cấp độ bền và độ chống thấm cần thiết, nhưng vừa ở dạng có thể dễ dàng tái chế vì nó chỉ là chất hữu cơ và carbon.  Juliussen cho biết, sau hai năm thì đàm phán hợp đồng với Unilever thất bại. Nhà đầu tư của Toraphene, Kraft Heinz – một công ty thực phẩm đa quốc gia lại có một chính sách thô bạo với Toraphene, áp dụng các chính sách cắt giảm mạnh chi phí để tăng giá trị cổ phiếu công ty này khiến cho bộ phận R&D của Toraphene chịu ảnh hưởng nặng nề. Toraphene tay trắng rời bỏ Kraft Heinz nhưng công ty này đã có một cú lật ngược tình thế ngoạn mục bằng việc gọi vốn cộng đồng vô cùng thành công để đưa giải pháp đóng gói mới của họ ra thị trường.   Juliussen nói: “Loại graphene mà chúng tôi đang xem xét sử dụng cho đóng gói hiện sẽ có giá khoảng 200USD một kg”. Đó là mức giá khá cao – IDTechEx’s Collins cho biết một số công ty đang bán graphene với giá dưới 10USD mỗi kg. Nhưng graphene của Toraphene lấy than chì tự nhiên thay vì được tổng hợp trong phòng thí nghiệm với chi phí thấp vốn cho sản phẩm kém chất lượng hơn.  Juliussen cho biết: “Bởi vì chúng tôi sử dụng rất ít (ít hơn 0,2% bao bì là graphene) nên chúng tôi có thể tạo ra những bao bì rất kinh tế. Chi phí sản xuất bao bì có thể tăng thêm 10%, nhưng chúng tôi lại tăng độ bền của bao bì lên 20%, tính ra thì giải pháp của chúng tôi vẫn lợi hơn”.  Mục tiêu tiếp theo của Toraphene là cốc cà phê bằng giấy, hiện đang sử dụng lớp lót bằng nhựa để không thấm nước khiến chúng khó tái chế. Toraphene đã nộp bằng sáng chế sử dụng vật liệu của mình làm lớp lót và hiện đang chờ để các cơ quan quản lý tiêu chuẩn thực phẩm của Hoa Kỳ và châu Âu phê duyệt.  Theo Collins, đây là lĩnh vực mà graphene thực sự có thể thành công. (IDTechEx dự đoán thị trường các loại vật liệu graphene sẽ trị giá lên đến 700 triệu USD vào năm 2031, so với mức dưới 100 triệu USD hiện nay.) Đúng là đã có nhiều sản phẩm tiêu dùng đang được bày bán đã sử dụng graphene — như tai nghe, vợt tennis, giày nhưng “thành công chỉ đến khi có hàng nghìn tấn nguyên liệu graphene được bán ra” ông nói.  Collins nói: “Thực tế là, nếu bạn nói chuyện với một hãng ô tô, họ sẽ không chi tiền cho một lớp lót chống sờn rách trong nội thất ô tô chỉ vì nó được quảng cáo là sử dụng graphene.”Điều quan trọng chính là tính kinh tế trong suốt vòng đời của sản phẩm – Liệu nó có đáng để người ta dùng sản phẩm đó được lâu hơn và phải trả ít chi phí hơn cho việc bảo hành và bảo dưỡng? Trả lời được câu hỏi này thì graphene mới có cơ hội bùng nổ trên thị trường”.   Sạc pin tới tương lai  Và cuối cùng chúng ta đến với một trong những công ty được nhắc đến nhiều nhất hiện đang hoạt động trong ngành sản xuất graphene: Skeleton Technologies.  Công ty của Estonia và Đức này hiện đang có hợp đồng với một số tên tuổi ô tô lớn nhất của châu Âu – mặc dù hiện tại còn dè dặt công khai chúng – và không phải là tạo ra vật liệu lót mà chính là việc lưu trữ năng lượng trong các cục pin làm từ graphene.  Nếu bạn xếp các lớp graphene bình thường, phẳng thì chúng sẽ nhanh chóng kết hợp với nhau và lại tạo thành than chì (graphite). Vì vậy, Skeleton đã phát triển một phương pháp độc quyền để chế tạo graphene cong, khắc phục được vấn đề này. Graphene cong này sẽ được sử dụng trong các siêu tụ điện.  Điều đó có nghĩa là pin có thể được sạc trong vài giây, trong hơn một triệu lần mà không cần các nguyên liệu khan hiếm như lithium và coban. Các siêu tụ điện này đã được sử dụng trong máy xúc, thiết bị y tế và vận tải. Ở các thành phố Mannheim, Heidelberg và Ludwigshafen của Đức, các siêu tụ điện này hút năng lượng tích tụ từ phanh để dùng cho việc tăng tốc của tàu điện.  Giám đốc điều hành Skeleton Taavi Madiberk cho biết: “Nó rẻ hơn và nhỏ hơn bất kỳ loại giải pháp pin nào. Tuy nhiên, vì những siêu tụ điện này lưu trữ ít năng lượng hơn so với pin lithium-ion truyền thống, nên có khả năng siêu tụ điện graphene sẽ cùng tồn tại và bổ sung cho các công nghệ khác.  Theo Madiberk, lợi ích lớn nhất của graphene cong là trong việc xử lý tải cao điểm khiến pin lithium-ion tiêu chuẩn quá nóng và xuống cấp theo thời gian; kết hợp cả hai loại pin này cho phép bộ pin nhỏ hơn 30% và tuổi thọ lâu gấp đôi. Ông cũng nói về tiềm năng của các siêu tụ điện đến từ Skeleton trong việc duy trì sự ổn định của lưới điện vì các loại năng lượng tái tạo trở nên chiếm ưu thế hơn.  Skeleton đã phát triển công nghệ của mình từ những ngày đầu của graphene, vào năm 2009, nhưng chỉ bắt đầu thương mại hóa các siêu tụ điện của họ mới vài năm trước. Nhờ đang nắm trong tay tổng giá trị các hợp đồng lên tới hơn 150 triệu euro (182 triệu USD), công ty này đã huy động được 41 triệu euro trong vòng đầu tư vào tháng 10 để mở rộng quy mô và chuẩn bị cho việc ra mắt “siêu pin”, mà Madiberk nhìn thấy ở đó một thị trường tiềm năng trị giá 60 tỷ euro.  Madiberk, người có nền tảng về thương mại điện tử cho biết: “Có lẽ vào năm 2009, nếu tôi biết mình phải mất nhiều thời gian đến vậy, tôi không chắc mình đã thành lập công ty. Đối với graphene và việc đưa nó ra thị trường, thật sự cần rất nhiều kiên nhẫn, kiên nhẫn, và kiên nhẫn”.□  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://fortune.com/2020/12/13/what-is-graphene-entrepreneurs-headphones-smartphones-construction-eco-friendly-thinnest-material-on-earth/    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Axel W. Bauer dự báo: Có thể “thiết kế” mọi sinh vật trong phòng thí nghiệm      Nhà đạo đức học Axel W. Bauer ở đại học Heidelberg, thành viên Hội đồng Đạo đức của Đức giai đoạn 2008 – 2012 tỏ ra lo ngại rằng đến một lúc nào đó không chỉ các gene của sinh vật đơn bào mà cả của động vật và con người sẽ bị biến đổi.    Tuần kinh tế Đức: Thưa ông, việc chế tạo DNA tổng hợp có vấn đề gì về đạo đức không?  GS. Axel W. Bauer: Theo tôi, việc sử dụng các phân tử DNA tổng hợp đơn thuần nhằm mục đích lưu trữ thông tin thì về đạo lý không có gì để phê phán. Tuy nhiên ở đây có thể nảy sinh vấn đề về độ chính xác và  sự an toàn trong lưu trữ. Còn khi cấy ghép các gene đã biến đổi vào tế bào  sống thì sẽ nổi lên vấn đề về đạo đức sinh học.  Nhưng ở đây không có câu trả lời thực sự có cơ sở và có tính  thuyết phục vì con người vốn dĩ là kẻ luôn muốn kiến tạo sự sống, muốn can thiệp vào quá trình sinh học. Và sự băn khoăn mang tính tôn giáo với con người với tư cách là Homo Creator – kẻ “sáng tạo” ra sự sống cũng không phản ảnh đúng cốt lõi của vấn đề vì sinh học tổng hợp đâu có tạo ra “sự sống” nhân tạo.  Các phân tử hoá học đã biến hoá như thế nào để trở thành một tế bào sống, điều này cho  đến nay vẫn là một sự bí ẩn. Tuy nhiên sinh học tổng hợp biến đổi sự sống. Khi những DNA đã  biến đổi dẫn đến biến đổi các vi sinh vật và các sản phẩm gene, thì tôi, một nhà đạo đức học bảo thủ cũng không thể khẳng định điều đó về cơ bản là phi đạo đức. Tất nhiên vấn đề này sẽ khác một khi những DNA đã biến đổi được đưa vào tế bào mầm phôi của con người vì người ta không biết hậu quả lâu dài của việc này với các thế hệ mai sau như thế nào. Chính vì vậy sự thay đổi nhân tạo tế bào mầm phôi của con người đã bị cấm từ năm 1991 theo điều 5 Luật bảo vệ phôi (The Embryo Protection Act) của Đức.  Hiện nay việc tổng hợp DNA chủ yếu là trên vi khuẩn, liệu chúng có được xét là động vật hoặc thực vật ở trong các quy định về tổng hợp DNA?  Đáng chú ý là việc nhân bản động vật vì mục đích sản xuất thực phẩm thì “bị từ chối” tuy nhiên nhân bản vì các mục đích khác thì không bị hạn chế…  Trong lịch sử, vi khuẩn được phát hiện trong thế kỷ 19, khi đó chúng được coi là thực vật. Sau này người ta lại xếp chúng vào thế giới động vật. Ngày nay chúng là được xếp vào Prokaryonten – tế bào không có nhân, nghĩa là chúng không thuộc diện “bị từ chối” khi xét bằng sáng chế vì liên quan đến thực vật và động vật. Thêm vào đó là vấn đề liệu người ta có thể cấp bằng sáng chế đối với các sinh vật mới hay chỉ cấp bằng sáng chế cho giải pháp tạo ra chúng. Cho đến năm 2013, sinh học tổng hợp, tức là việc đưa các DNA được biến đổi vào các sinh vật sống về cơ bản vẫn được coi là nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên cũng đã có một vài công trình phát triển sản phẩm được tiếp cận với thị trường mà ví dụ điển hình là chất hữu hiệu chống bệnh sốt rét – Artemisinin.  Nhà nghiên cứu gene nổi tiếng Craig Venter (Đại học California) cho rằng trong tương lai nhờ sinh học tổng hợp, con người sẽ tạo ra được thịt, sữa, da, lụa nhân tạo và đến một lúc nào đó nhân loại chỉ cần một phần nghìn diện tích trồng trọt hiện nay.  Đây là sự phóng đại điển hình mà người ta nên coi đó chỉ là một sự quảng cáo. Có thể người ta sẽ tạo ra được vi khuẩn, chúng có thể sinh sản một lượng lớn tế bào cơ động vật đồng nhất. Tuy nhiên thứ đó không phải là thịt thông thường, có mỡ, có mô liên kết và các mạch máu.  Liệu sản phẩm này có ngon hay không lại là chuyện khác. Riêng tôi sẽ không dám bỏ tiền của vào khoản đầu tư mạo hiểm này. Đã có lúc sinh học tổng hợp được coi là mô hình kinh doanh có tính đầu cơ cao. Đầu những năm 2000 người ta đã đề cập quá nhiều đến nghiên cứu tế bào gốc đối với phôi ở người với hy vọng sẽ điều trị được một số bệnh nan y như Parkinson, ung thư và chứng đa xơ cứng. Có thể nói mọi sự trở nên công cốc và giờ đây cũng không thấy  triển vọng điều trị bệnh của phương pháp này. Vì thế  cần phải thận trọng khi đề cập tới sinh học tổng hợp. Có thể giả định sinh học tổng hợp tạo nên nhiều điều. Tuy vậy chúng ta chớ có nghĩ có thể ngừng sản xuất thịt vì tới đây vi khuẩn sẽ tạo ra những miếng thịt rán ngon lành.  Hiện nay [nhiều nước] có sự nhất trí cao đối với việc không cho phép “thiết kế” nhân tạo yếu tố di truyền đối với con người. Liệu điều này sẽ có thể duy trì lâu dài?  Sở dĩ có sự nhất trí đối với việc cấm đoán này vì cho đến nay điều này chưa xử lý được về kỹ thuật. Lên án một cái gì đó về đạo đức luôn luôn dễ, một khi người ta chưa nắm vững được vấn đề đó. Nhưng khi mà mọi sự diễn ra trôi chảy thì tôi e rằng sự nhất trí đó không biết có còn tồn tại hay không.  Thực thể đơn bào cũng có phẩm giá hay không, hay ít ra nó có xứng đáng được bảo vệ như một sinh vật?  Immanuel Kant cho rằng phẩm giá của con người thể hiện ở chỗ con người có lý trí. Với Kito giáo, nền tảng cho phẩm giá con người là do hình ảnh thiêng liêng của Chúa trong mỗi con người. Bên cạnh cách nhìn theo quan điểm nhân chủng học còn có vấn đề về đạo đức cần chú ý vì con vật cũng biết đau đớn. Peter Singer, một nhà sinh học người Australia cho rằng phôi người không có phẩm giá vì theo ông phôi người không biết đau, tuy nhiên con khỉ thì có phẩm giá! Tôi chưa hề nghe có ai đó muốn bảo vệ vi khuẩn hay các loại vi sinh vật khác vì bản thân chúng .  Nếu có ai đó băn khoăn về vấn đề này thì có thể do họ quan ngại về nguy cơ đe doạ đối với thiên nhiên, thí dụ những sinh vật tổng hợp trong phòng thí nghiệm tràn ra bên ngoài và tạo nên những tác động mà cho đến nay chưa từng xảy ra trong quá trình tiến hoá.  Và nguy cơ này là hiện hữu?  Những nguy cơ này là có thật, nhiều và khôn lường. Người ta cần phân biệt giữa an toàn (Safety) và an ninh (Security). Safety là sự an toàn theo nghĩa: quá trình sản xuất này tạo ra đúng cái cần tạo ra. Trong khi đó vấn đề an ninh (Security-Fragen) có nghĩa hơi khác: mức độ dễ bị tổn thương của quá trình sản xuất trước sự cản trở từ bên ngoài, ví dụ hoạt động của bọn Hacker hay bọn khủng bố.  Liệu đến một lúc nào đó công nghệ  tạo ra những sinh vật đơn bào mới sẽ được cải tiến để thiết kế ra những sinh vật to lớn hơn hay không?  Tại thời điểm này thì điều đó mới chỉ là giấc mơ ở thì tương lai. Tuy nhiên người ta phải tính đến chuyện không lâu nữa điều này sẽ diễn ra. Người ta cũng không thể đơn giản cấm đoán điều này. Bản thân tôi nói chung không mấy phấn kích trước sự phát triển của công nghệ sinh học, tuy nhiên tôi luôn nhận thấy có nhiều khó khăn khi muốn dùng các quy định của pháp luật để điều tiết sự phát triển của quá trình vốn được đánh giá là có nhiều sự sáng tạo này.  Vậy phải chăng sự sợ hãi trước các sinh vật mới nguy hiểm, trước các chiến binh – nhân bản  và các kịch bản khoa học viễn tưởng tương tự là hợp lý?  Chúng ta cần đề phòng sự giảm thiểu di truyền theo khuôn mẫu: người ta thay đổi cấu trúc DNA này nọ để cuối cùng nhận được một loại sinh vật loại này hay loại khác. Cuộc sống  không diễn ra như vậy. Ngay cả sự phát triển của phôi và bào thai cũng diễn ra một cách tổng hợp hơn. Thêm vào đó là mối quan hệ tâm lý và xã hội giữa cá thể và môi trường hình thành sau khi sinh. Sau khi ra đời đứa trẻ sẽ lớn lên và phát triển theo hướng khó có thể đoán định trước.  Cách đây 60 năm người ta từng coi năng lượng hạt nhân là một giải pháp giải quyết mọi vấn đề về năng lượng. Ngày nay nhiều người lại coi điều này là một lỗi lầm của ngành vật lý. Phải chăng đến một lúc nào đó điều này cũng xảy ra trong nghiên cứu di truyền?  Các công nghệ mới thường nảy sinh các tác động phụ, có thể tích cực hay tiêu cực và người ta không thể tiên lượng được ngay từ đầu. Năm 1968, khi người ta phát triển Arpanet (Mạng lưới cơ quan với các đề án nghiên cứu tân tiến do Bộ Quốc phòng Mỹ xây dựng) vì mục đích quân sự thì không có ai đoán trước được rằng ngày nay có hàng triệu triệu người đi trên đường phố nhưng chỉ chăm chăm đọc thông tin trên internet từ chiếc điện thoại thông minh của mình. Điều tương tự cũng có thể diễn ra đối với nghiên cứu di truyền. Nó có thể đem lại những sự tốt lành hay gây ra những sự tồi tệ hoàn toàn khác so với những gì mà chúng ta hiện nay đang thảo luận.  Xin cảm ơn giáo sư!  Hoài Trang lược dịch  Theo Tuần kinh tế Đức  https://www.wiwo.de/technologie/forschung/ethiker-axel-w-bauer-das-designen-von-tieren-und-menschen-wird-kommen/21012570.html    Author                Hoài Trang        
__label__tiasang GS P.Darriulat nói chuyện với sinh viên về Marie Curie      Chiều 7/3, tại trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, GS Pierre Darriulat (Phòng thí nghiệm VATLY nghiên cứu về tia vũ trụ, Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã có buổi nói chuyện với hơn 100 sinh viên về Marie Curie, nhà nữ khoa học đầu tiên và duy nhất cho đến nay giành giải Nobel ở cả hai lĩnh vực Vật lý và Hóa học.    PGS.TS Vũ Hoàng Linh, Hiệu phó ĐH Khoa học tự nhiên, tham dự và phát biểu tại sự kiện.  Cuộc đời Marie Curie (1867 – 1934) không thiếu những vinh quang chói lọi nhưng buổi nói chuyện của GS Pierre Darriulat không nhằm tô đậm những vinh quang này, mà quan tâm nhiều hơn đến con đường đã đưa Marie Curie vượt qua cái nghèo, những định kiến về giới, và những hẹp hòi, thiển cận trong cách ứng xử với người nhập cư, để theo đuổi những giá trị khoa học mà bà tin rằng không chỉ phụng sự cho đất nước đã cưu mang bà mà rộng hơn, phụng sự cho nhân loại.  Bài nói chuyện cũng đề cập những mất mát cả về thể chất lẫn tinh thần do công việc và do những biến cố mất người thân trong cuộc đời nhà khoa học, đến mức đã có thời điểm bà bị trầm cảm nghiêm trọng và phải nhập viện, hay việc bà đã bị tổn thương và phiền muộn như thế nào bởi sự thô bạo của báo chí.  Kết thúc bài nói chuyện, GS Darriulat đã trả lời một số câu hỏi của sinh viên, chủ yếu về ý nghĩa và giá trị của khoa học. Trước băn khoăn của một bạn trẻ về việc liệu có nên nghiên cứu những vấn đề có nguy cơ bị sử dụng vào những mục đích không tốt đẹp, GS Darriulat nhấn mạnh, tiến bộ chỉ đến từ việc khám phá, chứ không phải từ việc ngăn cản khám phá.  Buổi nói chuyện là một hoạt động thuộc chuỗi sự kiện nhằm phổ biến kiến thức khoa học và nghệ thuật ra công chúng do tạp chí Tia Sáng tổ chức thường kỳ, với sự tài trợ của Quỹ Văn hóa Trung Nguyên.  * Một số trích dẫn mang tính tự bạch cho biết những chi tiết thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie được GS Darriulat trình bày tại buổi nói chuyện:  “Vấn đề khá nghiêm trọng ở đây là làm thế nào tôi có thể chăm sóc Irene và tổ ấm của chúng tôi mà không phải từ bỏ công việc nghiên cứu khoa học. Việc từ bỏ nghiên cứu với tôi chắc sẽ là điều vô cùng đau đớn, và chồng của tôi thậm chí còn chẳng nghĩ đến việc đó… Vì vậy, sự đồng tâm của gia đình chúng tôi đã giúp tôi có thể hoàn thành nghĩa vụ của mình.”  “Trường Lý Hóa PC có thể không cung cấp chúng tôi cơ ngơi thích hợp nhưng vì không còn chỗ nào tốt hơn nên chúng tôi đã sử dụng một nhà xưởng bị bỏ hoang, một phòng trước đây là phòng giải phẫu của Khoa Y-Dược. Mái nhà thủy tinh của căn phòng không thể giúp tránh mưa hoàn hảo, vào mùa hè thì căn phòng nóng ngột ngạt, và cái lạnh thấu xương của mùa đông chỉ giảm đi được chút ít nhờ có lò sưởi bằng gang. Chưa từng có thắc mắc gì về việc nhận những dụng cụ riêng cần thiết đã được các nhà hóa học sử dụng chung. Chúng tôi chỉ đơn thuần có một số bàn gỗ thông cũ cùng với lò nung và mỏ hàn xì. Chúng tôi phải sử dụng sân kế bên để tiến hành các cuộc thí nghiệm hóa học sản sinh ra loại khí gây rát da. Nhưng chính trong nhà xưởng cũ tồi tàn này, chúng tôi đã trải qua những năm hạnh phúc nhất trong cuộc đời mình, được cống hiến cả ngày cho công việc. Thường thì tôi phải chuẩn bị bữa trưa ngay trong nhà xưởng để không làm gián đoạn một số thí nghiệm quan trọng nhất định. Đôi khi tôi phải dành cả ngày để trộn một lớp quặng đang sôi với một sợi dây thép nặng, dài gần bằng tôi. Khi đó tôi sẽ mệt lả đi vào cuối ngày.  “Trái lại, trong những ngày khác, công việc chỉ là sự kết tinh phân đoạn khéo léo nhất, nhằm cô đặc radium. Khi đó, điều làm tôi thấy khó chịu chính là bụi sắt và than đá bay tứ tung khiến tôi không thể bảo vệ sản phẩm quý giá của mình. Tuy nhiên, niềm vui rất lớn ở đây là được làm nghiên cứu khoa học trong bầu không khí im vắng và sự phấn khích khi có được bước tiến thực sự cùng với niềm tin sẽ đạt được kết quả tốt hơn. Cảm giác chán nản xuất hiện sau một vài lần thất bại cũng không kéo dài lâu, nhường chỗ cho các hoạt động đổi mới. Chúng tôi có những khoảnh khắc hạnh phúc khi được dành hết thời gian vào cuộc thảo luận về công việc trong không gian yên tĩnh, được đi vòng quanh nhà xưởng. Một trong những niềm vui của chúng tôi là đến phòng làm việc vào ban đêm. Khi ấy chúng tôi được chiêm ngưỡng mặt phản chiếu dạ quang của những chai lọ hay những nồi nhỏ có chứa sản phẩm của chúng tôi. Những ống phát sáng trông như thể ánh sáng mờ mờ huyền ảo.”  “Tôi là một trong những người tin rằng nhân loại sẽ nhận được nhiều lợi hơn hại từ những khám phá mới.”  “Năm 1903, tôi hoàn thành luận văn Tiến sỹ của mình và lấy được bằng Tiến sỹ. Đến cuối năm, giải thưởng Nobel đã được đồng trao cho Becquerel, chồng tôi và tôi vì đã khám phá ra phóng xạ và những nguyên tố phóng xạ mới. Sự kiện này đã làm tăng sự phổ biến công trình nghiên cứu của chúng tôi. Cũng có lúc sự yên bình chẳng còn nữa. Khách đến thăm và những yêu cầu thuyết giảng cũng như giới báo chí đã làm gián đoạn công việc mỗi ngày… Chúng tôi đã mệt mỏi vì những nỗ lực quá sức mình và phải chấp nhận tình trạng công việc không được như ý muốn, nay lại càng tăng thêm mệt mỏi vì sự xâm phạm của công chúng.[…] Vấn đề này khá nghiêm trọng đối với trật tự cuộc sống của chúng tôi vì chúng tôi cần thoát khỏi những điều phiền phức bên ngoài để duy trì cuộc sống gia đình cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học của chúng tôi.”  “Bị dồn ép vào nỗi bất hạnh này, tôi đã không thể đối mặt với tương lai. Nhưng tôi không thể quên điều chồng tôi đã từng nói với tôi, rằng kể cả khi mất đi ông ấy, tôi vẫn phải tiếp tục công việc nghiên cứu của mình.” (Trích dẫn này liên quan đến sự kiện Pierre Curie qua đời năm 1906, trong lúc đang vội băng qua đường và bị một cỗ xe ngựa nặng sáu tấn đâm phải)  “Tôi đã kiên quyết dành hết sức lực của mình để phục vụ cho đất nước đang cưu mang tôi vì tôi không thể làm gì cho quê cha đất tổ không may mắn của mình ngay lúc này…” (Lá thứ Marie Curie viết cho Paul Langevin vào tháng 01/ 1915).  * Một số hình ảnh về buổi nói chuyện của GS Darriulat (tác giả: Thu Quỳnh và Hảo Linh)    Buổi nói chuyện của GS Darriulat có tiêu đề “Marie Curie: Nhà khoa học, nhà nhân văn, một tấm gương cho tất cả chúng ta”    Một sinh viên Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đặt cho GS Darriulat khá nhiều câu hỏi trực tiếp bằng tiếng Anh về mục đích và giá trị của khoa học.     PGS.TS Vũ Hoàng Linh, Hiệu phó ĐH Khoa học tự nhiên, chia sẻ câu chuyện về nhà khoa học vật lý Ngụy Như Kon Tum, Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay: Sau khi tốt nghiệp Đại học Sorbonne, Paris, ông được nhận làm nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm của Frédéric Joliot-Curie, nhà vật lý hạt nhân nổi tiếng của Pháp, con rể của Marie Curie; năm 1939, nghe theo lời khuyên của Joliot-Curie, ông đã quyết định trở về nước dạy học.    Một số sinh viên vẫn nán lại để trao đổi thêm với diễn giả sau khi tất cả đã cùng nhau chụp ảnh lưu niệm (ảnh dưới).               Author                T.T        
__label__tiasang Guillaume Cabanac: Điều tra các bài báo khoa học giả mạo      Nhà khoa học máy tính này đã khám phá ra một loại bài báo khoa học giả mạo mới.    “Nhà nước kiến bò ngầm”. “Bệnh ác tính Bosom”. “Lực hướng đông Mặt trời”. Những cụm từ này nghe có vẻ giống như mô tả trong một tác phẩm hư cấu, nhưng thực chất lại là những cách diễn đạt kì lạ về các thuật ngữ khoa học như đàn kiến, ung thư vú và năng lượng mặt trời. Guillaume Cabanac, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Toulouse (Pháp) đã phát hiện ra những cụm từ kỳ lạ như vậy hàng ngày trong các bài báo học thuật.     Guillaume Cabanac. Nguồn: Nature  Năm nay, Cabanac và các đồng nghiệp đã tìm thấy “những cụm từ biến dạng” – theo cách gọi của họ, trong hàng nghìn bài báo. Một vài bài báo đã bị rút lại, trong khi các nhà xuất bản vẫn đang xem xét nhiều bài báo khác. Cabanac đã lập một trang web để theo dõi vấn đề đang mọc lên như nấm này. “Họ đã phát hiện ra toàn bộ đống lằng nhằng này trong các bài báo có vẻ giả mạo”, Elisabeth Bik, một nhà phân tích về liêm chính trong nghiên cứu ở California cho biết.  Việc loại bỏ những vấn đề này liên quan đến công việc hàng ngày của Cabanac: phân tích các tài liệu học thuật. Hiện anh dành khoảng 2 giờ mỗi ngày để tìm các cụm từ biến dạng. Một số người có thể thấy chúng buồn cười nhưng Cabanac nhìn nhận vấn đề rất nghiêm túc. “Điều này không nên xảy ra”, anh nói.  Cuộc săn lùng những bài báo vô nghĩa của Cabanac bắt đầu từ năm 2015, khi anh cộng tác với Cyril Labbé, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Grenoble Alpes (Pháp). Labbé đã phát triển một chương trình để phát hiện các bài báo khoa học máy tính vô nghĩa được tạo tự động bằng SCIgen – một phần mềm ban đầu được tạo ra như một trò đùa. Điều này đã giúp các tạp chí rút lại hơn 120 bản thảo.   Cabanac đã hỗ trợ Labbé cập nhật chương trình này để tìm các bài báo có một phần do SCIgen viết nên, và dùng công cụ chuyên tra cứu tài liệu học thuật Dimensions để xác định vị trí của chúng.  Năm 2021, họ tìm thấy hàng trăm bài báo chứa các từ vô nghĩa được xuất bản trên các tạp chí và kỷ yếu hội nghị dưới dạng bản thảo (preprint).  Để nâng cao nhận thức, Cabanac và các đồng nghiệp đã gửi email cho các nhà xuất bản và đăng những phát hiện của mình trên các phương tiện truyền thông xã hội và trang web bình duyệt sau xuất bản PubPeer. Cabanac cũng xây dựng một trang web Problematic Paper Screener để gắn cờ và báo cáo các bản thảo có vấn đề. “Anh ấy rất bực mình về những bài báo giả. Anh ấy sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần thiết để ngăn chặn việc này””, Labbé cho biết.  Những “sản phẩm” của SCIgen đã khiến Alexander Magazinov, một kỹ sư phần mềm tại công ty công nghệ đa quốc gia Yandex có trụ sở tại Moscow, liên hệ với Labbé và Cabanac. Magazinov nghi ngờ rằng SCIgen có thể đứng sau các văn bản kỳ lạ giải thích những khái niệm khoa học mà anh đã đọc trong các bài báo, chẳng hạn như “thông tin khổng lồ” (colossal information) cho “dữ liệu lớn” (big data). Cả ba đã cùng nhau xác định nhiều thuật ngữ trong hàng trăm bài báo mà họ đã báo cáo vào tháng 7/2021. Khi tìm hiểu sâu hơn, họ cho rằng các công cụ diễn giải bằng máy đã tạo ra các từ này.   Người ta vẫn chưa biết rõ động cơ của những kẻ đứng sau. Nếu mục đích là “đánh bóng” tên tuổi thông qua những bài báo đăng trên các tạp chí uy tín, tại sao rất nhiều bài báo có tiêu đề vô nghĩa? Cabanac cho rằng động cơ có thể xuất phát từ các yêu cầu về chỉ tiêu bài báo, khiến một số nhà nghiên cứu liên tục sản xuất bài báo để duy trì công việc của mình. Mặc dù tạo ra các bài báo vô nghĩa song điều này có thể giúp họ “có thêm những công bố trong sơ yếu lí lịch và ‘thẻ xanh’ để ở lại viện nghiên cứu”.   “Tôi nghĩ những cụm từ biến dạng này cho thấy sự thất bại của khâu bình duyệt”, Jennifer Byrne, một nhà nghiên cứu ung thư ở ĐH Sydney (Úc), người đã làm việc với Cabanac trong các dự án về liêm chính khoa học khác nói. “Chắc chắn ai đó tỉnh táo trong quá trình bình duyệt sẽ thấy rằng những cụm từ đó không đúng”.  Đến nay, Cabanac và các cộng sự cùng với các tình nguyện viên từ cộng đồng PubPeer đã xác định chính xác gần 400 cụm từ biến dạng trong hơn 2000 bài báo, bao gồm những bài báo trên các tạp chí thuộc các nhà xuất bản nổi tiếng như Elsevier và Springer Nature. (nhóm tin tức của Nature và nhà xuất bản độc ​​lập về mặt biên tập). Đầu tiên, một người sẽ phát hiện ra một cụm từ. Sau đó một thuật toán tìm kiếm sẽ chạy trên bản chỉ mục của công cụ tìm kiếm Dimension để tìm các bài báo chứa cụm từ đó. Cabanac và những người khác sẽ quét thủ công từng bài báo để loại bỏ các từ giả mạo. Trong tương lai, Cabanac muốn phát triển một chương trình có thể tự động xác định các cụm từ biến dạng.   Cabanac hy vọng rằng công việc của mình sẽ góp phần mang lại sự trong sạch cho các tài liệu khoa học. Nhưng anh biết điều này không dễ dàng. “Tôi lo rằng những kỹ thuật mới có thể giúp những kẻ lừa đảo xuất bản các bài báo có chứa các lỗi khó phát hiện hơn. Đó là một trò chơi vòng lặp, cho nên chúng ta cần phải chuẩn bị”, anh nói.   Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-021-03621-0/index.html  https://www.biospace.com/article/impostors-crime-in-the-time-of-covid-19-targets-life-science-industry/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Guillem Anglada-Escudé – Thợ săn hành tinh      Guillem Anglada-Escudé là nhà thiên văn học đã phát hiện ra hành tinh được biết đến là gần nhất nằm ngoài Hệ Mặt trời.      Đầu năm nay, Guillem Anglada-Escudé không hề bất ngờ khi dấu hiệu của một thế giới xa lạ xuất hiện trên màn hình máy tính của ông. Ông đã hầu như chắc chắn rằng một hành tinh có kích cỡ bằng Trái đất quay quanh Proxima Centauri, một tinh cầu gần Mặt trời nhất, khoảng 4,2 năm ánh sáng.  Với Anglada, một nhà thiên văn học tại Đại học Queen Mary, London, phát hiện này như một sự hỗ trợ hơn là một bất ngờ. Ông và các đồng nghiệp đã cấp tốc làm việc để tuyên bố khẳng định phát hiện của họ trong thế giới săn lùng hành tinh đầy tính cạnh tranh, và việc tìm ra Proxima đã khẳng định rằng họ đang đi đúng đường. “Chúng tôi đã làm được điều đó”, ông nói.  Với phần còn lại của thế giới, thì phát hiện ra hành tinh ngoài Hệ Mặt trời được biết đến là gần với Trái đất nhất đã thổi bùng trí tưởng tượng của công chúng. Nó đã đặt ra câu hỏi về liệu có thể có sự sống tồn tại ở thế giới bên cạnh vũ trụ của chúng ta, và liệu các nhà thiên văn học có thể phát hiện ra nó.  Đây là những loại câu hỏi mà ngay từ đầu đã khiến Anglada tiến vào lĩnh vực săn hành tinh. Là một người hâm mộ khoa học viễn tưởng lớn lên gần Barcelona, Tây Ban Nha ông đã có khởi đầu về thiên văn học với công việc mô phỏng dữ liệu cho Gaia, một sứ mệnh của Cơ quan Vũ  trụ châu Âu nhằm lập bản đồ 1 tỉ ngôi sao. Sau đó, ông đã chuyển hướng những kĩ năng “nghiền dữ liệu” của mình sang các hành tinh ngoài Hệ Mặt trời. Ông đã phát triển một phương pháp dành cho việc phân tách những tín hiệu không được rõ ràng từ các hành tinh thông qua dữ liệu được tập hợp lại từ thiết bị săn tìm hành tinh hàng đầu trên thế giới đặt trên mặt đất, Thiết bị Tìm kiếm Hành tinh Vận tốc Xuyên tâm Chính xác cao (HARPS) tại Đài Quan sát Nam Âu ở La Silla, Chile.  “Guillem có một tài năng thiên bẩm trong việc nhìn thấy được bức tranh vũ trụ khổng lồ, nơi mà những người khác chỉ nhìn được những tiểu tiết”, Mikko Tuomi, một nhà thiên văn học tại Đại học Hertfordshire tại Hatfield, Anh, đồng thời cũng là người cộng tác với Anglada, nói.  Nhưng Anglada đã sớm tiến tới một dấu mốc kịch tính mang tính học thuật cao, cạnh tranh với những nhà nghiên cứu khác, những người xứng đáng được vinh danh vì khám phá ra hành tinh lớn hơn Trái đất và nhỏ hơn Hải vương tinh quay quanh Gliese 667C. “Tôi có thể bỏ lĩnh vực này và làm một công việc khác. Nhưng tôi đã quyết định theo đuổi nó một cách rất quyết liệt”, ông nói.  Ông đã “ngụp lặn” trong đống dữ liệu của HARPS, công bố nghiên cứu sau khi tài liệu về những dấu hiệu của hành tinh ông đã khám phá được trong những tạp âm trong dữ liệu. Và sau đó, như thể để đẩy lùi tính bí mật và sự cạnh tranh, Anglada đã khởi xướng một cuộc tìm kiếm công khai hành tinh quay quanh Proxima.  Ông đã tập hợp một đội và có thời gian quan sát trên HARPS, cũng như những kính viễn vọng khác có thể kiểm tra tỉ mỉ xem liệu có bằng chứng hứa hẹn nào mà họ tìm thấy là do hoạt động của các ngôi sao gây ra, thứ có thể giống dấu hiệu của các hành tinh (một vấn đề gây trở ngại cho nhiều tuyên bố về các hành tinh ngoài Hệ Mặt trời). Các nhà nghiên cứu đã đưa gần như tất cả những chi tiết của họ lên một trang web tiếp cận cộng đồng và những tài khoản truyền thông xã hội. Việc quá minh bạch mọi thứ “dường như không hề gây nguy hại. Chúng tôi cảm thấy sẽ không có ai làm điều đó”.  Chỉ trong vài ngày, họ đã khẳng định rằng có hành tinh này ở đó; trong vài tuần, họ đã đệ trình một bản thảo chi tiết về khám phá của họ. Hành tinh này, được gọi là Proxima b, có khối lượng ít nhất là gấp 1,3 lần Trái đất và quay quanh Proxima theo chu trình 11,2 ngày.  Mặc dù nó gần với ngôi sao của nó, nhưng hành tinh  này nằm trong “vùng có thể có sự sống”, nơi nước lỏng có thể tồn tại trên bề mặt. Điều đó khiến nó không chỉ được biết đến là hành tinh ngoài hệ Mặt trời gần nhất trong số hơn 3.500 hành tinh cho đến nay, mà còn là nơi sự sống của thế giới khác có thể phát triển – một phần thưởng gấp đôi cho các nhà nghiên cứu và những người hâm mộ khoa học viễn tưởng.  Ngay trước khi tài liệu được công bố trên Nature vào tháng Tám, Anglada đã gửi thư cho cây viết chuyên về khoa học viễn tưởng, Stephen Baxter, tác giả của cuốn tiểu thuyết Proxima (Gollancz, 2013). Họ trao đổi về khả năng sự sống trên một thế giới với một bán cầu phải vĩnh viễn đối mặt với một hành tinh sáng chói, như diễn ra tại Proxima.  Mọi người cuối cùng cũng có thể có cái nhìn cận cảnh với Proxima b. Sáng kiến Đột phá Starshot nhằm đưa những đội tàu vũ trụ nhỏ được phóng lên bằng tia laser đến một hành tinh bên cạnh, và nó có thể tiến đến Proxima khi ở khoảng cách gần nhất và điều kiện thuận lợi nhất.  Bước tiếp theo của Anglada là xem xét liệu việc Proxima b đi qua hay đi ngang bề mặt ngôi sao của nó như được thấy từ Trái đất. Những cơ hội này là thấp, nhưng nếu đúng là như vậy, thì sau đó có thể thu nhận được rất nhiều thông tin khoa học khi ánh sáng của Proxima đi xuyên qua bầu khí quyển của hành tinh này, nếu có.  Và nếu việc đó không xảy ra thì sao? Thì Anglada có thể dừng công việc và tìm kiếm những dấu hiệu khác của hành tinh khác.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157       Author                Quản trị        
__label__tiasang Guus Velders: Nhà nghiên cứu ôn hòa      Nhân vật thứ tư trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là Guus Velders, nhà hóa học khí quyển góp phần thiết lập nền tảng cho thỏa thuận về khí hậu quốc tế.      Nhà hóa học khí quyển Guus Velders. Nguồn: nrc.nl  Việc các nhà hóa học khí quyển tham gia hỗ trợ cứu lấy thế giới không thường xuyên xảy ra nhưng Guus Velders đã có cơ hội này vào tháng 10/2016 khi tham gia các đàm phán quốc tế ở Kigali, Rwanda để cùng tìm cách loại bỏ dần dần việc sản xuất và tiêu thụ hydrofluorocarbons (HFCs), hợp chất thường được dùng trong điều hòa nhiệt độ có khả năng gây ra khí nhà kính.  Phần lớn các quốc gia đều nhất trí lịch trình cắt giảm các hợp chất này nhưng Ấn Độ và một vài quốc gia khác lại muốn gia hạn thêm bốn năm nữa. Sau khi đưa ra các con số trên mô hình phân tích, Velders đã cảnh báo với các nhà đàm phán rằng sự nhượng bộ đặc biệt này có thể dẫn đến hậu quả là tác động của việc cắt giảm HFCs chỉ còn ở mức rất nhỏ.  Nỗ lực của Velders tại hội nghị cũng như những công việc trước đó của ông đã góp phần thúc đẩy việc ký kết một hiệp ước toàn cầu thành công vào ngày 15/10/2016. Velders, một nhà nghiên cứu có những phát ngôn ôn hòa tại Viện nghiên cứu y tế công cộng và môi trường quốc gia ở Bilthoven, Hà Lan, đã được đánh giá cao về sự đóng góp của mình vào hiệp ước này. Ông nói: “Trước đây tôi chưa bao giờ tham gia vào một quá trình vận động dẫn đến một thỏa thuận toàn cầu về khí hậu”.  Tuy nhiên thành quả này không phải là điều ngẫu nhiên. Đồng nghiệp nói rằng Velders là chuyên gia hàng đầu thế giới về khí thải HFC và không ai có thể cung cấp những phân tích nhanh chóng và chính xác như thế ở Kigali. Ông là một trong những nhà khoa học đóng góp nhiều công sức vào việc làm mới/nâng cấp Nghị định thư Montreal 1987 – một thỏa thuận quốc tế để bảo vệ tầng ozone – bằng một công cụ có thể giúp chống lại sự ấm lên toàn cầu.  Những chất làm lạnh bị cắt giảm trong phạm vi của thỏa thuận quốc tế này cũng là những khí nhà kính và nhóm của Velders đã chứng tỏ, Nghị định thư Montreal vượt trội hơn Nghị định thư Kyoto 1997 về khả năng kiểm soát nhiệt độ toàn cầu. Gần đây, nhóm nghiên cứu đã tiên đoán về việc HFC là nguyên nhân dẫn đến nhiệt độ thế kỷ 21 tăng lên như thế nào, qua đó giúp chuẩn bị cho thỏa thuận về HFC, yếu tố được coi là cải thiện so với Nghị định thư Montreal.  Durwood Zaelke, chủ tịch Viện nghiên cứu Quản trị và phát triển bền vững, một nhóm vận động về chính sách tại Washington DC đánh giá: “Nhóm nghiên cứu của Velders luôn giải đáp những câu hỏi đúng vào đúng thời điểm. Chúng tôi không thể đạt được thỏa thuận này nếu không có họ”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạ giải hay không?: Bài học từ trùng tu đình Trần Đăng      Lời tòa soạn: Trong thời gian vừa qua, việc trùng tu một số di sản đã nhận được sự quan tâm rất lớn của không chỉ các nhà chuyên môn, nhà quản lý, mà còn thu hút cả dư luận xã hội. Việc khảo sát và ra quyết định hạ giải hay không, trong nhiều trường hợp là không hề đơn giản, bởi nó cần tới sự cân nhắc kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật, sự am hiểu văn hóa và đồng thuận của chủ thể di sản. Câu chuyện trùng tu di sản đình Trần Đăng của KTS Lý Trực Dũng với một quá trình cân nhắc tới từng milimet của di sản, cung cấp một bài học kinh nghiệm hữu ích điển hình cho công tác bảo tồn di sản các công trình khác hiện nay.      Đình Trần Đăng.  Cuối tháng 11/2008 ông Rolf P.G.Schulze, Đại sứ Đức ở Việt Nam gọi điện thoại cho tôi và hỏi liệu tôi có thể nhận trùng tu một ngôi đình không? Ông nói nếu tôi không nhận thì Bộ Ngoại giao Đức sẽ hủy dự án này. Tôi trả lời ông là người Đức mà còn quan tâm đến việc bảo vệ di sản kiến trúc văn hóa Việt Nam đến vậy thì tôi là một kiến trúc sư Việt Nam sao lại có thể từ chối, tôi đồng ý. Đó chính là dự án trùng tu đình Trần Đăng ở xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, Hà Tây năm 2009, cách đây đúng 10 năm. Địa phương này hiện đã thuộc về Hà Nội.      Nếu phải hạ giải thì toàn bộ đầu đao với linh vật bằng gốm đen và gạch nóc hoa chanh cũng bằng gốm có niên đại khoảng 300 năm tuyệt đẹp vô cùng quý giá này sẽ bị phá hủy và giá trị lịch sử và văn hóa của đình Trần Đăng sẽ giảm sút, xuống cấp. Đây là một bài toán vô cùng nan giải trong công tác trùng tu các công trình nằm trong diện di tích văn hóa Quốc gia: Hạ giải hay không hạ giải?      Tính đến năm 2008 tôi đã có khoảng ba mươi năm kinh nghiệm thiết kế và thi công sửa chữa, cải tạo, duy tu khá nhiều biệt thự Pháp cổ cho các sứ quán, các tổ chức quốc tế vv… ở Hà Nội và ở cả Phnom Penh nhưng trùng tu một ngôi đình kết cấu gỗ lớn như đình Trần Đăng, một di tích văn hóa quốc gia đã được xếp hạng thì chưa hề. May mắn tôi nhận được tư vấn và trợ giúp vô cùng quý báu của KTS Nguyễn Hùng Sơn, Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế kiến trúc xây dựng ST&C, một chuyên gia đáng nể trong lĩnh vực bảo tồn di tích văn hóa. Khi đi khảo sát ngôi đình này, tôi quá ấn tượng bởi quần thể kiến trúc văn hóa quá độc đáo mà theo tôi ở Việt Nam không đâu có, bao gồm gần chục ao nước lớn dọc theo đường vào làng được lát gạch cổ. Tương truyền, cùng với chùa Trần Đăng, đình Trần Đăng được xây dựng từ đời Trần, thờ tướng quân Cao Lỗ, có 19 sắc phong. Đình có kiến trúc chữ Công, có 7 gian, rộng 273m2 trong đó đại bái rộng 173m2, được xây trên một khu đất hình con rùa, xung quanh là ao nước, cây cầu tượng trưng cho cổ và đầu của con rùa trong truyền thuyết thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Cách cầu khoảng 30m là một giếng làng, tháp chuông, chùa Trần Đăng và cổng làng. Dân gian, thần thoại, lịch sử và nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật gốm sứ, điêu khắc gỗ dân gian đều được thể hiện sống động ở quần thể kiến trúc tuyệt vời này.  Hư hại nghiêm trọng ở phần kết cấu gỗ chịu lực  Do ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt hàng trăm năm qua, do những biến động xã hội dữ dội như chiến tranh, rồi cải cách ruộng đất khi mà đình, chùa là đối tượng được coi là tàn dư của phong kiến từng bị phá bỏ, do không có đủ kinh phí để duy tu bảo dưỡng và chỉ có thể sửa chữa một cách chắp vá để khỏi bị sụp đổ, nên mái ngói, tường gạch, bẩy, lan can gỗ, cửa đều bị xuống cấp hoặc hỏng.     Điêu khắc gỗ rất sống động bên trong đình.    Đầu đao bằng gốm đen.  Riêng phần kết cấu gỗ chịu lực của đình Trần Đăng trong đó có một số cột cái, câu đầu, xà thượng, xà nách bị hư hại nghiêm trọng. Không ít cột cái bị tiêu tâm, nhiều xà thượng, xà nách, bẩy và cả kèo xó cũng bị mục do mối mọt xâm hại. Thậm chí người ta đã phải xây một vòm cuốn bằng gạch để đỡ một câu đầu đã bị mục ở đầu hồi và phải dùng rất nhiều ống tuýp sắt để chống các kết cấu gỗ sắp bị sụp ở đầu hồi này.  Thay mới các kết cấu gỗ chịu lực quan trọng nhất   Công việc trùng tu đình Trần Đăng được Bộ Ngoại giao Đức tài trợ nên được quản lý chặt chẽ bởi sứ quán Đức và các chuyên gia bảo tồn Đức và được tiến hành rất bài bản từ việc gặp gỡ trao đổi với người dân tìm sự đồng tình ủng hộ của họ rồi bắt đầu từ công tác chống mối, chống thấm và sửa chữa từng mảng tường cũ, phục dựng lại các hoa văn, phù điêu, hệ thống lan can gỗ, tu bổ lại hệ thống bẩy hiên, thay và đóng mới của bức bàn, tu bổ và thay một số cột gỗ lim bị hư hại.   Là những người trực tiếp thi công trùng tu ngôi đình này, với trăn trở trùng tu cần hạn chế càng nhiều càng tốt sự can thiệp vào di tích, chỉ can thiệp khi cần thiết nhưng cố gắng không làm giảm, thay đổi những đặc điểm cơ bản và những giá trị vốn có của di tích, ưu tiên bảo quản, gia cường sau đó mới đến tu bổ phục hồi và tôn tạo, chúng tôi cố gắng chỉ loại bỏ, thay thế từng chi tiết buộc phải thay. Vấn đề nan giải nhất ở ngôi đình này là một câu đầu ở ngay hồi phía Tây đã bị mục và dân làng đã phải xây một vòm cuốn để chống đỡ và phải thay nó bằng cách nào?  Trong công tác trùng tu đình hay chùa ở Việt Nam, thay một hay hai cột cột cái, cột quân hay xà thượng… thì cũng bình thường, nhưng thay một câu đầu dài hơn 4 m nặng gần 1 tấn ở ngay đầu hồi mà không cần hạ giải thì quả thật chúng tôi chưa nghe nói tới. Rất nhiều người có kiến thức và kinh nghiệm trùng tu chùa hoặc đình ở Trần Đăng hay địa phương lân cận cho rằng, với hư hại nghiêm trọng phần kết cấu chịu lực ngay đầu hồi như đình Trần Đăng này, bắt buộc phải hạ giải ít nhất một nửa mái Đình phía câu đầu và kèo xó và cột cái đã bị mục mới có thể thay thế câu đầu và kèo xó cũng như cái cột cái đã bị mục nói trên. Nhưng nếu phải hạ giải thì toàn bộ đầu đao với linh vật bằng gốm đen và gạch nóc hoa chanh cũng bằng gốm có niên đại khoảng 300 năm tuyệt đẹp vô cùng quý giá này sẽ bị phá hủy và giá trị lịch sử và văn hóa của đình Trần Đăng sẽ giảm sút, xuống cấp. Đây là một bài toán vô cùng nan giải trong công tác trùng tu các công trình nằm trong diện di tích văn hóa quốc gia: Hạ giải hay không hạ giải?       Bẩy, cửa được phục dựng.  Ngay tai hiện trường, chúng tôi họp các kỹ sư xây dựng và những người chuyên thi công các công trình gỗ tìm giải pháp tối ưu để làm sao thay mới được câu đầu, gia cường được cột cái và kèo xó bị mục này. Rồi những người thợ mộc lành nghề của chúng tôi lên tiếng “nếu các bác kỹ sư có biện pháp chống được gần một nửa mái đình nặng khoảng 15-18 tấn này an toàn thì thợ mộc chúng em sẽ đảm bảo thay được câu đầu, cột cái, kèo xó… mà không cần hạ giải”. Lập tức kỹ sư và thợ sắt của chúng tôi đã  thiết kế và thi công tại chỗ một giàn giáo đặc biệt chống đỡ gần một nửa mái đình và cánh thợ mộc bắt tay vào việc. Đặc trưng của kết cấu gỗ đình chùa là liên kết bằng mộng và lắp dựng từ dưới lên trên, bắt đầu từ cột cái, cột quân, xà thượng, xà nách, câu đầu, rường, thượng lương, hoành, rui mè. Nhưng trong trường hợp này những người thợ của chúng tôi buộc phải làm ngược lại, thi công từ trên xuống dưới. Hôm thay câu đầu, trước hết là chúng tôi dỡ vòm gạch xây đỡ câu đầu, rồi tháo và hạ câu đầu cũ đã bị mục. Sau đó dùng pa lăng từ từ kéo cái câu đầu mới nặng gần một tấn lên để lắp vào cột cái cũ có nhiều mộng ngang dọc lồng vào nhau… Loay hoay mãi từ sáng đến trưa chúng tôi vẫn chưa thể đấu cái mộng của câu đầu và cái cột cái. Đây gần như một sự kiện nên có rất nhiều người dân địa phương đến xem và dù muốn hay không sự có mặt của họ cũng gây áp lực cho thợ của chúng tôi. Sau khi nghỉ trưa, ăn uống thoải mái, được động viên , khích lệ và bàn tính kỹ ,cánh thợ mộc của chúng tôi tự tin tiếp tực công việc của mình. Vô cùng cẩn trọng, hết sức tập trung, chỉnh cái câu đầu từng milimet một, lúc nhích lến, lúc hạ xuống… đến bốn giờ chiều cái câu đầu mới bằng gỗ lim được lắp đặt thành công trong sự hân hoan của thợ chúng tôi và bà con dân làng. Công việc khó khăn nhất trong trùng tu đình Trần Đăng tưởng bất khả thi đã hoàn thành.      Một phần cột cái bị mối ăn (ảnh trái) và hoạt động thi công thay cột cái và câu đầu.  Một chi tiết thú vị nữa là hằng năm ở Trần Đăng đều có Hội làng mà số người tham gia đông đến hàng ngàn người nhưng không hề có nhà vệ sinh công cộng. Khi được hỏi nếu không may có người có nhu cầu đi vệ sinh thì phải đi đâu? Các cụ bô lão chỉ cho chúng tôi bãi đất rìa ao hơi khuất một chút rồi đấy!!! Phải thuyết phục các cụ thủ từ, lãnh đạo địa phương về sự cần thiết phải có nhà xí công cộng đúng nghĩa, rồi được sự nhất trí của họ, một khu vệ sinh nhỏ có kiến trúc hài hòa với đình, có cả xí bệt được xây dựng phục vụ du khách.  Đánh giá cao chất lượng trùng tu đình Trần Đăng, phía Bộ Ngoại giao Đức đã tiếp tục giúp đỡ Trần Đăng trùng tu cầu, cổng làng, giếng nước ở quần thể kiến trúc văn hóa tuyệt vời này.   Đối với cá nhân tôi, với tư cách là một kiến trúc sư, được tham gia trùng tu đình Trần Đăng thực sự là một trải nghiệm nhớ đời. Mới đây, tháng 4/2019 tôi vinh dự được lãnh đạo xã Hoa Sơn đề nghị giúp dân làng Trần Đăng khảo sát, thiết kế và lập dự toán gửi Sứ quán Đức với mong ước được Bộ Ngoại giao Đức tiếp tục giúp địa phương trùng tu chùa Trần Đăng hiện đang xuống cấp nghiêm trọng. Hi vọng dự án trùng tu chùa Trần Đăng có niên đại từ đời Trần này sẽ được thực hiện trong thời gian tới.□    Author                Lý Trực Dũng        
__label__tiasang Hà Lan thử nghiệm khả năng chống bão lụt của hệ thống đê cũ      Một phần tư diện tích Hà Lan thấp hơn mặt nước biển, sự chênh lệch này đang ngày một lớn hơn. Liệu các con đê có trụ được không? Những con sóng nhân tạo hùng mạnh nhất hành tinh được sử dụng để khảo nghiệm vấn đề này.      Ai muốn tìm hiểu người Hà Lan áp dụng công nghệ cao để bảo vệ quê hương trước biển cả như thế nào thì hãy tham quan vùng duyên hải lộng gió thuộc tỉnh Zeeland. Thí dụ tham quan hệ thống chống bão lũ ở Oosterschelde. Trong vòng một giờ đồng hồ có thể hạ 62 ống thép khổng lồ, mỗi ống nặng tới 500 tấn. Hệ thống này bảo vệ toàn bộ khu vực nằm ở phía sau trước những cơn sóng giữ trên biển Bắc. Hàng năm, bình quân hệ thống này được đưa vào sử dụng một lần, thời gian còn lại thủy triều tự do lên xuống và tràn qua nơi này.    Có thể nói Hà Lan chi những khoản tiền khổng lồ để bảo vệ vùng bờ biển của mình trước sự hoành hành của bão tố và lụt lội – dù sao thì khoảng một phần tư diện tích lãnh thổ của Hà Lan thấp hơn mặt nước biển. Do biến đổi khí hậu mặt nước biển sẽ  ngày càng dâng cao hơn. Theo Hội đồng khí hậu thế giới của Liên hiệp quốc, đến cuối thế kỷ này mực nước biển sẽ dâng lên từ 26 đến 82 cm tùy theo mức độ xả khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên dự báo này bị chỉ trích là quá bảo thủ.   Và rõ ràng là tùy từng khu vực mực nước dâng lên có thể vượt xa ngưỡng bình quân – hơn nữa trong những thế kỷ tới vấn đề này sẽ còn tiếp diễn. Cái gọi là nhà máy đồng bằng (Deltawerke), trong đó có hệ thống chống bão lũ Oosterschelde là phần then chốt của chiến lược phòng vệ đối với khu vực tây nam của Hà lan.  Ở các địa phương khác lực lượng bảo vệ vùng duyên hải cũng triển khai công tác bảo vệ dựa vào Lowtech, điều này có thể trải nghiệm ở vùng ven thành phố đại học cổ kính Delft. Tại đây các nhà nghiên cứu kiểm tra kỹ lưỡng một triền đê đã có từ lâu đời. Hiện tại ở vùng đông bắc và tây bắc Hà Lan vẫn tồn tại một số con đê cũ ở ven biển. Những con đê này gồm cát và đất sét bên trên phủ một lớp đá dăm, trên cùng là lớp đá hộc to như trái bóng kết dính bằng bê tông.     Theo quy tắc an toàn đê điều của Hà Lan, công trình này phải đương đầu được cơn bão mà theo thống kê ba nghìn năm mới có một lần. Liệu công trình này có thực sự đáp ứng được đòi hỏi trên hay không?    Ông Marcel van Gent nói: “Chúng tôi muốn tìm hiểu xem liệu cấu trúc này có đủ mạnh thực sự hay không”. Con đê này phải chứng minh được sự bền vững của mình trước hệ thống thử nghiệm khổng lồ. Kênh sóng Delta Flume là kênh lớn nhất thế giới và mới được đưa vào vận hành. Tại đây, van Gent và cộng sự liên tục tạo ra những con sóng khổng lồ và cho dội liên tục kéo dài hàng giờ đồng hồ vào hệ thống chống lũ được xây dựng y như thật.    “Chúng tôi bắt đầu bằng cơn bão tạo sóng cao một mét. Khi thấy hệ thống này tỏ ra vững chãi chúng tôi nâng sóng cao hơn, từ 1,2 mét rồi tiếp tục tăng cho đến khi nâng lên cấu trúc này phải nhượng bộ”, ông nói. Cho đến nay con đê này đã trải qua một trong ba quá trình thử nghiệm theo dự kiến. Theo Marcel van Gent thì con đê này tỏ ra còn khá vững chãi.   Có khả năng con đê này vững chãi hơn so với sự đánh giá về nó trước đây. Vì vậy không cần đặt vấn đề phải thay thế nó  –  và người ta có thể dùng khoản tiền này để bồi bổ cho một tuyến đê ven biến nào đó. Van Gent cho rằng, “cũng không nên quá cường điệu. Nếu đầu tư thái quá vào một điểm, thì vấn đề có thể nẩy sinh ở một vị trí khác”.    Tới đây đoạn đê thử nghiệm sẽ lại phải đương đầu với những đợt công phá mới. Một bức tường thép mầu xanh cao 10 mét chịu trách nhiệm trước những con sóng trong  Delta Flume. Nó được di chuyển bởi bốn động cơ chuyên dụng và tạo sóng cao tới 4,5 mét chạy vào máng bê tông rộng 5 mét và sâu tới 10 mét. Sau khoảng 200 mét thì tới đích, tức con đê thử nghiệm. Con đê này được xây dựng trong một tòa nhà loại nhẹ mầu xám.    Chín triệu lít nước    Khi sóng đổ vào kênh và nhồi vào thân đê lượng nước sẽ được bơm ngược trở lại – để rồi lại dội xuống dọc theo máng. Chín triệu lít nước lưu thông trong hệ thống này.   Van Gent cho hay, 85% hệ thống chống lũ của Hà Lan được kiểm tra  với kích cỡ như thật tại Delta Flume. Nhiều loại vật liệu đã tập trung trên sân trước tòa nhà thí nghiệm để phục vụ các đợt khảo sát tiếp theo.    Mỗi năm Hà lan chi khoảng một tỷ Euro cho việc phòng chống lũ lụt. Nước Đức theo cơ cấu Liên bang nên khó đưa ra được chính xác số tiền đầu tư cho phòng chống lũ lụt. Chỉ riêng chương trình quốc gia về phòng chống lũ lụt, tính  cả hệ thống sông ngòi, ngốn khoảng 5,4 tỷ Euro.    Nước Đức cũng có các kênh sóng, thí dụ ở Hamburg và  Berlin. Trong đó kênh sóng ấn tượng nhất ở Hannover, các nhà khoa học thuộc trung tâm nghiên cứu duyên hải có thể tạo sóng cao tới hai mét. Tuy nhiên chỉ có Deltares ở Delft người ta mới có thể tạo sóng nhân tạo vào loại mạnh nhất hành tinh  Theo van Gent thì việc tạo ra một kích cỡ to lớn rất quan trọng  –  vì một số vấn đề không thể lí giải bằng những mô hình thu nhỏ.   Nhà nghiên cứu này cho rằng “không thể tính toán hành vi của vật liệu thí dụ cây cỏ, đất sét hay cát”. Người ta khó có thể giảm tỷ lệ rễ của cây cỏ xuống năm lần để xác định độ che phủ trên con đê thu nhỏ đứng vững được trước con sóng mô phỏng là bao lâu. Ông này còn nói điều tương tự cũng diễn ra đối với các dòng chẩy trong một cấu trúc nhất định. Thí dụ dòng chảy qua các kẽ hẹp giữa những tảng đá trong thực tế dữ dội hơn nhiều so với ở các mô hình thu nhỏ. Đối với những nghiên cứu này cần có những công trình khổng lồ như Delta Flume.   Hà Lan tăng cường gia cố hệ thống phòng chống bão lũ     Từ hàng trăm năm nay, người Hà Lan luôn coi trọng xây dựng và củng cố đê điều. Những thảm họa như vụ lũ lụt khủng khiếp xẩy ra hồi năm 1953 làm cho 1835 người bị thiệt mạng được coi là hãn hữu. Để duy trì được thành tích này Hà Lan luôn phải tăng cường gia cố hệ thống phòng chống bão lũ để thích ứng với nước biển dâng cao.    Tuy nhiên không thể nêu mãi khẩu hiệu, hãy xây cao, cao hơn nữa. Nơi nào có điều kiện tốt hơn người ta tạo ra những cồn cát mới thí dụ như ở Petten aan Zee, ở đây người ta đã xử dụng tới 35 triệu mét khối cát. Những cồn cát này trung hòa tối đa  sức mạnh của nước càng xa vùng bờ biển càng tốt. Hơn nữa ở vùng cửa sông các con sông có thêm  không gian để cản trở sự tích tụ nước. Đây chính là lý do vì sao người ta xúc tiến một dự án rất tốn kém ở Nijmegen nhằm mở rộng lòng sông Waal.    Tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu ở Paris, người ta nói nhiều đến việc thích nghi với biến đổi khí hậu, đến việc hỗ trợ các nước nghèo chuẩn bị để đối phó với việc nước biển dâng lên. Điều hiển nhiên là: không phải mọi nơi trên thế giới cũng đạt được trình độ tự vệ như ở vùng duyên hải Hà Lan hay Đức. Đơn giản vì không có nguồn tài chính để cáng đáng được việc này.    Vì vậy trong tương lai sẽ có những cân nhắc tế nhị: ai là người sẽ còn có thể được bảo vệ khi mặt nước tiếp tiếp tục dâng lên –  và ai là không thể? Nhà nghiên cứu van Gent nói “Ở Hà Lan chúng tôi đã giải quyết vấn đề này như sau, với các vùng miền khác nhau  của đất nước ngay từ bây giờ đã được đặt vào các mức bảo vệ khác nhau. Điều này liên quan đến mật độ dân số, đến tầm quan trọng về kinh tế – và với thời gian điều này sẽ được áp dụng khi phải di chuyển dân đi nơi khác.   Hoài Trang dịch  Theo Spiegel online         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hackathon Việt Nam 2014: Cơ hội khởi nghiệp cho các kỹ sư CNTT      Nói về cuộc thi CNTT Hackathon năm 2014  trong hai ngày 1 và 2/8 tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Bộ trưởng  KH&amp;CN Nguyễn Quân cho rằng, cuộc thi là cơ hội để từ đó các thí  sinh, có thể hình thành những doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động trong  lĩnh vực CNTT.    Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) trên thế giới, Việt Nam đang trỗi dậy là một quốc gia có mức độ sử dụng internet tăng cao với sự thành lập của hàng loạt công ty khởi nghiệp để đáp ứng nhu cầu của người dùng.  Nhằm hỗ trợ và giúp đỡ các doanh nghiệp khởi nghiệp này, một dự án dài hơi đang được thực hiện bởi quỹ đầu tư Formation 8 với sự hỗ trợ của Bộ KH&CN Việt Nam (thông qua Dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ – FIRST với vốn ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới), Silicon Valley và cộng đồng doanh nhân trẻ.  Nằm trong khuôn khổ dự án này, sáng 1/8, sự kiện Hackathon Việt Nam 2014 đã được tổ chức đồng thời tại hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM.  Được khởi động từ tháng 6/2014, Hackathon đã thu hút sự quan tâm của hơn 1.000 thí sinh là các kĩ sư và nhà khoa học trẻ Việt Nam trong lĩnh vực CNTT tham gia. Sau hơn một tháng làm việc, ban tổ chức đã lựa chọn ra 400 cá nhân xuất sắc nhất bước vào vòng chung kết.  Trong vòng thi chung kết, dưới sự giúp đỡ của những kĩ sư hàng đầu tại Silicon Valley, thí sinh đã cùng nhau lập trình theo nhóm liên tục trong vòng 24 giờ để tìm ra các đội xuất sắc. Sản phẩm của cuộc thi (phần mềm ứng dụng, game mobile, trò chơi trực tuyến…) sẽ được ban tổ chức đánh giá, xem xét để có hướng phát triển mới nếu như có tính thực tiễn cao.  Giá trị giải thưởng cuộc thi bao gồm: giải nhất là một chuyến đi học tập, khảo sát tại các doanh nghiệp CNTT tại thung lũng Silicon (Hoa Kỳ) dành cho hai đội đạt giải nhất; hai giải nhì trị giá 800 triệu đồng; và hai giải ba trị giá 500 triệu đồng; giải thưởng được chia đều cho các đội ở hai điểm thi.  Kết quả, giải nhất tại Hà Nội được trao cho đội Voicepedia với ý tưởng “Sử dụng giọng nói để truy cập tìm kiếm thông tin tại Wikipedia”. Tại TP HCM, giải nhất đã thuộc về đội Tapay với ý tưởng “giúp người dùng không cần đến tiền mặt hay thẻ khi mua bán, giao dịch; tất cả các thông tin từ người dùng sẽ được mã hóa bằng app điện thoại và chuyển đến một máy chủ. Máy chủ sẽ đưa dữ liệu đến các cửa hàng, khách sạn, shop,… Khi đó việc thanh toán chỉ đơn thuần là thao tác trên điện thoại, giúp tiết kiệm thời gian của người sử dụng”.  Trả lời phỏng vấn tại Lễ khai mạc cuộc thi, Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân cho rằng cuộc thi là cơ hội để từ đó các thí sinh, có thể hình thành những doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT. Sau này, những doanh nghiệp đó sẽ đóng góp cho sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT và công nghệ phần mềm trong nước.  “Hackathon Việt Nam được xem là nơi các bạn trẻ thể hiện đam mê sáng tạo của mình; phô diễn năng lực liên kết nhóm; và đặc biệt là chứng minh được khả năng biến những đam mê thành sản phẩm cụ thể để tranh tài. Hackathon Việt Nam cũng là nơi phát đi thông điệp với cộng đồng quốc tế về một Việt Nam năng động, sáng tạo, và đang nỗ lực phát triển đất nước bằng tri thức, KH&CN,” ông nhấn mạnh.  Bộ trưởng cũng khẳng định, Bộ KH&CN sẽ đưa Hackathon Việt Nam trở thành một điểm hẹn trong những năm tiếp theo cho cộng đồng sáng tạo trong nước được tranh tài, học hỏi và liên kết chặt chẽ với nhau và kết nối với thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hacker, một nguy cơ lớn đối với mạng lưới điện      Để không bị sập mạng lưới điện vì hoạt động của bọn hacker, các tập đoàn năng lượng điện luôn phải mở rộng các phương án bảo đảm an toàn mạng lưới.    Bọn hacker tấn công ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn vào mạng lưới cung cấp điện của Đức. Nhà cung cấp buộc phải làm bức tường chắn cao hơn, vì bọn tấn công ngày càng khôn ngoan và tinh vi hơn. Hacker đột nhập mạng lưới điện, làm trạm biến áp và thiết bị chuyển mạch bị liệt. Điều này đã xảy ra ở Ukraine tháng 12 năm 2015 – gây mất điện cả giờ đồng hồ. Đây là điều khó tưởng tượng đối với nước Đức? Florian Haacke, Phụ trách về an toàn tại tập đoàn Innogy, nhà điều hành mạng lưới điện lớn nhất của Đức: “Các cuộc tấn công mạng đang cho thấy hiện có những kẻ có dã tâm làm việc đó. Chúng ta không được phép nghĩ rằng điều này không thể diễn ra ở Đức.”  Cục An toàn thông tin của Đức (BSI) mới đây đã cảnh báo về làn sóng nhằm vào các nhà cung cấp điện của Đức. Chúng đã đột nhập vào mạng lưới văn phòng của một số doanh nghiệp. Hiện bọn hacker chưa thể đột nhập vào các khu vực trung tâm của hệ thống cung cấp điện, nhưng rất có thể “đây chỉ là vấn đề thời gian”, người phụ trách BSI, Arne Schönbohm cảnh báo.  Norbert Pohlmann, giáo sư tại Viện an toàn mạng Internet ở Trường Cao đẳng Westfallen (Đức) cho rằng sở dĩ cho đến nay nước Đức đạt được thành công trong việc chống lại các cuộc tấn công nghiêm trọng trên mạng là do mạng lưới điện của Đức chưa có sự kết nối liên hoàn với nhau. Với quá trình số hóa dữ liệu hiện nay, xác suất các cuộc tấn công này sẽ tăng lên. Ông cảnh báo “việc bảo vệ mạng lưới là một nhiệm vụ khổng lồ vì bọn tấn công ngày càng khôn ngoan hơn.”  Để không xảy ra mất điện trên diện rộng hoặc toàn bộ, các tập đoàn năng lượng điện không ngừng tăng cường thực hiện các phương án về an ninh mạng lưới. Tại tập đoàn năng lượng Innogy, ngay ở trung tâm của tập đoàn có tới 130 chuyên gia chuyên lo về an toàn đối với mạng lưới có tổng chiều dài lên tới trên 460.000 km ở Đức và Đông Âu.  Tập đoàn có một Trung tâm huấn luyện mới để bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên làm việc tại các trung tâm kiểm soát để nhận biết và chống lại các cuộc tấn công kỹ thuật số. Cùng với hãng Cybergym của Israel, Innogy đang đang xây dụng một trung tâm huấn luyện như trên ở Frankfurt. Tại đây người ta dàn dựng một loạt cuộc tấn công trên không gian  mạng. “Các học viên phải đối mặt với sự căng thẳng như trong thực tế và chịu tác động về vật lý trong quá trình diễn ra cuộc tấn công trên không gian mạng. Thí dụ lò sưởi tự nhiên hoạt động, hệ thống bơm không thể tắt được, vv…”, trên đây là một số bài tập tình huống tại trung tâm.  Theo đánh giá của Hiệp hội IT Bikom thì ngày nay bảo vệ các mạng lưới năng lượng bằng các phương tiện kỹ thuật như mã hóa các dữ liệu, Firewalls và máy quét virus là không đủ. Mạng lưới cần phải có khả năng “co giãn” (resilient), có nghĩa là khi gặp sự cố vẫn duy trì được các chức năng cơ bản hoặc chí ít có thể tự phục hồi. “Khi cuộc tấn công trên không gian mạng thành công thì đối với hệ thống truyền thống có nguy cơ lan nhanh theo diện rộng, với hệ thống co giãn (resilient) cuộc tấn công không gian mạng sẽ sớm được phát hiện, sự lan tỏa theo chiều rộng bị chặn lại và sự cố mau chóng được khắc phục”, theo Bernhard Rohleder, tổng giám đốc điều hành. Điều này là có thể thông qua phân tích theo thời gian thực mọi dòng dữ liệu trong mạng kỹ thuật số.  Còn một điểm yêu nữa cần phải nhanh chóng khắc phục: đó là việc các hãng sản xuất Soft- và Hardware cung cấp quá chậm các thông tin về kẽ hở an toàn trong các sản phẩm của họ. “Họ có nghĩa vụ về mặt pháp lý phải thông báo ngay cho khách hàng về những hiểu biết của mình”, người phụ trách về an ninh mạng của Innogy yêu cầu.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/herkulesaufgabe-cyberabwehr-hackerangriffe-die-riesen-gefahr-fuer-die-stromnetze/22690768.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai cái chết, sau 30 năm      Ngày 15/7, Ấn Độ chính thức chấm dứt dịch vụ  điện tín công cộng sau 163 năm tồn tại. Thời hoàng kim, cách đây 30  năm, điện tín là phương tiện viễn thông số 1 tại Ấn Độ với trung bình  600.000 bức điện gửi đi mỗi ngày.     Điện thoại di động, thư điện tử và mạng xã hội đã dần dần đẩy “ngành dây thép” vào quên lãng. Theo AFP, để đánh dấu ngày “một thời đại đã kết thúc”, hàng ngàn người Ấn Độ đã đổ xô đi đánh điện tín với nội dung như trên.     Một trùng hợp lý thú là cũng vào giữa tháng 7, tạp chí PC World cho biết họ sẽ đóng cửa bản in của tạp chí này, cũng sau 30 năm hoạt động. IDG, công ty sở hữu PC World, vừa phát đi thông báo số tháng 8/2013 sẽ là số báo in cuối cùng của tạp chí, và sau đó sẽ chuyển hoàn toàn sang thành báo điện tử.    Năm ngoái, thương hiệu máy ảnh phim Kodak cũng phải phá sản, chấm dứt một đế chế sau 131 năm mà các chuyên gia kinh tế cho rằng, nguyên nhân chính là vì Kodak không đánh giá đúng tiềm năng công nghệ kỹ thuật số.     Thế nhưng hiện nay thế giới lại cũng chứng kiến điện thoại thông minh đang làm tốt chức năng máy ảnh cá nhân và liệu đã đến lúc thiên hạ không cần tới máy ảnh kỹ thuật số nữa hay không? Sự thay đổi này sẽ chóng vánh, không đợi đến 30 năm như hai cái chết trên.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế      Cơ cấu cây trồng bất cân đối và chuỗi ngành hàng thiếu đồng bộ là hai thực trạng cơ bản khiến nông nghiệp Việt Nam chưa khai thác tốt các lợi ích trong thương mại quốc tế.     Cơ cấu cây trồng bất cân đối  Từ bao đời nay, lúa vẫn là cây nông nghiệp độc canh của Việt Nam, thu hút mức độ đầu tư rất cao về nhân sự, nghiên cứu, đất đai, cơ sở tổ chức, lao động và tài chính. Nhưng điểm yếu của phương thức độc canh này là dễ dàng phát sinh bệnh hại, dẫn đến việc phải phun xịt một lượng rất lớn thuốc bảo vệ thực vật, làm ô nhiễm nông sản và ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người sử dụng thuốc cũng như người tiêu dùng thực phẩm. Đồng thời, việc chú trọng quá nhiều vào lúa gạo cũng khiến nông nghiệp Việt Nam không thể khai thác hiệu quả nguồn lợi từ thị trường quốc tế dành cho một số nông sản khác, đặc biệt là rau củ quả – trên thế giới thị trường rau, hoa quả có giá trị lớn gấp 7 lần so với thị trường gạo.   Tình trạng bất cân đối cơ cấu cây trồng trên đây không chỉ do Việt Nam chưa có định hướng phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường thế giới, mà còn do người nông dân và các doanh nghiệp vẫn phải đối diện với nhiều rủi ro nên không dám đầu tư vào những ngành xuất khẩu đòi hỏi đầu tư công nghệ cao và có hệ thống như rau, hoa quả, chỉ tập trung sản xuất các mặt hàng nông phẩm thô như với lúa gạo, cà phê hay chè. Chính sách đất nông nghiệp chỉ cho phép sử dụng có thời hạn cũng làm tăng rủi ro cho người sử dụng đất, càng khiến các doanh nghiệp trong và ngoài nước không mặn mà với việc đầu tư có chiều sâu cho công nghệ cao trong nông nghiệp.  Vì vậy, kể cả sau khi gia nhập WTO, tổ chức thương mại có kim ngạch nhập khẩu nông sản trị giá hàng nghìn tỷ USD, Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, và sắn, nhưng lượng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả vẫn gần như ở mức yếu nhất.     Bảng 1. Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khầu chủ lực của Việt Nam. (Nguồn: FAO, http://unstats.un.org/unsd/default.htp)             Mặt hàng      Thị trường nhập khẩu thế giới, USD  2010      Xuất khẩu Việt Nam,   USD          2006      2009      2010      2011      2012          Rau quả            97,900,226,000           300,000,000           420,000,000          411,500,000            515,000,000         770,000,0006)          Hoa           25,000,000,000           10,000,000             14,200,000           60,000,000              60,000,000      N/A          Lúa gạo             16,818,180,0001)      1,489,970,000       2,600,000,000       3,230,000,000        3,700,000,000        3,700,000,000          Cà phê             7,548,041,000       1,911,463,000       1,800,000,000       1,670,000,000        2,300,000,000        3,740,000,000          Cao su             7,488,707,000       1,400,000,000        1,200,000,000       2,320,000,000        2,700,000,000        2,850,000,0005)          Chè             4,369,975,0001)          130,833,000           180,000,000         200,000,000           182,000,000          243,000,0004)          Hạt điều              1,719,352,0002)          653,863,000           850,000,000      1,140,000,000        1,400,000,000       1,480,000,000          Sắn      N/A      N/A      N/A      N/A          815,000,0007)       1,312,020,000          Hạt tiêu                1,761,363,600          271,011,000           328,000,000         390,000,000            775,000,000          802,000,000          Thế giới       1,361,853,000,0003)      8,300,000,000                   15,300,000,000      19,150,000,000      25,000,000,000      27,310,000,000             1) Thị trường năm 2009, Trade Vietnam  2) Thị trường năm 2009, FAO  3) Thị trường thế giới năm 2006  4) Hiệp hội Chè Việt Nam VITAS, 2012  5) www.caosu.net  6) Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam – www.iasvn.org  7) Dữ liệu của 10 tháng đầu năm 2011  N/A: Chưa có số liệu      Chuỗi ngành hàng không đồng bộ  Hiện nay chúng ta đã có một số thành công trong công nghệ cao về tạo giống và cải thiện trong phương pháp canh tác: đã có nhiều giống lúa, ngô, cà phê, v.v có năng suất cao, chống sâu bệnh tốt; đã có nhiều mô hình trồng rau dùng màn che, phủ luống, trồng cà phê áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc hệ thống tưới phun có hiệu quả; đã áp dụng chế phẩm sinh học EM (Effective Microoganisms) đại trà nhiều nơi để thay thế thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vô cơ. Nhờ những công nghệ mới này mà lúa gạo đã được trồng trên những cánh đồng lớn, cơ giới hóa, đưa sản lượng tăng cao đáng kể, từ 19 triệu tấn năm 1990 lên 32 triệu tấn năm 2000 và 42 triệu tấn năm 2011.   Tuy nhiên, vì chưa xây dựng được chuỗi ngành hàng xuyên suốt và đồng bộ, nên khi sản lượng lúa gạo đạt đỉnh thì chúng ta gặp những khó khăn như thiếu kho tàng để tạm trữ lúa sau thu hoạch, thiếu nhà mát để lưu kho, thiếu cơ sở để chế biến, và quan trọng hơn hết là thiếu thị trường để tiêu thụ một lượng hàng “thô” dồi dào trong khi hoạt động chế biến còn rất hạn chế. Thêm vào đấy, nông dân vào thời điểm thu hoạch cũng đã hết tiền nên phải bán tháo để lấy vốn cho kỳ tới. Về cơ bản các hiệp hội về nông dân và nông nghiệp Việt Nam chưa giúp nông dân giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả.     Kết luận  Việc đầu tư và phát triển không đồng bộ trong chuyển giao công nghệ vào chuỗi ngành hàng, những hạn chế trong thành phần sản xuất và tổ chức quản lý, đặc biệt hạn kỳ sử dụng đất và thủ tục giấy tờ rườm rà ở nông thôn đã và đang làm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như lúa gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, trà, v.v, không ứng dụng được công nghệ cao, chất lượng thấp, và “được mùa” thì  “mất giá” – giá xuất khẩu chỉ đạt khoảng 50-60% giá trung bình thế giới. Trong khi đó, đất có thể canh tác của Việt Nam đã khai thác gần hết, người lao động ở nông thôn đã bỏ lên thành phố khá nhiều, và trong những năm tới năng suất trên một diện tích tuy sẽ vẫn tăng nhưng không ở mức đáng kể như mấy năm qua.   Vì vậy, để đột phá nông nghiệp Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất, đó là áp dụng chính sách nông nghiệp/đất đai vì nông dân, xây dựng chuỗi ngành hàng, tích cực hỗ trợ việc đổi mới công nghệ và đưa công nghệ cao vào nông nghiệp, có như vậy mới tạo động lực để người nông dân và các doanh nghiệp linh hoạt điều chỉnh cơ cấu cây trồng, nâng cao chất lượng nông phẩm, thích nghi với nhu cầu của các thị trường và tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trong kỷ nguyên hội nhập.              Nông sản trong thời đại WTO là sự tổng hợp của một chuỗi giá trị với sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba khâu: i) kỹ thuật/công nghệ, ii) quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, và iii) thành phần tham gia sản xuất. Nhưng Việt Nam chỉ mới phát triển tốt cho một vài khâu, chưa hình thành một chuỗi ngành hàng xuyên suốt, đồng bộ.              —              Australia có dân số khoảng 21,5 triệu người. Tuy lực lượng lao động trong nông nghiệp chỉ có khoảng 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động nhưng chỉ số tự cung tự cấp về thực phẩm của Australia cao nhất thế giới. Sản lượng lương thực và vải vóc trung bình của mỗi người nông dân đủ để “nuôi” 190 người. Đây là con số kỷ lục, chưa có nông dân nước nào trên thế giới có thể sánh được, kể cả nông dân Mỹ.               Australia có chính sách kinh tế thị trường hướng đến xuất khẩu. Tuy nông nghiệp chỉ chiếm 3% GDP của cả nước, nhưng chính phủ Australia vẫn luôn có chủ trương giao việc cho nông dân, xem họ là thành phần chủ quản.  Vì nông dân là chủ thể của nông thôn nên thành phần này rất được chính phủ chú trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, hỗ trợ về khoa học và công nghệ. Do vậy họ luôn cố gắng xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có lợi cho ngành và toàn xã hội.               Ngoài ra nông dân Australia được khuyến khích thành lập Hiệp hội để quản lý ngành nghề của mình. Vì Hiệp hội là của nông dân, do nông dân thành lập nên đã thực sự giúp nông dân tổ chức tốt và quản lý hiệu quả dây chuyền sản xuất. Kiến thức rộng và kỹ năng cao của Hiệp hội đã hướng dẫn chính xác trong tính toán cung-cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nông dân Australia do vậy không cần phải “chặt/trồng“ để theo đuôi thị trường, cũng không cần phải tiếp cận với thương lái trong những thương vụ mang tầm vĩ mô như xuất khẩu, nhập khẩu vì đã có Hiệp hội lo. Rất ít khi xảy ra cảnh “được mùa mất giá” vì thị trường luôn định hướng trước khi sản xuất. Thu nhập cao là điểm then chốt giúp nông dân Australia bám trụ, xây dựng nông thôn mới, và tiếp tục đưa nền nông nghiệp của quốc gia này tiến lên.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai điều kiện tiên quyết cho dữ liệu mở      Dữ liệu là nền tảng cơ bản và quan trọng cho hàng loạt các công nghệ đương thời dựa vào nó như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet của Vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data). Để quản lý tốt các dữ liệu được hình thành từ số hóa và/hoặc chuyển đổi số, đặc biệt là làm sao để máy đọc được, sử dụng lại được, truy xuất được, và tránh bị lặp lại, thì dữ liệu cần phải thỏa mãn hai yêu cầu sau: (1) mã nhận diện thường trực duy nhất phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế; và (2) cấp phép mở, nhất là đối với các dữ liệu được tạo ra từ cấp vốn nhà nước.    Trong một thế giới ngày càng được số hóa, mở và dựa vào dữ liệu như hiện nay, để quản lý và lần vết được các tài nguyên số ngày càng trở nên thừa thãi trên Internet, cùng với nhu cầu mới của thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với yếu tố chưa từng có trước đây là máy đọc được, thế giới đã và đang hướng với việc xây dựng hệ thống các mã nhận diện thường trực duy nhất cho các đối tượng số. Hơn nữa, để ‘đứng trên vai những người khổng lồ’ tạo ra các tri thức mới, người ta ngày càng chia sẻ và cho phép truy cập mở trên internet (thông qua cấp phép mở) đối với các tài nguyên tri thức trước đó để bất kỳ ai cũng có khả năng sử dụng lại trong nhiều trường hợp vì bất kỳ mục đích gì, kể cả thương mại hóa nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng bản quyền và các quyền hợp pháp của tác giả, tránh mọi rào cản về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, đặc biệt là các tài nguyên được tạo ra từ các nguồn vốn cấp của nhà nước.      A. Tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết – LOD (Linked Open Data) với quy tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của Tim Berners-Lee     Vào ngày 27/7/2006, Tim Berners – Lee, nhà phát minh ra Web của các tài liệu siêu văn bản được kết nối với nhau những năm đầu thập niên 1990 nhờ vào việc sử dụng các bộ định vị tài nguyên thống nhất – URL (Uniform Resource Locator), đã đề xuất một khái niệm mới, đó là Web của dữ liệu (Web of Data) được kết nối với nhau với sự sử dụng các mã nhận diện tài nguyên thống nhất – URI (Uniform Resource Identifier). Cùng với nó, ông đã đưa ra đề xuất về Dữ liệu Liên kết (Linked Data) với quy tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao cho Dữ liệu Mở Liên kết – LOD (Linked Open Data)1.      A.1 Mã nhận diện thường trực duy nhất trong tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết  Giải thích cho đề xuất này, Tim Berners-Lee nhấn mạnh tới khả năng sinh ra tri thức mới của LOD và khả năng máy đọc được, điều rất quan trọng trong CMCN4 với các công nghệ thời thượng như trí tuệ nhân tạo – AI (Artificial Intelligence), Internet của vạn vật – IoT (Internet of Things), hay Dữ liệu lớn (Big Data), và đặc biệt các mô hình kinh doanh mới dựa vào dữ liệu.      Hình 1. Bên cạnh URI và URL mà Tim Berners – Lee đưa ra còn có khái niệm URN (Uniform Resourse Name) – định danh tài nguyên thống nhất. Tài nguyên có thể là bất cứ thứ gì có thể diễn tả rõ ràng. URI bao trùm cả URL và URN 2.    Đi theo tiếp cận LOD, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng cho mình các tài liệu URI. Ví dụ, tại châu Âu, Eurovoc xây dựng tài liệu URI cho từng ngôn ngữ khác nhau của từng quốc gia châu Âu. Gần đây nhất, tài liệu Eurovoc, v4.9.1, 20193 đã được xuất bản ngày 17/04/2019 với các URI.   Trên thực tế, URI và LOD không chỉ được sử dụng ở phạm vi quốc gia, mà còn ở phạm vi khu vực và toàn cầu, cho từng lĩnh vực. Ví dụ:   – LandVoc4 được sử dụng cho Dữ liệu Mở Liên kết (LOD) về đất đai  – AgroVoc5 được sử dụng cho Dữ liệu Mở liên kết (LOD) về nông nghiệp     A.2 Cấp phép mở trong tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết  Theo lược đồ tiêu chuẩn 5 sao cho Dữ liệu Mở Liên kết (LOD) trong đề xuất Web dữ liệu của Tim Berners-Lee như được minh họa trên Hình 2: (1) Để đạt được 1 sao, dữ liệu cần phải được cấp phép mở; (2) Để đạt được 2 sao, dữ liệu cần phải có 1 sao cộng thêm với máy đọc được; (3) Để đạt được 3 sao, dữ liệu cần phải có 2 sao cộng thêm với định dạng mở; (4) Để đạt được 4 sao, dữ liệu cần phải có 3 sao cộng thêm với URI; (5) Để có được 5 sao, dữ liệu cần phải có 4 sao cộng thêm với việc liên kết dữ liệu mức toàn cầu.   Có nghĩa là, để đạt được các mức sao cao hơn khi tuân thủ với tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết (LOD), trước hết, dữ liệu phải đạt được 1 sao, nghĩa là, dữ liệu cần phải được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở một cách rõ ràng.       Hình 2. Lược đồ tiêu chuẩn 5 sao cho Dữ liệu Mở Liên kết (LOD)6    Tuân thủ với định nghĩa về Dữ liệu Mở, chỉ một số giấy phép mở có thể gắn cho dữ liệu để nó trở thành dữ liệu mở. Ngày nay, các giấy phép trong hệ thống giấy phép mở Creative Commons thường được sử dụng nhiều nhất khi cấp phép cho dữ liệu để nó trở thành dữ liệu mở, như các giấy phép CC BY, CC BY-SA và CC0.   Cũng có hệ thống giấy phép khác, như Open Data Commons License (Giấy phép Chung cho Dữ liệu Mở) được sử dụng để cấp phép cho dữ liệu; nó có các giấy phép tương tự như 3 giấy phép được nêu ở trên của Creative Commons, như trên Hình 3.       Hình 3. Các (hệ thống) giấy phép được sử dụng để cấp phép mở cho dữ liệu7    B. Tiếp cận theo nguyên tắc Dữ liệu Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, Sử dụng lại được – FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable)     Để hiểu chi tiết FAIR là gì và giải nghĩa từng ký tự của FAIR, có thể tham khảo phần ‘Định nghĩa FAIR8’ trong tài liệu EC xuất bản năm 2018 với tiêu đề ‘Biến FAIR thành hiện thực’.   FAIR đã bắt đầu được Ủy ban châu Âu sử dụng trong dự án Thí điểm Dữ liệu Nghiên cứu Mở – ORD Pilot (Open Research Data Pilot)9 trong chương trình Horizon 2020 giai đoạn 2014-2020 và hiện nay là cách tiếp cận chủ đạo của EC cho dữ liệu/siêu dữ liệu.      B.1 Mã nhận diện thường trực duy nhất trong tiếp cận Dữ liệu FAIR  Theo tiếp cận FAIR, để có nghĩa và để là FAIR, dữ liệu và các đối tượng số khác đều phải đi với các mã nhận diện thường trực – PID (Persistent Identifier) cùng với siêu dữ liệu và tài liệu liên quan. Các mã nhận diện đó không chỉ là thường trực đối với một đối tượng số, mà thường là duy nhất trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ các mã nhận diện thường trực duy nhất như:   – Mã nhận diện đối tượng số – DOI (Digital Object Identifier)   – Mã nhận diện các nhà nghiên cứu / những người đóng góp sáng tạo – ORCID (Open Researcher and Contributor ID);   – Mã nhận diện tài nguyên nghiên cứu – RRID (Research Resource Identifiers)     B.2 Cấp phép mở trong tiếp cận Dữ liệu FAIR  Ngay cả khi chọn tiếp cận FAIR, cấp phép mở cũng là một khía cạnh không thể thiếu. Trong chương trình Horizon 2020, dự án tài trợ Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo tại châu Âu lớn nhất từ trước đến nay (với 80 triệu Euro) giai đoạn 2014-2020, châu Âu đã có Thí điểm Dữ liệu Nghiên cứu Mở – ORD Pilot (Open Research Data Pilot) chọn đi theo tiếp cận FAIR và khuyến cáo cấp phép mở bằng các giấy phép CC BY và CC0 của hệ thống giấy phép Creative Commons cho dữ liệu và siêu dữ liệu10.   Còn trong Kế hoạch S – Sáng kiến truy cập mở cho các nghiên cứu tại châu Âu cho giai đoạn 2021-2027, việc chọn tiếp cận vừa FAIR vừa MỞ là rõ ràng hơn, các giấy phép CC BY, CC BY-SA và CC0 của hệ thống Creative Commons được chỉ ra rõ ràng để cấp phép cho cả các xuất bản phẩm nghiên cứu và các dữ liệu nghiên cứu cùng các siêu dữ liệu11.   Điều này cho thấy, việc cấp phép mở trong tiếp cận Dữ liệu FAIR cũng không khác so với của tiếp cận Dữ liệu Mở Liên kết với lược đồ tiêu chuẩn 5 sao được Tim Berners-Lee đề xuất, như được minh họa trong Hình 3.     C. Mối quan hệ giữa 2 tiếp cận dữ liệu FAIR và MỞ      Để có chi tiết về mối quan hệ giữa FAIR và MỞ, xem phần ‘FAIR và dữ liệu Mở12’ trong tài liệu EC xuất bản năm 2018 với tiêu đề ‘Biến FAIR thành hiện thực’.  Dữ liệu FAIR được giải thích không nhất thiết phải là dữ liệu mở, kể cả trong ngữ cảnh của khoa học mở, vì có những lý do để các dữ liệu riêng tư của cá nhân và dữ liệu bí mật quốc gia không thể là mở được. Quan điểm của EC về dữ liệu như sau:   Dữ liệu có thể là FAIR hoặc Mở, vừa là FAIR vừa là Mở, hoặc không là FAIR không là Mở. Lý tưởng nhất là dữ liệu vừa là FAIR vừa là Mở, vì khi không có các hạn chế sẽ hỗ trợ cộng đồng lớn nhất trong việc cho phép họ sử dụng lại, và sử dụng lại ở phạm vi rộng. Để tối đa hóa những lợi ích của dữ liệu FAIR, và trong ngữ cảnh của các sáng kiến Khoa học Mở, các nguyên tắc FAIR nên được triển khai kết hợp với yêu cầu chính sách rằng dữ liệu nghiên cứu nên là Mở mặc định – đó là, Mở trừ phi có lý do tốt để hạn chế truy cập hoặc sử dụng lại. Trong công thức của Ủy ban châu Âu gần đây, họ đã đưa ra châm ngôn ‘càng mở càng tốt, đóng khi cần thiết’ (as open as possible, as closed as necessary), nó là sự khớp nối hữu ích các nguyên tắc đang được thi hành. Hơn nữa, nên có những nỗ lực để làm cho dữ liệu và siêu dữ liệu nghiên cứu truy cập được mà không lấy tiền của những người sử dụng đầu cuối. Bất kỳ việc lấy tiền nào hay chế độ phục hồi chi phí nào cũng nên là thích hợp và không ở mức làm hạn chế khả năng truy cập.   Từ quan điểm này, EC có khuyến cáo số 17 như sau:   Điều chỉnh phù hợp và hài hòa hóa chính sách dữ liệu FAIR và Mở. Các chính sách nên được điều chỉnh phù hợp và tăng cường để đảm bảo rằng dữ liệu nghiên cứu được nhà nước cấp vốn được làm thành FAIR và Mở, ngoại trừ các hạn chế hợp pháp. Châm ngôn ‘càng mở càng tốt, đóng khi có thể’ nên được áp dụng tương xứng với các nỗ lực thực sự tốt nhất để chia sẻ.  Nói một cách khác, mối quan hệ giữa FAIR và MỞ có thể được diễn giải là tính FAIR (FAIRness) càng cao thì càng nhanh tiệm cận tới tính MỞ (Openness), và ngược lại, tính mở càng cao thì càng nhanh tiệm cận tới tính FAIR.       Hình 4: Mô hình các đối tượng FAIR.     D. Gợi ý cho Việt Nam     Chuyển đổi số ở Việt Nam, dù là đi theo tiếp cận nào về dữ liệu, FAIR hay MỞ, hay vừa FAIR vừa MỞ, cũng đều cần thiết phải xây dựng hệ thống các mã nhận diện thường trực duy nhất cho các đối tượng số, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, cho cả các đối tượng hữu hình và vô hình, bao gồm các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu, để có thể quản lý tốt và tin cậy, sử dụng lại được, lần vết được, tránh đúp bản (đúp bản càng nhiều, rác dữ liệu cũng sẽ càng nhiều), và quan trọng hơn, để dữ liệu máy đọc được – một trong những đặc tính quan trọng bậc nhất để tiếp cận tới CMCN4, điều còn chưa rõ (các) cơ quan hay tổ chức nào sẽ chịu trách nhiệm xây dựng chúng. Có lẽ, ngành thư viện Việt Nam sẽ có vai trò chủ đạo, khi kết hợp với ngành công nghệ thông tin và truyền thông và các ngành khác có thể xây dựng hệ thống các mã thường trực duy nhất cho các đối tượng số cho Việt Nam.   Mặt khác, vì tính FAIR càng cao thì càng nhanh tiệm cận tới tính MỞ, trong khi để bất kỳ đối tượng số nào là mở, điều kiện tiên quyết là đối tượng số đó phải được cấp phép mở, công việc hầu như cũng chưa có ở bất kỳ đâu, kể cả trong các cơ sở giáo dục mọi cấp ở Việt Nam, cũng chưa rõ (các) cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm phổ biến nó. Có lẽ là tốt nhất nếu cấp phép mở là môn học bắt buộc và được giảng dạy càng sớm càng tốt trong tất cả các cơ sở giáo dục ở tất cả các cấp, từ cấp tiểu học, đặc biệt trong toàn bộ hệ thống các trường sư phạm trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam.      Hình 5: Mối quan hệ giữa FAIR và MỞ.    Cuối cùng, mọi con đường đều dẫn tới giáo dục. Nó là đặc biệt đúng ở Việt Nam, khi gần 25 triệu người, khoảng 1/4 dân số Việt Nam, đang hằng ngày sống và làm việc trong khu vực giáo dục, nơi có ‘nguyên khí quốc gia’, nơi có lực lượng đông đảo nhất những người có khả năng giành được tri thức, đào sâu tri thức và tạo lập tri thức mới dựa vào tri thức sẵn có của thế giới, rất nhiều trong số chúng là các tri thức MỞ. Không có giáo dục đi cùng, CMCN4 – cách mạng của tri thức – khó có thể hiện thực hóa được trong thực tế, để tạo ra hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ ‘Make in Vietnam’ trên diện rộng, theo đúng nghĩa của từ ‘Cách mạng’. □     Các chú giải   1 Tim Berners-Lee, 27/07/2006: Linked Data: https://www.w3.org/DesignIssues/LinkedData.html  2 Daniel Miessler, May 4, 2019: The Difference Between URLs, URIs, and URNs: https://danielmiessler.com/study/url-uri/  3 EU Vocabularies: Eurovoc v4.9.1: https://publications.europa.eu/en/web/eu-vocabularies/news/-/blogs/eurovoc-4-9-1  4 LandPortal: LandVoc: https://landportal.org/voc/landvoc  5 FAO, AIMS: AGROVOC Linked Open Data: http://aims.fao.org/standards/agrovoc/linked-data  6 Tim Berners-Lee: 5 star Open Data: https://5stardata.info/en/  7 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2018: Chỉ dẫn của nhà xuất bản về cấp phép dữ liệu mở: https://vnfoss.blogspot.com/2018/02/chi-dan-cua-nha-xuat-ban-ve-cap-phep-du.html  8 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Biến FAIR thành hiện thực: https://www.dropbox.com/s/wtiraui8svilgei/turning_fair_into_reality_1-Vi-30042019.pdf?dl=0, tr. 30-32  9 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Hướng dẫn của Hội đồng Nghiên cứu châu Âu về Triển khai Truy cập Mở tới các Xuất bản phẩm Khoa học và Dữ liệu Nghiên cứu trong các dự án được Hội đồng Nghiên cứu châu Âu hỗ trợ trong Horizon 2020: https://www.dropbox.com/s/lb0i9vr3t6cl1dt/h2020-hi-erc-oa-guide_en_Vi-06052019.pdf?dl=0, trang 8-9  10 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Hướng dẫn của Hội đồng Nghiên cứu châu Âu (ERC) về Triển khai Truy cập Mở tới các Xuất bản phẩm Khoa học và Dữ liệu Nghiên cứu trong các dự án được Hội đồng Nghiên cứu châu Âu hỗ trợ trong Horizon 2020: https://www.dropbox.com/s/lb0i9vr3t6cl1dt/h2020-hi-erc-oa-guide_en_Vi-06052019.pdf?dl=0, tr. 8, 10.   11 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Làm cho Truy cập Mở đầy đủ và tức thì thành hiện thực: https://www.dropbox.com/s/qv5adcecb47g65d/271118_cOAlitionS_Guidance-Vi-10042019.pdf?dl=0, phần ‘Cấp phép và các quyền’, tr. 7.  12 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2019: Biến FAIR thành hiện thực: https://www.dropbox.com/s/wtiraui8svilgei/turning_fair_into_reality_1-Vi-30042019.pdf?dl=0, tr. 34-36     Giấy phép nội dung:  https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/        Các nguyên tắc hướng dẫn FAIR: Để tìm thấy được (Findable) F1: (siêu) dữ liệu được gán một mã nhận diện thường trực và duy nhất trên toàn cầu F2: dữ liệu được mô tả với rất nhiều siêu dữ liệu (định nghĩa bởi khoản R1 bên dưới) F3: siêu dữ liệu phải bao gồm mã định danh những dữ liệu mà nó mô tả một cách rõ ràng và chi tiết F4: (siêu)dữ liệu phải được xác định hoặc đánh dấu chỉ mục trong một kho tìm kiếm được Để truy cập được (Accessible) A1. (siêu) dữ liệu có thể truy xuất được bằng mã nhận diện của chúng nhờ vào giao thức liên lạc được chuẩn hóa A1.1: Giao thức đó phải mở, miễn phí và có thể áp dụng trên toàn cầu A1.2: Giao thức đó cho phép một quá trình ủy quyền và xác thực khi cần thiết A2. Siêu dữ liệu có thể truy cập được kể cả khi dữ liệu không còn nữa Để tương hợp được (Interoperable): I1: (siêu) dữ liệu sử dụng một ngôn ngữ chính thức, có thể tiếp cận được, chia sẻ được, và áp dụng được trong việc trình bày tri thức. I2. (siêu) dữ liệu sử dụng từ vựng dựa trên nguyên tắc của FAIR I3. (siêu) dữ liệu bao gồm những tham chiếu hợp lệ (qualified reference) đến các (siêu) dữ liệu khác Để sử dụng lại được (reusable) R1. Siêu (dữ liệu) được mô tả bằng nhiều thuộc tính chính xác và liên quan R1.1: (siêu) dữ liệu được phát hành với giấy phép sử dụng dữ liệu rõ ràng và có thể truy cập được. R1.2: (siêu) dữ liệu gắn liền với nguồn gốc chi tiết của dữ liệu R1.3: (siêu) dữ liệu phải đáp ứng các tiêu chuẩn của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực của dữ liệu    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Hai dược liệu mới giúp tăng cường sinh dục nam      Từ hai loại dược liệu là dâm dương hoắc và mật nhân, nhóm tác giả ở Bệnh viện Y học cổ truyền TPHCM đã bào chế viên nén bao phim, có tác dụng tăng cường sinh dục nam, thuận tiện cho người sử dụng.    Dâm dương hoắc và mật nhân là hai trong những dược liệu được sử dụng trong việc hỗ trợ và điều trị tình trạng suy giảm chức năng sinh dục ở nam giới. Trong đó, dâm dương hoắc có vị ngọt tính ôn, có tác dụng bổ thận, tráng dương, khu phong, trừ thấp,… Icariin và epimedin C là những hoạt chất sinh học chính có trong dâm dương hoắc với nhiều tác dụng quý như tăng testosterone, bảo vệ thần kinh, điều trị loãng xương. Mật nhân có tá dụng bồi bổ khí huyết, chủ trị thiếu máu, ăn uống kém, khó tiêu, sinh lý yếu,… Mật nhân có thành phần hóa học đặc trưng là quassinoid, trong đó nổi bật với hợp chất eurycomanon với tác dụng tăng khả năng tổng hợp testosteron ở tế bào Leydig (tế bào sản xuất testosterone).        Hai dược liệu nói trên đã được đông y sử dụng trong điều trị suy giảm chức năng sinh dục nam; tuy nhiên phần lớn dưới dạng thuốc sắc, gây bất tiện cho việc sử dụng cũng như tuân thủ điều trị của người bệnh. Trước thực tế đó, nhóm tác giả Bệnh viện Y học cổ truyền TPHCM đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế viên nén bao phim từ cao chiết Dâm dương hoắc (Extractum Herba Epimedii) và cao chiết Mật nhân (Herba Radix Eurycomae longifoliae) có tác dụng tăng cường sinh dục nam”.    Từ hai dược liệu ban đầu là Dâm dương hoắc và Mật nhân, nhóm tác giả đã chiết xuất hai loại cao tương ứng. Cao chiết có dạng bột mịn, đồng nhất, màu nâu, với mùi dược liệu, dễ hút ẩm. Đồng thời, phân lập được 3 hợp chất có trong các loại cao là eurycomanone, epimedin C và icariin, với độ tinh khiết trên 95 %, hàm lượng lần lượt là 96,9 %, 90,3 %, 97,2 %.    Để cân bằng hiệu quả tác động đến khả năng sinh dục nam và tính an toàn của sản phẩm, nhóm đã chọn tỷ lệ phối hợp khối lượng cao dâm dương hoắc và cao mật nhân là 8:1 để phát triển sản phẩm viên nén bao phim dâm dương hoắc-mật nhân (MD). Đồng thời, nhóm cũng đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) cho viên nén bao phim MD, với hạn sử dụng 18 tháng.    Thử nghiệm tác dụng hướng sinh dục nam của viên nén MD trên chuột nhắt đực gây suy sinh dục bằng cách cho uống natri valproat, sau đó cho chuột sử dụng viên nén MD. Sau 2 tuần điều trị, nồng độ protein huyết tương, testosteron huyết tương, tỷ lệ tinh trùng di động và mật độ tinh trùng của chuột thử nghiệm tăng tương tự khi dùng testosteron. Ngoài ra, sau 90 ngày thử nghiệm, các cơ quan tim, phổi, gan, thận, hệ thống tiêu hóa của chuột không có hiện tượng bất thường.    Theo DS. Nguyễn Phương Nam, Chủ nhiệm đề tài, suy giảm chức năng sinh dục nam là một trong những căn bệnh khá phổ biên về nội tiết ở nam giới, đặc biệt ở người cao tuổi. Vì vậy, nhu cầu cũng như thị trường cho sản phẩm này là rất lớn. Trong khi đó, các thuốc tây y điều trị bệnh này chỉ mang tính tức thời, chứ không trị căn nguyên mà còn thường kèm theo nhiều tác dụng phụ. Do vậy, người tiêu dùng thường tìm đến các sản phẩm từ dược liệu bởi độ an toàn khi sử dụng lâu dài.    Đề tài nghiên cứu đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm qua. Nhóm tác giả mong muốn sớm được các đơn vị chức năng cho phép triển khai kết quả nghiên cứu vào công tác điều trị, thử nghiệm trên bệnh nhân, sử dụng thuốc nội bộ tại Bệnh viện Y học cổ truyền TPHCM để ghi nhận hiệu quả và kết quả điều trị, từ đó định hướng cho việc đăng ký thuốc.    Ngọc Đỗ    Author                phongvien        
__label__tiasang Hai enzyme CRISPR giúp chẩn đoán COVID chỉ mất 20 phút      Thông thường, việc thực hiện xét nghiệm nhanh COVID-19 là điều quan trọng để kiểm soát sự lan truyền của bệnh dịch, đặc biệt là khi các biến thể mới dễ lan truyền hơn xuất hiện.      Trong khi đó, xét nghiệm tiêu chuẩn vàng COVID-19 sử dụng qRT-PCR – phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase sao chép ngược định lượng – vô cùng nhạy, dò được một sao chép RNA trên mỗi micro lít, đòi hỏi thiết bị phù hợp, thời gian thực hiện hàng giờ và một cơ sở phòng thí nghiệm trung tâm.  Do vậy một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học tại các phòng thí nghiệm của Jennifer Doudna – người được trao giải Nobel Hóa học năm 2020, David Savage và Patrick Hsu tại trường đại học California, Berkeley, đã hướng tới việc phát triển một xét nghiệm chẩn đoán nhanh hơn và dễ thực hiện hơn so với qRT-PCR. Đó là việc kết hợp hai dạng khác nhau của enzyme CRISPR để tạo ra một xét nghiệm có thể dò một lượng rất nhỏ RNA của virus trong thời gian dưới một giờ. Doudna giành giải Nobel hóa học 2020 Nobel cho phát minh về kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene CRISPR-Cas9.  Trong khi kỹ thuật mới chưa vào đến giai đoạn để trở thành đối thủ xứng tầm về độ nhạy với qRT-PCR, vốn có thể dò được một vài bản sao chép của virus trên mỗi micro lít trong chất lỏng thì nó cũng sẵn sàng  khả năng chọn được RNA của virus theo từng mức – khoảng 30 bản sao chép trên mỗi micro lít – thích hợp để sử dụng để giám sát dân cư và giới hạn sự lan truyền mở rộng.  “Anh không cần phải đạt đến độ nhạy của PCR để về cơ bản bắt và chẩn đoán COVID-19 trong cộng đồng, nếu xét nghiệm đủ thuận tiện và đủ nhanh”, đồng tác giả David Savage, giáo sư sinh học phân tử và tế bào, nói. “Hy vọng của chúng tôi là thúc đẩy quá trình sinh hóa đến mức có thể hình dung ra một định dạng thuận tiện trong một môi trường mà bạn có thể được kiểm tra hàng ngày, chẳng hạn như ở cổng cơ quan”.  Các nhà nghiên cứu công bố kết quả thu được của mình trên tạp chí Nature Chemical Biology 1.  Phần lớn thử nghiệm dựa trên CRISPR đều được Cơ quan Quản lý Dược phẩm và thực phẩm Mỹ chấp thuận cho việc sử dụng khẩn cấp nhưng tất cả các yêu cầu về bước đầu tiên, trong đó RNA virus được khuếch đại vì vậy dò được tín hiệu – vốn bao gồm việc giải phóng một phân tử huỳnh quang phát sáng dưới ánh sáng xanh – đủ sáng để nhìn thấy. Trong khi sự khuếch đại ban đầu này làm tăng độ nhạy của xét nghiệm ở mức tương đương như qRT-PCR, nó cũng tạo ra các bước khiến việc thực hiện xét nghiệm bên ngoài phòng thí nghiệm trở nên khó khăn hơn.  Nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học ở UC Berkeley dẫn dắt cố gắng đạt đến một độ nhạy có thể chấp nhận được và tốc độ cần thiết mà không làm mất đi sự thuận tiện của xét nghiệm.  “Đối với các ứng dụng chăm sóc sức khỏe, anh cần phải có phản hồi nhanh để người sử dụng có thể nhanh chóng biết liệu họ có bị nhiễm hay không, ví dụ trước khi anh lên một chuyến bay hoặc đi đến một số nơi”,  Tina Liu, một nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Doudna ở Viện nghiên cứu hệ gene đổi mới sáng tạo (IGI), một trung tâm tập trung vào kỹ thuật CRISPR bao gồm các nhà khoa học ở UC Berkeley và UC San Francisco.  Bên cạnh việc khỏi có thêm bước tiếp theo, một nhược điểm khác của sự khuếch đại ban đầu là do nó tạo ra hàng tỉ bản sao RNA của virus nên tạo ra khả năng lây nhiễm chéo qua các mẫu bệnh phẩm. Kỹ thuật mới do nhóm phát triển đã loại bỏ điều này. Thay vào đó, nó thúc đẩy tín hiệu huỳnh quang, loại bỏ nguồn lây nhiễm chéo chính.  Kỹ thuật phi khuếch đại này được họ đặt trên là Dò nuclease tích hợp nhanh trong nối tầng (FIND-IT), có thể tăng cường các xét nghiệm chẩn đoán nhanh, giá thành rẻ cho nhiều loại bệnh truyền nhiễm khác.  “Trong khi chúng tôi bắt tay vào dự án này, tôi nghĩ rằng kỹ thuật này có thể được ứng dụng cho nhiều dịch bệnh khác bởi vì cuối cùng thì CRISPR được lập trình sẵn”, Liu nói. “Vì vậy anh có thể tải enzyme CRISPR với một trình tự đích virus cúm hay bất kỳ loại virus RNA nào. Hệ thống này có tiềm năng hoạt động trên nhiều loại với cùng cách thức. Công trình này của chúng tôi thực sự khẳng định chính sinh hóa là cách làm đơn giản hơn để dò RNA và có năng lực dò RNA theo một khung thời gian nhanh hơn, nhạy hơn và có thể cho những ứng dụng tương lai để chẩn đoán sức khỏe”.   Các nhà nghiên cứu hiện đang trong quá trình xây dựng khung để chẩn đoán bệnh bằng FIND-IT, bao gồm những bước tiếp theo để thu thập và xử lý các mẫu trong một thiết bị vi lưu.  Sử dụng các protein Cas nối tầng    Để loại việc khuếch đại đích, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một enzyme CRISP – Cas13 – để dò RNA của virus đầu tiên và một dạng khác của protein Cas gọi là Csm6 để khuếch đại tín hiệu huỳnh quang.  Cas13 là mục tiêu chung hướng tới của các kéo cắt RNA; một khi nó liên kết với chuỗi đích của nó, được một RNA chỉ dẫn, nó được dùng để cắt trên một diện rộng các phân tử RNA khác. Hoạt động cắt do mục tiêu kích hoạt này có thể được sử dụng để phát hiện một vài chuỗi RNA cụ thể để giải phóng phân tử phóng xạ huỳnh quang. Tuy nhiên, có thể cần hàng giờ để Cas13 tạo ra một tín hiệu có thể dò được khi một lượng RNA rất nhỏ hiện diện.  Quan điểm của Liu là sử dụng Csm6 để khuếch đại hiệu ứng của Cas13. Csm6 là một enzyme CRISPR nhạy với sự hiện diện của một số vòng RNA nhỏ và được kích hoạt để cắt một phạm vi rộng các phân tử RNA trong các tế bào.  Để thúc đẩy việc dò Cas13, bà và cộng sự đã thiết kế một phân tử hoạt hóa có khả năng cắt khi Cas13 dò được RNA của virus. Một mảnh của chính phân tử này có thể kết nối và kích hoạt Csm6 để cắt và giải phóng một phân tử phát xạ huỳnh quang sáng từ một mảnh RNA. Thông thường, phân tử hoạt hóa này nhanh chóng bị Csm6 phá vỡ cho đến khi việc giới hạn lượng tín hiệu huỳnh quang được tạo ra. Liu và đồng nghiệp tạo ra một cách biến đổi về mặt hóa học chất hoạt hóa này để bảo vệ nó khỏi sự phân rã và có thể tăng nạp Csm6 nhằm lặp lại việc cắt và giải phóng các phân tử phát xạ huỳnh quang liên kết với RNA. Các kết quả này có độ nhạy gấp 100 lần chất hoạt hóa nguyên bản.  “Khi Cas13 được tăng thêm độ hoạt hóa, nó phân tách chất hoạt hóa đó, loại bỏ một segment bảo vệ chất hoạt hóa”, Liu nói. “Giờ nó được giải phóng, có thể hoạt động nhiều hơn với các phân tử khác của enzyme thứ hai là Csm6. Và do đó, một đích được Cas13 ghi nhận không chỉ bằng việc dẫn đến sự hoạt hóa của chính năng lực cắt RNA của nó; nó còn dẫn đến việc tạo ra nhiều enzyme hoạt hóa có thể cắt được nhiều phân tử phát xạ huỳnh quang hơn”.   Nhóm nghiên cứu cũng kết hợp với một sự kết hợp tối ưu các RN hướng dẫn làm tăng cường việc ghi nhận độ nhạy của RNA virus nhiều hơn bằng c=kỹ thuật Cas13. Khi nó kết hợp với Csm6 và các chất hoạt hóa của nó, họ có khả năng dò được 31 bản sao mỗi micro lít của SARS-CoV-2 RNA trong ít nhất 20 phút.  Các nhà nghiên cứu cũng cho thêm RNA được lấy từ các mẫu bệnh phẩm vào xét nghiệm FIND-IT trong một ống vi lưu để xem xem liệu xét nghiệm này có thể đáp ứng với một thiết bị cầm tay không. Sử dụng một thiết bị nhỏ cùng một máy quay, họ có thể dò RNA của SARS-CoV-2 được lấy từ các mẫu bệnh phẩm với độ nhạy có thể phát hiện các lây nhiễm COVID-19 tại đỉnh điểm của chúng.  “Cách tiếp cận hạt nhân nối tầng này – Cas13 bổ sung Csm6— kết hợp tất cả mọi thứ vào một phản ứng tại một mức nhiệt độ 37 độ C, không đòi hỏi việc gia nhiệt lên mức cao hoặc các bước phức tạp như với những phương pháp chẩn đoán khác”, Liu nói. “Tôi nghĩ nó mở ra nhiều cơ hội  cho những xét nghiệm nhnh hơn, đơn gỉn hơn và có thể chạm đến một độ nhạy có thể so sánh được với những kỹ thuật hiện hành khác và có thể đạt tới độ nhạy cao hơn trong tương lai”.  Sự phát triển của phương pháp phi khuếch đại để dò RNA này là kết quả của một nghiên cứu tái định hướng trong IGI khi đại dịch bắt đầu gây ra những vấn đề khi chẩn đoán và điều trị COVID-19. Cuối cùng, năm phòng thí nghiệm tại UC Berkeley và hai phòng thí nghiệm tại UCSF đã tham gia vào dự án này, một trong số nhiều dự án thực hiện tại IGI.  “Khi chúng tôi bắt đầu điều này, chúng tôi hi vọng việc tạo ra những gì có thể chạm tới việc tương đương độ nhạy PCR, nhưng không đòi hỏi sự khuếch đại”, Savage, nhà nghiên cứu chính của dự án này nói. “Do đó, chúng tôi đã phải đổi mặt với một khoảng cách rộng mất mười nghìn lần để vượt qua. Chúng tôi đã phải đối mặt với khoảng cách lớn đó; chúng tôi tìm cách giảm chúng xuống ba bậc nữa. Nhờ vậy chúng toi đã ở đây. Vào cuối tháng 4 vừa qua, khi chúng tôi thực sự bắt tay vào định hình công việc, chúng tôi nhận thấy là dường như hầu hết đều không thể thực hiện được”.   Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-crispr-enzymes-covid-diagnostic-minutes.html  https://www.genengnews.com/news/crispr-enzyme-duo-enables-20-minute-covid-19-test/  ——————  1. https://www.nature.com/articles/s41589-021-00842-2       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hài hòa khát vọng cá nhân, quốc gia và toàn cầu      Khát vọng là một từ không thường dùng trong tiếng Anh. Một mặt, nó có nghĩa là mục đích, là niềm hy vọng, là sự khát khao. Mặt khác, nó chỉ một hành động đơn giản là việc hít thở – hoạt động đem lại năng lượng sống cho chúng ta. Có lẽ có một sự liên hệ ở đây. Phải chăng việc hiện thực hóa các mục tiêu cần thiết như oxy cần cho sự sống của chúng ta? Và ở đâu chúng ta tìm thấy và định rõ sự hài hòa giữa khát vọng cá nhân, khát vọng quốc gia và khát vọng toàn cầu?  &#160;      Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, số người trẻ thất nghiệp đã tăng khoảng 28 triệu người trên khắp thế giới, với 36 triệu người khác đơn giản đã từ bỏ nỗ lực tìm kiếm việc làm. Và chỉ trong vòng 15 năm, tới năm 2030, khoảng 470 triệu thanh niên sẽ tham gia lực lượng lao động toàn cầu, chủ yếu ở Châu Á và Châu Phi.   Điều này có ý nghĩa như thế nào?   —Thứ nhất, trọng tâm sẽ chuyển sang tạo việc làm, hơn là tìm sự thay thế trong các nghề hiện nay   —Thứ hai, những việc làm mới sẽ cần hài hòa với nhu cầu lâu dài của một hành tinh công bằng, bền vững và có khả năng tái tạo.   —Thứ ba, các thể chế tiếp nhiên liệu cho thị trường lao động (các trường đại học và các tổ chức đào tạo nghề và đào tạo cao học) cũng sẽ cần tạo cơ hội việc làm thông qua nghiên cứu và đổi mới, bao gồm việc hợp tác với ngành công nghiệp. Trọng tâm là mối liên kết giữa khát vọng cá nhân và sự thịnh vượng toàn cầu. Xét về mặt kinh tế đơn thuần, điều này có nghĩa rằng trong một thế giới nơi người dân khỏe mạnh hơn và được tiếp cận tốt hơn với việc làm và cơ hội, họ có thể tạo ra động lực cho nhu cầu – thúc đẩy công nghiệp, thương mại và kinh doanh. Xét về mặt giáo dục, nó đòi hỏi tư duy mới và mạnh mẽ về các phương pháp dạy và học mang tính tiêu chuẩn; cả cách thức tiếp thu kiến thức và bản chất của chính kiến thức.   Tại sao Việt Nam có số lượng giáo sư và tiến sĩ nhiều nhất ở Đông Nam Á nhưng lại không có tên trong “bảng xếp hạng thế giới“, không có trường đại học nào của Việt Nam nằm trong top 500? Phải chăng chất xám của các cá nhân xuất chúng đã không được tận dụng và tạo ra sự xuất sắc của các tổ chức?   Hay những danh hiệu như “giáo sư“ và những bằng cấp như “Tiến sĩ“ đã trở nên kém phù hợp trong nhịp bước của thế kỷ hai mươi mốt? Những kỹ sư trẻ những người đã chế tạo ra vệ tinh “Pico Dragon“ có thể không có những danh hiệu đi kèm với tên của họ nhưng họ là bằng chứng của những gì mà nền giáo dục thực thụ có thể đạt được. Nơi nào giáo dục thúc đẩy tinh thần doanh nhân nơi đó sẽ tạo ra các tác động mang cả giá trị kinh tế và giá trị trí tuệ; hơn 10% xuất khẩu của Việt Nam được tạo ra bởi các cơ sở sản xuất của Samsung tại Việt Nam và chỉ hai tuần trước, Ngân hàng Thế giới đã bắt đầu một chương trình 110 triệu đô để hỗ trợ chương trình khởi nghiệp. Nhưng, khi tin tốt lành này tới, gần 80.000 doanh nghiệp đã phải đóng cửa trong một năm rưỡi qua. Sự tăng trưởng dường như ở một số chừng mực nào đó đã trở nên đình trệ.   Tầm nhìn của chúng ta phải là gì?   Rõ ràng rằng có một nguồn dự trữ khổng lồ kỹ năng, tài năng và năng lực – những thứ gắn kết không thể tách rời với sự tiến bộ của quốc gia. Rõ ràng rằng những nỗi sợ của lịch sử và sự hoài nghi về khu vực tư nhân phải được giải tỏa và nhận thức của công chúng về công nghiệp và thương mại cho phép nhận được sự tôn trọng mà họ xứng đáng. Điều này đang diễn ra trên khắp thế giới; ví dụ nghiên cứu của Media Tenor Nam Phi đã chỉ ra rằng bất chấp báo chí đã nói rất nhiều về “sư câu kết“ trong ngành xây dựng, uy tín của ngành chẳng hề bị tổn hại nghiêm trọng.   Cuối cùng, chúng ta phải khám phá vai trò và khả năng của hợp tác quốc tế chính thức (giữa các quốc gia, hoặc với các thể chế toàn cầu). Một cộng đồng lớn hơn của tình đoàn kết tri thức, hợp tác kinh doanh và bổn phận tập thể là không thể thiếu để tạo nên sự hợp tác đó. Như ngài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu tại Liên hợp quốc hồi tháng 9, “sự giúp đỡ này phải không chỉ đến từ lòng bác ái như chúng tôi nói ở Việt Nam “lá lành đùm lá rách“ mà trước hết phải từ tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết về vận mệnh chung“.   Trong lịch sử, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao nhờ sự cam đảm. Quyết tâm. Công bằng. Sức mạnh tinh thần.   Hôm nay, cho phép tôi được đề xuất một số từ mà Việt Nam có thể nói với thế giới nếu chúng ta cần nói ra.   Vision in Education, Transforming Nations and Minds.   Tầm nhìn trong Giáo dục, Khai mở Tâm trí và Đổi mới các Quốc gia   Đó phải là thông điệp cốt lõi của chúng ta đối với ngày hội đặc biệt này, của sự tập hợp tâm và trí. Những nỗ lực và quyết tâm của Trung Nguyên nhằm khai thác sức mạnh của óc sáng tạo và tài năng được thể hiện qua sáng kiến tuyệt vời này và qua những hạt giống sáng tạo và tài năng đã và đang được vun đắp để hiện thực tầm nhìn đó.         Nhận thấy đây [chương trình Sáng tạo vì khát vọng Việt] là một sáng kiến  tuyệt vời, Chương trình Tác động Học thuật của Liên hợp quốc trông đợi  sự hợp tác với Trung Nguyên để tổ chức một cuộc thi viết luận xây dựng  trên nền tảng của Hành trình đặc biệt này. Cuộc thi dành cho sinh viên  các trường đại học trên khắp thế giới, tập trung vào chủ đề “Sáng tạo có  trách nhiệm” và cuộc thi có thể đóng góp cho tầm nhìn đó theo rất nhiều  cách.        Nhận thấy đây là một sáng kiến tuyệt vời, Chương trình Tác động Học thuật của Liên hợp quốc trông đợi sự hợp tác với Trung Nguyên để tổ chức một cuộc thi viết luận xây dựng trên nền tảng của Hành trình đặc biệt này. Cuộc thi dành cho sinh viên các trường đại học trên khắp thế giới, tập trung vào chủ đề “Sáng tạo có trách nhiệm” và cuộc thi có thể đóng góp cho tầm nhìn đó theo rất nhiều cách — thông qua các sáng kiến thiết thực, chẳng hạn như khởi nghiệp và đổi mới, cũng như những ý tưởng dự án mà thông qua thử nghiệm và hợp tác, có thể biến thành hành động. Chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ không chỉ là một cuộc thi để tìm ra những ý tưởng xuất sắc nhất và bay bổng nhất mà đây là cơ sở cho một sân chơi toàn cầu thực sự dành cho các trí tuệ trẻ.  Vậy nên, chúng ta hãy tạo ra những nền tảng cơ hội mới phong phú, sống động và sôi nổi. Chúng ta hãy tiếp thêm sinh lực cho bốn “trụ cột mới” của sự thay đổi — xã hội dân sự , khu vực tư nhân, các viện nghiên cứu và truyền thông. Thực tế, các lĩnh vực hợp tác cụ thể giữa hai hoặc nhiều các trụ cột — ví dụ sự hợp tác giữa Chương trình Tác động Học thuật của Liên hợp quốc và Tập đoàn Trung Nguyên (TNG) có thể nhằm mục đích xác định con đường dẫn đến việc chuyển đổi mà chúng ta đã nói đến, xác định những gì có thể xảy ra và cần bao nhiêu thời gian. Sự tham gia của thanh niên sẽ góp phần làm phong phú thêm nền tảng này và, lần lượt, giúp những trí tuệ trẻ tiếp thu với những ý tưởng và tri thức từ khắp nơi trên thế giới và thể hiện những tiếp thu của họ trên tinh thần chia sẻ. Sáng kiến này có thể coi là một trường hợp điển hình cho các tổ chức, các ngành và các quốc gia khác trên thế giới nghiên cứu, học tập.   ———————  * Giám đốc Ủy ban Tác động Học thuật Liên hợp quốc        Ngày hội Sáng tạo vì khát vọng Việt 2013 – do Trung ương Hội Liên hiệp  Thanh niên Việt Nam và Tập đoàn cà phê Trung Nguyên tổ chức – quy tụ đại  diện của giới học giả, trí thức, chuyên gia, doanh nhân từ Việt Nam,  Nhật Bản, Đức, Thuỵ Sĩ, Hoa Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả rập,… – những  người đã đồng hành với Hành trình vì Khát vọng Việt 2012. Sự kiện diễn  ra từ 7.00-22.00 ngày 23/11 tại Dinh Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hải ly xuất hiện tại Tây Bắc Alaska: Những tranh cãi      Hải ly mang lại những lợi ích đối với hệ sinh thái của vùng, nhưng đồng thời chúng cũng mang mầm bệnh, gây xáo trộn đời sống con người      Hải ly được mệnh danh là những “kỹ sư đắp đập đại tài” nhờ đặc điểm tự nhiên là xây đập trên các con sông và suối, và xây ổ của chúng trong các vũng nước do đập bao quanh hình thành. Ảnh: Science Focus  Vào một ngày đầu năm, Cyrus Harris nhảy lên một chiếc xe trượt tuyết và phóng đến một bán đảo gần Kotzebue, Alaska. “Đập hải ly đầu tiên mà chúng ta đang đến cách thị trấn khoảng ba dặm,” ông nói. “Gần đó là một cái đập khác, cách khoảng năm dặm là một cái đập khác nữa, trong khi đây mới chỉ là một khu vực nhỏ.”  Harris là người Eskimo (một dân tộc bản địa sống ở vùng băng giá phân bố từ Đông Siberia – Nga, qua Alaska – Hoa Kỳ, Canada, và Greenland), ông sinh năm 1957 và trải qua thời thơ ấu của mình ở Kotzebue Sound, Sisualik, Alaska. “Tôi chưa từng thấy hải ly xuất hiện ở đây”, ông phân tích. “Thật điên rồ khi một ngày nọ hải ly bỗng kéo đến, chúng hiện diện khắp toàn bộ vùng này.”  Hải ly là một loài động vật có vú chủ yếu sống về đêm và là loài sống nửa cạn nửa nước thuộc Họ Hải ly, Bộ Gặm nhấm. Chúng được mệnh danh là những “kỹ sư đắp đập đại tài” nhờ đặc điểm tự nhiên là xây đập trên các con sông và suối, và xây ổ của chúng trong các vũng nước do đập bao quanh hình thành. Hải ly cũng xây kênh để thả trôi vật liệu xây dựng mà chúng không thể kéo đi trên đất. Chúng dùng răng cửa chắc khỏe để cắt cây, thực vật được chúng dùng để xây đập và để ăn.  Hải ly hiếm khi xuất hiện ở Tây Bắc Alaska, nhưng chúng bắt đầu được người dân trong vùng nhìn thấy thường xuyên hơn vào những năm 80 và 90. Mục sư Lance Kramer (người Eskimo) vẫn thường bẫy hải ly, chủ yếu để làm mũ lông. Gần đây vị Mục sư đã hỏi một trưởng lão về lần đầu tiên ông nhìn thấy hải ly tại khu vực này. “Họ nhìn thấy chúng trên đài nguyên (tundra – một quần xã sinh vật trong đó sự phát triển của cây gỗ bị cản trở do nhiệt độ thấp và mùa sinh trưởng ngắn), và nó trông giống như một con sói, nhưng hoá nó là một con hải ly thân dài. “[Nó] đã đi rất xa trên lãnh nguyên để đến được đây, đến nỗi phần dưới đuôi của nó đã bị mòn hết cả.”  Giờ đây động vật — và ao, đập và ổ — ở khắp mọi nơi. Thông qua hình ảnh vệ tinh của khu vực Kotzebue, các nhà khoa học phát hiện ra rằng số lượng đập hải ly đã tăng từ hai đập vào năm 2002 lên 98 vào năm 2019, đồng nghĩa với việc tăng 5.000%. Và không chỉ vỏn vẹn trong Kotzebue: Các ao hải ly đã tăng gấp đôi diện tích kể từ năm 2000, với 12.000 ao ở Tây Bắc Alaska hiện nay. Chúng tác động lên hệ sinh thái, và đang biến đổi vùng đài nguyên.  Loài gặm nhấm lớn nhất Bắc Mỹ có xu hướng di chuyển về phía Bắc, một phần do biến đổi khí hậu. Khi đài nguyên ấm hơn và cây cối sinh trưởng xanh tươi hơn, nó đã thu hút hải ly, loài cần cây bụi để làm thức ăn, đập và ổ. Sự gia tăng số lượng hải ly một phần nhờ vào việc bẫy hải ly – vốn phổ biến trong nhiều thế kỷ – đã giảm dần, và chúng đang phát triển mạnh.  Gần đây, trong Báo cáo về Bắc Cực năm 2021 do Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia công bố, một báo cáo thường niên theo dõi những thay đổi trong khu vực, hải ly được xem là một “yếu tố gây xáo trộn mới”. Đó là bởi vì chúng đang xây đập nơi các con sông và tạo ra các ao sâu hơn, ấm hơn, mở ra các loại môi trường sống dưới nước mới. “Có một câu hỏi quan trọng cần đặt ra, nếu bạn đang đứng ở bất kỳ vị trí nào tại Bắc Cực, đó là ‘Còn bao lâu nữa thì hải ly sẽ di chuyển đến đó?”, Ken Tape, một nhà sinh thái học nghiên cứu về sự mở rộng của hải ly tại Đại học Alaska Fairbanks, cho biết. “Bất kỳ nơi nào chúng đến, môi trường tự nhiên sẽ đổi khác.”    Hải ly xây đập để giữ mực nước ở một mức nhất định.  Ảnh: Pinterest  Harris lo ngại rằng những con hải ly bơi trong hồ chứa cung cấp nước uống cho Kotzebue có thể sẽ sinh trưởng nhanh chóng, tràn ngập nhà máy xử lý nước cộng đồng. Hải ly (và các động vật khác) mang ký sinh trùng giardia, chúng thải phân ra môi trường, sau đó nước bị nhiễm phân của chúng có thể gây nhiễm trùng đường ruột của người và động vật. Harris cũng như nhiều người dân khác thường uống nước trực tiếp từ sông trong các chuyến đi săn và câu cá của họ, nhưng giờ đây họ đang suy nghĩ lại. “Nếu chất lượng nước của chúng tôi bị ảnh hưởng, chúng tôi biết phải làm thế nào đây?” Harris nói.  Selawik, cách khoảng 80 dặm về phía Đông, cũng là một điểm nóng của hải ly. Một số người tỏ ra khá khó chịu vì loài động vật này đang chặn đường đi săn bằng thuyền. “Các vị trưởng lão đã khuyên rằng hãy loại bỏ bớt hải ly, nhưng chẳng ai nghe theo, giờ thì chúng đã quá đông”, Ralph Ramoth Jr. (người Eskimo), một thợ săn, cho biết . Những cái ổ hải ly cao tới 15 feet khiến việc xác định phương hướng để săn những con nai sừng tấm ở vùng đầm lầy trở thành một nhiệm vụ đầy thách thức. “Những con đập cũng cản đường di chuyển của thuyền, khiến bạn không thể dùng thuyền để đi đâu”. Đôi khi anh ấy cố gắng phá công trình thủ công của hải ly, nhưng nỗ lực này cũng không thành công. “Nếu bạn làm hư hại một phần của một con đập hoặc ổ hải ly, chúng sẽ quay lại ngay và nhanh chóng tu sửa chỉ trong một thời gian ngắn,” anh nói. “Chúng quả thật là những con hải ly bận rộn.”                   Đập hải ly nhìn từ trên mặt nước. Ảnh: Wikimedia  Những thợ săn như Ramoth coi hải ly là loài gây hại, và Harris muốn chính quyền đưa ra các biện pháp nhằm kiểm soát quần thể hải ly. Nhưng nhiều người thì lập luận rằng hải ly không nhất thiết phải tạo ra một đài nguyên tốt hơn hay tồi tệ hơn – đó chỉ đơn giản là một đài nguyên khác. Kramer coi sự xuất hiện của chúng là một dấu hiệu may mắn nâng cao mức độ đa dạng của môi trường sống. “Hải ly cung cấp nhiều lợi ích sinh thái”, Kramer cho biết. “Chúng tạo ra các hồ, ao và các vùng đầm lầy lớn hơn; những con nai sừng tấm, vịt, thuỷ cầm và chuột xạ hương cũng kéo đến nhiều hơn.”  Các nhà khoa học sẽ tiếp tục theo dõi hoạt động của hải ly và những tác động môi trường mà chúng mang lại. Cho đến hiện tại, vẫn còn một câu hỏi lớn chưa có lời đáp: Liệu hải ly có đang đẩy nhanh tình trạng biến đổi khí hậu trong khu vực? Những vũng nước do các con đập của chúng tạo nên ấm hơn vùng đất xung quanh, và điều đó có thể làm tan băng vĩnh cửu và giải phóng khí nhà kính carbon lẫn metan vào bầu khí quyển. “Hải ly có thể là một nhân tố”, Christina Schädel, giáo sư nghiên cứu về băng vĩnh cửu tại Đại học Bắc Arizona, cho biết. “Nhưng chúng tôi không biết chúng gây ra tác động lớn đến mức nào. Để biết được, chúng ta phải tiến hành điều tra”.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  In Alaska, Beavers Are Engineering a New Tundra  Tundra be dammed: Beaver colonization of the Arctic  Beaver Engineering: Tracking a New Disturbance in the Arctic    Author                .        
__label__tiasang Hai nhiệm vụ trí vận ở Paris      Câu chuyện ngoại giao khoa học này của GS Tôn Thất Tùng bắt đầu vào tháng 4-1977, khi giáo sư có mặt trong phái đoàn cán bộ của Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm và ký kết một Hiệp ước về hợp tác văn hóa với Pháp. Sau khi ký Hiệp ước, giáo sư Tôn Thất Tùng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ thị ở lại Paris thêm hai tuần để cùng ông Võ Văn Sung – Đại sứ Việt Nam tại Pháp, thực hiện hai nhiệm vụ là xem xét ảnh hưởng của Hiệp ước đối với trí thức Pháp.      Giáo sư Tôn Thất Tùng khoảng những năm 1970. Nguồn: Trung tâm Di sản các nhà khoa học.  Câu chuyện ngoại giao khoa học này bắt đầu vào tháng 4-1977, khi giáo sư Tôn Thất Tùng có mặt trong phái đoàn cán bộ của Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm và ký kết một Hiệp ước về hợp tác văn hóa với Pháp. Sau khi ký Hiệp ước, giáo sư Tôn Thất Tùng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ thị ở lại Paris thêm hai tuần để cùng ông Võ Văn Sung – Đại sứ Việt Nam tại Pháp, thực hiện hai nhiệm vụ là xem xét ảnh hưởng của Hiệp ước đối với trí thức Pháp, khả năng tận dụng họ để thực hiện hiệp ước một cách thuận lợi cho khoa học nước nhà; giải thích cho trí thức Việt kiều ở Pháp hiểu được chính sách của Chính phủ Việt Nam.  Nhà ngoại giao khoa học Tôn Thất Tùng  Do đó, giáo sư Tôn Thất Tùng đã ở lại Paris và làm việc trong 18 ngày, từ 31/4 đến 17/5/1977, ngày nào cũng làm việc từ lúc 8 giờ sáng liên tục cho đến 2 giờ đêm, ban ngày gặp các trí thức và các nhà khoa học Pháp, sau đó là làm việc với các trí thức Việt kiều, đặc biệt những người làm việc trong ngành Y. Thật may mắn là trong những ngày đó, ông đã được hai nhóm Việt kiều là nhóm ngành Toán ở Đại học Paris VII và nhóm Bách khoa – cầu đường, giúp đỡ nhiệt tình.  Với mục tiêu tìm hiểu và đặt vấn đề hợp tác trong khoa học và kêu gọi các nguồn viện trợ cho Việt Nam, giáo sư Tôn Thất Tùng đã đến thăm và làm việc với các tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), Viện Pasteur, Đại học Paris VII, Trường Đại học Bách khoa, Trường Ponts et Chaussées…, đồng thời gặp gỡ các nhân vật, trí thức có ảnh hưởng lớn ở Pháp thời đó như giáo sư toán học René Thom, người được trao Giải thưởng Fields năm 1958 cùng giáo sư Klaus Roth (Anh), giáo sư vật lý Mechel; giáo sư vật lý chất rắn G Lempel; giáo sư vật lý toán David Ruelle…   Có lẽ, là người ngành Y nên giáo sư Tôn Thất Tùng đặc biệt có cảm tình và trao đổi kỹ với các đồng nghiệp Pháp, ví dụ như giáo sư Nhi khoa Robert Debré, làm việc tại Necker-Enfants Malades, bệnh viện quan trọng bậc nhất về Nhi khoa ở ở Paris và sau được mang tên ông. Hiện tại, chúng ta không có thông tin chi tiết về cuộc gặp gỡ này nhưng thái độ trọng thị của giáo sư Robert Debré trong buổi làm việc với giáo sư Tôn Thất Tùng tại Trung tâm Nghiên cứu quốc tế về Nhi đồng và Thiếu niên đã được thể hiện qua nhận xét chân tình và không kém phần ngưỡng mộ đất nước Việt Nam: “Hôm nay chúng tôi rất vinh dự và sung sướng được đón tiếp một nhân vật Việt Nam, đại diện cho một dân tộc anh hùng trong những dân tộc anh hùng. Xưa kia sử sách còn ghi lại sự hy sinh dũng cảm của 300 người Hi Lạp đã giữ vùng đèo Thermopyle dưới sự chỉ huy của Leonidas chống lại ngoại xâm Perse. [Ngày nay], nhân dân Việt Nam còn hơn Hi Lạp đã nêu cao tinh thần bất khuất đánh trả máy bay B52…”.&n      Nhìn lại những việc đã làm của mình tại Paris, giáo sư Tôn Thất Tùng cho rằng nó xuất phát từ một “động lực” sâu xa, và có thể điều ấy là: “Tôi nhớ mãi câu nói của Bác ‘cái gì có lợi cho nước thì làm, cái gì hại thì không…’. Tôi thiết tưởng một người trí thức nào biết suy nghĩ một cách yêu nước và độc lập thì cũng có thể thành công”.      Những ngày ở Paris, giáo sư Tôn Thất Tùng không chỉ “vào vai” một nhân vật ngoại giao với các cuộc gặp gỡ những nhà trí thức mà ngược lại, chất khoa học đã đưa ông trở lại vị trí thân thuộc của mình. Tại trường Đại học Paris VII, với vốn hiểu biết rút ra từ việc tham khảo tài liệu quốc tế kết hợp nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, ông còn tham gia giảng bài ở Khoa Ecotoxicologie (Sinh thái chất độc), Bệnh viện P.Brousse, Bệnh viện Eaubonne… Từ những buổi lên lớp và tới các phòng thí nghiệm về sinh học tế bào, sinh học phân tử như vậy, ông đã nhận được những chia sẻ chân tình từ các nhà khoa học ở đây. Nữ giáo sư Simone Pruseux người Pháp gốc Việt – Nga nói với ông: “­­Anh nên coi tôi như người dân Việt Nam, cần gì tôi sẽ hết sức giúp”.   Sau những cuộc tiếp xúc, trao đổi, giáo sư Tôn Thất Tùng đã đưa ra nhận định về vai trò của trí thức Việt kiều tại Pháp: “Pháp là một nước tiên tiến về khoa học, ở Pháp ta có một thuận lợi rất lớn là có rất nhiều bạn, rất nhiều người có cảm tình với dân tộc ta. Tất cả các vị trí then chốt về khoa học hay y học của Pháp đều có Việt kiều của ta. Tôi đã phát hiện rất nhiều người khoa học Việt Nam hay gốc Việt Nam mà ở ngoài Liên hiệp Việt kiều vì một vài lý do gì đấy, nhưng đều ra mặt gặp tôi và hứa sẽ giúp đỡ ta khi tôi vào thăm các cơ quan đó”.   Tìm nguồn học bổng   Nhiệm vụ “trí vận” của giáo sư Tôn Thất Tùng không chỉ đơn thuần là tìm hiểu và vận động các trí thức Pháp và trí thức Việt kiều hiểu được chính sách của Chính phủ Việt Nam mà còn là tìm nguồn hỗ trợ thiết bị và đào tạo nhân lực, những yếu tố vẫn còn hạn chế ở Việt Nam khi đó.   Với cầu nối là các tổ chức như Ban lãnh đạo Liên hiệp Việt kiều, Ban Y học Liên hiệp Việt kiều, Ban phụ trách sinh viên Y khoa Việt kiều, giáo sư Tôn Thất Tùng đã có những cuộc gặp gỡ trí thức Việt kiều, qua đó tận dụng sự hỗ trợ từ các Việt kiều đang sinh sống và làm việc ở đây như vợ chồng giáo sư Vĩnh Mậu (cháu của giáo sư Bửu Hội) là hai nhà Vật lý giảng dạy ở Orsay; giáo sư Trân dạy về Vật lý lý thuyết ở trường Đại học Bách khoa Polytechnique… Qua họ, ông đã liên hệ được với kỹ sư Nguyễn Văn Phúc (cậu ruột của giáo sư toán học Hoàng Xuân Sính) ở tỉnh Toulouse lên Paris để trao đổi. Khi đó, ông Phúc đang làm việc tại cơ sở sản xuất máy bay tỉnh Toulousse, cơ sở sản xuất máy bay dân dụng lớn nhất của Pháp. Sau buổi trao đổi với giáo sư Tôn Thất Tùng tại Paris, ông Phúc đã nhận lời về Việt Nam giúp đỡ việc sản xuất máy bay HL-1 và HL-2 vào cuối năm đó.    Các giáo sư Pháp ở Khoa sinh học, trường Đại học Paris VII. Nguồn: wiki  Thông qua những ngày làm việc với các nhà khoa học và các tổ chức, các trường, viện nghiên cứu, giáo sư Tôn Thất Tùng đã làm được cả hai điều đã định. Thứ nhất về trang thiết bị, từ lâu Pháp đã có chủ trương cung cấp cho Việt Nam những thiết bị đã qua sử dụng nhưng còn tốt của các cơ quan nghiên cứu, đặc biệt là Viện Pasteur nhưng cần có giấy phép của chính quyền Pháp (giấy phép của cơ quan phụ trách, giấy phép của Trung tâm CNRS,…) để chuyển chúng về Việt Nam và phải có tiền vận chuyển. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã không nản chí và kiên trì làm việc với Bộ Ngoại giao Pháp và đã giải quyết thành công trước khi về nước. Thứ hai về đào tạo cán bộ cho khoa học Việt Nam với nguồn học bổng từ Pháp. Vào thời điểm đó, Việt Nam mới chỉ biết đến học bổng của Bộ Ngoại giao Pháp cấp mà chưa chú ý và quan tâm khai thác những nguồn khác từ các viện nghiên cứu, các khoa tài trợ (Bourses de Institut, Facultes); Bourses de Contracts (các hợp đồng trao đổi nghiên cứu với CNRS; học bổng về Y học do nghiên cứu của Association Claude Bernard; Học bổng do các cá nhân tài trợ (Bourses Secteur privé); học bổng trường Đại học Y Paris (Collège de Medecine Paris)…   Để tranh thủ tối đa các học bổng đó cho người Việt Nam, giáo sư Tôn Thất Tùng đã bàn với các bạn Pháp và một số Việt kiều là nên sử dụng các học bổng theo định kỳ tháng chứ không phải năm như thông thường. Theo quan điểm của ông, phù hợp với tình hình Việt Nam lúc đó, Nhà nước nên cho các sinh viên đi học ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng, thay vì đi một lần trong thời gian quá lâu, như vậy một học bổng có thể được chia cho từ 2 đến 4 người trong khoảng thời gian ấy… Để tận dụng tốt cơ hội này, mỗi kỳ như vậy phải gắn với yêu cầu cụ thể bởi một số người được cử sang Pháp không phải để lấy học vị mà để bổ túc kiến thức, giải quyết một vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật… Mặt khác, ông cho rằng “nên phát triển quan hệ cá nhân giữa những người làm khoa học và muốn cho mọi sự được kết quả tốt, nên có quan hệ tốt với Sứ quán Pháp ở Hà Nội để dễ dàng trong công việc”.   Trên thực tế trong những ngày ở Paris, dựa trên mối quan hệ cá nhân của mình với Trung tâm CNRS, giáo sư Tôn Thất Tùng đã xin được hai học bổng cho hai Việt kiều vào thực tập ở Gif/Yvete để sau này về giúp đất nước trong kế hoạch sản xuất thuốc… Trong vòng hai tuần, ông đã xin được chín học bổng cho người Việt Nam ở các trường, viện nghiên cứu.   Sau khi về nước, ông được Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội cho biết, số lượng học bổng mà Pháp dành cho Việt Nam còn tới mười suất nhưng ta chưa dùng hết. Ông cảm thấy rất buồn về sự lãng phí quá mức này.   ***  Sau những ngày ở Paris, GS Tôn Thất Tùng đã đưa ra những đề nghị cụ thể trình Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông nhận định, “giữa khoa học của ta và Pháp có một khoảng trống khá rộng mà chúng ta có thể thu hẹp lại nhanh chóng, nếu chúng ta tích cực biết làm”.   Với một vấn đề lớn như vậy, giải pháp thiết thực cần được làm ngay là củng cố vị trí khoa học, văn hóa của Việt Nam ở Paris thông qua việc lập một hội đồng cố vấn khoa học với nhiệm vụ thực hiện các hợp tác mua máy móc và nên tham khảo ý kiến của các trường đại học, các viện nghiên cứu của Pháp. Do hoàn cảnh lúc đó không thuận lợi cho trao đổi thông tin giữa trong nước và quốc tế nên ông đề nghị cho phép gửi thư từ giữa những người làm khoa học với nhau, nếu cần thiết phải xây dựng một danh sách các nhà khoa học của Việt Nam để tiện cho quá trình này.   Nhìn lại những việc đã làm của mình tại Paris, giáo sư Tôn Thất Tùng cho rằng nó xuất phát từ một “động lực” sâu xa, và có thể điều ấy là: “Tôi nhớ mãi câu nói của Bác ‘cái gì có lợi cho nước thì làm, cái gì hại thì không…’. Tôi thiết tưởng một người trí thức nào biết suy nghĩ một cách yêu nước và độc lập thì cũng có thể thành công”. □  ——-  * Tham khảo nguyên bản viết tay Báo cáo về công tác trí vận ở Paris của giáo sư Tôn Thất Tùng, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.  Cũng trong những ngày ở Paris, giáo sư Tôn Thất Tùng đã đến thăm ông Nguyễn Đăng Tâm – một Việt kiều đã hợp tác với mình trong sản xuất chất LH1 để điều trị ung thư. Trao đổi với ông Tâm, giáo sư Tôn Thất Tùng được biết CNRS cắt chi phí sản xuất thuốc LH1, rút lại phòng thí nghiệm do ông Tâm điều hành tại Trung tâm Gif… Do đó, giáo sư Tôn Thất Tùng đã tìm cách tháo gỡ những khúc mắc này bằng cách báo cáo lên Bộ Ngoại giao Pháp và đồng thời gặp giáo sư Cantacurène – Phó Giám đốc Trung tâm CNRS. Kết quả là Trung tâm CNRS cấp khoản tiền 120.000 franc để đào tạo hai nhà nghiên cứu Việt Nam và hứa bổ sung kinh phí cho ông Nguyễn Đăng Tâm tiếp tục nghiên cứu, sản xuất thuốc LH1. Sau đó ông Đặng Hanh Phức là người được giáo sư Tôn Thất Tùng cử sang học hỏi kinh nghiệm và phương pháp điều chế thuốc LH1 sử dụng trong điều trị ung thư tại Pháp (sau này, ông Phức trở thành phó giáo sư trưởng bộ môn sinh hóa trường Y dược Hà Nội). Giáo sư Tôn Thất Tùng ghi lại: “Tôi đã làm như vậy và có khi thảo luận gắt gao để bảo vệ uy tín khoa học của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.    Author                Nguyễn Thanh Hóa        
__label__tiasang Hai quan điểm thiếu toàn diện về kinh tế thị trường định hướng XHCN      Đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội là một trong những yêu cầu và mục tiêu cốt lõi trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, đang tồn tại hai quan điểm chưa toàn diện về phương thức thực hiện mục tiêu này.      Quan điểm thứ nhất cho rằng việc Nhà nước trực tiếp phân phối lại quyền sở hữu tư liệu sản xuất luôn là cách hay giúp cải thiện bình đẳng, công bằng xã hội. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, thời kỳ đầu sau Đổi mới, Nhà nước đã có những thành tựu nhất định về “xóa đói giảm nghèo”, nhưng những năm qua, hiệu quả của chương trình này có dấu hiệu chững lại. Nguyên nhân bởi cách làm phần lớn có tính thuần túy cơ học là chuyển nguồn lực xã hội vào tay người nghèo, hoặc giao tư liệu sản xuất theo lối cầm tay chỉ việc, mà hiệu quả sẽ chỉ phát huy khi đối tượng thụ hưởng là những người quyết tâm, biết tận dụng cơ hội thoát nghèo. Nếu lạm dụng phương thức này tới một mức độ nào đó, nguồn lực xóa đói giảm nghèo sẽ chủ yếu đến tay những người không có đủ năng lực để sử dụng hiệu quả, hoặc những ai cứ muốn tiếp tục nằm trong diện hộ nghèo để được nhận tài trợ.  Như định lý Coase1 đã chứng minh, dù ban đầu phân bổ quyền sở hữu tư liệu sản xuất như thế nào thì về lâu dài các nguồn lực luôn tìm về tay người sử dụng có hiệu quả nhất, chỉ cần điều kiện là không có những rào cản quá lớn cản trở quyền tự do đàm phán mua bán, đầu tư, và cạnh tranh trong nền kinh tế. Nếu Nhà nước tìm cách cản trở quy luật khách quan này bằng mệnh lệnh hành chính độc đoán (ví dụ chính sách đánh thuế quá nặng, hoặc giữa chừng trưng thu của cải của các nhà sản xuất một cách bất hợp lý…) thì sẽ chỉ làm mất động lực phát triển của nền kinh tế, và khiến các nguồn lực bị lãng phí trong tay những người sử dụng kém hiệu quả. Mặt khác, việc Nhà nước tập trung vào tay mình quá nhiều quyền can thiệp, phân bổ các nguồn lực kinh tế trong khi thiếu cơ chế giám sát quyền lực đó một cách minh bạch hữu hiệu tất yếu sẽ dẫn tới nạn hối lộ và lạm quyền, đồng thời càng đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội.  Thứ hai, việc chú trọng phát triển trình độ lực lượng sản xuất để nâng cao thu nhập, đời sống người lao động, qua đó đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, là tư duy hoàn toàn đúng đắn, tuy nhiên sẽ là thiếu toàn diện nếu chỉ quan tâm tới nâng cao trình độ lực lượng sản xuất trên các khía cạnh về tri thức, khoa học kỹ thuật, và phần cứng là trang thiết bị máy móc, mà không coi trọng đúng mức tới đạo đức, thái độ, tính chuyên nghiệp trong công việc của người lao động. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, Liên Xô từng có nền KH&CN hùng cường, nhưng năng lực sản xuất hàng hóa của Liên Xô lại dần tụt hậu so với những nước khởi đầu với nền tảng KH&CN thấp hơn. Điều này do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân hàng đầu làm nên khác biệt đó chắc chắn là ở thái độ, sự chuyên nghiệp của con người trong công việc.  Nhìn vào thực trạng ngày nay ở Việt Nam, chúng ta thấy nội dung về khoa học kỹ thuật trong chương trình giáo dục đào tạo của ta rất nặng so với thế giới, nhưng chất lượng lao động của chúng ta vẫn bị doanh nghiệp trong nước và quốc tế than phiền, chủ yếu bởi vấn đề thái độ thiếu chuyên nghiệp, thói quen thích bỏ bước làm tắt. Đây là hậu quả của chính sách cải cách giáo dục hiện vẫn thiên về sửa đổi nội dung các chương trình, tức là thiên về vấn đề dạy chữ, mà không chú trọng đúng mức tới việc dạy người, cụ thể là rèn luyện thái độ chuyên nghiệp, trọng chữ tín, ý thức làm việc đến nơi đến chốn.    Tóm lại, về cơ bản, mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội trong một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi nâng cao chất lượng lao động và bình đẳng cơ hội tiếp cận, khai thác tư liệu sản xuất. Muốn vậy thì quyền lực Nhà nước phải được giám sát minh bạch, chống sự lạm quyền; sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường phải hợp lý, đảm bảo sự cạnh tranh tự do và công bằng; nền giáo dục, đào tạo phải giảm thiểu sự gian lận, chú trọng rèn luyện không chỉ về tri thức, kỹ năng mà cả phẩm chất đạo đức cùng thái độ chuyên nghiệp, tích cực để ai cũng có thể làm giàu chính đáng và phát huy tốt nhất những cơ hội của mình.     —————————-  1 Định lý của nhà kinh tế Ronald Coase (1910-2013), chủ nhân giải Nobel kinh tế năm 1991.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai quỹ đầu tư đang tìm công ty công nghệ Việt Nam      Hai quỹ đầu tư là Monk’s Hill Ventures và Digital Media Partners sẽ thông qua sự kiện Tech in Asia Arena diễn ra ngày 22-7 tới tại TP.HCM để tìm ra các công ty công nghệ Việt Nam đang trong giai đoạn khởi nghiệp để đầu tư.     Dự kiến hai quỹ này sẽ dành khoảng 30 triệu đô la Mỹ để đầu tư vào 5 công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ và sẽ có 5 công ty dạng này được chọn thuyết trình về sản phẩm của họ tại sự kiện trên.  Sự kiện trên sẽ có sự tham gia của ông Kuo-Yi Lim, Giám đốc Quỹ Monk’s Hill Ventures và bà Khor Chieh Suang, Chủ tịch Quỹ Digital Media Partners.  Được biết, Monk’s Hill dự kiến đầu tư khoảng 1 – 5 triệu đô la Mỹ còn Digital Media Partners đầu tư khoảng 0.5 – 1 triệu đô la Mỹ vào mỗi công ty mà họ chọn lựa ngay thời gian đầu. Còn Digital Media Partners sẽ đầu tư vào mỗi công ty mà quỹ này chọn thêm 3 triệu đô la Mỹ khi các công ty này mở rộng.  Trước khi làm việc tại quỹ Monk’s Hill Ventures, ông Lim Kuo-Yi từng là giám đốc điều hành của Quỹ đầu tư Infocomm Investments của Singapore với số vốn 200 triệu đô la Mỹ, chuyên đầu tư vào các công ty khởi nghiệp công nghệ toàn cầu.  Còn bà Khor Chieh Suang, trước khi làm ở quỹ Digital Media Partnersđã đã làm việc ở Bộ Phát triển kinh tế Singapore, nhằm đưa Singapore trở thành trung tâm khởi nghiệp công nghệ. Sau đó bà còn làm việc cho Quỹ đầu tư Infocomm Investments và Quỹ Nusantara Ventures.  Việc tìm kiến đối tác để đầu tư của hai quỹ nói trên là một trong hai hoạt động chính của Tech in Asia Arena với chủ đề: “Cơ hội gọi vốn và học cách vươn ra Đông Nam Á”. Một hoạt động nữa là tọa đàm, chia sẻ từ các nhà đầu tư kinh nghiệm về những điều họ đang tìm kiếm ở các công ty khởi nghiệp về công nghệ, làm thế nào để mở rộng thị trường ra khu vực cũng như vươn ra thế giới…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai thái cực của tương lai khi sử dụng robot nông trại      Robot nông trại không chỉ tồn tại trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng nữa, giờ đây chúng đã xuất hiện trong cuộc sống chúng ta – và có thể tạo ra hướng ảnh hưởng đến tương lai của ngành nông nghiệp và môi trường. Đó là lập luận của nhà kinh tế nông nghiệp Thomas Daum tại ĐH Hohenheim, Đức, trong công bố trên tạp chí Trends in Ecology & Evolution.      Utopia như một bức tranh lồng ghép những cánh đồng xanh tươi, những con suốt trong vắt và hệ động thực vật hoang dã, với những đoàn robot nhỏ.  Hai hướng ảnh hưởng thái cực đó, một là xã hội utopia (địa đàng trần gian), nơi các nhóm robot thông minh, kích thước nhỏ ở trang trại có thể sản xuất ra các loại cây trồng hữu cơ đa dạng. Hướng còn lại là xã hội dystopia (phản địa đàng), nơi những con robot to lớn và hóa chất độc hại sẽ phá hủy cảnh quan thiên nhiên.   Thomas Daum mô tả viễn cảnh utopia như một bức tranh lồng ghép những cánh đồng xanh tươi, những con suối trong vắt và hệ động thực vật hoang dã, với những đoàn robot nhỏ hoạt động nhờ nguồn năng lượng bền vững. “Nó tựa như một Vườn Địa đàng”, ông nói. “Các robot nhỏ có thể giúp bảo tồn đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu theo những cách mà trước đây chúng ta không thể thực hiện được.”  Dù phải thực hiện thêm những nghiên cứu chuyên sâu về kịch bản utopia, nhưng nó sẽ mang lại lợi ích cho môi trường theo nhiều cách. Thực vật sẽ đa dạng hơn và đất đai sẽ giàu dinh dưỡng hơn. Việc dùng thuốc trừ sâu sinh học và tia laser để xử lý cỏ dại sẽ không ảnh hưởng tiêu cực đến quần thể côn trùng, vi khuẩn trong đất, nguồn nước. Năng suất cây trồng hữu cơ sẽ cao hơn nhưng vẫn giảm thiểu được tác động của nông nghiệp đến môi trường.   Một tương lai song song với những ảnh hưởng tiêu cực vẫn có thể xảy ra. Trong viễn cảnh đó, những robot to lớn nhưng có công nghệ thô sơ sẽ san bằng cảnh quan, và một số loại cây trồng độc canh sẽ chiếm ưu thế trong khu vực trồng trọt. Do hàng rào sẽ ngăn cách con người, trang trại và động vật hoang dã nên người ta sẽ lạm dụng nhiều hơn hóa chất và thuốc trừ sâu.   Tuy vậy, ông cũng lưu ý khả năng cao tương lai sẽ không chỉ giới hạn trong một viễn cảnh thuần túy tươi đẹp hay thuần túy tệ hại. Daum đưa ra hai kịch bản với mong muốn khơi dậy những cuộc đối thoại tại thời điểm loài người đang đứng giữa ngã tư đường. “Từ góc độ công nghệ, utopia và dystopia đều có thể xảy ra. Nhưng nếu không có các chính sách phù hợp, chúng ta có thể rơi hẳn vào xã hội dystopia”, Daum khẳng định.   Những tác động này sẽ không chỉ giới hạn ở môi trường, mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người. “Robot nông trại có thể ảnh hưởng đến bạn – một người tiêu dùng. Bởi chúng sản xuất trái cây, ngũ cốc, rau quả trong chế độ ăn thường ngày của bạn,” ông nói thêm.   Trong kịch bản utopia, nông dân trong trang trại nhỏ có thể dễ dàng mua các robot nhỏ hoặc chia sẻ với nhau thông qua các dịch vụ tương tự như Uber. Ngược lại, họ khó tồn tại trong xã hội dystopia: chỉ những nhà sản xuất quy mô lớn mới có thể quản lý các vùng trồng trọt bao la và có khả năng chi trả được chi phí máy móc.   Ở một số khu vực thuộc châu Âu, châu Á và châu Phi, nơi hiện có nhiều trang trại nhỏ, người dân sẽ có ý thức hướng đến viễn cảnh utopia. Tuy nhiên, ở những nước như Mỹ, Nga hoặc Brazil – những quốc gia nơi các trang trại quy mô lớn sản xuất ngũ cốc và hạt có dầu với khối lượng lớn, giá trị thấp, thống trị, viễn cảnh có thể tiêu cực hơn. Tại đây, các robot nhỏ hoạt động kém hiệu quả hơn trong các công việc tiêu tốn nhiều năng lượng như tuốt ngô, vì vậy không phải lúc nào chúng cũng là lựa chọn hiệu quả nhất về mặt kinh tế.   Hiện tại, nhiều nước đã phát triển một số khía cạnh của viễn cảnh utopia như laser loại bỏ cỏ và sẵn sàng phân phối rộng rãi, tài trợ cho dự án về học máy và AI để phát triển robot thông minh cho các hệ thống nông trại phức tạp. Bên cạnh đó, Daum đề xuất các nước có thể đưa ra những chính sách hợp lý dưới dạng trợ cấp, quy định hoặc thuế.  “Tôi nghĩ chúng ta có thể đến được với xã hội utopia”, Daum cho biết. “Dù con đường đó không dễ đi như đường đến xã hội dystopia, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội”. □  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-farm-robots-future.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai ý tưởng hỗ trợ khởi nghiệp của Việt Nam được tài trợ      Hai trong số ba ý tưởng giành chiến thắng tại cuộc thi dành cho các nhóm khởi nghiệp được tổ chức trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh Hệ sinh thái khởi nghiệp Mê kông (Mekong Entrepreneurial Ecosystem Summit) thuộc về Việt Nam: CrowdFactory của Đỗ Trần Anh Minh – TechinAsia và&#160; Mekong Agri Tigers Vũ Kim Anh – Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ khởi nghiệp (BSA). Cả hai dự án đều được cấp kinh phí tài trợ.  &#160;    Tại cuộc thi lần này, có 30 ý tưởng của các nhóm khởi nghiệp được đề xuất. Qua việc bình chọn một cách công khai, Ban tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Hệ sinh thái khởi nghiệp Mê kông đã chọn ra được 10 ý tưởng  xuất sắc nhất vào vòng chung kết, bao gồm một ý tưởng từ Lào, một ý tưởng  từ Thái Lan, hai ý tưởng từ Campuchia, hai ý tưởng từ Myanmar và chủ nhà Việt Nam – bốn ý tưởng.  Theo quy định của Ban tổ chức, trên tinh thần sáng kiến chung dành cho khu vực, mỗi người khởi xướng ý tưởng có nhiệm vụ thuyết phục các đại biểu còn lại tham gia phát triển và hoàn thiện ý tưởng của mình, với điều kiện có ít nhất ba quốc gia cùng tham gia vào ý tưởng đó.  Buổi chấm thi chung kết đã diễn ra vào chiều ngày 13/6/2015 tại American Center (TP.HCM). Trong vòng bảy phút, mỗi đội có nhiệm vụ trình bày trước Hội đồng giám khảo những tác động của sáng kiến với cộng đồng khởi nghiệp, vai trò của các đối tác đến từ các quốc gia trong khu vực, tính bền vững của sáng kiến và kế hoạch tài chính để triển khai trong thực tế. Với thành phần đa dạng trong hệ sinh thái khởi nghiệp và kinh nghiệm khác nhau từ mỗi quốc gia, các sáng kiến chung này đã đem lại nhiều gợi ý mới mẻ cho khả năng liên kết xuyên biên giới trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp.   Cuối cùng, ba trong số các ý tưởng này đã được Hội đồng giám khảo chọn trao kinh phí hỗ trợ thực hiện, đó là  CrowdFactory của Đỗ Trần Anh Minh – TechinAsia, Mekong’s Next Top Mentor của Souphaphone Souannavong (Nana) – Toh-Lao và  Mekong Agri Tigers của Vũ Kim Anh – BSA.  Ý tưởng CrowdFactory bao gồm ba hợp phần là CrowdPitch, CrowdCoach và CrowdData. CrowdPitch là hoạt động giúp các nhóm khởi nghiệp có cơ hội luyện tập giới thiệu dự án của mình trực tiếp đến cộng đồng. Sẽ có nhiều buổi được tổ chức hàng năm (tùy theo tình hình của từng nước) và mỗi buổi sẽ có bốn nhóm khởi nghiệp tham gia giới thiệu. Người xem trả tiền mua vé và 75% số tiền này sẽ được đầu tư trực tiếp cho nhóm khởi nghiệp mà họ yêu thích nhất. Thực chất, đây là hoạt động gọi quỹ cộng đồng trực tiếp.  CrowdCoach là hoạt động song hành cùng CrowdPitch. Người đạt thứ hạng cao nhất trong CrowdPitch sẽ được tham dự CrowdCoach, nơi họ có dịp trao đổi trực tiếp và được tư vấn sâu với bốn cố vấn trong thời lượng hai tiếng đồng hồ. Hoạt động này được hỗ trợ bởi CrowdData, là các tổ chức địa phương chuyên tập hợp các nhóm khởi nghiệp và cố vấn. Với data thu thập trong hoạt động của mình về hệ sinh thái, CrowdData hỗ trợ và đảm bảo sự vận hành lâu dài của các hoạt động thuộc CrowdFactory.  Sáng kiến của Đỗ Trần Anh Minh (TechinAsia) đã thu hút được các đối tác: SHIELD (Việt Nam), GET – Global Entrepreneurship (Thái Lan), Toh-Lao (Lào), MCIA (Myanmar), MYEA (Myanmar), Startup.vn (Việt Nam), SmallWorld (Campuchia).     Theo nhận định của ban giám khảo,  tác động của dự án rất rõ ràng, mang tính kết nối và tác động trực tiếp tới các nhóm khởi nghiệp. Số tiền nhận được từ mỗi buổi CrowdPitch không nhiều nhưng cơ hội để tương tác trực tiếp với công chúng đa dạng của cộng đồng khởi nghiệp lại rất rộng và liên tục. Mô hình đơn giản, dễ nhân rộng ở nhiều nước, quy mô vốn huy động cũng có điều kiện tăng lên khi tập hợp được đám đông tham gia có điều kiện tài chính tốt hơn. Tính cam kết và thuyết phục của nhóm rất cao. Không chỉ người đứng dầu nhóm (Đỗ Trần Anh Minh) nổi bật và quen thuộc trong cộng đồng khởi nghiệp mà còn có sự tham gia của các đối tác tin cậy khác trong khu vực. Vì vậy, ý tưởng đã nhận được kinh phí tài trợ là 7.500 đô la.   Ý tưởng thứ hai được đánh giá cao là Mekong’s Next Top Mentor, đây là chương trình tư vấn khu vực kéo dài trong ba ngày, tổ chức tại Lào với sự tham gia của 50 đại diện từ Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia, Myanmar và Việt Nam. Các cố vấn chính là những ngôi sao khởi nghiệp từ Mekong (cụ thể là Patai, Krating và Tiwa từ Thái Lan; Nguyễn Hải Triều từ Việt Nam; và La Min Oo từ Myanmar). Đây cũng là cơ hội để kết nối các nhóm khởi nghiệp với nhà đầu tư. Mục tiêu của chương trình là tư vấn cho các nhóm khởi nghiệp với kinh nghiệm đa dạng của nhóm cố vấn, tác động đến cách tư duy của các nhóm khởi nghiệp công nghệ, cải thiện mối liên kết giữa các nhóm khởi nghiệp trong khu vực. Các nhóm khởi nghiệp này sẽ lại trở thành cố vấn cho các nhóm khởi nghiệp khác, đồng thời đóng góp kinh phí để tổ chức cho các chương trình tiếp theo.  Sáng kiến của Souphaphone Souannavong (Nana) – Toh-Lao thu hút được các đối tác trong khu vực: MCPA, I BIZ (Myanmar), HUBBA Co-working space, Phòng Thương mại tỉnh KhonKaen, PIMAN Group (Thái Lan).   Ban giám khảo cho rằng, tác  động của ý tưởng rõ rệt không chỉ đối với các nhóm khởi nghiệp mà cả với hệ sinh thái khởi  nghiệp của Lào và khu vực. Tư vấn khởi nghiệp là hoạt động còn thiếu ở  nhiều nước, ở nước có hoạt động này thì năng lực của cố vấn còn yếu và  thiếu sự tổ chức, gắn kết. Thực tế này cũng phản ánh qua các buổi thảo  luận trong Hội nghị. Hệ sinh thái khởi nghiệp của Lào còn quá mới nên nỗ  lực của nh1om này là rất đáng quý, cần được hỗ trợ. Hoạt động của  nhóm sẽ góp phần kích hoạt và cuốn hút nhiều hơn sự tham gia của cộng đồng  doanh nhân Lào vào hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp. Tính kết nối khu vực là  có nhưng không nhiều tuy nhiên với mức độ phát triển của Lào thì có  thể chấp nhận được.     Cũng như với CrowdFactory, Mekong’s Next Top Mentor nhận được 7.500 đô la tài trợ.  Ý tưởng thứ ba thuộc  về Mekong Agri Tigers của Vũ Kim Anh (BSA). Trong hai năm qua, BSA đã xây dựng và hỗ trợ hoạt động của 14 câu lạc bộ Sáng tạo Khởi nghiệp tại các tỉnh thành ở Việt Nam nhằm kết nối thanh niên tại khu vực nông thôn, cung cấp các khóa đào tạo và hỗ trợ ứng dụng công nghệ trong phát triển ý tưởng kinh doanh để khởi nghiệp, khuyến khích xây dựng sự nghiệp  ngay tại quê hương thay vì lên các đô thị lớn kiếm việc làm. Bên cạnh đó, BSA lập Câu lạc bộ Các nhà đầu tư thiên thần, nhằm hỗ trợ kinh nghiệm và tài chính cho các dự án Thanh niên nông thôn khởi nghiệp.   Từ Việt Nam, mô hình này có thể được nhân rộng tại các vùng nông thôn khác trong khu vực hạ lưu sông Mê kông để mở rộng và kết nối với mạng lưới cố vấn và nhà đầu tư thiên thần tại mỗi nước, qua đó, khơi luồng cho các hoạt động trao đổi kinh nghiệm khởi nghiệp và chia sẻ lợi ích xuyên biên giới.   Ý tưởng thu hút nhiều đối tác trong khu vực: Myanmar Women Entrepreneur Association, Myanmar Young Entrepreneur Association (Myanmar), Cambodia Women Entrepreneur Association, Cambodia Food Security Network (Campuchia), Department of SME Promotion và National University of Laos (Lào).     Trước ý tưởng này, Ban giám khảo nhận xét, đây là ý tưởng thiết thực vì khu vực hạ lưu sông Mê kông phần lớn người dân sống ở nông thôn và hoạt động nông nghiệp. Dự án được lựa chọn vì tính tác động cao và tiếp cận cộng đồng nông thôn đông đảo ở các nướcMê kông. Ở Việt Nam dự án đã thực sự hoạt động giúp ích cho thanh niên khởi nghiệp. Mô hình có thể triển khai thành công ở các nước khu vực với sự hướng dẫn chia sẻ của Việt Nam. Tính cam kết của nhóm thực hiện cao, thu hút được nhiều hội nữ doanh nhân và hội phụ nữ các nước còn lại tham gia, qua đó cho thấy khả năng kết nối khu vực tốt. TIGERS@Mekong đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp – nông thôn và các hoạt động có chiều sâu, có tính chất bền vững trong thời gian tới của Mekong Agri Tigers, mà cụ thể là khả năng kết nối cộng đồng khởi nghiệp công nghệ với thị trường nông nghiệp hiện nay đang hoàn toàn bị bỏ ngỏ tại các quốc gia Mê kông này.  Bam giám khảo đã quyết định tài trợ cho dự án 5.000 đô la.    Hội nghị thượng đỉnh Hệ sinh thái khởi  nghiệp Mê kông, nằm trong khuôn khổ chương trình TIGERS@Mekong do Bộ  Ngoại giao Mỹ tài trợ, được tổ chức để tạo cơ hội gặp gỡ và hình thành  mối liên kết giữa các hệ sinh thái khởi nghiệp của năm quốc gia với  nhau. Thông qua mối liên kết này, các nguồn lực khởi nghiệp có thể được tập hợp, phân  bổ và sử dụng hiệu quả hơn, thúc đẩy sự ra đời của các công ty mới dựa  trên việc ứng dụng tiến bộ KHCN.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn chế tầm nhìn thì dễ bị lòng tham chi phối      Làm thế nào để phát triển kinh tế “mang  khuôn mặt con người” là câu hỏi thường trực khiến PGS.TS Trần Đình  Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, luôn suy nghĩ, tìm kiếm. Theo  ông, nếu như tự do – quyền năng của kinh tế thị trường – được các nhà  làm chính sách khai thông, sẽ ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống và con  người thị trường.    Ông nghĩ gì về cuộc tranh luận giữa TS Alan Phan và hiệp hội Bất động sản vừa qua về thị trường nhà đất?  Về nội dung, cuộc tranh luận ấy là hay và cần thiết. Việt Nam rất cần những cuộc tranh luận công khai, thực chất, thẳng thắn và có chiều sâu về các vấn đề lớn như thế này, không chỉ trong kinh tế mà cả các lĩnh vực khác.  Cuộc tranh luận giữa TS Alan Phan, thoạt đầu là với một nhóm người đại diện cho câu lạc bộ Bất động sản Hà Nội, thu hút sự chú ý của ngày càng nhiều người – không đơn thuần chỉ vì nội dung của nó mà bởi cái được gọi là văn hoá tranh luận. Thực chất vấn đề là ở chỗ nhiều ý kiến đưa ra trong cuộc tranh luận có xu hướng chuyển sang phê phán cá nhân, lôi chuyện đời tư ra thay cho việc nêu các luận cứ, cung cấp tri thức để giải quyết vấn đề. Chính cuộc tranh luận như vậy đặt ra một vấn đề tưởng như không có gì nhưng lại là một “điểm tối” văn hoá đang bị cố che giấu đi ở ta.  Theo ông, lực cản nào là lớn nhất khiến chúng ta chưa kiểm soát được nhịp độ cải cách thị trường?  Nói duy nhất một lực cản nào là chính thì hơi khó. Đúng nhất là nên kể một số lực cản. Theo tôi, một cách khái quát, ta chưa kiểm soát được nhịp độ cải cách thị trường là vì trước hết, chúng ta chưa giải quyết thật rõ ràng mối quan hệ cơ bản nhất của chiến lược phát triển – cơ chế bảo đảm sự kết hợp hiệu quả giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Công thức phát triển này, cũng là khái niệm quan trọng nhất của sự phát triển hiện đại của Việt Nam, đã được nêu ra vài chục năm nay, vẫn chưa có sự giải thích đầy đủ, thuyết phục.  Nguyên nhân thứ hai là vấn đề tầm nhìn phát triển – là nhận thức, là tư duy về thời đại cho đúng tầm thời đại. Nghĩa là phải định vị đúng đất nước mình trong thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, thời đại công nghệ cao để tìm cơ hội bứt phá, để vượt lên, sao cho có thể dần tiến kịp các nước đi trước chứ không phải cứ tiếp tục tụt hậu, thậm chí tụt hậu xa hơn, như hiện nay.  Cho đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn chưa thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô, vào công nghiệp lắp ráp và gia công; bị lệ thuộc nặng vào vốn đầu tư dễ. Mô hình tăng trưởng này phải được vượt bỏ nhanh thì nước ta mới có cơ hội “tiến kịp để tiến cùng thời đại”. Mà thời đại ngày nay lại chính là thời đại “nhanh thì thắng, còn chậm thì chẳng bao giờ”.  Gần đây, ta nói nhiều về đổi mới mô hình tăng trưởng, về tái cơ cấu. Nhưng thực tế chưa làm được bao nhiêu. Một phần quan trọng là do những khó khăn ngắn hạn ngày càng gay gắt, phải tập trung trí tuệ và nguồn lực để lo tháo gỡ, chạy chữa. Nhưng một phần quan trọng là do tầm nhìn hạn chế, lại bị thiên kiến đè nặng, mãi chưa thoát khỏi cách nhìn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, vẫn muốn Nhà nước chi phối, dẫn dắt thị trường chứ chưa phải Nhà nước dựa vào thị trường và cùng với thị trường điều tiết nền kinh tế. Bị trói trong cái này thì khó thông thoáng, không thể mạnh dạn mở cửa, tích cực chuẩn bị các điều kiện cho hội nhập. Mà khi bị hạn chế tầm nhìn thì dễ mắc bệnh thiển cận, dễ bị lòng tham chi phối.  Trong các đánh giá về kinh tế, ông rất coi trọng giá trị của niềm tin, sự tự do. Theo ông, vì sao niềm tin của người dân và của doanh nghiệp bị tổn thương nhiều như vậy khi nhìn vào tương lai? Làm thế nào để gầy dựng lại?  Cách đây mười mấy năm, khi tạp chí Far Eastern Economic Review chưa giải tán, trong mục bình chọn câu nói hay trong tháng, họ chọn câu nói về cách phát triển của Việt Nam, đại thể là Việt Nam không thích đi thẳng bình thường mà lại thích đi ngoặt: mỗi năm đến mấy bước ngoặt; mà cứ bước ngoặt riết rồi không biết sẽ đến đâu! Tôi rất ấn tượng với ví dụ này. Và từ đó, cũng suy nghĩ nhiều thêm về cách phát triển của ta.  Tất nhiên trong ví dụ trên, thích kiểu phát triển “bước ngoặt” hay “đi thẳng” là một cách nói. Bước ngoặt thì vẫn rất cần cho phát triển, nhất là cho những nước đi sau. Nhưng không thể cứ hô hào bước ngoặt quanh năm, rồi dựa vào đó mà lao theo các phong trào, theo các “hội chứng”. Cần thiết và chủ yếu là phải phát triển bình thường, đi thẳng. Vậy thôi. Lòng tin có cơ sở đơn giản như vậy, không màu mè, đừng lên gân. Nếu không thì sẽ quá tải, quá trớn, lòng tin sẽ bị suy giảm và suy kiệt.          Chúng ta chưa giải quyết thật rõ ràng mối  quan hệ cơ bản nhất của chiến lược phát triển – cơ chế bảo đảm sự kết  hợp hiệu quả giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.  Công thức phát triển này, cũng là khái niệm quan trọng nhất của sự phát  triển hiện đại của Việt Nam, đã được nêu ra vài chục năm nay, vẫn chưa  có sự giải thích đầy đủ, thuyết phục.        Cụ thể hiện nay, niềm tin thị trường chỉ có khi các chính sách quản trị và điều hành vĩ mô bảo đảm được tính nhất quán và sự ổn định. Trong thời gian qua, đây là một trong những điểm yếu nhất trong hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô của nước ta. Việc điều hành chủ yếu dựa vào các giải pháp hành chính, được sử dụng thường xuyên nhưng rất khó phối hợp và gây xung đột.  Vì vậy, kể từ khi trở thành thành viên WTO, mặc dù có nhiều cơ hội lớn để bứt phá phát triển, nền kinh tế nước ta lại rơi vào trạng thái khó khăn không bình thường: tốc độ tăng trưởng suy giảm liên tục, lạm phát cao, lên xuống thất thường, rơi vào bất ổn kéo dài, bộc lộ rõ những điểm yếu nghiêm trọng về cơ cấu, những bất cập của mô hình tăng trưởng.  Trong điều kiện như vậy, lòng tin suy giảm mạnh là không tránh khỏi. Môi trường chính sách thay đổi quá nhanh, lại mang tính hành chính cao độ nên khó đoán định. Đó là chưa kể sự phân biệt đối xử trong cách điều hành, rồi cơ chế xin – cho tuỳ tiện. Khi đó, doanh nghiệp sẽ không biết phải ứng xử chính sách thế nào cho phù hợp. Đó là chưa kể tinh thần hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân, của các chính sách nhiều khi không rõ, thậm chí rất yếu. Có thể nêu cách điều hành chính sách lãi suất vài năm qua làm ví dụ.  Một yếu tố khác ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của doanh nghiệp là tính công khai, minh bạch của môi trường thông tin. Ai cũng biết môi trường thông tin thiếu công khai minh bạch thì không thể hoạch định chiến lược và chính sách đúng. Đây chính là loại rủi ro phát triển lớn nhất trong thời đại công nghệ thông tin.  Gầy dựng lại lòng tin thị trường, doanh nghiệp, chắc chắn không thể ngày một ngày hai và bằng cách thức dễ dàng. Và tuyệt đối không thể theo lối mị dân.  Chúng ta thường nghe câu “khủng hoảng, khó khăn là cơ hội của cải cách”. Chúng ta tin vào nguyên lý đó. Chúng ta chờ đợi điều đó xảy ra sớm trong nền kinh tế nước ta. Nhưng cho đến nay, đã sáu năm sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế ngày càng khó khăn, số doanh nghiệp “ra đi” tiếp tục tăng lên. Nhưng cải cách – dưới hình hài cụ thể là tái cơ cấu, là đổi mới mô hình tăng trưởng, vẫn tiếp tục là cơ hội mà chưa thấy chuyển hoá thành hiện thực như trông đợi. Để lấy lại lòng tin, chỉ có một cách: hành động cải cách thực sự, quyết liệt và bài bản. Tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng phải diễn ra thực, không thể chỉ “quyết liệt” hô hào, chỉ dừng lại ở các đề án trên giấy và các cuộc tranh luận trong các phòng họp.  Điểm cuối cùng tôi muốn nói: muốn được dân tin, doanh nghiệp tin thì trước hết Nhà nước, Chính phủ phải tin dân, tin doanh nghiệp. Vế thứ hai này lâu nay ít được quan tâm. Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân không được đánh giá đúng, vị thế của lực lượng doanh nghiệp trong phát triển chưa được coi trọng đúng mức. Chức năng của thị trường còn bị bộ máy quản lý điều hành nhà nước lấn át, chèn ép.  Nhìn vào số lượng doanh nghiệp bị phá sản, ông có chia sẻ gì với doanh nhân khi được mất, thành bại… chỉ trong gang tấc?  Tôi luôn luôn coi doanh nhân là lực lượng quyết định sự phát triển trong nền kinh tế thị trường. Ở đây, tôi nhấn mạnh khu vực tư nhân bởi vì đây là lực lượng yếu thế, thường là đối tượng bị phân biệt đối xử, trong khi nó cần phải được đối xử một cách công bằng và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, trước hết là đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.  Trong quan niệm của tôi, việc hình thành lực lượng doanh nghiệp mà chúng ta có như ngày hôm nay, dù còn nhiều yếu kém, vẫn phải được coi là thành quả quan trọng nhất của công cuộc đổi mới. Đổi mới mang lại rất nhiều kết quả to lớn, thậm chí, có những kết quả mang tính đổi đời như tăng trưởng GDP, tăng trưởng xuất nhập khẩu, hay ấn tượng còn hơn thế – thành tựu xoá đói giảm nghèo. Nhưng lực lượng doanh nghiệp – chủ thể quyết định sự phát triển của nền kinh tế thị trường, lực lượng định vị chân dung thời đại của Việt Nam, quyết định vị thế của Việt Nam trong tấm bản đồ kinh tế thế giới hiện đại, phải được coi là thành quả quan trọng nhất của quá trình đổi mới.  Với quan niệm như vậy, ai chẳng đau lòng khi thấy hàng trăm ngàn doanh nghiệp “ra đi” trong vài năm qua. Nhưng không có gì phải bi luỵ. Nó trái với bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt, con người Việt. Tất nhiên, các doanh nhân Việt Nam đang trải qua một cuộc thử lửa khốc liệt. Cạnh tranh quốc tế sống còn, bươn chải kinh doanh trong điều kiện lạm phát bất thường và lãi suất cao vượt trội các đối thủ cạnh tranh quốc tế của mình – tôi chia sẻ với doanh nghiệp Việt Nam tất cả những khó khăn này. Nhưng từ đây, để thực sự công bằng, cần phải nhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độ. Một là mổ xẻ những nguyên nhân thuộc về mô hình phát triển, cơ chế và chính sách vận hành, các giải pháp điều tiết – tức là những nguyên nhân gắn với hệ thống quản trị, điều hành kinh tế quốc gia với chủ thể là Nhà nước, làm cho các doanh nghiệp của ta chậm lớn, khó phát triển, thậm chí, không muốn phát triển theo đúng nghĩa. Hai là phải làm rõ xem doanh nghiệp Việt Nam bươn chải lên như thế nào – có bản lĩnh, tự xây đắp năng lực để tự vươn lên, để thắng trong cạnh tranh hay vẫn mang tâm lý dựa dẫm Nhà nước, chỉ ham “đánh quả”, đầu cơ chụp giật. Câu hỏi phải được đặt ra một cách nghiêm túc là tại sao doanh nghiệp Việt Nam chậm lớn đến vậy? Nguyên nhân tự thân từ doanh nghiệp là ở đâu? Tôi nghĩ rằng câu hỏi chưa được đông đảo các doanh nghiệp tìm cách trả lời một cách nghiêm túc và nghiêm khắc. Những nguyên nhân yếu kém tự thân của một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp Việt Nam đang bộc lộ ngày càng rõ – thói dựa dẫm vào Nhà nước, tính ham đầu cơ chụp giật, sự ham thích kinh doanh kiểu “đánh quả”, ngại cạnh tranh, thiếu tầm nhìn chiến lược, v.v. đang bắt họ phải trả giá. Mọi sự đang vận hành đúng theo nguyên lý: lợi nhuận dễ thì rủi ro càng lớn.          Phải thoát khỏi cái bóng, cái ô che ban  phát, kiểu như kích cầu hay xin “ưu đãi chính sách” mỗi lúc gặp khó  khăn, lao vào cuộc cạnh tranh bằng cái đầu và đôi chân của chính mình  chứ không phải bằng sức lực xin cho từ Nhà nước.        Đó chính là vấn đề lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Không thể đơn thuần chỉ ngồi đổ lỗi cho mô hình, cho cơ chế mỗi lúc gặp khó khăn, cho rằng mình vô can, chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh. Phải thoát khỏi cái bóng, cái ô che ban phát, kiểu như kích cầu hay xin “ưu đãi chính sách” mỗi lúc gặp khó khăn, lao vào cuộc cạnh tranh bằng cái đầu và đôi chân của chính mình chứ không phải bằng sức lực xin cho từ Nhà nước.  Chỉ khi đó, chúng ta mới có lực lượng doanh nhân thực sự đúng nghĩa là lực lượng quyết định vận mệnh phát triển của nền kinh tế quốc gia.  Vậy theo ông, khi nào kinh tế Việt Nam mới thực sự đảo chiều?  Tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam chỉ thực sự đảo chiều khi quá trình tái cơ cấu thực sự diễn ra một cách bài bản, hệ thống, nhằm mục tiêu thay đổi cả mô hình tăng trưởng chứ không phải chỉ là những thay đổi cục bộ, rời rạc và mang tính đối phó tình thế như hiện nay.  Muốn tái cơ cấu thì phải chấp nhận trả giá, phải chịu đau, phải tốn tiền. Có vẻ như chúng ta hoặc chưa sẵn sàng cho điều này, hoặc cho rằng không cần phải như vậy vẫn đạt kết quả tái cơ cấu mong đợi. Có lẽ phải gạt bỏ những ảo tưởng kiểu này mới tái cơ cấu thật sự được.  Nền kinh tế phải tốn tiền, thậm chí tốn nhiều tiền mới tái cơ cấu được. Nhưng việc tạo ra thể chế mới từ đó sẽ cứu được doanh nghiệp.  Logic là như vậy. Kinh tế nghĩa là phải có chi phí mới có thu nhập, không cái gì có thể ăn không được. Muốn có thể chế tốt thì cũng phải trả tiền. Chỉ có điều là nếu biết chọn đúng mục tiêu thể chế và cách làm thì sẽ đỡ tốn tiền đáng kể.  Kinh tế thị trường và tư duy điều hành của nhà nước còn đang lẫn lộn vào nhau, các giá trị chưa được thiết lập đã dẫn đến những bất cập, đổ vỡ trong nền tảng đạo đức, lối sống, quyền sở hữu tài sản của người dân…?  Đúng là như vậy. Cho đến nay, vẫn còn tình trạng “thừa nhà nước ở chỗ thị trường không cần, nhưng lại thiếu nhà nước ở chỗ cần”. Đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, lại phải tốc hành đổi mới thể chế để tiến kịp loài người đi trước hàng trăm năm, điều này cũng là tất nhiên thôi. Chỉ có một điều đáng tiếc: Việt Nam là nước đi sau, đáng ra có thể rút ngắn quá trình định hình cấu trúc thể chế nhà nước – thị trường với sự phân định chức năng rõ ràng sớm hơn, nhưng thực tế lại không như vậy. Thậm chí, định hướng xã hội chủ nghĩa còn bị vận dụng không đúng, bị lạm dụng để hãm chậm quá trình phát triển thị trường bình thường và lành mạnh.  Trong bối cảnh cơ chế vận hành chậm được định hình như vậy đương nhiên sẽ có những trục trặc, những đổ bể không đáng có.  Làm thế nào để ông giữ được cái nhìn tích cực trước bức tranh sáng tối lẫn lộn của xã hội hôm nay?  Tôi nhớ mãi một câu nói của Karl Marx, đại thể là loài người luôn chuẩn bị cho sự ra đời của một thời đại mới bằng bi kịch, nhưng chia tay với quá khứ của mình bằng sự vui vẻ, bằng hài kịch.  Đó là cách nhìn lạc quan, tích cực về tương lai mà mình muốn tới. Lúc nào cũng cần như vậy.  Hạnh phúc lớn nhất với ông là gì?  Đơn giản thôi – hiểu thấu đáo hơn đất nước mình, dân tộc mình, góp phần để đất nước bay lên, không bị tụt hậu so với loài người.  Thực hiện: Kim Yến    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc dùng Trí thông minh nhân tạo vận hành khách sạn      Để nâng cao chất lượng phục vụ cũng như tăng sự hài lòng của khách hàng, hai hãng viễn thông Hàn Quốc đang thử nghiệm đưa Trí thông minh nhân tạo (AI) vào vận hành khách sạn.      AI NUGU sẽ giúp khách sạn phục vụ khách hàng tốt hơn – Ảnh: South China Morning Post  SKT và KT cho biết hai hãng này đang thử nghiệm AI trong khách sạn, nhằm cung cấp các dịch vụ gia tăng cho khách.  Cụ thể, SKT cho biết họ đã cài đặt nền tảng NUGU AI của mình trong 44 phòng của Vista Walkerhill Hotel ở phía đông Seoul. SKT sẽ cài đặt nền tảng này cho tất cả các phòng của khách sạn Vista Walkerhill trong quý 3 này.  AI NUGU cho phép khách kiểm soát độ sáng trong phòng, rèm cửa và nhiệt độ thông qua lệnh thoại, hãng cho biết.  Ngoài những việc trên, khách còn có thể check thời gian trả phòng, thời gian ăn sáng cũng như các thông tin khác của khách sạn chỉ thông qua lệnh thoại.  Ví dụ, nếu khách hàng hỏi về cách đón xe buýt từ khách sạn. AI NUGU sẽ chỉ dẫn: “Bạn có thể đón xe buýt tại trạm chờ ở đối diện khách sạn. Xe buýt hoạt động từ 6 giờ sáng tới 11 giờ tối, cứ mỗi 10 phút lại có một chuyến”.  Theo SKT, kể từ khi họ cho ra mắt NUGU hồi tháng 9.2016, đến nay AI này đã có tổng cộng 40 loại dịch vụ khác nhau trên nền tảng của mình.  “Việc đưa NUGU vào Khách sạn Vista Walkerhill được kỳ vọng sẽ giúp mở rộng dịch vụ AI của chúng tôi đến khu vực dịch vụ khách sạn”, Park Myung-soon, người đứng đầu bộ phận kinh doanh AI của SK Telecom tuyên bố.  “SKT sẽ mở mã nguồn của nền tảng AI để bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng tìm hiểu và dùng nó. Chúng tôi sẽ dẫn đầu xu hướng phổ biến AI cho công chúng”.  Tháng trước, KT cũng đã mở một khách sạn công nghệ ở trung tâm Seoul với nền tảng AI nhận dạng giọng nói Giga Genie của họ.  Thiên Hà (theo South China Morning Post)  Nguồn: Motthegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc phát triển hệ thống blockchain mới      Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã phát triển một hệ thống blockchain mới, đặt tên là PureChain.      Theo họ, hệ thống mới này sẽ giải quyết các vấn đề quan trọng liên quan đến hệ thống blockchain hiện hành và có thể ứng dụng cho tiền tệ số của ngân hàng trung ương (CBDC).  Nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia viện Khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc, đại học Kyung Hee, công ty R&D bảo mật ICTK và hãng dịch vụ blockchain và tiền điện tử EpitomeCL, đã tổ chức họp báo ở Seoul hôm 24.5 để công bố hệ thống mới.  Nhóm chuyên gia cho rằng hệ thống block-chain hiện hành bị ảnh hưởng bởi ba vấn đề quan yếu: độ trễ trong đồng thuận, tốc độ giao dịch và xác minh người dùng chậm. Nhưng hệ thống PureChain với các chức năng không thể sao chép vật lý (PUF), dường như đã giải quyết thành công các vấn đề vừa nêu.“Đây là một công nghệ blockchain thực tế có thể áp dụng cho CBDC”, Han Ho-hyeorn, giáo sư đại học Kyung Hee, trưởng nhóm nghiên cứu trong năm qua, nói.  PUF là một công nghệ đã được chứng minh với các đặc tính vật lý bất khả sao chép. PUF ghi nhận các giá trị ngẫu nhiên duy nhất có thể so với dấu vân tay hoặc ADN. Nhờ tính năng không thể bắt chước, các giá trị không thể bị rò rỉ, PUF được tin cậy đối với IoT và các chức năng bảo mật liên lạc giữa thiết bị với thiết bị.  PureChain là công nghệ ngang hàng (P2P) đơn giản, an toàn và nhanh chóng khi hoàn tất giao dịch thông qua đồng thuận giữa hai nút tương tác, nhóm nghiên cứu cho biết. Quy trình này không chỉ cho phép các giao dịch không có các can thiệp của bên thứ ba, nhưng còn giúp tăng tốc độ quá trình xác nhận lên theo cấp số nhân. Ngoài ra, sự an toàn được duy trì mà không có các trì hoãn giao dịch hoặc độ trễ đồng thuận. PureChain tối đa hoá tài sản vật lý đã nêu trên để đơn giản hoá và tăng tốc quy trình xác nhận, theo nhóm nghiên cứu. Nó có thể được dùng cho các thuật toán đồng thuận trong các hệ thống blockchain hoặc tiền điện tử hiện hành.  “PureChain chỉ là công nghệ PUF không đòi hỏi phải sử dụng các mã sửa sai đã cản trở sản xuất hàng loạt các loại PUF khác.Nhờ vậy, các ứng dụng PUF trải ra trên diện rộng từ bảo mật công nghệ blockchain đến IoT, xác minh người dùng và nhiều thứ khác”, CEO ICTK S. Sam Yu nói. ICTK có khách hàng là LG và Haier của Trung Quốc, cũng đang có kế hoạch giới thiệu một cơ sở hạ tầng xác thực an toàn bằng công nghệ PUF, Yu cho biết thêm.  Nhóm nghiên cứu cho biết công nghệ PUF được đánh giá cao bởi giới quan sát trong ngành về các tính năng an toàn và giá trị linh hoạt mang lại lợi thế cạnh tranh toàn cầu, khi mà sự cạnh tranh tiếp nhận các hệ thống blockchain trên thế giới trở nên khốc liệt.  ”Hàn Quốc áp dụng blockchain trong khai báo thông quan  Giữa tháng 5, cục Hải quan Hàn Quốc (KCS) đang thử nghiêm một hệ thống dựa trên blockchain để xác minh dữ liệu và các lô hàng trong quá trình nhập khẩu và xuất khẩu với hơn 50 công ty trong nước.  Theo tờ Korea Times, KCS đang phát triển nền tảng dữ liệu hải quan được hỗ trợ bằng công nghệ blockchain, nhằm tăng cường hiệu quả của quy trình thanh toán khai báo hải quan lâu nay thực hiện dựa trên giấy tờ và mang tiếng là không hiệu quả. Cụ thể, cuộc thử nghiệm trong thế giới thực để xem một sổ cái blockchain được phân phối có tăng độ chính xác và minh bạch hay không khi cấp Giấy chứng nhận xuất xứ.  Trong khi các chi tiết chung quanh blockchain nội bộ khan hiếm, cơ quan hải quan đã tuyển dụng năm nhóm nghiên cứu cùng 50 công ty trong nước diện xuất khẩu và năm nhóm nghiên cứu cùng mười công ty Việt Nam và Singapore diện nhập khẩu, để test hệ thống. Nếu thử nghiệm thành công, KCS cho biết họ sẽ ứng dụng công nghệ vào các dịch vụ khác.  Được hỗ trợ bởi một sản phẩm blockchain do Samsung SDS, một công ty con của Samsung, phát triển, dự án khởi động cách đây một năm và thực hiện thử nghiệm đầu tiên thành công một lô hàng từ Hàn Quốc đi Trung Quốc vào tháng 9 qua đó toàn bộ quy trình đặt vận chuyển hàng nội địa để giao chuyến hàng sang Trung Quốc đã thuận lợi hơn bằng blockchain.”  Khởi Thức (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc thử nghiệm robot cai ngục      Một nhà tù ở thành phố phía đông Pohang dự  định sẽ tiến hành một thử nghiệm kéo dài khoảng một tháng với ba người  máy vào tháng ba năm tới.    Các robot sẽ giám sát những hành vi bất thường của tù nhân. Các nhà nghiên cứu cho biết những cỗ máy này sẽ giúp giảm khối lượng công việc cho nhân viên bảo vệ.  Hàn Quốc đặt ra mục tiêu sẽ là quốc gia đứng đầu thế giới về ngành chế tạo robot. Các lãnh đạo doanh nghiệp tin rằng lĩnh vực này có tiềm năng trở thành một ngành công nghiệp xuất khẩu lớn.  Ba robot có chiều cao 1,5 mét tham gia vào cuộc thử nghiệm ở nhà tù do Asian Forum for Corrections – một nhóm các nhà nghiên cứu Hàn Quốc chuyên về tội phạm và các chính sách của nhà tù – nghiên cứu chế tạo.  Nhóm này nói rằng những con robot di chuyển trên 4 bánh xe, được trang bị camera và các cảm biến khác cho phép chúng phát hiện những hành vi nguy hiểm như bạo lực và tự tử.  Giáo sư Lee Baik-Chu thuộc Đại học Kyonggi – người chỉ đạo quá trình thiết kế – cho biết những robot này sẽ báo cho nhân viên bảo vệ nếu chúng phát hiện ra vấn đề nào đó.  “Hiện nay chúng tôi đã gần hoàn tất việc tạo ra hệ điều hành chính, và đang hoàn chỉnh các chi tiết để giúp bề ngoài của robot thân thiện hơn với các tù nhân” – giáo sư Baik-Chu chia sẻ với hãng tin Yonhap.  Thử nghiệm kéo dài một tháng này sẽ tiêu tốn 554.000 bảng và được tài trợ bởi Chính phủ Hàn Quốc.  Đây là hỗ trợ mới nhất trong một loạt các khoản đầu tư của nhà nước để phát triển ngành công nghiệp robot.  Hồi tháng Giêng, Bộ Kinh tế tri thức của  Hàn Quốc cho biết  đã chi khoảng 415 triệu bảng cho việc nghiên cứu lĩnh vực này tính từ năm 2002 tới năm 2010, mục đích là để cạnh tranh với các quốc gia khác như Nhật Bản – quốc gia cũng đang khám phá tiềm năng của ngành công nghiệp robot.  Hồi tháng 10, Bộ Kinh tế tri thức cho biết thị trường robot Hàn Quốc đã ghi nhận mức tăng trưởng 75% trong 2 năm qua và hiện tại trị giá khoảng 1 tỷ bảng.  Robot ở khắp mọi nơi        Truyền thông Hàn Quốc đã đưa tin về những thành công như việc Samsung Techwin bán hệ thống giám sát bằng robot cho Algeria hay việc bán robot Hubo giống người cho 6 trường đại học ở Mỹ.  Công ty quốc phòng Hàn Quốc DoDAAM cũng đang phát triển tháp pháo robot để xuất khẩu – hệ thống có thể được lập trình để nổ súng tự động.   Ở nước này, các trợ giảng robot dạy nói tiếng Anh cũng đang được triển khai ở một số trường học để giúp trẻ luyện cách phát âm.  Nhật báo Joongang đưa tin hồi tháng 8 rằng một công ty có tên là Showbo đã bắt đầu sản xuất hàng loạt loại robot biết cúi đầu trước các khách hàng và nói với họ về chương trình khuyến mại.  Các công ty khác cho biết họ hi vọng sẽ bắt đầu bán robot có khả năng chăm sóc người già vào cuối thập kỉ này.   Chính phủ Hàn Quốc cũng đang xây dựng một công viên mang tên Robot Land ở thành phố Incheon, giúp quảng bá cho ngành công nghiệp này, và hi vọng công viên sẽ thu hút khoảng khoảng 2,8 triệu người tới thăm mỗi năm.  Nguyễn Thảo dịch theo   http://www.bbc.co.uk/news/technology-15893772            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hằn sâu nghịch lý thuốc kháng sinh      Đại dịch đã dẫn tới một hệ quả nghiêm trọng, đó là thiếu hụt rất nhiều loại thuốc kháng sinh, trong khi tình trạng kháng thuốc ngày càng nghiêm trọng đã diễn ra từ rất lâu. Nhưng không một loại kháng sinh mới nào có thể ra đời chỉ trong vài tháng, vài năm, mà cần tới hàng thập kỷ.      Một bệnh nhân ở Nam Phi chống chọi với một loại vi khuẩn lao kháng nhiều kháng sinh. Kháng thuốc là một vấn đề ngày càng gia tăng với nhiều loại bệnh. Ảnh: Joao Silva / NYT / Redux / eyevine  Paratek Pharmaceuticals đã dành hơn 20 năm để phát triển và thử nghiệm một loại kháng sinh có tên omadacycline (Nuzyra). Loại thuốc này đã được bán ở Mỹ vào năm 2019 để sử dụng chống nhiễm trùng do vi khuẩn. Mặc dù thuốc kháng sinh không thể chống lại virus gây ra Covid-19, nhưng gần 15% số người nhập viện do Covid-19 tiếp tục phát triển bệnh viêm phổi do vi khuẩn nên rất cần tới kháng sinh. Trong số đó, một vài ca kháng lại các loại thuốc kháng sinh hiện có.  Mỗi năm, ước tính tình trạng kháng kháng sinh dẫn đến cái chết của ít nhất 700.000 người trên toàn thế giới. Con số đó giờ đây có thể tăng lên nhiều, khi người mắc bệnh do virus phải dùng kháng sinh để điều trị các bệnh nhiễm trùng thứ cấp hoặc để ngăn ngừa nhiễm trùng do thở máy. Lúc này, một loại thuốc như omadacycline có thể giúp ích, nếu nó có thể được cung cấp một cách kịp thời.  Evan Loh, giám đốc điều hành của Paratek, có văn phòng tại Pennsylvania và Boston, Massachusetts cho biết: “Covid là một hồi chuông cảnh tỉnh. Chẩn đoán, sử dụng kháng thể và vaccine đều là chìa khóa để chuẩn bị cho đại dịch. Nhưng chúng ta cũng cần thuốc kháng sinh để mang lại cho mọi người cơ hội sống tốt nhất”. Tuy nhiên, các nhà sản xuất thuốc sản xuất kháng sinh phải đối mặt với những thách thức dài hạn.  Trong một nghịch lý cay đắng, thuốc kháng sinh là một trong những loại thuốc cần nhất của xã hội. Kháng sinh đã thúc đẩy sự phát triển của các công ty dược phẩm có lợi nhuận cao nhất thế kỷ XX. Tuy nhiên, thị trường này đã không còn màu mỡ như trước. Chỉ trong gần hai thập kỷ, các tập đoàn lớn từng thống trị thị trường kháng sinh đã bỏ chạy khỏi ngành kinh doanh này. Lý do họ đưa ra là giá bán quá thấp để đủ chi phí nghiên cứu phát triển.  Hầu hết các công ty hiện nay nghiên cứu về thuốc kháng sinh là các công ty công nghệ sinh học nhỏ. Hai năm qua, bốn công ty như vậy đã tuyên bố phá sản hoặc phải rao bán. Mặc dù họ đã vượt qua quá trình phát triển và thử nghiệm đầy căng thẳng, kéo dài suốt hàng thập kỷ để kháng sinh phê duyệt.  Paratek đã tránh được “cơn sóng ngầm” đã kéo rất nhiều công ty khác đi xuống. Họ đã kết hợp hợp lý giữa chi tiêu, kinh nghiệm, vận may, và bao gồm cả một hợp  đồng béo bở được chính phủ trao vào cuối năm ngoái. Tuy nhiên, doanh thu của omadacycline mặc dù ổn định nhưng vẫn chưa đảm bảo cho Paratek tồn tại lâu dài.    Kinh doanh tốn kém  Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ có khoảng 14% kháng sinh và sinh phẩm trong các thử nghiệm giai đoạn I có khả năng được chấp thuận. Năm 2016, một nhóm các nhà kinh tế đã ước tính rằng chi phí nghiên cứu cho đến khi được FDA chấp thuận ở Hoa Kỳ là 1,4 tỷ USD, sau đó là hàng triệu đô la Mỹ nữa cho tiếp thị và giám sát sau khi được phê duyệt. Khi các công ty như Eli Lilly hay Merck sản xuất thuốc kháng sinh vào giữa thế kỷ XX, những chi phí đó có thể được dàn trải ra nhiều bộ phận khác nhau của họ. Và thông thường trước đây các công ty lớn mua những công ty nhỏ hơn, khi nhận thấy thuốc mới của các công ty nhỏ có hứa hẹn tiền lâm sàng, giá mua đã bao gồm mọi khoản nợ mà các công ty nhỏ phải gánh chịu.  Nhưng mô hình kinh doanh đó không còn tồn tại. Bộ ba người điều hành Paratek biết điều này vì cả ba đều là những cựu binh của công ty lớn. Loh đã làm việc tại Wyeth Pharmaceuticals ở Philadelphia, nơi có loại thuốc kháng sinh tigecycline (Tygacil) thành công, được phê duyệt vào năm 2005. (nhưng Wyeth đã bán bằng sáng chế này cho Pfizer vào năm 2009.)  Tigecycline được phát triển dựa trên tetracycline, một trong những nhóm kháng sinh sớm nhất, được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1948 – chỉ sáu năm sau khi penicillin ra mắt. Trong những năm qua, các thế hệ tetracyclin liên tiếp được tung ra thị trường và rồi nhanh chóng chịu kháng thuốc. Cấu trúc của Tigecycline kết hợp các tinh chỉnh giúp nó tránh được các cơ chế kháng thuốc đó. Nhưng điều này phải nhận lại một sự đánh đổi lớn: thuốc chỉ có thể được tiêm tĩnh mạch.  Đây là một hạn chế lớn. Thuốc tiêm tĩnh mạch thường chỉ được cung cấp tại các bệnh viện và trung tâm y tế, khiến chúng vừa đắt vừa khó phổ biến. Vì vậy, khi tigecycline đang được phát triển, bác sĩ kiêm nhà nghiên cứu Stuart Levy – nhà nghiên cứu về kháng kháng có trụ sở tại Đại học Tufts ở Boston – đã đề xuất tạo ra một loại thuốc họ hàng tetracycline khác cũng có thể được cung cấp ở dạng thuốc viên. Với mục tiêu đó, ông đồng sáng lập Paratek vào năm 1996 cùng với Walter Gilbert, một nhà sinh học phân tử tại Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, người đã giành được một phần giải thưởng Nobel Hóa học năm 1980.  Trong những năm đầu thành lập, Paratek hình thành quan hệ đối tác với các công ty lớn hơn, như công ty Bayer của Đức, Merck, rồi Novartis ở Basel, Thụy Sĩ. Nhưng họ không tìm được tiếng nói chung, khi các tập đoàn chuyển trọng tâm hoặc thay đổi quy định khiến omadacycline trở thành một vụ đánh cược tài chính tồi. Đến năm 2012, khi Loh được tuyển dụng, Paratek đã hoàn thành các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I và II. Họ đã tích lũy được nhiều dữ liệu về độ an toàn của kháng sinh nhưng công ty đã hết tiền. Loh đã phải cắt giảm nhân sự từ khoảng 34 người xuống còn 6 người, đóng cửa phòng thí nghiệm nghiên cứu trong khi đội ngũ điều hành phải đi kiếm tiền. Trong chín tháng, họ đã làm không lương.  “Tôi mất khả năng thanh toán cho luật sư của mình trong 18 tháng. Tôi đã nói chuyện với anh ấy mỗi tuần. Tôi đã nghĩ rằng mình có nên tiếp tục vào thứ hai tới không? Tôi có đủ tiền để làm điều đó không?” Ông nhớ lại.    Paratek Pharmaceuticals vừa đưa một loại kháng sinh thành công mới ra thị trường. Nhưng sự tồn tại lâu dài của công ty vẫn luôn được đặt ra. Giờ dây, Evan Loh, giám đốc điều hành của công ty Paratek Pharmaceuticals, Mỹ, đang nỗ lực bảo đảm tương lai của một loại kháng sinh mới. Ảnh: Hannah Yoon for Nature  Năm 2014, Paratek ra mắt trong một hoạt động được gọi là sáp nhập ngược. Họ tự sáp nhập vào công ty Transcept Pharmaceuticals, đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, nhưng doanh số bán hàng đáng thất vọng. Thỏa thuận này đã thu về cho Paratek 110 triệu USD, cho phép họ khởi động các thử nghiệm giai đoạn III của omadacycline và bắt đầu chương trình tái nhân lực. Vào tháng 10 năm 2018, FDA đã phê duyệt thuốc ở dạng uống và tiêm tĩnh mạch chống lại hai tình trạng nhiễm trùng da phức tạp và viêm phổi do vi khuẩn. Cuộc hành trình 22 năm đã kết thúc, nhưng bối cảnh hiện tại và tương lai của omadacycline vẫn còn hiểm nghèo.  Loh là một bác sĩ tim mạch. Ông là người đã lãnh đạo các chương trình cấy ghép tại hai trung tâm y tế hàn lâm trước khi chuyển sang ngành dược phẩm, nhận định loại thuốc này là cần thiết. Nhưng Loh biết rằng nó sẽ không dễ dàng.  “Mọi việc trong bệnh viện đều cần kháng sinh. Không có nó, bạn không thể phẫu thuật, không thể cấy ghép, không thể làm gì cả. Chúng tôi có một sản phẩm quan trọng như vậy. Nhưng cho đến khi chúng tôi đảm bảo được sự thành công, thì nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành”. Loh nói.  Tuổi thọ ngắn hạn  Mặc dù kháng sinh đã thay đổi cả thế giới. Nhưng thị trường tự do không xem trọng điều đó.  Những lý do rất phức tạp. Kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn. Nhưng sinh vật luôn thích nghi với các mối đe dọa chống lại sự tồn tại của chúng. Ngay sau khi kháng sinh mới được sử dụng, các mầm bệnh bắt đầu phát triển các chiến lược để ngăn chặn cuộc tấn công. Điều đó có nghĩa là sự hữu ích của kháng sinh có thể bị hạn chế. Đây là một tình huống không xảy ra đối với hầu hết các loại thuốc khác.  Thời gian tồn tại của một loại kháng sinh mới sẽ không quá quan trọng nếu một công ty có thể bán được thuốc một cách nhanh chóng, nhưng rào cản về cấu trúc y tế và đạo đức đều chống lại điều đó.   Hãy xem vấn đề cấu trúc trước: Tương đối ít bệnh nhân bị nhiễm trùng kháng thuốc cần điều trị bằng kháng sinh mới, trong khi hầu hết các loại thuốc khác được sử dụng để điều trị cho số lượng lớn người. CDC ước tính rằng có 2,8 triệu ca nhiễm trùng kháng thuốc hằng năm ở Hoa Kỳ. Để so sánh, 7,4 triệu người ở Hoa Kỳ dùng insulin để điều trị bệnh tiểu đường hằng ngày.  Theo một ước tính, một loại thuốc kháng sinh mới cần tạo ra ít nhất 300 triệu USD doanh thu hàng năm để có thể tồn tại bền vững. Các nhà nghiên cứu khác ước tính rằng toàn bộ thị trường kháng sinh mới của Hoa Kỳ chống lại vi khuẩn Enterobacteriaceae kháng carbapenem (một trong những loại nhiễm trùng kháng khó nhất và cứng đầu nhất) là 289 triệu USD mỗi năm.  Nói cách khác, “thị trường này chỉ đủ chỗ cho một loại thuốc”. Shlaes nói.  Theo phân tích của công ty đầu tư Needham ở thành phố New York, chỉ có một số công ty sản xuất thuốc kháng sinh kiếm được 100 triệu USD mỗi năm hoặc hơn. Phần lớn số còn lại dao động trong khoảng từ 15 triệu đến 50 triệu USD một năm.  Sau đó là những vấn đề về đạo đức. Bất kỳ sự tiếp xúc nào của vi khuẩn với một loại thuốc kháng sinh đều có nguy cơ phát triển tình trạng kháng thuốc. Việc sử dụng loại thuốc đó để điều trị cho một bệnh nhân có nguy cơ làm giảm khả năng cứu người khác trong tương lai. Do đó, các quy tắc được quan sát trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe được gọi là quản lý kháng sinh, kêu gọi các loại kháng sinh mới nên được triển khai từ từ. Điều này đảm bảo độ tin cậy của chúng về lâu dài, nhưng làm hỏng doanh số bán hàng của công ty. Ví dụ, vào năm 2018, ba loại kháng sinh mới – bao gồm cả loại được sản xuất bởi Achaogen gần đây đã phá sản chỉ được sử dụng trong 35% trường hợp đủ tiêu chuẩn. Đó là một thiệt hại theo nghĩa đen đối với các công ty mà lẽ ra thuốc của họ đã được sử dụng.  John Rex, một bác sĩ và nhà phát triển thuốc lâu năm và là giám đốc của công ty thuốc chống nấm F2G ở Manchester, Vương quốc Anh và Vienna, tóm tắt nghịch lý theo cách này: “Phát minh ra một loại kháng sinh tồi, sẽ không ai sử dụng nó. Phát minh ra một loại kháng sinh thực sự tốt, và thực sự không ai sẽ sử dụng nó ”.  Rơi vào vực thẳm  Đội ngũ 100 người tạo nên Paratek đã phải trải qua quãng thời gian suốt năm 2019 trong tâm trạng bất ổn. Họ đang nhìn chằm chằm vào cái mà Woodrow gọi là vực thẳm của thương mại hóa. Đây là khoảng thời gian ba năm mà bạn phải chi một số tiền khổng lồ trước khi có được bất kỳ lực kéo nào về doanh số thực. Kháng sinh của công ty bán đều đặn nhưng chậm, đã thu được lợi nhuận 13 triệu USD trong năm. Trong khi đó, Woodrow, Loh và Brenner đã cam kết thực hiện các nghiên cứu và giám sát sau phê duyệt mà họ ước tính sẽ tiêu tốn 70 triệu USD.       Rồi may mắn ập tới:  BARDA, một cơ quan liên bang của Hoa Kỳ, đã trao cho Paratek một hợp đồng 5 năm, trị giá 285 triệu USD để mua omadacycline cho các binh sĩ tiền tuyến có thể tiếp xúc với bệnh than sinh học. (Việc mua bán đã chứng thực nhận thức ban đầu về giá trị của một loại thuốc uống: những đội quân đang gặp nguy hiểm có thể uống thuốc và tiếp tục chiến đấu, thay vì bị ràng buộc bởi những giọt truyền tĩnh mạch).  Khi nhận được tin, Loh cảm thấy như cuối cùng anh ấy có thể thở ra. “Đây là một con số khổng lồ – một món quà, nó cho chúng tôi thời gian để đạt được lực kéo”.  Tiền của BARDA hoạt động như một cây cầu bắc qua vực thẳm mà các công ty khác đã sa vào. Nói cách khác, nó cũng cho thấy tiềm năng và các động lực sửa chữa thị trường kháng sinh.  Động lực như vậy thúc đẩy các ứng viên thuốc mới từ các công ty nhỏ thông qua các thử nghiệm lâm sàng và phê duyệt trước đây. Các công ty phải quảng bá bằng các ‘chiêu trò’ mà không vi phạm quyền quản lý kháng sinh, nhằm mục đích giảm bớt khủng hoảng tài chính sau khi được phê duyệt.  Tuy vậy, trong mắt của nhiều cử tri và chính trị gia, các công ty dược phẩm là những kẻ cơ hội, thổi phồng giá thuốc Mỹ lên cao một cách vô lương tâm. Đã có nhiều phiên điều trần trước Quốc hội về giá thuốc trong năm 2019. Vào tháng bảy cùng năm, Tổng thống Donald Trump đã ký một số lệnh hành pháp nhằm ép giá thuốc xuống.  Điều này khiến bất kì công ty dược phẩm nào, ngay cả một công ty nhỏ sản xuất một loại thuốc kháng sinh rất cần thiết, phải đối mặt với sự phản kháng mạnh mẽ của chính trị.  Đường cong đại dịch  Hợp đồng BARDA đã đảm bảo cho tương lai trước mắt của Paratek đến năm 2023. Nhưng sau đó, coronavirus đã tấn công toàn cầu, đặc biệt ở Mỹ.  Khi các trường hợp SARS-CoV-2 bắt đầu gia tăng ở Hoa Kỳ, Loh và nhóm của ông không khỏi lo lắng. Lực lượng bán hàng Paratek đã tiếp thị omadacycline cho các chuyên gia bệnh truyền nhiễm cũng như dược sĩ bệnh viện, và sự cần cù đã được đền đáp. Tháng này qua tháng khác, doanh số bán omadacycline đã tăng hơn 10%. Khi giãn cách bắt đầu, tất cả các buổi gặp gỡ đó kết thúc. Công ty lo ngại doanh số bán hàng của họ cũng sẽ bị đình trệ. Nhưng trong dữ liệu thu thập hằng tháng kể từ khi dịch bắt đầu, sự gia tăng ổn định vẫn tiếp diễn.  Christine Coyne, Phó chủ tịch tiếp thị của Paratek cho biết: “Tôi đã không nghĩ có hy vọng về khách hàng mới trong thời kỳ đại dịch. Nhưng chúng tôi vẫn đang chứng kiến ​​mức tăng trưởng hai con số”.  Còn quá sớm để nói điều gì đã thúc đẩy doanh số bán hàng. Hiện đã có đủ báo cáo về các trường hợp được công bố để tin tưởng rằng: 15–20% bệnh nhân bị viêm phổi do vi khuẩn là một biến chứng của Covid-19. Và ở các vùng của Hoa Kỳ, 50% nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh viêm phổi do vi khuẩn (Streptococcus pneumoniae) kháng với azithromycin, loại kháng sinh phổ biến nhất. Điều đó thúc đẩy việc áp dụng một loại thuốc mới chưa được ghi nhận. Các ấn phẩm khác xác nhận rằng một lượng đáng kể thuốc kháng sinh đang được kê cho những người bị Covid-19 đang sử dụng máy thở, ngay cả khi chưa được chẩn đoán bệnh viêm phổi. Đây là liệu pháp bảo hiểm cho những bệnh nhân bị nhiễm trùng. Điều này cũng đảm bảo trong trường hợp không có đủ thiết bị bảo vệ cá nhân, các thủ tục cần thiết để xác nhận viêm phổi do vi khuẩn là quá rủi ro.  Hệ quả của đại dịch là khiến nhiều loại kháng sinh bị thiếu hụt. Đó là kết quả của cả sự gián đoạn trong thương mại quốc tế. Nguyên liệu hay các thành phần hoạt tính của hầu hết các kháng sinh đến từ Trung Quốc. Ví dụ vào tháng ba, sau khi Trump tuyên bố ủng hộ cho sự kết hợp chưa được chứng minh giữa hydroxychloroquine và azithromycin, một số nhà sản xuất azithromycin đã thông báo rằng việc thu mua hoảng loạn đã gây ra tình trạng thiếu hụt.  Nếu những sự kiện đó thúc đẩy doanh số bán hàng, thì đó là lợi ích của Paratek. Chuỗi cung ứng của công ty tránh Trung Quốc và có trụ sở hoàn toàn ở châu Âu. Và như một điều kiện để bảo vệ quốc phòng, một điều khoản trong hợp đồng BARDA yêu cầu công ty xây dựng một chuỗi cung ứng song song hoàn toàn bên trong Hoa Kỳ, để tránh sự gián đoạn từ bất kỳ sự mâu thuẫn nào trong tương lai.  Đối với nhóm Paratek, khả năng ứng dụng của omadacycline đối với cuộc khủng hoảng đang diễn ra này là xác nhận cam kết của công ty trong việc gắn bó với một sản phẩm. Tương tự, nó đã chứng minh tầm quan trọng của việc dự đoán các trường hợp khẩn cấp và cung cấp các can thiệp y tế quan trọng trước khi bắt đầu. Hoa Kỳ đã không làm được điều đó đối với khẩu trang, mặt nạ phòng độc hay các thiết bị bảo vệ nhân viên y tế khỏi bị nhiễm trùng, tương tự đối với việc cung cấp thuốc kháng sinh.  “Đại dịch đã cho chúng ta biết rằng: Nếu không có công nghệ sẵn sàng khi điều gì đó xảy ra, chúng ta không thể đợi một, hai hay thậm chí ba hoặc năm để có được nó”. Loh nói. Việc phát triển kháng sinh hay công nghệ phải cần thời gian. □  Đức Phát dịch  Nguồn: Nature 584, 338-341 (2020)  https://www.nature.com/articles/d41586-020-02418-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng ngàn nhà khoa học đình công phản đối phân biệt chủng tộc trong nghiên cứu      Hòa vào làn sống biểu tình chống nạn phân biệt chủng tộc người da màu, hàng ngàn học giả và các tổ chức khoa học lớn trên toàn thế giới tuyên bố đình công vào ngày 10 tháng 6 nhằm lên tiếng chống nạn phân biệt chủng tộc trong giới khoa học.      Các cuộc biểu tình sau cái chết của George Floyd đang diễn ra rầm rộ trên khắp thế giới. Ảnh: David Cliff/SOPA Images/LightRocket via Getty  Hơn 4.000 nhà khoa học cùng với trường đại học và nhà xuất bản đã tạm dừng các công việc thường ngày để tìm hiểu về nạn phân biệt chủng tộc trong giới nghiên cứu, cùng cất lên tiếng nói “Strike for Black Lives” (Đình công vì Sự sống của Người da màu), và góp phần tạo ra các phương án giải quyết thực trạng này. Các nhà khoa học đã lên kế hoạch sử dụng các hashtag như #Strike4BlackLives, #ShutDownSTEM and #ShutDownAcademia. Tờ Nature cũng cam kết tham gia cuộc đình công lần này.    Với tư cách là những thành viên trong cộng đồng xã hội, cộng đồng khoa học, chúng tôi hi vọng rằng tất cả mọi người sẽ sử dụng ngày này một cách thiết thực để hành động vì “Black Lives” (Sự sống của Người da màu)”, Brian Nord, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Chicago, Illinois, và là một trong những thành viên của nhóm điều phối sự kiện lần này, cho biết.   “Chúng tôi nhận ra rằng, các tổ chức học thuật và các hợp tác nghiên cứu – dù nói nhiều về sự đa dạng, tính công bằng và sự hòa nhập – nhưng cuối cùng đã để sót câu chuyện về người da màu”, trích trong tuyên bố của Particles for Justice, một nhóm ban đầu lập ra nhằm phản đối phân biệt giới tính trong giới hàn lâm. “Cần thiết phải có một cuộc đình công để nhấn nút tạm dừng, giúp các nhà khoa học da màu có thời gian nghỉ ngơi, và trao cho mọi người cơ hội lên tiếng chống nạn phân biệt chủng tộc trong nghiên cứu khoa học.   Sự kiện này diễn ra sau các cuộc biểu tình ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới khoảng 2 tuần, nhằm tưởng niệm cái chết của George Floyd và những người Mỹ gốc Phi khác đã chết dưới tay cảnh sát. Các nhà khoa học da màu bày tỏ đau buồn trước những mất mát này, và công khai chia sẻ những trải nghiệm của họ về phân biệt chủng tộc trong khoa học. Cùng với đó, nhiều tổ chức khoa học lớn đã công bố các thông điệp công khai ủng hộ phong trào Black Lives Matter (Sự sống của Người da màu cũng Đáng quý), và toàn thể làn sóng chống nạn phân biệt chủng tộc.   Phong trào toàn cầu  Brittany Kamai, nhà vật lý tại Đại học California, Santa Cruz và Viện Công nghệ California ở Pasadena, đã nghĩ ra ý tưởng tạm dừng các công việc học thuật vào thứ Hai tuần trước. Cô đã gửi email cho một nhóm bạn, và họ đã ủng hộ ý tưởng này. Những người này bao gồm Chanda Prescod-Weinstein, một nhà vũ trụ học tại Đại học New Hampshire ở Durham, đồng thời là thành viên của Particles For Justice; và Yilen Gómez Maqueo Chew, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Tự trị Quốc gia Mexico. Cả hai đã giúp mở rộng sự kiện này. Prescod-Weinstein và Nord đã xem xét ý tưởng về một cuộc đình công. Cả nhóm đã ra mắt ShutDownStem.com vào ngày 5 tháng 6, cùng với một lá thư và kiến nghị trên ParticlesForJustice.org.  Gómez Maqueo Chew cho biết, điều này sẽ giúp giảm thiểu nạn phân biệt chủng tộc trong giới nghiên cứu lĩnh vực STEM. Đối với một số nhà nghiên cứu, các tuyên bố từ các tổ chức nhằm hỗ trợ #BlackLivesMatter vẫn chưa đủ sức ảnh hưởng. Brian Shuve, nhà vật lý học tại Đại học Harvey Mudd ở Claremont, California, và là thành viên của Particles for Justice chia sẻ: “Chúng tôi muốn các các nhà khoa học trong lĩnh vực này và các tổ chức của chúng tôi sẽ đoàn kết và làm tốt hơn.”  Mặc dù phong trào bắt nguồn từ Hoa Kỳ, nhưng nó nhanh chóng lan rộng trên toàn cầu. Particles for Justice đã nhận được những cam kết đình công từ các nhà khoa học, trường đại học và nhà xuất bản trên khắp mọi nơi. “Bạo lực cảnh sát là một vấn đề toàn cầu”, Nicolás Bernal, một nhà vật lý tại Đại học Antonio Nariño ở Bogotá, Colombia, người sẽ tham gia đình công, cho biết. Trong hội thảo vật lý hạt vào thứ Tư, Bernal và các đồng nghiệp của ông đã lên kế hoạch thảo luận về việc phân biệt chủng tộc có hệ thống sẽ đẩy người da màu và người da đỏ bản địa ra ngoài lề khoa học như thế nào.  Tạm dừng xuất bản  Các tổ chức tham gia cuộc đình công bao gồm cơ sở dữ liệu lưu trữ điện tử dạng tiền in ấn ngành khoa học vật lý arXiv. Nó đã yêu cầu người dùng dành ngày thứ Tư để nghiên cứu và thảo luận về phân biệt chủng tộc, lên kế hoạch giải quyết vấn đề này trong cộng đồng của chính họ, thay vì tập trung gửi bản thảo. “arXiv  là một công cụ quan trọng đối với các nhà vật lý, và một nhà vật lý da màu sẽ phải đối mặt với không chỉ việc đọc và viết các bài báo, mà còn phải đấu tranh cho quyền lợi của chính họ,” những người đứng đầu nền tảng này việc trong một thông báo.   Giám đốc điều hành, Eleonora Presani, một nhà vật lý thiên văn cho biết, tham gia cuộc đình công không phải là một quyết định khó khăn đối với arXiv. “Cá nhân tôi hy vọng rằng mọi người sẽ tận dụng cơ hội này để trải nghiệm và thấu hiểu các cuộc đấu tranh của các nhóm thiểu số trong khoa học, đặc biệt, trong bối cảnh ngày nay, là cuộc đấu tranh của các sinh viên và các nhà nghiên cứu da màu”, ông cho biết.   Hiệp hội Vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ (AAAS), và tạp chí khoa học chính của nó – tờ Science, nói rằng họ sẽ “dõi theo #ShutdownStem, lắng nghe các thành viên trong cộng đồng, những người sẽ chia sẻ nguồn tài liệu và thảo luận về cách loại bỏ phân biệt chủng tộc, đồng thời họ sẽ hỗ trợ để người da màu không bị gạt ra ngoài lề”. Hiệp hội đã mời 120.000 thành viên tham gia nỗ lực này.  Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ (APS), nơi có hơn 55.000 thành viên và Viện Vật lý Anh cũng sẽ đình công. Tạp chí hàng đầu của APS, Physical Review Letters, sẽ không xuất bản hoặc tweet bất kỳ bài báo nào. “APS sẽ đóng cửa vào thứ Tư, ngày 10 tháng 6 để hỗ trợ cộng đồng người da màu. #Strike4BlackLives #ShutDownSTEM #ShutDownAcademia,” họ chia sẻ trên Twitter.    Mặc dù phong trào bắt nguồn từ Hoa Kỳ, nhưng nó nhanh chóng lan rộng trên toàn cầu. Ảnh: Olivier Douliery/AFP via Getty  Không chỉ các tờ báo trên, tờ Nature cũng đăng tải thư ngỏ, thay lời cam kết tham gia cuộc đình công này. Dưới đây chúng lược trích nội dung lời chia sẻ của Nature:   “Khi George Floyd chết dưới bàn tay của viên cảnh sát thành phố Minneapolis, khi Tổng thống Donald Trump đe dọa điều động quân đội nghiền nát các cuộc biểu tình trên khắp nước Mỹ, cả thế giới đã tức giận, và kéo theo đó là những cuộc diễu hành ở các thành phố trên toàn cầu. Những vụ giết người da màu liên tục lặp đi lặp lại qua bao năm tháng, là lời nhắc nhở – những lời nhắc nhở không cần thiết – về sự bất công, bạo lực và bất bình đẳng có hệ thống mà người Mỹ gốc Phi đã phải trải qua trong mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực của đời sống.     Người da màu có nhiều khả năng chết dưới tay cảnh sát hơn người da trắng; họ cũng có nhiều khả năng thất nghiệp hơn; và, vì Covid-19, nhiều khả năng sẽ ngã gục bởi bệnh tật. Người da màu phải chịu thiệt thòi tương tự ở hầu hết các quốc gia nơi họ thuộc về thiểu số.  Nature lên án sự định kiến và bạo lực của cảnh sát, chúng tôi chống lại mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chúng tôi cùng với những người khác trên khắp thế giới tuyên bố, một cách dứt khoát, Black Lives Matter (Sự sống của Người da màu cũng Đáng quý).  Những tuyên bố như vậy là cần thiết, nhưng không đủ. Chúng cần được đi kèm với những hành động ý nghĩa.  Những người da màu, bao gồm các nhà nghiên cứu, đang sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để giải thích cặn kẽ cần hành động như thế nào, các bước cần thiết để giúp nền học thuật và giới khoa học trở nên công bằng. ‘Giọt nước tràn ly’ này một phần bắt nguồn từ việc các nhà nghiên cứu da màu từ lâu đã bị các tổ chức và ấn phẩm xuất bản gán lên những định kiến, giới hạn không gian và tiềm năng nghiên cứu của họ.   Chúng tôi nhận ra rằng Nature là một trong những tổ chức chịu trách nhiệm cho sự thiên vị trong nghiên cứu và vấn đề học bổng. Các tổ chức khoa học đã – và vẫn – đồng lõa với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và nó cần phải nỗ lực nhiều hơn để sửa chữa những bất công đó và khuếch đại những tiếng nói bên lề.  Tại Nature, chúng tôi sẽ nhân đôi nỗ lực của mình và cam kết thiết lập một quy trình giúp tính toán và xem xét những thay đổi cần thực hiện.   Ngoài ra, chúng tôi cam kết phát hành một số đặc biệt, mời một biên tập viên hướng dẫn, nhằm tìm hiểu sự phân biệt chủng tộc có hệ thống trong nghiên cứu, chính sách nghiên cứu và xuất bản – bao gồm việc điều tra sự phân biệt trong Nature.   Cùng với phần còn lại của cộng đồng nghiên cứu, chúng tôi phải lắng nghe, suy ngẫm, học hỏi và hành động – và chúng tôi không bao giờ trốn tránh trách nhiệm của mình trong việc chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc.”  Anh Thư tổng hợp  Nguồn:   Thousands of scientists worldwide to go on strike for Black lives  Systemic racism: science must listen, learn and change    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng nghìn nghệ sĩ diễu hành trong Lễ hội Cà phê      Chiều ngày 10/3, Lễ hội đường phố với chủ đề “Cà phê – Sức sống đại ngàn từ mạch nguồn Văn hóa”, do Trung Nguyên làm tổng đạo diễn, đã diễn ra tại TP. Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, với sự tham gia của hơn 1.000 nghệ sĩ cồng chiêng, bốn đoàn nghệ thuật dân gian quốc tế, cùng 19 đoàn đại diện cho các quốc gia trồng, sản xuất và thưởng thức cà phê trên thế giới.      Hàng nghìn nghệ sĩ cồng chiêng tham giaLễ hội Đường phố.  Đây là hoạt động mở đầu cho những hoạt động chính của Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 6 từ ngày 9 đến 12/3 và Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2017.  Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo các bộ, ban ngành của Tỉnh, thành phố, các Đại sứ, Lãnh sự quán, tổ chức quốc tế, Hiệp hội Cà phê Việt Nam, lãnh đạo các tỉnh thành lân cận, các cơ quan truyền thông và đông đảo các du khách trong nước và quốc tế, cùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh.  Với chủ đề “Cà phê – Sức sống đại ngàn từ mạch nguồn Văn hóa”, Lễ hội đường phố năm nay mang đến một sự khởi đầu bùng nổ với nhiều cảm xúc cho du khách, những người tham gia… Có thể nói, đây là kỳ Lễ hội có quy mô hoành tráng, đặc sắc và ấn tượng nhất trong các kỳ tổ chức, để lại những khoảnh khắc ấn tượng, đáng nhớ về Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột, về tỉnh Đắk Lắk với những nét đẹp văn hóa độc đáo và những hạt cà phê Robusta tuyệt ngon nổi tiếng thế giới, cùng với những con người mộc mạc, chân chất, nghĩa tình.    Cà phê – loài cây đặc trưng của Tây Nguyên, được sân khấu hóa bằng tiết mục múa.  Nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất Tây Nguyên đại ngàn, huyền thoại, mở đầu với chương “Âm vang huyền thoại đại ngàn”, Lễ hội đường phố quy tụ gần 1.000 nghệ sĩ đến từ 16 Đội Cồng chiêng các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Đắk Lắk và Trung Nguyên, sáu đoàn cồng chiêng đến từ các tỉnh bạn Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Nông, Kontum, Quảng Nam,… kết hợp với đội hình những người nông dân trồng,và sản xuất cà phê và Đoàn voi các dân tộc anh em thiểu số Tây Nguyên cùng nhau hòa một nhịp chung của tình yêu dành cho đại ngàn mênh mông trong tiếng cồng chiêng lúc nhịp nhàng khoan thai, khi trầm hùng mạnh mẽ, như đưa dòng thời gian quay lại với linh thiêng ngàn năm. Bên cạnh đó, còn có sự tham gia của các nghệ sĩ đến từ bốn đoàn nghệ thuật dân gian quốc tế (Campuchia, Hàn Quốc, Lào, Romania) góp phần làm nên những sắc màu đặc biệt cho lễ hội, thể hiện sự giao thoa thú vị giữa các nền văn hóa Âu –Á, cũng như mang đến những “cơn sóng cảm xúc” cho tất cả những du khách ttrong nước và quốc tế đến với Lễ hội đặc biệt này..    Đoàn nghệ thuật đến từ Romania tham gia biểu diễn tại Lễ hội Đường phố.  Đặc biệt, nhằm khẳng định giá trị của cây cà phê – báu vật được kết tinh từ nguồn năng lượng của vùng đất đỏ bazan hàng triệu năm của đất trời Tây Nguyên, chương 2 “Hội tụ thế giới cà phê năng lượng” của Lễ hội đường phố đem đến cho người xem niềm tự hào về sức mạnh lan tỏa và kết nối thế giới của những hạt cà phê năng lượng. 19 đoàn đại diện 19 quốc gia trồng, sản xuất và thưởng thức cà phê trên thế giới gồm: Colombia, Cananda, Pháp, Hàn Quốc, Indonesia, Isreal, Nhật, Việt Nam, Trung Quốc, Thụy Điển, Lào, Ấn Độ, Phillipines, Ba Lan, Rumani, Slovakia, Hoa Kỳ Úc, Campuchia cùng hội tụ tham gia diễu hành, thể hiện sự hợp tác quốc tế trong tinh thần hữu nghị, kết nối. Hơn nữa, điều đó còn nhân lên các giá trị, khẳng định tiềm năng của vùng đất Buôn Ma Thuột với hạt cà phê dồi dào năng lượng và tương lai phát triển, khẳng định vị thế của Thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.  Và với niềm tin, khát vọng đó, chương 3 “Thăng hoa sức sống cà phê” của Lễ hội đường phố là cuộc diễu hành của niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc và tràn đầy nhiệt huyết của những người công nhân trồng và sản xuất cà phê, của các Thương hiệu cà phê và đặc biệt là những người yêu và đam mê cà phê luôn khát khao đưa những giá trị văn hóa, tinh hoa đặc sắc cũng như hương vị cà phê năng lượng tuyệt ngon của vùng đất Tây Nguyên chắp cánh bay đến mọi nẻo đường trên thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng triệu nông dân giúp lưu trữ nước ngầm ở đồng bằng lớn nhất thế giới      Việc bơm hút nước ngầm của hàng triệu nông dân ở Bangladesh trong mùa khô hằng năm đã tạo ra các “hồ chứa” tự nhiên rộng lớn ở dưới lòng đất, trong một thời kỳ kéo dài 30 năm, có thể sánh với các đập lớn nhất thế giới – các chế độ tưới tiêu bền vững đó đã chuyển đổi một quốc gia thường xuyên thiếu đói thành một quốc gia có nền an ninh lương thực bền vững, theo một nghiên cứu do các nhà khoa học UCL dẫn dắt.    Bản đồ chứng tỏ ước tính việc lưu trữ nước ngọt trong khắp thời kỳ 1988 đến 2018 khắp Bangladesh. Credit: M. Shamsudduha  Được xuất bản trên Science, nghiên cứu này khám phá tác động kết hợp của 16 triệu hộ tiểu nông bơm hút nước ngầm trong thời kỳ mùa mưa để tưới tiêu cho ruộng lúa của mình ở đồng bằng Bengal của Bangladesh giữa năm 1988 và 2018 1.  Nghiên cứu này cho thấy các mức nước ngầm thấp hơn trong mùa khô đã được bơm từ các dòng sông, hồ ao để làm đầy lại mực nước ngầm trong suốt thời kỳ mùa mưa. Việc giữ nước mặt này không chỉ cho phép phục hồi mực nước ngầm mà còn giúp giảm thiểu lụt lội.  Dẫu qua quá trình này, được các tác giả miêu tả như “cỗ máy nước Bengal”, nhiều hơn 75 km khối nước trong vòng hơn 30 năm – một khối lượng lớn tương đương với sức chứa của đập Tam Hiệp của Trung Quốc và Đập Hoover ở Mỹ.  Họ nhấn mạnh sự can thiệp này như một giải pháp bền vững cho các cách tiếp cận thông thường cho lưu trữ nước từ các dòng sông theo mùa, bao gồm đập và hồ chứa, vốn đang thách thức để xây dựng các đồng bằng đông dân cư như đồng bằng Bengal.  Đồng tác giả, TS. Mohammad Shamsudduha (Viện nghiên cứu giảm thiểu rủi ro và thảm họa tai UCL) cho biết: Bất chấp độ biến thiên bền vững theo lượng mưa hằng năm và sự suy giảm lượng mưa khắp đồng bằng, hình thức tái tập trung, có thể thay đổi quy mô của lưu trữ nước đã cung cấp nước bền vững cho sản xuất lương thực kể từ những năm 1990.  Sự can thiệp mới này giúp cho giải quyết sự bất cân bằng theo mùa về lượng mưa bằng việc gia tăng khả năng lưu trữ nước và góp phần giảm thiểu rủi ro lũ lụt mà không cần dùng đến đập”.  Các tác giả của nghiên cứu đồng ý là biện pháp can thiệp đơn giản này có tiềm năng sử dụng ở các đồng bằng châu thổ như các đồng bằng rộng lớn ở châu Á đồng bằng sông Mekong, đồng bằng sông Hoàng hà, vốn có khả năng tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu. Cỗ máy nước Bengal này có thể giúp tăng cường an ninh lương thực toàn cầu và tăng khả năng chống chịu với các hiện tượng khí hậu cực đoan đang được một thế giới ngày một ấm lên khuếch đại hậu quả.  Đồng tác giả của nghiên cứu, giáo sư Richard Taylor (Địa lý ở UCL) cho biết: “Phân tích của chúng tôi có những gợi ý sâu sắc về việc mở rộng và tối ưu hóa kỹ thuật còn chưa được ghi nhận này để duy trì việc tưới tiêu bền vững phụ vụ sản xuất lương thực ở các đồng bằng phù sa của vùng nhiệt đới ẩm theo mùa.  “Trong một thế giới đang ấm lên, sự bền bỉ của việc sử dụng liên tục nước mặt và nước ngầm để ứng phó với các tình trạng cực đoan về nước mùa khô và mùa mưa và bị tình trạng biến đổi khí hậu làm cho trầm trọng thêm sẽ có vai trò tầm quan trọng chiến lược giữ vững an ninh lương thực toàn cầu”.  Để tính toán cho những phát hiện của mình, các nhà nghiên cứu phân tích một triệu quan trắc mức độ nước ngầm theo tuần từ 465 giếng khoan khắp Bangladesh, từ năm 1988 đến năm 2018 từ một mạng lưới gồm 1.250 trạm quan trắc.  Giáo sư Taylor cho biết thêm: “Trong khi các ước tính trước đây về mức độ lưu trữ nước ngọt mới chỉ trên giả thuyết và trong các kịch bản được mô hình hóa, đây là công trình đầu tiên định lượng được khối lượng nước ngầm dựa trên quan sát, cho thấy những tiềm năng đáng kể của nó”.  Các tác giả lưu ý phát hiện của họ nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giám sát nước dài hạn để đánh giá biểu hiện và xu hướng của các nguồn nước của một quốc gia, vốn sẽ ngày một trở nên quan trọng hơn trong mặt tiền biến đổi khí hậu.  Một giếng khoan bơm nước ngầm vào mùa khô trên cánh đồng Boro ở Bangladesh. Ảnh: Anwar Zahid  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh vào giới hạn của việc vận hành Cỗ máy nước Bengal trong những khu vực thiếu nước trong suốt mùa mưa không đủ để làm đầy một cách đầy đủ nước ngầm được khai thác trong suốt mùa khô. Trong những khu vực đó, việc bơm kiệt các nguồn nước ngầm khiến các hộ không thể có đủ nước sinh hoạt.  Các tác giả do đó nhận xét là cần những nghiên cứu nữa để đủ dữ liệu thiết lập nơi nào ở đồng bằng Bengal và những đồng bằng khác ở châu Á để người dân có thể hưởng lợi ích từ giải pháp dựa trên tự nhiên để lưu trữ nước theo mùa.  Đồng tác giả là giáo sư Kazi Matin Ahmed của trường đại học Dhaka cho biết thêm: “Quan trọng là phải đánh giá sự phù hợp của các địa điểm vận hành Cỗ máy nước Bengal để tối đa lợi ích cho nông dân và giảm thiểu rủi ro vì khai thác cạn kiệt nguồn nước ngầm.  Việc thí điểm sự vận hành của cơ chế này ở những khu vực thích hợp do đó cần thiết trước khi nâng cấp nó để ứng dụng vào giải quyết những bất định trong quá trình vận hành đối với sự biến đổi theo mùa dưới tác động của biến đổi khí hậu”.  Nhàn Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-millions-farmers-replumb-world-largest.html  https://www.popsci.com/environment/bangladesh-farmers-seasonal-floods/  ———————————    https://www.science.org/doi/10.1126/science.abm4730    https://www.science.org/doi/10.1126/science.ade0393    Author                .        
__label__tiasang Hành hương trong mùa đại dịch: bài học từ thánh địa Mecca      Arab Saudi đã làm gì để ngăn chặn Covid-19 mà vẫn cho phép dòng người đổ về nước này để thực hiện các cuộc hành hương đến thánh địa Mecca?      Những người theo đạo Hồi thực hiện buổi cầu nguyện tối (Tarawih) trong tháng ăn chay Ramadan xung quanh Kaaba – thuộc quần thể Nhà thờ Hồi giáo Lớn ở thánh địa Mecca, vào ngày 13 tháng 4 năm 2021. Ảnh: AFP via Getty Images       Là một người theo đạo Hồi, ít nhất mỗi năm một lần, tôi* lại hành hương đến Mecca – thánh địa linh thiêng nhất của đạo Hồi, nằm ở Arab Saudi. Người Hồi giáo thực hiện cuộc hành hương ngắn (còn gọi là “Umrah”) vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, và mỗi năm có thể có hơn 19 triệu người hành hương. Bản thân tôi đã đến Mecca một vài lần để thực hiện “Hajj” – cuộc hành hương lớn hằng năm. Được tổ chức mỗi năm một lần, đây là sự kiện quy tụ đông đảo hơn 2,5 triệu người theo đạo Hồi.      Mọi người không thể thực hiện cả hai cuộc hành hương Umrah và Hajj trong phần lớn năm 2020 vì đại dịch Covid-19 bùng phát. Tuy nhiên, Arab Saudi nhìn chung đã xử lý đại dịch hiệu quả. Nước này có tỷ lệ tử vong thấp và sự gián đoạn kinh tế và xã hội ở mức tối thiểu. Họ cũng tiến hành xét nghiệm quy mô lớn và tiếp cận được vaccine. Điều này cho phép nước này mở cửa cho những người hành hương.       Tôi đã không đi du lịch nhằm giảm thiểu rủi ro mắc loại coronavirus mới, SARS-COV-2; nhưng thông tin về các quy định nghiêm nhặt nhằm đảm bảo an toàn cho những người hành hương ở Mecca đã thôi thúc tôi đến đó.     Là một nhà bệnh lý học, người phụ trách truy tìm sự lây lan của loại coronavirus mới ở Kenya, tôi rất ấn tượng về những gì tôi đã trải qua ở Arab Saudi. Tôi tin rằng các quốc gia khác – những nơi diễn ra các cuộc tụ họp tôn giáo lớn – có thể rút ra nhiều kinh nghiệm từ nơi này. Các lĩnh vực như khách sạn và du lịch, thể thao và giải trí cũng có thể nhìn nhận nơi đây như những chiến lược nhằm cân bằng giữa sức khỏe cộng đồng và bảo vệ sinh kế của người dân.        Một phần trong số những người hành hương đã thực hiện lễ Hajj tại Nhà thờ Hồi giáo Lớn ở Mecca vào tháng 8 năm 2019. Ảnh: EPA, via Shutterstock     Xét nghiệm và cách ly     Đầu tiên, chính quyền Arab Saudi yêu cầu những người hành hương nước ngoài phải có chứng nhận xét nghiệm PCR âm tính. Chúng phải được thực hiện trong vòng 48 giờ trước khi đến nước này.      Khi đến nơi, tất cả những người hành hương phải cách ly bắt buộc tại một khách sạn (đã được chính phủ cho phép) trong vòng 6 ngày, hoặc làm xét nghiệm PCR sau 48 giờ cách ly – và nếu cho kết quả âm tính, bạn có thể rời khỏi khách sạn. Du khách đến từ những quốc gia được cho là “vùng dịch” phải thực hiện cách ly bắt buộc trong bảy ngày, nhưng vẫn phải làm xét nghiệm PCR và cho ra kết quả âm tính sau khi hoàn thành thời gian cách ly.      Ngoài ra, tất cả những người hành hương nếu muốn có giấy phép vào Haram – Nhà thờ Hồi giáo linh thiêng của Mecca – cần phải có giấy chứng nhận tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19.      Điều quan trọng là phải triển khai đầy đủ tất cả biện pháp này, vì chúng bổ sung các lớp bảo vệ và ngăn chặn bất kỳ tình huống siêu lây nhiễm nào. Chỉ xét nghiệm PCR cho ra kết quả âm tính thôi có thể là chưa đủ. Luôn luôn có nguy cơ âm tính giả vì lý do kỹ thuật hoặc gian lận. Arab Saudi đã ghi nhận một số lượng lớn khách du lịch xét nghiệm dương tính tại nước này, dù cho ra kết quả âm tính trước khi khởi hành.      Giãn cách xã hội     Trước Covid-19, dòng người đông đúc và chật cứng. Lần dày, dòng người bên trong Nhà thờ Hồi giáo lớn ổn định và quy củ. Mỗi thời điểm, chỉ có một số lượng hạn chế người được phép vào và phải giữ khoảng cách an toàn với nhau. Cảnh sát và ban quản lý nhà thờ Hồi giáo phụ trách theo dõi và hướng dẫn những người hành hương.       Người hành hương bắt buộc phải đeo khẩu trang, đó là thứ ngăn không cho coronavirus lây lan. Nước này đã áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai không mang khẩu trang hoặc cố gắng vào Haram dù không có giấy phép hợp lệ. Hằng ngày, chúng tôi nhận được tin nhắn điện thoại về các khoản phạt lẫn các biện pháp sức khỏe cộng đồng.        Những người hành hương cầu nguyện bên trong Nhà thờ Hồi giáo Namira ở khu Arafat. Họ phải giữ khoảng cách với nhau theo đúng quy định. Ảnh: Associated Press       Arab Saudi cũng hạn chế rõ rệt số lượng người hành hương – 50.000 mỗi ngày so với sức chứa khổng lồ hàng trăm nghìn người trước đây – khiến việc quản lý người đến và thực thi các biện pháp chống dịch dễ dàng hơn.     Ngoài ra, bữa ăn Iftar (bữa ăn tối khi mặt trời đã lặn) được bọc gọn gàng trong các gói đã niêm phong. Nhãn chỉ dẫn ghi rõ chúng được chế biến trong các điều kiện vệ sinh nghiêm nhặt nhằm loại bỏ nguy cơ lây nhiễm SARS-COV-2. Trước đây, những người hành hương thường ăn bữa Iftar cũng nhau, đôi khi dùng đĩa chung. Đây là một tình huống có thể dẫn đến nguy cơ lây nhiễm virus cao.      Bên cạnh đó, không giống như trước đây, mọi người thường tụ tập để lấy nước thánh ZamZam từ các điểm cung cấp nước, giờ đây những người khuân vác sẽ phân phát nó. Họ đổ nước từ các thùng đựng đeo sau lưng vào các chai nước cho người hành hương.      Ứng dụng trên điện thoại di động     Arab Saudi đã đưa ra một biện pháp sáng tạo, đó là sử dụng các ứng dụng trên điện thoại nhằm ghi lại, theo dõi và giám sát lịch sử dịch tễ liên quan đến Covid-19 của một cá nhân. Chúng bao gồm kết quả xét nghiệm và tình trạng tiêm chủng vaccine chống Covid-19. Những ứng dụng này còn được dùng để đăng ký di chuyển ở những nơi công cộng.      Một trong những ứng dụng phổ biến nhất cả nước để truy vết là Tawakkalna. Đây là ứng dụng quan trọng nhất, cần thiết để được phép vào những nơi bạn muốn đến, chẳng hạn như mọi cửa hàng, nhà hàng, khách sạn và phương tiện giao thông. Ứng dụng này yêu cầu một bản chứng nhận kết quả PCR và tiêm chủng để cho phép nhập cảnh.      Những người có kết quả PCR dương tính không được phép di chuyển xung quanh. Ứng dụng có bộ theo dõi vị trí liên tục và cảnh báo nếu ai đó ra khỏi khu vực cho phép. Nếu một nhóm người muốn tụ tập để tổ chức các sự kiện xã hội, họ sẽ xin giấy phép tụ tập trên ứng dụng Tawakkalna. Sau đó, ứng dụng sẽ cung cấp tính năng truy vết trong trường hợp có bất kỳ trường hợp dương tính nào xuất hiện sau sự kiện.      Đối với những người hành hương muốn vào Haram, họ có thể dùng ứng dụng Eatmarna. Đây là ứng dụng do Bộ Hajj và Umrah (cơ quan của chính phủ chuyên phụ trách các vấn đề của người hành hương) tạo ra. Những người hành hương phải đặt chỗ trước một khoảng thời gian trên ứng dụng Eatmarna nếu muốn vào Nhà thờ Hồi giáo lớn, bởi ban tổ chức cần thời gian để xếp chỗ. Ứng dụng này cũng liên kết với ứng dụng Tawakkalna, có nghĩa là việc bạn có được phép vào Haram hay không tùy thuộc vào kết quả PCR và tình trạng tiêm chủng của bạn.      Là một người hành hương ngoại quốc, tôi phải đeo một băng đeo tay có mã vạch để quét xác nhận trạng thái, trong trường hợp hai ứng dụng Tawakkalna hoặc Eatmarna không hoạt động. Người hành hương còn sử dụng ứng dụng Tabaud. Đây là ứng dụng giãn cách xã hội, sử dụng Bluetooth để kiểm tra ứng dụng Tawakkalna của những người xung quanh bạn. Về cơ bản, nó cảnh báo những người gần đó có ai dương tính với Covid-19 hay không.      Với tư cách là nhà bệnh lý học, tôi cho rằng những ứng dụng này rất quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của coronavirus. Chúng hạn chế tình trạng đông đúc, giúp những người không mắc Covid-19 có thể di chuyển mà vẫn hạn chế được các ca mắc Covid-19. Các ứng dụng truy vết theo dõi lịch trình di chuyển – và lưu trữ dữ liệu y tế cũng như dữ liệu cá nhân – đã làm dấy lên những lo ngại về quyền riêng tư, đặc biệt nếu dữ liệu rơi vào tay kẻ xấu hoặc bị sử dụng sai mục đích. Tuy nhiên, tôi cảm thấy việc sử dụng chúng là điều cần thiết trong thời điểm khó khăn này, và các nhà quản lý lẫn bản thân chúng ta nên thực hiện các bước để bảo vệ dữ liệu.      Tránh các tình huống siêu lây nhiễm     Trước đây, thánh địa Mecca là nơi hội tụ của hàng triệu người hành hương, và cũng là điểm bùng phát của nhiều loại bệnh truyền nhiễm khác nhau – điển hình là bệnh tả. Các bước chống dịch nghiêm nhặt và dứt khoát là cần thiết đối với những cuộc tụ tập đông người. Điều này ngăn chúng trở thành ‘ổ dịch’, điểm nóng siêu lây nhiễm, như những gì đã từng xảy ra ở Ấn Độ và Iran.      Việc Arab Saudi triển khai các biện pháp phòng dịch đối với người hành hương mang lại nhiều bài học cho chúng ta nếu chúng ta muốn tổ chức các sự kiện thể thao, tôn giáo, giải trí lớn. Những người muốn tham gia vào các sự kiện này phải chấp nhận rằng họ sẽ trải qua các bước kiểm tra và giám sát – vì lợi ích của tất cả mọi người.      Điều mà chúng ta cần quan tâm, đó là điện thoại di động là một công cụ rất mạnh trong việc chống lại đại dịch ở tất cả các quốc gia, bao gồm cả những quốc gia ở châu Phi, nơi Internet và điện thoại di động đã phủ sóng hầu khắp khu vực.      (*) Tác giả bài viết là Ahmed Kalebi, Nhà bệnh lý học, giảng viên Khoa Bệnh lý ở Người, Đại học Nairobi.      Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   Pilgrimage in a pandemic: lessons from Mecca on containing COVID-19  Pilgrims, Fewer and Socially Distanced, Arrive in Mecca for Annual Hajj       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trang vươn tới một quốc gia công nghiệp      Bước vào năm 2011, nước ta còn đúng một thập kỷ để thực hiện mơ ước trở thành quốc gia công nghiệp. Bên cạnh những văn minh vật chất như cảng biển, khu công nghiệp, tàu cao tốc… có thể dành dụm hoặc dựa vào tiền vay mà dựng lên thì một quốc gia công nghiệp còn cần tới phong cách ứng xử công nghiệp. Năm mới cũng nên là dịp nhìn lại hành trang của nước ta trên lộ trình đó.    Kỷ luật thị trường và tập đoàn  Từ hai chục năm nay chúng ta lại yêu kinh tế thị trường. Ồn ào giữa chợ, rượt đuổi theo lợi nhuận, người thắng kẻ thua, nửa triệu doanh nghiệp đủ loại ganh đua nhau giành lấy trái tim khách hàng. Nhớ lại một thời bao cấp chưa xa, với bộ máy kế hoạch Nhà nước đã nghĩ thay người sản xuất và nghĩ thay cả cho người tiêu dùng. Thật vĩ đại, kỷ luật thị trường đã thay đổi đáng kể nếp nghĩ trên đất nước chúng ta.  Từ chỗ quản lý hàng vạn xí nghiệp quốc doanh nay nhà nước đã thu hẹp phạm vi kinh tế quốc doanh, chỉ còn giữ lại 12 tập đoàn và khoảng 1.500 doanh nghiệp, hết thảy được ép phải chơi cùng một luật chung với dân doanh. Đồng thời bộ máy công vụ đang tách dần ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp, công chức tách dần khỏi viên chức. Một nhà nước ôm đồm đang làm cuộc tự lột xác không hề dễ dàng để trở thành một nhà nước nhỏ hơn, nhưng năng động hơn, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn.  Chỉ có điều, số lượng tuy giảm, song 12 tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn được ưu ái vốn và nguồn tài nguyên, riêng vốn cho Vinashin đã lên tới 113 nghìn tỷ đồng, tức là gấp trên 100 lần ngân sách của một tỉnh quy mô nhỏ như Đồng Tháp. Năm 2010, người ta không thể quên Vinashin, một tập đoàn thua lỗ, phơi bày ra những lỗ hổng đáng báo động về trách nhiệm quản lý vốn nhà nước đầu tư cho các công ty quốc doanh. Chỉ có được những nguồn tin thứ cấp, một khối tài sản lớn của quốc gia được giao cho những thành viên hội động quản trị công ty mà thiếu vắng những thiết chế giám sát hiệu quả.  Vinashin không chỉ là câu chuyện trả 86 nghìn tỷ đồng nợ khó đòi. Lấy tiền dân đầu tư vào các tập đoàn, tiền ấy không phải của nhà nước, càng không phải của cá nhân các quan chức. Giao tất cả tài nguyên quốc gia cho nhà nước quản lý, ông chủ nhân dân phải làm gì để giám sát chính quyền. Vinashin thua lỗ, Quốc hội, Chính phủ và các bộ đều có phần lỗi, song chưa có cơ sở để quy rõ hơn trách nhiệm thuộc về ai, một nhu cầu sắp xếp lại nền quản trị quốc gia đã trở nên bức bách.    Sở hữu tư nhân và công bằng xã hội  Hai thập kỷ tái khởi động nền kinh tế thị trường đã làm sống lại sở hữu tư nhân. Những ông chủ đang thay khuôn mặt mới. Bùn đỏ từ khai khoáng xuất hiện ở Cao Bằng, rừng biên giới ở Lạng Sơn được cho người nước ngoài thuê, đất Ba Vì lên cơn sốt, bờ sông Sài Gòn tới những bãi biển miền Trung bị khoanh thành của riêng, tránh tư nhân hóa song trớ trêu thay chúng ta lại mở cửa cho tài nguyên quốc gia đôi khi được khai thác thiếu kiểm soát vì lợi ích tư nhân.  Khi kinh tế tư nhân đã chiếm tới 48% GDP, đã tới lúc phải nhìn nhận lại vai trò của sở hữu công cộng và sở hữu tập thể của các hợp tác xã. Nếu tiếp tục đề cao công hữu, do khả năng quản lý kém, của công có nguy cơ ngấm ngầm biến thành tư. Tích lũy tiền bạc lâu ngày sẽ trở thành sức mạnh, tới khi cái võ cũ bị đục rỗng, một trật tự của cường lực và những đặc quyền mới sẽ lộ diện.  Một quốc gia công nghiệp phải là một chế độ có nền công lý đảm bảo tự do của mọi người dân, tức là phải có một chế độ pháp quyền. Luật pháp dày đặc, song nếu chúng chỉ nhằm thay thế danh tước những ông chủ một cách tân thời, thì nguồn lực trong quốc gia vẫn bị kiểm soát bởi những nhóm lợi ích đặc quyền. Khi ấy lợi ích tư nhân thắng thế, hệ thống nhà nước và luật pháp trở thành pháo đài chiến lũy bảo vệ người có quyền và thế lực, ngăn cản quyền tiệm cận nguồn lực và thi thố tài năng của bất kỳ ai. Nếu điều ấy xảy ra, cũng tựa như vô số nước đang phát triển khác, chúng ta có nhà máy lọc dầu và có thể có đường sắt cao tốc, song chưa có nền tảng ứng xử công bằng của một xã hội công nghiệp.    Xã hội công dân  Từ năm 2001 Hiến pháp nước ta được sửa đổi, bổ sung thêm một quy định rằng Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Luật pháp đã được ban hành nhiều, song vẫn còn rất nhiều việc phải làm để hướng tới một xã hội thượng tôn pháp luật. Kinh tế thị trường không còn nghi ngờ gì nữa đã cởi trói cho sở hữu tư nhân. Song càng khuyến khích kinh tế tư nhân, càng phải có một nhà nước mạnh để phân bổ phúc lợi và sự thịnh vượng trong quốc gia một cách công bằng.  Nhà nước thường chỉ mạnh khi người dân ý thức được quyền và trách nhiệm công dân, tìm cách kiểm soát, giám sát chính quyền. Năm 2010 đã xuất hiện những vụ kiện Bộ Công thương vì thông tư của Bộ có dấu hiệu trái luật, gây thiệt hại tiền tỷ cho doanh nghiệp hoặc người dân khởi kiện chính quyền địa phương do “lô cốt” cản trở việc kinh doanh của họ. Cứ đà ấy, “quy hoạch treo, hố tử thần” một ngày kia có thể trở thành những vụ kiện khi người dân học được cách chất vấn và truy tìm trách nhiệm của chính quyền.  Từ văn hóa cho đến pháp luật  Dùng văn để giáo hóa, dùng văn để trị, nôm na hành xử văn hóa tức là tập ứng xử như một con người xã hội. So với cách hiểu ấy, hai chữ văn hóa ngày nay đã thay đổi nhiều. Như một ngành thực hiện quản lý nhà nước, năm 2010 diễn ra vô số sự kiện văn hóa và phi văn hóa. Sự kiện lớn 1000 năm Thăng Long đã qua. Tự hào vì thủ đô cũng như vô số các đô thị mới phát triển nhanh, ngày càng mới, song để đô thị đẹp hơn, xanh hơn, sạch hơn, biết nâng niu những giá trị cổ truyền, để mỗi con người sống trên đất đô thị ứng xử với nhau văn hóa hơn, hình như còn ngổn ngang những việc phải làm.  Năm 2010 cũng là năm mà các netizen được cung cấp vô số mẩu phim phản cảm trên Internet, từ cô bảo mẫu dội nước vào mặt, tắm cho trẻ bằng chân, bé Hào Anh bị hành hạ, cho tới nhan nhản bạo lực nơi học đường. Văn hóa tức là cách người ta hành xử, nhân nào quả đấy, có biết bao nhiêu căn cớ để lý giải vì sao con người ta hành xử thì cũng có bấy nhiêu cội nguồn nhào nặn ra văn hóa của con người nước ta. Hãy giải thích vì sao dân tộc chúng ta hầu như chưa quen xếp hàng, chưa quen tuân thủ luật lệ giao thông, chưa tự giác xả rác đúng nơi quy định. Như lá cành thân rễ, từ muôn đời nay đời sống tư tưởng, tâm linh, tôn giáo, thói quen, tục lệ và pháp luật, hết thảy những quy phạm xã hội đa dạng ấy đã tựa như một cái cây vững chãi tạo nên văn hóa của người dân nước ta.  Muốn đạt tới cách ứng xử văn minh trong một quốc gia công nghiệp, không thể thụ động chờ tập quán người dân nước ta tự diễn biến, tự đổi thay. Từ truyền thống văn trị, phải cần tới một trật tự pháp trị rõ ràng, lấy những chuẩn mực pháp luật nghiêm minh làm thước đo thay đổi hành vi con người. Hướng tới một quốc gia công nghiệp, nếu định hướng hành vi ứng xử văn hóa trở nên khó khăn và thiếu cụ thể, phải định hướng hành vi con người theo những chuẩn mực cụ thể của pháp luật, dần dà con người văn hóa sẽ được định hình dần theo.  Hai thập kỷ đổi mới theo kinh tế thị trường cũng là hai thập kỷ văn bản luật trên giấy tăng nhanh theo thời gian. Song từ luật trên giấy cho đến luật ngoài đời còn quá nhiều vênh lệch. Không thể áp dụng những tiêu chuẩn kép, luật pháp phải công bằng, áp dụng công khai cho mọi đối tượng, không phân biệt lý lịch, thành phần xuất thân. Khi pháp trị được thiết lập, qua năm tháng những tín hiệu này sẽ tác động ngược trở lại hành vi ứng xử có văn hóa của người dân.  Một thập kỷ mới đang tới. Trở thành một quốc gia công nghiệp, ngoài những chỉ số kinh tế lớn lao, cũng có nghĩa thật giản dị rằng người dân nước ta phải biết dừng trước đèn đỏ và nhường nhịn khi tham gia giao thông. Để có được một quốc gia như vậy, ngoài kinh tế thị trường, trong hành trang vươn tới văn minh, dân tộc chúng ta rất cần một chế độ thượng tôn pháp luật và nhiều hơn nữa tinh thần công dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình cổ xưa đem DNA của người châu Mỹ bản địa đến quần đảo Thái bình dương xa xôi      Việc phát hiện ra một số người Polynesia có tổ tiên di truyền từ Nam Mỹ đã ủng hộ lý thuyết đã tồn tại từ lâu về việc dân cư cổ đại hòa huyết và tạo ra thế hệ con cháu.      Tượng đá trên đảo Phục Sinh. Nguồn: Gregory Boissy/AFP/Getty  Người ta đã tìm ra những dấu vết tổ tiên châu Mỹ bản địa trong các hệ gene dân cư hiện đại của một số hòn đảo Polynesia, đề xuất những cư dân cổ đại đã gặp gỡ và hòa huyết với những người Nam Mỹ hàng trăm năm trước.  Polynesia là một trong những góc khuất cuối cùng của thế giới mà con người định cư, một nhóm các quần đảo được con người ‘chiếm ngữ” sau một loạt hành trình từ đảo này sang đảo khác, bắt đầu khoảng 1.000 năm trước đây. Một nghiên cứu “Native American gene flow into Polynesia predating Easter Island settlement” mới xuất bản trên Nature đã ủng hộ thuyết đã tồn tại trong một thời gian dài nhưng chưa được chứng minh là người Polynesia cổ đại đã giao tiếp với người châu Mỹ bản địa. Các nhà khoa học đã cho rằng phần lớn điều này đã diễn ra tại đảo Phục Sinh, hay còn gọi là Rapa Nui, bởi vì nó tương đối gần với Nam Mỹ. Tuy nhiên dữ liệu mới nhất đã đề xuất là các cuộc gặp gỡ đó – hoặc có lẽ là một cuộc gặp gỡ – đã xảy ra trên các hòn đảo cách lục địa này hàng trăm km.  Bằng chứng khảo cổ và di truyền phong phú đã chỉ dấu là các đảo Polynesia là nơi định cư đầu tiên của những người di chuyển từ Đông Á nhưng một vài nhóm đã giao tiếp với người Nam Mỹ. Các củ khoai lang, vốn có nguồn gốc từ cao nguyên Andes, đã được trồng khắp Đông Polynesia, và các mẫu khoai lang Polynesia từ thế kỷ 18 cũng có cùng chỉ thị di truyền với nhiều loài khoai lang ở bờ biển Nam Mỹ. Một nghiên cứu hệ gene năm 2014 đã tìm thấy các tổ tiên của cư dân hiện đại ở Rapa Nui đã hòa huyết với người châu Mỹ bản địa và sinh con đẻ cháu nhưng DNA được tìm thấy từ những hài cốt người cổ đại từ đảo này và đảo khác ở vùng Polynesia thuộc Pháp lại không có nhiều biểu hiện mong muốn.  Thời điểm hòa huyết  Để mở rộng cuộc tìm kiếm, một nhóm nghiên cứu do nhà di truyền học quần thể Andrés Moreno-Estrada, tại Phòng thí nghiệm quốc gia về Hệ gene cho đa dạng sinh học ở Irapuato, Mexico, đã phân tích DNA từ 166 người hiện sống ở Rapa Nui cũng như 188 người ở hơn 10 còn đảo quanh Thái Bình Dương. Họ nhận diện dấu vết tổ tiên châu Mỹ không chỉ ở người sống tại Rapa Nui mà còn ở người từ vùng đảo Đông Polynesia xa xôi như Palliser, Nuku Hiva thuộc Northern Marquesas, Fatu Hiva thuộc Nam Marquesas và Mangareva. Những so sánh vật liệu di truyền này với những nhóm người châu Mỹ bản địa cho thấy người Zenu, một nhóm người Anh điêng ở Colombia, mang DNA giống như những người Polynesia.  Nhóm nghiên cứu của Moreno-Estrada sau đó đã nỗ lực xác định khi nào những nhóm dân cư này giao phối để tạo ra thế hệ con cháu – để phân biệt sự tiếp xúc thời kỳ ‘tiền Columbia’ giữa các nhóm với sự hòa quyện được tiến hành trong nhiều thế kỷ sau quá trình thực dân hóa Nam Mỹ và Polynesia của người châu Âu. Trên cơ sở độ dài của những đoạn DNA được chia sẻ- vốn trở nên ngắn hơn trong các hế hệ kế tiếp – các nhà nghiên cứu đã ước tính người sống ở các đảo Đông Polynesia xa xôi đã hòa huyết với người Nam Mỹ để tạo ra các thế hệ con cháu vào giữa năm 1150 và 1230, ngược lại những người ở Rapa Nui thì lại hòa huyết vào gần mốc năm 1380. Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sự hòa huyết ở thế kỷ 18 và 19.  Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất là chuyến viễn du của những người Polynesia tới bờ biển Nam Mỹ nhưng Moreno-Estrada nghĩ rằng sự tiếp xúc xảy ra ở Polynesia – và nó có thể bao gồm một nhóm người châu Mỹ bản địa. Nhóm nghiên cứu đã tính toán các thời điểm tương tự cho sự xuất hiện của tổ tiên châu Mỹ bản địa trên các hòn đảo khác nhau và phân tích khác đã tìm thấy các đoạn DNA người Nam Mỹ trong các hệ gene người từ những đảo Polynesia khác nhau đều xuất phát từ người châu Mỹ bản địa. Bằng chứng khảo cổ cho thấy có các tuyến đường thương mại trên biển giữa Mexico và Ecuador vào thời điểm này, Moreno-Estrada nói. “Có thể một lượng lớn thủy thủ châu Mỹ bản địa đã trôi dạt đến Thái Bình Dương,” ông cho biết thêm.  Moreno-Estrada nghĩ rằng người Polynesia định cư ở Rapa Nui vào khoảng năm 1200 đã mang gene của tổ tiên Nam Mỹ. Nhưng Paul Wallin, một nhà khảo cổ ở đại học Uppsala Thụy Điển, nghi ngờ là  liệu các nhóm người châu Mỹ bản địa có thể di chuyển từ Nam Mỹ ở thời điểm muộn hơn. Các di tích bằng đá lớn, tương tự như những thứ ở Nam Mỹ, đã được xây dựng trên Rapa Nui vào khoảng năm 1300 và 1400,  hàng trăm năm sau khi xuất hiện trên các đảo Polynesia khác, ông lưu ý.  “Các kết quả này rất thuyết phục”, Lars Fehren-Schmitz, một nhà di truyền học nhân học tại trường đại học California, Santa Cruz, cho biết. Ông nghĩ việc tiếp xúc giữa hai bên có thể xuất hiện ở một nơi nào khác ở Polynesia.  “Đây là một câu chuyện rất hấp dẫn”, Cosimo Posth, một nhà cổ sinh học hệ gene tại trường đại học Tübingen, Đức, nhận xét. Ông và đồng nghiệp đang tìm kiếm những bộ xương cư dân đảo cổ xưa, những người mang ‘dấu vết’ sự hòa huyết giữa hai tổ tiên – hoặc tốt hơn những người Nam Mỹ có thể là những người đã thực hiện hành trình dài trên biển. “Chỉ có DNA cổ xưa của người từ Đông Polynesia mới có thể  Ông và các đồng nghiệp của ông đang lùng sục khắp khu vực để tìm hài cốt của những người dân đảo cổ xưa, người mang theo sự pha trộn của hai tổ tiên – hay tốt hơn nữa là những người Nam Mỹ có thể đã thực hiện chuyến đi dài. Chỉ có DNA cổ từ người ở đông Polynesia mới có thể giải quyết bài toán khó này”, ông nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02055-4#ref-CR1     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình khám phá nét duyên của ẩm thực Hà thành      Vòng sơ kết cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2014 đã bước đến chặng cuối cùng của hành trình tìm kiếm và tôn vinh nền ẩm thực địa phương của khu vực Miền Bắc tại Hà Nội, một trong những thành phố có nền ẩm thực phong phú và đa dạng nhất nước ta.       Tại đây sẽ diễn ra một cuộc đọ sức thú vị để xác định  những đại diện cuối cùng tham gia vòng bán kết tại khu vực phía Bắc tại  Hà Nội vào ngày 05/11/2014 và trở thành chủ nhân tiếp theo của giải  thưởng trị giá một tỷ đồng của cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2014 ở vòng  chung kết được tổ chức tại Bình Dương.       Ngày 24/09/2014 tại Cung triển lãm quy hoạch xây dựng Quốc Gia – (Đường  Đỗ Đức Dục, Mê Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội ) sẽ diễn ra vòng loại cuối cùng của cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2014 tại khu vực phía Bắc với sự tham gia của 16 đội đến từ các nhà hàng, khách sạn thuộc khu vực Hà Nội. Ẩm thực Hà Nội vốn nổi tiếng với sự đa dạng cho nên cũng không lấy làm lạ khi 16 đội thi đã mang đến 64 món ăn, mỗi món ăn là một Hương vị, sắc màu ẩm thực khác nhau nhưng đều mang đậm cái hồn, cái truyền thống của một nền ẩm thực lâu đời chốn Hà Thành như: Cốm Làng Vòng chuối tiêu của First Eden Hotel, Chè chuối nướng của Flower Garden Hotel, Vịt nướng giềng mẻ của Hilton Hotel, Chả cả cuốn Thăng Long của Sun Way Hotel, Chè con ong của Hancinco Hotel, Gỏi củ sen tôm thịt của Larosa Hotel, Ốc hấp lá gừng, phở cuốn cá lăng nướng của Dl Công Đoàn Việt Nam, Nem ốc Hồ Tây của NH Lục Thủy, Chè sắn dây bí đỏ của KS Sen,… Ngoài những đại diện của khu vực Hà Nội còn còn có sự tham gia của Khách sạn White Palace một đại diện đến từ tỉnh Thái Bình.  Cũng như ở các khu vực khác, trong khuôn khổ hành trình chiếc thìa vàng trước ngày thi chính thức một ngày Ban Tổ Chức còn tổ chức ngày hội ẩm thực mang tên hương vị quê nhà, tại ngày hội các thực khách sẽ có cơ hội thưởng thức được những món ăn vô cùng nổi tiếng của khu vực Hà Nội món bánh cuốn, chả cá Tây Hồ, chả cá Lã Vọng, bún thang, phở cuốn … những món được cho là phải thưởng thức khi đặt chân đến chốn Hà Thành. Cho nên có thể nói  ngày hội ẩm thực mang tên Hương Vị Quê Nhà được tổ chức tại Cung triển lãm quy hoạch xây dựng Quốc Gia vào ngày 23/09/2014 là một ngày hội của những món ăn không những nổi tiếng trong nước mà còn nổi tiếng thế giới được nhiều tạp chí danh giá về du lịch bình chọn là phải nếm thử khi đến Hà Nội và cần phải nếm thử một lần trong đời.  Vòng loại cuộc thi Chiếc Thìa Vàng và ngày hội ẩm thực tại khu Hà Nội hứa hẹn sẽ mang đến một màu sắc ẩm thực thú vị và những ấn tượng khó quên trong những chặng cuối cùng của hành trình dọc miền đất nước của cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2014.  Ông Lý Huy Sáng Phó trưởng ban tổ chức cuộc thi cho biết: “Chúng tôi tổ chức cuộc thi nhằm tạo ra một sân chơi để các đầu bếp thể hiện tài năng của mình, cũng như tôn vinh những món ăn dân dã truyền thống vừa ngon vừa lành của Việt Nam trong thời điểm mà hầu hết các nhà hàng khách sạn dành sự quan tâm nhiều cho các các món ăn phương Tây. Đặc biệt nhất, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc khi nghe chia sẻ của các đầu bếp tham dự cuộc thi, rằng thông qua Chiếc Thìa Vàng, họ cảm thấy tự tin hơn về nghề nghiệp của mình, cũng quan tâm nhiều hơn đến các nguyên tắc khoa học của việc chế biến thức ăn và vai trò của người đầu bếp trong việc góp phần quảng bá cho du lịch Việt Nam”.   Vòng loại cuộc thi sẽ diễn ra tại 10 tỉnh thành, đại diện cho từng khu vực khác nhau của đất nước: Kiên Giang, Cần Thơ, TP.HCM, Bình Dương, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hà Nội và Lào Cai. Sau vòng bán kết khu vực phía Bắc và phía Nam sẽ là trận tranh tài chung cuộc vào ngày 10.12.2014 tại Bình Dương. Cuộc thi năm nay được sự chỉ đạo và bảo trợ của hai đơn vị cấp quốc gia là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng cục du lịch Việt Nam.  Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi năm nay lên đến hơn 3 tỷ đồng, bao gồm giải vô địch trị giá 1 tỷ đồng  và một cúp sứ cùng các giải phụ và các giải cho từng vòng, từng khu vực. Nhãn hàng Ly’s Horeca của công ty Gốm sứ Minh Long I tiếp tục là đơn vị đồng hành duy nhất của cuộc thi.  Đồng hành cùng các đội thi năm nay, thương hiệu Ly’s horeca của công ty gốm sứ cao cấp Minh Long I có những chính sách ưu đãi hấp dẫn dành cho tất cả các đội thi và đối với các khách hàng là nhà hàng, khách sạn  hoạt động trong lĩnh vực HORECA trong khu vực Bắc Trung Bộ trong 3 ngày vàng ưu đãi đặc biệt từ ngày 22-24/09/2014. Ly’s Horeca là dòng sản phẩm cao cấp dành cho nhà hàng, khách sạn của công ty Minh Long I. Horeca là viết tắt của cụm từ “hotel – khách sạn”, “restaurant – nhà hàng” và “catering – các đơn vị cung cấp suất ăn”. Ngoài những ưu điểm vốn có của sản phẩm Minh Long I như sử dụng công nghệ nano để chống trầy xước, chống bám bẩn, độ cứng cao, thì Ly’s Horeca còn sở hữu màu trắng ngà tương thích với ánh đèn vàng của nhà hàng theo tiêu chuẩn quốc tế và cung cấp đủ mọi hình dạng theo các nhu cầu phục vụ phong cách ẩm thực khác nhau.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình lưu giữ giống ngô bản địa      Những giống ngô với hương vị ngọt ngào tưởng chừng như đã biến mất, giờ đây chúng đã trở lại trên những cánh đồng của người Mỹ bản địa – hệt như một cuộc hành trình “trở về với Đất Mẹ”.     Greendeer với những tai ngô King Philip của mình. “Mục tiêu cuối cùng là giúp bộ lạc có thể trồng nó trên quy mô lớn hơn, sản xuất ra bột ngô Wampanoag và bán nó,” cô chia sẻ. Ảnh: Matt Cosby / The New York Times  Vào tháng 9 năm ngoái, Danielle Hill Greendeer đã thu hoạch được 200 đến 300 tai ngô King Philip cứng, có màu đỏ, mà bà đã trồng trong khu vườn cộng đồng của Bộ lạc Mashpee Wampanoag ở Mashpee, Massachusetts. Mặc dù đây mới là vụ đầu tiên nhưng Greendeer – thành viên của bộ lạc – vẫn tự hào khoe rằng ngô đã quay trở lại với cô.  “Đây là giống ngô mà người Wampanoag trước kia đã trồng tại vùng đất này”, cô kể. “Chúng tôi đã không trồng ngô trên đất của mình trong hàng trăm năm qua, thật tuyệt khi giờ đây nó đã quay về với cộng đồng Wampanoag.”  Vùng đất tổ tiên trải dài từ Vịnh Narragansett đến Nantucket, Vườn nho Martha và các bãi biển Cape Cod thuộc Đại Tây Dương. Bộ lạc đã mở rộng về phía Bắc đến địa điểm hiện tại ở Plymouth, Massachusetts. Nơi đây, cách đây 400 năm, những Người du hành (Pilgrims) từ châu Âu đã tổ chức buổi lễ ăn mừng vụ thu hoạch thành công, hay về sau chúng ta vẫn gọi đó là Lễ Tạ ơn đầu tiên. Những người bản địa cùng tham gia buổi lễ là người Wampanoag, và ngô được phục vụ trong buổi lễ đó cũng là ngô Wampanoag. Đó là một giống ngô đá lửa có hương vị ngọt ngào, đậm đà.  Ngày nay, chỉ có một số nông dân trồng hạt ngô từ những giống bản địa ấy. Bột ngô ngày nay – thường được xay từ một loại ngô cứng khác được gọi là ngô đồng – là nguyên liệu không thể thiếu trên các bàn ăn mừng Lễ Tạ ơn ở khắp nước Mỹ. Đầu bếp dùng chúng để nướng bánh mì, bánh muffin và bánh que, hấp chúng với mật rỉ đường và trứng.  Dẫu vậy, giống ngô bản địa mới là “nhân vật chính” thực sự của câu chuyện về những người sống ở Plymouth và khắp Tây Bán cầu từ trước khi người châu Âu đặt chân đến.  Nếu bạn hiểu về ngô, nó sẽ cho bạn biết về nền văn minh mà những bộ lạc xa xưa đã từng dựng nên. Nó sẽ cho bạn biết lý do tại sao khi vụ lúa mì được trồng bằng giống mang từ châu Âu thất bát, ngô Wampanoag đã giúp những Người du hành không bị chết đói, và tại sao nó lại in hằn dấu ấn vào khẩu phần ăn của những người định cư châu Âu và con cháu của họ.  “Thuần hóa” ngô  Không giống như nam việt quất, chúng ta không thể cứ thế mà thu hoạch ngô. Theo các nhà khảo cổ học, ngô có lịch sử trồng trọt từ cách đây ít nhất 9.000 năm. Thông qua quá trình lai tạo chọn lọc, những người bản địa sống ở Thung lũng sông Balsas, phía nam Mexico City, đã biến teosinte, một loại cỏ dại ít dinh dưỡng, thành một loại cây trồng có những hạt lớn, sít nhau, chứa nhiều protein và các chất dinh dưỡng khác.  Chủng mới đã bị thay đổi rất nhiều so với loại cỏ dại tổ tiên của chúng, nên chúng không thể tồn tại trong tự nhiên. “Con cháu” của chúng cũng vậy. Để giữ cho các giống ngô tồn tại, những người nông dân phải trồng ngô liên tục, giữ chúng cách xa những giống khác và để dành một số hạt làm giống cho năm sau.  Từ Thung lũng Balsas, ngô đã đi xa hơn. Từ rất lâu trước khi Columbus đến châu Mỹ, chúng đã được trồng trên khắp Tây bán cầu, bao gồm cả các đảo vùng Caribe. Trên hành trình ấy, các thổ dân đã “thuần hoá” ngô để chúng thích ứng với khí hậu của riêng họ, một lần nữa thông qua chọn lọc giống.  Ở Arizona, những thổ dân thuộc bộ lạc da đỏ Hopi đã phát triển loại ngô có rễ đâm sâu hơn nhiều inch so với các giống ngô khác, có thể trồng ở nơi chứa nước tan từ tuyết mùa đông kéo dài đến mùa xuân. Rễ của loại ngô này có thể đào sâu hơn để tìm độ ẩm và chồi đủ mạnh để chạm tới lớp đất mặt của sa mạc.    Maiz negro, hay còn gọi là ngô tím, là một trong vô số giống ngô mà người bản địa đã phát triển cho phù hợp với điều kiện môi trường qua hàng nghìn năm. Ảnh: Jessica Attie / The New York Times.  Ở đầu bên kia của lục địa, ở Quebec và đông bắc Maine, người Mi’kmaq đã lai tạo ra một giống lớn nhanh gọi là Gaspé với thân cây cao 2 foot, tai ngô ngắn, mập và sẵn sàng hái ngay sau 45 ngày sau khi trồng – chỉ bằng một nửa thời gian so với hầu hết loại ngô, giúp ngô Gaspé trở thành ngô đá lửa nhanh chín nhất của miền Bắc.  Tony VanWinkle, một nhà nhân chủng học giảng dạy về hệ thống thực phẩm bền vững tại Cao đẳng Guilford ở Greensboro (North Carolina), đã giúp Bộ lạc Nulhegan Abenaki trồng ngô Gaspé ở Vermont. Trong quá trình làm việc với cây ngô, ông dần hiểu ra kỹ năng nông nghiệp vượt trội của người bản địa, những người giàu kinh nghiệm với vụ mùa bội thu. Chúng ta thường không công nhận điều này vì bị ảnh hưởng bởi “những định kiến hẹp hòi”, ông chia sẻ. “Nhưng rõ ràng họ là những người nông dân lão luyện”.  Một trong những cải tiến của họ là phương pháp “ba chị em”: trồng ngô và đậu trên các gò đất, với bí mùa đông giữa chúng. Những cây ngô đồng làm sào cho cây đậu leo ​​lên. Lá bí rộng che bóng mát, giữ nước và loại bỏ cỏ dại.  Những người định cư từ châu Âu nhanh chóng có được nguồn ngô bản địa nhờ cướp bóc và giao thương. Người bản xứ bị giết hại hoặc bị buộc phải chuyển đến nơi khác. Trên đường đi, họ thường xuyên bị trộm mất ngô – khẩu phần ăn chính và còn là đời sống văn hoá tinh thần của họ.    Cách đây 400 năm, những Người du hành từ châu Âu đã tổ chức buổi lễ ăn mừng vụ thu hoạch thành công. Những người bản địa cùng tham gia buổi lễ là người Wampanoag, và ngô được phục vụ trong buổi lễ đó cũng là ngô Wampanoag. Đó là một giống ngô đá lửa có hương vị ngọt ngào, đậm đà. Ảnh: Matt Cosby / The New York Times  Ngô “hồi sinh”  Ngô vẫn sống sót. Tại trang trại Davis ở Stonington, Conn., ở cực đông nam của bang, vẫn trồng một loại ngô đá lửa trắng mà gia đình có được vào khoảng năm 1654 từ một bộ lạc địa phương. Theo các tài liệu trong kho lưu trữ của Bộ lạc Mohegan, thủ lĩnh của họ – Uncas , đã trao nó cho Thomas Stanton, người lập ra trang trại. Stanton là bạn của tù trưởng và cũng là đồng minh quân sự, ông làm thông dịch viên cho người Mohegan và điều hành một trạm buôn bán trên sông.  Người điều hành hiện tại của trang trại, Larry Davis, cho biết ngô trắng đã giúp tổ tiên ông và các gia đình khác trong vùng sống sót qua thời kỳ suy thoái. “Có rất nhiều trang trại xung quanh đây đã trồng chúng vào thời điểm đó,” ông nói.  Trên khắp bán cầu, các giống ngô bản địa không còn được trồng nhiều – hay thậm chí là biến mất – do ngày nay mọi người có xu hướng ưa chuộng các giống ngô có năng suất cao hơn nhưng ít hương vị hơn, đặc biệt là ở các trang trại quy mô lớn.  Ông Davis cho hay trang trại của ông tuy không còn trồng giống ngô King Philip, nhưng họ vẫn tiếp tục phát triển giống đá lửa trắng. Giờ đây ông bảo vệ chúng một cách cẩn thận. Ông sẽ cho bạn tất cả số ngô xay mà bạn muốn, nhưng ông sẽ không bán hạt ngô. “Cách duy nhất để ngô đi ra khỏi đây là phải đi qua máy xay của tôi”, ông ví von.  Chỉ có một ngoại lệ duy nhất từ trước đến nay: Năm 1996, cha ông đã tặng lại hạt ngô cho người Mohegan sau khi bộ tộc này được liên bang công nhận.  Trong vài thập kỷ qua, các bộ lạc khác đã “đoàn tụ” với giống ngô bản địa của họ. Ngô và các loại hạt khác cũng là trung tâm của phong trào chủ quyền lương thực đang được dấy lên nhằm tìm cách cho phép người bản địa kiểm soát nguồn cung cấp lương thực của chính họ. Mạng lưới những người giữ hạt giống bản địa được thành lập vào năm 2015 chuyên hỗ trợ những người bản địa muốn trồng lại cây trồng truyền thống của họ, thông qua trao đổi hạt giống và các chương trình khác..  Rowen White, một thành viên của Bộ tộc Mohawk, là một trong những người tổ chức mạng lưới, đã so sánh việc trả lại cây trồng của người bản địa về tay người bản địa với việc trả cho bộ lạc các hiện vật và hài cốt người được giữ trong viện bảo tàng. Cô ấy thích cách diễn đạt rằng hạt giống đã “”về với Đất Mẹ”, một phần vì phần lớn nông dân ở Mohawk và các cộng đồng khác là phụ nữ.    Danielle Hill Greendeer, một thành viên của Bộ lạc Mashpee Wampanoag, đã trồng vụ ngô King Philip đầu tiên trong năm nay. Ảnh: Matt Cosby / The New York Times  Greendeer có một số dự định với vụ ngô King Philip đầu tiên của mình. Cô muốn nấu nó thành món súp cùng với bí và đậu của mình cho lễ hội thu hoạch Wampanoag. Đồng thời, cô ấy sẽ gửi một số tai ngô trở lại Truelove Seeds, công ty đã cho cô hạt giống để trồng, và trao đổi một số hạt với các thành viên bộ lạc khác muốn trồng ngô.  ”Trong những năm tới, các bộ lạc sẽ phát triển ngô trên quy mô lớn hơn, chẳng hạn như sản xuất ra bột ngô Wampanoag và kinh doanh từ nó,” cô chia sẻ mục tiêu cuối cùng mà cộng đồng hướng đến. Hiện tại cô đang bán bột ngô của Bộ tộc Ute tại cửa hàng của cô ở Mashpee, Phòng trưng bày và Quầy giao dịch Wampanoag.  Đinh Trang tổng hợp  Nguồn:  A Thanksgiving History Lesson in a Handful of Corn  How Native Americans Are Fighting a Food Crisis    Author                .        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh (Phần 5: Cuộc đua đến Mặt trăng)      Trong các kỳ trước, chúng ta đã chứng kiến từng bước chân đầu tiên của nhân loại trong hành trình phát triển công nghệ vệ tinh, những phương trình cơ bản, những thiết bị phản lực đời đầu, những lần thử nghiệm và thất bại,… cho tới bước chuẩn bị cho màn đổ bộ tàu và thiết bị không người lái lên Mặt trăng của Liên Xô. Và điểm tiếp theo của chặng đua này là sự kiện lịch sử đưa con người lên Mặt trăng.      Con tinh tinh Ham thử nghiệm Mercury-Redstone 2 (MR-2). Nguồn ảnh: lsda.jsc.nasa.gov  Nước đi táo bạo   Vào ngày 25/5/1961, tổng thống John F .Kennedy tuyên bố trên sóng truyền hình rằng Mỹ sẽ đưa một người đàn ông lên Mặt trăng và trở về an toàn. Cục diện chiến tranh lạnh cho phép đề nghị của Kennedy được nước Mỹ ủng hộ. Với nguồn nhân lực gần nửa triệu người, Apollo là một trong những dự án tốn kém nhất với chi phí ước tính là 98 tỉ USD. Những nỗ lực của Hoa Kỳ đều bị đối thủ xem nhẹ cho đến khi tên lửa Saturn I mang theo khoang chỉ huy và phục vụ được phóng vào tháng 5/1964. Hai tháng sau sự kiện đó, Korolev tổ chức một cuộc họp với Nikita Khrushchev và đề xuất một chiến lược tương tự của NASA để đánh bại Mỹ. Chiến lược được thông qua vào ngày 3/8/1964, nhưng lúc này Liên Xô đã bị Mỹ dẫn trước rất xa.  Mercury  Dự án Mercury của Mỹ là chương trình đưa con người vào vũ trụ đầu tiên của Hoa Kỳ nhằm chạy đua với Liên Xô. Sau khi NASA đảm nhiệm lại từ Không quân, việc đưa con người lên quỹ đạo đã gặt hái được thành công, tạo động lực cho dự án Apollo. Mercury-Redstone 2 (MR-2) là chuyến bay thử nghiệm mang theo một con tinh tinh tên Ham trên một chuyến bay không hết một vòng quỹ đạo. Tàu vũ trụ Mercury 5 được phóng lúc 16:55 UTC vào ngày 31/1/1961 từ LC-5 tại Cape Canaveral, Florida. Kén con nhộng và Ham đã hạ cánh an toàn xuống Đại Tây Dương 16 phút 39 giây sau khi phóng.  Tinh tinh Ham đã mở đường cho Mercury-Redstone 3, hay Freedom 7 – chuyến bay vũ trụ đầu tiên có con người vào ngày 5/5/1961 do phi hành gia Alan Shepard điều khiển. Nhiệm vụ của Shepard là một chuyến bay kéo dài 15 phút để kiểm tra khả năng chịu được lực g cao khi phóng và tái xâm nhập khí quyển. Shepard đặt tên cho khoang vũ trụ của mình là Freedom 7 , đặt tiền lệ cho sáu phi hành gia Mercury còn lại đặt tên cho tàu vũ trụ của họ. Số 7 đã được đưa vào tất cả các tên tàu vũ trụ Mercury được phi hành đoàn để vinh danh nhóm bảy phi hành gia đầu tiên của NASA. Trong suốt chuyến bay, Shepard quan sát Trái đất, thử nghiệm hệ thống kiểm soát tư thế của kén, xoay tấm chắn nhiệt về hướng mặt đất trong lúc hạ cánh. Các tên lửa ngược cũng được mang ra thử nghiệm để giảm gia tốc tàu, giữ cho lực g luôn dưới 11.6g.    Vào ngày 23/3/1965, thực hiện sứ mệnh Gemini 3, các phi hành gia Gus Grissom và John Young đã bay vào quỹ đạo Trái đất. Nguồn ảnh: collectspace.com  Sau đó một năm (1962), tàu Ranger 4 của chương trình Ranger chính thức hạ cánh lên vùng tối của Mặt trăng. Tàu được thiết kế để truyền hình ảnh của bề mặt Mặt trăng tới các trạm Trái đất trong khoảng thời gian 10 phút trước khi hạ cánh thô. Ranger 4 đã kịp thời thu thập dữ liệu tia gamma, nghiên cứu khả năng phản xạ radar của bề mặt vệ tinh, và tiếp tục thử nghiệm chương trình Ranger để phát triển các tàu vũ trụ Mặt trăng và liên hành tinh.  Những chuyến bay thử nghiệm  Từ đầu năm 1960, Phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực NASA (NASA Jet Propulsion Laboratory – JPL) đã bắt đầu chuẩn bị cho một dự án vận hành tự động, chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Mặt trăng của con người. Trong giai đoạn 1966-1968, chương trình Surveyor cũng được Hoa Kỳ triển khai để gửi 7 tàu vũ trụ robot lên Mặt trăng, trong đó Surveyor 1, 3, 5, 6, 7 hạ cánh thành công. Mục tiêu của nó là chứng minh tính khả thi của các cuộc đổ bộ mềm, và chụp những bức ảnh phục vụ cho nghiên cứu khoa học, công nghệ. Tàu Surveyor là tàu vũ trụ đầu tiên của Mỹ có thể hạ cánh mềm trên một vật thể ngoài Trái đất, và Surveyor 3, tiếp đất ngày 20/4/1967 trên Oceanus Procellarum có liên hệ mật thiết đến nhiệm vụ Apollo 12.   Dự án cho những chuyến bay vũ trụ có người thứ hai của NASA – Gemini là bước đệm giữa chương trình Mercury và Apollo. Mục tiêu của Gemini là phát triển các kỹ thuật du hành không gian để hỗ trợ sứ mệnh Apollo. Hoa Kỳ đã có thể bắt kịp và vượt qua vị trí dẫn đầu về khả năng bay vào vũ trụ của con người mà Liên Xô đạt được trong những năm đầu của Cuộc chạy đua Không gian.    Gemini đã cho phép Apollo tự do hoàn thành sứ mệnh chính của mình mà không mất thời gian phát triển các kỹ thuật bay. Cụ thể, thời gian sinh tồn của phi hành gia trong không gian được nâng lên thành 14 ngày, trong khi số ngày cần thiết cho một chuyến đi vòng quanh Mặt trăng là 8. Phương pháp thực hiện hoạt động ngoài phương tiện (EVA) cũng được cải tiến để không gây mệt mỏi. Vào ngày 23/3/1965, Gemini 3 thực hiện thành công việc chuyển quỹ đạo cho tàu có người lái từ 161.2 x 224.2km sang 158x169km. Sau này Apollo 11 cũng thực hiện một bước chuyển từ quỹ đạo vòng quanh Trái đất sang bay đến Mặt trăng. Ngoài ra, vào ngày 15/12/1965, sứ mệnh Gemini 7 và 6A đã thực hiện cuộc gặp gỡ trên quỹ đạo đầu tiên, làm bước đệm cho sự kiện hai tàu vũ trụ kết nối với nhau ở nhiệm vụ Gemini 8 vào tháng ba năm sau. Trong chuyến bay có người lái, tàu Apollo phải tách ra làm đôi, xoay 180 độ và kết nối lại trong không gian để các phi hành gia truy cập được tàu thám hiểm Eagle. Các thao tác trên quỹ đạo cũng được cải tiến khi mà Gemini 11 còn có thể thực hiện kết nối ngay trong quỹ đạo đầu tiên với xe mục tiêu Gemini-Agena vào giữa tháng 12.    Vào ngày 12 tháng 10 năm 1964, Liên Xô lần đầu thực hiện sứ mệnh đưa người vào trạm vũ trụ, Voskhod 1 đưa ba phi hành gia Vladimir Komarov, Konstantin Feoktistov và Boris Yegorov vào không gian. Voskhod 1 là sứ mệnh không gian đầu tiên mang lại dữ liệu y sinh quan trọng. Nhà sinh lý học Yegorov được giao nhiệm vụ theo dõi tình trạng thể chất của các thành viên phi hành đoàn, ông đo huyết áp, lấy mẫu máu, ghi lại sóng não và kiểm tra các cơ. Nguồn ảnh: Roscosmos.  Apollo 7-10  Vào tháng 10/1968, Apollo 7 trở thành con tàu có người lái đầu tiên thuộc sứ mệnh Apollo đưa vào thử nghiệm thành công khoang chỉ huy và phục vụ (CSM). Những hệ thống tinh vi hoạt động trơn tru cho thấy chuyến du hành đến Mặt trăng đã có những tiến triển vượt bậc. Vào tháng 12, Apollo 8 đưa các phi hành gia đến vùng tối của Mặt trăng rồi trở về thành công, chứng minh việc tiến và rời quỹ đạo Mặt trăng là có thể. Đây cũng là sứ mạng có con người đầu tiên bay quanh một thiên thể khác Trái đất. Tháng ba năm sau, tàu vũ trụ thám hiểm Mặt trăng (LM) và CSM được thử nghiệm trên quỹ đạo Trái đất bởi Apollo 9. Vào tháng 10, tàu Apollo 10 thực hiện một chuyến diễn tập gần như đầy đủ, mở đường cho Apollo 11. Tàu thám hiểm của Apollo 10 có tên là Snoopy, và khoang chỉ huy có tên là Charlie Brown. Snoopy lơ lửng ở độ cao 15km, ngắm nhìn những rặng núi và hố va chạm hùng vĩ trước khi trở về quỹ đạo. Khi Tom Stafford đẩy gạt điều khiển, kích hoạt tách tầng bay lên khỏi tầng hạ cánh, tạo một lực đẩy tương tự như phóng tên lửa khỏi Trái đất thì thiết bị bắt đầu quay loạn lên và báo hiệu rơi vào trạng thái “khóa Gimbal”, khiến họ mất định hướng. Phi hành gia Gene Cernan hét lên khi nhìn thấy hạ cánh bay qua cửa sổ. Stafford đã nhanh chóng điều chỉnh thủ công, đưa Snoopy về tư thế chính xác và bắt đầu bay lên ổn định.  Liên Xô hụt hơi  Mặc dầu dẫn trước Hoa Kỳ từ những ngày đầu kỷ nguyên không gian, từ những Sputnik cho tới vô số những “cái đầu tiên” như: đưa con người thành công vào không gian (Yuri Gagarin), thực hiện bước đi bên ngoài tàu vũ trụ (Alexei Leonov), đáp “mềm” lên bề mặt Mặt trăng (Lunar), hay thậm chí là tàu thăm dò đầu tiên chạy trên trên Mặt trăng (Lunokhod). Những thành tựu đáng nể này cần rất nhiều bộ óc thiên tài, thiết kế hoàn hảo, cũng như tổ chức chính xác gần như tuyệt đối với những công việc đòi hỏi tính chính xác cao như công nghệ không gian. Nhưng càng về sau, Liên Xô càng bộc lộ những thiếu sót, đặc biệt là sau khi “kỹ sư trưởng” Korolev và cũng là cha đẻ của những phát minh trong công nghệ vũ trụ đầy ấn tượng của Liên Xô qua đời, nhiều dự án có tầm nhìn bị bỏ dở, thay vào đó là tập trung nhiều hơn vào vũ khí chiến tranh. Chung cuộc, Mỹ mới là quốc gia đầu tiên đưa người lên Mặt trăng thành công.      Sứ mệnh Apollo-Soyuz là cột mốc kết thúc cho cuộc đua không gian giữa hai cường quốc. Khi hai phi hành gia của Liên Xô và Mỹ bắt tay, kỷ nguyên của hợp tác khoa học, kỹ thuật bắt đầu cho cả thế giới.      Trở lại thời điểm huy hoàng, nhóm thiết kế OKB-1 (hay ngày nay là Tập đoàn Tên lửa Vũ trụ Energia) gắn liền với sự nghiệp của nhà thiết kế tên lửa thiên tài Sergey P. Korolyov (Korolev). Bắt đầu từ một nghị định vào tháng 5/1946 thành lập nhóm để thiết kế tên lửa đạn đạo và sau này là chương trình không gian. Dưới sự giám sát của lãnh tụ Stalin, ngành công nghiệp vũ khí có thêm NII-88 (Viện Nghiên cứu Khoa học 88) ở Kaliningrad để chế tạo tên lửa đạn đạo xuyên lục địa. Ở thời kỳ đỉnh cao có đến hơn 20.000 nhân viên gồm một phòng thiết kế chính, và nhiều nhà máy xí nghiệp trực thuộc để thử nghiệm và trung tâm thiết kế Volga ở Samara và trung tâm khoa học công nghệ Primorsk, thậm chí nhóm có có chi nhánh tại trung tâm phóng tên lửa vũ trụ ở Baikonur, Kazakhstan.  Công trình nổi bật nhất của nhóm OKB-1 trong là các thế hệ tên lửa đẩy R-7. Sau Sputnik 1, các vệ tinh nhân tạo kế tiếp đều dùng nguyên bản R-7 có chỉnh sửa để bay vào quỹ đạo quanh Trái đất. Korolev là nhân tố quan trọng nhất không chỉ dưới vai trò chỉ huy dự án, mà còn người thúc đẩy các lãnh đạo tối cao của Liên Xô khi đó cấp kinh phí cho dự án.  Trái ngược với Mỹ thống nhất về mọi mặt dưới “ông trùm” NASA – James Webb, ở những năm 60 của thế kỷ trước, chương trình không gian của Liên Xô lại chia ra thành nhiều nhóm thiết kế khác nhau. Mặc cho những Sputnik vang dội, hay những Vostok đưa sinh vật lên không gian, đội thiết kế của kỹ sư trưởng Korolev của nhóm thiết kế OKB-1 luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh ở mọi mặt trận, đối thủ của nhóm ông cũng là những nhân vật nổi tiếng không kém trong giới thiết kế vệ tinh nhân tạo như Mikhail Yangel, Valentin Glushko, và Vladimir Chelomei. Korolev từ lâu đã ấp ủ kế hoạch đưa con người lên sống dài hạn ở trạm vũ trụ và tiến đến đặt chân lên Mặt trăng, tuy vậy dưới sự chỉ đạo của tướng Dmitry Ustinov, ông muốn chương trình vũ trụ của Liên Xô cần phải được tập trung vào quỹ đạo gần Trái đất. Voskhod – trạm vũ trụ đầu tiên của người Nga – là cái tên nổi bật trong tham vọng này. Đồng thời Dmitry Ustinov cũng muốn thiết kế những sứ mệnh tàu không người lái bay đến các hành tinh như Sao Kim và sao Hỏa.  Trước kia, Yangel làm việc dưới trướng của “kỹ sư trưởng” Korolev nhưng với hậu thuẫn của quân đội, ông được giao cho chức vụ trưởng một sở thiết kế khác vào năm 1954 để tập trung vào nhiệm vụ không gian cho quân đội.   Apollo 11  Vệ tinh nhân tạo là bước đệm và cũng là bàn đạp quan trọng cho công cuộc đổ bộ Mặt trăng của loài người. Trên thực tế, để chuẩn bị cho Apollo 11, nhiều vệ tinh quỹ đạo đã được phóng thử nghiệm để đảm bảo an toàn tuyệt đối trước khi đưa con người lên quỹ đạo. Sứ mệnh Apollo 11 gồm có hai mô-đun: một vòng quanh trên quỹ đạo và một hạ cánh xuống bề mặt Mặt trăng. Mô-đun trên quỹ đạo do Michael Collins điều khiển đóng vai trò cực kỳ quan trọng để toàn bộ phi hành đoàn quay trở lại Trái đất an toàn.  Vào ngày 16/7/1969, hàng triệu người trên khắp thế giới chứng kiến Apollo 11 mang ba phi hành gia Neil Armstrong, Buzz Aldrin, và Michael Collins từ Cape Kennedy, Florida vào không gian. Trong tám ngày tiếp theo, tất cả đều chờ đợi những người anh hùng trở về, còn ba phi hành gia thì cùng nhau viết nên lịch sử. Tên lửa Saturn V gồm bốn phần: ba tầng chính bên dưới, và tàu Apollo bên trên. Apollo có ba bộ phận: Tàu thám hiểm Mặt trăng Eagle, khoang phục vụ và khoang chỉ huy Columbia. Bên trên tên lửa còn có hệ thống thoát hiểm để kéo khoang chỉ huy. Ba hôm sau khi phóng, Apollo tiếp cận Mặt trăng và bắt đầu tách ra. Armstrong và Aldrin hạ cánh bằng Eagle, còn Collins tiếp tục ở lại vận hành Columbia. Sự kiện được phát trực tiếp trên sóng truyền hình, và Neil Armstrong đã nói với thế giới khi đặt những bước chân đầu tiên lên thiên thể xa xôi: “Đó là một bước đi nhỏ của một con người, một bước nhảy vọt của nhân loại”.Chuyến đi bộ trên Mặt trăng đầu tiên này, sử dụng hệ thống hỗ trợ sự sống di động khép kín, kéo dài 2 giờ 36 phút. Sau hơn 21 giờ, Eagle rời Mặt trăng để kết nối lại với Columbia. Vào ngày 24, 3.000 tấn tên lửa và nhiên liệu ban đầu chỉ còn vỏn vẹn khoang Columbia nhỏ bé. Ba nhà phi hành hạ cánh an toàn trên Thái Bình Dương, mang theo những mẫu vật quý hiếm và giá trị cho nghiên cứu khoa học. Apollo 11 mang lại thành tựu “Người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng” cho chỉ huy Armstrong, và cho tàu Eagle, đó là “Đợt phóng đầu tiên vào không gian từ một thiên thể khác”.  Cú bắt tay lịch sử  Trong một buổi phát biểu tại trường Đại học Rice, Texas vào tháng 9/1962, Tổng thống Kennedy đã nói về mục tiêu đặt chân lên Mặt trăng. Nước Mỹ chọn đi đến Mặt trăng, và thực hiện những thứ khác nữa trong thập niên này không phải vì những chọn lựa đó dễ dàng, mà vì chúng khó thực hiện, vì mục tiêu đặt ra sẽ sắp xếp và đánh giá năng lượng và năng lực của Hoa Kỳ, và vì họ sẵn sàng chinh phục một thử thách vĩ đại.  Khi Mỹ đã sẵn sàng tất cả và chuẩn bị đưa người vào không gian thì lúc ấy, Liên Xô mới đưa được tàu Zond 5 vào quỹ đạo Mặt trăng, mang theo một cặp rùa. Tuy nhiên đây lại là những nỗ lực đáng kể cuối cùng cho thấy sự chống chọi của USSR. Trong suốt bốn năm kể từ Apollo 11, phi hành gia Hoa Kỳ đã thực hiện sáu chuyến du hành, còn phía đối thủ vẫn chỉ là con số không. Dẫu vậy, Liên Xô đã có được nhiều kinh nghiệm về những cuộc bay vào vũ trụ nhờ việc xây dựng trạm không gian Soyuz ở quỹ đạo tầm thấp. Ngoài ra, những thí nghiệm lên động vật trong vệ tinh cũng giúp phe Liên Xô hiểu rõ hơn tương tác giữa môi trường không gian và cơ thể sinh học. Căng thẳng dâng cao trong khi Hoa Kỳ tham gia vào Chiến tranh Việt Nam. Trong khi đó, báo chí Liên Xô hết sức chỉ trích các sứ mệnh không gian của tàu Apollo, cho rằng “cuộc xâm nhập có vũ trang của Hoa Kỳ và quân ngụy Sài Gòn vào Lào là hành động chà đạp vô liêm sỉ dưới chân luật pháp quốc tế” qua bức ảnh phóng tàu Apollo 14 năm 1971.  Vào đầu những năm 70, khi tình hình kinh tế, chính trị và quân sự có nhiều sự thay đổi: Hai cường quốc có những khoản đầu tư khổng lồ vào lực lượng quân sự, chiến tranh Việt Nam hạ nhiệt, vấn đề vũ khí hạt nhân đạt được thỏa thuận, và khoa học, kỹ thuật không gian có những đột phá mới mẻ. Quan hệ cạnh tranh thù địch giữa hai bên dần trở nên ôn hòa, hợp tác.  Đỉnh điểm của quá trình hợp tác là sự kiện kết nối giữa mô-đun Apollo (Hoa Kỳ) với khoang Soyuz (Liên Xô) vào ngày 17/7/1975. Mục đích và chất xúc tác của Apollo-Soyuz là chính sách hòa hợp giữa hai siêu cường. Dự án, và cú bắt tay đáng nhớ của nó trong không gian, là biểu tượng của sự hòa hợp giữa hai siêu cường trong Chiến tranh Lạnh. Ba phi hành gia Mỹ và hai phi hành gia Liên Xô đã thực hiện chung một vài thí nghiệm khoa học, bao gồm sự kiện mô-đun Apollo che đi ánh sáng Mặt trời để cho phép các thiết bị trên Soyuz chụp ảnh vành nhật hoa. Sứ mệnh Apollo-Soyuz là cột mốc kết thúc cho cuộc đua không gian giữa hai cường quốc. Khi hai phi hành gia của Liên Xô và Mỹ bắt tay, kỷ nguyên của hợp tác khoa học, kỹ thuật bắt đầu cho cả thế giới.    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình tìm kiếm tàn tích sự sống trên sao Hỏa      Khám phá khoa học không gian ở sao Hỏa là cơ hội cho chúng ta mở rộng biên giới hiểu biết về thế giới của con người và đồng thời là hiểu biết về chính chúng ta.        Perseverance hạ cánh trên sao Hỏa và dù giảm tốc. Những vạch trắng đỏ trên dù giảm tốc của Perseverance là một mã nhị phân, với ý nghĩa “Dare mighty things” – dám làm điều vĩ đại. Ảnh: NASA/JPL  Lịch sử của tò mò   “Xác nhận hạ cánh! Perseverance đã an toàn trên bề mặt sao Hỏa, sẵn sàng tìm kiếm những dấu hiệu sự sống của quá khứ”. Ngay sau khi trung tâm điều khiển xác nhận tàu tự hành Perseverance đã đáp xuống sao Hỏa thành công, những tiếng hò reo và vỗ tay ngay lập tức vang lên từ Phòng thí nghiệm Phản lực Đẩy (Jet Propulsion Laboratory, JPL) của NASA ở Pasadena, California. Báo chí đã gọi khoảng thời gian từ lúc Perseverance đi vào bầu khí quyển cho tới khi hạ cánh trên bề mặt sao Hỏa là “7 phút kinh hoàng”. Nhưng những nét mặt hạnh phúc của những kỹ sư điều khiển ở JPL, cùng hàng triệu người trên khắp thế giới cùng chứng kiến màn hạ cánh thành công là khoảnh khắc đáng nhớ đầu 2021 sau một năm đầy khó khăn.  Perseverance là sứ mệnh thăm dò sao Hỏa tỷ đô đầu tiên của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA sau 9 năm kể từ Curiosity. Nhiệm vụ chính của Perseverance là phân tích địa chất và thu thập các mẫu đất đá, trong khi Curiosity chỉ có khả năng phân tích tại chỗ. Perseverance cũng là tàu tự hành đầu tiên được trang bị micro, máy ảnh cùng những thước phim ghi lại cảnh tượng hạ cánh và cho chúng ta cơ hội được tận mắt chứng kiến. Trong đoạn phim Perseverance gửi về, sao Hỏa hiện lên với bề mặt cát bụi màu đỏ, những hố thiên thạch và những ngọn núi cổ đại. Cảm giác của nhiều người khi xem có thể tả là sự kết hợp của kinh ngạc và xúc động khi được nhìn một thế giới rộng lớn và tuyệt mỹ khác trong hệ Mặt trời. Perseverance mang cùng nó một câu hỏi to lớn mà con người đã đặt ra từ những ngày đầu tiên ngước nhìn lên Sao Hỏa: liệu chúng ta có cô đơn trong vũ trụ?  Ý tưởng về sự sống Sao Hỏa đã luôn thu hút sự chú ý của công chúng. Từ những thuở sơ khai của bộ môn thiên văn học hiện đại qua kính thiên văn, con người đã mơ tưởng về một hành tinh Đỏ có sự sống và những nền văn minh xa lạ. Percy Lowell, nhà thiên văn học người Mỹ giả thuyết rằng những hình thái tương phản quan sát được trên sao Hỏa là những kênh đào, dấu vết của một nền kỹ thuật ngoài Trái đất. Dù những cộng sự khoa học cùng thời đã kịch liệt lên án ý tưởng này, không thể ngăn nổi trí tượng tưởng của công chúng với vô vàn những câu chuyện khoa học viễn tưởng thêu dệt về sự sống ngoài hành tinh trên sao Hỏa. Tuy nhiên, trong khoa học, những giả thuyết mang tính chấn động cũng cần những lời giải thích chấn động không kém.  Tìm kiếm dấu hiệu của sự sống trong quá khứ   Trên Trái đất, chúng ta biết rằng sự sống bắt đầu từ nước lỏng. Công cuộc tìm kiếm sự sống trong vũ trụ cũng tuân theo nguyên lý “để nước dẫn đường” (follow the water). Nhưng có rất ít bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của nước dạng lỏng đang hiện hữu trên bề mặt sao Hỏa. Với sao Hỏa hiện nay, các nghiên cứu cho rằng nước có thể chỉ tồn tại được bên dưới lòng đất trong những hồ ngầm bên dưới lớp băng khổng lồ ở hai cực.Trong khi đó, bề mặt sao Hỏa hiện tại đầy cát, cực kỳ khô, với nhiệt độ thường xuyên dưới âm 500C. Bầu khí quyển sao Hỏa mỏng chỉ bằng 1% khí quyển Trái đất, không có tầng ozone hay địa từ trường để bảo vệ bề mặt khỏi những bức xạ ion-hóa từ Mặt trời và các tia vũ trụ. Bề mặt sao Hỏa ngày nay là một môi trường cực kì khắc nghiệt để sinh vật có thể phát triển. Nhưng điều này không có nghĩa là nước lỏng – và có thể là sự sống – chưa bao giờ tồn tại trên bề mặt của một sao Hỏa trong quá khứ.   Khoảng 3,8-3,6 tỉ năm trước, sao Hỏa có thể đã rất giống Trái đất, một bề mặt được bao phủ bởi nước với núi lửa hoạt động và một bầu khí quyển dày. Dữ liệu viễn thám từ vệ tinh và đặc biệt là kết quả thăm dò từ tàu tự hành Curiosity – người tiền nhiệm của Perseverance với sứ mệnh nghiên cứu về nước – đã cho thấy điều này. Nước lỏng có thể từng tồn tại trong nhiều giai đoạn suốt lịch sử của sao Hỏa; trong đại dương khổng lồ ở bán cầu Bắc và trong vô vàn các hồ nước mở (open-basin lakes) ở những hố thiên thạch khắp bề mặt. Những điều kiện này rất thuận lợi để hình thành sự sống – và Perseverance được thiết kế để tìm kiếm tàn tích của sự sống khả dĩ này.  Các nhà khoa học ở Đại học Brown đã phải kinh ngạc trước những hình thái địa chất ở hố thiên thạch Jezero được ghi lại qua ảnh vệ tinh. Những dấu tích của một vùng châu thổ (delta), tương tự những đồng bằng châu thổ trên Trái đất nơi những con sông đổ ra biển, hiện ra rất rõ ràng với các cửa chảy ra/vào, và hóa thạch của trầm tích được vận chuyển và tích tụ bởi dòng chảy. Tim Goudge, nhà khoa học đầu tiên đề xuất thăm dò hố Jezero, cho biết những chất hữu cơ và vật liệu sinh học có thể được dòng chảy vận chuyển và tích tụ ở đây. Dữ liệu viễn thám chỉ ra sự tồn tại một lượng lớn các loại đất sét và carbonate, có khả năng lưu giữ hóa thạch và các chỉ dấu sinh học quan trọng. Groudge cho hay, “Jezero là địa điểm hoàn hảo nhất sao Hỏa, và có thể là hệ Mặt trời, để tìm kiếm sự sống”. Vì những lí do địa chất đặc biệt này mà Jezero được chọn làm địa điểm thăm dò chính cho Perseverance, vượt lên trên hơn 30 địa điểm tiềm năng khác ở sao Hỏa.     Một hồ nước cổ xưa với nhiều hình thái trầm tích châu thổ là một nơi tiềm năng để tìm kiếm tàn tích của sự sống. [ảnh của jezero] Ảnh: ESA/ExoMars  Khu vực châu thổ ở hố Jezero chứa một lượng lớn trầm tích và bùn đã hóa thạch. Trên Trái đất, những lớp trầm tích như vậy đã lưu giữ bằng chứng về sự sống cổ đại dưới dạng các hóa thạch stromatolites – hay còn gọi là ‘thảm vi sinh’, được tạo thành khi các tế bào khuẩn lam (cyanobacteria) tích tụ và sinh trưởng trên cát và đá. Khuẩn lam là dạng sống đầu tiên được bảo quản hóa thạch 3,6 tỉ năm trước.   Các chỉ dấu sinh học (biosignatures) là mảnh ghép quan trọng bậc nhất để trả lời câu hỏi liệu có tồn tại sự sống trên sao Hỏa. Chỉ dấu sinh học là những thay đổi trong môi trường (về vật lý, hóa sinh, địa chất, …)  mà các sinh vật sống tạo ra. Ví dụ, một chỉ dấu sinh học quan trọng là sự mất cân bằng hóa học trong bầu khí quyển. Lượng methane trong bầu khí quyển Trái đất cao hơn nhiều lần so với một bầu khí quyển cân bằng về mặt hóa học, vì methane liên tục được thải ra bởi sinh vật trên Trái đất. Chỉ dấu sinh học còn nằm ngay trong địa chất. Phát hiện ra một hóa thạch sinh vật là một bằng chứng không thể rõ ràng hơn. Các vi sinh vật để lại rất nhiều hợp chất hữu cơ trong các cấu trúc đá và trầm tích. Chu trình của sự sống cũng tạo nên nhiều thay đổi hình thái quan sát được trong đất đá.   Địa điểm hạ cánh của Perseverance chỉ cách khu vực châu thổ khoảng 2km. Khi “nhà địa chất/khảo cổ/vi sinh học robot” Perseverance tìm được đường đến hiện trường khoa học, các thăm dò tìm kiếm chỉ dấu sinh học sẽ bắt đầu. Máy quang phổ SHERLOC và kính hiển vi WATSON – hai “vị thám tử” thực thụ – là những thiết bị để phát hiện chất hữu cơ. Chúng nằm trên một cánh tay robot để quan sát không-can-thiệp mẫu vật. SHERLOC sẽ dùng laser tử ngoại để kích thích các mẫu vật và đo phát xạ huỳnh quang (fluorescene) từ chúng. Tán xạ Raman (khi các photon được tán xạ có năng lượng thấp hơn photon gốc) sẽ được dùng để nghiên cứu chi tiết các dạng hợp chất hydrocarbon thơm (PAHs) và không thơm (aliphatic). WATSON sẽ ghi lại hình ảnh của các cấu trúc hiển vi cỡ micron của mẫu vật và tìm kiếm các chất hữu cơ như amino acids, đường, khoáng chất và các phân tử sinh học (DNA, RNA, proteins) ở hồ nước cổ đại Jezero.   Việc tìm ra bằng chứng về sự sống từ một hóa thạch địa chất cách Trái đất 218 triệu km là rất hứa hẹn, nhưng để tìm ra một câu trả lời xác đáng có thể sẽ nan giải hơn thế rất nhiều. Các chỉ dấu sinh học có thể tạo ra những tranh cãi không dứt, đơn giản vì các hợp chất có vẻ tới từ chu trình sinh học thực chất hoàn toàn có thể được tạo ra bởi các hiện tượng hoàn toàn phi sinh (abiotic). Ví dụ, các thí nghiệm Labeled Release về chất hữu cơ trong đất của tàu thăm dò Viking Lander năm 1976 đã tạo nên tranh cãi, khi một số nhà khoa học cho rằng các kết quả khả quan đều là những lời giải thích hóa học thuần túy.   Một ví dụ khác là các phát hiện về các cột khí methane trên sao Hỏa. Sự hiện diện của khí này đồng nghĩa với việc có một nguồn cung methane trong bầu khí quyển của hành tinh này. Trên Trái đất, 90% khí methane được tạo ra bởi những thực thể sống. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc có sự sống trên sao Hỏa. Hiện nay, các nhà khoa học chưa thể tìm ra bằng chứng chắc chắn liệu methane ám chỉ sự tồn tại các chu trình hóa sinh hay thực ra là sản phẩm của hoạt động địa chất. Cơ bản là rất khó để dựa hoàn toàn vào một chỉ dấu sinh học từ xa để xác định sự tồn tại của sự sống.  Trừ khi có thể mang sao Hỏa về Trái đất.  Perseverance và nhiệm vụ Mars2020 là sứ mệnh đầu tiên trong lịch sử khám phá sao Hỏa có khả năng thu thập các mẫu đất đá để gửi về Trái đất trong tương lai. Khi phát hiện các mẫu vật có dấu hiệu hữu cơ, Perseverance sẽ lưu giữ chúng trong những ống nhỏ đặt khắp trên bề mặt. NASA hiện đang lên kế hoạch để phóng một tàu tự hành khác có khả năng thu thập ngược lại các ống bảo quản mẫu vật và phóng chúng lên quỹ đạo gửi về Trái đất, dự kiến trong khoảng thời gian từ 2026-2030. Đây đều là một phần của chiến lược tham vọng để đưa các mẫu vật trở lại Trái đất.    Một hóa thạch stromatolites ở Tây Úc, niên đại khoảng 3,2-3,6 tỉ năm trước. Các tập đoàn khuẩn lam kết tinh khoáng chất trong môi trường và làm “thảm vi sinh” ngày càng dày hơn theo thời gian. Ảnh: Didier Descouens  Cho đến năm 2020, Trái đất đã nhận được gần 1000 mẫu thiên thạch từ sao Hỏa. Chúng là những manh mối quan trọng về lịch sử của sao Hỏa, nhưng bản thân chúng không thể nào cung cấp đủ thông tin địa chất. Các manh mối hữu cơ từ các thiên thạch có thể đã bị phá hủy vào lúc va chạm, bị thay đổi trong quá trình vận chuyển hay bị bão hòa bởi vật chất hữu cơ trên Trái đất, vì thế rất khó để biết chính xác nguồn gốc của chúng.   Trái lại, một mẫu vật được khai phá trực tiếp từ bề mặt mang những thông tin cực kỳ hữu dụng. Thăm dò trực tiếp cho phép chúng ta làm rõ ngữ cảnh địa chất, hiểu được khu vực thăm dò và các hiện tượng khả dĩ gây ảnh hưởng lên mẫu vật, từ đó nắm bắt được nguồn gốc và tiến hóa địa chất của các mẫu đất đá. Vì thế, mục tiêu của Perseverance là ghi lại chi tiết các dữ liệu địa chất và thu thập những mẫu vật có khả năng cao là chất hữu cơ nhất và gửi lại trở lại Trái đất.  Farley, nhà khoa học đứng đầu dự án Perseverance, nhận xét rằng việc thu thập được các mẫu đá có đủ tiềm năng là tối quan trọng để trả lời câu hỏi liệu đã tồn tại sự sống trên sao Hỏa. Các mẫu vật một khi đã quay về Trái đất sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn bởi những phòng thí nghiệm tối tân trên Trái đất.   Có lẽ, đây là lợi thế khoa học to lớn nhất của việc đưa mẫu vật về trái Đất: được làm khoa học thực nghiệm với các phân tích, đo đạc và thí nghiệm phức tạp trên mẫu vật, vốn là giới hạn của những nhà khoa học hành tinh và vật lý thiên văn, từ trước đến giờ chỉ có thể nghiên cứu những vật thể này từ xa. Đây có thể là hi vọng lớn để trả lời một cách xác đáng: liệu có sự sống đã từng tồn tại trên hành tinh Đỏ?   Chân trời mới  Những câu hỏi về sao Hỏa, thoạt nhìn, tưởng chừng xa lạ và tách biệt với thực tế của con người trên Trái đất, nhưng trái lại, chúng đều tìm được đường vòng để quay trở lại chủ thế. Các nghiên cứu khoa học về sao Hỏa và mô hình khí hậu của nó, vốn sẽ được hỗ trợ bởi một trạm đo đạc khí tượng gắn trên Perseverance, là một mục tiêu quan trọng của nhiệm vụ. Việc học hỏi về khí hậu trên một hành tinh khác từ lâu đã chính là tiền đề giúp chúng ta hiểu về thực trạng biến đổi khí hậu đang xảy ra trên chính Trái đất. Không ai khác ngoài Carl Sagan, nhà khoa học và nhà giáo dục nổi tiếng người Mỹ, tác giả của sách và chương trình khoa học đại chúng ‘Cosmos’ (Vũ trụ), đã nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính lên nhiệt độ khí quyển kinh hoàng của sao Kim, và tạo nên mối liên kết giữa hiệu ứng nhà kính ở sao Kim với hiện tượng nóng lên toàn cầu trên Trái đất.  Cũng giống như cách nghiên cứu vật lý thiên văn đã vô tình tạo ra máy cộng hưởng từ – một cuộc cách mạng cho kỹ thuật y sinh, hay những thiết bị nhạy sáng CCD thế hệ đầu dùng để chụp ảnh thiên văn đã trở thành những cảm biến ảnh mini nằm ở chiếc điện thoại thông minh trong túi mỗi người, bản thân Perseverance mang đi cùng nó nhiều cơ hội để thử nghiệm các công nghệ mới trong du hành không gian. Như những chu trình hạ cánh tự động vô cùng phức tạp; một trực thăng robot có tên Ingenuity siêu nhẹ được gia công từ sợi carbon, với sứ mệnh trở thành thiết bị bay không người lái đầu tiên ngoài Trái đất; hay một thử nghiệm phơi nhiễm ngoài khí quyển một loại sợi đặc biệt với mục đích dùng làm đồ bảo hộ cho các phi hành gia.     Trong tương lai, một tàu tự hành khác trên Sao Hỏa sẽ có khả năng phóng mẫu vật lên quỹ đạo để đưa về trái Đất, hoàn thành sứ mệnh vận chuyển mẫu vật về trái Đất. Credit: NASA.  Những khám phá khoa học trên sao Hỏa còn có tiềm năng thay đổi các ngành nghiên cứu khác, nhất là đóng góp cho những hiểu biết về các ngoại hành tinh cùng bầu khí quyển và khí hậu của chúng – để trả lời câu hỏi liệu có tồn tại sự sống ngoài hệ Mặt trời, và là đòn bẩy để thúc đẩy nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về các hành tinh cùng những vệ tinh cũng có tiềm năng thai nén sự sống ngay trong hệ Mặt trời. Còn hơn thế, một điều chắc chắn rằng những nhiệm vụ khoa học mang tính khai phá luôn đi kèm với những hiểu biết mới về công nghệ.   Không chỉ là câu hỏi về sự sống ở những nơi khác, mà còn là sự sống ở nơi đây. Kathryn Stack, giám đốc khoa học của Perseverance, nghĩ rằng: “Những câu hỏi khoa học như thế này có khả năng chạm đến sâu thẳm trong mỗi chúng ta. Để chúng ta tự nhìn về bản thân mình và vị trí của con người trong vũ trụ”. Khám phá khoa học không gian ở sao Hỏa là cơ hội cho chúng ta mở rộng biên giới hiểu biết về thế giới của con người và đồng thời là hiểu biết về chính chúng ta. Trả lời những câu hỏi này không chỉ đòi hỏi Curiosity – trí tò mò, mà còn đòi hỏi cả Perseverance – sự nhẫn nại. □  Nguồn:  Science With Perseverance  Washington Post – NASA rover Perseverance successfully lands on Mars  The mineral diversity of Jezero crater: Evidence for possible lacustrine carbonates on Mars  Mars rover touches down at Brown-discovered landing site  ‘Touchdown confirmed!’ Perseverance landing marks new dawn for Mars science    Author                Nguyễn Phúc Đạt        
__label__tiasang Hanoi 360o: Mạng cộng đồng 3 trong 1      Theo TS Nguyễn Chí Công, tác giả của hệ  thống thử nghiệm Hanoi 360o, đây không chỉ là mạng cộng đồng quảng bá du  lịch và phổ biến tri thức lịch sử mà còn là môi trường kinh doanh mà ai  cũng có thể tham gia.      Tối 4/9, tại Hà Nội, TS Nguyễn Chí Công đã có buổi thuyết trình về hệ thống Hanoi 360o do ông thử nghiệm xây dựng. Tại buổi thuyết trình do tạp chí Tia Sáng phối hợp với Cà phê Trung Nguyên tổ chức, TS Công cho biết, ý tưởng về Hanoi 360o của ông xuất phát từ thực trạng các trang web du lịch thường đáp ứng chậm, khó tìm kiếm dữ liệu; phạm vi thông tin nhỏ hẹp, mô tả tô hồng một chiều; ít chỉ dẫn cụ thể; phổ biến chỉ bằng một ngôn ngữ, khó hấp dẫn du khách quốc tế.  Sinh ra trong một gia đình Hà Nội gốc, “có gần 20 đời sống ở Hà Nội suốt năm thế kỷ qua”, lại là một chuyên gia về công nghệ thông tin, cách đây hai năm, ông bắt tay vào xây dựng thử nghiệm hệ thống Hanoi 360o trên nền tảng giao diện phổ biến google map, kết hợp các hệ thống bản đồ khác và áp dụng các công nghệ hiện đại như ảnh 3D, ảnh 360o độ, phim quay bằng FlyCam… Ông cho biết, do dựa trên nên tảng mã nguồn mở nên chi phí xây dựng hệ thống này rất rẻ, “tôi có thể làm bằng đồng lương về hưu, chi phí lớn nhất là chi phí đi lại để chụp ảnh”. Đặc biệt, Hanoi 360o có mô thức vận hành liên thông, cho phép cập nhật tự động, và giảm thiểu chi phí bảo trì, đồng thời được phát triển như một mạng cộng đồng. TS Công nhấn mạnh, đây là một hệ thống làm ra tiền chứ không phải tiêu tiền, tạo môi trường kinh doanh mà ai cũng có thể tham gia được.    Hanoi 360o của TS Công trước hết thử nghiệm ba lĩnh vực chùa chiền, đình đền, phố cũ với các thông tin có nguồn gốc và hình ảnh có bản quyền, chỉ là một phần rất nhỏ so với hệ thống hoàn chỉnh trong tương lai. Càng có nhiều người tham gia xây dựng thì chúng ta càng sớm có một bản đồ du lịch đẹp đẽ và đầy đủ về Hà Nội, TS Công nói.  Hà Nội hiện đứng đầu cả nước với 3.840 di tích đã xếp hạng, trong đó có 1.164 di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật cấp quốc gia. Tiềm năng du lịch lớn là vậy nhưng số khách đến Hà Nội lại không bằng các thành phố láng giềng và lượng khách đến rồi quay lại cũng ít. Với hệ thống thử nghiệm này, TS Nguyễn Chí Công muốn góp phần thay đổi thực trạng đó.   Tại buổi thuyết trình, nhiều chuyên gia đều bày tỏ sự ủng hộ với thử nghiệm của TS Công, cho rằng đây là một ý tưởng lớn đã được thực hiện về mặt kỹ thuật rồi, khả năng đem lại lợi nhuận cho người tham gia là rõ ràng. Hiện TS Công đang muốn kêu gọi sự đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, trước hết là trong lĩnh vực du lịch. Còn nếu  không tìm được nhà đầu tư ở Việt Nam, ông sẽ đem chào bán sản phẩm này của mình ở nước ngoài, mặc dù “như vậy thì rất tiếc”, theo TS Công.          TS Nguyễn Chí Công là một nhà nghiên cứu, tư  vấn và trưởng ban kỹ thuật CNTT. Trước kia, ông vốn là chuyên gia  thiết kế và đào tạo về CNTT, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ Hội Tin  học Việt Nam.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt “lạ” chưa từng được quan sát trước đây tại CERN      Lần đầu tiên, dự án Large Hadron Collider Beauty (LHCb) đã quan sát được một hạt “lạ” được tạo thành từ bốn hạt quark duyên (charm quark).      Nhóm hợp tác LHCb đã quan sát được một dạng hạt mới gồm bốn hạt quark chưa từng được quan sát trước đây. Khám phá này, được trình bày tại một seminar tại CERN và được miêu tả trong một bài báo mang tên “Observation of structure in the J/ψ-pair mass spectrum” mới được đưa lên arXiv, có lẽ là một dạng hạt đầu tiên của các hạt chưa từng được các nhà vật lý phát hiện trước đây.  Phát hiện này sẽ giúp các nhà vật lý hiểu sâu hơn về các hạt quark, một dạng hạt cơ bản vốn là khối cấu thành mang tính nền tảng của mọi loại vật chất. Các hạt quark hợp lại cùng nhau để hình thành các hạt phức hợp mà chúng ta biết như các hadron, vốn bao gồm các proton và neutron. Phát hiện mới mang tính đột phá này có thể giúp các nhà khoa học hiểu sâu hơn về các cách kết hợp, trong đó các hạt quark liên kết với chính mình để hình thành các hạt.  Các hạt quark kết hợp lại trong các nhóm gồm nhóm hai hoặc ba quark để hình thành các hadron. Trong nhiều thập kỷ, các nhà lý thuyết đã dự đoán sự tồn tại của các hardon gồm bốn hạt quark và năm hạt quark và thi thoảng đề cập đến nó dưới cái tên như các tetraquark và pentaquark. Trong những năm gần đây, các thực nghiệm bao gồm LHCb đã xác nhận sự tồn tại của nhiều hadron “lạ”.  Các hạt được tạo thành từ những kết hợp bất thường của các hạt quark này là một “phòng thí nghiệm” lý tưởng để nghiên cứu sâu hơn về một trong số bốn lực cơ bản của tự nhiên, lực tương tác mạnh liên kết các proton, neutron và hạt nhân nguyê tử tạo nên vật chất. Những hiểu biết một cách chi  tiết về lực tương tác mạnh cũng là điều thiết yếu để xác định xem liệu các quá trình mới chưa được biết đến có là một dấu hiệu của một dạng vật lý mới hay chỉ là vật lý Mô hình chuẩn.  “Các hạt được tạo thành từ bốn hạt quark là hạt ‘lạ’ và là thứ hạt mà chúng tôi mới khám phá ra là hạt đầu tiên có thành phần từ bốn hạt quark nặng và cùng một dạng, cụ thể là hai hạt quark duyên và hai hạt phản quark duyên”, người phát ngôn của Nhóm hợp tác LHCb Giovanni Passaleva, cho biết. “Cho đến bây giờ, LHCb và các thực nghiệm khác mới chỉ quan sát được các tetraquark với hai quark nặng tại phần lớn các trường hợp và không có trường hợp nào có hơn hai hạt quark cùng loại”.    Cũng là người phát ngôn của LHCb, Chris Parkes từ trường đại học Manchester nói: “Nhóm hợp tác bao gồm hơn 1400 thành viên từ 19 quốc gia, một cộng đồng làm việc cùng nhau để đat được các mục tiêu khoa học lớn, trong đó, trường đại học Manchester và 10 viện nghiên cứu khác của anh đóng vai trò dẫn dắt.  Khám phá này đã mở ra một chương mới đầy thú vị trong cuốn sách khoa học về vật lý hạt, nó cho phép chúng ta nghiên cứu lý thuyết về các hạt vật chất trong một trường hợp khác biệt. Hạt này là một trường hợp khác biệt – đó là một hardon ‘lạ’, bao gồm bốn hạt quark chứ không phải hai hoặc ba hạt vật chất thông thường, và là dạng đầu tiên chứa quark nặng.  Nghiên cứu về một hệ khác biệt cho phép các nhà vật lý kiểm tra một cách cẩn thận các lý thuyết. Thông qua nghiên cứu về các hạt này, chúng ta sẽ khám phá ra những hạt mới nữa trong lớp này ở tương lai, chúng ta sẽ kiểm tra lý thuyết về việc các hạt quark kết hợp có thể chi phối các hạt proton và neutron như thế nào”.  Nhóm nghiên cứu LHCb đã tìm thấy hạt tetraquark mới bằng việc dùng kỹ thuật ‘săn’ hạt trong tìm kiếm  phần dư trong các sự kiện va chạm  trên cái nền của các sự kiện được tạo ra. Việc sàng lọc thông tin thông qua đầy đủ các bộ dữ liệu của LHCb từ những lần vận hành đợt thứ nhất và thứ hai của LHC, vốn từ những năm 2009 – 2013 và 2015 – 2018, các nhà nghiên cứu đã dò được một va chạm trong sự phân bố khối lượng của các hạt, vốn thường gồm một quark duyên và một phản quark duyên.  Va chạm này có một ý nghĩa quan trọng về thống kê trong số hơn năm tiêu chuẩn về sai lệch, điểm ngưỡng thông thường cho việc tuyên bố phát hiện ra hạt mới và tương ứng với khối lượng các hạt được tạo thành từ bốn quark duyên đã được dự đoán trước đó về lý thuyết.  Như những khám phá tetraquark trước đây, vẫn còn chưa rõ là liệu hạt mới có là “một tetraquark thực sự” hay không, vốn được miêu tả là một hệ gồm quark liên kết chặt chẽ với nhau, hay chỉ là hai cặp gồm hai hạt liên kết yếu trong một cấu trúc giống phân tử. Trong mỗi trường hợp, hạt mới cũng sẽ giúp các nhà lý thuyết kiểm tra được các mô hình điện động lực học lượng tử, lý thuyết về tương tác mạnh.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-exotic-particle-cern.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hãy coi khủng hoảng như một cơ hội      Trong diễn văn khai mạc cuộc gặp tại Lindau (Đức) giữa những chủ nhân giải Nobel lần thứ tư về Kinh tế ngày 24/8/2011, Tổng thống nước chủ nhà Christian Wulff nhấn mạnh, hãy coi khủng hoảng như một cơ hội để triển khai những sáng kiến cho một nền kinh tế thị trường xã hội toàn cầu với một khung điều tiết rõ ràng.    Chào mừng quí vị tới thị trấn Lindau bên bờ hồ Constance!   Mười bảy chủ nhân giải Nobel và hàng trăm nhà kinh tế học trẻ tuổi tài năng từ khắp nơi trên thế giới đã tụ hội về đây mang theo mình hàng thập kỷ của những nỗ lực học thuật mang tính tiên phong, cùng những nghiên cứu và tham vấn chính sách của nhiều năm tới trong tương lai. Chúng ta đang ở trong thời khắc then chốt và chúng ta cần họ.   “Ai sẽ giải cứu người giải cứu?”*  Những tuần vừa qua, Châu Âu cũng như Mỹ đã chứng kiến cuộc khủng hoảng ngân hàng và nợ xấu thử thách các chính trị gia, chính phủ và ngân hàng trung ương tới ngưỡng giới hạn thế nào. Những thách thức là vô cùng lớn, và nhiều giải pháp còn gây tranh cãi. Tôi hiểu rằng những chủ nhân giải Nobel kinh tế hiện diện ở đây có nhiều quan điểm khác nhau. Trên một nền tảng thiếu căn cứ chắc chắn, Chính phủ phải đưa ra các quyết định, dũng cảm mở đường để nhanh chóng khôi phục lòng tin và sự tín nhiệm trong khi vẫn phải xem xét đâu là những giải pháp mà nền kinh tế và các công dân của mình có thể gánh vác và chấp nhận được. Chúng ta phải nhớ tất cả những điều này khi chỉ trích các chính trị gia là chần chừ và đôi khi tự mâu thuẫn với chính họ.          Nhiều năm nay các quốc gia vẫn giữ thói quen  trì hoãn giải quyết tận gốc vấn đề, thay vào đó họ tăng chi tiêu công,  tích trữ nợ và phát hành tiền giá rẻ. Trong khi đó, các quốc gia vẫn  tiêu thụ và đầu cơ diện rộng thay vì đầu tư vào giáo dục và dạy nghề,  vào nghiên cứu và cải tiến định hướng tương lai-những lĩnh vực khiến nền  kinh tế thực sự trở nên năng suất và cạnh tranh hơn.           Khi cuộc khủng hoảng bùng phát, sự đồng thuận nhanh chóng đạt được ở cấp độ toàn cầu. Gói kích thích được thông qua ở quy mô lớn chưa từng thấy. Cứu trợ khu vực tài chính và ngân hàng được gấp rút tiến hành với nguồn tài chính từ tiền của những người đóng thuế, bảo lãnh của chính phủ và một khối lượng tiền khổng lồ được bơm từ ngân hàng trung ương. Nhiệm vụ cấp bách là làm mọi cách có thể để ngăn chặn sụp đổ và ổn định kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, cho tới nay thì tình hình khu vực ngân hàng vẫn còn mong manh, các nền kinh tế chủ đạo trên thế giới vẫn đang có mức nợ công cao kỷ lục. Trong nhiều trường hợp những vấn đề cơ bản cản trở tăng trưởng và cạnh tranh vẫn đang hiện hữu.   Tại Đại hội ngân hàng Đức tôi đã cảnh báo khu vực tài chính rằng chúng ta đã không đối phó với nguyên nhân khủng hoảng, và tới hôm nay cũng không thể nói rằng các nguy cơ đã được nhận thức đầy đủ và giảm thiểu. Chúng ta hiện vẫn đối mặt với một tình trạng tựa như trò domino. Đầu tiên là ngân hàng giải cứu ngân hàng, sau đó nhà nước giải cứu ngân hàng, và bây giờ là một cộng đồng các nhà nước đang giải cứu từng cá thể nhà nước một. Nhưng rồi sau cùng ai sẽ giải cứu người giải cứu?  Khi nào thì thâm hụt lũy kế sẽ được san sẻ giữa các nhà nước và ai sẽ gánh chúng?          Ở Châu Âu, đã nhiều năm các nước thành viên  đệ trình số liệu thống kê giả mạo, cho phép chi tiêu công vượt mức, kích  thích tăng trưởng và tiêu dùng một cách dễ dãi thông qua lãi suất thấp  hoặc hoặc dùng thuế suất thấp để tạo lợi thế.         Nhiều năm nay các quốc gia vẫn giữ thói quen trì hoãn giải quyết tận gốc vấn đề, thay vào đó họ tăng chi tiêu công, tích trữ nợ và phát hành tiền giá rẻ. Trong khi đó, các quốc gia vẫn tiêu thụ và đầu cơ diện rộng thay vì đầu tư vào giáo dục và dạy nghề, vào nghiên cứu và cải tiến định hướng tương lai-những lĩnh vực khiến nền kinh tế thực sự trở nên năng suất và cạnh tranh hơn. Hậu quả để lại là những khoảng thâm hụt lớn trong tài chính công và những  hạt mầm quí giá đã bị lãng phí thay vì được dùng để canh tác miếng đất màu mỡ. Chính sách cực đoan “bên miệng hố” đã chạm ngưỡng. Điều tưởng như luôn ổn thỏa – vay thêm nợ mới – sẽ không thể cứ tiếp tục mãi. Gánh nặng nợ nần bất công lên thế hệ trẻ cần phải chấm dứt. Quỹ Tiền tệ Quốc tế thậm chí đang đưa ra lời cảnh báo về một thế hệ đang bị đánh mất.  Tái lập khung điều tiết và những nguyên tắc cơ bản  Ở Châu Âu, đã nhiều năm các nước thành viên đệ trình số liệu thống kê giả mạo, cho phép chi tiêu công vượt mức, kích thích tăng trưởng và tiêu dùng một cách dễ dãi thông qua lãi suất thấp hoặc hoặc dùng thuế suất thấp để tạo lợi thế. Gần như tất cả mọi người đều nhắm mắt làm ngơ trước tình hình tài chính tệ hại và những vi phạm các nguyên tắc kinh tế cơ bản.  Thay vì thiết lập một khung điều tiết, các chính phủ lại tự cho phép họ trôi theo thị trường tài chính thế giới. Có nhiều những quyết định gây ảnh hưởng sâu rộng tới nền kinh tế được đưa ra một cách vội vàng ngay trước khi mở cửa các thị trường chứng khoán thay vì được xây dựng một cách nghiêm túc để hướng tới sự phát triển lâu dài.   Dẫu biết nói dễ hơn làm, tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tế tôi cho rằng những hành động kiên quyết để củng cố ngân sách vẫn có thể được sự ủng hộ rộng rãi về chính trị. Ở phạm vi Châu Âu, trường hợp của Latvia là một bài học đáng học tập về những chính sách dũng cảm đối với cắt giảm thâm hụt và cải cách tài chính công.   Điều gì cần được làm lúc này? Làm thế nào để các quốc gia khôi phục lại sự lành mạnh về tài chính? Làm sao để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội bền vững và khả thi? Viễn cảnh tốt đẹp cho các thế hệ tương lai có thể được đảm bảo như thế nào?  Đầu tiên, các chính trị gia cần tái lập khả năng hành động của mình. Họ cần chấm dứt phản ứng bộp chộp nông nổi với mọi cú giảm điểm trên thị trường chứng khoán; không được lệ thuộc hoặc cho phép mình bị dắt mũi bởi các ngân hàng, tổ chức đánh giá tín nhiệm tài chính quốc gia, hoặc giới truyền thông sớm nắng chiều mưa. Chính trị gia cần tính toán chính sách phục vụ lợi ích chung và phải thể hiện được sự dũng cảm cũng như thực lực khi đối mặt với những xung đột đến từ các nhóm lợi ích. Họ cần sắp xếp các cấu trúc theo thứ tự và vận dụng khung điều tiết để những nguồn lực khan hiếm có thể được sử dụng theo cách tốt nhất; và mạnh dạn đưa ra những quyết định bất đắc nhân tâm nếu cần thiết. Các quyết định cần được đưa ra ở các quốc hội theo nguyên tắc tự do dân chủ, điều làm nên căn cứ pháp lý cao nhất cho những quyết định này.   Ở Châu Âu, danh sách những vấn đề mang tính cấu trúc gây đau đầu cho các quốc gia được biết tới là: cải cách hệ thống giáo dục, cải thiện đào tạo nghề, xóa bỏ tình trạng quan liêu cửa quyền,  hiện đại hóa hành chính công, đơn giản hóa hệ thống thuế và chiến đấu với nạn trốn thuế. Trong quá trình giải quyết những vấn đề này, không một quốc gia nào được phép dung túng tệ gia đình trị hay mua chuộc lá phiếu.  Tiêu chuẩn để chúng ta hướng tới chính là các nguyên tắc của Liên minh Châu Âu đã được tất cả chúng ta ký kết tại Maastricht và được chúng ta tôn trọng trong thời gian sớm nhất: một nền kinh tế thị trường được cạnh tranh tự do, giá cả ổn định, tài chính công lành mạnh.   Theo luật Châu Âu, mọi quốc gia thành viên phải đảm bảo mức nợ công dưới 60% GDP. Năm ngoái, quá nửa các nước thành viên đang vi phạm điều luật này, cụ thể trong đó có Hi Lạp, Italy, Bỉ, Ireland, và Bồ Đào Nha. Ngay cả Đức [được coi là có nền tài chính tương đối lành mạnh ở Châu Âu] cũng có mức nợ công lên tới 83% GDP. Người dân Đức đừng dễ bị ảo tưởng về sức mạnh của đất nước mình (tới nay thị trường vẫn hình dung Đức là quốc gia gánh vai trò trọng yếu trong giải cứu các nước Châu Âu khác đang bị khủng hoảng tài chính).  Bất công, cũng như yếu kém trong quản lý nguồn tài chính công cần phải bị nghiêm trị kịp thời. Hơn nữa, điều này cần được áp dụng đồng bộ bình đẳng, không phân biệt các nươc thành viên lớn nhỏ. Những nước cần sự trợ giúp phải thỏa mãn những điều kiện thiết yếu cho việc phục hồi nền kinh tế của họ.   Ở Châu Âu, chúng ta là bạn bè, đối tác và người thân – một gia đình Châu Âu, một cộng đồng dựa trên nền tảng đoàn kết. Tôi cho rằng đoàn kết cũng hàm nghĩa quan tâm tới lớp trẻ. Bất kể ai cố gắng giảm nhẹ tác động của bong bóng đầu cơ chỉ bằng tiền bạc và trấn an về hậu quả của bong bóng đầu cơ, thực chất là đang quẳng gánh nặng lên thế hệ trẻ và khiến tương lai của họ trở nên khó khăn hơn. Những người hành động theo cách này chẳng qua là đang cố chạy tháo thân với ý nghĩ miễn bản thân ổn thì chẳng chết ai.  Điều này khiến tôi nghĩ về thực trạng các chính phủ cứ trì hoãn cho tới khi không thể chờ đợi thêm được nữa, tới phút cuối cùng mới dám từ bỏ các lợi ích cũng như đặc quyền và tiến hành cải cách. Đặc biệt là những người giám hộ tối cao của đồng tiền  hành động vượt ra ngoài trách nhiệm của họ và mua vào một lượng khổng lồ trái phiếu chính phủ – hiện đã lên tới hơn 110 tỷ euro. Điều này đương nhiên chẳng tốt đẹp gì trong dài hạn, và chỉ có thể chấp nhận được trong thời gian ngắn hạn. Những người giám hộ trên sẽ phải nhanh chóng quay trở về với những nguyên tắc cơ bản đã được nhất trí. Qua đây, tôi cho rằng việc Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) mua dồn trái phiếu chính phủ của các quốc gia thành viên là cần được xem lại xét về khía cạnh chính trị cũng như pháp lý. Nhằm đảm bảo sự độc lập của ECB, điều khoản 123 trong Hiệp ước hoạt động của Ủy ban Châu Âu nghiêm cấm ECB trực tiếp mua bán những công cụ nợ . Sự ngăn cấm này chỉ có ý nghĩa nếu những người chịu trách nhiệm không lợi dụng kẽ hở bằng việc mua bán với khối lượng giao dịch lớn trên thị trường thứ cấp. Dù thế nào đi nữa, việc mua bán gián tiếp trái phiếu chính phủ rõ ràng đắt hơn nhiều so với mua bán trực tiếp. Một lần nữa, kẻ được hưởng lợi lại là những đối tượng trung gian ở thị trường tài chính, những người ăn hoa hồng mà chẳng phải chịu bất kỳ một rủi ro nào.          Bất kể ai cố gắng giảm nhẹ tác động của bong  bóng đầu cơ chỉ bằng tiền bạc và trấn an về hậu quả của bong bóng đầu  cơ, thực chất là đang quẳng gánh nặng lên thế hệ trẻ và khiến tương lai  của họ trở nên khó khăn hơn.        Khối tài chính cần đóng góp vào sự phát triển toàn cầu bền vững. Chúng ta cần một thị trường vốn hoạt động tốt, hiệu quả và có thể quản lý được các rủi ro chứ không phải tạo ra chúng. Đây là điều kiện cần thiết để tạo cầu nối vững chắc giữa vốn đầu tư với các ý tưởng đầu tư – những ý tưởng giúp thực sự giải quyết những thách thức to lớn mà thế giới đang đối mặt. Những hành động kiên quyết sẽ mang lại sự hồi phục – một phần nhờ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của khu vực mới nổi. Hãy coi khủng hoảng như một cơ hội để triển khai những sáng kiến cho một nền kinh tế thị trường xã hội toàn cầu với một khung điều tiết rõ ràng.  Niềm tin và sự trung thực  Trong mỗi nền kinh tế, niềm tin là yếu tố cơ bản không thể thay thế: dành được niềm tin là khó, nhưng để mất đi thì rất dễ. Cấp tín dụng là cơ sở cho một nền kinh tế thị trường vận hành và tăng trưởng vững chãi. Nhưng để có thể cấp tín dụng, điều cơ bản người ta cần là niềm tin. Chúng ta cần sự trung thực trong cộng đồng và trung thực với bản thân.   Chúng ta cần thảo luận cởi mở và trung thực về sự khan hiếm, bởi chẳng có gì trên trái đất là vô hạn. Những nỗ lực lặp lại nhằm lảng tránh tác động của sự khan hiếm tài nguyên và nhắm mắt làm ngơ trước thực tại không thể mang lại cải thiện lâu dài. Chúng ta đang lãng phí tài nguyên thiên nhiên, sống xa hoa quá khả năng duy trì bền vững của tự nhiên, chưa kể tạo ra tấm gương xấu khiến nhiều xã hội khác trên khắp thế giới thèm muốn bắt chước theo. Có sự lãng phí và bất chấp tài nguyên khan hiếm đó, là vì chúng ta không trung thực. Mức giá tiêu dùng của năng lượng, tài nguyên thô, nước, không khí, và đất mà con người đang sử dụng là quá thấp, không phản ánh đúng thực trạng khan hiếm của tự nhiên.  Trong nhiều trường hợp cái giá tồn tại của chúng ta không chỉ do những thế hệ tương lai gánh vác mà còn được trả bởi những kẻ yếu nhất trong xã hội. Theo Liên Hợp Quốc, người dân của những nước nghèo nhất thế giới lại chịu tác động mạnh nhất bởi những hậu nạn của biến đổi khí hậu, như hạn hán và lũ lụt, mặc dù phần đóng góp của họ trong hiện tượng này là ít nhất. 25 năm trước đây, Ủy ban Brundtland đã kêu gọi “phát triển bền vững, hàm nghĩa đáp ứng nhu cầu hiện tại mà vẫn đảm bảo khả năng các thế hệ tương lai được đáp ứng các nhu cầu của họ”.          Chúng ta cần một thị trường vốn hoạt động  tốt, hiệu quả và có thể quản lý được các rủi ro chứ không phải tạo ra  chúng. Điều là điều kiện cần thiết để tạo cầu nối vững chắc giữa vốn đầu  tư với các ý tưởng đầu tư – những ý tưởng giúp thực sự giải quyết những  thách thức to lớn mà thế giới đang đối mặt.         Chúng ta không thể trả giá cho những tiện nghi hiện tại bằng tương lai của chính mình và con em. Chúng ta cần thay đổi tiến trình, hướng tới quản lý và cân đối bền vững. Chỉ theo cách này một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội và tự do mới có thể vận hành.  Điều không may là còn xa chúng ta mới đạt được trình độ quản lý bền vững. Chúng ta vẫn chưa thành công trong việc đáp ứng những nhu cầu căn bản hiện tại cho tất cả mọi người. Và chúng ta thậm chí còn kém cỏi hơn trong việc bảo tồn tài nguyên và môi trường cho các thế hệ tương lai. Thay đổi điều này thực sự là một nhiệm vụ cơ bản. Trong sự kết nối hôm nay, tôi trông chờ vào năng lực chuyên môn và nhiệt huyết khoa học của quý vị để có những hành động mạnh mẽ hợp lí và bền vững trong dài hạn.  (*) Các tít phụ do Tia Sáng đặt       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hãy tắt máy tính mà đi xây đội ngũ !      Mike Ducker, giám đốc chương trình Hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp các nước vùng sông Mekong – Tiger@Mekong do Chính phủ Mỹ tài trợ, đã có cuộc trò chuyện với Tia Sáng sau gần năm năm “đi lòng vòng” cùng những người trẻ đang khát khao thay đổi thế giới…      Mike Ducker tại một hội nghị khởi nghiệp Lào.  Thưa ông, cộng đồng khởi nghiệp vùng Mekong đang nằm đâu trên bản đồ khởi nghiệp thế giới?  Sẽ rất khó để định vị ngay được cộng đồng này, vì nó quá đa dạng. Những thành phố lớn như Bangkok hay Sài Gòn thì sôi động kinh khủng, trong khi ở những vùng nông thôn ở Lào thì chẳng ai buồn quan tâm đến khái niệm “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” cả. Tôi cho rằng còn quá nhiều việc cần phải làm cho câu chuyện khởi nghiệp ở vùng đất mới này. Cộng đồng các nhà sáng lập mới bắt đầu ở đây đang đứng trước nhiều thách thức, chẳng hạn tìm kiếm các nguồn hỗ trợ. Nhiều người phải chọn Singapore hay Malaysia như là vùng đất có thể bắt đầu hành trình của mình dễ dàng hơn. Nếu việc này cứ kéo dài, sẽ là một mối họa cho hệ sinh thái của cả vùng.  Vậy Việt Nam thì sao, thưa ông?  Đây là một vùng đất thú vị. Sự năng động của các bạn trẻ Việt Nam đang tiệm cận sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp Thái Lan. Tuy nhiên, tôi hay nhìn vào sự phát triển của từng thành phố một, chẳng hạn Hà Nội, Sài Gòn có thể so sánh với Bangkok về sự đông đúc của hệ sinh thái. Tiếc là tôi vẫn chưa thấy ở Việt Nam một chương trình dài hạn có thể hỗ trợ doanh nhân trẻ để họ có thể tự tin bước vào hành trình khó nhọc này.    Ai cũng nhắc mãi đến “hệ sinh thái”, vì sao vậy?  Tôi luôn hào hứng khi ghé Việt Nam, bởi biết chắc sẽ được gặp những người trẻ đang hết sức chú tâm vào các ý tưởng đổi mới sáng tạo rất “ngầu” cũng như các công nghệ mới. Hệ sinh thái là sự nương tựa lẫn nhau giữa các thành tố cấu thành cộng đồng khởi nghiệp, mà ở Việt Nam thì còn đang thiếu: 1/ Dù Chính phủ Việt Nam đang rất nỗ lực làm nhiều việc vô cùng, nhưng tôi vẫn chờ đợi một đơn vị tư nhân có thể thành công trong việc hỗ trợ khởi nghiệp. Chúng ta rất cần những đơn vị tư nhân đóng vai trò lớn hơn trong bức tranh tổng thể. Tại những nơi mà tôi đã được tham gia, kể cả vùng Detroit quê tôi, có rất nhiều những doanh nhân thành công tự nhận lấy trách nhiệm xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm và cả vườn ươm doanh nghiệp. 2/ Các bạn cũng đang rất cần những mentor – cố vấn đồng hành – đủ kỹ năng và thời gian và đam mê để đi cùng khởi nghiệp đến những thành tựu to lớn hơn. 3/ Cần cả những chương trình dài hạn được dựng lên với nhiệm vụ “đẩy” các doanh nghiệp khởi nghiệp đến một tầm cao mới trong thang đo kinh tế.   Ông cũng làm mentor, rồi lại đi dạy cho mentor. Ông tập trung điều gì nhất cho các startup trong giai đoạn hiện nay?  Một startup, thường đồng nghĩa với giai đoạn “giả định thành công” trên hành trình kinh doanh rất dài. Bởi vậy, từ “giả định” đến “thành công” cần phải học hỏi và hành động liên tục. Tôi tin rằng, một trong những điều rất quan trọng mà các doanh nhân khởi nghiệp cần làm, là đóng máy tính lại, bắt tay vào những công việc bên ngoài. Họ cần có những tương tác với thị trường, đối tác và cả đối thủ. Họ cần gặp gỡ để hiểu những khách hàng tiềm năng, nhà cung cấp, những người trong cùng lĩnh vực kinh doanh. Để hiểu một ngành mà mình đang muốn bước vào để thay đổi nó, cần dành nhiều thời gian ngoài đời thực, đặc biệt là hiểu về công nghệ và những xu hướng đang diễn ra. Điều thứ nhì, là rất nhiều bạn nghĩ rằng họ cần đầu tư, nhưng thực tế thì không phải vậy. Điều họ thực sự cần, là một đội ngũ đồng hành đủ mạnh để cùng nhau biến giấc mơ thành sự thật. Vì vậy, chiến lược đôi khi đơn giản là tìm kiếm những dạng người nào, những tố chất nào, những kỹ năng nào để có thể trở thành đồng sáng lập cho doanh nghiệp.  Chúng tôi thấy có hai dạng khởi nghiệp thường gặp ở Việt Nam. Một, là những bạn tựa hoàn toàn vào sức mạnh công nghệ. Và dạng thứ hai, là những người muốn theo đuổi mô hình kinh doanh truyền thống. Ông nghĩ gì về sự khác biệt này?  Nó phụ thuộc vào giấc mơ và tầm nhìn của họ. Thế giới mà tôi sống, thở và làm việc, thì toàn những người muốn dùng công nghệ để thay đổi cuộc sống của mọi người. Họ là những cá nhân hoặc đội nhóm đặc biệt sáng tạo, có thể giới thiệu những công nghệ mới hoặc phương thức kinh doanh mới. Đó mới là điều hấp dẫn của khởi nghiệp. Còn kiểu truyền thống, đơn giản là mưu sinh mà thôi, vậy ít vui hơn. Ngoài ra, thế giới không thay đổi vì một doanh nghiệp, mà cần cả một cộng đồng khởi nghiệp cùng nhau tạo nên lực đẩy, đưa công nghệ phục vụ cuộc sống, thay đổi mọi thứ ngày càng nhanh. Đó là cách mà Silicon Valley đang làm, và nhiều nơi trên thế giới đang tái lập lại mô hình này.  Có hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ mà mọi người dựng ra để mưu sinh. Trong khi đó, chỉ có một số rất ít doanh nghiệp khởi nghiệp được lập ra vì một sứ mệnh tạo ra sự thay đổi. Tôi không biết con số này ở Việt Nam là bao nhiêu, nhưng trên thế giới, loại doanh nghiệp liên quan đến công nghệ đổi mới sáng tạo chỉ chiếm từ 5 – 15%. Nhưng số ít này, lại chính là những người tạo ra giá trị mới, giá trị gia tăng cho thị trường. Họ chính là những người có tố chất doanh nhân, rất khác biệt, có khả năng chọc thủng bức tường để đi xuyên qua nó, tạo thành con đường mới mà chẳng mấy ai đi…  Ông nghĩ gì về việc xây dựng Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn trở thành những thành phố khởi nghiệp?  Đó là một cơ hội lớn, kèm theo là thách thức lớn hơn, không chỉ cho chính phủ mà cho rất nhiều bên khi muốn xây dựng thành phố khởi nghiệp. Khi làm việc với các lãnh đạo chính phủ, điều duy nhất mà tôi nhắc đi nhắc lại, là hãy để hệ sinh thái tự hình thành, lớn lên bằng sức của nó. Có rất nhiều tổ chức, trường đại học, khối tư nhân, cộng đồng công nghệ hay nhà đầu tư cá nhân muốn tham gia vào việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Vậy nên điều đơn giản, dễ dàng nhất mà chính quyền cần làm, là ngồi xuống với họ, và hỏi họ cần hỗ trợ gì thay vì cứ tạo ra những chương trình riêng của chính phủ, mà một cách vô tình rất dễ cản đường hoặc cạnh tranh với các tổ chức này.  Hay là chúng ta sẽ tập trung xây dựng Việt Nam thành trung tâm khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao?  Ở Mỹ, một vài công ty trong nhóm sáng tạo nhất chính là các công ty nông nghiệp. Sản lượng và chất lượng của nền nông nghiệp Mỹ đang trở nên đáng nể hơn bao giờ hết nhờ sự tham gia của đổi mới sáng tạo công nghệ và các doanh nhân khởi nghiệp. Tôi chưa quen nhiều các bạn làm startup nông nghiệp ở Việt Nam, nhưng nhìn chung trên thế giới, đó không phải là một lĩnh vực “dễ ăn”. Từ ý tưởng, đến công nghệ, đến nông trại là một hành trình dài, xa và gian khó. Môi trường nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp truyền thống, rất khó để thay đổi cách nghĩ, cách làm của nông dân. Giới thiệu một sản phẩm mới cho thanh niên ở các đô thị thì dễ dàng, vì khả năng thích nghi với cái mới, công nghệ mới của họ. Nhưng khó không có nghĩa là không làm được, nếu có một tầm nhìn và khát vọng đủ lớn để có thể thay đổi chất lượng nền nông nghiệp. Nhưng cần rất nhiều kiên trì để làm việc này. Chẳng hạn, ở Kenya, sự thay đổi diễn ra rất rất chậm, nhưng vẫn diễn ra…  Ông nghĩ là Việt Nam có nên học theo hình mẫu khởi nghiệp của nước nào không?  Suy nghĩ đầu tiên của tôi, là mình phải đi con đường của riêng mình, tất nhiên là phải để lực lượng tư nhân làm người dẫn đường. Từ đó, chúng ta có thể tìm thấy mô hình phát triển phù hợp nhất với Việt Nam. Ví dụ như ở đất nước mà tôi có nhiều kinh nghiệm là Ai Cập, khá giống với Việt Nam về dân số và là quốc gia nông nghiệp. Chuyện xảy ra ở thủ đô Cairo, là có 5 – 6 người anh hùng là doanh nghiệp tư nhân quyết định “tạo ra sự thay đổi” và họ tổ chức rất nhiều hoạt động. Từ đó, hàng loạt các nhóm thanh niên khác cũng được hình thành, các tổ chức phi lợi nhuận được tạo ra và việc khởi nghiệp được triển khai một cách chuyên nghiệp hơn. Họ làm việc chung với nhau, theo một công thức đặc biệt: không có tổ chức nào có thể làm hết tất cả mọi việc, mọi người tựa vào nhau để phát triển. Các vườn ươm, nhóm nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm thực hiện hết trách nhiệm của vai trò mình được giao một cách gắn kết với mục tiêu chung là xây dựng nên những công ty khởi nghiệp thành công. Tôi thấy Ai Cập nghe có vẻ xa xôi, nhưng bài học từ xứ này có thể là những gợi ý tốt cho Việt Nam.  Ông có một danh mục những điều kiện cần của công ty khởi nghiệp mà ông sẽ tham gia hỗ trợ không?  Yếu tố quan trọng nhất là những người sáng lập và đội ngũ của họ. Họ nghiêm túc đến mức nào, họ đam mê đến mức nào với ý tưởng mà họ dự định sẽ theo đuổi. Tất cả những nhà đầu tư khởi nghiệp ở giai đoạn đầu mà tôi biết đều chia sẻ một điều giống nhau: Họ sẽ đầu tư nếu nhìn vào mắt những người sáng lập có thể đọc được niềm khát khao, ý chí để có thể biến những ý tưởng của họ thành sự thật.  Những ý tưởng độc đáo cũng là điều quan trọng, nhưng tôi thấy con người quan trọng hơn nhiều. Sau đó tôi sẽ cân nhắc đến cơ hội thị trường, độ lớn của nó và sự liên quan giữa lĩnh vực tham gia với năng lực cá nhân của đội ngũ sáng lập. Tôi đặt cược niềm tin của mình vào con người, với những tham vọng của họ. Hầu hết những gì tôi học được sẽ chia sẻ với họ, đơn giản vì tôi thường thất bại hơn là thành công trên hành trình tham gia vào khởi nghiệp.  Xin cảm ơn ông.   Kiên Chinh thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang HCMUT: 4,6 tỷ đồng từ chuyển giao công nghệ      Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp KH&amp;CN (HCMUT) thuộc trường đại học Bách khoa TPHCM trong quá trình hoạt động từ năm 2012 đến nay đã ươm tạo thành công năm công ty và&#160; thu được 4,6 tỷ đồng từ chuyển giao công nghệ.  &#160;    Được thành lập từ năm 2012, HCMUT tập trung vào hỗ trợ ươm tạo các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ hóa học, sinh học và thực phẩm; công nghệ vật liệu; cơ khí, kỹ thuật giao thông; năng lượng, năng lược tái tạo; điện – điện tử; công nghệ môi trường; công nghệ thông tin; quản trị doanh nghiệp. Cùng với đó, HCMUT còn thực hiện một số dịch vụ về KH&CN khác như tư vấn, chuyển giao công nghệ, thông tin khoa học công nghệ, huấn luyện bồi dưỡng kỹ năng kinh doanh, quản trị…  Với thế mạnh là trung tâm trực thuộc một trường đại học lớn trong nước về khoa học, công nghệ, HCMUT “mát tay” trong việc ươm tạo các doanh nghiệp chuyên về các giải pháp kỹ thuật và công nghệ mới. Hiện nay HCMUT đã ươm tạo thành công năm công ty hoạt động trong các lĩnh vực liên quan và đều tìm được chỗ đứng trên thị trường trong nước, thậm chí có sản phẩm xuất khẩu: công ty cổ phần công nghệ thông minh ưu việt (Inext technology) với sản phẩm đầu đọc và card theo công nghệ Efid, card giao tiếp FXS/FXO cho hệ thống VoIP, hệ thống Call Centre, hệ thống hội chuẩn y tế online. Doanh thu năm 2914 của công ty đạt năm tỷ đồng. Công ty TNHH Kỹ thuật hóa học và môi trường Bách khoa (Cenfotech) hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực hóa dầu, sản xuất thực phẩm, dược liệu, tái chế nhựa và cao su phế thải, môi trường có doanh thu năm 2011 – 2013 là hai tỷ đồng. Công ty cổ phần Giải pháp Điều khiển Việt (Viet Control) hoạt động chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, ứng dụng phần mềm trong hoạt động quản lý và công nghiệp, doanh thu năm 2014 là năm tỷ đồng. Công ty TNHH Sản phẩm thiên nhiên Bách khoa (BK Nature) hoạt động trong lĩnh vực hóa mỹ phẩm có các sản phẩm kem ngừa mụn, kem dưỡng da, sữa tắm… Doanh thu năm 2014 đạt 2,5 tỷ đồng. Công ty TNHH Giải pháp kỹ thuật Indefol có sản phẩm máy phát điện bằng sức gió công suất vừa và nhỏ, các giải pháp kỹ thuật sử dụng công nghệ thiết kế 3D. Doanh thu năm 2014 của công ty là một tỷ đồng.   Hiện tại, Inext technology đã được chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và từng đoạt giải ba Nhân tài đất Việt 2014. Cenfotech tốt nghiệp vườn ươm năm 2013, Viet Control dự kiến tốt nghiệp vào tháng 4 còn BK Nature và Indefol đang hoàn thiện hồ sơ để được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN.  Song song với ươm tạo doanh nghiệp, HCMUT còn xúc tiến các hoạt động chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp KH&CN với các doanh nghiệp ngoài vườn ươm và đạt con số 4,6 tỷ đồng: chuyển giao hệ thống thiết bị sản xuất biodiesel từ dầu thực vật đạt trị giá 500 triệu đồng cho công ty cổ phần xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Rexco; chuyển giao thiết kế chế tạo thiết bị chế biến thực phẩm như hệ thống sấy, nghiền, đóng bao, phun tạo màng, hệ thống phản ứng cho Rexco trị giá 700 triệu dồng; chuyển giao thiết kế chế tạo lò sấy nông sản sử dụng năng lượng mặt trời cho phòng kinh tế hạ tầng huyện Đơn Dương, Lâm Đồng đạt 300 triệu đồng; chuyển giao dây chuyền sản xuất chế biến hạt điều cho Chính phủ Bờ Biển Ngà đạt 2 tỷ đồng; chuyển giao thiết kế chế tạo bề ổn định nhiệt độ cho công ty cổ phần Thiết bị Thắng lợi đạt 300 triệu đồng; tư vấn thực hiện các đề án “Đánh giá kết quả các mô hình quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong lĩnh vực chiếu sáng công cộng, khách sạn văn phòng, tòa nhà văn phòng, trường học tỉnh Lâm Đồng” cho Trung tâm tư vấn phát triển công nghiệp Lâm Đồng đạt 200 triệu đồng; chuyển giao nghiên cứu sản xuất phân bón từ phế phẩm nông nghiệp cho Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí – CTCP đạt 600 triệu đồng.   Trước những thành công đã đạt được, HCMUT đặt mục tiêu  cho giai đoạn 2018-2020 là xây dựng được Quỹ đầu tư phát triển ổn định qua đó đầu tư vào các doanh nghiệp KH&CN có tiềm năng, xây dựng khu sản xuất thử nghiệm, đẩy mạnh hơn nữa chuyển giao công nghệ…         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ gene giống một cuốn sách mở như thế nào? Phát hiện về hệ thư viện của các tế bào      Tổ chức của hệ gene con người phụ thuộc vào tính chất vật lý của các trạng thái khác nhau của vật chất – như trạng thái lỏng và trạng thái rắn, một nhóm nghiên cứu mới đây đã phát hiện ra điều đó. Phát hiện mới tiết lộ cách bản chất vật lý của hệ gene thay đổi như cách tế bào chuyển đổi để bảo vệ các chức năng cụ thể của mình như thế nào.      Phát hiện mới cũng chỉ ra những cách mới có tiềm năng hiểu tốt hơn về bệnh tật và tạo ra cách các liệu pháp điều trị ung thư và các bệnh rối loạn di truyền.  Hệ gene là thư viện của thông tin di truyền thiết yếu với sự sống. Mỗi tế bào được chứa trong toàn bộ thư viện, nhưng nó chỉ sử dụng một phần thông tin này. Các dạng cụ thể của các tế bào, như tế bào máu trắng hoặc neuron, đều chứa “những cuốn sách” mở nhất định – thông tin chứa đựng đó có liên quan đến với chức năng của chúng. Các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm từ lâu điều này để xác định cách hệ gene quản lý các thư viện khổng lồ của đó và cho phép truy cập vào “những cuốn sách” cần thiết, trong khi cất giữ những cuốn sách khác chưa được sử dụng.  Trong nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, các nhà nghiên cứu đã tiết lộ cách điều này xảy ra như thế nào trong một tế bào.  “Chúng tôi tìm thấy những phần của hệ gene đang được sử dụng ở trạng thái lỏng trong khi những phần không được dùng đến hình thành những hòn đảo giống như ở trạng thái rắn”, Alexandra Zidovska, một trợ lý giáo sư tại Khoa Vật lý trường đại học New York và là tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Những hòn đảo ở trạng thái rắn đó đóng vai trò như những giá sách của thư viện để cất các cuốn sách với các gene hiện chưa được sử dụng trong khi các phần hệ gene ở trạng thái lỏng đóng vai trò như một ‘cuốn sách mở’, sẵn sàng để truy cập và hữu dụng cho sự sống và đảm trách chức năng của một tế bào”.  Thông tin di truyền của hệ gene được mã hóa trong các phân tử DNA. Việc đọc một cách chính xác và xử lý thông tin là điều tối cần thiết cho sức khỏe con người và sự trưởng thành. Trong một tế bào người, hệ gene chứa mã di truyền được ‘cất’ trong các hạt nhân của tế bào. Với kích thước 10 micro mét – hoặc nhỏ hơn 10 lần so với chiều rộng của một sợi tóc người – nó cất giữ khoảng hai mét DNA.  Lưu trữ một lượng thông tin di truyền cực lớn như thế này trong một không gian nhỏ đòi hỏi việc sắp xếp theo một cách để mỗi mảnh DNA, và cả mã hóa di truyền, đều phải dễ dàng truy cập mỗi khi cần thiết.  Những gì đã diễn ra còn ít được biết, đó là cách thông tin này được lưu trữ như thế nào, vai trò của vật lý trong đó là gì.    Để khám phá hiện tượng này, các nhà nghiên cứu, trong đó có Iraj Eshghi và Jonah Eaton, hai nghiên cứu sinh của NYU, đã so sánh các tế bào trước và sau khi chúng được chuyên biệt hóa.  Cụ thể, họ đã vẽ bản đồ chuyển động của hệ gene trong hạt nhân tế bào gốc của chuột – những thứ còn chưa được chuyên biệt hóa theo chức năng cụ thể nhưng đã được đưa vào trạng thái trở thành bất kỳ dạng tế bào mang chức năng nào, như một tế bào thần kinh hoặc một tế bào máu trắng – và sau đó họ để các tế bào trải qua một sự phân hóa thành các tế bào thần kinh trước khi lập bản đồ chuyển động hệ gene một lần nữa. Khi đó, họ tạo ra những bản đồ đầu tiên trong lịch sử về các chuyển động của một hệ gene trước và sau khi có sự phân hóa tế bào chức năng.  Tại đây họ tìm thấy các tế bào gốc giữ hệ gene của chúng ‘mở’ – làm cho nó có khả năng truy cập được như một cuốn sách mở, với những ‘trang di truyền’ có thể chạm đến được một cách dễ dàng.   Tuy nhiên, bản đồ này cũng chỉ cho thấy điều này một khi một tế bào gốc trở thành một tế bào chuyên biệt, ví dụ thành tế bào thần kinh, tế bào chuyên biệt này giữ cho sẵn sàng có thể truy cập được những phần của hệ gene cần thiết cho chức năng cụ thể của nó. Nó cũng đặt những phần không được đọc của hệ gene lên các ‘giá sách’. Điều này giúp cho có nhiều không gian hơn cho thông tin đang được đọc và xử lý.  “Những chuyển động này nói với chúng ta một cách chính xác cách có thể truy cập hệ gene trong một nơi cho trước trong các hạt nhân tế bào”, Zidovska giải thích. “Hơn thế, các chuyển động này tiết lộ trạng thái vật lý của những phần khác nhau trong hệ gene, với các phần trạng thái lỏng có trách nhiệm phản hồi với DNA được đóng gói một cách lỏng lẻo và các phần như chất rắn phản đồi với các chất keo DNA được đóng gói một cách chặt chẽ. Việc đóng gói hệ gene trong những trạng thái khác nhau của vật chất tác động một cách trực tiếp khả năng truy cập của hệ gene; các phần lỏng là phần có thể truy cập, trái ngược với những phần chất rắn. Điều kỳ diệu này là ở chỗ tổ chức đó phụ thuộc vào các trạng thái vật lý khác nhau của vật chất – lỏng và rắn”.   “Việc đo lường các chuyển động của các phần riêng biệt trong hệ gene cho phép chúng tôi chứng tỏ các đặc tính vật lý khác biệt của những phần khác nhau của hệ gene, và hiểu biết về tổ chức hệ gene – ‘hệ thư viện’ của tế bào”, bà cho biết thêm.  Một hệ ‘ghi tên’ tế bào chính xác cần thiết cho sức khỏe con người, các nhà nghiên cứu lưu ý.  “Việc xem xét số lượng rộng lớn của các dạng tế bào trong cơ thể con người, nếu một cuốn sách mất đi hoặc đổi chỗ trong thư viện tế bào đó, có thể dẫn đến việc để mất thông tin, có thể dẫn đến các rối loạn phát triển hoặc rối loạn được di truyền cũng như thứ tai ách như ung thư”, Zidovska nói. “Do đó, việc tiết lộ cách hệ gene được tổ chức bên trong hạt nhân tế bào là tối cần thiết cho hiểu biết của chúng ta về các điều kiện đó và khả năng dẫn đến bệnh tật. Dẫu sao, nhiều hiểu biết có thể giúp chúng ta trong việc thiết kế các liệu pháp điều trị tương lai và chẩn đoán nhiều bệnh rối loạn di truyền”.   Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-genome-cells-library.html  https://floridanewstimes.com/what-about-an-open-book-like-genomenew-research-shows-the-library-system-of-cells/276352/       Author                Quản trị        
__label__tiasang He Jiankui: Kẻ nổi loạn trong chỉnh sửa gene      Anh là người đã tuyên bố đã tạo ra các em bé chỉnh sửa gene, gây phẫn nộ trong cộng đồng quốc tế.      Vào tháng 11/2018, He Jiankui biết rằng mình đã vượt qua một ranh giới đạo đức mới khi tiết lộ rằng anh đã chỉnh sửa gen của hai trẻ sơ sinh. Các chỉnh sửa này cũng sẽ được truyền lại cho những thế hệ tương lai. “Tôi hiểu rằng công việc của tôi sẽ gây tranh cãi, nhưng tôi tin rằng các gia đình cần công nghệ này và tôi sẵn sàng chỉ chịu chỉ trích vì họ”, anh nói trong một video thông báo về sự ra đời của những bé sinh đôi có bộ gene đã chỉnh sửa bằng công nghệ CRISPR với mục đích bảo vệ chúng khỏi khả năng bị nhiễm HIV.  Phản ứng với của cộng đồng gay gắt hơn He dự kiến. Anh bị chỉ trích vì đã bỏ qua những cân nhắc về đạo đức và còn đặt các bé gái gặp vào rủi ro vì những lợi ích chưa chắc chắn sẽ đạt được như mong muốn. Đại học Khoa học và Công nghệ miền Nam tại Thâm Quyến, Trung Quốc, nơi ông làm việc, nói rằng họ không liên quan đến vụ việc. Bộ Khoa học Trung Quốc cấm ông tiếp tục nghiên cứu, Bộ Y tế đã mở một cuộc điều tra. He Jianki không nói chuyện với báo chí và cũng không còn xuất hiện trên truyền thông quốc tế.  He Jianki đến với công nghệ chỉnh sửa gene như một người ngoài cuộc. Bài báo đầu tiên được liệt kê trên trang web của anh từ 10 năm trước có liên quan đến vật lý lượng tử. Năm 2010, anh cũng có các bài báo về kinh tế, sự tiến hóa và bản chất tự nhiên của các lát cắt DNA lặp lại trong hệ gene của vi khuẩn. Anh có được sự công nhận nhất định trong việc giải trình tự hệ gene. Một công ty do anh thành lập, Direct Genomics ở Thâm Quyến, nhắm vào thị trường giải trình tự lâm sàng và thu về hàng trăm triệu đô la đầu tư.  Nhưng H muốn bắt tay vào chỉnh sửa gene. Anh đã đến gặp Feng Zhang, một nhà tiên phong trong công nghệ CRISPR, tại phòng thí nghiệm của Feng tại MIT. Feng Zhang đã cảnh báo anh không nên chỉnh sửa phôi người cho mục tiêu sinh sản. Mark DeWitt, một nhà di truyền học tại Đại học California, Berkeley, nói đưa ra lời khuyên tương tự. Jennifer Doudna tại Berkeley, một nhà tiên phong khác trong công nghệ CRISPR, đã từ chối yêu cầu tham quan của He Jianki vì cô nghĩ rằng He sẽ không làm bất cứ điều gì liên quan đến công nghệ này. Bây giờ, cô tự hỏi liệu có phải anh ta “cố gắng để lại manh mối để liên lạc” với những người có uy tín hay không, bởi anh cũng có thể nói rằng mình cần có sự hỗ trợ rộng rãi từ cộng đồng khoa học.  He Jianki sẽ để lại một di sản phức tạp. Các nhà khoa học lo ngại rằng lĩnh vực chỉnh sửa gene giờ đây sẽ khó khăn trong việc xin tài trợ, xin phê duyệt theo quy định hoặc nhận hỗ trợ từ công chúng. Và mặc dù công nghệ này có thể dẫn đến những hiểu biết mới về sự phát triển của con người và có khả năng dẫn đến một số cách ngăn ngừa các rối loạn di truyền chết người, nhưng ít người cho rằng cách làm của He là hữu ích. “Tôi nghĩ rằng anh ấy sẽ bị phán xét một cách gay gắt”, DeWitt nói.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hé lộ nguồn gốc của dòng chữ bí ẩn trên bức “Tiếng thét”      Dòng chữ “Chỉ có thể được vẽ bởi một kẻ điên” trên tác phẩm liệu có phải chỉ do một ai đó viết bậy vào nhằm chế nhạo Edvard Munch?      Chụp ảnh hồng ngoại bức tranh. Ảnh: Annar Bjorgli/Courtesy The National Museum Of Norway  Năm 1904, một nhà phê bình người Đan Mạch khi xem xét bức Tiếng thét (The Scream) của Edvard Munch, ông đã phát hiện ra một dòng chữ viết tay mờ nhạt ở góc trái bức tranh với nội dung “Chỉ có thể được vẽ bởi một kẻ điên”. Kể từ đó, mọi người vẫn nghĩ rằng một ai đó đã viết bậy vào tranh nhằm chế nhạo người họa sĩ khốn khổ nổi tiếng này.   Tuy nhiên, một phân tích mới đây của Bảo tàng Quốc gia Na Uy đã tiết lộ những dòng chữ này do chính Munch viết nên.   Trong thời gian chuẩn bị khánh thành bảo tàng sau một thời gian tu sửa – dự kiến sẽ mở cửa lại tại Oslo vào năm 2022, Bảo tàng Munch đã hợp tác với các nhà khoa học để thực hiện nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ bí ẩn về phiên bản gốc năm 1893 của bức tranh Tiếng thét. Thông qua việc sử dụng công nghệ hồng ngoại để phân tích chữ viết tay và so sánh nó với chữ trong nhật ký và thư của Munch các nhà nghiên cứu đã xác định rằng Munch thực sự là tác giả của dòng chữ này. Có thể ông đã viết cụm từ này vào năm 1895 hoặc ngay sau đó để đáp lại những lời chỉ trích nhắm vào bản thân, sau khi ông triển lãm Tiếng thét lần đầu tiên tại quê hương ông, Kristiania (sau này là Oslo).     Dòng chữ “Kan kun være malet af en gal mand”, dịch từ tiếng Đan Mạch có nghĩa là “Chỉ có thể được vẽ bởi một kẻ điên”. Ảnh: Studart.  Người xem đã choáng váng trước sự thống khổ hiện hữu trong bức tranh, và một số người suy đoán rằng nhân vật đang la hét giữa cơn cuồng nộ ấy hẳn phải là người nghệ sĩ. Trong một cuộc thảo luận về tác phẩm này tại Hiệp hội Sinh viên, sinh viên y khoa trẻ tuổi Johan Scharffenberg thậm chí còn tuyên bố rằng tác phẩm này cho thấy Munch không phải là người có đầu óc bình thường. Munch đã nhắc lại những lời chỉ trích này nhiều lần trong các bức thư và nhật ký của mình.    “Ông ấy đã vô cùng tổn thương khi những người chỉ trích tác phẩm đặt dấu chấm hỏi về mức độ tỉnh táo của ông, và gọi những bức tranh do ông sáng tác là nỗi ô nhục”, người phụ trách Bảo tàng Quốc gia, Mai Britt Guleng, chia sẻ với ARTnews. “Bệnh tâm thần là một vấn đề nhức nhối đối với Munch, bởi gia đình ông ấy có tiền sử bệnh tâm thần.” Cả cha và chị gái của Munch đều bị trầm cảm, và về sau họ cũng được chẩn đoán là mắc bệnh tâm thần phân liệt. Munch thừa nhận rằng ông không có một tuổi thơ hạnh phúc lẫn một cuộc sống trưởng thành suôn sẻ. “Bệnh tật, sự mất trí, và cái chết là những thiên thần đã hạ cánh đến chiếc nôi của tôi, và kể từ đó đã theo tôi đến suốt cuộc đời”, ông từng viết. Munch trở nên suy sụp hơn vì chứng nghiện rượu của mình, ông cuối cùng đã phải nhập viện sau khi bị suy nhược thần kinh vào năm 1908.   Rõ ràng ông ấy đã phải vật lộn với chứng trầm cảm, sự mất mát và lo âu trong những bức tranh của mình, ẩn hiện trong đó là bóng ma về tình yêu và gia đình đã mất. Trong nhật ký của mình, Munch đã hình dung về Tiếng thét khi đi dạo vào lúc hoàng hôn ở Kristiania. Vào khoảnh khắc lặng nhìn những đám mây đỏ như máu, ông cảm nhận được “tiếng thét vô tận từ thiên nhiên vọng đến”. Từ năm 1893 đến năm 1910, Munch đã vẽ bốn bản của Tiếng thét trên các chất liệu khác nhau, cũng như một số bản về cùng chủ đề.    Nhìn về kiệt tác của mình, Munch chia sẻ mục tiêu của ông là “nghiên cứu về linh hồn, nghĩa là nghiên cứu về bản thân tôi.”  Anh Thư dịch  Nguồn: Edvard Munch Authored Mysterious Writing on ‘The Scream,’ New Analysis Reveals       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hé mở những bí ẩn về nền văn minh Mycenae      Thông qua những cuộc khai quật ở ngôi làng Iklaina, các nhà khảo cổ học đã hiểu hơn về đời sống của người Mycenae – không chỉ gói gọn trong giới quý tộc, mà còn cả dân thường.      Các nhà khảo cổ học lấy mẫu đất để tìm hiểu các phương thức canh tác cổ đại. Ảnh: Matt Stirn  Khi mặt trời lên thiên đỉnh, hơi nóng dần bốc lên từ những ngọn đồi phủ đầy cây bách xung quanh tôi. Làn nước màu ngọc lam nơi biển Ionia lấp lánh phía cuối chân trời, và những hàng cây ô liu trải dài vô tận về phía Đông. Dàn đồng ca ve sầu ngân vang, chúng tôi đang ở nơi nóng nhất của mùa hè Địa Trung Hải, tiếng cuốc nhịp nhàng vang vọng khắp đỉnh đồi, từng nhát cuốc là một bước tiến trong dự án khai quật vùng đất đỏ ở Peloponnese của Hy Lạp.  Giữa cái nóng oi bức, một nhóm các nhà khảo cổ, sinh viên đại học và công nhân địa phương đang đào sâu hơn vào tàn tích của Iklaina, một thành phố thời kỳ đồ đồng từng tồn tại ở khu vực này, và theo Homer, có thể đã đóng một vai trò nào đó trong Cuộc chiến thành Troy huyền thoại cách đây hơn 3.000 năm. Khu định cư này đã bị đốt cháy và bị chôn vùi dưới lòng đất – đây sẽ là nguồn thông tin vô giá để các nhà nghiên cứu hiểu hơn về bối cảnh chính trị đầy biến động của Hy Lạp cổ đại và đời sống phức tạp của người Mycenae, những người sống ở ngã tư đường của hiện thực lịch sử và thần thoại huyền bí.  Vào cuối thời kỳ đồ đồng của Hy Lạp, khoảng từ 1700 đến 1100 trước Công nguyên, nền văn minh Mycenae đã phát triển mạnh mẽ trên khắp bán đảo Peloponnese. Xã hội Mycenae lúc bấy giờ chìm trong chiến tranh và sự bất hoà; những vị vua – từ Agamemnon ở Mycenae đến vị vua Nestor xứ Pylos – đều tìm cách mở rộng phạm vi cai trị của mình. Đây cũng là thời kỳ đánh dấu nhiều tiến bộ về văn hoá và khoa học công nghệ, chẳng hạn như những công trình kiến ​​trúc hoành tráng (cung điện và lăng mộ mái vòm), tạo tác gốm sứ và sự phát triển của Linear B, một hệ thống chữ viết thời cổ đại.  Năm 1876, nhà khảo cổ học người Đức Heinrich Schliemann bắt đầu khai quật thành phố huyền thoại Mycenae, ông đã khám phá ra những ngôi mộ chứa đầy kho báu của các vị vua. Phát hiện này đã khiến toàn thế giới kinh ngạc. Sau một thế kỷ rưỡi kể từ những khám phá vĩ đại của Schliemann, nỗ lực của các nhà khảo cổ nhằm khai quật các di chỉ cổ kính Mycenae khác – bao gồm Tiryns, Gla và Pylos – đã giúp chúng ta hiểu hơn về thời đại đồ đồng.  Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tại các di tích này, các nhà khoa học mới chỉ tập trung đến bối cảnh chính trị Mycenae và cuộc sống của tầng lớp quý tộc, họ không cung cấp các thông tin về đời sống của dân cư nói chung – một yếu tố quan trọng nếu muốn hiểu quá trình trỗi dậy và sụp đổ của nền văn minh Mycenae. Với mong muốn lấp đầy những khoảng trống trong bức tranh nền văn minh Hy Lạp thuở sơ khai, xuyên suốt ba thập kỷ qua, các nhà khảo cổ học đã tìm kiếm các thị trấn thay vì cung điện và lăng mộ. Cho đến nay, họ mới chỉ khai quật được một vài thị trấn.  Mùa hè năm 1999, Michael Cosmopoulos, thành viên của Học viện Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ, và là giáo sư Khảo cổ học Hy Lạp tại Đại học Missouri – St. Louis, đã cùng các đồng nghiệp và sinh viên tiến hành một cuộc khảo sát khảo cổ học nơi địa hình đồi núi hiểm trở. của Messenia – khu vực dọc theo bờ biển phía tây nam của Hy Lạp. Đặc biệt, nhóm khảo sát quan tâm đến một khu rừng ô liu gần ngôi làng cổ kính trên núi Iklaina, nơi vào những năm 1950, nhà khảo cổ học người Hy Lạp Spyridon Marinatos đã tìm thấy những hiện vật gốm thời kỳ đồ đồng. Vào lần đầu đến thăm địa điểm này, Tiến sĩ Cosmopoulos đã nhận thấy một gò đất đặc biệt lớn trồi lên giữa những quả ô liu. Dựa trên số lượng của đồ gốm Mycenaea được tìm thấy trên mặt đất, ông ngờ rằng có một khu định cư lớn bị chôn vùi dưới chân ông.  Một chiếc có khả năng chứa dầu ô liu thơm, có niên đại từ năm 1390 đến 1320 trước Công nguyên. Ảnh: Matt Stirn  Các cuộc khai quật vào năm 2009 cho thấy gò đất bí ẩn trên thực tế là phần còn lại bị chôn vùi của một dãy nhà bậc thang Cyclopean – một nền móng của tòa nhà nhiều tầng được dựng lên bằng những tảng đá lớn, kiến trúc này thường chỉ xuất hiện ở các cung điện và địa điểm quan trọng của nền văn minh Mycenae. Sử dụng từ kế và điện trở suất, những kỹ thuật thường được ứng dụng vào việc tìm kiếm các công trình bị chôn vùi, nhóm nghiên cứu đã quét khu vực xung quanh để tìm ra mốc ranh giới của địa điểm, điều đó giúp họ lập phương án và giới hạn khu vực đào hợp lý. Kết quả thật kinh ngạc: Không chỉ có hàng chục tòa nhà bao quanh nền móng này, mà kết cấu kiến trúc còn mở rộng ra với diện tích gần 32 mẫu Anh.  Iklaina không chỉ đơn giản là một cung điện hay nơi cư trú của giới quý tộc. Đó là cả một thành phố – với những ngôi nhà, đường phố và xưởng.  Trong 16 năm qua, công trình tại Iklaina là công trình khai quật công phu nhất thủ phủ vùng Mycenae. Các cuộc khai quật được tiến hành trên và xung quanh tòa Cyclopean cho thấy một khu thượng lưu bao gồm các quảng trường, đường lát đá và các tòa nhà hành chính, với đại sảnh, hoặc hội trường lớn được sử dụng cho các dịp trang trọng, ở trung tâm. Nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy bên dưới khu vực này các đường ống bằng gốm sứ được dùng để phân phối nước ngọt, và một mạng lưới thoát nước thải phức tạp bằng đá.  Trong một số căn phòng, nhóm nghiên cứu tìm thấy các phần của những bức tường bích họa rực rỡ mô tả cảnh tàu thuyền, cá và con người. Dựa trên cách các tòa nhà và bức tường được xây dựng chồng lên nhau, nhóm cho rằng địa điểm này có thể đã trải qua những trận chiến từ năm 1800 đến năm 1200 trước Công nguyên (Một số bức tường bị sập và các tòa nhà bị đốt cháy cho thấy nơi đây đã trải qua nhiều giai đoạn xây dựng và phá hủy).  Trong một cái hố cạnh một tòa nhà, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một mảnh vỡ từ một văn bản Linear B bằng đất sét – dường như mô tả một giao dịch kinh tế, có niên đại khoảng năm 1350 trước Công nguyên. Tấm bảng đất sét là một trong những tài liệu cổ nhất liên quan đến giấy tờ hành chính ở Châu Âu.  Bên dưới một lùm cây ô liu, nhóm tiếp tục khám phá ra một khu phức hợp dân cư và buôn bán lớn – cung cấp những chi tiết quý giá về đời sống Mycenae truyền thống.  “Nếu chúng ta muốn tái tạo xã hội cổ đại và tìm hiểu tiến trình phát triển của nó, chúng ta không thể chỉ nhìn vào các di tích tráng lệ và lăng mộ”, TS. Cosmopoulos giải thích. “Chúng ta cần tìm kiếm để hiểu hơn về cuộc sống hằng ngày của người xưa.”  Phân tích đồ gốm ở Iklaina cho thấy rằng, bên cạnh một số sản phẩm gốm được người cổ đại trao đổi qua lại khắp Địa Trung Hải, các thợ thủ công địa phương còn tự làm đồ gốm từ đất sét trong vùng. Qua quá trình nghiên cứu xương động vật và thực vật đã cháy thành than, nhóm cho biết bò, cừu và lợn, ô liu và nho đóng vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp địa phương. Việc phát hiện ra các đồ tạo tác đặc biệt như trục xoay bằng đất sét giúp họ xác định rằng nơi đây từng có xưởng vải. Tại một số khu vực, nhóm nghiên cứu tìm thấy những bức tượng nhỏ cùng với xương đã cháy, cho thấy đây có thể là địa điểm thực hành nghi lễ tâm linh.  Qua quá trình khai quật các lớp kiến trúc đã từng bị phá hủy, các nhà khoa học cho rằng Iklaina có thể đã từng là một vùng đất tự trị, trước khi bị các vị vua xứ Pylos thôn tính và chiếm đóng.  Sự tham gia của cộng đồng  Nhóm nghiên cứu đã tiến hành dự án Iklaina nhờ sự tài trợ của Hiệp hội Khảo cổ học Athens, với sự chấp thuận Bộ Văn hóa và Thể thao Hy Lạp. Nhóm quy tụ các nhà nghiên cứu – có chuyên môn về thời đại đồ đồng Địa Trung Hải, gốm sứ, kiến ​​trúc, phân tích phân tử sinh học. , địa hóa, viễn thám và bảo tồn hiện vật, cùng các lĩnh vực khác. Một đợt khai quật thường kéo dài bốn tuần, từ 15 đến 20 nhà khảo cổ học chuyên nghiệp thuộc Hoa Kỳ, Hy Lạp và Canada sẽ làm việc cùng với những người lao động được thuê từ làng Iklaina. TS. Deborah Ruscillo, trợ lý giám đốc dự án và là chuyên gia về xương động vật và chế độ ăn cổ đại, phụ trách điều phối dự án.  Sinh viên cũng đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc khai quật, có thể xem những đợt khai quật này là “trường học thực địa” cho những người muốn trở thành nhà khảo cổ học chuyên nghiệp, TS. Cosmopoulos chia sẻ. Ông và các chuyên gia của mình “muốn giúp các sinh viên hiểu được sợi dây kết nối giữa các nền văn hóa cổ đại với xã hội hiện đại, và thậm chí là với cuộc sống của chính họ,” ông ấy nói thêm.    Cuộc khai quật khảo cổ học tại Iklaina diễn ra giữa những lùm cây ô liu, cách ngôi làng hiện tại vài dặm. Ảnh: Matt Stirn  Ngay từ đầu, nhóm đã gắn kết ngôi làng Iklaina hiện đại với cuộc khai quật bằng cách thuê người dân địa phương làm việc tại địa điểm và mời người dân đến xem các hố khai quật. Đối với một số người, đây là cơ hội để thu hút các khách du lịch đến vùng đất, từ đó giúp tăng thu nhập của họ; song nhiều người khác thì bị mê hoặc với thành phố cổ kính và cảm thấy được kết nối với tổ tiên mình.  “Thật tuyệt vời khi chứng kiến dân làng đón nhận khu di tích cổ xưa như một phần của cộng đồng”, TS. Ruscillo chia sẻ. Theo bà, “sự sôi động đã trở lại với vùng đất này”.  Mỗi mùa đông, khi các nhà nghiên cứu trở về nhà và hoạt động khai quật tạm dừng, dân làng Iklaina sẽ đứng trông coi địa điểm, bảo vệ nó như một phần mở rộng của cộng đồng mình.  TS. Cosmopoulos cho biết ông ấp ủ hy vọng biến thị trấn cổ thành một bảo tàng ngoài trời, nơi mọi người có thể tham quan và tìm hiểu về văn hóa Mycenae. “Lịch sử thuộc về tất cả mọi người”, TS. Ruscillo đồng tình. “Khảo cổ học sẽ đánh mất giá trị của mình nếu chúng ta không thể chia sẻ nó với những người khác – và một trong những điều quan trọng nhất mà chúng tôi có thể làm là khuyến khích mọi người cùng nhau quan tâm đến lịch sử và thực sự tôn trọng lịch sử.”  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  Unearthing Everyday Life at an Ancient Site in Greece  Archaeologies of the Greek Past (Linear B)    Author                .        
__label__tiasang Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Ba nhân tố làm nên thành công      Các khu vực đổi mới sáng tạo mới nổi trên khắp thế giới dù được hình thành theo nhiều cách khác nhau đều có điểm chung, đó là chứa đựng ba yếu tố: văn hóa bao dung với sự thất bại, tinh thần thượng tôn pháp luật của người dân, và mọi chính sách đều đặt con người làm trung tâm.      VĂN HÓA: Đổi mới tư duy của các nhà hoạch định chính sách và người dân về văn hóa đổi mới sáng tạo, khuyến khích mọi người dám suy nghĩ khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, dám mạo hiểm và chấp nhận thất bại.  Văn hóa đổi mới sáng tạo là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của một hệ sinh thái khởi nghiệp lành mạnh. Cần hình thành và nuôi dưỡng văn hóa đổi mới sáng tạo từ trong nhà trường, gia đình và xã hội. Đưa chương trình đào tạo về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vào trong hệ thống giáo dục quốc dân, thậm chí giáo dục văn hóa đổi mới sáng tạo từ cấp bậc tiểu học và triển khai các khóa đào tạo về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên năm cuối các trường đại học. Gia đình và xã hội cổ súy cho người trẻ dám bước ra khỏi vùng an toàn và theo đuổi các giấc mơ nghề nghiệp “không tưởng” thậm chí “điên rồ” ở thời hiện tại để có thể thành công, trở thành hiện thực đẹp trong tương lai; và quan trọng hơn, cần có văn hóa biết chấp nhận và bao dung với sự thất bại, không cười cợt, kỳ thị người thất bại để họ đủ tự tin vượt qua thất bại để đến đích thành công.  Hơn ai hết, các nhà hoạch định chính sách về đổi mới sáng tạo cần thấu hiểu các triết lý sâu sắc, rằng vùng an toàn là kẻ thù của sáng tạo, rằng cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra tương lai, “Tương lai thuộc về những người biết tin vào vẻ đẹp của những giấc mơ” (Eleanor Roosevelt) và “Để có được sự thay đổi thực sự, chúng ta cần có lòng dũng cảm để thấy dễ chịu với những gì không dễ chịu, thấy thân quen với những gì không thân quen” (Cheryl Yeoh -MaGICMalaysia).  Khi được hỏi về ba yếu tố làm nên thành công của hệ thống khoa học và công nghệ Phần Lan, ông Mikko Kosonen, Chủ tịch Quỹ SITRA Phần Lan, cho rằng, đó là tự do học thuật, năng lực của đội ngũ R&D, và lòng dũng cảm của các nhà khoa học dám thay đổi thực tại vì một tương lai tốt đẹp hơn cho cộng đồng.  NIỀM TIN: Hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lành mạnh nơi niềm tin là một trong những nhân tố cốt lõi quyết định thành công.  Để gây dựng niềm tin, các nhà hoạch định chính sách cần lưu ý tới ba điều kiện cần, một là tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội, đối xử công bằng và bình đẳng với các doanh nghiệp khởi nghiệp, không phân biệt khu vực công lập hay tư nhân; hai là, sự minh bạch và liêm chính trong hệ thống quản lý hành chính công; và cuối cùng nhưng quan trọng nhất, đó là tinh thần thượng tôn pháp luật trong xã hội, ý thức tôn trọng pháp luật và thi hành kỷ cương, pháp luật như một chuẩn mực đạo đức chung của mọi người dân, mọi tổ chức.  Cựu Thủ tướng Phần Lan Esko Aho chia sẻ, niềm tin là một trong những giá trị cốt lõi tạo nên thành công của đất nước Phần Lan. Ông đưa ra ví dụ rất đời thường, trong một lần ông lái xe đưa người bạn Nga đi trên cung đường đèo quanh co phía Bắc Phần Lan, dù không quan sát được người đi trên làn đường đối diện do khuất tầm nhìn, nhưng ông vẫn tự tin giữ tốc độ khi đến khúc ngoặt. Người bạn Nga thảng thốt hỏi Aho rằng ông không sợ bị đâm bởi người đi ngược chiều sao? Không có lý do gì để sợ, ông bình thản trả lời, đơn giản vì ông có niềm tin chắc chắn rằng, người ngồi sau vô lăng ở làn đường đối diện, cũng như ông, dù không nhìn thấy nhau nhưng sẽ luôn đi đúng làn của mình theo quy định của luật giao thông đường bộ. Tôn trọng pháp luật như một lẽ tự nhiên, cũng chính là bảo vệ tính mạng cho người khác và cho chính mình.  CON NGƯỜI: Con người – người dân, cần được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chính sách, mọi hệ thống đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.  Lợi ích của người dân là đích đến cuối cùng của mọi chính sách quốc gia. Khi thiết kế mới hoặc sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật hiện hành, nếu các nhà hoạch định chính sách biết đặt mình vào vị trí của người dân và doanh nghiệp, lắng nghe tiếng nói của các đối tượng chịu sự tác động của chính sách, pháp luật, thì chắc chắn sẽ có được chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.  Việc đối thoại một cách thực chất với những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách là nền tảng cho tính khả thi, tính nhìn trước và tính bền vững của chính sách. Có nhiều phương pháp hiệu quả hơn khi trưng cầu ý kiến người dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (tổ chức các diễn đàn đối thoại trực tiếp, xác định rõ các nhóm vấn đề cần xin ý kiến,…) hơn là chỉ đơn thuần đăng tải một cách hình thức các dự thảo văn bản trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị.  Xuất phát từ quan điểm tiếp cận vì con người, các nhà hoạch định chính sách đổi mới sáng tạo của Phần Lan đã diễn giải khái niệm PPP (Public Private Partnership – hợp tác công tư) thành hợp tác công tư vì con người (Public Private People), đặt người dân và quyền lợi của người dân vào trung tâm của chính sách và pháp luật. Họ cho rằng, giảm thiểu hành chính hóa hoạt động đổi mới sáng tạo bằng pháp luật thông qua bãi bỏ các văn bản không cần thiết cũng quan trọng, nhưng việc có được chính sách thông minh còn quan trọng hơn. Quan tâm tới thực chất mục tiêu phát triển, xuất phát từ người dân và vì chất lượng cuộc sống của người dân, quan trọng hơn việc chạy theo các chỉ số xếp hạng toàn cầu, vì phương pháp thống kê xếp hạng này chỉ mang tính tham khảo, và trong rất nhiều trường hợp, còn gây tranh cãi về mức độ tin cậy của các số liệu.  Các nhà hoạch định chính sách Phần Lan không ngần ngại nêu ví dụ điển hình về chính sách thông minh và hàm chứa triết lý đổi mới sáng tạo của người Thụy Điển. Năm 2009, Wolkswagen Thụy Điển và hãng quảng cáo DDB Stockholm đã xây dựng một chiến dịch gọi là “Lý thuyết niềm vui” (The fun theory) với quan niệm, tạo ra điều khác biệt thú vị có thể làm thay đổi hành vi của người dân theo hướng lành mạnh hơn, thay vì áp dụng các quy định pháp luật hay chế tài hà khắc. Để khuyến khích người dân đi cầu thang bộ lên xuống các ga tàu điện ngầm, chính quyền thành phố Stockholm đã thí điểm giải pháp biến các bậc thang bộ thành bàn phím dương cầm ở ga tàu điện ngầm Odenplan, Stockholm. Kết quả là phần lớn người dân chọn giải pháp đi cầu thang bộ tạo ra các âm thanh vui tai hơn là dùng thang máy. Tác động tích cực của giải pháp thú vị này là tiết kiệm năng lượng và quan trọng hơn, nâng cao thể trạng sức khỏe của người dân. Như vậy, chính sách có thể được thể chế hóa bằng pháp luật để điều chỉnh hành vi của người dân, nhưng chính sách thông minh và vì con người có thể làm thay đổi hành vi của người dân theo hướng tích cực, tự nguyện thông qua các giải pháp đổi mới sáng tạo thực sự truyền cảm hứng.  ——-  *Giám đốc Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2).    Author                Trần Thị Thu Hương        
__label__tiasang Hệ sinh thái: Hãy quên bảo vệ sáng chế đi và hãy nghĩ về sáng tạo giá trị      Khi nhìn vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo châu Âu, chúng ta hãy tìm kiếm các nỗ lực để các công ty nghĩ lại về cách họ sử dụng kiến thức.      Các nhà đổi mới sáng tạo khắp châu Âu đều có ám ảnh không lành mạnh với các văn bằng sáng chế, theo một số quan chức Hội đồng châu Âu. Họ muốn chúng ta nghĩ lại về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tăng thêm giá trị từ đó hơn.  “Chúng ta đang cố gắng thay đổi mô thức về giá trị của hiểu biết”, Jean-Eric Paquet, giám đốc phụ trách nghiên cứu của Hội đồng châu Âu, cho biết trong một cuộc thảo luận về chủ đề này vào tuần qua. Kết thúc phiên thảo luận này, văn phòng của ông đã thiết lập một nhóm làm việc để soạn thảo một số nguyên tắc hướng dẫn mới về giá trị của hiểu biết, dự kiến sẽ được hoàn tất vào cuối năm 2022.  Kjell Håkan Närfelt, cố vấn chiến lược chính của cơ quan đổi mới sáng tạo Thụy Điển Vinnova và là thành viên của nhóm làm việc, đưa ra những thành phần chính của việc chuyển đổi mô thức này. Đầu tiên, cần phải tập trung vào việc tạo ra giá trị. “Đó là kết nối, sáng tạo và nắm bắt các lợi ích cho các bên liên quan trên cơ sở sử dụng vốn trí tuệ và tài sản trí tuệ”, ông nói.  Hãy giữ lấy tài sản trí tuệ của bạn  Các tài sản trí tuệ mà ông nêu có nghĩa là tất cả các dạng sản phẩm không thể cầm nắm được từ các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Nó không bao gồm các quyền về tài sản trí tuệ như các văn bằng sáng chế và bản quyền mà phạm vi rộng hơn như knowhow, quá trình xử lý, phương pháp, cách thức, thuật toán, sách hướng dẫn mà không phải lúc nào cũng được pháp luật bảo vệ. “Nếu anh tập trung vào quyền bảo hộ tài sản trí tuệ và mã hóa hiểu biết, năng lực của anh trong sáng tạo giá trị rõ ràng bị giới hạn khá nhiều”, Närfelt giải thích về quan điểm của mình.  Hơn nữa, ông nói, những tài sản trí tuệ này cần được quản lý. Cái chính ở đây là tài sản được kiểm soát chứ không chỉ đơn thuần là bảo vệ chúng bằng pháp luật. “Anh không kiếm được tiền hay giá trị trong những phiên tòa; anh chỉ kiếm được nó bằng việc tương tác với các đối tác, khách hàng và xã hội”, ông nói. Ví dụ, việc xuất bản các kết quả nghiên cứu phải được xem như một cách kiểm soát tài sản trí tuệ, kêu gọi claiming credit for it. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu trao lại hiểu biết chuyên môn, điều cốt lõi cho những khai thác tài sản trí tuệ trong tương lai.  Và cuối cùng, các tổ chức phải coi khởi nghiệp như một phương pháp khai thác giá trị tài sản trí tuệ, theo cùng cách mà phương pháp khoa học sáng tạo ra hiểu biết. “Khởi nghiệp không chỉ là thiết lập nên các công ty”, Närfelt cho biết.  Ông Paquet kết luận rằng việc chuyển đổi mô thức này có thể không dễ dàng. “Rõ ràng là chúng ta cần một khung quản lý đủ tốt, các nguồn lực tốt và hướng dẫn tốt để thúc đẩy quá trình này diễn ra ổn thỏa”.  Mở ra một cánh cửa  Thông tin tốt cho Hội đồng châu Âu là giới học thuật, ít nhất là vậy, đã mở cửa đón nhận và làm theo những điều khác biệt so với trước đây. Một cuộc khảo sát các văn phòng chuyển giao công nghệ ở các trường đại học ở châu Âu mới được công bố vào tháng 2/2022 cho thấy, sự tập trung vào sáng chế thường dẫn đến việc thương mại hóa sản phẩm dễ dàng. Tuy nhiên, những cuộc trao đổi và phỏng vấn sâu những người làm trong các văn phòng chuyển giao công nghệ lại cho thấy, cần một sự thay đổi nữa là tương tác tốt hơn với giới công nghiệp với việc tập trung nhiều hơn vào việc tạo ra giá trị và khai thác tài sản trí tuệ.  Thông tin không vui cho Hội đồng châu Âu là sẽ mất thời gian để các hướng dẫn vượt được qua những rào cản có sẵn trong quá khứ vẫn làm hạn chế hoạt động của các văn phòng chuyển giao công nghệ. Cuộc khảo sát cho thấy các văn phòng này thường hoạt động thiếu nhiều nguồn lực kinh phí, nhân lực, vì vậy việc đăng ký văn bằng phát minh, sáng chế và bán nó rõ ràng là tất cả những gì họ có thể làm được. Có thể thấy rõ điều này qua các chỉ số về hiệu suất sử dụng từ thu nhập mà các sáng chế và cấp li xăng mang lại. Các thành viên của những văn phòng này thường phải ôm đồm mọi hoạt động của cả trường đại học nên không thể trông đợi vào việc có được những hiểu biết tỉ mỉ cần thiết để đưa ra những quyết định về giá trị của tài sản trí tuệ.  “Trong một công ty làm trong một lĩnh vực công nghiệp, anh có thể phải có nhiều nhân sự chỉ để làm việc về vấn đề thương mại hóa các sản phẩm trong một lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu”, Marcus Holgersson, phó giáo sư về quản lý tài sản trí tuệ tại trường đại học Công nghệ Chalmers (ảnh) và là một trong số các tác giả báo cáo, giải thích. “Trong một trường đại học, anh có một số lượng lớn các nhà khoa học có thể tạo ra nhiều đổi mới sáng tạo và sau đó là một nhóm nhỏ chuyên làm về chuyển giao công nghệ, những người phải có kiến thức am hiểu một phạm vi rộng về KH&CN để đủ khả năng thực hiện các đàm phán về nó. Thật khó vì đơn giản không thể có được một chuyên gia am hiểu mọi lĩnh vực như vậy”.  Một thách thức khác là thiếu kinh phí cho một công việc mới ở dạng chứng minh khái niệm như vậy (proof-of-concept work), vốn mới chỉ là nghiên cứu đến điểm giới công nghiệp hoặc các nhà đầu tư có thể quan tâm. Cuối cùng, về cơ bản các trường đại học ở một số quốc gia Đông Âu vẫn còn có những lĩnh vực công nghệ ở mức yếu, không có ngành công nghiệp ở địa phương cùng làm việc để thương mại hóa nó, và một vấn đề về pháp luật khi họ may mắn được những công ty nước ngoài quan tâm.  Những công ty spinoff dũng cảm  Ở cái nhìn đầu tiên, việc chuyển đổi mô thức mà Hội đồng châu Âu ưa thích dường như sẽ tạo ra một môi trường làm việc kém thân thiện với sự thiết lập các startup. Việc bảo vệ bản quyền tài sản trí tuệ về cơ bản coi đó là nền tảng cho quá trình thành lập công ty khởi nghiệp, và một điều kiện ban đầu để thu hút đầu tư. Nhưng Holgersson, người đã làm việc trong lĩnh vực tài sản trí tuệ và đầu tư mạo hiểm, nghĩ rằng mọi chuyện không dễ dàng như phân biệt trắng và đen. “Các nhà đầu tư mạo hiểm thường quan tâm nhiều hơn đến đội ngũ nhân sự. Họ thường nói: đội ngũ đầu tiên, sau đó là ý tưởng và sau nữa có thể làm các quyền bảo vệ sáng chế”.  Việc đón nhận thêm nhiều nhà khoa học vào quá trình chuyển giao công nghệ có thể giúp xây dựng đội ngũ cho khía cạnh này và giúp giải quyết vấn đề thiếu hiểu biết chuyên môn trong các văn phòng chuyển giao công nghệ. Một số trường đại học mà ông Holgersson đề cập đến trên thực tế đang làm việc này trong chính các khung chương trình hậu tiến sĩ. “Sau khi làm việc trong một nhóm nghiên cứu trong thời kỳ làm nghiên cứu sinh, ví dụ như vậy,  nhiều nghiên cứu sinh tiến sĩ thường chuyển đến làm việc trong một công ty khởi nghiệp được thành lập trên cơ sở những sáng chế do chính nhóm nghiên cứu đó tạo ra. Sau đó họ có một hoặc hai năm tìm tài trợ trong chính không gian thuần túy học thuật post-doc và một vị trí thuần túy công nghiệp để xem xét là liệu có tiềm năng tạo ra một doanh nghiệp không”. Đây là cách sử dụng hữu hiệu các nguồn lực và cách đảm bảo các công ty spinoff có hiểu biết được bảo hộ bản quyền từ thời điểm bắt đầu.  Đó có thể là việc tập trung vào các hoạt động tạo ra giá trị như một sự khuyến khích tạo ra công ty spinoff, như một trong những chuyên gia chuyển giao công nghệ trong nhóm nghiên cứu Holgersson kể lại. “Anh muốn thỏa thuận tốt nhất có thể nhưng thỏa thuận tốt nhất không phải bao giờ cũng đem lại nhiều tiền nhất”, vị chuyên gia giấy tên này nói. “Thi thoảng là sự ủng hộ một công ty khởi nghiệp mới với một thỏa thuận li xăng huwad hẹn. Điều này có thể dẫn đến những hợp tác có thể dẫn đường tới những cơ hội tài trợ mới trong việc hợp tác với các nhà nghiên cứu trong trường đại học”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/ecosystem-forget-patent-protection-think-value-creation  https://op.europa.eu/en/publication-detail/-/publication/cfa4b8b0-99d7-11ec-83e1-01aa75ed71a1/language-en    Author                .        
__label__tiasang Hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ vận hành tương đồng với Trung Quốc      Vào mỗi dịp tết cổ truyền, các hoạt động giao dịch trong các doanh nghiệp và startup quy mô quốc tế của Trung Quốc đều giảm nhiệt, nhưng ở Ấn Độ thì ngược lại.       Trong hai tuần qua, liên tiếp những nguồn vốn lớn đổ vào thị trường khởi nghiệp Ấn Độ. Sequoia Capital India vừa huy động được một quỹ khổng lồ lên tới 920 triệu USD, chỉ một năm sau khi kết thúc vòng gọi vốn 720 triệu USD. Norwest Venture Partners, hãng đầu tư mạo hiểm hoạt động tại Ấn Độ, Israel và Mỹ, cũng vừa huy động được một quỹ trị giá 1,2 tỉ USD.   Huy động nguồn quỹ đầu tư lớn là một xu hướng quan trọng. Các loại hình startup đã và đang nổi lên ở Ấn Độ có nhiều nét tương đồng với các loại hình tồn tại ở Trung Quốc. Giờ đây, khi nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển chậm lại, Ấn Độ trở thành điểm đến tiềm năng thứ hai trong số các thị trường mới nổi.  Những startup có khả năng thành công nhất là những startup biết linh động tùy chỉnh các dịch vụ phù hợp với đặc thù thị trường Ấn Độ, chẳng hạn như Jungbo, một startup cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách/ hàng hóa bằng xe kéo theo yêu cầu.  Hơn nữa, ở Ấn Độ đang xuất hiện ngày càng nhiều những startup trị giá tỉ đô. Shopclues, startup về thương mại điện tử của Ấn Độ đã kết thúc vòng gọi vốn series D và huy động được 1,1 tỉ USD từ các quỹ đầu tư GIC, Tiger Global và Nexus Venture Partners.  Như vậy, Ấn Độ đã có 7 startup “kỳ lân”, tuy vẫn còn kém xa so với con số 21 startup “kỳ lân” của Trung Quốc nhưng rõ ràng thị trường startup ở Ấn Độ đang khởi sắc rất nhanh.  Các công ty công nghệ lớn của Trung Quốc cũng đang tham gia đầu tư vào các startup Ấn Độ. Mới đây startup thương mại điện tử Paytm của Ấn Độ đã nhận được khoản đầu tư trị giá khoảng 680 triệu USD sau một vòng gọi vốn do Ant Financial, một công ty thành viên của Alibaba, dẫn đầu. Khoản đầu tư này được dùng để thành lập ngân hàng Paytm Payment, một động thái theo sau những hoạt động mở rộng kinh doanh riêng của Alibaba.  Một dấu hiệu khác cho thấy sự khởi sắc trong môi trường khởi nghiệp Ấn Độ là hoạt động mua lại và sáp nhập đang diễn ra sôi động giữa những đối thủ cạnh tranh cũ – đây cũng là hiện tượng đã và đang diễn ra ở Trung Quốc. Chẳng hạn, gần đây ứng dụng đặt phòng khách sạn giá rẻ Oyo Rooms do tập đoàn đa quốc gia Nhật Bản Softbank đỡ đầu đã tiến hành mua lại Zo Rooms, chuỗi khách sạn giá rẻ được quỹ Tiger Global Management ở New York tham gia góp vốn.  Còn một xu thế nữa cần quan sát trong thời gian tới: 2015 là năm kỷ lục trong hoạt động đầu tư mạo hiểm ở châu Á nói riêng và toàn thế giới nói chung. Khối lượng vốn đầu tư của châu Á đạt gần 40 tỉ USD trong khi khối lượng toàn cầu đạt mức đỉnh điểm 128,5 tỉ USD.  Hoạt động đầu tư mạo hiểm ở cả Trung Quốc và Ấn Độ đều có sự suy giảm trong quý IV/2015, một phần do những lo ngại về tình trạng “quá nóng” trong hệ sinh thái khởi nghiệp của hai nước. Trong quý IV vừa qua, 114 startup Ấn Độ kêu gọi được 1,5 tỉ USD, giảm 18% so với quý trước. Tương tự, vốn đầu tư vào các startup Trung Quốc cũng giảm 29% xuống còn 7,2 tỉ USD trong quý IV.  Chính phủ Ấn Độ cũng vừa ban hành những quy định mới để hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp của nước này. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã công bố nhiều chương trình khác nhau để thực thi ý định này, trong đó bao gồm một quỹ hỗ trợ 1,5 tỉ USD và một loạt các quy định giảm thuế dành cho các nhà đầu tư và các công ty. Chẳng hạn, các startup được miễn thuế thu nhập trong 3 năm đầu hoạt động, miễn thuế lãi vốn, chi phí đăng ký bằng sáng chế thấp hơn và quy trình xét duyệt nhanh hơn, và được hoàn lại 80% chi phí đăng ký bằng sáng chế.  Cộng đồng khởi nghiệp Ấn Độ đã tỏ ra vui mừng trước những công bố của chính phủ. Bên cạnh rất nhiều các khoản đầu tư mà các startup nhận được, những động thái trêm của chính phủ cũng được kỳ vọng là sẽ thúc đẩy hơn nữa sự phát triển trong lĩnh vực khởi nghiệp. Với xu hướng vận động tương tự như Trung Quốc, song Ấn Độ dường như đang tạo được những động lực phát triển vững chắc và nhanh hơn để đưa Ấn Độ trở thành một phần quan trọng trong môi trường khởi nghiệp thế giới.  Nguồn: http://www.forbes.com/sites/rebeccafannin/2016/02/15/indias-startup-ecosystem-mimics-action-in-china/#64be43a92732  http://www.vcpost.com/articles/116341/20160216/indias-startup-world-is-like-that-of-china-gaining-more-investment-when-china-is-slowing-down.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ sinh thái khởi nghiệp rút gọn      Gần đây khi cụm từ khởi nghiệp trở thành sốt trên các diễn đàn, mặt báo, trong chương trình hành động và chính sách của rất nhiều cơ quan, tổ chức, thì đi kèm với nó là những phân tích về thực trạng non kém của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam và những nỗ lực nhằm phát triển nó. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một khung tham chiếu về cấu phần của hệ sinh thái khởi nghiệp do Founder Institute (Mỹ) đưa ra như một bản thử nghiệm và mang tính chất tham khảo. Khung tham chiếu này cho thấy bức tranh chung của khởi nghiệp qua các giai đoạn, kèm theo đó là những đơn vị, tổ chức đang hỗ trợ hoặc đóng góp vào sự phát triển của khởi nghiệp tương ứng với từng giai đoạn đó.        Hệ sinh thái khởi nghiệp rút gọn của Founder Institute   1. Các giai đoạn hỗ trợ startup  IDEA-STAGE (giai đoạn lên ý tưởng)  Ở giai đoạn này, các bạn trẻ/doanh nhân tương lai sẽ được truyền cảm hứng, được đào tạo hoặc học những kiến thức, thực hành, phát triển kỹ năng và thẩm định ý tưởng cũng như học cách xây dựng đội nhóm và bước đầu phát triển sản phẩm.   Trong giai đoạn này, ba nội dung quan trọng được đề cập là:  Ai đang truyền cảm hứng để các bạn chọn con đường khởi nghiệp (báo chí, truyền thông, trường đại học, hay chính là các sự kiện mang tính truyền cảm hứng từ những doanh nhân thành đạt?)  Ai đang đóng vai trò giáo dục đào tạo để các bạn được trang bị những kỹ năng, thực hành và phát triển ý tưởng của mình? (ở đây, không chỉ có vai trò của các trường học mà còn có cả những trường và công ty đào tạo kinh doanh v.v).  Ai đang hỗ trợ các bạn thẩm định ý tưởng? Việc thẩm định ý tưởng đòi hỏi bạn phải có một đội, và những nguồn lực, vậy sự kiện nào hay tổ chức nào đang giúp bạn tìm được thành viên nhóm và cùng nhau triển khai dự án?  LAUNCH-STAGE (giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường)  Ở giai đoạn này, các doanh nhân sẽ bước đầu xây dựng và chính thức hóa công ty, phát triển sản phẩm, lấy phản hồi của khách hàng để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.   Launch Stage gồm 3 bước:  Bắt đầu: cần có kiến thức về luật pháp, tài chính và chỗ ngồi cho startup. Vậy ai đang cung cấp những dịch vụ chuyên sâu này?  Phát triển: Việc chính thức phát triển công ty đòi hỏi hình thành hệ thống kế toán, nhân sự (ở cấp độ đơn giản), và sự ươm mầm từ các chương trình vườn ươm và cố vấn khởi nghiệp  Tung sản phẩm ra thị trường: sự xuất hiện của các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, cố vấn hoặc cấp vốn mồi đóng vai trò quan trọng cho sự bùng nổ của startup. Những sự kiện kết nối, hướng dẫn startup thuyết trình, gặp gỡ nhà đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng với startup.   GROWTH-STAGE (giai đoạn tăng trưởng)  Ở giai đoạn này, các khởi nghiệp chứng tỏ được bản thân, được cộng đồng ghi nhận và mở rộng quy mô. Đây chính là giai đoạn cần đến các nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư thiên thần, đầu tư mạo hiểm và hỗ trợ networking.   Khi đã được ghi nhận bởi thị trường, startup muốn tiến những bước xa hơn phải thiết lập quan hệ tốt hơn với các nhà đầu tư, tìm kiếm các nhà sáng lập mới để bổ sung vào đội ngũ. Những sự kiện, mạng lưới và tổ chức hỗ trợ kết nối nhà đầu tư đóng vai trò sống còn trong giai đoạn này. Một môi trường có sẵn những nhà đầu tư chủ động tìm đến startup thực sự sẽ là cơ hội lớn cho các startup và tiết kiệm nguồn lực cho họ rất nhiều. Ngược lại, khi thị trường còn thiếu vắng những nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc sự thiếu hiểu biết xuất phát từ cả hai bên thì cảnh tượng startup gõ cửa nhà đầu tư sẽ vẫn tồn tại và chứng tỏ một thị trường còn đang ở giai đoạn sơ khai.    Ở giai đoạn cấp vốn, không ai khác nhà đầu tư thiên thần, các quỹ tài chính tín dụng vi mô và các quỹ đầu tư mạo hiểm là những người chơi và hỗ trợ chính cho các startup.   Vấn đề tăng trưởng đòi hỏi sự mở rộng về cả quy mô vật chất và nhân sự. Chỗ làm việc, con người, cơ cấu tổ chức đều cần có sự điều chỉnh. Câu hỏi đặt ra là ai trong hệ sinh thái khởi nghiệp đang hỗ trợ/cung cấp những dịch vụ về chỗ ngồi, hay chương trình tăng tốc phục vụ tăng trưởng? Đội ngũ tư vấn và huấn luyện viên cao cấp có sẵn hay không?   2. The Supporters (những người hỗ trợ)  Để mỗi bước đi của khởi nghiệp diễn ra suôn sẻ hơn, mọi hệ sinh thái khởi nghiệp đều cần những người hỗ trợ có đủ năng lực và nhiệt huyết.   EVANGELISTS (người truyền giáo)  Đó chính là những doanh nhân thành đạt, họ không chỉ mang sứ mệnh dẫn đường, truyền cảm hứng mà còn đóng vai trò khai sáng cho các startup nhờ những trải nghiệm trên thị trường họ đã có. Họ cũng là người đôi khi kéo các ý tưởng trở về mặt đất để các startup suy nghĩ thực tế hơn và lường trước những vấn đề khó khăn có thể gặp phải khi khởi nghiệp. Ở giai đoạn này, nhiều người nhấn mạnh câu chuyện thành công, song trên thực tế, việc khuyến khích chấp nhận thất bại và học từ thất bại cũng là một cách làm tốt để dần xây dựng một tư duy tích cực và đúng đắn trong khởi nghiệp  GOVERNMENT (chính phủ)  Các tổ chức công đóng vai trò quan trọng trong cuộc chơi khởi nghiệp, họ không chỉ tạo khung chính sách mà còn hỗ trợ các cộng đồng khởi nghiệp đặc biệt trong giai đoạn hai. Mặt khác, chính phủ không nên là người xây mà nên là người phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.   TALENT (nhân tài)  Chẳng doanh nghiệp nào sống sót nếu thiếu đi những nhân tài. Không chỉ các trường đại học, viện nghiên cứu mà cả những nhà tuyển dụng đều cần thu hút và nuôi dưỡng nhân tài cho chính sự phát triển của mình. Đó có lẽ là lý do rất nhiều trường đại học đang phát triển những vườn ươm khởi nghiệp của riêng mình. Song trên thực tế, rất nhiều vấn đề được đặt ra ở Việt Nam, ví dụ, họ có xu hướng làm tất cả trong một, có nghĩa là tự xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp nhỏ ngay trong trường/đơn vị mình. Khả năng liên kết kém giữa các cấu phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp khiến năng lực của nhiều đơn vị không có sự cải thiện và chồng chéo, không tận dụng được thế mạnh của những đơn vị sẵn có trong hệ sinh thái.   3. Sản phẩm cuối cùng: Những câu chuyện thành công   Để có một câu chuyện thành công cần rất nhiều thời gian. Sản phẩm của một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh chính là những thành công của startup. Người lãnh đạo của những startup thành công rất nên trở thành người truyền giáo. Hãy quan sát trong hệ sinh thái khởi nghiệp những câu chuyện thành công để điền vào phần này trong khung hệ sinh thái khởi nghiệp.  Cuối cùng, thay vì một ai đó trong hệ sinh thái khởi nghiệp là người sẽ xây dựng nó, mỗi thành phần hãy nhìn vào vai trò và sự hiện diện của mình để làm tốt nhất những gì mình đang làm và chủ động hợp tác với những cấu phần khác. Đơn giản bởi vì, hệ sinh thái đồng nghĩa với sự tự nhiên và bền vững. Không ai xây hệ sinh thái của rừng Amazon, quy định kích cỡ của các loài cây, hay ra lệnh cây này phải che chở cho cây kia, nhưng trên thực tế, những cái cây sẽ tìm cách sinh tồn, hỗ trợ và cạnh tranh lẫn nhau. Những yếu tố đất, nước của hệ sinh thái thực sự có thể duy trì bởi nỗ lực của tất cả những cấu phần trong đó.   Tham khảo: http://fi.co/canvas_template         Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Hệ thống cảm biến dự đoán cú ngã của người già      Trong tương lai, các mạng lưới cảm biến có thể “dịch” các dữ liệu về chuyển động của người già thành tin nhắn và gửi tới người nhà hoặc nhân viên điều dưỡng để báo cho họ biết mỗi khi người già gặp nguy hiểm.      Nghiên cứu được thực hiện tại một viện dưỡng lão ở Missouri, Mỹ, đã phát hiện ra những dấu hiệu ở người già, trong đó có việc giảm tốc độ đi lại một cách đột ngột, liên quan tới nguy cơ bị ngã trong ba tuần tiếp theo lên đến 86%. Những người già được theo dõi bởi hệ thống này có thể sống độc lập thêm 1,8 năm so với những người không được theo dõi do các bác sĩ được cảnh báo sớm để có những can thiệp kịp thời trước khi các chấn thương xảy ra.  Các nhà khoa học giờ đây đang nghiên cứu chế tạo các hệ thống thân thiện, trong đó phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) có thể “dịch” các dữ liệu về chuyển động thành tin nhắn gửi đến người thân hoặc nhân viên điều dưỡng khi người già gặp nguy hiểm hoặc vừa bị ngã.  Marjorie Skubic, giáo sư kỹ thuật máy tính và điện tử ở ĐH Missouri, Mỹ, là người đi đầu ứng dụng phương pháp nói trên tại một cơ sở dưỡng lão, cho biết: “Mục tiêu của chúng tôi là giúp người cao tuổi được sống tại nơi họ lựa chọn, trong nhiều trường hợp chính là ngôi nhà của họ, như người ta vẫn thường nói ‘tôi chỉ muốn sống tại nhà mình’.”  Tại hội thảo do Hiệp hội Mỹ vì sự Phát triển Khoa học (AAAS) tổ chức mới đây, Skubic đã thách thức suy nghĩ chung của nhiều người rằng những năm cuối đời của con người luôn gắn với sự đi xuống hết sức đáng buồn nhưng không tránh khỏi cả về tinh thần và thể chất. Nhưng theo bà, việc theo dõi liên tục và can thiệp kịp thời có khả năng “giữ cho đồ thị cuộc đời chạy ngang”, giúp con người sống khỏe mạnh và độc lập cho đến khi qua đời.  Với mục tiêu này, Skubic đã lắp đặt hệ thống cảm biến trong chính ngôi nhà của bố mẹ mình, Lou và Mary Ann, rồi thu thập dữ liệu về bất kỳ thay đổi bất thường nào trong hoạt động thể chất của họ.  Skubic nói, “nghiên cứu này hoàn toàn mang tính cá nhân đối với tôi. Mẹ tôi vừa tròn 93 tuổi còn cha tôi là 95. Họ sống trong nhà riêng tại South Dakota và không muốn chuyển đi đâu hết. Trong ngày sinh nhật lần thứ 93, tôi đã về và lắp đặt một mạng lưới cảm biến ở nhà riêng của họ.”  “Tôi hy vọng rằng bố mẹ mình sẽ ra đi trên giường, trong giấc ngủ, ngay trong ngôi nhà của họ’, bà nói thêm.  Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã theo dõi 23 người già sống độc lập ở viện dưỡng lão Tiger Place, mỗi người từ ba tháng đến bốn năm. Họ thu thập dữ liệu liên tục trên hệ thống kiểu Kinect, một thiết bị cảm biến ngoại vi thu nhập dữ liệu về chuyển động do Microsoft phát triển, cung cấp những hình ảnh âm bản, có thể dùng để theo dõi chuyển động hằng ngày của con người.   Nghiên cứu này chỉ ra rằng khi vận tốc di chuyển của một người giảm 5cm/giây trong vòng một tuần thì đó là dấu hiệu cho thấy nguy cơ bị ngã tăng lên – trên thực tế, 86% trường hợp đã bị ngã trong vòng ba tuần sau khi tốc độ di chuyển của họ giảm xuống. Ngược lại, những người già không thay đổi về vận tốc đi lại chỉ có 19,5% nguy cơ bị ngã.  Hệ thống này có thể nhận ra những vấn đề về sức khỏe như nhiễm trùng đường tiết niệu, nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng về thể chất và tinh thần ở người già nếu không được chữa trị, nhờ việc phát hiện thời điểm họ bắt đầu thường xuyên phải vào nhà vệ sinh hơn.  Theo giáo sư Skubic, những người tham gia nghiên cứu cảm thấy các màn hình giám sát chuyển động mang lại cho họ cảm giác yên tâm hơn là cảm giác đời tư bị xâm phạm hay giống như  điềm gở. “Một vài người đã chia sẻ họ cảm thấy an toàn hơn như thế nào”, bà cho biết.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2017/feb/17/robot-monitors-in-homes-of-elderly-people-can-predict-falls-says-study    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống cảnh báo ùn tắc giao thông dựa vào dữ liệu cộng đồng      Giải pháp Utraffic – Hệ thống cảnh báo ùn tắc giao thông dựa vào dữ liệu cộng đồng do nhóm tác giả ở Trường Đại học Bách khoa TPHCM xây dựng, giúp người dân xác định nhanh chóng, chính xác tình trạng giao thông khi cần di chuyển.    TPHCM có hệ thống hơn 1.000 camera giám sát giao thông. Tuy nhiên, hệ thống trên vẫn còn nhiều hạn chế do độ bao phủ còn thấp (chỉ triển khai được ở những nút giao thông quan trọng), chi phí đầu tư và bảo trì lớn. Một số công trình nghiên cứu nhằm giảm tải việc ùn tắc giao thông cũng đã được đưa vào triển khai, nhưng các chức năng xử lý của hệ thống còn thô sơ (chủ yếu dựa vào con người, camera), nên chưa đạt hiệu quả cao trong giải quyết tình trạng ùn tắng giao thông.        Theo PGS.TS Trần Minh Quang, Trường Đại học Bách khoa TPHCM, để có một hệ thống cảnh báo giao thông hiệu quả, thì dữ liệu cần được thu thập đầy đủ (thời gian, vị trí, hình ảnh, mức độ, lý do gây tắc nghẽn,…). Từ đó, mới cung cấp được tình trạng thông tin một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ cho người tham gia giao thông cũng như các cơ quan quản lý. Thông thường, dữ liệu này được kết hợp với các hệ thống quan sát cố định như cảm biến, camera, … Tuy nhiên, các hệ thống này tiêu tốn nhiều chi phí triển khai và bảo trì, phạm vi phủ sóng bị hạn chế, khó triển khai ở khắp mọi nơi trong Thành phố. Do đó, cần tận dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau từ cộng đồng để thu thập dữ liệu về giao thông một cách kịp thời, tại chỗ và đầy đủ hơn.    Hệ thống cảnh báo ùn tắc giao thông của nhóm tác giả thu thập dữ liệu quan đến giao thông từ cộng đồng thông qua ứng dụng trên điện thoại di động. Các dữ liệu này được lưu trữ, phân tích tại hệ thống máy chủ nhằm đánh giá tình trạng giao thông và cung cấp thông tin này cho người tham gia giao thông, nhà quản lý thông qua ứng dụng di động và ứng dụng web. Các thông tin giao thông được cập nhật thường xuyên để người dân có lộ trình di chuyển hợp lý, tránh đi vào những điểm ùn tắc nhiều.    Hệ thống gồm các thành phần chính như: Nguồn dữ liệu giao thông được thu thập từ nhiều nguồn (hệ thống camera, cổng thông tin giao thông, chia sẻ từ cộng đồng thông qua ứng dụng di động); Tổng hợp và phân tích dữ liệu (dữ liệu giao thông được cung cấp bởi cộng đồng sẽ được thu thập, xử lý, loại bỏ dữ liệu thừa, bổ sung dữ liệu thiếu,…); Phân tích và dự đoán tình trạng giao thông (sau khi dữ liệu được thu thập và tập hợp về trung tâm, bộ phận phân tích và dự báo lưu lượng giao thông sẽ phân tích các dữ liệu này nhằm đánh giá và dự đoán tình trạng giao thông một cách chính xác và kịp thời). Thông tin giao thông sẽ được cập nhật trên bản đồ giao thông của Thành phố và hiển thị trên ứng dụng di động hoặc trên trang web. Tại ứng dụng, người dùng còn có thể tìm kiếm địa chỉ, đóng góp dữ liệu về tình trạng giao thông cho hệ thống,…    Ứng dụng trên di động đang được triển khai miễn phí cho người dùng tại TPHCM tại địa chỉ https://bktraffic.com/home/mobile-app. Ứng dụng trên web tại địa chỉ: https://bktraffic.com/home/.    Giải pháp của nhóm tác giả vừa nhận được giải Ba Hội thi sáng tạo Khoa học kỹ thuật TPHCM lần thứ 26.    Phạm Hài    Author                phongvien        
__label__tiasang Hệ thống cảnh báo va đập Mobileye chính thức vào Việt Nam      Sau hai năm xuất hiện không chính thức trên thị trường Việt Nam, mới đây Mobileye đã được phân phối chính hãng và được lắp đặt bởi những nhân viên kỹ thuật đủ tiêu chuẩn do Mobileye chứng nhận.      Bộ sản phẩm Mobileye Shield+ bao gồm camera và các bộ hiện thị tín hiệu âm thanh và hình ảnh. Nguồn: Mobileye.com  Cảnh báo va đập chính xác đến …99%  Hãng Mobileye của Israel nổi tiếng với việc phát triển hệ thống hỗ trợ lái xe dựa trên thị giác và công nghệ không người lái dựa trên máy học, phân tích dữ liệu. Hệ thống cảnh báo va đập Mobileye là công nghệ được nhiều hãng ô tô  lựa chọn lắp đặt trên những dòng xe tối tân nhằm đảm báo an toàn cho người lái. Tính đến năm 2017, đã có hơn 15 triệu xe với 313 dòng xe được tích hợp Mobileye. Hãng cũng đã nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới như Singapore, hoàn thuế 70% cho các công ty vận tải lắp đặt Mobileye.  Công nghệ mắt thần do Mobileye phát triển có khả năng đưa ra các tín hiệu cảnh báo va đập với các đối tượng đang cùng di chuyển (như xe chạy phía trước, người qua đường…) bằng âm thanh, theo các cấp độ từ cảnh báo đến nguy hiểm.  Công nghệ của Mobileye dựa trên việc sử dụng các hệ thống thị giác quang học với các thuật toán phát hiện chuyển động qua các camera được lắp trên thân xe. Thiết bị hỗ trợ lái xe dựa trên camera có đặc điểm là có thể nắm bắt thông tin về màu sắc, cấu trúc, độ tương phản và hình ảnh chi tiết giúp người dùng dễ phân loại các vật cản được cảnh báo. Một lợi thế nữa của công nghệ dùng camera là có chi phí sản xuất rẻ so với các sản phẩm sử dụng radar, lidar,… Tuy nhiên, nhược điểm của camera  là nhạy cảm với điều kiện thời tiết bất lợi và sự thay đổi ánh sáng. Do công nghệ này phân tích chuyển động bằng việc xử lý dung lượng dữ liệu khổng lồ từ các bức ảnh chụp được nên đòi hỏi thuật toán phức tạp. Dù vậy, theo Mobileye, sản phẩm của công ty có khả năng nhận diện các phương tiện giao thông bao gồm cả xe máy, xe đạp và người đi bộ với tỷ lệ cảnh báo chính xác lên đến 99%.  Tháng Bảy vừa qua, Intel đã mua lại Mobileye trong một thương vụ M&A đình đám trị 15,3 tỷ USD.  Ở Việt Nam, Mobileye đã manh nha xuất hiện từ cách đây hai năm, và mới đây, sản phẩm này đã được phân phối chính hãng và được lắp đặt bởi những nhân viên kỹ thuật đủ tiêu chuẩn do Mobileye chứng nhận.  Tại hội thảo công nghệ “Giải pháp ngăn ngừa tai nạn giao thông và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội xe vận tải” do Đại sứ quán Israel phối hợp cùng Bộ Giao thông Vận tải tổ chức hôm 22/9, Giám đốc kinh doanh của Mobileye khu vực Đông Nam Á – Amer Subhi – đã trực tiếp thuyết trình và giới thiệu dòng tân tiến nhất của Mobileye – Mobileye Shield+ chuyên dụng cho xe tải, xe bus lớn với nhiều camera hơn nhằm hạn chế các điểm mù. Sản phẩm đã nhận được những đánh giá tích cực từ phía đại biểu tham dự tuy nhiên họ cũng chỉ ra những thách thức mà Mobileye phải đối mặt tại Việt Nam. TS Đàm Hoàng Phúc thuộc Viện Cơ khí động học, ĐH Bách khoa Hà Nội, cho rằng sản phẩm chỉ hoạt động tốt khi phù hợp với điều kiện giao thông đặc thù của từng nước, không thể bê nguyên sản phẩm dùng cho châu Âu về sử dụng tại Việt Nam, vì vậy hãng cần có những hiệu chỉnh thuật toán cho phù hợp. Giá cả cũng là điều được các đại biểu quan tâm. Mức giá của Mobileye hiện chưa được công ty phân phối là Tekurrency công bố, tuy nhiên được biết sản phẩm Mobileye dành cho dòng xe con với ít camera và ít tính năng hơn có giá khoảng gần 1.000 USD trên thị trường Mỹ và Úc, chưa tính phí lắp đặt.  Giải pháp công nghệ hỗ trợ lái xe tiên tiến – một thị trường tiềm năng  Cùng với Mobileye, trên thế giới còn có nhiều công ty khác cung cấp giải pháp công nghệ Hệ thống hỗ trợ lái xe tiên tiến (Advanced Driver Assistance System – ADAS) như Cognitive Technologies, Continental AG, Bosch, NVIDIA, Texas Intrument, Toshiba, Denso,… Bên cạnh đó, các hãng xe hơi cũng phát triển công nghệ ADAS của riêng mình. Những chức năng của công nghệ ADAS hiện nay rất đa dạng, từ hệ thống cảnh báo lái xe, hệ thống giám sát áp suất lốp, hỗ trợ đỗ xe, giám sát buồn ngủ và phát hiện những đối tượng ở điểm mù.  Công nghệ ADAS nhận được sự đánh giá cao của các nước trên thế giới trong hiệu quả giảm thiểu tai nạn giao thông. Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc khuyến khích các hãng xe bus lắp đặt ADAS. Tại Đài Loan, xe bus nội thành được chính phủ trợ cấp 49% khi tích hợp ADAS vào xe. Israel quy định các phương tiện trên 3,5 tấn đều phải lắp đặt hệ thống tránh va chạm.  Tại Việt Nam, ADAS còn nhiều tiềm năng phát triển. Nhu cầu xe ô tô tại Việt Nam vẫn tiếp tục tăng, đi kèm với đó là những lo ngại về sự mất an toàn giao thông, bởi vậy các sản phẩm cảnh báo nguy hiểm, hỗ trợ lái xe như ADAS sẽ được chào đón. Nếu giải quyết được bài toán mức giá vừa phải và có những điều chỉnh công nghệ thích hợp, ADAS – trong đó có Mobileye – sẽ khai mở được một thị trường tiềm năng.          Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Hệ thống cấp phát và quản lý mã OTP bằng công nghệ blockchain      Một nhóm các kỹ sư trẻ tại Trường ĐH Bách Khoa TP HCM đang phát triển ứng dụng blockchain để cấp phát mã xác thực OTP an toàn.      BOTP nâng cao tính bảo mật của việc xác thực hai yếu tố bằng công nghệ blockchain    Trong thời đại số hiện nay, việc đăng nhập – xác thực người dùng khi sử dụng bất cứ một ứng dụng hay dịch vụ internet – gần như là việc bắt buộc với mỗi người dùng để có thể truy cập đến tài khoản của mình và sử dụng các dịch vụ đó. Quá trình xác thực là cách để xác minh danh tính của bên tham gia là đáng tin cậy để sau đó tạo nên mối liên kết giữa hai bên. Trong số đó, xác thực dựa trên OTP là mô hình xác thực được sử dụng lâu đời nhất dưới hai hình thức phổ biến là SMS – OTP và Soft – OTP.    Tuy nhiên để xây dựng một hệ thống OTP riêng phù hợp khá tốn kém, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Nếu thuê bao các hệ thống OTP của những nhà cung cấp dịch vụ thì khách hàng buộc phải tin tưởng tính an toàn và tính trách nhiệm của nhà cung cấp đó. Nói cách khác, việc thuê bao hệ thống OTP như trên thường chỉ xác minh ở phía người dùng, và giả định nhà cung cấp dịch vụ là tin cậy. Do đó nếu xảy ra hợp nhà cung cấp dịch vụ đã xảy ra sự cố, ví dụ như bị tấn công từ bên ngoài hệ thống hay thao túng từ bên trong khiến cho mã OTP gặp sự cố thì khách hàng hoàn toàn thiếu công cụ để đảm bảo quyền lợi của bản thân.    Nhận thấy được hạn chế này, BOTP – Giải pháp cấp phát và quản lý mã OTP trên nền tảng Blockchain đã được nghiên cứu và phát triển để sử dụng song song với các giải pháp OTP hiện tại. Một blockchain sẽ được tích hợp phía dưới các hệ thống OTP truyền thống để đóng vai trò là đơn vị kiểm chứng trung gian. Bởi blockchain có tính minh bạch và bảo mật cao, dữ liệu do BOTP cấp phát sẽ là bản đối chiếu cuối cùng trong quá trình xác thực thông tin giữa các nhà cung cấp dịch vụ/đơn vị viễn thông và người tiêu dùng.    Theo các nhà phát triển, việc áp dụng giải pháp BOTP sẽ làm giảm gánh nặng cho đơn vị cung cấp dịch vụ trong việc triển khai các giải pháp xác thực cũng như tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ. Một đặc tính nổi bật khác của hệ thống là người dùng có thể tự thân thực hiện việc xác thực thông tin của mình mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào một trung tâm xác thực.    Trong bối cảnh các hệ thống ngân hàng điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử và ví điện tử đang xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường Việt Nam, việc áp dụng công nghệ OTP dựa trên blockchain có nhiều tiềm năng áp dụng cho những khách hàng cung cấp dịch vụ trên internet cần xác thực hai lớp.    Đội ngũ kỹ sư của BOTP, bao gồm các sinh viên nghiên cứu trẻ đến từ Trường ĐH Bách Khoa TP HCM, chia sẻ rằng họ đã nhận được nhiều chỉ dẫn kỹ thuật quý giá từ các giảng viên và đội ngũ cố vấn của công ty CP Vietnam Blockchain. Cho đến thời điểm hiện nay, nhóm khẳng định lộ trình nghiên cứu và phát triển ứng dụng là “khả thi khi triển khai thực tế”.    Tuy nhiên, một trong những thách thức họ phải đối mặt hiện nay là tiếp cận thị trường và nâng cao độ hiểu biết, tin cậy của người tiêu dùng vào ứng dụng công nghệ mới này. Trên thực tế, nhiều đơn vị trong nước chưa từng sử dụng hệ thống OTP hoặc đã quen với các dạng OTP truyền thống, trong khi công nghệ blockchain mới chỉ thực sự được biết tới tại Việt Nam trong vòng 4-5 năm trở lại đây. Chính vì vậy, những ứng dụng của nó sẽ cần thời gian để thị trường chấp nhận.    Để thúc đẩy hoàn thiện cho sản phẩm, BOTP đang triển khai thí điểm tại một số doanh nghiệp quy mô nhỏ trước khi định hướng tiếp cận toàn thị trường công nghệ – kỹ thuật số của Việt Nam trong những năm tiếp theo.    Khúc Liên     Author                .        
__label__tiasang Hệ thống cho thuê xe đạp thông minh chiến thắng tại cuộc thi “Go Green In the City”      Vượt qua gần 700 đề tài của sinh viên 30 trường đại học trên cả nước, giải pháp hệ thống cho thuê xe đạp thông minh của hai sinh viên Trần Anh Hằng Nga và Trịnh Hoài Nam (Trung tâm Xuất sắc, ĐH Bách khoa, ĐH Đà Nẵng) đã giành giải nhất cuộc thi “Go Green In the City” (Giải pháp xanh cho thành phố).     Đề tài có tên “Hệ thống giao thông thân thiện với môi trường” này cũng được chọn đại diện cho Việt Nam dự chung kết cuộc thi “Go Green In the City” khu vực Đông Á vào tháng tư tới.  Tham dự cuộc thi này, Hằng Nga và Hoài Nam mong muốn tìm ra giải pháp góp phần giải quyết vấn đề giao thông và môi trường đô thị tại Đà Nẵng cũng như nhiều thành phố ở Việt Nam. Vì vậy, cả hai đã bàn bạc và thống nhất ý tưởng: thiết lập một hệ thống cho thuê xe đạp thông minh và hệ thống đèn chiếu sáng giao thông thông minh tiết kiệm điện.  Hệ thống cho thuê xe đạp của hai tác giả sinh viên ĐH Bách khoa Đà Nẵng bao gồm các trạm được đặt trên những tuyến đường cao điểm của khách du lịch, sinh viên, những đối tượng chính hướng tới của đề án. Tương tự như các trạm ATM ngân hàng, trạm cho thuê xe đạp có thể tự động “nhả” xe đạp cho người quẹt thẻ thông qua hệ thống cảm biến được cài đặt trong trạm mà không cần phải qua khâu trung gian nào. Một ưu điểm khác của hệ thống cho thuê xe đạp này là những chiếc xe được thiết kế đặc biệt sẽ được xạc đầy năng lượng trong quá trình đi trên đường. Khi trở về các trạm cho thuê, xe sẽ “nhả” lại năng lượng vào trạm. Xe càng nhiều năng lượng, chi phí cho thuê xe càng thấp đi còn nguồn năng lượng thu được sẽ được đưa vào phục vụ hệ thống chiếu sáng thành phố.   Bên cạnh đó, ý tưởng về hệ thống chiếu sáng thông minh tiết kiệm điện cũng được hai sinh viên Hằng Nga và Hoài Nam đưa vào đề tài. Giải pháp mà hai sinh viên đưa ra là sơn một lớp phản quang bằng sơn photoluminescent có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời vào ban ngày và phát ra ánh sáng phản quang vào ban đêm lên mặt đường. Một hệ thống điều khiển bằng vi điều khiển và cảm biến ánh sáng sẽ phân tích thông tin về độ sáng trên đường, qua đó điều chỉnh độ sáng cho phù hợp với điều kiện môi trường, không tốn điện và chói mắt người đi đường. Theo tính toán của hai tác giả, việc áp dụng hệ thống điện chiếu sáng này sẽ giúp tiết kiệm tới 60% điện năng tiêu thụ.  Cuộc thi “Go Green In the City” do tập đoàn Schneider Electric tổ chức trên toàn cầu nhằm tìm ra những giải pháp xanh, góp phần xây dựng các thành phố thông minh, thân thiện với môi trường. Thông qua các cuộc thi quy mô quốc gia, Schneider Electric sẽ chọn các nhà vô địch dự chung kết khu vực, qua đó tuyển lựa những ứng viên xuất sắc nhất tham gia cuộc thi chung kết thế giới tại Paris, Pháp vào tháng 6 tới.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống đèn LED hỗ trợ đầy đủ quá trình nảy mầm của hạt      Không phải là một công nghệ xa lạ trong các nhà kính trồng rau sạch, phương pháp chiếu sáng bằng đèn LED từ lâu đã được sử dụng nhằm cung cấp ánh sáng giúp cây trồng có thể quang tổng hợp để phát triển, thay thế cho các chất kích thích sinh trưởng có hại. Với tầm quan trọng của mình, đèn LED chiếu sáng trong nhà kính đã có nhiều cải tiến so với trước đây, thậm chí hiện tại đã có những loại có thể chiếu sáng với các dải ánh sáng phổ hẹp, với các bước sóng giúp cây trồng có thể quang hợp một cách tốt nhất.        TS. Bùi Đình Tú và các cộng sự tại Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nano (Đại học Công nghệ, ĐHQGHN) đã phát triển thành công hệ thống đèn LED chiếu sáng cho cây rau mầm tích hợp các công thức cá thể hoá ánh sáng và hệ thống giám sát thông số nông nghiệp, đáp ứng khả năng sinh trưởng và phát triển cây trồng hiệu quả nhất.    Tuy nhiên, những cải tiến ấy dường như vẫn chưa đủ để TS. Bùi Đình Tú hài lòng. Anh muốn phát triển một hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED có thể điều khiển tự động để hỗ trợ đầy đủ quá trình nảy mầm của hạt. Như vậy hệ thống này không chỉ có đèn LED mà có cả nhiều thành phần tích hợp lại để có ‘nhiều tính năng trong một’.    Hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED cho cây rau mầm được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng giải pháp hữu ích số 2-0002827 của nhóm TS. Bùi Đình Tú liệu sẽ có những cải tiến gì đặc biệt?    Tìm cường độ chiếu sáng phù hợp với từng loại hạt    Thực chất, Khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nano vốn đã có nhóm nghiên cứu mạnh về thiết bị quang, nên việc chế tạo ra một hệ thống ánh sáng có thể bật-tắt tự động và giám sát các thông số dường như không phải là điều quá khó khăn, “cái khó ở đây là làm thế nào để biết nhu cầu chiếu sáng của từng cây và tích hợp vào hệ thống chiếu sáng do mình thiết kế”, TS. Bùi Đình Tú phân tích trở ngại lớn nhất của mình lúc bấy giờ.    Vấn đề này liệu có quá sức đối với một người không nghiên cứu chuyên sâu về sinh học? “Tất nhiên, dù là người yêu thích nông nghiệp và quan tâm đến việc áp dụng công nghệ cao vào chăm sóc cây trồng, nhưng tôi biết mình chỉ là một ‘tay ngang’ trong lĩnh vực này”, TS Bùi Đình Tú thừa nhận, “chúng tôi quyết định điều chỉnh hệ thống ánh sáng này, thay đổi bước sóng cũng như cường độ chiếu sáng theo nhiều cách khác nhau, phân tích vi lượng trong rau theo từng thông số một.” Nói cách khác, nhóm nghiên cứu đã tiến hành quá trình “thử và sai” liên tục để có thể tìm ra được phương án phù hợp nhất.    Việc tiến hành đo, phân tích để ghi nhận những chỉ số trong từng điều kiện nhất định đã đem lại cho nhóm nghiên cứu của TS. Bùi Đình Tú những thông tin quý báu. Chẳng hạn, với rau mầm củ cải trắng, lá hấp thụ ánh sáng tốt nhất khi các chip LED xanh có dải bước sóng nằm trong khoảng từ 460 đến 480 nm và các chip LED đỏ có dải bước sóng nằm trong khoảng từ 642 đến 670 nm, chip LED UV gần có bước sóng từ 405 đến 417 nm. Dựa trên thông số này, nhóm sẽ tích hợp dữ liệu vào trong hệ thống chiếu sáng để cho ra công thức chiếu sáng phù hợp theo từng loại cây khác nhau.    Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm rau trồng từ đậu xanh, đậu tương, đậu đen, rau mầm họ cải như củ cải trắng, củ cải đỏ, củ cải ngọt, mầm rau muống và mầm hướng dương. Nhóm nhận thấy, “việc chiếu sáng lúc này đóng vai trò là tác nhân ánh sáng tiêu cực, ức chế cây phát triển; và để tồn tại được, cây rau mầm đã sinh ra nhiều vitamin C, một chất chống oxy hóa ở các phản ứng trao đổi giúp bảo vệ cây, do đó hàm lượng vitamin C trong rau mầm sẽ tăng lên”. TS. Bùi Đình Tú nêu ví dụ về kết quả thử nghiệm của cây rau mầm củ cải trắng: sau bảy ngày trồng hạt giống củ cải trắng thì mẫu thí nghiệm cho thấy câu phát triển rất tốt, thân mập, lá xanh to, chiều cao trung bình cây xấp xỉ 13,5cm, hàm lượng nước cao hơn đạt 94,77%. Sản lượng ở mẫu thí nghiệm thu được 910 gram rau/100 gram hạt giống ở ngày thứ năm (gần gấp đôi so với mẫu đối chứng ở ngày thứ bảy). Bên cạnh đó, hàm lượng vitamin C của mẫu thí nghiệm cũng cao hơn khoảng 1,63 lần so với điều kiện chiếu sáng tự nhiên.    Phát triển thành hệ thống giám sát tích hợp    Thực chất, nhóm của TS. Bùi Đình Tú không phải là nhóm nghiên cứu đầu tiên quan tâm đến việc cải tiến đèn LED chiếu sáng trong nông nghiệp. Chẳng hạn, cách đây hơn năm năm, Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đã hợp tác với Viện Sinh học Nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) và Viện Tiên tiến KH&CN (Đại học Bách khoa Hà Nội) nghiên cứu thành công và thương mại hóa sản phẩm đèn LED dùng trong chiếu sáng nhân tạo nông nghiệp công nghệ cao tại thị trường Việt Nam giúp tiết kiệm được con chip, tiết kiệm được nguyên liệu sản xuất và đem lại nguồn sáng đồng đều hơn, các cây đều có thể nhận đủ ánh sáng xanh đỏ ngay cả khi chiếu ở diện tích lớn.    Tuy nhiên, nhóm của TS. Bùi Đình Tú đã có một bước chuyển mới khi tích hợp thêm nhiều tính năng giám sát khác để biến công nghệ này thực sự trở thành thiết bị tiện dụng trong sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, trong quá trình phát triển hệ thống đèn LED, anh nhận ra rằng, trên thị trường có tồn tại rất nhiều dạng sản phẩm khác nhau phục vụ sự phát triển của rau mầm nhưng chung quy lại có hai dạng chính: hoặc là dừng lại như một hệ thống chiếu sáng riêng lẻ hoặc là chỉ quan tâm đến nhiệt độ, độ ẩm, độ pH… Do đó, nhóm nghiên cứu đã phát triển một thiết bị tích hợp bao gồm các module cảm biến như cảm biến cường độ ánh sáng, độ ẩm không khí, nhiệt độ, độ pH, có khả năng hiển thị, điều khiển từ xa thông qua kết nối internet, mạng GSM,… thông qua phần mềm được thiết kế riêng biệt. Hơn thế, họ có thể điều chỉnh số lượng cảm biến được kết nối tùy thuộc vào nhu cầu của người dùng.    Ưu điểm của hệ thống tích hợp của TS. Bùi Đình Tú so với các thiết bị hiện có trên thị trường chính là cảm biến. “Các thiết bị cảm biến ở nước ngoài khá đắt, nếu mua loại rẻ thì lại dễ bị hỏng. Ngoài ra, các cảm biến nước ngoài rất dễ bị ăn mòn bởi điều kiện đặc thù trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Do đó, chúng tôi phát triển cảm biến này với mong muốn mang lại một sản phẩm chất lượng với giá thành phải chăng”, anh nói. Thế mạnh của dân vật lý kỹ thuật đã giúp anh và cộng sự thiết kế và chuẩn hóa cảm biến với những vật liệu, linh kiện chống chọi sự ăn mòn trong quá trình điện hóa, phù hợp với môi trường để nâng cao độ bền cho sản phẩm. “Thêm vào đó, hệ thống này tích hợp các điều kiện phù hợp với sự sinh trưởng của từng loại cây trồng trong điều kiện khí hậu của Việt Nam. Đó là những khác biệt lớn nhất trong sản phẩm của chúng tôi’, anh nói.    Hệ thống tích hợp “nhiều trong một này” có thể cho phép người sử dụng bên cạnh chăm sóc rau mầm giám sát thêm thông số và chiếu sáng theo công thức phù hợp những loại hoa và cây trồng khác như hoa lan hồ điệp, hoa ly hay dưa lưới. Những tính năng hữu ích này của hệ thống đã thuyết phục được Trung tâm công nghệ sinh học – Viện Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ) hợp tác với nhóm trong chuyển giao cho các trung tâm và các hộ trồng lan trong cả nước.    Nhưng tương lai của một thiết bị hữu dụng như vậy không chỉ dừng ở đó. Khi đề cập đến triển vọng của sản phẩm, TS. Bùi Đình Tú tỏ ra lạc quan: “ĐHQGHN vừa số hóa các sản phẩm khoa học công nghệ, đăng tải lên mạng để các bên có nhu cầu có thể tìm hiểu và liên hệ. Cách đây một tuần, chúng tôi cũng đã đưa thông tin đầy đủ của sản phẩm này lên hệ thống”. Trong thời gian chờ đợi, nhóm nghiên cứu vẫn đang sử dụng công nghệ này như một ‘nền tảng’ để các sinh viên nghiên cứu về lĩnh vực quang tử, chiếu sáng hay kỹ thuật năng lượng tự trau dồi và tìm hiểu cách thức đo đạc, phân tích nguồn chiếu sáng. “Ánh sáng sẽ còn được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau, vì vậy không có lý do gì để không tin tưởng vào tiềm năng của nó”, anh gợi mở.     Khúc Liên    Author                .        
__label__tiasang Hệ thống khí y tế đạt tiêu chuẩn quốc tế      Trong y học hiện đại, vấn đề cung cấp khí y  tế cho các khu vực điều trị luôn là nhu cầu hàng đầu của các bệnh viện  và là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hiện đại của các  bệnh viện.    Về mặt đầu tư-xây dựng, hệ thống khí y tế được coi là một hệ thống thiết bị công trình và được trang bị lắp đặt khi đang xây dựng tòa nhà của bệnh viện. Về mặt y tế, hệ thống được coi là thiết bị hỗ trợ điều trị, nên nó cần tương thích với các thiết bị hỗ trợ điều trị y tế khác như máy gây mê, máy thở… và cần dược đặt ở những vị trí thuận lợi để điều trị bệnh nhân.   Trong bối cảnh các bệnh viện ở Việt Nam có mức đầu tư hạn chế nên về thiết kế, hệ thống này thường chỉ có phần hệ thống oxy y tế là hoàn chỉnh, còn hệ thống khí nén và hút chỉ giới hạn trong phần đường ống và ổ chờ ở trên tường.   Tuy nhiên, hệ thống khí y tế trung tâm do kỹ sư Phan Văn Tính, Công ty Y tế Bắc Việt, Hà Nội,  thiết kế là một hệ thống hoàn chỉnh, đạt chuẩn quốc tế. Hệ thống bao gồm hệ thống tạo khí trung tâm (khí nén, khí hút, khí gây mê, khí khoan xương), hệ thống đường ống dẫn khí bằng inox SUS 304 chất lượng cao, hệ thống trung gian dự phòng và cảnh báo khu vực, hệ thống đầu ra cùng những đầu nối ống đa năng, chỉ cần đo cắt ống, cắm và vặn nhẹ là kín khít đường đi của khí. Với hệ thống này, các loại khí được đặt tại nhà nguồn và đảm bảo an toàn cháy nổ, thuận lợi cho cả bác sỹ lẫn bệnh nhân trong điều trị, yếu tố mà bình cung cấp khí kiểu cũ không khắc phục được.   Sản phẩm của kỹ sư Phan Văn Tính hội tụ nhiều ưu điểm như thời gian lấy khí cấp cứu nhanh, dễ dàng sử dụng, các ống dẫn inox không bị oxy hóa, cấp khí liên tục từ nguồn khí trung tâm, tiết kiệm được không gian phòng và đảm bảo vệ sinh. Do có nhiều ưu điểm vượt trội về chất lượng và giá cả, hệ thống khí y tế trung tâm đã được tới 45 bệnh viện trong nước đặt hàng như bệnh viện Mắt trung ương, bệnh viện đa khoa 91 Quân khu 1 – Bộ quốc phòng, bệnh viện Nhi Hải Dương…   Ngoài ra, sản phẩm đã được cấp bằng độc quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam và quốc tế như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, cộng đồng châu Âu, được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận lưu hành trang thiết bị y tế, quyết định công nhận kiểm định chất lượng của Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống thông minh giúp chẩn đoán ung thư phổi      Các nhà nghiên cứu trường đại học Bách khoa Peter the Great St.Petersburg (SPbPU), Sáng kiến xuất sắc hàn lâm Nga hợp tác với các nhà nghiên cứu X quang thuộc Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng cho các loại bệnh đặc biệt St.Petersburg đã phát triển một hệ phần mềm thông minh để chẩn đoán ung thư phổi.      Các nhà nghiên cứu giới thiệu hệ phần mềm Doctor AIzimov. Nguồn: Quỹ KH Nga  Phần mềm này có thể cài đặt trên bất cứ máy tính nào. Nó có thể phân tích các kết quả chụp cắt lớp CT của bệnh nhân trong vòng 20 giây và cung cấp một hình ảnh trong đó tình trạng bệnh lý được đánh dấu một cách rõ ràng. Các nhà nghiên cứu đặt tên cho hệ thống này là Doctor AIzimov (AI for Artificial Intelligence), một cách đặt tên để vinh danh giáo sư hóa sinh kiêm nhà văn khoa học viễn tưởng người Mỹ gốc Nga Isaac Asimov, người đã viết “Three Laws of Robotics”.  Vào cuối năm 2018, những cuộc kiểm thử đầu tiên cho hệ thông minh này đã được thực hiện. Hệ phần mềm phân tích các hình ảnh CT ẩn danh của 60 bệnh nhân tại Trung tâm Ung thư. Theo đánh giá của các chuyên gia X quang, cuộc thử nghiệm đã thành công vì hệ thống này đã phát hiện được cả các khối u có kích thước nhỏ (2mm) trong phổi.  “Ban đầu, chúng tôi cài đặt một thuật toán để tìm kiếm các khối u bắt đầu có kích thước 6mm bởi các chuyên gia X quang cũng bắt đầu điều trị trên các khối có kích thước như vậy. Nhưng hệ phần mềm này quá thông minh nên thậm chí có khả năng phát hiện được các cục u nhỏ hơn”, Lev Utkin, trưởng phòng thí nghiệm nghiên cứu các công nghệ mạng thần kinh và trí tuệ nhân tạo SpbPU và là người phụ trách dự án, cho biết.  Nhóm nghiên cứu bao gồm các thành viên của trường đại học (Lev Utkin, Mikhail Ryabinin, and Alexei Lukashin), các chuyên gia từ Trung tâm Ung thư St. Petersburg (người phụ trách bộ phận X quang Anna Meldo và chuyên gia X quang Ivan Prokhorov). Dự án do Quỹ Khoa học Nga tài trợ.  Việc đề cập và phát triển cách tiếp cận mới về phân loại ung thư phổi sử dụng phương pháp dây cung (chord method) đã được cấp bằng sáng chế chỉ trong vòng 3 tháng. Phương pháp này sử dụng các hình ảnh CT theo từng đoạn: các điểm được lấy ra một cách ngẫu nhiên trên bề mặt một nốt u, sau đó các điểm được nối với nhau bằng các đường (chords). Độ dài biểu đồ của dây phản ánh hình dạng và cấu trúc của nốt u. Dẫu cho hệ thống phần mềm kiểm tra từng nốt u từ bên ngoài, nhưng những phần ngoại vi của chúng cũng hết sức quan trọng. Để tìm hiểu về nốt u, nó được đặt vào một khối lập phương và các đường vuông góc được vẽ từ cách cạnh của khối lập phương tới bề mặt của nó. Lúc này, thay vì phân loại những hình ảnh CT phức tạp và nặng nề (kích thước của một hình ảnh CT xấp xỉ 1 GB), nốt u này được trình bày theo một hình thức của các biểu đồ đơn giản và gọn ghẽ, sau đó được hệ Doctor AIzimov phân tích. Các nhà khoa học đã huấn luyện cho hệ này biết cách phân biệt được các u ác tính và u lành.  “Có rất nhiều vật thể khác nhau được dò trên các hình ảnh CT, vì thế mục tiêu chính là huấn luyện cho hệ phần mềm này khả năng nhận diện được những gì mà các vật thể này biểu hiện. Việc sử dụng điều trị và phân loại X quang, chúng tôi đang cố gắng huấn luyện hệ phần mềm không chỉ dò được khối u mà còn phân biệt được các loại bệnh tương tự như ung thư”, Anna Meldo bình luận.    Các hình ảnh chụp cắt lớp CT đều được xử lý trên những siêu máy tính để gia tăng tốc độ xử lý. Nguồn: Quỹ KH Nga  Hệ phần mềm này được huấn luyện bằng việc phân tích 1000 hình ảnh CT từ các bộ dữ liệu LUNA 16 và LIDC, qua đó các nhà nghiên cứu Nga đã thu thập được bộ dữ liệu LIRA – Lung Intelligence Resource Annotated. Hiện tại, bộ dữ liệu này giữ các hình ảnh CT của khoảng 250 bệnh nhân. Các nhà khoa học đang lập kế hoạch tăng thêm số lượng các hình ảnh lên gấp 4 vào giữa năm 2019.  Với mỗi bức ảnh CT, hệ phần mềm này có khả năng tự nâng cấp. Để tăng tốc nghiên cứu và kiểm tra các quá trình, các nhà nghiên cứu đã dùng đến các thiết bị của trung tâm siêu máy tính “Polytechnic”. Trong tương lai, các hình ảnh CT của một bệnh nhân sẽ được chuyển vào siêu máy tính kết nối Internet. Cách tiếp cận này cho phép giảm thiểu thời gian kiểm tra và chẩn đoán trên mỗi bệnh nhân từ 20 giây xuống 2 giây. Sau đó, một chuyên gia X quang sẽ nhận hình ảnh được đánh dấu thay vì bức ảnh CT thông thường. Cách làm này sẽ giảm thiểu một cách đáng kể thời gian cần thiết phân tích và chẩn đoán.  Một cuộc thử nghiệm rộng rãi hệ phần mềm thông minh này được bắt đầu vào đầu năm 2019, tại chính Trung tâm Ung thư St. Petersburg. Trong tương lai, dự án này sẽ được mở rộng và nhiều viện y khoa sẽ tham gia vào quá trình áp dụng hình ảnh CT thông minh. Nó cũng sẽ được chấp thuận để phân tích các kết quả siêu âm và tia X y tế của nhiều bộ phận cơ thể khác. Tất cả dữ liệu thu được sẽ được xử lý bằng siêu máy tính và kết quả của hệ phần mềm này sẽ được gửi tới các bác sỹ để họ đưa ra quyết định điều trị.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://rscf.ru/en/node/researchers-developed-an-intelligent-system-for-lung-cancer-diagnostics       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cho sự phát triển của nông nghiệp      Dù nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập quốc tế  từ khá lâu, vẫn tồn tại một nghịch lý là những sản phẩm tốt nhất được  sản xuất trong nước thường để dành cho các thị trường xuất khẩu, trong  khi người tiêu dùng trong nước phải chấp nhận tiêu thụ những sản phẩm  nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước có chất lượng kém hơn, thậm chí có  hại.     Hậu quả là người tiêu dùng Việt Nam luôn phải đối diện với nguy cơ vô hình, từ những hoa quả, thực phẩm, đồ uống sử dụng các chất bảo quản hoặc phụ gia độc hại, các loại thịt chứa thuốc tăng trọng và hóa chất bị cấm. Về phía người nông dân và các nhà sản xuất, họ cũng phải đối diện với nguy cơ vô hình từ các giống cây, con giống chứa vi khuẩn gây bệnh, hoặc phân bón pha trộn đất sét, bột đá, tạp chất, v.v, mang lại những nông sản đầu ra kém phẩm chất, gây thiệt hại về kinh tế và lãng phí mồ hôi, công sức.   Những nguy cơ vô hình này gây rối loạn thị trường, tạo ra tâm lý hoang mang, bởi người sử dụng bằng mắt thường khó lòng nhận biết được những sản phẩm chất lượng tốt hoặc xấu. Hậu quả là các nhà sản xuất buộc phải cạnh tranh bằng giá thấp, giảm động lực đầu tư vào chất xám, công nghệ, và khiến các sản phẩm của chúng ta luôn bị kẹt ở phân khúc hàng giá rẻ – chất lượng thấp. Chưa kể, còn có hiện tượng hàng hóa kém chất lượng của nước khác tuồn vào nước ta, rồi được đội nhãn mác Việt Nam để xuất khẩu đi, khiến uy tín hàng hóa của chúng ta bị suy giảm.  Nguyên nhân chung của tình trạng trên là do việc giám sát thực hiện theo hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật còn nhiều mặt yếu kém. Chúng ta đã có các bộ tiêu chuẩn trong nước như VietGAP, hay quốc tế như Global GAP, nhưng số lượng các doanh nghiệp, hộ nông dân thực hiện còn rất ít. Hệ thống đánh giá của chúng ta còn quá phức tạp, có khi đòi hỏi chi phí cao, không phù hợp cho các hộ nông dân. Đồng thời, bản thân các tổ chức được giao trách nhiệm chứng nhận cho nông sản an toàn cũng có vấn đề, đơn cử như việc có tới một nửa trong số 27 tổ chức chứng nhận VietGAP được Cục Trồng trọt rà soát bị xếp vào diện không đủ điều kiện tiếp tục hoạt động hoặc trong giai đoạn khắc phục sau đánh giá chỉ định lại.  Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, phải coi hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật là một công cụ có tầm quan trọng chiến lược của quốc gia, giúp xây dựng luật chơi và phát ra những tín hiệu kịp thời để không chỉ điều chỉnh các hành vi tạm thời mà còn định hướng đầu tư phát triển lâu dài, của người nông dân, các doanh nghiệp, và nền nông nghiệp theo hướng tối ưu, bền vững hơn. Muốn vậy, trước hết công tác xây dựng và giám sát việc thực hiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật phải được Nhà nước cung cấp, đầu tư nguồn lực đầy đủ, đồng thời Nhà nước nên có chính sách phù hợp để khuyến khích, phát huy các nguồn lực của xã hội trong lĩnh vực này, ví dụ thông qua các hoạt động giám sát thị trường và giám sát lẫn nhau của các hiệp hội nông nghiệp.    Các nỗ lực kể trên phải đi kèm với những chế tài xử lý nghiêm khắc buộc các nhà sản xuất và xuất – nhập khẩu nông nghiệp thực hiện nghiêm túc theo các tiêu chuẩn được ban hành. Nếu không làm được như vậy thì những nguy cơ vô hình cùng sự cạnh tranh không lành mạnh sẽ vẫn tiếp diễn, và nền nông nghiệp Việt Nam sẽ chưa thể dứt bỏ vòng luẩn quẩn kìm hãm sự phát triển.                TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang HeberNasvac: Khoa học Cuba chống lại virus viêm gan B      Tám năm sau khi HeberNasvac – loại vaccine dùng để điều trị cho các bệnh nhân mắc virus hepatitis B và phát triển bệnh viêm gan B được phê duyệt tại Cuba, Trung tâm Kỹ thuật di truyền và công nghệ sinh học Cuba (CIGB) đã tiếp tục nghiên cứu với kháng nguyên ở Nhật Bản và Bangladesh, nơi đang có những kết quả rất triển vọng.    Tiến sĩ khoa học sinh học Gerardo Guillen Nieto, giám đốc nghiên cứu y sinh của CIGB. Nguồn: cubanews.acn.cu  Đây là loại vaccine đình đám thứ hai chống lại các căn bệnh nguy hiểm của Cuba, sau CimaVax – vaccine ung thư phổi không tế bào nhỏ được USAToday ca ngợi là “đột phá” hay đồng nghiệp tại Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park (Mỹ) nhận xét “độc tính thấp, chi phí sản xuất và bảo quản thấp”1.  Theo một bài báo xuất bản trên tạp chí khoa học chuyên ngành Euroasian J Hepatogastroenterol của các nhà khoa học Cuba và Bangladesh vào năm 2021 2, HeberNasvac là một vaccine được chế tạo bằng công nghệ DNA tái tổ hợp với các phần tử giống virus (VLP). Trong một cuộc phỏng vấn với Hãng thông tấn Cuba, tiến sĩ khoa học sinh học Gerardo Guillen Nieto, giám đốc nghiên cứu y sinh của CIGB, chỉ ra là loại thuốc này chứa rất nhiều sự đổi mới trong đó, bởi đây là thứ vaccine duy nhất chống lại một căn bệnh truyền nhiễm gây bệnh kinh niên và cũng là vaccine điều trị duy nhất qua đường mũi 3.  Cũng giống như điều xảy ra với các bệnh ung thư hay HIV, những người bị lây nhiễm virus hepatitis B đều không nhận biết mình bị nhiễm hoặc khi biết đã quá muộn, và sự thật là hệ miễn dịch của người nhiễm không đủ sức bảo vệ họ. TS. Gerardo Guillen Nieto đánh giá, loại vaccine này rất an toàn và chỉ có một vài phản ứng phụ; phác đồ điều trị chỉ khoảng năm tháng, ngắn hơn so với liệu pháp interferon, vốn đòi hỏi đến một năm và lại gây ra một số phản ứng phụ. Ngoài ra còn có loại thuốc kháng virus nhưng phải dùng suốt đời.  Với những ưu điểm đó, cơ hội đến với những cơ sở điều trị ngoài Cuba đang rất hứa hẹn với  HeberNasvac. Theo TS Gerardo Guillen Nieto, sau khi có được giấy chứng nhận không độc hại ở Cuba, trong hợp tác với công ty công nghệ sinh học Abivax của Pháp, họ đã thực hiện các nghiên cứu ở Hàn Quốc, New Zealand, Singapore, Australia, Philippines, Đài Loan, Thái Lan và Hong Kong, với sự phê duyệt của các nhà chức trách sở tại. Đây là một thực nghiệm để gia tăng bằng chứng về sự an toàn của loại vaccine này.  Quả thật là các kết quả rất hứa hẹn. Trong các nghiên cứu lâm sàng, HeberNasvac đã chứng tỏ giảm đi lượng virus trong máu xuống ít hơn 10.000 phần tử mỗi milliliter ở khoảng 80 % bệnh nhân tham gia. Các trường hợp này cho thấy vẫn bị lây nhiễm virus viêm gan B nhưng có tải lượng virus nhân lên thấp, nguy cơ rủi ro xơ hóa và lũy tiến để tiến tới mắc bệnh viêm gan hay ung thư gan đã được giảm đi đáng kể. Sau năm năm dùng vaccine thì lượng virus vẫn được kiểm soát ở 80% bệnh nhân và 50 % trong số họ thì không còn dò thấy virus nữa.  Với nghiên cứu thực hiện ở Bangladesh, nơi bệnh có dấu hiệu phát triển mạnh hơn khi marker phân tử đều cho kết quả kháng nguyên dương tính E, các kháng thể chống lại kháng nguyên đều ở mức 60%. Gerardo Guillen Nieto cũng cho biết thêm, nghiên cứu lâm sàng thứ hai được thực hiện ở Nhật Bản với hơn 300 tình nguyện viên, xem xét hiệu quả của vaccine với công thức mới và những kịch bản lâm sàng khác biệt, bao gồm những bệnh nhân không phản hồi với điều trị chống virus và bệnh nhân không được điều trị. Bằng chứng cho nghiên cứu pha một đã hoàn thành cho thấy HeberNasvac hiệu quả và kết quả của nó đã được ghi nhận ở hai năm liên tiếp. Kết quả này đã được báo cáo tại một hội thảo thường niên của Hội nghiên cứu Các bệnh về gan Mỹ 2.  Không phải ngẫu nhiên Cuba có được kết quả này. Trong một buổi làm việc năm 2018 với Tia Sáng, TS. Đỗ Tiến Đạt – giám đốc Công ty Vaccine và sinh phẩm số 1 (Vabiotech), người từng hơn 10 năm hợp tác với các đồng nghiệp Cuba về vaccine, cho rằng nguyên nhân quan trọng để họ đạt được thành công là vì “Cuba làm nghiên cứu rất bài bản, họ cũng tự lực trong đánh giá các công nghệ, đánh giá đặc tính sản phẩm” 1. Dưới góc nhìn của anh, việc thực hiện nghiên cứu một cách bài bản của Cuba được thể hiện ở hai yếu tố: 1. Nghiên cứu cơ bản tốt vì “muốn thử nghiệm cái gì thì cũng phải chắc chắn về mặt công nghệ” và họ xem xét rất kỹ bản chất dịch tễ học của bệnh tật nên “sản phẩm của họ có chất lượng và có nội hàm khoa học rất cao”; 2. Ý thức phải làm ra sản phẩm tốt nên họ vừa nghiên cứu cơ bản tốt để có bài báo, vừa có phát minh, sáng chế đi kèm. Đây là lý do khiến các sản phẩm của Cuba, tuy tự lực với các nguồn lực trong nước, nhưng cũng đạt tiêu chuẩn quốc tế.  Mặt khác, y tế cũng là một trong số những ưu tiên đầu tư của chính phủ Cuba, nơi nhận được rất nhiều nguồn lực đầu tư và quyền hạn để thực thi một chiến lược phát triển hướng đến mục tiêu toàn cầu. TS. Danay Saavedra (CIGB) từng trả lời trên The Guardian vào năm 2008, “phát triển vaccine là chính sách của Chính phủ Cuba để góp phần bảo vệ sức khỏe người dân cũng như phát triển nền kinh tế”. Việc có thêm một nguồn thu bền vững từ xuất khẩu vaccine chống ung thư rất khả thi bởi thị trường vaccine chống ung thư toàn cầu đã đạt tới con số 8,1 tỉ USD vào năm 2021 và được dự đoán là sẽ tới con số 11,7 tỉ USD vào năm 2026, 19,12 tỉ USD vào năm 2029 4.  Tuy nhiên, không thể nóng vội trên con đường này. Ví dụ CimaVax dù được Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park hào hứng là đối tác thử nghiệm tại Mỹ thì đến cuối năm 2022 mới qua được pha thử nghiệm lâm sàng đầu tiên. Các nhà khoa học Cuba và Mỹ sẽ cần phải chờ đợi rất lâu qua những pha thử nghiệm lâm sàng tiếp theo rồi mới tính đến việc nộp hồ sơ xin phê duyệt tới Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA).  Con đường nghiên cứu và phát triển vaccine rất gian nan nhưng ít nhất, về mặt chuyên môn, các nhà khoa học Cuba đã chứng tỏ được năng lực của mình. Nền tảng công nghệ mà họ dùng để phát triển HeberNasvac cũng được họ sử dụng để phát triển một vaccine dự tuyển COVID-19 là Mambisa, sử dụng các hợp phần kháng nguyên nucleocapsid của virus hepatitis B antigen, một trong những thành phần của HeberNasvac, để làm vật liệu kích thích phản hồi miễn dịch. Kết quả cũng được họ báo cáo trên Euroasian J Hepatogastroenterol 5.  Lê Anh Vũ  —————————————–  1. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30828555/  2. http://www.cubanews.acn.cu/science/21115-hebernasvac-cuban-scientists-achievement-against-hepatitis-b  3. https://tiasang.com.vn/quan-ly-khoa-hoc/cimavax-khong-chi-la-chuyen-nghien-cuu-vaccine-12361/  4. https://www.bccresearch.com/market-research/pharmaceuticals/cancer-vaccines-technologies-markets-report.html  5. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8566153/#B14    Author                .        
__label__tiasang Hi vọng mới trong điều trị bệnh Alzheimer      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một liệu pháp mang tính đột phá trong chữa trị cho người mắc bệnh Alzheimer.      Theo một nghiên cứu được công bố trên Nature, một liệu pháp mới trong chữa trị bệnh Alzheimer có thể đem hy vọng cho những người mắc căn bệnh được chẩn đoán là không thể chữa khỏi này. Quá trình điều trị bằng liệu pháp này cho thấy có thể giảm sự tích tụ protein đặc trưng ở trong não bộ của bệnh nhân, qua đó giúp làm chậm lại quá trình suy giảm trí nhớ ở bệnh nhân.  165 bệnh nhân Alzheimer đã tham gia thử nghiệm liệu pháp điều trị mới này và được chia thành hai nhóm: một nhóm được điều trị bằng giả dược (Placebo), nhóm còn lại được sử dụng kháng thể Aducanumab một tháng một lần. Chất kháng thể này tấn công các protein đặc trưng ở bệnh nhân Alzheimer và phân hủy chúng (các nghiên cứu cho thấy, có hiện tượng tự sản xuất và tích tụ Amyloid – loại protein đặc trưng trong bộ não bệnh nhân Alzheimer).  Sau một năm điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ nhóm bệnh nhân sử dụng kháng thể Aducanumab có chuyển biến tích cực. Khả năng nhận thức của nhóm bệnh nhân này không bị giảm mạnh như ở nhóm bệnh nhân Alzheimer được điều trị bằng giả dược. Biện pháp này được đánh giá là một bước tiến lớn trong điều trị căn bệnh này mặc dù mẫu nghiên cứu vẫn còn rất ít ỏi.  Để đánh giá được bước tiến quan trọng này, có thể nhìn nhận lại quá trình thử nghiệm các liệu pháp chữa trị trước đây. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã tiến hành thử nghiệm tương tự nhưng đều bị thất bại. Cụ thể, các nghiên cứu trước đó đã thành công trong việc cản trở các protein đặc trưng trên ở người bệnh Alzheimer, nhưng lại không tác động được gì đến quá trình suy giảm trí nhớ.  Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng cần phân tích kỹ hơn nữa về kết quả tích cực đối với khả năng nhận thức.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện thực hóa tiềm năng và khai phá thị trường IoT của Việt Nam      Sáng 24/10 tại TP Hồ Chí Minh, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Hiệp hội Internet Việt Nam và Tập đoàn IEC phối hợp tổ chức hội thảo chuyên đề Ứng dụng Internet kết nối vạn vật (IoT) trong đô thị thông minh và triển lãm quốc tế về IoT Việt Nam 2018.    Hội thảo có sự tham dự của Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh; Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cùng đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và hơn 1.200 đại biểu là chuyên gia hàng đầu khu vực và thế giới, đại diện các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp trong, ngoài nước.   Cách tiếp cận chính sách đúng  Hầu hết các đại biểu tham dự hội thảo đồng tình với tham luận của ông Nguyễn Văn Bình. Theo ông, để phát triển IoT, việc đầu tiên là phải có cách tiếp cận đúng trong xây dựng chính sách phát triển IoT. Cần quan niệm IoT là cuộc cách mạng về chính sách và công nghệ. Dưới góc độ quốc gia, IoT phải thúc đẩy nâng cấp mạnh mẽ các ngành sản xuất, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số quốc gia và xây dựng xã hội thông minh. Vì vậy, Việt Nam cần phải sớm xây dựng, triển khai Đề án phát triển kinh tế số quốc gia và các Chiến lược chuyển đổi số đối với các ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng khác trong nền kinh tế quốc dân; đồng thời cần có chính sách nâng cấp các ngành sản xuất thông qua ứng dụng sâu rộng công nghệ thông tin và tự động hóa, trọng tâm là trong các ngành công nghiệp chế tạo. Chúng ta cần có chính sách thúc đẩy sản xuất kỹ thuật số bằng cách tăng năng lực số hóa, kết nối các sản phẩm, chuỗi giá trị và các mô hình kinh doanh; thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất tiến hành số hóa theo từng công đoạn, liên kết số trong tiêu thụsản phẩm, cung cấp kiến thức, thông tin, các công cụ cần thiết để chuyển đổi số.  Đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng chỉ ra rằng, một trong những vấn đề then chốt trong phát triển IoT là phải đảm bảo an toàn thông tin, an ninh mạng. Sự phát triển IoT đặt ra yêu cầu tiếp cận mới về an toàn dữ liệu khi các thiết bị kết nối với nhau rộng khắp, các thiết bị từ nhiều nhà sản xuất khác nhau, liên quan đến cả nền công nghiệp, từ nhà chế tạo chíp, nhà sản xuất thiết bị đến những nhà cung cấp dịch vụ trên mạng.  Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cũng khẳng định: thuận lợi lớn nhất của Việt Nam trong phát triển IoT là có hạ tầng viễn thông tốt, có một số doanh nghiệp viễn thông mạnh có khả năng đầu tư trước về hạ tầng phủ sóng toàn quốc.  Được biết, về nền tảng kết nối cho IoT, theo chiến lược của Việt Nam đến năm 2020, cơ bản mỗi hộ gia đình Việt Nam một đường truyền cáp quang, mỗi người dân một máy smartphone và hạ tầng di động 5G phủ rộng, ưu tiên cho IoT trước. Khi đó, Việt Nam sẽ là một trong số ít nước đảm bảo tốt cho hạ tầng kết nối IoT.  Thách thức đối với doanh nghiệp và xã hội  Tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho rằng, IoT được đánh giá là công nghệ mang tính cách mạng, dẫn dắt sự thay đổi trong tương lai, ứng dụng được trong mọi ngành nghề, lĩnh vực kinh tế – xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, y tế, giáo dục, du lịch… Tuy nhiên, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cũng khuyến cáo, về mặt thực chất IoT vẫn còn đang ở giai đoạn tiếp tục phát triển hoàn thiện, và còn nhiều vấn đề, thách thức cần phải được nghiên cứu giải quyết để tham gia ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.  Các thách thức được Bộ trưởng Chu Ngọc Anh chỉ ra đó là các vấn đề kỹ thuật, bao gồm khả năng tương tác và khả năng mở rộng vì hàng tỷ thiết bị không đồng nhất sẽ được các nối; các vấn đề về hiệu quả tiêu hao năng lượng; quản lý, xử lý, phân tích dữ liệu lớn; đảm bảo an ninh thông tin; tích hợp các kiến thức nghiên cứu chuyên sâu của các ngành, lĩnh vực khác nhau như tài nguyên môi trường, nông nghiệp, xây dựng, giao thông… Theo hướng này, IoT cũng đặt ra hàng loạt thách thức đối với doanh nghiệp và xã hội về phát triển các mô hình kinh doanh IoT, về pháp lý và đạo đức, quyền riêng tư về thu thập dữ liệu.  Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cũng thông tin thêm, tại Việt Nam, các ứng dụng gần với IoT đã được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trong một thời gian dài dưới các hình thức tự động hóa như hệ thống điều khiển đèn giao thông, hệ thống tưới tiêu tự động… Các công nghệ nền tảng của IoT như mạng thế hệ mới, IPv6, truyền thông không dây, công nghệ nano và cảm biến, lưu trữ và tính toán đám mây, xử lý dữ liệu lớn, bảo mật thông tin và lưu trữ năng lượng cũng đã có một quá trình được đầu tư nghiên cứu, làm chủ, phát triển và ứng dụng. Các công ty lớn ở Việt Nam đã bắt tay vào nghiên cứu, triển khai, ứng dụng IoT như VNPT, Vingroup… cũng đã có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp với công nghệ IoT được hình thành và có những thành công bước đầu như Hachi, ArgiMedia…  Gần đây, để tập trung hơn nữa cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ IoT, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và khuyến khích phát triển, trong đó đã bổ sung IoT và Danh mục công nghệ; Modun, thiết bị, phần mềm, giải pháp tích hợp IoT vào Danh mục sản phẩm. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp khi sản xuất sản phẩm IoT, ứng dụng công nghệ IoT trong sản xuất sẽ được nhận những ưu đãi cao nhất của Nhà nước theo pháp luật về công nghệ cao. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã ban hành và đang tổ chức thực hiện Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia “Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0”, trong đó phát triển, ứng dụng công nghệ IoT là một trong những mục tiêu chính của Chương trình.  Chương trình Hội thảo Smart IoT Việt Nam gồm ba phiên chuyên đề và một phiên báo cáo toàn thể. Cụ thể: Chuyên đề 1 tập trung vào thảo luận chủ đề “Bảo đảm an toàn và an ninh mạng trong kỷ nguyên IoT”, đồng thời cập nhật các xu hướng bảo mật mới nhất hiện nay nhằm hỗ trợ các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam ứng phó kịp thời trước các nguy cơ tấn công mạng công nghệ cao. Chuyên đề 2 tập trung vào thảo luận chủ đề “Ứng dụng IoT trong đô thị thông minh”, đưa ra các giải pháp, ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong phát triển đô thị thông minh từ các quốc gia như: Mỹ, Anh, Hàn Quốc… nhằm giải quyết các thách thức do ùn tắc giao thông, thiên tai và các hạn chế về cơ sở hạ tầng gây ra. Chuyên đề 3 với chủ đề “IoT và cuộc cách mạng trong ngành sản xuất”, tập trung vào việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong đổi mới và cơ cấu lại các ngành sản xuất, hướng tới tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Phiên báo cáo toàn thể với chủ đề “Hiện thực hóa tiềm năng và khai phá thị trường IoT của Việt Nam”, tập trung trao đổi về những triển vọng phát triển và xu hướng ứng dụng công nghệ IoT tại Việt Nam và các nước trong khu vực châu Á nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam phát triển trong thế giới kết nối.     Liên Cơ (Trung tâm truyền thông KH&CN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiểu biết mới về truyền nhiệt trong nước sôi có thể cải thiện hiệu suất của các nhà máy điện      Hoạt động bình thường của nước sôi là một trong những phát minh cổ nhất của loài người, và hiện vẫn đóng vai trò trung tâm của nhiều công nghệ hiện đại, từ những máy pha cà phê đến các lò phản ứng hạt nhân. Dường như quá trình tưởng chừng như bình thường này lại ẩn chứa nhiều điểm phức tạp thách thức con người từ lâu nhưng vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ.      Các nhà nghiên cứu MIT đã tìm ra một cách phân tích cách dự đoán và ngăn ngừa một khủng hoảng nước sôi. Nguồn: MIT  Hiện tại, các nhà nghiên cứu tại MIT đã tìm ra cách phân tích một trong những vấn đề gai góc nhất mà người ta phải đối mặt là những vấn đề chuyển nhiệt và các công nghệ, trong đó nước sôi đóng vai trò trung tâm: làm như thế nào để dự đoán và ngăn chặn vấn đề nguy hiểm mà chúng ta vẫn gọi là khủng hoảng nước sôi. Đây chính là điểm khi có nhiều bong bóng hình thành trên bề mặt nước được gia nhiệt, chúng kết lại thành một dải hơi liên tục ngăn bất cứ sự truyền nhiệt nào từ bề mặt vào nước.  Những hiện tượng như vậy có thể là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm hoặc nóng chảy lõi lò phản ứng, vì các nhà máy điện hạt nhân được thiết kế để vận hành ở các mức dưới mức có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng nước sôi. Hiểu biết mới này có thể cho phép các nhà máy điện hạt nhân được vận hành theo cách an toàn hơn tại những mức sinh nhiệt cao hơn bằng việc giảm bớt những giới hạn vận hành cần thiết.  Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong công bố “Percolative Scale-Free Behavior in the Boiling Crisis”, xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters của TS kỹ thuật hạt nhân Matteo Bucci và các học trò Limiao Zhang, Jee Hyun Seong.  “Đây là một hiện tượng vô  cùng phức tạp”, Bucci nói, và dẫu nó đã được “nghiên cứu cả thế kỷ thì vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi”. Ngay cả trong thế kỷ 21, anh cho biết, “chúng ta vẫn nói với nhau về một cuộc cách mạng năng lượng, cuộc cách mạng máy tính, các transistor ở cấp độ nano, biết bao nhiêu điều to lớn nhưng trong chính thế kỷ này, và có thể là ngay cả thế kỷ tới, vẫn còn nhiều giới hạn trong hiểu biết về truyền nhiệt”.  Vì các chip máy tính đã nhỏ hơn và hiệu quả hơn, ví dụ như vậy, nhiều bộ xử lý hiệu năng cao có thể đòi hỏi làm lạnh bằng chất lỏng để tản nhiệt, vốn có thể quá sức làm mát của các loại quạt thông thường (một số siêu máy tính, thậm chí cả các máy tính chuyên chơi game hiện đại, đã sẵn sàng dùng nước được bơm vào để làm mát chip). Tương tự, các nhà máy điện có thể sản xuất ra nhiều điện cho năng thế giới, dù chúng dùng nhiên liệu hóa thạch, năng lượng mặt trời hay là nhà máy điện hạt nhân, chủ yếu đều tạo ra điện bằng dùng hơi bước quay turbine.  Trong một nhà máy hạt nhân, nước được làm nóng bằng các thanh nhiên liệu, vốn được gia nhiệt thông qua các phản ứng hạt nhân. Sự lan rộng của nhiệt thông qua các bề mặt kim loại vào nước đóng vai trò truyền dẫn năng lượng từ nhiên liệu sang turbine, nhưng đó cũng là yếu tố quan trọng để ngăn ngừa nhiên liệu khỏi tình trạng quá nhiệt, có thể dẫn đến khả năng nóng chảy. Trong trường hợp này của lò nước sôi, sự hình thành một lớp hơi chia tách chất lỏng khỏi kim loại có thể ngăn chặn sức nóng từ truyền nhiệt, vốn có thể nhanh chóng dẫn đến quá nhiệt.  Vì sự rủi ro đó, các quy định đòi hỏi các nhà máy hạt nhân được phải vận hành tại các dòng chảy nhiệt không quá 75% hạn mức mà người ta vẫn gọi là dòng nhiệt tới hạn (critical heat flux CHF), vốn là mức mà một cuộc khủng hoảng nước sôi có thể được châm ngòi và dẫn đến việc phá hủy các cấu phần tới hạn. Nhưng kể từ khi các vấn đề lý thuyết nền tảng của CHF còn được biết đến vô cùng ít ỏi thì người ta vẫn tranh cãi nhiều về những mức này. Nếu hiện tượng này được hiểu biết cặn kẽ hơn thì các nhà máy hạt nhân có thể được vận hành ở  mức nhiệt cao hơn, tạo ra nhiều điện năng hơn từ cùng lượng nhiên liệu, Bucci nói.  Hiểu biết tốt hơn về nước sôi và CHF là “một vấn đề khó khăn bởi đó là vấn đề phi tuyến tính”, và những thay đổi nhỏ trong các vật liệu hoặc cấu tạo bề mặt có thể có nhiều ảnh hưởng lớn đến quá trình này, anh giải thích thêm. Nhưng giờ đây, nhờ các công cụ tên tiến có khả năng nắm bắt các chi tiết của quá trình này trong các thí nghiệm, “chúng tôi đã có khả năng đo đạc và vẽ biểu đồ hiện tượng đó với độ phân giải theo không gian và thời gian cần thiết” để có thể hiểu được một cuộc khủng hoảng nước sôi bắt đầu ở điểm đầu như thế nào.  Nó cho thấy hiện tượng này có mối liên hệ gần gũi với dòng chảy giao thông trong thành phố, hoặc con đường hình thành dịch của bệnh tật ở một khu dân cư. Về bản chất, đó là vấn đề về cách những thứ được kết hợp lại với nhau. Khi số lượng các xe ô tô trong thành phố chạm đến một ngưỡng nhất định, nó tạo thành một thứ gì đó lớn hơn, giống như chúng sẽ chụm lại tại những nơi chốn nhất định và dẫn đến ùn tắc giao thông. Và khi những vật mang dịch bệnh xâm nhập các nơi chốn có đông người qua lại như sân bay hay các khán phòng, những cơ hội bùng phát dịch bệnh đã tăng lên. Các nhà nghiên cứu đã thấy số bong bong trên một bề mặt nước được gia nhiệt cũng dẫn đến một mẫu hình tương tự; phía trên là một sự hội tụ bóng nhất định, điều tất yếu đến là các bong bóng sẽ hội tụ lại, sáp nhập với nhau và hình thành một lớp cách điện trên bề mặt.  “Khủng hoảng nước sôi này về bản chất là kết quả của một sự tích tụ bong bóng được sáp nhập và kết hợp với nhau, vốn là yếu tố dẫn đến khả năng phá vỡ bề mặt nước”, anh nói.  Bởi những điều tương tự, Bucci nói, “chúng ta có thể có cùng cách tiếp cận với mô hình nước sôi như mô hình ùn tắc giao thông”, và những mô hình đó có đã được khám phá ra bản chất. Trên cơ sở các thí nghiệm và phân tích toán học, Bucci và cộng sự đã có khả năng định lượng được hiện tượng này và tìm ra những cách để xác định khi nào hiện tượng các bong bóng sáp nhập sẽ xảy ra. “Chúng tôi đã chứng tỏ rằng việc sử dụng mô hình này, chúng tôi có thể dự báo được khi nào khủng hoảng nước sôi sẽ xảy ra”, dựa trên các mẫu hình và sự mật độ của các bong bóng.  Phân tích của họ cho thấy, kết cấu ở cấp độ nano của bề mặt đóng vai trò quan trọng và là một trong số hầu hết các nhân tố có thể được sử dụng để tạo ra những hiệu chỉnh để có thể tăng CHF, do đó có thể dẫn đến việc truyền nhiệt đáng tin cậy hơn, dẫu áp dụng cho các nhà máy điện, chất làm mát dạng lỏng cho các chip máy tính tiên tiến hoặc nhiều quá trình khác mà việc truyền hình là một yếu tố quan trọng.  “Chúng tôi có thể sử dụng thông tin này không chỉ để dự đoán khả năng khủng hoảng nước sôi mà còn khám phá được các giải pháp, bằng việc thay đổi bề mặt của sự sôi, để tối giản hóa sự tương tác giữa các bong bóng”, Bucci nói. “Chúng tôi đang dùng hiểu biết đó để cải thiện vấn đề bề mặt, vì vậy chúng tôi có thể kiểm soát và tránh được hiện tượng ‘ùn tắc bong bóng’”.  Nếu nghiên cứu này có khả nang thay đổi, dẫn đến việc cho phép vận hành các nhà máy điện hạt nhân ở mức các dòng chảy nhiệt có nhiệt độ cao hơn mà vẫn an toàn – đó là tỷ lệ tại đó nhiệt độ được tiêu hao – hơn những gì diễn ra hiện nay thì tác động của nó có thể có ý nghĩa. “Nếu anh có thể chứng tỏ rằng điều khiển được bề mặt, anh có thể tăng dòng chảy nhiệt tới hạn khoảng 10 đến 20%, anh có thể gia tăng lượng điện năng trên cùng một số lượng nhiên liệu, do đó sử dụng tốt hơn nhiên liệu và các nguồn cung cấp sẵn có”, Bucci nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-04-efficiency-power.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiểu biết về ứng phó của khối u với môi trường dẫn đến liệu pháp điều trị tốt hơn      Ung thư thanh dịch mức độ nặng (high-grade serous carcinoma) là một hình thức nguy hiểm của ung thư buồng trứng và là nguyên nhân dẫn đến các ca có mức độ tiến triển nhanh. Những kết quả điều trị ít ỏi với căn bệnh này khiến người ta cần phải tìm ra những liệu pháp điều trị hiệu quả hơn.    Một nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Kunle Odunsi, giám đốc Trung tâm ung thư trường đại học Y khoa Chicago đã khám ra các cơ chế mới có thể dẫn đến việc hiểu ung thư buồng trứng có thể trốn thoát khỏi sự tấn công của hệ miễn dịch như thế nào và các biện pháp kết hợp có thể khai thác cơ chế này để cải thiện thêm việc điều trị ung thư buồng trứng. Kết quả được miêu tả trong bài báo “etabolic adaptation of ovarian tumors in patients treated with an IDO1 inhibitor constrains antitumor immune responses” xuất bản trên tạp chí Science Translational Medicine 1.  Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu của trường đại học Chicago, Trung tâm Ung thư Roswell Park và nhiều cơ sở nghiên cứu khác đã cùng nhau tìm hiểu cách giải quyết một trong những câu hỏi lớn có thể dẫn đến đột phá trong điều trị ung thư buồng trứng – tại ao liệu pháp miễn dịch cho ung thư buồng trứng lại thất bại? Cụ thể hơn, họ đã khám phá ra cơ chế ẩn đằng sau việc các khối u có thể trốn thoát được sự tấn công của hệ miễn dịch.  Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào đích là một enzyme mang tên indoleamine 2,3-dioxygenase 1 (IDO1) có khả năng làm suy giảm amino acid tryptophan, để tạo ra những sản phẩm có thể vượt qua đội quân là các tế bào miễn dịch (các tế bào T) bên trong môi trường khối u. Bởi vì các khối u đều nhận biết được các tế bào T vô cùng phụ thuộc vào tryptophan để sống sót nên chúng khiến cho một lượng lớn IDO1 “tước đoạt” tryptophan khỏi tế bào T. Những nghiên cứu trước đây cho thấy đích đến của IDO1 với một loại thuốc có thể ngăn chặn hành động này, đó là epacadostat (EPA), có thể chuyển ngược tryptophan cho các tế bào T mà khối u đã cắt. Tuy nhiên thật nghịch lý là việc phong tỏa IDO1 kết hợp với liệu pháp miễn dịch chỉ đem lại kết quả hạn chế trong các thực nghiệm lâm sàng mà các nhà nghiên cứu cho rằng tồn tại một lỗ hổng trong kiến ​​thức về bản chất sinh học của IDO1 và hệ quả của việc ngăn chặn nó.  Để hiểu tốt hơn về cách ung thư buồng trứng trốn khỏi sự tấn công của hệ miễn dịch, nhóm nghiên cứu muốn kiểm tra xem chính xác cái gì diễn ra trong vi môi trường khối u (TME) – các tế bào khỏe mạnh, phân tử và mạch máu xung quanh hỗ trợ khối u tăng trưởng – khi IDO1 bị phong tỏa. Nghiên cứu của họ bắt đầu trong lâm sàng, nơi họ có thể thu thập các mẫu bệnh phẩm từ các bệnh nhân được chẩn đoán là tiến triển bệnh ung thư buồng trứng nhưng không phẫu thuật hoặc hóa trị. Họ đã thu thập các mẫu bệnh phẩm một lần nữa sau khi các bệnh nhân đón nhận quyết định một đợt điều trị EPA với hai tuần và sau đó phẫu thuật để loại bỏ khối u.  Trong phòng thí nghiệm, họ thực hiện các thí nghiệm để tìm hiểu các hiệu ứng của EPA trên vi môi trường khối u. Kết quả phân tích cho thấy, EPA đã hiệu quả trong việc phong tỏa con đường IDO1 làm suy giảm lượng tryptophan nhưng lại kích hoạt một chuỗi sự kiện khác. Vi môi trường khối u đã đáp ứng những điều kiện mới bằng việc chỉnh hướng phá vỡ tryptophan hướng đến con đường serotonin và tăng cường việc tạo ra nicotinamide adenine dinucleotide (NAD+). Sự gia tăng NAD+ là yếu tố chính trong việc giảm thiểu hoạt động chống lại khối u của các tế bào T. Phát hiện này cho thấy NAD+, một thành phần chính của con đường chuyển hóa, ảnh hưởng đến phản hồi miễn dịch và mở ra cánh cửa mới cho hiểu biết các phản hồi miễn dịch chống lại khối u.  Câu hỏi tiếp theo là cách nào để sử dụng thông tin này để cải thiện liệu pháp điều trị cho bệnh nhân bị ung thư buồng trứng. Các nhà nghiên cứu đã “trúng lớn”. Bởi vì các chất chuyển hóa NAD+ có thể liên kết với thụ thể purinergic truyền đạt thông tin với hệ miễn dịch, họ tìm thấy tác động của việc phong tỏa các thụ thể đó trên sự sinh sôi và chức năng của tế bào T trong một mô hình chuột ung thư buồng trứng.  Các kết quả này rất thu hút. Sự kết hợp của ức chế IDO với EPA và một loại thuốc đối kháng được thiết kế để ngăn cản các thụ thể purinergic “giải thoát” sự sinh sôi của tế bào T và dẫn đến cải thiện sự sống sót trong một mô hình tiền lâm sàng trên chuột ung thư buồng trứng.  “Những phát hiện này nhấn mạnh vào tiềm năng làm giảm bớt sự ức chế IDO1 và cho thấy liệu pháp ức chế IDO1 sẽ đòi hỏi sự kết hợp với việc phong tỏa tín hiệu NAD+”, Odunsi, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, nói.  Nghiên cứu này là ví dụ điển hình của nghiên cứu tiến triển theo thời gian, với việc thực hiện nhiều quan sát từ thực nghiệm lâm sàng và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm có thể phát hiện ra các mục tiêu điều trị. Nghiên cứu cũng mô tả sự tiến triển trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề của một nhóm nghiên cứu có sự tham gia của chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau có thể dẫn đến những phát hiện đột phá diễn ra nhanh hơn nếu chỉ sử dụng một chuyên môn hẹp.  “Công trình này cho thấy một nỗ lực hợp tác trên một phạm vi chuyên môn rộng sử dụng các công nghệ hiện đại, từ phân tích thống kê lâm sàng, chuyển hóa, biểu hiện gene, các đặc điểm tiến triển của tế bào và hiển thị nó, bà một mô hình tiền lâm sàng của ung thư buồng trứng”, anh nói. “Toàn bộ nghiên cứu này tập hợp một lượng rất lớn nỗ lực, kiến thức và chuyên môn với 36 nhà nghiên cứu để tập trung vào tìm hiểu vấn đề là cách chúng tôi có thể cải thiện liệu pháp miễn dịch với ung thư buồng trứng”.  Tô Vân  tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-insights-tumors-metabolically-environment-cancer.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/03/220316145827.htm  ————–  1.https://www.science.org/doi/10.1126/scitranslmed.abg8402    Author                .        
__label__tiasang Hiểu cách vật liệu chuyển pha giúp dự đoán nhiều vấn đề kỹ thuật phức tạp      Nhiều năm làm thực nghiệm một cách tỉ mỉ đã giúp các nhà nghiên cứu hướng đến mục tiêu kết nối vật lý để xác định các vật liệu chuyển pha từ rắn sang lỏng. Các nhà nghiên cứu cho biết một mô hình lý thuyết có thể giúp cho họ phát triển một vật liệu tổng hợp mới, cung cấp thông tin và dự đoán được các vấn đề kỹ thuật dân sự và thách thức môi trường như trượt lở đất, vỡ đập, lở tuyết…      Lớp chất nhầy ở bên dưới chân ốc sên là một ví dụ về một dạng vật liệu mềm có khả năng chịu ứng suất đến một điểm nhất định, sau đó bị chảy ra. Hành xử này đã được các nhà nghiên cứu tại Đại học Illinois Urbana-Champaign đơn giản hóa trong một nghiên cứu mới. Nó cho thấy đây là là yếu tố giúp ốc sên di chuyển mà không bị trượt, tương tự như ở nhiều vật liệu tự nhiên và tổng hợp khác, từ bùn đến các chất phụ gia làm kem đánh răng. Nguồn: Rodrigo Quarteu  Nghiên cứu này do các nhà khoa học ở trường đại học Illinois Urbana-Champaign thực hiện dưới sự dẫn dắt của nhà kỹ thuật hóa học và sinh học phân tử Simon Rogers. Họ phát hiện ra một biểu thức toán học hợp nhất xác định cách các vật liệu ứng suất đàn hồi chuyển pha từ trạng thái rắn sang lỏng khi chúng vượt quá ngưỡng ứng suất cụ thể của chúng.  Phát hiện được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters “Unification of the Rheological Physics of Yield Stress Fluids” 1.  “Từ lâu, hành xử của chất lỏng ứng suất đàn hồi đã được xác định bằng việc cố gắng kết hợp vật lý của hai trạng khác nhau của vật liệu và rắn và lỏng”, Krutarth Kamani, một học viên cao học kỹ thuật hóa học và sinh học phân tử tại Illinois và là tác giả thứ nhất của công trình, nói. “Nhưng hiện tại thì chúng tôi đã chứng tỏ là các trạng thái vật lý này – rắn và lỏng – có thể cùng tồn tại trong cùng một vật liệu, và chúng tôi có thể giải thích bằng việc sử dụng một biểu thức toán học”.  Để phát triển mô hình này, nhóm nghiên cứu đã thực hiện vô số nghiên cứu với chủ đề là một loạt các vật liệu mềm khác nhau để cho tác dụng ứng suất trong khi đo đạc sức căng giống trạng thái lỏng và trạng thái rắn đơn lẻ phản hồi tác dụng đó bằng việc sử dụng một thiết bị gọi là máy đo lực tốc.  “Chúng tôi đã có thể quan sát hành xử của một vật liệu và thấy chuyển pha liên tục giữa các trạng thái rắn và lỏng”, Rogers, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu KH&CN tiên tiến Beckman tại trường UofI, nói. “Các mô hình truyền thống đều miêu tả một thay đổi đột ngột trong hành xử từ pha rắn sang lỏng nhưng chúng tôi đã có thể giải quyết được hai hành xử riêng biệt phản ánh sự hao tán năng lượng qua các cơ chế rắn và lỏng”.  Nghiên cứu cho tấy sự phát triển này trao cho các nhà khoa học một mô hình đơn giản để tìm hiểu, làm cho nó dễ dàng hơn để thực hiện các tính toán ở quy mô lớn như những việc cần thiết để mô hình hóa và dự đoán các sự kiện mang tính thảm họa thiên nhiên như trượt lở đất, tuyết lở… “Các mô hình hiện có đòi hỏi các nguồn lực tính toán lớn, và các nhà nghiên cứu phải vật lộn để có được các tính toán chính xác nhất có thể”, Rogers nói. “Mô hình của chúng tôi đơn giản và chính xác hơn, và chúng tôi đã chứng tỏ điều đó thông qua những thực nghiệm mang tính ‘chứng minh khái niệm’”.  Các nhà nghiên cứu cho biết các nghiên cứu ứng suất đàn hồi phức tạp về chất lỏng là chủ đề nóng cho những nghiên cứu về các dòng chảy địa vật lý, xử lý chất thải và các quá trình chế biến trong công nghiệp như phát triển vật liệu mới, in 3D và giảm thiểu hóa các chi phí vận chuyển chất thải… “Mô hình của chúng tôi xác định được một ví dụ cơ bản của hành xử rắn sang lỏng nhưng tôi nghĩ, nó sẽ đóng vai trò như một điểm xuất phát cho các nhà nghiên cứu thực hiện một tiến trình đáng kể trong việc xác định được nhiều hiện tượng lỏng ứng suất đàn hồi phức tạp hơn”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-theory-materials-solids-liquids.html  https://www.thebrighterside.news/post/unified-theory-finally-explains-how-materials-transform-from-solids-to-liquids  —————————————  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.126.218002    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệu quả năng lượng của công nghệ đốt rác phát điện      Ưu điểm lớn nhất của công nghệ đốt rác phát điện là góp phần xử lý rác thải đô thị và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Vậy về hiệu quả điện năng và hiệu quả kinh tế, đốt rác phát điện có khả năng cạnh tranh với các loại hình công nghệ khác không hay chỉ là một giải pháp giúp quá trình xử lý rác thải đạt hiệu quả cao hơn?        Nhà máy điện rác Bozen. Nguồn: Marco Ferrarin  Không chỉ đến bây giờ, câu hỏi này mới được đặt ra. Kể từ khi công nghệ chuyển đổi rác thải thành năng lượng (Waste to Energy) ra đời và được áp dụng trên thế giới, cả các nhà nghiên cứu và giới công nghiệp đều rất mong muốn đạt được cả hai mục đích chính là xử lý rác thải và sản xuất năng lượng. Hầu hết các cải tiến về công nghệ trước đây và hiện nay đều tập trung vào hai mục đích này, nhằm đem thêm lợi thế cạnh tranh cho công nghệ đốt rác phát điện so với các loại hình công nghệ sản xuất điện năng khác.   Những vấn đề liên quan đến lựa chọn công nghệ  Ở đây, chúng ta hãy cùng thử phân tích các yếu tố kinh tế tác động đến công nghệ đốt rác phát điện, khi công nghệ được lựa chọn cho một nhà máy điện rác. Trước hết, chúng ta xét đến hai hướng xử lý chính:   Phương án 1: Sản xuất khí nhiên liệu để đốt trong các động cơ đốt trong và chạy máy phát điện. Bản chất của phương án này là phân loại và chế biến chất thải khó phân hủy thành viên nhiên liệu và đốt nó trong các lò khí hóa để sinh ra nhiên liệu khí dưới dạng khí đốt tổng hợp (syngas) với thành phần chủ yếu là CO, CH4, H2, CO2, N2; còn chất thải dễ phân hủy đưa vào hầm ủ sinh khối để sản xuất ra khí đốt dưới dạng khí sinh học (biogas) với thành phần chủ yếu là CH4, H2, CO2. Hai loại khí này có thể trộn với nhau để thành nhiên liệu khí được đốt trong động cơ đốt trong để phát điện.  Để làm được điều đó, rác thải được phân loại bằng một quy trình chuyên nghiệp chuyển đổi tính năng của chất thải trong dây chuyền, với hai giai đoạn: các loại rác thải chung thành chất thải phi nhiên liệu (đất đá, chai lọ, sắt thép) và chất thải nhiên liệu (chất thải cháy được) rồi mới tiếp tục phân loại chất thải nhiên liệu thành chất thải khó phân hủy (nilon, cành cây, gỗ, giấy v.v.) và chất thải dễ phân hủy (thực phẩm, rau..).  Tuy nhiên, hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các công nghệ dạng này thường chỉ đạt được dưới 20%.  Không chỉ có hiệu suất điện năng thấp, điểm yếu của công nghệ này là sinh ra các thành phần gây ăn mòn của khí và việc xử lý nó hết sức khó khăn, chỉ có một số quốc gia tiên tiến như Mỹ, Đức, Áo mới có khả năng kiểm soát được khí thải. Hiện tại Việt Nam đã chủ động công nghệ chế tạo các thiết bị phân loại chất thải tuy nhiên các thiết bị khí hóa do chúng ta sản xuất lại hoạt động kém ổn định do trong hầm ủ, khí sinh học chịu nhiều lực tác động rất phức tạp. Nhìn chung, phương án này suất đầu tư khá cao tính ổn định kém vẫn còn mang tính thử nghiệm và chưa thương mại hóa ổn định với công suất lớn.   Phương án 2. Công nghệ theo phương án này hoạt động như hình 1: rác thải đưa về nhà máy chỉ cần loại bỏ các chất thải phi nhiên liệu cỡ lớn dễ tách biệt rồi tập trung trong bể chứa rác hoàn toàn kín. Trong quá trình ủ từ 12 đến 15 ngày, các chất hữu cơ trong rác tiếp tục bị phân hủy, hình thành nước rỉ rác, sau đó được tách ra tại đáy bể theo một quy trình riêng biệt bao gồm các quá trình xử lý yếm khí, hiếu khí, lắng, lọc. Nhiệt thừa trong quá trình đốt tiêu hủy rác sẽ được tận dụng để đun nóng nước, qua đó sinh hơi và chuyển sang turbine để sản xuất ra điện năng như các nhà máy nhiệt điện khác.   Công nghệ này không cần phân loại rác thải, diện tích nhà máy xử lý không quá lớn, hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao hơn so với công nghệ theo phương án 1, tuy nhiên cũng chỉ dao động ở mức từ 25 đến 30%.   Với dạng công nghệ này, chúng ta đã chủ động được việc chế tạo lò hơi, xây dựng cơ sở hạ tầng – xử lý nước rỉ rác. Nhìn chung, chúng ta cũng có thể xử lý khá triệt để các vấn đề môi trường liên quan đến nhiên liệu ở ba thể rắn – lỏng – khí với sự hỗ trợ của hệ thống xử lý được thiết kế hợp lý. Hạn chế của công nghệ này là chi phí đầu tư lớn, hệ thống xử lý môi trường cũng khá tốn kém, tính khả thi tùy thuộc vào thành phần rác thải, tuy nhiên với khối lượng rác lớn trên 100 tấn/ngày đêm thì có thể vận hành và với quy mô 200 tấn/ngày thì hiệu quả kinh tế đầu tư có thể đảm bảo tốt.   Điều quan trọng của loại công nghệ này là xử lý nước rỉ rác gây ra mùi khó chịu từ quá trình phân hủy tạo ra khí hỗn hợp (H2O, CH4, H2S, CxHy, CO2, Ncvb,…). Đây là thực tế xảy ra ở nhiều nhà máy xử lý rác ở Việt Nam1. Để loại bỏ mùi khó chịu này, đường hút không khí cấp cho quá trình cháy cần đặt ở vị trí phù hợp để hút toàn bộ khí có mùi khó chịu và đưa ngay vào lò đốt. Rác sau ủ, lượng ẩm giảm, làm tăng nhiệt trị sẽ đưa vào lò đốt và trong quá trình đốt sẽ sinh ra khói thải với nhiều loại khí thải độc hại cần xử lý để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường.   Đầu tư cho nhà máy điện rác   Theo dữ liệu ban đầu của một số dự án tại Việt Nam đã được phê duyệt và chờ phê duyệt thì suất đầu tư cho các nhà máy điện – rác nằm trong khoảng 3,5 đến 4 triệu đô la/1MW điện. Nét chung của các dự án này là chi phí vận hành lớn, cần bảo trì thường xuyên và tuổi thọ thiết bị ngắn hơn so với các dự án nhiệt điện đốt than. Trong khi đó, dù sử dụng loại công nghệ theo phương án nào thì hiệu suất điện năng của các nhà máy điện rác đều ở mức nhỏ (cao nhất cũng chỉ là 30%). Do công suất điện phát lên lưới quốc gia cũng sẽ ở nhỏ nên thời gian thu hồi vốn của các dự án này thường từ 10 đến 20 năm.   Khi giá điện bán lên lưới được nhà nước quy định cho loại hình dự án này là 10,05 cents/1kWh, đem lại hiệu quả kinh tế cho các chủ đầu tư, việc vay vốn và huy động vốn nhận được sự hỗ trợ từ nhiều nguồn có lãi suất ưu đãi như Quỹ Môi trường Việt Nam, Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi chính phủ…   Tuy nhiên để tính toán về hiệu quả kinh tế của hai dạng công nghệ đã đề cập đến ở trên, chúng ta cần xét đến đến các yếu tố sau nữa:  Quy mô xử lý rác thải và công suất phát điện. Quy mô xử lý chất thải rắn sinh hoạt được xác định bằng cân điện tử, nên đạt mức tối thiểu là 200 tấn/ngày, có xét đến tỷ lệ gia tăng từ 8 đến 10%/năm. Tỷ lệ nước rác cũng biến động theo ngày, theo mùa và nằm trong dải từ 5-20% so với khối lượng rác đầu vào. Tùy theo nhiệt trị của chất thải mà mỗi tấn chất thải có thể sẽ sản xuất ra từ 180÷380 kWh điện. Nhìn chung, rác của khu vực Hà nội nằm trong khoảng 4600 đến 5200 kJ/kg. Tùy theo khu vực dân cư, loại rác thải có nhiều biến đổi về nhiệt trị và chất lượng nhiên liệu, nhà đầu tư cần khảo sát trước để đánh giá tốt hơn tiềm năng phát điện cũng như lựa chọn cấu hình tổ máy phù hợp.  Các hạng mục cần có. Hệ thống tiếp nhận rác và cấp rác đảm bảo đồng bộ kín không rò rỉ mùi; Hệ thống đốt rác; hệ thống xử lý xỉ đáy và tro bay; hệ thống thu hồi nhiệt sinh hơi bao gồm nồi hơi, tua bin, bình ngưng và các thiết bị chu trình hơi; hệ thống phát điện bao gồm máy phát và hệ thống trạm biến áp phát lên lưới; hệ thống xử lý khí thải đảm bảo loại bỏ SOx; NOx; hơi axit furan và dioxin; hệ thống điều khiển tự động bao gồm các thiết bị điều khiển nhiệt, DCS, hệ thống giám sát, báo cháy, v.v.; hệ thống cấp nhiên liệu phụ trợ; hệ thống xử lý nước rỉ rác; hệ thống khí nén; hệ thống điều hòa không khí; hệ thống văn phòng đường sá tạo cảnh quan môi trường.   Địa điểm và bán kính vận chuyển rác. Nhà máy xử lý rác gồm hai nguồn thu chủ yếu: phí xử lý rác và phí bán điện trên lưới (sau khi đã trừ đi lượng điện tự dùng trong chính nhà máy). Vì lý do kinh tế và quy định về chi phí nhà nước phải trả cho các chủ đầu tư, quãng đường vận chuyển rác từ nguồn thải đến nhà máy xử lý nên nhỏ hơn 50km. Địa điểm đặt nhà máy cần chú ý sát với lưới điện cao thế 22KV, 35KV hoặc 11KV và nên nhỏ hơn 3km khi áp dụng cho các nhà máy xử lý rác nhằm giảm xuất đầu tư. Khoảng cách từ nhà máy đến các khu vực đông dân cư không dưới 300m.   Nguồn cung cấp nước ngọt và vấn đề làm mát nước tuần hoàn. Do áp dụng công nghệ sản xuất điện năng, nên nước cung cấp cho lò hơi, nước tuần hoàn làm mát bình ngưng hoặc nước bổ sung cho tháp giải nhiệt là một yêu cầu quan trọng. Địa điểm đặt nhà máy cần lưu ý đến các nguồn nước mặt như: hồ, sông, kênh rạch trong phạm vi bán kính khoảng 1km phù hợp với công suất điện của tổ hợp turbine – máy phát.  Nhà cung cấp thiết bị cho dây chuyền công nghệ. Các nhà cung cấp thiết bị cho nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt được hình thành từ trong nước và các đơn vị ngoài nước.Với các đơn vị trong nước gồm: Tư vấn, thực hiện các hoạt động khảo sát tiền dự án, lập các báo cáo chuyên môn, thực hiện công tác xây dựng nhà xưởng – cơ sở hạ tầng, chế tạo – lắp đặt lò hơi và các thiết bị phụ trợ. Với các đơn vị ngoài nước: có thể bao gồm các hoạt động tư vấn thiết kế tổng thể nhà máy, cung cấp các thiết bị chuyên dụng mà trong nước chưa sản xuất được (các thiết bị điện tử, các loại cảm biến, turbine – máy phát, các thiết bị hòa đồng bộ,…).     Nhiên liệu đốt bổ sung. Để đáp ứng Quy chuẩn QCVN 61-MT:2016/BTNMT cho các lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, trong trường hợp nhiệt trị rác biến động mạnh, nhiệt độ buồng thứ cấp xuống thấp, cần phải đốt bổ sung nhiên liệu như dầu DO, hoặc các nhiên liệu khác như: sinh khối, biomas, than cám…. Việc sử dụng loại nhiên liệu nào cần căn cứ vào địa điểm đặt nhà máy, nguồn nhiên liệu – giá bán trên thị trường, công suất điện phát lên lưới, lượng rác xử lý hàng ngày và các chi phí khác.   ***  Sau khi phân tích hàng loạt yếu tố liên quan đến hiệu suất năng lượng và hiệu quả kinh tế, có thể thấy so với các loại hình công nghệ sản xuất điện năng khác, đốt rác phát điện không thực sự chiếm ưu thế về hiệu quả năng lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Dù áp dụng công nghệ nào thì rút cục, việc đốt rác và tận dụng nhiệt thải để phát điện chỉ là một giải pháp giúp cho quá trình xử lý rác thải mang tính hiệu quả cao hơn. Giá trị mà công nghệ này mang lại không phải là tính kinh tế mà là góp phần đem lại một môi trường sạch. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta thờ ơ với nó để đầu tư cho những công nghệ sản xuất điện năng khác, đạt hiệu quả cao hơn. Với các công nghệ thân thiện môi trường như điện rác, cần có một sự hỗ trợ nhất định từ phía các cơ quan chức năng hoặc các nhà phát triển công nghệ có tầm nhìn xa. Nó có thể có tính thương mại ở nước này mà không phải ở nước khác, vùng này không phải ở vùng khác đơn giản vì những khác biệt trong chính sách giá năng lượng, chính sách hỗ trợ chung, thói quen tập quán của một khu vực dân cư, v.v.  Rác là chất thải và việc xử lý nó luôn đòi hỏi các yếu tố công nghệ đi kèm với mục tiêu quan trọng nhất là loại bỏ được các nguồn gây ô nhiễm môi trường một cách sạch sẽ và không đem tới hậu quả xử lý lâu dài. Việc phát triển công nghệ đốt rác phát điện là cần thiết và mang tính khả thi cao với tình trạng môi trường hiện nay của Việt Nam, đặc biệt ở những khu vực đô thị đông dân cư như Hà Nội, TPHCM…  Khi xây dựng một nhà máy đốt rác phát điện, bên cạnh các yếu tố về kinh tế cần phải được chú ý các tiêu chí sau: không gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khu vực xung quanh; xử lý các nguồn thải triệt để không gây hại lâu dài cho không khí và các tầng nước ngầm của khu vực; đồng bộ hóa từ khâu tập kết rác đến khâu xử lý để đảm bảo quá trình trọn vẹn không gây ô nhiễm trong các khâu phụ.  1. http://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong-va-phat-trien/201710/kien-giang-nha-may-xu-ly-rac-phu-quoc-boc-mui-dan-chan-xe-rac-2854942/      Author                Nguyễn Xuân Quang        
__label__tiasang Hiểu và đi trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư      Thời gian qua câu chuyện “công nghiệp 4.0” hay “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, viết tắt là CMCN4, được nói nhiều ở nước ta, thậm chí nghe thấy ở ta còn nhiều hơn ở các nước phát triển. Nhưng dường như mới có các bài viết từcác phóng viênbáo đài và chỉ đạo về công nghiệp 4.0 từ các nhà lãnh đạo, những người quản lý… và còn ít tiếng nói từ những người làm khoa học và công nghệ (KH&CN), những người ít nhiều hiểu về nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp này.      Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là gì?  Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở nước Anh từ nửa cuối của thế kỷ 18. Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuấtvà sự thay đổi này được tạo ra bởi cácđột phá của khoa học và công nghệ. Về đại thể cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 18 và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từsản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 19 cho đến khi đại chiến thế giới lần thứ nhất xảy ra, với thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sangsản xuất hàng loạt bằngmáy móc chạy vớinăng lượng điện. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970s với sự ra đời của sản xuấttự động dựa vào máy tính và thiết bị điện tử (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970, 1980), và internet (thập niên 1990).  Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số (digital technology) [1], [2].  Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm thay đổi và nâng cao giá trị của nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức. Có thể xem cuốn sách “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (The Fourth Industrial Revolution), của giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF, là tuyên ngôn về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.    Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất trong tương lai khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” (National strategy for advanced manufactoring in the United States) cho ba thập kỷ tới3, nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp” (The new face of industry in France) 4, Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai” (Korea’s Future Growth Program) 5, Trung Quốc có “Làm tại Trung Quốc năm 2025” (Made in China 2025) 6… Ngay cả khi ta chỉ xem cái tên “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra, vẫn không thể bỏ qua sự thật là các cường quốc đang chuẩn bị chiến lược phát triển sản xuất cho một tương lai gần.  Và tới đây việc sản xuất ngày càng thông minh, càng hiệu quả của các cường quốc này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến các nước khác. Mỗi quốc gia, dù đang ở vị thế nào trên bản đồ phát triển của thế giới, cũng phải tìm ra cách phát triển trong sự thay đổi do cuộc cách mạng công nghiệp này đem lại để quyết định đi như thế nào, trước hết cần hiểu rõ hơn về CMCN4.  Báo chí thường mô tả CMCN4 với các thành tựu của Trí tuệ Nhân tạo (TTNT), vớimáy móc tự động và thông minh như ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều (3D printing), kết nối vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và công nghệ nano… Nhưng cốt lõi của những đột phá này là gì?Có hay không điểm chung của các đột phá đó?  Có thể nói rằng đó chính là đột phá của công nghệ sốtrong những năm vừa qua, tiếp nối thành quả của cuộc cách mạng số hoá (digital revolution) diễn ra trong mấy chục năm từ khi có máy tính, tức từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Vậy cách mạng số hoá và công nghệ số là gì? Công nghệ số giống công nghệ thông tin không? Những đột phá của công nghệ số là gì lại có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp?  Các thực thể trong thế giới quanh ta ở dạng vật chất vốn có của chúng. Chiếc ô-tô là một khối sắt thép có thể chuyển động khi được đổ xăng và được điều khiển. Cây lúa, con tôm là những sinh vật được sinh ra và lớn lên. Con người là sinh vật phức tạp nhất mà chỉ riêng bệnh tật và sức khoẻ đã là động lực của một khoa học luôn được quan tâm hàng đầu: khoa học sự sống (life science). Sự ra đời của máy tính đã dẫn đến cuộc cách mạng số hoá, nhất là khi máy tính cá nhân và internet xuất hiện, ngày càng gắn bó với các hoạt động của con người. Sở dĩ vậy vì máy tính chỉlàm việc với hai con số ‘0’ và ‘1’. Để tính toán trên máy tính cho các thực thể ta cần biểu diễn được chúngbằngnhững con số ‘0’ và ‘1’ trên máy tính theonhững mô hình và cách thức thích hợp nào đó. Ta gọi các biểu diễn này là‘phiên bản số’ của các thực thể.Có thể hình dung một cách đơn giản những ‘phiên bản số’ của một chiếc ô-tôlà số liệu kỹ thuật của các bộ phận và liên kết của chúng trong quá trình sản xuất, hoặc có thể là số liệu vềchuyển động của xe và các ảnh số thu được từ camera của xe khi xe chạy trên đường. Những ‘phiên bản số’ của cây lúa, con tôm có thể là hệ gien của chúng, hoặc dữ liệu về sự biến đổi của chúng theo những thay đổi của môi trường. Những ‘phiên bản số’ của mộtngười có thể là những ý kiến của người này trên facebook, những số liệu đo được từ các thiết bị đeo trên người (wearable) hay bệnh án điện tử của người này trong cơ sở dữ liệu ở bệnh viện.  Tạo ra ‘phiên bản số’ của các thực thể chính là việc số hoá (digitalization), và công việc được làm khắp nơi này đã được ẩn dụ gọi là cuộc cách mạng số hoá. Các ‘phiên bản số’ chính là dữ liệu (data) của các thực thể, có được do quan sát, thu thập, đo đạc… và việc xử lý các dữ liệu này để tìm ra ý nghĩa của chúng, chính là tìm ra thông tin,là mục tiêu chính yếucủa ngành công nghệ thông tin (CNTT).  ‘Phiên bản số’ của các thực thể cho phép ta nối chúng với nhau trên các hệ thống máy tính hoặc nối chúng vào internet, và tạo ra các không gian số (cyberspace) tương ứng với thế giớithực thể của chúng ta (physical world). Những hệ thống kết nối các thực thể và ‘phiên bản số’ của chúng được gọilà các hệ kết nối không gian số-thực thể, tạm dịch theo nghĩa của từ cyber-physical systems. Đây là một khái niệm cơ bản của CMCN4, phản ánh mối liên hệcủa sản xuất tiến hành trong thế giới các thực thể nhưng quá trình tính toán được làm trên không gian số và kết quả tính toán này được trả lại dùng chosản xuất trong thế giới các thực thể. Đây là thay đổi cơ bản về phương thức sản xuất của con người, sản xuất được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ không gian số.Trong những năm vừa qua, các tiến bộ đột phá của công nghệ số đã và đang cho phép thực hiện các tính toán phức tạp liên quan đến trí thông minh con người, làm cho sản xuất thông minh và hiệu quả hơn.  Công nghệ số là công nghệ về các tài nguyên số, khởi đầu từ giữa thế kỷ trước, đã và đang thay đổi nhiều lĩnh vực. Có hai khía cạnh của công nghệ số, một là việc số hóa và hai là việc quản trị và xử lý các dữ liệu được số hóa. Thí dụ của số hoá trong các ngành nghề khác nhau như chụp ảnh đã chuyển từ ảnh phim qua ảnh số, từ máy ảnh cơ qua máy ảnh số; việc inấn dựa vào ảnh số và chế bản điện tử cho chúng ta có sách báo như ngày nay; kỹ thuật truyền hình đã chuyển sang truyền hình số đẹp hơn rất nhiều; công nghệ truyền tin đã thay thế các tín hiệu tương tự bằng các tín hiệu số, truyền và nhận tín hiệu số trên những đường truyền hiệu năng cao…  Công nghệ số có phần chung rất lớn với công nghệ thông tin, đó là phần quản trị và xử lý dữ liệu được số hoá. Trải qua các làn sóng của công nghệ số 6, những đột phá trong thời gian gần đâynhư điện toán đám mây, thiết bị di động thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT… đang tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện rộng rãi, mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Hình 2).    Hình 2.Các làn sóng của công nghệ số.  Trí tuệ nhân tạolà lĩnh vực nhằm làm cho máy tính không những biết tính toán mà còn có các khả năng của trí thông minh con người, tiêu biểu là các khả năng lập luận, hiểu ngôn ngữ và biết học tập. Trong lịch sử 60 năm phát triển của TTNT, ngành học máy (machine learning), nhằm làm cho máy có thể tự học để nâng cao năng lực hành động, là lĩnh vực sôi động nhất của TTNT trong hai thập kỷ qua. Có thể định nghĩa học máy là việc phân tích các tập dữ liệu ngày càng lớn và phức tạp để đưa ra các quyết định hành động. Thí dụ đó là các quyết định khi chương trình AlphaGo của Google đánh thắng nhà vô địch cờ Vây, là quyết định trong các phần mềm dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác hay các phần mềm nhận biết tiếng nói con người, là các quyết định chẩn đoán bệnh của hệ Watson của hãng IBM… Gần đây, với sự bùng nổ của dữ liệu, kết quả của việc số hoá và kết nối internet khắp nơi,khoa học dữ liệu (data science)-với trung tâmlà phân tích dữ liệu (data analytics) dựa vàohọc máy vàthống kê-đang trở thành nền tảng của CMCN4.Có thể nói hầu hết các ứng dụng được nói dưới tên TTNT trong CMCN4 đều chủ yếu dựa vào các phương pháp của học máy cùng tiến bộ của kết nối thực thể và các hệ thống tính toán.  Rất nhiều đột phá trong công nghệ sinh học và công nghệ nanonhững năm qua, và các công nghệ này cũng liên quan rất nhiều đến công nghệ số. Gần đây việc số hoá trong sinh học phân tử đã trở nên dễ dàng với giá rẻ hơn rất nhiều (một hệ gien có thể được số hoá trong vài giờ đồng hồ với chi phí ít hơn một nghìn đô-la). Lĩnh vực tin-sinh học (bioinformatics)-dựa vào các phương pháp của học máy để phân tích nguồn dữ liệu sinh học khổng lồ nhằm khám phá các hiểu biết về sự sống- đang góp phần vào những tiến bộ của công nghệ sinh học, mở ra nhiều triển vọng cho y học và nông nghiệp.Công nghệ nano cũng có những bước tiếnhứa hẹn dựa vào công nghệ số. Gần đây nước Mỹ khởi đầu chương trình nghiên cứu lớn về vật liệu tính toán (materials genome initiative) [7], nhằm dùng các kỹ thuật của học máy để rút ngắn giai đoạn thử nghiệm trong phòng thí nghiệm khichế tạo các vật liệu mới.Một chương trình tương tự ở Nhật cũng đã bắt đầu từ hai năm qua.  Những tiến bộ thường được nói đến trong CMCN4 cho các thực thể vật lý như ô-tô tự lái, in 3D hay robot thông minh đều liên quan rất nhiều vào công nghệ số.Đại thể khi một chiếc ô-tô tự lái chạy trên đường, rất nhiều phương pháp học máy được sử dụng để xác định đường đi của ô-tô, các thực thể chuyển động quanhvà tương tác với ô-tô,và phân tích để đưa ra quyết định chuyển động của ô-tô.  Những điều cốt yếu tóm tắt về CMCN4 là cơ sở để ta xem xét cầnđi như thế nào trong cuộc cách mạng này. Phần tiếp theo trao đổi nhanh một vài ý kiến chủ quan của người viết khi những nghiên cứu, thảo luận và quyết định cần được tiến hành một cách hệ thống và nghiêm túc, tránh những tuyên bố vội vã đi trước nhận thức.  Trước hết, để đi trong CMCN4 cần biết ta đang ở đâu trong các cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra? CMCN2? CMCN3? Ta đã có những yếu tố nào của CMCN4? Rồi ta muốn đến đâu, muốn có vị trí nào trên bản đồ phát triển của thế giới khi rất nhiều quốc gia khác cũng sẽ CMNC4? Sau nữa, cần nhìn CMCN4 là cuộc cách mạng của sản xuất thông minh nhưng không nhất thiết chỉ là các lĩnh vực của sản xuất công nghiệp. Cốt lõi là ta có thể thực hiện đến đâu sự thay đổi phương thức sản xuất mới này trong những việc ta muốn và cần làm.  Có những thứ ta phải lựa chọn làm đòn bẩy để phát triển, như ta đã chọn nông nghiệp và du lịch, và có những thứ ta không thể chọn mà nhất thiết phải làm như giáo dục, môi trường và y tế. Phải chăng đi trong CMCN4 của ta trước hết chính là làm nông nghiệp và du lịch thông minh, là làm giáo dục, môi trường và y tế thông minh khi biết lựa chọn và có thể làm chủ những công nghệ số và các công nghệ cao cần cho mình?  Chẳng hạn thử nghĩ về nông nghiệp trong CMCN4. Nếu ta muốn nuôi trồng một số ‘cây và con’để tham gia thị trường quốc tế, thì rất cần biết ở những nơi khác ai cũng nuôi trồng những cây và con này, sản lượng các nơi đó có thể là bao nhiêu, nhu cầu thị trường ra sao. Cần thu thập dữ liệu về những điều này và từ đó tính toán để có những dự báo và quyết định xác đáng. Nông nghiệp thông minh cũng nằm ở việc chuyển dịch một phần diện tích lúa sang các cây trồng, vật nuôi khác có giá trị cao hơn lúa.Việc dịch chuyển ở đâu, chuyển bao nhiêu, giá trị cao hơn bao nhiêu… đều cần và có thể tính toán được nhờ khoa học dữ liệu. Chẳng hạn trong việc nuôi tôm, tạo ra các giống tôm không thoái hoá cũng như thức ănthích hợp cho chúng cần được nghiên cứu với việcsử dụng công nghệ số. Từ đây từng bước ta có thể tiến đến nông nghiệp chính xác (precision agriculture) cho nhiều ‘cây và con’.  Du lịch của ta trong CMCN4 cũng cần được phát triển một cách thông minh với hỗ trợ của công nghệ số. Sự thông minh thể hiện ở chỗ phải tính toán được lợi hại của các dịch vụ, tuyên truyền sâu rộng cho người dân thấy lợi ích của dịch vụ chất lượng cao cũng như thiệt hại của ‘ăn xổi’ để khách ‘một đi không trở lại’ hoặc khách lan truyền các điểm yếu kém của du lịch Việt Nam trên không gian mạng. Việc giới thiệu du lịch cũng cần dựa trên các công nghệ số hiện đại. Cách làm của Uber dùng công nghệ số để cung cấp tiện ích cho khách hàng rất đáng học tập cho các hoạt động du lịch ở Việt Nam.Dùng được công nghệ số có thể tạo ra và cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách du lịch, làm cho du khách thậthài lòng khi đến Việt Nam.  Chúng ta cần tìm cách số hoá được sông ngòi, tính toán và mô phỏng được các tình huống lũ lụt có thể xảy ra để có phương án thích hợp, tránh tình trạng phải xả lũ nhưng không biết thiệt hại sẽ xảy ra thế nào.  Trong Y tế, CNTT của ta lâu nay góp phần vào quản lý bệnh viện, nhưng còn íttrong việc khám chữa bệnh. Tiến bộ của công nghệ số ngày nay cho phép số hoá tình trạng bệnh tật và chăm sóc y tế của mỗi người dân trong bệnh án điện tử, là nền tảng của Y tế Điện tử (e-health). Có thể khai thác bệnh án điện tử để tìm ra các tri thức y học, hỗ trợ chẩn đoán, cảnh báo sai sót, gợi ý điều trị, dự đoán tác dụng phụ của thuốc…  Ta cần xem xét tác động của CMCN4 lên hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội, cần sử dụng công nghệ số, dùng khoa học dữ liệu trong các ngành tài chính, ngân hàng, năng lượng, giao thông vận tải… Chẳng hạn, ùn tắc giao thông có thể được cải thiện nếu ta tự động phân tích được tình hình giao thông từ dữ liệu số thu bằng các cảm biến gắn trên một số xe và máy quay ở những điểm chọn lựa (thay vì các tình nguyện viên gọi điện thoại báo về tổng đài).  Ta cần tìm cách thay đổi giáo dục, để lớp công dân mới có tri thức và kỹ năng thích ứng được với thay đổi do cuộc cách mạng công nghiệp mới, để nâng cao những phẩm chất và tính nhân văn của con người mà máy không bao giờ có được.  CMCN4 mở ra một cơ hội phát triển cho Việt Nam. Sở dĩ vậy vì cuộc cách mạng công nghiệp này không như những cuộc cách mạng công nghiệp trước nhằmvào… công nghiệp, là lĩnh vực ta có khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển, mà nhằm vào công nghệ số, đem tiến bộ của công nghệ số tới mọi lĩnh vực khác. Nếu xét về công nghiệp ô-tô, công nghiệp robot… ta có thể cách các nước phát triển nhiều chục năm, thậm chí cả trăm năm, nhưng ta có thể cách không xa các nước này ở một số công nghệ số, nếu có cách làm.  CMCN4 sẽ tác động lên mọi người và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân, nhưng trước hết được tạo ra và thúc đẩy bằng chiến lược và chính sách quốc gia, bởi thay đổi mạnh mẽ của các doanh nghiệp, và bởi lực lượng tinh hoa của khoa học và công nghệ đất nước. CMCN4 không thể làm chỉ bởi ý chí mà phải bằng tri thức, bằng những công nghệ tiên tiến của TTNT, của khoa học dữ liệu, của kết nối thế giới thực và không gian số, của công nghệ sinh học và khoa học vật liệu…  May mắn thay CMCN4 diễn ra trên các tiến bộ của công nghệ số, của học máy và khoa học dữ liệu, là những lĩnh vực cần có nền tảng của toán học sâu sắc. Chúng ta đào tạo tương đối tốt về toánhọc và công nghệ thông tin và có khả năng đào tạo tốthơn. Xây dựng được lực lượng, phát triển khoa học dữ liệu và sử dụng được khoa học dữ liệu rộng rãi sẽ cho phép ta ‘thu hẹp khoảng cách số’ trong nhiều lĩnh vực, có thể tạo ra sự đột phá cho nhu cầu phát triển của đất nước. Việc làm chủ được công nghệ số đòi hỏi đầu tư hiệu quả cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng chọn lọc, cần rất nhiều thay đổi ở các viện-trường và doanh nghiệp, và đương nhiên cả ở cách làm của nhà nước.  Có một lực lượng chuyên gia người Việt về học máy và khoa học dữ liệu cũng như rất nhiều người Việt trẻ có kiến thức và kỹ năng trong các lĩnh này đang làm việc ở ngoài Việt Nam. Kết nối được lực lượng này với trong nước là một điều rất cần làm.  ——————  Tài liệu tham khảo chính  1.    Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution.  2.    Enabling the Next Production Revolution: Implications for Policy, Alistair Nolan, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, Hội nghị Việt Nam học, 12.2016.  3.    National strategy for advanced manufactoring in the United States https://www.uschamberfoundation.org/bhq/us-manufacturing-strategy.  4.    The new face of industry in France http://www.gouvernement.fr/en/the-new-face-of-industry-in-france-building-the-industry-of-the-future.  5.    Korea’s future growth program http://www.eastwestcenter.org/sites/default/files/private/api111.pdf  6.    Made in China 2025 http://english.gov.cn/2016special/madeinchina2025/https://www.jst.go.jp/crds/pdf/2015/FU/CN20150725.pdf.  7.    Super smart society, http://www8.cao.go.jp/cstp/kihonkeikaku/5basicplan_en.pdf  8.    How digital technology will transform the world, Fujitsu Journal, 1.2016, http://journal.jp.fujitsu.com/en/2016/01/12/01  9.    Materials Genome Initiative, https://www.mgi.gov  *Tác giả làm việc trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo và Học máy từ 1980, và hiện là Giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm về Khoa học Dữ liệu tại Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản (Japan Advanced Institute of Science and Technology); là thành viên Ban chỉ đạo (steering committee) các hội nghị của vùng Châu Á-Thái Bình dương về Trí tuệ nhân tạo (PRICAI), Khai phá Dữ liệu (PAKDD) và Học máy (ACML); hiện đang phụ trách đề tài của dự án FIRST của Bộ KH&CN, gồm sáu chuyên gia người Việt ngành Học máy từ Mỹ, Úc, Ba Lan và Nhật, đang tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này ở Việt Nam.    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Hình thức mới của silicon có khả năng tạo ra các thiết bị điện tử và năng lượng hiệu suất cao      Một nhóm nghiên cứu do Thomas Shiell và Timothy Strobel của Carnegie dẫn dắt đã phát triển một phương pháp mới để tổng hợp một hình thức tinh thể mới của silicon với một cấu trúc lục giác có tiềm năng được sử dụng để tạo ra các thiết bị điện tử và năng lượng thế hệ mới với các tính năng được tăng cường vượt quá những hình thức silicon lập phương thông thường vẫn được sử dụng ngày nay.      Công trình này được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters 1.  Silicon đóng vai trò lớn trong đời sống con người. Nó là nguyên tố nhiều thứ hai trong vỏ trái đất. Khi nó được trộn lẫn với các nguyên tố khác, nó là nguyên liệu thiết yếu của nhiều dự án xây dựng và cơ sở hạ tầng (làm bê tông, gạch…). Và trong hình thức nguyên tố ở dạng nguyên chất, nó là yếu tố vừa đủ và quan trọng cho việc chế tạo các linh kiện điện tử… Trung tâm công nghệ nổi tiếng của Mĩ – Thung lũng  Silicon ở California, mang tên Silicon để vinh danh nó.  Giống như tất cả các nguyên tố khác, silicon có thể có nhiều hình thức tinh thể khác nhau, hay còn được gọi là thù hình (allotropes), ví dụ như người ta có thể thấy chì mềm và kim cương có độ cứng rất cao đều là các dạng khác nhau của carbon. Dạng silicon thường được sử dụng nhiều nhất là trong các thiết bị, linh kiện điện tử bao gồm các máy tính và pin mặt trời, có cùng cấu trúc giống kim cương. Bất chấp sự phổ biến của mình, dạng silicon này trên thực tế chưa thực sự tối ưu cho các ứng dụng thế hệ mới, bao gồm các transistor hiệu suất cao và một số linh kiện quang điện.  Dù nhiều thù hình silicon khác nhau với việc tăng cường các tính năng vật lý là có thể về mặt lý thuyết nhưng chỉ có số ít tồn tại trên thực tế do thiếu hiểu biết về các cách tổng hợp.  Phòng thí nghiệm của Strobel trước đây từng phát triển một hình thức mới mang tính cách mạng của silicon là Si24 có một khung mở bao gồm một loạt các kênh một chiều. Trong nghiên cứu mới, Shiell và Strobel cùng các nhà nghiên cứu khác đã sử dụng Si24 như điểm xuất phát trong một cách tổng hợp đa giai đoạn để đạt được các tinh thể có định hướng cao trong một hìn thức là 4H-silicon. Nó được đặt tên như vậy vì có bốn lớp lặp lại trong một cấu trúc lục giác.  “Người ta quan tâm đến silicon lục giác từ những năm 1960 bởi vì khả năng có những đặc tính điện tử có thể điều chỉnh được, vốn làm tăng cường hiệu suất so với hình thức lập phương”, Strobel giải thích.    Các hình thức lục giác của silicon đã từng được tổng hợp trước đây nhưng chỉ thông qua sự kết bám của các màng mỏng hoặc như các tinh thể nano cùng tồn tại với các vật liệu bất thứ tự. Cách làm Si24 mới được chứng minh đó tạo ra những tinh thể chất lượng cao và số lượng lớn là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.  Sử dụng công cụ tính toán tiên tiến mang tên PALLAS, từng được các thành viên của nhóm phát triển trước đây để dự đoán các cách chuyển pha cấu trúc dự đoán – giống như cách nước trở thành hơi nước khi được gia nhiệt hoặc đá lạnh khi trong điều kiện nhiệt độ đóng băng – nhóm nghiên cứu đã có thể hiểu được cơ chế chuyển pha từ Si24 sang 4H-Si, và mối liên hệ về cấu trúc cho phép bảo quản các tinh thể định hướng cao.  “Để mở rộng hơn khả năng kiểm soát cơ bản của chúng tôi trong sự tổng hợp của các cấu trúc mới, khám phá ra việc chế tạo các tinh thể 4H-silicon số lượng lớn mở ra cánh cửa đến với những nghiên cứu thú vị trong tương lai hứa hẹn sẽ đem đến các tính năng điện tử và quang thông qua kỹ thuật biến dạng và thế nguyên tố”, Shiell nói. “Chúng tôi có thể sử dụng phương pháp này để tạo ra các tinh thể giống để phát triển khối lượng cấu trúc lớn 4H với các tính chất về tiềm năng có thể vượt trội so với các silicon kim cương”.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-silicon-enable-next-gen-electronic-energy.html  ——-  1.https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.126.215701       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hồ sơ Kosovo      Việc Quốc hội Kosovo, nơi từng là một tỉnh tự trị thuộc Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư trước đây, đã thông qua quyết định tuyên bố độc lập ngày 17/2 vừa qua đã gây ra những phản ứng trái chiều trên thế giới. Mỹ và một số nước Tây Âu (Anh, Pháp, Đức) gần như ngay lập tức đồng tình và công nhận quốc gia trẻ nhất của châu Âu này. Ngược lại Serbia và Nga phản đối một cách quyết liệt: Ngay trong lòng châu Âu – Tây Ban nha, Hy Lạp, Síp, Rumania và Slovakia -ít nhất họ không tránh khỏi “động lòng” khi nghĩ tới những khuynh hướng li khai hiện diện trong lòng quốc gia mình.      Kosovo, theo nhà bình luận Jeans-Arnault Dérens của tờ Le Monde diplomatique, có lẽ là một quốc gia “hậu hiện đại”. Đó là nơi thử nghiệm một thứ tổ chức nhà nước chưa từng có với quyền độc lập bị giới hạn và lệ thuộc vào sự bảo trợ của quốc tế.           Những hình ảnh về cuộc chiến Kosovo        Trong quá khứ, Serbia là nguồn cung cấp năng lượng và lương thực thực phẩm của Kosovo. Sau nền độc lập, đây sẽ là một bài toán. Nền kinh tế của “quốc gia” này bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến cuối thế kỉ XX và chưa có dấu hiệu gì hồi phục. Thương mại và dịch vụ là xương sống của nền kinh tế trong khi đó hoạt động sản xuất hầu như tê liệt hoàn toàn chưa kể đến việc xác định, chính xác hơn là phân chia quyền sở hữu các doanh nghiệp giữa Serbia và Kosovo khó có thể kết thúc một sớm một chiều. Đó là chưa kể đến nạn thất nghiệp lan tràn với một tỉ lệ gần 60% dân số. Trong bối cảnh chính trị, xã hội như vậy đã gây ra một làn sóng di cư ra các nước lân cận và chưa có dấu hiệu ngừng. Giờ đây, dù lá cờ của nhà nước Kosovo mới đã được kéo lên với hình của vùng lãnh thổ và sáu ngôi sao tượng trưng cho sáu cộng đồng sắc tộc nhưng việc tạo ra một cơ chế để các sắc tộc chung sống hòa bình với nhau vẫn còn là một điều nan giải, đặc biệt là ở nơi mà tất cả mọi truyền thống hòa hợp cũ đã bị phá vỡ trong mấy thập niên chiến tranh và bạo lực. Ngay trong lòng Kosovo, cộng đồng người Serb (chiếm khoảng 10% dân số) giờ đây trở thành cộng đồng thiểu số vẫn không thừa nhận nền độc lập của quốc gia mà giờ đây họ là công dân.  Việc tuyên bố độc lập cho Kosovo đã đặt dấu chấm xuống dòng cho một chuỗi xung đột kéo dài, chồng chất các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo và lịch sử. Nhưng dấu chấm xuống dòng khó có khả năng là một dấu chấm hết. Kể cả khi Kosovo có được thừa nhận là một quốc gia đi chăng nữa thì chắc chắn, đây vẫn sẽ là vùng đất của xung đột, một “Jerusalem của Balkan”. Nhìn lại lịch sử, ở đây từng là nơi đối đầu giữa hai các thế lực dân tộc chủ nghĩa với người Albania, đây là vùng đất mà tổ tiên họ đã sinh sống lâu đời. Trong khi đó, đối với người Serb, Kosovo cũng được coi là “cái nôi của dân tộc Serbia”. Đứng về tâm linh, Kosovo là nơi xây dựng nhà thờ chính thống giáo đầu tiên của người Serb. Đó cũng là nơi diễn ra trận đánh có ý nghĩa biểu tượng quan trọng của người Serb chống lại đế chế Ottoman hồi thế kỉ XIV. Trên những trang lịch sử đó, lại được viết thêm những nét mực hết sức tươi mới liên quan đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà người Serb đứng về phía phe Đồng minh còn người Albania lại đứng về phe phát xít. Rõ ràng, khó có thể ngày một ngày hai đã xoá được hình ảnh của vùng “đất thánh” khỏi tâm trí người Serb. Và không gì có thể đảm bảo rằng trong tương lai, người Serb không đòi lại “phần đất của mình”. Nhìn rộng hơn, toàn khu vực Balkan vẫn tồn tại tình trạng phân tán và sinh sống đan xen lẫn nhau giữa các cộng đồng sắc tộc. Người Albania không phải chỉ cư trú ở Kosovo và Albania. Và ngay trong lòng những quốc gia như Croatia hay Bosnia, vẫn có những cộng đồng lớn cư dân Serbia. Lấy gì đảm bảo việc trong một tương lai không xa những cộng đồng này không đòi độc lập và “về với đất mẹ” với toan tính khôi phục những Đại Albania, Đại Serbia… Hãy nhớ rằng, chiêu bài bảo vệ các cộng đồng di dân và tình trạng bất bình đẳng do cộng đồng quốc tế áp đặt cùng với những mâu thuẫn lịch sử, tôn giáo, sắc tộc luôn là ngòi nổ cho nhiều cuộc chiến tranh, ở quy mô quốc gia, khu vực cũng như toàn cầu (trường hợp thế chiến thứ II).           Người Serb phản đối Kosovo độc lập        “Dấu chấm xuống dòng Kosovo” có thể là sự khởi đầu cho một chuỗi những bất ổn mới. Người Serb có lẽ sẽ phải phản tỉnh lại về những gì mình đã làm trong lịch sử để tự rút ra bài học lịch sử. Không thể phủ nhận người Serb có một vai trò tích cực trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa Quốc xã, nhưng nhìn lại những gì mà họ đã làm với người Albania ở Kosovo trong quá khứ là một điều khó có thể chấp nhận. Suốt từ 1913 đến 1941, người Albania ở đây không được có quyền học và ra báo bằng tiếng mẹ đẻ. Đó là lí do sâu xa đẩy người Albania đến chỗ đứng về phe Phát xít. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đặc biệt là sau khi Nam Tư li khai khỏi khối xã hội chủ nghĩa, quá khứ lịch sử chính là một trong những nguyên nhân khiến cho người Albania tiếp tục bị kì thị. Xung đột tiếp tục và khi người Albania đòi được công nhận là một “dân tộc” chứ không phải là một “dân tộc thiểu số” và đòi quyền được là một “nước cộng hòa” chứ không phải chỉ là một “tỉnh tự trị”. Đến tận 1974, Liên bang Nam Tư mới chấp nhận sửa hiến pháp để mở rộng các quyền tự trị của “tỉnh tự trị” Kosovo trong đó có cả quyền tự trị về hành chính và luật pháp, quyền phủ quyết các quyết định của Beograd. Nhưng hành động đó có vẻ là đã muộn. Không những thế, nền hành chính quan liêu và những cải cách kinh tế nửa vời của chế độ Tito đã làm trầm trọng hơn những vấn đề xã hội cũng như  khoảng cách về kinh tế giữa các thực thể trong liên bang Nam Tư, trong đó có Kosovo. Tiếp sau lãnh tụ Tito mất là sự kết thúc của chiến tranh lạnh, là chuỗi sụp đổ kiểu đô-mi-nô của những nhà nước liên bang mở đầu là Liên Xô đã khơi mào và thúc đẩy thêm khuynh hướng ly khai ở Kosovo. Mặc dù có ý chí thống nhất lại Liên bang Nam Tư nhưng Milosevic lại bất lực trong việc tìm ra một giải pháp mềm dẻo. Và điều gì đến đã đến.  KOSOVO – LỊCH SỬ RÚT GỌN  Từ thời Cổ đại đến thế kỉ XI, Kosovo là địa bàn cư trú của các tộc người Illyrie.  Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV, Kosovo là một phần của Đế quốc Serbia.  Từ thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XX, Kosovo nằm trong lãnh thổ của Đế Quốc Ottoman.  Từ 1918 đến 1941, Kosovo nằm trong lãnh thổ của Vương quốc Nam Tư.  Từ 1941 đến 1945, Kosovo được sáp nhập vào Cộng hòa Albania dưới sự chiếm đóng của Italie.  Từ 1945 đến 1989, với tư cách là một tỉnh tự trị, Kosovo được sáp nhập vào Cộng hòa Serbiaie nằm trong Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư.  Từ 1989 đến 1999, Slobodan Milosevic xóa bỏ quyền tự trị của Kosovo.  Từ 1999 đến 2008, vùng lãnh thổ này nằm dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc           CUỘC CHIẾN KOSOVO – NHỮNG MỐC CHÍNH  1989: Slobodan Milosevic bãi bỏ quy chế tự trị của Kosovo.  1991: Trưng cầu dân ý bất hợp pháp dẫn đến việc thành lập “Cộng hòa” Kosovo, chỉ được duy nhất Albania công nhận.  1992: Thiết lập một nền hành chính song song tồn tại với nền hành chính hợp pháp của Kosovo. Ibrahim Rugova được “bầu” làm tổng thống của thiết chế hành chính này. Serbia không công nhận sự tồn tại của thiết chế này.  1995: Hiệp định hòa bình Dayton phân chia lại Nam Tư cũ. Kosovo bị lãng quên.  1996: Xuất hiện tổ chức Quân đội giải phóng Kosovo (UCK).  1997: Sinh viên Albania biểu tình và bị quân đội Serbia đàn áp.  1998: Căng thẳng liên tục giữa chính quyền trung ương Serbia và người Albania ở Kosovo. Đặc biệt là những cuộc giao tranh giữa lực lượng UCK và các lực lượng Serbia khiến con số người thiệt mạng, đặc biệt là người Albania ngày càng lên cao. Tháng 3 năm này, người Albania ở Kosovo tiến hành bầu cử, Ibrahim Rugova một lần nữa được bầu làm Tổng thống của “quốc gia” này. Tình hình xung đột tại Kosovo đã khiến cho Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế (Nga, Châu Âu, Mỹ) phản ứng. Nhiều biện pháp trừng phạt bằng cấm vận (vũ khí, đầu tư…) đã được tiến hành. Người Serb chấp nhận thỏa hiệp trên một số điểm nhưng cương quyết không rút các lực lượng quân sự khỏi Kosovo. Cũng trong năm này, bắt đầu xuất hiện những bằng chứng về việc người Serb đã tiến hành các biện pháp thanh lọc sắc tộc.  1999: Ngay từ đầu năm, NATO và Liên hợp quốc gia tăng sức ép, kể cả hiện diện quân sự đối với chính quyền Serbia. Tuy vậy, những nỗ lực đàm phán đều thất bại. Cả người Serb lẫn UCK đều không chấp nhận thỏa hiệp. Từ 24.3, khi các giải pháp ngoại giao thất bại, NATO bắt đầu tiến hành không kích chống lại Nam Tư. Cùng với sự gia tăng cường độ không kích, người Serb biếp tục gia tăng đàn áp ở Kosovo. Theo Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn, khoảng một nửa dân số Kosovo nghĩa là khoảng 900.000 người đã phải đi tị nạn. Đến tháng 5, Tòa án quốc tế về Nam Tư cũ kết án tổng thống Slobodan Milosevic tội diệt chủng và chống nhân loại ở Kosovo. Các hoạt động nói trên đã làm người Serb phải cúi đầu. Đến tháng 7, sau khi chính quyền trung ương Nam Tư chấp nhận rút toàn bộ các lực lượng vũ trang khỏi Kosovo, nhường chỗ cho một lực lượng gìn giữ hòa bình của NATO, KAFOR, ngưng các cuộc không kích. 10.7.1999, Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 1244 xác nhận sự hiện diện quốc tế về dân sự và an ninh ở Kosovo và một phái bộ của Liên hợp quốc được thành lập có trách nhiệm thiết lập một nền hành chính tạm thời mà trong đó, người Albania sẽ dành được nhiều quyền tự trị hơn trong khuôn khổ Liên bang Nam Tư.  IBRAHIM RUGOVA (1944 – 2006)  Nhà lãnh đạo chính trị người Albania, linh hồn của phong trào dành độc lập cho Kosovo. Nói thông thạo tiếng Anh, Pháp và Serbia, I.Rugova đã từng theo học trong hai năm tại Trường Cao học thực hành ở Sorbonne (Pháp) với một luận văn về Roland Barthes. Ông từng là Đảng viên đảng cộng sản và là Thư kí Hội nhà văn Kosovo dưới chế độ Nam Tư cũ. Ông được bầu làm Tổng thống của Kosovo trong cuộc bầu cử Tổng thống do Liên hợp quốc tổ chức và tái đắc cử trong năm 2004. Người ta coi ông là Ghandhi của Balkans, người kiên trì chính sách bất bạo động, đòi quyền độc lập cho người nói tiếng Albania chống lại những chính sách kì thị có tính Aparthei của người Serb.  SLOBODAN MILOSEVICS (1941-2006)   Một nhân vật có vị trí đặc biết trong lịch sử khu vực Balkans. Học đại học luật và từng là một đảng viên cộng sản dưới thời Nam Tư cũ. Ông là Tổng thống cộng hòa Serbia từ năm 1987 – 2000 và trước đó là tổng thống của Liên bang Nam Tư (1997 – 2000). Năm 1989, chính ông Milosevic là người đã đổi tên Đảng cộng sản thành Đảng xã hội. Trong giai đoạn cầm quyền của ông đã diễn ra các cuộc chiến tranh dẫn đến sự tan vỡ của Liên bang Nam Tư cũ : chiến tranh ở Bosnia và ở Croatia. Các cuộc chiến này kéo dài từ 1991 và kết thúc năm 1995 với hiệp định hòa bình Dayton. Cú đánh làm sụp đổ chế độ Milosevic là cuộc chiến tranh ở Kosovo năm 1999 với những đợt oanh kích của NATO dẫn đến việc người Serbia phải rút toàn bộ lực lượng vũ trang của mình khỏi tỉnh tự trị này. Trong thời gian đó, phong trào đối lập ở Serbia không ngừng dâng cao. Năm 2000, ông Milosevic bị thất cử trong cuộc đối đầu với ông Vojislav Kostunica và năm 2001, ông bị bắt giam và giao cho Tòa án quốc tế về tội phạm chiến tranh ở Nam Tư cũ. Ông chết tại Hà Lan trong thời gian bị giam giữ và xét xử ở đây.  HASHIM THACI (1968- )  Thủ tướng đầu tiên của Kosovo độc lập. Sinh ra tại vùng Drenica, cái nôi của phong trào đòi độc lập của người Albanie. Ông Hashim Thaci bắt đầu cuộc đời binh nghiệp từ khi còn rất trẻ và trở thành một gương mặt nổi bật của Quân đội giải phóng Kosovo. Ông chủ trương sử dụng vũ trang và đối lập với khuynh hướng bất bạo động của Ibrahim Rugova. Ông Thaci bắt đầu xuất hiện trong vai trò chính trị gia trong cuộc hòa đàm về Kosovo năm 1999 tại Rambouiller (Pháp) trước khi NATO tiến hành các cuộc không kích chống Nam Tư. Sau chiến tranh, Hashim Thaci trở thành một chính trị gia, thủ lĩnh Đảng dân chủ và là một nhân vật quan trọng của đời sống chính trị ở Kosovo. Trên các diễn đàn công khai, ông luôn chủ trương đối thoại với Serbia. Chính quyền Serbia coi Thaci là phần tử khủng bố và từng kết án vắng mặt ông này 33 năm tù vì tội tấn công một đồn cảnh sát Serbia. Một số tờ báo Mỹ cũng từng kết án ông này liên can đến các tổ chức buôn bán ma túy.  Lương Xuân Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ hạ tầng truy cập mở và khoa học mở sống còn      Liên minh Bền vững Toàn cầu các Dịch vụ Khoa học Mở – SCOSS (Global Sustainability Coalition for Open Science Services) đã giúp gọi vốn cho sáu nền tảng truy cập mở và khoa học mở, gọi được hơn 2, 8 triệu Euro chỉ trong vòng ba năm.      Các hạ tầng truy cập mở và khoa học mở đã phát triển về cả số lượng và sử dụng nhưng vấp phả một vấn đề là sự thiếu bền vững về tài chính. Đây là một phần nguyên nhân dẫn đến nhiều cơ sở hạ tầng gặp rủi ro hoặc phải giảm quy mô hoạt động. Do đó, ai cũng hiểu rằng các hạ tầng truy cập mở và khoa học mở công cộng phi thương mại đang đứng trước vấn đề sống còn, và cần thiết nỗ lực do cộng đồng hợp tác dẫn dắt để duy trì và đảm bảo tương lai.  SPARC Europe đã đáp lại nhu cầu này bằng việc mời các lãnh đạo khoa học mở đại diện cho các khu vực từ khắp trên thế giới như EIFL, Hiệp hội các trường đại học châu Phi (AAU), Hiệp hội các Thư viện Nghiên cứu (ARL), Hiệp hội các Thư viện Nghiên cứu Canada (CARL), Hội đồng các Thủ thư Đại học Úc (CAUL), Thư viện Quốc gia Qatar, LIBER, Bộ Giáo dục Đại học, Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo, Pháp và REDALYC để tạo thành Liên minh Bền vững Toàn cầu cho các Dịch vụ Khoa học Mở (SCOSS). Liên minh đã được khởi xướng ba năm trước, vào năm 2017, và cung cấp khung chia sẻ chi phí phối hợp xúc tác cho cộng đồng để hỗ trợ hạ tầng mở phi thương mại mà nó dựa vào đó.  Mỗi năm, SCOSS mời các hạ tầng truy cập mở và khoa học mở phi thương mại đề xuất cấp vốn do SCOSS điều phối. Ban lãnh đạo SCOSS đánh giá các ứng viên dựa vào các tiêu chí bao gồm giá trị đối với các cộng đồng như các nhà cấp vốn, các trường đại học, các thư viện, các tác giả, các nhà quản lý nghiên cứu và các kho. Các cấu trúc điều hành, các chi phí, các biện pháp bền vững, và các kế hoạch tương lai của các ứng viên cũng được đánh giá. Sau đánh giá, SCOSS đề xuất các hạ tầng được lựa chọn tới cộng đồng truy cập mở và khoa học mở rộng lớn hơn với lời mời giúp cấp vốn cho họ qua một giai đoạn 3 năm, cho tới khi họ đáp ứng được các mục tiêu gây vốn của họ. Từng hạ tầng xử lý sự điều phối các nguồn vốn thực tế.  Thành công trong giai đoạn thí điểm  SCOSS đã khởi xướng chu kỳ cấp vốn thí điểm vào cuối năm 2017, đề xuất hỗ trợ cho Thư mục các Tạp chí Truy cập Mở – DOAJ (Directory of Open Access Journals), một thư mục trên trực tuyến do cộng đồng giám tuyển mà đánh chỉ mục và cung cấp truy cập tới các tạp chí chất lượng cao, truy cập mở, được rà soát lại ngang hàng, và Sherpa Romeo, một cơ sở dữ liệu các chính sách của các nhà xuất bản về bản quyền và tự lưu trữ. Thí điểm đã chứng minh là thành công: DOAJ đã đáp ứng được mục tiêu gọi vốn 1.370.000 Euro trước thời hạn vào quý IV năm 2020, với sự tài trợ từ 216 cơ sở ở 19 quốc gia. Việc gây vốn của Sherpa Romeo vẫn tiếp tục.  Vào tháng 12/2019 SCOSS đã khởi xướng chiến dịch gây vốn thứ hai cho thêm 4 hạ tầng truy cập mở và khoa học mở, chúng hiện vẫn đang tìm kiếm sự hỗ trợ:  • Thư mục Sách Truy cập Mở – DOAB (Directory of Open Access Books), một thư mục kỹ thuật số các cuốn sách truy cập mở được rà soát lại ngang hàng và các nhà xuất bản sách truy cập mở, và Xuất bản Truy cập Mở trong các Mạng châu Âu – OAPEN (Open Access Publishing in European Networks), một kho các cuốn sách học thuật truy cập được tự do không mất tiền đang tăng trưởng.  • Dự án Tri thức Công cộng – PKP (Public Knowledge Project), một sáng kiến nghiên cứu và phát triển của đại học chuyên thúc đẩy chất lượng và tầm với của xuất bản học thuật thông qua nghiên cứu, các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng, và phát triển các phần mềm tự do nguồn mở bao gồm cả các Hệ thống Tạp chí Mở – OJS (Open Journal Systems), Xuất bản sách Chuyên khảo Mở – OMP (Open Monograph Press), và các Hệ thống Chưa được rà soát lại ngang hàng Mở – OPS (Open Preprint Systems).  • OpenCitations, một tổ chức hạ tầng học thuật cung cấp các dữ liệu thư mục và trích dẫn mở cơ bản để thúc đẩy khám phá.   Lê Trung Nghĩa dịch  Nguồn: https://www.eifl.net/blogs/help-support-vital-oa-and-os-infrastructures; https://scoss.org/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp của quốc gia lưu vực sông Mê kông      Thực trạng môi trường khởi nghiệp, xây dựng các nhóm liên kết và triển khai các sáng kiến chung để củng cố sự hợp tác, cải thiện môi trường khởi nghiệp là những mục tiêu hướng tới của Hội nghị Thượng đỉnh Hệ sinh thái khởi nghiệp Mê kông (Mekong Entrepreneurial Ecosystem Summit), diễn ra tại TPHCM từ ngày 11 đến 13/6.    Hơn 50 đại biểu hoạt động trong lĩnh vực khởi nghiệp đến từ năm quốc gia lưu vực sông Mê kông là Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam tham gia hội nghị. Phần lớn họ là lãnh đạo các vườn ươm, nhà đầu tư, đại diện các trường đại học, các đơn vị đào tạo khởi nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, các nhóm khởi nghiệp trẻ….  Hội nghị là diễn đàn để các đại biểu cùng chia sẻ về thực trạng môi trường khởi nghiệp tại mỗi quốc gia; xây dựng các nhóm liên kết và triển khai các sáng kiến chung để củng cố sự hợp tác, cải thiện môi trường khởi nghiệp tại các quốc gia vùng lưu vực sông Mê kông. Đồng thời, hội nghị cũng tạo điều kiện hỗ trợ cho các ý tưởng/dự án/doanh nghiệp khởi nghiệp trên nền tảng công nghệ nhằm phát triển các chương trình đào tạo khởi nghiệp, hình thành các sáng kiến khu vực, hỗ trợ các cuộc thi khởi nghiệp, tăng số lượng các nhà đầu tư…  Cũng trong khuôn khổ hội nghị, các nhóm khởi nghiệp trẻ cùng trao đổi về những cơ hội, thách thức và cách thức họ vượt qua khó khăn trong quá trình khởi nghiệp; lắng nghe kinh nghiệm hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp của các nhà quản lý;  gặp gỡ đại diện các vườn ươm, nhà đầu tư, quỹ đầu tư để tìm đối tác.   Tại hội nghị, bộ công cụ đo năng lực đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp – i2Metrix do DHVP cùng BSA phát triển sẽ được Tigers@mekong sử dụng để hỗ trợ cho các nhóm khởi nghiệp của dự án này.  Hội nghị Thượng đỉnh Hệ sinh thái khởi nghiệp Mê kông do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát động thông qua Dự án Sáng kiến thúc đẩy sáng tạo đổi mới công nghệ và nguồn lực khởi nghiệp tại vùng Mê kông (Mekong Technology Innovation Generation and Entrepreneurship Resources  – TIGERS@Mekong). Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) phối hợp với doanh nghiệp xã hội J.E. Austin Associates (JAA, Hoa Kỳ) và công ty DHVP Research and Consultancy đồng tổ chức.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025”      Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án&#160; “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025”  với mục tiêu nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá  trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng  trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh  doanh mới.      Đề án gồm có các nội dung chính sau:   (1) Xây dựng Cổng thông tin hệ sinh thái khởi nghiệp  ĐMST quốc gia;   (2) Xây dựng các Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp  ĐMST tại các Bộ, ngành, địa phương;   (3) Tổ chức sự kiện Ngày hội khởi nghiệp công nghệ quốc gia với quy mô quốc tế và các sự kiện khởi nghiệp quy mô địa phương, liên kết viện trường;   (4) Tiếp tục triển khai Đề án Thương mại hoá công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon tại Việt Nam;   (5) Phát triển hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực và dịch vụ cho khởi nghiệp  ĐMST thông qua các cơ sở giáo dục đào tạo, tổ chức cung cấp dịch vụ;   (6) Phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ hoạt động khởi nghiệp  ĐMST tại các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, tổ chức cung cấp thiết bị dùng chung;   (7) Hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng chương trình truyền thông trên đài truyền hình Việt Nam và các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và nước ngoài về hoạt động khởi nghiệp;   (8) Kết nối các mạng lưới khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm của Việt Nam với khu vực và thế giới thông qua các đoàn vào, đoàn ra;   (9) Giới thiệu đối tác, nhà đầu tư, hỗ trợ thủ tục xuất nhập cảnh, thủ tục mở văn phòng đại diện cho tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, nhà đầu tư, doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước thông qua các đại diện KH&CN, đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài;   (10) Khuyến khích sử dụng các quỹ phát triển KH&CN của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để tài trợ, hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ, thử nghiệm thị trường, cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi, góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo     (11) Nghiên cứu, đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết để thúc đẩy môi trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.  Với các nội dung trên, mục tiêu đến năm 2020 hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp  ĐMST quốc gia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp gọi được vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng.  Đến năm 2025, hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp  ĐMST; hỗ trợ phát triển 600 doanh nghiệp khởi nghiệp  ĐMST; 100 doanh nghiệp tham gia Đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng.  Có thể thấy, mục tiêu của Đề án không chỉ là số các dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hỗ trợ mà còn là số vốn mà các doanh nghiệp thành công từ Đề án có thể thu hút được từ các khoản đầu tư từ các quỹ tư nhân, cộng đồng xã hội.  Cụ thể, mục tiêu các doanh nghiệp thành công từ Đề án có thể thu hút được “1.000 tỷ đồng đến năm 2020” và “2.000 tỷ đồng đến năm 2025” chính là vốn đầu tư từ xã hội, cộng đồng, không phải là nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước. Từ đó, thể hiện rõ vai trò Nhà nước là đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp ban đầu nhưng luôn cần có các nhà đầu tư tư nhân, cộng đồng xã hội đầu tư tiếp theo mới có thể thực sự nâng cao tính hiệu quả và bền vững của việc phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.  Nguồn: Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ nhiều nhất với số vốn ít nhất      Tháng năm vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”1. Theo đó, nhà nước sẽ hỗ trợ hầu hết các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp, từ sinh viên trong các trường đại học, các khóa tăng tốc khởi nghiệp và các vườn ươm khởi nghiệp cho đến startup và các nhà đầu tư.    Phan Hoàng Lan.  Và để tối đa hiệu quả hỗ trợ và tối thiểu vốn hỗ trợ, đề án này chỉ hỗ trợ những cơ sở đang hoạt động tốt thay vì tài trợ để thành lập những tổ chức mới. Bên cạnh đó, đề án cũng muốn tạo ra một tiền lệ rất mới đối với Việt Nam: việc quyết định tài trợ cho ai và tài trợ bao nhiêu sẽ hoàn toàn dựa vào quyết định của một hội đồng mà các thành viên chủ yếu đến từ khối tư nhân có kinh nghiệm đầu tư và hiểu startup.  Một trong những thành viên của nhóm nghiên cứu xây dựng Đề án này là chị Phan Hoàng Lan, Trưởng phòng Kế hoạch tài chính, Cục Phát triển thị trưởng và Doanh nghiệp KH&CN, từng tham gia xây dựng một số thông tư của Bộ KH&CN liên quan đến giao quyền sở hữu và sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, định giá tài sản trí tuệ. Bên cạnh đó, là một trong những người tham dự khóa đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp của Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP2) và tổ chức ngày hội Khởi nghiệp Công nghệ quốc gia 2015 (TECHFEST), chị có nhiều cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam. Tia Sáng đã có dịp trao đổi với chị Phan Hoàng Lan về những ý tưởng và quan điểm của chị về Đề án quốc gia này.  Hội đồng có vai trò quyết định  Chị có thể tóm tắt một số nguyên tắc trong việc triển khai đề án này?    Hiện tại quy trình xử lý hồ sơ Đề án đang được xây dựng để trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên, như chúng tôi đề xuất thì quy trình từ lúc các cá nhân, tổ chức nộp đơn xin hỗ trợ của Nhà nước đến lúc có kết quả đều được công khai và mở: Tất cả các tiêu chí đều được công bố rõ ràng và tất cả mọi người thấy mình đủ điều kiện đều có thể nộp đơn qua mạng. Thông tin về các ứng cử viên đều do một phần mềm quản lý. Bên cạnh đó, sẽ có một đội ngũ có nhiệm vụ sắp xếp và kiểm tra lại hồ sơ, lắng nghe và tư vấn cho các dự án về quy trình tham dự. Hiện nay chương trình Hợp tác Đổi mới Sáng tạo Phần Lan – Việt Nam cũng làm như vậy.    Sau đó, hội đồng đánh giá các đơn xin tài trợ sẽ được thành lập với các thành viên hầu hết đến từ khối tư nhân như các nhà đầu tư, chuyên gia trong nước, nước ngoài…Hội đồng sẽ ngồi nghe các đơn vị thuyết trình. Những buổi thuyết trình sẽ mở cửa tự do. Điều này đòi hỏi các thành viên trong hội đồng phải được công bố danh tính trước công chúng, chịu trách nhiệm hoàn toàn về quyết định của mình và phải công khai cụ thể lí do tài trợ hoặc từ chối tài trợ đối với những người nộp đơn. Đây là kinh nghiệm mà chúng tôi học được từ một số chương trình hỗ trợ khởi nghiệp trên thế giới, đặc biệt là chương trình Ohio Third Frontier của Bang Ohio, Hoa Kỳ, nơi có nhiều điểm tương đồng về hệ sinh thái khởi nghiệp với Việt Nam và dự án IPP2.   Giả thiết rằng, không phải hội đồng mà là các cơ quan nhà nước sẽ đứng ra lựa chọn dự án tài trợ thì sẽ gặp những vấn đề gì?   Theo nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm của các chuyên gia xây dựng trên thế giới, các cơ quan nhà nước sẽ không có nhiều kiến thức và kinh nghiệm về khởi nghiệp như các chuyên gia và các nhà đầu tư. Quan điểm của họ cũng khác với khối tư nhân, có khả năng họ sẽ đưa ra các yêu cầu tài trợ không phù hợp với điều kiện của startup.    Chẳng hạn, trong đề án này có phần đào tạo và nâng cao năng lực cho các vườn ươm và các khóa tăng tốc khởi nghiệp. Quan điểm của những chương trình thành công trên thế giới và của nhiều nhà đầu tư là, ai giỏi thì chương trình hỗ trợ, và hỗ trợ để họ có thể mở rộng và nâng cao dịch vụ của họ cho càng nhiều người sử dụng hơn và sử dụng với giá rẻ hơn chứ không hỗ trợ thành lập một cơ sở mới hoàn toàn, vừa mất nhiều tiền hơn mà cũng không biết chất lượng ra sao.Tuy nhiên, nhiều ý kiến không đồng tình với điều đó vì cho rằng: “Tại sao phải hỗ trợ những đơn vị đã có nguồn thu ổn định và đã có đủ kinh nghiệm mà không hỗ trợ những nơi thiếu nguồn lực hơn?”  Miễn là có kinh nghiệm và vốn đối ứng   Đề án có đưa ra mục tiêu là “đến năm 2025 hỗ trợ phát triển 2000 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, 100 doanh nghiệp gọi vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm và thực hiện mua bán và sáp nhập với tổng giá trị ước tính khoảng 2000 tỷ đồng”. Vậy cơ sở nào để đưa ra con số như vậy?   Nhóm xây dựng dự thảo Đề án ban đầu đã nghiên cứu tình hình thực tế và đề xuất mục tiêu Đề án dựa vào ba mức số liệu. Thứ nhất là tổng tất cả các dự án khởi nghiệp được hỗ trợ từ các cuộc thi và chương trình uy tín hiện nay như cuộc thi khởi nghiệp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khởi nghiệp cùng Kawai do Đại học Ngoại thương tổ chức,…mỗi năm trung bình là 300-400 dự án. Trong số đó, nếu theo kinh nghiệm thực tế của các chuyên gia và các chương trình, dự án như IPP2, Vietnam Silicon Valley (VSV), số lượng các dự án “sống” và trở thành doanh nghiệp (thông qua số lượng các startup tham dự các sự kiện, triển lãm khởi nghiệp lớn) thì chỉ còn 1/3 và số lượng các startup gọi được vốn đầu tư thì chỉ còn chiếm khoảng 1/3 trong số doanh nghiệp đã “sống” đó (ở đây chỉ tính số lượng các startup có sự tham gia vào các cuộc thi, chương trình lớn; còn lại vẫn có những startup đã trưởng thành và không cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ, không tham gia các cuộc thi).   Đề án có đề cập đến việc hỗ trợ cơ sở vật chất cho các startup, cụ thể là “Khu tập trung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”. Đó có phải là các không gian làm việc chung không? Nếu đúng vậy thì các đơn vị tư nhân hiện đã làm rất nhiều, đâu cần sự đầu tư từ phía nhà nước?   Không hẳn, khu tập trung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thể coi là khu tổ hợp cung cấp rất nhiều dịch vụ dùng chung cho khởi nghiệp. Đó có thể bao gồm không gian làm việc chung, maker space (không gian để chế tạo và thử nghiệm các thiết bị phần cứng), chỗ ở, vườn ươm khởi nghiệp, các khóa tăng tốc khởi nghiệp, nơi này cũng cung cấp các dịch vụ về internet miễn phí hoặc giá rẻ cho các công ty khởi nghiệp, đặc biệt là dịch vụ sử dụng điện toán đám mây (Những dịch vụ “vô hình” có thể khiến các startup tốn hàng ngàn USD mỗi năm). Khi xây dựng Dự thảo Đề án này, nhóm nghiên cứu đã nhận được nhiều ý kiến từ cộng đồng khởi nghiệp cho rằng nên có các “one-stop shop” như các Khu tập trung dịch vụ khởi nghiệp để họ có thể chỉ cần đến một nơi mà vẫn nhận được đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ cần thiết.   Đúng là tư nhân đã bắt đầu tham gia đầu tư hoạt động trong những dịch vụ này nhưng kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy để hỗ trợ các startup trong giai đoạn ban đầu thì cần cung cấp các dịch vụ với giá rất thấp so với giá thị trường, điều đó chỉ có thể làm được nếu họ có sự hỗ trợ về giá thành mặt bằng, thường được nhà nước cung cấp. Chính vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới, nhà nước đã hỗ trợ thành lập các khu tập trung dịch vụ như vậy. Ví dụ, tại Singapore có tổ hợp các tòa nhà do nhà nước xây dựng và tư nhân quản lý để hỗ trợ khởi nghiệp như Block 71, Block 79. Ở Malaysia có Magic là khu tập trung dịch vụ tương tự.  Nghe có vẻ như đối tượng của đề án là các startup hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin?   Không, các tổ chức, cá nhân đăng ký nhận hỗ trợ có thể hoạt động trong bất kì lĩnh vực nào miễn là họ có kinh nghiệm trong khởi nghiệp và phải có vốn đối ứng. Chẳng hạn, hiện tại có một số công ty trong lĩnh vực hóa dược, nông nghiệp muốn mở phòng thí nghiệm và diện tích mặt bằng của mình để chia sẻ cho các startup tới dùng chung và biến nó thành nơi ươm tạo startup. Những công ty như vậy cũng có thể nhận hỗ trợ từ đề án.   One -stop shop    Khi đề án còn là dự thảo, đã có rất nhiều người trong cộng đồng quan tâm về việc “Xây dựng Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia” như một one-stop shop (tạm dịch là một trung tâm cung cấp tất cả các thông tin về khởi nghiệp ở Việt Nam cho các đối tượng quan tâm). Chị có thể nói kĩ hơn về nội dung này không?   Theo nghiên cứu của nhóm xây dựng Đề án dựa trên tình hình thực tế và kinh nghiệm của một số nước có cổng thông tin điện tử tập trung hỗ trợ khởi nghiệp như Phần Lan, Israel, về mặt chính sách, cổng thông tin phác thảo cho những người làm chính sách một sơ đồ về hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam: có bao nhiêu startup, đang ở giai đoạn nào, đã được đầu tư bao nhiêu… để nhà nước đưa ra các hỗ trợ đúng và kịp thời. Còn về nhu cầu của khối tư nhân, startup cần biết: chính sách của Nhà nước hiện đang có các quỹ đầu tư nào, nằm ở đâu, giá trị ra sao…Các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài sẽ muốn biết về các chính sách, quy định của nhà nước đối với khởi nghiệp, các giai đoạn của startup hiện nay, các lĩnh vực startup nào đang có nhu cầu nhận đầu tư…Đây là tầng thông tin thứ nhất, thông tin tĩnh.    Tầng thông tin thứ hai là tầng thông tin động, tức là sẽ làm nhiệm vụ kết nối các bên có nhu cầu phù hợp với nhau, chẳng hạn như giữa một công ty cần tuyển dụng với những người có nhu cầu tìm việc, những bên cung cấp các dịch vụ (ví dụ như đào tạo, tư vấn, kế toán online…) với các bên cần sử dụng dịch vụ.    Tầng thông tin thứ ba phục vụ chủ yếu là cho việc kết nối đầu tư, giống như một trang kêu gọi vốn cộng đồng có cổ phần (crowdfunding equity base). Tức là nhà đầu tư sẽ nhìn thấy các thông tin rất cụ thể của startup, đầu tư và nhận cổ phần trực tiếp trên nền tảng này. Tầng thông tin thứ ba này đòi hỏi phải có một đội ngũ (có thể là nhà nước thuê ngoài) có kiến thức và kinh nghiệm đầu tư, có thể xác nhận thông tin về các dự án khởi nghiệp và các nhà đầu tư là đáng tin cậy, thương thảo hợp đồng giữa các nhà đầu tư và các dự án.    Theo chị có nhất thiết phải triển khai ba tầng thông tin cùng một lúc không?    Trước hết, chỉ nên làm tầng thông tin thứ nhất ở mức độ đơn giản để tạo niềm tin với cộng đồng. Còn phức tạp hơn thì chưa chắc đã có người sử dụng ngay. Như vậy, ban đầu sẽ chỉ cần liệt kê tên và thời gian hoạt động của tất cả các startup và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ khởi nghiệp trong hệ sinh thái của Việt Nam. Như vậy cũng đã cần lập một đội ngũ chuyên trách việc thống kê thông tin chuyên nghiệp rồi (ví dụ cần đưa ra form online, gọi điện và đến hỏi trực tiếp các đơn vị để thu thập thông tin một cách chính xác. Còn việc dựa vào cộng đồng tự cung cấp thông tin thì cần một thời gian dài hơn và cung cấp nhiều động lực hơn cho người cung cấp thông tin). Ngoài ra, nền tảng này cũng nên tích hợp thông tin có sẵn của các tổ chức, cá nhân đơn lẻ đã thu thập thông tin ở quy mô nhỏ để tiết kiệm chi phí và tối đa hiệu quả.     Có rất nhiều người cho rằng nhà nước không nên tự làm cổng thông tin mà kêu gọi tư nhân đầu tư, cộng đồng đóng góp vì “thông tin là một loại tài sản đầu vào của nhiều dịch vụ giá trị gia tăng”. Tuy nhiên, theo chị thì nhà nước không chỉ đầu tư mà còn phải đứng ra làm điều này. Tại sao?   Có hai quan điểm thường gặp về cổng thông tin này. Thứ nhất là có ý kiến cho rằng, khi lập ra một cổng thông tin như vậy, cộng đồng sẽ tự động đóng góp và cập nhật thông tin giống như Wikipedia. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy. Tạo ra một nền tảng để cập nhật thông tin đã khó (phải xác định thông tin nào cần đưa lên và đưa lên bao nhiêu, phân loại như thế nào; một đơn vị tại Phần Lan chuyên cung cấp các nền tảng cổng thông tin tập trung cho khởi nghiệp cho biết chi phí để mua nền tảng của họ ban đầu là 50.000 USD) nhưng tạo ra một cơ chế khuyến khích, tạo động lực để các bên liên quan tự nguyện cập nhật thông tin trên nền tảng này còn khó hơn nữa. Từ kinh nghiệm của những người vận hành cổng thông tin khởi nghiệp của Israel, nhà nước phải lập ra một đội ngũ cập nhật thông tin một cách thủ công, cứ năm sáu tháng một lần, họ lại gọi điện trực tiếp cho hàng nghìn startup để cập nhật dữ liệu của họ.    Thứ hai là có ý kiến cho rằng tư nhân đương nhiên sẽ đầu tư vào cổng thông tin như thế này nhưng thực tế tư nhân chỉ đầu tư khi nhìn thấy cơ hội sinh ra lợi nhuận. Cổng thông tin là một nguồn lực công cộng và sẽ chỉ có doanh thu nếu triển khai đến tầng thông tin thứ hai hoặc tầng thông tin sâu nhất, tức là kết nối giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp khởi nghiệp, nhưng điều này đỏi hỏi nhà nước đã phải đầu tư một khoản rất lớn trước đó cho các tầng thông tin khác rồi. Trước đây, một số tổ chức, cá nhân ở Việt Nam cũng đã lập ra nhiều trang thống kê về hệ sinh thái khởi nghiệp nhưng sau một thời gian đều dừng hoạt động, chỉ có TechinAsia là thành công trong việc tạo ra một cơ sở dữ liệu khổng lồ của hơn 1000 doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam nhưng họ phải bỏ ra một số tiền rất lớn (cỡ vài trăm ngàn đô) để xây dựng cơ sở dữ liệu này. Sau khi hết tiền đầu tư, họ cũng không còn hoạt động như trước nữa.  Chị cũng có nói là để một cổng thông tin thành công thì cần một số tiền đầu tư lớn. Vậy tốn kém chủ yếu nằm ở đâu?   Nằm ở việc đào tạo cho những người cung cấp và sử dụng thông tin bao gồm tổ chức hội thảo, các khóa huấn luyện cho các vườn ươm khởi nghiệp và khóa tăng tốc khởi nghiệp và cả các startup để họ hiểu và cung cấp thông tin cho mình một cách chính xác. Trong một khảo sát thử nghiệm do IPP2 tài trợ cho TECHFEST 2015, các chuyên gia từng đưa cho các khóa tăng tốc khởi nghiệp và vườn ươm khởi nghiệp ở Việt Nam bảng mẫu của cổng thông tin khởi nghiệp của Phần Lan để họ điền vào đó thì phần lớn đều thấy khó hiểu. Chẳng hạn, họ không xác định được dịch vụ hỗ trợ startup của họ cụ thể là gì, startup họ hỗ trợ đang ở giai đoạn nào…trong khi bảng hỏi lại rất chi tiết. Ngay cả startup cũng không xác định được mình đang ở giai đoạn nào, chẳng hạn có trường hợp startup tưởng mình sắp chiếm lĩnh thị trường, gần tiến đến giai đoạn chào bán cổ phiếu ra công chúng trong khi thực chất họ mới ở giai đoạn làm sản phẩm thử để phù hợp với nhu cầu thị trường.  Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!   Hảo Linh thực hiện —-1 Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Hỗ trợ nông dân sau thu hồi đất      Theo khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mỗi năm có khoảng 73.000ha đất nông nghiệp được thu hồi. 5 năm qua, việc thu hồi đất đã tác động đến đời sống của 627.495 hộ, khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người dân nông thôn…    Với phần lớn các nước trên thế giới, đất nông nghiệp thuộc sở hữu cá nhân, muốn giải toả, người có nhu cầu phải thoả thuận trực tiếp với chủ sở hữu đất trên tinh thần “thuận mua, vừa bán”. Ở nước ta, trong quá trình thu hồi đất, vị thế người sử dụng đất nhiều khi bị xem nhẹ. Mặt khác, khi nhận tiền đền bù lớn chưa từng có, nhiều người đã dành phần lớn để xây sửa nhà cửa, mua sắm đồ đạc sinh hoạt đắt tiền, v.v… Khi tiền đền bù cạn, cảnh túng thiếu bắt đầu. Theo cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn thì 53% hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm, chỉ 13% số hộ được chuẩn bị trước thì thu nhập khá hơn.  Thực hiện nguyên tắc “nông dân bị thu hồi đất trong mọi trường hợp phải có cuộc sống tốt hơn, hoặc bằng trước khi bị thu hồi đất”, phương án quy hoạch sử dụng đất tốt là phải gắn với “giải quyết tốt cuộc sống”, thay vì chỉ đền bù một khoản tiền là xong. Khi quy hoạch được duyệt, Nhà nước nên ứng trước một khoản vốn đầu tư tập trung đào tạo chuyển đổi nghề. Khoản vốn ứng trước này sẽ được tính vào chi phí đền bù sau này, hoặc lấy từ khoản trừ vào tiền thuê đất của các nhà đầu tư, cũng có thể lấy từ một quỹ như là “Quỹ hỗ trợ người bị thu hồi đất”.  Khi thu hồi đất, không nên trả tiền đền bù một lúc mà có thể chuyển số tiền đó vào mua cổ phiếu của doanh nghiệp có sử dụng đất đã bị thu hồi. Phương án này theo tôi đem lại nhiều cái lợi:  -Giảm một khoản chi phí không nhỏ cho nhà đầu tư,  -Nông dân có cổ phiếu sẽ tích cực bảo vệ doanh nghiệp, tránh được nhiều xung đột,  -Hàng quý hoặc hàng năm, người nông dân được trả khoản cổ tức, vốn vẫn không bị mất đi, tránh cảnh tiêu xài phung phí.  Các doanh nghiệp muốn có đất đầu tư nên thu nhận một số nhân lực địa phương đã được đào tạo, số lao động chưa bố trí được việc làm cũng có thể tổ chức “Hợp tác xã dịch vụ” như phục vụ ăn uống, thu gom và xử lý chất thải, vệ sinh môi trường, vận chuyển, cung cấp bao bì, đóng gói hàng hóa, v.v… Loại hình hợp tác xã dịch vụ của những người dân bị thu hồi đất này cần được Nhà nước giúp đỡ về nhiều mặt và được đăng ký kinh doanh như một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sử dụng khu đất bị thu hồi nên dành ưu tiên việc làm cho Hợp tác xã những việc mà thông thường phải thuê các doanh nghiệp ngoài vùng.  Hiện nay, giá đền bù thu hồi đất của nông dân mặc dầu đã sát giá thị trường nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với giá đất sau khi giải toả. Người bị thu hồi đất thường thiệt thòi trong khi người sử dụng đất thu hồi thường được lợi rất lớn. Để tránh sự bất bình đẳng đó, Nhà nước với tư cách đại diện cho chủ sở hữu đất có thể bảo vệ quyền lợi cho người bị thu hồi đất bằng cách, có thể là chia giá trị gia tăng của phần đất sau khi giải toả làm 5 phần: 3 phần cho nhà đầu tư, 2 phần cho người bị thu hồi đất, v.v…      Nguyễn Hoàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ nông dân trồng thanh long đèn tiết kiệm điện      Hai tỉnh Tiền Giang và Long An, nơi có những diện tích tồng cây thanh long hàng đầu Việt&#160; Nam, đã triển khai thành công chương trình “Hỗ trợ nông dân trồng thanh long đổi đèn tròn sợi đốt bằng đèn tiết kiệm điện – giai đoạn 2014-2015”.    Theo chương trình của Tổng công ty Điện lực miền Nam, điện lực Tiền Giang và Long An đã vận động, tuyên truyền các hộ trồng thanh long sử dụng bóng đèn compact tiết kiệm điện, thay thế bóng đèn sợi đốt. Về chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi bóng đèn tiết kiệm điện, nhà sản xuất đã giảm giá bán đèn tối thiểu từ 10% trở lên so với giá bán lẻ thực tế. Nếu người nông dân mua giá 29.280đ/bóng sẽ trả tiền mua ngay cho nhà cung cấp, còn với giá 30.500đ/bóng chỉ cần trả 50% ngay khi mua đèn, 50% còn lại trả trong vòng 90 ngày. Bên cạnh đó ngành điện còn đảm bảo an toàn khi sử dụng điện khi xông thanh long, hỗ trợ số tiền 4.000 đ/bóng đèn sợi đốt đang sử dụng khi thu hồi, hỗ trợ 3.000đ cho việc lắp đặt 2 mối nối an toàn/1 bóng đèn lắp đặt. Về lâu dài, mỗi hộ trồng thanh long sẽ giảm 2/3 lượng điện năng tiêu thụ do dùng bóng compact tiết kiệm điện, qua đó giúp giảm chi phí đầu vào góp phần tăng thu nhập.   Về phía cộng đồng, lợi ích còn nhiều hơn thế khi giảm lượng khí thải CO2 ra ngoài môi trường, giảm áp lực nhu cầu về nguồn điện cung cấp điện cho các khu vực xông đèn trồng thanh long và nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả thông qua sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao trong sản xuất nông nghiệp.  Theo tính toán, riêng trên địa bàn huyện Chợ Gạo, huyện Tiền Giang, công ty Điện lực Chợ Gạo đã hỗ trợ 10.000 bóng đèn compact. Hộ trồng thanh long được quyền lựa chọn sản phẩm đèn compact chống ẩm 20W của công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang hoặc công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông.   Về hiệu quả sử dụng, thanh long ra hoa trái vụ giữa bóng đèn compact 20W và bóng đèn sợi đốt 60W đều cho ra kết quả tương đương. Ưu điểm vượt trội của bóng đèn tiết kiệm điện là tỷ lệ hỏng khi gặp mưa trong thời gian xông thấp hơn nhiều so với sử dụng bóng đèn sợi đốt.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ pháp lý cho startup: Chính sách tốt nhưng không dễ thực hiện      Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và vừa (DNNVV) 2017 đã quy định một trong các nội dung hỗ trợ DNNVV là “hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý”1. Với những người mới khởi nghiệp, cần đầu tư thời gian và nguồn lực vào phát triển sản phẩm, đây là một hỗ trợ có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, để thực hiện được nó không phải là chuyện đơn giản.      Một buổi trao đổi giữa những người từng nhận tài trợ của dự án IPP, theo đó, nhiều đại diện đến từ các quỹ đầu tư, vườn ươm, khóa tăng tốc khởi nghiệp đều cung cấp dịch vụ tư vấn luật cho startup. Nguồn ảnh: IPP.vn  Mới có hai tỉnh có kế hoạch triển khai  Đầu năm 2018, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật DNNVV 2017 (“Nghị định 39”), trong đó có hướng dẫn về hoạt động hỗ trợ thông tin và tư vấn, tuy nhiên lại không bao gồm nội dung hướng dẫn về hoạt động hỗ trợ pháp lý. Rất có khả năng trong thời gian tới, sẽ không có Nghị định hướng dẫn chi tiết đối với hoạt động hỗ trợ pháp lý mà các bộ, ngành, địa phương khi triển khai Luật DNNVV sẽ tự quy định cụ thể nội dung này sao cho phù hợp với đặc thù của mỗi ngành, địa phương. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, mới chỉ có Hà Nội và Quảng Trị công khai kế hoạch triển khai Luật DNNVV (đã được phân tích ở phần trên) và mỗi địa phương có một phương án riêng để triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV.  Với Hà Nội2, UBND Hà Nội đã giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan thực hiện việc này. Nguồn kinh phí thực hiện trích từ nguồn kinh phí ngân sách thành phố cấp trong hoạt động chi thường xuyên hằng năm của các cơ quan, đơn vị và nguồn tài chính hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.  Quảng Trị còn có những quy định cụ thể hơn3. Theo đó, hằng năm, tỉnh sẽ bố trí 150 triệu/năm cho nội dung hỗ trợ thông tin và tư vấn pháp lý. Để thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, tỉnh có kế hoạch bố trí mạng lưới cộng tác viên tư vấn pháp luật trên các lĩnh vực thuế, bảo hiểm, hợp đồng, đất đai, môi trường, giải quyết tranh chấp, về đầu tư và chính sách đầu tư của tỉnh. Doanh nghiệp được miễn chi phí tư vấn khi sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên.  Mặc dù Nghị định 39 đề cập trực tiếp đến nội dung hỗ trợ pháp lý nhưng chúng tôi nhận thấy Nghị định này vẫn gián tiếp thể hiện điều này với DNNVV thông qua các quy định về hỗ trợ thông tin và tư vấn nói chung. Ví dụ, với nhóm DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, các doanh nghiệp này sẽ được hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp khi thực hiện việc chuyển đổi và được hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính (TTHC) thuế và kế toán trong thời hạn 3 năm kể từ ngày thành lập. Còn với nhóm DNNVV khởi nghiệp sáng tạo (startup), các doanh nghiệp này có thể được hỗ trợ tư vấn về thủ tục xác lập, chuyển giao, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Với các quy định hiện hành tại Nghị định 39, có thể thấy các hỗ trợ pháp lý của nhà nước đối với DNNVV thường hướng tới giảm gánh nặng chi phí tuân thủ cho DNNVV khi thực hiện TTHC tại các cơ quan có thẩm quyền. Điều này cũng phù hợp với vai trò chủ thể cung cấp dịch vụ công của nhà nước. Cũng cần lưu ý rằng, kể cả với mục đích hỗ trợ pháp lý, nhà nước cũng không thể và không nên can thiệp vào quan hệ nội bộ hay quan hệ thương mại của doanh nghiệp mà DNNVV phải chủ động trong việc cân đối nguồn lực để giảm thiểu rủi ro pháp lý và giải quyết vấn đề pháp lý phát sinh trong các mối quan hệ này.  Nguồn lực chưa rõ ràng  Tuy nhiên từ quy định pháp luật đến thực thi trên thực tế là cả một quá trình đầy gian nan, đòi hỏi nguồn lực tài chính và con người cũng như nỗ lực và sự quyết tâm của từng bộ, ngành, địa phương. Dù triển khai theo hình thức nào thì việc bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động hỗ trợ cũng là một vấn đề các địa phương đều phải quan tâm, nếu không muốn nói là đặc biệt lưu ý. Hiện nay Nghị định 39 mới chỉ xác định nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước mà chưa quy định rõ về cơ chế huy động các nguồn lực khác trong xã hội để hỗ trợ cho DNNVV. Hơn nữa, trong các tài liệu của bộ hồ sơ Dự thảo Nghị định 39 được công khai trên Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư4 không có tài liệu về đánh giá tác động của chính sách mà chỉ có dự thảo Tờ trình Chính phủ và dự thảo Nghị định5. Do đó, khó có thể biết được dự kiến tác động về mặt kinh tế của các chính sách được đưa ra tại dự thảo Nghị định để mà ước tính mức ngân sách và tổng kinh phí cần thiết cho việc triển khai Nghị định này.        Làm thế nào để sự hỗ trợ đến với doanh nghiệp kịp thời và phát huy lợi ích tối đa cho doanh nghiệp? Làm thế nào để không có tình trạng “chạy” để được vào danh sách hỗ trợ (vốn không phải là một câu chuyện hiếm của các dự án hỗ trợ)? Đây đều là những câu hỏi khó, đòi hỏi câu trả lời xuất phát phần nhiều từ cái tâm của người thực thi pháp luật.      Ngoài thách thức về việc đảm bảo nguồn lực để thực thi (hiện vẫn còn chưa thực sự rõ ràng), thủ tục để doanh nghiệp được nhận hỗ trợ và chất lượng của mạng lưới tư vấn cũng là những vấn đề đáng quan tâm. Trước hết cần khẳng định rằng, việc hỗ trợ cho toàn bộ DNNVV nói chung hay toàn bộ startup nói riêng trong cùng một thời điểm là bất khả thi bởi tính hữu hạn của nguồn lực hỗ trợ từ nhà nước. Do đó Nghị định 39 đặt ra các nguyên tắc ưu tiên hỗ trợ, ví dụ như ưu tiên DNNVV do nữ làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ hay ưu tiên DNNVV nộp hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện trước được hỗ trợ trước (first come first served)6. Riêng việc hỗ trợ startup sử dụng ngân sách nhà nước thì được thực hiện theo Đề án hỗ trợ DNNVV của từng bộ, ngành, địa phương (“Đề án”)7 và Nghị định 39 có quy định các phương thức nhất định để lựa chọn startup tham gia Đề án8. Ví dụ như các startup này đã phải được đầu tư, lựa chọn bởi các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo, các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; hoặc đã được nhận các giải thưởng cấp quốc gia, quốc tế về khởi nghiệp; hoặc được lựa chọn trực tiếp bởi Hội đồng do cơ quan chủ trì Đề án thành lập (có tối thiểu 50% thành viên tham gia Hội đồng là các chuyên gia tư vấn độc lập trong nước và quốc tế, hiệp hội liên quan). Về cơ bản, các nguyên tắc, phương thức lựa chọn đối tượng hỗ trợ tại Nghị định 39 đã được quy định để đảm bảo tính khách quan và công bằng của việc lựa chọn, nhưng thực hiện hóa được các nguyên tắc này tùy thuộc vào sự cam kết của từng địa phương. Làm thế nào để sự hỗ trợ đến với doanh nghiệp kịp thời và phát huy lợi ích tối đa cho doanh nghiệp? Làm thế nào để không có tình trạng “chạy” để được vào danh sách hỗ trợ (vốn không phải là một câu chuyện hiếm của các dự án hỗ trợ)? Đây đều là những câu hỏi khó, đòi hỏi câu trả lời xuất phát phần nhiều từ cái tâm của người thực thi pháp luật.  Làm thế nào để xây dựng đội ngũ tư vấn  Một vấn đề khác mà chúng tôi quan ngại là chất lượng của mạng lưới tư vấn viên nói chung và đội ngũ tư vấn viên pháp lý nói riêng. Kế hoạch hỗ trợ DNNVV của Hà Nội và Quảng Trị đều trực tiếp hoặc gián tiếp nhắc đến việc xây dựng mạng lưới tư vấn viên/cộng tác viên để thực hiện việc hỗ trợ pháp lý cho DNNVV. Nghị định 39 quy định mạng lưới tư vấn viên bao gồm tư vấn viên đã và đang hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và tư vấn viên hình thành mới, đảm bảo nguyên tắc nhất định9. Cơ chế để xây dựng đội ngũ tư vấn viên đã được xác lập, tuy nhiên vấn đề quan ngại trong trường hợp này là làm thế nào để thu hút số lượng tư vấn viên đông đảo với trình độ chuyên môn cao, từ đó đảm bảo chất lượng tư vấn cho DNNVV, đặc biệt đặt trong bối cảnh nguồn lực hỗ trợ là hữu hạn.  Đơn cử như với trường hợp tư vấn pháp luật, một sự thật cần nhìn nhận là luật sư giỏi thì không thiếu việc. Hiện nay không rõ mức hỗ trợ của Đề án dành cho đội ngũ tư vấn viên là bao nhiêu nhưng nếu lấy tương tự trường hợp của luật sư tham gia trợ giúp viên pháp lý (được hưởng thù lao từ 0,08 – 0,15 mức lương cơ sở, tương đương với từ 100.000VND đến 200.000VND10 cho 1 văn bản tư vấn pháp luật tùy tính chất phức tạp và nội dung của vụ việc) thì quả là một thách thức cho cơ quan nhà nước trong việc thu hút đội ngũ luật sư nếu chỉ dựa vào yếu tố kinh phí hỗ trợ. Do đó, để những luật sư giỏi bỏ thời gian làm hồ sơ, đăng ký trở thành thành viên của mạng lưới tư vấn viên, điều này đòi hỏi một thứ gì đó lớn hơn kinh phí hỗ trợ. Có thể sẽ có những luật sư tham gia vào mạng lưới tư vấn viên xuất phát từ cái tâm của người hành nghề luật sư, từ mong muốn cống hiến cho xã. Bên cạnh đó, cũng có thể sẽ có những luật sư có cái nhìn “kinh tế” hơn, và coi việc tham gia mạng lưới như một hình thức marketing cho luật sư hay một cơ hội tìm kiếm khách hàng tiềm năng. Thậm chí nếu Liên đoàn Luật sư đưa ra hướng dẫn chấp nhận việc luật sư tham gia mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ DNNVV sẽ được tính vào thời gian thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý bắt buộc tối thiểu với luật sư trong một năm (pro-bono)11, có lẽ sẽ có nhiều hơn nữa luật sư tham gia vào mạng lưới tư vấn viên pháp lý dành cho DNNVV. Vấn đề là cơ quan chủ quản Đề án phải xác định được những nhóm tư vấn viên tiềm năng (và đương nhiên phải đảm bảo chất lượng) cũng như định ra chiến lược thu hút sự tham gia phù hợp đối với từng nhóm tư vấn viên này.  Cần phải thừa nhận hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là một chính sách tốt, xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên đó chỉ là một khía cạnh rất nhỏ trong chiến lược hỗ trợ DNNVV mà đã đặt ra những thách thức không hề nhỏ về nguồn lực tài chính hay yếu tố con người. Hơn nữa, thay vì đưa ra những hỗ trợ trực tiếp, điều quan trọng là nhà nước phải làm sao để doanh nghiệp thực sự chủ động trong việc phòng ngừa các rủi ro pháp lý và giải quyết các vấn đề pháp lý của chính mình bởi “việc mình hồ dễ để ai đo lường”.  ——-     Chú thích  1 Luật Hỗ trợ DNNVV 2017, Điều 14, khoản 3  2 UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 106/KH-UBND ngày 9/5/2018 triển khai thi hành Luật Hỗ trợ DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội. Xem chi tiết tại http://business.gov.vn/tabid/1356/catid/1136/item/58529/ha-nội-triển-khai-thực-hiện-luật-hỗ-trợ-dnnvv.aspx     3 Ngày 28/7/2018, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp, khởi nghiệp doanh nghiệp tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2021. Xem chi tiết tại http://business.gov.vn/tabid/1356/catid/1136/item/58630/quảng-trị-đề-an-hỗ-trợ-phat-triển-doanh-nghiệp-khởi-nghiệp-doanh-nghiệp-giai-đoạn-2018-2021.aspx  4 Xem tại đường dẫn http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=38307&idcm=140  5 Theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, cơ quan đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị định sau khi được Chính phủ thông qua. Các nội dung về đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định là một tài liệu bắt buộc phải có trong bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định và bộ hồ sơ này phải được đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.  6 Nghị định 39, Điều 4  7 Đề án này do mỗi Bộ, cơ quan ngang bộ và mỗi tỉnh, thành phố tự xây dựng trên cơ sở tham vấn ý kiến của các cơ quan chuyên môn như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính  8 Nghị định 39, Điều 20  9 Nghị định 39, Điều 13, khoản 4, điểm a. Cụ thể nguyên tắc: đối với cá nhân tư vấn phải đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của DNNVV; đối với tổ chức phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và phù hợp với nhu cầu của DNNVV.  10 Theo quy định tại Nghị định 72/2018/NĐ-CP quy định về mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, mức lương cơ sở là 1.390.000 đồng/tháng  11 Theo Quyết định 93/QĐ-BTV của Liên đoàn Luật sư Việt Nam ngày 9/10/2014 ban hành quy định thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư, luật sư có nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý ít nhất một ngày làm việc/năm (8 giờ/ngày). Tuy nhiên, đối tượng hưởng lợi trong trường hợp này không phải là DNNVV mà là người được hưởng trợ giúp pháp lý theo Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Trợ giúp pháp lý như người nghèo, người có công với cách mạng, người già, người chưa thành niên…       Author                Nguyễn Thùy Dương        
__label__tiasang Hỗ trợ theo nguyên tắc “từ dưới lên”      Khi chúng tôi cùng PGS. TS Trần Văn Ơn tới hợp tác xã (HTX) làm miến Đình Trung ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu, Quảng Ninh thì La Nồng, chủ nhiệm HTX đã bắt xe khách đi Hà Nội từ sáng sớm để nhận giải thưởng Lương Định Của cho những thanh niên có thành tích xuất sắc trong phát triển nông nghiệp. La Chiu, bố của La Nồng, người truyền nghề làm miến dong truyền thống cho La Nồng cũng đã đi sang huyện bên thu mua dong riềng.      Miến thành phẩm trước khi đóng gói ở HTX miến Đình Trung, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, Quảng Ninh.  Chỉ có dây chuyền sản xuất miến bán tự động đang chạy rầm rập, xã viên tấp nập đưa những mẻ miến cuối cùng của buổi sáng đi phơi cho kịp nắng trưa. Kể từ 2014, nhờ Chương trình OCOP hỗ trợ quảng bá thương hiệu, dây chuyền sản xuất (OCOP hỗ trợ 50% tiền mua dây chuyền), HTX của người Sán Chay này tăng gấp đôi sản lượng bán ra, tăng khoảng 6 tấn miến một tháng so với trước. Miến của HTX Đình Trung được khách hàng ưa chuộng vì rất mềm, ngon, màu sắc trong, nấu lâu vẫn dai mà không nát. Vì thế 23 thành viên HTX thường “làm không hết việc”, HTX phải mở rộng vùng thu mua nguyên liệu sang các huyện lân cận mới đủ cho sản xuất.  Khiếm khuyết đáng kể duy nhất còn lại trong sản phẩm miến dong của HTX Đình Trung là tỉ lệ vi sinh vật trong miến dong chưa đạt theo yêu cầu theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặc dù dây chuyền sản xuất được hiện đại hoá nhưng nhà xưởng vẫn “như xưa”, đặt trong căn nhà cấp bốn cũ khá ẩm thấp, khu chứa củ dong riềng ở ngoài trời và rất gần đường đi… Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng này, những người làm HTX Đình Trung sẽ không đơn độc. Trong thời gian tới, họ sẽ được các cán bộ của Chương trình OCOP hỗ trợ, tổ chức tập huấn quy trình sản xuất hợp vệ sinh an toàn thực phẩm và tìm phương án cải thiện môi trường sản xuất.  Không chỉ riêng Đình Trung, mà tất cả các HTX, doanh nghiệp cộng đồng tham gia Chương trình OCOP Quảng Ninh đều có thể viết đề xuất đề nghị Chương trình OCOP hỗ trợ về tái cơ cấu, cơ sở hạ tầng, tư vấn phát triển sản xuất, giám sát chất lượng, quảng bá thương hiệu … hay thậm chí chỉ là thiết kế bao bì sao cho đẹp mắt.  Người dân tự đề xuất và quyết định  Với mục tiêu phát triển sản xuất các sản phẩm đặc trưng của từng xã theo chuỗi hàng hóa, Chương trình OCOP được thực hiện ở Quảng Ninh từ tháng 10/2013 theo nguyên tắc “người dân đề xuất” để thực hiện “từ dưới lên”. Dự án này được UBND tỉnh duyệt và bắt đầu đưa vào thực hiện theo quy trình: 1/ Nhóm tư vấn tập huấn cho cán bộ địa phương về Chương trình OCOP; 2/ Cán bộ các huyện thông tin tới người dân về cách tham gia OCOP, hướng dẫn người dân viết đề xuất sản phẩm và kế hoạch sản xuất. 3/ Cán bộ OCOP huyện, tỉnh tiếp nhận hồ sơ, đi thực tế tại từng cơ sở sản xuất và thảo luận với nhóm tư vấn về toàn bộ nội dung cần hỗ trợ ở mỗi cơ sở sản xuất. 4/ Cán bộ OCOP cùng đơn vị tư vấn hỗ trợ các cơ sở sản xuất. 5/ OCOP tổ chức thi đánh giá, phân hạng sản phẩm từ 1 tới 5 sao (tới đây những sản phẩm như miến dong của HTX Đình Trung phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm mới có thể được đưa vào xếp hạng). 6/ OCOP tổ chức xúc tiến thương mại hóa sản phẩm thông qua các ngày hội kết nối đầu tư, hội chợ hàng OCOP (2-3 lần/ năm) và gian hàng OCOP (mỗi huyện, thị tại Quảng Ninh bố trí một gian hàng OCOP), quảng bá sản phẩm. Toàn bộ quy trình này được lặp lại hằng năm để liên tục tìm ra các nhân tố mới tham gia vào chương trình OCOP và các đơn vị sản xuất cũ tiếp tục nhận được hỗ trợ khi có vướng mắc phát sinh. Ngoài ra, bất kỳ khi nào gặp khó khăn, các đơn vị sản xuất đều có thể liên lạc ngay với văn phòng OCOP huyện để đề nghị tư vấn hỗ trợ. Ví dụ, trường hợp của HTX Dược liệu xanh Đông Triều (DTgreen) tại xã Tràng Lương, huyện Đông Triều, sau khi đi vào sản xuất được một thời gian đã gặp khó khăn trong xây dựng hình ảnh thương hiệu, làm mẫu mã bao bì và đề nghị OCOP huyện cùng nhóm tư vấn hỗ trợ giải quyết khó khăn. Nhóm tư vấn tìm kiếm một người có kinh nghiệm phù hợp tới làm việc cho HTX DTgreen trong vòng năm tháng để phát triển các hợp phần mà DTgreen còn đang vướng mắc (DTgreen trả tiền công lao động cho cán bộ đó theo hợp đồng lao động thông thường).  Thông thường, cụm từ “hỗ trợ từ phía nhà nước” sẽ khiến nhiều người trong chúng ta liên tưởng tới hình ảnh nhà nước “làm thay” hoặc “cho không”. Nhưng trong trường hợp ở OCOP Quảng Ninh, cách làm lấy ý kiến từ dưới lên theo quy trình sáu bước ở trên với nguyên tắc “tư vấn chứ không làm thay” đã đem lại thành công cho chương trình này mà không tạo ra tâm lý “ỷ lại” cho người dân. Cụ thể, khi các cơ sở sản xuất trong Chương trình OCOP gặp khó khăn, cán bộ OCOP huyện sẽ mời đơn vị tư vấn tới thực địa, thảo luận chỉ ra các nguyên nhân khó khăn, cùng tìm ra phương án giải quyết dựa vào nguồn lực của cộng đồng. Sau đó, các cộng đồng phải tự tháo gỡ khó khăn bằng cách tự tái cơ cấu, tổ chức lại sản xuất dựa trên tư vấn của cán bộ OCOP hoặc nhóm tư vấn. Trong những trường hợp các cơ sở sản xuất cần mở rộng sản xuất và được đơn vị tư vấn đánh giá là có khả năng phát triển sản xuất, có khả năng tiếp cận thị trường, nguồn nhân lực đáp ứng kế hoạch sản xuất, thì nhà nước sẽ hỗ trợ 50% vốn xây dựng mặt bằng và dây chuyền sản xuất (tỉnh Quảng Ninh tự bố trí từ nguồn ngân sách của tỉnh dành cho chương trình nông thôn mới). Chính vì lẽ đó, các hỗ trợ này thường đi “đúng”, “trúng” vào các đơn vị sản xuất thực sự cần và có khả năng tự phát triển sản xuất như trường hợp của HTX Đình Trung.  Không thể thiếu vai trò tư vấn của nhà khoa học  Trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển OCOP ở Quảng Ninh, nhóm tư vấn phát triển cộng đồng có vai trò đề xuất, xây dựng chương trình, đào tạo nguồn nhân lực làm phát triển chương trình cho cán bộ các cấp (tỉnh, huyện), đánh giá quá trình thực tiễn triển khai OCOP ở những địa phương gặp nhiều khó khăn, đề xuất phương án giải quyết. Chị Lê Thị Thu Hương, trưởng phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, là cán bộ chương trình OCOP, cho biết cán bộ địa phương rất khó thực hiện chương trình OCOP nếu không có sự tư vấn thường xuyên của nhóm tư vấn, vì “bản thân cán bộ huyện vốn chủ yếu làm công tác hành chính, không thể đủ năng lực để giải thích cho người dân mọi vấn đề vướng mắc trong sản xuất được”.  Ngoài ra, các cơ sở kinh tế tham gia chương trình OCOP còn cần hỗ trợ về mặt khoa học công nghệ từ nhiều cơ quan khoa học khác để thẩm định quy trình sản xuất (đảm bảo các chỉ số khoa học về hàm lượng, chất lượng, vệ sinh…), chứng minh công dụng khoa học… trước khi có thể mở rộng sản xuất. Vì sản xuất truyền thống mới chỉ nhằm phục vụ tiêu dùng tại chỗ trong thời gian rất ngắn, thuần túy dựa trên kinh nghiệm, không minh chứng được các nguyên lý khoa học, không áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cho sản xuất đại trà… nên phổ biến tình trạng các sản phẩm không giữ được chất lượng, không đảm bảo tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm khi đưa ra sản xuất lớn, lưu hành dài ngày trên thị trường. Thực trạng này khá phổ biến ở huyện Bình Liêu, khi “trong toàn huyện có tám sản phẩm dự thi OCOP nhưng chưa sản phẩm nào được cấp sao vì không đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm”, ông Hoàng Ngọc Ngò, Phó chủ tịch huyện Bình Liêu, cho biết.  Do đó, Chương trình OCOP thường tìm kiếm thông tin về một số tổ chức nghiên cứu, thẩm định khoa học công nghệ và “bắc cầu” để các đơn vị tham gia OCOP có thể kết nối và “tự đặt hàng” các nghiên cứu nếu có nhu cầu hoàn thiện quy trình sản xuất với quy mô lớn. Ví dụ, Công ty Cổ phần sản phẩm truyền thống Bằng Cả, xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ đang đặt hàng Viện Ứng dụng công nghệ thuộc Bộ KH&CN nghiên cứu lại quy trình sản xuất rượu Bâu để nâng cao năng suất, chất lượng và thời gian bảo quản sản phẩm. Dự kiến, thời gian hoàn thành nghiên cứu này và chuyển giao vào áp dụng trong thực tế sản xuất tại Bằng Cả vào giữa năm 2017.  Tương tự, với trường hợp của công ty CP Lâm sản Đạt Thanh (DTFopro) tại huyện Ba Chẽ, cũng có thể thấy rõ vai trò của nghiên cứu khoa học đối với sự phát triển, mở rộng của công ty. Nếu trước năm 2014, DTFopro mới chỉ thuần túy thu hái và bán sản phẩm thô là bông hoa và búp non của trà hoa vàng cho các thương lái Trung Quốc. Kể từ khi đặt hàng PGS.TS Trần Văn Ơn nghiên cứu thành phần, dược tính của trà hoa vàng (có công dụng phòng ngừa ung thư, điều hòa huyết áp, giảm mỡ máu) thì DTFopro có đủ cơ sở khoa học để sản xuất và chế biến thành các sản phẩm như trà túi lọc, trà hoa khô (OCOP xếp hạng bốn sao) cho người tiêu dùng Việt Nam. Mặc dù có giá thành rất đắt, khoảng 400.000 một hộp trà 30gram, nhưng trà hoa vàng của DTFopro luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Công ty này cũng đang dự tính sẽ nghiên cứu thị trường và đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu quy trình để sản xuất các sản phẩm phái sinh khác như cao trà hoa vàng, mặt nạ dưỡng da trà hoa vàng…  Vì vậy, có thể nói rằng để các doanh nghiệp cộng đồng có thể tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở rộng quy mô sản xuất, tiếp cận thị trường, người dân luôn cần sự hỗ trợ “đúng cách” từ phía nhà nước và tư vấn từ các nhà khoa học và nhà phát triển cộng đồng.  Trên đường rời khỏi xã Húc Động, PGS.TS Trần Văn Ơn chỉ vào những bao tải dong riềng đang chất cao ngất trước cổng HTX Đình Trung và những giàn phên tre phơi miến trên cánh đồng mới gặt còn trơ gốc rạ và dặn nhóm đồng sự: “có lẽ họ để củ dong ngoài trời, làm giàn phơi trên nền ruộng, gần đường quá nên khi xét nghiệm mới không đảm bảo chỉ số vi sinh trong miến, phải tiếp tục tư vấn họ thay đổi quá trình phơi này”  Chương trình OCOP Quảng Ninh nằm trong khuôn khổ chương trình Nông thôn mới của tỉnh, có mục tiêu giúp người dân phát triển chuỗi sản phẩm đặc sản (gồm sáu nhóm: thảo dược, đồ uống, dịch vụ, thực phẩm ẩm thực, vải & may mặc, nội thất – trang trí) của từng vùng trong tỉnh. Đến năm 2016, chương trình OCOP đã đánh giá tiêu chuẩn cho 121 sản phẩm (kết quả có 99 sản phẩm đạt tiêu chuẩn 3 – 5 sao), hỗ trợ xúc tiến thương mại thông qua các hội chợ, triển lãm, gian hàng OCOP và quảng bá trên truyền thông đại chúng. Đến nay, tổng số vốn thực tế toàn bộ các cơ sở kinh tế tham gia OCOP đã huy động vào khoảng 368 tỉ đồng (trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ các cơ sở vào khoảng 58 tỉ đồng). Doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất OCOP trong ba năm đạt khoảng 672 tỉ đồng.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Hóa học “chớp nhoáng”: Khoa học thắng giải Nobel có thể thay đổi thế giới      Giải  Nobel Hóa học đã được trao cho ba nhà khoa học với công trình của họ về click chemistry, một cách để ‘dính’ các phân tử lại với nhau như những miếng Lego mà các chuyên gia nói là sẽ sớm “làm thay đổi thế giới này”.      Nhưng chính xác thì nó hoạt động như thế nào?  Hãy tưởng tượng hai người đi suốt một căn phòng lớn hầu như trống rỗng về phía sau, sau đó họ bắt tay nhau.  “Đó là cách các phản ứng hóa học cổ điển được tạo ra”, Benjamin Schumann, một nhà hóa học tại Imperial College London, nói.  Nhưng cái gì sẽ đến nếu như có rất nhiều đồ đạc và những người khác có trong căn phòng này?  “Họ có thể không gặp được nhau”, Schumann nói.  HIện tại hãy tưởng tượng những con người đó là các phân tử, các nhóm gồm các nguyên tử bé nhỏ hình thành nền tảng của hóa học. “Hóa học chớp nhoáng khiến cho hai phân tử trong một môi trường có rất nhiều thứ vây xung quanh” trở nên có thể gặp nhau và tham gia cùng những phân tử khác, ông nói.  Cách hóa học chớp nhoáng gắn các khối cơ bản phân tử lại với nhau có thể so sánh với Lego. Nhưng Carolyn Bertozzi, người cùng chia sẻ giải Nobel Hóa học năm nay cùng Barry Sharpless và Morten Meldal, nói nó có thể tạo ra một dạng Lego vô cùng đặc biệt. Ngay cả nếu hai miếng Lego đó được bao quanh bởi hàng triệu những đồ chơi bằng nhựa tương tự” thì chúng vẫn chỉ gắn vào với nhau, bà nói với AFP.  “Thay đổi sân chơi”  Khoảng năm 2000, Sharpless và Meldal, một cách riêng rẽ, đã khám phá ra một phản ứng hóa học đặc biệt bằng sử dụng các ion đồng như một chất xúc tác “có thể làm thay đổi sân chơi” và trở thành “cái xuất sắc nhất”, theo nhận xét của Silvia Diez-Gonzalez, một nhà hóa học tại Imperial College London.  Đồng có nhiều triển vọng, bao gồm việc các phản ứng có thể xảy ra trong nước và thực hiện ở nhiệt độ phòng hơn là mức nhiệt cao và có thể làm phức tạp thêm vấn đề.  Cách làm này kết nối các phân tử theo cách thoải mái hơn, hiệu quả hơn và gắn đích hơn những cách làm trước đây. Kể từ khám phá này, các nhà hóa học đã phát hiện ra rất nhiều dạng kiến trúc phân tử mà họ có thể xây dựng cùng các khối Lego mới đặc biệt của mình.  “Hầu như không thể kể hết các ứng dụng từ đó”, Tom Brown, một nhà hóa học Anh tại Đại học Oxford làm việc về hóa học chớp nhoáng DNA, nói.  Nhưng có một vấn đề với việc sử dụng đồng như một chất xúc tác. Nó có thể độc với tế bào hoặc các cơ thể sống  – như con người.  Vì vậy Bertozzi đã xây dựng trên nền tảng công trình của Sharpless và Meldal, thiết kế “một con đường sử dụng hóa học chớp nhoáng với các hệ sinh học mà không làm ảnh hưởng đến sự sống của chúng” và không cần đồng, Diez-Gonzalez nói.  Những phân tử này trước đây gắn với nhau theo một đường thẳng phẳng lì– giống như một cái thắt lưng – nhưng Bertozzi khám phá ra cách có thể hợp nhất chúng lại “như một đường hơi cong” để tạo ra một phản ứng bền vững hơn, Diez-Gonzalez giải thích.  Bertozzi gọi lĩnh vực mà bà tạo ra là hóa sinh trực giao – trực giao có nghĩa là giao cắt tại các góc vuông.  Phần nổi của tảng băng  Diez-Gonzalez nói bà cũng có “đôi chút ngạc nhiên” khi lĩnh vực này được trao một giải Nobel sớm đến thế, bởi vì nó chưa dẫn đến nhiều ứng dụng thương mại”.  Nhưng tương lai của nó thật tươi sáng.  “Chúng ta mới thấy phần nổi của tảng băng”, Chủ tịch Angela Wilson Hội Hóa học Mỹ nói và cho biết thêm là “hóa học chớp nhoáng sẽ làm thay đổi thế giới”.  Bertozzi cho rằng có rất nhiều tiềm năng sử dụng hóa học chớp nhoáng, “tôi thậm chí còn không thể kể hết”. Một trong những ứng dụng là để phát triển các loại thuốc nhắm đích mới, một số có thể tham gia “thực hiện phản ứng hóa học bên trong cơ thể bệnh nhân để chắc chắn là các loại thuốc đến đúng chỗ”, bà nói với Hội đồng giải thưởng.  Phòng thí nghiệm của bà bắt đầu nghiên cứu về những điều trị tiềm năng với người bị nhiễm COVID nặng, bà cho biết thêm.  Một hi vọng khác là nó có thể dẫn đến con đường đa đích đến để chẩn đoán và điều trị ung thư cũng như khiến liệu pháp hóa học trở nên ít tác dụng phụ hơn, ít nghiêm trọng hơn.  Thậm chí có thể tạo ra một cách khiến vi khuẩn gây ra bệnh nhiễm trùng phổi Legionnaires phát quang để nhận biết nó dễ dàng hơn khi di chuyển trong đường cung cấp nước.  Ngay lập tức hóa học chớp nhoáng đã được sử dụng để “tạo ra một số loại polymer vô cùng bền” có khả năng chống chịu nhiệt cũng như trong những dạng keo trong hóa học nano, Meldal nói với AFP.  Wilson nói những ứng dụng tương lai bao gồm y học cá thể hóa, các loại thuốc kháng vi trùng, các tác nhân phát quang và nhiều nhiều nữa.  “Tôi nghĩ nó sẽ là một cuộc cách mạng hóa hoàn toàn tất cả từ y học đến vật liệu”, bà nói.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-click-chemistry-nobel-winning-science-world.html  https://www.euronews.com/next/2022/10/06/click-chemistry-and-quantum-weirdness-what-are-this-years-nobel-prizes-all-about    Author                .        
__label__tiasang Hóa học giải thích vì sao gạo lứt tốt cho sức khỏe      Các chế độ ăn của người châu Á đều coi gạo như một nguồn tinh bột chủ yếu, do đó đây là nơi tiêu thụ gần 90% lượng gạo trên toàn thế giới. Trong số đó, gạo lứt được biết đến với nhiều lợi ích sức khỏe. Như một nguồn bổ sung vào bữa ăn, nó có thể giúp giảm cân, đem lại mức cholesterol thấp hơn và ức chế các chứng viêm nhiễm. Năng lực của gạo lứt là trung hòa các tác nhân oxy hoạt hóa và ngăn phá hủy tế bào.    Dẫu nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ là các hợp chất chống ô xy hóa trong gạo lứt có thể bảo vệ tế bào khỏi sức ép ô xy hóa, nhưng hiểu biết liên quan đến thành phần chính đem lại những lợi ích đó vẫn còn là bí ẩn.  Trong nghiên cứu mới do giáo sư Yoshimasa Nakamura của trường Môi trường và khoa học sự sống, ĐH Okayama dẫn dắt, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận diện được cycloartenyl ferulate (CAF) là thành phần chính “cytoprotective”, chất bảo vệ tế bào trong gạo lứt. CAF là một hợp chất độc đáo với cấu trúc lai như giải thích của giáo sư Nakamura, “CAF là một hợp chất lai của polyphenol và phytosterol, nó được mong đợi là một thành phần tiềm năng với rất nhiều dược tính khác nhau, như hiệu quả về chống ô xy hóa và hiệu quả làm giảm mỡ máu”.  Nghiên cứu mới được xuất bản trên tạp chí International Journal of Molecular Sciences, với đồng tác giả là Hongyan Wu, từ trường ĐH Bách khoa Đại Liên, và Toshiyuki Nakamura. Trong đó, các nhà nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về các đặc tính chống ô xy hóa của CAF bằng việc chứng minh là nó có thể bảo vệ tế bào khỏi các ảnh hưởng do hydrogen peroxide gây ra.  Dẫu hydrogen peroxide là một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa trong tế bào nhưng lượng thành phần tích tụ dị thường có thể gây gộc cho các tế bào và là nguyên nhân làm phá hủy tế bào không thể cưỡng lại. Việc điều trị các tế bào với CAF làm gia tăng sức chống chịu của chúng với ảnh hưởng độc hại do hydrogen peroxide. Tuy vậy CAF đem lại sự bảo vệ tế bào tốt hơn với hydrogen peroxide hơn là alpha-tocopherol và gamma-tocopherol, hai chất chống ung thư nổi bật mà trước đây cho là có đóng góp lớn vào năng lực chống ô xy hóa của gạo lứt.  Theo ước tính của nghiên cứu này, lượng CAF trong toàn bộ tinh bột của gạo lứt cao gấp năm lần với các hợp chất chống ô xy hóa khác cũng trong gạo lứt. Hơn nữa, CAF còn làm gia tăng nồng độ heme oxygenase-1 hay HO-1, một enzyme tạo ra các chất chống ô xy hóa. “Chúng tôi đã chứng minh là CAF làm gia tăng đáng kể nồng độ mRNA của HO-1, enzyme tạo ra chất chống ô xy hóa phân tử nhỏ, tại các nồng độ tương lực với tác động của cytoprotective trong việc kháng lại sự phá hủy ô xy hóa”, giáo sư Nakamura giải thích.  Các nhà nghiên cứu còn khám phá cơ chế hành động này thông qua các thực nghiệm phong bế hoạt động của HO-1 bằng việc sử dụng các chất ức chế làm giảm hiệu ứng chống ô xy hóa của CAF một cách đáng kể. Số lượng lớn và cơ chế độc đáo này là bằng chứng cho thấy CAF là chất chống ô xy hóa chính trong gạo lứt.  Thông qua nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu không chỉ khám phá ra bí mật về lợi ích với sức khỏe của gạo lứt mà còn nhìn sâu vào thành phần này và thấy được phản hồi chính với các lợi ích sức khỏe đó. Điều này sẽ cho phép sử dụng CAF trong việc phát triển những loại đồ ăn mới và những thực phẩm chức năng mới cho người tiêu dùng. Giáo sư Nakamura nói, “nghiên cứu của chúng tôi có thể giúp phát triển những thực phẩm chức năng mới và chất dinh dưỡng dựa trên chức năng của CAFs, như các dược phẩm dinh dưỡng chứa CAF”.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-brown-rice-healthy-decoding-chemistry.html  https://medicaldialogues.in/mdtv/diet-nutrition/videos/decoding-the-chemistry-of-nutritional-wealth-of-brown-rice-105982    Author                .        
__label__tiasang Hóa học mới đằng sau các pin có mật độ năng lượng siêu cao      Mohammad Asadi, trợ lý giáo sư kỹ thuật hóa học tại Viện Công nghệ Illinois mới xuất bản một bài báo trên tạp chí Science, trong đó miêu tả thứ hóa học đằng sau thiết kế pin lithium-air mới của mình.     Những điểm mới cho phép ông tối ưu hơn thiết kế pin với tiềm năng chạm đến các mức mật độ năng lượng siêu cao hơn cả công nghệ pin lithium-ion hiện hành. Thiết kế pin này có tiềm năng lưu giữ một kilowatt-giờ trên mỗi kilogram hoặc cao hơn – gấp bốn lần so với công nghệ pin lithium-ion, có thể được dùng để thay đổi việc truyền tải điện năng, đặc biệt là các thiết bị, phương tiện vận tải lớn như máy bay, tàu hỏa và tàu ngầm.  Khi thực hiện nghiên cứu này, Asadi hướng đến mục tiêu tạo ra một loại pin với một chất điện phân đậm đặc có thể đem lại khả năng an toàn hơn, lưu trữ được nhiều điện năng hơn so với những pin có chất điện phân lỏng, và nghĩ đến một lựa chọn có thể tương thích với các công nghệ cực dương và cực âm mà mình đã phát triển để sử dụng trong các loại pin lithium-air – pin hóa học sử dụng quá trình oxy hóa lithium ở cực dương và khử oxy ở cực âm để tạo ra dòng điện mà về mặt lý thuyết thì có thể có được các pin điện hóa có năng lượng riêng cao nhất có thể.  Ông đã chọn một hỗn hợp gồm polymer và gốm, hai chất xúc tác rắn thông thường nhất. Bằng cách kết hợp chúng, Asadi phát hiện ra là mình có thể tận dụng lợi thế của tính siêu dẫn ion cao ở gốm và độ bền, sự kết nối mặt phân giới cao của polymer.  Kết quả thu được cho phép dẫn đến một phản ứng thuận nghịch tới hạn làm tăng cường chức năng của pin – hình thành và phân hủy lithium-dioxide – xuất hiện với các tỷ lệ cao ở nhiệt độ phòng. Đây là chứng minh đầu tiên trên thế giới về pin lithium-air.  Như được miêu tả trong bài báo trên Science, Asadi đã thực hiện một loại thí nghiệm chứng minh bản chất khoa học đằng sau sự xuất hiện của phản ứng này 1.  “Chúng tôi tìm thấy là chất điện phân ở trạng thái rắn đóng góp khoảng 75% tổng mật độ năng lượng. Điều đó cho chúng tôi biết là có rất nhiều cơ hội để cải thiện điều này bởi vì chúng tôi tin là mình có thể tối thiểu hóa mật độ mà không cần đến sự sắp xếp vào khác, và có thể cho phép chúng tôi đạt được mức mật độ năng lượng vô cùng cao”, Asadi nói.  Các thí nghiệm đó đều được thực hiện với sự hợp tác của trường đại học llinois Chicago và Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne Mỹ. Asadi nói ông lên kế hoạch để trao đổi với các đối tác công nghiệp vì ông đã chuyển sang tối ưu thiết kế pin và tinh chỉnh nó để cho sản xuất hàng loạt.  “Công nghệ này thực sự là một độ phá, và có thể mở ra một cánh cửa lớn vào khả năng đưa các công nghệ ra đến thị trường”, Asadi đánh giá.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.iit.edu/news/novel-chemistry-offers-ultra-high-power-density-batteries-decarbonize-transportation  https://techxplore.com/news/2023-02-chemistry-ultra-high-power-density-batteries.html  ——————————————————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abq1347    Author                .        
__label__tiasang Hóa học phát triển công cụ có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị ung thư sớm      Các nhà hóa học đã phát triển một phương pháp để dò những thay đổi trong các protein có thể báo hiệu những giai đoạn sớm của bệnh ung thư, Alzheimer, tiểu đường và những chứng bệnh nguy hiểm khác.      Ogonna Nwajiobi, một nghiên cứu sinh hóa học của Emory và là tác giả thứ nhất của bài báo,  Công trình “Selective Triazenation Reaction (STaR) of Secondary Amines for Tagging Monomethyl Lysine Post‐Translational Modifications” được xuất bản trên Angewandte Chemie, do các nhà hóa học tại trường đại học Emory và Auburn thực hiện. Kết quả đề xuất một chiến lược mới cho nghiên cứu những liên hệ giữa những biến đổi protein độc đáo với vô vàn mầm bệnh.  “Hiểu biết mà chúng tôi có được nhờ sử dụng một phương pháp mới có tiềm năng để cải thiện năng lực dò các loại bệnh như ung thư phổi giai đoạn sớm, khi việc điều trị có thể có nhiều hiệu quả hơn”, Monika Raj, tác giả chính của bài báo và là phó giáo sư hóa học, nói. “Một hiểu biết  chi tiết về những biến đổi protein có thể giúp hướng dẫn điều trị cá thể hóa, điều trị đích cho các bệnh nhân để cải thiện hiệu quả chống lại ung thư của thuốc”.  Các nhà nghiên cứu đã đem đến một chứng cứ về ý tưởng sử dụng phương pháp của họ để dò sự biến đổi trong các đơn protein hoặc monomethylation. Thực nghiệm của họ đã thực hiện trên protein lysine biểu hiện từ E.coli và những cơ quan tế bào không phải của người.  Lysine là một trong chin  amino acids thiết yếu với sự sống. Sau khi lysine được tổng hợp trong cơ thể con người, thay đổi protein, vẫn được biết đến như methylation, có thể xuất hiện. Methylation là một quá trình sinh hóa vận chuyển một nguyên tử carbon và ba nguyên tử hydro từ một vật chất này sang vật chất khác. Rất nhiều biến đổi có thể xuất hiện trong một (monomethylation), hai (dimethylation) hoặc ba (trimethylation) hình thức. Demethylation tría ngược với những biến đổi đó.  Cú ngắt nhỏ của methylation và demethylation điều chỉnh những cú chuyển tắt bật sinh học cho vật chủ của các hệ trong cơ thể như sự chuyển hóa và tạo ra DNA.  “Trong trạng thái thông thường, quá trình methylation tạo ra những biến đổi cần thiết để giữ đúng chức năng và bảo đảm sự khỏe mạnh của cơ thể”, Ogonna Nwajiobi, một nghiên cứu sinh hóa học của Emory và là tác giả thứ nhất của bài báo, nói. “Nhưng quá trình này có thể có sự cố, tạo ra những biến đổi có thể dẫn đến nhiều loại bệnh tật”.  Những biến đổi thành lysine, cụ thể, anh cho biết thêm, có những đường dẫn đến sự phát triển của nhiều loại bệnh ung thư và những loại bệnh tật khác của con người.  Sriram Mahesh, đồng tác giả của bài báo và là nhà nghiên cứu tại trường đại học Auburn. Xavier Streety, cũng ở Auburn, là đồng tác giả.  Phòng thí nghiệm của Raj chuyên tâm vào phát triển các công cụ hóa hữu cơ để hiểu và giải quyết những vấn đề sinh học, mong muốn tạo ra một phương pháp có thể đánh dấu monomethylation để lysine được biểu hiện bằng một nội quan. Monomethylation là thứ thách thức bậc nhất với việc dò tìm vì nó để lại những thay đổi không đáng kể trong khối lượng, điện tích hay các dặc điểm khác của một biến đổi lysine.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một vật mang tính chất thăm dò hóa học, các ion diazonium giàu điện tích có thể tăng gấp đôi các vị trí monomethlyation trong những điều kiện tương thích sinh học nhất định mà họ có thể kiểm soát, bao gồm một tỉ lệ pH cụ thể và mật độ điện tích. Họ sử dụng các kỹ thuật phổ khối và cộng hưởng từ hạt nhân để chứng tỏ họ điểm đúng các đích lựa chọn và xác nhận được các nguyên tử kết cặp tại các vị trí đó.  Phương pháp này hết sức độc đáo bởi vì nó hướng đích trực tiếp đến các vị trí monomethylation. Một đặc điểm độc đáo khác của phương pháp này là có thể đảo ngược được dưới các điều kiện acid, cho phép các nhà nghiên cứu tách cặp các nguyên tử và tái tạo trạng thái nguyên thủy của một vị trí monomethylation.  Phòng thí nghiệm của Raj đang lên kế hoạch hợp tác với các nhà nghiên cứu tại Viện Ung thư  Winship của Emory để kiểm chứng phương pháp mới trên các mẫu mô lấy từ các bệnh nhân ung thư phổi. Mục tiêu là để tìm điểm khác biệt trong những vị trí lysine monomethylation của người mắc ung thư phổi và người khỏe mạnh.  “Nó giống như một cuộc thám hiểm đánh cá vậy”, Nwajiobi giải thích. “Bước đầu tiên là sử dụng phương pháp của chúng tôi để tìm các vị trí lysine monomethylation trong những mô mẫu vốn rất khó để thực hiện bởi vì mật độ thấp của chúng. Một khi tìm được các vị trí, phương pháp của chúng tôi có thể cho phép chúng tôi đảo dược sự kết cặp trong thí nghiệm hóa học, vì các chức năng của những vị trí đó có thể được nghiên cứu trong hình thức nguyên thủy, nguyên vẹn của chúng”.   Các phương pháp được áp dụng dò nhiều loại bệnh giai đoạn đầu như ung thư phổi cần thiết vì nó có thể cải thiện tình trạng bệnh tật của bệnh nhân. “Nếu chúng tôi có thể phát triển nhiều cách để nhận diện ung thư phổi giai đoạn sớm thì có thể mở ra cánh cửa điều trị góp phần tăng tỉ lệ sống sót của người bệnh”, Raj nói.  Các nhà nghiên cứu hi vọng nghiên cứu những khác biệt lysine monomethylation giữa nhiều mẫu mô được lấy từ bệnh nhân ở nhiều giai đoạn tiến triển bệnh khác nhau của ung thư phổi, giữa người có hoặc không có tiền sử mắc bệnh trong gia đình, và giữa những người hút thuốc với người không hút thuốc. Việc tăng thêm hiểu biết từ những phân tích có thể thiết lập được đúng phạm vi điều trị đích và cá nhân hóa, Raj nói.  Phòng thí nghiệm của cô đang phát triển các công cụ hóa học để dò có chọn lọc các vị trí lysine dimethylation và trimethylation, để giúp tìm hiểu đầy đủ các tính chất vai trò của lysine methylation trong việc hình thành và phát triển các loại bệnh.  Chúng tôi hi vọng là những nhà nghiên cứu khác sẽ áp dụng phương pháp của chúng tôi và các công cụ hóa học mà chúng tôi đang phát triển, để có thể hiểu tốt hơn cả một phạm vi rộng các bệnh ung thư và nhiều loại bệnh khác liên quan đến lysine methylation”, Raj nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-chemists-tools-cancer-diagnostics-therapeutics.html  https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/anie.202013997       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hóa học trong tách trà      Khi cầm một tách trà lên tay, có bao giờ bạn nghĩ đến những điều thú vị trong đó. Hơn cả một tách trà, đó là một dung dịch phức tạp về mặt hóa học.    Trà trắng, thứ trà hàng đầu thế giới do Twinings, công ty trà Anh được thành lập từ đầu thế kỷ 18, cung cấp. Kathryn Sinclair, đại sứ nhãn hàng, cho biết trà trắng được làm từ những lá trà non giàu chất ô xy hóa và có hàm lượng caffeine cao nhất trong các loại trà bởi quá trình chế biến tối giản nhất. “Trà trắng là loại tinh túy nhất của trà”, cô giải thích.  Có rất nhiều loại trà trên thế giới. Trà trắng hay trà vàng đều là những dạng trà hiếm mang hương vị đặc biệt, được chế biến từ những cây trà ở một số vùng trồng, tất cả đều ở Trung Quốc. Tiếp theo là trà xanh, mạt trà, của Nhật Bản hầu như được chế biến bằng tay và có phảng phất vị tảo. Ngoài ra, phải kể đến trà đen (những người uống trà ngoài châu Á có thể coi đó là trà ‘thông thường’) và cuối cùng trong danh sách trà đen có trà Phổ Nhĩ, một loại trà cho nước màu sẫm với hương vị rất mạnh và được nhiều người châu Âu cho là mang mùi của đất.  Sinclair giải thích, mỗi loại trà đều phụ thuộc vào nơi trồng và điều kiện trồng trọt. Trà của Trung Quốc chủ yếu từ giống Camellia sinensis, hay còn được gọi là sinensis – nghĩa là ‘Trung Quốc’ trong tiếng Latinh, dạng cây bụi và được ưa thích vì khí hậu lạnh, thông thường do độ cao. Trà Ấn Độ từ vùng Assam cũng thuộc giống Camellia sinensis và mang tên assamica, những cây cao khoảng trên năm mét, phù hợp với vùng thấp hơn, độ ẩm cao hơn và nóng hơn. Tất cả mọi thứ từ đất, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị. “Trà rất nhạy cảm với môi trường. Nó cần những điều kiện tối ưu để sống sót”, cô nói.  Tuy nhiên, cuối cùng sự khác biệt giữa các loại trà là hóa học, và cái hóa học này chịu ảnh hưởng của việc trồng trọt, môi trường, thời tiết và quan trọng là quá trình chế biến. ‘Từ góc nhìn hóa học, trà là một vấn đề bí ẩn và thách thức với các nhà hóa thực phẩm và hóa phân tích”, Nikolai Kuhnert, một nhà hóa học tại trường Đại học Jacobs ở Bremen, Đức, nói. “Không vật liệu thực phẩm nào lại hấp dẫn, đa dạng và phức tạp về mặt hóa học hơn trà”.  Đóng gói nhiều hợp chất  Lá trà tự nó đã đóng gói bằng các loại hợp chất khác nhau, trong đó chủ yếu từ các polyphenol, có thể chiếm tới 40% khối lượng khô của lá. Nó cũng có các amino acids, enzymes, methylxanthines như caffeine, khoáng chất, vitamin và hơn 700 hợp chất tạo mùi thơm.    Vẻ đẹp của trà là quá trình ô xy hóa có thể được điều khiển và kiểm soát để thay đổi sự xuất hiện của hương thơm, mùi vị, qua đó đem lại những dạng trà khác nhau với những thành phần hóa học khác nhau. Sự khác biệt chủ yếu giữa các dạng trà là dựa trên nồng độ chất ô xy hóa.    Polyphenol – cũng được biết như tannin– là nhóm hợp chất lớn nhất của lá trà. Trong một tách trà, chúng chủ yếu đem lại chất làm se, đem lại cảm giác khô miệng sau khi uống, trong khi cũng đem lại cả màu sắc và hương vị. Chúng được tin là có các đặc tính chống bệnh tật và chống ô xy hóa. Một tách trà đậm có thể có khoảng 240mg polyphenol.  Nhóm polyphenol quan trọng nhất của flavonoids trong trà là flavonoids, gồm các flavanols chứa catechins, được nghiên cứu là có lợi cho sức khỏe. Nhiều hương vị và màu sắc của trà là kết quả của hai chất phenolic là theaflavins và thearubigins, được hình thành từ flavanols khi chế biến trà. Ngày nay, người ta vẫn còn biết quá ít về các hợp chất này, dẫu đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành. Các dạng flavonoids khác như các flavones và anthocyanins, cũng được thấy trong trà.  Bên cạnh các chất ô xy hóa có lợi cho sức khỏe, trà còn được biết nhiều đến với các đặc điểm có tính chất kích thích khác từ caffeine có trong lá ở hàm lượng từ 1% đến 6% khi khô. Theobromine và theophylline la hai hợp chất tương tự caffeine, và có ba methylxanthines nữa đem lại vị đắng cho trà. Thông thường, hàm lượng caffeine trong một tách trà từ 20 đến 70mg trên 170ml được pha từ 2,5g lá trà nhưng phụ thuộc vào thời gian pha và dạng trà. Để so sánh thì một cốc cà phê có 40 đến 155mg caffeine trong 170ml.  Nhưng caffeine không chỉ là hợp chất tác động đến thần kinh trong trà – amino acid theanine chiếm 1% of tea trong lá trà khô. Những gì đem lại sự độc đáo của trà, theo Nigel Melican, giám đốc bộ phận tư vấn của công ty Teacraft, là caffeine và theanine kết thành một hiệu ứng đầy năng lượng và cân bằng của sự kích thích và thư giãn. Nơi caffeine kích thích và khuấy động con người khỏi trạng thái uể oải, theanine đem đến một sự tỉnh táo, giảm thiểu sự căng thẳng tinh thần và tạo ta một cảm giác khỏe khoắn bằng việc tăng cường bộ não sản xuất ra axit gamma-aminobutyric, chất ức chế dẫn truyền thần kinh chính trong hệ thống thần kinh trung ương nhằm làm giảm sự kích thích thần kinh, và thúc đẩy hoạt động của sóng não alpha. “Điều này giải thích tại sao theanine lại làm cân bằng sự kích thích do caffeine đem lại”, Melican nói. Amino acid này cũng cải thiện vị trà bằng việc ảnh hưởng đến chất làm se astringency ở một số cách pha trà, ông cho biết thêm.  Các kỹ thuật phân tích hiện đại, như khối phổ phân giải cao, cho phép làm sáng tỏ bản chất hóa học của nhiều thành phần trà, Kuhnert nói. Thậm chí, trà xanh đã được nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên trà vẫn còn quá phức tạp với nhiều hợp chất chưa biết, cụ thể là hóa học trong quá trình chế biến trà đen. Ví dụ, nhiều hợp chất thơm dễ bay hơi mang đến hương vị cho trà, không tồn tại trong lá chè tươi và chỉ xuất hiện trong quá trình chế biến. “Trà đen khiến các nhà khoa học sự sống chật vật do sự phức tạp của nó và thiếu hiểu biết về thành phần của nó”, Kuhnert giải thích. “Trong trà đen có khoảng 30.000 phân tử trong quá trình lên men và chỉ có một số ít trong đó đã được nghiên cứu”.  Làm trà  Làm trà ở Hàng Châu – Trung Quốc.  Quá trình chế biến trà tạo ra sự hấp dẫn hóa học của nó. Lên men thường được sử dụng để miêu tả quá trình làm trà nhưng về cơ bản đó là một quá trình ô xy hóa: các polyphenols được phơi nhiễm với ô xy và các enzyme oxidase để chuyển đổi thành theaflavins và thearubigins. Sự ô xy hóa xuất hiện sau khi trà được hái và các thành tế bào bị phá vỡ về mặt cơ học sau khi bị héo đi. Quá trình này trộn lẫn catechins và enzyms, dẫn đến kết quả là chuyển đổi các enzym trong lá và phát triển hương vị mới.  Vẻ đẹp của trà là quá trình ô xy hóa có thể được điều khiển và kiểm soát để thay đổi sự xuất hiện của hương thơm, mùi vị, qua đó đem lại những dạng trà khác nhau với những thành phần hóa học khác nhau. Bằng việc gia nhiệt, ví dụ, quá trình ô xy hóa bị khử bởi các enzyme. “Bằng cách nào mà sự thay đổi về mặt hóa học hoặc pha trộn với nhau lại phụ thuộc hoàn toàn vào các điều kiện chế biến mà chúng ta áp dụng cũng như thời gian và trình tự chúng ta áp dụng? Liệu có phải thế không?”, Melican đặt câu hỏi.    Nhiều nghiên cứu khác cũng tìm thấy thời gian pha trà lâu hơn dẫn đến nước trà có hàm lượng caffeine cao hơn trong khi polyphenol mất nhiều thời gian khuếch tán hơn khiến trà có vị đắng không mong đợi trong khi pha quá lâu.    Ví dụ, các điều kiện chế biến và kỹ thuật khác nhau có thể làm thay đổi trà và các thành phần hóa học của nó, A K Barooah – giám đốc tổ chức Liên minh nghiên cứu trà Tocklai ở Ấn Độ, nói. Có hai dạng kỹ thuật làm trà maceration – trà truyền thống OTD và trà CTC (những phong cách chế biến trà chính được của Ấn Độ) đã tạo ra các thành phần hóa học khác nhau, ông nói. Trà truyền thống OTD được khai thác và chế biến bằng tay trên toàn bộ lá trà trong khi trà CTC (viết tắt của cụm từ cắt, nghiền, cuộn) được xử lý trong một cái máy có nhiều răng nhọn để xé, nghiền lá trà. “Trà truyền thống OTD hương vị mạnh hơn và màu nhạt hơn còn trà CTC cho nước sẫm hơn với hương vị dịu hơn”, Barooah giải thích. Trà truyền thống OTD thường được coi là loại phẩm cấp cao và do đó, đắt hơn. Các túi trà chứa nhiều vụn thì không được giá lắm.  Sự khác biệt chủ yếu giữa các dạng trà là dựa trên nồng độ chất chống ô xy hóa. Ví dụ trà đen thì hầu như toàn chất chống ô xy hóa. Lá trà đầu tiên được làm héo và sau đó được cuộn lại khiến lá trà giải phóng các hóa chất để bắt đầu quá trình ô xy hóa. Lá trà sau đó được đưa vào quá trình ô xy hóa trong một nhiệt độ – và độ ẩm trong một không gian được kiểm soát, chuyển sang hoàn toàn màu sẫm trước khi khô hẳn. Bởi vì quá trình này, trà đen ít polyphenol catechin hơn các loại trà khác nhưng chứa tới 20% thearubigin và khoảng 2% theaflavins được hình thành trong quá trình ô xy hóa. Trong khi đó, bisflavanols được hình thành từ flavanols, vốn trải qua phản ứng trùng hợp ô xy hóa polyphenol.  Trà xanh, nói cách khác, không bị ô xy hóa bởi vì quá trình sao bằng nhiệt – về tổng thể làm bay hơi nước hoặc sao trên chảo – diễn ra rất nhanh sau khi thu hoạch. Kết quả là các catechins xanh không bị ô xy hóa và màu của lá trà được giữ nguyên. Trà vàng và trà trắng cũng ít bị ô xy hóa, và những loại trà này chứa hàm lượng polyphenols cao hơn trà đen, với tỷ lệ tương tự với lá chè tươi. Số polyphenols chính trong trà xanh là catechins, chiếm khoảng 30 đến 42%, trong khi caffeine là 3,5%.  Trà Ô long cũng bị ô xy hóa trong quá trình làm héo; ngay sau đó được cuộn lại rồi gia nhiệt để ngừng quá trình ô xy hóa. Vì vậy trà ô long – như trà xanh, trà trắng và trà vàng – có hàm lượng polyphenol cao hơn trà đen. Trà Ô long chứa một dạng flavonoid độc đáo mà người ta gọi là oolonghomobisflavins, số lượng catechins và thearubigins phụ thuộc vào mức độ ô xy hóa trong quá trình làm trà.  Hóa học trong nhà bếp  Quá trình làm trà không cần đến bất cứ loại hóa chất nào. “Trong quá trình này, không có gì được đưa vào và chỉ có loại nước khỏi lá trà”, Melican nói. “Trà là một trong những thực phẩm tinh túy nhất mà chúng ta đưa vào miệng”. Nhưng một khi trà được sản xuất ra thì có vô số các phụ gia có thể được bổ sung, từ việc pha trộn thêm hương vị khác như táo hoặc cam, ví dụ trà Earl Grey.  Các quá trình đến sau này không làm thay đổi hóa học của trà; trớ trêu là điều này lại xảy ra trong nhà bếp. Ví dụ, thời gian pha trà và nhiệt độ có thể tác động đến thành phần của tách trà mà bạn uống. Khi nước nóng được đổ vào ấm trà, lớp phenolics trong trà được tách ra trong pha nước cùng với các hóa chất khác của trà, Kuhnert giải thích với những hiểu biết của người hiện đang khám phá những thay đổi về thành phần hóa học trong quá trình pha trà. ‘Caffeine được tách ra đầu tiên, sau đó là phenolics. Ở mức nhiệt độ cao, tất nhiên sẽ có vị đắng hơn. Vì vậy để ít có vị đắng hơn thì cần pha trà ở nhiệt độ thấp hơn”, ông nói.  Polyphenol có thể bị phân rã và biến mất trong quá trình pha trà bằng nước nóng, theo Shiming Li, giáo sư thỉnh giảng tại ĐH Rutgers ở Mỹ. Đó cũng là kết quả của nghiên cứu về các đặc tính chống ô xy hóa trong trà trắng, xanh và đen của trường ĐH Malaya; họ phát hiện ra mức nhiệt và thời gian hiệu quả nhất của từng loại trà. Ví dụ trà đen có mức ô xy hóa cao trong nước nóng nhưng giảm đi theo thời gian, trà trắng có mức ô xy hóa lâu hơn trong khi pha còn trà xanh cũng rất nhạy với nhiệt độ.  Nhiều nghiên cứu khác cũng tìm thấy thời gian pha trà lâu hơn dẫn đến nước trà có hàm lượng caffeine cao hơn trong khi polyphenol mất nhiều thời gian khuếch tán hơn khiến trà có vị đắng không mong đợi trong khi pha quá lâu. Còn các lá trà có kích thước nhỏ khuếch tán nhanh hơn và có xu hướng mang hương vị mạnh hơn lá trà kích thước lớn.  Ở Anh, nhiều người cho thêm sữa vào trà. Có nhiều nghiên cứu có kết quả mâu thuẫn nhau về sự thay đổi về mặt hóa học khi pha thêm sữa. Barooah nói các protein trong sữa có thể hình thành các phức hệ với polyphenol của trà và một số chuyên gia thì tin là điều này có thể làm ảnh hưởng lợi ích sức khỏe do suy giảm sự sẵn sàng về mặt sinh học của các polyphenol. Một nghiên cứu vào năm 2010 của Lisa Ryan và Sebastien Petit tại trường ĐH Oxford Brookes tại Anh đã khám phá ra điều này với những dạng và dung lượng sữa khác nhau. Họ tìm thấy sữa không kem làm giảm tác động chống ô xy hóa của trà một cách đáng kể hơn so với sữa nguyên kem. Các nhà nghiên cứu kết luận là trà đen là nguồn chống ô xy hóa có giá trị và tác động của sữa lên khả năng chống ô xy hóa của trà có thể liên quan đến hàm lượng chất béo trong sữa.  Uống trà đã trở thành một nếp văn hóa của người Việt. Tranh Lê Thiết Cương.  Uống vì sức khỏe  Một số phát hiện khoa học thú vị nhất về cơ chế sinh hóa trong quá trình chế biến, theo Barooah, và điều đó đã dẫn đường cho những nghiên cứu tìm hiểu lợi ích sức khỏe của trà. “Trà có thể được coi là thực phẩm chức năng do giá trị chống ô xy hóa của nó”, Barooah nói. “Catechins, theaflavins, thearubigins và polysaccharides hiện diện trong trà là các dược chất, và các phát hiện hấp dẫn nhất về khía cạnh sức khỏe còn tùy thuộc vào độ hoạt hóa chống chất gây ung thư, tiểu đường và tăng huyết áp.  Thậm chí có một số nghiên cứu đề xuất là trà có lợi ích sức khỏe tiềm năng, bao gồm giảm nguy cơ rủi ro về bệnh tim mạch, đột quỵ, viêm nhiễm, loãng xương và ung thư cũng như các tác động vê sức khỏe  qua đường tiêu hóa, thậm chí chống virus. Ví dụ, các nhà khoa học ở Bệnh viện Đa khoa Vũ Di Sơn, Trung Quốc, phát hiện ra là những người uống trà thường xuyên – uống khoảng hơn 10g trà mỗi ngày trong vòng sáu năm hoặc hơn – gồm ít người có thành động mạch dày và mất độ mềm dẻo nhất so với bốn nhóm uống trà (bốn nhóm là những người uống trà trong vòng 10 năm, sáu đến 10 năm, một đến năm năm  và không uống trà), do đó giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Catechins được tin là đem lại lợi ích sức khỏe, các nhà khoa học này cho biết.  Trà xanh, với nồng độ catechins cao, được các nhà khoa học quan tâm và hiện tập trung vào một loại catechins là epigollocatechin gallate. Các nhà khoa học Brazil tìm thấy hàm lượng của chất này cao trong ống nghiệm có tể ngăn hơn 90% virus zika khỏi bám vào tế bào. Trong khi đó, ở trà đen, theaflavins là các hóa chất được quan tâm với đặc tính chống ô xy hóa và chống viêm nhiễm.  Li của ĐH Rutgers trước đây dẫn dắt nhóm nghiên cứu hóa phân tích và hợp chất thiên nhiên ở WellGen, một công ty công nghệ sinh học tập trung vào thực phẩm có tính chất chữa bệnh. Trong nhiệm kỳ của mình, ông đã chế tạo ra một sản phẩm trà đen có lợi cho sức khỏe chứa 40% theaflavins. ‘Sau hàng ngàn năm, việc uống trà đã trở thành một truyền thống và việc nghiên cứu hiện tại cho thấy các lợi ích sức khỏe thực sự. Nó cũng được ghi nhận ít kích ứng với nhiều loại thuốc”, ông nói. Thậm chí ông tin là trà là một loại thực phẩm thực phẩm dinh dưỡng có thể dùng cho mục đích y tế (medical food) trong tương lai, với phổ ứng dụng rộng nhờ hàm lượng polyphenol cao dưới dạng trà và thay thế các chất chống ô xy hóa nhân tạo, làm chất bảo quản trong dầu ăn và các loại thực phẩm khác.  Tuy nhiên vẫn cần nhiều nghiên cứu khác về các đặc tính có lợi cho sức khỏe cụ thể trong trà và các thành phần hóa học của nó. Vẫn còn có lo ngại về tác động với sức khỏe của caffeine, Melican nói. ‘Về mặt cá nhân thì tôi uống khoảng một phần tư lít trà mỗi ngày. Tôi đã 75 tuổi, khỏe mạnh, vẫn năng động và làm việc 50 giờ mỗi tuần – vì vậy có thể tôi được hưởng lợi ích từ trà chăng”.  Việc uống trà đã trở nên phổ biến nhưng khoa học mới chỉ bắt đầu tìm hiểu về bản chất hóa học đầy phức tạp của món uống khoái khẩu của chúng ta. ‘Trong loạt phim khoa học viễn tưởng Đường tới dải Ngân hà, cỗ máy Nutri Matic thậm chí còn không thể pha cho nhân vật chính Arthur Dent một tách trà ngon và bổ nữa cơ”, Kuhnert nói. ‘Vì nó quá phức tạp”. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.chemistryworld.com/features/the-chemistry-in-your-cuppa/2500010.article    Author                .        
__label__tiasang Hoa Kỳ đứng đầu thế giới về khả năng cạnh tranh      Năm nay Hoa kỳ đã vượt lên Hong Kong và trở thành quốc gia có sức cạnh tranh lớn nhất thế giới.      “Trái tim” của nền kinh tế Hoa kỳ, Sở giao dịch chứng khoán New York ở Wall Street. Ảnh: Imago  Hoa Kỳ đã tái chiếm vị trí hàng đầu về khả năng cạnh tranh trên thế giới. Theo công bố lần thứ 30 của World Competitiveness Ranking của trường kinh tế tư nhân IMD thì nền kinh tế lớn nhất thế giới đã có khả năng cạnh tranh lớn hơn nhiều so với những năm trước đây.  Từ vị trí thứ tư Hoa Kỳ đã vươn lên vị trí thứ nhất, năm ngoái Hồng Kông đứng đầu bảng, theo sau là Singapore, Hà lan và Thuỵ Sỹ. Top 5 nước đứng đầu thế giới về khả năng cạnh tranh của năm nay không thay đổi so với năm ngoái.   Một nhóm các nhà kinh tế ở IMD, đứng đầu là Arturo Bris đã phân loại 63 nước theo bố nhóm tiêu chí: economic performance: tăng trưởng tính theo đầu người, cân đối thương mại, đầu tư trực tiếp, thất nghiệp, và các vấn đề khác; Government efficiency: tài chính công, chính sách tài khoá, luật pháp, thể chế, điều kiện xã hội; business efficiency: năng suất lao động, thị trường lao động, tài chính và infrastructures: cơ sở hạ tầng. Tổng cộng có 258 chỉ số đo bao gồm các dữ liệu thống kê từ điều tra “cứng” đối với các nền kinh tế và cả dữ liệu “mềm” rút ra từ các cuộc khảo sát các nhà quản lý có trách nhiệm liên quan.  Hạng 1  Kể từ khi có cuộc khảo sát đánh giá này của IMD, Hoa kỳ hầu như luôn là một trong số ba nước đứng đầu bảng xếp hạng. Trong năm nay Hoa Kỳ chiếm vị trí thứ nhất chủ yếu nhờ những chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô và phát triển hạ tầng cơ sở .  Hạng 2  Năm ngoái Hồng Kông chiếm vị trí đầu bảng. Hồng Kông là khu vực hành chính đặc biệt của Trung Quốc có sức thu hút đặc biệt về hiệu quả quản lý doanh nghiệp và hành chính.  Hạng 3  Nhà nước Singapore luôn được đánh giá là vào hàng đầu. Nước này có nền quản lý hành chính có hiệu quả, có pháp luật “thân thiện” với kinh tế và đặc biệt là các doanh nghiệp được hưởng lợi từ mạng lưới thương mại quốc tế ở đây.  Hạng 4  Hà Lan đứng hàng đầu châu Âu. Khả năng cạnh tranh của Hà lan đã được cải thiện rõ rệt trong thời gian gần đây, năm 2015 Hà Lan còn xếp thứ 15.  Hạng 5  Thuỵ Sỹ, so với năm ngoái nước này xếp hạng 2 thì năm nay ít nhiều bị xuống hạng.  Hạng 6  Đan Mạch thuộc những nước tiến bộ rõ trong những năm gần đây. Đan Mạch có sự tăng trưởng vững chắc và đồng tiền của nước này khá ổn định.  Hạng 7  Các Tiểu vương quốc ả rập thống nhất có thứ hạng cao (cũng như có mức sống cao) nhờ lợi nhuận cao thu được từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt.  Hạng 8  Như các nước Bắc Âu, Na uy đặc biệt có năng suất cao trong lĩnh vực kinh tế tư nhân và hoạt động quản lý có hiệu quả.  Hạng 9  Thuỵ Điển cũng giống  các nước Bắc Âu khác như Đan Mạch và Na Uy, có sự tăng trưởng vững chắc, ổn định.  Hạng 10  Canada không được hưởng lợi nhiều từ thương mại quốc tế, tuy nhiên nước này có các doanh nghiệp rất hiệu quả, có hạ tầng cơ sở công và nền giáo dục rất tốt.  Hạng 11  Nước Luxemburg bé nhỏ vốn được biết nhiều nhờ có vị trí tài chính rất hấp dẫn và có thu nhập bình quân đầu người cao đứng hàng thứ hai thế giới.  Hạng 12  Sau khi khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính, Ireland có sự tăng trưởng cao. Các doanh nghiệp của Ireland thuộc diện hoạt động có hiệu quả nhất và năng suất cao nhất thế giới.  Hạng 13  Trung Quốc không chỉ là người khổng lồ về kinh tế xét theo các giá trị tuyệt đối. Kinh tế Trung Quốc phát triển năng động và liên tục làm cho quốc gia đông dân nhất thế giới ngày càng có thứ hạng IMD ngày càng cao hơn.  Hạng 14  Tiểu vương quốc Qatar có lợi thế chủ yếu nhờ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt. Cũng như các nước khác ở vùng vịnh, Qatar đang nỗ lực đa dạng hoá nền kinh tế của mình.  Hạng 15  Trong những năm qua khả năng cạnh tranh của Đức liên tục bị giảm sút nhẹ.      “Có mối quan hệ nhân quả rất rõ ràng giữa sự cởi mở của nền kinh tế và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đó”.      Theo kết quả điều tra năm nay thì Hoa kỳ đã vươn lên trở lại là nhờ các dữ liệu tăng trưởng kinh tế  cao và hạ tầng cơ sở phát triển. Xét về ảnh hưởng của chính phủ dưới thời tổng thống Donald Trump từ đầu năm 2017 đến nay có tác động như thế nào đến thứ hạng cạnh tranh, nhà kinh tế trưởng IMD  Christos Cabolis  cho rằng: “Không phải những thành tựu của năm nay đều là kết quả của sự điều hành của chính phủ mới trong một năm, mà nó là kết quả của cả một quá trình trước đó”.  Theo Bris, một xu hướng chung có ý nghĩa quyết định về lâu dài là: Để thay đổi khả năng cạnh tranh của mình, thì các nước đều đi theo các con đường khác nhau. Trong khi có nước đặc biệt chú ý đến yếu tố hạ tầng cơ sở thì có nước lại đặc biệt chú ý đến khâu quản lý hiệu quả hành chính công.  Thí dụ Hồng Kông là số 1 về hiệu quả với công tác hành chính và đời sống kinh doanh. Trong khi đó Hà lan lại theo đuổi một lối đi “cân bằng” về khả năng cạnh tranh, trong cả bốn thứ hạng Hà Lan đều ở vị trí hàng đầu.  Trong số Top 10 của bảng xếp hạng thì các nước phía bắc rõ ràng là mạnh hơn: Đan mạch (xếp hạng 6) Na uy (8) và Thuỵ Điển (9). Nền kinh tế các nước này đặc biệt mạnh vì năng suất cao của kinh tế tư nhân và sự quản lý.  Về trường hợp Trung Quốc, xếp thứ 13 – theo Bris chính là nhờ đầu tư công vào hạ tầng cơ sở cũng như việc cải thiện điều kiện khung về pháp lý. Năm ngoái  Trung Quốc xếp thứ 18 và cách đây 4 năm đứng thứ 23.  Đức xếp thứ 15 trong bảng xếp hạng năm nay, và những năm gần đây đều cho thấy xu hướng đi xuống liên tục của nước này về khả năng cạnh tranh. Năm  2014 Đức còn xếp hạng 6. Đức bị xuống hạng chủ yếu là do chính sách thuế không thân thiện với doanh nghiệp (riêng chỉ số này, nước Đức xếp thứ 58 trong các nền kinh tế tham gia khảo sát). Hệ thống giáo dục của Đức xếp hạng 32 trong tổng số 63 nước. Con số này cho thấy một tương lai không mấy sáng sủa cho khả năng cạnh tranh của Đức. Cho đến nay công tác đào tạo nguồn nhân lực của Đức và trình độ giáo dục của Đức luôn được đánh giá cao.  Không riêng gì Đức mà phần đông các nước Tây Âu năm nay và mấy năm gần đây đều có sự tụt hạng, tuy nhiên các nước này vẫn đang ở trình độ kinh tế rất cao.  Một số nước có xu hướng đi lên – tuy nhiên vẫn ở trình độ kinh tế thấp – thí dụ một số nước ở Đông và Trung Âu, nhất là Ba Lan (38 lên 34), Slovenia (43 lên 37) và Hung (52 lên 47). Còn Hungary đã giảm mức thuế đối với doanh nghiệp và năng suất lao động bình quân đang tăng lên .  Nhận xét chung về khả năng cạnh tranh của các nước, Cabolis cho rằng: “Có mối quan hệ nhân quả rất rõ ràng giữa sự cởi mở của nền kinh tế và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đó”.  Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/politik/konjunktur/imd-world-competitiveness-ranking-die-usa-sind-weltmeister-der-wettbewerbsfaehigkeit/22590502.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoa Kỳ nỗ lực loại bỏ các hóa chất khó phân hủy ra khỏi nguồn nước uống      Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đang đề xuất một kế hoạch táo bạo nhằm làm sạch nguồn nước uống. Theo các chuyên gia, đề xuất này đầy tham vọng nhưng là điều buộc phải làm nếu muốn bảo vệ sức khoẻ của người dân.    Tại nhiều quốc gia (trong đó có Hoa Kỳ), người dân có thể uống trực tiếp nước từ vòi. Quy định của EPA sẽ giúp đảm bảo quyền cơ bản của mọi gia đình là có nguồn nước an toàn chảy từ vòi trong bếp của họ. Ảnh: Everydayhealth  Giữa tháng Ba, cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã công bố các tiêu chuẩn đầu tiên của quốc gia đối với sáu hợp chất thuộc nhóm các hợp chất hữu cơ khó phân hủy được phát hiện tồn tại trong nước máy.  PFAS, hoặc các chất per- và polyfluoroalkyl là một nhóm các hóa chất được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm tiêu dùng từ những năm 1940. Có hàng ngàn PFAS khác nhau, một vài trong số đó đã được sử dụng và nghiên cứu rộng rãi hơn những loại khác. Gọi chúng là “hóa chất vĩnh cửu”, bởi PFAS thường phân hủy rất chậm, chúng là các hợp chất hữu cơ có chuỗi carbon trong đó hydro được thay thế bằng fluor. Liên kết carbon-fluor rất mạnh khiến chúng “hầu như không thể bị phá hủy”. Điều này đồng nghĩa với việc PFAS có thể tích tụ trong người, động vật, và môi trường theo thời gian. Chúng bao phủ chảo chống dính, bao bì thực phẩm và quần áo và rồi có thể tồn tại trong lượng nước bạn uống mỗi ngày.  Sau khi quy định của EPA được hoàn thiện, các công ty cấp nước công sẽ phải theo dõi các hóa chất và đảm bảo hai loại PFAS phổ biến là PFOA và PFOS ở dưới mức 4 phần nghìn tỷ — quanh ngưỡng thấp nhất có thể đo lường được. Quy định của EPA cũng sẽ đề cập đến bốn loại hóa chất PFAS khác.  Các chuyên gia cho rằng đề xuất này rất quan trọng. Nó không chỉ đánh dấu lần đầu tiên Hoa Kỳ đưa ra một tiêu chuẩn quốc gia để điều chỉnh mức độ của các hóa chất này mà còn cho phép các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu rộng rãi để xem cộng đồng nào bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ô nhiễm nước. Tiêu chuẩn này sẽ cần thêm thời gian để chỉnh sửa, và bản thân việc triển khai cũng sẽ tiêu tốn nhiều năm với chi phí đắt đỏ. Tuy nhiên, các chuyên gia coi đây là bước đầu tiên quan trọng trong việc đẩy lùi “vấn nạn” PFAS, từ đó cải thiện đáng kể chất lượng nước trên toàn quốc.  “Đây là những tiêu chuẩn quyết liệt giúp bảo vệ sức khoẻ, và là một động thái lịch sử nhằm hạn chế triệt để khả năng tiếp xúc với những hóa chất này”, David Andrews, nhà khoa học tại Environmental Working Group, một tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào việc vận động sức khỏe và môi trường, cho biết. “Động thái này sẽ mở ra nhiều cơ hội.”  Trước mắt quy định về PFAS vẫn chưa thể thành hiện thực; nó mới chỉ là một đề xuất có thể được hoàn thiện trong năm nay. Nếu Hoa Kỳ chính thức áp dụng, quy định này sẽ nảy sinh ra nhiều chi phí mới cho các hệ thống nước công cộng. Các đơn vị không chỉ kiểm tra nồng độ hoá chất mà còn phải lọc nước khi phát hiện chất gây ô nhiễm. Họ sẽ có ba năm để triển khai, vì vậy phải đến năm 2026, người dân tại một số khu vực mới bắt đầu được hưởng lợi.  Thiết bị được sử dụng để kiểm tra PFAS trong nước uống. Ảnh: Cory Morse/AP  Sự nguy hiểm của hóa chất PFAS ngày càng rõ ràng. Theo EPA, mức độ phơi nhiễm PFAS cao có thể gây ra các vấn đề về khả năng sinh sản, chậm phát triển ở trẻ em và giảm phản ứng miễn dịch. Chúng cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, bao gồm ung thư tuyến tiền liệt, thận và tinh hoàn.  Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ đã công bố một báo cáo vào năm 2022, khuyến nghị các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên tư vấn và kiểm tra những bệnh nhân có nhiều khả năng bị phơi nhiễm PFAS dựa trên nơi họ sống hoặc làm việc. Và các quan chức của EPA ước tính rằng việc làm sạch nước sẽ ngăn ngừa hàng nghìn ca tử vong — và hàng chục nghìn ca bệnh nặng — tại Hoa Kỳ.  Thử nghiệm này của EPA sẽ cung cấp cái nhìn cận cảnh về mức độ phổ biến của sáu hóa chất vĩnh cửu. Tại Hoa Kỳ, các chất PFAS đã được phát hiện tại hơn 2.800 địa điểm ở tất cả 50 tiểu bang và hai vùng lãnh thổ, theo dữ liệu từ Environmental Working Group. Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy có tới 200 triệu người Mỹ có thể phơi nhiễm với PFAS trong nước uống.  PFAS hiện diện dày đặc ở các khu vực dân sinh gần nhà máy sản xuất, sân bay và trung tâm xử lý nước thải — những khu vực nơi người dân phần lớn đều có thu nhập thấp. Một khi EPA tiến hành thử nghiệm, các nhà khoa học sẽ thu được những dữ liệu quan trọng có thể phát hiện ra sự chênh lệch lớn về nồng độ PFAS giữa các khu vực trên khắp Hoa Kỳ.  Bên cạnh đó, Schaider cho rằng các cơ quan quản lý cũng nên mở rộng tầm nhìn trong việc bảo vệ người dân khỏi các loại hoá chất vĩnh cửu. “Hãy ngừng sản xuất và giảm mức độ hiện diện của chúng trong hệ thống nước — chứ không chỉ lọc chúng ra khỏi nguồn nước sinh học”. Liên minh châu Âu hiện đang cân nhắc đề xuất cấm sản xuất và sử dụng 10.000 hóa chất PFAS. Các chuyên gia cho rằng Hoa Kỳ cũng nên noi gương theo. “Đặt tiêu chuẩn nước uống là bước cuối cùng sau khi tình trạng ô nhiễm đã xảy ra”, Schaider nói.  Đinh Thư  tổng hợp  Nguồn:  The Filthy Truth About Your Tap Water  EPA sets ‘groundbreaking’ limits on toxic ‘forever chemicals’ in drinking water    Author                .        
__label__tiasang Hoa Kỳ thành lập hàng chục trung tâm nghiên cứu thông tin lượng tử và AI      Ngày 26/8, Nhà Trắng công bố Mỹ đặt mục tiêu đầu tư 765 triệu USD trong 5 năm tới vào hàng chục trung tâm khoa học dành riêng cho việc nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) và khoa học thông tin lượng tử (QIS). Các công ty công nghệ tư nhân như IBM, Google và Intel cũng sẽ góp phần trong nỗ lực kép này. Như vậy, tổng đầu tư kêu gọi được cho nghiên cứu lên tới hơn 1 tỷ USD.      Intel hợp tác với trung tâm Q-NEXT, Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne.  Giám đốc công nghệ của Nhà Trắng Michael Kratsios và Phó Chánh văn phòng Nhà Trắng Chris Liddell đã viết trong bản tuyên bố: “Các viện nghiên cứu này thể hiện rõ nét cách tiếp cận thị trường tự do độc đáo của Mỹ với những tiến bộ công nghệ. Mỗi viện sẽ là nơi tập hợp chính quyền liên bang, ngành công nghiệp và học giả lại với nhau; định vị chúng ta để tận dụng toàn bộ sức mạnh cùng lợi thế chuyên môn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nước Mỹ”.  Bảy trong số các trung tâm này sẽ có trụ sở tại các trường đại học và tập trung vào những ứng dụng AI khác nhau, chủ yếu liên quan đến việc lập trình cho phép máy tính học cách tìm ra các mẫu (pattern) hữu ích, chẳng hạn như nước đi hiệu quả nhất. Nếu Quốc hội chấp thuận đề xuất ngân sách, mỗi trung tâm sẽ nhận được 20 triệu USD trong 5 năm với khoản tiền trả trước đã được phê duyệt cho năm nay. Năm trung tâm khác sẽ nhận được hỗ trợ từ Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) và hai trung tâm sẽ nhận tiền từ Viện Nông nghiệp và Thực phẩm Quốc gia của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.  Mỗi trung tâm AI sẽ tập trung vào một ứng dụng cụ thể. Ví dụ, Đại học Oklahoma sẽ chịu trách nhiệm triển khai Viện Nghiên cứu AI đáng tin cậy trong lĩnh vực Thời tiết, Khí hậu và Hải dương học ven biển của NSF. Quỹ NSF dự tính sẽ bỏ thêm 300 triệu USD trợ cấp để hỗ trợ công việc về AI.  Năm trung tâm khác được Bộ Năng lượng (DOE) tài trợ đặt tại các phòng thí nghiệm quốc gia sẽ tập trung vào nhiều khía cạnh của khoa học thông tin lượng tử, bao gồm phát triển các môi trường kiểm thử cho máy tính lượng tử mới nổi, công nghệ thiết lập một mạng internet lượng tử không thể xâm nhập, và những ứng dụng về cảm biến lượng tử khác. Chẳng hạn, Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne ở Illinois sẽ xây dựng trung tâm Q-NEXT để tập trung vào các mạng lượng tử và vật liệu cho công nghệ lượng tử. DOE đề xuất khoản tiền 125 triệu USD cho mỗi trung tâm trong vòng 5 năm. Ngoài 625 triệu USD mà DOE sẽ đầu tư, các đối tác tư nhân và trường đại học cũng sẽ đóng góp thêm 300 triệu USD cho các trung tâm này.   Mặc dù thông báo của Nhà trắng lần này đã hướng sự chú ý của dư luận tới địa điểm và tầm nhìn của từng trung tâm khác nhau nhưng việc thúc đẩy phát triển các trung tâm này không phải là điều mới mẻ và tất yếu bắt nguồn từ Nhà Trắng. Vào năm 2016, chính quyền trước đó của cựu tổng thống Obama đã kêu gọi nỗ lực phối hợp để mở rộng nghiên cứu về AI. Cuối tháng 12/2018, Quốc hội Mỹ cũng đã thông qua “Đạo luật Sáng kiến ​​Lượng tử lưỡng đảng Quốc gia”, trong đó có nội dung kêu gọi thành lập tối đa 5 trung tâm nghiên cứu của DOE.  Với một số nhà nghiên cứu, đây có thể là điều trớ trêu khi một trong những nhà bảo trợ chính cho đạo luật này là cựu Dân biểu Lamar Smith, người từng đứng đầu Ủy ban Khoa học, Không gian và Công nghệ của Hạ viện và bị nhiều nhà nghiên cứu chán ghét. Smith từng khơi mào cuộc tranh cãi giữa một số nhà nghiên cứu và giữa các thành viên Đảng Dân chủ trong ủy ban khi cứ khăng khăng rằng khi xem xét các đề xuất, Quỹ NSF phải cân nhắc đến việc liệu những nghiên cứu có “phục vụ lợi ích quốc gia” hay không và đặt câu hỏi rằng liệu hành động của chính phủ trong vấn đề biến đổi khí hậu có cần thiết. Vậy mà sau đó, Smith và một nhóm lưỡng đảng đã cùng nhau xây dựng ra sáng kiến ​​lượng tử. Giờ đây, một phần lớn của sáng kiến sắp thành hiện thực. □  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/08/united-states-establishes-dozen-ai-and-quantum-information-science-research-centers    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoa mặt khỉ: mở cánh cửa mới trong nghiên cứu tiến hóa thực vật      Dù chỉ là một loài cây dại nhưng hoa mặt khỉ đã trở thành tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu thực vật học. Loài cây này có nhiều loại hoa đa dạng, màu sặc sỡ và sinh sôi được trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau nhưng lại có bộ gene rất đơn giản, cho phép các nhà khoa học có thể giải trình tự gene để mở ra một cánh cửa mới trong nghiên cứu tiến hóa thực vật.      Yaowu Yuan bắt đầu say mê nghiên cứu hoa mặt khỉ vào năm 2014. Khi đó Yuan đang là một nhà phân loại học tại Đại học Washington ở Seattle và cũng là một người yêu thích đi bộ đường dài, anh đã rất ngạc nhiên khi thấy sự đa dạng của các loài hoa dại mà anh bắt gặp trong những chuyến đi chơi của mình ở vùng núi Cascade. Giống như Charles Darwin, anh rất bực bội bởi một câu hỏi mà Darwin gọi là “bí ẩn ghê gớm”: Làm thế nào mà thiên nhiên có thể tạo ra sự đa dạng về màu sắc và hình thức hoa như vậy?   Trong một cuộc hội thảo, Yuan đã được biết về một loài hoa mà anh nghĩ có thể mang lại câu trả lời. Nhà sinh vật học phân tử thực vật của Đại học Washington H. D., Toby Bradshaw và sinh viên tốt nghiệp của ông đã trình chiếu tài liệu về kết quả của việc thay đổi bộ gene của loài hoa mặt khỉ, loài hoa thuộc họ Mimulus và tạo ra một sư đa dạng tương dương với tất cả các loài hoa dại mà Yuan đã thấy trên đồng cỏ và ven sông ở Cascades.  Phát hiện này đã thay đổi định hướng nghiên cứu của Yuan vì anh nhận ra sự đột biến ở hoa mặt khỉ có thể giúp hiểu biết tốt hơn về quá trình phát triển hoa ở tất cả các loài thực vật. Vậy là từ khi bắt đầu công việc giảng dạy tại Đại học Connecticut (UConn) ở Storrs sáu năm về trước, anh đã bắt đầu theo dõi các gene kiểm soát màu sắc, hình dạng, kích thước và các đặc điểm khác ở loài hoa Mimulus, và rất có thể chúng cũng có tác dụng tương tự ở các loài cây khác. Yuan không phải là nhà khoa học duy nhất có niềm đam mê mãnh liệt đến vậy đối với loài hoa thường chỉ được biết đến như là một loài cỏ có thể sinh sôi được ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt tới mức các loài khác không thể mọc được, như mỏ đồng bị bỏ hoang, suối nước nóng hay đất khoáng sản khô cằn.   Giống như cây cỏ dại Arabidopsis thaliana (một loại cây hoa nhỏ, họ cải có nguồn gốc châu Phi) – một loại cây rất hay được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm truyền thống, hoa mặt khỉ mọc nhanh, cho nhiều hạt và có một bộ gene đơn giản. Đó là những đặc điểm hấp dẫn cho các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Nhưng sự bùng nổ màu sắc và hình thức hoa,  hình thức tồn tại đa dạng và sức chịu đựng phi thường lại tương phản mạnh mẽ với cây Arabidopsis. Chính những đặc điểm đó đã quyến rũ các nhà nghiên cứu tiến hóa và thích nghi thực vật. Hơn 40 phòng thí nghiệm hiện nay tập trung vào việc chọn lọc các thành phần của họ hoa Mimulus –số lượng đã tăng gấp đôi so với thập kỷ qua. Quỹ khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) đã tài trợ các dự án liên quan đến tiến hóa của riêng loài Mimulus và gần đây đã chi 1 triệu USD để phát triển các kỹ thuật nhằm thay đổi các đặc điểm của loài hoa này.   Cuộc hội thảo thảo luận về hoa mặt khỉ ở Providence vào tháng Sáu vừa qua đã thu hút khoảng 70 nhà sinh học, nhiều hơn gấp ba lần số người tham dự lần đầu tiên 13 năm trước. Số lượng bài báo về Mimulus vẫn chưa quá lớn – khoảng 425 bài – nhưng con số này đã tăng lên nhanh trong thập kỉ qua. Niềm đam mê của các nhà nghiên cứu chính là thước đo rõ ràng nhất về sức hấp dẫn mà loài hoa này tạo ra cho giới khoa học.   Loài hoa này được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới, thường ở những địa điểm khắc nghiệt nhất như những hòn đảo trần trụi với đá serpentine nằm rải rác trong những cánh rừng ở vùng núi Sierra Nevada, California. Các nhà sinh thái học về thực vật đã tiến hành nghiên cứu Mimulus hoang dã trên thực địa trong suốt 80 năm qua. Năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận quần thể Mimulus guttatus gồm các loài hoa đơn lẻ, có đặc điểm khác nhau về thời gian ra hoa, kích thước hoa và cả số lượng hạt  trên các bông hoa. Có cây ra hoa nhiều hơn trong những năm ẩm ướt, lại có những cây ra hoa tốt hơn trong những năm hạn hán đến sớm. Hai biến thể này cùng tồn tại trong một quần thể.    Đã có hơn 40 phòng thí nghiệm nghiên cứu về các nhánh khác nhau của loài hoa mặt khỉ.   Thích ứng linh hoạt  Một công trình được đăng tải vào năm ngoái trên tạp chí Science (ngày 3/8/2018, trang 475), đã cung cấp bằng chứng được tìm kiếm từ lâu về một hiện tượng tiến hóa được gọi là “lựa chọn dao động” (fluctuating selection), trong đó quá trình thay đổi điều kiện sống khiến một loài tiến hóa thích ứng linh hoạt theo nhiều hướng khác nhau. Các nhà lý thuyết đã đề xuất rằng lựa chọn dao động giúp giải thích sự biến đổi rộng rãi được thấy ở nhiều loài khác không chỉ loài mặt khỉ.  Trong cuộc họp về hoa mặt khỉ hồi tháng sáu, John Willis, một nhà di truyền học tiến hóa tại Đại học Duke ở Durham, Bắc Carolina cũng tiết lộ một manh mối chính về một bí ẩn khác của loài hoa mặt khỉ: đó chính là mối liên hệ của loài hoa với đất serpentine (loại đất có chứa đá serpentine). Những loại đất này rất giàu sắt và magiê nhưng ít kali, nito và canxi – những chất mà thực vật cần nhưng rất nhiều kim loại nặng độc hại, chẳng hạn như niken và crom. Willis và Jessica Selby, nghiên cứu sinh postdoc của ông gần đây đã nghiên cứu thêm các loài hoa mặt khỉ không mọc trên đất serpentine. Họ đã nghiên cứu nhiều thế hệ cây để xác định DNA quan trọng đối với tính trạng cây. Để xác định được các gene liên quan, Selby đã thu thập mẫu của một nhánh thuộc họ hoa mặt khỉ – Mimulus guttatus từ đất serpentine ở bảy nơi trên khắp California và Oregon rồi so sánh DNA của chúng với quần thể của Mimulus guttatus sống gần đó, trên vùng đất giàu dinh dưỡng hơn.   Cả hai phương pháp đều cho thấy một gene cho một loại enzyme tạo ra arabinose – loại đường được tìm thấy chủ yếu trong thành tế bào thực vật. Loại gene đó khác nhau giữa các loài Mimulus guttatus, nhưng tất cả những cây có thể phát triển trên đất serpentine đều có cùng một đột biến. Nó có thể điều chỉnh cách arabinose tương tác với các thành phần khác của thành tế bào, bằng cách nào đó bù lại lượng canxi thấp và magiê cao, giữ cho thành tế bào không bị ảnh hưởng. Nhóm của Willis cùng với các nhà nghiên cứu từ Đại học California (UC), Berkeley và Stanford đang tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm về vấn đề này.  Bằng cách khai thác di truyền quần thể và các kỹ thuật tìm kiếm gene khác, Willis đã “đi trước trong việc xem xét làm thế nào mà hệ gene có thể tạo ra sự biến đổi tự nhiên to lớn ở thực vật”, Lila Fishman, nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Montana ở Missoula nhận xét. Công trình cũng có thể mang lại lợi ích thiết thực. Theo Benjamin Blackman, nhà sinh vật học tiến hóa tại UC Berkeley: “Nghiên cứu tìm hiểu cách cây trồng thích nghi với môi trường đất cằn cỗi có thể cung cấp thông tin cho các nỗ lực nhân giống nhằm phát triển cây trồng có thể với những loại đất như vậy”.  Mở ra những cánh cửa khái quát hơn về tiến hóa sinh vật  Bên cạnh việc tập trung vào các đặc tính sinh học đặc biệt của loài hoa mặt khỉ, các nhà nghiên cứu đang sử dụng chúng để nghiên cứu tìm ra những bài học khái quát hơn về thực vật và động vật. Một ví dụ điển hình là nghiên cứu của Yuan và Blackman về hình dạng màu sắc của thực vật. Phòng thí nghiệm của Blackman ban đầu nghiên cứu hoa hướng dương. Nhưng Mimulus guttatus đã hấp dẫn ông: nó rất thích hợp cho việc nghiên cứu mô hình cơ sở di truyền vì bộ gene đơn giản của nó đã được giải trình tự, cho phép dễ dàng kiểm tra vai trò của các gene và protein cụ thể bằng cách biến đổi gene của cây. Nghiên cứu độc lập với nhau, ông và Yuan đã tập trung vào cùng một loại protein mà họ nghĩ có thể là chìa khóa cho các xu hướng về hình dạng màu sắc của hoa.  Yuan và Baoqinh Ding, một nghiên cứu sinh của UConn, gần đây đã theo dõi gene khiến sắc tố đỏ xuất hiện ở mặt dưới của cánh hoa màu vàng trên một số bông hoa mặt khỉ. Màu đỏ thường xuất hiện dưới dạng một dải các đốm, có vai trò như báo hiệu nơi có mật hoa cho các loài thụ phấn. Nhiều loại màu trong thực vật và động vật là kết quả của một mạng lưới các protein kích hoạt các gene sắc tố tại các vị trí và thời điểm cụ thể trong cơ thể. Nhưng Yuan và Blackman tự hỏi rằng liệu những đốm hoa mặt khỉ có thể được tạo ra thông qua cơ chế được Turing đề xuất vào những năm 1950. Nổi tiếng với việc phá vỡ mật mã Đức Enigma trong Thế chiến II nhưng ông cũng là một nhà sinh học lý thuyết.   Turing dự đoán rằng một số mẫu hoa xuất hiện do sự khuếch tán tự nhiên và tương tác của các protein có nồng độ điều hòa lẫn nhau. Đối với các đốm, khi gene mã hóa một tế bào được kích hoạt để sản xuất sắc tố, protein hoạt hóa sẽ kích thích sự sản xuất của chính nó và của một protein ức chế, và khuếch tán ra ngoài điểm sắc tố. Phân tử thứ hai sẽ tắt bất kỳ chất kích hoạt nào trong các tế bào xung quanh, gây ra quầng sáng trắng. Nhưng protein ức chế sẽ trở nên loãng hơn khi đi xa hơn, cuối cùng mất tác dụng. Sau đó, protein hoạt hóa có thể được bật trở lại, và một điểm màu mới hình thành. Các hình mẫu màu sắc xuất hiện tùy thuộc vào sự chênh lệch độ khuếch tán của hai protein này.    Hoa mặt khỉ sinh trưởng được ở trong những vùng đất rất cằn cỗi, mặn, hạn… Việc tìm hiểu gene của hoa mặt khỉ sẽ giúp mở ra cơ chế để giúp cây trồng chịu mặn tốt hơn.   Các nhà sinh vật học từ lâu đã cho rằng cơ chế mà Turing đưa ra là nguồn gốc của các sọc vằn và đốm báo, thậm chí các đốm trên hoa mặt khỉ. Thật vậy, Yuan đã xác định được một loại protein ở hoa mặt khỉ có thể đóng vai trò là chất kích hoạt. Nhưng không ai xác định được một hệ thống kích hoạt – ức chế đầy đủ liên quan đến các hình dáng sắc tố định kỳ. Tuy nhiên, Blackman đã nhận thấy một manh mối trong một số loài Mimulus guttatus hoang dã: chúng thiếu các đốm hoặc chỉ có một mảng lớn màu đỏ, mà ông gọi là lưỡi, cho thấy một phần của hệ thống kích hoạt – ức chế đã bị mất. Một cách độc lập với Blackman, Yuan phát hiện ra một loại lưỡi đỏ tương tự giữa các dị bản mà anh tạo ra ở một loài Mimulus khác. Khi họ biết về công việc của nhau, cả hai đã hợp lực. Tại cuộc họp về Mimulus vào tháng sáu, họ đã báo cáo việc sử dụng “lưỡi đỏ” để theo dõi một loại protein có tên R3-MYB, một chất đối kháng với protein hoạt hóa đã được biết đến.   Để xác nhận rằng R3-MYB thực sự đóng vai trò là protein gây ức chế, Yuan và Blackman đều sử dụng các công cụ phân tử để ngăn chặn việc sản xuất nó. Yuan dựa vào sự can thiệp của RNA, trong khi nhóm Blackman đã sử dụng công cụ CRISPR, lần đầu tiên được đưa vào trong công nghệ chỉnh sửa bộ gene của Mimulus. Cả hai kỹ thuật đều dẫn đến một đường lưỡi đỏ đầy đủ trên các cánh hoa của Mimulus, một bằng chứng sống động minh chứng rằng cơ chế mà Turing đưa ra có thể giải thích cho một số các hiện tượng trong tự nhiên. Công trình này cho thấy Mimulus có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quá trình hình thành đa dạng sinh học.  Một số nghiên cứu khác về hoa mặt khỉ làm sáng tỏ đa dạng sinh học bằng cách cho thấy một cơ chế chỉ xảy ra duy nhất ở thực vật, nhằm giúp chúng nhanh chóng thích nghi với điều kiện mới. Jaime Schwoch, học viên cao học của Đại học bang Portland ở Oregon đã tìm ra nguồn gốc của lợi thế đó – là cách chúng sản xuất các tế bào sinh sản. Ở động vật, các tế bào có thể biến thành trứng và tinh trùng (tế bào sinh giao tử) được cô lập sớm trong quá trình phát triển và chúng không phân chia cho đến khi trưởng thành về mặt tình dục. Điều đó bảo vệ chúng khỏi các đột biến liên quan đến phân chia xảy ra trong cơ thể sinh vật ở các tế bào không phải tế bào mầm, tế bào soma trong nhiều loại mô. Nhưng hoa có chứa cả hai loại tế bào mầm – phấn hoa và noãn – được hình thành từ mô soma ở điểm đầu của thân cây đang phát triển. Bất kỳ đột biến xảy ra trong các tế bào phân chia của một thân cây sẽ lưu giữ trong các tế bào mầm và có thể truyền sang thế hệ tiếp theo.   Với việc đột biến ở mô soma tích tụ trong các tế bào mầm của cây qua nhiều thế hệ liên tiếp, Schwoch đã tự hỏi rằng tại sao thực vật lại không trội hơn hẳn về số lượng đột biến so với động vật, cũng như phải chịu một lượng lớn các đột biến gây hại. Trên thực tế, khi các mô soma của cả thực vật và động vật phát triển, các tế bào của chúng tích lũy khoảng một đột biến trên một triệu cặp base trong mỗi lần phân chia tế bào, vì vậy tế bào mầm thực vật phải có nhiều đột biến hơn tế bào mầm động vật. Nhưng sự thực lại không phải như vậy. Và đột biến nguy hiểm lại khá ít ở thực vật, Schwoch nhận ra điều đó khi cô so sánh hai nhóm hoa mặt khỉ. Cô đã tạo ra một loại bằng cách tự thụ tinh cho từng bông hoa bằng phấn hoa của chính nó, nhóm còn lại bằng cách thụ tinh hoa với phấn hoa từ một cành hoa khác trên cùng một cây (tương đương việc lai giữa các bố mẹ khác nhau), vì mỗi nhánh cây mang một/ (hoặc một số kiểu) đột biến đặc trưng khi nó lớn lên.   Tự thụ tinh, giống như cận huyết ở động vật, nên kết hợp các đột biến lặn có hại, vì vậy Schwoch mong muốn các cây lai sử dụng phấn hoa từ một nhánh để thụ tinh cho một hoa trên nhánh khác sẽ khỏe mạnh hơn. Nhưng một số cây con sinh sôi mạnh mẽ và hoàn toàn khoẻ mạnh lại đến từ thế hệ có nguồn gốc từ một thân cây duy nhất, và điều này đã được Schwoch báo cáo tại Hội thảo về Tiến hóa sinh vật năm 2019, cũng như tại cuộc thảo luận về hoa mặt khỉ vào tháng 6. Phát hiện đó cho thấy bằng cách nào đó, thực vật đã loại bỏ các đột biến có hại trong các tế bào soma của chúng và tích lũy những tế bào có lợi nhằm mục đích sinh sản.  Để xác minh quá trình phân loại đó, Schwoch đã trồng cây hoa mặt khỉ trong sáu tháng trong điều kiện mặn hơn bình thường và sau đó giải trình tự DNA từ các đầu nhánh của chúng, lưu ý đến các đột biến mới và tần suất đột biến xuất hiện trong các tế bào được giải trình tự. Những đột biến như vậy thường sẽ xảy ra ở tần số thấp, vì vậy khi cô tìm thấy một đột biến như vậy xuất hiện ở nhiều tế bào của đầu cây, cô đã suy luận rằng tế bào ban đầu có đột biến đó đã phát triển nhanh hơn nhiều so với các tế bào không có nó và thay thế chúng. Tỷ lệ đột biến tăng gấp đôi dưới áp lực muối, hơn nữa, các tế bào mang đột biến cải thiện khả năng chịu mặn có khả năng tồn tại lớn hơn trong thân cây, trong khi các tế bào kém thích nghi đã chết. Những đột biến còn sót lại được đưa vào mầm, vì vậy những thuộc tính mới trong vòng đời được truyền lại cho những bông hoa và phấn hoa tiếp theo. Quá trình này có nghĩa là cây có thể thích nghi rất nhanh với điều kiện khó khăn, Schwoch cho biết.  Nhà sinh vật học tiến hóa Duke Jennifer Coughlan rất ấn tượng với nghiên cứu này. “Đây là công trình có ý nghĩa rộng lớn đối với tất cả các loài thực vật, nhưng đặc biệt đối với các cây lâu năm sống lâu đã tích lũy nhiều đột biến trong suốt cuộc đời của chúng.” Sweigart dự đoán Schwoch sẽ nhanh chóng khám phá ra các đột biến cụ thể tạo ra khả năng chịu mặn: Hoa mặt khỉ “có nguồn gene tuyệt vời, do đó, chúng ta có thể xác định được chính xác những thay đổi phân tử đã xảy ra trong cây chịu mặn”. Những gì học được từ việc nghiên cứu hoa mặt khỉ có thể giúp chỉ ra cơ chế chịu được đất mặn hơn ở các loại cây khác, bao gồm cả cây dại và cây trồng. □  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn: Science 365 (6456), 854-857. DOI: 10.1126/science.365.6456.854    Author                Susan Dominus        
__label__tiasang Hóa thạch cá cho thấy con người có thể đã nấu ăn từ 780.000 năm trước      Các phát hiện trước đây cho rằng con người chỉ mới biết nấu nướng từ cách đây khoảng 170.000 năm    Hộp sọ của một con cá chép được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Steinhardt ở Tel Aviv. Kết luận của các nhà khoa học dựa trên 16 năm làm việc tại một địa điểm gần sông Jordan. Ảnh: Đại học Tel Aviv/AFP/Getty  Một nhóm nghiên cứu Israel mới đây đã tiết lộ loài người sơ khai sống cách đây 780.000 năm đã làm chín món cá của mình, họ cho rằng đây là bằng chứng sớm nhất về việc sử dụng lửa để nấu ăn.  Tổ tiên của chúng ta bắt đầu nấu ăn vào thời điểm nào? Đây là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khảo cổ học, vì rất khó để chứng minh rằng lò sưởi cổ đại được sử dụng để chuẩn bị thức ăn chứ không chỉ để sưởi ấm.  Nhưng từ lâu các nhà khoa học vẫn mong mỏi tìm kiếm câu trả lời chính xác, bởi sự ra đời của nghệ thuật nấu ăn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử loài người. Việc sơ chế giúp thức ăn dễ nhai và dễ tiêu hóa hơn được cho là đã góp phần rất lớn vào sự tồn tại và phát triển của con người trên khắp thế giới.  Trước đây, có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy những người đầu tiên nấu ăn là người Neanderthal và người Homo sapiens sơ khai cách đây 170.000 năm. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Ecology and Evolution đã đẩy lùi niên đại về trước hơn 600.000 năm. Đây là kết quả sau 16 năm nghiên cứu của nhà khảo cổ học Irit Zohar thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Steinhardt của Đại học Tel Aviv, đồng thời là tác giả thứ nhất của công bố.  Trong suốt nhiều năm, bà đã lập danh mục hàng nghìn hoá thạch cá được tìm thấy tại một địa điểm có tên là Gesher Benot Ya’aqov ở miền bắc Israel. Khu vực gần bờ sông Jordan từng có một hồ nước, nơi chứa đựng một “kho tàng” hóa thạch cá cổ đại đã giúp các nhà nghiên cứu lần về chính xác thời điểm những “đầu bếp” đầu tiên bắt đầu xuất hiện.  “Hệt như một câu đố, chúng tôi thu về ngày càng nhiều thông tin, cho đến khi chúng tôi có thể viết nên một câu chuyện về sự tiến hóa của loài người,” Zohar chia sẻ với AFP. Bà cho biết manh mối đầu tiên đến từ một khu vực “gần như không có xương cá” nhưng có rất nhiều… răng cá. Điều này khá hợp lý, bởi khi nấu nướng, xương cá mềm và có thể phân hủy ở nhiệt độ dưới 500C (930F), nhưng răng của chúng thì không.  Cũng trong cùng khu vực, một đồng nghiệp của Zohar đã tìm thấy đá lửa cháy sém và các bằng chứng khác cho thấy trước đây chúng được sử dụng để sưởi ấm. Bên cạnh đó, hầu hết những chiếc răng cá thuộc về hai loài cá chép đặc biệt lớn, cho thấy chúng đã được chọn vì có nhiều thịt, nghiên cứu cho biết. Một số con cá chép dài hơn hai mét (6,5 feet).  Bà Zohar cho biết bằng chứng “quyết định” bắt nguồn từ việc nghiên cứu men răng. Tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật nhiễu xạ bột (Powder X-ray diffraction: phương pháp để xác định cấu trúc tinh thể, bằng cách sử dụng một chùm tia X song song hẹp, đơn sắc, chiếu vào mẫu) để tìm hiểu cách thức nung nóng đã thay đổi cấu trúc của các tinh thể tạo nên men răng như thế nào.  So sánh kết quả với các hóa thạch cá khác, họ phát hiện ra răng từ khu vực chính của hồ phải chịu nhiệt độ từ 200-500C (400-930F). Đó là mức nhiệt phù hợp để nấu cá chín kỹ. Tuy nhiên, các nhà khoa học hiện vẫn chưa xác định được loài người thời đó đã nướng, kho hay áp chảo cả của mình, dù nghiên cứu cho thấy họ có thể đã sử dụng một số loại lò đất.  Những người đầu tiên “làm chủ” được ngọn lửa là người Homo erectus vào khoảng 1,7 triệu năm trước. Nhưng việc bạn có thể điều khiển lửa để sưởi ấm không có nghĩa là bạn dùng được nó để nấu nướng – người xưa có thể chỉ đơn giản là đã ăn cá trong lúc đang ngồi bên cạnh ngọn lửa”, Zohar nói. Mọi thứ có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.  Anaïs Marrast, nhà khảo cổ học tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp, người không tham gia nghiên cứu, cho biết sau khi ăn xong, tổ tiên loài người có thể đã ném xương ăn xong vào lửa. “Câu hỏi đặt ra lúc này là ngọn lửa được dùng để tiêu huỷ xương cá, hay thực sự người xưa đã dùng nó để nấu ăn.”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  Fish fossils show first cooking may have been 600,000 years earlier than thought  Evidence for the cooking of fish 780,000 years ago at Gesher Benot Ya’aqov, Israel    Author                .        
__label__tiasang Hoạt động của các  trung tâm ươm tạo công nghệ      Các trung tâm ươm tạo công nghệ có vai trò hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi sự trong lĩnh vực kinh doanh công nghệ ngay trong giai đoạn đầu bằng cách cung cấp các dịch vụ tư vấn, huấn luyện về kỹ thuật và kinh doanh, giúp thiết lập mạng lưới hoạt động.&#160;&#160;      Trung tâm ươm tạo TOPICA EDUCATION VIỆT NAM   Theo thống kê của Hiệp hội ươm tạo châu Á năm 2009, tại Châu Á Thái Bình Dương, Trung Quốc đứng đầu với 670 vườn ươm, ươm tạo được 45.000 công ty. Tiếp theo là Hàn Quốc với 279 vườn ươm, 4770 công ty được ươm tạo. Việt Nam cũng đã hình thành những khu ươm tạo những năm gần đây tuy nhiên số lượng còn khá hạn chế, mới chỉ có 11 vườn ươm với 47 công ty được ươm tạo.   Các mô hình vườn ươm cũng khá đa dạng. Nếu như những năm 1980, các vườn ươm chủ yếu tạo điều kiện về văn phòng với giá ưu đãi thì thế hệ vườn ươm thứ hai của những năm 1990 đã có thêm dịch vụ hướng dẫn, đỡ đầu, giao lưu. Thế hệ vườn ươm thứ ba những năm cuối của thập kỷ này không thiên về cung cấp văn phòng với giá ưu đãi mà chú trọng tới dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, giúp huy động vốn. Các công ty có văn phòng theo hình thức linh động hơn vì sẽ có những vườn ươm ảo/trực tuyến, ươm tạo quốc tế, ươm tạo tăng trưởng cao. Những hình thức ươm tạo này không cần hoặc chỉ cần văn phòng cố định trong một thời gian ngắn trước khi phát triển độc lập. Ở Việt Nam chủ yếu mới đang dừng lại ở thế hệ vườn ươm thứ hai.   Vườn ươm Topica đã tiến hành các dự án từ năm 2004. Tính đến nay đã ươm tạo được 9 doanh nghiệp công nghệ thông tin, trong đó 4 doanh nghiệp đã tốt nghiệp, 3 doanh nghiệp đang gọi vốn đầu tư và 2 thất bại.   (TS Phạm Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm ươm tạo TOPICA Education, Việt Nam).   Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao – Khu CNC Hoà Lạc   Thành lập năm 2006, Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao ưu tiên hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ nano. Số lượng doanh nghiệp ươm tạo tại trung tâm là 12 trong đó có 4 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học, 8 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Tính tới nay, đã có 5 doanh nghiệp kết thúc giai đoạn ươm tạo.   Ở các doanh nghiệp ươm tạo thành công có thể nhận thấy một số điểm chung. Trước tiên, về ý tưởng, công nghệ mới phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, khả năng thương mại hoá cao, minh bạch về sở hữu trí tuệ. Về mặt quản lý, đội ngũ quản lý phải có kiến thức và kinh nghiệm cả về công nghệ và kinh doanh, và phải dành toàn thời gian cho hoạt động của doanh nghiệp. Về tài chính, bên cạnh nguồn vốn khởi sự cần phải tiếp cận được với các nguồn vốn khác.   Kinh nghiệm từ các dự án thất bại cho thấy sự thiếu kiến thức về kinh doanh, đặc biệt là những hiểu biết về thị trường sẽ làm cho doanh nghiệm ươm tạo gặp rất nhiều khó khăn. Các công nghệ mới được thương mại hoá vẫn chưa hoàn thiện, chưa định giá được sản phẩm. Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy tính độc lập chưa cao ở một số doanh nghiệp ươm tạo biểu hiện ở chỗ chưa thực sự coi doanh nghiệp là của chính mình, phải chịu trách nhiệm về sự thành bại của doanh nghiệp.   Theo chúng tôi, nên có nhiều chương trình hỗ trợ hoạt động ươm tạo để có thể tạo nên mạng lưới ươm tạo công nghệ trong cả nước. Một yếu tố quan trọng nữa là cần khuyến khích tinh thần doanh nhân của giới trẻ ở các trường đại học, đặc biệt là các trường công nghệ.   (Nguyễn Đức Long – Giám đốc Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, Khu công nghệ cao Hoà Lạc)         Thái Lan: Vai trò của Cơ quan phát triển khoa học và công nghệ quốc gia                             Các vấn đề thường gặp phải của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thái Lan là thiếu vốn, thiếu tri thức và người có tri thức, thiếu bí quyết công nghệ, thiếu kỹ năng, thiếu hạ tầng cơ sở, thiếu hiểu biết thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ không thiết tha với việc đầu tư cho R&D do khoản đầu tư này có tính rủi ro cao. Vấn đề đặt ra là phải giúp các doanh nghiệp quản lý rủi ro khi đầu tư cho R&D.               Cơ quan Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia thành lập năm 1991 với nhiệm vụ hỗ trợ và thực hiện R&D, phát triển nguồn nhân lực, quảng bá công nghệ, phát triển hạ tầng cơ sở khoa học và công nghệ. Cơ quan này đặt ưu tiên cho việc giải quyết những vướng mắc gặp phải trong chu trình thương mại hoá các kết quả nghiên cứu. Chu trình này đòi hỏi có sự tham gia của 3 tổ chức: Văn phòng cấp giấy phép công nghệ (TLO),  Văn phòng quản lý các cụm và chương trình (CPMO), các trung tâm nghiên cứu quốc gia. Các nhà phân tích dự án của CPMO, nhân viên ban phát triển kinh doanh của các trung tâm nghiên cứu quốc gia, nhân viên bộ phận kinh doanh IP của TLO được tuyển chọn vào bộ phận thương mại hoá của Cơ quan Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia (NCG). Tại đây, quy trình thương mại hoá sản phẩm sẽ được trợ giúp ngay từ giai đoạn đầu tiên bằng cách tiến hành song song hai quá trình: đánh giá về kỹ thuật và về thị trường. Trên cơ sở tính khả thi của dự án, NCG sẽ đề xuất lập quỹ vốn nghiên cứu. Sau đó, các nhân viên của NCG tiến hành theo dõi kết quả nghiên cứu đồng thời với việc phát triển khách hàng, phát triển mô hình kinh doanh. Quản lý IP khi kết quả nghiên cứu đã trở thành IP và xác lập các điểm mốc đạt được trong thương mại hoá.               Ưu điểm của quá trình này là đánh giá được năng lực công nghệ và cơ hội thị trường. Các dự án được đánh giá theo từng cấp độ phân biệt bằng màu sắc. Ví dụ, khi dự án được đánh dấu màu xanh chứng tỏ thị trường đã rõ ràng, giải pháp công nghệ rõ ràng, công nghệ có thể được cấp phép nhanh chóng, có giá trị cao. Khi công nghệ được xếp vào màu xanh đậm, sẽ tiến hành nghiên cứu lập quỹ vốn.               (Sumowan Sungchuay, Cơ quan phát triển KH&CN Thái Lan)     Ukraina: Hệ thống các công viên công nghệ               Tháng 7 năm 1999, Bộ luật về Chế độ đặc biệt cho các hoạt động đầu tư và đổi mới dành cho các công viên công nghệ được Quốc hội thông qua. Theo luật này, ba công viên công nghệ mới với một số ưu tiên tài chính cho các doanh nghiệp đổi mới đã được hình thành. Các nét chính của 3 công viên công nghệ này là: được hình thành trên cơ sở các viện nghiên cứu hàng đầu của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraina với các định hướng công nghệ mạnh; bản thân các viện không được ưu đãi về thuế nhưng các dự án đổi mới sẽ nhận được ưu đãi.               Hiện nay Ukraina có 16 công viên công nghệ. Trong giai đoạn 2000 -2009, các công viên công nghệ đã đóng góp hơn 1 tỷ hryvnas (UAH) cho ngân sách Trung ương và địa phương; tạo ra hơn 3000 việc làm mới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng của các công viên công nghệ này vẫn chịu sự tác động mạnh của các chính sách ưu đãi. Cụ thể như, vào đầu năm 2005, khi các ưu đãi thuế cấp cho các công viên công nghệ bị bãi bỏ, 8 trong số công viên công nghệ đã đổi mới hoạt động kinh doanh nhưng một số khác đã không có các nguồn hoặc biện pháp hỗ trợ để bắt đầu hoạt động.               (TS. Gryga Vitalii, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng KH&CN và Lịch sử khoa học Dobrov – Viện Hàn lâm Khoa học Ukraina)    Ấn Độ: Các chính sách phát triển khoa học công nghệ                             Sự phát triển kinh tế mạnh trong vòng hai thập kỷ qua đã giúp cho quốc gia này có thể đầu tư nhiều hơn cho khoa học. Các cuộc cải cách kinh tế từ những năm 1991 đã “chạm” tới hệ thống khoa học của Ấn Độ.              Cải cách lần I: Tập trung vào kết nối KH&CN với đổi mới               Trong cuộc cải cách lần 1 này, Ấn Độ chú trọng thương mại hoá R&D tại các phòng thí nghiệm quốc gia; thiết lập sơ đồ trung gian công nghệ/chuyển giao công nghệ tại các Viện nghiên cứu và trường đại học; hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm và các biện khuyến khích bằng thuế; các công viên khoa học công nghệ được hình thành và phát triển theo cụm. Phần mềm, dược và công nghệ sinh học là ba lĩnh vực được ưu tiên đặc biệt.               Công nghệ thông tin: Hình thành các khu công nghệ cao ở trên khắp đất nước các cụm phát triển khoa học công nghệ tại các thành phố có các trung tâm đại học chính như Bangalore, Hyderabad, Delhi, Chennai…; các chương trình khoa học có tính kết nối các ngành khoa học và các khu công nghệ cao như chương trình vũ trụ; đẩy mạnh xuất khẩu phần mềm.               Dược: Xây dựng năng lực công nghệ nội tại với R&D công và chuyển giao công nghệ tại 7 phòng thí nghiệm trọng điểm; mở rộng thị trường trong nước. Kết quả là vào đầu những năm 1990, 13 hãng kiểm soát 85% thị trường, FDI cho lĩnh vực này tăng từ 40% lên 70%. Từ năm 2000, hằng năm nhận được 80-100 bằng sáng chế Mỹ.               Công nghệ sinh học: hỗ trợ cho 40 chương trình cho trình độ đại học và 15 trung tâm R&D tiên tiến tại các trường đại học và phòng thí nghiệm quốc gia.               Cải cách lần II: Thúc đẩy toàn cầu hoá và cách mạng toàn cầu               Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các trung tâm R&D của các công ty đa quốc gia. Bangalore có tới 45 trung tâm R&D nước ngoài, Delhi theo sau với 22 trung tâm. Các công ty đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm, công nghệ sinh học, dược và ô tô mở rộng quy mô trong nước cũng như quốc tế.               Cải cách thứ III: Sự phát triển và lớn mạnh của các công ty Ấn Độ               Thông qua mua bán sáp nhập công ty, số lượng các công ty đa quốc gia của Ấn Độ tăng lên rõ rệt. Infosys, TCS, Wipro và Satyam mua 20 công ty ở Mỹ, Úc và châu Âu. Tata có cơ sở tại 43 quốc gia. Mittal mua lại Arcelor của Pháp-Bỉ, trở thành một trong những công ty thép hàng đầu thế giới.                Cải cách lần thứ IV: Giáo dục đại học và phát triển kỹ năng               Cải cách giáo dục trở thành trung tâm của cải cách này với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố làm nên thành công của mọi cuộc đổi mới sáng tạo trong KH&CN. Những Viện công nghệ mới của Ấn Độ được thành lập những năm gần đây, hệ thống viện đào tạo và nghiên cứu khoa học, các trường đại học mới đã tạo nên những cột mốc mới trong các kế hoạch đổi mới của quốc gia, thành tích nổi bật của một số trường đại học công và sự phồn vinh của khu vực tư nhân đang góp phần làm thay đổi bức tranh của khoa học Ấn Độ.  (GS. V.V. Krishna, Đại học Jawaharlal Nehru, Delhi)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Học cái robot không làm được      Các nhà kinh tế lo ngại tự động hóa sẽ làm hàng triệu người bị thất nghiệp. Ai tiếp tục tự học hỏi, nâng cao kiến thức và tay nghề, phải học để làm những việc mà máy móc không làm được.      Máy móc làm được nhiều thứ hơn con người. Ai không muốn người bạn đồng nghiệp robot gạt bỏ mình thì hãy chịu khó bổ túc nâng cao tay nghề.  Ai muốn biết tương lai nghề nghiệp của mình có đen tối hay không bởi nhà cung cấp dịch vụ phân tích Oxford Economics dự đoán, cứ mỗi robot công nghiệp mới có thể thay thế cho 1,6 nhân lực trong sản xuất. Công ty tư vấn doanh nghiệp McKinsey dự báo, đến năm 2030 sẽ có khoảng  800 triệu lao động bị mất việc làm do quá trình tự động hóa.  Báo cáo hiện nay của Diễn đàn kinh tế thế giới về tương lai việc làm trên cơ sở  điều tra tại 26 quốc gia công nghiệp trên thế giới, thì đến năm 2025 sẽ có 97 triệu việc làm mới đồng thời mất đi 85 triệu việc làm cũ. Một nửa số cán bộ nhân viên cần phải được đào tạo lại dưới một hình thức nào đó, 94 % các nhà quản lý được phỏng vấn đều cho rằng cán bộ nhân viên của họ cần học tập để có những khả năng mới.   Vấn đề gây lo lắng cho nhiều người ở dự báo này là ở chỗ, những người do tự động hóa bị mất việc làm như cô nhân viên kế toán hay anh chuyên viên phân tích tài chính bị mất việc sẽ làm việc gì trong tương lai?  Nếu người ta nêu câu hỏi này với Simon Janssen – nhà kinh tế làm việc tại Viện nghiên cứu  thị trường lao động và nghiên cứu nghề, thì câu trả lời đã rõ ràng “Người ta phải tiếp tục mở mang kiến thức, nếu không bạn sẽ nhanh chóng bị rớt lại“. Janssen chuyên sâu về tác động của biến đổi công nghệ đến phát triển thị trường lao động. Theo ông thuật ngữ tiếp tục đào tạo là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiều bước mà người lao động có thể tham gia. Tiếp tục bồi dưỡng có thể là một hình thức bồi dưỡng không chính thức hình thành ngay tại địa bàn làm việc, tại đây các đồng nghiệp giúp dỡ lẫn nhau để tìm hiểu, học hỏi về một cái máy hoặc thiết bị mới. Chính thức hơn có thể là các khóa bồi dưỡng về một chủ đề nhất định  hoặc tiến hành đào tạo lại, hoặc bồi dưỡng để trở thành đốc công hoặc các khóa học nâng cao ở bậc đại học.  Hy vọng thu nhập tăng  Tuy nhiên cụ thể nên đầu tư vào khả năng nào để chắc chắn có lợi trong tương lai, điều này không hề dễ. Theo nhà kinh tế Janssen, nên phân biệt giữa hai loại kiến thức: một loại chỉ hữu ích trong diện hẹp, ở doanh nghiệp hoặc trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, thí dụ như một phần mềm  điều khiển nhất định, chỉ để dùng đối với một số máy móc của doanh nghiệp đó; dạng thứ hai đa năng hơn, tổng hợp hơn được các nhà quản lý khác nhau thừa nhận và đánh giá cao, thí dụ như một phương pháp quản lý  hoặc nắm vững một ngôn ngữ lập trình như Python chẳng hạn.  Vậy người lao động nên tận dụng cuộc  khủng hoảng corona này để tiếp tục bồi dưỡng như thế nào? Kỹ năng nào là quan trọng? Cần lưu ý gì khi chọn các hội thảo?  Sự khác biệt này làm cho người lao động có những cân nhắc khác nhau về tài chính. Những điều này có ý nghĩa quyết định vì, theo Janssen, chúng ta biết từ nghiên cứu kinh tế mọi người không nhất thiết muốn được đào tạo thêm vì họ quan tâm đến những điều lý thú, mới mẻ mà chủ yếu họ muốn qua đó có thu nhập cao hơn.  Khuyến nghị của ông: Nếu bạn muốn học một kỹ năng đặc trưng theo yêu cầu của doanh nghiệp thì bạn  bạn nên chia sẻ chi phí đào tạo với người xử dụng lao động.  Bản thân doanh nghiệp qua đó cũng thu được rất nhiều cái lợi, theo Janssen, năng suất lao động tăng cũng sẽ làm tăng lương. Tuy nhiên nếu bị mất việc làm, thì cái kiến thức rất chuyên sâu này không còn có giá trị bao nhiêu trên thị trường lao động. Khi những khả năng này mang tính tổng quát hơn thì tình hình lại ngược lại: về lý thuyết, doanh nghiệp không được lợi ích trực tiếp nào khi để người lao động mở rộng kiến thức nói chung, vả lại qua đó làm cho người lao động có giá hơn đối với đổi thủ cạnh tranh. Tuy nhiên trong thực tế doanh nghiệp vẫn bồi dưỡng năng lực cho người lao động, nhưng khi người lao động nhảy việc, doanh nghiệp đòi người lao động phải hoàn trả số tiền mà doanh nghiệp đã đầu tư vào việc bồi dưỡng kiến thức, hay tay nghề cho người lao động.   Không nhất thiết ai cũng phải biết lập trình  Bất chấp việc ai sẽ cáng đáng kinh phí, việc chủ động bồi dưỡng, nâng cao trình độ luôn là cần thiết và quan trọng vì nó giúp cho người lao động luôn điều chỉnh khả năng của bản thân cho phù hợp với cuộc đời nghề nghiệp của mình, giúp ta tránh không đi vào ngõ cụt trong nghề của mình. Thí dụ, qua đó bạn có được những khả năng mà người ta không dễ gì tự động hóa được. Tuy nhiên ngay cả ở đây thì những người lao động ham học hỏi cũng phải đối mặt với câu hỏi hóc búa, câu hỏi đầu tiên là: Ta có thể làm những gì? Simon Janssen nói “Đánh giá đúng vốn nhân lực của bản thân là điều cực kỳ khó“. Và số hóa càng khó hơn nữa. “Chúng ta không biết, điều mà lúc này chúng ta phải biết, liệu vài năm nữa có còn cần thiết nữa hay không”. Thí dụ có lập luận chắc như đinh đóng cột rằng, mọi người đều phải học kỹ năng về công nghệ thông tin. Janssen cho rằng “Điều đó ở chừng mực nào đó đúng”. Nhưng người ta cũng phải biết việc dùng phần cứng cũng như phần mềm ngày càng dễ dàng, đơn giản hơn. Thậm chí bạn không cần các lệnh thô sơ nhất khi dùng iPad, mọi cái đều có thể điều khiển trực quan. Còn những khả năng rất chuyên biệt, ví như lập trình thuật toán tự học thì không phải ai cũng cần phải biết  làm.  Tuy nhiên, nhà kinh tế Janssen lại thấy một số năng khiếu khác có giá trị ngày càng tăng: đó là kỹ năng xã hội, như việc điều phối một tập thể đông người trong một  đại dự án với các chuyên ngành khác nhau hoặc giao tiếp có mục tiêu giữa những người có trình độ chuyên môn rất khác nhau. Janssen cho rằng “Điều này số hóa cực kỳ khó vì thế những kỹ năng này càng có giá trị hơn“. Tuy nhiên sự phát triển này cũng chỉ có thể lượng định trước một vài năm. Do đó nhà kinh tế này khuyên mọi người lao động hãy luôn để mắt tới sự phát triển của công nghệ. Ông hài hước nói “Phải giương mắt, vểnh tai để nhìn và nghe ngóng, để mình không bị máy móc thay thế”.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.wiwo.de/erfolg/trends/automatisierung-lernen-was-die-roboter-nicht-koennen/26777088.html;  https://www.nationalgeographic.com/magazine/2020/09/the-robot-revolution-has-arrived-feature/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học để dùng      Tôi dùng triết lý này để thiết kế các môn khoa học theo ba nguyên tắc: Phát triển – Chuẩn mực – Tối thiểu.      GS Hồ Ngọc Đại, ảnh: Hoàng Nam.   Thời nào học cũng để dùng.  Biết dùng mà không cần học ở trường thì cách học này có lịch sử lâu đời nhất, từ thời a-míp đến thời đười ươi. Thời mông muội, Người hoang dã chỉ học ngay trong cuộc sống bầy đàn. Thời văn minh, cách đây mấy ngàn năm, Người còn có thêm học ở trường, tính từ khi Thầy Khổng Tử mở trường tư. Qua mấy thế hệ học trò, Thầy Khổng Tử mới có được một trò Mạnh Tử cùng mình lập ra một triết lí mang tên Khổng Mạnh- Triết lý phục tùng.  Dân phục tùng vua.  Trò phục tùng Thầy.  Con phục tùng Cha.  Vợ phục tùng Chồng.  Hegel đưa ra một nhận định:  Cái gì có lí thì có thật.  Cái gì có thật thì có lí  Mối liên hệ biện chứng giữa cái có lý và cái có thật luôn luôn tác động qua lại với nhau trên mỗi chặng đường phát triển lịch sử và triết học.  Thời nào học cũng để dùng.  Tiên học lễ, hậu học văn.  Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.  Mấy ngàn năm, ở nước ta, nhà trường vẫn là nhà trường Khổng Mạnh, với những Tiên học lễ, hậu học văn/ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư…  Ngày nay, học để dùng được cụ thể hóa bằng cách học và bằng cách dùng. Nền giáo dục hiện đại triển khai Học và Dùng trong ba lĩnh vực tinh thần (theo sự phân loại của Hegel): Khoa học; Nghệ thuật; Tôn giáo.  +) Khoa học: với một Đối tượng, mọi người cùng hiểu như nhau, cùng dùng như nhau.  Cùng tìm ra Tổng như nhau: 3+2=5  Cùng tìm ra Tích như nhau: 3×2=6  +) Nghệ thuật. Nghe hát quan họ:   Yêu nhau cởi áo cho nhau  Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay  Tôi chưa nghe ai cãi lí theo kiểu:   Áo con trai, con gái mặc sao được?   Áo mặc trong người, gió trên cầu cuốn mà bay đi được, mẹ nào lại tin cái chuyện vô lí ấy.  Ờ thì “vô lí”, nhưng người đời vẫn đắm đuối nghe, xúc động. Sao vậy?  Nghệ thuật là thế đấy!  +) Tôn giáo: Đức mẹ Ma-ri-a đồng trinh mà có thai, sinh ra Chúa.  Tin là tin, tin tuyệt đối. Nếu còn vương chút ngờ ngợ, chỉ tin 99,99% thì không phải là tin, không có Đức tin.  Tôi không cãi lí với Hegel, nhưng với giáo dục thì tôi tìm giải pháp riêng cho mỗi vùng tinh thần.  Khoa học, ở vương quốc khoa học của Hegel, mọi chuyện đều công khai, minh bạch, đồng loạt với mọi người, không có bất cứ ưu đãi nào.  Trong giáo dục tiểu học, tôi biết chắc hai môn học khoa học: Toán và Tiếng Việt, và tôi chỉ phân biệt: Khoa học/ Kinh nghiệm.  Kinh nghiệm là thành tựu có lịch sử lâu dài nhất, tính từ thời a-mip, đến thời vượn người, đến Người nguyên thủy, đến Người hiện đại, luôn luôn đi cùng lịch sử. Kinh nghiệm sinh ra cùng lịch sử, lớn lên cùng lịch sử. Mãi về sau lịch sử mới có thêm kẻ hậu sinh khoa học.  Trong giáo dục, chủ yếu dùng kinh nghiệm thì có một Thầy Khổng Tử.  Nhà trường hôm nay vẫn treo khẩu hiệu “khai thác vốn sống của Trẻ em”. Vốn kinh nghiệm ấy tích lũy trong 6 năm đầu đời của Trẻ thì có được bao lăm để khai thác, may ra có thể dùng kinh nghiệm ấy để “làm ra” cái mới vượt qua  tầm kinh nghiệm.  Mỗi ngày đến trường, ngày nào cũng làm ra cái mới thì: Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui! Đi học là hạnh phúc!  Dùng cái có sẵn/ Dùng cái làm ra là hai cách dùng ở hai tầm phát triển lịch sử khác nhau, gắn với bản chất triết học của cái để dùng, ví dụ: chiếc gậy khều.  Bọn động vật chỉ biết nhặt cành cây khô làm gậy khều (để khều quả trên cao) thì cho đến nay, động vật vẫn là động vật.  Người biết chặt một cành cây tươi làm gậy khều thì nay có nền văn minh hiện đại.  Hai cách cư xử này, triết học gọi là cách cư xử trực tiếp (của động vật) và cách cư xử gián tiếp (của Người).  Bước tiến có giá trị triết học xứng đáng nhất là bước nhảy lịch sử từ cách cư xử trực tiếp sang cách cư xử gián tiếp – bước nhảy từ dùng cái có sẵn sang làm ra cái mới để dùng.  Bước tiến lịch sử ấy gợi cho ý thức triết học nhận ra sự khác biệt cơ bản giữa hai trình độ phát triển giáo dục, thuộc hai nguyên lý khác nhau.  Một – Đưa đến cho trẻ em cái có sẵn và dạy cách dùng cái ấy. (Ngôn ngữ sư phạm là dạy kiến thức- vận dụng kiến thức).  Hai- Dạy cho trẻ em làm ra cái mới để dùng, dùng để:  – Học tiếp môn đó (làm ra cái mới cùng loại).  – Học cái mới thuộc loại khác (môn học khác).  – Dùng cho cuộc sống thực mỗi khi có thể.  Mỗi cái mới lịch sử đều ngang tầm triết học của thời đại mình.  Có thể dùng cày chìa vôi làm biểu trưng cho cả lịch sử lẫn triết học của nền giáo dục do Thầy Khổng Tử đề xướng, thực thi hàng ngàn năm, truyền lại cho đến nay.  Tôi dùng Công nghệ giáo dục (CNGD) để nói lý thuyết và để làm ra sản phẩm có thực, đặc trưng cho nền giáo dục hiện đại.  Trong mấy ngàn năm, các nhà viết sử lấy các triều đại làm mốc. Với mỗi triều đai, lịch sử chỉ thay vật liệu, vẫn nguyên vẹn một chất liệu ấy.  Tôi coi công cụ / máy móc sản xuất là các nhân tố vật chất làm biến đổi lịch sử, đặc trưng cho lịch sử.  Cuộc cách mạng đầu tiên, lịch sử thay cày chìa vôi bằng máy hơi nước, mang một giá trị triết học vĩ đại là thay sức mạnh cơ bắp bằng sức mạnh trí óc, thay kinh nghiệm bằng khoa học.      Sự sống, sức sống, lẽ sống… của Nghiệp vụ sư phạm CNGD là tổ chức quá trình thực tiễn cho mỗi em tự mình chiếm lĩnh Đối tượng, biến nó thành tài sản riêng của bản thân mình.      Cuộc cách mạng 1.0 này cấp sức mạnh vật chất lich sử dứt khoát vượt bỏ quá khứ động vật – phạm trù con, chuyển hẳn sang phạm trù Người.  Người, phạm trù Người, nhanh chóng vượt bỏ những gì do mình đã xác lập, sáng tạo ra cái mới – cái chưa hề có.  2.0 . Thay máy hơi nước bằng máy nổ.  3.0 . Thay máy nổ bằng máy tính.  4.0 . Thay máy tính bằng máy nghĩ (trí tuệ nhân tạo).  Môn học cho nền giáo dục hiện đại phải là một giải pháp nghiệp vụ có giá trị triết học đặc trưng cho lịch sử hiện đại.  Mỗi môn học cho một Đối tượng (hiểu là Đối tượng thuần khiết).   Đối tượng sinh thành, tồn tại, vận động, phát triển bằng chất liệu của nó, vật thể hóa nguyên lý triết học của thời đại.  Thiết kế môn học tôi dùng nguyên tắc phát triển, hiểu là thuận theo sự phát triển của Đối tượng, bắt đầu từ điểm xuất phát của trừu tượng.  Mỗi bước phát triển về sau vận động theo hướng cụ thể hơn.  Năng lượng cấp cho mỗi bước phát triển của Đối tượng cung cấp cho một bước phát triển của Trẻ em.  Sự phát triển của Đối tượng được CNGD triển khai một cách vật chất bằng một quá trình thực tiễn, có thể tổ chức và kiểm soát được bên ngoài đầu óc cá nhân.  Tư duy hiện đại có “cốt thép” vững chắc làm bằng khái niệm khoa học.  Mỗi khái niệm khoa học có cấu trúc tường minh:   – Các thành phần cấu thành, để tồn tại.  – Mỗi thành phần ở một vị trí xác định, đảm nhận một chức năng cụ thể, để vận hành.  Về toán học, ngàn đời nay, lịch sử chỉ có duy nhất trong kinh nghiệm của tuyệt đại đa số dân cư:   2+3=5  Học sinh lớp Hai trường Thực nghiệm còn có thêm cái – chưa-hề-có:  2+3=10; 2+3=11  Cả ba giải pháp đều đúng!  Tư duy giáo dục cổ truyền nếu chấp nhận một ngày đúng, thì một ngày kia sai!  Môn Tiếng Việt cổ truyền thường chịu một hậu quả truyền kiếp: Cuộc cải cách giáo dục 1985 có 650.000 học sinh lớp Một lưu ban.  Ngày nay, học sinh lớp 12 còn viết sai câu, tốt nghiệp đại học viết đơn xin việc sai ngữ pháp. Để chữa thẹn, thầy phao tin đồn:   Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam!   Ngày nay, học sinh lớp Một, không phân biệt được em sinh sống ở vùng đất nào, có đi mẫu giáo hay không, có ra khỏi thôn bản hay không, có nói được tiếng Việt hay không… miễn là 6 tuổi đến trường học Môn Tiếng Việt lớp Một CNGD thì cuối năm học, em đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả và không thể tái mù.  Học hết lớp Hai, em viết thành câu.  Học hết lớp Ba, em không bao giờ còn viết sai câu.  Giáo dục hiện đại làm ra sản phẩm tất yếu thì cũng như nền sản xuất hiện đại làm ra sản phẩm tất yếu bằng công nghệ thực thi.  Công nghệ giáo dục là một công nghệ như một Công nghệ sản xuất, làm ra sản phẩm tất yếu.  Sự sống, sức sống, lẽ sống… của Nghiệp vụ sư phạm CNGD là tổ chức quá trình thực tiễn cho mỗi em tự mình chiếm lĩnh Đối tượng, biến nó thành tài sản riêng của bản thân mình.  Đối tượng có năng lượng nhiều nhất cấp cho phát triển là khái niệm khoa học hiện đại (khái niệm khoa học đã phát triển đến trình độ hiện đại).  CNGD xác định một Đối tượng Môn Tiếng Việt lớp Một theo Chất liệu/ Vật liệu của nó.  Chất liệu thì hữu hạn.  Vật liệu thì vô hạn. □    Author                Hồ Ngọc Đại        
__label__tiasang Học giả Pháp giới thiệu quá trình “đánh thức” Lục Vân Tiên bằng tranh màu      “Bản thảo bộ truyện Lục Vân Tiên bằng tranh màu, sản phẩm của ‘cuộc gặp gỡ’ từ xa của bốn nhân vật lịch sử Nguyễn Đình Chiểu, Abel des Michel, Eugene Gibelt và Lê Đức Trạch là ‘duy nhất’, có giá trị lớn cả về lịch sử, mỹ thuật và văn hoá”.      TS. Olivier Tessier giới thiệu về quá trình “tái tạo” cuốn Lục Vân Tiên bằng tranh màu.  Đó là nhận định của TS. Olivier Tessier, Trưởng đại diện của Viện Viễn đông Bác cổ tại TP.HCM trong buổi ra mắt cuốn sách “Lục Vân Tiên cổ tích truyện” do ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) và Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tổ chức vào ngày 20/3 tại ĐH KHXH&NV Hà Nội.  Tại buổi ra mắt, các học giả Pháp và Việt Nam gồm GS. Michel Zink (Thư ký trọn đời của Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn chương Pháp), TS. Olivier Tessier, GS. Phan Huy Lê và GS. Trần Ngọc Vương (ĐH KHXH &NV Hà Nội) cùng giới thiệu về nguồn gốc lâu đời, quá trình phát hiện bản thảo cũng như phân tích giá trị lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ của có cuốn sách có số phận đặc biệt này.  GS. Phan Huy Lê giới thiệu quá trình “đánh thức” bản thảo đang nằm im lìm tại một thư khố ở Pháp. Vào năm 2011, trong một dịp tìm đọc tư liệu lịch sử Việt Nam tại các thư viện ở Pháp, ông được nghe giới thiệu một số tư liệu quý, trong đó có một bản thảo với những bức vẽ minh hoạ vô cùng tươi mới, đặc sắc, tinh tế, mặc dù đã được thực hiện cách đây hơn 100 năm. Ông nhớ lại: “Tôi thật sự ngạc nhiên khi tìm thấy cuốn sách có đề dòng chữ năm thứ nhất thời Đồng Khánh, ngay ở giữa có những câu thơ của Lục Vân Tiên bằng chữ Nôm, bốn phía xung quanh được minh hoạ bằng tranh một cách trung thành với nội dung tác phẩm. Sau cả thế kỷ nhưng màu sắc của cuốn sách vẫn còn nguyên vẹn”. Ngay sau đó ông đã bàn với các đồng nghiệp Việt Nam và Pháp cùng đánh giá về giá trị thẩm mỹ, sử liệu của tập bản thảo này. Đến năm 2016 thì bản thảo này được xuất bản thành sách với 2 tập: 1 bản gốc bằng chữ hán nôm, 1 bản bằng chữ quốc ngữ, có dịch bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và chú thích của các nhà nghiên cứu. “Như vậy cuốn sách đã được ‘thức tỉnh’, mang tới người đọc sau 112 năm ngủ quên”, GS Lê nói.  TS. Olivier Tessier, người giữ vai trò trưởng nhóm biên tập cuốn sách cũng giới thiệu với cử tọa về giá trị của tác phẩm và quá trình hợp tác giữa nhiều cơ quan nghiên cứu khác nhau để cùng phân tích bản thảo, chuyển ngữ tác phẩm và in ấn. “Bản thảo bộ truyện Lục Vân Tiên bằng tranh màu là sản phẩm của ‘cuộc gặp gỡ’ từ xa của bốn nhân vật lịch sử Nguyễn Đình Chiểu, Abel des Michel, Eugene Gibelt và Lê Đức Trạch là ‘duy nhất’, có giá trị lớn cả về lịch sử, mỹ thuật và văn hoá”, ông nói. Để tác phẩm độc nhất này tiếp cận được với người đọc, các nhà nghiên cứu lịch sử ở Viện Viễn đông Bác cổ, Viện Hàn lâm văn khắc và văn chương Pháp, ĐH KHXH&NV Hà Nội đã cùng phân tích, dịch trong suốt hơn 3 năm. Riêng phần dịch sang tiếng Anh, nhóm nghiên cứu đã nhận được sự hỗ trợ dịch thuật rất lớn từ Lãnh sự quán Mỹ tại TP. HCM.  TS. Tessier cho biết, trong thời gian tới, Viện Viễn Đông bác cổ sẽ tiến hành các dự án nghiên cứu, chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Pháp và tiếng Anh đối với một số tác phẩm có giá trị khác nữa để tiếp tục giới thiệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam rộng rãi hơn tới giới học thuật và công chúng quốc tế.    Phần chữ nôm của cuốn sách.  Hành trình hơn một thế kỷ của bản thảo Lục Vân Tiên bằng tranh màu:   Tác phẩm truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đã được dịch sang tiếng Pháp từ năm 1864. Dựa trên bản in tiếng Pháp của Abel de Michel, viên sĩ quan hải quân Pháp Eugene Gibert nảy ra ý tưởng phác họa tác phẩm bằng tranh màu và giao cho Lê Đức Trạch, một họa sĩ của triều đình Huế thực hiện tác phẩm truyện thơ bằng tranh màu trong khoảng thời gian 1895 -1897. Trở về Pháp, ông đã trao tặng tác phẩm này cho Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp vào năm 1899. Kể từ đó trong suốt hơn 110 năm, bản thảo nằm im lìm trong thư viện Viện hàn lâm Pháp, cho đến năm 2011 được Giáo sư Phan Huy Lê phát hiện. Với mong muốn giúp công chúng hiểu rõ giá trị đặc biệt về khoa học và mỹ thuật của bản thảo Truyện thơ Lục Vân Tiên bằng tranh màu, hai nhà nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác cổ là TS. Pascal Bourdeaux và TS. Oliver Tessier đã tiến hành biên tập, chú giải để công bố bản thảo này bằng 3 ngôn ngữ: Việt-Anh-Pháp với nhan đề “Lục Vân Tiên cổ tích truyện” (2 tập) và xuất bản vào năm 2016 (nhà xuất bản văn hóa văn nghệ TP.HCM ấn hành).    Author                Bảo Như        
__label__tiasang AI giúp chống tình trạng kháng kháng sinh ở gà      Các nhà khoa học đã sử dụng học máy để tìm những con đường mới có khả năng nhận diện và điểm ra các bệnh dịch trong các trang trại gia cầm, qua đó giúp giảm thiểu nhu cầu sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh và làm giảm mức độ rủi ro kháng kháng sinh được vận chuyển sang người.    Nghiên cứu này, xuất bản trên tạp chí The ISME Journal, do tiến sĩ Tania Dottorini của trường Thú y, Đại học Nottingham dẫn dắt, “Dissecting microbial communities and resistomes for interconnected humans, soil, and livestock” (Phân tích chi tiết các quần xã vi khuẩn và các resistome cho mối liên kết nối người, đất và vật nuôi) 1.  Sự gia tăng nhanh chóng số lượng gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng ở Trung Quốc đã dẫn đến tình trạng sử dụng kháng sinh trên diện rộng và không kiểm soát trong các trang trại. Hiện trạng này đến lượt nó làm gia tăng các trường hợp được chẩn đoán là kháng thuốc (AMR) đáng lo ngại ở động vật và có tiềm năng lan sang người qua đường tiếp xúc trực tiếp, ô nhiễm môi trường và ăn uống.  Với tình trạng kháng kháng sinh đã trở thành một trong những vấn đề nguy hiểm toàn cầu, các chẩn đoán nhanh và hiệu quả lây nhiễm vi khuẩn trong gà nuôi trang trại có thể làm giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh, và giảm khả năng lây lan bệnh dịch cũng như AMR.  Trong dự án này, các nhà nghiên cứu ở Nottingham đã thu thập các mẫu lấy từ động vật, người và môi trường ở một trang trại gà ở Trung Quốc và nơi giết mổ. Dữ liệu lớn và phức tạp này đã được phân tích cho các chỉ thị sinh học chẩn đoán mới sẽ giúp dự đoán và dò được lây nhiễm do vi khuẩn gây ra, sự xuất hiện của AMR, và chuyển sang người. Dữ liệu này sẽ cho phép can thiệp sớm và điều trị, giảm thiểu sự lan truyền và nhu cầu về kháng sinh.  Nghiên cứu này đã đem lại ba phát hiện chính. Đầu tiên, một số gene kháng kháng sinh có liên quan về mặt lâm sàng (ARGs) và các yếu tố di truyền cơ động liên kết (các gene kháng kháng sinh có khả năng di chuyển trong các hệ gene và vi khuẩn) đã được tìm thấy ở cả mẫu người và gà thịt. Cụ thể, 11 loại gene kháng kháng sinh quan trọng về mặt lâm sàng, với việc bảo vệ các cấu trúc gene ARG di chuyển được tìm thấy từ các vật chủ khác nhau. Tiến sĩ Dottorini nói “Những điểm tương đồng có thể đã bị bỏ qua nếu như chúng tôi chỉ sử dụng phân tích so sánh thông thường trên quy mô lớn, vốn chứng tỏ trên thực tế là hệ vi sinh vật và các resistome – những gene kháng thuốc ở cả các vi khuẩn gây bệnh và không gây bệnh, đều khác biệt trong những môi trường khác nhau và vật chủ khác nhau. Về tổng thể, phát hiện này cho thấy sự phù hợp xác đáng của việc áp dụng cách phân tích đa tỉ lệ khi phân tách sự tương đồng và khác biệt của các resistome và hệ vi sinh vật trong những môi trường có mối liên kết phức tạp”.  Thứ hai, nghiên cứu cho thấy bằng việc phát triển một cách tiếp cận học máy hiệu quả tích hợp với dữ liệu hệ gene lớn với các phương pháp sinh học phân tử, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy sự tồn tại của các resistome đường ruột gà có tương quan với sự lưu hành AMR trong các trang trại. Các kết quả đó hỗ trợ giả thuyết những tương quan tồn tại giữa các kiểu hình kháng của vi sinh vật hội sinh đơn lẻ và vi khuẩn mang mầm bệnh và các kiểu ARGs trong resistome ở nơi chúng tồn tại.  Cuối cùng, bằng việc sử dụng công nghệ cảm biến và trí tuệ nhân tạo (AI), nhóm nghiên cứu đã khám phá ra là các resistome lõi liên quan đến ARGs đều liên kết chính nó với vô số nhân tố bên ngoài như nhiệt độ và độ ẩm.  Tiến sĩ Dottorini nói, “Ngành công nghiệp thực phẩm đã trở thành một khách hàng lớn của kháng sinh nhưng rủi ro AMR bên trong những môi trường đó vẫn chưa được hiểu biết một cách đầy đủ. Do đó cần thiết để triển khai nhiều nghiên cứu và cải thiện các phương pháp tối ưu các môi trường sống, nơi sự tiếp xúc của vật nuôi và con người, có thể là quá gần. Việc vận hành các trang trại chính xác, giải trình tự DNA hiệu quả về chi phí và sự áp dụng ngày một gia tăng của các công nghệ học máy đem đến những cơ hội phát triển các phương pháp đã đem đến một hiểu biết sâu sắc hơn và định tính hơn về các rủi ro AMR trong các môi trường trang trại”.  Nguyễn  Nhàn tổng hợp   Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-scientists-machine-antibiotic-resistance-farmed.html  https://chile.detailzero.com/health/47820/They-use-%E2%80%98machine-learning%E2%80%99-to-help-combat-antibiotic-resistance-in-farm-chickens.html  ——————————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41396-022-01315-7    Author                .        
__label__tiasang Học máy giúp nhận diện được môi trường ưa thích của vi sinh vật      Các nhà nghiên cứu đã xác định được cách dự đoán sự ưa thích độ pH môi trường của các loại vi khuẩn từ một cái nhìn nhanh vào hệ gene của chúng bằng học máy.     Dẫn dắt nghiên cứu này là các nhà khoa học ở trường đại học Colorado Boulder. Cách tiếp cận mới đã chứng tỏ nhiều hứa hẹn trong việc hướng dẫn các nỗ lực phục hồi sinh thái, nông nghiệp và thậm chí là phát triển những probiotics có lợi cho sức khỏe.  “Chúng tôi biết là trong bất kỳ môi trường nào cũng có cả tấn vi khuẩn có những chức năng sinh thái vô cùng quan trọng nhưng môi trường ưa thích của chúng như thế nào vẫn còn là điều bí ẩn”, Noah Fierer, một nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Các khoa học môi trường Cooperative (CIRES) và giáo sư sinh thái và sinh học tiến hóa tại CU Boulder, cho biết. “Ý tưởng là sử dụng kỹ thuật này để xác định các vấn đề cơ bản trong lịch sử tự nhiên của chúng”.  Hiểu về việc liệu các vi khuẩn này có hoàn toàn ưa thích các môi trường có nhiều a xít, trung hòa a xít hay các môi trường cơ bản thuận lợi cho sự sống mới chỉ là bước đầu tiên, tác giả thứ nhất của công bố là Josep Ramoneda, một nhà nghiên cứu có học bổng trao đổi tại CIRES nói. “Anh có thể sử dụng cách tiếp cận này để dự đoán cách các vi sinh vật sẽ thích ứng với hầu hết mọi thay đổi môi trường như thế nào. Ví dụ như mực nước biển dâng đang khiến xâm nhập mặn vào vùng đầm lầy ven biển. Chúng tôi có thể biết trước được cách các vi sinh vật sẽ phản hồi như thế nào với những thay đổi môi trường đó”.  Công trình mới đã được xuất bản trên tạp chí Science Advances, các đồng tác giả bao gồm những nhà nghiên cứu từ CIRES, CU Boulder cũng như đồng nghiệp của họ ở Canada 1.  Nghiên cứu sinh Corinne Walsh đang kiểm tra các mẫu đất chứa vi sinh vật liên quan đến cây lúa mì. Cách tiếp cận học máy có thể hỗ trợ các nhà sinh thái học vi khuẩn như Walsh xác định được môi trường ưa thích của các vi khuẩn từ việc nhìn vào hệ gene của chúng, khiến cho những nghiên cứu trong một số phòng thí nghiệm thêm hiệu quả hơn và khoa học nông nghiệp thêm thanh công. Nguồn: Cooperative Institute for Research in Environmental Sciences (2020)  Các vi sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn, đều có những chức năng tối quan trọng với các hệ sinh thái; giúp cây trồng tăng trưởng, tăng cường chu trình dinh dưỡng trong các hồ đập, thập chí hỗ trợ cả sự tiêu hóa của con người. Nhưng thông thường, khó có thể phân lập và nuôi cấy chúng trong phòng thí nghiệm, vì vậy chúng ta thường biết rất ít về chúng, Ramoneda và Fierer nói – ngoại trừ việc bổ cập di truyền của chúng. Kỹ thuật “đánh bắt” di truyền trong vài thập kỷ gần đây đã đem lại những cơ sở dữ liệu hệ gene của vi khuẩn tăng trưởng theo hàm mũ 2.  Vì vậy nhóm nghiên cứu đã thu được hiểu biết về một số nhóm vi khuẩn,  Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã dựa trên những gì các nhà khoa học biết về một số nhóm vi khuẩn phát triển mạnh ở độ pH cụ thể này hay độ pH khác, sau đó sử dụng công nghệ học máy để liên kết sở thích về độ pH môi trường của các nhóm đó với cấu trúc di truyền của chúng. Công việc liên quan đến việc phân loại bộ gen của hơn 250.000 loại vi khuẩn từ gần 1.500 mẫu đất, hồ và suối. “Những gì chúng tôi tìm thấy là chúng tôi có thể tạo ra sự tương quan về độ pH ưa thích của chúng dựa trên chỉ dữ liệu hệ gene”, Ramoneda nói. Với các nhà khoa học, một trong những gợi ý sát sườn của các phát hiện này là có thể giúp họ nuôi các quần thể vi khuẩn rất khó tính mà từ trước đến nay họ chưa làm được, bằng việc trao cho chúng một dự đoán về độ pH. Nếu phải mất nhiều năm để xác định ra cách “nuôi cấy” vi khuẩn thì giờ họ có thể làm trong phòng thí nghiệm và phương pháo học máy có thể đem đến một cách xử lý hiệu quả hơn, Fierer nói.  Các chuyên gia nông nghiệp và lâm nghiệp cũng thường đưa thêm các vi khuẩn sống vào để thúc đẩy tăng trưởng của cây cối với sự hỗ trợ của các cộng đồng vi khuẩn, Ramoneda nói. Hiện tại, họ có thể có những cái nhìn sâu hơn, nhanh hơn vào các dạng vi khuẩn có thể giúp phục hồi một cây cỏ bản địa với các rừng thông, hoặc tăng trưởng các loài ngô, đậu tương, bằng việc đảm bảo là những loài vi khuẩn được cấy vào môi trường này sẽ phù hợp với độ pH của môi trường.  Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu lên kế hoạch cố gắng có cái nhìn sâu hơn về độ ưa thích về nhiệt độ của vi khuẩn, một hệ sinh thái phức tạp bao gồm rất nhiều gene khác nhau. Điều này có thể giúp họ hiểu tốt hơn cách nhiệt độ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các quần thể vi khuẩn trong đất.“Giải pháp thay thế là cố gắng nuôi chúng trong các phòng thí nghiệm và điều đó thật lấy rất nhiều thời gian và công sức”, Fierer nói.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-machine-scientists-environmental-microbes.html  https://cires.colorado.edu/news/press/crowdsourcing-earths-magnetic-field/  https://cires.colorado.edu/news/machine-learning-helps-scientists-identify-environmeal-preferences-microbes  ——————————————————–  1. https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.adf8998  2. https://phys.org/news/2018-01-global-atlas-bacteria-dirt.html    Author                .        
__label__tiasang Học máy kết hợp với hình ảnh hồng ngoại đa phổ để hướng dẫn phẫu thuật ung thư      Việc loại bỏ các khối u bằng phẫu thuật vẫn còn là một công đoạn trong chuỗi hành động thông thường của điều trị ung thư, với khoảng 45% bệnh nhân ung thư phải chịu đựng phẫu thuật. Nhờ có tiến triển gần đây trong các công nghệ hình ảnh và sinh hóa, các nhà phẫu thuật có thể phân biệt tốt hơn các khối u với mô lành. Đặc biệt, có thể thực hiện bằng một kỹ thuật mà người ta gọi là “phẫu thuật do huỳnh quang hướng dẫn” (FGS).     Trong FGS, các mô của bệnh nhân được nhuộm với một màu phát ra ánh sáng hồng ngoại với một nguồn sáng cụ thể. Chất màu này thích gắn với bề mặt của các tế bào của khối u, vì vậy các phát xạ sóng ánh sáng đem lại thông tin về vị trí và sự mở rộng của khối u. Trong các cách tiếp cận dựa vào FGS thông dụng nhất, cường độ tuyệt đối của các phát xạ hồng ngoại được sử dụng như nguồn tiêu chuẩn chính cho thấy rõ các pixel phản hồi với khối u. Tuy nhiên, cường độ này lại quá nhạy với các điều kiện ánh sáng, sắp đặt camera, lượng màu được sử dụng, và thời gian sau nhuộm. Kết quả là, sự phân loại dựa vào cường độ lại tạo ra các diễn dịch sai.  Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể thay vì sử dụng cách tiếp cận phụ thuộc vào cường độ để phân loại các tế bào lành và ung thư? Một nghiên cứu mới xuất bản trên Journal of Biomedical Optics do nhà nghiên cứu Dale J. Waterhouse trường College London, Anh, đã đề xuất một cách tiếp cận mới 1. Nhóm nghiên cứu đã phát triển một kỹ thuật mới kết hợp cả học máy với hình ảnh huỳnh quang hồng ngoại bước sóng ngắn (SWIR) để dò chính xác các biên giới của khối u.  Phương pháp của họ phụ thuộc vào việc nắm bắt các hình ảnh SWIR đa phổ của mô được nhuộm thay vì đo đạc đơn giản mật độ tổng trên một bước sóng cụ thể. Họ đã đặt liên tục sáu tấm lọc tần số có bước sóng khác nhau trên hệ quang SWIR của mình và ghi sáu đo đạc cho từng pixel. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu tạo ra một hồ sơ phổ cho từng loại pixel. Bước tiếp theo, họ huấn luyện bảy mô hình học máy nhận diện các hồ sơ đó một cách chính xác trong những bức ảnh SWIR đa phổ.  Các nhà nghiên cứu đã huấn luyện và đánh giá các mô hình in vivo, sử dụng các hình ảnh SWIR với một mô hình phòng thí nghiệm cho dạng khối u nguyên bào thần kinh. Họ cũng so sánh các cách tiếp cận thông thường khác hướng đến việc phân loại các pixel độc lập với cường độ tuyệt đối được điều tiết bằng hồ sơ phổ của pixel đó.  Trong số bảy mô hình thử nghiệm đó, mô hình xuất sắc nhất đạt được một sự phân loại từng pixel chính xác tới 97,5% (độ chính xác về khối u, tình trạng khỏe mạnh và nền của các pixel là 97,1%, 93,5%, và 99,2%). Tuy nhiên, nhờ vào sự tiêu chuẩn hóa của các hồ sơ phổ, các kết quả đó của mô hình nổi trội hơn so với những thay đổi trong các điều kiện hình ảnh. Đó là một đặc tính đáng mong muốn với các ứng dụng lâm sàng do các điều kiện lý tưởng trong các công nghệ hình ảnh mới thường được thử nghiệm lại không đại diện cho môi trường lâm sàng trong thế giới thực.  Dựa trên những phát hiện mới của mình, nhóm nghiên cứu hi vọng cho phương pháp mới được đề xuất này. Họ chờ đợi một nghiên cứu ở quy mô thử nghiệm về những cải thiện của nó trên các bệnh nhân thực để có thể giúp cách mạng hóa lĩnh vực FGS. Thêm vào đó, FGS   đa phổ có thể được mở rộng ngoài phạm vi của nghiên cứu này. Ví dụ, có thể sử dụng để loại bỏ khỏi hình ảnh ánh sáng phẫu thuật hoặc ánh sáng nền, loại bỏ những phản xạ không mong muốn, cung cấp các cách không xâm lấn cho đo đạc dung tích lipid và sự bão hòa oxygen. Tuy nhiên, các hệ đa phổ cho phép sử dụng các chất nhuộm đa huỳnh quang với những đặc điểm phát xạ khác nhau một cách song song, kể từ khi các tín hiệu từ mỗi màu có thể gỡ khỏi toàn bộ các đo đạc dựa trên các hồ sơ phổ. Các chất màu có thể được sử dụn để hướng đích các khía cạnh của bệnh tật, đem lại cho các bác sĩ phẫu thuật những thông tin chi tiết hơn, chính xác hơn.  Có thể cần thực hiện những nghiên cứu trong tương lai để khám phá đầy đủ các tiềm năng của FGS đa phổ, mở ra các cánh cửa cho các chuỗi phẫu thuật hiệu quả hơn trong điều trị ung thư và các loại bệnh khác.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-03-machine-combined-multispectral-infrared-imaging.html  https://www.spie.org/news/machine-learning-combines-with-multispectral-infrared-imaging-to-guide-cancer-surgery?SSO=1  ——————————————–  1.https://www.spiedigitallibrary.org/journals/journal-of-biomedical-optics/volume-28/issue-09/094804/Enhancing-intraoperative-tumor-delineation-with-multispectral-short-wave-infrared-fluorescence/10.1117/1.JBO.28.9.094804.full?SSO=1    Author                .        
__label__tiasang Học máy khám khá “các gene quan trọng” trong y học và nông nghiệp      Học máy có thể điểm ra “những gene quan trọng” có thể giúp đem về những mùa bội thu dù không cần nhiều phân bón, theo một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Nature Communications. Nó cũng có thể dự đoán những đặc tính của cây trồng và bệnh tật của các loài vật, xác định được những ứng dụng vượt ngoài phạm vi nông nghiệp.      Sử dụng dữ liệu hệ gene để dự đoán các kết quả có thể đạt được trong nông nghiệp và y học là sự thách thức lẫn hứa hẹn với các hệ thống sinh học. Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào tìm hiểu để xác định cách sử dụng một lượng lớn dữ liệu hệ gene sẵn có để dự đoán cách các cơ quan sinh học phản hồi những thay đổi về dinh dưỡng, độc tố và sự phơi nhiễm mầm bệnh – vốn có thể đưa đến việc cải thiện vụ mùa, dự đoán bệnh tật, miễn dịch và y tế công cộng. Tuy nhiên, việc dự đoán một cách chính xác nhiều kết quả phức tạp trong nông nghiệp và y học từ thông tin hệ gene ở quy mô lớn vẫn còn là một thách thức khó vượt qua.  Trong công trình xuất bản trên Nature Communications “Evolutionarily informed machine learning enhances the power of predictive gene-to-phenotype relationships” (Học máy có khả năng đem lại thông tin mang tinh cách mạng làm tăng cường dự đoán các mối quan hệ kiểu gene đến kiểu hình”, các nhà nghiên cứu NYU và cộng sự ở Mỹ, Đài Loan đã giải quyết thách thức này bằng cách sử dụng học máy, một dạng của trí tuệ nhân tạo để dò các mẫu hình trong dữ liệu 1.  “Chúng tôi đã chứng tỏ rằng việc tập trung vào những gene có biểu hiện các mẫu hình có khả năng bảo tồn khắp các loài mang tính hỗ trợ khả năng của chúng tôi trong việc học và dự đoán “các gene quan trọng” trong việc tăng trưởng hiệu suất cho các mùa vụ chính, cũng như bệnh dịch với loài vật”, Gloria Coruzzi, giáo sư danh hiệu Carroll & Milton Petrie tại Khoa Sinh học và Trung tâm Hệ gene và Sinh học hệ thống NYU cũng như tác giả liên hệ của công trình, nói.  “Cách tiếp cận của chúng tôi là khai thác những biến thể tự nhiên của biểu hiện rộng khắp trong hệ gene là liên hệ với các kiểu hình bên trong hoặc khắp các loài”, Chia-Yi Cheng của Trung tâm nghiên cứu Hệ gene và Sinh học hệ thống NYU và trường Đại học Đài Loan, tác giả thứ nhất của công trình, cho biết. “Chúng tôi chứng tỏ rằng việc giảm dần dữ liệu đầu vào hệ gene cho các gene có các mẫu hình biểu hiện được bảo tồn trong và giữa các loài là một cách mang tính nguyên tắc sinh học để giảm thiểu kích thước của dữ liệu hệ gene, điều này giúp cải thiện đáng kể năng lực của các mô hình học máy trong việc nhận biết những gene nào quan trọng với một đặc tính sinh học”.  Với một nguyên tắc như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh các gene phản hồi với nitrogen được bảo tồn về mặt tiến hóa giữa hai loài cây khác nhau – Arabidopsis, một thực vật có hoa nhỏ được sư dụng rộng rãi như một mô hình sinh vật trong sinh học cây trồng, và vô số giống ngô, một cây lương thực được trồng rộng rãi bậc nhất ở Mĩ – đã cải thiện một cách đáng kể năng lực của các mô hình học máy để dự đón các gene quan trọng với các loại thực vật sử dụng nitrogen hiệu quả như thế nào. Nitrogen là dưỡng chất cốt lõi cho thực vật và là hợp phần chính của phân bón; vụ mùa được bón nitrogen tăng trưởng nhanh hơn và cần ít phân bón hơn, do đó đem lại nhiều lợi ích kinh tế và môi trường.  Các nhà nghiên cứu thực hiện thí nghiệm đã đánh giá tám loại nhân tố phiên mã chính như các gene then chốt cho việc sử dụng nitrogen hiệu quả. Họ chứng tỏ rằng, việc thay đổi biểu hiện gene trong Arabidopsis hay ngô có thể làm tăng sự tăng trưởng cây trồng trong điều kiện đất có lượng nitrogen thấp, vốn được họ kiểm tra cả trong phòng thí nghiệm của NYU và ngoài đồng ngô ở trường đại học Illinois.  “Giờ thì chúng tôi có thể dự đoán một cách chính xác ngô lai nhỉnh hơn trong việc sử dụng phân bón nitrogen trong trồng trọt, chúng tôi có thể cải thiện một cách nhanh hơn đặc tính này. Gia tăng việc sử dụng hiệu quả của nitrogen trong ngô và những vụ mùa khác cho thấy ba lợi ích chính là giảm chi phí đầu tư của nông dân, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát thải ít khí nhà kính từ nông nghiệp”, Stephen Moose, giáo sư danh hiệu Alexander về khoa học nông nghiệp tại trường đại học Illinois tại Urbana-Champaign, nói.  Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, cách tiếp cận học máy truyền thông tin mang tính cách mạng có thể áp dụng để tìm các đặc tính khác và trên nhiều loại bằng việc dự đoán các đặc tính có thêm trong thực vật, bao gồm lượng sinh khối và năng suất của cả Arabidopsis và ngô. Họ cũng chứng tỏ cách tiếp cận này có thể dự đoán được các gene then chốt với khả năng chịu han ở những vụ mùa chính như lúa gạo cũng như các loại bệnh tật của động vật thông qua nghiên cứu các mô hình chuột. “Bởi vì chúng tôi chứng tỏ hệ thông tin mang tính tiến hóa của chúng tôi cũng có thể áp dụng được trên động vật, nó nhấn mạnh vào tiềm năng phát hiện ra các gene quan trọng đối với bất kỳ đặc tính sinh lý hoặc lâm sàng nào được quan tâm trong lĩnh vực sinh học, nông nghiệp hoặc y học”, Coruzzi nói.  “Nhiều đặc tính chính của nông học hoặc lâm sàng đều rất phức tạp về mặt di truyền và cho đến giờ vẫn còn quá phức tạp để có thể kiểm soát chúng. Thành công của chúng tôi chứng tỏ là big data và việc tư duy ở cấp độ hệ thống có thể giúp giải quyết những thách thức phức tạp này”, Ying Li, Khoa Trồng trọt và kiến trúc cảnh quan tại Đại học Purdue, nhận xét.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-machine-uncovers-genes-importance-agriculture.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/929111  —————————  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-25893-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy mở ra khả năng mới cho các thiết bị lượng tử      Các nhà khoa học tại trường đại học Oxford, trong hợp tác với đồng nghiệp trường đại học Basel và Lancaster, đã phát triển một thuật toán có thể sử dụng để đo đạc các chấm lượng tử một cách tự động.         Đồ họa nghệ thuật việc điện áp tác động vào các cấu trúc nano theo thứ tự để bẫy các electron đơn lẻ trong một chấm lượng tử. Nguồn: Khoa vật lý, trường đại học Basel  Spin electron của các electron đơn lẻ trong các chấm lượng tử có thể đảm nhiệm vị trí như các đơn vị thông tin nhỏ nhất trong máy tính lượng tử. Xuất bản trên npj Quantum Information, các nhà khoa học đã miêu tả cách chúng có thể gia tăng tốc độ của quá trình xử lý vốn đòi hỏi nhiều thời gian với sự hỗ trợ của học máy.  Cách tiếp cận của họ, với mục tiêu đo đạc và kiểm soát tự động các bit lượng tử, đã nêu được một bước tiến quan trọng cho ứng dụng trên quy mô lớn mà họ đề ra.  TS. Natalia Ares từ Khoa Khoa học vật liệu, trường đại học Oxford nói: “Lần đầu tiên, chúng tôi đã ứng dụng học máy để thực hiện các đo lường hiệu quả các chấm lượng tử arsenua gali, bằng cách đó cho phép đặc tính hóa một dãy các thiết bị lượng tử”.  Giáo sư Dominik Zumbühl của trường đại học Basel cho rằng: “Bước tiếp theo của phòng thí nghiệm chúng tôi là ứng dụng phần mềm này cho các chấm lượng tử bán dẫn làm từ các vật liệu khác có khả năng phù hợp hơn cho phát triển máy tính lượng tử. “Với công trình này, chúng tôi đã có một đóng góp quan trọng để tiến một bước tới những kiến trúc bit lượng tử trên quy mô lớn”.  Trong nhiều năm qua, spin electron của các electron đơn lẻ trong một chấm lượng tử được coi là một ứng cử viên lý tưởng cho đơn vị thông tin nhỏ nhất trong một máy tính lượng tử, hay còn gọi là bit lượng tử. Trong các chấm lượng tử được làm từ các vật liệu bán dẫn phân lớp, các electron đơn lẻ được giữ lại trong một “cái bẫy”. Spin của chúng có thể được xác định một cách xác thực và chuyển mạch một cách nhanh chóng, với các nhà nghiên cứu thì việc giữ các electron dưới quyền kiểm soát bằng việc đưa các điện áp vào các cấu trúc nano khác nhau trong cái bẫy đó. Giữa những thứ khác, điều này cho phép họ kiểm soát số lượng các electron từ một ổ chứa đi vào chấm lượng tử bằng hiệu ứng đường hầm. Tại đây, ngay cả những thay đổi nhỏ trong điện áp cũng có ảnh hưởng đáng kể lên các electron này.  Với từng chấm lượng tử, các điện áp ứng dụng phải được điều chỉnh một cách cẩn thận theo thứ tự để đạt được các điều kiện tối ưu. Khi phần lớn các chấm lượng tử được kết hợp theo tỷ lệ trong thiết bị đó lên đến một số lượng lớn bit lượng tử, quá trình tạo sự ăn khớp này đòi hỏi nhiều thời gian bởi vì các chấm lượng tử bán dẫn không hoàn toàn đồng nhất và phải được đặc tính hóa một cách riêng biệt cho từng cái.  Thuật toán mang tính đột phá này sẽ hỗ trợ để tự động hóa quá trình này. Cách tiếp cận học máy của các nhà khoa học làm giảm bớt thời gian đo lường và số lượng đo lường trong sự đối sánh với việc tiếp nhận dữ liệu thông thường.  Các nhà khoa học đã huấn luyện thuật toán này với dữ liệu từ dòng điện chảy qua chấm lượng tử tại các điện áp khác. Giống như công nghệ ghi nhận khuôn mặt, phần mềm này có thể học hỏi ở nơi cần các đo đạc với mong muốn đạt đến việc gia tăng thông tin ở mức cao nhất. Hệ này sau đó có thể trình diễn những đo đạc và lặp lại quá trình xử lý cho đến khi đạt được các tiêu chí đã được xác định và chấm lượng tử có thể được sử dụng như một bit lượng tử.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-machine-possibilities-quantum-devices.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy tăng tốc độ tổng hợp các vật liệu xốp      Những phản ứng hóa học thất bại thường ít được biết đến nên một lượng lớn dữ liệu này sẽ bị lãng phí. Các thí nghiệm cho thấy học máy có thể sử dụng dữ liệu đó để tối ưu hóa phản ứng tổng hợp vật liệu xốp.      Trực giác thường dẫn dắt sự lựa chọn của chúng ta trong suốt cuộc đời. Trong khoa học, trực giác cũng có vai trò trong việc thiết kế các thí nghiệm để trả lời hoặc thăm dò một câu hỏi mà chúng ta quan tâm. Chẳng hạn, nó hướng dẫn các nhà hóa học chọn một bộ thuốc thử, những phản ứng hoặc những điều kiện cụ thể để chuẩn bị thực hiện tổng hợp một hợp chất đích. Nhóm nghiên cứu do Moosavi, một nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm mô phỏng phân tử, trường Bách khoa Liên bang Lausanne, Thụy Sĩ, làm trưởng nhóm đã xuất bản một công bố trên tạp chí Nature Communicatons về việc sử dụng học máy để nắm bắt loại trực giác này và tối ưu hóa phản ứng tổng hợp một loại vật liệu là vật iệu khung hữu cơ kim loại (MOFs), vốn có nhiều ứng dụng như lưu trữ nhiên liệu, làm chất xúc tác hoặc hấp thu nước từ khí quyển.  Vật liệu khung hữu cơ-kim loại (MOFs) được tạo thành từ các cầu nối hữu cơ và các tâm kim loại (làm điểm kết nối). MOFs có những tính chất độc đáo như có cấu trúc tinh thể, diện tích bề mặt riêng lớn, khung cấu trúc linh động, có thể thay đổi kích thước, hình dạng lỗ xốp và đa dạng nhóm chức hóa học bên trong lỗ xốp.  Để tạo ra MOF, các “nút” vô cơ được kết nối với các phân tử “liên kết” hữu cơ. Có thể tưởng tượng những vật liệu này như những khung chứa các phân tử, trong đó cầu nối là các thanh kim loại và các nút là điểm kết nối – chỗ những thanh kim loại được ghép lại với nhau. MOF có cấu trúc phân tử lớn, mở rộng và nhiều không gian trống, giúp chúng trở thành vật liệu xốp nhất trong số các vật liệu từng được tổng hợp (diện tích bề mặt riêng lớn), đây là nền tảng cho nhiều ứng dụng tiềm năng của MOF.  Sự dạng của các “cầu nối” và “nút” sẵn có khiến số lượng vật liệu MOF có thể tạo ra gần như vô hạn – hàng ngàn vật liệu MOF đã được tổng hợp hợp trong 20 năm qua, thậm chí có thể nhiều hơn. Tuy nhiên, trong mỗi báo cáo về kết quả tổng hợp MOF, đã có hàng chục (thậm chí là hàng trăm hoặc hàng ngàn) các phản ứng bị thất bại, không tạo ra được vật liệu như mong muốn. Lượng dữ liệu về các phản ứng thất bại này có thể được sử dụng để dự đoán và tối ưu hóa các nghiên cứu tổng hợp MOF trong tương lai.  Để cố gắng tái tạo, từ đó nắm bắt loại thông tin không được công bố này, Moosavi và nhóm nghiên cứu đã sử dụng một hệ thống robot để thực hiện một loạt các thí nghiệm nhằm khám phá tác động của những điều kiện phản ứng khác nhau – thay đổi về dung môi, nhiệt độ, nồng độ chất phản ứng,… – trong quá trình tổng hợp vật liệu MOF có chứa đồng (HKUST-1). Robot này có thể thực hiện 30 phản ứng mỗi ngày, nhờ đó họ có thể thu được một tập hợp dữ liệu điều kiện để các phản ứng thành công hoặc thất bại. Dữ liệu sau đó được xử lý bằng một thuật toán bắt chước các quá trình di truyền và tiến hóa: mỗi lần lặp của thuật toán sẽ tạo ra áp lực lựa chọn cho dữ liệu – để chọn ra những điều kiện phù hợp nhất.  Moosavi và đồng nghiệp đã thực hiện 30 thí nghiệm theo 3 lần riêng biệt, trong đó sử dụng thuật toán đó và chất lượng của các mẫu MOF được tạo ra trong mỗi lần để hướng dẫn cho những lần tiếp theo. Do đó, các tác giả đã xác định được một quy trình tối ưu hóa để tạo ra HKUST-1, một vật liệu dẻo có độ kết tinh tuyệt vời và độ tinh khiết pha (đo tỷ lệ các dạng tinh thể khác nhau có trong vật liệu) và diện tích bề mặt lớn – tất cả là đặc tính mong muốn cho các ứng dụng của MOF. Thông thường, chỉ có những điều kiện tối ưu hóa mới được công bố trong tài liệu, tất cả dữ liệu về những phản ứng khác sẽ được lưu trữ trong một cuốn sổ tay, không được quan tâm (hoặc thời nay là bị chôn vùi trong kho lưu trữ kỹ thuật số của một cuốn sổ tay điện tử).  Thay vào đó, Moosavi và nhóm nghiên cứu đã sử dụng học máy để phân tích các phản ứng thất bại. Bằng cách này, họ đã xác định các tham số phản ứng có ảnh hưởng lớn nhất tới chất lượng của những vật liệu MOF được tạo ra. Ví dụ, các tác giả phát hiện được rằng sự thay đổi nhiệt độ phản ứng có ảnh hưởng lớn tới độ kết tinh và diện tích bề mặt hơn là hệ số tỷ lượng của các “cầu nối” và các “nút” trong phản ứng. Bằng cách xếp hạng và phân tích tầm quan trọng tương đối của 9 chỉ số phản ứng, các tác giả đã tạo ra thông tin tương tự như trực giác mách bảo của một nhà hóa học.  Moosavi và các đồng nghiệp đã sử dụng “trực giác hóa học” này để triển khai phản ứng tổng hợp Zn-HKUST-1 – một vật liệu MOF tương tự như HKUST-1, nhưng có các “nút” kẽm chứ không phải “nút” đồng. Điều này có vẻ không có gì là khó khăn, đặc biệt khi đồng và kẽm khá giống nhau về tính chất hóa học. Tuy nhiên, các tác giả đã nhận thấy rằng 10 điều kiện phản ứng được sử dụng nhiều nhất để tổng hợp HKUST-1 đều thất bại khi áp dụng với Zn-HKUST-1. Đây là một khó khăn lớn đối với các nhà hóa học, thông thường họ sẽ phải tính toán lại từ đầu, thử nghiệm nhiều tập hợp điều kiện phản ứng khác nhau.  Ngược lại, Moosavi và nhóm nghiên cứu tập trung vào các tham số phản ứng vượt trội được xác định bằng học máy, và phát hiện hiện ra hai tập hợp điều kiện tạo ra Zn-HKUST-1 chỉ sau 20 phản ứng thử nghiệm. Các tác giả cho biết sẽ phải thực hiện hàng ngàn phản ứng để tìm ra kết quả này, nếu tiếp cận theo cách thông thường chứ không sử dụng học máy.  Moosavi và các đồng nghiệp cho biết dữ liệu được tạo ra trong các thí nghiệm của họ là nguồn lý tưởng cho các phân tích học máy – việc thiết lập robot sẽ kiểm soát chính xác các tham số phản ứng, giảm các biến trong kết quả đầu ra, và chỉ cần 1 phản ứng tổng hợp. Dữ liệu được tạo ra từ một tập hợp các phản ứng tổng hợp khác nhau sẽ khó xử lý hơn. Ngoài ra, các tác giả tập trung vào chất lượng của các vật liệu MOF, nhưng không báo cáo các kết quả quan trọng khác, chẳng hạn như hiệu suất phản ứng. Các phản ứng tổng hợp MOF hiệu suất thấp sẽ không được quan tâm, ngay cả khi chúng tạo ra những vật liệu chưa từng được biết đến.  Mặc dù vậy, công trình của Moosavi và các đồng nghiệp có thể góp phần cải thiện đáng kể và đẩy nhanh quá trình tổng hợp MOF. Các tác giả đã cung cấp phần mềm trực tuyến (go.nature.com/2dtppxn) để các nhà hóa học có thể đóng góp vào trực giác hóa học tập thể bằng cách báo cáo những điều kiện phản ứng thành công và thất bại. Kiểu đóng góp chung này nên được khuyến khích, và có thể mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng nghiên cứu về MOF.   Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00639-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy tiết lộ công thức xây dựng protein nhân tạo      Trong một bước đột phá có khả năng ứng dụng ở lĩnh vực y tế, nông nghiệp và năng lượng, nhóm nghiên cứu Trường Kỹ thuật phân tử Pritzker thuộc ĐH Chicago đã phát triển một quy trình dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) sử dụng dữ liệu lớn để thiết kế ra các loại protein mới.      Protein là thành phần cần thiết cho sự sống của tế bào. Nó thực hiện các nhiệm vụ phức tạp và là chất xúc tác cho các phản ứng hóa học. Từ lâu, nhiều nhà khoa học đã tìm cách khai thác sức mạnh này bằng cách thiết kế các protein nhân tạo có thể thực hiện chức năng mới như điều trị bệnh tật, thu giữ carbon hoặc tích lũy năng lượng. Tuy nhiên, nhiều quá trình tạo ra các loại protein như vậy khá chậm chạm vì tính phức tạp của nó và tỷ lệ thất bại cao. Những nghiên cứu trước đây đã tạo ra nhiều phương pháp có thể định hình được cấu trúc protein, nhưng lại khó nắm bắt được chức năng của nó.  Thông qua việc phát triển các mô hình học máy có khả năng xem xét thông tin protein được chọn lọc từ cơ sở dữ liệu hệ gene, các nhà nghiên cứu ở Pritzker đã tìm ra các quy tắc thiết kế protein tương đối đơn giản để có thể tạo ra protein nhân tạo mới. Khi tạo dựng những protein này trong phòng thí nghiệm vật lý, họ thấy rằng chúng hoạt động tốt về mặt hóa học đến mức có thể cạnh tranh được với những loại có sẵn trong tự nhiên.  “Chúng ta đều tự hỏi làm sao một quá trình như tiến hóa lại có thể dẫn đến loại vật liệu hiệu suất cao như protein. Dữ liệu hệ gene chứa lượng thông tin khổng lồ về những quy tắc cơ bản liên quan tới cấu trúc và chức năng của protein. Giờ đây, chúng ta đã có thể nắm được những quy tắc của tự nhiên đó để tự tạo ra protein cho chính mình”, GS. Rama Ranganathan thuộc Khoa Sinh hóa và Sinh học phân tử của trường Pritzker nói. Kết quả nghiên cứu của họ được công bố trong bài báo “An evolution-based model for designing chorismate mutase enzymes” (Mô hình dựa trên tiến hóa để thiết kế các enzyme chorismate mutase), đăng trên Science.  Họ xem xét enzyme chuyển hóa chorismate mutase – một loại protein quan trọng đối với sự sống ở nhiều loài vi khuẩn, nấm và thực vật. Mô hình học máy cho thấy chỉ cần bảo tồn vị trí axit amin và mối tương quan của các cặp axit amin trong quá trình tiến hóa là có thể đủ để dự đoán các chuỗi axit amin nhân tạo mới có các đặc tính của họ protein. “Chúng ta thường cho rằng để xây dựng một cái gì đó, trước tiên phải hiểu sâu sắc cách thức hoạt động của nó. Nhưng ngay cả khi đang tìm hiểu cách thức hoạt động của nó hoặc tại sao nó được dựng lên như vậy, ta vẫn có thể sử dụng phương pháp học sâu để tìm hiểu quy tắc thiết kế của nó, nếu có đủ mẫu dữ liệu”, GS Ranganathan nói.  Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tạo ra các gene tổng hợp để mã hóa protein, nhân bản chúng trong vi khuẩn và theo dõi vi khuẩn tạo ra các protein tổng hợp bằng cơ chế tế bào thông thường. Các protein nhân tạo này có chức năng xúc tác tương tự như các protein chorismate mutase tự nhiên.  Do các quy tắc thiết kế tương đối đơn giản, số lượng protein nhân tạo có khả năng được tạo ra vô cùng lớn. “Các quy tắc thiết kế của tự nhiên khá đơn giản, và chúng tôi tin rằng phương pháp tiếp cận tương tự sẽ giúp tìm ra những mô hình thiết kế trong các hệ sinh học phức tạp hơn như hệ sinh thái hoặc não bộ”, GS. Ranganathan cho biết. Mặc dù AI giúp tiết lộ các quy tắc thiết kế nhưng nhóm nghiên cứu vẫn chưa hiểu đầy đủ lý do tại sao những mô hình này lại hoạt động. Do vậy thời gian tới, họ sẽ tiếp tục nghiên cứu để hiểu cách mô hình mang lại kết quả.  Họ hi vọng sử dụng nền tảng này để phát triển những loại protein có thể giải quyết vấn đề xã hội cấp bách như biến đổi khí hậu. GS. Ranganathan và đồng nghiệp đã thành lập công ty Evozyne để thương mại hóa công nghệ này, ứng dụng trong ngành năng lượng, môi trường, xúc tác và nông nghiệp. Họ đã làm việc với Trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của ĐH Chicago để đăng kí sáng chế và nhượng quyền tài sản trí tuệ cho công ty.  “Hệ thống này không chỉ dạy chúng ta về cách protein hoạt động và tiến hóa mà còn giúp ta tìm ra giải pháp cho những vấn đề như thu giữ carbon hoặc tích lũy năng lượng. Thậm chí các nghiên cứu về protein có thể giúp ta biết cách hoạt động của mạng thần kinh sâu trong học máy.” GS. Ranganathan nói.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-machine-reveals-recipe-artificial-proteins.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy tìm đột biến trong các trình tự hệ gene tương đồng của các mẫu ung thư      Một nhóm các nhà nghiên cứu làm việc tại Viện nghiên cứu Francis Crick đã phát triển một cách để tìm các đột biến trong nhũng vùng của hệ gene tương đồng của các mẫu ung thư.    Trong công bố của họ trên tạp chí Nature Biotechnology “A pan-cancer landscape of somatic mutations in non-unique regions of the human genome”, nhóm nghiên cứu đã miêu tả việc sử dụng một thuật toán học máy để điểm những đột biến ung thư trong các phần của hệ gene.  Như một phần trong lịch sử tiến hóa của con người, các phần của hệ gene đã trải qua những lần tái sắp xếp và trong một số trường hợp, lại được nhân lên. Khi tìm kiếm các đột biến, người ta thấy rằng càng nhiều lần sao chép như vậy càng có điều kiện gây ra vấn đề. Các phương pháp quét hiện tại có thể chỉ ra những chuỗi ngắn được nhận diện nhưng không rõ ràng, điều đó có nghĩa là các phần của hệ gene này tương đồng với các phần của hệ gene khác nhưng chưa từng được đề cập đến – và có nghĩa là bất cứ đột biến nào cũng sẽ có khả năng bị mất. Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã phát triển một cách để tìm kiếm những đột biến ở những phần không rõ ràng của hệ gene.  Cách tiếp cận này bao gồm việc phát triển một danh sách các vùng của hệ gene đã biết tương đồng với những vùng khác, sau đó sử dụng chúng để dạy một thuật toán học máy cách ghi nhận chúng. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thuật toán này để điểm những đột biến ở những vùng mô khác nhau – 2.658 mẫu của bộ dữ liệu Phân tích ung thư của toàn bộ hệ gene. Họ đã tái khám phá các đột biến trong 1.744 chuỗi mã hóa cùng với hàng ngàn đột biến trong các chuỗi không rõ ràng. Họ thấy tỉ lệ sai của thuật toán này chỉ ở mức 7% và đánh giá được hơn 80%.  Các nhà nghiên cứu lưu ý là những đột biến đó bao gồm cả các chuỗi mã hóa có tác động lên chuỗi protein, một số trong đó liên quan đến nhiều loại ung thư, đồng thời khoảng cách giữa các đột biến dẫn đến sự thay đổi của protein, cũng liên quan đến những loại ung thư cụ thể, ví dụ họ tìm thấy một đột biến tái hồi trong các gene KMT2C và PIK3CA hay những đột biến liên quan đến ung thư vú, hoặc các đột biến có trong các vùng điều hành, bao gồm một số ở các phân tử immunoglobulin.  Các nhà nghiên cứu đã đề xuất là kỹ thuật của mình có thể hữu dụng với những nhóm nghiên cứu khác trong việc để khắc phục các vấn đề như bỏ sót các đột biến trong các vùng gene gần trùng lặp.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-machine-learning-mutations-similar-genome-sequences.html  https://newatlas.com/medical/novel-test-brain-cancer-dna-mutations-blood-urine/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy tìm thấy các peptide quyền lực có thể thúc đẩy sự phân phối thuốc      Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne (DMD), một bệnh di truyền hiếm gặp thường được phát hiện ở các nam thanh niên, làm yếu các khối cơ khắp cơ thể cho đến khi tim hoặc phổi không còn hoạt động. Các triệu chứng thường thấy từ khi lên 5 tuổi; khi bệnh tiến triển, bệnh nhân mất đi năng lực đi lại ở tuổi 12. Ngày nay, tuổi thọ trung bình của người mắc bệnh DMD là khoảng 26 tuổi.      Có một tin tốt lành là sau một loại thuốc mang tính đột phá được loan báo vào năm 2019 hướng đích gene đột biến liên quan đến bệnh DMD. Liệu pháp này sử dụng antisense phosphorodiamidate morpholino oligomers (PMO), một phân tử tổng hợp lớn thấm qua các nhân tế bào để sửa đổi gene dystrophin, cho phép tạo ra một loại protein quan trọng đã bị mất trong các bệnh nhân mắc chứng DMD. “Nhưng có một vấn đề với chính bản thân PMO. Nó không bám vào các tế bào tốt như mong muốn”, Carly Schissel, nghiên cứu sinh Khoa Hóa MIT, nói.  Để thúc đẩy việc phân phối thuốc tới các hạt nhân, các nhà nghiên cứu có thể thêm vào thuốc các peptide xuyên tế bào (CPPs), do đó giúp nó có thể thấm qua tế bào và các màng nhân để chạm đến đích cần đến. Nhưng chuỗi peptide nào làm tốt việc này thì vẫn còn là một câu hỏi mù mờ.  Các nhà nghiên cứu MIT hiện đang phát triển một cách tiếp cận hệ thống để giải quyết vấn đề này bằng việc kết hợp hóa thực nghiệm với trí tuệ nhân tạo để khám phá các peptide không độc hại và có độ hoạt hóa cao có thể bám dính vào PMO để hỗ trợ việc phân phối thuốc. Bằng việc phát triển các chuỗi mới, họ hi vọng sẽ gia tốc thật nhanh sự phát triển của các liệu pháp gene cho DMD và các bệnh khác.  Kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên tạp chí Nature Chemistry “Deep learning to design nuclear-targeting abiotic miniproteins” 1. Schissel và Somesh Mohapatra, một nghiên cuus sinh khác của Khoa Khoa học và Kỹ thuật vật liệu MIT là đồng tác giả thứ nhất. Rafael Gomez-Bombarelli, trợ lý giáo sư khoa học và kỹ thuật vật liệu, và Bradley Pentelute, giáo sư hóa học, là tác giả chính. Ngoài ra, nghiên cứu này còn có bảy tác giả khác.  “Việc lựa chọn những peptide mới với một máy tính không phải quá khó. nhưng việc định ra là nó tốt hay xấu mới là khó”, Gomez-Bombarelli nói. “Đổi mới sáng tạo quan trọng của việc này là sử dụng học máy để kết nối chuỗi peptide, cụ thể ở đây là một peptide bao gồm các amino axit phi tự nhiên, để đảm bảo về mặt thực nghiệm độ hoạt hóa sinh học”.   Giấc mơ dữ liệu     CPPs là các chuỗi ngắn liên kết, được tạo thành từ 5 đến 20 amino acids. Trong khi mỗi CPP có thể có một tác động tích cực lên việc phân phối thuốc, nhiều CPP liên kết với nhau để có một tác dụng hiệp đồng trong việc mang thuốc vượt qua vạch đích. Các chuỗi dài hơn, bao gồm 30 đến 80 amino acids, đều được gọi là các tiểu protein.  Trước khi một mô hình có thể đem lại những dự đoán đáng giá, các nhà nghiên cứu dựa trên khía cạnh thực nghiệm cần thiết để tạo ra một bộ dữ liệu. Bằng việc trộn và kết hợp 57 loại peptide khác nhau, Schissel và các cộng sự của mình đã có khả năng xay dựng được một thư viện gồm 600 tiểu protein, mỗi loại đều có khả năng gắn kết với PMO. Với thí nghiệm kiểu này, nhóm nghiên cứu đã có thể định lượng được cách từng tiểu protein có thê di chuyển chặng đường của mình qua toàn bộ tế bào.  Quyết định kiểm nghiệm độ hoạt hóa của từng chuỗi, với PMO đã được bám dính hết sức quan trọng. Bởi vì bất kỳ loại thuốc nào sẽ có xu hướng thay đổi độ hoạt hóa của một chuỗi CPP, thật khó để tái tạo dữ liệu hiện có và dữ liệu được tạo ra trong một phòng thí nghiệm, trên cùng các thiết bị, do cùng người thực hiện, đạt được tiêu chuẩn vàng về độ nhất quán trong các bộ dữ liệu học máy.  Một mục tiêu của dự án này là tạo ra một mô hình có thể hoạt động với bất kỳ amino acid nào. Trong khi chỉ có 20 amino acids xuất hiện một cách tự nhiên trong cơ thể con người thì có hàng trăm loại khác đang tồn tại ở đâu đó – giống như một gói mở rộng amino acid trong phát triển thuốc. Để tí hiện chúng trong một mô hình học máy, các nhà nghiên cứu sử dụng mã hóa one-hot, một phương pháp ấn định từng thành phần vào một loạt các biến nhị nhân. Ba amino acids, ví dụ, có thể được tái hiện thành 100, 010, và 001. Để tăng thêm các amino acids mới, số lượng các biến có thể gia tăng, điều đó có nghĩa là các nhà nghiên cứu có thể gặp khó khăn để tái  tạo mô hình của mình với mỗi lần tăng thêm như vậy.  Để giải quyết vấn đề này, thay vào đó, họ đã lựa chọn để tái hiện amino acids với các dấu topo, vốn cần thiết để tạo ra một mã vạch cho từng chuỗi, với mỗi đường trong mã vạch biểu thị sự hiện diện của hoặc thiếu vắng của một cấu trúc bên dưới của một phân tử cụ thể. “Ngay cả nếu trước đây mô hình này không thấy được [một chuỗi] nào, chúng tôi có thể tái hiện nó như một mã vạch, bao gồm cả các quy tắc mà mô hình đã thấy”, Mohapatra, người phụ trách phần phát triển của dự án này, nói. Bằng việc sử dụng hệ tái hiện này, nhóm nghiên cứu đã có thể mở rộng công cụ của mình.  Họ đã huấn luyện một mạng lưới thần kinh tích chập trên một bộ dữ liệu tiểu protein, với 600 tiểu protein được dán nhãn về độ hoạt hóa, chỉ dấu về năng lực xuyên qua tế bào. Đầu tiên, mô hình này sẽ đề xuất các tiểu protein với arginine, một amino acid có thể nhồi đầy một hố trong màng tế bào, nhưng không lý tưởng để giữ tế bào sống. Để giải quyết vấn đề này, họ đã sử dụng một cách tối ưu để làm giảm độ hoạt hóa của arginine.  Cuối cùng, khả năng diễn dịch các dự đoán do mô hình đề xuất là vấn đề chính. Các nhà nghiên cứu có thể đối chiếu các dự đoán của mô hình với mã vạch đại diện của cấu trúc chuỗi. “Thực hiện việc này để làm nổi bật một số vùng nhất định mà mô hình cho rằng đóng vai trò lớn nhất trong  độ hoạt hóa cao”, Schissel nói. “Nó không hoàn hảo, nhưng nó giúp tập trung vào các vùng nhất định. Thông tin đó chắc chắn sẽ giúp chúng tôi trong việc thiết kế các chuỗi mới trong tương lai”.  Thúc đẩy độ phân phối thuốc    Giáo sư Rafael Gomez-Bombarelli  Cuối cùng, mô hình học máy đề xuất các chuỗi hiệu quả hơn bất kỳ các kết quả nào trước đây. Một trong số đó có thể thúc đẩy PMO phân phối tới hiệu quả gấp 50 lần. Bằng việc tiêm vào chuột với các chuỗi do máy tính đề xuất, các nhà nghiên cứu đã đánh giá được các dự đoán và thử nghiệm các tiểu protein không độc.  Vẫn còn quá sớm để nói rằng sản phẩm này sẽ có hiệu quả với các bệnh nhân nhưng việc phân phối PMO tốt hơn theo nhiều cách. Ví dụ, nếu các bệnh nhân tiếp nhận được lượng thuốc ít hơn, họ có thể ít phải chịu đựng những tác dụng phụ ít hơn hoặc cần liều điều trị thấp hơn (PMO là thuốc tiêm tĩnh mạch, quá trình tiêm hàng tuần). Có thể việc điều trị này sẽ ít tốn kém hơn.   Nhận thức được sự thiếu kết nối của một công trình do các chuyên gia học máy và hóa thực nghiệm, Mohapatra đã đưa mô hình này lên GitHub, cùng với một hướng dẫn thực nghiệm cho những người cũng có sẵn các chuỗi và chất hoạt hóa của mình. Ông cũng lưu ý có rất nhiều người trên khắp thế giới đã chấp thuận mô hình này, áp dụng nó để có được các dự đoán cho một phạm vi lớn của nhiều loại thuốc khac nhau.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-machine-sequences-boost-drug-delivery.html  https://www.technologynetworks.com/drug-discovery/news/machine-learning-finds-powerful-peptides-that-could-improve-drug-delivery-351888  —-  1. https://www.nature.com/articles/s41557-021-00766-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh lớp 12 sáng chế thiết bị “Bạn đã ngồi sai tư thế”      Một học sinh lớp 12 đã sáng chế thành công thiết bị cảnh báo những khuyết tật học đường này, đồng thời tích hợp thêm một số tính năng hỗ trợ học tập.&#160;     Thấy nhiều bạn bè vì ngồi sai tư thế trong khi học tập nên bị vẹo cột sống, cận thị… Tâm đã sáng chế thành công thiết bị cảnh báo những khuyết tật học đường này, đồng thời tích hợp thêm một số tính năng hỗ trợ học tập.     Nguyễn Duy Tâm (học sinh lớp 12TL1, Trường THPT Nguyễn Huệ, TP Tuy Hòa, Phú Yên) đã đặt tên cho sáng chế của mình là “Thiết bị đa năng chống khuyết tật học đường và hỗ trợ học tập”.     Cảnh báo thế ngồi     Đó là thiết bị hình hộp chữ nhật bằng nhựa, lớn hơn chiếc hộp đựng bút, thước kẻ của học sinh một chút, có hai “con mắt” cảm ứng được kéo nhô lên ở giữa chiếc hộp để quan sát “thân chủ” và dẫn tín hiệu về bộ vi xử lý Arduino nhằm điều khiển toàn bộ thiết bị.  Bên phải chiếc hộp có một màn hình LCD để hiện menu và các thông số, còn phần phía trước, gần với đáy hộp, là một dãy các bóng đèn LED nhỏ hơn chiếc cúc áo. Thiết bị này được dùng chung với một thiết bị tương tác khác cũng dạng hình hộp, kích thước cỡ bàn tay người lớn, có chức năng phát ra âm thanh, kết nối với đèn bàn.  Theo Tâm, chức năng chính của thiết bị là phát hiện và cảnh báo các khuyết tật học đường. Đầu tiên là thiết bị tự động phát hiện, cảnh báo học sinh ngồi sai tư thế, giúp hạn chế các bệnh lý về mắt và cột sống.  “Thiết bị đo được khoảng cách từ mắt đến bàn học cho phép trong khoảng 30-70cm (tùy chiều cao của học sinh). Nếu người sử dụng khom lưng, mắt đặt sát vở, nghĩa là sai tư thế, thì ngay lập tức nguồn sáng trắng từ hệ thống đèn LED của thiết bị sẽ chuyển sang màu đỏ chiếu vào vở, đồng thời phát ra âm thanh cảnh báo liên tục, buộc người dùng phải ngồi thẳng đúng tư thế cho phép” – Tâm vừa “thị phạm” vừa giải thích.          Giúp học sinh rất thiết thực  Ông Dương Bình Luyện – trưởng phòng giáo dục trung học Sở  GD-ĐT tỉnh Phú Yên – nhận xét thiết bị của Nguyễn Duy Tâm đã đạt đến  mức như một sản phẩm hoàn thiện. “Thiết bị gọn nhẹ nhưng tích hợp rất  nhiều tính năng, thiết thực giúp học sinh chống lại các căn bệnh học  đường thường gặp, đồng thời hỗ trợ để học sinh học tập tốt hơn.  Ngoài ra, giá thành để làm sản phẩm này cũng khá rẻ, nếu sản xuất đại trà thì chỉ trên dưới 1 triệu đồng/thiết bị. Chúng tôi cũng đánh giá rất cao nỗ lực của Nguyễn Duy Tâm, từ một học sinh miền núi, vì đam mê nghiên cứu khoa học kỹ thuật mà chấp nhận sống xa nhà để đến học môi trường mới và trong thời gian ngắn đã tích cực học tập, nghiên cứu để làm hoàn thiện sản phẩm hữu ích” – ông Luyện nói..          Thiết bị này có thể hoạt động tương tác với thiết bị khác. Khi học sinh ngồi vào bàn học tập, kết nối đèn bàn với thiết bị tương tác. Nếu ngồi đúng tư thế, đèn bàn sẽ sáng, nếu sai thì đèn tắt và hệ thống phát ra âm thanh: “Bạn đã ngồi sai tư thế”. Bên cạnh đó, thiết bị còn “nhắc” giúp học sinh cần nghỉ ngơi vài phút để bớt căng thẳng đầu óc, để thị giác thư giãn sau mỗi 45 phút hoạt động.  Sản phẩm còn có chức năng tiết kiệm năng lượng: khi học sinh rời khỏi bàn học mà quên tắt đèn thì hệ thống sẽ đếm trong 6 giây và tự động tắt đèn bàn, nếu học sinh quay lại bàn thì đèn tự động bật sáng ngay.     Là chiếc đồng hồ luyện thi     Ngoài ra, giá thành để làm sản phẩm này cũng khá rẻ, nếu sản xuất đại trà thì chỉ trên dưới 1 triệu đồng/thiết bị. Chúng tôi cũng đánh giá rất cao nỗ lực của Nguyễn Duy Tâm, từ một học sinh miền núi, vì đam mê nghiên cứu khoa học kỹ thuật mà chấp nhận sống xa nhà để đến học môi trường mới và trong thời gian ngắn đã tích cực học tập, nghiên cứu để làm hoàn thiện sản phẩm hữu ích” – ông Luyện nói.     Bên phải chiếc hộp có một màn hình LCD để hiện menu và các thông số, còn phần phía trước, gần với đáy hộp, là một dãy các bóng đèn LED nhỏ hơn chiếc cúc áo. Thiết bị này được dùng chung với một thiết bị tương tác khác cũng dạng hình hộp, kích thước cỡ bàn tay người lớn, có chức năng phát ra âm thanh, kết nối với đèn bàn.     Theo Tâm, chức năng chính của thiết bị là phát hiện và cảnh báo các khuyết tật học đường. Đầu tiên là thiết bị tự động phát hiện, cảnh báo học sinh ngồi sai tư thế, giúp hạn chế các bệnh lý về mắt và cột sống.     “Thiết bị đo được khoảng cách từ mắt đến bàn học cho phép trong khoảng 30-70cm (tùy chiều cao của học sinh). Nếu người sử dụng khom lưng, mắt đặt sát vở, nghĩa là sai tư thế, thì ngay lập tức nguồn sáng trắng từ hệ thống đèn LED của thiết bị sẽ chuyển sang màu đỏ chiếu vào vở, đồng thời phát ra âm thanh cảnh báo liên tục, buộc người dùng phải ngồi thẳng đúng tư thế cho phép” – Tâm vừa “thị phạm” vừa giải thích.     Thiết bị này có thể hoạt động tương tác với thiết bị khác. Khi học sinh ngồi vào bàn học tập, kết nối đèn bàn với thiết bị tương tác. Nếu ngồi đúng tư thế, đèn bàn sẽ sáng, nếu sai thì đèn tắt và hệ thống phát ra âm thanh: “Bạn đã ngồi sai tư thế”. Bên cạnh đó, thiết bị còn “nhắc” giúp học sinh cần nghỉ ngơi vài phút để bớt căng thẳng đầu óc, để thị giác thư giãn sau mỗi 45 phút hoạt động.     Sản phẩm còn có chức năng tiết kiệm năng lượng: khi học sinh rời khỏi bàn học mà quên tắt đèn thì hệ thống sẽ đếm trong 6 giây và tự động tắt đèn bàn, nếu học sinh quay lại bàn thì đèn tự động bật sáng ngay.     Là chiếc đồng hồ luyện thi     Ngoài bốn chức năng chính trên, thiết bị của Nguyễn Duy Tâm còn có bốn chức năng hỗ trợ mà “nhà sáng chế” trẻ này gọi là “thước kẻ thông minh”. Chiếc hộp của Tâm có thể thông tin chính xác về thông số môi trường như ánh sáng, độ ẩm, CO2..; là “chiếc đồng hồ luyện thi” để học sinh tự cài đặt thời gian 15, 45 phút nhằm thực hành phân phối thời gian làm bài kiểm tra; là thước đo góc chuẩn xác và là thiết bị đo vật thể để đo những vật kích thước to lớn, ở xa theo thuật toán hình học phẳng, hình học không gian.     Tâm kể bạn sáng chế thiết bị này là vì thấy nhiều bạn bè bị cận thị, vẹo cột sống trong quá trình học tập nhưng không được cảnh báo để chỉnh sửa, giảm thiểu các khuyết tật trên. “Ý tưởng thì có từ khi học lớp 9, nhưng em mới có điều kiện thực hiện từ giữa năm 2014 mà thôi” – Tâm cho hay. Vốn là học sinh ở huyện miền núi Sông Hinh (Phú Yên), năm 2014 Tâm tham gia Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật học sinh phổ thông toàn quốc nhưng không đoạt giải chính thức.     May mắn là tại hội thi ấy, Tâm quen với Ngô Huỳnh Ngọc Khánh (học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ, đoạt giải nhất quốc gia hội thi năm 2014 với sáng chế “Robot đa năng”). Tâm đã xin cha mẹ (làm nông dân ở Sông Hinh) chuyển đến Trường THPT Nguyễn Huệ ở TP Tuy Hòa để học tập nhằm được Khánh hướng dẫn về lập trình máy tính.     Từ tháng 5-2014, Tâm cặm cụi nghiên cứu, lập trình, cưa cắt, hàn tiện, lắp ráp… để tháng 1-2015, sản phẩm hoàn thành giai đoạn 1 và đoạt giải nhất Hội thi sáng tạo KHCN học sinh phổ thông tỉnh Phú Yên. Mới đây, sản phẩm này đã được trao giải nhì toàn cuộc Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật học sinh phổ thông toàn quốc năm 2015.     Với kết quả này, Tâm đủ điều kiện được tuyển thẳng vào ĐH. “Đã có hai trường ĐH liên lạc đề nghị em về học, nhưng có lẽ em sẽ chọn vào lớp sinh viên tài năng của Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) hoặc Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM” – Tâm cho hay.             Tám tính năng của thiết bị     * Tính năng chính     1. Tự động phát hiện và cảnh báo khi học sinh ngồi sai tư thế.     2. Tương tác với thiết bị khác để phát âm thanh cảnh báo bằng lời nói và thay nguồn sáng đèn LED bằng đèn bàn.     3. Nhắc học sinh nghỉ ngơi thị giác sau mỗi 45 phút.     4. Tiết kiệm năng lượng: tự động tắt đèn  bàn nếu người dùng rời vị trí ngồi sau 6 giây và tự động bật sáng khi  người dùng trở lại.     * Tính năng hỗ trợ học tập     1. Thông báo thông số môi trường: nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ CO2, ôxy…     2. Đồng hồ luyện thi: giúp học sinh cài đặt  thời gian 15 phút, 45 phút, 60 phút, 90 phút… và nhắc bằng tín hiệu  để chủ động phân phối thời gian làm bài.     3. Thước đo góc: tự động tính toán góc xoay với độ chính xác tuyệt đối.     4. Đo vật thể như cột cờ, tượng đài… bằng thuật toán hình học mặt phẳng, hình học không gian.             Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20150329/ban-da-ngoi-sai-tu-the/726878.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh Việt Nam giành hai giải vô địch Robothon quốc tế      Nhóm học sinh Trường Trần Cao Vân và Trường Lê Quý Đôn của thành phố Đà Nẵng vừa giành hai giải vô địch ở hạng mục Sơ cấp và Trung cấp tại Cuộc thi Robothon Quốc tế 2016 tổ chức ở Malaysia hôm 4/12, theo thông cáo báo chí của Công ty DTT Eduspec,.      Nhóm học sinh Trường Lê Quý Đôn (Đà Nẵng) nhận giải vô địch ở hạng mục Trung cấp. Ảnh: DTT Eduspec.  Ngoài ra các nhóm học sinh Trường Hoa Lư (Đà Nẵng), Trường Lê Quý Đôn (Đà Nẵng), Trường Đinh Tiên Hoàng (TP Hồ Chí Minh) và Trường Nguyễn Tất Thành (Hà Nội) còn giành thêm hai giải Nhì và hai giải Ba cho đội tuyển Việt Nam.   Ban tổ chức cũng trao các giải Khuyến khích cho các đội Trường Đoàn Thị Điểm (Hà Nội), Trường Lý Công Uẩn (Đà Nẵng), Trường Lê Ngọc Hân (TP Hồ Chí Minh), Trường Phù Đổng (Đà Nẵng) và Trường Trần Cao Vân (Đà Nẵng).  Cuộc thi Robothon Quốc tế là hoạt động thường niên dành cho học sinh từ cấp tiểu học đến trung học được tổ chức luân phiên tại các nước trong khu vực Đông Nam Á.  Năm nay, cuộc thi được tổ chức tại Khu phức hợp thể thao Taruc của Đại học Tunku Abdul, Malaysia.  Chủ đề của cuộc thi năm nay là Internet of Things (Iot) – Mạng lưới vạn vật kết nối Internet. Các thí sinh tham gia sẽ lắp ghép và lập trình robot để thực hiện các nhiệm vụ mô phỏng như thu nhận, trích xuất và phân phối dữ liệu, trích xuất thông tin, tích hợp hệ thống.  Đại diện cho Việt Nam thi đấu tại cuộc thi Robothon Quốc tế 2016 là các đội đoạt giải cao trong cuộc thi Robothon Quốc gia.  Trong những năm qua, Robotics đã được đưa vào hơn 100 trường học, đào tạo cho hơn 30.000 lượt học sinh tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM.    Author                P.V        
__label__tiasang Học tiếng Anh bất cứ lúc nào      Theo các quan chức Đài Loan, trong thời buổi hội nhập, cần phải tạo mọi điều kiện để người dân học tiếng Anh, kể cả khi họ đi…đổ rác.      Tại Đài Loan, không ai được phép vứt rác ra phố trước khi có nhân viên thu gom rác tới. Trước kia, thay vì bóp còi, xe chở rác sẽ phát bản nhạc Thư gửi Elise của Beethoven. Nhưng từ nay, bản nhạc này sẽ phải nhường chỗ cho các bài học tiếng Anh. Những người đi đổ rác sẽ được nghe các câu như: “How much does a pound of cabbage cost ?” (“Bao nhiêu tiền nửa cân bắp cải?”). Chính quyền Đài Loan đã lựa chọn 300 câu Anh ngữ giao tiếp cơ bản cho các xe rác có thể phát khi đi làm nhiệm vụ.   NRC Handelsblad, Rotterdam         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội chợ cho những người cuồng công nghệ      Những người “phát cuồng về công nghệ” đã được tận mắt ngắm nhìn những phát minh mới tại hội chợ iENA Nuremberg, Đức vào ngày 27 đến 30/10/2016.  Hãng thông tấn DW giới thiệu một số phát minh độc đáo và có phần kỳ quái được trưng bày tại hội chợ này.      Xe bay   Bạn sẽ cho rằng đây là phát minh gì? Nó trông giống như một chiếc xe bay chạy bằng năng lượng mặt trời, gợi nhớ đến chiếc máy bay Solar Impulse 2 mới hoàn tất chuyến bay vòng quanh thế giới của mình, tuy nhiên do chưa được thiết kế để đi vòng quanh thế giới, hay có thể bay lượn nên “người chị em” của Solar Impulse 2 này còn lâu mới đạt tới sự thon gọn và trang nhã. Dẫu vậy thì chiếc xe bay cũng có ưu điểm là thân thiện với môi trường.  e-ICE     Chiếc máy làm kem chạy bằng năng lượng mặt trời này sẽ cho bạn những ly kem ngon tuyệt. Điều đặc biệt của chiếc máy này là nó có thể tự sạc pin trong điều kiện nhiệt độ cao mà không sợ ảnh hưởng đến độ bền của pin.  Xe đạp có mái che     Nếu thích đạp xe trong điều kiện thời tiết không được đẹp lắm, thì phát minh này có thể phù hợp với bạn. Phần mái che trong suốt sẽ giúp bạn không bị ướt vì nó được gắn chắc vào khung xe, tuy nhiên nó không chịu được những cơn gió quá mạnh.  Tầm nhìn hoàn hảo     Một giải pháp khác cho bạn khi bị mắc mưa trong lúc rong ruổi trên đường: một chiếc cánh quạt được gắn vào kính của mũ bảo hiểm và nối liền với cốc hút. Nó sẽ giúp tạo ra một luồng khí giữ cho nước mưa không tạt vào mắt bạn.  An toàn khỏi những mảng băng rơi     Vào mùa đông, những mảng băng dày và nặng có thể bám trên nóc của những xe bán tải. Lái xe có thể không nhìn thấy để gạt chúng đi nếu không có thang. Điều này tiềm ẩn nguy hiểm bởi những mảng băng này có thể rơi xuống khi xe đang chạy trên đường cao tốc. Vì vậy những mái che linh hoạt này có thể cung cấp cho các lái xe một giải pháp hữu hiệu: trước khi lên đường, họ kéo những tấm che này xuống để loại bỏ những mảng băng nguy hiểm.  Chó robot     Hai nhà phát minh nhí Alexander Bayer và Niklas Gutsmiedl đã tạo ra chú chó robot dẫn đường mang tên Blindbot. Với ưu điểm được trang bị hệ thống định vị GPS, Blindbot có thể phát hiện được bất kì vật cản nào trên đường. Dĩ nhiên, nó vẫn không thể sánh nổi chú chó thật vì động vật sống thường nắm bắt được toàn bộ tình huống phức tạp xung quanh bằng các giác quan và bản năng của mình.  Dụng cụ bổ dừa     Bạn đã bao giờ thử bổ một quả dừa chưa? Sự thực là hiếm khi có loại dao bổ dừa nào khiến cho bạn thấy ưng ý. Tuy nhiên thứ dụng cụ bổ dừa bóng loáng và lạ mắt này sẽ khiến bạn hài lòng khi có thể dễ dàng tách cùi dừa khỏi lớp sọ cứng.  Bàn chải silicon     Dụng cụ làm sạch mới này vệ sinh hơn bàn chải hoặc miếng mút rửa thông thường, với có tay cầm làm bằng thép không gỉ và phần đầu là một miếng silicon kháng khuẩn đặc biệt.  Nguồn: http://www.dw.com/en/great-ideas-from-the-nuremberg-inventors-fair/g-36159374    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Hội chợ Thương mại quốc tế Việt Nam lần thứ 25      Sáng nay 15/4, Hội chợ Thương mại quốc tế  Việt Nam lần thứ 25 (Vietnam Expo 2015) đã khai mạc tai Trung tâm Hội  chợ triển lãm Việt Nam, Giảng Võ, Hà Nội. Ra mắt lần đầu năm 1991, đây được coi là hội chợ thường niên có truyền  thống lâu đời nhất cho đến nay tại Việt Nam.     Với chủ đề “Hợp tác Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN”, Vietnam Expo 2015 diễn ra trong bốn ngày, từ 15 – 18/04.  Hướng tới mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển thị trường nội địa; kết nối các quan hệ, giao dịch thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, góp phần thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá các thương hiệu hàng hóa, dịch vụ có thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam, hội chợ đã thu hút được 600 doanh nghiệp với 720 gian hàng đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó Việt Nam có 384 gian hàng của 312 doanh nghiệp.  Các ngành hàng được trưng bày tại hội chợ gồm: Máy móc- thiết bị công nông nghiệp; xây dựng- vật liệu xây dựng & trang trí nội thất; điện, điện tử & công nghệ thông tin; nguyên phụ liệu dệt may, da giày & máy dệt; thực phẩm, đồ uống & phụ gia thực phẩm; hàng gia dụng; sản phẩm làm đẹp và chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ khác.   Ba khu gian hàng tiêu biểu của hội chợ là: Khu gian hàng ứng dụng công nghệ thông tin xúc tiến thương mại do Cục xúc tiến thương mại chủ trì, khu gian hàng Đầu tư phát triển công nghiệp Việt Nam do Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam tổ chức; khu gian hàng hỗ trợ thiết kế, phát triển sản phẩm Việt Nam- Hàn Quốc với sự hợp tác của Viện Xúc tiến thiết kế Hàn Quốc (KIDP).   Hội chợ do Bộ Công Thương chủ trì, Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam chỉ đạo và Công ty VINEXAD tổ chức.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nghị KH&CN hạt nhân cán bộ trẻ năm 2022: Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để giải quyết bài toán thực tế      Với số lượng nghiên cứu ứng dụng chiếm ưu thế, hội nghị KH&CN hạt nhân cán bộ trẻ lần thứ 7 không chỉ tạo ra một diễn đàn học thuật nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu cho cán bộ trẻ, mà còn góp phần thúc đẩy ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong giải quyết các bài toán kinh tế – xã hội.     Một điểm đáng chú ý là số lượng các báo cáo trong hội nghị năm nay nghiêng nhiều hơn về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các ngành kinh tế xã hội (tiểu ban B – 36 báo cáo). Xu hướng này cũng gắn liền với mục tiêu mà ban tổ chức đặt ra từ trước đến nay – “đẩy mạnh nghiên cứu triển khai trong lĩnh vực KH&CN hạt nhân, xây dựng tiềm lực cán bộ trong ngành năng lượng nguyên tử, cũng như thúc đẩy ứng dụng kỹ thuật hạt nhân vào phát triển kinh tế – xã hội cho đất nước”, ông Phạm Quang Minh, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phát biểu trong hội nghị KH&CN hạt nhân cán bộ trẻ ngành năng lượng nguyên tử do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) tổ chức vào ngày 6-7/10.   Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phát biểu trong hội nghị. Ảnh: TA  Để ứng dụng hiệu quả kỹ thuật hạt nhân trong giải quyết các bài toán thực tế, các nhà nghiên cứu trẻ đã nhanh chóng cập nhật những xu hướng mới trên thế giới. Một số nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm tại phiên toàn thể của hội nghị như ứng dụng bức xạ chùm tia điện tử (EB) trong xử lý kiểm dịch khi xuất khẩu trái cây tươi của ThS. Chu Nhựt Khánh (Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai công nghệ bức xạ) hay ứng dụng kỹ thuật đồng vị bền trong xác thực chất lượng và phân biệt nguồn gốc nông sản của ThS. Hà Lan Anh (Viện KH&KT hạt nhân) đều là những xu hướng đang phát triển trên thế giới. Một số nội dung trong báo cáo đã được các tác giả công bố trong các bài báo quốc tế.  Kết quả bước đầu cho thấy nhiều giải pháp có tiềm năng ứng dụng đầy hứa hẹn. Chẳng hạn như quy trình tiền xử lý hóa chất kết hợp với chiếu xạ EB của ThS. Chu Nhựt Khánh thử nghiệm trên quả nhãn không chỉ hạn chế mức độ hóa nâu của quả nhãn mà còn kéo dài thời gian bảo quản lên tới 22 ngày, thay vì chỉ có 12 ngày ở mẫu đối chứng. “Đây là một nghiên cứu rất hấp dẫn và có ý nghĩa thực tế rất lớn”, TS. Trần Minh Quỳnh, Phó Giám đốc Trung tâm chiếu xạ Hà Nội nhận xét. Ngoài tính hiệu quả, “việc sử dụng tia điện tử cũng giúp người tiêu dùng ở một số thị trường cũng bớt e ngại và dễ dàng chấp nhận hơn so với chiếu xạ gamma hoặc tia X, vì họ nghĩ không liên quan đến đồng vị phóng xạ. Qua đó có thể góp phần vào mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam”.  Dù không mang lại kết quả ứng dụng trực tiếp như trên song các báo cáo ở tiểu ban A (vật lý, công nghệ hạt nhân và các vấn đề liên quan) lại có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu cũng như phát triển công nghệ hạt nhân. Theo đánh giá của các chuyên gia, một trong những báo cáo xuất sắc năm nay là báo cáo các kết quả phép đo tiết diện vi phân ở các góc 70o, 90o, 120o, và 150o của hạt sản phẩm (α0) từ phản ứng 11B(p, α0)8Be do chùm proton năng lượng 2.5 MeV bắn phá trên bia boron tự nhiên của ThS. Đỗ Thị Khánh Linh (Viện KH&KT hạt nhân). Với kết quả đo thực tế có độ tương đồng cao so với các số liệu đã được công bố trước đó, thí nghiệm này sẽ mở ra việc sử dụng máy gia tốc HUS Pelletron trong nghiên cứu phản ứng hạt nhân.  Để đảm bảo chất lượng cho hội nghị, quá trình xét duyệt các báo cáo vẫn được duy trì nghiêm túc như các lần trước. TS. Hoàng Sỹ Thân, Trưởng ban Ban Kế hoạch và quản lý khoa học (VINATOM), thành viên ban tổ chức hội nghị cho biết, các báo cáo đều trải qua quá trình đánh giá, phản biện của hội đồng khoa học, sau đó được phân loại ở mức trình bày hoặc dán bảng. Tổng số báo cáo thu được năm nay vẫn duy trì ở mức khá ổn định so với các lần trước (62 báo cáo), trong đó số lượng báo cáo trình bày đã tăng nhẹ (40 báo cáo, tăng 3 báo cáo so với lần trước).    Author                Thanh An        
__label__tiasang Hội nghị Lý thuyết và Ứng dụng của Bảo mật và An toàn thông tin lần đầu đến Việt Nam      ASIACRYPT, một trong 3 hội nghị thường niên lớn nhất thế giới về mật mã do Hội mật mã thế giới (IACR), lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam với sự chủ trì của GS Ngô Bảo Châu và GS Phan Dương Hiệu.      Hội nghị sẽ diễn ra từ ngày 4 đến 8/12 tại khách sạn Intercontinental Hà Nội, thu hút khoảng 250 nhà khoa học từ gần 40 nước tham dự, trong đó có những nhà khoa học đầu ngành như Adi Shamir (giải thưởng Turing – giải thưởng cao nhất trong lĩnh vực Khoa học máy tính), những người mở đường cho sự phát triển khoa học mật mã ở nhiều nước như Jacques Stern (Pháp), Tatsuaki Okamoto (Nhật Bản), Serge Vaudenay (Thuỵ Sỹ), những người có vai trò quan trọng cộng đồng như Christian Cachin (Chủ tịch Hội mật mã thế giới).   Cùng với các nhà khoa học, hội nghị cũng là nơi nhiều công ty R&D và chính phủ tới tham dự. Năm nay ASIACRYPT có được sự quan tâm tài trợ từ cả các tổ chức khoa học, R&D quốc tế (XLIM, Microsoft, Intel, Google) và trong nước (Viettel, ECPAY, Microsoft, Cisco, VP9, FPT, EHN).  Ban tổ chức ASIACRYPT năm nay nhận được 240 công trình khoa học gửi tới. Sau 2 vòng phản biện và một vòng phản hồi của các tác giả, 67 công trình khoa học đã được lựa chọn để xuất bản và sẽ được trình bày cùng ba báo cáo mời tại hội nghị. Trong số này, nhiều công trình được thực hiện tại các trung tâm nghiên cứu mật mã có uy tín như Stanford, MIT, UCLA, Microsoft Research, Pennsylvania, San Diego, Brown University (Mỹ), ENS, Ecole Polytechnique, ENS Lyon, INRIA, Limoges, Rennes, CEA, Oranges, DGA, ANSSI (Pháp), Cambridge, Oxford, Royal Holloway, University College London, Bristol (Anh), EPFL, ETH Zurich (Thuỵ Sỹ), NTT, AIST (Nhật), Queensland, Wollongong, Qualcomm (Úc), NTU (Singapore), vv.  Trước thềm hội nghị, từ ngày 27/11 đến ngày 4/12, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, đơn vị tổ chức hội nghị, cũng đã tổ chức Trường CRYPTO “Mật mã: Nền tảng và xu hướng mới” thu hút 76 học viên, trong đó có 35 học viên quốc tế (từ Sri Lanka, Malaysia, Philippines, Singapore, Indonesia, Ấn Độ, Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hong Kong, Australia, Ma rốc, Italia) được CIMPA (Trung tâm Quốc tế về Toán cơ bản và Ứng dụng) tài trợ. Trường cũng thu hút được nhiều học viên từ các trung tâm nghiên cứu phát triển trong nước như Viettel, Học viện kỹ thuật mật mã, Viện Khoa học – Công nghệ mật mã…  Chiều 4/12 tại Nhà văn hóa trường ĐH Kinh tế quốc dân sẽ diễn ra bài giảng đại chúng của GS Adi Shamir về mật mã học hiện đại với hai phần: 40 năm mật mã hiện đại và những dự báo về các hướng phát triển; hướng nghiên cứu mới nhất của GS Adi Shamir trong năm nay. Adi Shamir – ‘S’ trong hệ mã hoá khoá công khai RSA – là người khởi đầu cho nhiều hướng nghiên cứu của mật mã hiện đại. Ngay sau khi Diffie, Hellman đưa ra khái niệm mật mã hoá khoá công khai vào năm 1976 – dấu mốc cho sự khai sinh của mật mã hiện đại, Rivest, Shamir và Adleman đã công bố một trong những hệ mã hoá khoá công khai đầu tiên vào năm 1977. Hệ mã RSA – lấy theo chữ cái tên của ba ông – hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng của thực tế: bảo mật trong quân đội, giao dịch ngân hàng, trao đổi email v.v Mật mã hiện đại mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới: chữ ký điện tử (đã được nhiều nước cho phép sử dụng với giá trị pháp lý ngang với chữ ký thông thường); các sơ đồ định danh; v.v. Sự ra đời của mật mã hiện đại cũng thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực nghiên như lý thuyết số tính toán (computational number theory) vì độ an toàn của các sơ đồ như RSA dựa trên độ khó giải của các bài toán số học như phân tích số. Mật mã hiện đại, qua sự nghiên cứu tương tác giữa người bảo vệ an toàn và kẻ tấn công, cũng làm nảy sinh những khái niệm mới trong Khoa học máy tính như chứng minh tương tác (Interactive Proofs) – khái niệm vượt qua phạm vi của những chứng minh thông thường. Adi Shamir là một trong những người mở đường cho mật mã hiện đại, những công trình của ông mang tính bản lề. Bên cạnh hệ mã RSA, ông còn đề xuất sơ đồ chia sẻ bí mật (Shamir Secret Sharing), nơi bí mật được chia sẻ giữa nhiều người và chỉ khi có sự đồng thuận thì bí mật mới được tiết lộ – nền tảng cho nhiều ứng dụng thực tế, như trong bầu cử điện tử; đưa vào khái niệm mã hoá dựa trên danh tính (Identity-based Encryption) năm 1986 và hiện nay đó là một hướng nghiên cứu quan trọng của mật mã; tiên phong trong phá mã. Cùng Eli Biham, ông đề xuất khái niệm phá mã sai phân (Diffrential Cryptanalysis) được sử dụng phổ biến trong việc phá các hệ mã đối xứng; đóng góp lớn cho lĩnh vực độ phức tạp tính toán. Ông hoàn tất chứng minh IP = PSPACE, lập quan hệ tương đương giữa độ phức tạp theo thời gian của các chứng minh tương tác và độ phức tạp theo không gian của các chứng minh tĩnh cổ điển. Với những kết quả nền tảng và mở đường, Shamir đã được trao nhiều giải thưởng danh giá, đặc biệt là giải Turing – giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực Khoa học máy tính.                   Author                Nguyễn Ngọc Tuấn        
__label__tiasang Hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực Bắc Trung Bộ      Ngày 17/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các Bộ, ngành đã tới Nghệ An tham dự Hội nghị Xúc tiến Đầu tư vào Khu vực Bắc Trung Bộ. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), và Tổ chức Xúc tiến Thương Mại Nhật Bản (JETRO).  &#160;    Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên Huế. Dân số vùng là 11 triệu người, trong đó gần 6 triệu người trong độ tuổi lao động (13% cả nước). Bắc Trung Bộ có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, chiếm 60% trữ lượng quặng sắt, 80% thiếc, 100% cronit, và 40% đá vôi so với cả nước. Điều kiện tự nhiên của vùng thuận lợi cho việc phát triển nghề rừng và đánh bắt hải sản, với diện tích rừng của khu vực là 1.633 nghìn hecta, đường bờ biển dài 670 km. Đặc biệt, Bắc Trung Bộ có thế mạnh về khai thác ngành du lịch, với các danh thắng như khu Cố đô Huế, động Phong Nha, các bãi biển Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, …  Về phát triển công nghiệp, trong những năm qua, các khu kinh tế lớn của vùng như Nghi Sơn và Vũng Áng đã được sự quan tâm đầu tư phát triển của các cấp chính quyền, qua đó thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài từ Ấn Độ, Nhật, Đài Loan, … Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 9/2011, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực trên địa bàn là 189 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt 19,1 tỷ USD, chiếm gần 10% của cả nước.    Tuy nhiên, nhìn chung môi trường đầu tư của Bắc Trung Bộ hiện vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế. Mạng lưới giao thông đã hình thành từ lâu nhưng quy mô và chất lượng còn thấp. Để có nguồn tài chính cần thiết cho việc cải tạo, nâng cấp, Bộ Giao thông Vận tải đã kiến nghị cần nhanh chóng triển khai thành lập Quỹ bảo trì và Quỹ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông theo kinh nghiệm quốc tế, trước hết là Quỹ bảo trì đường bộ để kéo dài tuổi thọ công trình, tạo điều kiện giảm vốn đầu tư và nâng cấp. Bên cạnh đó là kiến nghị đẩy mạnh huy động vốn đầu tư từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước (ví dụ theo hình thức PPP, BOT, hay BT), trong đó chú trọng khai thác quỹ đất theo hình thức Nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông cho các đơn vị, cá nhân thuê khai thác để Nhà nước có vốn đầu tư và bảo trì.   Bộ Công thương chỉ ra thực trạng là công nghiệp hỗ trợ ở Bắc Trung Bộ, cũng như đa số các địa phương trên cả nước, hiện nay “gần như ở con số không”. Nguyên nhân do thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, quy mô thị trường quá nhỏ bé, và các chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ quốc gia “hầu như chưa có”. Bộ Công thương khuyến nghị xây dựng Chương trình hành động về công nghiệp hỗ trợ, trong đó đẩy mạnh phát triển hệ thống doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ và đào tạo nguồn nhân lực.   Quan điểm từ đại diện Vụ Quản lý các Khu Kinh tế – Bộ Kế hoạch Đầu tư cho rằng Bắc Trung Bộ nên xây dựng phát triển ngành công nghiệp thép, nhưng theo ý kiến của Công ty Thép Kobe – hiện có dự án đầu tư trị giá 1 tỷ USD tại Nghệ An đã được Chính phủ đồng ý về chủ trương – thì tiến độ dự án phát triển khai thác mỏ quặng Thạch Khê còn chậm trễ, chưa đảm bảo cung cấp nguồn quặng cần thiết.   Trong khi nhiều ý kiến tại Hội nghị còn khá chung chung, thì khuyến nghị của đại diện JETRO tương đối cụ thể và sắc nét, với ba đề xuất ngắn gọn cho lãnh đạo các tỉnh Bắc Trung Bộ: tập trung hỗ trợ cho các dự án đã đầu tư và đăng ký đầu tư; tạo nên những ví dụ điển hình về thành công trong đầu tư của doanh nghiệp; tận dụng tối đa các lợi thế từ những dự án đã đầu tư tại địa phương của mình.  Qua Hội nghị, cả hai đại diện cấp cao nhất của Ngân hàng Thế giới và ADB đều thể hiện cam kết cao trong việc hỗ trợ nguồn vốn cần thiết cho việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, qua đó giúp tăng cường khả năng kết nối nội bộ và liên vùng, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực Bắc Trung Bộ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập kiểu chả hoa Năm Thuỵ      Ông Nguyễn Trường Chinh, điều hành cơ sở chả hoa Năm Thuỵ (Trà Vinh) nói rằng: “Đã bảy năm nay vừa chạy vừa xếp hàng để giữ chuẩn mực”.      Nguyễn Trường Chinh là cơ sở đầu tiên lắp hệ thống năng lượng mặt trời, chi phí trên 1,8 tỷ đồng, tiết kiệm được 30% tiền điện hàng tháng.  Chinh giải thích, việc đầu tư lâu nay của ông là đúng hướng và theo đúng chuẩn mực, trong đó HACCP là dấu mốc quan trọng.  Doanh số tăng  Xưởng chế biến chả hoa Năm Thuỵ được công nhận HACCP từ năm 2016, sau khi đầu tư trên 20 tỷ đồng trang thiết bị theo công nghệ mới từ Đức, để đa dạng hoá sản phẩm và nâng sản lượng hàng bán ra thị trường. “Làm như mình ngưng đầu tư thì lòng tin sẽ như ‘nước lớn – nước ròng’, nên hễ có tích luỹ tôi tiếp tục đầu tư, cứ làm hoài”, Chinh cười.  Việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại hơn vẫn tiếp tục, dù Chinh đã xin bỏ công ty xuống hạng “cơ sở sản xuất” từ hai năm trước. Theo Chinh, cứ tập trung hoàn thiện sản phẩm ở cấp cơ sở, nhưng chất lượng đạt chuẩn mực có tính quốc tế “biết đâu lại là chuyện hay”! Câu trả lời từ thực tế là doanh số năm 2016 trên 39 tỷ đồng, nhờ hoàn thiện quy trình.  Mỗi ngày sản xuất bình quân 2 tấn chả và thịt nguội (sản xuất trên 20 sản phẩm).Mỗi năm đều có thêm sản phẩm mới. Năm nay có món thịt sấy, ướp tẩm theo công thức thịt lạp với rượu Anise, đại hồi, tiểu hồi, quế khâu, đinh hương từ các thiết bị của Đức. Người Trà Vinh thích những món này, nhưng thị trường lớn vẫn là TP.HCM.  Chinh chọn thiết bị của Đức, vì đơn đặt hàng ngày càng nhiều, cần thiết bị lớn hơn.Mọi thiết bị được chọn nhà cung cấp kèm gói tư vấn, huấn luyện. Chinh học say sưa, cần mẫn khi các chuyên gia Đức chuyển giao theo những chuẩn mực và chia sẻ văn hoá liên quan tới món mới.  Tốt nghiệp ngành điện, Chinh chọn thiết bị và chỉ sẵn sàng đầu tư với hai điều kiện: có khả năng làm ra sản phẩm mới và giảm tối đa tác động tới môi trường. Ở Trà Vinh, Chinh là nhà sản xuất thực phẩm đầu tiên lắp hệ thống năng lượng mặt trời, chi phí trên 1,8 tỷ đồng. Hiện nay, ông tiết kiệm được 30% tiền điện hàng tháng.Khoản tiết kiệm từ năng lượng tái tạo được đầu tư cho thiết bị mới; bên cạnh chương trình kiểm soát nguyên liệu đầu vào tại nguồn, bảo đảm truy xuất nguồn gốc chất lượng thịt heo từ nông trại, lò mổ về tới xưởng.  Hình mẫu cho bạn bè  “Hết thời gian bảo hành là 25 năm, bộ biến đổi 12 năm, nhưng đối với cơ sở sản xuất, 5 – 6 năm là hoàn vốn, phần lời mình dành để giữ giá bán các sản phẩm khác”, Chinh tính toán như vậy.  Khi theo đuổi công nghệ, tính toán đầu tư “từ trên trời tới dưới đất”, Chinh phát hiện cách giải bài toán tổ chức sản xuất, kinh doanh hơn trước rất nhiều. Trong vòng bảy năm ròng rã, ít nhất có ba đợt sóng đầu tư với giá trị khoảng 25 tỷ đồng, hoàn thiện quy trình an toàn vệ sinh thực phẩm, chuyên biệt hoá sản xuất bằng các thiết bị thông minh và nâng cao năng lực cung cấp theo đặt hàng. Có lúc Chinh không đủ vốn đầu tư một lần nên phải hoàn thiện quy trình từng công đoạn.  Đối với Chinh, vốn liếng là bài toán cân não khi nhớ lại hình ảnh thất bại của cha mẹ, từ chủ nhà máy xay xát, sụp đổ tới mức không còn nhà để ở. Với doanh số 60 tỷ đồng/năm như hiện nay, Chinh đang chuẩn bị cho làn sóng thứ tư, đầu tư 7 tỷ đồng hoàn thiện nhà xưởng tách biệt. Một khoản đầu tư lớn luôn là thách thức với cơ sở nhỏ, nhưng không có chọn lựa nào khác chỉ vì hệ thống xử lý nước thải có giới hạn, trong khi lượng hàng ngày càng tăng. Ông đã chuẩn bị cho giai đoạn “lột xác và vươn mình”, dù giấy khai sinh của doanh nghiệp vẫn là “cơ sở nhỏ”.  Dù cơ sở nhỏ hay siêu nhỏ cũng phải “chuẩn mực, tươm tất…” là những từ ông vẫn nói hàng ngày với các thành viên câu lạc bộ Đặc sản – sản phẩm làng nghề Trà Vinh, nơi ông đang là chủ nhiệm. Chinh hiểu mọi bước đi của cơ sở nhỏ này là hình mẫu, là lòng tin cho những doanh nghiệp nhỏ trên con đường hội nhập.  bài, ảnh Hoàng Lan (TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập kinh tế: nhìn từ bên trong      Từ nhiều năm nay, vấn đề hội nhập quốc tế luôn là một chủ đề nóng hổi trong các cuộc thảo luận về hiện trạng và tương lai kinh tế nước ta. Bài viết này muốn đề cập đến vấn đề hội nhập từ một góc nhìn khác: đó là sự hội nhập kinh tế giữa các vùng trong nước.    Nói đến hội nhập kinh tế là nói đến việc dỡ bỏ rào cản cho các hoạt động kinh tế. Hiểu theo nghĩa rộng, rào cản là tất cả những yếu tố làm tăng chi phí di chuyển của hàng hóa, vốn và lao động. Hội nhập kinh tế thế giới góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy tăng trưởng, hội tụ kinh tế. Hiện tượng hội tụ kinh tế thường được thấy trong những nhóm nước có điều kiện kinh tế và truyền thống khá giống nhau, dẫn tới việc các nền kinh tế  này hòa nhập với nhau và có rất ít rào cản kinh tế. Trong phạm vi nội địa một nước cũng vậy, nếu như thị trường trao đổi hàng hóa và công nghệ được thông thoáng thì những vùng nghèo hơn (ít vốn, đông dân) trở nên rất hấp dẫn đối với đầu tư và có thể tự dùng được nội lực của mình để tăng trưởng nhanh hơn những vùng giầu, dẫn đến hội tụ kinh tế trong phạm vi cả nước. Không có sự hội tụ kinh tế tự nhiên, nhà nước phải trích một phần lớn ngân sách ra bù đắp, hỗ trợ những vùng nghèo. Điều này về lâu về dài ảnh hưởng xấu đến cả những vùng nghèo (tạo ra sự ỷ lại, trông chờ vào ngân sách quốc gia) lẫn những vùng không nghèo (chịu gánh nặng thuế để bù đắp cho các vùng nghèo).  Những rào cản kinh tế trong nước          Giao thông thông thoáng giảm sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế nhanh hơn, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa.        Rào cản hàng hóa gia tăng tổng chi phí lưu thông hàng hóa trên thị trường. Có những thời kỳ nền kinh tế của ta bị chia cắt hoàn toàn bởi những quy định ngăn sông, cấm chợ bất hợp lý. Còn hiện nay, những rào cản đáng kể nhất trong nước là chi phí vận tải và chi phí cập nhật thông tin. Ở nước ta, chi phí vận tải còn khá cao. Mặc dù chất lượng đường sá ngày càng tốt hơn, nhưng lưu lượng đi lại cao hơn cộng với việc hạn chế tốc độ để đảm bảo an toàn cũng ảnh hưởng nhiều đến thời gian vận chuyển. Chưa kể đến tình trạng một số nơi cảnh sát giao thông nhũng nhiễu, các hoạt động kinh tế diễn ra ngay sát đường giao thông…  Chi phí cập nhật thông tin, điển hình là điện thoại vẫn còn cao, cho dù hiện đang được cải tiến đáng kể. Để vận chuyển hàng hóa hợp lý, thương nhân thường xuyên phải sử dụng điện thoại và các dịch vụ tương tự nhằm nắm bắt thông tin thị trường ở các địa phương khác nhau, từ đó loại bỏ rủi ro về biến động giá cả hàng hóa. Giá thành vận chuyển vì thế cũng phải cõng thêm chi phí của những dịch vụ này.  Rào cản vốn gia tăng tổng chi phí đầu tư và lưu chuyển vốn giữa các địa phương. Đặc biệt phải kể đến việc chuyển vốn từ những điểm nóng kinh tế đến những vùng nghèo và hoạt động kinh doanh thưa thớt. Ở nước ta, những rào cản đáng kể khác có thể nhắc tới là khung luật pháp về đầu tư không rõ ràng nhất quán và chi phí quản lý vốn ở địa phương cao. Yêu cầu của luật pháp càng phức tạp thì việc chuyển vốn đến một địa bàn mới càng khó khăn. Chi phí cho việc tìm hiểu thông tin, tìm hiểu chính sách, môi trường đầu tư ở địa phương, thuê người quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi có tranh chấp v.v… cũng là những yếu tố ngăn cản dòng chảy tự nhiên của vốn.  Một ví dụ nhỏ minh họa: nhiều hộ ở vùng xa muốn vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp để phát triển chăn nuôi lợn. Họ khó tiếp cận vốn vay vì nguồn vốn từ địa phương thì ít mà những ngân hàng lớn lại không muốn bỏ tiền lập chi nhánh ở những vùng xa (rào cản về vốn). Nếu phải vay ở xa, đối với một khoản vay nhỏ độ 5–6 triệu đồng, chỉ riêng tiền đi lại của người dân để trả lãi suất hàng tháng cũng khoảng 30 ngàn đồng, bằng tiền trả lãi ngân hàng. Họ cũng khó mua con giống, và khi sản xuất xong rồi lại phải chuyên chở rất vất vả mới có thể tiêu thụ được. Họ lại thiếu thông tin về giá cả thị trường chung, nên hoàn toàn bị động và dễ phải mua bán với giá không có lợi… Cuối cùng, rào cản đối với sự di chuyển của con người ở Việt Nam, chủ yếu bao gồm các mối liên hệ xã hội mật thiết ở địa phương, và khả năng tìm chỗ ở, sinh hoạt lâu dài ở các thành phố lớn.  Trong ba loại rào cản này, rào cản di cư của con người là rào cản truyền thống, tự nhiên, bắt rễ chắc chắn nhất và không nhất thiết phải dỡ bỏ rào cản này. Ngược lại, hai rào cản còn lại đều đáng được hạ thấp càng nhiều càng tốt vì chúng  ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế.  Nếu không có rào cản?        Khi các trung tâm lớn của đất nước có khả năng hội nhập với thế giới thì sẽ xuất hiện nguy cơ kéo doãng khoảng cách kinh tế giữa các vùng, khiến thị trường nội địa càng ngày càng manh mún, tình trạng độc quyền nhiều hơn và những vùng nghèo ngày càng khó phát triển.         Hãy thử tưởng tượng một nền kinh tế nội địa có rất ít rào cản về lưu chuyển vốn. Không gặp vướng mắc, đồng vốn sẽ tự tìm đến những nơi có cơ hội sinh lợi cao hơn: các vùng nghèo hơn, nếu những vùng này hội nhập vào thị trường hàng hóa toàn quốc. Còn nếu rào cản hàng hóa quá lớn, thì dù đồng vốn tự do lưu chuyển, nó cũng không thể hạ cánh vào những vùng nghèo bị cô lập và không có mấy cơ hội sản xuất, tiêu thụ.  Khi có ít rào cản lưu thông hàng hóa, toàn bộ nền kinh tế được gộp lại thành một thị trường lớn. Trên thị trường chung, giá cả được bình chuẩn và cân bằng khắp mọi nơi. Lưu thông hàng hóa cũng có nghĩa là thông tin, công nghệ được lưu thông, chia sẻ đồng đều trên khắp cả nước.  Hàng hóa được bán ra trên cùng một thị trường, với cùng một mặt bằng giá, cùng một điều kiện công nghệ, sẽ dẫn đến cơ hội sản xuất giống nhau ở khắp nơi. Nhờ đó, đồng vốn tự do lưu thông sẽ đổ bộ vào những vùng còn nghèo và chưa có nhiều vốn, dẫn đến cân bằng tốc độ tăng trưởng trên mặt bằng chung và hội tụ kinh tế vùng. Kết quả là các vùng nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn và về lâu dài bắt kịp các vùng giầu.  Như vậy, rào cản về hàng hóa nên tháo gỡ trước nhất, sau đó đến rào cản về vốn và cuối cùng là rào cản di cư.  Viễn cảnh một thị trường thống nhất cả nước không chỉ có tạo ra sự đồng đều và phát triển bền vững giữa các vùng, mà còn giúp chia sẻ rủi ro. Khi một vùng gặp khó khăn không lường trước như thiên tai, dịch bệnh…, thị trường thống nhất sẽ tự cân bằng và vận chuyển nguồn lực từ nơi khác đến để bù đắp. Ví dụ như một tỉnh đột nhiên bị thiên tai nặng nề, cây lương thực bị tàn phá nghiêm trọng, nếu địa phương bị cô lập, thì giá lương thực sẽ leo thang khủng khiếp, đe dọa tới đời sống người dân, thậm chí có thể dẫn đến nạn đói. Nhưng nếu như thị trường toàn quốc thống nhất, không có rào cản, thì tự nó sẽ điều tiết lương thực ở các vùng khác đến nơi có thiên tai, đồng thời bình chuẩn giá cả ở đó với mặt bằng giá chung (vì nhu cầu của một địa phương nhỏ không đủ để thay đổi mặt bằng giá chung của cả nước). Như thế, vùng bị thiên tai đã nghiễm nhiên được thị trường bảo vệ, cứu trợ một cách “sòng phẳng”, trước khi nhà nước và các tổ chức từ thiện đóng góp thêm sự giúp đỡ.  Những rào cản trên thực tế        Rào cản về hàng hóa là nên tháo gỡ trước nhất, sau đó đến rào cản về vốn và cuối cùng là rào cản di cư.        Tất nhiên, trong thực tế luôn có nhiều rào cản, về cả tự nhiên lẫn xã hội ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh tế, và trong đa số trường hợp là ảnh hưởng tiêu cực.  Rào cản hàng hóa càng nhiều thì thị trường càng bị chia nhỏ. Chia nhỏ không chỉ ở mức vùng, tỉnh, mà còn xuống tận làng xã, thôn bản. Tại các thị trường nhỏ, hàng hóa trao đổi ít, nhất là đối với bên ngoài nên cơ hội trao đổi thông tin, công nghệ càng hiếm hoi, dẫn đến đời sống tụt giảm và kìm hãm tăng trưởng.  Quay lại ví dụ vay vốn để nuôi lợn: ở những làng xã vùng xa, giao thông khó khăn, thường chỉ có một hai thương nhân cung cấp con giống, rồi lại thu mua sản phẩm lợn thịt. Với lợi thế độc quyền đó, họ dễ dàng ép giá và hưởng hầu hết giá trị sản xuất của nông dân. Ở đây không đơn thuần là chuyện phân chia sản phẩm giữa thương nhân và nông dân. Điểm cốt yếu là giá bị ép chênh lệch nhiều so với giá trên thị trường chính, nông dân thấy không có lợi nên không muốn sản xuất, kìm hãm tốc độ phát triển chung của cả địa phương. Khó khăn này lại nhân lên gấp bội khi nông dân thường cùng vay vốn một đợt để sản xuất cùng một loại sản phẩm (một ví dụ thường thấy của các “mô hình phát triển kiểu mẫu” ở nông thôn). Khi đó, nhu cầu đầu vào của họ tập trung vào một thời điểm, và đầu ra của sản xuất cũng tập trung vào một thời điểm, càng dễ bị độc quyền lợi dụng.  Tiếp theo, thị trường hàng hóa quá nhỏ ảnh hưởng đến thị trường vốn. Chi phí quản lý và thu thập thông tin, sẽ cản trở lớn cho sự lưu thông, thu hút vốn vào những thị trường nhỏ. Hậu quả là thiếu cơ chế tiết kiệm và huy động vốn ở địa phương, và người muốn vay vốn lại càng gặp nhiều khó khăn.  Những khó khăn này tạo ra chênh lệch mức sống lớn giữa nông thôn và thành thị. Đây là sức ép rất mạnh đối với việc di cư. Người dân nông thôn tuy có khát khao vươn lên cuộc sống no đủ nhưng lại bị cô lập về hàng hóa, về thông tin, về công nghệ, về vốn. Kết quả là họ muốn di cư ra thành phố tìm cơ hội. Khu vực thành thị vì thế sẽ phải chịu sức ép di cư từ chính sự biệt lập của nông thôn.  Khi hội nhập quốc tế         Chi phí vận tải và chi phí cập nhật thông tin còn khá cao hiện đang là những rào cản cho các hoạt động kinh tế trong nước.        Điều gì sẽ xảy ra khi một nền kinh tế cố trở nên thông thoáng với thế giới, song lại bị chia cắt nhỏ ở trong nước? Hòa nhập được với thế giới, những vùng kinh tế trung tâm sẽ trở thành thành phần của thị trường hàng hóa, thị trường vốn toàn cầu. Về lâu dài, điều này cho phép những khu vực kinh tế này bám đuổi và hội tụ với trình độ kinh tế thế giới, nâng cao đời sống ở các khu vực, giảm sức ép chảy máu chất xám, đồng thời gián tiếp bảo hộ đối với những cú sốc không lường trước được.  Mặt khác, những khu vực trung tâm này càng ngày càng tách rời khỏi những vùng phụ cận. Đã bị biệt lập từ trước, các vùng này ngày càng khó theo kịp khu vực kinh tế chính, nhất là khi khu vực kinh tế chính hướng ra thị trường quốc tế và không cần quá quan tâm đến thị trường trong nước nữa. Hậu quả là khoảng cách giữa kinh tế các vùng ngày một rộng, thị trường nội địa càng ngày càng manh mún. Hiện tượng độc quyền trong nước sẽ xuất hiện nhiều hơn, hạn chế sự phát triển của những vùng nghèo. Sức ép di cư từ nông thôn ra thành thị ngày một tăng, trong khi thành thị không kịp thích ứng, dẫn đến đủ mọi hậu quả kinh tế xã hội.  Làm gì để hạn chế các tác động xấu?           Xóa bỏ các rào cản sẽ là điều kiện để hội tụ kinh tế giữa các vùng nhanh hơn, giúp Việt Nam khỏi tụt hậu so với thế giới.          Đối diện với những khó khăn này, nhà nước có thể đưa ra nhiều biện pháp. Có những biện pháp chỉnh sửa phần ngọn của vấn đề như chính sách hạn chế di cư ra đô thị, đầu tư trực tiếp vào sản xuất ở địa phương, tổ chức truyền bá trao đổi thông tin sản xuất, mở rộng vay vốn cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa, cấm thương lái độc quyền…  Cũng có những chính sách đi thẳng vào cội rễ của vấn đề bằng cách giải quyết sự chia cắt, manh mún của thị trường: nâng cấp cơ sở hạ tầng theo định hướng kết nối các thị trường nhỏ và giúp ích cho việc lưu thông hàng hóa bằng đường xe lửa và đường thủy, giảm chi phí vận chuyển đường bộ, tách rời đường quốc lộ ra khỏi khu dân cư để giảm tai nạn, tăng tốc độ cho phép, giảm các chi phí kiểm tra không cần thiết…  Ngoài ra, có thể tạo cơ chế thông tin thị trường cho những người sản xuất và buôn bán, tạo hệ thống “chấm điểm” khả năng vay và hoàn trả vốn của người dân, của doanh nghiệp, mở rộng thị trường hàng hóa với tất cả các loại mặt hàng. Không nên quá chú trọng vào việc phát triển một, hai mặt hàng ở một địa phương, để rồi làm mất cân bằng các mặt hàng khác trên thị trường.  Chính sách chỉnh sửa phần ngọn, cũng giống như thuốc bôi ngoài da, thường có kết quả nhanh hơn, nhưng không được bền vững bằng chính sách đi vào phần gốc. Chẳng hạn, phân phối ngân sách thẳng vào các địa phương nghèo quá nhiều sẽ sinh ra tâm lý ỷ lại vào nguồn ngân sách nhà nước, làm cho người dân địa phương tiêu dùng nhiều hơn là đầu tư sản xuất, không khuyến khích phát triển. Đồng thời, gánh nặng ngân sách sẽ đè lên mức thuế ở những trung tâm kinh tế chính, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế ở những nơi này (đến nay, toàn quốc chỉ có 5 tỉnh, thành phố có mức thu ngân sách nhiều hơn chi!). Duy trì chính sách hạn chế di cư bằng quy định về hộ khẩu khiến di cư bất hợp pháp phát triển, tạo ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp ở đô thị. Vì thế, nên kết hợp cả hai loại chính sách, về lâu dài đặc biệt chú trọng vào chính sách chữa căn nguyên của các vấn đề.  Việc hòa nhập với thị trường quốc tế cũng quan trọng như việc kết nối trong nội bộ thị trường quốc nội. Xét cho cùng, cả hai đều tạo ra những động lực và cơ hội phát triển bền vững đặc biệt. Kết hợp được cả hai mặt của một vấn đề, chúng ta sẽ đạt được cả mục tiêu cân bằng kinh tế giữa các vùng trong nước, lẫn mục tiêu bám đuổi tầm cao của kinh tế thế giới.  Đỗ Quốc Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập toàn cầu với quá trình tái cấu trúc xã hội ở VN      Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa mà đặc trưng là nền sản xuất đại công nghiệp, loài người cũng bước vào một quá trình mở rộng quan hệ quốc tế ra tới phạm vi toàn cầu với sự thay đổi toàn diện, sâu sắc và mang tính tất yếu. Việc tìm hiểu mối quan hệ của quá trình nói trên đối với quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam trước nay do đó vừa có thể làm sáng tỏ thêm một số đặc điểm của quá trình hội nhập toàn cầu vừa có thể góp thêm những dữ kiện để nhìn nhận vị trí của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay.     Nhìn lại quá trình hội nhập toàn cầu  Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, K. Marx và F. Engels đã chỉ ra rằng “cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, quan hệ phụ thuộc giữa các dân tộc sẽ trở nên phổ biến hơn trên cả phương diện sản xuất vật chất lẫn sản xuất tinh thần, những thành quả của họat động tinh thần của một dân tộc sẽ trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc”. Quan hệ phụ thuộc giữa các dân tộc nói tới trên đây không gì khác hơn là những biểu hiện đầu tiên của quá trình hiện được gọi là Hội nhập toàn cầu, và họat động tinh thần của toàn thế giới được nói tới trên đây chính là biểu hiện của một hình thái tổ chức xã hội không còn bị giới hạn bởi nguồn gốc dân tộc và ngăn cách bởi biên giới quốc gia.   Từ cách nhìn coi hội nhập toàn cầu là một kết quả của nền sản xuất đại công nghiệp nói trên, có thể chia quá trình hội nhập toàn cầu trên thế giới trước nay thành hai giai đoạn khác nhau về chất, giai đoạn đầu (thường được gọi là quốc tế hóa) chấm dứt sau Chiến tranh Thế giới thứ hai năm 1945, và giai đoạn sau là từ 1945 trở đi.   ***  Trước khi có nền sản xuất đại công nghiệp, giữa nhiều quốc gia và dân tộc cũng có những mối quan hệ kinh tế, văn hóa và chính trị nhưng thường chỉ dừng lại ở phạm vi và mức độ nhất định, hình thức song phương lấn át hình thức đa phương, co cụm lại trong các khu vực địa văn hóa và nhất là không nổi lên như một xu thế tất yếu trong lịch sử thế giới.   Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất thế kỷ XVIII – XIX đã tạo ra những động lực và khả năng để chấm dứt phương thức quan hệ nguyên thủy ấy. Nhưng trong giai đoạn đầu hơn một trăm năm trước 1945, quá trình hội nhập toàn cầu lại diễn ra một cách đơn phương mang tính chất áp đặt, với hình thức chủ yếu là sự xâm lược và nô dịch của một phần thế giới đối với phần còn lại. Tình hình này làm dấy lên những phản ứng khác nhau ở nhiều quốc gia Đông Á và Đông Nam Á, nhưng ngoài Nhật Bản chủ động hòa nhập bằng công cuộc duy tân đất nước thời Minh Trị và Thái Lan khôn ngoan thích ứng bằng chính sách ngoại giao đa phương từ Rama IV đến Rama V, các quốc gia còn lại trong đó có Việt Nam đều lần lượt bị nô dịch hay khống chế bởi các thế lực tư bản chủ nghĩa “quốc tế hóa”, tóm lại đều bước vào quá trình hội nhập toàn cầu một cách bị động. Do quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam trước 1945 diễn ra một cách không toàn diện, không triệt để và với rất nhiều mâu thuẫn ở đó cấu trúc xã hội phong kiến tàn tạ đan xen với một hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa nửa vời. Cũng cần nói thêm rằng tình hình này không diễn ra như nhau trên toàn đất nước Việt Nam, chẳng hạn tuy cùng bị nô dịch về mặt chính trị như nhau, con người Việt Nam ở Nam Kỳ lại không bị nô dịch về mặt pháp lý nặng nề như ở vùng Trung Bắc vì Nam Kỳ được cai trị theo quy chế thuộc địa. Không lạ gì mà trước 1945 đây là khu vực duy nhất ở Việt Nam có phong trào cộng sản công khai với các hình thức đấu tranh của xã hội hiện đại như báo chí, nghị trường… Cho nên là một sản phẩm tương ứng của quá trình tái cấu trúc xã hội nói trên, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng mang nhiều đặc điểm như được “quốc tế hóa” một cách phức tạp, bị phân hóa về đường lối và phương thức đấu tranh…   Tuy nhiên dù sao thì sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cùng với việc giành lại được độc lập, con người Việt Nam cũng hướng tới một chế độ chính trị – xã hội khác hẳn với trong quá khứ, bước vào một quá trình tái cấu trúc xã hội mới phù hợp hơn với xu thế hội nhập toàn cầu đương thời. Đáng tiếc sau cuộc chiến tranh 1945 – 1954, cuộc chiến tranh 1954 – 1975 lại tạo ra một khúc quanh ở đó Việt Nam bị đặt vào tư thế một đất nước bị chia cắt và vào lúc quá trình hội nhập toàn cầu trên thế giới bị chia tách, tình hình này đưa tới hai mô hình tái cấu trúc xã hội khác nhau mà cũng là hai hệ thống xã hội phục vụ chiến tranh ở hai miền Nam Bắc. Bên cạnh đó, giai đoạn đầu mang nhiều yếu tố tàn nhẫn của quá trình hội nhập toàn cầu rồi ba mươi năm chiến tranh liên tiếp sau đó cũng kích thích ý thức dân tộc của con người Việt Nam phát triển theo một đường hướng không toàn diện, tức thiên về khía cạnh quốc gia mà coi nhẹ khía cạnh xã hội, thiên về phương diện chính trị mà coi nhẹ phương diện kinh tế, thiên về thành quả trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài. Cùng với những xung đột ý thức hệ định hình từ 1945, tình hình này sẽ để lại những hậu quả to lớn đối với quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam sau tháng 4. 1975.   ***  Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, quá trình hội nhập toàn cầu bị chia tách làm hai khu vực khác nhau, một khu vực là các quốc gia không phải xã hội chủ nghĩa với đặc trưng là nền kinh tế thị trường có cạnh tranh và tổ chức xã hội phát triển theo hướng dân chủ pháp quyền ít nhất là trên nguyên tắc, một khu vực là các quốc gia xã hội chủ nghĩa với đặc trưng là nền kinh tế tập trung hóa và tổ chức xã hội ít nhiều mang tính chất bán quân sự.   Sau Hiệp định Genève 1954, quan hệ quốc tế toàn diện của Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ yếu chỉ diễn ra trong khuôn khổ cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa này. Nhưng cần nhắc lại rằng tất cả các quốc gia xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX đều không hình thành theo đúng quy luật của sự phát triển phương thức sản xuất như K. Marx đã nêu ra, mà đều bắt đầu từ chỗ khẳng định thượng tầng kiến trúc rồi mới xây dựng hạ tầng cơ sở. Vai trò chủ đạo của hệ thống chính trị ở đây dẫn tới một kết quả tất yếu là chính trị hóa quá trình tái cấu trúc xã hội, nên quá trình tái cấu trúc xã hội trước tháng 4. 1975 ở miền Bắc cũng sa đà vào việc phục vụ chính trị mà đặc trưng là hướng tới các mục tiêu gần. Hoàn cảnh chiến tranh trước tháng 4.1975 cũng ít nhiều biện minh cho thực tế này, nhưng rõ ràng kiểu thức tái cấu trúc xã hội hướng tới các mục tiêu gần như vậy tuy tạo ra sức mạnh cấp kỳ vẫn hàm chứa một nguy cơ tiềm ẩn vì không toàn diện đủ để tạo ra những tiềm năng phát triển mới. Trong khi đó, lịch sử Việt Nam thời gian 1954 – 1975 lại tạo điều kiện cho sự phát triển của yếu tố “quốc tế hóa” đã có từ phong trào giải phóng dân tộc trước 1945 (nhiều công trình nghiên cứu lịch sử công bố ở Việt Nam sau tháng 4. 1975 đã gọi cuộc chiến tranh 1954 – 1975 là một cuộc chiến tranh “hai phe”), cái di sản lịch sử ít nhiều không lành mạnh này cũng góp phần đưa tới những khó khăn của Việt Nam hiện nay chung quanh vấn đề biển đảo hay việc khai thác sông Hồng và sông Mêkông. Hơn thế nữa, sau tháng 4. 1975 nhiều kết quả phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn phía nam vĩ tuyến 17 trong thời gian 1954 – 1975 đều bị chính quyền chiến thắng phủ nhận trên lập trường ý thức hệ, chẳng hạn nhiều yếu tố văn hóa thị dân, văn minh đô thị bị đánh đồng với văn hóa thực dân mới, nền công thương nghiệp tư bản tư doanh với lề lối quản lý và cung cách kinh doanh hiện đại bị đánh phá tan nát sau các chiến dịch X1, X2… Việc cải tổ toàn diện năm 1986 rồi sự sụp đổ của hệ thống chính quyền Đông Âu cuối thế kỷ XX đã đưa Việt Nam trở lại vào quỹ đạo hội nhập toàn cầu chung của thế giới, nhưng lúc bấy giờ thì quá trình này đã bước vào giai đoạn thứ hai sau Chiến tranh Thế giới thứ hai được bốn mươi năm và đã đạt tới những thay đổi về chất – vào lúc Việt Nam mở cửa năm 1986, Liên hiệp châu Âu từ 6 nước thành viên năm 1951 đã phát triển tới con số 12 nước thành viên (đến 2007 có 27 nước thành viên) với cấu trúc văn hóa – chính trị phát triển theo hướng siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp. Rõ ràng so với thế giới, Việt Nam đã bước vào quá trình hội nhập toàn cầu hiện nay không chỉ muộn màng hơn về thời gian, lạc hậu hơn về trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật và văn hóa – xã hội mà quan trọng hơn là còn với một quan niệm dường như chưa thật sự minh bạch và toàn diện về quá trình này.   ***  Đến 1986, tức sau Cách mạng Tháng Tám 1945 bốn mươi năm, quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam mới được tiến hành một cách thống nhất trên toàn quốc và một cách toàn diện trên cơ sở việc tái cấu trúc nền kinh tế. Tình hình này đã quy định cho nó hai nội dung, tức một mặt là bình thường hóa các thiết chế, tổ chức và quan hệ xã hội theo hướng dân sự hóa, một mặt là chuẩn hóa các hệ thống, lãnh vực và quá trình xã hội theo hướng hiện đại hóa. Tuy nhiên nhìn từ góc độ hội nhập toàn cầu, có thể thấy quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam từ 1986 rồi 1992 trở đi lại liên tục nảy sinh những mâu thuẫn giữa định hướng và cách thức, giữa phương tiện và mục tiêu. Chính quyền chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa, mở cửa thu hút đầu tư, tạo ra việc làm, thay đổi cơ cấu sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, nâng cao đời sống của người dân, đưa kinh tế Việt Nam đạt tới nhiều thành tựu chưa từng có. Nhưng bên cạnh đó, hiện tượng đạo đức xã hội suy thóai, tệ nạn xã hội gia tăng, giáo dục và khoa học xuống cấp, văn học nghệ thuật bế tắc, bộ máy công quyền thóai hóa, tham nhũng lan tràn, môi trường bị tàn phá… lại nổi lên như những vấn nạn ngày càng nhức nhối. Không nói tới sự khủng hoảng về triết học, trên nhiều phương diện và lãnh vực khác của họat động sáng tạo tinh thần và phương thức sinh họat, xã hội Việt Nam hiện cũng đang đối diện với tình trạng giống như tan rã, một trong những nguyên nhân của tình trạng này chính là sự phân cực trong quá trình tái cấu trúc xã hội giữa hội nhập toàn cầu và quốc tế hóa hiện nay.  Hội nhập toàn cầu theo dòng chảy nào?  Có thể nêu ra nhiều khác biệt về nội dung và tính chất giữa hai giai đoạn hội nhập toàn cầu trước nay, tuy nhiên điểm nổi bật là trong giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới thứ hai hầu hết mọi quốc gia và vùng lãnh thổ đều có thể chủ động chọn lựa con đường và cách thức hội nhập vào quá trình hội nhập toàn cầu của mình, chính trên đường hướng này mà nhiều trong các nước đang phát triển vẫn bị quán tính của giai đoạn trước chi phối. Ngoài các quốc gia xã hội chủ nghĩa đứng ngoài dòng chảy chung của cơ chế thị trường, trong giai đoạn này quá trình hội nhập toàn cầu vẫn tiếp tục chia tách: một số nước phát triển đã có trình độ công nghệ cao và nền kinh tế trí thức thì từng bước vượt qua quan niệm truyền thống về quốc gia và nhà nước (sự phát triển của Liên minh châu Âu là một ví dụ tiêu biểu), còn nhiều nước đang phát triển có cơ sở kinh tế – kỹ thuật lạc hậu hơn vẫn duy trì các định chế quốc gia và nhà nước truyền thống, nghĩa là vẫn ít nhiều nhìn nhận quá trình hội nhập toàn cầu từ một cách tư duy lấy mình làm trung tâm (the ego-centric way of thinking) hay lấy dân tộc mình làm trung tâm (ethnocentrism) mà Trung Quốc với công cuộc cải cách gần 40 năm qua là bằng chứng điển hình. Quá trình tái cấu trúc xã hội ở các quốc gia này do đó mang một số nét chung như nhấn mạnh vai trò của chính quyền hay nói rộng ra là hệ thống chính trị trong sinh họat kinh tế – xã hội của quốc gia, nghiêng về việc giữ gìn sự ổn định chính trị hơn là tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tự nhiên của xã hội dân sự, thậm chí có khi đề cao một cách lệch lạc các yếu tố dân tộc – sắc tộc hay tôn giáo truyền thống, tóm lại đều nhìn nhận các vấn đề kinh tế – xã hội chủ yếu qua lăng kính chủ quyền và truyền thống quốc gia. Cũng không thừa nếu nhắc lại rằng lợi ích kinh tế trên cơ sở chủ quyền dân tộc có thể khiến một quốc gia ngang nhiên xâm phạm lợi ích của nhiều quốc gia khác như trường hợp Trung Quốc với hàng loạt đập thủy điện trên sông Lan Thương (phần thượng nguồn sông Mê Kông), “Tại các diễn đàn trong khu vực cho tới nay, nguyên tắc về chủ quyền dân tộc đã cản trở sự hợp tác tiếp cận chia sẻ lợi ích hiệu quả tại khu vực sông Mê Kông” (Sông Mê Kông những mối lo, http://www.thanhnien. com.vn/news/Pages/ 201020/20100510110119.aspx). Hơn thế nữa, ở các quốc gia nói trên, sự phát triển kinh tế vẫn mang nhiều đặc điểm của giai đoạn hội nhập toàn cầu thứ nhất, nên chủ yếu chỉ dựa vào ưu thế về tài nguyên và nguồn nhân công giá rẻ để cạnh tranh, công nghiệp hóa tràn lan để giải quyết vấn đề việc làm mà thiếu năng lực đổi mới công nghệ và ý thức bảo vệ môi trường, quá trình đô thị hóa làm gia tăng mâu thuẫn giữa thành thị với nông thôn, bị lệ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài và trở thành những khâu ít quan trọng trong dây chuyền kinh doanh của các công ty đa quốc gia ở các nước phát triển. Với nhiều hình thức, phạm vi và mức độ khác nhau, tất cả những điều nói trên đều đang trình hiện ở Việt Nam.  ***  Bước vào giai đoạn hội nhập toàn cầu thứ hai chậm hơn thế giới đến bốn mươi năm, Việt Nam có thể thừa hưởng nhiều kết quả cũng như kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên vì nhiều lý do, trên thực tế chúng ta vẫn đang tiến vào quỹ đạo này không chỉ với tư thế mà còn cả trong tâm thế của giai đoạn trước. Nhiều phương tiện và cách thức phát triển kinh tế – xã hội hiện đại đã bị thay đổi chức năng trong không gian nhận thức và tâm lý ấy. Thị trường chứng khóan như một công cụ thu hút vốn đầu tư hữu hiệu qua tới Việt Nam đã ít nhiều biến tướng thành một trò cờ bạc hợp pháp. Nhiều yếu tố tích cực của nền giáo dục hiện đại trên thế giới được du nhập vào Việt Nam thì bị lão hóa bởi quan niệm đào tạo con người thành công cụ của hệ thống chính trị đồng thời tha hóa trong cơn sốt kinh doanh bằng cấp ở một xã hội đói nghèo… Cho nên để xác định phương hướng và cách thức tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam sắp tới thì trước hết cần xác định rõ Việt Nam sẽ hòa nhập vào dòng nào trong hai dòng chảy hội nhập toàn cầu. Bởi vì trong sự phân công sản xuất ngày càng nghiêm ngặt hiện nay trên thế giới, Việt Nam sẽ phải trở thành một quốc gia cần tới các quốc gia khác đồng thời là một quốc gia mà các quốc gia khác cần tới mới có thể tồn tại. Điều này đòi hỏi con người Việt Nam mà nhất là các chính khách và giới trí thức phải thận trọng, nhẫn nại và dũng cảm, vì chọn lựa nào cũng ẩn chứa một hy sinh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nông dân Việt Nam phải đủ mạnh để giành thắng lợi trong cơ chế thị trường      Nghị quyết Trung ương VII dự kiến đến năm 2020, sẽ đào tạo kĩ năng nghề nghiệp và tạo điều kiện cho nông dân làm ăn giỏi tích lũy đất đai, vốn liếng trở thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp phát triển sản xuất hàng hóa lớn. Đông đảo lao động nông thôn sẽ được đào tạo, hỗ trợ tham gia thị trường lao động công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu. Hội phải đủ mạnh để tổ chức nông dân xây dựng cuộc sống vật chất và tinh thần tốt đẹp, chuyển mình thành công vào nền nông nghiệp sản xuất lớn, hiện đại và xã hội công nghiệp tương lai. Giai cấp nông dân hôm nay là công nhân và trí thức ngày mai. Tổ chức người lao động đủ mạnh để tự vệ và phát triển trong cơ chế thị trường là thể hiện rõ rệt nhất của định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển mới.        Suốt chặng đường trên hai mươi năm đổi mới, nông dân là người sáng  tạo ra chính sách nông nghiệp đổi mới, là lực lượng nòng cốt tạo nên  bước đột phá phát triển kinh tế, phát triển nông thôn thành công rực  rỡ…  Hội Nông dân vừa tổ chức Đại hội lần thứ V, đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của giai cấp nông dân Việt Nam. Suốt chặng đường trên hai mươi năm đổi mới, nông dân là người sáng tạo ra chính sách nông nghiệp đổi mới, là lực lượng nòng cốt tạo nên bước đột phá phát triển kinh tế, phát triển nông thôn thành công rực rỡ, mở ra cục diện mới phát triển đất nước. Trong những thời điểm đất nước trải qua các tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế như khi phe XHCN sụp đổ cuối thập kỷ 80, cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á cuối thập kỷ 90 và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển luôn là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế, xã hội nước nhà.  Trên các bảng xếp hạng của nhiều tổ chức quốc tế về năng lực cạnh tranh, về môi trường kinh doanh… nước ta đều ở vị trí tương đối thấp nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước thu hút đầu tư quốc tế mạnh nhất thế giới. Đầu tư nước ngoài trong thời gian gần đây cùng với khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra trên 70% việc làm trong xã hội và đóng góp trên 80% GDP cho đất nước [1]. Hai trụ cột kinh tế quan trọng này đứng vững và phát triển nhanh dựa vào nguồn lao động dồi dào từ nông thôn với mặt bằng lương thấp nhờ mức giá lương thực, thực phẩm thấp. Bên cạnh đó, thu nhập ổn định ở nông thôn và xoá đói giảm nghèo tiến bộ rõ rệt tạo ra môi trường chính trị xã hội ổn định. Đây là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn do người nông dân đóng vai trò chính. Nghị quyết Trung ương VII đánh giá nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đóng “vai trò chiến lược, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội” là chỉ đạo hết sức quan trọng và mới mẻ, đánh dấu bước tiến quan trọng về tư duy của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế nước ta thành một nền kinh tế hiện đại trong tương lai.  Bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để tiếp tục là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, người nông dân Việt Nam sẽ phải vượt qua những thách thức rất to lớn. Khó khăn nhất đối với nông dân trên con đường phát triển sản xuất hàng hoá lớn là khắc phục nhược điểm của chính nền kinh tế tiểu nông. Không có một hệ thống dịch vụ sản xuất nào có thể vượt qua rủi ro và bù đắp nổi chi phí giao dịch để tiếp cận tới hơn mười triệu hộ nông dân và hàng triệu hộ ngành nghề riêng rẽ, nhỏ lẻ phân tán trên cả nước như hiện nay. Một hệ thống phân phối kinh doanh ở nông thôn dựa vào hàng vạn hộ tiểu thương rời rạc không thể tạo nên nguồn hàng hóa ổn định, đồng nhất, rõ ràng về xuất xứ, đảm bảo về chất lượng cho nhu cầu thị trường quốc tế. Những hộ tiểu nông trung bình chỉ có 0,6 ha lại chia thành nhiều mảnh đất nhỏ không thể nào áp dụng máy móc cơ giới và tạo ra khối lượng hàng hoá đồng đều, qui mô lớn được.  Thách thức lớn nhất trong cơ chế thị trường là hiện tượng “mạnh được yếu thua.” Quá trình toàn cầu hoá có những luật chơi không công bằng, bất lợi cho nông nghiệp của các nước đang phát triển. Nông dân nước nghèo không phải chỉ cạnh tranh với nông dân nước giàu mà trước hết phải vượt qua mức trợ cấp to lớn của chính phủ họ. Trung bình nông dân ở 30 nước thuộc nhóm OECD hàng năm nhận hỗ trợ bằng 30% tổng giá trị nông nghiệp của họ[2]. Cạnh tranh sản xuất đã khó nhưng bán ra thị trường còn gay go hơn. Chỉ tính riêng 10 nhà chế biến, kinh doanh, 10 siêu thị và 10 doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp đứng đầu đã chiếm giá trị tăng thêm tương đương 74% so với những gì tòan bộ nông dân thế giới được hưởng[3]. Cuộc cạnh tranh giữa những nông dân nhỏ Việt Nam với các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại, qui mô lớn, được tổ chức chặt chẽ và trợ cấp dồi dào, việc thương lượng, làm ăn với hệ thống các doanh nghiệp giàu có về vốn liếng, mạnh mẽ về tổ chức, kết nối với các tập đòan đa quốc gia hùng mạnh là không cân sức.  Ngay trong nước, quá trình phát triển kinh tế thị trường tất yếu không tránh được hình thành các nhóm khác biệt nhau về lợi ích kinh tế và quyền lợi xã hội. Trong các nhà máy, công xưởng, hàng loạt cuộc bãi công tự phát của công nhân đòi quyền lợi tối thiểu về thời gian làm việc, mức lương thoả đáng, điều kiện làm việc hợp lý,… đang diễn ra cùng với tình trạng lẩn tránh đóng bảo hiểm cho lao động, vi phạm qui định bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường khá phổ biến trong các doanh nghiệp. Trong nông thôn, nhiều nơi nông dân khiếu kiện đông người do thiệt thòi về bồi hoàn chuyển nhượng đất cho doanh nghiệp, đô thị; người sản xuất thường xuyên đương đầu với biến động giá cả bất lợi khi mua vật tư đầu vào và bán nông sản, nông dân … trong khi việc bắt bí giá cả, lợi dụng thông tin, phá hoại môi trường của tư thương, người kinh doanh, nhà đầu tư,… diễn ra khá nhiều.    Khoang cách chênh lệch về quyền lợi kinh tế và xã hội giữa nông dân với công nhân công nghiệp, với dịch vụ và cư dân đô thị chưa thu hẹp, trong khi ưu thế về thông tin, quyền lực và điều kiện sống tiếp tục bất lợi cho cư dân nông thôn. Cuối thập kỉ 1990, dân nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số mà chỉ hưởng 30% mức tiêu dùng xã hội[4]. Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá hiện nay đang tiếp tục thu hút ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên chủ chốt của nông nghiệp và kinh tế nông thôn như lao động, đất, nước, khóang sản,… Thêm vào đó là những yếu tố biến động của thiên tai, dịch bệnh, thị trường và quá trình biến đổi khí hậu trong tương lai tiếp tục tạo ra nhiều biến động và rủi ro trong sản xuất và đời sống cho nông dân.  Ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi, khi bàn tay vô hình của thị trường từng bước thay thế bàn tay hữu hình của nhà nước thì đồng minh vốn có của người nông dân sẽ thay đổi. Các doanh nghiệp Nhà nước chuyển nhanh sang cổ phần hoá, hướng về mục tiêu lợi nhuận, các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công của nhà nước cũng chuyển nhanh sang xã hội hoá, tự chủ về tài chính, các tổ chức viện trợ nhân đạo quốc tế chuyển sang đối tác kinh doanh, người tiêu dùng chuyển thị hiếu về sản phẩm chất lượng cao, chế biến sâu, nhập khẩu,… Trong xã hội hình thành các nhóm quyền lợi khác biệt ráo riết tranh thủ quyền lực chính trị. Giới doanh nghiệp dù là quốc doanh hay dân doanh, từng lớp thị dân dù là viên chức hay dân thường vận động cho một hệ thống chính sách đem lại lợi ích cho mình và không phải luôn có lợi cho nông dân, đây là thực tế khách quan của mọi hình thức nhà nước trong cơ chế thị trường.  Trong cơ chế kế hoạch, về lý thuyết, không có sự khác biệt đối lập về quyền lợi giữa các bộ phận xã hội. Do đó, tổ chức đại diện cho người lao động như công đoàn, hội nông dân, đóng vai trò “cánh tay nối dài của đảng, chính quyền” một cách hợp lý. Chuyển sang cơ chế thị trường, khi “hạ tầng cơ sở” đã chấp nhận sự chuyển biến mạnh mẽ tạo ra khác biệt to lớn về quyền lợi trong các mối quan hệ sản xuất giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa người quản lý, nhà đầu tư và người lao động, thì ở “thượng tầng kiến trúc” vẫn tồn tại một cách duy ý trí hình thức quản lý hành chính với các tổ chức đại diện cho người lao động. Nếu cán bộ công đoàn, hội nông dân sống bằng lương nhà nước hay tiền công của giới chủ, không trực tiếp do người lao động bầu ra và nuôi nấng, đương nhiên không thể bảo vệ quyền lợi thiết thân cho người lao động.  Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” được đề cao không chỉ ở Việt Nam mà cả ở nhiều nước trên con đường công nghiệp hoá. Xưa nay phúc lợi của chủ nghĩa xã hội vẫn được coi là mơ ước tương lai trong khi đúng ra công bằng xã hội chủ nghĩa phải là tiêu trí đánh giá suốt quá trình công nghiệp hóa. Cố gắng đảm bảo công bằng hướng vào các nhóm bất lợi trong xã hội như người nghèo, người cô đơn, tàng tật, đồng bào dân tộc,…thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của xã hội. Quyết tâm đảm bảo thiết thực quyền lợi của đông đảo người lao động mới thực sự thể hiện rõ tính giai cấp của định hướng xã hội chủ nghĩa.  Theo qui luật chung, khi tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP quốc gia giảm từ 20% hiện nay xuống còn khỏang 15% thì kinh tế nước nhà mới phát triển đủ mạnh để nhà nước có ngân sách đủ sức trực tiếp trợ cấp trở lại cho cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong bảy, tám năm tới, khả năng hỗ trợ hạn chế của ngân sách dù muốn, cũng chỉ đủ tập trung cho một số nhóm đối tượng nhỏ theo mục tiêu nhân đạo. Nhưng sóng gió quyết liệt của cơ chế thị trường đang đe doạ lợi ích sống còn của hàng chục triệu nông dân Việt Nam.  Ở hầu hết các nước phát triển trước đây đều chấp nhận mô hình phát triển chữ U ngược của Kuznets[5]: chấp nhận hi sinh quyền lợi của nông dân trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, sau khi kinh tế đã phát triển sẽ lấy các nguồn thu từ công nghiệp và đô thị để trợ cấp, bù đắp lại cho nông nghiệp, nông thôn. Về thực chất, ở Âu Mỹ trước đây, giai cấp nông dân bị bóc lột tàn tệ, bị bần cùng hoá trong quá trình chuyển hoá đau đớn thành đội ngũ lao động công nghiệp. Tại rất nhiều nước, thiết chế gia đình nông thôn, cộng đồng làng xã bị huỷ hoại trong quá trình phát triển đô thị. Ngày nay, quá trình phá nông thôn lấy nguyên liệu xây đô thị, tước đoạt, xô đẩy cư dân nông thôn ra làm lao động công nghiệp cũng đang diễn ra ở nhiều quốc gia. Kết quả chẳng những tạo ra những thành phố khổng lồ nghẽn tắc người di cư mà còn gây nên nhiều bất ổn xã hội, mâu thuẫn sắc tộc, tranh chấp không gian, bất ổn chính trị.  Cam kết chính trị đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường đồng thời cũng là giải pháp đảm bảo phát triển vững bền, ổn định trong xã hội khác biệt về quyền lợi, phải thể hiện ở quyết tâm tổ chức đội ngũ lao động nông nghiệp khổng lồ thành một lực lượng thống nhất. Hồ Chí Minh trong cuốn “Đường cách mệnh[6]” bằng ngôn từ bình dân 80 năm trước đã chỉ ra những việc “tổ chức dân cày” phải làm. Diễn giải thành các nội dung sau: mục tiêu của hội phải là bảo vệ quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa cho nông dân; đối tượng hội viên phải thực sự là nông dân, đủ tuổi trưởng thành, tư cách đạo đức, chính trị tốt, có hội viên giới thiệu; công việc của hội phải thiết thực, có lợi cho dân, cho nước như kết nạp hội viên, dạy cách làm ăn, tổ chức hợp tác xã, phát triển giáo dục, văn hóa, chống hủ tục, tệ nạn xã hội, cứu trợ xã hội.  Về cách thức tổ chức, “Đường cách mệnh” chỉ dẫn nông hội nên làm giống như công hội: Có thể tổ chức theo hội nghề nghiệp (ai làm nghề gì vào hội ấy) hay theo cách mạnh hơn là hội ngành hàng (những người làm chung một họat động trong một ngành, trên một địa bàn cùng tham gia một hội). Hội viên phải đóng góp hội phí để chi cho họat động thường xuyên, hỗ trợ lúc khó khăn như thất nghiệp, đình công (với công nhân) và đầu tư vào các họat động phát triển như mở trường, thư viện, bệnh viện, cơ sở văn hóa phúc lợi, xây dựng hợp tác xã, và lập các tổ chức của Hội. Khi tổ chức Đại hội, phải cử Đại biểu là người lao động, không phải là quan chức của Hội. Sự khác biệt chính giữa Hội với các tổ chức chính trị như Đảng là Hội phải chú trọng về khía cạnh kinh tế. Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh” kinh tế, thì “cách mệnh” chính trị cũng không xa”.  Đối chiếu với những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, hội Nông dân Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm để thực sự là tổ chức “của nông dân, do nông dân và vì nông dân”. Khác với các đoàn thể chính trị xã hội khác, Hội là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho đội ngũ lao động lớn nhất cả nước với 10 triệu hội viên. Trước tác động tổng hợp của công nghiệp hoá, đô thị hoá, toàn cầu hoá, thị trường hoá, quyền lợi của lao động nông thôn đang trải qua những biến động to lớn. Người nông dân mong đợi Hội các hoạt động thiết thực hỗ trợ sản xuất và đời sống, tham gia sử lý các tranh chấp, tổ chức các chương trình phát triển nông thôn, đóng góp xây dựng và thực hiện chính sách.  Cần nghiêm túc nghiên cứu phương án đổi mới Hội thành tổ chức kinh tế xã hội, chú trọng vào hoạt động kinh tế. Thành viên của hội nên tập trung vào tầng lớp nông dân hoặc lao động nông thôn. Những người đại diện của tổ chức nông dân phải được nông dân tín nhiệm bầu lên. Đại biểu tham dự Đại hội đa số phải là người thực sự làm nghề nông. Chương trình nghị sự của Đại hội, nội dung họat động của Hội phải tập trung vào việc làm ăn của nông dân, những vấn đề thiết thân đến đời sống lao động nông thôn. Kinh phí của Hội kể cả quĩ lương cho cán bộ dù được nhà nước trợ cấp nhiều nhưng vẫn phải dựa vững vào đóng góp tự giác của hội viên và họat động kinh doanh của Hội.  Bước tiếp theo là tiếp sức cho Hội để có thể đảm nhiệm trọng trách của mình trong các họat động kinh tế xã hội. Nhà nước song song với việc tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ và hội viên của Hội và hỗ trợ kinh phí, cũng từng bước phân cấp, giao quyền cho Hội tự chủ, quản lý các công việc, tham gia dịch vụ công trực tiếp phục vụ nông dân, phục vụ nông nghiệp như đào tạo nghề, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, bảo vệ sản xuất, các chương trình phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo. Các tổ chức nông dân bắt nguồn từ cộng đồng thôn bản phải trở thành những đơn vị tự quản, tự chủ để đóng vai trò chủ động trong quá trình quản lý xã hội, quản lý tài nguyên tự nhiên, khai thác sử dụng các cơ sở hạ tầng ở nông thôn và tổ chức phát triển kinh tế hợp tác.  Khi Hội đã đủ mạnh để đại diện cho nông dân đàm phán, xử lý tranh chấp với các đối tác, có thể tiến đến hỗ trợ Hội phát triển hoạt động kinh doanh, từng bước chủ động việc cung ứng các vật tư nông sản thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp, khống chế kinh doanh các nông lâm thủy sản quan trọng nhất. Tiếp đến hỗ trợ để Hội nông dân có vị thế bảo vệ quyền lợi của cư dân nông thôn trong quá trình xây dựng và triển khai chính sách, có tiếng nói công bằng đại diện cho nông dân trong đời sống chính trị xã hội của đất nước.  Người nông dân Việt Nam nổi tiếng về tinh thần dũng cảm, ý chí sáng tạo và tinh thần lao động cần cù. Khi được hỏi điều gì đáng nói nhất về Việt Nam, Michael Porter – chuyên gia về lợi thế cạnh tranh quốc gia của đại học Harvard đã trả lời: “ lao động và nông nghiệp”[7]. Sức mạnh của người dân nông thôn Việt Nam là một hiện tượng đặc biệt. Mặc dù đóng góp của nông nghiệp trong GDP của đất nước đã xuống dưới mức 20% và đóng góp cho xuất khẩu chỉ khỏang 23%, nhưng hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp (thể hiện bằng chỉ số ICOR) cao hơn so với các ngành khác và xuất khẩu nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất xuất siêu trong thương mại.  Nghị quyết trung ương VII dự kiến đến năm 2020, sẽ đào tạo kĩ năng nghề nghiệp và tạo điều kiện cho nông dân làm ăn giỏi tích lũy đất đai, vốn liếng trở thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp phát triển sản xuất hàng hóa lớn. Đông đảo lao động nông thôn sẽ được đào tạo, hỗ trợ tham gia thị trường lao động công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu. Hội phải đủ mạnh để tổ chức nông dân xây dựng cuộc sống vật chất và tinh thần tốt đẹp, chuyển mình thành công vào nền nông nghiệp sản xuất lớn, hiện đại và xã hội công nghiệp tương lai. Giai cấp nông dân hôm nay là công nhân và trí thức ngày mai. Tổ chức người lao động đủ mạnh để tự vệ và phát triển trong cơ chế thị trường là thể hiện rõ rệt nhất của định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển mới.  ——————–  * Tiến sĩ – Viện trưởng IPSARD  [1] Tổng cục Thống kê 2008.  [2] Báo cáo phát triển thế giới 2008. Ngân hàng Thế giới.  [3] Von Braun, Giám đốc Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực Thế giới 2008[  4] Bộ Kế họach Đầu tư 1999.  [5] Kuznets, Simon. “Economic growth and Structure”. New York, Norton, 1965.  [6] Hồ Chí Minh Tuyển tập, tập 2.  [7] Trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Việt Nam, 2008.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội quán của nông dân: Nói cho nhau nghe, nghe nhau nói      Hội quán ở Đồng Tháp là một hình thức liên kết tự nguyện của những người nông dân nhằm chia sẻ những “chuyện làng, chuyện xóm” và hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh. Dù mới bước đầu thành lập nhưng mô hình này đã tỏ rõ sức cố kết và lan tỏa trong cộng đồng.      Lễ ra mắt Thuận Tân hội quán, xã Tân Thuận Tây, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp.  Người dân Đồng Tháp từ lâu đã quen thuộc với sự có mặt của ông Lê Minh Hoan tại các xóm, ấp, họ gọi ông thân mật bằng “anh Sáu”, “chú Sáu” như một người hàng xóm thân thiết. Dưới cái nắng chói chang chiều tháng tư, tháng cuối mùa khô ở Đồng Tháp, trong vườn xoài, nơi khai trương hội quán Thuận Tân, vị Bí thư Tỉnh ủy bắt đầu bài nói chuyện của mình trước đông đảo người dân về vai trò, sự cần thiết của các hội quán. Đầu tiên, ông chiếu thước phim về Canh Tân hội quán, hội quán đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp ở “xứ nhãn” – xã An Nhơn, huyện Châu Thành để các thành viên ở Thuận Tân hội quán hình dung tường tận về quá trình hình thành, phát triển của một hội quán. “Nhà nước không hiểu vấn đề của bà con bằng chính bà con. Làm sao có ai hiểu về cây xoài bằng bà con, những người đã sống dưới tán xoài hàng chục năm? Vì thế, cần tới Hội quán, mô hình người dân tự xây dựng một không gian cộng đồng để nói cho nhau nghe, nghe nhau nói, cùng bàn chuyện làng, chuyện nước”, ông nói.  Ông giải thích vấn đề hợp tác trong sản xuất bằng ngôn ngữ dung dị: “để cạnh tranh được thì người sản xuất phải kiên trì hợp tác, sống hay chết là ở chỗ hợp tác. Nếu làm ăn riêng lẻ thì sẽ kéo sự cạnh tranh xuống đáy. Bà con đừng lủi thủi một mình, đừng so sánh hơn thua mà hãy hợp tác với nhau”. Trong suốt hai tiếng rưỡi, ông lần lượt thảo luận với người dân những vấn đề khác như thương hiệu, gia tăng giá trị sản phẩm, kết hợp làm nông nghiệp với du lịch, chính sách hỗ trợ xây dựng làng mới theo cách tiếp cận “từ dưới lên” với các thành tố “chăm chỉ – tự lực – hợp tác” ở Hàn Quốc.  Không chỉ có mặt ở khai trương Thuận Tân hội quán, ông Lê Minh Hoan xuất hiện ở tất cả các buổi khai trương thành lập 14 hội quán của tỉnh Đồng Tháp, cùng tham gia một số buổi nói chuyện thường kỳ của các hội quán. “Anh em chúng tôi khoái lắm, có thêm động lực tham gia vào hội quán vì anh Hoan hay về nói chuyện cùng. Kể từ khi thành lập vào tháng 9/2016 tới nay anh đã về bốn lần rồi. Chúng tôi rất xúc động khi có thể kể với anh những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh xoài”, ông Võ Việt Hưng, thành viên của hội quán xoài Minh Tân ở xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh cho biết.  Công việc mà ông Lê Minh Hoan đang làm thực chất chính là phát triển cộng đồng. Vô hình trung ông đã trở thành một chuyên gia thúc đẩy sự thay đổi từ dưới lên ở mỗi cộng đồng dân cư. Cách tiếp cận vấn đề và xây dựng ý tưởng cho hội quán cũng xuất phát từ những trải nghiệm thực tế của ông qua nhiều lần tiếp xúc với người dân và hiểu được rằng họ đang thiếu một kênh liên kết gần gũi, một nơi để chia sẻ những câu chuyện đời sống, để truyền tải những mong muốn, kiến nghị bức thiết nhất “lên trên”. Các đoàn thể quần chúng dù có sẵn nhưng dẫu sao vẫn là một tổ chức “quan phương” mang tính hành chính, muốn có ý kiến đều phải thông qua các văn bản đã thành “khuôn mẫu” như báo cáo, biên bản. Chỉ cần một bước hành chính hóa cũng có thể trở thành rào cản với những vấn đề bình thường và thân thuộc, khiến người dân khó có thể chia sẻ. Chính vì thế, ông cùng cán bộ cấp dưới tìm hiểu nhu cầu của người dân về việc tổ chức một không gian chia sẻ của riêng họ, vận động, khuyến khích những “hạt nhân” tích cực làm nòng cốt của hội quán. Sau đó không gian này được mở rộng một cách “hữu xạ tự nhiên hương”, thành viên trước gợi ý cho thành viên sau. Cứ như thế các hội quán ngày càng có quy mô lớn hơn, và “tiếng lành đồn xa”, từ một hội quán nhân rộng thành 14 hội quán. “Lúc mới thành lập chỉ có hơn 10 thành viên thôi, nhưng giờ đã có tới 40 thành viên rồi, nhiều hộ trồng xoài vẫn đang muốn gia nhập hội quán của chúng tôi”, ông Võ Việt Hưng nói.  Kênh kết nối thân thuộc  Chính quyền các cấp không can thiệp vào hoạt động của các hội quán này mà chỉ hỗ trợ ban đầu bằng việc tặng một số tài sản cố định như laptop, máy chiếu, màn chiếu. Cơ cấu tổ chức của hội quán không hề “rườm rà”, nhất định phải có ban chấp hành mà chỉ có một người đứng đầu làm đầu mối thông tin giữa các thành viên trong hội quán. Không gian hội họp vào mỗi tuần, mỗi tháng của các hội quán cũng chỉ là mái hiên của một thành viên có căn nhà rộng rãi, sân một ngôi miếu trong ấp chứ không phải là những hội trường trang nghiêm, long trọng.  Có lẽ chính nhờ cách thức tổ chức rất đơn giản mà các chủ đề của hội quán lại có ý nghĩa thiết thực với đời sống và sản xuất người nông dân nơi đây. “Cứ mỗi cuối tuần và ngày 28 âm lịch hằng tháng, các thành viên trong hội quán chúng tôi lại cùng ngồi bàn chuyện làng, chuyện xóm, chuyện làm ăn. Chúng tôi là người làm xoài nên chủ yếu bàn chuyện trái xoài như cách bao trái xoài, ghi chép theo quy trình Vietgap rồi cùng liên kết lại để bán xoài cho các doanh nghiệp lớn ra sao”, ông Võ Việt Hưng kể. Phạm vi trao đổi trong hội quán không chỉ thuần túy mang tính nghề nghiệp, mà cao hơn nữa, đó là những sẻ chia về tình làng nghĩa xóm. Những cuộc hội họp của Minh Tân hội quán cũng bàn chuyện về đời sống của những hộ khó khăn trong ấp và cùng nghĩ cách giúp nhau thoát nghèo. Canh Tân hội quán ở xã An Nhơn, huyện Châu Thành đã bàn chuyện xây cầu, làm đường liên ấp.    Ông Lê Minh Hoan, bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp giải thích vấn đề hợp tác trong sản xuất trước các thành viên Thuận Tân hội quán.  Trong mối liên hệ với chính quyền, mô hình hội quán giúp người nông dân xóa bớt dần cảm giác về khoảng cách “xa vời vợi” mỗi khi phải trình bày các “kiến nghị”. Đã từ lâu, trong tâm thức nhiều người dân, nền hành chính vốn được vận hành bằng các mệnh lệnh một chiều, lập kế hoạch từ trên xuống. Nhưng đến nay, các hội quán hoàn toàn có thể gửi thư trực tiếp cho bí thư tỉnh ủy hoặc đại diện chính quyền địa phương. “Tôi nói với các hội quán là bà con tập hợp lại vào hội quán rồi tạo ra một email chung, có việc gì mail cái rụp cho ông Bí thư, Chủ tịch, giám đốc Sở là có khi hôm sau được giải quyết rồi. Nhiều buổi tối trước khi đi ngủ tôi còn nhận được email của các hội quán gửi kể về tình hình làm ăn của họ, thấy gần gũi, ấm cúng vô cùng”, ông Lê Minh Hoan chia sẻ.  Để hướng tới hợp tác sản xuất lớn  Hội quán không chỉ là kênh trao đổi, chia sẻ giữa những người nông dân với nhau hay giữa người dân với chính quyền, mà còn là kênh liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp thu mua nông sản. Thúc đẩy liên kết giữa những người nông dân chính là một trong những vấn đề cốt lõi của tái cơ cấu nông nghiệp tại Đồng Tháp, bởi vì chưa giải xong bài toán hợp tác giữa những người nông dân với nhau thì giải bài toán liên kết giữa người nông dân và doanh nghiệp là “vô vọng”. Chỉ khi các hộ nông dân tìm được tiếng nói chung thì họ mới không bị xé lẻ, thao túng bởi thương lái, đồng thời họ có thể đảm bảo được vùng nguyên liệu lớn hơn cho các doanh nghiệp. Độ “phủ rộng” của mối liên kết nông dân – doanh nghiệp của hội quán có thể lớn hơn so với phạm vi của hợp tác xã (HTX). Ví dụ, hội quán xoài Minh Tân có một nửa số thành viên là xã viên HTX xoài, do đó, tổng diện tích vùng nguyên liệu xoài mà công ty thu mua nông sản tiếp cận được thông qua hội quán còn rộng lớn hơn diện tích của các HTX. “Vừa qua, hội quán cũng mời công ty TNHH Long Uyên tới bàn về việc thu mua xoài cho các thành viên trong hội quán đã sản xuất theo quy trình Vietgap”, ông Hưng cho biết.  Theo đó, mô hình này có thể hỗ trợ, bổ khuyết cho nhiều HTX hiện chưa thực sự trở thành một kênh liên kết hiệu quả. Ngay tại một số địa phương của Đồng Tháp như huyện Tam Nông, “trong tổng số 33 HTX nông nghiệp cũng chỉ có 5 HTX hoạt động mạnh, số còn lại hoạt động cầm chừng”, theo ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Phó chủ tịch huyện Tam Nông. Trên phạm vi cả nước, số lượng các hợp tác xã đang giảm đi rõ rệt, có tới 85% trong số 9.200 HTX được thống kê vào năm 2012 đóng góp không đáng kể cho xuất khẩu sản phẩm nông sản1.  Như vậy, thực tiễn bước đầu hoạt động của các hội quán ở Đồng Tháp cho thấy, một mô hình liên kết tự nguyện, không biên chế, không ngân sách đã bắt đầu có hiệu quả. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều tổ chức quần chúng công đang rơi vào tình trạng hành chính hóa, có biên chế cồng kềnh, hệ thống tổ chức thiếu linh hoạt, không còn thực sự thu hút được người dân2 thì không gian của các hội quán phần nào có thể khỏa lấp được khoảng trống về nhu cầu liên kết, chia sẻ thông tin của người nông dân. Tuy nhiên, để mô hình này thực sự phát triển bền vững theo đúng nghĩa là một tổ chức xã hội của người dân, thì cách tiếp cận “từ dưới lên” rất cần được duy trì xuyên suốt, tức là chính quyền khuyến khích người dân tự thành lập các hội quán, sau đó chỉ là “cầu nối” để các hội quán tiếp xúc với doanh nghiệp và các chuyên gia tư vấn về kỹ thuật và quản trị sản xuất hoặc phát triển cộng đồng chứ không “nghĩ thay”, “làm thay” hay “chỉ đạo” hoạt động của các hội quán. “Hồi mới thành lập các hội quán, tôi hay xuống sinh hoạt cùng anh em và trò chuyện rồi thảo luận các chuyên đề. Hồi lâu họ cũng réo tôi là ‘anh ơi tuần sau sinh hoạt đề tài gì’ thì tôi bảo ‘từ từ rồi bà con phải tự tìm hiểu thông tin và nghĩ đề tài chứ’. Tuần trước có hội quán xác định đề tài là chữ tín trong kinh doanh’ đấy”, ông Lê Minh Hoan kể lại.  Mô hình hội quán ở Đồng Tháp bắt đầu được hình thành từ tháng 5/2016, đến nay đã có 14 hội quán trong tổng số 144 xã ở Đồng Tháp. Mỗi hội quán thường tập hợp những hộ nông dân cùng ngành nghề như nuôi tôm, cá, trồng xoài, nhãn, quýt… Các hội quán hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, không có một tổ chức chính trị nào điều hành, các thành viên tự bầu chọn ra một chủ nhiệm hội quán, tự tổ chức các buổi hội họp thường kỳ để hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, gắn kết quan hệ làng xóm.  —-  1 Trần Đức Viên, Nguyễn Việt Long, Thúc đẩy liên kết với người sản xuất trong nông nghiệp, Tia Sáng, số 22 -tháng 11 năm 2016.  2 Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Khắc Giang, Vũ Sỹ Cường, Ước lượng chi phí kinh tế cho các tổ chức quần chúng công ở Việt Nam, Hà Nội, NXB Hồng Đức, năm 2015.          Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Hồi sinh thành công hạt giống cây chà là 2000 năm tuổi      Các nhà nghiên cứu Israel đã ươm mầm thành công một số hạt giống chà là 2000 năm tuổi lấy từ các pháo đài và hang động ở khu vực Biển Chết. Công bố trên Science Advances, phát hiện này đã giải quyết phần nào câu hỏi về cách thức chọn lựa giống cây của nông dân cổ đại, cũng như làm thế nào mà hạt cây chà là có thể tồn tại trong nhiều thiên niên kỷ.      Các nhà nghiên cứu đang nuôi trồng những cây chà là được ươm từ hạt giống 2000 năm tuổi. Những ưu điểm của nó có thể giúp cải thiện những đặc tính của cây chà là hiện đại. Nguồn: Jenny E. Ross/Minden Pictures  “Đây quả là một kết quả đáng kinh ngạc”, Robin Allaby, nhà di truyền học từ ĐH Warwick bình luận với Science. “Nó giúp chúng ta hiểu thêm về khả năng bảo tồn lâu dài của hạt giống.”  Để hạt giống chà là cổ có thể lên mầm, Sarah Sallon, nhà thực vật dân tộc học tại Trung tâm Y tế Hadassah – Jerusalem, và các đồng nghiệp đã kiểm tra và phân loại hàng nghìn hạt giống cổ. Một số được khai quật từ một pháo đài cổ tại Masada (Israel) nhìn ra Biển Chết; một số khác được tìm thấy trong các hang động quanh Biển Chết vốn xưa kia được dùng làm nơi ở và cất đồ dự trữ.  34 mẫu hạt giống có triển vọng nhất được ngâm trong nước ấm và phân bón dạng lỏng, sau đó được vùi trong bồn đất sạch. Sáu hạt giống nẩy mầm thành cây chà là con. Những hạt này dài đến vài centimét, lớn hơn 30% so với hạt chà là hiện đại, gợi ý về khả năng chà là cổ đại lớn hơn rất nhiều so với các giống ngày nay. Các cây mới được đặt theo tên các nhân vật trong Kinh Cựu ước, với cây lớn nhất – có tên “Methusela” – đã cao khoảng 3,5 mét.  Để xác thực các hạt giống này thực sự là cổ đại chứ không phải là hạt giống gần đây bị súc vật vùi vào tầng văn hóa cổ đại, các nhà khoa học đã đo niên đại của mảnh vỏ hạt giống bám vào rễ sau khi chúng đã nảy mầm thành công. Theo đó, niên đại xác định nằm ở khoảng từ 2200 đến 1800 năm tuổi.  Phân tích gene ban đầu của các cây con cho thấy việc chọn lọc giống chà là khi đó đã rất phổ biến. Kết quả là loại chà là Judea, từng được nhiều tác gia như Galen, Strabo, Herodotus,… mô tả là giống cho quả lớn, ngọt và lâu hỏng rất có giá trị trong thế giới Hi Lạp – La Mã cổ đại. Sau sự sụp đổ của đế chế La Mã và sự bành trướng của đế chế Arập, việc trồng chà là ở khu vực này đi xuống – và đến thời kỳ Thập Tự Chinh, khoảng năm 1000 SCN, các nông trang chà là bản địa đã không còn nữa. Các giống chà là phổ biến hiện nay tại Israel được đưa về từ Irắc và Marốc từ đầu thế kỷ 20.  Chúng cũng có thể cho ta biết thêm về cách cây chà là có thể tự bảo toàn ADN của mình trong nhiều thế kỷ – bời vì, ADN và ARN thường có xu hướng phân rã theo thời gian. “Để hạt giống có thể nảy mầm, ADN cần phải còn nguyên vẹn. Điều này đi ngược lại rất nhiều hiểu biết hiện nay về bảo toàn ADN”, theo nhà khảo cổ học di truyền Nathan Wales. “Nhưng không thể không tính đến các điều kiện môi trường rất tốt có thể bảo quản được ADN [ở cây chà là]”.  Sallon cho rằng điều kiện bất thường của vùng Biển Chết có thể có tác dụng: “Độ thấp so với mực nước biển, nhiệt độ và điều kiện khô ráo đều có thể ảnh hưởng đến sự bảo quản phôi”, bà nói. Vị trí thấp hơn mực nước biển của Biển Chết khiến cho nơi đây có khí quyển dày hơn để bảo vệ hạt giống khỏi các tia bức xạ từ ngoài không gian.  Cùng phát hiện tương tự như việc tái tạo giống cỏ cổ bị đóng băng ở vùng Siberi, các cây mới có thể đánh dấu sự hồi sinh của giống chà là cổ – nếu không phải là cùng giống thì cũng là những đặc tính trội nhất của nó. Theo nhà sinh vật học Frédérique Aberlenc (Viện Nghiên cứu QG Pháp về Phát triển Bền vững), đồng tác giả của nghiên cứu, nhóm đang có kế hoạch cho thụ phấn cây cái trong thời gian tới với hi vọng cây sẽ cho quả.  Tuấn Quang tổng hợp  Nguồn: Science, The Times of Israel, Atlantic.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội thảo Nhật-Việt về AI: Gặp gỡ Việt-Nhật trong nghiên cứu trí tuệ nhân tạo      Hội thảo Nhật – Việt về Trí tuệ Nhân tạo (JVAIF), diễn ra ở Hà Nội và Quảng Ninh từ ngày 20 đến 22/4/2023, đã cho thấy một phần nghiên cứu AI của Việt Nam đang tiệm cận với trình độ thế giới.      Do Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), Công ty Cổ phần Nghiên cứu và Ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo (VinAI) thuộc tập đoàn Vingroup và Trung tâm về Đề án Trí tuệ Nhân tạo Tiên tiến của Nhật Bản thuộc Viện RIKEN (RIKEN-AIP) đồng tổ chức, hội thảo giới thiệu và chia sẻ một số kết quả nghiên cứu mới nhất về AI của các nhà nghiên cứu hai nước, khả năng hợp tác về nghiên cứu và phát triển AI giữa hai bên. Gần 100 người tham gia trực tiếp và nhiều người tham gia trực tuyến từ các trường, viện và các doanh nghiệp công nghệ trên cả nước.  Bắt đầu với hai báo cáo đề dẫn về những kết quả nghiên cứu mới của giáo sư Masashi Sugiyama – Giám đốc RIKEN-AIP và một chuyên gia học máy, khai phá dữ liệu, AI, và tiến sĩ Bùi Hải Hưng, Tổng Giám đốc VinAI, hội thảo có 24 báo cáo chọn lọc – một nửa từ Nhật Bản và một nửa từ Việt Nam, được trình bày và thảo luận. Các báo cáo này đã đề cập đến nhiều nội dung thời sự và quan trọng của AI, trải rộng từ các nền tảng toán học như C* đại số hay lý thuyết biểu diễn đến các phương pháp học máy thống kê Bayes trong các tình huống khó, suy diễn thống kê, tối ưu đa nhiệm, học liên tục hay phân rã mạng tensor.  Một số báo cáo tập trung vào các phương pháp tạo sinh ảnh hay phân tích ảnh ba chiều, xử lý tiếng nói hay mô hình ngôn ngữ tiếng Việt liên quan đến ChatGPT. Một số nghiên cứu gắn với các lĩnh vực ứng dụng thời sự của AI như nghiên cứu bệnh mất trí nhớ, giao thông tối ưu, hay AI trong in 3D. Điều đáng ghi nhận của JVAIF– theo những người tham gia– là chất lượng cao của các báo cáo, được đánh giá là tương đương với báo cáo ở các hội nghị quốc tế hàng đầu về AI.  Làm nên thành công của một hội thảo có chất lượng chuyên môn cao như vậy là do có sự đóng góp về mặt chuyên môn và tổ chức của ba cơ sở nghiên cứu về AI của Việt Nam và Nhật Bản. Thứ nhất, RIKEN-AIP là một trung tâm nghiên cứu thuộc RIKEN, một tổ chức nghiên cứu lớn hàng đầu của Nhật Bản, đưa ra nhiều giải pháp cho các vấn đề quan trọng của đời sống như khả năng phục hồi sau thảm họa, chăm sóc sức khỏe người già, cũng như các vấn đề đạo đức, pháp lý và xã hội khi phát triển và sử dụng AI… RIKEN-AIP có 11 nhóm nghiên cứu các công nghệ lõi của AI, 17 nhóm nghiên cứu các công nghệ AI hướng đích, và 6 nhóm nghiên cứu các vấn đề của AI và xã hội…  Thứ hai, VIASM là nơi có hoạt động trọng điểm là thúc đẩy ứng dụng toán học và nâng cao vai trò của toán học trong các lĩnh vực khoa học, trong phát triển kinh tế và xã hội. Từ năm 2018, VIASM thành lập Phòng KH Dữ liệu (DSLab) có thành viên là các giảng viên và nhà nghiên cứu về AI trong và ngoài nước, tham gia xây dựng và tư vấn cho nhiều chương trình đào tạo về AI và KH Dữ liệu cũng như chương trình Phân tích Kinh doanh hoặc Kinh doanh số ở các trường đại học.  Thứ ba, VinAI quy tụ nhiều chuyên gia AI là người Việt, có kinh nghiệm làm việc tại nước ngoài, và một chương trình đào tạo tài năng AI với khoảng 40 sinh viên xuất sắc được tuyển từ các trường đại học trên cả nước.  Việc cùng tổ chức hội thảo và trao đổi về các nghiên cứu về AI cùng với RIKEN–AIP cho thấy Việt Nam đã có một số nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực này, có thể hợp tác tương đương và “chơi” sòng phẳng với những cơ sở nghiên cứu AI hàng đầu thế giới. Trong ngành Công nghệ Thông tin, các bài báo công bố ở hội nghị quốc tế A* (hội nghị có chất lượng xuất sắc nhất trong xếp hạng của CORE – Hiệp hội Nghiên cứu và Đào tạo Tính toán của Úc) là thước đo rất quan trọng để đánh giá tiềm lực của một cơ sở nghiên cứu. Nếu như trước năm 2018, hầu như không có bài báo nào ở Việt Nam lọt vào các hội nghị này thì sau mấy năm, Việt Nam đã có hơn 100 bài. Riêng VinAI, năm 2019 có 6 công bố ở các hội nghị quốc tế hàng đầu, đến nay đã có 117 công bố.    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Hội trại “Bé làm khoa học” lần thứ tư      Hội trại Bé làm khoa học lần thứ tư sẽ diễn  ra vào ngày 12/04 tại khuôn viên trường Tiểu học An Viên, Tiên Lữ, Hưng  Yên, sau ba hội trại tổ chức thành công trước đó tại các tỉnh Vĩnh Phúc,  Bắc Ninh và Hà Nam.     Đây cũng là hội trại cuối cùng của Dự án Bé làm khoa học do nhóm các cựu sinh Mỹ tại Việt Nam cùng Học Viện Khám Phá tổ chức.  Hội trại có sáu hoạt động khoa học là các thí nghiệm với các chủ đề: Dấu chân Các bon, Hãy thắp sáng lên, Nhà Manila, Động cơ phản lực, Nhà làm phim thông thái, Góc sáng tạo. Việc trực tiếp tham gia các thí nghiệm khoa học không chỉ giúp các em hiểu được một số kiến thức khoa học, nắm bắt được kỹ năng một nhà khoa học cần có, mà các em còn có cơ hội trực tiếp làm ra những sản phẩm hữu dụng trong cuộc sống từ những vật liệu đơn giản.   Nằm trong khuôn khổ cuộc thi Quỹ sáng kiến kết nối cựu sinh toàn cầu do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức, Dự án Bé làm khoa học là đại diện duy nhất của Việt Nam lọt vào 50 dự án xuất sắc nhất.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội trại khoa học Odyssey ASEAN+3 lần 6: Ngày hội của các tài năng khoa học nhỏ tuổi      Hội trại khoa học Odyssey ASEAN +3 đã tạo cơ hội cho các tài năng khoa học nhỏ tuổi đến từ 13 nước trao đổi ý tưởng, niềm say mê khoa học, phát triển khả năng nghiên cứu và sáng tạo.      Nhóm thí sinh của Lào trước phần thi trình bày Poster về dự án nghiên cứu khoa học của mình.   “Ở nước em, vẫn còn nhiều vùng rất thiếu điện trong khi có tài nguyên nước rất lớn với nhiều sông suối. Vì thế chúng em có sáng kiến nghiên cứu và chế tạo một máy thủy điện nhỏ với mong muốn có thể góp phần cung cấp điện cho những vùng quê còn thiếu điện nhưng vẫn đảm bảo thân thiện với môi trường”, em Piyamany Chalemphakdy đến từ trường Neerada, Vientiane, Lào cho biết ý tưởng dự thi của nhóm mình. Các nguyên vật liệu để làm nhà máy thủy điện mini này đều rất dễ tìm kiếm ở nhiều vùng quê tại Lào và có thể tái chế được. Cùng với nhóm thí sinh Lào, 12 nhóm khác đến từ 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và Thụy Điển cũng đang chuẩn bị bài thuyết trình dự án nghiên cứu về chủ đề Năng lượng tái tạo trong Hội trại ODYSSEY ASEAN+3 lần 6 (APT JSO-6) do Bộ KH&CN Việt Nam phối hợp với Chương trình Trung tâm ASEAN + 3 về tài năng khoa học (ACGS) tổ chức với chủ đề “Năng lượng tái tạo cho cuộc sống” từ ngày 11 đến 15/7 vừa qua.  Điểm đáng chú ý của cuộc thi là các em học sinh đóng vai những nhà khoa học thực thụ: tự xây dựng thiết kế chương trình nghiên cứu, thuyết trình ý tưởng và hiện thực hóa một phần ý tưởng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Cụ thể, các em học sinh trong độ tuổi 13 – 15 được tham gia ba phần thi: Thi trình bày poster, Thi kỹ năng trong phòng thí nghiệm, Thuyết minh dự án xoay quanh chủ đề năng lượng tái tạo. Các phần thi trình bày Poster và Thuyết minh dự án được thực hiện ở Đại học FPT, Phần thi thực hành thí nghiệm được tổ chức ở các phòng thí nghiệm của Đại học KH&CN Hà Nội. Trong đó, phần thi thực hành thí nghiệm được thiết kế chặt chẽ và mang tính “liên hoàn” giữa ba môn Sinh học – Hóa học – Vật lý. Các em được ra đề bài tạo năng lượng tái tạo từ lá cây và phải hoàn thành bài thi theo các bước: nghiền thu lấy dịch chiết lá, sau đó chạy sắc ký phân tích các sắc tố có trong lá cây. Dịch của lá cây tiếp tục được chuyển sang để làm đệm cho các tấm pin năng lượng và chuyển sang bước cuối cùng để đo lường năng lượng thu được bằng các thí nghiệm Vật lý. Hội đồng giám khảo do Bộ KH&CN Việt Nam chọn lựa, gồm các nhà khoa học trẻ có uy tín từ các chuyên ngành Vật lý, Hóa học và Sinh học đánh giá và cho điểm các nhóm dự thi.      Điểm đáng chú ý của cuộc thi là các em học sinh đóng vai những nhà khoa học thực thụ: tự xây dựng thiết kế chương trình nghiên cứu, thuyết trình ý tưởng và hiện thực hóa một phần ý tưởng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.        Bên cạnh các hoạt động thi của học sinh, giáo viên từ 13 nước cũng đã chia sẻ kinh nghiệm dạy STEM ở nước mình thông qua phần thi thuyết trình về “Thúc đẩy STEM cho học sinh thông qua các ứng dụng năng lượng tái tạo”. “Cuộc thi này là cơ hội để các nước cùng ngồi với nhau, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi các nước đang hướng dẫn, triển khai hoạt động STEM đó như thế nào”, TS. Nguyễn Tiến Đông, Đại học Bách khoa, thành viên Ban giám khảo của phần thi dành cho các giáo viên chia sẻ với Tia Sáng.  Trao đổi bên lề hội trại APT JSO-6, ông Trần Đắc Hiến, Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ, Bộ KH&CN, đại diện ban tổ chức cho biết, mục tiêu của Hội trại là thông qua các hoạt động nghiên cứu, tạo cơ hội cho các học sinh tài năng, đam mê khoa học trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm; phát triển khả năng nghiên cứu và sáng tạo. Bộ KH&CN sẽ có đánh giá và học tập kinh nghiệm từ hội trại này để nhằm đẩy mạnh việc tổ chức các hội thi, ngày hội khoa học tương tự cho trẻ em tại Việt Nam.    Nhóm thí sinh Thụy Điển đang làm thí nghiệm nghiền và thu dịch chiết lá cây.    Thí sinh Malaysia đang nghiên cứu tài liệu để làm thí nghiệm.    Thí sinh Hàn Quốc tìm hiểu Poster của các đội khác.          Author                Bảo Như        
__label__tiasang Homo imaginatus – Loài người tưởng tượng      Trí tưởng tượng không đơn giản chỉ là sản phẩm phái sinh từ kĩ năng giải quyết vấn đề của chúng ta. Đó có thể là cốt lõi trong sự tiến hóa của bộ não con người.        Nguồn: Aeon.co  ‘Với tôi, toàn bộ thế giới này chỉ là sự nối dài của ảo mộng và trí tưởng tượng.’ William Blake viết năm 1799, ‘trí tưởng tượng không phải là một trạng thái: nó chính là sự tồn tại của con người’.  Blake, một họa sĩ đồng thời là một nhà thơ, người sáng tạo ra những hình ảnh có được sức mạnh không chỉ nhờ vào kỹ nghệ đơn thuần, mà bởi vì chúng cố gắng vượt lên khỏi nó – để truyền tải một hình dung về thế giới vượt khỏi vẻ bề ngoài, mà chỉ trí tưởng tượng mới có thể chạm tới.  Với người theo chủ nghĩa lãng mạn, trí tưởng tượng là một phẩm chất thần thánh. ‘Trí tưởng tượng cơ bản mà tôi nắm giữ là Sức mạnh của sự sống và là Tác nhân chính của mọi Nhận thức của con người,’ Samuel Taylor Coleridge viết năm 1817. Đó là một công cụ mạnh mẽ có thể sử dụng được, khác với “sự hào nhoáng” đơn thuần của việc chém gió – mà ngày nay người ta rất hay coi là trí tưởng tượng.  Blake sẽ không thấy ấn tượng trước những nỗ lực của khoa học hiện đại nhằm tìm kiếm trí tưởng tượng trong số những hình mẫu hoạt động của tế bào thần kinh, như thể nó chỉ là một chức năng nhận thức khác của não, giống như điều khiển vận động hoặc nhận biết mùi. Ông cũng sẽ coi thường ý tưởng, mà nhiều nhà khoa học nhận thức ưa thích, rằng trí tưởng tượng chỉ là sản phẩm phụ của các chức năng thần kinh ‘quan trọng’ hơn, đã phát triển vì các lý do khác – theo cách nhà khoa học nhận thức Steven Pinker đề xuất rằng âm nhạc là ‘bánh phô mai’ cho thính giác (ám chỉ rằng âm nhạc lay động bộ não cũng giống như bánh phô mai lay động vị giác), vận dụng các kỹ năng cơ bản cần có để xử lý âm thanh.  So sánh với những nghiên cứu đã có từ lâu về cách chúng ta xử lý âm nhạc và âm thanh, ngôn ngữ và tầm nhìn, những nỗ lực để lý giải khía cạnh nhận thức và khoa học thần kinh của trí tưởng tượng vẫn còn đang trong trứng nước. Vậy nhưng đã có lý do để cho rằng trí tưởng tượng còn đi xa hơn rất nhiều so với một nhánh kỳ dị của tâm hồn phức tạp của chúng ta, một kiểu phần thưởng tiến hóa giải trí cho chúng ta mỗi đêm. Một nhóm các nhà khoa học thần kinh, triết gia và ngôn ngữ học có xu hướng cho rằng trí tưởng tượng, không chỉ là sự vượt trội về tinh thần mà quan trọng hơn rất nhiều đó là, là trung tâm của nhận thức con người. Nó có thể là một đặc tính mà trí tuệ chúng ta đã tiến hóa để vượt trội, và nó mang lại cho chúng ta sự linh hoạt về mặt nhận thức với hiệu quả mạnh mẽ để định hình thế giới của mình.  Từ quan điểm tiến hóa, vấn đề trọng tâm của trí tưởng tượng đó là nó cho phép bạn giả định, hình dung, và mô tả không chỉ những thứ mà bạn chưa bao giờ trải nghiệm, mà cả những thứ mà bạn không bao giờ có thể trải nghiệm, bởi vì nếu chúng có thật thì sẽ vi phạm các định luật chi phối thế giới. Bạn hẳn có thể tưởng tượng mình có kích thước của một con kiến hay bước đi trong không trung, hoặc sống trên Mặt trăng. Giây lát thôi: Hãy thử xem, không khó thế đâu.  Nhưng làm thế nào mà tâm trí có khả năng hình dung bay bổng như vậy lại có thể mang tới lợi ích cho chúng ta? Không giống như thị giác và trí nhớ, sau cùng, trí tưởng tượng dường như không giống như một thuộc tính được phân bố rộng rãi trong thế giới tự nhiên. Chúng ta có thể để cho rằng chó và tinh tinh không tưởng tượng chúng có cánh hay sống ở Ý thời Trung cổ. Thậm chí trong ngữ nghĩa của riêng con người, các kỹ năng nhận thức như giải quyết vấn đề, tính toán và hợp tác xã hội dường như hữu dụng hơn nhiều cho sự thích nghi để sinh tồn.    Ảnh chụp não cho thấy não sử dụng chung một mạng thần kinh để nhớ về các sự kiện quá khứ cũng như tưởng tượng ra những gì xảy đến trong tương lai. Ảnh: từ công trình Du hành thời gian của tâm trí? Một mô hình nhận thức thần kinh về mô phỏng sự kiện của Addis.    Trong câu chuyện mà khoa học đã dạy cho chúng ta để kể về sự tiến hóa của con người, các kỹ năng mà chúng ta đạt được có vai trò là những cột mốc quan trọng. Khoảng 2,3 triệu năm trước, tổ tiên của chúng ta ở Phương Đông và Nam Phi là Homo habilis, ‘người khéo léo’ – được gọi như vậy bởi vì giống người này có khả năng dùng tay chế tạo những thứ tinh xảo, đặc biệt là để làm công cụ. Sau đó khoảng 2 triệu năm trước, Homo Erectus xuất hiện, khác biệt nhờ khả năng đi khi đứng thẳng. Và cuối cùng, dĩ nhiên, là Homo sapiens, người ‘thông minh’ hay người ‘tinh khôn’ hiện đại.  Vậy nhưng liệu ta có chắc những tên gọi này chính xác? Chúng ta không phải loài biết dùng công cụ duy nhất – vượn người, voi, quạ và vẹt là một số động vật có thể dùng công cụ, và tinh tinh thì có tay phải khá khéo léo. Đi thẳng người không phải vấn đề với gôrila. Còn việc sở hữu trí tuệ và kiến thức, có lẽ chúng ta chưa vội đề các kĩ năng này cho tới khi chúng ta thoát khỏi (hoặc không) hành trình tự hủy diệt tới tuyệt chủng hiện tại. Hầu hết những thuộc tính nhận thức quan trọng khác – trí nhớ, lòng cảm thông, khả năng nhìn xa trông rộng và lên kế hoạch, tính xã hội, tỉnh thức – cũng hiện hữu ở các loài khác.  Nếu có một năng lực tinh thần khiến chúng ta thực sự khác biệt với các loài vật khác, thì có lẽ nó không phải một kỹ năng, mà là một phẩm chất của trí tuệ nhiều hơn. Có lẽ chúng ta nên tự gọi mình là Homo imaginatus: có thể trí tưởng tượng đã khiến chúng ta trở thành con người. Càng hiểu về trí óc của các loài khác, càng thử xây dựng (và thất bại) các cỗ máy có thể ‘nghĩ’ như chúng ta, thì càng rõ ràng rằng trí tưởng tượng là một ứng viên cho thuộc tính quý giá và khác biệt nhất của chúng ta.  Nếu trí tưởng tượng thực sự quan trọng đến thế, bạn có thể kỳ vọng nó là một trong những hiện tượng nhận thức được nghiên cứu nhiều nhất. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược, việc hiểu các cơ quan trong cơ thể gợi lên trí tưởng tượng của con người như thế nào lại chẳng được chú ý là bao, và hầu như vẫn còn là một bí ẩn. Thật dễ dàng hơn rất nhiều để nghiên cứu chuyện gì đang xảy ra trong não bộ khi chúng ta được giao một nhiệm vụ cụ thể – ghi nhớ dãy các con số này, xem liệu bạn có thể tìm ra quy luật trong bức hình hay giải câu đố này không – hơn là nếu bạn được bảo, tưởng tượng đi.   Khi ‘trí tưởng tượng’ xuất hiện trong tài liệu khoa học thần kinh, nó thường được vô hiệu hóa bởi một định nghĩa quá hạn hẹp – khả năng hình thành hoặc gợi nhớ những hình ảnh trong tâm trí – thay vì một mô tả bao quát chiều sâu và phạm vi đích thực của trải nghiệm của con người. Ví như có sự khác biệt giữa việc hình dung một con sư tử và một con điểu sư. Khả năng ghi nhớ hình ảnh một con sư tử có thể có giá trị sinh tồn, bởi vì thật hữu ích nếu chúng ta luyện tập tâm trí với một tình huống mà tốt nhất ta nên tránh. Nhưng đâu là giá trị của việc tưởng tượng một sinh vật có thân sư tử và đầu chim? Tại sao ta lại gợi lên một mối đe dọa không những chưa bao giờ tồn tại, mà có thể sẽ không bao giờ hiện hữu?       Một cảnh trong Giấc mộng đêm hè của William Shakespare, Titania và Bottom. Tranh của Edwin Landseer.   Trí tưởng tượng làm lu mờ biên giới giữa tâm trí và thực tại, vượt xa ảo tưởng và mơ mộng hão huyền. Khi Theseus trong Giấc mộng đêm hè của Shakespeare nói rằng trí tưởng tượng ‘làm hiện ra/dáng hình những thứ chưa được biết’ ông đang bày tỏ quan điểm Phục hưng rằng trí tưởng tượng tạo ra những hiệu ứng và biểu hiện có thực: ‘Người ta thấy nhiều quỷ dữ hơn địa ngục mênh mông có thể giam giữ’. Ở đây, Theseus lặp lại lời của thầy thuốc Thụy Sĩ ở thế kỷ 16 Paracelsus, người tin rằng quỷ dữ như incubus và succubus ‘là kết quả tự nhiên của sự tưởng tượng mãnh liệt và dâm dục về đàn ông hay đàn bà’. Chỉ từ trí tưởng tượng, Paracelus nói, ‘rất nhiều quái vật có hình thù khủng khiếp có thể hiện ra’. Vấn đề với trí tưởng tượng là nó không biết đâu là điểm dừng.  Ngay cả như vậy, các nhà tâm lý học tiến hóa có thể giả định rằng có lý do nào đó đằng sau khả năng hình dung điều bất khả của chúng ta. Vì não bộ giống loài của chúng ta trong quá trình tiến hóa không biết tới các định luật của vật lý, nên có gì ngạc nhiên nếu trí tưởng tượng chẳng e ngại việc phá vỡ chúng? Một tâm hồn có thể nhận thức những khả năng vượt quá trải nghiệm của riêng nó có thể chuẩn bị cho những chuyện không mong đợi; tốt hơn là dự đoán thật xa hơn là bị ngạc nhiên.      Con người không ‘giỏi tưởng tượng’ bẩm sinh, tưởng tượng không phải là một khả năng đơn lẻ mà để có nó thì bạn cần đúng một lượng chất xám nhất định. Nó là một thuộc tính đa chiều, và tất cả chúng ta đều tiềm tàng khả năng sở hữu nó. Một số người giỏi hình dung, một số giỏi liên kết, một số khác lại giỏi xây dựng thế giới phong phú hay đồng cảm xã hội.      Chúng ta đã biết rằng việc tạo ra quá nhiều khả năng, tiếp đó là giản lược dựa trên kinh nghiệm, là một chiến lược tiến hóa có thể thành công trong những bối cảnh khác. Hệ miễn dịch sản sinh cực nhiều kháng thể đa dạng, mà trong đó có thể chỉ một kháng thể thực sự phù hợp với một kháng nguyên nhất định để loại bỏ hoặc tiêu diệt nó. Và não trẻ sơ sinh không dần dần tạo ra các kết nối thần kinh khi tích lũy kinh nghiệm; thay vào đó nó bắt đầu với một loạt những kết nối ngẫu nhiên sau đó giảm đi khi não bộ phát triển và để lại những gì hữu ích để giao tiếp với thế giới.  Cũng như vậy, có lẽ tâm trí của con người tạo ra quá nhiều tương lai khả dĩ để lên kế hoạch ở hiện tại. ‘Nhiệm vụ của tâm trí’, Paul Valéry, nhà thơ người Pháp viết, ‘là tạo ra tương lai’. Trong cuốn sách Những kiểu tâm trí, nhà triết học Daniel Dennet đã trích lại câu này, nói rằng tâm trí là một nguồn sản sinh ra những kỳ vọng và dự đoán: nó ‘khai thác hiện tại để tìm kiếm những manh mối, mà nó sẽ gạn lọc với sự giúp đỡ của những chất liệu mà nó đã lưu giữ từ quá khứ, biến chúng thành các dự đoán về tương lai’.  Làm thế nào chúng ta có thể hình dung những tương lai có thể xảy ra? Những công cụ tinh thần cơ bản dường như dựng nên một biểu hiện trong nội tại chúng ta về thế giới, vận hành như một ‘máy mô phỏng tương lai’. Chẳng hạn, khả năng nhận thức không gian cho phép chúng ta xây dựng một bản đồ thế giới trong tâm trí. Chúng ta (và các loài có vú khác) có cái gọi là “tế bào vị trí”, các tế bào thần kinh trong khu vực của não gọi là hồi hải mã (có nhiệm vụ xử lý trí nhớ không gian) được kích hoạt khi chúng ta ở những địa điểm cụ thể đã được ghi nhớ. Chúng ta cũng phát triển trong tâm trí các mô hình hành xử của con người và các đối tượng: một kiểu vật lý và tâm lý học trực quan hay ‘dân gian’, chẳng hạn như cái gọi là thuyết tâm trí mà chúng ta gán các trạng thái và động cơ tinh thần cho người khác. Chúng ta tập hợp và gạn lọc những mạng lưới nhận thức này từ kinh nghiệm, tạo ra ký ức về những thứ mà chúng ta đã gặp hoặc quan sát.  Thế nhưng những gì chúng ta giữ trong tâm trí là những phiên bản rời rạc, sơ sài, xiên xẹo của “thực tại” – đủ tốt cho phần lớn mục đích nhưng đầy những lỗ hổng, những phán đoán và hồi ức sai lầm. Điều đáng ngạc nhiên không phải là sự bất toàn mà là chúng ta ít chú ý đến điều đó đến mức nào. Đó chính xác là bởi chúng ta là Homo imaginatus, những kẻ thêu dệt bậc thầy. Thèm khát những câu chuyện giúp mình lý giải thế giới, chúng ta vô ý và dễ dàng tự lấp đầy hay chỉnh lại những chi tiết cho đến khi lời kể của mình thuyết phục. Theo cách này, trí tưởng tượng là điều bình thường chúng ta vẫn luôn làm.  Những khoảnh khắc trầm tư, suy ngẫm và ’tư duy’ không mục đích chiếm phần lớn đời sống nội tâm của chúng ta. Trong những khoảnh khắc này, não của chúng ta ở trong một trạng thái mặc định mà dường như có vẻ mất tập trung và mơ mộng, nhưng thực ra lại hoạt động rất tích cực – lên kế hoạch cho bữa tối, nhớ lại cuộc tranh luận với đối tác, ngâm nga một giai điệu mà chúng ta đã nghe đêm qua. Cách suy nghĩ này tương quan với một mô hình hoạt động của não đã được xác định rất rõ, liên quan đến nhiều phần khác nhau của vỏ não và hồi hải mã. Được gọi là mạng chế độ mặc định, nó cũng tương tác khi chúng ta nhớ về các sự kiện trong quá khứ (trí nhớ theo giai đoạn); khi chúng ta tưởng tượng về các sự kiện trong tương lai; khi chúng ta lên kế hoạch cho tương lai; làm theo quan điểm của người khác, hoặc xem xét các tình huống trong xã hội.  Nhà khoa học thần kinh nhận thức Donna Rose Addis từ Đại học Toronto đã lập luận rằng trí tưởng tượng và sự hồi tưởng theo giai đoạn không chỉ cùng dùng đến những dữ liệu chung, cô nói, mà ‘bản chất là cùng một quá trình’. Sự suy giảm khả năng gợi lại những trí nhớ theo giai đoạn dường như đi kèm với việc không thể hình dung được tương lai, cô nói – và cả hai khả năng này xuất hiện cùng lúc trong thời thơ ấu.  Theo quan điểm này, các sự kiện được nhớ lại hoặc tưởng tượng ra đều nảy sinh từ việc não làm cùng một việc: mà Addis gọi là “quá trình tâm trí kết xuất trải nghiệm”. Trí tưởng tượng và trí nhớ sử dụng một mạng nhận thức cho việc ‘mô phỏng’, chuyển những thành phần thô của các trải nghiệm bằng giác quan thành một bộ phim trong đầu, với không chỉ âm thanh và hành động mà còn có các phản ứng, diễn giải và đánh giá về mặt cảm xúc. Điều đó không chỉ xảy ra khi chúng ta nghĩ về hôm qua hoặc ngày mai, Addis nói – mà còn là những gì chúng ta đang làm khi chúng ta trải nghiệm hiện tại. Đó đơn giản là thế giới của tâm trí. Năng lực tưởng tượng là chìa khóa cho sự liền mạch khi chúng ta dệt các dòng trải nghiệm thành một tấm thảm, cô nói.  Ở đây Addis đã mở rộng khái niệm mà người cộng tác với cô ở Đại học Queensland, Thomas Suddendorf đề xuất: trí tưởng tượng là một dạng du hành thời gian trong tâm trí. Như ông nói năm 1997, trí tương tượng là ‘sự tái cấu trúc các câu chuyện cá nhân trong quá khứ … và có thể là các sự kiện sẽ xảy ra tương lai trong tâm trí’. Suddendorf và đồng nghiệp của ông, Michael Corballis ở Đại học Auckland, New Zealand lập luận rằng du hành thời gian trong tâm trí có thể là một đặc trưng của con người, mặc dù vẫn còn đó cuộc tranh luận rằng liệu các loài vật khác có thực sự sống trong một kiểu thực tại liên tục hay không. Năng lực này sử dụng một loạt các chức năng nhận thức phức tạp để tạo ra sân khấu tâm hồn của những điều có thể xảy ra.  Khả năng này dường như bất đối xứng đến kì lạ – quá khứ vốn đã xảy ra, trong khi tương lai chỉ là phỏng đoán, phải chứ? Ồ, không hẳn vậy. Dù chúng ta thích nghĩ rằng mình nhớ ‘điều gì đã xảy ra’ bao nhiêu đi chăng nữa, rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng trí nhớ của chúng ta là một sự pha trộn mật thiết giữa thực tế và tưởng tượng. Chúng ta xây dựng một câu chuyện từ những chất liệu không hoàn hảo và rời rạc mà thế giới cung cấp và trí óc ghi lại. Tất cả chúng ta đều có những kỷ niệm tưởng tượng, một vài trong số đó lại cực kỳ chi tiết và thuyết phục đến mức chúng ta khó lòng tin rằng chúng không xảy ra. Như các nhà triết học về tâm trí Kourken Michaelian và Denis Perrin ở Đại học Grenoble Alpes ở Pháp đã nói, ‘nhớ đơn giản là tưởng tượng về quá khứ’. Khả năng nắm bắt thực tại của chúng ta, do vậy, không phụ thuộc vào sự phân biệt giữa thực tại và tưởng tượng, mà là giữa hai kiểu tưởng tượng – một đan bện với thực tại, một thì tách xa khỏi nó. Khiếm khuyết khả năng này là một đặc trưng chung của rất nhiều bệnh tâm thần, một trong số chúng được biết là gắn với sự rối loạn chức năng của mạng chế độ mặc định của não.    Dracula, một ác quỷ trong tiểu thuyết của Bram Stoker. Ảnh: Một cảnh trong phim của Francis Coppola.    Addis giờ đây coi khả năng tưởng tượng là thứ gì đó rộng hơn là chỉ mang tính thời điểm. Trong đôi mắt tâm hồn, chúng ta có thể phóng chiếu bản thân lên ‘bất cứ đâu trong không-thời gian tưởng tượng’ – về nước Pháp thời trung cổ, hay Trung Địa, hoặc Ma trận. Trong nhà hát nội tâm đó, bất kì vở kịch nào cũng có thể diễn ra. Như Theseus đã nói: ‘Tâm trí kẻ si tình và điên đều sục sôi/Dệt nên những ảo mộng không vơi/Sâu sắc hơn cả lý trí tuyệt vời”.  Addis lập luận rằng hệ thống mô phỏng của não bộ có thể tạo ra những ảo tưởng như vậy từ công cụ liên tưởng của nó: đan bện các yếu tố đa dạng của kinh nghiệm như các sự kiện, khái niệm và cảm nhận lại với nhau. Chính nhờ nhận thức liên tưởng – một tập hợp các tế bào thần kinh gợi lên nội dung của những tế bào khác – mà chúng ta có thể nhớ tên người và vật. Theo đó, chúng ta có thể có một trải nghiệm nhất quán và phong phú chỉ từ một phần thông tin, dễ dàng bổ sung thông tin còn thiếu tới mức chúng ta thậm chí còn không biết mình đang làm vậy. Sự liên tưởng này chắc chắn xảy ra khi một tiểu thuyết gia đặt ra đặc điểm và diện mạo cho các nhân vật không bao giờ tồn tại, nhờ sử dụng kho ký ức trong não bộ (‘Nhân vật đó phải có tên là Colin; anh ta mặc áo khoét nách và đeo kính’). Theo đó, nhà thơ ‘cho nhân vật/một nơi ở và một cái tên’. Theo nghĩa nào đó, tất cả chúng ta lúc nào cũng là kiểu nhà thơ đó.  Nếu Addis đúng, thì sẽ khá sai lầm nếu giả định rằng trí tưởng tượng nghệ thuật chỉ là một sự phát triển quá mức về mặt tiến hóa của khả năng lên kế hoạch cho bữa ăn ngày hôm sau. Những chiều kích tưởng tượng của nghệ thuật có thể là biểu hiện điển hình của kỹ năng phán đoán và dự cảm của con người. Học giả văn chương Brian Boyd ở Đại học Auckland cho rằng đó là cội nguồn của thiên hướng sáng tác các câu chuyện của chúng ta. Cụ thể, ông tin rằng chúng có tác dụng thể hiện sức mạnh nhận thức xã hội của chúng ta.  Một số nhà sinh học tiến hóa tin rằng giao tiếp xã hội là chìa khóa cho sự tiến hóa của não bộ con người. Khi tổ tiên của chúng ta bắt đầu sống và làm việc theo nhóm, họ cần có khả năng dự đoán phản ứng của những người khác – để cảm thông, động viên, hiểu và có lẽ thậm chí là cả thao túng. ‘Trí óc của chúng ta được định hình một cách đặc thù để hiểu các sự kiện xã hội’, Boyd nói. Khả năng xử lý thông tin xã hội đã được các nhà tâm lý học Elizabeth Spelke và Katherine Kinzler ở Harvard đề xuất như một trong những ‘hệ thống cốt lõi’ của nhận thức con người.  Boyd tin rằng các câu chuyện là sân tập cho mạng lưới đó. Trong cuốn sách Về Những câu chuyện về Nguồn gốc (2009) của ông, ông lập luận, kể chuyện hư cấu như vậy không chỉ đơn thuần là một sản phẩm phụ của gene chúng ta mà là một đặc điểm thích nghi. ‘Kể chuyện, đặc biệt là tác phẩm hư cấu – những câu chuyện được sáng tạo ra, ví dụ như các vở kịch – thấm đẫm và thống trị văn chương, bởi vì nó hấp dẫn phần tương tác xã hội của bộ não,” ông viết năm 2013. Như nhà lý thuyết phê bình Walter Benjamin nói, truyện cổ tích là “người thầy đầu tiên của nhân loại”.  ‘Chúng ta mê mải trong những câu chuyện nhờ sự thấu cảm và khả năng dõi theo các nhân vật, nhờ sự sẵn lòng sẻ chia với những suy tư của họ khi theo đuổi mục tiêu của cuộc hành trình’ Boyd tiếp tục, ‘thế là, mục đích của họ trở thành mục đích của chính chúng ta.’ Khi bị câu chuyện hút hồn, những gì xảy ra với các nhân vật giả tưởng khiến chúng ta còn cảm thấy chân thật hơn cả thế giới của chính mình đang sống.  Ở đây trí tưởng tượng thật quý giá bởi vì nó tạo ra một không gian an toàn để học tập. Thay vào đó, nếu chúng ta chờ đợi để học hỏi từ kinh nghiệm sống thực tế, chúng ta có nguy cơ mắc những lỗi lầm đắt giá. Trí tưởng tượng – bất kể trong văn chương, âm nhạc, hình ảnh, hay thậm chí là khoa học – cung cấp chất liệu để luyện tập khả năng kiên trì tìm kiếm các hình mẫu và ý nghĩa trong cuộc đời. Đó là lý do vì sao các câu chuyện của chúng ta không cần tuân theo quy luật của tự nhiên: chúng không cần thiết phải mệt mỏi rèn luyện với tất cả những gì thực tế có thể xảy ra. Thay vào đó, các câu chuyện thể hiện được giá trị lớn nhất của mình khi được giải phóng khỏi những hạn chế của thực tại, thực chất là mở rộng khả năng tạo các liên kết thần kinh của trí óc. Trong các tác phẩm kỳ ảo của Italo Calvino và Jorge Luis Borges, chúng ta có thể tìm thấy các công cụ để tư duy.  Nếu trí tưởng tượng là điểm độc nhất của chúng ta, nó có thể là nguồn gốc của một sản phẩm độc đáo của con người: ngôn ngữ. Trong khi nhiều sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn và cây cối, giao tiếp với nhau, nhưng không thể làm được với sự linh hoạt, phức tạp và vô hạn như ngôn ngữ của con người, thứ thường được gọi là công nghệ quan trọng nhất của chúng ta. ‘Đầu tiên chúng ta phát minh ra ngôn ngữ, sau đó ngôn ngữ thay đổi chúng ta’, nhà ngôn ngữ học Daniel Dor ở Đại học Tel Aviv nói.  Từ lâu, ngôn ngữ đã chủ yếu được coi là một công cụ để giao tiếp rõ ràng hơn, chính xác hơn so với những âm thanh hoặc cử chỉ nhỏ hơn của động vật. Nhưng theo Dor, sự chính xác không phải là chức năng thực sự của nó; thay vào đó chủ yếu là ‘sự chỉ dẫn của trí tưởng tượng’. Ngôn ngữ, ông lập luận, phải là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự xuất hiện của trí tưởng tượng của con người như ta biết’.  Dor trích dẫn Ludwig Wittgenstein trong Nghiên cứu Triết học: Thốt lên một từ giống như đánh lên một nốt nhạc trong chiếc đàn của trí tưởng tượng.’ Chúng ta sử dụng từ ngữ, ông noi ‘để truyền đạt trực tiếp tới trí tưởng tượng của người đối thoại với ta’. Thông qua ngôn ngữ, chúng ta cung cấp các phương tiện mà người nghe có thể hình dung ra trải nghiệm về điều đang được kể lại. Đó là cách truyền đạt kinh nghiệm thực tế giữa chúng ta, và bởi vậy ‘mở ra một cánh cửa cho tính xã hội của con người mà nếu không có ngôn ngữ sẽ đóng mãi mãi’.  Điều đó có nghĩa là, ngôn ngữ, ‘về cơ bản là để kể chuyện’, theo lời của nhà tâm lý học Merlin Donald ở Đại học Case Western Reserve, Ohio. Dĩ nhiên, chúng ta sử dụng nó cho rất nhiều việc khác: để chào nhau, yêu cầu, khuyên nhủ, cảnh cáo và tranh luận. Nhưng ngay cả vậy, ngôn ngữ thường mang dấu ấn sâu sắc của kể chuyện và ẩn dụ: ngôn ngữ không chỉ là một nhãn dán kèm âm thanh, mà dẫn xuất tới những điều nằm ngoài đối tượng đang được nói đến trực tiếp. Về mặt từ nguyên, tưởng tượng (imagine) nghĩa là hình dung một bức tranh, hình ảnh hay một bản sao – nhưng cũng hàm ý đây là một hoạt động riêng tư, nội tại. Từ gốc Latin imaginari mang nghĩa rằng cá thể là một phần của bức tranh. Tự thân từ này đã kể một câu chuyện trong đó chúng ta sống trong một tình huống có thể xảy ra trên đời.  Nhờ có ngôn ngữ, trí tưởng tượng không chỉ liên quan đến những hình ảnh về bữa tối nay, hay lo lắng về việc nấu nó như thế nào. Trí tưởng tượng kêu gọi cả những quái vật kỳ dị, đế chế xuyên thiên hà, những câu chuyện cổ tích. Dor tin rằng sự phong phú này là của riêng con người. Ông tin rằng các loài vật khác có thể du hành thời gian trong tinh thần nhưng không thấy dấu hiệu nào rằng chúng có thể tạo ra những câu chuyện không có giới hạn” Chính năng lực độc đáo này của con người đã khiến cho ngôn ngữ lại quan trọng đến thế trong câu chuyện’, ông bổ sung.  Cũng không ngạc nhiên khi tầm nhìn của chúng ta lại thường táo bạo và kỳ lạ đến thế – vì thường chúng ta có thiên hướng nhìn thấy “ác quỷ nhiều hơn cả khả năng giam giữ của địa ngục rộng lớn”. Vì nếu Boyd đúng, rằng các câu chuyện có vai trò văn hóa quan trọng qua việc diễn tập những nan đề trong xã hội, suy ngẫm về những nỗi sợ và lo lắng cũng như thỏa mãn nhưng ham muốn bị cấm đoán, thì việc chúng mang hình thức cực đoan cũng là lẽ thường. Các nhân vật càng sống động và cường điệu thì càng cuốn hút và đáng nhớ. Điều này cũng giải thích vì sao nhiều câu chuyện lại có những tình huống được mất, như tình yêu và cái chết – bởi chúng là những tình huống mà những lỗi lầm trong việc phán xét nhau mới là điều đáng kể. Chắc chắn Jane Austen có thể đưa ra những chỉ dẫn xã hội tinh tế, nhưng cũng có đất cho Dracula và Godzilla nữa.  Trí tưởng tượng có thể là thứ rất điển hình của cách trí óc chúng ta vận hành: không phải như việc xâu chuỗi các mô-đun riêng biệt mà như một mạng tích hợp trong đó những năng lực bậc cao nảy sinh từ những năng lực bậc thấp hơn. Nó không hẳn là một năng lực trí tuệ là trung tâm hay nền tảng cho nhận thức của con người. Mà nó là một liên kết chằng chịt giữa các năng lực mà chúng ta có thể thấy ở những dạng rời rạc hơn trong các động vật khác. Chẳng hạn nhiều loài động vật vẫn có vài khía cạnh của năng lực thẩm âm (như phân biệt được cao độ hay lắc lư theo nhịp điệu) nhưng chỉ con người mới có âm nhạc thực sự. Rất nhiều loài động vật có thứ mà chúng ta có thể gọi là khả năng tưởng tượng. Nhưng chỉ riêng chúng ta có trí tưởng tượng.  Con người không ‘giỏi tưởng tượng’ bẩm sinh, tưởng tượng không phải là một khả năng đơn lẻ mà để có nó thì bạn cần đúng một lượng chất xám nhất định. Nó là một thuộc tính đa chiều, và tất cả chúng ta đều tiềm tàng khả năng sở hữu nó. Một số người giỏi hình dung, một số giỏi liên kết, một số khác lại giỏi xây dựng thế giới phong phú hay đồng cảm xã hội. Và giống như bất cứ kỹ năng tinh thần nào (như khả năng âm nhạc), trí tưởng tượng có thể được phát triển và nuôi dưỡng, cũng như bị kìm hãm và cản trở bởi sự giáo dục kém.  Khi hiểu rõ hơn não bộ đang làm gì khi nó tưởng tượng – và vì sao nó lại là một công cụ tưởng tượng tốt đến vậy – có lẽ chúng ta bắt đầu phá bỏ những định kiến xung quanh trí tưởng tượng. Chúng ta có thể ngừng khăng khăng rằng đó là đặc quyền của giới tinh hoa – các nhà thơ, những kẻ mơ mộng và những người nhìn xa trông rộng – mà những người còn lại chúng ta chỉ có thể hy vọng tiếp nhận những gì họ tạo ra. Trí tưởng tượng là cốt lõi của nhân loại. Đó là điều trí óc của chúng ta làm, và phần lớn đó có thể là mục đích của chúng. □  Hoàng Lam dịch    Nguồn: https://aeon.co/essays/imagination-isnt-the-icing-on-the-cake-of-human-cognition    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn 1.000ha xây dựng Khu công nghệ cao Đà Nẵng      Theo quy hoạch chung xây dựng Khu công nghệ cao Đà Nẵng vừa được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng phê duyệt, phạm vi quy hoạch khu công nghệ cao thuộc xã Hòa Liên và xã Hòa Ninh (huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng) với tổng diện tích hơn 1.000ha.     Dân số tham gia các hoạt động của khu công nghệ cao khoảng 40.000-50.000 người, trong đó dân số cư trú khoảng 10.000 người.  Khu công nghệ cao gồm các chức năng nghiên cứu, ươm tạo, phát triển, chuyển giao ứng dụng, đào tạo nhân lực, ươm tạo doanh nghiệp, sản xuất, dịch vụ, đầu tư mạo hiểm…   Khu sản xuất công nghệ cao có diện tích 190 ha, được bố trí tập trung quanh trục trung tâm của khu công nghệ cao. Khu nghiên cứu – phát triển và ươm tạo công nghệ có quy mô gần 34ha. Khu ươm tạo công nghệ được bố trí phối hợp giữa các khu nghiên cứu, đào tạo và sản xuất.   Các công trình trong khu vực này không tiếp cận trực tiếp các tuyến giao thông chính, có không gian yên tĩnh và có chất lượng cao về cảnh quan.   Khu quản lý – dịch vụ công nghệ cao có quy mô gần 50ha, tập trung các hoạt động đào tạo, hội nghị, triển lãm, trưng bày tạm thời, các tiện ích công cộng, xã hội, các không gian cho các dịch vụ bổ trợ, thương mại, đào tạo đại học.  * Tiếp sau Khu công nghệ cao Sài Gòn (Saigon Hi-tech Park – SHTP) rộng 300ha, nằm bên Xa lộ Hà Nội, Quận 9, UBND TP Hồ Chí Minh vừa chấp thuận chủ trương thành lập khu công nghệ cao thứ hai của thành phố với tên gọi Công viên Khoa học và Công nghệ TPHCM. Trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tiên tiến này dự kiến được quy hoạch trên diện tích khoảng 200ha đất, cũng ở Quận 9. (Theo truyenthongkhoahoc.vn/)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗn độn và trật tự      Từ ngày 14-10 đến 12-11, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), họa sĩ Lê Kinh Tài bày triển lãm thứ hai của mình ở Hà Nội. Khác với lần trước, triển lãm lần này giống như một tiểu kết “Nhìn lại” – cũng là tên gọi của triển lãm – giai đoạn sáng tác khoảng mười năm gần đây của anh. Trước khi nói kỹ hơn về hội họa của Tài, tôi muốn điểm lại bối cảnh chung của mỹ thuật Việt Nam hiện nay, bởi chỉ có bằng cách đó ta mới có thể nhìn nhận khách quan về vị trí của một họa sĩ, về những gì anh ta đã làm được cho nghệ thuật.      LÊ KINH TÀI, Thịt rất tươi, 200x300cm (sơn dầu, sơn thỏi, sơn bột, heavy body acrylic trên vải bố). Ảnh do hoạ sĩ cung cấp.  Sau lứa họa sĩ thế hệ Đổi mới, mỹ thuật Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện của một làn sóng khác, trong đó một nửa theo đuổi những bộ môn nghệ thuật như trình diễn, sắp đặt…, một nửa vẫn duy trì hội họa giá vẽ nhưng là một kiểu hội họa giá vẽ khác, nếu không nói là khác hẳn. Nó nhiều trăn trở hơn, suy tư hơn, và có vẻ như đào sâu vào thế giới nội tâm hơn, ngược lại với hội họa Đổi mới, chú trọng đi tìm hình thức biểu đạt, điều mà các thế hệ họa sĩ thời bao cấp và thời chiến tranh không dám làm (thời đó, chỉ một hình thức được công nhận, được đặt hàng, tài trợ và triển lãm là chủ nghĩa hiện thực). Như đã nói, thời Đổi mới, việc cách tân hình thức được chú trọng, bung nở, dẫn đến sự ra đời một loạt tên tuổi như Đặng Xuân Hòa, Hồng Việt Dũng, Đào Hải Phong, Phạm Luận, Thanh Sơn, Hoàng Phượng Vỹ hay Nguyễn Thanh Bình… Những tác phẩm vẽ phong cảnh, tĩnh vật hay thiếu nữ mặc áo dài của họ mới mẻ nhưng không nhất thiết phải chuyên chở một câu chuyện nào đó. Sau thế hệ Đổi mới, những tên tuổi như Lê Kinh Tài, Lý Trần Quỳnh Giang, Thắm Poong, Lê Quý Tông… đã tạo thành một làn sóng khác, mỗi người đều đã có được con đường riêng của mình. Vậy con đường của Lê Kinh Tài là con đường nào trong bối cảnh như tôi đã trình bày ở trên?  Lê Kinh Tài học Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, trước khi cầm bút vẽ đã có thời gian dài làm thiết kế đồ họa (graphic design). Khi đến với hội họa, anh thể hiện một quan niệm thẩm mỹ khác hẳn các họa sĩ đi trước và các họa sĩ đồng thời với anh, đó là sự pha trộn của nghệ thuật đường phố (bao gồm graffiti, tranh tường), pop art, hội họa ý niệm, và tranh cổ động, quảng cáo (poster). Tất cả những yếu tố đó làm cho các tác phẩm của Tài đứng ra một góc riêng, không phải là kiểu hội họa phục vụ khách du lịch muốn qua hội họa tìm hiểu phong cảnh đất nước, con người Việt Nam hoặc thuần túy trang trí nhà cửa. Hội họa của Tài cũng khước từ “tính dân tộc” kiểu thẩm mỹ đình chùa, nông thôn chăn trâu cắt cỏ…; ngay cả sự thơ mộng, cái đèm đẹp cũng bị loại bỏ. Cảm giác Lê Kinh Tài khát vọng đi tìm một thẩm mỹ khác, thứ thẩm mỹ xuất phát từ và gắn với đời sống đô thị hiện đại. Đời sống đô thị hiện đại trong tranh của Tài không nhất thiết quy vào những gì hữu hình như ô-tô, xe máy đời mới, cửa hiệu thời trang, nhà hàng máy lạnh hay nhà cao tầng mà có lẽ chủ yếu ở đây là cái cảm về nhịp sống nhanh mạnh, lối sống sôi động, không khí ngột ngạt, chật chội, ồn ào… Lê Kinh Tài thể hiện tất cả những mặt hay-dở của cuộc sống đô thị nhưng không sao chép hiện thực ấy mà dùng hình và màu của mình để diễn tả không khí ấy, lối sống ấy, nhịp điệu ấy. Hội họa của Tài đầy chặt những âm vang của tiếng còi xe, tiếng máy nuốt-nhả thẻ tín dụng, tiếng đổ vỡ, rạn nứt, tiếng loa quảng cáo…     LÊ KINH TÀI, Tượng tò he, fiber glass, acrylic, và sơn dầu. Ảnh do hoạ sĩ cung cấp.  Lê Kinh Tài dùng cách lập ý để tư duy tạo hình dựa trên mô-típ chủ đạo là một con vật lưỡng thân hoặc đa thân khó mà gọi tên, có thể là đầu người nhưng mang mình vượn, mình thằn lằn, mình chim; hay thân người đầu thú nhưng lại có cánh. Con vật lưỡng thân này chuyển tải cái mô-típ không mới như tác giả từng nói, là mô-tip người-vật/vật-người/người-con/con-người. Gần 40 tác phẩm trưng bày (gồm tranh và tượng tò he) tại triển lãm lần này cũng là kết quả của cách lập ý đó.  Đặc biệt thêm vào là rất nhiều câu chữ viết trực tiếp lên bề mặt tranh – điều khiến tôi nghĩ đến sự pha trộn với nghệ thuật poster trong tranh của Tài – như một yếu tố tạo hình phụ trợ với con vật lưỡng thân kia, tất cả đều bằng tiếng Anh, gợi đến những vấn đề của đời sống hiện tại, ví dụ Citizen, Must go, Know me, Flying…  Bút pháp Tài mạnh mẽ, phóng khoáng, tự do, bay bổng đến tận cùng, bằng những cây cọ đẫm sơn, chồng đè ngay cả khi lớp màu dưới chưa khô. Không chỉ là sơn dầu, nhiều khi còn là acrylic; không chỉ là sơn dầu tuýp mà còn là sơn dầu thỏi (oil bar); không chỉ là bút mà nhiều khi là cả bay.  Lê Kinh Tài sở hữu một bảng màu vô cùng mạnh, hiểu theo nghĩa các màu đều tương phản gay gắt, nóng lạnh, chói chang, và hòa sắc thiên về sáng, giúp những hình thù trông có vẻ kỳ dị của Tài vẫn cho người xem cảm giác sống, sống động, hào hứng, vui, chứ không ủ ê và ít nhiều nghịch lý để tạo ra hài hước.  Tài là một người vẽ ở kích cỡ rất lớn, điều đó chứng tỏ anh có khả năng quản lý không gian và bố cục trong tranh vững vàng. Thao tác vẽ nhanh-mạnh, cách vẽ trực họa ào ạt, và dùng luôn màu nguyên ít pha, đồng nghĩa với việc anh phải là người vô cùng giỏi kiềm chế, bởi có cái hỗn độn nào không chứa trật tự ở bên trong nó    Author                Lê Thiết Cương        
__label__tiasang Hợp chất hỗ trợ điều trị tiểu đường và huyết áp cao từ lá Xakê và vỏ quả Măng cụt      Nhóm nghiên cứu trẻ thuộc Bộ môn Hóa hữu cơ, Viện Kỹ thuật Hóa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã xây dựng được quy trình công nghệ quy mô phòng thí nghiệm và chiết tách thành công một số hợp chất có hoạt tính sinh học nhằm tạo ra các chế phẩm hỗ trợ điều trị tiểu đường và huyết áp cao.      Các hợp chất này được chiết tách từ nguồn nguyên liệu sẵn có của Việt Nam là lá Xakê và vỏ quả Măng cụt, và có khả năng chống oxi hóa, hạ glucose máu, hạ huyết áp.  Sử dụng các công nghệ hóa sinh để chiết tách những hợp chất sinh học có khả năng chữa bệnh từ nguồn cây, hoa và quả tự nhiên là xu hướng phổ biến của các công ty dược lớn trên thế giới hiện nay. Nắm bắt được một trong những “thị yếu” của ngành dược, nhóm các nhà khoa học trẻ do PGS.TS. Trần Thu Hương đứng đầu đã đề xuất ý tưởng: “Nghiên cứu quy trình chiết tách phân đoạn có hoạt tính sinh học từ cây Xakê (Artocarpus altilis, Moraceae) và cây Măng cụt (Garcinia mangostana Linn., Clussiaceae)” nhằm hướng tới một loại dược phẩm mới từ nguyên liệu sẵn có trong nước hỗ trợ điều trị một số bệnh (tiểu đường, cao huyết áp) đang có xu hướng tăng cao hiện nay. Đề xuất này đã được hỗ trợ kinh phí dưới dạng một đề tài dành cho các nhà khoa học trẻ (đề tài khoa học công nghệ tiềm năng). Mặc dù thời gian dành cho việc thực hiện chưa nhiều (khoảng 8 tháng) nhưng Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm thành công cả quy trình công nghệ và hiệu lực của những hợp chất được chiết tách.  Quá trình xác định công nghệ chiết xuất và phân lập các hợp chất sinh học thể hiện sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của nhóm nghiên cứu. Công nghệ mà nhóm nghiên cứu xây dựng nên là sự tích hợp nhiều phương pháp hóa học – sinh học – vật lý – dược học hiện đại. Trong quá trình chiết tách các phân đoạn có hoạt tính từ lá khô của cây Xakê và vỏ quả Măng cụt, nhóm đã sử dụng kết hợp phương pháp chiết xuất thông thường và phương pháp chiết xuất siêu âm – một phương pháp chiết xuất có ưu điểm vượt trội trong chiết xuất dược liệu như: có khả năng chiết chọn lọc các hoạt chất, thời gian chiết xuất ngắn, không làm thay đổi các hoạt chất, thân thiện với môi trường và đơn giản hóa quá trình chiết tách…  Đối với việc phân lập các hợp chất ngoài việc sử dụng phương pháp sắc ký thông thường trên silica gel (sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng, HPLC), nhóm nghiên cứu đã kết hợp thêm phương pháp sắc ký – hấp phụ. Điều đặc biệt là nhóm đã tự nghiên cứu chế tạo ra chất hấp phụ mao quản xốp oxit nhôm hoạt tính (Al2O3) để biến phương pháp này trở nên hữu dụng hơn. Hạt oxit nhôm hoạt tính do nhóm nghiên cứu chế tạo có kích thước lỗ xốp vào khoảng 6-10 nm, chứa nhiều nhóm – OH trên bề mặt với số lượng lớn các tâm axit yếu và trung bình, có độ bền cơ cao, bền với các dung môi dùng trong quá trình chiết tách, có khả năng tái sinh tốt. Đây là một vật liệu tốt để sử dụng trong quá trình phân lập lượng lớn các hợp chất thiên nhiên hướng tới quy trình công nghệ quy mô công nghiêp với giá thành thấp.  Với quy trình công nghệ được xây dựng, từ lá khô của cây Xakê nhóm đề tài đã phân lập được 9 hợp chất, trong đó có 6 hợp chất nhóm flavonoid và 3 hợp chất thuộc nhóm tecpenoid trong thiên nhiên. Trong số 9 hợp chất thu được có một hợp chất mới, artocarpaurone, một dẫn xuất flavonoit có khung auron lần đầu tiên được phân lập từ lá cây Xakê của Việt Nam. Các kết quả thử hoạt tính cho thấy dịch chiết cũng như các hợp chất phân lập được từ lá cây Xakê có tác dụng chống oxy hóa tốt, ức chế được enzym α-glucosidase và α-amylase, các enzyme liên quan đến sự chuyển hoá glucose gây bệnh tiểu đường. Từ vỏ quả Măng cụt nhóm nghiên cứu cũng phân lập được 4 hợp chất có khung xanthone thiên nhiên là 8-deoxygartanin, gartanin, a-mangostin và 9-hydroxycabalaxanthone. Cả 4 hợp chất này có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase và α-amylase tương đối mạnh, trong đó gartanin có hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase mạnh nhất.  Các dịch chiết thu được từ 2 nguồn nguyên liệu trên cũng đã được thử nghiệm in vivo trên giống chuột thuần chủng BALB/c (một loại chuột chuyên dùng để thử nghiệm khả năng miễn dịch). Kết quả cho thấy các dịch chiết này có tác dụng rất tốt trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường.  Các kết quả nghiên cứu trên đã và sẽ được công bố tại 4 bài báo của các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế.  Với sự nỗ lực lớn của các thành viên trong nhóm và các đơn vị phối hợp và từ những kết quả thu được, nhóm nghiên cứu có thể vững tâm nâng cấp công nghệ đã đạt được với quy mô lớn hơn để sớm đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tế. Hy vọng trong khoảng thời gian không lâu nữa, với sự góp sức của các nhà khoa học, từ nguồn nguyên liệu lá cây Xakê và vỏ quả Măng cụt phong phú sẵn có ở nhiều tỉnh thành nước ta, một số dược phẩm mới sẽ ra đời góp phần hỗ trợ điều trị các bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp phục vụ đời sống.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp chất hóa học giúp già hóa khỏe mạnh      Một hợp chất hóa học mới được khám phá gần đây đã giúp chuột ở ngưỡng trưởng thành với tình trạng béo phì giảm mỡ, giảm cân nặng, tăng cơ và sức mạnh, giảm viêm do tuổi tác và tăng cường các hoạt động thể chất.     Nghiên cứu mới chứng tỏ những kết quả này, được xuất bản trên Journal of Cachexia, Sarcopenia and Muscle, đã đem đến bằng chứng đầu tiên về BAM15, một ty thể tách rời, ngăn chứng teo cơ béo phì hoặc sự mất cơ do tuổi tác được phụ thêm bởi sự gia tăng trong các mô mỡ 1.  “Việc mất một khối lượng cơ không phải là mối quan tâm của những người trưởng thành trẻ hơn có tình trạng béo phì. Khi con người già đi, mọi thứ thay đổi. Những người lớn nhiều tuổi hơn với chứng teo cơ béo phì phải chịu đựng tình trạng mất cơ ngày một gia tăng. Họ trở nên ít vận động đi. Và kết quả là, họ ở tình trạng rủi ro cao với việc ngã, đột quỵ, bệnh tim, chất lượng cuộc sống kém và dễ chết sớm”, Christopher Axelrod, bác sĩ, giám đốc Phòng thí nghiệm Y học Sinh lý học tích hợp và sinh học phân tử, Trung tâm Y sinh Pennington, cho biết.  Tình trạng yếu ớt và ốm yếu thường gặp ở bệnh béo phì teo cơ thường gặp gở những con chuột già – tương đương độ tuổi 60-65 ở người – thiếu BAM15. Tất cả những con chuột béo phì đều ăn với chế độ ăn giàu chất béo. Bất chấp điều đó, những con chuột được uống BAM15 đã giảm cân và trở nên mạnh khỏe hơn và năng động hơn.  “Thông thường, khi anh mất cân, anh cũng có thể mất cơ và trong một số trường hợp, anh có thể mất nhiều hơn”, Axelrod nói. “Trong nghiên cứu này, chuột già lại tăng cường khối cơ với mức trung bình 8%, sức mạnh 40% trong khi mấ khoảng hơn 20% mỡ”.  BAM15 hoạt động bằng việc khiến ty thể, nhà máy cung cấp điện năng cho tế bào, hoạt động kém hiệu quả hơn. Kết quả là ty thể đốt nhiều năng lượng hơn. Các nhà nghiên cứu từng miễn cưỡng miêu tả BAM15 như một loại thuốc thần kỳ. Cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để xác định hiệu lực của nó với mọi người.  Tuy nhiên, phát hiện về BAM15 cũng có gợi ý quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đặc biệt là khi số lượng những người mắc chứng béo phì đang gia tăng nhanh chóng. Ngăn chặn, trì hoãn hay đảo ngược những nguyên nhân và hậu quả của béo phì teo cơ có thể cho phép con người sống lâu hơn và sống khỏe mạnh hơn.  “Những dữ liệu này nhấn mạnh là ty thể không kết cặp có thể đóng một vai trò quan trọng trong cải thiện sức khỏe khi sống– thời điểm một con người cần có sức khỏe tốt – khi ở độ tuổi cao”, tiến sĩ John Kirwan, giám đốc điều hành Pennington, nói.  BAM15 cải thiện nhiều nhân tố quan trọng của sức khỏe và lão hóa, bao gồm:  – Loại bỏ sự phá hủy ti thể  – Khiến ti thể khỏe mạnh hơn  – Giảm thiểu “chứng viêm” do tuổi tác, liên quan đến sự mất cơ  “Tăng thời gian sống khỏe mạnh thậm chí còn quan trọng hơn là tăng thời gian sống”, Kirwan nói. “Hãy tin là anh có thể tăng thêm 20 hoặc 30 năm cho một con người nhưng liệu chất lượng cuộc sống của họ cũng tăng không?”.  Axelrod và Kirwan đều là tác giả liên hệ của nghiên cứu này. Wagner Dantas, một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ ở Phòng thí nghiệm của Kirwan là tác giả thứ nhất.  Công trình này đã được triển khai trên các cơ sở nghiên cứu ở Trung tâm Y sinh Pennington và và Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng béo phì thông qua tài trợ của Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-chemical-compound-healthy-aging.html  https://www.medindia.net/news/new-chemical-compound-promotes-healthy-aging-206660-1.htm  ————————-    https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/jcsm.12982      Author                .        
__label__tiasang Hộp đề xuất ý tưởng giúp Bosch tiết kiệm hàng triệu euro      Các công nhân của Tập đoàn công nghệ Bosch (Đức) đã tiết kiệm được hàng triệu euro mỗi năm cho công ty thông qua những đề xuất về cải tiến. Bản thân tác giả của mỗi đề xuất cải tiến cũng được nhận về phần thưởng hậu hĩnh.  &#160;    Năm 1924, nhà sáng lập công ty và kỹ sư người Đức Robert Bosch đưa ra một cuốn sách mang tính chất gợi ý cho những cộng sự muốn tham dự vào việc kiến tạo “các chương trình quản lý ý tưởng” ở công ty.  Nhìn lại 90 năm được hưởng lợi từ khả năng đổi mới sáng tạo và tháo vát của các cộng sự, Tập đoàn Bosch loan báo đã tiết kiệm được khoảng 395 triệu euro (tương đương 490 triệu đô la) trong 10 năm trở lại đây. Bosch đã cảm ơn những lời đề xuất, gợi ý từ cộng sự để cải thiện quy trình làm việc, hiệu quả và các tiêu chuẩn về môi trường ở công ty.   Năm ngoái, Bosch đã tiết kiệm được 33 triệu euro bằng cách này. Đã có 21.900 công nhân đề xuất ý tưởng và được công ty trao thưởng 7.7 triệu euro.  Đôi bên cùng có lợi  “Sức sáng tạo của các công nhân vẫn đang tiếp thêm sức mạnh sáng tạo cho công ty chúng tôi”, một thành viên ban quản trị, cho biết. “Thông thường những điều tưởng chừng nhỏ nhặt đã vượt khỏi phạm vi của công việc thường nhật để làm nên sự khác biệt lớn lao.”  Nếu những cải tiến từ các đề xuất này được triển khai và đạt kết quả từ việc cắt giảm những chi phí hữu hình, công nhân có thể giành được tới 150.000 euro tiền thưởng cho mỗi sáng kiến. Điều này đã từng đến với hai công nhân nghĩ ra biện pháp làm sạch các đường ống đòi hỏi tối thiểu về chi phí, đồng thời giúp giảm đáng kể thời gian chết.  Bosch đã ghi nhận chi nhánh của họ đặt tại Charleston, Mỹ, đã đặc biệt thành công trong việc lèo lái hoạt động đổi mới sáng tạo trong khi chi nhánh ở Ansbach, Đức vẫn dẫn đầu với “việc quản lý các ý tưởng.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.de/suggestion-box-saves-bosch-millions/a-18082678    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp đồng nghiên cứu sản xuất thử nghiệm bột huỳnh quang trị giá 6,68 tỷ đồng      Trong khuôn khổ những hoạt động chào mừng  ngày KH&amp;CN Việt Nam 18/5 của trường ĐH Bách khoa Hà Nội, chiều ngày  18/5, Công ty TNHH một thành viên Tư vấn và chuyển giao công nghệ Bách  khoa và Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông đã tiến hành ký  kết hợp đồng nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm ba loại bột huỳnh quang  BK2K, BK Kumho, BK Silver.      Đây là những loại bột huỳnh quang chuyên dụng hiệu suất cao nhằm phục vụ sản xuất  các sản phẩm bóng đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact xuất khẩu.  Giá trị hợp đồng lên tới 6,68 tỷ đồng, thời gian thực hiện trong vòng ba năm.  Phát biểu tại lễ ký kết, PGS. TS Nguyễn Văn Khang, Phó hiệu trưởng trường ĐH Bách khoa và ông Lê Quốc Khánh, Phó tổng giám đốc Công ty Rạng Đông cho rằng, đây là một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác từ nhiều năm nay giữa hai đơn vị và mong muốn từ kết quả nghiên cứu thử nghiệm này sẽ tiến tới hình thành một doanh nghiệp KH&CN có sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp đồng thông minh: bước nhảy vào thế giới viễn tưởng      Cách đây 12 năm, trong tác phẩm khoa học viễn tưởng Daemon của mình, tiểu thuyết gia Daniel Suarez đã kể câu chuyện về một chương trình máy tính có thể tự vận hành, gửi email cho khách hàng và tham gia vào việc thực hiện các đơn đặt hàng. Cũng trong năm 2006, Charles Stross xuất bản cuốn tiểu thuyết Glasshouse, mô tả về một chương trình với tập hợp các điều kiện giả định liên quan đến đạo đức, tập quán, tiêu chuẩn xã hội áp đặt lên các cá nhân tham gia chương trình đó. Đổi lại, những người tham gia chương trình này sẽ được hưởng đặc quyền về sự công bằng tuyệt đối, sự tự do lựa chọn và khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên phi giới hạn. Có thể thấy rằng, thế giới viễn tưởng mà Daniel Suarez và Charles Stross vẽ ra đang gần nhân loại hơn bao giờ hết khi Nick Szabo hay Vitalik Bulerin và các cộng sự công bố về Hợp đồng thông minh (Smart contracts). Dạng thức hợp đồng này đã thực sự mở ra cánh cửa mới, tạo đà cho cú nhảy vào một thế giới khác mà trước đây chỉ nằm trong tưởng tượng. Vậy nhận dạng củaHợp đồng thông minh như thế nào và những vấn đề mà nó giải quyết là gì?    Với 4.080.000 kết quả tìm kiếm trong vòng 0,46 giây, Smart contracts hay Hợp đồng thông minh thực sự đang là mối quan tâm lớn không chỉ của những người yêu thích khoa học – công nghệ mà còn đối với cả những người làm trong lĩnh vực pháp lý. Investopia định nghĩa rằng, Hợp đồng thông minh là hợp đồng có khả năng tự thực hiện thông qua các điều khoản đã được mã hóa theo thỏa thuận giữa người mua và người bán. Mã lệnh và các thỏa thuận chứa trong đó, tồn tại trên một mạng lưới blockchain phi tập trung (decentralized). Các Hợp đồng thông minh cho phép các giao dịch đáng tin cậy và các thoả thuận được thực hiện giữa các bên một cáchẩn danh, riêng biệt mà không cần đến hệ thống pháp luật hoặc cơ chế thực thi bên ngoài.[i]  Chiếc máy bán hàng tự động là một hình ảnh ví dụ trực quan đơn giản nhất về Hợp đồng thông minh. Khi người mua hàng nhập lệnh lựa chọn sản phẩm và đút tiền vào khe nhận tiền, sản phẩm mà người khách mong muốn sẽ được tự động chuyển ra[ii].  Ở một mức độ phức tạp hơn, hãy lấy giao dịch liên quan đến vận tải đa phương thức (logistics) giữa anh A và công ty B để làm ví dụ minh họa. Giả sử anh A có nhu cầu vận chuyển một lô hàng thủ công mỹ nghệ, và sử dụng dịch vụ vận tải của công ty B. Tuy nhiên anh A và công ty B không tin tưởng nhau. Anh A băn khoăn rằng liệu công ty B có bảo quản tốt hàng hóa và chuyển hàng tới cho khách hàng đúng thời hạn không? Công ty B thì đặt ra câu hỏi là liệu khi giao hàng đến nơi, anh A có thanh toán tiền vận chuyển đầy đủ và đúng hạn không? Để giải quyết những khúc mắc này, anh A và công ty B phải giao kết một hợp đồng thỏa thuận vềviệc vận chuyển hàng hóa, dẫn đến những phát sinh về dịch vụ tư vấn luật như soạn thảo hợp đồng, phòng ngừa các rủi ro pháp lý, … Vậy cách nào để đơn giản hóa quy trình thỏa thuận giữa anh A và công ty B?  Hợp đồng thông minhcó thể giải quyết câu hỏi này. Khi hai bên tham gia giao kết một bản Hợp đồng thông minh, anh A chỉ cần xây dựng một mã lệnh thanh toán phí vận chuyển cho công ty B. Lệnh thanh toán này sẽ được mã hóa theo ngôn ngữ máy tính và chỉ được thực hiện khi công ty B hoàn thành nghĩa vụ chuyển hàng kèm theo sự xác nhận củakhách hàngvề việc nhận hàng. Thêm một bước tiến nữa, nếu ứng dụng hỗ trợ GPRS (General Packet Radio Service) được tích hợp vào Hợp đồng thông minh thì không cần tới sự xác nhận của khách hàng, tại thời điểm lô hàng đặt đúng vào vị trí kho hàng (cần được chuyển tới) thì khoản tiền thanh toán dịch vụ cũng tự động chuyển vào tài khoản của công ty B.  Với những ứng dụng như trên, Hợp đồng thông minh giúp giải quyết rất nhiều những rào cản trong hoạt động kinh tế hiện nay.Trước hết, bởi vì các Hợp đồng thông minh sử dụng mã phần mềm để tự động hoá những hoạt động mà trước đây thường phải thực hiện thủ công (như việc xác nhận đơn hàng) nên chúng có khả năng thúc đẩy tốc độ của quy trình kinh doanh. Ngoài ra, các mã lệnh cũng đem lại sự đảm bảo về độ chính xác của giao dịch cao hơn, ít lỗi thủ công hơn, từ đó giảm thiểu đáng kể rủi ro khi thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, một ưu điểm cần phải kể đến của Hợp đồng thông minh đó là việc tối thiểu hóa sự tham gia của các bên thứ ba/bên trung gian vào quá trình thực hiện hợp đồng. Sự tinh giản này giúp tiết kiệm đáng kể chi phí kinh doanh. Đặt trong bối cảnh một doanh nghiệp phải thực hiện hàng ngày một lượng khổng lồ các thủ tục xác nhận đơn hàng logistics, lợi ích mà Hợp đồng thông minh đem lại sẽ không chỉ kể hết trong một hai trang giấy. Như vậy, với lý tưởng đảm bảo sự công bằng, minh bạch và tiết kiệm tối đa chi phí cho các bên tham gia giao kết hợp đồng, Hợp đồng thông minh thực sự đã cho thấy những tiềm năng ứng dụng của mình, không chỉ đơn thuần áp dụng vào các hoạt động thương mại, mà còn được kỳ vọng sẽ hoạt động hiệu quả trong việc bầu cử, tiếp cận dữ liệu về sức khỏe và dân số, hỗ trợ quy trình bồi thường bảo hiểm (insurance claim) hoặc quản lý chính phủ.  Tranh luận về bản chất của Hợp đồng thông minh  Nếu tiền ảo (virtual currency) như đồng Bitcoin, đồng Ethereum hoặc đồng Ripple ít nhiều cũng có một “danh phận” trên thị trường – hoặc là phương tiện thanh toán hoặc là tài sản, thì địa vị pháp lý (legal status) của Hợp đồng thông minh hiện nay vẫn đang bị bỏ ngỏ[iii]. Băn khoăn lớn nhất được đặt ra là liệu về bản chất, Hợp đồng thông minh có phải là hợp đồng dân sự hay không?  Trên thế giới hiện nay có 02 luồng quan điểm lớn về vấn đề này. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng hợp đồng thông minh là một dạng của hợp đồng pháp lý và trong tương lai có khả năng thay thế hợp đồng truyển thống. Luồng quan điểm còn lại cho rằng hợp đồng thông minh chỉ đơn thuần là một phương thức phụ trợ cho hoạt động thực hiện hợp đồng đã được thỏa thuận giữa các bên.  Luồng quan điểm thứ nhất tiếp cận vấn đề từ góc độ các yếu tố xác lập hợp đồng và cho rằng Hợp đồng thông minh là một dạng thức của hợp đồng dân sự, do đó, chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng. Theo quan điểm này, Hợp đồng thông minh về bản chất đã đảm bảo yếu tố đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng (offer – acceptance). Một vấn đề đặt ra là, nếu Hợp đồng thông minh là một dạng của hợp đồng dân sự, quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên nên được chuyển dịch sang mã hóa như thế nào? Có thể thấy rằng một văn bản hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương mại, sẽ bao gồm nhiều quy định hàm chứa nội dung mang tính chất trừu tượng như: quyền tiếp cận thông tin, quyền bảo mật thông tin, hoặc quy định về minh bạch kinh doanh,… Khi đó, việc mã hóa những quy định trừu tượng này thực sự là một thách thức bởi lẽ có những phạm vi công việc mà máy tính hiện nay chưa thể kiểm soát và theo dõi một cách hiệu quả.  Cụ thể hơn, giả sử rằng hai bên tham gia giao kết hợp đồng với điều khoản bảo mật về việc không tiết lộ bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, một trong hai bên tham gia giao kết hợp đồng “rò rỉ” thông tin bí mật kinh doanh kia cho bên thứ ba với mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Trong trường hợp này, nếu thỏa thuận của hai bên được giao kết trên nền tảng hợp đồng thông minh, thì việc quan sát và theo dõi hành vi của các bên sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát của chương trình máy tính. Hay nói cách khác, nền tảng blockchain – với đặc tính minh bạch và tiên tiến vượt trội cũng chưa thể là “chiếc phao cứu sinh” cho các bên trong việc ràng buộc nghĩa vụ pháp lý.  Luồng quan điểm thứ hai tiếp cận vấn đề từ góc độ mục đích sử dụng, cho rằng Hợp đồng thông minh chỉ được coi là một phương tiện dùng để thúc đẩy hoặc tự động hóa quy trình thực hiện hợp đồng (software agent). Trong trường hợp này, các bên đã có những thỏa thuận trước và Hợp đồng thông minh chỉ là một chương trình máy tính được thiết kế để thực hiện chính xác các nội dung đã được thỏa thuận đó. Với vai trò là phương thức phụ trợ hợp đồng này, Hợp đồng thông minh có thể được coi là một chương trình máy tính và thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ[iv].  Vấn đề cốt lõi cần nhận định rõ ở đây là việc xác định bản chất của hợp đồng thông minh sẽ tùy thuộc vào quan điểm và học thuyết pháp lý mà từng quốc gia theo đuổi. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là các nhà quản lý cần nhìn nhận rõ những lỗ hổng pháp lý” liên quan đến việc ứng dụng hợp đồng thông minh vào thực tế cuộc sống để có các chiến lược quản lý phù hợp.        [i] Smart Contracts, đường link tham khảo tại https://www.investopedia.com/terms/s/smart-contracts.asp      [ii]Andreas Sherborne, Blockchain, Smart Contracts and Lawyers, 12/2017      [iii] Riccardo de Caria, A Digital Revolution in International Trade? The International Legal Framework for Blockchain Technologies, Virtual Currencies and Smart Contracts: Challenges and Opportunity, trang 9      [iv] Upgrading blockchains – Smart contract use cases in industry, Deloitte Insights, 08/06/2016, đường link tham khảo tại đây https://www2.deloitte.com/insights/us/en/focus/signals-for-strategists/using-blockchain-for-smart-contracts.html  Smart Contracts – How will Blockchain Technology Affect Contractual Practices? The Research Institute of the Finnish Economy, ETLA Reports, No 68, 09 January 2017, trang 23  Theo Điều 22, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, về Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu  1. Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể.  Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.        Author                Vũ Thị Diệu Thảo        
__label__tiasang Hợp đồng trăm triệu đô từ công nghệ gia cố nền móng      Với công nghệ gia cố nền móng được cấu tạo  bởi những vật liệu sẵn có và rẻ tiền, ThS Đỗ Đức Thắng, Công ty cổ phần  Giải pháp công nghệ xây dựng quốc tế, đã ký được hợp đồng trị giá 400  triêu USD với một đối tác ở Venezuela.    ThS Thắng đã gửi công trình “Công nghệ gia cố nền móng TOP BASE ứng dụng trong thi công nền móng công trình xây dựng” của mình tham gia chương trình Sáng tạo Việt và được BTC chương trình đánh giá cao, xếp vào nhóm các sáng chế/giải pháp công nghệ có tiềm năng ứng dụng và hứa hẹn mang lại hiệu quả đầu tư thuộc lĩnh vực xây dựng.  Công nghệ gia cố nền móng TOP BASE được cấu tạo bởi vật liệu như vỏ nhựa, lõi bê tông mác nghèo, lượng thép ít nên giá thành rẻ, rút ngắn thời gian thi công xuống một nửa so với đóng cọc. Thậm chí, với những công trình xây dựng ở vị trí đất càng yếu thì TOP BASE lại càng phát huy tốt ưu điểm của mình.   Những kết quả đo lường cho thấy, giải pháp công nghệ TOP BASE của ThS Đỗ Đức Thắng cho phép giảm kích thước móng chỉ còn 1/10 đến ½ (hoặc hơn nữa) và tăng khả năng chịu lực của đất nền từ 50% đến 200% (hoặc hơn nữa) so với nền đất chưa được gia cố. Do có cấu tạo hình học đặc biệt nên TOP BASE có khả năng chịu tải cao, qua đó khiến cho nền đất có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn lực gấp đôi, gấp rưỡi so với ban đầu. Vì vậy khi làm nền móng, không cần sử dụng cọc hoặc nếu có thì rất ít.   Với những ưu điểm đó, giải pháp công nghệ này đã được giới thiệu rộng rãi và áp dụng vào nhiều công trình, dự án xây dựng. Một trong những thành công bước đầu là trong năm 2013, ThS Đỗ Đức Thắng đã ký được hợp đồng về hợp tác xây dựng trị giá lên tới 400 triêu USD với một đối tác ở Venezuela. Hiện nay, ông đang tiếp tục hợp tác ứng dụng với nhiều đối tác trong nước và quốc tế khác.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp lực để săn tìm các hạt neutrino trơ      Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm 260 nhà khoa học đã tạo ra một trong những thí nghiệm khó thực hiện nhất về các hạt neutrino khó nắm bắt.      Họ thuộc hai nhóm thực nghiệm lớn là MINOS+ tại Fermilab của Bộ Năng lượng Mỹ và Daya Bay ở Trung Quốc. Hiện họ mới thông báo kết quả ban đầu trên Physical Review Letters về việc loại ra những dao động vào một hạt neutrino trơ như lời giải thích cơ bản cho những quan sát bất ngờ từ những thực nghiệm gần đây.  MINOS+ nghiên cứu sự triệt tiêu của các hạt neutrino muon do máy gia tốc của Fermilab tạo ra và truyền đến một máy dò dưới đất cách Minnesota 735 ki lô mét về phía bắc. Daya Bay sử dụng tám máy dò được thiết kế riêng y hệt nhau để đo đạc một cách chính xác cách các hạt neutrino electron phát xạ từ sáu lò phản ứng hạt nhân ở Trung Quốc bị “biến mất” vì biến thành các dạng khác.  Neutrino là các hạt cơ bản, ví dụ như các electron, không thể bị phá vỡ thành các hợp phần nhỏ hơn. Chúng không giống như bất kỳ hạt đã biết nào bởi chúng có khả năng xuyên qua một khối lượng lớn vật chất mà không bị cản lại. Nếu một hạt neutrino nào đó bị bắn từ bề mặt của trái đất vào tâm trái đất thì vô cùng nhiều khả năng là người ta sẽ thấy chúng ở bề mặt bên kia.  Hiện người ta biết có ba dạng hạt neutrino: electron, muon và tau. Khoảng hai  thập kỷ trước, các nhà khoa học đã tìm thấy là chúng có thể biến đổi từ dạng này sang dạng khác qua một hiện tượng gọi là “dao động neutrino”, một khám phá đã được trao giải Nobel Vật lý 2015. Ví dụ, một hạt neutrino được tạo ra như một dạng hạt electron di chuyển qua vũ trụ, sau dó có thể được nhận diện như một dạng muon hoặc tau.  Dẫu thông qua một bộ dữ liệu lớn được tập hợp đến nay có thể được giải thích bằng ba loại hạt neutrino đã biết, một số thực nghiệm đã cho biết có một vài quan sát dị thường cho thấy sự   tồn tại của các dạng mới. Trong số các thực nghiệm đó có thực nghiệm LSND tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos và thực nghiệm MiniBooNE tại Fermilab. Cả hai đều cho máy dò tiếp tục với một chùm tia neutrino muon cho biết sự vượt quá của lượng sự kiện ứng viên khỏi những gì được họ chờ đợi từ các dao động neutrino bao gồm ba kiểu hạt neutrino đã biết, gợi ý đến sự tồn tại của một dạng neutrino trơ. Các hạt neutrino trơ có thể không dò được một cách trực tiếp nhưng dao động của chúng với ba dạng hạt neutrino đã biết có thể cung cấp một con đường độc đáo để có thể thiết lập được sự tồn tại của chúng.  Dẫu vậy, các kết quả mới từ Daya Bay và MINOS+ đặt câu hỏi về khả năng giải thích của LSND và MiniBooNE.    Các bức tường máy dò neutrino của Daya Bay có đặt các ống đèn nhân quang điện. Các ống này được thiết kế để có thể khuếch đại và ghi nhận các dải ánh sáng mờ biểu thị sự tương tác của hạt phản neutrino. Nguồn: Roy Kaltschmidt/Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley.  “Cơ hội đến rất lớn; nếu giải thích về các kết quả dị thường này được xác nhận, nó có thể dẫn đến một cuộc cách mạng trong vật lý. Các sterile neutrino có thể trở thành các hạt đầu tiên được tìm thấy ngoài Mô hình chuẩn, lý thuyết hợp lý nhất của chúng ta hiện nay về các hạt cơ bản và những tương tác của chúng. Chúng có thể là ứng cử viên của vật chất tối hoặc có thể đem đến những kết quả quan trọng trong vũ trụ học”, Pedro Ochoa-Ricoux, phó giáo sư vật lý và thiên văn học tại UC Irvine và Daya Bay, nói.  “Hợp tác của các nhà khoa học ở MINOS+ và Daya Bay cho phép các nhà khoa học có thể kết hợp hai ràng buộc bổ sung về sự triệt tiêu của các neutrino muon và các phản neutrino electron thành các neutrino tro”, Alexandre Sousa, phó giáo sư vật lý tại trường đại học Cincinnati và là một trong những nhà khoa học làm việc về phân tích dữ liệu tại MINOS+. Sự triệt tiêu của cả hai hạt này xảy ra khi các (phản) neutrino electron đi vào một nguồn (phản) neutrino muon qua các dao động trơ. “Vì vậy kết quả kết hợp này là một chứng minh rất rõ ràng cho những gợi ý về hạt neutrino trơ mà chúng tôi có”.  Các đo đạc về sự triệt tiêu neutrino của MINOS+ và Daya Bay hiện rất chính xác bởi chúng đưa ra lời giải thích về bản chất sự kết hợp những quan sát dị thường của LSND, MiniBooNE và những thí nghiệm khác thông qua các dao động neutrino trơ, theo Ochoa-Ricoux.  “Chúng tôi đã hoàn toàn bất ngờ khi tìm thấy bằng chứng cho các hạt neutrino trơ, dữ liệu mà chúng tôi đã thu thập được không hề ủng hộ cho bất kỳ loại giao động nào với các loại hạt kỳ lạ này”, ông nói.  Các phân tích kết hợp được Daya Bay và MINOS+ không chỉ nêu ra loại cụ thể của dao động neutrino trơ có thể giải thích được những kết quả dị thường này mà còn chỉ ra những dấu hiệu neutrino trơ khác với độ nhạy chưa từng có, đem lại một số giới hạn nghiêm ngặt về sự tồn tại của các hạt khó nắm bắt này.  “Hai thí nghiệm này đều sử dụng các máy dò được thiết kế rất tinh vi với việc hiểu rõ những bất định có thể gặp phải và thu thập được một số lượng lớn các sự kiện chưa từng được dự đoán. Sự nhất quán giữa các bộ dữ liệu của hai thí nghiệm đem lại một thử nghiệm nghiêm ngặt về sự tồn tại của hạt neutrino trơ”, Jenny Thomas, giáo sư trường College London và giáo sư Karol Langtại trường đại học Texas ở Austin, đồng thời là người phát ngôn của MINOS+, nói.  “Việc hợp sức như vậy rất cần thiết để có thể giải quyết được một vấn đề cơ bản trong vật lý”, người phát ngôn của Daya Bay, ông Kam-Biu Luk ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley, UC Berkeley và Jun Cao của Viện vật lý năng lượng cao ở Bắc Kinh, cho biết. “Dù hạt neutrino trơ vẫn còn ẩn trong bóng tối thì chúng tôi đã có thể khoanh vùng phạm vi không gian hiện hữu của nó”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-team-international-physicists-sterile-neutrinos.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác công – tư trong chống virus corona      Chia sẻ dữ liệu, tăng ưu đãi và giảm các rào cản để tìm thuốc dùng cho các trận dịch virus corona sắp tới.      Hình vẽ một virus corona vừa xâm nhập vào phổi, bao giữa lớp màng nhầy do các tế bào hô hấp tiết ra trong đó có kháng thể và nhiều loại protein nhỏ của hệ miễn dịch. Hình vẽ này dựa trên các cấu trúc protein của virus corona trong Ngân hàng dữ liệu protein (PDB) kể từ dịch SARS đến nay. Nguồn: David S. Goodsell.  Khoảng 5 tuần sau khi những ca COVID-19 bắt đầu xuất hiện, các nhà khoa học ở Thượng Hải (Trung Quốc) đã đăng cấu trúc ba chiều đầu tiên của một protein then chốt ở virus gây bệnh lên Ngân hàng dữ liệu protein (PDB), một cơ sở dữ liệu mở lưu trữ các cấu trúc sinh học. Như trong trường hợp hội chứng hô cấp cấp tính nặng (SARS) hay hội chứng hô hấp cấp Trung Đông (MERS) cũng do virus corona gây ra trước đó, các nhà khoa học chia sẻ thông tin theo những cách thức không được coi là thông thường đối với một lĩnh vực cạnh tranh thương mại. Thông tin về hình dạng các protein từ virus gây COVID-19 có thể đẩy nhanh tiến trình xác định thuốc và tạo vaccine. Nhưng kết quả đó cũng không thể đạt được nếu còn bị các rào cản khác về tài chính, quản lý và pháp lý ngáng trở. Giảm bớt những rào cản này là điều cần thiết cho việc chiến đấu chống COVID-19 và chuẩn bị cho các đợt bùng phát không thể tránh khỏi trong tương lai.   Nếu những người tìm kiếm thuốc nhận được ưu đãi phù hợp trong những năm giữa thập niên 2000 thì có lẽ ngày nay ta đã có một loại thuốc cho COVID-19. Năm 2003, công ty SGX Pharmaceuticals – lúc đó do tôi điều hành mảng nghiên cứu – đã đưa lên PDB cấu trúc đầu tiên của một protein ở virus gây bệnh SARS (đó là protease chính của virus – một mục tiêu thuốc). Quyết định của chúng tôi khiến nhiều đối thủ cạnh tranh ngạc nhiên vì dữ liệu chúng tôi đưa ra hoàn toàn không kèm theo giới hạn hay điều khoản nào về phí sử dụng. Kể từ đó, hàng trăm cấu trúc protein khác từ virus này và các loại virus corona khác cũng được chia sẻ như thế. Nhiều cấu trúc trong số này làm sáng tỏ cách bất hoạt protein virus bằng các chất phân tử lượng nhỏ.  Trong đợt bùng phát dịch SARS, tôi đã tự tin rằng các công ty thuốc sẽ sản xuất thuốc chống SARS từ những dữ liệu mở này. Nhưng tôi chẳng thấy có loại thuốc nào cả. Tôi vẫn lạc quan khi dịch MERS diễn ra một thập kỷ sau đó. Và rồi tôi lại thất vọng. Các nhà kinh tế học gọi đây là thất bại của thị trường tự do. Vì không có triển vọng lợi nhuận từ đầu tư vào thuốc cho các trận dịch tương lai nên hầu hết các công ty đã chọn tập trung vào các loại thuốc có tiềm năng trở thành ‘bom tấn’ (blockbuster: thuốc phổ biến giúp hái ra tiền).  Đó là lý do mà hai lĩnh vực công, tư cần phải cộng tác với nhau. Chúng ta đã và đang có các dự án về sốt rét, vấn đề kháng kháng sinh, và các loại bệnh thường ít được để ý. Nhưng nỗ lực tập trung hơn vào virus corona sẽ giúp chúng ta chuẩn bị tốt hơn cho một đợt bùng phát trong tương lai cũng như đề ra những con đường giải quyết các vấn đề y khoa chưa được đáp ứng. Một nỗ lực tập trung như thế đã khắc phục được một ví dụ thất bại khác của thị trường tự do là trường hợp bệnh xơ nang, vốn chỉ ảnh hưởng khoảng 70.000 người trên toàn thế giới. Hợp tác nghiên cứu giữa Quỹ xơ nang (Cystic Fibrosis Foundation) ở Bethesda, bang Maryland (Mỹ) và công ty công nghệ sinh học Vertex Pharmaceuticals ở Boston, bang Massachusetts (Mỹ) đã cho ra các loại thuốc an toàn và hiệu quả.  Đầu tư tiền dù công hay tư để chiến đấu với một mầm bệnh còn chưa được xác định nghe có vẻ liều lĩnh, nhưng chúng ta có một cách làm logic. Cũng như các virus corona, nhiều loại virus ban đầu tạo ra khoảng nửa tá protein dưới dạng một chuỗi các acid amine dài – chuỗi này sẽ không có tác dụng gì cho đến khi nó được cắt ra nhờ các “máy cắt”, tức là các protease của virus. Nếu không có protease chính của nó, virus corona đã nhiễm sẽ không thể lây lan. Những protease chính của virus gây SARS và COVID-19 có trình tự acid amine giống nhau đến 95%. Quan trọng hơn là tâm hoạt tính của các enzyme này (những ‘lưỡi kéo’ phân tử) giống nhau hoàn toàn về trình tự và chỉ khác nhau chút ít về cấu trúc ba chiều.   Một loại thuốc chặn được protease chính của một loại virus corona cũng sẽ có khả năng có tác dụng tương tự cho loại virus khác. Là một người nhiều kinh nghiệm trong các công ty thuốc lớn nhỏ và hiện là giám đốc trung tâm dữ liệu Hoa Kỳ của PDB, tôi biết khả năng nhắm vào protease của ngành này tốt đến mức nào. Hàng chục triệu người hằng ngày đang hưởng thành quả từ các loại thuốc ức chế protease trong điều trị cao huyết áp hay suy tim.  Tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới hãy cam kết đưa ra một khung quản lý mới cho các loại thuốc phổ rộng có thể được dành cho các đợt dịch trong tương lai với các tiêu chí chứng minh an toàn và hiệu quả phù hợp. Các công ty sẽ trao quyền cho các chính phủ và tổ chức phi chính phủ sử dụng các loại thuốc này để đổi lấy lợi ích tài chính và bảo hiểm trách nhiệm – những ưu đãi cần thiết, không phụ thuộc vào doanh số bán thuốc. Khi trận dịch kế tiếp bùng phát, công tác giải trình tự bộ gene virus sẽ giúp xác định thuốc nào là lựa chọn tốt nhất cho việc chữa trị. Công quỹ sẽ được sử dụng để chi trả cho việc sản xuất và phân phối. Khung quản lý mới này cũng đẩy nhanh việc thử nghiệm lâm sàng các loại thuốc đã được phê duyệt hay đã thử nghiệm an toàn trước đây khi chuyển đổi mục đích sang chữa trị các loại bệnh mới.  Vẫn còn nhiều vấn đề chi tiết cần được làm rõ, nhưng trước tình hình cấp bách hiện nay chúng ta cần phải tìm cách thực hiện. Những người làm chính sách, những lãnh đạo doanh nghiệp và đại diện các tổ chức phi chính phủ đều có vai trò quan trọng trong việc tạo sự đồng thuận và xây dựng nên lề lối làm việc mới này. Tôi nhớ lại cuộc khủng hoảng tầng ozone trong thập niên 1980. Nhận thức phổ quát về một mối đe dọa ngấp nghé đối với sự sống trên Trái đất cùng kết quả khoa học trước sau đều cho thấy sự liên hệ giữa chlorofluorocarbon (CFC) với việc tầng ozone bị mỏng đi đã thúc đẩy Nghị định thư Montréal 1987 cấm việc sản xuất CFC. Năm 2019, Cơ quan hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã báo cáo rằng ‘lỗ thủng tầng ozone’ theo mùa đã giảm và hiện có kích cỡ nhỏ nhất kể từ năm 1982.   Con số ca nhiễm và tử vong vì COVID-19 ngày càng tăng cho thấy rằng chúng ta phải chuẩn bị cho đợt bùng phát virus corona kế tiếp. Và dữ liệu khoa học cũng đã rõ ràng như đối với tầng ozone. Nhìn lại những gì đã qua, chúng ta có thể thấy rằng nếu đầu tư vài trăm triệu USD sau trận dịch SARS thì ngày nay ta đã có thể tránh được hàng ngàn ca tử vong vì COVID-19 cùng những thiệt hại tài chính dự đoán sẽ lên đến hơn 1000 tỷ USD trên toàn thế giới. Đã đến lúc các chính quyền, giới doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ đối mặt trực diện với những thất bại của thị trường tự do trong việc phát triển các loại thuốc khẩn cấp.□  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: “How to help the free market fight coronavirus”,  Nature 580:167 (2020), https://doi.org/10.1038/d41586-020-00888-7   ——  Về tác giả: TS.BS. Stephen K. Burley là giáo sư ưu tú (university professor) tại Đại học Rutgers, bang New Jersey (Mỹ) và là Giám đốc Ngân hàng dữ liệu protein (PDB), cơ sở dữ liệu mở cho các cấu trúc sinh học (tương tự GenBank đối với trình tự DNA/RNA). Ông là chuyên gia sinh học cấu trúc, proteomics, sinh tin học, nghiên cứu ung thư lâm sàng, và phát triển thuốc dựa vào cấu trúc. Trước khi công tác tại Đại học Rutgers, Burley điều hành công việc nghiên cứu của công ty dược phẩm SGX Pharmaceuticals và chuyên gia của Hệ thống phòng thí nghiệm Lilly thuộc tập đoàn dược phẩm Eli Lilly hàng đầu thế giới.    Author                Stephen K. Burley        
__label__tiasang Hợp tác doanh nghiệp & nhà nước: Đôi bên cùng có lợi      Từng là thủ tướng Phần Lan từ năm 1991 – 1995 và Phó chủ tịch của Nokia từ năm 2008, Esko Aho có hiểu biết sâu sắc về hoạt động của cả khối tư nhân và khối chính phủ. Giữa tháng 9 vừa qua, ông đã có một buổi thuyết trình tại Bộ KH&CN, chia sẻ góc nhìn của ông về tầm quan trọng và những thách thức trong hợp tác công tư để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.      Nokia đã tạo ra một cuộc chuyển đổi ngoạn mục đầu những năm 1990 từ một công ty sản xuất đa ngành thành một doanh nghiệp sản xuất điện thoại di động và cung cấp dịch vụ viễn thông. Lúc bấy giờ, đây được coi là một quyết định “điên rồ”.   Thay đổi khái niệm  Esko Aho trúng cử chức Thủ tướng Phần Lan vào năm 1991, đúng vào thời kì nước này trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế khủng khiếp nhất trong lịch sử. Nokia khi đó cũng đang ở trong tình trạng tồi tệ. Khi lãnh đạo Nokia đề nghị Ericsson mua lại công ty mình, tập đoàn của Thụy Điển này cho rằng Nokia không có tiềm năng hay giá trị gì đáng chú ý. Trong những năm 1980, Nokia là một công ty đa ngành tập trung chủ yếu vào sản xuất các sản phẩm: TV (Nokia là một trong ba nhà sản xuất TV lớn nhất châu Âu, chỉ sau Thomson và Philips), giấy, dây cáp, lốp cao su… và chỉ khoảng 20% hoạt động kinh doanh đến từ việc sản xuất điện thoại di động và dịch vụ viễn thông. Để thoát khỏi tình trạng phá sản, Nokia đã bán 80% công ty, tập trung tài chính và nhân lực vào sản xuất điện thoại di động.  Quyết định của Nokia lúc đó được cho là điên rồ vì không ai nghĩ rằng điện thoại di động có thể trở thành một sản phẩm tiêu dùng rộng rãi. Đầu những năm 90, một chiếc điện thoại có giá rất đắt đỏ vào khoảng 3000 USD và trên toàn thế giới chỉ có 10 triệu thuê bao. Nguyên Thủ tướng Phần Lan Esko Aho, một trong số những người dùng chiếc điện thoại di động Nokia đầu tiên, kể rằng hiện nay người ta khó mà chấp nhận mua một chiếc điện thoại “ngoại cỡ”, không thể đút vừa túi quần và chỉ có chức năng duy nhất là nghe – gọi như vậy. Những nhà phân tích thị trường bình luận rằng Nokia đã quá lạc quan và dự đoán số thuê bao tối đa trên toàn cầu cùng lắm chỉ đạt 15 triệu đến năm 2000.  Kết cục của câu chuyện là, số thuê bao di động trên thế giới vào năm 2000 không phải là 15 triệu mà là 700 triệu, một con số ngoài sức tưởng tượng của bất kì nhà phân tích thị trường nào. Nokia trở thành một hiện tượng trong cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 với giá trị công ty tăng gấp 1000 lần từ 300 triệu USD năm 1992 thành 300 tỉ USD vào năm 2000.  Sự thay đổi khái niệm từ công ty sản xuất ti vi thành một công ty viễn thông đã khiến Nokia lật ngược tình thế một cách ngoạn mục. Thay đổi khái niệm nghĩa là thay đổi từ gốc rễ để tạo ra một mô hình hoạt động, kinh doanh hoàn toàn mới, dựa trên thế mạnh của mình để thích nghi với điều kiện ngoại cảnh thay đổi. Esko Aho cho rằng đây là kĩ năng sinh tồn của bất kì tổ chức nào trong tương lai. Trong rất nhiều trường hợp, “khái niệm mới” chưa chắc đã mang lại ngay kết quả ở thời điểm hiện tại, cũng giống như quyết định của Nokia được đưa ra khi thị trường điện thoại trên thế giới vẫn còn sơ khai. Hiện nay, khi nói đến phát triển dài hạn, đa số các tổ chức, công ty vẫn tư duy theo kiểu chiến lược, tức là đưa ra mục tiêu và con số cụ thể mình muốn hướng tới và cách thức để đạt được điều đó, căn cứ trên những thành tựu đạt được trong quá khứ và hiện tại. Tuy nhiên, tư duy này không còn phù hợp trong thời kì công nghệ thay đổi nhanh chóng, tương lai ngày càng trở nên khó lường, mục tiêu đặt ra ngày hôm nay chưa chắc còn giá trị trong ngày mai, giống như Iphone đã trở thành một công cụ để chạy các ứng dụng khác với những gì Steve Jobs đã hình dung trước đó 10 năm về một chiếc điện thoại di động.  Đưa ra và theo đuổi một khái niệm mới nhiều khi đòi hỏi phải hạn chế, thậm chí là chấp nhận dừng những lĩnh vực từng có những chỉ số phát triển rất tốt đẹp: “Những gì thể hiện tốt ở quá khứ chưa chắc đã có tiềm năng trong tương lai” – Ông Esko Aho nói. Tuy nhiên, đó cũng chính là lí do nhiều nơi đã nhìn ra khái niệm mới nhưng không dám theo đuổi. Câu chuyện về Kodak là một ví dụ kinh điển. Là công ty tiên phong sản xuất máy ảnh kĩ thuật số trên thế giới vào năm 1975 nhưng Kodak đã không theo đuổi lĩnh vực này vì họ cho rằng nó sẽ đe dọa ngành công nghiệp phim máy ảnh mà công ty đã dẫn đầu thế giới nhiều thập kỉ. Cuối cùng, Kodak bị “đè bẹp” bởi ngành công nghiệp sản xuất máy ảnh kĩ thuật số và thừa nhận phá sản vào năm 2011.    Ông Asko Aho nói chuyện ở Bộ KH&CN. Ảnh: Trung tâm truyền thông/Bộ KH&CN.  … nhưng cần cân bằng với bối cảnh  Tuy nhiên, thành công của Nokia không chỉ dựa vào việc thay đổi khái niệm mà họ có điều kiện để biến khái niệm đó thành hiện thực. Esko Aho gọi đó là sự cân bằng giữa khái niệm và bối cảnh.  Ông cho rằng có ít nhất năm yếu tố tạo nên bối cảnh khiến quyết định chuyển đổi khái niệm công ty của Nokia có ý nghĩa. Thứ nhất, sinh viên tốt nghiệp các đại học kỹ thuật ở Phần Lan đủ năng lực và chuyên môn về phần cứng để phát triển và sản xuất điện thoại di động. Nhờ vậy, Nokia có điều kiện để thành lập một đội ngũ “lý tưởng”. Thứ hai, công nghệ sóng vô tuyến của Phần Lan nói chung và Nokia nói riêng đã phát triển ở trình độ rất cao trong những năm 1990. Nokia đã nhìn thấy tiềm năng và đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ này từ những năm 1960 dù chưa nhìn thấy cơ hội thương mại hóa. Thứ ba, đầu những năm 1990, Chính phủ Phần Lan đã có những chính sách đổi mới sáng tạo để Nokia có điều kiện thương mại hóa những phát minh của mình mặc dù đang ở giai đoạn khủng hoảng tài chính. Trong đó, chính phủ sẵn sàng bỏ vốn đối ứng vào những công nghệ mà tư nhân đã đầu tư mạnh mẽ. Thứ tư, Viện Tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu đưa ra tiêu chuẩn sản xuất thiết bị di động – GSM vào đúng thời điểm chuyển đổi của Nokia. GSM về sau trở thành tiêu chuẩn toàn cầu đã tạo ra nền tảng để các sản phẩm của Nokia được chấp nhận và bán rộng rãi trên thế giới. Cuối cùng, Nokia không hề được bảo hộ ở Phần Lan. Mặc dù Jorma Ollila, CEO của Nokia khuyến nghị Phần Lan phải bảo vệ hãng trước các đối thủ từ Pháp và Đức, chính phủ nước này lại quyết định đi theo mô hình thị trường tự do, mở cửa cho các hãng di động của châu Âu tràn vào thị trường nội địa để Nokia phải tự nâng cấp sản phẩm, dịch vụ để có thể cạnh tranh. “Khi Nokia sống sót ở thị trường Phần Lan thì cũng có thể mở rộng sang thị trường châu Âu và tiến đến thị trường toàn cầu” – Esko Aho nói.  Nhìn vào phân tích của Esko Aho, đóng góp vào sự thành công vang dội của Nokia chỉ có một yếu tố đến từ nội lực của hãng này và bốn yếu tố khác đến từ chính sách của chính phủ. Thách thức của mọi chính phủ hiện nay đó là làm thế nào để tạo ra ngày càng nhiều cơ hội cho những ý tưởng đổi mới sáng tạo trở thành hiện thực. Khi việc đưa ra những khái niệm kinh doanh mới trở thành kĩ năng bắt buộc của khối tư nhân, bản thân chính phủ cũng phải thay đổi khái niệm quản lý của mình, chuyển đổi từ quan niệm truyền thống là tìm cách để khai thác nguồn lực mình đang có sang làm thế nào tạo ra một môi trường để tất cả những nguồn lực đó có thể kết nối với nhau, tạo ra giá trị mới. Esko Aho gọi đây là tư duy mang tính hệ sinh thái – Ecosystem thinking.       Tư duy mang tính hệ sinh thái  Điều gì sẽ làm thay đổi thế giới trong tương lai? Đó là công nghệ số – Ông Esko Aho quả quyết. Nhiều người cho rằng chúng ta đang sống trong thời đại số nhưng ông không cho rằng như vậy. “Chưa đến lúc đâu!” – Esko Aho cho nhấn mạnh.  Lôi từ trong túi ra chiếc điện thoại iPhone, ông hỏi khán giả xem họ hiểu gì về thiết bị quen thuộc này? Phần lớn mọi người không biết về sức mạnh của thiết bị mình vẫn sử dụng hằng ngày. Khả năng tính toán của một chiếc điện thoại thông minh là rất lớn nhưng con người mới chỉ khai thác một phần rất nhỏ của nó: trong thời gian sử dụng điện thoại trung bình của người Mỹ, 40% là để chơi game, 26% là cho mạng xã hội, 10% là để nghe nhạc và các tiện ích tương tự.  “Tôi không tin rằng công nghệ này chỉ dùng cho việc giải trí. Nó có thể là công cụ tuyệt vời cho các dịch vụ tài chính, dịch vụ giáo dục, logistic và truyền thông….Biết bao nhiêu là cơ hội” – Esko Aho nói. Nhưng điều gì hạn chế con người tận dụng những cơ hội từ chiếc điện thoại, hay nghĩ rộng ra, là các máy tính di động? Bởi vì các chính phủ thiếu ecosystem thinking.  Lí do cho sự bùng nổ của các ứng dụng giải trí không phải vì nhu cầu lớn của người dùng mà bởi vì hệ sinh thái dành cho các ứng dụng này quá đơn giản: “Khi Apple ra mắt ứng dụng Itunes, họ chỉ cần kết nối người nghe nhạc và nghệ sĩ. Dễ như ăn bánh!” – Esko Aho nói. Tuy nhiên, khi tạo ra những dịch vụ giá trị gia tăng cao trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, giao thông, sản xuất – chế tạo, y tế…sẽ cần một hệ sinh thái phức tạp, va chạm tới nhiều cơ quan, ban ngành, chính sách pháp luật, cơ sở hạ tầng và nhân lực của nhiều ngành nghề, chứ không chỉ là câu chuyện đầu tư cho công nghệ.  Ecosystem thinking đòi hỏi chính phủ phải đáp ứng được hai yêu cầu nền tảng: nguồn nhân lực phải làm việc được liên ngành và sự liên kết chặt chẽ giữa khu vực công và tư.  Một nghịch lý hiện nay là những người giỏi công nghệ thì không hiểu về các ngành chuyên môn và những người làm chuyên môn thì không hiểu về công nghệ. Trong khi để tạo ra những dịch vụ có giá trị gia tăng cao, thiết thân với đời sống xã hội như Esko Aho hình dung thì cần kiến thức của cả hai phía. Hiện nay, các kĩ sư công nghệ là người làm những dịch vụ giá trị gia tăng cao trong xã hội nhưng đó là quan niệm sai lầm. Một ví dụ có thể minh chứng cho điều đó là dự án số hóa hệ thống chăm sóc sức khỏe của Chính phủ Anh với hơn 10 tỷ USD và các chuyên gia công nghệ hàng đầu để loại bỏ những thủ tục giấy tờ khám chữa bệnh gần đây đã hoàn toàn thất bại. Những kĩ sư công nghệ không thể hiểu được cách thức vận hành của hệ thống y tế quốc gia và ngược lại, những người trong khu vực y tế không hiểu được tiềm năng và giới hạn của công nghệ thông tin. Xã hội tương lai gắn liền với xu hướng số hóa mọi vật thể và hoạt động của chúng đòi hỏi một lực lượng lao động lớn có hiểu biết và kĩ năng làm việc liên ngành trong cả khu vực công và tư nhưng đa số nền giáo dục của các nước vẫn chưa chuẩn bị cho điều đó.  Kết hợp công và tư vốn được nhắc đến nhiều lần và được cổ vũ ở nhiều diễn đàn quốc tế. Tuy nhiên, Esko Aho cho biết, không nhiều quốc gia có thể thực sự huy động được sức mạnh của cả hai khu vực. Theo ông, phần lớn các chính trị gia thì quá tự tin trước hiểu biết về tương lai, cách thức sử dụng nguồn lực của mình và cho rằng khu vực tư nhân không có vai trò đặc biệt trong việc hoạch định chính sách. Ngược lại, các công ty thì thờ ơ với vai trò của chính phủ, thậm chí, một khảo sát gần đây cho thấy năm công ty internet lớn nhất thế giới cho rằng chính phủ là một trong số những kẻ thù lớn nhất của họ. Để khối tư nhân và khối chính phủ có thể hợp tác không chỉ đòi hỏi hai bên “cùng ngồi và thảo luận” mà họ phải hiểu logic của nhau.  Từng có kinh nghiệm nắm giữ những vị trí quan trọng nhất vừa trong chính phủ, vừa trong các tập đoàn, các quỹ tài chính lớn và ngân hàng lớn của Phần Lan, Esko Aho cho rằng chính phủ và doanh nghiệp đã không ngờ được rằng hai bên biết về nhau ít ỏi như thế nào. Ông kể lại rằng, khi trở thành Phó chủ tịch Nokia chỉ với kinh nghiệm của khu vực công, phản ứng đầu tiên của ông là không hiểu ban điều hành nói gì và hoang mang không biết mình sẽ đóng góp như thế nào vào tập đoàn này. Nhưng khi hiểu về họ, thì ông lại lo lắng không biết Nokia sẽ sống sót ra sao khi không ai trong ban điều hành hiểu về hoạt động của chính phủ – ngoài ông. Ông cho rằng, hiểu về logic của hai phía là công cụ tuyệt vời nhất mà ông có được trong suốt cuộc đời mình nhưng ông có được nó quá muộn và lấy làm tiếc vì bài học này dường như chưa quốc gia nào trên thế giới thực sự thấm thía. Điểm yếu trong một hệ sinh thái thường bị gây ra bởi sự thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa các bên liên quan, và một người không thể hiểu logic của chính phủ và doanh nghiệp nếu không từng làm việc cho cả hai phía. Esko Aho cho rằng, khu vực công không thể “sống sót” trong xã hội tương lai nếu không tuyển được những trí tuệ và tài sản của khu vực tư nhân đến làm việc.  Từ quan niệm “thắng – thua” sang “cả hai bên cùng thắng”  Doanh nghiệp và nhà nước khó có thể làm việc với nhau vì…họ có cùng một quan điểm rất phổ biến về chủ nghĩa tư bản nhưng lại quá hạn hẹp. Quan điểm này cho rằng: thước đo quan trọng nhất cho thành công doanh nghiệp và cả quốc gia là lợi nhuận, tiền bạc. Chính vì vậy, doanh nghiệp thường coi giải quyết các vấn đề xã hội là công việc mang tính chất “từ thiện” mà họ phải “hi sinh” một phần lợi nhuận để giải quyết. Chính phủ và các NGOs cũng có quan điểm tương tự, cho rằng luôn có mâu thuẫn giữa lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế và chính phủ phải tìm mọi cách để cân bằng chúng, tăng cái này thì giảm cái kia hoặc ngược lại. Chính vì vậy, thông thường các chính sách, luật pháp bảo vệ môi trường thường ở dưới dạng công cụ yêu sách và kiểm soát (command and control), đặt ra để xử phạt hoặc bôi xấu những doanh nghiệp vi phạm. Theo Esko Aho, các chính phủ vẫn mang nặng tư duy thắng – thua, tức là người này thành công thì người khác sẽ thua cuộc, những công ty làm ra lợi nhuận sẽ tiềm ẩn những hệ lụy xã hội và họ phải trả giá một phần cho điều đó. Ông cho rằng đó là cách tiếp cận nguy hiểm, đặc biệt là đối với quốc gia nhỏ.   Tuy nhiên, hai giáo sư kinh tế của Đại học Harvard là Michael E. Porter và Mark R. Kramer đã đưa ra một cách tiếp cận mới, coi giá trị tạo ra mới là mục đích cuối cùng. Trên thực tế, giá trị không nên hiểu hạn hẹp trong phạm vi những gì doanh nghiệp đóng góp trở lại cho cộng đồng thông qua lợi nhuận mà còn là những vấn đề họ giải quyết liên quan trực tiếp đến chuỗi giá trị họ tham gia hoặc tạo ra (điều kiện sinh sống của người lao động, bình đẳng giới và sắc tộc, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên…), đóng góp quan trọng vào năng lực cạnh tranh của công ty về lâu dài. Với cách tiếp cận này, các bên liên quan sẽ cùng nhau giải quyết các vấn đề xã hội, thay vì kìm hãm, hạn chế sự phát triển của nhau. Đối với nhà nước, cách tiếp cận này sẽ cho ra đời các “chính sách thông minh” (smart regulation) thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Esko Aho lấy ví dụ về ngành sản xuất giấy ở Phần Lan, là một trong những thế mạnh của nước này trên thế giới nhưng đồng thời cũng gây ra ô nhiễm nguồn nước ngầm nghiêm trọng. Thay vì đóng cửa các nhà máy này, Chính phủ Phần Lan đã nâng dần tiêu chuẩn xây dựng các nhà máy giấy, thúc đẩy họ nâng cấp công nghệ. Cuối cùng, không chỉ vấn đề môi trường được giải quyết mà đến tận bây giờ, sau hàng chục năm, ngành sản xuất giấy của Phần Lan vẫn giữ được vị trí cạnh tranh, với 2/10 công ty lớn nhất thế giới.    Author                Đình Phong        
__label__tiasang Hợp tác KH và ĐMST Việt Nam – Vương quốc Anh: Từ hợp phần nhỏ trở thành nội dung chiến lược      “Những gì chúng ta biết là một giọt nước, những gì chúng ta chưa biết là một đại dương.” (Isaac Newton)      Chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế trong lĩnh vực Sinh học về da tại Việt Nam.   Nước Anh có một bề dày lịch sử khoa học (KH) và đổi mới sáng tạo (ĐMST), với 3 trong 10 đại học hàng đầu thế giới và 129 nhà khoa học đoạt giải Nobel. Nền khoa học này không chỉ có vai trò thúc đẩy kinh tế nước Anh mà còn đóng góp vào kho tàng tri thức nhân loại. Vì vậy, chúng tôi đề cao sự hợp tác liên quốc gia trong khoa học, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang cần giải pháp cho những vấn đề toàn cầu như an ninh lương thực, y tế và sức khỏe cộng đồng, các thảm họa, và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Là một nền kinh tế đang nổi năng động với những cam kết mạnh mẽ trong khoa học và đổi mới sáng tạo, cùng một lực lượng lao động trẻ tài năng, Việt Nam trở thành đối tác của nước Anh, một cách tự nhiên.  Chặng đường đã qua    Khi Vương quốc Anh và Việt Nam trở thành đối tác chiến lược vào năm 2010, hợp tác khoa học chỉ là một phần nhỏ trong mối quan hệ tổng thể giữa hai bên. Nhưng tình hình hiện nay đã rất khác. Chúng ta có một Bản ghi nhớ song phương về hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, và nhiều chương trình đã hoạt động với khoản tài trợ trị giá hàng triệu Bảng mỗi năm. Trong đó, khởi động từ năm 2014, Quỹ Newton của Chính phủ Anh là một mô hình tài trợ mới cho các hoạt động hợp tác giữa các đơn vị nghiên cứu của Vương quốc Anh và Việt Nam nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả các công trình nghiên cứu.  Bốn năm sau, hợp tác khoa học giữa hai nước đã đạt đến một nấc thang mới, trở thành một hợp phần chính của mối quan hệ song phương. Khoảng 8,4 triệu Bảng Anh đã được giải ngân bởi hai nước cho Quỹ Newton Việt Nam tính đến tháng 6 năm 2018. Đã có hơn 10 chương trình được triển khai trong khuôn khổ của Quỹ Newton kết nối đa dạng các nhóm đối tượng trong cộng đồng nghiên cứu hai nước. Các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại Anh, các nhà nghiên cứu Việt Nam từng học tiến sĩ tại Anh đóng vai trò quan trọng trên cơ sở các liên kết giáo dục đã có. Nhờ vậy, đã có gần 200 suất tài trợ của Quỹ cho các mối hợp tác giữa 81 cơ quan nghiên cứu của Việt Nam và 58 tổ chức của Anh, và trong đa số trường hợp, đây là lần đầu tiên các nhà khoa học hai nước làm việc cùng nhau.    Đại sứ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len tại Việt Nam Gareth Ward.  Phần lớn kinh phí của chúng tôi được chi cho các dự án nghiên cứu chung trong lĩnh vực y tế (bệnh truyền nhiễm), nông nghiệp (sản xuất lúa gạo) và phục hồi môi trường, mang lại lợi ích thiết thực cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Dự án hợp tác nghiên cứu của Đại học Queen Belfast và Đại học Duy Tân về hệ thống thông tin liên lạc được thiết kế để hoạt động hiệu quả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt là một ví dụ cụ thể. Với chất lượng khoa học và tiềm năng thương mại hóa cao, nhóm đã giành được giải thưởng Newton cho Việt Nam vào năm 2017. Ngoài ra, Hội đồng Anh, các Viện Hàn lâm và Cơ quan Đổi mới Sáng tạo Vương quốc Anh cũng có nhiều hoạt động tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý khoa học Việt Nam tiếp cận hạ tầng nghiên cứu và chuyên môn cao của Vương quốc Anh. Thậm chí, viện, trường giữa hai nước còn chủ động đưa ra những dự án hợp tác giáo dục mới và tìm được nguồn tài trợ nghiên cứu ngoài Quỹ Newton. Bên cạnh Quỹ Newton, Chính phủ Anh cũng đã triển khai Quỹ Nghiên cứu Thách thức Toàn cầu (GCRF) trị giá 1,5 tỷ Bảng từ năm 2015. Việt Nam đã được hưởng lợi từ hai dự án lớn sử dụng công nghệ vệ tinh của Anh để cải thiện khả năng dự báo thiên tai và dự đoán sự bùng phát của dịch sốt xuất huyết trong tương lai. Đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thường mất một thời gian dài để nhìn thấy những tác động về mặt kinh tế, nhưng những gì chúng ta đã làm cùng nhau cho phép chúng ta lạc quan.      Chúng tôi tin rằng việc mở rộng hợp tác khoa học giữa Vương quốc Anh và Việt Nam sẽ thành công nếu Việt Nam áp dụng nhiều hơn những thông lệ quốc tế tốt trong quản trị nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.      Nhìn về phía trước, Chính phủ Anh sẽ tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho các nhà nghiên cứu xuất sắc từ ​​khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam thông qua các sáng kiến mới:  – Chương trình lãnh đạo tương lai của Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo (UKRI) lần đầu tiên sẽ trao ít nhất 550 suất học bổng trong vòng 3 năm tới cho các nhà nghiên cứu và sáng tạo trẻ;    – Hiệp hội Hoàng gia, Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia, Viện Hàn lâm Anh quốc, Viện Hàn lâm Y khoa sẽ đồng cung cấp 350 triệu Bảng qua các chương trình học bổng danh giá của mình;    – Tối đa 10 học bổng UKRI Hawking được cấp mỗi năm cho các ứng viên hàng đầu đã hoàn thành chương trình tiến sĩ tại Anh trong lĩnh vực toán học, vật lý và khoa học máy tính, trong 5 năm.    Những cơ hội tương lai  Vì sứ mệnh của Quỹ Newton là hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của các nước đối tác, chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển các chương trình nghiên cứu trong lĩnh vực là ưu tiên quốc gia của Việt Nam. Nhiều ưu tiên của Việt Nam cũng nằm trong danh mục Những Thách thức lớn trong Chiến lược công nghiệp của Vương quốc Anh: trí tuệ nhân tạo và dữ liệu, già hóa và sức khỏe, tương lai của quá trình dịch chuyển, và tăng trưởng sạch. Có những mối quan tâm chung như vậy là một thuận lợi lớn trong hợp tác giữa hai nước nhưng các nhà khoa học Anh và Việt Nam có thể cân nhắc hợp tác với nhau trong các vấn đề cụ thể và thiết thân với Việt Nam như nghiên cứu về các bệnh không lây nhiễm, kỹ thuật nông nghiệp và tăng trưởng sạch. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, chúng tôi tin rằng có rất nhiều tiềm năng trong việc phát triển công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo và sáng tạo số phục vụ các khía cạnh khác nhau của cuộc sống, như trong y tế, nông nghiệp và phát triển đô thị.      Tôi rất hào hứng với tất cả những tiềm năng của hai nước, và mong chờ một tương lai tươi sáng cho quan hệ đối tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Việt – Anh.      Bên cạnh tri thức khoa học hàn lâm, chúng tôi cũng kì vọng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đóng vai trò khuyến nghị chính sách, hoặc tạo ra cơ hội mới cho khối doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ khuyến khích các chương trình hợp tác liên ngành, đặc biệt bao gồm góc nhìn từ các ngành khoa học xã hội. Điều này có thể là một thách thức vì các công bố quốc tế của Việt Nam trong khoa học xã hội vẫn đang trong giai đoạn phát triển, nhưng chúng ta sẽ gặt hái được nhiều điều từ cách tiếp cận này.  Trong ba năm qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ ấn tượng trên Bảng xếp hạng Chỉ số Đổi mới Toàn cầu, còn Vương quốc Anh vẫn luôn nằm trong danh sách 5 nước dẫn đầu. Vì bản thân Việt Nam đã sẵn sàng “đổi mới”, và các liên kết nghiên cứu của chúng ta đã trở nên ổn định hơn, chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều trao đổi học thuật hơn để phát triển năng lực chính sách, chẳng hạn như trong việc sử dụng hiệu quả dữ liệu, bằng chứng và kỹ năng dự báo tương lai. Chúng ta cũng cần phải thương mại hóa nhiều hơn những nghiên cứu được tạo ra trong các trường đại học bằng cách thúc đẩy mức độ và chiều sâu tham gia của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo.  Chúng tôi được biết Việt Nam đang xây dựng Chiến lược quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Chúng tôi rất muốn lắng nghe quan điểm của Chính phủ Việt Nam về quan hệ hợp tác tương lai trong lĩnh vực đầy hứa hẹn này.  Nhìn nhận thách thức  Chúng tôi tin rằng việc mở rộng hợp tác khoa học giữa Vương quốc Anh và Việt Nam sẽ thành công nếu Việt Nam áp dụng nhiều hơn những thông lệ quốc tế tốt trong quản trị nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hoạt động hợp tác trong KH&CN Việt Nam đang chuyển dần sang cơ chế đồng tài trợ. Cụ thể là:    Hội thảo kết nối giữa nhà khoa học Việt Nam và Anh về Công nghệ vi lưu và phòng thí nghiệm siêu nhỏ tích hợp trên một con chip.  Hình thành: Kinh nghiệm của Anh cho thấy rằng, đối tác nào càng có khả năng đáp ứng linh hoạt và nhanh chóng thì càng có nhiều cơ hội để hợp tác. Mặc dù Việt Nam có nhiều chương trình nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, một vài trong số đó không đủ linh hoạt trong thiết kế để thu hút các nhà đồng tài trợ quốc tế.  Vận hành: Tại Vương quốc Anh, chính phủ và cơ quan tài trợ nghiên cứu chính UKRI đưa ra các chiến lược trên cơ sở tham vấn chặt chẽ với các cộng đồng học thuật và kinh doanh. Còn ở góc độ từng chương trình cụ thể, chính phủ chỉ đóng vai trò “tạo điều kiện”. Chúng tôi tin rằng các cơ quan Bộ của Việt Nam cũng có thể cải thiện các quy trình ra quyết định của mình bằng cách áp dụng chính phủ điện tử, phương pháp bình duyệt quốc tế và minh bạch hóa quy trình của mình.  Quá trình hợp tác đòi hỏi việc học hỏi và cải tiến liên tục. Nhưng chúng tôi tin rằng mối quan tâm và cam kết chung sẽ cho phép cả hai bên thích nghi với nhau trong khi vẫn duy trì các tiêu chuẩn của mình, và nước Anh cũng cam kết tìm kiếm các cách thức mới và linh hoạt để tham gia.  ***  Với sức mạnh của những công nghệ mới trên toàn thế giới, cách con người sống, làm việc và tương tác đang được biến đổi. Bằng cách cùng làm việc và khai thác thế mạnh của nhau, chúng ta có thể đạt được nhiều hơn những gì chúng ta làm một mình. Chúng tôi muốn Vương quốc Anh trở thành đối tác hàng đầu về khoa học và đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Và chúng ta chưa bao giờ ở vị trí tốt hơn bây giờ. Tôi mong muốn tiếp tục xây dựng quan hệ hợp tác trên cơ sở thành tựu đạt được và tạo ra một môi trường mà trong đó các nhà sáng tạo có thể hoàn toàn thể hiện bản thân. Tôi rất hào hứng với tất cả những tiềm năng của hai nước, và mong chờ một tương lai tươi sáng cho quan hệ đối tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Việt – Anh.  Phan Liên Hương dịch             Author                Gareth Ward        
__label__tiasang Hợp tác tài trợ khoa học Anh – Việt: Những góc nhìn mới      Tài trợ cho nghiên cứu thông qua hợp tác quốc tế, thông thường đối tượng thụ hưởng là các nhà khoa học, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, đối tượng thụ hưởng bao gồm cả các cơ quan quản lý nghiên cứu.      TS. Dương Ngọc Tú (Viện Hóa học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cùng cộng sự đã triển khai thành công dự án do Quỹ Newton tài trợ “Thực hiện các giải pháp tổng thể để phát triển các sản phẩm có giá trị cao từ cây nghệ (Curcuma longa) tại Việt Nam”. Nguồn: vtc.vn  Có mặt tại Việt Nam được gần 5 năm, Quỹ Newton – chương trình hợp tác phát triển chính thức trong lĩnh vực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Vương quốc Anh, đã đồng tài trợ cho các hoạt động nâng cao năng lực, nghiên cứu và chuyển giao tại Việt Nam với giá trị tài trợ lên tới 8,4 triệu bảng Anh cho gần 400 người, chủ yếu là các nhà khoa học thuộc 81 tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và 58 tổ chức nghiên cứu của Anh. Mở ra một kênh hợp tác mới trên 5 lĩnh vực ưu tiên (y tế, nông nghiệp, môi trường và năng lượng, sáng tạo số, đô thị tương lai), Quỹ Newton đem lại cơ hội nhận kinh phí tài trợ cho những nghiên cứu ở tầm quốc tế cho các nhà khoa học Việt Nam thông qua mối hợp tác giữa các bên quản lý, thông thường là một cơ quan Việt Nam và một cơ quan cơ quan tài trợ của Anh.  Nếu mối quan hệ tài trợ chỉ diễn ra đơn thuần giữa một bên sẵn sàng cấp kinh phí và một bên có vốn đối ứng để cùng giải ngân thì thông thường, đối tượng hưởng lợi sẽ chỉ là người được cấp kinh phí – đó cũng là chuyện diễn ra giữa Quỹ Newton và phần lớn các cơ quan Việt Nam trong gần 5 năm qua. Giữa những hoạt động đơn thuần như thế, sự kết nối tài trợ giữa Quỹ Newton với Quỹ Nafosted (Bộ KH&CN) mang màu sắc hoàn toàn khác biệt: Quỹ Newton coi đây là một trong những mối quan hệ hiệu quả nhất, mang tính chủ động nhất tại Việt Nam; còn Quỹ Nafosted coi đây là cơ hội “học hỏi về quản lý và điều hành từ một đối tác đã ở trình độ cao và hoàn thiện nhưng lúc nào cũng mong muốn làm tốt hơn nữa”, như đánh giá của TS Phạm Đình Nguyên, Phó giám đốc Quỹ Nafosted.  Trong mối quan hệ hợp tác này, “dù luôn lắng nghe và học hỏi nhưng Nafosted vẫn giữ được sự chủ động và độc lập của mình”, nhận xét của chị Phan Liên Hương, cán bộ quản lý chương trình Newton tại Việt Nam, cho thấy nỗ lực của Nafosted để không chỉ là “người học việc” mà còn là “người đồng hành”. Vậy đạt được điều này có thật sự dễ dàng?  Học hỏi từ những tương đồng  Với một quỹ ở tầm quốc gia như Nafosted, hoạt động hợp tác quốc tế hiện vẫn còn ở mức khiêm tốn: ngoài hợp tác với 4 tổ chức của Anh là Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh, Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia Anh, Viện Hàn lâm Anh quốc, Hội đồng Anh thông qua Quỹ Newton, Nafosted mới kết nối với một số tổ chức khác như Quỹ Flanders (Bỉ), Quỹ Khoa học Đức, Quỹ Khoa học Thụy Điển, Hội đồng nghiên cứu Y tế và sức khỏe quốc gia Úc. Tuy mối quan hệ chưa nhiều nhưng Quỹ Nafosted luôn biết tận dụng cơ hội để học hỏi.  Trong quá trình hợp tác, đại sứ quán (ĐSQ) Anh đánh giá Nafosted là đối tác “ăn ý nhất” bởi chức năng và phương thức tổ chức của Nafosted rất gần với Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh (UKRI): cả hai đều là cơ quan tài trợ nghiên cứu chuyên nghiệp và không có nhiệm vụ quản lý nhà nước. Quỹ cũng áp dụng nhiều thông lệ quốc tế tốt trong tài trợ nghiên cứu như tôn trọng ý tưởng nghiên cứu của người đề xuất, thực hiện quy trình quản lý trực tuyến, có phản biện quốc tế trước khi họp hội đồng hỗn hợp và ra quyết định tài trợ chung. Tất cả những điều này góp phần đảm bảo hiệu suất làm việc của cơ quan tài trợ và tạo niềm tin của các tổ chức hợp tác trên cơ sở minh bạch, trung lập và chất lượng trong đánh giá. Theo nhận xét của ĐSQ Anh, việc Quỹ Nafosted chấp thuận cho các nhà khoa học Việt Nam chỉ phải nộp hồ sơ tiếng Anh ban đầu còn nộp hồ sơ tiếng Việt chỉ dành cho những nhà khoa học được cấp tài trợ cho thấy những nỗ lực trong cải thiện thủ tục hành chính và đạt mức quốc tế hóa nhiều hơn của Quỹ.    Đại diện Quỹ Nafosted trong chuyến làm việc tại Viện Hàn lâm Anh quốc năm 2016. Nguồn:  Nafosted.  Để có được một quy trình phản biện và cơ chế vận hành theo chuẩn mực quốc tế như vậy, Quỹ Nafosted cũng đã phải mất gần 10 năm kiên trì áp dụng và hoàn thiện. TS. Phạm Đình Nguyên – người có thời gian dài làm công tác nghiên cứu và tiếp xúc với nhiều cơ quan quản lý  khoa học của nước ngoài, cho rằng, “về cơ bản thì quy trình đánh giá của mình đã đủ tốt” nên khi vào việc với Quỹ Newton là “mọi thứ gần như bắt nhịp cùng nhau ngay”. Nhiều năm qua, Quỹ Nafosted đã kiên trì áp dụng cơ chế phản biện quốc tế trong lĩnh vực khoa học tự nhiên: mời nhà khoa học nước ngoài tham gia vòng đánh giá hồ sơ đề xuất cùng đồng nghiệp Việt Nam, tuy tỷ lệ mời chưa được như kỳ vọng nhưng cũng cho thấy chủ trương và nỗ lực của Quỹ trong đảm bảo chất lượng tài trợ và mở rộng mạng lưới liên kết.  Tuy tự nhận xét là quy trình đánh giá của Quỹ Nafosted đã ở mức “tương đối tốt” nhưng việc hợp tác với những cơ quan quản lý quỹ có trình độ cao của Anh cũng là cơ hội để Nafosted “học hỏi sự nghiêm túc, khách quan, chuyên nghiệp trong công việc”, TS. Phạm Đình Nguyên nêu. Ví dụ, ở trình độ quản lý và nghiên cứu cao hơn, “họ có cách đánh giá tài trợ rộng, mềm dẻo hơn mình” song điều đó không ảnh hưởng đến chất lượng các đề xuất được tài trợ bởi “các đánh giá, nhận xét của họ rất chi tiết, chất lượng và đủ thông tin để các cơ quan quản lý có thể đưa ra quyết định một cách chính xác nhất”, anh giải thích. Thông thường, cách đánh giá của quỹ tài trợ thuộc các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vừa lỏng lại vừa chặt theo nghĩa quá nhiều thủ tục rườm rà hoặc cứng nhắc về tài chính, về danh mục thành phần vật tư hóa chất phục vụ nghiên cứu (hiếm khi được phép thay đổi nếu chủ nhiệm đề tài điều chỉnh cách làm) nhưng thiếu những nhận xét chuẩn xác về chuyên môn.  Mặt khác, dù đầu tư kinh phí cho các nghiên cứu ở 18 quốc gia đối tác thông qua Quỹ Newton – phần lớn đều là các quốc gia đang phát triển, trình độ khoa học thấp hơn, nhưng Anh không hề lấy đó làm lý do để hạ thấp các tiêu chuẩn tối thiểu trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học của mình. Ở lần tài trợ thứ nhất, Quỹ Newton chỉ tài trợ kinh phí cho 5 dự án. Mặc dù có  tiếc nuối do một số hồ sơ không được tài trợ “chỉ kém một chút [về chất lượng] so với hồ sơ được tài trợ” nhưng TS. Phạm Đình Nguyên cũng đồng ý với quan điểm của Anh “cần đảm bảo chất lượng tài trợ thật tốt”. Đây cũng là mục tiêu quan trọng mà Quỹ Nafosted  tiếp tục hướng tới trong các khâu tổ chức, đánh giá xét chọn, tài trợ của mình.  Học hỏi từ những khác biệt  Quá trình làm việc giữa các cơ quan tài trợ nghiên cứu thuộc hai quốc gia khác nhau không phải lúc nào cũng hoàn toàn ăn khớp, dù tất cả mọi hoạt động đều xoay quanh những công việc giống nhau: nhận hồ sơ online, xét duyệt hồ sơ qua hội đồng khoa học, cấp kinh phí thực hiện.  Nét khác biệt đầu tiên mà đối tác Anh nhận ra trong giai đoạn đầu hợp tác với Quỹ Nafosted là trong xét duyệt tài trợ “có thêm công đoạn thẩm định kinh phí rất mất thời gian mà ở Anh không làm”. Do đó, từ khi thống nhất về mặt nguyên tắc giữa hai bên cho đến khi dự án có thể “chạy được” thì Anh chỉ cần 3 tháng nhằm đảm bảo tính thời sự của nghiên cứu còn ở Việt Nam thì phải mất tới 1 năm.  Câu chuyện chậm giải ngân kinh phí sau khi Quỹ Nafosted phê duyệt đề tài không mới với các nhà khoa học Việt Nam. TS. Phạm Đình Nguyên cho biết, “kinh phí mà Quỹ Nafosted  sử dụng để tài trợ khoa học là tiền ngân sách, do vậy để ký được ký hợp đồng tài trợ, sau khi có kết quả đánh giá khoa học còn phải thực hiện thẩm định và phê duyệt tài chính theo các quy định hiện hành, các chủ nhiệm đề tài cũng phải sửa lại dự toán đề tài phù hợp với kinh phí được phê duyệt”. Anh thừa nhận, “do phía đối tác không phải thực hiện những công việc này nên việc ký hợp đồng và giải ngân của họ nhanh hơn”.  Nét khác biệt thứ hai là Việt Nam chưa có cơ chế linh hoạt trong tổ chức các chương trình, các hoạt động liên quan đến nghiên cứu. Nếu phía Anh khá linh hoạt khi thiết kế một chương trình mới, quy mô nhỏ thì với các tổ chức ở Việt Nam, không riêng gì với Quỹ Nafosted, việc tạo dựng một chương trình như vậy thường mất thời gian và muốn “được việc” thường phải dựa vào một chương trình sẵn có. Ví dụ, ngay cả việc tổ chức những hội thảo mang tính thúc đẩy hợp tác, kết nối “làm quen” giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam – Anh để thuận lợi cho tài trợ nghiên cứu thì Quỹ Nafosted cũng lúng túng vì không có quy định nào cho việc tổ chức hoạt động như vậy.  Nét khác biệt thứ ba là trước đó Quỹ Nafosted không áp dụng cơ chế phản hồi giữa những người phản biện với nhà khoa học có hồ sơ được phản biện. Đại diện ĐSQ Anh cho biết, chỉ trong các chương trình hợp tác với Hội đồng Nghiên cứu Vương quốc Anh, các nhà khoa học nộp hồ sơ cho Nafosted mới được nhận thông tin phản biện và đặc biệt, có cơ hội phản hồi những nhận xét đó trước khi hội đồng đánh giá họp phiên chính thức. Theo quan sát của phía Anh, không chỉ Nafosted mà các đối tác Việt Nam đều chưa làm tốt được khâu này.  Giải thích về việc chưa áp dụng cơ chế phản hồi trong xét duyệt, TS. Phạm Đình Nguyên cho biết: “Quy trình đánh giá xét chọn hồ sơ đề tài thông qua Hội đồng khoa học có phản biện ngoài Hội đồng mà Nafosted thường sử dụng (giữ kín thông tin nhận xét phản biện, chỉ dùng cho Hội đồng khoa học) được học hỏi từ Quỹ Khoa học Thụy Sĩ, hiện vẫn là một mô hình đánh giá khoa học tốt mà nhiều quốc gia tiên tiến sử dụng, một số đối tác của Nafosted như Quỹ Khoa học Flanders (Bỉ), Hội đồng nghiên cứu Y tế và sức khỏe quốc gia Úc cũng theo quy trình này. Trong hợp tác với Hội đồng nghiên cứu Anh, Nafosted đồng ý sử dụng cơ chế do Anh đề xuất vì cũng là một phương án tốt và cũng để có thêm kinh nghiệm”.  Tuy nhận thấy còn tồn tại những khác biệt trong quy định quản lý ngân sách, quản lý khoa học và trình độ khoa học giữa hai quốc gia, TS. Phạm Đình Nguyên cho rằng, Quỹ Nafosted có thể hợp tác tốt và học hỏi được một số điều  từ đối tác Anh, ví dụ như tiếp tục hoàn thiện, phát triển hệ thống quản lý trực tuyến để đơn giản các thủ tục hành chính, tăng tính khách quan, khoa học trong quá trình bình duyệt, đánh giá xét chọn và quản lý đề tài. Anh cho biết: “Từ rất sớm, Quỹ đã áp dụng hệ thống quản lý này và thấy rõ hiệu quả nhưng hiện nay, hệ thống quản lý của Quỹ cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung thêm các tính năng như của đối tác”.     Mặc dù chấp nhận những điều tồn tại khi “giản dị là ta chưa có điều kiện [được] như đối tác” nhưng theo TS. Phạm Đình Nguyên, việc hợp tác với các tổ chức  tài trợ, hỗ trợ khoa học tiên tiến như Hội đồng nghiên cứu Anh đem lại cho Quỹ Nafosted cơ hội hội nhập quốc tế về quản lý tài trợ, hỗ trợ nghiên cứu khoa học.  NAFOSTED – Hội đồng Anh  Cùng hỗ trợ nhà khoa học Việt Nam và Anh thực tập nghiên cứu ngắn hạn tại nước đối tác trong thời gian từ 1 – 6 tháng, trong 5 lĩnh vực nghiên cứu theo thỏa thuận chung bao gồm: khoa học sức khỏe và khoa học sự sống; Môi trường và an ninh năng lượng; KHXH và nhân văn; Công nghệ nông nghiệp; Kỹ thuật số, đổi mới và sáng tạo.  NAFOSTED – Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia Anh và Viện Hàn lâm Anh   Hợp tác hỗ trợ nhà khoa học Việt Nam và Anh trao đổi nghiên cứu tại nước đối tác trong tối đa 12 tháng trong lĩnh vực kỹ thuật và KHXH và nhân văn.  NAFOSTED – Hội đồng nghiên cứu Anh quốc: Một số hoạt động có sự tham gia của các tổ chức khác tại Đông Nam Á: Quỹ Nghiên cứu Thái Lan (TRF), Quỹ khoa học Indonesia (DIPI)… Hợp tác tài trợ thực hiện các đề tài nghiên cứu từ 2 – 3 năm trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm. + Lĩnh vực tài trợ năm 2016: Ô nhiễm không khí và sức khỏe con người, Tài nguyên nước, Đất than bùn và rừng ngập mặn nhiệt đới. + Lĩnh vực tài trợ năm 2017: Tác động của tai biến thiên nhiên về khí tượng thủy văn (lũ lụt, hạn hán,…), ưu tiên đề tài liên ngành giữa KHTN và kỹ thuật, KHXH và nhân văn.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Hợp tác với Pháp phát triển nhanh sản xuất hữu cơ      Ông Trần Thành Nam, thứ trưởng bộ NN-PTNT, cùng đoàn cán bộ và doanh nghiệp Việt Nam tới Salon International de L’Agriculture 2018 (Hội chợ quốc tế nông nghiệp Pháp 2018), có vẻ như đã tìm thấy những cơ hội thực tế hơn sau khi tham quan, kết nối B2B, trao đổi hợp tác quốc tế về thúc đẩy thương mại nông nghiệp vào EU từ ngày 23/2 – 4/3/2018.      Tham tán nông nghiệp Pháp Alexandre Bouchot trao đổi với đoàn cán bộ nông nghiệp và doanh nghiệp Việt Nam tại hội chợ.  Tại Việt Nam, bộ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN-PTNT) cũng đã gặp đại sứ Pháp ở Hà Nội, đưa ra những nội dung cụ thể trong năm 2018 và những năm tiếp theo. Ông Nam nói rằng tròn năm năm hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, nhận lời mời của bộ Nông nghiệp và thực phẩm (NN-TP) Pháp, chúng tôi cùng các doanh nghiệp Việt Nam tới Pháp tiếp tục đưa ra những nội dung cụ thể mà hai bên cùng quan tâm; trong đó có nội dung tăng cường hợp tác toàn diện trong lĩnh vực nông nghiệp, dịp tốt để thúc đẩy thương mại nông sản giữa hai nước. Bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao (DN.HVNCLC) cùng các doanh nghiệp, chuyên gia cùng làm việc, mối quan tâm của chúng tôi là cách xây dựng bộ tiêu chí, luật định, cách vận hành, hợp tác công – tư trong việc chứng nhận tiêu chuẩn, lộ trình nâng cấp và sự thừa nhận lẫn nhau.  “Bên cạnh việc đánh giá, kiểm định, chứng nhận, lâu nay thuộc về các tổ chức nước ngoài. Tôi mong muốn bên cạnh đó có tiêu chuẩn Việt Nam được các tổ chức quốc tế thừa nhận”, ông Nam nói.  Việt Nam luôn phải ứng phó với biến đổi khí hậu, tôi rất mong muốn hợp tác, đặc biệt trong lĩnh vực chống xói lở bờ sông, bờ biển trong thoả thuận đã ghi nhớ giữa hai bộ, trong đó có sự hỗ trợ kỹ thuật nâng cấp cảng cá, cảng biển, giám sát quy trình sản xuất, đánh bắt trên biển liên quan tới truy xuất nguồn gốc, hàm ý của ông cả về khả năng minh chứng với EU (Thẻ vàng).  Việc đẩy mạnh hợp tác trên lĩnh vực giống cây trồng vật nuôi, hợp tác chuyển giao công nghệ phát triển giống lợn ỉ và “bò còi” cho nhiều sữa, đã có một tập đoàn của Pháp hứa sẽ tìm kiếm trong ngân hàng gien để đáp ứng nhu cầu này. Ông Nam nói, Việt Nam muốn hợp tác nhiều hơn trong việc ứng dụng công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch, mong hỗ trợ đào tạo, chuyển giao, giám sát quá trình chứng nhận sản xuất hữu cơ theo chuẩn EU.  Việt Nam có mô hình sản xuất hữu cơ phát triển khá nhanh, nhưng nông dân đang là lực lượng yếu thế. Việt Nam phải có bộ tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất hữu cơ được quốc tế công nhận, ông Nam nhấn mạnh.  Ông Nam kỳ vọng sau khi hội DN.HVNCLC tìm hiểu, nhiều doanh nghiệp có thể tìm thấy khả năng tham gia hội chợ và có cách giúp doanh nghiệp tiếp cận cơ hội mà doanh nghiệp chưa nhìn thấy ở chợ đầu mối (mô hình được nhiều quốc gia đánh giá cao), và mong bộ NN-TP Pháp ủng hộ để các doanh nghiệp Việt Nam có thể liên hệ, xây dựng quan hệ tại chợ đầu mối Rungis và các hội chợ.  Mong muốn thúc đẩy hợp tác thương mại với những nội dung mang tầm quốc gia khi hội nhập quốc tế cần một lộ trình, đầu tư công – của rất lớn và phải đủ sức tạo bất ngờ. Tunisia là bất ngờ dưới sự nâng đỡ của EU, nhiều quốc gia ở châu Phi cũng vậy. Công nghệ EU mở đường cho nhiều sản phẩm ra thị trường mang theo thông điệp “Gia đình sản xuất chuyên nghiệp”.  Châu Âu chuẩn bị cho giai đoạn áp dụng tiêu chuẩn hữu cơ “toàn trị” vào năm 2021. Pháp vẫn là nước sản xuất và xuất khẩu nông sản dẫn đầu EU và cũng tiên phong trong việc giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật từ chương trình Ecophyto, và tiếp tục đưa ra kế hoạch hành động tới năm 2025.  Liên hiệp Pháp từng có lãnh thổ rộng 13.000.000km², chiếm 8,7% diện tích đất trên toàn thế giới, nhưng Thế chiến 2 làm cho đất nước này thiếu gạo. Lính thợ từ Đông Dương bị điều sang Camargue, biến nơi này thành vùng lúa nổi tiếng thế giới. Vào thời đó, quy trình canh tác hữu cơ, thậm chí thuận thiên vẫn có đủ gạo. Và nay, trong tổng số hơn 550.00km2 đất tự nhiên, 82% diện tích đất dành cho nông, lâm nghiệp. Việc áp dụng kỹ thuật hiện đại và các giải pháp hỗ trợ của EU, Pháp vẫn là nước sản xuất và xuất khẩu nông sản hàng đầu ở châu Âu.  Ông Frédéric Lambert, giám đốc đối ngoại, bộ NN-TP Pháp, cho rằng Việt Nam và Pháp có nét tương đồng: nền nông nghiệp tương đối lớn, cả hai cùng muốn hướng tới nông nghiệp hữu cơ, phát triển cuộc sống nông thôn, đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu.  Nước Pháp có chương trình giải pháp cụ thể về nông nghiệp sinh thái, có đủ sáng kiến và sẵn sàng chia sẻ, giúp Việt Nam ứng dụng.  Đánh bắt hải sản, những vấn đề liên quan đến biển, được xem là cơ hội hợp tác tăng cường hơn nữa giữa hai nước.    bài, ảnh Hoàng Lan  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộp thuốc điện tử nhắc uống thuốc      Sau khi tốt nghiệp trường đại học FPT,  Nguyễn Huy Bình, Công Minh Thanh, Phan Duy Hùng, Nguyễn Thị Thanh Tâm và  Nguyễn Văn Tình đã có ý tưởng làm ra một sản phẩm hỗ trợ hiệu quả người  dân trong sử dụng thuốc và các phương tiện chữa bệnh khác.     Sản phẩm hộp thuốc điện tử được thiết kế hình trụ, có 16 khay được đánh số, từ khay số 1 đến số 15 đựng thuốc tương ứng với 15 liều sử dụng trong tuần với mức độ ngày hai lần, khay số 0 được dùng là nơi lấy thuốc.   Được lập trình và cài đặt theo yêu cầu về thời gian, liều lượng và số lần sử dụng, hộp thuốc điện tử sẽ gửi tin nhắn nhắc nhở tới điện thoại của người sử dụng khi tới giờ uống, hoặc phát ra ánh đèn, tiếng động qua loa, đồng thời liều thuốc đã có mặt ở cửa lấy thuốc để sẵn sàng phục vụ. Thậm chí trong trường hợp bệnh nhân quên không lấy thuốc, hộp thuốc điện tử còn phát ra tin nhắn tới điện thoại người nhà để qua đó nhắc nhở việc uống thuốc.  Việc sử dụng hộp thuốc điện tử hết sức hữu ích trong việc tự chăm sóc bản thân với những đối tượng như người già hoặc người quá bận rộn công việc.      Author                Quản trị        
__label__tiasang HPC đem lại những cái nhìn mới vào cấu trúc và chức năng của các kênh ion      Một nhóm nghiên cứu quốc tế, trong đó có các nhà khoa học ở TU Darmstadt (Đức) đã có thêm những cái nhìn mới vào cấu trúc protein và chức năng của các kênh ion kiểm soát nhịp tim.      Kết quả này hiện mới được xuất bản trên tạp chí Molecular Cell, “Gating movements and ion permeation in HCN4 pacemaker channels”, và có thể đóng góp vào sự phát triển của thuốc tim với ít các tác dụng phụ hơn 1.  Chúng ta đều biết đến cảm giác này: khi nhận được quá nhiều sự kích thích hoặc uống một cốc cà phê đặc, trái tim của chúng ta bắt đầu đập thình thịch. Trải nghiệm mỗi ngày này đã được các nhà sinh học hoặc bác sĩ tim mạch biết đến rất nhiều ở cấp đô phân tử trong nhiều năm qua. Việc tập trung vào các dạng dặc biệt của các kênh ion được biết đến với tên gọi các kênh HCN, hoạt động của chúng có thể được kiểm soát bằng rất nhiều tín hiệu tế bào. Khoảng cách giữa các hành động thành công dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào hoạt động của kênh này. Điều này cũng làm tăng hay giảm tần suất nhịp tim. Kênh HCN có tầm quan trọng với hoạt động thể chất của con người. Rối loạn nhịp tim xuất hiện ngay sau khi kênh này dừng hoạt động, và trong những trường hợp nghiêm trọng thì tức thời phải có một cái máy tạo nhịp tim điện tử để đảm nhiệm nhiệm vụ của kênh này.  Với sự tham gia của các nhóm nghiên cứu của giáo sư Gerhard Thiel và giáo sư Kay Hamacher của Khoa Sinh học trường TU Darmstadt, các phòng thí nghiệm của giáo sư Anna Moroni (trường đại học Milan) và tiến sĩ Bina Santoro (trường đại học Columbia, New York) đã trình bày về cấu trúc protein và chức năng của những dạng tương tự kênh HCN hoạt động trong nút xoang tim ở ấn bản mới nhất của tạp chí Molecular Cell. Các cấu trúc có độ phân giải cao này, với hỗ trợ của kính hiển vi điện tử cryo, đã chứng tỏ nhiều chi tiết còn chưa từng biết đến trước đây trong cấu trúc của protein kênh ở độ phân giải nguyên tử, và cho phép rút ra kết luận về các đặc tính chức năng của nó. Tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn nữa là việc họ nhận ra một số cấu trúc kênh ở trạng thái mở, tức là trạng thái dẫn ion.    Với việc sử dụng mô phỏng động lực phân tử trên máy tính Lichtenberg, một hệ máy tính hiệu năng cao tại trường đại học TU Darmstadt, Daniel Bauer, nghiên cứu sinh của nhóm nghiên cứu Hamacher, đã tìm hiểu chức năng của kênh HCN. Phương pháp này cho phép chúng ta xem xét protein hoạt động như nó vốn có.  Các hiểu biết sâu sắc về chức năng của protein kênh này được bổ sung từ các mô phỏng đều rất đáng chú ý. Nó chứng tỏ rằng, không như ion kali liên quan (kênh K+ ), kênh HCN không có lỗ xốp để chuyển ion nhưng – phụ thuộc vào việc liệu muối (Na+) hay các ion kali đượ vận chuyển qua kênh này – sự thích ứng về mặt động lực với kích thước của ion được vận chuyển. Đây là bước đi sơ khởi để giải thích cơ chế cho phép kênh HCN chuyển đi không chỉ K+ – vốn quan trọng cho chức năng của chúng – mà còn cả Na+ .  Sự kết hợp của cái nhìn thấu suốt về mặt thực nghiệm của cấu trúc và các mô phỏng máy tính là một cách tiếp cận lý tưởng để hiểu tốt hơn về chức năng của protein, và để phát triển các loại biệt dược cho điều trị bệnh loạn nhịp tim. Những hiệu ứng bất lợi và tác dụng phụ của các loại thuốc hiện hành có lẽ ngăn cản các nhà chuyên môn hiểu sâu hơn về các kênh dẫn đến những thệ hệ thuốc mới.  Thanh Phương dịch  Nguồn:https://phys.org/news/2021-07-high-performance-insights-function-ion-channels.html  ————-  1.https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1097276521004469?via%3Dihub    Author                Quản trị        
__label__tiasang HPI và những điều chưa nói      C&#225;ch đ&#226;y hơn một th&#225;ng, b&#225;o ch&#237; trong nước đồng loạt giật t&#237;t &#8220;Việt Nam hạnh ph&#250;c thứ năm thế giới&#8221;. Tin n&#224;y l&#224;m nức l&#242;ng nhiều người Việt, bởi ch&#250;ng ta vốn vẫn quen thấy đất nước thường chỉ đứng thứ hạng k&#233;m trong c&#225;c bảng xếp hạng quốc tế. Nhưng thực sự c&#225;c ti&#234;u ch&#237; để xếp hạng &#8220;hạnh ph&#250;c&#8221; n&#224;y l&#224; như thế n&#224;o v&#224; ch&#250;ng được dựa tr&#234;n c&#225;c cơ sở g&#236;? B&#224;i viết n&#224;y nhằm giải đ&#225;p phần n&#224;o những c&#226;u hỏi n&#224;y v&#224; n&#234;u th&#234;m một số vấn đề kh&#225;c li&#234;n quan.    Ý nghĩa thực của HPI  HPI là tên viết tắt của “Happy Planet Index”, có nghĩa là “Chỉ số hành tinh hạnh phúc”. Chỉ số này được tổng hợp và xếp hạng bởi NEF (New Economics Foundation)1), một tổ chức nghiên cứu độc lập tại Anh quốc. Theo NEF, có ba yếu tố được xét đến khi tính HPI:  –   Tuổi thọ trung bình của cư dân  –   Mức độ thỏa mãn với cuộc sống của cư dân  –    Sự tiêu hao tài nguyên hành tinh  Công thức tính HPI:  Số năm sống hạnh phúc/ Chỉ số tiêu hao tài nguyên   Trong công thức trên:  –    “Số năm sống hạnh phúc”: được tính toán dựa trên tuổi thọ trung bình và mức độ thỏa mãn với cuộc sống của cư dân một nước.   –   “Mức độ thỏa mãn với cuộc sống”: chính là hạnh phúc theo quan điểm cá nhân, hay chính là “hạnh phúc” theo cách hiểu đơn thuần.  –    “Chỉ số tiêu hao tài nguyên”: hay còn gọi là footprint được tính dựa trên GDP bình quân, với logic sau:  + Mỗi một hecta đất trên hành tinh trung bình sản xuất ra một lượng của cải vật chất nhất định (180 con gà 1,6 kg hoặc 100 kg thịt bò hoặc 70 kg cá v.v.) Theo NEF, một diện tích hành tinh rộng 2,1 hecta là vừa đủ cho nhu cầu sống của một người.  + Một nước có thu nhập bình quân đầu người cao, đồng nghĩa với việc họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, qua đó sử dụng một diện tích đất hành tinh nhiều hơn (Diện tích đất sử dụng ở đây là con số quy đổi, mang tính tượng trưng, không phải là đất đai của một quốc gia).            Chỉ số hạnh phúc hoàn toàn khác với khái niệm hạnh phúc đơn thuần          Ví dụ: Cư dân Nhật có độ tuổi bình quân là 82,3, mức độ thỏa mãn cuộc sống là 6,8, tiêu thụ một tài nguyên đất là 4,9 hecta/người/năm, chỉ số HPI của Nhật là 43,3.  Khi đưa ra thống kê HPI, NEF hướng tới mục tiêu tốt đẹp, đó là khuyến khích cư dân hành tinh “sống xanh” – sống lâu, hạnh phúc và không làm tổn hại tới môi trường, thông qua những dẫn chứng trong bảng xếp hạng – những quốc gia xếp cao nhất như Costa Rica, Jamaica có mức độ thỏa mãn cuộc sống, tuổi thọ trung bình cao, nhưng tiêu thụ ít tài nguyên hành tinh.  HPI cần phải được phân biệt với khái niệm hạnh phúc đơn thuần, đó là sự thỏa mãn với cuộc sống theo quan điểm cá nhân, không phân biệt thu nhập. Mức độ thỏa mãn cuộc sống – hay “hạnh phúc” theo ý nghĩa thực của nó – chỉ là một trong ba chỉ số cấu thành HPI.  Cũng bởi vậy, HPI nên được hiểu là “chỉ số (làm) hành tinh hạnh phúc” thay vì hiểu một cách chung chung là “chỉ số hạnh phúc”. Khi báo chí Việt Nam đăng tít “Việt Nam vào trong top 5 nước hạnh phúc nhất thế giới”, họ đã đồng nhất một phần HPI với tổng thể HPI.  Cách tính HPI và thứ hạng của Việt Nam   NEF cũng có lý khi chọn GDP làm cơ sở tính mức tiêu hao tài nguyên. Bởi những một đất nước có nền kinh tế phát triển thường đi kèm với việc khai thác, sử dụng nhiều tài nguyên cũng như thải ra một lượng CO­2 lớn. Tuy nhiên những lập luận này cũng đã bỏ qua nhiều tiêu chí khác cần phải có:  –   Tỉ  trọng công nghiệp/dịch vụ khác nhau giữa các quốc gia. Ví dụ cùng có GDP là 273 tỉ USD (2008) nhưng Thái Lan thu nhập 44,5% từ công nghiệp, 44,1% từ dịch vụ; Phần Lan thu nhập 31,7 % từ công nghiệp, 65,9 % từ dịch vụ.  –   Hiện tại đang diễn ra quá trình chuyển đổi sang sử dụng các công nghệ sạch, nguyên liệu sạch, năng lượng tự nhiên ở các nước công nghiệp phát triển.  –   Sự di chuyển sản xuất từ các nước giàu hoặc mới nổi sang các các nước đang phát triển thông qua hình thức đầu tư nước ngoài.  –    Nhiều nước xuất khẩu nguyên liệu thô thu lợi thấp, trong khi nhiều nước khác không khai thác nguyên liệu trong nước mà nhập khẩu để tinh chế, thu lợi cao hơn.   –   Những nước nghèo đói và kém phát triển nghiễm nhiên được hiểu là những quốc gia có footprint thấp nhất.   –   Nỗ lực bảo vệ môi trường của nhiều quốc gia (phân loại rác, sử dụng sản phẩm tái chế, sử dụng phương tiện công cộng..) lại không hề được xét đến.   So sánh hai quốc gia xếp hạng gần nhau là Sudan và Luxembourg, ta thấy được những bất cập trong cách tính mức độ tiêu hao tài nguyên, cũng như chỉ số HPI của NEF.                         Sự chênh lệch về “hạnh phúc đích thực” thể hiện rất rõ khi ta so sánh tuổi thọ bình quân và độ thỏa mãn cuộc sống của cư dân hai quốc gia trên. Tuy vậy Sudan có footprint chỉ bằng ¼ của Luxembourg. Điểm đáng chú ý khác là hai nước này có lượng khí thải CO2 tương đương nhau (hơn 11 triệu m3 vào năm 2006).     Quay lại với vị trí thứ 5 của Việt Nam. Hai trong ba tiêu chí để tính HPI của nước ta là độ tuổi trung bình (73,7) và mức độ thỏa mãn cuộc sống (6,7) đều ở mức trung bình khá so với các nước trong bảng xếp hạng. Lý do duy nhất đưa chúng ta lên thứ hạng cao là chỉ số footprint tương đối thấp (1,3). Theo cách hiểu mà NEF đưa ra thì mỗi người Việt Nam hiện chỉ cần sử dụng 1,3 hecta đất hành tinh để thỏa mãn cuộc sống trong một năm, thấp hơn mức cần thiết là 2,1 hecta.  Khác với nhiều nước châu Phi vốn có mức tiêu hao tài nguyên thấp bởi họ có nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam có một nền kinh tế đang trên đà khởi sắc với mức tăng GDP ấn tượng trong nhiều năm. Cách tính footprint của NEF chắc chắn sẽ trở nên hợp lý hơn khi ta chứng minh được sự tăng trưởng của Việt Nam đi đôi với một mức độ khai thác tài nguyên hợp lý và việc bảo một môi trường sống trong lành cho cư dân, hay nói cách khác là một sự phát triển bền vững.  Thực tế tại Việt Nam  Thực tế chứng minh trong những năm vừa qua, chúng ta gặp phải nhiều vấn đề trong việc quản lý nguồn tài nguyên cũng như việc giữ gìn môi trường. Do khuôn khổ của bài viết, tôi chỉ xin nêu hai ví dụ tiêu biểu cho những vấn đề nêu trên. Thứ nhất là lượng khí thải CO2 trong những năm vừa qua ở Việt Nam, thứ hai là tình trạng ô nhiễm tài nguyên nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).  Theo một số liệu vừa công bố mới đây, hôm 16.7.2009 2, Việt Nam hiện đang là nước đứng đầu thế giới về tốc độ tăng lượng khí thải CO2, cụ thể là 10,6%/năm trong thời kì 2000-2005. Tốc độ này có thể không đáng lo ngại, nếu như lượng khí thải của chúng ta thấp, nhưng thực tế lại không phải như vậy.  Theo bảng thống kê “Tỉ lệ giữa GDP và khí thải CO2 của các quốc gia trên thế giới” 3, Việt Nam đang xếp ở nhóm cuối bảng. Theo đó, để làm ra 1 tỉ USD, chúng ta đã thải trung bình 2 triệu m3 khí CO2. Bảng dưới đây so sánh Việt Nam với các nước phát triển (đứng thấp hơn ta nhiều bậc trong bảng xếp hạng HPI của NEF) cũng như một số nước khác ở châu Á:            Quốc gia      Lượng khí thải CO2 (triệu m3)/mức thu nhập 1 tỉ USD          Campuchia      0,105          Thụy Sĩ      0,11          Thụy Điển      0,13          Pháp      0,19          Nhật      0,27          Lào      0,48          Singapore      0,49          Hàn Quốc      0,68          Việt Nam      2,00          Iran      2,69               Về mức độ ô nhiễm nguồn nước ở ĐBSCL, mới đây Chi cục Bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ đã thống kê rằng có tới 90% chất thải rắn (trên tổng số 3,7 triệu tấn) không được thu gom hay bị đổ ra kênh rạch không qua xử lý.  Qua đó có thể thấy rằng, dù rất đáng vui mừng với những thành tựu kinh tế đã đạt được, nhưng chúng ta vẫn còn phải cố gắng rất nhiều để không đi chệch khỏi xu hướng phát triển bền vững của thế giới. Tham khảo những thống kê quốc tế như HPI là điều cần thiết, tuy nhiên cũng cần phải nghiên cứu kĩ các tiêu chí xếp hạng của họ và đối chiếu với tình hình thực tế ở nước ta để có được đánh giá khách quan. Có vậy, chúng ta mới tránh được những ngộ nhận không cần thiết và có chiến lược phát triển phù hợp với thực tế hơn.  Chú thích:  1)  Toàn văn thống kê HPI của NEF: http://www.happyplanetindex.org/learn/download-report.html  2)  Hội nghị cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm chi phí trong các tòa nhà, các cơ sở công nghiệp do Quỹ William J.Clinton phối hợp với Sở Tài nguyên & Môi trường TP.HCM tổ chức  3) Căn cứ trên “World Economic Outlook Database”    Author                Quản trị        
__label__tiasang HSBC: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể xuống dưới 5,7%      HSBC dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ chậm lại. Với sự thu hẹp của các ngành bất động sản và xây dựng, khả năng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nhỏ hơn sẽ tăng lên.    Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC (HSBC Global Research) vừa công bố bản báo cáo về Kinh tế Vĩ mô – Triển vọng thị trường Việt Nam số tháng 4/2012.  Lạm phát còn giảm  Theo đánh giá của bản báo cáo, những tác động của các biện pháp thắt chặt được thể hiện rõ nét trong Quý I năm nay. Tăng trưởng của các ngành nông nghiệp và dịch vụ chậm lại, hoạt động của lĩnh vực bất động sản và xây dựng cũng giảm mạnh. Điều đó cho thấy lãi suất cho vay cao đã khiến người mua không còn nhu cầu đi vay.  Trong thời gian tới, theo HSBC, nhiều khả năng có thể ảnh hưởng không tốt đến mức dự báo tăng trưởng 5,7% trong năm nay, khi nhu cầu nội địa thấp hơn mong đợi. Tuy nhiên, “chúng tôi không quá quan ngại về mức tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng là 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái, vì nền kinh tế Việt Nam thường có xu hướng chậm lại trong quý đầu năm”, HSBC nói.  Với lạm phát được kỳ vọng giảm chỉ còn một con số cho tới Quý III, HSBC dự đoán việc Ngân hàng Nhà nước công bố sẽ giảm lãi suất chính sách thêm 1% mỗi quý nhiều khả năng thành hiện thực và vì thế, lãi suất OMO sẽ còn 10% vào cuối năm nay. Mặc dù có tác dụng trấn an tâm lý, các đợt giảm lãi suất sẽ có tác động rất hạn chế tới nền kinh tế vì nhu cầu nội địa vẫn thấp. Mặt tích cực là nhu cầu thấp sẽ làm giảm tăng trưởng nhập khẩu, dẫn tới mức thâm hụt thương mại thấp hơn cho năm nay. Vì thế, “mặc dù năm 2012 sẽ tương đối ổn định, nhưng không có nghĩa là mọi chuyện đều suôn sẻ”, theo báo cáo của HSBC.  Cũng theo ngân hàng này, những nỗ lực của NHNN trong việc tiết giảm nhu cầu để chống lại lạm phát đã thành công, nhưng lại làm cho nền kinh tế giảm tốc độ tăng trưởng trong quý đầu năm. Trong năm 2012, đà tăng trưởng của Việt Nam sẽ đi xuống, áp lực giá cả sẽ tiếp tục giảm. Ngay cả khi giá dầu tăng 10% trong tháng 3, lạm phát cũng đã giảm từ 16,4% vào tháng 2 xuống còn 14,2% (so với cùng kỳ năm ngoái). So sánh theo tháng, lạm phát toàn phần tăng từ 0,3% vào tháng 2 lên 0,4% vào tháng 3 so với tháng trước. So sánh với cùng kỳ năm ngoái, chỉ số lạm phát cơ bản cũng giảm từ 12,7% vào tháng 2 xuống còn 12% vào tháng 3. So sánh theo tháng, chỉ số cơ bản tăng từ 0,5% vào tháng 2 lên 1% vào tháng 3.    Lãi suất chính sách sẽ mang tính hỗ trợ   Với mặt bằng giá cùng kỳ năm ngoái đã quá cao cùng với nhu cầu nội địa suy giảm đang kiềm áp lực giá, HSBC dự báo lạm phát sẽ tiếp tục đà giảm. NHNN đã hạ lãi suất 1% vào ngày 13/3/2012 và lãi suất có thể giảm thêm 1% mỗi quý trong năm nay.  Cắt giảm lãi suất giúp hạ nhiệt lãi suất cho vay, nhưng điều có ý nghĩa hơn là tăng trưởng tín dụng thực tế, vốn đã chậm lại trong hai tháng đầu năm. HSBC kỳ vọng tín dụng sẽ mở rộng thêm 13% trong năm nay. Hiện tại, lãi suất tiền gửi VND là 13%/năm và lãi suất cho vay vào khoảng 18%/năm. Trần lãi suất tiền gửi thấp là một nỗ lực của Chính phủ để cố gắng hạ lãi suất cho vay.  Mức dự báo tăng trưởng 5,7% mà HSBC đưa ra trước đây có khả năng bị giảm đáng kể, ngay cả khi có sự tăng tốc của nền kinh tế được kỳ vọng vào những quý tiếp theo.  Tăng trưởng chậm lại, đặc biệt với sự thu hẹp của các ngành bất động sản và xây dựng, theo nhận định của HSBC, điều đó cho thấy khả năng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nhỏ hơn sẽ tăng lên (vì những ngân hàng này cho vay đầu tư bất động sản nhiều hơn). Theo một tuyên bố gần đây mà HSBC ghi nhận được, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết tỷ lệ nợ xấu năm 2011 là 3,6 -3,8%.  Tuy nhiên, “trong cái rủi vẫn có điều may. Tăng trưởng bị chậm lại, sức cầu yếu đã giúp giảm áp lực lạm phát cũng như cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại. Trong năm 2012, cỗ máy tăng trưởng sẽ chạy chậm hơn mức 7% trung bình dài hạn, nhưng điều này cũng sẽ giúp tạo nên một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn”, HSBC cho hay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang HTX nông nghiệp Việt Nam: Những hạn chế      TS Hoàng Vũ Quang và ThS Nguyễn Tiến Định chỉ ra một số khó khăn cơ bản trong thực tế phát triển hợp tác xã (HTX) nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.    Nhận thức, sự quan tâm chưa đúng của chính quyền về HTX  Ở nhiều nơi HTX vẫn được coi như công cụ của chính quyền, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy, UBND xã, hơn là một tổ chức kinh tế. Vì vậy, nhiều HTX nông nghiệp chưa thực sự được nhà nước bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng với thành phần kinh tế khác như theo quy định tại Điều 5, Luật HTX năm 2012. Ở một số địa phương, chính quyền và cấp ủy Đảng can thiệp quá sâu và không đúng Luật vào hoạt động của HTX. Ngược lại, nhiều địa phương lại thiếu quan tâm hoặc buông lỏng quản lí đối với HTX; khiến nhiều HTX hoạt động không đúng luật hoặc thành lập chỉ để lợi dụng chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với HTX.    Bộ máy quản lý nhà nước, hỗ trợ phát triển HTX còn yếu và chưa thống nhất  Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về HTX chưa có sự phân công rạch ròi giữa các sở KH&ĐT, sở NN&PTNT, liên minh HTX, tồn tại tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan và thiếu sự phối hợp trong hoạt động. Bộ máy quản lý phân tán mỏng, ở Trung ương chỉ có 14 cán bộ của Vụ HTX của Bộ KH&ĐT và bốn-năm cán bộ Phòng KTHT của Bộ NN&PTNT; ở cấp tỉnh mỗi tỉnh thường chỉ có từ một đến bốn cán bộ của Chi cục HTX tỉnh; ở cấp huyện mỗi huyện chỉ cử một cán bộ kiêm nhiệm theo dõi mà nhiệm vụ thường không được quy định cụ thể; ở cấp xã thường không có người được giao theo dõi về hợp tác xã.   Năng lực cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về HTX còn yếu, hầu hết cán bộ được giao phụ trách QLNN về HTX từ cấp tỉnh đến cấp xã chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về quản lý nhà nước đối với HTX. Hiện nay, nhiều cán bộ ở địa phương cho biết họ vẫn chưa được tập huấn các hướng dẫn để triển khai Luật HTX 2012.    Chính sách hỗ trợ phức tạp và không hiệu quả          Khó chuyển đổi HTX theo đúng Luật HTX 2012              Sau  khi Luật HTX 2012 ra đời, cho đến nay nhiều văn bản hướng dẫn vẫn chưa  được ban hành như văn bản hướng dẫn chuyển đổi HTX cho phù hợp với Luật,  văn bản hướng dẫn tài chính, nhất là đối với vấn đề xác định giá trị  tài sản không chia; đồng thời thiếu cán bộ và kinh phí hỗ trợ triển  khai. Hiện nay có tới 80% HTX chưa chuyển đổi cho đúng Luật HTX 2012.  Trong số các HTX được IPSARD khảo sát năm 2014, một số nơi chia lợi  nhuận trái với quy định của Luật; 38% không đáp ứng quy định vì  cung  ứng ra ngoài trên 32%; 27% HTX dịch vụ cộng đồng không đáp ứng quy định  vì dịch vụ cung ứng ra ngoài lên đến 78%.         Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ HTX còn có những hạn chế do một số văn bản chính sách hiện vẫn còn hiệu lực nhưng không có tính khả thi cao, cần sớm sửa đổi, điển hình như chính sách ưu đãi đất đai cho HTX, gây lúng túng cho một số địa phương không còn quỹ đất công để giao cho HTX. Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với HTX được quy định tại nhiều văn bản khác nhau (thống kê sơ bộ hiện có khoảng 160 văn bản), khó theo dõi và tổng hợp, trong khi trình độ khả năng tiếp cận thông tin, hiểu biết pháp luật của cán bộ và xã viên HTX còn hạn chế. Khi tiếp cận chính sách, nhiều HTX rơi vào vòng luẩn quẩn với ma trận các quy định của chính sách khác, ví dụ: để được vay vốn thì HTX phải có đất, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; để được tham gia vào các dự án ứng dụng KH&CN thì HTX phải có vốn đối ứng và đất,…  Trình độ cán bộ của HTX còn hạn chế  Thực tế cho thấy, đa phần các HTX hoạt động yếu kém đều là những nơi các thành viên trong ban quản trị có trình độ thấp, không có năng lực thực hiện xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT năm 2014, có 28% chủ nhiệm HTX có trình độ văn hóa cấp I; 37% cấp II. Chủ nhiệm HTX có trình độ đại học mới chiếm 12%; số chủ nhiệm HTX ở các tỉnh Đông Nam Bộ có trình độ không quá cấp II chiếm 71% và 89% ở vùng ĐBSCL. Đa số cán bộ quản lý HTX chưa qua tập huấn nghiệp vụ chuyên môn trước khi đảm nhiệm các vị trí quản lý HTX. Kết quả khảo sát tám tỉnh của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn (IPSARD) năm 2014 cũng cho thấy trong các ban quản trị HTX, chỉ có 11,3% cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Cán bộ có trình độ từ trung cấp trở lên trong ban kiểm soát chỉ chiếm 21,7%. Đối với cán bộ kế toán, thủ quỹ, vẫn còn 37,3% có trình độ từ cấp III trở xuống. Tỷ lệ cán bộ kế toán trong các HTX nông nghiệp sử dụng công nghệ tin học vẫn còn khá khiêm tốn, chỉ có khoảng 60% HTX sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán.   Tài sản, vốn của HTX thấp, khó tiếp cận vốn  Theo kết quả khảo sát, trung bình mỗi HTX có tổng giá trị tài sản1 là 2.579 triệu đồng, trong đó tài sản cố định là 1.565 triệu đồng, chiếm 61% tổng tài sản của HTX nên phần lớn các HTX thiếu vốn lưu động để sản xuất kinh doanh. Giá trị tài sản cố định thấp, lại chủ yếu ở dạng trụ sở làm việc, công trình được giao quản lý nên HTX thiếu tài sản để thế chấp vay vốn ngân hàng. Việc thiếu minh bạch trong quản lý tài chính cũng hạn chế HTX tiếp cận tín dụng tín chấp. Theo thống kê của một số tỉnh khảo sát, số HTX được vay vốn tín dụng từ các nguồn trong năm 2013 là rất thấp, bình quân chỉ chiếm 6,7%.  Thiếu sự phân định rõ ràng về vốn sở hữu đối với những tài sản của HTX được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau (như nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và tiền xã viên góp vốn) nên quá trình giải thể hoặc chuyển đổi các HTX này theo Luật HTX năm 2012 gặp nhiều khó khăn.     Hoạt động kiểm toán HTX gần như không thực hiện  Theo quy định cần kiểm toán các HTX, nhưng cho đến này gần như không có kiểm toán các HTX. Nói đến kiểm toán, các HTX thường lảng tránh do sợ có sai sót, phiền phức, trong khi kiểm toán nếu làm đúng sẽ giúp cho HTX nắm tốt hơn công tác tài chính, nâng cao tính công khai minh bạch trong quản lý tài chính và quản trị HTX, có thể giúp cho HTX tiếp cận tốt hơn với tín dụng, nhất là tín dụng tín chấp.  (Tổng hợp và trích lược từ tham luận Phát triển Hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp của TS. Hoàng Vũ Quang và ThS Nguyễn Tiến Định tại Hội thảo Tái cơ cấu nông nghiệp do Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 17/1/2015)  —  1 Luật HTX năm 2012 (Khoản 1, Điều 48) quy định: Tài sản của HTX, liên hiệp HTX được hình thành từ nguồn: 1) Vốn góp của thành viên, HTX thành viên; 2) Vốn huy động của thành viên, HTX thành viên và vốn huy động khác; 3) Vốn, tài sản được hình thành trong quá trình hoạt động của HTX, liên hiệp HTX; 4) Khoản trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước và khoản được tặng, cho khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hứa hẹn về virus diệt tế bào ung thư      Kết quả thử nghiệm nhiều tiềm năng đã thu hút sự chú ý từ các nhà nghiên cứu và “những kẻ khổng lồ” trong ngành công nghiệp dược phẩm.      Các nhà nghiên cứu đang cố gắng tăng hiệu quả điều trị u não bằng virus giết ung thư. Nguồn: Nature.com  Ngày 2/5 vừa qua, “đại gia” ngành dược Johnson & Johnson thông báo là họ sẽ trả 1 tỷ USD để thâu tóm một công ty sản xuất chủng virus có khả năng diệt tế bào ung thư. Đây là sự hỗ trợ đáng kể đối với một liệu pháp chưa được chứng minh, nhưng cuộc mua bán này chỉ là dấu hiệu mới nhất cho thấy, cách tiếp cận này đang ngày càng nóng đối với ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu.  Vào tháng Hai, Merck, công ty có trụ sở ở Keniworth, New Jersey, đồng ý trả 394 triệu USD để giành được một công ty của Úc chuyên về oncolytic, loại virus có thể diệt tế bào ung thư. Vào tháng Tư, khoảng 300 người đã tham gia Hội thảo quốc tế về virus Oncolytic tại Oxford (Anh), trong khi vào khoảng những năm 2000, con số chỉ là 60 người. Simon Diallo, nhà sinh học phân tử tại Viện nghiên cứu bệnh viện Ottawa nói: “Đây chỉ là những cuộc gặp gỡ rất nhỏ của nhóm người yêu thích nghiên cứu về chủng virus này. Và giờ chúng tôi đã thấy sự thay đổi.”  Diallo nhận thấy, lĩnh vực đang được làm nóng với nhiều phát triển mới: quyết định của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) chấp thuận talimogene laherparepvec (Imlygic) – chủng virus herpes đã được chỉnh sửa, để điều trị một số dạng u ác tính. Đây là loại virus chống ung thư đầu tiên giành được sự hỗ trợ chính thống tại thị trường Mỹ; những bằng chứng mới được biết đến chủ yếu qua các nghiên cứu trên động vật là virus này phát huy tính năng tốt hơn nếu kết hợp với các liệu pháp khác như các chất ức chế kiểm soát điểm (checkpoint inhibitor) vẫn dùng để tăng phản ứng miễn dịch chống lại khối u.  Xóa sổ tế bào ung thư bằng phản ứng miễn dịch  Hàng thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã cố gắng phát triển loại virus có khả năng chiến đấu với ung thư và hy vọng tận dụng những quan sát nhiều thế kỷ nay về việc người bị ung thư đôi khi thuyên giảm sau khi nhiễm virus. Điều này đã thúc đẩy các nhóm phát triển một loạt loại virus – một số được thiết kế để an toàn hơn hoặc hiệu quả hơn – và tất cả phải trải qua vòng kiểm nghiệm lâm sàng.  Rất ít thử nghiệm thành công, thậm chí cả Imlygic cũng thất bại trong việc cho thấy sự cải thiện đáng kể về khả năng sống của bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng then chốt. Tuy nhiên, các kết quả đã đủ để FDA chấp nhận liệu pháp cho u ác tính. Nghiên cứu đó cũng làm dấy lên những hy vọng trong giới nghiên cứu bằng cách chỉ ra virus được tiêm trực tiếp vào khối u có thể được lặp lại tác động ở các khối u khác trong cơ thể.  Đó là nhờ việc tạo ra phản ứng miễn dịch trong cơ thể. Sau khi virus lây nhiễm và giết các tế bào ung thư, hệ miễn dịch sẽ khởi động để loại bỏ virus, và đồng thời xóa sổ luôn các tế bào ung thư đã chết. Tomoki Todo, nhà phẫu thuật thần kinh ở ĐH Tokyo nói: “Tác dụng phụ từ việc loại bỏ virus là hệ thống miễn dịch sẽ nhận ra các tế bào ung thư. Nó bắt đầu tấn công các tế bào ung thư khác không bị lây nhiễm bởi virus.”  Sự lạc quan thận trọng  Các nhà khoa học lý luận rằng việc thúc đẩy phản ứng miễn dịch như vậy – ví dụ như sử dụng ức chế điểm kiểm soát – có thể khuếch đại các hiệu ứng gián tiếp. Trong khoảng thời gian Imlygic được chấp thuận, chất ức chế điểm kiểm soát đã cho thấy hứa hẹn trong việc chống lại các loại ung thư khác nhau, như u ác tính và ung thư phổi. Những chất ức chế này đôi khi giúp thuyên giảm tình trạng ung thư trong nhiều năm, nhưng chỉ hiệu quả đối với một nhóm nhỏ bệnh nhân.  Các nghiên cứu trên chuột chỉ ra rằng việc kết hợp chất ức chế điểm kiểm soát với virus giết ung thư có thể tăng phần trăm thành công. Và một thử nghiệm lâm sàng nhỏ trên 21 bên nhân bị u ác tính, Imlygic cùng với chất ức chế pembrolizumab đã làm giảm đáng kể khối u ở 62% người tham gia và xóa chúng hoàn toàn trong 33% trường hợp.  Khi các nhà nghiên cứu kết hợp chất ức chế điểm kiểm soát với các liệu pháp khác, họ đạt được một số thành công kèm thất bại, chủ yếu trong thử nghiệm lâm sàng. “Liệu điều tương tự có xảy ra với virus oncolytic không? Tất nhiên rồi.” – Dmitry Zamarin – bác sĩ ung bướu tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering ở New York, cho biết.  Nhưng Zamarin và những người khác đang kỳ vọng một cách thận trọng. Nhiều sự kết hợp chất ức chế điểm kiểm soát nhắm mục tiêu đến một protein đặc biệt – Zamarin lưu ý – khiến các virus oncolytic kích thích phản ứng miễn dịch rộng hơn nhiều có thể nhắm đến ung thư theo nhiều cách khác nhau.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05104-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng đến thế hệ khởi nghiệp mới      Sau khi xây dựng nền tảng khởi nghiệp tại các trường đại học và các công viên phần mềm, Chính phủ Đài Loan tập trung cho các startup và các vườn ươm tư nhân – nơi hình thành một thế hệ khởi nghiệp mới, bắt kịp với xu hướng thế giới.     Ươm tạo từ nguồn lực sẵn có  Từ năm 1996 đến 2008, Chính phủ Đài Loan tập trung cho những nơi nhiều nguồn nhân lực khoa học, các phát minh, sáng chế và những kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa với mục tiêu chính là khích lệ tinh thần khởi nghiệp ở cộng đồng.   Theo đó đến nay, Đài Loan có 140 trung tâm ươm tạo (incubator) và 81% trong số đó thuộc về các trường đại học. Những incubator trong trường đại học được hỗ trợ 50%-70% chi phí vận hành từ ngân sách nhà nước thông qua những chương trình khuyến khích khởi nghiệp từ các bộ, ban, ngành. Trong đó hỗ trợ chính là Bộ Kinh tế thông qua Quỹ Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME Development Fund) với hơn 100 trung tâm ươm tạo. Theo đó, tất cả các trường đại học đều có thể viết đề xuất xin hỗ trợ xây dựng trung tâm ươm tạo hoặc các trung tâm tăng tốc khởi nghiệp (accelerator). Tuy nhiên, chỉ một số ứng cử viên được lựa chọn và kinh phí chỉ được cấp năm một. Nghĩa là, nếu muốn được hỗ trợ vào năm sau, họ phải tiếp tục cạnh tranh nhận tài trợ bằng cách viết đề xuất, báo cáo về hiệu quả hoạt động của mình.   Ngoài các trường đại học, Chính phủ Đài Loan còn đầu tư cho tất cả các khu công viên phần mềm lớn thông qua SME Development Fund để xây dựng các trung tâm ươm tạo. Mặc dù đóng vai trò hết sức tích cực như vậy trong việc hỗ trợ kinh phí nhưng chính phủ sẽ lựa chọn công khai các tổ chức tư nhân có kinh nghiệm về hỗ trợ khởi nghiệp để điều hành những trung tâm ươm tạo này.      Những chương trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo và các hoạt động khởi nghiệp của Đài Loan khởi đầu vào năm 1996 và tập trung vào ba nội dung: ươm tạo; cung cấp kiến thức và thông tin khởi nghiệp; hỗ trợ tài chính cho các startup thông qua việc thúc đẩy xây dựng và phát triển các trung tâm ươm tạo trên toàn lãnh thổ Đài Loan. Chức năng của các trung tâm này là cung cấp những dịch vụ cơ bản như cung cấp không gian làm việc, thiết bị, máy móc, phòng thí nghiệm; tư vấn về mặt công nghệ; tư vấn, đào tạo về quản trị, kinh doanh cho các startup; giới thiệu các quỹ đầu tư; hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính…   Bên cạnh đó, vào năm 2003, Bộ Kinh tế Đài Loan cũng xây dựng “Đại học Online cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” đóng vai trò như một nền tảng thông tin về khởi nghiệp và cho phép tất cả các sinh viên có thể truy cập miễn phí. Đến năm 2012, có hơn 12 triệu người truy cập đại học ảo này và mỗi lượt truy cập kéo dài hơn 40 phút với hơn 1.100 khóa học về kinh doanh và 257 video chia sẻ của những nhà khởi nghiệp thành đạt.  Những điều trên giúp cho các startup được tiếp cận với hỗ trợ và định hướng về mặt công nghệ, kinh doanh và kêu gọi vốn, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung về khởi nghiệp và ươm tạo doanh nghiệp.    Thay đổi tư duy cũ, hướng đến các công nghệ mới          Đài Loan được biết đến là nơi đứng thứ hai trên thế giới về ngành công nghiệp bán dẫn với những tập đoàn thiết kế và sản xuất linh kiện bán dẫn và chipset nổi tiếng như TSMC*, MediaTek (đối tác của Qualcomm*), Foxconn (đối tác của Apple). Ngoài ra, những thương hiệu công nghệ xuất xứ từ Đài Loan như Acer, Asus, HTC… đều là những tập đoàn chuyên về phần cứng (hardware).        Những xu hướng khởi nghiệp trên thế giới trong lĩnh vực internet như mạng xã hội, dữ liệu lớn…; phần cứng như các thiết bị thông minh – vạn vật kết nối (internet of things) và các mô hình kinh doanh khác biệt xuất phát từ nền kinh tế chia sẻ bắt đầu manh nha ở Đài Loan vào giữa những năm 2000. Tuy nhiên, tư duy của cộng đồng khởi nghiệp Đài Loan, đặc biệt là những trung tâm ươm tạo truyền thống trong các trường đại học và các công viên phần mềm không dễ thay đổi để bắt kịp với những xu hướng mới. Ví dụ, khoảng 70% startups trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại những trung tâm ươm tạo này vẫn đi theo hướng sản xuất các thiết bị phần cứng đã quá phổ biến. Fox Hsiao, đồng sáng lập INSIDE – một trong bốn công ty truyền thông internet lớn nhất Đài Loan – cho biết, điểm yếu của cộng đồng khởi nghiệp Đài Loan là “bảo thủ”, thiên về sản xuất phần cứng (nhưng công nghệ ít đột phá) và sản phẩm chủ yếu phục vụ thị trường trong nước chứ không dám thử thách với lĩnh vực mới, hướng đến thị trường toàn cầu. Theo Fox, những ngành mới thuộc lĩnh vực internet thường khó thuyết phục những quỹ đầu tư  mạo hiểm và các nhà đầu tư thiên thần ở Đài Loan vì họ “không biết định giá thế nào” do đã quen với tư duy định giá các thiết bị phần cứng.   Chính phủ Đài Loan đã nhận ra hai điểm yếu trong hệ sinh thái khởi nghiệp của mình và khắc phục bằng cách tập hợp và đầu tư cho thế hệ khởi nghiệp mới của Đài Loan – những người trẻ năng động, hiểu rõ những xu hướng của ngành công nghệ thế giới.   Chính phủ hợp tác với những vườn ươm hoàn toàn sử dụng vốn tư nhân thay vì dàn trải ngân sách cho các trường đại học và công viên phần mềm như trước. Chúng tôi đã đến thăm hai trong ba trung tâm ươm tạo tư nhân của Đài Loan là Garage+ và Appworks, được điều hành bởi những nhà khởi nghiệp đang ở lứa tuổi 30. Họ cho biết, những cơ quan hỗ trợ khởi nghiệp của chính phủ đã tới đề xuất cộng tác với họ để tăng cường hiệu quả hoạt động của những trung tâm ươm tạo trong các tổ chức công lập. Sắp tới, các vườn ươm cũ sẽ thay đổi phương thức lựa chọn các startup và cung cấp những dịch vụ mới để thu hút nhân tài và xây dựng những startup có quy mô thị trường toàn cầu.  Bên cạnh đó, Đài Loan cũng có hai quỹ đầu tư mạo hiểm là Angel Fund và quỹ của Hội đồng Phát triển Quốc gia (National Development Fund – NDF) để đầu tư đối ứng cho các startup trong lĩnh vực internet cùng với các quỹ đầu tư quốc tế. Quỹ NDF trị giá 400 triệu USD hiện đã đầu tư 83 triệu USD vào bốn quỹ đầu tư mạo hiểm của Đài Loan, trong đó trung tâm ươm tạo/quỹ đầu tư mạo hiểm AppWorks được đầu tư 12 triệu USD, đổi lại là 30% cổ phần. NDF sẽ đầu tư cho các startup trong lĩnh vực internet, có tiềm năng phát triển thành quy mô toàn cầu hoặc có mô hình kinh doanh đặc sắc thông qua một chương trình mới được tổ chức vào đầu năm nay gọi là Taiwan Startup Stadium (TSS – Sân vận động của Startup Đài Loan). Trụ sở của TSS, được cải tạo lại từ sân bóng đá Zhongshan với hơn 20.000m2 sẽ là một co-working space cho các startup của Đài Loan và quốc tế cùng làm việc và tổ chức các sự kiện khởi nghiệp lớn. Khác với mô hình accelerator hoặc incubator của tư nhân và các trường đại học, mục tiêu của TSS là đưa các startup mở rộng quy mô và cọ xát với thị trường thế giới.   Dự kiến TSS có khoảng 10 chương trình hướng đến việc xây dựng cộng đồng, cung cấp thông tin và các khóa huấn luyện các startup. Điều hành TSS đều là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực Internet. Hiện nay, TSS có hơn 50 mentors- là những người có kinh nghiệm khởi nghiệp và đồng sáng lập thành công nhiều công ty trong lĩnh vực mới và điều hành các quỹ đầu tư mạo hiểm. Bên cạnh đó, các chương trình huấn luyện khởi nghiệp và kêu gọi vốn của TSS sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn (hai tuần) và chỉ sử dụng tiếng Anh với những người đứng đầu các quỹ và trung tâm ươm tạo quốc tế (như 500Startups và Y Combinator). Sau khi hoàn thành những khóa học này, sẽ có 4-12 startup được lựa chọn để tới các incubator hoặc các sự kiện khởi nghiệp lớn trên thế giới để học tập và làm việc.  * Chỉnh sửa lại so với trên bản in là TMSC và Qualcom      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng đi cho VinFast và ô tô Việt ?      Dự án Tổ hợp sản xuất ô tô VinFast của tập đoàn VinGroup được khởi công hôm 2/9 tại Hải Phòng (quy mô 335 ha, tổng vốn đầu tư ước tính 3.5 tỷ USD) được đánh giá là một tham vọng lớn nhằm xây dựng một thương hiệu ô tô “made in Vietnam”. Tuy nhiên, thực tế không phải khi nào cũng “dễ” như kỳ vọng.      Tỷ phú Phạm Nhật Vượng và giấc mơ ô tô. Nguồn: Soha.vn.  Lịch sử thăng trầm  Không lâu sau sự ra đời của chiếc xe chạy xăng đầu tiên (năm 1885) tại Đức do Karl Benz chế tạo, ô tô và cả ngành công nghiệp xe hơi đã có mặt ở Việt Nam từ khá sớm, với chiếc xe chạy xăng đầu tiên ở Hà Nội (năm 1901), tới hoạt động của công ty Citroen (Pháp, 1936), rồi sự ra đời của chiếc xe Chiến Thắng (1958) ở miền Bắc và chiếc La Dalat (1970) ở miền Nam trong giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954 – 1975). Có thể nói, ở một xuất phát điểm không thua và gần như tương đương với Hàn Quốc1, song con đường của những chiếc xe “made in Vietnam” lại đầy gian nan, bỏ lỡ nhiều cơ hội để có một vị trí xứng đáng hơn trên bản đồ công nghiệp ô tô thế giới.  Sau nhiều thập niên gián đoạn, ngành ô tô Việt Nam chỉ thực sự manh nha trở lại vào đầu thập niên 1990, Chính phủ khi ấy cũng nhấn mạnh ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng, đặc biệt là ô tô. Nhiều ông lớn của thế giới, trong đó có Toyota, đã thâm nhập thị trường từ sớm, thành lập các liên doanh tại Việt Nam, làm ăn phát đạt, sản lượng và doanh số tăng đáng kể so với những ngày đầu thăm dò. Tuy nhiên, sau hơn 20 năm, những doanh nghiệp ngoại hãy còn nguyên món nợ với Việt Nam về cam kết chuyển giao công nghệ (quá chậm), và tỷ lệ nội địa hóa (quá thấp) – chỉ ở mức 19 – 37%, theo phương pháp xác định của ASEAN. Trong một báo cáo điều tra của Jetro, một tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản, tỷ lệ nhập linh phụ kiện tại chỗ của các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản tại Việt Nam (năm 2015) chỉ đạt 32,1%, kém xa so với cam kết ban đầu là 60 – 70%. Trong đó, các doanh nghiệp Việt cũng chỉ đóng góp được 40% số linh kiện nội địa ấy, phần lớn còn lại vẫn do những doanh nghiệp nước ngoài đóng tại Việt Nam cung cấp.Không thể trông chờ vào cam kết chuyển giao công nghệ của các ông lớn ngoại, những doanh nghiệp ô tô nội địa phải quay về với mục tiêu nhỏ hơn và cũng là sống còn: đó là làm sao để đáp ứng tiêu chuẩn đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% trong nội khối ASEAN trước 2018, nếu không muốn bị mất lợi thế cạnh tranh và loại khỏi cuộc chơi khi mức thuế suất nhập khẩu trở về 0% cho các sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ trong khối. Thành lập gần như cùng thời điểm, ba doanh nghiệp tiêu biểu cho ngành ô tô nội địa là Vinaxuki, Trường Hải (Thaco) và Hyundai Thành Công lại có những ngã rẽ khác nhau. Từng là công ty đình đám một thời, Vinaxuki đi theo tham vọng nội địa hóa hoàn toàn, có thời điểm tỷ lệ này trên các dòng xe của họ đã đạt tới 40 – 60%, tuy nhiên khủng hoảng kinh tế và lãi suất ngân hàng quá cao đã đẩy công ty tới bờ vực phá sản, vỡ nợ (1300 tỷ đồng), nhà máy đóng cửa, chiếc xe mẫu của dự án “made in Vietnam” – tâm huyết cả đời ông Bùi Văn Huyên nằm đắp chiếu nhiều năm và không còn hy vọng phục hồi. Trong lúc đó, Thaco và Hyundai Thành Công tự đặt cho mình những hướng đi và mục tiêu khiêm tốn hơn, khi bắt tay với các đối tác nước ngoài để lắp ráp nhằm nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên mức 40% theo tiêu chuẩn ASEAN. Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch Thaco chia sẻ, bây giờ chỉ cần tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, sản xuất ô tô với tỷ lệ nội địa hóa từ 40% là đã thành công và có thể coi là có ngành công nghiệp ô tô phát triển rồi. Thay vì mơ ô tô thương hiệu Việt, ông Dương muốn biến Tổ hợp sản xuất tại Chu Lai trở thành trung tâm sản xuất linh kiện, phụ tùng và ô tô của ASEAN2.  Bài học từ láng giềng  Lĩnh vực sản xuất ô tô đòi hỏi các quốc gia phải có một nền tảng công nghiệp nặng phát triển ở trình độ cao. Vì thế, tại châu Á, ngoại trừ Nhật Bản, cũng chỉ có Hàn Quốc là khẳng định được vị thế trong ngành công nghiệp ô tô thế giới, còn lại đa phần vẫn chỉ là những giấc mơ dang dở hay thành tựu không trọn vẹn.  Tiêu biểu, mỗi năm Thái Lan sản xuất gần 2 triệu ô tô – được mệnh danh là Detroit tại Đông Nam Á, song họ cũng không có thương hiệu ô tô nội địa “made in Thailand” nào. Ngành công nghiệp ô tô của họ hoàn toàn chỉ dựa trên sản xuất, lắp ráp và cung cấp linh kiện cho những thương hiệu nổi tiếng như Toyota, Honda hay Ford – khá giống với con đường mà Thaco hay Hyundai Thành Công đang đi. Còn tại Malaysia, 49% cổ phần của Proton – biểu tượng cho những nỗ lực và tham vọng xây dựng một thương hiệu xe hơi quốc gia từ thời cựu Thủ tướng Mahathir Mohamad còn làm Bộ trưởng Công nghiệp, sau hơn 30 năm đã bị bán cho hãng Geely của Trung Quốc3.   Thách thức với VinFast và ngành công nghiệp ô tô Việt  Từ kinh doanh bất động sản lấn sân sang lĩnh vực ô tô, mặc dù không có nhiều kinh nghiệm, song VinGroup cũng có một số lợi thế nhất định. Cụ thể, họ sẽ đầu tư mới 100% và bài bản từ tất cả các khâu. Tuyên bố sử dụng các công nghệ và tiêu chuẩn hàng đầu thế giới của, VinGroup đã chiêu mộ những chuyên gia tên tuổi về làm quản lý cấp cao, tiêu biểu có ông Võ Quang Huệ – cựu CEO Bosch Việt Nam. Các đối tác của họ cũng là những đại gia uy tín toàn cầu về công nghệ và thiết kế như Bosch, Siemens, Torino Design hay ItalDesign, … Tập đoàn tài chính Credit Suisse của Thụy Sĩ cũng cam kết thu xếp cho VinGroup một khoản vay trị giá 800 triệu USD trong giai đoạn đầu của dự án và có thể tiếp tục được nâng lên cho giai đoạn sau. Bên cạnh đó, VinGroup còn hưởng lợi lớn khi Chính phủ Việt Nam đang rất quyết tâm hậu thuẫn cho ngành công nghiệp ô tô bằng những chính sách ưu đãi, trong đó có thuế. Thị trường ô tô Việt Nam cũng đang tăng trưởng mạnh do thu nhập của người dân tăng nhanh dẫn tới nhu cầu tiêu thụ xe hơi được dự đoán sẽ bùng nổ. Vì vậy, có những ý kiến lạc quan cho rằng, sự ra đời của VinFast sẽ tạo kỳ tích cho ô tô thương hiệu Việt “lớn nhanh như Thánh Gióng”.    VinGroup hiện đã đưa ra đề án sản xuất các dòng xe sedan, xe đa dụng thể thao (SUV), và xe chạy điện khá hoàn hảo, nhưng trở ngại là: làm sao để thuyết phục khách hàng tin dùng xe nội, đây cũng chính là những khó khăn mà các hãng xe nội địa của Trung Quốc hay Malaysia đã gặp phải và chưa giải quyết được, trong khi người tiêu dùng Việt từ lâu thường có xu hướng chuộng các sản phẩm ngoại nhập. Tiêu chí “công nghệ hiện đại, chất lượng châu Âu, nhưng giá rẻ” mà VinFast đặt ra cũng là một thách thức không nhỏ. Mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa 60% mà họ hướng tới cũng là điều trăn trở với các doanh nghiệp đầu tư bài bản, nhiều kinh nghiệm như Thaco, gần 20 năm vẫn chưa thực hiện được.    Ưu tiên sản xuất ô tô điện, áp dụng những tiêu chuẩn môi trường cao nhất như Euro 5 và 6 là một hướng đi được đánh giá khá hợp lý của VinFast, vì đây là xu hướng đang lên của thế giới. Lĩnh vực này hiện cũng chưa gặp nhiều cạnh tranh và các dự án sản xuất xe điện nhận được khá nhiều hậu thuẫn từ các chính phủ ở Trung Quốc, châu Âu hay Mỹ. Tuy nhiên, sản xuất xe điện đòi hỏi sự đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là mạng lưới các trạm sạc điện trên phạm vi rộng, điều hoàn toàn không dễ dàng với cơ sở hạ tầng yếu kém hiện nay của Việt Nam. Ngoài ra, giai đoạn chuyển tiếp, thay đổi phương thức, từ sử dụng ô tô chạy xăng sang động cơ điện cũng đòi hỏi thời gian. Vì vậy, ở giai đoạn hiện tại, sản xuất xe điện vẫn chưa thể được xem như một loại hình đầu tư thương mại, điển hình là nhiều ông lớn như Tesla hay Volkswagen dù đã đầu tư cả chục tỷ USD, song vẫn chưa có lãi4.  Sản xuất ô tô là một lĩnh vực có mức độ cạnh tranh rất cao, lại đang bị thống trị bởi các thương hiệu lớn toàn cầu. Bối cảnh mà Việt Nam đang cố gắng xây dựng thương hiệu ô tô nội địa hôm nay cũng rất khác so với thời thời điểm Trung Quốc hay Malaysia thực hiệm tham vọng của họ 20 – 30 năm trước. Theo lộ trình giảm thuế của ASEAN, hàng rào thuế nhập khẩu với ô tô nguyên chiếc trong nội bộ khối sẽ được dỡ bỏ, điều này dẫn tới nhiều doanh nghiệp ngoại tại Việt Nam đang tính phương án thu hẹp sản xuất, chuyển sang nhập xe nguyên chiếc từ Thái Lan hay Indonesia về bán, vì họ nhận thấy xe lắp ráp trong nước sẽ khó cạnh tranh với xe nhập vì chi phí cao do ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn nhiều yếu kém.  Hướng đi nào?  Dự án VinFast ra đời cùng với thời điểm Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ quan trọng trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu: chúng ta nên tiếp tục phát triển theo hướng làm nền tảng cho xuất khẩu và chuyên sâu ở phần gia công lắp ráp, hay tận dụng cơ hội từ tốc độ tăng trưởng tương đối cao hiện tại để đa dạng hóa và vươn lên, tham gia vào những công đoạn mang lại giá trị cao hơn. Câu trả lời là có lẽ chúng ta nên cùng lúc thực hiện cả hai việc.  Một đề xuất là thay vì tự mình xây dựng thương hiệu riêng để cạnh tranh ngay từ đầu, VinFast cũng như các doanh nghiệp nội địa nên thành lập liên doanh hay liên minh với các hãng xe nước ngoài trước, ưu tiên những đối tác trong ASEAN để có thể hưởng những ưu đãi về thuế trong nội khối, từng bước chiếm lĩnh thị trường, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Như đã phân tích, ô tô điện chưa thể được xem là sản phẩm chủ lực trong tương lai gần, chỉ nên tạm dừng ở quy mô thăm dò, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ. Vì vậy, VinFast không nên bỏ qua tầm quan trọng của xe động cơ chạy xăng, cũng như xe hybrid, với ưu tiên là đáp ứng các cam kết ở mức cao về bảo vệ môi trường, họ nên hợp tác với những đối tác có kinh nghiệm thoát gia công, từng bước làm chủ công nghệ, hướng tới cả việc tự chế tạo động cơ tiên tiến, khi đã ở một vị trí vững chắc mới tính đến chuyện phát triển thương hiệu xe riêng cũng không muộn. Điều này đặc biệt đúng với viễn cảnh của thế kỷ 21, khi các công nghệ mới như xe tự lái (trí tuệ nhân tạo), tiết kiệm năng lượng và kết nối thông minh sẽ là những lĩnh vực chiến lược rất cần đột phá về công nghệ, do vậy các doanh nghiệp thường có xu hướng sát nhập hay thành lập liên minh. Ngay tại Nhật Bản, theo dự báo, từ chỗ có tới 8 tập đoàn sản xuất ô tô, tới năm 2020 nước này sẽ chỉ còn lại 3 hoặc 4 để trở nên gọn nhẹ hơn và tận dụng được những lợi thế của nhau5.  Các doanh nghiệp ô tô nội địa của Việt Nam cũng có thể tham khảo kinh nghiệm của công ty Yulon Motor (Đài Loan), chủ nhân của thương hiệu Luxgen – dòng xe trung và cao cấp, đang từng bước khẳng định vị thế nhờ vào thiết kế đẹp, chất lượng tốt, tiện nghi hiện đại và giá thành cạnh tranh hơn hẳn so với những mẫu xe hạng sang như Lexus, Infiniti hay Acura. Thành lập từ 1953, nhiều năm liền Yulon chỉ tập trung lắp ráp các dòng xe của Nissan với giấy phép nhượng quyền. Khi tỷ lệ nội địa hóa đã đạt mức cao và làm chủ công nghệ, Yulon bắt đầu đẩy mạnh hợp tác, thành lập liên doanh – chủ yếu với những hãng điện tử Đài Loan (như HTC) và các hãng xe Trung Quốc (như Dongfeng) để tự thiết kế và chế tạo những mẫu xe mang nhãn hiệu riêng. Đây phải chăng cũng là hướng đi mà Thaco đang theo đuổi?  Điều cuối cùng và cũng là quan trọng nhất đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, đó là những kế hoạch phát triển ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với Nhà nước, bởi đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện giữa các doanh nghiệp, mà còn là của cả quốc gia. Chẳng hạn, Nhà nước nên điều chỉnh chính sách thu hút vốn FDI, trong đó có những đầu tư vào ngành ô tô, ưu tiên chất lượng hơn số lượng nhằm tận dụng những lợi ích mà FDI có thể mang lại như hấp thu công nghệ hiện đại và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần ban hành chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa tăng cường chuyển giao hợp tác công nghệ với các đối tác trong khu vực để khắc phục những khâu yếu nhất của ngành công nghiệp ô tô, nâng cao chất lượng sản phẩm. Những điều này đòi hỏi nỗ lực và quyết tâm chính trị rất lớn.  ——–  Tham khảo  1 Công ty Huyndai Motor được thành lập năm 1967, lắp ráp và xuất xưởng chiếc Cortina đầu tiên cho Ford năm 1968, cho ra đời chiếc Pony nội địa đầu tiên năm 1975 – sau đó rất thành công, xuất khẩu sang Ecuador, châu Âu và Canada. Tính tới năm 1985, Hyundai đã sản xuất một triệu xe. Xem: Richard M. Steers (1998), Made in Korea: Chung Ju Yung and the Rise of Hyundai, Routledge, (pp. 72 – 93).  2 Công nghiệp ô tô và giấc mơ ¼ thế kỷ. Zing News. Nguồn: http://news.zing.vn/cong-nghiep-oto-va-giac-mo-14-the-ky-post776216.html.  3 Trung Quốc mua lại hãng xe ô tô quốc gia của Malaysia.  Nguồn: http://www.phantichkinhte123.com/2017/09/trung-quoc-mua-lai-hang-xe-o-to-quoc.html.  4 Sản xuất ô tô điện: chưa thể là đầu tư mang tính thương mại. Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/164446/San-xuat-o-to-dien-chua-the-la-dau-tu-mang-tinh-thuong-mai.html.  5 Xu hướng thâu tóm trong ngành công nghiệp ô tô ở Nhật Bản. Nguồn: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Xu-huong-thau-tom-trong-nganh-cong-nghiep-o-to-o-Nhat-Ban-10627.  Lược sử thăng trầm của ô tô Việt: – 1901: Chiếc xe ô tô chạy xăng đầu tiên xuất hiện ở Hà Nôi – sở hữu của linh mục Puginier. – 1913: Người Việt Nam đầu tiên ở Hà Nội mua xe hơi – doanh nhân Bạch Thái Bưởi, chiếc xe có giá 1 triệu franc Pháp. – 1936: Hãng xe Pháp Citroen bắt đầu hoạt động ở Đông Dương. Hãng sau đó di dời trụ sở và đổi tên thành Công ty Xe hơi Sài Gòn. – 1958: Xí nghiệp cơ khí Chiến Thắng ở miền Bắc tự chế tạo một chiếc xe dựa trên mẫu của chiếc Fregate (Pháp) – xe Chiến Thắng. – 1970: Công ty Xe hơi Sài Gòn cho ra đời chiếc La Dalat, dựa trên mẫu Mehari khá thành công trước đó. Tới năm 1975, 5 ngàn chiếc La Dalat được chế tạo, còn xuất khẩu sang châu Âu. – 1991: Liên doanh ô tô Hòa Bình và Công ty Liên doanh Auto Mekong thành lập. Các công ty quốc tế như Toyota cũng từng bước thăm dò thị trường Việt Nam. – 2004: Trường Hải (Thaco), Xuân Kiên (Vinaxuki) và Thành Công chính thức tham gia lắp ráp, sản xuất ô tô. – 2012: Vinaxuki gặp khó khăn, vỡ nợ và đóng cửa nhà máy. – 2016: Thaco vươn lên dẫn đầu thị phần ô tô tại Việt Nam. – 2/9/2017: VinGroup khởi công tổ hợp sản xuất ô tô VinFast tại Hải Phòng.       Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Hướng đi sáng tạo của một doanh nghiệp tỉnh lẻ      Trong khi nhiều doanh nghiệp Việt gặp không ít khó khăn về nguồn nguyên liệu và băn khoăn trong phát triển giữa thị trường nông thôn hay thành thị… thì công ty trà Tâm Lan (Tây Ninh) lại tìm cho mình những hướng đi riêng để giải quyết những vấn đề trên. Chính những sáng tạo trong cách làm, cùng việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại đã giúp trà Tâm Lan trở thành thương hiệu trà túi lọc có tiếng hiện nay.    Làm phân bón sạch nhờ nuôi bò lấy… phân     Theo bà Võ Thị Lấn – Giám đốc công ty trà Tâm Lan, để có những sản phẩm chất lượng đảm bảo, ngay từ khi thành lập, công ty đã quan tâm đến việc phát triển vùng nguyên liệu sạch. Tức là dược liệu phải được chăm bón cẩn trọng, không dùng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích hay phân bón lá, phân hóa học để tăng năng suất.     Cụ thể, trà Tâm Lan đã đầu tư mua khoảng 50ha đất trồng cây thảo dược, lập trang trại nuôi bò, trùn quế… Nghe như có vẻ vô lý khi trồng cây dược liệu lại nuôi bò, trùn quế. Nhưng đó là một ý tưởng rất khoa học của lãnh đạo công ty. Ý tưởng này đã tạo nên bước đột phá lớn cho doanh nghiệp.     Hiện nay, trang trại nuôi bò của Tâm Lan có khoảng 200 con, nhiệm vụ của bò là “đẻ” phân hàng ngày. Bà Lấn cho biết, “một ngày mỗi con bò cho ra 7 lần phân, (ngày 4 lần và ban đêm 3 lần), với khoảng 14kg phân/con/ngày. Sau đó phân bò được đem cho trùn quế ăn, khi trùn tiết ra phân vi sinh thì lấy phân đó bón cho nguyên liệu”. Chính vì phân này là phân vi sinh nên hoàn toàn an toàn khi bón cho cây thảo dược.     Mỗi vùng nguyên liệu, lãnh đạo công ty đều đến tận nơi tham gia làm cùng công nhân để hướng dẫn, chỉ dạy theo đúng quy trình. Với cách làm này, vùng nguyên liệu mà công ty áp dụng đã đạt chuẩn thực hành nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP.      Đánh vào thị trường nông thôn     Để có cách tiếp cận thị trường phù hợp, ông Nguyễn Hồng Lâm – trưởng phòng marketing công ty trà Tâm Lan cho rằng, Tâm Lan đã tạo cho mình hướng đi khác so với doanh nghiệp cùng ngành. Tâm Lan xác định mục tiêu thị trường của mình, đó là đánh mạnh vào thị trường nông thôn. Ông Lâm nhấn mạnh, trương trình “Hàng Việt về nông thôn” đã giúp thương hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp có sức lan tỏa rất lớn. Sau khi đến mỗi vùng miền, người tiêu dùng đánh giá rất cao sản phẩm của Tâm Lan. Trong 2013 dù đối diện với nhiều khó khăn nhưng tăng trưởng vẫn đạt hơn 15% so với năm 2012.                Người dân nông thôn đánh giá cao chất lượng sản phẩm của trà Tâm Lan           Đến nay, sản phẩm trà Tâm Lan đã “phủ sóng” tại hàng chục tỉnh thành trên cả nước. Trong đó, tất cả các tỉnh miền Tây sản phẩm của doanh nghiệp đã được “phủ” kín. Không dừng lại đó, lãnh đạo trà Tâm Lan còn đẩy mạnh phát triển đại lý sang Campuchia và tiến tới là nhiều nước khác trong và ngoài khu vực. Bà Võ Thị Lấn khẳng định, đánh vào thị trường nông thôn là một chiến lược đúng đắn và thành công, đây là yếu tố tạo ra bước đột phá cho doanh nghiệp trên thị trường.     Tuy nhiên, thị trường hiện đang tồn tại sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, hàng giả, hàng nhái gây mất uy tín cho sản phẩm của Tâm Lan. “Những chuyến đi về nông thôn của doanh nghiệp đã giúp người dân phân biệt được hàng thật hàng giả”, ông Lâm cho biết.     Luôn tìm kiếm những hướng mới để phát triển thương hiệu và thị trường, trà Tâm Lan đã và đang đẩy mạnh hệ thống phân phối vào các nhà thuốc bắc. Theo lý giải của ông Lâm, “khi người ta ốm đau, bệnh tật ở những vùng nông thôn hay thành thị, nhiều người tìm đến hiệu thuốc bắc kê đơn bốc thuốc, vì thế Tâm Lan chú trọng khai thác thị trường tại những điểm trên”.     Đầu tư công nghệ hiện đại     Các thiết bị, dây chuyền trong nhà máy sản xuất của Tâm Lan được đầu tư bằng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Nguyên liệu được thu hoạch theo một quy trình khoa học (đúng ngày, giờ…) được xử lý vô trùng bằng công nghệ tiên tiến. Nhà máy sản xuất được trang bị các đèn tia cực tím, lưới chắn côn trùng để hạn chế tối đa những tác nhân xấu… Hiện nay, trà Tâm Lan đang xây dựng thêm hệ thống nhà máy, kho xưởng hiện đại, sạch, khép kín để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Những nỗ lực đó đã được đền đáp khi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ Y tế, các nhà khoa học đã khẳng định, trà túi lọc Tâm Lan đạt xuất sắc cả 3 yếu tố: Tính an toàn, tính chất lượng, tính hiệu quả.     Có thể nói, những yếu tố sáng tạo trong cách làm về vùng nguyên liệu, thị trường, công nghệ… đã giúp sản phẩm trà Tâm Lan giữ sự ổn định và không thay đổi giá từ khi ra thành lập đến nay. Yếu tố này tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong suốt thời gian qua.      Trần Quỳnh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới một định nghĩa Thiên hà mới (Kỳ 1)      Gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi các nhà thiên văn học nhận ra rằng vũ trụ không chỉ dừng lại ở dải Ngân Hà, mà rộng lớn mênh mông và ẩn chứa vô số thiên hà khác. Những thiên hà này không nhất thiết phải có cùng hình dạng và kích thước với dải Ngân Hà, mà chỉ cần thỏa mãn các tiêu chí nhất định để được xếp vào cùng loại với thiên hà của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều phát hiện mới đã làm dấy lên lo ngại về độ chính xác của các tiêu chí nói trên. Trong chuyên đề này, hãy cùng lật lại lịch sử định nghĩa thiên hà và thảo luận về một vài nghiên cứu mới đây để hiểu được cách mà thiên văn học hiện đại đang cố gắng trả lời câu hỏi: thế nào thì được coi là một thiên hà?      Thiên hà NGC 1365, một thiên hà xoắn ốc chặn ngang (barred spiral galaxy) tương tự như dải Ngân Hà. Ảnh: ESO/IDA/Danish 1.5 m/R. Gendler, J-E. Ovaldsen, C. Thöne, and C. Feron.    Định nghĩa ban đầu     Lần đầu tiên từ “thiên hà” được sử dụng như một danh từ chung của tiếng Việt là ở cuốn Danh từ khoa học (1942), trong đó Hoàng Xuân Hãn chuyển ngữ từ tiếng Pháp “galaxie” thành “thiên hà”. Trước khi trở thành danh từ chung, “Thiên Hà” viết hoa vốn dĩ là một tên gọi Hán-Việt khác của dải Ngân Hà, tương tự như việc từ “galaxy” để chỉ thiên hà trong tiếng Anh vốn dĩ bắt nguồn từ một tên gọi của dải Ngân Hà có gốc từ tiếng Hy Lạp. Những quá trình tạo từ ngữ (word formation) như vậy đã diễn ra trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới ở đầu thế kỉ XX, sau khi Edwin Hubble chứng minh rằng cái gọi là “tinh vân Andromeda” (Andromeda Nebula) thực chất là một vật thể giống nhưng nằm ngoài phạm vi của dải Ngân Hà. Do những thiên hà đầu tiên được nhận dạng chính thức đều có hình thù và kích thước tương tự như dải Ngân Hà, các nhà thiên văn học đương thời chỉ nới rộng nền tảng ngôn ngữ và kiến thức sẵn có về dải Ngân Hà để chúng bao hàm thêm những thiên hà khác. Điều này không những được thể hiện ở thuật ngữ được chọn để chỉ thiên hà, mà còn ở chính định nghĩa thiên hà.    Khi định nghĩa đầu tiên về thiên hà được đề xuất, trong ngành thiên văn học đã tồn tại sẵn định nghĩa “cụm sao” (star cluster) – tập hợp hàng trăm, hàng nghìn ngôi sao có liên kết trọng lực với nhau. Nhận thấy sự tương đồng giữa các thiên hà và các cụm sao, các nhà thiên văn học lập tức gói gọn cả hai vào một nhóm chung là “hệ sao” (stellar system). Tuy nhiên, những cụm sao đã được ghi nhận từ trước đến nay dường như rất khác biệt so với những thứ vừa mới được gán cho cái mác thiên hà, nghĩa là phân biệt xem một hệ sao nhất định là cụm sao hay thiên hà vẫn là một công việc cần thiết. Theo hai nhà thiên văn học Beth Willman và Jay Strader, ở đầu thế kỉ XX, những điểm khác nhau chính được sử dụng để phân biệt hai loại thiên thể này là:    1. Các thiên hà có màu trắng đục như sữa, còn các cụm sao thì trông lốm đốm hạt.    2. Các thiên hà tồn tại riêng biệt, còn các cụm sao tồn tại bên trong dải Ngân Hà. (Lý do vế của cụm sao nhấn mạnh vào dải Ngân Hà là do từ vị trí của Trái Đất, hầu hết các thiên thể mà chúng ta quan sát được đều nằm trong dải Ngân Hà.)  Một thời gian sau, những phép đo mới về thiên hà và cụm sao cho phép các nhà thiên văn phân biệt hai loại thiên thể này dựa trên tiêu chí về kích thước: các thiên hà có kích thước hàng trăm, hàng nghìn năm ánh sáng, còn các cụm sao chỉ ở khoảng vài năm ánh sáng, hoặc tối đa là vài chục năm ánh sáng. Willman và Strader nhận xét rằng, cho dù đòi hỏi các số đo cụ thể, cách phân biệt mới này cũng không khác mấy so với cách phân biệt hồi đầu, vì cả hai cách đều vận hành theo kiểu “nhìn là biết”.     Những thể lùn bí ẩn     Vào năm 2000, một nhóm nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của nhà thiên văn học Michael J. Drinkwater tại Đại học Melbourne (Úc) đã khảo sát chòm sao Thiên Lô (Fornax) và phát hiện ra các hệ sao với độ đặc lớn. Theo Drinkwater và cộng sự, những thiên thể này có quang phổ tương đồng với các cụm sao đã già, nhưng khi họ so sánh độ sáng của chúng với các cụm sao cầu (globular cluster) – các cụm sao dày đặc đến nỗi tạo thành hình cầu khi nhìn từ xa – thì những thiên thể trong chòm Thiên Lô lại sáng gấp 10 lần mọi cụm sao cầu từng được quan sát trong dải Ngân Hà. Kỳ lạ thay, những thiên thể này cũng không có độ sáng thường thấy ở một thiên hà, bởi chúng tối hơn cả các thiên hà lùn (dwarf galaxy) – các thiên hà có kích thước nhỏ nhất. Khi Drinkwater và cộng sự phân tích một số khía cạnh khác của những thiên thể này, họ nhận thấy thành phần hóa học của chúng tương tự như thành phần hóa học ở các cụm sao cầu, song các ngôi sao của chúng lại được phân bố tỏa ra nhiều hơn so với tất cả các cụm sao cầu đã biết.      Thể lùn siêu đặc M60-UCD1 trong chòm sao Xử Nữ (Virgo), chụp bằng kính Hubble. Ảnh: NASA, ESA & A. Seth (University of Utah, USA)    Các nghiên cứu và phát hiện sau đó đã cho thấy, những hệ sao đặc trong chòm Thiên Lô chỉ là một nhóm nhỏ trong số hàng trăm “thể lùn siêu đặc” (ultra-compact dwarf) – những thiên thể có độ sáng ngang bằng với các cụm sao sáng nhất và các thiên hà lùn dạng cầu (dwarf spheroid galaxy) tối nhất, song kích thước thì lại lớn hơn các cụm sao lớn nhất và nhỏ hơn các thiên hà lùn nhỏ nhất. Vài đặc điểm khác của các thiên thể này gợi ra nhiều điểm tương đồng với các thiên hà thông thường hơn, dẫn đến một cách gọi khác là các “thiên hà lùn siêu đặc” (ultra-compact dwarf galaxy). Tuy nhiên, một số tác giả vẫn chưa chấp nhận hoặc tránh dùng tên gọi này, bởi chính sự tồn tại của những vật thể này đang trực tiếp thách thức quan niệm của con người về cái gọi là thiên hà. Thật vậy, nếu những vật thể này thiên về phía thiên hà nhiều hơn, điều gì khiến cho chúng nhỏ và tối đến thế?    Theo Willman và Strader (2012), những thể lùn siêu đặc không phải là các thiên thể duy nhất thách thức lối phân biệt “nhìn là biết” mà thiên văn học đã sử dụng tới tận đầu thế kỉ XXI. Nhiều dự án nghiên cứu, nổi bật nhất là Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số Sloan (Sloan Digital Sky Survey), đã tìm thấy nhiều hệ sao quay quanh dải Ngân Hà như Segue 1, Segue 2 và Boötes II, và điều đặc biệt ở những hệ sao này là chúng có kích thước trong khoảng giữa cụm sao cầu và thiên hà lùn – hệt như các thể lùn siêu đặc nói trên – song lại kém sáng hơn cả các cụm sao đã già. Đây là lý do chính khiến những thiên thể này được gọi là “thể lùn siêu tối” (ultra-faint dwarf), hoặc là “thiên hà lùn siêu tối” (ultra-faint dwarf galaxy), tùy thuộc vào cách lựa chọn từ ngữ của nhà nghiên cứu.    Theo thống kê năm 2019 của Joshua D. Simon, các nhà thiên văn học đã phát hiện được tổng cộng 56 thể lùn siêu tối quay quanh dải Ngân Hà. Con số này được dự đoán là sẽ thay đổi nhờ sự tiến bộ của các thiết bị quan sát, song do chính lượng ánh sáng ít ỏi mà các thể lùn siêu tối phát ra, có lẽ những khảo sát tân tiến nhất cũng sẽ không thể ghi nhận được thêm một thiên thể tương tự nào ở bên ngoài phạm vi của dải Ngân Hà và thiên hà Andromeda hàng xóm. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của các mô phỏng bằng máy tính, một bức tranh toàn cảnh về cấu trúc và hành vi của các thể lùn siêu tối đang dần được tổng hợp. Các nhà thiên văn học giờ đây đã có nền tảng vững chắc để đặt ra nghi vấn về độ chính xác của việc dựa vào kích thước mà phân định xem đâu là một thiên hà, đâu là một cụm sao.     Sáng kiến từ vật chất tối     Một nhân tố quan trọng trong công cuộc định nghĩa thiên hà đã được hé lộ vào cuối thập niên 1970, khi Vera Rubin và cộng sự khảo sát 21 thiên hà xoắn ốc khác nhau và nhận thấy các ngôi sao ở rìa những thiên hà này quay quanh trung tâm thiên hà với tốc độ cao bất thường. Theo cơ học cổ điển, một ngôi sao càng nằm xa trung tâm thiên hà thì trọng lực tác động lên nó càng yếu, nghĩa là những ngôi sao mà Rubin và cộng sự tìm thấy sẽ chẳng thể nào giữ nguyên quỹ đạo xung quanh trung tâm thiên hà nếu chúng quay nhanh như thế. Bí ẩn này nhanh chóng dẫn đến giả thuyết rằng có lẽ toàn bộ lượng sao, lượng bụi và lượng khí mà con người đã đo đạc được ở rìa các thiên hà từ trước tới nay thực chất chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ lượng vật chất tồn tại ở vị trí đó. Có lẽ những ngôi sao ở rìa thiên hà đã có thể ở yên tại chỗ như vậy là nhờ một loại vật chất có khối lượng nhưng chưa được bất kì thiết bị thiên văn nào dò thấy một cách trực tiếp. Các nhà thiên văn học gọi loại vật chất này là “vật chất tối” (dark matter), trong đó chữ “tối” không ngụ ý rằng chúng ẩn mình trong màu đen của vũ trụ, mà chỉ biểu thị việc chúng ta vẫn còn khá mù mờ về bản chất của loại vật chất này.      Vera Rubin (1928-2016), nhà thiên văn học phát hiện ra vật chất tối. Ảnh: The New York Times.  Ngày nay, sự tồn tại của vật chất tối đã được ghi nhận ở khắp mọi nơi, nhờ vào việc nghiên cứu sự tương tác của loại vật chất mang tính giả thuyết này với lượng sao và chất khí của các thiên hà khác nhau. Mối quan hệ giữa các thiên hà và vật chất tối được tóm gọn một cách chính xác nhất trong một bài nghiên cứu của Risa Wechsler và Jeremy Tinker: “Thứ vật chất tối này tạo ra khung xương mà trên đó các thiên hà hình thành, tiến hóa và hợp lại với nhau.” (This dark matter forms the skeleton on which galaxies form, evolve, and merge.) Theo mô hình tiến hóa thiên hà được ủng hộ nhất ở thời điểm hiện tại, các chất khí và vật chất tối vốn dĩ được trộn đều với nhau, và theo quá trình tiến hóa của vũ trụ, lượng chất khí bắt đầu tích tụ lại, tạo ra phiên bản sơ khai nhất của thiên hà bên trong lượng vật chất tối khổng lồ gọi là “quầng vật chất tối” (dark matter halo). Sau này lớn lên, các thiên hà vẫn tiếp tục tồn tại bên trong các quầng chất tối, cho phép những ngôi sao ở rìa thiên hà giữ nguyên vị trí trên quỹ đạo, bất chấp tốc độ quay chóng mặt như trong phát hiện của Rubin và cộng sự.    Việc chú trọng tới quầng vật chất tối nhanh chóng mang lại lợi ích cho nỗ lực định nghĩa thiên hà. Theo dữ liệu quan sát ở thời điểm hiện tại, ngay cả những thiên thể kỳ lạ như các thể lùn siêu tối và các thể lùn siêu đặc cũng thường tồn tại bên trong các quầng vật chất tối. Trên thực tế, theo Joshua D. Simon, các thể lùn siêu tối có thể chứa ít vật chất tối nhất, song chúng lại là các hệ sao bị vật chất tối chi phối một cách mãnh liệt nhất, vì lượng vật chất không phải vật chất tối trong các thể lùn này thực sự rất nhỏ. Trái lại, các cụm sao, bất kể nhỏ hay lớn, không hề có quầng vật chất tối bao quanh mình, và sự hình thành rồi sau đó là tiến hóa của chúng tuyệt nhiên không có một mối quan hệ nào với vật chất tối. Dựa trên điểm khác nhau rõ ràng này, các thể lùn siêu đặc, các thể lùn siêu tối, cũng như là các thiên thể khổng lồ như dải Ngân Hà đều có thể hội ngộ quanh chiếc bàn dành riêng cho thiên hà nếu như cách phân biệt thiên hà và cụm sao trở thành: một thiên hà nằm bên trong quầng vật chất tối, còn một cụm sao thì không. Kể từ đầu thập niên 2010, đây chính là cách phân biệt được thiên văn học ưa chuộng nhất. □  —  Drinkwater, M.J., Jones, J.B., Gregg, M.D. and Phillipps, S. (2000), “Compact stellar systems in the Fornax Cluster: Super-massive star clusters or extremely compact dwarf galaxies?”, Publications of the Astronomical Society of Australia 17(3), pp. 227-233.  Simon, J.D. (2019), “The Faintest Dwarf Galaxies”, Annual Review of Astronomy and Astrophysics 57, pp.375-415.  Willman, B. and Strader, J. (2012), ““Galaxy,” Defined”, The Astronomical Journal, 144(3), pp. 76.  Wechsler, R.H. and Tinker, J.L. (2018), “    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Hướng tới một định nghĩa Thiên hà mới (Kỳ 2)      Định nghĩa thiên hà được chấp nhận rộng rãi nhất ngày nay tập trung vào việc một thiên hà tồn tại trong một quầng vật chất tối.      Đài thiên văn W. M. Keck, một trong các thiết bị được nhóm của van Dokkum sử dụng để nghiên cứu NGC 1052-DF2. Ảnh: Ethan Tweedie Photography/W. M. Keck Observatory.  Do bản chất vô hình của nó, vật chất tối chỉ có thể được dò một cách gián tiếp: các nhà thiên văn học xây dựng lý thuyết về vật chất tối, dự đoán cách vật chất tối sẽ ảnh hưởng tới chuyển động của các ngôi sao trong một hệ sao bất kì, rồi phân tích xem những ngôi sao mà họ đã quan sát có bị ảnh hưởng theo cách như vậy không. Nếu các ngôi sao có bị ảnh hưởng như thế, hệ sao của chúng nhất định có chứa vật chất tối.   Theo Willman và Strader (2012), việc định nghĩa thiên hà phụ thuộc vào một loại vật chất vẫn chỉ mới được xác nhận một cách không trực tiếp như vậy dẫn đến điểm yếu của định nghĩa này: nó được xây dựng dựa trên một thuyết, chứ không phải là một định luật vật lý. Nếu thuyết vật chất tối bị bác bỏ trong tương lai, định nghĩa thiên hà sẽ lại một lần nữa rơi vào cảnh bế tắc. Hay bỏ qua các vấn đề của tương lai: nếu có tồn tại một vật thể giống hệt các thiên hà đã biết nhưng không chứa vật chất tối nào, liệu vật thể này có phải là thiên hà hay không?  Phát hiện trong… bụng cá voi  Cuối thập niên 2010, sử dụng Dãy ống kính tele Chuồn Chuồn (Dragonfly Telephoto Array) ở sa mạc phía Tây Nam Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu của Pieter van Dokkum đã phát hiện ra một vật thể kỳ lạ. Trong chòm sao Kình Ngư mang hình ảnh con cá voi, có NGC 1052 là một thiên hà hình elip được một vài hệ sao nhỏ quay quanh, và vật thể mà van Dokkum và cộng sự tìm được cũng là một hệ sao quay quanh NGC 1052 như thế. Trong bài nghiên cứu xuất bản vào tháng 3/2018, nhóm của van Dokkum đặt cho vật thể này tên gọi chính thức là NGC 1052-DF2, gọi tắt là DF2. Họ kể rằng nguyên nhân khiến họ chú ý đến DF2 là do nó đứng nổi bật khi so sánh hình ảnh được chụp bởi Dãy ống kính tele Chuồn Chuồn với kết quả quan sát của Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số Sloan (SDSS). Nếu ảnh của Chuồn Chuồn chỉ thể hiện một vật thể lờ mờ và kém sáng thì trong dữ liệu của SDSS, ở cùng vị trí này lại là một nhóm các đốm sáng rõ rệt, hay như bài nghiên cứu miêu tả là “một tập hợp các nguồn sáng có dạng điểm” (a collection of point-like sources). Nhóm của van Dokkum lấy làm lạ và bắt đầu quan sát thêm bằng các thiết bị khác như Kính thiên văn vũ trụ Hubble và Đài thiên văn W. M. Keck ở quần đảo Hawaii.  Nhóm của van Dokkum nhanh chóng phân loại DF2 là một “thiên hà siêu khuếch tán” (ultra-diffuse galaxy). Loại thiên hà này mới chỉ được định nghĩa rõ ràng vào năm 2015, và chúng đáng chú ý do sự nghèo nàn về ánh sáng và về lượng khí có khả năng tạo thành sao. Một ví dụ tiêu biểu của thiên hà siêu khuếch tán là trong quần tụ thiên hà Coma (Coma Cluster), nơi mà vào năm 2015, một nhóm nghiên cứu khác do Pieter van Dokkum dẫn đầu đã ghi nhận các thiên hà có đường kính bằng 32% dải Ngân Hà, nhưng chỉ có lượng sao tương đương với 1% lượng sao của thiên hà chúng ta. Nói cách khác, các thiên hà này rất ít sao – nghĩa là chúng rất tối – nhưng lại tỏa ra trong một không gian rộng, từ đó sinh ra tên gọi “siêu khuếch tán”. Sự kém sáng của các thiên hà siêu khuếch tán gây cản trở nghiêm trọng cho các quan sát thiên văn, song bằng việc tổng hợp quan sát ở nhiều bước sóng khác nhau, những thiên hà này có thể được tìm ra một cách dễ dàng. Năm 2015, một nhóm các nhà nghiên cứu người Nhật do Jin Koda dẫn đầu đã tìm thấy 854 thiên hà siêu khuếch tán trong quần tụ thiên hà Coma. Trong những năm sau đó, hàng loạt các thiên hà tương tự cũng đã được phát hiện ở khắp các nơi trong vũ trụ.  Trở lại với DF2, Pieter van Dokkum và cộng sự đã phân loại vật thể này là một thiên hà siêu khuếch tán do ánh sáng yếu và sự khuếch tán rộng. Tuy nhiên, một xu hướng khó hiểu sớm hiện ra giữa các kết quả quan sát. Nếu gần nửa thế kỷ trước, Vera Rubin và cộng sự nhận thấy các cụm sao ở rìa 21 thiên hà quay quanh trung tâm các thiên hà này với vận tốc cao bất ngờ, thì giờ đây ở vật thể DF2, nhóm của van Dokkum lại nhận thấy các cụm sao càng nằm xa trung tâm thì càng có vận tốc thấp. Chính cái điều lạ thường khai sinh ra thuyết vật chất tối năm xưa giờ đây lại chẳng có bóng dáng gì ở DF2. Phát hiện này trở thành tâm điểm chú ý đối với nhóm của van Dokkum và được sử dụng cho tiêu đề bài nghiên cứu của họ: “Một thiên hà thiếu vật chất tối” (A galaxy lacking dark matter).  Đo sai, đo đúng  Sau khi được xuất bản vào ngày 28/3/2018, nghiên cứu của van Dokkum và cộng sự đã gây chấn động ngành thiên văn học. Trả lời phỏng vấn với bộ phận truyền thông của Đài thiên văn W. M. Keck một năm sau đó, đích thân van Dokkum cũng kể lại một thái độ hoài nghi trong đội của mình. Ngay cả khi đã thực hiện các phép thử cần thiết, đội của ông vẫn sợ rằng họ đã làm sai một bước nào đó, và mỗi khi có bài viết mới chỉ trích các khía cạnh trong nghiên cứu của họ, họ lại phải nỗ lực lần lại từng bước xem có thể đã sai ở đâu. Tuy nhiên, là người làm khoa học, đội của van Dokkum không chịu dừng lại sau khi công bố phát hiện này. Họ quay sang thăm dò các thiên hà siêu khuếch tán khác mà kính Hubble đã quan sát, với hy vọng tìm được thêm các trường hợp như DF2.  Ngày 14/3/2019, nhóm của nhà vật lý thiên văn Ignacio Trujillo công bố nghiên cứu của riêng mình về DF2, trong đó họ chỉ ra sai lầm trong phép đo vật chất tối của van Dokkum và cộng sự. Phép đo này vốn dĩ phụ thuộc vào khoảng cách giữa Trái Đất và DF2, và để đo được khoảng cách đó, đội của van Dokkum đã dùng phương pháp “dao động độ sáng bề mặt” (surface brightness fluctuation). Phương pháp này giả định rằng các ngôi sao không được phân bố một cách đồng đều trong một thiên hà, vậy nên khi xét một vùng nhất định trong ảnh chụp một thiên hà, các vị trí khác nhau trong vùng đó sẽ có lượng sao và từ đó là độ sáng khác nhau. Nếu một thiên hà ở gần, một vùng trong ảnh có thể chỉ chứa vài trăm ngôi sao, dẫn đến sự khác nhau lớn hơn giữa độ sáng ở hai vị trí bất kỳ. Ngược lại, nếu một thiên hà ở xa, một vùng trong ảnh có thể chứa đến hàng triệu ngôi sao, dẫn đến sự khác nhau về độ sáng nhỏ hơn. Tuy nhiên, theo Trujillo và cộng sự, phương pháp này chỉ hoạt động tốt với các thiên hà dày đặc sao; nếu một vùng trong ảnh chỉ lèo tèo vài ngôi sao (như trường hợp các thiên hà siêu khuếch tán), hai vị trí khác nhau trong vùng đó có thể chẳng chênh lệch nhiều về độ sáng, gây hiểu nhầm rằng thiên hà này ở xa. Trujillo và cộng sự tự tính toán lại và ghi nhận khoảng cách của DF2 không đến 64 triệu năm ánh sáng như đội của van Dokkum đã viết, mà chỉ ở mức 42 triệu năm ánh sáng. Dựa vào khoảng cách như thế, Trujillo và cộng sự kết luận rằng DF2 thực chất chứa lượng vật chất tối phù hợp với một thiên hà có kích thước như nó.   Đây chỉ là một trong các ý kiến trong cuộc tranh cãi xoay quanh kết quả của nhóm van Dokkum. Ngay từ khi bài viết của Trujillo và cộng sự mới trải qua khâu bình duyệt (peer review) và chưa được xuất bản chính thức, hai tác giả John P. Blakeslee và Michele Cantiello đã phản hồi bằng cách thực hiện một phân tích độc lập về khoảng cách của DF2 và cho ra kết quả ở khoảng 64 triệu năm ánh sáng, hệt như nhóm của van Dokkum đã kết luận. Cuộc thảo luận vẫn còn chưa ngã ngũ khi một bí ẩn mới lại xuất hiện vào ngày 28/3/2019: van Dokkum và cộng sự thông báo rằng họ đã tìm ra một “thiên hà” thiếu vật chất tối khác. Được ví như một “kẻ song trùng” (doppelgänger) của DF2, vật thể mới này cũng có điểm tương đồng với các thiên hà siêu khuếch tán, cũng quay quanh NGC 1052, và các cụm sao càng nằm xa trung tâm vật thể này thì càng có vận tốc thấp. Nhóm của van Dokkum đặt tên cho vật thể này là NGC 1052-DF4, gọi tắt là DF4, và bằng các thiết bị quan sát tối tân hơn lần trước, họ đi đến kết luận rằng ở DF4, các ngôi sao chiếm gần như là toàn bộ khối lượng, còn khối lượng của vật chất tối thì thực sự không đáng kể, nếu không nói là không có.  Với hai trường hợp của DF2 và DF4, dường như ý tưởng “thiên hà thiếu vật chất tối” đang dần dần trở thành một hiện thực không thể tránh khỏi. Khi công bố phát hiện về DF4, nhóm của van Dokkum đã viết: “Nếu các thiên hà như NGC 1052-DF2 khá phổ biến, có thể chúng ta phải xem xét lại cách chúng ta quan niệm một thiên hà là gì.” Thật vậy, nếu một thiên hà được định nghĩa là một hệ sao tồn tại bên trong quầng vật chất tối, làm sao mà định nghĩa đó bao hàm được các trường hợp như DF2 và DF4 – những vật thể rõ ràng là thiên hà nhưng gần như không chứa vật chất tối? Có lẽ để trả lời cho câu hỏi đó, trước tiên chúng ta phải hiểu được DF2 và DF4 thiếu vật chất tối là do đâu.  Một cuộc bể dâu  Ngay từ khi mới phát hiện ra sự thiếu vắng vật chất tối ở DF2, nhóm nghiên cứu của van Dokkum đã có một vài giả thuyết để lý giải hiện tượng này. Theo giả thuyết thứ nhất, có thể năng lượng từ một chuẩn tinh (quasar) nào đó – một loại thiên thể cực nặng và phát ra rất nhiều năng lượng – đã khiến cho vật chất thông thường tích tụ quanh chuẩn tinh này và dần tạo thành các thiên hà lùn (dwarf galaxy) như DF2. Còn theo một giả thuyết khác, có thể lượng khí sinh ra DF2 vốn dĩ bị hút vào NGC 1052 – thiên hà chủ chốt của quần tụ thiên hà này – nhưng bằng cách nào đó đã bị đứt đoạn, tạo thành thiên hà nhỏ quay quanh thiên hà chủ chốt. Nhìn chung, cả hai giả thuyết này đều tránh không cho vật chất tối tham gia vào quá trình hình thành thiên hà, bởi nếu vật chất tối đã từng giúp tạo nên DF2 thì lượng vật chất tối đó đã đi đâu hết rồi?  Đến cuối năm 2020, một nghiên cứu của Mireia Montes và cộng sự lại mở ra một hướng suy nghĩ mới về các thiên hà thiếu vật chất tối. Sau khi quan sát DF4 bằng Kính thiên văn vũ trụ Hubble và hai đài thiên văn tại quần đảo Canaria thuộc Tây Ban Nha, Montes và cộng sự đã nhận thấy một lượng vật chất thông thường trong DF4, bao gồm cả khí và các ngôi sao, đang bị kéo ra xa khỏi trung tâm của vật thể này, giống như cách chúng ta có thể làm một tấm vải giãn ra khi kéo lấy một phần của tấm vải đó. Ở cấp độ thiên hà, hiện tượng “kéo” như vậy xuất phát từ tác dụng phụ của lực hấp dẫn giữa các vật thể có khối lượng lớn, khiến các vật thể này không những hút lẫn nhau mà một vật thể còn có thể kéo một phần vật chất của vật thể khác về phía nó. Do đây chính là cơ chế sinh ra hiện tượng thủy triều trên Trái Đất, các nhà thiên văn học áp dụng ngay từ “thủy triều” để chỉ các hiện tượng vũ trụ khác có cùng nguyên nhân, và trong trường hợp DF4, phần vật chất bị kéo ra được gọi là “đuôi thủy triều” (tidal tail). Theo Montes và cộng sự, đuôi thủy triều của DF4 được hình thành dưới tác động của lực thủy triều (cách gọi tắt của “lực gây ra thủy triều”) từ thiên hà NGC 1035 lân cận. Hiện nay, đuôi thủy triều này chứa đựng khoảng 7% khối lượng sao của DF4, và phần trung tâm của DF4 vẫn còn nguyên vẹn, nghĩa là bất kể lực thủy triều của NGC 1035 đã tác động lên DF4 được bao lâu, phải đến nay thì các ngôi sao trong DF4 mới bị ảnh hưởng. Từ phép suy luận này, Montes và cộng sự đưa ra một lời giải thích xác đáng cho sự vắng mặt vật chất tối của DF4: có thể vật thể này đã từng có một lượng vật chất tối phù hợp với kích thước và khối lượng của nó, nhưng ảnh hưởng của thiên hà NGC 1035 khổng lồ đã khiến cho lượng vật chất này bị rút hết đi. Nói cách khác, DF4 (và có thể là cả DF2 nữa) cũng chẳng phải một loại hệ sao cá biệt mà chỉ là thiên hà siêu khuếch tán thông thường, song có các đặc điểm như ngày nay do sự tương tác với các vật thể khác ở xung quanh.  Với ý tưởng của Montes và cộng sự, cuộc tranh cãi về việc DF2 và DF4 thiếu vật chất tối dường như đã được giải quyết. Những người cho rằng DF2 và DF4 là thiên hà vì chúng trông giống thiên hà siêu khuếch tán đã có được kết quả mà họ mong muốn, còn những người cho rằng DF2 và DF4 không phải là thiên hà vì chúng thiếu vật chất tối thì cũng tạm an lòng khi biết rằng sở dĩ hai vật thể này không thiếu vật chất tối, chỉ là “trải qua một cuộc bể dâu” thì lượng vật chất tối của chúng đã bị kéo đi mất thôi. Tuy nhiên, sự thừa nhận một thay đổi lớn như thế – sự rút mất vật chất tối của cả một thiên hà – lại dẫn đến một ý kiến chỉ trích định nghĩa thiên hà hiện tại: nó không cân nhắc đến sự tiến hóa thiên hà (galaxy evolution) và không nhân nhượng đối với các vật thể đã bị các tác nhân bên ngoài làm cho mất hết vật chất tối. Định nghĩa thiên hà hiện tại giờ đây lại gặp phải một thách thức khác, và như chúng ta sẽ thấy ở kỳ sau, đây cũng chẳng phải là thách thức duy nhất xuất phát từ các ảnh hưởng của lực thủy triều.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Hướng tới một tương lai triệt để sử dụng năng lượng tái tạo?      Lượng khai thác kim loại hiếm neodymi quý hiếm trên toàn cầu sẽ phải tăng gấp năm lần để chế ra hàng triệu tua-bin gió hòng cung cấp đủ 100% năng lượng tái tạo trong tương lai, theo khẳng định mới đây của hai nhà nghiên cứu. Nhưng theo quan điểm của họ thì sự thiếu đồng thuận về chính trị – thay vì thiếu nguyên vật liệu – mới thực sự là trở ngại lớn nhất.    “Chúng tôi muốn chỉ cho các bạn biết rằng gió, nước và năng lượng mặt trời là đủ để có thể đáp ứng nhu cầu sống của chúng ta”, Mark Delucchi, Viện nghiên cứu Giao thông Vận tải tại Đại học California Davis nói. Ông và Mark Jacobson của Viện Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Môi trường tại Đại học Stanford đã cùng nhau nghiên cứu phác thảo một mô hình cần thiết để cung cấp nguồn năng lượng tái tạo cho tất cả các nhà máy, nhà ở, các cơ quan, cũng như tất cả các phương tiện vận tải ô tô, máy bay, và tàu thủy. Theo luận điểm của họ, cuộc cách mạng như vậy là sẽ khả thi và đủ rẻ để đầu tư vào năm 2030. Luận điểm này đã được công bố mang tính sơ bộ lần đầu tiên trên báo Scientific American trước cuộc đàm phán về khí hậu Corpenhagen năm 2009, và được công bố chi tiết hồi tháng 12 trên tạp chí Energy Policy.  Thép, bê tông và khoáng sản  Delucchi và Jacobson ước tính rằng một sự chuyển đổi sang sử dụng 100% năng lượng tái sinh sẽ cần đến một khối lượng xây lắp hạ tầng rất lớn. Chẳng hạn như Thế giới hiện nay sẽ cần gần 4 triệu tua-bin gió công suất 5MW, lớn gấp hai đến ba lần công suất so với các tua-bin hiện có trên thị trường. Những chiếc tua-bin 5MW đã được đưa vào sử dụng ở bờ biển lần đầu tiên tại Đức năm 2006, và năm ngoái Trung Quốc cũng vừa xây dựng chiếc tua-bin gió 5 MW đầu tiên.  Hai nhà khoa học cũng ước tính rằng thế giới cần đến 90.000 nhà máy năng lượng mặt trời quy mô lớn với công suất khoảng 300 MW, bao gồm những nhà máy hoạt động nhờ vào các tấm quang điện để tạo ra điện trực tiếp và cả những nhà máy hoạt động theo cơ chế tận thu nắng mặt trời để đun sôi nước chạy máy phát điện. Hiện nay trên thế giới có khoảng 36 nhà máy năng lượng mặt trời như vậy đang hoạt động, nhưng hầu hết là có quy mô công suất nhỏ hơn.  Và các hệ thống năng lượng lớn này sẽ không thay thế được các hệ thống thu năng lượng mặt trời cài đặt trên các mái nhà (hệ thống PV); các nhà nghiên cứu tính toán rằng con người phải cần tới 1.73 tỉ hệ thống PV, mỗi chiếc công suất 3 KW là không có hại. Như vậy, hãy hình dung rằng cứ bốn đầu người trên hành tinh này thì có một hệ thống PV.  Xây dựng các tua-bin mới, các tấm năng lượng mặt trời, và các cơ sở vật chất khác sẽ ngốn rất nhiều thép, bê tông, và các nguồn tài nguyên khác. Tuy nhiên, Jacobson và Delucchi kết luận rằng không có trở ngại đáng kể nào trên khía cạnh kinh tế nào trong việc sản xuất ra khối lượng lớn các nguyên vật liệu phổ biến như bê tông và thép, vì vậy họ tập trung nhiều hơn cho nghiên cứu về sử dụng những vật liệu ít phổ biến hơn.   Theo hai nhà khoa học thì khó khăn chủ đạo là ở khâu sản xuất các kim loại hiếm như neodymi, thường được sử dụng để chế tạo ra nam châm.  Họ dự báo rằng, để lắp đặt các máy phát điện cho hàng triệu tua-bin gió thì khối lượng sản xuất chất neodymi của Thế giới phải tăng gấp năm lần hiện nay. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì nguồn dự trữ hiện tại trên Thế giới về nguyên tố này đủ đáp ứng gấp gấp 6 lần so với nhu cầu sử dụng của con người.  Cũng có cả những cách giải quyết khác cho vấn đề này, Delucchi và Jacobson lập luận. Có những loại nam châm khác có thể được sử dụng trong các tua-bin, và các kim loại hiếm cũng có thể được tái chế. Tuy nhiên hiện nay chưa tồn tại một chương trình tái chế nào như vậy.  Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng, không có trở ngại nào đủ lớn để ngăn cản con người chuyển sang hoàn toàn sử dụng năng lượng tái sinh vào năm 2030. Tuy nhiên, họ cũng thấy rằng sẽ khả thi hơn với phương án ngừng xây dựng các nhà máy điện và sản xuất xe đốt nhiên liệu hoá thạch mới vào năm 2030, và sau đó thay thế từng bước bằng các nhà máy hiện có để đạt được 100% năng lượng xanh vào năm 2050.  “Về mặt kỹ thuật chúng ta có thể làm được”, Jacobson nói. “Nhưng vấn đề chính là chúng ta có thực sự đủ ý chí hay không.”  Bỏ qua nhiên liệu sinh học   Trong quá trình nghiên cứu một lộ trình tới một tương lai không còn phải dùng tới nhiên liệu hóa thạch, các nhà khoa học đã bỏ qua nhiên liệu sinh học, nguồn nhiên liệu tái tạo phổ biến nhất hiện nay. Do mức độ ô nhiễm không khí và tác động tiêu cực trong sử dụng đất bắt nguồn từ ethanol và nhiên liệu sinh học mà các nhà nghiên cứu đã tìm cách xây dựng kế hoạch cho một tương lai với 100% năng lượng tái tạo mà không bao gồm các loại nhiên liệu trên đây. Và do những lo ngại về xử lý chất thải và phổ biến vũ khí hạt nhân mà các nhà nghiên cứu cũng bỏ qua nguồn điện năng lượng hạt nhân, hiện đang cung cấp khoảng 6% nguồn năng lượng trên thế giới và hoàn toàn không gây ô nhiễm khí thải gốc carbon.  Tuy nhiên, Thế giới của chúng ta còn cách một chặng đường dài trước khi có thể gạt bỏ được nhiên liệu sinh học khỏi danh mục các nguồn năng lượng tái tạo. Ngày nay, tất cả các nguồn năng lượng tái tạo mới chỉ cung cấp tổng cộng 13% cho nguồn cung năng lượng thế giới, và nếu không tính đến nhiên liệu sinh học thì con số chỉ là 3% nếu (theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) 2010).  Delucchi và Jacobson cho rằng với sự cắt giảm chi phí sản xuất trong công nghệ tái tạo như dự kiến, chi phí để tạo ra một tương lai mà họ gọi là “100% WWS”, viết tắt của một hệ thống năng lượng chỉ bao gồm gió, nước và năng lượng mặt trời (wind, water, solar) sẽ tương đương với chi phí cho hệ thống phân phối năng lượng như hiện nay.          Mark Jacobson, Viện Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Môi trường tại Đại học Stanford          Gió đổi chiều  “Thách thức đặt ra là việc cung cấp phải phù hợp với nhu cầu sử dụng”, Jacobson nói. Sự lệ thuộc quá mức vào gió và năng lượng mặt trời, theo kịch bản của của các nhà nghiên cứu thì năng lượng gió sẽ chiếm 50% tổng nguồn năng lượng Thế giới và năng lượng mặt trời đóng góp 40%, thì độ tin cậy và ổn định của hệ thống sẽ giảm do tính biến đổi thất thường của gió và ánh sáng trên bầu trời”. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng điều này có thể được giải quyết thông qua việc kết nối các loại năng lượng trong hệ thống, tận dụng khả năng bổ sung nhược điểm của năng lượng tái tạo này bằng năng lượng tái tạo khác.  Hệ thống địa nhiệt khai thác sức nóng ở dưới lòng đất, và các máy khai thác năng lượng từ sóng biển và thủy triều sẽ đóng góp ít hơn so với năng lượng từ gió và mặt trời trong kịch bản của Delucchi-Jacobson, chỉ khoảng 6% năng lượng thế giới. Nhưng vì các loại năng lượng này có tính ổn định cao nên chúng sẽ giúp hệ thống năng lượng hoạt động ổn định hơn.  Các đập thủy điện cũng tham gia cung cấp khoảng 4% nguồn năng lượng thế giới nhưng vì các tác giả đều cho rằng hầu hết các vị trí tốt nhất để xây các con đập đã được tận dụng nên họ không nghĩ sẽ có việc mở rộng phát triển quy mô loại năng lượng này tương đương với các nguồn năng lượng mặt trời và gió.  Theo các nhà nghiên cứu thì một lý do khác góp phần tăng tính ổn định cho hệ thống năng lượng dựa vào sức gió, nước và năng lượng mặt trời, là hệ thống này chỉ cần năng lượng ít hơn 3 lần so với hệ thống sử dụng năng lượng hóa thạch. “Nguyên nhân chủ yếu bởi vì việc chuyển đổi từ động cơ đốt trong, giống như đối với xe hơi, động cơ điện là lựa chọn hiệu quả hơn”,  Jacobson nói.  Thay thế các động cơ đốt trong một cách nhanh chóng như các tác giả hình dung đòi hỏi vô vàn thay đổi lớn, khi mà hiện nay những chiếc xe ôtô hoàn toàn chạy bằng điện mới được sử dụng ở mức độ manh nha trên thị trường, và các dự đoán cho thấy đến năm 2020 chúng cũng mới chiếm dưới mức 10% doanh số bán ôtô toàn cầu.  Daniel Kammen, chuyên gia kỹ thuật hàng đầu về năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng của Ngân hàng Thế giới nói rằng kết quả nghiên cứu của Delucchi-Jacobson đã đưa ra là hữu ích, bổ sung vào dòng nghiên cứu ngày một lớn mạnh về các kịch bản phát triển thải ra ít carbon hay không carbon.”  “Đây là một trong những nghiên cứu làm nổi bật tiềm năng của năng lượng tái tạo, dù rằng chưa đề cập đến các chi tiết cụ thể của cách thức sản xuất năng lượng và hệ thống phân phối thực tế”, theo lời ông Kammen, người sáng lập và điều hành phòng thí nghiệm năng lượng tái tạo tại Đại học California Berkeley. “Như trong nhiều vấn đề, cái khó lớn nhất là các chi tiết cụ thể. Hiện nay, chúng ta còn ở xa với việc có 100% năng lượng từ nguồn năng lượng tái tạo, hoặc thậm chí đa số năng lượng là tái tạo. Bài viết này cung cấp một căn cứ hữu ích cho vai trò của năng lượng tái tạo mà không đi vào chi tiết cách thức hoạt động của các hệ thống năng lượng trên thực tế.”  Thế giới đang cần một tài liệu nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển đổi chi tiết cho thấy “làm thế nào để vận hành một thế giới không thải ra carbon, nhận xét từ Kammen, một cố vấn của tô chức Great Enery Challenge thuộc tạp chí National Geographic.   Mason Inman, National Geographic                Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới nông nghiệp công nghệ cao      Tại các diễn đàn về chính sách phát triển nông nghiệp, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam phải tập trung cơ giới hóa nông nghiệp. Nhưng điều đó chưa đủ. Theo ý kiến của TS. Nguyễn Việt Long, Giám đốc Trung tâm ươm tạo công nghệ nông nghiệp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nước ta cần hướng tới nông nghiệp đảm bảo ba mục tiêu thông minh – hiệu quả – chất lượng cao.      Agri Open Innitative, một startup của Viện công nghệ Massachusset, lập ra nền tảng phần cứng  nguồn mở cho phép người nông dân sử dụng miễn phí để áp dụng công nghệ thông minh vào  nông trại của mình.  Gần đây, nhiều người nhắc đến nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp chính xác. Theo anh, sự khác nhau giữa các nền nông nghiệp đó là gì?  Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại hay nông nghiệp thông minh và nông nghiệp chính xác có thể hiểu chung đó là một nền nông nghiệp dùng một hoặc phối hợp các công nghệ từ khoa học/công nghệ sinh học, hoá học, vật lý, cơ khí nông nghiệp, hiện nay là công nghệ sensor (cảm biến), công nghệ đám mây điện tử, công nghệ thông tin….) áp dụng trong quản lý sản xuất nông nghiệp.  Còn hiểu một cách tách biệt, nông nghiệp thông minh là ngành nông nghiệp có hiệu quả cao, thân thiện với môi trường, hệ thống hay quy trình sản xuất nông nghiệp có sử dụng các công nghệ cảm biến, tự động hoá, kết nối. Nông nghiệp thông minh còn có thể hiểu đơn giản là các quy trình sản xuất truyền thống nhưng được tính toán áp dụng khoa học để đạt được hiệu quả cao. Ví dụ như sử dụng giống chịu hạn trồng ở những vùng hạn hán cũng được xem là nông nghiệp thông minh thân thiện với môi trường (smart climate agriculture).  Nông nghiệp chính xác cũng được xem là nông nghiệp thông minh, nhưng nông nghiệp chính xác chỉ nói đến ngành nông nghiệp sử dụng công nghệ hỗ trợ như cảm biến, vệ tinh, công nghệ hình ảnh để giúp giảm thiểu sức người, nâng cao độ chính xác trong nghiên cứu và sản xuất. Ví dụ máy gieo hạt, máy làm cỏ được gắn thiết bị cảm biến giúp gieo hạt chính xác, hay làm cỏ tự động và chính xác.  Anh đánh giá như thế nào về tính cấp thiết trong việc áp dụng công nghệ cao, công nghệ thông minh trong nông nghiệp nước ta?  Trong bối cảnh nông nghiệp thế giới phải tăng sản lượng lương thực lên 70% vào năm 2050 trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nước ngọt) ngày càng khan hiếm, với yêu cầu sử dụng ít hơn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hoá học để nâng cao chất lượng sản phẩm và biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp ngày càng rõ nét, sản xuất nông nghiệp cần phải tìm ra các giải pháp công nghệ hỗ trợ. Nông nghiệp Việt Nam mặc dù có đặc thù nhưng không thể tách rời bối cảnh nông nghiệp thế giới.  Vài năm gần đây, Nhà nước đưa ra nhiều chính sách, chiến lược và chương trình để thay đổi nền nông nghiệp Việt Nam nhưng chúng chưa thực sự bắt nhịp với thế giới. Chẳng hạn như, hiện nay, chúng ta vẫn nghe nói đến những chương trình cơ khí hoá nông nghiệp tại Việt Nam, nhưng ở những nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến thì mục tiêu của họ là nông nghiệp thông minh, ứng dụng công nghệ cao để tạo ra một nền nông nghiệp thông minh – hiệu quả – chất lượng cao. Xu hướng áp dụng công nghệ trong nông nghiệp của thế giới sắp tới sẽ tương tự với xu hướng công nghệ trong tất cả các lĩnh vực khác của cuộc sống đó là cuộc cách mạng kết nối (internet of things) chứ không đơn thuần là cơ khí hoá nông nghiệp.  Chính vì vậy Việt Nam nên xem xét thay đổi tầm nhìn trong định hướng phát triển nông nghiệp đó là phát triển cơ khí hoá, hiện đại hoá nông nghiệp theo hướng nông nghiệp thông minh – nông nghiệp công nghệ cao.  Có ý kiến cho rằng, việc hướng tới một nền nông nghiệp CNC không có nghĩa là bỏ qua nông nghiệp truyền thống. Anh có đồng tình với ý kiến này không?     Việt Nam cần hướng tới một nền nông nghiệp thông minh – hiệu quả – chất lượng cao với giá thành phù hợp ở các vùng áp dụng nông nghiệp công nghệ cao và các vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống.  Tuy nhiên việc áp dụng các công nghệ hiện đại như nông nghiệp chính xác còn có nhiều khó khăn. Học viện Nông nghiệp Việt Nam hiện nay đã có một số nhóm hay có một số doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam đang nghiên cứu tạo ra các quy trình sản xuất ứng dụng công nghệ thông minh nhưng vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu.  Vì vậy, một mặt, Việt Nam có thể định  hướng và hỗ trợ nghiên cứu nông nghiệp thông minh tại các cơ sở nghiên cứu và có thể nhập khẩu công nghệ phù hợp để phát triển thử nghiệm tại các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao nhưng quan trọng hơn trong điều kiện hiện nay là tổ chức sản xuất nền nông nghiệp hiện tại một cách bài bản hướng tới chất lượng, nhất là trong các khâu quản lý sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, kích thích sinh trưởng, bảo quản chế biến để sản xuất ra các sản phẩm an toàn. Như thảo luận ở trên, sản xuất truyền thống với cách quản lý hiệu quả cũng được coi là sản xuất nông nghiệp thông minh.  Có ý kiến cho rằng, Nhà nước không nên đầu tư vào việc hình thành các khu, trung tâm nông nghiệp công nghệ cao mà chỉ cần tạo hành lang pháp lý chính sách phù hợp, còn lại hãy để doanh nghiệp chủ động đầu tư vào lĩnh vực này. Quan điểm của anh như thế nào ?  Quan điểm của tôi là việc đầu tư của Nhà nước chỉ nên tập trung tài trợ cho các cơ sở nghiên cứu mạnh, nghiên cứu liên ngành để tạo ra công nghệ phù hợp cho nông nghiệp Việt Nam.  Còn lại, vai trò chính của Nhà nước là đưa ra các chính sách hợp lý và hiệu quả thúc đẩy doanh nghiệp đặt hàng nhà khoa học và tham gia đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Xin phân tích hai ví dụ để dẫn chứng: (1) Đa số doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, chất lượng cao hiện nay đang gặp khó khăn trong việc sản phẩm giá trị cao của họ bị cạnh tranh không lành mạnh trong tình cảnh thương hiệu hay tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm tại Việt Nam có thể mua bán được, vì vậy chính sách về quản lý chất lượng, minh bạch trong quản lý sản xuất, nguồn gốc sản phẩm để người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm sẽ thúc đẩy doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác trong quản lý sản xuất. (2) Hiện nay chúng ta thấy có những chương trình đầu tư của Nhà nước cho các nghiên cứu tạo ra các công nghệ xử lý chất thải- bảo vệ môi trường, kết quả của nghiên cứu có thể tốt nhưng các cơ sở sản xuất không bị giám sát quy trình xả thải chặt chẽ, hay nói cách khác cơ sở sản xuất vẫn có thể tìm cách không phải chi tiền cho công nghệ xử lý chất thải thì kết quả nghiên cứu sẽ rất khó được áp dụng vào thực tiễn.  Xin cảm ơn anh!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới sự tối ưu, mang lại sự tiện nghi, văn minh tiêu dùng cho người Việt Nam      Việc nghiên cứu, thiết kế và sản xuất trong nước các sản phẩm thiết bị vệ sinh thông minh, và sắp tới là hệ thống nhà thông minh Smart Home của Bkav Smart Home là một minh chứng về Việt Nam (VN) có khả năng nắm bắt công nghệ lõi để làm ra các sản phẩm công nghệ cao, hướng tới sự tối ưu, mang lại sự tiện nghi, văn minh tiêu dùng cho người VN.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Thanh Thắng, giám đốc Bkav Smart Home, tác giả của công trình, hệ thống nhà thông minh        Những ý tưởng nghiên cứu và sản xuất bộ sản phẩm tự động trong phòng vệ sinh thông minh tại Việt Nam xuất hiện như thế nào?  Năm 2002, trong những chuyến đi công tác Nhật Bản, anh Nguyễn Tử Quảng đã chứng kiến các hệ thống tự động rất hiện đại, sử dụng thiết bị thân thiện với môi trường, anh đã nuôi ý định phải sản xuất những sản phẩm như thế ở VN. Vậy là chúng tôi bắt tay vào nghiên cứu phát triển sản phẩm. Năm 2005, sản phẩm van xả nước thông minh đầu tiên của Smart Home được đưa ra thị trường.  Với những sản phẩm đầu tiên chúng tôi phải mất đến 2 năm để nghiên cứu và sản xuất. Đến nay, chu kì một sản phẩm mới từ lúc nghiên cứu đến khi ra đời chỉ còn 6 tháng.   Những sản phẩm tự động đã được người tiêu dùng đón nhận như thế nào?  Rất nhiều người không tin là VN có thể làm được những sản phẩm như thế này. Thậm chí trong buổi lễ ra mắt, có người còn đến “hỏi thật” tôi là sản phẩm nhập ở đâu, hoặc giỏi lắm cũng chỉ là lắp ráp tại VN.                   Điều này cũng dễ hiểu, vì VN vốn chưa chú trọng phát triển các sản phẩm công nghệ cao. Nhưng đấy cũng lại là một động lực cho mình khẳng định vị trí, làm thay đổi quan niệm xã hội.   Những loại sản phẩm này đã được nhập khẩu về VN bởi các thương hiệu lớn và đã định vị trên thị trường. Làm thế nào những sản phẩm VN tìm được chỗ đứng?    Ở đâu đó trên thị trường các bạn có thể thấy những sản phẩm tương tự, tuy nhiên không có nhà sản xuất nào có đồng bộ các sản phẩm thiết bị thông minh như Smart Home. Chúng tôi có ưu thế ở thị trường VN, khi đi tiên phong trong việc làm chủ công nghệ thiết kế và sản xuất, đưa ra các giải pháp hệ thống phù hợp với nhu cầu sử dụng công nghệ của cuộc sống. Đặc biệt, sản phẩm được ưa chuộng như van xả thông minh của Bkav Smart Home chiếm tới 75% thị phần miền Bắc, 60% thị phần miền Nam.   Đồng thời, ưu điểm của Smart Home là chế độ chăm sóc khách hàng tốt. Nếu dùng sản phẩm của nước ngoài mà gặp hỏng hóc, trục trặc, rất khó để tìm phụ kiện thay thế ngay, phải chờ nhập khẩu có khi mất đến vài tháng trời. Còn với Smart Home chỉ mất 30 phút sau khi gọi điện thông báo cho bộ phận chăm sóc khách hàng.                                     Nếu xét về tố chất con người, người Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó… không thua kém bất cứ dân tộc nào. Chỉ có điều, con người mình phải được đặt vào môi trường như thế nào thì mới phát triển tốt được.               Vì chúng ta chưa từng qua một cuộc cách mạng công nghiệp nào, nên lỗ hổng lớn nhất là thiếu các doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D). Người Việt mình ít khi làm đến cùng, nhìn một sản phẩm mới nhìn tưởng đơn giản liền nghĩ “cái này có gì đâu mà làm”, cuối cùng thì cũng không làm được thành sản phẩm. Thế nên mỗi năm VN chỉ có một vài sáng chế, chứng tỏ mình rất ít làm chủ được công nghệ.               Chúng ta tự hào vì là nước xuất khẩu gạo, café, cao su và các nông sản khác lớn trên thế giới, nhưng nhẩm tính, một van xả tự động nhập khẩu trị giá 7,5 triệu đồng, tương đương một tấn lúa. Nếu cứ tính như vậy, mình phải xuất khẩu bao nhiêu gạo, café, cao su để đủ nhập về những sản phẩm đắt đỏ như vậy. Thế nên nền kinh tế luôn trong tình trạng nhập siêu.               Gần đây, cũng xuất hiện dần một số doanh nghiệp hướng vào R&D, đó là dấu hiện rất đáng mừng. Chúng tôi cũng mong muốn có được một cộng đồng doanh nghiệp như vậy để hỗ trợ nhau cùng phát triển.          Những sản phẩm này có đặc điểm gì để khắc phục điều kiện tự nhiên ở VN?  Những sản phẩm điện tử chịu tác động rất lớn của môi trường độ ẩm cao. Bạn biết đấy, ở Việt Nam, những khi trời nồm hiện tượng “đổ mồ hôi” có thể làm hư hỏng nhiều thiết bị điện tử. Chúng tôi phải nghiên cứu, thiết kế sản phẩm có độ bền cao, phù hợp với khí hậu VN, chẳng hạn như việc thiết kế một lớp keo dày để tránh bị nước vào.  Những người nghiên cứu và sản xuất loại sản phẩm công nghệ này đã theo đuổi triến lý phát triển như thế nào?  Đó là hướng tới sự tối ưu, mang lại sự tiện nghi, văn minh tiêu dùng cho người VN.   Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ những sản phẩm tự động như vậy là rất xa xỉ và đắt đỏ, chỉ dành cho tầng lớp người giàu có. Nhưng những sản phẩm Smart Home có mức giá bán ra thị trường chỉ bằng 20-30% giá sản phẩm nhập khẩu, với chất lượng tương đương.   Phương châm của chúng tôi là mang lại sự tiện nghi cho xã hội, nên phải làm sao để có mức giá phù hợp nhất cho mọi người, để trong thời gian tới các sản phẩm, thiết bị thông minh sẽ được sử dụng rộng rãi trong đời sống.   Được biết đầu năm 2011, công ty sẽ chính thức cho ra mắt hệ thống nhà thông minh Smart Home. Vậy hệ thống này được hiểu như thế nào?  Đây là hệ thống các thiết bị điện tử gia dụng được kết nối với nhau thành mạng thiết bị và hoạt động theo các kịch bản tùy biến nhằm tạo ra môi trường sống tiện nghi, an toàn, tiết kiệm năng lượng.   Một hệ thống nhà thông minh cơ bản bao gồm: Máy tính điều khiển trung tâm để kết nối các thiết bị với nhau và điều khiển toàn bộ hệ thống nhà; thiết bị Client, có thể là điện thoại di động, máy tính bảng (Tablet)… để điều khiển và tương tác với ngôi nhà; các thiết bị gia dụng đầu cuối là những vật dụng điện tử trong gia đình như: điều hòa, rèm, mành, hệ thống đèn, quạt thông gió, ti vi, lò vi sóng, bếp ga…   Người sử dụng sẽ tương tác với các thiết bị này ra sao?  Người dùng sẽ tương tác trên giao diện các máy tính bảng (Tablet), hoặc sử dụng điện thoại di động.   Giao diện màn hình cảm ứng của các thiết bị này được thiết kế sử dụng đồ họa 3D với công nghệ điều khiển trực quan, mô phỏng lại toàn bộ ngôi nhà cùng các thiết bị trong gia đình. Công nghệ này giúp chủ nhân dễ dàng điều khiển các thiết bị như đang sử dụng thực tế.   Chẳng hạn, muốn mở rèm cửa ở phòng khách, người dùng chỉ cần di chuyển đến khu vực này trên màn hình cảm ứng và ra lệnh mở rèm theo vị trí mong muốn.   Chủ nhân của hệ thống nhà thông minh có thể kiểm soát, điều khiển ngôi nhà cũng như các thiết bị trong nhà bằng nhiều phương tiện như: điện thoại di động, laptop… thông qua việc sử dụng các công nghệ kết nối Wifi, 3G, SMS, GPRS…  Hệ thống chiếu sáng thông minh của ngôi nhà, được thiết kế để có khả năng hoạt động tự động hoàn toàn, tùy biến điều chỉnh ánh sáng, màu sắc… theo sở thích của người sử dụng.  Hệ thống giám sát môi trường trong ngôi nhà thông minh liên tục cập nhật các thông số về nhiệt độ, độ ẩm, lượng oxy… của từng khu vực trong ngôi nhà, đưa ra chế độ thích hợp đến các thiết bị như: điều hòa nhiệt độ, máy hút ẩm, quạt thông gió… nhằm duy trình trạng thái môi trường tốt nhất trong toàn bộ ngôi nhà.   Hệ thống giải trí đa phương tiện Multi Media giúp chủ nhân quản lý các thư viện âm nhạc, phim, ảnh của mình theo sở thích đồng thời lựa chọn các chế độ phát nhạc, chiếu phim… theo các khoảng thời gian trong ngày.   Hệ thống an ninh nắm giữ vai trò quan trọng, kiểm soát các nguy cơ cháy, nổ, bị xâm nhập trái phép… Hệ thống này bao gồm các thiết bị: kiểm soát vào ra (Access Control System – ACS), cảm biến phát hiện người, cảm biến phát hiện kính vỡ, hệ thống camera ghi hình (IP Camera), hàng rào điện tử…  Một hệ thống nhà thông minh hoàn chỉnh đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ, toàn diện của tất cả các thiết bị điện tử trong nhà như: cửa sổ, rèm, mành, máy bơm, lò vi sóng, máy giặt, tủ lạnh… và được lập kịch bản hoạt động để tạo sự tiện nghi, an toàn và tiết kiệm năng lượng.  Thông qua một hệ thống mạng, các kết nối thiết bị nhận lệnh điều khiển từ Home Server theo kịch bản đã được cấu hình trước. Chẳng hạn, khi có mưa bão, cửa sổ có thể tự đóng, dây phơi tự thu vào; Bình nước nóng tự bật đun nước trước buổi sáng hoặc trước giờ tan tầm; Hệ thống tưới cây tự động hoạt động theo giờ; Bể cá tự tắt/bật đèn, máy lọc nước và cho cá ăn…   Có khi nào sản phẩm của công ty bị khách hàng từ chối vì… giá rẻ? Người VN cũng có tâm lý cái “sang trọng” phải đồng nghĩa với đắt tiền.    Có. Từng có những công trình nhận báo giá thấy rẻ bất ngờ và đã từ chối. Họ yêu cầu những thiết bị nhập khẩu với giá 7-8 triệu/sản phẩm, trong khi sản phẩm của chúng tôi có mức giá chỉ bằng 20-30%. Sở dĩ hàng nhập có giá cao vì khi phân phối phải chịu thuế nhập khẩu, số lượng nhập ít, chi phí bảo hành cao khi phải chuyển ra nước ngoài bảo hành, cũng như mức lợi nhuận phân phối cao.  Thói quen sử dụng của người VN có ảnh hưởng đến việc điều chỉnh các tính năng của sản phẩm?    Người tiêu dùng Việt Nam hiện vẫn mang nặng tư tưởng chuộng hàng ngoại. Cứ hàng nhập khẩu, nhãn hiệu nước ngoài là tốt. Vì thế, các sản phẩm được sản xuất trong nước dù chất lượng ngang ngửa, thậm chí còn tốt hơn sản phẩm của nước ngoài nhưng vẫn phải gánh những thành kiến nhất định.  Ví dụ, các sản phẩm sử dụng pin của Smart Home có thời gian sử dụng là 3 năm mới phải thay pin, trong khi các sản phẩm cùng loại khác của nước ngoài chỉ trong khoảng 6 tháng đến 1 năm. Để tăng độ bền của pin được như vậy, chúng tôi phải tối ưu hóa chu trình hoạt động của thiết bị cũng như sử dụng các nghệ mới nhất như công nghệ siêu tiết kiệm năng lượng NanoWatt.   Xin cám ơn ông.         Linh Nguyễn thực hiện        Xu hướng xây nhà thông minh trên thế giới                               Nếu trước những năm 1970, khoảng 85% chi phí đầu tư xây dựng một tòa nhà là dành cho phần xây thô, 15% dành cho vật tư cơ điện (M&E); thì đến cuối thế kỉ 20, chi phí xây thô và M&E mỗi phần chiếm 50%. Nhưng từ những năm 2000, tỉ lệ cả hai phần xây thô và M&E chỉ còn chiếm 80%; 20% còn lại dành cho hệ thống thông tin, truyền thông và hệ thống điều khiển, giám sát tòa nhà.               Ông Nguyễn Anh Tiến, người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng thử nghiệm các giải pháp cho tòa nhà thông minh IBS, phân tích: Để xây dựng một tòa nhà thông minh, trước hết cần xác định các dịch vụ, sản phẩm mà chủ đầu tư muốn cung cấp để từ đó thiết lập chức năng và các hệ thống kỹ thuật sẽ giúp vận hành tòa nhà. Tiếp đó là tích hợp các hệ thống kỹ thuật bằng các phần mềm chuyên dụng.               “Điều này thường trái ngược với cách thực hiện của các chủ đầu tư trong nước hiện nay – vốn nặng về liệt kê các thiết bị, các hệ thống kỹ thuật cần có mà ít quan tâm đến mục đích kết nối các hệ thống này. Đây chính là điểm lãng phí lớn mà lại rất hay gặp,” – ông Tiến nhận xét.              Nếu các hệ thống hoạt động riêng rẽ, không kết nối với nhau sẽ dẫn đến việc quản lý càng phức tạp. Vì thế việc chúng được tích hợp lại, quản lý trên một hệ thống chung duy nhất là rất quan trọng. Khái niệm “Giải pháp tích hợp quản lí tòa nhà thông minh” (Intelligent Building Management System) đã ra đời với ý nghĩa đó – tích hợp các hệ thống kỹ thuật để tạo ra sự phối hợp vận hành linh hoạt trong từng tình huống cụ thể.               Ví dụ, khi có cháy, ngoài việc hệ thống chữa cháy hoạt động tự động thì hệ thống điều hòa, thông gió nhận được tín hiệu xác định vị trí cháy từ hệ thống báo cháy sẽ tự động tăng áp quạt cầu thang thoát hiểm, tăng áp quạt hút khói, mở rộng cửa hút gió để tống khói ra ngoài đồng thời khóa cửa gió hồi… Hệ thống điều khiển chiếu sáng sẽ tự động mở các đèn chiếu sáng khẩn cấp tại các lối dẫn đến thang thoát hiểm. Hệ thống âm thanh công cộng sẽ phát các bản tin báo cháy và hướng dẫn người trong tòa nhà di tản đến vị trí cần thiết. Hệ thống thang máy sẽ tự động hủy các lệnh chuyển thang đến tầng có cháy và đưa thang máy chữa cháy hiện diện tại tầng đang gặp.              Hiện nay, ý nghĩa của nhà thông minh đã vượt ra ngoài việc lắp đặt một vài thiết bị tự động trong gia đình, hay việc tự động hóa một góc nhà, một căn nhà, thậm chí cả một tòa nhà mà rõ rệt đã hướng tới quy mô toàn thành phố.              Việc Hàn Quốc mới đây khánh thành thành phố Songdo là một ví dụ. Ở đó, tất cả đều được kiểm soát tối đa thông qua những chương trình kết nối hoàn hảo: Nhà ở, nơi vui chơi, nơi làm việc, bệnh viện, trường học… được tích hợp thành một. Chẳng hạn, bằng việc sử dụng một thiết bị cầm tay, ông chồng đang lái xe có thể biết tình hình vợ chuẩn bị vào phòng sinh, biết rõ nhịp tim thai đang đập bao nhiêu, cậu con đang học ở trường ra sao.              Ngoài ra, hàng loạt các ứng dụng thông minh khác cho tòa nhà đã ra đời. Trong bệnh viện, người ta sử dụng thiết bị thông minh để biết thiết bị cấp cứu đang được sử dụng ở tầng nào, phòng nào. Ở các trung tâm mua sắm có thiết bị chỉ dẫn mua gì ở đâu. Bộ phận nghiên cứu thị trường cũng dựa vào đó để nghiên cứu mặt hàng nào đang tiêu thụ nhiều nhất trong thời điểm nhất định. Một người bước vào phòng, máy đã đo nhiệt độ cơ thể, nhịp tim, huyết áp của anh ta từ xa, và biết anh ta có ra nhiều mồ hôi không. Nếu thấy có dấu hiệu của việc tức giận, thì lập tức khi người đó bước vào, nhiệt độ phòng sẽ hạ xuống, nhạc được vặn nhỏ, ánh sáng dịu đi. Hoặc bạn cũng có thể sử dụng iphone để điều khiển âm nhạc ở tất cả các phòng, tùy theo tâm trạng và sở thích của từng người.              Tất cả những công nghệ đơn lẻ này đã có, câu chuyện thương mại hóa và lắp đặt cả hệ thống chỉ là vấn đề giá cả.                            K.Nguyễn            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới  tái cấu trúc  hiệu quả      Tái cấu trúc nền kinh tế có thể ví như chuyển nền kinh tế từ trạng thái A trong hiện tại sang một trạng thái B tốt hơn, theo một đường chuyển động tối ưu, an toàn được thiết kế cho các bên liên quan cùng hợp sức tham gia. Việc xác định rõ ràng trạng thái A và B là rất cần thiết để có thể thiết kế được quỹ đạo vận động thích hợp và vận dụng những phương pháp đúng đắn cần thiết.      Nếu không làm rõ được thực trạng thì không thể có bài thuốc đúng và nếu không xác định cụ thể, rõ ràng những tiêu chí của trạng thái B cần đạt được thì rất có thể sẽ có nhiều phát biểu về “tái cơ cấu” chung chung mà nội dung không rõ, không xác định cụ thể được mục đích, yêu cầu. Khi ấy rất có thể chúng ta sẽ rơi vào một mê hồn trận tốn kém, trong khi hai yêu cầu khắc phục “tư duy nhiệm kỳ” và “lợi ích nhóm” chưa chắc đã đạt được.     Khác biệt với thông lệ và đánh giá quốc tế  Nếu như trong khoa học tự nhiên, việc xác định một trạng thái có tiêu chí rõ ràng là một hoạt động thuần túy khoa học chỉ cần đến một phương pháp luận thích hợp, thì trong kinh tế học việc xác định chính xác trạng thái A và thiết kế được trạng thái B luôn đụng chạm đến lợi ích của những bên tham gia và hoàn toàn không là một vấn đề thuần túy học thuật.         Trong điều kiện thông tin không công khai minh bạch, tiêu chuẩn áp dụng khác so với chuẩn mực quốc tế, việc phân tích chính xác thực trạng A trở thành một vấn đề nan giải, “ông nói gà, bà nói vịt”. Hãy thử xét hai ví dụ sau đây để thấy một phần của vấn đề.     So sánh con số bội chi ngân sách mà Việt Nam công bố so với con số ngân hàng Phát triển châu Á ước lượng, ta thấy sai số có lúc lên đến 30%.       Theo cách giải thích của Bộ Tài chính thì có khác biệt là do cách định nghĩa bội chi ngân sách khác nhau, nhưng điều này thật khó hiểu, khi mà trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và chúng ta luôn hô hào cải cách hành chính để đạt đến chuẩn mực quốc tế, thì riêng lĩnh vực thu chi ngân sách – có thể nói là lĩnh vực quản lý vừa quan trọng nhất sát sườn nhất, vừa vô cùng nhạy cảm – thì cách tính toán của chúng ta lại không giống ai.     Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại được ngân hàng Nhà nước công bố ngày 6.12.2011 là 3%, với kịch bản xấu nhất cũng dưới <5% cho cuối năm 2011, trong khi tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch từ tháng 6.2011 đã công bố tỷ lệ nợ xấu là 13% mà phía Việt Nam không có bình luận gì.  Trong khi Việt Nam vẫn khẳng định “kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo”, thì quan điểm của đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế tại Việt Nam Sanjay Kalra lại phản ánh: “Doanh nghiệp Nhà nước đã trở thành gánh nặng cho nền kinh tế. Họ sử dụng phần lớn tín dụng cho nền kinh tế mà giờ đã khan hiếm, đầu tư trong nhiều trường hợp không hiệu quả và nợ của doanh nghiệp Nhà nước đã phủ bóng đen lên hệ thống tài chính và niềm tin thị trường”. Nếu như vậy thì tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước sẽ đi đến đâu? Và như vậy liệu giải pháp nào khắc phục được các yếu kém trong quản lý doanh nghiệp Nhà nước mà ví dụ điển hình là Vinashin?     Điều cũng cần làm rõ là vì sao mà nền kinh tế lại rơi vào trạng thái A, ai đã đưa nền kinh tế đến trạng thái đó và cần làm gì để tránh lặp lại điều này một lần nữa sau khi đã tái cấu trúc.   Những ví dụ như vậy có thể còn được tiếp tục dẫn ra cho nhiều lĩnh vực khác cũng đang cần được đánh giá, xem xét lại.     Cần xem xét tham khảo các ý kiến độc lập trước khi tiến hành     Rất khó mong đợi những người đang hưởng lợi từ trạng thái A sẽ tự phanh phui tất cả những yếu kém của chính mình để phải sửa đổi, vì không ai dễ gì tự vác đá ghè chân mình.     Vì vậy, để thực hiện điều Tổng Bí thư đòi hỏi tại bế mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng là “nhìn thẳng vào sự thật, xem xét vấn đề một cách khách quan, khoa học”, yêu cầu đầu tiên là phải lập ra một nhóm đánh giá độc lập, đưa kết quả đánh giá, phân tích ra công khai, xin ý kiến công luận rộng rãi để trình Trung ương và Quốc hội xem xét.     Nếu không làm được như vậy thì ngay việc đánh giá đúng thực trạng sẽ khó có thể chính xác, việc tìm nguyên nhân và quy trách nhiệm lại càng xa vời hơn.     Trong bối cảnh tranh tối tranh sáng do thiếu những quan điểm nhìn nhận, đánh giá đa chiều, chúng ta đã vội vàng lao vào triển khai tái cấu trúc thì khó lòng đem lại hiệu quả như mong muốn. Đơn cử như gần đây, báo chí đang sôi nổi đưa tin về tái cấu trúc ngân hàng và ba ngân hàng đầu tiên đã được tái cấu trúc với sự tham gia của ngân hàng Đầu tư và Phát triển của Nhà nước là BIDV trong khi chưa hề xác định được những tiêu chí trạng thái B cần đạt được sẽ như thế nào, mô hình quản lý, giám sát sẽ ra sao.     Vẫn phải tiếp tục xác định lại vai trò của Nhà nước     Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến tình hình hiện nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu bế mạc của mình đã chỉ ra khá tường minh: “Nguyên nhân khách quan là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu chậm được khắc phục và do những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp, các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa; quản lý quy hoạch, đầu tư đất đai, tài nguyên, bất động sản…”        Rõ ràng rằng muốn tái cấu trúc ba lĩnh vực ưu tiên, trọng yếu trên, không thể không” tái cấu trúc” toàn bộ bộ máy của Chính phủ, quản lý, chính sách từ Trung ương đến địa phương như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu lên trên đây. Và nhiệm vụ tái cấu trúc này còn khó khăn, nan giải hơn rất nhiều so với ba lĩnh vực trên, trước hết vì nó chưa hề được quyết định một cách tường minh trong các quyết định chính thức.     Để quản lý một nền kinh tế đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Nhà nước cần phải điều chỉnh chức năng của mình, không thể vừa đá bóng lại vừa thổi còi, vừa kinh doanh lại vừa quản lý, vừa ôm đồm những việc sự vụ, vất vả mà vẫn rất quan liêu, xa dân và xa thực tế. Nhà nước phải làm tốt chức năng tổ chức hoạt động nền kinh tế, lái thuyền chứ không thể vừa chèo, vừa lái, có khi ham chèo, bỏ lỏng lái thuyền. Quyền lực Nhà nước phải được giám sát, Chính phủ phải có trách nhiệm giải trình trước dân thì công cuộc tái cơ cấu kinh tế mới đạt được tiến bộ mong muốn.                Trong khi người dân đang phải vật lộn với lạm phát cao 18% – một loại thuế vô hình đánh trên đầu mỗi người dùng tiền Việt Nam -, lãi suất ngân hàng lên đến mức nghẹt thở 26%/năm, hàng hóa tồn kho lên đến mức kỷ lục, tiêu dùng dân cư xuống đến mức thấp nhất trong nhiều năm qua, 48.000 doanh nghiệp đã lâm vào phá sản và hàng chục ngàn doanh nghiệp khác phải tạm thời dừng hoạt động v.v. thì phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 10.10.2011 đã lóe lên một tia hy vọng về lối thoát ra khỏi tình trạng này.  Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét vấn đề một cách khách quan, khoa học, Tổng Bí thư đã xác định yêu cầu: “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh”. Đặc biệt, Tổng Bí thư đã chỉ ra ba lĩnh vực ưu tiên cần tái cơ cấu là: “tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công”, “cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính” và “ tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước”. Tổng Bí thư cũng chỉ rõ phải khắc phục “tư duy nhiệm kỳ” và “lợi ích nhóm” trong đầu tư công trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư. Đó là những định hướng và tư tưởng chính sách quan trọng, đúng đắn rất cần được nghiên cứu cụ thể hóa thành những phương án, kế hoạch hành động để tổ chức thực hiện.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới thương hiệu gốm sứ toàn cầu      Ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty Gốm sứ Minh Long I, nói về những công nghệ mới nhất mà công ty đang áp dụng để sản xuất ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh toàn cầu.    Festival Gốm sứ Việt Nam-Bình Dương 2010 là một trong những lễ hội lớn nhất ở miền Nam hướng đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, nghệ nhân làng nghề gốm sứ của Bình Dương và các địa phương khác trong cả nước, Festival là cơ hội để giới thiệu cho cả nước và bạn bè quốc tế các sản phẩm gốm sứ của cả nước. Nhân dịp này, tạp chí Tia Sáng đã phỏng vấn ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty Gốm sứ Minh Long I, một trong những doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương.  Với tư cách là một đơn vị thành viên của Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương, vai trò của Công ty gốm sứ Minh Long I trong Festival lần này là như thế nào?  Festival Gốm sứ Việt Nam-Bình Dương lần này nhằm tạo ra sân chơi cho các đồng nghiệp, các thành viên trong Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương có dịp biểu diễn các công nghệ sản xuất gốm sứ, triển lãm các sản phẩm độc đáo và khoe tài trên các sản phẩm đó. Đây là dịp để các thành viên trong hiệp hội trưng bày những sản phẩm độc đáo của mình giúp công chúng biết đến họ nhiều hơn và chiêm ngưỡng những sản phẩm đẹp, mới lạ, lần đầu được giới thiệu trên thị trường.   Festival lần này được coi là cây cầu nối nhằm giúp các doanh nghiệp trong hiệp hội có điều kiện tiếp cận với thị trường trong nước, với người tiêu dùng và giới thiệu các sản phẩm trước đây chủ yếu để xuất khẩu tới người tiêu dùng trong nước. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gốm sứ giao lưu, học hỏi và hợp tác với nhau để cùng phát triển. Ngoài ra, Festival cũng là giúp Công ty Minh Long I được giao lưu với các hiệp hội, làng nghề và bạn bè từ những nước khác để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm.  Xin ông cho biết Minh Long I sẽ mang tới Festival Gốm sứ Việt Nam Bình Dương 2010 những sản phẩm gì?   Trong Festival lần này, Công ty Minh Long I sẽ mang tới liên hoan những sản phẩm độc đáo, kỷ lục đã từng được Minh Long giới thiệu vào năm 2009, như chiếc Cúp Lạc Hồng hay Chén Ngọc Thăng Long.   Chiếc Cúp Lạc Hồng chiều cao là 80cm, trọng lượng 20 kg có họa tiết Rồng Phượng (vừa Rồng vừa Tiên ), với dáng vẻ uy nghi của một vị vua, chung quanh có sáu con rồng chầu như lúc vua lâm triều với bá quan văn võ, bên trên có 2 con rồng quấn quýt nhau như sự thương yêu đoàn kết.   Còn Chén Ngọc Thăng Long có trọng lượng 29 kg, cao 80 cm với các họa tiết khắc họa quá trình hình thành Thăng Long – Hà Nội. Trên chiếc chén vẽ hai cảnh. Cảnh Thăng Long 1000 năm trước mô phỏng theo sách vở cha ông để lại, với Hồ Hoàn Kiếm, Hoàng Thành Thăng Long, với tấp nập tàu thuyền và chợ búa; và cảnh Hà Nội ngày nay với Lăng Bác, Chùa Một Cột, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cầu Thê Húc, Phủ Chủ tịch…   Trong liên hoan lần này, Minh Long I cũng giới thiệu Chén Ngọc Văn Lang cao 80 cm nặng 29 kg. Họa tiết hoa văn trên Chén Ngọc Văn Lang, một mặt miêu tả cảnh sinh họat cộng đồng các dân tộc thời vua Hùng dựng nước, với cảnh sản xuất giã gạo, chẻ củi, săn bắt, cảnh sinh hoạt cộng đồng bên nhà sàn gắn liền với văn minh lúa nước thời Đông Sơn… Mặt còn lại của chén là cảnh miền quê Nam bộ với hình ảnh luỹ tre làng, những hình ảnh tuổi thơ hồn nhiên như kéo mo cau, nhảy dây…, tất cả đều gần gũi và diễn tả một cuộc sống an nhàn, thanh bình trong một làng quê êm ả.   Còn Cúp Hồn Việt là chiếc cúp phá kỷ lục với chiều cao 1 mét và nặng 39kg thì miêu tả những danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam như Vịnh Hạ Long, Chùa Một Cột, Hồ Gươm… Trên chiếc cúp cũng có những cảnh sinh hoạt cộng đồng như thiếu nữ đi lễ chùa, những em bé nhảy dây, những hình ảnh xe ngựa …, giúp cho người xem tìm về cội nguồn dân tộc và thấy cả mình trong đó. Ngoài ra, những cánh hoa sen cách điệu, những cành dương xỉ tượng trưng cho lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam cũng sẽ được những họa sĩ tài năng của công ty Minh Long I thể hiện trên các sản phẩm của mình.   Để hòa nhịp cùng chủ đề của Festival: “Gốm sứ – Thế giới sắc màu” và đưa con người về với thiên nhiên, Minh Long dùng sứ Fine China để đem đến Festival bộ sản phẩm màu ngà sang trọng; bộ Ngọc Biến với những sản phẩm hình dáng con sò, con ốc rất dễ thương, rất đẹp và sang trọng, đặc biệt rất trang nhã trên bàn tiệc.  Để có được những sản phẩm đó, ngoài phần mỹ thuật hẳn ông đã áp dụng những công nghệ mới?  Những sản phẩm mới mà Công ty Minh Long I đưa ra tại Festival đều là các sản phẩm có kích thước lớn, được tạo ra từ những công nghệ mang tính tự động hóa cao như công nghệ máy dập bột, máy đúc áp lực cao … Trước khi sản xuất các chuyên gia của công ty phải nghiên cứu kỹ về nguyên vật liệu, cách tạo dáng sản phẩm, nhiệt độ nung để làm sao khi sản phẩm hoàn thành phải không bị nứt, không bị nghiêng ngả. Điều đặc biệt là khi nung ở nhiệt độ cao thân đất phải hóa sứ phải trở nên mềm và có độ co rút cỡ 20 %, kế đến là màu sắc và họa tiết phải làm sao có màu trông tươi thắm, đẹp mắt. Nhờ sử dụng phục chế màu xanh cobal (blue Huế) trên nền men ngọc nên trông rất đẹp. Sản phẩm lại được nung ở nhiệt độ cao, do vậy cảnh trí rất đẹp trông có chiều sâu.   Ông có thể đưa ra một ví dụ về tác động của công nghệ cao đối với sản phẩm của Minh Long.  Công nghệ chiếm phần quan trọng trong việc sản xuất sản phẩm bởi nếu như chúng ta có công nghệ tốt thì chúng ta sẽ tạo ra được những sản phẩm tốt, giá thành hợp lý và sản xuất theo dây chuyền hàng loạt, tạo ra những sản phẩm có độ đồng nhất cao.   Trước đây chúng ta đã biết Minh Long I ứng dụng thành công Công nghệ Nano – tạo ra chất phụ gia cực nhỏ cỡ nanomet để phủ kính bề mặt men trên sản phẩm làm cho sản phẩm trở nên láng bóng, ít trầy xước, khó bám bẩn. Giờ thì công ty đã tạo công nghệ mới với mặt men và thân đất sản phẩm siêu cứng. Khách hàng có thể cảm nhận độ cứng của sản phẩm qua việc đóng được đinh 4 phân lên miếng gỗ bằng miệng thành của sản phẩm mà không để lại vết trầy men dù miệng sản phẩm men rất mỏng, chỉ dầy cỡ 2 ly.  Làm thế nào để Minh Long I làm chủ được những công nghệ này?  Công nghệ mới mà Minh Long I đang áp dụng là Trước đây để có được khuôn đúc áp lực thì công ty phải nhập từ nước ngoài với giá từ 8.000-10.000 euro và mất khoảng thời gian từ 3-4 tháng (nhập công nghệ, lắp đặt, chạy thử…), khuôn dập bột nếu nhập từ nước ngoài phải tốn chi phí khỏang 25.000-28.000 euro.   Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã đầu tư nhiều tỉ đồng, thu hút một số chuyên gia giỏi từng bước hình thành một cơ sở nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ mới. Do vậy đến nay Công ty Minh Long I đã chế tạo được sản phẩm thay thế các máy móc nhập ngoại với chi phí và nguyên vật liệu trong nước, giá thành chỉ vào khoảng chưa tới một nửa, cỡ 3.000-5.000 euro cho khuôn đúc áp lực và 5.000-8.000 euro với khuôn dập bột. Bên cạnh đó rút ngắn được thời gian lắp ráp, vận hành và chất lượng của các sản phẩm này hoàn toàn tương đương với hàng ngoại nhập. Từ đó rút ngắn được thời gian sản xuất sản phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng.  So sánh về trình độ công nghệ sản xuất gốm sứ hiện nay, chúng ta đang ở mức nào so với các quốc gia có truyền thống sản xuất gốm sứ?  Riêng với công ty Minh Long, chúng tôi có thể hãnh diện vì công ty đã áp dụng được các công nghệ cao vào loại hiện đại trên thế giới vào sản xuất. Còn công nghệ sản xuất gốm sứ Việt Nam, nhất là ở các làng nghề truyền thống, nhìn chung còn ở trình độ thấp.  Chính phủ vừa ban hành danh mục một số sản phẩm công nghệ cao được ưu tiên đầu tư, trong đó có gốm sứ dân dụng và công nghiệp. Ông mong muốn nhận được sự ưu đãi gì?   Tôi hy vọng sẽ được sự trợ giúp của Bộ KH&CN và các Bộ, ngành có liên quan trong việc hình thành một trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới để các doanh nghiệp đỡ mất thì giờ, công sức tìm kiếm học hỏi và cùng góp phần với Minh Long tạo dựng được một số thương hiệu gốm sứ nổi tiếng có tính toàn cầu.      Xin cám ơn ông.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới việc tìm hạt nhân “lạ”      Bạn đã bao giờ tự hỏi mặt trời tạo ra năng lượng mà chúng tỏa ra hàng ngày như thế nào và cách các nguyên tố khác bên cạnh hydro được hình thành như thế nào trong vũ trụ của chúng ta? Có lẽ người ta biết đó là kết quả của các phản ứng tổng hợp hạt nhân, nơi bốn hạt nhân của hydro hợp nhất cùng nhau để tạo ra một hạt nhân helium.         Giáo sư Nilmani Mathur của Khoa Vật lý lý thuyết (TIFR). Nguồn: TIFR  Nhiều quá trình tổng hợp hạt nhân như thế có thể là do sự tồn tại của hoạt động này, trước tiên ở các deuteron bền, vốn được tạo ra từ một proton và một neutron. Với việc chứng minh điều này một cách sâu sắc hơn, một nghiên cứu cho thấy một deuteron bao gồm 6 hạt quark nhẹ. Thú vị hơn, phản ứng mạnh giữa các hạt quark, vốn đem đến sự bền vững deuteron, cho phép những kết hợp sáu hạt quark theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến việc hình thành của nhiều hạt nhân như deuteron có thể xảy ra. Dẫu sao, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể quan sát được không nhiều hạt nhân như vậy, dẫu cho họ đã thực hiện rất nhiều những nghiên cứu về lý thuyết và tìm kiếm trong thực nghiệm.  Tất cả những điều này có thể thay đổi với một nghiên cứu đáng chú ý mới “Deuteron like heavy dibaryons from Lattice Quantum Chromodynamics” do các nhà vật lý của Viện nghiên cứu Khoa học cơ bản Tata (TIFR) xuất bản trên Physics Review Letters. Nghiên cứu này đã sử dụng việc tính toán mạng sắc động lực học lượng tử (lattice quantum chromodynamics QCD), lý thuyết cơ bản của các tương tác mạnh, một dự đoán được xác định một cách rõ ràng sự tồn tại của các hạt nhân như deuterton khác. Sử dụng cơ sở tính toán của Sáng kiến Lý thuyết Gauge Ấn Độ (ILGTI), giáo sư Nilmani Mathur và postdoc Parikshit Junnarkar tại Khoa Vật lý lý thuyết (TIFR) đã dự đoán một bộ các hạt nhân “lạ”, chưa có trong Bảng tuần hoàn. Các khối lượng của các hạt nhân lạ này đã được tính toán một cách chính xác.  Các hạt hạ nguyên tử mới này có thể được tạo ra cả sáu hạt quark nặng (quark đẹp và quark dưới) hoặc các quark nặng và quark lạ. Chúng bền trong quá trình phân rã điện từ mạnh nhưng – không như deuteron – chúng có thể phân rã qua những tương tác yếu. Thật đáng ngạc nhiên, họ đã thấy tính bền của các hạt nhân tăng lên khi chúng trở nên nặng hơn. Các dự đoán có thể hỗ trợ thêm quá trình khám phá các hạt hạ nguyên tử mới này tại các phòng thí nghiệm.  Điều này cũng mở ra sự có thể của sự tồn tại của nhiều hạt nhân lạ khác, vốn có thể được hình thành thông qua quá trình nóng chảy của các hạt baryon nặng, tương tự như sự hình thành của các hạt nhân của các nguyên tố trong Bảng tuần hoàn. Trong nhiều phản ứng hạt nhân, các hạt nhân như các deuteron có thể đóng vai trò tốt như các deuteron trong phản ứng tổng hợp hạt nhân. Sự hình thành của các hạt hạ nguyên tử mới cũng tăng khả năng về sự tương tự mức quark trong tổng hợp hạt nhân đã được thảo luận trong một công trình trên Nature [Nature 551, 89 (2017)]. Sự hình thành của một số trạng thái hạt thông qua phản ứng tổng hợp hạt nhân là kết quả của trạng thái giãn nở ở mức lớn tới 300 MeV/phản ứng – một khả năng thú vị cho việc tạo ra năng lượng trong tương lai.  Dự đoán về các hạt hạ nguyên tử mới, đặc biệt với nhiều hơn ba hạt quark, thông qua các tính toán những nguyên tắc đầu tiên đòi hỏi một sự kết hợp phức tạp giữa lý thuyết và tính toán hiệu năng cao. Nó không chỉ đòi hỏi một hiểu biết rất sâu sắc về các vấn đề lý thuyết trường lượng tử mà còn cả sự sẵn sàng của các cơ sở tính toán quy mô lớn. Trên thực tế một số cơ sở tính toán khoa học lớn trên thế giới đang được các nhà nghiên cứu về gauge mạng sử dụng, như những nhà nghiên cứu tại TIFR, những người đang cố gắng giải quyết vấn đề bí ẩn của các tương tác mạnh trong vũ trụ của chúng ta thông qua nghiên cứu của họ bên trong thế giới femto (ví dụ trong quy mô một phần triệu tỷ của một mét). Các phương pháp Mạng sắc động lực lượng tử có thể đóng vai trò cốt lõi để hiểu về vật chất trong các điều kiện nhiệt độ cao và đậm đặc tương tự như những vật chất trong những giai đoạn sớm của vũ trụ sau Big Bang.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-deuteron-like-heavy-dibaryonsa-exotic-nuclei.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Huyền thoại về ăn mặn có hại      Muối có thể gây bệnh – khi người ta ăn quá nhiều hay quá ít muối. Tuy nhiên chính xác thì ăn bao nhiêu muối thì có lợi cho sức khỏe?    Mọi người có nên cố gắng ăn càng ít muối càng tốt không? Trên thực tế, lợi ích của muối đối với những người khỏe mạnh vẫn chưa được chứng minh. Ngay cả với người bị huyết áp cao cũng có kết quả đáng ngạc nhiên. Một chế độ ăn đặc biệt ít muối thậm chí có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe.   Đối với một số người, khi ăn muốn gia giảm chút mắm muối là điều cần thiết, cũng như ăn bánh mì phải có bơ.  Loại khoáng sản quan trọng này có thời từng được ví như vàng, ngày nay không chỉ mang ý nghĩa thưởng thức mà còn gắn liền với sự cắn rứt ở một số người. Trong những năm gần đây chúng ta thường nghe, thường đọc về tác hại của muối đối với sức khỏe, muối gây áp huyết cao từ đó dẫn đến tử vong sớm vì gây tổn hại cho tim vv…Theo cảnh báo của Hiệp hội Dinh dưỡng Đức (DGE), một người không nên tiêu thụ quá 6 gam muối mỗi ngày. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo không nên dùng hơn 5 gam mỗi ngày.  Khuyến cáo mà nhiều người coi là lời khuyên của chuyên gia có cơ sở khoa học lại đang gây nhiều tranh cãi trong chính giới khoa học. Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã đặt câu hỏi về luận điểm muối không tốt cho sức khỏe. Các công trình nghiên cứu mới thậm chí còn ủng hộ một luận điểm phản bác: những người ăn nhiều muối có thể sống lâu hơn so với những người theo chế độ ăn quá nhạt.  Đây là kết luận được nhóm của Franz Messerli, Phòng khám Tim mạch  tại Trung tâm Tim mạch và Mạch máu Đại học Thụy Sĩ ở Bern đưa ra. Cùng với một nhóm nghiên cứu quốc tế, ông đã so sánh mức tiêu thụ muối trung bình ở 181 quốc gia với tuổi thọ và tỷ lệ tử vong chung của dân số vào năm ngoái. Kết quả được công bố trên Tạp chí Tim mạch Châu Âu: Ở những quốc gia mà người dân ăn rất mặn, tuổi thọ trung bình cao hơn so với những người ăn nhạt, cạnh đó họ có chú ý đến một số chỉ tiêu quan trọng khác như tổng sản phẩm quốc nội và chỉ số cơ thể-khối lượng (Body-Mass). Kết quả cũng được khẳng định lại lần nữa khi các nhà khoa học thu hẹp phân tích của họ để tập trung vào 46 quốc gia có thu nhập cao nhất.       Kết quả này cũng phù hợp với một nghiên cứu lớn tiến hành tại nhiều quốc gia trong đó chú ý đến thói quen ăn uống và bệnh tật ở 102.000 người thuộc 21 nước. Trong nghiên cứu PURE, được thực hiện bởi nhóm do nhà dịch tễ học nổi tiếng Salim Yusuf tại Đại học McMaster ở Canada phụ trách, các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu nước tiểu, từ đó tính lượng muối mà mỗi người tiêu thụ và sau đó theo dõi sức khỏe của các đối tượng tham gia thử nghiệm trong gần 4 năm. Theo nghiên cứu khổng lồ này, kết quả được công bố trong thời gian từ năm 2014 đến 2019 cho thấy, chế độ ăn ít muối dường như nguy hiểm hơn cho sức khỏe so với lượng muối mà người Đức thường tiêu thụ (khoảng 8-9gram mỗi ngày, vẫn bị coi là nhiều hơn so với khuyến cáo của WHO).  Những người sử dụng bình quân mỗi ngày từ 7,5 đến 12,5 gam muối thì ít bị nguy cơ nhất. Tỷ lệ tử vong chung ở nhóm người này cũng thấp nhất. Còn khi sử dụng dưới 7,5 gram, rủi ro tăng lên theo chiều đồ thị rất dốc. Nguy cơ cũng tăng đối với nhóm sử dụng trên 12,5 gram muối mỗi ngày, nhưng đồ thị bằng phẳng hơn.   Kết quả của nghiên cứu PURE tương ứng với một loạt các nghiên cứu dài hạn hơn và các phân tích tổng hợp  cũng cho thấy mối quan hệ rủi ro giữa tiêu thụ muối và sức khỏe. Điều đó có nghĩa là: quá nhiều muối cũng không tốt, nhưng quá ít cũng không tốt. Vì vậy, từ lâu, người ta có thể kết luận từ dữ liệu cũ rằng lượng muối vừa phải là tốt nhất và việc giảm chỉ có ý nghĩa đối với những người có lượng muối cực cao (hơn 12 gam mỗi ngày).  Một bức tranh tương tự xuất hiện từ một nghiên cứu mới từ Vương quốc Anh, trong đó gần 400.000 người tham gia đã được theo dõi trong khoảng thời gian sáu năm. Những người tiêu thụ 8 đến 9 gram muối mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh tim và tuần hoàn thấp nhất; dưới 6 gram nguy cơ bắt đầu tăng lên.  Tất nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học như vậy chỉ có thể chứng minh các mối quan hệ thống kê. Các nghiên cứu này không cung cấp được bất kỳ bằng chứng nào về việc liệu tiêu thụ không đủ muối có thực sự là nguyên nhân gây ra cái chết của những người được kiểm tra hay không. Nhưng các nghiên cứu này nêu lên những câu hỏi quan trọng. Kết quả này chạm đến việc thảo luận lại về những ngưỡng cảnh báo của WHO về lượng muối tiêu thụ hằng ngày.      Trên thực tế, tác dụng tăng huyết áp của muối rất khác nhau ở mỗi người và phụ thuộc vào nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng bao gồm yếu tố tuổi tác, huyết áp ban đầu, hút thuốc và thừa cân. Con người ta ăn bao nhiêu và ăn như thế nào cũng có một vai trò quan trọng.      Sở dĩ có khuyến nghị này vì một số nghiên cứu cho thấy tiêu thụ muối ăn tăng bất thường gây nguy cơ cao. Cạnh đó có bằng chứng cho thấy những người có áp huyết trung bình nguy cơ tử vong sẽ thấp hơn nếu giảm tiêu thụ muối.  Từ lâu người ta đã biết những người thích ăn mặn thường có nguy cơ bị huyết áp cao so với những người khác. Điều này được đề cập lần đầu sau khi có nghiên cứu intersalt tiến hành năm 1988, thí nghiệm này có sự tham gia của trên 10.000 người phân bố trên khắp thế giới. Từ đó mối liên quan giữa muối với huyết áp cao hay được đề cập và xác nhận. Và vì áp huyết cao là một yếu tố rủi ro gây bệnh tim mạch  cho nên không có gì lạ khi cho rằng tiêu thụ nhiều muối dẫn đến tăng cường bệnh tim mạch và ngược lại nếu giảm ăn mặn thì có thể giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch.  Tuy nhiên, trên thực tế, tác dụng tăng huyết áp của muối rất khác nhau ở mỗi người và phụ thuộc vào nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng bao gồm yếu tố tuổi tác, huyết áp ban đầu, hút thuốc và thừa cân. Con người ta ăn bao nhiêu và ăn như thế nào cũng có  một vai trò quan trọng.  Ngoài ra còn có yếu tố di truyền, yếu tố này góp phần quyết định về phản ứng của muối đối với cao huyết áp. Ước tính có khoảng 60% dân số không nhạy cảm với muối; huyết áp của họ hầu như không hoặc không bị ảnh hưởng bởi lượng muối mà họ tiêu thụ.    Một sai lầm có ý nghĩa quyết định trong các khuyến nghị là ở cách tiếp cận rất một chiều: Người ta cho rằng ăn ít muối chẳng có ảnh hưởng gì ngoài việc giảm huyết áp như mong muốn và không có bất kỳ tác dụng phụ bất lợi nào.   Và phân tích của cơ quan Cochrane được công bố tháng 12 năm ngoái đã làm rõ sai lầm trong tư duy này.   Nhận thấy đối với những người khỏe mạnh có áp huyết bình thường thì việc hạn chế ăn muối trong thực tế không có tác dụng gì và ngay cả đối với những người bị áp huyết cao hiệu quả cũng chỉ rất nhỏ.   Tuy nhiên việc giảm ăn muối ở những người khỏe mạnh cũng gây các tác động phụ không mong muốn. Theo phân tích của Cochrane nó làm tăng nồng độ các hormone gây tăng huyết áp như adrenaline, norepinephrine và aldosterone ở những người hạn chế ăn mặn. Rõ ràng, cơ thể tự bảo vệ mình bằng phản ứng căng thẳng chống lại việc hạ huyết áp do thiếu muối để duy trì chức năng của hệ tuần hoàn. Lượng mỡ trong máu cũng tăng do giảm muối, có thể cũng là hậu quả của phản ứng căng thẳng. Các nhà khoa học của Cochrane đã kết luận từ các giá trị thu được rằng các tác dụng phụ bất lợi thậm chí còn rõ rệt hơn cả việc hạ huyết áp mong muốn.  Có điều người ta không hoàn toàn hiểu rõ từ cơ sở nào mà các cơ quan như WHO và DGE tiếp tục khuyến nghị ăn nhạt mặc dù không có bằng chứng về tác dụng của nó.   Hiện tại trên thế giới vẫn có tới 96 nước vận động toàn dân thực hiện chế độ giảm tiêu thụ muối theo khuyến nghị của WHO.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus230601477/Ist-Salz-wirklich-so-ungesund-Die-ueberraschende-Antwort-neuer-Studien.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Huyện trưởng bị nấc      Huyện trưởng có tật là hay bị nấc, mà đã nấc là nấc không dừng. Nếu là một người dân bình thường thì chả ai coi nấc là một chuyện lớn, nhưng huyện trưởng mà nấc thì vấn đề trở thành nghiêm trọng rồi. Huyện trưởng có những cuộc họp không bao giờ kết thúc, có những bài nói khi họp không bao giờ hết, nay đang phát biểu mà cứ nấc liên tục thì chẳng khác gì làm trò đùa cho người ta và trực tiếp ảnh hưởng đến công tác và hình tượng của huyện trưởng rồi, vì vậy ông ta quyết định đến bệnh viện.    Quan phụ mẫu thân tự hạ cố, tất nhiên là lãnh đạo bệnh viện huyện đâu dám coi thường, bí thư đảng ủy vội pha cà phê mời thuốc, viện trưởng thân tự khám bệnh, toàn kê các loại thuốc quý. Thế nhưng tất cả các loại thuộc trị bệnh đều dùng hết rồi mà bệnh nấc của huyện trưởng không những không khỏi mà ngày còn nặng hơn.  Làm thế nào bây giờ đây? Huyện trưởng nhớ lại ngày còn nhỏ, mỗi khi mình bị nấc là mẹ thường tìm cách kể những câu chuyện lạ để dọa cho sợ, ví dụ như: “Này, chân con đang dẫm lên một con rắn đấy!”. Thế là ông hoảng sợ không nấc nữa. Huyện trưởng nghĩ đến cách tìm người dọa mình. Tìm mẹ rõ ràng là không được rồi, bà cụ đã mất từ lâu, còn tìm người khác lại không thích hợp, vì vậy đành phải về nhà nhờ vợ.  Bà vợ vui lòng nhận cái nhiệm vụ vinh quang đó, nhưng không biết bắt đầu như thế nào vì đó là một người đàn bà thiếu sức tưởng tượng và sức sáng tạo. Trong lúc gấp gáp, đành phải dùng lại kinh nghiệm đã có của bà mẹ chồng: “Này, chân ông đang dẫm lên một con rắn đấy!” Nghe xong, huyện trưởng giận dữ nói: “Trò hề… tôi đường đường là một huyện trưởng mà lại sợ rắn à? Bà phải tìm cái gì tôi sợ nhất mà nói mới được”.  Bà vợ nghĩ một hồi, rồi nói: “Bố ốm rồi!”. Huyện trưởng nói: “Bố ốm thì có gì đáng sợ, bảo lái xe đưa ông cụ đến bệnh viên là xong”. Bà vợ lại nghĩ một hồi, rồi nói: “Con trai thi tốt nghiệp, có hai môn không đủ điểm, hiệu trưởng đã quyết định con nó phải lưu ban!”. Huyện trưởng nói: “Chả giống tý nào…, chả giống tý nào…, làm gì có lão hiệu trưởng nào dám to gan như vậy!”.  Bà vợ quyết không chịu thua, nghĩ đi nghĩ lại, liền quyết định lấy mình ra thử nghiệm. Thế là, tối hôm sau khi huyện trưởng vừa về đến nhà, bà ta đã buồn rầu nói: “Hôm nay, đơn vị tôi tổ chức khám bệnh riêng cho nữ công nhân viên, bác sĩ nói, tử cung của tôi có một cái u, mà lại là u ác, tôi sống chẳng được mấy ngày nữa đâu!”.  “Thật à? Thế… thì… thì…”. Tiếng nấc của huyện trưởng lần này giống như khóc nhưng càng giống như cười hơn. Ông ta hiện nay đang có bồ, bà vợ biết rõ việc này, nhưng chỉ cần ông ta chưa nói đến chuyện ly hôn là bà ta chưa muốn làm to chuyện, bởi vì nếu không khéo là mất luôn thân phận “phu nhân huyện trưởng”, hơn nữa, thường ngày ông ta đối xử với bà cũng chẳng đến nỗi nào. Ai ngờ hôm nay, khi nói đến cảnh mình sắp lâm vào chỗ tuyệt vọng mà ông ta không hề có chút động lòng nên bà vợ huyện trưởng cảm thấy đau lòng quá, khóc rống lên.  Huyện trưởng vội giải thích: “Tôi nói là… là… điều  này bất hạnh quá! Bà biết rõ, hiện nay tôi nói chuyện thường là lỗi không diễn đạt đầy đủ ý mà, làm sao… làm sao… tôi không lo?”  Bà vợ trong lòng biết rõ là chưa thể gây sự với ông chồng, nhưng nỗi uất ức trong bụng vẫn chưa nguôi. Bà ra căm hận nghĩ: “Được rồi, ta sẽ nói vào chỗ chí mạng của ông, đừng có nghĩ là ta không trị nổi ông!”.  Hôm đó, huyện trưởng đang họp thì bà vợ đột ngột gọi điện tới: “Ông về nhà ngay, ở nhà xảy ra việc lớn rồi!”.  Huyện trưởng vội về nhà, thấy đồ đạc trong nhà bị lục tung. Ông ta đang định hỏi tình hình thì bà vợ đầu tóc rối bù, từ trong phòng chạy bổ ra: “Hỏng hết rồi, ông ơi! Ông vừa đi thì người của Cục chống tham nhũng đến, lục tìm lấy hết toàn bộ sổ tiết kiện, cổ phiếu… mang đi rồi!”.  Bà vợ chưa nói hết lời, hai chân huyện trưởng đã mềm nhũn ngã lăn xuống đất, hơi thở chỉ còn thoi thóp, hai mắt trợn trừng. Bà vợ vội vàng nắm chân nắn tay, xoa đầu đánh gió. Một lúc sau, ông ta mới tỉnh lại được. Bà vợ vội nói: “Sao ông lại sợ thế? Ông quên là tôi chữa bệnh cho ông à…”  Huyện trưởng không nói một lời, cho ngay bà vợ một cái bạt tai: “Thế bà không biết thế nào là nặng, nhẹ à?”.  Tuy vậy, điều may mắn đã xảy ra, từ hôm đó, huyện trưởng phát hiện thấy bệnh nấc của mình đã khỏi hẳn.  Lưu Đạo Tồn (Trung Quốc)  Dương Quốc Anh (dịch)  Theo “Cố sự hội” năm 2002      Author                Quản trị        
__label__tiasang Huyết áp cao khiến não nhanh già hơn      Theo nghiên cứu mới của Đại học Quốc gia Úc, những người có huyết áp cao có nguy cơ bị lão hóa não bộ nhanh hơn .    Nghiên cứu cũng cho thấy huyết áp tối ưu giúp não bộ trẻ hơn ít nhất sáu tháng so với tuổi thực. Các nhà nghiên cứu hiện đang kêu gọi cập nhật các hướng dẫn y tế quốc gia để phản ánh những phát hiện quan trọng này.  Kết quả nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Frontiers in Aging Neuroscience, cho thấy những người bị cao huyết áp có bộ não già hơn, do đó kém khỏe mạnh hơn, tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và sa sút trí tuệ.    Điều đáng chú là những người có huyết áp nằm trong giới hạn bình thường, nhưng ở mức cao cũng có não bộ già hơn và có nguy cơ gặp các vấn đề về sức khỏe.  Do vậy, “suy nghĩ rằng não bộ trở nên suy yếu vì chứng cao huyết áp ở người lớn tuổi là không hoàn toàn đúng”, GS. Nicolas Cherbuin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Lão hóa, Y tế và Sức khỏe ở Đại học Quốc gia Úc giải thích. “Nó bắt đầu sớm hơn ở cả những người có huyết áp bình thường”. Huyết áp bình thường ở mức 120/80, trong đó huyết áp ở mức khỏe mạnh tối ưu là 11/70.  Nghiên cứu mới được thực hiện sau một nghiên cứu quốc tế lớn cho thấy số người trên 30 tuổi mắc bệnh cao huyết áp đã tăng gấp đôi trên toàn cầu.  GS. Walter Abhayaratna, bác sĩ tim mạch và đồng tác giả nghiên cứu, cho biết nếu chúng ta duy trì mức huyết áp tối ưu, não bộ của chúng ta sẽ trẻ hơn và khỏe hơn khi chúng ta bước sang tuổi già.  “Điều quan trọng là chúng ta nên thay đổi lối sống và chế độ ăn uống từ khi còn trẻ để ngăn huyết áp tăng cao, chứ đừng để đến khi huyết áp gặp vấn đề”, ông nói. “So với một người có huyết áp cao 135/85, một người có huyết áp tối ưu là 110/70 sẽ có bộ não trẻ hơn sáu tháng khi họ bước vào tuổi trung niên”.  Nhóm nghiên cứu đã hợp tác với các đồng nghiệp ở Úc, New Zealand và Đức để kiểm tra hơn 2.000 ảnh quét não bộ của 686 người khỏe mạnh từ 44 đến 76 tuổi. Những người tham gia sẽ được đo huyết áp bốn lần trong khoảng thời gian 12 năm. Dữ liệu về huyết áp và quét não được dùng để xác định độ tuổi não của một người – một chỉ số về sức khỏe tổng thể của não bộ.  Giáo sư Cherbuin, tác giả dẫn đầu nghiên cứu cho biết phát hiện này nhấn mạnh rằng cần chú ý đến những người trẻ ở độ tuổi 20 và 30 vì tác động của huyết áp cao lên não bộ đã tiềm ẩn trong thời gian dài trước khi họ bước sang tuổi trung niên.  “Thông qua việc phát hiện tác động của huyết áp cao tới sức khỏe của não bộ của những người ở độ tuổi từ 40 trở lên, chúng tôi khẳng định rằng tác động của huyết áp cao đã hình thành trong nhiều năm và có thể bắt đầu ở độ tuổi 20. Điều này có nghĩa là não bộ của những người trẻ tuổi đã dễ bị tổn thương”, ông nói.  Giáo sư Abhayaratna nhận định kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả mọi người, kể cả những người trẻ tuổi, cần phải kiểm tra huyết áp thường xuyên. “Nếu mức huyết áp tăng cao, bạn nên nói chuyện với bác sĩ về các cách giảm huyết áp, bao gồm cả việc điều chỉnh các lối sống như chế độ ăn uống và hoạt động thể chất”.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2021-10-optimal-blood-pressure-brains-age.html  https://www.studyfinds.org/brain-age-healthy-blood-pressure/    Author                .        
__label__tiasang Huyết tương dây rốn có khả năng chống lão hóa      Một loại protein được tìm thấy trong huyết tương ở dây rốn của trẻ sơ sinh có khả năng cải thiện chức năng não ở những con chuột già. Đây là lần đầu một loại protein của người được chứng minh có tác động như vậy. Phát hiện nói trên được công bố trên tờ Nature hôm 19/4.      Máu từ dây rốn trẻ sơ sinh có thể có tác động trẻ hóa đối với những con chuột già như máu chuột non.  Hàng thập kỷ nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu tác động của máu chuột non đối với sự lão hóa ở loài này thông qua một kỹ thuật gọi là sống ghép (parabiosis), trong đó một con chuột già được khâu ghép lại với con chuột non hơn để chúng chia sẻ hệ thống tuần hoàn.  Cho đến nay, các thuộc tính trẻ hóa của “máu non” chỉ được chứng minh khi chuyển từ chuột qua chuột. Tuy nhiên, công trình này đã truyền cảm hứng cho những thử nghiệm lâm sàng do ít nhất hai công ty đang tiến hành.  Một trong những thử nghiệm lâm sàng này được tài trợ bởi một công ty mà nhà khoa học thần kinh Tony Wyss-Coray ở Đại học Stanford, California, đang tham gia – ông là chủ tịch hội đồng tư vấn khoa học của công ty này. Trong công trình của mình, ông và nhà thần kinh học Joseph Castellano, cũng ở Đại học Stanford, bắt đầu thử nghiệm huyết tương thu từ dây rốn của trẻ sơ sinh. Mục đích của họ là tìm hiểu xem máu ở trẻ sơ sinh có thể tác động đến các triệu chứng lão hóa như thế nào.  Tác dụng huyền thoại  Truyền thứ huyết tương nói trên của người vào mạch của những con chuột già, các nhà khoa học phát hiện ra rằng, việc này đã giúp cải thiện khả năng định hướng của chúng trong mê cung và khả năng học cách tránh những điểm trong lồng có thể gây ra những cú điện giật đau đớn. Khi các nhà nghiên cứu giải phẫu não chuột, họ thấy rằng các tế bào trong vùng hồi cá ngựa (hippocampus) – liên quan đến khả năng học tập và trí nhớ – biểu lộ các gene khiến các tế bào thần kinh hình thành nhiều liên kết hơn trong não. Điều này không xảy ra ở những con chuột được điều trị bằng máu từ những người hiến máu lớn tuổi.  Các nhà nghiên cứu sau đó đã so sánh 66 protein được tìm thấy trong huyết tương ở dây rốn với các protein trong huyết tương từ người lớn tuổi, cũng như với các protein được nhận biết trong những thí nghiệm sống ghép của chuột. Họ tìm thấy một số “ứng viên” tiềm năng và tiêm từng loại một vào tĩnh mạch của những con chuột già. Nhóm nghiên cứu sau đó đã tiến hành những thí nghiệm về trí nhớ với các con chuột.  Chỉ một trong số các protein này, TIMP2, đã cải thiện hoạt động của chuột. Tuy nhiên, TIMP2 không tái tạo được các tế bào não bị mất trong quá trình lão hóa bình thường. Tiêm huyết tương từ dây rốn người mà không có TIMP2 thì không tác động gì đến trí nhớ.  Các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu TIMP2, được biết là có tham gia vào việc duy trì cấu trúc tế bào và mô, tác động lên bộ nhớ như thế nào. Và mặc dù nó được biểu lộ trong não của chuột non, nhưng trước đây các nhà khoa học chưa bao giờ liên hệ TIMP2 với khả năng học tập hay ghi nhớ. Wyss-Coray ngờ rằng protein này có chức năng như một “chất điều chỉnh chính” của các gene liên quan đến sự phát triển của các tế bào và các mạch máu, và việc tăng mức độ của TIMP2 ảnh hưởng đến nhiều chuỗi phản ứng hóa sinh.  Hộp đen  “Tôi nghĩ đây là một bài báo tuyệt vời,” Michal Schwartz, nhà miễn dịch học thần kinh ở Viện Khoa học Weizmann, Rehovot, Israel, nói. Và bà lấy làm hứng thú rằng các nhà khoa học có thể rút ra tác động đối với những con chuột mà không cần truyền huyết tương vào não. Bà nghi ngờ rằng TIMP2 đã làm biến đổi hệ miễn dịch hoặc quá trình chuyển hóa theo cách có thể tác động gián tiếp đến não.  Lee Rubin, nhà nghiên cứu tế bào gốc ở ĐH Harvard, Cambridge, Massachusetts, cũng là thành viên hội đồng khoa học ở cùng công ty với Wyss-Coray, đồng ý với Schwartz. Năm 2014,  ông và phòng thí nghiệm của mình phát hiện ra rằng máu chuột non có mức của một loại protein gọi là GDF11 cao hơn, và việc tiêm GDF11 vào cơ thể sẽ kích thích tăng trưởng mạch máu trong não. Họ cũng phát hiện ra rằng GDF11 không bao giờ đi vào não, và nghi ngờ TIMP2 có thể cũng chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến não bằng cách tác động lên các hệ thống trên toàn cơ thể.  Wyss-Coray and Castellano nói, ưu tiên tiếp theo của họ là xác định TIMP2 tác động đến não như thế nào. Hơn thế, Wyss-Coray còn muốn biết liệu protein nào có tác động đặc biệt đến quá trình lão hóa hay sức khỏe tổng quan của tế bào.  “Đó có phần là một thí nghiệm kiểu hộp đen, bởi họ không biết điều gì đang xảy ra,” Philip Landfield, nhà khoa học thần kinh ở ĐH Kentucky, Lexington, nhận xét. Khía cạnh hứa hẹn nhất của thí nghiệm này, theo ông, là tiềm năng chuyển nó thành một liệu pháp.  Việc truyền huyết tương thu được từ dây rốn hiến tặng có thể là một cách điều trị tiềm năng đối với các bệnh liên quan đến tuổi tác, trong đó có Alzheimer. Ngoài ra, một ngày nào đó, các bệnh nhân cao tuổi có thể được truyền những hỗn hợp của các protein như GDF-11 và TIMP2, hoặc các loại thuốc mô phỏng tác dụng của chúng. Nhưng Wyss-Coray nói rằng, việc phát triển những loại thuốc như thế sẽ mất nhiều năm hơn so với việc điều trị bằng giải pháp huyết thanh. “Ở tầm khái quát, nghiên cứu mới này thú vị bởi nó củng cố quan điểm cho rằng có những yếu tố ‘có lợi’ chỉ có ở máu trẻ sơ sinh.”  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/young-human-blood-makes-old-mice-smarter-1.21848    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy Lạp ra đi sẽ có nguy cơ gây tác động lan tới Trung Quốc      Nếu Hy Lạp ra khỏi Eurozone vào thời điểm này có thể tạo ra thiệt hại dây chuyền, theo nhận định của Richard Clarida ở Tập đoàn Quản trị đầu tư Thái Bình Dương. Các nhà kinh tế từ Ngân hàng Merrill Lynch và JP Morgan Chase cũng tán đồng với nhìn nhận này. Trong kịch bản xấu nhất, nó có thể gây vỡ nợ ở một số chính phủ Châu Âu, kèm theo tình trạng tháo tiền khỏi các ngân hàng bị thoát vốn, vỡ tín dụng và những cuộc suy thoái khiến đồng euro càng mất giá thêm.      Thị trường thương mại và tài chính toàn cầu có sự gắn kết liên thông với nhau, khiến những thiệt hại không chỉ giới hạn ở khu vực sử dụng đồng euro. JPMorgan Chase ước đoán rằng nền kinh tế các nước khối đồng Euro cứ giảm mức tăng trưởng 1% thì kinh tế các khu vực khác sẽ giảm 0.7% điểm. Các nước xuất khẩu như Anh và Trung Quốc sẽ bị thiệt hại, và sản xuất của Nga có thể phải đối mặt với giá dầu bị rớt. Trong khi đó, tuy tình hình Mỹ có thể chịu ít thiệt hại hơn, nhưng cũng phải chịu mức tác động tương tự như ảnh hưởng lan truyền trên thị trường tài chính sau vụ sụp đổ của Lehman Brothers Holdings Inc.  Kịch bản cơ bản?   Các nhà kinh tế ở Citigroup Inc., trước đây từng dự đoán khả năng Hy Lạp sẽ rời bỏ khối đồng Euro lên tới 75%, nay đã coi đây là “kịch bản cơ bản”. Các chiến lược gia ở BofA Merrill Lynch dự đoán rằng tiếp theo khối đồng tiền chung châu Âu sẽ suy thoái, GDP giảm ít nhất 4% , giống như trước đây phải chịu sụt giảm sau sự sụp đổ của Lehman năm 2008.  “Việc để Hy Lạp ra đi giống như thừa nhận rằng việc trở thành thành viên của khối đồng Euro không có nghĩa là vĩnh viễn, và điều đó có thể trở thành thảm họa với một số nước”, nhà kinh tế Laurence Boone, trưởng nhóm kinh tế học châu Âu tại BofA Merrill Lynch London nhận định. Kịch bản chủ yếu của bà đưa ra là Hy Lạp vẫn tiếp tục là một thành viên của liên minh châu Âu vì cái giá phải trả cho việc để Hy Lạp ra đi là quá đắt.  Tác động tới thương mại  Ngoài khối EU, các đối tác thương mại lớn như Anh, Thụy sĩ và các nền kinh tế đang lên bao gồm cả Romania có thể bị tác động bởi giảm cầu. Đồng tiền các nước này có thể tăng giá so với đồng Euro làm sức cạnh tranh xuất khẩu bị giảm. Ngân hàng đầu tư lớn nhất của Trung Quốc nói rằng mức tăng trưởng của nước này sẽ rơi vào mức tăng trưởng thấp nhất trong 2 thập kỷ gần đây.  Vượt ra ngoài châu Âu  Các kênh thương mại, tài chính và sự sụt giảm lòng tin của nhà đầu tư có thể gây tác động lan ra ngoài châu Âu, theo Joseph Lupton, một nhà kinh tế của JPMorgan Chase ở New York. Ông tính toán nhập khẩu của EU chiếm tới 5% GDP toàn cầu. Và các nước EU có thể là nơi đầu tiên chịu ảnh hưởng từ việc Hy Lạp ra đi, do một nửa lượng xuất khẩu trong khối này là giữa các quốc gia trong khối với nhau. Dữ liệu tuần trước đã cho thấy sự suy giảm lòng tin trong các nhà đầu tư ở Đức trong khi sản lượng sản xuất và dịch vụ của châu Âu bị sụt giảm.  Nguy cơ với Trung Quốc  Các nhà kinh tế của công ty Tài chính toàn cầu Trung Quốc (CICC) trình bày trong một báo cáo cuối tuần qua cho biết: sự ra đi của Hy Lạp khỏi khối đồng Euro có thể làm cho mức tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giảm xuống còn 6.4% trong năm nay, so với mức năm ngoái là 9.2%, nếu như tăng trưởng kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng ở mức độ bằng một nửa của thời kỳ khủng hoảng tài chính những năm 2008 – 2009 và giới chính trị gia không có những biện pháp cứu vãn kịp thời.  Trung Quốc có giá trị xuất khẩu khoảng 19% riêng ở thị trường EU, đã bất ngờ bị giảm vào tháng tư và có thể giảm thêm 3.9% trong năm nay nếu như Hy Lạp ra đi, trong khi đó có thể tăng được 10% nếu điều đó không xảy ra, theo CICC.  Khủng hoảng của khối đồng Euro có thể có nghĩa là một “sẽ tái diễn một cuộc khủng hoảng trầm trọng đối với Hong Kong, Singapore, Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc”, theo báo cáo của Robert Prior-Wandesforde, giám đốc Trung tâm kinh tế học châu Á  của Credit Suisse đặt tại Singapore.  Những nền kinh tế này đang nắm giữ vai trò nhà cung cấp trên toàn cầu và tăng trưởng đều dựa phần lớn vào thương mại. Prior-Wandesforde đã tính toán lượng xuất khẩu vào khối Euro chiếm tới hơn 5% tổng GDP của Hong Kong, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Đài Loan. Có hơn 6% tổng nợ ngân hàng nội địa ở Singapore, Hong Kong, Ấn Độ và Philippine là từ khu vực đồng Euro.  Lượng cầu của châu Âu giảm đi có thể cũng gây khó khăn cho các nước châu Á khác bao gồm cả Singapore, Thái Lan và Hàn Quốc, vốn là những nền kinh tế rất quan trọng cho chuỗi cung cấp toàn cầu. Doanh số bán hàng xuất khẩu chiếm tới một nửa GDP của các nước này.  Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://www.bloomberg.com/news/2012-05-29/greek-exit-aftershocks-risk-reaching-china.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang IAEA đánh giá sự phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân của Uganda      Một nhóm chuyên gia Đánh giá Cơ sở Hạ tầng Hạt nhân Tích hợp (INIR) của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) vừa kết thúc nhiệm vụ kéo dài 8 ngày tới Uganda để xem xét phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước cho một chương trình điện hạt nhân.      Nhóm INIR bao gồm 4 chuyên gia quốc tế đến từ Algeria, Morocco, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ, cũng với 7 nhân viên của IAEA cùng xem xét tình trạng của 19 vấn đề cơ sở hạ tầng hạt nhân ở Uganda bằng cách áp dụng Giai đoạn 1 trong tài liệu Phương pháp tiếp cận các mốc quan trọng của IAEA. Bộ Năng lượng và Phát triển Khoáng sản (MEMD) của Uganda chủ trì theo yêu cầu của chính phủ.    Nhóm nghiên cứu kết luận Chính phủ Uganda cam kết phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết cho điện hạt nhân theo cách tiếp cận phối hợp với tất cả các bên liên quan. Uganda đã soạn thảo chính sách năng lượng bao gồm năng lượng hạt nhân và thành lập Tổ chức thực hiện các chương trình năng lượng hạt nhân (NEPIO). NEPIO sẽ điều phối các nỗ lực giữa các tổ chức và cá nhân có vai trò trong quá trình này. NEPIO của Uganda đã hoàn thành một số nghiên cứu về các vấn đề cơ sở hạ tầng khác nhau và soạn thảo Lộ trình điện hạt nhân cho Uganda nhằm đưa ra các khuyến nghị cho các quyết định quan trọng về phát triển cơ sở hạ tầng của điện hạt nhân trong tương lai ngắn, trung và dài hạn.    Nhóm INIR đã đưa ra các khuyến nghị và đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ Uganda đạt được tiến bộ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng hạt nhân và sẵn sàng xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trong nước. Trước chuyến công tác, Uganda đã đệ trình một báo cáo tự đánh giá và các tài liệu hỗ trợ về tất cả các vấn đề cơ sở hạ tầng cho IAEA.    Ông Mehmet Ceyhan chuyên gia đến từ IAEA cho biết: “Nhiệm vụ INIR được thực hiện trong bầu không khí hợp tác, cởi mở với sự tham gia của các bộ, ban, ngành khác nhau cũng như người dân đến từ các khu vực lân cận gần địa điểm đặt nhà máy điện hạt nhân. Khi Uganda chuẩn bị dùng năng lượng hạt nhân để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, điều quan trọng là Chính phủ phải tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết cho một chương trình điện hạt nhân an toàn, bảo mật và hòa bình”.    Nhóm INIR nhấn mạnh các lĩnh vực mà các hành động tiếp theo sẽ mang lại lợi ích cho Uganda đồng thời chỉ ra rằng “Lộ trình điện hạt nhân cho Uganda” cần được cập nhật và hoàn thiện bằng cách thực hiện các nghiên cứu sâu hơn nhằm tạo cơ sở cho các quyết định và cam kết cho chương trình điện hạt nhân. Nhóm nghiên cứu cũng xác định các thông lệ tốt sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia khác đang phát triển điện hạt nhân.    Hoan nghênh kết quả của nhiệm vụ, Tiến sĩ Ruth Nankabirwa Ssentamu, Bộ trưởng Bộ Phát triển Năng lượng và Khoáng sản cho biết: “Chính phủ Uganda nhận thức rõ tầm quan trọng của năng lượng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nhằm cải thiện cuộc sống của người dân. Điện hạt nhân dự kiến ​​sẽ đóng góp vào hỗn hợp điện vào năm 2031. Khi đất nước thực hiện Kế hoạch Phát triển Quốc gia III, Chính phủ đã chủ động đánh giá mức độ sẵn sàng đối với việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên bằng cách sử dụng Phương pháp Tiếp cận Các mốc quan trọng của IAEA. Nhiệm vụ Đánh giá Cơ sở Hạ tầng Hạt nhân Tích hợp này sẽ hỗ trợ Uganda xem xét hiện địa điểm phát triển cơ sở hạ tầng hạt nhân và hỗ trợ xác định những khu vực cần phải làm việc thêm”.    Trần Thiện Phương Anh tổng hợp  Nguồn: https://www.neimagazine.com/news/newsiaea-reviews-ugandas-nuclear-power-infrastructure-development–9317052  https://commonwealthchamber.com/iaea-reviews-ugandas-infrastructure-development-for-nuclear-power/      Author                .        
__label__tiasang IBM thúc đẩy Đức trong cuộc chạy đua máy tính lượng tử      Mới đây, IBM đã tiết lộ về một trong những máy tính lượng tử quyền lực nhất châu Âu nằm ở Đức. Họ mong muốn thúc đẩy những nỗ lực của quốc gia này trong cuộc chạy đua cho những gì được coi là công nghệ quan trọng của tương lai.      Các máy tính lượng tử sử dụng các hạt hạ nguyên tử để vượt qua những giới hạn của vật lý truyền thống và thực hiện các phép tính tại mức tốc độ siêu cao hơn bất cứ siêu máy tính nào hiện có. Mặc dù vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được giải quyết trong lĩnh vực vật lý lượng tử, các công ty vẫn đang ngày một hi vọng vào việc khai thác các máy tính lượng tử cho phát triển các vật liệu mới, thiết kế thuốc hay những ứng dụng trí tuệ nhân tạo khác.  Hệ máy tính mới của IBM được coi là máy tính lượng tử đầu tiên ngoài Mĩ, nơi đang có hơn 30 chiếc máy tính mà người ta gọi là máy tính lượng tử. Đó được đặt tại một cơ sở ở Ehningen, trực thuộc Hội Fraunhofer. tổ chức nghiên cứu khoa học Đức.  Phát biểu online tại buổi ra mắt, thủ tướng Đức Angela Merkel cho rằng máy tính lượng tử sẽ đóng một vai trò quan trọng trong những nỗ lực của quôc gia này để đạt được “uy quyền công nghệ và uy quyền số” cũng như đem lại động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. “Tất nhiên, chúng ta không đơn độc trong một thế giới nhiều ý tưởng như hiện nay, bà nói. “Mĩ và Trung Quốc đều có những khoản đầu tư lớn vào công nghệ lượng tử”.  Bà Merkel nói, chính quyền Đức mới gần đây đã quyết địn tăng thêm đầu tư cho nghiên cứu về máy tính lượng tử lên tới hai tỉ euro (tương đương 2,4 tỉ USD) cho năm năm tới.  “Phần còn lại của thế giới không hề ngủ quên trong lĩnh vực này”, bà nhấn mạnh với hiểu biết của một nhà hóa lượng tử ở Đông Đức trước khi chuyển sang làm chính trị.  IBM cho biết, hệ máy tính ở Ehningen có thể điều khiển 27 bit lượng tử (qubit) một cách đồng thời. Tuy nhiên, mục tiêu của họ không dừng ở  mốc này. Martin Jetter, chủ tịch công ty này ở châu Âu, Trung Đông và châu Phi, cho rằng IBM hướng tới mục tiêu có được một máy tính lượng tử có năng lực điều khiển nhiều hơn 1.000 qubit vào năm 2023.  Tô Vân tổng hợp:  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-quantum-germany-boost-ibm.html  https://www.dw.com/en/ibm-unveils-first-quantum-computer-in-germany/a-57909494    Author                Quản trị        
__label__tiasang ICDREC chuyển giao phần mềm cho trường ĐH      Ngày 27/4, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo  thiết kế vi mạch (ICDREC) – ĐH Quốc gia TPHCM đã tổ chức buổi lễ kí  kết hợp tác “Triển khai thực hiện dự án RFID, tài trợ và huấn luyện  phần mềm thiết kế vi mạch” cho các trường đại học, viện nghiên cứu tại  Hà Nội.    Đây là hoạt động nằm trong dự án “Thiết kế và chế tạo chip, thẻ, đầu đọc RFID và xây dựng hệ thống ứng dụng” do Trung tâm ICDREC và Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn phối hợp thực hiện. Hai đơn vị này sẽ tài trợ và huấn luyện phần mềm thiết kế vi mạch cũng như triển khai hợp tác thực hiện dự án thiết kế vi mạch với các trường đại học, học viện phía Bắc, bao gồm: ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Công nghệ thuộc ĐHQGHN, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.  Tại buổi lễ, Trung tâm ICDREC đã kí kết hợp tác nghiên cứu khoa học về lĩnh vực vi mạch với các trường đại học, học viện khu vực phía Bắc. Lễ ký kết này có ý nghĩa hết sức đặc biệt vì qua đó những sản phẩm cụ thể cho từng trường học đã được đặt hàng và kỳ vọng sẽ thúc đẩy việc xây dựng, phát triển các trung tâm thiết kế vi mạch tại các trường đại học, viện nghiên cứu…  Với các hợp đồng nghiên cứu khoa học mà Trung tâm ICDREC đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu sẽ góp phần thúc đẩy việc xây dựng, phát triển các trung tâm thiết kế vi mạch tại các trường, viện nghiên cứu cũng như đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực thiết kế vi mạch.  Hiện nay các quốc gia có ngành công nghiệp bán dẫn phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Đài Loan,…đều có rất nhiều trung tâm, doanh nghiệp thiết kế vi mạch. Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ có một trung tâm. Vì vậy đây là một hoạt động tích cực để tạo ra được các trung tâm mới mà trước mắt là các trường đại học, học viện nghiên cứu có được phần mềm, được đào tạo để triển khai và hy vọng sẽ trở thành trung tâm như ICDREC.      Author                Quản trị        
__label__tiasang ICDREC: Những kết quả nghiên cứu đã thành sản phẩm thương mại      Chip SigmaK3 8 bit được công bố tháng 1/2008 là sự kiện khó quên đối với Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Vi mạch (ICDREC) trực thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Sau hơn một năm nghiên cứu, nỗ lực của các kỹ sư thiết kế của Trung tâm đã kết tinh thành sản phẩm cụ thể. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của ICDREC trong hành trình chinh phục thế giới vi mạch ngày càng “nhỏ, nhanh, và rẻ”.      Bắt đầu bằng chip 8 bit  Anh Ngô Đức Hoàng, giám đốc Trung tâm, vẫn nhớ thời điểm 2007 khi anh về Trung tâm, khi đó ICDREC đã thành lập được hai năm nhưng chỉ còn khoảng 3 cán bộ. Phần lớn anh em kỹ sư thiết kế đều đã bỏ ra ngoài do lương không đủ sống. “Người mới đến” tận dụng mối quan hệ với các chuyên gia trong lĩnh vực vi mạch ở Việt Nam và thế giới để tìm ra hướng đi cho Trung tâm.    Khó khăn lớn nhất vẫn là ngành công nghiệp bán dẫn ở Việt Nam gần như không tồn tại. Mọi việc đều phải bắt đầu từ đầu. ICDREC quyết định nghiên cứu thiết kế con chip 8 bit mặc dù khi đó nhiều người cho rằng mất thời gian vì thế giới đã thiết kế được con chip 64 bit. Nhưng kỹ sư của ICDREC khi đó cho rằng: “Chúng tôi vốn xuất phát thấp, cần phải đi chậm những bước đầu. Một khi đã nắm được công nghệ thiết kế chip 8 bit, việc thiết kế những chip bit cao hơn sẽ không quá phức tạp”.   Sau một thời gian vừa làm vừa học hỏi, bản thiết kế con chip 8 bit đầu tiên được hoàn thiện và gửi tới nhà máy sản xuất vi mạch ở Đài Loan. Được hỏi khi gửi bản thiết kế đi sản xuất như vậy có làm giá thành con chip cao lên, anh Hoàng giải thích: “Giá thành sản phẩm, tốc độ xử lý, chức năng của sản phẩm đều phụ thuộc vào người thiết kế”. Theo nhận xét của anh, “người Việt Nam ngoài tố chất cần cù, chăm chỉ còn có tố chất tư duy logic tốt. Chính tư duy logic tốt là nhân tố chính giúp các kỹ sư Việt Nam có thể nắm bắt và xử lý thông tin mạch lạc, từ đó hỗ trợ cho việc giải quyết các bài toán trong lĩnh vực thiết kế vi mạch”.  Trên thực tế, khi thăm dò thị trường, ICDREC nhận thấy các nhà sản xuất điện tử không quan tâm tới con chip do ai sản xuất vì hầu hết các con chip đều chỉ do một số nhà máy trên thế giới sản xuất. Họ chỉ quan tâm tới giá và chất lượng của các con chip. Những con chip 8 bit của ICDREC thiết kế với giá cạnh tranh đã được một số nhà sản xuất trong nước sử dụng trong chế tạo các linh kiện điện tử không quá phức tạp như máy lạnh, máy giặt, quang báo…                  Thành công đầu tiên với chip 8 bit đã khích lệ những kỹ sư vi mạch phần lớn còn rất trẻ của ICDREC. Tuy nhiên, một vài khó khăn của giai đoạn đầu vẫn chưa tháo gỡ được, trong đó phải kể đến thiếu nguồn nhân lực.  Đào tạo kỹ sư thiết kế vi mạch  Lý giải về tình hình thiếu nhân lực của ngành thiết kế vi mạch, anh Hoàng nói, “Lý do chính của việc thiếu hụt lực lượng này nằm ở các chương trình đào tạo về lĩnh vực điện tử, phần lớn chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho sinh viên kiến thức làm sao để sử dụng vi mạch chứ chưa dạy sinh viên cách làm ra vi mạch. Ngoài ra, chúng ta cũng đang thiếu hụt những giảng viên có trình độ và am hiểu lĩnh vực này để có thể truyền tải các kiến thức mới về công nghệ vi mạch đến các bạn sinh viên”.  Để khắc phục tình trạng này, anh Hoàng cho biết, “sắp tới ICDREC sẽ chú trọng đào tạo nguồn nhân lực là sinh viên thông qua các hợp tác chuyển giao công nghệ đào tạo vi mạch cho giảng viên của các trường đại học để mở rộng cộng đồng nghiên cứu – thiết kế của lĩnh vực này, mở các khóa đào tạo ngắn hạn theo từng chủ đề từ cơ bản đến chuyên sâu dành cho sinh viên muốn tham gia nghiên cứu về công nghệ vi mạch. Đồng thời, chúng tôi cũng nhắm đến các đơn đặt hàng của các công ty nhằm nâng cao kiến thức cho nhân viên của họ”. Bên cạnh đó, ICDREC đang từng bước hợp tác với các trường đại học, học viện ở Việt Nam để cho ra đời các chương trình đào tạo theo nhiều kênh giảng dạy khác nhau như học theo phương pháp truyền thông hoặc đào tạo từ xa qua mạng Internet.         * Thiết kế và gửi sản xuất thành công chip SigmaK3 ở công nghệ 0.25nm-chip vi xử lý đầu tiên của Việt Nam sau hơn một năm nghiên cứu và thiết kế. Tháng 01 năm 2008 công bố Chip vi xử lý SigmaK3 được thiết kế để ứng dụng cho các thiết bị điện tử dân dụng như máy lạnh, máy giặt, các thiết bị y tế,…và mở ra khả năng cho việc thay thế các chip ngoại nhập bằng chip do người Việt Nam thiết kế. Đầu năm 2009, chip vi xử lý 8-bit SigmaK3 do ICDREC thiết kế đã vinh dự được bình chọn là “Một trong mười sự kiện khoa học công nghệ Việt Nam 2008”.              * Ngày 01 tháng 12 năm 2007, thực hiện đề tài NCKH cấp Nhà nước thuộc chương trình KC01 “Nghiên cứu, phát triển phương pháp thiết kế và chế tạo chip vi xử lý kiểu RISC”, mục tiêu là thiết kế chip vi xử lý RISC 32-bit đầu tiên của Việt Nam. Đầu năm 2009, ICDREC nhận được 02 đề tài độc lập cấp Nhà nước từ Bộ KH&CN: “Nghiên cứu thiết kế và xây dựng hệ thống các lõi IP ngoại vi cho các dòng chip 8-bit và 32 –bit của Việt Nam”; “Nghiên cứu và thiết kế lõi IP điều khiển DDR3 (DDR3 Controller IP)”.              * Xây dựng phòng thí nghiệm thiết kế vi mạch từ sự tài trợ của Mentor Graphics và AMCC trị giá 20 triệu USD.              * Ra mắt chip VN1632 (32 bit) vào cuối năm nay.        Những chương trình đào tạo tại ICDREC cũng giúp Trung tâm mở rộng hơn về quy mô. Từ số lượng nhân viên chỉ vỏn vẹn khoảng 10 người vào năm 2007, hiện nay Trung tâm có 80 kỹ sư nghiên cứu, thiết kế. Lương của kỹ sư tại Trung tâm của anh, tuy không cao so với mức lương của các công ty vi mạch nước ngoài tại Việt Nam nhưng so với mặt bằng chung của trường đại học, là sự nỗ lực của ban giám đốc để giữ chân những kỹ sư giỏi. Anh Hoàng chia sẻ, “Một trong những thách thức hiện nay của tôi là làm thế nào để tạo được môi trường làm việc chuyên nghiệp và tốt nhất để cho đội ngũ cán bộ trẻ phát huy được tối đa óc sáng tạo trong công việc”. Anh mong muốn những kỹ sư trẻ của Trung tâm có cơ hội được đi học, được “cọ xát” tại những trung tâm vi mạch uy tín của thế giới. Muốn thế, Trung tâm phải mở rộng hơn nữa hoạt động của mình…   Thành lập công ty spin-off  Theo một chuyên gia ngành bán dẫn của Hàn Quốc trong chuyến thăm ICDREC, để Việt Nam bắt đầu cho ngành công nghiệp bán dẫn thì cần có 4 yếu tố: phải huy động được nguồn vốn; đầu tư cho R&D và đào tạo; thu hút được nguồn kỹ sư tài năng của các nước khác và cuối cùng là phải có sự hỗ trợ từ Chính phủ trong tiếp cận thị trường trong nước.   Cũng vì lẽ đó, ICDREC có kế hoạch thành lập công ty spin-off chú trọng hơn tới việc thương mại sản phẩm. Mô hình công ty spin-off cũng giúp Trung tâm huy động vốn cho các dự án nghiên cứu, sản xuất dễ dàng hơn, sẽ giúp tránh được tình trạng “chỉ thực hiện được các đề tài mang tính chất nhỏ lẻ, dàn trải” do thiếu kinh phí như hiện nay.   Thời gian gần đây, từ các kết quả nghiên cứu bước đầu về vi mạch của Việt Nam, nhận thấy được tiềm năng của thị trường, một số công ty vi mạch nước ngoài đã chọn Việt Nam để thành lập trung tâm R&D như Intel, Renesas, Applied Micro, Splendid,… Các công ty của Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm đầu tư vào lĩnh vực này, đặc biệt Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn đang xin đầu tư nhà máy chế tạo vi mạch để kết hợp với các dự án thiết kế vi mạch tạo thành một dây chuyền từ đầu đến cuối. Đây sẽ là một giai đoạn mới cho nền vi mạch Việt Nam. Anh Hoàng cho biết, “trong 3 năm tới chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành một sản phẩm điện tử có tính thương mại cao cho thị trường Việt Nam. Và với mục tiêu dài hạn, chúng tôi mong muốn đưa ICDREC trở thành một trong những trung tâm xuất sắc về lĩnh vực thiết kế vi mạch và có vị thế trong khu vực Đông Nam Á”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang IKEA – Từ hiểu đến thành công      “Con người ta thường không biết họ muốn gì cho đến khi bạn chỉ ra cho họ thấy”  A lot of times, people don’t know what they want until you show it to them – Steve Jobs.      Nội thất phẳng của IKEA. Nguồn: Inhabitat.com  Khởi nghiệp tinh gọn (Lean startup) không phải là một phương pháp mới được phát minh hay một trào lưu mang tính thời thượng, bản chất nó là cách tiếp cận được khái quát hóa qua nhiều thành công. Tư duy thiết kế (design thinking) vốn cũng không mới, cùng với những hiểu biết về con người, đặt con người vào trọng tâm của đổi mới sáng tạo và quan trọng hơn là đi trước những nhu cầu mà chính con người chưa gọi tên ra được đã giúp các doanh nghiệp thành công. Thay vì so sánh và phân tích điểm giống và khác nhau giữa Khởi nghiệp tinh gọn và Tư duy thiết kế, nếu sử dụng hai lăng kính này để phân tích một số thành công, có thể bạn sẽ tìm ra những hướng đi đổi mới sáng tạo cho chính doanh nghiệp mình.  Có nhiều người nói Steve Jobs chẳng bao giờ chịu lắng nghe  khách hàng của mình. Chúng tôi thì không cho là vậy, tôi chỉ thấy do Steve Jobs đã quá hiểu con người. Iphone đời đầu ra mắt đánh dấu sự chuyển mình của một thời đại điện thoại thông minh với màn hình cảm ứng chạm đa điểm. Thời kỳ Iphone bùng nổ và thành công – đó chẳng phải  ngẫu nhiên, Steve Jobs hiểu con người vốn thích được vuốt ve, sờ chạm.    Tư duy thiết kế    Khởi nghiệp tinh gọn.  Hiểu con người, hiểu khách hàng luôn là lợi thế bất tận giúp con đường đi đến thành công của các doanh nghiệp được rút ngắn đi một phần. Câu chuyện ngày hôm nay chẳng phải về Steve Jobs hay về Iphone, tôi đem tới một tập đoàn bán lẻ đồ nội thất lớn nhất thế giới – cũng là bậc thầy về sự am hiểu con người, đã và đang thay đổi cách mua sắm của chúng ta – IKEA.  Kiểm chứng thị trường, tận dụng nguồn lực sẵn có và điều chỉnh một cách tinh gọn  Năm 17 tuổi, Ingvar Kamprad cho ra đời một cửa hàng tiện lợi bán “thập cẩm” các loại đồ từ bút viết, ví tiền cho đến khung ảnh, khăn trải bàn hay là bán từ đồng hồ trang sức cho đến túi ni-lon, nhưng đặc điểm chung của những thứ đồ này là luôn rẻ hơn giá thị trường.  Nội thất được sản xuất ở địa phương giúp giảm thiểu giá thành sản phẩm nhờ chi phí vận chuyển thấp, Ingvar quyết định tận dụng nguồn lực địa phương – đưa các sản phẩm nội thất trở thành mặt hàng lên kệ trong cửa hàng “thập cẩm” của mình. Chàng thanh niên 20 tuổi tận dụng nguồn lực triệt để đến mức xe giao sữa cũng được Ingvar đem đi để làm xe chở hàng.  Qua giai đoạn thử và kiểm chứng thị trường, khi việc bán nội thất với giá thấp đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho IKEA, Ingvar quyết định cắt bỏ toàn bộ các sản phẩm đang kinh doanh khác và chỉ tập trung vào cải tiến về chất lượng và giá cả sản phẩm đem lại giá trị lớn nhất cho mình. Phải mất đến 5 năm để từ một cửa hàng bán hằng hà sa số các vật dụng cần thiết cho người tiêu dùng trở thành một cửa hàng chuyên bán đồ nội thất. Tuy nhiên, thời điểm các xưởng sản xuất địa phương bắt đầu tẩy chay và phản ứng tiêu cực khi các sản phẩm của họ bị IKEA ép giá thì cũng là lúc IKEA buộc phải bước tới giai đoạn chuyển mình – đó là tự sản xuất đồ nội thất chứ không thể phụ thuộc vào bên thứ ba.  Bắt đầu từ những vấn đề nhỏ nhất  Phải làm thế nào để tự sản xuất mà giá thành vừa hợp lý lại vừa chất lượng đến tay người tiêu dùng?  Đôi khi ý tưởng đến từ một rắc rối cỏn con và ta phải đặt ngược bài toán để giải quyết nó. Câu chuyện bắt nguồn từ chiếc bàn LÖVET (bàn nhỏ nhưng chân cao trong phòng khách) được đem đi vận chuyển lại không thể vừa trong chiếc ô tô vì chân bàn quá cồng kềnh. Người bình thường chỉ việc đổi một chiếc xe khác lớn hơn để vận chuyển nhưng người sáng lập IKEA nghĩ khác và tự hỏi: “Làm thế nào để giảm bớt sự cồng kềnh này đây?”. Đó chính là mầm mống cho sự ra đời của một mô hình nội thất hoàn toàn khác biệt -mô hình nội thất phẳng (mọi vật dụng có thể đóng gói ngăn nắp trong các hộp vuông và hộp chữ nhật)  Nội thất phẳng đã giải quyết được gần như toàn bộ những vướng mắc mà IKEA đang phải đối mặt. Với nội thất phẳng, nhân công để lắp ráp từng chiếc ghế hay mỗi chiếc bàn sẽ được giảm tải, hàng hóa không còn cồng kềnh thì sẽ giảm số lượng xe chở hàng. Chất lượng vẫn được đảm bảo và tất nhiên khi chi phí sản xuất và vận chuyển giảm cũng đồng nghĩa với việc giá thành tới tay người tiêu dùng cũng giảm. Như vậy, với việc đổi mới hoàn toàn mô hình sản xuất và cung ứng nội thất, IKEA thậm chí đã sáng tạo ra những giá trị mới vượt qua cả sự kỳ vọng của khách hàng.  Từ hiểu đi đến thành công  Không một ai có thể phủ nhận IKEA đã và đang thay đổi cách mua hàng của người dùng. Tất cả có thể lý giải bằng chữ “HIỂU”. IKEA hiểu quá rõ tâm lý cơ bản của con người để có thể đánh vào những điểm yếu đó.  Nội thất phẳng là thành công vang dội của IKEA không chỉ bởi chất lượng tốt giá thành phải chăng mà là còn bởi IKEA hiểu con người luôn muốn được tự do chinh phục và sở hữu. Nội thất phẳng giá vừa túi tiền hơn vì không tốn nhân công lắp ráp mà người lắp ráp chính là người mua. Dù việc lắp ráp đồ đạc khiến họ tốn thời gian đến thế nào, bỏ bao nhiêu mồ hôi công sức thì đến khi đã nhìn thấy sản phẩm hoàn thiện người mua vẫn sẽ vô cùng thỏa mãn, phấn khích bởi đó là tự tay họ làm và nó đáng giá.  Thiết kế tư duy thể hiện cả đến các chiến lược marketing, bài trí showroom của IKEA. Thiết kế tại các cửa hàng IKEA chính là đỉnh cao của sự am hiểu về tâm lý khách hàng. Thiết kế lối đi một chiều khiến người mua hàng vào đó luôn có cảm giác nếu không mua món đồ này bây giờ sẽ không quay lại được và bỏ lỡ mất món đồ mình ưng ý. Thiết kế các góc quẹo kích thích sự tò mò từ trong não bộ con người, phía sau góc quẹo kia có gì đó bí hiểm thôi thúc họ đi tiếp và khám phá. Kết quả là vì sợ tiếc nuối nếu không mua bây giờ thì lát nữa sẽ không quay lại lấy được và vì tò mò mà phải đi, đi tiếp, đi hết đường nên khi ra về trên tay ai cũng phải có thêm sản phẩm nào đó của IKEA.  Sự thành công đến từ hiểu con người chắc chắn sẽ không chỉ đúng với Iphone hay IKEA mà chắc chắn sẽ còn đúng với nhiều doanh nghiệp khác. Ở góc độ Khởi nghiệp tinh gọn và Tư duy thiết kế, hiểu con người cũng chính là hiểu về chính mình, hiểu khách hàng, vẽ được chân dung khách hàng và đồng thời vẽ lên cả trải nghiệm khách hàng. Con đường để hiểu con người, hiểu khách hàng không phải đơn giản và dễ dàng nhưng khi đã nắm được câu chuyện của mình cùng tâm lý khách hàng chắc chắn phía cuối đường sẽ có trái ngọt đang chờ.  Tài liệu tham khảo:  http://www.bbc.com/capital/story/20180201-how-ikea-has-changed-the-way-weshop  https://sweden.se/business/ingvar-kamprad-founder-of-ikea/  https://www.ikea.com/ms/en_KR/this-is-ikea/the-ikea-concept/  https://www.ikea.com/ms/en_AU/about_ikea/the_ikea_way/history/1940_1950.html  https://www.independent.co.uk/property/house-and-home/leaders-of-the-flatpack-self-assembly-furniture-is-reinventing-itself-as-clever-sustainable-and-2063284.html       Author                Phạm Thị Mai - Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang IMF: Kinh tế vĩ mô Việt Nam ổn định trở lại      Mạng tin tức châu Á ngày 13/8 dẫn một báo  cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết sự ổn định kinh tế vĩ mô của  Việt Nam đã được phục hồi trong năm qua, nhưng Việt Nam vẫn phải đối mặt  với những rủi ro tiềm ẩn trong những tháng sắp tới.    Theo báo cáo công bố hồi cuối tuần trước của IMF, khu vực xuất khẩu của Việt Nam có dấu hiện tốt, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các công ty trong nước vẫn chưa tìm được một chỗ đứng vững vàng, mặc dù đang được cải thiện.  Cùng ngày, tờ “Wall Street Journal” (Mỹ) cũng đăng bài tường thuật đưa ra nhận xét tương tự. Bài báo nói rằng có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam đã khắc phục được một số vấn đề kinh tế trong thời gian gần đây giữa lúc hầu hết các thị trường mới nổi trong khu vực đang gặp khó khăn vì sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc.  Tờ báo cho biết Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng 5% trong quý 2 năm nay, cao hơn 0,2% so với cùng kỳ năm ngoái.  Các chuyên gia dự báo tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ đạt 5,5% trong năm nay, cao hơn đáng kể so với mức 5,03% của năm 2012.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/Home/IMF-ket-luan-kinh-te-vi-mo-Viet-Nam-on-dinh-tro-lai/20138/211189.vnplus      Author                Quản trị        
__label__tiasang IMF: Kinh tế Việt Nam tiếp tục khó khăn      Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)  tại Việt Nam Sanjay Kalra cho rằng kinh tế năm nay sẽ tiếp tục khó  khăn như năm 2012.    Trình bày tại buổi tọa đàm về các vấn đề tài chính, ngân sách do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức ngày 11-5, ông Kalra nói: “Kinh tế tăng trưởng rất chậm, cầu trong nước suy giảm mạnh. Viễn cảnh kinh tế của Việt Nam năm 2013 cũng tương tự như năm 2012, vốn là năm có tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10 năm qua”.  Đánh giá của ông đưa ra trong bối cảnh IMF vừa hạ mức tăng trưởng dự báo của Việt Nam năm nay còn 5,2% từ mức 5,8% đưa ra trước đây. Đây là mức hạ nhiều nhất, sau Singapore, trong số các nước ASEAN mà IMF đưa ra.  Ông nói: “Nền kinh tế đang phải điều chỉnh lại thấp hơn. Không thể còn thời kỳ tăng trưởng cao như trước. Không thể còn tình trạng thành phố nào cũng xây sân bay, cảng biển. Các dự án công phải được lựa chọn tốt hơn”, ông nói.  Ông Kalra nhận xét, khả năng phục hồi tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tiến trình cải cách kinh tế, song tiến trình này đang rất chậm chạp.  Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch đặt câu hỏi, đầu tư công, sắp xếp ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đâu là ưu tiên mà Việt Nam nên đặt trọng tâm cải cách, theo IMF?  Ông Kalra khẳng định, quan điểm của IMF là phải cải cách ngân hàng, nếu muốn giảm lãi suất. “Tôi cho là phải giảm nợ xấu trong ngân hàng, nó gây ra sự lúng túng, ngân hàng phải báo cáo nợ xấu chính xác”, ông nói.  Ông phàn nàn là không có nhiều thông tin về DNNN. “Bước đầu là phải công khai và cập nhật thông tin của DNNN thì mới có đánh giá đáng tin cậy”, ông nói.  Trưởng đại diện IMF cho rằng, kinh nghiệm của hai cuộc lạm phát vừa qua sẽ dẫn đến việc Chính phủ phải tập trung ổn định kinh tế vĩ mô chứ không phải quay lại con đường mỗi lần nền kinh tế suy giảm thì lại khẩn cấp, vội vàng làm gì đó, ví dụ kích thích tăng trưởng kinh tế một cách không bền vững.  Tiến sĩ Phạm Hồng Sơn, Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế, bình luận rằng, cải cách ở Việt Nam sẽ tốn rất nhiều chi phí, nhưng các chi phí này chưa được tính toán cụ thể.  Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Đinh Văn Nhã đồng tình, và cho biết hiện ngân sách chưa bố trí khoản nào cho cải cách.  Ông Nhã khẳng định là phải khôi phục lại niềm tin cho nhân dân và giới kinh doanh vốn đã suy giảm nghiêm trọng.  Theo IMF, lạm phát chung có chiều hướng giảm. Lạm phát tháng 4-2013 tăng khoảng 6,5% so cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ có xu hướng ổn định trong năm nay.  Bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách dự kiến chỉ khoảng 4% GDP trong năm nay, thấp hơn nhiều so với mức 4,8% GDP mà Quốc hội thông qua.    Author                Quản trị        
__label__tiasang IMF lạc quan hơn về kinh tế toàn cầu      Báo cáo mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra các dự báo lạc quan hơn một chút về triển vọng kinh tế thế giới năm nay so với các dự báo trước đó.    Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới được công bố hôm 17/4, IMF cho biết kinh tế thế giới có thể tăng trưởng 3,5% trong năm nay, trong đó kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,1%, còn kinh tế châu Âu giảm 0.3%. Tất cả các dự báo này đều tốt hơn một chút so với các dự báo của chính IMF hồi tháng Một.  Bên cạnh đó, kinh tế Trung Quốc được dự báo tăng trưởng 8,2%, một tốc độ lành mạnh nhưng giảm so với tốc độ 9,2% hồi năm ngoái. Kinh tế Nhật Bản được dự báo tăng trưởng 2%, so với -0,7% hồi năm ngoái.  Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu trong ngắn hạn là cần thiết, nhưng chính phủ các nước châu Âu nên tập trung vào kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách về lâu dài mà không làm triệt tiêu tăng trưởng kinh tế, IMF nói.  IMF ca ngợi các nhà lãnh đạo ở châu Âu đã huy động được quỹ giải cứu khủng hoảng nợ khổng lồ, đồng thời tiến hành các bước khác để giải quyết cuộc khủng hoảng này. IMF dự báo, 17 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu sẽ ra khỏi suy thoái vào cuối năm nay.  IMF cũng cho rằng khủng hoảng nợ tiếp tục là mối đe dọa lớn nhất đối với kinh tế toàn cầu.  “Với cuộc khủng hoảng [ở châu Âu] đang dần qua và vài tin tức tốt lành về kinh tế Mỹ, một chút lạc quan đã trở lại”, giám đốc kinh tế của IMF Olivier Blanchard nói.   Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới – được đưa ra khi tổ chức có 187 nước thành viên và chị em của nó là Ngân hàng Thế giới (WB) đang chuẩn bị tổ chức hội nghị mùa xuân ở Washington trong tuần này – trình bày tiến triển của kinh tế thế giới từ tháng Một, khi các quan chức IMF cảnh báo kinh tế toàn cầu khó có khả năng phục hồi.  Kể từ đó, các nhà lãnh đạo châu Âu đã cùng nhau xây dựng một kế hoạch nhằm kiềm chế chi tiêu và thâm hụt ngân sách. Các chính phủ mới ở Tây Ban Nha và Ý cam kết sẽ cải tổ và cắt giảm chi tiêu. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã cho các ngân hàng khu vực vay hơn 1 nghìn tỷ USD, giúp hạ chi phí đi vay ở một số nước đang gặp nhiều khó khăn nhất.  Trong khi đó, ở Mỹ, người tiêu dùng đã chi tiêu nhiều hơn, đầu tư vào kinh doanh cũng tăng và thị trường việc làm cho thấy “dấu hiệu của sự sống”, bản báo cáo viết.  Ông Blanchard nói những bước vừa qua nhằm huy động quỹ giải cứu khủng hoảng nợ của châu Âu lên đến 1 nghìn tỷ USD là rất quan trọng, nhưng chỉ việc làm đó không thôi thì chưa đủ để giải quyết khủng hoảng.  Thách thức chủ yếu đối với châu Âu là làm sao cắt giảm thâm hụt ngân sách mà không bóp nghẹt tăng trưởng, ông nói thêm. Điều này càng trở nên khó khăn hơn do giới đầu tư, những người đòi hỏi phải cắt giảm thâm hụt, lại có phản ứng tiêu cực khi những cắt giảm đó dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế.  “Nó giống hệt như anh làm cũng bị chửi mà không làm cũng bị chửi,” ông nói.  Tuy nhiên, “chiến lược đúng đắn vẫn là như trước đây,” ông nói. Các chính phủ cần cắt giảm thâm hụt về ngắn hạn để tạo uy tín. Nhưng chủ yếu họ cần tập trung vào các cam kết giảm chi tiêu về lâu dài và đưa ra các quy định giúp giảm dần thâm hụt theo thời gian, ông nói.  Nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu có thể xấu đi vẫn còn cao, ông nhấn mạnh. Và ngay cả khi nó không xấu đi thì nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Âu vẫn thấp.  IMF cho biết, các chính phủ ở châu Âu, Mỹ, và Nhật Bản đang cắt giảm chi tiêu và tăng thuế nhằm cải thiện tăng trưởng kinh tế. Các ngân hàng, đặc biệt ở châu Âu, đang giảm được nợ, nhưng cũng giảm cho vay, làm chậm lại tăng trưởng.  TT dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang IMF: vị cứu tinh duy nhất cho cuộc khủng hoảng Brazil      Brazil sẽ phải cầu viện đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Các lãnh đạo của quốc gia này càng sớm nhận thức được thực tế khắc nghiệt đó thì thế giới sẽ càng được an toàn hơn.    Cuộc khủng hoảng kép cả về chính trị và kinh tế đã đi đến ngưỡng không thể vãn hồi. Chính phủ đang bị đóng băng. Bộ tài chính đã làm mất lòng tin của các nhà đầu tư trong nước cũng như của các thị trường toàn cầu.   Vòng xoáy nợ nần đang tăng tốc trong khi hầu như không có biện pháp đối phó nào khả dĩ. Không mấy người tin rằng Đảng Công nhân cầm quyền có khả năng – hoặc, trong trường hợp đó, sẵn sàng – thực thi những biện pháp quyết liệt cần thiết để phá vỡ cái bẫy chính sách hiện nay; hầu hết đều cho rằng vào thời điểm muộn màng này, dù cố gắng nhưng Đảng Công nhân khó có thể đáp ứng được nhu cầu cấp thiết trước mắt.  Raul Velloso, cựu thứ trưởng bộ kế hoạch Brazil, cho biết: “Cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra với quy mô lớn, có khả năng đẩy đất nước quay trở lại tình trạng siêu lạm phát. Mọi biến số nợ hiện đều đi chệch hướng. Ngày càng có ít người tin rằng chính phủ có thể quản lý được các khoản nợ của mình. Chúng tôi đang đối mặt với nguy cơ vỡ nợ.” Hiện nay 3/4 ngân sách đang bị vô hiệu hóa và “mắc kẹt” trong các khoản chi trả phúc lợi cũng như các hoạt động giao dịch trong vùng.     Khối nợ đang leo thang tại Brazil. Nguồn: Ngân hàng nhà nước Brazil   Trong khi đó, tổng thống Dilma Rousseff đang phải đối mặt với nhiều cáo buộc; nhưng dù bà thắng hay thua trong những tháng tới, quốc hội Brazil cũng đã trở nên quá phân tán và giận dữ trước thực tế thâm hụt ngân sách đang ở mức trên 10% GDP.   Arminio Fraga, cựu thống đốc ngân hàng trung ương Brazil, cho biết: “Tôi có cảm tưởng rằng không ai muốn thực thi bất kỳ biện pháp nào táo bạo hay muốn có những sự hy sinh đánh đổi nào cả. Brazil lâm vào tình cảnh hiện nay là do mở rộng tín dụng và tài chính quá mức, đến khi giật mình nhìn lại thì đất nước đã bị tê liệt với một mô hình kinh tế vô phương cứu chữa. Đây là một bi kịch về kinh tế.”   Ông Fraga cho rằng sự sụp đổ này của Brazil là một điều hết sức đáng buồn, bởi đất nước dường như đã đi đúng hướng dưới thời tổng thống Luis Inacio da Silva, hay Lula như người dân trong nước vẫn gọi.   Tuy nhiên, trong một diễn biến mới đây, ngay cả Lula cũng trở thành đối tượng bị điều tra hình sự trong vụ bê bối rửa tiền Lava Jato. Ban đầu, đây chỉ là một cuộc điều tra về việc các lãnh đạo hãng dầu mỏ quốc doanh khổng lồ Petrbras nhận hối lộ để giao những hợp đồng đã được thổi phồng giá cho các hãng xây dựng rồi dùng số tiền thu về “cống nạp” cho Đảng Công nhân; nhưng trong một cuộc thanh trừng quy mô lớn, cuộc điều tra này đã nhanh chóng mở rộng phạm vi liên đới tới rất nhiều nhân vật chính trị hàng đầu ở Brazil.   Xét từ một góc độ, vụ án này là minh chứng ấn tượng cho thấy sự độc lập của pháp luật, nhưng không ai biết cuộc điều tra sẽ diễn tiến ra sao nên người dân đang dần tỏ ra mệt mỏi. Tuần trước bộ trưởng bộ tư pháp Brazil đã từ chức do những bất mãn trước việc Đảng Công nhân gây sức ép để buộc ông phải kiểm soát vụ việc này.   Rui Falcão, chủ tịch Đảng Công nhân, nhận xét một cách hài hước rằng các quyền cơ bản của người dân hiện đang bị xâm phạm bởi các công tố viên nằm ngoài vòng pháp luật. Ông nói: “Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thấy người ta bãi bỏ quyền bảo hộ nhân thân. Nền dân chủ của đất nước đang bị đe dọa rồi.”    Dilma đã để mất cơ hội cuối cùng giành lại niềm tin của thị trường khi cánh tay phải của bà, Joaquim Levy, bỏ cuộc sau một năm ở cương vị bộ trưởng tài chính do không chịu nổi tình trạng trì trệ trong nội các.   Tình trạng mất niềm tin vào chính phủ Brazil đã trở nên trầm trọng tới mức chính phủ của bà Dilma sẵn sàng lấy lại niềm tin bằng mọi giá. Và IMF là con đường thoát thân duy nhất trong thế bế tắc hiện nay.   Sự cần thiết của IMF không xuất phát từ việc Brazil cần phải được “bơm” một nguồn tiền gấp rút để có thể duy trì hoạt động – rõ ràng tình huống này chưa đến mức ấy; vấn đề nằm ở chỗ quốc gia này đang bị kẹt trong một vòng xoáy luẩn quẩn và vòng xoáy này khó có cơ dừng lại nếu không có được cái uy tín “đi vay” từ một tổ chức quốc tế.       Brazil đang phải trả lãi suất ngày càng cao cho các khoản nợ của mình    Ernesto Talvi, giám đốc chương trình Brookings-CERES khu vực châu Mỹ Latin, cho hay IMF là giải pháp “đỡ tồi tệ” nhất trong số những giải pháp tồi tệ mà Brazil có được hiện nay.   “Những phương án còn lại là gia tăng lạm phát để làm giảm giá trị thực chất của các khoản nợ, hoặc để kinh tế vận động theo chiều xoáy trôn ốc ngược để qua đó tái cơ cấu nợ,” ông nói.   Đảng Công nhân không muốn “khom lưng quỳ gối” trước IMF – trong con mắt của những người theo cánh tả ở châu Mỹ Latin, IMF là tổ chức hậu thuẫn nhiệt tình nhất cho “chủ nghĩa tư bản tân tự do” và là “tay sai” của các ngân hàng trên toàn cầu. Cách đây 18 tháng, Dilma khẳng định: “IMF sẽ không bao giờ có thể kiểm soát nền chính trị Brazil lần nữa.” Nhưng trong tình hình hiện nay, có thể bà sẽ phải rút lại lời nói của mình.   Theo ông Talvi, Brazil không còn lựa chọn nào khác. Ông nói: “Trong chính trị, có những lúc cái bất khả lại là điều không thể tránh khỏi. Chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ phải nhận ra rằng IMF là lối thoát hiểm duy nhất.”   Đối với thế giới, đây là một vấn đề cấp thiết. Brazil hiện là nền kinh tế lớn nhất châu Mỹ Latin nên cơn “đổ bệnh” của quốc gia này có thể sẽ lây lan sang các thị trường mới nổi khác và gây ra một cuộc biến động có hệ thống về tài chính.    “Các nhà đầu tư đã cảm thấy hoảng sợ rồi. Bất kỳ điều gì xảy đến với Brazil đều có thể sẽ tạo nên một cuộc “tháo chạy” khỏi các thị trường mới nổi,” ông Talvi cho biết.   Theo ông Talvi, cần có một gói cứu trợ sớm từ IMF nhằm đáp ứng các nhu cầu vay mượn của Brazil trong hai năm – giải pháp này sẽ giúp ngăn chặn cuộc khủng hoảng leo thang đồng thời tạo ra một chu kỳ mới tích cực hơn giúp hạ thấp các khoản nợ và tránh được nguy cơ vỡ nợ.   Nhưng Brazil khó lòng mà vật lộn qua được giai đoạn này. Tình trạng lạm phát đình đốn đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Tỉ lệ lạm phát đã tăng lên gần 11%, mức cao kỷ lục trong 13 năm qua, nhưng ngân hàng trung ương không thể làm gì bởi nền kinh tế đang ở vào trạng thái rơi tự do. Năm ngoái, sản lượng kinh tế giảm 3,8%. Theo dự đoán của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năm nay sản lượng có thể giảm thêm 4% nữa.   Chỉ tính riêng trong hai tháng trở lại đây, doanh số bán ô tô đã giảm tới 31%. Thị trường lao động ở Brazil tưởng chừng như có sức “đề kháng” tốt hơn nhưng hiện cũng đang bất ngờ sụp đổ; tính trung bình mỗi tháng Brazil đang mất đi 150.000 việc làm.   Với những ai theo dõi cuộc khủng hoảng trong khu vực đồng euro, tình trạng hiện nay ở Brazil không có gì quá ngạc nhiên. Đây là cuộc suy thoái nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực tới cơ sở thuế. Chỉ áp dụng một biện pháp duy nhất là thắt chặt tài chính sẽ gây ra nhiều hệ quả hơn nữa, bởi nó sẽ đẩy nhanh đà trượt dốc của nền kinh tế và gia tăng mức độ thâm hụt của nền kinh tế.   “Nguy cơ quốc gia” của Brazil đã đẩy tỉ lệ lãi suất thực trên một khoản vay 10 năm lên 7%. “Nếu tiếp tục vay nợ với mức lãi suất này, họ sẽ thành tự sát mất. Các khoản trả nợ lãi đang gia tăng nhanh chóng, đặt Brazil vào một quỹ đạo mất bền vững.”    “IMF là ngân hàng trung ương và là nguồn vay mượn khi các thị trường mới nổi đi vào bước đường cùng bởi họ không thể tự in tiền. IMF cần làm cho Brazil như Ngân hàng Trung ương châu Âu đã làm cho Tây Ban Nah và Bồ Đào Nha,” ông nói.   Việc Brazil đang tiến gần đến mô típ của hai quốc gia trên ở cấp độ nào vẫn còn là điều đang bàn cãi, nhưng chắc chắn là Brazil đang tịnh tiến theo hướng đó. Chỉ trong hai tuần qua đã có tới năm viện nghiên cứu ở Brazil đưa ra lời cảnh báo rằng quỹ đạo nợ của nước này đang diễn tiến nguy hiểm.   Moody’s, Standard & Poor’s, và Fitch đều đã đồng loạt hạ bậc xếp hạng tín dụng của Brazil xuống mức rác, gây ra phản ứng dây chuyền cho các công ty quốc doanh như Petrobras, Banco do Portugal, Caixa cũng như các công ty có vay nợ bằng đô la.   Moody’s dự đoán rằng nợ công của Brazil sẽ đạt mức 80% GDP trong năm tới – đây là một con số rất cao đối với một nền kinh tế châu Mỹ Latin với thị trường trái phiếu èo uột. Affonso Pastore, cựu thống đốc ngân hàng trung ương, thậm chí còn sợ rằng con số này sẽ phải là 90%.   Trước đây, Brazil thường vẫn gặp rắc rối vì vay mượn quá nhiều bằng đô la, từ đó dẫn tới nhiều cuộc khủng hoảng tiền tệ, khiến quốc gia này phải tìm đến IMF. Tuy nhiên, lần này phần lớn các khoản nợ của quốc gia này lại bằng đồng reais. Như vậy, đây là một cuộc khủng hoảng nợ trong nước.   Brazil hiện có 371 tỉ đô la dự trữ ngoại hối. Về lý thuyết, số tiền này đủ để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng bên ngoài trong một thời gian dài. Tuy nhiên, không nhờ thế mà Brazil được “miễn nhiễm” hoàn toàn trong vấn đề này. Các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn hiện đã vượt hơn so với số tiền dự trữ khả dụng (khoản tiền này trên thực tế còn thấp hơn so với con số thông báo bởi ngân hàng trung ương Brazil đã lấy ra 115 tỉ đô la để thực hiện các trao đổi ngoại tệ).   Cho tới giờ, những sai lầm mà Brazil mắc phải đã được nhiều người biết đến. Brazil phát triển dựa trên chu kỳ hàng hóa phồn thịnh, họ cung cấp quặng sắt và vật liệu thô cho Trung Quốc; họ lệ thuộc vào một mô hình phát triển lỗi thời mà bản thân Bắc Kinh đã muốn chối bỏ. Họ để mặc cho tiền tệ gia tăng tới những ngưỡng nực cười từ đó bóp nghẹt hoạt động sản xuất – một hiện tượng đã được đưa vào sách với tên gọi “Căn bệnh Hà Lan.”   Chính sách tài chính quá lỏng lẻo, khiến ngân hàng trung ương phải thắt chặt đồng tiền. Các quỹ đầu tư nước ngoài thi nhau rót tiền vào Brazil để mong thu được lãi suất. Đó là công thức chung cho những loại tiền tệ mỗi lúc một mạnh hơn. Tổng thống Dilma phải viện đến các rào cản bảo hộ để ngăn chặn xu hướng này. Khi tình thế thay đổi và đồng real sụp đổ – khoảng 70% – bà quay sang áp dụng các biện pháp kiểm soát giá cả.  Số tiền thu về từ việc bán nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đã bị sử dụng phung phí cho các mục đích xã hội, ngay cả hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản cũng không được đầu tư. Trong bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Brazil đã tụt xuống thứ 75 về khả năng cạnh tranh, thứ 123 về chất lượng cơ sở vật chất, và thứ 135 về thời gian đăng ký kinh doanh.   Điều cần thiết bây giờ là phải thực thi hàng loạt những cuộc cải cách – nhưng đó cũng chính là điều mà chính phủ hiện tại ở Brazil không thể làm được. Và đó cũng là lý do tại sao quốc gia này lại cần đến bàn tay dẫn đường của IMF, một tổ chức vốn đã quen xử lý những tình huống nan giải như vậy – và họ cũng quen luôn với việc nhận về mình vô vàn lời chỉ trích.   Tuy vậy, cũng nên thận trọng khi cho rằng một cuộc thay đổi hoàn toàn sang thị trường tự do sẽ phát huy mọi nguồn lực đang bị kìm nén của Brazil. Bởi lẽ, điều đáng ngạc nhiên trên quốc gia này trong suốt 40 năm qua là họ vẫn chưa lấp được khoảng cách về thu nhập với Mỹ và Tây Âu, dẫu rằng đã có rất nhiều cuộc cải cách tự do.   Gốc rễ vấn đề nằm sâu trong nhân học chính trị. Ngày nay, GDP bình quân đầu người của Brazil mới bằng 23% so với Mỹ, tức là hầu như không có gì biến chuyển so với tình hình năm 1956, thậm chí còn thấp hơn giai đoạn cuối thập kỷ 1970. Hóa ra, cái bẫy thu nhập trung bình còn khó trị hơn tưởng tượng của chúng ta nhiều.    Chi Nhân dịch từ The Telegraph    Author                Quản trị        
__label__tiasang In 3D cảm biến cho các vệ tinh      Các nhà khoa học của MIT đã sáng tạo ra các cảm biến plasma đầu tiên ở quy mô sản xuất hoàn toàn bằng số hóa cho các tàu vũ trụ quay quanh quỹ đạo. Các cảm biến plasma đó được biết như các máy phân tích tiềm năng trễ (retarding potential analyzers RPAs), đã được sử dụng cho các vệ tinh để xác định thành phần hóa học và phân bố năng lượng ion trong bầu khí quyển.    Phần cứng in 3D và cắt laser triển khai như các cảm biến plasma bán dẫn tiên tiến đều được chế tạo trong phòng sạch, khiến chúng trở nên đắt đỏ và đòi hỏi một quá trình phức tạp diễn ra trong nhiều tuần. Trái ngược với quá trình này, các cảm biến in 3D chỉ mất vài chục đô la và giảm thời gian sản xuất xuống còn vài ngày.  Do quá trình sản xuất chi phí thấp và diễn ra nhanh hơn, các cảm biến này lý tưởng cho CubeSats. Các vệ tinh giá rẻ, ít tốn điện và khối lượng thấp thường được sử dụng cho giám sát truyền thông và môi trường ở thượng tầng khí quyển trái đất.  Các nhà nghiên cứu đã phát triển RPAs bằng việc sử dụng vật liệu gốm thủy tinh có độ bền lớn hơn nhiều so với các vật liệu làm cảm biến thông thường như silicon và các lớp phủ màng mỏng. Bằng việc sử dụng gốm thủy tinh trong quá trình chế tạo đã được phát triển cho in 3D với nhựa, chúng có khả năng tạo ra các cam biến ở các hinh dạng phức tạp có thể chống chịu ở dải nhiệt độ rộng ở một tàu vũ trụ có thể bay ở quỹ đạo thấp của trái đất.  “Việc sản xuất đắp  bồi có thể tạo ra sự khác biệt trong tương lai của phần cứng thiết bị vũ trụ. Một số người cho là khi bạn in 3D cái gì đó, bạn phải làm ra thứ hiệu suất hoạt động thấp đi. Tuy nhiên chúng tôi đã chứng tỏ không phải lúc nào cũng xảy ra trường hợp đó, thi thoảng không phải đánh đổi gì cả”, theo nhận xét của Luis Fernando Velásquez-García, một nhà nghiên cứu chính ở Các phòng thí nghiệm Công nghệ các hệ vi mô ở MIT (MTL) và là tác giả chính của bài báo về các cảm biến plasma.  Tham gia nghiên cứu cùng với Velásquez-García trong công trình này còn có tác giả thứ nhất, postdoc MTL Javier Izquierdo-Reyes, học viên Zoey Bigelow, postdoc Nicholas K. Lubinsky. Nghiên cứu được xuất bản trên Additive Manufacturing.  Các cảm biến linh hoạt  Một cảm biến RPA từng được sử dụng lần đầu tiên trong một nhiệm vụ vũ trụ vào năm 1959. Cảm biến này đã dò được năng lượng của các ion, hay các hạt tích điện, trôi nổi trong plasma, vốn là một hỗn hợp ở trạng thái siêu nóng của các phân tử có trong thượng tầng khí quyển trái đất. Trên một tàu vũ trụ bay trong quỹ đạo như CubeSat, các thiết bị linh hoạt này đo đạc năng lượng và thực hiện các phân tích hóa học trực tiếp, qua đó có thể giúp các nhà khoa học dự báo dược thời tiết hoặc giám sát biến đổi khí hậu.  Các cảm biến này chưa một loạt các lưới tích điện được điểm các lỗ rỗng nhỏ. Khi plasma di chuyển qua các lỗ rỗng này, các electron và các hạt khác bị tách ra cho đến khi chỉ còn các ion. Các ion này tạo ra một dòng điện mà các cảm biến có thể đo đạc và phân tích.  Vấn đề chính dẫn đến thành công của một RPA là một cấu trúc phù hợp cho các mắt lưới. Nó phải cách điện trong khi có khả năng phù hợp với sự thay đổi đột ngột nhiệt độ. Các nhà nghiên cứu thường sử dụng một loại vật liệu gốm thủy tin có thể in được để đạt được các đặc tính đó, Vitrolite.  Được tìm ra trong đầu thế kỷ 20, Vitrolite thường được sử dụng để làm các loại ngói màu sắc để cho các công trình art deco.  Vật liệu có độ bền cao này có thể phù hợp với nhiều mức nhiêt độ như 800 độ C mà không bị hư hỏng, trong khi các polymer được sử dụng trong RPAs bán dẫn có thể bị chảy ở mức nhiệt 400 độ C.  “Khi anh chế tạo cảm biến này trong một phòng sạch, anh không có mức nhiệt độ tương tự ở bên ngoài để tinh chỉnh các loại vật liệu và cấu trúc và các chúng tương tác với nhau. Những gì khiến cho nó trở thành có thể là nhờ những phát triển mới nhất của công nghệ đắp bồi”, Velásquez-García says.  Nghĩ lại về quá trình chế tạo  TS. Luis Fernando Velásquez-García, một nhà nghiên cứu chính ở Các phòng thí nghiệm Công nghệ các hệ vi mô ở MIT (MTL)  Quá trình in 3D với vật liệu gốm, cụ thể là các bột gốm, là việc dùng một laser để nung nó thành các hình dạng mong muốn nhưng quá trình này thường khiến vật liệu này thô và tạo ra các điểm yếu do mức nhiệt cao từ laser.  Thay vào đó, các nhà nghiên cứu của MIT đã sử dụng kỹ thuật polymer hóa bằng tia cực tím, một quá trình đã được áp dụng hàng thập kỷ trước nền sản xuất bằng công nghệ đắp bồi với các polymer hay nhựa thông. Với polymer hóa bằng tia cực tím, một cấu trúc 3D được chế tạo một lớp tại thời điểm được phủ kín bằng một vật liệu lỏng, trong trường hợp này là Vitrolite. Tia cực tím được dùng để xử lý vật liệu sau mỗi lớp được bồi thêm, và sau đó nền tảng này lại được chiếu tia cực tím một lần nữa. Mối lớp có độ dày 100 micron (xấp xỉ đường kính sợi tóc người), cho phép tạo ra các hình dạng gốm phức tạp, nhẵn và không bị xốp.  Trong nền sản xuất số hóa, các vật thể được miêu tả trong một tập thiết kế hết sức phức tạp. Sự chính xác này cho phép các nhà khoa học tạo ra lưới cắt laser với các hình dạng độc đáo, vì vậy các lỗ được xếp theo dòng một cách hoàn hảo khi chúng được thiết kế ở bên trong RPA. Điều này cho phép có thêm nhiều ion di chuyển qua, dẫn đến các đo đạc có độ phân giải cao hơn.  Bởi vì các cảm biến đều rẻ để sản xuất và có thể được chế tạo trong thời gian ngắn, nhóm nghiên cứu đã làm mẫu thử theo bốn thiết kế độc đáo.  Trong khi một thiết kế có hiệu quả đặc biệt trong việc bắt và đo đạc một dải rộng plasma, như một vệ tinh có thể bắt gặp trong một vũ trụ, thiết kế khác phù hợp với cảm biến trong các plasma vô cùng đậm đặc và lạnh, thường chỉ có thể đo đạc được bằng việc sử dụng các thiết bị bán dẫn siêu chính xác.\  Độ chính xác cao này có thể cho phép ứng dụng các cảm biến in 3 D trong nghiên cứu năng lượng nhiệt hạch hoặc máy bay siêu thanh. Quá trình làm mẫu nhanh này có thể đem lại nhiều đổi mới sáng tạo trong thiết kế vệ tinh và tàu vũ trụ, Velásquez-García cho biết thêm.  “Nếu anh muốn có được đổi mới, anh cần phải chấp nhận độ rủi ro. Công nghệ đắp bồi là một công nghệ hoàn toàn khác biệt để chế tạo phần cứng thiết bị không gian. Tôi có thể tạo ra phần cứng thiết bị không gian và nếu có thất bại, nó không phải là vấn đề gì ghê gớm bởi tôi có thể làm phiên bản mới rất nhanh và giá thành thấp, và thực sự dễ tích hợp trên thiết kế ban đầu. Đó là một mô hình sandbox lý tưởng cho các nhà nghiên cứu”, anh nói.  Dẫu hiện tại thì Velásquez-García hài lòng với các cảm biến này, trong tương lai anh vẫn muốn tối ưu quá trình chế tạo. Giảm thiểu độ dày của các lớp hoặc kích thước pixel trong quá trình nhựa hóa bằng tia cực tím vật liệu gốm thủy tinh có thể tạo ra phần cứng phức tạp thậm chí còn có độ chính  xác cao hơn nhiều. Tuy nhiên việc sản xuất bằng công nghệ đắp bồi một cách đầy đủ các cảm biến này có thể khiến chúng tương thích với sản xuất thiết bị trong không gian. Anh cũng muốn khám phá việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu thiết kế cảm biến cho các trường hợp sử dụng đặc biệt, như giảm thiểu khối lượng của chúng trong khi vẫn đảm bảo giữ nguyên chúng về mặt cấu trúc.  Nguyễn Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-07-3d-sensors-satellites.html  https://www.automationalley.com/articles/heres-how-researchers-are-3d-printing-sensors-for-satellites       Author                .        
__label__tiasang In 3D – tương lai của sản xuất bền vững      Tuy công nghệ  in 3D chưa phát triển để có thể thay thế cả một quy trình sản xuất hoàn  chỉnh nhưng trong hình thái non trẻ hiện nay, nó cũng đã giúp cắt giảm  chi phí và công sức làm nguyên mẫu sản phẩm, cắt giảm lượng phế phẩm và  khí thải do vận chuyển mang lại, từ đó hướng các doanh nghiệp đến những  cách thức sản xuất bền vững hơn.     Lợi ích trực tiếp nhất của công nghệ in 3D là ở cách làm nguyên mẫu sản phẩm hiện đại. Sử dụng công nghệ này giúp các nhà thiết kế biến những thiết kế trên giấy của mình thành những mô hình mẫu với giá cực rẻ. Rất nhiều ngành công nghiệp có thể sử dụng công nghệ này. Ví dụ, trong y học, mẫu chân tay giả có thể được in ra từ các thiết kế kỹ thuật số, bởi vậy cắt giảm nhiều bước làm mô hình mẫu.  Tương tự như vậy, hãng Ford cũng đang tận dụng những lợi ích của công nghệ in 3D trong việc làm mô hình mẫu. Công ty cho biết họ rất coi trọng tính bền vững trong thiết kế. Sử dụng công nghệ này, họ đã giảm thời gian và chi phí sản xuất các thiết kế động cơ, chi tiết, phụ kiện xuống rất nhiều.   Cho đến nay, quy trình sản xuất và thiết kế thường rất rườm rà, gây ra lượng khí thải và phế liệu lớn. Để giảm chi phí, nhà sản xuất thường sử dụng nguồn nhân lực tại các nước nghèo để lắp ráp linh kiện tạo ra mô hình mẫu, sau đó mới chuyển về nước mình để tiếp tục thiết kế. Cách này rất không bền vững bởi không chỉ tốn thời gian mà còn gây tác hại lớn tới môi trường do lượng khí thải ra trong quá trình vận chuyển. Công nghệ thiết kế kỹ thuật số và in 3D giúp các nhà sản xuất tạo ra sản phẩm tại chỗ, giảm thiểu những tổn thất này.  Hiện nay khoảng 20% sản phẩm in 3D đã thành sản phẩm cuối cùng chứ không chỉ là mô hình mẫu. Công nghệ in 3D đang ngày càng phát triển trên thế giới. Không chỉ được áp dụng trong sản xuất mô hình mẫu, hiện nay một số công ty như Organova của Mỹ đã bắt đầu sử dụng công nghệ in sinh học (bioprinting) để tạo ra mô người. Người ta hi vọng rằng trong tương lai gần, các nội tạng, mô và xương người được tạo ra nhờ công nghệ in 3D sẽ đem lại một bước đột phá cho y học.   Khánh Minh lược dịch   Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/3d-printing-blueprint-future-sustainable-design-production       Author                Quản trị        
__label__tiasang Incubator và Accelerator, hình thức nào hỗ trợ STARTUP hiệu quả hơn?      Vườn ươm tạo (incubator) và trung tâm hỗ trợ (accelerator) là hai mô hình khác biệt, dù chúng đều trợ giúp cho các doanh nhân khởi nghiệp các nguồn lực, sự huấn luyện, đào tạo, và các cơ hội phát triển. Nhưng bài viết dưới đây của Shiwen Yap cho thấy ở Mỹ, đối với một số đối tượng doanh nghiệp, trung tâm hỗ trợ có thể là mô hình mang lại hiệu quả cao hơn.     Lâu nay tồn tại phổ biến hai hình thức trợ giúp doanh nghiệp khởi nghiệp là vườn ươm tạo và khóa tăng tốc khởi nghiệp. Các vườn ươm tạo là nơi bảo trợ cho doanh nghiệp từ khi khởi nghiệp cho tới lúc trưởng thành, trong khi khóa tăng tốc khởi nghiệp chỉ trợ giúp cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong một khung thời gian ngắn hơn, với những bài tập mang tính bắt buộc mà các doanh nghiệp phải hoàn thành nếu muốn trụ lại cho tới khi tốt nghiệp.   Theo Wong Meng Weng, nhà đồng sáng lập một chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trên toàn cầu có tên là JFDI, “các vườn ươm tạo là mô hình trợ giúp doanh nghiệp thuộc về thế kỷ 20, thường gắn liền với các công viên khoa học. Nhiều vườn ươm tạo có thiên hướng trở thành những không gian văn phòng cho một số lượng hạn chế doanh nghiệp thuê. Còn với mô hình trợ giúp bằng các khóa tăng tốc khởi nghiệp, chúng tôi có thể đúc kết, chọn ra những vấn đề cơ bản nhất cần hướng dẫn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, và huấn luyện cho một số lượng doanh nghiệp rất lớn, bởi ngày nay các bí quyết kinh doanh có thể được chia sẻ vô cùng cởi mở, không còn mang tính bí truyền như trước đây”.  Khác biệt cơ bản giữa incubator và accelerator    Các khóa tăng tốc khởi nghiệp có xu hướng đẩy nhanh sự tương tác giữa doanh nghiệp và thị trường, bắt buộc các doanh nghiệp phải thích nghi nhanh chóng trong một thời gian giới hạn. Về cơ bản, khóa tăng tốc khởi nghiệp khác vườn ươm tạo ở các yếu tố: kỳ hạn hỗ trợ, mô hình hoạt động, quá trình chọn lọc doanh nghiệp, tổ chức lớp và đào tạo.        Trước khi bước vào các khóa tăng tốc khởi nghiệp, các doanh nhân khởi nghiệp ở Mỹ có thể tham gia vào các khóa Tiền Tăng tốc (Pre-Accelerator), là những khóa đào tạo kéo dài trong khoảng bảy – tám tuần, giúp các nhóm doanh nhân khởi nghiệp chuẩn bị từ khâu hình thành và phát hiện ý tưởng, cho tới bước sẵn sàng tham gia vào một khóa tăng tốc khởi nghiệp. Khóa huấn luyện Tiền Tăng tốc là một chuỗi các bài giảng và hướng dẫn diễn ra hằng tuần, bao gồm những nội dung cơ bản của việc hình thành một doanh nghiệp. Ngoài các buổi nghe giảng, các nhóm học viên sẽ làm việc độc lập, nhưng mỗi tuần đều phải viết báo cáo về kết quả tiếp thu hằng tuần. Thông thường các khóa Tiền Tăng tốc được điều hành bởi các tập đoàn hoặc cơ quan nhà nước, tuy nhiên cũng có thể do một khóa tăng tốc khởi nghiệp hoặc nhóm các nhà đầu tư nào đó đứng ra tổ chức. Tùy vào nguồn tài trợ mà khóa đào tạo có thể có hoặc không thu phí từ các học viên tham dự.             Paul Bricault, nhà đồng sáng lập Amplify, một khóa tăng tốc khởi nghiệp doanh nghiệp ở thành phố Los Angeles lý giải một cách ngắn gọn, “một khóa tăng tốc khởi nghiệp sẽ thu của doanh nghiệp dưới 10% cổ phần của một ý tưởng kinh doanh mà doanh nghiệp tự đề ra, đổi lại trung tâm cấp cho doanh nghiệp một khoản vốn nhỏ, và sự hướng dẫn có giới hạn. Chúng được chia thành từng phần trong một chương trình tổng thể kéo dài từ ba tới bốn tháng, sau đó doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ được ‘tốt nghiệp’”.    Trái lại, các vườn ươm tạo thường đưa những đội quản lý từ bên ngoài đến giám sát ý tưởng kinh doanh do vườn ươm và doanh nghiệp cùng xây dựng, nhằm nuôi dưỡng, phát triển chúng qua một giai đoạn dài hơi hơn (trung bình ở Mỹ khoảng 33 tháng), đồng thời vườn ươm tạo nắm giữ một lượng cổ phần lớn hơn của doanh nghiệp.   Các vườn ươm tạo thường hướng tới những doanh nghiệp công nghệ, như công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ xanh, v.v), và cả những doanh nghiệp phi công nghệ. Người tham gia vào các vườn ươm thường là các chuyên gia có kinh nghiệm từ những ngành công nghiệp này. Nhiều vườn ươm là những tổ chức phi lợi nhuận, hoặc là một phần của trường đại học hoặc tổ chức nghiên cứu, và được các tổ chức lớn tài trợ.                      Vườn ươm tạo      Nhà đầu tư thiên thần      Trung tâm hỗ trợ          Kỳ hạn trợ giúp      1-5 năm      Tùy theo nhà đầu tư      3 tháng          Tổ chức cohort      Không có      Không có      Có          Mô hình kinh doanh      Thu các loại phí/phi lợi nhuận      Kinh doanh dựa vào khoản đầu tư      Kinh doanh dựa vào khoản đầu tư;   cũng có thể phi lợi nhuận          Xét chọn doanh nghiệp      Không có tính cạnh tranh      Tùy theo đặc thù nhà đầu tư      Có tính cạnh tranh          Giai đoạn hỗ trợ      Đầu hoặc cuối giai đoạn khởi   nghiệp      Đầu giai đoạn khởi nghiệp      Đầu giai đoạn khởi nghiệp          Đào tạo (education)      Tùy theo tình hình và nhu cầu thực   tiễn      Không có      Các seminars          Huấn luyện (mentorship)      Tối thiểu và mang tính chiến thuật      Theo nhu cầu thực tiễn      Mật độ cao            So sánh giữa ba hình thức trợ giúp doanh nghiệp khởi nghiệp phổ biến: vườn ươm tạo, nhà đầu tư thiên thần, trung tâm hỗ trợ.  Khác với các vườn ươm, các khóa tăng tốc khởi nghiệp thường tập trung hướng tới các doanh nghiệp làm về phần mềm và kỹ thuật số, tuy nhiên cũng có một số khóa tăng tốc khởi nghiệp tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp làm phần cứng. Những đối tượng doanh nghiệp này không đòi hỏi ngay lập tức phải đầu tư quy mô lớn, ý tưởng kinh doanh cũng không cần được minh chứng qua thực tiễn một cách quá khắt khe, rất phù hợp với các nhà khởi nghiệp trẻ tuổi.  Mô hình kinh doanh của các khóa tăng tốc khởi nghiệp thường vì lợi nhuận. Nhà tài trợ và người tham gia trung tâm thường là những nhà đầu tư, doanh nhân hoạt động ở nhiều doanh nghiệp cùng một lúc. Do số lượng doanh nghiệp tham gia lớn, thời gian lại ngắn nên các hoạt động đào tạo, huấn luyện của họ thường có mật độ dày hơn, quy trình xét chọn doanh nghiệp cũng khắc nghiệt hơn.    Kinh nghiệm từ MIT  Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ đã thử nghiệm một mô hình khóa tăng tốc khởi nghiệp (Global Founders’ Skills Accelerator, gọi tắt là GFSA) và một chương trình ươm tạo có tên gọi Beehive Cooperative. Cả hai chương trình đều cung cấp cho doanh nghiệp địa điểm, không gian văn phòng. Đối tượng doanh nghiệp của cả hai chương trình có các phẩm chất tương tự nhau, và đều hình thành nên những cộng đồng mạnh. Khác biệt chủ yếu giữa hai chương trình là cách đào tạo.  Trung tâm GFSA yêu cầu các nhóm học viên phải tham dự seminars và họp với các nhà tư vấn hai lần mỗi tuần, tổ chức họp hội đồng quản trị hằng tháng, đồng thời phải đạt được các mục tiêu đề ra ngay từ khi chương trình bắt đầu. Trái lại, chương trình Beehive Cooperative tổ chức các seminar không theo cấu trúc rõ ràng, và các học viên tự chủ động tìm gặp nhà tư vấn.  Người ta ban đầu kỳ vọng rằng cả hai nhóm học viên đều sẽ đạt kết quả tốt, do cùng được trợ giúp và tạo điều kiện tối ưu, cho phép họ toàn tâm vào công việc. Nhưng thực tế cho thấy, tỉ lệ thành công ở nhóm tham gia khóa tăng tốc khởi nghiệp là cao hơn so với nhóm tham gia vườn ươm tạo.   Nhóm tham gia vườn ươm tạo chậm chạp hơn trong quá trình phát triển để đạt tới “tốc độ cất cánh” (escape velocity) – khái niệm cộng đồng khởi nghiệp ở MIT đặt ra để chỉ những doanh nghiệp rời khỏi bệ đỡ để tách ra tự đứng trên đôi chân của mình. Người ta thậm chí còn nhận ra một thực tế là tại vườn ươm, các học viên cùng doanh nghiệp của họ đã quá quen thuộc với môi trường thân thiện gần gũi, cùng mối quan hệ cộng đồng bền chặt, khiến họ không muốn phải rời đi.   Trái lại, nhóm học viên tham gia khóa tăng tốc khởi nghiệp phải có trách nhiệm giải trình lớn hơn, phải đạt được mục tiêu đề ra cho từng mốc phát triển, và duy trì các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động. Họ phải hoạt động trong những khuôn khổ và trải qua thời gian huấn luyện và tư vấn với mật độ cao, qua đó bắt buộc phải đưa ra được sản phẩm phù hợp với thị trường trong thời gian ngắn nhất.  Alena Arens, nhà quản lý các đối tác chiến lược ở JFDI lý giải, “các khóa tăng tốc khởi nghiệp chỉ có ba tháng để hình thành hoặc chia tay một doanh nghiệp khởi nghiệp, vì vậy hoặc là họ phải thấy được một mô hình kinh doanh tốt, hoặc là chấp nhận thất bại, hoàn toàn không có thời gian bị lãng phí. Trong khi đó, các vườn ươm tạo ra nhiều những doanh nghiệp ảo với những mô hình kinh doanh không có tính khả thi”.   Lựa chọn sinh tồn của doanh nghiệp  Hai yếu tố chính quyết định sự sinh tồn của doanh nghiệp: chứng thực được các cơ hội từ thị trường, theo đó tìm được những khách hàng sẵn sàng trả tiền; tạo ra sản phẩm/dịch vụ đáp ứng đòi hỏi từ các cơ hội đó. Với mục tiêu như vậy, tự các doanh nghiệp phải chọn lựa mô hình hỗ trợ phù hợp nhất cho mình, bởi dù là mô hình khóa tăng tốc khởi nghiệp hay vườn ươm tạo thì đều có những ưu/nhược điểm riêng.  Các vườn ươm tạo có thể cung cấp cho doanh nghiệp các nguồn lực tài chính lớn hơn, thời gian hỗ trợ dài hơn. Nhưng ở đó các doanh nhân khởi nghiệp sẽ phải tự chủ động cao hơn, tự khép mình vào kỷ luật, tích cực tìm kiếm mạng lưới, học hỏi và phát triển. Trong khi đó, các khóa tăng tốc khởi nghiệp cung cấp sự trợ giúp trong thời gian ngắn hơn, tính tập trung và cấu trúc rành mạch hơn, mật độ huấn luyện dày hơn. Trong môi trường như vậy, các doanh nhân khởi nghiệp sẽ phải nỗ lực tối đa để hoàn thành các mục tiêu được yêu cầu và tốt nghiệp đúng hạn. Tuy nhiên, chính sức ép này lại có thể giúp doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn, buộc doanh nhân khởi nghiệp sớm thoát khỏi môi trường êm ấm mà họ đang được hỗ trợ.              Lời bàn                Từ những đặc thù và kinh nghiệm thực tiễn của hai mô hình vườn ươm tạo và khóa tăng tốc khởi nghiệp, một bài học có thể rút ra và áp dụng vào điều kiện thực tế ở Việt Nam, đó là lựa chọn mô hình trợ giúp doanh nghiệp khởi nghiệp phù hợp tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đó. Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực không đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, dài hơi, nguồn vốn ban đầu không cần có quy mô lớn, ví dụ như với các doanh nghiệp làm phần mềm hay các ứng dụng trên điện thoại di động, thì khóa tăng tốc  khởi nghiệp có thể là mô hình trợ giúp hiệu quả hơn – tuy nhiên khung thời gian trợ giúp vẻn vẹn trong vòng ba tháng như với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Mỹ có thể là quá ngắn đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam, bởi nhìn chung các doanh nhân khởi nghiệp Mỹ có nhiều kỹ năng hơn, có khả năng đưa ý tưởng thành sản phẩm sớm hơn (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=6917).               Mặt khác, đối với những doanh nghiệp đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian chuẩn bị dài hơi, ví dụ doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ sinh học hay công nghệ xanh, thì các vườn ươm tạo sẽ là môi trường phù hợp hơn vì tính an toàn, ổn định, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, có thể thấy các vườn ươm tạo ở Mỹ không dễ dàng chấp nhận ý tưởng kinh doanh do doanh nghiệp khởi nghiệp tự đề ra, mà họ thường cùng doanh nghiệp xây dựng các ý tưởng này.               Lưu ý rằng cả mô hình vườn ươm tạo hay khóa tăng tốc  khởi nghiệp đều có thể được hình thành từ các trường đại học. Tuy nhiên, để hình thành khóa tăng tốc  khởi nghiệp các trường đại học sẽ phải có mối liên hệ tốt với cộng đồng các doanh nhân năng động, giàu kinh nghiệm, quen làm việc với doanh nhân khởi nghiệp, để có thể tổ chức lịch huấn luyện, đào tạo với mật độ cao và lịch trình chặt chẽ mà các trung tâm hỗ trợ thường đòi hỏi.        Thanh Xuân tổng hợp  Nguồn:    http://e27.co/entrepreneurs-choose-incubators-accelerators-20140715/  http://www.get2growth.com/startup-program-definitions/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Ingoldstadt là nơi thử nghiệm taxi bay của Đức      Không lâu nữa taxi có thể di chuyển ở trên không, taxi bay không còn là chuyện viển vông.      Mẫu taxi bay tại một triển lãm ở Ingolstadt.  Từ lâu taxi bay không còn là chuyện viễn tưởng, bộ trưởng Giao thông Liên bang Đức Scheuer nói. Các doanh nghiệp Đức đang nghiên cứu thử nghiệm các mẫu taxi bay ở thành phố Ingolstadt.  Chính phủ Liên bang Đức cũng chủ trương thử nghiệm taxi bay tại thành phố Ingolstadt và coi đây là hình mẫu để triển khai ở quy mô rộng hơn. Các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp liên quan đến vấn đề này vừa ký một bản cam kết về chủ trương này, trong đó có bộ Giao thông – đơn vị đại diện chính phủ về số hóa, thị trưởng thành phố Ingoldstadt, đại diện tập đoàn hàng không Airbus và nhà sản xuất ô tô Audi.  Hiện nay nhiều doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có các doanh nghiệp Đức nghiên cứu về taxi bay. Bộ trưởng Scheuer nói, từ lâu taxi bay không còn là chuyện xa vời nữa. Taxi bay sẽ mở ra những điều kiện hoàn toàn mới thí dụ trong việc vận chuyển người bệnh ở các thành phố hay các khu vực dân cư đông đúc. Lĩnh vực này cũng tạo những cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp cũng như các hãng start-up trẻ tuổi. So với nhiều nước trên thế giới Đức là nước đất hẹp người đông không thể mở rộng đường ô tô lên sáu hoặc 8 làn đường hoặc làm thêm đường tầu bánh sắt vì thế vận chuyển bằng taxi trên không là điều sẽ diễn ra trong tương lai.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/auto/modellstadt-ingolstadt-soll-testregion-fuer-flugtaxis-werden/22715810.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Intel đầu tư 33 tỉ euro vào châu Âu      Cuộc đầu tư này sẽ hỗ trợ việc thành lập một trung tâm có quy mô lớn mới ở Đức, mở rộng nhà máy hiện tại ở Ireland, một trung tâm R&D và thiết kế ở Pháp và năng lực sản xuất, nghiên cứu ở Italy, Tây Ban Nha và Ba Lan.      Pat Gelsinger, CEO của Intel, nhà sản xuất chip hàng đầu thế giới mới tiết lộ kế hoạch đã được chờ đợi từ lâu vào ngày 15/3/2022, một phần trong chiến lược rộng hơn để đầu tư 80 tỉ euro trong thập kỷ đến, qua đo tăng cường chuỗi giá trị bán dẫn ở EU.  Vào tháng 2, Ủy ban châu Âu đã trình bày Đạo luật Chip châu Âu, một đề xuất mang tính pháp lý để thúc đẩy năng lực bán dẫn của châu Âu nhằm làm giảm bớt sự phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính quyền trong việc thành lập những nhà máy chế tạo tiên tiến. “Đạo luật Chip châu Âu sẽ khuyến khích các công ty tư nhân và chính phủ hợp tác với nhau để thúc đẩy vị trí của châu Âu trong lĩnh vực bán dẫn”, Gelsinger nói. “Sáng kiến này sẽ thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo, R&D ở châu Âu và mang nền sản xuất lên vị trí dẫn đầu cùng với lợi ích cho các khách hàng, các đối tác của chúng tôi trên toàn cầu”.  Đây là một trong những khoản đầu tư lớn nhất từ một công ty tư nhân ở châu Âu trong những năm gần đây. Nó ghi dấu ấn một chiến thắng đáng kể cho chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và ủy viên phụ trách thị trường nội địa Thierry Breton, những người đóng vai trò quan trọng trong việc ủng hộ Đạo luật Chips.  Cũng có ý kiến chỉ tích chỉ ra sự thật là Đạo luật Chip mới chỉ có các quốc gia mạnh ở châu Âu có đủ nguồn lực để thu hút sự đầu tư của khối tư nhân. Kế hoạch của Intel chủ yếu hướng đến các quốc gia này nhưng đầu tư thì phân bổ cho nhiều quốc gia khác nhau.  Vấn đề quan trọng nhất của cuộc đầu tư này là hai nhà máy hiện đại hàng đầu mà Intel sẽ xây ở Magdeburg, Đức. Trong Đạo luật Chip, các nhà máy hiện đại hàng đầu sẽ làm tăng cường vị trí công nghệ của châu Âu và do đó sẽ được hưởng sự hỗ trợ của chính quyền với một chính sách ưu tiên về quy định pháp lý.  Trung tâm ở Đức được đặt tên là “Silicon Junction” vì sự kết nối của nó với những trung tâm sản xuất và đổi mới sáng tạo khác nhau ở khắp châu Âu. Intel ước tính có khoảng 3.000 công việc công nghệ cao sẽ được tạo ra, không tính đến hiệu ứng mở rộng tương tự của các nhà cung cấp và đối tác.  Các nhà máy sẽ đem đến cho Intel những con chip thế hệ mới và các dịch vụ và sản xuất bán dẫn và sản xuất cho các công ty khác, phù hợp với ý tưởng của Ủy ban châu Âu về “Những công xưởng mở”.  Công trình xây dựng này được chờ đợi sẽ được khởi công vào năm 2023, và các nhà xưởng sẽ được vận hành vào năm 2027.  “Việc đặt các nhà máy tiên tiến tại nhiều địa điểm ở châu Âu có thể giúp tái cân bằng năng lực silicon toàn cầu và tạo được một chuỗi cung cấp bền vững hơn”, thủ tướng Đức Olaf Scholz chi biết trong một thông cáo báo chí.  Công ty Mỹ này sẽ mở rộng nhà máy ở Ireland với 12 tỉ euro đầu tư, nghĩa là tăng gấp đôi không gian sản xuất để làm ra những con chip tiên tiến và tăng cường các dịch vụ sản xuất ở châu Âu.  Intel cũng đang đàm phán với chính phủ Ý để mở một nhà máy dạng này cho sản xuất đầu cuối, nghĩa là nơi các con chip cuối cùng sẽ được xuất xưởng qua các quá trình chính xác. Nhà máy này được chờ đợi sẽ tuyển dụng khoảng 1.500 người và tạo ra khoảng gấp đôi việc làm cho chuỗi cung cấp.  Sự đầu tư vào Italy liên quan đến việc giành được Tower Semiconductors, một công ty sản xuất có quan hệ đối tác với STMicroelectronics, một nhà sản xuất bán dẫn Pháp – Ý với một nhà máy ở Agrate, gần Milan.  Đầu tháng nay, Ngân hàng đầu tư châu Âu loan báo một khoản vay 600 triệu euro cho STMicroelectronics để đầu tư vào R&D ở ba nhà máy, bao gồm cả Agrate. Nhà đầu tư này chờ đợi thiết lập “những phạm vi thử nghiệm”, một khái niệm được giới thiệu trong Đạo luật Chip để tinh chỉnh các nhà máy theo hướng thử nghiệm các sản phẩm thử và mở rộng quy mô sản xuất các sản phẩm sáng tạo.  Intel đã đàm phán để nhận được đầu tư công từ các chính phủ Đức và Ý nhưng trên thực tế không công khai lượng đầu tư nhận được. Đàm phán về ủng hộ tài chính là nguyên nhân chính cho Intel dành nhiều thời gian cho kế hoạch đầu tư này.  Intel đang lập kế hoạch mở rộng trung tâm R&D ở bình nguyên de Saclay, Pháp với 1.000 công việc trong lĩnh vực công nghệ cao vào năm 2025. Thêm vào đó, nhà làm chip này sẽ mở trung tâm thiết kế châu Âu của mình ở Pháp.  “Pháp sẽ trở thành một trong những đại bản doanh của Intel ở châu Âu về tính toán hiệu năng cao và thiết kế AI, đem lại một loạt lợi ích cho lĩnh vực công nghiệp”, Gelsinger cho biết thêm.  Ở Ba Lan, kế hoạch này sẽ là mở rộng không gian phòng thí nghiệm tới 50% trong năm 2023 để phát triển các giải pháp bán dẫn cho các mạng thần kinh học sâu dựa trên AI, các trung tâm audio, đồ họa, dữ liệu và tính toán đám mây.  Ở Tây Ban Nha, công ty lập kế hoạch mở rộng sự hợp tác với Trung tâm Siêu máy tính Barcelona để thiết lập các phòng thí nghiệm mới cho tính toán tiên tiến.  Tô Thanh Vân  tổng hợp  Nguồn:  https://www.fdiintelligence.com/content/news/intel-to-invest-33bn-in-european-chip-manufacturing-80852  https://sciencebusiness.net/news/eu-hails-eu80-billion-intel-investment-first-success-chips-act    Author                .        
__label__tiasang Intel hỗ trợ 70% công đoạn thực hiện giải pháp IoT      Giám đốc Intel Việt Nam cho biết, Intel hỗ trợ các doanh  nghiệp đến 70% về mặt kĩ thuật trong việc thực hiện các giải pháp Internet của Vạn vật (Internet of  Things) dựa trên  những phần cứng và phần mềm do Intel cung cấp.     Ngày 22/9  tại Hà Nội, Intel  đã tổ chức Hội nghị về các giải pháp Internet của Vạn vật (Internet of  Things-IoT) nhằm giới thiệu tiềm năng ứng dụng to lớn của  IoT trong đời sống, đặc biệt là trong quản lí vĩ mô, đồng thời gợi mở những cơ hội kinh doanh cho  các doanh nghiệp công nghệ thông tin.     Internet of things là khái niệm chỉ những đồ vật thông minh được tích hợp một máy tính thu nhỏ. Những thiết bị này sẽ được thu thập, trao đổi thông tin và chia sẻ dữ liệu qua mạng internet. Tuy nhiên, để có thể sử dụng được những dữ liệu trên, cần các giải pháp IoT (sắp xếp các phần cứng và thiết kế phần mềm) cho phép lọc, phân tích và quản lí dữ liệu nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể trong đời sống sinh hoạt hằng ngày và trong hoạt động quản lí, kinh doanh của các cơ quan, doanh nghiệp.      Các giải pháp IoT đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực và là điều kiện để tạo ra những thành phố, quốc gia thông minh. Hệ thống đèn đường của Đài Loan tự động điều chỉnh độ sáng, bật, tắt dựa vào điều kiện ánh sáng và thu thập các dữ liệu về độ ẩm, mức độ ô nhiễm, nhiệt độ của môi trường; hệ thống tưới tiêu tự động được sử dụng trong nông nghiệp Malaysia; hệ thống quản lí xe tải giúp thu thập thông tin về tình trạng xăng, dầu; lốp xe; thời gian hoạt động; vị trí; quãng đường được sử dụng trong các doanh nghiệp vận tải của Mỹ để từ đó điều động nhân lực và sắp xếp thời gian bảo dưỡng xe…đều là những ví dụ ứng dụng các giải pháp IoT của Intel.     Chia sẻ với báo chí tại Hội nghị, ông Trần Đức Trung, Giám đốc Intel Việt Nam, cho biết, Intel hỗ trợ các doanh nghiệp đến 70% về mặt kĩ thuật trong việc thực hiện các giải pháp IoT. Quan trọng nhất là Intel đưa ra thị trường các Gateways – là nền tảng tích hợp phần cứng và phần mềm cho phép thu thập dữ liệu của các vật dụng và gửi lên điện toán đám mây một cách bảo mật và dễ quản lí. Điều này giải quyết rào cản lớn nhất khi triển khai các giải pháp IoT là 85% các vật dụng vốn không được thiết kế để kết nối internet. Tập đoàn này cũng xây dựng Khối phát triển dùng chung miễn phí (Building block – một thư viện các giải pháp phần mềm) giúp giảm thời gian phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Intel cũng sáng lập liên minh giải pháp IoT gồm trên 400 thành viên và hơn 5.000 giải pháp IoT được công bố để những người quan tâm tự xây dựng giải pháp của mình với chi phí tối ưu và rủi ro thấp nhất. Chính vì vậy, việc còn lại của các doanh nghiệp là lựa chọn phần cứng và xây dựng các chương trình phần mềm nhằm phân tích và quản lí dữ liệu để đưa ra các giải pháp IoT cho những vấn đề cụ thể trong đời sống phù hợp với điều kiện của mình.       Đại diện của Intel cũng cho biết, tập đoàn này đang hợp tác với chính phủ Việt Nam trong việc vận dụng các giải pháp IoT để quản lí những lĩnh vực cấp bách như giao thông, nông nghiệp và y tế. Những nội dung hợp tác cụ thể sẽ được công bố trong tháng 10 tới.      Theo những chuyên gia của Intel, trong 10 năm trở lại đây, giá thành của các bộ vi xử lí đã giảm hai lần, giá thành băng thông giảm 40 lần và chi phí xử lí dữ liệu đã giảm 60 lần. Vì vậy, đây là “thời điểm hoàn hảo” để Việt Nam bước chân vào thị trường IoT.  Công ty DTT là một trong những đối tác tại Việt Nam của Intel với dự định xây dựng một nền tảng nguồn mở IoT (gọi là OIP – Open IoT Platform) tạo cơ hội cho những doanh nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là các startups ở Việt Nam có quyền khai thác và tham gia vào việc xây dựng và kinh doanh từ IoT, đồng thời cùng đóng góp vào hệ sinh thái này.  Đọc thêm:  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=9025    Author                Quản trị        
__label__tiasang Intel sẽ xây dựng nhà máy chip 20 tỷ USD tại Mỹ      Hãng công nghệ Intel ngày 21/1 thông báo kế hoạch đầu tư ít nhất 20 tỉ USD cho hai nhà máy sản xuất chip tiên tiến mới gần Columbus, Ohio (Mỹ) để tiếp tục với mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào các quốc gia khác.    Theo Neowin, Intel đang trong quá trình nỗ lực mở rộng công suất các nhà máy sản xuất chip cho riêng hãng này và cũng mong muốn sản xuất chip Apple Silicon cho Apple.        Việc xây dựng nhà máy tại Ohio được xem là bước đi đầu tiên để hướng tới một “siêu địa điểm” của Intel, dự kiến có tới tám nhà máy sản xuất chip trị giá 100 tỷ USD.    Báo cáo từ Wall Street Journal trích dẫn một nguồn tin giấu tên nói rằng, kế hoạch đầu tư này dự kiến tạo ra 3.000 việc làm cố định và 7.000 công việc, xây dựng trên khu đất rộng 1.000 mẫu Anh.    Cùng ngày, tại một sự kiện ở Nhà Trắng, Tổng thống Joe Biden cho biết, đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động lớn đối với lĩnh vực sản xuất chip, khiến việc sản xuất các sản phẩm từ ô tô tới máy rửa bát bị đình trệ. Khoản đầu tư của Intel nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất, qua đó giúp đáp ứng nhu cầu về chất bán dẫn, trong bối cảnh tình trạng thiếu chip máy tính đang diễn ra trên toàn thế giới.    Phát ngôn viên Nhà Trắng cũng cho biết: “Đại dịch Covid-19 đã làm sáng tỏ sự mong manh trong chuỗi cung ứng chất bán dẫn toàn cầu”.    Giám đốc điều hành Intel Pat Gelsinger hiện đang thúc đẩy triển khai kế hoạch mở rộng của Intel, đặc biệt là ở châu Âu và Mỹ, trong bối cảnh hãng này tìm cách tăng cường sự cạnh tranh với các đối thủ toàn cầu và ứng phó với tình trạng thiếu chip trên toàn thế giới.    Thông tin về kế hoạch của Intel được đưa ra sau khi nhà sản xuất chip TSMC tuyên bố xây dựng nhà máy chip trị giá 12 tỉ USD ở Phoenix, Arizona (Mỹ) vào tháng 6/2021.    Các nhà sản xuất chip đang cạnh tranh để tăng sản lượng sau khi các nhà sản xuất trên khắp thế giới, từ ôtô đến điện tử tiêu dùng, đối mặt với tình trạng thiếu chip trầm trọng.    Intel hiện đang nỗ lực giành lại vị trí là nhà sản xuất chip nhỏ nhất và nhanh nhất từ công ty TSMC của Đài Loan (Trung Quốc).    Ngô Thành    Authors                phongvien        
__label__tiasang Internet và cái lưỡi của Ê-dốp      Ngày nay người ta thường so sánh Internet với cái lưỡi của Ê-dốp: cái tốt đẹp nhất và cũng là cái tồi tệ nhất trong tất cả mọi điều.     Ngày càng có nhiều sinh viên mua tiểu luận qua mạng từ những trang web được lập ra với mục đích kiếm tiền bằng dịch vụ này. Bình luận duy nhất của tôi về khía cạnh này là khẳng định lại tầm quan trọng của những bài thi vấn đáp: 15 phút hay nửa giờ là đủ để có thể đánh giá kiến thức, độ nhạy bén và trí thông minh của một sinh viên.  Với Ê-dốp, cái lưỡi là “sự gắn kết giữa con người với nhau, chìa khóa của các ngành khoa học, công cụ của sự thật và lẽ phải; người ta dùng nó để xây dựng và quản lý các thành phố, giảng dạy, thuyết phục người khác, điều khiển các cuộc họp, ca ngợi các thần linh; nhưng đồng thời, nó cũng là nguồn gốc của mọi cuộc tranh cãi, chiến tranh, chia rẽ, nguồn gốc của lầm lỗi và tồi tệ hơn là sự vu khống; người ta dùng lưỡi để phá hủy các thành phố, rao giảng cho cái ác, và tuôn ra những lời phỉ báng”.  Có nhiều ví dụ minh họa cho tính hai mặt của Internet. Nhiều người, khi bình luận về phong trào “Mùa xuân Ả Rập” (Arab Spring), đã ca ngợi vai trò của Internet trong công cuộc đấu tranh giành lại tự do ở các quốc gia nơi người dân bị áp bức. Nhưng Evgeny Morozov trong cuốn “Ảo tưởng Mạng: mặt tối của Tự do Internet” có quan điểm ngược lại, đưa hàng loạt ví dụ về việc nhiều chính quyền độc tài sử dụng Internet để áp chế đối thủ của họ. Tương tự, bạn có thể tìm thấy nhiều chuyện tình lãng mạn và cũng không ít những báo cáo về lạm dụng tình dục trẻ em qua mạng. Tuy nhiên, tôi sẽ không bình luận về tính hai mặt của Internet trong phạm vi những vấn đề này. Điều tôi muốn bàn đến ở đây là việc sử dụng và lạm dụng Internet trong giảng dạy và nghiên cứu, một chủ đề nóng trong giới học thuật, xứng đáng có được sự quan tâm chú ý.  Đã có hàng trăm nghiên cứu được thực hiện về đề tài này và chúng ta đều có thể truy cập đến những nghiên cứu đó− dĩ nhiên là nhờ vào Internet. Nhiều trường đại học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về việc sử dụng mạng cho việc học tập của sinh viên cũng như công việc của giảng viên và nghiên cứu viên. Phân tích cho thấy, Internet biểu lộ cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Ngoài một số rất ít người cực kỳ bảo thủ, ủng hộ việc cấm sử dụng Internet − một số thậm chí còn vô trách nhiệm tới mức chủ định cung cấp thông tin sai lệch trên Internet nhằm chứng minh mức độ kém tin cậy của nó − phần lớn người dùng Internet đều khẳng định rằng, họ nhận được nhiều ích lợi khi sử dụng Internet vào mục đích tốt. Tuy nhiên, họ cũng nhất trí rằng, để biết cách sử dụng Internet một cách có ích thì các sinh viên, giảng viên và các nhà khoa học đều cần những hướng dẫn ở mức độ nhất định.  Không ngạc nhiên khi ta có thể tìm thấy nhiều người trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ủng hộ Internet hơn trong lĩnh vực khoa học xã hội, và nhiều người ủng hộ Internet trong khoa học xã hội hơn so với trong văn học-nghệ thuật. Thật vậy, trong khoa học tự nhiên, chất lượng thông tin trên các trang web như Wikipedia, và các trang web của các trường đại học lớn − Caltech, Princeton, Cambridge, v.v. − hoặc các trung tâm nghiên cứu lớn − NASA, CERN, v.v. − có chất lượng thông tin tương đương với các cuốn bách khoa toàn thư uy tín nhất, chẳng hạn như Britannica, Universalis, và thậm chí chúng còn được cập nhật hơn. Tuy nhiên, chất lượng thông tin trên Internet thấp hơn khi chúng ta truy cập vào vô số các blog mà trong đó học sinh và sinh viên có thể vào đọc sự chỉ dạy của một ai đó có kinh nghiệm hơn, cư xử như thể một bậc thầy − tất nhiên nhiều người truyền đạt kinh nghiệm của mình hoàn toàn vì dụng ý tốt đẹp. Nhưng những blog này thường không chỉ có các sai sót mà chứa cả các quan niệm sai lầm. Khả năng đánh giá độ tin cậy của thông tin trên web đòi hỏi sự hiểu biết về lĩnh vực được thảo luận, điều mà đa số các sinh viên chưa thể có được. Do đó các giảng viên cần hướng dẫn sinh viên, như giới thiệu cho họ những trang web đáng tin cậy và giúp sinh viên có tư duy phê phán để có thể đưa ra lựa chọn tốt hơn.  Sai phạm chủ yếu mà người ta thường đổ cho Internet là nạn đạo văn. Nhờ Internet, với kỹ thuật cắt-và-dán người ta có thể nhanh chóng tạo ra một văn bản có nội dung hợp lý mà không mất nhiều công sức. Nhiều trường đại học rất quan tâm đến việc phát hiện các gian lận như vậy, và từ đó nhiều phần mềm tinh vi đã được viết ra. Trong khi đó, hiển nhiên là ngày càng có nhiều sinh viên mua tiểu luận qua mạng từ những trang web được lập ra với mục đích kiếm tiền bằng dịch vụ này. Bình luận duy nhất của tôi về khía cạnh này là khẳng định lại tầm quan trọng của những bài thi vấn đáp: 15 phút hay nửa giờ là đủ để có thể đánh giá kiến thức, độ nhạy bén và trí thông minh của một sinh viên.  Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là những khó khăn trong việc xác định đạo văn, hay chính xác hơn là cái gì đang phê phán về nó. Để minh họa cho quan điểm của mình, tôi xem xét bốn ví dụ sau.          Trong khoa học tự nhiên, chất lượng thông  tin trên các trang web như Wikipedia, và các trang web của các trường  đại học lớn − Caltech, Princeton, Cambridge, v.v. − hoặc các trung tâm  nghiên cứu lớn − NASA, CERN, v.v. − có chất lượng thông tin tương đương  với các cuốn bách khoa toàn thư uy tín nhất, chẳng hạn như Britannica,  Universalis, và thậm chí chúng còn được cập nhật hơn.        Ví dụ đầu tiên, một sinh viên đại học được yêu cầu viết luận văn tốt nghiệp, không đòi hỏi thực hiện nghiên cứu riêng mà công việc chỉ là tìm kiếm và tập hợp thông tin về một đề tài nào đó. Với yêu cầu như vậy, người sinh viên này được mong đợi sẽ: trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo, có đánh giá tốt thông tin cần thu thập, sắp xếp và tổng kết thông tin một cách hợp lý, và quan trọng nhất, phải hiểu rõ về những gì mình viết. Với công việc như vậy, thường là anh ta sẽ cắt-và-dán rất nhiều và chúng ta không thể phê phán điều này nếu anh ta thực hiện được những yêu cầu kể trên. Dĩ nhiên, một số thay đổi về mặt cú pháp so với nguyên bản cũng là điều tốt, nhưng nếu người ta cứ khăng khăng bắt buộc phải thay đổi cú pháp thì nghe có vẻ hơi trẻ con.  Ví dụ thứ hai là việc viết phần giới thiệu cho một bài báo nghiên cứu để gửi công bố trên tạp chí khoa học, hay cho một luận văn thạc sĩ hoặc luận án tiến sĩ. Những bình luận trong ví dụ thứ nhất hoàn toàn có thể áp dụng được cho trường hợp này. Phòng thí nghiệm của tôi hợp tác với một đài quan sát vũ trụ tại Argentina, trong một dự án hợp tác nghiên cứu quốc tế lớn. Tất cả các ấn phẩm khoa học của chúng tôi đều thường bắt đầu với lời giới thiệu đại để như vậy. Và phần lớn các bài giới thiệu này thường có chung một nội dung, trong đó giới thiệu với người đọc về nghiên cứu tia vũ trụ; mô tả đài quan sát và phương pháp phân tích số liệu. Có thể cần một số biến thể để phù hợp với hiểu biết của những đối tượng người đọc khác nhau. Nhưng ngoài điều đó ra, không có gì là sai trái khi sử dụng việc cắt-và-dán. Nghe có vẻ trẻ con nếu ai đó cứ cố ép buộc phải sửa sang một chút nhằm tạo ra một bản sắc cá nhân cho phiên bản của mình, giống như thêm chút mắm muối vào một công thức nấu ăn đã có sẵn.  Ví dụ thứ ba là về việc viết một bài báo tổng kết cho một hội nghị hoặc một tạp chí ví dụ như Annual Reviews. Người viết báo cáo là người đã nắm rõ về lĩnh vực sẽ viết, hoàn toàn làm chủ nó, có khả năng đưa ra đánh giá hợp lý về những đóng góp của lĩnh vực đó, tổ chức chúng thành một bài tổng hợp toàn diện. Một lần nữa, ở đây, người viết có thể sử dụng việc cắt-và-dán mà không đáng bị chê trách.  Ví dụ thứ tư và cuối cùng là trường hợp một giảng viên cần chuẩn bị bài giảng cho sinh viên. Một số giảng viên chỉ đơn thuần dùng − hoặc thậm chí đọc nguyên xi! − một cuốn sách giáo khoa do người khác viết. Với tôi, tự viết bài giảng là một việc làm đáng hoan nghênh vì giảng viên có cơ hội điều chỉnh nội dung cho phù hợp với người nghe, viết ra những kiến thức phù hợp nhất với hiểu biết của sinh viên. Nhưng ngay cả khi tự viết bài giảng, các giảng viên có thể sẽ sử dụng rất nhiều việc cắt-và-dán, và việc làm đó không có gì là sai cả.  Tóm lại, khi truyền đạt kiến ​​thức đã tồn tại từ trước, không ai có thể bị đổ lỗi cho việc sao chép từ web miễn là người đó: i) trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo; ii) hiểu rõ những gì mình sao chép; iii) đủ am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu để lựa chọn nội dung sao chép một cách đúng đắn; iv) sắp xếp và trình bày hợp lý tài liệu sao chép.  Tuy nhiên, khi trình bày một công trình nghiên cứu riêng, về phương pháp được áp dụng và kết quả thu được, hoặc khi biểu đạt một nội dung phân tích, đánh giá hay đơn thuần chỉ là bày tỏ ý kiến về​​ một trường hợp cụ thể nào đó, bất kỳ hình thức đạo văn nào cũng đáng bị chê trách và phải bị lên án một cách mạnh mẽ. Không thể xem nhẹ tầm quan trọng của việc duy trì đạo đức tuyệt đối và đúng mực trong giáo dục và nghiên cứu. Để cư xử đúng mực, người ta chỉ cần có một trực quan thông thường và một ý thức sâu sắc về đạo đức. Khi có những phẩm chất này thì người ta không cần phải định nghĩa một cách chính thức và chính xác như thế nào là đạo văn, và mọi bình luận ở trên đây trở nên quá hiển nhiên. Với Internet, chúng ta có một công cụ tuyệt vời chưa từng có giúp tạo nên những tiến bộ trong khoa học và truyền tải kiến ​​thức. Hoạt động hiệu quả của các công cụ tìm kiếm như Google và các trang web với cơ sở dữ liệu lớn như Wikipedia hay arXiv giúp ta có thể dễ dàng truy cập nhanh chóng tới nhiều mảng kiến ​​thức của loài người. Hãy sử dụng chúng cho những điều tốt đẹp hơn, chứ đừng cho những điều tồi tệ hơn!          Phạm Ngọc Diệp dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang IPP 2 khởi động Chương trình Đào tạo tăng tốc ĐMST      Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại bốn vùng trọng điểm là Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng và Cần Thơ sẽ được hỗ trợ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng xuất khẩu ra thị trường quốc tế khi tham gia Chương trình Tăng tốc đổi mới sáng tạo – Innovation Accelerator Training Program (IAP) trong khuôn khổ Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2).       Trong buổi lễ khởi động chương trình Đào tạo tăng tốc đổi mới sáng tạo, diễn ra vào ngày 17/8 tại Hà Nội, Ban Quản lý IPP 2 đã giới thiệu về IAP và những nội dung cơ bản của chương trình. Theo đó, IAP sẽ được kéo dài sáu tháng (từ tháng  8/2015 đến tháng 1/2016) với hoạt động đầu tiên là một khóa huấn luyện cấp tốc sáu ngày, đối tượng tham gia là các doanh nghiệp có tiểu dự án đổi mới sáng tạo do IPP2 tài trợ, diễn ra từ ngày 17  đến 22/8/2015 tại Hà Nội.   Để gia tăng kinh nghiệm cho các nhà khởi nghiệp, IAP sẽ tổ chức các hội thảo hằng tháng với khách mời là  các diễn giả quốc tế, các chuyên gia tư vấn, doanh nhân thành  công của Việt Nam, trong đó một số hội thảo mở rộng cánh cửa, mời các cộng  đồng khởi nghiệp, đối tác trong hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới  sáng tạo tham dự. Ngoài ra, các chuyên gia tư vấn đổi mới sáng tạo do IPP2 mời sẽ làm việc cùng các nhà khởi nghiệp   Trong quá trình diễn ra khóa học, các nhà khởi nghiệp sẽ có có hội trình bày các  dự án của mình trước các nhà đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư trong nước và  quốc tế và các bên quan tâm khác vào ngày  gọi vốn đầu tư giữa kỳ và cuối kỳ, đồng thời các chuyên gia tư vấn   Kết thúc chương trình, IPP2 sẽ chọn lọc một số tiểu dự án được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng phát triển lớn nhất để tài trợ.   Khi tiến hành Chương trình IAP, IPP2 hướng đến hai đối tượng chính là các công ty đổi mới sáng tạo tăng trưởng cao và liên danh phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo.    Đối với các công ty đổi mới sáng tạo tăng trưởng cao, IPP2 hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới đối với thị trường Việt Nam và có tiềm năng xuất khẩu ra các thị trường quốc tế chứ không đơn thuần là các dự án cải tiến nhỏ về chất lượng hay giảm giá thành sản phẩm. IPP2 đã lựa chọn hỗ trợ 19 tiểu dự án trong đợt kêu gọi đề xuất tài trợ năm 2015 với các tài trợ ban đầu và hỗ trợ kỹ thuật từ Chương trình  IAP.  Đối với liên danh phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, IPP 2 hỗ trợ các dự án phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo nhằm phát triển một hệ sinh thái lành mạnh, qua đó cung cấp các dịch vụ tốt hơn cho các công ty khởi nghiệp. IPP 2 đã lựa chọn bốn dự án phát triển hệ thống đối mới sáng tạo trong đợt kêu gọi đề xuất tài trợ năm 2015. Các dự án này sẽ nhận được tài trợ ban đầu và hỗ trợ kỹ thuật từ Chương trình  IAP.            Chương  trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) là chương trình hỗ  trợ phát triển chính thức về đổi mới sáng tạo giữa hai chính phủ Việt  Nam và Phần Lan. Giai đoạn 2 của IPP được thực hiện trong bốn  năm, từ tháng 3/2014 đến tháng 2/2018 nhằm thúc đẩy hệ thống  đổi mới sáng tạo quốc gia của Việt Nam. Cơ quan chủ quản của Chương trình  là Bộ Ngoại giao Phần Lan và Bộ KH&CN Việt Nam  IPP 2 gồm ba cấu phần chính: 1. Phát triển môi trường thể chế và xây  dựng năng lực về KH&CN và đổi mới sáng tạo; 2. Thiết lập quan hệ  đối tác đổi mới sáng tạo; 3. Thúc đẩy các dự án đổi mới sáng tạo.    Chương trình nhằm thúc đẩy  chuyển đổi văn hóa doanh nghiệp dựa trên nền tảng của đổi mới sáng tạo; hỗ  trợ xây dựng năng lực cho các đối tác công và tư trong việc đưa các giải  pháp đổi mới sáng tạo, sản phẩm và dịch vụ đổi mới sáng tạo chiếm lĩnh  thị trường trong nước và quốc tế; tăng cường mối liên kết trong hệ thống  đổi mới sáng tạo quốc gia, khu vực và toàn cầu.                        Author                Quản trị        
__label__tiasang IPP 2: Liên tục thử nghiệm để hoàn thiện      Khác với rất nhiều các khóa tăng tốc khởi nghiệp có tiếng ở Việt Nam, thường chỉ áp dụng mô hình có sẵn ở nước ngoài, IPP2 đã xây dựng được cơ chế hỗ trợ startup cả về tài chính và năng lực còn đang rất non trẻ ở Việt Nam.        Một buổi tập huấn trong khuôn khổ khóa taqưng tốc khởi nghiệp của IPP2. Nguồn: IPP2    Trong buổi lễ tổng kết hơn bốn năm hoạt động của Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Phần Lan – Việt Nam giai đoạn 2 – IPP2, EZCloud được lựa chọn là đại diện của khối doanh nghiệp được IPP2 tài trợ lên phát biểu. Lý do của sự lựa chọn này, theo chị Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Chương trình, không chỉ bởi vì họ đã vươn ra quốc tế với mức tăng trưởng 250% – 300% mỗi năm sau khi tham gia chương trình mà còn vì họ thực sự “nâng niu” số tiền mà IPP2 tài trợ.  Đặng Thành Trung, giám đốc nghiên cứu, người phát biểu hôm đó từng là nhà khoa học, từng làm nghiên cứu sinh tại Đại học Paris 13, chưa hề có kinh nghiệm kinh doanh và các đồng sáng lập của anh đều có xuất thân là “dân kỹ thuật”. Họ thành lập công ty vào năm 2013 với suy nghĩ đơn giản rằng: “chỉ cần bán sản phẩm để lấy tiền” là đủ.  Chính vì vậy mà họ không có chiến lược kinh doanh, bán hàng chỉ dựa vào mối quan hệ có sẵn là chủ yếu, nhân sự mỏng, những nhà sáng lập vừa là sếp vừa là nhân viên. Theo lời anh Trung, sau hai năm gặp nhiều khó khăn, họ “mong muốn nhận được tài trợ nhưng không biết xin kiểu gì”, “chỉ nghe đài báo nói là bán cổ phần nhưng cũng không biết bán cổ phần kiểu gì”. IPP2 đem đến sự giúp đỡ kịp thời.  Không giống quỹ tư nhân hay nhà nước trước đó  Xin tài trợ hay gọi vốn đầu tư đối với đa số những người khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam không hề đơn giản vì nhiều lí do. Hiện nay, ở Việt Nam, các startup xin hỗ trợ tài chính qua ba con đường chủ yếu (không kể người thân), thứ nhất là các nhà đầu tư thiên thần, thứ hai là các quỹ đầu tư và cuối cùng là vay vốn ngân hàng.  Theo tài liệu nghiên cứu phục vụ cho việc xây dựng chính sách của IPP2 vừa phát hành, hai đối tượng đầu tiên đều chưa được khuyến khích một cách hợp pháp ở Việt Nam. Dẫu cho xuất hiện các câu lạc bộ đầu tư thiên thần thì họ hoạt động vẫn rất hạn chế và việc vận hành của họ thường dựa vào các nguồn tiền và dự án nước ngoài, nếu nguồn tài chính này hết thì các tổ chức này khó mà có thể tiếp tục duy trì.  Các quỹ đầu tư mạo hiểm thực chất xuất hiện ở Việt Nam dưới dạng văn phòng đại diện, còn “túi tiền” của họ nằm ở các nước có chính sách thuế và đầu tư thuận lợi hơn. Hai hình thức đầu tư mạo hiểm này cũng thường chỉ quan tâm tới các startup đã thể hiện sự tăng trưởng nhất định về mặt người dùng hoặc doanh thu. Còn các ngân hàng, mặc dù tỏ ra ủng hộ “phong trào startup” nhưng hỗ trợ của họ vẫn chỉ dừng lại ở hình thức vay ưu đãi nhưng rất khó triển khai vì các ngân hàng chưa có kinh nghiệm định giá và đánh giá các dự án khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.  Tuy nhiên, việc khó tiếp cận nguồn vốn không chỉ dừng lại ở những lí do khách quan mà còn đến từ việc startup không có đủ kiến thức và mối quan hệ để gọi vốn. Gọi vốn đầu tư mạo hiểm được mô tả theo lời của anh Đỗ Hoài Nam, một nhà đầu tư thiên thần từng khởi nghiệp thành công tại Silicon Valley, là một nghệ thuật, có nhiều bước và nhiều kĩ thuật từ tiếp cận các nhà đầu tư từ việc khi nào gặp, “chào hàng” ra sao cho đến việc học ngôn ngữ của họ, biết cách phân chia cổ phần thỏa đáng với các cổ đông sáng lập và nhà đầu tư nhưng vẫn đủ dùng cho nhiều lần gọi vốn sau đó.  Việc các nhà đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam vẫn đang hoạt động “phi chính thức” và đa phần thiếu chuyên nghiệp, lại càng đòi hỏi startup phải có “quen biết” mới tiếp cận được mạng lưới này hoặc kiến thức về đầu tư mạo hiểm dày dặn, vừa để bảo vệ quyền lợi cho mình, vừa để gây niềm tin với các nhà đầu tư. Nhưng đây cũng là một đòi hỏi xa vời với các startup đến từ một hệ sinh thái non trẻ như Việt Nam mà EZCloud chỉ là một ví dụ. Không ngạc nhiên khi trong số 3000 startup ở Việt Nam, chỉ có vài chục phi vụ đầu tư cho khởi nghiệp từ các quỹ đầu tư mạo hiểm mỗi năm (theo thống kê của tổ chức đào tạo khởi nghiệp Founder Institute).  Kendrick Nguyễn, từng là người tư vấn pháp lý cho AngelList, nền tảng kết nối startup với nhà đầu tư thiên thần của Mỹ phải thốt lên, “Tôi có thể tưởng tưởng ra khó khăn vô cùng lớn trong việc gọi vốn đối với 99.9% những nhà khởi nghiệp công nghệ ở Việt Nam, những người ít kết nối hơn, ít điều kiện hơn, hoặc Tiếng Anh ít trôi chảy hơn so với những người trông năng động, tự tin và thời trang ở sự kiện như Techfest”.  Sự xuất hiện của IPP2 đã khỏa lấp phần nào sự khuyết thiếu trong tài chính hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam và giúp trả lời cho câu hỏi vốn gây tranh cãi nhà nước có nên và có thể hỗ trợ tiền cho khởi nghiệp sáng tạo hay không. Khác hoàn toàn với các hình thức hỗ trợ tài chính của tư nhân và cả của nhà nước trước đó vốn chỉ dành cho nghiên cứu.  IPP2 lựa chọn hình thức tài trợ cho doanh nghiệp mà không lấy cổ phần, cũng không can thiệp vào hoạt động của các startup. Tài trợ của chương trình chi trả cho 70% chi phí liên quan đến nhân sự (còn 30% doanh nghiệp tự bỏ ra) và được hoàn trả sau khi doanh nghiệp đã chi tiêu, dựa trên báo cáo tài chính của họ, cứ ba tháng/lần. IPP2 mở ra cơ hội cho doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực miễn là đáp ứng đủ các tiêu chí về thị trường và sản phẩm chứ không khu trú ở các xu hướng công nghệ đang thịnh hành của thế giới giống như các quỹ hay các nhà đầu tư thiên thần.  Quy trình tài trợ đơn giản, chỉ đòi hỏi doanh nghiệp bản mô tả công ty theo mẫu có sẵn. IPP2 cũng không giới hạn tài trợ cho các doanh nghiệp đã được thành lập mà cho cả các ý tưởng đang hình thành. Điều này khiến cho các startup, dù không được chuẩn bị về kiến thức gọi vốn hay mạng lưới các mối quan hệ vẫn có thể nhận được tài trợ thông qua các thủ tục đơn giản.  Nhưng không chỉ dừng lại ở hỗ trợ tiền bạc, IPP2 đã đưa các doanh nghiệp vào một khóa đào tạo tăng tốc khởi nghiệp kéo dài 6 tháng. EZCloud cho rằng, chính điều này giúp cho họ nhiều hơn là số tiền được nhận. Theo lời anh Trung, nhờ tham gia vào khóa đào tạo này mà EZCloud đã phát triển doanh nghiệp một cách bài bản, hiểu thế nào là mô hình kinh doanh, chân dung khách hàng – những khái niệm anh cho là thiết yếu đối với startup. Đó còn chưa kể IPP2 còn đem đến cho họ những mối quan hệ để từ đó họ có được thêm khách hàng, đầu mối để tuyển dụng nhân sự và mối quan hệ với các nhà đầu tư mới.  Trước khi đóng dự án, IPP2 phỏng vấn sâu 20 doanh nghiệp được tài trợ và nhận được phản hồi của họ cho rằng hỗ trợ của IPP2 là hữu ích, 12 trong số đó cảm thấy hỗ trợ của IPP2 là không thể thiếu và vô cùng quan trọng. Sau 6 tháng tăng tốc, có ba dự án gọi thêm được hơn 150.000 USD từ các nhà đầu tư khác.  Vào cuối năm 2017, đã có 8 doanh nghiệp được đầu tư, trong đó có năm doanh nghiệp gọi vốn thành công với tổng hơn một triệu USD. IPP2 cũng đạt được mục tiêu là giúp cho các doanh nghiệp phát triển mô hình kinh doanh và mở rộng thị trường khi 70% doanh nghiệp được tài trợ sống sót sau 2 năm và 4/20 doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm của mình ra quốc tế (trừ Beeketing đã xác định mục tiêu hướng đến thị trường toàn cầu từ trước).  Luôn thay đổi trên đường đi  Trên thực tế, IPP2 đã không đưa ra một gói hỗ trợ hoàn thiện cho startup như vậy ngay từ ban đầu. Quá trình từ việc tài trợ cho đến thiết kế chương trình đã diễn ra nhiều sự điều chỉnh và thử nghiệm liên tục. Sau khi tài trợ cho 18 dự án/công ty khởi nghiệp sáng tạo với 30.000 EUR mỗi công ty, IPP2 lựa chọn tài trợ ra năm công ty tốt nhất để tài trợ tiếp 100.000 EUR.  Việc lựa chọn không chỉ dựa vào đánh giá của các chuyên gia độc lập với các tiêu chí giống như lần một mà còn dựa vào báo cáo tổng kết của khóa tăng tốc khởi nghiệp. Đó là lí do mà chị Trần Thị Thu Hương chia sẻ trong buổi lễ Tổng kết rằng, kể cả các chuyên gia độc lập gật đầu, chúng tôi vẫn nói không vì thấy kết quả hoạt động của họ ở đợt một không thực sự đạt yêu cầu. Có thể thấy rất rõ, trong khi ở lần tài trợ thứ nhất dựa vào tiềm năng tăng trưởng của các công ty thì ở lần thứ hai, không chỉ dựa trên chỉ số này mà các công ty còn phải đặt chân tới thị trường quốc tế mới tiếp tục nhận được tài trợ.  Ngoài ra, sự ra đời của khóa tăng tốc khởi nghiệp cũng là một hoạt động ngoài dự kiến vì mục đích ban đầu của IPP2 là chỉ tài trợ vốn mồi cho doanh nghiệp. Trong quá trình phỏng vấn nhu cầu của startup ở Việt Nam thông qua các buổi hội thảo được phỏng vấn ở Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, những người điều hành dự án nhận ra rằng, các startup đều bộc lộ những điểm yếu chung sau: Thiếu hụt sự nhạy cảm kinh doanh, thiếu hụt kĩ năng mở rộng ra thị trường ngoài nước, thiếu hụt kĩ năng gọi vốn, mơ hồ về kĩ năng thuyết trình dự án, kĩ năng đổi mới sáng tạo khiêm tốn và thiếu hụt về kĩ năng xây dựng, mở rộng các mối quan hệ.  Việc “giải tỏa” bất cập này lúc bấy giờ chỉ dựa vào một vài cá nhân và các vườn ươm, khóa tăng tốc đang hoạt động hạn chế do thiếu thốn nguồn lực cả về tài chính lẫn con người. Đó là lí do mà IPP2 đã cho ra đời chương trình đào tạo các cố vấn khởi nghiệp (Trainning of Trainers 1 – ToT1) để tạo ra các “hạt giống” thúc đẩy hệ sinh thái. Chương trình đào tạo này, lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam, được giảng dạy bởi cả các chuyên gia trong và ngoài nước về đổi mới sáng tạo và thiết kế nhằm không chỉ phục vụ cho ToT1 mà để áp dụng rộng rãi trong các trường đại học về sau này.  Kết hợp đầu vào của hai dự án: tài trợ cho dự án khởi nghiệp sáng tạo và đào tạo các cố vấn khởi nghiệp, IPP2 đã tạo ra được một khóa tăng tốc khởi nghiệp “made in Vietnam”, phù hợp với đa số trình độ của các startup, đồng thời cũng là không gian kiểm nghiệm tính hiệu quả của chương trình đào tạo và gây dựng uy tín cho các cố vấn mà họ mới đào tạo. Khóa tăng tốc khởi nghiệp này cũng góp phần tạo ra một hệ sinh thái nhỏ nơi các thành tố hỗ trợ và liên kết với nhau một cách chặt chẽ.    Theo nghiên cứu của IPP2, các mô hình tài chính hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của hiện tại cần cải thiện như sau:  Vay ưu đãi: Hiện nay, việc cân nhắc chuyển đổi từ khoản nợ sang khoản tài trợ là khả thi ở Việt Nam (tức là trong trường hợp startup thất bại, không thể trả được khoản vay thì nhà nước sẽ coi đó như một khoản tài trợ và không yêu cầu hoàn trả nữa), vừa giải quyết được vấn đề nợ xấu, vừa giải quyết được nguồn vốn hỗ trợ startup.  Bảo lãnh tín dụng: Với hình thức này thì ngân hàng sẽ san sẻ bớt rủi ro cho các đơn vị bảo lãnh và vì vậy sẽ ít do dự hơn trong việc cho vay các startup. Tuy nhiên để triển khai mô hình này thì nhà nước cần thành lập một quỹ lớn, tập trung tất cả những nguồn tài chính từ phía tư nhân và nước ngoài và đưa ra một văn bản pháp luật mới thay thế Quyết định 58/2013/QD-TTg về việc thành lập và vận hành các quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để giải quyết những vấn đề và hạn chế trong mối quan hệ giữa họ và các ngân hàng.  Quỹ đầu tư mạo hiểm: Để khuyến khích thị trường đầu tư mạo hiểm, nhà nước phải đưa ra một môi trường thuận lợi cho cả nhà đầu tư cá nhân lẫn các quỹ đầu tư như minh bạch các văn bản, điều kiện, dữ liệu về đầu tư hoặc qua các công cụ về thuế. Nhà nước cũng nên cân nhắc hình thức cùng đầu tư với quỹ tư nhân giống như trường hợp của Israel và Singapore.  Quỹ của doanh nghiệp: Luật chuyển giao công nghệ (2017) mặc dù cho phép sử dụng quỹ khoa học và công nghệ (miễn thuế) đầu tư vào các startup thì vẫn cần những hướng dẫn, thông tin cụ thể và khuyến khích nhất định để khích lệ sự tham gia của doanh nghiệp vào đầu tư mạo hiểm. Nhà nước có thể thúc đẩy hoạt động này bằng cách tăng thêm những ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp.  Các nhà đầu tư thiên thần: Không chỉ cần thuế, các nhà đầu tư thiên thần còn cần được đào tạo, hỗ trợ thành lập hiệp hội và liên kết với mạng lưới nhà đầu tư thiên thần trong khu vực và quốc tế để nâng cao năng lực và thu hút thêm nguồn vốn từ nước ngoài.     Nguồn: Khoa học và phát triển.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang IPP Giai đoạn 2 chú trọng đào tạo năng lực ĐMST      Giai đoạn 2 của Chương trình Đối tác Đổi mới  Sáng tạo Việt Nam- Phần Lan (IPP) sẽ kéo dài từ tháng 12/2014 đến tháng  02/2018 với ngân sách 11 triệu euro và đặc biệt tập trung vào nội dung  đào tạo năng lực ĐMST.    Thông tin trên được Giám đốc dự án – ông Lauri Laakso  – cho biết tại buổi họp báo ra mắt dự án diễn ra sáng 12/12/2014 tại Hà  Nội.  Đánh giá về đổi mới sáng tạo (ĐMST) ở Việt Nam thông qua những kinh nghiệm từ giai đoạn 1 của dự án, ông Lauri Laakso cho rằng có ba rào cản lớn nhất cho ĐMST ở Việt Nam hiện nay là: hiểu biết về thị trường, nhất là thị trường quốc tế, còn hạn chế; năng lực ĐMST và quản lý ĐMST còn thấp; và nền văn hóa tập thể chưa khuyến khích các cá nhân sáng tạo.  Đây cũng chính là lý do vì sao IPP giai đoạn 2 sẽ tập trung vào nội dung đào tạo năng lực ĐMST và chú trọng vào các công ty khởi nghiệp.   Năm 2015, IPP sẽ bắt đầu Chương trình Học bổng ĐMST nhằm đào tạo những cá nhân không chỉ có khả năng thực hiện thành công các dự án ĐMST mà còn có thể tập huấn, đào tạo cho các cá nhân khác. Các thành viên sẽ nhận được hỗ trợ chi phí sinh hoạt, chi phí đi lại, chỗ ở và các chi phí khác cần thiết trong suốt thời gian tham gia chương trình, đồng thời họ cũng được đòi hỏi phải dành toàn bộ thời gian cho chương trình. Giai đoạn đầu bao gồm hai tháng đào tạo chuyên sâu với các giảng viên chuyên nghiệp. Sau đó, các thành viên sẽ có trách nhiệm tham gia vào các dự án đổi mới sáng tạo do IPP hỗ trợ.  IPP cũng sẽ tổ chức một loạt các sự kiện, hội thảo và chương trình tài trợ cho các công ty thực hiện giải pháp ĐMST mới thành lập và tăng trưởng nhanh, và các nhóm phát triển hệ thống ĐMST tại một số địa phương.  Ngoài ra, IPP còn cung cấp khóa học bán thời gian đào tạo khởi nghiệp và ĐMST trong sáu tháng cho tất cả các tổ chức mà IPP cộng tác.             Được coi là cái nôi sinh ra ĐMST, Phần Lan  đang sử dụng những kinh nghiệm, kiến thức ĐMST thành công trong khoảng  50 năm trở lại đây của mình để giúp Việt Nam phát triển một hệ thống  ĐMST quốc gia và một nền kinh tế tri thức thông qua chương trình IPP.  Đây là một chương trình hợp tác Hỗ trợ phát triển Chính thức (ODA) của  Chính phủ Việt Nam và Phần Lan, với cơ quan chủ quản là Bộ KH&CN  Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan. Giai đoạn 1 của chương trình được  thực hiện từ năm 2009 đến năm 2013 với ngân sách hoạt động trên 7 triệu  Euro.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang IPP2: Một cách tiếp cận khởi nghiệp tinh gọn khu vực công      Ngày 6.7.2018, IPP Grand Harvest Day diễn ra tại Hà Nội, tổng kết chặng đường 4 năm của một dự án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp. Với một người may mắn có những trải nghiệm đa dạng, đầy cảm xúc thăng trầm với IPP21 từ 2015, tôi tin rằng, những chia sẻ của mình sẽ giúp nhìn nhận dự án này với một góc độ mới, góp phần thúc đẩy những cách tiếp cận mới cho các thử nghiệm khu vực công.       Một bootcamp của IPP2 kết nối các học viên trong lớp ToT1 và các startup được IPP2 tài trợ.  Vào thời điểm IPP2 đề xuất sự linh hoạt trong mô hình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp, khái niệm khởi nghiệp tinh gọn (lean startup) còn rất mới mẻ ở Việt Nam và chắc rằng, không một ai trong Ban Quản lý Dự án hay Ban chỉ đạo hiểu sâu khởi nghiệp tinh gọn là gì và ứng dụng nó như thế nào. Vào thời điểm đó trên thế giới, khởi nghiệp tinh gọn cũng còn đang phổ biến trong giới khởi nghiệp là chính, không phải chính phủ nào cũng sẵn sàng tiếp nhận một cách tiếp cận mới. Chính vì vậy, trên thực tế cách tiếp cận tinh gọn của một dự án khu vực công rất đáng để nhìn nhận và phân tích từ nhiều góc độ và chỉ là đúc rút từ những gì đã trải qua chứ không phải là một chủ đích ban đầu. Khởi nghiệp tinh gọn là một cách tiếp cận hơn được sử dụng ngay từ đầu tại IPP2. Điều ngạc nhiên là với một số tiền ODA không nhiều, một dự án đã đạt được thành công những tác động đề ra chính là nhờ nguyên lý linh hoạt tối đa, điều chỉnh nhanh và học hỏi nhanh từ những vấn đề gặp phải.  Một sandbox cho những thử nghiệm dựa trên thử nghiệm linh hoạt trên tinh thần xây dựng – đo lường- học hỏi và điều chỉnh nhanh  Thử nghiệm về định hướng  Một trong những đặc thù của khu vực công là mức độ chấp nhận rủi ro thấp và tốc độ thay đổi chậm. Nếu đi theo cách tiếp cận thông thường, IPP2 rất có thể sẽ rơi vào vòng xoáy của những dự án thông thường là phải hỗ trợ những ngành trọng điểm, những lĩnh vực mũi nhọn và những chiến lược mang tính chính thống. Nhưng rất may mắn, IPP2 đã vượt qua sự cứng nhắc thông thường đó, nhận được sự ủng hộ từ các cấp độ khác nhau về cách thức vận hành dự án.  Trước tiên phải kể đến yêu cầu định hướng xuất khẩu cho các startup. Một trong những cách kết hợp khá thú vị chính là học hỏi từ đất nước tài trợ vốn ODA, các doanh nghiệp Phần Lan xuất phát từ một thị trường nhỏ hẹp, định hướng xuất khẩu ngay từ khi hình thành sản phẩm dịch vụ. Tuy vậy, việc lựa chọn định hướng xuất khẩu cho startup là một định hướng mới và mang tính thách thức cao. Đặc biệt, doanh nghiệp thông thường của Việt Nam “go global” (ra thị trường toàn cầu) vốn đã khó khăn, huống chi là các startup còn non trẻ. Tuy nhiên, định hướng này không phải không có cơ sở. Nhiều doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam vào thời điểm đó được dẫn dắt bởi các sáng lập viên tốt nghiệp ở nước ngoài, có trải nghiệm làm việc ở các công ty, tập đoàn lớn, có hiểu biết về thị trường nước ngoài cũng có những tham vọng và tiềm năng chinh chiến tại thị trường quốc tế. Một số các mặt hàng của Việt Nam cũng có những tiềm năng ra thị trường quốc tế ở quy mô lớn như nông sản. Chính vì vậy, việc thử nghiệm cũng là một thông điệp về dũng cảm đưa ra những định hướng mới cho hoạt động hỗ trợ.  Thử nghiệm về lựa chọn giai đoạn của startup để hỗ trợ  Có thể nói trước IPP2, có nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp theo nhiều hình thức khác nhau, song chưa có một chương trình nào dũng cảm thử nghiệm hỗ trợ các dự án khởi sự kinh doanh từ giai đoạn ý tưởng và có những cải tiến về cách thức tiếp cận xét duyệt hồ sơ. Thay vì yêu cầu nộp một hồ sơ dài dằng dặc để được chấp nhận vào chương trình hỗ trợ ngay từ việc gọi nộp hồ sơ, IPP2 đã chia ra làm 3 giai đoạn khác nhau gồm cả các bước chuẩn bị cho mời gọi nộp hồ sơ  gồm các sự kiện đồng sáng tạo với các địa phương trọng điểm (Co-creation events) như Hà Nội, Đà Nẵng, HCM, Cần Thơ. Mục đích của việc này là nhằm đánh giá khả năng thành công với số lượng hồ sơ và ý tưởng khá tốt và đầy đủ để bước vào đợt chính thức kêu gọi tài trợ (Grant Call). Bước tiếp theo, IPP2 mới kêu gọi bày tỏ quan tâm (EoI- Express of Interest). Để tránh các doanh nghiệp khởi nghiệp gánh nặng về thuyết minh dài dòng, IPP2 đã yêu cầu bản đề xuất có độ dài không quá 6 trang  ở đợt chính thức kêu gọi tài trợ– Grant Call.  Việc đưa một tập các dự án thuộc các trình độ phát triển khác nhau, nhóm ngành khác nhau vào một chương trình tăng tốc khởi nghiệp sau khi cấp vốn mồi cũng là một sự mạo hiểm. Với tính chất của một cuộc thử nghiệm, IPP2 nhận ra rằng, ở Việt Nam, nếu chỉ đưa những dự án sẵn sàng chấp nhận vốn đầu tư ở giai đoạn cao hơn vào tăng tốc thì số lượng rất hạn chế và những dự án đó thường nằm trong tầm ngắm của những quỹ đầu tư mạo hiểm.  Điều đó khiến họ chấp nhận số lượng lớn những startup ở các giai đoạn khác nhau, ngành nghề khác nhau và cả những bên phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp vào cùng một chương trình tăng cường 5 ngày. Kết quả có thể sẽ là những dự án chấm dứt hoạt động do mô hình không có tiềm năng; cũng có thể sẽ phát triển thành một doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng một nhu cầu đã có trên thị trường và một số ít sẽ trở thành những startup thực sự tiếp nhận vốn đầu tư, tăng trưởng ngoạn mục và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.  Thử nghiệm về sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên bản địa  Mặc dù có những khảo sát, điều tra về nhu cầu và khó khăn của doanh nghiệp trước đó, IPP2 không hoàn toàn dựa trên những kết quả đó để mời chuyên gia nước ngoài về giải quyết vấn đề bản địa như nhiều dự án vẫn thường làm. Nỗ lực sử dụng nguồn lực bản địa, được đào tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường bản địa, kết hợp với nguồn kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm quốc tế để đảm bảo tính bền vững của dự án giúp IPP2 có những bước đột phá trong quy trình thiết kế dịch vụ hỗ trợ startup. Cụ thể là, sau khi nhận thấy, chương trình do đối tác nước ngoài thiết kế không phù hợp với nhu cầu và thực tiễn thị trường địa phương, IPP2 đã đưa chính nguồn lực địa phương vào để thiết kế nội dung và cùng các chuyên gia nước ngoài cung cấp hoạt động đào tạo tại chương trình tăng tốc khởi nghiệp.      Sự “kết hôn” mang tính cơ học giữa những người được đào tạo làm HLV chân ướt chân ráo với những doanh nghiệp mà đa số, khái niệm tăng tốc vẫn còn là một sự mới mẻ và mạo hiểm. Nó đặt cả hai bên vào thế phải nỗ lực hết sức.        Thử nghiệm song song với việc cấp vốn và tăng tốc, là việc đào tạo ra đội ngũ Huấn luyện viên đổi mới sáng tạo mà trong đó, cả những HLV và IPP2 đều đang chấp nhận rủi ro. Trước, trong và ngay cả sau khi thực hiện chương trình, IPP2 đều nhận được những sự hoài nghi, thậm chí chỉ trích từ nhiều phía khi lựa chọn những người thuộc các nhóm công, tư, trường đại học, doanh nghiệp, nhà nước vào vai trò của các HLV. Học tăng cường liên tục hai tháng (một tháng tại Hà Nội, tương tác với startup và hệ sinh thái khởi nghiệp tại Hà Nội và một tháng tại TP.HCM) cùng với nhóm chuyên gia được mời từ Mỹ và châu Âu, các HLV này tiếp tục thực hành sáu tháng với chương trình tăng tốc cho những nhóm khởi nghiệp được IPP2 cấp vốn mồi 30.000 Euro. Trên thực tế, vào thời điểm đó, và cho đến tận bây giờ, tại Việt Nam, rất ít chương trình tăng tốc thực sự dành ra một lực lượng huấn luyện viên chuyên nghiệp, được đào tạo để thực hiện công việc. Nhiều quan điểm vào thời điểm đó cho rằng, IPP2 sai lầm khi lựa chọn những gương mặt trẻ chưa nhiều kinh nghiệm vào làm HLV cho các startup. Đến đây, có vài điểm cần làm rõ: Thứ nhất, khái niệm HLV cho startup thời điểm đó gần như chưa hề tồn tại trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Họ đồng nghĩa HLV với tư vấn viên; với cố vấn, đó là một trong những lý do khiến việc có HLV nhận được sự phản ứng trái chiều từ cả các chủ doanh nghiệp được cấp vốn và cả bên ngoài về việc nhất định phải có kinh nghiệm, kỹ năng và phải thực sự lăn lộn với một doanh nghiệp nào đó mới đủ trình độ để huấn luyện startup là điều dễ hiểu. Trên thực tế, vai trò của HLV không phải là định hướng, họ thực thi công việc mang tính kỹ thuật, đặt những câu hỏi kỹ thuật xoay quanh mô hình kinh doanh để họ tự trả lời và hoàn thiện nó. Đó là một công việc giúp cả hai bên cùng trưởng thành.  Thứ hai, như chia sẻ của bà Trần Thị Thu Hương, giám đốc dự án, việc đưa 12 HLV thuộc chương trình ToT1, mới qua đào tạo tập trung hai tháng về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp kết hợp vào sáu tháng tăng tốc khởi nghiệp IAP thông qua “học thông qua làm” (learning by doing) là tạo điều kiện và tạo môi trường thực tập lý tưởng cho 12 học viên.  Sự “kết hôn” mang tính cơ học giữa những người được đào tạo làm HLV chân ướt chân ráo với những doanh nghiệp mà đa số, khái niệm tăng tốc vẫn còn là một sự mới mẻ là một sự mạo hiểm. Nó đặt cả hai bên vào thế phải nỗ lực hết sức. Các HLV cần phải tăng cường năng lực của mình liên tục để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. “Mọi thứ đều là lý thuyết cho đến khi bạn thực sự thực hành”. Việc các HLV được đưa vào thực tế ngay lập tức tạo ra những áp lực tích cực, vừa phải giảng dạy các công cụ mình đã được học, vừa cùng doanh nghiệp ứng dụng nó. Doanh nghiệp cũng phải tự tiếp cận với khái niệm mới, buộc phải sử dụng những cách tiếp cận mới để điều chỉnh mô hình kinh doanh của mình và chấp nhận những thất bại nhỏ liên tục. Chủ doanh nghiệp trong rất nhiều trường hợp một mặt vừa phải thay đổi nhận thức về cách phát triển sản phẩm dịch vụ mới theo tinh thần của khởi nghiệp tinh gọn, tư duy thiết kế (những khái niệm hoàn toàn mới mẻ), lại vừa phải đối mặt với những xung đột trong nội bộ khi tiến hành những thay đổi. Chính vì vậy, người HLV, ngoài năng lực và kỹ thuật, còn cần có những sức ép tích cực từ chính phía IPP2 để tiếng nói của họ có thêm trọng lượng và trở thành HLV cho cả đội thay vì chỉ cho một trưởng nhóm. Việc kết hợp đưa các chuyên gia quốc tế và chuyên gia trong nước có kinh nghiệm khác vào Chương trình IAP sáu tháng để hỗ trợ cho 22 nhóm dự án khởi nghiệp/hỗ trợ khởi nghiệp, bên cạnh 12 HLV cũng là một cách bổ trợ để khắc phục khó khăn của nhóm HLV. Trên thực tế, “quyền lực mềm” IPP2 mang lại cho HLV đã góp phần sự “kết hôn cơ học” này có những kết quả tích cực, giúp doanh nghiệp thay đổi nhận thức, nhận ra ích lợi của việc có những cố vấn, huấn luyện viên và cả một mạng lưới hỗ trợ thay vì chỉ là được nhận hỗ trợ về tài chính. “Thay đổi lớn nhất sau sáu tháng huấn luyện với chúng tôi chính là sự thay đổi về nhận thức (mindset)”- Nguyễn Hoàng Dương- CEO EzCloud Global chia sẻ.  Sự thử nghiệm này đưa ra một thông điệp rõ ràng về một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thì cần các yếu tố cấu thành cơ bản nào, và để ươm mầm, nuôi dưỡng và hỗ trợ khởi nghiệp thì cần hình thành những lực lượng, công cụ hỗ trợ nào.  Điều chỉnh nhanh  Những quyết định về các chương trình, dịch vụ hỗ trợ startup, hay sau này là nâng cao nhận thức của giảng viên trong trường đại học đều là những quyết định nhanh chóng dựa trên tình hình thực tế và có sự trao đổi, tranh luận kỹ trong nội bộ Ban Quản lý Dự án để có luận cứ trình ra trong các kỳ họp Ban chỉ đạo thông qua. Ví dụ, ban đầu, để hỗ trợ cho startup được tiếp tục thúc đẩy “go global”, IPP2 có thể dành ngân sách tối đa cho 10 doanh nghiệp. Song con số 10 hoàn toàn không phải là con số cố định. Nếu chỉ vì thành tích, việc lựa chọn 10 doanh nghiệp đưa vào danh sách hỗ trợ vòng hai như ban đầu sẽ không gặp vấn đề gì nhiều. Tuy nhiên, qua đánh giá độc lập, đo lường kết quả liên tục trong sáu tháng huấn luyện và lấy ý kiến đánh giá từ nhiều phía, IPP2 nhận ra rằng, trong số những doanh nghiệp nhận hỗ trợ vòng 1, chỉ có năm doanh nghiệp khởi nghiệp đáp ứng đầy đủ các tiêu chí IPP2 đề ra để được nhận vốn vào vòng 2- vòng tăng tốc. Việc lựa chọn số lượng ít hơn nhưng trung thành với những tiêu chí khi lựa chọn các nhóm đi tiếp để đảm bảo sự công bằng trong ứng xử với tất cả các nhóm.  Ngoài ra, IPP2, sau hỗ trợ cho các nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp, họ nhận ra vai trò quan trọng của các trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp và cũng nhận thức được khu vực trường đại học đang là một khoảng trống rất lớn trong hệ sinh thái khởi nghiệp khi những nỗ lực của họ tham gia vào đổi mới sáng tạo chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thị trường. Trên thực tế, việc nâng cao nhận thức của khu vực trường đại học cũng được tiếp cận khá thú vị- bắt đầu từ những hạt nhân tiềm năng của mỗi trường (theo kiểu từ dưới lên), tìm kiếm những cơ hội và áp dụng tiếp cách tiếp cận từ trên xuống. IPP2 lựa chọn những giảng viên quan tâm đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của mỗi trường, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và hỗ trợ một phần kinh phí cho liên minh giữa các trường. Tác động bề mặt về nhận thức là ưu tiên ở giai đoạn này và từ đó, chính các giảng viên có mối tương tác và hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển các hoạt động ĐMST ở chiều sâu hơn khi quay trở lại trường. Tự đặt mình chỉ là một cái cớ để các trường quan tâm hơn đến vấn đề ĐMST, có lẽ IPP2 đã thực hiện được mục tiêu đề ra, kết nối các thành phần khác nhau trọng hệ sinh thái khởi nghiệp, với kỳ vọng chính họ sẽ tạo ra những tác động lớn hơn trong tương lai.  Những kỳ vọng mở lấy con người làm trung tâm  Tham gia IPP2, các HLV, các giảng viên, các cấu phần của hệ sinh thái khởi nghiệp khác được đầu tư với chương trình đào tạo, trải nghiệm, song đồng thời cũng phải đầu tư thời gian và công sức của mình. IPP2 không đặt bất kỳ một điều kiện cứng nào cho đầu ra mà chủ yếu là để gieo hạt. Với các dự án khởi nghiệp sáng tạo, việc được cấp vốn mồi và việc cho phép doanh nghiệp tự đưa ra những kỳ vọng về KPI dựa trên thực tế của doanh nghiệp thay vì những KPI mang yếu tố cố định cũng phản ánh những kỳ vọng mở. Cách tiếp cận này không khỏi khiến nhiều người hoài nghi về hiệu quả của nó vì sẽ khó có những thước đo chính xác về tác động. Tuy nhiên, có thể thấy, trên thực tế, những hạt giống mà IPP2 ươm tạo trong chương trình 12 HLV đổi mới sáng tạo đã tạo ra những bất ngờ vì mỗi thành phần đều tìm cách tạo ra những tác động của riêng mình với hệ sinh thái khởi nghiệp. Họ không chỉ giúp nâng cao nhận thức ở tầm vi mô mà còn tạo được những thay đổi ở tầm vĩ mô. Đặt niềm tin vào những người tham gia vào khóa đào tạo các cố vấn đổi mới sáng tạo lần một (Training of Trainers – TOT1) với tư cách là những tác nhân thay đổi hệ sinh thái, những kết quả đầu ra đã thực sự là những gì IPP2 có dự kiến từ ban đầu. Tuy nhiên, trên thực tế, theo nhận định của IPP2, TOT1 đã “thể hiện xuất sắc hơn những gì mà IPP2 kỳ vọng”. Việc đặt niềm tin vào con người phản ánh một khía cạnh khác của quản trị, đó chính là đặt con người vào trung tâm của mọi sự thay đổi. Với một nguồn lực hạn chế và một tham vọng lớn IPP2 rõ ràng đã không rơi vào cái bẫy của việc kỳ vọng tạo ra những thay đổi lớn lao theo cả chiều rộng, chiều sâu. Việc đặt ra thứ tự ưu tiên trong từng giai đoạn đã giúp dự án đạt được những mục tiêu riêng và tạo độ mở cho những thành quả vượt ngoài kỳ vọng.  Những thách thức cho việc nhân rộng và lặp lại  Ở góc độ quản trị, IPP2 đã có những đột phá về khâu quản trị dự án và quản trị nhân sự của dự án, tạo dựng một trong số những tiền lệ và uy tín hiếm có về một dự án có vốn ODA minh bạch trong các quy trình và khoản tiền giải ngân. Đội ngũ của IPP2 cũng để lại ấn tượng về việc sử dụng thời gian hiệu quả và thái độ hỗ trợ các dự án tiếp nhận đầu tư tích cực. Tuy nhiên, bản thân thực tế những thành công của dự án cũng đặt ra những thách thức về việc nhân rộng quy mô và/hoặc lặp lại dự án ở nơi khác. Những con người, cách thức quản trị dự án, triết lý và ngay cả cách tiếp cận linh hoạt của khởi nghiệp tinh gọn ấy liệu có thể lặp lại nữa hay không trong khu vực công vốn luôn tồn tại những tính toán chặt chẽ về rủi ro? Nên chăng IPP2 cần nghiên cứu để đề xuất những mô hình thử nghiệm (sandbox) trong khu vực công, từ đó đi vào chính sách trên quy mô rộng hơn, tạo ra những tác động lâu dài bền vững hơn đối với một thể chế vốn đang đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ?  ————  1Tác giả là một trong 12 Huấn luyện viên đổi mới sáng tạo đầu tiên được IPP2 lựa chọn tham gia chương trình Innovation Champion; một trong gần 20 tư vấn viên hỗ trợ startup Phần Lan thâm nhập thị trường Việt Nam tham gia chương trinh VMAP giai đoạn 1 và VMAP+ giai đoạn 2; trợ giảng của khóa TOT2 cho giảng viên các trường đại học; tham gia 02 nghiên cứu chính sách do IPP2 đặt hàng về Chính sách đổi mới sáng tạo cho trường đại học và Chính sách tài chính hỗ trợ startup.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang IPP2: “Tiên phong” hỗ trợ khởi nghiệp      Ngày 10/3, Dự án Đối tác đổi mới sáng tạo Phần Lan – Việt Nam giai đoạn hai (IPP2) đã tổ chức sự kiện IPP Harvest Day nhằm tổng kết hoạt động đã thực hiện trong hai năm qua, đồng thời đưa ra kế hoạch kết thúc dự án vào năm 2018.    Diễn ra trong vòng một ngày, IPP Harvest Day tập hợp những thành viên mà họ hỗ trợ trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam (các startup, các giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo trong trường đại học, các huấn luyện viên khởi nghiệp – innovation coach, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam). Đồng thời, sự kiện cũng trình diễn một cách cô đọng nhiệm vụ thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp của IPP2 thông qua những hoạt động tương tác với những người tham dự như: mọi người ngồi theo nhóm chia sẻ những kinh nghiệm khởi nghiệp của mình, các startup lần lượt đến từng bàn của các innovation coach để xin tư vấn về hướng đi của họ trong tương lai (runway-to-growth).     Những người tham dự sự kiện được chia thành các nhóm, mỗi nhóm chia sẻ một kinh nghiệm khởi nghiệp (sẽ có một người kể chuyện và một người điều phối). Nguồn ảnh: BTC sự kiện IPP Harvest day  Những chương trình của IPP2 được Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh nhận định trong phát biểu mở đầu sự kiện là đã “tiên phong” trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam. IPP2 minh bạch hoàn toàn quy trình, yêu cầu kinh phí tài trợ, các dự án được nhận tài trợ (quá trình thẩm định dự án được thực hiện bằng các chuyên gia tư vấn độc lập nước ngoài) và tải lên website toàn bộ các tài liệu và học liệu từ dự án để các tổ chức khởi nghiệp có thể sử dụng miễn phí.   Trong hai năm hoạt động (2015-2017), có thể tạm chia các hoạt động hỗ trợ của IPP2 thành ba nội dung: cấp vốn cho các dự án đổi mới sáng tạo (18 công ty trong năm 2015 và lọc ra 5 công ty xuất sắc nhất để tài trợ đợt hai năm 2016); kết nối đổi mới sáng tạo (phần lớn các sự kiện khởi nghiệp lớn tại Việt Nam trong hai năm qua như Techfest, Hatch!Fair, Da Nang Startup Fairs với hàng nghìn người tham dự đều do IPP2 tài trợ); Đào tạo và nâng cao năng lực (đào tạo 12 huấn luyện viên khởi nghiệp, đào tạo 33 giảng viên nguồn đổi mới sáng tạo đến từ 11 trường đại học, tài trợ ba dự án liên kết đổi mới sáng tạo giữa các trường đại học hoặc giữa trường đại học với khối tư nhân, hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, điển hình là đề án “hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến 2025”). Họ thử nghiệm nhiều mô hình hỗ trợ khởi nghiệp như tài trợ và tư vấn cho các dự án khởi nghiệp đơn lẻ như một khóa tăng tốc khởi nghiệp, tài trợ cho một nhóm, cụm các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đào tạo các innovation coach ở khối tư nhân và nhà nước, đào tạo các innovation coach ở các trường đại học…      18 doanh nghiệp khởi nghiệp được IPP2 tài trợ chụp ảnh với chuyên gia Phần Lan trong ngày Demo Day (nơi các doanh nghiệp thuyết trình về kết quả hoạt động của mình trước các chuyên gia dự án) năm 2016. Nguồn ảnh: ipp.vn  Một trong những điều quan trọng mà IPP2 là chương trình hỗ trợ khởi nghiệp duy nhất làm được tại Việt Nam đó là đưa văn hóa khởi nghiệp vào các trường đại học. Trong 33 giảng viên đến từ 11 trường đại học trên khắp cả nước tốt nghiệp khóa Training of Trainers 2 (ToT2) vào 8/2016, đã có những người vận động đưa đổi mới sáng tạo/khởi nghiệp thành môn học chính khóa trong cơ sở đào tạo của mình. Đó là năm Đại học: Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Đại học Công nghiệp Huế, Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Tài chính – Marketing, Đại học Ngoại thương. Theo anh Trần Trung Dũng (ĐHBK Hà Nội), một trong những người tham dự khóa đào tạo ToT2 phát biểu tại sự kiện, Đề án hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo sắp được ban hành tới đây thể hiện một sự ảnh hưởng “rõ nét” từ IPP, đó là hướng đến việc 100% các trường đại học triển khai môn học Đổi mới sáng tạo (Innovation).   Với tổng kinh phí dự án là 11 triệu Euro, trong đó phần tài trợ của phía Phần Lan là 9,9 triệu Euro, IPP2 là một trong những dự án ODA cuối cùng của chính phủ Phần Lan ở Việt Nam và sẽ kết thúc vào năm 2018. Theo cố vấn trưởng của chương trình, Laauri Lasko, phát biểu tại sự kiện, trong năm 2017, IPP2 sẽ tiếp tục triển khai các dự án hỗ trợ đổi mới sáng tạo tại đại học và các chương trình về quản trị đại học, ra mắt mạng lưới những thành viên được IPP hỗ trợ để họ có thể liên kết với nhau, tiếp tục tạo ra các dự án hỗ trợ khởi nghiệp sau khi IPP2 kết thúc đồng thời tìm kiếm đối tác để chuyển giao tất cả các tài liệu, công cụ và kinh nghiệm để có thể tạo ra những mô hình tương tự, tốt hơn và phù hợp hơn với điều kiện Việt Nam so với IPP2.              Author                Hảo Linh        
__label__tiasang ISOLDE tiến đến gần vùng chưa được khám phá của bản đồ hạt nhân      Nhiều nguyên tố nặng như vàng đã được hình thành trong các môi trường vũ trụ giàu các neutron – hãy nghĩ đến các siêu tân tinh hoặc các vụ sáp nhập sao neutron. Trong những thiết lập đó, các hạt nhân nguyên tử có thể bắt một cách nhanh chóng các neutron và trở nên nặng hơn, tạo nên những nguyên tố mới.      Trên đồ thị hạt nhân có các vùng đã được biết sắp xếp tất cả các hạt nhân đã biết theo số lượng các proton và neutron của chúng; bên cạnh đó có những hạt nhân còn chưa được khám phá, trường hợp của các hạt nhân có ít hơn 82 proton và trên 126 neutron. Đây là điều cốt lõi để chúng ta hiểu được các chi tiết của quá trình bắt neutron nhanh.  Các nhà nghiên cứu sử dụng thiết bị vật lý hạt nhân ISOLDE (CERN) đã tiến gần tới vùng chưa được ghi của biểu đồ hạt nhân với một nghiên cứu đầu tiên không liên quan trực tiếp đến quá trình bắt neutron nhanh, hay “r-process”, nhưng gần gũi với hàng xóm của hạt nhân r-process nằm trong vùng gần như chưa được khám phá. Theo cách đó, 207Hg có thể giúp tiết lộ một số bí mật hạt nhân của quá trình bắt neutron nhanh và rọi ánh sáng lên nguồn gốc của các nguyên tố nặng.  Để nghiên cứu về cấu trúc neutron của 207Hg, đầu tiên các nhà nghiên cứu đưa đồng vị thủy ngân 206Hg được tạo ra với hàng trăm đồng vị lạ khác tại ISOLDE bằng việc “đốt” chùm tia proton 1,4 tỉ electronvolt bằng máy gia tốc Proton Synchrotron Booster lên một bia chì nóng chảy. Đồng vị 206Hg, vốn có ít neutron trong hạt nhân hơn 207Hg, đã được gia tốc trong máy gia tốc HIE-ISOLDE để đạt năng lượng tới mức 1,52 tỉ electronvolts – mức năng lượng cao nhất đạt được trên HIE-ISOLDE. Các nhà nghiên cứu sau đó đã tập trung vào đồng vị 206Hg tại bia deuterium bên trong Hệ quang phổ kế ISOLDE Solenoidal (ISS), một quang phổ kế mới được phát triển có khả năng phát hiện các sự kiện trong đó đồng vị 206Hg bắt một neutron và đưa nó vào đồng vị 207Hg bị kích thích.  Từ việc phân tích các sự kiện đó, các nhà nghiên cứu đã xác định các năng lượng liên kết của các quỹ đạo hạt nhân trong đó các neutron bị bắt, đó là mức để bắt neutron được liên kết với các proton va neutron khác. Sau đó họ đưa các kết quả vào các mô hình lý thuyết quá trình bắt neutron nhanh để kiểm tra và thách thức các mô hình đó.  “Kết quả này đánh dấu khám phá đầu tiên của các cấu trúc neutron của các hạt nhân 207Hg, vẽ ra con đường cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai, với thiết bị ISS tại ISOLDE và tại các thiết bị vật lý hạt nhân thế hệ tiếp theo, với vùng hạt nhân hầu như chưa được vẽ, nơi có 207Hg”, nhà nghiên cứu chính Ben Kay từ Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Argonne, nơi đi tiên phong kỹ thuật này.  “Nhờ ba yếu tố mà chúng tôi có thể thực hiện được nghiên cứu này: hệ gia tốc HIE-ISOLDE được hoàn thành cho phép các đồng vị phóng xạ được gia tốc  đến mức năng lượng gần với 10 triệu electronvolts trên mỗi proton hoặc neutron; việc lắp đặt ISS, một thiết bị chụp ảnh từ cũ được nâng cấp để nghiên cứu hạt nhân lạ với sự hợp tác của Anh, Bỉ và CERN; và cuối cùng, một hệ máy dò hạt từ Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Argonne và cho phép thí nghiệm này được thực hiện trước khi bắt đầu ngừng vận hành hệ phức hợp máy gia tốc của CERN trong thời gian tới”, Gerda Neyens, người phát ngôn ISOLDE, nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-isolde-unexplored-region-nuclear-exotic.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Israel dẫn đầu về đầu tư cho R&D      Israel vừa vượt Hàn Quốc, trở thành nước đầu tư nhiều nhất cho R&D, theo số liệu công bố bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tại Paris ngày 7-2.      Đầu tư của một số nước thuộc OECD cho R&D giai đoạn 2000 –  2015. Nguồn: Nature  OECD cho biết, năm ngoái, Hàn Quốc dẫn đầu trong lĩnh vực này, nhưng dữ liệu mới nhất cho thấy Israel đang vượt lên một chút. Năm 2015, Israel đã đầu tư 4,25% GDP vào R&D, so với mức 4,23% của Hàn Quốc. Tuy nhiên, Hàn Quốc cho biết đang nhắm đến mục tiêu 5% trong năm nay.  Đầu tư cho R&D của Israel đạt tới con số như hôm nay là nhờ sự hỗ trợ của chương trình Yozma (tiếng Do Thái: Sáng kiến) do chính phủ nước này thực hiện từ năm 1993. Yomaz đầu tư mạnh vào những quỹ mạo hiểm và thu hút nhà đầu tư nước ngoài bằng cách cung cấp công cụ bảo hiểm rủi ro cho họ. Theo OECD, đây là “chương trình thành công và độc đáo nhất” trong chính sách đổi mới sáng tạo của Israel.  Ở cả Israel và Hàn Quốc, doanh nghiệp luôn là khối chi nhiều cho R&D. Nói riêng về đầu tư cho nghiên cứu cơ bản – theo định nghĩa của OECD là công việc được tiến hành trước hết để thu về những tri thức mới mà không có bất kì ứng dụng cụ thể nào trước mắt – Hàn Quốc luôn vững ở vị trí số 1, với mức đầu tư chiếm 0,73%GDP, cao hơn bất kì nước nào khác trên thế giới (năm 2014, Israel đứng thứ chín ở hạng mục này với mức 0,39%.)  Israel và Hàn Quốc cũng thường xuyên hợp tác với nhau. Năm 2001, chính phủ hai nước đã lập Quỹ R&D công nghiệp Hàn Quốc-Israel. Những trung tâm R&D đầu tiên của Samsung nằm bên ngoài Hàn Quốc được thành lập ở Herzliya (hoạt động trong lĩnh vực công nghệ camera) và Ramat Gan (hoạt động trong công nghệ chất bán dẫn).  Giống như Israel và Hàn Quốc, ở các quốc gia OECD khác, cán cân đầu tư giữa chính phủ và doanh nghiệp dành cho R&D nhìn chung cũng đang dần chuyển đổi. Theo OECD, các chính phủ đã giảm tài trợ cho R&D từ 31% xuống còn 27% trong vòng 5 năm, từ 2010 đến 2015. Trong khi đó, đầu tư từ khối doanh nghiệp, vốn sụt giảm trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008, tăng lên 61% nhờ được hưởng thêm các ưu đãi về thuế cho lĩnh vực R&D.  Nếu tính chung cho cả khối OECD thì đầu tư cho R&D cũngtăng. Ở Mỹ, con số này tăng nhẹ lên 2,79%. Cùng xu hướng đó, Trung Quốc tiếp tục chuyển hướng tăng trưởng kinh tế nhiều hơn sang nghiên cứu: đầu tư cho R&D của nước này đã tăng từ dưới 1% GDP hồi năm 2000 lên 2,07% vào năm 2015, và dự kiến sẽ đạt mức 2,5% vào năm 2020. Số bằng sáng chế do người Trung Quốc đăng ký theo Hiệp ước PCT về đăng ký bằng sáng chế quốc tế cũng tăng lên, trong khi số bằng sáng chế do người Mỹ đăng kí lại giảm xuống.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/israel-edges-out-south-korea-for-top-spot-in-research-investment-1.21443    Author                Quản trị        
__label__tiasang Israel và Con Đường Thoát Hạn      Cuốn sách “Israel, con đường thoát hạn” sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những nhà hoạch định chính sách về quản lý nguồn nước, cho những chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực phát triển, đầu tư và hơn tất cả, cuốn sách sẽ rất bổ ích cho những ai đang ngày đêm trăn trở trước một bối cảnh đầy bức xúc về suy thoái nguồn nước đang xảy ra, hiện nay và trong tương lai.      Bìa cuốn sách “Israel, con đường thoát hạn”  Israel được biết đến như một Quốc Gia Khởi Nghiệp, nơi có nền khoa học kỹ thuật phát triển dựa trên một nền tảng giáo dục tiến bộ với trí tuệ đặc sắc của người Do Thái. Chúng ta cũng biết rằng Israel là một quốc gia có nền nông nghiệp tiên tiến bậc nhất thế giới mặc dù hơn 60% diện tích của họ là sa mạc và chỉ khoảng 2% là diện tích mặt nước. Vậy họ lấy nước từ đâu, họ quản lý nước thế nào để phục vụ cho nền nông nghiệp hiện đại và thậm chí còn cung cấp nước sạch cho các quốc gia láng giềng? Seth Mitchell Siegel, một doanh nhân, một luật sư, một nhà hoạt động xã hội và cũng là một nhà văn, người đã trả lời cho những câu hỏi đó trong cuốn sách rất hấp dẫn và đáng đọc của ông: “Israel, Con đường thoát hạn”.  Bằng những nghiên cứu chi tiết và với hàng trăm cuộc phỏng vấn, Siegel đã mô tả cách mà Israel đã nỗ lực vượt qua các cuộc khủng hoảng nước của riêng mình, đồng thời hỗ trợ các quốc gia khác trong việc xử lý và bảo tồn nguồn nước. Với 12 chương sách được bố cục một cách khoa học, người đọc sẽ có cảm giác như đang được đọc một cuốn sách thể loại lịch sử hơn là một cuốn sách về kỹ thuật, mặc dù trong cuốn sách này, kỹ thuật cũng được đề cập như là một trong những yếu tố then chốt giúp Israel thoát khỏi các cuộc cuộc khủng hoảng nước.  Kể từ khi lập quốc vào năm 1948 đến nay, Israel đã duy trì một đà tăng dân số gấp mười lần trong bối cảnh nguồn nước từ thiên nhiên vô cùng hạn hẹp. Để có đủ thực phẩm cho toàn quốc, ưu tiên hàng đầu của Israel là cung cấp nước ngọt cho các trang trại để phục vụ cho nhu cầu canh tác. Tuy nhiên nếu làm theo phương pháp tưới ngập truyền thống, hoặc thậm chí tưới phun thì quá lãng phí nước. Nhằm giải quyết những thách thức này, Simcha Blass, người được ví là “người đàn ông nước” của Israel đã phát triển một hệ thống nước quốc gia và sáng kiến mang tính bước ngoặt cho nông nghiệp Israel và thế giới – đó là tưới nhỏ giọt. Giải pháp này cho phép Israel có thể chủ động được nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt bất kể trong điều kiện thời tiết như thế nào.  Con Đường Thoát Hạn không phải là một tiểu thuyết trinh thám nhưng cuốn sách sẽ đưa bạn từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Cuốn sách mô tả nhiều kế hoạch tưởng chừng như điên rồ nhưng lại được thực thi và tạo nên cuộc cách mạng về nước như “Đường dẫn Nước Quốc gia”, hay những đường ống dẫn nước đắt đỏ được ví như những “đường ống dẫn rượu vang” vậy. Những đường ống đắt đỏ đó lại được triển khai bằng mô hình “xã hội hóa” nhằm thu hút sự đóng góp của toàn xã hội, và của người Do Thái định cư ở nước ngoài cho một tầm nhìn dài hạn về quản trị nước. Có những kỹ thuật tưởng chừng như không tưởng vào những năm 60s –70s của thế kỷ trước được áp dụng hiệu quả như tưới nhỏ giọt, tưới dưỡng chất, khử nước mặn, và tái sử dụng nước thải. Bạn cũng có thể bất ngờ với việc người Israel bảo tồn nguồn nước mà chẳng tốn nhiều tiền bạc bằng cách tăng giá nước để giảm nhu cầu. Thậm chí có những thời điểm họ thiếu cả nước thải để tái sử dụng vì người dân dùng nước quá tiết kiệm. “Nước không phải là thứ miễn phí” như là một thông điệp xuyên suốt toàn cuốn sách, và cũng là thông điệp ăn sâu vào nếp nghĩ của người Israel hiện nay. Người Israel luôn coi nước là một nguồn tài nguyên có giá trị, thiêng liêng và trẻ em được dạy ở trường tiểu học về giá trị của tiết kiệm nước thông qua việc tắt nước vòi tắm khi đang xoa xà phòng, tắt vòi nước trong khi đánh răng, và tầm quan trọng của hệ thống xả kép cho bồn vệ sinh. Siegel cho rằng một phần của những suy nghĩ của người Israel không chỉ là sự trân trọng nước. Ông tin rằng người dân Israel có một cảm giác về sự giới hạn, và chính điều giúp họ không phung phí nguồn nước và tiết kiệm nước đến từng giọt.  Bạn có thể hoài nghi và đặt câu hỏi: chúng ta có thể học được gì về con đường thoát hạn mà Israel đã trải qua? Bạn có lý khi đặt câu hỏi này bởi Việt Nam có điều kiện khí hậu, thủy văn không giống Israel. Đất nước của chúng ta rất dồi dào về nước và khác xa với một đất nước có đến hơn 60% diện tích đất sa mạc. Câu trả lời sẽ đến với bạn khi bạn đọc xong cuốn sách này. Việt Nam không phải là một quốc gia thiếu nước nhưng chúng ta đang phải đối diện với thực tế là thiếu nước sạch, thừa nước ô nhiễm. Chúng ta vừa phải đối diện với hạn hán và vừa phải ứng phó với lũ lụt ngay trên cùng một địa bàn nhỏ. Đợt hạn hán kéo dài từ năm 2015 đến đầu năm 2016 trên phạm vi 18 tỉnh thành từ miền Trung, đến Tây Nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long cho chúng ta nhìn thấy một bức tranh bao quát về vấn đề khủng hoảng nguồn nước mà chúng ta đang phải đối mặt. Sự suy giảm chất lượng nguồn nước từ các dòng sông cũng làm ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế của người dân ở khắp mọi miền của đất nước đang diễn ra hàng ngày. Xâm nhập mặn và thời tiết cực đoan gia tăng đang là áp lực rất lớn đối với người dân và chính quyền. Việc này đòi hỏi một cuộc cách mạng về quản lý nguồn nước.  Tất cả các khúc mắc trên chúng ta đều có thể tìm thấy lời giải đáp từ cuốn sách này. Thực tế, Israel ngay từ thủa sơ khai đã là một quốc gia thiếu nước, và khi nguồn nước trở nên dồi dào thì họ lại đối diện với nguy cơ ô nhiễm nguồn nước. Các yếu tố địa chính trị cũng dẫn đến các xung đột với các quốc gia láng giềng và “ngoại giao nước” được coi như một giải pháp hòa giải với các quốc gia láng giềng trong khu vực.  Nếu bạn tìm đến cuốn sách nhằm tìm tòi các kỹ thuật tiên tiến về khoan giếng, về xử lý nước thải hay khử nước mặn thì bạn sẽ không thể tìm được những điều đó trong cuốn sách này. Nhưng chắc chắn bạn sẽ không bị thất vọng bởi vì cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những điều lớn hơn cả các vấn đề kỹ thuật, đó là tư duy nhất quán, là kim chỉ nam về một nền quản trị nước dựa trên tổ hợp của những sáng kiến ở mỗi thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau. “Cái làm nên sự siêu việt của tổ hợp của các sáng kiến không phải chỉ là chiều sâu và tính toàn diện của nó, mà vì nó đại diện cho lòng tin của người Israel rằng không có câu trả lời nào giống nhau cho mọi nỗi quan ngại về nước. Rõ ràng, một số kỹ thuật sản xuất ra hoặc tiết kiệm được nhiều nước hơn so với những kỹ thuật khác.” Hay như cách mà cựu Tổng thống Israel Shimon Peres khi vẫn đang tại vị đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng “Đóng góp lớn nhất của người Do Thái chúng tôi cho thế giới là việc luôn không bao giờ thoả mãn”, mà theo ông, “bất lợi cho các nhà cầm quyền, nhưng rất tốt cho khoa học và tiến bộ”.  Cuốn sách này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những nhà hoạch định chính sách về quản lý nguồn nước, cho những chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực phát triển, đầu tư và hơn tất cả, cuốn sách sẽ rất bổ ích cho những ai đang ngày đêm trăn trở trước một bối cảnh đầy bức xúc về suy thoái nguồn nước đang xảy ra, hiện nay và trong tương lai.  Nguyễn Ngọc Huy, PhD  Viện nghiên cứu chuyển đổi Môi trường và Xã hội (ISET)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Israel và Mỹ chạy đua tiếp cận Mặt Trăng, giành giải thưởng của Google      Giải thưởng Google Lunar XPRIZE do Google tài trợ được khởi động vào năm 2007 để khuyến khích hành trình tiếp cận và thăm dò không gian và sẽ được trao cho các nhóm hoàn thành được những nhiệm vụ cụ thể. Vào đầu năm nay, có hai đội đã vươn lên dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh: đội Moon Express đến từ Mỹ, và đội SpaceIL đến từ Israel. Cả hai đội đều do các công ty tư nhân tài trợ.      Giải thưởng Google Lunar XPRIZE để khuyến khích khám phá không gian  Giải thưởng Google Lunar XPRIZE do Google tài trợ được khởi động vào năm 2007 để khuyến khích hành trình tiếp cận và thăm dò không gian. Nhiệm vụ của các nhóm tham gia là có thể hạ các con tàu không gian xuống Mặt Trăng, di chuyển nó 500 mét theo đường thằng, và quay lại video với độ nét cao. Đội đầu tiên hoàn thành nhiệm vụ sẽ nhận được giải thưởng trị giá 20 triệu đô la. Đội thứ hai sẽ nhận được 5 triệu đô la, và cả hai đội đều được thưởng thêm 5 triệu đô la cho chi phí của cuộc hành trình.  Vào đầu năm nay, có hai đội đã vươn lên dẫn đầu: đội Moon Express đến từ Mỹ, và đội SpaceIL đến từ Israel. Cà hai đội đều do các công ty tư nhân tài trợ. Tàu vũ trụ của hai đội SpaceIL và Moon Express đều được ra mắt lần đầu vào tháng 10 năm 2015, bởi hai phòng thí nghiệm SpaceX và Rocket. Không chỉ có thể chạy trượt trên bề mặt Mặt Trăng, Space IL và Moon Express còn có thể thực hiện những cú nhảy trên bề mặt Mặt Trăng, sử dụng năng lượng của tên lửa để phóng từ điểm này sang điểm khác. Chúng ta sẽ chờ đợi đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, để tìm thấy đội sẽ hoàn thành nhiệm vụ trước tiên và giành được giải thưởng của Google.  Chiếc tàu MX-1 của Moon Express được thiết kế theo kiểu “không gian của iPhone,” Bob Richards, CEO của Moon Express cho biết khi họ ra mắt con tàu của mình vào 3 năm trước. MX-1 được đánh giá là một công cụ linh hoạt để khảo sát bề mặt mặt trăng, nó được đội Moon Epress gọi là “Eighth Contient” nghĩa là “Tám lục địa.” Đội Moon Express đã hai lần chiến thắng giải X Prize Milestone với tổng tiền thưởng lên tới 1, 25 tỷ đô la cho phần mềm và camera tốt nhất của tàu không gian.  Tỏ ra không hề thua kém đối thủ, SpaceIL đã thiết kế một tàu không gian nhỏ gọn mà mỗi bộ phận có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng. “Lợi thế mà chúng tôi có ngày hôm nay trong ngành công nghiệp hàng không ở Israel là nhờ tập trung vào những tàu vũ trụ cỡ nhỏ,” Eran Privamn, CEO của Space IL cho biết. Tàu vũ trụ của họ sẽ được phóng từ Sân bay Quốc tế Aviv’s Ben Gurion. Điều này khiến chặng đường trở nên xa hơn so với đối thủ, con tàu phải vượt qua hành trình gần 400,000 km để bay tới Mặt Trăng.  “Để thực hiện được nhiệm vụ sẽ phải vượt qua rất nhiều chướng ngại. Ví dụ như, nếu con tàu không gian gặp trục trặc, sẽ rất khó khăn để gửi một thiết bị sửa chữa lên Mặt Trăng.” Eran Privamn, CEO của Space IL nói.  Khi Neil Amstrong đặt bước chân đầu tiên lên Mặt Trăng vào gần 50 năm trước thì vị giám đốc Privman mới chỉ là một đứa trẻ, nhưng câu nói nổi tiếng thời đó: “Một bước chân nhỏ bé của người đàn ông, một bước tiến khổng lồ của nhân loại” – đã để lại ấn tượng sâu sắc trong ông cho đến bây giờ. “Điều tôi mong muốn là có thể hoàn thành giấc mơ của thế kỷ, vượt ra khỏi quỹ đạo Trái Đất và đặt chân đến bất cứ nơi nào trong vũ trụ – giống như Mặt Trăng.” Ông nói.  Giải thưởng Goolge Lunar XPRIZE do Google tài trợ, là sự tái sinh của những giải thưởng X có lịch sử từ trước đó rất lâu nhằm khuyến khích sự phát triển công nghệ trong kỷ nguyên khám phá không gian.  Lịch sử của giải thưởng X bắt đầu vào năm 1919, khi chủ khách sạn Raymond Orteig ở New York quyết định sẽ thưởng 25,000$ cho người đầu tiên bay thẳng từ New York đến Paris. Một vài phi công đã thiệt mạng cho đến khi Charles Lindbergh thành công vào năm 1927, sự kiện này khiến anh trở thành một trong những người nổi tiếng nhất thế giới.  Tiếp theo, vào năm 1995, doanh nhân Peter Diamindis quyết định sẽ trao tặng giải thưởng Ansari X Prize với số tiền lên đến 10 triệu đô la cho nhóm tư nhân đầu tiên có thể tạo ra một chiếc tàu không gian trong vòng 2 tuần. Chiếc tàu SpaceShipOne đã giành được giải thưởng này vào tháng 10 năm 2004.    Author                Quản trị        
__label__tiasang IVAC – Đột phá bất ngờ ở một đơn vị nhỏ      Đại dịch COVID-19 là một thảm họa toàn cầu nhưng ở khía cạnh khác, nó lại mở cánh cửa cho những công ty nhỏ có thể đường hoàng bước vào cuộc chơi vaccine với những “ông lớn”. Ai rồi cũng sẽ có chỗ đứng dưới ánh Mặt trời.      Thông qua hỗ trợ của PATH, IVAC sản xuất vaccine cúm đại dịch và cúm mùa dựa trên công nghệ trứng gà có phôi. Nguồn: PATH/Matthew Dakin  Nhưng có thật thế? Hãy nhìn vào danh sách của WHO: gần 190 vaccine dự tuyển của hàng trăm công ty trên toàn thế giới, 101 loại trong đó đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Từ mọi ngả đường, họ gia nhập đường đua theo nhiều cách khác nhau và có những lợi thế khác nhau, ví dụ có những ông lớn dồi dào năng lực và vật lực như Moderna, Pfizer, Johnson&Johnson… (Mỹ), có những cơ sở của nhà nước như Viện nghiên cứu Miễn dịch học và Vi sinh vật học Gamaleya (Nga), Viện Finlay (Cuba)… hay những công ty nhỏ trước đây còn ít người biết đến như Novavax… Điểm chung giữa họ là đang trên đường về đích với các loại vaccine được cấp phép sử dụng khẩn cấp.    Vậy còn cơ hội cho các công ty ở những quốc gia nhỏ điểm một chấm bé xíu trên bản đồ vaccine COVID-19 của thế giới? “Tôi nghĩ là có”, PGS. TS Lê Văn Bé, nguyên viện trưởng Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC), mỉm cười. “Cũng giống như VABIOTECH, Nanogen hay Polyvac, chúng tôi đang cố gắng từng ngày với hi vọng Việt Nam có thể kiểm soát được đại dịch bằng chính vaccine nội”.     Điều đó có sẵn sàng trong tầm tay họ?     “Vũ khí ngầm” của IVAC     Nếu không có COVID-19 thì ở Việt Nam, chắc ở ngoài ngành y tế có mấy ai biết đến IVAC – một đơn vị hoạt động theo cơ chế sự nghiệp công lập, đặt tại Nha Trang với 260 nhân viên, hằng năm làm ra 14 loại vaccine và nhiều loại sinh phẩm khác nhau – dù ít nhất một lần trong đời họ từng kích hoạt hệ miễn dịch của mình bằng vài liều vaccine do IVAC cung cấp qua Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Thành lập từ năm 1978, IVAC đã chứng kiến sự chuyển mình về năng lực sản xuất vaccine của Việt Nam, đặc biệt là cả thay đổi của chính mình khi sản xuất được vaccine DPT, loại vaccine phối hợp từ giải độc tố bạch hầu tinh chế, giải độc tố uốn ván tinh chế và huyền dịch vi khuẩn ho gà vô bào hoặc toàn tế bào đã bất hoạt, để phòng bệnh bạch hầu – ho gà – uốn ván vào năm 1990, hay vaccine cúm mùa vào năm 2019…      “Đầu tư cho vaccine là một đầu tư dài hơi, không bao giờ tính bằng một năm, hai năm. Nó phải được tính bằng năm đến 10 năm”, TS. Vũ Minh Hương (PATH)      Với IVAC, thành công nào cũng đáng quý nhưng việc phát triển và sản xuất được vaccine cúm mùa là điểm cốt lõi để IVAC tham gia cuộc chơi lớn hiện tại.     Hơn 10 năm trước, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, IVAC đã trui rèn được năng lực tạo ra thứ “vũ khí” chống lại cúm, một căn bệnh do siêu vi trùng dạng RNA thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra, truyền qua vật chủ trung gian, khiến người mắc bị sốt, đau đầu, đau họng, ho, đau nhức khắp mình mẩy và nguy hiểm nhất là có thể dẫn đến tử vong ở người có hệ miễn dịch yếu. “Cúm là một trong những vấn đề khiến các nhà khoa học đau đầu nhất, bởi vì nó luôn luôn biến đổi”, PGS. TS Lê Văn Bé nói. “Và khi biến đổi thì nó có thể vượt khỏi tầm kiểm soát, thậm chí gây ra đại dịch”. Trong một cuộc trao đổi trước đây, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương), nhà khoa học nữ đầu tiên đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu, từng giải thích “Hai con virus cúm có thể cùng xâm nhiễm vào một tế bào vật chủ, trao đổi và tích hợp bộ gene, tạo ra chủng virus mới có khả năng tránh được miễn dịch của con người, dù trước đó họ đã có miễn dịch với chủng đang lưu hành bằng vaccine”.    Đó là lý do để IVAC dành cả thập kỷ để làm chủ công nghệ sản xuất vaccine cúm trên trứng gà có phôi theo tiêu chuẩn GMP WHO.    Sau chừng ấy thời gian, PGS.TS Lê Văn Bé vẫn không quên được thời điểm đầu những năm 2000, khi dịch cúm do chủng cúm A/H5N1 gây ra khiến hàng trăm triệu gia cầm bị chết ở Việt Nam. Do có khả năng lây nhiễm cao, một số chủng của virus này có thể lây truyền cho người. Theo số liệu từ năm 2003 đến năm 2015, tỷ lệ mắc trên người và tử vong khá cao với 64 ca, chiếm trên 50% tổng ca nhiễm. “Để ngăn ngừa dịch, IVAC chọn vaccine sản xuất trên công nghệ trứng gà có phôi. Khi sang Trung Quốc tham quan hợp tác, chúng tôi nhận thấy họ đã sản xuất vaccine cúm mùa bằng công nghệ này từ những năm 1990. Sau tìm hiểu thêm thì thấy đây là công nghệ đã có từ khoảng năm 1945. Ở thời điểm đó, 90% sản lượng vaccine cúm mùa trên thế giới dùng công nghệ này”, ông nói.    Với một công ty hay một cơ sở sản xuất, đôi khi sự thành bại nằm ở cả việc lựa chọn công nghệ. Thị trường đã sẵn nhưng công nghệ nào phù hợp với tương lai của IVAC? Lúc đó, ngành vaccine đã có nhiều loại công nghệ khác nhau nhưng có lẽ, suy nghĩ về một tương lai “ăn chắc, mặc bền” với thứ công nghệ tồn tại ngót nghét gần tám thập kỷ khiến IVAC đi đến quyết định chọn công nghệ trứng gà có phôi.      IVAC hiện có năm nhà gà cung cấp trứng gà sạch 12 bệnh để làm nguyên liệu sản xuất vaccine đặt tại trại chăn nuôi Suối Dầu, Nha Trang. Nguồn: PATH/Matthew Dakin.    Thực tế nhiều năm sau cho thấy cái đúng đắn của lựa chọn an toàn. “Cách tiếp cận của IVAC là chọn công nghệ mà 80% nhà sản xuất vaccine cúm trên thế giới sử dụng và nay 80% sản lượng vaccine cúm vẫn từ công nghệ đó”, TS. Vũ Minh Hương, giám đốc kỹ thuật vùng Mekong của PATH – một tổ chức NGO về sức khỏe toàn cầu có trụ sở ở Seattle, Mỹ, nhận xét. “IVAC tính đến cái gì chắc ăn và khả thi”.    Giờ thì IVAC là đơn vị duy nhất ở Việt Nam sản xuất được vaccine cúm mùa, thậm chí có thể là vaccine Covid-19, trên công nghệ này. Nhưng đó là câu chuyện dài với những chấm phá manh nha từ một đề tài nghiên cứu cấp Viện và đề tài nhánh cấp Nhà nước “Nghiên cứu qui trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1 bất hoạt dùng cho người bằng kỹ thuật nuôi cấy trên trứng gà có phôi” (Bộ KH&CN). IVAC càng thêm hi vọng khi vào năm 2007, được WHO lựa chọn tham gia Chương trình hành động các vaccine cúm toàn cầu, một chiến lược toàn diện nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt vaccine cúm mùa và đại dịch, và cấp cho một dây chuyền sản xuất mới quy mô 500 ngàn liều kèm một nhà nuôi gà – yếu tố thiết yếu để tạo ra một vaccine ở tiêu chuẩn quốc tế. “Lúc đó, PATH đã nghĩ là toàn bộ quy trình sản xuất công nghệ trên trứng gà của IVAC phải đạt chuẩn quốc tế”, TS. Vũ Minh Hương, người trực tiếp tham gia cùng IVAC phát triển công nghệ sản xuất vaccine cúm trên công nghệ trứng gà có phôi ở quy mô công nghiệp, nói.    Thật không dễ làm được điều này, ngay cả khi IVAC đã vận hành sản xuất theo tiêu chuẩn quốc gia nhiều năm và được UNICEF đã cấp chứng nhận “nhà sản xuất hàng đầu cung cấp các vaccine thiết yếu chất lượng cao” vào năm 2007. Sự chuyển đổi sang tiêu chuẩn quốc tế không chỉ là việc học hỏi công nghệ sản xuất mới và vận hành thiết bị mới mà còn là thay đổi cách nghĩ, hành vi và thiết lập quy tắc mới. Chỉ có những người làm nghề vaccine mới hiểu được điều đó. “Quy định của sản xuất vaccine cao hơn rất nhiều so với dược. Dược dành cho người ốm còn vaccine là tiêm cho người khỏe, vì thế mọi công đoạn sản xuất vaccine đều phải được ghi lại để theo dõi và kiểm chứng”, giáo sư Nguyễn Thu Vân, nguyên giám đốc VABIOTECH, cho biết như vậy trong một cuộc trao đổi với Tia Sáng vào năm 2016.      “Dĩ nhiên là chúng tôi dự đoán được tất cả khó khăn nhưng cái tâm của những người làm vaccine không cho phép mình trì hoãn đắn đo. Khi mình có sẵn công nghệ, có nhà máy thì tại sao mình không làm?” (PGS. TS Lê Văn Bé).        Do đó, vào năm 2009, PATH hợp tác với WHO và BARDA-Cơ quan nghiên cứu và phát triển tiên tiến về y sinh học (Bộ Y tế và dịch vụ dân sinh Mỹ) để lập một dự án hỗ trợ sản xuất vaccine cúm ở Việt Nam, qua đó cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho IVAC như mời các chuyên gia kỳ cựu từng làm cho các nhà sản xuất lớn tư vấn hỗ trợ quy trình sản xuất; huấn luyện kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; xây dựng toàn bộ quy trình nuôi gà để có thể tự cung cấp trứng gà sạch 12 loại bệnh. “Sự chủ động nguồn trứng gà của IVAC là niềm tự hào của PATH”, TS. Vũ Minh Hương nhấn mạnh. “Ban đầu, IVAC phải đi nhập gà từ Pháp, rất vất vả vì mọi người hãy hình dung mang con gà hai ngày tuổi về Việt Nam không đơn giản tí nào”. Việc mở rộng quy mô nuôi gà là cần thiết bởi mỗi quả trứng gà ấp non 10 ngày tuổi được nuôi cấy virus cúm chỉ thu được thành phẩm tương đương một đến một liều rưỡi vaccine. Khi làm chủ được quy trình nuôi gà sạch bệnh, IVAC có thể tự mở rộng quy mô để có được lượng trứng đáp ứng nhu cầu của mình.    Cơ bản đó là những gì IVAC cần để có được một vaccine cúm sau một chặng đường dài được ba đời viện trưởng tiếp nối. Qua cả thập kỷ, họ có thể tự hào về việc sản xuất thành công các vaccine cúm A/H1N1, A/H5N1, A/H7N9 và cả vaccine cúm mùa đa giá ba chủng. “Đầu tư cho vaccine là một đầu tư dài hơi, không bao giờ tính bằng một năm, hai năm. Nó phải được tính bằng năm đến 10 năm”, TS. Vũ Minh Hương nhận xét.     Giá trị của sự bền bỉ     Biết bao nỗ lực đổ ra để gây dựng được một quy trình sản xuất vaccine đạt tiêu chuẩn quốc tế của IVAC, từ thời điểm mới chỉ có bảy, tám người mới tốt nghiệp đại học như lời kể của TS. Dương Hữu Thái, Viện trưởng IVAC. “Những gì IVAC có ở thời điểm ban đầu còn rất sơ khai.”, TS. Vũ Minh Hương nhớ lại.    Hiện tại thì ngay cả những người chứng kiến và tham gia toàn bộ quá trình đó như PGS.TS Lê Văn Bé hay TS. Dương Hữu Thái, cũng không thể kể hết những khó khăn mà họ đã vượt qua. Nhưng “điểm thưởng” cho sự trường kỳ của IVAC thật đáng giá, đó là năng lực sẵn sàng cho việc sản xuất các loại vaccine cúm đại dịch. Có lẽ, di sản mà họ thụ hưởng từ một cơ sở nghiên cứu, sản xuất vaccine thuộc hệ thống Viện Pasteur ở Việt Nam do Viện Pasteur Paris điều hành từ những năm 1890 đến 1930 và trại chăn nuôi Suối Dầu, một cơ sở rộng hơn 100 ha cách thành phố Nha Trang 20 km do nhà vi khuẩn học A. Yersin thành lập năm 1896, cũng đóng góp một phần không nhỏ. Bây giờ, IVAC có thể chủ động được nguồn trứng với hai điểm tiến bộ theo đánh giá của TS. Vũ Minh Hương: thương thảo với nhà sản xuất gà ở Pháp để được nhân giống các thế hệ sau và được Bộ NN&PTNT cho phép nhập và lai tạo giống gà đó ở Việt Nam. Nhờ vậy, IVAC đã gia nhập con đường chung có mặt hầu hết các nhà sản xuất vaccine bằng công nghệ này là vừa nuôi gà, vừa làm vaccine.      IVAC đã sản xuất được những lô COVIVAC để thử nghiệm lâm sàng. Nguồn: PATH/Matthew Dakin.  Điều đó tạo niềm tin về khả năng sản xuất vaccine đại dịch Covid-19, không chỉ từ chính IVAC mà cả PATH. Mục tiêu PATH hướng tới khi hỗ trợ IVAC là sự sẵn sàng có được vaccine khi bất cứ đại dịch cúm nào xuất hiện trong tương lai. “Nói nôm na là khi quy trình có sẵn rồi, nếu có đại dịch cúm xảy ra thì chỉ cần phân lập được con virus cúm mới là cứ thế sản xuất thôi”, TS. Vũ Minh Hương nói.    Không ngờ là tương lai đó lại tới sớm hơn dự tính, chỉ một năm sau khi IVAC hoàn tất thủ tục, đệ trình lên Bộ Y tế hồ sơ xin cấp phép sản xuất vaccine cúm A/H5N1 cũng như bán được những lô hàng vaccine cúm mùa đầu tiên ra thị trường.    Ý định làm vaccine của IVAC được bồi thêm bằng cú điện thoại của giáo sư Nguyễn Thanh Long từ đầu tháng 3/2020, người vào cuối năm đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế, “Corona thành đại dịch rồi, IVAC tính sao? Đã bắt đầu nghiên cứu vaccine này chưa? Nếu cần thì công nghệ nào?”. “Câu trả lời của tôi là ‘IVAC đã có công nghệ, có nhà máy sản xuất, có sẵn nguyên vật liệu, nhân lực, chúng tôi cũng cập nhật tình hình phát triển vaccine cùng WHO, PATH…. Nếu có cơ hội và điều kiện phù hợp thì IVAC sẽ sản xuất ngay’”, PGS. TS Lê Văn Bé kể.    Khi COVID-19 đột ngột đến, người ta mới thấy cái giá của sự bền bỉ. “Ba thu dồn lại một ngày”, không phải ngẫu nhiên IVAC có thể gia tốc những gì cả thập kỷ tích lũy để trong vòng bảy tháng, phát triển được COVIVAC – vaccine COVID 19 của IVAC. “Về cơ bản, công nghệ làm vaccine cúm mùa và vaccine corona của chúng tôi không có gì khác nhau, chỉ có chi tiết các thông số thì điều chỉnh một chút cho phù hợp thôi”, PGS.TS Lê Văn Bé nói. “Vào tháng năm năm ngoái, chúng tôi tiếp cận được chủng qua liên minh với các trường ĐH Mỹ do PATH điều phối, đến tháng 12 đã có sản phẩm đạt chất lượng và hoàn thiện được quá trình thử nghiệm tiền lâm sàng để làm hồ sơ trình Bộ Y tế xin cấp phép thử nghiệm lâm sàng”.    Một lần nữa, PATH và các tổ chức quốc tế lại đóng vai trò người đồng hành của IVAC trong đại dịch Covid-19. Virus Newcastle được các nhà nghiên cứu trường ĐH Texas, Austin và ĐH Icaln, Mount Sinai, New York, Mỹ… cấy gene biểu hiện protein gai tái tổ hợp của virus SARS-CoV-2, trở thành thứ virus vector. Khi chuyển về IVAC, nó được cấy trên trứng gà có phôi 10 đến 11 ngày tuổi theo liều lượng quy định của từng quả trứng, nuôi cấy ở nhiệt độ 370C trong vòng 72 giờ. Sau khi kiểm tra các hiệu giá sinh ra, IVAC “gặt” bằng máy bán tự động với công suất 10.000 quả/giờ và chuyển sang tinh chế – giai đoạn quan trọng nhất của quy trình sản xuất vaccine. Dung dịch mà họ thu được có độ tinh khiết 99%, tiếp tục được cô đặc, chuyển sang bất hoạt virus và lọc vô trùng thành bán thành phẩm. “Hoàn tất kiểm tra chất lượng, bán thành phẩm đó đã ở trạng thái sẵn sàng để pha chế thành vaccine. Đó là sơ lược quy trình mà chúng tôi làm COVIVAC cũng như các vaccine cúm khác”, PGS.TS Lê Văn Bé nói với đôi mắt lấp lánh sự vui thích hồn nhiên của người đã làm chủ được một chu trình phức tạp.      “Điểm thưởng” cho sự trường kỳ của IVAC thật đáng giá. Đó là năng lực sẵn sàng cho việc sản xuất các loại vaccine cúm đại dịch.      Vì vậy, ngay sau khi sản xuất thành công lô vaccine thử, IVAC đã mạnh dạn làm thêm lô thử nghiệm lâm sàng, chuẩn bị cho một chu trình thử nghiệm mà họ đã thuần thục. “Thực ra, trong vòng sáu tháng đến một năm là có sản phẩm để đánh giá chất lượng và thử tiền lâm sàng trên động vật thí nghiệm nhưng cần khoảng ba năm để thực hiện ba giai đoạn thử nghiệm lâm sàng”, ông giải thích. Đó là quy trình mà mọi nhà sản xuất vaccine đều phải đi qua, không riêng gì IVAC.     Điểm nút cuối cùng     Điểm nút đó là ba giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và chi phí mà các nhà sản xuất phải bỏ ra cho nó.    Trong bối cảnh không cấp bách, IVAC có thể “nhẩn nha” chuẩn bị, vừa đi xin tài trợ quốc tế, vừa tiến hành thử nghiệm lâm sàng, giống như cách họ đã áp dụng với vaccine cúm A/H1N1, A/H5N1, và vaccine cúm mùa. Thông thường, chi phí giai đoạn một và hai không quá tốn kém vì số lượng người tham gia không lớn nhưng giai đoạn ba với hàng chục ngàn người tham gia và diễn ra ở nhiều điểm trên là cả một vấn đề với một cơ sở công lập tự chủ toàn phần như IVAC. “Chúng tôi kết hợp với Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và ĐH Y Hà Nội thử nghiệm lâm sàng giai đoạn một. Hiện đang tiêm cho 120 người rồi, đang theo dõi đến ngày 57 để làm báo cáo giữa kỳ. Đến đầu tháng bảy, mọi chuyện suôn sẻ thì triển khai giai đoạn hai trong ba tháng ở Vũ Thư, Thái Bình”, PGS.TS Lê Văn Bé cho biết vào ngày 27/5.    Cũng như các cơ quan quản lý ở nhiều quốc gia, Bộ Y tế đã tiết giảm nhiều thủ tục hành chính mà không vi phạm tiêu chuẩn chuyên môn để giúp đẩy nhanh tiến độ cấp phép vaccine; tuy nhiên những quy định ở giai đoạn ba vẫn phải giữ nguyên vì đây là căn cứ để xem xét cấp phép. “Số lượng người tham gia đông, có thể lên tới hàng chục ngàn người và thời gian theo dõi tác động của vaccine trên những người này cũng phải đủ dài mới phát hiện ra được dấu hiệu của các biến cố bất lợi nghiêm trọng hiếm gặp, thường thì phải 12 tháng hoặc hơn”, PGS.TS Lê Văn Bé lưu ý. Do số lượng tham gia lớn nên chi phí của giai đoạn ba quá lớn với IVAC. Con số 20 tỉ đồng mà tập đoàn Vingroup tài trợ cũng chưa đủ cho hai giai đoạn đầu, họ vẫn phải tự xoay xở để bù thêm 8 tỉ nữa. Nhưng hàng trăm tỉ cho giai đoạn ba sẽ lấy ở đâu?    Đó là câu hỏi đang làm rối bời IVAC, dù rằng thông tin chuyên môn từ Mỹ và Ấn Độ rất khả quan: việc đánh giá chất lượng và thử nghiệm trên động vật để kiểm tra độ an toàn, khả năng miễn dịch, hiệu quả bảo vệ trên động vật hamster bị nhiễm biến thể virus mới của Anh và Nam Phi đều cho kết quả tốt. “Có một nỗi trăn trở của người làm vaccine là dù làm được vaccine chất lượng nhưng mình phải được đánh giá thông qua thử nghiệm lâm sàng ba giai đoạn. Muốn như vậy phải có tiền, mà với đơn vị nhỏ như IVAC thì nhất thiết phải có sự hỗ trợ về kinh phí của Nhà nước”, PGS. TS Lê Văn Bé nói.    Vậy IVAC có mường tượng tất cả những vấn đề sẽ gặp phải khi làm COVIVAC? PGS. TS. Lê Văn Bé cho biết “Dĩ nhiên là chúng tôi dự đoán được tất cả những khó khăn đó nhưng cái tâm của những người làm vaccine không cho phép mình trì hoãn đắn đo. Khi mình có sẵn công nghệ, có nhà máy thì tại sao mình không làm?”. Sự sẵn sàng của những người làm vaccine là một trong những chỉ báo về năng lực của y tế một quốc gia cũng như điểm tựa trong trường hợp dịch bệnh khẩn cấp. Bởi “nếu chờ đến lúc quốc tế không viện trợ nữa mới đặt hàng trong nước thì đã muộn vì việc sản xuất vaccine đòi hỏi một quy trình thử nghiệm và thẩm định chất lượng nghiêm ngặt, khá tốn thời gian. Đồng thời, nhà sản xuất vaccine trong nước không thể nào đột ngột tăng quy mô sản xuất một cách quá nhanh”, giáo sư Thu Vân trả lời phỏng vấn Tia Sáng vào tháng 6/2012.    Nỗi đau khổ của người làm vaccine, vì vậy, nhân lên từng ngày. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác chỉ có giải pháp duy nhất thoát đại dịch là vaccine nhưng vô vàn điểm khó trong việc mua vaccine của các hãng nước ngoài, không chỉ ở việc đàm phán. Ví dụ với riêng Pfizer, nước nhập khẩu vaccine của họ không chỉ phải vận chuyển sản phẩm trong điều kiện nhiệt độ âm 800 C mà còn cần đáp ứng nhiều yêu cầu khác: miễn trừ trách nhiệm trong việc khiếu nại phát sinh từ hoặc liên quan đến vaccine hoặc việc sử dụng vaccine; chấp nhận nhận hàng theo đúng số lượng, thời gian dự kiến trong thỏa thuận…1 Còn COVIVAC, cũng như các vaccine cúm khác của IVAC, sẽ được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ từ 2 đến 80C và giá xuất xưởng dự tính ở mức không quá 60.000 đồng/liều. Vì sao COVIVAC lại rẻ như vậy? “Rẻ hơn so với các vaccine khác vì mình đã có nhà máy sản xuất cúm mùa, dây chuyền cũng được khấu hao một phần theo thời gian. Đã không những không phải đầu tư cơ sở vật chất từ đầu, bọn mình lại còn có sẵn con người, có sẵn quy trình, có sẵn nguyên liệu”, ông phân tích.    Trong những ngày này, trên các mạng xã hội, người ta không ngớt bàn tán về vaccine và đặt câu hỏi về việc ‘tại sao năm ngoái báo chí nói nhiều về việc Việt Nam đang làm mấy loại vaccine mà giờ chưa có?”, “liệu có tin được vaccine Việt Nam không?”… Với những người làm vaccine như PGS.TS Lê Văn Bé, TS. Dương Hữu Thái, nỗi nghi ngờ về sản phẩm mà mình gắn bó cả đời, chăm chút cho nó từng ngày còn hơn cả sự đau đớn. Nhưng biết làm gì để thuyết phục mọi người, khi COVIVAC còn bị kẹt lại ở điểm cuối cùng?□  —  1.https://vov.vn/kinh-te/thi-truong/pfizer-chao-ban-31-trieu-lieu-vaccine-covid-19-cho-viet-nam-858801.vov    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Jacinda Ardern: Nhà lãnh đạo tiêu biểu trong khủng hoảng      Thủ tướng New Zealand đã nhận được những lời khen ngợi cho các biện pháp hiệu quả của mình trong đại dịch.      Vào ngày 14 tháng 3, Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern đã bước lên bục với những tấm biểu đồ cùng một thông điệp đầy khó khăn cho quốc gia của mình. Vào thời điểm ấy, đất nước này mới chỉ có 6 người nhận kết quả xét nghiệm dương tính với virus corona đang gây ra đại dịch, và tất cả những người ấy đều có liên quan đến yếu tố du lịch nước ngoài. Tuy vậy, Thủ tướng New Zealand đã công bố một loạt các biện pháp nghiêm ngặt để làm chậm quá trình bùng phát dịch bệnh, bao gồm hai tuần tự cách ly đối với tất cả những ai nhập cảnh vào New Zealand, đóng cửa các cảng biển đối với tàu du lịch và hạn chế việc di chuyển đến các nước láng giềng Thái Bình Dương. “Tôi tin rằng đây là điều phải làm”, bà nói, “chúng ta phải hành động quyết liệt, và chúng ta phải hành động sớm. Chúng ta phải làm tất cả mọi thứ có thể để bảo vệ sức khỏe cho người dân của New Zealand”. Và chỉ chưa đến hai tuần sau, New Zealand bắt đầu lệnh phong tỏa toàn quốc.  Nhờ vậy, vào thời điểm toàn thế giới đều lo lắng và sợ hãi, Ardern đã nhận được sự khen ngợi từ quốc tế cho việc lãnh đạo đất nước của mình bằng lòng nhân ái cùng những hành động quyết đoán. Bà đã thống nhất quốc gia 5 triệu dân này bằng những biện pháp chưa từng có trước đó và giúp cho New Zealand trở thành một câu chuyện thành công hiếm hoi trong đại dịch. Và nhờ đó, quốc đảo này hiện đã hai lần dập tắt được các đợt bùng phát Covid-19 trong cộng đồng và giới hạn số ca nhiễm bệnh ở mức 2,000 người, số ca tử vong ở mức 25 người.  Rất ít quốc gia đạt được kết quả tốt như vậy trong công tác phòng chống dịch Covid-19. Chẳng hạn, số ca tử vong ở Mỹ cao hơn gấp 170 lần khi điều chỉnh theo quy mô dân số.  Một số chuyên gia cho rằng, New Zealnd được hưởng lợi nhờ vị trí địa lý cô lập và quy mô dân số nhỏ. Tuy nhiên ngay cả khi không có những lợi thế ấy, rất ít nhà lãnh đạo có thể xử lý các vấn đề bất ổn về khoa học khéo léo như Ardern, chuyên gia về quản trị Michaela Kerrissey từ trường y tế công cộng T.H. Chan Đại học Harvard ở Boston, Massachusetts, đánh giá. Bà nhận định, trong khi các nhà lãnh đạo khác trì hoãn hành động cho đến khi có thêm nhiều thông tin hơn thì Ardern đã nhanh chóng thực hiện các biện pháp ứng phó.  Tại các cuộc họp báo hằng ngày, với sự có mặt của tổng cục trưởng y tế quốc gia  Ashley Bloomfield, Ardern đã thẳng thắn nói chuyện với người dân của mình. “Bà ấy đã đưa ra những tuyên bố hết sức minh bạch” về số lượng các ca bệnh đang ngày càng tăng lên và lý do tại sao việc áp dụng biện pháp phong tỏa là cần thiết, Kerrissey nói. “Tôi nghĩ rằng sự đồng cảm và trung thực mà bà đã truyền tải là khá độc đáo và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ”.  Juliet Gerrard, nhà hóa sinh học, cố vấn khoa học chính của thủ tướng cho biết, Ardern rất khát khao hiểu được các chi tiết về khoa học, ví dụ như việc các bộ gen được sử dụng để theo dõi các đợt bùng phát dịch như thế nào, hoặc bằng cách nào mà virus sẽ tiến hóa. “Nhờ vậy, sự hiểu biết sâu rộng đã giúp bà có thể truyền đi những thông tin rất phức tạp và luôn thay đổi”, Gerrard nói.  Tuy nhiên, chính phủ New Zealand cũng phải đối mặt với một số chỉ trích về việc không giám sát cộng đồng đầy đủ và không xét nghiệm cho nhân viên và khách du lịch tại các cơ sở cách ly một cách triệt để, dẫn đến việc bùng phát dịch bệnh và phải tiến hành phong tỏa ở thành phố lớn nhất của quốc gia này là Auckland vào tháng 8. Trước đó, trong tháng 6, nền kinh tế của New Zealand cũng rơi vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận và khiến tỉ lệ thất nghiệp tăng lên 1/3 vào tháng 9.  Dù vậy, phần lớn người dân New Zealand vẫn lắng nghe các khuyến nghị của thủ tướng khi chính sách hạn chế được áp dụng, và các cuộc thăm dò dư luận cũng liên tục cho thấy có tới 80% người dân ủng hộ các hành động của chính phủ, bao gồm cả biện pháp phong tỏa. Và vào tháng 10 vừa qua, Ardern đã tái đắc cử vị trí Thủ tướng.  Bà cũng có niềm tin vào vai trò của khoa học trong những lĩnh vực khác. Theo nhà kinh tế học Rebecca Burdon, người đứng đầu Climate Resource, cơ quan tư vấn chính sách về biến đổi khí hậu ở Melbourne, Úc, so với những người tiền nhiệm của mình, Ardern đã nỗ lực hơn nhiều trong việc giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu và coi đây là một trọng tâm cần được ưu tiên.  Vào năm ngoái, New Zealand đã thông qua đạo luật Không Carbon, trong đó nêu cam kết sẽ theo đuổi mức phát thải ròng bằng không (net-zero emissions) vào năm 2050. Ngoài New Zealand, chỉ có một số ít quốc gia khác ban hành đạo luật tương tự.  Chính phủ của Ardern đã cam kết dành khoảng 20% tổng sản phẩm quốc nội để ứng phó với Covid-19 – con số nhiều hơn hầu hết tất cả các quốc gia khác. Tuy nhiên, Thủ tướng New Zealand cũng phải đối mặt với một thách thức lớn trong việc vừa phải vực dậy nền kinh tế vốn phụ thuộc rất nhiều vào du lịch quốc tế, vừa phải bảo đảm cho sự an toàn của người dân trước loại virus corona nguy hiểm đang gây ra đại dịch trên toàn thế giới.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-03435-6/index.html#jacinda-Ardern    Author                Quản trị        
__label__tiasang Jeanne Barret: người phụ nữ đầu tiên đi vòng quanh thế giới      Năm 1765, một thiếu nữ nhà nông trẻ tuổi rời khỏi ngôi làng hẻo lánh vùng thôn quê nước Pháp, nơi gia đình cô đã chật vật kiếm sống trong nhiều thế hệ. Cô khởi hành chuyến du ngoạn đi khắp mọi miền thế giới, từ rừng rậm Nam Mỹ và eo biển Magellan cho đến những hải đảo nhiệt đới vùng Ấn – Thái Dương.      Một bức chân dung hiện đại của Jeanne Barret cải trang thành nam giới, dựa trên cách diễn giải của tác giả bài viết. Ảnh: Timothy Ide.     Jeanne Barret (hay Baret hoặc Baré) là người phụ nữ đầu tiên đã thực hiện hành trình vòng quanh thế giới. Rũ bỏ mũ bonnet và tạp dề để khoác lên mình bộ quần dài và áo choàng của nam, Jeanne cải trang thành nam giới và lên con tàu thuộc đoàn thám hiểm địa cầu của đô đốc Louis-Antoine de Bougainville với tư cách trợ lý cho nhà tự nhiên học Philibert Commerson.     Trong chuyến đi đó, Jeanne đã giúp Commerson thu thập các mẫu thực vật cho bộ sưu tập cá nhân về lịch sử tự nhiên lớn nhất được biết đến thời bấy giờ. Hàng nghìn mẫu tiêu bản thực vật ngày nay vẫn có thể được tìm thấy tại khu thảo mộc của bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris, dù trong số đó chỉ một số ít mang tên Jeanne.     Bất chấp thành tựu phi thường, Jeanne không để lại ghi chép gì về chuyến đi hay cuộc đời của mình. Tên của bà có lẽ đã bị lãng quên mãi mãi nếu không nhờ vào một phát hiện kịch tính trên bãi biển Tahiti vào năm 1768.     Người đời biết đến Tahiti từ chuyến hành trình thám hiểm của Bougainville như một thiên đường không tưởng với những người phụ nữ xinh đẹp và tự do tình dục. Nhưng sự thực là những người đàn ông Tahiti bản địa cũng hứng thú không kém với phụ nữ châu Âu, và danh tính của Jeanne dưới lớp quần áo ngụy trang nhanh chóng bị phát hiện. Phát hiện này khiến cả đoàn sửng sốt, và Bougainville buộc phải can thiệp. Ông mô tả ngắn gọn lời thú nhận của Jeanne trong cuốn sách bán chạy nhất kể về chuyến đi của mình. Bougainville dành tặng cho Jeanne những lời khen ngợi có cánh nhất và ra lệnh không cho ai làm phiền để bà tiếp tục làm việc như một người đàn ông.     Trong bình luận duy nhất của Commerson về chủ đề này, ông lưu ý Jeanne đã “tránh được cuộc tập kích của thú hoang và con người có khả năng tổn hại đến tính mạng và đức hạnh, bình an vô sự”.     Jeanne không làm sai điều gì. Quy định của hải quân Pháp không cấm phụ nữ ra khơi, nhưng lại áp dụng hình phạt đối với nam giới đưa nữ giới lên tàu. Cả Jeanne và Commerson đều khẳng định Commerson không hay biết gì về mưu mẹo của Jeanne và cả hai không quen biết nhau trước cuộc hành trình. Jeanne và Commerson xuống tàu ngay sau khi tàu cập bến đảo Mauritius trên biển Ấn Độ Dương thuộc lãnh thổ Pháp.     Cuộc phiêu lưu của Jeanne sau đó được kể lại trong một cuốn sách về những người phụ nữ vĩ đại và trong phần Bổ sung về chuyến du hành Bougainville của triết gia Denis Diderot. Cuối cùng, bà nhận được một khoản lương hưu từ hải quân Pháp cho những đóng góp của mình.     Bức tranh duy nhất vẽ Jeanne được thực hiện rất lâu sau khi bà qua đời và in trong một cuốn sách tập hợp các chuyến đi nổi tiếng. Đó có lẽ là một hình ảnh mang tính chất biểu tượng. Trang phục thủy thủ rộng rãi tượng trưng cho chuyến đi của bà, bó hoa tượng trưng cho lĩnh vực thực vật học, và chiếc mũ đỏ ám chỉ bà chính là nàng Marianne, một biểu tượng cách mạng cho tự do và nền cộng hòa Pháp.       Một bức vẽ về Jeanne của Giuseppe dall’Acqua vào năm 1816. Ảnh: Theconversation     Trên thực tế, một người trợ lý và nhà thực vật học như Jeanne sẽ ăn vận như một quý ông, mang theo nhiều loại ghim, dao, túi, vũ khí và giấy tờ cho công cuộc thu thập mẫu vật. Các mẫu thực vật được ép ngay tại chỗ bằng máy ép mẫu thực vật cầm tay.     Mặc dù danh tiếng của bà đã sớm lan xa, hiếm ai biết được chi tiết về cuộc đời của Jeanne ngoài chuyến đi nổi tiếng. Trong nhiều năm, có rất ít thông tin về quá khứ của bà, những điều đã xảy ra khi bà rời đoàn thám hiểm tại Mauritius vào năm 1768, hành trình trở lại đất Pháp hay công việc của bà trong phần đời còn lại.     Những khuôn mẫu giản lược     Viết tiểu sử về một người phụ nữ mà thông tin của họ cực kỳ ít ỏi, luôn là một thử thách. Tôi* thử kiếm tìm một hình tượng có sẵn – trong văn học hay trong lịch sử – để làm hình mẫu cho Jeanne. Nhưng cả tiểu thuyết và thực tế đều khắc họa người phụ nữ, người nghèo, người ít đọc, người lập dị và người đến từ các nền văn hóa và ngôn ngữ khác một cách nghèo nàn. Sự hiện diện của họ nằm trong những khuôn mẫu giản lược – những vai phụ tôn lên vai chính dành cho một người đàn ông da trắng giàu có. Một người phụ nữ như Jeanne có thể là một nông dân hay một cô hầu, một người vợ hay một ả sa ngã – không có cơ hội nào theo lẽ thường để bà trở thành một nhà thám hiểm hay một người phụ nữ độc lập theo ý mình. Cơ hội phải do chính bà tạo ra.     Những ghi chép ban đầu về Jeanne tập trung vào công việc, ngoại hình và đạo đức giới tính của bà. Bà được mô tả là người không biết mỏi mệt, một nhà thực vật học xuất chúng và một người cần mẫn vác những bao tải nặng trong khi thu hái thực vật. Đàn ông cho rằng bà không đẹp cũng chẳng xấu, nhưng cư xử với “sự khiêm tốn thận trọng.”     Commerson gặp chấn thương ở chân trong chuyến hành trình khiến ông gặp khó khăn trong việc di chuyển. Jeanne có lẽ đã chịu trách nhiệm thu thập hầu hết các loài cây cỏ Nam Mỹ, trong đó có hơn một nghìn loài vẫn được tìm thấy ở các phòng thảo mộc ngày nay. Khi các nhà khoa học bảo tàng bắt đầu công bố một số mô tả về loài thực vật của Commerson sau khi ông qua đời, nhà sinh học tiến hóa tiên phong Jean Baptiste Lamarck là người duy nhất đề cập đến đóng góp và tinh thần dũng cảm của Jeanne. Dẫu sao bà cũng là một người trợ lý, và do vậy hầu như không được công nhận.     Bản thân Commerson cũng hiếm khi nhắc đến Jeanne. Phải đến khi họ đã rời bỏ đoàn thám hiểm, ông mới đặt tên một loài cây theo tên bà: Baretia bonafidia (ngày nay được gọi là Turraea rutilans). Trong bản mô tả về loài cây nói trên, Commerson công nhận “khát khao tri thức” của bà và cho biết ông mắc nợ “tinh thần anh hùng của bà, vì rất nhiều loài thực vật chưa từng được thu hái trước đó, vì công sức phơi khô cần mẫn, vì vô số bộ sưu tập côn trùng và vỏ sò.”       Turraea rutilans, ban đầu được Commerson đặt tên là Baretia bonafidia. Ảnh: Muséum national d’Histoire naturelle, Paris (Pháp) Bộ sưu tập: Thực vật có mạch (P) Mẫu vật P00391569.     Những ghi chép vào thế kỷ 19 về Jeanne xuất hiện dưới dạng chú thích trong tiểu sử của những người đàn ông vĩ đại. Chúng tránh đề cập đến những điều không đứng đắn, thay vào đó thể hiện bà như “người hầu trung thành” của Commerson, giống như Thứ Sáu đối với Robinson Crusoe hay Jean Passepartout đối với Phileas Fogg. Người viết tiểu sử thời kỳ đầu Paul-Antoine Cap kể lại một câu chuyện gia đình, trong đó Jeanne tận tụy chăm sóc cho Commerson trên giường bệnh ở Mauritius và sau đó trở về sống tại quê nhà của ông tại Pháp.     “Để tưởng nhớ và tôn kính người chủ của mình, bà để lại tất cả những gì mình sở hữu cho những người thừa kế của nhà thực vật học danh tiếng,” ông viết. Đó là một câu chuyện về sự tận tâm vô bờ được lặp lại nhiều lần trong các bản ghi chép tiếp theo.     Bức chân dung chắp vá     Các nhà nghiên cứu nữ đã tiếp tục sứ mệnh giải mã các chi tiết về cuộc đời Jeanne. Sự chú ý chuyển sang Jeanne với tư cách một cá nhân, thay vì phụ lục cho câu chuyện của Commerson hay Bouganville. Vào những năm 1980, một nhà sử học địa phương vùng Burgundy tên Henriette Dussourd đã khám phá ra hồ sơ giáo xứ ghi lại việc Jeanne chào đời năm 1740 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã La Comelle. Bà (Henriette) cũng tìm thấy tờ khai xác nhận mang thai (bắt buộc theo luật của Pháp) có chữ ký của Jeanne khi bà 24 tuổi. Vào thời điểm mang thai được năm tháng, Jeanne đã lấy một họ khác và bỏ trốn đến Paris cùng Commerson với tư cách quản gia.     Các tình tiết có vẻ đáng ngờ. Trước đó, Jeanne có lẽ đã theo hầu Commerson, lúc ấy mới vừa góa vợ, và cả hai chuyển đến Paris nhằm tránh né một vụ bê bối địa phương. Tuy một trận hỏa hoạn vào năm 1871 gắn với sự kiện Công xã Paris đã phá hủy số hồ sơ giáo xứ ban đầu, nhưng Dussourd cho rằng đã có một bé trai được sinh ra, bị bỏ lại ở trại trẻ và sau đó chết yểu. Kể từ đó, tôi phát hiện ra rằng Jeanne đã hạ sinh đứa bé thứ hai ở Paris, nhưng đứa bé này dường như cũng qua đời trong những năm tháng khi Jeanne tham gia đoàn thám hiểm.     Mới đây, một tiểu sử bằng tiếng Anh đã cố gắng lấp đầy những khoảng trống còn lại trong hồ sơ lưu trữ. Tiểu sử nổi tiếng của Glynis Ridley bị chỉ trích vì những sai sót về mặt khoa học , nhưng phiên bản câu chuyện về Jeanne của cô đã lan truyền rộng rãi trên Internet. Thay vì phác họa hình tượng người hầu trung thành như các tác giả vào thế kỷ 19, Ridley sử dụng một truyện kể hiện đại mang tính cảnh báo để kể câu chuyện hoàn chỉnh về Jeanne – tự sự quen thuộc về những người phụ nữ can đảm không thể tránh khỏi kết cục thảm hại.     Tiểu sử của Ridley tìm cách trao cho Jeanne sự tự chủ mà bà không có trong những ghi chép thế kỷ 18 và 19. Ridley chỉ ra Commerson đã tìm kiếm lời khuyên từ Jeanne với tư cách một chuyên gia thảo mộc. Có khi nào một danh sách cây thuốc không đề tên trong tư liệu Commerson để lại là tác phẩm của Jeanne hay không? Tuy ý tưởng này rất hấp dẫn, thực tế Commerson rất nổi tiếng với các bài thuốc dạng trà, và các vị thuốc từ thảo dược là phương pháp điều trị y tế phổ biến tại thời điểm đó.       Philibert Commerson (1727-1773). Ảnh: Wikimedia Commons     Ridley cũng cho rằng không có bằng chứng nào về việc Jeanne được mẹ dạy đọc và viết. Nghiên cứu sử dụng tài liệu lưu trữ của tôi phát hiện mẹ của Jeanne qua đời khi cô bé mới 15 tháng tuổi. Giả thuyết khả thi hơn là Commerson đã dạy cô viết và đào tạo cô về thực vật học. Gây tranh cãi hơn, Ridley nhận định giai thoại Jeanne bị phát hiện là phụ nữ tại Tahiti thực chất là vỏ bọc cho vụ cưỡng hiếp tập thể ở New Ireland, ngoài khơi Papua New Guinea. Bà cũng cho rằng Jeanne đã mang thai và hạ sinh một đứa bé trai ở  Mauritius. Câu chuyện trên thực chất xuất phát từ mô tả của một bác sĩ tên Francois Vivez làm việc trên cùng con tàu với Jeanne. Vivez không ưa Commerson và đã dự định công bố một câu chuyện ô nhục về người hầu của ông khi trở về Pháp.     Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, không có bằng chứng nào cho thấy Jeanne, người mắc bệnh scurvy và bị suy dinh dưỡng, đã mang thai một đứa trẻ trong suốt cuộc hành trình, cũng như về tờ xác nhận mang thai bắt buộc hay đứa trẻ sinh ra ở Mauritius.     Một hình mẫu phức tạp     Cuộc sống của Jeanne ở Mauritius và sự trở lại nước Pháp của bà thực chất còn thú vị hơn những cái kết kịch tính đáp ứng những mong đợi thông thường. Người phụ nữ gan dạ này đã không đi đến một kết thúc bi thảm. Bà không phải là người hầu trung thành an ủi cho Commerson vào giây phút hấp hối. Bà không bị bỏ lại “một mình, không nhà, không xu dính túi” sau cái chết của ông, chờ đợi một người đàn ông cứu rỗi. Bà không trở về quê hương của Commerson hay tưởng nhớ ông cho đến chết.     Những tài liệu lưu trữ kể một câu chuyện khác. Tôi phát hiện Jeanne được cấp tài sản tư hữu tại Mauritius. Khi Commerson qua đời, công việc kinh doanh riêng của Jeanne đang tiến triển thuận lợi. Bà đã mua giấy phép điều hành một quán bar ăn nên làm ra gần bến cảng. Tại thời điểm kết hôn với Jean Dubernat, một người lính thuộc trung đoàn thuộc địa Pháp, bà giàu có đến nỗi đủ điều kiện để yêu cầu một hợp đồng tiền hôn nhân. Chồng bà đóng góp 5.000 đồng livre, trong khi Jeanne đóng góp một căn nhà, nô lệ, đồ nội thất, quần áo, trang sức, và một khoản gồm 19.500 livre – hai phần ba trong số đó thuộc quyền chi tiêu của bà. Bà là một người phụ nữ giàu có.     Những nghiên cứu sâu hơn của Sophie Miquel và Nicolle Maguette ở Dordogne, nơi Jeanne dành phần đời còn lại sau khi trở về Pháp năm 1775, hé lộ thêm nhiều chi tiết. Bà đã mua nhiều bất động sản khác nhau, trong đó bao gồm một trang trại mà ngày nay vẫn gần như nguyên trạng.     Chồng bà đã ký một văn bản pháp lý khác thừa nhận những tài sản này được chia đều giữa hai vợ chồng. Jeanne có gia đình vây quanh bầu bạn, bao gồm hai đứa cháu mồ côi, và điều hành một sản nghiệp sinh lợi với tư cách địa chủ và thương nhân – khác xa tuổi thơ nghèo khó, thất học của bà tại Burgundy. Nếu phải chỉ ra một kiểu cốt truyện cho cuộc đời của Jeanne, thì đó sẽ là câu chuyện về một người đi lên từ hai bàn tay trắng, thay vì về một người hầu trung thành hoặc một bi kịch đi đường. Nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn nếu ta dựng lại câu chuyện đời Jeanne với sự để tâm khách quan dành cho các tài liệu lưu trữ.     Bản thân Jeanne ngập tràn mâu thuẫn. Bà là một người dì tận tụy, nhưng lại để mặc con cái tự sinh tự diệt ở Paris. Bà đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của hệ thống giai cấp và chế độ phụ hệ cứng nhắc của Pháp, nhưng cùng lúc đó lại sở hữu nô lệ. Cuộc đời của bà không phải lúc nào cũng đi theo một cấu trúc tự sự quen thuộc. Những gì chúng ta biết về Jeanne cho thấy bà là một người phụ nữ tự tin, có năng lực và kiên cường – không phải nạn nhân cũng chẳng phải anh hùng, mà là một hình mẫu phức tạp, độc đáo và đầy cảm hứng.     (*) Tác giả của bài viết là Danielle Clode, nghiên cứu viên chính thuộc khoa Viết Sáng tạo tại Đại học Flinders.     Hoàng Nhi lược dịch  Nguồn: Friday essay: who was Jeanne Barret, the first woman to circumnavigate the globe?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Jess Wade: Quán quân về sự đa dạng trong khoa học      Một nhà vật lý đã viết hàng trăm trang Wikipedia để mở rộng tên tuổi của các nhà khoa học ở những nhóm chưa được đánh giá đúng mức.      Jess Wade cố gắng sửa chữa việc chưa đánh giá đúng mức hoạt động trong khoa học của phụ nữ và người da màu trên trang web Wikipedia. Nguồn: American Bar Association  Khi bắt đầu viết các trang Wikipedia mỗi ngày, Jess Wade không hề mong đợi cả thế giới chú ý đến công việc này mà chỉ nghĩ đơn giản là mình đang cố gắng sửa chữa việc chưa đánh giá đúng mức hoạt động trong khoa học của phụ nữ và người da màu trên trang web bách khoa toàn thư trực tuyến này. Nhưng vào tháng 7, khi cô đưa ra một bình luận khiêu khích trên trang Twitter về công việc của mình – bình luận này đã trở thành nguồn động lực to lớn thúc đẩy công việc của Jess Wade. “Điều này sẽ không xảy ra nếu không có bình luận đó”, cô cho biết.  Wade là một nhà vật lý polymer ở Trường Đại học Hoàng gia London, từng thực hiện nhiều dự án khoa học cộng đồng nhằm mục đích thúc đẩy sự đa dạng trong khoa học. Cô đã từ bỏ thói quen viết 1 trang mỗi ngày sau khi biết rằng 90% biên tập viên của Wikipedia là nam giới và chỉ có 18% thông tin về những nhân vật xuất hiện trên Wikipedia là phụ nữ.  Hiện nay, cô đã tạo ra khoảng 400 trang trên Wikipedia và tổ chức sự kiện thường xuyên “edit-a-thon” (marathon biên tập) – ở đó mọi người sẽ viết và biên tập các nội dung về những nhóm yếu thế trên Wikipedia. Điều này đã truyền cảm hứng cho những sự kiện tương tự trên thế giới, trong đó có những sự kiện ở những lĩnh vực khác.      Lenna Cumberbatch, nhà nghiên cứu về sự đa dạng ở Đại học St Andrews, Vương quốc Anh cho rằng, tính minh bạch và xung lực mà dự án của Wade tạo ra có vai trò rất quan trọng. Mặc dù không thể khắc phục được trực tiếp những vấn đề phân biệt trong khoa học của  Wikipedia song những nỗ lực của Wade sẽ làm thay đổi thái độ của mọi người. “Cô ấy đang đang khắc phục sự bất bình đẳng đã tồn tại hàng thế kỷ nay”, Cumberbatch cho biết. “Thật tuyệt vời khi cô ấy đang tạo nên lịch sử”.  Chiến dịch Wikipedia của Wade không chỉ là nguyên nhân duy nhất đưa cô trở thành tâm điểm trong năm nay. Hồi tháng 9, Wade đã thông báo về công việc của mình ở một hội nghị về giới ở CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt của châu Âu, nằm gần Geneva, Thụy Sĩ. Cùng ngày hôm đó, nhà vật lý Alessandro Strumia ở Đại học Pisa, Ý, đã có bài thuyết trình nghi ngờ về khả năng của phụ nữ trong vật lý và công kích các chính sách khuyến khích sự đa dạng. Wade nhận xét, “bài thuyết trình của ông ấy hoàn toàn sai lầm. Việc phát biểu trước một đám đông cử tọa gồm phần lớn những nhà khoa nữ trẻ rằng họ chỉ đạt được thành công trong ngành vật lý bằng chính sách đặc cách”.  Một lần nữa, Wade lại sử dụng truyền thông đại chúng để nhấn mạnh các bình luận này, và dĩ nhiên, chúng đã bị dư luận lên án rộng rãi. Strumia đã bị đình chỉ công tác ở CERN trong khi vẫn tiếp tục bị điều tra.  Wade vẫn đang tiếp tục nỗ lực của mình, trong đó có việc cung cấp cuốn “Inferior” của Angela Saini cho các thư viện  ở trường phổ thông, trong đó nêu tác hại của định kiến giới. Cô cho biết: “Tôi cho rằng sẽ tốt hơn cho khoa học nếu có sự tham gia của nhiều nhóm khác nhau. Làm được những điều này chắc chắn sẽ đảm bảo cho cộng đồng học thuật trở nên mạnh mẽ, kiên cường và sáng tạo hơn”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang John Doney mê thuyền Việt      Cuối năm 2011 là vừa đúng hai năm, John Doney, một “ông Tây mê thuyền Việt “ đã mãi mãi đi xa!    Con đường ngoằn nghoèo đầy những cua, những dốc  dọc theo bờ biển Thái Bình Dương vùng Townsend nước Mỹ với những hàng cây thẳng tắp lại trở thành một mối nguy hiểm với anh, một người vào tuổi gần 70 mang một cặp kính cận dày hết cỡ. Tối ngày 29 tháng Chạp năm 2009, trên đường về nhà, xe của anh đã mất lái và đâm thẳng vào hàng cây ven đường, mà phải vài giờ sau người ta mới phát hiện được. Tang lễ được cử hành trọng thể, bên quan tài của anh là chiếc thuyền mà anh mất rất nhiều công sức để chế tạo theo đúng phong cách cổ truyền tại Quảng Trị Việt Nam. Hội những người yêu mến và gìn giữ di sản thuyền Việt Nam do anh sáng lập mất đi người thuyền trưởng lèo lái. Trước đó vài tháng, chúng tôi còn có dịp tới thăm gia đình anh, ngủ đêm trong căn phòng giữa rừng cây, trong một khu đặc biệt dành cho những người nhiều đời theo nghiệp hải quân của nước này. Trong căn phòng như một bảo tàng mini đầy ắp những hình ảnh thuyền bè Việt Nam, những dự án đóng lại những con thuyền cổ truyền cho khỏi mai một, và không thiếu một cuốn sách màu xanh, cuốn “Thanh thư về tàu thuyền cận duyên miền nam Việt Nam”, một cuốn kim chỉ nam hành động cho hải quân Mỹ mà anh đã phải đọc, phải dùng… và rồi nó trở thành niềm yêu thích lôi cuốn anh trong suốt cuộc đời!  Thuyền Việt và các bạn quốc tế  Vẻ độc đáo, thiết thực, đầy sáng tạo của các phương tiện dùng để vận chuyển, đánh bắt cá của các cư dân suốt dọc ven biển Nam – Bắc đã là đề tài ghi nhận, bình luận của nhiều nhà thám hiểm, hàng hải thuộc nhiều nước như Pháp, Bồ Đào Nha, Anh, Trung Hoa, Mỹ từ những thế kỷ xa xưa. Còn nhớ, trong cuộc gặp nhà văn chuyên viết về biển người Nga Lev Skriaghin tại Moskva mùa xuân năm 1991, ông già gốc Do Thái có đưa tôi xem bài viết của mình giới thiệu các con thuyền độc đáo của cư dân Đông Nam Á trên tạp chí Kỹ thuật cho Thanh niên. Hình chiếc gai-bao (tiếng Nga гай баy) nổi bật với chiếc đòn ngang giữ cân bằng! Tôi nói với Lev, gai-bao của ông chính là chiếc ghe bầu miền Trung Việt Nam, được phiên âm trong “Từ điển Tàu thuyền toàn thế giới” của tác giả người Anh Rene-de-Kerchove mà hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụng, trong đó có Lev. Bản thân Rene lại dựa trên những công trình nghiên cứu của các tác giả Pháp, đặc biệt là Pierre Paris và J.B.Pietri. Và Lev cũng rất phấn khích khi thấy chiếc ghe bầu của chúng ta được Paris dùng làm hình bìa cho cuốn sách khảo cứu độc đáo của mình “Esquisse d’une ethnographie navale des peuples annamites – Phác thảo nghiên cứu dân tộc học về hàng hải của dân Việt Nam”. Có thể kể ra cả một “trường phái Pháp” nghiên cứu về thuyền bè và sinh hoạt sông nước của dân tộc ta bắt đầu từ J.M.Dayot,Chaigneau… những người đã giúp đỡ về thủy quân cho Gia Long, những P.Paris, J.B.Pietri, kiến trúc sư J.Y. Claeys trong những năm 30,40 của thế kỷ 20 cho tới bà Francoise Aubaile với cuốn “Bois et Bateaux du Vietnam” do Sallenave xuất bản năm 1987 tại Paris và biết bao các luận văn nghiên cứu sinh còn đang được làm dở dang!  Sinh trưởng tại Seattle trong một gia đình nhiều đời là hải quân, John thường xuyên di chuyển nơi cư trú theo cha mẹ. Sau khi tốt nghiệp trung học tại Puerto Rico, John quay về Seattle tiếp tục học tại Đại học Washington và bước vào cuộc đời quân ngũ với những con tàu.         Những năm cuối thập kỷ 60, tại Cục Cơ khí  Bộ Giao thông, lúc này tôi được biết toàn cơ quan đang quan tâm tới  việc đóng thuyền. Các đề án cụ thể được giữ tuyệt mật, sau này tôi mới  biết con thuyền Gò Công được phân tích và một tổ kỹ sư do Trịnh Xương  đứng đầu cùng với Lương Văn Triết, Đào Vũ Hùng, Cao Bút đã thiết kế  chiếc thuyền “100 tấn” bằng vỏ thép phục vụ vận chuyển Bắc – Nam giả  danh như những chiếc thuyền đánh cá. Công việc được Cục trưởng Ngô Văn  Năm chỉ đạo trực tiếp và làm việc thẳng với các lãnh đạo cấp cao như  Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ… Từ chiếc thuyền “100 tấn”, thiết kế được cải  tiến nhiều lần và được đóng hàng loạt tại các nhà máy như Xưởng 1, Xưởng  3, Bạch Đằng và cả tại Quảng Châu Trung Quốc bổ sung vào đội tàu không  số trên đường mòn…        Đầu thập kỷ 60, chàng sĩ quan hải quân John đóng quân tại Đà Nẵng với một nhiệm vụ cụ thể: Chống cuộc xâm nhập của Bắc Việt trong chiến dịch mà người Mỹ gọi tên là “Market Time”, tức chống Đường mòn Hồ Chí Minh trên Biển. Ngoài tàu bè, vũ khí, radar tối tân trải dọc ven biển, hệ Loran-C, tức hệ hàng hải tốt nhất thời bấy giờ, người Mỹ còn soạn thảo một bộ sách dày, bìa cứng bằng ba thứ tiếng Anh, Việt, Thái có cái tên là “Thanh thư về Tàu thuyền Cận duyên miền Nam Việt Nam” (tên tiếng Anh Blue Book of Coastal Vessels, South Vietnam). Để soạn thảo cuốn sách, Trung tâm Thông tin về Các cuộc Xung đột tại các Vùng xa xôi (Remote Area Conflict Information Center) tại Columbus, bang Ohio đã không tiếc tiền bạc công sức, chụp hàng vạn bức ảnh về các loại thuyền, trong đó có nhiều bức ảnh chụp từ máy bay khá tốn kém, đo đạc thực địa, ghi chép hỏi han, tức là thực hiện một cuộc nghiên cứu “dân tộc học phục vụ chiến tranh” nhưng ngay trong lời nói đầu bộ sách, những người soạn thảo công trình này phải thừa nhận là chủ yếu dựa và công trình “Thuyền buồm ở Đông Dương –Voiliers d’Indochine” của Pietri. Và coi cuốn sách của ông Giám đốc Nha Ngư nghiệp Đông Dương thuộc Pháp này là cuốn “Kinh Thánh” (Bible) của những ai muốn nghiên cứu về thuyền bè Việt Nam.  Khác với “Thanh thư”, cuốn “Thuyền buồm” được Pietri viết lên với tấm lòng say đắm vẻ đẹp của ghe bầu, ghe nang, dọc bờ biển nước ta. Và đặc sắc nhất là tất cả các hình minh họa, hình kỹ thuật các chi tiết của thuyền như bánh lái, buồm… đều được ông vẽ bằng tay chứ không viện tới kỹ thuật chụp ảnh đắt tiền như người Mỹ! Và chính trong những ngày đầu những năm 60 đó, một chiếc thuyền Gò Công trong cuốn của Pietri đã được đưa ra để nghiên cứu chế tạo những con tàu không số trên biển!    Quỹ Thuyền Gỗ Việt Nam   Sau chiến tranh Việt Nam, John còn đóng quân tại châu Âu. Trở về với đời thường, cùng với vợ và các bạn vùng Đông Bắc lập ra chương trình “Kid-First-Vì Trẻ em” nhằm giúp đỡ các trẻ em khuyết tật và nạn nhân chiến tranh vùng Đông Hà, Quảng Trị. Hành trình trở lại chiến trường xưa làm cho John trở lại với những chiếc thuyền Việt, nhưng trước kia là việc anh phải đọc Thanh thư để “tìm và diệt”, thì ngày nay, đó là cuốn Thuyền buồm ở Đông Dương mà anh đã biết từ hàng chục năm về trước. John quyết định nghiên cứu thuyền Việt Nam có bài bản, và anh đã cùng Stephanie Dumont người Pháp chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Anh, cho phát hành rộng rãi. Tất cả tiền thu được đều cho vào Quỹ Thuyền gỗ Việt Nam “Vietnam Wooden Boat Foundation” mà anh là người sáng lập nhằm “gìn giữ quá khứ hàng hải của Việt Nam” (preserve Vietnam’s maritime past). Trong văn phòng của vợ chồng John và Donna, chúng tôi ngồi ngắm nhìn những bức tranh thuyền bè Việt Nam mà John đã sưu tập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có những bức chụp từ cuối thế kỷ 19. John cho biết vùng Tây Bắc nước Mỹ trước đây có những bộ lạc ngưới da đỏ rất thiện nghệ trong săn bắn và chèo thuyền với các loại kayak, canoe, những loại thuyền hiện phổ biến trong du lịch, có mặt tại tất cả các bến bãi, kể cả vịnh Hạ Long lẫn Nha Trang, Phan Thiết… Một số cư dân trong vùng Townsend này làm công tác nghiên cứu, đề xuất lễ hội kayak… và dẫn tới một loạt hệ quả: các trung tâm dạy đóng thuyền theo đủ cách, từ kiểu truyền thống khâu bằng da thú tới cả cách pha cắt vải theo chương trình máy tính, các cửa hàng buôn bán, các cuộc thi đấu…Và từ kayak người ta mở rộng thành một trung tâm nghiên cứu các loại thuyền dân gian của các dân tộc khác trên thế giới. Chính vì thế mà John mới cất công sang Việt Nam “bê” cả chiếc thuyền Quảng Trị và dự định đưa về bảo  tàng vài cái thuyền thúng, kể cả một chiếc ghe bầu. Về trường dạy đóng thuyền có tên là “Trường Đóng thuyền vùng Đông Bắc” mà John cũng có tên trong Ban điều hành để người dân ở đây có thể so sánh cách đóng thuyền của họ với của người Việt, tìm ra cái hay, cái dở, tức là có một cuộc khảo sát “dân tộc học so sánh” trong đóng thuyền! Chúng tôi bàn về việc chuyển ngữ cuốn Thuyền buồm sang tiếng Việt cho một đối tượng cần đọc nhất cuốn sách này. Nếu bản tiếng Anh đã khó thì bản tiếng Việt lại càng khó hơn, vì nhiều thuật ngữ Việt cũ xưa về thuyền buồm đã biến mất cùng với các hiện vật, vì những thuật ngữ như “xiếm mũi, chạy pha chằng, chạy cánh cào… của hàng hải dân gian lại khá xa lạ với nhiều nhà kỹ thuật hiện nay, chỉ quen với sách vở “Tây học”!  …Trò chuyện tới khuya, chúng tôi trở về căn nhà của John trong khu rừng ven biển. Trong phòng khách của  “sói biển”, câu chuyện vẫn không dứt ra được quanh vấn đề làm sao có thể lưu giữ những gì còn sót lại của quá khứ thuyền bè. Cơ giới hóa mau chóng đã làm thay đổi diện mạo của tàu thuyền, một điều mà Pietri cũng đã thấy ngay từ những năm 40 của thế kỷ trước trong khi viết cuốn “Thuyền buồm ở Đông Dương”. Những bí quyết may buồm cánh dơi của nghệ nhân đảo Hà Nam, Phong Cốc, Yên Hưng, Quảng Ninh, bó mảng luồng tre tại Sầm Sơn, Thanh Hóa, làm ghe bầu tại Quảng Nam, Bình Định… sẽ ngày một mất đi nếu không có biện pháp ghi chép lưu giữ. Tại Seattle, niềm say mê thuyền Việt của John đã lôi cuốn được nhiều bạn bè: John giới thiệu với tôi cuốn sách ảnh “Thuyền gỗ Việt Nam” của một tác giả nhiếp ảnh nghiệp dư, anh Ken Preston đã dành hai năm 2005-2006 dùng xe mô tô Minsk rong ruổi suốt từ Bắc vào Nam để chụp hàng nghìn bức ảnh. Những việc làm cụ thể của các bạn đã làm chúng tôi day dứt, hình như công việc lưu giữ di sản tàu thuyền của chúng ta thực hiện chưa được là bao, mà tàu thuyền là cái cốt lõi của công cuộc chinh phục biển, giữ vững chủ quyền của dân tộc ta trên một lãnh thổ mà hai phần ba là biển!         Vượt đại dương bằng mảng Sầm Sơn              Chính bằng những phương tiện tưởng chừng như rất thô sơ đó, người Việt cổ xưa cũng như một số dân tộc ven biển khác đã từng vượt đại dương, trước những chuyến đi của Colombus, của Magellan hàng thế kỷ.  Nhiều người đã dấn thân làm lại các thí nghiệm đó, trong đó có cả một thì nghiệm thực tế đối với bè mảng Sầm Sơn  một trong hai sản phẩm độc đáo mà nhiều nhà nghiên cứu từ đô đốc Paris tới Pietri đều thống nhất nhận định: ”Mảng và ghe bầu là hai phương tiện duy nhất của Việt Nam, không thể có ở bất cứ nước nào trên Trái đất này”.              Thật đáng tiếc, có lẽ do ám ảnh bởi các nền văn hóa lớn, do những thông tin bị thổi phồng về những chuyến đi của quan lại đời nhà Minh Trung Quốc trong đó có Trịnh Hòa nên  nhà nghiên cứu Tim Sverin người Anh, khi dùng cái mảng Sầm Sơn trong chuyến thám hiểm vượt đại dương của mình đã gán cho nó một cái tên Tàu, đó là Hsu Fu –Từ Phúc – một ông quan theo truyền thuyết là đã dùng thuyền đi khắp thế giới để tìm thuốc trường sinh bất tử  cho Tần Thủy Hoàng vào những năm 200 trước Công nguyên và kể lại chuyến vượt biển sang châu Mỹ trong cuốn sách “Chinese Voyage” .              Vào năm 2006, tôi đã trở lại Sầm Sơn gặp những người đã ghép bè bằng lạt mây  gần 300 cây bương cũng như ra xã Phong Cốc trên đảo Hà Nam huyện Yên Hưng, Quảng Ninh, nơi tôi đã từng đóng quân vào những năm 60, để tìm gặp một số lão nghệ nhân đã may và nhuộm hơn 70 mét vuông buồm cho chiếc mảng  độc đáo này. Công việc này xảy ra vào những năm  đầu thời kỳ “đổi mới” ở nước ta, nên việc Tim Sverin vào Việt Nam có lẽ chỉ có một số cơ quan an ninh văn hóa được biết. Sau khi đã vượt qua 5.500 hải lý trong 105 ngày, giữa Thái Bình Dương mênh mông ,thủy thủ đoàn trên mảng Sầm Sơn đã vượt qua nhiều cơn bão cũng như những lần va chạm với hải tặc và như Tim kể lại trong cuốn hồi ký “Chinese Voyage: “Kinh khủng nhất là khi chiếc mảng rơi vào giữa những đỉnh và đáy các con sóng khổng lồ. Như khi một tên lửa chạm đất, hàng tấn nước ụp đổ ngay trên chiếc lều bằng tranh tre nứa khiến nó rên rỉ và như muốn bung ra …“, cuối cùng họ đã phải bỏ chiếc mảng để được cứu vớt, khi còn cách bờ châu Mỹ gần 1.000 hải lý.              Mặc dù mới thực hiện được hơn 2/3 hành trình nhưng nhà thám hiểm Tim Sverin đã khẳng định sức sống mãnh liệt của chiếc mảng Sầm Sơn trong việc đưa những con người cổ xưa vượt đại dương.           Author                Quản trị        
__label__tiasang John Zhang: Đảo ngược khả năng sinh sản      Nhân vật thứ bảy trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là John Zhang, vị bác sĩ đã làm nổi lên cuộc tranh luận về quá trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) gây tranh cãi      TS. John Zhang bế Abrahim, đứa trẻ đầu tiên trên thế giới có ba bố mẹ. Nguồn: John Zhang/NHFC  Sốc, giận dữ, hoài nghi, và cả những lời chúc mừng, đó là một số những phản ứng mà bác sĩ chuyên khoa hiếm muộn và vô sinh, John Zhang đã tạo nên trong cộng đồng khoa học vào hồi tháng Chín, khi ông tuyên bố rằng một kĩ thuật gây tranh cãi trong đó kết hợp DNA từ ba người, đã được sử dụng để tạo ra một bé trai khỏe mạnh.  Loại kĩ thuật này nhằm tránh cho trẻ em khỏi những rối loạn liên quan đến ty thể – những cấu trúc tế bào sản sinh ra năng lượng. Nhưng những mối lo ngại về mặt đạo đức và an toàn đã khiến Hoa Kỳ cấm những quy trình không có giấy phép như vậy. Zhang, bác sĩ làm việc tại Trung tâm Sinh sản New Hope tại thành phố New York, đã tiến hành kĩ thuật này tại phòng thử nghiệm lâm sàng của công ty ở Mexico.  Những người chỉ trích đã coi như đây là một nỗ lực để né tránh quy định, và phàn nàn rằng ông đã công bố công trình tại một hội thảo chứ không phải là trong một ấn phẩm. “Điều quan trọng nhất là có được một đứa trẻ chào đời khỏe mạnh, chứ không phải để công bố với cả thế giới”, ông nói.  Zhang có thói quen đẩy lùi những ranh giới khoa học và đạo đức. Vào những năm 1990 ông đã làm việc với bác sĩ nội tiết sinh sản Jamie Grifo tại Trung tâm Y tế Langone, Đại học New York để phát triển một phiên bản của kĩ thuật mà Zhang đã sử dụng vào năm 2016. Cách tiếp cận này đã được thiết kế để giúp những phụ nữ lớn tuổi mang thai bằng cách thay thế những ty lạp thể đang lão hóa bằng những ty lạp thể từ những trứng của người trẻ tuổi. Nhưng không có ca mang thai thành công nào cho kết quả.  Khi những nhà lập pháp Hoa Kỳ bắt đầu hạn chế kĩ thuật này vào năm 2001, Zhang và nhóm nghiên cứu của ông ở Trung Quốc đã tiếp nhận công việc. Vào năm 2003, nhóm nghiên cứu của ông đã tạo ra và cấy nhiều phôi vào một phụ nữ. Cuối cùng các bào thai đã bị sảy, Trung Quốc cũng đã cấm kĩ thuật này.  Grifo và một số những người khác đã ủng hộ công trình mới nhất của Zhang. “Tôi nghĩ đó là một điều tuyệt vời, cuối cùng nó cũng đã được thực hiện”, Grifo nói. Nhưng những người khác lại chỉ trích nhóm tại Trung tâm sinh sản New Hope. “Rất nhiều việc họ đã làm hoàn toàn không an toàn”, chẳng hạn như đưa trứng của những người hiến tặng vào thuốc, thứ có thể gây ra những đột biến nhiễm sắc thể,  Shoukhrat Mitalipov, theo nhà khoa học tế bào gốc tại Đại học Khoa học và Sức khỏe Oregon, Portland.  Zhang không nản lòng. Ông nói rằng nhiều gia đình bị bệnh ty thể đã bày tỏ sự quan tâm đến quy trình của ông, và ông hi vọng sẽ thực hiện nó ở những nước khác. “Năm đến mười năm sau, mọi người sẽ nhìn vào công trình này và nói “Tại sao tất cả chúng ta đều quá ngu ngốc, tại sao lúc đó chúng ta lại phản đối nó?”, ông nói. “Tôi nghĩ bạn phải chỉ cho nhân loại thấy được lợi ích này”.  Vũ Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kangaroo Care bảo vệ sự sống của trẻ sinh non      Phương pháp chăm sóc Kangaroo Care của hai nhà nghiên cứu Vishwajeet và Aarti Kumar đã góp phần cứu sống hàng vạn trẻ sinh non từ khắp các cộng đồng nghèo Ấn Độ, châu Phi…       Tháng 10 vừa qua, họ đã được Quỹ tài trợ Bill &  Melinda Gates Foundation trao giải thưởng Grand Challenge trong lễ kỷ  niệm 10 năm thành lập chương trình Grand Challenges của Quỹ diễn ra tại  Seattle, Mỹ.  Kết hợp truyền thống và khoa học       Câu chuyện về phương pháp Kangaroo Care của hai nhà khoa học Ấn Độ bắt đầu từ mười năm trước, khi chứng kiến nỗi tuyệt vọng của các gia đình có con sinh thiếu tháng  nhưng không đủ điều kiện chăm sóc y tế. Tại Phòng thí nghiệm Trao quyền cho cộng đồng Shivgarh (CEL) ở bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, Vishwajeet và Aarti Kumar đã nghiên cứu cách giúp những đứa bé vượt qua lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết. Cuối cùng, hai vợ chồng đã chọn một phương pháp cổ truyền: người mẹ ôm ấp, giữ ấm đứa con mới sinh trong vòng tay và cơ thể mình.      Nét đổi mới trong phương pháp của nhà Kumar là tăng cường sự tiếp xúc làn da (skin – to – skin) của bà mẹ và đứa bé. Sự tiếp xúc này giúp hệ miễn dịch của bé làm quen với các sinh vật khu trú cộng sinh trên cơ thể người mẹ, qua đó hạn chế khả năng bị nhiễm trùng, góp phần ổn định nhiệt độ cơ thể và nhịp thở cho bé. Đây cũng là cách để những phản ứng tự vệ của cơ thể bé sớm hình thành.      TS Vishwajeet Kumar giải thích, phương pháp Kangaroo Care (chăm sóc kiểu Kangaroo) có những yếu tố hữu ích như tắm muộn, giữ ấm và cho trẻ bú sau khi sinh một giờ. Nó đem tới bốn điều cơ bản nhất cho những bé yếu ớt: sữa mẹ, sự ấm áp, tình thương yêu và sự an toàn. “Từ hành động tự nhiên của tình yêu thương, Kangaroo Care đã trở thành trải nghiệm chữa trị đẹp nhất mà một người mẹ (hoặc cha) dành cho đứa con bé bỏng của mình”, TS Aarti Kumar nhận xét.     Hai nhà nghiên cứu đã thiết lập dự án chăm sóc trẻ sơ sinh mang tên Saksham Shivgarh, mở các khóa đào tạo nhân viên y tế cho các bệnh viện công và các cơ sở hộ sinh nhỏ tại 300 ngôi làng. Và Kangaroo Care đã mang lại điều kỳ diệu: sau 18 tháng áp dụng, tỷ lệ tử vong ở nhũ nhi sinh non đã giảm 54% và “tỷ lệ tử vong của mẹ cũng giảm xuống 34%. Chúng tôi đã công bố mọi dữ liệu về phương pháp này trên tạp chí y học Lancet,” Vishwajeet Kumar, cựu sinh viên trường ĐH Johns Hopkins cho biết.      Ngoài khả năng tăng cơ hội sống sót cho trẻ sinh non, Kangaroo Care còn có những ưu điểm khác như rất dễ thực hiện mà không hề tốn kém. Aarti Kumar nhấn mạnh: “Kangaroo Care gói gọn tất cả những điều mà chúng tôi vẫn nỗ lực đem lại cho các gia đình – những giải pháp y tế tối thiểu về chi phí, có thể áp dụng được ở những vùng quê nghèo; những nhân viên y tế tuyến đầu có kỹ năng và hiểu biết về chăm sóc trẻ sơ sinh, thân thiết với từng gia đình; các thành viên trong gia đình có được cách chăm sóc mới với tình thương yêu gắn bó thật sự”.     Một trong những ví dụ về thành công của dự án Saksham Shivgarh là trường hợp cô bé Sakshi ở làng Shivgarh, Rae Bareli. Ra đời quá sớm, Sakshi chỉ nặng vỏn vẹn một kg và các bác sỹ đã tư vấn đặt bé trong lồng kính ít nhất một tháng sau khi sinh. Tuy vậy với khoản thu nhập ít ỏi của gia đình thì 50 đô la mỗi ngày cho dịch vụ này là điều không thể.      Vào thời điểm khó khăn đó, bố mẹ Sakshi đã nhận được sự giúp đỡ từ dự án. Các nhân viên y tế và giám sát viên phải thức trắng đêm để tìm ra phương án tốt nhất cứu sống Sakshi. Trong tuần đầu tiên, gia đình không tắm cho Sakshi mà chỉ giữ cho cô bé luôn ấm áp. Bé được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ và các thành viên của gia đình luân phiên nhau áp dụng phương pháp Kangaroo Care với bé trong vòng hai tháng. Trước khi ấp ủ bé, tất cả đều phải rửa tay bằng nước sạch và xà phòng để tránh nhiễm khuẩn.     Năm năm sau, đứa bé khỏe mạnh Sakshi đã trở thành “bằng chứng sống” về hiệu quả của Kangaroo Care (Sakshi trong tiếng Ấn Độ có nghĩa là bằng chứng). Nhà nghiên cứu  Aarti Kumar cho biết: “Yếu tố khoa học trong phương pháp này đã đem đến điều kỳ diệu. Trong khi người ta chưa thể đong đếm được tình yêu thương thì khoa học đã hiển thị nó trước mắt mọi người, đó là thành công của Kangaroo Care”.      Trong chuyến đi tới bang Uttar Pradesh để giám sát kết quả dự án Saksham Shivgarh vào năm 2010, bà Melinda Gates, đồng sáng lập Quỹ tài trợ Bill & Melinda Gates Foundation, cho rằng những bài học kinh nghiệm từ vườm ươm Rae Bareli cần được áp dụng ở Malawi và những quốc gia khác ở châu Phi, những nơi cũng phải chứng kiến tỷ lệ tử vong cao của nhũ nhi. Và trên thực tế, Kangaroo Care đã có mặt ở khắp Ấn Độ và nhiều khu vực trên thế giới.     Góp phần thay đổi quan niệm cộng đồng     Thành công của phương pháp Kangaroo Care tại bang Uttar Pradesh còn mang đến sự thay đổi trong quan niệm mà bà Melinda Gates gọi là “sự thay đổi về văn hóa”.   Đây cũng là trường hợp về Ruchi, một nhân viên y tế cộng đồng đã qua khóa đào tạo của dự án Saksham và làm việc tại một làng nhỏ còn tồn tại nhiều định kiến lạc hậu. Ngay từ đầu, cô đã vấp phải những ánh mắt nghi ngờ và sự bất hợp tác của dân làng trước những phương pháp chữa bệnh mới.      Nhưng một đứa bé sinh non đã làm thay đổi tất cả mọi quan niệm. Khi được tin về ca sinh non này, Ruchi nhanh chóng tới nhà, phát hiện thấy người mẹ đã bất tỉnh còn đứa bé bắt đầu tím tái vì lạnh. Một thầy lang vườn đã đỡ đẻ và cắt rốn cho đứa trẻ bằng phương pháp truyền thống. Việc tắm không đúng cách đã làm hạ thân nhiệt của bé. Để cứu vãn tình thế, Ruchi làm ấm phòng và yêu cầu người thân của bé áp dụng phương pháp Kangaroo Care, tuy vậy ai cũng từ chối vì lo sợ sẽ bị ma ám. Trước tính huống cấp bách này, Ruchi chỉ còn cách thay thế mẹ bé thực hiện phương pháp Kangaroo Care.      Quyết định của Ruchi đi ngược lại quy tắc xã hội: Ruchi chưa lập gia đình, cô sẽ phải hứng chịu cơn thịnh nộ của cha mẹ và sự chễ giễu của người làng. Nhưng để giành giật sự sống của đứa bé khỏi tay tử thần, Ruchi không còn cách nào khác. Cuối cùng phép màu cũng đến: thân nhiệt bé đã dần ổn định và làn da hồng hào báo hiệu sự sống trở lại. Chính tình thương yêu và niềm tin vào khoa học của Ruchi đã cứu sống bé.      Thật bất ngờ là hành động của Ruchi không chỉ cứu được một sinh mạng mà còn đưa đến thay đổi trong nếp nghĩ. Thay vì chế giễu và nghi hoặc, người ta cảm phục Ruchi và bắt đầu tin tưởng vào Kangaroo Care. Tin truyền miệng về phương pháp chăm sóc mới đã lan tỏa khắp các ngôi làng hẻo lánh và những người phụ nữ bắt đầu tìm đến Ruchi để học hỏi kinh nghiệm chăm sóc trẻ sơ sinh.      Qua dự án Saksham Shivgarh, Vishwajeet và Aarti Kumar nhận thấy, sự thay đổi về nhận thức chỉ có thể diễn ra trong lòng cộng đồng. Kinh nghiệm ấy đã được họ chia sẻ trong Hội nghị toàn cầu về sức khỏe nhũ nhi vào tháng 4-2013 tại Nam Phi.     Đánh giá tác động của Kangaroo Care vào hệ thần kinh     Vishwajeet Kumar cho biết, thông qua CEL, hai vợ chồng ông cố gắng “khuyến khích sử dụng những phương pháp sẵn có trong cộng đồng và chỉ bổ sung thêm tri thức khoa học để chúng hoàn thiện hơn”.      Dù Kangaroo Care đã giành được thành công lớn nhưng hai nhà khoa học Ấn Độ vẫn chưa hài lòng với điều đó. Hiện tại, họ đang thực hiện một nghiên cứu mới nhằm đánh giá tác động của Kangaroo Care vào sự phát triển của hệ thần kinh trẻ em. Cả hai cùng điều tra khoảng 3.500 đứa bé của dự án Saksham Shivgarh mà giờ đây đã được 10 tuổi, “Chúng tôi không chỉ mong cứu sống những đứa trẻ mà còn muốn được thấy các em phát triển lành mạnh. Chúng tôi tự hỏi là bọn trẻ cần những điều kiện gì để sống sót và thử tìm hiểu điều đó qua games trên máy tính bảng”, Vishwajeet Kumar hé lộ hướng nghiên cứu mới này.      “Chúng tôi chơi games với bọn trẻ và theo dõi điểm số mà chúng ghi được sau từng phần. Với games đơn giản, chúng tôi có thể quan sát được sự phát triển của nhận thức, khả năng vận động và đánh giá được cảm xúc của bọn trẻ. Còn với games mang tính logic, chúng tôi muốn kiểm tra trí nhớ, sự tập trung, cách giải quyết bước tiếp theo và cả sự linh hoạt khi xử lý những tình huống bất ngờ”.      Giải thưởng Grand Challenge đem lại nhiều cơ hội thực hiện nghiên cứu này cho Vishwajeet và Aarti Kumar. Họ sẽ nhận được 100.000 đô la hỗ trợ ban đầu và sau đó có thể nhận thêm kinh phí bổ sung một triệu đô la nếu chứng minh được khả năng mở rộng dự án.       Thanh Nhàn dịch     Nguồn:     http://www.impatientoptimists.org/Authors/K/Aarti-Kumar  http://www.livemint.com/Consumer/xrYFuB85fcfXMJvuEWuZ4J/Indian-innovators-win-2-Grand-Challenges-awards.html  http://timesofindia.indiatimes.com/india/Indian-story-to-unfold-in-Africa/articleshow/5729046.cms      Author                Quản trị        
__label__tiasang Karl Friston: người thực sự nắm giữ chìa khóa AI ?      Friston trở thành một người hùng trong giới hàn lâm trước tiên nhờ việc tạo ra nhiều công cụ quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà khoa học “đọc” được bộ não người. Khi Friston được giới thiệu vào Hội Khoa học Hoàng gia vào năm 2006, hội mô tả ảnh hưởng của ông đối với nghiên cứu về bộ não là “mang tính cách mạng”, và cho biết hơn 90 phần trăm các bài báo được xuất bản trong lĩnh vực phân tích hình ảnh não sử dụng các phương pháp của ông.         Ảnh phòng làm việc của Friston. Một người bạn tả ông là “một quý ông thời Victoria, với phong cách và khẩu vị rất Victoria”.  Vào cuối triều đại vua George III của nước Anh, khi ông bắt đầu có dấu hiệu bị điên cấp, những lời đồn về chứng điên của nhà vua nhanh chóng lan rộng trong dân chúng. Người ta kể rằng vua George cứ cố bắt tay một cái cây mà ông đinh ninh là vua nước Phổ. Một câu chuyện khác thì kể về việc ông được đưa đến chữa trị ở một căn nhà trên quảng trường Queen, ở quận Bloomsbury của London. Rồi còn chuyện hoàng hậu Charlotte thuê cả tầng hầm của một quán rượu gần đó để trữ thực phẩm cho nhà vua trong thời gian điều trị.  Hơn hai thế kỷ sau, câu chuyện trên về quảng trường Queen vẫn phổ biến trong các cuốn cẩm nang du lịch London. Dù câu chuyện là thật hay đùa, thì khu đó cũng đã thay đổi qua năm tháng như thể cho khớp với nó. Một bức tượng hoàng hậu Charlotte bằng kim loại đứng ở phía bắc quảng trường; quán rượu ở góc quảng trường có tên “Chạn của Hoàng hậu”; và vây quanh khu vườn hình chữ nhật yên ắng là những người làm việc về bộ não, và những người có bộ não cần sửa chữa. Bệnh viện quốc gia về Thần kinh học và Phẫu thuật thần kinh – nơi một thành viên hoàng gia thời nay có thể đến điều trị – chiếm một góc quảng trường, và ở vòng ngoài của nó là các cơ sở nghiên cứu khoa học thần kinh nổi tiếng thế giới của trường University College London (UCL)1. Suốt một tuần đẹp trời vào tháng 7 vừa qua [năm 2018], hàng chục bệnh nhân thần kinh cùng gia đình ngồi yên lặng trên những băng ghế gỗ ở rìa bãi cỏ.  Karl Friston – ông là ai?  Các ngày thứ hai, Karl Friston thường đến quảng trường Queen vào lúc 12 giờ 25 trưa, và hút một điếu thuốc trong vườn, bên bức tượng hoàng hậu Charlotte. Dáng cô độc, hơi còng, mái tóc bạc dày, Friston là giám đốc khoa học của Phòng thí nghiệm Hình ảnh não2(Functional Imaging Laboratory – FIL) nổi tiếng của UCL. Hút xong điếu thuốc, Friston sẽ đi về phía tây của quảng trường, vào trong một tòa nhà xây bằng gạch và đá vôi, và đến một phòng hội thảo trên tầng năm, nơi đã có từ hai đến hai mươi người đợi ông trước một bức tường trắng. Friston ưa đến muộn năm phút, để mọi người khác đều đã có mặt.  Lời chào hỏi của Friston với mọi người rất có thể là những lời thực sự đầu tiên ông nói trong ngày, vì ông không thích nói chuyện với người khác trước buổi trưa. (Ở nhà, ông có thể đã trao đổi với vợ và ba người con trai bằng những nụ cười và những tiếng làu bàu được quy ước sẵn.) Ông cũng hiếm khi gặp riêng một ai. Thay vào đó, ông thích tổ chức những buổi họp công khai như thế này, để sinh viên, nghiên cứu viên sau tiến sỹ, và công chúng muốn có ý kiến chuyên môn của ông có thể tìm học từ ông. “Ông ấy tin rằng nếu một người có một ý tưởng hoặc một câu hỏi hoặc một dự án đang thực hiện, cách tốt nhất để tìm hiểu về nó là tập trung cả nhóm lại, cùng nghe người đó, rồi mọi người đều có thể đặt câu hỏi và thảo luận. Và như thế kiến thức của một người trở thành kiến thức của tất cả,” David Benrimoh, bác sỹ tâm thần nội trú tại Đại học McGill, từng theo học Friston một năm, cho biết. “Nó rất khác thường. Cũng như nhiều thứ khác với Karl.”  Đầu mỗi buổi họp ngày thứ hai, tất cả mọi người đưa ra câu hỏi của mình. Friston vừa bước theo vòng tròn vừa lắng nghe, cặp kính trên chóp mũi, như thế ông luôn cúi đầu xuống để nhìn vào người đang phát biểu. Ông dành vài giờ tiếp theo để lần lượt trả lời các câu hỏi. Là một “quý ông thời Victoria, với phong cách và khẩu vị rất Victoria3” – theo lời tả của một người bạn, Friston trả lời một cách nhã nhặn và diễn đạt lại nhanh gọn ngay cả những câu hỏi rối rắm nhất. Những phiên hỏi đáp – mà tác giả gọi là những buổi “Hỏi Karl” – là những thành quả phi thường của sự bền bỉ, khả năng ghi nhớ, kiến thức rộng, và tư duy sáng tạo. Chúng thường kết thúc khi đến giờ Friston phải quay về chiếc ban-công nhỏ bên ngoài phòng làm việc của mình để hút thêm một điếu thuốc.  Friston trở thành một người hùng trong giới hàn lâm trước tiên nhờ việc tạo ra nhiều công cụ quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà khoa học “đọc” được bộ não người. Năm 1990, ông phát minh kỹ thuật vẽ bản đồ theo tham số thống kê (statistical parametric mapping), một kỹ thuật máy tính giúp “đập bẹt” – từ dùng của một nhà thần kinh học – các ảnh chụp bộ não thành một dạng giống nhau, để các nhà khoa học có thể so sánh một cách tương đồng một hoạt động trên các bộ não khác nhau. Một hệ quả của kỹ thuật vẽ bản đồ theo tham số thống kê là kỹ thuật phân tích hình dạng dựa trên điểm ảnh ba chiều3(voxel-based morphometry); kỹ thuật này được sử dụng trong một nghiên cứu nổi tiếng cho thấy phần đuôi của hồi hải mã của các tài xế taxi London lớn lên khi họ học “kiến thức đó”4.  Một nghiên cứu đăng ở tạp chí Science năm 2011 sử dụng một phần mềm phân tích hình ảnh não khác của Friston, có tên gọi mô hình nhân quả động (dynamic causal modelling), để xác định xem những bệnh nhân bị tổn thương nặng ở não có một chút nhận thức tối thiểu nào không hay đã ở trạng thái thực vật.  Khi Friston được giới thiệu vào Hội Khoa học Hoàng gia vào năm 2006, hội mô tả ảnh hưởng của ông đối với nghiên cứu về bộ não là “mang tính cách mạng”, và cho biết hơn 90 phần trăm các bài báo được xuất bản trong lĩnh vực phân tích hình ảnh não sử dụng các phương pháp của ông. Hai năm trước [2016], Viện nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo Allen, một tổ chức nghiên cứu do Oren Etzioni, một người tiên phong trong nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, tính toán rằng Friston là nhà thần kinh học được trích dẫn nhiều nhất thế giới. Ông có h-index – một chỉ số để đo ảnh hưởng của các bài báo khoa học của một nhà khoa học – cao gần gấp đôi của Albert Einstein. Năm ngoái [2017], Clarivate Analytics, công ty trong hơn hai thập kỷ qua đã dự đoán đúng 46 người được giải Nobel, xếp Friston vào một trong ba người nhiều khả năng được giải Nobel Sinh lý học và Y khoa.  Tuy nhiên, điều đáng nói là thời gian gần đây, trong những nhà khoa học lặn lội đến gặp Friston, ít người đến để nói về hình ảnh não. Hè năm 2018, có một quãng thời gian mười ngày mà Friston tư vấn cho một nhà vật lý thiên văn, vài nhà triết học, một kỹ sư tin học đang xây dựng một sản phẩm cạnh tranh với Trợ lý cá nhân Echo của Amazon, trưởng bộ phận trí tuệ nhân tạo của một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới, một nhà khoa học thần kinh muốn tạo ra các máy trợ thính tốt hơn, và một bác sỹ tâm thần là chủ một công ty khởi nghiệp áp dụng học máy vào điều trị trầm cảm. Hầu hết bọn họ đến vì vô cùng ham muốn hiểu được một thứ hoàn toàn khác.  Nguyên lý năng lượng tự do    Mô hình động lực của Karl Friston được dung để xác định liệu sự tổn thưởng của não là tối thiểu hay đang ở trạng thái thực vật. Nguồn: ai-report.net​  Khoảng một thập kỷ trở lại đây, Friston dành phần lớn thời gian và công sức cho việc phát triển một ý tưởng mà ông gọi là nguyên lý năng lượng tự do – free energy principle. (Friston gọi việc nghiên cứu hình ảnh não của mình là công việc kiếm sống hằng ngày, như một nghệ sỹ nhạc jazz nói về ca trực của mình ở thư viện địa phương.) Với ý tưởng này, Friston tin rằng mình đã tìm ra nguyên lý tổ chức của mọi dạng sống, cũng như mọi trí tuệ. “Nếu anh đang sống,” ông bắt đầu trả lời, “anh phảithể hiện những kiểu hành vi như thế nào?”  Chúng ta bắt đầu với một tin xấu: nguyên lý năng lượng tự do khó hiểu đến phát điên. Nó khó đến độ đã nhiều lần cả một căn phòng toàn những người rất thông minh đã cố nắm bắt nó và thất bại. Một tài khoản Twitter5có 3000 người theo dõi được tạo ra chỉ để nhạo sự tối nghĩa của nó, và gần như tất cả những người tác giả đã trò chuyện cùng về nó, trong đó có những nhà khoa học có sự nghiệp gắn chặt với nó, nói rằng họ không hoàn toàn hiểu nó.  Nhưng thường thì chính những người đó vội vàng nói thêm rằng nguyên lý năng lượng tự do về bản chất kể một câu chuyện đơn giản và giải một câu đố cơ bản. Định luật thứ hai của nhiệt động lực học nói rằng vũ trụ tiến đến entropy, tiến đến tan rã; nhưng các vật sống kháng cự nó một cách dữ dội. Mỗi sáng chúng ta thức dậy gần như giống hệt con người của ngày hôm trước, với sự phân định rõ ràng giữa các tế bào và các cơ quan, giữa chúng ta và thế giới bên ngoài. Bằng cách nào? Nguyên lý năng lượng tự do của Friston nói rằng mọi dạng sống, ở mọi quy mô tổ chức – từ đơn bào đến bộ não người có hàng tỷ nơ-ron – đều tuân theo cùng một điều kiện bắt buộc phổ quát có thể được quy về một hàm toán học. Sống, ông giải thích, có nghĩa là hoạt động để thu hẹp khoảng cách giữa những kỳ vọng của bạn với những dữ liệu từ các giác quan. Hay theo ngôn ngữ của Friston là để tối thiểu hóa năng lượng tự do.  Để hình dung được những hệ quả tiềm tàng của lý thuyết này, chỉ cần nhìn vào những dãy người đứng kín bậc thềm của FIL vào các buổi sáng thứ hai. Một số đến đây vì muốn dùng nguyên lý năng lượng tự do để hợp nhất các lý thuyết về tâm trí, cung cấp một nền tảng mới cho sinh học, và giải thích sự sống mà chúng ta biết. Những người khác hy vọng nguyên lý năng lượng tự do rốt cuộc sẽ đưa những hiểu biết về chức năng của bộ não vào nghiên cứu bệnh tâm thần. Lại có những người khác nữa đến vì muốn dùng ý tưởng của Friston để khai thông những bế tắc trong nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. Nhưng tất cả bọn họ có mặt ở đây vì cùng một lý do: có lẽ chỉ có Friston là người duy nhất thực sự hiểu nguyên lý năng lượng tự do của Friston.  Friston không chỉ là một trong những học giả có ảnh hưởng lớn nhất trong ngành của mình; ông còn là một trong những nhà nghiên cứu năng suất nhất trong mọi lĩnh vực. Năm nay [2018] 59 tuổi, ông làm việc cả ban đêm và cuối tuần, và đã công bố hơn 1000 bài báo khoa học tính từ đầu thiên niên kỷ. Chỉ riêng năm 2017, ông là tác giả chính hoặc đồng tác giả của 85 công bố6– tức là trung bình khoảng bốn ngày lại có một bài.  Nhưng nếu được hỏi, ông sẽ cho biết kết quả này không chỉ là thành tựu của một tinh thần lao động đầy tham vọng; nó còn là bằng chứng của một khuynh hướng thoát ly nghiêm khắc.  Friston vạch ra quanh cuộc sống nội tâm của mình một ranh giới được căn chỉnh kỹ lưỡng, bảo vệ nó khỏi những sự xâm phạm, mà một số lớn trong đó có vẻ bao gồm “lo lắng cho người khác”. Ông thích đứng trên sân khấu, đủ cách xa mọi người khác, hơn là trao đổi riêng. Ông không có điện thoại di động. Ông luôn mặc com-plê màu xanh thẫm, mua ở một cửa hiệu bán hàng tồn kho, mỗi lần hai bộ. Sự gián đoạn những công việc thường lệ hằng tuần ở quảng trường Queen khiến ông thấy “nhức đầu”, và ông có xu hướng né tránh những người khác ở những hội thảo quốc tế. Ông không thích biện hộ cho những ý tưởng của chính mình.  Trong khi đó, Friston lại đặc biệt tỉnh táo và sẵn sàng khi nói về động lực nghiên cứu của mình. Việc đắm mình vào một vấn đề khó cần hằng tuần để giải quyết cho ông một cảm giác dễ chịu khó tin – không khác gì việc lẩn đi hút một điếu thuốc. Và ông đã viết một cách hùng hồn về nỗi ám ảnh của mình từ thời thơ ấu đối với việc tìm ra cách để kết hợp, thống nhất, và đơn giản hóa tiếng ồn7của thế giới.  Khoảnh – khắc – rận – gỗ    Karl Friston đặt nền móng cho phần lớn những nghiên cứu hiện nay trong học sâu (deep learning). Nguồn: ai-report.net​  Hành trình của Friston đến với nguyên lý năng lượng tự do bắt đầu từ một ngày hè nóng nực khi ông 8 tuổi. Hồi đó, gia đình ông sống ở Chester, một thành phố có tường thành bao quanh gần Liverpool. Mẹ cậu bé Friston bảo cậu ra chơi ngoài vườn. Cậu lật một khúc gỗ lên và thấy mấy con rận gỗ8– những con bọ nhỏ có vỏ trông như con tê tê – di chuyển tán loạn. Lúc đầu cậu cho rằng chúng cuống cuồng tìm bóng râm và chỗ trú ẩn. Sau nửa giờ chăm chú quan sát, cậu kết luận chúng thực ra không tìm bóng râm. “Đó chỉ là một ảo giác,” Friston nói. “Một ảo giác do tôi dựng lên.”  Cậu bé Friston nhận ra chuyển động của những con rận gỗ không có mục đích gì cả, chí ít không phải mục đích theo nghĩa như khi một người lái xe ô tô đi làm một việc gì đó. Chuyển động của chúng là ngẫu nhiên; chúng đơn giản di chuyển nhanh hơn dưới nắng nóng8.  Friston gọi đây là nhận thức khoa học đầu tiên của mình. Đó là khoảnh khắc mà “mọi sự diễn giải có tính toán và nhân tính hóa về mục đích, sinh tồn và những thứ tương tự dường như rơi rụng hết,” ông nói. “Và cái ta quan sát vốn là như thế. Nghĩa là nó không thể tồn tại theo một cách nào khác.” Cha của Friston là một kỹ sư xây dựng, làm việc ở những cây cầu trên khắp nước Anh, và gia đình cứ phải chuyển chỗ ở theo ông. Cho đến 10 tuổi, cậu bé Friston đã học ở sáu trường khác nhau. Các giáo viên thường không biết phải làm gì với cậu, và hầu hết lòng tự tôn mong manh của ông đến từ việc giải toán một mình. Năm 10 tuổi, cậu thiết kế một robot biết tự đứng thẳng, và trên lý thuyết có thể mang một cốc nước qua một quãng đường không bằng phẳng, bằng cách sử dụng các bộ truyền động tự điều chỉnh hồi tiếp và các thăng bằng kế thủy ngân. Nhà trường mời một nhà tâm lý học đến để hỏi ông làm thế nào mà nghĩ ra nó. “Con rất thông minh, Karl à,” mẹ cậu trấn an cậu, và lần này chưa phải lần cuối. “Đừng để họ bảo con không thông minh.” Friston nói lúc đó ông không tin lời bà.  Khoảng 15 tuổi9, Friston có một khoảnh khắc rận gỗ nữa. Cậu vừa về phòng sau khi xem ti-vi, và thấy anh đào nở bên ngoài cửa sổ. Cậu đột nhiên bị ám ảnh bởi một ý nghĩ, và nó vẫn ám ảnh đến tận bây giờ. “Phải có một cách để hiểu mọi thứ bằng cách bắt đầu từ không gì cả. Nếu chỉ được bắt đầu với một điểm trong cả vũ trụ, liệu mình có thể từ đó suy ra mọi thứ khác?” Cậu nằm trên giường hàng giờ, thử nghĩ câu trả lời. “Tôi hoàn toàn thất bại, tất nhiên,” Friston nói.  Cuối cấp hai, Friston và các bạn cùng lớp là đối tượng thử nghiệm cho việc tư vấn có máy tính trợ giúp. Họ trả lời một loạt các câu hỏi, các câu trả lời được bấm lỗ vào các tấm thẻ và đưa vào một chiếc máy để tính ra lựa chọn nghề nghiệp hoàn hảo. Friston nói rằng cậu thích thiết kế điện tử và thích ở một mình giữa thiên nhiên, vì vậy máy tính khuyên cậu làm thợ lắp đặt ăng-ten truyền hình. Điều đó có vẻ không ổn, vì vậy Friston đến gặp một cố vấn hướng nghiệp của trường và nói rằng cậu muốn nghiên cứu về bộ não mà sử dụng toán và vật lý. Vị cố vấn bảo Friston nên trở thành bác sỹ tâm thần. Điều này có nghĩa là cậu sẽ phải học y, điều mà cậu rất sợ.  Cả Friston và vị cố vấn đều đã nhầm tâm thần học với tâm lý học, là ngành mà có lẽ cậu cần theo đuổi. Nhưng hóa ra đấy lại là một sai lầm may mắn, vì nó đưa Friston đến việc nghiên cứu cả tâm trí lẫn cơ thể10, và đến một trong những trải nghiệm định hình quan trọng nhất của đời mình – một trải nghiệm mở mang đầu óc.  Sau khi tốt nghiệp y, Friston đến Oxford làm tập sự nội trú tại bệnh viện Littlemore, một bệnh viện thời Victoria. Được thành lập bởi đạo Luật Điên 1845, ban đầu bệnh viện này có mục đích giúp chuyển những bệnh nhân điên nghèo từ các nhà tế bần vào các bệnh viện. Khi Friston đến vào giữa thập kỷ 1980, nó là một trong những nhà thương điên cũ cuối cùng ở ngoại ô các thành phố ở Anh.  Friston được giao cho một nhóm 32 bệnh nhân tâm thần phân liệt, những bệnh nhân nặng nhất của Littlemore, mà với họ điều trị gần như có nghĩa là nhốt lại. Friston luyến tiếc thấy rõ khi nhớ về những bệnh nhân cũ. Với ông, đó là lần đầu thấy được sự mong manh của các mối liên kết trong bộ não. “Đó là một nơi làm việc tuyệt vời,” ông nói. “Một cộng đồng nhỏ của bệnh học tâm thần dữ dội và đầy màu sắc.”  Mỗi tuần hai lần, ông chủ trì một buổi điều trị theo nhóm kéo dài 90 phút, trong đó các bệnh nhân cùng nhau khám phá bệnh tình của họ, tựa như những buổi “Hỏi Karl” hiện nay. Nhóm có những nhân vật đặc sắc, mà 30 năm sau vẫn truyền cảm hứng cho suy nghĩ của Friston. Có Hillary11, trông thì cứ tưởng bà có thể đóng vai bà đầu bếp trong phim truyền hình Downton Abbey, nhưng trước khi vào Littlemore đã chặt đầu người hàng xóm bằng một con dao làm bếp, vì tin rằng người này đã biến thành một con bò ác quỷ.  Có Ernest, thích áo len màu nhạt hiệu Marks & Spencer và giày thể thao hợp màu, là “một kẻ ấu dâm hung hăng và bất trị nhất mà anh có thể tưởng tượng ra”, theo lời Friston.  Rồi có Robert, một thanh niên nói năng mạch lạc, nếu không bị tâm thần phân liệt nặng thì đã có thể trở thành một sinh viên đại học. Robert ngẫm nghĩ một cách ám ảnh về phân của thiên thần; anh ta nghĩ xem nó là phúc lành hay là tai ương, và liệu mắt thường có nhìn thấy được nó không, và anh ta thấy khó hiểu vì những người khác không đặt ra những câu hỏi này. Đối với Friston, khái niệm phân thiên thần chính là một điều kỳ diệu. Nó cho thấy những người bị tâm thần phân liệt có khả năng lắp ráp những khái niệm mà một người có một bộ não bình thường không thể tiếp cận dễ dàng. “Nghĩ ra được một thứ như phân thiên thần là cực kỳ khó,” Friston nói với một vẻ gì giống như ngưỡng mộ. “Tôi thì chịu.”  Sau Littlemore, Friston dành phần lớn những năm đầu thập kỷ 1990 để sử dụng một kỹ thuật mới – kỹ thuật chụp PET – để cố gắng hiểu xem điều gì đang diễn ra trong bộ não của những người bị bệnh tâm thần phân liệt. Kỹ thuật vẽ bản đồ theo tham số thống kê được tạo ra trong quá trình đó. Friston có một quyết định khác thường so với thời điểm đó. Ông khăng khăng rằng kỹ thuật mới này nên được chia sẻ miễn phí, thay vì đem đi đăng ký sáng chế và thương mại hóa. Điều này lý giải phần lớn vì sao nó lại phổ biến đến thế. Friston có thể bay sang bên kia Trái đất – chẳng hạn đến Viện Y tế quốc gia Mỹ ở Bethesda, bang Maryland – để trao nó cho các nhà khoa học khác. “Tự tôi mang theo băng từ, lên máy bay, đến đó, tải nó, dành một ngày cài đặt cho nó chạy, dạy ai đó cách dùng, rồi về nhà nghỉ ngơi,” Friston nói. “Thời xưa phần mềm mã nguồn mở hoạt động như vậy đấy.”  Friston đến quảng trường Queen năm 1994, và trong vài năm trời, phòng làm việc của ông ở FIL chỉ cách Đơn vị Thần kinh học tính toán Gatsby có mấy cánh cửa. Gatsby – nơi các nhà khoa học nghiên cứu các lý thuyết về tri giác và sự học ở cả các hệ sống lẫn các hệ máy – khi đó được điều hành bởi người sáng lập ra nó, nhà tâm lý học nhận thức và nhà tin học Geoffrey Hinton. Trong khi FIL tự khẳng định là một trong những viện hàng đầu về hình ảnh não, Gatsby trở thành nơi đào tạo các nhà thần kinh học muốn áp dụng các mô hình toán học vào hệ thần kinh.  Như những người khác, Friston trở nên mê mệt bởi “lòng nhiệt tình trẻ thơ” của Hinton đối với những mô hình thống kê ít trẻ thơ nhất, và họ trở thành bạn bè12.      Sống, ông giải thích, có nghĩa là hoạt động để thu hẹp khoảng cách giữa những kỳ vọng của bạn với những dữ liệu từ các giác quan.      Dần dần, Hinton thuyết phục Friston rằng cách tốt nhất để hình dung bộ não là coi nó như một chiếc máy xác suất Bayes. Ý tưởng, có từ công trình của Hermann von Helmholtz ở thế kỷ 19, là bộ não tính toán và nhận thức một cách ngẫu nhiên, liên tục đưa ra dự đoán và điều chỉnh niềm tin dựa vào những gì các giác quan cung cấp. Theo cách nói Bayes phổ biến nhất hiện nay, bộ não là một “máy suy đoán” tìm cách tối thiểu hóa “sai số dự đoán”.  Năm 2001, Hinton rời London để chuyển đến Đại học Toronto, nơi ông trở thành một trong những nhân vật quan trọng nhất trong trí tuệ nhân tạo, đặt nền móng13cho phần lớn những nghiên cứu hiện nay trong học sâu (deep learning).  Trước khi Hinton đi, Friston đến Gatsby gặp bạn một lần cuối. Hinton nói về một kỹ thuật ông mới làm ra để giúp các chương trình máy tính giả lập quá trình đưa ra quyết định của con người một cách hiệu quả hơn. Đó là một quá trình kết hợp dữ liệu từ nhiều mô hình xác suất khác nhau, bây giờ được biết đến trong lĩnh vực học máy với tên “tích của các chuyên gia”.  Đầu óc Friston quay cuồng sau cuộc gặp. Dựa trên các ý tưởng của Hinton, và trong tinh thần trao đổi học thuật, Friston gửi cho Hinton một tập ghi chép về một ý tưởng để kết nối một số “thuộc tính [có vẻ] không liên quan với nhau của bộ não về giải phẫu, sinh lý học và tâm vật lý học14”. Friston công bố chúng năm 2006 – đó là những bài báo đầu tiên trong hàng chục bài báo ông sẽ viết về nguyên lý năng lượng tự do. (Còn tiếp)  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/karl-friston-free-energy-principle-artificial-intelligence/  ——–  Chú thích:   1 ND giữ tên tiếng Anh thay vì dịch thành “Đại học London”, để tránh nhầm lẫn với University of London, là đại học lớn mà UCL là một trường thành viên.  2 “Functional Imaging” nghĩa đen là “hình ảnh chức năng”, nhưng trong lĩnh vực của Karl Friston được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là môn khoa học nghiên cứu về bộ não dựa trên hình ảnh. Xem 2 2 http://www.scholarpedia.org/article/Functional_imaging(chú thích của ND).  3Tức là thế kỷ 19 – ND.  4 Voxel là khái niệm tương tự như pixel, nhưng trong không gian ba chiều – ND.  5 Để có giấy phép lái taxi ở London, tài xế cần ghi nhớ 320 con đường và nhiều địa điểm trong vòng 6 dặm tính từ trung tâm thành phố. Quy trình khắc nghiệt này gồm một bài kiểm tra viết và một loạt phỏng vấn với giám khảo. (Chú thích này, cũng như các chú thích tiếp theo không được nói rõ là của ND, là của bản gốc.)  6 Tài khoản có tên @FarlKriston.  7Một bài báo đăng trên tạp chí Naturevào năm 2018 phân tích hiện tượng các học giả “siêu năng suất”, được định nghĩa là những người có hơn 72 công bố trong vòng một năm.  8“Noise” cũng còn có nghĩa là nhiễu – ND.  9Một loại bọ thuộc phân bộ Oniscidea – ND.  10 Friston vẫn có thời gian để theo đuổi những thứ khác. Năm 19 tuổi, cậu dành cả một kỳ nghỉ để cố nhét hết toàn bộ vật lý vào một trang giấy. Cậu thất bại, chỉ thu gọn được cơ học lượng tử.  11 Tên các bệnh nhân đã được thay đổi.  12Cậu bé Friston có thể đã đúng. Nhiều loài rận gỗ bị mất nước dưới ánh nắng trực tiếp, và một số loài vận động nhiều hơn, bằng cách di chuyển loạn xạ, trước nhiệt độ tăng cao.  13Nguyên văn: “mid-teens” – ND.  14Psychophysics – ND.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Karl Friston: người thực sự  nắm giữ chìa khóa AI ? (Phần 2)      Nguyên lý năng lượng tự do của Karl Friston, mặc dù bị nhiều người cho rằng nhảm nhí và vô cùng khó hiểu, lại có thể chính là chìa khóa để tạo nên bộ não của máy tính.          Karl Friston giảng về suy đoán chủ động ở Đại học ETH, Thụy Sĩ. Nguồn: Twitter của CPC Zurich.  Chính Friston cũng không biết phải bắt đầu từ đâu khi mô tả nguyên lý năng lượng tự do. Ông thường chỉ cho người ta trang Wikipedia về nó. Nhưng với tác giả, có lẽ dễ dàng hơn nếu bắt đầu với tấm chăn phủ trên chiếc sofa giường1 trong phòng làm việc của ông.    Đó là một tấm chăn lông cừu trắng, có in hình chân dung đen trắng của một nhà toán học rậm râu nghiêm nghị người Nga, mất năm 1922, tên là Andrei Andreyevich Markov. Tấm chăn là một món quà vui từ con trai của Friston, một trò chơi chữ với một ý tưởng trung tâm của nguyên lý năng lượng tự do. Tên của Markov được đặt cho khái niệm tấm chăn Markov trong học máy, có thể coi là một tấm chắn để phân biệt giữa các tập hợp biến trong một hệ thống phân cấp nhiều tầng. Nhà tâm lý học Christopher Frith – có h-index ngang ngửa với Friston – từng mô tả một tấm chăn Markov như “phiên bản nhận thức của một màng tế bào, bảo vệ các trạng thái bên trong chăn trước các trạng thái bên ngoài”.    Trong tâm trí Friston, vũ trụ được hình thành từ các tấm chăn Markov lồng vào nhau. Mỗi người chúng ta có một tấm chăn Markov phân biệt chúng ta với cái không phải là chúng ta. Và bên trong chúng ta có những tấm chăn ngăn tách các cơ quan, trong các cơ quan có những tấm chăn ngăn tách các tế bào, đến lượt các tế bào lại có những tấm chăn ngăn tách các bào quan. Các tấm chăn xác định cách mọi thứ trong sinh học tồn tại theo thời gian và hoạt động riêng biệt lẫn nhau. Nếu không có chúng, chúng ta sẽ chỉ là những luồng khí tan biến vào ê-te.    “Cái chăn Markov mà anh đã đọc đấy. Đây chính là nó. Anh có thể sờ thử,” Friston nói khô khốc khi tôi lần đầu thấy tấm chăn trong phòng làm việc của ông. Không kìm nổi, tôi có đến gần để chạm vào nó bằng những đầu ngón tay. Kể từ lúc bắt đầu đọc về những tấm chăn Markov, tôi thấy chúng khắp mọi nơi. Tôi thấy những tấm chăn Markov quanh một chiếc lá, quanh một cái cây, quanh một con muỗi. Ở London, tôi thấy chúng quanh những nghiên cứu viên sau tiến sỹ ở FIL, quanh những người biểu tình mặc đồ đen trong một cuộc tuần hành chống phát-xít, và quanh những người sống trên thuyền dưới những con kênh. Những tấm áo choàng vô hình quấn quanh mọi người, và dưới mỗi tấm là một hệ sống tối thiểu hóa năng lượng tự do của nó.     Tối thiểu hóa sự bất ngờ     Khái niệm năng lượng tự do đến từ vật lý, bởi thế khó mà giải thích nó một cách chính xác nếu không dấn sâu vào các công thức toán học. Điều đó cũng tạo thêm sức mạnh cho nó: nó không chỉ là một khái niệm hùng biện mà là một đại lượng đo được và mô hình hóa được, bằng thứ toán học rất giống với thứ mà Friston đã dùng để đọc những hình ảnh bộ não và có tác động thay đổi thế giới. Nhưng nếu dịch khái niệm đó từ ngôn ngữ toán học sang ngôn ngữ đời thường, nó sẽ đại loại thế này: Năng lượng tự do đo sự khác biệt giữa những trạng thái anh kỳ vọng rơi vào và những trạng thái mà các giác quan cho là trạng thái thực sự. Hay nói cách khác, tối thiểu hóa năng lượng tự do nghĩa là tối thiểu hóa bất ngờ.    Theo Friston, mọi hệ sống2 kháng cự lại khuynh hướng hỗn loạn và tan rã sẽ phải tuân theo nguyên lý năng lượng tự do – dù đó là một sinh vật đơn bào hay là một đội bóng rổ chuyên nghiệp.    Một sinh vật đơn bào cũng có cùng xu hướng bắt buộc giảm thiểu bất ngờ như một bộ não.    Điểm khác nhau duy nhất là bộ não người là một hệ sống tự tổ chức vô cùng phức tạp: nó hút thông tin từ hàng tỷ thụ thể cảm giác, và nó cần sắp xếp một cách hiệu quả thông tin đó thành một mô hình chính xác về thế giới. “Nó là một cơ quan tưởng tượng theo nghĩa đen. Nó tạo ra những giả thuyết hay tưởng tượng thích hợp để cố gắng giải thích hằng hà sa số những chi tiết của luồng thông tin cảm giác mà nó tiếp nhận,” Friston nói. Bộ não tìm cách dự đoán thông tin mà đợt cảm giác tiếp theo, và những đợt tiếp sau nữa, sẽ mang đến, bằng cách liên tục suy luận, cập nhật niềm tin của nó dựa trên phản hồi của các giác quan, và cố gắng tối thiểu hóa các tín hiệu sai số dự đoán.    Bạn đọc có thể đã nhận thấy rằng những mô tả trên nghe có vẻ rất giống ý tưởng Bayes rằng bộ não là một “máy suy luận”, mà Hinton đã nói với Friston trong thập kỷ 1990. Friston quả thực coi mô hình Bayes như một nền tảng của nguyên lý năng lượng tự do (“năng lượng tự do” thậm chí có thể coi như đồng nghĩa với “sai số dự đoán”). Nhưng với Friston, mô hình Bayes có một hạn chế, ở chỗ nó chỉ giải thích sự tương tác giữa niềm tin và tri giác; nó không nói gì đến cơ thể hay hành động. Nó không thể giúp chúng ta đứng dậy khỏi ghế.      Tấm chăn Markov trong phòng làm việc của Karl Friston – “ủ ấm cho trạng thái nội tại của bạn từ 1856”.  Friston dùng cụm từ “suy đoán chủ động” để mô tả cách các sinh vật tối thiểu hóa những bất ngờ khi di chuyển. Theo ông, khi bộ não đưa ra một dự đoán chưa tức thời được xác nhận bởi phản hồi của các giác quan, nó có thể tối thiểu hóa năng lượng tự do bằng một trong hai cách: nó có thể đánh giá lại dự đoán của nó – đón chịu bất ngờ, thừa nhận sai lầm, cập nhật mô hình thế giới của nó – hoặc nó có thể hành động để hiện thực hóa dự đoán. Nếu tôi đoán là mình sẽ sờ vào mũi bằng ngón trỏ bên trái, nhưng các cơ quan thụ cảm lại bảo tôi rằng cánh tay đang  buông thõng, tôi có thể tối thiểu hóa tín hiệu sai số dự đoán của não mình bằng cách nhấc cánh tay lên và ấn một ngón tay vào giữa mặt mình3.    Và đây chính là cách nguyên lý năng lượng tự do giải thích mọi thứ chúng ta làm: tri giác, hành động, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề. Khi tôi ngồi vào xe ô-tô để đi làm một việc gì đó, tôi đang tối thiểu hóa năng lượng tự do bằng cách khẳng định giả thuyết hay tưởng tượng của mình bằng hành động. Đối với Friston, việc đưa hành động và chuyển động vào trong phương trình là cực kỳ quan trọng. Ngay cả tri giác, ông nói, cũng “là nô lệ của hành động”: để thu thập thông tin, mắt phải liếc nhìn, cơ hoành hút không khí vào mũi, các ngón tay cọ xát với bề mặt. Và tất cả những vận động nhỏ này tồn tại trong một thể liên tục với những dự định, thám hiểm4 và hành động lớn hơn.    “Chúng ta lấy mẫu thế giới,” Friston viết, “để chắc chắn rằng những dự đoán của chúng ta trở thành lời tiên tri ứng nghiệm.”    Vậy điều gì xảy ra khi những lời tiên tri của chúng ta không thành hiện thực? Một hệ tràn ngập những bất ngờ trông sẽ như thế nào? Hóa ra nguyên lý năng lượng tự do không chỉ là một lý thuyết hợp nhất về hành động, tri giác và dự tính; nó còn là một lý thuyết về bệnh tâm thần. Khi bộ não quá xem nhẹ hoặc quá coi trọng những dấu hiệu của các giác quan, rắc rối sẽ đến. Chẳng hạn, một người bị tâm thần phân liệt có thể không kịp cập nhật mô hình của họ về thế giới để giải thích thông tin nhập vào từ đôi mắt. Một người hàng xóm thân thiện trong mắt người bình thường có thể được Hillary nhìn thành một con bò ác quỷ khổng lồ. “Nếu anh nghĩ về bệnh tâm thần, và thực ra là mọi bệnh về thần kinh, tất cả chúng đều là những niềm tin hoặc suy đoán sai – ảo giác và ảo tưởng,” Friston nói.    Vài năm trở lại đây, Friston và một số nhà khoa học khác đã dùng nguyên lý năng lượng tự do để giải thích những chứng lo âu, chán nản, rối loạn tinh thần, cùng với một số triệu chứng của bệnh tự kỷ, bệnh Parkinson, và bệnh rối loạn nhân cách. Trong nhiều ca, các nhà khoa học đã biết rõ – nhờ các phương pháp hình ảnh não của Friston – với mỗi rối loạn thì những vùng nào của não thường bị hỏng và những tín hiệu nào thường bị đứt. Nhưng như thế là chưa đủ. “Chỉ biết những synapse nào, những kết nối nào của bộ não hoạt động bất thường thì chưa đủ,” ông nói. “Cần phải có một môn giải tích về niềm tin.”    Như vậy, nguyên lý năng lượng tự do cung cấp một cách giải thích thống nhất về cách tâm trí hoạt động và một cách giải thích thống nhất về cách nó hỏng hóc. Sẽ là hợp lý nếu nó cũng có thể giúp chúng ta xây dựng một tâm trí từ số không.     Nguyên lý năng lượng tự do và tâm trí của máy tính     Vài năm trước, một nhóm các nhà khoa học người Anh quyết định xem xét lại các sự kiện liên quan đến chứng điên của vua George III bằng một công cụ phân tích mới. Họ nạp 500 bức thư tay của nhà vua vào một hệ thống học máy và huấn luyện nó nhận dạng nhiều đặc tính văn bản khác nhau: độ lặp từ, độ dài câu, độ phức tạp cú pháp, v.v. Sau khi được huấn luyện, hệ thống có thể đoán được liệu một bức thư đã được viết trong lúc vua bị điên hay trong lúc ông tỉnh táo.    Kiểu công nghệ nhận dạng này – về đại thể tương tự những kỹ thuật giúp máy tính nhận dạng khuôn mặt, ảnh mèo, giọng nói – đã thúc đẩy những tiến bộ khổng lồ trong tin học những năm gần đây. Nhưng nói đòi hỏi rất nhiều dữ liệu và sự giám sát của con người, và nó có thể không chắc chắn. Một cách khác để tiếp cận trí tuệ nhân tạo, được gọi là học tăng cường, đã thu được thành công khó tin trong các trò chơi: cờ vây, cờ vua, và trò chơi phá gạch Breakout của Atari. Học tăng cường không đòi hỏi con người phải dán nhãn cho thật nhiều dữ liệu để học; nó chỉ cần ra lệnh cho một mạng nơ-ron tìm cách đạt được một phần thưởng, thường là thắng lợi trong trò chơi. Mạng nơ-ron học bằng cách chơi đi chơi lại, tối ưu hóa những nước đi có thể giành thắng lợi, giống cách một con chó học làm trò để được cho ăn.    Nhưng cả học tăng cường cũng có những hạn chế khá lớn. Trong thế giới thực, hầu hết các tình huống không xoay quanh một mục tiêu duy nhất được định nghĩa chặt chẽ. (Đôi khi bạn phải ngừng chơi Breakout để đi vệ sinh, đi dập lửa, hoặc nói chuyện với sếp.) Và hầu hết các môi trường không ổn định và có luật lệ chặt chẽ như trong trò chơi. Ý tưởng đằng sau các mạng nơ-ron là chúng được cho là suy nghĩ giống chúng ta; nhưng học tăng cường không đưa chúng ta đến đích. Đối với Friston và những người ủng hộ ông, thất bại này hoàn toàn hợp lý. Rốt cuộc thì theo nguyên lý năng lượng tự do, động lực cơ bản của suy nghĩ của con người không phải là một phần thưởng nào đó từ bên ngoài. Động lực là tối thiểu hóa sai số dự đoán. Rõ ràng, các mạng thần kinh cũng cần phải tối thiểu hóa sai số dự đoán. May mà các công thức Bayes đằng sau nguyên lý năng lượng tự do – những thứ rất khó dịch ra ngôn ngữ bình thường – lại đã được viết trong ngôn ngữ tự nhiên của học máy.    Julie Pitt, trưởng bộ phận hạ tầng học máy của Netflix, khám phá ra Friston và nguyên lý năng lượng tự do vào năm 2014, và nó đã thay đổi suy nghĩ của bà. (Mô tả của Pitt ở trang Twitter cá nhân là “Tôi suy đoán các hành động của mình bằng suy đoán chủ động.”) Ngoài công việc ở Netflix, bà tìm cách ứng dụng nguyên lý năng lượng tự do, trong một dự án làm thêm có tên Order of Magnitude Labs. Pitt nói rằng vẻ đẹp của mô hình năng lượng tự do là ở chỗ nó cho phép một tác tử hoạt động trong mọi môi trường, kể cả một môi trường mới xa lạ. Trong mô hình học tăng cường, ta sẽ luôn phải đặt ra các luật mới và những phần thưởng con để giúp cho tác tử thích nghi với một thế giới phức tạp. Nhưng một tác tử năng lượng tự do luôn tự sinh ra phần thưởng nội tại của nó: sự tối thiểu hóa những bất ngờ. Và phần thưởng đó, theo Pitt, gồm cả yêu cầu đi ra ngoài và thám hiểm [môi trường mới].    Cuối năm 2017, một nhóm do Rosalyn Moran, một nhà thần kinh học và kỹ sư tại King’s College London5, dẫn đầu, cho hai đấu thủ trí tuệ nhân tạo đối đầu nhau trong một phiên bản của trò chơi bắn súng 3D Doom. Mục đích là để so sánh một tác tử suy đoán chủ động với một tác tử phần thưởng.    Mục đích của tác tử phần thưởng là hạ một con quái vật trong trò chơi, còn tác tử năng lượng tự do chỉ hướng đến tối thiểu hóa bất ngờ. Tác tử kiểu Friston khởi đầu chậm chạp nhưng dần dần hoạt động như thể đã có một mô hình của trò chơi, chẳng hạn nó có vẻ nhận ra rằng nếu đi sang trái thì con quái vật thường đi sang phải.      Rickmansworth, thị trấn của Friston, tình cờ lại được nhắc ngay trong trang đầu tiên của tác phẩm Bí kíp quá giang vào Ngân Hà, nơi “một cô gái ngồi một mình trong một quán cà-phê nhỏ” đột nhiên phát hiện ra bí mật để biến thế giới thành “một chốn tốt đẹp và hạnh phúc.  Sau một hồi thì kết luận trở nên rõ ràng: ngay cả trong môi trường trò chơi, tác tử phần thưởng “yếu hơn thấy rõ”; tác tử năng lượng tự do nắm được tốt hơn môi trường của nó. “Nó vượt qua tác tử phần thưởng vì nó thám hiểm,” Moran nói. Trong một mô phỏng khác, tác tử năng lượng tự do đấu với người thật, và câu chuyện cũng tương tự. Tác tử Friston khởi đầu chậm, chủ động thám hiểm các lựa chọn – kiếm ăn tri thức, như cách gọi của Friston – trước khi nhanh chóng đạt được trình độ của người.    Moran cho tôi biết rằng dù chậm, suy đoán chủ động bắt đầu lan vào những nghiên cứu chủ đạo của học sâu. Một số học trò của Friston đã đi làm ở DeepMind và Google Brain, và một trong số họ đã thành lập phòng thí nghiệm Lý thuyết Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence Theory) của Huawei. “Nó đang ra khỏi quảng trường Queen,” Moran nói. Nhưng nó vẫn chưa đến mức phổ biến như học tăng cường, môn được dậy ở bậc cử nhân. “Chúng ta chưa dạy nguyên lý năng lượng tự do cho sinh viên đại học.”    Khi tôi hỏi Friston lần đầu tiên về mối liên hệ giữa nguyên lý năng lượng tự do và trí tuệ nhân tạo, ông dự đoán rằng trong vòng 5 đến 10 năm, tối thiểu hóa năng lượng tự do sẽ có trong hầu hết lĩnh vực học máy. Lần thứ hai tôi hỏi, câu trả lời là một chuyện đùa. “Anh thử nghĩ xem tại sao nó có tên suy đoán chủ động.” Hàm răng đều trắng bóng hiện ra sau nụ cười khi ông chờ tôi hiểu trò chơi chữ. “Bởi nó là AI6. Vậy suy đoán chủ động có phải là AI mới? Đúng, là chữ viết tắt.” Không phải lần đầu tiên tôi bỏ lỡ một chuyện đùa của Friston.     Bí mật làm cho thế giới tốt đẹp và hạnh phúc     Khi tôi ở London, Friston có lần thuyết trình ở một công ty giao dịch tài chính định lượng. Khoảng 60 nhà giao dịch cổ phiếu mặt trẻ măng đến dự buổi thuyết trình vào cuối ngày. Friston giải thích cách dùng nguyên lý năng lượng tự do để lập mô hình tính tò mò của các tác tử nhân tạo. Sau khoảng 15 phút, ông đề nghị cử tọa ai hiểu thì giơ tay. Chỉ đếm được có ba cánh tay, vì vậy ông đề nghị ngược lại: “Hãy giơ tay nếu các vị thấy đó toàn là thứ nhảm nhí và các vị không hiểu tôi đang nói về cái gì.” Lần này rất nhiều người giơ tay, và tôi có cảm giác là những người còn lại không giơ vì lịch sự. Còn những 45 phút, Friston quay ra nhìn người chủ trì buổi thuyết trình như thể muốn hỏi Cái quái gì thế này? Vị giám đốc lắp bắp một chút rồi nói “Mọi người ở đây đều thông minh.” Friston nhẹ nhàng tán thành và kết thúc bài thuyết trình.    Sáng hôm sau, tôi hỏi Friston liệu ông có nghĩ rằng buổi thuyết trình đã thành công không, khi một vài trong số những bộ óc trẻ trung sáng láng đó có vẻ hiểu. “Sẽ có một phần đáng kể khán giả mà – nó không dành cho họ,” ông nói. “Đôi khi họ bối rối vì họ nghe nói nó quan trọng và họ không hiểu nó. Họ nghĩ rằng họ cần phải coi nó là rác rưởi và họ bỏ đi. Rồi anh sẽ quen.”    Năm 2010, Peter Freed, một bác sỹ tâm thần ở Đại học Columbia, tập hợp 15 nhà khoa học nghiên cứu về não để thảo luận một bài báo của Friston. Freed kể lại điều xảy ra ở tạp chí Neuropsychoanalysis: “Trong phòng có nhiều người biết toán: ba nhà thống kê, hai nhà vật lý, một nhà hóa học vật lý, một nhà vật lý hạt nhân, và một nhóm nhà nghiên cứu hình ảnh não – nhưng rõ ràng chúng tôi không đủ trình độ. Tôi gặp một nhà vật lý ở Princeton, một nhà sinh lý học thần kinh ở Stanford, một nhà sinh học thần kinh ở Cold Springs Harbor để thảo luận bài báo. Vẫn không ai hiểu gì: quá nhiều phương trình, quá nhiều giả định, quá nhiều thứ chuyển động, một lý thuyết quá tổng quát, không có cơ hội đặt câu hỏi – vì vậy mọi người bỏ cuộc.”    Nhưng có bao nhiêu người phát tức vì không lĩnh hội được Friston thì cũng có ngần ấy người cảm thấy rằng ông đã mở ra một thứ vĩ đại, một ý tưởng bao quát như thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin. Trước khi đọc Friston lần đầu tiên vào năm 2014, nhà triết học người Canada Maxwell Ramstead đã cố tìm cách kết nối các hệ sống phức tạp tồn tại ở nhiều quy mô khác nhau  – từ tế bào tới bộ não, tới các cá nhân, tới các nền văn hóa. Năm 2016 ông gặp Friston, và được bảo rằng thứ toán học áp dụng cho sự biệt hóa tế bào – quá trình biến các tế bào giống nhau thành các tế bào chuyên biệt – cũng có thể được áp dụng cho các vận động văn hóa. “Đấy là một cuộc nói chuyện đổi đời,” Ramstead nói. “Tôi suýt nữa thì chảy máu mũi.”    “Đây là điều hoàn toàn mới trong lịch sử,” Ramstead nói với tôi khi cùng ngồi trên một băng ghế ở quảng trường Queen, xung quanh là các bệnh nhân và nhân viên của các bệnh viện quanh đó. Trước khi Friston xuất hiện, “chúng ta như bị kết án vĩnh viễn lang thang trong không gian đa ngành mà không có một đồng tiền chung,” ông nói tiếp. “Nguyên lý năng lượng tự do cung cấp đồng tiền chung đó.”    Năm 2017, Ramstead và Friston, cùng với Paul Badcock ở Đại học Melbourne, viết chung một bài báo trong đó mọi sự sống được mô tả với những tấm chăn Markov. Một tế bào là một hệ thống phủ chăn Markov, tối thiểu hóa năng lượng tự do để tồn tại, và các bộ lạc hay tôn giáo hay loài cũng thế.    Sau khi bài báo được đăng, Micah Allen, một nhà thần kinh học nhận thức, khi đó làm việc tại FIL, viết rằng nguyên lý năng lượng tự do đã trở thành một phiên bản đời thực của khái niệm sử học tâm lý7 của Isaac Asimov8, một hệ thống giả tưởng quy cả tâm lý học, lịch sử và vật lý về một môn khoa học thống kê.    Và đúng là nguyên lý năng lượng tự do có vẻ như đã mở rộng thành gần như một lý thuyết vạn vật. (Friston bảo tôi rằng ung thư và các khối u có thể là thí dụ về suy đoán sai, khi các tế bào bị ảo tưởng.) Như câu hỏi của Allen: Một lý thuyết giải thích mọi thứ liệu có nguy cơ chẳng giải thích được gì?    Ngày cuối cùng của chuyến đi, tôi đến thăm nhà Friston ở Rickmansworth. Ngôi nhà đầy những động vật nhồi9, sở thích của vợ ông.    Tình cờ làm sao, Rickmansworth được nhắc đến ngay trang đầu tiên của Bí kíp quá giang vào Ngân Hà; đó là thị trấn nơi “một cô gái ngồi một mình trong một quán cà-phê nhỏ” đột nhiên phát hiện ra bí mật để biến thế giới thành “một chốn tốt đẹp và hạnh phúc.” Nhưng số phận trớ trêu, “trước khi cô có thể gọi điện thoại kể cho ai đó, một thảm họa khủng khiếp và ngớ ngẩn đã xảy đến, và ý tưởng đó vĩnh viễn mất đi.”    Không rõ nguyên lý năng lượng tự do có phải là bí mật làm cho thế giới trở thành một chốn tốt đẹp và hạnh phúc, như một số tín đồ của nó có thể nghĩ, hay không. Chính Friston thì có xu hướng thận trọng hơn khi chúng tôi tiếp tục câu chuyện, ông chỉ gợi ý rằng duy có suy đoán giả định và các hệ quả của nó là khá hứa hẹn. Không ít lần ông thừa nhận là mình có thể chỉ đang “nói xàm”. Trong buổi họp nhóm cuối cùng mà tôi tham dự ở FIL, ông nói với cử tọa rằng nguyên lý năng lượng tự do là một khái niệm “không chắc” – nó không đòi hỏi mọi vật sống phải tối thiểu hóa năng lượng tự do để tồn tại; nó chỉ đủ để giải thích sự sống tự tổ chức.    Mẹ Friston mất đã vài năm, nhưng gần đây ông bắt đầu nhớ về những lời bà thường trấn an khi ông còn nhỏ: Con rất thông minh, Karl à. “Tôi chưa bao giờ tin bà,” ông nói. “Thế mà giờ đây tôi đột nhiên thấy thích điều bà nói. Bây giờ tôi tin rằng mình thực sự khá thông minh.” Nhưng lòng tự tôn mới phát hiện này, ông nói, cũng khiến ông phải xem lại tính vị kỷ của mình. Friston nói rằng việc ông làm có hai động cơ chính. Tất nhiên sẽ rất tốt nếu một ngày nào đó được chứng kiến nguyên lý năng lượng tự do dẫn đến trí tuệ nhân tạo thực sự, ông nói, nhưng đó không phải một ưu tiên hàng đầu của ông. Thay vào đó, mong muốn lớn nhất của ông là phát triển nghiên cứu về bệnh tâm thần phân liệt, để giúp sửa chữa bộ não của những bệnh nhân như những người ông từng biết ở nhà thương điên. Và động cơ chính thứ hai, ông nói, “ích kỷ hơn rất nhiều.” Nó quay ngược về buổi tối hôm đó, ở trong phòng mình, cậu thiếu niên Friston nhìn cây anh đào và tự hỏi “Mình liệu có thể giải thích nó theo cách đơn giản nhất có thể?”    “Và đó là một điều rất buông thả. Nó không hề có lòng trắc ẩn vị tha ở đằng sau. Nó chỉ là ham muốn ích kỷ, ham muốn thử và hiểu được mọi thứ một cách đầy đủ nhất và chính xác nhất và đơn giản nhất có thể,” ông nói. “Tôi thường nghĩ về những chuyện đùa người ta kể về mình – đôi lúc ác ý, đôi lúc rất buồn cười. Và tôi nghĩ: Tôi có viết cho các vị đâu, tôi viết cho tôi.”    Friston bảo rằng thỉnh thoảng ông lỡ chuyến tàu cuối về nhà, khi mải mê với một bài toán làm ông mất hàng tuần. Khi đó, ông sẽ ngủ lại phòng làm việc, cuộn tròn trên chiếc sofa giường, trong tấm chăn Markov, bình yên và tách biệt với thế giới bên ngoài.□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/karl-friston-free-energy-principle-artificial-intelligence/  ——-  Chú thích:   1 Nguyên văn “futon”, một loại giường đệm có thể gấp gọn thành xô-pha – ND.  2 Năm 2013, Friston chạy một mô hình mô phỏng một thứ xúp nguyên thủy chứa đầy những phân tử trôi nổi. Ông   lập trình để chúng tuân thủ các luật vật lý cơ bản và nguyên lý năng lượng tự do. Mô hình sinh ra những kết quả  trông giống như dạng sống có tổ chức.  3 Câu này đọc rất kỳ cục, nhưng vì trong bản gốc tiếng Anh nó đã kỳ cục như thế.  4 Friston sử dụng thuật ngữ “kiếm ăn tri thức” (epistemic foraging) để chỉ kiểu thám hiểm này. Ông nổi tiếng vì cách đặt thuật ngữ, được các đồng nghiệp gọi là “tiếng Friston”.  5 Đại học của Vua – ND.  6 “Active inference” – suy đoán chủ động – và “artificial intelligence” – trí tuệ nhân tạo – đều được viết tắt là AI – ND.  7 Psychohistory. Trong tiểu thuyết Foundation (1951), một nhân vật của Asimov định nghĩa nó như “một nhánh của   toán học nghiên cứu phản ứng của những cụm người trước những kích thích xã hội và kinh tế cho trước.  8 Nhà văn khoa học giả tưởng nổi tiếng – ND.  9 Một thứ bảy mới đây, một người đến gõ cửa hỏi bà vợ Friston có nhà không. Khi Friston trả lời có, người đó nói “Tốt quá, tôi có mang một con mèo chết đến đây.” Ông ta muốn nhồi nó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Karsten Danzmann – Người góp phần lần đầu tiên phát hiện sóng hấp dẫn      Karsten Danzmann, nhà vật lý Đức, người mới được trao Körber European Science Prize (gọi tắt là giải thưởng Körber) cho những nghiên cứu về sóng hấp dẫn, “đã mở cánh cửa mới cho kiến thức về vũ trụ. Các công nghệ then chốt mà ông phát triển đã góp phần quyết định trong việc lần đầu tiên phát hiện được sóng hấp dẫn. Các công nghệ này không chỉ kết hợp những tiềm năng đầy bất ngờ của nghiên cứu cơ bản về vật lý thiên văn mà còn đem đến những ứng dụng trực tiếp, ví dụ trong trắc địa vệ tinh và truyền thông dữ liệu” như đánh giá của Matthias Mayer, người đứng đầu Ủy ban khoa học của Quỹ Körber.  Karsten Danzmann đã trao đổi với hãng thông tấn DW (Đức) về việc làm thế nào để mở rộng hơn nghiên cứu sóng hấp dẫn.      Nhà vật lý Đức Karsten Danzmann.  Việc phát hiện ra sóng hấp dẫn chứng tỏ Einstein là đúng?  Không còn nghi ngờ gì nữa, ông ấy đã tiên đoán đúng. Đến tận bây giờ, thách thức lớn là có thể “nghe” vũ trụ một cách trực tiếp mà không phải gián tiếp hoặc chỉ là nhìn vào vũ trụ bằng chính cặp mắt của chúng ta. Trong hàng ngàn năm qua, chúng ta chỉ mới nhìn vào vũ trụ. Còn bây giờ, với việc phát hiện được sóng hấp dẫn, chúng ta cũng có thể nghe được vũ trụ và điều mới mẻ này mở ra mặt tối của vũ trụ, nơi chúng ta chưa bao giờ thấy trước đây, dù chỉ là một cái liếc thoáng qua.  Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện về sóng hấp dẫn ngay trên trái đất. Vậy kế hoạch nghiên cứu về chúng từ không gian sẽ bắt đầu?     Tất nhiên, cũng giống như ánh sáng muôn vàn màu sắc chiếu vào chúng ta, sóng hấp dẫn đến với chúng ta với mọi tần số. Với các tần số cao – các tần số mà tai của chúng ta có thể nghe được, bạn có thể nghe được tiếng vũ trụ và những gì nghe được là của các vật nhẹ, những thứ có khối lượng nhỏ như các ngôi sao hay các lỗ đen kích cỡ trung bình. Nhưng tất cả những vật có khối lượng cực lớn đều chuyển động rất chậm, ví dụ như các lỗ đen siêu nặng. Các chuyển động chậm đó bị “ẩn” trên trái đất vì mọi thứ ở đây cũng di chuyển. Ví dụ chỉ là lá rơi từ cây thôi cũng đã gây nhiễu đáng kể cho máy dò sóng hấp dẫn, làm cho các kết quả đo không đạt được độ chính xác cao cần thiết. Vì lý do đó bạn phải đi vào không gian. Và chúng tôi đã làm việc trong nhiều năm nhằm phát hiện các sóng hấp dẫn tần số thấp  Nguyên nhân khác khiến bạn phải hướng vào không gian ư? Bởi vì với những tần số thấp thì bạn cần những cái tai lớn giống như bạn cần những nhạc cụ lớn để tạo ra những âm thanh trầm. Vì thế, đàn contrabass thì lớn, còn đàn violin thì nhỏ, điều đó tương tự với các máy dò sóng hấp dẫn và các nguồn phát ra chúng. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao chúng ta hướng vào không gian và thiết lập một “cái tai” lớn với kích cỡ hàng triệu km. Công đoạn tiền công nghệ đang được diễn ra. Đó là một thành công lớn và chắc sẽ phải mất 15 năm mới có thể thực hiện được toàn bộ nhiệm vụ.  Đức đang đóng góp nhiều vào nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực về sóng hấp dẫn. Như những nhà khám phá ra sóng hấp dẫn, Đức đóng vai trò gì trong các hợp tác nghiên cứu quốc tế về sóng hấp dẫn tại thời điểm này?  Đức đã đi tiên phong trong nghiên cứu thực nghiệm về sóng hấp dẫn ngay từ ngày đầu. Nửa thế kỷ trước, khi mới chỉ có một vài người trên thế giới có nỗ lực thực hiện thí nghiệm dò sóng hấp dẫn thì các nhà nghiên cứu Đức đã là những người trong số đó. Họ luôn ở tuyến đầu của lĩnh vực này, thậm chí ngay tại thời điểm khi các đề xuất về các máy dò cực lớn được nêu ra vào những năm đầu của thập niên 1990. Trên thực tế, Đức cùng với một nhóm nghiên cứu của Anh đã đề xuất một máy dò ở châu Âu cùng thời điểm với đề xuất Đài quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser LIGO (the Laser Interferometer Gravitational-Wave Observatory) ở Mỹ.     Nhưng đôi khi vẫn xảy ra những sự kiện lịch sử quan trọng hơn cả việc xây dựng các máy dò sóng hấp dẫn, đó là sự kiện hợp nhất nước Đức. Điều đó cũng có nghĩa là vào thời điểm đó Đức đã không có đủ tiền để đầu tư cho một dự án mới về khoa học cơ bản, ngược lại tại Mỹ, dự án LIGO đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Đây cũng là nguyên nhân giải thích tại sao các máy dò cỡ lớn hiện đang thực hiện những cuộc thăm dò sóng hấp dẫn lại ở Mỹ.  Nhưng những gì Đức có thể tiếp tục thực hiện là tập trung vào công nghệ. Việc nghiên cứu công nghệ cho các cỗ máy dò sóng hấp dẫn cỡ lớn là những gì có thể làm mà không cần đến hàng trăm triệu Euro. Chỉ cần vài triệu là đủ. Với nhiều người thì đó vẫn là một khoản tiền lớn nhưng trong khoa học, vài triệu Euro chỉ là khoản tiêu vặt. Vì vậy chúng tôi tiếp tục làm những thứ mà chúng tôi biết cách làm và đã làm để phát triển công nghệ. Điều khiến chúng tôi mừng là hiện giờ nhiều công nghệ của chúng tôi đã có mặt tại tâm điểm của LIGO và giúp sức hữu hiệu cho “cỗ máy” đó vận hành tốt như những gì đang diễn ra.  —————  * Karsten Danzmann là giám đốc Viện Max Planck về vật lý sóng hấp dẫn tại Hanover, Đức. Ông đã được trao giải Körber với tổng trị giá giải thưởng 750.000 Euro vào ngày 7/9/2017 vừa qua.  Thanh Nhàn dịch  PGS. TS Nguyễn Bá Ân (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: http://www.dw.com/en/danzmann-with-detecting-gravitational-waves-we-are-able-to-hear-the-universe/a-39071524  Kể từ năm 1985, giải thưởng Körber do Kurt A. Körber, một doanh nhân, và Reimar Lüst, chủ tịch Hiệp hội Max Planck của Đức khởi xướng, được trao hằng năm cho các nhà khoa học xuất sắc trong lĩnh vực khoa học sự sống, vật lý đang thực hiện những dự án nghiên cứu nhiều triển vọng tại châu Âu. Ứng viên cho giải thưởng không nhất thiết phải là người châu Âu nhưng phải sống ở châu Âu. Nhiều nhà khoa học nhận giải Körber cũng được trao giải Nobel sau đó như Andre Geim (giải Nobel Vật lý năm 2010), Stefan Hell (giải Nobel Hóa học năm 2014), May-Britt Moser và Edvard Moser (giải Nobel Y sinh năm 2014), Ben Feringa (giải Nobel Hóa học năm 2016)…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kathrin Jansen: Người dẫn dắt phát triển vaccine      Bà đã điều hành một trong những nghiên cứu thần tốc nhất để phát triển thành công vaccine Covid-19 chứa RNA thông tin (mRNA)      Kathrin Jansen biết rằng mình đang làm một việc vô cùng mạo hiểm. Bởi vào thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát, các vaccine dựa trên RNA thông tin vẫn là một công nghệ chưa được chứng minh. Trước đây, chưa có một công ty nào được cấp phép sử dụng loại vaccine này trên người. Tuy nhiên, với số lượng ca tử vong trên toàn cầu tăng vọt vào tháng 3 vừa qua, Jansen đã quyết tâm bắt tay vào thực hiện nền tảng vaccine mới ấy.  Là người phụ trách bộ phận nghiên cứu và phát triển vaccine tại công ty dược phẩm Pfizer của Mỹ, Jansen đã điều hành một nỗ lực nghiên cứu thần tốc và kỷ lục để tạo ra vaccine Covid-19 an toàn và hiệu quả đối với con người. Nhóm của bà đã đạt được thành tích ấy chỉ trong 210 ngày, từ khi bắt đầu thử nghiệm vào tháng 4 đến khi hoàn thành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III vào tháng 11. Không riêng nhóm của bà mà hàng nghìn nhà khoa học ở cả lĩnh vực học thuật và khu vực công nghiệp trên toàn thế giới đã tham gia vào việc phát triển và thử nghiệm hàng chục loại vaccine nhằm phòng ngừa lại loại virus corona mới. Trong đó, một số công ty cho biết họ đã phát triển được những vaccine có hiệu quả. Danh sách này sẽ tiếp tục tăng lên khi có thêm nhiều cuộc thử nghiệm hoàn thành.  Từ căn hộ của mình ở thành phố New York, Jansen đã thực hiện các cuộc họp qua Zoom để điều hành một nhóm lớn gồm 650 người, xử lý các vấn đề lâm sàng trong những cuộc thử nghiệm vaccine Covid-19, phân loại các vật dụng theo yêu cầu bảo quản lạnh, và gần đây nhất là tìm hướng đi cho các vấn đề quản lý trong những bước tiếp theo để triển khai vaccine.   Và những nỗ lực của bà đã được đền đáp. Vào ngày 2 tháng 12 vừa qua, các cơ quan y tế của Vương Quốc Anh đã cấp phép sử dụng khẩn cấp cho vaccine của công ty này, từ đó mở đường cho việc tiêm chủng hàng loạt. Đây là vaccine Covid-19 đầu tiên được phê duyệt trên cơ sở các kết quả thử nghiệm của giai đoạn III. Ngay sau đó, nhiều quốc gia khác cũng cấp phép sử dụng cho loại vaccine này.  Uğur Şahin, người đồng sáng lập và là giám đốc điều hành của BioNTech, đối tác của Pfizer trong sản xuất vaccine, có trụ sở tại Mainz, Đức nhận định, chiến công này phần lớn thuộc về Jansen. “Bà ấy rất quyết liệt”, nhưng cũng “cực kỳ coi trọng dữ liệu”, bà đam mê khoa học và có sự cởi mở với các ý kiến đa chiều. “Bà ấy rất chăm chỉ, đồng thời biết lắng nghe”, Şahin nói.  Edward Scolnick, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu Merck ở West Point, Pennsylvania, nơi Jansen làm việc từ năm 1992 đến năm 2004, cho biết thêm: “Bà Jansen thực sự là một nhà khoa học không hề run sợ trước bất cứ điều gì. Bà ấy hoàn toàn tự tin rằng mình có thể giải quyết được bất kỳ vấn đề nào cản trở về mặt kiến thức và về mặt kỹ thuật một dự án như vậy”.  Trước đây, Jansen đã có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu các mầm bệnh dưới những điều kiện rất ngặt nghèo. Khi ở Merck, bà đã khởi xướng một dự án nhằm nghiên cứu xử lý loại virus gây nhiễm trùng HPV – một bệnh truyền nhiễm lây truyền qua đường tình dục và gây ra căn bệnh ung thư cổ tử cung – ngay cả khi nhiều đồng nghiệp nói với bà rằng nghiên cứu này sẽ lãng phí rất nhiều thời gian và tiền bạc. Nỗ lực của dự án cuối cùng đã mang lại cho thế giới vaccine HPV đầu tiên có tên Gardasil – vaccine được kỳ vọng sẽ giúp cứu sống hàng triệu người nhờ ngăn ngừa được bệnh ung thư cổ tử cung.  Jansen cũng đã nghiên cứu về vaccine phòng bệnh than và bệnh đậu mùa tại một công ty hiện đã không còn hoạt động có tên VaxGen, trước khi gia nhập Wyeth, công ty sau đó đã trở thành Pfizer khi các công ty này sáp nhập. Tại đây, bà đã cải tiến vaccine phế cầu khuẩn của công ty, tăng gần gấp đôi số chủng vi khuẩn được ngăn ngừa, từ 7 lên 13 – và giảm tỷ lệ viêm phổi, nhiễm trùng máu và viêm màng não. Nhờ vậy, sản phẩm thành quả Prevnar 13 hiện đã trở thành vaccine bán chạy nhất trên thế giới, còn vaccine Gardasil xếp ở vị trí thứ hai. Trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, doanh số bán vaccine Covid-19 năm 2021 của Pfizer–BioNTech thậm chí sẽ có thể làm lu mờ doanh số của cả hai loại vaccine trên cộng lại. Nhưng bà Jansen cũng là một người cực kỳ thực tế, Scolnick cho biết.  Şahin thì nói rằng việc hợp tác nghiên cứu vaccine đã gắn kết ông và bà Jansen như những người chiến sỹ trong trận chiến. Vào một ngày chủ nhật đầu tháng 11, ngay trước khi các nhà nghiên cứu tại Pfizer và BioNTech biết được rằng vaccine của họ có thành công trong việc ngăn ngừa các ca bệnh Covid-19 nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng hay không, Jansen đã gọi cho Şahin để cùng đánh giá lại tất cả những gì mà họ đã làm được cùng nhau. “Bà nói rằng, bất kể kết quả có như thế nào thì bà muốn tôi biết rằng thật vui khi được làm việc cùng nhau”, Şahin nhớ lại, “may mắn là đây không phải là dấu chấm hết cho sự hợp tác”.  Sau ngày hôm đó, họ biết được vaccine có hiệu quả đến hơn 90%. Jansen đã rơm rớm nước mắt. Bà chỉ ăn mừng một chút với một ly sâm panh rồi sau đó quay lại với công việc mà mình đã làm trong suốt 30 năm qua: nỗ lực để giúp cả thế giới có khả năng miễn dịch với các mầm bệnh nguy hiểm chết người.  Mỹ Hạnh tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-03435-6/index.html#kathrin-jansen;  https://www.cbsnews.com/news/covid-vaccine-pfizer-biontech-60-minutes-2020-12-20/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch lớn của châu Âu đối với Lithium, Cobalt và đất hiếm      Lithium, coban và đất hiếm sẽ quan trọng hơn dầu khí trong tương lai. Cho đến nay, Trung Quốc thống trị về thương mại đối với nguồn khoáng sản này. EU muốn nhanh chóng thay đổi tình trạng này bằng một đạo luật. Tờ WELT của Đức đã giải thích về tính thực tế của đại kế hoạch này và về khả năng độc lập của châu Âu với các nguyên liệu này.    Mỏ Lithium ở Pháp.  Kho báu mà EU muốn khai quật cách Brussels 2000 km, ở phía bắc băng giá của Thụy Điển. Theo tập đoàn khai thác mỏ LKAB, trữ lượng đất hiếm ở đây đạt hơn một triệu tấn.  Những kim loại được sử dụng trong ô tô điện, tua-bin gió và điện thoại thông minh. Tuy nhiên, LKAB ước tính rằng phải mất 15 năm nữa mới có thể bắt đầu đi vào sản xuất. EU muốn tăng tốc quá trình này thông qua ban hành luật. Đây thực sự là một cuộc chiến toàn cầu giành nguồn tài nguyên trong tương lai.  Một Ủy ban đang lên kế hoạch cho một quy định về cái gọi là các tài nguyên quan trọng, theo đó có 30 loại nguyên liệu, ví dụ như lithium, coban, niken và đất hiếm. Đây là các loại tài nguyên không thể thiếu đối với một thế giới hiện đại.  Nhu cầu đối với lithium rất lớn, nó được coi như “vàng trắng”. Theo Ủy ban của EU, nhu cầu đối với nguyên liệu này có thể sẽ tăng lên gấp 57 lần vào năm 2050. Brussels tin rằng kim loại này một ngày nào đó có thể quan trọng hơn cả dầu mỏ.  Cho đến nay, châu Âu đã bị cắt khỏi chuỗi giá trị toàn cầu. Châu Âu có ít kim loại quý hơn so với các nước khác. Thậm chí tại châu lục này không có các cơ sở tinh chế lớn, không có cơ sở để tái chế các chất liệu này.  Trung Quốc nắm giữ nguồn tài nguyên mà châu Âu đanng rất cần để đẩy mạnh phát triển. Trong khi đó, Trung Quốc lại không phải là một đối tác thương mại đáng tin cậy. Brussels muốn ít nhất châu Âu phải đáp ứng được 10% nhu cầu đối với các nguyên liệu quan trọng này thông qua khai thác mỏ tại chỗ. 15% sẽ có được thông qua tái chế. Khoảng 40% tất cả các nguyên liệu quan trọng này sẽ được xử lý ở Châu Âu. Chiếu theo mong muốn của ủy ban này thì không lâu nữa ở EU sẽ xuất hiện hàng loạt mỏ và cơ sở tinh luyện các nguyên liệu vô cùng quan trọng này.  Vấn đề là nhà nước phải đẩy nhanh quá trình phê duyệt để không mất 15 năm cho việc khai thác mỏ như LKAB lo ngại ở Thụy Điển. Đối với các dự án đặc biệt quan trọng, tức “các dự án chiến lược”, thời gian nghiên cứu, xem xét không quá hai năm kể từ khi nộp đơn. Đây thực sự là một cuộc cách mạng.  Gần đây, người ta đã phát hiện ra một lượng lớn phốt phát, titan và vanadi ở tây bắc Na Uy. Tài nguyên vô cùng quý giá này nằm ở độ sâu tới 4500 mét và có lẽ chỉ cạn kiệt sau nhiều thế hệ.  Nhưng liệu các mục tiêu này của EU có thực tế không? Cuộc chiến tranh Ukraine khiến châu Âu nhận thức được tính dễ bị tổn thương của chính mình. Khi Nga đột ngột ngừng cung cấp khí đốt vào năm ngoái, mọi người đều thấy rõ rằng việc cung cấp nguyên liệu nhất thiết phải được đảm bảo.  Các kế hoạch của Ủy ban không được đón nhận ở mọi nơi. Không ít người cho rằng, nếu không giám sát nghiêm ngặt thì nhiều vấn đề sẽ nảy sinh, đặc biệt là vấn đề về môi trường.  Thụy Điển có đất hiếm, Bồ Đào Nha có lithium. Và ở Brandenburg (Đức), một nhà máy tinh chế sẽ được xây dựng đề có thể tạo đủ lithium cho nửa triệu ô tô điện mỗi năm. Tuy nhiên, châu Âu có lẽ sẽ không bao giờ có thể tự đảm bảo được các nguồn nguyên liệu này mà chỉ đáp ứng khoảng 30%.  Cho đến nay, châu Âu không đóng vai trò gì trong cuộc tranh giành các loại kim loại quý giá này. Ví dụ, lithium chủ yếu được khai thác ở Chile và Úc, rồi vận chuyển đến Trung Quốc để tinh chế và trở thành linh kiện cho pin và máy tính. Từ đó, Trung Quốc xuất khẩu những sản phẩm này đi khắp thế giới, bao gồm cả châu Âu.  Trung Quốc gần như nắm độc quyền trong việc xử lý các nguồn tài nguyên quan trọng. Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế Đức cho thấy, châu Âu phụ thuộc 100% vào nhập khẩu đối với 14 trong số 27 nguyên liệu quan trọng trong danh sách của Ủy ban.  Ai có thể bảo đảm Trung Quốc sẽ không ngừng xuất khẩu sang phương Tây nếu có tranh chấp, chẳng hạn như về Đài Loan? Cách đây không lâu, năm 2010, Bắc Kinh đã tạm dừng cung cấp đất hiếm cho Nhật Bản trong một thời gian ngắn. Vào thời điểm đó, hai nước đang tranh chấp một nhóm đảo. Trung Quốc đã biến nguyên liệu của họ thành vũ khí chính trị. EU muốn ngăn chặn không để đến một lúc nào đó bị tấn công theo cách này.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Der große europäische Plan mit Lithium, Kobalt und Seltenen Erden    Author                .        
__label__tiasang Kế hoạch phát triển turbine điện gió khơi mạnh nhất thế giới      GE Renewable Energy đã lên kế hoạch phát triển turbine gió trên biển được cho là lớn nhất và mạnh nhất thế giới có tên là Haliade-X.    Quy mô của turbine thực đáng kể: cao 260m và công suất lên đến 12megawatt (MW) với cánh quạt dài tới 107m. GE đã chi hơn 400 triệu USD vào việc phát triển turbine và sẽ triển khai trong vòng ba đến năm năm tới.  John Flannery, chủ tịch kiêm CEO GE phát biểu trong một thông báo hôm thứ năm 1.3: “Chúng tôi muốn dẫn đầu trong các công nghệ thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Gió biển khơi là một trong các công nghệ đó và chúng tôi sẽ đưa đầy đủ nguồn lực của GE để thực hiện chương trình turbine Haliade-X thành công cho khách hàng của chúng tôi.”  Jerome Pecresse, chủ tịch kiêm CEO GE Renewable Energy, nói: “Turbine Haliade-X chứng tỏ cam kết của GE đối với bộ phận gió khơi và sẽ đặt ra một chuẩn mới đối với chi phí điện, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng nguồn điện gió khơi nhiều hơn.”  Tổng công suất điện gió khơi của châu Âu tăng 25% trong năm 2017, theo WindEurope. Riêng năm ngoái đã có hơn 3,1 GW turbine gió khơi mới được lắp đặt ở châu Âu, nâng tổng công suất lên gần 15,8GW, cơ quan thương mại này cho hay.  Châu Âu hiện có hơn 4.000 turbine gió khơi tại 11 quốc gia. 13 trại gió khơi mới đã hoàn thành trong năm 2017, với Anh Quốc và Đức chiếm phần lớn. Anh Quốc đã lắp đặt 1.7 GW gió khơi, trong khi Đức là 1,3GW.  5 vấn đề sinh tử đối với tương lai năng lượng tái tạo    Năng lượng tái tạo là thế hệ năng lượng chiếm hơn 1/3 tổng năng lượng thế giới vào năm 2020. Ảnh: TL  Năng lượng kết hợp của hành tinh đang thay đổi. Các nguồn năng lượng tái tạo đang trở nên ngày càng quan trọng, với dự tính của Cơ quan năng lượng quốc tế cho biết thế hệ năng lượng tái tạo sẽ chiếm hơn 1/3 vào năm 2022.  Để khai thác các loại năng lượng này gồm tấm pin mặt trời, turbine, pin và một loạt các vật liệu khác cần phải có. Sau đây là năm thứ:  Lithium    Bộ năng lượng Mỹ cho rằng công nghệ pin lithium-ion đang ngày càng phổ biến vì “trọng lượng nhẹ, mật độ điện cao, và khả năng nạp lại.” Ảnh: TL  Pin lithium-ion được sử dụng trong xe điện và xe vừa điện vừa xăng. Chúng rất quan trọng đối với việc lưu trữ năng lượng tái tạo.  Bộ năng lượng Mỹ cho rằng công nghệ pin lithium-ion đang ngày càng phổ biến vì “trọng lượng nhẹ, mật độ điện cao, và khả năng nạp lại.”  Cobalt    Cobalt giữ “một vai trò quan trọng trong cực âm của pin lithium-ion.”  Cobalt đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc chuyển đổi sang các nguồn năng lượng tái tạo. Trên trang web nhà, Cơ quan địa chất Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng việc sử dụng cobalt hàng đầu là trong các điện cực pin có thể nạp lại.  Viện Cobalt, một hiệp hội thương mại phi lợi nhuận, cho biết cobalt giữ “một vai trò quan trọng trong cực âm của pin lithium-ion.” Cobalt cũng có mặt trong các nam châm sử dụng trong các turbine gió.  Đồng    Đồng quan trọng trong ngành năng lượng tái tạo. Ảnh: TL  Đồng quan trọng trong ngành năng lượng tái tạo. Trong các tấm pin mặt trời, chẳng hạn, Viện Đồng Châu Âu (ECI) cho rằng đồng được sử dụng trong cáp, nối đất, biến tần và biến thế và một số thứ khác.  ECI cho biết thêm rằng trong năng lượng gió, đồng được sử dụng trong các cuộn dây trong các phần stator và rotor của máy phát điện, cũng như các dây dẫn và cuộn biến áp cao thế.  Silicon    Silicon giúp hạ chi phí của các tấm pin mặt trời. Ảnh: TL  Bộ Năng lượng Mỹ coi silicon như là “vật liệu phổ biến nhất dùng trong các tấm pin mặt trời.” Các tấm pin làm từ silicon giúp hạ thấp chi phí, hiệu suất cao và tuổi thọ dài.  Nước    Các công nghệ năng lượng tái tạo quy mô lớn rất cần nước.  Coi có vẻ như phản nhận thức, nhưng nước giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất điện mặt trời. Theo Hiệp hội công nghiệp năng lượng mặt trời (SEIA), các công nghệ quy mô lớn – các máng parabol và tháp điện – cần nước để sản xuất điện vừa chi phí thấp vừa hiệu quả.  Các công nghệ quang điện cần nước để làm sạch các bề mặt như gương, tấm, đĩa và máng, theo SEIA, tất cả tiêu hao khoảng trên 75 lít nước mỗi megawatt giờ.  Trần Bích  Theo Thời Đại    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kẻ khổng lồ bên cạnh ta*      Vào năm 2010, TQ (Trung Quốc) đã chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, vượt lên trên Nhật Bản, và đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 1-2 thập kỷ tới.  Sự đi lên của TQ có rất nhiều hệ quả, cho thế giới. Ví dụ như, TQ sẽ thay thế Mỹ trở thành nước có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Đồng tiền Nhân dân tệ của TQ sẽ trở thành một trong các ngoại tệ mạnh được dùng làm ngoại tệ dự trữ trên thế giới, trong khi vai trò của USD thì giảm đi. Nhiều nước, trong đó có VN (Việt Nam), có nguy cơ trở thành rất phụ thuộc vào TQ về kinh tế. Nhưng đồng thời, sự đi lên của TQ cũng có thể kéo VN lên theo.  Bài viết này nhằm phân tích về sự đi lên của TQ trong hơn 3 thập kỷ qua, và những vấn đề của họ, đồng thời đưa ra một số so sánh với VN, và nhằm rút ra một số bài học cho VN.                          Trong bài này, tôi sẽ đề cập đến những điểm sau, mỗi điểm được trình bày trong một mục: Triết lý “mèo trắng mèo đen”; Truyền thống tiết kiệm; Sức mạnh tỷ người; Quân bài nhân công rẻ mạt; Chính sách đồng tiền yếu; Chủ nợ của thế giới; Thực dân kinh tế thế kỷ 21; Làn sóng Hoa kiều mới; Mua chuộc Đài Loan; “Lục địa hóa” Hồng Kông; Hiện đại hóa quân sự; Phát triển công nghệ; Tự do mậu dịch; Sức mạnh mềm; Vấn nạn tham nhũng; Sự xụp đổ của xã hội tiêu thụ?; Những bài học cho VN?  Triết lý mèo trắng mèo đen  Mao Zedong (Mao Trạch Đông1) thành lập nước TQ mới (CHND Trung Hoa) vào năm 1949, và muốn đưa TQ đi theo CNCS để trở thành một cường quốc cộng sản trên thế giới, dựa trên học thuyết Marx-Lenin cộng với triết lý của Mao, lan tỏa ảnh hưởng đến toàn cầu. Thế nhưng, các chính sách «nặng mầu tư tưởng» của Mao đa làm cản trở sự phát triển của TQ. Có thể kể đến một số chiến dịch tai hại do Mao phát động như  – «Cải cách ruộng đất», 1953 (đấu tố «địa chủ», nhiều người làm ăn tử tế bị thiệt mạng)  – «Đại nhảy vọt», 1958-1961 (gây nên thảm họa kinh tế với 20 triệu người bị chết đói)  – «Cách mạng văn hóa», 1966-1971 (hủy hoại tầng lớp trí thức và nền khoa học TQ)  Một việc có lợi cho TQ mà Mao làm được là bình thường hóa quan hệ với đế quốc Mỹ, một «kẻ thù về hệ tư tưởng», vào năm 1972, với chuyến đi thăm TQ lịch sử của Tổng thống Nixon. Nhưng phải đợi đến sau năm 1976, khi Chu Ân Lai (Thủ tướng TQ) và Mao chết, và Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình, sinh năm 1904)2 lên nắm quyền, TQ mới thực sự thay đổi quĩ đạo, bắt đầu giai đoạn phát triển nhanh, để từ một nước nghèo khó trở thành đại cường quốc tranh dành ngôi bá chủ thế giới với Mỹ vào năm 2010.  Đặng Tiểu Bình từng là tướng quân đội và từng làm Phó Thủ tướng dưới thời Mao, nhưng trong thời kỳ cách mạng văn hóa bị Mao buộc tội là «hữu khuynh» và bắt đi lao động cải tạo cho đến năm 1976, và con trai của Đặng Tiểu Bình thì bị thủ tiêu. Khi Mao chết, Hoa Quốc Phong lên thay đã khôi phục lại Đặng Tiểu Bình, và sau đó họ Đặng với uy tín cao đã trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của TQ.  Trong các câu triết lý thâm thúy của Đặng Tiểu Bình, nổi tiếng nhất có lẽ là câu: Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột. Từ lúc Đặng Tiểu Bình lên, TQ đã áp dụng triệt để triết lý «mèo trắng mèo đen», rũ bỏ các chính sách nặng màu «hệ tư tưởng» (ideology), và lập nên các chính sách «thực dụng» (pragmatic) nhằm giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm, trong đó đặc biệt là phát triển kinh tế và ổn định xã hội TQ, khiến thế giới phải nể sợ.  Một số biểu hiện cụ thể của học thuyết «mèo trắng mèo đen» là:  – Từ năm 1978, TQ bắt đầu đợt cải cách triệt để về kinh tế3. Chủ nghĩa tư bản hay kinh tế thị trường không bị coi là xấu nữa, cho phép kinh tế tư nhân, miễn sao phát triển được kinh tế.  Các hợp tác xã nông nghiệp (mô hình nông nghiệp XHCN) được xóa đi, phân lại đất cho nông dân tư hữu nhằm tăng sản lượng nông nghiệp. Vào năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm đến 70% nền kinh tế TQ (tuy nhiên, cần hiểu rằng, các hãng gọi là «tư nhân» ở TQ vẫn có Nhà nước chiếm cổ phần khá lớn, hoặc/và do con cháu các vị lãnh đạo ĐCS làm chủ).  – Về mặt đối ngoại, TQ chơi với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ thế lực cầm quyền nào, miễn sao điều này có lợi về kinh tế cho họ. Không còn phân biệt «địch ta» về ý thức hệ nữa. Ví dụ, khi Taliban nắm chính quyền ở Afganistan thì TQ chơi với Taliban, nhưng khi Taliban bị lật đổ và Chính phủ mới lên thay, thì TQ lại chơi ngay với Chính phủ mới, nhằm chiếm giữ quyền khai thác khoáng sản ở đó.   —  Theo triết lý mèo trắng mèo đen, thì tên gọi tư bản hay cộng sản không quan trọng, miễn sao trở thành giàu có quyền lực. Trên thực tế, ở TQ ngày nay, phần lớn các nhà tư bản của TQ là «tư bản đỏ», tức là từ ĐCS mà ra. Theo một tin của Tân Hoa Xã TQ đưa ra vào tháng 10/2006, trong số 3220 tỷ phú (tiền nhân dân tệ) tại TQ, có đến 2932 «hoàng tử đỏ», tức là con cháu của các lãnh đạo cao cấp của ĐCS TQ, chiếm 91% ! Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở TQ tăng lên trong mấy chục năm qua, nhưng ngày nay không còn ai nói đến chuyện «đấu tranh giai cấp» nữa.  Truyền thống tiết kiệm  Truyền thống tiết kiệm của dân TQ là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp tích lũy làm giàu của họ. TQ là nước có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất thế giới, và trong 2 thập kỷ qua tỷ lệ đó còn tiếp tục tăng lên. Nếu như vào thời điểm 1990 tỷ lệ tiết kiệm của TQ là khoảng 39%, thì con số đó tăng lên đến mức 53% vào năm 2008, tức là tư nhân và Nhà nước chỉ tiêu thụ 47% tổng tài sản làm gia, còn lại là tiết kiệm. Để so sánh, cũng quãng năm 2008, tỷ lệ tiết kiệm ở Ấn Độ đạt khoảng 30%, ở Việt Nam đạt khoảng 35%, còn ở các nước tư bản phát triển thì thấp hơn, chẳng hạn ở Pháp đạt khoảng 20%, và ở Mỹ chỉ khoảng 13%. Nếu chỉ tính tư nhân, thì tỷ lệ tiết kiệm của tư nhân (thu nhập trừ đi chi tiêu của tư nhân) ở TQ vào năm 2008 vào quãng 28%, so với các nước khác: Ấn Độ 32% (tăng lên mạnh từ mức 20% vào năm1998), Pháp 15%, Đức 11%, và ở Mỹ chỉ có hơn 2%. (Số liệu lấy từ nhiều nguồn khác nhau)4.  Country     2000    2001   2002   2003   2004   2005   2006   2007   2008   2009   2010  Australia       2      3.5      0.6    -0.5     -0.4    -0.2      1.3     1.5      1.6      4.3      2.8  Canada      4.7      5.2      3.5     2.6      3.2     2.1      3.5     2.5      3.7         5     3.8  Denmark      -4      2.1      2.1     2.4     -1.3    -4.2     -2.3    -3.2     -2.4      3.2      4.9  Germany    9.2      9.4      9.9   10.3     10.4   10.5    10.5   10.8    11.2     11.3      12  Hungary     8.9      8.5      6.4     4.3       6.8     6.1      7.5    4.6         3       3.7     5.3  Italy           8.4    10.5     11.2   10.3     10.2     9.9      9.1    8.2      8.6       8.4     7.7  Japan         8.7     5.1          5     3.9      3.6     3.9      3.8    2.4       2.3      2.3     2.4  Korea         9.3     5.2       0.4     5.2      9.2     7.2      5.2    2.9       2.9      3.6     3.5  Poland      10.2      12       8.2     7.6      7.7     6.9      6.5    7.1       3.9      6.3     6.4  Switzerland  11.7    11.9     10.7     9.4        9    10.1    11.4  12.7      12.8    15.3      15  United   States 2.9      2.7       3.5     3.5      3.4     1.4      2.4    1.7       2.7      4.3     3.4  Greece        -6     -7.5         -8    -7.3     -7.2       -8     -7.3  Euro area   8.4      9.2       9.7     9.4      9.3     8.6      8.2    8.3       8.9  Chile          6.5        7        6.8     6.4      7.2     7.1      7.7   7.7  Estonia        -3       -4       -6.5    -8.4   -11.7   -10.4     -9.6  -5.2  France        15    15.7      16.8    15.7    15.8      15       15  15.5      15.3     16.3   15.6  Portugal    10.2    10.9     10.6    10.5      9.7     9.2       8.1   6.1        6.4      8.8     6.9  UK             4.7        6        4.8     5.1      3.7     3.9       2.9   2.2       1.5         7     6.4  Bảng trên: Tỷ lệ tiết kiệm của các gia đinh (tính trên thu nhập đa trừ thuế) ở một số nước thuộc OECD trong các năm 2000-2010. (Nguồn: OECD). Những nước nào có tỷ lệ tiết kiệm thấp thì dễ suy thoái hay khủng hoảng. Ví dụ Hy Lạp gần như vỡ nợ vào năm 2010.  Các khoản tiết kiệm được thể hiện ở đâu? Nó thể hiện ở những tài sản bền vững tồn tại lâu dài và những khoản đầu tư, như nhà cửa, công ty, máy móc, khoa học và công nghệ mới, v.v., và những khoản đầu tư ra nước ngoài: các công ty ở nước ngoài, các dự trữ tài nguyên mua được của nước ngoài, các khoản cho nước ngoài vay, v.v. Tổng cộng các khoản đầu tư của TQ ra nước ngoài có thể ước lượng cỡ vài nghìn tỷ USD. Riêng các khoản TQ cho Mỹ vay (chủ yếu dưới hình thức mua trái phiếu) đã lên tới một con số khổng lồ là 1700 triệu USD vào năm 2010. Ngoài ra, TQ còn mua quyền khai thác hay mua các công ty khai thác dầu mỏ, khoáng sản, rừng, đất nông nghiệp, v.v. ở khắp mọi nơi trên thế giới, và còn mua cổ phần hay mua đứt nhiều công ty nước ngoài. Một ví dụ gần đây: hãng xe Geely của TQ, có tiếng xấu là sản xuất xe không đảm bảo độ an toàn, vào năm 2010 đa mua đứt lại hãng xe Volvo, một hãng nổi tiếng về chất lượng xe tốt. Công ty đầu tư CIC (China Investment Corporation) của Chính phủ TQ nắm trong tay 300 tỷ USD để đi đầu tư các nơi trên thế giới.  Có tiết kiệm thì mới có tiền đầu tư (mà không phải vay nợ), và tỷ lệ đầu tư cao thì tăng trưởng kinh tế nhanh. Nếu giả sử là số tiền đầu tư mới mỗi năm ở TQ tương đương với 40% GDP, và chỉ số hiệu quả đầu tư ICOR là 4 5, thì đủ để cho TQ giữ được tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm. (Đây là ví dụ minh họa chứ không hẳn là con số thực tế, nhưng cho thấy ảnh hưởng của mức tiết kiệm và đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế, chưa tính đến các đầu tư của TQ ở nước ngoài mang về lợi nhuận mà không hiện lên trong GDP).  Khi có tiền tiết kiệm, dự trữ, thì nền kinh tế cũng an toàn, ổn định hơn là nếu đi vay để đầu tư và tiêu xài. Năm 2008 xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho nhiều nước lao đao, kinh tế đi xuống (tốc độ tăng trưởng âm) trong năm 2009. Nhưng TQ năm 2009 vẫn tăng trưởng ở mức rất cao là 8.7%, một mức mà ở nhiều nước khác lúc kinh tế thuận buồm xuôi gió nhất cũng không mơ đạt được. Đó chính là do TQ có nhiều tiền dự trữ, có thể tung ra gói kích cầu khổng lồ 600 tỷ USD vào cuối năm 2008 để kích thích kinh tế (trong khi các nước khác cũng muốn kích cầu, nhưng không có tiền để có thể làm mạnh như vậy). Khủng hoảng tài chính 2008 đã làm cho các nước «tư bản già cỗi» cũng như một loạt các nước đang phát triển yếu đi, nhưng lại làm cho TQ mạnh lên, nhờ thế mạnh dự trữ tài chính của họ.  Vì sao tỷ lệ tiết kiệm ở TQ lại rất cao? không những cao hơn rất nhiều so với các nước giàu, mà còn cao hơn nhiều so với cả các nước nghèo. Thứ nhất là truyền thống cần kiệm của người TQ: có thể làm việc rất nhiều mà không kêu ca, và có tinh thần tiết kiệm cao. Kể cả các Hoa kiều sống ở các nước giàu, có thu nhập cao, nhưng vẫn giữ thói quen tiết kiệm: nhiều khi ghế rách còn ngồi được thì vẫn dùng mãi không chịu vứt đi thay cái khác. Thứ hai là, tuy thu nhập bình quân đầu người ở TQ hiện nay đã vào loại khá, không còn là nước nghèo nữa, nhưng phân chia rất không đều: có một tỷ lệ nhỏ gười giàu lên nhanh, với mức sống không kém gì phương Tây ở các thành phố lớn; nhưng phần lớn dân số (đặc biệt là những người ở vùng nông thôn) vẫn rất nghèo và sẵn sàng lao động với mức lương rẻ mạt chưa bằng 1/10 so với mức lương phương Tây cho cùng công việc. Lực lượng đông đảo đó không có nhiều tiền để tiêu dùng, và do vậy mức tiêu dùng chung ở TQ thấp. Một lý do nữa là, đồng RMB (Nhân dân tệ) được giữ ở giá thấp so với USD góp phần làm giảm lượng tiêu thụ hàng ngoại ở TQ.  Một báo cáo của IMF (quĩ tiền tệ quốc tế) năm 20096 viết như sau: mức tiết kiệm tư nhân cao chưa chắc đã phải là điều tốt. Nó có thể là dấu hiệu của một hệ thống bảo hiểm xã hội tồi, khiến cho người dân buộc phải tiết kiệm để đề phòng lúc cơ nhỡ. Và nó cũng có thể chứng tỏ là quản lý doanh nghiệp kém, khiến cho các doanh nghiệp có thể giữ lại phần lớn lợi nhuận mà không chịu chi trả cho cổ đông.  Có những người viện vào những lý do như trong báo cáo IMF nhắc tới phía trên để coi nhẹ đi tầm quan trọng của tỷ lệ tiết kiệm cao ở Trung Quốc. Họ còn cho rằng nước Mỹ, một nước hiện có mức tiết kiệm vào loại thấp nhất thế giới, nếu tăng tiết kiệm lên sau đợt khủng hoảng tài chính 2008 thì sẽ chậm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng (?!). Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm sụt giảm ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ qua (nhân dân «được» thúc đẩy tiêu dùng quá nhiều, quá khả năng, theo kiểu «xã hội tiêu thụ») chính là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút thế lực kinh tế của Mỹ so với thế giới, nợ nước ngoài và thâm thụt cán cân thương mại trầm trọng của Mỹ trong những năm qua. Nếu Mỹ vực kinh tế dậy bằng cách tiếp tục kích thích tiêu pha quá khả năng, không tiết kiệm (như lời khuyên của một số nhà kinh tế), thì chỉ là đào hố sâu thêm cho mình.  Đối với các nước đã phát triển, vẫn phải giữ một tỷ lệ tiết kiệm tương đối (ví dụ như Pháp và Đức, với tỷ lệ tiết kiệm tương đối lớn), mới giữ được sự phát triển bền vững. (Thu nhập ít nhưng chi phí thấp, có nhiều của cải dự trữ thì cuối cùng vẫn giàu hơn là thu nhập cao nhưng chi phí cao, không có dự trữ). Muốn phát triển nhanh, từ nghèo khó trở nên giàu có, thì phải tiết kiệm nhiều. TQ hiểu rất rõ vấn đề này.  Trong những năm tới, khi hàng hóa TQ trên các thị trường quốc tế đã bão hòa, TQ sẽ buộc phải tăng tiêu thụ nội địa nếu muốn tiếp tục phát triển sản suất, không thì tất yếu sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa. Điều này kéo theo là mức tiết kiệm của TQ sẽ phải giảm dần đi. Đến lúc mà TQ đạt thu nhập bình quân đầu người ngang bằng với các nước giầu hiện nay, thì tỷ lệ tiết kiệm cũng sẽ phải giảm đến một «mức tiết kiệm theo nguyên tắc vàng» (golden rule saving rate)7  Sức mạnh tỷ người  Vào năm 2010, nước TQ có 1.340 triệu người, đông nhất thế giới, và bằng 20% của toàn thế giới. «Sức mạnh tỷ người» này là một lợi thế lớn của TQ trên trường quốc tế. Với dân số đông gấp hơn 4 lần Mỹ, chỉ cần đạt mức thu nhập bình quân đầu người bằng 1/4 Mỹ cũng sẽ đủ để TQ vượt lên trên Mỹ thành nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới.  Đối với các doanh nghiệp xuyên quốc gia (multi-national), thì thị trường TQ là quá lớn để mà có thể bỏ qua, và doanh nghiệp nào cũng mơ ước chiếm lĩnh được thị trường này. Bởi vậy từ khi cải cách kinh tế và mở cửa với Tư bản vào năm 1978 và thiết lấp các «vùng kinh tế đặc biệt»8 (đấy là những vùng mà nước ngoài được đầu tư trực tiếp, với các luật lệ ưu đai tự do hơn các vùng còn lại) từ những năm 1980, TQ đã không khó khăn gì trong việc thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài.  Biết được lợi thế thị trường lớn của mình, nên TQ có thế mạnh trong đàm phán thương mại với nước ngoài. Thông thường, để vào được thị trường TQ, các hãng phải nhân nhượng về chuyện chuyển giao công nghệ cho TQ, và lắp đặt sản phẩm tại TQ. Ví dụ, đi kèm thỏa thuận mua máy bay A320 của Airbus, TQ đạt được thỏa thuận lắp máy bay đó tại TQ, trong một công ty với 49% vốn thuộc về TQ. Chiếc A320 đầu tiên sản xuất tại TQ đa ra lò năm 2009.               Shenzhen9  (Thâm Quyến, thuộc tỉnh Quảng Đông, gần Hồng Kông), ví dụ điển hình của  vùng kinh tế đặc biệt, trong vòng 20 năm đã biến từ một làng nhỏ thành  một thành phố trù phú và là trung tâm tài chính với 10 triệu dân. (Ảnh lấy  từ internet)            Thị trường nội địa lớn cũng giúp cho các công ty TQ, đặc biệt là trong các lĩnh vực cần có «economy of scale», dễ tồn tại và phát triển. Tất nhiên, dân số đông quá thì không những chỉ có lợi, mà cũng có thể có hại, vì bùng nổ dân số kéo theo nhiều vấn đề về xã hội và môi trường, và đông dân quá thì không đủ của cải và tài nguyên thiên thiên để mà thỏa mãn các nhu cầu. Chính phủ TQ cũng nhận thấy là nước họ đa đông dân đến mức báo động, và trong nhiều năm kể từ 1979 áp dụng khắt khe chính sách «1 con» nhằm hạn chế tăng dân số. Theo ước tính, chính sách 1 con đã làm bớt đi 250 triệu lượt sinh đẻ ở TQ trong quãng thời gian từ 1979 đến 2000 (tức là nếu không có chính sách này, thì dân số TQ sẽ còn tăng thêm 250 triệu người nữa)10. Nếu như trong vòng 50 năm 1950-2000 dân số TQ tăng hơn gấp đôi, từ 550 triệu lên hơn 1200 triệu, thì dự kiến trong giai đoạn 2000-2050 dân số TQ sẽ chỉ còn tăng thêm khoảng 10%, và có nhiều khả năng giảm đi kể từ 2030.          Biểu đồ dân số TQ (lấy từ internet)            Không nhất thiết phải đông dân mới lợi thế và phát triển được, mà còn phụ thuộc vào tổ chức nội bộ tốt và đối ngoại khôn khéo. Ví dụ, Thụy Sĩ chỉ có 8 triệu dân nhưng là một trong các nước giàu có và hạnh phúc nhất thế giới. Nhưng dù sao, đất rộng người đông hơn các nước khác là một lợi thế không nhỏ trong các quan hệ đối ngoại, nếu như giữ được đất nước thống nhất và chính quyền Trung ương mạnh. Cái mà TQ sợ là đất nước «chia 5 xẻ 7», như đã từng xảy ra trong lịch sử TQ, sẽ làm TQ yếu đi. Chính vì điểm này nên TQ nhất quyết không muốn Đài Loan hay Tây Tạng độc lập. Cũng chính vì đoàn kết là sức mạnh nên TQ dùng chính sách chia để trị trong quan hệ đối ngoại, chia rẽ các nước hay các miền của một nước để ngăn không cho các đối thủ của mình mạnh lên nhiều. Chuyện đàm phán với các nước ASEAN về Trường Sa – Hoàng Sa là một ví dụ: TQ đoi đàm phán tay đôi với các nước chứ không đàm phán đa bên, vì nếu các bên kia thỏa thuận đoàn kết được với nhau thì làm yếu thế TQ.  (Xem tiếp kỳ sau: Quân bài nhân công rẻ mạt; Chính sách đồng tiền yếu; Chủ nợ của thế giới).  ————  * Bài phân tích này được viết sau khi tôi đọc cuốn sách «Le Vampire du Milieu: Comment la Chine nous dicte sa loi» của hai tác giả Philippe Cohen (Tổng biên tập tạp chí Marianne của Pháp) và Luc Richard (một nhà viết bình luận đã sống 10 năm qua ở TQ), xuất bản ở Pháp năm 2010. Quyển sách đó có rất nhiều thông tin thú vị và cập nhật (cho đến năm 2010) về TQ, và tôi có trích dẫn lại nhiều tin đó trong bài viết này, kể cả những chỗ không ghi cụ thể là có trích từ sách. Tuy nhiên, về mặt phân tích thì tôi không theo hai tác giả này (mà tôi cho là quá lo sợ và nghi kị TQ), và muốn có cái nhìn khách quan hơn về TQ. Để viết bài này, tôi có tham khảo thêm nhiều tài liệu khác về TQ.  1 Vì các tư liệu tôi tham khảo chủ yếu là nguồn nước ngoài, nên sẽ dùng phiên âm nước ngoài của các danh từ riêng tiếng TQ, từ nào mà tôi biết phiên âm Hán-Việt thì sẽ chú thích thêm phiên âm Hán Việt vào.  2 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping  3 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Chinese_economic_reform  4 Xem thêm chi tiết về tỷ lệ tiết kiệm ở TQ: Xinhua He, Yongfu Cao, Understanding high saving rate in China,  5 ICOR = incremental capital output ratio. ICOR = 4 tức là cần đầu tư thêm 4 đồng để tăng sản lượng hàng năm thêm 1 đồng. ICOR càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao. Đài Loan từng đạt ICOR 3, TQ có ICOR > 4 trong những năm gần đây, còn VN có ICOR > 5.  6 Olivier Blanchard and Gian Maria Milesi-Ferretti, Global Imbalances: In Midstream?, IMF Staff position note, 22/12/2009.  7 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Golden_Rule_savings_rate  8 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Special_Economic_Zones  9 Xem: http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A2m_Quy%E1%BA%BFn  10 Xem: http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/941511.stm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kẻ sống sót bí ẩn từ thời đại khủng long      Trải qua hàng trăm triệu năm, bộ gene của sinh vật này cho thấy có lẽ nó vẫn không thay đổi gì kể từ kỷ Jura.      Desulforudis không có ký sinh trùng, không có kẻ săn mồi, và cũng không có con mồi.     Rất nhiều điều đã xảy ra trong vòng 165 triệu năm qua. Khủng long sinh sống trên Trái Đất và rồi tuyệt chủng. Tổ tiên của cá voi từ bỏ mặt đất và quay về với biển cả. Tổ tiên của loài người từ bỏ rừng cây và đặt chân xuống đồng bằng.     Và trong suốt khoảng thời gian đó, một loài vi khuẩn cư trú sâu trong lòng đất và ăn các chất hóa học chiết xuất từ đá vẫn tiếp tục tồn tại mà hầu như chẳng suy suyển gì. Thuật ngữ “hóa thạch sống” thường được dùng một cách tùy tiện để mô tả những sinh vật hiện đại trông giống như những sinh vật cổ xưa từ quá khứ. Tuy vậy, trong trường hợp này, nó thực sự có vẻ là một mô tả thích hợp. Desulforudis audaxviator không chỉ được tìm thấy trong đá mà dường như còn được lưu giữ nguyên trạng kể từ kỷ Jura.     Desulforudis được phát hiện vào năm 2008, trong mẫu nước được thu thập ở độ sâu 2.8 km dưới lòng đất tại mỏ vàng Mponeng ở Nam Phi, nơi sâu nhất thế giới. Nói đúng hơn là dấu vết di truyền của nó, do bản thân con vi khuẩn kháng cự việc nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Loài sinh vật này lấy năng lượng bằng cách cho phản ứng ion sunfat với các phân tử hydro, và bới tìm trong những khối đá các nguyên tử cacbon và nitơ mà nó cần để ráp lại thành các phân tử hữu cơ được dùng để tạo nên chính nó. Từ điểm nhìn của các sinh vật sống trên mặt đất và lấy năng lượng từ mặt trời thông qua quang hợp ở thực vật, đây có vẻ là một cách sống khá chuyên biệt. Nhưng trước khi lịch sử tiến hóa ghi nhận sự xuất hiện của quang hợp, trao đổi chất kiểu vậy mới là bình thường.     Điều bất thường là ngụ ý của một phát hiện được đăng trên Tạp chí Isme bởi Ramunas Stepanauskas và đồng nghiệp tại Phòng thí nghiệm Bigelow về Khoa học Đại dương ở Maine. Nhóm nghiên cứu này chỉ ra rằng các mẫu Desulforudis được thu thập từ Siberia và California kể từ khi phát hiện ra loài vi khuẩn trên gần như giống hệt mẫu từ Nam Phi về mặt di truyền.     Ở hầu hết các loài, đột biến xảy ra thường xuyên. Những biến đổi di truyền ngẫu nhiên như vậy thường có hại, và bị đào thải bởi chọn lọc tự nhiên. Nhưng những đột biến có lợi hoặc trung tính thì có thể được bảo toàn và tích lũy theo thời gian. Nếu một quần thể bị chia tách thành nhiều bộ phận không thể giao phối với nhau, cấu trúc di truyền của nó sẽ dần dần phân nhánh. Mức độ phân nhánh là manh mối để ta ước lượng được sự chia tách này đã xảy ra bao lâu.     Thoạt nhìn, sự tương đồng giữa ba quần thể Desulforudis tách biệt rộng rãi này gợi ý rằng tổ tiên chung của chúng cách đây một quãng thời gian khá ngắn, và hậu duệ của nó phân tán khắp nơi trên địa cầu. Bằng cách nào điều này xảy ra còn là một ẩn số. Desulforudis phát triển và sinh sản chậm, do vậy nếu nó chỉ đơn giản phân tán qua môi trường đất đá dưới lòng đất, chắc hẳn nó đã đột biến rất nhiều lần qua các thời kỳ. Về lý thuyết, có thể nó đã thất thoát ra không trung hoặc biển cả và rải rác khắp mọi nơi. Tuy nhiên, cả oxy và muối đều độc hại đối với loài này, bởi vậy viễn cảnh trên khó xảy ra trong thực tế. Hơn nữa, khi Tiến sĩ Stepanauskas và cộng sự tìm kiếm trên một cơ sở dữ liệu di truyền khổng lồ từ vi sinh vật sống trên bề mặt để cho chắc chắn, họ không tìm thấy dấu vết DNA nào của Desulforudis.     Do đó, có vẻ như Desulforudis thực sự đã di cư khắp thế giới thông qua những khối đá mà nó cư ngụ. Và ta có thể chắc chắn rằng điều này đã xảy ra từ lâu bởi sự thật rằng ba quần thể được đề cập sinh sống tại ba châu lục riêng biệt, với những loại đá lục địa gần như khác biệt hoàn toàn.     Lữ khách từ vùng đất cổ xưa     Lần gần đây nhất châu Phi, lục địa Á- Âu và Bắc Mỹ được kết nối chặt chẽ là khi chúng là một phần của siêu lục địa duy nhất Pangaea. Khối đất này hình thành cách đây khoảng 270 triệu năm, duy trì trong một thời gian, và dần dần vỡ ra thành các mảnh trong khoảng từ 165 đến 55 triệu năm trước. Chính chuỗi sự kiện này đã khiến Tiến sĩ Stepanauskas và cộng sự đi đến kết luận rằng Desulforudis về cơ bản đã không thay đổi trong một thời gian dài.     Tiến sĩ Stepanauskas cho rằng Desulforudis dường như đã phát triển các cơ chế sao chép DNA với độ chính xác đáng kinh ngạc và có khả năng sửa chữa bất kỳ lỗi nào xảy ra. Lý do tại sao những cơ chế như vậy lại giúp ích cho loài vi khuẩn này, trong khi các loài khác có khả năng chịu lỗi tốt hơn, thì vẫn chưa rõ ràng. Một lý giải là môi trường của nó ổn định đến mức “khóa lại” một hình trạng di truyền tối ưu là một chiến lược hữu hiệu về mặt tiến hóa. Sự ổn định này có thể là hệ quả của việc nó sống trong thứ mà người phát hiện ra nó đầu tiên, Tiến sĩ Dylan Chivian, thành viên Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley tại California, gọi là “hệ sinh thái đơn loài”. Desulforudis không có ký sinh trùng, không có kẻ săn mồi, và cũng không có con mồi.     Từ điểm nhìn của con người, một cơ chế sao chép DNA đáng tin cậy có thể được ứng dụng vào sinh học – và thực tế là các nhà nghiên cứu đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho một trong những enzyme của loài vi khuẩn này. Tuy vậy, kể cả khi điều đó không hữu ích, bản thân Desulforudis đã là một sinh vật kỳ thú. Khám phá này khiến nó trở nên kỳ thú hơn bao giờ hết.     Anh Thư dịch  Nguồn: A curious survivor from the age of the dinosaurs    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kênh Panama mới: Âu thuyền dành cho những con tàu khổng lồ ra biển khơi      Một tàu container thế hệ thứ tư (Postpanamax với sức chở từ 5.000 TEU1  – dưới 10.000 TEU) đang chạy thử nghiệm qua một âu thuyến mới trên kênh Panama. Trong tương lai những con tàu container  và tàu chở nhiên liệu, khí đốt cỡ lớn có thể  qua tuyến đường thủy ở Trung Mỹ này.    Một tàu container lớp Postpanamax đang chạy thử nghiệm qua một âu thuyền mới trên kênh Panama  Chủ nhật vừa qua, trong tâm trạng phấn khởi, Tổng thống Panama Juan Carlos Varela, các vị quốc khách và hàng nghìn người dân Panama đã cùng nhau tham gia lễ khai trương kênh Panama mở rộng với “vị khách” đầu tiên là con tàu Cosco Shipping Panama băng qua âu thuyền Cocolí. Tuyến đường thủy mới nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương này rộng và sâu hơn, hứa hẹn sẽ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nền mậu dịch thế giới thông qua đường biển. Thông thường, những con tàu cỡ đại vẫn phải đi qua Kap Hoorn đầy gian nan ở vùng cực nam  Nam Mỹ bởi tính đến nay, loại tàu lớn nhất đi qua được kênh Panama mới chỉ chở tối đa 4.400 container. Với sự khai trương của tuyến đường mới, trong tương lai những con tàu container thuộc thế hệ thứ tư với sức chở 14.000 container hay những tàu chở dầu và khí đốt khổng lồ cũng có thể băng qua tuyến đường thủy này để tiết kiệm thời gian và chi phí di chuyển. Jorge Quijano, nhà quản lý  con kênh này cho biết: “Có thể công trình này không thuộc diện đắt nhất nhưng chắc chắn nó là một công trình mang lại nhiều ý nghĩa to lớn đối với thế giới. Tàu thuyền của 160 quốc gia sẽ đi qua tuyến đường thủy này.”  Để kênh Panama trong tương lai có thể tham gia vào cuộc chơi kinh tế toàn cầu, người dân Panama đã phải bỏ ra chín năm lao động cùng với 40.000 nhân công và một lực lượng vật tư khổng lồ gồm: 150 triệu mét khối đất đá, 12 triệu tấn xi măng, 192.000 tấn sắt thép (gấp 19 lần lượng sắt thép để xây tháp Eiffel ở Paris).   Lẽ ra việc mở rộng kênh phải hoàn thành từ năm 2014 để kỷ niệm 100 năm ngày khánh thành con kênh này, nhưng do những tranh cãi về tiền bạc nên tiến độ xây dựng bị đẩy lùi tới hai năm. Chi phí xây dựng cuối cùng là gần 5,6 tỷ đôla, cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu là 3,2 tỷ. Hiện tại, tập đoàn Grupo Unido por el Canal (GUPC) dưới sự lãnh đạo của Tập đoàn xây dựng Sacyr của Tây Ban Nha đang tranh cãi với Panama tại Tòa Trọng tài ở Miami về việc ai là người phải chịu trách nhiệm về khoản chi phát sinh này. Theo lập luận của GUPC, chi phí xây dựng tăng vọt là do nghiên cứu địa chất không được tiến hành nghiêm chỉnh. Trong khi đó, cơ quan quản lý kênh cho rằng các nhà thầu xây dựng đã đẩy giá lên và khi tham gia đấu thầu họ đã chào thầu “với mức giá phi thực tế” .  Để duy trì khả năng cạnh tranh của  kênh Panama, việc mở rộng kênh là không thể không làm. Trong những năm qua ngành vận tải biển đã có nhiều thay đổi. Vì lý do chi phí, các chủ hãng tàu vận tải biển đang có xu hướng đóng những con tàu ngày càng lớn hơn để vận chuyển được nhiều hàng hóa hơn.   Vì thế, phải mở rộng hai bên bờ kênh, đào các kênh dẫn mới và xây dựng các âu thuyền lớn hơn.  Bên cạnh đó, người ta còn dùng tàu hút bùn và tàu chuyên dụng để làm kênh sâu hơn và rộng hơn. Trong tương lai, những con tàu nhỏ vẫn chạy trên tuyến đường cũ nhưng những con tàu lớn hơn sẽ chạy trên các âu thuyền mới xây dựng.  Sự mở rộng kênh Panama tác động đến toàn bộ nền kinh tế biển trong khu vực. Nhiều thành phố cũng đang mở rộng các cảng của mình để trong tương lai có thể tiếp nhận những tàu thuộc lớp  Postpanamax.  Con kênh là một huyết mạch không thể thiếu đối với Panama. Nhờ con kênh này đất nước Panama đã trở thành một trung tâm dịch vụ của thế giới. Không như các nước khác trong khu vực, ở Panama các ngành thương mại, ngân hàng và vận tải chiếm  80% tổng sản phẩm quốc nội. Trong khi xuất khẩu cà phê và chuối là những hoạt động kinh tế chủ yếu của các nước láng giềng của Panama thì với bản thân Panama các hoạt động này không có nhiều đóng góp quan trọng.  Có lẽ nếu không có con kênh dài 80km này thì ngày nay Panama vẫn chỉ là một tỉnh của  Columbia. Đầu thế kỷ 20 Mỹ đã tìm cách tách Panama ra khỏi Columbia và xây dựng một chính phủ độc lập thuận theo quan điểm của Mỹ trong việc điều hành và sử dụng tuyến  đường thủy này. Hai tuần sau khi Panama tuyên bố độc lập trong tháng 11/1903, Mỹ đã ký được hiệp định bảo đảm chủ quyền đối với con kênh đang trong quá trình xây dựng. Quyền này chấm dứt khi Mỹ trao trả Panama quyền quản lý tuyến đường thủy này vào ngày 3/12/1999.  1. TEU: container hóa, là đơn vị đo của hàng hóa tương đương với một container tiêu chuẩn có độ dài 20ft (6,1m).  Xuân Hoài theo Tuần Kinh tế Đức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kenya cần nỗ lực thúc đẩy tái chế chất thải điện tử      Mỗi năm, Kenya xả ra hơn 44.000 tấn chất thải điện tử, trong đó có những máy tính và điện thoại cũ có khả năng gây ô nhiễm môi trường. Hiện Kenya vẫn chưa có điều luật nào có những quy định về quản lý rác thải.      Hình ảnh các chất thải điện tử và vỏ chai lấp đầy trên sông Nairobi. Nguồn: DW  Từng biết đến là một dòng sông trong lành nhưng nay sông Nairobi đã ngập rác với đủ loại chất thải điện tử và vô số chai nhựa đã qua sử dụng. Ô nhiễm trên sông Nairobi đã dẫn đến nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân bởi hóa chất xâm nhập vào nước, sau đó chảy vào những cánh đồng người dân vẫn canh tác lương thực.  Chính phủ Kenya gần đây đã ra lệnh cấm dùng túi nhựa để kiểm soát ô nhiễm, nhưng họ vẫn chưa đồng nhất với nhau về chính sách quản lý chất thải điện tử. Đề xuất đầu tiên về chính sách quản lý chất thải điện tử đã bị “cất ngăn tủ” vào năm 2013.  Một trong ba nhà máy của Kenya được cấp phép để xử lý chất thải điện tử là ở Utawala gần Nairobi. Tổng giám đốc Boniface Mbithi của nhà máy này cho biết, một lượng lớn chất thải điện tử tại Khu rác thải điện tử và hệ thống thiết bị điện tử được thu thập từ các nhà máy do chính phủ quản lý. Hầu hết mọi người chỉ đơn giản là bỏ rác thải điện tử vào thùng rác, vứt trên đường phố, vườn tược hoặc thậm chí là bỏ nó vào nguồn nước. Đề cập đến khó khăn trong quản lý, Mbithi nói: “Thách thức lớn nhất của chúng tôi trong việc quản lý chất thải điện tử là sự thiếu hụt về nhận thức của người dân”.  Ông giải thích thêm với DW, “thậm chí nhiều người còn không biết chất thải điện tử là gì”. Đây là thách thức để có thể xử lý rác thải điện tử một cách hiệu quả. “Vì thế, chúng tôi đang vận hành nhà máy dưới năng lực xử lý của mình”, ông nói.  Miễn cưỡng vứt bỏ rác thải điện tử  Collins Wambugu, thợ sửa máy tính và điện thoại, nhận xét, đôi khi con người không muốn bỏ đi những chất thải điện tử độc hại và đơn giản là giữ nó lại trong nhà, ví dụ, nhiều khách hàng của ông thường muốn mang rác thải điện tử về nhà. Thỉnh thoảng, họ có thể bán cho ông một vài thứ linh kiện còn giá trị sử dụng và khi cần phụ kiện thay thế thì ông mới có điều kiện tái sử dụng chúng.  Kepha Ombacho, giám đốc Cơ quan Sức khỏe cộng đồng Kenya, thừa nhận mình đã thất bại khi lường trước được khả năng trở thành mối nguy hại thực sự của chất thải điện tử. Vì vậy, ông đang đề nghị tìm hiểu cách giải quyết vấn đề chất thải điện tử ở nhiều quốc gia khác và hi vọng, nó có thể cung cấp thông tin để góp phần tìm ra cách hiệu quả để cải thiện tình trạng ô nhiễm chất thải điện tử nghiêm trọng ở Kenya.  Theo một nghiên cứu gần đây của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), hằng năm Kenya xả ra môi trường 44.000 tấn chất thải điện tử. Những hợp chất nguy hiểm được tìm thấy trong nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của hệ thần kinh, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Các rủi ro sức khỏe có thể là do con người tiếp xúc trực tiếp với những vật liệu độc hại như chì, cadmium, crom hoặc những chất độc khác tích tụ trong đất, nguồn nước và đồ ăn.  Trần Dung dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/kenya-needs-to-step-up-efforts-to-recycle-e-waste/a-43252169    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kéo gần khoảng cách giữa viện, trường với doanh nghiệp      LTS: Trong bối cảnh tốc độ phát triển công nghệ mới và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, dưới áp lực ghê gớm từ các doanh nghiệp nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam, khối tư nhân trong nước ngày càng phải tập trung vào R&D để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Cuối năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng khẳng định tại Hội nghị APEC tại Đà Nẵng rằng  “Việt Nam hướng đến một nền kinh tế năng động dựa trên đổi mới sáng tạo”. Nhưng làm thế nào để đạt được điều đó, khi từ trước đến nay, các doanh nghiệp không có “truyền thống” quan tâm đến công nghệ, còn các nghiên cứu của viện, trường vẫn còn một khoảng cách rất xa so với đích đến ứng dụng?      Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đã kết hợp với Viện Sinh học Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp để phát triển đèn chiếu sáng phục vụ nông nghiệp. Ảnh: Rangdongvn.com  Các tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập1 và doanh nghiệp là hai chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Một bên là chủ thể tạo ra tri thức và công nghệ rồi sau đó phổ biến, chuyển giao và một bên là nơi tiếp nhận các tri thức và công nghệ để tạo ra sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới theo nhu cầu của khách hàng. Để thúc đẩy sự sáng tạo tri thức trong các tổ chức KH&CN và đẩy nhanh ứng dụng nó trong các ngành công nghiệp, hai chủ thể này phải liên kết và hợp tác với nhau. Sự liên kết, hợp tác này được thực hiện dưới nhiều hình thức: đối tác nghiên cứu (cùng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu), cung cấp các dịch vụ nghiên cứu (tư vấn kỹ thuật, đo lường, kiểm định chất lượng, phát triển sản phẩm mẫu,…), chia sẻ cơ sở hạ tầng (phòng thí nghiệm, trung tâm ươm tạo, công viên công nghệ…), đào tạo và chuyển giao nguồn nhân lực (đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu, cử cán bộ từ tổ chức KH&CN sang làm biệt phái tại các doanh nghiệp…), thương mại hóa các kết quả R&D (chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức KH&CN cho doanh nghiệp, cấp phép công nghệ…), hình thành các mối quan hệ xã hội (hội nghị, hội thảo…).  Ở các quốc gia đã chuyển đổi thành công từ nước đang phát triển thành nước có nền công nghiệp hiện đại (ví dụ như Hàn Quốc, Đài Loan), các tổ chức KH&CN công lập thường liên kết và hợp tác chặt chẽ với khu vực doanh nghiệp vì trong quá trình đổi mới sản phẩm, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các thông tin sáng chế, hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm để thực thi các ý tưởng đổi mới sản phẩm/dịch vụ. Đồng thời, chính bản thân các đối tượng trên cũng thường xuyên hướng vào phục vụ các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển. Như vậy, các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) được gắn kết với nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và thông qua doanh nghiệp.  Tại sao không gặp nhau?  Theo Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Report – GCR) năm 2016-2017 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam đứng thứ 79 trong số 138 quốc gia về sự hợp tác giữa khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp, yếu hơn Indonesia (28), Thái Lan (41) và Philipine (61). Riêng về chất lượng nghiên cứu Việt Nam xếp thứ 98 trong số 138 quốc gia về chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học, yếu hơn so với Indonesia (41), Thái Lan (56) và Philipine (72). Sự liên kết giữa doanh nghiệp và nghiên cứu còn yếu vì những nguyên nhân sau:      Chỉ có 8% trong số 8010 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, cải tiến công nghệ và trên 90% doanh nghiệp chưa có chiến lược cải tiến công nghệ.        1. Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân nhìn chung có ít động lực và kinh nghiệm để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Họ thường ưu tiên đầu tư vào những hoạt động thu hồi vốn nhanh và mang lại lợi nhuận trước mắt, vì đầu tư vào đổi mới sáng tạo đòi hỏi phải có thời gian và tính rủi ro cao. Theo kết quả điều tra năm 2013 về  “Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam”2, chỉ có 8% trong số 8010 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, cải tiến công nghệ và trên 90% doanh nghiệp chưa có chiến lược cải tiến công nghệ.  2. So với nguồn lực (kinh phí dành cho nghiên cứu và số lượng cán bộ nghiên cứu) số lượng các tổ chức KH&CN của Việt Nam khá lớn, do đó các tổ chức KH&CN có quy mô nhỏ và manh mún, hệ quả là rất ít tổ chức KH&CN có được năng lực tới hạn cần thiết để tạo ra các kết quả nghiên cứu có thể đáp ứng yêu cầu thực tiễn từ khu vực doanh nghiệp. Các trường đại học tập trung nhiều vào công tác giảng dạy và đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học còn khiêm tốn và chủ yếu là  nghiên cứu cơ bản.  3. Mô hình quản trị của các tổ chức KH&CN nhìn chung mang tính hành chính và bao cấp, thiếu các hệ thống quản lý chuyên nghiệp như: hệ thống quản lý tài chính, quản lý hợp đồng, quản lý nguồn nhân lực, quản lý cơ sở vật chất và quản lý chất lượng. Kinh phí hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập chủ yếu là từ nguồn ngân sách, các nhiệm vụ nghiên cứu thường là từ đặt hàng của nhà nước, một số tổ chức KH&CN đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp và một số đang có những tiến bộ đáng kể về khía cạnh này. Tuy nhiên đa phần các tổ chức KH&CN thiếu kinh nghiệm, kỹ năng và nguồn lực để xây dựng và duy trì các mối quan hệ quan trọng này.  4. Thiếu chính sách và chương trình hành động cụ thể khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với khu vực doanh nghiệp. Mặc dù chính phủ đã xây dựng các cơ sở hạ tầng và các tổ chức trung gian cần thiết như các văn phòng chuyển giao công nghệ, các khu công nghệ cao và các vườn ươm doanh nghiệp để khuyến khích sự hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với khu vực doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn thiếu chính sách, cơ chế kích thích sự hợp tác theo các hình thức như cùng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, chia sẻ cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác và tiến hành các hoạt động đổi mới và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sự hợp tác. Gần đây, có một số sáng kiến tài trợ cho các nhóm liên kết, hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH&CN và khu vực doanh nghiệp như: Dự án FIRST3, Dự án IPP4,  nhưng kinh phí của các dự án này chủ yếu là từ Chính phủ Phần Lan và Ngân hàng Thế giới và chỉ mang tính chất thử nghiệm.   Doanh nghiệp, viện, trường đều cần đổi mới  Để khắc phục những tồn tại nêu trên nhằm đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với doanh nghiệp xin kiến nghị các giải pháp sau:    Công ty sen vòi Viglacera hợp tác với Đại học Bách Khoa để phát triển các sản phẩm điều khiển tự động. Ảnh: baoxaydung.com.vn  1. Chính phủ tạo động lực thông qua việc khuyến khích sự cạnh tranh và tạo điều kiện tiếp cận nguồn tài chính cho các doanh nghiệp chú trọng vào đổi mới sáng tạo. Cần đặt các doanh nghiệp theo đuổi việc đổi mới sáng tạo và ứng dụng kết quả R&D của các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu nhà nước vào trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển. Các doanh nghiệp phải nhận thức được việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo là vấn đề cấp thiết để doanh nghiệp có thể nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu các doanh nghiệp chú trọng vào đổi mới sáng tạo, họ sẽ đầu tư nhiều hơn vào hoạt động này, từ đó thu hút thêm nguồn vốn đầu tư cho KH&CN.  2. Cấu trúc lại hệ thống tổ chức KH&CN công lập, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học và tập trung đầu tư để các tổ chức KH&CN đạt được năng lực tới hạn lớn hơn và tập trung nhiều hơn vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị phục vụ cho khu vực doanh nghiệp. Việc cấp kinh phí cho các tổ chức KH&CN nên gắn với kết quả thực hiện. Nếu một tổ chức không có đủ năng lực KH&CN cần thiết, họ không thể giành được các đề tài, dự án do đó không thể tồn tại lâu dài, như vậy là tạo động lực mạnh mẽ đối với các tổ chức nghiên cứu để họ liên tục nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.  3. Các tổ chức KH&CN cần đổi mới mô hình quản trị. Ngày nay, mô hình quản trị và quản lý của các tổ chức nghiên cứu ngày càng giống với các mô hình thường thấy trong khu vực doanh nghiệp, với trọng tâm là tạo ra giá trị, tăng doanh thu5 và quản lý chi phí hơn là một đơn vị hành chính bao cấp. Họ phải xác định rõ sứ mạng và đối tượng sử dụng kết quả nghiên cứu của mình để có chiến lược phát triển tổ chức mình bền vững, phải chủ động tìm nguồn kinh phí cho các đề tài, dự án từ các chương trình tài trợ cạnh tranh và dành được các hợp đồng nghiên cứu từ khu vực doanh nghiệp để bổ sung vào nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách. Việc áp dụng mô hình kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các lãnh đạo tổ chức KH&CN tăng quyền tự chủ và quyền quyết định đồng thời cũng đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của tổ chức mình.  4. Ban hành cơ chế, chính sách, khởi động chương trình tài trợ khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với doanh nghiệp (có thể rút kinh nghiệm từ các dự án IPP, FIRST…). Chương trình nên mang tính định hướng thị trường – tập trung tạo giá trị kinh tế cho khu vực doanh nghiệp. Chương trình cần được thiết kế căn cứ vào nhu cầu và các lĩnh vực ưu tiên của khu vực doanh nghiệp. Để xác định được những nhu cầu này cần có sự đối thoại nghiêm túc giữa khu vực doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN, vì khu vực doanh nghiệp thường không nắm bắt được tính khả thi về mặt kỹ thuật còn tổ chức KH&CN thì thường không hiểu công việc kinh doanh cũng như các yêu cầu phi kỹ thuật để thực hiện thành công. Sự đối thoại này được thể hiện qua nhiều lần tương tác giữa khu vực doanh nghiệp và tổ chức KH&CN, từ đó sẽ hình thành sự tin tưởng và hiểu biết về các cơ hội hợp tác giữa họ. Thông qua chương trình này, các doanh nghiệp và tổ chức KH&CN cùng nhau phát triển các năng lực R&D  phục vụ cho các khách hàng hiện tại và tương lai và hình thành các ngành kinh tế mới.  ———  * Tác giả là Phó giám đốc Ban quản lý Dự án FIRST  1 Các tổ chức KH&CN công lập bao gồm các viện nghiên cứu và trường đại học.  2 Báo cáo tóm tắt thông tin từ cuộc Điều tra về Năng lực cạnh tranh và Công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Tổng cục Thống kế và Nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển thuộc Trường Đại học Copenhagen, Đan Mạch phối hợp thực hiện năm 2013.  3 Thông tin chi tiết về dự án tại đường link sau: http://ipp.vn/  4 Thông tin chi tiết về dự án tại đường link sau: http://first-most.vn/  5 Doanh thu của các tổ chức KH&CN là nguồn kinh phí có được từ các đề tài, dự án được tài trợ thông qua các chương trình, quỹ tài trợ ở trong nước và quốc tế, từ các hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp.          Author                Nguyễn Thị Thu Oanh        
__label__tiasang Kết hợp vaccine Covid-19 để kích hoạt phản ứng miễn dịch      Kết quả sơ bộ từ một thử nghiệm trên 600 người là bằng chứng đầu tiên cho thấy những lợi ích của việc kết hợp các loại vaccine khác nhau.      Các nhà khoa học đang tiến hành một nghiên cứu ở Tây Ban Nha đã phát hiện ra việc tiêm phòng cho người bằng cả hai vaccine Oxford – AstraZeneca và Pfizer – BioNTech COVID-19 tạo ra phản ứng miễn dịch có hiệu lực chống lại virus SARS-CoV-2. Kết quả sơ bộ từ cuộc thử nghiệm trên 600 người – được công bố trong một buổi thuyết trình trực tuyến vào ngày 18 tháng 5 1– là kết quả đầu tiên cho thấy lợi ích của việc kết hợp xen kẽ các loại vaccine Coronavirus khác nhau. Một thử nghiệm ở Vương quốc Anh về một chiến lược tương tự đã báo cáo dữ liệu an toàn vào đầu tháng năm, và dự kiến sẽ sớm cung cấp thêm các phát hiện về phản ứng miễn dịch 2.  Vì lo ngại về tính an toàn, một số quốc gia châu Âu đã khuyến cáo một số hoặc tất cả những người đã được tiêm liều vaccine đầu tiên do Đại học Oxford, Vương quốc Anh và AstraZeneca ở Cambridge, Vương quốc Anh phát triển, nên tiêm vaccine khác cho liều thứ hai. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng các phác đồ tiêm chủng vaccine COVID-19 kết hợp như vậy sẽ kích hoạt các phản ứng miễn dịch mạnh hơn, nhanh hơn so với hai liều của một vaccine đơn lẻ, đồng thời đơn giản hóa nỗ lực tiêm chủng cho các quốc gia đang đối mặt với nguồn cung vaccine biến động.  “Có vẻ như vaccine Pfizer đã tăng cường phản ứng kháng thể đáng kể trong vaccine AstraZeneca một liều”. Zhou Xing, một nhà miễn dịch học tại Đại học McMaster ở Hamilton, Canada cho biết đây là một tin tuyệt vời.  Liều thứ nhất khởi đầu và liều thứ hai tăng cường  Bắt đầu từ tháng 4, thử nghiệm CombivacS ở Tây Ban Nha thu hút 663 người đã nhận được liều đầu tiên của vaccine Oxford – AstraZeneca, sử dụng một loại adenovirus vô hại từ tinh tinh để cung cấp hướng dẫn cho các tế bào tạo ra một protein SARS-CoV-2. Hai phần ba số người tham gia được chọn ngẫu nhiên để nhận vaccine dựa trên mRNA do Pfizer, có trụ sở tại thành phố New York và BioNTech, ở Mainz, Đức, sản xuất ít nhất tám tuần sau liều đầu tiên của họ. Một nhóm đối chứng gồm 232 người vẫn chưa được tiêm liều thứ hai tăng cường. Nghiên cứu do Viện Y tế Carlos III ở Madrid thực hiện.  Magdalena Campins, một nhà điều tra trong nghiên cứu CombivacS tại Bệnh viện Đại học Vall d’Hebron ở Barcelona, ​​Tây Ban Nha, cho biết , liều thứ hai tăng cường Pfizer – BioNTech dường như làm “rung chuyển” hệ thống miễn dịch của những người tham gia dùng liều Oxford – AstraZeneca. Sau liều thứ hai này, những người tham gia bắt đầu tạo ra lượng kháng thể cao hơn nhiều so với trước đây, và những kháng thể này có thể nhận ra và bất hoạt SARS-CoV-2 trong các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Những người tham gia đối chứng, là người không được tiêm phòng nhắc lại liều thứ hai, không có sự thay đổi về mức độ kháng thể.  Đó là điều mà các nhà nghiên cứu hy vọng và mong đợi từ việc pha trộn các loại vaccine khác nhau, một chiến lược được gọi là liều thứ nhất khởi đầu và liều thứ hai tăng cường khác nhau, đã được triển khai cho vaccine chống lại các bệnh khác, như Ebola. Dan Barouch, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Virus và vaccine tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess ở Boston, Massachusetts, cho biết: “Những phản hồi này có vẻ đầy hứa hẹn và cho thấy tiềm năng của các phác đồ liều thứ nhất-liều thứ hai khác nhau”.  Xing cho biết phản ứng kháng thể đối với sự tăng cường Pfizer dường như thậm chí còn mạnh hơn phản ứng mà hầu hết mọi người tạo ra sau khi tiêm hai liều vaccine Oxford-AstraZeneca, theo dữ liệu thử nghiệm trước đó. Nhưng không rõ những phản ứng đó như thế nào so với những phản ứng được thấy ở những người nhận hai liều vaccine mRNA như Pfizer – BioNTech’s, có xu hướng kích hoạt phản ứng kháng thể đặc biệt mạnh sau liều thứ hai.  Daniel Altmann, nhà nghiên cứu miễn dịch học tại Đại học Imperial, London, cho biết so sánh như vậy là so sánh “táo và cam”. Ông cho biết thêm, phản ứng miễn dịch mạnh với chiến lược kết hợp và xen kẽ là “hoàn toàn có thể dự đoán được từ miễn dịch học cơ bản”. Altmann cho biết việc tiêm cho mọi người liều đầu tiên và liều thứ hai các loại vaccine khác nhau có thể có ý nghĩa. Nhưng ông tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu mọi người cần liều thứ ba để kéo dài khả năng miễn dịch hoặc bảo vệ chống lại các biến thể Coronavirus mới xuất hiện. Các liều lặp lại của vaccine dựa trên virus như vaccine Oxford-AstraZeneca có xu hướng ngày càng kém hiệu quả hơn, bởi vì hệ thống miễn dịch gắn kết phản ứng chống lại virus adenovirus. Ngược lại, vaccine RNA có xu hướng gây ra các tác dụng phụ mạnh hơn với liều lượng bổ sung. Altmann nói: “Tôi nghĩ rằng có một thế giới tiêm chủng mới dũng cảm được áp dụng vào tất cả những điều này.  Tuần trước, một nghiên cứu của Vương quốc Anh có tên Com-COV, phân tích sự kết hợp của hai loại vắc xin giống nhau, phát hiện ra rằng những người trong nhóm kết hợp vaccine có tỷ lệ các tác dụng phụ thông tường liên quan đến vaccine, chẳng hạn như sốt, cao hơn những người đã nhận được hai liều vaccine giống nhau. Trong thử nghiệm CombivacS ở Tây Ban Nha, các tác dụng phụ nhẹ là phổ biến và tương tự như những tác dụng phụ đã thấy trong phác đồ vaccine COVID-19 tiêu chuẩn. Không có gì được coi là nghiêm trọng.  Thùy Linh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01359-3?fbclid=IwAR0-tl9gAmhSKUFtSYsP1sCXNNiym4vqUGpOmWtr7YsIi9pOB6cIybJqxPk  ———  1. Borobia, A. M. et al. Preprint at SSRN https://ssrn.com/abstract=3854768 (2021).  2. Shaw, R. H. et al. Lancet https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)01115-6 (2021).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ASEAN      Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp Việt Nam và các quốc gia trong khu vực sẽ có cơ hội tới gần nhau hơn sau hội thảo Mạng lưới đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ASEAN.       Hội thảo Mạng lưới đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ASEAN với chủ đề “Vai trò của các trường đại học trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” đã diễn ra vào ngày 9 đén 10/12/2015. Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan Giai đoạn II (IPP2) phối hợp với Sáng kiến Kinh doanh Mekong (MBI), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Viện Công nghệ tiên tiến Thái Lan (THAIST) tổ chức.  Hơn 60 đại biểu của bảy quốc gia trong khu vực Đông Nam Á bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Malaysia, Myanmar, Campuchia và Lào tham dự hội thảo.  Hội thảo tập trung thảo luận các chủ đề về xây dựng chương trình hợp tác nhằm hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam cũng như các nước trong khối ASEAN. Bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc dự án IPP2, mong muốn các đại biểu có thể đề xuất những sáng kiến khả thi cho hoạt động hợp tác nhằm thúc đầy sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp hoặc cao hơn nữa là cùng nhau xây dựng và thống nhất một chương trình hợp tác chung cho đổi mới sáng tạo trong khu vực.    Với tham luận của các đại diện trong hệ sinh thái khởi nghiệp như trường đại học, chương trình tăng tốc khởi nghiệp, vườn ươm và nhà đầu tư từ Thái Lan, Singapore, Malaysia và Việt Nam, hội thảo đã mang tới một góc nhìn toàn cảnh cùng những kinh nghiệm thực tiễn trong việc thúc đẩy và tạo môi trường phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.   Trong khuôn khổ hội thảo, các đại biểu đã đặt nhiều câu hỏi về những khó khăn, rào cản khi xây dựng và triển các dự án và chương trình hỗ trợ, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp cho các diễn giả của chương trình. Tinh thần cởi mở và chia sẻ của các diễn giả cũng như đại biểu đã cho thấy nhu cầu kết nối và trao đổi kinh nghiệm với những đối tác trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong cộng đồng ASEAN. Đây cũng là điều được ông Lauri Lakkso, Cố vấn trưởng dự án IPP2 khẳng định khi được hỏi về lý do tại sao IPP2 tổ chức hội thảo lần này: “Với vai trò của một chương trình thí điểm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, chúng tôi nhận thấy cần phải tạo không gian cho các hoạt động tương tự diễn ra thường xuyên và với mức độ tương tác cao hơn nữa để các bên liên quan hiểu rõ vai trò của mình trong hệ sinh thái đồng thời tìm được các đối tác phù hợp cho chương trình của mình”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối nhà khoa học và công chúng      Các nhà khoa học đang nghiên cứu những gì? Những công trình khoa học có tính ứng dụng của họ mang ý nghĩa như thế nào, có thể tác động gì tới đời sống? Chúng đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải nỗ lực và kiên trì ra sao? Qua các buổi nói chuyện được Tia Sáng tổ chức trong đó các nhà khoa học trực tiếp làm diễn giả, công chúng sẽ hiểu hơn về công việc của họ.    TS Trần Đình Phong diễn giải về lá nhân tạo Ảnh: Thanh NhànTại buổi nói chuyện ngày 16/7, diễn giả, TS. Trần Đình Phong trình bày và về vai trò và quá trình chế tạo lá nhân tạo (artificial leaf) và cùng thảo luận với đông đảo người tham gia trong không khí sôi nổi và cởi mở.   Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng gia tăng mạnh, các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng khó khai thác và khan hiếm, các nhà khoa học, tập đoàn lớn và chính phủ nhiều nước rất chú trọng yêu cầu cải tiến công nghệ để khai thác các nguồn năng lượng tái tạo được trong tự nhiên. Trong đó, lá nhân tạo, một giải pháp tuyệt vời trong chuyển hóa và sử dụng năng lượng mặt trời đã mở ra một nấc thang mới trong nghiên cứu phát triển các vật liệu, thiết bị tiên tiến dựa trên các quá trình tổng hợp quang hóa tự nhiên của lá cây xanh.  Tại buổi nói chuyện, TS Phong nhận được nhiều câu hỏi của người tham dự về những khó khăn, thuận lợi và cơ chế hợp tác quốc tế khi tiến hành nghiên cứu này trong bối cảnh Việt Nam còn thiếu thốn rất nhiều điều kiện cơ sở vật chất, tài chính cho các nhà khoa học theo đuổi những hướng nghiên cứu dài hơi về vật liệu tiên tiến. TS Phong chia sẻ, khi xây dựng nhóm nghiên cứu về lá nhân tạo này ở Việt Nam, anh và nhóm nghiên cứu có được tinh thần say mê nghiên cứu, nhiệt huyết của nhiều bạn trẻ tham gia nhưng cũng gặp khó khăn về tài chính. Trong nhiều trường hợp, nhóm nghiên cứu của anh rất thiếu kinh phí để gửi các kết quả nghiên cứu đi các phòng thí nghiệm trên thế giới để kiểm tra.  Nghiên cứu về lá nhân tạo đã mang đến cho TS Phong và các cộng sự một số công bố quốc tế, trong đó có công bố trên Nature Materials về molybden sulfide vô định hình, một vật liệu rẻ tiền và dễ chế tạo có thể thay thế xúc tác bạch kim trong phản ứng điều chế Hydro – nhiên liệu sạch dùng trong pin nhiên liệu. Việc theo đuổi hướng nghiên cứu này còn giúp anh có cơ hội dẫn dắt và truyền niềm cảm hứng làm khoa học cho một nhóm không nhỏ các nghiên cứu sinh và sinh viên, qua đó tạo dựng cho các em một nền tảng tri thức chắc chắn, những quy chuẩn nghiêm túc trong công việc nghiên cứu, và niềm đam mê để theo đuổi sự nghiệp khoa học trong lâu dài. Có những em đã có những nỗ lực sáng tạo đáng kể, mang lại những đóng góp chuyên môn thuyết phục cho công trình nghiên cứu của nhóm – đóng góp của từng em đã được TS Phong điểm lại một cách đầy đủ, cụ thể, khách quan trong bài trình bày.  Một số nhà khoa học có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu trong và ngoài nước đến tham dự buổi nói chuyện đã rất hoan nghênh ý tưởng tổ chức các buổi giao lưu giữa nhà khoa học với công chúng. GS.TSKH Trần Xuân Hoài và TS. Nguyễn Trọng Tĩnh, Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học kỳ vọng Tia Sáng tổ chức nhiều buổi nói chuyện khoa học trước công chúng hơn nữa để tăng cường tương tác giữa giới học thuật và công chúng yêu khoa học.        Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Kết nối những mắt xích sáng tạo      Khởi sự doanh nghiệp không cần sáng tạo?  Khởi sự doanh nghiệp không cần ý tưởng mới, không cần chiến lược kinh  doanh, không cần học hỏi đàng hoàng và chỉ cần kế thừa là đủ… sẽ đưa  doanh nghiệp tới đâu? Cách kích hoạt ý tưởng sáng tạo gắn với mục tiêu  khởi nghiệp liệu sẽ thoát được lối sáo mòn khi khởi sự doanh nghiệp?    Ông Nguyễn Thanh Tùng, phụ trách dự án Du lịch nông nghiệp ở An Giang phát triển ý tưởng “Du lịch có trách nhiệm”, nhận thấy nên kết nối câu lạc bộ rau an toàn với câu lạc bộ nghề bếp Phương Nam để sáng tạo món ngon từ nguyên liệu địa phương trong mùa nước nổi.   Hai bạn trẻ Văn Công Hùng, Khúc Trí Dũng vốn có một bề dày mưu sinh với nghề bếp, ngọt mặn, đắng cay nhiều hơn Hồ Hoàng Thọ, học trò trường dạy nghề bếp Tây Đô, nhưng họ đã hợp tác xây dựng ngôi nhà chung cho các đầu bếp sáng tạo mang tên câu lạc bộ Sáng tạo khởi nghiệp (CLB STKN) bếp Phương Nam… Với ý tưởng này, họ đã thu hút thêm bảy sáng lập viên khác và đồng ý hợp tác với mạng lưới 15 điểm đến thuộc chương trình Du lịch có trách nhiệm của ông Tùng.   Ông Tám Bi (Nguyễn Văn Bi), chủ nhiệm hợp tác xã rau an toàn Hoà Phát; ông Triệu Công Đỉnh, chủ nhiệm hợp tác xã rau an toàn Long Tuyền; ông Võ Văn Lăng, chủ nhiệm hợp tác xã rau an toàn Phúc Thạnh, cùng với hơn 50 hộ nông dân từng được huấn luyện theo quy trình sản xuất rau an toàn, đã quyết định liên kết, nhân danh mục hàng và sản lượng cung cấp gấp ba lần, họ hy vọng siêu thị sẽ không chê sản lượng nhỏ nữa.  Còn tám sáng lập viên câu lạc bộ nông dân sáng tạo là những “hai lúa” chân đất luôn ấp ủ sáng kiến tạo ra công cụ mới hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.  Nguyễn Hoàng Phi, Cao Phi Hổ, Võ Văn Kháng, Cao Văn Tám, Trần Thanh Tuấn, Châu Thanh Tùng… đã làm ra máy móc với hy vọng nông dân tránh được rủi ro khi tiếp xúc hoá chất và khắc phục tình trạng thiếu nhân công ở làng quê. Hai sáng lập viên trong CLB này là người làm dưa vuông, dưa thỏi vàng và bưởi hồ lô, từng nếm trải thất bại – thành công.  Ông Nguyễn Duy Long, chuyên gia trong lĩnh vực quản trị tài chính đã chia sẻ cách phát triển ý tưởng, xây dựng kế hoạch kinh doanh hiệu quả từ những giá trị khác biệt. CLB Hỗ trợ nông gia, tổ chức hỗ trợ cộng đồng do Hội DN.HVNCLC/ BSA, viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và báo SGTT (bộ cũ) sáng lập đã vận động xây dựng thêm những tổ chức “siêu nhỏ” liên kết có ý tưởng khác biệt để khởi nghiệp.  Đây là hoạt động của chương trình “Sáng tạo khởi nghiệp” do Hội DN HVNCLC/BSA và Trung ương hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam cổ vũ. Ngày 18/6, trong khuôn khổ hội chợ HVNCLC Cần Thơ 2014, bốn CLB làng nghề (42 thành viên mới) thành lập, có sự góp mặt của tám địa phương ở ĐBSCL, trong đó An Giang chiếm tỷ lệ trên 50% thành viên.  “Một CLB Sáng tạo khởi nghiệp từ sản phẩm làng nghề tỉnh Đồng Tháp đang được vận động và sẽ được thành lập”, ông Phan Kim Sa, phó giám đốc sở Công thương tỉnh Đồng Tháp, cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối, sáng tạo xã hội ở khu vực Đông Á      Hội đồng Anh đã thúc đẩy sự hợp tác giữa những nhà hoạch định chính sách, các cơ sở giáo dục và các doanh nhân thông qua chương trình “Sáng tạo xã hội ở khu vực Đông Á”.    Sự quan trọng của đổi mới sáng tạo  Nhằm tìm kiếm và hỗ trợ những nhà sáng tạo xã hội với mong muốn xây dựng giải pháp cho các vấn đề ở khu vực Đông Á và ở nước Anh, Hội đồng Anh đã thúc đẩy sự hợp tác giữa những nhà hoạch định chính sách, các cơ sở giáo dục đại học, các doanh nhân xã hội thông qua chương trình “Sáng tạo xã hội ở khu vực Đông Á”.  Dự án được thực hiện trong 3 năm từ năm 2018 – 2021 tại 6 quốc gia thuộc khu vực Đông Á gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và Myanmar.  Trong đó có câu chuyện điển hình về ứng phó với COVID-19. Chương trình nâng cao năng lực doanh nghiệp xã hội ở Đông Nam Á được áp dụng từ kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp xã hội của nước Anh và đã thực hiện các chương trình tập huấn cho lãnh đạo doanh nghiệp xã hội đang muốn đẩy mạnh mô hình kinh doanh của mình.    Doanh nghiệp xã hội InspiraComm thực hiện các hoạt động dành cho học sinh tại Malaysia  Chương trình được thiết kế bởi Hội đồng Anh và được thực hiện bởi Mạng lưới thiện doanh châu Á (AVPN, là mạng lưới các nhà đầu tư xã hội) và Học viện Doanh nghiệp xã hội quốc tế (nhà cung cấp chương trình đào tạo toàn cầu cho các doanh nhân xã hội), chương trình đã chào đón các doanh nhân xã hội từ Indonesia, Malaysia, Việt Nam Philippines và Hồng Kông.  Theo Trưởng bộ phận Kinh tế và tác động toàn cầu tại Hội đồng Anh, nghiên cứu chỉ ra rằng đổi mới sáng tạo và sự linh hoạt hiện nay đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.  Điển hình như doanh nghiệp xã hội InspiraComm của cô Nurlina Hussin, tổ chức các hoạt động tại các trường học ở Malaysia dành cho trẻ em từ những gia đình có thu nhập thấp gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục. Từ năm 2018-2019, doanh nghiệp xã hội của cô đã làm việc với 500 học sinh. Năm 2021, cô hy vọng đạt 800 học sinh và đang đặt mục tiêu 5.000 học sinh/năm vào năm 2030.  Các trường học bị đóng cửa bởi COVID-19, Nurlina đã thay đổi mô hình kinh doanh của mình và bắt đầu cung cấp các hoạt động giáo dục trực tuyến cho những học viên khá giả – điều này giúp tạo ra nguồn thu nhập để hỗ trợ các dịch vụ giáo dục đối với những học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn hơn.  Vì một thế giới không rác thải  “Công dân tích cực vì một thế giới không rác thải” là dự án không chỉ hướng tới việc nâng cao nhận thức của người dân trong cộng đồng mà còn giúp học sinh tác động đến cha mẹ để thay đổi hành vi của họ với rác thải nhựa”, cô Gấm Trần – quản lý cấp cao Chương trình Giáo dục và xã hội của Hội đồng Anh tại Việt Nam cho biết.  Việt Nam phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng môi trường ở cấp độ quốc gia, trong khi mỗi cộng đồng đều có sự khác biệt và có những cách tiếp cận khác nhau đối với các vấn đề cụ thể về môi trường. Đó là lý do tại sao Hội đồng Anh quyết định sử dụng cách tiếp cận công dân tích cực.  Theo đó, những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các vấn đề được trao quyền để trở thành người tạo ra thay đổi tích cực thông qua việc tìm hiểu về bản thân, điểm mạnh và điểm yếu của họ, trước khi đưa ra các giải pháp mà họ cảm thấy sẽ hiệu quả cho chính cộng đồng của mình.  Dự án “Công dân tích cực vì thế giới không rác thải” đã diễn ra tại Hà Nội, Thừa Thiên-Huế, TP.HCM và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Một trong những địa bàn tham gia dự án là tỉnh Đồng Tháp, có dải động thực vật rất phong phú, nhưng việc xử lý và đổ rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh đang đe dọa đến đa dạng sinh học ở đây.  Tham gia dự án, anh Tường giáo viên tiếng Anh được đào tạo để trở thành một tập huấn viên của chương trình Công dân tích cực bày tỏ: “Giáo viên nên hiểu đúng các vấn đề về môi trường để biết cách giúp học sinh bắt đầu áp dụng lối sống bền vững hơn. Quản lý rác thải không phải là vấn đề của một cá nhân mà là trách nhiệm của tất cả mọi người”.  Theo 1thegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối và đổi mới sáng tạo      Norman Apsley là người sáng lập ra NISP – Northern Island Science Park, tại Belfast, Khu công nghệ cao đầu tiên của Ireland, khi nước này chưa hề có khái niệm gì về khởi nghiệp sáng tạo. Trong hai mươi năm, ông không chỉ biến NISP (giờ đây đổi tên thành Catalyst, Inc) thành một trung tâm đổi mới sáng tạo có tiếng tăm trên bản đồ thế giới với 3000 công ty mà còn thay đổi văn hóa thành phố Belfast: tất cả mọi người, ở các lĩnh vực khác nhau (ngân hàng, luật sư, kiểm toán, công ty truyền thống, công ty công nghệ cao, người kinh doanh bất động sản…) sẵn sàng đóng góp tiền bạc và thời gian để hỗ trợ những người tài năng trẻ tuổi. Bí quyết của ông là “Tạo sự kết nối”.      Norman Apsley (giữa) trong giải thưởng Đổi mới sáng tạo của Viện Vật lý Anh. Nguồn ảnh: Viện vật lý Anh.  Tôi rất thích những câu chuyện về khoa học đã ra đời như thế nào, nhưng theo cách mọi người không hề ngờ tới. Chắc mọi người đều biết Galileo là người đã chế tạo kính thiên văn rồi chống đối nhà thờ rất dữ dội để bảo vệ Thuyết nhật tâm. Nhưng họ không hề biết tại sao ông ấy lại chế tạo ra nó. Ban đầu, ông ấy không hề chế tạo kính thiên văn để nhìn lên Mặt trăng và các hành tinh.  Ông lớn lên tại Genoa, Ý, một cảng giao thương quan trọng của quốc gia này thời bấy giờ. Và ông làm kính thiên văn theo đặt hàng của các thương nhân, để có thể biết trước các thuyền mang đến những hàng hóa gì trước các đối thủ hai tiếng đồng hồ và áp đặt giá cả trước họ. Ông cũng không phải là người đầu tiên tạo ra kính viễn vọng mà là một người thợ thủy tinh người Hà Lan tên là Hans Lippershey, với khả năng phóng to vật lên ba lần, nhưng cả người này lẫn chính quyền Hà Lan thời đó chẳng biết dùng phát minh này làm gì cả. Nhờ có người bạn là Paolo Sarpi, tỉnh trưởng Venice, Galileo biết về thiết bị này và cấu trúc của nó, cải thiện nó với hiệu quả phóng đại cao gấp nhiều lần.   Một câu chuyện khác, Marconi người được coi là cha đẻ của ngành truyền thanh nhưng thực ra sóng phát thanh đã được phát hiện từ lâu bởi Nikola Tesla, chỉ là chưa ai biết được phải làm gì với loại sóng đó. Marconi thực chất là một nhà khoa học kém nhất trên đời, các công trình của ông chủ yếu là sao chép của người khác. Nhưng ông lại nỗ lực rất lớn để tìm ra ứng dụng cho phát hiện của Tesla. Là người Ý, nhưng ông tìm đến tận Ireland để biến ý định của mình thành hiện thực. Khu vực này không đủ khả năng chi trả cho hệ thống dây cáp nhưng lại rất cần liên lạc với bên ngoài vì tàu thuyền qua Đại Tây Dương đều phải qua Ireland và chính quyền London luôn nóng lòng muốn biết ngay số phận của những con tàu này khi nó cập bến để lo liệu chi phí bảo hiểm. Marconi thiết lập cho họ một trạm phát thanh và người dân ở đây sẵn sàng trả tiền cho cuộc thử nghiệm đó. Sau khi thành công, Marconi thành lập công ty, thiết lập nhiều trạm thu phát sóng truyền thanh trên khắp thế giới và được giải Nobel. Để làm được những điều trên, Marconi hẳn đã phải biết rất nhiều kĩ năng ngoài phạm vi chuyên môn khoa học và quen biết rất nhiều người.   Chúng ta học được điều gì từ hai câu chuyện này? Những nhà khoa học nhiều khi cần những doanh nhân, cần những người nói lên nhu cầu của mình mới có thể tạo ra đột phá. Ai là thiên tài ở đây, nhà khoa học hay doanh nhân? Tôi không biết nữa. Nếu không có mối quan hệ tốt với một mạng lưới những con người ở lĩnh vực khác nhau, một nhà khoa học sẽ chẳng thể nào biết được ý tưởng của mình có thể ứng dụng vào cái gì.   Ông định nghĩa như thế nào về sự kết nối?   Sự kết nối thực chất là tạo ra một nhóm người liên kết với nhau dưới một tinh thần chung. Mary Walshok, người từng làm giám đốc một chương trình tăng tốc ở Catalyst, Inc, người gốc Thụy Điển nói về triết lý của quốc gia này: Nếu bạn đã cố hết sức mình và bạn cần giúp đỡ, thì tôi, nếu ở tình trạng khá hơn, sẽ chìa tay ra giúp bạn. Nếu bạn cứ ngồi đó, không chịu làm việc mà lẽ ra bạn có thể tự mình làm, thì tôi sẽ mặc kệ. Rất nhiều người nghĩ rằng đó là cốt lõi của sự kết nối, và là điều tạo ra một khu công nghệ cao. Nếu bạn muốn thay đổi văn hóa của một khu vực, bạn cần các hoạt động kết nối.   Ông thể hiện sự “kết nối” như thế nào trong khu công nghệ cao – Catalyst, Inc của mình?   Trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi diễn ra tất cả hoạt động cộng đồng của chúng tôi có diện tích là 2000 feet vuông, lớn nhất trong tất cả các khu công nghệ cao trên toàn Ireland. Hơn nữa, chúng tôi có rất nhiều không gian để mọi người gặp gỡ, trao đổi, thậm chí nhiều hơn cả nhu cầu sử dụng của các thành viên (để có thể mời thêm nhiều người từ bên ngoài tham gia). Nhưng khi thăm Khu Công nghệ cao Hòa Lạc của các bạn, tôi thấy thiếu điều này.   Ở Catalyst, Inc, chúng tôi có một cụm từ gọi là “tổ ong” (buzzy nest), để chỉ chung sự náo nhiệt khi mọi người làm việc, gặp gỡ hoặc tình cờ trao đổi liên lạc với nhau. Đó là những người trẻ, trẻ cả về tuổi tác lẫn năng lượng. Nếu bạn không có đủ những người tài năng đang làm việc trong khu của mình, hãy tìm cách mang những người từ nơi khác đến và tổ chức sự kiện. Chúng tôi tìm mọi cách để “mượn cớ” tổ chức các tọa đàm, hội thảo, đứng ra trao giải cho các cuộc thi, đem đồ ăn sáng, bia, pizza hay bất cứ thứ gì có thể để tạo không khí cho khu vực của mình, nhưng tất cả đều phải liên quan đến công việc chứ không phải là tổ chức lễ hội. Chúng tôi còn đưa ra các quy tắc để khuyến khích việc kết nối. Chẳng hạn, nếu bạn muốn có không gian riêng để làm việc, muốn có phòng họp cho công ty, bạn phải trả tiền. Nhưng nếu bạn dùng chung với một thành viên khác, chúng tôi cho bạn miễn phí.     Hoàng tử Harry và công nương Markle tới Catalyst, Inc vào tháng ba năm nay. Trong ảnh, họ đang gặp gỡ startup Titanic FX, nơi sản xuất nguyên liệu cho việc hóa trang tạo hiệu ứng đặc biệt trên phim trường. Ảnh: Catalyst, Inc.     Chúng tôi đo lường sự thành công khu công nghệ cao của mình dựa trên khả năng mở rộng quy mô, mức độ trống và tốc độ lấp đầy của các không gian trong khu công nghệ cao. Chúng tôi tìm kiếm “tổ ong” và năng lượng cho nơi này.   Nguồn lực ông dành cho việc kết nối như thế nào?   Tôi phải bỏ một số nguồn kinh phí đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất để dành cho các hoạt động kết nối. Trước kia, khi có rất ít kinh phí từ Bộ Khoa học, chúng tôi dành hầu như toàn bộ cho việc kết nối. Giờ đây, ngân sách của chúng tôi khoảng sáu triệu bảng Anh mỗi năm thì chúng tôi dành một triệu bảng Anh cho hoạt động này. Nhưng khoản đầu tư đó sẽ được nhân lên thành năm triệu bảng từ đóng góp của các cộng đồng bên ngoài khu công nghệ cao như từ các ngân hàng, luật sư của địa phương. Tất cả bọn họ đều ủng hộ những người trẻ tuổi. Họ sẵn sàng tài trợ cho những chương trình hỗ trợ, thúc đẩy thanh niên, sẵn sàng bỏ thời gian tham gia huấn luyện và giảng dạy trong các khóa tăng tốc khởi nghiệp của chúng tôi. Đối với ngân hàng, do họ đang phải thay đổi mô hình kinh doanh trước sự thay đổi công nghệ nên họ sẵn sàng đón nhận những cái mới. Chẳng hạn như ngân hàng Danske của Ireland dành hàng triệu bảng Anh để xây dựng co-working space về Fintech, có lẽ là một co-working space sành điệu nhất mà tôi từng biết, cho chúng tôi.  Làm cách nào để ông có thể thu hút những đối tượng như luật sư và ngân hàng hỗ trợ cộng đồng đổi mới sáng tạo?      Bởi vì chính tôi cũng là người kết nối tốt. Tôi luôn nói “có” mỗi khi họ đề nghị giúp đỡ. Chẳng hạn như với ngân hàng Danske và ngân hàng Bắc Ireland, khi họ tổ chức một cuộc thi cho thanh niên và nhờ tôi làm giám khảo, hoàn toàn miễn phí, không có một đồng thù lao nào. Dĩ nhiên là tôi đồng ý. Và nhờ đó tôi quen biết họ, họ yêu quý tôi, họ thấy tôi công bằng và họ giúp đỡ tôi ngược lại. Còn với Ulster Bank chẳng hạn, chúng tôi giúp đỡ họ đưa ra ý tưởng thiết kế lại tờ tiền giấy.   Nó là một dạng quyền lực mềm, bạn hiểu ý tôi không? (Không phải quyền lực cứng, có thể ép người khác bằng tiền và mệnh lệnh). Tôi luôn làm việc theo kiểu khuyến khích, thúc đẩy mọi người một cách nhẹ nhàng, hỗ trợ họ, chứ chưa bao giờ ra lệnh cho ai. Đó là điểm mấu chốt, tôi nghĩ vậy.   Tôi luôn theo cách đó, tôi không thích quyền lực tuyệt đối. Trong suốt 20 năm làm khoa học ở Anh, chúng tôi được dạy cách gây ảnh hưởng bằng khoa học và công trình của mình, chứ không ép buộc ai. Điều đó đã ăn sâu vào tôi.  Thế theo ông, một người kết nối cộng đồng cần có những đặc điểm gì?   Có hai kiểu người lãnh đạo, một kiểu người biết mình sẽ đi đâu và không quan tâm mình đi đến đích bằng cách nào. Tôi là kiểu người đó. Tôi không vướng bận khi gặp khó khăn theo cách nào đó, bởi khi ấy tôi sẽ tìm được cách khác. Nếu ai đó làm việc dưới quyền tôi, tôi không nói với họ phải làm cái này, cái kia mà nói cho họ mục đích của tôi là gì.   Một kiểu người khác là người luôn nguyên tắc, phải đúng theo quy trình, gần như yêu cầu nhân viên của mình thành những người phục tùng, vì không chịu được cách làm khác. Sai quy trình là họ phải nghỉ việc. (Đó có lẽ là vì sao tôi cố gắng không phán xét ai đó khi chưa biết họ đang ở hệ thống của họ. Khi tôi làm việc với các kỹ sư, họ luôn chỉ trích tính cách của tôi.)  Có lẽ kiểu người phù hợp với vai trò đi xây dựng cộng đồng bởi họ không cố giành quyền lực về mình. Tôi không bao giờ lo lắng khi mình không được coi như sếp. Tôi cũng không thích ra lệnh cho mọi người. Tôi không cần phải làm thế.   Tôi không thích phải sa thải ai. Tôi có thể tự hào mà nói rằng tôi chưa từng sa thải ai không đáng cả. Nguyên tắc thứ nhất của tôi, nếu ai đó nỗ lực hết sức mình thì nhiệm vụ của tôi là giữ họ ở lại. Tôi cho phép họ mắc lỗi, chỉ cần họ phát hiện ra điều đó trước tôi và với kinh nghiệm của mình, tôi có thể sửa chữa nó. Một khi vấn đề được giải quyết, chúng tôi sẽ cùng ngồi lại để xác định nguyên nhân và xem mình có thể học hỏi được gì. Đó là cách chúng tôi làm. Điều thứ hai là khi tôi yêu cầu ai đó làm điều gì mà họ không biết cách làm, thì họ cần nói cho tôi biết. Tôi sẽ chỉ cho họ hoặc gửi họ đi học. Đó là hai quy tắc cơ bản và đội ngũ của tôi đã tổng kết chúng thành giá trị của mình, đó là từ dưới lên, tự trọng, dám mạo hiểm và nhiệt huyết. Chúng tôi chỉ tuyển những người có phẩm chất đó. Còn lại, nếu họ thiếu gì, chúng tôi sẽ dạy họ.   Thực ra, để có thể có được quyền lực mềm, phải thực sự hiểu được đối tượng mình phục vụ, điều đó không đơn giản khi ông phải kết nối rất nhiều đối tượng khác nhau….   Đúng và chấp nhận rất nhiều thất bại. Thi thoảng tôi vẫn dạy tại các trường đại học và các giảng viên thường bảo rằng, vì tôi ở khối tư nhân, nên mọi thứ thật dễ dàng với tôi, tôi có thể mạo hiểm. Nhưng tôi không nghĩ vậy. họ không dám mạo hiểm vì họ không nhanh, thiếu linh hoạt. Hãy tưởng tượng, mạo hiểm giống như là bước đi trong bóng tối, có ai lại bước dài hay chạy không? Dĩ nhiên là không, bước từng bước nhỏ và nếu có gì sai, sẽ rụt chân lại ngay. Nhưng các chính phủ thì ở thái cực ngược lại, họ quá chậm, chậm đến mức các quyết định của họ chồng chất mà vẫn chưa thực hiện được. Họ không thể sai. Và thời gian họ chần chừ, thì thế giới đã thay đổi. Phải thất bại nhanh và đứng dậy nhanh.  Chúng tôi lập ra một chương trình gọi là “Đồng sáng lập”, để cho một người làm công nghệ gặp gỡ một người làm kinh doanh, kết nối làm ăn với nhau. Ban đầu, chúng tôi mời các cán bộ quản lý của trường đại học, cán bộ về sở hữu trí tuệ tới, và những người làm công nghệ, kinh doanh mà chúng tôi nghĩ là phù hợp tới. Chẳng có gì xảy ra cả. Họ tới, nhưng họ không phải là những người cần sự kiện này. Sau ba lần thất bại, gần đây, chúng tôi không còn đặt ra tiêu chuẩn cụ thể với người tham dự, chỉ cần “họ muốn gặp gỡ ai đó để lập công ty”. Trong nhiều trường hợp, đó là những nhà khoa học trẻ tài năng ở độ tuổi 35-40 ở Ireland trong các tập đoàn lớn, phải đối mặt khi đứng giữa ngã rẽ của sự nghiệp, hoặc tiếp tục làm nghiên cứu hoặc làm quản lý, vì vậy họ không muốn công khai dự định kinh doanh của mình (nếu có). Chúng tôi đã tổ chức những cuộc gặp gỡ bí mật, vào buổi tối thứ Ba, sau giờ làm việc, họ có thể đến mà không cần báo gì với công ty của họ cả. Và nó rất thành công. Họ phát hiện ra người này có ý tưởng, người kia biết cách thực hiện, người kìa có tiền, và lập nhóm, sau sáu tuần, họ quyết định thành lập công ty. Chúng tôi có các hội thảo hỗ trợ họ một năm và có cuộc thi để họ thử nghiệm dự án của mình. Hầu hết những người lọt vào chung kết đều bắt đầu từ con số không. Tôi rất thích điều đó.    Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này! ¨  Hảo Linh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối và tạo niềm tin      Đó là hai nội dung quan trọng liên quan đến vai trò của Nhà nước trong Đề án “Chương trình quốc gia hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025“ do Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&amp;CN, Bộ KH&amp;CN xây dựng để trình Chính phủ trong năm 2015. Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với chị Phan Hoàng Lan, một trong những thành viên trực tiếp soạn thảo Đề án.    Xin chị cho biết điểm yếu nhất của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam hiện nay là gì và dự thảo đề án đề xuất  giải pháp nào để giải quyết điều đó?     Vấn đề đặt ra với Hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam hiện nay là hình thành các mối liên kết giữa các chủ thể của cộng đồng khởi nghiệp. Hầu hết các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp và các tổ chức hỗ trợ, hay giữa các tổ chức hỗ trợ với nhau được hình thành một cách tự phát và chưa có một hệ thống thông tin kết nối các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp. Điều này đang kìm hãm sự phát triển của nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng như của cả hệ sinh thái nói chung. Ví dụ, do thiếu thông tin, các startup luôn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ và nguồn vốn. Tương tự, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp lại chỉ tập trung vào lĩnh vực công nghệ thông tin mà bỏ qua lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, cơ khí… Các nhà đầu tư và quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài không theo sát được việc thay đổi các quy định, chính sách của Việt Nam và cũng không nắm được bức tranh toàn cảnh của hệ sinh thái khởi nghiệp nên còn e dè khi đầu tư vào vườn ươm của các trường đại học.   Giải pháp chính của đề án là xây dựng và khuyến khích thành lập mạng lưới giữa các tổ chức khởi nghiệp, tạo ra một “dây chuyền” cùng hỗ trợ các startup. Bên cạnh đó là xây dựng nền tảng chia sẻ thông tin cởi mở giữa các đối tượng trong hệ sinh thái để tạo ra sự tin tưởng đối với các nhà đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước.       Với mục tiêu lớn là kết nối và tạo niềm tin cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam, chị có thể nói cụ thể hơn về vai trò của Nhà nước trong dự thảo đề án này?   Trước hết, Nhà nước sẽ kết nối và thúc đẩy hợp tác giữa các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp bằng cách thiết lập một cổng thông tin cập nhật liên tục các chính sách liên quan đến startups, xây dựng bản đồ Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp được phân loại theo ngành nghề, giai đoạn phát triển; các nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ (phân loại theo quy mô và lĩnh vực ưu tiên); các chính sách của Chính phủ về hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thứ hai là tạo niềm tin giữa các thành tố trong hệ sinh thái bằng cách cùng tham gia tổ chức và hỗ trợ tổ chức các sự kiện khởi nghiệp lớn và cung cấp các chương trình đào tạo chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp, các nhà đầu tư thiên thần… Thứ ba, Nhà nước sẽ đối ứng vốn cho các nhóm tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và cho các nhà đầu tư thiên thần thay vì đầu tư trực tiếp cho các startup như trước. Thứ tư, Đề án cũng hướng tới nâng cao văn hóa khởi nghiệp tại Việt Nam thông qua việc đưa các nội dung đào tạo về khởi nghiệp vào chương trình học tại các trường trung học phổ thông và đại học. Ngoài ra, các thành viên trong Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập Đề án trong quá trình soạn thảo thường xuyên làm việc trực tiếp, tiếp thu ý kiến của cộng đồng các doanh nghiệp khởi nghiệp để làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện các nội dung của Đề án liên quan đến các cơ chế chính sách hỗ trợ khởi nghiệp.   Qua sự kiện Ngày hội khởi nghiệp công nghệ Việt Nam (Techfest 2015) vào tháng Năm vừa qua, có thể nhận thấy rằng, điều mà Nhà nước có thể làm ngay là tạo ra sự kết nối và tin tưởng… Việc một đơn vị Nhà nước là Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN, cùng Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với các đối tác của trong hệ sinh thái khởi nghiệp như Hub.IT, Topica Founder Institute, Hatch!Program, Đại sứ quán Israel tại Việt Nam và Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), Dự án FIRST,…  cùng tổ chức sự kiện đã giúp tạo được niềm tin rất lớn và thu hút được đông đảo các nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ, doanh nghiệp, các trường đại học trong nước và quốc tế.   Về việc cấp vốn đối ứng hỗ trợ khởi nghiệp, theo chị Đề án nên xây dựng quy trình ra sao để khắc phục tình trạng xin – cho dẫn đến nhiều tiêu cực?  Ban Soạn thảo Đề án đã tham vấn kinh nghiệm của bà Lisa Delp, một trong những chuyên gia cố vấn của Ohio Third Frontier, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và tiếp cận vốn đầu tư ở bang Ohio, Mỹ- một hệ sinh thái khởi nghiệp có điểm xuất phát tương đồng với Việt Nam. Theo mô hình này, Nhà nước sẽ đối ứng vốn cho các nhà đầu tư và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp thay vì cấp vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Như vậy, vốn của Nhà nước bỏ ra không quá lớn nhưng được sử dụng hiệu quả do được quản lý bởi các đơn vị có kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ khởi nghiệp, đồng thời lại tận dụng được vốn nhàn rỗi của tư nhân. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, mô hình này không chỉ mang lại cơ hội tiếp cận nguồn vốn đầu tư mà với rất nhiều dịch vụ hỗ trợ cần thiết như tư vấn pháp lý, marketing, không gian làm việc chung v.v…   Các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp được lựa chọn và nhận vốn đối ứng của Nhà nước là những đơn vị có kinh nghiệm, uy tín và nhiều mối liên kết với các đối tác khác trong cộng đồng khởi nghiệp. Những đơn vị đã hoàn thành chương trình đào tạo chuyên nghiệp nhằm trang bị các kỹ năng và kiến thức hỗ trợ khởi nghiệp sẽ được ưu tiên trong quá trình tuyển chọn. Quan trọng hơn, Nhà nước sẽ không hỗ trợ cho một tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp đơn lẻ mà cho một nhóm tổ chức trên nhiều lĩnh vực hợp tác và liên kết với nhau để có thể hỗ trợ startup một cách toàn diện.   Để hạn chế tới mức thấp nhất những tiêu cực có thể đến khi tiến hành xuất vốn, Đề án dự định đề xuất áp dụng kinh nghiệm học hỏi từ Ohio Third Frontier, đó là sử dụng phần mềm tiêu chuẩn để minh bạch và công khai toàn bộ quy trình cấp vốn và báo cáo công tác hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Thông tin về các hoạt động hỗ trợ sẽ được công bố rộng rãi và kết quả của các hoạt động này sẽ được xác định bởi tình hình phát triển các doanh nghiệp, số lượng việc làm được tạo ra, số lượng doanh nghiệp được thành lập v.v…  Nếu được phê duyệt và đi vào hoạt động thì Đề án sẽ ưu tiên thực hiện những hoạt động nào?  Trong quá trình triển khai Đề án, việc liên kết với một số các đơn vị liên quan xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, các nhà đầu tư và các huấn luyện viên khởi nghiệp luôn là một hoạt động được ưu tiên, nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hệ sinh thái khởi nghiệp.  Bên cạnh đó, Đề án cũng chú trọng tổ chức các sự kiện khởi nghiệp tương tự như TechFest bằng cách thường xuyên liên kết với các mạng lưới startup, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp để cùng kêu gọi nguồn lực, đồng thời tích cực tham gia và trở thành đối tác của các hệ sinh thái khác trong khu vực và trên thế giới.  Cùng với việc xây dựng một cổng thông tin bao gồm các thông tin cơ bản về startups, nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp… trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam, Nhà nước sẽ hợp tác với một số tổ chức, cá nhân tình nguyện kết nối và xây dựng cộng đồng để tạo ra những nhóm tổ chức khởi nghiệp ở các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Bên cạnh đó, Chương IPP hợp phần hai đang thực hiện một dự án thống kê tất cả các nguồn lực startups của Việt Nam và một số cá nhân cũng đang xây dựng bản đồ hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam. Đây sẽ là nguồn thông tin quan trọng, làm cơ sở để triển khai các hoạt động của Đề án sau này.   Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết quả chung cuộc từ việc đi tìm phân rã beta kép không neutrino của Nhóm Majorana      Trong hơn nửa thập kỷ, Nhóm hợp tác Majorana, một nhóm nghiên cứu gồm các nhà nghiên cứu từ nhiều trường đại học khác nhau trên thế giới, cố gắng quan sát phân rã kép beta kép không neutrino, một trong những hình thức hiếm nhất của phân rã phóng xạ. Điều này đã được Majorana Demonstrator, một máy dò đặt tại Phòng thí nghiệm dưới lòng đất Sanford ở Nam Dakota.    Thực nghiệm quy mô lớn này sử dụng 30 kg tinh thể germanium (Ge), cùng với các mô đun làm lạnh sâu và được bảo vệ bằng khiên chắn bằng chì đặt ngoài phòng thí nghiệm. Trong những kết quả cuối cùng của thí nghiệm, được xuất bản trong một bài báo xuất bản trên PRL, đã thiết lập những ràng buộc mới lên phân rã beta kép không neutrino (0νββ) của 76Ge 1.  “Mục tiêu cơ bản của thí nghiệm dùng tới 30 kg tinh thể germanium này là thiết lập tính khả thi của một thực nghiệm lớn hơn sử dụng chính các máy dò germanium (Ge) cho phân rã beta kép không neutrino (0νββ)”, Steve Elliott, một trong những nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu, nói với Phys.org. “Công trình trước đây đã thể hiện sự khả thi của việc sử dụng các máy dò Ge cho nghiên cứu. Dự án này do DOE và NSF tài trợ sau khi Phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển trực tiếp (LDRD) thiết lập bằng việc sử dụng tài trợ từ nhiều phòng thí nghiệm quốc gia”.  Phân rã beta kép không neutrino (0νββ) là một hình thức dự đoán của phân rã phóng xạ mà nếu tồn tại, có thể sẽ đòi hỏi các đặc tính đặc biệt của các neutrino, bao gồm có khối lượng và bản chất hạt Majorana. Trong khi người ta xác định là các hạt neutrino có khối lượng, quan sát thực nghiệm của phân rã này có thể cuối cùng chứng tỏ rằng chúng là các hạt Majorana, nghĩa là chúng cũng tương tác với các phản hạt của chúng.  “Nếu các hạt neutrino là hạt Majorana, nó cũng dẫn đến các lý thuyết là có thể di chuyển sự vượt trội của vật chất trước phản vật chất trong vũ trụ – một điều kiện cần thiết cho sự sống mà chúng ta biết”, Elliott giải thích. “Phân rã này, nếu nó tồn tại, có thể vô cùng hiếm với thời gian bán rã của chúng dài hơn 1026 năm (gấp 1016 lần so với tuổi vũ trụ). Quá hiếm xảy ra, những phân rã khác, từ các tạp chất vết trên khiên che chắn hay tia vũ trụ, cũng đều ghi dấu năng lượng trên Ge và có thể che mất tín hiệu này”.  Majorana Demonstrator, thực nghiệm được Elliott và các thành viên của nhóm hợp tác thiết lập sử dụng để nghiên cứu về phân rã 0νββ, cần một lượng tinh thể Ge lớn. Các tinh thể đó, đặt tại Phòng thí nghiệm dưới lòng đất Sanford, vận hành như các máy dò phóng xạ (ví dụ các thiết bị có thể dò được các hạt phát xạ trong suốt quá trình phân rã).  “Vật chất Ge cho các máy dò này được làm giàu trong đồng vị 76 đến 88%, trong khi Ge đầy rẫy trong tự nhiên chỉ đạt mức 7,75%”, Elliott nói. “Các máy dò này đều được bảo vệ bằng một khiên chắn phóng xạ siêu thấp và chôn sâu dưới lòng đất để giảm thiểu các nguồn năng lượng tích tụ có thể làm phát sinh nền tín hiệu từ 0νββ”.  Các kết quả cuối cùng của Majorana Demonstrator, được xuất bản trên PRL, đưa cộng đồng vật lý tiến gần hơn đến khả năng trả lời một số câu hỏi cốt lõi về vũ trụ và vật chất hình thành nó. Trong khi chưa dò được phân rã 0νββ, nỗ lực của nhóm hợp tác Majorana thực hiện khả năng có thể việc sử dụng cách tiếp cận của mình trên một quy mô lớn hơn để tìm kiếm hình thức khó nắm bắt của phân rã phóng xạ.  “Majorana Demonstrator chứng tỏ là một dãy thiết bị dò Ge với độ phân giải năng lượng hàng đầu thế giới có thể được thiết kế và điều hành trong một môi trường phóng xạ đủ thấp để chứng minh khả năng cấu trúc một thực nghiệm lớn hơn”, Elliott nói. “Ngay cả thực nghiệm nhỏ này cũng có thể cạnh tranh với những thực nghiệm 0νββ lớn hơn do nền phóng xạ thấp và độ phân giải năng lượng vô cùng xuất sắc”.  Nhóm hợp tác Majorana giờ hợp lực với nhóm nghiên cứu khác, Nhóm hợp tác GERDA, nơi xây dựng một thực nghiệm dò tương tự ở Phòng thí nghiệm quốc gia del Gran Sasso (LNGS) ở Italy. Cùng với nhau, họ xây dựng thực nghiệm LEGEND-200, một nỗ lực chung hướng đến việc dò phân rã 0νββ mà họ mới vừa thu thập dữ liệu ở Italy.  “Chúng tôi đang đề xuất một thực nghiệm với 1.000 kg Ge và đang trong quá trình xét duyệt của Bộ Năng lượng Mỹ”, Elliott cho biết thêm.  Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters.  Tô Vân  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-results-majorana-collaboration-neutrinoless-double-beta.html  https://interactions.org/press-release/majorana-collaboration-discuss-final-results-announce-new  https://interactions.org/press-release/majorana-collaboration-discuss-final-results-announce-new  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.130.062501    Author                .        
__label__tiasang Kết quả mới thách thức lý thuyết hàng đầu của vật lý      Nhóm hợp tác LHCb tại CERN đã tìm ra những hạt không hành xử theo cách quy tắc của vật lý hạt – Mô hình Chuẩn.      Thực nghiệm LHCb. Nguồn: LHCb    Mô hình Chuẩn của vật lý hạt dự đoán là các hạt quark đẹp mà thực nghiệm LHCb đo đạc được, phải phân rã thành các hạt muon hoặc electron trong cân bằng. Tuy nhiên những kết quả mới cho thấy điều này có thể không xảy ra, nó có thể chỉ ra sự tồn tại của các hạt mới hoặc các tương tác không thể giải thích bằng Mô hình Chuẩn.  Kết quả này được loan báo tại hội thảo vật lý Moriond Electroweak  và xuất bản như một tiền ấn phẩm.  Trong nghiên cứu này, các nhà vật lý ở Imperial College London và các trường Bristol, Cambridge đã dẫn dắt việc phân tích dữ liệu. Hội đồng KH&CN (The Science and Technology Facilities Council) – một cơ quan đầu tư cho các nghiên cứu tại Anh trong những lĩnh vực vật lý hạt, vật lý hạt nhân, khoa học không gian và thiên văn… tài trợ kinh phí cho họ thực hiện nghiên cứu.  Vượt khỏi Mô hình Chuẩn  Mô hình Chuẩn hiện tại là một lý thuyết hàng đầu về vật lý hạt, nó miêu tả các hạt cơ bản đã biết tạo nên vũ trụ của chúng ta và các lực mà chúng tương tác. Tuy nhiên Mô hình Chuẩn lại không thể giải thích một số bí ẩn sâu hơn trong vật lý hiện đại, bao gồm việc vật chất tối được tạo ra từ đâu và vì sao có sự mất cân bằng giữa vật chất và phản vật chất trong vũ trụ này.  Do đó, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm sự hành xử của các hạt theo những cách khác biệt hơn là trông chờ vào Mô hình Chuẩn, để có thể giúp giải thích phần nào bí ẩn đó.  Tiến sĩ Mitesh Patel, từ Khoa Vật lý tại Imperial và là một trong những nhà vật lý hàng đầu tham gia thực hiện phép đo này, cho biết: “Lần đầu tiên nhìn thấy kết quả này, chúng tôi vô cùng phấn khích. Thậm chí tim chúng tôi đã đập nhanh hơn.  Còn quá sớm để nói đây là một chệch hướng khỏi Mô hình Chuẩn nhưng những ngụ ý tiềm năng của nó về các kết quả đó là những điều kích thích bậc nhất mà tôi đã thực hiện trong vòng 20 năm nghiên cứu trong lĩnh vực này. Chúng tôi đã phải đi một chặng đường dài để có được nó”.  Xây dựng những khối cơ bản của tự nhiên  Những kết quả mà ngày nay chúng ta có được là nhờ thí nghiệm LHCb, một trong bốn máy dò hạt lớn tại CERN. Máy gia tốc hạt lớn LHC là cỗ máy gia tốc hạt lớn nhất thế giới – nó gia tốc các hạt hạt nguyên tử đến tốc độ ánh sáng, trước khi các hạt này va chạm vào nhau. Những vụ va chạm đó tạo ra một sự xuất hiện đột ngột của các hạt mới, vốn sau đó được các nhà vật lý ghi lại và nghiên cứu để hiểu sâu hon về những khối cơ bản của tự nhiên.  Phép đo được cập nhật này đặt ra câu hỏi về quy luật của tự nhiên tác động lên các electron và những “anh em họ” nặng hơn của nó như các hạt muon. Chúng có nhiều nét tương đồng nhau, ngoại trừ những khác biệt nhỏ về khối lượng của chúng.  Theo Mô hình chuẩn, muon và electron tương tác với mọi lực theo cùng một cách, vì vậy các hạt quark đẹp được tạo ra trên LHCb phải phân rã thành muon cũng như cách chúng tác động với các electron.  Nhưng những đo đạc mới đã đề xuất là các phân rã có thể xảy ra tại nhiều tốc độ khác nhau, điều có thể xuất phát từ khả năng các hạt chưa từng thấy trước đây sẽ nằm ngoài vùng thang muon.  Nghiên cứu sinh Daniel Moise, người báo cáo các kết quả mới tại hội thảo Moriond Electroweak Physics, nói: “Kết quả đề xuất một gợi ý hấp dẫn về một hạt cơ bản mới hoặc lực tương tác lên các hạt theo một cách mà khoa học hiện nay vẫn còn chưa biết. Nếu nếu điều này được xác nhận bằng một số đo đạc nữa, nó sẽ có một tác động sâu sắc đến hiểu biết của chúng ta về tự nhiên ở cấp độ cơ bản nhất”.  Không phải một kết luận đáng bỏ qua    Thực nghiệm LHCb đang được chờ đợi sẽ thu thập những dữ liệu mới vào năm tới, khi thiết bị được nâng cấp. Ảnh: LHCb   Trong vật lý hạt, tiêu chuẩn vàng cho khám phá là năm sai lệch tiêu chuẩn – vốn có nghĩa là có một trong 3,5 triệu cơ hội là do may mắn. Kết quả này có ba sai lệch – nghĩa là có tới 1 trong 1000 cơ hội phép đo đạc này là một sự trùng hợp thống kê. Do đó, vẫn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ kết luận nào.  TS. Michael McCann, người phụ trách nhóm nghiên cứu tại trường Imperial College London, nói: “Chúng ta biết là vẫn phải có những hạt mới ở ngoài kia để khám phá bởi hiểu biết hiện nay của chúng ta về vũ trụ vẫn còn ít ỏi – chúng ta chưa biết là 95% vật chất trong vũ trụ được làm từ cái gì hoặc tại sao lại có sự bất cân bằng lớn giữa vật chất và phản vật chất, chúng ta cũng không hiểu các mẫu hình trong những đặc tính của các hạt mà chúng ta đã biết.  “Trong khi chúng ta phải chờ xác nhận những kết quả này, tôi hi vọng là một ngày nào đó chúng ta có thể quay lại và coi chúng như một bước ngoặt, nơi chúng ta bắt đầu trả lời được một số câu hỏi cơ bản”.  Hiện tại nhóm hợp tác LHCb kiểm tra các kết quả của họ bằng việc đối chiếu và phân tích nhiều dữ liệu hơn để xem là liệu bằng chứng cho một số hiện tượng mới có còn tồn tại. Thực nghiệm LHCb đang được chờ đợi sẽ thu thập những dữ liệu mới vào năm tới, khi thiết bị được nâng cấp.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.cam.ac.uk/research/news/new-result-from-lhcb-experiment-challenges-leading-theory-in-physics  https://phys.org/news/2021-03-result-lhcb-theory-physics.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết thúc cuộc thi “Khởi nghiệp cùng Israel 2014”: Ưu thế thuộc về nhóm web và mobile      Cuộc thi Khởi nghiệp cùng Israel 2014 (Startup Israel 2014) đã kết thúc  với chiến thắng áp đảo của các đội thuộc nhóm web và mobile, bao gồm  Chomp, BraveBits, Younet (lĩnh vực web) và Umbala (lĩnh vực mobile).     BTC cuộc thi nhận định, so với hai nhóm còn lại là khoa học đời sống và nông nghiệp thì nhóm web và mobile nổi trội hơn với nhiều ý tưởng tốt và sáng tạo, có khả năng ứng dụng vào thực tế. Ngoài ra, những yếu tố như khả năng làm việc nhóm, kế hoạch kinh doanh có tính thuyết phục đã góp phần đưa cả bốn đội trên vượt qua gần 50 hồ sơ tham dự và đoạt giải thưởng.   Những sản phẩm của Chomp, BraveBits, Younet và Umbala đều rất ấn tượng, tập trung vào khả năng mở rộng giao tiếp của cá nhân hoặc một doanh nghiệp trên mạng xã hội. Với Chomp, một trong chín công ty khởi nghiệp từ dự án Vietnam Sillicon Valley, là giải pháp toàn diện giúp nhà tiếp thị có thể tiếp cận và tương tác hiệu quả với đối tượng mục tiêu, có thể kích hoạt và thống kê không gian ảo hashtag trong chiến dịch marketing và giao dịch trên nhiều mạng xã hội cùng một lúc.   Cũng hướng đến lĩnh vực kinh doanh, BraveBits có hiSella, phần mềm dịch vụ nhằm giúp các chủ shop trên mạng xã hội Facebook tăng hiệu qua kinh doanh bằng việc cung cấp một website giới thiệu sản phẩm và bộ công cụ hỗ trợ.   Liên quan đến mở rộng khả năng giao tiếp cá nhân, sản phẩm của Younet là SocialHeat, hệ thống web trên nền tảng điện toán đám mây có chức năng theo dõi, thống kê và phân tích tự động những trao đổi thảo luận mang tính công khai của người dùng Internet trên mạng xã hội và các trang web khác, nhằm phân tích và đưa ra đánh giá, thông tin hữu ích.  Tương tự, Umbala có phần mềm mobile app cho phép người dùng tạo ra những video có độ dài 12 giây, thêm vào các hiệu ứng đặc biệt và chia sẻ lên các mạng xã hôi phổ biến hiện nay…     Theo điều lệ, bốn nhà chiến thắng Chomp, BraveBits, Younet và Umbala sẽ có một chuyến tham quan và học hỏi kinh nghiệm tại Israel, quốc gia khởi nghiệp hàng đầu thế giới vào tháng 12 tới. Tại đây, họ sẽ được tham gia gặp gỡ, kết nối với các đối tác hoạt động trong cùng lĩnh vực của Israel, thậm chí có thể mở ra những hướng hợp tác trong tương lai giữa hai bên. Đó cũng là kỳ vọng của các nhà tổ chức, gồm Đại sứ quán Israel tại Việt Nam, Bộ KH&CN và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kêu gọi xem xét lại về cơ sở hạ tầng để đáp ứng mục tiêu net-zero      Theo báo cáo mới đây của Đại học Princeton và Worley, các chính phủ buộc phải đầu tư và tiến hành phá bỏ những rào cản trước đây đối với việc triển khai các công nghệ mới nổi hiện có nếu thế giới chuyển sang trạng thái net-zero vào giữa thế kỷ này. Thực hiện được điều đó cũng đồng nghĩa với việc thay đổi luật pháp cho phép các quốc gia hiện đang cấm sử dụng năng lượng hạt nhân xem xét sử dụng lại như một phần trong hỗn hợp năng lượng.    Ấn phẩm “Từ Tham vọng đến Hiện thực 2: Đo lường sự thay đổi trong cuộc chạy đua để mức phát thải net-zero” là nghiên cứu thứ hai trong loạt bài của Trung tâm Năng lượng và Môi trường Andlinger đến từ Đại học Princeton và công ty giải pháp kỹ thuật toàn cầu có trụ sở chính tại Úc. Báo cáo xem xét chi tiết năm “sự thay đổi” chính trong phân phối cơ sở hạ tầng cần thiết để đạt được mục tiêu net-zero giữa thế kỷ đã được nêu trong báo cáo đầu tiên của sự hợp tác là: nâng cao giá trị, cho phép các tùy chọn, tiêu chuẩn hóa, tạo quan hệ đối tác và tăng cường kỹ thuật số.    Báo cáo mới đề xuất mười lăm “chỉ số thay đổi” hàng đầu bằng cách mô tả các dự án phát triển cơ sở hạ tầng có thể mở rộng nhanh chóng và hoạt động như thế nào cũng như sử dụng để đánh giá “vị trí của chúng ta đồng thời cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc và tự tin để điều chỉnh lộ trình”. Đại học Princeton có kế hoạch thực hiện một cuộc khảo sát hàng năm để theo dõi các chỉ số này từ năm 2023-2030. Theo các tác giả, điều này sẽ giúp dự đoán liệu thế giới có đang chuyển phương pháp phân phối cơ sở hạ tầng sang trạng thái “sẵn sàng cho net-zero” hay không và nếu không sẽ cho phép thay đổi hướng đi nếu cần.    Trong khi báo cáo đầu tiên trong loạt bài tập trung lấy Hoa Kỳ làm đối tượng nghiên cứu điển hình, thì báo cáo mới đây lại chuyển hướng nghiên cứu về Úc và mô phỏng các tình huống tương tự. Mặc dù Úc là nền kinh tế năng lượng nhỏ hơn nhiều so với Hoa Kỳ, các lựa chọn net-zero có sẵn cho Úc đòi hỏi một cách tiếp cận khác bởi đây là một quốc gia cằn cỗi với nguồn tài nguyên sinh khối hạn chế; đồng thời luật pháp Úc không cho phép năng lượng hạt nhân. Vì vậy không giống như ở nghiên cứu trước đây, những điều này không được áp dụng trong các kịch bản của Úc.    Báo cáo lưu ý rằng quá trình khử cacbon đòi hỏi Úc phải có thêm nhiều nhà máy tái tạo so với hiện nay vào năm 2050 cũng như tăng thêm 1 gigatonnect hấp thụ CO2; và để đạt được những con số như vậy: “Chúng ta phải suy nghĩ lại về cách xây dựng cơ sở hạ tầng”.    Úc có cùng câu chuyện tương tự với nhiều quốc gia khác và từ đó dẫn đến cùng một kết luận: chúng ta phải thay đổi hệ thống năng lượng toàn cầu với tốc độ chưa từng thấy trước đây. Các giả định và con số có thể thay đổi, nhu cầu về xuất khẩu năng lượng của Úc có thể tăng lên, nhu cầu thu nhận các-bon của các nhà nhập khẩu có thể giảm, hoặc Úc phải thay đổi quan điểm của mình về năng lượng hạt nhân.    Mặc dù là nhà sản xuất và xuất khẩu uranium lớn để làm nhiên liệu hạt nhân, nhưng việc sử dụng năng lượng hạt nhân ở Úc hiện đang bị cấm bởi luật liên bang và cấp tiểu bang. Các chính phủ vẫn duy trì lệnh cấm này bất chấp một cuộc điều tra liên bang vào năm 2019 đã khuyến nghị dỡ bỏ một phần các lệnh cấm hiện tại để cho phép triển khai các công nghệ mới mới nổi như lò phản ứng mô-đun nhỏ; tuy nhiên cuộc tranh luận công khai và chính trị về việc sử dụng công nghệ này vẫn tiếp tục diễn ra.    Trần Thiện Phương Anh/VINATOM  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/bao-cao-nghien-cuu-keu-goi-xem-xet-lai-ve-co-so-ha-tang-de-dap-ung-muc-tieu-net-zero/      Author                .        
__label__tiasang Kevin Esvelt: “Sự cảnh báo CRISPR”      Kevin Esvelt là nhà sinh vật học tài năng mới nổi, đặt những vấn đề đạo đức về chỉnh sửa gien trước khi diễn ra các nghiên cứu thực nghiệm.      Chuyến đi đến quần đảo Galapagos ở tuổi lên 10 đã khuấy động khao khát của Kevin Esvelt cho việc chỉnh sửa lại quá trình tiến hóa. Khi đứng sững sờ trước những con cự đà, chim và sự đa dạng tuyệt đối của nơi truyền cảm hứng cho Charles Darwin, Esvelt đã thề nguyện phải hiểu rõ quá trình tiến hóa – và hoàn thiện nó. “Tôi đã muốn biết nhiều hơn về cách những sinh vật này tiến hóa. Và thẳng thắn thì, tôi muốn tự mình làm được nhiều hơn thế”, anh nhớ lại.  Hiện giờ, Esvelt vẫn là một nhà sinh học non trẻ. Gần một năm trước, sau khi khởi động phòng thí nghiệm của mình ở Phòng thí nghiệm Truyền thông, Viện Công nghệ Massachusetts, anh đã tạo nên danh tiếng như một trong những người tiên phong về một kĩ thuật gây tranh cãi được gọi là chỉnh sửa gen. Phương pháp của anh sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gien CRISPR-Cas9 để phá vỡ quá trình tiến hóa, buộc một gien phải lan nhanh chóng qua một quần thể. Nó có thể được sử dụng để tiêu diệt những bệnh do muỗi truyền như sốt rét hay tiêu diệt những loài xâm lấn nhưng cũng có thể đặt ra những phản ứng ngoài dự tính của chuỗi sinh thái, hoặc được sử dụng để tạo ra vũ khí sinh học.  Ý tưởng chỉnh sửa gien CRISPR đến với Esvelt khi anh đang chỉnh sửa enzyme Cas9 vào năm 2013. “Tôi đã có một ngày vui sướng ngây ngất: đây là thứ sẽ giúp chúng ta loại bỏ bệnh sốt rét”, Esvelt nói. “Và sau đó tôi đã nghĩ, “Chờ đã””.  Theo luồng suy nghĩ đó, Esvelt đã hành động để đảm bảo rằng những vấn đề đạo đức được đưa ra trước các nghiên cứu thực nghiệm. Lần đầu ông thăm dò vào năm 2014, kêu gọi một cuộc thảo luận công khai về chỉnh sửa gien thậm chí trước khi anh chứng minh rằng việc chỉnh sửa gien CRISPR–Cas9 có thể có kết quả. Kể từ đó, anh và các đồng nghiệp đã công bố làm cách nào việc chỉnh sửa gien có thể được tiến hành an toàn hơn, và chúng có thể bị đảo ngược như thế nào.  Năm 2016, cuộc vận động của anh đã bắt đầu cho kết quả. Các nhà nghiên cứu và những nhà hoạch định chính sách trên thế giới đã thảo luận về công nghệ này và một báo cáo từ Viện Hàn lâm Khoa học, Kĩ thuật và Y học quốc gia Hoa Kỳ đã đề xuất rằng có thể tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật chỉnh sửa gien nhưng cần thận trọng. Omar Akbari, một nhà nghiên cứu về chỉnh sửa gien tại Đại học California, Riverside, tin rằng quá trình tiếp cận của Esvelt tập trung vào sự chú ý của công chúng – và thu hút hỗ trợ tài chính – về một công nghệ mới đúng thời điểm. “Tôi đánh giá cao điều đó ở Kevin. Một nhà khoa học không dễ gì làm được điều mà anh ấy đã làm”, ông nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng lạm phát cao vẫn tiềm ẩn trong năm 2014      Cục Quản lý giá nhận định, năm 2014 vẫn tiềm  ẩn nhiều khả năng lạm phát tăng cao do tác động theo độ trễ của những  chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013, cùng với đó là  tình hình thiên tai, bão lũ, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi.    Nhận định này được đưa ra tại hội thảo “Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam năm 2013 và dự báo 2014” do Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) phối hợp với Viện Kinh tế Tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức ngày 30/12.  Theo Tiến sỹ Vũ Đình Ánh, sang năm 2014, diễn biến thị trường giá cả một mặt vẫn chịu sự tác động bởi các chính sách quản lý thị trường giá cả truyền thống cũng như xu thế tăng chậm của tổng cầu đầu tư và tiêu dùng.  Mặt khác, lại chịu sự ảnh hưởng của các chính sách nới lỏng tài khóa như tăng thâm hụt ngân sách nhà nước lên 5,3% GDP, đồng thời phát hành thêm 170.000 tỷ đồng trái phiếu đầu tư giai đoạn 2011-2015.  Thêm vào đó, nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường và cố gắng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể buộc dòng tiền vận động nhanh hơn với quy mô lớn hơn khiến áp lực lạm phát tăng lên.  Đồng quan điểm này, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cũng cho rằng trong năm 2014, những khó khăn thách thức của nền kinh tế về cơ bản vẫn còn, kinh tế thế giới dự báo vẫn còn nhiều khó khăn.  Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang trong tầm kiểm soát, sức mua yếu nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng giá.  Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng 11/2013; tăng 6,04% so với tháng 12/2012 và chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với năm 2012.  Đây là mức tăng thấp nhất ở Việt Nam trong 10 năm qua (2004-2013).  Diễn giả Phạm Minh Thụy, Viện kinh tế-Tài chính (Bộ Tài chính) nhận định, diễn biến giá cả trong năm 2013 cho thấy CPI đã phá vỡ xu hướng biến động giá có tính quy luật là “hai năm nhanh, một năm chậm” đã hình thành ở nước ta trong chín năm trước đó (2004-2012).  Điều này thể hiện sự điều hành, can thiệp của Chính phủ vào thị trường, giá cả ở Việt Nam đã chủ động, có liều lượng và bài bản hơn.  “Do vậy giá cả không còn bị ‘nhảy múa’ giữa hai thái cực (tăng nhanh rồi lại chậm, rồi lại nhanh như chín năm trước đó)”, ông Phạm Minh Thụy khẳng định.  Diễn giả Phạm Minh Thụy cũng nhấn mạnh, diễn biến giá cả khá ổn định của năm 2013 cho thấy đây là “cơ hội tốt” để Chính phủ thực hiện điều chỉnh giá các mặt hàng này theo cơ chế thị trường mà vẫn đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát đã đề ra.  Tuy nhiên, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều, lượng và phân phối một cách hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trên thị trường và tác động xấu tới đời sống người dân.  Ngoài ra, giá nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu (xăng dầu, phân bón, phôi thép…) trên thị trường thế giới biến động phức tạp, vì vậy, giá các mặt hàng này ở Việt Nam sẽ biến động theo hướng đó.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/kha-nang-lam-phat-cao-van-tiem-an-trong-nam-2014/237502.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng tái tạo của sụn khớp      Quá trình tự hủy hoại của sụn khớp gây thoái hóa khớp. Cho đến nay người ta đều biết mọi hoạt động thường làm trầm trọng thêm các triệu chứng. Tuy nhiên hiện nay xuất hiện hy vọng mới vì các bác sĩ đã đánh giá thấp khả năng tái tạo của sụn.    Con voi không hề bị đau nhức xương khớp khi sinh sống trong tự nhiên, cho dù các khớp xương của chúng phải chịu sức nặng từ 5 đến 7 tấn trong nhiều thập kỷ. Trong điều kiện nuôi nhốt mọi sự lại thay đổi. Voi bị bệnh khớp không phải là hiếm trong điều kiện nuôi nhốt. Có nhiều nguyên nhân voi nuôi hay bị bệnh khớp, do sàn bê tông cứng, nhưng chủ yếu là do thiếu vận động. Một số động vật trong vườn thú cũng bị thừa cân.  Hiện tượng trên cũng thường thấy ở con người. Một nửa số phụ nữ và một phần ba nam giới đều bị thoái hóa khớp khi đến tuổi nghỉ hưu. Nguyên nhân chính là do thừa cân và ít vận động (lười tập thể dục). Đấy là lý do vì sao có người đến tuổi 80 vẫn chạy marathon, trong khi một số người khác ít tuổi hơn đã phải dùng khớp nhân tạo.  Người ta biết chắc chắn bệnh bắt đầu từ tổn thương mô sụn ở khớp. Nhưng điều này diễn ra như thế nào? Có phải sụn bị mòn trong suốt thời gian ít vận động hoặc do bị chịu lực quá mức? Thomas Pap, Giám đốc Viện Y học Cơ xương tại Đại học Münster cho biết: “Sụn không giống như lốp ô tô sẽ bị bào mòn với thời gian”.  Ngày nay người ta đã biết sự bào mòn ở các khớp không phải là tất yếu, sớm muộn gì cũng xảy ra đối với mọi người. Nguyên nhân của viêm xương khớp phức tạp hơn so với suy nghĩ trước đây. Điều này phức tạp đến mức, theo nhà khoa học Pap thì ngay cả khoa học cũng chưa tìm ra đầy đủ các nguyên nhân. Phải chăng ở đây có tác động tổng hợp của sự quá tải, có vấn đề về gen và enzyme. Cũng do còn có sự thiếu hiểu biết này nên cho đến nay chưa tìm ra các loại thuốc điều trị thích hợp.  Cách đây 15 năm, các bác sĩ X-quang Hoa Kỳ đã có đóng góp lớn cho sự hiểu biết mới về sụn. Họ yêu cầu bảy người tham gia cuộc thi marathon Boston chụp cắt lớp cộng hưởng từ. Qua đó họ có thể chỉ ra rằng ngay sau một lần chạy 42 km cũng khiến lớp phủ trên bề mặt khớp co lại. Nhưng một tuần sau, khối lượng sụn lại tăng lên và sau sáu tuần, nó trở lại trạng thái ban đầu. Điều này có nghĩa là sụn có khả năng tái tạo.  Những vận động viên chạy nghiệp dư không phải lo lắng về khớp của họ. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu không phát hiện sở thích của họ có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh viêm xương khớp. Đối với các môn thể thao khác cũng tương tự, như môn xe đạp. Cách giải thích khác là: Các cơ và dây chằng do được tôi luyện nên có khả năng hấp thụ nhiều tải trọng hơn.  Johannes Flechtenmacher, Chủ tịch Hiệp hội các bác sĩ chỉnh hình và bác sĩ phẫu thuật chấn thương, cho biết sụn không chỉ có thể chịu đựng tốt khi chơi thể thao mà thậm chí người ta còn phụ thuộc vào nó. Do thiếu nguồn cung cấp máu của chính chúng, các tế bào lấy chất dinh dưỡng từ chất lỏng của dịch khớp. Sự xen kẽ giữa chịu tải lớn và không tải giúp cho tế bào hấp thụ chất dinh dưỡng rồi lại nhả ra.  Nhưng tất cả đều có giới hạn. Các vận động viên chuyên nghiệp có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của khớp vì họ thường không có thời gian hồi phục cần thiết. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với những vận động viên nghiệp dư, coi nhẹ những lời cảnh báo của sụn cũng như các cơn đau khớp. Càng lớn tuổi, bạn càng nên cẩn thận, bởi theo năm tháng, các mô ngày càng mất khả năng phục hồi. Đây là nguyên nhân chính khiến thoái hóa khớp chủ yếu ảnh hưởng đến người cao tuổi.  Các vận động viên bóng đá, quần vợt và các vận động viên khác các khớp bị khai thác tối đa cũng dễ có vấn đề với xương khớp.  Khớp gối dễ bị tổn thương nhất, như đứt dây chằng chéo hoặc rách sụn chêm. Andreas Imhoff, Trưởng khoa Chỉnh hình Thể thao tại Đại học Kỹ thuật Munich cho biết, sụn chêm là bộ phận đệm không thể thiếu trong khớp gối. Nếu nó không còn ở đó, áp lực được phân phối không đều trên các bề mặt khớp.  Viêm xương khớp không chỉ là một căn bệnh  Theo bác sĩ Pap, ngoài chấn thương và gắng sức quá mức, còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến các vấn đề về xương khớp, đó là thừa cân và chân vòng kiềng, dị tật bẩm sinh, viêm nhiễm và cuối cùng là những gen bất lợi.  Các vấn đề về xương khớp cũng rất đa dạng: căn bệnh này trước đây được coi là một căn bệnh đơn lẻ nhưng thực ra nó là một tập hợp của nhiều căn bệnh. Viêm xương khớp là một thuật ngữ chung, không phải là một chẩn đoán chính xác. Các căn bệnh này đều có một điểm chung, đó là kích hoạt quá trình tự hủy hoại trong sụn. Các tế bào sụn thoát ra các chất truyền tin gây viêm và các enzym tích cực mà chúng sử dụng để tiêu hóa các mô ở xung quanh. Tình trạng viêm lan đến màng hoạt dịch và các xương lân cận cũng phản ứng và bắt đầu tái tạo. Thời kỳ đầu quá trình này không gây đau đớn. Mức độ nghiêm trọng và thời gian của các triệu chứng có thể khác nhau rất nhiều giữa con người với nhau.  Nếu một số yếu tố kích hoạt kết hợp với nhau, nguy cơ viêm xương khớp sẽ tăng theo cấp số nhân. Henning Madry, chủ tịch Nghiên cứu bệnh khớp tại Đại học Saarland mới đây đã chứng minh điều này qua nghiên cứu của ông. Vì chân vòng kiềng và đầu gối khuỳnh phân bố tải trọng trong khớp không đều nên thường dẫn đến thoái hóa khớp gối. Nếu người đó đồng thời còn bị thừa cân thì sụn sẽ bị mài mòn nhiều hơn đáng kể.  Những người thừa cân quá nhiều thường có nguy cơ bị bệnh thoái hóa khớp gối. Những người béo phì có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 8 lần so với người bình thường.  Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như béo phì và dị tật phụ thuộc vào gen. 60% những người bị hao mòn hông là do di truyền. Henning Madry tin rằng sự biến dạng bẩm sinh của bề mặt khớp thúc đẩy quá trình viêm xương khớp. Nếu các bề mặt sụn không khít hoàn toàn với nhau, chắc chắn sẽ dẫn đến bào mòn. Thomas Pap giả định rằng vật liệu di truyền làm thay đổi thành phần của sụn, do đó cũng làm thay đổi khả năng tái tạo của khớp.  Cho đến nay, tất cả các nỗ lực để tìm ra một biện pháp khắc phục đều thất bại. Lựa chọn điều trị tốt nhất vẫn là can thiệp sớm và ngăn chặn quá trình tự hủy hoại thông qua các hoạt chất tăng cường khả năng tái tạo của sụn, hoặc phương pháp điều trị nhằm vào các yếu tố nguy cơ như béo phì hoặc dị tật.  Chuyên gia Madry khuyên bạn nên lắng nghe đầu gối của mình khi tập thể dục và không tăng cân quá nhiều. “Nếu bạn có may mắn không bị thương, thì bạn có thể chỉ bị viêm xương khớp nhẹ khi bạn đến tuổi 80 tuổi, điều đó là bình thường. Vấn đề là con người ta ý thức được về bệnh tật của mình và biết cách đề phòng ngay từ sớm.”   Xuân Hoài  tổng hợp  Nguồn: https://www.aponet.de/artikel/arthrose-nicht-als-schicksal-sehen-21493  https://www.welt.de/wissenschaft/plus219171476/Arthrose-Operationen-Medikamente-Vorbeugen-was-hilft.html?source=puerto-reco-2_ABC-V18.0.B_test    Author                .        
__label__tiasang Khắc phục những bất thường trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc      Những bước leo thang liên tục của Trung Quốc trong các hành động xâm phạm chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế của nước ta ở biển Đông, đồng thời tăng cường tấn công trên các tuyến ngoại giao, truyền thông, pháp lý… cho thấy Trung Quốc đi tiếp những bước khác để thực hiện bằng được dã tâm chiếm đoạt biển Đông trong mưu đồ chiến lược trở thành cường quốc biển. Và một trong những bước đó rất có thể là về kinh tế.      Trung Quốc thừa biết quan hệ kinh tế giữa ta với họ có tầm quan trọng như thế nào đối với đời sống kinh tế của nước ta, cũng thừa biết ta đang gặp những khó khăn lớn trong quá trình phát triển kinh tế, nên rất có thể mở tiếp mũi tấn công trên mặt trận này hòng làm suy giảm sức kháng cự và nhụt ý chí bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam. Đừng nghĩ Trung Quốc không dám làm vì họ cũng sẽ bị tổn hại nếu gây khó cho Việt Nam về kinh tế, bởi thực tế Việt Nam chỉ là một thị trường nhỏ đối với họ và tổn hại về phía họ nếu có cũng chỉ nhỏ bé so với sức mạnh kinh tế của họ. Họ sẽ tránh không đụng đến các công ty đa quốc gia đang tiến hành đầu tư và kinh doanh trong khu vực, trong đó cả Trung Quốc và Việt Nam đều nằm trong dây chuyền sản xuất hay chuỗi cung ứng của các công ty này, nhưng họ sẽ không nương tay với các công ty, các nhà sản xuất, kể cả nông dân Việt Nam đang làm ăn với họ. Cũng đừng nghĩ họ sẽ sợ vi phạm các cam kết quốc tế như WTO, FTA ASEAN-Trung Quốc, bởi họ đâu có ngại vi phạm Công ước quốc tế về Luật Biển và mọi qui tắc quan hệ quốc tế khác khi đưa ra đường lưỡi bò, khi xâm phạm chủ quyền của Philippines, Việt Nam trên biển!  Quan hệ kinh tế giữa nước ta với Trung Quốc trong khoảng gần 10 năm trở lại đây tăng lên nhanh chóng theo đà phát triển kinh tế và hội nhập khu vực và quốc tế của cả hai nước. Bên cạnh những mặt tích cực, thì những mặt tiêu cực, bất lợi cho ta trong quan hệ đó đã lộ ra ngày càng nhiều hơn, nặng nề và phức tạp hơn. Trong mấy năm gần đây, nhiều mặt tiêu cực thậm chí trở nên nghiêm trọng, gay gắt, khó kiểm soát, gây nên những tác hại lớn cho nền kinh tế nước ta. Những mặt tiêu cực có thể nhìn thấy trong hầu như mọi hoạt động kinh tế của Trung Quốc ở nước ta, rõ và lớn nhất trong các lĩnh vực: khai thác tài nguyên, thực hiện các dự án Trung Quốc làm tổng thầu và xuất nhập khẩu.   Trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, một khối lượng rất lớn tài nguyên khoáng sản của nước ta đã bị khai thác và xuất thô sang Trung Quốc, không mang lại thu nhập cho ta bao nhiêu nhưng bỏ lại đằng sau những khu mỏ bị tàn phá, ô nhiễm nặng nề. Rồi người Trung Quốc thuê đất trồng rừng, thuê mặt nước, thuê mặt bằng sản xuất, kinh doanh… dưới nhiều dạng, ở nhiều tỉnh, kể cả ở những địa điểm rất nhạy cảm về an ninh, quốc phòng. Thời hạn cho thuê thì dài, diện tích cho thuê thì rộng, quản lý của phía ta thì yếu, chẳng biết họ làm được những gì có lợi cho ta trên những diện tích đó. Chỉ biết nguồn tài nguyên quý giá của nước ta cứ chảy sang nước họ, còn người dân bản địa thì ngơ ngác nhìn những cánh rừng thiên nhiên mất đi, những dòng sông, con suối khô cạn dần và mảnh đất canh tác của mình teo tóp lại.   Trong lĩnh vực tổng thầu, các nhà thầu Trung Quốc thắng đến 90% số dự án lớn và quan trọng, chủ yếu nhờ thủ thuật bỏ giá thầu thấp và “đi đêm”. Thắng thầu, họ đưa tất tật mọi thứ từ Trung Quốc sang, kể cả lao động giản đơn, thiết lập những làng, phố Trung Hoa trên đất của ta. Rồi rất nhiều công trình bị kéo dài thời gian so với cam kết, để có cớ đẩy giá lên, khiến rút cuộc phần lớn dự án bị đội giá lên gấp rưỡi, gấp đôi so với giá bỏ thầu. Có những dự án sau khi hoàn thành thì hỏng tới hỏng lui, mỗi lần hỏng ta lại phải bỏ tiền mời chuyên gia của họ sang, mua các bộ phận thay thế… Với tổng thầu của Trung Quốc, Việt Nam mất cơ hội tiếp cận các nhà thầu quốc tế có thiết bị, công nghệ tiên tiến hơn mà giá cuối cùng lại rẻ hơn Trung Quốc; các doanh nghiệp Việt Nam mất cơ hội cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phụ thầu và học hỏi ở đối tác; lao động Việt Nam mất cơ hội việc làm. Nguồn ngân sách nhà nước hoặc vốn vay ODA cho các dự án rút cục không tạo được bao nhiêu cơ hội thị trường hay thu nhập cho người Việt, doanh nghiệp Việt, mà chủ yếu chỉ tạo cho Trung Quốc cơ hội thu nhập và chèn lấn Việt Nam ngay trên đất Việt!  Trong hoạt động xuất nhập khẩu, đến nay Trung Quốc chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại, 25% nhập khẩu, 10% xuất khẩu của Việt Nam. Khoảng 70% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng công nghiệp phụ trợ và máy móc thiết bị; nông nghiệp thì nhập cây-con giống, phân bón, thức ăn gia súc… Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là sản phẩm thô, như khoáng sản, gạo, cao su, trái cây, thủy sản…, một số loại hàng tiêu dùng, ngoài ra có các sản phẩm trung gian chủ yếu do khối FDI xuất. Tình trạng thâm hụt trong thương mại của Việt Nam với Trung Quốc ngày càng nặng nề. Tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam đã lên tới mức 136% vào năm 2011, trở thành gánh nặng chính đối với cán cân thương mại của Việt Nam, và mọi cố gắng xuất siêu sang các thị trường khác cũng chủ yếu để bù đắp cho nhập siêu từ Trung Quốc. Lợi ích thương mại của Việt Nam do vậy rơi phần lớn vào tay Trung Quốc, kể cả trong xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới hoặc trong hoạt động của FDI ở Việt Nam.  Cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa Trung Quốc và Việt Nam thể hiện rõ tính chất “quan hệ Bắc-Nam”1 bất lợi cho Việt Nam, như GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản) đã không ít lần lên tiếng. Mặt khác, cơ cấu này duy trì quá lâu đã vừa chèn ép, vừa làm triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp Việt Nam, thậm chí cả FDI ở Việt Nam, trong việc đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ hay năng lực sản xuất các sản phẩm trung gian-phần năng động nhất và cũng là cơ hội lớn nhất cho các nước đang phát triển trong chuỗi giá trị toàn cầu ngày nay.  Bên cạnh những hoạt động chính thức, còn có biết bao hoạt động bất hợp pháp của thương lái, lao động và người Trung Quốc sống chui lủi ở các ngóc ngách trên khắp nước ta. Ngoài những thủ đoạn lừa lọc, gian lận, không ít hành vi của chúng còn mang tính chất phá hoại, như những sản phẩm quái gở chúng đứng ra mua, từ rễ các loại cây đến sừng móng trâu bò, cáp điện thoại… Buôn lậu qua biên giới cũng ngày càng lớn, đến mức thống kê thương mại do Trung Quốc và Việt Nam công bố chênh nhau tới 5 tỉ USD mỗi chiều!  Khó có thể nói hết những mặt tiêu cực do Trung Quốc gây ra trong quan hệ kinh tế với Việt Nam và tác hại của chúng. Nhưng điều quan trọng là ta cũng phải thấy phía Việt Nam có trách nhiệm lớn trong việc để xảy ra và kéo dài những mặt tiêu cực đó. Trong quan hệ kinh tế giữa nước ta với hàng trăm quốc gia trên thế giới, đây đó cũng có những mặt tiêu cực, bất lợi cho Việt Nam, nhưng không ở đâu mà những tiêu cực lại lớn, nghiêm trọng và “liên tục phát triển” như trong quan hệ với Trung Quốc. Nhìn tổng quát hơn, có thể thấy những điều rất không bình thường chỉ có trong quan hệ kinh tế giữa nước ta với Trung Quốc, mà trách nhiệm trước hết ở cấp vĩ mô.    Những điều rất không bình thường đó là: (1) Để quan hệ chính trị chi phối nhiều quyết định kinh tế hoặc các dự án quan trọng, trong đó hầu hết do Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước trực tiếp thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách hoặc vay ODA. (2) Các quyết định đầu tư, kinh doanh lớn bị phân tán; chuẩn mực, qui trình ra quyết định, trách nhiệm không công khai minh bạch; kỷ cương nhà nước, kỷ luật thị trường kém, hiệu lực quản lý thấp, hiệu quả thấp. (3) Tình trạng quan hệ bất bình đẳng, bị chèn ép, thua thiệt kéo dài nhưng phía Việt Nam không dám đấu tranh, không có hoặc không áp dụng các công cụ tự bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. (4) Để cho lợi ích nhóm, tham nhũng cài vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc, gây tổn hại lớn cho đất nước, nhưng không những không bị phanh phui, trừng trị mà thậm chí còn được che giấu, bảo vệ dưới danh nghĩa nào đó. (5) Người dân, nhất là đông đảo nông dân, doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng bị bỏ mặc, không được bảo vệ trước sự chèn lấn, lừa lọc, gian lận và đủ thứ sản phẩm độc hại của Trung Quốc. (6) Những phức tạp, nguy hại về quản lý nhà nước, an ninh kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng khó kể hết qua quan hệ kinh tế với Trung Quốc.  Ngay trong điều kiện bình thường thì những điều bất bình thường trên cũng phải khắc phục để quan hệ kinh tế giữa nước ta với Trung Quốc trở nên minh bạch, bình đẳng, cùng có lợi hơn như bao mối quan hệ kinh tế khác trên đời. Tình hình hiện nay càng thúc đẩy chúng ta phải tìm cho ra những nguyên nhân gốc rễ và khắc phục bằng được những điều bất bình thường đó, vừa trên tinh thần “chủ động ứng phó” với những sự gây hấn mới về kinh tế của Trung Quốc, vừa tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế lành mạnh của chính chúng ta trong tương lai.   ————-  1 Quan hệ thương mại giữa một nước phát triển với một nước kém phát triển, trong đó nước kém phát triển xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm thô sang nước phát triển, trong khi nước phát triển xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp sang nước kém phát triển.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai giảng Chương trình Đào tạo lãnh đạo trẻ ABG      Chương trình Đào tạo lãnh đạo trẻ ABG (Alpha  Beta Gamma Program) dành cho sinh viên năm cuối hoặc vừa tốt nghiệp sẽ khai giảng hôm 11/5 tới và dự kiến kéo dài 18 tháng với các buổi học chủ yếu được tổ&#160; chức vào cuối tuần.    Đây là khóa học phi lợi nhuận do ông Nguyễn Cảnh Bình, một doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực xuất bản, Giám đốc Trung tâm Hợp tác trí tuệ Việt Nam (Vietnam Intellectual Cooperation Center – VICC), sáng lập và làm giám đốc chương trình.   Những người được chọn tham gia ABG về cơ bản là những người có kiến thức, ham hiểu biết và có khả năng hành động. Tuy nhiên, ABG không chủ trương trang bị kiến thức mà mục tiêu chính của khóa học là giúp mỗi người có ý thức hơn về việc tìm hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam; tình hình kinh tế, chính trị đất nước; những xu thế, xu hướng lớn trên thế giới ảnh hưởng tới Việt Nam; các quốc gia khác trong khu vực đã phát triển như thế nào, những nhà lãnh đạo của họ đã làm gì để đạt được điều đó; chúng ta đang là kết quả của những quyết định, quyết sách, chính sách gì,… Phương châm của chương trình là giúp học viên phát huy tinh thần tự rèn luyện và không ngừng tích lũy kinh nghiệm để tạo nên những tố chất của một nhà lãnh đạo thực thụ, kiên trì với mục tiêu phát triển đất nước, dân tộc; Coi trọng tự trải nghiệm và lĩnh hội thực tiễn. Đi kèm là học các kỹ năng rèn luyện bảo vệ sức khỏe, ý chí nghị lực.   Khóa đầu sẽ có 18 học viên, tuổi từ 20 – 25 tuổi, là những người đã trải qua ba vòng thi, gồm các phần IQ, logic, kiến thức xã hội, viết luận. Chi phí đào tạo dự kiến vào khoảng 40 – 50 triệu/người, tuy nhiên học viên sẽ được hỗ trợ 50% đến 70%,… các học viên về cơ bản chỉ phải lo chi phí đi lại, ăn uống,… Giảng viên của chương trình là những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực mà các học viên học. Điều kiện để tốt nghiệp ABG là học viên phải thực thi, thực tế hóa được những ý tưởng, sáng kiến, phát kiến của chính mình.            …Hơn 8 năm qua, tôi đã có điều kiện  gặp gỡ và trao đổi với hàng chục ngàn bạn trẻ trên khắp mọi miền đất nước thông qua các hoạt động liên quan đến sách và các chương trình đào tạo, hội thảo với tư cách giảng viên, khách mời chuyên gia, cố vấn, giám khảo… Tôi nhận thấy trên đất nước ta, có nhiều bạn trẻ năng động, giàu ý chí và có tố chất lãnh đạo nhưng những tiềm năng này đa phần là không được phát triển tới mức cao nhất của họ do thiếu định hướng và không được hướng dẫn, đào tạo về lãnh đạo theo phương pháp khoa học, hiện đại. Các chương trình đào tạo lãnh đạo hiện nay đều dành cho những cá nhân muốn làm việc trong môi trường kinh doanh, muốn làm người quản lý, chủ doanh nghiệp. Quan trọng hơn, qua nhiều năm tìm hiểu và nghiên cứu về các nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới, tôi đúc kết được rằng độ tuổi từ 20 – 25 tuổi (chính là độ tuổi của các sinh viên năm cuối hoặc mới tốt nghiệp này) đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành nhân cách và phát huy những tố chất then chốt để trở thành một nhà lãnh đạo trong tương lai.               Trong hai năm qua tôi suy nghĩ về việc cần phải có một mô hình đào tạo lãnh đạo dành riêng cho đối tượng trên. Mô hình đó phải có sự khác biệt, mới mẻ và thực sự hữu ích, phải đưa được mục tiêu về ý chí, sức khỏe, đạo đức và trí tuệ lên hàng đầu để giúp những nhà lãnh đạo trẻ có tiềm năng xây dựng được tầm nhìn, tự khơi dậy niềm đam mê học hỏi và sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao cũng như tự rèn luyện khả năng thích nghi trong những hoàn cảnh khó khăn, thử thách…   (Trích Thư ngỏ của ông Nguyễn Cảnh Bình gửi các nhà lãnh đạo, doanh nhân thành đạt và những chuyên gia luôn tâm huyết xây dựng một thế hệ trẻ tài năng)                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai mạc Chợ công nghệ và thiết bị chuyên ngành sinh học Biotechmart 2016      Sáng ngày 30/11, tại Hà Nội, Biotechmart 2016 đã chính thức khai mạc, trưng bày trên 350 công nghệ, thiết bị và sản phẩm của 40 đơn vị gồm các viện, trường và doanh nghiệp.      TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Traphaco thăm gian trưng bày của Viện nghiên cứu và phát triển các hợp chất thiên nhiên (ĐH Bách khoa HN) và nghe giới thiệu về công nghệ cộ đặc nước quả tích hợp quá trình màng.  Tại lễ khai mạc, thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Việt Thanh đã nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ sinh học trong đời sống xã hội cũng như tiềm năng phát triển của nó tại Việt Nam. Ông cho rằng, Việt Nam có nhiều lợi thế về sản phẩm nông nghiệp nhưng chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh do việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học vẫn còn hạn chế. Để thúc đẩy hơn nữa vấn đề này, Bộ KH&CN tổ chức Biotechmart nhằm kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu với những sản phẩm nghiên cứu có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thực tế sản xuất với các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong ngành nông nghiệp. Không chỉ dừng ở đây, Bộ KH&CN còn tạo cơ hội cho các startup nông nghiệp có thể chào bán sản phẩm, kết nối với khách hàng. Nếu phát huy được hiệu quả này, thứ trưởng Trần Việt Thanh hy vọng, Biotechmart sẽ đóng vai trò làm tiền đề, mở ra cho những techmart chuyên ngành tiếp theo của Bộ KH&CN.  So với lần đầu tiên tổ chức vào năm 2014, Biotechmart 2016 vượt trội về số lượng các đơn vị đăng ký tham gia với số lượng gần gấp đôi (40 đơn vị, 350 công nghệ), gần một nửa trong số này là các viện nghiên cứu như Phòng thí nghiệm trọng điểm Enzyme và Protein (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN), Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Viện nghiên cứu và phát triển các hợp chất thiên nhiên (ĐH Bách khoa HN), Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế), Viện Thổ nhưỡng nông hóa (Bộ NN&PTNT)… với các sản phẩm từ các nghiên cứu về công nghệ chế biến sau thu hoạch, công nghệ sản xuất sinh phẩm phục vụ nuôi trồng thủy sản, giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường… Nhận xét về một số sản phẩm được trưng bày tại Biotechmart, bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Traphaco cho biết, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã có nhiều đổi mới trong nghiên cứu để làm ra những sản phẩm nghiên cứu có nhiều khả năng ứng dụng trong thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản, dược phẩm vốn là thế mạnh của Việt Nam. “Điều này rất quan trọng vì nó tạo cơ hội cho người sản xuất gia tăng giá trị sản phẩm của mình và không còn quá phụ thuộc vào mùa vụ”. Tuy nhiên bà cũng lưu ý, một số sản phẩm mà các nhà khoa học Việt Nam làm ra mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu ban đầu “chưa được tối ưu để tăng tuổi thọ của sản phẩm cũng như giảm chi phí đầu tư sản xuất nên chưa có sức cạnh tranh trên thị trường công nghệ”.  Ngay trong lễ khai mạc, hai hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được ký kết: Công ty công nghệ vi sinh và môi trường và công ty cổ phần Lebio với dây chuyền sản xuất chế phẩm vi sinh trị giá 1,08 tỷ đồng; công ty cổ phần Vi sinh ứng dụng và Trung tâm ứng dụng kỹ thuật môi trường (Vusta) với ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng chế phẩm vi sinh Emuniv trị giá 6,5 tỷ đồng.  Biotechmart diễn ra từ ngày 30/11 đến 2/12. Bên cạnh các hoạt động trưng bày sản phẩm còn có bốn hội thảo về ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực y dược, xử lý môi trường, công nghiệp chế biến thực phẩm và phát triển nông nghiệp sạch.     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Khái niệm cà phê mới của Trung Nguyên đặt nền tảng cho cộng đồng phát triển bền vững      Ngày 11-11 vừa qua, GS. Peter Timmer và Chủ tịch Tập đoàn Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ đã chia sẻ và cùng nhau đồng thuận về các khái niệm và hình mẫu một chiến lược phát triển kinh tế bền vững lấy nông nghiệp nông thôn làm nền tảng ở Việt Nam trước những biến đổi nhiều mặt của nền kinh tế thế giới từ sau khủng hoảng tài chính 2007-2008, trong đó, khủng hoảng về an ninh lương thực để lại tác động tâm lý và xã hội nặng nề.        Lá cờ nhân văn đảm bảo an ninh lương thực.  Vài năm gần đây, thế giới quan tâm hàng đầu tới an ninh lương thực bởi đây là vấn đề liên quan trực tiếp tới đảm bảo đời sống của người dân, đặc biệt các nhóm dễ tổn thương, và có hiệu ứng lan tỏa nhanh chóng trên diện rộng. Đối với Việt Nam, quốc gia sản xuất và xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới, đây vừa là thời điểm thể hiện trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế vừa là thời cơ giương cao ngọn cờ nhân văn, góp phần quan trọng vào việc  đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới.  Ý nghĩa nỗ lực của Việt Nam trong giải quyết bài toán an ninh lương thực toàn cầu không nằm ở sản lượng, hay giá trị xuất khẩu mà với việc xây dựng và phát triển thành công các hình mẫu sản xuất nông nghiệp xanh – năng suất cao, chất lượng sạch, không riêng với cà phê mà cả gạo, thủy sản… , Việt Nam có khả năng chuyển giao các mô hình này cho các quốc gia đang phát triển tại Nam Á, châu Phi, từ đó nâng cao năng lực sản xuất lương thực toàn cầu. Mô hình của Việt Nam cũng sẽ tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật, thành tựu công nghệ từ các nền nông nghiệp tiên tiến như Australia, New Zealand, Israel, Hoa Kỳ để tiếp tục hoàn thiện, hướng tới sản phẩm có giá trị gia tăng cao và rồi tiếp tục nhân rộng trong các nền kinh tế chuyển đổi.  Vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra với mô hình phát triển nông nghiệp xanh của Việt Nam là mức độ bền vững. Nếu chỉ thuần túy tăng sản lượng bằng cải tiến phương pháp để canh tác được nhiều vụ hơn trong năm, thì cũng đồng nghĩa với việc bòn rút nhiều hơn độ màu mỡ của đất. Và như vậy, nếu thiếu các biện pháp hoàn thổ, chăm sóc trở lại cho đất canh tác, sẽ dẫn tới hoang hóa đất canh tác, thành quả tăng trưởng thiếu bền vững, thậm chí, có thể nảy sinh các vấn đề trầm trọng hơn. Vì vậy trong hình mẫu kinh tế nông nghiệp xanh của Việt Nam cần nhấn mạnh vào nền tảng kinh tế/thương mại vững chắc. Lợi nhuận kinh tế/thương mại được tạo ra sẽ quay trở lại đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, cũng như nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập, lao động của cộng đồng bản địa. Nhờ đó, hiệu suất kinh tế-xã hội của hình mẫu tiếp tục được gia tăng. Tiến trình này trở thành những vòng lặp liên tục tiếp nối, duy trì tăng trưởng ổn định của mô hình.  Khu vực kinh tế nông nghiệp – trụ cột và động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.  Việt Nam đang tham gia ngày càng sâu rộng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp toàn cầu, có nhiều tiềm năng trở thành nhân vật chủ chốt trong vai trò đảm bảo an ninh lương thực cho thế giới. Trong tương lai, chiến lược nông nghiệp của Việt Nam không chỉ để giải quyết vấn đề tăng sản lượng lớn, tăng quy mô xuất khẩu mà quan trọng hơn, là phát triển nông nghiệp thành một ngành kinh tế chủ chốt, từ đó xây dựng nông nghiệp trở thành “quyền lực mềm”, ngọn cờ kinh tế, ngoại giao và môi trường trên trường quốc tế của Việt Nam.  Trong chiến lược phát triển kinh tế tổng thể, nông nghiệp là điểm bắt đầu để kích hoạt các khu vực phi nông nghiệp như công nghệ, tài chính, nghiên cứu-ứng dụng v.v.. Nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng không giới hạn trong không gian nông nghiệp mà cần tiếp tục lan truyền sang nhiều khu vực kinh tế quốc dân.  Với những giá trị cạnh tranh về truyền thống thành công trong đổi mới sản xuất nông nghiệp, về trình độ tay nghề và óc sáng tạo của 75% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam hội đủ điều kiện để khai phá con đường phát triển cho riêng mình.  Bắt đầu bằng việc học tập những bài học kinh nghiệm lịch sử từ và tiến hành các nghiên cứu khoa học xây dựng cơ sở lý luận, để triển khai xây dựng vùng Tây Nguyên thành hình mẫu kinh tế xanh, phát triển bền vững từ cộng đồng. Giá trị cốt lõi của hình mẫu phát triển này là ở chỗ đề cao tính nhân văn, và có khả năng nhân rộng không chỉ riêng cho Việt Nam mà cả các quốc gia đang phát triển tại châu Á, châu Phi.  Quan điểm trên hiện chưa chính thức trở thành chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. Nhưng theo GS Timmer, giờ đã là thời điểm chín muồi để vận động thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi kinh tế theo hướng lấy phát triển nông nghiệp, nông thôn làm nền tảng.  Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để xây dựng thành công hình mẫu phát triển kinh tế xanh – thuyết phục thế giới bằng thành tựu cụ thể và thu hút nguồn lực của thế giới  Việt Nam đang bước trên con đường thịnh vượng, và được thế giới đặc biệt chú ý tới như tấm gương cho các nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi. Trong 10 năm sắp tới để Việt Nam có thể đạt được nhiều thành tựu đáng kể hơn nữa, một trong những điều quan trọng là phải xây dựng thành công hình mẫu phát triển kinh tế xanh – thuyết phục thế giới bằng thành tựu cụ thể và thu hút nguồn lực của thế giới.  * Nền kinh tế nông nghiệp đặt nền móng trên thành tựu công nghệ và năng lực sáng tạo là mô hình lý tưởng.  Điều này Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ Israel. Trong năm 2011, Trung Nguyên sẽ tổ chức đoàn thăm quan của Việt Nam tới các trung tâm công nghệ và phát triển tư tưởng của Israel để học hỏi. Tuy nhiên, tính bền vững của mô hình chỉ được đảm bảo khi mô hình đó được thiết kế và vận hành bởi chính con người Việt Nam. Đó sẽ là một quá trình lâu dài đòi hỏi Việt Nam có một chiến lược tốt, một quyết tâm và kiên trì thực thi.  * Khái niệm mới về cà phê và kinh tế học cà phê.  Thế giới có hơn 2 tỷ người ưa chuộng và sử dụng cà phê mỗi ngày. Lực lượng đông đảo này thiếu những giá trị, tư tưởng và triết lý chung để gắn kết. Nói theo ngôn ngữ tôn giáo, cần một “giáo lý” cà phê đại đồng về tín ngưỡng, giới tính, đẳng cấp, quốc tịch… và đồng nhất ở hai giá trị cốt lõi: Cà phê là nguồn năng lượng mới của nền kinh tế tri thức sáng tạo;  Hoạt động sáng tạo của nhân loại, được thúc đẩy bởi năng lượng cà phê.  Cà phê trở thành biểu tượng của sự cân bằng và hài hòa, của quá trình phát triển bền vững. Cà phê cho tới ngày nay mới chỉ được thế giới nhìn nhận như một thứ đồ uống, một hàng hóa nông nghiệp. Sản phẩm cà phê mới sẽ trình bày cà phê với thế giới dưới góc độ văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng nhân văn và triết lý sống cao cả.  Trung Nguyên đã đi tiên phong trong nỗ lực chuẩn bị một địa điểm cụ thể để đón tiếp các “tín đồ” cà phê toàn cầu. Đó là Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột – thánh địa cà phê của thế giới. Trong nhiều năm, Trung Nguyên tích cực chuẩn bị cho dự án lớn này: Đá núi lửa được khai thác và tập hợp thành núi để xây dựng một biểu tượng, một Angkor Wat của tinh thần cà phê. Viện bảo tàng cà phê lớn nhất thế giới tại Đức đã được mua lại và chuyển về Việt Nam, đóng góp phần lõi của khu bảo tàng cà phê có quy mô lớn gấp năm lần. Không gian cà phê Buôn Ma Thuột còn là nơi cung cấp các dịch vụ nghỉ dưỡng sang trọng, chăm sóc và phục hồi sức khỏe bằng bí quyết thảo dược truyền thống. Nơi đây đầy ắp năng lượng sáng tạo cho các nhà khoa học, giới nghiên cứu và người làm nghệ thuật.  Thủ phủ cà phê Buôn Mê Thuột đặt giữa lòng cộng đồng sẽ thu hút thế giới đến Việt Nam để chứng kiến diễn trình phát triển của cà phê, từ gieo trồng, canh tác đến thu hoạch, chế biến, và cảm nhận những giá trị nhân văn, tinh thần ẩn chứa trong hương vị cà phê độc đáo.  Có thể khẳng định khái niệm mới về cà phê và kinh tế học cà phê thực sự có thể tạo ra một cuộc cách mạng trong quá trình chuyển đổi kinh tế nông nghiệp. (sau khi được nghe Tổng Giám đốc Đặng Lê Nguyên Vũ trình bày về khái niệm này, các vị giáo sư của trường Đại học Havard, đã đề nghị xây dựng “Cà phê học” thành một môn học chính thức trong chương trình đào tạo kinh tế và kinh doanh). Bắt đầu từ một loại cà phê có những phẩm chất đặc biệt, quá trình sáng tạo sẽ được kích hoạt. Những kết quả sáng tạo này sẽ quay trở lại phát triển sản xuất cà phê. Vòng lặp này cứ tiếp diễn và tiếp nối sẽ là một quá trình phát triển tích cực. Những thành tựu từ đó giúp cải tạo điều kiện sống và mang lại thịnh vượng lâu dài cho chính cộng đồng địa phương, nơi sản xuất cà phê.  Hình mẫu về khu sinh thái cà phê của Việt Nam  Công ty Cà phê Trung Nguyên đã đề xuất một dự án xây dựng 5.000 ha khu sinh thái cà phê đầu tiên trên vùng Tây Nguyên. Từ vận hành thành công, hình mẫu này sẽ được nhân rộng cho Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển, ứng dụng không chỉ riêng cho cà phê mà nhiều mặt hàng nông sản. Hạt nhân đảm bảo sự thành công và bền vững của hình mẫu này, cũng là điểm hấp dẫn của mô hình, nằm ở sức mạnh thương mại của cà phê. Những năm 1950, Ấn Độ từng đầu tư rất nhiều nguồn lực cho mô hình phát triển cộng đồng nhưng thiếu sự hỗ trợ của các kết quả nghiên cứu khoa học, không dựa trên căn cứ kinh tế nên đã thất bại.  Mô hình phát triển bền vững sinh thái cà phê của Việt Nam cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để viết nên “câu chuyện cà phê Việt Nam”. Công thức thành công gồm ba yếu tố: (i) nguồn nguyên liệu tốt nhất thế giới, (ii) công nghệ tốt nhất thế giới, và (iii) bí quyết riêng tạo ra khác biệt hoàn toàn. Bên cạnh đó, GS. Timmer bổ sung hai yếu tố mang lại giá trị và đẳng cấp khác biệt cho mô hình cà phê mới, thuyết phục cả thế giới. Đó là (iv) giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng bản địa trong sản phẩm, và (v) mô hình có khả năng đưa cộng đồng bản địa tham gia trực tiếp trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Liên kết và tập hợp nguồn lực toàn cầu. Xây dựng vùng thánh địa cà phê đòi hỏi không chỉ ý chí quyết tâm, lòng kiên trì, mà cả nguồn lực vô cùng lớn. Tuy nhiên, tập hợp nguồn lực không quá khó. Mỗi người trong 2 tỷ người yêu cà phê toàn cầu chỉ cần đóng góp 1 USD để làm hiện hữu một thiên đường cà phê. Khi cùng đóng góp và chia sẻ nguồn lực vì một mục tiêu chung, nhiều vấn đề xung đột về kinh tế, chính trị, tôn giáo, sắc tộc… sẽ tự động được hóa giải.  ***  GS. Peter Timmer đánh giá cà phê là hàng hóa nông nghiệp thích hợp nhất để Việt Nam khởi động quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp xanh và bền vững.  Sáng kiến hình mẫu phát triển cà phê sinh thái xanh khởi nguồn từ Việt Nam (chứ không phải Brazil, Mexico hay Costarica), vừa tự tạo ra tiềm lực kinh tế vừa là sức hút tập hợp nguồn lực quốc tế cho phát triển hình mẫu kinh tế xanh bền vững của Việt Nam. Qua những việc làm cụ thể của Trung Nguyên trên thực địa và bằng các ấn phẩm giới thiệu ý tưởng sáng tạo về mô hình phát triển cộng đồng bền vững khởi nguồn từ cà phê thương phẩm đặc biệt của Việt Nam với thế giới, ông tin tưởng thế giới sẽ cùng với Việt Nam hiện thực hóa hình mẫu này.  Ngay sau buổi tọa đàm, về Mỹ, GS Timmer đã họp với các thành viên của Bill & Melinda Gates Foundation để xây dựng định hướng nghiên cứu chiến lược An ninh lương thực cho các quốc gia đang chuyển đổi và các giải pháp giải quyết tình trạng tụt hậu ở các nước Nam Á và châu Phi, trong đó có đề cương dự án: “Hình mẫu Cà phê mới”- nền tảng phát triển bền vững của cộng đồng trên nền tảng của ý tưởng, mô hình thủ phủ cà phê toàn cầu của Trung Nguyên. Đề cương của dự án này đã được GS gửi tới ông Đặng Lê Nguyên Vũ.                                      GS. Timmer hiện là thành viên không thường trực của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (Center for Global Develoment – CGD).              Trước khi gia nhập CGD, GS. Timmer là Hiệu trưởng trường Quan hệ Quốc tế và Nghiên cứu Thái Bình Dương, thuộc Đại học San Diego; giáo sư tại các trường thuộc hệ thống Harvard, và Đại học Cornell và Stanford.              GS. Timmer là chuyên gia hàng đầu thế giới về kinh tế nông nghiệp và kinh tế phát triển với số lượng lớn đóng góp nghiên cứu khoa học và uy tín quốc tế thông qua các hoạt động cố vấn chính sách phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực cho chính phủ các quốc gia Đông và Đông Nam Á. Năm 1992, GS. Timmer nhận Huân chương Danh dự cao nhất (Bingtang Jasa Utama) của Cộng hòa Indonesia, tôn vinh những đóng góp của ông cho chính sách an ninh lương thực của quốc gia này.              GS. Timmer hiện đang cố vấn chiến lược hoạt động cho Bill & Melinda Gates Foundation trong hai lĩnh vực: phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực.              GS. Timmer yêu mến và quan hệ gần gũi với nông nghiệp Việt Nam. Trong lần tới thăm Việt Nam vào năm 2008, GS. Timmer gặp gỡ nhiều vị lãnh đạo nông nghiệp Việt Nam, các nhà nghiên cứu và quy hoạch chính sách đầu ngành. Đây là thời điểm thế giới đối diện với khủng hoảng lương thực, thị trường gạo Việt Nam đang có nhiều biến động. GS. Timmer khi đó đã nhận định giá gạo tuy đang tăng cao nhưng sẽ nhanh chóng đảo chiều. Sau đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thực hiện các điều chỉnh chính sách.              Nhận lời mời của Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ, GS. Timmer có kế hoạch tham dự Hội thảo Cà phê Quốc tế tổ chức vào tháng 3-2011 tại Tây Nguyên, trong khuôn khổ Lễ hội Cà phê hàng năm. Cùng với các cộng sự trong chương trình Sáng kiến Nghiên cứu Chính sách Lương thực và Nông nghiệp.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Khái quát về mô hình Business Accelerator (BA)      BA là hệ thống các doanh nghiệp đặc biệt, có khả năng sinh lời cao thông qua việc đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp (start up) có ý tưởng kinh doanh tốt.      Tạo ra các doanh nghiệp mới phát triển với tốc độ không ngừng    Hệ thống này bao gồm các doanh nhân (chủ yếu là từ Silicon Valley tại Mỹ) đã thành đạt trong việc tạo lập các doanh nghiệp, họ là những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, luật pháp, quản lý công nghệ, đầu tư… họ có nguyện vọng truyền đạt kinh nghiệm và cùng góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp start up. Ngoài ra, các doanh nhân này còn là cầu nối để các công ty start up tiếp cận với thị trường công nghệ của thế giới nói chung và với Silicon Valley của Mỹ nói riêng.  Với mục tiêu “hướng tới lợi nhuận và thị trường”, Accelerator đã được chứng minh là thành công lớn trong việc tạo ra các doanh nghiệp phát triển mới với tốc độ tăng trưởng không ngừng, minh chứng rõ ràng nhất là Thung lũng Silicon của nước Mỹ. Có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn doanh nghiệp khởi nghiệp được tạo ra mỗi năm, hàng chục tỷ Đô la Mỹ được các nhà đầu tư mạo hiểm từ khắp nơi trên thế giới đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp, đem lại cho nền kinh tế Mỹ một giá trị đáng kể, giải quyết hàng trăm nghìn việc làm hàng năm cho nước Mỹ.  Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà đầu tư, Accelerators đem lại thành quả là giảm bớt rủi ro bằng cách loại trừ rủi ro cho các mô hình kinh doanh và sản phẩm của doanh nghiệp khởi nghiệp dưới hình thức:  –    Chứng minh rằng doanh nghiệp có một sản phẩm thực sự hoạt động, và  –    Chứng minh rằng sản phẩm đáp ứng một nhu cầu thiết thực của người tiêu thụ và khách hàng sẽ thực sự mua chúng ở mức giá sẽ tạo ra lợi nhuận.      Accelerator tại Mỹ cho chúng ta thấy tỉ lệ thành công được tài trợ vốn sau khi kết thúc chương trình học là 50%-80% tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) thông thường tốt hơn so với các công ty đầu tư mạo hiểm. Chính vì sự thành công này, Accelerators đã trở thành một phương thức của chính phủ các bang và thành phố ở Mỹ sử dụng để thúc đẩy và hỗ trợ nhà đầu tư để thúc đẩy sự thành lập của các doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng mạnh.  Tạo cơ hội để mọi người thành công  Accelerator luôn tạo cho các doanh nhân cơ hội và toàn bộ hỗ trợ có thể để thành công. Tại đây, các doanh nhân khởi nghiệp không những được hướng dẫn, đánh giá về chuyên môn bởi các nhà khoa học mà còn được hỗ trợ tích cực từ các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư tài chính, thông thường đều là các cựu giám đốc điều hành trong các công ty thành công.  Áp dụng mô hình “Boot-Camp” (đây là một từ xuất phát từ huấn luyện tác chiến đầy khó khăn và thử thách cho các chiến binh đặc biệt như U.S. marines hay Army rangers), có thể tạm hiểu là nơi tập trung các nhà khoa học/ các doanh nhân khởi nghiệp để học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm “thực tế” trong một khoảng thời gian xác định để tìm ra những người “thắng” và “thua cuộc” một cách nhanh chóng và ít phí tổn.  Accelerators mang những sự hỗ trợ về vốn chủ sở hữu đến để thúc đẩy kinh tế, điều này cũng đồng nghĩa với việc song hành cùng Chính phủ thực hiện công việc thương mại hóa công nghệ, phát triển doanh nghiệp KH&CN, do đó sẽ giảm bớt gánh nặng về quản lý cho Chính phủ nhưng lại nâng cao được khả năng thành công cho các doanh nghiệp khởi nghiệp từ Accelerator, góp phần đặt tên tuổi Việt Nam vào danh mục đầu tư của các nhà đầu tư trên thế giới, đặc biệt là các nhà đầu tư mạo hiểm.  Accelerator hỗ trợ xây dựng một nền “văn hóa” doanh nhân, mà ở đó, các doanh nhân tự làm chủ được sản phẩm của họ, biết xây dựng những kế hoạch kinh doanh khả thi để thu hút vốn đầu tư và biết quản lý những gì mà họ đang sở hữu.   Ngoài ra, một lợi ích không thể không nhắc tới là Accerelator sẽ tạo ra các sản phẩm mới để phát triển kinh tế và tăng trưởng việc làm gần như ngay lập tức sau khi mô hình này được triển khai, vì thông thường các sản phẩm hướng tới thị trường sẽ là các sản phẩm thành công.  Thương mại hóa sản phẩm nhanh chóng  BA tập trung toàn bộ vào việc thương mại hóa các sản phẩm nhanh chóng để có thể đưa sản phẩm ra thị trường trong thời gian sớm nhất. Loại trừ/ giảm thiểu rủi ro sản phẩm/ công nghệ thông qua những đánh giá của các chuyên gia về tài chính và chuyên gia về KH&CN.  Hỗ trợ xây dựng mô hình và chiến lược kinh doanh, kể cả thiết kế sản xuất nhằm đạt được hiệu quả cao nhất cho từng sản phẩm/công nghệ.Hỗ trợ phát triển các mô hình tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp củng cố tài chính, phục vụ hoạt động thương mại hóa công nghệ.Hỗ trợ xây dựng và thực hiện chiến lược marketing và bán hàng đặc thù cho từng doanh nghiệp khởi nghiệp từ Accelerator.  Phát triển các thị trường quốc tế thông qua thu hút đầu tư mạo hiểm nước ngoài vào Việt Nam và thông qua công bố các công trình khoa học của Việt Nam ra báo chí nước ngoài.  1) Cách thức tiếp cận và đánh giá ý tưởng  Một chương trình Accelerator kéo dài vào khoảng 4 tháng. Trong thời gian này, Accelerator cung cấp cho các doanh nhân những sự cố vấn và hỗ trợ về tài chính mà một doanh nghiệp khởi nghiệp cần đến.  Các cựu CEO, các chuyên gia, các nhà công nghệ và các nhà đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư mạo hiểm. Số vốn này sẽ tùy theo nhu cầu của từng doanh nghiệp và ý thích của các nhà đầu tư. Vốn sẽ được dùng để tiếp tục và hoàn thiện hay sản xuất sản phẩm và thực hiện kế hoạch kinh doanh. Nên chú ý là trong Chương trình TMH CN Silicon, trước khi được nhận vào Accelerator, doanh nghiệp đã đi qua giai đoạn đào tạo và sau đó nhận được vốn ươm vào khoảng 10.000 USD. Vốn ươm này phần lớn sẽ bắt nguồn từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia hay chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm (sau đây viết tắt là Chương trình 592), một phần nhỏ vốn ươm này có thể do nhà đầu tư cung cấp…  Sự thành công dựa trên sự đảm bảo phát triển về vốn từ các nhà đầu tư và/ hoặc các đối tác kinh doanh vào thời điểm kết thúc chương trình 4 tháng. Những doanh nghiệp đó sẽ nhận được sự hỗ trợ cho giai đoạn tiếp theo để tiến hành việc thương mại hóa  Những đơn vị không ngay lập tức nhận được sự hỗ trợ cũng không thực sự thua cuộc vì họ có thể củng cố lại sản phẩm và hoạt động kinh doanh rồi tìm nhà đầu tư mới hoặc nhận được sự đào tạo cho lần sau.  2) Accelerator Boot Camp  Accelerator Boot Campbản chất là một nơi tập trung các doanh nghiệp khởi nghiệp để đào tạo, truyền kinh nghiệm, đánh giá phương hướng và hiệu quả kinh doanh nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp trước khi khởi nghiệp.   Những người tham gia hỗ trợ phần lớn là các cựu CEO, các chuyên gia về công nghệ và Marketing, các nhà đầu tư, tài chính doanh nghiệp, và những cố vấn về pháp lý sẽ làm việc với những doanh nghiệp khởi nghiệp trong từng bước của tiến trình.  Lấy mô hình từ vườn ươm doanh nhân của Mỹ, các doanh nhân của Mỹ có thể tham gia vào chương trình để hướng dẫn và “cầm tay chỉ việc” các doanh nhân thành viên trong Accelerator. Các CEO bản địa cũng tham gia để cung cấp các hiểu biết về thị trường, quy trình sản xuất tại địa phương. Ngoài ra, còn có các cố vấn dày kinh nghiệm từ cộng đồng đầu tư và các chuyên gia trong nước cung cấp các trang thiết bị cần thiết cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.  3) Các thủ pháp của Accelerator  (a)    Phát triển các Chương trình cá nhân mà đối tượng chính là các doanh nhân khởi nghiệp: Định giá các sản phẩm để đưa vào kinh doanh, phân công các cố vấn ít nhất 02 người cho mỗi start up, đặt ra những mốc phát triển quan trọng (mỗi tuần Boot Camp đều phải cho thấy được hiệu quả của nó) và xây dựng các nhóm doanh nhân để hỗ trợ lẫn nhau bất cứ lúc nào cần. Mỗi chương trình Accelerator dự trù sẽ có 15-25 doanh nhân, bao gồm 8-12 công nghệ khác nhau. Học viên họp hàng tuần để đảm bảo tất cả những người tham gia đều theo kịp được tiến độ của chương trình trong Boot Camp.  (b)    Phát triển các nhóm theo các hướng khác nhau nhằm tìm được các nhóm giỏi nhất. Hướng dẫn các doanh nhân khởi nghiệp phương pháp để thuê các nhân viên cộng sự hạng “A”, nghĩa là xuất sắc nhất cho doanh nghiệp. Hướng dẫn phương pháp để phát triển và quản lý các tổ chức doanh nghiệp  (c)    Marketing: Đưa ra khái niệm về phép thử nghiệm nhu cầu và thị trường giúp cho doanh nghiệp khởi nghiệp cách nhận diện những nhu cầu của khách hàng. Đồng thời đánh giá độ thỏa dụng của sản phẩm mà doanh nghiệp muốn đem vào thị trường, xác định những đề xuất giá trị khách hàng. Nghiêm túc đánh giá thị trường và gặp gỡ khách hàng, giúp các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của đầu ra cho sản phẩm của họ. Xác định độ lớn của thị trường, định vị thị trường và định giá thị trường, qua đó biết được sản phẩm của các doanh nghiệp khởi nghiệp đang nằm trong giai đoạn nào và tính hướng thị trường của sản phẩm.  (d)    Xây dựng chiến lược bán hàng và phân phối thông qua: Sự phát triển ban đầu của mạng lưới bán hàng nội địa mạng lưới bán hàng quốc tế mà Accelerator có thể mang lại: phát triển quảng bá ban đầu, huấn luyện kỹ năng bán hàng, họp nhóm và cách thức hỗ trợ cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp.  (e)    Phát triển sản phẩm từ cách tạo ra sản phẩm nguyên mẫu,  thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Accelerator đưa ra một quá trình thiết kế sản phẩm và chi tiết hóa sản phẩm kết hợp với một quá trình thử nghiệm thực địa. Accelerator luôn tìm kiếm cơ hội để tương tác với các trường đại học tại địa phương nhằm tìm ra được những nghiên cứu về công nghệ mới từ đối tượng là sinh viên, ngoài ra cũng cung cấp những kinh nghiệm thực tế cho các trường đại học trong việc kinh doanh và thương mại hóa các sản phẩm từ công nghệ.  (f)    Chiến lược sản xuất và bảo tồn chất lượng của sản phẩm qua phương thức “tự sản xuất” hay là “đặt hàng”. Thiết kế cơ sở sản xuất, tính toán phương thức sản xuất khả thi các bộ phận của sản phẩm tại trong nước, hay nhập khẩu từ nước ngoài.  (g)    Sở hữu trí tuệ và chiến lược phát triển: Tìm kiếm các bằng sáng chế có liên quan đến công nghệ của doanh nghiệp, để ấn định rằng công nghệ mà doanh nghiệp dùng để chế tạo sản phẩm chưa được cấp bằng sáng chế trong và ngoài nước Việt Nam. Xây dựng một chiến lược để bào tồn bằng sáng chế và phương thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua sự cố vấn của các chuyên gia pháp lý. Ứng dụng tối đa phương thức xin cấp bằng sáng chế và bản quyền để bảo tồn mức tối đa quyền sở hữu trí tuệ và bằng sáng chế.  (h)    Lập các kế hoạch tài chính: Sử dụng chuyên môn của các chuyên gia trong Accelerator, dự đoán và hỗ trợ doanh nhân khởi nghiệp thiết lập một mô hình tài chính phù hợp cho từng sản phẩm. Tối đa hóa dòng tiền cho doanh nghiệp khởi nghiệp, áp dụng nguyên tắc 5% để nâng cao mức lời. Hỗ trợ xây dựng các phần mềm kiểm tra và hạch toán kinh doanh. Xây dựng mối quan hệ với các ngân hàng trong nước và quốc tế, đem đến những hỗ trợ về tài chínhcần thiết cho doanh nghiệp khởi nghiệp của Accelerator. Xây dựng các kế hoạch tài chính dự phòng cùng các doanh nghiệp khởi nghiệp.  (i)    Phát triển khả năng trình bày và thuyết phục cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây được coi là một “công cụ” đắc lực giúp cho các doanh nghiệp có thể thu hút đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau. Xây dựng và chọn lọc cho bản kế hoạch kinh doanh vừa ý nhất theo công thức: 10 từ mô tả, 2 phút chuẩn bị, trình bày trong 10 đến 12 phút. Qua đó phát triển kỹ năng thuyết trình cho doanh nghiệp khởi nghiệp: phương thức thiết lập cuộc họp, xác định rõ những điều cần nói đối với các nhà đầu tư và cách để trình bày. Thực hành thuyết trình thường xuyên theo lịch của Aceelerator và nhóm hỗ trợ.  (j)    Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp các phương pháp quản trị rủi ro và xây dựng những kế hoạch dự phòng (thường được gọi là kế hoạch B, C và D)  (k)    Giới thiệu và hỗ trợ các doanh nghiệp trong Accelerator tham gia vào các diễn đàn vốn đầu tư mạo hiểm và triển lãm kinh doanh trên thế giới mà tại đó những người tham gia chương trình Accelerator có cơ hội giới thiệu, chứng minh sản phẩm của họ với một nhóm các nhà đầu tư mạo hiểm trong nước và quốc tế.   (l)    Sau mỗi chương trình Accelerator, các doanh nghiệp khởi nghiệp hoàn toàn được tự do theo đuổi các mục tiêu kinh doanh của họ như những thực thể độc lập, theo ý họ muốn.   (m)    Mỗi chương trình Accelerator đặt ra mục tiêu có từ 8 đến 10 doanh nghiệp được tài trợ trong trong tổng số từ 15-25 doanh nghiệp tham gia vào mỗi chương trình.  4) Chiến lược dài hạn của Accelerator  (a)    Mỗi Accelerator có xu hướng hoạt động từ 2 đến 3 chương trình mỗi năm. Mỗi chương trình kéo dài vào khoảng 4 tháng, như đã nói ở trên, nhắm vào hỗ trợ kinh doanh và đem lại tài trợ cho từ 15 đến 25 doanh nghiệp.  (b)        Các nhà quản lý Accelerator luôn mong muốn tạo ra một nhận thức mang tầm quốc gia nhằm kêu gọi sự quan tâm của toàn quốc về sự hỗ trợ của Chính phủ cho các doanh nghiệp thông qua các chương trình đào tạo, sự tài trợ cho các học viên thành đạt và sự thành công của các doanh nghiệp sau các chương trình Acclerator.  (c)        Xây dựng một “văn hóa doanh nhân” nhằm thu hút các nguồn vốn tư nhân để phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp đưa Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Khuyến khích, hỗ trợ hết sức để ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu tham gia vào chương trình.  (d)        Kết hợp với các trường đại học, học viện, chuyên gia trong và ngoài nước xây dựng các chương trình đào tạo trong kinh doanh công nghệ và quản lý, làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp bằng KH&CN.  (e)        Áp dụng kinh nghiệm của đại học Stanford để đào tạo ra những thạc sĩ về công nghệ tại Việt Nam.  Với chức năng nêu trên, hệ thống BA sẽ định hướng được thị trường công nghệ giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn đối tượng đầu tư hiệu quả, và cũng thông qua hệ thống BA mà phát triển được các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khoa học & công nghệ. Hay nói cách khác Hệ thống BA như một phin lọc các doanh nhân có ý tưởng đầu tư tốt và ươm tạo thành các doanh nghiệp khởi nghiệp có hiệu quả để các Quỹ đầu tư thông qua đó mà tài trợ vốn.  Như trên đã nói, BTIC tại tỉnh Bình Dương đã chứng minh tính vượt trội so với các vườn ươm hiện thời thông qua mạng lưới các cố vấn cao cấp từ Silicon Valley tại Mỹ. Chỉ tính riêng tháng 12/2012 đã thu hút sự quan tâm chú ý của hơn 700 doanh nghiệp công nghệ thông tin đến tiếp cận với mô hình này. Và đây chính là điểm khởi đầu cho một thị trường mới mở, thị trường cho những nhà đầu tư mạo hiểm tìm đến.  Điểm khác biệt của BTIC chính là các thành viên của ban cố vấn gồm những bậc thầy trong lĩnh vực công nghệ thông tin đến từ Silicon Valley. Như để minh chứng cho điều này, ở hội nghị BTIC 2012 vừa diễn ra ngày 20/11/2012, BTIC đã mời những tên tuổi hàng đầu trong ngành công nghệ thế giới như ông Ed Fries, cha đẻ dự án Xbox, Microsoft Excel, nguyên Phó Chủ tịch Tập đoàn Microsoft; bà Anne-Marie Roussel, Giám đốc phụ trách mảng Đối tác và Sáp nhập của Tập đoàn Sharp; ông Jerry Gramaglia, Chủ tịch Acxiom; ông Jamil Moledina, Nhà sáng lập của Funzio, nguyên Phó Chủ tịch Electronic Arts và Ông Nam Emotiv Systems BTIC Bình Dương, đến và chia sẽ những kinh nghiệm quý báu mà họ muốn truyền tải đến cộng đồng công nghệ và khởi nghiệp Việt Nam.  Vì vậy, kỳ vọng của BTIC là sẽ dần trở thành “cánh tay nối dài” của Silicon Valley thông qua các thành viên ban cố vấn nhằm hỗ trợ các công ty khởi nghiệp có thể tiếp cận được với những xu hướng công nghệ mới nhất của thế giới. Quan trọng hơn, các thành viên ban cố vấn với uy tín của mình sẽ giúp kết nối các công ty khởi nghiệp với các nhà đầu tư quốc tế cho các giai đoạn đầu tư và phát triển tiếp theo nhằm chuẩn bị hành lang pháp lý và tài chính vững chắc cho các thương vụ M&A và IPO trong 5-10 năm tới. “Facebook mất 8 năm để IPO. Tôi mong các công ty khởi nghiệp của Việt Nam sẽ làm được điều này sau 10 năm nữa”, CEO của BTIC kỳ vọng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai sáng ở Bhutan      Vương quốc Phật giáo nhỏ bé Bhutan đang cố hòa nhập với thế giới hiện đại, với một ý tưởng mới dẫn đường nhưng cố không đánh mất bản sắc của chính mình.      Brook Larmer  Âm hưởng đầu tiên vọng đến là những nốt nhạc nghi lễ cao vút, trong trẻo của kèn trumpet. Rồi kế đến là những Phật tử hành hương, họ xuất hiện và tất cả như bị hút về phía âm thanh. Ánh Mặt trời như trượt dài trên những ngọn núi lờ mờ xung quanh Thimphu, thủ đô Bhutan, vương quốc nằm trên dải Himalaya. Suốt theo chiều dài của đám đông hành hương, người ta thấy nhấp nhô những cái đầu kiểu mục đồng, những bộ quần áo chắp vá, những người nông dân đã đến đây sau 3 ngày lặn lội từ những ngôi làng xa xôi. Đối với họ, đây là lần đầu họ tới một thành phố lớn, nơi gọi là thủ đô nhưng có lẽ cũng là nơi duy nhất trên thế giới chưa có đèn hiệu giao thông. Gần trung tâm của tòa nhà thương mại, người ta thấy các nhà sư túm tụm thành từng nhóm, tay nắm tay trong bộ trang phục đỏ tía, khá ăn nhập với những hàm răng nhuộm màu trầu không của họ. Những nhà sư, nông dân và cánh báo chí địa phương, tất cả đều hướng sự chú ý của họ tới mục tiêu chính: một cậu bé đứng giữa vòng tròn, chiếc áo choàng màu cam của cậu chùm lấy thân hình đang quì xuống.  Cứ theo nhịp trống, cậu bé 7 tuổi Kinzang Norbu lại vật mạnh mình xuống đất, xoay tròn trên lưng nhanh đến mức cơ thể cậu biến thành một bóng mờ mờ màu vàng nghệ. Đám đông như bị chìm ngập trong sự huyền bí cổ xưa của Bhutan, đất nước của cọp bay và thánh thần. Họ như tự hỏi liệu Norbu đang chính là hiện thân của Đức Phật. Nhưng cậu bé lại hướng mình tới một thế giới khác thần bí hơn nhiều.   Khi Norbu ngừng quay lại thì trang phục của cậu chứng tỏ sự sành điệu, thời thượng, phù hợp với mốt của giới trẻ thế giới: giày đế mềm màu đỏ hiệu Nike đang được ưa chuộng, quần adidas rộng thùng thình, một hình xăm dán lộ ra ngoài với những dòng chữ tiếng Anh mà chắc cậu và gia đình cậu cũng đã chấp nhận: B-Boyz.  Khi bài hát nhỏ dần, Norbu khệnh khạng đi ra với một nụ cười tinh quái trên miệng và với ngón tay gập lại như một dấu hiệu chào mọi người. Những đứa bạn của cậu thì huýt sáo và chào đón cậu bé với biểu tượng B-Boys.   Và những người nông dân da rám nắng thì sao? Họ há hốc mồm nhìn về phía cậu bé. Nếu cậu chỉ là một vũ công vũ hội hóa trang, xoay tròn múa vui để khai sáng thì chắc họ cũng đã hiểu. Nhưng dù tất cả mọi người đã hiểu biết lẫn nhau, giây phút này đối với họ vẫn là điều bí hiểm. Norbu là hiện thân của một đất nước đang cố gắng đạt được cái điều mà trước đây đã không thể làm: chuyển từ thời Trung cổ sang thời hiện đại của thế kỷ 21 mà không làm mất đi sự cân bằng vốn có.  Mở cửa  Trong suốt hơn 1.000 năm qua, vương quốc nhỏ bé mà người dân địa phương hay gọi là Bruk Yul, “Mảnh đất của rồng sấm sét” đã trải qua một sự cô lập đáng kỳ lạ. Đất nước có diện tích bằng Thụy Sĩ này nằm lọt thỏm trên những nếp gấp thuộc các dãy núi đá cao, giữa hai đất nước khổng lồ là Ấn Độ và Trung Quốc. Nó khép kín với thế giới không chỉ bởi vị trí địa lý mà còn cả ở chính sách thận trọng của mình. Đất nước này không có đường sá, không có điện, không có xe gắn máy, không điện thoại, không bưu điện cho đến những năm 1960. Ngay cả ở những ngày này, những cảnh đẹp quyến rũ của nó luôn khiến người ta nghĩ về thời quá khứ xa xăm: những ngôi đền cổ nằm chọc trời trên những ngọn núi phủ đầy mây, những ngọn núi thiêng không dấu chân người nằm ẩn hiện trên những dòng sông và những khu rừng ban sơ, một ngôi nhà gỗ không có người vốn được xây cho vị quốc vua nhân từ và một trong 4 người vợ của ông. Không người du khách nào có thể cưỡng lại được vẻ đẹp của Bhutan và thường gọi nó là Shangri-la (một địa điểm giả tưởng, thung lũng bí ẩn và cực đẹp trong cuốn tiểu thuyết của James Hilton-ND) cuối cùng.          Hai đứa trẻ Bhutan trong chiếc váy truyền thống          Nhưng ngay cả Shangri-la thì cũng phải thay đổi. Khi nhà vua Jigme Singye Wangchuck rời ngôi vào năm 1972, Bhutan đã phải trải qua thời kỳ nghèo đói, mù chữ và có tỉ lệ trẻ em sơ sinh chết yểu lớn nhất thế giới. Đây là hệ quả đương nhiên của chính sách biệt lập của nước này. “Chúng tôi đã phải trả một giá đắt”, nhà vua sau này thừa nhận. Cha của ông vốn là vị vua triều đại thứ 3 của Bhutan đã mở cửa đất nước vào những năm 1960, xây dựng đường sá, thành lập trường học và các cơ sở y tế. Ông cũng đề nghị Bhutan trở thành thành viên vủa Liên Hợp Quốc. Vua Jigme SingyeWangchuck thậm chí còn muốn đi xa hơn nữa. Với sự tự tin của người đứng đầu một đất nước chưa từng bị thống trị bởi ngoại bang, ông đã cố gắng áp đặt dấu ấn của mình đối với chính sách mở cửa Bhutan, và trong tiến trình tái định nghĩa lại ý nghĩa của sự phát triển. Câu khẩu hiệu tài tình mà ông nghĩ ra cũng đã miêu tả cách tiếp cận này: Tổng Hạnh phúc Quốc nội (Gross National Happiness). Bhutan tìm cách thoát khỏi đói nghèo mà không phải khai thác các tài nguyên thiên nhiên (trừ thủy điện vốn được bán cho Ấn Độ, nguồn tài chính nước ngoài chủ yếu của nước này).   Đối với nhiều người dân Bhutan, ý tưởng này không phải là một phương tiện tiếp thị hay là một khái niệm triết học không tưởng. Nó chính là kế hoạch của họ dành cho những người đang sống ở Bhutan. 4 cột trụ chính của Tổng Hạnh phúc Quốc nội bao gồm: phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa và quản trị hiệu quả (good governance). Gần ¾ diện tích của đất nước này vẫn còn là những cánh rừng nguyên sơ trong đó 25% được dùng làm các công viên quốc gia hay các khu vực được bảo vệ. Bhutan là một trong những nước có tỉ lệ rừng còn lại lớn nhất thế giới. Tỷ lệ trẻ không biết chữ và tử vong ở trẻ em đã nhanh chóng tụt xuống và nền kinh tế bắt đầu phát triển nhanh chóng. Số lượng khách du lịch cũng gia tăng, nhưng nhờ chính sách hạn chế xây dựng mới và thuế du khách lên tới 240 USD/ngày đã ngăn cản dòng khách du lịch ba lô, vốn đã giày nát đất nước Nepal láng giềng.   Vào đêm trước của thiên niên kỷ trước, năm 1999, Bhutan đã cho phép công dân nước mình được tiếp cận với truyền hình. Đây là đất nước cuối cùng trên thế giới tiếp cận với truyền hình (Internet cũng được nối mạng trong cùng năm này). Euphoria là công ty độc quyền duy nhất của thế giới mở các cửa hiệu và khách sạn tại đất nước này. Việc đưa đài phát thanh trên nền Internet Pandora vào hoạt động ở nước này cũng đã đặt ra nhiều vấn đề. Điều gì sẽ xảy ra khi một đất nước trước đây hoàn toàn đóng cửa, với một xã hội cực kỳ bảo thủ giờ bỗng nhiên phát đầy những bài hát rock của ban nhạc 50 Cent hay các chương trình giải trí của WWF (World Wrestling Federation, công ty giải trí nổi tiếng của Mỹ)? Những câu hỏi tương tự như vậy quả là có sức nặng đối với một đất nước dễ tổn thương với dân số 635.000 người, trong đó một nửa là dân số trẻ dưới 22 tuổi.  Dân chủ  Nhưng thách thức lớn nhất đối với Bhutan chính là bước đi tới dân chủ. Theo các quan chức của đất nước này, từ trước tới nay luôn có một đức vua được dân chúng yêu mến trị vì trên ngôi báu và ban phát quyền năng tới dân chúng. Nhưng vào năm 2006, nhà vua Jigme Singye Wangchuck đã nhân sự kiện nhường ngôi cho con trai là Jigme Khesar Namgyel Wangchuck (vị vua triều đại thứ 4 của vương quốc được nhường ngôi vào tuổi 28, vị quốc vương lập hiến, vào năm 2008) và kỷ niệm 100 năm thành lập vương quốc vào năm 2007 (một năm theo các nhà chiêm tinh là năm an lành) để thành lập ra Chính phủ dân chủ đầu tiên của đất nước này.          Các thiếu nữ Bhutan trong điệu múa truyền thống          Thử nghiệm thực sự của Tổng Hạnh phúc Quốc nội giờ mới thực sự bắt đầu. Các lãnh đạo công dân mới của Bhutan phải đối mặt với rất nhiều thách thức, không chỉ với đám đông công chúng vốn từng quen với các vị vua và hoài nghi với dân chủ. Thế giới bên ngoài thì chăm chú nhìn vào đất nước này và tự hỏi liệu đất nước nằm trên dãy Himalaya từng bị lãng quên này liệu có thể trả lời được những câu hỏi nhạy cảm như: Làm thế nào một xã hội đang duy trì rất tốt bản sắc của mình có thể đối mặt với sức mạnh phẳng của toàn cầu hóa? Liệu đất nước này có thể tiếp thu được những mặt tốt của thế giới hiện đại mà không bị dính đến những tiêu cực của nó? Và liệu bao giờ có được một sự cân bằng hạnh phúc giữa truyền thống và phát triển?  Tia nắng rực rỡ của buổi bình minh chiếu ngang sàn nhà ngôi đền cổ, phản chiếu bóng của một phụ nữ có tuổi đang quì trước một cột đá và 108 tràng hạt. Cột đá là biểu tượng tôn giáo thiêng liêng ở Nabji, một ngôi làng nằm sâu trong những ngọn núi Đen thuộc miền Trung Bhutan, nơi vẫn còn chưa có dấu ấn của đường xá và điện. Những câu chuyện truyền thuyết nói rằng vết lõm nhỏ ở cột đá chính là dấu tay của Guru Rimpoche, vị thần bí ẩn đã tới Bhutan vào thế kỷ thứ 8 trên lưng một con cọp cái biết bay để truyền bá Tantra Phật giáo của Tây Tạng. Còn các hạt trong tràng hạt thì có ý nghĩa gì? Chúng chính là bằng chứng của sự tận tâm. Mỗi lần người phụ nữ tóc hoa râm có tên Tum Tum quì xuống, tay bà lại lần lần108 hạt trong tràng hạt (một con số linh thiêng). Sau ba tháng quì liên tục,  số hạt mà bà đã lần được lên tới 95.000, tức là mỗi ngày bà đã phủ phục xuống tới 1.000 lần. Bà cố gắng đạt mục tiêu lần được 100.000 hạt. “Nhiều lúc, tôi mệt đến nỗi như sắp đổ vật ra, nhưng tôi không dừng lại. Đây là truyền thống của chúng tôi”, Tum Tum nói. Đầu gối của bà đã tạo thành các vệt quì trên sàn nhà.          Một người đàn ông Bhutan trong chiếc váy gho truyền thống          Còn rất ít nơi trên hành tinh này gắn chặt với truyền thống như khu vực nông thôn ở Bhutan, Gần 70% dân cư của đất nước này sống ở các ngôi làng giống như Nabji, nơi được bao bọc bởi các khu rừng nguyên sinh và các ngọn núi cao ngút ngàn, mà phải mất 6 giờ đồng hồ để có thể đi từ đó tới con đường gần nhất. Những thửa ruộng bậc thang của Nabji giờ trống rỗng. Đây là một ngày linh thiêng theo âm lịch, và những dân làng thô kệch xúng xính những bộ váy áo đẹp nhất đi vòng quanh ngôi đền-những bộ kira màu sáng có chiều dài chạm sàn nhà của phụ nữ và những bộ gho dài chạm bắp chân của đàn ông. Những dấu hiệu duy nhất của nền văn minh hiện đại chính là hai tấm pin Mặt trời nằm trên mái của ngôi đền. Chúng có nhiệm vụ cung cấp điện cho chiếc điện thoại không dây ở phía dưới. Tiếc rằng, chúng đã hỏng. Những người nông dân Nabji thì lại đặt niềm tin của mình vào một cách thông tin không dây khác: những lá cờ của người cầu kinh được treo cao trên những cây bách. “Mỗi khi có gió thổi, chúng sẽ chuyển những lời khẩn cầu của chúng tôi lên trời. Cả cần máy móc gì cả”, một trưởng làng cho tôi biết.  Một cảm giác hài hước, thậm chí tinh nghịch lan tỏa ở Phật giáo của người Bhutan, vốn khác xa với vẻ trầm tĩnh thường thấy của các đệ tử Phật giáo Thích ca. Những tiên nữ và thánh thần của Phật giáo của người Bhutan có lẽ khiến các Phật tử nơi khác há hốc mồm vì kinh ngạc. Những bức hình gợi cảm cũng có đầy rẫy, phản ánh niềm tin Mật tông rằng các mối quan hệ xác thịt có thể chính là con đường dẫn tới sự khai sáng.   Không ai có thể thấm nhuần ý tưởng này hơn vị Lạt ma Drukpa Kunley, người được biết nhiều hơn dưới cái tên vị thần Điên loạn, vị thần mến yêu của người Bhutan. Thần Kunley tiêu diệt ma quỉ và mang lại sự khai sáng cho các thiếu nữ trẻ với sức mạnh thần diệu của những “tia sét sáng rực”. Ngày nay, nhiều ngôi nhà ở Bhutan vẫn được trang trí các biểu tượng bảo vệ tà ma: một dương vật lớn được sơn màu, nằm trong chiếc cung hình vui nhộn.   Nhưng những tia sét sáng rực cũng không giúp cho đất nước này tránh được những thay đổi. Các trường tiểu học ở Nabji, thành lập cách đây khoảng một thập kỷ, là một phần của cuộc cách mạng giúp cho số người biết chữ ở Bhutan tăng từ 10% vào năm 1982 tới 60% dân số vào ngày nay. Những bệnh xá gần nơi cư ngụ của dân cũng khiến người dân nước này sống thọ hơn, từ tuổi đời bình quân chỉ có 43 năm vào 1982 lên tới 66 năm vào thời điểm hiện nay. Song song với đó, tỉ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm từ 163/1000 người xuống còn 40/1000 người trong cùng giai đoạn đó. Nabji chưa có các bác sĩ riêng cho làng. Nhưng sau ngày lễ ở ngôi đền, ba bác sĩ từ bệnh viện tỉnh ở Trongsa đã vượt qua nhiều ngọn núi để tới làng tiêm chủng cho trẻ em nơi đây.  Tình trạng biệt lập của Nabji đối với thế giới bên ngoài không còn nữa: những tiếng nổ ầm ĩ của việc phá đá làm đường cách đó vài cây số vang vọng khắp thung lũng của làng. Các nhóm nhân công, mỗi nhóm gồm 15 người, đẩy những xe goòng chứa những túi thuốc nổ nặng 150 pound (khoảng gần 70 kg) luân phiên nhau leo lên những đỉnh núi cao. Con đường mới chắc phải đợi khoảng một đến hai năm nữa mới tới được Nabji, nhưng khi nó tới, nó sẽ cùng đem đến điện, truyền hình và thương mại cho ngôi làng. Một vài người già lo rằng sự nguyên thủy của Nabji sẽ biến mất nhưng những người trẻ lại thích nghe những gì Karma Jigme, một họa sĩ 26 tuổi, người vừa trở lại Nabji sau 5 năm sống ở những thị trấn như Paro, Punakha và Trongsa kể lại hơn.  Những câu chuyện mà Jigme kể về thế giới hiện đại có sức hấp dẫn chẳng kém gì các điều thần kỳ có trong truyền thuyết của Bhutan. Lần đầu khi nhìn thấy tivi, anh ta sợ quá và phải chui xuống dưới giường để trốn vì sợ người đô vật chuyên nghiệp to béo đang giận dữ trên tivi “nhảy ra khỏi cái hộp đó và đánh tôi”, anh kể lại. Một cú sốc khác là khi anh và nhóm họa sĩ của anh đang vẽ lại Taktshang Goemba, bức tranh nổi tiếng của tu viện Tiger’s Nest nằm trên thung lũng Paro. Đang ở trên tấm ván giàn giáo cao hơn 750 mét, ngay ở phía mũi vách đá, Jigme bỗng nghe tiếng gầm đinh tai nhức óc và cách đó chừng 300 yard (gần 300 mét), “tôi nhìn thấy một ngôi nhà hình con cá đang bay trên bầu trời”. Chiếc máy bay đã làm anh ta khiếp đảm đến mức tí nữa té khỏi giàn giáo.    Cuộc sống ở Nabji không có những sự kiện gây xúc động như vậy. Jigme thường cặm cụi hàng giờ liền trên các cánh đồng lúa và khoai tây của gia đình, kiếm thêm bằng cách vẽ những bức hình truyền thống trên các ngôi nhà trong làng, tất nhiên vẽ cả các tia sét nữa. Anh cần tiền để mua một con bò đực. Nhưng thực ra cái mà anh muốn nhất, “đó là một chiếc điện thoại Nokia”, anh nói. Mặc dù ở Nabji chưa có sóng điện thoại di động nhưng điều đó có hề chi, anh chỉ muốn một mảnh nhỏ của cuộc sống hiện đại ở trên người mà thôi.   Tshewang Dendup còn mỗi một chiếc váy gho. Anh giả bộ chơi ghi ta bằng cách gảy gảy trong không khí, treo một bức ảnh Che Guevara trong phòng khách và để tóc dài đến mức có thể quấn tóc thành một đuôi ngựa. Một biểu hiện của sự nổi loạn? Không hoàn toàn vậy. Dendup, 38 tuổi làm việc trong bộ phận tin tức của Cơ quan Truyền hình Bhutan (BBS), trạm phát sóng truyền hình duy nhất của Bhutan. Là con của một người thợ dệt vải và một nhà sư, Dendup đang cố gắng cân bằng nhịp sống hiện đại và truyền thống. “Nếu chúng tôi chỉ giữ lại những cái cũ, chắc hẳn chúng tôi vẫn ở trong cái tổ kén như trước và chẳng thể nhìn được thế giới rộng lớn ở bên ngoài”, Dendup nói. “Ngược lại, nếu chỉ du nhập những gì hiện đại, chúng tôi sẽ đánh mất văn hóa của chính mình. Vì vậy, chúng tôi cần cả hai để tiếp tục tồn tại”. Anh tin chắc rằng có thể hòa hợp được công nghệ và truyền thống, dẫn ra thí dụ về chiếc máy nghe đĩa CD mà anh mua cho ông bố. Ông ấy có thể dùng nó để cho khách nghe các bài thuyết giáo hay các bài ca truyền thống.     Khủng hoảng bản sắc  Sức sống của văn hóa có thể kháng cự dễ dàng lại với những khuôn khổ bó hẹp nó. Liệu đó có phải là một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game), khi sự xuất hiện của các video Britney Spears đang đẩy lùi các truyền thống Bhutan về với sự tuyệt chủng? Hoặc liệu đó có phải là một ván cờ không gian 3 chiều trong đó có sự thỏa hiệp phức tạp để cùng chung sống giữa Đạo Phật và những đứa trẻ thích chơi game?          Ngôi chùa Tiger’s Nest nổi tiếng ở Bhutan          Nếu những người lạc quan như Dendup đúng thì sự trỗi dậy của Bhutan sẽ tiếp thêm sức lực cho văn hóa bản địa. Với sự mở rộng của truyền thông hiện đại, 28% gia đình ở Bhutan giờ đã có tivi, 11% có điện thoại di động và khoảng 3% có máy tính cá nhân. Người dân giờ có thể liên lạc nhanh chóng với nhau và với cả thế giới bên ngoài. Đây không phải là tiến bộ nhỏ đối với Bhutan, khi mà nước này mới có những con đường ngang dọc đất nước vẫn còn nhỏ hẹp, tốc độ giao thông còn chậm như rùa bò và phải mất tới ba ngày để đi hết quãng đường có chiều dài 150 dặm (khoảng 240 km) nối liền phía Đông tới phía Tây của quốc gia nhỏ bé này. Dân làng ở những nơi hẻo lánh, trên những ngọn núi cao giờ có thể xem tivi nhờ hệ thống truyền hình quốc gia. Những trạm phát thanh mới, như Kuzoo FM, giúp người dân có thể nghe các chương trình âm nhạc, văn hóa và những câu chuyện về hiện đại hóa. Năm 2006, nhà vua thậm chí còn cho phép hai tờ báo độc lập xuất bản song song với tờ Kuensel, tờ báo chính thống duy nhất ở nước này.  Các ngành công nghiệp âm nhạc và phim cũng thi nhau nở rộ. Hai thập kỷ trước đây, Bhutan chưa từng sản xuất được bộ phim truyện nào. Nhưng vào năm 2006, quốc gia nhỏ bé này đã cho ra tới 24 bộ phim. Có lẽ đây là số lượng cao nhất thế giới, nếu tính theo tỉ lệ người dân. Liệu có phải là một sự trùng hợp hay là nghiệp chướng khi người giám đốc sản xuất phim hàng đầu được coi như sự tái sinh của Phật thế kỷ 19? Khyentsen Norbu, một trong những vị Lạt ma nghiêm khắc nhất đã làm các bộ phim tìm hiểu về cuộc chạm trán giữa truyền thống và hiện đại. Ông đã gây ngạc nhiên cho nhiều người với các hình ảnh nhà sư thích chơi bóng đá trong phim (The Cup, 1999), với các câu chuyện truyền thuyết Bhutan trong phim (Trevellers and Magicians, 2003), về “người đưa tin” Dendup như hình ảnh của một viên chức làm việc không ngơi nghỉ. “Phim truyện đang là các thangka hiện đại của chúng tôi”, Norbu, hiện 47 tuổi nói. Tôn giáo cổ Tây Tạng đã được miêu tả bằng các câu chuyện sinh động trong các bộ phim đó. “Thay vì sợ quá trình hiện đại hóa, chúng ta cần coi nó là một công cụ giúp quảng bá nền văn hóa của chúng ta ra ngoài mạnh mẽ hơn nữa”, ông nói.          Cảnh diễn lại một điển tích cổ của Bhutan, đấu tranh giữa cái thiện và cái ác          Các nhà giữ gìn truyền thống của Bhutan ngược lại có cái nhìn đen tối hơn trước những gì đang diễn ra: sự xâm lấn của văn hóa vật chất đơn điệu toàn cầu đang làm xói mòn các giá trị sống của họ. Chính phủ đã cấm các kênh tivi mà họ cho rằng có hại, trong đó có MTV, Fashion TV và một kênh thể thao chuyên chiếu các buổi diễn bạo lực. Sonam Tshewang, một giáo viên trung học ở Thimphu tin rằng có cái gì đó căn bản đang bị biến mất dần đi. “Một vài đứa trẻ đã bị nhiễm tư tưởng phương Tây và quên hết bản sắc văn hóa riêng của cha ông”, ông nói. Một đứa bé gái trong lớp học của ông thậm chí đã đổi tên mình thành Britney.  Nhưng khủng hoảng bản sắc dường như còn lớn hơn việc đổi tên của một cô gái. Áp lực hổ lốn của xã hội đang tiếp sức cho nhiều vấn đề xã hội mới. Tỉ lệ thất nghiệp ở giới trẻ tại Thimphu hiện lên tới 30%. Những dòng học sinh tốt nghiệp đến thị trấn tìm việc ở các công sở đã vỡ mộng của mình. Các nhóm bang hội có tên như Virus hay Bacteria (vi khuẩn) đã hình thành. Tội phạm bạo lực tuy còn hiếm nhưng đã xuất hiện tình trạng ăn cắp, trước kia chưa từng có ở những ngôi nhà được khóa kỹ càng, đơn giản bởi nhiều người thèm thuồng những chiếc điện thoại di động và máy nghe nhạc của hàng xóm.  Tỉ lệ nghiện nhập cũng đang gia tăng. Gần cửa vào của Destiny Club, một trong số các sàn nhảy mới mở ở Thimphu, ba gã trai chơi đang bàn luận về độ phê của “pig’s food” (tạm dịch là cám lợn), một loại ma túy tổng hợp có thể tìm kiếm được rất dễ dàng ở nông thôn Bhutan, trước vẫn được dùng làm thức ăn tăng trọng cho gia súc. “Những đứa trẻ ở Mỹ có nghiện ngập không?”, người thanh niên 23 tuổi, đeo kính áp tròng đỏ, có vẻ là thủ lĩnh hỏi. Tình trạng nghiện ngập ở Thimphu dường như chả là gì so với mức độ của quốc tế nhưng điều này khó có thể coi được là một tiêu trí hạnh phúc mà nhà vua đang hướng tới. Ugyen Dorji, một người từng nghiện ma túy, giờ đã thành lập một trung tâm cai nghiện cách đây 3 năm với sự trợ giúp của Quĩ Phát triển Thanh niên cho biết tình trạng nghiện ngập phản ánh “sự lo âu của xã hội trong quá trình chuyển đổi”.   Đối với mọi người thích nói về độc lập, Bhutan hay được dẫn chứng như thành trì cuối cùng của Đạo Phật Himalaya. Những nơi khác thì dần dần biết mất, thí dụ như Ladakh (bị triệt phá vào năm 1842 và sau đó bị sáp nhập vào Ấn Độ), Tây Tạng (trở thành một phần của Trung Quốc vào năm 1950), và vương quốc láng giềng Sikkim nữa. Năm 1975, tức là chỉ 3 năm sau khi Jigme Singye Wangchuck lên ngôi vào lúc còn 16 tuổi, dòng người nhập cư Nepal ngày càng nhiều đã không đồng ý nền độc lập của Sikkim, và sáp nhập nước này vào Ấn Độ. Kế đến sẽ là lượt của Bhutan? Wangchuck cố gắng bảo vệ tài sản chính của Bhutan, đó chính là bản sắc Phật giáo. “Là một đất nước nhỏ, chúng tôi không có sức mạnh về kinh tế”, ông giải thích với phóng viên của tờ New York Times vào năm 1991. “Chúng tôi không có lực lượng quân sự mạnh, không có một vai trò lớn trên quốc tế bởi dân số quá bé nhỏ và cũng bởi chúng tôi là một đất nước khép kín. Yếu tố duy nhất có thể gia tăng sức mạnh chủ quyền của Bhutan và bản sắc độc đáo của chúng tôi chúng là văn hóa”.  Thách thức trước mắt  Đây có thể là một lập trường hợp lý, nhưng lại là một quan điểm va chạm với những người Nepal theo đạo Hindu, nhóm tộc người đông nhất ở đây. Khác với những người Ngalong đang cai trị đất nước, người Drukpa sống ở vùng Tây Bắc hay người Sharchop sống ở phía Đông, các hậu duệ của Phật giáo đều là người Tây Tạng, những người đã kiến tạo ra đất nước này trong hàng trăm năm trước – còn những người Nepal giờ đang chiếm đa số đất nước này đến Bhutan vào cuối những năm 1800, đầu 1900. Những làn sóng nhập cư bắt đầu sau những năm 1960, khi đất nước cần tới một số nhân công lao động chân tay, nhưng một số người khác thì tận dụng cơ hội này để nhập cư trái phép. Quốc vương khuyến khích họ đồng hóa với dân bản địa nhưng dân số Nepal ngày càng tăng đã khiến giới tinh hoa của Drukpa lo lắng. Sau khi xiết chặt các bộ luật về công dân, nhà vua đã ra sắc lệnh qui định toàn bộ thần dân Bhutan phải ăn mặc và đối xử theo cách của người Drupkpa. Điều này đã gây ra các làn sóng phản kháng và bắt bớ khiến hàng chục nghìn người thuộc tộc Nepal đã phải vượt biên giới chạy trốn trong khoảng 1990-1992.          Các nhà sư Bhutan nhìn từ một ngôi chùa          Govinda Dhimal là một người trong số họ. Là một người mộ đạo Hindu, ông và gia đình đã sống bình yên ở huyện miền Nam Tsirang trong hơn nửa thế kỷ. Nhưng sự nhục mạ ngày càng chồng chất. Dhimal bị buộc phải mặc chiếc váy gho kềnh càng, hoàn toàn không thích hợp đối với cái nóng nhiệt đới. Một quân nhân đã bắt ông phải cải đạo và đánh dấu vào trán của ông. Khi các chiến binh Nepal tổ chức các đợt phản kháng, quân đội đáp trả bằng các đợt bắt bớ lớn và Dhimal kết cục phải vào tù. Với dáng vẻ mệt mỏi và suy nhược, người đàn ông 69 tuổi này ra một dấu hiệu chấp nhận di cư tự nguyện và đi đâu chẳng biết nữa. Khi đến biên giới, lúc đó vào khoảng đầu năm 1992, ông vứt lại chiếc váy gho, dấu tích cuối cùng của văn hóa Drukpa trên người ông trên lãnh thổ Bhutan.   16 năm vừa qua, Dhimal, giờ đã 85 tuổi sống tiều tụy trong một trại nhập cư của Liên Hợp Quốc, nằm ở phía Đông Nepal, nơi cưu mang những người tị nạn cứng đầu của các cuộc khủng hoảng sắc tộc đó. Chính phủ Nepal và Bhutan đã tiến hành đàm phán 15 vòng nhưng chưa có bất cứ người nào trong số 108 tị nạn được phép quay trở lại Bhutan. Đối với họ, cũng như nhiều tộc người Nepal còn sinh sống ở Bhutan (ước tính khoảng 150.000 người), việc kiên quyết theo đuổi văn hóa Phật giáo chính là nguyên nhân khiến họ khốn cùng.   Những căng thẳng ở miền Nam giờ cũng đã bớt đi. Tăng trưởng kinh tế cùng với việc nới lỏng các hạn chế về văn hóa giờ đã khiến một số người Nepal có thể sống thoải mái hơn. Nhưng nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục phải sống bên lề của xã hội, làm các công việc chân tay và bị cấm hành nghề thương mại, làm công chức hay học đại học. “Chúng tôi bị đối xử không công bằng. Nếu cha của tôi qua đời, tôi không biết có thể chôn cất cha tôi theo đúng tập tục của người Hindu không nữa!”, một kỹ sư người Nepal sống ở Thimphu nói.  Cách đó nhiều ngọn núi, ngồi trên sàn đầy bụi bẩn của trại tị nạn, Dhimal vẫn nóng lòng chờ ngày được trở lại Bhutan, nhưng còn rất ít cơ hội cho ông. Quốc vương vẫn không thay đổi quyết định từ chối chấp nhận cho người tị nạn quay trở lại, mặc dầu Liên Hợp Quốc đã đề nghị cho phép 60.000 người trong số họ được quay trở lại Bhutan sau tình huống bạo động vào đầu năm 2007. Cháu trai của Dhimal dường như sẵn sàng quay trở lại để bắt đầu cuộc sống mới. “Chúng tôi không có tương lai ở nơi đây, tôi muốn được sống như những người Mỹ”, cậu bé Tek Nath 15 tuổi nói. Còn Dhimal thì hoài nghi: “Tôi có thể làm gì được ở đây, khi nhà tôi ở Bhutan?”.  Lòng tôn kính hoàng gia vẫn còn rất sâu đậm ở Bhutan, và chỉ có một số ít người có suy nghĩ sắc sảo như người phụ nữ có tên Peldon dưới đây. Bà đã sống 41 năm trong ảnh hưởng của gia đình có cội nguồn hoàng tộc, tại một ngôi nhà gỗ giản dị nằm sâu tít trong một thung lũng hẻo lánh, bao quanh là các ngọn núi quanh năm phủ tuyết trên đỉnh. Peldon treo tám bức ảnh các vị vua Bhutan trong nhà của mình, cảm nhận rõ lợi ích của chế độ quân chủ. Ba năm trước, một con đường đã được mở trên núi giúp hành trình tới ngôi làng bên cạnh chỉ mất có hai giờ đồng hồ, thay cho hai ngày như trước. Điện cũng đã được kéo đến đây, cho phép Peldon tham dự các lớp học xóa mù vào buổi tối và dệt những chiếc váy kira vào ban đêm. “Đêm đã chuyển sang ngày và chúng tôi biết ơn Quốc vương vì những điều này”, bà nói.  Giờ thì món quà bất ngờ nhất của Quốc vương đã tới-trao quyền cho nhân dân nhưng Peldon lại cảm thấy khó khăn khi chấp nhận điều này. Như nhiều người Bhutan khác, đã bật khóc vào cái ngày vào tháng 12 năm 2006 khi Jigme Singye Wangchuck, sau 34 năm trị vì trên ngôi vua đã nhường ngôi cho người con trai, mở đường cho các cuộc bầu cử Quốc hội. Peldon tôn kính nhà vua đời thứ tư như một người có tầm nhìn xa, trông rộng, người đã cho phép xây dựng trường học, đường xá thay vì xây cung điện hoặc tích lũy tài sản cho cá nhân của riêng mình. Con trai và người thừa kế của ông, Jigme Khesar Namgyel Wangchuck được đào tạo tại trường Đại học danh tiếng Oxford, đã tới Dungkhar vào năm trước đó để khích lệ người dân bỏ phiếu cho mình. Peldon ngưỡng mộ vị Quốc vương mới nhưng lại chẳng thích những cuộc bầu cử: “Chúng tôi đã có một ông vua giỏi giang và tốt thì cần gì tới dân chủ nữa?”, bà nói.  Những người nông dân không phải là những người duy nhất nghi ngờ về điều này. Tại một hộp đêm thời thượng ở Thimphu có tên P. Wang, ba người môi giới chứng khoán đang nghỉ xả hơi sau một chầu chơi golf, họ hát karaoke và bàn chuyện phiếm về chế độ quân chủ: “Tôi chẳng muốn dân chủ bởi điều đó có thể dẫn tới sự hỗn loạn, thí dụ như tình trạng ở Nepal hay Ấn Độ”, doanh nhân có tên Tshering Tobgay nói. “Nhưng những gì mà nhà vua đã nói ra, dù nó là ngọt hay đắng, ngon hay độc hại thì chúng tôi đều phải ăn”. Ngay cả người đứng đầu Ủy ban Bầu cử cũng thừa nhận là ông ta chẳng thích có bầu cử: “Nếu có sự lựa chọn thì tất nhiên chúng tôi muốn tiếp tục chế độ quân chủ. Vì sao có sự thay đổi? Đơn giản vì nhà vua muốn thế”, Dasho Kunzang  Wangdi nói.  Tiếng nói mạnh mẽ nhất đòi hình thành trở lại chế độ quân chủ, mỉa mai thay đã từng đến từ chính nhà vua. “Điều gì sẽ xảy ra nếu Bhutan bị lọt vào tay của một kẻ xấu xa hay một người không có năng lực”, ông nói. Lý luận của nhà vua thật đúng, lần nào chả thế, những bước đi chập chững đầu tiên của nền dân chủ cũng đã bị loạng choạng. Ngăn chặn được các đối thủ tiềm tàng đã là một thách thức lớn, chưa kể đến nhà vua canh cánh trong lòng rằng những người muốn trở thành quan chức đều phải tốt nghiệp đại học. Ở đất nước này, mới chỉ có chưa đầy 2% người dân có bằng đại học. Năm trước, hai Bộ trưởng hàng đầu của nước này là Jigme Y. Thinley và Sangay Ngedup đã từ chức để thành lập ra các đảng đối lập và tham gia bầu cử.          Các nhà sư Bhutan nhìn từ một ngôi chùa          Dù ai trở thành Thủ tướng đầu tiên của Bhutan đi chăng nữa thì người đó cũng không được đi chệch chính sách Tổng Hạnh phúc Quốc nội. Negdup, vị cựu Bộ trưởng Nông nghiệp vui tính đã gọi hành động thoái vị của nhà vua là một “hành động từ bỏ rất Phật giáo”, bởi vì nhà vua hoàn toàn có lý lẽ đặc biệt nào đó để ở lại ngôi vua. Thinley, người bác ruột của nhà vua trong quá khứ từng là một trong những nhà kiến trúc sư chính về chính sách của đất nước và đã đi khắp nơi trên thế giới để quảng bá về giấc mơ hạnh phúc. “Ý tưởng này đã thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia. Người ta đang kiếm tìm một định nghĩa mới về sự thịnh vượng”, ông nói.  Để tồn tại trong nền chính trị dân chủ, nhà lãnh đạo mới của Bhutan phải có trách nhiệm làm cho mọi người hạnh phúc hơn và đất nước hiện đại hơn, điều này có thể cải thiện các mối quan hệ của nước này với thế giới bên ngoài. Bhutan hiện đã có quan hệ ngoại giao với 21 nước trên thế giới trong đó quan trọng nhất là Ấn Độ, đất nước đảm bảo cung cấp quân sự và nhập tới 80% các sản phẩm xuất khẩu của Bhutan. Phần lớn các cường quốc khác, trong đó có Mỹ vẫn chưa có quan hệ ngoại giao với Bhutan. “Vì chúng tôi muốn tránh trở thành một con tốt”, Thinley giải thích lý do. “Nỗi sợ hãi tương tự cũng đã tồn tại khi Bhutan muốn trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong một nền kinh tế toàn cầu, chẳng có nước nào có thể tách mình ra khỏi thương mại, hay cụ thể hơn khỏi WTO. “Nỗi sợ lớn nhất của chúng tôi chả biết đến từ đâu nữa”, Thinley nói.   Hình như nỗi sợ hãi này vẫn chưa lan tới Kinzang Norbu, cậu bé với biểu tượng B-Boyz mới có 7 tuổi đầu này. Cách thức tự do của cậu dường như không liên quan gì tới tự do thương mại toàn cầu. Cậu ta mới học lớp hai nhưng lại dễ dàng tiêm nhiễm lối sống mới tới dân chúng như thể cậu nắm sẵn trong tay cả nền văn hóa Bhutan vậy. Một ngày sau màn biểu diễn nhảy nhót của mình, Norbu tiếp tục đến trường với đầu tóc gọn gàng, giày buộc cẩn thận và mặc chiếc váy gho màu xám. Khi cậu trở lại nhà, quán bar tầng hầm mà mẹ cậu kinh doanh được trang trí với các bức ảnh quốc vương Bhutan cạnh một bức tranh khác, cũng là một ông vua, nhưng trong lĩnh vực âm nhạc, Elvis Presley. Norbu thay đồ, mặc chiếc áo phông có chữ Diesel và nói chuyện bằng tiếng Anh về giá trị của những ngôi sao nổi tiếng thế giới, như Allen Iverson và Ronaldinho.   Câu hỏi cuối cùng: Cậu sẽ bỏ phiếu cho ai, giữa ban nhạc 50 Cent và vị vua Bhutan thứ 4?. Mỉm cười rạng rỡ, cậu trả lời thành thật: “Tôi thích cả hai”.                 Hoàng An dịch     National Geographic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác khoáng sản trên không gian      Công ty Deep Space Industries của Mỹ công bố  kế hoạch gửi tàu thăm dò tìm kiếm khoáng sản trên các hành tinh nhỏ bay  gần trái đất.    Theo kế hoạch, Deep Space Industries sẽ gửi phi thuyền Fireflies cân  nặng khoảng 25 kg vào năm 2015 trong hành trình kéo dài khoản từ 2 đến 6 tháng đến các hành tinh cần thăm dò. Tiếp theo đó, phi thuyền lớn hơn Dragonflies, nặng 32 kg, sẽ lấy mẫu vật chất ở đó.  Công trình thám hiểm nói trên kéo dài từ 2 đến 4 năm, với dự tính mang về trái đất khối lượng vật thể nặng khoảng từ 27 kg đến 68 kg.  Giám đốc điều hành Deep Space Industries là ông David Gump tuyên bố: “Sử dụng nguồn tài nguyên ở không gian là cách duy nhất bảo đảm phát triển không gian lâu dài. Hơn 900 hành tinh nhỏ được phát hiện thêm khi bay gần trái đất mỗi năm. Khai thác sẽ quan trọng cho hoạt động không gian giống như nguồn tài nguyên sắt của bang Minnesota phục vụ cho công nghiệp xe hơi ở Dedroit hồi thế kỷ 20”.  Giới khoa học cho rằng các hành tinh nhỏ có thể chứa kim loại quý như vàng, bạch kim và đất hiếm. Một số hành tinh có thể chứa nước đóng băng, có khả năng được sử dụng như nguyên liệu thô để sản xuất tên lửa đẩy hoặc khí thở.  Công ty này cho biết thiết bị của họ sử dụng giống như thiết bị của vệ tinh nhỏ, thuộc loại không đắt tiền và họ sẽ cộng tác với NASA và các cơ quan khác nhằm khảo sát vật chất ở các hành tinh đó.  Deep Space Industries là doanh nghiệp thứ nhì muốn khai thác khoáng sản trên không gian. Hồi năm ngoái, công ty Planetary Resources cũng công bố kế hoạch khai thác khoáng sản trên các hành tinh nhỏ. Công ty này được sự hậu thuẫn của các nhà đầu tư là những tỷ phú nổi tiếng như Larry Page và Eric Schmidt của Google; nhà sản xuất phần mềm Charles Simonyi và nhà làm phim James Cameron.  Người lao động dịch từ BBC    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác mỏ dầu lớn nhất thế giới      Phương pháp “đun nóng” lòng đất để dầu chảy ra  từ đá phiến đang được thử nghiệm để áp dụng trong tương lai ở khu mỏ  dầu khổng lồ thuộc bang Colorado và các bang lân cận là Utah và Wyoming của Mỹ.  Tuy việc thử nghiệm ở giai đoạn một đã thất bại hoàn toàn nhưng hãng  American Shale Oil vẫn quyết định tiếp tục đầu tư cho phương pháp này.     Từ hàng chục năm nay Roger Day, một nhân vật nổi tiếng ở thị trấn Rifle bé nhỏ (gần Denver thuộc bang Colorado) với khoảng 10.000 dân, luôn chăm chú đào bới để tìm tài nguyên khoáng sản trong lòng đất. Ông là người phát hiện mỏ natron tự nhiên duy nhất ở Mỹ, nguyên liệu chính dùng làm bột nở cho các loại bánh, có mặt trong hầu hết các siêu thị ở Mỹ. Giờ đây ông ước mơ tên tuổi ông sẽ được biết đến ở tất cả các cây xăng trên đất nước này.   Ở tuổi 63, thực ra Day, vốn là đại diện của doanh nghiệp năng lượng American Shale Oil (Amso), có thể yên tâm chuẩn bị để nghỉ hưu. Tuy nhiên một nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhất lại đang đợi ông ở phía trước – khai thác khu mỏ dầu khổng lồ ở Colorado và các bang lân cận Utah và Wyoming.  Theo ước đoán của Cơ quan địa chất Mỹ USGS thì trên diện tích khoảng 70.000 km2 ở đây, trữ lượng dầu mỏ lên tới 4,3 nghìn tỷ thùng. Theo các nhà địa chất, trong điều kiện tốt nhất, các doanh nghiệp có thể khai thác được ¼ trữ lượng này ở khu vực Green River – tức là gấp bốn lần trữ lượng dầu mỏ ước tính của A-rập Xê-út hiện nay.  Cái khó nằm ở chỗ, báu vật trong lòng đất không phải là loại dầu mỏ thông thường mà là tiền chất của nguyên liệu dầu mỏ có tên là Kerogen ở trong đá phiến.   Cội nguồn của Kerogen là các loài tảo, sinh vật phù du và vi khuẩn tích tụ hàng triệu năm dưới đáy một hồ muối khổng lồ. Nhưng do chỉ có một lượng nhỏ oxy tiếp cận được với lớp tích tụ này, chúng không thể trở thành dầu ở dạng lỏng. Mãi tới cách đây 5 triệu năm, nước mới biến mất. Nhưng để tạo thành dầu mỏ, cần có khoảng thời gian từ 50 triệu đến 300 triệu năm. Xét về mặt hoá học, đây là quá trình chuỗi carbon dài bị phá vỡ thành chuỗi carbon ngắn.  Không chỉ Mỹ mới có một khối lượng lớn Kerogen mà cả các nước như Israel, Jordani, Trung Quốc, Australia và Đông Âu cũng có trữ lượng lớn Kerogen trong lòng đất. Chính vì vậy nên Amso và hàng chục doanh nghiệp khác đang đặt vận may vào đá dầu.   Kỹ sư Roger Day đã có ý tưởng về việc biến Kerogen thành dầu.  Cách Rifle về phía bắc, khoảng 90 phút chạy xe ô tô, là khu vực thử nghiệm của Amso. Đây là một vùng đất hoang vu toàn sỏi đá với những cây thông thấp tè. Theo ông Day thì “dân săn bắn là những người duy nhất tự nguyện đến nơi hoang vắng này”.  Kỹ sư Day và 12 cộng sự đã xây dựng khu thử nghiệm tại vùng đất hoang sơ hầu như không một bóng người này: rất nhiều chuyến xe tải chở thiết bị, máy móc thí nghiệm tới đây. Người ta đã dựng hai tháp khoan, trên đỉnh tháp là cờ Mỹ bay phấp phới. Hàng rào cao khoảng hai mét bao quanh khu thử nghiệm rộng mênh mông.   Đun dầu trong lòng đất  Mục tiêu của Day là đun nóng để dầu chảy ra từ đá phiến. Người ta tuồn hàng chục ống thép xuống độ sâu 650 mét trong lòng đất trên một khoảng diện tích rộng ít nhất 2,5 km2, giống như một dạng lò sưởi giữ ấm nền nhà. Lớp Kerogen ở độ sâu này dày chừng 300 mét.  Các nhà kỹ thuật dự kiến sẽ bơm vào một nửa số đường ống hơi một loại dung dịch đặc biệt có nhiệt độ khoảng 500 độ C. Sau khoảng ba tuần, sức nóng làm cho Kerogen biến thành hơi dầu. Do vật chất ở dạng khí giãn nở nên có thể tạo áp lực đủ để đẩy hơi dầu lên trên qua hệ thống đường ống thứ hai. Tại đây có các thiết bị máy móc làm lạnh để hơi dầu ngưng tụ và được làm sạch. Khí đốt cùng dầu bay lên trên dùng để vận hành nhà máy điện chuyên tạo hơi nóng, do đó không cần có nguồn năng lượng từ bên ngoài.   Theo tập đoàn Amso, chỉ cần 25 cơ sở cỡ này là đủ đáp ứng nhu cầu về dầu mỏ của nước Đức trong vòng 30 năm. Giá thành một thùng dầu 120 lít dao động từ 40 đến 80 đôla. Hiện tại giá một thùng dầu trên thị trường là trên 100 đôla.  Bản thân Day cho rằng, phải mất khoảng 10 năm nữa ông mới có thể đạt được mục tiêu nói trên. Cho đến nay, cơ sở đã khoan được hai giếng để đặt đường ống làm lò sưởi trong lòng đất nhưng các nhà kỹ thuật đang đứng trước khó khăn về nguyên liệu làm đường ống.   Khu thử nghiệm của Amso bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2008. Trong quá trình làm thử nghiệm, Day không phải bận tâm về chi phí. Amso và Total đã chi tổng cộng hơn 100 triệu đôla cho việc phát triển công nghệ này.   Sau khi nghiên cứu rất kỹ về địa chất, một quá trình mà Day gọi là “chụp X-quang lòng đất”, việc khoan được tiến hành trong bốn tháng và đặt được hàng kilômet đường ống, họ cũng kết nối xong với máy tính và hoàn thiện việc xây dựng một nhà máy phát điện cỡ nhỏ.   Trong thử nghiệm đầu tiên, Day không dùng hơi nước siêu nóng mà dùng một thiết bị giống như một que đun điện khổng lồ, do một doanh nghiệp ở Canada chế tạo với giá 600.000 đôla. Khi kết nối với nhau, que đun điện dài khoảng 30 mét nhưng chỉ to hơn bắp tay này tạo nhiệt độ lên đến 360 độ C và sẽ đun nóng lớp đá phiến trong sáu tháng liền.  Để đánh giá kết quả, người ta cài một máy quay phim xuống sâu trong lòng đất; ngoài ra còn có trên 700 cảm biến theo dõi công tác khoan trên địa bàn và cứ mỗi giây thu được hàng nghìn dữ liệu khác nhau.   Tuy nhiên việc thử nghiệm đã thất bại hoàn toàn.  Chỉ sau 21 ngày, que đun điện bị cháy. Không có chút dầu nào lên được khỏi mặt đất. Sau đó, người ta đã tuồn xuống lòng đất hai thiết bị rất đắt tiền nhưng tuổi thọ cũng chỉ dài hơn vài tuần lễ so với thiết bị thử nghiệm đầu tiên.     Các đường ống trên bãi thử nghiện của Amso. Chúng bị bẹp dúm   như vỏ hộp Coca vì không chịu nổi nhiệt độ cao ở độ sâu 650 mét.    Vấn đề thứ hai là thất bại khi đưa những ống thép xuống dưới lòng đất. Áp lực lớn làm cho các ống kim loại gặp nhiệt bị bẹp dúm như vỏ hộp cola. Vì vậy Day và các chuyên gia về nguyên liệu đã phải tạo ra những hợp kim mới có khả năng chịu lực và tồn tại nhiều năm trong lòng đất.  Tuy vậy Day không hoàn toàn không hài lòng với giai đoạn thử nghiệm này. Các cảm biến mỗi ngày thu được hơn một terabyte dữ liệu, Day giải thích, và các nhân viên của ông giờ đây phải đánh giá các dữ liệu đó. Để tối ưu hoá hệ thống này, họ cần biết đá ở trên diện tích rộng bao nhiêu đã được đun nóng đến mức độ nào trong lòng đất và áp lực ở dưới độ sâu này là bao nhiêu.   Cuối năm nay, Day sẽ triển khai những thí nghiệm đầu tiên với hơi nóng. Hiện đã có một loại gel đặc biệt có thể cách nhiệt những ống nằm ở gần mặt đất. Như vậy lượng nhiệt toả xuống lòng đất hầu như không bị thất thoát do đó tăng hiệu quả của công nghệ.   Không phải tất cả các doanh nghiệp dự định khai thác Kerogen ở trong lòng đất ở Colorado đều thấy rằng trong tương lai gần việc khai thác này là có hiệu quả kinh tế. Thí dụ hãng Shell cách đây vài tháng đã bỏ dự án đá dầu của mình ở gần khu thí nghiệm của Amso.   Vấn đề nổi cộm ở đây không phải là sự cố đối với thanh đun điện, mà là chi phí bảo vệ nguồn nước ngầm quá tốn kém.   Các kỹ sư của hãng Shell có ý định tạo một bức tường băng trong lòng đất xung quanh khu vực khoan để bảo vệ nguồn nước ngầm. Shell không công bố nguyên nhân đích thực của việc ngừng không tiến hành dự án khai thác Kerogen tại đây.    Các nhà bảo vệ môi trường lên tiếng  ExxonMobil có ý định áp dụng phương pháp gây sốc điện trong lòng đất. Phương pháp này còn có tên là Elektrofracking. Theo đó, các ống kim loại sẽ được tuồn theo chiều thẳng đứng vào lòng đất với khoảng cách chừng vài trăm mét một ống. Ở khoảng trống, người ta sẽ bơm một loại chất lỏng có khả năng dẫn điện. Điện chạy trong đất và nung nóng Kerogen, làm bốc hơi và bay lên trên mặt đất.  Mọi phương pháp mà các doanh nghiệp dầu khí đang dự định áp dụng ở Colorado đều là những phương pháp mới mẻ về kỹ thuật. Bởi vậy không có gì lạ khi lực lượng bảo vệ môi trường cũng như cơ quan quản lý nhà nước hết sức chăm chú theo dõi mọi biến động tại đây. Sự bùng nổ phương pháp fracking ở những vùng khác nhau thuộc Mỹ đã giúp mỗi ngày khai thác được khoảng 2 triệu lít dầu mỏ và nhiều km3 khí đốt, nhưng điều này càng làm cho những người bảo vệ môi trường thêm lo lắng.   Tuy có nhiều nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn chưa thể đánh giá cụ thể phương pháp fracking nguy hại đến mức độ nào đối với môi trường. Phương pháp này bơm hàng triệu lít nước trộn với cát và hoá chất vào trong lòng đất để lấy dầu hay khí đốt từ đá phiến. Việc khai thác Kerogen từ trong lòng đất cho đến nay hoàn toàn không có những thẩm định đáng tin cậy về tác động đối với môi trường.   Vì lý do này, giờ đây chính phủ ở Denver đã thu hẹp đáng kể diện tích khu thử nghiệm khai thác Kerogen.  Ở Israel, giới bảo vệ thiên nhiên cũng đã có đơn kiện giới ủng hộ Kerogen ra toà, cho nên chưa chắc việc khai thác sẽ được phê chuẩn. Cách đây năm năm, chính phủ Israel đã chèo kéo ông Harold Vinegar, phụ trách nhóm nghiên cứu Kerogen của hãng Shell, nhằm nghiên cứu khai thác mỏ đá dầu tại nước này. Người ta hy vọng Israel sẽ không còn bị lệ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ. Tuy nhiên sự phản đối của lực lượng bảo vệ thiên nhiên có thể làm cho dự án này phải ngừng hoạt động.   Xuân Hoài lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác nguồn gene lúa cổ truyền      Những tiến bộ trong công nghệ sinh học cho phép nghĩ tới hướng sử dụng tập đoàn giống lúa cổ truyền địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long để nghiên cứu để “phá quang kỳ”, rút ngắn thời gian sinh trưởng của lúa mùa, tìm hướng khai thác nguồn gene lúa cổ truyền tạo ra giống lúa có giá trị thương mại, sức cạnh tranh cao.    Công nghệ sinh học được ứng dụng nhiều nhất trên thế giới hiện nay là kỹ thuật khuếch đại DNA hay còn gọi là điện di DNA. Tuy nhiên, một ngành nữa đang phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 21 là ngành protein học (proteomics). Trên thế giới, căn cứ vào số lượng công trình nghiên cứu protein học cho thấy ngày càng nhiều nhà khoa học ở nhiều nước đang ứng dụng kỹ thuật này do ít tốn kém, dễ làm. Ngành protein học bao gồm hai kỹ thuật chủ yếu là điện di protein một chiều (SDS-PAGE) và hai chiều (2D).    Các nhà khoa học Nhật Bản đã áp dụng kỹ thuật điện di SDS-PAGE vào lĩnh vực nghiên cứu về lúa gạo từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Ở nước ta, hiện có rất ít công trình nghiên cứu sử dụng kỹ thuật này. Ở miền Bắc, Việt Nam có viện Công nghệ sinh học quốc gia ứng dụng (Trần Thị Phượng Liên, 2006) nghiên cứu trên cây đậu nành. Ở phía Nam có trường Đại học Cần Thơ thực hiện nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng trên lúa gạo.   Một kết quả ứng dụng thành công điển hình là giống lúa một bụi đỏ (MBĐ), đã đăng ký chỉ dẫn địa lý năm 2008.  Năm 2009, giống lúa mùa này trồng ở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu bị khách hàng Đức trả lại vì quá cứng cơm (hàm lượng amylose > 25%). Tạo điều kiện cho giống lúa lai F1 phát triển trên 8.000 ha trong số 15.000 ha, trường Đại học Cần Thơ nhận phục tráng theo hướng mềm cơm (amylose < 20%), bằng cách cắt một nửa hạt đem phân tích với kỹ thuật điện di protein SDS-PAGE, một nửa hạt mang phôi đem trồng được hai dòng HD5 và HD6, nhân lên bằng phương pháp cấy giâm hai lần.   Đến năm 2011, diện tích trồng lại giống một bụi đỏ mềm cơm đã chiếm lại gần hết diện tích nói trên, giúp tỉnh Bạc Liêu suýt bị mất chỉ dẫn địa lý lấy lại lòng tin giống MBĐ.  Các tỉnh lân cận như tỉnh Cà Mau, Kiên Giang tới Hồng Ngự dân “chia lại” giống đem về trồng. Nông dân bán được giá cao gần gấp đôi giá lúa trên thị trường.   Năm 2013, hạt giống MBĐ đang ở cấp xác nhận,  chúng tôi đề nghị tỉnh Bạc Liêu tiếp tục lấy giống siêu nguyên chủng nhân lên từ giống tác giả của viện trường để trồng sản xuất đảm bảo chất lượng đầu ra, duy trì được uy tín với khách hàng trong và ngoài nước.   Như vậy với kỹ thuật mới vừa nêu trên, kết hợp với kỹ thuật truyền thống đã giúp hàng trăm nông dân duy trì được giống lúa mùa địa phương và tạo ra dòng mới có ưu điểm tăng được khả năng chống chịu mặn ở giai đoạn mạ (một tháng đầu) từ 6‰ lên 8‰. Nông dân gieo trồng rất ít bị thiệt hại lượng giống do gieo nhiều lần khi sử dụng giống MBĐ (cũ)  gặp nắng hạn đầu vụ.   Bằng cách ứng dụng công nghệ điện di protein, chúng tôi phát hiện sớm gạo mềm cơm hay cứng cơm, rất có hiệu quả trong công tác chọn giống theo hướng gạo chất lượng cao, nhất là công tác phục tráng, cải thiện giống lúa thuần địa phương theo yêu cầu (amylose <15 -20%).   Những tiến bộ kỹ thuật trên cho phép nghĩ tới hướng sử dụng tập đoàn giống lúa cổ truyền địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long. Giống lúa mùa địa phương được hình thành thích nghi, tiến hóa lâu đời tại vùng châu thổ này.   Vùng ĐBSCL có 7 tiểu vùng sinh thái, nên tập đoàn giống lúa địa phương rất đa dạng. Vùng nhiễm phèn có giống “ Tài nguyên mùa”, vùng nhiễm mặn nhiều có giống “ sỏi mùa”, “nàng Hướt biển”; vùng nhiễm nước lợ có một số giống lúa thơm như nàng thơm chợ đào, Tàu hương v.v. Tương tự, trên vùng cao có lúa chịu hạn như Nàng Nhen An Giang, vùng lúa nước nổi có giống Nàng tây đùm. Nhìn chung các giống lúa mùa địa phương có nhược điểm là trổ theo mùa, nếu trổ sớm trong tháng 9-10 gọi là lúa mùa sớm, trổ tháng 11 là giống lúa mùa lỡ, trổ trong tháng 12 hay tháng 1 năm sau gọi là lúa mùa muộn.   Với nguồn vật liệu như trên, để khai thác nguồn gene quý này chúng tôi áp dụng kỹ thuật điện di SDS-PAGE để cải thiện tính mềm cơm, thơm thích hợp với thị trường xuất khẩu hiện nay như giống MBĐ đã đề cập ở trên. Và, đặc biệt đang tập trung nghiên cứu để “phá quang kỳ”, rút ngắn thời gian sinh trưởng của lúa mùa, tìm hướng khai thác nguồn gene lúa cổ truyền tạo ra giống lúa có giá trị thương mại, sức cạnh tranh cao.  Trường Đại học Cần Thơ đã ứng dụng kỹ thuật trên và tín hiệu thành công khá tốt trên lúa mùa cổ truyền: Lúa sỏi đột biến, nàng Hướt biển đột biến, tàu hương đột biến, thơm Thái Lan đột biến, nhóm này chống chịu phèn mặn cao, kháng rầy nâu, năng suất khá cao, kháng được bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn và hàm lượng amylose <20%(mềm cơm).  Tóm lại, vai trò của công nghệ  mới kết hợp với các kỹ thuật truyền thống đang mang lại triển vọng. Để những thành tựu này nhanh chóng trở thành nguồn lực phục vụ sản xuất, chúng tôi cần được sự đầu tư hơn nữa từ nhà nước, các địa phương để nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cho các thế hệ kế tiếp (sinh viện ngành công nghệ giống cây trồng) và cộng đồng. Băn khoăn hiện nay của người làm công tác giống là khó sống với nghề do việc mua bán, nhượng quyền sản phẩm trí tuệ làm ra chưa công bằng, chưa được trả công xứng đáng hoặc chưa có hướng hợp tác nào hứa hẹn win-win giữa bên nghiên cứu và sử dụng thành quả để duy trì hoạt động nghiên cứu tốt hơn.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác tài sản trí tuệ: Tìm lời giải mới cho bài toán cũ      Đề xuất trao quyền đăng ký sáng chế hình thành từ đề tài sử dụng ngân sách nhà nước là được kì vọng sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc đã tồn tại từ lâu trong quá trình tạo lập và thương mại hóa tài sản trí tuệ của các viện, trường và doanh nghiệp Việt Nam.    Thiếu chính sách tạo động lực  “Trước đây số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích của chúng tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Kể từ năm 2020, chúng tôi bắt đầu tiếp cận và nhận được hỗ trợ từ Cục Sở hữu trí tuệ, con số đã tăng lên 30, chênh lệch cực kì lớn so với trước”, PGS.TS. Đàm Sao Mai, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Công nghiệp TP HCM, cho biết trong hội thảo trực tuyến “Giải pháp thúc đẩy hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ hoạt động khai thác tài sản trí tuệ tại trường đại học, viện nghiên cứu” trong khuôn khổ Techfest Việt Nam 2021.  Điều diễn ra tại trường ĐH Công nghiệp TPHCM đã phần nào phản ánh hiệu quả của những nỗ lực thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ của Việt Nam trong những năm qua. Không chỉ trường ĐH Công nghiệp TP HCM mà nhìn chung, “số lượng đơn đăng ký và số văn bằng bảo hộ sáng chế được cấp của các trường đại học, viện nghiên cứu của chúng ta ngày càng tăng lên, một mặt là do nhu cầu đổi mới khoa học công nghệ, thứ hai là sự quan tâm đến việc đăng kí và phát triển tài sản trí tuệ ngày càng gia tăng”, ông Đinh Hữu Phí, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN), nhận xét.  Tuy nhiên, những điểm sáng trên vẫn còn khá thưa thớt. Nhìn chung, “số lượng đơn đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích của người Việt Nam chỉ chiếm khoảng 15% trong tổng số đơn đăng ký, đây là điều mà chúng ta rất cần lưu tâm”, ông Đinh Hữu Phí nhấn mạnh. Bởi lẽ, nếu các doanh nghiệp Việt Nam phát triển giải pháp công nghệ tương tự sẽ mất quyền đăng ký bảo hộ, hoặc họ muốn sản xuất thương mại hóa thì sẽ vướng phải quyền sở hữu của các doanh nghiệp nước ngoài đã “đi trước đón đầu”.    Việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ là một trong những khó khăn lớn nhất với các nhà sáng chế. Ảnh: Sáng chế máy ép gạch không nung của công ty Hồ Hoàn Cầu. Nguồn: hohoancau.com  Lật giở lại những hội thảo trước đây, bất cứ ai cũng có thể thấy rằng vấn đề này đã được thảo luận rất nhiều và trở thành câu chuyện quá quen thuộc với những người trong ngành. Trong quá trình đi tìm nguyên nhân, một trong những ý kiến phổ biến nhất là “do quá trình đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sáng chế quá phức tạp”, theo ông Hồ Xuân Vinh, Giám đốc công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu, nổi tiếng với nhiều sáng chế về máy xây dựng và nông nghiệp. “Với các doanh nghiệp, khâu đăng kí sở hữu trí tuệ thực sự rất khó bởi vì các quy định về mẫu, cách thức viết ra các bản mô tả rất phức tạp. Giai đoạn đầu, chúng tôi đã phải thuê các đơn vị tư vấn. Hơn nữa, việc đăng kí cũng tốn nhiều công sức, thời gian, tiền bạc. Với mỗi lần đăng ký sáng chế, các đơn vị tư vấn thường yêu cầu 40-50 triệu đồng một lần mà chưa biết có chắc chắn được hay không”.  Mặc dù là một trong những rào cản lớn song theo các chuyên gia, sự phức tạp của quy trình đăng ký bảo hộ sáng chế không phải là vấn đề quá khó đáp ứng. Với các chính sách thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ trong những năm gần đây, nếu doanh nghiệp hoặc viện, trường tìm đến đúng nơi hỗ trợ thì việc đăng ký bảo hộ sẽ rất dễ dàng. “Trước đây tôi nghĩ rằng, khó đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế, giải pháp hữu ích, có những kết quả nghiên cứu làm xong chúng tôi chuyển giao thẳng cho doanh nghiệp luôn chứ không đăng ký. Cho đến gần đây, tôi bắt đầu tiếp cận với Cục Sở hữu trí tuệ mới thấy đăng ký đâu có khó và tốn kém như thế, số lượng đơn đăng ký của chúng tôi đang ngày càng tăng”, PGS.TS. Đàm Sao Mai cho biết. “Đó là nhờ Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp hỗ trợ chúng tôi từ hoàn thiện hồ sơ, cũng cách tra cứu dữ liệu làm sao cho đảm bảo tính mới, khả năng đăng ký bảo hộ của sáng chế,… Mỗi khi chúng tôi muốn triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, bên Cục đều đồng ý ngay lập tức”.  Nếu quy trình thủ tục không còn là vấn đề, vậy tại sao số lượng sáng chế của người Việt Nam vẫn bị “lép vế” so với các đơn vị nước ngoài? Theo ý kiến của những chuyên gia có kinh nghiệm trong nghiên cứu lẫn hoạt động sở hữu trí tuệ như PGS.TS. Đàm Sao Mai, “nguyên nhân là do các nhà khoa học chưa có động lực đăng ký, nhiều người lựa chọn công bố bài báo vì nhanh hơn, tiện lợi hơn”. Cụ thể, “công bố quốc tế trung bình mất khoảng 6 tháng đến 1 năm, nhưng đăng ký giải pháp hữu ích hoặc sáng chế phải mất 2-3 năm, kéo dài hơn. Do vậy, việc công bố quốc tế để tính điểm công trình thuận lợi hơn nhiều so với việc đăng kí sáng chế để tính điểm”, theo TS. Vũ Xuân Tạo ở Trung tâm sinh học thực nghiệm, Viện Ứng dụng công nghệ (Bộ KH&CN).  Bản thân các nhà quản lý cũng nhận thấy tình trạng này. “Chúng tôi cho rằng nguyên nhân không phải do các nhà khoa học không có năng lực sáng tạo mà do cơ chế chính sách động lực, đây là điều rất đáng lưu ý để chúng ta tìm giải pháp tăng số lượng sáng chế của người Việt”, ông Đinh Hữu Phí cho biết. Bên cạnh những hoạt động khuyến khích, khen thưởng, nhiều người kỳ vọng động lực đăng ký bảo hộ sáng chế sẽ được cải thiện trong thời gian tới nhờ thay đổi quy định trao quyền đăng ký sáng chế cho các viện, trường. “Chúng tôi đã đề xuất trao quyền đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích,… hình thành từ đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cho các tổ chức chủ trì triển khai một cách tự động, không bồi hoàn. Đây là vướng mắc từ lâu nay được rất nhiều viện trường và các nhà khoa học quan tâm. Nếu đề xuất này được thông qua thì sẽ tạo động lực rất lớn cho việc khai thác, thương mại hóa các sáng chế”, ông Đinh Hữu Phí nói.  Cần thu hút sự tham gia của doanh nghiệp  Việc thúc đẩy số lượng đăng ký sáng chế, cũng như các công ty startup, mô hình spinoff được coi là một trong những điểm mấu chốt để tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp cũng như quốc gia. Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, “đó chỉ là phần nổi của tảng băng thôi, điều quan trọng là phải ứng dụng được những kết quả đó vào cuộc sống và kiếm tiền từ chúng. Đây mới là phần mất rất nhiều công sức để triển khai”, ông Phạm Tuấn Hiệp, Giám đốc ươm tạo của Công ty đầu tư và phát triển công nghệ Bách khoa Hà Nội (BK Holdings) nhận xét.  Tương tự như vấn đề đăng ký bảo hộ sáng chế, làm thế nào để tăng cường chuyển giao, thương mại hóa công nghệ cũng là bài toán mà các viện, trường lâu nay vẫn đang đi tìm lời giải. “Đây không phải là vấn đề nên làm mà với trường ĐH Bách khoa, đây là chuyện bắt buộc phải làm vì chúng tôi chịu rất nhiều áp lực cạnh tranh từ những trường khác, có những trường sẵn sàng trả lương rất cao để thu hút cán bộ Bách Khoa về làm, nếu chúng tôi không thương mại hóa được những tài sản trí tuệ trong trường để giúp cho các nhóm nghiên cứu làm giàu thì trường Bách khoa sẽ dần mất người và mất đi vị thế”, theo ông Phạm Tuấn Hiệp.  Rào cản lớn nhất trong quá trình này là “khoảng trống” giữa các viện, trường và doanh nghiệp. Đây không phải là vấn đề mới, thậm chí đã từng được đề cập trong hội nghị Tổng kết Chương trình phát triển thị trường KH&CN (Chương trình 2075) trong khuôn khổ Tuần lễ Kết nối công nghệ và Đổi mới sáng tạo do Bộ KH&CN tổ chức vào tầm này năm trước, “chỉ có khoảng 14% doanh nghiệp tìm đến viện, trường khi cần đổi mới công nghệ, còn 86% chạy đến chỗ khác”, theo nhận xét của TS. Tạ Bá Hưng, Chủ nhiệm Ban điều hành Chương trình 2075.  Để giải quyết vấn đề này, theo ông Phạm Hồng Quất, Cục trường Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN), ngoài việc thành lập các đơn vị trung gian (TTO, IP Office) để kết nối, hỗ trợ chuyển giao công nghệ như nhiều viện, trường đang làm, điều quan trọng là giải pháp công nghệ “phải tiếp tục hoàn thiện đến mức thị trường chấp nhận được chứ không phải mỗi cấp bằng sáng chế là được”. Một giải pháp tốt chỉ có giá trị nếu khả thi trong thực tế: “Công nghệ thương mại hóa khác với công nghệ nghiên cứu. Ví dụ trong xử lý hình ảnh, công nghệ nghiên cứu có thể nhận diện một khuôn mặt với độ chính xác 99%, tuy nhiên lại cần server, cấu hình, chi phí rất lớn. Công nghệ ứng dụng trong thực tế phải nhận diện khuôn mặt tuy độ chính xác không cao bằng nhưng có thể chạy trên những máy tính nhúng rất rẻ tiền”, ông Ngô Ngọc Thành, Tổng giám đốc công ty CP Beet Innovators cho biết.  Tuy nhiên, việc tối ưu hoàn thiện sản phẩm thường đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, thời gian và tiền bạc. Chẳng hạn như sản phẩm thép polyme của tập đoàn GFS đã từng “chịu lỗ 8 năm qua, đến năm nay mới bắt đầu có lãi”, theo ông Đỗ Đức Thắng ở tập đoàn GFS. Sau một quá trình dài phát triển, “sản phẩm này được Bộ Quốc phòng mang ra thử ngoài biển đảo qua 5 năm thì các công trình đối chứng hỏng hết rồi, chỉ có sản phẩm của chúng tôi vẫn đứng vững”.  Do vậy, “đây là thung lũng chết mà để vượt qua, phải có nhà đầu tư rất lớn đi cùng”, theo ông Phạm Hồng Quất, “chúng ta cần phải kéo được doanh nghiệp vào cuộc, đặc biệt là những tập đoàn lớn ở các khu vực tư nhân. Ngoài nguồn lực đầu tư dồi dào, sự đồng hành của các doanh nghiệp còn cần thiết trong quá trình lưu thông sản phẩm: “Chỉ có các tập đoàn kinh tế mạnh mới đủ điều kiện và sức mạnh để bảo vệ tài sản trí tuệ, vì trong quá trình tung sản phẩm ra thị trường bị nhái là thường xuyên, cá nhân sẽ rất khó ngăn cản vì việc kiện cáo khá phức tạp”, ông Đỗ Đức Thắng nói.      Author                Thanh An        
__label__tiasang Khai thác tính bản địa bằng sức mạnh công nghệ      Nếu nói về bề dày kinh nghiệm và khoa học quản trị, các doanh nghiệp Việt Nam còn thua các nước trong khu vực và trên thế giới rất xa. Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ hiện nay, Việt Nam đang có những cơ hội để tái định nghĩa một số ngành nghề truyền thống. Mà nói đến truyền thống, phải nghĩ ngay đến nguồn tài nguyên bản địa của Việt Nam, những thứ mà ta đang sẵn có nhưng chưa bao giờ khai thác tốt. Tại sao ta không bắt đầu từ cái mình có? Nếu tỉnh ta mạnh về gạo thì ta làm gạo. Nếu mạnh về sen thì ta làm sen. Nếu mạnh về trái cây, dệt may, thủ công mỹ nghệ thì ta cứ mang thế mạnh đó ra sử dụng.      Tổ chức WWOOF, kết nối tất cả các nông trại hữu cơ trên thế giới cho mọi người đến đăng ký, trải nghiệm cuộc sống và cách làm nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: tình nguyện viên tới trang trại hữu cơ ở Thanh Xuân, Sóc Sơn thông qua WWOOF. Nguồn: Textbooktravel.com.  Nhưng làm thế nào để sử dụng công nghệ, tạo ra những đổi mới sáng tạo phá vỡ quan niệm cũ về sản phẩm và ngành nghề kinh doanh truyền thống? Câu trả lời trước tiên là phải hiểu xu hướng của người dùng. Trong kinh doanh, dù bạn muốn làm ra kết quả gì, cách tư duy và định hướng thật ra mới là quan trọng. Tại sao chúng ta đưa ra một ý tưởng hay triển khai một sản phẩm, dịch vụ? Chúng ta liệu có một mục đích rõ ràng để giải quyết một nhu cầu đang thiếu rất lớn nào đó của người tiêu dùng tương lai chăng?  Ở Việt Nam, tôi nhận thấy chúng ta thường làm ngược lại. Thường là lao vào làm ra sản phẩm và dịch vụ rồi sau đó đi tìm cách bán hàng. Nhưng nếu đó không phải là nhu cầu của thị trường tương lai thì phải chăng cái bạn làm ra là vô dụng?  Tin vui là tính bản địa là một trong bảy từ khoá quan trọng nhất đối với người tiêu dùng tương lai. Bảy từ khoá này bao gồm tiết kiệm, bền vững, công nghệ, bản địa, sức khoẻ, đơn giản, tự do. Đó là những từ khoá của người tiêu dùng tương lai, thế hệ thiên niên kỷ – Millenials và thế hệ Z (thế hệ sau Millenials). Họ được mệnh danh là những người tiêu dùng số. Trên thế giới, số lượng người tiêu dùng số này đang chiếm tỷ lệ khủng từ 40-77% tuỳ theo thị trường. Tại Việt Nam, tỷ lệ này là 59%. Dựa trên quan sát và kinh nghiệm của mình, tôi xin đưa ra năm xu hướng sẽ mang lại cho doanh nghiệp một góc nhìn mới, một định hướng mới, một cách làm mới để có thể khai thác hiệu quả tính bản địa trong thời đại công nghệ.  1. Phân khúc rõ ràng  Người tiêu dùng số ngày nay bắt đầu đặt những câu hỏi phá vỡ tính truyền thống. Tại sao tôi phải sở hữu cái chẳng mấy khi xài đến? Tại sao phải lo mua sắm mà không phải là đi chơi và trải nghiệm? Tại sao phải lãng phí tài nguyên? Tại sao phải trả thêm cho những thứ mà tôi không dùng đến? Tiết kiệm là chữ đầu tiên trong bảy từ khoá của người tiêu dùng số. Vì vậy, họ bắt đầu tiêu dùng thông minh, hoặc là chọn sản phẩm dịch vụ cơ bản và thêm vào khi cần thiết, hoặc là sử dụng sản phẩm đắt tiền xứng đáng với giá trị mong muốn. Do đó, các nhãn hàng tầm trung, không cao không thấp, “không rẻ, không đắt” dễ bị họ tẩy chay. Sản phẩm và dịch vụ vì vậy cần được phân khúc hết sức rõ ràng về giá trị phục vụ phân khúc cao hay là thấp. Cũng là dầu dừa chẳng hạn. Hoặc là cung cấp dầu dừa chất lượng đúng yêu cầu, với giá cơ bản nhất, hoặc là cung cấp dầu dừa cao cấp, sử dụng công nghệ tiên tiến nhất, được thiết kế phù hợp nhất với nhu cầu tiêu dùng hiện đại xứng đáng với giá trị gia tăng cao.  2. Công nghệ  Trong thời đại điện thoại thông minh, mọi tương tác với người tiêu dùng không thể không thông minh. Bao bì phải thông minh, ví dụ như công nghệ smart cap – nắp thông minh, cho phép người tiêu dùng truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, đo được thời gian bao bì để ở nhiệt độ phòng làm cho sản phẩm có thể bị hỏng. Đặt hàng phải thông minh, ví dụ cách làm của app Aussie Direct cho phép đặt hàng rau củ quả theo nông trại, giúp kết nối trực tiếp từ nông trại đến bàn ăn. Giao hàng cũng phải thông minh, ví dụ cách làm của công ty sữa Country Delight, cho phép đặt sữa thanh trùng giao hàng theo lịch hẹn qua app, có thể giao hàng trong vòng 48 giờ kể từ khi vắt sữa, từ một nông trại bò sữa gần nhất. Cách làm này cắt giảm hoàn toàn thời gian, chi phí vận chuyển, lưu trữ, hao hụt và tăng đáng kể thời hạn sử dụng và mức độ tươi mới của sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Hành trình tương tác từ lúc khách hàng bắt đầu có ý định tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ đến khi kết thúc và phản hồi phải liền mạch, dễ dàng, qua các tương tác di động. Ví dụ sản phẩm được bán ra phải đi kèm với công thức chế biến online, tương tác sinh động, có hỏi đáp trực tuyến nếu cần để giúp đưa ra giải pháp tức thời cho khách hàng khi cần thiết.  3. Trải nghiệm  Người tiêu dùng tương lai không mua sản phẩm. Họ mua trải nghiệm. Do đó, tư duy về sản phẩm cần phải được đặt lại trong bối cảnh tôi cung cấp trải nghiệm gì. Khi nói về tính bản địa, trải nghiệm về văn hoá, thiên nhiên, con người, di sản, lịch sử mang giá trị cao hơn gấp nhiều lần một sản phẩm tiêu dùng. Vậy những giá trị này được thể hiện ra sao nếu chúng ta chỉ bán một sản phẩm tiêu dùng? Phải chăng ta cần mang họ đến trải nghiệm bản địa tận gốc như cách làm của website WWOOF, kết nối tất cả các nông trại hữu cơ trên thế giới cho mọi người có thể đăng ký, đến trải nghiệm cuộc sống và cách làm nông một cách hữu cơ? Phải chăng ta cần được trải nghiệm bản địa với người bản địa như cách làm của app BonAppetour, kết nối chủ nhà bản địa với những người khách phương xa háo hức tìm hiểu cái mới? Phải chăng ta cần mang tính bản địa đến tận nhà, trọn gói như cách làm của Chef D’, gói trọn tất cả nguyên vật liệu và công thức vào trong một cái hộp nhỏ xinh trao đến tận nhà cho người cần trải nghiệm? Sản phẩm không thể chỉ tư duy đơn lẻ mà cần được tư duy trong khái niệm mang lại trải nghiệm bản địa nhất một cách dễ dàng và tiện lợi nhất cho người tiêu dùng không có thời gian.  4. Solo  Theo thống kê, trong vòng 5 năm trở lại đây, số lượng hộ gia đình solo – chỉ có 1 người tăng 32% trên toàn thế giới. Thế hệ số không thích vướng bận. Họ thích tự do, thích di động, và thích trải nghiệm càng nhiều càng tốt. Gia đình solo dẫn đến nhu cầu cũng solo. Mọi sản phẩm họ cần phải đơn giản, tiện lợi, dinh dưỡng, di động, vv… theo cách tất cả trong một. Vì vậy tư suy sản phẩm và dịch vụ cũng phải hướng về nhu cầu solo mới, giải quyết nhu cầu khẩu phần nhỏ, di động, kết hợp nhiều sản phẩm bản địa khác nhau, tự nhiên, tốt cho sức khoẻ, và đặt hàng giao hàng định kỳ để người tiêu dùng không phải suy nghĩ quá nhiều. Một ví dụ rất thành công trong sự kết hợp giữa nhu cầu solo và tính bản địa này là dịch vụ đặt hàng và giao hàng định kỳ graze.com. Người đặt hàng có thể chọn sự kết hợp của nhiều sản phẩm snack khác nhau, mang tính bản địa và tự nhiên cao, được giao hàng định kỳ trong một chiếc hộp giấy có bốn ngăn nho nhỏ theo thời gian lựa chọn. Nếu có một nền tảng như vậy, tôi chắc chắn sẽ đặt ngay các mặt hàng bản địa mà mình yêu thích từ các khu vực khác nhau trên khắp Việt Nam.  5. Không gian nhỏ  Do thích trải nghiệm, thích nhẹ nhàng, đơn giản và di động, người tiêu dùng số cũng chọn không gian sống nhỏ hơn. Vì thế, mọi thứ, từ trang thiết bị gia dụng, nội thất, đến các sản phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống hằng ngày cũng phải theo đó nhỏ đi. Trang thiết bị thì mang tính đa năng hơn để không chiếm quá nhiều không gian. Sản phẩm thì cần giải quyết nhu cầu bao bì nhỏ gọn, dễ sắp xếp, lưu trữ hợp lý và khoa học hơn cho không gian nhỏ. Ví dụ công nghệ The Fresh Book, cho phép tách khẩu phần ăn một lần cho một người trong mỗi lá sách. Một quyển sách có thể có một lá thịt gà, một lá thịt bò, một lá cá, vv theo ngày. Sản phẩm dù bản địa hay không cũng phải đáp ứng xu hướng nhỏ gọn lại, phù hợp với không gian sống mới.    Gọi chung trong một từ khóa công nghệ nhưng trên thực tế tất cả 5 xu hướng đều cần giải quyết bằng nền tảng chung là công nghệ. Có bạn hỏi, vậy em làm ra sản phẩm rồi thì áp dụng công nghệ thế nào. Công nghệ không nên được hiểu một cách hạn hẹp là cách ta bán hàng hay làm tiếp thị online. Công nghệ cần phải được xem là nền tảng để tư duy sản phẩm và dịch, giải quyết những nhu cầu còn chưa được đáp ứng của người tiêu dùng số. Người làm sản phẩm hay dịch vụ mang tính bản địa nếu thiếu hiểu biết về công nghệ thì cần phải tìm và hợp tác với các chuyên viên công nghệ để tư duy sản phẩm theo nhu cầu người tiêu dùng số từ lúc khởi đầu. Chỉ bằng cách đó, Việt Nam mới có thể tận dụng được cơ hội cửa sổ vàng công nghệ này để nắm bắt xu hướng bản địa, để vượt lên ngoạn mục với những mô hình kinh doanh phi truyền thống để cạnh tranh với các mô hình kinh doanh truyền thống, vốn là thế mạnh của các quốc gia phát triển hơn.    Author                Phi Vân        
__label__tiasang Khai thác tơ… nhện      Nhiều nhà khoa học và doanh nghiệp đang khẩn  trương nghiên cứu cách khai thác tơ nhện hoặc chế tạo các  bản sao của chúng bằng biện pháp nhân tạo.     Tơ nhện có khả năng chịu lực gấp bốn lần so với thép, độ co giãn gấp ba lần, có khả năng chịu nhiệt cao và không bị nấm hoặc vi khuẩn phá hại.  Các nhà y học đặc biệt đặt nhiều hy vọng vào tơ nhện. Tơ nhện rất lành và cơ thể có thể phân huỷ chúng. Ngay từ thời cổ đại, người ta đã biết phủ tơ nhện lên các vết thương.  Hiện nay, nhiều nhà khoa học và doanh nghiệp đang khẩn trương nghiên cứu tìm phương pháp khai thác tơ nhện hoặc chế tạo các bản sao của chúng bằng biện pháp nhân tạo.   Hãng Amsilk cùng với Đại học Ludwig-Maximilians (LMU) ở München đã tiến rất xa trên lĩnh vực này. Năm ngoái hãng đã giới thiệu mạng nhện đầu tiên do con người sản xuất.   “Một thời gian dài, người ta tin rằng sản xuất tơ nhện là không thể”, ông Mathias Woker, trưởng phòng phát triển kinh doanh của Amsilk, nói. Nhện là sinh vật ăn thịt đồng loại, rất khó để nhốt chúng với nhau cùng một nơi. “Vì đến cuối ngày, lắm khi chỉ còn một con sống sót.”  Tuy vậy Trường cao đẳng Y học ở Hannover đã thành công. Trong khuôn viên một bệnh viện trước đây, thay cho người bệnh là các chú nhện “Rosa”, “Dasha” và khoảng 150 nhện vàng ở phòng đợi. Loại nhện này dài khoảng 5 cm và rất ôn hoà. Hàng ngày người ta “rút” tơ nhện.   Nhện ở trong một miếng xốp được bao bọc bởi những mảnh lưới và người ta rút tơ từ những con nhện này. Bình quân mỗi lần, các bác sỹ khai thác độ 200 m tơ. “Có lẽ có thể kéo được tới 500 m, nhưng chúng tôi không muốn lấy kiệt tơ.” Nhện cũng bị mất sức khi bị lấy tơ, vì sau độ mười phút chúng bắt đầu bồn chồn, khó chịu. Sau khi lấy tơ, nhện được uống nước và bồi dưỡng bằng dế – vì dế sẵn có nhất.     Các bác sỹ muốn dùng tơ nhện để nối dây thần kinh bị đứt. Tơ nhện sẽ trở thành dây trụ để dây thần kinh bị đứt vì tai nạn hoặc vì phẫu thuật lấy khối u bám vào và phát triển. “Chúng tôi đã kết thúc giai đoàn thử nghiệm tiền lâm sàng, bà Kerstin Reimers, người phụ trách bộ phận phẫu thuật tạo hình tại Trường cao đẳng Y học ở Hannover, nói.  Trong nuôi tế bào ở chuột và cừu, phương pháp này tỏ ra “rất hữu hiệu”. “Ở một con cừu, chúng tôi đã tạo một cầu nối dài tới sáu cm, mà không cần phải xử lý bổ sung bằng tế bào của nó.” Nay các nhà sinh học và y học mong muốn có thể bắt đầu nghiên cứu lâm sàng ở người.  Tơ của nhện rất bền và linh hoạt vì vậy các chuyên gia về vật liệu hết sức quan tâm. Việc giải mã thành công gien di truyền của nhện sẽ giúp làm sáng tỏ những bí mật của tơ nhện. Năm 2010, Amsilk và các nhà khoa học của LMU đã giải mã cơ sở phân tử sản xuất sợi trong tuyến hạch ở nhện. Năm 2011, họ đã tìm thấy cơ chế tạo ra độ bền rất cao của sợi tơ nhện. Họ nuôi cấy vi khuẩn coli biến đổi gien để tạo  protein. Ngay cả khi chế tạo được đúng loại protein thì từ việc chuyển từ dạng bột sang dạng sợi còn là một bước rất dài phải vượt qua. “Chúng tôi đã tìm ra con đường để biến Protein thành sợi”, Woker nói. Amsilk tin tưởng có thể kéo cả tấn sợi tơ nhện. Hiện nay họ đang ở trong giai đoạn sản xuất thử.  Amsilk cũng đang bán mỹ phẩm chứa protein từ mạng nhện. Theo lời Woker thì “chất này tạo một màng mỏng để ngăn chặn những tác động của môi trường”. Dự án tiếp theo là tạo các lớp phủ cho ngực giả. Tơ nhện hạn chế phản ứng viêm nhiễm và cản trở sự hình thành những lớp vẩy sau ca phẫu thuật. Người ta đã thử nghiệm trên một năm ở chuột.  Ngoài ra, trong tương lai sẽ hình thành trang phục thể dục thể thao từ tơ nhện nhân tạo có tính đàn hồi và nhẹ – đây là một giải pháp để thay thế cho trang phục chức năng phần lớn được chế tạo từ sản phẩm tổng hợp, có nghĩa là từ dầu mỏ. Trong khi đó, quần áo dành cho quân nhân bằng tơ nhện nhân tạo sẽ bền đến mức có thể chống mảnh bom mìn.   Ngay từ thời xa xưa, con người đã dùng tơ nhện để dệt y phục: trong thế kỷ 19, người ta đã dùng sợi tơ nhện vàng (Radnetzspinnen) để dệt những tấm áo choàng có mầu vàng long lanh. Vua Ludwig XIV từng có một đôi găng tay dệt từ tơ nhện. Năm 2012, người ta đã tái chế tấm áo choàng bằng tơ nhện và trưng bày tại Bảo tàng Victoria và Albert ở London.  Xuân Hoài dịch theo DPA     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai trương Không gian thế giới cà phê Trung Nguyên Legend tại Thượng Hải      Ngày 21/9/2022, mô hình Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend đầu tiên trên thế giới được khai trương tại trung tâm Thượng Hải, Trung Quốc.    Sau gần 5 năm mở văn phòng đại diện tại Thượng Hải, Trung Nguyên Legend tiếp tục khai trương mô hình Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend ở tại trung tâm kinh tế, tài chính số 1 Trung Quốc và của cả thế giới này. Hiện diện tại số 699 đường Nanjing, con phố thương mại sôi động bậc nhất tại Thượng Hải, Trung Quốc, Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend đem đến cho người yêu cà phê những cách thưởng lãm cà phê mới đặc sắc, thú vị cùng những sản phẩm cà phê năng lượng khác biệt được sáng tạo từ những hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới được trồng ở Buôn Ma Thuột, Việt Nam.  Cứ 18 ly cà phê được uống ở Trung Quốc có 1 của Trung Nguyên Legend  Tại Trung Quốc, trà là thức uống truyền thống với hàng nghìn năm lịch sử văn hóa thưởng thức. Tuy nhiên, tình thế bắt đầu thay đổi trong vài năm qua. Theo các báo cáo nghiên cứu thị trường, bên cạnh trà, nhu cầu tiêu thụ cà phê tại Trung Quốc có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt, ở các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh, đời sống xã hội phát triển nhanh cùng sự đón nhận các xu hướng văn hóa mới của người tiêu dùng khiến thứ đồ uống này ngày một phổ biến, yêu chuộng. Theo Công ty nghiên cứu thị trường Mordor Intelligence, thị trường cà phê Trung Quốc được dự báo tăng trưởng trung bình 10,42%/năm trong giai đoạn 2022 – 2027. Một thông tin khác từ Hiệp hội Cà phê Trung Quốc (CCAB), cho thấy, tiêu thụ cà phê tại Trung Quốc đang tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 15%.  Trung Quốc có nguồn cung đa dạng cà phê từ gần 80 quốc gia, chủ yếu từ Guatemala, Ethiopia, Việt Nam, Malaysia, Brazil… Với Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, Trung Quốc luôn là thị trường tiêu thụ cà phê lớn đầy tiềm năng của Việt Nam, đặc biệt từ năm 2018 đến nay. Từ vị trí thứ 12 vào năm 2018, đến năm 2021 Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu cà phê lớn thứ 8 của Việt Nam.  Trung Nguyên Legend là thương hiệu cà phê Việt Nam số 1 được yêu thích tại Trung Quốc  Ở thị trường lớn này, Trung Nguyên Legend là thương hiệu cà phê Việt Nam số một được tin dùng và có tốc độ tăng trưởng nhanh. Trong hơn 10 năm qua, các sản phẩm, thương hiệu Trung Nguyên, G7, Trung Nguyên Legend của Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã được những người yêu cà phê tại đây ưa chuộng. Đặc biệt, cà phê G7 đã trở thành thương hiệu cà phê hòa tan được tin dùng nhất bởi hương vị thơm ngon từ nguồn nguyên liệu cà phê Robusta tốt nhất thế giới (theo báo cáo năm 2019 của Chnbrand – cơ quan xếp hạng thương hiệu hàng đầu Trung Quốc) và chiếm giữ thị phần lớn thứ 2 trên thị trường thương mại điện tử nước này. Tính từ đầu năm 2022 đến nay, đã có 800 triệu ly cà phê Trung Nguyên Legend được bán ra tại Trung Quốc. Như vậy trung bình cứ mỗi 18 ly cà phê được bán ra trên toàn Trung Quốc thì có 1 ly cà phê của Trung Nguyên Legend.  Không gian kết nối văn hóa của Trung Nguyên Legend   Đây là không gian đầu tiên trên thị trường quốc tế của mô hình Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend, đánh dấu sự phát triển của Trung Nguyên Legend tại thị trường Trung Quốc. Trong không khí của buổi lễ khai trương, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thượng Hải đã gửi lời chúc mừng nồng nhiệt tới Tập đoàn Trung Nguyên Legend:“Tôi hy vọng rằng sự xuất hiện của Trung Nguyên Legend sẽ không chỉ mang đến cho những người yêu cà phê Trung Quốc một trải nghiệm mới thú vị và độc đáo về cà phê Việt Nam mà còn để những người bạn Trung Quốc hiểu hơn về con người Việt Nam và văn hóa Việt Nam”.  Cũng trong lễ khai trương, đại diện Ban chuyên Cà phê và Đồ uống Hiệp hội Công nghiệp Thực phẩm Trung Quốc đã chia sẻ: “Với những thay đổi trong lối sống công cộng, cà phê ngày càng trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Không chỉ đơn thuần là một thức uống, nó đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, sợi dây kết nối giữa con người, các nền văn hóa. Hy vọng rằng Trung Nguyên Legend sẽ tiếp tục mang sự linh hoạt và đa dạng của thế giới cà phê đến với Thượng Hải, một thành phố quốc tế sôi động bằng chất lượng sản phẩm tuyệt vời và nguồn cảm hứng từ một thương hiệu tích cực, ý nghĩa, để mọi người yêu cà phê đều có thể thưởng thức cà phê đích thực và nét đẹp độc đáo của lối sống văn hoá người Việt Nam”.  Không gian này cũng là một không gian của văn hóa  Đại diện Ban chuyên Cà phê và Đồ uống Hiệp hội Công nghiệp Thực phẩm Trung Quốc cũng hé lộ một thông tin thú vị và gợi mở nhiều cơ hội phát triển trong tương lai với Trung Nguyên Legend “Hiện nay, ngành cà phê của Trung Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 15%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng trung bình toàn cầu là 2% vào năm 2025”.  Không chỉ là thức uống hay khẩu vị ẩm thực đơn thuần, Trung Nguyên Legend nhìn nhận cà phê là sứ giả văn hóa, cà phê ngoại giao, là thức uống thúc đẩy năng lượng sáng tạo. Chính vì vậy, Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend đầu tiên tại Thượng Hải là không gian cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật, nơi hội tụ tinh hoa ba nền văn minh cà phê thế giới tiêu biểu. Nơi đây còn trưng bày và giới thiệu toàn bộ hệ sản phẩm cà phê năng lượng, hệ sản phẩm cà phê bán lẻ đa dạng, các công cụ dụng cụ, cùng không gian thưởng lãm khác biệt, đặc biệt theo ba nền văn minh cà phê Ottoman – Roman – Thiền do Tập đoàn Trung Nguyên Legend dày công nghiên cứu và chắt lọc.  Với những trải nghiệm cà phê hoàn toàn khác biệt, thú vị như trải nghiệm Cà phê Thiền – một sản phẩm cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật do Trung Nguyên Legend sáng tạo nên, Cà phê sữa đá Việt Nam nổi tiếng toàn cầu; tìm hiểu các trào lưu và loại hình cà phê đã được UNESCO coi là di sản phi vật thể của nhân loại như Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, các món cà phê được ưa chuộng nhất thế giới như Sparkling Coffee, Western Cold Brew Coffee, Cà phê trứng Việt Nam… Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend tại 699 Nanjing sẽ đem đến những trải nghiệm mới mẻ cho những người yêu cà phê tại Trung Quốc. Đặc biệt, khách hàng sẽ được khám phá trọn vẹn quy trình tạo tác cà phê năng lượng Trung Nguyên Legend đặc biệt – khác biệt – duy nhất qua hành trình của hạt cà phê Robusta Việt Nam từ khi được gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, rang, chế biến, pha chế… để mang đến những ly cà phê tuyệt hảo.  Người yêu cà phê tại Thượng Hải thích thú khám phá nghệ thuật trình diễn Thiền cà phê – một sản phẩm cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật do Trung Nguyên Legend sáng tạo nên  Cùng những trải nghiệm cà phê khác biệt, Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend 699 Nanjing, Thượng Hải tái hiện một không gian cà phê đậm bản sắc Việt Nam, được thể hiện qua thiết kế kiến trúc, hình ảnh trưng bày, thực đơn ẩm thực mang dấu ấn văn hóa Việt Nam hòa quyện cùng văn hóa bản địa. Những hoa văn, vật liệu truyền thống quen thuộc của người Việt như đá núi lửa, đất đỏ bazan, gốm, các đồ dùng bằng mây tre đan, hình ảnh nón lá đặc trưng của văn hóa Việt Nam được kết hợp hài hòa cùng những yếu tố bản địa mang đến một không gian cà phê Việt Nam vừa gần gũi, vừa mới mẻ cho người yêu cà phê thế giới.  Trong suốt 26 năm phát triển, Trung Nguyên Legend đã không ngừng sáng tạo hệ sinh thái cà phê đặc sắc trên toàn chuỗi giá trị ngành cà phê, qua đó góp phần nâng cao giá trị cà phê lên tầm mức văn hóa tinh thần, đóng góp một sắc thái mới cho ngành cà phê toàn cầu. Sự ra mắt mô hình Thế giới cà phê Trung Nguyên Legend tại Thượng Hải, Trung Quốc, mô hình duy nhất trên thế giới cô lọc ba nền văn minh cà phê và hệ sản phẩm khác biệt, đặc biệt, tiếp tục khẳng định vị thế dẫn dắt của thương hiệu, từng bước hiện thực hóa khát vọng vinh thăng giá trị cà phê và nâng tầm thương hiệu cà phê Việt Nam trên toàn cầu.  Hoàng Giang    Author                .        
__label__tiasang Khám phá bí ẩn về bệnh tiểu đường loại 2      Trong hơn 30 năm qua, các nhà khoa học đã từng cố gắng khám phá bí ẩn về cách một phân tử quan trọng về mặt sinh học có khả năng tự tập hợp thành một thành phân giống protein là amyloid. Người ta cho là nó đóng một vài trò quan trọng trong bệnh tiểu đường loại 2 – một căn bệnh ảnh hưởng đến khoảng 300 triệu người trên khắp thế giới.    Doctor checking blood sugar level with glucometer. Treatment of diabetes concept.  Một nhóm các nhà khoa học tại trường đại học Leeds lần đầu tiên đã có thể nhận diện được những thay đổi từng bước trong phân tử được gọi là amyloid polypeptide, hay hIAPP, khi nó thay đổi thành amyloid.  Họ đã khám phá ra những hợp chất mới có khả năng làm tăng tốc hoặc làm chậm đi quá trình này.  Ở người khỏe mạnh, hIAPP được tiết ra từ những “hòn đảo” trong tuyến tụy bên cạnh hormone insulin. Nó giúp điều chỉnh các mức đường huyết và lượng thực phẩm trong dạ dày. Khi hIAPP gặp trục trặc, nó hình thành những cụm vật chất giống protein được gọi là amyloid fibrils có thể làm tê liệt các đảo tạo insulin trong tuyến tụy.  Quá trình phát triển của amyloid fibrils được quan sát ở người mắc tiểu đường loại 2, dẫu cơ chế chính xác về cách nó được kích hoạt vẫn còn chưa được biết rõ.  Nghiên cứu này được xuất bản trên Nature Communications “Tuning the rate of aggregation of hIAPP into amyloid using small-molecule modulators of assembly”.  Bài báo không chỉ miêu tả những thay đổi phức tạp ở cấp độ phân tử được quan sát trong các phân tử hIAPP khi chúng chuyển thành amyloid fibrils mà còn đề cập đến khám phá: các nhà khoa học cho biết họ đã tìm thấy hai hợp chất mới, được miêu tả như các bộ điều biến phân tử có thể kiểm soát quá trình này, trong đó một bộ làm tăng tốc độ chuyển đổi, bộ còn lại trì hoãn nó.  Các bộ điều biến phân tử này có thể được sử dụng như “những công cụ hóa học” để giúp các nhá khoa học  tìm hiểu con đường amyloid fibrils tăng trưởng và tại sao chúng lại trở nên độc hại và độc hại như thế nào?  Đáng chú ý, chúng đưa ra “những điểm khởi đầu” cho sự phát triển của các loại thuốc có thể kìm chân hoặc kiểm soát sự hình thành amyloid fibrils và giúp thúc đẩy những con đường điều trị bệnh tiểu đường loại 2.  Sheena Radford, giáo sư Lý sinh tại Trung tâm Sinh học phân tử cấu trúc Astbury tại Leeds là người cố vấn cho quá trình thực hiện nghiên cứu, cho rằng “Đây là một bước đi lớn và thú vị trong cuộc khám phá của chúng ta để có thêm hiểu biết và điều trị bệnh tiểu đường, qua đó giải quyết một vấn đề sức khỏe quan trọng đang ngày một gia tăng”.  “Các hợp chất mà chúng tôi khám phá là bước đi đầu tiên và quan trọng hướng về can thiệp phân tử nhỏ trong một căn bệnh đã làm nhiều thế hệ các nhà khoa học băn khoăn”.  Nhóm nghiên cứu đã xem xét việc hIAPP được tìm thấy phổ biến trong dân số và phát hiện ra một biến thể hiếm gặp ở những người có đột biến di truyền S20G có thể khiến họ có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn.  Sự hình thành Amyloid fibril liên quan đến bệnh  Hiểu về sự hình thành amyloid fibrils là một lĩnh vực chính của nghiên cứu về sức khỏe. Sự hình thành của fibrils được tin là còn thuộc một phạm vi trộng của những căn bệnh nguy hiểm như Alzheimer, Parkinson cũng như tiểu đường dạng hai.  Giáo sư Radford cho biết thêm: “Các kết quả này cũng rất thú vị vì chúng mở ra cánh cửa cho việc sử dụng những cách tiếp cận tương tự để hiểu các bệnh khác liên quan đến amyloid, một lượng lớn các bệnh mà hiện nay vẫn còn thiếu vắng các biện pháp điều trị”.  Nhân Nguyên tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-02-unravelling-mysteries-diabetes.html  Scientists Are Unraveling the Mysteries Around Type-2 Diabetes    ———————————————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41467-022-28660-7       Author                .        
__label__tiasang Khám phá bí mật để thiết kế thiết bị giống não người      Ngay cả trong hàng thập kỷ phát triển nhanh chưa từng thấy về sức mạnh tính toán, các công nghệ tính toán hiện đại vẫn thua bộ não người về nhiều khía cạnh. Bộ não của chúng ta hiệu quả một cách đáng kinh ngạc trong việc giải quyết những nhiệm vụ về nhận thức và không có sự phân tách giữa trí nhớ và tính toán, không như các bộ vi xử lý máy tính tiêu chuẩn.      Trong thập kỷ qua, mẫu hình mới của kỹ thuật biến đổi thần kinh đã xuất hiện với sự gợi ý của các mạng lưới thần kinh của bô não và trên cơ sở phần cứng hiệu quả về năng lượng trong xử lý thông tin.  Để tạo ra các thiết bị có thể bắt chước những gì xảy ra trong những neuron và khớp nối synapse trong bộ não của chúng ta, các nhà nghiên cứu cần vượt qua một thách thức kỹ thuật phân tử cơ bản: cách thieesrt kế các thiết bị có thể thể hiện được sự biến đổi có kiểm soát và hiệu quả năng lượng giữa các trạng thái khác nhau do những tác nhân đầu vào kích hoạt.  Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học ở trường Kỹ thuật phân tử Pritzker (PME)  thuộc trường đại học Chicago đã có thể dự đoán được những quy tắc thiết kế cho nhiều thiết bị.  Xuất bản trên tạp chí npj Computational Materials “Understanding the metal-to-insulator transition in La1−xSrxCoO3−δ and its applications for neuromorphic computing”, nghiên cứu này dự đoán những cách mới để thay đổi về mặt kỹ thuật và kích hoạt trong nhiều lớp chuyển đổi ô xít kim loại, vốn có thể được sử dụng để hình thành những cấu trúc kỹ thuật biến đổi thần kinh.  “Chúng tôi sử dụng các tính toán cơ học lượng tử để khám phá cơ chế của chuyển pha, nhấn mạnh một cách thực tế cách nó diễn ra tại mức nguyên tử”, Giulia Galli, giáo sư Liew Family tại trường Kỹ thuật phân tử Pritzker, giáo sư hóa học, và đồng tác giả nghiên cứu, nói. “Chúng tôi còn đặt một mô hình để tự đoán cách kích hoạt chuyển pha, có thể kiểm chứng bằng các phương pháp đo lường đang có”.    Giulia Galli, giáo sư Liew Family tại trường Kỹ thuật phân tử Pritzker.  Tác động của những sai hỏng của các tính năng điện tử  Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu các vật liệu ô xít có thể hiện sự thay đổi các tính năng điện tử từ một kim loại – vốn dẫn điện – thành một chất cách ly – vốn không cho phép dòng điện chạy qua – với việc hội tụ của nhiều sai hỏng. Những sai hỏng có thể là do mất các nguyên tử hoặc một số tạp chất thế chỗ các nguyên tử trong một tinh thể hoàn hảo.  Để hiểu về cách sai hỏng làm thay đổi trạng thái của vật liệu từ một kim loại thành chất cách ly, các tác giả đã tính toán cấu trúc điện tử tại những hội tụ sai hỏng khác nhau bằng việc sử dụng các phương pháp dựa trên cơ học lượng tử.  “Hiểu sự phụ thuộc lẫn nhau đầy phức tạp của việc mang các sai hỏng này, cách các nguyên tử tái sắp xếp trong vật liệu và cách các tính năng spin biến đổi là điều cốt lõi để kiểm soát và cuối cùng kích hoạt sự chuyển pha như mong muốn”, Shenli Zhang, một postdoct của trường đại học Chicago và là tác giả thứ nhất của bài báo, cho biết.  So sánh với những chất bán dẫn truyền thống, các vật liệu ô xít mà chúng tôi đã nghiên ứu đòi hỏi ít năng lượng hơn để chuyển giữa hai trạng thái khác nhau hoàn toàn này: từ một kim loại thành một chất cách ly”, Zhang giải thích. “Đặc điểm này khiến cho các vật liệu đó trở thành ứng viên hứa hẹn để sử dụng cho các neuron nhân tạo hay các synapse nhân tạo cho các kiến trúc biến đổi thần kinh quy mô lớn”.  Nghiên cứu này được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu Các vật liệu lượng tử cho Tính toán biến đổi thần kinh hiệu quả năng lượng (QMEENC), do Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ và giáo sư Ivan Schuller tại UC San Diego dẫn dắt.  “Việc hiểu về các vật liệu lượng tử sẽ đem lại những giải pháp quan trọng cho các vấn đề khoa học và công nghệ, bao gồm việc giảm thiểu tiêu thụ trong những thiết bị tính toán”, giáo sư Schuller giải thích. “Với các vật liệu lượng tử phức hợp, cách tiếp cận kiểu Edison trong thử và sai không còn khả thi nữa, và các lý thuyết định lượng là cần thiết”.  Hiện có rất nhiều lý thuyết phức tạp đang đòi hỏi khả năng tính toán và mất nhiều thời gian thực hiện. “Các tính toán mang tính nguyên tắc đầu tiên đang đóng vai trò chính trong việc định hướng kỹ thuật phân tử của kỹ thuật biến đổi thần kinh. Thật thú vị khi thấy các phương pháp mà chúng tôi phát triển trong nhiều năm sẽ có trái ngọt”, Galli nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-scientists-uncover-secrets-brain-like-devices.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá bí mật trong tranh của Picasso      Các nhà khoa học mới khám phá ra những bí mật còn giấu kín trong các bức họa và tác phẩm điêu khắc của Picasso.      Bức tranh “La Miséreuse accroupie” (The Crouching Woman) do Pablo Picasso vẽ năm 1902  Hóa học và khoa học hình ảnh tìm ra “tranh trong tranh”  Bằng các công cụ chuyên dụng của ngành Y và địa chất học, họ đã “nhìn” qua phần tối của bức “La Miséreuse accroupie” (The Crouching Woman) do Pablo Picasso vẽ năm 1902 –  “giai đoạn Xanh” thời kỳ đầu sáng tác của ông. Cũng không có gì quá phải ngạc nhiên. Các hình ảnh X-ray đã cho các nhà nghiên cứu thấy, Picasso đã vẽ bức tranh này đè lên trên một bức tranh phong cảnh khác của mình.  Câu chuyện bắt đầu từ việc Sandra Webster-Cook, chuyên gia bảo tồn các bức họa ở Art Gallery of Ontario (Ontario) – nơi đang sở hữu bức tranh, đã quan sát thấy các kết cấu của nét cọ trên bề mặt toan dường như không phản chiếu những chi tiết của bức tranh, mà cũng không phản chiếu cả phần bối cảnh. “Rõ ràng là có cái gì đó nằm ở phía dưới nữa”, bà Webster-Cook nhận xét.  Các nhân viên của Ontario đã mời các chuyên gia tại National Gallery of Art, trường đại học Northwestern và Viện nghiên cứu nghệ thuật Chicago tới để tìm hiểu vấn đề này.    Kết quả chụp X quang đã cho thấy bên dưới hình ảnh người phụ nữ cúi đầu là phần phong cảnh bị dấu kín. Picasso đã xoay tấm toan vẽ 90 độ, sau đó vẽ đè lên.    Bằng việc sử dụng các công cụ được phát triển trong ngành Y, địa chất và ngành công nghiệp, các nhà nghiên cứu đã cùng “nhìn thấu” tấm toan mà không làm ảnh hưởng đến nó. Họ thấy rằng Picasso đã kết hợp những đường viền của đồi núi từ phần phong cảnh của bức tranh mình vẽ trước đó để tạo thành những đường cong phía sau người phụ nữ. “Nó như kiểu một tiết nhạc jazz được lặp đi lặp lại cả trước và sau”,  Marc Walton – giáo sư nghiên cứu về khoa học vật liệu và kỹ thuật ở trường đại học Northwestern, giải thích.  Các kết quả phân tích đã khám phá ra nỗ lực lặp đi lặp lại của Picasso khi vẽ cánh tay phải của người phụ nữ. Thậm chí cuối cùng ông đã bỏ cả ý định này và vẽ lên một cái áo choàng.  “Vì thế, chính việc tìm hiểu bức tranh giúp chúng ta có thể tường tận được suy nghĩ của họa sỹ và biết thêm về quá trình sáng tạo của ông”, giáo sư  Walton cho biết.  Kết quả của nghiên cứu này đã được trình bày trong cuộc họp của Hội Khoa học tiên tiến Mỹ (American Association for the Advancement of Science) ở Austin, Texas trung tuần tháng 2/2018. Tại cuộc họp này, các nhà nghiên cứu còn trình bày về những cái nhìn mới về các tác phẩm điêu khắc đồng của Picasso trên cơ sở phân tích chất liệu của các hợp kim.  “Chúng tôi đang mở ra một kỷ nguyên mới của việc điều tra theo cách các tác phẩm nghệ thuật mang tính chất biểu tượng đã được tạo ra”, Francesca Casadio, giám đốc điều hành của ủy ban khoa học và bảo tồn tại Viện nghiên cứu nghệ thuật Chicago.  TS. Casadio và GS. Walton đều là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu khoa học về nghệ thuật, một đơn vị hợp tác giữa trường đại học Northwestern và viện nghiên cứu nghệ thuật Chicago để ứng dụng các công nghệ mới trong những nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật.   Ba năm trước, Webster-Cook và Kenneth Brummel – trợ lý giám tuyển về nghệ thuật hiện đại của bảo tàng Ontario, đã tham dự một hội thảo ở Barcelona về các phân tích khoa học về những tác phẩm hội họa thời kỳ Xanh của Picasso. Một trong những nhà khoa học mà Webster-Cook tại đó là John K. Delaney, nhà khoa học hình ảnh tại Phòng tranh quốc gia Mỹ tại Washington.  TS. Delaney sau đó đã tới Ontario để kiểm tra “La Miséreuse accroupie” bằng một kỹ thuật ghi độ sáng của ánh sáng phản chiếu qua một dải quang phổ nhìn thấy và quang phổ hồng ngoại của ánh sáng.    Kỹ thuật hình ảnh siêu phổ đã phát hiện ra cánh tay phải của người phụ nữ trong phần vẽ áo choàng của người phụ nữ.  Các phân tử khác nhau thì hấp phụ các màu sắc nhất định của ánh sáng. Kỹ thuật hình ảnh siêu phổ phản xạ (reflectance hyperspectral imaging) cho phép các nhà nghiên cứu xác định được các khoáng chất từ các mẫu vật trên các dải màu sẫm của quang phổ. Đây cũng là loại kỹ thuật mà Mars Reconnaissance Orbiter của NASA từ quỹ đạo đã dùng để miêu tả thành phần của các viên đá Sao Hỏa.  Các hình ảnh của TS. Delaney đã hiển thị rõ cánh tay phải bị dấu kín của người phụ nữ.  Các nhà khoa học từ Trung tâm nghiên cứu khoa học trong nghệ thuật đã quan sát lại bức tranh và sử dụng một thiết bị xách tay để “nhúng” bức tranh vào X –rays, một trong những cách phát hiện ra các nguyên tố được sử dụng trong bảng màu dùng để vẽ tranh. Những nguyên tố khác nhau trong bảng màu sẽ được hiển thị trên những bước sóng khác nhau.  Sự hiển thị của thép và crom trong bức vẽ – màu xanh Phổ (Prussian blue) là một sắc tố được tổng hợp trên chất sắt và crom được sử dụng trong sắc tố màu vàng – hoàn toàn ăn khớp với cấu trúc của bức vẽ “La Miséreuse accroupie”. Nhưng các mẫu vật còn hiển thị cả cadmium, nguyên tố tổng hợp nên các màu vàng, da cam, đỏ và cả màu trắng/ chứng tỏ có một bức vẽ khác bên dưới, điều đó cung cấp thêm chi tiết về cánh tay và bàn tay phải dưới lớp áo choàng.    Sự phân bổ của các nguyên tố hóa học trong các lớp màu vẽ khác nhau  Ông Brummel nhận xét, “cánh tay này thể hiện một tư thế rất lạ. Khuỷu đặt trên đùi, cẳng tay được vẽ một cách đầy lúng túng ngay dưới vai phải và giữ một cái đĩa””(dường như là một ổ bánh mì). Ông cũng cho biết thêm là cánh tay “bí mật” này có vẻ như tương đồng với cách vẽ cánh tay của người phụ nữ xuất hiện trong một bức tranh màu nước được Picasso vẽ năm 1902.  Ông Brummel đã tập trung nghiên cứu để nhận diện bức tranh phong cảnh ban đầu của họa sỹ, qua đó xác định được quanh cảnh được họa sỹ vẽ này chính là khu vườn mê cung Labyrinth Park of Horta ở Barcelona. Theo ông, không có phát hiện mới nào có thể thực hiện mà không dùng phương pháp quét.  “Các thiết bị khoa học và sự hợp tác giữa các nhà hóa học và những nhà khoa học hình ảnh đang góp phần đem lại nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu lịch sử hội họa”, ông Brummel cho biết.  Kỹ thuật X-ray và địa chấn học hé lộ thêm nhiều bí ẩn  Các nhà khoa học tại trường đại học Northwestern và Viện nghiên cứu nghệ thuật Chicago đã sử dụng các kỹ thuật X-ray để kiểm tra 39 tác phẩm điêu khắc đồng của Picasso được sáng tác từ năm 1905 đến 1959, và 11 điêu khắc kim loại từ năm 1960 trong bộ sưu tập của bảo tàng Picasso ở Paris.    Các nhà nghiên cứu đã tìm ra thành phần cấu tạo của hợp kim đồng trong tác phẩm điêu khắc “Head of a Woman, in Profile,” của Picasso làm năm 1941 tại xưởng đúc Émile Robecchi ở Paris.  TS. Casadio nói: “Các công cụ được sử dụng trong lần kiểm tra này cũng giống vậy, chỉ có các vấn đề [cần thẩm định từ các tác phẩm] là khác biệt”.    Hơn thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã phân tích khoảng 350 tác phẩm điêu khắc đồng do nhiều nghệ sỹ thực hiện ở Paris từ cuối những năm 1800 đến giữa thế kỷ 20. Thành phần của hợp kim đồng cung cấp manh mối về địa điểm và thời gian các tác phẩm điêu khắc được tạo ra.  Ví dụ, các nhà nghiên cứu có khả năng miêu tả xưởng đúc Émile Robecchi ở Paris, nơi chế tạo 5 tác phẩm điêu khắc của Picasso trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2 – giai đoạn đồng của họa sỹ, giai đoạn vẫn còn thiếu…  Thành phần của hợp kim đã được xưởng đúc Robecchi dùng trong năm 1941 đến 1942 đa dạng một cách rõ rệt – cao nhất trong một số giai đoạn là thiếc, giai đoạn khác là kẽm – nó cũng phản ánh một cách hợp lý tình trạng thiếu kim loại trong thời gian diễn ra chiến tranh.  TS. Casadio cho biết: “Tại cùng thời điểm đó ở Paris, người Đức đã bí mật buộc người Pháp phải nấu chảy các bức tượng đồng trong thành phố để lấy kim loại”.  Với bức tượng phủ kim loại thời kỳ cuối “Head of a Woman”, các nhà nghiên cứu khám phá ra Picasso thường dùng bạc cho tóc, mắt và các đường nét trên khuôn mặt, một lựa chọn có phần khó hiểu bởi sau đó ông lại dùng sơn phủ lên lớp kim loại quý này.  TS. Casadio cho biết: “Chúng tôi đã đo thêm 25 lần nữa chỉ để xác định rằng điều đó là đúng 100%”.  Các nhà khoa học khác hiện đang phát triển những cách làm mới khác để quét các tác phẩm nghệ thuật. Trong một công trình mới xuất bản vào tháng 11/2017 tại tạp chí Scientific Reports, các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Công nghệ Georgia đã miêu tả cách họ dùng một loại sóng radar để nghiên cứu một bức vẽ thế kỷ 17.  Với một kỹ thuật quét terahertz đã được thương mại hóa – ngành công nghiệp sử dụng để dò các vết nứt trong vật liệu plastics, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra “Madonna in Preghiera” của xưởng họa họa sỹ Ý Giovanni Battista Salvi.  Các sóng terahertz – một loại ánh sáng với chiều dài bước sóng dài hơn tia hồng ngoại nhưng ngắn hơn sóng siêu âm, đi qua các màu nhưng nhảy vào giữa các ranh giới giữa những lớp khác nhau của sơn.  Cho đến bây giờ, các sóng terahertz vẫn còn ít được sử dụng trong việc nghiên cứu về các bức họa bởi các bước sóng quá lớn để nghiên cứu các lớp sơn mỏng. “Tất cả những tán xạ của chúng đều nằm ở trên cùng mỗi lớp sơn khác nhau”, David S. Citrin – giáo sư kỹ thuật máy tính và điện tại Viện công nghệ Georgia, cho biết.  Về cơ bản, người ta không thể đo được những vật nhỏ hơn thước đo mà người ta đang dùng. Nhưng trong ứng dụng này, GS. Citrin và cộng sự đã phát hiện ra những tán xạ nhảy vào các lớp sơn mỏng mảnh. Các kỹ thuật đánh dấu tiên tiến trong khảo sát mỏ dầu được giới công nghiệp dầu mỏ phát triển đã cho phép họ điểm các lớp có độ dày khoảng 20 micronmet- nghĩa là nhỏ hơn 1/1000 inch (mỗi inch bằng 2,54cm).  Kỹ thuật của họ có thể giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử hội họa nghiên cứu về các tầng lớp của những bức họa theo cách các nhà địa chấn học nghiên cứu cấu trúc của các thành phần đá dưới lớp bề mặt trái đất.  GS. Walton của trường đại học Northwestern cho biết ông muốn được trở lại nghiên cứu bức tranh “La Miséreuse accroupie” với một máy quét terahertz.  Việc dùng một phổ rộng của các tia quét sẽ cung cấp một khối lượng thông tin hoàn chỉnh hơn về bức họa. “Đây thực sự là một thứ ‘chén thánh’ mà sẽ thực hiện với mọi nghiên cứu về bức tranh. Bởi kết hợp các kỹ thuật lại với nhau, chúng tôi đang bắt đầu có được một hiểu biết tốt hơn về toand bộ cấu trúc được vẽ”.    Th. Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nytimes.com/2018/02/20/science/picasso-blue-period-scans.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá các mạch thần kinh chi phối việc chăm sóc con cái thắng giải Đột phá 2020      Nhà sinh học Catherine Dulac là một trong bốn người giành giải thưởng Đột phá 2020 về y học sự sống.      Giáo sư Catherine Dulac. Nguồn: newsopener.com  Việc khám phá ra “công tắc tắt bật” về khả năng chăm sóc con cái tốt hơn trong bộ não chuột cái và chuột đực đã đem về Catherine Dulac, một nhà sinh học phân tử tại trường đại học Harvard tại Cambridge, Massachusetts, một trong những giải thưởng Đột phá năm 3 triệu USD –  giải thưởng có giá trị cao bậc nhất trong khoa họcc. Ba giải thưởng chính trong lĩnh vực sinh học, cùng với hai giải vật lý và một trong toán học, đã được loan báo vào ngày 10/9/2020 cùng với một số giải thưởng nhỏ khác.  “Catherine Dulac đã thực hiện một công trình đã thực sự làm thay đổi cả lĩnh vực khoa học này”, nhà sinh học Lauren O’Connell, tại trường Stanford, California, nói. Nhóm nghiên cứu của Dulac cung cấp bằng chứng đầu tiên về việc não chuột đực và chuột cái có hệ mạch thần kinh liên kết với với chức năng nuôi nấng con cái như nhau, trước đây người ta cho là có thể kích hoạt một cách khác nhau ở mỗi giới. “Nó trái ngược với những quan điểm tồn tại trong nhiều thập kỷ là các bộ não của hai giới được tổ chức hoàn toàn khác biệt nhau”, O’Connell.  Dulac cho biết, bà choáng váng khi biết tin mình giành giải thưởng. “Não tôi đông lại, sau đó tôi bắt đầu khóc”, bà nói và cho biết thêm là mình đã phải đi cả chặng đường dài để được chấp nhận quan điểm bởi ban đầu, những người khác  hết sức hoài nghi về công trình của bà. Trong những năm 1990, Dulac cô lập các thụ thể pheromone (những chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài, nó được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây ra những phản ứng chuyên biệt cho những cá thể khác cùng loài) trong chuột để kiểm soát các hành vi xã hội riêng biệt về giới. Chuột đực chưa qua giao phối thường tấn công những con chuột đực khác và giết chuột con. Nhưng Dulac nhận thấy là nếu các thụ thể pheromone của chúng bị chặn, chúng có thể gắng cư xử thân thiện với cả chuột cái và chuột đực, và thậm chí chúng còn bắt đầu chăm sóc cả chuột con. Tương phản, các chuột cái bị chặn thụ thể pheromone lại bắt đầu ve vãn chuột đực.  Để làm sáng tỏ cơ chế thần kinh này, Dulac nhận diện được một protein mang tên galanin, vốn có thể biểu thị sự liên kết neuron trong chức năng chăm sóc con cái. Việc loạt các neuron trong chuột cái làm mất đi khả năng chăm sóc của chúng, trong khi kích hoạt chúng ở chuột đực chưa qua giao phối khiến chúng có khả năng này. “Nó như là một ‘công tắc tắt và bật’ trong chăm sóc con cái”, Dulac nói. “Thật lạ thường!” Nhóm nghiên cứu của bà sau đó đã sử dụng chỉ thị galanin để dò theo mạch cụ thể kết hợp với những thay đổi về động cơ, hormon và hành vi cần thiết cho nuôi dưỡng con cái.  O’Connell cho rằng, các nghiên cứu đó đã “thiết lập thời kỳ nghiên cứu về tính linh hoạt của não người và động vật linh trưởng với biểu biết sâu sắc hơn” và có thể một ngày nào đó hỗ trợ việc điều trị bệnh rối loạn thần kinh như trầm cảm sau sinh.  Ngày may mắn    David Baker. Nguồn: newsroom.uw.edu  Ba giải thưởng cho khoa học sự sống khác cũng được loan báo. David Baker tại trường đại học Washington ở Seattle đã được trao giải cho việc phát triển phần mềm Rosetta để thiết kế các protein tổng hợp dùng trong điều trị. Trò chơi FoldIt do ông thiết kế đã cuốn hút hơn 250.000 “nhà khoa học không chuyên” tham gia để giúp tìm ra các hình dạng protein tối ưu. Chỉ ngày 9/9/2020, nhóm nghiên cứu của ông đã công bố trên Science một protein mới có thể ngăn khả năng xâm nhập thế bào người của virus SARS-CoV-2.  Dennis Lo, tại trường đại học Trung văn Hương Cảng ở Shatin đã được ghi nhận cho việc khám phá ra sự hiện diện của DNA phôi trong máu cha mẹ – một phát hiện dẫn đến việc phát triển những xét nghiệm không xâm lấn an toàn hơn về các chứng rối loạn như hội chứng Down.  Và Richard J. Youle tại Viện Y tế quốc gia Mỹ và Viện nghiên cứu Rối loạn thần kinh và Đột quỵ giành giải cho việc tìm thấy vai trò của hai protein trong bệnh Parkinson, qua đó mở ra một con đường mới cho điều trị.  Chế ngự sự ngẫu nhiên    Martin Hairer. Nguồn: Twitter  Giải thưởng Đột phá trong toán học đã thuộc về Martin Hairer ở Đại học Hoàng gia London do công trình nghiên cứu về các phương trình vi phân riêng phần ngẫu nhiên – một lớp các phương trình được sử dụng để tính toán các hệ phức hợp tiến hóa như thế nào khi những ảnh hưởng ngẫu nhiên được tính đến. “Tôi cảm thấy mình thật vinh dự và may mắn. Tôi không chờ đợi nhận được nó”, Hairer nói.  Năm 2011, Hairer giải một phương trình dính (sticky equation) của dạng này để mô hình hóa cách một giọt nước sẽ chảy tràn bề mặt một khăn ăn như thế nào. Sau đó, ông viết một bài báo dài 180 trang dài như một áng sử thi để chứng tỏ những ý tưởng tương tự có thể được sử dụng để giải mọi phương trình của lớp đó. Terry Lyons, một nhà toán học tại trường đại học Oxford, Anh, cho biết ông “cảm thấy thích thú” trước việc Hairer được trao giải thưởng và lưu ý là cho đến khi công trình của Hairer ra đời, các nhà toán học và vật lý đã “cày” nhiều phương trình sử dụng cách tiếp cận riêng nhưng lại không tìm thấy phương pháp kết hợp chúng lại với nhau. “Lần đầu tiên, ông ấy lập ra một khía cạnh quan trọng cho một ngôn ngữ toán học chính xác trong thế giới này,” Lyons nói. Năm 2014, Hairer đã được trao giải thưởng Fields.  Giải thưởng Đột phá trong lĩnh vực vật lý cơ bản ghi nhận công lao của Eric Adelberger, Jens Gundlach và Blayne Heckel ở trường đại học Washington trong các thực nghiệm về con lắc siêu chính xác để chứng tỏ lực hấp dẫn của Newton vẫn đúng ngay cả khi giảm khoảng cách giữa các con lắc xuống còn 52 micro mét.  Và một giải đặc biệt cho vật lý cơ bản đanh cho sự nghiệp của nhà vật lý lý thuyết Stevev Weinberg tại trường đại học công nghệ Texas ở Austin. Weinberg là một trong những nhà phát triển khung hợp nhất lực điện từ với lực hạt nhân yếu ảnh hưởng đến sự phóng xạ.  Được tỉ phú Nga- Israel Yuri Milner thành lập từ năm 2012 và sau được nhiều doanh nhân xông nghệ ủng hộ, giải thưởng Đột phá được trao hằng năm để ghi nhận công lao của các nhà khoa học trong lĩnh vực vật lý cơ bản, toán học và khoa học sự sống. Năm nay, do ảnh hưởng của đại dịch, lễ trao giải thưởng được hoãn lại tới ngày 21/3/2021.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02586-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cách phân tử trở thành vũ khí chống ung thư      Các nhà khoa học sau nhiều năm làm việc vất vả trong phòng thí nghiệm đã tìm ra cách đưa một vi khuẩn sinh sống ở biển tạo ra được một phân tử có tính chất chống ung thư tiềm năng.      Phân tử chống ung thư này tên là salinosporamide A, hay còn gọi là Marizomb. Hiện người ta đang đưa nó vào thử nghiệm lâm sàng pha thứ ba với bệnh u sao bào ác tính (glioblastoma), một dạng ung thư não nguyên phát. Các nhà khoa học vẫn đang tìm hiểu cơ chế xử lý do enzyme điều khiển hoạt động của phân tử này.  Các nhà nghiên cứu tại Viện Hải dương học Scripps của UC San Diego đã tìm thấy một enzyme có tên gọi SalC tập hợp cái mà họ gọi là “đầu đạn” chống ung thư salinosporamide. Học viên Scripps Katherine Bauman là tác giả thứ nhất của “Enzymatic assembly of the salinosporamide γ-lactam-β-lactone anticancer warhead” – công trình giải thích về quá trình xử lý này, xuất bản trên Nature Chemical Biology 1.  Công trình này đã góp phần giải quyết một câu hỏi tồn tại gần 20 năm về cách vi khuẩn đại dương có thể tạo ra “đầu đạn” độc nhất vô nhị là phân tử salinosporamide và mở ra cánh cửa vào công nghệ sinh học tương lai để sản xuất những tác nhân chống ung thư mới.  “Hiện tại các nhà khoa học đã hiểu được là enzyme đã tạo ra “đầu đạn” salinosporamide A. Do đó, khám phá có thể hữu dụng trong tương lai khi sử dụng các enzyme để tạo ra những dạng khác nhau của salinosporamide không chỉ tấn công bệnh ung thư mà còn các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch và lây nhiễm do ký sinh trùng gây ra”, đồng tác giả nghiên cứu Bradley Moore, một giáo sư tại Viện Hải dương học Scripps và trường khoa học dược phẩm Skaggs, nói.    Nghiên cứu sinh Viện Hải dương học Scripps Kate Bauman đang nuôi cấy Salinispora mới để cho những nghiên cứu tiếp theo trong một cabin an toàn sinh học với giám đốc phòng thí nghiệm Bradley Moore. Những con vi khuẩn được nuôi cấy này tạo ra salinosporamide A, một chất chống ung thư tiềm năng hiện được đưa vào thử nghiệm lâm sàng pha 3 với bệnh glioblastoma. Nguồn: Erik Jepsen/UC San Diego.  Salisporamide đã được nghiên cứu khá lâu tại Scripps và UC San Diego. Nhà vi sinh vật học Paul Jensen và nhà hóa học biển Bill Fenical của Viện Scripps từng khám phá ra salinosporamide A và loài sinh vật biển này đã tạo ra phân tử sau khi thu thập vi sinh vật từ các lớp trầm tích của vùng biển nhiệt đới Đại Tây Dương vào năm 1990. Một số ca thử nghiệm lâm sàng trong quá trình phát triển thuốc đã được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu Ung thư Moores tại UC San Diego Health.  “Đó là một dự án thách thức kéo dài 10 năm”, Moore, người hướng dẫn Bauman nói. “Kate đã có thể tập hợp được những gì có được trong vòng 10 năm qua để đưa tất cả về đích”.  Một câu hỏi lớn cho Bauman là tìm ra xem có bao nhiêu enzyme có thể phản hồi khả năng gập của phân tử này thành hình dạng hoạt động của nó. Có nhiều enzyme này tham gia vào quá trình này hay chỉ có một?  “Tôi có thể cá là nhiều enzyme đấy. Cuối cùng thì chỉ là một, SalC. Cũng thật đáng ngạc nhiên”, cô nói.  Moore còn cho biết thêm là phân tử salinosporamide molecule có một khả năng đặc biệt để vượt qua barrier máu não, vốn là nguyên nhân dẫn đến những tiến triển trong những ca thử nghiệm lâm sàng cho glioblastoma. Phân tử này có một cấu trúc hình tròn nhỏ nhưng phức tạp. Nó bắt đầu như một phân tử tuyến tính rồi gập thành hình tròn phức tạp hơn nhiều. “Cách tự nhiên thực hiện bao giờ cũng đơn giản một cách tuyệt đẹp. Là các nhà hóa học, chúng tôi không thể làm được như những gì tự nhiên tạo ra phân tử này, nhất khi tự nhiên lại chỉ làm bằng một enzyme đơn nhất”, ông thốt lên thán phục.  Enzyme này vô cùng phổ biến trong sinh học; nó là một chất tham gia vào quá trình tạo ra các a xít béo trong cơ thể người và những kháng thể như erythromycin trong vi khuẩn.  Bauman, Percival Yang-Ting Chen của Morphic Therapeutics ở Waltham, Mass., và Daniella Trivella của Trung tâm nghiên cứu quốc gia về Năng lượng và vật liệu Brazil đã xác định cấu trúc phân tử của SalC. Với mục tiêu này, họ sử dụng Advanced Light Source, một máy gia tốc hạt có thể tạo ra các tia X, tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence của Bộ Năng lượng Mĩ.  “Enzyme SalC đã thực hiện một phản ứng rất khác biệt với ketosynthase bình thường”, Bauman nói. Một ketosynthase thông thường là một enzyme có thể hỗ trợ một phân tử hình thành chuỗi tuyến tính. SalC, ngược lại, tạo ra salinosporamide bằng việc hình thành hai câu trúc hình tròn phức tạp.  Một enzyme đơn nhất có thể hình thành cả hai cấu trúc vòng mà các nhà hóa học khó tạo ra trong phòng thí nghiệm. Nhờ có thêm thông tin, các nhà khoa học giờ có thể làm đột biến enzyme cho đến lúc họ có được những hình dạng hứa hẹn trong việc ngăn chặn nhiều loại bệnh tật khác nhau.  Loài vi khuẩn biển Salinispora tropica đã tạo ra salinosporamide để tránh bị những kẻ săn mồi xơi tái. Nhưng các nhà khoa học đã tìm ra là salinosporamide A cũng có thể điều trị ung thư. Họ đã cô lập những salinosporamide khác nhưng chỉ có salinosporamide A có ưu điểm mà các loài khác không có – bao gồm những đặc điểm về mặt sinh học là tấn công các tế bào ung thư.  “Ức chế proteasome khiến nó trở thành một tác nhân chống ung thư tuyệt vời”, Bauman nói và cho biết phức hợp protein này có thể phân hủy các protein vô dụng hoặc khiếm khuyết. Nhưng các dạng khác của proteasome được tìm thấy trong các tế bào miễn dịch. Điều gì sẽ xảy ra nếu như các nhà khoa học có thể tạo ra một salinosporamide có chút khác biệt so với salinosporamide A? Một loại có khả năng ức chế kém proteasome dễ gây ung thư nhưng lại vượt trội so với ức chế proteasome của hệ miễn dịch? Một salinosporamide có thể là một khả năng điều trị có lựa chọn với các bệnh tự miễn không?  “Đó là ý tưởng đằng sau việc tạo ra một số loại salinosoporamide khác. Và dẫn đến enzyme SalC, thành phần tạo nên cấu trúc vòng phức tạp và có khả năng mở ra cánh cửa vào tương lai”, Bauman nhận xét.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-scientists-molecule-anticancer-weapon.html  https://blazetrends.com/they-discover-how-a-marine-molecule-becomes-a-powerful-weapon-against-cancer/  ————————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41589-022-00993-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cấu trúc lặp lại của cuộn xoáy để tạo ra mô hình hoàn thiện hơn      Một kỹ sư Viện công nghệ Caltech đã khám phá ra một số bí mật bên trong cuộn xoáy/nhiễu loạn (turbulence), một hiệu ứng đã được nghiên cứu nhiều nhưng vẫn rất khó nắm bắt bởi nó thường là sự trộn lẫn của rất nhiều chất lỏng khi chảy qua một ranh giới ở trạng thái rắn.      Một trật tự của các xoáy được mô hình hóa trong một lớp biên giới cuộn xoáy.  Beverly McKeon – một giáo sư [danh hiệu] Theodore von Kármán về hàng không học trong bộ phận Kỹ thuật và khoa học ứng dụng – nghiên cứu cơ học chất lưu. Bà là chuyên gia về các dòng xoáy, các vấn đề về số Reynolds, một giá trị không thứ nguyên biểu thị độ lớn tương đối giữa ảnh hưởng của lực quán tính và lực ma sát trong (tính nhớt) lên dòng chảy. Ngày nay, người ta thường biết những dòng chảy này trong các ống dẫn dầu và trong các máy bay.  Tại ranh giới này, nơi một chất lưu chảy qua một cấu trúc cố định, một lớp biên giới cuộn xoáy được tạo ra khi một dòng chảy tương tác với thành cấu trúc, tạo ra các xoáy trong dòng chảy. Thoạt nhìn, các cuộn xoáy này có thể được coi là xuất hiện một cách ngẫu nhiên nhưng trên thực tế, chúng thường tạo ra các mẫu hình riêng biệt, với vô số các cuộn xoáy nhỏ lân cận với thành cấu trúc; ít hơn về số lượng nhưng các cuộn xoáy lớn lại xuất hiện ở một chỗ xa hơn; và thậm chí ít hơn nữa nhưng vẫn lớn hơn, các cuộn xoáy vượt ra ngoài các nơi đó. Các cuộn xoáy này có một tác động đáng kể lên dòng chảy chất lỏng, giúp cho việc xác định các đặc điểm như áp suất, vận tốc và mật độ của chúng, những thứ đóng vai trò quan trọng để nắm bắt khi thiết kế một máy bay hoặc ống dẫn công nghiệp.    Trong những năm 1950 và 1960, nhà toán học Alan Townsend của trường đại học Cambridge đề xuất một loạt các đặc tính thống kê quan trọng của dòng chảy rối có thể được miêu tả trên cơ sở của khái niệm các cuộn xoáy như các mẫu hình chảy có sắp xếp, liên tục mà về bản chất “gắn” với thành cấu trúc, thậm chí ngay cả khi ông chưa hiểu một cách rõ ràng về các cuộn xoáy này thực sự là gì. Dẫu cho vào những năm 1980, 1990, nhóm nghiên cứu do Tony Perry, Ivan Marusic làm trưởng nhóm và các cộng sự ở trường đại học Melbourne, Úc nghiên cứu về giả thiết của Townsend để phát triển mô hình “xoáy gắn” của  hiện cuộn xoáy thành cấu trúc, vốn được chứng minh có hiệu quả để miêu tả tính chất thống kê của hiệu ứng chung này.  Mô hình xoáy gắn này được coi là một hiện diện của cuộn xoáy, có được từ số lượng các đặc điểm thực sự của cuộn xoáy, và theo cách đó nó đượccoi là một mô hình ‘thống kê’. Các kỹ sư có thể mô phỏng cuộn xoáy với các mô hình động lực toán học, trong đó sử dụng các phương trình chuyển động để miêu tả động lực vật lý cơ bản trong hệ này.    Ghi nhận cuộn xoáy trong một thí nghiệm. Nguồn: California Institute of Technology  Người ta có thể thấy sự tương tự trong dự đoán thời tiết. Nếu chiểu theo các báo cáo về thời tiết ở 100 năm qua, người ta có thể rút ra được những chỉ số trung bình về thời tiết của một khu vực và đưa ra được một dự đoán hợp lý về việc thời tiết vào ngày mai như thế nào. Đó là một mô hình thống kê. Nếu thay vì nghiên cứu từng hệ vật lý ảnh hưởng lên thời tiết – đại dương, các đám mây, địa hình, người ta có thể tạo ra một mô hình dự đoán thời tiết trên cơ sở các dữ liệu đầu vào phong phú. Đây là mô hình động lực.  Một mô hình thống kê dễ xử lý hơn nhưng mô hình động lực không phải là thiếu hiệu quả, bởi nỗ lực miêu tả và hiểu về tổng thể điều gì điều khiển hệ này lẫn năng lực dự đoán những thay đổi trong tương lai của hệ có thể nằm ngoài phạm vi của các quy định cơ bản. Và giống như thời tiết, cuộn xoáy là một hiệu ứng động lực và bấp bênh.  Dẫu sao vấn đề là mô phỏng những thứ phức tạp như cuộn xoáy sử dụng các phương trình chuyển động là một vấn đề phức tạp không thể tưởng tương được đi kèm với những vấn đề thách thức, McKeon nói. Hãy cố gắng hình dung việc tháo rời toàn bộ một cái ô tô chỉ với một cái cờ lê đa năng. Có thể cuối cùng thì anh cũng hoàn thành việc này nhưng sẽ mất rất nhiều thời gian và năng lượng.  McKeon đã tìm ra một cách để nối các mô hình có được nhờ kinh nghiệm và mô hình toán học bằng việc tạo ra một cách diễn tả các cuộn xoáy bằng các phương trình ngoại suy. Chúng có khả năng tìm ra dữ liệu là cuộn xoáy tạo ra các cấu trúc lặp lại đã được dự đoán trước. HÌnh dạng và cấu trúc của các xoáy trong cuộn xoáy là tương tự chính nó về mặt hình học, nghĩa là mỗi cuộn xoáy được nhận diện đều ở quy mô khác biệt nhưng tương tự về mẫu hình fractal.  Định lượng những mô phỏng đó bằng toán học, McKeon có thể hoàn thành công thức một mô hình động lực miêu tả cuộn xoáy, cho phép ngoại suy cách toàn hệ sẽ được nhìn cận cảnh chỉ bằng một vài cuộn xoáy. Bởi vì miêu tả một hệ phức tạp và có quy mô lớn là điều khó đến không ngờ, điều quan trọng nhất là cần đưa nó xuống một cấp độ đơn giản hơn với thành phần lặp lại. Mô hình của McKeon có thể được tạo ra từ các mô hình hữu dụng về mặt toán học của hệ cuộn xoáy bằng việc sử dụng các máy tính ít đòi hỏi về năng lực tính toán như các mô hình trước đây.  “Chúng tôi biết rằng, bên dưới các cấu trúc vô vùng phức tạp này là những thứ có mẫu hình hết sức đơn giản. Cho đến gần đây, chúng tôi còn không biết mẫu hình này là gì”, McKeon nói. Kế hoạch tiếp theo của bà là tìm hiểu sâu sắc hơn mô hình này để định lượng cách các xoáy có thể bao gồm những gì để tạo ra được hình ảnh chính xác của toàn hệ.  Mô hình này có thể chứng minh tính hữu dụng với các kỹ sư trong ngành công nghiệp, những người chờ đợi việc mô phỏng các hệ cuộn xoáy dễ dàng hơn. Nhưng quan trọng nhất, nó sẽ cho thấy nghiên cứu cơ bản sẽ giúp các nhà khoa học và kỹ sư hiểu tốt hơn về điều gì điều khiển các hệ cuộn xoáy đó.  Nghiên cứu của McKeon “Self-similar hierarchies and attached eddies” được xuất bản trên Physical Review Fluids.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-exploit-turbulence-phenomenon.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá chi tiết bề mặt Sao Thủy cùng phi thuyền Messenger      Messenger được gửi tới sao Thủy với sứ mệnh tìm tòi và chứng minh một số lượng lớn các giả thuyết chưa có lời giải đáp. Từ tháng giêng năm 2008, phi thuyền này bay ngang qua sao Thủy và du hành quanh quỹ đạo của hành tinh từ hồi tháng 3 năm nay.      Theo NASA, hiện nay phi thuyền Messenger đã đi vào quỹ đạo của sao Thủy và truyền được tới 20000 bức ảnh có độ phân giải cao về Trái đất. Điều này giúp các nhà khoa học lý giải cấu tạo bề mặt của hành tinh đỏ này. Tại cực Bắc, quan sát cho thấy có 1 phần đồng bằng trống trải nhô ra với diện tích lên đến 4 triệu km2- tương đương với 1 nửa diện tích nước Mỹ phần đại lục.  Brett Denevi nhà khoa học từ Đại học Johns Hopkins cho biết “các bức ảnh đã chỉ ra dấu tích của kiến tạo địa tầng và hoạt động núi lửa với các miệng hố núi lửa rất lớn được che phủ bởi nham thạch”.  Ví dụ như từ 20 năm qua, bằng quan sát rada từ Trái đất, người ta thấy một số miệng núi lửa ở địa cực của hành tinh này được bao phủ bởi nước đá. Tuy vậy, nhiệt độ bề mặt của nó theo các nghiên cứu khác lại có thể đạt đến 400 độ C, đặc biệt gần đường xích đạo. Vậy thì làm sao nước đá có thể tồn tại được mà không bị bay hơi?  Messenger bắt đầu giải quyết nghi vấn này bằng cách sử dụng dụng cụ đo độ cao bằng laser để xác định bản đồ hình dạng của miệng núi lửa tại các cực. Các kết quả thu được cho thấy có đủ độ tối và sâu để ngăn cản ánh sáng và nhiệt chiếu xuống nhiều vùng khuất của sao Thủy, do đó vẫn có đủ điều kiện hình thành nước đá.  Máy đo tia X cũng được sử dụng để tìm kiếm các nguyên tố hóa học khác nhau trên bề mặt. Kết quả cho thấy, cấu tạo bề mặt của hành tinh này rất khác với Mặt trăng và Trái đất. “Bề mặt sao Thủy đã trải qua một quá trình biến đổi địa chất khá thống nhất, hàm lượng nhôm thấp, tỷ lệ Magie cao hơn Silic”. Tiến sỹ Solomon cho biết. Ngoài ra, hàm lượng lưu huỳnh được phát hiện lớn hơn 10 lần so với Trái đất.  Cũng giống như Trái đất, sao Thủy có từ trường. Tuy nhiên, sự bất đối xứng của từ trường theo trục Bắc-Nam sẽ cho phép các tiểu phần tích điện từ phía Mặt trời bị tác động bởi cực Nam nhiều hơn cực Bắc.  Khí quyển của sao Thủy rất loãng, điều đó làm thay đổi màu sắc, sự phản xạ ánh sáng và hóa tính các hợp chất trên bề mặt.  Các đặc điểm đáng chú ý của sao Thủy  Được thám hiểm lần đầu bởi phi thuyền Mariner 10 trong những năm 1970 và hiện nay là Messenger. Đường kính hành tinh vào cỡ 4.880km – khoảng 1/3 đường kính Trái đất.  Là hành tinh có mật độ vật chất cao thứ 2 trong hệ Mặt trời với một lõi sắt khổng lồ ở tâm chiếm tới 60% khối lượng của nó.  Các nhà khoa học dự đoán có tồn tại tinh thể nước đá ở phần khuất của hành tinh.  Có nhiệt độ dao động cực lớn từ 4200C tới -1800C.  Sao Thủy là hành tinh duy nhất gần Trái đất có từ trường.  Messenger là phi thuyền không gian đầu tiên bay vòng quanh quỹ đạo sao Thủy.  (Hoàng Tùng dịch theo BBC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cơ chế hoạt động của  loại protein liên quan đến ung thư và tự kỷ      Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã xác định được chức năng của một họ protein mới có liên quan tới bệnh ung thư và tự kỷ và xuất bản công bố trên tạp chí Molecular Cell. Công trình nghiên cứu này do Quỹ Khoa học Nga tài trợ.      Để chức năng của cơ thể con người được hoạt động tốt, các tế bào phải tạo ra các protein mới một cách đều đặn dưới sự hướng dẫn của chương trình di truyền đã được ấn định sẵn. Protein là các chuỗi amino a xít được ribosome – một cỗ máy phân tử đặc biệt – tổng hợp. Chuỗi amino axit này được mã hóa trong một khuôn mẫu – phân tử mRNA, và quá trình giải mã tổng hợp được gọi là dịch mã. Để tổng hợp được một protein đúng, một ribosome phải gắn được với mRNA, tìm điểm gắn một cách chính xác để bắt đầu quá trình tổng hợp, sau đó “đọc” toàn bộ vùng mã hóa và giải phóng protein vừa được hình thành. Các nhà khoa học đã hiểu khá rõ toàn bộ các quá trình giải mã này, tuy nhiên số phận của ribosome sau khi hoàn tất nhiệm vụ vẫn còn chưa được biết đến nhiều.  Một nhóm các nhà khoa học Nga và Mỹ đã tìm hiểu về các quá trình phức tạp này. Họ đã nghiên cứu một họ protein bao gồm MCT-1, loại protein được một oncogene tạo ra – đây là gene có khả năng kích hoạt sự hình thành của khối u; DENR vốn liên quan với bệnh tự kỷ; và giải mã tác nhân elF2D.  “Chúng tôi khám phá ra tác nhân elF2D từ khá sớm, quãng năm 2010”, Sergey Dmitriev, người đứng đầu nhóm nghiên cứu Nga tham gia dự án và nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu sinh học phân tử Engelhardt (Viện hàn lâm Khoa học Nga RAS), nói. “Chúng tôi hiểu rõ đặc điểm của các hoạt động sinh hóa của chúng nhưng tại thời điểm đó không có những chứng cứ rõ ràng về vai trò của loại protein đó trong tế bào sống. Kể từ đó đến nay, một số công bố trên các tạp chí có hệ số trích dẫn cao đã đề xuất ý tưởng là eIF2D và hai nhân tố cùng loại là MCT-1 và DENR có thể tham gia vào việc đọc một lớp đặc biệt của mRNA. Chính các phân tử mRNA đó đã thêm vào uORFs – một loại khung đọc ngắn, trước khi vùng mã hóa chính lập mã cho loại protein chính đó”.  Các uORFs có thể được một ribosome đọc. Trong nhiều trường hợp, điều đó ngăn ribosome tiếp cận vùng mã hóa chính, dẫn đến sự điều chỉnh quá trình sản xuất a xít amin của protein chính. Vì các đoạn uORF ngắn có mặt trong xấp xỉ gần một nửa số mRNA của con người nên điều quan trọng là phải tìm ra vai trò mà eIF2D, MCT-1 và DENR có thể có trong quá trình giải mã. Các nỗ lực để chỉ ra chức năng của các nhân tố này hoặc làm sáng tỏ hoạt động của các loại protein này trong cơ thể con người như thế nào vẫn chưa thành công.  “Vì vậy, chúng tôi đã chuyển sang những sinh vật đơn giản hơn, ví dụ như nấm men”, Desislava Makeeva, nghiên cứu sinh tại trường Kỹ thuật sinh học và tin sinh học, MSU và là đồng tác giả công trình, nói. “Chúng tôi đã nghiên cứu các chủng nấm men không có gene của những yếu tố này. Đối tác của chúng tôi từ Viện nghiên cứu Y tế quốc gia Mỹ đã đặt ribosome profiling, cho phép nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình giải mã trong các tế bào đột biến, trong khi chúng tôi thực hiện phần sinh hóa”.  Ribosome profiling được đặt trên giải trình tự thông lượng cao (xác định giải trình tự nucleotide sequence) của hàng triệu các mảnh mRNA nhỏ được các ribosome chuyển mã bao phủ. Kỹ thuật mang tính đột phá này đã cho thấy bức tranh đầy đủ của các quá trình sinh tổng hợp protein trong tế bào tại một khoảnh khắc cụ thể. Nói cách khác, nó đã chụp một “bức ảnh” về sự dịch mã của toàn bộ các phân tử mRNA dưới những điều kiện đặc biệt và cho phép xác định được quá trình này với mỗi mRNA.  “Trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, phương pháp này thường được dùng để nghiên cứu sự dịch mã trong các tế bào của loài động vật có vú”, Sergey giải thích, “Nhưng các đồng nghiệp Mỹ của chúng tôi đã ứng dụng trên nấm men. Dẫu sao, dữ liệu thu được từ những hệ thống phương pháp tiếp cận như vậy cần được kiểm chứng bằng những phương pháp truyền thống để tránh những diễn giải sai lệch. Để kết thúc quá trình này, chúng tôi đã dùng các hệ thống chuyển mã phi tế bào: chúng tôi chuẩn bị các chiết xuất tế bào nấm men, gắn mRNA đã được tổng hợp trong một ống nghiệm và quan sát bao nhiêu protein đã được tổng hợp từ các phân tử RNA trong trường hợp các chủng nấm men có hoặc không có đột biến từ một gene cụ thể”.  Sự hợp tác nghiên cứu này cho phép các nhà nghiên cứu tìm ra là chính ribosome đã khiến các nhân tố eIF2D, MCT-1 và DENR tách chúng khỏi mRNA một cách kịp thời khi hoàn tất quá trình chuyển mã. Dẫu sau, trong các trường hợp khi mRNA chứa một uORF, viêc thiếu các nhân tố này cũng liên quan đến sự chuyển mã trong vùng lập mã chính, dẫn đến việc tạo ra protein chính tăng lên. Rõ ràng, khả năng kích hoạt gene liên quan đến ung thư của MCT-1 và những gián đoạn của việc phát triển thần kinh có liên hệ với DENR, loại gene vốn liên quan đến những nhân tố này trong quá trình chuyển mã của mRNA chứa uORF, nhiều trong số những mRNA lập mã đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh các quá trình “chế biến” tế bào.  Đáng chú ý, một nhóm nghiên cứu trước đây đã tham gia vào một dự án khác hợp tác với Ivan Lomakin, một nhà tinh thể học ở phòng thí nghiệm của giáo sư Thomas Steitz (trường đại học Yale, Mỹ). Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các đặc điểm cấu trúc nằm trong chức năng của MCT-1 và DENR và trở thành những người đầu tiên trên thế giới xác định được cấu trúc tinh thể của ribosome trong cơ thể con người.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://rscf.ru/en/node/3314    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cơ chế trốn thoát miễn dịch làm tăng lây nhiễm Listeria ở hệ thần kinh trung ương      Một số chủng của vi khuẩn cực độc Listeria monocytogenes có khả năng lây nhiễm đến hệ thần kinh trung ương. Các nhà khoa học từ Viện Pasteur, trường đại học Paris Cité, Inserm và Mạng lưới bệnh viện công Paris (AP-HP) đã khám phá ra một cơ chế cho phép tăng cường lây nhiễm Listeria monocytogenes trên các tế bào để chúng có thể trốn thoát các phản hồi miễn dịch.    Cơ chế này khiến các tế bào bị lây nhiễm lưu hành trong máu với một xác suất bám dính cao để tiếp tục gây nhiễm các tế bào thành động mạch não, do đó khiến các vi khuẩn vượt qua được những “rào chắn” mạch máu não. Nghiên cứu này được xuất bản trên Nature “Bacterial inhibition of Fas-mediated killing promotes neuroinvasion and persistence” vào tháng 3/2022 1.  Hệ thần kinh trung ương được tách ra khỏi dòng mạch máu bằng một “thanh chắn” được đặt là hàng rào máu não, vốn hoạt động rất hiệu quả. Nhưng một số mầm bệnh vẫn có thể tìm được cách vượt qua nó và có thể dẫn đến lây nhiễm cho hệ thần kinh trung ương, sử dụng các cơ chế mà giới chuyên môn vẫn còn chưa hiểu biết đầy đủ.  Listeria monocytogenes là vi khuẩn dẫn đến bệnh nhiễm khuẩn listeriosis, một chứng bệnh lây nhiễm qua đường ăn uống có thể lây lan đến hệ thần kinh trung ương và khiến người bệnh có thể bị đau đầu, cứng cổ, choáng váng, mất thăng bằng, thậm chí co giật… mà người ta vẫn gọi là bệnh neurolisteriosis. 30% số người mắc có thể dẫn đến tử vong.  Các nhà khoa học của Bộ phận Sinh học lây truyền tại Viện Pasteur (trường Paris Cité, Inserm) và Trung tâm nghiên cứu Listeria quốc gia và Trung tâm hợp tác WHO do Marc Lecuit (ĐH Paris Cité và Bệnh viện Necker-Enfants Malades gần đây mới phát hiện cơ chế do Listeria monocytogenes lây nhiễm trong hệ thần kinh trung ương. Họ phát triển một mô hình thực nghiệm lâm sàng đem đến những giai đoạn phát triển khác nhau ở người nhiễm listeriosis, và các chủng Listeria có độc lực cao được phân tách từ mẫu bệnh phẩm của các bệnh nhân mắc neurolisteriosis.  Đầu tiên, họ quan sát được triệu chứng monocytes, một dạng tế bào bạch cầu xuất hiện do cơ thể nhiễm vi khuẩn Listeria. Các monocytes lưu hành trong dòng máu và bám dính vào các tế bào mạch máu não, cho phép Listeria lây lan trong các mô não.  Nhóm nghiên cứu đã thấy InIB, một protein bề mặt Listeria monocytogenes, cho phép vi khuẩn này xâm nhập vào hệ miễn dịch và sống sót tại nơi được bảo vệ bằng các monocytes bị nhiễm. Sự tương tác giữa InlB và các thụ thể c-Met trong tế bào của nó đã ngăn quá trình chết tế bào trung gian bằng T lymphocytes gây độc tế bào, đặc biệt hướng vào các tế bào nhiễm vi khuẩn Listeria. InIB do đó cho phép các tế bào bị nhiễm sống sót.  Cơ chế này làm mở rộng vòng đời của các tế bào lây nhiễm, tăng số lượng các monocytes bị nhiễm trong máu và giúp lan rộng các vi khuẩn trong các mô trong cơ thể người bệnh, bao gồm cả não. Nó cũng làm cho Listeria thêm phần khó triệu tiêu trong các mô ruột, bài tiết chất thải và vận chuyển trở lại môi trường.  “Chúng tôi khám phá ra một cơ chế cụ thể mà chúng tôi cũng nghĩ đến bằng một mầm bệnh gia tăng vòng đời của tế bào bị lây nhiễm bằng việc ngăn chặn chức năng của hệ miễn dịch, vốn là điều tối quan trọng trong kiểm soát lây nhiễm”, Marc Lecuit nói.  Cũng có thể những mầm bệnh nội bào như Toxoplasma gondii và Mycobacterium tuberculosis cũng sử dụng những cơ chế tương tự để lây nhiễm trong não. Do đó, việc nhận diện và hiểu được cơ chế trốn thoát hệ miễn dịch của các tế bào nhiễm bệnh có thể đem lại những chiến lược điều trị mới để ngăn ngừa lây nhiễm và tiến từng bước trên con đường tiếp cận liên quan đến hiện tượng ngăn chặn miễn dịch trong ghép tạng.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-discovery-immune-mechanism-listeria-infection.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/03/220316120827.htm  ———–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-04505-7    Author                .        
__label__tiasang Khám phá đột phá chứng minh mưa thậm chí có thể dời núi      Một kỹ thuật tiên phong đã nắm bắt được chính xác cách các ngọn núi bị mưa khuất phục, qua đó có thể giúp giải quyết bí ẩn khoa học đã tồn tại trong một thời gian dài.      Khu vực dãy Himalaya mà TS. Byron Adams và đồng nghiệp tiến hành nghiên cứu. Nguồn: TS. Byron Adams  Lượng mưa rơi ở mức độ lớn đã tác động lên sự tiến hóa của các khu vực có đồi núi là chủ đề tranh cãi rộng rãi giữa các nhà địa chất. Do đó nghiên cứu mới do các nhà nghiên cứu trường đại học Bristol dẫn dắt và xuất bản trên Science Advances, đã tính toán một cách rõ ràng tác động của nó, qua đó mở rộng hiểu biết của chúng ta về cách các đỉnh và thung lũng đã phát triển hàng triệu năm qua.  Tập trung vào rặng núi lớn bậc nhất thế giới như dãy Himalaya, phát hiện của họ góp phần tiến thêm một bước trên con đường dự đoán tác động có thể của biến đổi khí hậu lên cảnh quan và kết quả là lên đời sống con người.  TS. Byron Adams, người nhận học bổng Royal Society Dorothy Hodgkin Fellow và làm việc tại Viện nghiên cứu Môi trường Cabot của đại học Bristol cho rằng “Có vẻ như thuộc về trực giác thì ai cũng biết là mưa nhiều có thể dẫn đến định hình các ngọn núi thông qua việc khiến các dòng sông bào mòn đá nhanh hơn. Nhưng các nhà khoa học lại tin rằng về cơ bản, mưa có thể làm xói mòn một cảnh quan, một khu vực đủ nhanh để “hút” đá khỏi bề mặt trái đất, kéo các ngọn núi lên một cách nhanh chóng và hiệu quả”. Cả hai lý thuyết này đều gây tranh cãi nhiều thập kỷ qua bởi những đo đạc cần thiết để chứng minh chúng vô cùng phức tạp. Chính đây là nguyên nhân khiến phát hiện này trở thành đột phá, như một thứ hỗ trợ  rất mạnh quan điểm là các quá trình diễn ra trong bầu khí quyển và trái đất đều có mối liên quan mật thiết”.    Dù không thiếu các mô hình khoa học để diễn tả cách trái đất hoạt động nhưng thách thức lớn hơn có thể là những quan sát đủ tốt để kiểm chứng chúng chính xác hơn.  Nghiên cứu này được tập trung vào khu vực trung tâm và đông dãy Himalaya thuộc Bhutan và Nepal  bởi vì vùng này của thế giới đã là một trong những vùng đất điển hình cho nghiên cứu về tốc độ xói mòn. TS. Adams, cùng với các đồng nghiệp từ trường đại học bang Arizona (ASU) và Louisiana, đã sử dụng các đồng hồ vũ trụ chứa cát để đo đạc tốc độ các dòng sông làm xói mòn đá bên dưới dòng chảy.  “Khi một hạt vũ trụ từ bên ngoài không gian chạm vào trái đất, nó có khả năng chạm vào các hạt cát ở sườn núi khi chúng được vận chuyển về phía các con sông. Khi điều này xảy ra, một số nguyên tử bên trong mỗi hạt cát có thể được vận chuyển vào một nguyên tố hiếm. Bằng việc đếm có bao nhiêu nguyên tử của nguyên tố này trong một túi cát, chúng tôi có thể tính được hạt cát này đã ở đó trong bao nhiêu lâu và do đó vùng đất đó đã từng bị xói mòn nhanh như thế nào”, TS. Adams nói.  “Một khi chúng tôi đã có các tốc độ xói mòn từ tất cả các ngọn núi thuộc dãy này, chúng tôi có thể so sánh chúng với rất nhiều biến trong độ dốc của sông và lượng mưa rơi. Tuy vậy, việc so sánh như vậy rất phức tạp bởi vì khó tạo ra từng điểm dữ liệu và việc giải thích về mặt thống kê của mọi loại dữ liệu với nhau cũng vô cùng phức tạp”.  TS. Adams đã vượt qua thách thức này bằng việc kết hợp các kỹ thuật hồi quy với các mô hình số rtij về cách các dòng sông làm xói mòn đá.  “Chúng tôi đã kiểm tra một lượng rất lớn các mô hình số trị để tái tạo mẫu tốc độ xói mòn có thể quan sát được khắp Bhutan và Nepal. Cuối cùng một mô hình có thể dự đoán một cách chính xác các tỉ lệ xói mòn đã từng được đo đạc”, TS. Adams nói. “Mô hình này cho phép chúng ta lần đầu tiên định lượng mưa rơi ảnh hưởng như thế nào đến các tốc độ xói mòn trong  khu vực có địa hình gập ghềnh”.  Người tham gia nghiên cứu này, giáo sư địa chất Kelin Whipple ở ASU, nói: “Phát hiện của chúng tôi cho thấy sự quan trọng của việc tính đến yếu tố lượng mưa khi đáng giá các mẫu hình của hoạt động kiến tạo bằng việc sử dụng địa hình và cũng đem lại một bước đi quan trọng hướng tới việc giải quyết tốc độ trượt trên các đứt gãy kiến tạo có thể có nguyên nhân là xói mòn do tác động của biến đổi khí hậu trên bề mặt”.    Những phát hiện trong nghiên cứu này cũng đem lại những gợi ý quan trọng trong quản lý việc sử dụng đất, bảo vệ cơ sở hạ tầng và chống rủi ro có thể xảy ra ở Himalaya.  Tại Himalaya, rủi ro có thể thấy là các tốc độ xói mòn cao có thể làm gia tăng sự sa lắng hết sức trầm trọng dưới các đầm, gây nguy hiểm cho các dự án thủy điện. Phát hiện này cũng cho thấy lượng mưa lớn hơn có thể làm yếu đi các sườn dốc, làm tăng thêm rủi ro phân tán các dòng chảy hay lở đất, một số có thể đủ rộng để “giữ chân” dòng sông tạo ra một rủi ro mới.  TS. Adams cho biết thêm: “Dữ liệu của chúng tôi và các phân tích của chúng tôi đã cung cấp một công cụ hiệu quả để ước tính các mẫu hình xói mòn trên các vùng đất có núi như Himalaya, và hơn nữa, có thể đem đến hiểu biết vô giá vào các rủi ro có thể ảnh hưởng tới hàng trăm triệu người đang sống ở chân các dãy núi”.  Nghiên cứu này do Hội Hoàng gia London, Hội đồng Nghiên cứu môi trường tự nhiên Anh (NERC), và Quỹ Khoa học tự nhiên Mỹ (NSF) tài trợ.  Là người đóng vai trò quan trọng với nghiên cứu này, TS. Adams hiện đang khám phá cách các khu vực phản hồi sau các hoạt động phun trào núi lửa.  “Mô hình tiến hóa cảnh quan vùng đất mới này đang rọi ánh sáng mới vào các quá trình diễn ra bên trong các ngọn núi lửa. Với các kỹ thuật tiên tiến trong đo lường các tốc độ xói mòn và tính năng của đá mà chúng tôi xây dựng, chúng tôi sẽ có khả năng hiểu rõ hơn cách các dòng sông và núi lửa  đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong quá khứ như thế nào”, TS. Adams nói. “Nó sẽ giúp chúng ta lường trước một cách chính xác hơn những gì xảy ra sau những đợt phun trào núi lửa và cách quản lý hậu quả có thể đến với cộng đồng sống quanh khu vực đó”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-groundbreaking-discovery-mountains.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá FIFA World Cup 2022 bằng khoa học mạng lưới      Khoa học mạng lưới là nghiên cứu về các hiện tượng vật lý, sinh học, xã hội và những hiện tượng khác thông qua việc tạo ra những hiện diện của mạng lưới. Những hiện này có thể đem lại những cái nhìn vô cùng giá trị, tiết lộ những mẫu hình thú vị trong dữ liệu và mối liên hệ giữa những thực thể được kết nối.    Milán Janosov và Patrik Szigeti, hai nhà khoa học dữ liệu làm việc tại trường ĐH Trung Âu Baoba Inc. & Revolut mới đây đã sử dụng khoa học mạng lưới để kiểm tra FIFA World Cup 2022. Những hiện diện mạng lưới mà họ tạo ra đã được nêu trong một công trình xuất bản trên Research Gate 1, cho phép họ rọi thêm thông tin mới vào thế giới liên kết đầy thu hút này của các ngôi sao và các câu lạc bộ bóng đá.  “Tôi không phải là một cổ động viên bóng đá nhiệt thành, vì thế tôi chưa từng theo dõi sự kiện bóng đá lớn như giải vô địch thế giới”, Janosov nói với Tech Xplore.  “Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, khoa học mạng lưới và những hiển thị mạng lưới rất xuất sắc trong việc tổng kết và giải thích những hệ phức tạp trong duy nhất một hình ảnh theo một cách tập trung và nhanh chóng. Vì vậy, tôi bắt đầu tự hỏi chính mình là có bao nhiêu hiểu biết về bóng đá tôi có thể chọn được ra từ một mạng lưới, bằng việc trả lời nhiều câu hỏi như ai là những cầu thủ chính? Toàn bộ hệ sinh thái các ngôi sao bóng đá sẽ trông như thế nào?”.  “Do đó tôi đã mời bạn mình là nhà khoa học dữ liệu Patrik Szigeti, người cũng là một chuyên gia bóng đá tự học, để bàn thảo về cách chúng tôi có thể xây dựng được mạng lưới này như thế nào”.  Một mạng lưới về cơ bản là một vật thể bao gồm nhiều nốt và đường kết nối các nốt với nhau. Các nhà khoa học mạng lưới như Janosov xây những mạng lưới đó bằng việc sử dụng dữ liệu liên quan đến các hiện tượng cụ thể bao gồm những bên kết nối hoặc các thực thể kết nối.  “Để xây dựng một mạng lưới, chúng tôi cần một nguồn dữ liệu chứng tỏ các mối quan hệ giữa các thực thể mà chúng tôi đang nghiên cứu”, Janosov giải thích. “Trong ví dụ về bóng đá, điều này có thể là một đội bóng cũng như các cầu thủ. Vì vậy, điều đầu tiên là – chúng tôi cần dữ liệu. Đây là nơi cần đến kiến thức chuyên gia và dẫn chúng tôi đến trang web transfermarkt.com”.  Janosov và Szigeti thu thập dữ liệu cần thiết để xây dựng các mạng lưới FIFA World Cup 2022 của mình từ transfermarkt.com, một trang web liên quan đến bóng đá thuộc về Axel Springer SE. Trang web này bao gồm một lượng thông tin lớn về các cầu thủ bóng đá và các câu lạc bộ, bao gồm thông tin về thành viên đội tuyển đội của các cầu thủ, lịch sử chuyển nhượng cũng như các kết quả vô địch hiện tại và trong quá khứ.  Tuy Kylian Mbappé (trái) và Lionel Messi là đối thủ ở World Cup nhưng khi khoác áo câu lạc bộ, họ lại là đồng đội. CREDIT: Getty Images/Franck Fife  “Đây là dạng dữ liệu hết sức có tương quan, vì vậy nó có thể đóng vai trò như một thông tin đầu vào cho khoa học mạng lưới – và không đáng ngạc nhiên là việc xây dựng mạng lưới thành viên của các cầu thủ rất thuận lợi”, Janosov nói. “Về cơ bản, nếu các cầu thủ ở cùng một đội trong một năm thì chúng tôi coi họ có liên quan với nhau”.  Sự hiện diện của mạng lưới cầu thủ được các nhà khoa học tạo ra chứa 830 cầu thủ, những người lại có liên hệ với nhau thông qua xấp xỉ 6.400 mối liên hệ đồng đội trong quá khứ hoặc hiện tại (ví dụ họ đã từng hoặc hiện đang chơi cùng một đội). Độ dài con đường trung bình ở đây là ba, có nghĩa là nếu cứ hai cầu thủ được lựa chọn ngẫu nhiên từ những cầu thủ khác cùng chơi trong FIFA World Cup, họ có thể có cả đồng đội cùng chơi trong câu lạc bộ của mình tại một thời điểm.  “Xây dựng một mạng lưới các câu lạc bộ bóng đá rất phức tạp”, Janosov giải thích. “Trong trường hợp này, chúng tôi muốn nắm bắt các câu lạc bộ là trung tâm hấp dẫn dựa trên những định hướng cụ thể trong đó các cầu thủ ký hợp đồng hoặc hết hạn hợp đồng”.  Để hiển thị các câu lạc bộ bóng đá, Janosov và Szigeti trích xuất thông tin lịch sử của câu lạc bộ về các cầu thủ và sau đó xây dựng các mối liên hệ trong mạng lưới của họ để theo chân con đường đá bóng chuyên nghiệp độc đáo của từng cầu thủ (ví dụ từ những câu lạc bộ nào và những câu lạc bộ nào họ được chuyển nhượng). Điều này cho phép các nhà nghiên cứu khám phá ra một số mẫu hình thú vị.  “Một trong những quan sát thú vị nhất mà chúng tôi thu thập được khi nhìn vào mạng lưới câu lạc bộ là có hai nhóm câu lạc bộ chính: những người bỏ tiền ra và những cố vấn”, Janosov nói. “Các cố vấn thường kiếm tìm được các cầu thủ ở giai đoạn đầu sự nghiệp của họ và bởi ít tiền nên đã bán họ cho những ông lớn. Những ông lớn rủng rỉnh tiền bạc, ngược lại với dòng chảy của tiền và tài năng, thay vì huấn luyện những cầu thủ của mình, họ hành xử đơn giản là giành những khoản tiền lớn để tuyển dụng các ngôi sao”.  Cuối cùng, Janosov và Szigeti cũng cố gắng sử dụng học máy để dự đoán một số xếp hạng World Cup. Các dự đoán từ mô hình của họ không được chính xác lắm vì chỉ thu về độ chính xác 60%. Nhưng dù sao, phân tích của họ đã nhận diện được một số đặc điểm liên quan khi cố gắng dự đoán một xếp hạng câu lạc bộ như giá trị trên thị trường chuyển nhượng của các cầu thủ chơi cho câu lạc bộ đó.  “Tất nhiên là chúng tôi không phải là những tay mê bóng đá thực thụ nhưng chúng tôi đã có một cái nhìn vào việc giải thích một số phần của xếp hạng chung cuộc World Cup bằng việc sử dụng một mô hình học máy đơn giản, đem lại những đặc điểm của mạng lưới và giá trị thị trường chuyển nhượng của các cầu thủ, “, Janosov nói. “Phân tích này không đem lại độ chính xác cao, nhưng rất hay ho khi nhìn vào những đặc điểm của mạng lưới và khả năng dự đoán đáng kể khi so sánh với vấn đề tài chính”.  Nghiên cứu này là nghiên cứu mới nhất trong một loạt công trình mà Janosov thực hiện khi nhìn vào một hiện tượng văn hóa đại chúng, bao gồm các chương trình truyền hình và phim ảnh, thông qua các lăng kính của khoa học mạng lưới. Nỗ lực của anh chứng tỏ lĩnh vực nghiên cứu mới nổi này giá trị đến mức nào khi cố gắng hiểu sâu hơn về các kết nối nằm dưới các hiện tượng xã hội.  “Trong công trình tiếp theo, tôi lên kế hoạch sử dụng khoa học mạng lưới để đào sâu hơn vào sự bền vững”, Janosov cho biết thêm.  Vũ Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2023-02-exploring-fifa-world-cup-network.html     —————————————————-  1.https://www.researchgate.net/publication/367347353_FIFA_World_Cup_2022_-_The_Network_Edition?channel=doi&linkId=63ce9526d9fb5967c2fd4e14&showFulltext=true    Author                .        
__label__tiasang Khám phá giới hạn thẩm thấu nước từ đất khô của cây cối      Đó là một trong những vấn đề tồn tại rất lâu trong thế giới sinh học. Rút cục, nhà sinh học cây trồng H. Jochen Schenk ở trường đại học bang California tại Fullerton và cộng sự đã giải được câu hỏi này.      Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra tại sao cây cối lại không thể hoạt động như đúng chức năng của nó trên những mảnh đất khô hạn nhất. Nghiên cứu do Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ tài trợ.  Họ xuất bản công trình “Cavitation in lipid bilayers poses strict negative pressure stability limit in biological liquids” trên Proceedings of the National Academy of Sciences.  Nghiên cứu này có vai trò rất quan trọng, nhà sinh học thực vật và cả các nhà vật lý đánh giá, bởi nó giải thích các giới hạn để tăng trưởng trong những cây có khả năng chịu hạn ở Nam California cũng như những vùng đất hạn trên khắp thế giới. Nó cũng giúp giải thích các giới hạn về chiều cao của cây ví dụ như những loài gỗ đỏ.  “Ở quanh chúng ta có những loài cây có khả năng sống ở những vùng khô hạn của trái đất và chúng có thể hút nước khỏi những vùng cực hạn ở những giới hạn của những gì có thể về mặt vật lý”, Schenk cho biết.  Với áp suất âm hoặc lực hút, cây cối có thể hút nước từ đất lên trong mạch gỗ (xylem), loại mao mạch truyền dẫn chất lỏng và ion khoáng từ rễ lên thân và lá, tương tự như mạch máu ở động vật.  Một số loại cây như hoaryleaf ceanothus (một loài thực vật có hoa họ Táo), tạo được lực hút lớn nhất so với bất kỳ thực vật nào trên thế giới, với hệ thống rễ có khả năng thẩm thấu nước từ những loại đất cực hạn.  “Các phân tử nước trong các cây này đã được kéo căng. Thông thường nó không dễ bị tách ra bởi các phân tử nước có thể “dính” vào nhau rất tốt”, Schenk nhận xét. “Dẫu vậy thì lớp lipid kép trong nước không hoàn toàn gắn kết với nhau, vì vậy trước lực hút cực mạnh, chúng bắt đầu bị phân tách và đó là những gì mà nghiên cứu của chúng tôi đã tìm ra”.      Khi các lớp lipid này (các chất tự nhiên không tan trong nước ở nhựa cây) bị đẩy ra, các lỗ trống trong hệ dẫn mao mạch lớn lên thành các bong bóng khí ngăn nước chuyển động.  “Nghiên cứu này là một ví dụ về sức mạnh của các cách tiếp cận liên ngành – trong trường hợp này là cấu trúc cây trồng, vật lý và mô phỏng tính toán về chuyển động của các phân tử – để giải quyết những câu hỏi đã tồn tại từ rất lâu trong sinh học”, Irwin Forseth, giám đốc bộ phận Các hệ sinh vật thống nhất của NSF, nói. “Nghiên cứu này cũng có giá trị dự đoán sự phản hồi của thực vật với những thay đổi của môi trường có thể dẫn đến sự gia tăng của đất hạn trên khắp thế giới”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-limits-ability-soil.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá hạt vật chất lạ, một tetraquark      Tại Hội nghị về vật lý năng lượng cao của Hội Vật lý châu Âu (EPS-HEP), thực nghiệm LHCb tại CERN loan báo về một khám phá mới. Hạt mới do LHCb phát hiện mang tên Tcc+ là một tetraquark – một hadron lạ bao gồm hai quark và hai phản quark. Đây là hạt vật chất lạ có thời gian sống dài nhất từng biết và là hạt đầu tiên chứa hai quark nặng và hai phản quark nhẹ.      Các hạt quark là những khối cơ bản cấu trúc lên vật chất. Chúng kết hợp với nhau để hình thành các hadron, vốn được đặt là các baryon, như proton và neutron, bao gồm ba quark, meson để hình thành nên các cặp quark – phản quark. Trong những năm gần đây có một số thường được gọi là các hadron lạ – các hạt gồm bốn hoặc năm quark, thay vì hai hoặc ba như thông thường – đã được tìm thấy. Khám phá của LHCb là một hạt hadron lạ độc đáo một cách đặc biệt, một hadron lạ.  Hạt mới này gồm hai quark duyên và một phản quark lên, một phản quark xuống. Hầu hết các tetraquark đã được tìm thấy trong những năm gần đây (bao gồm một với hai quark duyên và hai phản quark duyên), nhưng đây là hạt đầu tiên chứa hai quark duyên và không có phản quark duyên để cân bằng chúng. Các nhà vật lý gọi đây là “duyên mở” (trong trường hợp này, “hai lần duyên mở”). Các hạt bao gồm một quark duyên và một phản quark duyên có “duyên thầm’ – con số lượng tử duyên cho toàn bộ hạt thêm vào tới zero, chỉ như một hạt tích điện dương và tích điện âm. Tại đây con số lượng tử duyên thêm vào lên tới hai, vì vậy tăng gấp đôi cái duyên!  Hạt quark bao gồm Tcc+, có các đặc điểm thú vị khác bên cạnh thành duyên mở. Đây là hạt đầu tiên được tìm thấy thuộc về một lớp các tetraquark với hai quark nặng và hai phản quark nhẹ. Như sự phân rã các hạt thông qua việc chuyển thành một cặp meson, mỗi cặp hình thành bằng một quark nặng và một phản quark nhẹ. Theo một số giải thích về lý thuyết, khối lượng của các tetraquark thuộc loại này rất gần với tổng khối lượng của hai hạt meson. Như sự gần gũi về khối lượng khiến cho sự phân rã này “khó” diễn ra, dẫn đến kết quả kéo dài sự phân rã trong suốt thời gian tồn tại của hạt, và thực vậy Tcc+ là hardon lạ có thời gian sống dài nhất từng được biết đến ngày nay.  Khám phá này là một bước tiến trên đường tìm các hạt nặng hơn ở cùng một dạng, với một hoặc hai quark duyên thay thế bằng các quark dưới. Hạt hardon với hai quark dưới thú vị một cách đặc biệt: theo tính toán, khối lượng của nó phải nhỏ hơn tổng khối lượng của bất kỳ cặp meson B nào. Điều này có thể khiến cho sự phân rã dường như không chỉ khó xảy ra mà còn bị ngăn cản trên thực tế: hạt này có thể không phân rã qua tương tác mạnh và có thể phải phân rã qua tương tác yếu, vốn có thể khiến cho thời gian sống của nó theo trật tự từ dài hơn bất kỳ hạt hadron lạ nào được quan sát trước đây.  Hạt mới Tcc+, tetraquark là một cái đích thú vị để hướng tới trong những nghiên cứu tiếp theo. Sự phân rã của các hạt này tương đối dễ dò và trong sự kết hợp với khối lượng nhỏ năng lượng sẵn có trong quá trình phân rã, nó dẫn đến một sự chính xác gần như hoàn hảo về khối lượng và cho phép nghiên cứu các số lượng tử của chính hạt hấp dẫn này. Điều này có thể đem lại một thử nghiệm chặt chẽ cho các mô hình lý thuyết tồn tại và có thể có tiềm năng cho phép chứng minh các hiệu ứng không thể chạm tới trước đây.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-exotic-particle-tetraquark.html  https://home.cern/news/news/physics/twice-charm-long-lived-exotic-particle-discovered    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá hiệu ứng lượng tử gây ngạc nhiên trong một siêu dẫn lạ      Một nhóm nghiên cứu quốc tế do các nhà nghiên cứu tại trường đại học Princeton dẫn dắt đã quan sát trực tiếp một hiệu ứng lượng tử đáng ngạc nhiên trong một chất siêu dẫn chứa sắt ở nhiệt độ cao.      Các đỉnh màu đỏ tại trung tâm là câc pha tạp cobalt dò được từ kính hiển vi điện tử quét truyền qua. Nguồn: Nhóm nghiên cứu của: Hasan  Các chất siêu dẫn dẫn điện không điện trở, tạo cho nó giá trị truyền phát điện lâu dài và những ứng dụng tiết kiệm năng lượng khác. Các chất siêu dẫn thông thường chỉ hoạt động trong điều kiện nhiệt độ thấp nhưng vật liệu chứa sắt được khám phá trong một thập kỷ qua lại có thể trở thành siêu dẫn tại các mức nhiệt độ rất cao và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế.  Siêu dẫn được hình thành một cách chính xác trong vật liệu chứa sắt như thế nào vẫn còn là một bí ẩn, đặc biệt kể từ khi sắt từ có thể được coi như trái ngược với sự xuất hiện của siêu dẫn. Một hiểu biết sâu sắc hơn về loại vật liệu không theo các quy tắc thông thường như các siêu dẫn chứa sắt có thể dẫn đến những ứng dụng mới cho các công nghệ tiết kiệm năng lượng thế hệ mới.  Nhóm nghiên cứu quốc tế đã chứng minh tính chất của siêu dẫn chứa sắt khi các chất pha tạp – như các nguyên tử cobalt – được đưa thêm vào để khám phá việc siêu dẫn hình thành và tiêu tán như thế nào. Khám phá của họ đem lại những cái nhìn mới vào lý thuyết 60 năm tuổi về ứng xử của siêu dẫn. Công trình mới được xuất bản trên Physical Review Letters.  Việc pha tạp vào vật liệu là một cách thường được sử dụng để tìm hiểu về tính chất của siêu dẫn, M. Zahid Hasan, giáo sư vật lý Eugene Higgins ở trường đại học Princeton và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói. “Đây là cách chúng tôi chứng minh hành xử dạng sóng của nước trong hồ khi ném một viên đá,” ông giải thích. “Cách các tính chất của siêu dẫn tác động vàochất pha tạp tiết lộ các bí mật cả chúng với các chi tiết ở mức lượng tử”.  Một ý tưởng được biết đến trong một thời gian dài là những dự đoán về lý thuyết của Anderson: khi pha tạp các chất vào vật liệu có thể dẫn đến rối loạn trong siêu dẫn, trong nhiều trường hợp không dẫn đến phá hủy tính siêu dẫn. Lý thuyết này được nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1959 Philip Anderson, giáo sư vật lý Joseph Henry trường đại học Princeton, đề xuất. Tuy nhiên vẫn luôn luôn có những trường hợp ngoại lệ.  Cobalt xuất hiện như một trong số các ngoại lệ đó. Tương phản với lý thuyết này, việc đưa thêm cobalt vào chất siêu dẫn chứa sắt làm mất đi khả năng siêu dẫn và khiến nó trở thành một kim loại thông thường, trong đó dòng điện truyền qua với điện trở và tạo ra nhiệt dư.  Cho đến bây giờ, người ta vẫn còn chưa rõ điều đó xảy ra như thế nào.  Để khám phá hiện tượng này, nhóm nghiên cứu ở Princeton đã sử dụng một kỹ thuật là kính hiển vi điện tử truyền qua có khả năng chụp ảnh các đơn nguyên tử để nghiên cứu về một chất siêu dẫn chứa sắt được tạo ra từ lithium, sắt và arsenic. Họ đưa các pha tạp phi từ của các nguyên tử cobalt trong siêu dẫn để quan sát hành xử  của nó.  Họ đo đạc một số lượng lớn các mẫu vật tại mức nhiệt độ cực thấp, khoảng âm 460 độ Fahrenheit (400 độ milliKelvin), lạnh hơn ngoài vũ trụ khoảng 10 độ Fahrenheit. Trong các điều kiện đó, các nhà nghiên cứu đã xác định vị trí và nhận diện từng nguyên tử cobalt trong mạng tinh thể, sau đó đo đạc trực tiếp hiệu ứng có siêu dẫn tại quy mô cục bộ và toàn thể về mặt nguyên tử của các đặc tính siêu dẫn của mẫu vật.  Để làm được điều này, họ nghiên cứu trên 30 tinh thể tại 8 nồng độ khác nhau tại các điều kiện nhiệt độ cực thấp. “Không có sự đảm bảo nào là tại mức độ nào về tinh thể sẽ đem lại cho chúng tôi dữ liệu chất lượng cao như chúng tôi cần,” Songtian Sonia Zhang, một đồng tác giả giải thích vì sao họ lại cần đến 8 mức nồng độ khác nhau trong nghiên cứu.    Nhóm nghiên cứu của giáo sư M. Zahid Hasan (thứ hai từ trái sang)   Kết quả của thí nghiệm này là họ đã khám phá ra mỗi nguyên tử cobalt lại có một tác động giới hạn cục bộ đã làm triệt tiêu một nguyên tử hoặc hai nguyên tử trong khoảng cách với chất pha tạp. Đây là một tiến triển mang tính hệ thống rất mạnh thông qua một chuyển pha từ trạng thái phi siêu dẫn khi tăng thêm nồng độ cobalt. Tính siêu dẫn cuối cùng bị triệt tiêu hoàn toàn khi đưa thêm nhiều nguyên tử cobalt vào.  Tính siêu dẫn xuất hiện là do sự kết cặp của hai electron, hinh thành một trạng thái lượng tử được miêu tả bằng một thuộc tính mà người ta vẫn gọi là hàm sóng. Sự kết cặp này cho phép các electron kết lại trong một vật liệu không có điện trở điển hình, vốn vẫn xảy ra với các kim loại thông thường. Mức năng lượng tối thiểu đòi hỏi để tán xạ các electron này và phá vỡ các cặp được gọi là khoảng cách năng lượng siêu dẫn (superconducting energy gap).  Khi các nguyên tử cobalt được đưa vào, cường độ tán xạ có thể được miêu tả theo hai cách: giới hạn mạnh (hoặc đơn nhất) và giới hạn yếu (Born). Tán xạ tại giới hạn Born, được đặt theo tên của nhà vật lý Max Born, có một tiềm năng yếu để nhiễu loạn hàm sóng electron mà về bản chất tác động lên tương tác electron-electron và dẫn đến kết cặp electron.  Bằng việc thay thế các nguyên tử sắt, các nguyên tử cobalt hành xử như các tán xạ giới hạn Born. Chúng có một khả năng tương tác yếu để là nhiễu loạn tính siêu dẫn, và khi nhiều lên, chúng có thể làm triệt tiêu tính siêu dẫn.  Các nhà nghiên cứu khám phá vật liệu lithium sắt arsen, sự tán xạ tại giới hạn Born có thể vi phạm lý thuyết của Anderson, dẫn đến một chuyển pha lượng tử từ một trạng thái siêu dẫn đến trạng thái phi siêu dẫn.  Các vật liệu siêu dẫn có thể được miêu tả bằng một đặc tính là phổ truyền qua, giúp đem lại một miêu tả về tính chất của các electron trong một vật liệu và đóng vai trò như một hồ sơ về phân bố năng lượng của electron. Vật liệu lithium sắt arsen có một đặc tính khoảng trống “sóng dạng S” tạo ra từ đáy hình chữ U phẳng trong khoảng trống năng lượng siêu dẫn. Một khoảng trống siêu dẫn mở là chỉ dấu chất lượng của vật liệu siêu dẫn.  Thật ngạc nhiên là các pha tạp cobalt không chỉ làm triệt tiêu tính siêu dẫn mà còn thay đổi bản chất tự nhiên của khoảng trống này như một thay đổi từ hình dạng chữ U sang hình chữ V. Hình dạng của khoảng trống siêu dẫn thường phản chiếu “tham số thứ bậc”, dùng để miêu tả bản chất tự nhiên của siêu dẫn.  Kể từ khi lý thuyết của Anderson nêu các pha tạp phi từ có thể ảnh hưởng ít nhiều đến chất siêu dẫn, các nhà nghiên cứu ở Pricenton nhận ra rằng đây là một lý thuyết phải được phát triển thêm.  Trong một siêu dẫn chứa sắt, họ xem xét đây là dấu hiệu thay đổi bởi một tham số trật tự siêu dẫn tại một “bề mặt Ferrmi” –  các khối năng lượng hình thành từ các quy tắc trong đó các electron chiếm giữ vị trí trong cấu trúc tinh thể.  “Phân biệt giữa siêu dẫn thông thường và siêu dẫn chuyển dấu đòi hỏi một đo đạc pha siêu nhạy của tham số trật tự siêu dẫn, và nó vẫn còn là thách thức”, Ilya Belopolski, một postdoc trong nhóm nghiên cứu của Hasan và là một tác giả, cho biết. “Một khía cạnh đẹp trong thí nghiệm của chúng tôi là khi xem xét những vi phạm lý thuyết của Anderson, chúng tôi đã có thể tìm ra được chính điều thiết yếu này”.  Trên thực tế, nhóm nghiên cứu đã khám phá ra bằng việc đưa một dấu thay đổi theo tham số trật tự của siêu dẫn, họ có thể tạo ra sự thay đổi từ các pha tạp cobalt. Vượt qua cả những tính toán ban đầu, họ đã sử dụng ba phương pháp lý thuyết tiên tiến bậc nhất để chứng minh tác động của các tán xạ cobalt phi từ tính lên chất siêu dẫn thay đổi dấu này. “Ba mô hình lý thuyết khác nhau này cùng dẫn đến một giải thích, đây là một kết luận thuyết phục nhất”, Jia-Xin Yin, một postdoc và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết. Trong quá trình giải bí ẩn về siêu dẫn, không phải lúc nào các mô hình phức hợp cũng đồng nhất kết quả. Trong trường hợp này, Yin nói, “các kết quả từ các mô hình độc lập xác định một cách rõ ràng đây là một chất siêu dẫn đổi dấu kỳ lạ, không tuân theo lý thuyết của Anderson”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-scientists-quantum-effect-exotic-superconductor.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá lăng mộ Pharaoh Seti I: Thế giới tâm linh rực rỡ và sống động      Pharaoh Seti I là người đặt tiền đề sáng lập ra triều đại thứ 19-Đế chế mới ở Ai Cập cổ đại. Đây được coi là giai đoạn đỉnh cao về lực lượng quân sự, biến Ai Cập thành một quốc gia hùng mạnh. Và lăng mộ Seti I được coi là một trong những bức màn bí ẩn mà các nhà khoa học vất vả tìm hiểu trong Thung lũng các vị vua, nơi yên nghỉ của các vua Ai Cập cổ đại suốt cả thế kỷ qua. Kể từ khi lăng mộ dài nhất tại Thung lũng các vị vua này được phát hiện từ đầu thế kỷ 19 tới nay, các nhà khảo cổ học vẫn liên tục phát hiện ra những điều mới mẻ ở đây, về quy mô của lăng mộ, về con đường hầm dài còn dang dở, về thế giới nghệ thuật sống động được mô tả ở đây, về niềm tin tôn giáo và hành trình đi tới âm giới trong thế giới quan của người Ai Cập cổ đại… Phóng sự ảnh vừa được thực hiện mới đây trên National Geographic lột tả một phần thế giới rực rỡ, sống động đó.      Lăng mộ trong thung lũng các vị vua.  Ngôi mộ không có xác ướp  Ẩn mình giữa những lối vào lăng mộ của Thung lũng Các vị vua là một cấu trúc được các nhà khoa học đặt tên là khu KV17: Khu lăng mộ được xây dựng cho Vua Seti I, người đã chết vào năm 1279 trước Công nguyên, được phát hiện vào năm 1817 và ngay lập tức đã khiến những người khai quật ngạc nhiên với những bức tường được trang trí phong phú mô tả niềm tin tôn giáo thông qua hình ảnh của pharaoh đã chết và các vị thần của Ai Cập cổ đại.  Thung lũng các vị vua là nơi chôn cất của nhiều chủ nhân trị vì Đế chế mới ở Ai Cập (khoảng năm 1539-1075 trước CN), khi Ai Cập vươn lên một tầm cao mới về quyền lực và tầm ảnh hưởng. Công cuộc xây dựng nghĩa trang vĩ đại ngoài sa mạc này bắt đầu từ thời Thutmose I, vị vua thứ ba của triều đại thứ 18, người đã đánh dấu sự hồi sinh của Ai Cập sau một thời gian dài bất ổn. Thung lũng được dựng trên đá của thung lũng sa mạc gồ ghề ở bờ Tây sông Nile. Vị trí xa xôi hiểm trở như vậy đã được chọn để che giấu nơi chôn cất xa hoa của vị vua khỏi nguy cơ từ những kẻ đột nhập. Những người cai trị Đế chế mới tiếp theo cũng đặt mộ của họ ở đó, và nghĩa trang cứ thể ngày càng mở rộng. (Sức mạnh tư pháp được truyền từ pharaoh này sang pharaoh khác, ngay cả sau khi chết.)  Mặc dù phần bên trong của các ngôi mộ đều được che giấu bằng cách lấp đi các lối vào, hầu hết các ngôi mộ – ngoại trừ ngôi mộ nổi tiếng của Tutankhamun – đã bị cướp gần hết, và ngôi mộ của Seti I không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên, ngay cả khi không có đồ vật chạm khắc bằng vàng hay thậm chí là xác ướp của pharoah, lăng mộ Seti vẫn có vô số báu vật. Đó chính là nghệ thuật vô giá tô điểm trên các bức tường vẫn còn nguyên vẹn, giúp cho các học giả hiện đại có một cái nhìn sống động về thứ nghệ thuật phức tạp này, giúp họ hiểu thêm về tâm linh Ai Cập và các nghi lễ tang lễ xung quanh cái chết của một vị vua.  Nạn nhân của nạn cướp bóc cổ vật   Vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, nhà sử học Diodorus Siculus đã mô tả Thung lũng Các vị vua như một đống đổ nát. Thời gian đã không hề nương tay với địa điểm này, cả tự nhiên và con người đã làm suy thoái nó.    Trần vòm của phòng chôn cất dưới của Seti I tượng trưng cho bầu trời và các ngôi sao. Các chòm sao khác nhau từ bầu trời đêm, bao gồm cả chòm sao Ursa Major – một con bò đực trong vũ trụ học Ai Cập cổ đại, xuất hiện giữa các vị thần.  Về sau này sự quan tâm chân thành về học thuật của các học giả người Pháp sau cuộc xâm lăng Ai Cập năm 1798 của Napoléon đã trùng với mối quan tâm về giá trị thương mại của những cổ vật được phát hiện trong lăng mộ. Vào đầu những năm 1800, nhiều lăng mộ trên khắp Ai Cập đã bị cướp phá để cung cấp các cổ vật quý hiếm cho thị trường châu Âu.  Khi nhà thám hiểm người Ý Giovanni Belzoni đến Ai Cập vào năm 1815, đất nước này nằm dưới sự kiểm soát của Anh. Belzoni vốn được biết đến như một nhà thám hiểm và kẻ trộm mộ, nhưng điều này đã không ngăn cản lãnh sự Anh giúp ông vận chuyển một tượng đầu khổng lồ của Ramses II đến Alexandria và từ đó nó được chuyển đến Bảo tàng Anh ở London. Belzoni cũng bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh với lãnh sự Pháp, người đã thuê các băng đảng cướp mộ để truy tìm các cổ vật.  Để giúp đối đầu với một địch thủ người Pháp, Belzoni đã kết bạn với người dân địa phương gần Thung lũng các vị vua, những người làm nghề cướp mộ. Nhờ thông tin của họ, ông đã trở nên quen thuộc với khu vực này. Và mặc dù là một tay hám lợi nhưng Belzoni cũng thực sự quan tâm đến giá trị khảo cổ học. Ông đã nghiên cứu địa hình thung lũng và ghi nhận cách nước mưa chảy nhanh có thể chỉ ra vị trí ẩn giấu của những cánh cửa.  Vào mùa đông năm 1816, Belzoni tìm được vị trí của lăng mộ pharaoh Ay – triều đại thứ 18. Vào tháng 10 năm sau, người của ông đã phát hiện ra lăng mộ Ramses I, người sáng lập vương triều thứ 19. Trong quá trình khám phá đó, Belzoni nhận thấy có một cái hố nhỏ khác dễ dàng hấp thụ nước mưa, và điều đó cho thấy một khoang trống nằm bên dưới. Khi đào, nhóm của ông tìm thấy một lối vào đầy gạch vụn. Khi các mảnh vỡ đã được dọn sạch, họ có thể nhìn thoáng qua những bức tường được trang trí tuyệt đẹp bên kia. Trong khi khám phá ngôi mộ, Belzoni tìm thấy một con bò đã bị ướp xác, khiến ông tin rằng ngôi mộ dành riêng cho Apis – con bò thần được thờ phụng ở phía Bắc Ai Cập, và không hề thấy có một xác ướp nào.    Bức tranh mô tả vua Seti I đã gặp nhiều vị thần khác nhau trong căn phòng này. Vị Pharaoh đi cùng với nữ thần Isis và thần Anubis, thần của cái chết và ướp xác – có đầu hình con chó.  Triển lãm của những kì quan   Mặc dù không biết gì về danh tính chủ nhân thực sự của ngôi mộ, Belzoni nhận ra rằng những hình vẽ trang trí bên trong thực sự đặc biệt.   Khi Belzoni đến phòng chôn cất có trần sơn tráng lệ tượng trưng cho thiên đàng, ông tìm thấy một chiếc quan tài trống rỗng. Cỗ quan tài được tìm thấy nằm trên một cầu thang dẫn xuống một hành lang dài và bí ẩn, và người của ông đã dừng không khám phá tiếp sau khi đi được một trăm thước Anh. Chiếc quan tài đã được đưa khỏi ngôi mộ và cuối cùng được nhà sưu tập người Anh John Soane mua lại (ngày nay nó ở London, Anh, trong bảo tàng mang tên Soane).  Các tác phẩm trong lăng mộ không chỉ khiến người ta ngưỡng mộ vì vẻ ngoài tráng lệ ngoạn mục mà còn cung cấp cho các nhà Ai Cập học ngày nay những văn bản tang lễ sớm nhất, đầy đủ nhất từ thời Ai Cập cổ đại. Các bức tranh trên tường mô tả các cảnh chi tiết từ Sách Amduat (cuốn sách về Âm giới của Ai Cập) và các văn bản từ Litany of Re – bộ sưu tập các lời cầu nguyện cho vị thần Mặt trời. Chiếc quan tài khổng lồ được trang trí với những cảnh trong Sách Gates, một văn bản Ai Cập kể lại đoạn văn của một linh hồn qua thế giới ngầm và ngày nay được coi là một trong những cổ vật quan trọng nhất từ triều đại Ai Cập thứ 19.   Vào năm 1828, học giả người Pháp Jean-François Champollion đã giải mã chữ tượng hình trong lăng mộ và xác định nó là của vua Seti I, một trong những nhà cai trị vĩ đại nhất của triều đại thứ 19, là cha đẻ của vua Ramses II. Seti I cai trị 11 năm trong thời gian ông mở rộng ảnh hưởng của Ai Cập đến Nubia và phía Đông Bắc đến Syria. Các nhà khảo cổ sau này sẽ tìm thấy xác ướp vua trong một ngôi mộ Hoàng gia gần đó, nơi nó đã được di chuyển dến trong thời cổ đại để giữ an toàn.     Xác ướp của Seti I đã được đưa ra khỏi ngôi mộ trong thời cổ đại và được giấu gần đó để giữ an toàn. Xác ướp được phát hiện vào năm 1881, nay được lưu tại Bảo tàng Ai Cập, Cairo.  Các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu về ngôi mộ trong thế kỷ tiếp theo. Năm 1903, Howard Carter (người sau này sẽ phát hiện ra lăng mộ Tutankhamun vào năm 1922), đã khai quật lại ngôi mộ Seti một cách tỉ mỉ và ghi lại nội dung trong lăng mộ. Hơn một thế kỷ sau, nhà Ai Cập học Zahi Hawass cuối cùng đã khai quật được đường hầm mà Belzoni đã tìm thấy dẫn xuống từ buồng ngăn. Ông phát hiện ra rằng nó kết thúc đột ngột sau 570 feet, và kết luận rằng có thể nó dùng để kết nối liên thông nơi chôn cất với thế giới bên kia.  Kể từ lần khai quật đầu tiên của Belzoni, do mở cửa lăng mộ và du khách đến thăm nhiều nên lăng mộ Seti đã hư hại, nhưng rất nhiều nỗ lực đã được đưa ra để cố gắng bảo vệ và bảo tồn nó. Vào năm 2016, Quỹ Factum đã sử dụng công nghệ mới nhất để quét và chụp ảnh toàn bộ khu phức hợp không chỉ để bảo tồn và nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật, mà còn tạo ra các bản fax có độ chính xác cao có thể được in để dựng lên các mô hình kích thước đầy đủ của ngôi mộ với đầy đủ màu sắc. Thông qua các tư liệu này, du khách có thể trải nghiệm sự hùng vĩ của một nơi an nghỉ của pharaoh mà không tham quan trực tiếp gây nguy hiểm cho tư liệu gốc trong lăng mộ.   Việc khai quật ngôi mộ phần lớn đã hoàn tất, nhưng hào quang bí ẩn của nó sẽ kéo dài trong nhiều thế kỷ tới.  Những bước đầu tiên  Lối vào lăng Seti dẫn đến một loạt các hành lang và phòng. Trên các bức tường trong các căn phòng đầu tiên này có vô số tác phẩm nghệ thuật (dưới dạng phù điêu màu) mô tả các văn bản tang lễ tập trung vào thần Mặt trời Re. Một trong số đó là Sách âm giới Amduat của Vương quốc mới, cho thấy quá trình cầu nguyện mỗi đêm của thần Re, trên các bức tường in một bộ sưu tập các lời cầu nguyện cho vị thần Mặt trời. Du khách sẽ được xuống một bộ cầu thang và sau đó đi qua ba hành lang.    Với độ cao 290 feet từ sảnh vào đến phòng chôn cất (và xa hơn 570 feet dưới dạng đường hầm), lăng mộ Seti I (được gọi là KV17) là ngôi mộ dài nhất trong Thung lũng các vị vua. Nó chứa nhiều phòng với chức năng nghi lễ, và mô tả rõ các quy trình tang lễ Ai Cập cổ đại.   Trong căn phòng đầu tiên, chúng ta có thể thấy hình vẽ Seti I đang chào đón vị thần Re-Horakhty trong một cảnh trong cuốn Litany of Re – mang ý nghĩa liên kết vị pharaoh quá cố với các hình dạng khác nhau của thần Mặt trời. Một loạt các con kền kền đại diện cho nữ thần Nekhbet xuất hiện trên trần nhà với nền sao. Hình ảnh từ Litany cũng xuất hiện ở cầu thang thứ hai, mô tả thần Re dưới các hình thức khác nhau. Hành lang tiếp theo mô tả các giai đoạn khác nhau của hành trình thần Re hằng đêm trên các bức tường bên trái và bên phải, như được kể lại trong Sách âm giới Amduat. Các du khách sau đó sẽ dừng lại ở khoang “giếng” (well chamber), nơi tượng trưng cho việc mai táng của Osiris, vị thần của thế giới ngầm. Các phẩm nghệ thuật ở đây cho thấy các vị thần đang chào đón vị pharaoh đã chết.  Trụ cột của các vị thần  Sau giếng Osiris, du khách đi vào một căn phòng có bốn cột trụ được trang trí phong phú. Trong khi các hành lang và phòng sơ bộ tập trung vào vai trò của thần Mặt trời Re, thì không gian này đánh dấu sự thay đổi trong một loại hình nghệ thuật mà các nhà sử học gọi là thuật chthonic (liên quan đến âm giới). Tác phẩm nghệ thuật trong căn phòng này mô tả những cảnh trong Sách của Gates – sách kể lại hành trình của những người quá cố qua âm giới, trong đó mỗi giờ trong đêm được đánh dấu bằng một cánh cổng được bảo vệ nghiêm ngặt.   Trên mỗi bên của các cột, linh hồn của Seti quá cố đang trò chuyện với một vị thần. Trên bức tường phía sau căn phòng, Seti được Osiris, vị thần của âm giới chào đón. Một cánh cửa dẫn đến một buồng hai cột có tường được phủ đầy những hình trang trí còn dang dở được phác họa rất chi tiết, nhưng người ta đã không sơn thêm màu vào sau khi đưa Seti I vào ngôi mộ. Cầu thang dẫn xuống tầng dưới của ngôi mộ để tiếp tục hành trình về phía phòng chôn cất.   Gần hơn với thế giới bên kia  Đi xuống cầu thang từ căn phòng của những cây cột, du khách sẽ đến một hành lang khác với những bức tường được vẽ hình vua Seti I đang đứng trước một chiếc bàn. Hình vẽ trên bức tường bên trái cho thấy một loạt các ghi chép và hình ảnh được kết nối với nghi lễ Mở miệng (Opening of the Mouth), một nghi lễ cho phép bản sao của người chết lấy lại khả năng sống, nói và ăn ở thế giới bên kia.     Phòng chôn cất phía trên mở ra cho chúng ta thấy cảnh tượng tuyệt đẹp: Các vị thần và chòm sao nổi bật trên nền màu xanh lam của trần nhà cong, đại diện cho vòm của thiên đàng.  Một lối đi bắt đầu bằng cầu thang và tranh treo tường với hình những con rắn bảo vệ có cánh trước khi bước vào một căn phòng được trang trí thêm nhiều cảnh của nghi lễ Mở miệng và trích đoạn từ Litany of the Eye of Horus, một văn bản tang lễ cho phép người quá cố được nhập vào cùng đoàn với một loạt các lễ vật dâng lên thần. Một căn phòng theo sau với những bức tranh ngoạn mục về bầu trời đầy sao trên trần nhà.   Các phòng chôn cất  Sau căn phòng với trần nhà đầy sao, chúng ta nhìn thấy sự huy hoàng của chính khu phức hợp chôn cất, nơi sẽ chứa xác ướp pharaoh. Theo tiền lệ được thiết lập trong lăng mộ của Amenhotep II một thế kỷ trước, căn phòng được chia thành hai phần: một phòng phía trên, có sáu cây cột được trang trí phong phú, và một khoang dưới với trần nhà cao, hình vòm được vẽ bằng những bức họa tuyệt đẹp của các vị thần Ai Cập. Với chiều cao 20 feet (khoảng 6 mét) và cấu trúc cong tượng trưng cho vòm thiên thể, các bức họa thể hiện một loạt các nam thần và nữ thần đang tiến tới các biểu tượng của các chòm sao mang hình dáng động vật. Các bức tường được trang trí với những cảnh trong Sách âm giới Amduat. Từ điểm cao nhất trên bức tường phía sau, ta có thể thấy hình ảnh nữ thần phép thuật Isis dang rộng đôi cánh.  Chính tại nơi đây, dưới trần nhà hình vòm tuyệt đẹp này, Belzoni đã tìm thấy chiếc quan tài trống rỗng của Seti. Một số giả thuyết cho rằng những kẻ trộm mộ từ thời xưa đã phải bỏ nó lại phía sau vì kích thước của nó lớn tới mức họ gần như không thể di chuyển được. Điều khiến các nhà khảo cổ học suy nghĩ trong gần hai thế kỷ là đường hầm dài, chưa hoàn thành kéo dài xuống dưới (nhà Ai Cập học Zahi Hawass đã khai quật nó vào những năm 2000 và nhận ra nó chẳng dẫn đến đâu cả). Nhiều học giả tin rằng đường hầm dài hướng xuống phía dưới có ý nghĩa liên kết nơi an nghỉ trên trần gian của Seti với vương quốc của người chết ở phía dưới.   Nhà kho của người chết  Phòng chôn cất phía trên có hai phòng phụ nhỏ. Khi Howard Carter phát hiện ra ngôi mộ Tutankhamun còn nguyên vẹn vào năm 1922, ông đã tìm thấy những căn phòng đó được dùng như phòng trữ đồ cho thế giới bên kia. Chúng chứa đầy đồ gốm, đồ chơi và thậm chí cả thức ăn. Căn phòng trữ đồ của lăng mộ Seti có thể chứa các di vật tương tự nhưng đã bị cướp phá từ lâu. Kho trữ đồ đầu tiên được trang trí với các cảnh trong Sách của Gates, trong khi một kho chứa đồ đôi nằm đối diện cho thấy các cảnh trong Sách Heavenly Cow, kể lại cách nữ thần Nut lên ngôi và tạo ra vòm thiên thể.  Theo câu chuyện được kể lại ở trên các bức tranh trang trí, vì chiều cao khiến bà trở nên lênh khênh, bà phải nhờ đến sự hỗ trợ của một số vị thần.   Khoang chôn dưới cũng có hai buồng phụ. Một buồng vuông với hai cột trụ được bao phủ bởi các hình, bao gồm cả pharaoh đã chết, vị thần Osiris và nhiều hình ảnh khác từ Sách âm giới Amduat. Ở phía sau của khu phức hợp là một nhà kho khác chưa được trang trí. Tại đây Belzoni đã tìm thấy xác ướp con bò và vô số ushabtis – những bức tượng nhỏ làm từ gỗ và sẽ phục vụ người quá cố ở thế giới bên kia.  Đường hầm đến âm giới  Một lối đi dài bí ẩn dẫn xuống từ các phòng tang lễ Seti I, và trong gần hai thế kỷ, không ai biết nó dẫn đến đâu. Năm 1817, Belzoni đã đi theo nó một đoạn trước khi quay trở lại. Thời đó người ta suy đoán cho rằng đường hầm, phần dưới của nó chứa đầy đá vụn, có thể che giấu nơi an nghỉ thực sự của vua Pharaoh. Vào năm 1960, một nhà khảo cổ nghiệp dư địa phương đã dọn sạch thêm 100 feet nhưng sau đó rẽ nhầm và mất đi lối đi ban đầu. Cuối cùng, vào năm 2007, một nhóm do nhà khảo cổ học Ai Cập Zahi Hawass dẫn đầu đã bắt đầu ba năm dọn dẹp đống đổ nát một cách cẩn thận. Năm 2010, họ phát hiện ra đường hầm dài 570 feet đã kết thúc đột ngột mà không còn buồng nào nữa. Hawass tin rằng hành lang có thể đã được dự định để liên kết phòng chôn cất với thế giới bên kia, nhưng nó đã bị bỏ dở khi Seti I qua đời. □  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nationalgeographic.com/history/magazine/2020/05-06/pharaoh-seti-painted-tomb-missing-its-mummy/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá loài thực vật hoá thạch mới tại Việt Nam      Trong một nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology, TS Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã cùng các nhà nghiên cứu tại Vườn Thực vật nhiệt đới Xishuangbana (Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc), báo cáo về một hệ thực vật hoá thạch (cổ thực vật) thuộc kỷ Paleogen (hay còn gọi là kỷ Cổ Cận) mới tại miền Bắc Việt Nam.    Thông qua loài thực vật hóa thạch mới này, các nhà khoa học nhận thấy Vịnh Bắc Bộ – vùng lõi của khu vực phía Bắc Việt Nam là một nguồn quan trọng cho sự phát triển của thảm thực vật Đông Á, sau sự thoái lui của vành đai khô cằn Đông Á hậu Paleogen.      Các lá thuộc họ Dẻ gai (Fagaceae) và họ Long não (Lauraceae) trong hệ thực vật Hạ Long    Khí hậu miền Bắc nước ta có phần tương đồng với khí hậu miền Nam Trung Quốc – thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật khác nhau, với hơn 12.000 loài thực vật bậc cao. Mặc dù đóng vai trò quan trọng về mặt thực vật học và lịch sử của cổ sinh vật trong Đại Tân Sinh ở Việt Nam (bắt đầu 66 triệu năm trước ngay sau kỷ Phấn trắng và kéo dài đến tận ngày nay), nhưng có rất ít nghiên cứu cổ sinh vật hiện đại được tiến hành tại khu vực này.    Các nhà nghiên cứu mô tả các đặc trưng của những hoá thạch từ hệ tầng Đồng Ho, lưu vực Hoành Bồ, TP Hạ Long (Quảng Ninh), và thảo luận về sự giống nhau trong cấu trúc giữa chúng với các loại thực vật khác thuộc Đại Tân Sinh ở miền Nam Trung Quốc.    Hoá thạch thực vật cỡ lớn thuộc Thế Oligocen Hạ Long có 38 loài thuộc 16 họ và 24 chi ​​(Thế Oligocen hay còn gọi là thế Tiệm Tân, một thế địa chất kéo dài từ khoảng 33,9 tới 23 triệu năm trước). Hệ thực vật hoá thạch này thuộc “thực vật vịnh Bắc Bộ địa hình đất trũng lòng chảo kỷ Paleogen” (Paleogene Pan Gulf of Tonkin palaeoflora), bao gồm các loài cây lá kim và thực vật hạt kín chủ yếu thuộc họ Dẻ gai (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae) và họ Dầu (Dipterocarpaceae), tất cả đều đặc trưng cho hệ thực vật vùng nhiệt đới châu Á.    Đây là điểm giống nhau giữa các thực vật kỷ Paleogen Bắc Bộ với các thực vật kỷ Paleogen miền Nam Trung Quốc, có thể hình dung nó như một khu rừng thường xanh nhiệt đới đất thấp xen lẫn với thảm thực vật đá vôi.    Sử dụng cả hai phương pháp tiếp cận đặc điểm sinh lý (​​hình thức và cấu trúc) của lá hóa thạch dựa trên phân loại và không phân loại, các nhà nghiên cứu đã tái tạo thảm thực vật và khí hậu cổ sinh cả về mặt định tính lẫn định lượng. Kết quả cho thấy miền Bắc Việt Nam đã trải qua khí hậu nóng ẩm trong thế Oligocen, nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 20°C, nhiệt độ trung bình của tháng lạnh nhất khoảng 10°C và lượng mưa hằng năm trung bình gần 2000 mm. Khí hậu gió mùa đã tồn tại, nhưng yếu hơn so với ngày nay.    Thêm vào đó, họ phát hiện Vịnh Bắc Bộ là vùng lõi của khu vực phía Bắc Việt Nam, nơi đây có khí hậu và hệ thực vật ổn định lâu dài. Nhờ vậy, nó là một nguồn quan trọng cho sự phát triển của thảm thực vật Đông Á sau sự rút lui của vành đai khô cằn Đông Á hậu Paleogen.    Ngô Thành tổng hợp    Author                .        
__label__tiasang Khám phá mới có thể loại bỏ dược phẩm từ intestine của lợn      Phần đắt giá nhất của con lợn không phải là phần thịt thăn mềm mại hay thịt vai xen kẽ mỡ thịt mà là intestine hữu dụng trong thuốc chống huyết khối.     Cứ khoảng 2.000 con lợn mới có thể tạo được ra một cân thuốc heparin, một loại thuốc chống đông máu cho hàng triệu người. Một cân heparin có thể đem lại nguồn thuốc cho khoảng 6.000 bệnh nhân. Về tổng thể, ước tính một tỉ con lợn ở Trung Quốc mỗi năm có thể cung cấp intestine để tách chiết và sản xuất heparin.  Tuy nhiên, đây là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề phiền toái cho bệnh nhân. Khi bào chế thuốc có nguồn gốc thành phần từ động vật, cấu trúc hóa học hiếm khi ở trạng thái đồng nhất. Nó có thể dẫn đến một số tác dụng phụ tương đối phổ biến nhưng vô hại, và trong một số trường hợp hiếm gặp là các phản ứng miễn dịch nghiêm trọng có thể đe dọa cả tính mạng.  Do đó, một trong những tham vọng tồn tại đã lâu của các nhà nghiên cứu là có thể tạo ra heparin trong phòng thí nghiệm để loại bỏ được những tác dụng phụ của heparin. Hiện tại các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Glycomics Copenhagen, trường đại học Copenhagen, đã sẵn sàng cho một nghiên cứu chứng tỏ là có thể tạo ra được heparin mà không cần đến động vật.  “Bằng việc tạo ra được heparin không từ động vật, anh có thể có được cấu trúc hóa học đồng nhất hơn và sạch hơn. Chúng ta đã chứng tỏ là có thể làm điều đó trong phòng thí nghiệm mà chúng tagọi là ‘công xưởng tế bào’, trong cùng cách nhiều dạng thuốc đã được làm. Đây là một bước tiến theo hướng phát triển đã từng xảy ra với insulin, vốn trước đây từng chiết xuất từ tuyến tụy của lợn trước khi chúng ta học được cách tạo ra chúng trong phòng thí nghiệm”, phó giáo sư Rebecca Miller, giải thích. Bà dẫn dắt nghiên cứu này, mới xuất bản kết quả của nó trên tạp chí Science Advances 1.  Một giải pháp tổng hợp heparin đã có. Tuy nhiên, thật khó khăn để xác định liều và có thể dẫn đến quá liều lượng cần sử dụng. Do đó, người ta thường kê đơn heparin động vật cho bệnh nhân.  Heparin bị nhiễm độc  Heparin ngày nay thường được tách chiết từ niêm mạc intestine lợn. Tại đây, heparin thô được trích xuất, sau đó được xử lý để thành một loại thuốc có thể dùng cho bệnh nhân.  Nhưng vì hàng triệu bệnh nhân cần thuốc, quy mô sản xuất loại thuốc này trở nên vô cùng lớn. Điều này khiến việc kiểm soát chất lượng trở thành một vấn đề với các nhà sản xuất.  Vào năm 2008, có lệnh thu hồi heparin từ lợn Trung Quốc do bị phát hiện ra là thuốc bị nhiễm độc, tuy nhiên cũng đã kịp gây ra cái chết của hơn 100 người ở Mỹ.  “Tất nhiên là ai cũng muốn tránh điều đó xảy ra, để chuyển nguồn dược phẩm từ động vật sang chế tạo trong phòng thí nghiệm. Với công nghệ mới của chúng tôi, chúng tôi đã tạo ra một thiết kế để làm ra được heparin trong tế bào sạch và đồng nhất mà vẫn có tác dụng tương tự như thuốc heparin đang bán trên thị trường. Theo cách này, bạn có tiềm năng có được một sản phẩm có thể không có những hiệu ứng phụ có thể đe dọa mạng sống con người”, tiến sĩ Richard Karlsson, tác giả chính của nghiên cứu này, nói.  Hiện tại, thế giới đang phải đối mặt với việc thiếu heparin do dịch tả lợn, nguyên nhân dẫn đến sụt giảm sản lượng lợn ở Trung Quốc. Quốc gia này đang là nguồn cung heparin chính cho thế giới.  Bước tiếp theo của nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Glycomics Copenhagen là tinh chỉnh thiết kế và cố gắng mở rộng quy mô để có thể đáp ứng được nhu cầu về loại thuốc này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-02-discovery-phase-medications-pig-inteestines.html  https://healthsciences.ku.dk/newsfaculty-news/2022/02/blood-thinning-medications-typically-come-from-pig-intestines.-but-maybe-not-very-much-anymore/  ———————————–    https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.abl6026      Author                .        
__label__tiasang Khám phá những bí mật của vũ trụ nguyên thủy      Giấc mơ của nhiều nhà vũ trụ học là lập được một bản đồ 3D chi tiết về hydro để nghiên cứu vũ trụ sơ khai khoảng 1 tỷ năm tuổi.         Một mô phỏng của kỷ nguyên tái sinh trong vũ trụ sơ khai. Vật liệu ion hóa xung quanh các thiên hà mới (màu xanh sáng) sẽ không còn phát ra bức xạ 21 cm nữa. Hydro trung tính, vẫn phát sáng ở 21 cm, có vẻ tối. Cung cấp bởi M. Alvarez, R. Kaehler và T. Abel / ESO.    Để hình dung vũ trụ như thế nào khi nhìn từ Trái đất, hãy lấy một quả dưa hấu to và có hạt. Thiên hà của chúng ta, còn gọi là dải Ngân hà, giống như một hạt dưa nằm ở trung tâm của quả. Không gian xung quanh nó, lớp thịt màu hồng, chứa vô số hạt màu đen. Đó cũng chính là những thiên hà mà chúng ta – nằm ở trung tâm của quả dưa – có thể quan sát được qua kính viễn vọng.  Do ánh sáng truyền đi trong không gian với tốc độ hữu hạn, khoảng 60,000 km trên giây, chúng ta thực ra chỉ nhìn thấy quá khứ của các thiên hà. Những hạt dưa xa nhất từ ​​trung tâm của quả là những thiên hà trẻ nhất được nhìn thấy cho đến nay, có từ thời vũ trụ chỉ mới một phần ba mươi của tuổi 13,8 tỷ năm hiện tại. Bên ngoài những thiên hà đó, ở lớp ngoài mỏng, màu xanh lá cây của vỏ dưa hấu, chứa đựng vật chất nguyên thủy trước khi các ngôi sao đầu tiên được hình thành. Lớp này thể hiện vũ trụ khi nó mới chỉ 380.000 năm tuổi và vẫn là một nồi súp ấm lóng lánh bao gồm các hạt hạ nguyên tử. Chúng ta biết về thời kỳ đó bởi vì ánh sáng của nó vẫn bao trùm trong không gian – mặc dù nó đã trải dài quá nhiều so với các eons mà giờ đây nó tồn tại như một ánh sáng mờ nhạt ở bức xạ nền vũ trụ (Cosmic Microwave Background Radiation).  Phần bí ẩn nhất của vũ trụ mà ta có thể quan sát được là một lớp khác của quả dưa hấu, phần giữa vỏ màu xanh lá cây và phần thịt màu hồng. Lớp này đại diện cho một tỷ năm đầu tiên trong lịch sử Vũ trụ. Các nhà thiên văn học mới chỉ quan sát rất ít về thời kỳ này, ngoại trừ một số ít các thiên hà cực kỳ sáng và các vật thể khác.  Tuy nhiên, đây là lúc mà vũ trụ đã trải qua những thay đổi lớn nhất. Chúng ta biết sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển đổi đó nhưng chúng ta không hiểu điều đó đã xảy ra như thế nào? Những ngôi sao đầu tiên hình thành khi nào và như thế nào? Các lỗ đen đóng vai trò ở đâu trong việc định hình các thiên hà? Và bản chất của vật chất tối là gì? Vật chất tối được cho là vượt xa vật chất thông thường (chiếm tới hơn 75% vật chất trong vũ trụ) và có vai trò quyết định sự tiến hóa của vũ trụ.  Một loạt các dự án thiên văn vô tuyến cỡ nhỏ và lớn đang cố gắng thiết lập biểu đồ thời kỳ này của vũ trụ. Các nhà thiên văn học có một nguồn tín hiệu đơn giản – một bước sóng duy nhất, bị nguyên tử hydro, nguyên tố tạo nên gần như tất cả các vật chất thông thường (baryon) sau Big Bang, cô lập và hấp thụ. Các nỗ lực để phát hiện tín hiệu siêu tinh tế này – một vạch trong phổ hydro có bước sóng 21 cm – đang thúc đẩy các nhà thiên văn học triển khai các đài quan sát có độ nhạy cao ở những nơi hẻo lánh nhất thế giới, chẳng hạn như trên một chiếc bè trên hồ ở cao nguyên Tây Tạng và một hòn đảo ở Bắc Cực thuộc Canada.  Năm ngoái, một ăng ten thô sơ đặt ở vùng hẻo lánh của nước Úc dùng để quan sát thời kỳ ion hóa toàn cục (EDGES) có vẻ như đã phát hiện ra dấu hiệu đầu tiên về sự hiện diện của hydro nguyên thủy xung quanh các ngôi sao đầu tiên. Các thí nghiệm khác hiện đang gần đạt đến độ nhạy tối thiểu để có thể bắt đầu lập bản đồ phân bố ba chiều (3D) của hydro nguyên thủy – và do đó là Vũ trụ sơ khai. Theo nhà vật lý thiên văn lý thuyết Avi Loeb tại Trung tâm vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian (CfA) ở Cambridge, Massachusetts, đây hiện là biên giới cuối cùng của vũ trụ học. Nó nắm giữ chìa khóa để làm sáng tỏ vấn đề làm thế nào mà một khối hạt đồng nhất, không phân biệt được đã chuyển hóa thành các ngôi sao, thiên hà và các hành tinh. Đây là một phần của câu chuyện về nguồn gốc của chúng ta, Loeb nói.    Một vạch phổ siêu tinh tế  Khoảng 380.000 năm sau Bia Bang, Vũ trụ đã giãn nở và đủ lạnh để các proton và electron kết hợp thành các nguyên tử. Hydro thống trị vật chất thông thường vào thời điểm đó, nhưng nó không phát ra, cũng không hấp thụ các photon trên phần lớn phổ điện từ. Do vậy, chúng ta không thể quan sát được chúng.  Nhưng chính điện tử (electron) duy nhất của nguyên tử H mang đến cho ta điều kỳ diệu. Các electron, ngoài khối lượng và điện tích như chúng ta đã biết, còn có spin. Khi hướng của spin của electron đảo chiều 180 độ, nó sẽ phát ra hoặc hấp thụ một photon. Hai trạng thái này có năng lượng gần bằng nhau, vì vậy năng lượng của photon sinh ra khá nhỏ. Điều này tương ứng với tần số của photon sẽ tương đối thấp hay bước sóng khá dài gần bằng một gang tay của người lớn, cỡ 21 cm.      Chế độ xem ban đêm hoặc một phần của Murchison Widefield Array ở Tây Úc. Nguồn: TS John Goldsmith/Celestical Visions.    Nhờ vạch phổ này của nguyên tử hydro mà người ta đã xác định được cấu trúc xoắn ốc của Thiên hà chúng ta vào những năm 1950. Vào cuối những năm 1960, Rashid Sunyaev, nhà vũ trụ học Liên Xô, hiện đang làm việc ở Viện Vật lý thiên văn Max Planck ở Garching, Đức, là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên nhận ra rằng vạch 21 cm này cũng có thể được sử dụng để nghiên cứu vũ trụ nguyên thủy. Tuy nhiên, do sự giãn nở của vũ trụ mà các vạch phổ 21 cm ngày nay sẽ có bước sóng nằm trong khoảng từ 1,5 đến 20 mét – tương ứng với 15 đến 200 MHz.  Sunyaev và Yakov Zeldovich đã nghĩ đến việc sử dụng tín hiệu hydro nguyên thủy để kiểm tra một số lý thuyết về sự hình thành của các thiên hà. Tuy nhiên, khi ông đến gặp các nhà thiên văn vô tuyến để trình bày về ý tưởng này, họ nói, “Rashid, ông thật điên rồ! Chúng ta sẽ không bao giờ có thể quan sát được tín hiệu này”.  Vấn đề là ở chỗ do dịch chuyển về phía bước sóng dài gây ra bởi sự giãn nở của vũ trụ mà vạch 21-cm hydro sẽ trở nên yếu đến mức gần không thể phân biệt được với các tín hiệu vô tuyến phát ra từ dải Ngân hà và từ hoạt động của chính con người trên Trái đất, bao gồm cả đài phát thanh FM và động cơ ô tô.  Trong suốt ba thập kỷ vừa qua, ý tưởng lập bản đồ vũ trụ nguyên thủy dùng vạch 21 cm từ H chỉ nhận được rất ít sự chú ý, nhưng những tiến bộ công nghệ trong vài năm qua đã khiến kỹ thuật này trở nên dễ điều khiển hơn. Cơ sở của kỹ thuật thu nhận tín hiệu vô tuyến vẫn thế; nhiều kính thiên văn vô tuyến được chế tạo từ các vật liệu đơn giản, chẳng hạn như ống nhựa và lưới thép. Nhưng khả năng xử lý tín hiệu của kính thiên văn đã trở nên tiên tiến hơn nhiều. Các linh kiện điện tử tiêu dùng ban đầu được phát triển cho chơi game và điện thoại di động giờ đây cho phép các đài quan sát thu được lượng dữ liệu khổng lồ với đầu tư tương đối ít. Trong khi đó, các nhà vũ trụ học lý thuyết đã và đang đưa ra một một vấn đề chi tiết và hấp dẫn hơn cho một lĩnh vực đầy hứa hẹn để nghiên cứu vũ trụ sử dụng vạch phát xạ 21 cm.    Bóng tối và Bình minh  Ngay sau khi nguyên tử hydro được hình thành sau Big Bang, ánh sáng duy nhất trong vũ trụ chính là ánh sáng đang chiếu tới Trái đất dưới dạng bức xạ yếu đến từ mọi hướng – tín hiệu này gọi là bức xạ nền vũ trụ (CMB). Khoảng 14 tỷ năm trước, hậu quả của Big Bang này sẽ có màu cam đồng nhất với mắt người. Sau đó, bầu trời sẽ đỏ lên, trước khi từ từ chìm vào bóng tối; đơn giản là không có gì khác ở đó để tạo ra ánh sáng khả kiến vì các bước sóng của bức xạ nền tiếp tục kéo dài qua phổ hồng ngoại và xa hơn nữa. Các nhà vũ trụ học gọi thời kỳ này là thời kỳ đen tối.  Theo thời gian, các nhà lý thuyết cho rằng Vũ trụ đang phát triển sẽ để lại ba dấu ấn riêng biệt trên hydro lấp đầy không gian. Sự kiện đầu tiên sẽ bắt đầu khoảng 5 triệu năm sau vụ Big Bang, khi hydro trở nên đủ mát để hấp thụ nhiều bức xạ nền hơn mức mà chúng phát ra. Bằng chứng của thời kỳ này dường như được phát hiện ngày nay trong phổ CMB dưới dạng sự sụt giảm cường độ ở một bước sóng nhất định, một đặc điểm được mệnh danh là máng thời kỳ đen tối.  Sự thay đổi thứ hai diễn ra khoảng 200 triệu năm sau, sau khi vật chất kết tụ lại với nhau đủ để hình thành những ngôi sao và thiên hà đầu tiên. Sự xuất hiện của các ngôi sao và thiên hà phát ra ánh sáng phổ kiến, được xem như bình minh của vũ trụ. Bình minh vũ trụ cũng phát bức xạ tử ngoại vào vùng không gian giữa các thiên hà, khiến cho hydro ở đó dễ dàng hấp thụ các photon 21 cm. Kết quả là chúng ta có ​​thể quan sát được hiện tượng sụt giảm cường độ thứ hai trong phổ CMB ở bước sóng khác, ngắn hơn; đây là dấu hiệu mà EDGES dường như đã phát hiện.      Hình mô tả một lát dưa hấu ở đó Trái đất được coi như nằm ở trung tâm của quả dưa. Các hạt dưa giống như các thiên hà trong vũ trụ. Phần lớp thịt màu hồng là thời kỳ tái ion hoá khi các ngôi sao đầu tiên được tạo thành. Phần vỏ màu xanh mô tả vũ trụ trẻ hơn 380000 năm tuổi được quan sát thông qua bức xạ nhiệt tàn dư sau Big Bang. Các nhà thiên văn đang trông chờ vào vạch 21cm để quan sát thời kỳ bóng tối (dark ages) và bình minh vũ trụ trong một tỷ năm đầu tiên của vũ trụ. Ảnh: Nik Spencer/Nature.   Sau nửa tỷ năm tồn tại trong vũ trụ, có lẽ hydro đã trải qua một sự thay đổi nữa. Bức xạ tử ngoại từ các ngôi sao và thiên hà đã đủ mạnh để khiến cho hydro phát ra ánh sáng lạnh, biến nó thành một nguồn phát sáng của các photon 21 cm. Nhưng những nguyên tử hydro gần nhất với những thiên hà đầu tiên đã hấp thụ rất nhiều năng lượng hơn và bị mất electron do quá trình ion hóa và trở nên không nhìn thấy nữa (qua vạch 21 cm). Những bong bóng ion hóa tối màu đó đã phát triển lớn hơn trong khoảng nửa tỷ năm, khi các thiên hà trở nên to hơn và hợp nhất với nhau, để lại ngày càng ít nguyên tử hydro phát sáng 21 cm giữa chúng. Thậm chí ngày nay, phần lớn hydro trong vũ trụ vẫn bị ion hóa. Các nhà vũ trụ học gọi quá trình chuyển đổi này là “kỷ nguyên của sự tái ion hóa”, Epoch of Reionization hay EOR.  EOR là giai đoạn mà nhiều thí nghiệm thiên văn vô tuyến bước sóng 21 cm đang thực hiện hoặc đang trong quá trình chuẩn bị để quan sát kỷ nguyên này với hy vọng lập bản đồ ở dạng 3D khi nó phát triển theo thời gian, bằng cách chụp ảnh bầu trời ở các bước sóng hoặc độ dịch chuyển đỏ khác nhau (trong vật lý thiên văn, độ dịch chuyển đỏ được dùng để đo khoảng cách đến các thiên hà xa xôi). Theo Emma Chapman, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Hoàng gia London, sẽ có thể xây dựng cả một bộ phim về vấn đề này. Chi tiết về thời điểm các bong bóng hình thành, hình dạng của chúng và tốc độ phát triển của chúng sẽ tiết lộ cách các thiên hà hình thành và loại ánh sáng chúng tạo ra. Nếu các ngôi sao gây ra hầu hết quá trình tái ion hóa, các bong bóng sẽ có hình dạng đều đặn, Chapman nói. Nhưng, nếu có nhiều lỗ đen, chúng bắt đầu có hình dạng lớn hơn và tự do hơn, hay khôn ngoan, cô nói, bởi vì bức xạ trong các tia bắn ra từ lỗ đen sẽ mạnh mẽ và xuyên sâu hơn so với các ngôi sao.  EOR cũng sẽ cung cấp một thử nghiệm chưa từng có cho mô hình tiến hóa vũ trụ tốt nhất hiện nay. Mặc dù có rất nhiều bằng chứng cho vật chất tối, nhưng không ai xác định chính xác nó là gì. Tín hiệu từ EOR sẽ giúp chỉ ra liệu vật chất tối bao gồm các hạt tương đối chậm chạp hay “lạnh” – mô hình hiện đang được ưa chuộng – hay “ấm” nhẹ hơn và nhanh hơn, theo Anna Bonaldi, nhà vật lý thiên văn tại Quảng trường nói Tổ chức Kilometer Array (SKA) gần Manchester, Vương quốc Anh. Bản chất chính xác của vật chất tối là một trong những điều quan trọng nhất hiện nay.  Mặc dù các nhà thiên văn học đang mong muốn tìm hiểu thêm về EOR, nhưng giờ họ chỉ bắt đầu tiếp cận với khả năng phát hiện ra nó. Dẫn đầu là các mảng kính viễn vọng vô tuyến, so sánh các tín hiệu từ nhiều ăngten để phát hiện các biến đổi trong cường độ sóng đến từ các hướng khác nhau trên bầu trời.  Một trong những công cụ tiên tiến nhất trong cuộc chạy đua này là mạng ăng ten tần số thấp (LOFAR), nằm rải rác trên nhiều quốc gia châu Âu và tập trung gần thị trấn Exloo của Hà Lan. Hiện tại là đài quan sát vô tuyến tần số thấp lớn nhất thế giới, cho đến nay nó chỉ có thể đặt giới hạn phân bố kích thước của các bong bóng, do đó loại trừ một số tình huống cực đoan, như trong đó môi trường liên thiên hà đặc biệt lạnh, theo Leon Koopmans, một nhà thiên văn học tại Đại học Groningen ở Hà Lan, người dẫn đầu các nghiên cứu EOR cho LOFAR. Sau lần nâng cấp gần đây, một đối thủ của LOFAR, Murchison Widefield Array (MWA) ở sa mạc Tây Úc, đã tiếp tục tinh chỉnh những giới hạn đó trong kết quả sẽ sớm được công bố.□ (Còn tiếp)  Thiên Hương dịch  TS. Hoàng Chí Thiêm hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02417-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá những bí mật của vũ trụ nguyên thủy (kỳ 2)      Không chỉ mơ về một bản đồ 3D chi tiết về hydro không chỉ trong EOR, các nhà vũ trụ học còn ao ước quay trở lại “thời kỳ đen tối” của vũ trụ.         Một mô phỏng của kỷ nguyên tái sinh trong vũ trụ sơ khai. Vật liệu ion hóa xung quanh các thiên hà mới (màu xanh sáng) sẽ không còn phát ra bức xạ 21 cm nữa. Hydro trung tính, vẫn phát sáng ở 21 cm, có vẻ tối. Nguồn: M. Alvarez, R. Kaehler và T. Abel / ESO.    Trong ngắn hạn, các nhà nghiên cứu cho biết cơ hội tốt nhất để đo các thuộc tính thống kê thực tế của EOR – trái ngược với việc đặt giới hạn cho chúng – có lẽ nằm trong một nỗ lực khác gọi là Hydrogen Epoch of Reionization Array (HERA). Kính thiên văn, bao gồm một bộ gồm 300 ăng ten parabol, đang được hoàn thành ở khu vực Bắc Cape của Nam Phi và chuẩn bị bắt đầu thu thập dữ liệu trong tháng này. Trong khi MWA và LOFAR là các đài quan sát bước sóng dài cho mục đích nghiên cứu chung, thiết kế HERA đã được tối ưu hóa để phát hiện hydro nguyên thủy. Một cụm gồm các đĩa ăng-ten rộng 14 mét thu nhận bước sóng từ 50 đến 250 MHz. Về lý thuyết, điều đó sẽ khiến nó trở nên nhạy hơn với máng bình minh vũ trụ, khi các thiên hà lần đầu tiên bắt đầu thắp sáng vũ trụ, cũng như với EOR.  Như mọi thí nghiệm thuộc loại này, HERA sẽ phải đối mặt với vấn đề nhiễu loạn từ Dải Ngân hà. Phát xạ tần số vô tuyến từ Thiên hà của chúng ta và các thiên hà khác lớn hơn hàng nghìn lần so với phát xạ vạch hydro từ Vũ trụ nguyên thủy,  theo lời cảnh báo của điều tra viên chính của HERA, Aaron Parsons, một nhà thiên văn vô tuyến tại Đại học California, Berkeley. May mắn thay, bức xạ từ Thiên hà có một phổ trơn tru có thể được loại trừ đi để thu được các tín hiệu sạch của vũ trụ nguyên thủy. Tuy nhiên, để làm như vậy, các nhà thiên văn vô tuyến phải biết chính xác cách thức thiết bị của họ phản ứng với các bước sóng khác nhau, còn được gọi là “tính chất hệ thống” – systematics. Những thay đổi nhỏ trong môi trường xung quanh, chẳng hạn như tăng độ ẩm của đất hoặc việc cắt tỉa bụi cây gần đó cũng có thể tạo ra sự khác biệt – giống như chất lượng của tín hiệu đài FM có thể thay đổi tùy thuộc vào nơi bạn ngồi trong phòng.  Nếu mọi việc suôn sẻ, nhóm HERA có thể có kết quả EOR đầu tiên sau vài năm, Parsons nói. Nichole Barry, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Melbourne, Úc, và là thành viên của sự hợp tác của MWA, rất hào hứng về cơ hội của nó: HERA sẽ có đủ độ nhạy để nếu họ có thể kiểm soát được hệ thống, thì hãy bùng nổ! Họ có thể thực hiện phép đo trong một khoảng thời gian ngắn.  Tương tự như tất cả các mạng ăng-ten hiện có, HERA sẽ nhằm mục đích đo lường số liệu thống kê của các bong bóng, thay vì tạo ra bản đồ 3D. Các nhà thiên văn học hy vọng tốt nhất cho các bản đồ 3D của EOR sẽ đến từ “Mạng có diện tích 1 km2”- SKA trị giá 785 triệu USD, dự kiến ​​sẽ được bắt đầu hoạt động trong thập kỷ tới. Đài quan sát vô tuyến đầy tham vọng nhất từ ​​trước đến nay, SKA sẽ nằm trên hai lục địa, với một nửa ở Úc được thiết kế để thu tần số 50-350 MHz, băng tần có liên quan đến hydro nguyên thủy của vũ trụ. (Nửa còn lại ở Nam Phi sẽ nhạy cảm với tần số cao hơn).  Vũ trụ học Cro-Magnon  Mặc dù các mạng ăng ten ngày càng có kích thước lớn hơn và đắt đỏ hơn, một lớp dự án 21 cm khác vẫn khiêm tốn. Nhiều người, chẳng hạn như người ở EDGES, thu thập dữ liệu bằng một ăng ten duy nhất và nhằm mục đích đo một số tính chất của sóng vô tuyến trung bình trên toàn bộ bầu trời.  Các ăngten mà các dự án này sử dụng là loại khá Cro-Magnon, nhà thiên văn học Lincoln Greenhill từ CfA cho biết, đề cập đến bản chất đơn giản của thiết bị. Nhưng các nhà nghiên cứu đã dành nhiều năm để chỉnh sửa các công cụ làm giảm sai số hệ thống của nó, hoặc sử dụng các mô hình máy tính để tìm ra chính xác sai số hệ thống là gì. Đây là một nỗi ám ảnh với các nhà thiên văn, theo Greeoping, người đứng đầu dự án thử nghiệm khẩu độ lớn để phát hiện dự án Dark Ages (LEDA) ở Hoa Kỳ. Anh thường có những chuyến đi công tác một mình đến ăngten LEDA, ở Thung lũng Owens, California, để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Chúng có thể bao gồm việc đặt một màn hình kim loại mới trên mặt đất sa mạc bên dưới ăngten, để hoạt động như một tấm gương cho sóng radio.  Sự tinh tế như vậy có nghĩa là cộng đồng đã chậm chấp nhận những phát hiện bởi thí nghiệm EDGES. Tín hiệu bình minh vũ trụ mà EDGES nhìn thấy cũng lớn đến không ngờ, cho thấy rằng khí hydro tồn tại khoảng 200 triệu năm sau Vụ nổ lớn lạnh hơn đáng kể so với dự đoán lý thuyết, có lẽ là 4 kelvin thay vì 7 kelvin. Kể từ khi công bố kết quả vào đầu năm 2018, các nhà lý thuyết đã viết hàng chục bài báo đề xuất các cơ chế có thể làm mát khí hydro, nhưng nhiều nhà thiên văn vô tuyến – bao gồm nhóm EDGES – cảnh báo rằng các phát hiện thực nghiệm này cần phải được lặp lại trước khi cộng đồng có thể công nhận chúng.  LEDA hiện đang cố gắng làm như vậy, cũng như một số thí nghiệm khác ở những nơi xa hơn và không thể tiếp cận. Ravi Subrahmanyan tại Viện Nghiên cứu Raman ở Bengaluru, Ấn Độ, đang nghiên cứu một ăng ten hình cầu nhỏ có tên SARAS. Ông và nhóm của mình đã đưa thiết bị này đến một địa điểm trên cao nguyên Tây Tạng và hiện họ đang thử nghiệm đặt nó lên một chiếc bè. Giữa hồ. Với nước ngọt, bạn chắc chắn rằng bạn có một môi trường đồng nhất bên dưới, Subrahmanyan nói, điều này có thể làm cho phản ứng ăng-ten trở nên đơn giản hơn nhiều so với trên đất.  Nhà vật lý Cynthia Chiang và các đồng nghiệp tại Đại học KwaZulu-Natal ở Durban, Nam Phi, thậm chí đã đi xa hơn – đến nửa Nam Cực, đến Đảo Marion xa xôi – để thiết lập thí nghiệm bình minh vũ trụ của họ, được gọi là Probing Radio Intense tại High-Z từ Marion. Chiang, hiện đang ở Đại học McGill ở Montreal, Canada, cũng đang đi đến một địa điểm mới, đảo Axel Heiberg ở Bắc Cực thuộc Canada. Nó đã hạn chế nhiễu sóng vô tuyến và nhóm nghiên cứu hy vọng có thể phát hiện các tần số thấp tới 30 MHz, có thể cho phép họ phát hiện ra máng kỷ nguyên bóng tối (dark-ages trough).  Ở tần số thấp như vậy, bầu khí quyển phía trên trở thành một trở ngại nghiêm trọng đối với các quan sát. Nơi tốt nhất trên Trái đất để thực hiện chúng có thể là Mái vòm C, một địa điểm có độ cao lớn ở Nam Cực, Greenhill nói. Ở đó, cực quang – một nguồn gây nhiễu chính – sẽ ở dưới đường chân trời. Nhưng những người khác muốn đưa các thí nghiệm lên trên không gian, hoặc ở phía xa của Mặt trăng. Theo nhà khoa học vật lý thiên văn Jack Burns tại Đại học Colorado Boulder cho biết, “đó là vị trí yên tĩnh vô tuyến duy nhất trong Hệ Mặt trời”. Ông đang phụ trách các đề xuất cho một kính thiên văn đơn giản được đặt trên quỹ đạo Mặt trăng, cũng như một mảng sẽ được triển khai bởi một người lái robot trên bề mặt Mặt trăng.  Các kỹ thuật thông thường khác đã tạo ra bước đột phá trong một tỷ năm đầu tiên của lịch sử Vũ trụ, phát hiện một vài thiên hà và quasar – các đèn hiệu do lỗ đen nằm trong số các hiện tượng phát sáng nhất của Vũ trụ điều khiển. Các thiết bị trong tương lai, đặc biệt là Kính viễn vọng không gian James Webb mà NASA dự kiến ​​ra mắt vào năm 2021, sẽ mang lại nhiều hơn những phát hiện này. Nhưng trong tương lai gần, các kính viễn vọng thông thường sẽ chỉ phát hiện ra một số vật thể sáng nhất, và do đó sẽ không thể thực hiện bất kỳ cuộc khảo sát toàn diện nào về bầu trời.  Giấc mơ cuối cùng đối với nhiều nhà vũ trụ học không chỉ là một bản đồ 3D chi tiết về hydro không chỉ trong EOR, mà còn quay trở lại thời kỳ đen tối. Điều đó chiếm một lượng không gian rộng lớn: nhờ sự giãn nở của vũ trụ, một tỷ năm đầu tiên của lịch sử Vũ trụ chiếm tới 80% khối lượng hiện tại của Vũ trụ quan sát được. Cho đến nay, các cuộc khảo sát 3D tốt nhất về các thiên hà – có xu hướng bao phủ gần hơn và do đó sáng hơn, các vật thể – đã tạo ra các bản đồ chi tiết dưới 1% khối lượng đó, Max Tegmark, nhà vũ trụ học tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge cho biết. Loeb, Tegmark và những người khác đã tính toán rằng các biến thể về mật độ hydro trước EOR chứa nhiều thông tin hơn CMB, mà cho đến nay vẫn là tiêu chuẩn vàng để đo các đặc tính chủ yếu của Vũ trụ. Chúng bao gồm tuổi của nó, lượng vật chất tối chứa trong nó và hình học của nó.  Lập bản đồ hydro nguyên thủy sẽ là một thách thức kỹ thuật lớn. Jordi Miralda-Escudé, một nhà vũ trụ học tại Đại học Barcelona ở Tây Ban Nha, nói rằng với công nghệ hiện tại, thật khó khăn để trở thành một “giấc mơ hình ống”.  Nhưng phần thưởng của việc sản xuất những bản đồ như vậy vô cùng lớn, Loeb nói. Hôm nay, tín hiệu 21 cm cung cấp tập dữ liệu lớn nhất về Vũ trụ mà chúng ta có thể truy cập được. □  Thiên Hương dịch  TS Hoàng Chí Thiêm hiệu đính   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02417-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá những đối xứng ẩn dấu, mở ra con đường mới cho thiết kế vật liệu      Khi gõ gõ vào một quả dưa để kiểm tra xem liệu nó đã chín chưa, cũng là lúc anh đang sử dụng các sóng âm thanh để kiểm tra cấu trúc của vật liệu bên trong. Các nhà vật lý ở trường đại học Chicago đã áp dụng một ý tưởng tương tự để khám phá cách sóng âm thanh di chuyển qua những cấu trúc được trang trí khi chúng hiển thị một sự kỳ cục: những cấu trúc hoàn toàn khác biệt nhưng lại dường như giống hệt nhau.      Đây là một điều vô cùng ngạc nhiên – một loại giống như gõ vào một quả dưa và quả dứa, và phát hiện ra chúng tạo ra âm thanh giống hệt nhau.  “Những gì khiến chúng tôi thú vị là chúng tôi không thể giải thích phát hiện của chúng tôi sử dụng những khái niệm đang tồn tại như các đối xứng hình cầu”, Vincenzo Vitelli, một giáo sư vật lý ở Viện James Franck, nói.  Những gì mà Vitelli và nhóm nghiên cứu của ông đã khám phá ra là một sự đối ngẫu, một đối xứng “bị dấu kín” liên kết với những hệ nhìn từ bên ngoài không hề có liên quan. Xuất bản trên Nature, có thể nghiên cứu “Dualities and non – Abelian mechanics” của họ một ngày nào đó giúp thiết kế các siêu vật liệu (metamaterial) hoặc ngay cả các kính hiển vi mà quá trình xử lý thông tin được mã hóa trong các sóng âm.  Nhiều năm qua, các nhà vật lý đã dựng lên một khung dự đoán các tính năng của một vật thể chứa các đối xứng cầu trong nó. “Nhìn vào một mô hình nhựa của một phân tử: các nguyên tử hydro của nó hình thành một tứ diện đều. Điều này nói với anh rất nhiều về cách phân tử này chuyển động”, Michel Fruchart, một nhà nghiên cứu postdoct và là tác giả thứ nhất của công bố, nói. Trong một cảm hứng tương tự, các mô hình LEGO đã giúp các tác giả của nghiên cứu này khám phá ra các đối ngẫu của chúng.  Sẽ là điều gì nếu những đối ngẫu đó có thể được khám phá để đem lại cho một vật liệu với các tính năng có thể không loại vật liệu nào có được?  Trong vài năm qua, đã có một sự bùng nổ mối quan tâm vào một lĩnh vực là siêu vật liệu. Đó là những cấu trúc nhân tạo được thiết kế để có được những tính chất mà thông thường không xuất hiện trong vật liệu tự nhiên, ví dụ như nhiều người đã nghĩ đến việc hiện thực hóa một “áo khoác vô hình” bằng việc sử dụng các vật liệu composite có khả năng bẻ cong ánh sáng chiếu đến quanh chúng bằng hiệu quả của đặc tính hình học nội tại của chúng.  Fruchart và Vitelli đã hình dung ra việc sử dụng cách tiếp cận này để đưa một hạt như phonon – một hạt về cơ bản của truyền nhiệt  – và trao cho nó những đặc tính mà không thường không có.  Các electron có một đặc tính là “spin” được sử dụng như một nền tảng cho một vài loại thiết bị điện tử công nghệ cao gần đây. Các phonon không có spin, nhưng nếu các nhà khoa học có thể định hình cấu trúc của các vật liệu để trao cho các phonon một “spin giả”, họ có thể có tiềm năng sử dụng chúng trong các thiết bị phonon – tương tự như thiết bị điện tử, nhưng với các tố chất khác biệt, như kiểm soát nhiệt chẳng hạn.  “Bằng việc di chuyển các phonon xung quanh, có thể xử lý thông tin lưu trữ trong “giả spin’ của chúng”, Vitelli nói.  Họ gọi ý tưởng này là “mechanical spintronics”. Các nhà khoa học nói, họ hi vọng đối ngẫu có thể chứng tỏ tầm quan trọng trong thiết kế các siêu vật liệu như các đối xứng hiện nay.  “Cách tiếp cận của chúng tôi cũng ứng dụng trên các sóng khác, không chỉ các phonon, ví dụ các sóng ánh sáng và sóng vật chất”, Fruchart nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-scientists-hidden-symmetries-avenues-material.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá ở rìa bảng tuần hoàn: Những đo đạc đầu tiên trên einsteinium      Kể từ nguyên tố 99 mang tên einsteinium được khám phá vào năm 1952 tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Berkeley của Bộ Năng lượng Mỹ, các nhà khoa học mới chỉ thực hiện được một vài thực nghiệm trên nguyên tố này bởi vì rất khó để tạo ra nó và loại trừ được phóng xạ.      Một nhóm các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Berkeley đã vượt qua được những rào cản đó và thực hiện được nghiên cứu đầu tiên miêu tả về các đặc tính của nó, từ đó mở ra cánh cửa tới những hiểu biết sâu sắc hơn về các nguyên tố có số lượng nguyên tử cao hơn uranium, có tính phóng xạ cao còn lại thuộc họ actinide.   Xuất bản công bố trên tạp chí Nature, nghiên cứu “Structural and Spectroscopic Characterization of an Einsteinium Complex” (Các tính chất về cấu trúc và phổ học của một phức chất Einsteinium) do Rebecca Abergel – nhà nghiên cứu Berkeley, và Stosh Kozimor – nhà nghiên cứu thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – dẫn dắt và các nhà khoa học thuộc hai phòng thí nghiệm này, UC Berkeley, đại học Georgetown thực hiện. Trong đó có nhiều người là nghiên cứu sinh và postdoct. Với ít hơn 250 nanogram nguyên tố Einsteinium, nhóm nghiên cứu đã lần đầu tiên đo đạc được chiều dài liên kết, một đặc tính cơ bản của những liên tương tác giữa các nguyên tử và phân tử trong một nguyên tố.  “Không có nhiều điều lắm chúng ta biết về einsteinium”, Abergel, ngươi đang dẫn dắt nhóm nghiên cứu về Hóa học của các nguyên tố nặng ở Berkeley Lab và là một trợ lý giáo sư tại Khoa Kỹ thuật hạt nhân ở UC Berkeley, nhận xét. “Đây là thành công đáng kể bởi chúng tôi đã có thể thí nghiệm với một lượng nhỏ vật liệu và làm được điều đó với hóa vô cơ. Rất đáng ghi nhận điều này bởi giờ chúng tôi có thể hiểu nhiều hơn về hành xử hóa học, nhiều hơn để chúng tôi có thể ứng dụng hiểu biết đó vào việc phát triển những vật liệu mới hoặc công nghệ mới, không nhất thiết chỉ là với einsteinium mà cả phần còn lại của các nguyên tố họ actinide. Và chúng tôi có thể thiết lập các xu hướng trong bảng tuần hoàn”.  Thời gian sống ngắn và khó tạo ra  Abergel và đồng nghiệp thường sử dụng các cơ sở thực nghiệm có điều kiện trang thiết bị tiên tiến hơn nhiều so với hàng chục thập kỷ trước khi einsteinium lần đầu được khám phá – Phòng thí nghiệm phân tử tại Berkeley Lab và Máy gia tốc Stanford (SSRL) tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Mỹ SLAC. Nhưng đầu tiên, việc có được một lượng mẫu dưới hình thức có thể sử dụng được đã quyết định một nửa thành công. “Hầu hết cả bài báo này là một chuỗi dài của những sự kiện không may”, chị nói một cách hài hước.  Vật liệu này được tạo ra tại Lò phản ứng đồng vị thông lượng cao tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Oak Ridge, một trong số hiếm hoi vài nơi trên thế giới có năng lực tạo ra einsteinium, vốn bao gồm việc bắn phá các bia curium với những neutron để kích hoạt một chuỗi dài các phản ứng hạt nhân. Vấn đề đầu tiên mà họ gặp phải là mẫu thử đã bị nhiễm một lượng đáng kể californium, vì vậy việc làm tinh sạch einsteinium ở chất lượng có thể dùng được là một thách thức vô cùng lớn.  Vì vậy họ phải loại bỏ kế hoạch ban đầu để sử dụng tinh thể học tia X – vốn được xác định là tiêu chuẩn vàng để thu thập thông tin cấu trúc trên các phân tử có hoạt độ phóng xạ cao nhưng đòi hỏi một mẫu kim loại tinh sạch – và thiết lập một cách mới để tạo ra các mẫu và dẫn đến những kỹ thuật nghiên cứu nguyên tố đặc biệt. Các nhà nghiên cứu tại Los Alamos hỗ trợ công đoạn này bằng việc thiết kế một thiết bị giữ mẫu phù hợp một cách độc đáo với những thách thức bên trong với einsteinium.  Sau đó, việc đối mặt với quá trình phân rã phóng xạ cũng là một thách thức. Nhóm nghiên cứu của Berkeley Lab triển khai những thực nghiệm với einsteinium-254, một trong những đồng vị bền của nguyên tố này. Nó có thời gian bán rã là 276 ngày. Dù nhóm nghiên cứu đã thực hiện nhiều thí nghiệm trước đại dịch coronavirus nhưng những kế hoạch cho những thực nghiệm tiếp theo đã bị đứt đoạn trong thời kỳ đóng cửa vì đại dịch. Vào thời điểm trở lại phòng thí nghiệm vào mùa hè thì phần lớn các mẫu thử đều đã không còn.    Khoảng cách liên kết và hơn thế   Tuy vậy các nhà nghiên cứu đều có thể đo đạc được chiều dài liên kết với einsteinium và khám phá ra một số hành xử hóa lý khác từ những gì mà người ta có thể chờ đợi ở các nguyên tố họ actinide, vốn là những nguyên tố ở hàng dưới của bảng tuần hoàn.  “Việc xác định được chiều dài liên kết tưởng chừng có thể không thú vị nhưng đấy là điều đầu tiên anh cần biết về cách liên kết của các phân tử trong một kim loại. Vậy loại tương tác hóa học của nguyên tố này với các nguyên tử và phân tử khác là gì?” Abergel nói.  Một khi các nhà khoa học có được bức tranh về sự sắp xếp nguyên tử của một phân tử hợp thành einsteinium, họ có thể cố tìm ra điều thú vị về các đặc tính hóa học và gia tăng hiểu biết về xác xu hướng của bảng tuần hoàn. “bằng việc có thêm miếng ghép này của dữ liệu, chúng tôi tăng thêm hiểu biết về cách toàn bộ họ actinide hành xử như thế nào. Và trong họ của những nguyên tố này, chúng tôi có các nguyên tố hoặc đồng vị có thể hữu dụng trong việc tạo ra điện hạt nhân hoặc dược chất phóng xạ”, chị nói.  Thật ngạc nhiên là nghiên cứu này lại đưa ra khả năng có thể của mở rộng bảng tuần hoàn và có thể là khám phá ra một nguyên tố mới. “Chúng tôi bắt đầu hiểu ra một ít thông tin mới về những gì diễn ra ở phía cuối bảng tuần hoàn và điều tiếp theo là có thể mường tượng ra một bia bằng einsteinium để tìm ra những nguyên tố mới”, Abergel nói. “Tương tự với các nguyên tố mới nhất trên bảng tuần hoàn được khám phá trong vòng 10 năm trở lại đây như tennessine, được tìm ra với bia bằng berkelium, nếu anh có thể cô lập được đủ einsteinium nguyên chất để tạo ra một tấm bia, bắt đầu trông chờ vào những nguyên tố khác và tiến gần hơn về mặt lý thuyết đảo bền”, nơi các nhà vật lý hạt nhân đã dự đoán các đồng vị có thể có thời gian sống trong vòng một vài phút hoặc vài ngày, thay vì một phần triệu giây hoặc ít hơn như các nguyên tố siêu nặng.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-discoveries-edge-periodic-table-einsteinium.html  https://www.nature.com/articles/s41586-020-03179-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá ra bụi sao trong tuyết Nam cực      Một nhóm các nhà nghiên cứu đã lấy 500 kilogram tuyết tinh khiết khỏi Nam Cực, rã băng và tách ra các hạt. Phân tích của họ đã cho kết quả đáng ngạc nhiên: tuyết có chứa một khối lượng đáng kể một hình thức của sắt vốn không hề có trên trái đất.         Trạm Kohnen là một container được đặt ở Nam Cực, ở gần nơi lấy mẫu tuyết mà trong đó có fe-60. Nguồn: S. Kipfstuhl/AWI  Nhiều nhà khoa học trước đây cũng đã “điểm danh” được loại đồng vị hiếm tương tự của sắt trong những mẫu vật ở đáy đại dương. Được gọi là Fe-60, nó có nhiều hơn 4 neutron sp với các hình thức phổ biến của sắt trên trái đất. Fe-60 trong mặt đáy đại dương giống như đã tích tụ trên bề mặt trái đất hàng triệu năm trước đây, như đối lập với những gì tìm được trong tuyết tinh sạch ở Nam Cực mới được tích tự trong vòng hai thập kỷ qua.  “Đây là bằng chứng đầu tiên mà người ta có thể thấy là xảy ra gần đây,” Dominik Koll – một nhà vật lý tại trường đại học quốc gia Australia ở Canberra và là tác giả chính của nghiên cứu, nói. Họ mới công bố phát hiện của mình trên tạp chí Physical Review Letters.  Những vật thể ngoài không gian rơi xuống trái đất hết sức phong phú với phạm vi trải rộng từ bụi vũ trụ đến sao băng, nhưng về tổng thể chúng được cấu tạo từ những vật liệu tương tự như vật liệu ở hành tinh của chúng ta, kể từ khi mọi thứ trong hệ mặt trời, bao gồm cả mặt trời trong đó, được tập hợp từ những khối cơ bản tương tự trong hàng tỷ năm trước. Do Fe-60 không phải là loại vật liệu chung như vậy, nó phải đến từ nơi nào đó ngoài hệ mặt trời.  “Một sao băng liên sao là một sự kiện vũ trụ rất hiếm hoi. Dẫu sao, khi kích thước của vật thể càng nhỏ thì số lượng càng phong phú”, nhà vật lý thiên văn ở Harvard Avi Loeb nhận xét. Các hạt bụi vũ trụ có thể rơi như mưa xuống bề mặt trái đất thường xuyên, nhưng lựa chọn chúng giữa vô số các hạt khác xung quanh là một việc dễ làm nản chí.  Nhưng tại South Pole, các nhà nghiên cứu cần giải thích cho những nguồn có thể phát ra phóng xạ như các nhà mý điện hạt nhân và các vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Koll và đồng nghệp của anh đã ước tính có bao nhiêu Fe-60 có thể thoát ra từ các lò phản ứng hạt nhân, các cuộc thử nghiệm và các tai nạn nhà máy điện hạt nhân như Fukushima năm 2011, và họ tính toán chỉ một lượng rất nhỏ. Bằng việc nghiên cứu những phóng xạ tăng thêm như manganese-53, họ có thể loại trừ bất cứ hạt nào từ các tia vũ trụ, vốn sinh ra fe-60 khi chúng tương tác với bụi vũ trụ và sao băng.  Những gì còn lại là đồng vị sắt với số lượng lớn gấp hàng trăm lần so với những gì họ chờ đợi. “Đó thực sự   là số lượng nổi trội”, Koll nói.  Bernhard Peucker-Ehrenbrink, một nhà địa hóa tại Viện nghiên cứu hải dương học Woods Hole ở Massachusetts, đồng ý là nhóm nghiên cứu của Koll rõ ràng đã tìm thấy một số lượng lớn đáng kể sắt liên sao. “Làm được các phép đo đạc này là điều rất khó. Anh phải đếm từng đơn nguyên tử một” trong khi phải tính đến cả những góp thêm vào của bức xạ phông vũ trụ. “Rút trích kết quả từ một nửa tấn băng không phải là một việc tầm thường”, anh nói.  Koll và đồng nghiệp đã tập trung vào Fe -60 bởi vì nó là vật chất hiếm, nhưng không phải quá hiếm, và có thời gian sống dài với chu kỳ bán rã là 2,6 triệu năm. Nhiều loại đồng vị khác có thể từ các liên sao rơi xuống trái đất thường không bền vơi chu kỳ bán rã ngắn, do đó không có cách nào để các nhà khoa học có thể tìm thấy chúng trước khi chúng phân rã và biến mất.  Các ngôi sao bắn ra một lượng phong phú các hạt nhỏ trong suốt cuộc đời của chúng, cùng với ánh sáng và nhiệt. Nhưng khi các ngôi sao trẻ hơn, về tổng thể chúng “ném ra” ngoài các kim loại nhẹ hơn như carbon và oxygen (các nhà thiên văn học có xu hướng quy những thứ lớn hơn helium là “kim loại”).) Các ngôi sao có khối lượng lớn hơn, già đi  và một kiểu của các vụ nổ tiêu tân tinh, đã mất nhiều thiên niên kỷ nung chảy hạt nhân lớn thành những thứ lớn hơn, có thể đã phóng các hạt kim loại nặng hơn, bao gồm fe-60 và người anh em bền bỉ như nó, fe-56. Sắt thông thường là nguyên tố cuối cùng một ngôi sao có thể tạo ra trong khi sinh năng lượng, và sau khi trải qua giai đoạn “hấp hối” dữ dội cuối cùng của mình, nó nổ tung. Chỉ có các ngôi sao có khối lượng gấp hàng chục lần mặt trời của chúng ta mới có thể tạo ra được các đồng vị sắt, điều đó có nghĩa là fe-60 mà họ tìm thấy ở Nam Cực có thể đến từ ngoài hệ mặt trời.  “Nó phải là một siêu tân tinh, không qua gần để có thể giết chúng ta và cũng không quá xa để bị tan loãng vào vũ trụ,” Koll nói.  Điều đó cho thấy hành tinh của chúng ta có thể chọn các hạt rải rác trong khi đi qua Đám mây liên sao địa phương (Local Interstellar Cloud), hay còn gọi là Local Fluff. Khu vực này có kích thước 30 năm ánh sáng mà hệ mặt trời đang đi qua và sắp thoát ra, giống như được hình thành từ vụ nổ các sao siêu khối lượng đã thổi các khí nóng ở những lớp ngoài của chúng vào vũ trụ.  Hiện không có những siêu tân tinh nào xuất hiện trong số các ngôi sao hàng xóm của chúng ta nên việc các định chính xác nơi nào bụi vũ trụ giàu đồng vị tới trở nên khó khăn. Koll hi vọng có thêm nhiều dữ liệu, giống như các lõi băng chạm được tới bụi vũ trụ có niên đại hơn hơn và ở sâu hơn, có thể đem đến nhiều thông tin hơn về câu chuyện này. Nghiên cứu như thế có thể chạm vào quá khứ và có thể tiết lộ một cách chính xác khi nào thì loại bụi ngoài hành tinh này bắt đầu rơi tới tấp vào hành tinh chúng ta.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-scientists-star-antarctic.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá ra tinh thể có từ tính theo đường xoắn ốc lạ      Một hình thức lạ của từ đã được phát hiện ra, liên qua đến một dạng hoàn toàn lạ của các electron, theo các nhà khoa học mới phân tích một dạng tinh thể mới xuất hiện tại Viện Tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ (NIST). Vật liệu từ này được tạo ra và được một cấu trúc electron độc đáo của tinh thể này bảo vệ, qua đó đề xuất một cơ chế có thể gợi ý về những thiết bị lưu trữ thông tin cực nhanh và hiệu quả.      Vật liệu mới được phát hiện ra này có một cấu trúc bất thường có khả năng dẫn điiện nhưng lại khiến các electron hành xử như những hạt phi khối lượng, những hạt mang từ tính có liên quan đến hướng của chuyển động. Trong các vật liệu khác, rất nhiều electron Weyl đã gợi ra những hành xử mới liên quan đến tính dẫn điện. Dẫu sao trong trường hợp này, các electron đã thúc đẩy sự hình thành tự phát đường từ xoắn trôn ốc.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một ví dụ hiếm về việc điều hướng từ tính các hạt này”, Collin Broholm, một nhà vật lý tại trường đại học Johns Hopkins và dẫn dắt thực hiện thí nghiệm tại Trung tâm nghiên cứu Neutron NIST (NCNR), nói. “Thực nghiệm của chúng tôi đã vẽ ra một hình thức độc đáo của từ tính có thể do các electron Weyl thúc đẩy”.  Phát hiện này, xuất hiện trên Nature Materials, tiết lộ một mối quan hệ phức tạp giữa các vật liệu, dòng chảy electron qua đó như dòng điện và từ tính của vật liệu 1.  Trên một nam châm tủ lạnh, thi thoảng chúng ta tưởng tượng ra các nguyên tử sắt của nó như có một thanh từ gắn lên điểm cực ‘bắc’ trong một hướng nhất định. Hình ảnh này liên quan đến việc định hướng spin của nguyên tử, vốn thẳng hàng song song. Vật liệu mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu lại hoàn toàn khác biệt. Đó là ‘bán kim loại’ được làm từ silicon và các kim loại như nhôm và neodymium. Ba nguyên tố này được tích hợp thành một tinh thể, trong đó các hợp phần nguyên tử của nó được sắp xếp theo một mẫu hình lặp lại. Tuy vậy đó là một tinh thể phát vỡ đối xứng ngược, nghĩa là mẫu hình lặp lại đó khác biệt trên từng cạnh của các tế bào đơn vị của một tinh thể – khối cơ bản nhỏ nhất của một mạng tinh thể. Sự sắp xếp này làm bền vững dòng chảy của các electron thông qua tinh thể, vốn tạo ra hành xử bất thường trên từ tính của chúng.  Độ ổn định của các electron cho thấy tự nó là một sự đồng nhất trong hướng của các spin của chúng. Trong phần lớn vật liệu dẫn điện, như dây đồng, các electron chuyển động qua dây dẫn có các spin điểm theo những hướng ngẫu nhiên. Trong vật liệu bán kim loại, đối xứng bị phá vỡ chuyển đổi dòng electron thành các electron Weyl, vốn có spin được định hướng trong hướng của electron di chuyển hoặc trong hướng đối diện. Chính việc ‘khóa’ các spin của những electron Weyl theo hướng chuyển động của chúng – động lượng của chúng – là nguyên nhân dẫn đến hành xử từ tính hiếm của bán kim loại.  Ba dạng nguyên tử của vật liệu này đều có tính dẫn điện, cung cấp cơ hội cho electron khi chúng nhảy từ nguyên tử này sang nguyên tử khác. Dẫu vậychỉ có các nguyên tử neodymium (Nd) thể hiện được từ tính. Chúng dễ bị các electron Weyl tác động và điều này khiến cho nguyên tử Nd spin theo đường khác. Nhìn lại bất cứ hành xử của các nguyên tử Nd nào, người ta cũng sẽ thấy nhóm nghiên cứu chỉ ra “một xoắn ốc spin”.  “Một cách đơn giản để hình dung ra spin của một nguyên tử Nd điểm ở vị trí 12 giờ, sau đó là ở vị trí 4 giờ rồi 8 giờ”, Broholm nói. “Sau đó mẫu hình này lặp lại. Mạng spin đẹp này do các electron Weyl định hướng khi chúng di chuyển đến gần các nguyên tử Nd ‘láng giềng’”.    Đó là kết quả của của sự hợp tác giữa nhiều nhóm nghiên cứu trong Viện nghiên cứu Vật chất lượng tử tại trường đại học Johns Hopkins. Nó bao gồm những nhóm làm về tổng hợp tinh thể, các tính toán số phức tạp và thực nghiệm tán xạ neutron.   “Với tán xạ neutron, chúng tôi may mắn có được nhiều thời gian thực nghiệm trên chùm tia nhiễu xạ neutron tại Trung tâm nghiên cứu Neutron của NIST”, Jonathan Gaudet, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu, nói. “Không có cơ hội này, chúng tôi có thể để lỡ nhiều cái đẹp của vật lý mới.  Mỗi vòng của spin xoắn ốc dài khỏng 150 nano mét, và các đường xoắn ốc chỉ xuất hiện ở các mức nhiệt độ lạnh dưới 7 K. Broholm nói có những vật liệu với những đặc tính tương tự có chức năng ở nhiệt độ phòng, và chúng có thể rất khó để tạo ra các thiết bị ghi nhớ từ hiệu quả. “Công nghệ nhớ từ giống như đĩa cứng đòi hỏi bạn tạo ra một từ trường cho chúng hoạt động”, ông nói. “Với lớp vật liệu này, anh có thể lưu trữ thông tin mà không cần phải áp vào đó một từ trường. Việc đọc và viết thông tin về mặt điện từ nhanh hơn và hiệu quả hơn nhiều”.  Việc hiểu biết về những hiệu ứng mà các electron Weyl định hướng có thể rọi ánh sáng mới vào các vật liệu khác. “Về cơ bản, chúng ta có thể có khả năng tạo ra vô số vật liệu có những đặc tính  spin bên trong – và có thể chúng ta đã có, Broholm nói. “Chúng ta đã tạo ra nhiều cấu trúc từ tính mà chính bản thân chúng ta không thể hiểu ngay ra được. Khi thấy được các đặc tính đặc biệt của từ tính trung gian Weyl, chúng ta có thể cuối cùng mới hiểu được nó và sử dụng các cấu trúc từ lạ cho nhiều mục đích khác nhau”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-scientists-crystal-exotic-spiral-magnetism.html  https://www.nist.gov/news-events/news/2021/08/scientists-discover-crystal-exhibiting-exotic-spiral-magnetism  —————————  1. https://www.nature.com/articles/s41563-021-01062-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá trạng thái điện tử mới của vật chất      Một nhóm nghiên cứu do các giáo sư Khoa Vật lý và thiên văn học trường đại học Pittsburgh dẫn dắt đã loan báo phát hiện ra một trạng thái điện tử mới của vật chất.      Jeremy Levy, một giáo sư có nhiều công bố xuất sắc về vật lý chất rắn, và Patrick Irvin, một phó giáo sư nghiên cứu, là đồng tác giả công trình “Pascal conductance series in ballistic one-dimensional LaAIO3/SrTiO3 channels” được xuất bản trên Science. Nghiên cứu này tập trung vào những đo đạc các hệ dẫn một chiều, nơi các electron được tìm thấy di chuyển mà không tán xạ theo các nhóm gồm hai hoặc ba electron trong cùng một thời điểm hơn là trong trạng thái riêng rẽ.  “Thông thường, các electron trong những chất bán dẫn hoặc kim loại chuyển động và phân tán, cuối cùng cuốn theo một chiều nếu như anh áp một điện áp lên nó. Nhưng trong các đường dẫn điện “đạn đạo”, các electron chuyển động như những chiếc ô tô trên đường cao tốc. Việc này khiến chúng không tỏa nhiệt và có thể được sử dụng trong những cách hoàn toàn khác biệt với các điện tử thông thường. Các nhà nghiên cứu trước chúng tôi đã từng thành công trong việc tạo ra một loại chất dẫn “đạn đạo”, Levy giải thích.  “Khám phá mà chúng tôi đã tìm ra chứng tỏ rằng khi các electron có thể được tạo ra khả năng thu hút electron khác, chúng có thể hình thành những chùm gồm hai, ba, bốn hoặc năm electron mà có hành xử giống như một loại hạt mới, hình thành những dạng mới của vật chất điện tử.  Levy so sánh phát hiện này với cách các hạt quark liên kết với nhau để hình thành các neutron và proton. Một manh mối quan trọng để khám phá ra loại vật chất mới này là các đường dẫn “đạn đạo” khớp với một dãy trình tự bên trong tam giác Pascal.  “Nếu nhìn dọc các hướng khác nhau của Tam giác Pascal, anh sẽ thấy các mẫu hình số khác biệt và một trong những mẫu hình là 1, 3, 6, 10, 15, 21. Đó là một trình tự mà chúng tôi nêu trong dữ liệu của chúng tôi, vì vậy nó trở thành một manh mối mang tính thách thức là trên thực tế những gì sẽ tới? Khám phá này đưa chúng tôi tới hiểu biết về những thứ ban đầu chúng tôi còn chưa nhận ra là chúng tôi đang xem xét các hạt được tạo ra từ một electron, hai electron, ba electron và nhiều hơn. Nếu anh kết hợp tất cả với nhau, anh sẽ có một dãy trình tự của 1,3,6,10”.  Levy, giám đốc Viện nghiên cứu lượng tử Pittsburgh, lưu ý là các hạt mới có những đặc tích liên quan với rối lượng tử, vốn có tiềm năng hữu dụng với tính toán lượng tử và tái phân phối lượng tử. Ông nói, khám phá này là một bước tiến thú vị hướng tới một giai đoạn phát triển mới của vật lý lượng tử.  “Nghiên cứu này thuộc về một số nỗ lực quan trọng được thực hiện tại Pittsburgh để phát triển một KH&CN mới liên quan đến cuộc cách mạng lượng tử lần thứ hai”, ông cho biết.  “Trong cuộc cách mạng lượng tử thứ nhất, mọi người khám phá ra thế giới quanh chúng được các quy luật vật lý lượng tử cơ bản chi phối. Còn khám phá này dẫn chúng ta đến hiểu biết về bảng tuần hoàn, cách các vật liệu hành xử và hỗ trợ sự phát triển của các transistor, máy tính, các máy quét cộng hưởng từ MRI và công nghệ thông tin.  “Hiện tại trong thế kỷ 21, chúng ta đang chờ đợi những dự đoán lạ của vật lý lượng tử và xoay chiều chúng và sử dụng chúng. Khi nói về những ứng dụng, chúng ta thường nghĩ về các máy tính lượng tử, viễn tải lượng tử, truyền thông lượng tử, cảm biến lượng tử – những ý tưởng sử dụng các đặc tính tự nhiên của vật chất lượng tử mà trước đây có thể bi ‘lờ’ đi”.  Năm 2010, Levy đã nhận được một khoản tài trợ 7,5 triệu USD cho một nghiên cứu trong vòng 5 năm từ Bộ Quốc phòng Mĩ để giải quyết một số thách thức liên quan đến phát triiển máy tính lượng tử. Dự án này là một trong số 32 dự án được lựa chọn từ 152 đề xuất  gửi tới Sáng kiến nghiên cứu liên trường ĐH (MURI); một chương trình có tổng kinh phí 227 triệu USD. Ông được giao dẫn dắt nhóm nghiên cứu gồm các nhà nghiên cứu từ ĐH Cornell, Stanford, California tại Santa Barbara,  Michigan, và Wisconsin.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-uncovers-electronic-state.html           Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá trạng thái mới của vật chất      Một nhóm nghiên cứu vật lý đã khám phá ra một trạng thái mới của vật chất – một đột phá có khả năng làm tăng thêm năng lực lưu trữ của các thiết bị điện tử và gia tăng khả năng tính toán lượng tử.      “Nghiên cứu của chúng tôi thành công ở chỗ tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho một trạng thái mới của vật chất – siêu dẫn topo,” Javad Shabani, một trợ lý giáo sư vật lý ở trường đại học New York nói. “Trạng thái topo mới này có thể điều khiển theo nhiều cách có thể tăng tốc độ tính toán trong điện toán lượng tử và tăng cường khả năng lưu trữ”.  Khám phá này, được tường thuật trên arXiv, được thực hiện với sự tham gia của Igor Zutic tại trường đại học Buffalo và Alex Matos-Abiague tại trường đại học liên bang Wayne.  Công trình tập trung vào điện toán lượng tử – một phương pháp có thể tạo ra các tính toán với các tốc độ nhanh hơn một cách đáng kể so với điện toán thông thường. Đạt được điều này bởi các máy tính thông thường xử lý các bit số trong hình thức 1 và 0 trong khi các bit máy tính lượng tử (qubits) lập bảng bất kể giá trị nào giữa 0 và 1, nâng năng lực và tốc độ xử lý dữ liệu theo hàm mũ.  Trong nghiên cứu này, Shabani và đồng nghiệp đã phân tích một chuyển pha của trạng thái lượng tử từ trạng thái thông thường của nó sang trạng thái topo, đo đạc lớp chắn năng lượng giữa các trạng thái này. Họ bổ sung điều này bằng việc đo đạc các đặc tính một cách trực của quá trình chuyển pha theo thứ tự của tham số chi phối pha siêu dẫn topo mới.  Tại đây, họ tập trung vào câu hỏi về các hạt Majorana, vốn là các phản hạt của chính nó – các chất với cùng khối lượng nhưng với điện tích trái dấu. Các nhà khoa học đã thấy giá trị trong các hạt Majorana bởi tiềm năng của chúng trong việc lưu trữ thông tin lượng tử trong một tính toán đặc biệt khi thông tin lượng tử được bảo vệ khỏi tiếng ồn môi trường. Dẫu vậy, không có vật chủ tự nhiên nào cho các hạt này, vẫn được biết đến với tên gọi hạt fermion Majorana. Kết quả, các nhà nghiên cứu đã thấy những nền tảng kỹ thuật, các hình thức mới của vật chất – trong đó có thể tiến hành được các tính toán lượng tử đó.  “Khám phá mới về tính siêu dẫn topo trong một nền tảng hai chiều đã mở đường cho một cách xây dựng các qubit topo có khả năng mở rộng không chỉ để lưu trữ thông tin lượng tử mà còn điều khiển được các trạng thái lượng tử không xảy ra lỗi”, Shabani nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-scientists-state.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá về cơ chế phân tử điều khiển đồng hồ sinh học đoạt Nobel Y học      Giải Nobel Y học (2017) được trao cho ba nhà khoa học người Mỹ: Jeffrey Hall và Michael Rosbash – Đại học Brandeis (Waltham, Massachusetts) và Michael Young – Đại học Rockefeller (New York) cho những nghiên cứu phát hiện ra cơ chế phân tử điều khiển nhịp sinh học (circadian rhythms) của các sinh vật theo chu kỳ ngày đêm của trái đất.      Các nhà khoa học nhận giải Nobel y học (từ trái qua phải): Michael Young, Jeffrey C. Hall, Michael Rosbash. Ảnh: Science  Họ khám phá ra cơ chế kết hợp hoạt động của các gene kiểm soát đồng hồ sinh học, mã hóa các protein tích lũy vào ban đêm và phân hủy vào ban ngày. Những năm gần đây, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng đồng hồ sinh học – hiện diện ở thực vật, nấm, động vật nguyên sinh, động vật cao cấp và người – đóng vai trò quan trọng, không chỉ đối với giấc ngủ có chu kỳ mà còn với quá trình trao đổi chất và các chức năng của não bộ.  “Hoạt động điều hòa của đồng hồ sinh học cũng quan trọng và căn bản giống như sự hô hấp vậy”, Charalambos Kyriacou, nhà di truyền học phân tử tới từ Đại học Leicester (Anh) phát biểu. Chính bởi vì nó quá căn bản nên ngay cả những người nhận giải cũng cảm thấy bất ngờ.  Từ thế kỷ 18, người ta đã phỏng đoán về sự hiện diện của đồng hồ sinh học. Năm 1729, nhà thiên văn học Pháp Jean Jacques d’Ortous de Mairan đã làm thí nghiệm cho thấy, lá của cây Mimosa sẽ mở rộng khi bình minh và cụp vào lúc hoàng hôn, chu kì này được tiếp tục duy trì sau đó ngay cả khi cây được đặt trong bóng tối. Tuy nhiên, mãi tới thế kỷ 20, ý niệm về đồng hồ sinh học ở bên trong cơ thể – trái ngược với quan điểm tin vào ảnh hưởng của những nhân tố bên ngoài, như ánh sáng mới được làm sáng tỏ.  Cơ sở di truyền của một chu trình sinh lý thường nhật lần đầu tiên được phát hiện trên loài ruồi giấm vào những năm 1970. Hai nhà khoa học Seymour Benzer và Ronald Konopka của Viện Công nghệ California – Caltech (Pasadena) đã tạo ra những con ruồi đột biến có đồng hồ sinh học bất thường. Một dạng đột biến khiến đồng hồ sinh học bị hỏng – nhịp sinh học bị rối loạn – trong khi những dạng khác có chu kỳ hoạt động lên tới 19 hay 20 giờ. Benzer và Konopka chỉ ra rằng những đột biến này có lẽ đã gây ảnh hưởng lên cùng một loại gene, tuy nhiên theo những cách khác nhau. Họ và các nhà khoa học khác hướng đến một gene tạm đặt tên là period.  Năm 1984, Hall và Rosbash cuối cùng cũng giải mã được gene này, tiếp đó là Young. Hall và Rosbash phát hiện hàm lượng protein của gene này – gọi là PER – tăng lên và giảm xuống theo chu kỳ 24 giờ, đỉnh điểm là vào ban đêm. Điều này khiến họ nghi ngờ rằng đồng hồ sinh học được điều khiển bởi một vòng lặp tín hiệu phản hồi (feedback loop), với sự can thiệp của protein PER vào hoạt động của gene period. “Điều này khiến bạn vò đầu bứt tóc tự hỏi liệu đó có phải là sự thực”, Young chia sẻ kết quả này trên Science năm 1985 [1].  Để đồng hồ sinh học hoạt động, PER phải thâm nhập vào trong nhân. Young đã khám phá được điều này diễn ra như thế nào. Năm 1994, ông và đồng nghiệp đã phát hiện một gene thứ hai cũng tác động lên đồng hồ sinh học, gọi là timeless, gene này cho phép PER đi vào trong nhân để ngăn sự tổng hợp thêm các copy của gene period. Nghiên cứu này sau đó cũng được xuất bản trên Science [2].  Các nhà khoa học khác sau đó cũng tìm thấy nhiều gene khác có ảnh hưởng lên chu kỳ sinh học. Chẳng hạn, năm 1997, nhóm nghiên cứu của Joseph Takahashi – hiện công tác tại Đại học Texas ở Southwestern (Dallas) phát hiện ra cả gene period và timeless đều được kích hoạt “bật” bởi chính đồng hồ sinh học. Trong vòng một năm, nhóm này cũng phát hiện ra vai trò then chốt khác của vòng lặp tín hiệu phản hồi: khi PER và TIM (protein can thiệp vào hoạt động của gene timeless) đi sâu vào trong nhân, chúng cũng cản trở hoạt động của đồng hồ sinh học.         Gene ảnh hưởng tới hoạt động của đồng hồ sinh học cũng ảnh hưởng mạnh mẽ lên hoạt động của hầu hết các gene khác, bằng cách này hay cách khác. Cơ chế duy trì nhịp sinh học cũng ảnh hưởng lên quá trình trao đổi chất – cách cơ thể sử dụng và tích trữ năng lượng – huyết áp, nhiệt độ cơ thể, sự viêm nhiễm hay hoạt động của não bộ. Chu kỳ ngày cũng gây ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng thuốc và những tác dụng phụ của thuốc. Sự không ăn khớp của đồng hồ sinh học với môi trường, như lệch múi giờ khi đi máy bay hay thay đổi ca trực, đã được chứng minh có liên quan đến những rối loạn tâm lý, thậm chí cả nguy cơ ung thư.  “Từ lúc các phát hiện khoa học đang còn trong giai đoạn phôi thai, những nghiên cứu về đồng hồ sinh học, của ba nhà khoa học được vinh danh, đã phát triển trở thành một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn và năng động, liên quan tới sức khỏe cũng như hạnh phúc của tất cả chúng ta” – theo thông cáo báo chí của Hội đồng trao giải Nobel 2017.  Được biết, số tiền thưởng cho giải Nobel năm nay sẽ là 9 triệu Kronor Thụy Điển (tương đương 1.1 triệu USD), tăng 12.5% so với 2016.  Thế Hải dịch  TS. Dương Quốc Chính (Trưởng khoa Di truyền và sinh học phân tử, Viện Huyết học truyền máu Trung ương) hiệu đính  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/10/timing-everything-us-trio-earns-nobel-work-bodys-biological-clock  ———–  Chú thích:  [1] Gina Kotala (1985), Genes and Biological Clocks, Studies of genetic mutations in fruit flies reveal that a single gene may control circadian rhythms, Science 230 (4730), 1151-1152. DOI: 10.1126/science.230.4730.1151. Link: https://www.dropbox.com/s/s5eyztzzfbxpyxf/Genes%20and%20Biological%20Clocks.pdf?dl=0  [2] LB Vosshall et al. (1994), Block in nuclear localization of period protein by a second clock mutation, timeless. Science 18 Mar 1994: Vol. 263, Issue 5153, pp. 1606-1609; DOI: 10.1126/science.8128247. Link: http://science.sciencemag.org/content/263/5153/1606.long    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khan hiếm nhân lực công nghệ tại Singapore      Mặc dù có một hệ sinh thái khởi nghiệp mà các nước Đông Nam Á mơ ước nhưng Singapore lại rất thiếu nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Và điều đó mở ra cơ hội việc làm cho các kỹ sư người Việt.    Thiếu hụt 30000 chuyên viên IT      CTO của Wego, Lê Sơn Phụng, người thứ hai từ trái sang trong một buổi tiệc của công ty.       Sau rất nhiều nỗ lực đầu tư bởi chính phủ từ năm 2010 trở lại đây, Singapore đang nổi lên như một trung tâm về khởi nghiệp (startup) của khu vực Đông Nam Á. Đất nước này ở thời điểm hiện tại (tháng 6 năm 2016), có hơn 1.7001 startup đang hoạt động và hơn 50 2 quĩ đầu tư mạo hiểm luôn tìm kiếm những startup có tiềm năng trong khắp khu vực để đầu tư.    Các chính sách hỗ trợ startup của chính phủ đã tạo ra những kết quả nhất định về số lượng startup được hình thành và cũng như về số lượng vốn được gọi thêm từ khu vực tư nhân. Các chính sách đó cũng tạo ra những cú hích thu hút các công ty công nghệ lớn của thế giới như Google, Twitter, Facebook xây dựng trung tâm công nghệ của khu vực Đông Nam Á tại Singapore.   Tuy nhiên, những chính sách đó chưa tạo được sự thu hút nhân tài theo đuổi lĩnh vực công nghệ vốn là lực lượng nền tảng để tạo ra những startup thành công. Theo dự báo, đến năm 2017 Singapore sẽ thiếu hụt khoảng 30.000 3 chuyên viên công nghệ thông tin về các lĩnh vực an ninh mạng, phân tích dữ liệu (data analytics), phát triển ứng dụng.   Trong những năm trước đây, các sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ ở các trường đại học của Singapore thường lựa chọn công việc trong các ngành về tài chính, ngân hàng do chế độ lương bổng tốt hơn và sự nghiệp ổn định hơn. Thêm vào đó, trong mắt các nhà quản lý doanh nghiệp Singapore, công việc lập trình thường được xem là công việc tay chân dành cho nhân viên cổ xanh. Ngoài ra, hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore vẫn được xem là non trẻ so với các nơi khác (chẳng hạn như Silicon Valley của Mỹ), nên chưa có nhiều startup thành công vượt bậc cũng như chưa có nhiều kỹ sư công nghệ trở nên giàu có sau khi startup mà họ tham gia vào giai đoạn đầu được thoái vốn với lợi nhuận cực lớn. Những lý do kể trên góp phần tạo ra tâm lý không muốn theo đuổi nghề nghiệp lập trình phần mềm trong phần đông sinh viên tốt nghiệp ở Singapore.    Tình trạng khan hiếm kỹ sư phần mềm chất lượng cao luôn là nỗi đau đầu không những của các startup mới thành lập, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) mà còn đối với các doanh nghiệp startup đã phát triển như Grab (được biết ở Việt Nam với sản phẩm Grab Bike, Grab Taxi), Garena (công ty trị giá một tỷ USD đầu tiên ở Singapore), các công ty công nghệ lớn như Google, Twitter.   Do không có đủ nhân lực lập trình từ các trường đại học trong nước, các công ty công nghệ xoay sang tổ chức các chương trình thu hút nhân tài từ các nước ở các khu vực khác, trong đó có Việt Nam. Việt Nam vốn từ lâu được biết đến là cái nôi về gia công phần mềm và là lò sản xuất nhiều kỹ sư lập trình, đang dần thu hút các công ty công nghệ tại Singapore tuyển dụng nhân lực tại chỗ. Thực tế, hầu hết trong các startup của Sing đều có ít nhất một vài hoặc cả nhóm kỹ sư đều là người Việt Nam, kể cả những công ty có ảnh hưởng nhất trong thị trường tại Đông Nam Á lúc này như Grab, Garena, RedMart (công ty thương mại điện tử về thực phẩm), Wego (công ty đặt vé máy bay và phòng khách sạn giá rẻ), Zopim (công ty phần mềm mới được mua lại với giá 30 triệu USD). Đặc biệt, cả hai vị trí giám đốc công nghệ (CTO) và giám đốc kỹ thuật (Director of Engineering) của Wego là do người Việt Nam nắm giữ.   Cơ hội cho kỹ sư người Việt  Các sinh viên và kỹ sư có thể kiên trì theo dõi qua internet về nhu cầu tuyển dụng của các công ty mà mình muốn làm việc. Các bạn cũng nên thỉnh thoảng sang Singapore tham dự các sự kiện chuyên nghiệp dành cho lập trình viên4, vì các công ty startup hay tới đây để tuyển lập trình viên. Nếu các bạn có phần trình bày về một đề tài nào đó thì càng dễ gây sự chú ý từ các công ty startup. Ngoài ra, với những người có kinh nghiệm làm việc ở các công ty nước ngoài tại Việt Nam khoảng 2-3 năm, xác suất được nhận sẽ cao hơn vì khi đó họ đã tương đối chuyên nghiệp, đồng thời có thể làm việc và giao tiếp bằng tiếng Anh. Võ Anh Duy (hiện là kỹ sư của ThoughtWorks) là một trường hợp như vậy. Sau khi tốt nghiệp Khoa công nghệ thông tin, trường Đại học Khoa học Tự nhiên năm 2013, em vào làm cho công ty Silicon Straits Saigon, chuyên về ngôn ngữ lập trình Ruby. Hằng năm ở Singapore có một sự kiện chuyên đề về lĩnh vực này, Duy sang tham dự và tìm hiểu về môi trường làm việc bên Singapore. Thông qua mạng xã hội Twitter, em theo dõi những chuyên gia hàng đầu về phần mềm và Ruby. Qua đó, em biết được công ty ThoughtWorks (đồng sáng lập là Martin Fowler, một trong những chuyên gia phần mềm hàng đầu thế giới) đang có chương trình tuyển dụng nhân sự tại Việt Nam. Em tận dụng cơ hội đó để nộp đơn và được nhận vào làm cùng với hai bạn Việt Nam khác. Duy có chia sẻ là các bạn lập trình viên Việt Nam ít chú trọng luyện tập kỹ năng làm phần mềm chuyên nghiệp, ví dụ TDD (Test Driven Development – một chuẩn làm phần mềm giúp hạn chế lỗi) vốn rất được các công ty làm phần mềm chất lượng cao như ThoughWorks yêu cầu cần phải có.  Cũng có những trường hợp, những kỹ sư và sinh viên công nghệ thông tin được “săn đón” vì họ được giải các cuộc thi trong nước hoặc quốc tế. Tuy nhiên, họ vẫn cần trau dồi kỹ năng làm việc, đáp ứng đòi hỏi của các công ty lớn. Lâm Phan Việt (hiện nay là kỹ sư của Grab) tốt nghiệp Đại học Cần Thơ  năm 2013, sớm xác định sẽ ra nước ngoài làm việc nên đã có sự chuẩn bị dài hơi. Khi còn là sinh viên, Việt đã tham gia vào cuộc thi các cuộc thi tin học trong nước và quốc tế như ACM5. Do có những thành tích  nhất định trong cuộc thi ACM, nên ngay từ năm cuối Việt đã được Google săn đón và mời sang Úc để phỏng vấn. Việt chia sẻ rằng, em không qua được vòng phỏng vấn do kinh nghiệm chưa đủ và yếu về kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh nhưng em được một startup khác tại Úc nhận vào làm việc từ xa. Song song với việc nâng cao kỹ năng giao tiếp trong quá trình làm việc cho startup, Việt vẫn miệt mài trao dồi các kỹ năng về giải thuật, tư duy logic, giải quyết vấn đề thông qua các trang web chuyên biệt 6. Các kỹ năng đó rất được chú trọng trong quá trình phỏng vấn bởi các công ty công nghệ lớn như Google, Facebook, Amazon. Việt thường xuyên nộp đơn xin việc cho các startup ở Sing tại trang web StartupJobs.asia, Grab liên hệ với Việt. Sau vài vòng phỏng vấn, Việt nhân được offer từ Grab và sau đó một tháng Việt đã có mặt tại Singapore để làm việc. Việt có chia sẻ là môi trường làm việc ở Grab rất giống với môi trường trong các startup lớn tại Silicon Valley do CTO trước đây của Grab vốn từng làm việc tại Facebook nên đã áp dụng văn hoá làm việc tương tự. Cuối tháng bảy, Việt sẽ chuyển sang làm việc cho công ty Amazon tại Úc.   Như vậy cơ hội làm việc cho các kỹ sư và sinh viên Việt Nam tại Singapore là rất nhiều. Những thông tin về tuyển dụng vẫn được đăng tải công khai trên trang web của các công ty, trang tìm việc làm trực tuyến www.startupjobs.asia hoặc kênh #job của cộng đồng phần mềm Grokking Software Engineering trên thế giới. Điều kiện cần để các em nắm bắt những cơ hội này là củng cố khả năng giao tiếp tiếng Anh và những kiến thức, kĩ năng chuyên môn sâu, cập nhật với công nghệ thế giới.    ———–    * Giám đốc startup Gund Singapore, kỹ sư tại IBM Singapore.   Tham khảo:  1 https://angel.co/singapore  2https://www.techinasia.com/directory-of-early-stage-venture-capital-seed-funds-and-angel-investors-for-startups-in-singapore  3 http://www.straitstimes.com/ singapore/manpower/it-talent-in-short-supply-amid-smart-nation-push  4 Các trang web về sự kiện dành cho lập trình viên tại Singapore   https://2016.devfest.asia/;http://www.reddotrubyconf.com/;https://2016.phpconf.asia/;http://fossasia.org/; http://www.iosconf.sg/  5Trang web về cuộc thi lập trình quốc tế dành cho sinh viên https://icpc.baylor.edu/  6 Các trang web giúp các bạn lập trình viên trao dồi kỹ năng giải thuật và giải quyết vấn đề: https://codility.com/; https://www.hackerrank.com/          Author                Lê Thanh Sơn        
__label__tiasang Kháng thể nhân tạo: Đột phá trong điều trị Covid-19?      Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump cho biết kháng thể nhân tạo đã cứu mạng ông. Giờ đây loại kháng thể nhân tạo đầu tiên đã được cấp giấy phép sử dụng chống virus corona. Liệu loại thuốc rất đắt đỏ này có thực sự cứu được tính mạng những bệnh nhân đang điều trị tại các phòng chăm sóc đặc biệt? Florian Klein, nhà virus học và là chuyên gia về kháng thể thuộc Bệnh viện trường Đại học  Köln, Đức giải thích trên tờ WELT, liệu chúng ta có thể đặt niềm tin vào kháng thể nhân tạo hay không.      Kháng thể tấn công virus: Y học giờ đây đã thành công trong việc bắt chước tạo ra vũ khí hữu hiệu nhất của hệ miễn dịch.  Kháng thể nhân tạo của hãng Regeneron và  Eli Lilly đã được cấp phép ở Hoa Kỳ. Donald Trump tin rằng mấy chế phẩm này đã cứu được tính mạng mình sau khi ông nhiễm Covid. Chắc Châu Âu nay mai cũng sẽ cho phép lưu hành. Ý kiến chuyên gia như thế nào: mấy chế phẩm đó có thực sự hứa hẹn tốt đẹp như vậy không?  Florian Klein: Vâng, theo tôi  nghĩ là có đấy. Chúng ta biết từ các bệnh lây nhiễm virus khác kháng thể có thể kìm hãm sự sinh sôi của mầm bệnh  –  đặc biệt ở giai đoạn đầu của sự lây nhiễm thì đây là một cách tiếp cận có nhiều hứa hẹn. Ngay cả với Sars-CoV-2  cũng có những kết quả đầy khích lệ.  Tại sao các kháng thể lại làm được cái điều mà cho đến nay không một loại thuốc nào thực sự làm được, tiêu diệt bản thân con virus. Ông có thể giải thích kỹ hơn về chức năng hoạt động của nó?  Virus mang trên bề mặt của nó một loại protein, có tên là Spike-Protein, virus cần có protein này để có thể lây lan sang các tế bào mục tiêu trong cơ thể. Loại kháng thể được phát triển lúc này có khả năng nhận biết và phong tỏa protein này do đó virus không thể thâm nhập được vào tế bào, có nghĩa là ngăn chặn được sự lây nhiễm. Hơn nữa các kháng thể làm lộ diện virus đối với các tế bào phòng vệ, qua đó chúng có thể tiêu diệt trực tiếp mầm bệnh.  Thưa ông các loại hoạt chất này có hiệu quả đối với các loại bệnh khác không  – và nếu có thì đó là những bệnh gì?  Các kháng thể đơn dòng đã được sử dụng thí dụ để chống virus hợp bào hô hấp (Respiratorische Synzytial-Virus (RSV), một loại bệnh ở đường hô hấp đối với trẻ em. Ở đây kháng thể được dùng để chống lại một căn bệnh đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em. Gần đây Cơ quan quản lý dược đã cho sử dụng hỗn hợp ba lọai  kháng thể khác nhau để chống bệnh truyền nhiễm Ebola. Qua đó lần đầu tiên có một phương pháp điều trị chuyên biệt và có hiệu quả.  Những loại “thần dược” này đã được phát triển như thế nào?  Hệ thống miễn dịch của chúng ta tự tạo ra kháng thể chống lại mầm bệnh để đáp trả sự lây nhiễm. Ta có thể thấy người bị nhiễm Sars-CoV-2 tạo ra loại kháng thể nào để chống chịu được bệnh tật.   Chúng tôi đã nghiên cứu loại tế bào có thể tạo loại kháng thể này ở con người. Chúng tôi giải mã bản thiết kế và tạo ra kháng thể trong quá trình nuôi cấy tế bào trong phòng thí nghiệm. Bằng cách đó chúng tôi xác định được nhiều loại kháng thể có khả năng nhận biết và trung lập hóa Sars-CoV-2. Trong bước tiếp theo chúng tôi đã kiểm tra kỹ các ứng viên và chọn lọc ra những đối tượng có thể tấn công virus tốt nhất và có thể sử dụng ở người một cách an toàn.     Florian Klein là giám đốc Viện Virus học đại học Köln, Đức. Ông đã có bằng sáng chế về các chế phẩm kháng thể đơn dòng chống HIV và Ebola.  Hai hãng dược phẩm Regeneron và Eli Lilly hiện đã ngừng thử nghiệm các loại  thuốc của họ chí ít đối với các bệnh nhân bị bệnh nặng do thiếu hiệu quả. Phải chăng điều này có nghĩa là thuốc không phát huy tác dụng đối với các bệnh nhân này?  Các nghiên cứu cho thấy đối với bệnh nhân nặng thuốc không phát huy hiệu quả. Chúng tôi cho rằng, những người bệnh ở giai đoạn muộn, bị bệnh nặng còn có thêm tác động của những vấn đề khác không phải do bản thân virus gây ra. Hơn nữa ở giai đoạn này thường người bệnh cũng đã tự tạo ra kháng thể. Do đó làm giảm hiệu quả của việc bổ sung kháng thể.  Khi mới bị nhiễm bệnh không có tình trạng đó?  Ở thời kỳ mới bị nhiễm bệnh, tức những ngày bị bệnh đầu tiên, thì việc sử dụng kháng thể đơn dòng có thể ngăn ngừa không để bệnh bị nặng hơn. Các kết quả nghiên cứu đầu tiên cho thấy rõ điều đó. Vì thế mục tiêu đề ra là phải phát hiện bệnh sớm. Thông qua dùng kháng thể có thể giảm thời gian gây lây nhiễm ở người đã bị nhiễm bệnh. Nếu được như thế thì là một lợi thế lớn không chỉ với người bệnh mà cả với những người xung quanh.  Nhưng chi phí cho thuốc này lớn, mỗi liều lên đến 1000 Euro. Đấy là chưa nói việc sản xuất loại thuốc này cũng rất khó khăn và phức tạp , với công suất hiện nay không thể thỏa mãn được nhu cầu của thế giới.  Eli Lilly cho hay, đến cuối năm sẽ sản xuất được một triệu liều. Đây là một  số lượng lớn nhưng cần thiết: kháng thể không phải là thuốc để điều trị cho tất cả những người bị lây bệnh trên thế giới này. Vả lại điều đó cũng không cần thiết. Nếu chúng ta tiêm vaccine giảm được số người bị lây nhiễm thì có thể điều trị nhiều hơn cho những người có nguy cơ bị bệnh nặng.   Nhiều người còn lo ngại về một vấn đề khác đang lăm le đe dọa chúng ta, đó là virus có thể đang tiến hóa và làm thuốc bị vô hiệu hóa. Đã có nghiên cứu phát hiện được những xu hướng này. Vậy làm thế nào để tránh được tình trạng trên?  Nguy cơ này là có, cho dù  Sars-CoV-2 chỉ có ít xu hướng thay đổi như vậy –  điều này đúng đặc biệt khi so sánh với nhiều loại virus – RNA khác. Có thể ngăn ngừa sự kháng thuốc bằng cách kết hợp nhiều loại kháng thể khác nhau trong điều trị. Qua đó có thể trị nhiều biến thể Sars-CoV-2 khác nhau. Ngay cả các loại mầm bệnh có sự đa dạng hơn nhiều và cũng có khả năng thay đổi nhanh chóng thí dụ như trường họp bệnh HIV nhờ kết hợp các loại kháng thể khác nhau nên ngăn chặn được tình trạng đột biến thoát.   Cách đây ít tuần hãng dược phẩm Eli Lilly đã xin cấp phép khẩn cấp và đã được chấp thuận đối với một sản phẩm tương tự. Phải chăng chất này nay mai sẽ có trong các tủ thuốc?  Eli Lilly đã liên hệ với cơ quan quản lý dược nhiều nước để xin cho loại thuốc này được sử dụng trên toàn cầu. Cạnh đó chúng ta vẫn cần các loại kháng thể của nhiều doanh nghiệp khác. Hiện nay có khoảng 20 doanh nghiệp đang nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm này. Điều này là hết sức cần thiết để đáp ứng được nhu cầu và nhằm đáp ứng cho các lĩnh vực khác nhau có được những sản phẩm tốt nhất. Ngoài ra còn có khả năng cải thiện tình hình, thí dụ kéo dài thời gian hữu hiệu từ hai đến ba tháng lên sáu tháng.   Hoài Trang dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/gesundheit/gesundtheit-und-fitness/plus222285558/Kuenstliche-Antikoerper-der-Durchbruch-in-der-Covid-19-Therapie.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kháng thể tự nhiên trong các khối u có thể cải thiện liệu pháp miễn dịch      Các liệu pháp miễn dịch cho ung thư phụ thuộc vào hệ miễn dịch của người bệnh nhưng chúng lại thường thất bại nhanh chóng trước khi khai thác được toàn bộ kho chứa các biện pháp phòng thủ tự nhiên của cơ thể. Trên thực tế, phần lớn các liệu pháp mới chỉ lấy ra được một dạng phòng vệ miễn dịch: năng lực của các tế bào T để chiến đấu với khối u.    Molecular model of antibody taking part in immune defense. Molecule of immunoglobulin, 3D illustration  Một nghiên cứu mới tại Viện Khoa học Weizmann, xuất bản trên tạp chí Cell, đang tiến từng bước trên đường tới một liệu pháp miễn dịch sẽ khai thác ở một khía cạnh khác kho vũ khí của hệ miễn dịch mà trước đây chưa từng được sử dụng: các kháng thể được tạo ra một cách tự nhiên 1.  Các kháng thể là các protein được chế tạo bởi một nhóm các tế bào miễn dịch khác, các bạch huyết bào B, để trung hòa các mầm bệnh cụ thể. “Chúng tôi đã chứng tỏ là hệ miễn dịch của các bệnh nhân ung thư có thể tạo ra những kháng thể chống chịu lại các khối u”, giáo sư Ziv Shulman của Khoa Miễn dịch học Weizmann, người phụ trách nhóm nghiên cứu cùng giáo sư Irit Sagi của Khoa Quy định sinh học, cũng tại Weizmann. “Các kháng thể tự nhiên như một liệu pháp tiềm năng chưa được khai thác”, Sagi nói. “Cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để có thể ứng dụng chúng trong tương lai trong các liệu pháp điều trị hoặc chất phản ứng chẩn đoán”.  Trong vài năm qua, các kháng thể xuất hiện một cách tự nhiên đã được tìm thấy trong các khối u ung thư nhưng sự xuất hiện này nhằm mục tiêu gì lại chưa được làm rõ; có thể là chúng mang tín hiệu tốt do chính cơ thể người bệnh tạo ra và không có mối gắn kết nào cả với căn bệnh. Bằng chứng trực tiếp, tuy nhiên đã cho thấy là chúng cũng đem lại một số lợi ích chống ung thư: các bệnh nhân có nó sống sót lâu hơn những người khác và có nhiều phản hồi tích cực hơn với các loại thuốc chống ung thư, vốn được tìm thấy có các hàm lượng tế bào B được tạo ra để chống chịu với bệnh trong khối u. Tuy nhiên vẫn chưa có cách nào xác định liệu các tế bào đó và các kháng thể chúng tạo ra, góp phần để nâng cao khả năng sốt sóng và do đó, bằng cách nào chúng làm được điều đó.  Một cơ hội để khám phá câu hỏi này xuất hiện khi tiến sĩ Roei D. Mazor, một bác sĩ đến Weizmann để làm nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm cả Shulman, chuyên nghiên cứu về các đặc tính và chức năng của các tế bào B. Để kiểm tra sự hướng đích của kháng thể trong ung thư, Mazor và Shulman hợp lực cùng Sagi, người đứng đầu phòng thí nghiệm chuyên về việc tạo ra các mô hình tế bào của ung thư xâm lấn cũng như trong nghiên cứu các cơ chế kháng thể trong các cơ thể sống. Mazor mang các mẫu khối u ung thư buồng trứng đến phòng thí nghiệm của Shulman và Sagi. Các mẫu này đã được trích xuất từ hàng chục phụ nữ từ Trung tâm Y học Rabin của giáo sư Ram Eitan.  Bước tiếp theo làm mất đi của họ sáu năm nghiên cứu, trong đó Mazor và các nhà khoa học khác từ Weizmann và nơi khác cho thấy các kháng thể tự nhiên trong các mô ng thư có một đích đến trong khối u, liên kết với các phân tử của nó theo một cách vô cùng chính xác. Các nhà nghiên cứu sau đó đã giải trình tự hệ gene của các tế bào B và nhận diện những mảnh gene khác nhau mã hóa kháng thể liên kết với khối u.  Có lẽ điều quan trọng nhất, họ kiểm soát để nhận diện – trong số hàng trăm protein trong các tế bào ung thư – một phân tử hướng đích bằng việc nhận ra các kháng thể mới: một enzyme gọi là MMP14 (MT1-MMP), một protease có màng bao phủ. Trong cơ thể khỏe mạnh, enzyme giống kéo này đóng vai trò quan trọng trong việc tái mô hình hóa các mô – ví dụ, trong quá trình tái tạo hoặc chữa lành. Trong ung thư, nó vận hành trong các vi môi trường của khối u và vượt ra ngoài sự kiểm soát, xuyên cắt thông qua ma trận quanh các tế bào ung thư và do đó giúp chúng xâm lấn các mô xung quanh mà các khối u buồng trứng trong nghiên cứu của họ chứa một mức cao dị thường enzyme MMP14.  Trong khi tấn công enzyme này, một số kháng thể đã trải qua một dạng tiến hóa: chúng đã tập hợp các biến dị giúp chúng cải thiện được độ phù hợp với khối u và cụ thể, với chính enzyme này. “Chúng tôi không chờ đợi để thấy nhiều tiến hóa quanh khối u”, Shulman nói. “Các thay đổi bình thường xuất hiện trong các bệnh truyền nhiễm, trong đó kháng thể làm tăng các đột biến giúp chúng loại bỏ được mầm bệnh. Nhưng ung thư là một phần mô của chính bệnh nhân hoặc là cái mà người ta gọi là ‘tự than’ trong bối cảnh hệ miễn dịch”.  Sự thật là các kháng thể trực tiếp là một phần enzyme của cơ thể là điều hết sức ngạc nhiên. Những đợt tấn công của hệ miễn dịch lên chính mô của một cá nhân nói chung là có hại, dẫn đến kết quả là các bệnh tự miễn. Tuy nhiên trong trường hợp ung thư thì điều này không có lợi ích gì. Một điều khó hiểu không kém là tại sao quá trình có lợi này lại không tiêu diệt được khối u.  Sagi cho rằng một trong những nguyên nhân tiềm ẩn có thể là sự suy kiệt của chính hệ miễn dịch. Trong khi chống lại một căn bệnh truyền nhiễm trong vòng một tuần thì ung thư có thể phát triển trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, dẫn đến khả năng tránh được hệ miễn dịch của người bệnh. “Sau khi cố bắng chống lại ung thư trong một thời gian dài, hệ miễn dịch có thể bị suy kiệt để có thể cung cấp vũ khí để tiêu diệt khối u một cách hiệu quả– ví dụ, các tế bào tiêu diệt tự nhiên có thể cung cấp một bộ vũ khí đầy đủ cần thiết cho mục tiêu này trong việc bổ sung các kháng thể”, Sagi nói còn Shulman bổ sung “Các kháng thể thực hiện một cuộc tấn công vào các tế bào ung thư của bệnh nhân nhưng các tế bào tiêu diệt khối u có thể bị thiếu hụt”.  Hơn thế, các nhà nghiên cứu nhận ra là có rất ít các tế bào tiêu diệt tự nhiên hiện diện trong các mô mẫu được trích xuất từ bệnh nhân ung thư buồng trứng. Nhưng khi họ bổ sung nhiều tế bào và các kháng thể diệt khối u cùng với các tế bào được nuôi cấy, các tế bào tiêu diệt trở nên xuất sắc trong việc tiêu hủy các khối u.  Các phát hiện này mở ra một cách tiếp cận mới trong việc phát triển các liệu pháp miễn dịch chống ung thư – một trong số đó là tạo ra những kháng thể chống khối u tự nhiên. Cho đến giờ, kháng thể sử dụng trong điều trị ung thư được tổng hợp theo yêu cầu chống lại các đích đã biết, không được tạo ra một cách tự nhiên từ hệ miễn dịch của bệnh nhân. Ví dụ trong các liệu pháp miễn dịch tranh thủ được tính năng của tế bào T trên người bệnh để tiêu diệt khối u, các kháng thể tổng hợp đôi khi hướng dẫn các tế bào đến mô lành. Cách tiếp cận mới có thể giúp khám phá những đích chưa biết trên tế bào khối u mà liệu pháp miễn dịch có thể tác động trực tiếp một cách hiệu quả. Các kháng thể tự nhiên có thể cũng được phát triển thành các loại thuốc có thể được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với những liệu pháp khác, và chúng có thể chứng tỏ hiệu quả trong việc dò sớm hoặc chẩn đoán ung thư. Dẫu nhiên cứu này tập trung vào các bệnh nhân ung thư buồng trứng, các nhà nghiên cứu cho thấy phát hiện của mình cũng liên quan đến các dạng ung thư khác.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-natural-antibodies-tumors-immunotherapy.html  https://www.creative-biolabs.com/blog/index.php/natural-antibodies-detected-in-tumors-expected-to-improve-cancer-immunotherapy/  ———————————————-  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0092867422001921    Author                .        
__label__tiasang Khảo cổ học băng hà: Lĩnh vực hiếm hoi hưởng lợi từ biến đổi khí hậu      Khi Trái đất ấm lên, các hiện vật dần hiện ra dưới lớp băng dày, hé lộ một đời sống thú vị trong quá khứ. Tuy nhiên, trong bối cảnh băng đang tan quá nhanh, các nhà khảo cổ học buộc phải chạy đua với thời gian để cứu lấy các hiện vật trước khi chúng bị hư hại.      Rick Knecht (phải) giới thiệu với trẻ em địa phương về các đồ tạo tác của Yup’ik được khai quật tại Nunalleq vào năm 2019. Ảnh: Mark Ralston / Agence France-Presse – Getty Images  Từ lâu, người Yup’ik ở Alaska đã lưu truyền giai thoại ghê rợn về một cuộc thảm sát đã xảy ra trong Những ngày Chiến tranh Cung Tên – một loạt các trận chiến tàn khốc kéo dài trên khắp bờ biển Bering và Yukon. Theo một phiên bản, cuộc tàn sát bắt đầu khi một nhóm chiến binh thuộc một ngôi làng mở cuộc đột kích vào một ngôi làng khác. Nhưng các cư dân ở đó đã nhận ra và lên kế hoạch phục kích, quét sạch kẻ thù. Những kẻ chiến thắng sau đó đã tấn công thị trấn, đốt cháy và tàn sát cư dân nơi đây. Không một ai sống sót.  Suốt 12 năm qua, Rick Knecht đã dẫn đầu một cuộc khai quật tại Nunalleq, địa điểm cách Anchorage khoảng 400 dặm về phía Tây. “Khi chúng tôi bắt đầu, cả nhóm chỉ hy vọng sẽ tìm hiểu được điều gì đó về Yup’ik thời tiền sử thông qua việc đào bới một ngôi làng bình thường”, Tiến sĩ Knecht, nhà khảo cổ học tại Đại học Aberdeen ở Scotland, cho biết. “Chúng tôi không ngờ rằng mình đang đào một thứ gì đó gần như có thể xem là thành Troy phiên bản Yup’ik.”  Rốt cục, họ đã khám phá ra tàn tích còn sót lại của một ngôi nhà chung lớn bằng cỏ khô. Mặt đất thẫm đen, pha sét và lỗ chỗ hàng trăm vết mũi tên, như thể đã có một vụ bắn nhau thời tiền sử. Tổng cộng, các nhà nghiên cứu và những người Yup’ik bản địa sống trong khu vực này đã khai quật được hơn 100.000 đồ tạo tác được bảo quản tốt, cũng như xác của hai con chó và xương rải rác của ít nhất 28 người – hầu hết là phụ nữ, trẻ em và người già. Một vài người trong số họ đã bị lôi ra khỏi nhà, bị trói bằng dây cỏ và bị giết hại – thậm chí có người còn bị chặt đầu. “Đó là một hiện trường thảm sát phức tạp”, TS Knecht nhận định. “Đây cũng là một trường hợp khảo cổ hiếm hoi và chi tiết về chiến tranh của người bản địa.”  Trên thực tế, cho đến gần đây địa điểm này vẫn còn chìm sâu trong lòng đất dưới lớp băng vĩnh cửu. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng nhanh, băng vĩnh cửu và sông băng nhanh chóng tan ra và xói mòn trên khắp các khu vực rộng lớn trên Trái Đất, giải phóng nhiều vật thể mà chúng đã ‘ôm’ vào, tiết lộ các khía cạnh của đời sống trong quá khứ mà lâu nay chúng ta chưa hề tiếp cận được.  “Khu vực quanh Bắc Cực và Nam Cực có đầy những địa điểm được bảo tồn một cách kỳ diệu như Nunalleq”, TS Knecht chia sẻ. “Chúng mở ra một cánh cửa bước vào cuộc sống phong phú của những người đi săn và hái lượm thời tiền sử.”    Một chiếc mặt nạ của người Yup’ik ở Alaska mắc trong lớp băng vĩnh cửu. Đây là một trong số hơn 100.000 hiện vật được khai quật từ Nunalleq, địa điểm của một ngôi làng đã bị tấn công cách đây 350 năm. Ảnh: University of Aberdeen  Những chuyến khai quật theo mùa  Khảo cổ học băng hà là một ngành học tương đối mới. Băng đã vỡ ra theo đúng nghĩa đen vào mùa hè năm 1991, khi những người Đức đi bộ đường dài trên dãy núi Alps Ötztal phát hiện một thi hài màu trà nằm giữa biên giới hai nước Ý và Áo. Ban đầu nhóm người cho rằng đây là xác một vận động viên thời hiện đại gặp tai nạn khi leo núi. Tuy nhiên, qua xác định niên đại bằng carbon, các nhà khoa học nhận ra rằng Người băng Ötzi – tên gọi cho thi hài này – đã chết cách đây khoảng 5.300 năm.  Ötzi là một người đàn ông lùn với hình xăm trên khắp cơ thể, khoảng ngoài 40 tuổi, đội một chiếc mũ da gấu, vận nhiều lớp quần áo làm từ da dê và hươu, cùng đôi giày đế bằng da gấu nhồi cỏ để giữ ấm đôi chân. Dụng cụ sinh tồn của Người băng bao gồm một bao đựng tên, một cái rìu đồng và một bộ sơ cứu thô sơ chứa đầy các loại thực vật có đặc tính dược lý mạnh. Thông qua chụp X-quang ngực và chụp CT, các nhà khoa học nhận thấy có một đầu mũi tên bằng đá lửa găm sâu trong vai trái của Người băng Ötzi, chứng tỏ anh ta có thể đã chết do mất máu. Cái chết của anh ta đến nay vẫn còn là một bí ẩn.  Sáu năm sau, trên cánh đồng tuyết tại Yukon, những công cụ săn bắn có niên đại hàng nghìn năm đã xuất hiện giữa lớp băng tan. Ngay sau đó, hàng loạt những phát hiện tương tự đã được ghi nhận ở Tây Canada, dãy núi Rocky và dãy Alps thuộc Thụy Sĩ.  Vào năm 2006, Na Uy đã trải qua một mùa thu dài và nóng nực, dẫn đến hàng loạt những phát hiện ở vùng núi Jotunheimen đầy tuyết – cái tên quen thuộc trong Thần thoại Bắc  Âu. Trong số những hiện vật được phát hiện, có một đôi giầy 3.400 tuổi rất có thể được làm từ da tuần lộc. Phát hiện này đã đánh dấu bước tiến mới của các cuộc khảo sát trên những đỉnh núi của Hạt Innlandet – nơi khởi động Chương trình Khảo cổ học về Sông băng (G.A.P) do nhà nước tài trợ vào năm 2011. Ngoài Yukon, đây là dự án duy nhất để cứu lấy các hiện vật trong băng.    Một chuyên gia thuộc Chương trình Khảo cổ học về Sông băng đang tiến hành khảo sát. Ảnh: nytimes  Khảo cổ học băng hà khác với ‘người anh em’ của nó ở các khu vực có nhiệt độ ổn định. Các nhà nghiên cứu thuộc G.A.P thường chỉ tiến hành điều tra thực địa trong một khoảng thời gian ngắn từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9, giữa thời điểm lớp tuyết cũ tan đi và lớp tuyết mới xuất hiện. “Nếu chúng ta bắt đầu quá sớm, phần lớn tuyết từ mùa đông trước sẽ vẫn bao phủ lên lớp băng cũ và khó mà khám phá ra điều gì,” Lars Holger Pilo, đồng giám đốc của Chương trình G.A.P, cho biết. “Bắt đầu quá muộn cũng rất nguy hiểm. Lúc bấy giờ tuyết đầu mùa sẽ xuất hiện và thời điểm thuận lợi để nghiên cứu có thể đã kết thúc từ trước khi ta bắt đầu.” Những khám phá trong lĩnh vực khảo cổ học băng hà thường bị giới hạn trong những gì mà các nhà khảo cổ có thể thu thập được từ lớp băng tan.  Khi chương trình bắt đầu, các nhà khảo cổ chủ yếu phát hiện các hiện vật từ thời kỳ đồ sắt và thời trung cổ, có niên đại 500 đến 1.500 năm trước. Nhưng khi Trái đất ấm lên, băng tan hàng loạt, phơi bày ra các giai đoạn lịch sử lâu đời hơn. “Ở một số nơi chúng tôi đã quay trở lại thời kỳ đồ đá, với những mảnh hiện vật có niên đại lên tới 6 thiên niên kỷ”, TS Pilo nói.  Cho đến hiện tại, G.A.P đã phục hồi được khoảng 3.500 hiện vật, nhiều hiện vật được bảo quản trong tình trạng đặc biệt cẩn thận. Hơn một nửa số trong số đó được phát hiện ở Na Uy. Trên ngọn núi cao ở Lendbreen, các nhà khoa học đã phát hiện ra móng ngựa, phân ngựa, một chiếc xe trượt tuyết thô sơ và thậm chí là một chiếc hộp chứa đầy sáp ong – những bằng chứng cho thấy vào khoảng 600 đến 1.700 năm trước, tại đây đã có một con đường để đi lại.  Trong thập kỷ qua, băng đã tan quanh dãy Alps, để lộ xác ướp của một cặp vợ chồng Thụy Sĩ mất tích từ năm 1942 và mảnh vỡ của một máy bay quân sự Mỹ đã hạ cánh trong thời tiết xấu vào năm 1946. Tại Nga, các nhà khảo sát thực vật học đã tìm thấy hạt giống đã ‘ngủ đông’ suốt 32.000 năm của một loài hoa (về sau được đặt tên là Silene stenophylla) bên trong một hang sóc, và quyết định tái tạo mô sinh sản loài hoa này.  “Tại Yukon, những khám phá về băng đã cung cấp các hiểu biết mới về truyền thống tạo tác đồ đồng của những người bản địa thời kỳ tiền châu Âu”, William Taylor, một nhà khảo cổ học tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Đại học Colorado ở Boulder, cho biết. “Ở dãy núi Rocky, các nhà nghiên cứu đã phục hồi mọi thứ, từ cây cối đóng băng – lưu lại các thay đổi quan trọng về khí hậu và thảm thực vật – cho đến các dụng cụ săn bắn của một số cư dân đầu tiên trên lục địa này.” Công trình của TS Taylor tập trung vào mối quan hệ giữa khí hậu và sự biến đổi xã hội trong các xã hội du mục thời kỳ đầu. Các cuộc điều tra của ông tại các rìa băng tan ở dãy núi Altai khu vực phía tây Mông Cổ đã phát hiện những hiện vật có thể lật lại một số giả thiết khảo cổ cơ bản nhất về lịch sử khu vực.  Đi trên lớp băng mỏng  Khoảng 10% diện tích đất của hành tinh được bao phủ bởi băng giá, và khi băng tan, các sinh vật cổ đại cũng hiện ra. Ở miền nam Chile, các nhà khoa học phát hiện hàng chục bộ xương gần như hoàn chỉnh của loài Thằn lằn cá (Ichthyosaur) gần sông băng Tyndall. Bên cạnh đó, còn có các loài bò sát biển sống giữa kỷ Tam Điệp và kỷ Phấn Trắng, kéo dài từ 66 triệu đến 250 triệu năm trước.  Một phát hiện khảo cổ đáng chú ý ở Yakutia – nước cộng hòa ở đông bắc Siberia, là xác của voi ma mút lông xoăn, tê giác lông xoăn, bò rừng thảo nguyên và sư tử hang động. Những con thú đã tuyệt chủng này nằm lơ lửng trong những tảng băng suốt ít nhất chín thiên niên kỷ.  Thậm chí, vào năm 2018, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một chú ngựa con 42.000 năm tuổi hoàn toàn nguyên vẹn. Chú ngựa Lena (Equus lenensis) này được phát hiện trong lớp băng của miệng núi lửa Batagaika ở Siberia với nước tiểu trong bàng quang và máu lỏng trong tĩnh mạch của nó.  Đối với các nhà khảo cổ học băng hà, thật trớ trêu khi lĩnh vực nghiên cứu của họ là một trong số ít những lĩnh vực hưởng lợi từ biến đổi khí hậu. Tuy vậy, nếu băng và tuyết tan quá nhanh, chúng cũng dễ bị phân huỷ khi tiếp xúc với yếu tố môi trường.    Các nhà nghiên cứu xem xét hài cốt 42.000 năm tuổi của một chú ngựa con mới chỉ một hoặc hai tuần tuổi (thuộc một loài đã tuyệt chủng), được đào từ lớp băng vĩnh cửu ở miệng núi lửa Batagaika tại Siberia vào năm 2018. Ảnh: Michil Yakovlev / EPA, via Shutterstock  Một khi các vật liệu hữu cơ mềm như da, vải dệt, lông chim cắm mũi tên – lộ ra, các nhà nghiên cứu có nhiều nhất một năm để cứu chúng, mang đi bảo tồn trước khi chúng bị phá huỷ. “Nếu những hiện vật bị hư hỏng”, TS Taylor phân tích, “ta sẽ mất đi cơ hội để hiểu về quá khứ và chuẩn bị cho tương lai”.  E. James Dixon, cựu giám đốc Bảo tàng Nhân loại học Maxwell tại Đại học New Mexico, bày tỏ sự tán thành. “Hệt như một cuộc đại tuyệt chủng khảo cổ học, trong đó một số loài nhất định sẽ biến mất gần như cùng một lúc.”  Tiến sĩ Lee, thuộc Viện Nghiên cứu Bắc Cực và Alps, ví tình trạng băng tan như một thư viện đang bốc cháy. “Giờ không phải là lúc để đổ lỗi cho nhau. Đây là lúc để giải cứu những cuốn sách”.  Biến đổi khí hậu đã kéo theo hàng loạt hậu quả. Ở một số vùng của Alaska, gần một dặm bờ biển đã biến mất trong 80 năm qua, kéo theo đó là toàn bộ hồ sơ khảo cổ và hóa thạch. “Các di tích không chỉ bị rửa trôi, mà còn đang hư hại dần trong lòng đất”, TS Knecht nói.  Anh Thư tổng hợp  Nguồn: As Earth Warms, Old Mayhem and Secrets Emerge From the Ice  Scientists Extracted Liquid Blood From 42,000-Year-Old Foal Found in Siberian Permafrost    Author                .        
__label__tiasang Khảo cổ học thực nghiệm giúp hiểu thêm dấu vết người cổ ở hang Con Moong      Thực nghiệm quá trình phân dơi phân hủy hiện vật có thể giúp hiểu thêm về quá trình biến đổi, phân hủy trong hang Con Moong từ chục nghìn năm trước.      Phân dơi là một yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến chất lượng hiện vật tại hang Con Moong. Ảnh: Conor McAdams  Hang Con Moong là một di chỉ khảo cổ học nổi tiếng nằm tại xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá cho thấy dấu tích nhiều nền văn hoá cổ từ khoảng 60.000 năm trước.   Các nhà khoa học cho rằng một số đặc điểm của hang động như không gian ẩm ướt và thường xuyên biến đổi, các lớp trầm tích trong hang thường bị dịch chuyển là những yếu tố ảnh hưởng đến hiện vật. Tuy nhiên, mới đây, nhóm các nhà nghiên cứu Úc gồm GS Richard ‘Bert’ Roberts, NCS Conor McAdams (Đại học Wollongong), PGS Mike W Morley (Đại học Flinders) đã cho rằng phân dơi cũng là một yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến chất lượng hiện vật tại hang Con Moong.   Trong dịp đến hang Con Moong nhằm khám phá thêm về việc những người hiện đại đầu tiên (Homo sapiens) đã đến Đông Nam Á như thế nào, nhóm nghiên cứu đã vô cùng bất ngờ khi chứng kiến lớp phân dơi đẫm nước phủ dày đặc hang động.  Theo họ, khi con người rời khỏi hang động, dơi có thể bay đến và rải phân lên mọi thứ trên nền hang. Phân bị phân hủy, trở thành một thứ axit có thể hòa tan xương, đá, tro và đất sét. Tuy nhiên, tại hang Con Moong, các nhà khoa học tìm thấy phân dơi ngâm nước trong lớp trầm tích lắng đọng từ cách đây hơn 50.000 năm. Những dấu hiệu hóa học của nó không bình thường, bởi lớp nước ngập úng đã ngăn phân dơi trở thành một thứ có tính axit. Cụ thể, phân dơi cũng chứa nhiều photphat kết hợp với các vật liệu hòa tan để tạo thành chất vô cơ mới. Ở những khu vực mà nhóm phát hiện ra sự tồn tại của những chất vô cơ mới này, họ sẽ biết rằng kiểu gì các hiện vật khảo cổ học ở đó sẽ bị phá hủy nặng nề.   Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một thí nghiệm để hiểu rõ hơn liệu phân dơi đẫm nước có phá hủy xương, đá, than củi và các chất hữu cơ khác hay không. Điều này góp phần giúp họ hiểu hơn về những hiện vật ở đây, từ đó tái tạo lại khung cảnh của những địa điểm này trong quá khứ.   Hé lộ sức tàn phá của phân dơi  Nhóm nghiên cứu quyết định tạo ra một hang động nhiệt đới chứa đầy phân dơi trong phòng thí nghiệm của mình. Họ bắt đầu thử nghiệm của mình bằng cách thu thập các túi phân từ một hang động có rất nhiều dơi ăn sâu bọ. Nhóm cũng thu thập các vật liệu tương tự như những gì người tiền sử từng để lại trong các hang động, bao gồm xương, đá và than củi.   Sau đó họ đặt phân và các vật liệu vào trong 24 thùng chứa loại có thể mang đi. Tiếp tục, các nhà khoa học chất lên trên một lớp phân dơi ướt dày và đặt các thùng chứa vào trong lò nướng ở nhiệt độ 30 độ C nhằm mô phỏng các điều kiện môi trường nhiệt đới. Vậy là họ đã có 24 mô hình với các điều kiện nóng, ẩm ướt và có mùi tương tự như những gì họ cho là hang Con Moong từng có vào hàng chục nghìn năm trước.     Nhóm nghiên cứu đã đặt các hiện vật lên trên lớp cát, sau đó phủ phân dơi ướt lên. Ảnh: Conor McAdams  Trong suốt hai năm, cứ mỗi tháng nhóm nghiên cứu lại ‘khai quật’ một thùng chứa và ghi lại những thay đổi đã diễn ra với các đồ vật trong đó. Hai năm là quãng thời gian rất ngắn so với những hiện vật khảo cổ với tuổi thọ hàng thiên niên kỷ được chôn bên trong hang Con Moong.   Tuy vậy, quá trình quan sát mẫu thử nghiệm cho họ thấy những gì xảy ra trong giai đoạn đầu các hiện vật bị phân dơi phủ lên, với những thay đổi ngày càng rõ nét hơn theo thời gian. Vì vậy, phát hiện của nhóm có thể giúp dự đoán các hiện vật này sẽ trông như thế nào trong các khu vực khảo cổ.   Đáng ngạc nhiên, phân dơi không trở thành một thứ có tính axit, nhưng các hiện vật bị chôn vùi dù sao cũng bị biến đổi và phá hủy nhanh chóng. Để hiểu tại sao điều này lại xảy ra, nhóm đã nghiên cứu cấu trúc vi mô (micromorphology) của phân dơi.  Trong thí nghiệm của mình, nhóm nghiên cứu chỉ đào một nửa mỗi thùng, nửa còn lại ngâm trong sợi thủy tinh nhằm gia cố và làm rắn các đồ vật bên trong. Khi sợi thủy tinh đã cứng lại, họ cắt thành những lát mỏng – với độ dày 30 phần nghìn milimet – xuyên qua tất cả các vật liệu bị chôn vùi.   Mẫu “lát cắt mỏng” này cho phép họ kiểm tra chi tiết vật liệu bằng cách sử dụng kính hiển vi ánh sáng địa chất, từ đó hiểu ra chúng đã thay đổi như thế nào về mặt hóa học, đặc biệt là quá trình khi phân dơi từ từ biến đổi thành các loại chất vô cơ photphat khác nhau.     Hình ảnh xương dưới kính hiển vi điện tử quét. Ảnh: Conor McAdams  Những thay đổi về mặt hóa học cực kỳ phức tạp, vì vậy nhóm đã phân tích các lát cắt mỏng trong kính hiển vi điện tử quét để hiểu rõ hơn về quá trình dẫn đến những thay đổi này.   Những hình ảnh thu thập được cho thấy vi khuẩn từ phân dơi này có liên quan chặt chẽ với các tế bào vi khuẩn trong các chất vô cơ mới hình thành.   Các chất vô cơ mới hình thành trong các mẫu thí nghiệm của nhóm nghiên cứu rất giống với các chất vô cơ mà chính họ đã tìm thấy trong các mẫu trầm tích cổ ở hang Con Moong. Thực tế là các chất hóa học này có thể hình thành trong những lớp phân dơi đẫm nước, đây có thể là dấu hiệu hữu ích nhằm xác định những thời kỳ mà các hang động khảo cổ bị ẩm ướt trong quá khứ. Điều này cung cấp một nguồn thông tin quan trọng về môi trường ở các vùng nhiệt đới.  Những chất vô cơ này cũng có thể giúp chúng ta hiểu được sự phân bố của các hiện vật khảo cổ tại một địa điểm. Nếu chúng ta tìm thấy chúng ở nơi nào, chúng ta có thể dự liệu được rằng môi trường hóa học khắc nghiệt có thể đã phá hủy các loại xương hay tro cốt cổ đại tại đây.   Thông qua việc cung cấp các manh mối về những phần còn thiếu trong hồ sơ khảo cổ, những chất vô cơ này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những hạn chế trong việc tái tạo quá khứ của con người nếu chỉ dựa trên những hiện vật còn sót lại.   Trước đây, chúng ta thường cho rằng, nếu biết được những thời điểm mà con người cư trú hoặc không trong hang động, chúng ta có thể khám phá ra con người đã đặt chân đến Đông Nam Á lần đầu tiên vào khi nào, họ đã định cư tại các địa điểm khác nhau trong bao lâu và đã tham gia vào những hoạt động nào.   Tuy nhiên, thí nghiệm của nhóm nghiên cứu đã chứng minh rằng loại hỗn hợp hóa học hình thành trong phân dơi ngập nước có thể đã phá hủy dấu vết của bất kỳ hoạt động nào của con người trong các trầm tích lâu đời nhất tại hang Con Moong. Nếu muốn xác định thời điểm bắt đầu định cư của con người tại khu vực này, sẽ cần phải tiến hành khai quật thêm ở những hang động khác.   Nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Cúc Phương, có độ dài khoảng 40m, thông hai đầu, trần hang có chỗ cao 10m, hang Con Moong nổi bật hẳn lên với những thế mạnh của một di chỉ khảo cổ học độc đáo và nhiều điều bí ẩn. Theo các tài liệu khảo cổ học, hang Con Moong được phát hiện vào năm 1975 và được khai quật hầu như toàn bộ trong năm 1976. Tầng văn hóa trong hang rất dày (khoảng từ 3 đến 3,2m), chứa đựng vết tích văn hóa của nhiều thời đại, từ đá cũ, qua đá mới. Kết quả phân tích bằng phương pháp Carbon (C14) trên 10 mẫu của Viện Khảo cổ học Việt Nam đã khẳng định niên đại của lớp sớm nhất là cách đây khoảng 15.000 năm, lớp giữa là khoảng 10.000 năm, lớp trên là khoảng 7.000 năm. Giá trị nổi bật nhất của hang Con Moong là lần đầu tiên phát hiện ra địa tầng có dấu vết của quá trình phát triển liên tục của con người thời tiền sử từ đá cũ đến đá mới, từ săn bắn hái lượm đến trồng trọt.  Anh Thư tổng hợp  Nguồn tham khảo:  A batshit experiment: bones cooked in bat poo lift the lid on how archaeological sites are formed  Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Khám phá di chỉ khảo cổ hang Con Moong       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khảo sát con đường dẫn đến sự thịnh vượng      Những cỗ máy tăng trưởng trên thế giới đang trong thời kỳ chuyển pha. Các nền kinh tế đang phát triển hiện nay đang đóng góp trên một nửa tổng tăng trưởng GDP toàn cầu. Kết quả đương nhiên là người ta phải quan tâm tới một vấn đề nóng hổi: Liệu có nguy cơ là một số hay nhiều nước đang phát triển sẽ trở thành miếng mồi ngon của “bẫy thu nhập trung bình” hay không?      Bẫy thu nhập trung bình đã và đang níu kéo nhiều nước đang phát triển: dù họ đã thoát khỏi mức thu nhập thấp – tính theo đầu người – nhưng sau đó thì có vẻ như dẫm chân tại chỗ, đánh mất động lực trên con đường tiến tới mức thu nhập cao ngang bằng với các nền kinh tế tiên tiến. Đấy là kinh nghiệm mà hầu hết các nước Mỹ Latin đã trải qua trong những năm 1980, và trong những năm gần đây các nước có thu nhập trung bình ở các nơi khác cũng sợ rằng họ có thể lạc vào con đường tương tự như thế. Có phải là càng lên cao thì cái thang thu nhập càng khó leo hơn không?  Trong đa số mọi trường hợp các quốc gia thành công trong việc tiến lên mức thu nhập trung bình từ mức thu nhập thấp, nền tảng quá trình phát triển là khá giống nhau.  Thường thì, có rất nhiều người lao động không có tay nghề được chuyển từ những công việc với thu nhập chỉ đủ sống qua ngày sang những ngành sản xuất hay dịch vụ hiện đại hơn – cần vốn đầu tư lớn hơn và công nghệ cao hơn – mà không cần phải nâng cao tay nghề cho những người lao động này.  Những ngành công nghệ đó đã có sẵn từ các nước giàu có hơn và dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh địa phương ở các nước nghèo. Hiệu quả tổng hợp của công việc chuyển giao đó – thường đi kèm với quá trình đô thị hóa – là sự gia tăng đáng kể “năng suất lao động toàn xã hội”, yếu tố quan trọng tạo ra sự gia tăng GDP vượt trên mức tăng trưởng đơn thuần dựa trên gia tăng công ăn việc làm, tiền vốn, và những tác nhân vật chất khác trong sản xuất.  Chẳng sớm thì muộn, việc gặt hái lợi ích từ những loại “hoa quả ở cành thấp” như thế – hiểu theo nghĩa cơ hội tăng trưởng – sẽ gặp phải giới hạn. Sau đó tốc độc tăng trưởng có thể chậm lại làm cho nền kinh tế rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Thời điểm mấu chốt là khi trong nền kinh tế không còn dư thừa những người thiếu tay nghề để tiếp tục chuyển sang phục vụ trong những ngành kinh tế hiện đại không đòi hỏi kỹ năng lao động bậc cao. Hoặc là, như trong một số trường hợp cho thấy, khi những ngành này không thể tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh [vì không thể tăng thêm được lợi nhuận] trong khi nền kinh tế thì vẫn đang dư thừa những lao động không có tay nghề.        Otaviano Canuto, là Phó Chủ tịch  Ngân hàng Thế giới phụ trách mảng giảm nghèo và quản lí kinh tế (the  World Bank’s Vice-President for Poverty Reduction and Economic  Management), đồng tác giả cuốn: Một ngày sau ngày mai: Sổ tay về chính  sách kinh tế trong tương lai trong thế giới đang phát triển (The Day  After Tomorrow: A Handbook on the Future of Economic Policy in the  Developing World).        Sau thời điểm bước ngoặt này, sự gia tăng năng suất lao động toàn xã hội và việc duy trì tốc độ phát triển GDP cao phụ thuộc vào khả năng của nền kinh tế trong việc nâng cấp sản xuất, dịch vụ và nông nghiệp theo xu hướng đòi hỏi công nghệ phức tạp hơn, trình độ lao động cao hơn, và cần những tài sản vô hình như năng lực thiết kế và tổ chức. Mặt khác, một yếu tố quan trọng cơ bản khác là việc thiết lập các định chế trợ giúp cho đổi mới và chuỗi các giao dịch phức tạp trên thương trường.   Bây giờ thách thức không còn là tiếp cận những công nghệ cơ bản [mà thế giới đang có] mà là tạo dựng năng lực cùng những định chế phù hợp ở trong nước – vốn là những thứ không thể nhập khẩu hoặc sao chép một cách dễ dàng của nước ngoài. Điều kiện tối thiếu ở đây là xã hội phải cung cấp được một nền giáo dục và cơ sở hạ tầng phù hợp.   Hiện nay các nước có mức thu nhập trung bình ở Mỹ Latin đã thấy quá trình chuyển đổi lao động từ những công việc có thu nhập chỉ đủ sống qua ngày sang những công việc có thu nhập cao hơn đang chậm lại, dù lao động dư thừa vẫn còn. Đây là do sai lầm trong quản lí kinh tế vĩ mô và nền sản xuất hướng nội, trì trệ kéo dài tới tận những năm 1990, khi những nước này vấp phải những giới hạn của quá trình dịch chuyển lao động. Tuy nhiên, có một số nước đã vượt lên được, xác lập vị trí vững vàng trong chuỗi giá trị toàn cầu (ví dụ ở Brazil đã hình thành ngành nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp khoan dầu ngoài biển sâu, và công nghiệp sản xuất máy bay).  Ngược lại, các nước đang phát triển ở châu Á lại dựa chủ yếu vào thương mại quốc tế nhằm đẩy nhanh quá trình dịch chuyển lao động bằng cách tự mình tham gia vào những lĩnh vực cần nhiều lao động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Những tiến bộ trong công nghệ thông tin liên lạc và cước vận chuyển rẻ cũng như hàng rào thương mại quốc tế giảm đã tạo nhiều thuận lợi cho xu hướng này.  Con đường từ thu nhập thấp (tính theo đầu người) lên mức trung bình và sau đó là lên mức cao đồng nghĩa với việc gia tăng tỉ lệ dân chúng chuyển từ những công việc chỉ đủ sống qua ngày sang những công việc đơn giản của thời hiện đại và sau đó là sang những công việc phức tạp hơn. Ngành thương mại quốc tế đã mở rộng cửa cho con đường này, nhưng những cải cách trong lĩnh vực định chế, nền giáo dục chất lượng cao và việc tạo ra những tài sản vô hình tại chỗ là vấn đề then chốt cho sự tiến bộ bền vững trong dài hạn. Hàn Quốc là thí dụ rõ nhất về việc một nước biết tận dụng cơ hội để leo lên các nấc thang thu nhập.   Để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, các nước đang phát triển cần tận dụng nhóm lao động có thu nhập thấp ở nông thôn và số lao động bán thất nghiệp ở khu vực đô thị vì đây là nguồn lực còn chưa được khai thác. Nếu chuyển đổi nghề nghiệp thành công cho nhóm người này thì tổng năng suất lao động toàn xã hội sẽ gia tăng. Để điều này thành công trên bình diện toàn cầu thì bản thân các nước có mức thu nhập trung bình phải vượt qua các rào cản trên con đường dẫn tới mức thu nhập cao hơn, và bằng cách đó, tạo ra nhu cầu mới đồng thời tiếp tục chuyển giao cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp cho những người lao động ở các nước nghèo hơn.  Các nước có mức thu nhập trung bình nhưng giàu tài nguyên trực diện với con đường riêng của mình, một con đường đã được mở rộng ra nhờ sự tăng giá các nguyên vật liệu trong một thời gian dài, kèm theo sự dịch chuyển trong cơ cấu GDP toàn cầu. Khác với hoạt động sản xuất công nghiệp, ngành khai thác tài nguyên thiên nghiên thường có những tính chất đặc thù, tạo cơ hội cho việc hình thành các năng lực ở địa phương trong những hoạt động kinh doanh tầm cao [sinh nhiều lợi nhuận]. Tuy nhiên, thách thức gắn liền ở đây là làm sao để duy trì phát triển theo cách này một cách bền vững.  Trong khi phần lớn các nước tiến từ trạng thái thu nhập thấp lên thu nhập trung bình đều đi qua một con đường nói chung là giống nhau thì những giai đoạn tiếp theo của họ sẽ đòi hỏi những dạng kinh nghiệm phong phú khác nhau về cải cách thể chế và tích lũy tài sản vô hình. Căn cứ vào triển vọng phát triển không lấy gì làm tốt đẹp của những nền kinh tế tiên tiến, động lực của nền kinh tế thế giới hiện nay sẽ phụ thuộc vào mức độ thành công của các nước nghèo và các nước thu nhập trung bình khi nỗ lực tiến lên những bậc thang thu nhập mới.   Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/ commentary/canuto3/English                           Nguyên nhân thường là thể chế yếu kém  Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy vấn đề lớn nhất gây ra bẫy thu nhập trung bình là thể chế yếu kém, sản sinh ra những người lãnh đạo đất nước tư lợi, kém năng lực, mặc nhiên dung dưỡng tham nhũng, tạo ra những nhóm lợi ích dẫn đến chia rẽ trong xã hội, gây mất ổn định xã hội, làm suy yếu động lực phát triển. Bên cạnh đó, giáo dục, khoa học công nghệ kém phát triển khiến nền kinh tế tăng trưởng không bền vững – kinh tế trải qua một số cuộc khủng hoảng như lạm phát, khủng hoảng nợ v.v. – môi trường sống tự nhiên bị hủy hoại.               Một số nền kinh tế có thể rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi đã ở mức 3000-6000 USD/người, nhưng cũng có nguy cơ có nền kinh tế vừa thoát ra khỏi bẫy nghèo thì đã rơi ngay vào bẫy thu nhập trung bình. Ngân hàng Thế giới trong những hội thảo ở Hà Nội năm 2009-2010 đã chỉ ra nguy cơ này đối với Việt Nam.              Trên thế giới, các quốc gia nhanh chóng thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là những nước phát triển được một nền hành chính chuyên nghiệp, tương đối trong sạch và có hiệu quả. Họ cũng có chính sách chăm lo phát triển giáo dục, khoa học-công nghệ, sớm hội nhập với kinh tế thế giới, chấp nhận cạnh tranh. Những nền kinh tế này tuy lúc đầu có một số doanh nghiệp Nhà nước nhưng sau đã cải cách mạnh mẽ.               Kinh tế học thông qua nhiều công trình thực nghiệm nghiên cứu trên 100 nền kinh tế trên thế giới đã không xác minh được bất kỳ sự tương quan nào giữa chế độ dân chủ đại nghị với tăng trưởng kinh tế nhưng nhấn mạnh một số yếu tố nhất định như tự do báo chí, tự do lập hội, thông tin công khai, minh bạch, và Chính phủ đối thoại cởi mở thẳng thắn với người dân trong mọi lĩnh vực, được coi là điều kiện cần thiết để thể chế hoạt động có hiệu quả, kiềm chế được tệ lạm quyền và tham nhũng của bộ máy Nhà nước.              Sự năng động của các doanh nghiệp được coi là tác nhân mang tính quyết định để vượt bẫy thu nhập trung bình. Tất cả các nền kinh tế này đều có số lượng đông đảo doanh nghiệp nhỏ và vừa rất năng động, có khả năng tiếp cận công nghệ cao, kết nối với nền kinh tế thế giới qua những chuổi giá trị. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển lớn mạnh trở thành tập đoàn nhờ năng lực quản lý, ứng dụng khoa học-công nghệ, và một yếu tố dẫn dắt ở đây là sự trưởng thành qua cạnh tranh quốc tế gay gắt.               Mặt khác, song hành cùng sự phát triển của các doanh nghiệp tất yếu đòi hỏi một hệ thống tài chính-ngân hàng phát triển và được giám sát công khai minh bạch. Giáo dục cũng được xác định là có vị trí then chốt để phát triển kinh tế-xã hội, hình thành một lực lượng lao động có chuyên môn, có kỷ luật, làm chủ được khoa học-công nghệ. Gần đây, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh được coi là rất hệ trọng để tăng trưởng bền vững.                                                                                                            Lê Đăng Doanh                     Nguy cơ rơi vào khu vực kém phát triển                            Những điều Octaviano Canuto nêu khá khớp với những gì đang được cảnh báo ở Việt Nam. Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam hiển hiện khá rõ, được cảnh báo từ nhiều phía, trong đó có nghiên cứu của các chuyên gia trong nước, nghiên cứu của những chuyên gia nước ngoài am tường về quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, nghiên cứu của các nhà tài trợ cho VN. Mặc dù đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong hơn 2 thập kỷ rưỡi cải cách, rõ ràng tốc độ tăng trưởng kinh tế của chúng ta đang chậm dần lại. Từ tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hơn 8%/năm trong thập kỷ đầu, sang thập kỷ thứ hai tốc độ đó ở VN tụt xuống mức hơn 7%, và trong 5 năm trở lại đây chỉ còn 6%.               Tốc độ tăng trưởng giảm sút là do chất lượng tăng trưởng của Việt Nam thấp, đồng thời động lực và nguồn lực cho tăng trưởng đang giảm dần. Việt Nam tăng trưởng lâu nay chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức lao động giá rẻ. Nhưng vốn đầu tư đã ngày càng trở nên đắt đỏ hơn, theo nghĩa phải tốn nhiều tiền hơn cho mỗi phần trăm tăng trưởng, thể hiện ở hệ số ICOR ngày càng cao. Tài nguyên thiên nhiên thì cạn kiệt dần và hiệu quả đóng góp cho tăng trưởng rất thấp do chủ yếu chỉ được khai thác và xuất khẩu thô. Sức lao động giá rẻ cũng không còn duy trì được như một lợi thế cạnh tranh, do năng suất lao động chậm được cải thiện trong khi chi phí lao động tăng lên. Tình trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp đã trở thành một “nút thắt cổ chai” cho tăng trưởng.               Hai  “nút thắt cổ chai” khác được nói đến rất nhiều ở Việt Nam là thể chế và kết cấu hạ tầng, cũng là những nhân tố mà Octaviano Canuto nhận thấy ở các nước khác bị kẹt trong bẫy. Riêng về thể chế, Việt Nam còn khó hơn các nước khác ở chỗ Việt Nam còn là một nước đang chuyển đổi, do đó phải vừa sớm hoàn tất thể chế kinh tế thị trường, vừa nâng cấp lên một thể chế hiện đại nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển và hội nhập.                                                                                                         Phạm Chi Lan   Cần nhận thức lại mô hình phát triển kinh tế                            Cản trở lớn nhất cho sự phát triển của Việt Nam, theo tôi là lối tư duy cũ về mô hình phát triển kinh tế lấy khu vực công làm chủ đạo, qua đó nuôi dưỡng những tập đoàn kinh tế lớn thuộc sở hữu  Nhà nước và một hệ thống chính sách can thiệp quá sâu vào đời sống kinh tế.              Để khắc phục tình trạng hiện nay, trong 5-10 năm tới, Việt Nam cần nhận thức rõ lại mô hình phát triển kinh tế của mình là phải dựa trên một khu vực doanh nghiệp tư nhân mạnh mẽ và đông đảo. Chính phủ cần đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp quốc doanh, khuyến khích hình thành những tập đoàn kinh tế tư nhân để dần thay thế cho các tập đoàn quốc doanh. Thêm vào đó, Chính phủ cần kiểm soát việc chi tiêu và chất lượng chi tiêu công (đặc biệt là chất lượng đầu tư công). Việc thu hẹp khu vực doanh nghiệp  Nhà nước bản thân nó sẽ hỗ trợ nhiều cho  Nhà nước trong việc giảm gánh nặng chi tiêu ngân sách và những rủi ro liên quan đến chi ngân sách. Sẽ còn cần rất nhiều chính sách khác, liên quan đến ưu đãi đầu tư, cắt giảm thuế khóa, khuyến khích kinh doanh và mở rộng xã hội dân sự để đạt được hiệu quả tăng trưởng thực sự trong dài hạn, đồng thời gìn giữ những thành quả quý báu đó. Để thực hiện điều đó, nâng cao chất lượng của Chính phủ cũng là một nhu cầu cấp bách.              Đã đến lúc Việt Nam cần thấy rằng mình không thể hội nhập thực sự với thế giới trong khi vẫn duy trì một mô hình và cấu trúc kinh tế-chính trị-xã hội theo kiểu cũ, mà nên tham khảo với tinh thần thực sự cầu thị về mô hình tương tự ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và xa hơn nữa là Hàn Quốc và Nhật Bản. Việc thay đổi sẽ phải mất thời gian, nhưng điều quan trọng là Chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam có đủ cam kết vào một tầm nhìn như vậy hay không. Nếu không có một sự thay đổi căn bản, tôi cho rằng trong thập niên tới Việt Nam sẽ tăng trưởng chậm lại, và vì là một nước có thu nhập bình quân đầu người còn thấp, điều này sẽ khiến Việt Nam rơi vào một trạng thái rất bất lợi so với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực (mà theo ngôn ngữ thông dụng hiện nay là mắc vào bẫy thu nhập trung bình ngay từ rất sớm).                                                                        Nguyễn Đức Thành                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Khảo sát ĐMST ở 150 doanh nghiệp phía nam      Cục Công tác phía Nam Bộ KH&amp;CN, cơ quan  chủ trì một tiểu dự án thuộc Chương trình Đối tác Đổi mới/Sáng tạo Việt  Nam – Phần Lan (IPP) đã khảo sát hoạt động KH&amp;CN và đổi mới/sáng tạo thời gian vừa qua ở 150 doanh nghiệp thuộc ba ngành kinh tế chủ lực ở TP Hồ Chí Minh và  một số tỉnh lân cận có công nghiệp phát triển.    Kết quả cuộc khảo sát được thực hiện với sự phối hợp của Hiệp hội các Doanh nghiệp và Hội nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh, cho thấy, đối với khu vực phía Nam, nhất là TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu, Long An, Cần Thơ là địa bàn tập trung sản xuất công nghiệp, dịch vụ và tập phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ cả nước, hoạt động KH&CN và đổi mới/sáng tạo có chiều hướng phát triển. Cụ thể như sau:  Đối với ngành nhựa, nhiều doanh  nghiệp đã thành lập tổ chức R&D, như: Công ty CP Nhựa Duy Tân, Công ty bao bì VAFACO, Công ty CP Đại Đồng Tiến, Công ty CP Nhựa Tân Phú, …  Phần lớn doanh nghiệp đã có các hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới/sáng tạo.  Trong 50 doanh nghiệp được khảo sát, số doanh nghiệp có sáng chế được bảo hộ là 2, kiểu dáng công nghiệp 23. Nhiều doanh nghiệp đã khai thác và thương mại hóa các sáng chế thành công, như Công ty Hoàng Thắng, Công ty TNHH CompoTech. Một số ít doanh nghiệp đã thành lập Quỹ phát triển KH&CN trong doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Hoa Sen, Công ty TNHH CompoTech, Công ty CP Nhựa Đồng Nai.  Đối với ngành lương thực – thực phẩm, trong số 50 doanh nghiệp được khảo sát, có 13 doanh nghiệp thành lập Phòng Nghiên cứu – Phát triển. Công ty Thủy sản Bình An – TP Cần Thơ đã thành lập Viện Nghiên cứu Thủy sản.  Hàng trăm  kết quả nghiên cứu – phát triển sản phẩm mới đã được đưa và sản xuất thành công và chiếm lĩnh thị trường. Điển hình như Công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm (NutiFood) đã nghiên cứu hơn 35 loại sản phẩm sữa và bột dinh dưỡng khác nhau với công thức được nghiên cứu phù hợp theo từng lứa tuổi, bệnh lý,… phù hợp với thể chất người Việt Nam. Công ty Tân Hiệp Phát đã có nhiều đổi mới/sáng tạo, như nghiên cứu xuất thành công sản phẩm nước giải khát thảo mộc: Nước tăng lực Number One, Trà xanh O độ, trà thảo mộc Dr Thanh,…được người tiêu dùng ưa chuộng và đã chiếm lĩnh thị trường.  Tiểu dự án cũng đã khảo sát đối với ngành cơ khí. Qua khảo sát 50 doanh nghiệp, có 20 doanh nghiệp đã thành lập Phòng Nghiên cứu – Phát triển hoặc Phòng Kỹ  thuật (có chức năng nghiên cứu và phát triển); có sáu doanh nghiệp đã thành lập Quỹ phát triển KH&CN như Công ty HF Technology, Công ty CP Hữu Toàn, Công ty CP chế tạo máy Trung Hậu, Công ty TNHH Thiết Bảo, Công ty TNHH Việt Phú,…  Có 31 doanh nghiệp có các hoạt động đổi mới/sáng tạo, như: nghiên cứu chế tạo, sản xuất ra sản phẩm mới; cải tiến công nghệ; cải tiến kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm, sáng kiến…đã được đưa vào sản xuất và cung cấp trên thị trường. Điển hình như: Công ty HF Technology, Công ty CP chế tạo máy và sản xuất VL mới Trung Hậu, Công ty TNHH Thiết Bảo, Công ty CP công nghiệp Kim Bình,  Công ty Cơ khí Duy Khanh, Công ty Hoàng Thắng,…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát vọng làm ra sản phẩm tử tế      Một trong những điều kiện cơ bản đầu tiên để có một xã hội phát triển lành mạnh là mọi thành viên của xã hội đó đều phải có khát vọng làm ra sản phẩm tử tế.         Thực vậy, khi người ta thiếu thốn tất cả mọi thứ, nhưng với khát vọng mãnh liệt họ vẫn có thể làm nên. Nếu thiếu tiền thì có thể vay, thiếu thông tin và kiến thức thì có thể tìm tòi học hỏi, thiếu quan hệ thì có thể gây dựng, thiếu kinh nghiệm thì sẽ tích lũy được qua thực tiễn… nhưng nếu thiếu khát vọng làm ra sản phẩm tử tế thì không gì cứu vãn, cho dù có đầy đủ tất cả mọi điều kiện khác song kết quả cuối cùng vẫn chẳng ra hồn, có thể còn gây tác hại.   Nhìn vào thực tế trên nhiều lĩnh vực ở Việt Nam, chúng ta thấy nhức nhối vì sự phổ biến của những sản phẩm không tử tế, từ cấp độ bình dân như thực phẩm chứa hóa chất độc hại ở ngoài chợ, tới cấp hàn lâm là các đề tài nghiên cứu sao chép, cắt dán, hay ở cấp vĩ mô là những công trình, dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí của xã hội nhiều nghìn tỷ đồng… Để khắc phục tình trạng ấy, tất yếu cần có hệ thống pháp luật nghiêm minh, những quy định đảm bảo tính minh bạch và sự cạnh tranh lành mạnh, qua đó sàng lọc, loại bỏ những chủ thể yếu kém. Tuy nhiên, chỉ như vậy thì chưa đủ bởi mọi hệ thống thể chế đều có khe hở, và khi bản thân con người chưa tự giác thì con đường hướng tới sự tiến bộ sẽ còn hết sức trầy trật, khó khăn.   Nhưng để có sự tự giác thì yếu tố quan trọng nhất là gia đình và giáo dục. Không ít các doanh nghiệp đã lên tiếng than phiền về vấn đề chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là khía cạnh ý thức kỷ luật và tự giác của người lao động. Đó phải chăng là hệ quả tất yếu của nền giáo dục nhà trường bị pha tạp các sản phẩm ảo, giá trị ảo: chấp nhận chung sống với bệnh thành tích, vấn nạn ngồi nhầm lớp và gian lận trong thi cử. Đó đồng thời cũng là hệ quả tất yếu của văn hóa mà các bậc phụ huynh và các gia đình lâu nay luôn trông đợi con cái đạt được các yếu tố an thân (thu nhập, địa vị, danh vọng, …) hơn là việc con em mình làm ra những sản phẩm có giá trị gia tăng đích thực cho cộng đồng.   Vì vậy, để có sự thay đổi thực sự từ gốc rễ, chúng ta cần tự nhận diện đúng về não trạng của bản thân mình và cộng đồng mình. Việt Nam là một trong những quốc gia vừa mới thoát khỏi đói nghèo, nhiều người trong xã hội chưa thực sự an cư lạc nghiệp, ý thức tự hào/tự trọng nghề nghiệp chưa trở thành đặc tính văn hóa phổ quát của cộng đồng, mọi nơi còn phổ biến cách làm ăn chộp giật, được chăng hay chớ, và số đông chỉ mới khát vọng sống an thân và sung túc, hơn là khát vọng làm ra sản phẩm tử tế.   Dân tộc ta có truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, nhưng chớ ngộ nhận điều đó với khát vọng làm ra sản phẩm tử tế, bởi dẫu cả hai đều là sự nỗ lực nhưng một đằng thuần túy là sự chịu đựng vất vả nhưng mang sắc thái tư duy máy móc, thụ động, còn một đằng là sự chủ động tỉnh táo, có ý thức tìm tòi, so sánh đối chiếu, và một tâm thế tự tôn và hướng thượng để làm ra sản phẩm thực sự tốt cho cộng đồng. Sự cần cù là bản năng tất yếu để sinh tồn ở mức độ căn bản của mọi cộng đồng, còn khát vọng làm ra sản phẩm tử tế là một thứ tài nguyên quý, không tự dưng có sẵn mà phải được chú ý nâng niu, vun trồng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở mức độ cao hơn. Bài học kinh nghiệm từ những quốc gia như Nhật Bản đã cho thấy, khi khát vọng làm ra sản phẩm tử tế đã thâm nhập sâu rộng trong xã hội, trở thành đặc tính mặc định gắn cho cả quốc gia thì lợi ích kinh tế từ thương hiệu made in Japan là to lớn như thế nào, và hơn thế trở thành sức mạnh tinh thần giúp vực dậy cả dân tộc sau mỗi thời khắc khó khăn của lịch sử ra sao.   Gần đây ở trong nước, người ta thường kêu gọi nhiều về khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, vốn dĩ cũng rất quan trọng, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở cấp độ cao cấp hơn nữa. Nhưng để những lời kêu gọi ấy không trở nên sáo rỗng, thiết nghĩ cần bắt đầu từ xây dựng, nuôi dưỡng, lan truyền trong cộng đồng khát vọng làm ra sản phẩm tử tế, bởi khi trong cộng đồng còn chưa phổ biến khát vọng ấy thì mọi ước mơ khác vẫn chỉ là xây nhà từ nóc!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát vọng vượt lên trên cà phê      Ngẫm cho kỹ, cốt l&#245;i của Dự &#225;n &#8220;Thủ phủ c&#224; ph&#234; to&#224;n cầu&#8221; l&#224; kh&#225;t vọng vượt l&#234;n tr&#234;n c&#224; ph&#234;, ch&#237;nh x&#225;c l&#224; từ c&#224; ph&#234; để tiến đến việc kiến tạo một mẫu h&#236;nh cho sự ph&#225;t triển bền vững của Việt Nam, g&#243;p phần cải tiến chuỗi tạo dựng-ph&#226;n phối gi&#225; trị gia tăng của giao thương to&#224;n cầu n&#243;i chung v&#224; quan hệ giữa những cộng đồng kinh tế m&#244;i sinh tr&#234;n thế giới n&#243;i ri&#234;ng, theo hướng vừa c&#226;n bằng vừa c&#244;ng bằng hơn.  Vậy l&#224;m thế n&#224;o để dự &#225;n ấy thật sự l&#224; khả thi?     Lấy mức độ khả thi của dự án làm nền tảng cho sự ủng hộ là cách thường được xem là “thực tiễn”, thậm chí là vô cùng “thực nghiệm”. Nhưng điều đó vô hình trung lại nặng về “thực dụng”, nghĩa là chú trọng chủ yếu đến các lợi ích thiết thực trước mắt và ngắn hạn mà bỏ quên hệ quả lâu dài! Ngược lại, tìm hiểu trước tiên dự án có “đáng để được ủng hộ hay không” là đặt vấn đề về bản chất của sự vật, nghĩa là đi sâu vào “cốt lõi nhân tính” của sự thể, và khi đã đồng cảm, đồng thuận với bản chất ấy thì tìm cách cùng nhau “thực thi”, phát huy mọi tiềm thế của dự án mà biến nó thành hiện thực.  Adam Smith – Giáo sư Triết học và Luân lý, được hậu thế tôn vinh là người khai sinh ngành Kinh tế học – trong công trình để đời là “Nghiên cứu nguồn cội sự giàu sang của các quốc gia” xuất bản năm 1776, đã viết: “Thành công của mỗi người, và của dự phóng đến từ ý nguyện của họ, phụ thuộc khá nhiều vào ý kiến tích cực của bạn bè, đồng nghiệp và của cả… hàng xóm”. Nói cách khác, một dự án trở nên khả thi vì nhiều người đồng ý là “nó đáng được góp công góp của”, chứ không phải bỗng nhiên mà dự án “tự nó khả thi/khả thi tự nó”?! William Blake, một nhà thơ và họa sĩ nổi tiếng thế giới, trong “Ngợi ca nỗi niềm cảm nghiệm” (1794), cũng đã xác minh: “Điều được chứng thực hôm nay khởi nguyên cũng chỉ là mộng tưởng”. Và Mahatma Gandhi, người mở đường cho độc lập của Ấn Độ bằng đấu tranh bất bạo động, lại khẳng định: “Tin rằng điều chưa từng xảy ra trong lịch sử sẽ chẳng bao giờ xảy ra là hoàn toàn vô vọng về phẩm chất của con người”!  Vậy nội hàm ý tưởng của Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” có gì sâu sắc khiến người ta cần phải ủng hộ để dự án ấy sớm được hình thành, lớn mạnh và hoàn thiện?  Từ lợi thế So sánh đến lợi thế Cạnh tranh  Ngẫm cho kỹ, cốt lõi của Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” là khát vọng vượt lên trên cà phê, từ cà phê để tiến đến việc kiến tạo một mẫu hình cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, góp phần cải tiến chuỗi tạo dựng – phân phối giá trị gia tăng của giao thương toàn cầu nói chung và quan hệ giữa những cộng đồng kinh tế môi sinh trên thế giới nói riêng, theo hướng vừa cân bằng vừa công bằng hơn!              Mô hình “Thủ phủ Cà phê toàn cầu” – hình thành từ sự triển khai của “hệ đô thị sinh thái cà phê” – là một tổng hòa phức hợp tạo ra cho ngành cà phê Việt Nam, cho Tây Nguyên và cho cả Việt Nam một lợi thế cạnh tranh mà nguy cơ bị truất phế là rất giới hạn.        Theo giác độ ấy, lựa chọn Đắk Lắk để xây dựng “Thủ phủ cà phê toàn cầu” là xác đáng: từ thổ nhưỡng đến con người, từ cảnh quan đến địa thế, từ dân cư đến sinh thái… tất cả đều là những tiềm năng lớn cho việc tạo dựng một tương quan mới có khả năng làm nổi trội lợi thế so sánh của Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực sản xuất và thương mại quốc tế về cà phê mà còn ở bình diện đối chuẩn các phương thức phát triển quốc kế dân sinh giữa các nước.   Từ khía cạnh thuần kinh tế, xây dựng “hệ đô thị sinh thái cà phê” ở Đắk Lắk còn có khả năng kích hoạt một chuỗi hiệu ứng ngoại tác tích cực (theo nghĩa các nhân tố của tổng hệ tương tác với nhau để mở rộng phạm vi hoạt động cho nhau và cho toàn tổng hệ) nâng tầm hiệu suất theo quy mô (địa phương, quốc gia, quốc tế), tăng cường năng suất và giá trị cận biên (nghĩa là càng làm nhiều càng được nhiều, trái với việc vì không làm chủ đầu ra phổ biến hiện nay mà lâm vào tình trạng càng được mùa càng rớt giá, càng tăng công sức bỏ ra thì mức độ của các khoản thu nhập phụ trội lại càng giảm) không chỉ trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh cà phê mà còn cho sự phân phối của các sản phẩm – dịch vụ tiệm cận liên thông, triển khai theo hướng đa dạng hóa đồng tâm.  Còn điều quan trọng nữa là sự tích hợp của những yếu tố cấu thành “Thủ phủ cà phê toàn cầu” mang đến cho cà phê và các sản phẩm – dịch vụ liên ngành tương thuộc, cho ấn tượng về Tây Nguyên và cả hình ảnh của Việt Nam (nghĩa là đồng thời cho thương hiệu địa phương, vùng lãnh thổ và thương hiệu quốc gia) một lợi thế cạnh tranh vững chắc. Nếu hiểu một cách cô đọng lợi thế cạnh tranh là lợi thế đến từ việc mình có cái người khác chưa có, làm cái người khác chưa làm, và nhất là điều mình có và chuyện mình làm lại rất khó bắt chước (nhờ thế mà lợi thế cạnh tranh mới tồn tại lâu dài) thì rõ ràng bản thân việc xây dựng “Thủ phủ cà phê toàn cầu” chính là một lợi thế cạnh tranh hết sức đặc thù!  Thật vậy, trong thị trường cạnh tranh toàn cầu, nếu lợi thế chỉ đến chủ yếu và đơn lẻ từ chất lượng, công nghệ hay giá cả thì lợi thế ấy luôn luôn nằm trong tình thế bị đe dọa: cảm nhận về chất lượng không bao giờ cố định, công nghệ thì luôn được cải tiến và giá cả lại thường xuyên bị tấn công! Do vậy mà lợi thế cạnh tranh dựa trên giá, chất lượng hoặc công nghệ rất dễ bị xói mòn, không chỉ bởi những xung kích của các đối thủ mà còn do những biến động của chính thị trường. Chẳng hạn văn hóa tiêu dùng thay đổi kéo theo sự thay đổi không chỉ về những chuẩn mực của chất lượng mà còn về sự so sánh các mức giá khác nhau, và cả về xuất xứ của công nghệ được ứng dụng (chất lượng cũng như giá cả và công nghệ, trái với những nhầm tưởng thông thường, không đơn thuần chỉ là những yếu tố tính toán kỹ thuật và tài chính mà chủ yếu mang những nội dung đầy tính nhân văn!).  Trong chiều hướng ấy, mô hình “Thủ phủ cà phê toàn cầu” – hình thành từ sự triển khai của “hệ đô thị sinh thái cà phê” – là một tổng hòa phức hợp tạo ra cho ngành cà phê Việt Nam, cho Tây Nguyên và cho cả Việt Nam một lợi thế cạnh tranh mà nguy cơ bị truất phế là rất giới hạn. Điều đó là vì toàn hệ thống ấy được vận hành theo một qui trình liền mạch: bắt chước các yếu tố riêng lẻ để cạnh tranh thì dễ, nhưng bắt chước một “Thủ phủ cà phê toàn cầu” của Việt Nam (với sự quản lý và điều hành trực tiếp từ Chính phủ trong khuôn khổ chính sách riêng cho “nền kinh tế vùng sinh thái Đắk Lắk”) thì không phải là chuyện ngày một ngày hai.  Thêm nữa, việc mô phỏng “Thủ phủ cà phê toàn cầu” của Việt Nam sau này nếu có xảy ra ở một nơi nào đó trên thế giới, thì đấy chỉ là “hàng sao chép” hay “hàng nhái”: từ Tây Nguyên, chốn thông linh giữa rừng – thần – người, nơi sông Đắk Krông ngang nhiên chảy ngược về thượng nguồn, Việt Nam đã làm thay đổi “lối chơi” trên “sân chơi quốc tế”. Đó là lý do tối thượng thúc đẩy sự ủng hộ Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu”!  Từ hành động đến kịch bản về giá trị: Chia sẻ và bước đường dấn thân                  Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên   trong ngày khai trương Hội quán Sáng tạo    Dựa vào những phân tích trên đây, vấn đề cơ bản của Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” không phải là tính khả thi mà chính xác là việc thực thi. Mà thực thi là hành động, và hành động lại chính là diễn ngôn về các giá trị tiềm tàng trong nội hàm của dự án: mọi hành động, dù muốn dù không, đều là thông điệp về “ý đồ”, và từ việc cảm nhận các ý đồ ấy những kịch bản khác nhau được dàn dựng. Trớ trêu là kịch bản mường tượng bởi “các đối tượng của dự án” lắm khi lại không tương hợp với kịch bản hình dung bởi phía “chủ dự án”. Chính vì vậy mà sự giao cảm về các giá trị nhân sinh cơ bản nhiều lúc không được chan hòa bởi các bên liên quan.   Nhìn lại diễn trình cụ thể của việc quảng bá Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” bởi Trung Nguyên thì rõ: Văn hóa là chiều kích xuyên tâm của mọi dự án tác động đến môi trường sống của con người. Điều này đã được nhận thức rõ bởi Trung Nguyên. Nhưng khiếm khuyết của Trung Nguyên là nhầm lẫn văn hóa và thị hiếu: một bên thẩm thấu chiều dày của lịch sử và chiều sâu của nhân văn, một bên lại ồn ào phù phiếm ở bề mặt nổi! Abraham Maslow, một nhà tâm lý – nhân chủng học ứng dụng trong kinh tế lừng danh thế giới, đã từng khẳng định: “Một món khai vị hạng nhất còn có sự sáng tạo văn hóa hơn một bài hát hạng hai”! Do đó, nhiều sinh hoạt văn nghệ tổ chức ở Tây Nguyên bởi Trung Nguyên đến nay đã gây không ít phản tác dụng: các điểm tụ ấy hoàn toàn không thể biểu trưng cho văn hóa và lịch sử của Tây Nguyên!  Con người Tây Nguyên, cư dân Tây Nguyên, người trồng hái cà phê mướn ở Tây Nguyên muốn gì, nghĩ gì, mơ gì, được gì trong Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu”?! Những điều ấy phải thừa nhận là còn chưa sắc nét lắm. Và chừng nào mà việc chia sẻ các giá trị – vật chất lẫn tinh thần – với người dân bản địa Tây Nguyên còn chưa được rạch ròi phân minh thì việc “liên kết bộ ba giữa vốn xã hội – vốn môi trường – vốn kinh tế” có trong đề cương của dự án vẫn còn chưa hoàn chỉnh!  Không ai hoài vọng được sự hoàn hảo ngay tự lúc đầu. Mọi hành trình dấn thân vào vạn dặm đều khởi đầu bằng những bước chân. Hãy cùng nhau mở lối con đường thăm thẳm ấy bằng những bước đi của những bàn chân nứt nẻ mưa rừng gió núi của người dân Tây Nguyên. Bởi vì nếu không có những bàn chân ấy, con đường chiếm lĩnh vị thể trong “thế giới phẳng” chưa chắc có sức lôi cuốn bằng cái sâu của rừng và cái cao của núi, nơi mà từ ấy đến nay vẫn còn nhiều chàng Đam San mải miết khăn xéo đội đầu vượt đèo qua dốc tìm nữ thần Mặt trời trên đỉnh thác rơi!    ——————-   * Giáo sư, United Business Institutes (Bỉ), Nyenrode Business University (Hà Lan), Giám đốc Think & Teach Ltd (Anh), Giám đốc điều hành Management Consultancy Institute, Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KHCN – Giải pháp trọng yếu tái cơ cấu nông nghiệp      Trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế, với một nước vốn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, những thành tựu trong lĩnh vực này đã không chỉ mang lại giá trị về kinh tế mà còn góp phần tạo dựng sự ổn định cho chính trị và xã hội. Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ chia sẻ với phóng viên TTXVN về những thành tựu trong công cuộc đổi mới của ngành nông nghiệp Việt Nam sau 30 năm đổi mới .      Ông đánh giá như thế nào về những thành tựu mà ngành nông nghiệp đã đạt được sau 30 năm đổi mới?  Qua 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc: Tăng trưởng GDP của khu vực nông nghiệp-lâm nghiệp-thủy sản đạt bình quân 3,7 %/năm, là mức cao trên thế giới và khu vực; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 70% những năm 1990 còn khoảng 47% vào cuối 2014.  Xuất khẩu nông sản tăng mạnh, năm 2014 đạt trên 34 tỷ USD. Có 11 sản phẩm xuất khẩu trên 1 tỷ USD.  Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đạt được những kết quả, thành tựu quan trọng. Tổ chức sản xuất, kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã được đổi mới. Đời sống vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện khá nhiều. Trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn được đảm bảo.  – Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng về cơ bản nhiều ý kiến cho rằng, nền nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa thực sự bền vững. Theo ông, giải pháp nào để Việt Nam phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng kinh tế thị trường hiện đại?  Nông nghiệp Việt Nam đã hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, như vùng sản xuất lúa gạo đồng bằng sông Cửu long, vùng chuyên canh cao su, càphê ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, vùng chăn nuôi bò sữa ở nhiều địa phương trên cả nước.  Nhưng phần còn lại là nền kinh tế hộ, tiểu nông sản xuất nhỏ và siêu nhỏ, công nghệ lạc hậu, tỷ suất hàng hoá rất thấp. Sản xuất nhỏ và manh mún đang là lực cản kìm hãm sự phát triển nền nông nghiệp Việt Nam, đòi hỏi phải tìm kiếm động lực mới gắn với cơ cấu nông nghiệp mới, để tạo bước đột phá mới.  Do đó, Đảng và nhà Việt Nam đã đưa ra chủ trương tái cấu trúc nền nông nghiệp, tạo bước đột phá mới về nông nghiệp Việt Nam trong vài thập niên tới. Để thực hiện được điều này đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với những giải pháp được thực thi trong 30 năm qua.  Thứ nhất, phải tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và tổ chức sản xuất. Chính sách ruộng đất phải đảm bảo tích tụ ruộng đất ở từng vùng để cả hộ trang trại sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại và hộ trang trại quy mô nhỏ có điều kiện phát triển những loại cây, con phù hợp đồng thời tìm kiếm những đối tượng sản xuất phù hợp cho các hộ sản xuất nông lâm nghiệp siêu nhỏ.  Hiện nay trong quá trình tái cơ cấu đã xuất hiện nhu cầu chuyển đổi một số diện tích lúa sang nuôi trồng các loại cây, con khác có hiệu quả cao hơn và có thị trường tiêu thụ ổn định. Vì vậy, cần có những quy định thông thoáng hơn để nông dân được thực thi quyền lựa chọn đối tượng sản xuất đem lại lợi ích cho chính họ, có chính sách để sử dụng hợp lý đất lúa.  Thứ hai phát triển KHCN, tăng cường ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp. Khoa học nông, lâm nghiệp của Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 30% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp.  Trong khi đó, ở các nước tiên tiến tỷ lệ này thường là 80%-90%. Với đà phát triển này, nếu tỷ lệ cống hiến của khoa học nông lâm nghiệp chỉ tăng 1%/năm, thì sau 50 mươi năm nữa, Việt Nam mới đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới.  Thời điểm này là một dịp và cũng là một cơ hội để chúng ta nhìn nhận lại trách nhiệm của khoa học công nghệ đối với sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống nông dân.  Với diện tích đất sản xuất của mỗi nông hộ khá hạn chế, để nâng cao thu nhập cho nông dân cần phải tăng cường đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cần có cơ chế, chính sách ưu đãi nhiều hơn trong khuyến khích việc liên kết và đưa khoa học kỹ thuật vào cuộc sống, nhất là đối với khâu thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản sau thu hoạch…  Nhiều ý kiến cho rằng dù đã có nhiều, song những chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao chưa đủ mạnh. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào? Theo ông, giải pháp nào để Việt Nam có thể phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn tới?  Đổi mới hoạt động KHCN được kỳ vọng như là giải pháp trọng yếu để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.Triển khai chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia về công nghệ cao đến năm 2020.  Nhiều chính sách đã được ban hành bước đầu tạo được sự chuyển biến, một số dự án đã được triển khai; hình thành được nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực sản xuất trong ngành nông nghiệp.  Tuy nhiên, trong thực tế, công tác xây dựng cơ chế chính sách cho việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn gặp nhiều trở ngại và chậm; nguồn nhân lực chất lượng cao suy giảm do thiếu chính sách ưu đãi; các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao chưa được phát triển đúng mức; đầu tư kinh phí cho nghiên cứu còn thấp lại dàn trải.  Kinh tế hộ với ruộng đất manh mún trong nông nghiệp đang là lực cản cho quá trình đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng phát triển; sự hỗ trợ chưa đồng bộ và đủ mạnh…  Để nông nghiệp công nghệ cao phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo chúng tôi rất cần có những chính sách mạnh mẽ, đồng bộ hơn.  Cụ thể đối với các Bộ, ngành Trung ương cần hoàn thiện đồng bộ cơ chế chính sách đổi mới để thúc đẩy hoạt động KHCN trong nông nghiệp, nông thôn; trong đó có chính sách đặc thù cho nông nghiệp công nghệ cao. Rà soát, chuyển đổi cơ chế hoạt động của các tổ chức KHCN nông nghiệp công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.  Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tăng cường ứng dụng KHCN cao trong nông nghiệp, nông thôn cần được tăng cường. Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm KHCN trong nông nghiệp.  Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và trong nước trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cao trong nông nghiệp; thúc đẩy mối liên kết chặt chẽ giữa người nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức trong việc thực hiện chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp. Tăng tỷ trọng đầu tư cho các hoạt động KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp.  Đối với các địa phương cần quy hoạch mạng lưới tổ chức KHCN nông nghiệp công lập của địa phương theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả. Tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp KHCN nông nghiệp được hưởng tối đa các ưu đãi, hỗ trợ khi đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, tham gia liên kết sản xuất quy mô lớn, hình thành vùng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm đầu ra, ứng dụng công nghệ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.  Tạo cơ chế để doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp vào việc ứng dụng kết quả KHCN, đổi mới công nghệ. Có cơ chế khuyến khích hình thành mối liên kết trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng chuyển giao, tiếp nhận các sản phẩm KHCN giữa các viện, trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp và nông dân trên địa bàn tỉnh….  Đối với doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, chủ động đổi mới công nghệ. Chủ động phối hợp, liên kết ứng dụng KHCN. Tham gia xây dựng, đề xuất các cơ chế chính sách thúc đẩy ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp…  Trong thời gian qua, vấn đề liên kết trong sản xuất nông nghiệp còn lỏng lẻo. Vai trò của nhà nước trong vấn đề này cần đặt ra như thế nào thưa ông?  Về vấn đề này, Đảng đã có chủ trương, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành đã thể chế thành cơ chế chính sách đem lại nhiều kết quả trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong triển khai thực hiện còn gặp một số khó khăn như nhận thức về liên kết chưa đầy đủ, trong tổ chức thực hiện còn chưa quyết liệt, hiệu quả còn thấp.  Nhà nước cần tạo lập môi trường thuận lợi, khuyến khích hình thành các liên kết và liên kết phát triển cả về lượng và chất. Cụ thể nâng cao nhận thức về liên kết trong sản xuất cho xã hội, đặc biệt là đối với cán bộ công chức và các chủ thể kinh tế; ban hành cơ chế, chính sách đồng bộ và toàn diện để liên kết trong nông nghiệp hình thành và hoạt động có hiệu quả  Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch liên kết vùng, liên kết địa phương, liên kết ngành hàng, cụm sản xuất công nông nghiệp; tổ chức, thành lập và trợ giúp có hiệu quả các mô hình kinh tế hợp tác, nòng cốt là các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Tiếp tục đẩy mạnh liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/khoa-hoc-cong-nghe-giai-phap-trong-yeu-tai-co-cau-nong-nghiep/341498.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi các nhà vận động môi trường tấn công tác phẩm nghệ thuật      Mới đây, hai nhà hoạt động môi trường trẻ đã đổ nước sốt cà chua lên bức tranh “Hoa hướng dương” của van Gogh ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia, London. May mắn thay, bức tranh được bảo vệ dưới lớp kính.      Khi tôi nhìn các nhà vận động tấn công nghệ thuật, tôi cảm thấy nỗi khiếp sợ như phần lớn những người khác – và cảm giác khiếp sợ dường như là phổ biến và được lan rộng. Sau khi hai nhà ủng hộ nhóm vận động về biến đổi khí hậu Just Stop Oil ném lon sốt cà chua lên bức họa của van Gogh ở London 1, mạng xã hội đã bùng lên phẫn nộ. Phần lớn từ những người không ít cam kết với việc ngăn chặn sự ấm lên toàn cầu, trong đó có những người thuộc thế giới nghệ thuật.  Trong khi không thể bào chữa cho hành động của Just Stop Oil, tôi có thể hiểu nỗi giận dữ của những người ủng hộ nó, những người sẽ phải nếm trải ảnh hưởng của sự sụp đổ toàn cầu trong tương lai hơn tôi. Họ phải vật lộn với những quyết định sống còn chưa từng được dự đoán, thậm chí còn tệ hơn những cơn khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử loài người, bao gồm việc có nên sinh con và tiếp tục duy trì giống nòi nữa hay không, hay thôi bởi cuộc đời này rất ngắn ngủi và khốn khổ.  Nhưng những cuộc tấn công nghệ thuật ngày một gia tăng. Vào tháng 7, một nhóm vận động ở Ý Ultimate Generazione (Thế hệ cuối cùng) đã chạm trực tiếp tay lên tấm kính bảo vệ bức Primavera (Mùa xuân) của Botticelli treo tại bảo tàng Uffizi ở Florence, vào tháng 9, các nhà hoạt động cũng của nhóm này đã chạm tay vào bệ một bức tượng cổ xưa ở Vatican 2. Tất cả hành động này đều sai lầm và phản tác dụng. Nó làm cho sự cấp bách của cuộc khủng hoảng khí hậu trở nên nực cười với những người vốn đã không thích, không đặt niềm tin vào khoa học về sự ấm lên toàn cầu. Và họ tạo ra một sự lựa chọn sai lầm về đạo đức cho những người yêu cả nghệ thuật lẫn môi trường.  Khi Phoebe Plummer 21 tuổi, một trong hai nhà vận động môi trường ở London, được hỏi trong ngày thứ sáu tấn công tác phẩm của van Gogh, “Bạn quan tâm về việc bảo vệ một bức họa hay bảo vệ hành tinh và con người sống trên đó?”. Rất có thể là những người đến đây thưởng lãm nghệ thuật nói “cả hai”. Khó có cách trả lời nào khác bởi thật nực cười khi nghĩ nghệ thuật đóng vai phản diện trong cuộc khủng hoảng khí hậu. Van Gogh không thuộc về những thế lực kinh tế làm hành tinh này bị phá hủy nên bức họa Hoa hướng dương vẽ năm 1888 của ông không thể là đích cho một cuộc tấn công mang tính biểu tượng.  Thế giới nghệ thuật, tất nhiên không ngây thơ. Sự thịnh vượng là nhiên liệu nuôi sống thị trường nghệ thuật và điều đó ngụ ý một cách sâu sắc vào nền kinh tế carbon, và thượng tầng cấu trúc của những triển lãm nghệ thuật, phiên đấu giá nghệ thuật liên quan đến những cuộc di chuyển tạo ra nhiều vết carbon cũng như những tiêu dùng dễ thấy khác. Khi ném hộp sốt cà chua mang tính biểu tượng vào một thị trường nghệ thuật đỉnh cao toàn cầu, Plummer đã làm dấy lên một suy nghĩ có lý về cuộc đối thoại đầy đau đớn về những ưu tiên mang tính đạo đức của những nhà bảo trợ nghệ thuật hiện tại: có cần thiết đến Venice hai năm một lần không? Việc chuyển hàng triệu đô la vào việc làm giảm khủng hoảng khí hậu tốt hơn là vào một bức họa của Bansky?    Nỗi giận dữ phía sau các cuộc tấn công nghệ thuật đó không hẳn phi lí và không đến nỗi mù quáng. Tình trạng ấm lên toàn cầu ngày một xấu thêm. Nó không chỉ là sự ưu tiên giải quyết của các chính phủ mà còn của những người tiên phong. Nếu nhìn sâu hơn vào các cuộc tấn công này, rõ ràng có thể thấy họ biểu lộ một tình yêu tuyệt vọng với nghệ thuật hơn là coi thường nó.  Vì thế, phần lớn các vụ việc xảy ra đều mang tính biểu tượng hơn là những hành động phá hủy trực tiếp. Vào tháng 7, các nhà vận động Just Stop Oil đã đặt tay lên khung của bức The Hay Wain do John Constable vẽ năm 1821. Cả hai cuộc tấn công vào tranh của van Gogh và Botticelli cũng nhằm vào những bức họa được bảo vệ bằng một lớp kính. Các hành động này đều được hướng tới những tác phẩm thể hiện ý tưởng vẻ đẹp tự nhiên và sự tái sinh, những thứ sẽ gặp rủi ro trước sự ấm lên toàn cầu. Mục tiêu dường như không để hủy hoại tác phẩm nghệ thuật mà là cảnh báo: cả những thứ này sẽ bị phá hủy nếu chúng ta tiếp tục duy trì tình trạng phát thải carbon.  Tuy nhiên sự chú ý của truyền thông vào những trường hơp này, có thể truyền cảm hứng cho nhiều kẻ phá hoại có chủ đích hơn, một nguyên nhân khiến tình trạng trở nên đáng lo ngại. Sự kích động nông nổi của họ sẽ dẫn đến chia rẽ các nhóm hoạt động xã hội vốn đồng cảm với lý do dẫn đến hành động này.  Thật nực cười khi tấn công vào nghệ thuật dưới danh nghĩa vì sự sinh tồn, bởi nghệ thuật là một công cụ của sinh tồn. Nhưng các cuộc tấn công cũng cho thấy một cách mới để nghĩ về nghệ thuật dưới bóng khí hậu có thể đem lại cảm thông của cả giới nghệ thuật và bảo vệ môi trường.  Trong thế giới của kiến trúc, ý tưởng biểu hiện carbon liên quan đến toàn bộ vết carbon của một tòa nhà, từ việc sử dụng vật liệu, vận chuyển, xây dựng, nhân công đến vòng đời dài hơn của nhu cầu năng lượng để vận hành tòa nhà. Điều này cho phép chúng ta so sánh tác động của carbon với những cấu trúc mới và cũ để nghĩ thấu đáo hơn về chi phí và lợi ích của việc phá hủy và xây mới những tòa nhà. Nó buộc chúng ta nghĩ về carbon không chỉ của chúng ta mà còn về toàn bộ ngôi nhà đã được xây dựng 50 năm hoặc 100 năm trước.  Chúng ta có thể nghĩ về nghệ thuật như một hình thức của văn hóa hiện thân (Embodied Culture) – văn hóa với sự mở rộng cái nhìn vào gốc rễ của nó, bắt nguồn từ sự tích hợp của các hệ sự sống trên trái đất, đó là năng lượng do một chủ thể phát thải và lưu giữ. Nếu nghệ thuật hiếm khi được coi là một biểu tượng, hoặc một hàng hóa xa xỉ thì có lý do để đặt câu hỏi là liệu chúng ta có quan tâm nhiều hơn đến nghệ thuật hay môi trường? Nếu nghệ thuật và là văn hóa hiện thân, chúng ta hoàn toàn có thể xem xét việc bảo tồn nó và những giá trị của nó ngay cả trong thời kỳ nguy hiểm. Đừng bao giờ phá hủy cái mà bạn đã phải trả một giá quá lớn, trong đó bao gồm cả giá phá hủy môi trường từ một ngôi nhà đã được xây dựng trước nửa thế kỷ.  Tôi nghĩ đây là nguyên nhân giải thích tại sao các cuộc tấn công sai lầm và có tiềm năng phá hủy này, lại diễn ra trong bảo tàng 3. Nó không chỉ là việc thu hút sự chú ý trên mạng xã hội và các mạng lưới thông tin kết nối con người với nghệ thuật, môi trường, đạo đức xã hội và nhiều điều khác. Nó tập trung sự chú ý vào giá trị lớn hơn của tất thảy, của toàn bộ thế giới quanh chúng ta – lịch sử, văn hóa, kinh tế. Nhưng ném sốt cà chua vào một tác phẩm của van Gogh không khiến người ta cảm thấy thêm cam kết vào việc cứu lấy hành tinh hay giúp nghĩ một cách thực tế hơn về việc làm điều đó như thế nào. Cần phải hành động theo một cách khác, đủ sức kết nối mọi người.  Philip Kennicott  Tô Thanh Vân dịch  Nguồn: https://www.washingtonpost.com/arts-entertainment/2022/10/14/van-gogh-sunflowers-soup-climate/  ——————————–    https://www.phunuonline.com.vn/buc-hoa-kinh-dien-cua-van-gogh-bi-tat-sot-ca-chua-a1475411.html  https://www.businessinsider.com/climate-activists-dragged-away-after-gluing-hands-botticelli-painting-2022-7  https://www.washingtonpost.com/climate-environment/2022/10/14/tomato-soup-sunflowers-climate-protest/      Author                .        
__label__tiasang Khi các thiết bị  “bất đồng ngôn ngữ”      Doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực để triển khai các giải pháp Internet của vạn vật (Internet of Things – IoT) nhưng họ gặp khó khăn về chuẩn chung để có thể tăng cường sức mạnh liên kết với nhau.      Chiều tối, bạn về đến nhà và mở cửa, lập tức đèn hành lang bật sáng. Bước vào phòng khách, đèn và điều hòa được bật lên, rèm cửa mở ra. Bình nước nóng cũng tự động bật lên.   Những điều này đã được chủ nhà lên lịch sẵn trên ứng dụng điều khiển nhà thông minh ở điện thoại di động và “đến hẹn lại lên”, các thiết bị trong gia đình sẽ tự hoạt động. Hoặc nếu không, chủ nhà tự viết kịch bản “về nhà” và bất cứ khi nào và ở đâu, họ đều có thể bấm nút “về nhà” để các thiết bị hoạt động như trên.   Có điều gì đó không ổn ở đây. Không phải ngày nào lịch sinh hoạt của chủ nhà cũng như nhau. Nhà “thông minh” liệu có “hiểu” được rằng những ngày trời lạnh thì cần bật chế độ sưởi, những ngày trời nóng thì tắt bình nước nóng, những ngày trời mưa thì không nên mở rèm và hơn nữa là khi chủ nhà ốm thì đừng bật điều hòa?   “Tôi cảm giác nhà thông minh vẫn là cái gì đó phức tạp đối với người dùng trong khi lẽ ra nó phải là một cái gì rất tự nhiên. Đi vào nhà thì cửa mở, lúc mình nóng thì quạt bật… Coi như mình không biết đến sự hiện diện của những chương trình điều khiển đó nữa thì nó mới thông minh. Còn bây giờ thực sự nó mới chỉ là cái nhà điều khiển, mình ra lệnh làm gì thì nó làm nấy,” anh Vũ Xuân Linh, người sáng lập Green Leap – một startup có sản phẩm là bộ điều khiển tưới vườn từ xa, nói.   Nhà thông minh hiện nay là một trong những ứng dụng phổ biến nhất ở Việt Nam về IoT, theo đó, các thiết bị đều được kết nối và điều khiển qua mạng. Để có thể là “một cái gì rất tự nhiên”, các nhà phát triển giải pháp này cần phải thu thập được dữ liệu lớn về điều kiện sống và sinh hoạt của người dùng, từ đó phân tích, đưa ra mô hình xác định trình tự hoạt động của mỗi cá nhân để có cách thức điều khiển ngôi nhà theo thói quen người dùng, hạn chế nguy cơ cháy nổ và tiết kiệm năng lượng nhất… chẳng hạn.   Câu chuyện về nhà thông minh phản ánh khá rõ hiện trạng về IoT của Việt Nam: mọi thứ đã có thể điều khiển từ xa qua mạng nhưng ứng dụng vẫn rất hạn chế.     Năng lực có đủ    Các doanh nghiệp Việt Nam đến với IoT không phải vì nhìn thấy tiềm năng rộng lớn của nó mà vì muốn giải quyết một bài toán thực tế.  MimosaTEK là một trong số rất ít doanh nghiệp đã có sản phẩm IoT ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp. Họ khởi đầu một cách rất tự phát, như anh Nguyễn Khắc Minh Trí, người sáng lập và CEO của MimosaTEK, nói: “Thực ra ban đầu chúng tôi chỉ định dùng IoT để giám sát và điều khiển nhằm mang lại tiện ích cho người nông dân. Nhưng càng làm thì càng nhận thấy IoT là cơ hội rất tốt cho nông nghiệp chính xác.”   Các doanh nghiệp Việt Nam khá năng động trong việc tham gia “làn sóng” IoT mặc dù họ mới bước vào lĩnh vực này. “Thực ra lúc bọn tôi nghĩ ra nhà thông minh, nó chẳng liên quan gì đến IoT cả. Nó rất mới. Mình cũng chẳng nhìn thấy bài toán rộng lớn của IoT là làm những việc gì,” anh Nguyễn Tuấn Anh, người đồng sáng lập Lumi – doanh nghiệp phát triển giải pháp nhà thông minh, kể lại. “Mình ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này nên phải chấp nhận nếu sai thì đập đi làm lại. Cũng không có chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực này vì nó quá mới, chẳng ai là chuyên gia cả. Thiếu công nghệ gì, bọn mình phải tự mày mò hết, tự học hết”.   Green Leap, MimosaTEK hay Lumi đều tự phát triển phần cứng và phần mềm cho giải pháp IoT của họ. Việc phát triển phần cứng bao gồm thiết kế bo mạch, thiết kế kiểu dáng công nghiệp. Về phần mềm, ngoài viết ứng dụng điều khiển trên các thiết bị di động, họ cũng lập trình trên các cổng kết nối (gateway), lập trình cho từng con chip trên các thiết bị và bảng điều khiển cho phép thu thập dữ liệu từ các cảm biến. Sau đó, họ thuê các công ty dán chip bề mặt (STM) ở Việt Nam hoặc các đối tác sản xuất ở Trung Quốc lắp ráp và sản xuất thiết bị. Lí do họ không sử dụng thiết kế mẫu của các đối tác sản xuất là vì họ muốn có các sản phẩm phù hợp với điều kiện và thói quen của người Việt Nam. Hơn nữa, họ có thể kiểm soát tối đa giá thành sản phẩm.   Dẫn ra ví dụ trong lĩnh vực smarthome, anh Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, hiện nay các công ty trong nước có đủ năng lực để thiết kế và triển khai một hệ thống IoT ở quy mô nhỏ: “Về smarthome thì Việt Nam có thể làm được hết, không có vấn đề gì cả. Bkav cũng có giải pháp đầy đủ rồi. Giải pháp của Lumi cũng sắp đầy đủ. Nó không có gì khó nữa”. “Đầy đủ” là kết nối và điều khiển được tất cả các hệ thống đèn, đồ gia dụng nước, camera an ninh và âm thanh.          Ngoài Bkav được cho là nghiên cứu về nhà thông minh từ năm 2005, các doanh nghiệp IoT khác ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu bước chân vào lĩnh vực này khoảng năm năm trở lại đây. Một số doanh nghiệp IoT khác đã bắt đầu có sản phẩm bao gồm Lumi, Acis (nhà thông minh), MimosaTEK (nông nghiệp), Green Leap (làm vườn) và V SYS (tự động hóa)…        Dữ liệu – mỏ dầu chưa được khai thác  Dĩ nhiên, kết nối mới chỉ là bước đầu của IoT. “IoT chỉ là cái cớ để tạo ra dữ liệu,” theo ông Nguyễn Thế Trung, Giám đốc công ty DTT, đối tác đầu tiên của Intel tại Việt Nam trong việc phát triển giao thông thông minh và thành phố thông minh ở Việt Nam.   Không phải là các doanh nghiệp IoT không biết điều đó. Lumi cũng mong muốn lắp thêm cảm biến vào các thiết bị của mình để có thể phân tích dữ liệu về hoạt động cũng như thói quen của chủ nhà vì có như vậy người dùng mới dần thoát khỏi việc điều khiển qua điện thoại. “Như thế họ mới thấy giải pháp của mình có ý nghĩa,” anh Tuấn Anh nói. Hiện giờ, Lumi đã thu thập và lưu lại dữ liệu về hoạt động của các thiết bị của người dùng nhưng chưa biết xử lí dữ liệu này ra sao.  MimosaTEK trong tương lai cũng tập trung vào phân tích dữ liệu lớn. “Dữ liệu luôn được lưu trữ như một mỏ dầu để sau này có thể giúp khách hàng khai thác các thông tin quý giá trên dữ liệu của mình,” anh Nguyễn Khắc Minh Trí cho biết. MimosaTEK đang lưu trữ các thông số liên quan đến môi trường như mưa, gió, nhiệt độ, độ ẩm, cường độ, bức xạ ánh sáng, độ ẩm đất và các thông tin chính khách hàng nhập thủ công như tốc độ tăng trưởng của cây, tình trạng sâu bệnh. Trong tương lai, những dữ liệu này được kỳ vọng có thể phân tích mối tương quan giữa lượng nước tưới hoặc các thông số về môi trường với năng suất và sâu bệnh của cây.   Tuy nhiên, vừa mới bước chân vào IoT, việc phân tích dữ liệu lớn vẫn là điều ngoài tầm với đối với các doanh nghiệp nhỏ. “Trước hết, số lượng người dùng phải đủ lớn. Hàng nghìn người mới lấy được dữ liệu chuẩn chứ. Sau đó chúng tôi mới mời các chuyên gia về dữ liệu lớn”, anh Nguyễn Tuấn Anh cho biết. Hiện giờ số lượng khách hàng của Lumi dưới hai mươi người và Mimosa TEK mới có sáu nông trại áp dụng giải pháp của họ.  Để tăng số lượng người sử dụng giải pháp IoT không dễ. “Khó khăn lớn nhất là việc tính chi phí mang lại từ IoT. Có những thứ chi phí đầu tư ban đầu sẽ cao, nhưng hiệu quả mang lại về sau lớn. Nếu nhận thức rõ điều này thì họ sẽ không ngại đầu tư vào IoT. Quan trọng là giải pháp đó phải hiệu quả và đủ thuyết phục để thay đổi suy nghĩ của họ,” theo anh Nguyễn Khắc Minh Trí.  Không mở rộng được quy mô vì thiếu chuẩn  Bên cạnh đó, để thu thập dữ liệu, các thiết bị phải kết nối được với nhau. Điều đó đã rõ. Nếu là sản phẩm của một công ty thì không thành vấn đề, nhưng các thiết bị của các công ty khác nhau sẽ không “nói chuyện” được với nhau. Nếu một gia đình sử dụng đồng thời giải pháp nhà thông minh của Lumi và thiết bị tưới vườn thông minh của Green Leap, họ sẽ phải sử dụng hai bộ điều khiển và hai ứng dụng di động điều khiển khác nhau. Điều gì sẽ xảy ra khi gia đình này muốn sử dụng thiết bị của mười hãng?   Nguyên do là chưa hình thành một chuẩn chung để kết nối tất cả các thiết bị IoT. Nếu Green Leap muốn kết nối với bộ điều khiển của Lumi và ngược lại, ít nhất là họ sẽ phải chỉnh sửa phần mềm trên thiết bị của họ. Nói cách khác là cho thiết bị của mình có thể “nói nhiều hơn một ngôn ngữ”. Giả sử, có vài chục thiết bị thông minh của các hãng khác nhau trong một hộ gia đình muốn kết nối với một trung tâm điều khiển của Lumi, đồng nghĩa với việc Lumi phải chỉnh sửa vài chục lần phần mềm của mình. Và đó mới chỉ là bài toán cho một hộ gia đình.   Chính vì thế, các doanh nghiệp nhỏ bây giờ đang “chờ” các tập đoàn lớn trên thế giới thống nhất đưa ra một chuẩn chung. Nhưng bản thân những tập đoàn này cũng “chia” thành nhiều liên minh IoT với mỗi liên minh hướng đến một chuẩn riêng. “Mỗi tiêu chuẩn không phải làm một lần là xong mà có có khi mất đến năm năm,” theo ông Nguyễn Thế Trung. Hiện nay, DTT đang tham dự vào cộng đồng OIC do Intel sáng lập, gồm hơn 80 tập đoàn công nghệ trên thế giới để đưa ra một chuẩn về IoT.   “Chúng tôi phải làm đủ nhanh để bắt kịp với chuẩn của thế giới. Bởi nếu không, có khi hoàn thành xong thiết bị của mình theo chuẩn này thì người ta đã chạy sang chuẩn khác. Đó cũng là một rủi ro”, anh Vũ Xuân Linh nhận định.   Anh Nguyễn Tuấn Anh cũng đồng tình với ý kiến đó: “Mỗi chuẩn đều muốn mình là số một nên rất khó. Nói chung là khi chưa có chuẩn gì thì mình cứ làm cách nào để có thể giao tiếp với những người khác đã. Phải có cách thôi.” Một trong các cách của Lumi là bán một phần giải pháp cho khách hàng của các hãng công nghệ lớn trên thế giới. Chẳng hạn, hệ thống nút điều khiển cảm ứng của họ đã tương thích với bộ điều khiển nhà thông minh Smarthings của Samsung. Họ cũng thiết kế hệ thống của mình sao cho dễ dàng nâng cấp, chỉ cần cắm thêm phần cứng và cập nhật phần mềm.  Nhưng rủi ro không chỉ dừng lại ở việc chỉnh sửa phần mềm nhiều lần. “Một số công ty nghĩ mình có thể làm mà không cần theo chuẩn. Nhưng sau này nếu có ai khác làm theo chuẩn, với số lượng lớn và bán rất rẻ thì cạnh tranh thế nào? Phần cứng luôn phải chạy theo số lượng,” ông Nguyễn Thế Trung bày tỏ quan điểm.           Thách thức lớn nhất với các doanh nghiệp làm IoT ở Việt Nam là ở chỗ việc phân tích dữ liệu lớn vẫn nằm ngoài tầm với do số người dùng còn ít và chưa có một chuẩn chung nên các thiết bị của các hãng khác nhau không kết nối được với nhau. Mà để tăng số người sử dụng giải pháp IoT không dễ vì chi phí đầu tư ban đầu cao.        Nhà nước tạo một nền tảng chung?  Các doanh nghiệp IoT không dễ gì trở thành thành viên của các liên minh IoT để được chia sẻ chuẩn chung bởi chi phí không hề rẻ, từ vài chục nghìn đến vài trăm nghìn USD/năm. Chính vì vậy, “Nhà nước nên bắt tay với các hãng công nghệ lớn trên thế giới để xây dựng một nền tảng chung dựa trên chuẩn toàn cầu. Chỗ nào cũng cần cái đó cả. Thay vì bây giờ, mỗi người chỉnh sửa phần mềm để kết nối với từng thiết bị khác hãng thì chỉ cần viết cho nó chạy trên nền tảng đấy thôi. Thế có phải là đẹp không?” ông Trung đề xuất. Nền tảng chung này đóng vai trò một hệ điều hành giống như Windows. Và những gì các doanh nghiệp làm giống như là viết các chương trình Microsoft Offices.   Điều này tạo ra một hệ sinh thái IoT để nhiều người có thể cùng tham gia ở nhiều lĩnh vực. Hơn nữa, khi đó, vì cùng sử dụng một “tiếng nói chung” nên các doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực và các địa phương đều có thể chia sẻ thông tin với nhau.   Nền tảng này cũng dễ dàng kết hợp các doanh nghiệp cùng làm một dự án lớn như thành phố thông minh. “[Những dự án đó] nó rộng lớn. Mỗi công ty làm một phần thôi và nếu cần thì có thể liên minh với nhau,” theo anh Tuấn Anh.  Tháng Chín vừa qua, tại hội thảo về giải pháp IoT của Intel, ông Trần Đức Trung, đại diện của Intel tại Việt Nam, chia sẻ với báo chí rằng, trong Chính phủ chỗ nào cũng có máy tính, server nên cần nghĩ tới việc kết nối chúng với nhau để tạo ra một cơ sở dữ liệu chung vì ngày nay càng sở hữu dữ liệu thì càng giàu có. Vấn đề là làm sao thuyết phục được Chính phủ thấy rằng khoản đầu tư cho IoT là hợp lí và đây không phải là hành động làm “chuột bạch”, ông Trần Đức Trung nói thêm.  Trong khi đó, trao đổi với phóng viên tạp chí Tia Sáng, ông Đào Ngọc Chiến, Vụ phó Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN, cho biết, Nhà nước chưa có chiến lược gì trong việc phát triển IoT ở Việt Nam. “Vấn đề là cơ sở dữ liệu rất lớn, ai nắm trong tay và khai thác như thế nào, phải đầu tư lớn về mặt máy chủ, hệ thống xử lý, kể cả nhân lực. Không thể ngay được. Không thể rẻ được. Theo tôi là phải tìm cách xã hội hóa chứ Nhà nước không đủ nguồn lực.”  Về phía doanh nghiệp, họ cũng ngại đầu tư. “Rất là khó. Tốn rất nhiều thời gian, nhân lực mà mình cũng chưa có bài toán áp dụng, chưa biết có ra được cái gì hay không, không biết khách hàng có bỏ thêm chi phí cho dịch vụ mới của mình không,” anh Nguyễn Tuấn Anh tỏ ra dè dặt.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi cây cối trữ kim loại nặng, giúp làm sạch đất      Một số loài cây có thể hút và và lưu giữ kim loại nặng, do đó chúng có thể giúp làm sạch đất bị ô nhiễm và tách chiết những kim loại quý từ đất thông qua quá trình thu hồi các nguyên tố hữu ích – tất cả được thực hiện một cách tự nhiên mà không cần phải dùng đến cuốc xẻng.      Nhu cầu của chúng ta về các kim loại cũng lớn như nhu cầu về dầu mỏ. Trên thực tế, với việc thực hiện một số dự án phát triển xe điện thì nhu cầu của chúng ta về kim loại thậm chí còn vượt qua cả dầu mỏ.  Vấn đề là kim loại quý thì không dễ dàng để tách chiết. Ví dụ như nguyên tố germanium là một á kim quý và là vật liệu quan trọng để sản xuất linh kiện bán dẫn transistor. Kim loại này có độ nhạy rất lớn với tia hồng ngoại nên cũng được dùng làm nguyên liệu sản xuất kính đi đêm và các cảm biến đo khoảng cách ở ô tô.  Không chỉ có vậy, germanium còn được dùng để làm ra những cái chai nhựa PET (chai nhựa có thành phần nhiệt nhựa dẻo polymer) – khoảng 1/3 nhu cầu thế giới về germanium là để sản xuất chai nhựa PET. Trong trường hợp này, germanium có khả năng làm cho các chai nhựa trở nên trong hơn.    Tuy vậy germanium lại khó khai thác. Dẫu cho nguyên tố này cũng là chất bán dẫn như silicon và có thể được tìm thấy trong lòng đất ở khắp nơi trên thế giới nhưng lại ở dạng rất phân tán. Một tấn đất thông thường chỉ chứa khoảng 1,5 gram germanium. Việc tách chiết germanium theo phương pháp khai mỏ truyền thống rất tốn kém.  Vì vậy, giới công nghiệp thường thu thập germanium từ tro xỉ trong những nhà máy nhiệt điện than và tro xỉ từ quá trình luyện quặng kẽm. Giá một kg germanium vào khoảng 2.000 euro (tương đương 2.225 đô la).  Germanium được tìm thấy trong vùng mỏ bang Saxony, Đức. Nhà hóa học Clemens Winkler đã khám phá ra nguyên tố này từ năm 1886 trong một thị trấn ở Freiberg. Ngày nay giáo sư Hermann Heilmeier đang cố gắng dùng một phương pháp mới để đưa loại á kim quý này ra khỏi lòng đất.  Cây là kho tích lũy  Tại trường Đại học Công nghệ và Mỏ Freiberg, các nhà sinh học dùng cây để tách chiết germanium từ đất và đưa nguyên tố này đến thân và lá. Giáo sư Hermann Heilmeier và nhóm nghiên cứu của ông đang thực hiện thí nghiệm trên cây sậy hoa vàng (reed canary grass).  “Loại cây này thường mọc phổ biến ở các cánh đồng cỏ ngập nước. Ở miền nam Scandinavia, nông dân thường trồng nó để làm chất đốt,” Heilmeier cho biết.  Cây thân cỏ có đặc tính “siêu tích trữ”. Chúng có thể hút axít silic và lưu trữ silicon dưới dạng nhỏ như các hạt cát trong lá. Đây cũng là cách chúng tự bảo vệ mình trước những kẻ thù của mình. Như chúng ta đều biết, cát chẳng ngon lành gì nên khi trữ chúng trong lá thì các loại thân thảo cũng khó xơi.  Cây sậy xử lý germanium cũng theo cách này. Sau mùa thu hoạch, sậy được phơi khô và đốt. Số lượng nguyên tố này trong tro không còn ở mức cao nhưng vẫn vượt trội so với lượng germanium trong đất – một tấn tro có thể chứa tới 100 gram germanium.  Cây hút kim loại nặng khỏi đất    Cây dương và cây cải dầu cũng phù hợp với “nhiệm vụ” hút và tách chiết kim loại.  Còn có nhiều loại cây khác phù hợp hơn với việc tách chiết kim loại nặng, ví dụ như các cây họ cải (Brassicaceae) với đại diện xuất sắc là cây cải dầu. Loại cây này có chứa một lượng axít amin sulfur cao đến mức nó có thể nguy hiểm với cả hươu nai.  Các axít amin liên kết với kim loại, một trong số chúng là histidine, một axít amin mạnh trong việc vận chuyển nickel từ rễ đến chồi non của cây. Đây cũng chính là những gì giáo sư Ute Krämer tìm kiếm, ông là trưởng khoa Khoa sinh học phân tử, Đại học Ruhr tại Bochum.  Krämer đang nghiên cứu về Arabidopsis halleri, một cây họ Cải có khả năng hút các loại kẽm và cadmium.   “Những cây họ Cải không chỉ có khả năng hút các chất ô nhiễm khỏi đất mà còn có thể tích tụ các kim loại quý với tốc độ kỷ lục”, Krämer nói. Các kim loại có thể được tái chế thành vật liệu thô theo cách ít tốn kém.  Nhưng vào thời điểm này thì tất cả mới là nghiên cứu cơ bản. Krämer vẫn còn muốn tìm đáp án cho hai câu hỏi: “liệu có phải các cây dùng kẽm và cadmium để tự vệ trước bệnh tật?” và “những quá trình vi sinh hay sinh lý nào tham gia vào việc tách chiết kim loại, vận chuyển chúng và tích tụ chúng trong lá cây?”  Người ta mới biết rằng cây tích trữ kim loại ô nhiễm tại hai nơi; một trong thành tế bào, do mang điện tích âm nên thu hút các ion kim loại; hai là vô bào, một “nhà kho” bên trong tế bào có khả năng cất trữ chất lỏng.  “Đó là nơi các kim loại được liên kết, với sự hỗ trợ của các axít hữu cơ như axít citric”, Heilmeier giải thích.  Nguồn nickel  Các nhà khoa học có một danh sách các loại cây mà họ có thể lựa chọn cho nghiên cứu, việc lựa chọn phụ thuộc vào kim loại mà họ muốn tìm kiếm và loại đất, điều kiện môi trường mà họ phải giải quyết. Họ có thể chọn ngô hay hướng dương, thậm chí cả cây thân gỗ.  Một trong những loài nhiều hứa hẹn là Pycnandra acuminata, một cây trong họ Hồng xiêm ở New Caledonia ở tây nam Thái Bình Dương. Nó có khả năng tích tụ nickel bởi trong nhựa vỏ cây của nó chứa 1/4 kim loại.  Các loại liễu và dương cũng có xu hướng tích tụ kim loại, đặc biệt trong lá. Để tách chiết kim loại, người ta có thể gom lá trong mùa thu với máy hút chân không. Nhưng cách làm này không kinh tế vào thời điểm hiện tại.  Nhiều ý tưởng nghiên cứu vẫn còn quá tốn kém để áp dụng. Nhưng có một ví dụ đã thành công khi thực hiện tại ven hồ Ohrid tại Albania. Cây hoa ngàn sao thuộc họ Cải (Alyssum murale) lớn lên ở đây, ở gần một mỏ nickel cũ tên là Gur-i-Kuq (Đá đỏ). Trên thực tế, loại cây này phát triển thành “bức tường hoa”. Tro của nó chứa nhiều nickel đến mức nông dân có thể bán chúng với giá 80 đô la một tấn cây khô (khoảng 72 euro).  Từ nay cho đến lúc việc áp dụng khả năng thu hồi các nguyên tố kim loại có thể sinh lời, giá cả của các loại kim loại có thể vẫn tăng lên. Vì vậy các loại cây siêu hấp thụ kim loại có thể được dùng để giữ cân bằng các vùng đất ô nhiễm bởi chất thải khai mỏ. Các loại cây này có thể chuyển các chất gây ô nhiễm vào cơ thể dưới dạng các hợp chất ít nguy hiểm hơn và ngăn chúng không tràn ra môi trường.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/when-plants-work-as-miners-and-cleaners/a-38882153    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí hậu và địa lý phát triển những kết nối tinh thần giữa cây đại thụ với người      Các cây đại thụ là những sinh vật lớn nhất và tồn tại lâu đời nhất trên trái đất. Chúng đóng một vai trò quan trọng về mặt sinh thái trong thế giới tự nhiên. Các xã hội loài người cũng có xu hướng ghi nhận mối liên quan với các cây lớn và đem lại cho chúng vai trò văn hóa xã hội đáng kể. Các cây đại thụ cũng có những nhận diện riêng biệt và thường được người dân địa phương đặt tên riêng. Điều này có thể truyền cảm hứng cho sự nhận thức và trở thành đối tượng tín ngưỡng.    Theo cách này, các cây đại thụ có một sự kết nối tinh thần với người địa phương và khuyến khích sự cố kết xã hội quanh chúng. Do đó, việc gắn các cây đại thụ với sự nhận diện cũng thúc đẩy đời sống tinh thần của con người. Nói cách khác, các cây đại thụ đem lại vô số dịch vụ sinh thái tinh thần và đem lại lợi ích cho đời sống tinh thần của các xã hội loài người. Tuy nhiên, sự phát triển của các kết nối tinh thần giữa các cây đại thụ và con người chưa được bộc lộ.  Địa lý và khí hậu được biết như những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi, kích thước và những đặc trưng khác của cây cối. Việc miêu tả các mẫu hinh và tiết lộ các quá trình cơ bản là một chủ đề chính của hệ sinh thái vĩ mô, vốn tập trung vào những mẫu hình sinh thái theo không gian và thời gian quy mô lớn. Các nghiên cứu trước đây cho thấy cây cối có những đặc tính khác thường (ví dụ kích thước lớn, tuổi) có xu hướng đem đến những cái tên độc đáo và được ghi nhận như điều thiêng liêng.  Những nghiên cứu khác lại đề xuất tôn giáo liên quan đến bối cảnh khí hậu và địa lý. Do đó, kích thước và phân bố của cây cối và các dịch vụ hệ sinh thái tinh thần có thể bị các quá trình sinh thái vĩ mô ảnh hưởng (ví dụ địa lý, khí hậu). Có thể sử dụng một phương pháp thích hợp là sử dụng đa giả thuyết để khám phá những quá trình chưa biết đó, nếu nhìn từ góc độ sinh thái vĩ mô.  Một nghiên cứu sinh thái vĩ mô do Ryosuke Nakadai (Viện nghiên cứu môi trường quốc gia, Nhật Bản) đã dùng mô phỏng phương trình cấu trúc (SEM) với hồ sơ 38.994 cây đại thụ thuộc 237 loài trên khắp Nhật Bản để chứng tỏ là biến khí hậu, như lượng mưa và nhiệt độ hằng năm, và biến địa lý, như vĩ độ và độ cao, có thể điều hướng cả các xác suất của một vật thể tín ngưỡng và đón nhận một cái tên riêng biệt của các cây đại thụ một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua các đặc trưng của cây (ví dụ kích thước và tuổi).  Ví dụ, cả chu vi thân cây và tuổi cây đều dẫn đầu hai biến ảnh hưởng với xác suất một cây trở thành một vật thể tín ngưỡng và được trao một cái tên riêng. Chu vi thân cây và tuổi cây cũng có mối tương quan chặt chẽ với các yếu tố khí hậu. Mối quan hệ thú vị nhất là xác suất của một cây trở thành một vật thể tín ngưỡng và có tên riêng có xu hướng gia tăng với lượng mưa hằng năm thấp hơn.  Sự tôn kính cây đại thụ ở Nhật Bản liên quan một phần với “cầu mưa xuống” (雨乞い; ‘Amagoi’ trong tiếng Nhật) và một số cây thậm chí còn có tên liên quan. Do đó, các kết quả của SEM cũng bao hàm chặt chẽ với những phát hiện mang tính kinh nghiệm trước đó. Thực hành trồng lúa đã đặt nền tảng cho xã hội Nhật Bản truyền thống và vô số tín ngưỡng về mùa vụ lúa đã là một nguồn vật chất lớn liên quan trực tiếp đến sự sống và cái chết. Giữa vô số các yếu tố khí hậu, hạn hán là nhân tố mạnh nhất ảnh hưởng đến sự thất thu mùa vụ.  Nghiên cứu về các cây đại thụ ở Nhật Bản là nghiên cứu đầu tiên chứng minh được một cách rõ ràng mối quan hệ giữa các dịch vụ sinh thái tinh thần và những quá trình sinh thái vĩ mô, vốn vô cùng khó để định lượng ra được. Những phát hiện này đem lại một điểm bắt đầu cho việc làm sáng rõ sự kết nối tinh thần giữa con người và đa dạng sinh thái cũng như các quá trình định hướng bên trong sự kết nối này.  Nghiên cứu này cũng đề xuất những tác động tiềm năng của biến đổi khí hậu lên những kết nối tinh thần giữa các cây đại thụ và con người. Tuy nhiên việc ngăn sự mất mát của các dịch vụ sinh thái tinh thần, vai trò và tầm quan trọng với xã hội loài người vẫn còn những điểm chưa rõ ràng, vì vậy các nhà nghiên cứu đồng ý là cần có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.  Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Nature Plants 1.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn:https://phys.org/news/2023-02-climate-geography-spiritual-giant-trees.html  https://www.earth.com/news/what-drives-a-spiritual-connection-with-giant-trees/  ————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41477-022-01337-1       Author                .        
__label__tiasang Khi máy tính viết nhạc      Phải chăng đến một lúc nào đó các buổi hòa nhạc sẽ biểu diễn âm nhạc do trí tuệ nhân tạo sáng tác?      Liệu phần mềm máy tính có thể sáng tác những bản nhạc xứng tầm Chopin hoặc Cream hay không còn là một ẩn số. Ảnh: assets.     Ngày nay, dường như bất kỳ ai sở hữu máy tính đều có thể trở thành nhà soạn nhạc. Chỉ với vài nốt ban đầu của một bản nhạc, một phần mềm thương mại như Magenta do Google phát triển có thể tạo ra một giai điệu vui vẻ và êm tai. Êm tai, song không phức tạp. Ít nhất, đó là quan điểm của Gerhard Widmer, giáo sư tại Đại học Johannes Kepler, thành phố Linz, Áo.     Theo tiến sĩ Widmer, “thứ mà các phần mềm này tạo ra có lẽ có một số tính chất thống kê nhất định. Tuy không nghịch tai, nhưng nó không phải là âm nhạc thực thụ… Phần mềm sẽ tạo ra một thứ giai điệu kéo dài ba ngày vì nó chẳng có khái niệm gì về điều nó muốn làm. Nó không biết rằng mọi sự cần một kết thúc, một mở đầu, và một khoảng ở giữa.” Ông cho rằng mình có thể làm tốt hơn thế. Ông muốn dùng trí tuệ nhân tạo để khám phá xem việc đùa giỡn với những kỳ vọng của thính giả ảnh hưởng đến cảm nhận về âm nhạc của họ như thế nào, và sau đó sử dụng kiến thức này để tạo ra một phần mềm có thể sản xuất ra thứ âm thanh gần với Beethoven hơn là “Baa Baa Black Sheep”. Điều đó có nghĩa là cung cấp cho máy tính khả năng nhận biết những sắc thái tinh tế mà hiện giờ nó chưa thể phát hiện, nhưng có thể học được với sự hỗ trợ của các kỹ thuật mới nhất. Để đạt được mục tiêu này, Tiến sĩ Widmer đang thực hiện dự án “Whither music?” – tựa đề được mượn từ chuỗi bài giảng tại Đại học Harvard năm 1973 của Leonard Bernstein, một nhà soạn nhạc nổi tiếng thế kỷ 20.     Khi con người nghe một bản nhạc, tiềm thức của họ dự đoán nốt nhạc kế tiếp là gì. Một thủ thuật các nhà soạn nhạc sử dụng là đùa giỡn với những kỳ vọng này – đôi khi đáp ứng những gì được mong đợi và đôi khi cố tình rẽ ngoặt bất ngờ. Nhạc công nâng sự thao túng cảm xúc lên mức cao hơn bằng cách thêm vào biểu cảm – chẳng hạn, bằng cách nhấn âm vào một câu hát cụ thể hoặc chuyển sang nhịp staccato, khiến nó khác biệt so với câu hát trước đó. Do vậy, một điều mà tiến sĩ Widmer đang làm là hướng dẫn máy tính sao chép họ.     Để làm được điều này, ông và đồng nghiệp đã thu thập một số lượng bản thu khổng lồ được ghi âm trên các nhạc cụ thiết kế riêng, điển hình là Bösendorfer 290 SE, một mẫu đàn piano hòa tấu sản xuất vào thập niên 1980, được lắp đặt cảm biến nhằm đo lực và thời điểm nhấn phím đàn của nghệ sĩ với độ chính xác cao. Tâm điểm của bộ sưu tập là tổng hợp các buổi biểu diễn hầu như toàn bộ các tác phẩm piano độc tấu của Chopin trên cây đàn 290 SE do Nikita Magaloff, nghệ sĩ piano hòa tấu huyền thoại và chuyên gia về Chopin, biểu diễn. Các buổi biểu diễn này được ghi lại từ chuỗi sáu buổi hòa nhạc mà Magaloff tham gia ở Vienna, ngay trước khi ông qua đời vào năm 1992.     Phần mềm của nhóm nghiên cứu lấy dữ liệu từ các bản thu âm này và các bản thu âm khiêm nhường hơn, và so sánh chúng với bản nhạc gốc của nhà soạn nhạc. Nó tìm kiếm những điểm không trùng khớp giữa cả hai – ví dụ như những chỗ nhạc công thả chậm nhịp điệu vài mili giây hay nhấn mạnh vào một nốt nhạc hơn so với bản nhạc yêu cầu. Bằng cách phân tích hàng nghìn diễn tấu và so sánh chúng với phiên bản số hóa của bản nhạc gốc do các nhà soạn nhạc sáng tác, phần mềm học cách nhận biết những gì mà nhạc công lựa chọn nhấn mạnh, và do đó, những gì họ cho là đặc biệt thú vị đối với thính giả.     Các thuật toán khác cũng đang được hướng dẫn về quy tắc soạn nhạc. “[Các mô hình phần mềm hiện có] dùng tất cả các nốt nhạc từng được chơi trước đây để dự báo nốt nhạc kế tiếp, một quá trình chẳng có chút gì liên quan đến cách con người viết nhạc,” tiến sĩ Widmer giải thích. “Soạn nhạc là một quá trình lên kế hoạch mang tính cấu trúc. Chúng tôi muốn tạo ra các mô hình dự đoán đồng thời ở nhiều cấp độ.” Nhóm nghiên cứu đang thiết kế và đào tạo các mô-đun riêng lẻ về các cấu phần khác nhau của âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, vòng hòa thanh,… – với ý định kết hợp chúng thành một chương trình có thể học từ dữ liệu tổng thể về bản nhạc và diễn tấu.     Sau khi hoàn tất, phần mềm soạn nhạc đại tài từ dữ liệu lớn này sẽ quyết định không chỉ đâu là nốt nhạc kế tiếp, mà còn tại sao lại như vậy và nên chơi nốt đó như thế nào. “Thay vì nói rằng, ‘theo suy luận thống kê, nốt tiếp theo có khả năng là C’, phần mềm sẽ nói, “tôi tin rằng bốn ô nhịp tiếp theo sẽ mang hơi hướm của vòng hòa thanh IV-I-V [vòng hợp âm phổ biến trong âm nhạc phương Tây], bởi chúng ta đã bắt gặp vòng hòa thanh kiểu này trong ngữ cảnh tương tự ở phần trước của nhạc phẩm’.”     Phần mềm kiểu này có thể được ứng dụng để giải quyết các vấn đề khác bên ngoài sáng tác nhạc. Các thuật toán “gợi ý” hiện nay gặp khó khăn trong việc tạo ra các playlist nhạc khớp với sở thích cụ thể của người nghe. Một bài báo mới đây cho thấy chúng khá rành việc gợi ý các bản nhạc pop cho người nghe có gu đa dạng, nhưng không giỏi đề xuất âm nhạc cho người thích một thể loại cụ thể, chẳng hạn như heavy metal hay rap. Một phần mềm hiểu về kỳ vọng của thính giả sẽ hoàn thành công việc này tốt hơn. Một chương trình nắm được sở thích nghe nhạc của người dùng có thể khám phá ra những điều kỳ thú ẩn giấu trong âm nhạc của Skepta hay Slayer, từ đó đề xuất các bản nhạc mới mang phong cách tương tự.     Liệu phần mềm máy tính có thể sáng tác những bản nhạc xứng tầm Chopin hoặc Cream hay không còn là một ẩn số. Tiến sĩ Widmer tỏ ra nghi hoặc, nhưng thật khó để hiểu được tại sao. Nghệ thuật vĩ đại thường là sản phẩm của việc biết khi nào nên tuân thủ quy tắc và khi nào nên phá vỡ chúng. Đó chính xác là những gì ông đang dạy cho những cỗ máy của mình.     Anh Thư dịch  Nguồn: Composing by computer    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nghệ nhân làm đàn gặp trí tuệ nhân tạo      Làm thế nào để dự đoán được âm thanh tạo ra từ những miếng gỗ được cắt gọt và tạo thành một cây đàn violin? Hình dạng nào là hoàn hảo và có khả năng đem lại âm thanh đẹp nhất cho cây đàn?Hiện trí tuệ nhân có thể đưa ra câu trả lời.      Đó là những kết luận mà các nhà nghiên cứu thuộc Phòng thí nghiệm Âm học của trường đại học Bách khoa Milano trong một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Scientific Reports 1.  Trong bài báo “A Data-Driven Approach to Violinmaking” (Một cách tiếp cận định hướng bằng dữ liệu cho người làm đàn), nhà vật lý người Chile và thợ làm đàn Sebastian Gonzalez (nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ) cùng nghệ sĩ mandolin chuyên nghiệp Davide Salvi (nghiên cứu sinh) cho thấy một mạng thần kinh đơn giản và hiệu quả có khả năng dự đoán hành xử dao động của các tấm gỗ làm đàn violin. Dự đoán này thu được từ môt bộ tham số về mặt hình học và cơ học của miếng gỗ làm đàn.  Năng lực dự đoán âm thanh của một thiết kế đàn violin, có thể thực sự là vật thay đổi cuộc chơi với những người thợ làm đàn, vì không chỉ sẽ giúp họ làm đàn tốt hơn một “bậc thầy” mà sẽ còn giúp họ khám phá tiềm năng của những vật liệu và thiết kế mới. Nghiên cứu này cho phép chúng ta tiến những bước đầu tiên theo hướng này, chứng tỏ cách trí tuệ nhân tạo, mô phỏng vật lý và nghệ nhân có thể cùng nhau hợp lực để rọi ánh sáng mới vào nghệ thuật làm đàn violin.    Các cây đàn violin là những vật thể vô cùng phức tạp, hình học của chúng được xác định bằng chính đường viền ngoài của chúng, đường cong dọc theo các mặt cắt ngang và dọc của chúng. Yếu tố khơi gợi cho các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu này bắt nguồn từ một bức vẽ lịch sử tại Museo del Violino ở Cremona. Các nhà nghiên cứu Politecnico di Milano đã phát triển một mô hình miêu tả dduowwngf viền ngoài của cây đàn violin như sự liên kết của các đường cong của chính đường tròn. Nhờ có sự tái hiện này và mô hình hiệu quả về đường cong của lưng đàn, trên cơ sở cây đàn nổi tiếng “Messiah” của Stradivarius, các nhà nghiên cứu đã có khả năng vẽ ra một lưng đàn violin như một hàm với 35 tham số.  Bằng việc thay đổi một cách ngẫu nhiên nhiều tham số, như những bán kính và vị trí trung tâm của các đường tròn, đường cong, độ dày, các đặc điểm cơ học của gỗ…, họ đã xây dựng được một bộ dữ liệu về các cây đàn violin, vốn bao gồm những hình dạng rất đơn giản cho những người sử dụng chúng để làm đàn nhưng được thiết kế theo cách chưa từng thấy trước đây. Rất nhiều hình dạng của thông số đầu vào đã được đưa vào mạng thần kinh này.  Các công cụ tiên tiến cho mô hình hóa những rung động đã được sử dụng để đặc tính hóa hành xử về âm học của mỗi cây đàn trong bộ dữ liệu.  Bước tiếp theo là để hiểu nếu một mạng thần kinh thông thường có khả năng dự đoán được hành xử âm học của một lưng đàn violin, bắt đầu từ các tham số của chúng không? Câu trả lời đưa ra tích cực với độ chính xác tới 98%, vượt quá bất kỳ mong đợi nào.  Công trình này đưa ra một công cụ đổi mới sáng tạo và hứa hẹn trong tầm tay của những người thợ làm đàn Cremona và trong sự mong đợi của cộng đồng quốc tế. Bằng việc sử dụng một mạng thần kinh, nó sẽ cho phép các nghệ nhân làm đàn dự đoán được cách một miếng gỗ có khả năng chế tạo nhạc cụ sẽ tạo ra âm thanh như thế nào, một khi được chạm khắc thành lưng đàn. Nhưng ngoài ra, nó còn có thể hữu dụng để thiết kế cho hai cây đàn violin có hành xử âm học trùng khít nhau, ngay cả khi được làm từ những miếng gỗ khác biệt. Trong tương lai, nghiên cứu này sẽ cho phép chúng ta lựa chọn những loại gỗ tốt nhất để làm một cây đàn cụ thể, điều mà ngày nay vẫn chỉ thuần túy dựa trên những quyết định về mặt thẩm mĩ.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-05-violinmaking-artificial-intelligence.html  https://www.zmescience.com/science/news-science/violin-ai-design-08062021/  —————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41598-021-88931-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi ngôi sao khổng lồ rực lửa nuốt gọn Trái đất      Việc quan sát được vô số ngôi sao cho phép các nhà nghiên cứu đưa ra những dự đoán chính xác hơn về số phận tương lai của Mặt trời và các hành tinh quay quanh nó.    Dù có vẻ giống kịch bản của một bộ phim khoa học viễn tưởng về ngày tận thế, nhưng các nhà khoa học cho rằng đây là một kịch bản hợp lý: Trong khoảng 3,5 tỷ năm nữa, bề mặt Mặt trời sẽ bắt đầu nguội và trong quá trình đó, nó phình ra thành một ngôi sao khổng lồ màu đỏ có thể nuốt bốn hành tinh vào bên trong, kể cả Trái đất.  Theo báo cáo của Cơ quan Vũ trụ châu Âu ESA, viễn cảnh đáng sợ này không phải là điều mới mẻ, các nhà thiên văn học hiện đã xác định được thời gian và diễn biến của thảm họa này chính xác hơn bao giờ hết. Để làm được điều này, từ năm 2014 các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mới được công bố từ vệ tinh Gaia – vệ tinh đã quan sát hàng tỷ ngôi sao bằng một số kính viễn vọng.  Theo kịch bản của ESA, Mặt trời sẽ đạt nhiệt độ tối đa khoảng 6065oC.  Orlagh Creevey và đồng nghiệp thuộc Đài quan sát Côte d’Azur ở Pháp đã phân tích hàng loạt dữ liệu và giải thích: “Chỉ khi chúng ta hiểu được Mặt trời – thực tế còn nhiều điều con người chưa biết về nó, thì chúng ta mới có thể hiểu được tất cả các ngôi sao khác trong dải Ngân Hà của chúng ta”.  Khối lượng và nhiệt độ của các ngôi sao liên tục tăng  Để có được những hiểu biết mới về Mặt trời, các nhà nghiên cứu phải xem xét một số lượng lớn các ngôi sao tương tự. Bởi vì chúng ta chỉ nhìn thấy Mặt trời của chúng ta ở thời điểm phát triển hiện tại, sau khi nó đã hình thành được 4,57 tỷ năm. Các nhà thiên văn chỉ có thể dự đoán sự tiến hóa của Mặt trời bằng cách quan sát những ngôi sao giống Mặt trời ở các độ tuổi khác nhau.  Vệ tinh Gaia đã cung cấp dữ liệu về sự chuyển động, kích thước, nhiệt độ, khối lượng và thành phần hóa học của các ngôi sao. Việc phân tích chi tiết các dữ liệu này giúp các nhà thiên văn học xác định các loại sao, từ đó có thể biết loại nào giống với Mặt trời, và tuổi của nó.  Bước đầu tiên mà Creevey và các đồng nghiệp của cô đã làm là lọc ra những ngôi sao có giá trị chính xác nhất từ lượng dữ liệu khổng lồ. Cô nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn có một bộ dữ liệu tinh khiết nhất có thể để có được các phép đo chính xác cao”. Bước thứ hai, nhóm nghiên cứu đã lọc ra những ngôi sao giống Mặt trời về khối lượng và thành phần hóa học.  Điểm mấu chốt là mặc dù tất cả những ngôi sao này đều giống với Mặt trời nhưng chúng lại rất khác nhau về độ tuổi. Bởi vì chừng nào các ngôi sao còn đốt cháy hydro thành heli ở bên trong chúng và tạo ra bức xạ, thì sự thay đổi về khối lượng và thành phần của chúng là rất nhỏ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy kích thước và nhiệt độ của các ngôi sao đều đang tăng dần.  Nhiệt độ tối đa đạt 6065oC  Vì các ngôi sao tương tự như Mặt trời nhưng có độ tuổi khác nhau, nhóm nghiên cứu của Creevey có thể xác định sự phát triển của các ngôi sao này theo thời gian, diễn biến này cũng tương tự như Mặt trời của chúng ta. Kết quả cho thấy, khi Mặt trời đạt 8 tỷ năm tuổi, bề mặt của nó sẽ đạt nhiệt độ tối đa, chỉ cao hơn khoảng 20oC so với giá trị hiện tại là 6045oC.  Sau đó, nó bắt đầu nguội đi và phình to ra thành một khối khổng lồ màu đỏ. Là một gã khổng lồ không ngừng mở rộng, nó có thể nuốt gọn bốn hành tinh là sao Thủy, sao Kim, Trái đất và sao Hỏa. Chỉ khi không còn phản ứng tổng hợp hạt nhân bên trong Mặt trời, ở độ tuổi từ 10 đến 11 tỷ năm, thì ngôi sao khổng lồ đỏ mới sụp đổ thành một ngôi sao lùn trắng có kích thước chỉ bằng Trái đất, quá trình nguội lạnh dần này diễn ra trong hàng tỷ năm.  Tuy nhiên Creevey và các đồng nghiệp còn tiến thêm một bước nữa: Từ các dữ liệu đã thu được, họ chọn ra những ngôi sao giống Mặt trời về nhiệt độ và kích thước và độ tuổi. Họ đã tìm thấy tổng cộng 5883 “đối tượng tương tự Mặt trời”. Danh mục này rất có giá trị đối với các nhà thiên văn học trên toàn thế giới. Bởi vì những quan sát chính xác về các ngôi sao này có thể cho chúng ta câu trả lời Mặt trời của chúng ta “bình thường” như thế nào. Hay sự xuất hiện của sự sống trên Trái đất phụ thuộc vào những đặc tính khác biệt của Mặt trời so với các ngôi sao khác.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article240469803/Zukunft-der-Sonne-Wenn-der-Rote-Riesenstern-die-Erde-verschlingt.html    Author                .        
__label__tiasang Khi thi gặp họa      10 giờ sáng này 7/4/2019 hai sự kiện nghệ thuật thi họa song song sẽ diễn ra tại Laca Café (24 Lý Quốc Sư, Hà Nội), đó là triển lãm hội họa nghệ thuật nude Trang và ra mắt tập 5 trường ca của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha.    Trang là một dự án nghệ thuật khép kín của nhóm họa sỹ G39 bao quát cả một chuỗi sáng tạo từ chọn người mẫu đến mời họa sỹ vẽ ký họa trực tiếp của nhóm họa sỹ G39. Sau chu trình đầu tiên này, từng họa sỹ hoặc sẽ sáng tác trên những bức ký họa đó trong những khoảng thời gian hoàn thiện tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn riêng của mình, điểm kết của chu trình sáng tạo đó là một triển lãm các tác phẩm chọn lọc.    Tác giả: Minh Châu  Ở dự án nghệ thuật này, nhóm họa sỹ G39 đã lựa chọn được Vũ Huyền Trang – một người mẫu chuyên nghiệp từng lọt vào Top 15 chương trình Vietnam Next Top Model 2012 và đã tham gia vào rất nhiều chương trình biểu diễn thời trang. Hiện nay, Trang vừa làm song song hai việc, nghề biểu diễn và mở các lớp huấn luyện mẫu. Nhiều năm qua, Trang đã đồng hành với các chương trình hoạt động của nhóm họa sỹ G39. Mối “lương duyên” đẹp đẽ giữa hai nhánh của nghệ thuật, giữa một bên là thời trang, một bên là hội họa, đã được bung nở một cách rất riêng như vậy. Có lẽ đây là lần đầu tiên nghề mẫu và người mẫu được tôn vinh bằng hội họa như thế này.  Triển lãm với sự tham gia của 11 họa sỹ, trong đó có một số tên tuổi quen thuộc như Phan Minh Châu, Nguyễn Hồng Phương, Võ Lương Nhi, Nguyễn Minh, Nguyễn Quốc Thắng, Phạm Trần Quân, Lê Thiết Cương…  Ở một khía cạnh khác của nghệ thuật trình diễn lần này là màn ra mắt của 5 trường ca, gồm: Rừng đỏ, Hành lang thép, Một chiến binh, Những người đi qua biển và 8 giờ. Tác giả Nguyễn Thụy Kha, từ năm 1972 đến nay đã viết nhiều thơ và trường ca về chiến tranh, tiêu biểu là các tập thơ “Thời máu xanh” (1999) , “Biệt trăm năm” (2004) và trường ca “Năm tháng và chiều cao”, “Gió Tây Nguyên” (2000)… Trong tập thơ lần này, đáng chú ý có trường ca “Những người đi qua biển” được nhà thơ Nguyễn Thụy Kha viết khi ông cùng các văn nghệ sĩ Hà Nội sang Mỹ dự lễ kỷ niệm thành lập 30 năm Viện William Joiner (khoa tiếng Việt) thuộc trường Đại học Massachusset (Mỹ) như một cách hàn gắn chiến tranh, mất mát giữa hai đất nước, hai thế đối nghịch nhau trong quá khứ, giờ bắt tay nhau làm bạn để cùng hướng tới tương lai.  Theo Thông cáo báo chí       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi trụ đỡ nông nghiệp bị lung lay      Nông nghiệp vốn được coi là chỗ dựa của nền kinh tế trong khủng hoảng  nhưng đang có nhiều dấu hiệu cho thấy trụ cột này không còn vững vàng  nữa. Tỷ lệ tăng trưởng chậm, cơ cấu ngành không hợp lý và nhiều vấn đề  cho thấy thực tế này.    Nhiều năm rồi, ngành nông nghiệp mới có một báo cáo  không sáng sủa như vậy. Trong năm tháng đầu năm nay, hầu hết các lĩnh  vực của ngành đều có xu hướng tăng trưởng chậm lại: “Thị trường tiêu thụ  lúa gạo và cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn, hạn hán gây  ảnh hưởng tới lúa hè thu và cây càphê ở miền Trung và Tây Nguyên, dịch  bệnh trên gia súc gia cầm ngày càng phức tạp, sản xuất chăn nuôi giảm,  xuất khẩu các mặt hàng nông sản giảm cả về lượng và giá trị”, bộ trưởng  bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã nhấn mạnh trong  cuộc họp tổng kết năm tháng của ngành này.     Trong những giai đoạn trước, tốc độ tăng tổng sản phẩm  quốc nội nông nghiệp (GDP nông nghiệp) khá cao. Giai đoạn 1995 – 2000 tỷ  lệ này là 4%, đến giai đoạn 2001 – 2005 giảm xuống 3,83%, tiếp tục giảm  còn 3,3% vào năm 2006 – 2010 và tụt xuống còn 2,72% vào năm 2012. Dự  báo năm 2013, tỷ lệ này cũng khó có thể tăng.     Vào cuối tuần trước, khi thảo luận về vấn đề tái cơ cấu  ngành nông nghiệp, ông Đặng Kim Sơn, viện trưởng viện Chính sách và  chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn đã chỉ ra những lý do khiến  nông nghiệp nước ta sẽ tiếp tục tăng trưởng chậm lại. Đó là các yếu tố  chủ quan như những vướng mắc về quản lý đất đai, khoa học công nghệ kém,  vật tư mắc (đắt) và kém, cơ sở hạ tầng lạc hậu, thiếu sự liên kết. Cộng  thêm các vấn đề khách quan tác động như thiên tai, thị trường biến  động, kinh tế suy thoái, công nghệ hỗ trợ kém, đầu tư thấp… nông nghiệp  sẽ khó có thể trở thành trụ đỡ an toàn cho nền kinh tế.     Một ví dụ cụ thể là năng suất lao động ngành nông  nghiệp nước ta hiện thấp nhất trong khu vực, thấp hơn cả Lào, Campuchia  và Myanmar, ông Đặng Kim Sơn cho biết. Tới nay, tất cả các nước trong  khu vực đã có năng suất lao động nông nghiệp cao hơn 400 USD/người/năm  (theo mức giá tính năm 2000) thì Việt Nam vẫn đang ở mức khoảng 380  USD/người/năm. Năng suất lao động thấp cũng góp phần đẩy chi phí đầu vào  của các sản phẩm nông nghiệp tăng lên, giảm sức cạnh tranh.     Là đất nước có thế mạnh với hơn 70% dân số hoạt động  nông nghiệp nhưng nông sản Việt Nam vẫn có chỗ đứng thấp kém trên thị  trường nông sản thế giới. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thừa  nhận, phần lớn nông sản xuất khẩu ở dạng thô, sơ chế, chưa có thương  hiệu, giá trị gia tăng thấp. Một đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo  hướng nâng cao giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững đã được bộ này  xây dựng và đưa ra thảo luận cuối tuần trước. Tuy nhiên trong đề án này  vẫn thiếu vắng những giải pháp cụ thể tăng cường hàm lượng khoa học công  nghệ, chế biến, xây dựng thương hiệu… để nâng cao giá trị sản phẩm. Đề  án hầu như chỉ tập trung vào việc tăng sản lượng sản xuất và tăng nguồn  cung từ nông nghiệp.     Ông Đặng Kim Sơn cho rằng, để cải thiện tăng trưởng của  nông nghiệp cần thay việc kích cung bằng việc tăng giá trị của nông  sản. Để làm được việc này, theo ông Sơn, cần xác lập rõ ràng vị thế,  thương hiệu của nông sản Việt Nam, thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo  an toàn, chất lượng bền vững và nguồn cung đảm bảo. “Điều quan trọng là  cần đưa ra các cơ chế tốt hơn nữa để thu hút doanh nghiệp kinh doanh và  chế biến nông sản”, ông Sơn nói.     Trong khi còn đang loay hoay với việc tái cơ cấu lại  nền nông nghiệp như thế nào thì nhiều vấn đề hiện tại vẫn làm đau đầu  các nhà quản lý. Giá lúa hè thu đang sụt giảm nghiêm trọng khiến nông  dân lỗ nặng, tồn kho cao do gạo bị ép giá không xuất khẩu được. Tỷ lệ  nông sản bị từ chối và bị đưa vào danh sách phải kiểm soát chặt chẽ do  dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sai nhãn mác. Vấn đề vi phạm an toàn  thực phẩm nông sản tiêu thụ trong nước đang khiến cho người dân lo lắng  như một “vấn nạn”. Trong khi đó việc kiểm soát nhập lậu nông sản chưa  tốt cũng đe doạ sản xuất trong nước với nguy cơ dịch bệnh, ô nhiễm… Giải  quyết được câu chuyện chạy theo lượng cung hay chạy theo giá trị nông  sản sẽ dần dần giúp các nhà quản lý tháo gỡ những vấn đề này trong tương  lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khiên cưỡng chuyện nghề      Tôi làm trà chưa lâu, song năm năm cũng giúp tôi nhận ra nhiều vấn đề, có thể không hẳn là những vấn đề cấp thiết, nhưng cần đưa ra trao đổi vì đó là việc nên làm, nhằm tránh được sự nhầm lẫn, dù trong một bộ phận nhỏ, bởi nó giúp duy trì một cái nhìn đúng.      Hiếu cổ hay nệ cổ  Những giá trị Thẩm mỹ và Văn hóa do cha ông để lại luôn đáng kính ngưỡng, họ đã sống và làm hết mình nhằm tinh hóa cái cũ và tạo ra cái mới, song, nền tảng Xã hội mỗi thời một khác, Vật chất lại càng khác xa nhiều, chính thế, với sự hỗ trợ của muôn vàn dạng thiết bị thời nay, thiết nghĩ, việc làm nghề và thưởng thức sẽ phải hơn xưa, ấy vậy mà trong giới, người làm nghề, người dùng, răm rắp ăn theo cái cũ, một mực vọng cổ mà theo. Tôi nghĩ nếu có học người xưa, thì cái nên học chính là thái độ của họ với nghề nghiệp, tâm thế của họ khi thưởng thức. Hãy tinh hóa cái cũ rồi trên nền đó mà tạo ra cái mới!  Xây dựng “trà đạo Việt” hay sự ganh đua    Mỗi đất nước, mỗi tộc người có cương thổ khác nhau, khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau và sản vật khác nhau, Văn hóa – Phong tục theo đó mà cũng khác nhau. Tất nhiên không tránh khỏi những điểm tương đồng, bởi Văn hóa mang trong nó tính hỗn dung. Đời sống của trà cũng không ngoại lệ. Ấy vậy mà rất nhiều những người “làm trà”, vì Trung Hoa có nghi lễ, Nhật Bản có nghi lễ, rồi theo đó mải miết đi xây dựng cái gọi là “trà đạo Việt”, phải chăng đấy là sự ganh đua sinh ra từ tâm hồn tẻ nhạt, hay từ sự thiếu hiểu biết về chính trà Việt Nam. Liệu có nên chăng?  Nghi lễ phát tiết từ sự kính ngưỡng. Người làm nghề hãy có thái độ kính ngưỡng với nghề của mình, từ thái độ đó sẽ phát tiết những tinh phẩm. Khi người dùng trà nhìn thấy sự cẩn trọng tột độ của người làm nghề với trà, sự tôn trọng của người làm trà với người dùng trà, thì sự trân trọng, yêu quý trà sẽ hình thành là lẽ tất yếu và nghi lễ cũng theo mà nên. Thực tế là trong lịch sử, nó đã hình thành và vẫn đang len lỏi tồn tại trong xã hội đương đại, chỉ có điều đáng buồn là nó đang bị suy thoái dần!.  Thiếu hụt và bất minh thông tin  Xét cả hai khía cạnh, đặc tính nguyên liệu và phương pháp chế biến trà thì trà Việt Nam khá phong phú: người tộc Dao có trà chiết, trà làm. Người Thái có trà “Tán-ma”. Thái Nguyên, Phú Thọ có trà “móc câu”. Ấy vậy mà đa số trong dân chỉ biết đến “trà Thái”. Xét đặc tính vị-hương-thủy-diệp thì sản phẩm trà Việt Nam cũng khá đa dạng, ấy vậy mà người dùng chỉ biết đến “nước xanh” – “hậu ngọt”. Thật thiệt thòi! Sự ấy, do đâu mà ra, chẳng phải từ sự thiếu hụt thông tin đó sao! Bao nhiêu loại trà được làm ra là bấy nhiêu nghệ nhân thực thụ, họ đang ở đâu, nơi thôn dã, chốn sơn lâm đâu đâu cũng có ấy vậy mà người dùng chỉ biết đến đám “nghệ nhân” không làm nghề là do đâu? Chẳng phải từ sự bất minh thông tin hay sao?  Thiển ý  Việc duy nhất mà người làm nghề cần làm, theo tôi, đấy là hãy tinh hóa sản phẩm của mình, hãy cung cấp thông tin chân thực và kỹ lưỡng cho khách hàng của mình. Khi mọi thứ được mộc mạc gần gũi thì cũng dễ dàng cho người mới tiếp cận được với nó hơn. Việc ăn, việc chơi là việc riêng của mỗi người, tùy vào trình độ nhận thức và thẩm mỹ mà họ sẽ tự chọn vị trí cho mình, chuyện đó đâu phải chuyện mà người làm nghề phải lo kia chứ. Khi sản phẩm được làm một cách tử tế, trau chuốt bởi bàn tay của những người làm nghề thực thụ, đáng kính, thì việc người dùng trân trọng là hệ quả tự nhiên sẽ tới. Với sự trân trọng trong tâm cam, họ sẽ tự biết thể hiện tấm lòng đó, từ đấy mà ra được nghi lễ, ra được cái đẹp. Đâu phải khiên cưỡng ai phải thế nào!. Đối với việc gìn giữ giá trị cổ truyền thì hãy nghiên cứu cho tới, hãy giữ cho nguyên vẹn, đừng thêm thắt, đừng đánh bóng, bởi lẽ như vậy thì đâu còn là cổ truyền nữa, và đặc biệt, đừng làm một cái mới tật nguyền, rồi đổ vấy cho cổ nhân, như vậy chẳng phải sẽ có lỗi với người trước, tha hóa bản thân, lừa dối hậu thế hay sao?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khinh khí cầu Titanic của NASA đạt kỷ lục mới      Titanic, khinh khí cầu chịu áp mới nhất và lớn nhất của NASA, đã thiết lập kỷ lục mới về sức bền khi thực hiện được chuyến bay dài nhất ở vĩ độ trung bình.      Được bơm bởi 532,000 m3 helium và có đường kính 114m, khinh khí cầu này đã bay vòng quanh Nam bán cầu trong vòng 46 ngày, chở theo một kính thiên văn sử dụng tia gamma. Theo lộ trình, Titanic sẽ bay 100 ngày nhưng hành trình này đã kết thúc sớm vào ngày 3/7 do bóng tối quá dày đặc. Tuy vậy chuyến bay đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nỗ lực của NASA nhằm phát triển loại siêu khinh khí cầu chịu áp, qua đó giảm chi phí đầu tư vào các vệ tinh.   Nhiều thập kỷ qua, khinh khí cầu không chịu áp thông thường đã giúp các nhà khoa học có thể nghiên cứu về hóa học khí quyển, các bức xạ vũ trụ nền, và nhiều hiện tượng khác theo các độ cao khác nhau. Nhưng ở các vĩ độ ôn đới, sức bền của các khinh khí cầu thông thường bị hạn chế vì vào ban ngày, ánh mặt trời đốt nóng khí helium khiến khí này nở ra và nhẹ đi, đẩy khí cầu bay lên; vào ban đêm, khinh khí cầu lạnh dần và phải thả các vật dằn (vật nặng) để tránh bị trôi xuống quá thấp. Khinh khí cầu không chịu áp chỉ có thể thực hiện chuyến bay dài ngày vào thời điểm mùa hè gần hai cực của Trái đất, khi hiện tượng ngày dài cho phép họ thực hiện chuyến bay kéo dài hàng tuần.   Các nhà khoa học đang phát triển các siêu khinh khí cầu chịu áp có độ bền ở các vĩ độ ôn đới do khí helium được nén lại nên khối lượng của chúng không thay đổi khi được đốt nóng hay làm lạnh bởi sự luân chuyển ngày đêm vì vậy chúng có thể duy trì độ cao liên tục và không cần đến khí gas hay vật dằn.  Phương Thảo dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khó ngủ có thể là do di truyền      Một nghiên cứu mới của Đại học Rockefeller đã phát hiện một loại đột biến gene gây ra triệu chứng khó ngủ.      Có những người dù cố gắng cách nào thì vẫn không thể ngủ sớm, họ dậy rất muộn và cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Những cú đêm đó có thể đã mắc phải một triệu chứng được gọi là Rối loạn giấc ngủ bị trì hoãn (Delayed Sleep Phase Disorder – DSPD). Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ đã ước tính khoảng 50 đến 70 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ có chứng DSPD, với các biểu hiện từ mất ngủ cho đến ngủ rũ, điều đó khiến họ dễ bị mắc các chứng bệnh mạn tính khác như tiểu đường, béo phì và trầm cảm.  Một nghiên cứu khoa học mới đây đã chỉ ra một phần nguyên nhân của hiện tượng này là do di truyền.  Các nhà khoa học tại Đại học Rockefeller (New York) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa gen với đồng hồ sinh học ở người và nhiều loài động vật khác nhau trong 30 năm qua và mới đây vừa phát hiện một loại đột biến gene gây ra chứng DSPD và đã có thể lý giải cơ chế hoạt động của nó. “Nếu bạn làm công việc về đêm, ví dụ người pha đồ uống quầy bar hay nhạc sĩ, thì việc chuẩn đoán và điều trị DSPD là không cần thiết. Tuy nhiên, với nhiều người khác, đặc biệt sinh viên đại học hay nhân viên văn phòng, tình trạng này giống như một cực hình.” Alina Patke, chuyên gia nghiên cứu về giấc ngủ tại Đại học Rockefeller cho biết.  Nhóm nghiên cứu của Patke đã nghiên cứu trường hợp của một phụ nữ 46 tuổi thường chỉ có thể ngủ sau 2-3 giờ sáng, hoặc đôi khi muộn hơn tới 5-6 giờ. Người này được sắp đặt để sống trong một căn phòng không có đồng hồ hay cửa sổ và được quan sát trong 18 ngày. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra cơ thể của người phụ nữ này sản sinh ra một lượng hormone melatonin giúp đi vào giấc ngủ muộn hơn 5-7 tiếng so với những người có giấc ngủ bình thường (ở người bình thường, hormon melatonin bắt đầu tăng lên ở khoảng 9 – 10 giờ tối). Bên cạnh đó, giấc ngủ của người phụ nữ này cũng hay bị gián đoạn, đôi khi chỉ ngủ rất ngắn.  Phân tích DNA của người phụ nữ, những nhà khoa học phát hiện ra một loại gene đột biến, gọi là Cry 1, và gene này cũng xuất hiện ở các thành viên khác trong gia đình cô. Dạng đột biến này có khả năng làm mã hóa một loại protein có tác dụng gây ức chế hoạt động của đồng hồ sinh học, protein CLOCK và BMAL – thứ kích hoạt nhiều loại gene, trong đó có những gene liên quan tới sự tỉnh táo trong ngày. Qua sàng lọc cơ sở dữ liệu di truyền, nhóm nghiên cứu tìm thấy đột biến tương tự ở 39 người. Hầu hết những người này đều đi ngủ muộn và thức dậy sau đó hàng giờ.  Daniel Kripke, nhà tâm lý học chuyên nghiên cứu về giấc ngủ và giáo sư danh dự tại Đại học California, San Diego, không tham gia vào nghiên cứu trên, cho rằng những nhà khoa học tại Rockefeller chưa chỉ ra được mối liên hệ giữa đột biến di truyền trên với triệu chứng DSPD. Tuy nhiên, ông cũng nói rằng, nghiên cứu này đã cung cấp một bằng chứng thuyết phục, giải thích  được một số trường hợp mắc phải triệu chứng khó ngủ.  Một điều thú vị, nhóm nghiên cứu tại Rockefeller đã tìm thấy hai trường hợp có đột biến gene nêu trên song không gặp những vấn đề về giấc ngủ. Hai người này phải làm việc, trong đó một người hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng ngoài trời. Điều đó cho thấy, ngay cả khi là một “cú đêm”, bạn vẫn có thể dậy sớm nếu thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng và duy trì các thói quen sinh hoạt điều độ khác.  Hải Đăng dịch  Nguồn: https://www.scientificamerican.com/article/night-owl-scientists-identify-a-gene-that-may-be-keeping-people-up-at-night/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kho thông minh của Vinamilk      Nhà máy sữa Việt Nam của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk vừa hoàn tất khâu chạy thử nghiệm 100% công suất nhà kho thông minh sử dụng công nghệ tiên tiến từ Đức.      Giám đốc nhà máy sữa Việt Nam, ông Trịnh Xuân Dũng, cho biết nhà kho được xây dựng trên diện tích 5.000 mét vuông nhưng có sức chứa đến 27.000 tấm palette, mỗi tấm có sức chứa tương đương 1,1 tấn sữa.   Theo ông Dũng, để xây dựng một nhà kho có công suất tương tự trên mặt đất thì diện tích ít nhất cũng phải gấp khoảng 5 đến 6 lần và sử dụng hàng trăm lao động để vận hành.   Tuy nhiên, như tên gọi nhà kho thông minh, nhà kho này hoàn toàn được tự động và 27.000 tấm palette được 8 robot tự động vận hành theo sự điều khiển của hệ thống máy vi tính.   Ông Dũng cho biết việc xuất kho hay nhập kho đều được mã hóa, được thực hiện trên hệ thống.   Theo đó, các robot tự động sẽ nhận hàng từ dây chuyền sản xuất và tự động chuyển đến kho.   Tại đây các kiện hàng đều được mã hóa và được các robot kéo lên các vị trí đã mã hóa theo cách chất chồng lên nhau, trong đó tầng cao nhất có độ cao lên đến 40 mét, để cất giữ.  Lệnh xuất kho cũng được thực hiện trên máy vi tính và việc vận chuyển cũng hoàn toàn tự động.   Số nhân viên làm việc ở nhà kho này là khoảng 20 người, chủ yếu làm các công việc hóa đơn, chứng từ, còn việc xuất nhập đều được thực hiện bằng robot.   Cũng theo ông Dũng, Vinamilk đã bỏ ra 200 tỉ đồng để đầu tư nhà kho này, số tiền tương đương với việc đầu tư một nhà máy sữa tầm trung.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học 2019: Những mong đợi      Chỉnh sửa gene, truy cập mở và sửa đổi các quy định về an toàn sinh học sẽ là các vấn đề định hình nghiên cứu năm tới.      Hải cẩu mang cảm biến sẽ giúp các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu đại dương trong nhiệm vụ nghiên cứu sông băng Thwaites ở Nam Cực.  Dự án nghiên cứu Nam Cực  Tháng 1/2019 sẽ diễn ra nhiệm vụ hợp tác lớn nhất trên Nam Cực trong 70 năm trở lại đây giữa các nhà khoa học Anh và Mỹ. Mục đích của dự án 5 năm này là để tìm hiểu xem liệu sông băng Thwaites vốn được xem là không ổn định có bắt đầu sụp đổ trong vài thập kỷ tới hay không. Dự án sẽ phải nghiên cứu các điều kiện đại dương xung quanh con sông băng khổng lồ thông qua sử dụng các phương tiện tự động dưới nước và các cảm biến được gắn vào hải cẩu. Cuối năm 2019, các nhà khoa học châu Âu có kế hoạch khoan vào tảng băng Mái vòm C ở Nam Cực để lấy mẫu lõi băng 1,5 triệu năm tuổi. Nếu họ thành công, mẫu vật này sẽ đem lại những lý lịch lâu đời và nguyên sơ nhất về điều kiện khí hậu và khí quyển.  Đổ tiền vào nghiên cứu  Trung Quốc có thể sẽ trở thành quốc gia chi tiêu nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển, sau khi điều chỉnh theo sức mua của đồng tiền Nhân dân tệ. Sẽ có kết luận chắc chắn về xếp hạng này khi các nước công bố dữ liệu chi tiêu năm 2018 vào cuối năm 2019. Châu Âu cũng đang cố gắng thống nhất phương thức giải ngân 100 tỷ euro (110 tỷ USD) từng được đề xuất cho chương trình tài trợ nghiên cứu tiếp theo mang tên “Horizon Europe” bắt đầu vào năm 2021. Không rõ các nhà nghiên cứu ở Anh có được phép tham gia hay không bởi tiến trình Brexit một cách không chắc chắn vẫn tiếp tục tác động xấu đến quốc gia này.  Nguồn gốc con người  Nhiều hóa thạch hé lộ nguồn gốc của các loài thuộc tông Người (Hominin) có thể sẽ được phát hiện trên các hòn đảo ở Đông Nam Á – một khu vực được quan tâm mạnh mẽ kể từ khi các nhà khảo cổ phát hiện ra một loài ‘hobbit’ giống như con người trên đảo Flores của Indonesia vào năm 2003. Những cuộc khai quật tiếp theo hướng đến đảo Luzon của Philippines có thể sẽ tiết lộ thêm về những cư dân người đầu tiên trên đảo này; kèm theo đó là trả lời câu hỏi: liệu có phải sự cô lập trên đảo đã dẫn đến vóc dáng nhỏ bé, tương tự như những gì dường như đã xảy ra trên đảo Flores hay không.  Máy gia tốc hạt  2019 sẽ là năm quyết định cho các kế hoạch xây dựng ‘người kế nhiệm’ cho Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider – LHC). Các nhà vật lý tại Nhật Bản đã đề xuất tổ chức dự án Máy gia tốc tuyến tính quốc tế (International Linear Collider – ILC) trị giá 7 tỷ USD vào năm 2012, sau khi các nhà khoa học tại LHC ở Geneva, Thụy Sĩ, tuyên bố phát hiện ra hạt Higgs. Máy ILC sẽ nghiên cứu chi tiết hơn về hạt Higgs. Nhưng một báo cáo năm 2018 của Chính phủ Nhật Bản đã cho thấy khó có thể tài trợ dự án, với lý do chi phí quá cao. Nhật Bản là quốc gia duy nhất tỏ ra quan tâm đến việc tổ chức ILC và Chính phủ Nhật dự kiến sẽ đưa ra tuyên bố về quyết định cuối cùng của họ trước ngày 7/3.  Chia rẽ trong chỉnh sửa gene  Các nhà di truyền học sẽ tiếp tục đối phó với những hậu quả tuyên bố của He Jiankui, một nhà nghiên cứu chỉnh sửa gene tại Đại học Khoa học và Công nghệ miền Nam tại Thâm Quyến, Trung Quốc cuối năm 2018 – rằng ông đã giúp tạo ra những đứa trẻ được chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới. Các nhà nghiên cứu hy vọng xác nhận xem liệu He có thực sự đã sửa đổi gene của hai phôi thai tạo ra hai bé gái sinh đôi hay không. Các nhà khoa học sẽ cố gắng phát hiện ra tác dụng phụ tiềm ẩn nào của quá trình này; đồng thời tạo ra một khuôn khổ để đảm bảo rằng bất kỳ nỗ lực nào trong tương lai về chỉnh sửa DNA của con người – như trong trứng, tinh trùng hoặc phôi – xảy ra một cách có trách nhiệm và được kiểm soát rõ ràng.  Lập kế hoạch cho ‘Kế hoạch S’  Các tạp chí tính phí đăng ký có thể phải thay đổi mô hình kinh doanh của họ để phù hợp với ‘Kế hoạch S’ – một nỗ lực chuyển các ấn phẩm học thuật sang mô hình truy cập mở hoàn toàn. Các nhà xuất bản có một năm để thay đổi, sau đó các nhà tài trợ ủng hộ Kế hoạch S sẽ yêu cầu các nhà khoa học mà họ tài trợ lưu trữ các báo cáo trong kho lưu trữ truy cập mở miễn phí ngay khi chúng được xuất bản – điều mà nhiều tạp chí hiện đang cấm.  ‘Kinh thánh’ về an toàn sinh học  Giữa năm 2019, Tổ chức Y tế Thế giới dự kiến sẽ hoàn thành một sửa đổi lớn đối với sách “Hướng dẫn An toàn sinh học trong phòng thí nghiệm”. Các hướng dẫn này, vốn được sử dụng rộng rãi, phác thảo các cách thức thực hành tốt nhất để xử lý an toàn những mầm bệnh như Ebola. Đây là lần chỉnh sửa đầu tiên kể từ năm 2004, tập trung hơn vào việc tạo ra các đánh giá rủi ro theo địa điểm và thử nghiệm cụ thể, và cải thiện việc quản lý, thực hành và đào tạo nhân viên phòng thí nghiệm. Việc sửa đổi nhằm mục đích ngăn cản các phòng thí nghiệm tiếp cận an toàn sinh học theo kiểu học vẹt và khuyến khích tạo ra các quy trình linh hoạt và hiệu quả hơn.  Can thiệp khí hậu  Khi lượng khí thải carbon tiếp tục tăng, năm 2019 có thể chứng kiến các thí nghiệm đầu tiên nhắm trực tiếp đến cách làm mát nhân tạo cho Trái đất bằng việc sử dụng biện pháp can thiệp khí hậu địa kỹ thuật (geoengineering) kiểm soát hấp thụ ánh sáng Mặt trời.  Các nhà khoa học đứng sau thí nghiệm “Thay đổi có kiểm soát tầng bình lưu” (SCoPEx) dự định sẽ phun 100 gram chùm hạt giống như bụi phấn vào tầng bình lưu để quan sát cách chúng phân tán. Những hạt này có thể làm mát hành tinh bằng cách phản xạ một số tia Mặt trời trở lại không gian. Những người hoài nghi về can thiệp khí hậu địa kỹ thuật lo ngại rằng thực tế có thể có những hậu quả không lường trước và công nghệ này có thể làm ảnh hưởng tới nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính. Nhóm SCoPEx do Hoa Kỳ lãnh đạo đang chờ đợi việc chấp thuận tiến hành thử nghiệm này từ ủy ban cố vấn độc lập.  Những kỳ vọng lớn    Canada sẽ thu được nhiều kết quả nghiên cứu mới sau khi chính phủ hợp pháp hóa cần sa và nhiều chính quyền tỉnh, liên bang đã tài trợ cho các nghiên cứu về cần sa.   Các nhà nghiên cứu ở Canada sẽ bắt đầu thấy những kết quả đầu tiên từ một loạt các nghiên cứu về trồng trọt và sinh trưởng của cần sa. Vào tháng 10 năm 2018, quốc gia này đã hợp pháp hóa cần sa cho tất cả các mục đích sử dụng. Canada là quốc gia thứ hai trên thế giới, sau Uruguay, hợp pháp hóa cần sa. Quyết định này cũng đưa tới nhiều tài trợ cho các nghiên cứu về cần sa từ chính quyền tỉnh và liên bang. Vào cuối năm 2019, các nhà nghiên cứu tại Đại học Guelph hy vọng sẽ khai trương trung tâm học thuật chuyên dụng đầu tiên của Canada về nghiên cứu cần sa, nơi sẽ nghiên cứu mọi thứ, từ di truyền thực vật cho đến lợi ích sức khỏe của loại thực vật này.  Tín hiệu vũ trụ  Theo kế hoạch, kính thiên văn vô tuyến lớn nhất thế giới – Thiên Nhãn- Kính viễn vọng vô tuyến hình cầu khẩu độ 500m của Trung Quốc  – sẽ được vận hành đầy đủ và sẵn sàng cho nghiên cứu từ tháng Chín năm nay. Kể từ năm 2016, kính viễn vọng khổng lồ trị giá 1,2 tỷ nhân dân tệ (170 triệu USD) đã phát hiện hơn 50 sao xung (pulsar) mới: những ngôi sao chết có mật độ vật chất dày đặc và quay vô cùng nhanh. Thiết bị này sẽ sớm săn lùng các tín hiệu mờ nhạt phát ra từ hiện tượng như những vụ nổ sóng vô tuyến nhanh và các đám mây khí vũ trụ. Trong khi đó, các nhà thiên văn học sẽ quyết định xem có nên tiếp tục với việc xây dựng Kính viễn vọng Ba mươi mét trên núi Mauna Kea, Hawaii hay không. Năm 2018, kế hoạch xây dựng tại Hawaii này đã vượt qua những thách thức pháp lý cuối cùng từ phía người dân địa phương. ¨  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn bài & ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07847-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khóa học ĐMST dành riêng cho Việt Nam ở Israel      Nhận thấy nhu cầu học tập mô hình và chính sách khuyến khích khởi nghiệp  tại Israel của Việt Nam là rất lớn nên Bộ Ngoại giao Israel và Đại sứ quán Israel ở Việt Nam quyết định tổ chức một khóa học  khởi nghiệp chỉ dành riêng cho học viên Việt nam từ 20 đến 29/12/2015 tại Trung tâm đào tạo quốc Golda Meir, MCTC, Haifa, Israel.    Đây là khóa học được tổ chức lần đầu cho Việt Nam. Tham gia khóa học này, học viên sẽ được Bộ Ngoại giao Israel đài thọ toàn bộ học phí, ăn ở đi lại tại Israel. Học viên chỉ phải tự trả tiền vé máy bay.    Đối tượng có thể tham gia: đại diện của các doanh nghiệp, các chuyên gia giảng viên đến từ các trường kinh tế, các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế.    Ứn viên phải đáp ứng các yêu cầu như có ít nhất ba năm kinh nghiệm làm việc, thông thạo tiếng Anh. Số lượng học viên của khóa học dự kiến từ 25 đến 30 người.    Hồ sơ gửi về mashav@hanoi.mfa.gov.il, các ứng viên tiềm năng sẽ được mời phỏng vấn.    Để biết thêm thông tin có thể truy cập: https://embassies.gov.il/hanoi/StudyinginIsrael/MASHAV/Pages/MASHAV2015.aspx    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học dữ liệu tìm bí quyết sáng tác của Beethoven      Từ lâu, các nhà âm nhạc học đã thực hiện nhiều cách thức khác nhau để nghiên cứu về nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Giờ đây, trong thời đại số hóa, người ta lại phát hiện thêm những thông tin mới từ sự kết hợp giữa thống kê và âm nhạc học.      Bức họa Beethoven do họa sỹ C. Schloesser vẽ. Nguồn: wpclipart.com  Martin Rohrmeier và cộng sự ở trường Bách khoa Liên bang Lausanne (École polytechnique fédérale de Lausanne EPFL) đã nghiên cứu chi tiết 16 tứ tấu đàn dây do Beethoven sáng tác, trong đó tác phẩm cuối cùng hoàn thành năm 1826, chỉ vài tháng trước khi ông qua đời. Sau đó, họ áp dụng các kỹ thuật thống kê để giải mã các mẫu hình tuần hoàn mà ông sử dụng trong các tác phẩm này, Kết quả nghiên cứu được họ trình bày trong công bố “Statistical characteristics of tonal harmony: A corpus study of Beethoven’s string quartets” trên tạp chí PLOS ONE ngày 6/6/2019.  “Những phương pháp tiên tiến và mới mẻ trong thống kê và khoa học dữ liệu đã đem lại cho chúng tôi khả năng phân tích âm nhạc theo những cách chưa từng được áp dụng của âm nhạc học truyền thống. Âm nhạc học số, lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ này hiện đang trên đà phát triển một phạm vi hoàn toàn mới về phương pháp và tầm nhìn”, Martin Rohrmeier – người phụ trách Phòng thí nghiệm Âm nhạc học số và nhận thức (DCML) tại Viện Những ngành khoa học nhân văn số tại trường College of Humanities, nhận xét. “Mục tiêu của phòng thí nghiệm của chúng tôi là hiểu cách âm nhạc được viết như thế nào.”  Từ thống kê âm nhạc đến big data  Để thực hiện nghiên cứu này, Rohrmeier và cộng sự đã tìm hiểu bản nhạc của cả 16 tứ tấu đàn dây dưới cả hai hình thức bản nhạc được số hóa và bản nhạc trên giấy đã được chú giải. Phần công việc làm mất thời gian nhất của các nhà nghiên cứu là tạo ra một bộ dữ liệu từ 10.000 bản nhạc do các chuyên gia về lý thuyết âm nhạc chú giải.  “Về cơ bản, chúng tôi đã tạo ra một nguồn tác phẩm được số hóa mới của Beethoven để soi vào đó và tìm các mẫu hình”, Fabian C. Moss, một trong những tác giả chính của công bố trên PLOS ONE, cho biết.  Phải mất tới hơn 8 giờ để biểu diễn trọn vẹn các tứ tấu đàn dây này. Các bản nhạc tự nó đã có 30.000 hợp âm được chú giải. Một hợp âm là một tập hợp các nốt mà âm thanh vang lên tại cùng một thời điểm, và một nốt làm nền cho hợp âm gọi là nốt chủ âm.  Trong thống kê âm nhạc, các hợp âm có thể được xếp dựa theo vai trò của nó trong tác phẩm âm nhạc. Hai loại hợp âm được biết đến nhiều nhất được gọi là âm át và âm chủ, vốn đóng những vai trò trung tâm để xây dựng các phân tiết âm nhạc. Nhưng vẫn còn một số lượng lớn các kiểu hợp âm, bao gồm nhiều biến thể của các hợp âm át và âm chủ. Các tứ tấu đàn dây của Beethoven chứa đựng khoảng 1000 kiểu hợp âm khác nhau.  “Cách tiếp cận của chúng tôi là minh họa điển hình cho một lĩnh vực nghiên cứu đang bắt đầu phát triển về nhân văn số thức, trong đó các phương pháp khoa học dữ liệu và công nghệ số được sử dụng để nâng cao hiểu biết cả chúng ta về các nguồn tài nguyên trong thế giới thực như các văn bản văn học, âm nhạc hay hội họa dưới những quan điểm mới của số hóa”, đồng tác giả Markus Neuwirth giải thích.  Phát hiện phong cách sáng tác của Beethoven bằng thống kê    Một bản thảo tứ tấu đàn dây của Beethoven. Nguồn: Classical FM  Với bộ dữ liệu mới do các nhà nghiên cứu tạo ra, những lựa chọn mang tính sáng tạo của Beethoven đang hiển hiện một cách rõ nét qua bộ lọc phân tích thống kê. Họ tìm thấy có một số hợp âm đóng vai trò quyết định trong âm nhạc, một hiện tượng vốn đã được biết đến từ lâu trong ngôn ngữ, vốn có một số từ ngữ “lấn át” toàn bộ ngôn ngữ văn bản. Cũng như lý thuyết âm nhạc có từ thời kỳ Cổ điển, nghiên cứu đã cho thấy sự lấn át của những hợp âm chủ và âm át cũng như các biến thể của chúng trong các tác phẩm của Beethoven. Và sự chuyển đổi thông thường nhất từ hợp âm này sang hợp âm tiếp theo diễn ra từ âm chủ đến âm át. Các nhà nghiên cứu cũng thấy, các hợp âm không chỉ ảnh hưởng đến trật tự các nốt trong tác phẩm mà còn góp phần xác định cả độ dài ngắn của tác phẩm.  Và phương pháp thống kê còn tiết lộ cho chúng ta nhiều thông tin hơn nữa. Phong cách sáng tác đặc biệt của Beethoven dành cho tứ tấu đàn đây được thể hiện thông qua việc ông sử dụng cách phân bố các hợp âm, tần suất chúng xuất hiện, và cách chúng chuyển từ loại này sang loại khác. Nói theo cách khác, phân tích thống kê đã nắm bắt được phong cách sáng tác này của Beethoven.  Moss giải thích, “Đây mới chỉ là điểm bắt đầu. Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu bằng việc mở rộng các bộ dữ liệu để có thể nắm bắt được những dữ liệu mới từ các nhà soạn nhạc và các thời kỳ lịch sử âm nhạc trên một phạm vi rộng, và mời nhiều nhà nghiên cứu khác cùng tham gia nghiên cứu những nền tảng thống kê về những vấn đề nội tại của âm nhạc”.  Cuối cùng, nghiên cứu này sẽ là một cách tiếp cận mới, bổ sung cho những cách tiếp cận truyền thống mà chúng ta vẫn thường sử dụng, kết nối những phương pháp thực nghiệm và lý thuyết âm nhạc bằng việc cung cấp những nền tảng thống kê về hòa âm.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.expatica.com/ch/sw-project-parses-30000-chords-to-find-beethovens-statistical-signature/  https://www.sciencedaily.com/releases/2019/06/190606150222.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học hệ phức hợp: Giải những bài toán phức tạp của khoa học và xã hội      Với khả năng giải được những bài toán lớn và phức tạp, khoa học hệ phức hợp sẽ đem lại cơ hội cho con người có được những giải pháp hiệu quả ở nhiều lĩnh vực.      Mỗi hệ sinh thái trên Trái đất đều là một hệ phức hợp. Nguồn: Photo by NASA/UPI.  Nhà vật lý Stephen Hawking đã từng nói trong thế kỷ trước “Tôi cho rằng thế kỷ tới (thế kỷ 21) sẽ là thời đại của hệ phức hợp. Chúng ta đã khám phá ra các định luật cơ bản chi phối vật chất và thông hiểu mọi hiện tượng thông thường nhưng lại không hiểu các định luật đó tương thích với nhau như thế nào và điều gì sẽ xảy ra ở những thời điểm cực điểm? Tôi kỳ vọng là chúng ta sẽ tìm ra một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh trong thế kỷ tới. Với lý thuyết đó, chúng ta có thể xây dựng được những thứ có độ phức tạp vô hạn”.  Những đặc điểm riêng biệt của hệ phức hợp  Vậy hệ phức hợp mà Stephen Hawking đề cập đến ở đây là gì? Nó được định nghĩa là một hệ thống gồm rất nhiều phần tử tương tác chặt chẽ với nhau, có khả năng tự tổ chức với nhau (self-organized) và biến đổi tiến hóa (adapt) để thích nghi với môi trường. Các phần tử trong hệ thường có tính chất đơn giản nhưng sự tương tác giữa chúng tạo ra tính “phức hợp” của hệ. Do đó, tính chất của hệ gồm nhiều phần tử đơn lẻ hợp nhất lại có tính chất khác rất xa với tính chất của từng phần tử riêng lẻ.  Nghe thì có vẻ phức tạp nhưng xung quanh chúng ta có vô vàn ví dụ về hệ phức hợp như hệ sinh thái, một nền kinh tế, mạng Internet, mạng xã hội, mạng truyền tải điện, mạng giao thông, hệ địa chất, hệ miễn dịch trong cơ thể, bộ não sinh học, một đàn kiến đông, virus lan truyền trong xã hội, hệ thời tiết… Chúng ta hãy nhìn vào hai hệ phức hợp, một là bộ não sinh học và một là hệ nhân tạo – mạng Internet.    Figure 1: Bản đồ khoa học Hệ phức hợp – nguồn: Castellani, Brian (2018) ‘Map of the Complexity Sciences.’ Art & Science Factory.  Nhìn chung, các hệ phức hợp có những tính chất đặc biệt hơn với 8 đặc điểm mà khó có thể xuất hiện ở các hệ khác:  Tính thích nghi (adapt): các phần tử của hệ khi tương tác với các phần tử khác có thể thay đổi hành vi của mình và thích ứng với môi trường.  Tính tự tổ chức (self-organized): khi biến đổi thích ứng, các phần tử có thể tương tác và hệ tự diễn biến về một trạng thái dừng (mà không cần bộ phận điều khiển trung tâm).  Tính đột sinh (emergence): hệ có thể xuất hiện những hình dạng/cấu trúc và hành vi mới mà không thể đoán được nếu chỉ dựa trên các định luật cơ bản của phần tử thành phần hoặc chính.  Điểm hút (attractor): là những trạng thái mà hệ có thể tiến hóa đến mặc dù điều kiện ban đầu của thời điểm tiến hóa khác nhau.                     Figure 2: a) Bộ não con ruồi với 25,000 neuron và 25 triệu dây thần kinh là một hệ phức hợp – nguồn: Google và b) Mạng Internet IPv4 có 47,610 Autonomous Systems’ (ASes) và 148,455 kết nối – nguồn: caida.org  Tính hỗn loạn (chaos): là những biến đổi không dự đoán được và rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu. Sự hỗn loạn này thường không kiểm soát được và phải mất một thời gian hệ mới ổn định lại (Nhiều khi hệ phức hợp được hiểu nhầm là hệ hỗn loạn – chaotic system – dù hệ phức hợp có tính chất rộng hơn)  Tính tự tổ chức quan trọng (self-organized criticality): có một số điểm hút mà hệ tự tiến hóa về và dừng lại, sau đó hệ diễn biến rất đột ngột với cường độ trải dài trong một khoảng rộng và không đoán được. Về dài hạn thì cường độ này tuân theo một phân bố phổ biến là luật hàm mũ.  Sự chuyển pha: Tính tự tổ chức quan trọng là điểm xảy ra sự chuyển pha. Sự chuyển pha này thường diễn ra đột ngột, cường độ mạnh và có thể là quá trình không đảo ngược được. (Sự chuyển pha trong các hệ tự nhiên đã được nghiên cứu nhiều như nước đá tan thành nước,… và có thể vận dụng các kiến thức này nhưng sự chuyển pha trong các hệ phức hợp phức tạp hơn).  Tính phi tuyến: rất nhiều biến đổi của hệ có tính phi tuyến và để dự báo được cần nhiều các thuật toán phi tuyến phức tạp và các lý thuyết xác suất.  Trong số này, có thể thấy ba đặc điểm tiêu biểu nhất của hệ phức hợp là tính thích nghi, tính đột sinh và tính hỗn loạn. Chúng ta thử nhìn vào ba hệ phức hợp tiêu biểu là mạng Internet (cần phân biệt với mạng WWW), một nền kinh tế và một bộ não sinh học trong bảng phân định tính chất sau (bảng dưới).          Network      Adaptable      Emergence      Chaos              Mạng Internet      Sự phát triển và mở rộng mạng phù hợp với địa lý và nhu cầu liên lạc      Sự lan truyền thông tin có thể gây nghẽn mạng      Các nút/router có thể bị ngắt đồng thời trên diện rộng và không kiểm soát          Nền kinh tế      Sự phát triển kinh tế thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của con người      Khủng hoảng xuất hiện sau một thời gian phát triển tốt đẹp      Cung/cầu đổi chiều liên tục trong một thời gian ngắn          Bộ não sinh học      Các kết nối dây thần kinh thay đổi phù hợp với sự tiến hóa      Các phát minh bột phát sau qua trình suy nghĩ      Mất trí nhớ          Mở rộng cách tiếp cận đa ngành  Tuy còn ở giai đoạn sơ khai nhưng các nghiên cứu khoa học về hệ phức hợp đang trở thành một hướng quan trọng và thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu đa ngành như vật lý thống kê, Toán học, Lý thuyết thông tin, Hệ động lực, Kinh tế học, Sinh học, Xã hội học,… Không phải ngẫu nhiên mà trong 22 chương trình (sáng kiến) KH&CN của lộ trình tới năm 2050 của Trung Quốc có bốn sáng kiến về “nghiên cứu cơ bản” và ba sáng kiến về “nghiên cứu liên ngành và tiên tiến”, trong đó Hệ phức hợp là một hướng nghiên cứu liên ngành trọng tâm.  Trên con đường thực hiện nghiên cứu về các hệ phức hợp, các nhà khoa học đã bắt đầu có xu hướng đi về hai nhánh nhỏ hơn là nghiên cứu về cấu trúc của hệ và quá trình động lực trong hệ. Tuy là hai nhánh có phần tách biệt nhưng chúng lại có thể kết hợp và bổ sung cho nhau bởi việc hiểu cấu trúc sẽ giúp người ta có thể mô tả tốt hơn các quá trình diễn ra trên hệ.  Khi nghiên cứu về cấu trúc của hệ, người ta tập trung vào tính liên kết, phân bố liên kết, tương quan bậc; Trọng số, phân bố trọng số; tính phân nhóm; Sự biến đổi cấu trúc theo thời gian; Mạng lưới siêu lớn (không xác định được kích thước); Biểu diễn hình ảnh. Còn với nghiên cứu về quá trình động lực (dynamic process) diễn ra trong hệ thì mục tiêu là vào quá trình hình thành, xây dựng hệ; Quá trình tan rã, phá hủy hệ; Quá trình lan truyền thông tin/dịch bệnh và điều khiển ngăn chặn; Các quá trình chuyển pha và đột phát; Mô phỏng và dự báo…  Do đó, việc nghiên cứu này sẽ có khả năng đem lại những kết quả có tác động thực sự đến cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, đặc biệt giải quết được nhiều vấn đề hiện hữu của xã hội mà ở thời điểm này, chúng ta chưa có được giải pháp thật sự hoàn chỉnh và triệt để, ví dụ như tăng cường sự ổn định và phòng ngừa khả năng đổ vỡ dây chuyền của các hệ như Internet, mạng lưới truyền tải điện, mạng lưới giao thông,…; Hiểu rõ và điều khiển các quá trình lan truyền (thông tin, dịch bệnh,…); Dự báo xã hội (khủng hoảng kinh tế) và đề xuất các chính sách ổn định; Phát triển các thuật toán AI dựa trên sự hiểu biết về các tương tác giữa nơron trong não bộ, tiến đến trí thông minh tiến hóa; Phát triển các máy AI hoặc cấu trúc máy tính mới dựa trên các cấu trúc Vật lý hoàn toàn mới; Hỗ trợ các phát minh sinh học và y tế dựa trên sự hiểu biết về tương tác trong các hệ vi sinh…                  Figure 3: a) (Trái) Mạng lưới 500 sân bay thương mại lớn nhất của nước Mỹ – nguồn dữ liệu: (Dall’Asta et al. 2006) và b) (Phải) đồ thị tần số (historgram) của bậc của các đỉnh trong mạng sân bay.  Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới thường áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đối với hệ phức hợp là:  1. Mô phỏng đa tác nhân (Agent-based modeling): đây là cách tiếp cận dạng “bottom-up” bằng cách mô phỏng số lượng lớn các tác nhân có tính chất và hành vi của hệ thực cần nghiên cứu. Kết quả mô phỏng sẽ cho ra một hệ ảo và có thể xác định được cấu trúc, hoặc tiếp tục sử dụng để mô phỏng các quá trình động học trong hệ.  Hướng nghiên cứu này có lợi điểm là mô phỏng được số lượng lớn tác nhân, mô phỏng hệ có quan hệ phức tạp,… nhưng lại vấp phải nhược điểm là thiếu các lý thuyết, mô hình hỗ trợ.  2. Khoa học mạng lưới (Network Science): một điều dễ dàng khi áp dụng phương pháp này là hầu hết các hệ phức hợp có thể mô tả bằng một mạng lưới, hay một đồ thị trong ngôn ngữ Toán học.  Cách tiếp cận này có thể tận dụng được các lý thuyết và mô hình từ lý thuyết đồ thị, vật lý thống kê,… Các mô hình được xây dựng từ đơn giản đến phức tạp nên có tính hệ thống hơn.  Ví dụ về hình ảnh của mạng lưới 500 sân bay lớn trên nước Mỹ cho thấy một sân bay trung bình chỉ có gần 6 đường bay nội địa? Tuy nhiên có rất nhiều sân bay nhỏ chỉ kết nối với một vài sân bay chính gần đó (Có đến 74 sân bay chỉ kết nối duy nhất 1 sân bay khác trong số 500 sân bay lớn, 107 sân bay kết nối với 2 sân bay khác). Ngược lại, nhiều sân bay là trạm kết nối và sân bay kết nối nhiều nhất có đến 146 đường bay khác nhau, như thể hiện qua đồ thị tần số (histogram) dưới đây.  Khoa học mạng lưới cho ta biết điều gì?  Một mạng lưới có thể biểu diễn toán học như một tập hợp các đỉnh và các cạnh nối giữa hai đỉnh trong tập hợp. Tùy theo sự kết nối của các cạnh mà mạng lưới có hình dạng và cấu trúc rất đa dạng.   Trên thực tế, những bài toán mà khoa học mạng lưới có thể giải quyết được vô cùng gần gũi với chúng ta, ví dụ tìm mối liên kết trong Mạng xã hội các trang web người nổi tiếng, Mạng các quan hệ kinh tế, Mạng lưới 500 sân bay lớn của Mỹ, Mạng lưới cộng tác khoa học… Khi dựa trên tính chất phân bố đỉnh theo hàm mũ, chúng ta có thể mô hình hóa được mạng lưới những mối quan hệ có thật trong xã hội đó.   Các khảo sát thực nghiệm cho thấy hầu hết các mạng lưới thực tế có số bậc của mỗi đỉnh phân bố theo dạng hàm mũ, phản ánh tính khác biệt về tương tác rất lớn: một số đỉnh/đối tượng nhỏ tương tác với rất nhiều đỉnh/đối tượng khác trong khi phần lớn các đỉnh/đối tượng khác chỉ tương tác với một số nhỏ cá nhân khác. Nó cho thấy các mạng thực tế có tính gần gũi với nhau, đây là hiện tượng nổi tiếng “Six degrees of separation” (tạm dịch là sáu bậc phân tách) do Frigyes Karinthy phát hiện và được John Guare viết lại. Nó cho chúng ta thấy một điều thật bất ngờ: hai người bất kỳ trong xã hội có thể kết nối với nhau chỉ qua trung bình 6 người trung gian khác. Con số nhỏ này được mô tả thành hiện tượng thế giới nhỏ (the small-world effect).  Chiểu theo cách giải thích này, với mạng gồm 500 sân bay lớn của Mỹ thì đường đi ngắn nhất giữa hai đỉnh bất kỳ chỉ là 2.99 hay gần 3, có nghĩa là để đi từ hai sân bay bất kỳ trên đất Mỹ, người ta chỉ cần đi trung bình 3 chuyến bay.  Trong một ví dụ khác, chúng ta có mạng lưới cộng tác xuất bản chung của các nhà khoa học mạng lưới vào năm 2006. Với mạng lưới bao gồm 1.589 nhà khoa học, bạn muốn liên kết với bất kỳ nhà khoa học nào khác qua các quen biết (ví dụ đã xuất bản chung) thì trung bình cần đến 6 đường đi (hay 5 nhà khoa học giới thiệu).  Nếu dựa vào tính bền vững trước những hỏng hóc ngẫu nhiên và suy yếu trước phá vỡ có chủ đích, chúng ta có thể điểm một kết quả quan trọng. Vào năm 2000, Babarasi và cộng sự đã có một bài báo quan trọng trên Nature cho thấy: mạng Internet rất bền vững trước những hỏng hóc ngẫu nhiên của các đỉnh (router) – mạng chỉ bị sập hoàn toàn nếu có đến 92% số đỉnh bị hỏng một cách ngẫu nhiên. Ngược lại, mạng lại rất yếu nếu các đỉnh có số kết nối cao nhất bị hỏng: chỉ 16% số đỉnh cao nhất bị phá là mạng Internet sẽ ngừng hoạt động dù còn 84% các đỉnh khác vẫn tồn tại. Tính chất này được gọi là sự suy yếu trước phá vỡ có chủ đích do các đỉnh có số kết nối cao bị phá hủy thường do phá hoại.           Mạng xã hội các Trang người nổi tiếng      Mạng các quan hệ kinh tế        Mạng lưới 500 sân bay lớn của Mỹ    Mạng lưới cộng tác khoa họ            Figure 4: (Trên) Biểu diễn cấu trúc của 4 mạng thực tế khác nhau và (Dưới) phân bố bậc của mạng 500 sân bay tuân theo phân bố hàm mũ (phần đuôi).  Một hướng tiếp cận thành công khác là sử dụng lý thuyết thẩm thấu trong các hệ vật chất giải thích sự bền vững nói trên của các hệ phức hợp với sự đóng góp chính của nhóm của GS. Shmolov Havlin, M. N. Newman cùng cộng sự. Đây là một lý thuyết đã được phát triển trong Toán học và Vật lý nhằm trả lời những câu hỏi điển hình như sau: Một viên đá rỗng được ngâm trong nước. Hỏi với tỷ lệ rỗng của đá là bao nhiêu thì nước có thể thẩm thấu đến hầu hết mọi nơi trong thể tích viên đá?; Trên một mặt hồ đóng băng một phần, hỏi xác suất một người có thể đi trên băng từ bờ bên này tới bờ bên kia phụ thuộc như thế nào vào tỷ lệ đóng băng của mặt hồ.  ***  Việc áp dụng khoa học mạng lưới cả khía cạnh lý thuyết và mô phỏng trên dữ liệu các mạng lưới thực, chúng ta có thể nghiên cứu được nhiều tính chất của hệ phức hợp thực tế và trả lời một số câu hỏi sau:  Mạng Internet có bền vững trước những sự cố hỏng hóc hay không? Nếu bị mất đi một số đỉnh (router) thì có thể hoạt động bình thường được không?  Một số sân bay bị đóng/tấn công thì ảnh hưởng đến bao nhiêu lưu lượng hành khách, có dẫn đến ngưng trệ dây chuyền hay không?  Các sự cố mất điện hàng loạt trên lưới điện diễn ra vì sao, như thế nào? làm sao ngăn chặn được sự cố này? (thiết kế lưới như thế nào)  Cần tiêm ngừa bao nhiêu phần trăm dân số để ngăn ngừa lây nhiễm cộng đồng?  Trong y khoa, vì sao một số đột biến gene có thể gây bệnh còn số khác thì không (bản đồ gene).  Các nghiên cứu theo hướng trên mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu và còn hứa hẹn nhiều kết quả quan trọng trong tương lai.□    Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang Khoa học lý giải vì sao rửa tay bằng xà phòng lại hiệu quả      Giáo sư Palli Thordarson của trường Hóa học tại ĐH New South Wales, Sydney giải thích với chúng ta vì sao xà phòng lại hữu hiệu hơn cồn và các chất tẩy rửa khác ở việc phá hủy cấu trúc của các virus.      Tại sao xà phòng lại hiệu quả với coronavirus mới và thậm chí với phần lớn virus? Bởi vì đó là một hạt nano tự lắp ráp, trong đó sự liên hệ lỏng lẻo nhất chính là lớp lipid kép.  Nghe có vẻ khoa học quá, hãy để cho tôi giải thích.  Xà phòng làm phân rã màng chất béo, và virus rơi rụng ra như ngôi nhà làm bằng các tấm bìa và “chết”, hoặc đúng hơn là trở nên bất hoạt như các virus không còn sống nữa. Các con virus có khả năng hoạt động bên ngoài cơ thể nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày.  Các chất tẩy rửa, ở dạng lỏng, khăn ướt, keo hay kem chứa cồn (và xà phòng) có một hiệu ứng tương tự nhưng không tốt như xà phòng thông thường. Các tác nhân kháng vi khuẩn trong các sản phẩm này không hiệu quả với cấu trúc của virus nhiều lắm. Kết quả là nhiều sản phẩm kháng khuẩn về cơ bản chỉ là một phiên bản đắt tiền của xà phòng trong cách chúng tác động lên các virus. Xà phòng là tốt nhất nhưng các khăn ướt chứa cồn cũng tốt khi việc sử dụng xà phòng không tiện lợi hoặc không cầm theo người được, ví dụ trong các khu vực lễ tân văn phòng.  Hóa học siêu phân tử    Nhưng tại sao xà phòng lại tốt? Để giải thích điều này, tôi sẽ đưa bạn qua một cuộc hành trình của hóa học siêu phân tử, khoa học nano và virus học. Dù chỉ là một chuyên gia về hóa học siêu phân tử và liên quan đến khoa học nano và không phải là một nhà virus học nhưng tôi luôn bị các virus hấp dẫn. Bởi tôi thấy chúng như một trong những ví dụ thú vị nhất cho thấy cả hóa học siêu phân tử và khoa học nano cùng hội tụ trong virus theo nhiều cách khác nhau.  Phần lớn các virus đều bao gồm ba khối chính: RNA, các protein và các lipid. RNA và vật liệu di truyền của virus – nó tương tự như DNA của con người. Các protein đóng nhiều vai trò, bao gồm việc phá vỡ bề mặt để xâm nhập tế bào đích, giúp cho virus có thể tự sao chép và về cơ bản trở thành một thành phần quan trọng giống như gạch xây nhà trong cấu trúc virus.  Các lipid sau đó hình thành một lớp áo bên ngoài virus, cả cho bảo vệ và hỗ trợ sự lây lan của virus cũng như xâm nhập vào tế bào người. Bộ ba RNA, protein và lipid tự tập hợp để hình thành nên virus. Trầm trọng hơn, các liên kết “cộng hóa trị” không đủ mạnh để giữ cho các thành phần này ở cạnh nhau. Do đó, việc tự tập hợp của virus được đặt trên cơ sở các tương tác “phi cộng hóa trị” yếu giữa các protein, RNA và lipid. Cùng với nhau, các hoạt động này giống như kiểu các miếng dán của Velcro, vì vậy rất khó để phá vỡ hạt virus tự tập hợp này. Dẫu vậy chúng ta vẫn có thể làm điều đó với xà phòng!  Phần lớn các loại virus, bao gồm coronavirus, đều có kích thước khoảng 50 đến 200 nano mét – vì vậy chúng thực sự là các hạt nano. Các hạt nano đều có những tương tác phức tạp với các bề mặt mà chúng ở trên; điều này tương tự như virus. Trên thực tế, các loại da, thép, gỗ, vải, sơn và sứ đều có những bề mặt rất khác nhau.      Xà phòng hiệu quả hơn trong các tương tác giữa virus và bề mặt da, và do đó virus bị rửa trôi như ngôi nhà bằng bìa.      Khi một virus xâm nhập vào một tế bào, RNA sẽ “cướp quyền” điều khiển tế bào như một virus máy tính và buộc tế bào phải tạo ra các bản sao RNA mới của virus và cùng các protein khác tạo nên virus. Các phân tử RNA và protein mới của phân tử tự tập hợp với các lipid (có sẵn trong tế bào) để hình thành các bản sao mới của virus. Virus không tự sao chép chính mình mà nó tạo ra bản sao của các thành phần cơ bản để hình thành các virus mới.  Tất cả các virus mới cuối cùng tràn ngập tế bào bị xâm nhập, dẫn đến tế bào chết hoặc bị phơi nhiễm, giải phóng các virus tỏa đi khắp các tế bào khác. Trong phổi, virus xâm nhập theo đường khí thở và các màng nhầy. Khi anh ho hoặc hắt hơi, các giọt dịch nhỏ tí từ đường khí có thể bay xa tới hơn 9 mét. Với những người mang coronavirus thì giọt dịch có thể đi hơn 2 mét, vì vậy hãy cẩn thận!  Da là bề mặt lý tưởng cho virus    Các giọt dịch sẽ đáp xuống các bề mặt và khô đi nhanh chóng, tuy nhiên các con virus vẫn còn hoạt động. Những gì xảy ra tiếp theo là ở khía cạnh hóa học siêu phân tử và cách các hạt nano có khả năng tự tập hợp (như virus) tương tác với môi trường chúng ở. Gỗ, vải và da tương tác rất mạnh với các loại virus vì các phân tử giống nhau thì tương tác với nhau mạnh hơn.  Mặt khác vấn đề ở đây còn là cấu trúc bề mặt. Bề mặt phẳng hơn thì virus sẽ dính vào còn bề mặt xù xì thì lại đẩy virus đi. Tại sao? Virus được kết hợp từ các thành phần cơ bản bằng các liên kết hydro giống như nước và các tương tác ưa nước. Ví dụ bề mặt của sợi hay gỗ có thể hình thành trên rất nhiều liên kết hydro với virus. Tương phản, thép, sứ đều không hình thành nhiều liên kết hydro với virus, vì vậy virus  hờ hững với các bề mặt đó.  Vậy virus có thể hoạt động trong vòng bao lâu? Nó còn phụ thuộc vào một số vấn đề khác. Virus coronavirus mới được cho là vẫn còn hoạt động mạnh trên các bề mặt ưa thích trong nhiều giờ, có thể cả ngày. Vậy cái gì sẽ khiến virus kém bền vững hơn? Độ ẩm (phân rã), ánh nắng mặt trời (tia UV) và nhiệt (chuyển động phân tử).  Da là một bề mặt lý tưởng cho một con virus. Nó là hữu cơ, và các protein và axít béo trong tế bào chết trên bề mặt tương tác với virus thông qua liên kết hydro và các tương tác ưa nước “như chất béo”. Vì vậy khi anh chạm vào bề mặt thép với một hạt virus bám trên đó, nó sẽ chộp lấy da anh và vận chuyển lên tay anh. Nhưng anh không bị nhiễm ngay; nếu anh chạm lên mặt mình, khi đó virus đã được vận chuyển thành công. Nếu virus còn trên tay bạn, bạn có thể chuyển nó sang người khác thông qua bắt tay.  Và giờ thì virus là mối nguy hiểm gần với đường hô hấp và các màng dịch nhầy trong và quanh mắt, mũi. Vì vậy virus có thể xâm nhập và trong và anh bị nhiễm bệnh, trừ khi hệ miễn dịch của anh diệt được virus. Vậy anh thường xuyên chạm tay vào mặt mình? Phần lớn mọi người thường chạm vào mặt mình một lần trong vòng hai đến năm phút. Vì vậy bạn có nguy cơ cao một khi virus bám trên tay, trừ khi bạn rửa tay cẩn thận.  Do đó hãy cố gắng rửa tay với nước sạch. Tuy nhiên chỉ có nước là không đủ giúp vượt qua tương tác mạnh như keo dán giữa da và virus thông qua các liên kết hydro. Virus vẫn còn bám lấy và không hề suy suyển khỏi da tay bạn.  Xà phòng làm phân rã cấu trúc virus    Nước chứa xà phòng toàn toàn khác biệt với nước thường. Xà phòng chứa các chất liệu như chất béo mà người ta vẫn gọi là chất lưỡng phân, tương tự về mặt cấu trúc với các lipid trong màng virus. Các phân tử xà phòng “cạnh tranh” với các lipid trong màng virus. Đó là cách xà phòng loại bỏ các chất bẩn thông thường khỏi da.  Các phân tử xà phòng cạnh tranh với rất nhiều liên kết phi cộng hóa trị, liên kết giúp các protein, RNA và lipid gắn lại với nhau. Cộng thêm với nước, xà phòng làm phân rã một cách hiệu quả chất dính kết này.  Xà phòng cũng đánh bại cả các tương tác giữa virus và bề mặt da. Ngay sau đó virus rơi rụng tùy thuộc vào sự kết hợp của nước và xà phòng. Và cho đến lúc virus bị gột rửa hoàn toàn!  Nhìn gần, làn da xù xì và nhăn nheo, đó là lý do giải thích vì sao bạn cần lấy một lượng xà phòng đủ để đảm bảo cho xà phòng có thể chạm đến mọi ngóc ngách của da để có thể loại bỏ mọi virus bị giấu kín.  Các sản phẩm chứa cồn, rượu cũng nằm trong nhóm sản phẩm “tẩy rửa” và “kháng khuẩn” do chứ mộ lượng dung dịch cồn cao, tiêu biểu khoảng 60% đến 80% ethanol, thi thoảng bổ sung một ít rượu isopropyl, nước và một chút xà phòng.  Ethanol và các dạng khác của cồn không chỉ làm hình thành nhanh chóng liên kết hydro với vật liệu của virus mà còn nhiều chất béo hơn nước. Kể từ đây, cồn làm phân rã màng lipid và phá vỡ các tương tác siêu phân tử khác trong virus.  Dẫu sao, anh cần một lượng cồn cao hơn (có thể trên 60%) để có thể phân rã được virus. Vodka hay whiskey (thông thường chứa 40% ethanol) không thể loại được virus nhanh chóng. Về tổng thể, cồn hay rượu không hiệu quả như xà phòng trong nhiệm vụ này.  Như vậy hóa học siêu phân tử và khoa học nano nói với chúng ta không chỉ về cách các thành phần của virus tự tập hợp mà còn chỉ cách  cho chúng ta đánh bại chúng với những thứ đơn giản như xà phòng.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.marketwatch.com/story/deadly-viruses-are-no-match-for-plain-old-soap-heres-the-science-behind-it-2020-03-08?mod=nextup_bomw       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học máy tính trong kỷ nguyên thông tin: Bài toán kích thước đồ thị và số hóa dữ liệu y tế      Những vấn đề của khoa học máy tính trong kỷ nguyên thông tin đã mở ra một cuộc cách mạng thông tin và những ứng dụng của nó sẽ làm thay đổi tương lai. Ở đây, chúng ta xem xét trên hai khía cạnh ứng dụng quan trọng là bài toán kích thước đồ thị và số hóa dữ liệu y tế.      Các nghiên cứu về đồ thị thưa (“sparse”) cũng phổ biến, ví dụ như mạng các trang web (World Wide Web – WWW) với hàng tỷ đỉnh: Phys.org  Kích thước đồ thị     Vào những năm 1960, các nhà nghiên cứu làm việc với những đồ thị có từ mười đến mười lăm đỉnh. Và khi máy tính xuất hiện người ta có thể nghiên cứu đồ thị có đến 1.000 đỉnh, bây giờ một máy tính nhanh có thể tính toán cho đồ thị có đến hơn một triệu (106) đỉnh. Các nghiên cứu về đồ thị thưa (“sparse”) cũng phổ biến, ví dụ như mạng các trang web (World Wide Web – WWW) với hàng tỷ đỉnh. Ngày nay chúng ta có thể tính toán đến đồ thị với 10100 đỉnh và 10100 cạnh. Nên nhớ là tổng số nguyên tử thấy được trong vũ trụ này cũng chỉ đến con số 10100 mà thôi. Làm sao chúng ta có thể lưu trữ đồ thị với 10100 đỉnh trong máy tính được? Thực ra là không. Người ta có thể thực hiện một bước đi ngẫu nhiên trên biểu đồ mà không lưu trữ nó trong máy tính vì chỉ cần có một thuật toán là có thể tìm ra được các đỉnh liền kề của một đỉnh cho trước. Chúng ta cũng chỉ cần lưu trữ đỉnh hiện tại của bước đi ngẫu nhiên mà thôi. Câu hỏi là cần mất bao lâu để một bước đi ngẫu nhiên hội tụ đến phân phối xác suất của nó? (Khi bước đi ngẫu nhiên hội tụ, xác suất tìm thấy mỗi đỉnh tại mỗi thời điểm không đổi và gọi là xác suất dừng – “stationary probability”). Câu trả lời là nếu đồ thị có tính mở rộng, bước đi ngẫu nhiên sẽ hội tụ về xác suất dừng theo logarit của số đỉnh. Với biểu đồ có 10100 đỉnh chúng ta cần đi trong khoảng 100 lần bước thời gian (nhân một số hằng số).    Các bài toán về kích thước này có thể được tìm thấy trong rất nhiều ứng dụng được xử lý mỗi ngày. Ví dụ như chúng ta coi thành phần nguyên tử hợp chất của một vật liệu là một đỉnh. Có thể có rất nhiều các thành phần này nếu chúng ta có nhiều nguyên tử và thành phần của mỗi nguyên tử là liên tục. Phản ứng hóa học giữa các hợp chất này tạo thành cạnh của một đồ thị. Như vậy chúng ta có được một đồ thị với kích thước lớn và có thể khảo sát nó bằng cách đi ngẫu nhiên (khảo sát phản ứng hóa học giữa các trạng thái). Một ví dụ phổ biến khác là với một bộ bài 52 lá, có thể coi mỗi cách xếp là một đỉnh (52! đỉnh) và mỗi một lần tráo bài (thay đổi giữa hai cách xếp) là một cạnh. Có thể khảo sát đồ thị này mà không cần lưu trữ hết các trạng thái trong một số bước tỷ lệ theo hàm log.    Với bài toán đồ thị nhiều khi chúng ta cần phải lấy mẫu ngẫu nhiên dữ liệu vì hoặc là kích thước quá lớn hoặc là đồ thị biến đổi và không cố định. Chúng ta cần một chuỗi các số ngẫu nhiên có độ dài bằng với số lượng đỉnh và lại đặt ra câu hỏi làm sao lưu trữ được chuỗi này? Một lần nữa chúng ta không lưu trữ mà chỉ tạo ra một chuỗi ngẫu nhiên giả (pseudo random sequence). Câu hỏi tiếp theo là ngẫu nhiên như thế nào là đủ? Thông thường chúng ta chỉ cần ngẫu nhiên hai cấp. Một chuỗi các số 0 và 1 có thể coi là ngẫu nhiên hai cấp nếu mỗi phần tử của chuỗi có thể có giá trị 0 hoặc 1 với xác suất như nhau, và giá trị của mỗi phần tử không phụ thuộc vào giá trị của bất kỳ phần tử nào khác. Nếu tôi cung cấp cho bạn hai yếu tố, tôi có thể cung cấp cho bạn thông tin về tất cả các yếu tố trong chuỗi.    Dữ liệu lớn, công suất tính toán cao, kết nối Internet và các tiến bộ AI đang cùng tạo ra cuộc cách mạng thông tin, trong đó máy móc sẽ thay thế dần những công việc đòi hỏi tri thức và làm thay đổi rất cơ bản lao động trong xã hội. Từ một số ứng dụng chính có thể ảnh hưởng quan trọng trong tương lai, có thể thấy những cá nhân, tổ chức hay quốc gia nắm bắt được xu hướng và công nghệ này sẽ có những thế mạnh vượt trội.    Một ví dụ là khi người ta sử dụng tính ngẫu nhiên để xác định số lượng phần tử riêng biệt trong một chuỗi. Giả sử bạn làm việc cho chuỗi siêu thị Walmart và muốn biết có bao nhiêu khách mua hàng. Bạn có quyền truy cập vào luồng dữ liệu của mọi giao dịch mua trên toàn thế giới cùng với số thẻ tín dụng thanh toán. Đếm số khách hàng có thể coi như đếm số lượng thẻ, mỗi thẻ tương ứng một số gồm 16 chữ số. Bạn có thể tạo một vector nhị phân Boolean dài 1016, hay tạo một chuỗi kết nối (“linked list”), hay một bảng băm, v.v… Tuy nhiên nếu chỉ cần ước lượng tương đối thì có thể làm như sau, và chỉ cần lưu trữ một từ duy nhất. Đó là ghi lại số thẻ nhỏ nhất mà bạn quan sát được. Có thể thấy là nếu bạn viết đều các số từ 1 đến 1016 và đánh dấu các số thẻ tín dụng quan sát được, khoảng cách trung bình giữa các số thẻ sẽ bằng 1016 chia cho số lượng thẻ riêng biệt. Do đó số thẻ nhỏ nhất cũng gần bằng khoảng cách này và xấp xỉ bằng 1016 chia cho số lượng thẻ riêng biệt. Cuối cùng lấy 1016 chia cho số thẻ nhỏ nhất quan sát được chúng ta ước lượng được số lượng thẻ.  Một vấn đề khác là thuật toán giả định các số thẻ phân bố ngẫu nhiên, có khả năng không phải như vậy. Trong trường hợp, đó bạn có thể sử dụng hàm băm để làm cho dữ liệu độc lập một cách thống kê. Không nhất thiết phải phân bố độc lập trên mọi giá trị mà chỉ cần độc lập hai chiều là đủ.     Số hóa dữ liệu y tế     Khi số hóa hồ sơ y tế, chúng ta cần đảm bảo nhu cầu riêng tư và bảo mật của mỗi các nhân. Ví dụ, nếu toàn bộ lịch sử y tế của tôi được số hóa và tôi bị bệnh ở đâu đó trên thế giới thì bác sĩ của tôi cũng có thể đưa ra được phương pháp điều trị tốt nhất. Tuy nhiên tôi lại không muốn công ty bảo hiểm nhìn thấy toàn bộ lịch sử y tế của tôi. Trên thực tế, công ty bảo hiểm cũng hoàn toàn không cần xem hồ sơ bệnh án của từng cá nhân, tất cả những gì họ cần là một số ước lượng khách hàng đó đã chi bao nhiêu cho y tế. (Khác với các nhà nghiên cứu y tế muốn truy cập vào mỗi hồ sơ y tế của một người khác để cải thiện các kỹ thuật chữa trị). Làm sao cung cấp những thông tin thống kê cho bảo hiểm mà không để họ có quyền truy cập vào bất kỳ thông tin cá nhân nào? Hai kỹ thuật đang nổi lên là: bằng chứng kiến ​​thức bằng không (“zero knowledge proofs”) và quyền riêng tư khác biệt (“differential privacy”).     Bằng chứng không kiến ​​thức    Bằng chứng không kiến ​​thức về một tuyên bố nào đó là bằng chứng chứng minh tuyên bố đó là đúng mà không cung cấp bất kỳ thông tin nào khác. Để minh họa, chúng ta xét bài toán tô 3 màu cho đồ thị sao cho không có hai đỉnh liền kề có cùng màu. Đây là một bài toán NP-đầy đủ và không có thuật toán nào chạy với thời gian đa thức đã biết. Giả sử bạn có một biểu đồ với một triệu đỉnh và bạn muốn tô màu cho nó còn tôi có một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tô màu. Tuy nhiên, chúng ta không thể hợp tác vì không tin tưởng nhau: bạn không muốn trả tiền khi không biết tôi có khả năng tô màu cho đồ thị của bạn hay không còn tôi lại không muốn cho bạn xem kết quả tô màu khi bạn chưa trả tiền. Giải pháp là tôi cung cấp cho bạn một bằng chứng rằng tôi đã tô màu được mà không cung cấp cho bạn bất kỳ thông tin nào về cách tô màu. Ở đây chúng ta có thể sử dụng một bằng chứng không kiến ​​thức.      John E. Hopcroft, nhà khoa học máy tính lý thuyết Mỹ. Các cuốn sách về lý thuyết tính toán và các cấu trúc dữ liệu của ông đều được coi như tiêu chuẩn trong những lĩnh vực này. Nguồn: wikipedia  Với mỗi đỉnh trên đồ thị, tôi đặt màu của nó trong một phong bì và dán lại. Bạn có thể yêu cầu xem màu của hai đỉnh liền kề và tôi cho mở hai phong bì ra. Như vậy bạn cũng không có thông tin gì về cách tô màu cả vì có thể hoán vị màu của các đỉnh cho nhau để có được hai màu của hai đỉnh này. Tuy nhiên, nếu tôi cho phép bạn nhìn thấy một đỉnh khác thì tôi sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin và tôi không làm vậy. Thay vào đó tôi phá hủy tất cả các phong bì, hoán vị các màu trên đồ thị và tạo lại các phong bì với màu thích hợp cho mỗi đỉnh. Điều này nghe có vẻ phức tạp nhưng chúng ta làm trên máy tính thôi. Khi bạn muốn thấy màu của hai đỉnh tôi sẽ đưa cho bạn chìa khóa để giải mã hai đỉnh đó (dựa trên việc hoán vị màu trước đó). Vì tất cả điều này được thực hiện bằng điện tử nên tôi chỉ mất vài phút để thuyết phục bạn tôi đã có cách tô màu và chúng ta có thể hợp tác. Đây chính là một ví dụ về bằng chứng không kiến ​​thức. Một ví dụ khác có thể thấy là trong tương lai, nếu một hãng chế tạo được máy tính lượng tử, họ sẽ phải chứng minh được điều đó (tính toán dựa trên hiệu ứng cơ học lượng tử) mà không làm lộ chi tiết của thiết kế.     Quyền riêng tư khác biệt    Sự riêng tư rất cần thiết trong các ứng dụng kinh doanh ví dụ như dẫn đường xe hơi, chuỗi cung ứng hay hệ thống vận chuyển. Ví dụ: Hệ thống dẫn đường có thể ghi lại tọa độ GPS của bạn trong tháng trước để hướng dẫn tốt hơn. Tuy nhiên, chúng ta lại không muốn điều đó vì các hệ thống này có thể biết xe của bạn đỗ ở đâu vào ban đêm, bạn đi làm ở đâu, đi chợ ở đâu, v.v. Nếu có thể vừa cung cấp thông tin cho hệ thống lại vừa không mất dữ liệu cá nhân thì sẽ tốt hơn. Một ví dụ khác là chúng ta đều muốn có được dịch vụ Gmail tốt hơn và để làm như vậy Google sẽ cần thu thập hành vi và thậm chí cả nội dung của email. Rõ ràng chúng ta không muốn thế nhưng vẫn muốn có dịch vụ email tốt hơn.  Trong tương lai, sẽ có rất nhiều hệ thống phải đối mặt với vấn đề dữ liệu riêng tư như vậy.    Dữ liệu lớn, công suất tính toán cao, kết nối Internet và các tiến bộ AI đang cùng tạo ra cuộc cách mạng thông tin, trong đó máy móc sẽ thay thế dần những công việc đòi hỏi tri thức và làm thay đổi rất cơ bản lao động trong xã hội. Từ một số ứng dụng chính có thể ảnh hưởng quan trọng trong tương lai, có thể thấy những cá nhân, tổ chức hay quốc gia nắm bắt được xu hướng và công nghệ này sẽ có những thế mạnh vượt trội. □     Nguyễn Quang dịch     TÀI LIỆU THAM KHẢO          [1] Kun He, Yiwei Sun, David Bindel, John E. Hopcroft and Yixuan Li, “Detecting overlapping communities from local spectral subspaces,” in 15th IEEE International Conference on Data Mining (ICDM), Atlantic City, USA, 2015, pp. 769-774.  [2] Yixuan Li, Kun He, David Bindel and John E. Hopcroft. “Uncovering the small community structure in large networks,” in 24th International Conference on World Wide Web (WWW), Florence, Italy, 2015, pp. 658-668.  [3] Kun He, Sucheta Soundarajan, Xuezhi Cao, John E. Hopcroft and Menglong Huang, “Revealing multiple layers of hidden community structure in networks,” CoRR abs/1501.05700, 2015.  [4] Kun He, Yingru Li, Sucheta Soundarajan and John E. Hopcroft, “Hidden community detection in social networks,” Information Sciences, vol. 425, pp. 92-106, Jan. 2018.  [5] Alan Mislove, Bimal Viswanath, P. Krishna Gummadi, Peter Druschel, “You are who you know: inferring user profiles in online social networks,” in Proceedings of the 3rd International Conference on Web Search and Web Data Mining (WSDM), New York, NY, USA, 2010, pp. 251-260.  [6] Olga Russakovsky, Jia Deng, Hao Su, Jonathan Krause, Sanjeev Satheesh, Sean Ma, Zhiheng Huang, Andrej Karpathy, Aditya Khosla, Michael Bernstein, Alexander C. Berg and Fei-Fei Li, “ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge,” International Journal of Computer Vision, vol. 115, no. 3, pp. 211-252, April 2015.  [7] ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge (ILSVRC), [Online]. Available: http://www.image-net.org/challenges/LSVRC/.  [8] Yixuan Li, Jason Yosinski, Jeff Clune, Hod Lipson, and John E. Hopcroft, “Convergent learning: Do different neural networks learn the same representations? ” in ICLR, 2016.  [9] Ian J. Goodfellow, Jean Pouget-Abadie, Mehdi Mirza, Bing Xu, David Warde-Farley, Sherjil Ozair, Aaron C. Courville, Yoshua Bengio, “Generative adversarial networks,” in Advances in Neural Information Processing Systems(NIPS). Montreal, Quebec, Canada, 2014, pp. 2672-2680.  [10] Anh Nguyen, Jason Yosinski, and Jeff Clune, “Deep neural networks are easily fooled: high confidence predictions for unrecognizable images,” in IEEE Conference on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR). 2015          [11] Blum, Manuel, Feldman, Paul; Micali, Silvio. “Non-interactive zero-knowledge and its applications,” in Proceedings of the twentieth annual ACM symposium on Theory of computing (STOC), Chicago,Illinois, USA, 1988, pp. 103–112.  [12] Cynthia Dwork. “Differential Privacy, Automata, Languages and Programming,” in 33rd International Colloquium (ICALP), Venice, Italy, 2006, pp. 1-12.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Mở: Những gợi ý cho Việt Nam      Mặc dù còn 14 tháng nữa, UNESCO mới chính thức thông qua Khuyến cáo khoa học Mở nhưng những gợi ý đầu vào cho bản phác thảo đã cho thấy, trên con đường hướng tới Khoa học Mở, Việt Nam sẽ cần sự hỗ trợ của Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Tài nguyên Giáo dục Mở – đều là những thứ mà Việt Nam hiện chưa có, hoặc có thì còn rất sơ khai.      Giờ thực hành thí nghiệm bộ môn Công nghệ Y sinh của Viện Điện tử Viễn thông (ĐH Bách khoa HN). Ảnh: CCPR-HUST  Hiểu về Khoa học Mở  Trước hết, chúng ta cần biết, Khuyến cáo Khoa học Mở được UNESCO và 193 quốc gia thành viên hướng tới nhằm đem lại hướng dẫn về các giá trị và các nguyên tắc được chia sẻ cho Khoa học Mở, và xác định các biện pháp cụ thể về Truy cập Mở và Dữ liệu Mở, qua đó đưa mọi người hiểu hơn về khoa học và tạo thuận lợi cho việc phổ biến và áp dụng tri thức khoa học. Khuyến cáo đó sẽ được phát triển thông qua một quy trình tham vấn tại các khu vực với sự tham gia của nhiều bên tư vấn, đóng góp để đảm bảo sự minh bạch và toàn diện.  Hiện tại có khá nhiều định nghĩa về Khoa học Mở (Open Science), mỗi định nghĩa là một cách tiếp cận của mỗi tổ chức. Chúng ta thử tham khảo vài ba định nghĩa của các tổ chức khoa học có uy tín trên thế giới:   • Ủy ban châu Âu (EC): Khoa học Mở đại diện cho một cách tiếp cận mới cho quy trình nghiên cứu khoa học được tiến hành trên hoạt động hợp tác và cách thức mới để có thể lan tỏa tri thức bằng việc sử dụng các công nghệ số và các công cụ mới có khả năng hợp tác.  • Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Khoa học Mở xoay quanh việc truy cập mở các bài báo khoa học, truy cập dữ liệu từ nghiên cứu của chính phủ và nghiên cứu thông qua hợp tác với sự hỗ trợ của các công cụ công nghệ thông tin và truyền thông… Việc mở rộng truy cập tới các xuất bản phẩm và dữ liệu khoa học là trọng tâm của khoa học Mở với mục tiêu các kết quả nghiên cứu đến với càng nhiều người càng tốt và những lợi ích tiềm năng được lan truyền càng rộng càng tốt.  • Gần đây nhất, nhóm 24 cơ quan quỹ quốc gia, châu Âu và các quỹ từ thiện chuyên đầu tư cho khoa học Liên minh S (cOAlition S) đã định nghĩa như sau: Khoa học Mở là tập hợp các thực hành đảm bảo cho nghiên cứu khoa học tới được các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, và công dân khắp trên thế giới bằng việc sử dụng một cách tối ưu các công nghệ số.  • UNESCO trên trang chuyên dành cho Khoa học Mở của mình cho rằng ý tưởng đằng sau Khoa học Mở là để cho phép thông tin, dữ liệu và các kết quả đầu ra của khoa học được truy cập một cách rộng rãi hơn (Truy cập Mở) và khai thác trên cơ sở tin cậy hơn (Dữ liệu Mở) với sự tham gia tích cực của tất cả các bên tham gia đóng góp (Mở cho Xã hội – Open to Society).  Với định nghĩa của UNESCO thì Khuyến cáo Khoa học Mở của tổ chức này sẽ dựa vào ba trụ cột chính, đó là: Truy cập Mở tới thông tin, dữ liệu và các kết quả đầu ra của các nghiên cứu khoa học; Dữ liệu Mở phục vụ cho khai thác tin cậy hơn các dữ liệu nghiên cứu khoa học; và Mở cho Xã hội, ngụ ý khoa học có sự tham gia tích cực của tất cả các bên tham gia đóng góp, bao gồm cả các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, và công dân khắp trên thế giới, bằng việc sử dụng tối ưu các công nghệ số.  Đáng chú ý, Khuyến cáo Khoa học Mở sẽ là phần tiếp theo của Khuyến cáo về Khoa học và các nhà nghiên cứu năm 2017 của UNESCO. Nó cũng sẽ được xây dựng dựa vào Chiến lược Truy cập Mở tới Thông tin và Nghiên cứu Khoa học của UNESCO và Khuyến cáo Tài nguyên Giáo dục Mở mới của UNESCO. Do đó, các thành phần của Khoa học Mở cũng rất đa dạng, bao gồm 12 yếu tố là Truy cập Mở, hạ tầng Mở, tài nguyên Giáo dục Mở, Dữ liệu Mở, phòng thí nghiệm Mở, huy động vốn đám đông, ghi chép Mở, đổi mới sáng tạo Mở, khoa học Công dân, đánh giá Mở, phần cứng Mở, nguồn Mở – Phần mềm nguồn Mở.     Các thành phần của khoa học Mở.   Qua các góc nhìn này, có thể thấy không chỉ UNESCO mà nhiều tổ chức khác cũng kỳ vọng Khoa học Mở sẽ trở thành một trong những công cụ hỗ trợ các quốc gia vượt qua những thách thức cấp bách về kinh tế xã hội của hành tinh, thúc đẩy các giải pháp bền vững và đổi mới sáng tạo, vốn không chỉ xuất phát từ cộng đồng khoa học mà còn từ toàn bộ xã hội. Câu trả lời gần đây của cộng đồng khoa học cho đại dịch Covid-19 đã là cách để mọi người thấy giá trị hứa hẹn của khoa học Mở khi đem lại các giải pháp khoa học cho thách thức toàn cầu đó. Mặt khác, về tương lai, khoa học Mở sẽ là hoạt động khiến khoa học mở hơn, truy cập rộng hơn và tiến tới cơ hội trở nên hiệu quả, dân chủ, và minh bạch hơn.   Tương lai của Khoa học Mở đang rất gần bởi nó đang được quá trình chuyển đổi số ở phạm vi rộng lớn hơn dẫn dắt, khi cho phép thông tin, dữ liệu và các kết quả đầu ra của khoa học truy cập được rộng rãi hơn (Truy cập Mở) và khai thác được tin cậy hơn (Dữ liệu Mở) với sự tham gia tích cực của tất cả các bên tham gia đóng góp thích hợp (Mở cho Xã hội). Bằng việc khuyến khích khoa học kết nối nhiều hơn với các nhu cầu xã hội và bằng việc trao cơ hội một cách công bằng cho các nhà khoa học, nhà quản lý và các công dân, Khoa học Mở được dự đoán là tác nhân thay đổi cuộc chơi thực sự trong việc thực hiện quyền con người trong khoa học và thu hẹp khoảng cách về KH&CN và đổi mới sáng tạo giữa các quốc gia, giữa các vùng và châu lục.   Chính sách KH&CN Việt Nam có cần thay đổi?  Nếu chiểu theo các định nghĩa về Khoa học Mở và thành phần của Khoa học Mở có thể thấy dường như nó vẫn còn xa lạ với Việt Nam. Ngoại trừ khái niệm phần mềm nguồn Mở ra, các khái niệm Mở trong bài viết này, như các khái niệm nằm trong thành phần của Khoa học Mở đều rất hiếm xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, thông tin truyền thông ở Việt Nam. Ví dụ, nếu nhìn vào Khuyến cáo về Khoa học và các nhà nghiên cứu khoa học năm 2017 của UNESCO, chúng ta có thể thấy một số vấn đề nền tảng, một số các khái niệm cơ bản cho Khoa học Mở, nhưng cho tới nay, chưa thấy xuất hiện những khái niệm này trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới khoa học công nghệ ở Việt Nam. Hy vọng với lần này, Việt Nam sẽ không bỏ lỡ Khoa học Mở như Khuyến cáo ra đời ba năm trước nữa bởi việc không có các chính sách về Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Tài nguyên Giáo dục Mở, vốn là các thành phần cơ bản quan trọng của Khoa học Mở, sẽ gây nhiều khó khăn cho việc xây dựng chính sách Khoa học Mở của Việt Nam.   Tại sao khoa học và công nghệ Việt Nam cần có những quy định cơ bản và thống nhất ở tầm quốc gia – điều chỉ có được thông qua các văn bản quy phạm pháp luật? Có thể ai đó sẽ bật ra câu hỏi này, dù vẫn còn cảm thấy chưa thực sự hài lòng khi nhìn vào sự vận hành của các hoạt động khoa học và công nghệ hiện tại. Có thể trả lời như sau: việc truy cập Mở tới các xuất bản phẩm học thuật và dữ liệu nghiên cứu là yếu tố chính của khung khoa học Mở và là bước đầu cơ bản nhằm đạt được khoa học Mở. Do đó, Việt Nam nên tập trung trước hết vào việc xây dựng chính sách truy cập mở theo các hướng dẫn cho các nhà cấp vốn nghiên cứu trong và ngoài chính phủ cũng như cho những người làm chính sách truy cập mở ở các cơ sở nghiên cứu.   Về bản chất, để xây dựng được chính sách truy cập Mở, điều quan trọng nhất là hài hòa lợi ích của các bên tham gia đóng góp, tất cả vì lợi ích của các nhà nghiên cứu khoa học và các độc giả của các xuất bản phẩm là kết quả của nghiên cứu khoa học, đặc biệt khi nghiên cứu đó được nhà nước cấp vốn. Kế hoạch S của Liên minh S là thực thi một chính sách truy cập Mở đầy đủ và tức thì (không có thời hạn cho việc cấm truy cập). Nhờ vậy, tác giả của các bài báo nghiên cứu được xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành không phải trả tiền cho các khoản phí xử lý bài báo (APC) và các độc giả, bao gồm các thư viện của các cơ sở nghiên cứu, không phải trả tiền thuê bao tạp chí để được đọc chúng. Trách nhiệm trả các khoản tiền đó thuộc về các nơi đầu tư cho nghiên cứu, ví dụ như các quỹ trong Liên minh S. Với những thay đổi đó, chính sách phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam, bao gồm chính sách xuất bản học thuật, chính sách đầu tư cho khoa học, chính sách truyền thông khoa học…, có thể sẽ rất khác nếu đi theo con đường truy cập Mở. Trong một thế giới Mở như vậy, chúng ta không thể giữ nguyên những chính sách cũ để nắm bắt những chuyển động mới mà hiệu quả của nó được mường tượng là đem lại nhiều lợi ích cho đất nước.   Tuy nhiên nếu thay đổi chính sách phát triển khoa học Mở, chúng ta phải thay đổi hàng loạt các chính sách khác liên quan đến nó. Quá trình xây dựng những chính sách mới ắt hẳn phức tạp vì có rất nhiều khái niệm liên quan, tuy nhiên, tôi muốn lưu ý một điều là dữ liệu Mở và tài nguyên Giáo dục Mở, nhìn từ góc độ của việc cấp phép mở, có thể được coi như là các trường hợp đặc biệt của các tài nguyên truy cập Mở nhưng với các mức độ tự do khác nhau, trong đó dữ liệu Mở có các giấy phép có các mức độ tự do cao hơn của tài nguyên giáo dục Mở. Chính sách cấp phép mở cần phải được xây dựng, càng sớm càng tốt, vì nếu không được cấp phép mở, các tài nguyên không là truy cập Mở, không là dữ liệu Mở, cũng không là tài nguyên giáo dục Mở được, và hệ quả là, không có khoa học Mở được.   Với Việt Nam, quá trình phát triển đi cùng khoa học Mở, đồng nghĩa đi với truy cập Mở, dữ liệu Mở, tài nguyên giáo dục Mở, chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích về lâu dài trong phát triển quốc gia. Nó sẽ giúp Việt Nam có khả năng hòa nhập cũng như bắt kịp với sự phát triển khoa học công nghệ của thế giới, phát triển cùng và không tách rời khỏi các cộng đồng Mở của thế giới với phương châm theo ba bước: giành được tri thức để từ đó có thể đào sâu tri thức và cuối cùng là có thể tạo ra tri thức mới.   Việc chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang các mô hình Mở sẽ không dễ dàng. Đi với Mở, có nghĩa là các mô hình truyền thống sẽ phải chuyển đổi sang các mô hình Mở, bao gồm mô hình phát triển, mô hình cấp phép, mô hình kinh doanh, mô hình xây dựng và quản lý cộng đồng, .v.v. Cùng với các mô hình đó là các xung đột trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với các mô hình truyền thống, do đó để có được những hỗ trợ pháp lý và hướng dẫn cần thiết, chúng ta cũng sẽ phải sửa đổi, thậm chí thay thế những văn bản đó cho phù hợp với tình hình mới. □    Để Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO năm 2021 có thể được phê chuẩn vào năm sau 2021, một quy trình với lộ trình rõ ràng theo thời gian đã được vạch ravới các giai đoạn và hành động cụ thể sau:  1. Từ tháng 1 tới tháng 3/2020: Thành lập Đối tác Khoa học Mở; Thành lập Ban chỉ đạo Khoa học Mở; Tham vấn online về các yếu tố của Khuyến cáo  2. Tháng 3/2020: Phác thảo đầu tiên của Khuyến cáo  3. Từ tháng 4/2020 tới tháng 9/2020: Tham vấn theo khu vực và chủ đề với các bên tham gia đóng góp về các nội dung của Khuyến cáo  4. Từ tháng 9/2020 tới tháng 1/2021: Phác thảo đầu tiên của Khuyến cáo, được gửi cho các quốc gia thành viên UNESCO để thu thập các bình luận của họ  5. Từ tháng 1/2021 tới tháng 4/2021: Tiếp tục các tham vấn và các đầu vào trên bản thảo cuối cùng  6. Tháng 4/2021: Truyền thông về bản thảo được làm lại của Khuyến cáo cho các quốc gia thành viên  7. Tháng 7/2021: Cuộc họp của ủy ban đặc biệt gồm các chuyên gia kỹ thuật và pháp lý do các quốc gia thành viên chỉ định (cuộc họp chủng loại II)  8. Tháng 11/2021: Đệ trình Khuyến cáo dự thảo tới Hội nghị Toàn thể lần thứ 41 để phê chuẩn  9. Tháng 11/2021: Các quốc gia thành viên phê chuẩn Khuyến cáo    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Khoa học Mở: Thúc đẩy hợp tác và trao quyền truy cập cho mọi người      Vừa qua, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Liên hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UN HRC) đã ra tuyên bố chung về Khoa học mở.      Tuyên bố này sẽ được các quốc gia thành viên thảo luận, sau đó sẽ thông qua phiên bản cuối cùng ở Hội nghị toàn thể của UNESCO vào tháng 11/2021. Tia Sáng xin giới thiệu nội dung tuyên bố chung về Khoa học mở này.  Chúng tôi, các Tổng Giám đốc của UNESCO và WHO và UN HRC, tái khẳng định quyền cơ bản về thụ hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học, các ứng dụng của nó cũng như bảo vệ cho khoa học mở, hòa nhập và hợp tác.  Cân nhắc thấy Khoa học Mở có thể giảm thiểu các bất bình đẳng, giúp phản hồi và ứng phó các thách thức tức thì của Covid-19 và thúc đẩy sự tiến bộ hướng tới triển khai Chương trình nghị sự Phát triển bền vững 2030, chúng tôi thống nhất:  i. Kêu gọi từng quốc gia thành viên đảm bảo quyền cơ bản về truy cập tới các nghiên cứu khoa học và các ứng dụng của nó với quan điểm tạo ra những cái chung của tri thức toàn cầu và lấp đi các khoảng cách hiện có trong KH&CN và đổi mới sáng tạo, đặc biệt ở các nước đang phát triển, và với quan điểm tôn trọng phụ nữ;  ii. Cam kết hỗ trợ cộng đồng khoa học quốc tế bằng việc thúc đẩy văn hóa hợp tác và đoàn kết thay vì cạnh tranh, và bằng việc chia sẻ các kết quả của nghiên cứu và tri thức ở bất cứ mọi nơi có thể để giúp bất kỳ ai cũng có thể truy cập và tìm hiểu về khoa học một cách rộng rãi;  iii. Cam kết bảo vệ và chia sẻ các khung pháp lý, các chính sách triển khai hiệu quả những nguyên tắc của Khoa học Mở;  iv. Các chính sách công hiệu quả và bền vững nên dựa vào các thông tin và tri thức khoa học có thể kiểm chứng được và vì lợi ích của tất cả mọi người;  v. Hỗ trợ những tiềm năng to lớn của khoa học trong việc đáp ứng các nhu cầu xã hội và định hình tương lai loài người, khi nó dựa vào các cơ hội bình đẳng và năng lực khoa học cho tất cả mọi người;  vi. Thừa nhận sự quan trọng của Khoa học Mở trong cải thiện và duy trì lợi ích kinh tế xã hội và hội nhập trong nền kinh tế toàn cầu, góp phần gia tăng tính kết nối lẫn nhau của thế giới ngày nay, qua đó hỗ trợ định hình một cách tiếp cận hiện đại tới khoa học;  vii. Hiểu về sức mạnh của hợp tác khoa học và ngoại giao để đoàn kết các quốc gia, xã hội dân sự, khu vực tư nhân và thế giới, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ra quyết định dựa trên bằng chứng;  viii. Kêu gọi các quốc gia thành viên và tất cả các bên tham gia đóng góp cùng tham gia Lời kêu gọi Đoàn kết Hành động và Kho Truy cập Công nghệ COVID-19 của WHO, hiện đang tìm cách tạo thuận lợi cho việc chia sẻ tri thức, sở hữu trí tuệ và dữ liệu để đáp lại đại dịch.  Ý tưởng cốt lõi đằng sau Khoa học Mở là để thông tin, dữ liệu và các kết quả đầu ra của khoa học được truy cập rộng rãi hơn (Truy cập Mở) và được khai thác tin cậy hơn (Dữ liệu Mở) với sự tham gia tích cực của tất cả các bên tham gia đóng góp (Mở cho Xã hội). Phong trào Khoa học Mở đã nổi lên từ cộng đồng khoa học và đã nhanh chóng lan ra khắp các quốc gia, kêu gọi mở ra các cánh cổng của tri thức. Trong một môi trường khoa học và chính sách bị phân mảnh, sự hiểu biết toàn cầu mạnh hơn về các cơ hội và thách thức của Khoa học Mở hết sức cần thiết.  Chúng tôi kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên, những người làm chính sách, các đại diện của các tổ chức dân sự, các mạng lưới của tuổi trẻ và cộng đồng khoa học khuyến khích các ý tưởng của Khoa học Mở, ở tất cả các giai đoạn của quy trình khoa học, với tầm nhìn xây dựng khuyến cáo quốc tế về Khoa học Mở  “Ngày nay các mô hình khoa học vô hình trung làm gia tăng sự bất bình đẳng giữa các quốc gia và các nhà nghiên cứu vì chúng chỉ làm cho tiến bộ khoa học cho những nhóm thiểu số. Khủng hoảng y tế đã chỉ ra tiềm năng không thể tin nổi của cộng tác khoa học, nó đã cho phép chúng tôi giải trình tự bộ gene của virus rất nhanh. Sự đoàn kết được cộng đồng khoa học chỉ ra là một mô hình cho tương lai: để đối mặt với các thách thức toàn cầu, chúng ta cần trí tuệ tập thể. Khi các quốc gia kêu gọi sự cộng tác khoa học quốc tế trong những thời khắc chưa từng thấy, sự cấp bách của chuyển đổi sang Khoa học Mở vô cùng rõ ràng. Việc phủ nhận bằng chứng khoa học trong một vài giới – và miễn cưỡng áp dụng các chính sách dựa vào bằng chứng – đã làm gia tăng tác hại khôn lường mà đại dịch gây nên. Tri thức khoa học và sự đồng thuận của công chúng khi có đầy đủ thông tin đã thể hiện tác dụng trong việc giảm thiểu nguy cơ bệnh dịch” (Audrey Azoulay – Tổng Giám đốc UNESCO)  Lê Trung Nghĩa tổng hợp  Nguồn: https://en.unesco.org/sites/default/files/joint_appeal_for_open_sciences_fin_en_fin.pdf;                https://en.unesco.org/news/unesco-who-and-high-commissioner-human-rights-call-open-science    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Mở, Truy cập Mở và tác động của đại dịch COVID-19      Đại dịch COVID-19 có thể là một cơ hội để thay đổi sự cộng tác và liên kết khoa học trên toàn thế giới mãi mãi.      COVID-19 đã mở ra dạng thức truyền thông khoa học mới, điển hình là sự nổi lên của các máy chủ preprint, nơi lưu trữ phiên bản chưa bình duyệt của các công bố khoa học. Ảnh: science.sciencemag.org    Bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất, được UNESCO xuất bản ngày 12/05/2021 đã nêu1: “Khủng hoảng y tế COVID-19 trên toàn cầu đã chứng minh cho cả thế giới sự cấp bách của việc khai thác truy cập tới thông tin khoa học một cách công bằng, tạo thuận lợi cho việc chia sẻ kiến thức, dữ liệu và thông tin khoa học, cải thiện việc ra quyết định dựa vào sự cộng tác, khoa học và kiến thức để đáp lại sự cấp bách toàn cầu và gia tăng khả năng phục hồi của xã hội”. Đây chính là một trong những căn cứ để xây dựng Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO, dự kiến sẽ được 193 quốc gia thành viên của nó phê chuẩn vào tháng 11/2021. Bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở cũng nêu:  “  Truy cập mở tới kiến thức khoa học thường tham chiếu tới truy cập tới các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu, phần mềm, mã nguồn và phần cứng sẵn sàng trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền đã được phát hành theo một giấy phép mở cho phép những người khác sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại; được cung cấp cho tất cả các tác nhân đó đúng lúc bất kể vị trí, quốc tịch, chủng tộc, tuổi tác, giới tính, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế xã hội, giai đoạn nghề nghiệp, ngành học, ngôn ngữ, tôn giáo, khuyết tật, dân tộc hoặc tình trạng di cư; và tự do không mất tiền ở mức độ rộng nhất có thể”.     Cam kết COVID-19 Mở (Open COVID-19 Pledge)     Quay lại thời điểm khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát mạnh cả trên thế giới lẫn ở Việt Nam vào tháng 3/2020, một liên minh các nhà khoa học, các luật sư, và các doanh nhân đã tập hợp nhau lại trong một ban chỉ đạo để đưa ra sáng kiến Cam kết COVID-19 Mở (Open COVID Pledge)2, tìm cách tăng tốc phát triển và triển khai nhanh các chuẩn đoán, vaccine, phương pháp điều trị, thiết bị y tế và giải pháp phần mềm trong cuộc khủng hoảng y tế công cộng khẩn cấp này3. Sau đó, vào ngày 7/4/2020 họ đã thành lập một tổ chức xã hội cùng tên. Cam kết COVID-19 Mở kêu gọi các tổ chức khắp trên thế giới làm cho các bằng sáng chế và bản quyền của họ sẵn sàng tự do không mất tiền để đấu tranh chống lại đại dịch COVID-19. Nội dung cam kết cụ thể như sau:    – Yêu cầu hành động tức thì để dừng đại dịch COVID-19 và chữa trị cho những người bị lây nhiễm. Đây là mệnh lệnh đạo đức và thực tiễn mà mỗi công cụ chúng tôi có sẵn đều phải được áp dụng để phát triển và triển khai các công nghệ trên quy mô lớn mà không gặp phải trở ngại.    – Vì thế chúng tôi cam kết để sở hữu trí tuệ của chúng tôi sẵn sàng tự do không mất tiền để sử dụng nhằm chấm dứt đại dịch COVID-19 và giảm thiểu tác động của bệnh dịch.    – Chúng tôi sẽ triển khai cam kết này thông qua một giấy phép chi tiết hóa các điều khoản và điều kiện để sở hữu trí tuệ của chúng tôi được làm cho sẵn sàng.    Và cũng giống như bất kỳ phần mềm nguồn mở hay dạng nội dung mở nào, Cam kết COVID-19 Mở cũng bao gồm việc cấp phép mở Open COVID với  ba loại giấy phép4:    1. Giấy phép tiêu chuẩn COVID Mở. Thứ nhất, một tập hợp các giấy phép COVID Mở (giấy phép OCL) có thể được bất kỳ tổ chức/cá nhân nào ký cam kết áp dụng.    2. Giấy phép tương thích COVID Mở. Thứ hai, chúng là các giấy phép cung cấp một tập hợp tối thiểu các quyền sử dụng và các điều khoản khác hoặc được xác định là tương thích, hoặc được xác định là tương thích với OCL trên cơ sở từng trường hợp một dựa vào các tiêu chí bên dưới (các giấy phép tương thích với OCL).    3. Giấy phép lựa chọn thay thế COVID Mở. Thứ ba, là các giấy phép không nằm trong hai nhóm ở trên, nhưng vẫn nhất quán với Cam kết COVID Mở (các giấy phép lựa chọn thay thế OCL).     Hưởng ứng lời kêu gọi của Cam kết COVID-19 Mở     Hưởng ứng lời kêu gọi của Cam kết COVID Mở, nhiều hãng khổng lồ đã tham gia ký cam kết như5: Amazon, Facebook, HP Enterprise, IBM, Intel, Microsoft, .v.v. và tới nay, sau hơn một năm kể từ ngày thành lập, đã có khoảng 500.000 bằng sáng chế và nhiều bản quyền đã được cam kết mở công khai để đối phó với COVID-192.    Nhiều hãng khổng lồ phần mềm, dù ký hay không ký Cam kết COVID-19 Mở cũng nới lỏng chế độ bản quyền thông qua việc cho phép người sử dụng trên toàn cầu tự do sử dụng các ứng dụng/dịch vụ phần mềm của họ không mất tiền trong thời gian đại dịch, điển hình như với các ứng dụng dịch vụ họp trực tuyến qua video (video conferencing), dù có thể có hạn chế về thời lượng mỗi lần sử dụng, như Google Meet/Google Hangout, Cisco Webex. .v.v. giúp người sử dụng tiến hành các cuộc họp hoặc dạy và học trên trực tuyến được dễ dàng hơn nhiều trong thời gian đại dịch.      Ảnh: EFF.org  Tương tự, thừa nhận việc hạn chế truy cập tới các phát hiện nghiên cứu vào thời điểm đại dịch toàn cầu là không có lợi cho bất kỳ ai, hơn 50 nhà xuất bản – bao gồm cả các nhà xuất bản lớn nhất thế giới như Elsevier, Springer-Nature và Wiley – đã loại bỏ tất cả sự kiểm soát truy cập đối với các nội dung có liên quan tới COVID-196.    Ở mức độ cao hơn về tính mở, các tổ chức có lịch sử lâu đời bảo vệ cho Truy cập Mở, như Creative Commons7, đã triển khai vô số các lời kêu gọi và hành động để thúc đẩy truy cập mở trong khoa học như là vũ khí chính để đấu tranh chống lại bệnh dịch. Chúng bao gồm lời kêu gọi công khai để có nhiều chính sách truy cập mở hơn, và kêu gọi các nhà khoa học áp dụng việc xuất bản không có giai đoạn cấm vận, triển khai gắn giấy phép CC BY cho các bài báo và CC0 (hiến tặng vào phạm vi công cộng – public domain) cho siêu dữ liệu nghiên cứu của họ.    Ví dụ lớn và điển hình nhất hiện nay về việc tất cả các kết quả nghiên cứu phải được làm thành truy cập mở là Kế hoạch S (Plan S), được một nhóm có tên là Liên minh S (cOAlition S) tuyên bố vào tháng 9/2018; Kế hoạch S yêu cầu từ 2021, các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ nghiên cứu được các trợ cấp nhà nước cấp vốn phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc các nền tảng tuân thủ Truy cập Mở, điều bây giờ chắc chắn bao gồm cả các kết quả nghiên cứu liên quan tới việc phòng chống COVID-19. Liên minh S hiện có 26 nhà cấp vốn nghiên cứu quốc gia châu Âu, cũng như các tổ chức, các nhà cấp vốn nghiên cứu từ thiện và quốc tế, các bên đồng ý triển khai 10 nguyên tắc của Kế hoạch S theo cách thức có phối hợp, cùng với Ủy ban châu Âu8.  Một nhóm gồm 10 tổ chức khoa học và giáo dục, gồm: (1) OPERAS; (2) SPARC Europe; (3) Thư viện Đại học Utrecht; (4) Đại học Bắc cực của Na Uy UiT; (5) CSI; (6) OASPA; (7) DOAJ; (8) Redalyc/AmeliCA; (9) LIBER; (10) ENRESSH, đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu về các tạp chí truy cập mở kim cương vào tháng 3/20219 với mục đích để đưa ra các khuyến cáo nhằm hướng tới việc xuất bản truy cập mở đầy đủ và tức thì theo mô hình truy cập mở kim cương cho các bên liên quan như: (1) các nhà cấp vốn nghiên cứu; (2) các cơ sở nghiên cứu; (3) các hội, hiệp hội có liên quan; (4) các tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các tạp chí Truy cập Mở kim cương để thực thi các nhiệm vụ kỹ thuật như biên tập, sắp chữ, đặt chỗ, đánh chỉ mục, phổ biến, lưu trữ hoặc bảo quản. Truy cập mở kim cương là dạng xuất bản truy cập mở mà cả những người sử dụng và các tác giả đều không phải trả tiền để truy cập được tới các xuất bản phẩm nghiên cứu trên các tạp chí; các nhà cấp vốn nghiên cứu (bất kể từ tổ chức nhà nước, tư nhân, từ thiện hoặc khác nào) chi trả các khoản phí xử lý bài báo được đăng trên các tạp chí và/hoặc duy trì hoạt động của hệ thống xuất bản truy cập mở kim cương đó.    Để chuẩn bị cho văn bản Khuyến cáo Khoa học Mở sẽ được đệ trình tới Hội nghị Toàn thể UNESCO để thông qua lần cuối từ tất cả 193 quốc gia thành viên UNESCO vào tháng 11/2021, 230 chuyên gia đại diện cho 106 quốc gia khắp trên thế giới đã trải qua bốn ngày tranh luận trên trực tuyến (trong các ngày 6-7/5/2021 và 10-12/05/2021) để đưa ra “bản thảo Khuyến cáo, được phát triển trong khủng hoảng y tế và thảo luận theo sau nó về các bằng sáng chế vaccine tự do không mất tiền, vì thế đưa ra định nghĩa chung, các giá trị được chia sẻ, các nguyên tắc và tiêu chuẩn cho Khoa học Mở và đề xuất một tập hợp các hành động để triển khai khoa học mở công bằng và không thiên vị ở tất cả các mức”10. Điều này cho thấy COVID-19 đã ảnh hưởng và thúc đẩy mong muốn hướng tới Khoa học Mở lớn và với quy mô rộng như thế nào trên khắp thế giới.     Truy cập mở tới các máy chủ/các kho Preprint     Đại dịch có lẽ đã cải thiện hoặc thiết lập các dạng mới của truyền thông khoa học. Ví dụ, nhiều dữ liệu đang được phát hành trên các máy chủ chứa các bài báo chưa được bình duyệt (máy chủ Preprint) và đang được mổ xẻ trên các nền tảng Internet xã hội và đôi khi trên các phương tiện truyền thông trước khi được rà soát lại ngang hàng. Các nhà khoa học đang rà soát lại, biên tập, phân tích và xuất bản các bản thảo và dữ liệu với tốc độ kỷ lục và với số lượng lớn. Truyền thông học thuật dữ dội này có thể đã cho phép mức cộng tác và hiệu quả chưa từng thấy giữa các nhà khoa học.     Preprint là gì?     Preprint là một phiên bản sớm của bài báo học thuật đã được tác giả làm sẵn sàng cho những người khác để đọc tự do không mất tiền trên trực tuyến trước khi nó được một tạp chí học thuật rà soát lại ngang hàng hoặc xuất bản11.    Trên các nền tảng xuất bản mở, ví dụ như Wellcome Open Research12, đối nghịch với các máy chủ preprint truyền thống, việc rà soát lại ngang hàng được triển khai trực tiếp trên nền tảng đó, điều hướng nhu cầu đối với tác giả để đệ trình tới một tạp chí. Các báo cáo rà soát lại ngang hàng được xuất bản trên trực tuyến (gắn kèm bài báo đó) cùng với danh tính của người rà soát lại – làm cho quá trình đó mở và minh bạch hoàn toàn, còn được gọi là rà soát lại ngang hàng mở.     Những lợi ích của preprint là gì?     Việc xuất bản một bài báo như là bản thảo chưa được bình duyệt (preprint) phục vụ cho vài mục đích quan trọng:    – Nó cho phép thông tin có trong bài báo được chia sẻ với cộng đồng học thuật nhanh và mở hơn so với xuất bản phẩm truyền thống. Quy trình xuất bản tạp chí chính quy thường lâu, và có thể mất vài tháng cho một bài báo được tạp chí rà soát lại và xuất bản.    – Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc xuất bản một bài báo trên tạp chí như bản thảo chưa được bình duyệt có thể làm gia tăng các trích dẫn cho bài báo cuối cùng sau khi đã được bình duyệt    – Bằng việc đăng tải online phiên bản cho phép truy cập được tự do không mất tiền của một bài báo, tác giả có cơ hội nhận được các bình luận và rà soát lại từ các độc giả để có thể dẫn tới những thay đổi và cải thiện trong bản thảo cuối cùng của bài báo được xuất bản.    – Nó có thể được các nhà nghiên cứu sử dụng để cung cấp bằng chứng về năng lực khi làm đơn xin việc hoặc đệ trình các đề xuất xin trợ cấp, và nó cũng thường có thể giúp thiết lập ưu tiên khám phá các ý tưởng.    – Việc đăng một bản thảo bài báo chưa được bình duyệt cũng có thể đặc biệt có lợi cho các nhà nghiên cứu mới bắt đầu sự nghiệp. Nó giúp họ tìm kiếm những người cộng tác nghiên cứu, và giúp cải thiện mạng lưới nghề nghiệp của họ, điều có thể dẫn tới nhiều cơ hội hơn cho các nhà nghiên cứu đó. Để phục vụ cho mục đích này, các nhà nghiên cứu có thể cài đặt thêm chương trình bổ sung (add on) như Unpaywall13 chạy trên trình duyệt Firefox. Theo đó, mỗi khi ta bắt gặp một bài báo, Unpaywall sẽ tự động tìm kiếm phiên bản mở miễn phí của công bố này trong kho dữ liệu hàng triệu bài báo truy cập mở của nó.      Không chỉ covid, các vấn đề toàn cầu khác cũng có thể giải quyết bằng truy cập mở. Ảnh: MiroslavaChrienova / Pixabay     Tốc độ và số lượng các bản preprint trong thời gian COVID-19     Bài báo đầu tiên có liên quan tới COVID-19 đã được xuất bản trên máy chủ preprint của bioRxiv vào ngày 19/1/2020 – chỉ 20 ngày sau khi Chính phủ Trung Quốc thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới về ‘các trường hợp viêm phổi không rõ nguyên nhân được phát hiện ở Vũ Hán’. Từ tháng 9/2020, kho Europe PMC đã đánh chỉ mục hơn 13.000 bản thảo chưa được bình duyệt có liên quan tới COVID-19. Để so sánh, tổng số các bản thảo chưa được bình duyệt ở tất cả các ngành khoa học – được ký gửi trên bioRxiv trong năm 2019 chỉ là 26.53514. Tương tự, trong vòng ba tháng đầu kể từ khi ra đời vào tháng 6/2019, medRxiv – một kho preprint khác, chỉ có sẵn hơn 200 bản preprint  trên máy chủ của nó; còn vào đầu tháng 8/2020, con số đó đã là hơn 9.400 15.  Đối nghịch với mô hình xuất bản truyền thống – nơi được ước tính thời gian trung bình trôi qua từ lúc đệ trình tới lúc xuất bản là khoảng 125 ngày – các bản thảo chưa được bình duyệt được chuyển thành truy cập mở công khai trong vòng từ hai tới năm ngày kể từ khi nộp, tùy thuộc vào mức độ quét của máy chủ preprint16.      Đối nghịch với mô hình xuất bản truyền thống – nơi được ước tính thời gian trung bình trôi qua từ lúc đệ trình tới lúc xuất bản là khoảng 125 ngày – các bản thảo chưa được bình duyệt được chuyển thành truy cập mở công khai trong vòng từ hai tới năm ngày kể từ khi nộp, tùy thuộc vào mức độ quét của máy chủ preprint.      Bất kỳ ai, bất kỳ nhà nghiên cứu khoa học nào cũng có thể xem và sử dụng danh sách liệt kê các máy chủ (các kho) preprint trên Wikipedia17, trong đó có trang của Trung tâm Khoa học Mở18 với vài chục máy chủ preprint như vậy. Đáng lưu ý là rất nhiều các bài báo dạng preprint mang giấy phép mở CC BY, cho phép người sử dụng tự do không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại chúng, miễn là thừa nhận ghi công đúng cho (các) tác giả.     Truy cập tới mã nguồn các phần mềm nguồn mở, phần cứng mở liên quan tới việc đấu tranh chống COVID-19     Theo một báo cáo năm 2020 của GitHub19, nơi thế giới nguồn mở với hơn 65 triệu lập trình viên, hơn 3 triệu tổ chức đã và đang xây dựng hơn 200 triệu kho phần mềm của mình với các mã nguồn mà bất kỳ ai cũng có thể tải về để tùy biến thích nghi và sử dụng lại, đã có nhiều dự án nguồn mở mới và các đóng góp cho các dự án sẵn có trong giai đoạn của đại dịch. Người sử dụng đã tạo ra 5.646 kho dự án có liên quan tới COVID-1920, tính tới thời điểm cuối tháng 2/2021. Đặc biệt, nhiều trong số các dự án đó đã được tạo ra để hiểu các tập hợp dữ liệu đang nổi lên từ đại dịch. Trong năm 2020, đã có thêm được hơn 6% các nhà khoa học và 10% các nhà phân tích dữ liệu đã tạo mới các tài khoản GitHub, theo báo cáo đó.    Không chỉ là phần mềm nguồn mở và dữ liệu mở, mà cả phần cứng mở. Một ví dụ điển hình là chương trình OpenCovid19 của chỉ một Phòng thí nghiệm Khổng lồ – JOGL (Just One Giant Lab), nó phát triển nguồn mở và các công cụ chi phí thấp và các phương pháp luận an toàn và dễ sử dụng để chống lại đại dịch COVID-19. Chương trình OpenCovid19 được một cộng đồng hơn 4.000 người tình nguyện và các chuyên gia tạo ra các giải pháp để dò tìm, xử lý COVID-19, và giúp dự báo sự tiến triển của đại dịch. Hàng chục dự án phần cứng mở21 từ chương trình này đã ra đời và phục vụ trong thực tế để giúp chống lại đại dịch như khẩu trang và tấm chắn mặt, ống tiêm, ống đặt vào khí quản và máy trợ thở, mặt nạ phòng độc nguồn mở.v.v.    Vai trò của các cộng đồng nguồn mở không chỉ giới hạn trong việc chia sẻ và cộng tác về mã nguồn phần mềm, thay vào đó có vô số các dự án đã và đang giúp theo dõi đại dịch, cung cấp các tập hợp dữ liệu hữu ích, và hơn thế. Có thể nói, các cộng đồng nguồn mở trên thế giới đang cho mượn các phương pháp luận của mình để giúp hiểu rõ hơn và tìm cách chữa trị nhằm chấm dứt đại dịch COVID-19.     Câu hỏi về văn hóa khoa học hiện hành     Một số tổ chức và cá nhận đã đặt câu hỏi về văn hóa khoa học hiện hành, kêu gọi khoa học mở hơn, công khai hơn.      Ảnh: The Washington Post.  Nếu Truy cập Mở là quan trọng để giúp thắng được COVID-19, vì sao không sử dụng logic y hệt để giải quyết tất cả các thách thức khác chúng ta đối mặt?  Tất nhiên, câu hỏi đó chỉ ra thực tế rằng, không chỉ với COVID-19, còn nhiều thách thức khác mà để giải quyết hiệu quả hơn, chúng ta cần đến truy cập mở dù là biến đổi khí hậu, an ninh lương thực hay các bệnh tật khác. Và tất nhiên, giải pháp đáng tin cậy là tất cả các nghiên cứu phải được làm thành Truy cập Mở, như những gì Liên minh S với Kế hoạch S đã và đang tiến hành, được nêu ở phần trên.     Việt Nam hưởng lợi gì từ Khoa học Mở và Truy cập Mở     Trên thực tế, dù hầu như chưa thấy mấy dấu hiệu của Khoa học Mở và Truy cập Mở  đang tồn tại ở Việt Nam cho tới thời điểm này, thì người Việt Nam đã và đang hưởng lợi rồi từ các thành quả của Khoa học Mở và Truy cập Mở của thế giới, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch COVID-19 đang diễn ra, mà ở đây chỉ nêu vài ví dụ cụ thể:      Nếu Truy cập Mở là quan trọng để giúp thắng được COVID-19, vì sao không sử dụng logic y hệt để giải quyết tất cả các thách thức khác chúng ta đối mặt?      Ai cũng có thể truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại các nội dung một cách tự do, không mất tiền, trong các kho tư liệu khổng lồ của thế giới như được nêu ở trên, đặc biệt với các nhà nghiên cứu về bất kỳ ngành khoa học nào chứ không chỉ riêng việc phòng chống COVID-19, với số lượng lớn, tần suất cao, và thời gian gần như đồng thời với các nhà nghiên cứu khắp trên thế giới. Chỉ bằng cách này, khoa học Việt Nam có lẽ mới có hy vọng không bị bỏ lại phía sau so với khoa học của thế giới.    Vài lợi ích trước mắt mà ai cũng thấy, như các phần mềm hội nghị trực tuyến, cả nguồn mở lẫn thương mại, được sử dụng để hỗ trợ cho học tập từ xa và/hoặc hội họp khi phải tuân thủ giãn cách xã hội, như Jitsi Meet, Google Meet, Cisco Webex, .v.v; hoặc như các phần mềm giúp lần vết, kiểm tra khoảng cách an toàn và/hoặc khai báo y tế trực tuyến trong đại dịch COVID-19, ví dụ như Bluzone.v.v.    Đối với những người còn hoài nghi và/hoặc cho rằng Khoa học Mở và Truy cập Mở chỉ có lợi cho các quốc gia phát triển, có thể tham khảo đoạn nội dung sau đây được nêu trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO xuất bản ngày 12/5/2021:    “Khoa học Mở không nên chỉ thúc đẩy cải thiện việc chia sẻ kiến thức khoa học giữa các cộng đồng khoa học, mà còn thúc đẩy hòa nhập kiến thức học thuật từ các nhóm thiệt thòi hoặc bị lề hóa (như phụ nữ, dân tộc thiểu số, các học giả bản địa, các học giả từ các quốc gia kém thuận lợi hơn và các ngôn ngữ ít tài nguyên hơn) và đóng góp để giảm bớt sự bất bình đẳng trong truy cập tới sự phát triển, các hạ tầng và các năng lực khoa học giữa các quốc gia và khu vực khác nhau”.     Kết luận     Đối với Khoa học nói chung, hệ thống truyền thông học thuật nói riêng, đại dịch COVID-19 đã chỉ ra ít nhất ba bài học sau22:    Bài học 1: Các mô hình xuất bản truyền thống – khóa nội dung đằng sau bức tường thanh toán – không còn phù hợp nữa.    Bài học 2: Đã đến thời của các bản thảo chưa được rà soát lại ngang hàng (Preprint) và các nền tảng xuất bản mở.    Bài học 3: Chúng ta không thể dự báo nghiên cứu nào sẽ là hữu ích – nên hãy để tất cả chúng là truy cập mở.    Khoa học Mở và Truy cập Mở đang trở thành xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay, và đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy làm tăng tốc cho xu thế này!    Vào ngày 5/5/2021, nghĩa là trước đúng một tuần bản thảo mới nhất của Khuyến cáo Khoa học Mở được UNESCO phát hành, chính quyền của Tổng thống Mỹ Biden đã tuyên bố ủng hộ việc từ bỏ các bằng sáng chế đối với vaccine Covid-1923. Đại diện Thương mại Mỹ cho biết: “Đây là cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu và các trường hợp bất thường của đại dịch Covid-19 kêu gọi các biện pháp bất thường”, và “Chính quyền rất tin tưởng vào các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng để chấm dứt đại dịch này, ủng hộ việc từ bỏ các biện pháp bảo vệ đó đối với vắc-xin Covid-19”.    Một câu hỏi ngỏ từ việc từ bỏ các bằng sáng chế đối với vaccine Covid-19 này đặt ra, đó là chúng ta ngày nay đang sống trong kỷ nguyên số không chắc chắn, phức tạp, mơ hồ và biến đổi nhanh, đặc biệt với các công nghệ thông tin và truyền thông, liệu hệ thống sở hữu trí tuệ khắt khe và cứng nhắc về bản quyền và các bằng sáng chế trong lĩnh vực y dược học, và mở rộng ra cho tất cả các lĩnh vực khoa học khác, có thực sự còn phù hợp? Làm thế nào để vừa bảo vệ được các bản quyền và bằng sáng chế của những người sáng tạo và/hoặc những người nắm giữ chúng, vừa không biến chúng trở thành vật cản để có thể cứu mạng sống của vô số người, như trong trường hợp của đại dịch COVID-19 hiện nay và/hoặc tương tự trong tương lai?□  ——  H. Các chú giải  1 UNESCO, 12/05/2021: Draft text of the Unesco Recommendation on Open Science: Bản dịch sang tiếng Việt có tại: https://www.dropbox.com/s/hh9havem2m15dka/376893eng_Vi-13052021.pdf?dl=0  2 American University Washington College of Law, April 2021: PIJIP Assumes Stewardship of the Open COVID Pledge: https://www.wcl.american.edu/impact/initiatives-programs/pijip/news/pijip-assumes-stewardship-of-the-open-covid-pledge/  3 Open Covid Pledge: About us: https://opencovidpledge.org/about/  4 Open Covid Pledge: Licenses: https://opencovidpledge.org/licenses/  5 Open Covid Pledge: Partners: https://opencovidpledge.org/partners/  6 Wellcome, 16 March 2020: Publishers make coronavirus (COVID-19) content freely available and reusable: https://wellcome.org/press-release/publishers-make-coronavirus-covid-19-content-freely-available-and-reusable  7 https://creativecommons.org/  8 cOAlition S: Plan S: https://www.coalition-s.org/  9 Arianna Becerril, Lars Bjørnshauge, Jeroen Bosman, Jan Erik Frantsvåg, Bianca Kramer, Pierre-Carl Langlais, Pierre Mounier, Vanessa Proudman, Claire Redhead, Didier Torny, March 2021: The OA DIAMOND Journals Study: Exploring collaborative community-driven publishing models for Open Access. Part 2: Recommendation. DOI: 10.5281/zenodo.4562790. CC BY 4.0.  10 UNESCO, 14/05/2021: Draft recommendation on Open Science on its way to final adoption: https://en.unesco.org/news/draft-recommendation-open-science-its-way-final-adoption. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/khuyen-cao-khoa-hoc-mo-ban-phac-thao-tren-con-duong-huong-toi-su-phe-chuan-cuoi-cung-cua-no-423.html  11 Larissa Gordon: Open Access Publishing: https://jefferson.libguides.com/OpenAccess/preprints  12 Wellcome Open Research: https://wellcomeopenresearch.org/collections/covid19  13 Lê Trung Nghĩa, 2020: Khai thác các bản thảo nghiên cứu chưa được rà soát lại ngang hàng bằng trình bổ sung Unpaywall: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/khai-thac-cac-ban-thao-nghien-cuu-chua-duoc-ra-soat-lai-ngang-hang-bang-trinh-bo-sung-unpaywall-300.html  14 Robert Kiley, October 6th, 2020: Three lessons COVID-19 has taught us about Open Access publishing: https://blogs.lse.ac.uk/ impactofsocialsciences/2020/10/ 06/39677/  15 American Society of Hematology: The Rise of Preprint Archives: https://www.ashclinicalnews.org/spotlight/feature-articles/rise-preprint-archives/  16]Robert Kiley, October 6th, 2020: Three lessons COVID-19 has taught us about Open Access publishing: https://blogs.lse.ac.uk/impactofsocialsciences/2020/10 /06/39677/  17 Wikipedia: List of preprint repositories: https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_preprint_repositories  18 Center for Open Science: OSFPreprint: https://osf.io/preprints/  19 GitHub: https://github.com/  20 Klint Finley, February 25, 2021: How the open source community came together to fight COVID-19: https://github.com/readme/octoverse-covid  21 JOGL, OpenCovid19 Initiative: Projects: https://app.jogl.io/program/opencovid19?tab=projects  22 Robert Kiley, October 6th, 2020: Three lessons COVID-19 has taught us about Open Access publishing: https://blogs.lse.ac.uk/impactofsocialsciences/2020/10 /06/39677/  23 Katie Jennings, Forbes Staff, 05/05/2021: Biden Decision To Back Waiving Patents For Covid Vaccines Sparks Industry Backlash: https://www.forbes.com/sites/katiejennings/2021/05/05/biden-decision-to-back-waiving-patents-for-covid-vaccines-sparks-industry-backlash/?sh=36965cf6410b  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Khoa học Nigeria giải quyết thách thức của cây sắn      Một dự án do Chính phủ Anh và Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ đang thắp lên hi vọng về việc tạo ra những giống sắn mới có năng suất cao và khả năng miễn nhiễm bệnh khảm lá sắn để cung cấp cho những người dân châu Á và châu Mỹ.      Dự án Chọn tạo giống sắn thế hệ mới (Next-Gen) có thể giúp nông dân ở giải quyết những thách thức với cây sắn, không chỉ cho châu Phi mà còn ở châu Mỹ và châu Á.   Với người dân ở ba châu lục (châu Á, châu Phi và châu Mỹ), sắn là cây trồng chủ lực tạo sinh kế vì chúng có khả năng phát triển ở những vùng đất bạc màu, chịu hạn tốt và có thể thu hoạch củ ở bất cứ thời điểm nào trong năm. Tuy nhiên, sản lượng sắn giữa các nơi có sự khác biệt đáng kể. Các giống sắn ở châu Phi có sản lượng trung bình là 8,8 tấn/ha, trong khi đó ở châu Mỹ là 13 tấn/ha và ở châu Á là 22 tấn/ha. Các giống sắn ở châu Phi – nơi tiêu thụ sắn cao nhất thế giới, thường nhỏ hơn các giống sắn khác ở châu Á và Nam Mỹ nhưng chúng lại có khả năng chống chịu nhiều loại bệnh hơn, chẳng hạn như căn bệnh khảm lá sắn hiện đang lan rộng khắp châu Á và gây thiệt hại nặng nề.  Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực cải thiện năng suất sắn ở châu Phi bằng cách nhập khẩu các giống sắn ở châu Á và Nam Mỹ. Tuy nhiên các giống sắn ngoại nhập không có khả năng kháng lại các mầm bệnh ở châu Phi nên sinh trưởng kém. Do vậy, các nhà nghiên cứu phải mất khoảng năm năm để lai tạo một giống sắn đáp ứng yêu cầu. Sau đó, họ sẽ trồng thử các giống này trong vòng một năm để đánh giá chất lượng củ – trải qua quy trình thu hoạch, ngâm, cắt nhỏ và phơi khô, sau đó cân lượng tinh bột còn lại. Mặc dù vậy, một giống sắn năng suất cao vẫn có thể thất bại khi tiếp xúc với môi trường khắc nghiệt.      “Điều tuyệt vời là cuối cùng cây sắn cũng được công nhận. Chúng ta cần mang nó trở lại thế kỷ này” (Ros Gleadow, Đại học Monash, Melbourne, Australia)      Giữa bối cảnh đó, Dự án Chọn tạo giống sắn thế hệ mới (Next-Gen) do TS. Chiedozie Egesi, nhà khoa học hàng đầu trong nhân giống sắn vàng giàu vitamin A, và Ismail Rabbi, một nhà chọn tạo giống sắn ở Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA) thực hiện có thể giúp nông dân ở giải quyết những thách thức với cây sắn, không chỉ cho châu Phi mà còn ở châu Mỹ và châu Á. Dự án nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình chọn tạo giống sắn có khả năng kháng bệnh tốt hơn, có khả năng chống chịu với điều kiện môi trường không thuận lợi tốt hơn và cải thiện năng suất bằng cách giải trình tự gene để xác định các giống lai đáp ứng yêu cầu. Nhiều người mong chờ tin vui này bởi bệnh khảm lá sắn đang hoành hành ở Thái Lan, Nam Mỹ và các quần đảo ở khu vực Thái Bình Dương. Nông dân nơi đây đang hy vọng phương pháp nhân giống truyền thống có thể tạo ra những giống sắn kết hợp gene kháng bệnh từ châu Phi. Một giống sắn được lai tạo giữa giống sắn Colombia và Nigeria đã được các nhà nghiên cứu trong dự án công nhận và đang khảo nghiệm ở gần IITA (Ibadan, Nigeria).  Ros Gleadow, một nhà khoa học thực vật ở Đại học Monash, Melbourne, Australia cho rằng điều này lẽ ra phải được thực hiện từ lâu bởi sắn cung cấp thực phẩm và thu nhập cho hơn 800 triệu người trên toàn thế giới. “Điều tuyệt vời là cuối cùng cây sắn cũng được công nhận”, cô nói. “Chúng ta cần mang nó trở lại thế kỷ này”.  Tham vọng gia tăng  Vào tháng 11/2018, Rabbi đã chuyển 5 giống sắn châu Phi kháng bệnh khảm lá sắn đến Thái Lan – quốc gia xuất khẩu sắn lớn nhất thế giới. Ông và đồng nghiệp đã tạo ra các giống trên nhờ khoản tài trợ 62 triệu USD từ dự án Chọn tạo giống sắn thế hệ mới do Chính phủ Anh và Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ từ năm 2011. Các nhà khoa học thuộc dự án đã sử dụng dữ liệu gene để xác định các đặc tính hữu ích để nhân giống sắn đáp ứng nhu cầu của thế giới – đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh khí hậu nóng lên, dân số gia tăng và các loại virus lan rộng.    Các chỉ thị di truyền cho thấy khoảng 60% các giống có khả năng kháng bệnh khảm lá sắn.  Khi các giống sắn châu Phi tới Thái Lan, các nhà khoa học sẽ lai tạo với các giống sắn thích hợp với châu Á. Sau đó, họ sẽ tuyển chọn các giống đã lai tạo theo các chỉ thị di truyền mà Rabbi và đồng nghiệp sử dụng để dự đoán khả năng kháng virus gây bệnh khảm lá sắn, cùng với 12 đặc tính khác – như màu lá và hàm lượng tinh bột.  Những chỉ thị di truyền này đã giúp các nhà nghiên cứu ở Nigeria chọn tạo 8 giống sắn đang được khảo nghiệm trên khắp đất nước. Các nhà khoa học và nông dân sẽ đối chiếu các giống sắn này với các giống sắn tốt nhất hiện có đang được trồng rộng rãi.           Tám giống sắn đang được khảo nghiệm là sản phẩm ở vòng đầu tiên trong quá trình chọn tạo giống của nhóm nghiên cứu ở IITA. Các nhà nghiên cứu đã phân tích DNA của 2500 cây con được ươm tạo năm 2013 và xác định các giống triển vọng dựa trên trình tự di truyền có liên quan đến các đặc tính cụ thể. Dữ liệu phân tích vào tháng 10/2018 cho thấy tỉ lệ cây con mang dấu vân tay di truyền liên quan đến nồng độ β-carotene cao (tiền chất của vitamin A đang rất thiếu trong chế độ ăn uống của nhiều người dân châu Phi) đạt khoảng 83%, theo Rabbi. Và các chỉ thị di truyền cho thấy khoảng 60% các giống có khả năng kháng bệnh khảm lá sắn.      Dữ liệu gene được sử dụng để xác định các đặc tính hữu ích để nhân giống sắn đáp ứng nhu cầu của thế giới – đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh khí hậu nóng lên, dân số gia tăng và các loại virus lan rộng.      “Việc chọn lọc gene không phải là phương pháp hoàn hảo”, Rabbi cho biết. “Tuy nhiên, ít nhất cũng giúp giảm chi phí khảo nghiệm đắt đỏ”. Các nhà chọn tạo giống sắn trên khắp thế giới đã sử dụng dữ liệu ở IITA để kiểm tra khả năng kháng bệnh khảm lá sắn của cây sắn mà họ lai tạo. Virus khảm lá sắn do bọ phấn trắng gây ra, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển củ ở cây sắn. Virus đã hoành hành ở khắp châu Phi, gây ra nạn đói trong những năm 1920 và 1990. Năm 2015, dịch khảm lá sắn nghiêm trọng đã xuất hiện ở Campuchia.  Vào năm 2020, các nhà khoa học sẽ chọn các giống từ 8 giống hàng đầu đã lai tạo và đưa vào sản xuất ở Nigeria. Họ cũng thảo luận với các đồng nghiệp ở Thái Lan, Lào, Brazil, Uganda và Tanzania về việc chuyển các giống sắn mới tới các quốc gia này. Nhóm nghiên cứu cũng đang cố gắng giải quyết các vấn đề cản trở nông dân áp dụng các giống sắn mới.  Tìm kiếm giải pháp  Năm 2005, Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ 12 triệu USD cho sáng kiến BioCassava Plus trị giá 12 triệu USD để tạo ra một giống sắn biến đổi gene chứa sắt, kẽm và các chất dinh dưỡng. Mặc dù giống sắn mới nhận được sự quan tâm của giới truyền thông, các nhà khoa học và các tổ chức viện trợ song Egesi không mấy hứng thú với kết quả này. Ông biết rằng rất ít nông dân ở châu Phi đủ khả năng chi trả các loại phí, bao gồm cả thuốc diệt cỏ để trồng loại sắn này. “Tôi là người nhút nhát, nhưng tôi đủ khả năng để nhận định điều này”, Egesi nói. “Chúng ta cần xem xét mọi mặt, chứ không chỉ tập trung vào vấn đề công nghệ”.  Khi hỏi những người nông dân Nigeria rằng tại sao họ không phát triển các giống sắn được ưa chuộng nhiều hơn, họ thường đáp rằng do không đủ cây giống. Sắn được nhân giống bằng cách gieo ươm các đoạn cành lấy từ cây trưởng thành thay vì gieo hạt. Mỗi cây mới là một bản sao (dòng vô tính) của cây bố mẹ, bởi vậy việc mở rộng diện tích trồng một giống sắn có thể mất nhiều năm. Đồng thời cách trồng này khiến chất lượng giống bị thoái hóa theo thời gian, bởi cây con sẽ thừa hưởng mầm bệnh từ giống cha mẹ và bị đột biến, có thể dẫn đến thoái hóa do đột biến gene (mutational meltdown).    Dự án sẽ kết nối những hộ nông dân và doanh nghiệp.   Năm 2016, nhà di truyền học Elohor Mercy Diebiru-Ojo ở IITA và cộng sự đã phát triển một giải pháp: hệ thống bán thủy canh đầu tiên dành cho cây sắn. Trong phòng thí nghiệm của cô, những cành sắn nhỏ sinh trưởng dưới ánh đèn huỳnh quang trong những hộp nhựa trong suốt chứa đầy đất ẩm. Cứ hai tuần một lần, nhóm nghiên cứu cắt những nhánh con mới mọc ra và đặt vào một hộp khác. Trong vòng 2 tháng, từ 1 cây bố mẹ, họ có thể tạo ra 100 cây mới sẵn sàng trồng ngoài trời.  Diebiru-Ojo cho biết một số người nông dân quen biết với cô nói rằng họ sẵn sàng mua các giống cây này. Cô hy vọng điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp bán cây giống chất lượng cao cho nông dân, để các giống sắn không bị nhân giống vô tính qua nhiều thế hệ. “Khi dự án này kết thúc, tôi mong hệ thống này sẽ tiếp tục phát triển”, cô bày tỏ. Nếu các giống mới không được phát triển, virus sẽ sinh sôi. Quan sát cánh đồng sắn, Egesi cho biết: “Tôi thực sự vui mừng khi thấy không có bất cứ dấu hiệu bệnh nào. Ngay khi chính phủ phê duyệt các giống này, chúng ta phải đưa ra với tất cả mọi người”.      Các nhà nghiên cứu tham gia dự án cũng tìm cách thúc đẩy việc đầu tư thị trường thông qua các cuộc thảo luận với các doanh nghiệp Nigeria – những người muốn thu mua và chế biến sắn củ từ các hộ nông dân trồng ở quy mô nhỏ. Đó là một trong những giải pháp để giống sắn mới có thị trường, mặt khác tạo sự phát triển bền vững cho cây sắn, điều mà không phải dự án nghiên cứu nào cũng làm được.□  Thanh An dịch     Nguồn bài và ảnh: https://guardian.ng/features/agro-care/nigerian-scientists-tackle-cassava-challenges-for-asia-america/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học tính cách – Tương lai của ngành thời trang      Khi Instagram biến thời trang thành môn thể thao trình diễn, và những người tạo ảnh hưởng trên mạng xã hội thực sự bắt đầu thu hút sự chú ý của công chúng, thì những nội dung thời trang nào càng bị tấn công dữ dội lại càng được yêu thích. Chúng ta bỗng có một nhu cầu muốn sàng lọc tất cả những thứ bóng bẩy này, đưa thời trang quay trở lại là lựa chọn cá nhân và kết thúc căng thẳng vì phải đứng trước quá nhiều lựa chọn.    Vì vậy, cá nhân hóa trở thành từ khóa cửa miệng của tất cả mọi người – tất cả những ai sở hữu cửa hàng online. Cá nhân hóa, cùng với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, học máy, học sâu, và dĩ nhiên là thuật toán nữa. Dù cho những thuật ngữ này được nhắc tới nhiều đến mức trở thành sáo rỗng thì các công ty lại thực sự nghiêm túc khi gắn “Trí tuệ nhân tạo” với thương hiệu của họ, không chỉ để nghe có vẻ sáng tạo, mà học máy, một phần của AI, đang được phát triển nhanh chóng để trả lời câu hỏi: Tại sao? Riêng với thời trang, tại sao chúng ta lại thích cái mà chúng ta thích? Trả lời cho câu hỏi chúng ta thích cái gì (băng đô buộc tóc) là không đủ, vì câu trả lời đó chỉ đùng được một lần. Phần lớn chẳng ai mua đi mua lại băng đô buộc tóc. Chìa khóa thực sự để hiểu tâm lý khách hàng nằm đằng sau câu hỏi vì sao, bởi vì chỉ có động lực thật sự – ví dụ như, người đó liệu có phải là người hướng ngoại hay là người nghiện mạng xã hội, hay thích những mẩu status chung chung và gần đây cảm thấy đặc biệt bất an hay không – mới có thể đưa ra những gợi ý mua sắm đáng tin cậy.   Các nhà bán lẻ cần phải biết tại sao để họ bán hàng. Còn chúng ta cần biết tại sao để hiểu bản thân mình. Mặc một bộ trang phục được đánh giá “dành cho bạn” tạo ra cảm giác yêu đời hơn. Nào hãy nghĩ về việc điều gì khiến nó “dành cho bạn”? Vì bạn phù hợp với một kiểu phong cách nhất định, như lãng mạn, cổ điển hoặc du mục? Trong khi, đúng là thi thoảng người ta cũng áp dụng kiểu đánh giá này, nhưng cách đó cũng quá cứng nhắc, mơ hồ và không có cách nào có thể kiểm chứng bằng thước đo khoa học đáng tin cậy. Độ chính xác khoa học có nghĩa là kết quả đó phải lặp lại được, chứ không phải là chỉ dùng một lần. Không ai chỉ thuộc về một phong cách và chúng ta phải xem xét bối cảnh của họ. Một người phụ nữ mua một chiếc váy hoa điệu đà lãng mạn nhưng cũng có thể thích mua một chiếc áo da có đinh tán hầm hố để mặc kèm. Điều này sẽ khiến cho những thuật toán cơ bản vô cùng bối rối. Tính cách, cũng như phong cách của cô ấy, là sự kết hợp của nhiều thành tố, tạo nên một quy tắc ăn mặc riêng biệt.   Tuy nhiên, vẫn có một cách đáng tin cậy hơn nhiều giúp chúng ta trả lời câu hỏi “tại sao” với độ chính xác cao: Tâm lý học, và cụ thể hơn nữa chính là khoa học tính cách – thứ còn thiếu khi nói về cá nhân hóa. Nghiên cứu về những tính cách của một cá nhân có thể được định lượng, kiểm tra và dự báo. Phương pháp phổ biến nhất, hiện đang được dùng bởi phần lớn các nhà khoa học tính cách kể từ thập niên 70 cho đến nay, là Mô hình Năm Nhân tố, viết tắt là OCEAN (Openess – Cởi mở, Conscientiousness – Tận tâm, Extroversion – Hướng ngoại, Agreeableness – Dễ chịu, và Neuroticism – Nhạy cảm). Sự cởi mở mô tả mức độ sẵn sàng trải nghiệm mà một người phản ứng với một ý tưởng mới và trải nghiệm mới lạ. Sự tận tâm ngụ ý mong muốn thực hiện tốt nhiệm vụ, giữ gìn quy tắc, và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ với người khác. Sự hướng ngoại dựa vào việc một cá nhân có được động lực từ việc ở một mình hay ở bên người khác. Sự dễ chịu tiết lộ làm thế nào để thúc đẩy một người trở nên hợp tác và được mọi người yêu quý. Sự nhạy cảm đo lường mức độ ổn định cảm xúc của người đó. Tính cách của bạn có thể sẽ được phân tích thành: 30% cởi mở, 55% có lương tâm, 85% hướng ngoại, 65% dễ chịu và chỉ 10% nhạy cảm.  Tất cả những đặc điểm tính cách này được phản ánh trong gu thẩm mỹ của mỗi người, và chính khung quan hệ giữa tính cách cá nhân và xu hướng thẩm mỹ, là cơ sở cho sự thịnh hành của ngành tâm lý học thời trang.  Nhiều bằng chứng cho thấy mối tương quan mạnh mẽ giữa hai khái niệm này. Công ty tư vấn chính trị Cambridge Analytica đã có thể sử dụng các sở thích thời trang của người dùng Facebook Hoa Kỳ để đánh giá các đặc điểm tính cách của họ và các thông điệp tiếp thị phù hợp để giúp Tổng thống Trump lên nắm quyền. Phương pháp này hiệu quả vì mối quan hệ của người dùng phương tiện truyền thông xã hội đối với các thương hiệu cụ thể có liên quan trực tiếp đến đặc điểm tính cách. Theo dữ liệu thu được, người hâm mộ của các thương hiệu đồ jean của Mỹ như Wrangler và Lee Jeans khá bảo thủ và cả tin – và do đó có nhiều khả năng tham gia vào các thông điệp ủng hộ Trump. Những người thể hiện sự yêu thích đối với các thương hiệu mang tính thử nghiệm nhiều hơn như Kenzo hoặc Alexander McQueen có xu hướng cởi mở hơn, đồng nghĩa với việc họ nhiều khả năng là cử tri phe dân chủ.  Bây giờ hãy tưởng tượng về tương lai khi chúng ta có thể sử dụng một cách tích cực kiến thức này, nơi người tiêu dùng thời trang, người sáng tạo nội dung và công ty hoạt động từ khuôn khổ tâm lý này để khắc phục một số vấn đề trong ngành công nghiệp thời trang.  Ví dụ, bạn đang tìm kiếm một chiếc váy để dự lễ cưới một người bạn ở Cebu. Thời kì phải đứng trước vô vàn lựa chọn, tốn công kéo chuột và tìm kiếm trên google đã kết thúc. Một nền tảng thương mại điện tử được hỗ trợ bởi các mô hình trí tuệ nhân tạo học sâu có lẽ cũng đủ thông minh để cá nhân hóa trải nghiệm mua sắm và tính toán những yếu tố về bối cảnh, cảm xúc, tính cách cơ bản của bạn. Khi việc cá nhân hóa thông qua sự hỗ trợ từ AI đủ tinh tế, người dùng thậm chí không biết rằng trải nghiệm mua sắm của họ đang được cá nhân hóa. Người dùng nhìn thấy các sản phẩm tốt hơn và các trang web thông minh hơn, cảm thấy được truyền cảm hứng nhiều hơn và nhanh chóng có được những sản phẩm mình muốn.   Dù vậy, ngành công nghiệp thời trang phải xác định là kiểu cá nhân hóa trực tuyến này sẽ đòi hỏi rất nhiều dữ liệu, chưa kể người tiêu dùng phải quen với việc cung cấp dữ liệu và duy trì đăng nhập. Các nhà bán lẻ sẽ phải cam kết chịu trách nhiệm với dữ liệu, trong khi người tiêu dùng phải chấp nhận cung cấp thêm thông tin nhằm nâng cao trải nghiệm của họ.  Hiểu về tâm lý học thời trang cũng sẽ thay đổi cách các bài viết tiếp cận người đọc và cứu các tạp chí thoát khỏi cơn suy thoái hiện nay. Nội dung về thời trang sẽ trở nên cá nhân hơn, ít dư thừa hơn. Sẽ có ít bài viết về những chiếc túi mà các biên tập viên yêu thích và làm thế nào để bắt chước cách ăn mặc của người này, người nọ, bắt chước Kim Kardashian. Trong khi đúng là, con người chúng ta cần một ý kiến để dựa vào, và điều đó cũng có những giá trị nhất định, quá trình đó cũng đã diễn ra một cách tự nhiên khi chúng ta quan sát phong cách của ai đó và vô thức coi đó như một gợi ý ăn mặc, nhưng nên nhớ rằng chúng ta tiếp nhận gợi ý đó chỉ khi thấy nó hợp với bản thân mình.   Có một sự khác biệt giữa những giá trị được xã hội công nhận một cách tự nhiên và những bài báo chỉ đạo bạn nên mua cái gì vì người nọ hay người kia thích nó. Trong tương lai, những nội dung về thời trang sẽ giống như được viết bởi bác sĩ tâm lý: Đây là những sản phẩm mới trên thị trường và một số phong cách phối đồ với nó, và đây – là những giải tỏa tâm lý mà nó mang lại – Bạn muốn tự tin hơn? Giảm bớt lo lắng ? Vậy chiếc váy này là phù hợp với bạn.  ***  Khi được yêu cầu cô đọng tất cả kiến thức và trí tuệ của mình vào một câu ngắn gọn, nhà triết học người Athen, Socrates đã trả lời đơn giản: Hiểu chính mình. Đó là chìa khóa để kết thúc việc tiêu thụ quá mức và mua hàng không suy nghĩ. Hiểu biết về bản thân thúc đẩy việc ăn mặc vui vẻ phù hợp với con người thật của chúng ta và một tủ đầy quần áo “dành cho bản thân” như thể được chọn lựa bởi một người bạn khách quan và am hiểu phong cách của chúng ta, hoặc bởi một thuật toán tuyệt vời. □  Minh Thuận lược dịch  https://www.tsingapore.com/article/why-personality-science-is-the-future-of-fashion    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học trong truyện tranh      Một hội nghị gần đây ở Pháp đã tập hợp các nghệ sĩ và nhà nghiên cứu để thảo luận về cách vẽ minh họa khoa học, đặc biệt là trong các truyện tranh.      Truyện tranh dựa trên khoa học, như truyện “Le Labo” (Phòng Lab) của họa sĩ truyện tranh Jean-Yves Duhoo, rất phổ biến ở Pháp.    Truyện tranh, hay còn gọi là  “band dessinée” là một thể loại truyện được sáng tác một cách công phu, tinh vi và đầy phức tạp ở Pháp, nơi nó được các nhà sử học nghệ thuật coi là nghệ thuật thứ chín. Nhiều truyện tranh Pháp được viết dành cho người lớn và có chủ đề chính trị hoặc lịch sử. Vì vậy, có lẽ không có gì ngạc nhiên khi truyện tranh dựa trên sự kiện/ câu chuyện khoa học có một vị trí đặc biệt ở đất nước này: thật vậy, đoàn làm việc của Pháp tại CERN (Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu) còn có chức danh “họa sĩ truyện tranh nội trú” trong nhiều năm, và một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm 2017 là cuốn hồi ký phong cách truyện tranh của nhà du hành vũ trụ Thomas Pesquet. Vừa qua, những “siêu anh hùng” của vũ trụ truyện tranh-khoa học đã tụ họp tại Angoulême – thủ đô của truyện tranh Pháp để tham dự cuộc Hội thảo về cách kể các câu chuyện khoa học, cách vẽ minh họa khoa học (Telling Science, Drawing Science – TSDS). Ở lần tổ chức thứ hai này, hơn 100 nhà khoa học, nghệ sĩ và nhà giáo dục đã tập hợp để chia sẻ kinh nghiệm của họ và tìm kiếm những ý tưởng mới trong cách minh họa những câu chuyện khoa học.  Theo Pierre-Laurent Daures, thành viên ban tổ chức TSDS và chủ tịch của Stimuli, một hiệp hội điều phối hợp tác giữa nhà khoa học và nghệ sĩ, “kết hợp kiến thức khoa học với vẽ truyện tranh là một thách thức”, bởi một truyện tranh thông thường sẽ kể lại về trải nghiệm của các nhân vật theo một trình tự thời gian nhất định bằng các khung tranh nối tiếp nhau, trong khi đó những khám phá khoa học lại chỉ là những thực tế khách quan, vô thời gian và thường là không ẩn chứa một câu chuyện nào cả. Nếu dung hòa, giải quyết được sự khác biệt đó, “có thể sẽ tạo ra một giải pháp truyền thông khoa học đột phá”.   Những giải pháp như vậy đã được trưng bày tại hội thảo TSDS. Ở lối vào của Bảo tàng Truyện tranh, nơi TSDS được tổ chức, có trưng bày một số các tác phẩm truyện tranh do các sinh viên đã tốt nghiệp thực hiện cho luận văn tiến sĩ của họ. Các tác phẩm này cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình tiếp cận cộng đồng do trường đại học tài trợ. Trong các cuộc nói chuyện, các nhà nghiên cứu từ Pháp, Morocco và Chile đã trình bày một số truyện tranh dựa trên khoa học, chẳng hạn như một cuốn sách đã sử dụng truyện “Alice lạc vào xứ sở diệu kì” để giải thích các số liệu thống kê cơ bản.   Nếu được thiết kế tốt, một truyện tranh có thể lôi kéo người đọc, khiến họ không thể rời mắt đến tận trang cuối cùng. Do đó, một khía cạnh quan trọng của việc truyền thông khoa học chính là cẩn thận lồng ghép các khái niệm khoa học vào các chi tiết của câu chuyện. “Chúng ta có thể thấy rằng khi kiến thức khoa học càng đóng góp vào cấu trúc của cốt truyện, khoa học càng trở nên dễ tiếp cận hơn”, Cécile de Hosson một trong những chuyên gia giúp tổ chức hội nghị TSDS và đến từ LDAR (một trung tâm nghiên cứu khoa học và toán học ở Paris), cho biết. Cô chỉ ra rằng mọi người thường đọc truyện tranh để cười hoặc để giải trí. Nếu một truyện tranh đáp ứng được các nhu cầu đó, nó sẽ là phương tiện hiệu quả để cung cấp kiến thức khoa học.  Sự hiệu quả đó thể hiện rõ nhất khi một truyện tranh khoa học lấy một khái niệm trừu tượng, khô khan và thổi hồn vào đó bằng sự hài hước hoặc bằng một cách thức minh họa thông minh. Trong Le Mystère du Monde Quantique (Những bí ẩn của thế giới lượng tử), một cuốn truyện tranh năm 2018 của nhà vật lý Thibault Damour tại Viện Nghiên cứu khoa học tiên tiến (IHÉS) ở Bures-sur-Yvette, Pháp và họa sĩ Mathieu Burniat, một phiên bản hoạt hình của Max Planck đang giải thích ý nghĩa của hằng số Planck cho một nhóm trẻ em trong khi đang làm bánh crêpe. Thay vì rắc hạt đường lên mỗi chiếc bánh crêpe, Planck lại đưa ra các viên đường, đại diện cho các gói năng lượng được lượng tử hóa.       Trích từ phiên bản tiếng Anh của “Le Mystère du Monde Quantique” (Bí ẩn của thế giới lượng tử) của tác giả Thibault Damour và Mathieu Burniat. Để giải thích về lượng tử hóa, các tác giả đã vẽ Max Planck cắt ra những viên đường cho trẻ em.    Một chiến lược truyền thông khác được sử dụng trong truyện tranh chính là việc đưa những nhân vật không phải chuyên gia vào câu chuyện. Điều này được thể hiện bởi nhà vật lý Clifford Johnson tại Đại học Nam California trong tiểu thuyết đồ họa năm 2017 của ông với tên gọi là Các cuộc đối thoại (The Dialogues). Trong cuốn sách, các nhân vật thảo luận về các chủ đề vật lý như lỗ đen và đa vũ trụ trong các bối cảnh thân thuộc, chẳng hạn như trên tàu hoặc trong quán cà phê. Các cuộc trò chuyện hằng ngày thu hút độc giả. Nó khuyến khích độc giả xem bản thân họ cũng là những tiềm năng tham dự vào cuộc trao đổi, Johnson cho biết. Ông đã tự vẽ những bức minh họa cho cuốn tiểu thuyết, tận dụng nhiều công cụ mà chỉ có truyện tranh mới có được. “Bạn có thể có nhiều lớp hình ảnh trực quan: thực tế và trừu tượng, ẩn dụ và nghĩa đen, thậm chí cả văn bản, tất cả đều cùng nằm trên một trang và được nhìn thấy cùng một lúc”, Johnson cho biết. Ông cũng đã sử dụng phương pháp này để giải thích vì sao truyện tranh có thể giải thích được cách các hạt tương tác sử dụng sơ đồ Feynman. Ở một trang của cuốn truyện, hai nhân vật đang thảo luận về cách hoạt động của sơ đồ Feynman. Ở trang còn lại, Johnson vẽ một sơ đồ ví dụ, chia thành nhiều ô tranh nhỏ để giải thích cách hai hạt kết hợp với nhau, tương tác với nhau và rồi biến mất khỏi tranh.   Truyện tranh có thể biểu diễn không gian và thời gian theo cách mà các hình thức truyền thông khác khó hoặc không thể nào làm được. Trong phát biểu tại ISDS của nhà vật lý vũ trụ Roland Lehoucq từ Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (CEA) ở Saclay, Pháp, ông trình bày nhiều minh họa mà ở đó các nghệ sĩ tận dung cách thể hiện không thời gian độc đáo của truyện tranh. Chẳng hạn như, một nhân vật ở khung trên của trang giấy “thăm dò” nội dung ở khung chân trang – ngụ ý là nhìn thấy trước tương lai để thay đổi hiện tại. Một ví dụ khác, một người vươn ra ngoài khung tranh để với ra khung bên cạnh – ám chỉ việc thực hiện một hành động can thiệp mờ ám từ xa. Các trang của truyện tranh cũng có thể được khoét lỗ để nhìn xuyên qua trang dưới, giống như “lỗ giun” (wormholes) trong không thời gian, cho phép người đọc có thể nhìn qua một chiều không gian mới, Lehoucq nói.     Trong khi có các nhà khoa học như Johnson và Damour tham gia vào việc sáng tác truyện tranh, hầu hết các họa sĩ truyện tranh khoa học khác không phải là những người làm khoa học được đào tạo bài bản. Jean-Yves Duhoo, chẳng hạn, là một họa sĩ từng làm việc cho một bộ truyện tranh có tên “Le Labo” xuất hiện trên tạp chí truyện tranh Pháp-Bỉ với tên gọi là Spirou. Mỗi cảnh, Duhoo lại đến thăm một địa điểm nghiên cứu khác nhau, bao gồm Đài thiên văn Paris và cơ sở máy gia tốc hạt (synchrotron) ở Saclay. Duhoo ghi lại các chuyến thăm của mình bằng những bức ảnh, nhưng khi vẽ, anh làm việc hoàn toàn từ những gì còn lại trong bộ nhớ. “Tôi muốn ghi lại ấn tượng của tôi về nơi này,” anh nói. Nếu một chiếc máy có vẻ lớn, hoặc nếu một phòng thí nghiệm có vẻ lộn xộn, Duhoo sẽ thể hiện điều đó trong hình minh họa của mình.   Bằng cách này, các nghệ sĩ như Duhoo dường như có lợi thế ở chỗ họ bước vào thế giới của nhà khoa học chỉ bằng một cây bút chì, bảng vẽ đồ họa và trí tưởng tượng. “Cách trình bày của truyện tranh khiến chúng tôi nhìn những câu hỏi khoa học dưới góc nhìn khác” Daures nói. Ví dụ, khi một nhà thiên văn học nói rằng Trái đất quay quanh Mặt trời, thì người nghệ sĩ, chẳng hạn, sẽ đáp lại bằng một câu hỏi mới, như là nên vẽ hai thực thể đó lớn như thế nào? Và từ góc độ nào thì chúng ta có thể quan sát được chuyển động này? “Việc minh họa buộc chúng tôi xem xét lại cách hiểu của mình về vấn đề đó” Dauren nói. □  Minh Châu dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v12/69    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học với World Cup: Dữ liệu lớn đang biến đổi bóng đá      Giải đấu là dịp để nhà nghiên cứu thể hiện những đóng góp của họ trong việc trợ giúp ban huấn luyện phát triển các cầu thủ và chiến thuật thi đấu.     Vẻ mặt cau có của Cristiano Ronaldo đã xuất hiện trên nhiều trang tin thể thao toàn cầu khi siêu sao người Bồ Đào Nha bị rút ra sân khi trận đấu giữa Manchester United và Newcastle vẫn còn 18 phút. Hầu hết các cầu thủ đều như anh, ít khi đồng tình với quyết định như thế của huấn luyện viên.  World Cup 2022 là cơ hội cho các cuộc tranh luận về thời gian ra sân. Sau khi hồi còi mãn cuộc vang lên vài phút, ban tổ chức sẽ gửi cho mỗi cầu thủ bảng phân tích chi tiết về màn trình diễn của họ. Các tiền đạo sẽ biết tần suất họ di chuyển tìm bóng và bỏ lỡ cơ hội, cũng như các hậu vệ sẽ nắm được năng lực cản phá và quấy rối đội hình đối phương của mình.  Đội tuyển Bỉ đã đánh bại đội tuyển Brazil trong trận tứ kết World Cup 2018. Ảnh: TF-Images/Getty  Phân tích dữ liệu giờ đây đóng vai trò định hướng mọi thứ, từ chuyển nhượng cầu thủ đến cường độ tập luyện, chọn mục tiêu và đề xuất hướng sút bóng tốt nhất từ bất kỳ vị trí nào trong sân.  Trong khi đó, các cầu thủ phải đối mặt với kiểu giám sát dữ liệu như với các phi hành gia. Áo khoác và dây đeo có các cảm biến chuyển động theo dõi vị trí bằng GPS và đếm số lần sút bóng mỗi chân. Máy quay ở nhiều góc độ ghi lại mọi thứ, từ những pha đánh đầu đến thời gian cầm bóng. Và để hiểu được các thông tin này, hầu hết các đội bóng đanh tiếng đều thuê các chuyên gia phân tích dữ liệu, bao gồm các nhà toán học, nhà vật lý, và nhà khoa học dữ liệu xuất thân từ các công ty và phòng thí nghiệm hàng đầu, như Microsoft, thậm chí cả phòng thí nghiệm vật lý hạt châu Âu CERN.  Những hiểu biết sâu sắc từ các nhà phân tích đang thay đổi cách thức diễn ra của các trận đấu: cấc tiền đạo ít sút xa hơn, các cầu thủ chạy cánh chuyền cho đồng đội thay vì tạt bóng , còn các huấn luyện viên ám ảnh với việc giành quyền kiểm soát ở phần sân đối thủ. Tất cả các thay đổi chiến thuật đều có các bằng chứng chắc chắn để hỗ trợ cho trực giác của huấn luyện viên.  Nhà khoa học thể thao Daniel Memmert từ Đại học Thể thao Cologne, Đức, cho biết: Dữ liệu lớn đã mở ra một kỷ nguyên mới cho bóng đá. “Nó đã thay đổi triết lý và hành vi của các đội, cách họ phân tích đối thủ, cách họ phát triển các tài năng và tìm kiếm cầu thủ.”  Tầm ảnh hưởng bao trùm  Một trường hợp nổi tiếng về cách dữ liệu thay đổi thể thao đến từ môn bóng chày. Michael Lewis, trong cuốn sách Moneyball được xuất bản năm 2003, đã trình bày chi tiết cách nhà quản lý Billy Beane của đội Oakland Athletics dựa vào số liệu thống kê về cầu thủ để đưa đội bóng chày của mình lên ngôi vô địch chỉ với ngân sách eo hẹp trong mùa giải 2002. Beane đã chiêu mộ các cầu thủ trên cơ sở dữ liệu chi tiết về hiệu suất thi đấu, bao gồm các chỉ số không được coi trọng trước đây, chẳng hạn như tần suất cầu thủ đánh bóng (batter) chiếm được chốt gôn.  Beane đã đi trước những đồng nghiệp môn bóng đá khi ấy vẫn còn xào nấu các chiêu thức cũ. Bóng chày là trò chơi chỉ có một đội trong một thời điểm cố gắng ghi điểm, nên tương đối dễ thông kê và thực tế là các số liệu đã được nghiên cứu quy mô lớn trong nhiều thập kỷ. Ngược lại, diễn biến của bóng đá đan xen liên tục, kéo dài, với điểm số tương đối thấp, và khá khó khăn để ghi lại thông tin ai làm gì và ảnh hưởng đến kết cục trận đấu thế nào. Trong nhiều thập kỷ, các nhà thống kê chỉ tập trung vào các bàn thắng và tìm cách mô hình hóa chúng để đưa ra dự đoán.  Những biến thể của phương pháp cũ đến nay vẫn còn được áp dụng để dự đoán tỷ số của các trận đấu. Một mô hình giả định số bàn thắng và bàn thua dựa trên phân phối trung bình, được phát triển bởi các nhà dịch tễ của đại học Oxford dự đoán chính xác rằng Italia đánh bại Anh trong trận chung kết Euro 2020. Nó cũng dự đoán chính xác 6 đội thắng trong 8 trận tứ kết.  Matthew Penn, nghiên cứu sinh tại Oxford, người đã phát triển mô hình này, cho biết các dự đoán theo thống kê thật ra chính xác hơn nhiều người nghĩ. Với tổng số bàn thắng mà mỗi đội đã ghi được và độ khó tương đối của đối thủ, bạn có thể tính toán được sức mạnh tấn công và phòng thủ của họ. Khi đã giải được bộ phương trình lớn này, việc dự đoán từng trận đấu thực sự khá dễ dàng. Mô hình của Penn dự đoán Bỉ có cơ hội cao nhất để nâng chiếc cúp vàng năm nay.  Đội nào sẽ vô địch World Cup 2022?  “Mô hình phân phối Poisson kép” đánh giá năng lực tấn công và phòng thủ của từng cầu thủ cho thấy tuyển Bỉ là đội có cơ hội vô địch cao nhất, trong khi Brazil mới là đội đứng đầu bảng xếp hạng FIFA.      Một mô hình dự báo khác cũng từ đại học Oxford, của nhà toán học Joshua Bull, cho kết quả chung cuộc khá tương đồng với bảng xếp hạng FIFA. Ảnh: University of Oxford Facebook Fanpage  Hướng đến sự hoàn hảo  Điều thú vị hơn đối với các huấn luyện viên là các dữ liệu về các sự kiện trên sân và cách các cầu thủ ảnh hưởng đến họ.  Các nhà phân tích từ lâu đã ghi lại thông tin loại này. Nổi bật nhất là trường hợp một cựu kế toán của Không lực Hoàng gia Anh tên là Charles Reep đã dành phần lớn thập niên 1950 để xem các trận đấu ở Anh và đưa ra các nhận xét cơ bản về các yếu tố như vị trí ném bóng và trình tự chuyền bóng. Reep thậm chí còn sử dụng dữ liệu của mình để phân tích màn trình diễn của đội và đề xuất chiến lược và chiến thuật. Tại câu lạc bộ Wolverhampton Wanderers, ông đã giúp đội thể hiện lối chơi tấn công biên sắc sảo cùng những đường căng ngang rất khó chịu. Đội bóng đã thắng ba chức vô địch trong 5 năm.  Các máy quay truyền hình đang tác nghiệp trong trận đấu giữa Anh và Na Uy tại giải World Cup bóng đá nữ năm 2019. Ảnh: Catherine Ivill/FIFA/Getty  Từ hơn một thập kỷ trước, công nghệ đã tiến bộ đủ tốt để hầu hết câu lạc bộ danh tiếng và nhiều đội tuyển quốc gia nhận thấy cần phải thuê các chuyên gia phân tích dữ liệu. Bản thân Penn, bên cạnh công việc nghiên cứu sinh tiến sĩ, còn là nhà phân tích dữ liệu bán thời gian cho câu lạc bộ bán chuyên Oxford City đang chơi tại National League South, giải hạng 6 của Anh.  Nhiều nhà phân tích cho rằng thành công gần đây của đội bóng thủ đô Brentford tại giải Ngoại hạng Anh là nhờ thuật toán nội bộ đánh giá các cầu thủ của các giải đấu khác nhau nhằm chiêu mộ những ngôi sao bị đánh giá thấp. Nhóm dữ liệu của đội Liverpool bao gồm các nhà vật lý từng làm việc tại CERN và đại học Cambridge, đã xây dựng mô hình đánh giá hành động nào của cầu thủ làm tăng cơ hội ghi bàn. Năm ngoái, các nhà khoa học thể thao tại đại học Lisbon đã cùng với gã khổng lồ xứ Catalonia – Barcelona FC – công bố một phân tích các cơ hội ghi bàn kéo dài bao lâu trong từng kiểu chuyền bóng.  Công việc cụ thể của Penn tại Oxford City là đưa ra các báo cáo trước trận đấu: đưa ra các chỉ số của đối thủ, biểu đồ lối chơi và cách kiểm soát bóng của họ, kèm các đề xuất chiến thuật. Trong trận đấu gần đây, trước một đối thủ đang ở phong độ cao với chuỗi trận bất bại, Penn đã phân tích được điểm yếu của họ là hậu vệ trái có khả năng chơi bóng bằng đầu kém và đề xuất bố trí tiền đạo lệch sang cánh phải. Oxford City đã giành chiến thắng.  Một con mắt chiến thuật giàu kinh nghiệm cũng có khả năng nhìn ra điều này, nhưng dữ liệu “ít bị thiên kiến hơn”, Penn cho biết.  Các câu lạc bộ không phải tự thu thập dữ liệu thô để phân tích chiến thuật mà có thể mua từ các công tư thương mại đã mã hóa thông tin từ kho video, có thể chứa đến 3000 sự kiện trong một trận đấu, bao gồm các pha dẫn bóng, chuyền và cản phá. Trước kia, các dữ liệu được nhập thủ công, nhưng giờ đây, công việc được phụ trách bởi chương trình thị giác máy tính, một dạng trí thông minh nhân tạo (AI). Các dữ liệu này sẽ dẫn đến một thống kê tóm lược, như tỷ lệ hoàn thành đường chuyền của từng cầu thủ.  Sinh viên Joanna Marks của khoa toán, đại học Warwick, cũng là đồng nghiệp của Penn tại Oxford City, đã phát triển một mô hình phân tích dữ liệu tho để đánh giá năng lực chuyền bóng của tất cả các cầu thủ trong đội. Đây là chi tiết thường không sẵn có trong dữ liệu thô được cung cấp bởi các công ty.  Bạn cần tính đến kiểu chuyền bóng nào mà cầu thủ cố gắng thực hiện chứ không đơn thuần về tỷ lệ chuyền bóng thành công, vì một số đường chuyền có độ khó cao hơn nhiều. “Mô hình này giúp Oxford City biết trước và chú ý đến một số khu vực cụ thể trên sân, nơi đối thủ chuyền bóng rất tốt”.  Ravi Ramineni từng là nhà phân tích dữ liệu tại Microsoft trước khi chuyển đến làm cho câu lạc bộ Seattle Sounders đang thi đấu tại giải bóng đá nhà nghề Mỹ (MLS). Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của anh là sử dụng dữ liệu định vị vệ tinh về quãng đường di chuyển của các cầu thủ để tối ưu hóa việc tập luyện, sao cho không dưới sức cũng không quá sức, và ngăn ngừa chấn thương.  “Chúng tôi đã trải qua một số mùa giải thành công với phương pháp mới. Nhưng rất khó để định lượng hiệu quả thực sự nếu chấn thương không xảy ra”.  Hiện vẫn chưa có thử nghiệm đối chứng để đánh giá hiệu quả của phân tích dữ liệu. Nhưng Ramineni cho biết các huấn luyện viên tại Seattle rất cởi mở áp dụng các phân tích trong quá trình tập luyện và đánh giá các cầu thủ. Anh có thể tiếp cận với ban huấn luyện cũng như trao đổi trực tiếp với các cầu thủ.  Ngoài tầm máy quay  Các nhà phân tích hiện đang ngày càng chú ý đến các hành vi của cầu thủ khi không tham gia pha bóng, Ramineni cho biết.  Điều này khó khăn và tốn kém hơn, với nhiều máy quay chuyên dụng vừa ghi hình pha bóng, đồng thời cũng theo dõi các cầu thủ khác và gắn thẻ vị trí của họ 25 lần mỗi giây. Dữ liệu loại này thường được các công ty ký hợp đồng cung cấp độc quyền cho các giải đấu quốc gia, nên người ngoài cuộc rất khó tiếp cận. Ramineni hiện không thể kiếm được dữ liệu dạng này từ các giải đấu tại châu Âu và Nam Mỹ.  Trong những năm gần đây, AI được dùng để dự đoán chuyển động của các cầu thủ trong và ngoài khung hình, nghĩa là chỉ cần dựa vào chương trình phát sóng trận đấu thông thường để phân tích toàn diện về các cầu thủ trong lẫn ngoài pha bóng.  Một mô hình như thế đã được công ty DeepMind của Google tại London cùng nhóm dữ liệu của đội Liverpool phát triển. Ian Graham, giám đốc nghiên cứu của Liverpool, người đã rời bỏ việc nghiên cứu hậu tiến sĩ về polymer tại đại học Cambridge để phân tích bóng đá cho câu lạc bộ, cho biết mô hình tiên đoán mới giúp bạn đặt ra các câu hỏi về chiến thuật và các giả định trái ngược.  Đối với một sự việc cụ thể trong trận đấu, mô hình có thể mô phỏng hàng nghìn giả định kịch bản thay thế, nhờ vậy có thể đưa ra đánh giá một động thái tấn công có hiệu quả thế nào trong khoảnh khắc tương ứng.  Các câu lạc bộ có xu hướng giữ bí mật dữ liệu và năng lực phân tích của họ. Công bố kết quả nghiên cứu là điều khó chịu với Liverpool, họ sở hữu một trong những bộ phận phân tích quy mô và phát triển nhất, nhưng đó là điều kiện để hợp tác với DeepMind.  Graham, cũng như các nhà phân tích dữ liệu khác, né tránh nhận công lao về mình. “Bóng đá vẫn là một trò chơi khó dự đoán vì các đội vẫn cứ thua dù họ ở kèo trên hoặc có thể thắng khi họ ở kèo dưới”, anh cho biết.  Karl Tuyls, nhà khoa học máy tính tại DeepMind, nói rằng mô hình tiên đoán ngoài tầm máy quay là bước đầu tiên hướng đến một trợ lý huấn luyện viên ảo, sử dụng dữ liệu thời gian thực để hướng dẫn việc ra quyết định trong bóng đá và các môn thể thao khác, chẳng hạn như AI đánh giá hiệu suất trong hiệp một và đề xuất thay đổi đội hình trong hiệp hai.  Các tiếp cận này cũng hữu ích với đời sống ngoài sân cỏ, như lập mô hình đường đi cho xe tự lái và người đi bộ trên đường phố đông đúc, Tuyls cho biết thêm.  Sarah Rudd, nhà khoa học dữ liệu từng làm cho Microsoft, nghỉ việc tại Arsenal FC sau gần một thập kỷ để chuyển sang giải đua Công thức Một. Cô làm việc với kho dữ liệu viễn trắc từ xe đua giúp đội điều chỉnh và cải thiện hiệu suất.  “Chúng ta luôn hướng đến mức độ dữ liệu khồng lồ như trong giải Công thức Một”. Cô cho biết còn rất nhiều chỉ số của bóng đá chưa được đo lường hoặc chưa rút ra được hiểu biết ẩn sâu từ đó.  Bước phát triển tiếp theo là dữ liệu về điều hướng của cầu thủ, thậm chí sự thay đổi trọng tâm cơ thể trong chuyển động. Dữ liệu chưa được chi tiết như kỳ vọng, vì chưa thể nắm bắt được từng bước chạy lập bập hoặc lệch trọng tâm khiến một hậu vệ mất thăng bằng hoặc thủ môn bị khựng lại.  Phân tích AI của Liverpool còn đưa ra đánh giá nhầm lẫn do sự hiểu biết thông tin không đầy đủ. “Mô hình có thể đánh giá xấu về một cầu thủ vì anh ta đã không bắt đầu chạy trong khi đáng ra anh ta nên như thế, mà không tính tới tình huống bị vấp ngã hoặc phải nằm sân do chấn thương”.  Khi bóng đá ngập trong dữ liệu, những con số thay đổi trận đấu như thế nào?  “Thị trường chuyển nhượng cầu thủ có lẽ là nơi ứng dụng hiệu quả nhất”. Trong các tình huống cố định, như một quả phạt trực tiếp sau khi trận đấu tạm dừng, AI cũng chứng tỏ vai trò của mình.  Một bài học rõ ràng rút ra được từ phân tích dữ liệu là các cầu thủ không nên sút khi họ ở xa khung thành. Tại bất kỳ giải đấu nào trên thế giới, khoảng cách sút đã thu ngắn lại nhiều so với 10 năm trước, đơn giản vì dữ liệu nói với bạn rằng: “Tại sao bạn lại sút từ xa như thế, khi chỉ có 2% cơ hội thành bàn?”  Nhiều đội hiện nay không khuyến khích các cầu thủ cố gắng tạt bóng vào vòng cấm địa, vì thống kê cho thấy hầu hết đều vô nghĩa.  Khối lượng dữ liệu sẽ ngày càng tăng, và vai trò của dữ liệu sẽ in đậm lên tất cả các môn thể thao. Xu hướng đó là không thể đảo ngược.  Cao Hồng Chiến dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-03698-1    Author                .        
__label__tiasang Khoai tây tạo ra sự thay đổi  kỳ diệu trên thế giới      Cây khoai tây đã ảnh hưởng tới số phận của phương Tây trong gần 500 năm qua, một nhóm nước đã tiến lên hàng đầu và cũng có một vài quốc gia bị tụt hậu. Thế giới rồi đây sẽ thế nào, vào năm 2500 ở phương Đông và phương Nam thiên hạ sẽ nói gì về vai trò của khoai tây đối với vùng đất này?      Không ai có thể ngờ một loại củ, nhăn nhúm, bám đầy đất mà các thủy thủ Tây Ban Nha mang về nước khoảng năm 1560 từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương ở Nam Mỹ lại có vai trò quan trọng đối với lịch sử châu Âu và thế giới như vậy. Các thủy thủ, các thuyền trưởng và cả các bậc vua chúa đều không lường được về vai trò của cây khoai tây.  Khoai tây đã làm bùng nổ dân số châu Âu, cung cấp nhiên liệu cho cuộc cách mạng công nghiệp, quyết định tới số phận của hai dân tộc vốn kình địch chống đối nhau và tạo dựng tương lai cho quốc gia mạnh nhất thế giới ngày nay. Khoai tây đã tạo điều kiện “để một nhúm quốc gia ở châu Âu có thể thống trị phần lớn thế giới trong thời kỳ từ 1750 đến 1950” theo nhà nghiên cứu lịch sử người Mỹ William McNeill viết trên tạp chí chuyên đề Social Research . Ông cho rằng  “khoai tây là  yếu tố chủ chốt (…) giúp phương Tây bất ngờ  vươn lên mạnh mẽ”.  Có những dấu hiệu cho thấy ngay tại nơi xuất sứ của mình khoai tây đã tạo dựng một nền văn minh, làm cho vương quốc sở tại hùng mạnh hơn hẳn các quốc gia láng giềng, đó chính là vương quốc của người Inka. Ở vùng Anden các loại ngũ cốc phát triển không tốt nhưng ở đây tuy nhiệt độ thấp song cây khoai tây vẫn phát triển rất thuận lợi. Nhiệt độ lạnh vào ban đêm và cao vào ban ngày thực sự thuận lợi cho việc bảo quản củ khoai tây, và điều này tạo điều kiện cho sự đi lên của người Inka.  Khoai tây không chỉ là lương thực đối với người nông dân. Do củ khoai tây dễ bảo quản nên nhà cầm quyền có thể thu thuế bằng khoai tây,  khoai được bảo quản trong hầm nhà, có nhiệt độ thấp, và được sử dụng để trả công cho phu làm đường giao thông, xây dựng các tượng đài, thành quách và nhà cửa. Hơn nữa người ta còn dùng khoai tây để nuôi quân lính trên chiến trường . Thực dân Tây Ban Nha xâm lược đế chế Inka vào khoảng  năm 1535 và đã phát hiện khoai tây. Thực chất trước đó hàng trăm năm, khoai tây đã góp phần xây dựng đế chế có nền văn minh phát triển vô cùng rực rỡ này.  Khoai tây đã từng là lương thực nuôi hàng nghìn  lao động  khổ sai làm việc trong các mỏ bạc do người Tây Ban Nha chiếm lĩnh ở Tây bán cầu. Nhà vua Tây Ban Nha dùng bạc để mua sắm vũ khí, đóng tàu, tổ chức các hạm đội và chiếm vị trí thống soái ở châu Âu. Nhờ có khoai tây người thợ mỏ mới có thể khai thác bạc, một loại kim loại quý hiếm làm cho nền kinh tế thế giới bị chao đảo, có thể nói cây khoai tây đã gián tiếp gây nên nạn lạm phát toàn cầu lần thứ nhất.    Nhưng đó mới chỉ là màn dạo đầu; sức mạnh thực sự của khoai tây chỉ được phát huy tối đa khi nó xuất hiện ở châu Âu lục địa. Từ vùng quần đảo   Kanarie khoai tây được đưa tới Tây Ban Nha, từ đây lan sang Italia và sau đó lên miền Bắc châu Âu. Người ta không biết chính xác khoai tây đã đi bằng con đường nào đến Anh Quốc và Ireland. Chỉ biết rằng vào khoảng năm 1600 khoai tây đã xuất hiện trên hòn đảo nước Anh và nửa thế kỷ sau đã châm thêm ngọn lửa vào mối hận thù giữa người Anh và người Ireland.  Những nơi khoai tây bắt đầu xuất hiện hầu như luôn gây nên sự hoài nghi, đố kỵ đối với người dân sở tại. Phải mất gần 200 năm khoai tây mới chính thức trở thành cây lương thực đối với nhiều quốc gia châu Âu. Một thời gian dài khoai tây chỉ mới có mặt trong các vườn thực vật,  củ khoai tây quá lắm chỉ được sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Do kinh thánh không nói gì đến cây khoai tây nên các vị chức sắc đạo Thiên chúa cho rằng Chúa không muốn con người sử dụng khoai tây làm thức ăn. Hơn nữa cuộc ăn thử đầu tiên  đã đem lại kết quả bất hạnh. Người ta đã ăn những củ khoai tây ngoi lên trên mặt đất chứ không ăn củ ở dưới đất vì thế bị ngộ độc. Một số nhà thực vật học thời đó còn  cho rằng ăn khoai tây sẽ bị bệnh phong (do một số củ khoai tây cũng bị méo mó,  biến dạng như  người bị bệnh phong!) Ngay cả những nhà thực vật học thực thụ cũng không làm cho hình ảnh cây khoai tây khả dĩ hơn vì theo họ khoai tây thuộc họ cà  (solanacea) chứa nhiều độc tố nguy hại và  con người cần tránh xa loại cây này.  Mãi đến năm 1660 ngay sau khi ra đời, Hội Khoa học Hoàng gia Anh Quốc là cơ quan nghiên cứu khoa học đầu tiên trên thế giới đánh giá khoai tây có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nạn đói cho con người. Nhà dược học người Pháp  Antoine Augustin Parmentier bên cạnh việc nghiên cứu kỹ lưỡng về cây khoai tây còn phát động một chiến dịch “phục hồi danh dự” cho loại cây này.   Nhưng không phải các nhà khoa học hoặc các chuyên gia  Marketing tạo được sự đột phá đối với cây khoai tây mà chính là chiến tranh và nạn đói. Khi không còn gì để ăn thì người ta cũng xóa sạch mọi định kiến và ăn ngấu nghiến những gì  mà con người tìm được và có thể ăn được, khoai tây đã trở thành lương thực của những  người nghèo đói. Thực tế cho thấy so với các loại ngũ cốc cây khoai tây thuộc diện dễ trồng, nó có thể  phát triển cả trên những diện tích không mấy màu mỡ.  Khoai tây dễ trồng, không đòi hỏi phải có dụng cụ chuyên dụng, không cần gặt hái, phơi khô, quạt sạch, xay sát,  nghiền thành bột để làm bánh, khoai tây chỉ cần đào bới, thu nhặt, rửa sạch và cho vào nồi luộc chín là đã thành thức ăn cho con người. Đầu thế kỷ 18 cây khoai tây chính thức lên ngôi ở châu Âu khi trồng lúa mỳ liên tục bị thất bát. Vua Phổ Friedrich Đại đế cho in một tài liệu hướng dẫn trồng khoai tây và cung cấp khoai giống miễn phí cho nhà nông. Thậm chí ở Áo có quy định gia đình nông dân nào cự tuyệt trồng khoai tây bị đánh 40 roi. Chiến tranh góp phần quảng bá cho khoai tây. Nhiều binh sỹ biết đến khoai tây khi ở mặt trận và khi về quê nhà đã vận động mọi người trồng khoai tây.         Khoai tây tạo điều kiện cho sự hình thành các thành phố lớn, giúp vào việc cung cấp lương thực cho đại bộ phận dân chúng cho nên khoai tây được coi là nguồn năng lượng không kém gì than đá trong quá trình công nghiệp hóa.         Từ năm 1750 khoai tây đã được trồng phổ biến ở châu Âu và góp phần làm cho sự phát triển của châu lục này nhanh hơn, mạnh mẽ hơn. Trên cùng một diện tích lượng calo mà khoai tây sản sinh so với ngũ cốc cao hơn từ hai đến bốn lần. Nguồn lương thực tăng nhanh góp phần đẩy mạnh tăng trưởng dân số. Điều này đã được nhà kinh tế học Adam Smith thể hiện trong một công trình nghiên cứu đồ sộ của mình mang tên “Sự thịnh vượng của các quốc gia” (Der Wohlstand der Nationen) .  Hai nhà kinh tế học Nancy Qian và Nathan Nunn thuộc Đại học Yale và Harvard đã tính toán khá kỹ về ảnh hưởng của khoai tây đến việc bùng nổ dân số châu Âu. Họ so sánh mức tăng trưởng dân số ở 132 nước vào thời điểm trước và sau năm 1700. Kết quả phân tích thống kê cho thấy nơi mà cây khoai tây phát triển đặc biệt tốt cũng là nơi tăng trưởng dân số đạt mức cao nhất. Theo nhà khoa học Qian thì khoai tây góp phần tới 22% vào việc tăng trưởng dân số. Khoai tây đóng góp thậm chí khoảng 50% vào công cuộc đô thị hóa trong thời kỳ từ 1700 đến 1900.   Khoai tây tạo điều kiện cho sự hình thành các thành phố lớn, giúp vào việc cung cấp lương thực cho đại bộ phận dân chúng cho nên khoai tây được coi là nguồn năng lượng không kém gì than đá trong quá trình công nghiệp hóa. Nhà nghiên cứu lịch sử McNeill cho rằng “không có khoai tây thì nước Đức sau năm 1848 chắc chắn không thể trở thành quốc gia công nghiệp và là thế lực quân sự  hàng đầu ở châu Âu”. Tăng trưởng dân số cũng có nghĩa là tạo nguồn bổ sung cho quân đội ở châu Âu và cho lực lượng đồn trú  ở thuộc địa. Việc xâm chiếm thuộc địa ở hải ngoại lôi cuốn hàng triệu người di dời khỏi châu Âu chật chội, đông đúc. “Nói một cách ngắn gọn: cuộc vật lộn ở châu Âu nhằm tranh giành thuộc địa (…) về cơ bản thể hiện sự dư thừa cung về thức ăn nhờ có khoai tây.”          Một nửa dân số Ireland sống hoàn toàn dựa vào khoai tây. Khoai tây thỏa mãn 75% nhu cầu về calo của người dân nước này.           Nhưng củ khoai tây cũng mang lại không ít hiểm họa. Ngay từ đầu thế kỷ 19 nhà kinh tế học  Thomas Robert Malthus đã nêu ý kiến phản bác khi có đề nghị nước Anh cũng cần phát triển trồng khoai tây: “Cũng có thể xảy ra khả năng một ngày nào đó việc trồng khoai tây bị thất bát và không cho thu hoạch?” Vì thế người Anh tiếp tục ăn bánh mì trong khi dân Ireland chủ yếu ăn khoai tây. Nước Anh nhập khẩu  ngũ cốc của Ireland. Ngay từ những năm 1625 ở Ireland khoai tây đã được coi là nguồn lương thực chủ yếu. Khi người Anh xâm chiếm vùng đất này và đuổi dân Ireland tới những vùng đất xấu nhất nhưng do cây khoai tây rất dễ trồng, có sức chống chịu với ngoại cảnh cao so với các loại ngũ cốc nên người dân Ireland không những có thể tồn tại mà còn tiếp tục phát triển. Năm 1660 Ireland có 500.000 dân thì đến năm 1840 tăng lên 9 triệu dân. Một nửa dân số Ireland sống hoàn toàn dựa vào khoai tây. Khoai tây thỏa mãn 75% nhu cầu về calo của người dân nước này.   Nhưng sau đó đã xảy ra điều mà  Malthus trước đó đã cảnh báo: năm 1845 khoai tây bị mất mùa trầm trọng vì một loại bệnh hại. Cây ủ rũ, lá héo rồi chết, củ bị thối. Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Ireland sau đó lan rộng sang tất cả các nước ở châu Âu khác.  Nguyên nhân gây bệnh là một loại nấm, tên khoa học là Phytophthora infestans. Nguồn bệnh xuất phát từ Hoa Kỳ, vượt qua Đại Tây Dương sang châu Âu. Trên một triệu người  Ireland bị chết đói hoặc chết vì các bệnh dịch tả và thương hàn. Hơn một triệu người phải khăn gói ra đi, phần lớn di cư sang Hoa Kỳ. Từ đó cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã có thêm 4 triệu người di tản. Trong số những người di tản đầu tiên này có những người thuộc dòng họ  Fitzgerald ở Kerry và dòng họ  Kennedy ở Wexford. Và 120 năm sau cháu chắt của họ đã làm nên lịch sử ở vùng đất mới với những tên tuổi danh tiếng như John Fitzgerald Kennedy.  Dù sao thì thảm họa khoai tây ở Ireland đã ít nhiều góp phần buộc nước Anh phải thay đổi chính sách kinh tế. Hàng trăm năm liền người Anh luôn đánh thuế cao đối với ngũ cốc nhập khẩu. Chủ trương hạn chế thương mại này nhằm bảo vệ quyền lợi của giới địa chủ Anh Quốc. Tuy nhiên trong bối cảnh công nghiệp hóa các nhà doanh nghiệp Anh đã liên minh với nhau phản đối chính sách thuế nhập khẩu ngũ cốc đang hiện hành. Theo tính toán của họ thì nếu được tự do trao đổi thương mại thì giá lương thực, thực phẩm sẽ giảm và sẽ làm dịu cuộc đấu tranh đòi tăng lương của giới lao động Anh Quốc. Đây thực sự là một cuộc tranh chấp giữa một bên là những người đại diện cho Nhà nước nông nghiệp cổ hủ và một bên là một quốc gia công nghiệp còn non trẻ. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì nạn đói năm 1845 ở Ireland đã tác động mạnh mẽ và có tính quyết định đến việc xóa bỏ chính sách thuế nhập khẩu lương thực ở Anh.    Vì trong khi ở Ireland có đến hàng triệu người dân bị đói thì việc tiếp tục duy trì thuế nhập khẩu lương thực của nước Anh sẽ bị tai tiếng là vô nhân đạo. Vì vậy năm 1846 Thủ tướng Anh đã ra lệnh giảm thuế và ba năm sau thì hủy bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu. Công tước xứ Wellington, Chủ tịch Thượng viện đã cắn răng ủng hộ quyết định của Thủ tướng, mặc dù bản thân ông là người hoan nghênh thuế nhập khẩu lương thực. Sau khi ban hành chính sách thuế mới Bá tước Wellington đã gầm lên: “Tất cả chỉ vì mấy củ khoai tây chết tiệt”…  Như vậy là hoàn toàn tình cờ khoai tây đã được du nhập vào châu Âu và đã trở thành nguồn lương thực chủ yếu đối với phần lớn dân chúng nhiều nước châu Âu, khoai tây còn trở thành nhiên liệu của chủ nghĩa thực dân và là nguồn năng lượng của quá trình công nghiệp hóa, là thức ăn thúc đẩy sự tăng trưởng và mầm mống của quá trình di dân. Tất nhiên không phải chỉ một mình khoai tây mà có thể gây nên những tình hình này, nhưng dù sao thì khoai tây cũng có một vai trò nhất định để làm nên các sự kiện đó, dù là vai chính hay vai phụ.  Gần đây khoai tây lại thủ một vai mới và liên quan đến một vấn đề hết sức to lớn và cực kỳ quan trọng. Đó là người ta đã sử dụng nông sản, trong đó có khoai tây, để tạo ra nhiên liệu sinh học thay thế cho nhiên liệu hóa thạch. Và một cuộc tranh giành đất canh tác giữa những con người bị thiếu đói và máy móc đói nhiên liệu đang bùng phát, trong đó cây khoai tây đóng vai trò nổi cộm trong cuộc giành giật này.            Xuân Hoài    Theo Zeit số 22/2010    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng      Thông tin từ một Hội thảo  Mới đây, ngày 21.03 tại Đà Nẵng, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp cùng Ngân hàng Thế giới (WB) đã tổ chức Hội thảo “Công bố báo cáo cập nhật nghèo 2006”. Báo cáo cho thấy Việt Nam đạt kết quả xuất sắc trong việc giảm nghèo thời kỳ 1993-2004. Tỉ lệ nghèo năm 2004 chỉ bằng 1/3 năm 1993. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất đang bị nới rộng. Năm 1993, chi cho tiêu dùng bình quân đầu người của gia đình giàu nhất cao gấp 5 lần so với gia đình nghèo nhất thì tỷ lệ này tăng lên 6,3 lần vào năm 2004. Tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhất trong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhóm nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,1% ở cùng thời kỳ.    Một chỉ số khác cũng phản ánh sự chênh lệch giàu – nghèo, chỉ số Gini, đo mức độ chênh lệch trong thu nhập giữa nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất. Theo UNDP, đối với Việt Nam chỉ số này hiện nay là 36,2 – cao hơn rất nhiều so với những nước phát triển trên thế giới và chỉ thấp hơn Trung Quốc (40,3) và Nga (45,6). Cũng theo tính toán của UNDP, trong khi toàn xã hội đang được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế, thì người nghèo ở Việt Nam được hưởng lợi ít nhất, chỉ bằng 76,6% so với mức trung bình; trong khi đó người giàu được hưởng lợi hơn hẳn là 115%.  Một vài số liệu thống kê  Số liệu công bố trên website của Tổng cục Thống kê có phần “khiêm tốn” hơn. Theo tính toán năm 2004, mức thu nhập bình quân đầu người một tháng ở ta là 484,4 nghìn đồng, trong khi đó thu nhập bình quân ở thành thị (815,4 nghìn) gấp 2,15 lần nông thôn (378,1 nghìn). Thu nhập của vùng giàu nhất, vùng Đông Nam Bộ (833 nghìn) cao gấp 3,13 lần vùng nghèo nhất – Tây Bắc (265,7 nghìn).  Tỷ lệ nghèo chung1 trong cả nước năm 2004 là 19,5%. Như vậy, chỉ hai năm trước đây thôi, chúng ta còn có hơn 16 triệu đồng bào sống với mức thu nhập ít hơn 5.766 đồng/ngày. Chỉ cần so sánh thu nhập của 16 triệu đồng bào này với mức thu nhập bình quân của cán bộ công chức nhà nước, từ 1,5-3,0 triệu đồng/tháng, đã thấy ngay mức chênh lệch đã là 10-20 lần. Còn nếu ai có đủ dũng cảm đem so sánh mức thu nhập của nhóm người này với nhóm người giàu nhất Việt Nam (ví dụ với tốp 100 người giàu nhất trên thị trường chứng khoán chẳng hạn) thì con số chênh lệch lên tới nhiều trăm lần là chuyện bình thường.  Và những ghi nhận từ thực tế  Chắc có bạn sẽ cho rằng chúng tôi suy diễn hơi quá đà. Mức độ chênh lệch giàu nghèo ở nước ta tuy lớn, nhưng không thể lên tới mức mấy trăm lần. Không sao, trăm nghe không bằng một thấy. Chỉ cần một lần về quê (Bắc – Trung – Nam đều được), trò chuyện với bà con nông dân, làm mấy con tính đơn giản bạn sẽ kiểm chứng được ngay suy diễn của chúng tôi. Dưới đây là số liệu ghi chép được ở một vùng quê tỉnh Vĩnh Phúc. Một nhân khẩu nơi đây được chia 3 sào ruộng, mỗi năm thu hoạch 2,5 vụ, mỗi vụ chừng 6 tạ thóc, mỗi tạ thóc giá khoảng 300 nghìn đồng. Vị chi, một năm một người dân làm thuần nông sẽ có tổng thu nhập chừng 4,5 triệu đồng (6×2,5×300 nghìn), trừ đi 50% chi phí (giống, thuốc trừ sâu, phân bón…), còn lại chỉ trên dưới 2 triệu. Đem con số này trừ đi những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu, bà con chỉ để ra được từ 300-500 nghìn đồng/người/năm tích lũy là may (đó là nhờ ơn trời không đau ốm, bệnh tật, không đi cưới hỏi, ma chay, giỗ chạp…). Thế mới có chuyện nhà nông bung ra làm V.A.C. hay phát triển các ngành nghề phụ: thợ xây, thợ sắt, thợ mộc, thợ bật bông, đào đất…, đổ xô về thành phố kiếm việc làm. Nhìn tổng quát, bức tranh thu nhập của một vùng quê miền Bắc có thể chia làm 3 nhóm chính: i) nhóm thứ nhất – nhóm giàu nhờ làm nghề phụ, chiếm khoảng 10%, tích lũy hàng năm đạt chừng từ 5-15 triệu đồng; ii) nhóm thứ hai – nhóm trung bình, làm nông kết hợp với V.A.C., chiếm khoảng 40% dân số, tích lũy hàng năm tính trên đầu người từ 500 nghìn – 1 triệu đồng; iii) nhóm thứ ba, nhóm nghèo – thuần nông, chiếm phần còn lại – 50% dân số, với tích lũy hàng năm không quá 500 nghìn/người.  Vì sao khoảng cách giàu – nghèo ngày càng nới rộng?  Trước hết chính là do việc sử dụng vốn đầu tư công không hiệu quả, khiến nỗ lực xóa đói giảm nghèo của Chính phủ gặp nhiều khó khăn.  Ai cũng biết khu vực DNNN làm ăn có vấn đề2. Tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng GDP cũng thất thường, khả năng tạo công ăn việc làm mới là rất thấp. Nhưng chính khu vực này được ưu tiên đầu tư nhiều nhất, được Nhà nước bảo hộ. Như vậy, chẳng khác nào ta đang dồn tiền đầu tư cho một người không biết kinh doanh, thiếu trách nhiệm với nguồn vốn (không có ý thức bảo tồn và sinh lợi cho chủ đầu tư), thờ ơ trước lợi ích của cộng đồng (không có trách nhiệm tạo công việc mới, không trả thuế…). Hiệu quả đầu tư trong trường hợp như thế này khỏi cần phải bàn. Thế mới có chuyện, các chuyên gia IMF đem so sánh tình trạng của chúng ta hiện nay với Thái Lan, Philipin 2 thập kỷ trước đây. Lúc đó, hai nước này còn nghèo như ta bây giờ. Họ đã đầu tư khoảng 30- 40% tổng thu nhập của toàn nền kinh tế, và đạt mức tăng trưởng 12%. Còn chúng ta đang đầu tư đến 60% tổng thu nhập, nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 6-7%/năm. Và như vậy, để có được 1 USD tăng trưởng, Việt Nam đang phải mất đi khoảng 5 USD trong đầu tư thay vì 3 USD như sự tính toán của các cơ quan hoạch định chính sách. 2 USD còn lại đi đâu? Đó chính là tiền thất thoát trong đầu tư, là môi trường màu mỡ cho tham nhũng. Chính những đồng tiền này đã góp phần không nhỏ đẩy cao khoảng cách giàu nghèo.3  Phải làm gì để thoát nghèo?  Giải pháp cũng không có gì mới mẻ, vấn đề là chúng ta có tổ chức thực hiện được tốt hay không.  Thứ nhất, nhanh chóng thay đổi định hướng đầu tư. Chú trọng đầu tư cho khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là khối DNVNN. Khu vực này hiện này đang đóng góp1/4 GDP của cả nước và góp phần tạo 24,5 tổng giá trị xuất khẩu. Đây cũng là khu vực kinh tế năng động nhất, có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ 14-15%/năm và tạo được khối lượng công việc mới nhiều nhất.  Thứ hai, chấn chỉnh quản lý tốt các chương trình trọng điểm quốc gia về xóa đói, giảm nghèo. Đổi mới cơ bản phải bắt đầu từ tư duy quản lý. Chuyển từ quản lý theo số lượng, chỉ tiêu giải ngân sang quản lý theo chất lượng và hiệu quả.  Thứ ba, đẩy nhanh và cương quyết chống tham nhũng, thất thoát và lãng phí, bắt đầu từ việc đánh giá, lựa chọn, đấu thầu dự án. Đảm bảo thực hiện đúng mục đích của các dự án xóa đói giảm nghèo là nâng cao đời sống cho người nghèo, chứ không phải là đời sống của ban thực hiện (cái mà thông thường chúng ta vẫn gặp!).  Thứ tư, chú trọng tạo việc làm cho người nông dân mất ruộng, hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho khối doanh nghiệp dân doanh phát triển, trước tiên hết là giúp họ có thể tiếp cận được các nguồn vốn chính thống của Chính phủ.  Cuối cùng, thay cho lời kết, chúng tôi muốn nói rằng, khoảng cánh giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta không thể ép một người làm việc 14 tiếng/ngày phải có thu nhập bằng người làm chỉ 8 tiếng, chưa kể mỗi người đều có tầm nhìn, tri thức, khả năng khác nhau. Chủ nghĩa bình quân, lưỡi hái tàng hình cắt phăng khả năng sáng tạo, khát vọng vươn tới của mỗi người. Bài học này chúng ta đã quá thấm thía qua những tháng năm dài bao cấp. Giàu – nghèo, chúng ta không đấu tranh với khoảng cách, vì bản thân nó đâu có lỗi. Chúng ta đấu tranh với cái cơ chế bất bình đẳng tạo ra khoảng cách. Và trong cuộc chiến này, Nhà nước là người đóng vai trò chủ đạo.  ——-  1 Tỷ lệ nghèo chung là tỷ lệ người nghèo được tính theo chi tiêu bình quân/người/tháng và chuẩn nghèo chung của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới với mức chi tiêu bình quân/người/tháng qua các năm như sau: Năm 2002: 160 nghìn đồng; năm 2004: 173 nghìn đồng. Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm là tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân/người/tháng và chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm với mức thu nhập bình quân/người/tháng qua các năm như sau: Năm 2002: thành thị 146 nghìn đồng, nông thôn: 112 nghìn đồng; năm 2004: thành thị 163 nghìn đồng, nông thôn: 124 nghìn đồng.  2 Theo Báo cáo Kiểm toán nhà nước năm 2006: Kết quả thu ngân sách Nhà nước được đánh giá đều tăng so với dự toán, nhưng chủ yếu vẫn từ dầu thô và đất. Vì vậy, cơ cấu nguồn thu chưa bền vững. Đáng chú ý, thu từ doanh nghiệp Nhà nước năm 2004 chỉ đạt 95,5% – là năm thứ hai liên tiếp không đạt dự toán, thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực này thấp, tình hình tài chính khó khăn, thua lỗ kéo dài: 4/16 doanh nghiệp lỗ 124 tỷ đồng, 11/16 doanh nghiệp lỗ lũy kế 1.058 tỷ đồng.  3 Chỉ xét riêng việc tạo ra chỗ làm mới cho người lao động, một lĩnh vực góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói – giảm nghèo… các chuyên gia WB đưa ra dẫn chứng: Trong giai đoạn 2000- 2002, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế dân doanh) đã tạo ra trên 1,7 triệu việc làm mới cho người lao động, với tổng số vốn đầu tư là 4,7 tỷ USD, khoảng 2.700 USD cho một việc làm; thì cũng trong giai đoạn đó, đầu tư của các DNNN từ nguồn vốn của chính họ là 4 tỷ USD (thấp hơn 700 triệu USD so với khu vực tư nhân), nhưng số việc làm mà khối DNNN tạo ra nhìn chung là không thay đổi; đấy là chưa kể đến khoảng 4 tỷ USD tín dụng do nhà nước điều tiết, nằm ngoài hệ thống ngân hàng mà phần lớn được đổ vào các DNNN.       Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoảng cách giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay      Kế hoạch của Trung Quốc là trở thành quốc gia công nghiệp hàng đầu vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tức là Trung Quốc sẽ chiếm vị trí siêu cường số 1 của Mỹ. Thực tế Trung Quốc còn cách mục tiêu cường quốc số một thế giới bao xa?      Năm 2021 là một trong những năm quan trọng nhất trong thế kỷ này đối với Trung Quốc. Những ngày này đánh dấu 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Và nhân dịp kỷ niệm này, Trung Quốc đã đặt ra một “mục tiêu của thế kỷ”. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người tăng gấp đôi so với năm 2010. Mục tiêu thứ hai là khi kỷ niệm ngày Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa tròn trăm tuổi, họ sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại và là quốc gia công nghiệp dẫn đầu.  Tờ WELT điểm lại thực lực của Trung Quốc so với Mỹ, ở các hạng mục kinh tế, quân sự, nghiên cứu vũ trụ, khoa học và công nghệ cũng như quyền lực mềm.   Kinh tế  Mỹ có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 20,9 nghìn tỷ USD vào năm 2020. Trong khi đó Trung Quốc có GDP khoảng 14,7 nghìn tỷ USD – khoảng 70% giá trị của Mỹ. Năm 2018, trước đại dịch corona, Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 67% giá trị của Mỹ.  Đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn những gì đang diễn ra: các trọng lực kinh tế đang thay đổi. Trung Quốc đã khỏi bệnh nhanh hơn hầu hết các nước khác. Trung Quốc là nền kinh tế lớn duy nhất ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế trong năm đại dịch 2020. Corona như một chất xúc tác.  Có thể thấy trước Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Các dự đoán đã thay đổi kể từ đại dịch. Hiện có một số các nhà kinh tế cho rằng Trung Quốc sẽ vượt Mỹ về GDP vào cuối thập kỷ này. Trước đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng điều này sẽ xảy ra sớm nhất trong thập kỷ tới. Tuy nhiên, cần phải nhớ  dân số Trung Quốc (1,4 tỷ người) gấp hơn 4 lần dân số Mỹ (330 triệu người). Trong bối cảnh đó, sự trỗi dậy trở thành nền kinh tế lớn nhất của Trung Quốc có phần khó khăn hơn.   Do đó, nhiều nhà kinh tế thích nhìn vào GDP bình quân đầu người, một thước đo về sự thịnh vượng vật chất đối với một quốc gia. Giá trị này cho thấy Trung Quốc có GDP bình quân đầu người gấp gần bốn mươi lần so với năm 1980. Nhưng vào năm 2020, ở mức 10.582 đô la, vẫn nhỏ hơn sáu lần so với của Mỹ (63.000 đô la). Nhiều nhà kinh tế cho rằng, tương quan này sẽ không thay đổi trong 50 năm tới.   Một con số khác cho thấy Mỹ giàu hơn Trung Quốc ở số lượng tỷ phú. Theo thống kê của tạp chí Forbes của Mỹ, năm ngoái Mỹ có 614 tỷ phú. Ở Trung Quốc – bao gồm cả Hồng Kông – có 455.   Về quân sự  Theo bảng xếp hạng hiện nay của trang web “Global Firepower”, Mỹ là cường quốc quân sự mạnh nhất trên thế giới. Trung Quốc đứng thứ ba sau Nga.  Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Stockholm Sipri, Mỹ có ngân sách quân sự lớn nhất thế giới. Washington đã chi 778 tỷ đô la cho quân đội vào năm 2020 – tăng 4,4% so với năm trước nhưng giảm 10% so với năm 2011.   Trung Quốc là quốc gia có ngân sách quân sự lớn thứ hai – nhưng khó ước tính chính xác quy mô ngân sách này. Năm 2019, Bắc Kinh cho biết đã chi khoảng 183 tỷ USD cho quốc phòng. Tuy nhiên, Sipri ước tính ngân sách quốc phòng thực sự  cao hơn khoảng 40% vì còn có nhiều các khoản khác. Sipri ước tính ngân sách quốc phòng của Trung Quốc là 240 tỷ USD năm 2019 và 252 tỷ USD năm 2020.  Tháng năm vừa qua Trung Quốc lần đầu tiên thành công trong việc đưa tầu vũ trụ hạ cánh trên sao Hỏa. Nhất thời, có lúc Trung Quốc nổi lên như một cường quốc không gian hàng đầu. Tuy nhiên, một tàu thám hiểm của NASA đã hạ cánh xuống hành tinh Đỏ hồi tháng hai. Và cuối cùng việc các tỷ phú Mỹ Richard Branson, Jeff Bezos và Elon Musk chạy đua lên không gian đã làm cho cả thế giới ngỡ ngàng.    Trung Quốc dự định đến cuối năm tới sẽ kết thúc giai đoạn xây dựng trạm vũ trụ CSS. Nếu theo kế hoạch cho đến nay, hoạt động của “Trạm vũ trụ quốc tế” (ISS), chấm dứt vào năm 2024, thì Trung Quốc có thể là quốc gia duy nhất có mặt lâu dài trong không gian. Tuy nhiên đây mới chỉ là một giả thuyết.    Ngân sách của NASA trong năm 2020 lên tới khoảng 22,6 tỷ đô la, gần gấp đôi so với ngân sách của Trung Quốc (khoảng 11 tỷ đô la). Ngoài ra, còn có một doanh nghiệp ở Mỹ tên là SpaceX đã thực hiện các chuyến bay không gian có người lái lên ISS cho NASA. Bắt đầu từ năm nay, doanh nghiệp này có ý định đưa người lên không gian. Tóm lại: SpaceX hiện là một trong những tổ chức nghiên cứu không gian tốt nhất trên thế giới.  Khoa học và công nghệ  Bằng sáng chế là một động lực quan trọng thúc đẩy khoa học và công nghệ. Trung Quốc đã có tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu bằng sáng chế phát minh, thậm chí Trung Quốc đã vượt Mỹ trong lĩnh vực này. Năm 2020 Trung Quốc đã đăng ký tổng cộng trên 68.000 bằng sáng chế trong khi đó Mỹ chỉ có trên 59.000.   Xu hướng đảo ngược bắt đầu từ năm 2019, đó là năm Trung Quốc lần đầu tiên vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc sáng chế hàng đầu trong bảng xếp hạng của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Trước đó, Mỹ đã đứng đầu liên tục danh sách này kể từ năm 1978. Từ 1999 đến 2019, số đơn đăng ký bằng sáng chế phát minh của Trung Quốc đã tăng gấp 20 lần.  Tuy nhiên, số lượng không nhất thiết phải được đánh đồng với chất lượng. Một nghiên cứu của Quỹ Bertelsmann từ năm 2020 đã có kết luận Mỹ vẫn là “siêu cường về bằng sáng chế”. Vì Mỹ có nhiều bằng sáng chế nhất trong 50 trong tổng số 58 công nghệ tiên tiến nhất.  Trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu của WIPO năm 2020, Trung Quốc chỉ đứng thứ 14 mặc dù có rất nhiều bằng sáng chế – sau Israel. Còn Mỹ đứng ở vị trí thứ ba sau Thụy Sĩ và Thụy Điển.  Một chỉ số khác về tình trạng khoa học và công nghệ, nhìn về quá khứ chứ không phải tương lai, là số giải Nobel mà một quốc gia đã nhận được. Ở đây có một sự khác biệt về đẳng cấp. Mỹ đã nhận được 375 giải Nobel, trong khi đó Trung Quốc chỉ có tám.  Tuy nhiên, xét cho cùng, không chỉ sức mạnh kinh tế và quân sự của một quốc gia mới mang lại cho quốc gia đó sức mạnh để khẳng định mình. Quyền lực mềm, tức là sức hấp dẫn về văn hóa, cũng có thể được dùng như một phương tiện thực thi quyền lực. Nhà khoa học chính trị người Mỹ Joseph Nye được coi là người khởi xướng thuật ngữ này. Năm 1990, ông phân biệt quyền lực mềm và quyền lực cứng.  Tất cả những gì khiến một quốc gia trở nên hấp dẫn trong con mắt các quốc gia khác đều có thể phụ thuộc vào quyền lực mềm: môi trường báo chí và văn hóa tự do, nền điện ảnh rực rỡ, các ngôi sao quốc tế… Theo bảng đánh giá quyền lực mềm 30- so sánh quyền lực mềm của 30 quốc gia khác nhau, thì Mỹ xếp hàng thứ ba toàn cầu về quyền lực mềm vào năm 2019. Trung Quốc đứng gần áp chót, thứ  27. Trong bảng xếp hạng của năm  2021 Mỹ tụt xuống vị trí thứ sáu trong khi Trung Quốc lại vượt lên vị trí thứ 8.  Xuân Hoài dịch  Theo WEL       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoảng trống về an toàn công nghệ ở các nhà máy xử lí khí và lọc dầu ở Việt Nam      Những nhà máy xử lí khí và lọc hóa dầu ở Việt Nam đều đạt chứng chỉ BS OHSAS 18001: 2007 về an toàn, nhưng chỉ như vậy thì chưa đủ mà cần phải có một hệ thống quản lí an toàn chuyên biệt hơn.      An toàn công nghệ trên thế giới  Lịch sử của ngành khai thác thăm dò và chế biến các sản phẩm dầu mỏ đã  chứng kiến nhiều tai nạn liên quan đến sản xuất và vận chuyển dầu khí.  Việc đảm bảo an toàn vận hành ngày càng trở nên thách thức hơn khi số lượng các nhà máy nhiều hơn, công suất lớn hơn và công nghệ xử lý phức tạp hơn. An toàn hệ thống trước đây chủ yếu được đề cập tới trong những lĩnh vực có khả năng rủi ro cao như quân sự, hàng không, năng lượng hạt nhân và đã dần được áp dụng trong lĩnh vực khai thác, chế biến dầu khí dưới cái tên an toàn công nghệ. Nó ngày càng đóng một vai trò quan trọng với những hệ thống quản lí an toàn tiên tiến của các công ty năng lượng.  An toàn vận hành bao gồm hai thành phần chính: an toàn cho cá nhân (Personal safety) và an toàn công nghệ (Process safety). An toàn cá nhân hướng đến ngăn ngừa và phòng tránh những tai nạn xảy ra với lực lượng lao động, các sự cố xảy ra ở mức độ tương đối thường xuyên (hằng ngày) nhưng mức độ không lớn (chấn thương khi vận chuyển thiết bị, tiếng ồn, ngã từ trên cao v.v).  An toàn công nghệ nhắm đến việc ngăn chặn những tai nạn sự cố liên quan đến việc rò rỉ các nguồn năng lượng, các vụ cháy, nổ. Đó là những tai nạn với tần suất không thường xuyên nhưng mức độ ảnh hưởng rất lớn như thiệt hại về con người, phá hủy một phần hoặc hoàn toàn nhà máy và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường.            Vụ nổ ở nhà máy lọc dầu của BP ở Texas               tháng 3/ 2005             Ở phạm vị từng nhà máy riêng biệt, tai nạn và sự cố lớn xảy ra với quá trình sản xuất và vận chuyển các sản phẩm dầu khí có thể hiếm khi xảy ra nhưng khi nhìn ở phạm vi toàn cầu, tai nạn liên quan đến an toàn công nghệ xảy ra tương đối thường xuyên. Từ những vụ nổ lớn như nhà máy lọc dầu của BP ở Texas năm 2005, nhà máy xử lí khí của Exxon ở Longford Úc năm 1988, rò rỉ đường ống ở Alaska của BP năm 2006 đến hàng loạt vụ nổ, cháy hoặc rò rỉ hậu quả trung bình cố nhỏ hơn xảy ra với tần suất vài tháng một lần lại có một ở các nhà máy lọc dầu, xử lí khí trên thế giới.  Gần đây nhất, vụ nổ ở nhà máy lọc dầu của BP ở Texas là một bài học lớn về an toàn công nghệ, một số nguyên nhân hệ thống được tóm tắt như ở dưới đây:  * Văn hóa an toàn ở mức      thấp và không có các chương trình ngăn chặn/ phòng ngừa các tai nạn lớn  * Chỉ số an toàn cá nhân      được dùng như là một thước đo cho an toàn công nghệ và thước đo để đánh      giá văn hóa an toàn.  * Thiếu một nền văn hóa      báo cáo sự cố và học hỏi từ những sự cố trước đây  * Lỗ hổng trong chương      trình bảo trì bảo dưỡng dẫn đến tình trạng hư hỏng của thiết bị công nghệ:       “run to failure”  * Các chương trình về an      toàn tập trung vào cải thiện những chỉ số an toàn cá nhân và thói quen/      cách hành xử của công nhân hơn là tập trung vào an toàn công nghệ và hệ      thống quản lí an toàn.  Sau mỗi sự cố như vậy, các công ty năng lượng và chính phủ đều rút ra những những bài học cho riêng mình, đặc biệt là về đảm bảo an toàn công nghệ. Các công ty lớn như Exxon, BP, Shell đã phát triển hệ thống an toàn công nghệ của riêng mình, chính phủ Anh và Mỹ cũng đặt ra những yêu cầu cho các công ty năng lượng phải thiết lập hệ thống quản lý an toàn công nghệ như là một trong những yêu cầu tiên quyết để có giấy phép vận hành:, MODU HSE Case của Anh, SEMS, OSHA Process Safety Manage-ment (PSM) ở Mỹ.            Các bộ phận chính của một hệ thống quản lí an toàn công nghệ               của một công ty năng lượng            An toàn công nghệ ở Việt Nam  Trong những năm gần đây, Việt Nam đã xây dựng những nhà máy xử lí khí và lọc hóa dầu với công nghệ hiện đại. Các hệ thống quản lí tiên tiến cũng đã được áp dụng để đảm bảo an toàn, sức khỏe và môi trường. Tất cả nhà máy chế biến và xử lí đều đạt chứng chỉ BS OHSAS 18001: 2007 về an toàn, sức khỏe và ISO 14000 về môi trường. Mặc dù vậy khái niệm về an toàn công nghệ vẫn còn tương đối mới mẻ với một bộ phận không nhỏ các nhà quản lí cấp cao và những người chịu trách nhiệm về vận hành cho nhà máy.   Đối tượng của OHSAS 18001: 2007 như đã đề cập ở trên là để phòng ngừa những tai nạn liên quan đến an toàn cá nhân xảy ra ở quy mô nhỏ. OHSAS hoàn toàn phù hợp với những nhà máy sản xuất có mức độ rủi ro thấp như nhà máy sản xuất bao bì, sữa, ô tô v.v. Những nhà máy sản xuất và chế biến dầu khí như Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các nhà máy xử lí khí ở Vũng Tàu nơi hàng ngày phải đương đầu với những rủi ro liên quan đến công nghệ, áp dụng OHSAS là không đủ để đảm bảo an toàn trong vận hành và cần phải có một hệ thống quản lí an toàn chuyên biệt hơn để quản lí những rủi ro này.          Hệ thống AT-SK-MT của PVG              – Sổ tay AT-CL-MT              – Đánh giá rủi ro               – Ứng phó tình huống khẩn cấp              – Đào tạo huấn luyện              – Kiểm tra an toàn và đánh giá hệ thống quản lý              – Điều tra tai nạn sự cố và khắc phục phòng ngừa      OHSAS 18001:2007              – Đánh giá rủi ro và xác định các phương pháp phòng ngừa              – Năng lực, đào tạo và nhận thức              – Chuẩn bị và ứng phó với tình huống khẩn cấp              – Điều tra sự cố và phòng ng      Hệ thống quản lí an toàn công nghệ của OSHA              Thông tin về công nghệ              Quy trình vận hành              Giấy phép làm việc cho công việc phát sinh tia lửa              Đào tạo              Phân tích và đánh giá các rủi ro công nghệ              Quản lí sự thay đổi              Toàn vẹn của hệ thống (Mechanical Integrity)              PSSR Pre-Startup Safety Review              Xử lí các tình huống khẩn cấp              Điều tra sự cố          Bảng so sánh một số bộ phận chính của hệ thống AT-SK-MT của PVG, OHSAS 18001:2007 và OSHA PSM  So sánh giữa hệ thống AT-SK-MT của PVG, OSHA 18001:2007 và hệ thống an toàn công nghệ của OSHA PSM, có thể thấy hai hệ thống này thiếu những bộ phận quan trọng được đề cập đến trong OSHA PSM: Phân tích và đánh giá rủi ro công nghệ, Toàn vẹn hệ thống (mechanical integrity), Đánh giá an toàn trước khi khởi động nhà máy (pre start up safety review), Quy trình vận hành, thông tin về công nghệ v.v. Những bộ phận này là những bộ phận quan trọng để đảm bảo an toàn công nghệ và không thể thiểu được trong bất kì một hệ thống quản lí an toàn nào.  Một hệ thống an toàn công nghệ không thể đảm bảo 100% rằng tai nạn sẽ không thể xảy ra vì luôn luôn có những lỗi trực tiếp hoặc lỗi hệ thống gây ra bởi con người trong quá trình thiết kế, vận hành. Mặc dù vậy, khi hệ thống an toàn công nghệ được áp dụng và tuân thủ sẽ giảm tần suất và mức độ của những tai nạn liên quan đến an toàn công nghệ. Trong khi những quy định của nhà nước chưa được ban hành, các nhà máy xử lí khí và nhà máy lọc dầu cần năng cao nhận thức về an toàn công nghệ cho đội ngũ vận hành,  song song với đó đi tiên phong trong việc thiết lập hệ thống an toàn công nghệ của minh. Hệ thống an toàn công nghệ của OSHA (OSHA PSM) có thể được nghiên cứu và áp dụng bên cạnh các hệ thống quản lí sẵn có khác (ISO/ OHSAS) để đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành nhà máy.                                                                                                                                                                                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi công dự án nghiên cứu sinh – dược phẩm      Dự án đầu tư nghiên cứu phát triển và sản xuất sinh – dược phẩm của  Mekophar đặt mục tiêu xây dựng một cơ sở nghiên cứu – sản xuất để triển  khai nghiên cứu, phát triển sản phẩm và sản xuất các sinh dược phẩm bằng  công nghệ sinh học cũng như các loại dược phẩm thế hệ mới, mỹ phẩm bằng  công nghệ mới, tiên tiến.      Với sự hỗ trợ của Bộ Y tế và UBND TPHCM, ngày 17/4, Công ty cổ phần hoá – dược phẩm Mekophar khởi công dự án nghiên cứu phát triển và sản xuất dược phẩm tại Khu công nghệ cao TPHCM.  Dự án đầu tư nghiên cứu phát triển và sản xuất sinh – dược phẩm của Mekophar với mục tiêu xây dựng một cơ sở nghiên cứu – sản xuất để triển khai nghiên cứu, phát triển sản phẩm và sản xuất các sinh dược phẩm bằng công nghệ sinh học cũng như các loại dược phẩm thế hệ mới, mỹ phẩm bằng công nghệ mới, tiên tiến.  Đặc biệt, dự án sẽ đẩy mạnh tập trung nghiên cứu phát triển sản phẩm y dược từ tế bào gốc, xây dựng nhà máy chuyên sản xuất nhóm thuốc Nonbeta Lactam đạt tiêu chuẩn PIC/S (có chất lượng đạt tiêu chuẩn theo công ước Hệ thống hợp tác thanh tra dược phẩm) với sản lượng 2 tỉ viên/năm, không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đảm bảo chất lượng cho xuất khẩu.  Dự án có mức đầu tư hơn 1.000 tỉ đồng, do Công ty cổ phần hóa dược phẩm Mekophar làm chủ đầu tư với sự hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật từ các chuyên gia Nhật Bản và Tổng công ty Dược Việt Nam.  Mekophar là một trong những doanh nghiệp dược đầu tiên của Việt Nam đạt tiêu chuẩn GMP-WHO và là công ty dược duy nhất của Việt Nam sản xuất nguyên liệu kháng sinh Betalactam cung cấp cho các công ty dược trong nước và nước ngoài.   Nguồn:  http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Khoi-cong-du-an-nghien-cuu-sinh-duoc-pham/252244.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi công dự án Sài Gòn Silicon City 40 triệu USD      Ông Nguyễn Minh Hiếu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Công viên Saigon Silicon City, đánh giá khi đi vào hoạt động, dự án với tổng vốn đầu tư 40 triệu USD này sẽ góp phần tạo ra sự kết hợp giữa nghiên cứu phát triển và  ứng dụng, trực tiếp sản xuất ra công nghệ hay sản phẩm tương  ứng.      Công ty cổ phần Công viên Sài Gòn Silicon đã động thổ Dự án Sài Gòn Silicon City tại Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP) vào ngày 10/11 trên diện tích 52ha của Khu công nghệ cao Tp.HCM (SHTP). Đây là dự án có tổng vốn đầu tư 40 triệu USD và được xây dựng theo mô hình Thung lũng Silicon của Mỹ.   Theo kế hoạch, dự án được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn một sẽ tiến hành xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng chung cho toàn khu công viên với tòa nhà điều hành, hình thành các khu Techshop, nhà máy sản xuất bo mạch điện tử và lắp ráp linh kiện…; giai đoạn hai hoàn thiện các hạng mục khác theo quy hoạch đã được duyệt.   Dự án đặt mục tiêu thu hút khoảng 20 nhà đầu tư công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ với tổng vốn khoảng 1,5 tỉ USD trong giai đoạn 2015-2020.  Theo ông Nguyễn Minh Hiếu, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Công viên Sài Gòn Silicon, dự án Sài Gòn Silicon City được xem như một mô hình chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao từ các công ty tại khu Thung lũng Silicon tới Việt Nam. Không chỉ đơn thuần thiên về gia  công sản phẩm công nghệ từ các nước khác như hiện trạng ở một số khu  công nghiệp tại Việt Nam, dự án sẽ góp phần tạo ra sự kết hợp giữa nghiên cứu phát triển và  ứng dụng, trực tiếp sản xuất ra công nghệ hay sản phẩm tương  ứng.    Khi đi vào hoạt động, dự án sẽ trở thành một đô thị thông minh, sẵn sàng về cơ sở hạ tầng và tiện ích nhằm thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao. Điều này sẽ mang lại nhiều cơ hội gia tăng nguồn năng lực nội sinh, tăng lợi thế cạnh tranh và làm chủ công nghệ nhằm phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu và phát triển KHCN và công nghiệp chế tạo tại TPHCM.  Dự án còn được kỳ vọng sẽ thu hút được những doanh nghiệp thật sự là công nghệ cao, tập trung đầu tư sâu vào nghiên cứu phát triển (R&D) và thu hút đội ngũ lao động trình độ cao tới làm việc.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi công Vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt – Hàn      Vườn ươm Công nghệ công nghiệp Việt Nam –  Hàn Quốc (KVIP) trị giá hơn 21 triệu USD, phục vụ các hoạt động nghiên  cứu, phát triển thuộc ba ngành chế biến nông sản, thủy sản và cơ khí chế  tạo, đã được khởi công xây dựng tại Cần Thơ sáng 23-11.    Phát biểu tại lễ khởi công xây dựng Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho biết: “Do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL, trong khuôn khổ Chương trình hợp tác điện hạt nhân – năng lượng – công nghiệp, Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc đã thống nhất đầu tư xây dựng Vườn ươm Công nghệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại Cần Thơ. Đây là dự án do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ với mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ tiếp cận, đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nuôi trồng, chế biến nông, thủy hải sản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng cho sản phẩm. Đồng thời, dự án sẽ tạo thêm động lực để thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế của TP Cần Thơ và các địa phương khác ở ĐBSCL”.  Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND TP Cần Thơ phối hợp với Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc đảm bảo để dự án hoạt động hiệu quả và bền vững; tăng cường xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và ưu tiên hỗ trợ để các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Hàn Quốc, đầu tư nhiều hơn vào Cần Thơ và ĐBSCL.  Đại diện Chính phủ Hàn Quốc, ông Yoon Sang-Jick – Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc – nhấn mạnh: “Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, kim ngạch thương mại song phương tăng gấp 40 lần và Việt Nam là quốc gia đầu tư lớn nhất trong khu vực ASEAN đối với Hàn Quốc. Hàn Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục là đối tác hợp tác tốt nhất của Việt Nam”.     Ông Yoon Sang-Jick nói tiếp: “Cần Thơ thuộc ĐBSCL, một vựa lúa danh tiếng và có tài nguyên thủy sản phong phú. Dựa trên tiềm năng đó, ngành chế biến thực phẩm nông thủy sản và ngành công nghiệp máy móc nông nghiệp là hai ngành kinh doanh mũi nhọn của KVIP. Với kinh nghiệm và công nghệ của Hàn Quốc, tôi tin sẽ giúp cho tiềm năng ấy thành hiện thực. Theo đó, không ít doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ đầu tư thêm vào TP Cần Thơ thông qua KVIP này”.   Ông Yoon Sang-Jick lạc quan cho biết: “Rất nhiều doanh nghiệp sáng tạo sẽ được sinh ra thông qua KVIP và họ sẽ là động lực quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, sân chơi hợp tác kinh tế chủ yếu diễn ra tại Hà Nội và TPHCM sẽ được mở rộng, tạo thêm cơ hội hợp tác giữa hai nước. Ngoài ra, các trường đại học, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp của hai nước sẽ tìm kiếm sự cạnh tranh mới, cùng nhau khai thác thị trường thế giới”.   Dự án KVIP sẽ xây dựng hai tòa nhà rộng hơn 13.000 mét vuông để lắp đặt thiết bị phục vụ các hoạt động nghiên cứu, phát triển thuộc ba ngành công nghiệp chính là chế biến nông sản, thủy sản và cơ khí chế tạo. Tổng kinh phí của dự án là 21,13 triệu USD, trong đó Hàn Quốc tài trợ vốn ODA không hoàn lại 17,7 triệu USD, còn lại là vốn của Việt Nam. Viện Phát triển công nghệ Hàn Quốc (KITECH) giúp đào tạo, chuyển giao công nghệ và phối hợp với Đại học Cần Thơ và Đại học Kỹ thuật công nghệ Cần Thơ đưa ra danh sách thiết bị cần thiết phục vụ dự án này.  Theo kế hoạch, đến năm 2015 dự án hoàn thành và vận hành thử. Trước mắt, vào ngày 18-12-2013, tại khách sạn New World (TPHCM), KITECH sẽ tổ chức hội thảo xúc tiến đầu tư vào Cần Thơ cho các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi đầu của máy tính điện tử      Hai thập kỉ trước, khi đang lục tìm trong kho lưu trữ của một nhà vật lý học, tôi bắt gặp một tài liệu ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Đó là một bảng tích phân được đánh máy chữ – một danh sách dài các hàm toán học và kết quả tích phân xác định của hàm cho một số cận dưới và cận trên. Nó giống như những sổ tay và bảng tính toán mà thời sinh viên tôi vẫn thường dùng để giải bài.      Tòa nhà chính của viện nghiên cứu cao cấp Princeton, Fuld Hall. Ban đầu, dự án máy tính điện tử được đặt ở tầng hầm của tòa nhà này.     Lời giới thiệu của nhà vật lý Nguyễn Trọng Hiền:   Thế chiến thứ hai thường được biết đến như là một cuộc chiến mà loài người bắt đầu sử dụng các vũ khí có sức hủy diệt khủng khiếp.  Thế chiến thứ hai còn được biết đến như là “cuộc chiến vật lý,” – từ ngữ của Conant, Viện trưởng Đại học Harvard.  Từ sau cuộc đại chiến này, vật lý lên ngôi.  Năng lượng hạt nhân được sử dụng vào mục đích hòa bình, tên lửa được dùng để phóng vệ tinh hay đưa người lên Mặt trăng, radar được dùng cho giao thông hàng không, và vật lý cơ bản bước vào giai đoạn vàng son, với sự ra đời của các trung tâm gia tốc để nghiên cứu các hạt cơ bản.  Có một phát triển khác từ trong Thế chiến thứ hai ít được biết hơn là sự ra đời của máy tính điện tử.  Trong bài viết dưới đây, David Kaiser kể lại sự ra đời của một trong những máy tính đầu tiên ấy, chế tạo bởi nhà toán học John von Neumann.    Sự ra đời của máy tính ít được biết đến hơn do có lẽ kém phần hào nhoáng hơn.  Máy điện toán thuở ấy là một hệ thống kềnh càng, rộng lớn bằng cả tòa nhà mà khả năng bộ nhớ chỉ đủ thâu không đầy một giây âm nhạc.  Người ta ít biết đến hơn là phải.  Phải mất gần nửa thế kỷ, kỹ thuật điện toán mới thu nhỏ lại bằng lòng bàn tay, và đạt được mức có thể gọi là siêu việt của điện thoại thông minh ngày nay.  Sự kềnh càng to lớn ấy là do kỹ thuật bán dẫn bấy giờ chưa ra đời.  Người ta phải dùng những “vacuum tube” hay ống chân không.  (Ai còn giữ những chiếc tivi hay radio cũ kỹ có thể tìm thấy những ống chân không này.)  Gọi là ống chân không bởi  không khí trong ống phải được hút ra, để các điện tử – phát ra từ những filament kim loại được hun nóng – có thể hoạt động mà không bị cản trở.    Thực ra bài viết của Kaiser không hẳn là một tư liệu lịch sử mà chỉ là một bút ký.  Kaiser tình cờ tìm thấy một bảng tích phân cũ kỹ từ những năm thế chiến, bị liệt vào hàng “bí mật quốc gia.”  Đây là bảng tích phân phổ thông mà các sinh viên đại học ngày nay có thể tìm thấy từ các bìa sau của những sách vật lý.  Bài viết là nỗi bâng khuâng nhớ về một thời nhập nhằng của chiến tranh và phát triển vật lý, về những bước đi khập khiễng ban đầu của kỹ thuật điện toán, và về một thế hệ khoa học cha ông anh hùng.    Hai thập kỉ trước, khi đang lục tìm trong kho lưu trữ của một nhà vật lý học, tôi bắt gặp một tài liệu ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Đó là một bảng tích phân được đánh máy chữ – một danh sách dài các hàm toán học và kết quả tích phân xác định của hàm cho một số cận dưới và cận trên. Nó giống như những sổ tay và bảng tính toán mà thời sinh viên tôi vẫn thường dùng để giải bài. Thế nhưng, trang bìa của nội dung quen thuộc này lại hết sức bất thường. Trên đó ghi rằng bảng tích phân chỉ được in đúng 31 bản, với danh sách người nhận được ghi rất cẩn thận. Bảng tích phân, ra ngày 24/6/1947, được làm để đi kèm với một báo cáo mật. Danh sách người nhận của hai tài liệu này là một, và hầu như tất cả những người này đã được thẩm tra lý lịch gắt gao để được phép tiếp cận những tài liệu bí mật quốc phòng.       Có mối liên hệ gì giữa một nội dung chẳng có gì đặc biệt với một trang bìa gây sốc như thế? Thảm họa gì có thể giáng xuống Chính phủ Mỹ nếu như kẻ thù biết được tích phân của x/(1 + x)2 trong khoảng từ 0 đến 1 bằng 0.1931? Hơn nữa, làm sao các cơ quan chức năng có thể kì vọng ngăn chặn việc người ta biết được kết quả toán học cơ bản đấy? Chẳng phải ai học tích phân cũng tính ra được như vậy hay sao?     Bảng tích phân được làm như tài liệu đi kèm cho một báo cáo mật được viết bởi Hans Bethe, nhà vật lý được giải Nobel. (Tôi tìm được cả hai tài liệu này trong đống giấy tờ của Bethe ở Đại học Cornell, New York). Vào những năm 1930, Bethe là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về vật lý hạt nhân; đến năm 1938, ông đã đưa ra được những phản ứng hạt nhân giúp các ngôi sao phát sáng. Ông là Giám đốc Trung tâm Vật lý Lý thuyết tại Phòng thí nghiệm Los Alamos thời chiến, báo cáo trực tiếp tới Giám đốc Phòng thí nghiệm là J. Robert Oppenheimer. Sau chiến tranh, ông trở về giảng dạy tại Đại học Cornell và vẫn tiếp tục là chuyên gia tư vấn tích cực cho chương trình vũ khí hạt nhân cũng như ngành năng lượng hạt nhân mới hình thành thời điểm đó.    Vào năm 1947, Bethe được đề nghị nghiên cứu về lớp bảo vệ bức xạ cho lò phản ứng hạt nhân. Khi các nguyên tử nặng như uranium hoặc plutonium bị bắn phá bởi neutrons, chúng giải phóng năng lượng – đủ để phát nổ một quả bom hoặc phát điện trong một lò phản ứng – và chúng cũng giải phóng một lượng lớn bức xạ năng lượng cao. Trong quá trình giải quyết vấn đề làm thế nào để ngăn chặn hoặc hấp thụ bức xạ tốt nhất, Bethe nhận ra rằng ông cần tính các tích phân ở một dạng nhất định. Một đồng nghiệp– tiến sĩ vật lý và cựu thành viên dự án Manhattan, lúc bấy giờ là nhà nghiên cứu cao cấp tại một cơ sở lò phản ứng hạt nhân – đã chuẩn bị một bảng tích phân để một số đồng nghiệp có thể tính toán tương tự như Bethe.       Hans Bethe (thứ hai từ trái sang) là nhà vật lý chuẩn bị bản tính tích phân năm 1947. Trong ảnh là khi ông bắt tay Tổng thống Mỹ John F. Kennedy khi nhận giải thưởng Fermi vào năm 1961. Nguồn ảnh: Thư viện Đại học Cornell    Những sổ tay và bảng tính tương tự đã xuất hiện từ hàng thế kỉ trước. Vào thời điểm Cách mạng Pháp, theo nhà sử học Lorraine Daston, các trí thức hàng đầu thời đó đã tạo ra các bảng tính đồ sộ cho các hàm logarit và lượng giác chính xác đến 14 chữ số sau dấu thập phân – chính xác hơn rất nhiều so với yêu cầu của bất kì ứng dụng thực tiễn nào vào lúc đó. Những bảng tính này của Gaspard Riche de Prony là để nhấn mạnh sự hiểu biết của thời kỳ Khai Sáng, thêm một bằng chứng cho sự vinh quang của chủ nghĩa Lý tính, là thứ để người ta ngưỡng mộ hơn là để sử dụng.    Mặc dù bảng tích phân năm 1947 không nhằm để công chúng chiêm ngưỡng của công chúng – thậm chí là ngược lại, thể hiện ở danh sách người nhận được kiểm soát chặt chẽ – tính chất của bảng tích phân này gần với bảng tính của thời kì Prony hơn là thời kì của chúng ta. Thật vậy, phần giới thiệu giải thích cách tính các tích phân: phần lớn được tính bằng cách đổi biến một cách thông minh, nhờ đó mà các hàm trở nên có dạng giống như trong bảng tích phân nổi tiếng Nouvelles tables d’intégrales définies, được phát hành ở Leiden năm 1867 bởi nhà toán học giàu có người Hà Lan là David Bierens de Haan.     Hai năm sau khi thời kì nguyên tử bắt đầu, nhân lực làm tính toán vẫn là một nhóm những học giả tinh túy theo hướng hàn lâm hơn là các kĩ sư theo hướng thực hành. Trong lĩnh vực tính toán người ta cần một thư viện đồ sộ với những quyển sách tự cổ chí kim được viết bằng những ngôn ngữ xa lạ. Và đó là lí do tại sao mà danh sách người nhận của bảng tích phân năm 1947 lại hạn chế đến thế: Mặc dù về lý thuyết, ai cũng có thể tính được các tích phân đó, nhưng công việc tính toán trên thực tế đòi hỏi mất rất nhiều thời gian và công sức. Nhưng không lâu sau khi người đánh máy hoàn thành báo cáo của Bethe và bảng tích phân đi kèm, đặc tính của lĩnh vực tính toán đã thay đổi mãi mãi.     Bối cảnh bất thường cho sự chuyển đổi này chính là Viện Nghiên cứu Cao cấp ở Đại học Princeton, New Jersey. Viện này được thành lập từ năm 1930 với nguồn tài trợ hào phóng của ông trùm sở hữu các trung tâm thương mại Louis Bamberger và người chị Caroline Bamberger Fuld. Những người sáng lập viện, được tư vấn bởi nhà cải cách giáo dục Abraham Flexner, đặt mục tiêu đây là một địa chỉ cho những trí thức trẻ mới nổi có thể đào sâu vào chuyên môn của họ sau khi học xong tiến sĩ, mà không phải bận tâm về công việc trên giảng đường như giảng dạy, nhiệm vụ của hội đồng và những việc tương tự có thể mài mòn sự sáng tạo của họ. Flexner muốn có một nơi yên tĩnh mà các nhà nghiên cứu thoát khỏi những ràng buộc của viện trường như viết giáo án hay viết công bố; một nơi mà họ chỉ cần ngồi và suy tưởng. “Rồi, giờ tôi có thể thấy liệu họ có muốn ngồi như thế không,” – Nhà quản lý khoa học hàng đầu Vannevar Bush châm biếm.       Lễ kỉ niệm sinh nhật 70 tuổi của Einstein tại Viện Princeton. Kurt Godel là người đứng thứ 3, hàng đầu từ trái sang và viện trưởng J.R.Oppenheimer là người đứng thứ hai từ phải sang. Nguồn ảnh: Princeton.edu    Flexner bắt đầu tìm đến những trí thức hàng đầu thế giới phải tha hương vì chủ nghĩa phát xít ở châu Âu để mời họ về viện. Albert Einstein trở thành thành viên phụ trách chuyên môn dài hạn vào năm 1933; tham gia ngay sau đó là nhà logic học thiên tài, cô độc và lập dị Kurt Godel, người vốn được biết đến là chết đói vì một nỗi sợ hoang tưởng rằng người ta sẽ đầu độc mình. Kể cả sau khi Oppenheimer trở thành giám đốc của viện vào năm 1947, người vừa mới quay cuồng trong vị trí giám đốc ở Los Alamos, tinh thần của viện vẫn giống như một tu viện hơn là một phòng thí nghiệm –như một nơi lưu các cuốn Novelles tables d’intégrales bọc da của Bierrens de Haans trên giá sách hơn là để chứa những máy tiện và máy khoan. Phóng viên tờ New Yorker vào năm 1949 đã quan sát thấy rằng viện có một “chút không khí của một ngôi nhà nhỏ đồng quê”. Vào thời điểm đó, Hans Bethe còn khuyên một nhà vật lý trẻ có ý định đến viện làm việc một năm rằng “đừng kỳ vọng quá nhiều điều xảy ra” ở đây.     Nhưng sự bình yên ấy bắt đầu bị phá vỡ bởi các thành viên của một nhóm nghiên cứu mới, sáng lập bởi nhà toán học huyền thoại John von Neumann. Sinh ra ở Budapest năm 1903, von Neumann có công bố đầu tiên khi mới 19 tuổi và hoàn thành tiến sĩ khi mới 22 tuổi, trước khi rời khỏi châu Âu khi đó đang rơi vào khủng hoảng. Flexner nhanh chóng tìm và thu nạp anh vào đội ngũ của viện ngay sau khi Einstein tham gia. Trong giai đoạn chiến tranh, von Neumann chủ yếu ở Los Alamos, làm việc bên cạnh Bethe và Oppenheimer về vũ khí hạt nhân. Chìm đắm trong công việc này, ông dần bị thu hút bởi một tầm nhìn tuyệt vời như của Charles Babbage một thế kỉ trước: xây dựng một cái máy dùng để tính toán. Động lực của von Neuman không chỉ đến từ sự tò mò về cách thức hoạt động của não người và bản chất của nhận thức (mặc dù ông thấy những chủ đề đó rất hấp dẫn). Ông có một mối quan tâm khắc khoải nữa: ông muốn biết các thiết kế đầu đạn hạt nhân khác nhau sẽ nổ hay xịt.     Dự án về vũ khí đã đưa đến cho von Neumann hình dung về một chiếc máy tính bán tự động. Trong số những thách thức mà ông và các đồng nghiệp phải đối mặt là theo dõi, một cách định lượng, những khả năng có thể xảy ra khi các neutron tương tác với một lượng vật chất có khả năng phân hạch. Chúng sẽ bị văng ra, bị hấp thụ, hay làm hạt nhân nặng phân rã? Quan trọng không kém: sóng xung kích từ phần nổ sẽ lan truyền qua lõi quả bom như thế nào? Trong chiến tranh, việc tính toán này phần lớn được thực hiện bởi một chuỗi nhân lực tính toán dùng các máy tính cầm tay hiệu Marchant, một quy trình được ghi trong cuốn sách đáng kinh ngạc của David Alan Grier tên là Khi máy tính là con người (2005). Những nhà vật lý trẻ như Richard Feynman chia nhỏ các tính toán ra thành từng bước tách biệt rồi các trợ lý – thường là những người vợ trẻ của các nhân viên kĩ thuật của phòng thí nghiệm – sẽ xử lý những con số, mỗi trợ lý thực hiện đi thực hiện lại một phép tính. Một người sẽ tính bình phương của một con số được giao; một người khác thì làm phép cộng hai số và chuyển kết quả cho người phụ nữ tiếp theo trong dây chuyền.       Chiếc máy tính ENIAC ở Đại học Pennsylvania được lập trình bởi sáu người phụ nữ.    Quy trình này khá hiệu quả trong giai đoạn chiến tranh để thực hiện các tính toán cho bom phân hạch. Nhưng bom H (bom nhiệt hạch) là một cấp độ hoàn toàn khác – không phải chỉ ở năng lượng nổ mà cả ở khối lượng tính toán. Các diễn biến bên trong quả bom, thúc đẩy bởi sự tương tác tinh tế giữa bức xạ xáo trộn, plasma nóng, các lực hạt nhân, phức tạp hơn rất nhiều để giải mã được. Cố gắng xác định liệu thiết kế này có kích hoạt phản ứng nhiệt hạch – ép các hạt nhân nhẹ kết hợp với nhau như những gì xảy ra trong các ngôi sao, từ đó giải phóng năng lượng phá hủy cao gấp hàng nghìn lần so với bom phân hạch thả xuống Hiroshima và Nagasaki – hay nó chỉ xì xèo thôi đòi hỏi các thách thức tính toán cực lớn. Những tính toán đó không thể được thực hiện bởi một nhóm người với những chiếc máy tính cầm tay. Nó đòi hỏi, như von Neumann kết luận, một phương thức giải một loạt các phương trình tính toán phức tạp cùng lúc một cách tự động. Nó đòi hỏi một máy tính điện tử và kỹ thuật số có thể thực hiện những chương trình được lập trình sẵn.     Một vài trong số những ý tưởng nền tảng đằng sau một chương trình tính toán được lập trình sẵn được phát minh ra trước chiến tranh bởi nhà toán học và mật mã học người Anh Alan Turing, và thật vậy, cái máy tính đầu tiên thực hiện ý tưởng của Turing được hoàn thành bởi một nhóm tại Manchester vào năm 1948. Giống như dự án Manhattan và chương trình radar thời chiến, các ý tưởng khởi nguồn từ người Anh lại được nhân rộng bởi người Mỹ. Một nhóm tại Đại học Pennsylvania và được tài trợ bởi Quân đội Mỹ đã miệt mài nghiên cứu một thiết bị tương tự từ năm 1943, biệt hiệu là ENIAC. Ngay sau chiến tranh, nhóm nghiên cứu ở Pennsylvania này đã có đối thủ, khi von Neumann bắt đầu kiếm được hợp đồng của chính phủ để xây dựng máy tính của ông ở Viện Priceton. Nhóm của ông bao gồm vài kĩ sư trẻ và người vợ tài năng của ông, Klári đã hào hứng tham gia việc tỉ mỉ lập trình mô phỏng bom và theo dõi vận hành máy chạy nhiều ngày liên tục.     Von Neumann đã từng vai kề vai với Turing tại Viện trong những năm 1930 khi Turing đang làm luận án tiến sĩ tại Đại học Princeton gần đó. Trong suốt chiến tranh, von Neumann cũng tư vấn cho ENIAC ở Pennsylvania. Trên thực tế, ông đã giúp đổi hướng của dự án này từ mục tiêu khởi thủy của nó – là tính toán góc ngắm cho phòng thí nghiệm pháo binh – sang việc tính toán các thiết kế cho vũ khí hạt nhân ở Los Alamos. Vào thời điểm đó, máy của Pennsylvania chỉ thực hiện được những chương trình cố định: người dùng phải thiết lập chương trình một cách thủ công bằng cách nối dây giữa các cấu phần bằng tay trước khi bắt đầu thực hiện tính toán. Việc thay đổi chương trình mất hàng tuần lao động chân tay – phải tháo lắp dây cáp, thay đổi các công tắc, kiểm tra và tái kiểm tra các tổ hợp kết nối. Giống như những nhà phát minh của ENIAC, von Neumann muốn tìm cách nào đó mà một chiếc máy tính có thể lưu trữ chương trình của nó cùng với các kết quả tính toán, trong cùng một bộ nhớ. Giống như hình dung của Turing, một chiếc máy như vậy sẽ lưu trữ các lệnh chỉ dẫn và các kết quả tính toán cạnh nhau.     Được thiết kế trước khi transistor ra đời, máy tính của von Neumann cần hơn hai ngàn đèn điện tử chân không phối hợp nhịp nhàng với nhau. Những đèn điện tử này cũng đã là thứ công nghệ lỗi thời cách đây hàng thập kỉ. Chúng tạo ra dòng điện bằng cách nung nóng để các electron bật ra từ một mảnh kim loại – không hề giống với những chiếc điện thoại thông minh hay laptop gọn nhẹ ngày nay. Để giải quyết lượng nhiệt liên tục tỏa ra từ các đèn điện tử, chiếc máy này đòi hỏi một bộ phận làm lạnh khổng lồ, có khả năng tương đương với sản xuất hàng tấn đá mỗi ngày. Với năng lực đáng nể, nhóm nghiên cứu nhỏ nhưng năng động của von Neumann đã đưa chiếc máy tính có kích cỡ bằng một căn phòng trình làng vào cuối những năm 1940. Vào mùa hè năm 1951, chiếc máy này đã hoạt động toàn thời gian để tính toán về H-bomb, chạy không ngừng nghỉ hai tháng mỗi lần. Khi hoạt động hết công suất, chiếc máy tính của Viện có thể sử dụng 5 kilobytes bộ nhớ. Nó tương đương với dung lượng bộ nhớ mà chiếc máy tính ngày nay sử dụng trong nửa giây để nén các file nhạc.       John von Neumann và chiếc máy tính điện tử của ông.  Dự án máy tính của viện được thúc đẩy chủ yếu bởi các hợp đồng từ Ủy ban Năng lượng nguyên tử, cơ quan tiếp nối dự án Manhattan thời hậu chiến. Những hợp đồng đó yêu cầu gần như không một thông tin nào được tiết lộ cho công chúng – điều mà Tổng thống Harry S. Truman nhắc đi nhắc lại khi ông cam kết rằng Mỹ sẽ phát triển bom H. Như một vỏ bọc cho nhiệm vụ chính của họ, nhóm của von Neumann cũng phải nghiên cứu cả những vấn đề không bí mật trên chiếc máy tính mới. Dự báo thời tiết trở thành một bài toán phổ biến. Ngành khí tượng đặt ra rất nhiều loại tính toán dòng chảy phức tạp của chất lỏng mà các nhà nghiên cứu vũ khí cũng phải hiểu trong thiết kế bom H. Một ứng dụng sớm khác của máy tính bao gồm mô phỏng tiến hóa sinh học, mà quá trình tiến hóa phân nhánh rất giống như việc các neutrons phân tán trong thiết bị nguyên tử.    Vào cuối những năm 1950, nhà vật lý và nhà tiểu thuyết C.P. Snow chẩn đoán sự xung đột giữa “hai nền văn hóa”: các nhà trí thức nhân văn và các nhà khoa học tự nhiên. Ở Viện, con quái vật điện tử của von Neuman đã gây ra sự xung đột rõ rệt giữa các nền văn hóa, nhưng không phải là theo những chia rẽ mà Snow nghĩ. Đúng hơn, khoảng cách đó sinh ra từ sự khác nhau trong những quan điểm giữa đời sống học giả độc lập với tinh thần làm việc nhóm của các kĩ sư. Vào năm 1950, ngân sách dành cho dự án máy tính của von Neumann, xuất phát gần như toàn bộ từ hợp đồng quân sự của chính phủ, chiếm gần như toàn bộ ngân sách của Khoa Toán trong viện. Hơn cả vấn đề tài chính, mặc dù nó cũng có, đó là phong cách làm việc. Một nhà toán học tại Viện Marsten Morse viết cho một đồng nghiệp vào đầu những năm 1940, “Về tinh thần, những nhà toán học ở Viện có rất nhiều điểm tương đồng với những nhà nhân văn.” Morse nói tiếp, những nhà toán học “là những cái tôi nghệ sĩ tự do nhất và táo bạo nhất”. Người đồng nghiệp của Morse ở viện, Einstein cũng đồng tình. Xét duyệt một đơn xin việc của một nhà vật lý trẻ ứng tuyển vào Quỹ Guggenheim vào năm 1954, Einstein thấy các đề tài mà anh đề xuất là rất đáng thực hiện nhưng ông cho rằng các chuyến đi nước ngoài là không cần thiết: “Rốt cục thì ai cũng phải tư duy một mình.” Ở viện, dự án chế tạo máy tính không đặt khoa học đối đầu với nhân văn; mà cuộc chiến đó là giữa tư tưởng Thiên tài Lãng mạn với Con người của tổ chức.     Sự khác biệt về ý thức đó còn được thể hiện ở những thứ hữu hình hơn nữa: Dự án máy tính vốn được đặt ở tầng hầm của tòa nhà chính của viện, Fuld Hall – khuất mắt mọi người. Ngay sau đó thì nhóm nghiên cứu máy tính được chuyển đến địa điểm cách xa khỏi những học giả cô độc của viện. Nhưng kể cả tòa nhà mới cũng là một sự thỏa hiệp giữa hai ý thức hệ. Một tòa nhà bê tông đơn giản, đủ chức năng là được như nhà tài trợ chính phủ quan niệm ban đầu không thể nào làm hài lòng khẩu vị của chủ nhân của viện, chính vì thế, viện trả thêm 9000USD (tương đương với 100,000USD ngày nay) để tòa nhà mới được xây theo kiểu gạch cốt véc ni.     Cuối cùng, dự án máy tính của viện trở thành nạn nhân của chính thành công của nó. Von Neumann chuyển sang công việc làm chính sách cho thời kì nguyên tử khi vào năm 1955, ông trở thành một trong năm thành viên của Ủy ban Năng lượng nguyên tử. Khi von Neumann đi vắng, dự án máy tính không còn người đứng đầu liên kết các thành viên nữa. Những trung tâm khác trên khắp cả nước, trong khi đó, bắt đầu có những tiến triển với các máy tính tương tự. Một trong số đó là think-tank RAND, được hậu thuẫn bởi không quân Hoa Kỳ, thậm chí còn dùng tên “Johnniac,” như một cách để vinh danh von Neumann. Von Neumann qua đời vì ung thư vào năm 1957; Dự án máy tính của viện tồn tại lay lắt sau đó một vài tháng trước khi tan rã hoàn toàn vào năm 1958. Vào thời điểm đó, việc tính toán không còn dựa vào những học giả cô độc chìm đắm vào những bảng tích phân cũ rích nữa. Kỷ nguyên của máy tính đã đến.    Tôi đọc lại ghi chép của Bethe vào năm 1947 và bản tích phân đi kèm trước đây vài năm khi đang đi qua vùng đồng quê Montana. Một lốp của chiếc xe tôi thuê đã vướng vào một cái đinh nằm đâu đó giữa Bozeman và Kalispell. Khi tôi chờ thợ sửa chữa tới để tôi có thể tiếp tục lên đường, tôi mở laptop và bắt đầu tính lại một vài tích phân được giữ bí mật cẩn thận 65 năm trước. Ngày nay, một chương trình máy tính bình thường trên các laptop phổ thông có thể tính những tích phân đó trong vòng micro giây – giới hạn duy nhất chỉ là tốc độ đánh máy của người dùng thay vì năng lực tính toán của máy tính. Trong khi bảng tích phân năm 1947 chỉ có kết quả đến bốn chữ số thập phân, laptop của tôi trả về kết quả tới 16 chữ số nhanh hơn cả tốc độ nháy mắt. Nhấn thêm vài phím nữa là tôi có thể có bất kỳ kết quả tôi cần tới 30 chữ số thập phần. Không cần phải có một thư viện hoành tráng, không cần phải dụng công dùng tới công trình của các học giả Hà Lan. Tôi chỉ cần ngồi ở gara sửa xe, bên con đường đầy bụi và tính toán. □     Hảo Linh dịch    Author                David Kaiser        
__label__tiasang Khởi động cuộc thi sáng tạo phát triển xã hội – Social Innovation Camp 2016      Các startup trong lĩnh vực KH&CN Việt Nam sẽ có cơ hội tham dự sự kiện khởi nghiệp hàng đầu châu Âu, Slush 2016 tại Helsinki, Phần Lan vào cuối năm nay nếu giành chiến thắng tại chung kết cuộc thi Social Innovation Camp 2016.    T. N    Các startup trình bày ý tưởng tại vòng sơ khảo  Hà Nội.  Hướng tới mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của những startup có ảnh hưởng tích cực với xã hội, cuộc thi Social Innovation Camp 2016 do HATCH!, một tổ chức phát triển cộng đồng và ươm mầm khởi nghiệp phối hợp tổ chức với Cơ quan phát triển Liên hợp quốc UNDP (United Nation Development Programme) tại Việt Nam và một số tổ chức khác như MekongBiz, Ngân hàng Phát triển châu Á, Australian Aid, Oxfarm, Wakeitup.net và Makesense. Qua cuộc thi, Social Innovation Camp 2016 mong tìm được các giải pháp công nghệ nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách về môi trường, y tế, thực phẩm, nâng cao năng lực cộng đồng…  Theo ban tổ chức, để được lựa chọn, sản phẩm của các startup cần phải đáp ứng các tiêu chí cơ bản là sản phẩm phải có nền tảng khoa học hoặc công nghệ, sản phẩm có tác động tích cực cho xã hội. Dù có thể được chuẩn bị và phát triển trước đó nhưng sản phẩm phải chưa được giới thiệu rộng rãi trên thị trường. Trước khi bước vào tranh tài, ban tổ chức sẽ tạo điều kiện cho các đội năm ngày chuẩn bị trong một không gian làm việc chung theo trình tự: cử chuyên gia tư vấn, hoàn thiện giải pháp và ý tưởng, phát triển sản phẩm và cuối cùng là thuyết trình, giới thiệu sản phẩm mẫu.    Cuộc thi đã được khởi động vào ngày 14/8 vừa qua với vòng sơ khảo khu vực phía Bắc tại UP Co-working Space, một không gian làm việc chung đặt tại tầng 8 tòa nhà Hanoi Creative City. Sau khi dừng chân tại hà Nội, cuộc thi tiếp tục diễn ra tại Đà Nẵng từ ngày 17 đến 21/8 và thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 24 đến 28/8 để lựa chọn 10 đội thi xuất sắc nhất vào chung kết. Không chỉ hướng đến mục tiêu giành giải thưởng, 10 đội thi xuất sắc này sẽ có cơ hội tranh một suất tham dự Slush 2016, sự kiện khởi nghiệp hàng đầu châu Âu sẽ diễn ra tại Helsinki, Phần Lan từ ngày 30/11 đến 1/12 để gặp gỡ, trao đổi với các startup, các nhà công nghệ và các nhà đầu tư quốc tế. Ngoài ra, sau cuộc thi, các startup có sản phẩm tiềm năng sẽ tiếp tục được hỗ trợ, ươm mầm và kêu gọi vốn đầu tư để phát triển và thương mại hóa sản phẩm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi động Đề án Thung lũng Silicon Việt Nam      “Thung lũng Silicon Việt Nam sẽ không mô phỏng chính xác theo mô hình của Mỹ mà cần những điều chỉnh phù hợp với đặc thù Việt Nam”.    Đây là phát biểu của TS. Trần Quang Vinh, Cố vấn Chương trình Start-up của Mỹ, trong Lễ khởi động Đề án thương mại hóa công nghệ với mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam, sự kiện do Bộ KH&CN tổ chức tại Hà Nội ngày 18/10 vừa qua. TS. Trần Quang Vinh cũng là người giúp Bộ KH&CN xây dựng Đề án này, với mục tiêu là tạo một môi trường sinh thái phù hợp, cùng các điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp khởi nghiệp (start up) có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm nhằm thương mại hóa các sản phẩm và sáng kiến công nghệ.   Phát biểu tại Lễ khởi động Đề án, Bộ trưởng Nguyễn Quân của Bộ KH&CN cho biết lâu nay hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp KH&CN đối với nhiều nhà quản lý và các nhà đầu tư ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đang rất thiếu nguồn vốn để triển khai các ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh như vậy, Thung lũng Silicon Việt Nam dự kiến sẽ là một sự đột phá, không chỉ giúp kết nối các doanh nghiệp công nghệ với các nhà đầu tư, mà còn tư vần, truyền đạt kinh nghiệm cho doanh nghiệp.  Hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam là rất cần thiết, cũng là bước đệm khác biệt giữa mô hình thung lũng silicon của Việt Nam và mô hình của Mỹ. Nếu như ở Mỹ, doanh nghiệp chỉ cần đưa ra ý tưởng là có thể dành được sự quan tâm của các nhà đầu tư mạo hiểm, thì ở Việt Nam các doanh nghiệp còn rất thiếu kinh nghiệm, vì vậy cần được tư vấn, hỗ trợ, nhằm hiện thực hóa ý tưởng thành các sản phẩm cụ thể, và xây dựng được dự án sản xuất kinh doanh thể hiệm tiềm năng mở rộng để tăng trưởng, mới có thể thu hút được nhà đầu tư, TS. Trần Quang Vinh nhận định.  Theo thông cáo báo chí của Lễ khởi động Đề án, dự kiến trong giai đoạn 2013-2014, Đề án sẽ thực hiện một chương trình đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng tại Việt Nam do các chuyên gia có kinh nghiệm đến từ Thung lũng Silicon Mỹ hướng dẫn thực hiện; tổ chức sự kiện Ngày khởi nghiệp (Demo Day) cho các học viên tốt nghiệp; giới thiệu doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng của Việt Nam tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm, mạng lưới tổ chức đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp tại Mỹ; thành lập quỹ đầu tư xã hội dành cho ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp, đặt tên là “Quỹ Khởi nghiệp Việt Nam”.  TS. Trần Quang Vinh cho biết Đề án chưa quyết định số tiền đầu tư ban đầu cho mỗi doanh nghiệp khởi nghiệp từ “Quỹ Khởi nghiệp Việt Nam”, nhưng ông dự kiến sẽ trong khoảng 10-15 nghìn USD – ông mong rằng các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, cùng quan tâm đầu tư vào lĩnh vực này. Ông cũng cho biết Đề án sẽ mở cửa cho doanh nghiệp thuộc mọi ngành công nghệ tiềm năng. Mặc dù hiện nay Việt Nam chú trọng nhiều vào doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, nhưng TS. Vinh tin rằng lĩnh vực này đang dần trở thành một ngành công nghệ cũ – giống như công nghiệp điện tử giai đoạn cuối thế kỷ 20 – và ông cùng các cộng sự vẫn mong tìm kiếm các doanh nghiệp có những dự định khác mới mẻ hơn.  Cùng chia sẻ tại Lễ khởi động Đề án, đại diện một số doanh nghiệp thể hiện sự kỳ vọng cao vào vai trò sắp tới của Thung lũng Silicon Việt Nam đối với sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. TS. Phạm Thanh Hải, Chủ tịch Công ty IDT International tin mô hình này sẽ đem lại những chương trình huấn luyện và những kênh thông tin kết nối hiệu quả với các nhà đầu tư quốc tế để giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp tìm được giải pháp phát triển phù hợp và hiệu quả. Ông Nguyễn Ngọc Thủy, Tổng Giám đốc Công ty CP Trò chơi Giáo dục Trực tuyến EGame cho rằng nếu mô hình được ra đời và triển khai sớm hơn thì đã có thểm cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu, giúp các doanh nghiệp như của ông bớt phải trả giá hơn trong giai đoạn khởi nghiệp nhiều khó khăn.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi động quỹ InnoFund ươm tạo doanh nghiệp KH&CN      Quỹ InnoFun của Bỉ chính thức bắt đầu hỗ trợ  các nhà nghiên cứu, nhà khởi nghiệp và các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ  ở Việt Nam để thương mại hóa kết quả nghiên cứu R&amp;D trong nước với các  khoản tài trợ từ 15 đến 45 nghìn EUR.    Ngày 25/9, tại Bộ KH&CN đã diễn ra Lễ khởi động Quỹ InnoFund – hợp phần quan trọng nhất trong Dự án Hỗ trợ xây dựng Chính sách Đổi mới và Phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp (BIPP) bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Vương quốc Bỉ, sau hơn một năm chuẩn bị.   Mục tiêu chung của Quỹ InnoFund là giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thông qua việc cải thiện thương mại hóa kết quả nghiên cức R&D trong nước, hỗ trợ tiền ươm tạo và ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.  Innofund có hai nhóm đối tượng:  Nhóm một gồm các nhà nghiên cứu, các nhà khởi nghiệp trong các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ trong giai đoạn tiền ươm tạo, ươm tạo, ươm tạo ảo hoặc các cơ sở ươm tạo công nghệ hiện có ở Việt Nam. Với nhóm đối tượng này, quỹ hướng đến việc chuyển các khái niệm đổi mới sáng tạo của các nhà nghiên cứu và các nhà sáng chế vào các sản phẩm.     Nhóm đối tượng thứ hai bao gồm các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ đã được thành lập, với mục đích tăng cường năng lực của các cơ sở này, sao cho có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ mà khách hàng của họ cần và thông qua việc cung cấp các dịch vụ như vậy, doanh nghiệp trở nên tự bền vững về tài chính.   Phát biểu tại lễ khởi động, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân khẳng định: Việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động ươm tạo (để hình thành, phát triển lực lượng doanh nghiệp KH&CN gắn với hoạt động của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp) và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ là một giải pháp có ý nghĩa đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam; cũng là giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể đứng vững khi hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới thông qua các hiệp định thương mại tự do.  Trong khuôn khổ sự kiện này, Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng bấm nút khởi động cổng thông tin nộp hồ sơ đề xuất Quỹ InnoFund tài trợ tại địa chỉ website www.bipp.vn. Thông qua cổng thông tin này, các ứng viên có thể nộp hồ sơ trực tiếp qua mạng Internet.     Đợt mời nộp hồ sơ xin tài trợ từ quỹ InnoFund lần thứ nhất năm 2015 sẽ bắt đầu từ ngày 1 đến 30/10/2015. Hạn mức tài trợ của Quỹ InnoFund bằng đồng Việt Nam tương đương từ 15 nghìn đến 45 nghìn EUR.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp 2016: Một vài góc nhìn và gợi ý      Trên thế giới hiện nay, việc hoạch định chiến lược phát triển dựa trên những xu hướng lớn: xu hướng mobile, tập trung vào trải nghiệm khách hàng, tập trung vào nội dung, và đẩy mạnh đào tạo và mentoring trong doanh nghiệp. Còn ở Việt Nam, 2016 là một năm hứa hẹn sự bùng nổ về số lượng những dự án khởi nghiệp, cơ hội đến từ những tác động mạnh mẽ từ làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam, với hiệu ứng từ các hiệp định hợp tác từ cấp độ chính phủ đi vào hiệu lực, đáng chú ý là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), FTA Liên minh kinh tế Á Âu và một số hiệp định song phương và đa phương khác. Vậy những xu hướng này đang tác động đến khởi nghiệp như thế nào? Và doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) cần làm gì để tận dụng tốt hơn những cơ hội đến từ các xu hướng mới này?      Thay đổi tư duy và tầm nhìn  Khởi nghiệp đồng nghĩa với việc xác định thị trường mục tiêu, khách hàng tiềm năng và giá trị mang lại cho khách hàng của mình. Năm 2016 có ý nghĩa đặc biệt khi rõ ràng, doanh nghiệp không chỉ tiếp cận thị trường Việt Nam với một phân khúc trong thị trường cho 90 triệu dân, mà doanh nghiệp đang bán hàng với phân khúc tương tự ở chín quốc gia Đông Nam Á (10 quốc gia trừ Việt Nam) còn lại và tám quốc gia thành viên khác tham gia TPP (12 quốc gia trừ bốn quốc gia nằm trong AEC đã tính).   Nếu bạn khởi nghiệp vì mục tiêu “build to last” (xây để trường tồn), đây là lúc bạn cần tính toán lâu dài xem sản phẩm của bạn có tiềm năng đi xa đến đâu, và năm năm tới sẽ thế nào. Nếu bạn khởi nghiệp vì mục tiêu xây để bán “build to sell”, thì hãy nhớ rằng, rất ít nhà đầu tư sẽ để mắt đến bạn nếu bạn chỉ nhắm vào thị trường nội địa. Với 90 triệu dân, Việt Nam chưa phải là thị trường hấp dẫn để bán sản phẩm. Sẽ thuyết phục hơn nếu bạn chứng minh cho nhà đầu tư thấy, bạn và sản phẩm của bạn sẽ thành công ở một tầm rộng lớn hơn.         12 quốc gia thành viên TPP:  Australia, Brunei Darussalam, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico,  New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam.              Quy mô thị trường TPP: Các nước TPP tạo nên thị trường 792 triệu dân với tổng GDP 28.000 tỷ USD (xấp xỉ 40% tổng GDP toàn cầu).                                           Nguồn: http://www.international.gc.ca/           Với thị trường hơn 600 triệu dân, trở thành nền kinh tế lớn thứ bảy thế giới và tiềm năng đạt vị trí thứ tư trong năm 2050 nếu xu hướng tăng trưởng hiện nay tiếp tục (Nguồn: ADB, 2015), AEC sẽ là một thị trường tiềm năng cho dòng vốn đầu tư đổ vào khu vực sản xuất, kinh doanh, các ngành dịch vụ và du lịch. Thêm vào đó, nhờ lợi thế có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, sự đa dạng hấp dẫn trong cảnh quan, nếu xu hướng hợp tác phát triển mạnh mẽ, sự lưu chuyển nguồn nhân lực, sự loại bỏ các rào cản về thuế quan, vận chuyển, đang tạo ra cho bạn những cơ hội mới. TPP với những nền kinh tế phát triển hơn nhiều so với Việt Nam đang đặt bạn trước những cơ hội và thách thức mới. Chưa bao giờ thị trường Mỹ và các quốc gia phát triển lại gần với doanh nghiệp Việt Nam như vậy. Những rào cản kỹ thuật khắt khe của những thị trường này tạo ra phép thử với chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Nếu thành công ở những thị trường này, không có lý gì doanh nghiệp không có cơ hội thành công toàn cầu. Nhưng mặt khác, các doanh nghiệp cũng cần thay đổi tầm nhìn và tư duy cạnh tranh. Không dừng lại ở cạnh tranh trên thị trường nhà, doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với những sản phẩm nhập khẩu mạnh mẽ. Vì vậy, nếu chưa tính đến những thị trường này trong chiến lược phát triển và cạnh tranh của mình, DNKN sẽ không chỉ mất cơ hội trên chính thị trường mình mà còn mất cơ hội vươn ra thế giới.   Thay đổi về công cụ và nguồn lực  Các công cụ trực tuyến sẽ là công cụ quan trọng nhất để bạn nghiên cứu thị trường (nếu DNKN đang ở giai đoạn tìm kiếm, kiểm định và khám phá khách hàng). Facebook hay Google Trends trở thành những công cụ đơn giản mà hiệu quả đầu tiên để bạn đo lường quy mô thị trường. LinkedIn trở thành công cụ xây dựng thương hiệu cá nhân cho các chủ doanh nghiệp khởi nghiệp và tìm kiếm chuyên gia, đối tác. Nếu DNKN đang ở giai đoạn bán sản phẩm, xây dựng công ty, những công cụ trực tuyến lại càng không thể thiếu để hiểu khách hàng.   Bên cạnh đó, xu hướng phát triển sản phẩm dựa trên hiểu biết về hành vi của khách hàng, thử nghiệm sản phẩm trong thời gian ngắn hơn, hiệu quả hơn, đặt doanh nghiệp trước nhiều thách thức:  Để hiểu được hành vi người tiêu dùng, doanh nghiệp cần phải thu thập dữ liệu và quyết định dựa trên số liệu ngay từ những ngày đầu khởi nghiệp. Việc thu thập dữ liệu ngay từ ban đầu cần một chiến lược rõ ràng về việc sử dụng dữ liệu trong việc ra quyết định. Những quyết định cảm tính sẽ phải nhường chỗ cho những phản hồi từ thị trường bằng những dữ liệu lượng hóa được. Doanh nghiệp cần bắt đầu bằng quan sát và lượng hóa đầu vào, đầu ra bằng mọi công cụ cả trực tuyến và ngoại tuyến, nhưng sau đó nên số hóa những dữ liệu ngoại tuyến càng sớm càng tốt.   Trong kỷ nguyên số, khi tốc độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng trở thành một lợi thế cạnh tranh thì khả năng tương tác tức thì với khách hàng cũng đặt doanh nghiệp trước thách thức sử dụng những phần mềm điện toán đám mây trên những thiết bị di động thông minh trong quản lý và vận hành doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ không chỉ tiếp cận với khách hàng qua một kênh trực tuyến mà nhiều kênh khác nhau. Làm thế nào để tất cả những kênh đó “giao tiếp” được với nhau? Làm thế nào để những thông tin được tập hợp một cách nhanh nhất hỗ trợ chủ doanh nghiệp và các bộ phận có liên quan ra quyết định nhanh chóng nhất? Doanh nghiệp cần tính toán sử dụng sớm những phần mềm như vậy. Các phần mềm mã nguồn mở hoặc kinh phí thấp không thiếu. Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp nhận ra tầm quan trọng của việc sử dụng những phần mềm này nhằm đạt hiệu quả cao nhất.   Marketing dựa vào nội dung cũng trở thành một xu hướng quan trọng mà DNKN cần lưu ý. Nhu cầu giữ chân khách hàng, sáng tạo ra giá trị mới cho khách hàng đòi hỏi DNKN tập trung vào những câu chuyện mới, những giá trị mới nhiều hơn. Việc khách hàng thường xuyên ghé thăm website, fanpage, những câu chuyện mới về sản phẩm dịch vụ xuất hiện thường xuyên không chỉ giúp bạn gia tăng sự gắn kết với cộng đồng khách hàng tiềm năng mà còn giúp bạn ghi điểm trong “con mắt” của các công cụ tìm kiếm.         Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN  Economic Community) tạo ra thị trường chung duy nhất cho hàng hóa, dịch  vụ, vốn, lao động và có tiềm năng trở thành một trong những nền kinh tế  lớn nhất thế giới.               Với hơn 600 triệu dân, tiềm năng của ASEAN còn  lớn hơn cả khu vực châu Âu hay Bắc Mỹ. Sát biên giới với Ấn Độ và Trung  Quốc, lực lượng lao động của ASEAN tương đương Ấn Độ, ASEAN có lực lượng  lao động trẻ và lớn thứ 3 trên thế giới.              Nguồn: Bài phát biểu của Stephen Groff, Phó giám đốc Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) 2014.           Những nhu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động một lượng lớn nguồn lực con người và tài chính. Tuy vậy, với các DNKN, nên tận dụng nguồn lực phần mềm quản lý doanh nghiệp từ mã nguồn mở và tận dụng những nguồn nhân lực part-time (bán thời gian) hoặc thuê ngoài cho những công việc không quá phức tạp.      Thay đổi về chiến lược & hành động  Về chiến lược: với những thách thức và thay đổi tầm nhìn cần có, rõ ràng khi lập chiến lược cho doanh nghiệp của mình, DNKN cần lưu ý những chiến lược quan trọng như sau:  Đi ra khu vực và đi ra thế giới (Go regional & Go global).  Điện toán đám mây (Go cloud)  Gia tăng trải nghiệm khách hàng  Dữ liệu lớn   Phát triển đội nhóm   Về hành động:   Đừng chỉ đọc báo tiếng Việt hằng ngày, nó đang hạn chế bạn với cả một thị trường và cơ hội rộng lớn. Hãy chủ động tìm các tờ báo lớn của các quốc gia trong khu vực, đọc và theo dõi những chuyển động thị trường của các quốc gia khác và hãy khai thác triệt để những cơ hội từ đó.   Hãy chuyển hoàn toàn website của bạn sang tiếng Anh và/hoặc sử dụng Facebook Fanpage của bạn song ngữ. Đây là cách tốt nhất để bạn tiếp cận thị trường toàn cầu nói chung và thị trường khu vực nói riêng chỉ bằng một cú click chuột.  Hãy đến thăm và quan sát tối thiểu ba quốc gia trong khối AEC năm nay để có cái nhìn tổng thể về thị trường mà bạn đang tiếp cận. Không quá nhiều điều kiện và không phải nộp Visa, hãy thực hiện chuyến du lịch kinh doanh để hiểu về thị trường tiềm năng và những cơ hội mà bạn có thể nắm bắt  Hãy khuyến khích nhân viên học tiếng Anh và nên có khen thưởng cho những người hoàn thành một cấp độ nhất định về tiếng Anh. Đây là cách bạn chuẩn bị nguồn lực cho việc tiếp cận và phục vụ khách hàng từ nhiều quốc gia. Nếu có thể, chính bạn nên học thêm một ngôn ngữ của nước bản địa. Tiếng Trung cũng là một lựa chọn tốt vì không một quốc gia Đông Nam Á nào lại không có một cộng đồng người Hoa kinh doanh rất năng động. Không nên quên tuyển dụng bằng cả tiếng Anh, đây là cách bạn quốc tế hóa đội ngũ của mình một cách nhanh chóng và chứng minh cho nhà đầu tư sự chủ động của bạn trong việc phát triển đội ngũ để nắm bắt cơ hội.   Tìm kiếm một mentor cho bạn và đưa văn hóa mentoring vào tổ chức để phát triển nhân viên: Theo lời khuyên của Ian Altman trên Forbes, 2016, việc đưa mentoring vào văn hóa doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sáng tạo và giúp tạo ra những nhân viên gắn bó hơn với tổ chức. Điều này hàm ý rằng, cách quản lý kiểu chỉ thị đã đến lúc thoái trào. Với những DNKN, tuổi đời trẻ và những con người trẻ, việc phát triển cùng nhau và cùng công ty sẽ tạo ra văn hóa công ty ngay từ đầu, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững lâu dài và hiệu quả.                    Nếu bạn đã sẵn sàng để thay đổi hoặc đã thay đổi phần nào những thứ chúng tôi nêu ở đây thì công việc tiếp theo của bạn là hãy cùng cả nhóm xem lại toàn bộ Mô hình kinh doanh của bạn theo chín nội dung theo thứ tự đánh số ở ảnh trên. Hãy nhớ thay đổi chín nội dung này theo các xu hướng và gợi ý ở trên, thay đổi ít nhất mỗi tháng một lần. Chỉ cần một trong số những nội dung này thay đổi theo các xu hướng trên, toàn bộ mô hình kinh doanh của doanh nghiệp bạn sẽ thay đổi. Đừng quên in trên giấy A0 và dán lên tường trong công ty, bạn sẽ thấy 2016 là một năm đầy ý nghĩa với doanh nghiệp của bạn.   —–  *Giảng viên Khoa Quốc tế – Đại học Quốc gia Hà Nội & Đồng Sáng lập KisStartup.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp bằng kỹ thuật biến cải DNA cây trồng      Trong một phòng thí nghiệm ở ngoại ô Minneapolis, một công ty nhỏ chưa làm ra lợi nhuận gì, nhưng đang sẵn sàng để đánh bại các hãng nông nghiệp lớn nhất thế giới bằng bước đột phá đầy tiềm năng trong kỹ thuật di truyền – cho ra giống cây trồng mới đã được “biến cải DNA”.      Marco và Mayra Molina, đồng giám đốc của cơ sở Multi-Crop Transformation.  Calyxt, một công ty được thành lập cách đây tám năm do một giáo sư di truyền học đồng sáng lập, đã thay đổi gien của cây đậu nành để sản xuất dầu có lợi cho sức khoẻ hơn bằng kỹ thuật tiên tiến so với kiểu biến đổi gien thông thường. 78 nông dân đã trồng loại đậu này hồi mùa xuân trên 6,8ha ở bang Dakota Nam và Minnesota với giống được cho là lần đầu tiên được biên tập gien thương mại hoá.  Các công ty khổng lồ về biến đổi gien như Monsanto, Syngenta AG và DowDuPont chỉ đang làm theo công nghệ nổi lên từ những năm 1990, giờ đây đang phải đối mặt với các startup và những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn, vì giống cây trồng biên tập gien chi phí cực kỳ thấp và bộ Nông nghiệp Mỹ quyết định không cản trở. Tương đối vô danh tiểu tốt, các hãng Calyxt, Cibus, và Benson Hill Biosystems đã vượt lên trong các dự án biến cải gien của họ trong một cuộc đua chống lại các gã không lồ. “Một công ty nhỏ bé và nhanh nhạy có thể hoàn thành những việc đó đã thu hút được sự quan tâm trong ngành,” CEO Calyxt Federico Tripodi, nói. Công ty hiện chỉ có 45 người.  Biến cải gien nhằm đưa ra các vụ thu hoạch nhiều hơn với một loạt các đặc tính đáng quý – cà chua có hương vị ngon hơn, lúa mì hàm lượng gluten thấp, táo không bị nâu (khi bổ ra), đậu nành chịu hạn hoặc khoai tây trữ lạnh tốt hơn, Những tiến bộ này cũng có thể làm tăng gấp đôi thị trường giống sinh học 15 tỷ USD trên toàn cầu trong vòng một thập kỷ, nhà phân tích Nick Anderson của ngân hàng đầu tư Berenberg đánh giá.  Bối cảnh cạnh tranh mới có thể thúc đẩy nhiều mối quan hệ đối tác và nhượng quyền giữa các công ty lớn và nhỏ, cũng như với các đại học và các tổ chức nghiên cứu khác, nữ phát ngôn viên Monsanto (vừa được Bayer AG mua lại) Camille Lynne Scott nhận định. Hãng này đã đầu tư 100 triệu USD cho startup Pairwise Plants trong năm nay, để tăng tốc phát triển các giống cây được biến cải gien.  Benson Hill có trụ sở tại Carolina Bắc, thành lập năm 2012, đặt tên theo hai nhà khoa học, chuyên nhượng quyền công nghệ cây trồng cho các công ty khác. Họ quyết định sản xuất bắp cao sản cho công ty vì chi phí phát triển thấp, CEO Matt Crisp cho biết.Calyxt dự kiến bán dầu từ đậu nành điều chỉnh gien của hãng cho các công ty thực phẩm.  Phát triển và tiếp thị một loại giống biến đổi gien kiểu cũ có thể ngốn gọn đến 150 triệu USD – chuyện mà các ông bự mới cáng đáng nổi; với biến cải gien chi phí ấy có thể giảm đến 90%, Crisp nhận định. Ông nói: “Chúng tôi đang thấy rất nhiều tổ chức quan tâm đến biến cải gien. Điều đó chứng tỏ sức mạnh của công nghệ và cho thấy chúng ta đang ở thời điểm then chốt để hiện đại hoá hệ thống thực phẩm”.  Những người ủng hộ biến cải gien cho rằng công nghệ cho phép đạt mức chính xác cao hơn so với cách làm cũ.Các hãng công nghệ sinh học hy vọng rằng công nghệ có thể không bị quy chụp là “Frankenfood” (thực phẩm biến đổi gien – GMO).Nhưng sự chấp thuận của các cơ quan quản lý và của công chúng vẫn còn bấp bênh. Toà tư pháp của EU hôm 25/7 phán quyết rằng các kỹ thuật biến cải gien phải tuân theo quy định về cây trồng GMO. Hiệp hội Hoá chất Đức gọi quyết định đó là “thù địch với sự tiến bộ”.  FDA của Mỹ sẽ có các quy định về bảo đảm an toàn cho người và vật đối với kỹ thuật biến cải gien, để các công ty đưa ra các sản phẩm có lợi cho thị trường. USDA cho rằng các sản phẩm do hai phương pháp khác nhau không thể phân biệt được đặc tính, nên không cần quản lý.  Mặc dầu không có sự phản đối rộng rãi của người tiêu dùng, nhưng các nhà hoạt động chống lại GMO vẫn coi việc đụng chạm tới DNA là đáng nghi ngại.  Khởi Thức (TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp bằng mô hình bảo tàng      Những ngày này, du khách thích về Chợ Lách (Bến Tre) ăn bánh xèo, ốc gạo, nấm mối; về cồn Mỹ Phước (Kế Sách, Sóc Trăng); hay Tân Lộc (Thốt Nốt, Cần Thơ) thưởng thức bánh xèo với rau lá tươi ngon, trái cây chín mọng, được ngắm nhìn cảnh nhà vườn đua nhau chào bán đặc sản quê mình…      Ông Ngô Hồ Anh Khôi (tên Tây là Philippe Ngo).  “Nhưng nếu chỉ có vậy, không có gì mới mẻ, có lẽ chỉ đi lần này”, ông Trương Minh Khoa, dân Nhơn Mỹ (Kế Sách, Sóc Trăng) nghe du khách nói vậy mà buồn lòng.  Nhưng có một người có góc nhìn khác về xứ Nam bộ. Đó là Ngô Hồ Anh Khôi (tên Tây là Philippe Ngo).Khôi là tiến sĩ trẻ vừa trở về từ Lyon, chuyên ngành trí tuệ nhân tạo, cũng nhận ra lối mòn tư duy của những điểm chào đón du khách. Ông âm thầm xây dựng nguồn dữ liệu văn hoá – lịch sử – hệ thống nhà hàng, quán ăn, đường đi nước bước để tới điểm đến thú vị, những câu chuyện lắng đọng… để làm bản đồ số hoá cho Cần Thơ và tìm đối tác để phát không cho du khách.  Mô hình bảo tàng tư nhân  Theo cách nói của TS Khôi, cái hên của hành trình nghiên cứu bảo vệ luận văn số hoá dữ liệu thư viện quốc gia, hiểu về giấy, mực in, kỹ thuật và cấu trúc in trên giấy cổ từ thế kỷ 11 đến nay, là “cơ hội vàng” cho mô hình bảo tàng tư nhân để từ đây kết nối với du khách.  “Bảo tàng tư nhân” của Khôi tại Cần Thơ bắt đầu đón khách, chỉ riêng bộ sưu tập Tarot và Occult (Vietnamese Museum of Tarot and Occult) đã được UNESCO công nhận là bảo tàng duy nhất ở châu Á, và là một trong sáu bảo tàng trên thế giới theo mô hình này. “Bảo tàng sẽ kéo du khách đến đây. Vấn đề là bảo tàng, nơi lưu giữ ký ức lịch sử phải làm gì cho đặc sắc, phải làm gì để bảo tàng thực sự có sức sống?”, TS Khôi trăn trở.  Bảo tàng và văn hoá giao thoa Đông – Tây hoàn toàn có thể tạo sức thu hút du khách, chắc chắn sẽ thu hút giới nghiên cứu, người hiểu biết… TS Khôi cho rằng, du khách Pháp đến Sa Đéc thăm nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê, sẽ biết chuyện tình Marguerite Duras, được giới thiệu kiến trúc, hiện vật, khung cảnh chuyện tình… Những điều đó hoàn toàn có thể làm du lịch, nhưng ráp nối với du khách như thế nào là điều không hề dễ dàng. Trước mắt, công nghệ số đã giúp ông thu hút được du khách đến từ nhiều nước, dù hiện thời ông chưa đủ mặt bằng để trưng bày.  “Bảo tàng Tarot và Occult tại Cần Thơ chỉ là khởi đầu, không chỉ một mà sẽ tìm cách làm năm bảo tàng, khai thác và sẽ chuyển giao lại cộng đồng khi có nguồn thu”, Khôi nói.  Những góc nhìn mới  Theo “điều tra” của TS Khôi, xứ Cần Thơ có nhiều nhà sưu tầm về tiền cổ, gốm và văn hoá Óc Eo, nông cụ… am hiểu cổ vật và thú chơi rất chuyên nghiệp, nhưng tất cả hiện vật đều giữ kín. Trong khi đó bảo tàng tổng hợp, cái gì cũng có, cũng gốm sứ, cũng đồ đồng; nhưng không có gì bằng người ta, nên du khách từng đến bảo tàng chê nghèo nàn đâu có gì lạ. Lâu nay bảo tàng là một thiết chế chỉ nhằm nghiên cứu; sưu tầm, bảo quản; trưng bày giới thiệu đến công chúng di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, cùng các mẫu vật thiên nhiên, nhưng sống lây lất với kinh phí eo hẹp. “Tại sao không lấy hiện vật đổi hiện vật để có chủ đề, chủ đề nào làm rõ chủ đề nấy. Ta có chủ đề lịch sử và bảo tàng lịch sử chiến tranh, nhưng ít có bảo tàng chuyên đề. Ta có bảo tàng về thuốc và bảo tàng áo dài, quá giỏi, quá xuất sắc. Làm sao mọi người hiểu rằng đầu tư cho bảo tàng có thể nuôi sống nhiều thế hệ về sau, chứ không phải lây lất như bây giờ”, TS Khôi có cách nghĩ khác.  Cần Thơ cũng có nhiều ý tưởng phát triển di sản văn hoá ẩm thực, nếu được chứng minh bằng những hiện vật, câu chuyện xưa và nay thì đó là giềng mối tương tác với du lịch. Bảo tàng chuyên đề văn hoá Óc Eo, về Phù Nam, Chămpa… với câu chuyện vua Khmer tặng cái bình có minh văn cho vua Chămpa . Trà Vinh nổi tiếng với những giá trị văn hoá Khmer với đầy đủ ký ức lịch sử, hiện vật… Bảo tàng với chủ đề “Nông nghiệp – lúa nước” phải kể những câu chuyện của vùng lúa nước để du khách thấy rõ chủ đề.  “Nếu vận hành như vậy sẽ có lợi cho người dân, có lợi cho kinh tế của xứ đó và kích hoạt suy nghĩ tạo sức sống cho bảo tàng.Khi tìm được nét đặc sắc, chắc chắn sẽ ráp nối bảo tàng với du lịch”, TS Khôi nói.  Nhưng mô hình bảo tàng tư nhân tại Việt Nam có cái khó là luật Di sản không giống các nước và chưa khuyến khích bảo tàng tư nhân, giới mua bán, giới sưu tập, nghiên cứu… và nhiều đối tượng khác sợ hiện vật bị trưng thu, nên ngại số hoá. TS Khôi cho biết, ở Pháp, nếu người đào được hiện vật có giá trị lịch sử, nhà nước chứng nhận và theo luật, nhà nước sẽ mua lại thông qua đấu giá. Nhiều bảo tàng không thích số hoá, vì khi đưa lên sợ bị phát hiện đồ giả.  TS Khôi chia sẻ thêm, khi có mô hình bảo tàng có giá trị, các nhà sưu tập quốc tế, các bảo tàng quốc tế sẽ tìm đến Việt Nam để mời trưng bày, giới thiệu… “Sau mỗi lời mời đó, những nhà tổ chức sẽ trả tiền, đó là nguồn thu, tại sao không?”, ông Khôi đặt vấn đề.  ”Nhưng mô hình bảo tàng tư nhân tại Việt Nam có cái khó là luật Di sản không giống các nước và chưa khuyến khích bảo tàng tư nhân, giới mua bán, giới sưu tập, nghiên cứu… và nhiều đối tượng khác sợ hiện vật bị trưng thu, nên ngại số hoá.”  Hoàng Lan (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp bằng phương pháp tưới cây mới      “Một trong những thách thức lớn nhất trong nông nghiệp ở Ấn Độ là tưới”, Vijayeendra H S., đồng sáng lập startup nông nghiệp công nghệ cao Avanijal, nói.      Avanijal đã phát triển một hệ thống tự động có tên là Nikash sử dụng IoT (internet vạn vật) và công nghệ không dây để kiểm soát các môtơ và các van tưới nước ở trên đồng.  “Nông dân thường sử dụng các hệ thống nhỏ giọt hoặc vòi phun, vốn rất lãng phí nước và thường khi tưới quá nhiều, có hại cho năng suất cây trồng”. Để giúp nông dân chống hạn và sử dụng nước hiệu quả, startup gốc Bangalore Avanijal đã giới thiệu một phương pháp tưới khôn ngoan – một phương pháp có thể được lập trình và kiểm soát chỉ bằng một ứng dụng.  Số hoá nông nghiệp  Avanijal đã phát triển một hệ thống tự động có tên là Nikash sử dụng IoT (internet vạn vật) và công nghệ không dây để kiểm soát các môtơ và các van tưới nước ở trên đồng. Hệ thống chi phí thấp này gồm một bộ điều khiển nối kết với một ứng dụng, các nút cảm biến không dây được nhúng vào trong đất và các bộ nhắc (repeater) để tạo lập thông tin giữa bộ điều khiển và các nút.  Nông dân có thể định cấu hình lịch tưới của họ trên ứng dụng và giám sát từ xa hoạt động sau đó, tự động hoá các quy trình đã được thao tác trước đó. “Sử dụng ứng dụng, nông dân có thể bảo đảm rằng thửa đất được tưới kịp thời và liên tục theo dõi tình trạng thửa đất, mà không phải cất công ra ruộng”, Vijayeendra nói.  Tưới nhỏ giọt, mặt khác, sẽ đòi hỏi nông dân theo dõi trực tiếp nguồn cung bằng cách tắt/mở môtơ và đóng/mở các van. Và với các hoạt động tưới chỉ có vài giờ có điện mỗi ngày, hầu hết là ban đêm, thực khó xoay xở trong những lúc không điện. Tuy nhiên với sự trợ giúp của Nikash, nông dân có thể áp dụng chính xác việc tưới dựa trên thời gian, khối lượng nước có sẵn và thậm chí cả ẩm độ của đất”, Vijayeendra nói. “Hệ thống cũng được thiết kế xem xét điện áp, vì vậy thời gian hoặc khối lượng nước được tự động điều chỉnh trong trường hợp bị cúp điện”.  Điều đó có nghĩa là khi có điện, bộ điều khiển – được nối kết với các nút cảm biến không dây trong đất tự động mở môtơ và khi được lên lịch bởi nông dân. Nó sẽ tắt khi một phần của đất có đủ nước ấn định, và chuyển sang phần đất kế tiếp – như được lập trình trên ứng dụng. Vào cuối chu kỳ, việc tưới kết thúc tốt đẹp trong ngày.  “Tỷ dụ, một nông dân có bốn mẫu đất và số đất này cần được tưới nhiều lần khác nhau với các lượng nước khác nhau – tất cả có thể được cấu hình trong ứng dụng”, Vijayeendra nói. “Đó là chức năng căn bản nhất của bộ điều khiển này”.  Một dòng sản phẩm tương cận khác mà startup này đang thực hiện là giám sát cây trồng. “Cho đến nay chúng tôi mới tập trung vào việc tưới, nhưng ứng dụng có thể dễ dàng điều chỉnh để giám sát cây trồng”, Vijayeendra nói. “Các bộ cảm biến trên thửa đất thu thập dữ liệu rồi lưu trữ trên đám mây. Chúng tôi có thể phân tích dữ liệu đó và cung cấp đầu vào trở lại cho nông dân dưới một dạng có thể đọc và đồ hoạ để họ hành động”.  Avanijal đã bắt đầu làm việc với IBM, để tải dữ liệu lên server của họ và sử dụng nền tảng IoT Watson để tiến hành phân tích.  Ba năm kết trái  Cùng với đồng nghiệp hồi còn làm bên công ty Wipro, Channabasappa Kolar, Vijayeendra lập Avanijal năm 2013. Sản phẩm đầu tiên của họ – Nikash – mất ba năm để phát triển. Quả là một tiến trình chậm và khó nhọc, nhưng rồi họ cũng đạt được thành quả vào cuối năm rồi khi thương mại hoá sản phẩm. “Trước tiên, chúng tôi so sánh giữa việc được thực hiện ở nước ngoài với quá trình ở đây”, Vijayeendra nói. “Trong khi Ấn Độ đang giải quyết các vấn đề trồng trọt bằng một kiểu làm sơ khai, những nơi như Mỹ, châu Âu, Nhật và Úc bỏ xa chúng ta trong việc đổi mới sáng tạo trên các nông trại của họ. Nhưng thay vì sao chép sản phẩm của họ tại đây, chúng tôi muốn “may đo” sản phẩm cho vừa với các điều kiện của Ấn Độ, thêm bớt một vài chức năng – một thách thức mà chúng tôi phải mất ba năm mới hoàn thiện”.  Quá trình này liên quan đến việc tham gia nhiều hội chợ nông nghiệp để có được phản hồi từ nông dân hoặc các khách hàng tiềm năng. Những chuyến đi đó đã giúp cho sản phẩm của họ được thiết kế dựa trên các vấn đề thực tế mà nông dân gặp phải. Những chuyến đi đó còn giúp họ nhận ra một điều rằng, sản phẩm của họ phải chạy ở một dải điện áp rộng, vì điện ở Ấn Độ rất cà giựt. Và bộ điều khiển của họ phải làm việc với nhiều nguồn nước. “Nhưng cái chính vẫn là giá cả”, Vijayeendra nói. Theo ông, Ấn Độ là một thị trường nhạy cảm về giá và một số sản phẩm ít ỏi hiện nay quá mắc đối với nhiều nông dân. Đây chính là sự khác biệt của Nikash: “Giá giải pháp của chúng tôi vừa phải và biến động từ 12.000 – 15.000 Rs mỗi 4.000m2 (4.296.000 – 5.370.000 đồng)”, Vijayeendra nói.  Khởi Thức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp bằng sáng tạo có trách nhiệm với cộng đồng      Cuộc giao lưu với chủ đề “Khởi nghiệp bằng đam mê và tinh thần sáng tạo”ở Đại học Công Nghiệp Tp. HCM, thu hút sự tham dự của gần 500 sinh viên. Họ lắng nghe câu chuyện và kinh nghiệm của CEO Vexere.com Trần Nguyễn Lê Văn, nhà báo Đông Quân và hoa khôi áo dài Diệu Ngọc.      Trần Nguyễn Lê Văn trao đổi kinh nghiệm khởi nghiệp với các bạn trẻ.  Nêu cao trách nhiệm với cộng đồng   Trần Nguyễn Lê Văn là gương mặt quen thuộc trên các diễn đàn khởi nghiệp tại Việt Nam trong những năm gần đây. Anh được biết đến như người đam mê khởi nghiệp và bắt đầu từ những sản phẩm ẩm thực phổ thông như bánh đúc, thịt bò cho đến việc dám từ bỏ “giấc mơ Mỹ” để về Việt Nam thực hiện giấc mơ của mình.  Anh Lê Văn kể lại thời điểm xuất hiện ý tưởng thành lập trang web đặt vé xe khách trực tuyến Vexere.com phục vụ người dân Việt Nam là vào một ngày cuối năm 2012 tại ký túc xá trường đại học Thunderbird (bang Arizona, Mỹ). Khi lên mạng đọc tin tức, anh suy nghĩ về cảnh người dân quê nhà vất vả chen lấn nhau mua vé xe về quê ăn Tết và tự hỏi tại sao Việt Nam không áp dụng mô hình đặt vé xe trực tuyến giống như ở Mỹ để tiết kiệm thời gian, giảm ùn tắc. Điều đó thôi thúc Lê Văn phải hành động để giải quyết được bài toán này. Lê Văn bỏ dở việc học thạc sỹ và trở về Việt Nam cùng với một số người bạn sáng lập ra Vexere.com vào tháng 7/2013.  Thành công này đem lại cho Lê Văn một kinh nghiệm khởi nghiệp: ngoài yếu tố đổi mới sáng tạo trong sản phẩm, cần phải tính đến khả năng phục vụ cộng đồng với tinh thần trách nhiệm công dân. Đây là một trong những cách khởi nghiệp bền vững và có giá trị nhất.  Lê Văn cho rằng, sinh viên cần tạo dựng khát vọng lớn cho bản thân, dám khởi nghiệp bằng thái độ tích cực và tinh thần thực học. Sau nhiều lần thất bại Lê Văn rút ra bài học cho bản thân rằng sự học không bao giờ dừng lại, việc chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp sẽ đòi hỏi bạn không ngừng học hỏi và sáng tạo mỗi ngày.  Cần vượt qua giới hạn của bản thân để khởi nghiệp  Cũng có mặt tại buổi giao lưu, nhà báo Đông Quân – một người dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông, báo chí và đặc biệt là phát thanh, đã đem đến những kiến thức, kinh nghiệm quý báu được đúc kết hàng chục năm với mong muốn truyền cho bạn trẻ có thể phá vỡ giới hạn của bản thân để tiến nhanh hơn trên con đường khởi nghiệp của mình. Qua nhiều nghiên cứu thực tế, nhà báo Đông Quân cho rằng: “Sinh viên cần mài sắc năng lực diễn thuyết để có thể kết nối tư duy sáng tạo với thực tiễn”, điều đó cũng được đề cập trong cuốn sách Khuyến học của Fukuzawa Yukichi mà Trung Nguyên tặng cho bạn trẻ tham gia buổi giao lưu.  Nhà báo Đông Quân cũng phân tích về những câu chuyện thành công nhờ tinh thần sáng tạo của những nhân vật thành công hàng đầu thế giới như Bill Gates, Steve Jobs và liên hệ với những điểm hạn chế của người Việt như dễ thỏa mãn, thiếu khát vọng lớn, không theo đuổi tới cùng… Đây là yếu tố các bạn trẻ cần chú ý để khắc phục trên đường khởi nghiệp.  Đó cũng là điều mà hoa khôi Áo dài Diệu Ngọc trải qua. Sau khi tốt nghiệp ĐH Kinh tế với chương trình liên kết quốc tế và có thêm bằng cao đẳng quản lý khách sạn, Diệu Ngọc đã quyết định đăng ký thi Hoa khôi Áo dài và lọt vào top 18. Chưa dừng ở đó, năm 2015 cô gái này tiếp tục tham gia cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ và dừng lại ở Top 10. Đến năm 2016, những nỗ lực của cô đã được đền đáp khi trở thành Hoa khôi Áo dài. Ở tuổi 26, cô trở thành đại diện Việt Nam tham gia cuộc thi Hoa hậu thế giới 2016.  Đến với chương trình, Diệu Ngọc đã có những chia sẻ cởi mở, chân thànhvề định hướng phát triển bản thân cũng như tinh thần dám theo đuổi ước mơ đến cùng: “Chúng ta chỉ sống một lần trong đời, hãy sống hết mình với ước mơ bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc và tự hào khi đạt được nó”.    Author                T. H        
__label__tiasang Khởi nghiệp bằng sự chia sẻ      Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế học tại Đại học Nottingham, Vương quốc Anh theo học bổng của thành phố và làm việc Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng với vai trò nghiên cứu và tư vấn chính sách, Phạm Thùy Liên đột nhiên…bỏ việc và trở thành một trong những người điều hành DNES dù biết rằng đây là một quyết định mạo hiểm. Bài viết dưới đây là chứng kiến của cô về hệ sinh thái khởi nghiệp Đà Nẵng, từ lúc là con số 0 đến khi trở thành một trong những khu vực năng động nhất tại Việt Nam.      Không gian làm việc chung do DNES xây dựng với giá chỉ khoảng 800 nghìn/chỗ ngồi một tháng.  Khi làn sóng khởi nghiệp vào Đà Nẵng  Trong một buổi hội thảo của đoàn Sinh viên Quản trị kinh doanh đến từ đại học Stanford (Hoa Kỳ) tại thành phố Đà Nẵng, tôi gặp Samson, người Israel trong đoàn. Khi được hỏi về động lực phát triển kinh tế tư nhân tại quê hương Israel và nước Mỹ, Samson trả lời “tinh thần doanh nhân, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Chúng tôi trao đổi rất lâu khi Samson cố gắng giải thích cho tôi về vai trò của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế, các chính sách của chính phủ Israel và Mỹ, quỹ đầu tư, chương trình đối ứng vốn đầu tư khi tôi và có lẽ cả thành phố Đà Nẵng còn chưa phân biệt được giữa khởi nghiệp “mưu sinh” và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đó là một ngày cuối năm 2014 – thời điểm ngay trước sự bắt đầu của một làn sóng khởi nghiệp tràn vào Việt Nam và cả thành phố Đà Nẵng  Làn sóng ấy tới Đà Nẵng từ khi chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Phần Lan (IPP) tổ chức Hội thảo Hợp tác Đổi mới sáng tạo lần đầu tại đây. Tôi hỏi Riku Mäkelä, cố vấn Đổi mới sáng tạo của IPP rằng: “Muốn phát triển kinh tế tư nhân và đổi mới sáng tạo ở Đà Nẵng thì làm gì?” và được dẫn đến Câu lạc bộ Kiến tạo khởi nghiệp Đà Nẵng -9StartLab bao gồm nhiều người trẻ đến từ nhiều ngành nghề khác nhau, tụ họp hàng tuần cùng trao đổi và bàn luận về các vấn đề liên quan đến kết nối khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Cuộc gặp gỡ này đánh đấu sự khởi đầu trong việc hỗ trợ cộng đồng khởi nghiệp của tôi.  IPP cũng là “cây cầu” nối 9Startlab với Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng và Trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin – Đại học Đà Nẵng để cùng thực hiện đề án Đề án “Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp TP ĐN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Trong hơn một năm sau đó, nhiều hoạt động tổ chức sự kiện, xây dựng chương trình, đổi mới sáng tạo, xây dựng chính sách được ba đối tác phối hợp thực hiện với cùng một mục tiêu chung là cho ra đời một hệ sinh thái thực sự năng động, sáng tạo, kết nối và hiệu quả, làm động lực thúc đấy nền kinh tế tư nhân tại thành phố.  Những viên gạch đầu tiên  Một trong những kết quả nổi bật của nỗ lực chung giữa chính quyền, doanh nhân, trường đại học, cộng đồng và các đối tác hỗ trợ trong suốt hơn một năm là sự ra đời của Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES) vào đầu năm 2016. Vườn ươm ra đời với mô hình hợp tác công tư: nhà nước và tư nhân cũng góp công sức và tiền bạc. Vườn ươm DNES mang nhiều kì vọng từ thành phố Đà Nẵng, được xem “là bước đi đầu tiên có tính chất nền móng cho sự hình thành và phát triển hệ thống mạng lưới khởi nghiệp trong tương lai tại Đà Nẵng” – như trên báo Đà Nẵng đã đánh giá.  Mang một tầm nhìn và sứ mệnh lớn nhưng DNES bắt đầu như một doanh nghiệp khởi nghiệp với nguồn lực có hạn: chú Võ Duy Khương (nguyên Phó chủ tịch thường trực UBND thành phố) là người đứng đầu, năm nhân sự trẻ và một số vốn góp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cần được bảo toàn. Trong thời kỳ hoạt động ban đầu, DNES gặp rất nhiều khó khăn: bị lấy lại trụ sở làm việc để rồi không biết cả DNES và dự án sẽ đi đâu; thay đổi nhân sự và nội bộ; nhà đầu tư rút vốn, áp lực tài chính khi chưa tìm ra được nguồn thu, các dự án khởi nghiệp thất bại.  Một trong những người “giữ lửa” cho DNES là chú Võ Duy Khương, mà chúng tôi hay gọi thân mật là “chú”. Tôi may mắn được biết chú từ đầu năm 2014 – thời điểm chú đang là Phó Chủ tịch thường trực UBND thành phố Đà Nẵng. Ấn tượng mà tôi nhớ nhất là một người mặc áo vest chỉnh tề, ngồi nghe các dự án trình bày và nán lại hỏi han từng bạn sáng lập trẻ đến tối muộn – một hình ảnh mà tôi không nghĩ sẽ hay gặp ở một vị lãnh đạo bận rộn. Bất kì khi nào tôi gặp chú, tôi cũng thấy có thêm động lực để làm việc. Chú không phải là người biết mọi thứ, không phải là người giỏi nhất, hoàn hảo nhất nhưng là người mà có thể khiến chúng tôi cực kì cảm phục, tin tưởng và muốn đi theo  Tôi nhận phụ trách chương trình ươm tạo khi chưa có nhiều kinh nghiệm. Để giúp DNES xây dựng chương trình ươm tạo, tôi chủ động liên hệ và trao đổi với các chuyên gia của các tổ chức và mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp trong và ngoài nước. Khi mình có đủ quyết tâm và cầu thị, mọi sự giúp đỡ sẽ đến. Không chỉ có IPP, DNES nhận được sự quan tâm và hỗ trợ rất nhiều từ chương trình MBI của Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB), Chương trình Hỗ trợ Khởi nghiệp của Thuỵ Sĩ (SECO EP), các đại sứ quán và mạng lưới các vườn ươm quốc tế. Các nhà tư vấn và nhân sự mới cũng đến với DNES, giúp chúng tôi giải quyết các bài toán về mô hình kinh doanh, tổ chức, nhân sự, vv. Chính sự giúp đỡ và cổ vũ của nhiều bên tạo thêm động lực để DNES tiếp tục làm, thử, sai, học hỏi và làm lại, từng bước đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng trái tim của hệ sinh thái khởi nghiệp Đà Nẵng.  Kiên trì theo đuổi mục tiêu, một người lãnh đạo thực thụ, một đội ngũ làm việc đoàn kết và chia sẻ chung các giá trị, sự hỗ trợ từ nhiều phía là công thức để DNES bền bỉ hoạt động. Thành tựu đáng kể nhất là xây dựng được một cơ sở không gian làm việc chung cho các dự án khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Đà Nẵng, trong 17 dự án đã ươm tạo, có nhiều dự án đã gọi được vốn đầu tư thiên thần với tổng số vốn là 7 tỷ đồng, tổ chức Hội nghị Triển lãm Khởi nghiệp Quốc tế tại Đà Nẵng – Startup Fair 2016 với 1.000 người tham dự trong đó có nhiều diễn giả trong và ngoài nước.  May mắn được tham gia, nhận được nhiều sự giúp đỡ, tin tưởng và cổ vũ từ nhiều người, tôi thấy có trách nhiệm phải chia sẻ những điều tôi nhận được cho các bạn trẻ khởi nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp khác để “tạo ra một thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo và giàu giá trị”.    Author                Phan Thuỳ Liên        
__label__tiasang Khởi nghiệp: Bắt đầu từ giáo dục thái độ tự lập      Chuyên mục về khởi nghiệp xuất hiện từ cách đây chưa lâu trên Tạp chí Tia Sáng nhưng đã có không ít bài viết hữu ích nhờ những đóng góp tâm huyết của một cộng tác viên rất mới, Nguyễn Đặng Tuấn Minh. Trong số đặc biệt kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí, chị chia sẻ về cơ duyên đến với Tia Sáng: đơn giản bắt đầu từ một cuốn sách cho trẻ em.      Khởi nghiệp, cụm từ gần đây được ngành ngành, nhà nhà nhắc đến nhiều như một trào lưu thời thượng, dễ khiến những ai đang làm việc liên quan đến nó đều tự nhiên thấy mình đặc biệt. Là một người khởi nghiệp và thất bại nhiều lần, động lực khiến tôi nhận lời viết về Khởi nghiệp trên Tia Sáng bắt đầu từ một buổi tối khi cầm trên tay cuốn sách nhỏ cho trẻ em này.     Khi nhìn bìa cuốn sách, bạn sẽ thấy thật thú vị vì cuốn sách kể câu chuyện về hai cô cậu quyết định kinh doanh để tự mua găng tay đánh bóng chày và tham gia trại hè bóng đá. Bạn sẽ cùng các nhân vật chập chững đi vào kinh doanh bằng những định nghĩa vô cùng thú vị về quảng cáo, về mô tả sản phẩm dịch vụ, về cách đấu tranh đòi hỏi quyền lợi chính đáng và đàm phán. Và khi đọc đến trang cuối của cuốn sách nhỏ cho trẻ em này, có thể cũng như tôi, bạn sẽ ngộ ra rằng, xây dựng một văn hóa quốc gia khởi nghiệp hay gì đó tương tự thường bắt đầu từ những thứ căn bản, gốc rễ sâu xa, đơn giản nhưng không dễ: đó là nỗ lực của cả một hệ sinh thái ở nhiều cấp độ mà nhà trường và gia đình là những cái nôi quan trọng nhất. Khi trẻ em được giáo dục thái độ tự lập trong cuộc sống và học cách kiếm đồng tiền chân chính từ sức lao động của mình, tinh thần khởi nghiệp mới có rễ sâu gốc bền.     Lần lại tuổi thơ Bill Gates hay Mark Zuckerberg, có thể thấy họ không bỗng nhiên trở thành thiên tài. Họ luôn chủ động, không ngừng khám phá, có trách nhiệm với đồng tiền kiếm được và nghiêm túc trong đầu tư thời gian công sức vào công việc kinh doanh. Một nền văn hóa giáo dục khuyến khích sự chủ động mới có thể đẻ ra những triệu phú 9 tuổi ở Mỹ (chuyên kinh doanh kẹo)1.     Tôi lại ngẫm thêm rằng, nếu những cuốn sách này được đưa vào trường học cho trẻ em sớm hơn, có lẽ những sinh viên, doanh nhân khởi nghiệp 22 tuổi tôi gặp sẽ có thể tự tin bước vào công việc kinh doanh mà không ngơ ngác đi tìm những ước mơ Zuckerberg. Các em có thể trở thành những doanh nhân tốt hơn, có trách nhiệm hơn như hai bạn nhỏ trong câu chuyện, quan sát chính nhu cầu xung quanh và thế mạnh của bản thân để có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ hữu ích cho cuộc sống. Trong suốt câu chuyện khởi nghiệp của hai đứa trẻ 9 tuổi, không hề có bóng dáng can thiệp của các bậc cha mẹ. Họ xuất hiện duy nhất một lần trong đoạn thoại khen ngợi những đứa trẻ hợp tác tốt với nhau. Cha mẹ quan sát, tạo ra những giới hạn cần thiết và họ đánh giá cao sự độc lập tự chủ của trẻ.     Ở một đất nước mà một đứa trẻ nhỏ được chăm bẵm đến 22 tuổi vẫn chưa hết là “thằng bé”, “con bé” được bao cấp và chăm chút từng li từng tí, khi ra trường vẫn không chủ động kiếm tiền, sống ỷ lại vào bố mẹ, rồi gia đình phải dồn tiền của chạy công chạy việc, thì khuyến khích tinh thần tự khởi sự kinh doanh, dù có thể chỉ là khởi sự bằng một quán trà đá vỉa hè để tự nuôi sống bản thân, đồng nghĩa với thay đổi tư duy hoàn toàn trong mỗi công dân trẻ, khiến họ có ý thức độc lập tự chủ và tự quyết cuộc đời mình, là điều hết sức quan trọng.    Ở một đất nước mà còn quá nhiều người phụ nữ ở nông thôn vừa phải đối mặt với nguy cơ bạo hành, vừa phải làm trụ cột gia đình về kinh tế, dạy dỗ con cái, thì khuyến khích khởi sự kinh doanh để họ có thể chủ động thay đổi cuộc đời mình, cũng là điều rất cần thiết.     Và vì vậy, thay vì nhận mình đang tham gia vào “phong trào khởi nghiệp”, tôi nghĩ đơn giản, viết lách cùng với những công việc hỗ trợ khác cho khởi nghiệp đồng nghĩa với góp phần xây dựng văn hóa khuyến khích sự độc lập sáng tạo và tinh thần doanh nhân trong mỗi con người. Là một người đang vận hành một tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, với vai trò là một giảng viên đang hỗ trợ sinh viên học kinh doanh, tôi cũng mong muốn làm tốt từ những công việc rất nhỏ, đó là viết những gì thật đơn giản và thiết thực để mọi người đều có thể sử dụng những kiến thức đó một cách hiệu quả nhất, chia sẻ những gì chân thành nhất và lắng nghe để học hỏi được nhiều nhất.   ——–  1 http://www.doanhnhansaigon.vn/ chan-dung-doanh-nhan/nhung-doanh-nhan-nho-tuoi-nhat-the-gioi/1082057/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp công nghệ cùng TECHFEST      Các nhóm khởi nghiệp trẻ sẽ có có thể kết nối kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm, nghe tư vấn từ những chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp nổi tiếng trên thế giới và gặp gỡ với các nhà đầu tư thiên thần tại Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2015 (TECHFEST).    Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2015 (TECHFEST) do Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (NATEC), Bộ KKH&CN phối hợp với ĐH Quốc gia Hà Nội, Chương  trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) và  các đơn vị hỗ  trợ khởi nghiệp như HubIT, Founder Institute, HATCH! PROGRAM tổ chức. TECHFEST được kỳ vọng sẽ mở ra cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo những cơ hội gặp gỡ với các nhà đầu tư thiên thần, các quỹ đầu tư, người tiêu dùng và các phương tiện truyền thông, những nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình kiến tạo của mình.  Các nhóm khởi nghiệp trẻ cũng có thể kết nối kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm, nghe tư vấn từ những chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp nổi tiếng trên thế giới. Theo chương trình, sẽ có nhiều hội thảo hữu ích của các diễn giả: TS Eryadi Masli trình bày cách sử dụng đồng tiền thông minh (smart money), chuyên gia Ben Chew với 15 năm kinh nghiệm là nhà đầu tư thiên thần cho các công ty khởi nghiệp trình bày về quản lý nguồn nhân lực, xây dựng một nhóm làm việc xuất sắc, tuyển dụng nhân sự chất lượng cao.  Trong khuôn khổ TECHFEST, cuộc thi Startup Idol sẽ được tổ chức, dự kiến quy tụ 10 nhóm khởi nghiệp xuất sắc thuyết trình về sản phẩm, kế hoạch kinh doanh của mình cho các nhà đầu tư và khán giả, qua đó giành lấy cơ hội được tham gia các sự kiện khởi nghiệp lớn nhất tại châu Âu như SLUSH, Phần Lan hay ECHELON, Singapore.  Mặt khác, các doanh nghiệp công nghệ trong nước và quốc tế đã thành danh như Google, Intel, FPT… có thể mang những sản phẩm công nghệ mới nhất của mình đến trình diễn với cồng đồng người yêu công nghệ trên cả nước.  Hiện đã có 60 doanh nghiệp khởi nghiệp, 15 doanh nghiệp công nghệ, 15  các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, 50 nhà đầu tư trong nước và  quốc tế dăng ký tham gia sự kiện. Ban tổ chức mong muốn, sự kiện này trở thành hoạt động thường niên có uy tín, góp phần xây dựng  hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam phát triển bền vững.  TECHFEST sẽ được tổ chức tại trường ĐH Quốc gia Hà Nội 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội trong vòng 3 ngày, từ 15 đến 17/5.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp để làm gì?      Cuộc trò chuyện giữa ông Jon Medved – tổng giám đốc công ty đầu tư vốn cho khởi nghiệp lớn nhất Israel OurCrowd, và bốn bạn trẻ vừa đoạt giải cuộc thi Khởi nghiệp Israel 2014 ngay giữa thánh địa Jerusalem làm vỡ ra những điều tưởng chừng như… đơn giản nhất.  &#160;    Ngay bên cạnh thánh địa Jerusalem, là một khu phức hợp mang tên “JVP Media Quarter” (tạm dịch: ngã tư truyền thông JVP) với một loạt các văn phòng công ty san sát nhau, trong đó có đại bản doanh của OurCrowd – một trong những công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp lớn nhất Israel. Văn phòng công ty rất đẹp. Treo trang trọng ở giữa khu phòng tiếp khách nhìn như một quán càphê là bức ảnh hai người công nhân đứng trên đồng ruộng. Chị tiếp tân luống tuổi rất thân thiện giải thích: nền tảng của Israel là sức người cải tạo mọi thứ mà.  Hãy chứng minh đi!  Tiếp đoàn khởi nghiệp Việt Nam, bao gồm bốn thành viên chiến thắng của cuộc thi Khởi nghiệp Israel và đại diện ban tổ chức đến từ đại sứ quán Israel tại Việt Nam, bộ Khoa học và công nghệ và trung tâm BSA là một người cổ đông chính của công ty đang tò mò đi ngang qua. “Xin lỗi, ông Jon tổng giám đốc bận một chút, tôi tranh thủ chạy vô chào hỏi mọi người. Các bạn giỏi quá, đi từ Việt Nam sang tận Israel tìm nhà đầu tư à…” Có lẽ, họ đã quá quen với việc có người chủ động đến chào dự án… Khi biết mục tiêu của đoàn là học tập, ông Gadi Mazor cười: “Chà, OurCrowd là của hai chúng tôi, ra đời cũng chưa lâu lắm. Tôi còn nhớ đó là tháng 5.2012, đúng ngay sinh nhật tôi, Jon gọi chúc mừng và bảo đang có một suy nghĩ rất hay về việc tạo ra một môi trường để kết nối những nhà đầu tư tài chính trên khắp thế giới với những người khởi nghiệp trẻ tuổi ở Israel. Tôi hỏi cụ thể mình sẽ làm gì. Anh bảo mình sẽ đi tìm, đánh giá, làm chiến lược kinh doanh, tự đầu tư và giới thiệu để mọi người cùng đầu tư vào các dự án tiềm năng. Tôi thấy ý tưởng rất khả thi, nên nghỉ việc về cùng Jon xây dựng dự án. Đến tháng 10.2012 thì công ty ra đời. Đến nay chúng tôi đã đầu tư cho 76 công ty với tổng giá trị là 18 triệu USD“.  Các bạn trẻ Việt Nam tròn mắt khi thấy một công ty tư nhân mới có vài năm tuổi lại có thể thực hiện chừng đó việc, ông cười và bảo: “Cũng không có phép thần kỳ gì cả. Chúng tôi tìm hiểu những mô hình đang có, nhu cầu của mọi người và tìm cách giải quyết nó một cách hợp lý và khôn ngoan nhất thôi. Có rất nhiều dự án hay cần được đầu tư mạo hiểm. Có rất nhiều cách để gây quỹ từ đám đông. Nhưng không phải ai cũng đủ thời gian để lựa chọn và đánh giá dự án mình yêu thích. Cũng không phải dự án khởi nghiệp nào cũng đủ khả năng xây dựng chiến lược kinh doanh để tiếp cận nhà đầu tư. Vậy nên chúng tôi ở giữa, kết nối và tạo ra giá trị”.  Ông kể về một dự án mà OurCrowd vừa kết thúc đầu tư và thu lại một khoản lợi nhuận lớn, là một công ty nghiên cứu và sản xuất thiết bị hỗ trợ người bị bại liệt chân có thể di chuyển được thông qua hệ thống nẹp chân được điều khiển bởi thần kinh phía giữa sống lưng. Và sau khi sản phẩm được ưa chuộng toàn cầu thì họ đã chào bán công ty ra thị trường chứng khoán Mỹ thành công. Họ cũng đang đầu tư vào một công ty làm phần mềm trên điện thoại di động cho phép người dùng điện thoại chụp ảnh món ăn và ứng dụng này sẽ cho biết các thành phần tạo ra món ăn này. Một công ty khác đang làm robot “thắp đèn” trong nội tạng bệnh nhân mỗi khi bác sĩ mổ để giảm thiểu những quy trình và rủi ro của việc mổ mà thiếu ánh sáng bên trong…  “Đâu phải dự án nào cũng thành công. Cũng  có dự án không đạt được mục tiêu, nhưng cái chính là chúng tôi chia sẻ  được lợi nhuận và rủi ro cùng nhau giữa những dự án thắng lớn và những  dự án chưa thắng”, ông chia sẻ.  Điều làm các bạn trẻ suy nghĩ nhiều nhất là mỗi tháng, sẽ có khoảng 100 công ty khởi nghiệp đến giới thiệu dự án, nhưng chỉ có những dự án nào qua được bộ lọc của OurCrowd thì mới xem là “qua vòng giữ xe”. Và cũng nhìn cách mà một bạn trong đoàn Việt Nam lè lưỡi khi nghe những tiêu chí cơ bản này thì đúng là cũng đáng ngại: phải chứng minh là có một đội ngũ xuất sắc; phải chứng minh được tham vọng chinh phục một thị trường đủ lớn – vì ở Israel không ai đặt thị trường nội địa là đích đến cả; phải chứng minh được công ty – sản phẩm – dịch vụ của mình đang giải quyết được một vấn đề nào đó để góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn; và cuối cùng phải chứng minh rằng đây không phải là ý tưởng, là dự án mà đã được thực hiện và có những thành quả bước đầu.  Cấu trúc của khởi nghiệp thế giới  Lúc này thì ông Jon, tổng giám đốc hồ hởi đi vào. Ông yêu cầu từng thành viên trong đoàn giới thiệu. Ông đề nghị mỗi công ty đến từ Việt Nam hãy nói 30 giây về mình và hỏi thăm thêm vài câu. Ông xoay sang thư ký yêu cầu ghi chú lại việc phải kêu Thảo gởi bản mô tả dự án Hashtag của mình. Rồi ông lại tranh luận với Mai về dự án Umbala đối với con số 12 giây của tin nhắn đa phương tiện và tồn tại trong 12 giờ… Rồi ông bắt đầu nói về những suy nghĩ của mình, những kỳ vọng đối với một quốc gia khởi nghiệp Israel cũng như những cơ hội đối với Việt Nam: “Cấu trúc của nền kinh tế khởi nghiệp thế giới đã được định ra từ lâu. Tiền để đầu tư mạo hiểm được tập trung chủ yếu ở vài nơi thôi. Vậy chúng ta làm gì để cạnh tranh với Silicon Valley của Mỹ? Chúng ta phải hiểu rằng hầu hết khi họ bắt tay vào khởi nghiệp ở mảnh đất màu mỡ này, họ nghĩ nhiều về những người giàu và tìm cách phục vụ người giàu ở nước Mỹ là chủ yếu. Vậy chúng ta không có môi trường tốt như thế, ta nên nghĩ đến một đối tượng phục vụ khác: đó là những người không giàu ở mọi nơi trên thế giới, những người mà điều kiện sống còn nhiều khó khăn, còn rất nhiều vấn đề mà chúng ta phải giải quyết cho nhu cầu sống của họ. Vậy nên cũng như Israel, Việt Nam cũng có thể tìm ra những ý tưởng tuyệt diệu này chứ”.  “Chúng tôi ở đây, xây dựng một cộng đồng những nhà đầu tư lên đến 6.000 người, những người sẵn sàng gởi gắm ít nhất 10.000 USD cho những ai xứng đáng và có khả năng biến giấc mơ của mình thành hiện thực. Việt Nam hãy làm đi, luôn có tôi ở đây ủng hộ và động viên các bạn”, Jon gởi tặng mỗi người một tập sách vừa được ấn hành nhân hội nghị các nhà đầu tư cho khởi nghiệp của Isael vừa diễn ra trong tuần, và bảo sẽ sớm đến Việt Nam để tìm kiếm các ý tưởng khởi nghiệp có thể làm cuộc sống tốt đẹp hơn.           Cuộc thi Khởi nghiệp cùng Israel 2014 do đại sứ quán Israel tại Việt Nam phối hợp với cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ (bộ Khoa học và công nghệ) cùng trung tâm nghiên cứu Kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức. Bốn đội chiến thắng bao gồm: 1/ Chomp mang đến giải pháp toàn diện giúp nhà tiếp thị có thể tiếp cận và tương tác hiệu quả với đối tượng mục tiêu thông qua công cụ Hashtag. 2/ BraveBits, đang hoàn thiện một sản phẩm thương mại điện tử mới có tên là hiSella, đây là một phần mềm dịch vụ nhằm giúp các chủ shop trên Facebook tăng hiệu quả kinh doanh bằng việc cung cấp cho họ một website giới thiệu sản phẩm và bộ công cụ hỗ trợ. 3/ Younet, phát triển SocialHeat – một hệ thống web trên nền tảng đám mây nhằm theo dõi, thu thập, thống kê, phân tích tự động tất cả những trao đổi thảo luận (công khai) của người dùng internet trên mạng xã hội. 4/ Umbala, là một mobile app cho phép người dùng tạo ra những video có độ dài 12 giây, sau đó thêm vào các hiệu ứng đặc biệt và chia sẻ lên các mạng xã hội phổ biến hiện nay như Facebook, Instagram, Twitter…                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp không chỉ là mở công ty      Khởi nghiệp là cả một chuỗi hoạt động để bước đến thành công chứ không phải riêng lẻ một vấn đề.      Mật ong hút dẻo của hai vợ chồng khởi nghiệp Thanh Long đã tìm được đầu ra.  Khởi nghiệp phải được xem là sự sống còn của mỗi địa phương thì mới thành công chứ không phải chỉ là làm được bao nhiêu hội thảo”, ông Lê Minh Hoan, bí thư Tỉnh uỷ Đồng Tháp, nói.  Cũng theo ông Hoan, khởi nghiệp mà lủi thủi một mình sẽ không bao giờ thành công. Nhưng người Việt Nam hay làm một mình vì sợ bị ăn cắp thông tin, sợ chia sẻ thành công…  Tư duy nhiệm kỳ  Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ chọn là năm “Quốc gia khởi nghiệp”. Tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các chương trình khởi nghiệp được quan tâm xây dựng như ở Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ… Nhưng kết quả vẫn chưa như mong đợi.  Theo ông Nguyễn Phương Lam, phó giám đốc phụ trách VCCI chi nhánh Cần Thơ, trước đây, người ta bàn về khởi nghiệp như là phong trào, nhưng vấn đề là làm gì cho hiệu quả. Cuộc thi chỉ mới là một mảng nhỏ. Khởi nghiệp bắt đầu từ ý tưởng, đằng sau đó là câu chuyện dài. Không thể 1 – 2 năm là có sản phẩm hoàn chỉnh. Ít nhất cũng năm năm. Nếu nói về tính hiệu quả, Đồng Tháp đang đi đầu.  ĐBSCL chỉ mới ở giai đoạn đầu của khởi nghiệp. Các địa phương nghĩ ra “sáng kiến” nâng doanh nghiệp tư nhân thành công ty, nâng cấp chi nhánh hay kêu gọi mở công ty mới để sớm có đội hình doanh nghiệp hùng hậu, nhưng trong đó có bao nhiêu thực thể khởi nghiệp sáng tạo?  “Để lãnh đạo khởi nghiệp thành công ở địa phương phải bỏ tư duy nhiệm kỳ”, ông Lê Minh Hoan nói. Ông cho rằng, đầu tư cho khởi nghiệp là đầu tư cho tương lai. Bởi vì từ khi nung nấu ý tưởng đến khi hiện thực hoá ý tưởng đó mất đến năm năm, hết một nhiệm kỳ. Nhiều khi lãnh đạo đó về hưu rồi. Muốn biết ý tưởng đó thực hiện ra sao thì phải qua nhiệm kỳ sau mới thấy và vẫn phải tiếp tục. “Điều quan trọng nhất là đừng để những người khởi nghiệp có cảm giác họ bị bỏ rơi, lãnh đạo địa phương phải đồng hành và chia sẻ với họ”, ông Hoan nói tiếp.  Đồng Tháp biết nguồn lực không có nhiều nên cần hỗ trợ từ TP.HCM, đặc biệt là trung tâm BSA, ký hợp tác, mời chuyên gia về giảng dạy. Đồng Tháp là đơn vị đầu tiên ở ĐBSCL ký kết với quỹ Khởi nghiệp doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam, thực hiện ba nội dung: xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch dự án khởi nghiệp, tham gia các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, tương trợ về vật chất và dịch vụ cần thiết từ hai phía.    Hai vợ chồng Thanh Long, từng tham gia cuộc thi do BSA tổ chức, khá thành công trong việc “vắt” mật ong và thị trường hóa sản phẩm.     Đừng quá tung hô  “Đối với các bạn trẻ khởi nghiệp, cũng không nên tung hô quá khiến các em chủ quan. Hỗ trợ kế hoạch sản xuất – kinh doanh, nhưng nếu giao một cục tiền quá lớn cho các em là sai lầm, vì các em còn nhỏ, mới khởi nghiệp, chưa biết quản trị dòng tiền. Cái chính là làm sao giúp hướng đi, chỉnh sửa từ từ cho hoàn thiện sản phẩm. Nhiều khi ý tưởng hay, đối với các em là mới lạ, bay bổng nhưng ở bên ngoài người ta đã làm từ lâu rồi. Cái đó mình cũng phải chú ý”, ông Hoan chia sẻ.  Từ sáng kiến của mạng lưới ABCD-Mekong, Đồng Tháp thành lập CLB khởi nghiệp, tập hợp các doanh nghiệp dẫn đầu, có tổ tư vấn. Các dự án khởi nghiệp dự thi theo chương trình của trung tâm BSA, VCCI trở về đều được tỉnh chuyển qua cho các chuyên gia tư vấn, “chỉnh lại” theo hướng thương mại hoá, Đồng Tháp đã có lực lượng doanh nghiệp chịu làm và làm được điều này.  Cao Thanh Hùng, sinh viên năm cuối khoa Công nghệ, trường đại học Cần Thơ, cho biết CLB Dynamic đã nghiên cứu chế tạo thiết bị theo dõi ô nhiễm không khí dựa trên nền tảng internet vạn vật (IoT). Tuy nhiên, Hùng và anh em trong CLB đang hụt về kỹ năng quản trị, chưa thể đo lường được mức độ rủi ro hay khả năng chấp nhận của thị trường đối với sản phẩm. Có ý kiến cho rằng thiết bị dùng cho gia đình khoảng 680.000 đồng, thiết bị cho nhà xưởng, văn phòng khoảng 1,8 tỷ đồng là quá cao. “Tụi em không có vốn, cũng chỉ mới lắp ráp thủ công, chưa biết đăng ký sở hữu trí tuệ và rất cần người tư vấn”, Hùng cho biết.  PGS.TS Lê Nguyễn Đoan Khôi, giám đốc trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, chia sẻ: khởi nghiệp luôn có tỷ lệ thành công rất thấp, nếu không có tâm thế chủ động, vững vàng để tìm cách khắc phục, các doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ rơi vào cảm giác bất an khi gặp những rào cản, khó khăn, gây tác động tiêu cực lên việc kinh doanh. Do vậy, muốn tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp hiệu quả, trước tiên phải tạo ra những “hạt giống” tốt – tức là tạo ra một thế hệ doanh nhân trẻ tài giỏi và muốn tạo ra “hạt giống” tốt, phải hoàn thiện tâm thế khởi nghiệp.  Nông dân tư duy theo mùa vụ, doanh nghiệp tư duy theo thương vụ, cán bộ tư duy theo nhiệm kỳ là câu chuyện lâu nay… “biết rồi, nói mãi”, nhưng không sửa được nên từ khi phát động năm Quốc gia khởi nghiệp tới nay, không ít địa phương vẫn còn đánh đồng “khởi nghiệp sáng tạo” và mở một công ty gì đó miễn có bộ thuế là được.  Hơn một năm sau năm Quốc gia khởi nghiệp tới nay, không ít địa phương vẫn còn đánh đồng “khởi nghiệp sáng tạo” và mở một công ty gì đó miễn có bộ thuế là được, như nhau cả mà.  bài, ảnh Ngọc Bích (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp kinh doanh trong sinh viên: Cảnh báo về những cơn hoang tưởng (Kỳ 1)      Việc khuyến khích khởi nghiệp trong sinh viên là tốt nhưng khuyến khích như thế nào thì dường như các cuộc thi khởi nghiệp hiện nay ở Việt Nam lại chưa hiểu được.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian hàng của sinh viên trong Chương trình  Thanh niên Khởi nghiệp vào giữa tháng 10 vừa qua. Nguồn: vietnamba.org.vn.  “Con số thất nghiệp, theo Tổng cục Thống kê, Quý III, 2016 của Việt Nam là 1,16 triệu người, tăng thêm 40.000 người chỉ trong vòng ba tháng. Điều đáng nói là 10% số thất nghiệp nằm trong nhóm tri thức được đào tạo chuyên môn từ cao đẳng trở lên. […] Điều này đồng nghĩa với việc tại thị trường nội địa, người lao động Việt ngày nay đứng trước áp lực phải bổ sung và hoàn thiện các kỹ năng mềm.”1  Những con số đáng báo động nói trên đòi hỏi chúng ta nhìn thẳng vào câu chuyện nguồn nhân lực trẻ, sự yếu kém về kỹ năng mềm đang đẩy người lao động được đào tạo có chuyên môn ở Việt Nam vào một cơn khủng hoảng mà bài báo trên gọi là “thất nghiệp xanh”- thất nghiệp trong kỷ nguyên số. Là người làm việc trong lĩnh vực hỗ trợ năng lực cho người khởi sự kinh doanh, tôi không khỏi đặt câu hỏi, vậy khởi sự kinh doanh trong sinh viên sẽ góp gì vào câu chuyện gia tăng năng lực cạnh tranh của nguồn lực trẻ? Nếu với những kỹ năng yếu kém như vậy, không thể tìm được việc làm trên sân nhà, phải chăng khởi sự kinh doanh chỉ là một sự lãng phí thời gian, tài nguyên và cơ hội? Những phong trào khởi nghiệp ngành ngành, hội hội, trường trường kia liệu đang đi đến đâu?  Cuộc gặp với một chàng trai bước ra từ một cuộc thi khởi nghiệp quy mô không hề nhỏ gần đây cũng khiến tôi không ít trăn trở về mục tiêu của những cuộc thi này. Một sinh viên mới tốt nghiệp đại học gầy gò với niềm tự hào rằng, em tràn đầy ý tưởng để khởi nghiệp. Tôi hỏi, sao em không đi làm mà lại chọn khởi sự kinh doanh? Bạn ấy rất tự tin: “em có nhiều ý tưởng hay”. Em đến gặp tôi, theo em, là vì giờ chỉ cần tôi kết nối với nhà đầu tư là ổn. Việc lọt vào vòng trong của cuộc thi khiến em tự tin rằng, chắc chắn có nhà đầu tư và ý tưởng sẽ được thực thi nhanh chóng. Một tiếng đồng hồ chúng tôi ngồi nói chuyện, tôi không cố khiến em từ bỏ ý định khởi nghiệp, nhưng tôi thấy một tương lai mịt mùng của một chàng thanh niên kiếm 2,5 triệu đồng một tháng giữa đất Hà Nội đắt đỏ, mơ giấc mơ được đầu tư triệu đô và một mớ ý tưởng bùng nhùng nhưng chưa biết bán hàng cho ai, bán cái gì, bán như thế nào mà chỉ mong muốn khởi nghiệp với những ý tưởng triệu đô…  Trong buổi đối thoại giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong lễ ra mắt Chương trình Thanh niên khởi nghiệp hồi tháng 10, một bạn trẻ học ngành chính trị đứng lên đặt câu hỏi: “Xin thưa Thủ tướng, cháu học ngành chính trị, giờ ai ai cũng nói đến khởi nghiệp, cháu không biết khởi nghiệp trong lĩnh vực của chúng cháu thì khởi nghiệp gì? Và nên bắt đầu như thế nào?”. Người trả lời câu hỏi là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Đặng Tiến Đông và ông đã có cách tiếp cận chỉ dẫn không thể cụ thể hơn đại ý rằng: Hãy suy rộng chuyên ngành học chính trị của bạn, đó là ngành cần sự thuyết phục, cần truyền thông, mà với xã hội đó là một nhu cầu, vậy hãy bắt đầu từ đó.  Có điều, ngoài hàng trăm sinh viên ngồi trong hội trường, biết bao người có câu hỏi rất ngây thơ và chân thật như vậy nhưng không tìm được câu trả lời thích đáng? Nó phản ánh một thực tế, một khi khuyến khích khởi sự kinh doanh không được làm một cách khoa học và nghiêm túc, nó sẽ tạo ra những hệ lụy khó lường, những hoang mang và ảo tưởng.  Bài viết này thể hiện quan điểm riêng của tác giả vì tôi nhận thấy có một trách nhiệm phải nói ra tiếng nói của mình và rất mong đón nhận nhiều ý kiến để trao đổi sâu hơn về vấn đề này. Bài viết sẽ phân tích những sai lầm đang diễn ra ở các cuộc thi ý tưởng kinh doanh hiện tại – những “cỗ máy” chính sản sinh phong trào khởi nghiệp ở sinh viên.  Các giai đoạn của một doanh nghiệp khởi nghiệp  Để làm cơ sở cho bài viết của mình, tôi xin đưa ra các giai đoạn của một doanh nghiệp/dự án khởi nghiệp dựa trên cách phân chia của Founder Institue mà tôi có cơ hội giới thiệu với các bạn trong bài về Hệ sinh thái khởi nghiệp:  Giai đoạn 1: Ý tưởng, gồm ba bước chính: (1) Truyền cảm hứng; (2) Đào tạo;(3) Thẩm định ý tưởng và thành lập đội nhóm  Giai đoạn 2: Tung sản phẩm ra thị trường: (1) Bắt đầu; (2) Phát triển; (3) Tung sản phẩm chính thức  Giai đoạn 3: Tăng trưởng: (1) Sự ghi nhận của thị trường; (2) Tìm nguồn vốn; (3) Tăng trưởng  Những sai lầm thường gặp của các cuộc thi khởi nghiệp sinh viên  Dựa trên ba giai đoạn lớn của một doanh nghiệp/dự án khởi nghiệp, có thể thấy không ít các cuộc thi, phong trào, chương trình khởi nghiệp không biết mình hỗ trợ giai đoạn nào, cho cái gì của quá trình khởi nghiệp. Họ đang mắc phải những sai lầm sau đây:  Thiếu triết lý: Để đáp ứng tính phong trào của việc khuyến khích khởi nghiệp, các cuộc thi hiện nay phần lớn thiếu đi triết lý cơ bản, không thể trả lời chính xác là mình đang khuyến khích điều gì, ví dụ: khuyến khích sự sáng tạo, khuyến khích tính thực tiễn hay khuyến khích khả năng vươn ra toàn cầu v..v. Những triết lý chung chung, tham lam ôm đồm đẩy các cuộc thi vào tình trạng na ná nhau nhắm đến mọi tiêu chí hoàn hảo của một cuộc thi tầm quốc gia, quốc tế kiểu như cuộc thi ý tưởng kinh doanh với nhiều mỹ từ khác nhau nhưng không nói được triết lý đằng sau là gì.  Thiếu đối tượng rõ ràng: Phần lớn các cuộc thi khi đọc kỹ nội dung thì chỉ thấy khuyến khích ý tưởng tốt, dành cho sinh viên độ tuổi từ 18-25 hoặc người trẻ v..v. nhưng khi đặt lại câu hỏi cho các ban tổ chức, thế nào là một ý tưởng tốt thì có lẽ khó tìm được câu trả lời thích đáng.  Nếu chiểu theo các giai đoạn phát triển như một gợi ý cách tiếp cận, thì các cuộc thi khuyến khích người tham gia ở mọi giai đoạn, mọi cấp độ khởi nghiệp dẫn đến sự hoang mang trong tổ chức, tiêu chí chồng chéo. Nếu là cuộc thi ý tưởng ở giai đoạn Ideation (lên ý tưởng) thì không thể sau ba tháng đã dạy các em “pitching” (thuyết phục gọi vốn) với nhà đầu tư.  Đó là còn chưa nói đến việc đối tượng tham gia rất đa dạng, ở các trường, nhóm ngành khác nhau, không được đào tạo cách tư duy và các công cụ khởi nghiệp – vốn là một lỗ hổng quá lớn trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Việc ôm đồm, thiếu cụ thể trong tiêu chí xét giải và cách tiếp cận của các cuộc thi lại càng khiến người tham gia hoang mang.  Thiếu mục tiêu cụ thể: Khuyến khích khởi sự kinh doanh thực chất là chúng ta khuyến khích con người phát triển khả năng, theo đuổi đam mê từ đó làm giàu cho xã hội. Tiếc thay, cả việc truyền thông lẫn giảng dạy đều không làm tốt việc đó. Nhiều cuộc thi, chương trình khởi nghiệp hô hào nhưng không đặt bài toán, khuyến khích người tham gia tìm và xử lý những vấn đề cụ thể của xã hội, thông điệp đưa ra là cứ khởi nghiệp đi để làm giàu là một thông điệp sai lầm và cho ra những sản phẩm đầu ra kém chất lượng là điều dễ hiểu. Các cuộc thi trong những lĩnh vực cụ thể đang thiếu và yếu, trong khi những cuộc thi chung chung thì lại quá nhiều.  Cách thức triển khai dập khuôn, nhàm chán và kém hiệu quả: Do thiếu tầm nhìn, triết lý và cách đặt vấn đề, format các cuộc thi gần như giống nhau y hệt, có khác chăng là thời lượng, trị giá giải thưởng. Việc đặt ra những giải thưởng trị giá lớn những mong có ý tưởng tốt là một sai lầm khác của các cuộc thi hiện nay. Không nói đâu xa, cuộc thi danh giá SXSWedu Launch dành cho các nhà khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ giáo dục (EdTech) của Mỹ, mà chiến thắng thuộc về Elsa Speak- một ứng dụng luyện nói tiếng Anh của hai đồng sáng lập người Việt, giải thưởng chỉ có 2.500 USD. Không phải là trị giá giải thưởng nói lên uy tín của nó, mà chính là uy tín của cuộc thi với 1.200 ý tưởng trên khắp thế giới tham gia, một ban giám khảo công tâm nghiêm túc và quá trình sàng lọc khắt khe để đến được giải nhất mới là niềm tự hào của người tham gia.  Format giống hệt nhau (Khởi đầu bao giờ cũng là chấm ý tưởng sơ khai; Đào tạo viết kế hoạch kinh doanh; Huấn luyện và hoặc cố vấn; Thuyết trình với nhà đầu tư) thể hiện sự cẩu thả trong thiết kế chương trình và cũng thể hiện sự yếu kém trong chuyên môn nghiệp vụ. Nếu nhìn lại các bước dẫn đến sự sẵn sàng đầu tư của khởi nghiệp, vô hình trung, chúng ta dạy các em nói thứ ngôn ngữ khác với nhà đầu tư và thị trường; khuyến khích một sự dễ dãi trong kinh doanh. Thông điệp về kinh doanh dễ dãi với sự đốt cháy giai đoạn đang dần giết chết thái độ nghiêm túc cần có trong kinh doanh và sự hoang tưởng không nên có trong những người trẻ.  Kỳ 2: Những hệ lụy của phong trào khởi nghiệp và hướng cải thiện  ———  1 Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư- Thất nghiệp Xanh. Đoạn “Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) từng dự báo sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu năm 2020 vào khoảng 11 triệu người, tức số người thất nghiệp mang quốc tịch Việt Nam đang chiếm 10% lực lượng lao động thất nghiệp toàn cầu.” đăng trên báo in là không chính xác    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Khởi nghiệp nông nghiệp: cần đủ ngây thơ để làm khác đi!      Dù là lần huấn luyện đầu tiên cho các bạn trẻ khởi nghiệp vùng cao phía Bắc, chuyên gia Trần Anh Tuấn, giám đốc công ty the Pathfinder, quyết định đi thẳng qua cách thiết lập tư duy và mô hình kinh doanh mới dựa vào phát triển khách hàng, thay vì chỉ dựa vào phát triển sản phẩm theo kiểu truyền thống.      Demo sản phẩm trong đợt huấn luyện khởi nghiệp ở Hà Giang. Ảnh: Anh Tuấn.  Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo tư duy nghịch đảo  Lớp học có hơn 60 bạn trẻ ở Hà Giang và các tỉnh Tây Bắc như: Tuyên Quang, Sơn La, đủ các dân tộc khác nhau như Kinh, Dao, Nùng, Tày, Thái trắng, Bố Y, Mông… Tài nguyên khởi nghiệp cũng rất khác nhau: từ thảo dược, trà cổ thụ đến chim bồ câu, gà chín cựa và cả dịch vụ du lịch homestay. Vùng đất đẹp hoang sơ và kỳ vĩ, hứa hẹn triển vọng kinh doanh rất phong phú (Quản Bạ, Hà Giang, Cổng Trời, Núi Đôi, Nậm Đăm…). Nhiều loại thảo dược và cây gia vị quý từ rừng thiên nhiên như tam thất, bột nghệ đỏ, giảo cổ lam, gừng, tiêu rừng, dổi rừng, mắc khén, thảo quả, tam giác mạch… Tuy nhiên đến nay, việc khai thác có hàm lượng chế biến và giá trị gia tăng chưa cao.Và vẫn tồn tại nhiều bí quyết chế biến thực phẩm và thuốc đông y được lưu truyền lâu đời của người dân tộc, rất đáng quý.  Chủ đề “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, xây dựng thương hiệu và tiếp thị tài nguyên bản địa” diễn ra trong hai ngày, được thiết kế theo mô hình đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tinh gọn. Người giảng yêu cầu: “Bạn cần phải đủ ngây thơ để làm mọi thứ khác đi”, nhằm khuyến khích mọi người tạm quên đi lối tư duy truyền thống, mà đi thẳng vào tư duy mới: tập trung vào thị trường, phát triển khách hàng ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng kinh doanh theo tư duy mới.  Học viên được hướng dẫn cách thức quan sát, kiểm chứng, học hỏi và điều chỉnh các giả định kinh doanh trong mô hình kinh doanh, rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí để phát triển sản phẩm, gia tăng khả năng thành công và giảm thiểu rủi ro thất bại và chi phí đầu tư… Làm sao xác dịnh thị trường ngách, vấn đề của khách hàng, giải pháp đáp ứng, xây dựng tuyên bố giá trị và sau đó mới xây dựng sản phẩm và doanh nghiệp. Cần thay đổi thực trạng: chủ yếu tập trung bán sản phẩm dẫn đến tình trạnh dễ cạnh tranh về giá, sản phẩm đơn điệu, nghèo nàn do thiếu kết hợp các sản phẩm dựa vào thang giá trị khách hàng.  Các bài tập giúp thấu hiểu khách hàng qua từng nhóm chân dung khách hàng mục tiêu cụ thể, tiếp cận và kiểm chứng chi tiết từ khách hàng, từ đó giúp giảm rủi ro thất bại do tạo ra những thứ mà khách hàng không cần. Tập trung sâu vào các phương thức phát triển khách hàng từ tư duy ý tưởng và cơ hội kinh doanh ban đầu, cách xây dựng phễu marketing và bán hàng dựa vào thang giá trị và thực hành các kỹ năng marketing và bán hàng cả online và offline, theo các loại phễu và mô hình kinh doanh khác nhau. Điều cốt yếu là hiểu biết khách hàng mục tiêu (đặc điểm về nhân khẩu học, sở thích, hành vi, kỳ vọng), cùng với cách thức làm hài lòng khách hàng, thậm chí  vượt quá mong đợi để từ đó bán chéo thêm sản phẩm, bán sản phẩm có giá trị cao hơn, bán sản phẩm mới và cổ động khách hàng, giới thiệu khách hàng mới…  Đổi mới sáng tạo giúp tạo ra giá trị mới hay nâng cao giá trị tài nguyên bản địa  Theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam, VCCI, 2016, chỉ số sáng tạo đổi mới của “Startup Việt Nam” chỉ đạt 11,4%, xếp hạng 50 trong số 60 nước thực hiện GEM (Tổ chức Giám sát kinh doanh toàn cầu). Trong đó, mới về sản phẩm chỉ đạt mức 4,8%, mới về thị trường là 2,2%, mới về công nghệ là 4,4%.  Với tài nguyên bản địa, cách thức đổi mới và khởi nghiệp phù hợp được định hướng trọng cầu – nghĩa là đổi mới nhằm thay đổi/tạo ra mục đích hay giá trị mới và gia tăng mức độ thoả mãn của người tiêu dùng (như du lịch homestay); hoặc thay đổi khách hàng mục tiêu, tạo thị trường mới hay mô hình kinh doanh mới… Người học được hướng dẫn thực hành cách thức đổi mới từng yếu tố chi tiết của thị trường (nhu cầu, đối tượng mục tiêu, tình huống sử dụng – địa điểm, thời gian, tình huống, hoạt động); sản phẩm (đặc điểm, kích cỡ, bao bì, thiết kế, thành phần, nỗ lực – chi phí, thời gian, rủi ro), và truyền thông tiếp thị (giá cả/định giá, phân phối, cách truyền thông/xúc tiến/khuyến mãi – nghĩa là cách thức để tiếp thị bán hàng), kể cả các tư duy marketing đột phá nhằm tạo ra các chủng loại sản phẩm mới. Theo đó, các sản phẩm có giá trị như trà phổ nhĩ (tuổi thọ từ 100 – 200 năm), gà chín cựa (gà tiến vua) thậm chí các sản phẩm thảo dược khác, đã xây dựng được định vị sản phẩm – thị trường mới, cung cấp các giá trị mới và khác biệt, áp dụng các thông điệp và cách thức truyền thông xã hội theo tư duy thời kỳ công nghiệp 4.0, giúp nâng cấp hình ảnh và tiếp cận các thị trường mới một cách khả thi với giá trị gia tăng cao hơn.  Chương trình cũng hướng dẫn quy trình thiết kế và xây dựng thương hiệu từ những bước căn bản, như xây dựng bản sắc và hình ảnh thương hiệu, thiết kế logo và nhận diện thương hiệu, kết hợp với phân tích, đánh giá và góp ý tại chỗ nhiều sản phẩm, thiết kế, bao bì của các bạn tham gia, kể cả cách thức kết hợp với các thương hiệu tập thể, như chỉ dẫn địa lý hiện hữu nhằm hỗ trợ các nhãn hiệu khởi nghiệp mới ra đời. Các bạn cũng được hướng dẫn cách thức liên kết và hợp sức giữa các sản phẩm, thương hiệu nhằm hướng đến việc hình thành hệsinh thái khởi nghiệp phát triển theo nhóm kinh doanh phát triển bền vững.  Hà Giang cũng như các tỉnh thuộc Tây Bắc, hiện sở hữu nhiều tài nguyên bản địa quý báu, hứa hẹn làm được những sản phẩm và dịch vụ có giá trị cao. So với các tỉnh, thành ở đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Đồng Tháp… các tỉnh miền Bắc như trên còn nhiều hạn chế trong tư duy, sản phẩm cung cấp, công nghệ kỹ thuật và công nghệ quản trị. Tư duy mới sẽ tạo ra giá trị mới, hay nâng cao giá trị cho tài nguyên bản địa và dẫn đến đến thành công lớn hơn.  Tuấn Trần (The Pathfinder)  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp sáng tạo xã hội: Khi cơ hội nằm trong thách thức      Bài viết sẽ làm rõ một số khái niệm khởi nghiệp sáng tạo (startup), đồng thời giới thiệu những câu chuyện khởi nghiệp sáng tạo xã hội đang truyền cảm hứng trên khắp thế giới và cùng độc giả khám phá những cơ hội cho khởi nghiệp sáng tạo xã hội ở Việt Nam.    Khởi nghiệp sáng tạo xã hội – Tại sao?  Trước hết, để hiểu hết ý nghĩa của khái niệm này, hãy cùng nhìn vào xu hướng để hiểu xem tại sao đây không chỉ là một khái niệm mới mà trở thành một xu hướng được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân quan tâm. Không phải ngẫu nhiên, mặc dù vẫn là khái niệm mới mẻ, xu hướng này đang lan rộng. Không chỉ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mới hình thành, xu hướng này còn len lỏi vào các tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Báo cáo gần đây nhất tháng 5.2018 của Deloitte về Xu hướng nguồn nhân lực toàn cầu được thực hiện qua 11.000 doanh nghiệp và các lãnh đạo về nguồn nhân lực kết hợp với phỏng vấn sâu với các lãnh đạo của các tổ chức hàng đầu đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp xã hội đang là xu hướng mà các doanh nghiệp/tổ chức hướng tới- chuyển đổi từ doanh nghiệp kinh doanh sang doanh nghiệp xã hội. Không phải ngẫu nhiên điều này trở thành một xu hướng bởi lẽ, các doanh nghiệp nhận ra rằng xây dựng doanh nghiệp dựa trên nguồn lực xã hội sẽ tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp. 65% CEO tham gia khảo sát cho rằng tăng trưởng mang lại lợi ích cho các bên liên quan mới là xu hướng chiến lược của các doanh nghiệp thay vì tập trung vào gia tăng giá trị cho cổ đông. Theo họ đây là cách vô cùng quan trọng để duy trì uy tín của tổ chức, thu hút và giữ chân nhân tài và nuôi dưỡng sự trung thành của khách hàng. 77% số người tham gia trả lời cho khảo sát trên cho rằng tinh thần công dân và tác động xã hội là những nhân tố tối quan trọng. Kinh doanh không chỉ còn đơn thuần là kiếm tiền, 86% số người trẻ thuộc thế hệ millennials cho rằng, thành công trong kinh doanh cần phải được đo lường bằng nhiều nhân tố hơn ngoài các chỉ số về tài chính.    Xu hướng dịch chuyển của các tổ chức truyền thống sang doanh nghiệp xã hội.Lược từ nguồn: Deloitte Global Human Capital Trends Survey, 2018.  Một thống kê khác của Red Bull đang thực sự chỉ ra, không còn là xu hướng, doanh nghiệp xã hội đang thuyết phục được các nhà đầu tư về hiệu quả kinh doanh song song với tác động xã hội không nhỏ của mình. Tính riêng Vương quốc Anh, hiện có hơn 470.000 doanh nghiệp xã hội và đang giải quyết công ăn việc làm cho hơn 1.44 triệu người. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp này là giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, thiên nhiên hoang dã và những vấn đề quan trọng của đời sống xã hội. Hay ở Australia, hiện đang có khoảng hơn 20.000 doanh nghiệp xã hội (thống kê đến năm 2016, giải quyết việc làm cho hơn 300.000 người và tạo ra 2-3% GDP. Trong vòng 10 năm tới, con số này dự kiến tăng lên khoảng 4% GDP và giải quyết việc làm cho khoảng 500.000 người Australia. Thống kê của Hội đồng Anh cũng cho thấy, doanh nghiệp xã hội đang đóng góp khoảng 10% GDP của Pháp, 15% GDP của Italia và 15.9% GDP ở Hà Lan và Bỉ. Theo báo cáo của Hội đồng Anh, mô hình hợp tác xã đóng góp vào GDP của Kenya 45%, cao hơn rất nhiều so với mức đóng góp của cả khu vực công và tư. Không những thế, doanh nghiệp xã hội đang giải quyết rất nhiều trong số những mục tiêu phát triển của Liên Hợp Quốc như cân bằng giới, không phân biệt chủng tộc. Theo một báo cáo của Santander năm 2015, 40% doanh nghiệp xã hội của Anh do phụ nữ làm chủ, 31% số doanh nghiệp này có sự đa dạng về chủng tộc (có người da màu và châu Á tham gia làm việc) và 40% do người khuyết tật làm chủ.  Những thông tin trên đó phần nào phản ánh xu hướng trở thành doanh nghiệp xã hội và đi cùng nó là khởi nghiệp sáng tạo xã hội sẽ trở thành một xu hướng không thể bỏ qua trong những năm tới cho cả doanh nghiệp đã vận hành và doanh nghiệp khởi nghiệp.  Vậy khởi nghiệp sáng tạo xã hội là gì?   Theo Social TrendSpotter, Đổi mới sáng tạo xã hội (Social Innovation) bắt nguồn từ ý tưởng: những ý tưởng có thể là sản phẩm, dịch vụ hoặc phương pháp làm mới để tạo ra những thay đổi, thay thế cho những giải pháp đã có với những giá trị cho xã hội. Để chứng minh cho chuẩn mực cao nhất của tác động xã hội mà một ý tưởng đổi mới sáng tạo tạo ra, cần phải có kiểm chứng thực tế.   Doanh nghiệp xã hội (Social Enterprise) là câu chuyện về mô hình kinh doanh. Đã là kinh doanh tức là phải chứng minh được khả năng tối ưu hóa về tài chính và gia tăng giá trị cho xã hội cho dù doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận. Một vài doanh nghiệp xã hội có thể sử dụng các nguồn tiền vì mục đích thiện nguyện hoặc vốn hỗ trợ ban đầu trong giai đoạn khởi sự kinh doanh, các doanh nghiệp đều hướng đến mô hình kinh doanh tự sống được dựa trên khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.  Tinh thần doanh nhân xã hội (Social Entrepreneurship) có thể coi là câu chuyện về tư duy. Những doanh nhân xã hội là những người hoạt động không ngừng nghỉ tìm ra những giải pháp sáng tạo để thay đổi. Có một vài đặc điểm để nhìn ra họ 1) Họ yêu vấn đề hơn là giải pháp 2) Họ tin rằng không một ai có thể sở hữu một giải pháp nào đó cho vấn đề xã hội, mà thay vào đó, các giải pháp phải theo hướng đồng sáng tạo với cộng đồng để đảm bảo tính bền vững và tác động 3) Họ biết, tác động là thước đo cuối cùng và không chỉ phụ thuộc vào đổi mới sáng tạo và phát minh; họ chứng minh tác động và theo đuổi những thang đo về tác động giúp họ trở thành những con người vừa có tầm nhìn vừa rất kỷ luật trong cách tiếp cận.    Doanh nhân xã hội “yêu vấn đề hơn là giải pháp”, họ tin rằng các giải pháp phải theo hướng đồng sáng tạo với cộng đồng để đảm bảo tính bền vững và tác động. Ảnh: Social Change Central  Nếu kết hợp những yếu tố sáng tạo xã hội với định nghĩa về startup của Steve Blank: “là một tổ chức mang tính tạm thời được thành lập để đi tìm kiếm mô hình kinh doanh có thể nhân rộng ra được và lặp lại được” với những hiểu biết trên về doanh nghiệp xã hội thì có thể hiểu khởi nghiệp sáng tạo xã hội chính là: “một tổ chức mang tính tạm thời được thành lập để tìm kiếm mô hình kinh doanh giải quyết vấn đề xã hội có thể nhân rộng ra được và lặp lại được”.  Nói một cách khác, khởi nghiệp sáng tạo xã hội là phát triển mô hình nhằm hướng tới nhiều mục đích, gồm cả lợi nhuận và tiến bộ cho tất cả những người tham gia vào quá trình này, mô hình này mở rộng ra được và nhân rộng ra được ở những nơi có vấn đề. Ở đâu có vấn đề, ở đó có giải pháp. Trong khi 80% dân số thế giới sống ở các quốc gia đang phát triển với quá nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, giáo dục, y tế v…v còn đang trong tình trạng thiếu thốn và nhiều bất cập, thì cơ hội cho những cá nhân, tổ chức đi tìm kiếm những mô hình mới giải quyết được cả vấn đề xã hội, vừa đảm bảo yếu tố kinh doanh và nhân rộng ra được, lặp lại được ở nhiều vùng, nhiều quốc gia là rất lớn.     Trên thực tế, cần phải nhấn mạnh rằng, so với mô hình cũ của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, khi không có động cơ lợi nhuận trong quá trình kinh doanh, các khoản tài trợ, hỗ trợ không thể mang lại cơ hội cho cả một cộng đồng tạo ra thu nhập thì vòng đói nghèo khó có thể vượt qua được. Trên tinh thần của doanh nhân xã hội, với những chủ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo xã hội, công nghệ không phải là lợi thế cạnh tranh duy nhất mà những doanh nghiệp này dựa vào. Họ luôn tìm hướng cân bằng giữa yếu tố công nghệ, phát triển bền vững.  Cơ hội ở Việt Nam và các nước đang phát triển  Khi doanh nghiệp xã hội trở thành một lực hấp dẫn thì khởi nghiệp sáng tạo xã hội càng trở nên hấp dẫn với các thị trường phát triển và cả đang phát triển hơn trong một thập kỷ trở lại đây. Theo thống kê, 89% số doanh nghiệp xã hội ở Ấn Độ là dưới 10 năm tuổi hay hơn 50% số doanh nghiệp xã hội được thành lập ở ada là dưới. Ở Việt Nam theo thống kê nêu ra trong báo cáo Thúc đẩy Khu vực Doanh nghiệp tạo tác động xã hội  Phát triển tại Việt Nam (2018) của nhóm nghiên cứu ĐH Kinh tế Quốc dân dưới sự hỗ trợ của UNDP: 50% các doanh nghiệp có mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, tiếp đó là tạo cơ hội việc làm cho nhóm ngoài lề (46.7%); bảo vệ môi trường (32%); thúc đẩy giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ người học (30%) và hỗ trợ phát triển nông nghiệp (24%). Đây là 5 ưu tiên hàng đầu của các SIB Việt Nam. Con số thống kê bảng dưới đây cho thấy số lượng những doanh nghiệp xã hội hoặc có liên quan đến yếu tố xã hội hiện ở Việt Nam vào khoảng gần 50.000. Tuy nhiên, hiện chưa có con số thống kê cụ thể về đóng góp của những doanh nghiệp xã hội nói chung và doanh nghiệp sáng tạo xã hội nói riêng vào GDP. Nếu nhìn vào quy mô có thể thấy các con số phản ánh một thực tế, các doanh nghiệp xã hội hiện tại vẫn đang dừng lại ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ; yếu tố xã hội và phát triển bền vững được lồng ghép vào công việc kinh doanh nhiều hơn là thực sự có những mô hình khởi nghiệp sáng tạo xã hội nổi bật. Việc tìm kiếm những mô hình mới sáng tạo giá trị gia tăng cao và tác động lớn hơn vẫn đang ở mức khiêm tốn. Để kích thích những sáng tạo xã hội phát triển, khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo xã hội phát triển mạnh mẽ đương nhiên đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ nhận diện tầm quan trọng của nó cho đến phát hiện những cơ hội từ nguồn tài nguyên chúng ta đang có kết hợp với những vấn đề ta đang gặp phải và xu hướng trên thế giới.  “Ngàn dặm cũng bắt đầu từ những bước đi đầu tiên”, sáng tạo xã hội nói chung và khởi nghiệp sáng tạo xã hội nói riêng chính là hướng đi quan trọng trong những năm tới nhằm giải quyết những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải ở tầm quốc gia và đã tồn tại rất lâu, cần có sự đột phá để giải quyết. Những câu chuyện về khởi nghiệp sáng tạo xã hội đi kèm bài viết như một gợi ý để những khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam tiềm năng có thể thấy được cơ hội của chính mình qua câu chuyện của những chủ doanh nghiệp giống mình, hay rộng hơn là những quốc gia có những vấn đề tương đồng.  Tài liệu tham khảo  Social TrendSpotter. What is the Difference between Social Innovation, Social Enterprise & Social Entrepreneurship? Nguồn: https://medium.com/@socialtrendspot/what-is-the-difference-between-social-innovation-social-enterprise-social-entrepreneurship-fe3fce7bf925 (truy cập ngày 27.12.2018)  3 Social Enterprise Startup Examples to Get You Inspired for Change  https://changecreator.com/3-social-enterprise-startups-examples-to-get-you-inspired/  The Rise Of The Social Enterprise: A New Paradigm For Business  https://www.forbes.com/sites/joshbersin/2018/04/03/the-rise-of-the-social-enterprise-a-new-paradigm-for-business/#2450278271f0  The 6 mindblowing social enterprise stats you need to know  https://www.redbull.com/int-en/social-enterprise-stats  http://www.vn.undp.org/content/dam/vietnam/docs/Publications/Foster%20SIB%20Sector%20in%20Vietnam_V_ebook.pdf  https://ethnotek.com/collections/vietnam-hmong  http://vov2.vov.vn/con-duong-tri-thuc/nang-luong-dien-gio-ho-tro-cac-gia-dinh-ngheo-c48-27379.aspx  http://1516energy.com/  Ethnotek – hoa văn nhắc nhở về du lịch có trách nhiệm  Nhìn chiếc balo dưới đây, sẽ không khó để nhận ra hoa văn là thổ cẩm của người H’mông ở Việt Nam. Ethnotek trở thành một khởi nghiệp sáng tạo xã hội truyền cảm hứng trên toàn thế giới khi kết hợp được cả yếu tố dân tộc và công nghệ. Sau một chuyến đi du lịch tới Việt Nam, Jake Orak đã thực sự xúc động bởi hoa văn của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Orak kết hợp mong muốn bảo tồn những giá trị văn hóa này với nhu cầu du lịch trong thời đại công nghệ cao và Ethnotek ra đời với những sản phẩm đảm bảo 6 tiêu chí: có trách nhiệm với xã hội, chống nước, làm bằng tay, có nguồn gốc từ thực vật, sản xuất chậm, không hóa chất độc hại. Các sản phẩm hài hòa giữa sản phẩm thủ công mang đậm giá trị văn hóa dân tộc được làm từ in tay, thêu, tôn vinh giá trị văn hóa bản địa và yếu tố công nghệ thực sự thuyết phục người tiêu dùng về một lối sống có trách nhiệm và bền vững. Ở mỗi sản phẩm trên website của mình, Ethnotek giới thiệu về các sản phẩm, xây dựng cầu nối văn hóa giữa người mua hàng với câu chuyện của những vùng đất mà các chất liệu này được tạo ra để nâng cao nhận thức về bảo tồn văn hóa. Sản phẩm được định giá thuộc dòng cao cấp này kết hợp giữa công nghệ và yếu tố dân tộc, đã mang lại giá trị cho cộng đồng không chỉ ở Việt Nam mà đang thay đổi cuộc đời của cả những nghệ nhân ở Ghana, Guatemala, Ấn Độ, Indonesia. Bản thân sản phẩm của Ethnotek ngoài những giá trị bảo tồn văn hóa, còn có những giá trị về phát triển thời trang bền vững. Trong khi, các sản phẩm để sản xuất balo cặp túi hiện nay đều có nguồn gốc từ động vật, sợi tổng hợp như nilon, polyester gây ô nhiễm cho môi trường từ quá trình sản xuất cho tới khi chúng bị vất bỏ, các chất liệu này trở thành rác thải khủng khiếp cho môi trường, thì những sản phẩm như của Ethnotek thực sự đưa ra thông điệp góp phần cổ vũ cho tiêu dùng sinh thái, tiêu dùng xanh và bền vững.    Họa tiết của balo Ethnotek có thể thấy trên váy của người H’mông, Việt Nam. Ảnh: Ethnotek     1516-Green Design- Một khởi nghiệp sáng tạo xã hội của Việt Nam thiết kế, lắp đặt turbine gió mini cho các hộ gia đình nghèo   Sản xuất máy phát điện từ sức gió vốn không phải mới trên thế giới, các nhà máy điện tận dụng cơ năng từ gió chuyển thành điện năng thường được triển khai ở quy mô lớn và tốn kém rất nhiều chi phí đầu tư. Việc tìm kiếm một mô hình thiết kế nhỏ gọn cho những vùng lưới điện chưa phủ tới hoặc không ổn, định phục vụ những hộ gia đình nghèo vùng sâu vùng xa, những hộ gia đình lênh đênh trên sông nước ở Việt Nam vẫn còn là một bài toán khó. Thêm vào đó, nhu cầu sự phù hợp về chi phí, phục vụ những nhu cầu tối thiểu như thắp sáng, đun nấu, quạt mát đòi hỏi những đổi mới. Giải pháp mới của 1516-Green Design- Turbine điện gió mini – một khởi nghiệp sáng tạo xã hội của Việt Nam đã giải quyết được bài toán này. Bằng việc sử dụng những vật liệu đơn giản dễ tìm như chậu thau, thanh nhôm phế thải, nhựa composit đúc thành dáng Turbine với công suất tối đa 200W, giải pháp có thể giúp một hộ gia đình thắp sáng 3-4 bóng đèn led, lắp quạt điện và sạc thiết bị trong nhà. Bên cạnh đó, Turbin gió tích hợp với pin năng lượng mặt trời để tận dụng ánh nắng ban ngày, bình sạc ác quy và thiết bị chuyển đổi. Chi phí cho thiết bị này cũng chỉ dao động quanh mức 3-4 triệu đồng. Mô hình của Green Design trong giai đoạn đầu là sản phẩm sẽ được các tổ chức xã hội mua để Green Design lắp đặt cho người nghèo miễn phí. Bản thân mô hình này cũng đang tận dụng được các nguồn lực xã hội để hỗ trợ người nghèo và vẫn giúp thương mại hóa sản phẩm của doanh nghiệp cũng như cải tiến liên tục. Tuy nhiên, với mức giá này và tiềm năng giải quyết vấn đề năng lượng cho các hộ gia đình quy mô nhỏ vốn chiếm một số lượng không hề nhỏ tại các vùng sâu vùng xa và ven đô những thành phố lớn, sản phẩm hoàn toàn có thể được thương mại hóa và mang lại giải pháp năng lượng cho nhiều người nghèo.    Các turbin gió được lắp đặt tại các hộ gia đình ở Sông Hồng, có thể giúp việc thắp sáng. Ảnh: FB của 1516-Green Design.       Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Khởi nghiệp tinh gọn cho doanh nghiệp B2B      “Lean B2B – Build Products business want” – Cuốn sách khởi nghiệp tinh gọn để bán hàng cho doanh nghiệp- Xây dựng những sản phẩm mà doanh nghiệp muốn. Tác giả: Étienne Garbugli.      Lấy cảm hứng từ khởi nghiệp tinh gọn, cuốn sách Lean B2B1 là cuốn sách đặc biệt quan trọng cho những ai khởi nghiệp chọn con đường chông gai là bán hàng cho doanh nghiệp. Étienne Garbugli tiếp cận bán hàng cho doanh nghiệp theo phương pháp của khởi nghiệp tinh gọn với từng bước hướng dẫn chi tiết, từ bức tranh lớn đến những chuẩn bị cụ thể và các bước tiến hành.   Xuất phát từ điểm khác biệt lớn nhất & những khó khăn đặc thù  Ví von việc bán hàng cho doanh nghiệp giống như David gặp người khổng lồ Goliah, với một doanh nghiệp khởi nghiệp, tác giả chỉ ra rằng việc bán hàng cho một doanh nghiệp gian nan và đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng như thế nào: “Không chuẩn bị là chuẩn bị cho thất bại”. Thay vì chỉ một người ra quyết định mua hàng trong B2C1, bán hàng cho doanh nghiệp khiến khởi nghiệp phải chuẩn bị tâm thế cho việc thuyết phục cho những nhóm khác nhau trong công ty với những tiêu chí khác nhau và người ra quyết định cuối cùng không phải là một người duy nhất. Doanh nghiệp có nhiều mối quan tâm đòi hỏi bạn phải có sự chuẩn bị, hiểu biết và đặc biệt luôn sẵn sàng đàm phán. Đó là lý do, bán hàng B2B giống như một cuộc chiến không cân sức giữa người bán và khách hàng. Với khởi nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp, khởi nghiệp tinh gọn B2B là tìm kiếm câu chuyện khớp giữa sản phẩm và thị trường (product-market fit) càng hiệu quả càng tốt.   Cuốn sách này cho bạn điều gì?  Thay vì mang sản phẩm thử ra ngay thị trường, khởi nghiệp B2B cần trang bị cho mình thật tốt kiến thức ngành, hiểu biết về doanh nghiệp, chuẩn bị network và các kỹ năng networking cũng như cách thức thâm nhập thực tế của khách hàng doanh nghiệp và phát triển đội nhóm của công ty mình trước khi ra mắt đối tác tiềm năng hoặc những khách hàng đầu tiên.   Qua những bước chuẩn bị, các khởi nghiệp B2B sẽ đi vào câu chuyện hiểu thị trường, hình thành giả định và tìm kiếm những khách hàng để thử nghiệm sản phẩm đầu tiên bằng cách thức khôn ngoan để hiểu rõ vấn đề, đặt thứ tự ưu tiên với vấn đề mình sẽ giải quyết, từ đó mới phát triển sản phẩm thử với tính năng tối thiểu (MVP- minimum viable product). Cuốn sách cũng chỉ ra cho bạn những thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt khi bán hàng B2B trong từng giai đoạn.   Cuốn sách này dành cho ai?  Không chỉ những người sáng lập các doanh nghiệp B2B, cuốn sách này phục vụ cả những giám đốc sản phẩm, nhà phát triển sản phẩm và chuyên gia marketing, những người cần hiểu quá trình dẫn đến thuyết phục trái tim của khách hàng là doanh nghiệp diễn ra như thế nào.  Cuốn sách còn là gợi ý cực kỳ thiết thực cho những nhà đầu tư thiên thần, nhà đầu tư mạo hiểm để đánh giá doanh nghiệp khởi nghiệp mà mình sẽ đầu tư, đặc biệt là khả năng xây dựng một sản phẩm khớp với nhu cầu thị trường của doanh nghiệp B2B.  Cuối cùng, đây là cuốn sách tuyệt vời cho những nhân viên bán hàng cho doanh nghiệp. Mỗi một nhân viên bán hàng cho doanh nghiệp đều phải hiểu điều gì sẽ xảy ra nếu bạn bán hàng cho doanh nghiệp.    ——–  1 B2B – Business to Business dùng để chỉ các công ty có sản phẩm dành cho doanh nghiệp, phân biệt với B2C – Business to Customer là chỉ doanh nghiệp có sản phẩm dành cho khách hàng lẻ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi nghiệp trong sinh viên: Cảnh báo những cơn hoang tưởng (Kỳ 2)      Các cuộc thi khởi nghiệp đang cố gắng để tăng số lượng sinh viên có tư chất lên, trong khi điều đó là không thể.         Những hệ lụy khôn lường  Những cuộc thi ồn ào như showbiz: Sẽ không ngoa nếu mô tả bức tranh các cuộc thi khởi nghiệp hiện nay như một showbiz. Những sự kiện rầm rập, các bạn “startup” như chạy sô từ chỗ này sang chỗ khác. Thay vì dành thời gian tiếp xúc khách hàng, người sẽ nuôi sống họ, hay chí ít ngồi một chỗ để phát triển sản phẩm dịch vụ, thì các bạn mang dự án đi hết nơi này đến nơi khác “pitching” hết cuộc thi này, vườn ươm kia mong tìm được nhà đầu tư. Chúng ta cần có cái nhìn toàn diện hơn và sâu sắc hơn. Khi khuyến khích các cuộc thi khởi nghiệp, chúng ta đang khuyến khích sự ồn ào nổi tiếng, cơ hội được đầu tư, hồ sơ tốt khi đi xin việc hay sự tham gia mang tính phong trào? Chúng ta tạo ra những giải thưởng hấp dẫn và số tiền thưởng ngày càng tăng lên để hút được nhiều ý tưởng hay hay thực chất ta đang tạo ra những dự án zombie? Không ít dự án nhất nhì các cuộc thi bước chân ra ngoài thị trường bị chết yểu. Không ít dự án nằm trên giấy và vĩnh viễn chỉ xuất hiện trong hồ sơ của một vài bạn trẻ.  Cơn hoang tưởng không hồi kết: Có một nhà đầu tư từng bảo tôi, nhìn các giai đoạn phát triển của startup như trên mới thấy, cơn hoang tưởng có lẽ khó dừng lại. Anh từng buộc phải từ chối đầu tư cho dự án vì chủ dự án mới ở giai đoạn ý tưởng, mặc dù ý tưởng rất hay, bạn ấy rất thông minh, thị trường cũng có tiềm năng nhưng định giá ở mức ngất trời – 25 triệu USD. Những giấc mơ Zuckerberg khiến không ít bạn trẻ tin rằng, mình sẽ làm ra một cái gì đó tương tự. Không ai cấm các em mơ lớn, nhưng khi bản thân không kiếm nổi một đồng nuôi thân để tự lập thì đừng mong một ngày sẽ có những ý tưởng thay đổi cả thế giới. Chúng ta muốn các bạn nghĩ lớn nhưng không khuyến khích các em bắt đầu nhỏ. Cách tiếp cận hời hợt về nhà đầu tư khiến các bạn trẻ mới bắt đầu có ý tưởng kinh doanh đã nghĩ ngay đến việc đi gặp nhà đầu tư để có tiền thực hiện mà quên đi mất rằng, tiền không phải là câu chuyện quan trọng nhất trong khởi sự kinh doanh.  Lãng phí thời gian, tiền bạc và cả cơ hội: không chỉ lãng phí nguồn lực của xã hội mà một điều rất đáng nói ở đây là sự lãng phí cả về thời gian và cơ hội. Quay trở lại bài báo về “thất nghiệp xanh” tôi đã nêu [ở kỳ 1], năng lực cạnh tranh kém của nguồn nhân lực Việt Nam thể hiện qua kỹ năng mềm, khả năng xử lý tình huống và giải quyết vấn đề. Nếu những nguồn lực được đặt đúng chỗ, nâng cao năng lực cho các em, có lẽ cơ hội kiếm tiền, xin việc làm sau khi tốt nghiệp đã cao hơn rất nhiều. Một thầy giáo người Mỹ từng chia sẻ với tôi, khi viết hồ sơ, các bạn trẻ Việt Nam có xu hướng kể rất nhiều về những dự án tự kinh doanh của mình, nhưng trên thực tế, nếu nộp sang Mỹ thì đó là điểm trừ. Họ đánh giá cao nhất những người tìm được việc làm ở những công ty lớn vì đó là bộ lọc thực sự của thị trường. Chỉ có thất nghiệp mới phải khởi sự kinh doanh. Đây mặc dù chỉ là một cách nhìn, nhưng nó cũng khiến chúng ta suy nghĩ, nên khuyến khích các em cái gì. Trở thành người làm thuê chuyên nghiệp để học và phát triển trước khi khởi sự kinh doanh hay trở thành một người khởi sự kinh doanh ngay? Chi phí cơ hội nằm ở sự lựa chọn.  Một số gợi ý về hướng tiếp cận  Làm thế nào để những cuộc thi hay các chương trình khởi nghiệp đạt được hiệu quả cao hơn và đồng hành với sự phát triển con người, nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn lực trẻ?  Vấn đề đầu tiên cần thay đổi chính là ở tư duy. Mặc dù khuyến khích khởi sự kinh doanh, nhưng phải luôn nhận thức được rằng, khởi sự kinh doanh không phải là cách duy nhất để thành công và đóng góp cho xã hội. Khởi sự kinh doanh để theo đuổi đam mê, bán những giá trị của riêng mình là điều nên làm, còn nếu không, hãy biến nó thành một quá trình tự học để giải quyết những vấn đề lớn và hoàn thiện kỹ năng cho bản thân trước khi đi xin việc.  Để minh chứng cho việc tôi thuyết phục những người đang thúc đẩy phong trào này, thay đổi tư duy như trên, xin đưa ra một minh họa như sau:    Nếu lấy hình vẽ trên đây tượng trưng cho hơn hai triệu sinh viên trên cả nước (theo GSO.2015), thì trên thực tế tỷ lệ sinh viên có ý tưởng tốt và khả năng khởi sự kinh doanh chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (chấm tròn màu trắng). Tỷ lệ thành công ngay thời đi học lại càng nhỏ hơn (dưới 4% trong số này). Chúng ta đang cần khuyến khích các em có ý tưởng tốt và khả năng kinh doanh đi khởi nghiệp và tạo điều kiện cho các em đã khởi nghiệp thành công tiếp tục mở rộng kinh doanh. Chúng ta cần hỗ trợ các em có tư chất, còn như hiện nay, chúng ta đang cố gắng tăng số lượng những em này. Dường như chúng ta quên đi mất mình đang phục vụ ai và mục tiêu là gì.  Để phục vụ các đối tượng tốt hơn, và gia tăng khả năng được tuyển dụng hoặc khởi nghiệp thành công của sinh viên sau khi ra trường, chúng ta cần xây dựng phễu cho các cuộc thi.    Phễu này giúp cho các cuộc thi và các trường – nơi tổ chức cuộc thi, lựa chọn phân khúc để hỗ trợ. Chẳng hạn, nếu nhắm đến phân khúc đại trà, để các em học sinh nâng cao trải nghiệm, gia tăng kỹ năng… thì cần có triết lý và format tương ứng với phân khúc mục tiêu đó. Bên cạnh đó, một ích lợi khác của phễu cuộc thi này còn là để các trường xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc phục vụ từng giai đoạn khác nhau của các dự án khởi nghiệp trong sinh viên. Nhà trường chỉ tham gia kết nối đầu tư hoặc đầu tư, phát triển và nhân rộng mô hình khi các em đã có những dự án khả thi và được thử nghiệm bởi thị trường.  Ở các trường đại học, việc ưu tiên số một là giảng dạy và lồng ghép khả năng tư duy sáng tạo, phát hiện vấn đề của đời sống, thị trường và tư duy về khởi sự kinh doanh cho tất cả học sinh. Tiếp theo, cần đào tạo cho các em những kỹ năng quan trọng mà không chỉ khởi nghiệp cần như kỹ năng lãnh đạo và những kỹ năng mềm khác như làm việc đội nhóm, xử lý tình huống, đàm phán v.v. Sâu hơn nữa có thể cung cấp những công cụ cơ bản: Ví dụ công cụ của khởi nghiệp tinh gọn (lean startup), một trào lưu được rất nhiều trường đại học trên thế giới đưa vào giảng dạy do khả năng ứng dụng của nó trong doanh nghiệp rất thực tiễn. Một khi đã phát triển được tư duy, những kỹ năng và công cụ này, cơ hội để có việc làm sau khi tốt nghiệp của các em sẽ cao hơn cho dù khởi sự kinh doanh thành công hay thất bại. Lấy ví dụ tư duy phát hiện vấn đề, giải quyết sáng tạo, hiểu biết về chân dung khách hàng thì bất kỳ một sinh viên thuộc chuyên ngành nào, làm thuê hay khởi nghiệp đều cần nắm rõ.  Các cuộc thi khởi nghiệp cũng cần đứng từ bình diện rộng hơn, cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp ở trong và ngoài nước để nhìn những vấn đề và cơ hội của quốc gia trước nhiều ngưỡng cửa hội nhập mới. Chúng cần hướng các bạn trẻ tới những tư duy mới mẻ mang hơi thở của cuộc sống và kinh doanh hiện đại. Có như vậy, khởi sự kinh doanh mới thở chung một bầu không khí với thị trường lao động, với áp lực cũng như cơ hội hội nhập và trên hết mới hướng tới giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, thời đại.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Khởi nghiệp từ măng tây      Không chờ tiền từ trên trời rơi xuống cho khởi nghiệp, bà Trương Thị Hồng Giang, giảng viên khoa Kinh tế – luật, ĐH Trà Vinh, muốn trải nghiệm độ “gập ghềnh” của hành trình khởi nghiệp, với mô hình trồng măng tây trên đất giồng cát bằng chính nguồn tiền riêng.      Bà Trương Thị Hồng Giang, giảng viên khoa Kinh tế – luật, ĐH Trà Vinh, muốn trải nghiệm độ “gập ghềnh” của hành trình khởi nghiệp, với mô hình trồng măng tây trên đất giồng cát bằng chính nguồn tiền riêng.  Hành trình…  “Hồi trước, những nông dân làm rẫy ở Trà Cú, Duyên Hải (Trà Vinh) thu hoạch măng tây rất ngon, nhưng không tìm được đầu ra, nên khi trở lại rủ bà con trồng thì măng tây đã rụi hết”, bà Giang kể. Phải mất hai năm bà Giang mới có thể ngồi nói chuyện với người trồng về những con số chi phí lợi ích từ mô hình 2ha trồng măng tây. Giá măng tây giống là 7.000 đồng/cây, mỗi ha trồng được 20.000 cây. Gần như ngày nào cũng thu hoạch. Măng tây, nếu chăm sóc đúng cách có thể thu hoạch trong vòng 5 – 10 năm.  Để trồng măng tây, phải có phân hữu cơ, mà ở vùng đất này là phân bò. Nguồn phân bò từ những nông trại nuôi bò nhỏ lẻ của bà con Khmer, muốn gom không phải dễ, nhưng với vợ chồng bà Giang, coi việc thu gom phân bò là cơ hội chuyện trò, giải thích, thậm  chí “lôi kéo” người dân cùng trồng măng tây.  Bà Giang lý giải: “Do chất đất và quy trình canh tác sử dụng phân hữu cơ, nên măng tây đất giồng cát có vị ngọt tự nhiên, giòn, căng tròn; chứ không khẳng khiu như măng tây trên thị xã Trà Vinh”. Để người tiêu dùng chú ý tới nguồn hàng này, bà Giang thuê nhà kho, mua phân bò cấy vi sinh để làm phân hữu cơ, ương cây giống cung cấp cho nông dân…  Nhưng bán ở đâu?  Măng tây giồng cát ngon, nhưng bán ở đâu?Không bán được, trồng làm gì? Giang nhờ bạn bè ở TP.HCM nhận măng tây từ Trà Vinh về bán. Giá mua tại gốc là 55.000 đồng/kg.Trong khi đó, giá măng tây bán tại các siêu thị ở Trà Vinh là 171.000 đồng/kg loại 1, 148.000 đồng/kg loại 2.  Vậy tại sao các siêu thị không mua măng tây của mình?Phải chăng là số lượng cung ứng quá nhỏ nên họ chưa chịu lấy hàng? Với thực lực tài chính chỉ có thể làm 2ha, bà Giang đã thuyết phục nhiều nông dân cùng tham gia mô hình măng tây.  Để thuyết phục nông dân chuyển đổi sang mô hình trồng măng tây, bà Giang chia sẻ những thông tin thực tế: ít nhất phải đầu tư 400 triệu đồng/ha. Với giá bao tiêu 55.000 đồng/kg, người trồng thu được khoảng 160 triệu đồng trong năm đầu tiên. Sau hai năm, cứ 1 đồng vốn được 1 đồng lời. “Nhiều nông dân nói, tui nói rất hay; nhưng nông dân Trà Cú, Duyên Hải lấy đâu ra vốn để đầu tư?”, bà Giang nói.  Bà Giang đang tìm vốn cho nông dân. Nhưng muốn thu hút được vốn, phải hoàn thiện mô hình hiệu quả để chứng minh. Dựa vào nguồn vốn gia đình, bà Giang thuê đất trồng măng tây để thuyết phục nông dân và cả những nhà đầu tư. Bà thú thiệt, khi truyền thông điệp tới người tiêu dùng, truyền lửa cho người trồng, nhiều lúc bà thấy “oải”, nhưng nghĩ đến chuyện tương lai, bà tự động viên mình, ráng lên.  Cách làm thực tế như mô hình trồng măng tây hiện nay đã từng giúp bà Giang và gia đình thành công, khi tham gia chuỗi giá trị lúa gạo ở Cồn Chim (Châu Thành, Trà Vinh). Từ nguồn thu này, bà Giang nhóm lên ngọn lửa cho măng tây…  “Hiện nay, tôi đã kiểm soát được quy trình kỹ thuật, cây giống, vật tư đầu vào và chủ động cung ứng sản phẩm thương mại (gạo hữu cơ và măng tây) cho bạn bè bán lẻ. Nhưng nhãn mác, quy cách đóng gói vẫn còn lôi thôi, vẫn phải tìm tòi, vẫn học để có thể chia sẻ với các sinh viên có tinh thần khởi nghiệp”, bà Giang tự biết những điểm yếu của mình.  Hoàng Lan (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không ai ‘tự do’ như nông dân Việt      Chặt – trồng mới, trồng mới – chặt triền  miên, cái vòng luẩn quẩn bế tắc đó bào mòn sức lực, vốn liếng của bao  gia đình nông dân, GS Võ Tòng Xuân tâm tư về cách phát triển nông nghiệp  theo kiểu ‘tự do hoang dã’ của chúng ta.    Tự do tai họa!    Ông từng nhận xét: không ở đâu nông dân tự do như xứ này. Phải chăng ý của ông là, chính sách khoán 10, chỉ thị 100 “giải phóng” cho nông dân làm chủ sản xuất trên cánh đồng đã tạo động lực lớn đưa nước ta thành “cường quốc xuất khẩu gạo”? Nói cách khác, cho nông dân tự do trên mảnh ruộng của họ để họ tận tâm, tận lực, sáng tạo trong sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm hơn?  Tự do trong sản xuất không có nghĩa là không có tổ chức sản xuất. Ta đã nhầm lẫn điều này. Thực ra, tôi nói “chưa có nông dân nước nào được “tự do” như nông dân ta” theo nghĩa tiêu cực chứ không phải tích cực.  Thời gian qua ta hay khen ngợi nông dân ta, một phần vì sự “hy sinh” cho sự nghiệp chung của đất nước. Họ rất đáng trân trọng và đáng thương vì nhiều thiệt thòi họ phải chịu. Mặt khác, đó là sự động viên và an ủi cho họ là chính. Nhưng nếu cứ để kéo dài mãi thế này thì sự thương hại, an ủi, cảm thông kia chính là “làm hại” nông dân ta!  Trên thế giới này không có ngành gì cứ để “tự do”, mạnh ai nấy làm mà khá lên được. Có chăng chỉ là sự may mắn trong khoảnh khắc nào đó chứ không thể bền vững được!  Tôi lên Tây Ninh thấy có rất nhiều vùng trồng mía bạt ngàn. Năm sau trở lại thấy không còn mía nữa, thay vào đó là khoai mì, mãng cầu, cao su. Ra Phan Thiết (Bình Thuận), thấy cây thanh long phủ kín những vùng năm trước trồng lúa… Nói chung là, chặt – trồng mới, trồng mới – chặt triền miên, thiệt hại vô kể. Nông dân cứ thấy sản phẩm làm ra mất giá là thay đổi, tức phải chặt bỏ, trồng cây khác. Việc lựa chọn cây mới hoàn toàn không có ai tư vấn, thông tin thị trường, mà chỉ là mày mò cảm tính. Thấy cây gì năm nay có giá, chặt cây cũ, trồng cây mới. Tình hình thị trường sang năm lại khác, lại chặt nữa, trồng mới nữa. Cái vòng luẩn quẩn bế tắc đó bào mòn sức lực, vốn liếng của bao gia đình nông dân.  Làm như vậy sao mà khá lên được?  Rất đồng tình với giáo sư rằng tình trạng chặt – trồng mới đang xảy ra triền miên ở nhiều nơi trong cả nước, nhất là ở miền Nam. Nhưng Nhà nước không thể cấm được. Nhiều lãnh đạo tỉnh và ngành nông nghiệp bảo, họ cũng đau lòng lắm…  Ở đây, rõ ràng chúng ta phó mặc cho người nông dân trên đồng ruộng mà không hề có quy hoạch căn cứ vào thị trường để tổ chức sản xuất gắn với chế biến và xuất khẩu! Tôi nghĩ, Nhà nước cũng không muốn vậy đâu song do không đủ khả năng quy hoạch vùng này trồng gì, nuôi con gì.  Hậu quả là để mặc cho nông dân “tự bơi”. Trồng cây gì, nuôi con gì tùy lực chọn. Nông dân luôn phải chịu cảnh “được mùa mất giá”, rất bất lợi.  Tình trạng cá basa “chết” như ngã rạ trong năm 2012 vừa qua chung quy cũng là thiếu tổ chức, chất lượng không đồng đều. Gần 300 cơ sở nuôi, cũng rất nhiều cơ sở chế biến. Làm cứ lo cạnh tranh với nhau, gặp ông thương nhân nước ngoài vào cứ xúm lại tranh nhau hạ giá, lôi kéo. Làm sao họ không ép cho được.  Đó là chưa kể một số người nuôi không hiểu biết đầy đủ, tính dùng “mánh lới”. Họ thấy cá nuôi theo đúng tiêu chuẩn thì tốn kém, nên ngắt cái này một chút, ngắt cái khác một chút. Vậy là cá bị bệnh. Tiêm thuốc tốt thì đắt tiền, sợ lỗ nên tiêm kháng sinh vào. Sản phẩm xuất ra tới nước người ta bị phát hiện, trả về. Theo thông lệ lẽ ra phải hủy, còn ta thì đưa về, tìm cách bán…nội địa! Cách làm “tự do” như thế này sao có thể tồn tại hay phát triển được?  Nếu có cơ quan chức năng quy hoạch, định hướng, tổ chức và có các biện pháp yểm trợ, có thị trường thì mới chấm dứt được cảnh trên.  Không để nông dân tự do hoang dã trên cánh đồng  Thưa giáo sư, ở các nước khác họ xử lý vấn đề này như thế nào?  Ở Châu Âu, muốn làm nông dân phải có giấy phép (lisene: môn bài) của chính phủ cấp. Muốn có giấy phép thì phải học qua khóa đào tạo. Trong khi đó làm công nhân chỉ cần doanh nghiệp hoặc công ty chấp nhận là được, chính phủ không can thiệp.  Người nông dân canh tác trên đất của mình nhưng phải theo quy hoạch của chính phủ. Mỗi loại cây trồng hay vật nuôi đều có quy trình kỷ thuật riêng, phải tuân thủ. Làm sai là bị phạt rất nặng. Kể cả việc bón phân. Vì bón phân nhiều sẽ ảnh hưởng đến biển đổi khí hậu.    Làm sao chính phủ giám sát được nông dân có tuân thủ quy trình kỹ thuật? Ví dụ như họ bón nhiều phân thì sao chính phủ biết được?  Biết chứ! Cơ quan chức năng của chính phủ sẽ kiểm tra. Trên diện tích canh tác của anh, anh mua bao nhiều phân có hóa đơn đàng hoàng. Mua quá nhiều phân tức bón nhiều hơn quy trình, phạt ngay!  Ở nước ta chưa thể áp dụng được như họ, song cũng không để cho nông dân tự do hoang dã trên cánh đồng của họ như hiện nay. Tôi đi thực tế xuống nhiều nơi thấy tình trạng nông dân mình làm sai quy trình kỷ thuật nhiều lắm. Ví dụ đơn giản nhất là bón phân không chịu bón vào gốc. Xạ lúa thì rất dày. Lúa lên là tống urê vào v.v…  Ta cần phải có cách đào tạo lại nông dân mình, trang bị kiến thức kỹ thuật cho họ. Nói cách khác là phải có nông dân đổi mới trong sản xuất nông nghiệp chứ cứ để “lão nông tri điền” thế này mãi không thể được. Kiến thức, tri thức khoa học kỹ thuật ngày nay rất nhiều, chúng ta không thể đưa vào sản xuất kịp thời nếu bản thân người nông dân không hiểu, không biết. Thiệt hại này không chỉ chính người nông dân chịu mà ảnh hưởng đến cả lợi ích chung của đất nước trong xu thế hợp tác, cạnh tranh trên thế giới hiện nay.  (Còn nữa)    Đọc thêm:  Nghịch lý ngành gạo: Càng làm càng lỗ!   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=6045    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khống chế lòng tham những cái lợi ngắn hạn      Ngay cả ở những mô hình xã hội được coi là tự do và tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay, người ta vẫn chưa thực sự khống chế được những ảnh hưởng tiêu cực từ số đông do lòng tham của họ gây ra với tư cách là một hệ quả của “tự do”, và cũng chưa thể khống chế lòng tham của khu vực công với tư cách của kẻ chủ mưu trong những nỗ lực nhằm dành lợi ích riêng về mình.      “Phát triển là quyền tự do” là tên cuốn sách xuất bản tại New York, Mỹ năm 1999, đồng thời cũng là một quan điểm cô đọng của Amartya Sen, nhà kinh tế người Ấn Độ được giải thưởng Nobel kinh tế học năm 1998. Tự do mà Amartya Sen nhấn mạnh ở đây là quyền tự do của số đông nhân dân, với hai vai trò cơ bản. Một là quyền tự do này có thể giúp người dân có quyền đấu tranh để hạn chế sự “lơ là của các nhân tố công” (như cán bộ, cơ quan, tổ chức công) và sự “đàn áp chuyên chế của nhà nước độc tài”. Hai là quyền tự do làm cho “vốn con người” được tăng cường, nhiều cá nhân trong các tầng lớp dưới không còn bị tước đoạt cơ hội phát triển và trở thành lao động có đóng góp tích cực cho xã hội. Hai nhân tố này thúc đẩy các chỉ số phát triển (thu nhập, tuổi thọ, dân trí, bình đẳng giới, giảm nghèo…) đồng thời làm tăng thêm quyền tự do với tư cách là mục đích của sự phát triển.  Quan điểm này rất tích cực khi chỉ ra khía cạnh quyền tự do của số đông có thể kìm chế những khả năng phát sinh tiêu cực từ chính quyền và các nhân tố công cộng khác. Và bản chất tích cực trong quyền tự do của nhân dân là có thể khống chế lòng tham và khả năng gây hại của khu vực công cộng, giúp hoàn thiện chức năng của khu vực công cộng để có đóng góp tối ưu cho sự phát triển.  Tuy nhiên, quyền tự do của số đông không chỉ hoàn toàn đem lại ảnh hưởng tích cực. Nhiều hệ quả tiêu cực của quyền tự do này đã bộ lộ qua một loạt sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nóng hổi trên thế giới hiện nay. Mặc dù Amartya Sen đã nhấn mạnh “tự do cá nhân là một cam kết của xã hội”, song ngay cả ở những mô hình xã hội trong đó quyền tự do được thực thi như một cam kết từ xã hội và theo cách thức tổ chức được coi là tiên tiến nhất trên thế giới, người ta vẫn chưa thực sự khống chế được những ảnh hưởng tiêu cực từ số đông do lòng tham của họ gây ra với tư cách là một hệ quả của “tự do”, và cũng chưa thể khống chế lòng tham của khu vực công với tư cách của kẻ chủ mưu trong những nỗ lực nhằm dành lợi ích riêng về mình. Chúng ta hãy lần lượt điểm qua một số vấn đề đáng lưu tâm hiện nay như: Biến đổi khí hậu toàn cầu; Nền kinh tế ảo; và Khủng hoảng nợ công châu Âu.  Biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKHTC) có lẽ là vấn đề nổi bật cả trước mắt và lâu dài, vì ảnh hưởng tiêu cực của BĐKHTC đã vượt quá khả năng tự phục hồi và cân bằng môi sinh của trái đất và là xu thế không thể đảo ngược trong vòng nhiều thập kỷ tới. Theo các nhà nghiên cứu và hoạt động môi trường thì những nhân tố cơ bản dẫn tới BĐKHTC là những nhân tố sinh ra và gia tăng trong quá trình công nghiệp hóa.  Hàng hóa công nghiệp thường có giá thành cao, sản xuất ổn định, giúp đem lại lợi ích kinh tế, đồng thời chuyển hóa thành ưu thế vượt trội cả về quân sự, chính trị và văn hóa trên thế giới.  Thành quả này làm cho số đông dân chúng ở các nước công nghiệp phát triển càng ủng hộ cho chính quyền và sự lựa chọn lãnh đạo của họ. Những nước công nghiệp hóa mới và các nền kinh tế mới nổi cũng lần lượt noi theo xu thế này. Họ dần thoát ra khỏi vị thế thua thiệt, bị áp đặt bởi giá cánh kéo; đời sống nhân dân và vị thế quốc tế tăng cao. Xu thế công nghiệp hóa trở thành lựa chọn “lý tưởng” cho các nước nông nghiệp lạc hậu còn lại.  Như vậy, đứng đằng sau gây ra BĐKHTC là lòng tham của số đông dân chúng ở các nước công nghiệp phát triển trong một giai đoạn khá dài vừa qua, rồi đến lòng tham của số đông dân chúng ở các nước còn lại đang khao khát làm giàu hiện nay. Những lựa chọn của họ đều được đa số ủng hộ, được bảo đảm bằng các thủ tục, quy trình phát huy sự tự do.  Câu chuyện về BĐKHTC phần nào cũng tương tự như câu chuyện ngụ ngôn về đàn mối. Chuyện rằng có một đàn mối cư trú trong chiếc lều gỗ ven sông. Con mối nào cũng nghĩ mình ăn nhiều để to khỏe và có thể đánh bại được con mối khác. Cả đàn cố gắng ngấu nghiến những gì có thể và rồi đến một ngày đẹp trời, cái lều đổ sập xuống dòng sông đem theo đàn mối béo ngậy làm mồi cho bầy cá. Ngày nay, con người cũng giống như sự tham lam của đàn mối, trong đó mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi quốc gia trên thế giới, theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp, đều đang tham gia khai thác kiệt quệ môi trường và môi sinh trái đất.  Cuối năm 2011, chúng ta chứng kiến các quốc gia trên thế giới, đã không thể tìm được tiếng nói chung tại Durban và kết quả là không làm được gì để kéo dài việc thực hiện Nghị định thư Kyoto. Sự tham lam của những “con mối” to nhất càng kích động những con mối khác gặm gỗ cột lều nhanh hơn và thúc đẩy sự sụp đổ của cái lều nhanh hơn.  Nền kinh tế ảo là thứ sinh ra rất nhiều giá trị từ những thứ được gán cho những giá trị danh nghĩa, trong đó có tiền giấy, chứng khoán, trái phiếu và nhiều loại giấy tờ có giá khác mà trong một số bối cảnh cụ thể, chúng lại trở về thành giấy lộn kèm theo những hậu quả khủng khiếp.  Đành rằng tiền là máu của nền kinh tế và thiếu nó thì nền kinh tế đình trệ và không thể vận hành. Tuy nhiên, nền kinh tế bị bơm quá nhiều tiền thì cũng giống cơ thể bị bơm quá nhiều máu theo một phương pháp doping nào đó và kết quả cũng là suy nhược và chết. Tương tự như vậy, khi khối lượng tiền vượt quá nhu cầu lưu thông, không thể tích trữ và làm thước đo vì bị mất giá liên tục thì phát sinh khủng hoảng bởi vì đồng tiền đã mất hết những chức năng chủ yếu của nó.  Những thứ giấy tờ có giá khác còn nguy hiểm hơn, đặc biệt là trong điều kiện một “thế giới phẳng” với năng lực linh hoạt “giết người” của “bầy đàn điện tử”1 thì việc tiêu diệt một nền kinh tế mới nổi hoặc gây lây lan khắp thế giới một vụ khủng hoảng tiền tệ/tài chính không còn là chuyện xa lạ. Điển hình là những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997 tới nay vẫn còn dư âm, hoặc gần hơn là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay nguyên là hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2009.  Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) vốn được coi là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, việc giao dịch những loại giấy tờ có giá này bên cạnh việc đem lại những khoản lợi lớn thì đồng thời cũng phát sinh những kỳ vọng lợi ích được thổi phồng. Những công cụ phái sinh tiếp tục nhân những khoản giá trị ảo lên nhiều lần đồng thời phân tán những lợi ích ảo đó kèm theo rủi ro đi khắp thế giới. Quá trình này cứ tiếp tục cho tới khi nhiều người vay tiền ngân hàng đầu tư nhà không trả được nợ dẫn tới bị tịch biên tài sản thế chấp. Giá tài sản, đặc biệt là bất động sản giảm xuống khiến cho tài sản tịch biên không bù đắp nổi khoản ngân hàng cho vay. Các ngân hàng rơi vào khó khăn dẫn đến làm mất lòng tin ở người gửi tiền. Làn sóng đột biến rút tiền gửi làm cho tình hình thêm nghiêm trọng, làm sụp đổ nhiều ngân hàng. Việc cho vay liên ngân hàng làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản.  Tổng thiệt hại và số người chịu thiệt đã được nhiều phương tiện thông tin đại chúng thống kê và công bố với hậu quả hiện nay đang được so sánh với Đại khủng hoảng 1929-1933. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo mức thiệt hại của riêng các ngân hàng trong khủng hoảng toàn cầu 2007-2009 vào khoảng 2,28 nghìn tỷ USD. Riêng các ngân hàng của Mỹ thiệt hại 885 tỷ USD2. Những tổn thất khác liên quan tới tiền túi của nhân dân, thiệt hại trong sản xuất kinh doanh trên toàn cầu chưa được tính tới.  Tuy nhiên điều đáng lưu tâm là cùng thời gian này, số lượng tỷ phú trên thế giới lại tăng lên nhanh chóng và tài sản của họ còn tăng nhanh hơn nữa. Nghiên cứu từ Boston Consulting Group cho biết số lượng các gia đình triệu phú trên thế giới trong năm 2010 tăng khoảng 12%. Tài sản của nhóm này nắm giữ tăng lên khoảng 39% từ mức 37% vào năm 2009. Dù ở trung tâm khủng hoảng tài chính toàn cầu, số lượng triệu phú tại Mỹ vẫn cao nhất. Nước Mỹ có 5,22 triệu gia đình triệu phú, tăng 1,3% so với năm trước đó3. Trong số những người phát đạt này, rất nhiều người giàu lên là nhờ biến giá trị ảo thành giá trị thật. Nhưng đổi lại, đã có vô vàn những người khác bị phá sản vì đem giá trị thật để đổi lấy giá trị ảo.  Khủng hoảng nợ công Châu Âu. Vấn đề nghiêm trọng không kém là tình hình khủng hoảng nợ công tại một số nước Châu Âu. Điểm bùng nổ đầu tiên là Hy Lạp vào đầu năm 2010 khi chi phí cho các khoản nợ Chính phủ liên tục tăng lên. Lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 01/2010 lên tới 26,65%/năm vào tháng 07/ 2011. Cuộc khủng hoảng sau đó đã lan sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo là Italia trong khu vực euro. Cộng hòa Sip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ. Pháp đang là quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tín dụng. Nước Đức hùng mạnh đang được đặt trước bài toán đau đầu: Cứu hay sẽ cố nhảy ra khỏi cái xuồng đang chìm Liên minh châu Âu? Nếu cứu thì bỏ ra bao nhiêu tiền là tối ưu?  Các quốc gia có vấn đề về nợ công trong khu vực châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và cũng có một số nước khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châu Âu. Iceland, đất nước trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong năm 2008 khi toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế bị sụp đổ, đã ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nợ công.    Bức tranh toàn cảnh nợ công trên thế giới 2011. Nợ công theo % GDP                  Nguồn: Wikipedi 4  Cuộc khủng hoảng nợ công đã đe dọa sự tồn tại của đồng tiền euro, gây ảnh hưởng nền tài chính toàn cầu. Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực eurozone và IMF đã thông qua khoản vay 110 tỷ euro cho Hy Lạp. Ngày 09/05/2010, Châu Âu đã thông qua gói giải cứu trị giá 750 tỷ euro nhằm đảm bảo sự ổn định tài chính ở khu vực châu Âu. Tiếp theo đó là gói cứu trợ trị giá 85 tỷ euro cho Ireland vào tháng 11/2010, và 78 tỷ euro cho Bồ Đào Nha vào tháng 5/2011. Đằng sau những quyết định cứu trợ này là gánh nặng thuế khóa đè lên đầu người dân thế hệ hiện nay và các thế hệ mai sau.  Những tội đồ của khủng hoảng nợ công đang lần lượt bị chiếu danh. Thủ tướng Hy lạp và thủ tướng Ý đã phải từ chức. Nhiều bài báo nhấn mạnh nguyên nhân của khủng hoảng nợ công là “thói vung tay quá trán” của chính quyền những nước này. Tuy vậy, nguyên nhân thực là ở đâu?  Những nước công nghiệp phát triển nói chung và các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu nói riêng đều tự hào rằng mô hình xã hội của họ được coi là dân chủ nhất trên thế giới. Mô hình xã hội này dựa trên nền tảng nguyên lý dân chủ, trong đó nguyện vọng của đa số dân chúng sẽ được thu thập qua các tầng nấc đại diện, được tổng hợp thành chính sách chủ đạo của chính phủ.  Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các nhóm dân chúng với đại diện của họ có bản chất là sự thỏa thuận nhằm đạt được lợi ích nhóm. Nhóm lợi ích nào cũng gửi gắm vào người đại diện của họ mong ước được ưu tiên hơn, nhận được sự phân bổ lợi ích trội hơn trong xã hội. Người đại diện cũng cố hứa hẹn nhiều hơn để được cử tri bỏ phiếu cho mình. Khi đã trúng cử thì họ cố hành động để đáp ứng những hứa hẹn đối với cử tri, nhằm tiếp tục được tái cử về sau. Kết cục là một sức ép khổng lồ từ nhiều nhóm xã hội và các vị đại diện bắt quy mô chi tiêu ngân sách phải phình mãi lên.  Bối cảnh chi tiêu công của nhiều nước Châu Âu đã diễn ra như vậy trong nhiều năm, dưới nhiều nhiệm kỳ chính phủ. Tội đồ của tình trạng này không chỉ là giới cầm quyền nói chung mà còn phải kể đến cả những nạn nhân của nó, đó chính là số đông cử tri đi cùng cơ chế đại diện và mô hình dân chủ hiện hành mà họ tung hô. Điểm mấu chốt của sự tồi tệ trong mô hình tự do kiểu Phương Tây này là lòng tham được khuyến khích qua động cơ lợi ích nhóm, trong đó có sự thống nhất lợi ích giữa người đại diện và nhóm được đại diện. Lòng tham này được ngụy trang dưới vỏ bọc đẹp đẽ như: sáng kiến các công cụ tài chính phái sinh, chính sách hỗ trợ, chính sách phát triển vùng, mục tiêu tăng trưởng và giàu có… với lợi ích nhìn thấy trong ngắn hạn và nguy hại có thể chỉ nhìn thấy được trong dài hạn.  Điều nguy hiểm là bên được, bên mất có thể được phân biệt khá rõ trong ngắn hạn, nhưng ít người đồng ý rằng tất cả sẽ đều chịu thiệt hại trong dài hạn. Và khi đa số nhận ra cuối cùng tất cả đều mất, thì chắc đó là một thời điểm quá muộn.  Giải pháp thể chế  Ông cha ta có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Động lực tham lam cũng như khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực của nhóm lợi ích chỉ có thể biến thành tác động có hại trong những điều kiện môi trường thể chế nhất định. Sửa đổi môi trường thể chế là một giải pháp quan trọng để hạn chế ảnh hưởng có hại của lòng tham và của ảnh hưởng tiêu cực từ nhóm lợi ích.  Hầu hết các nhà kinh tế học công cộng đều nhất trí rằng chi tiêu quá ít hoặc quá nhiều cho hàng hóa và dịch vụ công đều sẽ làm giảm hiệu quả phát triển. Mức chi tiêu công cộng đem lại lợi ích cao nhất cho nền kinh tế được gọi là quy mô chi tiêu công cộng tối ưu. Trong trường hợp đó, chi tiêu công tạo điều kiện để khu vực tư phát triển mà không chèn lấn hoặc thay thế khu vực tư. Hiệu quả chi tiêu công còn phụ thuộc tỷ lệ hàng hóa công thuần túy trong tổng chi tiêu công cộng với lý do khu vực công chỉ hiệu quả khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ công thuần túy.  Một điều kiện nữa là trong khu vực công phải có sự phân cấp hợp lý theo nguyên tắc các cấp chính quyền cần được phân cấp quản lý các hàng hóa, dịch vụ công phù hợp. Việc chồng chéo quyền hành hay lẫn lộn chức năng thẩm quyền các cấp cũng dẫn đến giảm thiểu hiệu quả của khu vực công. Đối với hàng hóa công trung ương, chính quyền trung ương nhất thiết phải quản lý, và phải đủ năng lực quản lý. Tương tự như vậy, chính quyền địa phương nhất thiết phải quản lý và phải quản lý được những hàng hóa công địa phương.  Tuy nhiên trong thực tế, đa số những nguyên lý khoa học cơ bản nêu trên vẫn nằm im trong sách giáo khoa thay vì trở thành nòng cốt của những quy định, thể chế xã hội. Chính là lòng tham chứ lhông phải sự ngu dốt đã làm cho con người ở những xã hội tiên tiến tránh né áp dụng những nguyên lý này.  Như vậy, để đảm bảo cho phát triển bền vững thì không chỉ cần quyền tự do. Cần phải khống chế lòng tham. Điều này không có nghĩa là tránh né hoặc thủ tiêu mong muốn thịnh vượng mà là để hạn chế tình trạng vì tham lợi ích ngắn hạn ít ỏi, cục bộ mà đánh mất lợi ích dài hạn lớn hơn. Để làm được điều này, một trong những giải pháp cơ bản là khống chế bằng thể chế.  Đây là những điều mà chúng ta cùng gửi gắm trước thềm xuân mới – xuân Nhâm Thìn, đối với công cuộc đổi mới của cả dân tộc, trong đó có nỗ lực sửa đổi Hiến Pháp 1992. Hi vọng rằng đất nước và nhân dân sẽ có được một Hiến pháp phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc, bảo đảm tốt nhất trong điều kiện hiện nay cho mục tiêu phát triển bền vững và thịnh vượng, và hình thành một mô hình xã hội tiên tiến.        [1] Chiếc xe Lexus và cây Ooliu, tác giả Thomas L.Friedman. Nxb Khoa học Xã hội, 2009.    [2] http://www.maxi-forex.com/11288/khung-hoang-tai-chinh-gay-thiet-hai-lon-cho-nganh-ngan-hang-the-gioi/      [3] http://cafef.vn/20110601111338525CA32/my-dung-dau-the-gioi-ve-so-luong-gia-dinh-trieu-phu.chn      [4] http://en.wikipedia.org/wiki/File:Public_debt_percent_gdp_world_map_(2010).svg        Author                Quản trị        
__label__tiasang Không gian cho nước: Giảm nhẹ rủi ro lũ lụt ở Nam Á và Đông Nam Á      Việc sử dụng đất thuộc các vùng ngập lũ cần được điều tiết tốt hơn để chừa lại không gian cho các con sông khi có lũ và giúp tái cân bằng  hệ sinh thái.      Ngập lụt ở Sesan, Stung Treng, Campuchia, sau khi mực nước sông Mekong dâng lên vượt qua mức nguy hiểm 10,7 m. Nguồn: khmertimeskh.com  Khi nước lũ trên sông Kosi cuồn cuộn đến gần, Rohit Kumar bắt đầu dỡ từng viên gạch trong ngôi nhà mới của mình ở làng Govindpur, thuộc bang Bihar ở miền Đông Ấn Độ. Ngôi làng có một con đê bao quanh – một biện pháp chống lũ phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, với dân làng, việc tháo dỡ là cách duy nhất để cứu nhà cửa khỏi bị dòng nước lũ cuốn trôi. Mọi người vội vã chạy trốn cùng với bất cứ tài sản gì họ có thể mang theo.   Những bãi bồi ven các lưu vực sông, đặc biệt là những bãi bồi thấp thường là những vùng ngập thoát lũ khi lũ về. Tuy nhiên, con người thường không mấy khi phân biệt chúng mà thường can thiệp trên quy mô lớn để phục vụ lợi ích kinh tế của mình, chẳng hạn như tận dụng bề mặt bằng phẳng với lớp đất dày, tiếp cận nguồn nước ngọt, giao thông thuận tiện,… Và khi xảy ra lũ lụt, con người thường sử dụng các biện pháp bảo vệ vùng đất của mình như đắp đê thay vì sử dụng chức năng chính của chúng.  Nhưng kết quả là tính dễ bị tổn thương của các khu vực ven sông do lũ lụt đã ngày một gia tăng. Các vùng Multan và Lahore ở lưu vực sông Ấn; Delhi, Patna, Guwahati và Dhaka thuộc lưu vực sông Ganga-Brahmaputra; Mandalay ở lưu vực sông Ayeyarwady; Pakse và Phnom Penh ở lưu vực sông Mekong – tất cả đều thể hiện đặc trưng của quá trình phát triển đô thị.   Lũ lụt ngày càng phức tạp  Lượng mưa lớn dẫn tới tới tình trạng lũ lụt trên sông ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Ngoài sông Ấn và một số phụ lưu của sông Ấn, các dòng sông bắt đầu từ khu vực dãy núi Hindu Kush (phần kéo dài của dãy Himalaya) chủ yếu nhận nước từ lượng mưa trong khu vực, thay vì băng tuyết tan chảy. Ở lưu vực sông Ganga, Brahmaputra, Ayeyarwady, Salween và Mekong, lượng nước mưa chiếm tỉ lệ rất cao trong tổng lưu lượng nước sông, gây ngập lụt ở phần trung lưu và hạ lưu khi trời mưa to trong thời gian ngắn.   Việc hiểu rõ về hệ thống khí hậu là yếu tố quan trọng để đưa ra các chính sách hiệu quả về sông ngòi, theo một bài báo sắp công bố của giáo sư Jayanta Bandyopadhyay, chuyên gia hàng đầu về sông ở Quỹ Nghiên cứu quan sát viên (Ấn Độ). Tình trạng ngập lụt ở lưu vực sông Ganga-Brahmaputra-Meghna, cũng như các lưu vực sông thuộc Đông Nam Á như Mekong, Salween và Aerrawaddy, xảy ra khi lượng mưa nhận được chủ yếu qua một hệ thống hoàn lưu không khí chính: gió mùa mùa hạ ở Nam Á. Lưu vực sông Mekong cũng chịu ảnh hưởng một phần từ gió mùa mùa hạ Đông Á.  Khi dòng không khí gió mùa dịch chuyển, lượng mưa ở Nam Á gần như chấm dứt, trong lúc đó mưa lớn xảy ra ở vùng Assam và dọc theo chân dãy núi Himalaya. Điều này diễn ra hằng năm do hiện tượng El Niño kết hợp dao động Nam (El Niño-Southern Oscillation, hiện tượng biến động nhiệt độ giữa khí quyển và đại dương ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương). Đây là những đặc điểm nội tại của hệ thống khí hậu trong khu vực này.  Khi đất liền và đại dương ấm lên do biến đổi khí hậu, lượng mưa sẽ khó dự đoán hơn. Đồng thời, dòng chảy từ băng tuyết tan ở thượng nguồn các con sông sẽ ngày càng cạn kiệt.  Ngoài việc tạo mây với hiệu ứng vi mô, con người không thể kiểm soát thời điểm, cường độ cũng như thời gian kéo dài lượng mưa có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên Trái đất. Mọi dự tính xây đập kiểm soát lũ đều dựa trên các xu hướng dài hạn trước đây. Nhưng biến đổi khí hậu đã khiến các xu hướng này ngày càng thay đổi.  Một điều đáng lo ngại là biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến lũ lụt thông qua hiện tượng nước biển dâng. Theo một công bố gần đây trên tạp chí Geophysical Research Letters của các nhà khoa học ở ĐH California, Santa Barbara, hiện tượng nước biến dâng sẽ khiến các vụ sạt lở đất (avulsion) do lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn và sâu hơn trong đất liền. Thông qua việc sử dụng dữ liệu vệ tinh và viễn thám để tìm hiểu về các vụ lũ lụt trong quá khứ, các nhà nghiên cứu thấy rằng thời gian lũ lụt và thời gian cần thiết để các dòng sông thích nghi với những thay đổi sẽ quyết định địa điểm xảy ra sạt lở.   Nếu lũ lụt ngắn hơn thời gian sông thích nghi thì phạm vi sạt lở sẽ được giới hạn trong các vùng nước đọng của sông. Tuy nhiên, nếu lũ lụt kéo dài hơn so với thời gian thích nghi của sông, sạt lở có thể xảy ra sâu hơn trong đất liền.  Những con sông lớn bằng phẳng như Mississippi thích nghi chậm nhưng các con sông dốc với nhiều phù sa mịn lại thích nghi khá nhanh. Nhà địa mạo học Vamsi Ganti, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, cho biết: “Điều này khiến xói mòn có thể lan xa hơn về phía thượng nguồn”. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng với các con sông ở Việt Nam – có đặc điểm ngắn, dốc và nhiều phù sa mịn.  Giải pháp không gian cho nước  Trong bối cảnh này, giải pháp quan trọng hơn hết là một con sông có đủ không gian sống của nó với những khu vực chịu ngập để có thể đối phó với các trận lũ bất ngờ cũng như thực hiện các chức năng khác của nó, ví dụ như cân bằng hệ sinh thái…. Ý tưởng về không gian cho sông đã được quan tâm trong nhiều năm và được biết đến nhiều hơn trên toàn cầu nhờ người Hà Lan – những người từng đề xuất lắp đặt các hệ thống dẫn nước phức tạp để ngăn chặn ngập lụt.  Giải pháp không gian cho nước cũng phù hợp với một xu hướng toàn cầu đã xuất hiện ở nhiều vùng châu thổ như Rhine-Meuse-Scheldt (Hà Lan), Châu Giang (Trung Quốc), Mekong (Việt Nam), Zambezi-Limpopo (Mozambique) và Mississippi (Hoa Kỳ): chuyển từ kỹ thuật “cứng”, chẳng hạn như đê kè và đập, sang các biện pháp “mềm” như giữ nguyên các vùng ngập lũ. Các biện pháp “mềm” sẽ kết hợp thêm với các giải pháp khác, bao gồm các biện pháp “cứng” nếu cần thiết. Điều này sẽ tránh được việc chỉ thực hiện các biện pháp “cứng”, dẫn đến bế tắc về mặt công nghệ – một vòng lẩn quẩn trong đầu tư giải pháp ngăn lũ.  Việc sống chung và khai thác lợi ích từ những trận lũ nhỏ, như người dân ở Nam Á và Đông Nam Á vẫn làm từ trước đến nay, là một cách giảm nguy cơ của những trận lũ lớn. Điều này càng quan trọng hơn với các dòng sông nhiệt đới ở Đông Nam Á và Nam Á bởi vì vùng ngập lũ của các con sông này là nguồn sống của rất nhiều sinh vật. Chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến nguồn lợi thủy sản cũng như tất cả các dạng sống khác xung quanh dòng sông.  Sống chung với lũ   Có hai điều quan trọng cần chú ý: thứ nhất, sự thay đổi lượng mưa là không thể tránh khỏi. Chúng ta không thể kiểm soát các dòng chảy lưu lượng cao do cường độ mưa lớn gây ra; thứ hai, lũ lụt đang trở nên phức tạp do sự biến đổi cảnh quan ven sông vùng Nam Á, khiến nguy cơ thiệt hại cao hơn. Đồng thời, việc thực hiện các biện pháp kiểm soát lũ chỉ phục vụ lợi ích ngắn hạn của con người nhưng lại phá vỡ năng suất dài hạn của hệ sinh thái ven sông.  Mọi bằng chứng đều chỉ ra một giải pháp phù hợp duy nhất: khai thác lợi ích phục vụ con người trong ranh giới mà tự nhiên cho phép. Cơ quan Quản lý thảm họa quốc gia của Ấn Độ (NDMA) đã nêu rõ điều này trong hướng dẫn phân vùng vùng lũ. Họ dự tính không gian cho các dòng sông và tìm cách điều chỉnh việc sử dụng đất ở các vùng lũ bằng cách quy định những gì được làm ở hai bên bờ sông, dựa trên dữ liệu về tần suất lũ.  Những quy định như vậy có vai trò quan trọng đối với việc giảm ảnh hưởng của hoạt động kinh tế tới lũ lụt. Mặc dù vậy, chính sách khoanh vùng vùng lũ vẫn chưa được chứng minh hiệu quả ở Ấn Độ nên chính quyền chưa bắt buộc thực hiện những hướng dẫn của NDMA.    Bất kì tác động bất lợi nào tới chế độ dòng chảy, lượng phù sa và các thông số vật lý, hóa học của nước có thể dẫn đến sự diệt vong của các sinh vật này. Trong một công bố trước đây, GS Bandyopadhyay đã kêu gọi một cách tiếp cận liên ngành mới: không chỉ coi các con sông là nơi cung cấp nguồn nước mà còn là nơi đa dạng các loại vật chất khác nhau, cũng như năng lượng và trầm tích, tất cả cùng hoạt động để hỗ trợ môi trường sống và đa dạng sinh học thuận lợi phát triển.  Điều này thể hiện rõ qua các con sông ở Nam Á và Đông Nam Á, vốn là con đường vận chuyển trầm tích và các chất dinh dưỡng để bồi đắp cho lưu vực xung quanh. Chẳng hạn, nhịp lũ (flood pulse) của sông Mekong là công cụ để duy trì hệ sinh thái Biển Hồ ở Campuchia và ngành công nghiệp đánh bắt cá phụ thuộc vào hồ này.  Chúng ta chỉ có thể chống lũ trong tương lai bằng cách cung cấp đủ không gian cho các con sông thực hiện quá trình sinh thái của chúng, đồng thời đảm bảo các hoạt động diễn ra ở vùng đất ngập lũ không phá vỡ khả năng chịu lũ vốn có của khu vực. Ý chí mạnh mẽ và tinh thần hợp tác là điều cần thiết giữa các quốc gia có chung lưu vực sông bởi nước lũ không bị giới hạn bởi ranh giới chính trị, và cũng chẳng quan tâm đến sự chủ quan của con người.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://www.thethirdpole.net/2020/10/08/room-for-the-river-mitigating-flood-risk-in-south-and-southeast-asia/  https://www.futurity.org/rivers-avulsion-floods-2449412-2/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không lo thiếu tiền, chỉ thiếu startup hay      Tia Sáng trao đổi với anh Nguyễn Hồng Trường, Phó chủ tịch quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Vietnam về tiêu chí của một con người đáng được đầu tư và Nhà nước cần làm gì để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.       Con người đáng để đầu tư cần có một “nỗi ám ảnh thực sự”  Trong chương trình “Cánh buồm khởi nghiệp”, chiếu trên VTV vào ngày 1/1/2016, anh có nói, yếu tố quan trọng nhất trong thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp là con người. Vậy theo anh, người sáng lập đáng để đầu tư là người như thế nào?  Một con người đáng để đầu tư là một con người biết mình muốn gì và biết mình đang làm cái gì. Có người làm được nhiều thứ rất hay nhưng sau một hồi lại không biết mục đích của mình là gì. Họ làm chỉ vì tiền hoặc chỉ vì trào lưu.  Tuy nhiên, câu hỏi hay hơn phải là: “Nhà đầu tư nhìn vào cái gì?” Như tôi nhìn, tôi chưa quan tâm lắm đến kế hoạch kinh doanh hay mô tả sản phẩm khi bắt đầu tiếp xúc với người doanh nhân. Tôi quan tâm đến câu chuyện của chính doanh nhân đấy hơn là anh ta đang làm cái gì. Tôi muốn biết điều gì thôi thúc anh ta làm sản phẩm đấy và khi làm sản phẩm đó thì anh ta muốn đạt đến điều gì. Tôi muốn tìm hiểu xem nỗi ám ảnh thực sự của doanh nhân đó là gì, quan niệm của anh ta về thế giới, về thành công, về sản phẩm.    Nói cách khác, việc trả lời cho câu hỏi “Anh ta là ai?” mới là chuyện quan trọng nhất. Và với người thực sự nắm được câu chuyện này và có đam mê thì đương nhiên sẽ biết mình đang làm gì và làm như thế nào. Từ đó để xem liệu anh ta có vượt qua con đường gập ghềnh sẽ đi trong tương lai hay không. Kể cả có nhà đầu tư chống lưng đi chăng nữa thì vẫn có quá nhiều thay đổi, quá nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với những ngành tăng trưởng nhanh thì mức độ rủi ro còn cao hơn rất nhiều so với các ngành khác.  Vậy có mâu thuẫn không khi anh nói là anh không quan tâm lắm đến sản phẩm nhưng IDG lại chỉ đầu tư vào những sản phẩm đã hoạt động được một thời gian và có vị thế nhất định trên thị trường rồi?   Không. Đương nhiên phải quan tâm đến sản phẩm chứ. Yếu tố thành công là cả ba chữ P: People (Con người), Product (Sản phẩm), Plan (Kế hoạch kinh doanh). Để thành công và để nhận được đầu tư thì cả ba chữ P đấy đều rất quan trọng. Nhưng với góc nhìn của từng người thì sẽ đánh giá trọng số của ba cái đấy khác nhau. Với nhà đầu tư, trọng số để mà đánh giá con người là 90%, sản phẩm là 9%, kế hoạch chỉ là 1% thôi.   Vì sao sản phẩm lại không phải là yếu tố quan trọng nhất trong mắt của nhà đầu tư?   Vì có những sản phẩm giống hệt nhau nhưng tại sao có người này làm thì được, người khác làm thì không được? Ví dụ điển hình nhất, Google không phải là cái máy tìm kiếm đầu tiên, Facebook không phải là mạng xã hội đầu tiên, nhưng những con người đằng sau đã làm nên thành công đấy.   Vả lại, một sản phẩm tốt và chiếm lĩnh được thị trường thì cũng chỉ có mấy dạng. Một là, nó thật sự là market challenger, là một cái gì thách thức thị trường, hoàn toàn mới, có tính đột phá. Hai là rẻ hơn và ba là hiệu quả hơn những sản phẩm đã có trên thị trường.    Do vậy, các ý tưởng về sản phẩm đều na ná giống nhau nên con người làm sản phẩm sẽ quyết định hướng đi của sản phẩm đấy. Nếu đi theo hướng sản phẩm có tính đột phá, thì con người ấy có tài năng đặc biệt. Nếu như anh không phải người như vậy, mà anh lại bảo là sản phẩm của anh đột phá, chưa ai có thì chuyện đấy không đúng. Anh bảo sản phẩm của anh hiệu quả hơn mà anh xử lý mọi việc rất rườm rà, lòng vòng thì hiệu quả hơn thế nào được. Còn rẻ hơn thì hoàn toàn có thể chứng minh được, phải làm rồi thì mới biết là rẻ hơn chứ, chưa làm thì khó lắm, đúng không?  Có ý tưởng khởi nghiệp, nhưng thiếu tiền?  Có nhiều người cho rằng, không thiếu tiền, chỉ thiếu startup tốt để đầu tư thôi. Anh có thấy thế không?  Đúng. Các startup xét cho cùng là không tốn nhiều tiền bởi vì doanh nghiệp mới ở giai đoạn khởi đầu. Với lại mỗi startup thường trải qua nhiều vòng đầu tư, từ hạt giống đến series A, B, C… cho đến khi bán được hoặc IPO (chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng). Chứ không phải cho một lượng tiền lớn một lúc để nhà sáng lập làm từ đầu đến cuối. (Làm gì có chuyện đấy!)  Thứ hai là tiền có rất nhiều nguồn. Tại sao cứ nghĩ là chỉ lấy từ quỹ đầu tư? Bởi vì nhà đầu tư thật sự cho startup đầu tiên chính là ba chữ F (Family – Gia đình, Friends – Bạn bè, Fools – những người cả tin), đúng không? Bây giờ còn có crowdfunding (gọi vốn từ cộng đồng) nữa, rồi có thể vay.   Có bạn hỏi tôi, bây giờ em có đội ngũ, em có ý tưởng để khởi nghiệp, nhưng em lại thiếu tiền. Cho nên em lại không làm được. Nói câu đấy thì quá chán. Không cần phải là nhà đầu tư cũng đã chán rồi. Thế sao không làm sản phẩm thử (prototype) trước đi?  Rồi bạn ấy bảo nếu startup phải cỡ đâu đó một tỉ mỗi năm. Hai năm không thành công là tốn hai tỉ. Rồi bạn ấy hỏi là làm thế nào để có thể hạn chế được thiệt hại khi làm startup?   Đã gọi là startup là phải là người rất nhiều sáng kiến, nhiều cách thức và phải có máu liều. Bây giờ vay được được một tỉ. Chẳng may có thất bại thì cũng phải cố làm việc mà trả nợ. Còn nếu không biết cách nào để hạn chế thiệt hại thì chẳng ai muốn đầu tư cho nữa. Đúng không?   Thế cho nên không bao giờ phải lo thiếu tiền, chỉ thiếu startup hay thôi.   Thế nhưng có startup cho rằng, các quỹ hầu như không hoạt động, kêu gọi vốn cực kì khó?  Các startup giỏi thì thường các quỹ sẽ biết. Còn startup mà cứ loay hoay tìm quỹ thường ít khi được đầu tư lắm. Nói quỹ không hoạt động là không đúng, làm gì có chuyện đấy, càng ngày càng nhiều quỹ. Vấn đề ở chỗ người ta có muốn đầu tư hay không hoặc người ta đầu tư người ta có công bố hay không. Những nhà đầu tư chuyên nghiệp, họ lại thường không công bố. IDG chỉ công bố 10 công ty trong khi chúng tôi đầu tư hơn 40 công ty.   Anh nhận xét gì về các thương vụ đầu tư trong năm 2015?  Trong khi số thương vụ năm 2014 là hơn 20 vụ thì năm 2015 đã tăng lên 50 vụ rồi, hơn gấp đôi. Điều đó phản ánh chất lượng của startup theo khía cạnh được quan tâm nhiều hơn và tiềm năng nó bắt đầu được khẳng định rõ hơn.   Tuy nhiên, đó mới chỉ là chất lượng tương đối, tức là được sự chú ý hơn của các nhà đầu tư còn khả năng thành công của startup thì không biết được vì các thương vụ mới đầu tư vòng hạt giống hoặc Series A, tức là vẫn đang trong giai đoạn đầu của vòng đời thôi, biết cuối ngày startup có sống nổi không.   Còn các thương vụ mua bán, sáp nhập (acquisition) thì có hai kiểu: một là startup thành công nên được mua lại, hai là vì “có vấn đề” nên phải tự bán mình. Trong năm qua, có hơn một nửa acquisition là ở kiểu thứ hai.   Chính sách đã có nhưng vận hành không hiệu quả  Bộ KH&CN đang dự thảo đề án cấp nhà nước về Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đến năm 2020. Theo anh thì nhà nước nên can thiệp vào cái hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp ở mức độ nào?   Cái quan trọng nhất là hành lang pháp lí và chính sách để tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Lưu ý là cho đổi mới sáng tạo, không hẳn là cho khởi nghiệp (có hay không có chính sách, doanh nhân vẫn khởi nghiệp hằng ngày, nhưng để kích thích đổi mới sáng tạo là hoạt động rủi ro, thì có sự trợ giúp của nhà nước sẽ làm quá trình nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo được thúc đẩy nhanh hơn). Thứ hai là thu hút và đào tạo nhân tài. Thứ ba là chiến lược tài trợ nguồn lực theo hình thức tạo ra các vườn ươm công nghệ và các quỹ đầu tư.   Thực tế ở Việt Nam, các chính sách giải quyết ba vấn đề này đã có rồi nhưng chưa vận hành hiệu quả. Và để làm cho nó hiệu quả hơn thì cần có sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân và các chuyên gia liên quan (những người hoạt động thực tế chứ không phải các nhà lý thuyết). Chẳng hạn, Bộ KH&CN đã lập ra các quỹ đầu tư mạo hiểm, phát triển khoa học công nghệ. Nhưng, nếu tự làm một mình thì khả năng thất bại rất cao. Vì vậy cần kết hợp chặt chẽ với các nhà đầu tư tư nhân thì họ mới có cái nhìn sát với thị trường và sát với những biến đổi về khoa học công nghệ.   Theo tôi, Bộ KH&CN cần phải giương ngọn cờ đổi mới sáng tạo, thay đổi năng lực cạnh tranh quốc gia còn khởi nghiệp chỉ là câu chuyện nhỏ.   Gần đây, Bộ KH&CN thực hiện đề án xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, nhiều quỹ đầu tư cho rằng nhà nước chỉ cần tạo ra hành lang chính sách pháp lí thông thoáng là tốt lắm rồi còn không cần phải tham gia đầu tư. Anh có đồng tình với ý kiến này không?  Có những người quan điểm hơi cực đoan là nhà nước không cần làm, chỉ cần khung hành lang pháp lí. Nhưng quan điểm của tôi hơi khác: Nhà nước có nguồn lực thì cứ làm. Nhưng cần biết kết hợp với tư nhân để làm cho đúng.  Nhà nước cần tham gia đầu tư vì tư nhân cũng chưa chắc đã bao quát hết câu chuyện đâu. Tư nhân có sẵn sàng đầu tư cho những nghiên cứu sáng tạo quá xa giai đoạn tiền thương mại hóa? Chưa chắc, đồng tiền của họ sẽ thiên về những đổi mới sẵn sàng thương mại hóa. Tư nhân liệu có thể đầu tư cho các dự án có tính chất xã hội không? Chưa chắc. Rồi tư nhân có đưa cái đổi mới sáng tạo đến tầng lớp gọi là kém may mắn hơn trong xã hội? Các tầng lớp yếu thế? Chưa chắc. Cho nên, nguồn quỹ của nhà nước làm những việc mà tư nhân có thể sẽ không làm vì họ nghĩ đến lợi nhuận đầu tiên. Có những cái mà quỹ đầu tư chẳng bao giờ đầu tư. Không phải bởi vì nó kém hay vì nó chỉ có ý nghĩa xã hội. Nó vẫn kiếm ra tiền nhưng mà đối với quỹ đầu tư, tiền như vậy không đủ.   Vậy thì nhà nước đầu tư kết hợp với tư nhân theo cách như thế nào?  Có ba cách:  Cách thứ nhất, Nhà nước sẽ thuê một công ty quản lý quỹ. Một công ty đầu tư mạo hiểm giống như IDG bao gồm hai thành phần.Thứ nhất là cái quỹ, về bản chất chỉ là một cái túi tiền.Thứ hai là một công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, nơi có các nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp như chúng tôi, là người thực hiện quyết định đầu tư túi tiền kia vào đâu, và hưởng phí quản lý quỹ. Một công ty quản lý quỹ có thể quản lý nhiều quỹ, nhiều túi tiền khác nhau. Nhà nước có thể ủy thác cho chúng tôi, bên cạnh quản lý quỹ của IDG, quản lý thêm cho cả quỹ của nhà nước. Nhà nước muốn chia sẻ rủi ro túi tiền của mình cho nhiều chỗ thì có thể đưa tiền cho nhiều công ty quản lý quỹ khác nhau. Mô hình của Malaysia và Singapore làm như vậy. Malaysia có quỹ Mavcap của Chính phủ, ngoài việc đầu tư trực tiếp cho startup họ đầu tư cho 15 quỹ tư nhân và tạo ra cả một hệ sinh thái, tận dụng điểm mạnh của nhiều nhà quản lý quỹ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi bỏ tiền vào quỹ tư nhân thì bản thân tư nhân cũng bỏ tiền vào trong đấy chứ không phải chỉ có tiền của nhà nước.   Cách thứ hai là nhà nước đầu tư đối ứng với tư nhân, ví dụ như tỷ lệ 1:2 hay 2:1 (nhà nước bỏ 1 đồng đầu tư nếu tư nhân bỏ 2 đồng hoặc ngược lại). Những ngành nào mà rủi ro cao, ý nghĩa xã hội lớn thì nhà nước nên bỏ tiền nhiều hơn tư nhân. Cách này cũng tốt nhưng hiệu quả không bằng cách trên vì hai lý do. Một là quỹ tư nhân có ít động lực để chia sẻ thông tin về các thương vụ đầu tư với nhà nước hơn. Những thương vụ họ đánh giá cao họ có thể thích tự đầu tư vì như vậy lợi ích tương lai sẽ lớn hơn. Những thương vụ họ sẵn sàng chia sẻ với nhà nước thì rủi ro lớn hơn nên họ muốn chia sẻ với nhà nước. Hai là về bản chất cơ chế ra quyết định của hai bên vẫn là độc lập, tuy nói là đối ứng nhưng thực tế thủ tục đầu tư chung có thể phức tạp hơn rất nhiều so với việc nhà nước ủy thác trực tiếp cho các nhà quản lý quỹ tư nhân như cách thứ nhất.   Cách thứ ba là quỹ của nhà nước là quỹ độc lập và chỉ tham vấn các quỹ tư nhân hoặc chuyên gia bên ngoài trong một số quyết định. Đây là cách khó nhất vì quỹ của nhà nước sẽ phải tự tìm được người giỏi để quản lý, và các cơ chế cho đội ngũ quản lý quỹ làm thuê cho quỹ của nhà nước khó có thể hấp dẫn bằng các quỹ tư nhân. Tư duy quản lý hành chính nhà nước có thể bị áp dụng trong Hội đồng đầu tư của quỹ này rất dễ dẫn đến tính phi hiệu quả, vì cách quyết định của khối tư nhân thường rất khác.  Cảm ơn anh đã chia sẻ!   Hảo Linh (thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nên đánh đồng  startup với khởi nghiệp      Theo các nghiên cứu về startup trên thế giới, mẫu số chung cho các startup không nằm ở lĩnh vực kinh doanh hay tiền vốn họ cần để cạnh tranh mà chính là ở khả năng “tăng trưởng nhanh” về khách hàng hoặc doanh thu. Thế nhưng, “nhanh” như thế nào mới được gọi là startup? Ai mới có thể đánh giá được khả năng “tăng trưởng nhanh” khi startup còn chưa có lợi nhuận và thậm chí mới ở giai đoạn ý tưởng? Và liệu có nhất thiết phải tách khái niệm khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không khi khởi sự kinh doanh nào cũng rất cần được khuyến khích và hỗ trợ?    Phát biểu tại Ngày hội khởi nghiệp KH&CN Việt Nam – Techfest 2016, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam gọi startup là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, một cách nói ngắn gọn của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đó là một cộng đồng đặc biệt vì theo ông, “tính chất tạo ra những sản phẩm mới, phân khúc khách hàng mới bằng những công nghệ mới và ý tưởng mới chưa từng có, cách tiếp cận thị trường mới, thường là liên quan đến công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và vì qua mạng nên không có tính biên giới”.   Thế nhưng, trả lời cho câu hỏi: “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là gì?” không hề đơn giản. Chủ tịch HĐQT của FPT Trương Gia Bình cho rằng: “nói đến startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm” và không tính đến các doanh nghiệp mở quán cà phê hay quán phở. Một bài báo khác phản hồi lại lời của ông Trương Gia Bình lại cho rằng không nhất thiết startup phải ở trong lĩnh vực công nghệ, chẳng hạn như chuỗi cửa hàng café The Coffee House là startup. Tuy nhiên, bài báo này lại cho rằng mô hình tương tự – chuỗi cửa hàng the Kafe lại không phải là startup vì “không giải quyết được những vấn đề chính của thị trường và khả năng phát triển chậm do cần nhiều vốn để cạnh tranh”. Thế nhưng, the Kafe đã nhận được 5,5 triệu USD của các quỹ đầu tư mạo hiểm (tổ chức chỉ đầu tư duy nhất cho startup) ở Hong Kong.  Theo các nghiên cứu về startup trên thế giới, mẫu số chung cho các startup không nằm ở lĩnh vực kinh doanh hay tiền vốn họ cần để cạnh tranh mà chính là ở khả năng “tăng trưởng nhanh” về khách hàng hoặc doanh thu. Thế nhưng, “nhanh” như thế nào mới được gọi là startup? Ai mới có thể đánh giá được khả năng “tăng trưởng nhanh” khi startup còn chưa có lợi nhuận và thậm chí mới ở giai đoạn ý tưởng? Và liệu có nhất thiết phải tách khái niệm khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không khi khởi sự kinh doanh nào cũng rất cần được khuyến khích và hỗ trợ?  Tia Sáng đã có một cuộc trao đổi ngắn về quan điểm cá nhân của chị Phan Hoàng Lan, một trong các tác giả chính của Quyết định số 844/QĐ – TTg1 của Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST, thành viên Ban tổ chức Techfest 2015, 2016 xung quanh những tranh cãi về “Startup là gì?”      Đại diện của Btaskee, startup với ứng dụng kết nối giữa chủ nhà và người giúp việc theo giờ, trao đổi với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trong ngày hội khởi nghiệp Techfest 2016.  Theo chị thì xác định startup là gì quan trọng như thế nào?  Việc xác định startup là gì là một việc quan trọng, bởi vì nếu không hiểu startup là gì thì rất khó để có những hỗ trợ đúng và sát với nhu cầu của họ được. Đặc biệt, nếu truyền thông về startup mà không đúng sẽ làm cho nhiều người hiểu nhầm, sẽ có thể có tác dụng ngược đối với việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.  Tuy nhiên, hiểu về startup khác với việc cứng nhắc trong việc đưa ra các tiêu chí định lượng vì hầu hết việc xác định startup là gì dựa trên các tiêu chí định tính. Chính vì vậy mà về mặt chính sách, gần như các nước trên thế giới không đưa ra các tiêu chí cứng nhắc mà thông qua các đơn vị tư nhân như các quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm doanh nghiệp, chuyên gia để lựa chọn những startup xứng đáng được hỗ trợ.  Tại sao rất nhiều người lại cho rằng startup phải là những doanh nghiệp dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin?  Tại vì số đông startup không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và có công nghệ mới. Điều này thực ra rất tự nhiên. Vì startup theo khái niệm là phải có mô hình kinh doanh có thể “lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng” mà doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin lại dễ có được đặc tính này hơn các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác. Tuy nhiên, bảo startup là “phải” có công nghệ hoặc “phải” nằm trong lĩnh vực công nghệ thông tin thì cũng chưa hoàn toàn đúng. Vì cũng có những startup trong lĩnh vực khác vẫn đảm bảo được sự “lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng” này, vì họ có thể không có công nghệ nhưng có mô hình kinh doanh mới. Ở Việt Nam ví dụ the Kafe có thể coi là startup trong lĩnh vực F&B (đồ ăn uống) vì mô hình của họ có thể lặp đi lặp lại và mở rộng được.     Đa số startup đều được định nghĩa bởi sự tăng trưởng nhanh. Nhưng với một công ty ở giai đoạn đầu, chưa mở rộng thì đánh giá khả năng tăng trưởng sẽ dựa vào cái gì?  Thực ra, theo các khái niệm về mặt học thuật trên thế giới, startup được định nghĩa bởi “tiềm năng” lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng, cũng có thể nói là “tiềm năng tăng trưởng nhanh” về quy mô người dùng, khách hàng hay doanh thu, lợi nhuận. Tuy nhiên, đây chỉ là “tiềm năng” thôi chứ không phải tại bất kỳ thời điểm nào startup cũng thể hiện được việc tăng trưởng nhanh của mình. Đặc biệt khi startup ở giai đoạn đầu, còn đang loay hoay tìm hiểu nhu cầu khách hàng hoặc làm sản phẩm thử nghiệm thì số lượng người dùng cũng chưa nhiều mà có thể chưa có doanh thu gì cả.  Vậy thì tiềm năng này được thể hiện ở “đầu vào” của startup, hầu hết là công nghệ mới hay mô hình kinh doanh mới hoặc có thể lặp lại hoặc có thể được nhanh chóng mở rộng. Đặc biệt, startup phải chứng minh được thực sự có nhu cầu lớn trên thị trường đối với sản phẩm của mình (có thể chưa cần có sản phẩm hoặc bán hàng nhưng đã phỏng vấn được số lượng khách hàng tiềm năng nhất định mà có những nhu cầu khá tương đồng đối với ý tưởng, sản phẩm của startup).  Thường thì những người có kinh nghiệm thường xuyên làm việc với startup, hỗ trợ startup như các nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn, huấn luyện viên khởi nghiệp sẽ có thể đánh giá được tiềm năng này một cách chính xác nhất. Nhưng không phải mọi người đều có ý kiến giống nhau và cũng không có gì là “chuẩn tuyệt đối” được.   Theo chị, có thực sự cần phải phân biệt giữa startup ở Việt Nam và ở nước ngoài không?   Theo tôi không cần phân biệt giữa startup ở Việt Nam và nước ngoài. Tuy nhiên từ “khởi nghiệp” ở Việt Nam không nên đánh đồng với từ “startup”. Chính vì vậy về mặt chính sách mới có thuật ngữ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” để chỉ “startup” và để phân biệt với khởi nghiệp thông thường như mở quán phở hay quán bán quần áo là vì vậy. Sự phân biệt này không có nghĩa là chỉ nên hỗ trợ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”, không nên hỗ trợ khởi nghiệp thông thường bởi vì dù gì thì tinh thần kinh thương, ở bất kỳ lĩnh vực nào, khía cạnh nào, cũng là tinh thần rất nên cổ vũ. Sự phân biệt này chỉ có nghĩa là nên phân biệt giữa tính chất của hai loại hình khởi nghiệp để có thể hỗ trợ một cách sát sao nhất, phù hợp nhất với tính chất của từng loại hình mà thôi. Ví dụ, khi nhắc đến việc thu hút đầu tư mạo hiểm thì chỉ liên quan đến “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” hay “startup” mà thôi, chứ không một quỹ đầu tư mạo hiểm nào lại đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp thông thường cả.  Xin cảm ơn chị!   Nguyên Hạnh thực hiện.  —  * Định nghĩa về doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của QĐ 844 đã kế thừa khái niệm khởi nghiệp từ cách hiểu của các loại hình “emerging high-growth companies”, “early-stage innovative companies”, “entrepreneurs” hay “startups” trong các chính sách và cả trong các nghiên cứu trên thế giới.       Author                Nguyên Hạnh        
__label__tiasang Không phải lithi mà là natri mới là tương lai của pin      Một đột phá đã xuất hiện: các nguyên mẫu hiệu suất cao và những đột phá trong nghiên cứu cơ bản cho thấy, không lâu nữa các ion-natri trong pin sẽ là một giải pháp giúp tiết kiệm nguyên liệu hơn và tạo ra những sản phẩm giá thành rẻ hơn.      Mặc dù ô tô điện, xe tải điện và xe đạp điện đang trên thế thượng phong nhưng do giá cả đắt đỏ, phiền toái khi nạp điện và tốn kém tài nguyên nên việc sản xuất pin gặp nhiều khó khăn. Đây là lý do khiến các loại xe điện không nhanh chóng tạo ra được một bước ngoặt trên thế giới.  Do đó, để có thể phát triển, sử dụng động cơ điện trên diện rộng thì pin phải có hiệu suất cao hơn, tuổi thọ dài hơn, bền vững hơn và giá thành thấp hơn.  Dùng natri thay vì lithi   Giải pháp có thể là dùng pin có natri-ion, trong thời gian gần đây đã có tiến bộ đáng ngạc nhiên trong việc phát triển loại pin này, hứa hẹn vào khả năng trong thời gian tới, pin natri –ion có thể thay thế loại pin lithi-ion trong các loại ô tô điện và cả trong điện thoại thông minh cũng như máy tính xách tay.  Dù hai kim loại kiềm lithi và natri rất giống nhau về mặt hóa học nhưng mật độ năng lượng ở natri thấp hơn so với lithiu. Bù lại, natri có ở mọi nơi việc khai thác do đó cũng rẻ hơn.   Sự đột phá   Trong hàng chục năm qua, người ta chỉ tập trung nghiên cứu đối với lithiu vì nó có hiệu suất cao hơn. Hiện không những đã có những công trình nghiên cứu khoa học mang tính định hướng đã được công bố mà đã có nhiều nguyên mẫu đầy triển vọng: theo một công bố hồi tháng 5.2020 một pin – natri của Hàn Quốc hoạt động liên tục khoảng 500 chu kỳ sạc đầy sau đó công suất giảm xuống còn 80%. Một loại pin khác của Trung Quốc có cầu trúc hơi khác, sản phẩm của một nhóm nghiên cứu Mỹ – Trung cũng có kết quả tương tự sau 450 chu trình sạc đầy. Một pin natri-ion tuy có dung lượng thấp hơn một chút tuy nhiên sau 1200 chu trình với thời gian nạp nhanh chỉ 12 phút vẫn còn 70% dung lượng.  Nghe thì có vẻ không được bao nhiêu nhưng trong thực tế thì những loại pin này có thể trải qua nhiều chu kỳ hơn nhiều vì thông thường pin chỉ được xả và nạp một phần. Việc nạp đầy và xả kiệt trong thí nghiệm đối với pin gây khó hơn nhiều cho chúng.  Cho đến nay người ta vẫn sử dụng công nghệ lithi-ion, vừa khan hiếm vừa đắt.  Ngoài ra công nghệ natri-ion không sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm: để sản xuất cathod không cần dùng muối lithiu khan hiếm, thay vào đó có thể dùng muối ăn có ở khắp nơi. Anode hiệu xuất cao có thể tạo ra từ than nâu, gỗ và các loại sinh khối. Công nghệ này không cần dùng cobalt hay các loại tài nguyên khan hiếm khác.    Nghiên cứu cơ bản mang tính đột phá?  Natri có hai điều bất lợi: nó nặng gấp ba lần lithi và do đó loại pin natri-ion cũng nặng hơn, cho dù lithi chỉ chiếm không đến 5% tổng trọng lượng của bình pin.  Ngoài ra pin natri không mạnh bằng vì chúng mất mật độ năng lượng khoảng 10% do điện áp tế bào thấp hơn 0,3 volt. Nhất là cực dương bằng than chì của pin cho đến nay vẫn chưa hấp thụ được đủ natri, điều này có thể được khắc phục bằng carbon ở kích thước nano. Điều này được chứng minh bởi một nghiên cứu của một nhóm hợp tác Đức-Nga do Trung tâm Helmholtz Dresden-Rossendorf (HZDR) dẫn dắt. Theo đó, các lớp kép làm bằng graphene, làm từ những lớp carbon rất mỏng chúng có thể tích tụ nhiều nguyên tử natri hơn đáng kể ở cực dương so với loại graphite được sử dụng trước đây.  Điều đó có nghĩa là, nếu trong tương lai người ta thay thế cực dương bằng graphite hiện nay bằng cực dương graphene lắp trong pin lithi thì có thể tăng đáng kể khả năng lưu trữ. “Đại để nó giống như người ta cho những bong bóng tí xíu vào giữa hai tờ giấy”, tiến sỹ vật lý Arkady Krasheninniko thuộcHZDR giải thích. “Càng tuồn nhiều bóng vào thì giấy phình to ra từ đó tạo thêm chỗ chứa trong túi giấy.”  Một bước nhẩy vọt mới đối với pin natri-ion ?  Nếu  bộ lưu trữ nhiều lớp đối với lithi hoạt động được thì liệu các kim loại kiềm khác  như natri có hoạt động được không? Nhóm hợp tác ở Dresden, Stuttgart và Moscow muốn trả lời câu hỏi này bằng các mô phỏng siêu máy tính cực kỳ phức tạp. Bởi vì cho đến nay các nguyên mẫu của pin natri-ion hoạt động không được tốt vì natri chỉ miễn cưỡng đi vào các cực dương graphite.  Theo tính toán trên máy tính thì cả natri cũng như lithi không những chỉ có thể lưu trữ một lớp mà nhiều lớp chồng lên nhau giữa những lá graphite.  Nếu người ta thay cực dương graphite đang được dùng phổ biến hiện nay bằng cực dương graphene để lắp trong pin natri-ion, thì nhiều khi có thể làm tăng đáng kể dung lượng lưu trữ.  Đối với sự phát triển cực dương trong tương lai dành cho pin natri giá rẻ thì kết quả nghiên cứu này có thể tạo bước đột phá.  Krasheninnikov nhấn mạnh: “Công việc của chúng tôi mang tính chất lý thuyết thuần túy và chúng tôi không khẳng định rằng một thế hệ pin mới sẽ được phát triển dựa trên kết quả của chúng tôi trong tương lai gần. Nhưng có thể những kết quả của chúng tôi sẽ gợi mở cho các kỹ sư những ý tưởng mới, thú vị”.  Pin trong tương lai   May mắn thay, pin natri-ion không chỉ còn là một khái niệm lý thuyết. Sự đột phá về công nghệ sát với thực tế dường như sắp diễn ra. Các kết quả nghiên cứu gần đây nhất cho thấy đã có những lựa chọn thay thế với giá cả phải chăng và tiết kiệm tài nguyên thay cho pin lithi-ion đắt tiền và hiệu suất có thể tăng lên đáng kể nhờ nhiều bộ lưu trữ.  Chắc chắn sẽ còn mất một thời gian nữa trước khi pin natri-ion hoàn thiện về mặt kỹ thuật, có thể sản xuất với số lượng lớn để lắp đặt trong các loại ô tô điện hoặc điện thoại di động. Việc chuyển đổi sản xuất từ pin lithi sang natri-ion về cơ bản không có vấn đề gì do công nghệ tương đối giống nhau.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.dw.com/de/natrium-statt-lithium-die-akkus-der-zukunft/a-54512116  https://www.process.vogel.de/batterien-der-zukunft-natrium-statt-lithium-a-823026/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu kinh tế biển trong tư duy đột phá chiến lược      Khởi đầu từ Khu Kinh tế (KKT) mở Chu Lai (2003), chỉ sau chưa đầy 10 năm, Việt Nam hiện đã có 15 khu kinh tế ven biển từ&#160; Vân Đồn (Quảng Ninh) đến Năm Căn (Cà Mau). Và gần đây, 3 KKT mới được bổ sung thêm vào Quy hoạch là: KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT ven biển Thái Bình, KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định), với tổng diện tích mặt đất và mặt nước của 18 KKT là 721.782 ha.      Nhiều công trình nghiên cứu gần đây xác nhận, là sự phát triển ồ ạt các loại hình tổ chức công nghiệp này, đặc biệt là các KKT ven biển, chưa đạt hiệu quả chức năng, gây lãng phí lớn các nguồn lực và cản trở mạnh mẽ xu hướng hiện đại hóa nền kinh tế. Thực tế này là con đẻ của một lối tư duy, một kiểu phát triển mang khá rõ đặc tính “hội chứng”, “phong trào”, được thúc đẩy bằng nhiều nhóm động cơ và lợi ích trong nhiều trường hợp là xung đột nhau. Do đó, một yêu cầu cấp bách đặt ra là cần có những giải pháp phát triển hiệu quả các KKT biển trong một tầm nhìn chiến lược quốc gia tổng thể.  Quá trình phát triển thực tế 15 KKT biển ở nước ta thời gian qua dẫn tới những hệ quả phát triển rất đáng lưu ý như sau:  – Một số lượng lớn KKT biển được triển khai xây dựng gần như theo kiểu “đồng khởi”. Cách làm đó tạo ra sự dàn trải đầu tư, phân tán nguồn lực và gây ra tình trạng cạnh tranh giành vốn quyết liệt giữa các địa phương được quy hoạch xây dựng KKT. Kết cục là sự chậm trễ và lãng phí lớn, kéo theo xu hướng cố gắng “lấp đầy” thật nhanh KKT bằng mọi giá. Cách làm này vô hình trung đã dẫn tới một định hướng sai lệch: tập trung cho cuộc cạnh tranh xây dựng KKT giữa các địa phương trong nước trong khi đáng ra phải tập trung cao nhất nỗ lực quốc gia cho cuộc cạnh tranh với các nền kinh tế khác nhằm thu hút vốn đầu tư quốc tế đẳng cấp cao.        Các KKT biển thường được xây dựng ở những vị trí “đắc địa”, được thiết kế với kỳ vọng rất lớn về khả năng thu hút đầu tư cao, tạo đột phá phát triển mạnh và sức lan tỏa phát triển nhanh. Do vậy, việc xây dựng các KKT này thường được yểm trợ bằng các chính sách và biện pháp ưu đãi đặc biệt; đồng thời được thiết kế phát triển dựa trên những lợi thế và chức năng đặc thù:              – Có đặc thù kết cấu ngành, gắn với các cảng biển;              – Hoạt động công nghiệp không gây xung đột môi trường và hài hòa với sự phát triển của các ngành khác (ví dụ, du lịch biển).              – Có “hậu phương phát triển” đất liền đủ lớn;              – Gắn với đô thị cảng biển hiện đại (hàm ý thể chế phát triển hiện đại đặc thù của một KKT – đô thị – cảng biển hiện đại).              Tuy nhiên, kết quả thực tế và triển vọng phát triển các KKT biển ở nước ta cho đến nay còn xa mới được coi là tương xứng với kỳ vọng và các ưu đãi chính sách dành cho chúng.          – Tình trạng “vừa chạy vừa xếp hàng” trong việc thu hút đầu tư vào KKT trong khi chưa định hình rõ định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia về;  i) chiến lược phát triển công nghiệp – công nghệ cao; ii) phát triển các KKT và KCN như một hệ thống hữu cơ, dẫn tới chỗ tầm nhìn phát triển thiết kế cho các KKT biển thấp, không tạo cơ sở cho sự phân công và liên kết phát triển hợp lý giữa các KKT và ít gắn với logic kết nối chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Tình trạng thực tế hiện nay nặng về xu hướng mạnh khu nào khu ấy làm, làm được cái gì tốt cái đấy, không dựa trên thế mạnh và với định hướng tạo ra sự khác biệt để bổ sung và phát triển sự phân công, gắn kết với nhau.  – Cách phát triển ồ ạt các KKT biển làm cho nền kinh tế không thể chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tập trung quy mô lớn và đẳng cấp cao. Hai lực lượng “chủ công” để phát triển hiệu quả các KKT biển là lực lượng doanh nghiệp Việt Nam và nguồn nhân lực chất lượng cao lại là những yếu tố bị thiếu hụt nghiêm trọng nhất.  – Nhìn chung, cấu trúc thể chế kinh tế và thể chế đô thị gắn với khu kinh tế chưa được dẫn dắt bởi tư duy định hướng hiện đại hóa. Trên thực tế, xu hướng xây dựng thể chế cho các KKT (và các KCN cũng vậy) tập trung vào việc ban hành các chính sách và biện pháp ưu đãi hơn là xây dựng một cấu trúc thể chế tổng thể (cho toàn bộ KKT hay toàn bộ cụm KKT – đô thị) hiện đại (theo xu hướng “vượt trước” để tạo sức hút kiểu Thâm Quyến của Trung Quốc, Dubai của Các Tiểu vương quốc Ả Rập hay Incheon của Hàn Quốc).                  Cuối cùng, tính triển vọng trong đua tranh phát triển quốc tế của đa số KKT của nước ta chưa thể hiện rõ, thậm chí có thể nói là còn thấp. Đây là kết quả tất yếu, mang tính tổng hợp của các yếu tố nêu trên. Một tầm nhìn không đủ, thiếu sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tiên quyết cho sự hình thành một trung tâm phát triển theo kiểu bùng nổ trong thế giới toàn cầu hóa hiện đại chắc chắn sẽ làm chậm quá trình phát triển các KKT biển, hạn chế sức hấp dẫn đầu tư đẳng cấp cao của chúng, do đó, làm cho chúng trở nên kém triển vọng.   Để vượt qua tình trạng nêu trên trong việc phát triển các KKT biển, việc đầu tiên cần làm là phải xác định đúng các nguyên nhân gây ra nó.   Nguyên nhân  Xin được gợi ý một số nguyên nhân sau đây.  – Trong tư duy phát triển các KKT và các KCN, chưa đặt nó trong nhận thức về cuộc cạnh tranh thu hút nguồn lực phát triển toàn cầu, trước hết, giữa các nước trong khu vực. Do đó, cách phát triển KKT trong tư duy cục bộ địa phương dẫn tới sự chú ý thiên lệch về định hướng thể chế – nhưng bị dàn trải về nỗ lực thực tế: các chính sách ưu đãi (sức hấp dẫn ngắn hạn, cục bộ và không cơ bản) được coi trọng hơn đẳng cấp thể chế cần có của KKT (đây mới là yếu tố quyết định).   – Các KKT được hiểu như là một tọa độ phát triển mang tính địa phương cục bộ, là lợi ích quốc gia được chia cho các địa phương (nên phải được chia đều) chứ không phải là điểm đột phá phát triển vùng. Do vậy, lợi thế riêng lẫn khả năng bổ sung, liên kết phát triển lẫn nhau giữa các KKT không được tính đến đầy đủ, do đó, chưa được phát huy đúng mức.   – Mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn lực triển khai các KKT và mục tiêu về thời gian xây dựng và sứ mệnh chức năng mà các KKT gánh vác. Đây là lý do làm cho các KKT của ta kéo dài thời gian xây dựng, làm tăng chi phí đầu tư và bị lãng phí rất nhiều về nguồn lực, trong đó, lãng phí về “chi phí cơ hội” lại ít được tính đến. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở tầm quốc gia, việc tập trung đầu tư cho một số tương đối ít các KKT với định hướng ưu tiên về đẳng cấp thể chế và công nghệ thay vì mở ra tràn lan các KKT đẳng cấp thấp theo kiểu “chiến lược quả mít” là cách lựa chọn hợp lý và khôn ngoan.         Việc thiết kế xây dựng một bộ phận lớn các KKT trong thời gian qua còn có một điểm yếu cốt tử là không tính đầy đủ đến những yếu tố mang tính tiền đề. Một số KKT lớn không có không gian phát triển trên đất liền đủ lớn. Dải đất dọc biển của nước ta nói chung rất hẹp, “hậu phương công nghiệp” trên đất liền rất hạn chế trong khi mức độ kết nối rất yếu. Nước ngọt – nguồn tài nguyên cơ bản phục vụ cho sự phát triển công nghiệp tập trung và đô thị lớn hiện đại – ở một số vùng là rất thiếu. Việc khắc phục những điểm yếu “sinh tử” này ở nước ta hiện nay cần nhiều thời gian và vốn liếng. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng hàng loạt KKT có thể gây ra những nguy cơ và sự xung đột không dễ giải quyết. Trường hợp KKT Vũng Áng (thiếu không gian phát triển đủ lớn, thiếu nguồn nước ngọt) hay KKT Vân Phong (thiếu hậu phương công nghiệp và sự kết nối tương xứng với tầm cỡ của một cảng trung chuyển quốc tế hàng đầu khu vực) là những ví dụ điển hình.            Cũng cần lưu ý một khía cạnh khác của xu hướng căng thẳng về nguồn lực đầu tư vào các KKT – khả năng bảo đảm nguồn đầu tư trong tương lai. Với tổng diện tích đất rộng lớn dành cho việc xây dựng 15 KKT biển (hơn 720.000 ha và con số này còn tăng lên do có một số KKT mới được phê duyệt đưa vào quy hoạch), giả định một mức thu hút đầu tư tương đối khiêm tốn mà các địa phương kỳ vọng đạt được cho mỗi một ha – 1 triệu USD (Bình Định đặt mục tiêu thu hút 2 triệu USD/ha), số lượng vốn cần có để “lấp đầy” mục tiêu đặt ra cho các KKT đã lên tới mức khó tưởng tượng: 720 tỷ USD. Đặt con số này trong cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư toàn cầu, mà trong cuộc cạnh tranh đó, Việt Nam không phải là địa chỉ thu hút đầu tư hấp dẫn nhất. Vậy thì “bao giờ cho đến tháng 10?”  Giải pháp trong phát triển hiệu quả các KKT biển  Theo logic tiếp cận nêu trên, có thể nêu một số gợi ý sau:  – Quán triệt tư duy KKT biển phải là một tọa độ đột phá mạnh, lan tỏa rộng, là một cứ điểm thực thi hiệu quả chiến lược biển. KKT biển cũng phải được nhận thức rõ là điểm kết nối phát triển vùng – quốc gia với thế giới chứ không phải là “của riêng” của các địa phương.  – Phải căn cứ vào nguồn lực thực tế được dành để phát triển các KKT để xây dựng chương trình phát triển KKT biển quốc gia, bảo đảm sự hài hòa, cân đối giữa các mục tiêu tốc độ, quy mô, chất lượng phát triển các KKT.  – Quán triệt định hướng xây dựng các KKT biển đẳng cấp cao – về cơ cấu và về thể chế. Tính vượt trội về trình độ hệ thống thể chế phải là tiêu chuẩn bắt buộc hàng đầu.  – Phải chuẩn bị nghiêm túc các điều kiện cần và đủ cho sự phát triển KKT – các nguồn tài nguyên tự nhiên cơ bản, không gian phát triển, nguồn nhân lực, hệ thống kết nối và lan tỏa phát triển.   Tất cả những gợi ý mang tính định hướng nêu trên đều nhằm tới một đề xuất về định hướng phát triển KKT biển ở Việt Nam trong giai đoạn tới: Chỉ nên tập trung phát triển 4 KKT biển quy mô lớn, gắn với 4 vùng kinh tế trọng điểm. Đây là 4 cửa mở quốc tế, 4 tọa độ kết nối phát triển vùng. Việc khai thông phát triển 4 tọa độ này là điều kiện tiền đề cho sự bùng nổ và lan tỏa phát triển vùng. Về cấp độ thể chế, đó phải là 4 KKT tự do (hay đặc khu kinh tế).  Căn cứ vào thực tế phát triển của Việt Nam, có thể đề xuất (sơ bộ) 4 KKT tự do như vậy là: KKT tự do Hải Phòng (kết nối với không gian phát triển vùng ven biển của Quảng Ninh); KKT tự do Đà Nẵng – Lăng Cô – Chân Mây; KKT tự do Vũng Tàu và Đặc khu Kinh tế Phú Quốc.  Cần xúc tiến ngay việc nghiên cứu khung khổ thể chế cụ thể, cơ cấu ngành chức năng và hệ thống hạ tầng kết nối phát triển cho mỗi KKT nêu trên và xác định kịp thời lộ trình, giải pháp thực hiện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khung giám sát  công nghệ chỉnh sửa gene      Các nhà khoa học cho rằng cần có một khung giám sát quốc tế hướng dẫn ra quyết định về việc có hay không và khi nào có thể áp dụng công nghệ chỉnh sửa gene nhằm giải quyết các vấn đề sinh thái.    Chỉnh sửa gene tạo ra thay đổi với ADN của sinh vật, đồng nghĩa với việc làm thay đổi các đặc tính của sinh vật. Và tiềm năng ứng dụng công nghệ này là vô hạn. Ví dụ, muỗi được chỉnh sửa gene có thể là công cụ để khắc phục sốt rét; san hô có thể biến đổi gene để chống chịu các đe dọa từ môi trường tốt hơn. “Nhưng chuyện gì xảy ra khi những loài san hô biến đổi gene lấn át hệ sinh thái của rạn san hô và gây suy giảm đa dạng các loài san hô tiến hóa tự nhiên cùng các loài cá sinh sống dựa vào đó?” Michael Paul Nelson, trường Đại học Lâm nghiệp, Đại học Bang Oregon (OSU College of Forestry), nói. “Hoặc khi một sinh vật được biến đổi gene được tạo ra để chống lại các loài sinh vật gây hại lại thoát khỏi khu vực được nuôi trồng và lan sang các vùng sinh vật tự nhiên khác và lấn át sinh vật ?”  Nelson nhấn mạnh rằng mỗi quyết định phát tán một sinh vật chỉnh sửa gene cần phải được cân nhắc thông qua những yếu tố sau:  – Mục đích và phạm vi chỉnh sửa?  – Những hệ sinh thái nào chịu tác động?  – Kết quả của sự thay đổi đó đối với sức khỏe con người?  – Hệ thống giá trị nào của cộng đồng [bản địa] sẽ bị ảnh hưởng?  “Ở mỗi khía cạnh trên, đều có những quan điểm trái chiều đối với những gì được xem là ‘tự nhiên’ và đối với mức độ con người có thể can thiệp vào hệ sinh thái,” Nelson cho biết. “Vì vậy, trước khi ra quyết định cần cân nhắc đến những quan điểm xã hội khác nhau về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đó, đồng thời cần xem xét ngữ cảnh tri thức và quan điểm của cộng đồng bản địa”.  Do đó, trong một bài báo trên Science, Nelson và các cộng sự, đến từ Yale, Harvard, MIT, Học viện Công nghệ Georgia và Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ …, đề xuất thành lập một tổ chức hợp tác nhằm kết nối cộng đồng, những nhà phát triển công nghệ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ “theo cách đảm bảo các cuộc thảo luận mang tính bao trùm.” Tổ chức hợp tác này sẽ lập ra một khung phân tích nhằm giúp xây dựng các báo cáo chuẩn để từ đó đưa ra các khuyến nghị, đồng thời sẽ thiết lập một cơ chế nhằm chia sẻ thông tin này trên toàn cầu.  “Việc xác định điều gì ảnh hưởng đến cộng đồng bản địa” sẽ là một phần quan trọng trong quá trình này, điều này phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng và khả năng dự đoán tác động môi trường,” Nelson cho biết. Ví dụ, nếu cân nhắc sử dụng gene tự lan truyền (self-propagating gene drive) để chống lại bệnh sốt rét, thì đại diện từ nhiều nơi thuộc châu Phi cận Sahara sẽ xứng đáng được tham vấn ý kiến. Nhưng công nghệ cũng cho phép khu trú phạm vi tham vấn, nếu như có mô hình dự đoán để xác định cộng đồng nào có nhiều khả năng bị ảnh hưởng nhất.  Các nhà khoa học dự kiến, tổ chức này sẽ vận hành với sự hỗ trợ chung của nhiều nhóm đang hoạt động, chẳng hạn như Tổ chức Y tế Thế giới và Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (International Union for the Conservation of Nature). Nguồn quỹ hoạt động sẽ được kêu gọi từ các chính phủ liên quan, các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.  Nelson cũng cho biết, “Mô hình quản trị này đòi hỏi phải kết nối các khung phân tích, các chuyên gia toàn cầu với các vấn đề, nhu cầu ở các địa phương”.   Nelson cũng lưu ý thêm, một vấn đề quan trọng là cần có các nhóm trợ lý, điều phối đóng vai trò là người thu thập thông tin ở các khu vực khác nhau.□   Cẩm Tú lược dịch    Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2018-11/osu-spp110118.php       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng khí hậu có thể thúc đẩy các đại dịch trong tương lai      Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng sẽ có ít nhất 15.000 sự kiện lây nhiễm virus giữa các loài trong vòng 50 năm tới. Cuộc khủng hoảng khí hậu sẽ thúc đẩy một “thảm họa tiềm ẩn” về các bệnh lây nhiễm nguy hiểm với con người và động vật, gia tăng nguy cơ bùng nổ các đại dịch trong tương lai.     Khi Trái đất nóng lên, nhiều loại động vật phải di chuyển đến nơi khác để tìm môi trường sinh sống phù hợp. Chúng mang theo kí sinh trùng và mầm bệnh, lây lan sang các loài chưa từng tiếp xúc trước đây. Điều này làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh từ động vật sang người, có thể dẫn đến một đại dịch khác nghiêm trọng như COVID-19.    Dơi đóng vai trò quan trọng đối với lây nhiễm dịch bệnh vì chúng có khả năng di chuyển trên quãng đường dài. Nguồn: The Guardian  “Khi thế giới thay đổi, dịch bệnh cũng sẽ thay đổi”, Gregory Albery, chuyên gia về sinh thái dịch bệnh ở Đại học Georgetown (Hoa Kỳ) và đồng tác giả của công bố trên Nature cho biết. “Nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng rõ ràng cho thấy các thập kỷ tới không chỉ nóng hơn mà còn nhiều bệnh tật hơn”.  Albery nhận định biến đổi khí hậu “đang làm lung lay cốt lõi của các hệ sinh thái”, dẫn đến sự tương tác giữa các loài có khả năng lan truyền virus. Ông cho biết ngay cả hành động quyết liệt để giải quyết tình trạng nóng lên toàn cầu hiện nay cũng không đủ để ngăn chặn nguy cơ xảy ra các sự kiện lây nhiễm.  “Đây là thực tế đang diễn ra, và không thể ngăn chặn được ngay cả trong những kịch bản biến đổi khí hậu tích cực nhất. Chúng ta cần đưa ra các biện pháp xây dựng cơ sở hạ tầng y tế để bảo vệ con người và các quần thể động vật”.  Nghiên cứu cho biết có ít nhất 10.000 loại virus có khả năng lây nhiễm sang người đang “âm thầm” lưu hành trong các quần thể động vật hoang dã. Trước đây những trường hợp lây nhiễm chéo như vậy hiếm khi xảy ra, nhưng giờ đây, môi trường sống bị phá hủy ngày càng nhiều do hoạt động nông nghiệp và mở rộng đô thị, khiến con người tiếp xúc nhiều hơn với động vật nhiễm bệnh.  Biến đổi khí hậu khiến tình trạng này thêm trầm trọng, bằng cách thúc đẩy lan truyền dịch bệnh giữa các loài trước đây không tiếp xúc với nhau. Nghiên cứu dự báo đến năm 2070, phạm vi địa lí của 3139 loài động vật có vú sẽ thay đổi do biến đổi khí hậu và sử dụng đất, đồng thời sẽ có ít nhất 15.000 sự kiện lây nhiễm chéo giữa các loài liên quan đến một hoặc nhiều loại virus.  Dơi đóng vai trò quan trọng đối với sự lan truyền dịch bệnh vì chúng có khả năng di chuyển trên quãng đường dài. Người ta đã nghi ngờ một con dơi bị nhiễm bệnh ở Vũ Hán (Trung Quốc) là nguyên nhân khởi đầu đại dịch COVID-19 và nghiên cứu trước đó ước tính có khoảng 3200 chủng coronavirus đã lưu hành trong các quần thể dơi.  Nghiên cứu mới cảnh báo rằng nguy cơ bệnh tật do khí hậu không chỉ là vấn đề của tương lai. “Điều bất ngờ mà chúng tôi nhận thấy rằng quá trình chuyển đổi sinh thái này có thể đang xảy ra, và việc giữ mức nóng lên dưới 2°C trong thế kỷ sẽ không làm giảm nguy cơ lan truyền dịch bệnh trong tương lai”, theo công bố.  Phần lớn nguy cơ dịch bệnh tập trung ở các khu vực có địa hình cao ở châu Phi và châu Á, tuy nhiên, việc theo dõi sự phát triển của một số loại virus sẽ gặp khó khăn do thiếu giám sát. “Sự thay đổi lớn này đang diễn ra trong các hệ sinh thái nhưng hầu như không được quan sát”, Colin Carlson, một đồng tác giả của nghiên cứu cho biết.  “Kết quả nhấn mạnh rằng chúng ta bắt buộc phải ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh”, theo Aaron Bernstein, giám đốc lâm thời của Trung tâm khí hậu, sức khỏe và môi trường toàn cầu tại Đại học Harvard. “Vaccine, thuốc và xét nghiệm rất cần thiết nhưng nếu không đầu tư vào ngăn chặn đại dịch từ đầu, chẳng hạn bảo tồn môi trường sống, quản lý chặt chẽ việc buôn bán động vật hoang dã và cải thiện an toàn sinh học cho vật nuôi, chúng ta sẽ sống trong một thế giới chỉ có người giàu mới chịu được khi nguy cơ bùng phát dịch bệnh ngày càng tăng”.  Thanh An lược dịch  Nguồn:  https://www.theguardian.com/environment/2022/apr/28/climate-crisis-future-pandemics-zoonotic-spillover       Author                .        
__label__tiasang Khủng hoảng năng lượng lần thứ 3      Nguy cơ về cuộc khủng hoảng dầu mỏ mới  Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất xảy ra năm 1973 khi giá dầu tăng lên đột ngột từ 20 USD/thùng lên 45-50 USD/thùng và cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai xảy ra năm 1979 khi giá dầu tăng lên gấp đôi từ 50 USD/thùng lên trên dưới 100 USD/thùng. Giá dầu sau đó hạ dần và tương đối ổn định từ sau 1985 ở mức 20 – 30 USD/thùng.    Trong khoảng thời gian này, vào cuối năm 1990, giá dầu tăng vọt từ 30 USD/thùng lên 55 USD/thùng nhưng rất nhanh trở về mức bình thường 30 USD/thùng vào đầu năm 1991, nên chỉ xem là sự tăng đột biến, không ảnh hưởng lớn và trầm trọng như các cuộc khủng hoảng trước. Bắt đầu từ sau 2004 giá dầu lại tăng liên tục và đều đặn. Tháng 9/2003, giá dầu còn dưới 25 USD/thùng, tháng 8/2005 đã tăng lên gấp đôi, trên 60 USD/thùng. Tháng 9/2007, giá dầu tăng trên 80 USD/thùng, đến tháng 10/2007, giá dầu tăng vọt lên 98,62 USD/thùng và hiện nay đang giữ mức trên 99 USD/thùng. Điều đáng quan tâm là giá dầu có thể tăng lên đến 100 USD/thùng ngay trong tháng 12/2007, ngang với giá dầu xảy ra khủng hoảng năng lượng lần thứ hai trước đây và có thể giá dầu sẽ không trở về mức cũ mà vẫn ở mức cao. Điều này đã làm cho thế giới lo ngại sắp tới sẽ có thể xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng lần thứ ba kéo dài hơn, trầm trọng hơn hai lần trước. Theo dự báo của nhiều chuyên gia năng lượng thế giới, đến năm 2015, giá dầu có thể tăng lên đến 380 USD/thùng(!). Giá dầu 60 USD/thùng đã là mức quá cao đủ gây tác động kinh tế toàn cầu nói chung, làm suy thoái kinh tế và rối ren bất ổn xã hội, như thực tế những cuộc khủng hoảng dầu mỏ trước đây đã cho thấy, vì vậy, diễn biến bất thường về giá dầu lần này gây tác động đến nền kinh tế thế giới sẽ to lớn và khủng khiếp đến mức nào ! Đây thật sự sẽ là một cơn sóng thần cho cả nhân loại như nhiều nhà phân tích kinh tế đã hình dung. Cơn sóng thần này diễn biến có thể xảy ra làm 3 đợt. Hiện nay là đợt nhỏ nhất, như một làn sóng báo nguy. Đợt tiếp sau sẽ mạnh hơn, vào quãng năm 2009-2010. Đây là lúc các nước không thuộc OPEC đạt đến đỉnh sản xuất dầu và bắt đầu giảm dần mức sản xuất. Đợt cuối cùng là đợt mãnh liệt nhất, xảy ra khi mức sản xuất dầu của các nước OPEC đạt đến đỉnh vào khoảng năm 2020 để rồi sau đó sản lượng dầu toàn thế giới sẽ nhanh chóng giảm dần. Vì vậy, nếu ngay từ bây giờ thế giới không tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào dầu bằng cách sử dụng những năng lượng thay thế khác thì thảm họa của nhân loại là không tránh khỏi.  Đặc điểm cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba                  Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất năm 1973 chính là do các nước OPEC chủ động ngưng sản xuất dầu và thực hành cấm vận, không cung cấp dầu cho Mỹ và những nước phương Tây đã ủng hộ Israel trong cuộc xung đột với Syrie và Ai Cập, còn cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai là hậu quả của việc các cơ sở sản xuất, khai thác dầu ở Iran bị phá hủy trong cuộc cách mạng Hồi giáo, tiếp sau là cuộc xâm lấn của Iraq vào Iran năm 1980 đã làm việc sản xuất dầu ở cả Iran và Iraq bị hoàn toàn đình trệ, không có dầu để cung cấp cho thế giới. Việc tăng đột ngột giá dầu năm 1990 liên quan đến chiến tranh vùng Vịnh và xâm lấn của Iraq vào Kuwait ngày 2/8/1990. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba này không gắn liền với các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang như những lần trước mà nguyên nhân chính là do nhu cầu tăng quá cao ở những nền kinh tế mới đang phát triển, có sự tăng trưởng kinh tế mạnh và liên tục trong nhiều năm liền, trong đó 2/3 mức tăng lên là do nhu cầu của hai nền kinh tế lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, 1/3 còn lại là do nhu cầu của các nền kinh tế đang phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu. Những năm gần đây, sự khác biệt giữa năng lực sản xuất và nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ đã thay đổi rất nhanh làm phá vỡ cân bằng cung-cầu. Nếu giữa thập niên 80, khoảng cách này là 10 triệu thùng mỗi ngày, cuối thập niên 90 còn khoảng 2 triệu thùng/ngày, thì đến nay, khoảng cách này không còn nữa, thậm chí là con số ngày càng âm. Hiện nay trên thế giới mức sản xuất cao nhất khoảng 82 triệu thùng/ngày, đến nay mức khai thác đang tiến đến đỉnh sản xuất và sau đó sẽ bắt đầu giảm sút khoảng 7% mỗi năm.  Theo báo cáo mới đây, ngày 22-10-2007 của Văn phòng Tổ chức kiểm soát Năng lượng Anh (EWG), sản lượng dầu mỏ thế giới đã lên đỉnh sản xuất vào năm 2006, sớm hơn nhiều so với dự báo. Trong khi đó, năm 2007 nhu cầu tiêu thụ đã có thể xác định là 86,1 triệu thùng/ngày, sang năm 2008 sẽ là 88 triệu thùng/ngày, năm 2012 là 95,8 triệu thùng/ngày và đến năm 2025, nhu cầu tiêu dùng của thế giới sẽ tăng lên đến 118 triệu thùng/ngày! Cần lưu ý là tổng trữ lượng dầu mỏ có thể khai thác (recoverable reserve) trên thế giới tính đến năm 2006 khoảng 1.300 tỷ thùng, nghĩa là chỉ đủ dùng cho khoảng 30 năm nữa với mức tiêu thụ khoảng 80 triệu thùng/ngày như hiện nay,  Lawrence Goldstein, nhà kinh tế của Quỹ nghiên cứu chính sách năng lượng Mỹ cho rằng, đây là lần khủng hoảng năng lượng đầu tiên vì lý do nhu cầu tiêu thụ bùng nổ của thế giới trong khi mức sản xuất không thể tăng kịp. Do đó, nếu hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ trước đây xảy ra đã có thể thoát được trên cơ sở giải quyết các mâu thuẫn quyền lợi kinh tế, xung đột quân sự và chính trị, thì cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này nếu xảy ra chỉ có thể giải quyết bằng việc cắt giảm nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới đưa về mức gần như trước đây, trong đó chủ yếu là từ các nền kinh tế đã phát triển như Mỹ, Nhật, Châu Âu và hai nền kinh tế đang lên là Trung Quốc và Ấn Độ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi các hộ tiêu thụ dầu lớn kể trên lâm vào suy thoái kinh tế trầm trọng, nhưng điều đó sẽ rất khó xảy ra. Vì vậy, để có thể giảm mức tiêu thụ dầu mỏ, né tránh được cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này, ngoài việc tiết kiệm và sử dụng dầu mỏ hợp lý, hiệu quả hơn, giải pháp căn cơ là phải tìm những nguồn nhiên liệu mới và nhanh chóng đưa vào sử dụng chúng, tăng dần mức độ thay thế đi đến thay thế hoàn toàn dầu mỏ theo một lộ trình chặt chẽ. Sớm thấy nguy cơ về cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba, từ năm 2004 các nước đã phải họp lại tại Bon (CHLB Đức) cùng nhau thống nhất một chương trình nghiên cứu với mục tiêu cụ thể, đến năm 2020 phải thay thế được 10-20% lượng dầu tiêu thụ bằng các dạng năng lượng mới, nhằm kéo dài thời gian sử dụng dầu mỏ và bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển ổn định kinh tế thế giới. Mỹ đã đầu tư hàng tỷ USD nghiên cứu các nguồn năng lượng mới (nhiên liệu sinh học, nhiên liệu hydro…) thay thế dầu mỏ với chương trình mục tiêu được gọi là “20 trong 10” (twenty in ten), nghĩa là trong 10 năm tới (2007- 2017), sẽ giảm mức sử dụng xăng dầu 20%, trong đó bao gồm 5% (tức 8,5 tỷ gallons) xăng dầu do chính sách tiết giảm sử dụng và 15% (tức 35 tỷ gallons) được thay thế bằng các loại nhiên liệu mới. Ở châu Á, Nhật vạch ra chiến lược đến năm 2030 giảm sự phụ thuộc dầu khoảng 40%, Hàn Quốc cũng có kế hoạch đến năm 2030 giảm mức độ phụ thuộc dầu khoảng 35%. Nhờ thế, những nước có nhu cầu xăng dầu lớn trên thế giới đã sẵn sàng đối phó với cuộc khủng hoảng năng lượng lần thứ ba, không bị quá “sốc” khi giá dầu tăng chưa thấy điểm dừng.  Nước ta chưa sẵn sàng trước nguy cơ cuộc khủng hoảng năng lượng lần thứ ba                Nhà nước đã chủ động xây dựng chiến lược về nguồn điện cho quốc gia giai đoạn 2020, tầm nhìn 2050 để bảo đảm an ninh năng lượng điện những thập kỷ tới, với nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ như bên cạnh tăng cường tiết kiệm và hiệu quả sử dụng điện có giải pháp tăng cường xây dựng thêm các hệ thống nhiệt điện từ khí, từ than, hệ thống thủy điện trên các sông lớn, nhỏ, khuyến khích điện gió và không loại trừ cả điện nguyên tử mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến chưa thật đồng thuận với những cân nhắc cần thiết.  Nhưng Nhà nước chưa có một chiến lược chủ động và toàn diện các giải pháp bảo đảm an ninh cung ứng xăng dầu, một mảng rất quan trọng về an ninh năng lượng quốc gia trong khi dầu mỏ ở nước ta được khai thác từ những năm 80 của thập kỷ trước với sản lượng đạt khoảng 16-17 triệu tấn/năm. Vấn đề đáng quan tâm là ở chỗ, toàn bộ sản phẩm xăng dầu cho nền kinh tế và cho hoạt động các phương tiện giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, đường không, lại lệ thuộc 100% vào nhập từ ngoài với giá cao và bị động theo gía thị trường xăng dầu thế giới. Năm 2007 Việt Nam đã xuất khoảng 15,7 tấn dầu thô, đổi lại phải nhập về 12 triệu tấn xăng dầu (tương đương 18-20 triệu tấn dầu thô) với giá cao hơn nhiều lần giá dầu xuất khẩu vì để sản xuất được 1 tấn xăng dầu phải cần đến 1,5-1,7 tấn dầu thô. Do đó tiền bán dầu thô không đủ để nhập xăng dầu về sử dụng. Nghịch lý này thật chua chát ví như ta sản xuất được thóc lúa nhưng phải bán đi giá rẻ và nhập gạo giá cao về ăn đong hàng ngày. Điều đó làm cho an ninh năng lượng của nước ta về phương diện xăng dầu luôn bị đe doạ, không cho phép phát triển bền vững và tăng trưởng ổn định. Ngay như khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động vào khoảng 2009-2010 với công suất dầu thô khoảng 7 triệu tấn/năm, sản lượng xăng dầu sản xuất được trong nước chỉ được khoảng 5 triệu tấn/năm, như vậy vẫn chưa đủ thoả mãn cho nhu cầu của nền kinh tế, vì hiện nay nhu cầu xăng dầu đã là 12 triệu tấn/năm, và theo dự báo nhu cầu xăng dầu ở giai đoạn 2010 sẽ lên tới khoảng 14,1 – 14,8 triệu tấn/năm, giai đoạn 2020 khoảng 26,3 – 28,6 triệu tấn/năm, giai đoạn 2050 con số này sẽ lên đến 90 – 98 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, mức tiêu thụ xăng dầu theo các tính toán cho các thập kỷ tới chỉ lấy bình quân hằng năm tăng trên dưới 10% để tính toán, chưa phải đã là mức có tính đến sự bùng nổ trong phát triển và tiêu dùng xăng dầu ở nước ta trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO, đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa  Để thoả mãn nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế hiện nay chúng ta chỉ có giải pháp duy nhất là nhập khẩu xăng dầu toàn bộ. Giải pháp này đưa nước ta vào thế bị động vì cả thế giới đang lâm vào khủng hoảng dầu mỏ gay gắt, nguồn cung không đủ cầu, như vậy nguồn xăng dầu cho tiêu dùng và dầu thô cho các nhà máy lọc dầu tương lai nhập khẩu sẽ xuất xứ từ đâu với giá cả biến động ra sao đều là bài toán chưa có lời giải, thậm chí khó có lời giải trong các giai đoạn tới. Khi giá dầu thế giới tăng liên tục và đã men đến ngưỡng 100 USD/thùng ở thời điểm tháng 11 năm 2007, đối với nước ta như một cú “sốc” mạnh, đã  gây ra nhiều bị động, lúng túng trong xử lý bình ổn thị trường xăng dầu bằng những giải pháp tình thế, buộc phải tăng giá xăng dầu vào thời điểm rất nhạy cảm mà không thể tiếp tục bù lỗ như trước, vì nếu bù lỗ ngân sách nhà nước có thể lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng chỉ tính riêng nhu cầu năm nay. Nhà nước rõ ràng chưa sẵn sàng trước nguy cơ cuộc khủng hoảng năng lượng đang đe dọa sự ổn định đời sống xã hội và tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn tới. Giải pháp bù lỗ giá xăng dầu để giữ ổn định thị trường vừa qua chỉ là giải pháp tình thế và không bền vững. Giải pháp tăng giá xăng dầu đột ngột gần đây là giải pháp bất khả kháng, bị động theo thị trường thế giới, có nguy cơ kéo theo “cơn bão”  tăng giá các hàng hóa khác trên thị trường nội địa, tiềm ẩn rất nhiều bất an cho nền kinh tế đang cần sự phát triển ổn định. Nhà nước cần cảnh giác trước nguy cơ cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba với đặc điểm khác các cuộc khủng hoảng năng lượng trước đây để đặt ra mục tiêu chiến lược ngắn hạn và dài hạn với một lộ trình khả thi nhằm đích đến là giảm từng phần, đi đến giảm về cơ bản sự phụ thuộc vào xăng dầu nước ngoài từ nay cho đến năm 2020 và xa hơn, bằng cách đầu tư mạnh và tập trung cho nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng bổ sung thêm những dạng nhiên liệu mới như ethanol từ phế thải nông, lâm nghiệp (cellulosic ethanol), biodiesel từ dầu mỡ động, thực vật (loại phế thải hoặc loại không ăn được), đặc biệt dạng nhiên liệu mang tính chiến lược lâu dài là hydro từ than và từ nước nhờ xúc tác dưới ánh nắng mặt trời. Bên cạnh đó, tìm cách sử dụng hợp lý và có chính sách, biện pháp quyết liệt để tiết kiệm xăng dầu hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế, và không nên tăng sản lượng khai thác dầu thô để xuất khẩu, bảo đảm một dự trữ dầu với một cơ số an toàn cho hoạt động của các nhà máy lọc dầu sắp hoạt động.  Trần Mạnh Trí      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng năng lượng toàn cầu khơi mào cho sự hồi sinh của điện hạt nhân ở châu Á      Châu Á lại một lần nữa đem làn sóng mới đến ngành năng lượng hạt nhân nhờ vào cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn cầu.    Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc đang dần loại bỏ các chính sách chống hạt nhân, cùng lúc đó Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tìm cách xây dựng thêm các lò phản ứng nhằm tránh tình trạng thiếu hụt nguồn cung trong tương lai và hạn chế lượng khí thải. Kể cả các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á cũng đang nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân.  Việc tái khởi động năng lượng hạt nhân diễn ra trong bối cảnh giá của hai loại nhiên liệu hóa thạch được sử dụng chính để tạo ra phần lớn điện năng ở Châu Á là khí đốt tự nhiên và than đá đạt kỷ lục trong năm nay khi cuộc chiến giữa Nga và Ukraine nổ ra. Khi thế giới còn đang tìm cách thoát khỏi phụ thuộc vào Nga – nước xuất khẩu nhiên liệu lớn thì nguồn cung sẽ còn tiếp tục eo hẹp và giá cả tiếp tục leo thang trong tương lai.  Điều này giúp mở ra triển vọng mới cho ngành năng lượng hạt nhân vốn được biết đến là nguồn năng lượng sạch và đáng tin cậy đối với các nhà hoạch định chính sách và các công ty mong muốn kiềm chế lạm phát để đạt được các mục tiêu xanh và hạn chế sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp năng lượng ở nước ngoài.  Việc các nhà máy hạt nhân hiện tại đang duy trì sản xuất một sản lượng điện rẻ cùng với giá khí đốt tự nhiên tăng vọt đã làm cho những lợi thế kinh tế rõ ràng này càng càng được củng cố hơn bao giờ hết.  Đây là một bước chuyển mình mạnh mẽ đối với ngành công nghiệp hạt nhân, vốn đã trải qua vài thập kỷ qua bị cản trở bởi chi phí vượt mức, sự cạnh tranh từ nhiên liệu hóa thạch rẻ hơn và các quy định chặt chẽ hơn. Việc trì hoãn các dự án hạt nhân lớn đã dẫn đến sự tái cơ cấu lại công ty tiên phong trong ngành điện hạt nhân là Westinghouse Electric.    Sự trở lại của điện hạt nhân đang diễn ra trên toàn cầu, thu hút được sự ủng hộ của nhiều quốc gia như Anh, Ai Cập và đáng ngạc nhiên hơn cả là xu hướng này lại đang lan rộng sang châu Á – nơi từng chứng kiến thảm họa xảy ra với Nhật Bản hơn một thập kỷ trước.  Tương lai của hạt nhân đã từng rất triển vọng cho đến khi thảm họa xảy ra vào tháng 3 năm 2011, khi một trận sóng thần lớn tấn công nhà máy điện hạt nhân Fukushima Dai-Ichi ở Nhật Bản. Sau tai nạn đó, Chính phủ của một số quốc gia cho rằng rủi ro của điện hạt nhân lớn hơn rất nhiều so với lợi ích mà nó đem lại. Cùng lúc đó, Đức và Đài Loan đồng loạt đưa ra thời hạn đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân. Chi phí xây dựng cơ sở vật chất mới và sự chậm trễ thường xuyên của những tổ máy mới cũng là những khó khăn gây cản trở đến sự phát triển của các dự án điện hạt nhân.  Giờ đây, khi giá điện tăng vọt bởi các quốc gia phải đối phó với lạm phát nhiên liệu hóa thạch, các chính phủ lại đang tìm kiếm cơ hội quay trở lại với điện hạt nhân bởi các nhà máy này cần ít uranium để hoạt động và có thể vận hành suốt ngày đêm, khác hẳn với các dự án năng lượng tái tạo như gió và mặt trời.  Gần đây, những tiến bộ trong việc sản xuất công nghệ hạt nhân nhỏ hơn và rẻ hơn, bao gồm các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) có thể trở thành lựa chọn thay thế hấp dẫn cho những giải pháp để đối phó với biến đổi khí hậu.  Ông Brandon Munro, giám đốc điều hành cho biết của Bannerman Energy Ltd., của Úc chia sẻ: “Những phản đối dựa trên nỗi sợ hãi xuất phát từ tai nạn tại Fukushima đã mờ dần, vì mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn đó đã được chứng minh trong gần bởi một thập kỷ qua bằng những nghiên cứu khoa học; trong khi các quốc gia châu Á đang phải đối mặt với những mối đe dọa còn nghiêm trọng hơn và chết chóc hơn đến từ tình trạng thiếu năng lượng”.    Điều đó giải thích lý do tại sao Nhật Bản – nước phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu để sản xuất phần lớn điện năng, cho biết họ sẽ tiến hành thăm dò việc phát triển và xây dựng các lò phản ứng thế hệ tiếp theo, đồng thời thúc đẩy việc khởi động lại các lò phản ứng hạt nhân không hoạt động. Đó là một sự thay đổi hoàn toàn đối với Nhật Bản, quốc gia mà trong thập kỷ trước đã từng khẳng định rằng họ sẽ không xây dựng các tổ máy mới hoặc thay thế các lò cũ.  Liệu Nhật Bản có thể trở lại với năng lượng hạt nhân một lần nữa không ?  Thủ tướng Fumio Kishida phát biểu: “Cuộc chiến giữa Nga và Ukraine đã thay đổi hoàn toàn tình hình năng lượng trên toàn cầu. Điện hạt nhân và năng lượng tái tạo là những yếu tố cần thiết để tiến hành quá trình chuyển đổi xanh”.  Công chúng Nhật Bản thậm chí còn đang nóng lên với vấn đề hạt nhân. Khoảng 58% người dân ủng hộ việc khởi động lại năng lượng hạt nhân trong một cuộc thăm dò được báo Yomiuri thực hiện vào đầu tháng này, điều này cho thấy lần đầu tiên sự ủng hộ vượt trội hơn sự phản đối kể từ khi họ bắt đầu cuộc khảo sát này vào năm 2017.  Một sự thay đổi tương tự cũng đang diễn ra ở Hàn Quốc. Các cử tri năm nay đã bầu ra một tổng thống ủng hộ hạt nhân, người muốn năng lượng nguyên tử chiếm 30% tổng sản lượng năng lượng, đảo ngược kế hoạch bỏ lò phản ứng của chính phủ trước đây. Ông cũng tuyên bố sẽ đưa quốc gia này trở thành nhà xuất khẩu lớn về thiết bị và công nghệ hạt nhân, đồng thời tích hợp năng lượng nguyên tử và năng lượng tái tạo để thúc đẩy tính trung lập carbon.  Trung Quốc hiện đang phải vật lộn với đợt nắng nóng lịch sử dẫn đến tình trạng thiếu điện ở nhiều vùng của đất nước. Do đó quốc gia này đã quyết định đẩy nhanh các dự án điện hạt nhân và thủy điện. Quốc gia này cũng đang trong giai đoạn xây dựng các lò phản ứng lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp hạt nhân để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng cao, đồng thời hạn chế sự phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Theo dữ liệu của Hiệp hội WNA, Trung Quốc hiện có gần 24 gigawatt công suất điện hạt nhân đang được xây dựng, và 34 gigawatt khác đã được lên kế hoạch. Nếu tất cả những điều đó thành hiện thực, Trung Quốc sẽ trở thành nhà sản xuất điện hạt nhân hàng đầu thế giới.    Việc mở rộng sang năng lượng nguyên tử của Thủ tướng Narendra Modi cũng đang đạt được động lực khi nhà sản xuất điện lớn nhất của Ấn Độ đang tìm cách phát triển hai dự án điện hạt nhân lớn. Quốc gia này hiện tạo ra khoảng 70% điện năng sử dụng than và khoảng 3% từ hạt nhân, nhưng Ông Modi đang đặt mục tiêu tăng hơn gấp ba số lượng tổ máy trong thập kỷ tới.  Ngay cả các quốc gia ở Đông Nam Á cũng đang xem xét năng lượng hạt nhân. Tháng trước, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr đã phát biểu trước Quốc hội rằng ông sẽ nghiên cứu các nhà máy điện hạt nhân để giảm chi phí điện năng và tăng cường cung cấp năng lượng. Indonesia có kế hoạch khởi động nhà máy hạt nhân đầu tiên vào năm 2045, một phần trong mục tiêu đầy tham vọng là đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2060.  Quốc đảo Singapore đầu năm nay cho biết công nghệ địa nhiệt hoặc hạt nhân thế hệ tiếp theo có thể chiếm 10% tổng năng lượng của nước này vào năm 2050. Mặc dù các chi tiết còn mơ hồ, đó là một sự thay đổi lớn so với một thập kỷ trước khi mà quốc gia này kết luận rằng các lò phản ứng thông thường hiện hành không phù hợp.  Không phải tất cả các chính phủ ở châu Á đều bị thuyết phục. Đài Loan không thay đổi quan điểm của mình nhằm loại bỏ dần điện hạt nhân. theo Taipei Times vào đầu tuần này, Bộ Kinh tế nước này cho biết họ có kế hoạch đóng cửa các lò phản ứng của mình vào cuối vòng đời 40 năm đến năm 2025.  Và châu Âu đã chứng minh rằng ngay cả khi có một đội lò phản ứng khổng lồ không phải lúc nào cũng đảm bảo được nguồn cung cấp điện. Điển hình như Pháp, một trong những nhà sản xuất điện hạt nhân hàng đầu thế giới, đang phải vật lộn với giá điện cao kỷ lục một phần do các lò phản ứng ngừng hoạt động.  Trong khi đó, các dự án thế hệ tiếp theo như SMR vẫn còn nhiều năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ nữa mới có thể đi vào hoạt động và nó không đưa ra được một giải pháp khắc phục ngay lập tức cho tình trạng khủng hoảng năng lượng trên toàn cầu. Mặc dù vậy, các chính phủ và các công ty đang nỗ lực chuyển sang chứng thực công nghệ này ngay lúc này để tránh những cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai.  Tập đoàn SK Group của Hàn Quốc trong tháng này cho biết họ sẽ đầu tư 250 triệu USD vào TerraPower LLC do Bill Gates hậu thuẫn. Vào tháng 3, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản đã đầu tư 110 triệu đô la vào Nuscale Power, công ty đang phát triển các nhà máy điện SMR.  Ông Hess thuộc Hiệp hội WNA cho biết: “Mỗi quốc gia đều phải đối mặt với những thách thức riêng trong việc thực hiện chương trình hạt nhân của mình. Mặc dù vậy các sự kiện diễn ra gần đây đã cho thấy ​​những trở ngại này đang dần biến mất hoặc thu hẹp lại một cách đáng kể”.  Trần Thiện Phương Anh dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/khung-hoang-nang-luong-toan-cau-khoi-mao-cho-su-hoi-sinh-cua-dien-hat-nhan-o-chau-a/    Author                .        
__label__tiasang Khủng hoảng nước do biến đổi khí hậu: Khốc liệt hơn suy nghĩ trước đây      Biến đổi khí hậu làm thay đổi hoàn lưu khí quyển toàn cầu, thay đổi lượng mưa và sự bay hơi trên những vùng lớn của thế giới và do đó là cả lượng nước trong sông ngòi có thể được sử dụng ở trong từng vùng. Cho đến nay, việc dự đoán tác động của khí hậu lên các dòng chảy thường được tính toán dựa trên các mô hình vật lý, ví dụ như các dự đoán của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC).      Tuy nhiên, việc phân tích dữ liệu mới do giáo sư Günter Blöschl (TU Wien, Vienna) cho thấy những mô hình trước đây đã đánh giá thấp một cách hệ thống sự sẵn sàng của nước tương tác với các tham số biến đổi khí hậu nhất định. Một phân tích về dữ liệu nước được đo đạc từ 9.500 dòng chảy thủy văn trên khắp thế giới cho thấy là biến đổi khí hậu có thể dẫn một cuộc khủng hoảng nước cục bộ đến quy mô lớn hơn trước đây từng nghĩ. Kết quả của nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Nature Water 1.  Cách tiếp cận mô hình và cách tiếp cận dữ liệu đo đạc  “Trong cộng đồng khí tượng, các tác động của biến đổi khí hậu lên khí quyển đã được nghiên cứu và hiểu biết rất tốt. Tuy nhiên, những hệ quả cục bộ của nó lên những dòng sông và sự sẵn sàng của nước lại rơi vào lĩnh vực thủy văn”, giáo sư Günter Blöschl từ Viện nghiên cứu Kỹ thuật thủy văn và quản lý nguồn nước ĐH Kỹ thuật Wien, nói.  Ở cấp độ cục bộ, người ta thường có thể giải thích rất tốt về độ sẵn sàng của nước liên quan như thế nào đến các tham số bên ngoài như lượng mưa hay nhiệt độ – vấn đề này đã được nghiên cứu tại nhiều cơ sở đo lường trên thế giới, cụ thể trong phòng thí nghiệm thủy lực của Blöschl tại Petzenkirchen, nơi có vô số các cảm biến được lắp đặt trên khu vực rộng 60 ha.  Nhưng những kết luận về quy mô toàn cầu không thể rút ra từ những quan sát đơn lẻ: “Làm thế nào mà sự cân bằng của nước lại phụ thuộc vào các tham số bên ngoài vốn thay đổi theo vị trí; thảm thực vật địa phương cũng đóng một vai trò rất quan trọng tại đây”, Günter Blöschl nói. Thật khó để phát triển một mô hình vật lý đơn giản có thể sử dụng để tính toán chính xác sự tương quan của chúng tại mọi nơi trên thế giới.  Günter Blöschl do đó đã hợp tác với các đồng nghiệp Trung Quốc, Australia, Mỹ và Saudi Arabia để xây dựng và phân tích một bộ dữ liệu lớn những quan sát các dòng chảy trên khắp thế giới. Hơn 9.500 dòng sông đã được đưa vào bộ dữ liệ này, với khung thời gian mở rộng hàng thập kỷ trong quá khứ.  Hệ thống nước đã tương tác với biến đổi khí hậu theo cách nhạy cảm hơn người ta nghĩ trước đây. “Vì chúng tôi không thể dựa vào phân tích của các mô hình vật lý nhưng trên thực tế có thể đo đạc chúng”, Günter Blöschl nhấn mạnh. “Chúng tôi nhìn vào cách tổng lượng nước sẵn sàng thay đổi trong quá khứ khi các điều kiện bên ngoài thay đổi như thế nào. Theo cách này thì chúng tôi có thể tìm ra những thay đổi trong các tham số khí hậu liên quan đến sự thay đổi trong độ sẵn sàng nước cục bộ. Và nó cho phép chúng tôi đưa ra được những dự đoán cho một tương lai, khi khí hậu ấm lên”.  Hóa ra, sự kết nối giữa lượng mưa và tổng lượng nước trên sông nhạy hơn so với những gì trước đây người ta thường nghĩ – và cũng nhạy cảm hơn so với giả định trong những mô hình hiện đang được sử dụng để dự tính biến đổi khí hậu.  Các mô hình dự đoán tác động của biến đổi khí hậu lên việc cung cấp nước do đó phải được chỉnh sửa một cách cơ bản. “Cho đến giờ, các đo đạc như thế này đều không được đưa vào các mô hình khí hậu, ví dụ như các báo cáo do IPCC thực hiện cũng vậy”, Günter Blöschl nois. “Với hàng loạt phép đo đã được thực hiện, giờ thì cần phải điều chỉnh các mô hình dự đoán theo cho phù hợp”.  Trong trường hợp này, các kết quả của nhóm nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của Günter Blöschl cho thấy sự nguy hiểm của biến đổi khí hậu lên việc cung cấp nước ở nhiều vùng trên thế giới có thể chưa được đánh giá đúng mức. Đặc biệt ở châu Phi, Australia và Bắc Mỹ, dữ liệu mới dự doán nguy cơ rủi ro cao đáng kể về khủng hoảng cung cấp nước vào năm 2050 hơn trước đây từng giả định.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-02-crises-due-climate-severe-previously.html  https://www.azocleantech.com/news.aspx?newsID=32903  ——————————————————–  1.https://www.nature.com/articles/s44221-023-00030-7       Author                .        
__label__tiasang Khủng hoảng tài chính đang chờ chúng ta?      Giá dầu vượt ngưỡng 80USD/ thùng; vàng tăng cao chưa từng thấy, vượt xa ngưỡng 730USD/ounce; bên kia bờ đại dương người dân rồng rắn xếp hàng rút tiền trước cửa ngân hàng; Cục Dự trữ liên Bang Mỹ (FED) họp khẩn cấp… có phải một cơn bão tài chính hay một cuộc khủng hoảng đang đến gần?    Sóng gió bắt đầu nổi vào trung tuần tháng 8-2007, lên trên thị trường chứng khoán Mỹ. Ngày 9.08.2007 chỉ số Dow Jones tụt giảm gần 400 điểm (từ 13657 giảm xuống còn13270 điểm), đến ngày 15.08 Dow Jones lại lập kỷ lục tụt dốc – xuống dưới ngưỡng 13000 điểm (dừng ở mốc 12845), thị trường chứng khoán thế giới bắt đầu chao đảo. Ngân hàng Trung ương Mỹ, Nhật, EU ngay lập tức đã vào cuộc: chi ra gần 400 tỷ USD (trong đó Mỹ – 120,5 tỷ USD; EU- 211 tỷ Euro; Nhật Bản – 8,4 tỷ USD và 600 tỷ Yên) để củng cố thêm năng lực tài chính cho hệ thống ngân hàng. Thị trường nhờ đó mới tạm thời bình ổn. Nói là tạm thời vì không ai có thể biết chắc được những gì đang chờ chúng ta ở phía trước.  Thực ra, khó khăn trên thị trường tín dụng bất động sản ở Mỹ đã được giới tài chính thế giới cảnh báo từ lâu. Câu chuyện bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thị trường bất động sản ở Mỹ liên tục khởi sắc. Tiền đầu tư đổ dồn vào khu vực này không ngừng tăng. Tuy nhiên, bước ngoặc quyết định phải đợi đến những năm 2000. Trước sự thất bại thảm hại của các công ty công nghệ thông tin (dot.com), thị trường chứng khoán Mỹ có nguy cơ sụp đổ. Để cải thiện tình hình, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã thực hiện chính sách đồng USD yếu, nhằm kích cầu trong nước. Lãi suất ngắn hạn giảm “đột ngột” từ 6% (năm 2000) xuống 1% năm 2002 và giữ nguyên ở mức rất thấp trong nhiều năm tiếp theo (chỉ bắt đầu tăng trở lại từ năm 2005). Đồng tiền rẻ, cùng với thủ tục cho vay dễ dãi đã biến thị trường bất động sản (BĐS), chính xác hơn là thị trường cho vay đầu tư vào bất động sản trở nên màu mỡ hơn bao giờ hết. Các nhà đầu tư dốc hết hầu bao vào bất động sản. Ngay cả những người có thu nhập thấp cũng mạnh dạn vay tiền mua nhà bằng chính tiền thế chấp ngôi nhà tương lai. Các ngân hàng cho vay thu hồi vốn bằng cách phát hành các chứng khoán được bảo đảm bằng BĐS và bán chúng cho các ngân hàng khác, cho các công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư rủi ro. Các tổ chức này sẽ bán lại những chứng khoán đó cho các nhà đầu tư. Vòng xoáy chứng khoán dựa trên BĐS thế chấp cứ ngày một leo cao với tổng giá trị vốn hóa thị trường ước tính vào khoảng 1,3 nghìn tỷ USD. Người bán không biết mặt người mua và cả hai đều không biết thực chất cổ phiếu họ đang mua – bán được phát hành dựa trên BĐS thế chấp nào? Mà không cần phải biết, quan trọng là giá cổ phiếu liên tục tăng. Món lợi  kếch sù đã lôi cuốn các công ty môi giới tài chính vào cuộc và đằng sau họ là sự hỗ trợ không mệt mỏi của hệ thống ngân hàng, đẩy hệ thống tài chính vào cuộc chơi nguy hiểm. Bởi khi “thuận chèo, mát mái”, giá BĐS tăng đều, ổn định thì không nói làm gì. Nhưng đến lúc cung vượt cầu. BĐS chào bán quá nhiều mà người thực cần mua thì ngày càng ít. Giá bất động sản bắt đầu tụt dốc không phanh. Nhiều chủ đầu tư không còn khả năng chi trả. Ngân hàng xiết nợ, thị trường lại càng thừa cung. Các tập đoàn môi giới tài chính lao đao, ngân hàng cũng không còn đủ tiền để quay vòng, tất cả mắc kẹt trên thị trường bất động sản. Thế là khủng hoảng bắt đầu.    Câu chuyện rồi sẽ đi về đâu?             VN-Index từ 6/06 đến 9/07  (Nguồn: vietstock.com.vn)          Việc các ngân hàng trung ương của Mỹ, Nhật và EU không chần chừ, lập tức bơm ngay một lượng tiền lớn để trấn an thị trường và kiềm chế sự tháo ồ ạt của các nhà đầu tư, một mặt cho thấy, tình hình vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát. Mặt khác, đó lại là bằng chứng chứng tỏ các ngân hàng trung ương từ lâu đã ý thức được mối nguy cơ tiềm ẩn và luôn sẵn sàng phương án dự phòng. Tuy nhiên, ngân hàng dù có mạnh đến đâu cũng không đủ sức để quyết định giá trên thị trường. Do đó chưa có gì bảo đảm, lần chao đảo tiếp theo kết cục sẽ như thế nào? Quả thực, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ hiện đang mắc phải tình huống nan giải: một bên là áp lực lạm phát đang dồn nén tới đỉnh điểm, một bên là nguy cơ đổ vỡ của thị trường tín dụng bất động sản mà kéo theo nó là sự đổ vỡ của hệ thống tài chính – ngân hàng. Công cụ chủ yếu để giải quyết vấn đề là lãi suất tín dụng. Tăng lãi suất sẽ giúp thu hút đầu tư và kiềm chế lạm phát. Giảm lãi suất sẽ cứu nguy thị trường bất động sản. Chọn con đường nào đây?  FED đã chọn con đường thứ hai: cắt giảm lãi suất chiết khấu (lãi suất cho các ngân hàng vay tiền) từ 6,25 xuống  5,75%  và lãi suất ngắn hạn từ 5,25% xuống 4,75%. Đây là một quyết định mạnh tay. Tác dụng của nó thấy ngay lập tức, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng vọt thêm 200 điểm ngay sau lời tuyên bố của FED;  S&P 500 cũng tăng khoảng 2,9%; Nasdaq tăng 2,7%; Russell 2000 cũng tăng gần 4%. Chứng khoán toàn cầu khởi sắc. Trong khi đó, đồng USD tiếp tục rớt giá thê thảm, tỷ giá EU/USD dừng ở mức 14,099 (18/09) – mức thấp nhất trong vòng 15 năm qua.   Vậy khủng hoảng có thể diễn ra không?  Khủng hoảng tất nhiên là có, bởi đó là phần không thể thiếu trong các chu kỳ phát triển kinh tế. Vấn đề là khủng hoảng gì? Lúc nào? Qui mô ra sao? Hiện chưa ai có thể khẳng định được điều gì. Chúng ta chỉ chắc chắn một số điểm. Thứ nhất, giá BĐS ở Mỹ vẫn tiếp tục giảm, thị trường tín dụng bất động sản vì thế vẫn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu. Thứ hai, kinh tế Mỹ năm nay, cũng như một vài năm tới sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đồng USD, không phụ thuộc vào cố gắng của Ngân hàng Trung ương Mỹ, sẽ tiếp tục mất giá, và cùng theo nó là đồng Yên Nhật Bản. Vì sao? Đơn giản là vì suốt mấy chục năm qua hai đồng tiền này đã được in ra quá nhiều. Nhiều tới mức mà giờ đây hầu hết các nước trên thế giới đều hiểu, thật nguy hiểm khi tích lũy ngoại tệ chỉ bằng USD và Yên. Làn sóng tẩy chay USD và Yên tuy âm thầm nhưng đang diễn ra hết sức cương quyết ở các ngân hàng trung ương trên thế giới. Nếu vì một lý do nào đó mà quá trình này bổng nhiên diễn ra đột ngột thì khủng hoảng tài chính thế giới là điều không thể tránh khỏi. Thứ ba, rõ ràng cơn bão khủng hoảng toàn cầu đang đến gần. Thời gian gần đây chúng ta đã chứng kiến sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc khủng hoảng mini: đầu năm khủng hoảng trên thị trường chứng khoán Thượng Hải (3-2007), bây giờ thì thị trường tín dụng bất động sản ở Mỹ. Và vừa đây thôi, chỉ trong 3 ngày 14, 15 và 17/9/2007, khách hàng đã xếp rồng rắn trên tất cả 72 đại lý của ngân hàng cho vay tín chấp Northern Rock (Anh) rút khoảng 3 tỷ bảng Anh (tương đương 6,06 tỷ USD). Northern Rock chao đảo, buộc phải cầu cứu Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) trợ giúp… Phải chăng đó là những cơn lốc “tiền trạm” của cơn bão đang đến rất gần? Rất có thể, vấn đề chỉ còn là yếu tố thời gian. Vô tình, nhìn lại lịch sử chúng ta không khỏi giật mình. 19-10-1987, ngày thứ hai đen tối trên thị trường chứng khoán Mỹ. Ngày đó chỉ số DJ chỉ trong 1 ngày đã sụt giảm kỷ lục 23%. Tháng 10-1997, đúng 10 năm sau, khủng hoảng tài chính châu Á. Và tháng 10 năm nay (năm 2007), cũng vừa tròn 10 năm, liệu có  sự trùng hợp ngẫu nhiên nào sẽ xảy ra không?    Khủng hoảng ở Mỹ liệu có ảnh hưởng đến chúng ta?  Dĩ nhiên là có. Giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam trong vòng 1 tháng, từ 18/7- 17/8 đã giảm khoảng 11,2%. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng chưa có gì báo động. Vì mấy lý do đơn giản. Thứ nhất, lượng tiền nước ngoài đổ vào chứng khoán Việt Nam chưa phải là nhiều. Thứ hai, kinh tế nước ta đang phát triển tốt, chưa có dấu hiệu nào cho thấy các nhà đầu tư có ý định rút vốn. Khó khăn chỉ có thể xuất hiện, nếu khủng hoảng thực sự diễn ra trên diện rộng, mà điều này, sau quyết định giảm lãi suất tín dụng của FED, là khó có thể diễn ra. Dự báo từ đây đến cuối năm FED còn tiếp tục cắt giảm từ 0,25 đến 0,5% nữa. Thứ ba, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay về cơ bản vẫn là một thị trường hướng nội. Tuy nhiên, khó khăn sẽ đến với chúng ta từ phía khác: từ nguy cơ mất giá trầm trọng của đồng USD và khả năng xuất khẩu khó khăn vào thị trường Mỹ. Nhưng đổi lại chúng ta có một cơ hội rất lớn. Kinh tế Mỹ gặp rắc rối, nhà đầu tư sẽ đổ xô đi tìm kiếm cơ hội mới, tìm nơi có thể sinh lời tối ưu cho đồng tiền của mình. Việt Nam  hoàn toàn có thể trở thành một trong những nơi đến lý tưởng đó. Chỉ có điều, với chính sách tiền tệ vĩ mô hiện nay, có vẻ như lượng tiền đầu tư nước ngoài vào càng nhiều, chúng ta càng lo. Phải chăng đã đến lúc cần có một cách tiếp cận mới trong kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế? Đó là cách tiếp cận nào? Hy vọng chúng tôi sẽ có dịp trở lại cùng bạn đọc bàn về vấn đề này trong các số báo tới đây.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khung ra quyết định ẩn danh của Vương quốc Anh?      Ẩn danh là một quy trình phức tạp, không chỉ phụ thuộc vào khía cạnh kỹ thuật công nghệ xung quanh dữ liệu cá nhân, mà còn cả môi trường và pháp luật có liên quan tới nó. Để giúp cho các tổ chức làm việc với dữ liệu cá nhân có thể chia sẻ được dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (GDPR), Vương quốc Anh đã ban hành Khung Ra quyết định Ẩn danh – ADF (Anonymisation Decision-making Framework) và hàng loạt các tài liệu hướng dẫn chi tiết khác được tham chiếu tới trong bài viết này.    Rủi ro bằng không (Zero risk) không phải là khả năng thực tế nếu bạn muốn tạo ra dữ liệu hữu ích. Ảnh: istock  Khung Ra quyết định Ẩn danh1 – ADF (Anonymisation Decision-making Framework) đưa ra cách thức suy nghĩ về ẩn danh và sử dụng lại dữ liệu cá nhân thoát ra khỏi các ràng buộc của các khuôn khổ quá kỹ thuật hoặc quá pháp lý của vấn đề. Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung – GDPR (General Data Protection Regulation) của Liên minh châu Âu từng luôn có ý định tạo thuận lợi cho việc chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu đúng và phù hợp cũng như bảo vệ các chủ thể dữ liệu, và hoàn toàn có cách để dữ liệu vẫn hữu ích trong khi vẫn duy trì việc tuân thủ với GDPR, miễn là có một khung ra quyết định ẩn danh và một tập hợp các công cụ phù hợp.  Khung Ra quyết định Ẩn danh (ADF) được xây dựng dựa vào năm nguyên tắc sau:  1. Bạn không thể quyết định liệu dữ liệu có là an toàn để chia sẻ hay không bằng việc chỉ xem xét bản thân dữ liệu đó.  2. Nhưng bạn vẫn cần phải xem xét dữ liệu đó.  3. Ẩn danh là quy trình tạo ra dữ liệu an toàn nhưng nó chỉ có ý nghĩa nếu những gì bạn đang sản xuất là dữ liệu hữu dụng an toàn.  4. Rủi ro bằng không (Zero risk) không phải là khả năng thực tế nếu bạn muốn tạo ra dữ liệu hữu ích.  5. Các biện pháp bạn sử dụng để quản lý rủi ro tái nhận dạng cần phải tỷ lệ với rủi ro và tác động/lợi ích có khả năng của nó.  Dựa vào năm nguyên tắc trên, ADF được xây dựng với 10 thành phần, xoay quanh ba hoạt động chính2 gồm: (1) kiểm tra tình hình dữ liệu (các thành phần 1-6); (2) đánh giá/kiểm soát rủi ro tiết lộ (thành phần 7); và (3) quản lý tác động (các thành phần 8-10).  Dưới đây liệt kê ba hoạt động ứng với 10 thành phần của ADF đi với mô tả ngắn gọn cùng các tài liệu tham chiếu hướng dẫn thêm đi kèm, nếu có, cho từng thành phần đó:  KIỂM TRA TÌNH HÌNH DỮ LIỆU  Kiểm tra tình hình dữ liệu cơ bản là công cụ nhằm giúp để hiểu tình hình dữ liệu của bạn (dữ liệu và môi trường của chúng), và vì thế giúp xác định phạm vi quy trình ẩn danh đúng cho bạn để chia sẻ dữ liệu của bạn an toàn. Kiểm tra tình hình dữ liệu cần xác định các câu trả lời cho ba câu hỏi chính sau:  Câu hỏi chính 1: Bạn hoặc tổ chức của bạn có trách nhiệm gì về tình hình dữ liệu (một mình hoặc chung)?  Câu hỏi chính 2: Trong phạm vi trách nhiệm đó liệu có rủi ro tiết lộ không đáng kể cần được giải quyết hay không?  Câu hỏi chính 3: Tình hình dữ liệu của bạn nhạy cảm như thế nào?  Về nguyên tắc, các kết quả đầu ra từ các thành phần 1 và 2 sẽ cung cấp cho bạn cơ sở để trả lời câu hỏi chính 1 (trách nhiệm), kết quả đầu ra từ các thành phần 3 và 4 sẽ cung cấp cho bạn cơ sở để trả lời cho câu hỏi chính 2 (các rủi ro sẽ được giải quyết), và phương pháp được đặt ra trong thành phần 6 trả lời cho câu hỏi chính 3 về chi phí/tác động có khả năng của một quyết định sai lầm ở điểm này (sự nhạy cảm).  Thành phần 1: Mô tả/Nắm bắt vấn đề  Vấn đề ở đây là bạn muốn làm gì hay đạt được gì với những dữ liệu này? Điều đó có thể cụ thể, chẳng hạn như bạn muốn chia sẻ một cơ sở dữ liệu nhất định với một tổ chức khác. Hay vấn đề đó có thể khái quát hơn, chẳng hạn như bạn phải công khai một vài dữ liệu để thể hiện trách nhiệm giải trình. Cần phải xác định rõ ràng mục đích sử dụng dữ liệu là gì, để có thể đưa ra những cân nhắc phù hợp cho những bước tiếp theo.  Thành phần 2: Phác thảo dòng chảy dữ liệu và xác định các trách nhiệm của bạn  Hầu hết các tình huống dữ liệu đều mang tính động, theo nghĩa là chúng liên quan tới một loạt các quy trình mà dữ liệu bị dịch chuyển từ môi trường này sang môi trường khác. Các môi trường đó có thể nằm trong một tổ chức duy nhất hoặc xuyên qua các tổ chức khác nhau hay có thể là một môi trường toàn cầu. Việc phác thảo luồng dữ liệu từ điểm xuất phát sẽ cho phép bạn hình dung được một cách tổng quan tình huống dữ liệu của bạn.  Các thành phần của Khung Ra quyết định Ẩn danh (ADF)  Việc xác định các trách nhiệm của bạn trong suốt dòng chảy dữ liệu là hết sức quan trọng nhưng không hề dễ dàng. Ví dụ thường thấy là luồng dữ liệu chạy từ môi trường của người kiểm soát dữ liệu sang môi trường của người xử lý dữ liệu; còn người sử dụng dữ liệu thì truy cập các dữ liệu đó thông qua môi trường của người xử lý dữ liệu. Trên thực tế, dữ liệu có thể dịch chuyển qua nhiều hơn hai môi trường của nhiều tổ chức khác nhau, tạo nên sự phức tạp trong việc phân định vai trò và trách nhiệm của từng tổ chức đó.  Để giải quyết được điều này, ta cần cân nhắc các câu hỏi sau:  * Vai trò: Bạn đang hành động theo chỉ đạo của tổ chức của mình hay tổ chức khác? Bạn là người kiểm soát dữ liệu, người xử lý dữ liệu hay người sử dụng dữ liệu?  * Nguồn gốc dữ liệu: Dữ liệu đã tới từ đâu, và chúng đang đi về đâu?  * Phân loại và triển vọng dữ liệu: Tình trạng dữ liệu là gì (dữ liệu cá nhân hay thông tin ẩn danh) đối với các bên liên quan trong dòng chảy dữ liệu đó?  Thành phần 3: Sơ đồ hóa các thuộc tính của (các) môi trường  Một khi bạn đã phác thảo các dòng chảy dữ liệu, bạn có thể định hình các thuộc tính của từng môi trường theo bốn yếu tố môi trường dữ liệu bao gồm: các tác nhân, các dữ liệu khác, điều hành và hạ tầng. Trong đó, tác nhân là những cá nhân và tổ chức có khả năng làm việc và tương tác với dữ liệu tại bất kì điểm nào trên dòng chảy dữ liệu; dữ liệu khác là tất cả những thông tin liên quan đến dữ liệu mà bạn đang làm việc khiến chúng về sau có thể bị tái nhận dạng (re-identification); điều hành là kiểm soát mối quan hệ giữa các tác nhân và dữ liệu; hạ tầng là các hệ thống cho phép dữ liệu dịch chuyển và định hình môi trường dữ liệu bao gồm cả hạ tầng an ninh và những cấu trúc kinh tế – xã hội khác rộng lớn hơn.  Thành phần 4: Mô tả và sơ đồ hóa dữ liệu  Đây là bước bạn làm việc cụ thể với dữ liệu. Bạn sẽ mô tả dữ liệu trong từng môi trường dựa trên một loạt các tham số: cấu trúc dữ liệu, dạng dữ liệu, dạng các biến số, các thuộc tính của tập hợp dữ liệu, biến số và tính nhạy cảm của chủ đề. Các tham số đó có liên quan tới rủi ro về khả năng hoặc tác động của sự vi phạm. ADF cung cấp Mẫu Template đặc tính dữ liệu3 để giúp cho việc mô tả được dễ dàng hơn và thuận tiện hơn.  Ví dụ về luồng dữ liệu dịch chuyển từ môi trường này sang môi trường khác.  Thành phần 5: Tham gia với các bên liên quan  Kịch bản sử dụng và tình huống dữ liệu của bạn sẽ bao gồm các tương tác với các bên liên quan khác nhau, bao gồm các chủ thể dữ liệu, các nhà cung cấp dữ liệu, người sử dụng dữ liệu, khách hàng, đối tác, các nhà cung cấp dịch vụ công và công chúng. Khả năng của bạn để giành được và duy trì uy tín tốt về quản trị dữ liệu tin cậy phụ thuộc vào việc duy trì lòng tin của các bên liên quan đó. Hãy trao đổi với các bên liên quan để hiểu các kỳ vọng của họ khi họ làm việc với bạn. Họ tin tưởng bạn làm được những gì? Có những nhóm nào có khả năng chống đối lại việc sử dụng dữ liệu được đề xuất trong kịch bản sử dụng đó không? Bạn có thể tham gia với họ để giải quyết các lo ngại của họ, quản lý các kỳ vọng, hoặc thậm chí thay đổi tư duy của họ được hay không? Hoặc, nếu bạn quyết định đối mặt với sự chống đối lại, liệu điều đó có ảnh hưởng đến danh tiếng của bạn cả về mặt chính trị và kinh doanh hay không?  Những câu hỏi này cũng liên quan đến ẩn danh dữ liệu. Bạn nên nhớ rằng rằng việc ẩn danh dữ liệu tuyệt đối, tức là giảm rủi ro xuống bằng 0 là một điều phi thực tế nếu bạn muốn dữ liệu của mình hữu dụng. Tuy nhiên, khi rủi ro lớn hơn 0, sẽ có thể có những việc diễn ra ngoài ý muốn. Tham gia với các bên liên quan sẽ làm giảm nhẹ thiệt hại của kết quả đầu ra như vậy, và vì thế giảm thiểu rủi ro nó đặt ra.  Thành phần 6: Đánh giá tình hình dữ liệu  Đến bước này, bạn đã phải hoàn thành sơ đồ về tình huống dữ liệu của mình, trong đó mô tả chi tiết về dòng chảy dữ liệu với vai trò và trách nhiệm chính của mình trong từng môi trường dữ liệu cũng như thuộc tính của đồng thời cả môi trường đó và dữ liệu.  ADF cung cấp các công cụ và kỹ thuật để trợ giúp việc đánh giá tình hình dữ liệu, ví dụ như, bằng mẫu Template đánh giá tình hình dữ liệu4. Mẫu này đi với hàng loạt các câu hỏi theo bốn chủ đề: (A) Độ nhạy cảm của thỏa thuận giữa tổ chức kiếm soát/xử lý dữ liệu với chủ thể dữ liệu; (B) Độ nhạy cảm kỳ vọng của tổ chức kiểm soát/xử lý dữ liệu; (C) Độ nhạy cảm của dữ liệu; (D) Các yếu tố hóa giải nhạy cảm. Mẫu cũng chỉ ra cách tính điểm cụ thể cho từng chủ đề và tính tổng độ nhạy cảm theo cả bốn chủ đề đó. Nếu tổng số điểm của bốn chủ đề là 4 hoặc ít hơn, độ nhạy cảm tình hình dữ liệu là Thấp. Nếu nó nằm giữa 5 và 10 là Trung bình và nếu lớn hơn 10 là Cao.  ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TIẾT LỘ  Đánh giá và kiểm soát rủi ro thường nên là quy trình lặp đi lặp lại, có thể bằng nhiều giải pháp khác nhau.Việc áp dụng các phương pháp đánh giá rủi ro cũng cần phải có chiến lược vì có những phương pháp đòi hỏi nhiều nguồn lực, chỉ cần áp dụng cho bản dữ liệu gần cuối trước khi công bố (giả thiết ngân sách của bạn là hạn chế).  Quản lý rủi ro vẫn chưa đủ, ta còn cần chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.  Thông thường, mục tiêu của quy trình này là tạo ra dữ liệu đáp ứng các yêu cầu của kịch bản sử dụng. Nguồn lực bỏ ra để đánh giá các rủi ro tiềm tàng chỉ nên ở mức tương xức với ảnh hưởng tạo ra khi dữ liệu đó bị xâm phạm.  Thành phần 7: Lựa chọn và triển khai các quy trình bạn sẽ sử dụng để đánh giá và kiểm soát rủi ro tiết lộ  Nếu đánh giá của bạn ở phần 6 cho thấy rủi ro nào đó có thể không thể chấp nhận, không thể bỏ qua được thì bạn cần triển khai đánh giá rủi ro công khai và các phương pháp kiểm soát. Bước này giúp lựa chọn các phương pháp đó. Các lựa chọn đánh giá bao gồm kiểm thử thâm nhập, đánh giá rủi ro phân tích dữ liệu và phân tích so sánh tình huống dữ liệu. Các lựa chọn để kiểm soát bao gồm các kiểm soát dữ liệu (ngăn chặn, thêm nhiễu, .v.v.) và các kiểm soát môi trường (truy cập và cấp phép). Trên thực tế, đây có thể là bước rất phức tạp và đánh giá rủi ro có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất của quá trình ẩn danh, đòi hỏi nhiều nhận định và chuyên môn của những nhà thực hành với dữ liệu. Lí do nó phức tạp một phần là không ai biết đích xác những thông tin nào khác cần phải cân nhắc bên cạnh bản thân dữ liệu và nhiều yếu tố khác nhau sẽ ảnh hưởng như thế nào đến mức độ rủi ro.  Bạn cần triển khai các phương pháp đã được lựa chọn. Bạn có thể cần lặp đi lặp lại giữa đánh giá và kiểm soát rủi ro để cân bằng rủi ro với sự hữu dụng của dữ liệu. Hãy lặp lại các bước 6 và 7 cho tới khi bạn đã đạt được điểm số nơi rủi ro là không đáng kể, ví dụ như, độ nhạy cảm tình huống dữ liệu là Thấp.  QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG  Tất cả những gì chúng ta cân nhắc từ bước đầu tiên đến nay là một khung quản lý rủi ro để giảm thiểu tối đa khả năng dữ liệu bị tái nhận dạng. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đủ, sẽ là vô trách nhiệm nếu chúng ta không chuẩn bị cho tình huống tồi tệ nhất. Quản lý tác động đòi hỏi một kế hoạch nhằm giảm ảnh hưởng của tình huống như vậy nếu nó diễn ra.  Thành phần 8: Duy trì lòng tin của các bên liên quan  Hành xử đáng tin cậy, bạn cần phải tương tác và thảo luận với các bên liên quan để chứng minh sự uy tín của mình. Không cần giao tiếp thường xuyên, nhưng bạn cần minh bạch, và cập nhật tình hình nếu có gì thay đổi. Gửi cho các bên liên quan đầu mối liên hệ để họ có thể liên lạc trực tiếp nếu có bất kì lo ngại nào. Không được phép đánh giá thấp tầm quan trọng của bước này, bạn có thể giải quyết vấn đề một cách tự do tới mức nào phụ thuộc vào lòng tin của các bên đặt lên bạn.  Thành phần 9: Lên kế hoạch sẽ làm gì nếu mọi điều đi sai  Bạn đã chú tâm hoàn thành tất cả các bước ở trên. Tuy nhiên, bạn đang quản lý rủi ro, chứ không phải loại bỏ nó hoàn toàn. Rủi ro còn sót lại là ngụ ý một sự kiện bất lợi có thể xảy ra. Hãy đặt ra chính sách quản lý khủng hoảng bao trùm bốn lĩnh vực chính: quản lý vi phạm, thông báo, rà soát lại và truyền thông. Hãy xem xét thận trọng dải các kịch bản vi phạm có thể xảy ra, ai sẽ là các tác nhân, mục tiêu, phương tiện của họ, và liệu các mục tiêu đó có làm trầm trọng thêm hay cải thiện được các tác động của vi phạm đó hay không. Hãy làm rõ các mục tiêu của bạn là gì và nó liên quan gì tới mục tiêu của các tác nhân khác. Sau đó, xem xét một loạt những hành động bạn có thể thực hiện đối với từng kịch bản đó.  Thành phần 10: Giám sát tình hình dữ liệu đang tiến hóa  Rủi ro không tính toán chính xác được, cũng không là hằng số bất biến. Bạn nên tạo lập và triển khai chính sách giám sát rủi ro và xem xét tinh chỉnh tình hình dữ liệu nếu nó thay đổi đáng kể. Rà soát lại tình hình dữ liệu định kỳ và đánh giá liệu có bất kỳ yếu tố nào đã thay đổi hay không. Duy trì nhật ký của tất cả các thay đổi như vậy và đánh giá liệu hiệu ứng mạng của tất cả các thay đổi đó có yêu cầu rà soát lại toàn bộ các trường hợp hay không. Điều này về cơ bản ngụ ý làm lại thành phần 6 và nếu cần cả các thành phần 8 và 9 nữa.  Không chỉ là vấn đề kỹ thuật công nghệ của dữ liệu và môi trường dữ liệu, mà còn cả ngữ cảnh pháp lý của ADF ở các quốc gia khác nhau.  Nội dung ở tất cả 10 thành phần được nêu trên chưa tính tới ngữ cảnh pháp lý của ADF. Tuy nhiên, cũng đã có một số hướng dẫn ra đời để tiếp nhận ADF trong bối cảnh pháp luật của các quốc gia châu Âu5,6.  Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam vừa ban hành Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ: Thông qua hồ sơ xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân7, ngày 7/3/2022 và hướng tới việc xây dựng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân8 trong thời gian tới, cũng như việc hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam với thế giới, bao gồm cả với châu Âu, ví dụ như, trong việc thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), chắc chắn sẽ ngày càng có nhiều tác nhân là các tổ chức, công ty và/hoặc cá nhân của Việt Nam sẽ có nhu cầu hiểu rõ và tuân thủ GDPR khi tiến hành trao đổi/giao dịch với các đối tác châu Âu để tránh vi phạm và tránh các hình phạt theo quy định của GDPR. Khung Ra quyết định Ẩn danh (ADF) và các vấn đề liên quan tới các khung pháp lý và kỹ thuật công nghệ cùng với các tài liệu liên quan khác tới ADF có thể là những tài liệu tham khảo rất tốt cho các nhà làm luật ở Việt Nam tính tới khi xây dựng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam.  Một điều cần được khẳng định, dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân hoàn toàn có thể trở thành dữ liệu mở thông qua ẩn danh9, để tạo ra nhiều giá trị cho xã hội.□  —-  Các chú giải  1 Elaine Mackey, Mark Elliot, Kieron O’Hara: The Anonymisation Decision-making Framework. Published by ODI, 2016: https://fpf.org/wp-content/uploads/2016/11/Mackey-Elliot-and-OHara-Anonymisation-Decision-making-Framework-v1-Oct-2016.pdf  2. Mark Elliot, Elaine Mackey & Kieron O’Hara: The Anonymisation Decision-Making Framework 2 nd Edition: Overview. Published by UKAN, University of Manchester. 2020: https://msrbcel.files.wordpress.com/2020/11/adf-2nd-version-overview.pdf.  3. UKAN: ADF COMPANION DOCUMENT E: Data Features Template: https://msrbcel.files.wordpress.com/2020/12/data-features-template-v2-1.docx  4. UKAN: The Data Situation Evaluation Template: https://msrbcel.files.wordpress.com/2020/12/data-situation-evaluation-template-v1.1.docx  5. Mark Elliot, Elaine Mackey & Kieron O’Hara: The Anonymisation Decision-Making Framework 2 nd Edition: European Legal Context (GDPR). Published by UKAN, University of Manchester. October 2020: https://msrbcel.files.wordpress.com/2020/11/adf-2nd-version-legal-context.pdf  6. Mark Elliot, Elaine Mackey and Kieron O’Hara: The Anonymisation Decision-Making Framework 2 nd Edition: European Practitioners’Guide. Published by UKAN, University of Manchester. 2020: https://msrbcel.files.wordpress.com/2020/11/adf-2nd-edition-1.pdf  7. Chinhphu.vn: Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ: Thông qua hồ sơ xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205430  8. Bộ Công an, trang thông tin điện tử phổ biến giáo dục pháp luật: Chính phủ thông qua hồ sơ xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân: http://bocongan.gov.vn/giao-duc-pho-bien-phap-luat/tin-tuc/Pages/lists.aspx?Cat=3&ItemID=646  9. Lê Trung Nghĩa, 2022: Khi dữ liệu cá nhân có thể trở thành dữ liệu mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/khi-du-lieu-ca-nhan-co-the-tro-thanh-du-lieu-mo-653.html  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Khung toán học tăng cường độ chính xác của các đặc điểm hình dạng      Trong thế giới tự nhiên có nhiều loại cây con tiến hóa theo cách thức khác biệt về kích thước, màu sắc và vượt lên tất cả là hình dạng. Trong khi có thể dễ dàng miêu tả được màu sắc hoặc kích thước của một loài thì việc miêu tả một hình dạng lại phức tạp hơn nhiều.      Sự khác nhau về hình thái của các loại mô trong tế bào thực vật. Nguồn: biologydictionary.net/  Trong một nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Communications, Jacqueline Nowak của Viện nghiên cứu Sinh lý học phân tử cây trồng Max Planck và cộng sự đã tìm được ra một cách mới và tiến bộ để miêu tả các hình dạng đó qua việc trình bày một mạng lưới có thể sử dụng để tập hợp và so sánh các hình dạng.  Jacqueline Nowak đã thiết kế một cách tiếp cận mới nhò vào một phép biểu diễn hình dạng trên cơ sở mạng lưới tên là biểu đồ thị kiến GraVis. Biểu đồ thị kiến này tái hiện hình dạng của một vật thể, vốn được xác định bằng đường biên xung quanh nó, và cấu trúc thuật toán bên trong GraVis định vị một tập hợp các điểm cách nhau một cách đều đặn ở xung quanh đường biên. Các điểm này sau đó được kết nối với nhau bằng các đỉnh, không cần chéo hoặc thẳng hàng với đường biên của hình dạng. Kết quả là việc kiểm tra sự kết nối giữa các cặp điểm được biểu đồ thị kiến tập hợp cho thấy hình dạng cần được phân tích.  Trong nghiên cứu này, Jacqueline Nowak sử dụng các loại biểu đồ thị kiến và công cụ GraVis để so sánh những hình dạng khác nhau. Để kiểm tra hiệu quả của cách tiếp cận mới, họ còn so sánh các biểu đồ thị kiến của các dạng tam giác, tứ giác và hình tròn đơn giản cũng như cả các hình dạng phức tạp như hạt cát, cá và lá cây.    Đồ họa các sơ đồ của những loại hoa khác nhau. Trên đường biên (xanh lá cây), các điểm được phân bố ở vùng rìa theo không gian và được kết nối. Nguồn: Nature Comunication  Bằng việc sử dụng những cách tiếp cận học máy khác biệt, họ đã chứng minh cách tiếp cận của mình có thể phân biệt được các hình dạng phức tạp. Hơn nữa, những biểu đồ thị kiến cho phép phân biệt sự phức hợp của các hình dạng như các tế bào đáy biểu bì trong thực vật, vốn có hình dạng tương tự với các miếng ghép. Với các tế bào này, các tham số hình dạng khác biệt như chiều dài thùy, độ rộng chỗ thắt hoặc khu vực tế bào có thể được định lượng một cách chính xác với GraVis. “Khả năng định lượng số thùy của các tế bào biểu bì bằng GraVis vượt xa các công cụ hiện có, điều đó cho thấy đây là một công cụ hữu hiệu để giải được các câu hỏi cụ thể liên quan đến phân tích hình dạng”, Zoran Nikoloski, người dẫn dắt dự án GraVis và phụ trách nhóm nghiên cứu “Sinh học hệ thống và mô phỏng toán học” tại Viện nghiên cứu Sinh lý học phân tử cây trồng Max Planck và là giáo sư tin sinh học tại trường đại học Potsdam.  Trong tương lai, các nhà khoa học muốn ứng dụng các biểu đồ thị kiến trên các tế bào biểu bì và các lá để có thêm những cái nhìn thấu suốt về mặt sinh học vào các quá trình xử lý chính trong tế bào tác động đến hình dạng bên ngoài. Thêm vào đó, những đặc điểm hình dạng của những tế bào thực  vật khác nhau do GraVis định lượng có thể giúp các nhà khoa học dễ dàng sàng học gene để xác định những cơ sở di truyền của hình thái di truyền. Cuối cùng, ứng dụng của GraVis sẽ giúp tăng thêm kiến thức về sự tương tác giữa các tế bào và hình dạng của các cơ quan động thực vật trong tự nhiên.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/s41467-020-20730-y  https://phys.org/news/2021-01-mathematical-framework-enables-accurate-characterization.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khứu giác của con người đang dần thoái hoá?      Các nhà nghiên cứu đã tìm ra các thụ thể trong mũi giúp chúng ta phát hiện những phân tử mùi hương cụ thể, đồng thời họ cũng tìm thấy bằng chứng về sự thay đổi về mặt tiến hóa ở một số gen này.    Con người có khoảng 800 gen thụ cảm khứu giác, nhưng chỉ khoảng một nửa trong số đó có chức năng – nghĩa là chúng sẽ được dịch mã thành các protein trong mũi và có khả năng phát hiện các phân tử mùi. Ảnh: Andia / Alamy  Khi bạn ngửi một thứ gì đó, các phân tử mùi sẽ lướt bên trong mũi của bạn, nơi chúng liên kết với các protein – được gọi là các thụ thể khứu giác – nằm trên các tế bào trong khoang mũi của bạn. Các thụ thể này kích hoạt những tín hiệu, từ đó giúp não của bạn diễn giải thành các loại mùi.  Một nhóm các nhà khoa học đã xác định được các thụ thể khứu giác đối với hai phân tử mùi phổ biến: một loại xạ hương có trong xà phòng, nước hoa và một hợp chất chính trong mồ hôi dưới cánh tay. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các thụ thể khứu giác này đã có sự tiến hoá, làm thay đổi sự nhạy cảm của con người đối với những loại mùi trên. Công trình đã được xuất bản trên tạp chí PLoS Genetics.  Các thụ thể khứu giác có thể đã tồn tại từ hàng trăm triệu năm và được cho là có ở tất cả các loài động vật có xương sống. Con người có khoảng 800 gen thụ cảm khứu giác, nhưng chỉ khoảng một nửa trong số đó có chức năng – nghĩa là chúng sẽ được dịch mã thành các protein trong mũi và có khả năng phát hiện các phân tử mùi. Nhưng trong một gen chức năng, những biến thể nhỏ có thể gây ra các thay đổi trong protein thụ thể tương ứng của nó, và những thay đổi này có thể ảnh hưởng lớn đến cách chúng ta cảm nhận mùi.  “Có một phân tử được gọi là androstenone”, Joel Mainland, nhà khoa học thần kinh tại Trung tâm Giác quan Hóa học Monell và là tác giả của nghiên cứu mới cho biết. “Theo chúng tôi biết, một số người ngửi thấy phân tử đó có mùi nước tiểu, một số người ngửi thấy phân tử đó là gỗ đàn hương, và một số người hoàn toàn không ngửi thấy nó.”  Như đã nói, những thay đổi về gen không phải là yếu tố duy nhất để giải thích cơ chế cảm nhận mùi. “Thứ nhất là di truyền, và thứ hai là trải nghiệm, bao gồm cả những yếu tố như nền văn hoá nơi bạn lớn lên”, Hiroaki Matsunami, một nhà sinh vật học phân tử tại Đại học Duke, người không tham gia vào nghiên cứu nhưng có chuyên môn về khứu giác, cho biết.  Nghiên cứu của Tiến sĩ Mainland và các đồng nghiệp có thể xem là minh chứng cho nỗ lực hợp tác hiệu quả giữa các nhà khoa học ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Họ đã giải mã bộ gen của 1.000 người ở Đường Sơn, Trung Quốc, những người thuộc tộc người Hán. Họ cũng thực hiện nghiên cứu tương tự với một nhóm đa dạng về sắc tộc gồm 364 người ở Thành phố New York. Những người tham gia được yêu cầu đánh giá, trên thang điểm 100, cường độ và sự dễ chịu của một loạt các mùi phổ biến. Sau đó, các nhà nghiên cứu tìm kiếm mối liên hệ giữa các gen thụ cảm khứu giác và mùi cũng, như các biến thể bên trong các gen đó và tác động tiềm tàng của chúng đối với cảm nhận về mùi.  Bằng cách lấy mẫu người dân trên quy mô lớn, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu cảm nhận về mùi khác nhau như thế nào dựa trên sự khác biệt về gen giữa mọi người, chứ không phải là các yếu tố văn hóa hoặc kinh nghiệm. Điều đó dẫn họ đến các phân tử như axit trans-3-metyl-2-hexenoic và galaxolide.  Axit trans-3-metyl-2-hexenoic được coi là một trong những hợp chất hăng nhất tạo nên mùi mồ hôi dưới cánh tay. Galaxolide là một loại xạ hương tổng hợp thường được mô tả là hoà trộn giữa mùi hoa, mùi gỗ, thường được sử dụng làm thành phần trong nước hoa và mỹ phẩm. Nhóm nghiên cứu đã có thể xác định các biến thể của thụ thể khứu giác đối với những mùi đó. Trong trường hợp mùi hôi dưới cánh tay, hầu hết những người có biến thể gen tiến hóa đều nhận thấy nó nồng nặc hơn. Ngược lại, họ thấy galaxolide có mùi nhẹ hơn. Các phát hiện về galaxolide đặc biệt đáng chú ý, bởi một số người tham gia thậm chí không thể ngửi thấy mùi xạ hương.  Nhóm nghiên cứu cũng báo cáo một phân tích về 29 đột biến có liên quan đến cảm nhận về các mùi cụ thể. Các biến thể di truyền xảy ra gần đây hơn trong lịch sử tiến hóa của con người và các loài linh trưởng khác được tìm thấy trong các thụ thể mùi dường như ít nhạy cảm hơn.  Tiến sĩ Matsunami coi công trình này là một ví dụ khác về việc khứu giác của con người phức tạp hơn mọi người nghĩ ban đầu. Các tác giả cho rằng phát hiện của họ ủng hộ một giả thuyết từng bị chỉ trích rằng hệ thống khứu giác của loài linh trưởng đã bị thoái hóa theo thời gian tiến hóa. Tuy nhiên, Kara Hoover, một nhà nhân chủng học tại Đại học Alaska Fairbanks, người không tham gia vào nghiên cứu này nhưng cũng là nhà khoa học chuyên về sự tiến hóa của mùi con người, ngay từ đầu đã không bị thuyết phục bởi giả thuyết đó.  “Tại sao cường độ mùi giảm thì bị cho là thoái hoá?” cô ấy hỏi. “Có thể những mùi khác đang trở nên gay gắt hơn (át đi mùi cần ngửi) hoặc khả năng phân biệt mùi đang được cải thiện. Chúng ta biết quá ít để đưa ra những kết luận này ”.  Đối với Tiến sĩ Hoover, những phát hiện này, nếu đúng, sẽ gợi nên rất nhiều câu hỏi về tiến hóa khác. “Tại sao lại có nhiều biến động trong một khoảng thời gian ngắn như vậy? Đây có phải là một dấu hiệu biểu thị sự thích ứng không?”  Trong khi đó, Giáo sư Matthew Cobb thuộc Đại học Manchester, cho rằng bằng cách tập trung vào một số loại thụ thể mùi nhất định, nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học cho những gì mà lâu nay chúng ta mới chỉ phán đoán – rằng có những người nhạy cảm hơn với một số mùi nhất định và điều này có thể ảnh hưởng đến việc mùi sẽ dễ chịu hay khó chịu. Tuy nhiên, ông lưu ý, “có khoảng 400 thụ thể khác cần nghiên cứu, và phần lớn các cảm nhận của chúng ta đối với mùi vẫn còn là một bí ẩn.”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   Scientists identify how humans detect the smell of body odour and musk  Body Odor May Smell Worse to You Than Your Ancient Ancestors  From musk to body odor: Decoding olfaction through genetic variation    Author                .        
__label__tiasang Khuyến khích các nhà khoa học có tinh thần kinh thương      Theo Vụ tổ chức cán bộ của Bộ KH&amp;CN, hiện có 13 doanh nghiệp KH&amp;CN được thành lập mới và chuyển đổi từ các tổ chức KH&amp;CN. Ngoài ra có một số lượng lớn các doanh nghiệp đủ điều kiện và đang làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.  Vậy làm thế nào để có thể thúc đẩy nhanh sự hình thành và phát triển của loại hình doanh nghiệp này, góp phần quan trọng vào việc đổi mới công nghệ trong mọi thành phần kinh tế? Đó là nội dung cuộc Hội thảo quốc tế “Chính sách tạo môi trường hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ” do Viện Chiến lược và Chính sách KH&amp;CN tổ chức.      Tập trung phân tích mô hình doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu khoa học, có mối quan hệ chặt chẽ với tổ chức nghiên cứu “mẹ”), TS Bạch Tân Sinh nhận định, tại những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc, các nước Đông Âu, hình thành doanh nghiệp KH&CN còn được xem như là một phương thức chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển công nghệ nhằm giải quyết vấn đề mang tính khiếm khuyết về cấu trúc của hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển quốc gia. Do vậy, cần có những chính sách khuyến khích các nhà khoa học có tinh thần kinh thương là người sáng lập ra các doanh nghiệp khoa học spin-off để họ sẵn sàng chịu rủi ro mạo hiểm rời môi trường hàn lâm sang môi trường doanh nghiệp.   Đại diện của Thái Lan cho biết Chính phủ nước này đã quyết định thành lập Cơ quan phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NSTDA) vào năm 1991 với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu trong phát triển công nghệ và tiếp cận thị trường. Bộ phận trợ giúp thương mại hoá kết quả nghiên cứu của NSTDA bao gồm những người am hiểu cả về công nghệ và kinh doanh, trợ giúp các nhóm nghiên cứu công nghệ đồng thời ở  quá trình phát triển sản phẩm và quá trình tiếp thị, bán hàng.   Tại Pháp tổ chức OSEO được thành lập với nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho các hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp. Hơn 80.000 doanh nghiệp đã được hỗ trợ với các mức độ khác nhau.   Theo ông Gryga Vitalii, cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Dobrov thuộc Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Ukraina, sự phát triển của các doanh nghiệp KH&CN ở Ukraina hiện vẫn trong tình trạng khủng hoảng sâu sắc thể hiện tình hình kinh tế tổng thể. Cơ hội cho giới kinh doanh có được các lợi nhuận khổng lồ bằng cách xuất khẩu tài nguyên khoáng sản hoặc các sản phẩm với giá trị thấp là một trong những nguyên nhân đẩy KH&CN tới tình trạng lạc hậu.   Tại Ấn Độ, quá trình cải cách hệ thống khoa học công nghệ gồm nhiều bước, mục đích tạo nền tảng rộng cho đổi mới sáng tạo trong đó đặc biệt chú trọng tới đào tạo nhân lực chất lượng cao. GS V. Krishna, Đại học Jawharlal Nehru, New Delhi cho rằng, “không thể xây dựng hệ thống đổi mới mà không có hệ thống KH&CN. Đổi mới ở cấp cơ sở và nghiên cứu phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng vai trò quan trọng như nghiên cứu cơ bản có định hướng”.   Theo ông Phạm Minh Tuấn- Giám đốc Trung tâm ươm tạo Topica Education Việt Nam, tại Singapore tồn tại nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm khác nhau. Các quỹ đầu tư này có quyền quyết định đầu tư vào các dự án họ thấy khả thi, tuy nhiên Nhà nước cũng hỗ trợ theo hình thức đồng đầu tư: Nếu quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư 1 đồng vào dự án, Nhà nước cũng đầu tư 1 đồng hỗ trợ.  Để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN, ông Trần Văn Tùng- Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ cho biết, Bộ KH&CN đang tiến hành xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ tổ chức khoa học và công nghệ tập trung vào các nội dung: hướng dẫn thành lập, đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về ươm tạo, thành lập, quản trị doanh nghiệp…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khuyến nghị chính sách kinh tế của Việt Nam      B&#224;i nghi&#234;n cứu của TS Đinh Tuấn Minh*:&nbsp; Khủng hoảng kinh tế hiện nay: Ph&#226;n t&#237;ch v&#224; khuyến nghị từ l&#253; thuyết kinh tế trường ph&#225;i &#193;o l&#253; giải c&#225;c nguy&#234;n nh&#226;n dẫn đến suy tho&#225;i/ khủng hoảng kinh tế to&#224;n cầu v&#224; từ đ&#243; đưa ra c&#225;c khuyến nghị ch&#237;nh s&#225;ch từ g&#243;c nh&#236;n của l&#253; thuyết kinh tế trường ph&#225;i &#193;o. Dựa tr&#234;n kinh nghiệm của cuộc Đại khủng hoảng 1929-1932 v&#224; c&#225;c diễn biến gần đ&#226;y của nền kinh tế Mỹ, b&#224;i viết n&#224;y cho rằng khả năng kinh tế Mỹ v&#224; thế giới tiếp tục rơi s&#226;u v&#224;o khủng hoảng trong một thời gian tương đối d&#224;i l&#224; rất lớn. Đối với nền kinh tế Việt Nam, b&#224;i viết cho rằng những ch&#237;nh s&#225;ch kiểm so&#225;t gi&#225; cả, kiểm so&#225;t h&#224;ng h&#243;a, t&#224;i ch&#237;nh mở rộng, tiền tệ mở rộng, v&#224; duy tr&#236; vai tr&#242; chủ đạo của kinh tế Nh&#224; nước l&#224; những nguy&#234;n nh&#226;n l&#224;m cho cấu tr&#250;c sản xuất của nền kinh tế Việt Nam bị m&#233;o m&#243; nghi&#234;m trọng, dẫn đến sự bất ổn vĩ m&#244; trong 2008. Th&#234;m nữa, t&#236;nh trạng cấu tr&#250;c m&#233;o m&#243; của nền kinh tế Việt Nam hầu như chưa được cải thiện trong những năm vừa qua, đặt ra nguy cơ của c&#225;c bất ổn vĩ m&#244; quay trở lại trong thời gian tới. Để c&#243; thể tr&#225;nh rơi v&#224;o khủng hoảng trong trước mắt cũng như đạt được tăng trưởng bền vững trong d&#224;i hạn, Việt Nam n&#234;n r&#224; so&#225;t loại bỏ c&#225;c ch&#237;nh s&#225;ch cản trở sự ph&#225;t triển của thị trường, theo đuổi ch&#237;nh s&#225;ch t&#224;i kh&#243;a thận trọng v&#224; cắt giảm chi ti&#234;u ng&#226;n s&#225;ch, theo đuổi ch&#237;nh s&#225;ch tiền tệ trung t&#237;nh, v&#224; tiếp tục đẩy mạnh cải c&#225;ch khu vực doanh nghiệp Nh&#224; nước.  Tia S&#225;ng xin tr&#237;ch giới thiệu phần những kết luận ch&#237;nh của nghi&#234;n cứu n&#224;y.    Với xuất phát điểm là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã có nhiều cải cách quan trọng theo hướng thị trường. Những cải cách này đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn còn nhiều. Số lượng các mặt hàng thuộc diện kiểm soát giá, diện cấm và hạn chế kinh doanh, và kinh doanh có điều kiện vẫn còn rất lớn. Cơ chế kiểm soát các loại mặt hàng này hầu như không có nhiều thay đổi. Những chính sách can thiệp này dẫn đến tổn thất kinh tế, lãng phí tài nguyên, và kìm hãm các lực lượng kinh tế phát triển. Nhà nước cũng liên tục tăng thu để đáp nhu cầu chi tiêu của mình, nhưng mặc dù thế, thâm hụt ngân sách vẫn liên tục mở rộng. Sự chi tiêu lớn của Nhà nước, kết hợp với chính sách tiền tệ mở rộng và khối DNNN hầu như không thuyên giảm đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng tăng trưởng nóng, kinh tế vĩ mô bất ổn định, dù cho tỷ lệ tăng trưởng không phải là cao so với các nước trong khu vực với cùng mức phát triển trước đây.  – Tới hết năm 2008, những nguyên nhân nội tại dẫn đến cấu trúc sản xuất méo mó hầu như chưa được cải thiện. Trong ba quí đầu năm 2008, Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để ngăn chặn lạm phát. Tuy nhiên, vào cuối năm, NHNN lại bắt đầu khuyến khích mở rộng tín dụng để đối phó với suy giảm kinh tế. Chi tiêu Chính phủ lại gia tăng, trong khi nguồn thu bị sụt giảm. Quá trình cải cách DNNN vẫn tiếp tục đình trệ, ngoại trừ việc SCIC dự định thoái vốn ở hầu hết những doanh nghiệp cổ phần vừa và nhỏ mà SCIC đang nắm giữ cổ phần. Một chút tín hiệu tích cực xuất hiện khi Chính phủ dự định áp dụng cơ chế thị trường để hình thành giá cho các lĩnh vực xăng dầu, điện, than, nước sạch, và giao thông công cộng. Tóm lại, nếu như những nguyên nhân can thiệp này không được cải thiện, Việt Nam có nguy cơ bị rơi trở lại tình trạng bất ổn kinh tế, thậm chí tồi tệ hơn hồi đầu năm 2008, như lạm phát, mất cân đối cán cân thanh toán, đồng nội tệ bị mất giá bất cứ khi nào.    Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra vào cuối năm 2008 thực sự là một may mắn cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy khủng hoảng có làm cho xuất khẩu của Việt Nam bị suy giảm nhưng nó giúp cho Việt Nam tiếp cận được với nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như máy móc thiết bị rẻ hơn rất nhiều so với trước đây. Điều này đã giúp cho nền kinh tế tạm thời giải tỏa được các áp lực về lạm phát, mất cân đối cán cân thanh toán, và sự mất giá của VND trong điều kiện chính sách tài khóa và tiền tệ vẫn tiếp tục được nới lỏng. Nếu giả sử nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng như đầu năm 2008, Việt Nam chắc chắn sẽ phải tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ và hạn chế nhập siêu, khi đó mức độ suy giảm tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước sẽ còn lớn hơn nhiều so với những gì đang diễn ra hiện nay.                   Kinh tế thế giới đi về đâu?    Tổng thống Obama lên cầm quyền với quyết tâm thực hiện một New Deal mới. Chính quyền của ông ngay lập tức đưa ra gói kích cầu trị giá 787 tỷ USD vào giữa tháng 2/2009, bao gồm cắt giảm thuế cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng.  Nhưng với những gì chúng ta quan sát từ lịch sử cuộc Đại suy thoái 1929-1933 cũng như những hậu quả của những biện pháp can thiệp gần đây của Chính phủ Mỹ, ta có quyền nghi ngờ liệu gói kích cầu của chính quyền Obama có thể đem đến một kết cục khả quan nào hay không, hay là chỉ khiến cho tình hình từ chỗ suy thoái bình thường, sang khủng hoảng, và có thể là một Đại khủng hoảng mới.              Thái độ nghi ngờ của ta là có cơ sở khi ta nhìn vào cấu trúc kinh tế mà Chính phủ Mỹ đang cố gắng duy trì. Cấu trúc này được đặc trưng bởi một ngân sách liên bang hằng năm thâm hụt lên tới gần nghìn tỷ USD (và còn cao hơn nữa trong những năm tới), bằng một khoản nợ quốc gia lên tới hơn 10 ngàn tỷ USD, và bằng FED với mức lãi suất gần bằng 0 và với một bảng tài sản bao gồm già nửa là tài sản có chất lượng thấp. Một khi nền kinh tế thế giới bị thích nghi với môi trường lãi suất gần bằng 0 như thế này, một loạt các khoản đầu tư sẽ lại bị định hướng sai lạc, và khi FED buộc phải nâng lãi suất, những khoản đầu tư sai lệch mới cộng với cấu trúc méo mó trước đây chưa được hiệu chỉnh xong tất sẽ khiến cho nền kinh tế thế giới phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, có thể còn tồi tệ hơn hiện nay, thay vì là sự hồi phục bền vững.               Có thể nói, chưa bao giờ Chính phủ Mỹ đặt nước Mỹ và thế giới vào canh bạc may rủi như thế này. Canh bạc mà Chính phủ Mỹ hy vọng sẽ thắng có thể tóm tắt như sau: Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay chỉ kết thúc nếu như nền kinh tế Mỹ hồi phục; nền kinh tế Mỹ hồi phục nếu như khu vực tài chính-ngân hàng của Mỹ hồi phục; khu vực tài chính ngân hàng của Mỹ hồi phục nếu như khối tài sản “xấu” trong khu vực này được loại bỏ; khối tài sản “xấu” trong khu vực tài chính-ngân hàng của Mỹ được loại bỏ nếu như giá của các loại tài sản này được đẩy lên cao hơn mức giá thị trường hiện tại; giá của các loại tài sản “xấu” được đẩy lên cao nếu như nguồn tiền tiết kiệm của thế giới (chủ yếu là khu vực châu Á) tiếp tục được đổ vào Mỹ với mức lãi suất gần như bằng 0; và nguồn tiền tiết kiệm của thế giới chỉ tiếp tục được đổ vào Mỹ với mức lãi suất gần như bằng 0 nếu như tất cả các quốc gia đều tiếp tục phải sử dụng đồng USD làm phương tiện giao dịch và tích trữ giá trị.                 Hiện tại nước Mỹ vẫn tiếp tục duy trì được chính sách ‘bá quyền’ (hegemony policies) kiểu này để theo đuổi canh bạc cả chục ngàn tỷ USD là vì đồng USD cho tới nay vẫn được qui ước như là đồng tiền chung cho mọi giao dịch quốc tế. Nhưng cần phải lưu ý rằng đây chỉ là qui ước! Chỉ cần một bộ phận doanh nhân thế giới nhận ra đồng USD được đảm bảo bởi các tài sản có chất lượng xấu và chuyển sang sử dụng một đồng tiền khác làm phương tiện thanh toán quốc tế như vàng, Euro, Nhân dân tệ, hoặc bất cứ khi nào các nước có dự trữ ngoại tệ lớn như Trung Quốc ngừng không mua trái phiếu Chính phủ Mỹ, thì đồng USD sẽ bị trượt giá với tốc độ không thể lường trước được, buộc Chính phủ Mỹ tăng mạnh lãi suất đồng USD trở lại. Tình huống tương tự cũng có thể xảy ra bất kỳ khi nào một mắt xích trong chuỗi kỳ vọng trên trở nên sai. Chẳng hạn ở một nền kinh tế tương đối lớn nào đó không phải là Mỹ xuất hiện tín hiệu tăng trưởng (mà trong giai đoạn này về cơ bản là giả tạo) khiến cho các nguồn lực chuyển động sang nơi đó thay vì vào Mỹ, thì khi đó, giá cả hàng hóa toàn cầu tăng trở lại, khiến cho lạm phát ở Mỹ sẽ được kỳ vọng tăng trở lại. FED sẽ buộc phải nâng lãi suất để ngăn chặn lạm phát trong khi khu vực sản xuất của nền kinh tế Mỹ chưa thực sự hồi phục. Trong cả hai trường hợp, thảm họa đối với nền kinh tế Mỹ và thế giới sẽ xảy ra bởi vì một bộ phận rất lớn các doanh nghiệp vốn đã thích nghi với cấu trúc sản xuất được duy trì ở mức lãi suất gần bằng 0 sẽ bị rơi vào tình trạng phá sản.           Vì thế, ta cần phải nhìn nhận rằng đây là một thời điểm thuận lợi cho Việt Nam tiến hành các cải cách kinh tế nhằm ngăn chặn suy thoái và khủng hoảng quay trở lại, đồng thời tạo ra một cấu trúc kinh tế mới, giúp cho Việt Nam phát triển nhanh hơn và bền vững hơn các quốc gia khác khi kinh tế thế giới hồi phục. Câu đề dẫn ở đầu bài viết mà tôi trích từ tác phẩm Đường về nô lệ (the Road to Serdom) (2009) của F.A. Hayek nên được xem như là nguyên lý nền tảng để xây dựng các chính sách kinh tế của Chính phủ. Dưới đây là những khuyến nghị chính sách cụ thể xung quanh việc loại trừ các yếu tố can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế để đạt được mục tiêu này.  -Tăng cường thông tin minh bạch để giúp cho mọi cá nhân tự khắc phục khó khăn:  Khi suy thoái kinh tế xuất hiện, các cá nhân là những người nhận thấy rõ nhất các sai lầm trong kế hoạch kinh doanh trước đây của mình, và cũng là những người có khả năng nhất trong việc hiệu chỉnh chúng. Để giúp cho các cá nhân có thể tự khắc phục khó khăn, Chính phủ nên tăng cường thông tin minh bạch về các hoạt động của mình. Chính phủ cũng có thể thực hiện các hành động như xây dựng các diễn đàn đối thoại thường xuyên giữa Chính phủ với các chủ thể kinh tế và giữa các chủ thể kinh tế trong các ngành nghề khác nhau để cho các doanh nghiệp có thể hiểu được khó khăn, thuận lợi, cũng như dự định của nhau, qua đó góp phần làm cho mối liên kết tổng thể được điều chỉnh về trạng thái tốt hơn, giúp cho nguy cơ khủng hoảng được giải toả.   – Chính sách tài khóa: Trong giai đoạn suy thoái, Việt Nam nên thực hiện chính sách tài khóa cẩn trọng. Ngân sách chỉ nên dùng để hỗ trợ những người lao động bị mất việc làm thay vì tìm cách cứu giúp các doanh nghiệp thua lỗ. Với một ngân sách liên tục bị thâm hụt và khủng hoảng kinh tế thế giới có khả năng còn kéo dài, việc đẩy mạnh chi tiêu Chính phủ ngay trong giai đoạn đầu suy thoái rất dễ khiến cho môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam bị rơi vào bất ổn trong nay mai. Các biện pháp giãn thuế ngắn hạn trong khi nguồn thu bị thu hẹp sẽ tạo ra bất ổn cho doanh nghiệp thay vì giúp doanh nghiệp vượt khó. Chính phủ cũng nên xây dựng kế hoạch dài hạn để giảm chi tiêu thường xuyên, chuyển các khoản đầu tư công sang cho khu vực tư nhân, qua đó góp phần vào việc giảm thuế dài hạn cho khu vực doanh nghiệp và cá nhân mà vẫn đảm bảo được cân đối ngân sách.  – Chính sách tiền tệ: Việt Nam nên nhất quán xây dựng chính sách tiền tệ trung tính (neutral monetary policies) không những trong giai đoạn suy thoái này mà cả trong dài hạn để ngăn ngừa các nguy cơ suy thoái kinh tế trong tương lai. Việc xác định lãi suất chiết khấu, lãi suất cơ bản không nên hướng đến duy trì một mức tăng CPI ổn định hoặc duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ổn định mà nên căn cứ vào vào các đúc kết thực tiễn (practical maxims) của chính NHNNVN như các biến động cung-cầu về vốn vay trên thị trường, tăng giảm năng suất của nền kinh tế, cấu trúc của hệ thống tài chính quốc gia, thói quen sử dụng tiền tệ của dân chúng v.v. để sao cho các mức lãi suất danh nghĩa trên thị trường sát với mức lãi suất tự nhiên của nền kinh tế. Việt Nam cũng nên tiếp tục cho phép nhiều đồng tiền quốc tế làm phương tiện giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam. Sự biến đổi tỷ giá cũng như các mức lãi suất ngoại tệ xác lập trên thị trường là những chỉ báo tốt giúp cho NHNNVN dễ dàng hơn trong việc dò tìm ‘mức lãi suất tự nhiên’ cho nền kinh tế hơn.  Việc xác định tỷ giá chính thức nên được xem là bài toán sau khi NHNNVN xác lập lãi suất danh nghĩa cho nền kinh tế. Tỷ giá xác lập trên thị trường sẽ dao động căn cứ vào lãi suất danh nghĩa VND, lãi suất ngoại tệ, cung cầu ngoại tệ và vàng trên thị trường. NHNNVN nên chọn thời điểm thích hợp để nới lỏng hơn nữa biên độ giao động tỷ giá. Trên cơ sở các thông số có tính thị trường đó, NHNNVN có thể điều chỉnh tỷ giá chính thức để phản ánh chính sách lãi suất VND của mình và các thay đổi trên thị trường.     – Chính sách cải cách DNNN: Việc đẩy mạnh cổ phần hoá và cải cách doanh nghiệp Nhà nước sẽ giúp cho các doanh nghiệp này chủ động tìm kiếm cơ hội thị trường, và nhờ đó có thể sẽ phát triển nhanh hơn. Nhà nước không nên e ngại việc không bán được cổ phiếu ra bên ngoài ở thời điểm cổ phần hoá. Nhà nước có thể vẫn tiếp tục nắm đa phần vốn sở hữu tại các doanh nghiệp sau khi đã cổ phần. Doanh nghiệp sau cổ phần vẫn có thể có động lực đổi mới phát triển nếu như Nhà nước cam kết sẽ thưởng cho doanh nghiệp một phần lợi nhuận có được từ phần cổ phiếu thoái vốn của mình nếu như doanh nghiệp làm ăn phát đạt.  – Tăng cường vai trò của thị trường và xã hội dân sự cho các lĩnh vực kinh doanh hàng hóa thuộc diện kiểm soát giá và thuộc diện cấm, hạn chế, hoặc kinh doanh. Chính phủ và giới nghiên cứu cần nghiêm túc rà soát lại danh mục các loại hàng hóa thuộc diện kiểm soát giá và thuộc diện cấm, hạn chế, hoặc kinh doanh để nới lỏng các can thiệp hành chính đồng thời tăng cuờng các yếu tố thị trường và xã hội dân sự cho từng mặt hàng. Nếu những nới lỏng này thành công chúng sẽ góp phần rất lớn vào việc mở rộng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Với các mặt hàng thuộc diện kiểm soát giá cả hay kinh doanh có điều kiện như các loại nguyên liệu cơ bản (điện, nước, than, xi măng, sắt thép, xăng dầu, đường sắt), các sản phẩm có tính xã hội (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục), các sản phẩm công nghệ, bất động sản, và các sản phẩm phái sinh v.v., Chính phủ có thể thiết kế cơ chế thị trường ban đầu cho chúng. Một khi cơ chế thị trường cho các lĩnh vực này được thiết lập, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần hoàn toàn có thể tham gia; và theo thời gian, cơ chế giá cả sẽ được hoàn thiện dần từ thực tiễn để đảm bảo lợi ích cho mọi bên tham gia thị trường. Đối với các mặt hàng thuộc diện cấm hoặc hạn chế kinh doanh (như đánh bạc, các sản phẩm dành cho người lớn, các loại dịch vụ chiêm tinh bói toán, các loại thuốc có tính gây nghiện, karaoke – vũ trường v.v.), Chính phủ trước mắt nên tìm cách chuyển chúng sang loại kinh doanh có điều kiện và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác để dần xây dựng được cơ chế thị trường phù hợp cho chúng.   —————————–  * Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR), Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG HN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị      Trong kỳ cuối của loạt bài viết về tự chủ đại học ở Việt Nam, tác giả Trần Đức Viên sẽ phân tích, đưa ra những khuyến nghị về cơ chế quản lý để đảm bảo quá trình tự chủ đại học thực sự có chuyển biến cả về chất và lượng.      Ảnh minh họa. Nguồn: Tiền phong.  Mối quan hệ giữa ba thiết chế quản trị trường đại học tự chủ  Một trong những ‘điểm nghẽn’ trong thời gian qua được các trường đại học và dư luận xã hội quan tâm nhiều là vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, và mối quan hệ giữa ba thiết chế lãnh đạo, quản trị, quản lý trường đại học là Đảng ủy (ĐU), Hội đồng trường (HĐT) và Ban Giám hiệu (BGH). Về vấn đề này nên vận dụng các nguyên tắc đã được áp dụng khi giải quyết các mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ ở tầm quốc gia.  – Ban chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) nhà trường là tổ chức Đảng đại diện cho Đảng bộ giữa 2 kỳ Đại hội; hoạt động theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ cấp trên và Quy chế làm việc của Ban chấp hành Đảng bộ trường; có trách nhiệm là hạt nhân chính trị, lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện nhà trường bằng các nghị quyết. Đảng ủy có nhiệm vụ (i) xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh; (ii) ban hành và lãnh đạo nhà trường bằng các nghị quyết về các mặt công tác và các nhiệm vụ chính trị của nhà trường, mang tính đường lối, định hướng; (iii) lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ thông qua các nghị quyết về công tác tổ chức và qui hoạch nhân sự; (iv) không can thiệp vào công tác quản trị của HĐT, và công tác quản lý hàng ngày của hiệu trưởng (HT). Thực ra, Đảng ủy luôn là thiết chế lãnh đạo tòan diện và tuyệt đối các lĩnh vực hoạt động của nhà trường, điều đó luôn được khẳng định vì các vị trí lãnh đạo chủ chốt, từ chủ tịch HĐT, HT, phó hiệu trưởng, trưởng các đơn vị đều là đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc Đảng ủy, họ có trách nhiệm tối thượng là sống và làm việc theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, theo nghị quyết của chi ủy, đảng ủy bộ phận và của các chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy cấp trên.  – Trong một cơ sở giáo dục đại học, HĐT là một thực thể có quyền lực cao nhất, làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường, còn bộ máy của HT có nhiệm vụ quản lý, điều hành. HĐT phải lãnh đạo chiến lược, không nên sa vào các quyết định chiến thuật, do đó khi đã có chính sách và kế hoạch phát triển tổng thể, HĐT phải giao quyền đầy đủ cho HT, không can thiệp vào việc điều hành cụ thể của HT. Vì thế, người ta thường nói HĐT chỉ có một ‘nhân viên’, đó là HT.  – Mối quan hệ giữa HĐT và các thành viên của HĐT với HT và bộ máy của HT tuân theo các nguyên tắc: (i) HĐT giữ vai trò lãnh đạo, còn HT làm nhiệm vụ quản lý; (ii) HĐT lãnh đạo và quản trị cơ sở giáo dục đại học thông qua HT, không trực tiếp tác động đến các thành viên trong bộ máy của HT, trừ khi HT đề nghị; (iii) Sự lãnh đạo và quản trị của HĐT được thực hiện bằng nghị quyết của toàn thể hội đồng chứ không phải của các thành viên hội đồng, kể cả chủ tịch; (iv) Quan hệ giữa HT và các thành viên HĐT là quan hệ cộng sự, ngang hàng, hỗ trợ nhau, không phải trên dưới.  – Hiệu trưởng với tư cách một cá nhân vừa là thành viên HĐT, vừa là người có nhiệm vụ thi hành các nghị quyết của HĐT, nên vị trí và nhiệm vụ của HT là: (i) là người đứng đầu bộ máy điều hành, có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt nhất mọi chính sách và kế hoạch tổng thể do HĐT đề ra, thể hiện qua các nghị quyết của HĐ[1]; (ii) là cầu nối giữa HĐT và các thành viên trong trường với cán bộ viên chức và người học; (iii) chịu trách nhiệm giải trình trước HĐT về các hoạt động của nhà trường, đảm bảo thành tựu của các chính sách được đề ra và không vi phạm những giới hạn điều hành đã được quy định.  Ở đây cần có sự tin tưởng lẫn nhau giữa bộ phận lãnh đạo, quản trị và bộ máy điều hành, quản lý. Khi các bên hiểu rõ trách nhiệm của mình, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau thì quan hệ giữa các bên sẽ tốt đẹp và được tối ưu hóa, sức mạnh của các thiết chế này sẽ được cộng hưởng thành sức mạnh tổng hợp, mạnh mẽ và hiệu quả hơn rất nhiều so với từng thiết chế riêng rẽ.      Nhà nước và xã hội để cho các trường có quyền nói lên tiếng nói của mình, có quyền đưa ra quyết định của chính mình và chịu trách nhiệm về các quyết định ấy, để thực hiện mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà trường đại học đang theo đuổi một cách hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất về thời gian và tiền bạc.      Có nên kiêm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản trị và quản lý trường đại học?  Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, có ba vị trí lãnh đạo, quản trị và quản lý chủ chốt là Bí thư, Chủ tịch HĐT và HT. Có trường Bí thư kiêm HT, có trường Bí thư kiêm Chủ tịch. Dù là mô hình nào, thì cũng đều có thể tham khảo, học hỏi, nhưng không nên áp đặt hay ‘gợi ý’ nên như thế này, nên như thế kia, cố gắng áp dụng đồng loạt theo kiểu đồng phục (uniform) ‘chụp’ lên tất cả các trường. Các trường tự chủ nghĩa là họ có quyền định đoạt ‘số phận’ của họ, không nên và không thể áp đặt.  Thực tế cho thấy, Chủ tịch HĐT kiêm HT dễ làm cho quyền lực của HT bị lạm dụng và tha hóa, và như một hệ quả, dễ dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ. HT là Chủ tịch HĐT nên việc thực hiện nhiệm vụ của HĐT mang tính cá nhân nhiều hơn, không hề có dấu ấn của tập thể, nếu có thì cũng rất mờ nhạt, không thực chất; HT vẫn có thể tha hồ đưa ra quyết định mà không vấp phải một ‘phản biện’, một sự ‘cân đối quyền lực’ nào. Ở những cơ sở giáo dục (CSGD) này chỉ có dân chủ hình thức; vì vậy, HT dứt khoát không thể kiêm chức Chủ tịch HĐT. Bí thư có thể kiêm HT hoặc kiêm chủ tịch HĐT hoặc ba vị trí này do ba người nắm giữ, tùy thuộc vào từng CSGD, và họ phải tự quyết định việc này. Chỉ có như thế mới hạn chế được những sai lầm khi quyền lực tập trung vào tay một người, mới có thể giảm thiểu đến mức thấp nhất những sai phạm về thiếu dân chủ mà các trường dễ mắc phải.    Tự chủ về công tác chuyên môn  Nhà nước nên giao quyền toàn diện về tự chủ học thuật, tự chủ chuyên môn cho các trường đại học, giám sát kết quả đầu ra qua các chỉ số đầu ra cơ bản (KPIs) do các trường đã cam kết với xã hội hơn là giám sát đầu vào theo cơ chế xin-cho. Bãi bỏ quản lý kiểu ‘cấp phép’ của Bộ GD&ĐT với các CSGD (như các ‘giấy phép con’: Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT ngày 22/12/2010 về tiêu chuẩn mở ngành đào tạo; Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16/12/2015 về xác định chỉ tiêu tuyển sinh; Thông tư số 15/2014/BGDĐT-ĐTĐH ngày 15/05/2014 quy định địa điểm tổ chức thi tuyển sinh; Công văn 1761/BGDĐT-GDĐH ngày 15/04/2015 quy định tổ chức đào tạo ở ngoài cơ sở đào tạo; Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17/2/2011, Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT ngày 22/12/2010 quy định thẩm định và phê duyệt cho phép đào tạo các ngành hoặc chuyên ngành mới, v.v…). Cũng cần giao các trường được tự quyết định việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo đơn đặt hàng của địa phương, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế với những thế mạnh của CSGD, miễn là CSGD có đề án khả thi, chịu trách nhiệm giải trình, được HĐT thông qua và chịu sự giám sát của xã hội, của nhà nước.  Tự chủ về đầu tư  – Với các dự án do nguồn vốn tự có và các dự án đầu tư từ các nguồn vốn của nhà nước có tổng mức đầu tư dưới 20 tỷ đồng, CSGD được thành lập ban quản lý dự án;  – Các trường được chủ động hoàn toàn trong việc mua sắm, có nghĩa là tự chủ trong việc phê duyệt danh mục, kế hoạch sử dụng kinh phí, dự toán thiết bị đối với các gói mua sắm từ nguồn thu hợp pháp nhằm tăng tính tự chủ và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.  – Với các gói cải tạo sửa chữa từ nguồn thu hợp pháp, các trường được chủ động từ khâu lập và thẩm định kế hoạch sử dụng kinh phí, phê duyệt danh mục, dự toán cho đến việc triển khai tổ chức thực hiện; Đối với các công trình có trị giá từ 20 tỷ VNĐ đồng trở xuống do ngân sách nhà nước cấp, đơn vị được phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết toán công trình; Các trường được chủ động lựa chọn các tổ chức có đủ chức năng thẩm định công trình, mua sắm trên nguyên tắc đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch.  – Với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn thu hợp pháp của CSGD, nhà trường được phép tự chủ thuê hoặc tự thực hiện (nếu có đủ năng lực theo luật định) các công đoạn thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định vốn, thẩm tra thiết kế, thẩm tra vốn, phê duyệt dự án và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan quản lý nhà nước về tính hợp pháp và hợp lý trong các quyết định của CSGD.  – Có quyền tự giám sát thi công các công trình xây dựng theo đúng thiết kế và dự toán; Thực tế là hiện nay, các cơ quan được thuê giám sát thi công các công trình có tinh thần trách nhiệm rất thấp, câu chuyện nhà thầu và cơ quan giám sát ‘đi đêm’ với nhau rất phổ biến. CSGD tự giám sát thi công công trình của mình, kinh phí do mình bỏ ra, sẽ hiệu quả, tiết kiệm và thực chất hơn rất nhiều.  Về tự chủ tài chính  Ở Việt Nam hiện nay khá nhiều người hiểu tự chủ đại học trước hết và then chốt là tự chủ tài chính, nghĩa là nhà nước cắt chi thường xuyên, cắt giảm đầu tư. Điều này trái với thực tế tự chủ đại học trên thế giới, đó là khi giao quyền tự chủ cho đại học thì nhà nước chỉ thay đổi cách đầu tư: thay đầu tư theo dòng kinh phí-hạng mục (line-iterms) như trước đây bằng đầu tư một khoản kinh phí (block grants). Đã đến lúc Nhà nước thay đổi phương thức đầu tư: thay vì cấp kinh phí nuôi bộ máy, đầu tư theo dòng kinh phí-hạng mục thì đầu tư một khoản kinh phí cố định trong một khoảng thời gian nào đó (thường là 5 năm), hoặc giao kinh phí theo cách đặt hàng và giao nhiệm vụ trên cơ sở kết quả ‘đầu ra’ (KPIs) của CSGD. Nhà trường được quyền linh động sử dụng nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả nhất, và Nhà nước tăng cường giám sát tính minh bạch và hiệu quả việc của sử dụng kinh phí của CSGD (Rattana, 2015); và như một lẽ đương nhiên, chính phủ cũng công khai, minh bạch các khoản kinh phí đầu tư cho các CSGD, kể cả đại học quốc gia và đại học vùng, theo các KPIs của họ.  Cơ chế cấp phát tài chính cho các CSGD của nhà nước cũng cần thay đổi, có thể theo 2 cách (i) hoặc là ngân sách nhà nước cấp thẳng cho các CSGD, như cách làm của Hoa Kỳ; (ii) hoặc là kinh phí vẫn qua Bộ chủ quản, như phần lớn các nước, theo các tiêu chí rõ ràng, thuyết phục dựa trên các chỉ số KPIs của CSGD.  Về chủ tài khoản, theo cơ chế tự chủ, các đại học công lập sẽ hoạt động, vận hành ‘như’ doanh nghiệp; và chúng ta đang tiến tới ‘đối xử’ công bằng với các trường đại học, công cũng như tư. Theo qui định hiện hành, các trường ngoài công lập, chủ tịch HĐT được gọi là chủ tịch hội đồng quản trị và là chủ tài khoản, vậy với các trường công lập, nhà nước cũng cần xem xét cơ chế để HĐT có quyền lực thực sự trong kiểm soát tài chính. HĐT có quyền thì mới đòi hỏi thực thể này có trách nhiệm; ví dụ qui định với các khoản thu-chi có giá trị từ X đồng trở lên thì HĐT chịu trách nhiệm kiểm soát và điều đó được thể chế hóa bằng các văn bản liên quan; hoặc áp dụng cơ chế đồng chủ tài khoản, nghĩa là chủ tịch HĐT và HT cùng đứng tên mở tài khoản, họ có quyền và nghĩa vụ như nhau khi thực hiện mọi giao dịch liên quan đến tài khoản đồng chủ sở hữu.    Thay cho lời kết  Xây dựng đại học tự chủ hoàn toàn là hình thức chuyển biến cả về chất và lượng trong mối quan hệ giữa chính phủ và cơ sở giáo dục đại học thông qua việc chính phủ hỗ trợ và cho phép các trường đại học thay đổi hoàn toàn hệ thống cấu trúc và quản trị đại học.Trên cơ sở đó đại học tự chủ có thể tự quyết tất cả các vấn đề liên quan đến sự phát triển của CSGD một cách công khai, minh bạch, hiệu quả. Tóm lại là nhà nước và xã hội để cho các trường có quyền nói lên tiếng nói của mình, có quyền đưa ra quyết định của chính mình và chịu trách nhiệm về các quyết định ấy, để thực hiện mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà trường đại học đang theo đuổi một cách hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất về thời gian và tiền bạc. CSGD có trách nhiệm giải trình với nhà nước, với xã hội về tất cả các hoạt động của mình; và nhà nước, xã hội giám sát các hoạt động và sự vận hành của CSGD qua các chỉ số cơ bản mà CSGD đã cam kết, với mục tiêu là CSGD xây dựng danh tiếng dựa trên chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội (văn hóa chất lượng).  Tự chủ là một quá trình đầy thử thách và cơ hội, cần những con người dũng cảm, có tinh thần sáng tạo, dám dấn thân vì khát vọng đổi mới; đó là những con người dám nghĩ, dám làm và biết làm, và có thể làm được những việc lớn. Để đảm bảo qúa trình tự chủ đại học thắng lợi, các cơ quan quản lý nhà nước cần tôn trọng quyền tự chủ của các trường, đồng hành cùng các trường, thông qua ban hành các văn bản pháp lý, các hướng dẫn mang tính mở đường, kiến tạo và đó chính là cách tốt nhất để các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học của chúng ta.  ————-  Chú thích:  [1] Hoạt động của hiệu trưởng không phải là thực hiện những công việc cụ thể, mà là thiết kế công việc, lãnh đạo thực hiện chiến lược và kế hoạch hành động của BGH bằng các sách lược, chiến thuật, điều hành cụ thể, tạo nên bầu không khí làm việc tích cực, sáng tạo và chan hòa trong nhà trường; HT không làm thay công việc thuộc trách nhiệm của các tổ chức trực thuộc (Phòng Ban, Khoa, Viện…). Nếu làm thay, nghĩ thay, vô hình trung HT đã tạo ra sự chây ì, dựa dẫm, trông chờ, làm triệt tiêu tính năng động, sáng tạo và chủ động của bộ máy thừa hành, làm nảy nở thói vô trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thừa hành.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Về tổ chức và cơ chế giám sát      Tiếp theo kỳ 1 phân tích nguyên nhân chậm triển khai tự chủ đại học ở Việt Nam, tác giả Trần Đức Viên đưa ra một số khuyến nghị nhằm sớm đưa tự chủ đại học bước vào “đời sống thực” hàng ngày của các đại học công lập (ĐHCL), để các cơ sở giáo dục (CSGD) này nhanh chóng trở thành các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các trung tâm đổi mới và sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.      Thí sinh xét tuyển vào đại học Quốc gia Hà Nội. Nguồn ảnh: Báo Nhân dân.  Cơ chế giám sát  Nhà nước cần dứt khoát thay kiểm soát ‘đầu vào’ nặng tính xin cho hiện nay bằng cơ chế giám sát kết quả ‘đầu ra’ của CSGD theo các chỉ số đầu ra cơ bản (KPIs) mà CSGD đã cam kết. KPIs thường được chia thành 4 nhóm là:  (i) Thành tựu KHCN, như số sản phẩm KHCN, tiến bộ kĩ thuật, công nghệ mới được áp dụng, số bài báo thuộc hệ thống ISI hoặc Scopus, số lượng giải thưởng quốc gia, quốc tế về KH&CN, số lượt giảng viên tham gia các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế, tỷ lệ kinh phí hoạt động KHCN/tổng kinh phí, số phát minh sáng chế, số hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp, với địa phương, v.v… ;  (ii) Chất lượng đào tạo như tỷ lệ giảng viên/người học, tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên có chức danh GS/PGS, số chương trình đào tạo được kiểm định, kinh phí đầu tư/đầu sinh viên, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng, sau 12 tháng tốt nghiệp, lương khởi điểm của sinh viên, v.v… ;  (iii) Mức độ quốc tế hóa, như tỷ lệ chuyên gia người nước ngoài làm việc tại ĐHCL, tỷ lệ giảng viên được mời giảng dạy ở nước ngoài, số bài báo công bố chung với người nước ngoài, số giảng viên, nghiên cứu sinh được đào tạo, tập huấn ở nước ngoài, số sinh viên quốc tế, số hội thảo quốc tế, số chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh, số lượng hiệp hội hay mạng lưới quốc tế ĐHCL là thành viên, v.v…;  (iv) Cơ sở vật chất, như kinh phí đầu tư thiết bị nghiên cứu và giảng dạy, số phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO, kinh phí đầu tư cho trung tâm học liệu, v.v…  Việc giám sát KPIs nên giao cho một cơ quan, tổ chức độc lập xếp hạng, đánh giá, đó không phải là công việc quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT.  Về tổ chức  Đã đến lúc Nhà nước (ở đây là Bộ GD&ĐT và Bộ chủ quản) từ bỏ cơ chế quản lý kiểu tập quyền (hierarchical), giải phóng các trường khỏi cơ chế ‘cơ quan chủ quản’ và cơ chế ‘xin’ Bộ GD&ĐT ‘cấp phép’ về công tác chuyên môn. Chính điều này làm cho các hội đồng trường (HĐT) trong thời gian qua hoạt động rất khó khăn, mang tính hình thức và buộc phải chuyển dần qua chức năng tư vấn, mất chức năng của một tổ chức quyền lực theo luật định. HĐT chỉ mạnh và phát huy tác dụng tốt nhất khi không bị ràng buộc hay sự chỉ đạo của một cấp trên nào.     Nhưng giao quyền tự chủ, việc xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản cũng cần có lộ trình, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, của từng ngành nghề và năng lực của từng CSGD, không nên và không thể xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản đồng loạt cho tất cả các CSGD.  Việc tồn tại HĐT kiểu “bỏ thì thương vương thì tội” thời gian qua gây rất nhiều trở ngại cho tiến trình tự chủ của các trường đại học công lập; vì vậy, nhà nước nên có quyết định dứt khoát: hoặc là (i) cho xóa bỏ thiết chế HĐT, thiết chế này tốt ở Âu Mỹ hay ở đâu đó, chứ chưa hay, chưa tốt, chưa cần ở ta, sự tồn tại HĐT hiện nay chỉ làm rối thêm hệ thống quản trị đại học vốn còn ẩn chứa nhiều bất cập ở Việt Nam; hoặc là (ii) nếu thấy thiết chế này là cần thiết, điều kiện kinh tế – xã hội của ta đã cho phép, thì dứt khoát phải có các quy định chặt chẽ, cụ thể, khả thi để HĐT về đúng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nó theo luật định.      Đã đến lúc Nhà nước (ở đây là Bộ GD&ĐT và Bộ chủ quản) từ bỏ cơ chế quản lý kiểu tập quyền (hierarchical), giải phóng các trường khỏi cơ chế ‘cơ quan chủ quản’ và cơ chế ‘xin’ Bộ GD&ĐT ‘cấp phép’ về công tác chuyên môn.      Để quyền lực của HĐT trở thành hiện thực, cần:  (i) HĐT của một CSGD là tổ chức thay mặt nhà nước quản trị trường đại học; vì thế, để tiến tới xóa bỏ cơ chế ‘bộ chủ quản’ theo mô hình quản trị đại học của các nước tiên tiến, thì ngay bây giờ đề nghị Chính phủ cho áp dụng Điều 7 và Điều 8 của Thông tư số 03/2016/TT-BNV ngày 25 tháng 05 năm 2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về thành lập và hoạt động của hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: HĐT là đại diện của nhà nước (Bộ chủ quản, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tại cơ sở giáo dục công lập; thay vì hiệu trưởng (HT) phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản và Bộ GD&ĐT thì nay HT chỉ cần báo cáo và xin ý kiến HĐT về các lĩnh vực công tác được Nhà nước giao quyền hoặc được ủy quyền, tránh tình trạng ‘một cổ hai tròng’ của HT: vừa báo cáo xin ý kiến HĐT, vừa báo cáo xin ý kiến cơ quan quản lý nhà nước. Nhà nước cần qui định rõ ‘chỉ giới đường đỏ’: những hạng mục công việc nào HT chỉ cần báo cáo, xin ý kiến HĐT; những hạng mục công việc nào HT nhất thiết phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản, Bộ GD&ĐT…  (ii) HĐT quyết định về chủ trương, phương hướng, kế hoạch hoạt động, tài chính và công tác nhân sự; kiểm tra, giám sát và hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập.  (iii) Cụ thể, nhiệm vụ trung tâm của HĐT là (a) xem xét và phê chuẩn chiến lược, điều lệ, qui chế tổ chức và hoạt động, giám sát tổng thể trường đại học, xem xét đường lối phát triển của nhà trường và phê chuẩn (phê chuẩn chứ không phải ‘thông qua’) việc sử dụng các nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính, của nhà trường, kiểm soát và định hướng mọi chi tiêu từ các quỹ của nhà trường; định ra chính sách học phí và các chinh sách tăng thu, tiết kiệm chi của nhà trường; duyệt và phê chuẩn báo cáo hàng năm của Hiệu trưởng trên cơ sở kết quả của hội nghị cán bộ viên chức; (b) xây dựng qui trình giới thiệu, bầu, chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị, từ HT trở xuống, đảm bảo công khai, minh mạch, hiệu lực quản lý và hiệu suất công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý; (c) Tổ chức giới thiệu, lựa chọn, và bầu ra chủ tịch HĐT và HT, các phó hiệu trưởng, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt như trưởng khoa, trường phòng theo quy trình bổ nhiệm của hội đồng. Đảm bảo các cán bộ được lựa chọn đều nằm trong danh sách qui hoạch của Đảng ủy. Trong đó quan trọng nhất là lựa chọn được hiệu trưởng là người có phẩm chất và năng lực thực sự để trở thành CEO đứng đầu bộ máy điều hành nhà trường; (d) HĐT cũng là tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và các chức danh lãnh đạo, quản lý khác của nhà trường nếu họ không hoàn thanh nhiệm vụ hoặc bị thoái hóa, biến chất; (đ) giám sát, đánh giá và hỗ trợ hoạt động điều hành thực hiện chính sách của bộ máy điều hành (Ban giám hiệu).  (iv) Để hoàn thành các nhiệm vụ, HĐT không thể làm việc hời hợt kiểu ‘chuồn chuồn chấm nước’, mỗi năm họp 2 lần. Trên thực tế, nếu làm tròn vai trò và trách nhiệm, khối lượng công việc của HĐT rất lớn, nhưng lại không thể triệu tập họp thường xuyên tất cả các thành viên nhiều lần/năm. Từ thực tiễn của một CSGD, ở đây HĐT đã thành lập Thường trực HĐT, với số lượng thành viên phù hợp (như ở CSGD này là 7 người, gồm Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐT, HT, 4 giảng viên đại diện cho 4 lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học chính của CSGD), họ là những người am hiểu nhất về các lĩnh vực hoạt động của nhà trường. Thường trực HĐT họp ít nhất mỗi tháng một lần, và thường sau một quí thì dự họp liên tịch Đảng ủy – Hội đồng trường – Ban giám hiệu một lần, theo sát các hoạt động của nhà trường, làm cơ sở cho việc giám sát, đánh giá và hỗ trợ hoạt động của Ban giám hiệu.  Một thiết chế nữa được quy định trong tất cả các văn bản pháp lý hiện hành về tổ chức hoạt động của trường đại học là Hội đồng Khoa học &Đào tạo (Academic Senate, Academic Council), từ xưa đến nay đều chỉ là tổ chức tư vấn cho hiệu trưởng, chứ không phải tổ chức có thẩm quyền cao nhất về mặt học thuật, chuyên môn như thông lệ quốc tế; tệ hơn, nó còn là tổ chức “tự tư vấn cho chính mình”. Hãy trả lại đúng vị trí, vai trò và trách nhiệm của Hội đồng Khoa học &Đào tạo cho các CSGD.  Về nhân sự  Trường đại học là môt tổ chức học thuật, có đặc thù riêng, không thể và không nên lấy các tiêu chuẩn và thước đo của các cơ quan hành chính nhà nước ‘áp’ vào công tác nhân sự ở đây. Vì vậy, trong quá trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ, lấy hiệu lực quản lý, hiệu quả công tác, năng suất lao động làm thước đo quyết định, các tiêu chuẩn hiện hành khác qui định cho cán bộ quản lý các cơ quan hành chính (trình độ, tuổi tác, nhiệm kỳ, v.v…) chỉ nên xem là các tiêu chí tham khảo quan trọng.  Bộ chủ quản xem xét và phê chuẩn kết quả bầu hai chức danh là chủ tịch HĐT và HT; các chức danh quản lý, lãnh đạo còn lại giao CSGD thực hiện giới thiệu, bầu và bổ nhiệm theo qui trình công khai, rõ ràng, được HĐT thông qua (như cách làm của Bộ NN&PTNT giao quyền cho HVNNVN).  Nhà nước giao CSGD xem xét việc bổ nhiệm lại, cho kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, bổ nhiệm người quá tuổi lao động theo qui định vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tùy thuộc vào hiệu lực quản lý, hiệu quả quản trị, hiệu suất công tác của đối tượng xem xét bổ nhiệm. Một người, dù tài giỏi, cũng không nên làm quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp ở cùng một vị trí lãnh đạo, quản lý.  Quyền cũng đi liền với trách nhiệm; vì vậy, cùng với HT, chủ tịch HĐT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhà nước, trước xã hội, trước cán bộ viên chức và người học về tất cả các lĩnh vực hoạt động của CSGD, theo các KPIs CSGD đã cam kết.     Để có thể hoàn thành nhiệm vụ, ngoài các qui định chung, tiêu chuẩn nhân sự chủ tịch HĐT phải cao hơn HT, có uy tín cao với tập thể giáo viên, có uy tín cao với xã hội, được HT nể trọng, vừa giỏi chuyên môn vừa dày dạn kinh nghiệm quản lý hơn HT, có tầm nhìn xa, có tính cách mạnh mẽ, có phẩm chất thẳng thắn và trung thực. Vì vậy, họ cần kinh qua công tác quản lý cấp trường (HT hoặc phó hiệu trưởng) ít nhất một nhiệm kỳ (5 năm). Để có những người như thế, nhà nước cần phải nới độ tuổi của chủ tịch HĐT.  Vì CSGD tự lo chi thường xuyên và chi không thường xuyên, nên họ được quyết định số lượng biên chế, định biên, vị trí việc làm, khen thưởng, kỷ luật, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, lên lương, lên ngạch, hạ lương, hạ ngạch cán bộ viên chức và người lao động của đơn vị, trừ chức danh chủ tịch HĐT và HT thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ chủ quản; được quyết định việc giao kết hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động với giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý là người Việt Nam và người nước ngoài, trong và quá tuổi lao động theo qui chế tổ chức và hoạt động của CSGD, để thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và lãnh đạo, quản lý, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Những lao động này được tính như giảng viên cơ hữu của CSGD, và được hưởng mọi quyền lợi như giảng viên cơ hữu. Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ chủ quản, Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ…) ở rất ‘xa’, làm sao có thể biết những việc này cụ thể, sâu sát, rõ ràng như CSGD, nên cơ quan quản lý nhà nước cứ đòi giữ quyền ‘duyệt’ với ‘phê chuẩn’ là không phù hợp, hãy để CSGD tự chịu trách nhiệm về các quyết định của họ.  (Đón đọc kỳ 3 “Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị”).    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Kịch bản gia nhập WTO      Mặc dù có những nỗ lực rất lớn nhưng Việt Nam vẫn chưa trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm nay. Ngẫm nghĩ kỹ một chút về kịch bản hội nhập dường như sẽ gợi mở thêm những vấn đề.    Đa số sẽ được hưởng lợi?  Cái lợi lớn nhất là khi gia nhập WTO, đa số dân của Việt Nam sẽ được hưởng lợi: Khi đã là thành viên của WTO, dòng hàng hoá (xuất nhập khẩu) sẽ lưu chuyển dễ dàng hơn, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh sẽ phát huy tác dụng một cách tốt nhất. Điều này có nghĩa là những mặt hàng chúng ta đang xuất khẩu mà chủ yếu là những các hàng hóa nông sản (gạo, cà phê, tiêu, chè, cao su, thủy sản,…), hàng hoá sử dụng nhiều lao động (may mặc, giày da…), tài nguyên thiên nhiên (than, dầu…) sẽ có vị trí tốt hơn hiện nay, khả năng xuất khẩu được nhiều hơn với mức lợi nhuận cao hơn (các rào cản thuế quan và phí thuế quan sẽ được hạ thấp làm chi phí giảm) rất có thể xảy ra. Khi đó, thu nhập của những người trồng lúa, cà phê, tiêu, chè, cao su…, những công nhân miệt mài sau những chiếc máy may, những người thợ vùng mỏ … sẽ tăng lên. Nếu điều này xảy ra, khả năng cuộc sống của hơn 90% người Việt Nam sẽ được cải thiện.  Việt Nam sẽ ít bị “bắt chẹt hơn” trong quan hệ thương mại quốc tế: Thành ngữ Việt Nam có câu “Buôn có bạn, bán có phường”. WTO là một “Hội buôn” có tổ chức cho toàn thế giới. Do đó, nếu không là thành viên của “Hội buôn” này, Việt Nam sẽ gặp vô số bất lợi trong việc giao thương, buôn bán quốc tế. Chuyện bị phân biệt đối xử, chuyện thường xuyên phải mang tráp đi hầu các vụ kiện bán phá giá ở vị trí bất lợi và không có người bênh vực là điều không tránh khỏi. Khi trở thành thành viên của WTO, vị trí của Việt Nam trên thế giới sẽ được cải thiện đáng kể. Giao thương quốc tế sẽ ổn định hơn. Nhưng điều này không hoàn toàn đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hết gặp những vấn đề như các vụ kiện tôm, cá vừa qua…  Một cơ hội tốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh rất yếu của chúng ta là điều hiện ai cũng thấy: từ trình độ quản lý, trình độ độ công nghệ và năng lực tài chính yếu của các doanh nghiệp-động cơ chính của nền kinh tế. Khi gia nhập WTO, dòng vốn, dòng người và dòng hàng hoá sẽ chảy vào ra Việt Nam dễ dàng hơn. Điều này có nghĩa là khả năng sẽ có nhiều tiền hơn được đầu tư, nhiều công nghệ tiên tiến hơn được đưa vào và những kỹ năng quản lý tốt sẽ được áp dụng tại Việt Nam. Kết quả là năng lực cạnh tranh của Việt Nam sẽ được cải thiện. Trình độ quản lý và trình độ công nghệ, năng lực tài chính của các doanh nghiệp sẽ được cải thiện đáng kể.  Việt Nam sẽ có một hệ thống pháp lý hoàn thiện hơn, hội nhập hơn: Khi gia nhập WTO, chúng ta phải chơi theo luật chung và chấp nhận thách thức, nếu hệ thống thể chế luật lệ, các cơ sở pháp lý của chúng ta không hoàn thiện sẽ bị lợi dụng, tác động không tốt đến nền kinh tế. Do đó, khi trở thành thành viên của WTO, sẽ là một áp lực rất lớn để chúng ta hoàn thiện hệ thống pháp lý để hội nhập. Một chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý đã phát biểu rằng: “Không tính đến những lợi ích khác, chỉ riêng áp lực buộc phải xây dựng một hệ thống pháp lý tốt hơn để trở thành thành viên WTO cũng là điều đáng để chúng ta gia nhập tổ chức này”.           Thu nhập của những người làm nông nghiệp ở Việt Nam có thể sẽ được cải thiện nếu nước ta gia nhập WTO. Ảnh: Quốc Tuấn          Chất lượng các dịch vụ cơ bản (các thành tố chính của cơ sở hạ tầng cứng trong nền kinh tế) sẽ được cải thiện: Chỉ cần so sánh các dịch vụ cơ bản của nền kinh tế như ngân hàng, viễn thông, dịch vụ tiện ích (điện nước, giao thông công cộng …) với các nước chung quanh thì ta có thể thấy khoảng cách của ta so với họ lớn như thế nào. Các dịch vụ cơ bản này lạc hậu và kém sức cạnh tranh là do yếu tố độc quyền vốn là lực cản sự đổi mới, phát triển và cản trở cạnh tranh. Khi gia nhập WTO, chúng ta phải mở cửa những ngành này, buộc những doanh nghiệp đang có vị thế độc quyền vào một áp lực cạnh tranh rất lớn. Theo nguyên tắc của cạnh tranh, trong hầu hết các trường hợp người tiêu dùng sẽ có lợi. Nhìn chung, tổng chi phí của toàn xã hội sẽ giảm xuống hay lợi ích của toàn xã hội sẽ tăng lên. Việc cải thiện chất lượng các dịch vụ cơ bản là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (nhân tố chính của nền kinh tế) sẽ không thể cải thiện nếu các dịch vụ hỗ trợ có chất lượng không tốt  Những người bị thiệt thòi  Nhìn chung, tất cả mọi người đều có lợi khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét tới những người có khả năng bị thiệt hại, những thách thức, những cái mất có thể xảy ra.  Có thể, hơn 90% dân số sẽ được lợi, nhưng một bộ phận nhỏ ngược lại sẽ phải chịu thiệt: Như đã đề cập ở trên, hầu hết nông dân (những người trồng lúa, cà phê, chè…) đều có lợi từ việc gia nhập WTO. Tuy nhiên, sẽ có một bộ phận nhỏ nông dân, đặc biệt là những người đang sản xuất ra những nông sản có khả năng phải đương đầu trực tiếp với hàng nhập khẩu gia tăng sau khi gia nhập WTO (như đường, ngô…) sẽ gặp bất lợi. Tuy nhiên, nếu xét sâu hơn một chút, vấn đề này là căn nguyên của việc thất bại trong dự án 1 triệu tấn đường. Có gia nhập WTO hay không thì hầu hết các nhà máy đường cũng đã điêu đứng, làm cho nông dân trồng mía cũng bị điêu đứng theo. Như vậy, tuy có hại trước mắt nhưng điều này sẽ tốt cho Việt Nam trong việc xem xét thực hiện các chính sách dài hạn.  Các doanh nghiệp đang hoạt động trong các ngành đang được bảo hộ, đang có các rào cản gia nhập cao (viễn thông, điện nước, tài chính ngân hàng,…) sẽ chịu nhiều bất lợi. Những người làm trong các doanh nghiệp này có khả năng sẽ bị ảnh hưởng.  Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không có điều kiện bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ, vốn chưa đạt tới một quy mô nhất định để có thể trụ vững. Tuy nhiên, việc để thị trường quyết định thường sẽ tốt hơn là việc quyết định bằng ý chí chủ quan.  Gia nhập WTO sẽ là điều kiện để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp lý, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành dịch vụ cơ bản. Tuy nhiên, nếu làm không tốt điều này, nguy cơ bị lợi dụng các khe hở pháp lý làm cho tình hình tồi tệ hơn, khả năng các ngành dịch vụ cơ bản bị thống lĩnh và chi phối bởi các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp nước ngoài là rất lớn. Rõ ràng đây là điều mà Việt Nam không mong muốn.  Nếu không cẩn thận Việt Nam rất có thể sẽ trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm, là bãi rác của các nước khác. Khi gia nhập WTO, các đối tác được tự do “ra vào” và cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước không được cải thiện, nền kinh tế và các thị trường sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài thống trị. Khi đó chúng ta sẽ trở thành những người làm thuê nuôi béo các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời là nơi để các doanh nghiệp nước ngoài tống khứ những gì mà nước họ không cho chứa…                  Điều chắc chắn là năng lực cạnh tranh của Việt Nam sẽ được cải thiện nhờ trình độ quản lý, công nghệ và năng lực tài chính của doanh nghiệp trong nước gia tăng khi gia nhập WTO. Ảnh: Quốc Tuấn          Còn nhiều thách thức và vấn đề khi gia nhập WTO của Việt Nam. Tuy nhiên, sẽ là duy ý chí, nếu ta chỉ muốn một cái gì đó có lợi cho ta. Những thách thức khi gia nhập WTO là rất nhiều, nhưng lợi ích của nó còn lớn hơn nhiều. Do đó, Việt Nam cần có sự chuẩn bị một cách tốt nhất để tận dụng tốt những cơ hội khi trở thành thành viên của WTO.    Năm nay hay xa hơn nữa?  Không thể gia nhập WTO trong năm nay là điều đáng buồn, nhưng nếu nhìn lại một chút thì chúng ta có thể cởi bỏ được điều bận tâm này.  Cho đến nay, hầu như chưa có một nghiên cứu chính thức nào đánh giá một cách toàn diện mức độ, hiểu biết quan tâm của công chúng về tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO. Nhưng, hình như đang có tâm lý chung là rất nhiều người cảm thấy lo lắng và sẽ bị thiệt hại. Thực ra lo lắng này chỉ đúng với một số ít người như đã phân tích ở trên, nhất là những doanh nghiệp đang có vị trí độc quyền, đang được bảo hộ. Điều đáng nói là nếu tính lợi ích của việc gia nhập WTO cho tổng thể nền kinh tế là lớn, nhưng chia ra cho hơn 90% dân số thì lại nhỏ cho nên mối bận tâm của mỗi người là không đáng kể. Ngược lại, đối với số bị ảnh hưởng, tuy tổng thiệt hại là nhỏ, nhưng chia cho số người bị thiệt hại (còn nhỏ hơn nữa) thì con số lại là đáng kể. Chính vì vậy những người này thường xuyên kêu ca về nó. Điều này khiến mọi người có cảm giác lầm tưởng là gia nhập WTO chỉ có hại mà không có lợi.  Gia nhập WTO năm nay là điều kiện tốt, nhưng chưa thể gia nhập không phải là một điều tồi tệ. Với một khoảng thời gian 6 tháng đến 1 năm so sánh với vài năm là tương đối lớn, nhưng nếu so sánh với 50 hay 100 năm – khoảng thời gian cần thiết để một quốc gia có thể lớn mạnh – thì con số này là không lớn.  Theo quan điểm của người viết bài, vấn đề quan trọng nhất là làm sao để tất cả mọi người thấy được những lợi ích và thách thức của mình, của ngành mình, của quốc gia khi chúng ta gia nhập WTO để có sự chuẩn bị tốt nhất, tận dụng tốt nhất những cơ hội, giảm thiểu những điều bất lợi hơn là cố vào WTO mà phải trả giá cao. Năm nay hay sang năm, đối với một số người có thể là sự khác biệt rất lớn, nhưng đối với sự trường tồn và phát triển của một quốc gia, một dân tộc, sự khác biệt này nằm ở chỗ khác.  —————————  Chú thích ảnh: Những chuyện kiện cáo phá giá đối với các sản phẩm của Việt Nam như da giày, may mặc liệu có chấm dứt khi ta bước vào sân chơi chung của thế giới? Ảnh: Quốc Tuấn      Huỳnh Thế Du  Nguồn tin: Tia sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kích thước cơ thể lớn giúp bò sát biển cổ dài bơi dễ dàng hơn      Các loài động vật có một số bộ phận cơ thể kì lạ gây ra lực cản không cần thiết, nhưng nhờ sở hữu cơ thể to lớn mà chúng đã bơi dễ dàng hơn.      Máy tính mô phỏng một con elasmosaurus đang bơi. Ảnh: S. Gutarra Díaz  Các nhà khoa học tại Đại học Bristol mới đây đã phát hiện ra rằng các loài động vật sống dưới nước tiết kiệm được năng lượng khi bơi nhờ kích thước cơ thể của chúng, chứ không hẳn nhờ hình dạng cơ thể – như lâu nay chúng ta vẫn tưởng.  Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Communications Biology, cho thấy các loài động vật có một số bộ phận cơ thể kì lạ gây ra lực cản không cần thiết, nhưng nhờ sở hữu cơ thể to lớn mà chúng đã bơi dễ dàng hơn. Cụ thể, các nhà khoa học đã xem xét loài bò sát biển elasmosaurus (chi thằn lằn cổ rắn) và nhận ra chiếc cổ dài của chúng đã tạo ra lực cản khi bơi, chúng đồng thời đã tiến hoá để có một cơ thể lớn hơn hòng bù đắp cho rào cản này.  Động vật bốn chân (tetrapods) là một siêu lớp động vật trong cận ngành động vật có quai hàm, phân ngành động vật có xương sống có bốn chân. Chúng có nhiều hình dạng và kích cỡ, từ những chú cá voi hiện đại với chiều dài hơn 25 mét, đến những chú cá voi đã tuyệt chủng – với bốn chân chèo và những chiếc cổ dài bất thường, hay thậm chí cả những loài thằn lằn cá (ichthyosaur) đã tuyệt chủng.  Cá heo và thằn lằn cá có hình dạng cơ thể tương tự nhau, thích nghi để di chuyển nhanh trong nước, tạo ra lực cản thấp. Mặt khác, thằn lằn đầu rắn (plesiosaur), sinh vật sống cùng thời với thằn lằn cá trong Kỷ nguyên Mesozoi, có cơ thể hoàn toàn khác. Chúng sở hữu bốn chân chèo khổng lồ dùng để bơi dưới nước và chiếc cổ với những độ dài khác nhau. Một số loài elasmosaurus (một chi của plesiosaur) có tỷ lệ cực kỳ khủng khiếp, với chiếc cổ dài tới 20 feet (6 mét). Chiếc cổ này giúp chúng tóm gọn những con mồi bơi nhanh nhưng cũng đồng thời khiến chúng di chuyển chậm hơn.  Cho đến nay, người ta vẫn chưa rõ hình dạng và kích thước ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu năng lượng khi bơi ở những loài động vật biển này. Tiến sĩ cổ sinh vật học Susana Gutarra Díaz thuộc Trường Khoa học Trái đất Bristol và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia London, người dẫn dắt nghiên cứu, giải thích: “Để chứng thực giả thuyết của mình, chúng tôi đã tạo ra các mô hình 3D khác nhau và thực hiện mô phỏng chuyển động của cá voi, thằn lằn đầu rắn, thằn lằn cá. Các thí nghiệm được thực hiện trên máy tính, nhưng chúng vẫn giống như đang thí nghiệm trong bể nước.”  Tiến sĩ Colin Palmer, một thành viên tham gia dự án cho biết: “Chúng tôi phát hiện ra do hình dạng cơ thể độc đáo mà thằn lằn đầu rắn plesiosaur chịu nhiều lực cản hơn so với thằn lằn cá hay cá voi dù khối lượng tương đương nhau, nhưng sự khác biệt này tương đối nhỏ. Chúng tôi nhận thấy rằng sự khác biệt về kích thước giữa các nhóm ít hơn nhiều so với sự khác biệt về hình dạng.”  Theo Tiến sĩ Gutarra Díaz, nhóm nghiên cứu “đặc biệt quan tâm đến cổ của loài Elasmosaurus và vì vậy, chúng tôi đã tạo ra các mô hình 3D giả định của thằn lằn đầ rắn với nhiều độ dài cổ khác nhau. Kết quả mô phỏng cho thấy rằng qua một điểm nhất định, cổ tăng thêm lực kéo, điều này có thể khiến hoạt động bơi tiêu tốn nhiều năng lượng. Giới hạn cổ ‘tối ưu’ nằm ở khoảng gấp đôi chiều dài thân của động vật.”    Mô hình 3D của các loài cá bốn chân (tetrapods) dưới nước. Lớp siêu động vật này bao gồm các lớp động vật lưỡng cư, chim, bò sát và thú, cũng như rắn và các loài bò sát khác thuộc lớp Mặt thằn lằn (Sauropsida) do tổ tiên chúng có bốn chi. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã tạo ra những mô hình 3D khác nhau và thực hiện mô phỏng chuyển động của cá voi hiện đại (modern cetaceans), thằn lằn đầu rắn (plesiosaurs), thằn lằn cá (ichthyosaurs), Ảnh: S. Gutarra Díaz.  Tiến sĩ Benjamin Moon, một thành viên khác và là chuyên gia về bò sát biển, bổ sung thêm: “Khi chúng tôi kiểm tra một mẫu lớn các loài thằn lằn đầu rắn được mô phỏng theo kích thước thực của chúng – từ những hóa thạch thu thập được, chúng tôi phát hiện ra rằng những con thằn lằn đầu rắn có cổ cực dài sẽ tiến hoá để có kích thước lớn, và điều này bù vào cho lực kéo tăng thêm!”  Tiến sĩ Tom Stubbs, một đồng tác giả khác, đúc rút: “Trái ngược với kiến ​​thức phổ biến hiện nay, loài thằn lằn đầu rắn plesiosaur với chiếc cổ rất dài không nhất thiết phải bơi chậm hơn thằn lằn cá và cá voi, điều này một phần nhờ vào thân hình to lớn của chúng. Cổ dài có lợi cho thằn lằn đầu rắn trong việc săn mồi, nhưng chúng không thể khai thác sự thích nghi này cho đến khi chúng trở nên đủ lớn để bù đắp phần lực cản gia tăng.”  “Nói cách khác, cổ của những sinh vật này tiến hóa cân bằng với kích thước tổng thể của cơ thể để giữ ma sát ở mức tối thiểu”, Giáo sư Mike Benton, một đồng tác giả khác, kết luận.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  Large bodies helped extinct marine reptiles with long necks swim, new study finds  Large size in aquatic tetrapods compensates for high drag caused by extreme body proportions    Author                .        
__label__tiasang Kiếm ăn nơi xứ người      Trong nhóm hàng điện tử, kỹ thuật số…, thương hiệu Việt “bành trướng ra ngoài lãnh thổ hình cong chữ S” không nhiều.      Mobiistar đi tìm mảnh đất mới như Ấn Độ, GCC.  Ngoài Viettel, gần đây còn có một nhà bán lẻ và một nhà sản xuất theo dạng đặt hàng gia công. Mỗi thương hiệu, khi “kiếm ăn ở xứ người”, mang theo những tâm thế khác nhau…  Bán lẻ điện thoại ở Cam!  Cuối năm 2017, Thế Giới Di Động (TGDĐ) chính thức công bố ngành hàng mới: bán lẻ thuốc tây với hệ thống An Khang. Những ông chủ trẻ của TGDĐ chưa chịu dừng lại ở đó, cả về ngành hàng kinh doanh lẫn không gian.  Tại thị trường Việt Nam, nhiều người biết đến các chuỗi kinh doanh của TGDĐ. Còn tại Phnom Penh (Campuchia), người tiêu dùng của vương quốc này đã bắt đầu biết đến các sản phẩm điện thoại di động của chuỗi bán lẻ có tên là BigPhone. Thành lập từ tháng 10/2016, tháng 6/2017, BigPhone khai trương cửa hàng đầu tiên. Theo ông Hồ Viết Đông, tổng giám đốc BigPhone, hiện chuỗi bán lẻ này có bốn cửa hàng tại Phnom Penh. Ông Đông cho biết: “Tháng 2/2108, BigPhone sẽ có thêm bốn cửa hàng mới. Tính đến hết năm 2018, BigPhone đặt mục tiêu sẽ có mười cửa hàng. Cuối năm 2018, ban lãnh đạo TGDĐ sẽ tính tiếp quy mô đầu tư tại Campuchia. Nếu mọi sự tốt đẹp, không chỉ mở rộng mô hình BigPhone mà còn có thể sẽ đưa những mô hình như Điện máy Xanh, Bách hoá Xanh, An Khang vào đây. Đó là nếu…”  Trở lại câu chuyện của BigPhone hiện thời. Ông Đông nói rằng, trước khi TGDĐ đem mô hình chuỗi bán lẻ sang Cam, ở đây chỉ có các cửa hàng nhỏ lẻ. Khi BigPhone xuất hiện, khách hàng Cam mới biết thế nào là dịch vụ hậu mãi, khuyến mại… “Nhưng mô hình còn quá mới, khách hàng còn dè dặt nên chưa đạt chỉ tiêu doanh thu, ước chừng 70 – 80% thôi”, ông Đông nói. Theo vị tổng giám đốc này, mục tiêu doanh thu là 100.000 USD/tháng/cửa hàng, nhưng hiện nay, doanh thu bình quân khoảng chừng 80.000 USD. Ông Đông từ chối bình luận về con số này nhưng theo ông Trần Kinh Doanh, tổng giám đốc TGDĐ: “Thị trường bán lẻ điện thoại di động ở Cam còn nhiều cơ hội để phát triển. Hoạt động của BigPhone đang diễn ra đúng kịch bản khi quyết định đầu tư vào thị trường này”.  Dù đứng chân ở thủ đô, đầy đủ các thương hiệu: Samsung, Apple, Oppo… nhưng doanh thu chính của BigPhone vẫn là nhóm hàng phân khúc giá tầm trung (200 – 300 USD/máy). Ông Đông cho biết: “Đầu năm 2018, Chính phủ Campuchia đã giảm thuế nhập khẩu, từ 10% nay chỉ còn 5%. Đây là động thái tích cực để BigPhone yên tâm làm ăn tại thị trường này”.  TGDĐ không phải là nhà bán lẻ đầu tiên của Việt Nam đứng chân tại thị trường Campuchia. Gần mười năm trước, Viễn Thông A là nhà bán lẻ đầu tiên đã thử tìm hiểu thị trường này. Ông Huỳnh Việt Thương, chủ tịch hội đồng quản trị của Viễn Thông A, kể lại: “Lúc đó bên Cam chưa có chuỗi bán lẻ điện thoại di động nào hết. Loanh quanh tìm hiểu thấy thị trường ngon ăn nhưng súng nổ rầm trời, rồi tình trạng cát cứ, nhũng nhiễu của những ông tướng vùng… Sợ quá nên dẹp giấc mơ đó luôn”. Cách đây năm năm, FPT Shop bạo gan mở hai cửa hàng bán lẻ tại Phnom Penh (trong đó có một cửa hàng liên kết với nhà bán lẻ bản địa) nhưng sau đó cũng lặng lẽ chia tay.  Trò chuyện với Thế Giới Tiếp Thị, ông Kim Huyền (người Khmer Trà Vinh) hiện là quản lý siêu thị BigPhone 1, kể: “Lúc mới qua cũng lo sợ lắm nhưng khi thấy cách làm ăn đàng hoàng của BigPhone, khách hàng Cam ủng hộ vì bản tính họ cũng hiền lành. Bình quân mỗi ngày BigPhone 1 có khoảng 40 – 50 khách hàng, trong đó khoảng mười người Việt đang làm ăn, sinh sống tại đây”.  Lang thang miền sa mạc…  Giữa tháng 10/2017 ở Dubai (Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất – UAE). Tại Gitex 2017, triển lãm công nghệ các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư (Gulf Cooperation Council – GCC), lần đầu tiên Mobiistar tham gia triển lãm này với hai sản phẩm S2 dual và Prime X Max 2018 vừa được công bố tại Tech Forum 2017 (tổ chức ngày 21/9/2017, tại Việt Nam). Cũng tại Gitex 2017, ông Ngô Nguyên Kha, giám đốc điều hành Mobiistar, đã có cuộc gặp tay ba, giữa Mobiistar với giám đốc kinh doanh toàn cầu của hãng sản xuất chip MTK (Đài Loan) và một nhà phân phối điện thoại di động. Nội dung của cuộc gặp này không được tiết lộ với báo chí, chỉ biết sau đó, những ông chủ của Mobiistar đã có một chuyến đi dài ngày sang các quốc gia Bắc Phi. Sau khi trở về Việt Nam, ông Kha cho biết mục đích chung chung của chuyến đi bằng một câu ngắn gọn: “Tìm đất để sống”!  Từ giữa tháng 11/2017, ông Kha và những cá nhân “cốt cán” của Mobiistar ở UAE, Ấn Độ… nhiều hơn ở Việt Nam! Theo ông Kha, Ấn Độ có 1,2 tỷ dân, một tháng tiêu thụ 22 triệu máy, còn GCC là “cửa ngõ” của thị trường Trung Đông và Bắc Phi. “Với thị trường lớn như vậy, Mobiistar có khả năng đánh giá được nhu cầu khách hàng để tạo ra sản phẩm phù hợp. Qua các cuộc thăm dò thị trường, sản phẩm Mobiistar được đánh giá cao. Việt Nam là một thị trường rất khó tính vậy mà Mobiistar đã trụ được. Những gì Mobiistar dùng để thuyết phục khách hàng Việt Nam sẽ được dùng để thuyết phục khách hàng ở các thị trường sắp mở”, ông Kha nói. Cũng theo vị giám đốc điều hành Mobiistar, tháng 3/2018, sản phẩm S2 dual sẽ đươc bán ở các quốc gia GCC. Khoảng tháng 4 hoặc tháng 5/2018, Mobiistar sẽ bắt đầu bán hàng ở Ấn Độ. Hiện tại, Mobiistar đã thành lập văn phòng liên lạc ở Ấn Độ, đang xúc tiến những phần việc khảo sát thị trường.  Ông Kha cho rằng, việc Mobiistar đi tìm mảnh đất mới như Ấn Độ, GCC để đầu tư có những mục tiêu. Đó là xuất khẩu chất xám! Theo ông Kha, đội ngũ kỹ thuật của Mobiistar đang phụ trách các công nghệ chủ chốt như camera, phần cứng; hệ thống quản trị tồn kho và bán hàng. Nếu tung những công nghệ trên vào các thị trường lớn, hiệu quả sẽ cao hơn so với thị trường Việt Nam rất nhiều lần. “Bên cạnh đó, khi Mobiistar đẩy mạnh bán hàng ở những thị trường lớn, với sản lượng lớn hơn nhiều lần, đối tác sẽ nhìn Mobiistar với con mắt khác. Lúc đó, người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng làm sản phẩm cho nhiều thị trường từ các đối tác chiến lược”, ông Kha bình luận.  Đó là những lý do khả dĩ tin được, nhưng đó là chuyện ở tương lai. Còn hiện tại, Mobiistar ngày càng sa sút tại mảnh đất mà họ đã được sinh ra… Đầu năm 2017, Mobiistar lọt vào nhóm 5 thương hiệu có lượng bán hàng nhiều nhất tại thị trường Việt Nam với thị phần ước chừng 5%. Nhưng từ giữa năm 2017, Mobiistar bắt đầu “tụt dốc” với nhiều lý do: ít có sản phẩm mới, không có tiền để tiếp thị… Chia sẻ với Thế Giới Tiếp Thị, ông Kha xác nhận: năm 2017, Mobiistar “hứng chịu” nhiều đợt tấn công của các đối thủ nước ngoài nên trụ hạng là ưu tiên hàng đầu. “Mobiistar biết điểm yếu: thị trường nhỏ, đối tác cung cấp hàng hoá không thể ưu tiên… Đúng là trong năm 2017 có dè dặt. Năm 2018 sẽ mạnh dạn hơn với thị trường Việt Nam”, ông Kha giải thích về thân phận tại thị trường Việt Nam trong năm qua, đồng thời lờ đi chuyện thiếu vốn như dư luận đã nói về nhà sản xuất này.  Hình như Mobiistar có nhà đầu tư mạnh, mới đủ sức vượt sa mạc? Lâu nay, ông Kha thường than ngắn thở dài: “Mình là con nhà nghèo”!  Trọng Hiền  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm soát các mạch não từ ánh sáng hồng ngoại ở khoảng cách gần      Hãy tưởng tượng bộ não như một tổng đài khổng lồ bao phủ hàng trăm nút bấm, nút, mặt số và các tay quay kiểm soát các khía cạnh suy nghĩ, xúc cảm, hành vi và ký ức của chúng ta.    Trong hơn một thế kỷ, các nhà khoa học thần kinh đã đảo ngược về mặt phương pháp các nút bật tắt, đơn lẻ hoặc kết hợp, để cố gắng hiểu cách cỗ máy này hoạt động như thế nào một cách toàn diện. Nhưng quả thật nói thì quá dễ hơn là làm. Các mạch tế bào kiểm soát tư duy và hành vi kết nối vào nhau thông qua khối lượng lớn các mô não và không tuân theo các công tắt bật, tắt tiện dụng để dễ dàng áp dụng kỹ thuật ngược.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu khoa học thần kinh Wu Tsai tại trường đại học Stanford đã phát triển kỹ thuật không xâm lấn đầu tiên để kiểm soát các mạch não được nhắm đích trong hành vi của động vật từ khoảng cách gần. Công cụ này có tiềm năng giải quyết một trong những nhu cầu lớn nhất nhưng chưa được đáp ứng trong khoa học thần kinh: một cách để kiểm tra một cách dễ dàng các chức năng của tế bào não và các mạch sâu trong não bộ trong suốt những hành vi thông thường – như khi chuột liên kết với một con khác một cách tự nhiên.  Nghiên cứu được xuất bản trên Nature Biomedical Engineering với sự tham gia của Guosong Hong và cộng sự ở Stanford, và ĐH Công nghệ  Nanyang 1. Hong là nhà khoa học có học bổng tại Viện nghiên cứu khoa học thần kinh Wu Tsai và phó giáo sư khoa học vật liệu và kỹ thuật  trường Kỹ thuật Stanford. Ông đã sử dụng những hiểu biết nền tảng về hóa học và khoa học vật liệu để phát triển các công cụ và vật liệu có độ tương thích sinh học để thúc đẩy nghiên cứu về não bộ.  Kỹ thuật trong nghiên cứu mới được xây dựng trên nền tảng dựa trên di truyền quang học, một kỹ thuật được Karl Deisseroth và cộng sự ở Stanford phát triển lần đầu tiên khi đưa các protein algal nhạy sáng vào thần kinh để các nhà nghiên cứu có thể dùng nó trong các phản hồi bật tắt theo những màu sắc khác nhau của ánh sáng.  “Quang học di truyền là một công cụ mang tính chuyển đổi trong khoa học thần kinh nhưng vẫn có những giới hạn trong việc có thể làm được với các kỹ thuật hiện hành – một phần do sự phụ thuộc của chúng trong ánh sáng của phổ khả kiến”, Hong nói. “Não bộ khá đục với ánh sáng khả kiến, vì vậy việc tăng thêm ánh sáng lên các tế bào bạn muốn kích thích để đáp ứng yêu cầu cụ thể trong cấy ghép quang học xâm lấn có thể là nguyên nhân dẫn đến sự tổn thương mô và các nối quang sợi quanh hộp sọ, dẫn đến khó có thể nghiên cứu về các dạng hành xử tự nhiên”.  Với việc suy nghĩ như một nhà khoa học vật liệu về những cách vượt qua các thách thức này, Hong nhận thấy các mô sinh học – bao gồm não và ngay cả hộp sọ – đều trong suốt về bản chất với ánh sáng hồng ngoại, có thể khiến đưa tia hồng ngoại sâu hơn vào não.  Do các công cụ di truyền quang hiện có không phản hồi ánh sáng hồng ngoại, nhóm nghiên cứu của Hong đã đưa vào một mô được tiến hóa để dò hình thức khác của tia hồng ngoại: nhiệt. Bằng cách trang bị nhân tạo các tế bào thần kinh cụ thể trong não chuột với một phân tử nhạy cảm với nhiệt gọi là TRPV1, nhóm của ông đã phát hiện ra rằng có thể kích thích các tế bào đã được biến đổi bằng cách chiếu ánh sáng hồng ngoại qua hộp sọ và da đầu từ cách xa tới một mét.  TRPV1 là một cảm biến nhiệt phân tử cho phép chúng ta cảm nhận được cảm giác đau liên quan với nhiệt – cũng như vị cay của một quả ớt  – khám phá dẫn đến giải Nobel Y sinh 2021. Một thụ thể tương tự đã giúp rắn chuông và những con rắn săn mồi khác có được “tầm nhìn nhiệt” để có thể săn các con mồi máu nóng trong bóng tối và một nghiên cứu gần đây đã thành công trong việc cung cấp cho chuột khả năng nhìn trong quang phổ hồng ngoại bằng cách thêm TRPV1 vào tế bào nón võng mạc của chúng.  Kỹ thuật mới cũng phụ thuộc vào một phân tử “đầu dò” có thể được tiêm vào các vùng não bộ được nhắm đích để hấp thụ và khuếch đại ánh sáng hồng ngoại đâm xuyên qau các mô não. Các hạt kích thước nano đó, được gọi là MINDS (các đầu dò nano hồng ngoại đại phân tử cho kích thích não sâu”), hoạt động như các hắc tố trong lớp da của chúng ta hấp hụt các tia UV có hại từ mặt trời, và được tạo ra từ các polymer có khả năng phân  hủy sinh học sử dụng các tế bào pin mặt trời hữu cơ và LEDs.  “Đâu tiên chúng tôi kích thích các tế bào với duy nhất kênh TRPV1, và nó không có tác dụng gì cả”, Hong nói. “Hóa ra là rắn chuông đã sử dụng một cách nhạy cảm hơn nhiều trong việc dò các tín hiệu tia hồng ngoại hơn so với chúng tôi có thể làm để kiểm soát não chuột. Một cách may mắn, chúng tôi có khoa học vật liệu để hỗ trợ chính mình”.  Nhóm nghiên cứu của Hong đầu tiên thử nghiệm kỹ thuật của mình bằng việc đưa kênh TRPV1 vào các neuron trên một bên vỏ não vận động của chuột – một vùng mà chỉ huy toàn bộ chuyển động của cơ thể – và tiêm các phân tử MINDS vào vùng não tương tự. Đầu tiên, các con chuột khám phá khu vực xung quanh của chúng một cách ngẫu nhiên nhưng khi các nhà nghiên cứu đảo ngược ánh sáng hồng ngoại khắp vùng lân cận, chuột bắt đầu đi theo các vòng tròn, được điều hướng bằng việc kích thích vỏ não vận động của chúng.  “Đó thực sự là khoảnh khắc kỳ diệu, chúng tôi biết là rồi nó sẽ thành công”, Hong nói. “Tất nhiên chỉ đánh giá và thử nghiệm bước đầu lên cái gọi là công nghệ có thể làm được nhưng từ lúc đó tôi tự tin vào việc chúng tôi đã có thứ gì đó trong tay”.  Trong một thực nghiệm khác, các nhà nghiên cứu cho thấy MINDS có thể có khả năng kích thích hồng ngoại các neuron thông qua toàn bộ chiều sâu của bộ não. Họ đã cấy các kênh TRPV1 vào các neuron biểu hiện dopamine của các trung tâm khen thưởng của não bộ, vốn tọa lạc ở gần nền tảng não của chuột, sau đó bằng việc tiêm MINDS vào cùng vùng não. Chúng sau đó được định vị vào tia hồng ngoại hội tụ ở một trong ba cánh mê cung cánh hướng tâm tiêu chuẩn và chứng tỏ là chuột đã trở nên “nghiện” ánh sáng hồng ngoại không khả kiến kích thích các neuron dopamine của chúng – dành gần như toàn bộ thời gian của chúng dưới mê cung của các chùm tia.  Thực nghiệm này cho thấy kỹ thuật mới có thể khiến có thể thực hiện được việc kích thích các neuron ở khắp mọi nơi trong não bộ thông qua da đầu và hộp sọ còn nguyên vẹn –việc khó xác định được tán xạ ánh sáng có thể khiến không thể thực hiện được diều này với ánh sáng trong phổ khả kiến. Đáng chú ý, thậm chí có thể làm được điều này khi chùm tia hồng ngoại được định vị xa cả một mét phía trên đầu chuột.  Hong thấy những ứng dụng trung gian của kỹ thuật này cho những hướng đang phát triển trong khoa học thần kinh để nghiên cứu về các mạch não tham gia vào hành xử mang tính xã hội trong tự nhiên ở chuột để hiểu nhiều hơn về các hệ thống làm nền tảng cho nhận thức xã hội của con người.  “Giống như chúng ta, chuột là những sinh vật xã hội nhưng việc nghiên cứu về hành xử tự nhiên của một động vật sống trong nhóm xã hội là thách thức với việc gắn một sợi quang lên đầu”, Hong nói. “Cách tiếp cận này khiến cho có thể lần đầu tiên điều chỉnh các neuron cụ thể và các mạch cụ thể trong hành xử tự nhiên của các loài sinh vật. Một trong số đó có thể giúp chiếu tia hồng ngoại khắp vùng lân cận với chuột cùng nhà để nghiên cứu về đóng góp của các tế bào và mạch cụ thể đến hành vi của một loài vật trong một nhóm xã hội”.  Hong và cộng sự tiếp tục tinh chỉnh kỹ thuật này để nó trở nên đơn giản và dễ thực hiện. “Trong tương lai, chúng tôi muốn kết hợp cách tiếp cận hai giai đoạn thành một cỗ máy phân tử – có lẽ bằng mã hóa một số màu hấp thụ tia hồng ngoại vào neuron biểu hiện TRP”, ông nói.  Công trình này là một trong nhiều hướng tiếp cận mà Hong đã tham gia để biến điều này thành có thể – và có lẽ một ngày nào đó cho các nhà điều trị lâm sàng – để điều chỉnh không xâm lấn các mạch neuron khắp não bộ. Ví dụ Hong và cộng sự đang phát triển các vòng kích thước nano có thể chuyển đổi các chùm tia siêu âm thành ánh sáng, và có thể được tiêm trực tiếp vào mạch máu, khiến cho có thể tới được các tế bào hướng đích di truyền quang học đến khắp mọi nơi trong não bộ và để thay đổi đích theo mong muốn ở một thực nghiệm đơn lẻ.  “Các cách tiếp cận điều chỉnh neuron thông thường trao cho chúng ta khả năng đảo ngược một số công tắc tại một thời điểm trong bộ não để thấy những gì khác biệt các mạch đã làm”, Hong nói. “Mục tiêu của chúng tôi là khiến các kỹ thuật này tiến một bước xa hơn để trao cho chúng tôi sự kiểm soát chính xác vào toàn bộ tổng đài tại cùng thời điểm”.  Nhân Nguyễn tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-brain-circuits-distance-infrared.html  https://www.freethink.com/science/infrared-trpv1-neuron-control  —————————————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41551-022-00862-w    Author                .        
__label__tiasang Kiểm soát nông sản theo chuỗi: Tăng cường vai trò của khu vực tư nhân      Nhu cầu truy xuất nguồn gốc và minh bạch chất lượng nông sản của người tiêu dùng trong nước và đặc biệt là của các thị trường nước ngoài “khó tính” đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp tư nhân phải thúc đẩy liên kết sản xuất trên toàn chuỗi giá trị. Đồng thời, thực hành đánh giá, giám sát chất lượng cũng phải chuyển đổi trọng tâm sang khu vực tư nhân.      Phòng thí nghiệm Eurofins Sắc Ký Hải Đăng tại TP Hồ Chí Minh tuân thủ các tiêu chuẩn của Tập đoàn Eurofins toàn cầu, có các trang thiết bị và kỹ thuật phân tích hiện đại. Nguồn ảnh: Eurofins.vn.  Giám sát trên toàn chuỗi: quá khó vì liên kết yếu  Nỗi lo ngại về nguồn gốc xuất xứ, an toàn thực phẩm đang “bao trùm” lên người tiêu dùng trong nước. Gần đây nhất, kết quả điều tra hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn năm 2017 của Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao (DNHVNCLC) cho thấy, có tới 53% người tiêu dùng cho biết đang nghi ngờ nông sản tươi mình mua không đảm bảo chất lượng nhưng “bắt buộc” phải sử dụng vì chưa tìm được nguồn nông sản đủ tin tưởng hơn, và có khoảng ¼ số người được hỏi nghi ngờ dư lượng chất cấm trong hầu hết các thực phẩm sử dụng hằng ngày. Do đó, đòi hỏi truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm trên toàn chuỗi giá trị nông sản đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông sản trong nước.  Đối với các doanh nghiệp hướng tới xuất khẩu nông sản thì yêu cầu này trở nên ngày càng “khắt khe” hơn. Một số thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu hiện nay đã “dịch chuyển” kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm ra khỏi biên giới của nước nhập khẩu sang “trực tiếp” ngay tại nước sở tại. Một ví dụ điển hình, Đạo luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm mới của Mỹ (FSMA) sẽ trở thành rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp nông sản Việt Nam phải “đối mặt” từ trước tới nay để bước chân vào thị trường Mỹ. Đây được coi là đợt “quét dọn” lớn nhất trong việc thiết lập lại các luật về an toàn thực phẩm tại Mỹ trong 70 năm qua với trọng tâm tăng cường khả năng truy xuất nguồn gốc. FDA sẽ yêu cầu giám sát trên toàn chuỗi và có tần suất kiểm tra bắt buộc đối với các cơ sở sản xuất xuất khẩu vào Mỹ thay vì chỉ kiểm tra chất lượng ở khâu cuối cùng là cảng nhập khẩu vào Mỹ.  Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp nông sản Việt Nam chưa đủ năng lực đáp ứng những yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm đối với cả thị trường nội địa và xuất khẩu. “Theo tổng hợp của chúng tôi, có tới 466 thư cảnh báo của FDA cho sản phẩm nông sản Việt Nam, trong đó chủ yếu là cảnh báo với các mặt hàng thuỷ sản, rau quả”, TS. Đào Đức Huấn, Viện Chiến lược và chính sách nông nghiệp, Bộ NN&PTNT cho biết. “Đáng chú ý là, có những thư cảnh báo từ năm 2009 nhưng vẫn chưa được FDA gỡ bỏ, nghĩa là chúng ta chưa đủ khả năng thay đổi thực hành sản xuất, kiểm soát chất lượng tốt”, TS. Huấn nói thêm.  Giám sát chất lượng thực phẩm theo chuỗi đặt ra yêu cầu phải đảm bảo liên kết sản xuất trong chuỗi giá trị rất chặt chẽ, nhưng đây vẫn là “thách thức” chưa thể vượt qua với ngay cả những doanh nghiệp sản xuất nông sản lớn nhất nhì trong cả nước. Chẳng hạn như trường hợp của Vineco, một doanh nghiệp đầu tư “rầm rộ” vào nông nghiệp với khẩu hiệu “nông sản sạch cho mọi nhà” đã có mối liên kết với 500 nông hộ (mỗi hộ có sản xuất quy mô từ hơn 1ha), đặt mục tiêu kiểm soát từ nguồn nước, đất, phân bón… ở khâu đầu vào cho tới khâu thu hoạch và ra thị trường nhưng vẫn chưa thể đảm bảo chuỗi sản xuất hoạt động tuân thủ đúng quy trình đề ra. “Có tới 30 – 40% số mẫu nông sản vẫn nhiễm thuốc bảo vệ thực vật khi kiểm tra để cung cấp cho các cửa hàng Vinmart. Vì vậy chúng tôi rất khó cân đối sản lượng nông sản cung cấp cho toàn hệ thống phân phối”, TS. Nguyễn Thị Phương Thảo, Giám đốc kỹ thuật của Vineco cho biết.  Ở trên diện rộng, liên kết dọc (giữa nông dân và doanh nghiệp) cũng như liên kết ngang (hợp tác sản xuất giữa những nông hộ giữa nông dân) đều vẫn còn rất lỏng lẻo. Trong số các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm thì có 60% chỉ tiến hành tổ chức thu mua nông sản của nông dân khi đến mùa thu hoạch mà không đầu tư vào quá trình sản xuất của nông dân (quy hoạch, tổ chức sản xuất, cung ứng giống, vật tư, tập huấn…). Còn có tới 85% các hợp tác xã ở các vùng nguyên liệu không tổ chức sản xuất theo hướng thị trường, không quan tâm đến những yêu cầu của thị trường để điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất của các hộ nông dân thành viên1.  Bỏ tư duy “bao sân” và kiểm soát  Không chỉ có thị trường Mỹ hay các nước châu Âu ngày càng “khó tính” hơn, mà nhiều người tiêu dùng Việt cũng có thể “quay lưng” với hàng nông sản Việt nếu không đảm bảo các yêu cầu minh bạch chất lượng trên toàn chuỗi giá trị trong khi nông sản ngoại nhập sẽ ngày càng “ồ ạt” vào nội địa do xu hướng hội nhập quốc tế. Vì vậy, doanh nghiệp nông sản Việt cần phải bỏ “thói quen làm thương mại kiểu ‘ngẫu nhiên, tình cờ’, ví dụ như doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất rồi sau đó mới tìm kiếm đối tác và ‘xuất hàng’. Mà phải chuyển sang tìm hiểu về yêu cầu của đối tác từ trước khi sản xuất từ 1 tới 3 năm”, theo TS. Đào Đức Huấn. Đồng thời, trong suốt thời gian “chuẩn bị”, tìm hiểu về yêu cầu của thị trường xuất khẩu khó tính hoặc nội địa, các doanh nghiệp đều phải thay đổi thực hành sản xuất – thúc đẩy liên kết sản xuất tốt hơn.  Tuy nhiên, lấy gì để đánh giá, giám sát chất lượng trên toàn chuỗi nông sản, đảm bảo từng khâu trong chuỗi giá trị đều “suôn sẻ” thay vì chỉ “chăm chăm” đóng dấu “đạt/ không đạt” vào sản phẩm đầu ra? Nhìn vào hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm hiện hành, sẽ không khỏi “rối mắt” vì có quá nhiều cơ quan quản lý, kiểm soát chồng chéo và hàng chục văn bản quy phạm pháp luật khác nhau2 với tư duy quản lý phổ biến là nhà nước “bao sân” kiểm soát mọi khâu. Nhưng quy trình này của nhà nước vẫn “nặng quản lý và kiểm soát hành chính. Ví dụ, trong các chuỗi sản xuất tiêu thụ heo, gà, cán bộ thú y chốt ở rất nhiều khâu và đóng dấu, coi đó là quản lý và kiểm soát. Câu hỏi là sự có mặt của cán bộ thú y và con dấu có đảm bảo rằng quá trình chăn nuôi đạt chuẩn, heo gà nuôi không sử dụng các chất cấm gây mất an toàn cho người tiêu dùng?”, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, chủ tịch HĐQT Công ty Cổ Phần Giải pháp và Dịch vụ Truy xuất nguồn gốc (TRACEVERIFIED) cho biết. “Riêng trong lĩnh vực cung cấp công cụ truy xuất nguồn gốc cho các nhà sản xuất thực phẩm, điều đáng ngạc nhiên là mặc dù trên thị trường đã có hàng chục công ty phần mềm có thể cung cấp dịch vụ này thì rất nhiều cơ quan quản lý cấp tỉnh lại đang xây dựng phần mềm truy xuất nguồn gốc cho riêng tỉnh. Có thể nói tư duy quản lý rất phổ biến hiện nay vẫn là Nhà nước bao, Nhà nước nắm giữ, Nhà nước kiểm soát”, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh nhận định.  Nhìn chung, “Hệ thống quản lý nhà nước về chất lượng và an toàn thực phẩm quá rườm rà, sự phân khúc và phối hợp [để giám sát chất lượng] chỉ trên hình thức và chưa có cách tiếp cận đổi mới, thống nhất trong quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm”, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh kết luận.  Thực trạng đó cho thấy, nhà nước “khó lòng” đủ lực để trực tiếp “nắm lấy” mọi khâu trong lĩnh vực kiểm soát chất lượng trong khi quy mô thị trường ngày càng lớn, khối lượng, chủng loại sản phẩm ngày càng nhiều, mua bán hàng hóa đang dần thoát ly khỏi phương thức truyền thống. Và giả sử như có đủ nguồn lực vật chất, nhà nước cũng không thể can thiệp trực tiếp vào thị trường như cách hiện đang làm. Do đó, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh gợi ý giải pháp mà lâu nay nhiều nước đã áp dụng: Đó là phân biệt “rạch ròi” phần việc của quản lý nhà nước và phần việc để thị trường giải quyết; nhà nước giảm dần “vai” kiểm soát chất lượng thực phẩm, chỉ đóng “vai” bên “tạo luật chơi”. Cụ thể, nhà nước tập trung vào ban hành chính sách, ban hành (hoặc công nhận) các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tổ chức hợp lý để kiểm tra, giám sát việc thực hiện cũng như hỗ trợ ban đầu việc thực hiện tại các doanh nghiệp (đào tạo kỹ thuật, vay tín dụng nếu cần). Bên cạnh kiểm soát trực tiếp, nhà nước còn dựa vào các tổ chức chứng nhận độc lập, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và sự kiểm soát nội bộ của các Hiệp hội ngành hàng. Ví dụ, trong lĩnh vực phòng thí nghiệm, nhiều nước chỉ duy trì một hoặc hai phòng lab kiểm chứng (reference lab), việc test sản phẩm là việc của các phòng lab tư nhân, với điều kiện các phòng này phải được chứng nhận ISO 17025. Một số nước như Đan Mạch, thậm chí còn không đầu tư xây dựng lab kiểm chứng mà công nhận một phòng lab tư nhân của tập đoàn Eurofins (http://www.eurofins.com/) là phòng lab kiểm chứng.  Tuy nhiên, các đơn vị kiểm định chất lượng độc lập (với các bộ tiêu chí kiểm định của họ) có thể tự thể hiện năng lực của mình và sẽ tự “sống” được bằng việc kiểm định đó hay không? TS. Nguyễn Thị Hồng Minh tin rằng, “các đơn vị kiểm định độc lập đó sẽ ‘sống được’ và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế với điều kiện họ được ‘đối xử’ ngang bằng với các đơn vị của nhà nước (phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm định…), nghĩa là các phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm định công chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp/ tiến tới cổ phần hóa”.  ——————–  1 Trần Đức Viên, Liên kết lỏng lẻo do thiếu niềm tin, Tia Sáng, số 2 tháng 11 năm 2016. http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Lien-ket-long-leo-do-thieu-niem-tin—10281  2 Ở cấp Chính phủ và ba Bộ được phân công trách nhiệm quản lý An toàn Vệ sinh thực phẩm từ năm 2009 đến nay đã ban hành 79 văn bản quản lý trong lĩnh vực này. Trong đó, Chính phủ ban hành 11 văn bản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành 19 văn bản, Bộ Y tế 46 văn bản, Bộ Công Thương 3 văn bản. Theo số liệu của Văn phòng thông báo và điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS).  Chuyên gia độc lập về chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm Nguyễn Thị Kim Thanh của Hội DNHVNCLC đưa ra một ví dụ về quy trình kiểm soát Meta Control của Hà Lan mà Việt Nam có thể học tập. Tại Hà Lan, cơ quan An toàn thực phẩm và hàng tiêu dùng (NVWA) đã sử dụng hệ thống Meta Control – đánh giá và theo dõi vận hành hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm tư nhân, từ đó xem xét lại việc phân bổ nhiệm vụ và các nguồn lực cần thiết. Cụ thể, NVWA đã phê duyệt cho phép đưa hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm của khối tư nhân vào khung tổ chức của họ, còn NVWA đặt ra các yêu cầu mà hệ thống tư nhân cần phải tuân thủ và có trách nhiệm theo dõi sự vận hành của hệ thống giám sát chất lượng sau khi được phê duyệt. Ví dụ: Công ty Bureau de Wit (BDW) có hơn 50 năm kinh nghiệm trong việc theo dõi, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hành vệ sinh tốt và được NVWA phê duyệt vào hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm của Hà Lan vào tháng 12 năm 2011. BDW phải “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” trong việc đánh giá, giám sát chất lượng an toàn thực phảm của các khách hàng (chủ yếu gồm các khách sạn, nhà hàng, cà phê, nhà bán lẻ và chăm sóc sức khỏe.       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Kiếm tiền tỷ từ quyền sở hữu trí tuệ      Trong những năm gần đây, số vụ mua bán  quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) của các sản phẩm nông nghiệp với số tiền  hàng tỷ đồng ngày càng tăng. Điều này cho thấy việc đăng ký quyền SHTT  cho giống cây trồng đang ngày càng quan trọng và kéo theo là lợi ích  kinh tế của nó.    Những quyền SHTT tiền tỷ  Vừa qua, Công ty TNHH thanh long Hoàng Hậu (Bình Thuận) đã bỏ ra 2 tỷ đồng để mua giống thanh long ruột tím hồng LĐ 5. Sản phẩm này do Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam nghiên cứu và đăng ký quyền sở hữu giống cây trồng.  Trước đó, do không được bảo vệ nên giống thanh long này bị các nước “vô tư” lấy giống. Do vậy, việc bán quyền đối với giống cây lần này sẽ đánh dấu sự thay đổi về ý thức của mọi người về quyền đối với giống cây trồng, đồng thời sẽ tạo được thương hiệu cây ăn trái Việt Nam trên trường quốc tế.  Thanh long ruột tím hồng là giống mới được lai cổ điển từ thanh long ruột đỏ Long Định và thanh long ruột trắng Chợ Gạo, có tính năng vượt trội như ra hoa khá mạnh và gần như quanh năm, có khả năng thụ phấn tự nhiên để tạo quả.  Hay một trong những thương vụ mua bán quyền đối với giống lúa “nổi đình đám” mới đây là Lúa lai HYT100 được chuyển nhượng với giá 3 tỷ đồng. Công ty Cổ phần Nông nghiệp Kỹ thuật cao Hải Phòng đã mua quyền đối với giống lúa HYT100 của Viện Cây lương thực – cây thực phẩm (FCRI).  Viện nghiên cứu Ngô (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) là một trong những đơn vị có nhiều thương vụ chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng. Đơn cử, hợp đồng chuyển nhượng quyền đối với giống ngô nếp lai số 5 cho Công ty cổ phần Giống cây trồng T.Ư và giống ngô nếp lai số 9 cho Công ty TNHH giống cây trồng miền Trung có giá trị hàng trăm triệu đồng. Viện này cũng đã chuyển nhượng quyền sử dụng giống ngô LVN 14 cho Tổng Cty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An với giá 3 tỷ đồng.  Hiện tại, 8 giống ngô lai của Viện nghiên cứu Ngô, 1 giống lúa của Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã được các doanh nghiệp thỏa thuận mua trong thời gian tới. Giá trị thương mại của các giống đã chuyển nhượng đạt 39,78 tỷ đồng (gần 2 triệu USD), trong đó có giống ngô LVN6 chuyển nhượng cho CHDCND Lào.  Thúc đẩy sự sáng tạo  Ông Nguyễn Thanh Bình, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho biết việc đăng ký quyền SHTT nhằm thúc đẩy sáng tạo và đưa ra cảnh báo cho các công ty, đơn vị liên quan đến từng ngành nghề hãy tránh xa những sản phẩm đã có quyền SHTT. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đưa sản phẩm ra thị trường đều có sự cạnh tranh. Vì vậy, việc quan tâm, đầu tư, quản lý sản phẩm để mang lại mức tăng trưởng cao là điều cần thiết.  Trong đó, việc quản lý sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp, đơn vị muốn quản lý tốt cần phải có một tổ chức quản lý làm “từ khâu sáng tạo, bảo vệ bằng công cụ pháp lý đến khai thác bằng nhiều phương pháp như nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ…”, ông Bình nhấn mạnh.  Ông Đoàn Văn Sáu, giám đốc một đơn vị đã mua giống lúa với giá 10 tỷ đồng chia sẻ rằng, sau khi mua quyền đối với giống lúa, ông đã liên kết với nông dân sản xuất lúa giống trên diện tích trên 300 ha, mỗi năm cho 1.000 tấn hạt lai F1 TH3-3, bán với giá 60.000 đồng/kg, chỉ bằng 2/3 so với giá giống lúa lai 2 dòng nhập từ Trung Quốc. Cứ mỗi kg hạt giống lúa lai TH3-3 bán ra thị trường, đơn vị này đạt lãi ròng 30 nghìn đồng, mỗi năm bán được 1.000 tấn, thu về lợi nhuận 30 tỷ đồng.  So với các nước trên thế giới, chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng ở Việt Nam vẫn còn tương đối mới mẻ và hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách. Đơn cử, quy định chuyển nhượng thực hiện theo cả Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ nên có độ chênh khi tính toán giá trị hợp đồng. Chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng cho các tổ chức, doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho giống mới có thể tồn tại lâu hơn, diện tích mở rộng nhanh hơn trong sản xuất. Đơn vị bán quyền SHTT có thêm nguồn vốn để tái đầu tư nghiên cứu khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm tra báo cáo khí thải CO2 qua vệ tinh      Vệ tinh quan trắc Carbon 2 của NASA có bộ cảm biến có thể đo được nồng độ CO2 trong không khí ở những khu vực nhỏ với diện tích chỉ 3m2.      Vệ tinh quan sát Trái Đất. Ảnh: NASA/JPL-Caltech.  Làm sao để biết các quốc gia có trung thực trong việc thực hiện những cam kết đã ký về chống biến đổi khí hậu? Có thể giám sát điều đó bằng việc sử dụng dữ liệu từ những vệ tinh quay quanh Trái Đất để ước lượng mức khí thải CO2 từ những nhà máy phát điện riêng lẻ.  Vệ tinh Quan trắc Carbon 2 (OCO-2) do NASA phóng (tháng 7/2014) được thiết kế để theo dõi chuyển động của CO2 trên Trái Đất (ở cả trong lẫn ngoài hệ sinh thái). Mặc dù vệ tinh có tầm nhìn khá rộng nhưng bộ cảm biến của nó cũng có thể đo được nồng độ CO2 trong không khí ở những khu vực rất nhỏ – diện tích chỉ khoảng 3m2 hay nhỏ hơn thế. Kết hợp số liệu của OCO-2 khi theo dõi một số nhà máy phát điện ở Hoa Kỳ và xử lý bằng mô hình máy tính, các nhà khoa học ước tính được mức giảm phát thải CO2, trên thực tế nhỏ hơn 17% so với báo cáo mà những nhà máy này cung cấp trước đó. Kết quả này được công bố trên Geophysical Research Letters. Các nhà khoa học cũng cho biết, chỉ một số ít những vệ tinh ở quỹ đạo địa tĩnh tầm thấp hoặc quỹ đạo elíp tầm cao là có khả năng theo dõi lượng CO2 phát ra từ các nhà máy điện cỡ trung hoặc lớn.   Thế Hải lược dịch  Theo http://www.sciencemag.org/news/2017/09/are-countries-being-honest-about-their-carbon-emissions-satellites-could-tell    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm tra một lực cơ bản: nghiên cứu mới làm tăng hiểu biết về vũ trụ      Các nhà nghiên cứu từ một nhóm nghiên cứu vật lý ở trường đại học New Hampshire đang làm gia tăng hiểu biết về các proton, thành phần chiếm 95% khối lượng của vũ trụ nhìn thấy, tương tác với nhau như thế nào. Kết quả này đem lại một điểm mốc cho việc kiểm tra lực tương tác mạnh, một trong bốn lực cơ bản của tự nhiên.    “Có nhiều điều chưa được trả lời về cả các proton và lực tương tác mạnh”, David Ruth, nghiên cứu sinh vật lý và tác giả thứ nhất, nói. “Điều này đưa chúng ta đến gần hơn hiểu biết về cả hai thứ đó. Đó là một miếng ghép cần thiết cho cả hai điều vô cùng cơ bản của vũ trụ này”.  Lực tương tác mạnh chi phối cách những thành phần bên trong hạt nhân của nguyên tử – các neutron, proton và các hạt quark, gluon cấu tạo nên chúng – kết hợp với nhau. Đó là thứ lực được hiểu biết ít nhất trong số bốn lực tương tác của tự nhiên, bao gồm tương tác hấp dẫn, điện từ và tương tác yếu.  Trong nghiên cứu này, được xuất bản trên tạp chí Nature Physics, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra bằng hai tính toán lý thuyết tiên tiến về lực tương tác mạnh với một thực nghiệm chứng minh spin của các proton trong một chế độ, hoặc mode vận hành, nơi các hạt quark, hay các hạt cơ bản, trong trường hợp này chúng ở khoảng cách xa nhau. Phát hiện thực nghiệm của họ tương ứng với một trong hai kết quả tính toán.  Nghiên cứu vật lý dạng này đòi hỏi một sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà lý thuyết và các nhà thực nghiệm, vì vậy bước tiếp theo trong nghiên cứu về lực tương tác mạnh là để các nhà lý thuyết kiểm tra kỹ hơn, gần hơn vào nguyên nhân tại sao các tính toán này lại không đồng thuận với nhau. Họ giải thích là các tính toán đó rất phức tạp, mỗi nhóm lý thuyết đều có những lựa chọn khác nhau về cách thực hiện các phép tính và một số lựa chọn tính toán trong đó do các nhà lý thuyết thực hiện có kết thúc khác biệt nhau. Để hiểu sâu sắc hơn về lực tương tác mạnh, họ cần biết trong đó cái nào đúng, cái nào sai.  “Nếu chúng ta thực sự muốn biết về thế giới của chúng ta, chúng ta phải có một lý thuyết hợp nhất về lực”, Karl Slifer, giáo sư vật lý và thiên văn, trưởng nhóm hợp tác, giải thích. “Tôi không chắc chắn những ứng dụng của nó sẽ là gì nhưng hiểu biết từ nghiên cứu có thể thúc đẩy việc tạo ra công nghệ mới trong tương lai”.  Slifer có thể hình dung ra nghiên cứu triển khai theo hướng lý thuyết hay thực nghiệm và những ứng dụng thực tiễn, ví dụ như khi hiểu biết về những tương tác giữa hạt nhân nguyên tử trong một thế kỷ đã đem lại những ứng dụng như phản ứng phân hạch, nhiệt hạch, điện hạt nhân.  Công trình nghiên cứu vô cùng phức tạp này đã được thực hiện trong một thập kỷ để hướng dẫn và trang bị kiến thức cho sinh viên cao học, nghiên cứu sinh, postdoc và nhân viên kỹ thuật với chu trình sáu tháng xếp đặt và sáu tháng vận hành. Thực nghiệm đã được tiến hành ở Cơ sở máy gia tốc quốc gia Thomas Jefferson của Bộ Năng lượng Mỹ.  Kết quả được nêu trong bài báo “Proton spin structure and generalized polarizabilities in the strong quantum chromodynamics regime” 1.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-fundamental-advances-universe.html  https://www.unh.edu/unhtoday/2022/10/testing-fundamental-force  ————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41567-022-01781-y       Author                .        
__label__tiasang Kiến lưu trữ ký ức dài hạn và ngắn hạn trong các phần khác nhau của bộ não      Não trái và não phải của chúng ta lưu trữ các loại ký ức khác nhau: ví dụ não trái chuyên lưu trữ thông tin ngôn ngữ, trong khi bên phải chuyên về thông tin hình ảnh. Nhưng hóa ra chúng ta không phải là những sinh vật duy nhất có khả năng đó.      Nhóm nghiên cứu đã huấn luyện kiến gỗ đỏ bằng phương pháp mà nhà sinh lý học người Nga Ivan Pavlov đã huấn luyện những chú chó nổi tiếng của mình gửi một tín hiệu nhất định, và rồi mang thức ăn đến cho chúng. Ảnh: David Fernandes  Nghiên cứu mới cho thấy loài kiến — cũng giống như con người, sẻ hót và cá vằn — có thể lưu trữ những ký ức khác nhau ở những phần khác nhau trong bộ não nhỏ bé của mình, hay còn gọi là phân công não bộ.   Ong mật và ong vò vẽ dường như cũng có sự phân công trong các phần của não bộ, thể hiện qua các ký ức về mùi hương. Nhưng các nhà nghiên cứu tự hỏi, liệu những loài côn trùng khác có phân chia chức năng bộ não như vậy không? Họ đã huấn luyện kiến gỗ đỏ bằng phương pháp mà nhà sinh lý học người Nga Ivan Pavlov đã huấn luyện những chú chó nổi tiếng của mình – gửi một tín hiệu nhất định, và rồi mang thức ăn đến cho chúng.    Để tìm hiểu liệu loài kiến có lưu giữ ký ức thị giác ở các phần khác nhau trong não hay không, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thí nghiệm: Mỗi khi những con kiến nhìn vào một vật thể màu xanh (trên ảnh), nhà nghiên cứu sẽ chạm giọt đường vào ăng-ten bên phải, ăng-ten bên trái hoặc cả hai của kiến. Sau đó, họ sẽ kiểm tra ký ức của chúng trong ba mốc thời gian – 10 phút, 1 tiếng và 24 tiếng từ sau khi huấn luyện. Nhóm nghiên cứu kiểm tra bằng cách sau khi cho kiến xem vật thể màu xanh, họ tiếp tục quan sát xem chúng có há miệng hay không, đó là một phản ứng ‘ham muốn’ tương tự như phản ứng chảy nước miếng của chú chó trong thí nghiệm mà Pavlov tiến hành.   Những con kiến được huấn luyện với ăng-ten bên phải bày tỏ ham muốn rõ rệt ở mốc 10 phút và phản ứng tiếp tục kéo dài sau 1 tiếng, nhưng sau đó thì biến mất. Kiến được huấn luyện với ăng-ten bên trái không phản ứng gì sau 10 phút và 1 tiếng, nhưng chúng lại có phản ứng ở mốc 24 tiếng kể từ thời điểm được huấn luyện. Điều đó cho thấy một bên não kiến lưu trữ những ký ức ngắn hạn, trong khi bên còn lại lưu trữ ký ức dài hạn hơn.  Đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy các ký ức thị giác ngắn hạn và dài hạn được lưu trữ ở các bên khác nhau trong não côn trùng, các nhà nghiên cứu cho biết, một đặc điểm giúp chúng tiết kiệm năng lượng và khả năng lưu trữ bộ nhớ trong các bộ phận nhỏ của cơ thể.  Anh Thư dịch  Nguồn: Ants store long- and short-term memories on different sides of their brains       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiên trì xử lý những dữ liệu nhỏ      Với dân số lớn, độ phủ internet và các thiết bị di động rất nhanh, Việt Nam là một thị trường rất tiềm năng để ứng dụng và phát triển ngành dữ liệu lớn trong thương mại điện tử, tài chính ngân hàng, y tế giáo dục, giao thông và quản lý đô thị thông minh… Tuy nhiên, để có được ứng dụng dữ liệu lớn, trước hết cần thay đổi cách triển khai và kiên trì xử lý cho thật “tử tế” những dữ liệu nhỏ.      Nhiều người đã dùng ứng dụng Grab để đặt dịch vụ xe máy, ô tô.   Thu thập được dữ liệu nhỏ   Dữ liệu lớn chỉ mang lại giá trị khi nó có số lượng đủ lớn, thường là hàng trăm triệu đến hàng tỉ bản ghi. Lượng dữ liệu này chỉ có thể sinh ra nhanh chóng khi có lượng người dùng lớn và hay có thiết bị thu thập các thông tin đó. Tuy nhiên để có một lượng người dùng lớn thì các ứng dụng, thiết bị phải đủ hấp dẫn, khiến người dùng cảm thấy cần thiết phải sử dụng hàng ngày, hàng giờ. Ví dụ một hệ thống tìm kiếm của Google cần có thuật toán thu thập (crawl), đánh chỉ số (index) và xếp hạng (ranking) các trang Web hiệu quả để thu hút hàng tỉ người dùng như hiện nay và lại sử dụng các truy vấn (query), hành vi của người dùng để cải tiến và phát triển tính năng mới của hệ thống.  Việt Nam khó có thể ứng dụng công nghệ Big Data, ví dụ  trong y học, nếu không có một một cơ sở hạ tầng tin học đồng nhất  thu thập dữ liệu bệnh nhân từ các bệnh viện lớn. Mỗi người bệnh cần có một định danh số (identity) duy nhất trong hệ thống để lưu lại được toàn bộ lịch sử khám chữa bệnh, các loại thuốc điều trị, các kết quả xét nghiệm dù khám ở bất kỳ bệnh viện nào, phòng khám nào. Mỗi bác sĩ, y tá phải có trách nhiệm thu thập thông tin cho hệ thống. Hệ thống dữ liệu này này phải có thể truy cập từ các bệnh viện khác nhau. Hạ tầng dữ liệu này nếu chưa phục vụ được ngay cho công nghệ Big Data thì cũng vẫn mang lại giá trị to lớn trong việc chia sẻ thông tin điều trị bệnh trong ngành y và đảm bảo mỗi người dân có một sổ y bạ điện tử đầy đủ phục vụ cho công tác khám chữa bệnh hiệu quả hơn.  Việc để các công ty nước ngoài dần chiếm lĩnh các các ứng dụng được hàng chục triệu người Việt Nam sử dụng, ví dụ Google cho tìm kiếm, Uber cho gọi taxi, Facebook cho mạng xã hội, tương lai có thể là AirBnB cho thuê chỗ ở, Amazon cho mua sắm v.v…. một mặt mang lại cho người dân trong nước được sử dụng các dịch vụ công nghệ hiệu quả, nhưng một mặt làm mất đi một lượng Big Data vô cùng quý giá vào tay các tập đoàn công nghệ nước ngoài, làm mất khả năng có nguồn dữ liệu để phát triển ứng dụng công nghệ này trong nước. Vì thế chính phủ phải chú trọng đầu tư phát triển, khuyến khích nâng đỡ các ứng dụng phát triển trong nước có thể tiềm năng thu hút hàng chục triệu người sử dụng, tạo ra các sản phẩm hấp dẫn người dùng trong nước để ngăn chặn mất nguồn Big Data sinh ra từ người sử dụng Việt Nam cho doanh nghiệp nước ngoài.  Xử lý dữ liệu lớn   Dữ liệu lớn nếu có thu thập được cũng chỉ như nhiên liệu để làm một một ăn. Để thực hiện nó cần có công cụ nấu (Cơ sở hạ tầng công nghệ), công thức nấu (Kỹ thuật xử lý dữ liệu) và người nấu (Chuyên gia, kỹ sư dữ liệu). Khi cơ sở hạ tầng xử lý dữ liệu lớn có thể mua được bằng tiền, được triển khai rộng rãi trên thế giới qua các dịch vụ tính toán và lưu trữ đám mây (cloud storage and computing) thì kỹ thuật và nhân lực xử lý dữ liệu lớn cần có sự đào tạo bài bản và cần những con người tin cậy.  Một kỹ sư về ngành dữ liệu lớn cần có kiến thức về cấu trúc dữ liệu về giải thuật tốt (để có thể tối ưu xử lý hệ thống dữ liệu lớn), có nền tảng về toán cơ bản,  toán xác xuất, thống kê tốt (để phân tích được lượng dữ liệu lớn), có hiểu biết tốt về các hệ thống phân tán (để triển khai hệ thống xử lý dữ liệu lớn trên hàng chục, hàng trăm servers). Vì thế sẽ không thể phát triển được ngành công nghệ Big Data nếu nền giáo dục còn đào tạo ra những kỹ sư tin học chỉ dùng mà không hiểu cấu trúc dữ liệu một chương trình, không biết phân tích, tính toán một lượng dữ liệu nhỏ hay không biết triển khai một ứng dụng chạy trên một server cho ổn định.      Những dự án nghiên cứu phát triển Big Data sẽ là vô nghĩa nếu không có sự chung tay từ ba phía: Doanh nghiệp ra đề bài hỗ trợ công nghệ; Viện, trường nghiên cứu, đào tạo nhân lực; Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Đây là hình thức cơ bản mà các nước phát triển vẫn đang áp dụng rộng rãi và thành công.      Muốn có một lực lượng nhân lực đủ sức tham gia phát triển ứng dụng công nghệ Big Data, ngành giáo dục bậc đại học cần mạnh dạn thay đổi chương trình,  nâng cao chất lượng kỹ sư ngành công nghệ thông tin, rút ngắn thời gian đào tạo nhưng tập trung chuyên sâu hơn vào một vài hướng, thì trong vòng 2 đến 3 năm, chúng ta đã có thể đào tạo được những học sinh có nền tảng tư duy tốt thành những Kỹ sư dữ liệu (Data Engineer) thay vì một kỹ sư Tin học chung chung. Chúng ta sẵn sàng đào tạo ra những “gà nòi” là học sinh phổ thông thi quốc tế để đạt được những kết quả ngang ngửa thế giới, nhưng lại không dám có những chương trình đào tạo tập trung những kỹ sư chuyên ngành để đáp ứng tốt một số hướng công nghệ cốt lõi cho thị trường, để có những sinh viên tốt nghiệp Tin học một trường Đại học sau 4, 5 năm được đào tạo đủ từ toán, lý, hóa, kinh tế, chính trị v.v.. nhưng có thể không đáp ứng được yêu cầu tối thiểu của một công ty tin học trong nước.    Bảo vệ dữ liệu nhỏ   Nguồn dữ liệu lớn chỉ có thể phát triển nếu người khai thác có khả năng bảo vệ an toàn nguồn dữ liệu đó. Người sử dụng sẽ không cung cấp dữ liệu, không sử dụng một dịch vụ nếu dữ liệu của họ có thể bị đánh cắp, bị vi phạm tính riêng tư, bị lạm dụng gây thiệt hại cho họ. Khi nguồn dữ liệu lớn là chìa khoá thành công cho các ứng dụng thì việc bảo vệ nó khỏi sự nhòm ngó bởi các đối thủ càng đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp.  Vì thế ngoài việc áp dụng các công nghệ bảo mật cho các hệ thống Big Data (sử dụng các giao thức bảo mật khi gửi dữ liệu, có hình thức backup khi mất dữ liệu do phá hoại hay tai nạn, dữ liệu phải lưu trữ dưới dạng mã hoá, nếu có thể thông tin của người dùng phải là không định danh…), thì cần có các hành lang pháp lý bảo vệ quyền riêng tư, xử lý các trường hợp đánh mất, đánh cắp, gây lộ dữ liệu ảnh hưởng đến người sử dụng hay doanh nghiệp. Mọi hành động thu thập dữ liệu của người dùng phải có điều khoản (Terms and conditions) và chấp thuận của cả hai bên.  Thay đổi cách triển khai   Trong quá khứ có khá nhiều đề án của chính phủ và của ban ngành thất bại gây lãng phí tiền của nhân dân, đất nước mà không mang lại thành công vì cách triển khai quan liêu, mang tính phong trào. Ví dụ như Dự án phổ cập tin học Nối mạng tri thức thanh niên Việt Nam với máy tính giá rẻ và công thông tin Thánh Gióng hay đề án 122 Tin học hóa hành chính nhà nước. Vì thế các đề án lớn liên quan đến công nghệ Big Data hay cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hoàn toàn có thể đi theo vết xe đổ nếu không thay đổi cách thực hiện.  Những dự án nghiên cứu phát triển Big Data sẽ là vô nghĩa nếu không có sự chung tay từ ba phía: Doanh nghiệp ra đề bài hỗ trợ công nghệ; Viện, trường nghiên cứu, đào tạo nhân lực; Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Đây là hình thức cơ bản mà các nước phát triển vẫn đang áp dụng rộng rãi và thành công.  Kinh phí đào tạo nhân lực cho Big Data sẽ vô nghĩa nếu mỗi cán bộ được cử đi nước ngoài học tập không được tham gia một đề tài cụ thể, không có các xuất bản, bài báo hay báo cáo rõ ràng, công khai để nhận được phản biện từ các chuyên gia, rơi vào trình trạng cưỡi ngựa xem hoa, đi đào tạo nước ngoài mà như đi du lịch.  Hãy coi mỗi doanh nghiệp, mỗi viện nghiên cứu, mỗi startup, mỗi cá nhân có giá trị đầu tư ngang nhau cho việc ứng dụng phát triển công nghệ Big Data nếu có tiềm năng. Mỗi dự án triển vọng đều đáng được xem xét, cân nhắc nếu mang lại giá trị thực tiễn. Việc cấp kinh phí đầu tư phát triển chỉ diễn ra sau mỗi thử nghiệm, báo cáo, phản biện, đánh giá giá trị thực tiễn của mỗi đề tài. Nên coi Big Data là mục tiêu dài hạn, ngắn hạn vẫn là hiện đại hoá, chuẩn hoá nhanh chóng việc ứng dụng Tin học vào trong các lĩnh vực đời sống. Các lĩnh vực như y tế, giao thông vận tải, giáo dục, xây dựng phát triển đô thị chỉ cần có một cơ sở hạ tầng quản lý dữ liệu ổn định, đầy đủ, thông suốt là đã mang lại hiệu quả lớn cho xã hội, chưa nói đến việc áp dụng công nghệ Big Data trên nền tảng đó.   Có một bài học về sự sáng tạo của Amazon khiến tôi vẫn nhớ: Innovation không phải dựa trên dự đoán cái gì sẽ thay đổi trong tương lai mà dựa trên những gì sẽ không thay đổi cho tương lai. Chính vì dự đoán mỗi con người sẽ không thay đổi mong muốn mua được mặt hàng rẻ, có chất lượng, giao hàng nhanh trong vài thập kỷ mà Amazon liên tục có những sáng tạo và trở thành một đế chế bán hàng và công nghệ như hiện nay. Nên khi muốn ứng chạy theo trào lưu công nghệ dữ liệu lớn, liệu chúng ta đã kiên trì xử lý cho thật tử tế những dữ liệu nhỏ?       Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Kính áp tròng thông minh theo dõi bệnh tiểu đường      Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một sự kết hợp thông minh giữa kính mắt và kính áp tròng nhằm giúp kiểm soát bệnh tiểu đường và cấp thuốc cho bệnh nhân theo nhu cầu.      Kính áp tròng thông minh theo dõi bệnh tiểu đường và cấp thuốc theo nhu cầu của người bệnh..  Sản phẩm này hứa hẹn chấm dứt sự đau đớn của người bệnh tiểu đường khi bị trích ở các đầu ngón tay mỗi ngày để kiểm tra lượng đường (glucose) trong máu. Và nó sẽ là một cách dễ dàng, hiệu quả để điều trị những chứng bệnh về mắt gây mù lòa vốn là biến chứng thường gặp ở bệnh tiểu đường.  Những kính áp tròng được điều khiển từ xa này cũng có thể được sử dụng để điều trị các bệnh về mắt và các chứng nhiễm trùng mắt khác, theo Sae Kwang Hahn, giáo sư ngành khoa học và kĩ thuật vật liệu tại Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (POSTECH), Hàn Quốc. GS Hahn và nghiên cứu sinh Do Hee Keum đã công bố công trình của họ về hệ thống kính này tại Đại hội Vật liệu sinh học Thế giới (World Biomaterials Congress).  Bệnh võng mạc tiểu đường và tăng nhãn áp là hai nguyên nhân hàng đầu gây mất thị lực và mù lòa trên thế giới. Bệnh võng mạc liên quan đến sự phá hủy mà lượng đường cao có thể gây ra đối với mao mạch trong võng mạc. Còn bệnh tăng nhãn áp là tổn thương thần kinh thị giác do áp suất dịch thủy trong nhãn cầu tăng cao.  Những thuốc nhỏ mắt làm giảm áp suất lên mắt là một phương pháp điều trị phổ biến đối với bệnh tăng nhãn áp, và giới khoa học giờ đây đang nghiên cứu các loại pep-tit và chất hóa học khác nhau dưới dạng thuốc nhỏ mắt để điều trị căn bệnh này.  Những thử nghiệm trên động vật đã cho thấy rằng nồng độ đường trong nước mắt là một cách nhận biết hiệu quả lượng đường huyết, GS Hahn nói. Hệ thống kính mắt mới này là một cách thuận tiện để liên tục đo lượng đường ở bệnh nhân tiểu đường, cảnh báo người đeo khi nó ở mức cao, và cung cấp liệu pháp điều trị những rối loạn về mắt do bệnh tiểu đường.  Kính áp tròng này được làm từ hai lớp silicon hydrogel mềm, kẹp một mạch vòng. Mạch này có bốn cấu phần: một cảm biến glucose điện hóa học, chip vi điều khiển, hệ thống cấp thuốc và một cuộn cảm ứng có thể nạp điện không dây từ các mắt kính.  Khi chỉ số đường trong nước mắt tăng lên, dòng điện ra của cảm biến cũng tăng lên và con chip chuyển tiếp thông tin này đến kính mắt mà không cần dây nối. Một đèn LED trên mắt kính sẽ sáng lên trong trường hợp mức đường huyết rất cao.  Người dùng có thể giọng nói để ra lệnh cho mắt kính gửi tín hiệu nhả thuốc đến con chip. Trong tương lai, một mạch kiểm soát trên mắt kính có thể biến quá trình này thành tự động, tự ra quyết định khi cần cấp thuốc. Để cấp thuốc, con chip giải phóng một trong 10 “kho” thuốc, đó là những khoang nhỏ làm bằng hydrogel và được phủ một màng mỏng điện cực bằng vàng. Điện áp làm tan lớp màng và giải phóng thuốc.  Những cảm biến này được thử nghiệm trong dung dịch nước mắt nhân tạo, kết quả cho thấy nó hoạt động chính xác, dòng điện được duy trì ổn định, trong ba tuần khi các nhà nghiên cứu lặp lại nhiều lần việc tăng mức đường. Vì có nhiều liều thuốc trên kính nên người bệnh có thể dùng kính trong một tháng, GS Hahn nói.  Google và Novartis cũng đang nghiên cứu một ý tưởng tương tự và đã nhận được bằng sáng chế vào tháng Ba năm 2015 cho kính áp tròng theo dõi bệnh tiểu đường.  GS Hahn cho biết thêm, “tính năng độc đáo của kính áp tròng của chúng tôi là hệ thống cấp thuốc linh hoạt”. Ông đã nhận bằng sáng chế cho thiết kế này cùng các đồng nghiệp của ông tại POSTECH và Bệnh viện Đa khoa Massachusetts cùng thời điểm với Google.  Trong khi đó, những người khác đang nghiên cứu kính áp tròng đo nhãn áp, và Công ty Sensimed của Thụy Sĩ đã bán ra những kính áp tròng cảm biến nhãn áp như vậy ở châu Âu. Mới hơn, các nhà nghiên cứu đã công bố vòng đeo tay đo đường huyết và tiêm thuốc vào mạch máu thông qua kim siêu nhỏ.  Tất cả những khái niệm này có thể thay đổi cuộc sống những người bị bệnh tiểu đường, nhưng chỉ khi nào sản phẩm làm ra đạt được độ tin cậy và có giá phải chăng.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://spectrum.ieee.org/the-human-os/biomedical/devices/smart-contact-lenseyeglass-combo-monitor-diabetes-and-deliver-drugs    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa      Kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa đã có từ lâu nhưng đến bây giờ mới bắt đầu nở rộ?    Người Ý hát trên ban công giữa đại dịch COVID-19. Ảnh: atlasobscura.com  Nói một cách đơn giản, văn hóa đại diện cho hành trình của con người trong dòng đời, và ghi lại trải nghiệm và biểu hiện của con người từ mọi lứa tuổi và mọi khu vực trên thế giới – Volkan Bozkır.  Liên Hợp Quốc đã chỉ định năm 2021 là Năm quốc tế về nền kinh tế sáng tạo vì sự phát triển bền vững. Tổ chức này đã nhận định các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo (Creative and culture industry – CCI) là động lực chính của sự phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, đồng thời đem lại những đóng góp quan trọng khi chúng ta tái thiết kinh tế và xã hội sau đại dịch COVID-19.   Tại sao CCI trở thành một xu hướng quan trọng? Các quốc gia trên thế giới đang làm như thế nào? Chúng tôi định nghĩa kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa và di sản là những mô hình kinh doanh và khởi nghiệp sáng tạo lấy nguồn lực chính là những giá trị văn hóa và/hoặc di sản của một cộng đồng. Từ những trải nghiệm của chính mình khi hỗ trợ các dự án khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa và di sản, đồng thời được truyền cảm hứng từ những dự án của thế giới, loạt bài viết sắp tới mong muốn mang lại một góc nhìn mới về vấn đề này. Trong khuôn khổ bài viết mở màn, chúng tôi muốn nói về tầm quan trọng của việc kinh doanh trên nền tảng văn hóa.   Sức ép từ cộng đồng  Ít ai có thể quên được cảnh tượng người dân khắp châu Âu cùng hòa ca từ ban công nhà mình giữa những ngày phong tỏa tăm tối nhất trong đại dịch COVID-19. Ở thời điểm đó, văn hóa càng thể hiện khả năng hàn gắn, cứu rỗi, nâng đỡ tinh thần họ. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta chỉ nhận ra giá trị của một thứ khi mình đang đánh mất nó. Người đứng đầu Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO), Audrey Azoulay, từng nói rằng trong hơn một năm, COVID-19 đã dẫn đến “một cuộc khủng hoảng đa dạng văn hóa”. Bà nhấn mạnh: “Việc đóng cửa các viện bảo tàng và di sản thế giới cũng như hủy bỏ các lễ hội, buổi hòa nhạc và nghi lễ đã đẩy thế giới văn hóa vào tình trạng bất ổn đáng lo ngại, đe dọa đặc biệt đến những người sáng tạo độc lập, những người là huyết mạch của sự đa dạng văn hóa”. Bà nhấn mạnh sự cần thiết của một “Thỏa thuận mới”, trong đó văn hóa được sử dụng như một “lợi ích chung” để mở ra những chân trời và mang lại cho các xã hội sự kết nối và ý nghĩa. “Đó là lý do tại sao chúng ta phải giúp nó phục hồi, bằng tất cả sức mạnh và sự đa dạng của nó”, bà Azoulay nói.  Một poster của Netflix thể hiện tính đa dạng và bao dung văn hóa trong nội dung của họ. Ảnh: Netflix  Trên thực tế, cuộc khủng hoảng tinh thần khi đại dịch toàn cầu diễn ra đã để lại những sang chấn chưa từng có cho tinh thần của con người và cộng đồng. Sự gián đoạn trong giao tiếp, sự cô lập, nỗi sợ hãi khiến con người dường như nhận ra một điều, vật chất tuy đóng một vai trò quan trọng trong đời sống, nhưng dường như chúng ta đã bỏ rơi tinh thần của mình. Trong sự khủng hoảng đó, con người nhận ra dường như mình không thể tiếp tục sống, tiêu dùng và hưởng thụ như trước đây. Xã hội đang chứng kiến những dịch chuyển lớn về hành vi tiêu dùng. Người tiêu dùng đang tìm về những giá trị nguyên bản của thiên nhiên và những giá trị di sản của chính cộng đồng của mình nhiều hơn để thực sự hiểu và trân trọng hiện tại. Và cũng chính giai đoạn này, khi nhận ra vai trò to lớn của văn hóa và di sản, chúng ta nhận ra rằng từ trước, chúng ta đã không thực sự đưa văn hóa và sự sáng tạo vào đúng vai trò của nó.   Sự thay đổi của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của người làm kinh doanh. Không thiếu những ví dụ gần đây về chiếm dụng văn hóa (cultural appropriation) của các hãng thời trang lớn bị chỉ trích của người tiêu dùng trên thế giới. Rồi đây, người làm kinh doanh cần hiểu rằng, kinh doanh bền vững không chỉ dừng lại ở việc “thân thiện với môi trường”, “công bằng với người lao động” mà còn trân trọng những giá trị văn hóa và di sản của cộng đồng để lại trong mỗi sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta tạo ra. Sự bền vững đó được tạo ra bởi nền tảng và sự tìm hiểu văn hóa sâu sắc của người lãnh đạo kinh doanh, kết hợp với những công nghệ và mô hình kinh doanh mới.   Văn hóa và di sản là động lực cho kinh doanh và khởi nghiệp  Trân trọng văn hóa không chỉ là tiêu chí mà các doanh nghiệp phải theo đuổi mà đổi lại, nó cũng tạo đà phát triển cho doanh nghiệp. “Văn hóa của một cá nhân quyết định sự ứng xử của khách hàng. Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua hàng của một cá nhân. Mỗi cá nhân đều có những thói quen, niềm tin và nguyên tắc khác nhau mà họ phát triển từ địa vị và nền tảng gia đình của mình. Những gì họ nhìn thấy từ thời thơ ấu trở thành văn hóa của họ.”  Hiểu biết của một doanh nghiệp về những giá trị văn hóa và di sản ảnh hưởng như thế nào đến từng cộng đồng và phân khúc người tiêu dùng trở thành một nguồn lực chính của mô hình kinh doanh, quan trọng không kém những yếu tố khác như cơ sở vật chất, tài chính, nguồn nhân lực. Doanh nghiệp nào càng hiểu rõ điều này thì càng có nền tảng vững chắc để đổi mới mô hình kinh doanh hiệu quả. Netflix là một ví dụ, từ một công ty chuyên cho thuê băng đĩa đã trở thành một “kênh ti vi toàn cầu” (global TV network). Một trong những lí do khiến nền tảng chiếu phim này trở thành một đế chế nội dung như ngày nay, đó là những nội dung họ tạo ra không chỉ tập trung vào những người Mỹ da trắng mà hướng đến những nhóm người với những đặc điểm về sắc tộc, tôn giáo, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, tâm lý vốn ít được hiện diện trên truyền thông. Netflix cũng không chỉ là về nước Mỹ mà nền tảng này còn “đặt hàng” cả những đạo diễn và biên kịch tài năng trên khắp thế giới, cả những người làm nghệ thuật độc lập chưa có nhiều tên tuổi. Hay có thể kể đến những ví dụ gần đây như những bảo tàng, nhà hát, gallery “đóng gói” tài sản văn hóa của mình để truyền tải qua môi trường ảo. Công chúng có thể tận hưởng nghệ thuật vốn phải đến mua vé và ngồi vào nhà hát cách mình nửa vòng Trái đất một cách rẻ hơn và đôi khi, gần gũi hơn. Chẳng hạn như phòng tranh Art Basel Hong Kong trong thời điểm đại dịch đã trưng bày 2000 tác phẩm trị giá gần 300 triệu USD online. Với những người buôn tranh, trải nghiệm này có phần “riêng tư” hơn và ánh sáng còn đẹp hơn xem trực tiếp. Doanh số online của Art Basel Hong Kong nhờ vậy đã tăng 400% chỉ sau một năm.     Người tiêu dùng đang tìm về những giá trị nguyên bản của thiên nhiên và những giá trị di sản của chính cộng đồng của mình nhiều hơn để thực sự hiểu và trân trọng hiện tại.    Văn hóa không chỉ là đòn bẩy dịch chuyển những mô hình sẵn có mà còn khởi sinh những doanh nghiệp mới. Khi COVID 19 càn quét qua, người ta cũng nhận ra sức sống bền bỉ của những dòng chảy văn hóa và di sản trong cộng đồng phát huy tác dụng. Những cộng đồng nhỏ gắn kết với nhau kể những câu chuyện về văn hóa và di sản của dân tộc, cộng đồng mình như một lời chia sẻ. Những sản phẩm chứa đựng câu chuyện, nét đẹp văn hóa và di sản trở thành một phần không thể tách rời của mô hình kinh doanh tiềm năng. Cũng nhờ sự bền bỉ này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương sống sót qua dịch và thậm chí còn truyền cảm hứng cho nhiều doanh nghiệp mới ra đời. Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, sự ra đời của những doanh nghiệp thời trang dựa trên nền tảng di sản văn hóa và phát triển bền vững đã manh nha và ngày càng nhiều. Xu hướng số hóa các di sản này cũng cho ra đời những khởi nghiệp sáng tạo mới, góp phần vào định hình những xu hướng mới cho sáng tạo trên nền tảng văn hóa.   Kinh doanh trên nền tảng văn hóa và di sản không hề mới, thậm chí nó đã được thực hiện cả hàng nghìn năm nay. Cũng theo Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các lĩnh vực văn hóa sáng tạo chiếm 3% nền kinh tế toàn cầu, tạo ra 2,25 nghìn tỷ USD hằng năm và hỗ trợ 30 triệu việc làm trên toàn thế giới – nhiều hơn cả ngành công nghiệp ô tô của châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cộng lại. “Các lĩnh vực sáng tạo không chỉ làm phong phú thêm cuộc sống của chúng ta mà còn là những lĩnh vực tạo việc làm lớn nhất cho những người trẻ tuổi. Tuy nhiên, những đóng góp của văn hóa, sáng tạo nói chung và văn hóa, di sản nói riêng vẫn chưa thực sự được phản ánh một cách đúng đắn trong đời sống và hoạt động kinh doanh. “Bất chấp quy mô, giá trị và tầm ảnh hưởng của các lĩnh vực sáng tạo, “chúng ta vẫn chưa phản ánh điều này trong các quyết sách và quyết định tài chính của mình” và văn hóa, sáng tạo vẫn “xếp cuối hàng”, chúng ta đang đánh giá rất thấp những đóng góp chung của chúng.   Phòng tranh ảo của Art Basel Hong Kong. Ảnh: nytimes.com  Sự nỗ lực của các doanh nhân vẫn còn chưa đủ. Cho đến gần đây, các chính phủ mới có một chiến lược rõ ràng hơn để thúc đẩy giới doanh nhân nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực kinh doanh. Giữa năm 2021, lần đầu tiên trong lịch sử, các bộ trưởng của G20 đã nhất trí với tuyên bố G20 về văn hóa, trong đó xác định văn hóa là động lực chính để phục hồi kinh tế xã hội bền vững sau đại dịch. Tuyên bố này bao gồm năm nội dung mà Tổng thống Ý đã tuyên bố trước đó gồm: bảo vệ di sản văn hóa, văn hóa và biên đổi khí hậu, văn hóa và giáo dục, công nghiệp văn hóa và sáng tạo và văn hóa trong quá trình chuyển đổi số.   Diễn đàn này còn có tiếng nói đóng góp của khối doanh nghiệp. Trong đó, bài phát biểu của doanh nghiệp Ấn Độ cũng là câu chuyện của tất cả các doanh nghiệp khác trên thế giới: “Doanh nghiệp văn hóa là những doanh nghiệp thành công bắt nguồn từ di sản văn hóa, trí tuệ và thực tiễn của Ấn Độ đồng thời có thị trường mạnh và tập trung vào khách hàng. Các doanh nghiệp này đóng vai trò là những người kể chuyện, truyền đạt những thành tựu, di sản thủ công, kiến thức bản địa và năng lực sáng tạo của Ấn Độ dưới dạng các sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm có thương hiệu. Hơn nữa, bằng cách sử dụng đúng loại nhãn hiệu, bao bì và chiến lược tiếp thị, các doanh nghiệp này cũng định vị văn hóa Ấn Độ theo cách được tôn trọng và thu hút sự nhạy cảm của người tiêu dùng toàn cầu”.  Ví dụ trên thế giới  Chúng tôi lựa chọn hai ví dụ dưới đây trong rất nhiều các câu chuyện truyền cảm hứng trên thế giới vì những liên tưởng tới việc khai thác nhiều di sản vật thể và phi vật thể ở Việt Nam.     “Bất chấp quy mô, giá trị và tầm ảnh hưởng của các lĩnh vực sáng tạo, “chúng ta vẫn chưa phản ánh điều này trong các quyết sách và quyết định tài chính của mình” và văn hóa, sáng tạo vẫn “xếp cuối hàng”, chúng ta đang đánh giá rất thấp những đóng góp chung của chúng.    Hadrian Wall – cách khai thác một di sản vật thể   Hadrian’s Wall (Lũy Hadrian) ở Anh là một công trình quân sự thời La Mã. Tên gọi của nó bắt nguồn từ tên gọi của hoàng đế La Mã Hadrian, người đã đến Anh vào năm 122 TCN và cũng là người đã cho xây dựng một bức tường dài 80 dặm nhằm ngăn cách giữa vùng đất thuộc về đế quốc La Mã với vùng đất của các dân tộc bị  coi là ‘man rợ’. Ngày nay, công trình này dài 117km ( tương đương 73 dặm), với dấu tích của 14 đồn còn sót lại. Toàn bộ hệ thống đồn, hào, đường quân sự gắn với lũy Hadrian đã hợp thành một phần của di sản thế giới xuyên quốc gia-biên giới của đế quốc La Mã được UNESCO công nhận vào năm 1987.  Năm 2010, trong khuôn khổ của Dự án nghiên cứu lịch sử và di sản miền Trung- Tĩnh man Trường lũy ở Quảng Ngãi, do Viện Viễn Đông Bác cổ tiến hành, chúng tôi được đến thăm Hadrian’s Wall để học cách khai thác, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của một di sản trong bối cảnh đương đại. Tại đây, chúng tôi được làm việc với nhiều chuyên gia về bảo tàng, bảo tồn, di sản cũng như được đi thăm quan rất nhiều đoạn lũy, một số đồn quan trọng, tham dự một số tour, tham gia khai quật để khám phá hệ thống tường thành của Hadrian và hiểu cách họ khai thác và bảo tồn di sản này. Theo quan sát của chúng tôi, giá trị của di sản này đã được khai thác với nhiều cách thức khác nhau.   Trước hết là hệ thống các bảo tàng dọc Hadrian’s Wall với 10 bảo tàng, trong đó nhiều bảo tàng được dựa trên chính các đồn quân sự cũ. Dựa trên các hiện vật, những phần còn sót lại của các công trình kiến trúc chủ yếu là đồn, mỗi bảo tàng lại hướng đến một chủ đề, chủ điểm khác nhau, nhằm khắc họa những khía cạnh khác nhau của lịch sử La Mã trên vùng đất này: ví dụ: đồn Housesteads có thể coi là một điển hình về sự phức hợp của một đồn La Mã, trong đó, có bệnh viện, nhà tắm, nhà vệ sinh chung; hay đồn Chesters như một nơi giải trí thư giãn với các nhà tắm có hệ thống nước nóng, nước lạnh, bể bơi, phòng xông hơi…Qua hệ thống bảo tàng đó, một phần cuộc sống, lịch sử, văn hóa La Mã đã được tái hiện. Cùng với đó, sự đa dạng về chủng loại của các đồ lưu niệm với những thông điệp mang giá trị văn hoá gắn liền với đặc trưng của từng bảo tàng trong hệ thống cũng là một kênh thu nhập của các bảo tàng này.   Các diễn viên đóng lính La Mã pose hình trên Hadrian’s Wall. Ảnh: nationalgeographic.com  Ngoài ra, sự phong phú, đa dạng về cảnh quan tự nhiên thay đổi dọc theo chiều dài 117km của lũy Hadrian cũng được khai thác triệt để thông qua hệ thống các tour được thiết kế với sự đa dạng về thời gian, đối tượng phục vụ, ví dụ như tour đi bộ dọc theo con đường mòn dọc luỹ để ngắm phong cảnh, tour đi bộ cho một gia đình,,..  Vì là một công trình kiến trúc từ thời La Mã, việc khai quật khảo cổ học để tiếp tục tìm hiểu các giá trị văn hóa lịch sử của lũy Hadrian chưa bao giờ kết thúc. Đồn Vindolanda với khu khai quật liên tục hoạt động là một ví dụ. Tại đây, những nhà quản lý tổ chức các cuộc khai quật có thu phí với sự tham gia của tình nguyện viên từ khắp nơi trên thế giới đến để tham gia nghiên cứu. Các tình nguyện viên thường là các sinh viên khảo cổ học đến tham gia khai quật để thực hành và học hỏi kinh nghiệm. Cũng tại đây, các nhà khảo cổ vừa là người giới thiệu về lịch sử và sự khác biệt của của Vindolanda, vừa là người hướng dẫn các cuộc khai quật.   Việc khai thác di sản lũy Hadrian theo nhiều cách thức khác nhau để phục vụ cho việc phát triển du lịch đã thu hút trung bình 100,000 lượt khách một năm. Với mục tiêu hướng tới 3 triệu lượt khách một năm (để tiện so sánh, con số này tương đương với tổng lượt khách trong vòng 15 năm của Bảo tàng Dân tộc học ở Việt Nam), Anh đã dự kiến đầu tư 30 triệu bảng Anh để thúc đẩy phát triển du lịch gắn với lũy  Hadrian.   Vải Batik, Indonesia – cách khai thác một di sản phi vật thể  Nói đến Indonesia là người ta nói đến vải batik. Đây là kĩ thuật vẽ và nhuộm vải thủ công. Các nghệ nhân dùng sáp ong (để đánh dấu các đường nét không muốn nhuộm) và thuốc nhuộm từ cỏ cây để vẽ họa tiết rồi nhúng màu tấm vải nhiều lần, tạo ra những họa tiết vừa rực rỡ nhưng cũng vừa tinh tế, chi tiết.   Một workshop về vải batik ở Indonesia. Ảnh: getty  Indonesia không phải là quốc gia duy nhất sở hữu kĩ thuật tạo ra vải batik, nhưng có lẽ họ là đất nước thành công nhất trong việc kể chuyện về vải batik, đưa tấm vải này lên tầm biểu tượng văn hóa dân tộc. Vải batik của Indonesia, với sự đa dạng về mục đích sử dụng, sử dụng kỹ thuật vẽ sáp ong và nhuộm tay, truyền thống, hoa văn phong phú về hình thức chứa đựng nhiều ý nghĩa văn hóa, lịch sử và tôn giáo, gắn liền với đời sống của người Indonesia trên mọi phương diện từ khi sinh ra đến khi mất đi. Lịch sử Indonesia, đặc biệt sự giao lưu với các nền văn hóa lớn trên thế giới như Vương quốc Ả Rập, Trung Quốc hay châu Âu cũng được phản ánh trên các hoa văn vải. Chính vì vậy, vải batik đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng vào năm 2009.  Việc tôn vinh và khai thác vải batik để phục vụ cho phát triển kinh tế là một phần của chiến lược của quốc đảo này. Trước hết, đó là sự ra đời của ngày batik. Dựa vào quyết định của UNESCO, ngày 2/10 hằng năm đã trở thành Ngày Batik của Indonesia. Đây là một lễ hội văn hóa quốc gia nhằm tôn vinh vải batik và các giá trị văn hóa, lịch sử liên quan đến loại vải này với sự tham gia tất cả các người dân và các tổ chức. Người dân với phục trang ‘từ đầu đến chân’ từ vải và nghệ thuật batik. Các cơ quan, trường học cũng yêu cầu nhân viên, học sinh mặc trang phục từ vải batik.   Bên cạnh đó, mặc dù vẫn giữ kỹ thuật truyền thống, nhưng việc sản xuất vải batik đã có những bước phát triển để phù hợp với nhu cầu của thị trường, xu hướng thời trang thế giới. Sự ra đời của các hoa văn và màu sắc mới dựa trên sự sáng tạo tự do của người sản xuất là một ví dụ điển hình. Ví dụ như, trước đây, đen và nâu là hai gam màu chủ đạo trong việc sản xuất vải batik thì giờ đây các màu sắc tươi sáng như đỏ, xanh, vàng, tím đã trở nên phổ biến.   Ngoài ra, việc thiết kế các tour liên quan đến sản xuất vải batik cũng là một cách thức khác nhằm tôn vinh và khai thác di sản này. Bạn có thể dễ dàng tìm thấy các tour liên quan đến vải batik ở Bali hay một số trung tâm sản xuất vải batik nổi tiếng.  Hơn thế nữa, việc tôn vinh và quảng bá cho vải batik và các câu chuyện lịch sử, văn hóa gắn với loại vải này còn được thực hiện thông qua hệ thống các bảo tàng công và tư nằm ở nhiều nơi trên đất nước Indonesia, ví dụ như: Bảo tàng Quốc gia Indonesia ở Jakarta, bảo tàng Ullen Sentalu ở Yogyakarta…Có những bảo tàng chỉ chuyên về Batik ví dụ như bảo tàng Batik Indonesia ở Jakarta, bảo tàng batik ở Yogyakarta hay bảo tàng Danar Hadi Batik ở Solo – một trong những trung tâm sản xuất vải batik lớn của Indonesia và nơi được coi là quê hương của vải batik…  Ở Indonesia, việc sản xuất vải batik đã trở thành một ngành công nghiệp tạo ra nguồn thu quan trọng cho nền kinh tế đất nước cũng như số lượng lớn việc làm cho người dân. Việc xuất khẩu vải batik đến nhiều thị trường như Mỹ, Pháp, các nước Ả Rập… đã có đóng góp rất lớn vào tổng thu nhập quốc dân của Indonesia. Năm 2020, với 47.000 doanh nghiệp thuộc 101 vùng trên lãnh thổ Indonesia, 200,000 công nhân tham gia, xuất khẩu vải batik đạt 532,7 triệu USD. Ngành công nghiệp batik được Chính phủ Indonesia coi là một ngành trụ cột trong việc thực hiện lộ trình tích hợp ‘Making Indonesia 4.0’.    Việt Nam là đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh, với sự tồn tại của nhiều công trình lũy như Lũy Thầy được xây dựng ở Quảng Bình từ năm 1631 với chiều dài 34km gắn liền với cuộc nội chiến Nam – Bắc triều hay Tĩnh man Trường lũy được xây dựng từ 1818 với chiều dài hơn 100 km gắn liền với mối quan hệ giữa những người thiểu số ở khu vực miền núi phía Tây với người Kinh ở vùng đồng bằng ở Quảng Ngãi. Là đất nước với sự đa dạng về thành phần dân tộc với sự phong phú, độc đáo về kỹ thuật dệt, loại hình hoa văn, như kỹ thuật vẽ sáp ong trên nền vải lanh của người H’mông hay kỹ thuật nhuộm chàm của người H’mông, người Tày…ở vùng miền núi phía Bắc, kỹ thuật nhuộm từ các loại lá, củ trong rừng của người Êđê, Jrai… ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, những di sản này vẫn chưa được khai thác một cách thực sự hiệu quả, có hệ thống và chiến lược để đóng góp một cách rõ nét vào sự phát triển kinh tế của các cộng đồng tại chỗ cũng như quốc gia.□  Đón đọc kì sau: Khai thác văn hóa và di sản cho kinh doanh và khởi nghiệp trở thành chiến lược quốc gia và quốc tế.  ——–  Tài liệu tham khảo:  https://news.un.org/en/story/2021/05/1092522  https://nailsma.org.au/programs/economic-development-and-employment/culture-based-economies  https://ec.europa.eu/programmes/erasmus-plus/project-result-content/3d1a28ee-194e-45ac-a885-d1a9c46b9106/E1_Athens-Conference.pdf  https://www.unesco.org/en/articles/g20-ministers-meeting-unesco-calls-more-investment-culture  https://unctad.org/meeting/riyadh-international-creative-economy-forum  https://www.g20.org/content/dam/gtwenty/about_g20/previous_summit_documents/2021/G20%20Culture%20Ministers%20Declaration%202021.pdf    Author                Nguyễn Đặng Anh Minh - Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Kính dữ liệu: Đã bước vào giai đoạn ứng dụng thật sự      Kể từ những thử nghiệm đầu tiên trong đầu những năm 1990, đến nay kính dữ liệu (gọi chung cho các loại kính sử dụng công nghệ thực tế ảo Virtual reality – VR và thực tế ảo tăng cường Augmented Reality – AR) đang thâm nhập ngày càng nhiều trong ngành công nghiệp. Đây là thị trường hứa hẹn tiền tỷ đối với các nhà sản xuất.      Kính dữ liệu sẽ trở thành một xu hướng đầy triển vọng trong ngành công nghiệp.  Hầu như không mấy ai không bị rối trí khi đọc những bảng hướng dẫn sử dụng như hướng dẫn lắp ráp một cái tủ hay phức tạp hơn là hướng dẫn sắp xếp lắp đặt các chi tiết trong một xưởng sản xuất. Khi đó, một người thợ, với máy móc và dụng cụ trong tay, phải chăm chăm nhìn bản hướng dẫn để hiểu nguyên tắc lắp ghép các chi tiết. Sau đó anh ta đặt bản hướng dẫn sang một bên và bắt đầu công việc lắp ráp của mình, tuy vậy anh ta luôn phải liếc mắt đọc bản hướng dẫn. Quy trình này sẽ tiện lợi hơn nhiều nếu như các điểm cần lắp ghép tự loé sáng để hướng dẫn cho người thợ ấy các thao tác cần thực hiện.  Hãng kỹ thuật điện Weidmüller ở Detmold, Đức, hiện đang làm được điều này: người thợ đeo kính dữ liệu (Data glasses) và nhìn vào cỗ máy, khi bật máy lên, người thợ đó biết rõ cần dụng cụ nào, làm thao tác gì để thực hiện công việc lắp ráp trước mắt. Chỉ nhìn qua chiếc kính này, người thợ biết ngay phải ráp nối những cái ống nào hay vị trí nào đã được lắp ráp nhưng chưa đạt yêu cầu. Tóm lại sự kính dữ liệu này mang tới cho những người thợ máy một bản hướng dẫn chi tiết hơn so với trước đây, hơn nữa anh ta hoàn toàn được tự do thoát khỏi cảnh nhìn chăm chăm vào một bản hướng dẫn bằng giấy. Patrick-Benjamin Bök, phụ trách sản xuất toàn cầu lĩnh vực số hóa và trí tuệ của hãng Weidmüller, cho hay: “Áp dụng kính dữ liệu vào sản xuất rất thuận tiện cho người thợ, giúp tiết kiệm thời gian và tránh được sai sót”.  Hãng Weidmüller đã mua sáu chiếc kính dữ liệu Hololens của Microsoft và dự kiến sẽ đặt mua thêm nhiều kính này, không chỉ nhằm phục vụ mục đích hướng dẫn sử dụng mà còn dùng trong nhiều khâu sản xuất khác, như sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng hay trong công tác đào tạo nâng cao tay nghề… Trong tương lai, hãng này sẽ dùng kính dữ liệu để lắp đặt toàn bộ trang thiết bị máy móc trong những nhà xưởng trống rỗng. Vấn đề đặt ra là cần bổ sung các thông tin kỹ thuật số cho thực tế sản xuất (Augmented Reality).  Cùng với thực tế ảo, AR đang là một xu hướng đầy triển vọng trong tương lai đối với các doanh nghiệp. Trong khi nhiều doanh nghiệp đang gặp vấn đề lớn trong hoạt động  marketing giới thiệu sản phẩm tới tay người tiêu dùng thì nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đang quan tâm tới AR như là một cơ hội lớn để mở rộng phát triển sản xuất bởi vì số hoá đang thâm nhập ngày càng nhiều vào các lĩnh vực sản xuất, logistic và phát triển. TS. Ulrich Bockholt, nghiên cứu viên tại Viện Fraunhofer, Đức, chuyên nghiên cứu về xử lý dữ liệu đồ hoạ, cho rằng “các lĩnh vực áp dụng kỹ thuật AR sẽ tăng vọt”. Và trên thực tế, các doanh nghiệp Đức dự định từ nay đến 2020 đầu tư  850 triệu Euro cho các giải pháp thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường. Theo hãng nghiên cứu thị trường Goldman Sachs thì thị trường cho các sản phẩm VR và AR trên thế giới đến năm 2025 sẽ đạt 80 tỷ đô la. Các dự báo khác thậm chí còn lạc quan hơn.  Từ lâu các chuyên gia đã bàn luận về đề tài này, ngay từ những năm 1990 đã có những thử nghiệm về kính dữ liệu  – tuy nhiên hồi đó để có được năng lực tính toán cho kính dữ liệu thì người ta phải mang theo người cả một ba lô chứa đầy máy móc và các linh kiện kỹ thuật. Vì vậy  đến nay thị trường của AR và VR mới thật sự được bắt đầu. TS. Bockholt cho rằng “Mặc dù vẫn còn ở giai đoạn đầu nhưng lĩnh vực này đã chứng kiến một bước tiến từ khâu nghiên cứu sang giai đoạn ứng dụng thật sự”.  Danh sách các công ty công nghiệp đã sử dụng hoặc có dự kiến áp dụng kính dữ liệu đã khá dài.  “Dùng kính dữ liệu để thực hiện bảo dưỡng từ xa đang là một hướng ứng dụng mà nhiều doanh nghiệp hết sức quan tâm. Bởi vì hiện nay có nhiều doanh nghiệp có các cơ sở ở rải rác khắp thế giới nhưng lại không có đủ chuyên gia am hiểu đầy đủ về thiết bị máy móc của doanh nghiệp đặt tại các cơ sở trực thuộc đó”, TS S.Beilmann thuộc Trung tâm cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin Computacenter cho biết. “Ví dụ, kỹ thuật viên làm việc ở Trung quốc đang sửa chữa các thiết bị máy móc, anh ta đeo kính dữ liệu và chuyên gia kỹ thuật ở Đức có thể theo dõi trực tiếp quá trình sửa chữa của đồng nghiệp ở Trung Quốc để đóng góp ý kiến chỉ đạo và cung cấp thông tin liên quan”, ông nói thêm.  Thời gian qua đã có nhiều loại kính dữ liệu khác nhau dùng cho thực tế ảo, ví dụ của Facebook, của HTC hoặc của Samsung… Hay kính thực tế ảo tăng cường Hololens của Microsoft mới đây cũng đã tạo ra dấu mốc rất quan trọng, mẫu kính này thực sự có thể cung cấp rất nhiều thông tin so với kính dữ liệu hiện có, và người dùng đeo vào có cảm giác dễ chịu hơn hẳn. Theo Dirk Schart, người phát ngôn của công ty Reflekt ở München, Đức thì “Hololens là loại kính đầu tiên được giới công nghiệp tán thành rộng rãi”. Ngoài ra, nhiều đối thủ cạnh tranh khác của Microsof cũng đã xuất hiện như Start-up Meta ở thung lũng Silicon hay thậm chí “ông lớn” Google cũng tham gia tài trợ cho các dự án kính dữ liệu thực tế ảo.  Tuy nhiên, phần mềm cho các kính dữ liệu này vẫn còn là điểm kẹt. Dirk Schart cũng đề cập một mục tiêu trong tương lai gần: “Cần phát triển các phần mềm phù hợp, để các mô hình ảo có thể tích hợp hoàn toàn với mạng dữ liệu hiện nay”.  Xuân Hoài lược dịch.  Nguồn: http://www.handelsblatt.com/technik/hannovermesse/virtuelle-realitaet-aufbruch-in-neue-welten/19544652.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính hiển vi tia X tiết lộ tài nghệ của thợ nhuộm vải Siberie thời kỳ đồ sắt      Tấm thảm Pazyryk là thảm dệt bằng tay cổ nhất thế giới và hiện được bảo quản tại Bảo tàng quốc gia Hermitage tại St. Petersburg, Nga. Được dệt từ len ở thời điểm khoảng 400 năm trước công nguyên, tấm thảm này là một trong những cổ vật thú vị nhất về tài nghệ người Trung Á ở thời kỳ đồ Sắt.    Kể từ khi các nhà khảo cổ học người Nga khám phá ra tấm thảm vào năm 1947 trong một hầm mộ tiền sử trong dãy núi Altai, các chuyên gia về kỹ thuật dệt truyền thống đã thắc mắc về các màu đỏ, vàng và xanh lam rực rỡ của tấm thảm, vốn được bảo quản với những điều kiện khắc nghiệt trong gần 2.500 năm.  Các sợi đỏ dưới kính hiển vi    Các sợi lấy từ tấm thảm Pazyryk được nhúng vào nhựa epoxy (trái) còn bên cạnh là mẫu chuẩn mà các nhà nghiên cứu đã cho lên men và tự nhuộm để so sánh. Nguồn: FAU / Dr. Andreas Späth  Giáo sư Karl Meßlinger của Viện nghiên cứu vật lý và sinh lý bệnh học tại trường đại học Erlangen-Nuremberg (FAU), và chuyên gia về kính hiển vi tia X là tiến sĩ Andreas Späth, giáo sư Rainer Fink của FAU đã làm sáng tỏ một vài vấn đề trong đó. Cùng hợp tác nghiên cứu với nhau, họ đi đến một ý tưởng hình ảnh phân bố màu sắc khắp bề mặt  tấm thảm của từng sợi len bằng kính hiển vi huỳnh quang tia X có độ phân giải cao (μ-XRF). Tiến sĩ Späth và giáo sư Fink thực hiện thí nghiệm bằng kính hiển vi tia X PHOENIX tại Viện nghiên cứu Paul Scherrer ở Villigen, Thụy Sĩ. Với độ phân giải có kích thước từ ba đến bốn micro mét, kính hiển vi đem lại những bức ảnh có đủ độ phân giải về mặt không gian và độ nhạy cao với các nguyên tố hóa học đặc trưng.  Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào các sợi len màu đỏ vì màu đỏ Thổ hay được sử dụng trong nhiều thế kỷ ở Trung Á và Viễn Đông để tạo ra sắc đỏ đặc trưng. Đỏ Thổ là một phức hợp hữu cơ kim loại được làm từ alizarin, vốn bắt nguồn từ rễ cây Rubia tinctorum họ Thiến thảo, và nhôm.  “Hình ảnh μ-XRF chứng tỏ sự phân bố đặc trưng của nhôm dọc theo mặt cắt của các sợi len lên men”, TS. Andreas Späth giải thích. “Chúng tôi tìm thấy mẫu hình tương tự từ thảm dệt tay này”. Đây là một ví dụ sớm nhất về kỹ thuật lên men len và đem lại một cái nhìn sâu hơn vào kỹ thuật phát triển ở mức cao của những người thợ dệt vải và những người phụ nữ thời kỳ đồ Sắt. Các kết quả cũng cho thấy tiềm năng lớn của kính hiển vi tia X đối với việc phân tích câc mẫu vải khai quật được từ những địa điểm khảo cổ. Cho đến hiện nay thì nghiên cứu trong lĩnh vực này thường sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM).  Len lên men không bị phai màu    Việc lên men len từ lông cừu trước đây là làm tăng độ sáng và độ bền cho màu sắc. Có thể nhận ngay ra len được lên men bằng vị trí nổi lên của các lớp cutin dọc theo sợi hoặc bằng sự phân bố đặc trưng của các màu suốt mặt cắt của các sợi. Nguồn: FAU/Dr. Andreas Späth  Giáo sư Karl Meßlinger nhận được một mẫu gồm một vài nút thắt từ tấm thảm Pazyryk vào thời điểm 30 năm trước (năm 1991) để phân tích với một kính hiển vi điện tử quét. Cùng với tiến sĩ Manfred Bieber, một chuyên gia về các kỹ thuật dệt nhuộm phương Đông, ông đã từng khám phá ra hinh ảnh SEM có thể nhận diện được các sợi len đã được xử lý bằng một kỹ thuật nhuộm đặc biệt trên cơ sở lên men len trước đó. Quá trình lên men này làm tăng lên độ khuếch tán của các màu về phía lõi của các sợi len, qua đó khiến các màu sắc bền hơn và sáng hơn một cách đáng kể.  Giáo sư Meßlinger và tiến sĩ Bieber đã có thể truy dấu nguồn gốc của kỹ thuật nhuộm truyền thống này từ thế kỷ 17. Tuy nhiên, họ phát hiện ra là càng sử dụng nhiều vải dệt đã qua xử lý hoặc càng bị phơi lộ trước nhiều phần tử, các lớp cutin còn lại càng ít. Phần lớn các lớp cutin của tấm thảm Pazyryk nổi tiếng cũng đã bị mất đi. Để chứng minh hiệu quả của việc lên men, các nhà nghiên cứu đã so sánh các hình ảnh huỳnh quang của mẫu len từ thảm Pazyryk với những mẫu của len mà họ cho lên men và nhuộm.  Có thể được nhận biết được len lên men bằng hình ảnh SEM bởi đặc điểm các vị trí nhô lên của các lớp ngoài cùng của cutin. “Những thợ dệt thủ công truyền thống ở Tiểu Á thường quen với một kỹ thuật ít tốn kém nhưng đáng tin cậy”, Meßlinger nói. “Họ trải các len đã nhuộm lên một mặt phẳng có ánh nắng chiếu trực tiếp trong nhiều tuần, sau đó đặt nó vào một cái chuồng nuôi gia súc trước khi làm sạch nó dưới sông hoặc suối. Chỉ có len lên men mới giữ được màu sắc mà không bị phai màu”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-x-ray-microscopy-reveals-outstanding-craftsmanship.html  https://antiqueorientalrugs.com/2018/11/26/buried-in-the-permafrost-the-worlds-oldest-rug-the-pazyryk-carpet/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính James Webb phô trương sức mạnh gì?      Sau 25 năm, dự án Kính viễn vọng Không gian James Webb (James Webb Space Telescope, hay JWST) cuối cùng cũng gặt hái được những thành quả đầu tiên, chính là loạt ảnh được công bố vào ngày 11 và 12/7 vừa qua. Vậy những bức ảnh này đặc biệt ở chỗ nào, và chúng tiết lộ được những điều gì về tiềm năng của JWST?    Hình 1: Bộ ngũ Stephan. Nguồn: NASA, ESA, CSA, STScI  Ảnh 1: Bộ ngũ Stephan  Ảnh Bộ ngũ Stephan (Stephan’s Quintet) bao phủ khoảng không lớn nhất trong loạt ảnh vừa qua, và theo trang web của JWST thì khoảng không này tương đương với 1/5 đường kính Mặt trăng. Bức ảnh mà chúng ta thấy ở Hình 1 là một ảnh phức hợp (composite image), được chắp vá lại bằng gần 1,000 file ảnh khác nhau mà hai thiết bị riêng biệt của JWST là Máy ảnh Cận hồng ngoại (NIRCam) và Thiết bị Giữa hồng ngoại (MIRI) chụp được.  Nhìn tên hai thiết bị nêu trên, có thể thấy ngay rằng chúng đảm nhiệm hai vùng sóng khác biệt, và chính nhờ sự riêng biệt ấy mà khi ra ảnh phức hợp, nhiều chi tiết khác nhau mới hiện ra trên cùng một khung hình. Ví dụ, có thể thấy rõ các đuôi thủy triều (tidal tail) nơi khí, bụi và sao đang bị kéo ra xa khỏi thiên hà chủ khi thiên hà chủ này tương tác trọng lực với các thiên hà lân cận. Ở thiên hà trên cùng có tên gọi là NGC 7319, đuôi thủy triều còn lấm tấm đỏ, biểu thị các khối bụi khổng lồ – bằng chứng cho quá trình hình thành sao đang diễn ra. Quá trình hình thành sao ở các đuôi thủy triều như vậy đến nay vẫn còn chưa được hiểu rõ; theo một số tác giả như nhóm của Michael Rodruck (2016), quá trình này xảy ra khi khí và bụi bị kéo khỏi thiên hà chủ rồi tụ lại một cách ngẫu nhiên thành các khối khí bụi đủ dày đặc để kích thích sự suy sụp trọng lực (gravitational collapse) và tạo thành các ngôi sao.  Một điều thú vị nữa về ảnh Bộ ngũ Stephan là cũng tại thiên hà NGC 7319, phần trung tâm chói sáng còn thể hiện một “nhân thiên hà hoạt động” (active galactic nucleus). Một nhân thiên hà hoạt động chính là một hố đen siêu khối lượng, hút khí bụi quanh mình và phóng trở lại vũ trụ dưới dạng những luồng khí sáng rực rỡ. Nhân thiên hà hoạt động của NGC 7319 đã được phát hiện từ ít nhất là 2005 bởi nhóm C. Kevin Xu, nhưng vì vùng nhân này luôn luôn bị bụi bao phủ, phải cần một chiếc kính quan sát ở vùng sóng hồng ngoại để nhìn xuyên qua chỗ bụi này. Và kể từ đây, JWST sẽ đảm nhiệm vai trò đó.  Ảnh 2: Tinh vân Chiếc nhẫn phương Nam  Tương tự như Bộ ngũ Stephan, Tinh vân Chiếc nhẫn phương Nam (Southern Ring Nebula) cũng được chụp bằng NIRCam và MIRI, song hai thiết bị này cho ra hai bức ảnh khác nhau đến mức các nhà thiên văn không thể dồn chúng vào một ảnh phức hợp. Trong ảnh của NIRCam (Hình 2, bên trái), chỉ thấy rõ một ngôi sao ở trung tâm tinh vân, nhưng trong ảnh của MIRI (Hình 2, bên phải) thì lại có đến hai ngôi sao ở vị trí này. Trên thực tế, Tinh vân Chiếc nhẫn phương Nam có hai ngôi sao ở trung tâm, và ngôi sao mà chúng ta chỉ thấy rõ qua thiết bị MIRI chính là cội nguồn của cả tinh vân nói chung. Ngôi sao thoắt ẩn thoắt hiện này là một sao lùn trắng (white dwarf), tương đương với cái xác còn thừa sau khi một ngôi sao thông thường ngừng sản sinh năng lượng qua quá trình tổng hợp hạt nhân. Khi một ngôi sao trở thành sao lùn trắng, các lớp ngoài cùng của nó bị phóng ra ngoài, tạo thành chính những quầng mây mà chúng ta thấy ở xung quanh. Vì được phóng ra từ một ngôi sao dạng cầu, các quầng mây này cũng sẽ có dạng cầu khi được quan sát từ Trái đất, khiến các nhà thiên văn ở cuối thế kỷ XVIII tưởng rằng chúng là các hành tinh, dẫn đến tên gọi chung là “tinh vân hành tinh” (planetary nebula).  Hình 2: Tinh vân Chiếc nhẫn phương Nam, bên trái chụp bằng NIRCam, bên phải chụp bằng MIRI. Nguồn: NASA, ESA, CSA, STScI  Trường hợp của Tinh vân Chiếc nhẫn phương Nam – trong đó một tinh vân hành tinh có chứa một hệ sao đôi (binary star) ở trung tâm – thực chất rất hiếm gặp. Dù các nhà thiên văn học đến nay đã tìm được ít nhất là 3,000 tinh vân hành tinh trong Dải Ngân hà, theo thống kê của Aller và cộng sự (2020), chỉ có chưa đến 60 tinh vân trong số đó chứa sao đôi. Không những vậy, để quan sát trọn vẹn được một hệ sao đôi trong mỗi tinh vân như vậy cũng là một khó khăn lớn. Tương tự như nhân thiên hà hoạt động của NGC 7319, những ngôi sao lùn trắng có thể được bao bọc bởi các lớp bụi dày mà chỉ một khoảng sóng nhất định trong vùng hồng ngoại mới có thể đâm xuyên qua.  Ảnh 3: Ngoại hành tinh WASP-96 b  Khác với các bức ảnh khác được công bố vào ngày 11 và 12/7, bức ảnh chụp ngoại hành tinh (exoplanet) WASP-96 b cách Trái đất khoảng 1,150 năm ánh sáng thực chất chỉ là ảnh quang phổ của bầu khí quyển hành tinh này, nghĩa là đối với cánh truyền thông, bức ảnh này chỉ là một biểu đồ không có gì đặc sắc. Tuy nhiên, đối với những người nghiên cứu ngoại hành tinh, chính biểu đồ này lại có tính cách mạng.  Trước tiên, phải thảo luận xem quang phổ này đã được đo đạc thế nào. Khác với hai thiết bị NIRCam và MIRI, chiếc Máy ghi phổ không khe và Máy chụp ảnh Cận hồng ngoại (NIRISS) chịu trách nhiệm cho quang phổ này được đóng góp bởi Cơ quan Vũ trụ Canada. NIRISS lấy quang phổ của ngoại hành tinh WASP-96 b bằng cách quan sát hành tinh này khi nó đi qua giữa ngôi sao chủ và tầm nhìn của NIRISS. Một khi hiện tượng này xảy ra, ánh sáng từ sao chủ sẽ đâm xuyên qua bầu khí quyển của hành tinh rồi mới được NIRISS tiếp nhận, nghĩa là bất kỳ chất khí nào hiện diện trong khí quyển của WASP-96 b cũng có thể hấp thụ một phần các tia sáng từ sao chủ và để lại những vạch đặc trưng trên quang phổ mà NIRISS thu được từ các tia sáng đó.  Hình 3: Vách đá Vũ trụ trong Tinh vân Thuyền để. Ảnh: NASA, ESA, CSA, STScI  Trên quang phổ công bố ngày 12/7, có đến 141 điểm dữ liệu riêng biệt, và theo trang web của kính James Webb, để phân tích được toàn bộ các điểm dữ liệu này cũng cần thêm nhiều thời gian. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy ở quang phổ ngay vào lúc này chính là các đỉnh (peak) thể hiện các vùng quang phổ nơi một số loại phân tử cụ thể dao động. Tính đến ngày 12/7, bốn đỉnh trong số đó đã được xác định là dấu hiệu của hơi nước, và bởi các đỉnh này thấp hơn so với dự đoán dựa trên các quan sát từ trước, rất có thể là bầu khí quyển của WASP-19 b chứa các đám mây làm “thui chột” các dấu hiệu mà đáng ra sẽ rất nổi bật của lượng hơi nước trên hành tinh này. Nói cách khác, sự “khiêm tốn” của các đỉnh hơi nước còn gợi đến nhiều phát hiện thú vị khác về WASP-19 b, khiến cho bức ảnh được trang web của JWST mệnh danh là “quang phổ truyền xạ của một ngoại hành tinh ở vùng sóng hồng ngoại có độ chi tiết cao nhất mà con người từng thu được” (most detailed infrared exoplanet transmission spectrum ever collected). Chỉ bằng một quang phổ giản đơn như vậy, nhóm nghiên cứu ngoại hành tinh trong dự án JWST cũng đã ước tính được nhiệt độ khí quyển của WASP-19 b vào khoảng 725°C.  Ảnh 4: Vách đá Vũ trụ trong Tinh vân Thuyền Để  Bức ảnh thứ tư (Hình 3) được công bố miêu tả phần rìa được mệnh danh là “Vách đá Vũ trụ” thuộc Tinh vân Thuyền để (Carina Nebula), một đám mây phân tử khổng lồ (giant molecular cloud) nằm cách Trái đất 7,600 năm ánh sáng. Bên trong Tinh vân Thuyền để, quá trình hình thành sao đang diễn ra mãnh liệt; một thống kê của Leisa K. Townsley và cộng sự (2011) dựa trên dữ liệu từ Đài quan sát tia X Chandra đã kết luận rằng tinh vân này hiện đang chứa ít nhất 14,000 ngôi sao. Đối mặt với bức xạ năng lượng cao từ hàng ngàn ngôi sao ở độ tuổi “ngựa non háu đá” như thế, các lớp mây ngoài cùng của tinh vân đang bị thổi bay đi, tạo thành hình thái lởm chởm trong bức ảnh chụp bởi JWST. Ngoài ra, ở trên đỉnh của phần “vách đá”, có thể thấy những “cột hơi nước” mà thực chất cũng chính là sản phẩm của lượng bức xạ năng lượng cao nói trên. Cụ thể hơn, do các tia cực tím mà các ngôi sao “trẻ trâu” phát ra, một lượng khí của tinh vân bị nung nóng và ion hóa, rồi bắn ra ngoài thành cột như vậy.  JWST đã chụp được hình ảnh chi tiết của một vườn ươm sao trong giai đoạn rất hiếm gặp: khi tinh vân vẫn còn dày, các ngôi sao vẫn còn trẻ, song các chu trình bức xạ từ các ngôi sao đã diễn ra đủ mạnh để báo hiệu ngày tàn của tinh vân. Không những vậy, nếu như kính Hubble chỉ chụp được hình dáng bên ngoài của “vách đá”, JWST đã nhìn được xuyên qua lớp khí bụi và nhận dạng được cả những ngôi sao ẩn mình trong đó. Trong bài viết đăng tải trên trang esa.int ngay sau khi bức ảnh này được công bố, Cơ quan Vũ trụ châu Âu – một trong các đối tác của NASA trong dự án JWST – đã kết luận như sau: “Đến thời điểm này, các nhà khoa học mới chỉ thu thập được rất ít dữ liệu về ảnh hưởng của vô số ngôi sao trẻ, khối lượng nhỏ và đầy năng lượng [trong tinh vân này]. Với kính Webb, họ sẽ có thể thực hiện một cuộc tổng điều tra quân số của chúng, cùng với tác động của chúng đối với cả tinh vân”.  Hình 4: Vùng sâu đầu tiên của Webb. Ảnh: NASA, ESA, CSA, STScI  Cuối cùng, chúng ta phải đề cập đến bức ảnh có tựa đề “Vùng sâu đầu tiên của Webb” (Hình 4), được Tổng thống Mỹ Joe Biden công bố vào chiều 11/7 giờ địa phương. Bức ảnh lấy trọng tâm là quần tụ thiên hà SMACS 0723 nằm cách Trái đất 4.6 tỉ năm ánh sáng, nghĩa là tia sáng mà JWST tóm được đã rời khỏi SMACS 0723 khi tuổi vũ trụ mới chỉ bằng 66.6% tuổi ngày nay.  Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bức ảnh chỉ chụp được quá khứ xa đến vậy. Do quần tụ SMACS 0723 quá nặng, tổng khối lượng của chúng trở thành một thấu kính hấp dẫn (gravitational lens), bẻ cong ánh sáng của các thiên hà ở xa hơn – hay nói theo cách khác là các thiên hà cổ xưa hơn. Hậu quả là hình ảnh của các thiên hà cổ xưa này bị phóng đại, cho phép người xem nhận thấy rằng chúng chẳng có dạng xoắn ốc (spiral), cũng chẳng có dạng bầu dục (elliptical) như các thiên hà khác ở bên ngoài thấu kính hấp dẫn. Thay vào đó, chúng giống như các “cục” ánh sáng với hình dạng không thể xếp được vào một thể loại đồng nhất. Theo Cơ quan Vũ trụ châu Âu: “Điều này có thể dẫn đến các mô hình chính xác hơn dành cho các thiên hà tồn tại ở thời kỳ ‘mùa xuân’ của vũ trụ, khi thiên hà mới chỉ đang ‘nhú mầm’ rồi tích cực tương tác và sáp nhập vào với nhau, chứ chưa phát triển thành các hình xoắn ốc lớn hơn. Cuối cùng, các quan sát sắp tới của kính Webb sẽ giúp các nhà thiên văn học hiểu được rõ hơn cách các thiên hà hình thành và phát triển ở vũ trụ thuở hồng hoang”.  Tổng kết: Hôm nay và ngày mai  Tận từ năm 2009, dự án JWST đã đưa ra bốn “chủ đề khoa học” (science theme) chính để chiếc kính quan sát và nghiên cứu là: vũ trụ thuở sơ khai, thiên hà theo thời gian, vòng đời sao, và các hành tinh khác. Thông qua năm bức ảnh đầu tiên được công bố, thật dễ thấy rằng JWST đã chứng minh được vai trò của mình như một trợ thủ đắc lực mới trong cuộc khám khá bốn chủ đề nêu trên. Với nhiều kỳ vọng và kế hoạch cho tương lai của các cơ quan hàng không vũ trụ, bao gồm cả chiếc Kính viễn vọng Không gian Nancy Grace Roman dự tính sẽ phóng muộn nhất vào tháng 5/2027, nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên thiên văn học mới, khi mà những sự vật, hiện tượng tưởng chừng như quá xa xưa hay quá bé nhỏ để lọt vào tầm mắt cũng sẽ có cơ may được xem xét, lý giải và vận dụng để đúc kết thành hiểu biết sâu rộng về không gian rộng lớn ngoài kia.□  —  Tài liệu tham khảo  Aller, A. et al (2020), “Planetary nebulae seen with TESS: Discovery of new binary central star candidates from Cycle 1”, Astronomy & Astrophysics 635, A128.  Rodruck, M. et al (2016), “A tale of two tails: exploring stellar populations in the tidal tails of NGC 3256”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 461(1), pp. 36-50.  Townsley, L.K. et al (2011), “The Chandra Carina Complex Project: Deciphering the enigma of Carina’s diffuse X-ray emission”, The Astrophysical Journal Supplement Series 194(1), pp. 15-23.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Kinh nghiệm hỗ trợ hoạt động nghiên cứu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ      KH&amp;CN có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.      Phát biểu tại hội thảo quốc tế “KH&CN phục vụ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” do Bộ KH&CN phối hợp với Viện Công nghệ công nghiệp Hàn Quốc tổ chức ngày 7/10 tại TPHCM, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng cho rằng, nếu đầu tư cho nghiên cứu KH&CN, doanh nghiệp (DN) sẽ tạo ra những bước đột phá về công nghệ, về sản phẩm. Từ đó, không chỉ nâng cao giá trị gia tăng cho các dịch vụ, sản phẩm của mình mà còn cải thiện vị trí cạnh tranh và phát triển bền vững.  Điều này càng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết đối với sự phát triển sản xuất, kinh doanh của hệ thống các DN vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay.  Trong thời gian qua, Chính phủ đã có những chiến lược lâu dài cho hoạt động KH&CN. Bên cạnh đó, việc đổi mới các cơ chế chính sách đang tạo ra “cú hích” rất lớn để hoạt động nghiên cứu KH&CN phát triển. Một minh chứng cụ thể là với việc triển khai dự án FIST, dự án ODA lớn nhất lĩnh vực KH&CN của Việt Nam và Hàn Quốc sẽ giúp xây dựng Viện Nghiên cứu khoa học Việt Nam-Hàn Quốc (V-KIST) trong thời gian tới.  Đặc biệt, cuối tháng 8/2014, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cơ chế đặc biệt dành cho V-KIST. Theo đó, V-KIST sẽ được tự chủ về tài chính đặc thù bao gồm tự chủ về chi tiêu, quản lý tài sản. Đây là một trong những tiền lệ chưa từng có ở Việt Nam và điều này chắc chắn sẽ là đòn bẩy để các hoạt động nghiên cứu KH&CN phát triển.  Tuy nhiên, Phó Cục trưởng Cục công tác phía Nam (Bộ KH&CN) Phạm Ngọc Minh cho biết, bên cạnh một số DN đã có ý thức đầu tư cho hoạt động KH&CN thì đại đa số các DN Việt Nam, nhất là những DN vừa và nhỏ chưa thực sự coi đây là đòn bẩy để phát triển bền vững.  Cụ thể, các DN vừa và nhỏ của chúng ta chưa đầu tư hoặc đầu tư chưa xứng đáng cho hoạt động này. Nhiều DN còn chưa có hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là một vấn đề nan giải trong quá trình phát triển hoạt động nghiên cứu của DN.  Đặc biệt, do chưa nhận thức đầy đủ vai trò của KH&CN nên đa số các DN vừa và nhỏ còn sử dụng các công nghệ sản xuất lạc hậu. Điều này không chỉ hưởng đến năng suất lao động mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.  Vì vậy, bên cạnh các chính sách vĩ mô của Chính phủ đang tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu KH&CN trong thời gian qua thì việc học hỏi các kinh nghiệm trong lĩnh vực này từ nước phát triển sẽ góp phần thúc đẩy KH&CN Việt Nam phát triển hơn nữa.  Kinh nghiệm từ những nước phát triển  Chia sẻ kinh nghiệm về phát triển các hoạt động nghiên cứu KH&CN, ông Park Jun Ho, Trưởng Văn phòng đại diện Viện Công nghệ Hàn Quốc tại Việt Nam cho biết, cách đây 40 năm, Hàn Quốc cũng đã “vật lộn” để tìm cho mình hướng đi trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Do có sự đầu tư đúng hướng của Chính phủ, ý thức của các DN nên hiện nay Hàn Quốc được đánh giá là một trong những nước hàng đầu của thế giới về hoạt động R&D.  Ngân sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Hàn Quốc đứng thứ 4 trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức. Nếu như năm 2012, Hàn Quốc chi 14 tỉ USD cho hoạt động R&D thì con số này năm 2014 đã lên tới 18 tỉ USD và năm 2015 dự kiến lên gần 20 tỉ USD.  Bên cạnh đó, Hàn Quốc đã chuyển hướng mục tiêu nghiên cứu từ khoa học cơ bản của những năm trước đây sang nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây để phục vụ sự phát triển của nền kinh tế.  Cụ thể, các viện nghiên cứu ở Hàn Quốc chỉ tập trung hỗ trợ cho những DN vừa và nhỏ và khi thành lập các viện, thường đi sâu vào một chuyên môn. Ví dụ, Viện nghiên cứu Kỹ thuật sản xuất Hàn quốc chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề trong sản xuất cho các DN. Hiện tại, Viện xây dựng 13 chương trình và xem đó là chiến lược xuyên suốt để hoạt động và phục vụ theo đơn đặt hàng của 3.700 DN vừa và nhỏ Hàn Quốc trong 27 năm qua.  Ông Park Jun Ho khẳng định, về lâu dài, nếu chỉ trông chờ vào đầu tư của Chính phủ thì sẽ tạo sự ỷ lại và khó tạo động lực cho DN phát triển hoạt động R&D. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, bản thân các DN phải coi R&D là một trong những mục tiêu phát triển của chính mình.  Giáo sư Anthony John Peacock, Giám đốc điều hành Hiệp hội các trung tâm nghiên cứu Australia cho biết, ngay từ những năm 1990, chính phủ đã thành lập Chương trình trung tâm nghiên cứu hợp tác (CRC) với mục đích kết nối ngành công nghiệp và các nhà nghiên cứu với nhau để cùng hợp tác, giải quyết những thách thức trong nghiên cứu KH&CN.  Theo đó, hoạt động của CRC được quản lý bởi một Ban giám đốc và chính phủ sẽ theo dõi tiến độ thông qua các báo cáo hằng năm.  Chính phủ Australia quan tâm đến việc hỗ trợ cho các DN vừa và nhỏ và có những chính sách ưu tiên để ươm tạo các DN công nghệ nhằm thúc đẩy hoạt động KH&CN sâu rộng hơn nữa trong cả nước.  Tại Khu công nghệ Đổi mới Australia ở Sydney, bên cạnh việc nhận nghiên cứu theo đơn đặt hàng của các DN, còn có đầy đủ cơ sở hạ tầng để cho DN thuê nhằm sản xuất thử. Khu công nghệ này thực sự là một vườn ươm công nghệ mà ở đó, các công ty với quy mô nhỏ sẽ được hỗ trợ ươm tạo từ 5-8 năm đối với lĩnh vực khoa học sự sống, và từ ba đến sáu  năm đối với lĩnh vực phần mềm.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Kinh-nghiem-ho-tro-hoat-dong-nghien-cuu-cho-DN-nho/238145.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế 2013: Những nghịch lý và cải cách bị bỏ lỡ      Nhìn lại kinh tế năm 2013, trong khi ghi  nhận những tiến bộ đã đạt được, chúng ta không thể không lo lắng về  những gánh nặng đang chờ đợi giải quyết trong năm 2014.    Theo những số liệu chính thức đã được công bố, tăng trưởng GDP năm 2013 ước tính là 5,42%, tuy không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 5,5%, song đã cao hơn năm 2012 (5,25%). Như vậy, có thể coi kinh tế Việt Nam đã vượt đáy, bắt đầu quá trình hồi phục chậm. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với trước đây (7-8%) và cũng thấp hơn mức tăng trưởng của Lào (7,9% năm 2012) và Campuchia (7,2% năm 2012). Đồng thời, khoảng cách giữa nước ta và các nước ASEAN khác như Indonesia và Malaysia ngày càng doãng ra chứ không xích gần lại.  Như Thủ tướng công bố hôm 5-12 trước các nhà tài trợ nước ngoài, GDP của Việt Nam theo giá hiện hành đã đạt mức 176 tỉ đô la Mỹ, GDP đầu người đạt 1.960 đô la Mỹ. (Trong khi đó, theo ông Hà Quang Tuyến, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia, Tổng cục Thống kê, ước tính GDP bình quân đầu người năm 2013 là 1.890 đô la Mỹ).  Ổn định kinh tế vĩ mô đã có bước cải thiện nhất định với mức lạm phát cả năm là 6,04%, tỷ giá so với đồng đô la Mỹ ổn định hơn, chỉ tăng hơn 1%/năm, thấp hơn nhiều so với chỉ số giá tiêu dùng, dự trữ ngoại tệ đạt mức ba tháng nhập khẩu, dù vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực nhưng là mức cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Lãi suất ngân hàng đã giảm đáng kể.  Xuất khẩu đạt mức 132,2 tỉ đô la Mỹ, tăng 15,4%, gấp ba lần mức tăng GDP và là mức tăng xuất khẩu cao trong các nước ASEAN và đóng góp đáng kể vào quá trình hồi phục kinh tế. Nhập khẩu ước đạt 131,3 tỉ đô la Mỹ.  Nghịch lý  Mặc dù nền kinh tế đã có những tiến bộ, song cũng đang bộc lộ khá nhiều nghịch lý.  Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng cao hơn có phần đóng góp quan trọng của xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, nhưng nhà đầu tư nước ngoài lại chuyển lãi thu được ở Việt Nam về nước họ, vì vậy tổng thu nhập quốc gia (GNI), tức thu nhập ròng còn lại ở Việt Nam, thấp hơn nhiều so với GDP được công bố.  Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2012 số vốn chuyển theo sở hữu nước ngoài là 7,5 tỉ đô la Mỹ, tức 196 đô la/người. Mức chuyển vốn này trong năm 2013 còn cao hơn, lên đến 171.930 tỉ đồng (theo Tổng cục Thống kê), tức hơn 8 tỉ đô la Mỹ.                  Năm 2013 nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2012 khoảng gần 0,2 điểm phần trăm, trong, khi tổng đầu tư xã hội đạt 30,4% GDP, thấp hơn mức 33,5% của năm 2012. Trong đó đầu tư của khu vực tư nhân đã giảm mạnh từ 15% GDP trong giai đoạn 2007-2010 xuống còn 11,5% năm 2013.  Theo điều tra của VCCI về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), năm 2007 có 74,3% doanh nghiệp được hỏi có ý định mở rộng sản xuất kinh doanh thì tỷ lệ này năm 2012 chỉ còn 20,3%.  Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc đến 56% vào vốn (trong khi đóng góp của yếu tố TFP chỉ còn khoảng 25%, phần còn lại là đóng góp của lao động), nên việc giảm đầu tư sẽ hạn chế tốc độ tăng trưởng.  Như vậy, dường như kinh tế Việt Nam đã có thể tăng trưởng cao hơn với mức đầu tư ít hơn và chỉ có thể giải thích sự dị thường này là hiệu quả đầu tư xã hội đã được cải thiện, có lẽ do sắp xếp lại đầu tư công. Song, điều này còn phải được chứng minh bằng những nghiên cứu độc lập.  Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp giảm sút rõ rệt từ mức tăng trung bình 3,3% của giai đoạn 2006-2010 xuống chỉ còn 2,67% năm 2013. Đây là điều đáng lo ngại vì nông nghiệp vốn là trụ đỡ bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế. Số hộ nông dân bỏ ruộng lan ra 22/63 tỉnh, thành phố; số mắc nợ, phá sản tăng lên.  Điều đáng lo ngại là các dấu hiệu hồi phục kinh tế lại xuất hiện đồng thời với các triệu chứng “trầm cảm” của nền kinh tế, bất chấp các nỗ lực đầu tư của Nhà nước. Mặc dù lãi suất tín dụng đã giảm mạnh từ 21% (năm 2011) xuống 9-11% năm 2013, song tổng mức tín dụng năm 2013 chỉ tăng 9%, tức chỉ cao hơn mức 7,5% của năm ngoái một ít, chứng tỏ “cục máu đông” nợ xấu vẫn ngăn cản hoạt động bình thường của nền kinh tế. Vòng quay của đồng vốn chỉ còn khoảng 1 so với mức hơn 2 của những năm trước đây thể hiện sự trì trệ đáng lo ngại của việc lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.  Tồn kho bất động sản vẫn còn rất lớn, nợ của khối doanh nghiệp nhà nước tiếp tục tăng lên (1,36 triệu tỉ đồng), đầu tư công còn rất dàn trải. Nếu không đạt được tiến bộ trên các lĩnh vực này thì các triệu chứng “trầm cảm” của nền kinh tế sẽ không tự động biến mất và khó có thể tăng trưởng bền vững.  Chi tiêu hộ gia đình của Việt Nam chỉ tăng 5,1% trong thời kỳ 2009-2012 so với mức 8,9% của giai đoạn 2004-2008. Sức mua của người dân đã xuống rất thấp, thể hiện qua sự ế ẩm của nhiều loại hàng hóa và tồn kho hàng công nghiệp vẫn cao hơn năm 2012 khoảng hơn 10%.  Như vậy, tăng trưởng GDP chưa thực sự cải thiện đời sống của đông đảo dân cư.  Tiêu dùng cũng không tăng lên mặc dù nhiều chiêu khuyến mãi đã được đưa ra và chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, đặc biệt chỉ số giá của các mặt hàng lương thực, thực phẩm không tăng mặc dù bão lũ đã gây thiệt hại lớn cho miền Trung. Thị trường vào dịp lễ Giáng sinh, Tết Dương lịch cũng trầm lắng khác thường cho thấy sức mua của người dân đã giảm sút nghiêm trọng. Niềm tin của người dân vào triển vọng ổn định và tăng trưởng mạnh của nền kinh tế vẫn chưa được khôi phục.  Số doanh nghiệp tư nhân tuyên bố phá sản hoặc ngừng hoạt động vẫn tiếp tục tăng 11,9% so với năm 2012, 65% doanh nghiệp báo cáo không có lãi, trong đó có không ít doanh nghiệp hạng trung đã gắng gượng trụ lại trong những năm vừa qua. Khu vực kinh tế dân doanh năng động, tạo ra nhiều việc làm nhất đã bị tổn thất nặng nề và chưa biết bao giờ mới phục hồi được. Cũng vì vậy, số lao động mất việc làm từ các ngành xây dựng, ngân hàng tiếp tục tăng lên trong những tháng cuối năm.  Trong khi tăng trưởng GDP có dấu hiệu hồi phục thì ngân sách nhà nước gặp khó khăn. Thu ngân sách không đạt kế hoạch đề ra (chỉ đạt 96,9% dự toán năm), trong đó đáng chú ý là thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 91% dự toán năm, nhiều tổng công ty, tập đoàn báo lỗ.  Trong khi xuất khẩu tăng cao thì thu thuế từ xuất khẩu rất khiêm tốn, chỉ bằng 84,6% dự toán. Lý do là 65% giá trị xuất khẩu do doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đóng góp nhưng các doanh nghiệp đó được hưởng nhiều ưu đãi, được miễn, giảm nhiều sắc thuế. Chính phủ đã phải đề nghị Quốc hội cho phép nâng chỉ tiêu bội chi ngân sách năm 2013 từ 4,8% lên 5,3%, tức là thêm 0,5 điểm phần trăm nữa và nợ công tiếp tục tăng nhanh.  Một nghịch lý nổi cộm là sự kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nếu trừ đi sự đóng góp của lĩnh vực y tế, giáo dục, hành chính, đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước năm 2011 chỉ còn 32,1% nhưng sử dụng đến 60% tổng tín dụng của nền kinh tế và tổng số nợ không ngừng tăng lên.  Những nghịch lý đó cho thấy tuy có dấu hiệu hồi phục nhưng nền kinh tế vẫn tiếp tục đối mặt với những yếu kém nan giải, đòi hỏi phải có nỗ lực lớn, kiên trì để khắc phục.  Tái cấu trúc và cải cách: một năm bị bỏ lỡ  Mặc dù đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị nhưng thực tế cho thấy năm 2013 đã không tạo được chuyển biến đáng kể nào về tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.  Chính phủ đã làm việc với cường độ rất cao, tổ chức rất nhiều cuộc họp, ban hành rất nhiều văn bản, chỉ thị nhưng kết quả đạt được còn quá khiêm tốn. Các nút thắt cổ chai của nền kinh tế về kết cấu hạ tầng, về lao động có trình độ cao và thể chế kinh tế không có cải thiện rõ rệt. Đánh giá về môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới vẫn ở mức thấp, xếp hạng 99/187 nền kinh tế.  Các biện pháp tái cấu trúc nền kinh tế chưa có tính hệ thống, cơ bản và chưa xác định tường minh mục tiêu cần đạt được sau một khoảng thời gian nhất định. Cách tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo phương pháp mỗi tập đoàn, tổng công ty đang nợ đầm đìa tự đề ra phương án tái cấu trúc, tự mình nắm tóc mình đứng lên,  tự khắc phục các yếu kém của mình là rất xa lạ đối với thế giới. Vụ án Dương Chí Dũng ở Vinalines cũng cho thấy những yếu kém đáng lo ngại trong quyết định và thực hiện đầu tư. Câu hỏi đề ra là có bao nhiêu “ụ nổi” khác, ngốn tiền tỉ chưa được phát hiện. Núi nợ của doanh nghiệp nhà nước sẽ được giải quyết thế nào? Tính công khai, minh bạch sẽ được cải thiện ra sao? Chừng nào những vấn đề đó chưa được đặt ra và chưa có giải pháp thì cái đích đạt được chưa rõ và chưa thuyết phục.  Đề án tái cấu trúc ngân hàng cũng chưa bao quát được đầy đủ các vấn đề phải giải quyết. Sáp nhập hai ngân hàng yếu kém có tạo ra một ngân hàng mạnh không? Cuối năm, vụ bảy ngân hàng chấp nhận một kho cà phê rởm của Công ty Trường Ngân để cho vay lại dấy lên sự lo ngại thực sự về chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và sự giám sát của cơ quan nhà nước. Chuyện giải quyết số nợ xấu được mua từ các ngân hàng thương mại của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) sẽ thế nào? Vai trò của nhà đầu tư tài chính nước ngoài trong vấn đề này ra sao? Nếu không có tiền tươi, thóc thật, với 500 tỉ đồng vốn điều lệ của VAMC, các đòn bẩy tài chính sẽ có hiệu lực đến đâu?  Một mặt, nước ta nỗ lực để vận động được thế giới công nhận là nền kinh tế thị trường trước năm 2018, song những can thiệp vào cơ chế thị trường cứ tăng lên chứ không giảm. Hệ thống giá bị bóp méo nghiêm trọng, giá điện, than tiếp tục thiếu minh bạch và được coi là dưới giá thành trong khi không có nỗ lực nào để kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước độc quyền. Thị trường vàng miếng hiện nay do Ngân hàng Nhà nước độc quyền. Tỷ giá bị neo để ổn định kinh tế trong khi lạm phát trong nước cao hơn làm cho đồng tiền Việt Nam trên thực tế cao giá hơn so với đồng đô la Mỹ khoảng 30%, ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.  Trong khi hội nhập quốc tế tiến nhanh thì những số liệu về nợ xấu, tiêu chuẩn đánh giá ngân hàng thương mại, đánh giá doanh nghiệp nhà nước và hàng loạt số liệu thống kê khác của nước ta như tỷ lệ thất nghiệp chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế.  Bộ máy nhà nước tiếp tục tỏ ra kém hiệu quả trên hàng loạt lĩnh vực như chất lượng văn bản ban hành, chất lượng các công trình đầu tư nhà nước, giám sát ô nhiễm môi trường, đấu tranh chống tham nhũng… và chưa đáp ứng được kỳ vọng của người dân. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã dũng cảm nói lên sự thật song vẫn chưa thấy có giải pháp cho đầu tư công.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế biển: Bứt phá từ đâu?      Hội nghị Xúc tiến Đầu tư Kinh tế biển Việt Nam 2010 đã diễn ra tại Hải Phòng vào cuối tuần đầu tháng 7 vừa qua với sự tham gia của khoảng 300 đại biểu trong và ngoài nước. Phần lớn các diễn giả tại Hội nghị cho rằng ngoài những tiềm năng hiển hiện để phát triển kinh tế biển và “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” (Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, ra ngày 9/2/2007), Việt Nam hiện vẫn chưa có được các chính sách, kế hoạch chi tiết để biến những tiềm năng đó thành hiệu quả kinh tế thực sự nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước.      Tư duy về kinh tế biển phải mạnh  Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam ví von: “Cái văn hóa “mò cua, bắt ốc” cùng con trâu cái cày đã ăn sâu vào tiềm thức dân tộc, do vậy chúng ta vẫn luôn làm theo kiểu tư duy đất liền và quay lưng ra biển”. Để thực sự có sự đột phá về kinh tế biển, theo TS Thiên, chúng ta cần “lật ngược vấn đề” và có tư duy lớn hơn, mạnh hơn về biển. Hiện Việt Nam mới có chiến lược biển, nhưng còn thiếu năng lực và lợi ích để cả dân tộc thực sự hướng ra biển. “Chiến lược biển chúng ta đã có nhưng vẫn chưa có được các thiết kế cụ thể để thực thi một cách hiệu quả”, ông nói.  Chia sẻ ý kiến này, ông Hoàng Duy Đông, Phó Cục trưởng Cục Quản lý khai thác Biển và Hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo) cho biết: “Chúng ta đã có nhiều chương trình, dự án, đề tài điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu về biển nhưng hiểu biết thực sự của chúng ta về Biển Đông còn hạn chế. Đây chính là thách thức lớn nhất và cũng là những rào cản khó khăn nhất trên con đường tiến ra biển, làm giàu từ biển của Việt Nam”.  Tài liệu của Cục Quản lý khai thác Biển và Hải đảo cũng cho thấy việc khai thác, sử dụng biển, đảo ở nước ta còn nhiều hạn chế bởi ngay từ việc đánh giá, nhìn nhận về tiềm năng tài nguyên biển, đảo có những mặt còn chưa đúng mức, việc phối hợp giữa các Bộ, ngành chức năng liên quan để xây dựng một qui hoạch tổng thể về sử dụng biển, đảo còn thiếu thống nhất và thiếu cơ chế hành động. Nhà nước chưa có chính sách phù hợp để xây dựng một qui hoạch tổng thể, thống nhất và đồng bộ. “Việc xây dựng qui hoạch tổng thể khai thác sử dụng biển và đảo phải là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu nhằm sử dụng và khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của biển, đảo, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái biển”, ông Đông nói.  Theo ước tính của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), qui mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam đạt khoảng 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP của cả nước. Trong các ngành kinh tế biển hiện nay, chiếm chủ yếu (98%) là khai thác dầu khí, khai thác hải sản, hàng hải và du lịch biển. Hầu hết các tập đoàn khai thác cảng biển và vận tải biển hàng đầu thế giới đã có mặt ở Việt Nam, với nhiều dự án xây dựng và khai thác cảng container. Tuy nhiên, các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy sản, thông tin liên lạc hiện vẫn có qui mô rất nhỏ ở Việt Nam, chỉ chiếm 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP của cả nước. “Phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện còn ở mức thấp, khai thác biển, đảo cho đến nay vẫn chưa hiệu quả, thiếu bền vững, trình độ khai thác biển của nước ta hiện vẫn đang ở tình trạng lạc hậu nhất khu vực”, ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết. Ông cũng nhấn mạnh rằng “Việt Nam vẫn chưa thực sự dựa vào biển để phát triển đúng tiềm năng và thế mạnh. Do đó, Việt Nam chưa phải là quốc gia mạnh về biển”.  TS Trần Đình Thiên thậm chí còn đi sâu hơn, nhấn mạnh rằng Việt Nam hiện chưa có tinh thần mạo hiểm khám phá và chinh phục biển, thiếu các năng lực vật chất để chinh phục biển (tiềm lực kinh tế, nhân lực, công nghệ) và đặc biệt là chưa có sự hiện diện trên biển như là một quốc gia-cường quốc về biển, ít nhất với tư cách chủ thể.  Phát huy lợi thế của biển  Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, ông Nguyễn Văn Thành cho rằng 8 thách thức hiện nay trong việc phát triển kinh tế biển ở Việt Nam liên quan tới: quy hoạch và khai thác tài nguyên biển; quản lý và khai thác tài nguyên vùng bờ; chính sách pháp luật và giải quyết các dòng tiêu cực khi hội nhập; đảm bảo cuộc sống cho cư dân ven biển; bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ đa dạng sinh học; phát triển cơ sở hạ tầng cho kinh tế biển; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế biển và thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. “Cần giải quyết tốt 8 vấn đề nêu trên để mở đường giải phóng sức sản xuất và khai thác được các lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm”, ông Thành nói. Năm trục kinh tế trọng tâm của kinh tế biển mà Hải Phòng có tiềm năng phát triển hiện nay là: Khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển; Cảng, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng hải, vận tải biển và hậu cần logistic; Kinh tế thủy sản, nuôi trồng, khai thác, chế biến; Du lịch biển đảo và Năng lượng biển, dầu khí.  Tuy nhiên, cái nhìn của Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên thì lại khác. Ông cho rằng Hải Phòng cần phải tạo ra “một sự khác biệt thực sự”, đặc biệt có thể xây dựng được một thể chế riêng, kiểu một đặc khu đô thị-cảng biển để bứt phá, trở thành một đầu tàu dẫn dắt kinh tế của cả vùng Hải Phòng-Quảng Ninh. “Phải vượt trước được bằng thể chế thì mới có thể vượt trước được bằng công nghệ”, ông nói. Từ những ví dụ của Trung Quốc, với các điều kiện thể chế, kinh tế khá tương đồng với Việt Nam, cụ thể là Thâm Quyến, Phố Đông (Thượng Hải), ông đưa ra quan điểm là muốn đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần tạo cách chơi theo kiểu: “đi sau nhưng vượt trước”. Như vậy, từ việc “quay lưng ra biển” như hiện nay, chúng ta cần nhìn thẳng ra biển để phát triển. “Nhưng chỉ nhìn thôi mà không làm được gì thì khó có thể nói là phát triển hiệu quả được”, ông nhấn mạnh.  Lý giải về nguyên nhân tại sao các nhà đầu tư của Đức đến với Hải Phòng và Quảng Ninh, ông Oliver Regner, Phó đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Đức tại Việt Nam cho biết: “Đó chính là các lợi thế phần cứng và phần mềm khác nhau của những nơi này”. Lợi thế phần cứng liên quan tới hệ thống giao thông vận tải, nhân lực, các hệ thống phí và thuế, sự sẵn có của đất đai và vị trí địa lý. Lợi thế phần mềm liên quan tới các chính sách của địa phương, thủ tục hành chính, việc thành lập các cơ sở đào tạo, trung tâm giải trí…  “Lợi thế về hệ thống giao thông và nhân công là những điều kiện hấp dẫn các công ty của Đức. Vì vậy, cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao trình độ nhân lực là những việc quan trọng, cấp thiết hiện nay để thu hút đầu tư nước ngoài”, ông nói.  Tại Hải Phòng, việc đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế biển cũng đang được chú trọng, thể hiện bằng việc triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn như Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, dự án xây dựng cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, dự án nâng cấp sân bay Cát Bi, dự án hạ tầng dịch vụ cảng tại Cát Hải, các dự án hạ tầng giao thông, hậu cần nghề cá trên các huyện đảo Cát Hải, Bạch Long Vĩ và các địa phương giáp biển như Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Đồ Sơn, Tiên Lãng. Hiện thành phố cũng đang chuẩn bị các điều kiện để xây dựng tuyến đường cao tốc ven biển nối liền Thanh Hóa-Ninh Bình-Thái Bình-Hải Phòng-Quảng Ninh cũng như các khu công nghiệp, đô thị ven biển… “Hải Phòng đã xây dựng và đề xuất với Chính phủ ban hành cơ chế đặc biệt cho thu hút vốn đầu tư phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng then chốt, chủ động lập các dự án cụ thể để vận động vốn hỗ trợ phát triển ODA và xây dựng cơ chế khuyến khích các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI theo hướng chọn lọc các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính và trình độ quản lý, lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến…”, ông Đan Đức Hiệp, Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng cho biết.  Tương tự như vậy, ông Nguyễn Hữu Giang, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ninh cho biết tỉnh này đã tổ chức lập các qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và qui hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn với việc chú trọng xây dựng qui hoạch phát triển các đô thị lớn ven biển bao gồm thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và thành phố Móng Cái. “Trong thời gian tới, Quảng Ninh sẽ tiếp tục khắc phục những hạn chế và cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm khai thác tối đa những tiềm năng, lợi thế mà biển mang lại đối với tỉnh”, ông nói.  GS-TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trong phần kết luận Hội nghị cho rằng tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam theo hướng dựa trên khoa học và công nghệ làm đòn bẩy để phát triển kinh tế là “một chuyện đại sự” của đất nước. Phát triển kinh tế biển chắc chắn sẽ là một trong những nội dung sẽ được mang ra bàn thảo trong đề án tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, những thông tin thu được từ Hội nghị Xúc tiến Đầu tư Kinh tế biển này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài có một cái nhìn tổng thể hơn, từ đó đưa ra những kế hoạch chi tiết đẩy mạnh phát triển kinh tế biển tại Việt Nam.                      Với tổng chiều dài bờ  biển hơn 3.200 km và hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế thuộc 28 tỉnh, thành khác nhau, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ (chưa kể đến một số đảo).               Theo ông Hoàng Duy Đông, Phó Cục trưởng Cục quản lý khai thác Biển và Hải đảo, nếu tính bình quân thì ở Việt Nam cứ 100 km2 đất liền lại có 1 km bờ biển. Con số này cao gấp 6 lần chỉ số trung bình của thế giới. Không những thế, bờ biển của Việt Nam lại mở ra cả ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam nên rất thuận lợi cho các giao lưu quốc tế qua đại dương. Tiềm năng, lợi thế biển Việt Nam hiện rất đa dạng và phong phú, gồm nhiều tài nguyên khác nhau như nguồn lợi thủy sản, các hệ sinh thái biển, ven biển, các mỏ sa khoáng những nguyên tố hiếm và vật liệu xây dựng, các mỏ dầu khí ở vùng thềm lục địa… Bờ biển dài chạy dọc theo chiều dài của đất nước đã tạo ra những lợi thế đặc biệt để phát triển mạnh các lĩnh vực như giao thông vận tải, du lịch biển, đảo và xây dựng những công trình đô thị ven biển.               Trong số các nguồn tài nguyên biển của nước ta, chỉ tính riêng nguồn năng lượng dầu khí có tới 500.000 km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí, trữ lượng ở ngoài khơi Việt Nam chiếm khoảng 25% trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông, mỗi năm có thể khai thác khoảng 20 triệu tấn, trữ lượng dầu khí ở thềm lục địa dự kiến khoảng 10 tỉ tấn qui dầu, trữ lượng khí đốt khoảng 3 nghìn tỉ m3/năm.               Về tài nguyên sinh vật, đến nay chúng ta đã phát hiện được hơn 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình thuộc về 6 vùng đa dạng sinh học biển và nhiều loại động vật quí hiếm khác. Rạn san hô là hệ sinh thái biển nhiệt đới điển hình, không chỉ có ở bờ biển phía Bắc, mà còn là một trong những vùng biển có san hô đa dạng nhất thế giới với khoảng 350 loài thuộc 72 giống san hô khác nhau. Thống kê mới đây tại 23 điểm ở 12 tỉnh của Việt Nam đã phát hiện được 15 loài cỏ biển trong các thảm cỏ có diện tích 5.583 ha, mà các thảm cỏ biển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nhiều loài sinh vật biển.              Về nguồn lợi hải sản, trữ lượng cá toàn vùng biển Việt Nam ước tính khoảng 4,2 triệu tấn, với ngưỡng khai thác bền vững 1,4-1,7 triệu tấn/năm. Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh, đem lại nguồn lợi lớn cho dân cư sống vùng ven biển.              Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt đối với Việt Nam, mở ra triển vọng lớn để khai thác và phát triển. Dọc bờ biển Việt Nam có hàng trăm bãi tắm, trong đó có nhiều bãi tắm lớn có chiều dài từ 15-18 km, còn lại trung bình có chiều dài 1-2 km, rất có điều kiện để khai thác phát triển du lịch biển.              Năng lượng thủy triều, sóng, gió và nhiệt là những tiềm năng tương đối lớn sẽ đáp ứng nhu cầu của tương lai, cung cấp điện năng cho các đảo và đang được quan tâm, đưa vào nghiên cứu và sẽ ứng dụng trong tương lai gần. Ngoài ra đáy biển còn có nhiều loại khoáng sản quí hiếm khác như thiếc, titan, thạch anh, nhôm, sắt, măng-gan, đồng, kẽm, các loại đất hiếm và vật liệu xây dựng…            Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế châu Á-TBD năm 2014 vẫn tăng chậm      Ngày 19/12, Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực  châu Á-Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP) công bố báo cáo dự báo  thành quả kinh tế tại các nước đang phát triển ở khu vực châu Á-Thái  Bình Dương sẽ được cải thiện đôi chút vào năm 2014, tuy nhiên, tăng  trưởng sẽ vẫn ở mức thấp.    Theo báo cáo của ESCAP, các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực dự kiến tăng 5,6% năm 2014, cao hơn 5,2% năm 2013.  Trước đó, hồi đầu năm nay, ESCAP đã dự báo con số tăng trưởng của khu vực này trong năm nay là 6%. Như vậy, giai đoạn 2012-2014 đánh dấu lần đầu tiên trong ít nhất hai thập kỷ qua các nền kinh tế đang phát triển của châu Á-Thái Bình Dương tăng trưởng hàng năm ở mức dưới 6%, chỉ đạt trung bình 5,4%. Trong giai đoạn 2002-2007, con số này là 8,4%.  Báo cáo của ESCAP cũng nêu rõ trong năm 2014, khu vực này sẽ chịu tác động bởi đà phục hồi chậm chạp, các chính sách không rõ ràng và chủ nghĩa bảo hộ ở các nền kinh tế phát triển, cũng như những trở ngại về cấu trúc như sự bất cân bằng xã hội.  Phát biểu tại buổi công bố báo cáo trên, Thư ký điều hành ESCAP Noeleen Heyzer nêu rõ: “Các nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương đang ở thời điểm bước ngoặt. Cách thức quản lý quá trình chuyển đổi hiện nay sẽ tác động lâu dài tới đà phát triển bền vững và toàn diện của khu vực.”  Theo báo cáo, các nền kinh tế chủ chốt như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia với các thị trường trong nước rộng lớn tăng trưởng không nhiều trong năm nay sau nhiều năm đạt thành quả kinh tế cao.  Các diễn biến trong chính sách tiền tệ của Mỹ cũng có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng trong khu vực, khiến Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Malaysia, Philippines, Nga và Thái Lan sẽ bị giảm từ 1,2 đến 1,3% vào năm 2014.  Báo cáo cũng nhắc lại sự cần thiết của chi tiêu công hiệu quả trong việc thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững, tập trung vào đa số dân khu vực nông thôn, trong bối cảnh 762 triệu người vẫn đang sống phụ thuộc vào nghề nông.  Giám đốc phụ trách chính sách kinh tế vĩ mô của ESCAP, ông Anisuzzaman Chowdhury nhận định các nền kinh tế đang phát triển của khu vực này phải đối mặt với một “tiêu chuẩn mới” về tăng trưởng thấp trong những năm tới, vì vậy cần tăng cường hợp tác nội khu vực.      Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/kinh-te-chau-athai-binh-duong-nam-2014-van-tang-cham/236026.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO      Ngày 3/4, Viện Quản lý kinh tế TƯ (CIEM) thuộc Bộ KH&amp;ĐT đã công bố thông tin tổng thể về kinh tế – xã hội VN sau 5 năm gia nhập WTO (2007 – 2011).     Trong 5 năm 2007 – 2011, tăng trưởng GDP của nền kinh tế chỉ đạt trung bình 6,5%, không đạt chỉ tiêu kế hoạch 7,5-8% và thấp hơn mức trung bình 7,5% trong giai đoạn 5 năm trước đó. Duy nhất một năm (2008), Việt Nam đạt mức tăng trưởng 8,5%, một phần nhờ các rào cản thương mại giảm nhiều khi hội nhập.  Tuy nhiên từ giữa năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm dần, ở mức bình quân 6,1% trong giai đoạn 2008-2011, sang năm 2009 thậm chí rơi xuống 5,3%. Nền kinh tế vừa mở cửa một năm đã gặp ngay những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế, suy thoái tài chính toàn cầu, khiến những yếu kém và hạn chế trong nội tại bộc lộ rõ nét hơn.  Chỉ có ngành nông lâm thủy sản là tăng trưởng cao hơn chút ít so với mục tiêu. Hai khu vực còn lại, công nghiệp – xây dựng lẫn dịch vụ đều kém khá xa so với kỳ vọng. Là lĩnh vực có ảnh hưởng lớn nhất đến tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế (chiếm tỷ trọng 40%), ngành công nghiệp – xây dựng thậm chí sụt giảm mạnh so với thời kỳ trước WTO. Các mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, như đưa nông lâm thủy sản chiếm 15, 16% GDP, công nghiệp – xây dựng lên 43 đến 44% GDP, dịch vụ 40 đến 41% GDP vào năm 2010 đều không thực hiện được.  Tăng trưởng kinh tế 5 năm sau WTO không chỉ kém 5 năm trước về tốc độ, mà chất lượng cũng giảm sút. Đặc biệt trong giai đoạn 2007-2010, hiệu quả kinh tế còn suy giảm mạnh  Phát biểu tại Hội thảo, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng sau WTO, trong khi những tác động của hội nhập tới FDI là rõ ràng, thì xuất khẩu của Việt Nam không hơn gì nhiều so với trước. Trong cả giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD, bình quân tăng trưởng 19,5% mỗi năm. Tuy nhiên, mức tăng này thấp hơn giai đoạn 5 năm trước WTO (tăng 2,5 lần, bình quân mỗi năm 21,5%). Ngược lại, hội nhập kinh tế quốc tế lại khiến nhập siêu tăng mạnh, đạt 14,2 tỷ USD vào năm 2007 và 18 tỷ USD vào 2008, so với mức 5,1 tỷ USD vào năm 2006.  Không những thế, 60% kim ngạch xuất khẩu lại là do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện. Còn tăng trưởng ở nhóm các doanh nghiệp trong nước lại lùi dần. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vì nếu một ngày các nhà đầu tư nước ngoài chuyển việc kinh doanh sang quốc gia khác có giá lao động rẻ hơn thì xuất khẩu tuột dốc không phanh là điều không tránh khỏi, bà Phạm Chi Lan phân tích.  Hậu WTO, cán cân thanh toán quốc tế có những diễn biến phức tạp, với quy mô lớn hơn trong giai đoạn trước đó. Còn trong hệ thống ngân hàng, việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn trong giai đoạn 2007- 2011 cũng làm rủi ro tài chính tăng lên đáng kể. Áp lực tái cơ cấu hệ thống ngân hàng càng trở nên nghiêm trọng khiến Chính phủ phải tái cơ cấu hệ thống này từ cuối năm 2011, mở đầu bằng việc sáp nhập 3 ngân hàng SCB, Đệ nhất và Tín Nghĩa. Tiến sĩ Võ Trí Thành, Viện trưởng CIEM, nhận xét, Việt Nam trở thành nền kinh tế dễ tổn thương nhất trước các cú sốc so với các nước Đông Á khác, cả cú sốc từ bên ngoài lẫn từ trong bên trong.  Đến 2013 – 7 năm sau gia nhập WTO, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát. Theo Tiến sĩ Võ Trí Thành, lạm phát năm nay khó giữ ở mức 6%. Tín dụng tăng trưởng thấp nhưng cung tiền (tổng tiền gửi và tiền lưu thông trong nền kinh tế) vẫn đang tăng rất cao, năm ngoái tăng 22% và 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng 3,5%.  “Ngân sách chưa bao giờ khó khăn như hiện nay”, Tiến sĩ Thành nhận xét. Theo ông, rủi ro cao nhất vẫn nằm nợ xấu ngân hàng. Sắp tới khi Việt Nam tính toán nợ xấu theo tiêu chuẩn mới thì tỷ lệ nợ xấu có thể còn tăng gấp đôi so với hiện nay.  Giữa những tiêu cực đó, nền kinh tế vẫn có những điểm sáng “lờ mờ”, theo nhận định của vị Tiến sĩ Thành. Xuất khẩu 3 tháng đầu năm nay khá khá quan, đạt gần 30 tỷ USD. Tuy nhiên ông Thành cũng nhấn mạnh riêng 3 tỷ USD trong số này là do một doanh nghiệp FDI mang lại.  Cũng trong lĩnh vực xuất khẩu, một tín hiệu tích cực nữa là lần đầu tiên các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu tăng trên 10% trong 3 tháng đầu năm nay, dù phần lớn nhờ vào việc xuất 400 triệu USD vàng. Nếu trừ vàng đi, thì mức tăng của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước còn 5 đến 6%. Con số này vẫn khả quan hơn nhiều so với tỷ lệ tăng 1,3% của nhóm các doanh nghiệp nội năm ngoái.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế học đổi mới – học thuyết chi phối chính sách KH&CN trong thế kỷ 21      Vai trò của KH&amp;CN đối với tăng trưởng kinh tế đã được phản ánh qua quá trình tiến hóa của các học thuyết kinh tế chi phối chính sách kinh tế, chính sách KH&amp;CN ở những nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Hoa kỳ nửa cuối thế kỷ 20. Đó là sự nổi lên của các học thuyết Kinh tế học tân cổ điển, Kinh tế học Keynes mới và gần đây nhất là sự xuất hiện của Kinh tế học đổi mới (Innovation Economics).       Bài viết này điểm lại những đặc điểm chủ yếu của các học thuyết kinh tế nêu trên đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm cần lưu ý đối với Việt Nam trong việc vận dụng cách tiếp cận của Kinh tế học đổi mới để bổ sung cho các chính sách kinh tế vĩ mô đã và đang được thực thi ở nước ta những năm gần đây, mà về cơ bản vẫn mang “dáng dấp” các học thuyết kinh tế Tân cổ điển và Keynes mới và còn rất xa lạ cách tiếp cận của với Kinh tế học đổi mới.  1. Kinh tế học tân cổ điển   Học thuyết Kinh tế học tân cổ điển (Neo-Classical), bao gồm cả Tân cổ điển bảo thủ (Conservative) và Tân cổ điển tự do (Liberal) quan niệm động lực cho tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động. Thị trường như một “bàn tay vô hình” thông qua cân bằng cung cầu đứng ra điều tiết và quyết định việc xã hội sử dụng các nguồn vốn và lao động khan hiếm để sản xuất và phân phối sản phẩm cho các đối tượng khác nhau. KH&CN được quan niệm chỉ là yếu tố ngoại sinh, nằm bên ngoài quá trình sản xuất, không phải là biến số chính, trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế như vốn đầu tư và lao động.  “Mỗi học thuyết kinh tế đều có “kinh thánh” của nó. Và kinh thánh của Kinh tế học tân cổ điển là tác phẩm kinh điển của Adam Smith viết năm 1776 nhan đề Một khảo cứu về Tự nhiên và nguồn gốc của tài sản quốc gia. Mặc dù Kinh tế học tân cổ điển, học thuyết kinh tế vẫn còn đeo bám các nhà kinh tế ở Washington cho đến tận hôm nay, đã đổi mới rất nhiều kể từ khi Adam Smith viết quyển sách đó, nhưng cả hai trường phái bảo thủ và tự do của học thuyết này về cơ bản vẫn dựa trên các quan điểm, nguyên tắc mà Adam Smith đã vạch ra” [1, p.4]  Học thuyết kinh tế học tân cổ điển mà Adam Smith đặt nên tảng được dựa trên năm nguyên tắc chủ yếu sau:  Thứ nhất, tích lũy vốn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính nhờ công trình xác lập mối liên hệ trực tiếp, vai trò của vốn và lao động đối với tăng trưởng kinh tế mà nhà kinh tế học của MIT, Robert Solow đã nhận được giải thưởng Nobel. Trong hàm sản xuất của Solow, KH&CN không phải là biến số nội sinh, mà thể hiện một cách ngoại sinh thông qua vai trò của tiến bộ kỹ thuật được cho là có đóng góp thông qua phần dư còn lại không thể giải thích được bằng các yếu tố vốn và lao động. Xuất phát từ quan niệm về vai trò động lực tăng trưởng của yếu tố vốn đầu tư, các chính sách kinh tế tân cổ điển đều tập trung cho mục tiêu tiết kiệm chi tiêu cá nhân và chi tiêu công để tạo điều kiện tăng vốn đầu tư. Vốn đầu tư vào cơ sở vật chất và đôi khi đầu tư cho con người được tin là yếu tố duy nhất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế học tân cổ điển nói chung “từ chối, hoặc giảm thiểu tối đa vai trò của công nghệ, thậm chí không tin vào vai trò của tiến bộ công nghệ” [1,p.5]. Hoạt động nghiên cứu và phát triển về cơ bản không phải là đối tượng chính của chính sách vì được coi là yếu tố ngoại sinh nằm bên ngoài cỗ máy tăng trưởng kinh tế.  Thứ hai, tăng trưởng kinh tế đạt được là nhờ tối đa hóa hiệu quả phân bổ nguồn lực. Vốn đầu tư, lao động, hàng hóa và dịch vụ được phân bổ và tiêu dùng theo giá cả thị trường sẽ có tổng lợi ích mang lại là lớn nhất khi không có các quy định, các chính sách kinh tế làm sai lệch, làm méo mó giá cả như là tín hiệu thị trường đưa ra. Các chính sách điều chỉnh về thuế khóa, chi tiêu công hay chính sách KH&CN không phản ánh trung thực giá cả thị trường, không bảo đảm hiệu quả phân bổ nguồn lực được quan niệm là cản trở tăng trưởng.  Thứ ba, tâm điểm của nền kinh tế là thị trường và giá cả. Các nhà kinh tế học tân cổ điển có niềm tin gần như tuyệt đối vào vai trò của giá cả và thị trường tự nhiên dẫn dắt nền kinh tế đạt được hiệu quả tối ưu như trong toán học và lý tưởng về xã hội mà không cần đến các chính sách can thiệp của nhà nước. Đây cũng là một trong những lý do giải thích tại sao các mô hình toán học thường hay được sử dụng trong các phân tích kinh tế học kiểu tân cổ điển. Văn hóa, tâm lý xã hội, KH&CN và đặc biệt là các thiết chế (bao gồm cả tổ chức và chính sách) không thể thay thế được thị trường và giá cả trong điều tiết nhịp độ và tốc độ tăng trưởng kinh tế.  Thứ tư, nền kinh tế có xu hướng cân bằng. Theo nguyên tắc này, trạng thái cân bằng trong nền kinh tế là khuôn khổ chung cho các biến đổi về cơ cấu và được cho là kết cục tất yếu của các quan hệ cung cầu, của các hành vi sản xuất, phân phối và tiêu dùng dựa trên giá cả thị trường của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Vai trò của các chính sách kinh tế là làm sao loại bỏ hoặc giảm thiểu các cản trở nền kinh tế đạt tới trạng thái cân bằng, đảm bảo cho giá cả phản ánh đúng giá thành sản xuất. Trên quan điểm này, các chính sách sử dụng vốn và lao động đầu tư cho các dự án không mang lại hiệu quả kinh tế trong một không gian, thời gian nhất định được cho là làm nền kinh tế mất cân bằng, ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô (trong đó có đầu tư cho KH&CN) và được cho là không có lý do để được ưu tiên thực hiện.  Thứ năm, các cá nhân và công ty có thể tối đa hóa lợi nhuận và phản ứng được với các kích thích kinh tế một cách hợp lý. Theoquan điểm của Kinh tế học tân cổ điển, các cá nhân và công ty trong khi theo đuổi lợi ích của riêng mình thì cũng đồng thời do sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” làm thỏa mãn những lợi ích công. Sở dĩ như vậy là do “con người thay đổi hành vi của họ khi các khuyến khích thay đổi, đặc biệt là thuế”. Một trong những công cụ đắc lực của chính sách kinh tế tân cổ điển tiếp cận từ phía cung là giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế đánh vào tiết kiệm và thuế đầu tư đánh vào tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội.  2. Học thuyết kinh tế Keynes mới   Kinh tế học Keynes ra đời trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế thế giới đầu những năm 30 thế kỷ 20 với tác phẩm kinh điển của nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes Lý thuyết tổng quát về việc làm, lợi tức và tiền tệ xuất bản năm 1936. Khác với Kinh tế học tân cổ điển, Kinh tế học Keynes nhấn mạnh vai trò can thiệp, điều chỉnh kinh tế của các chính phủ thông qua tăng chi tiêu công để kích thích nhu cầu kinh tế và chính sách bảo đảm việc làm đầy đủ cho công nhân nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường trong Kinh tế học tân cổ điển và tăng cường quản lý để duy trì các chu kỳ kinh doanh.  “Kinh tế học Keynes được chấp nhận và sử dụng rộng rãi sau Chiến tranh thế giới thứ hai và là học thuyết kinh tế phổ biến ở Mỹ cho đến những năm 1970…Khi khủng hoảng kinh tế đầu những năm 1970 xảy ra phái bảo thủ muốn thay thế tư duy kinh tế của Keynes bằng học thuyết kinh tế Tân cổ điển, nhiều người thuộc phe tự do lại vẫn muốn duy trì học thuyết kinh tế của Keynes. ..Một nhóm lớn các nhà kinh tế tự do tiếp tục dựa trên các tư tưởng của Keynes để thích ứng với điều kiện kinh tế mới..” [1,p.10]  Học thuyết kinh tế Keynes được cải biến cho phù hợp với bối cảnh kinh tế những năm 1970 sau khủng hoảng kinh tế thế giới được gọi là Học thuyết Keynes mới thịnh hành ở Mỹ cho đến ngày nay mà đại diện tiêu biểu là Viện Chính sách kinh tế, Trung tâm Nghiên cứu chính sách và kinh tế, Viện Kinh tế Levy, Trung tâm tiến bộ Mỹ,.. Kinh tế học Keynes mới dựa trên 3 nguyên tắc chủ yếu:  Thứ nhất, nhu cầu là động lực tăng trưởng kinh tế. Học thuyết kinh tế Keynes mới cho rằng chính nhu cầu hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp, chính phủ và người tiêu dùng tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tổng các nhu cầu này tăng lên, đặc biệt là tăng chi tiêu công của chính phủ sẽ là một kích thích kinh tế gia tăng đầu tư xã hội. Để thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ cần chủ động tăng chi tiêu công, tăng lương cho người lao động để họ có thêm thu nhập, kích thích tiêu dùng nhiều hơn tạo ra thu nhập lớn hơn cho nền kinh tế.  Thứ hai, phân phối công bằng của cải có vai trò trọng yếu trong tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện và hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhất là vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, các nhà kinh tế học Keynes mới cho rằng có rất ít khả năng và rất ít điều Chính phủ có thể làm được để tăng năng suất, thành thử việc phân phối của cải một cách công bằng trở nên quan trọng. Chính sách cắt giảm thuế cho tầng lớp thu nhập thấp trong xã hội để họ có thể chi tiêu nhiều hơn còn quan trọng hơn và có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn là đưa ra các chính sách thuế có lợi cho đổi mới công nghệ hoặc cấp tín dụng ưu đãi cho hoạt động R&D.  Thứ ba, quản lý chu kỳ kinh doanh ngắn hạn là mục đích trước tiên. Thay vì chú trọng các mục tiêu dài hạn, học thuyết kinh tế học Keynes mới chủ trương duy trì cân bằng kinh tế ngắn hạn miễn sao nền kinh tế không rơi vào khủng hoảng, cho dù chỉ là trong một vài năm trước mắt. Đây là ưu tiên hàng đầu của các chính sách kinh tế kiểu Keynes mới. Tư duy kinh tế ngắn hạn này không khuyến khích và dành ưu tiên cao cho các đầu tư chỉ phát huy tác dụng trong dài hạn như đổi mới công nghệ, giáo dục đào tạo.  3. Kinh tế học đổi mới   “Nếu Adam Smith là vị thánh của Kinh tế học tân cổ điển và Keynes là của Kinh tế học Keynes mới thì Joseph Schumpeter chính là cha đẻ của Kinh tế học đổi mới. Kinh thánh của Kinh tế học đổi mới phải là tác phẩm kinh điển ông viết năm 1942 nhan đề: Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Nền dân chủ “[1, p.12]   Đối với J.Schumpeter, không chỉ vốn và lao động, hay chi tiêu chính phủ mà cụ thể hơn chính các thiết chế tổ chức, các nhà kinh doanh và đổi mới công nghệ mới chính là trái tim của nền kinh tế và là động lực cho tăng trưởng. Ông lý giải nguồn gốc của cải mà chủ nghĩa tư bản tạo ra như sau:  “Điểm thiết yếu cần nắm vững là khi đề cập đến chủ nghĩa tư bản là chúng ta tiếp cận một quá trình tiến hóa…Cái xung lực cơ bản thiết lập và bảo đảm cho cỗ máy của chủ nghĩa tư bản vận hành được là do sự xuất hiện của những hàng hóa mới, phương pháp sản xuất mới, phương tiện vận tải mới, những thị trường mới và những hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp mới mà các xí nghiệp tư bản tạo ra” [1, p.14]  Chính do sự thống trị của Kinh tế học Keynes trong suốt hơn 40 năm vừa qua mà quan điểm của Kinh tế học đổi mới chưa bao giờ thực sự được đề cao cho đến những năm gần đây. Và thật sự thì “chỉ trong vòng 15 năm trở lại đây, lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào đổi mới bắt nguồn từ lý thuyết của Schumpeter mới xuất hiện” [1, p.12]. “Học thuyết kinh tế mới này được biết đến với tên gọi “Kinh tế học đổi mới” hoặc một số tên gọi khác như: “Kinh tế học thể chế mới”, “Kinh tế học tăng trưởng mới”, “Lý thuyết tăng trưởng nội sinh”, “Kinh tế học tiến hóa” và “Kinh tế học Schumpeter mới” đã cung cấp một khuôn khổ lý thuyết giúp lý giải và thực hiện các chính sách thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nền kinh tế dựa trên tri thức hôm nay [1, p.14; 2, p.19]. Có 6 nguyên tắc cơ bản cấu thành nên Kinh tế học đổi mới.   Thứ nhất, đổi mới là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kinh tế học đổi mới không giống với Học thuyết kinh tế tân cổ điển và Kinh tế học Keynes mới thịnh hành tại Hoa Kỳ cho đến những năn gần đây vốn coi tri thức và công nghệ là những quá trình xảy ra bên ngoài hoạt động kinh tế. Động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế tri thức hôm nay,theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới không phải là tích lũy vốn như Kinh tế học tân cổ điển quan niệm mà là đổi mới.          Theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới, nếu các chính sách khuyến khích đổi mới của chính phủ có làm sai lệch tín hiệu giá cả thị trường và có trước mắt gây một tổn thất nào đó cho nền kinh tế thì cũng chấp nhận được vì hiệu quả phân phối không phải là yếu tố chủ yếu chi phối tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế dựa trên tri thức của Thế kỷ 21.        “Những thay đổi chủ yếu trong nền kinh tế Hoa Kỳ 15 năm qua đã diễn ra không phải bởi vì nền kinh tế tích lũy nhiều vốn hơn để đầu tư nhiều hơn vào các nhà máy thép lớn hơn, nhà máy sản xuất xe hơi lớn hơn mà nó đã diễn ra nhờ vào hoạt động đổi mới. Nền kinh tế Hoa Kỳ đã triển khai hàng loạt công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin và triển khai áp dụng công nghệ thông tin một cách rộng rãi trong toàn bộ nền kinh tế. Và mặc dù cần phải có vốn thì mới có những công nghệ này nhưng vốn đầu tư không phải là động lực mà chỉ là một thứ hàng hóa ngắn hạn” [1, p.14].  Hàng loạt các nghiên cứu kinh tế trong thời gian qua từ William Baumol, Brad Delong đến Richard Nelson đều đã chứng minh rằng “các biến số tân cổ điển (trong hàm sản xuất truyền thống – ám chỉ vốn và lao động) không giải thích được sự khác biệt về năng suất giữa các hãng”. Robert Hall và Charles Jones nghiên cứu 127 nước và đã phát hiện ra một số nước đã phát triển nhanh hơn: “Năm 1998, sản lượng một công nhân làm ra tại 5 nước có năng suất cao nhất lớn gấp 31,7 lần sản lượng một công nhân làm ra tại 5 nước có năng suất thấp nhất” và nguyên nhân của sự chênh lệch này “ xuất phát tương đối ít” từ những khác biệt về vốn vật chất và vốn con người”. Klenow và Rodriguez-Clare cũng phát hiện ra rằng: “hơn 90% của chênh lệch về mức tăng trưởng thu nhập một công nhân tạo ra bị quyết định bởi cách thức sử dụng vốn, trong khi khác biệt về vốn tài chính và vốn con người chỉ quyết định có 9%” [1, p.15]. Như vậy cách thức sử dụng vốn, phân bổ theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn) và không gian (trong nước và ngoài nước), hình thái vốn (vốn thiết bị hay công nghệ, hay vốn con người) và tổ chức sử dụng vốn (các loại quỹ, chính sách tài trợ) thông qua các đổi mới về thiết chế chính sách mới là động lực tạo nên những khác biệt về tăng trưởng và năng suất giữa các quốc gia và các nền kinh tế.  Thứ hai, động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế là các hiệu quả sản xuất và hiệu quả thích nghi. Nếu như Kinh tế học tân cổ điển tập trung nghiên cứu tạo ra hiệu quả phân phân bổ nguồn lực theo đó “các xã hội sử dụng các tài nguyên khan hiếm như thế nào để sản xuất ra các hàng hóa có giá trị và phân phối chúng cho các cá nhân khác nhau trong xã hội” thì Kinh tế học đổi mới lại chủ yếu tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc “nghiên cứu các xã hội đã tạo ra những hình thái sản xuất mới, các sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới như thế nào để mở mang thêm của cải và nâng cao chất lượng cuộc sống” [1, p.15]. Theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới, nếu các chính sách khuyến khích đổi mới của chính phủ có làm sai lệch tín hiệu giá cả thị trường và có trước mắt gây một tổn thất nào đó cho nền kinh tế thì cũng chấp nhận được vì hiệu quả phân phối không phải là yếu tố chủ yếu chi phối tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế dựa trên tri thức của Thế kỷ 21.  Hiệu quả thích nghi là một khái niệm quan trọng trong Kinh tế học đổi mới. Đó là khả năng của một nền kinh tế và một thể chế có thể tự đổi mới tùy theo thời gian thông qua áp dụng, đổi mới công nghệ để thích ứng với tình hình mới. Đó là các quy tắc quyết định một nền kinh tế tiến hóa theo thời gian, là mong muốn của cả một xã hội tìm kiếm tri thức mới, dám chịu rủi ro để tiến hành những đổi mới sáng tạo vượt lên trên các quy tắc cân bằng của kinh tế học tân cổ điển và tầm nhìn ngắn hạn của học thuyết Keynes mới. Đó cũng là các cấu trúc tổ chức mang tính đổi mới và sáng tạo giúp cho một xã hội tìm ra hình thái tồn tại phù hợp với những biến đổi của tình hình bên ngoài. Không phải chủ yếu là cách thức các cá nhân và doanh nghiệp một mình phản ứng với các tín hiệu giá cả thị trường mà quan trọng hơn là cách thức các doanh nghiệp và cá nhân tương tác với nhau và được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các cơ sở nghiên cứu mạnh, các mạng lưới liên kết công-tư, các tiêu chuẩn chung sẽ quyết định hiệu quả sản xuất và phân phối trong xã hội thay vì chỉ có thị trường và giá cả.  Thứ ba, các thiết chế (tổ chức và chính sách) tìm kiếm và phổ biến tri thức là chìa khóa cho tăng trưởng. Thị trường và giá cả là yếu tố trung tâm trong hệ thống kinh tế theo quan điểm tân cổ điển. Những yếu tố này quy định và hướng dẫn các doanh nghiệp và người tiêu dùng hành động theo quy luật cung cầu qua đó tối đa hóa lợi nhuận để đóng góp chung cho tăng trưởng kinh tế. Trong quan điểm của Kinh tế học đổi mới, không có thị trường hoàn hảo, không có giá cả thị trường thuần túy duy nhất quyết định hành vi của các tác nhân kinh tế. Tri thức mới, công nghệ mới, luật pháp, các hình thức tổ chức, chính sách mới, văn hóa, chuẩn mực và các mạng lưới liên kết cùng với các lực lượng thị trường tham gia quyết định hiệu quả của một nền kinh tế. Thành thử, không chỉ phản ứng theo tín hiệu thị trường, các tác nhân kinh tế còn phải tìm kiếm và áp dụng tri thức mới, công nghệ mới, thích nghi với các văn hóa, thị hiếu tiêu dùng và chuẩn mực xã hội khác nhau thì mới có thể tồn tại và tạo ra các giá trị mới đóng góp cho tăng trưởng.  Thứ tư, nền kinh tế dựa trên tri thức có xu hướng biến động hơn là đi đến cân bằng. Cân bằng kinh tế, theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới chỉ có trong một số thị trường và ở vào những thời điểm nhất định. Do vậy, duy trì trạng thái cân bằng và cân đối kinh tế vĩ mô không phải là mục tiêu tối thượng trong Kinh tế học đổi mới. Trái lại, học thuyết kinh tế này chấp nhận và khuyến khích tạo ra các “trạng thái phá hủy mang tính chất sáng tạo” (nói như J.Schumpeter về “Creative distruction”), các mất cân đối tạm thời, ngắn hạn thông qua các đột phá công nghệ mới, hình thức tổ chức mới, cấu trúc kinh tế mới, mạng lưới liên kết kiểu mới vừa cạnh tranh vừa hợp tác trong xã hội đẻ hướng tới các hiệu quả dài hạn.   Thứ năm, các cá nhân và doanh nghiệp không thể tối đa hóa lợi nhuận một cách hợp lý theo cung cầu thị trường. Nền kinh tế dựa trên tri thức theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới luôn luôn bất định. Rất khó, thậm chí các cá nhân và doanh nghiệp không thể đưa ra các quyết định tối ưu trong điều kiện bất định mà chỉ dựa vào các tín hiệu do giá cả thị trường phát ra. Lại càng không có sự chắc chắn đảm bảo cho các cá nhân và công ty trong khi theo đuổi những lợi ích riêng cũng đồng thời bảo đảm lợi ích công. Sự gia tăng của giá cả năng lượng và những ngoại ứng tiêu cực (negative externalities) về môi trường ngày càng khác xa với những phản ánh của giá cả trên thị trường, làm cho giá cả thị trường không thể và không còn là tín hiệu đúng hoặc duy nhất đúng làm cơ sở cho hoạch định chính sách. Cũng cần phải thấy rằng, xét về các ngoại ứng tích cực (positive externalities) không thể tính hết những đóng góp mà mạng internet toàn cầu đã mang lại cho tăng trưởng và phát triển thế giới thập kỷ qua và trong tương lai nếu chỉ dựa vào giá cả thị trường.  4. So sánh các học thuyết kinh tế học Tân cổ điển, Keynes mới và Kinh tế học đổi mới   Có thể thấy, cho dù là dựa vào vai trò của thị trường hay của các chính phủ thì cả Kinh tế học Tân cổ điển hay Kinh tế học Keynes mới đều chủ yếu quan tâm đến các cân bằng thị trường, cân đối kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô. Khi thì áp dụng các hình thức can thiệp về chính sách tiền tệ, khi thì sử dụng chính sách tài khóa để cân bằng kinh tế vĩ mô, cân bằng cung cầu thị trường, khi thì từ phía cung, khi thì phía cầu. Những định đề đã ngự trị từ lâu về vai trò của thị trường, các cân bằng kinh tế vĩ mô và cân bằng cung cầu trong hai học thuyết kinh tế này một mặt dẫn đến hệ quả là không tính đến vai trò của đổi mới tri thức và công nghệ đã đóng góp trong tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 1970. Mặt khác, những định đề đã trở thành giáo điều này cũng làm chậm trễ việc tạo điều kiện về thiết chế, chính sách để tích hợp và tập trung khai thác các giá trị mới tạo ra bởi sáng tạo và phổ biến tri thức khoa học, công nghệ trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khủng hoảng tài chính, tiền tệ và kinh tế thế giới những năm1997-1998 và 2008 gần đây cho thấy vấn đề không phải là ở các định đề của Kinh tế học tân cổ điển về vai trò của thị trường bị vi phạm mà là các định chế, các thiết chế tài chính quốc tế và quốc gia đã trở nên xơ cứng chậm đổi mới không thích nghi được với bối cảnh mới. Theo các tác giả của [1], kinh nghiệm ở Hoa Kỳ cho thấy:  “ Bước vào Thế kỷ 21,…trong khi nền kinh tế Mỹ đã thay đổi, chuyển hóa về bản chất do công nghệ, toàn cầu hóa và mô hình kinh doanh mới, các học thuyết dẫn đường cho hoạch định chính sách không theo kịp mà vẫn đóng khung trong khuôn khổ các khái niệm, mô hình và lý thuyết trong Thế kỷ 20” [1, p.1].  Bảng 1. So sánh ba học thuyết kinh tế phổ biến tại Hoa Kỳ và Học thuyết kinh tế học đổi mới (Nguồn: trích trong [1])             Học thuyết kinh tế tân cổ điển                   Nhân tố  Tân cổ điển bảo thủ               (Tiếp cận phía cung)      Tân cổ điển tự do              (Tiếp cận Rubinomics)  Học thuyết kinh tế               học Keynes mới  Học thuyết kinh tế              học đổi mới      Khu vực tạo ra              tăng trưởng kinh tế  Từ phía cung (các cá               nhân và tổ chức)  Từ phía cung (các cá               nhân và tổ chức)     Từ phía cầu  Từ phía cung (các tổ               chức, doanh nhân               và chủ thể tiêu dùng)      Nguồn gốc tạo ra               tăng trưởng kinh tế  Tích lũy vốn  Tích lũy vốn  Chi tiêu  Năng suất và đổi mới        Đối tượng chủ yếu               của chính sách  Người tiêu dùng  Người tiêu dùng  Người công nhân  Tất cả mọi cư dân         Mục tiêu chủ yếu               của chính sách kinh tế     Tăng trưởng và quản lý               các chu kỳ kinh doanh  Hiệu quả và quản lý               các chu kỳ kinh doanh  Sự công bằng và quản lý               các chu kỳ kinh doanh  Tăng trưởng và đổi mới        Quá trình kinh tế               then chốt  Đạt hiệu quả               phân bổ nguồn lực     Đạt hiệu quả               phân bổ nguồn lực  Nhu cầu người tiêu               dùng và việc làm  Hiệu quả sản xuất               và hiệu quả thích nghi        Phương tiện chủ yếu     Thuế thấp và giảm               điều chỉnh  Kỷ luật tài khóa, điều               chỉnh chính sách kinh tế  Chi tiêu công, thuế lũy               tiến, điều chỉnh              mạnh hơn  Thuế, chi tiêu và các chính               sách điều chỉnh thúc               đẩy đổi mới, nâng cao kỹ               năng, đầu tư thiết bị mới,               cạnh tranh và kinh doanh        Lý thuyết thương mại  Thị trường tự do nâng               cao hiệu quả phân bổ               nguồn lực và phúc lợi               người tiêu dùng  Thị trường tự do nâng               cao hiệu quả phân bổ               nguồn lực và phúc lợi               người tiêu dùng, nhưng               chính sách của chính               phủ phải bù đắp cho               những thiệt hai do              thương mại gây ra  Thương mại có thể gây               hại cho tầng lớp công               nhân và giảm nhu cầu               người tiêu dùng  Thương mại có thể mang               lại hiệu quả, cơ bản phải              thông qua cạnh tranh               và tiếp thu công nghệ               nhưng để hiệu quả nhất               các chính sách chống lại               các lệch lạc mang tính               đầu cơ để thúc đẩy               đổi mới trong nước      Tổ chức của Chính phủ  Rất nhỏ gọn  Tập trung vào những               chức năng cơ bản  Chính phủ lớn và mạnh  Cải tổ lại chính phủ,               dựa nhiều hơn vào xã hội               dân sự và hợp tác công tư        Quỹ đạo hoạt động  Thị trường các loại  Thị trường các loại  Các thiết chế               và tổ chức  Các thiết chế               và tổ chức            Về bản chất, đó là các học thuyết coi nhẹ vai trò của đổi mới và công nghệ trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do vậy, đổi mới các thiết chế tài chính quốc gia và quốc tế cho đồng bộ với kiểu chu kỳ kinh doanh mới dựa trên tri thức và công nghệ với sự đa dạng có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn hiện đang là đòi hỏi bức thiết mà Kinh tế học đổi mới có thể cung cấp các giải pháp thích hợp.    Một khía cạnh khác rất đáng lưu ý khi so sánh các học thuyết kinh tế nêu trên là sự khác biệt về tầm nhìn về thời gian, không gian tương tác và liên kết của các tác nhân kinh tế. Trong khi các học thuyết kinh tế học tân cổ điển và Keynes chú trọng vai trò của hoặc thị trường hoặc nhà nước, hoặc người tiêu dùng, hoặc người công nhân thì Kinh tế học đổi mới coi trọng cả vai trò của nhà nước và thị trường, tính đến vai trò của cả người tiêu dùng, người công nhân, các tổ chức phi chính phủ và tất cả các cư dân tham gia vào các hoạt động đổi mới. Việc chú trọng kết hợp giữa các chu kỳ gắn hạn, trung hạn và dài hạn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, giữa nhà nước, thị trường và xã hội dân sự đã tạo ra khuôn khổ rộng lớn hơn, không gian rộng lớn hơn cho tạo lập các hiệu ứng hợp trội trong hiệu quả sản xuất và hiệu qủa thích nghi với những biến của môi trường bên ngoài.   5. Bài học kinh nghiệm gợi suy cho Việt Nam  Nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm hoạch định chính sách kinh tế tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển trong thập kỷ gần đây đã cho thấy xu thế bất cập của Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học Keynes mới trong giải thích nguyên nhân tăng trưởng và tạo lập khuôn khổ chính sách đổi mới phù hợp với bối cảnh nền kinh tế dựa trên tri thức trong Thế kỷ 21.  Các thảo luận gần đây tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển khác liên quan đến lựa chọn các học thuyết kinh tế phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển sang kinh tế dựa trên tri thức KH&CN để thích nghi với mức độ bất định ngày càng tăng trong Thế kỷ 21 cho thấy sớm hay muộn Học thuyết kinh tế học đổi mới với những quan điểm, cách tiếp cận hiện đại và phù hợp sẽ (thực tế đã và đang) chi phối Hệ thống đổi mới toàn cầu và dần dần trở thành chuẩn mực chung cho phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới trong những thập kỷ tới.  Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Các chính sách kinh tế vĩ mô gần đây được cho là đã đi đúng hướng, giúp nền kinh tế giành được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, các thành tựu đạt được là chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp. Có thể nhận định là mô hình và chính sách kinh tế áp dụng những năm gần đây ở Việt Nam chủ yếu dựa quá nhiều vào thâm dụng vốn đầu tư kiểu Tân cổ điển hoặc các biện pháp kích cầu kiểu Keynes. Tri thức khoa học, công nghệ và các nguồn lực kiểu đổi mới khác như năng lực thích nghi về tổ chức, quản lý, thiết chế chính sách thúc đẩy các loại liên kết trong hệ thống đổi mới, như liên kết giữa tri thức KH&CN và sản xuất, liên kết giữa các thiết chế, chính sách, liên kết hợp tác công tư, liên kết giữa các vùng theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới chưa được quan tâm đầu tư và khai thác. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao ban đầu thời gian qua đang có xu hướng chậm lại và điều quan trọng là chỉ số đổi mới của Việt Nam vẫn ở thứ hạng rất thấp ( năm 2009 xếp hạng 78 trong số 110 nước trên thế giới, dưới cả Philippin xếp hạng 54) [3, p.14].  Để có một tương lai phát triển bền vững và một nền kinh tế có năng lực đổi mới, sáng tạo cao khả dĩ có thể đưa Việt Nam tham gia và leo lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam rõ ràng cần nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế kinh tế theo chiều sâu, sử dụng nhiều hơn tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới để tạo ra các hợp lực phục vụ phát triển. Để có thể hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi đó, ít nhất về mặt lý thuyết, Học thuyết Kinh tế học đổi mới, bên cạnh Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học keynes mới cần được nghiên cứu sâu hơn và đưa dần vào trong tư duy, cách tiếp cận và tạo lập khuôn khổ cho hoạch định chính sách đổi mới thay vì hoạch định riêng rẽ các chính sách kinh tế, tài chính, tài khóa, chính sách công nghiệp và chính sách KH&CN như trong thực tế ở Việt Nam hiện nay.  Tài liệu tham khảo   1.    Robert D.Atkinson (2008), David B.Audretsch (2008); Economic Doctrines and Policy Differences: Has the Washington Policy Debate Been Asking the Wrong Questions?; The Information Technology & Innovation Foundation (ITIF).  2.     Kevin Bryant (1999), Alison Wells (1999); A New Economic Paradigm? Innovation – Based Evolutionary Systems; Department of Industry, Science and Resources; Canberra ACT, Commonwealth Australia.  3.    Carlos Aquirre B. (2011), SWOT Analysis of the Vietnamese STI System: Trends and Policy Recommendations, UNIDO, Vienna, 5-2011.  4.    Nguyễn Mạnh Quân (2010), Xã hội hậu khoa học và những gợi suy cho Việt Nam, Tia Sáng, N.8/2010         Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế sáng tạo      Một cách nhìn mới về kinh tế tri thức đang được các nhà lãnh đạo tập đoàn đa quốc gia đề cập: Kinh tế sáng tạo. Đó là cách giúp họ luôn duy trì vị trí hàng đầu trong xu thế toàn cầu hóa, với sự phân công lao động    Tuy có sự góp mặt của các nhân tố nước ngoài trong quá trình sản xuất, kinh doanh thời toàn cầu hóa nhưng các công ty Mỹ vẫn giữ vị trí quan trọng trong kinh tế tri thức, bởi họ có lợi thế về các đại học lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, thu hút được nhân tài. Không trực tiếp sản xuất, các công ty Mỹ vẫn nắm giữ lợi thế lớn trong chu trình sản xuất kinh doanh. Họ tạo ra thói quen tiêu dùng, thay vì sản xuất sản phẩm, nắm giữ thương hiệu và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là phát minh.  Điệu nhảy mới  Với các nhà quản lý, thách thức lớn nhất là tạo ra bước chuyển từ chu trình 6 Sigma* để có cách nghĩ mới. Với các công ty, tự thay đổi mình đòi hỏi các nguyên lý để xác lập các giá trị mới và nguyên tắc tổ chức mới. Chẳng hạn như khái niệm chiến lược thiết kế, đang được nhắc nhiều trong thời gian gần đây, được đánh giá là trào lưu mới sau 6 Sigma. Các sáng tạo dựa trên mối quan tâm của khách hàng là cách hữu hiệu nhất để một công ty có tỷ lệ thành công cao.  Thập kỷ 90 của thế kỷ trước, những nhà ủng hộ đổi mới tập trung và đổi mới vĩ mô, chú trọng đến những công nghệ mới và tác động của nó vào các công ty. Ngày nay, có một quan niệm mới về đổi mới công nghệ: đổi mới vi mô, quan tâm nhiều đến cách kết nối giữa các công ty và khách hàng, mối nối giữa các phòng nghiên cứu và phát triển với nhu cầu của người dùng, tính toán lại lực lượng lao động để tạo ra sự sáng tạo cao.  Nếu bạn quan sát tập tính tiêu dùng của người sử dụng, bạn sẽ thấy được ý tưởng để sáng tạo. Lối cũ: quán cà phê góc phố, cách mới: Starbuck. Radio là cũ, nhưng radio vệ tinh là hoàn toàn mới.  Sáng tạo đang tạo nên một cuộc cách mạng trong kinh tế. Quả táo Apple cũ kỹ đã được Steve Jobs chuyển thành một công ty sáng tạo. Các công ty trên thế giới đang phân tích sự thành công của Apple dưới hai góc độ: thiết kế và đổi mới để rút ra những bài học cho mình.  Cách nhìn mới  Bất kể trong lĩnh vực nào, các giám đốc điều hành đều hướng về đổi mới. Hai thí dụ dưới đây, A.G. Lafley của P&G và Jeffrey R. Immelt của GE được xem là điển hình. Thậm chí như tạp chí Business Week miêu tả, nếu viết về lịch sử của chuyển đổi từ kinh tế tri thức sang kinh tế sáng tạo thì hai vị giám đốc trên là những người có chỗ đứng xứng đáng.  Trước khi Lafley lên nhậm chức, P&G tăng trưởng hầu như không đáng kể. Công ty chỉ chú trọng đến công dụng của sản phẩm thay vì chú ý đến cách khách hàng cảm nhận về nó. Giám đốc Viện thiết kế (Học viện thiết kế Illinois) Patrick Whitney nhận xét: “P&G là công ty hóa chất hàng đầu ở Mỹ. Họ không chú ý gì đến cách nghĩ của khách hàng”.  Lafley đã thổi một luồng sinh khí mới vào việc thiết kế sản phẩm của công ty, tiếp cận nhu cầu khách hàng hơn. Biến nhãn hiệu này trở thành một biểu tượng của đổi mới có hiệu quả, vượt lên các đối thủ cạnh tranh. Năm 2001, Lafley đặt ra vị trí lãnh đạo mới: phó chủ tịch phụ trách thiết kế, sáng tạo và chiến lược, đồng thời bổ nhiệm Claudi B.Kotchka vào cương vị đó. Hai nhà lãnh đạo mới này đã quyết định sa thải một loạt quản lý cấp phòng, các nhà nghiên cứu khoa học nhưng tăng gấp ba lượng nhân viên thiết kế. Lần đầu P&G tuyển dụng một nhà thiết kế cấp cao làm việc cho một công ty khác thuộc một lĩnh vực khác.  Quyết định quan trọng thứ hai là Kotchka yêu cầu nhân viên thiết kế làm việc trực tiếp với nhân viên phòng nghiên cứu và phát triển để đưa ra sản phẩm mới. Điều này làm thay đổi quá trình đổi mới sản phẩm của P&G, giúp sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng hơn. P&G cũng tuyển dụng thêm nhiều công ty tư vấn như Design Continuum; ZIBA Design (Portland, Oregon), Doblin (Chicago), IDEO ở Palo Alto (Cali). Để có một sản phẩm mới, Kotchka yêu cầu trưởng các bộ phận lập danh sách các sản phẩm có thể phát triển. Thí dụ như trưởng bộ phần sản phẩm trong nhà cho rằng, sắp tới cần có sản phẩm chùi rửa         Một cuộc điều tra mới đây của Tập đoàn tư vấn Boston thực hiện trên 940 nhà quản lý, điều hành các công ty trên thế giới cho thấy, phát minh hay đổi mới là yếu tố giúp các công ty thu được lợi nhuận cao và giúp họ dành vị trí cao trong lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư cho đổi mới không phải lúc nào cũng đạt được. Hơn một nửa các nhà quản lý tỏ ra không hài lòng vì hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu thấp hơn mong đợi. Theo công ty tư vấn đổi mới công nghệ Doblin (Mỹ), 96% cố gắng đổi mới bị thất bại về các mục tiêu tài chính.          phòng tắm. Đề nghị này được Kotchka đưa ra cho IDEO. Các nhân viên thiết kế của P&G và IDEO phải đi thực tế, quan sát cách người ta chùi rửa phòng tắm. Ở Nam Mỹ, họ thấy phụ nữ thường dùng cây chổi cọ tường và bồn tắm rất hiệu quả. Mẫu đồ chùi có dáng bàn tay nhỏ với một đầu chống dài ra đời. Đi cùng với mẫu này là sản phẩm mới: Mr Clean ra đời. Để xây dựng cơ sở “hạ tầng” cho thiết kế, Lafley thiết lập phòng huấn luyện đổi mới dành cho các nhà quản lý để tập cho họ cách suy nghĩ, lối nghĩ về thiết kế mới. Ông cũng tạo ra ban thiết kế gồm những người không làm cho P&G để họ không tư duy theo lối mòn.  Khác với Laflrey, Jeff Inmmelt được “thừa kế” gia tài truyền thống của công ty GE vừa đồ sộ vừa nặng nề khiến nó không thể duy trì vai trò hàng đầu trong thế kỷ 21. Immelt phải tạo nên bước ngoặc đánh đổ thành tích tăng trưởng đều 5% trong thập kỷ qua, mà nhưng cách làm truyền thống như cắt giảm chi phí, tăng tính hiệu quả, tiếp tục cải tiến lề lối hoạt động khó có thể làm được.        Trong cuộc chơi của thế giới sản xuất giá rẻ nhờ sự phân công lao động, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cho biết, họ đã tìm được một cách chơi mới, phù hợp, mang lại lợi nhuận cao. Đó là luôn giữ được vai trò dẫn đầu về sáng tạo trong công nghệ        Dám đặt cược vào ý tưởng Immelt đưa ra loạt dự án Đột phá hình ảnh, trong đó có việc đầu tư hơn 5 tỷ USD để đưa GE vào thị trường mới, sản xuất những mặt hàng mới. Immelt luôn trao đổi với các nhà quản lý dưới quyền phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, học cách chấp nhận rủi ro và dám đặt được vào những ý tưởng mới. Cách làm này tạo nên một bước chuyển khá lớn trong tăng trưởng của GE. Lợi nhuận của hãng này trong quý II vừa rồi tăng 24%, nhờ ý tưởng cải tổ việc sản xuất máy phát điện. Công ty cũng mở rộng sản xuất máy phát điện từ động cơ chạy bằng ga sang chạy bằng sức gió, pin mặt trời…        Thành công của General Motor có công của CENCOR. Đây không phải là nhà quản lý mà là một công thức của phép đo, thăm dò, sáng tạo, tổ chức và thực hiện (calibrate, explore, create, organize, and realize). Liệu các trường dạy kinh doanh danh tiếng có đi đầu được về CENCOR. Thực tế không hẳn như vậy, nhưng Đại học Stanford vừa mở một trường mới dạy về thiết kế, nơi các nhà quản lý có thể học được động lực của sự sáng tạo. Dạy một con voi biết nhảy là chuyện không dễ dàng nhưng đó là điều mà bạn phải thực hiện nếu bạn muốn công ty của mình phát triển           Tương tự Lafley, Immelt thay đổi bộ máy công ty để tăng tính sáng tạo. Việc bổ nhiệm Beth Comstock vào vị trí mới đặt ra là giám đốc marketing phụ trách sáng tạo và đổi mới. Ông cũng thu nhận nhiều nhà thiết kế, phát minh. GE tiếp tục duy trì vị thế của mình trong làng công nghiệp Mỹ với công thức mới CENCOR.            Chú ý tới thiết kế sản phẩm đã giúp P&G có một luồn sinh khí mới        Đích thân Comstock đưa đoàn chuyên gia 90 người của GE sang Trung Quốc nghiên cứu thị trường. Ngoài nhiệm vụ tư vấn về sáng tạo, Comstock giao nhiệm vụ cho nhóm phải có cách nhìn mới về Trung Quốc. Kết quả là doanh số bán hàng của GE tại đất nước đông dân nhất hành tinh này tăng khá trong các quý gần đây.  Phương pháp trong chiến lược thiết kế mới mà Lafley, Immelt và các nhà quản lý khác đang áp dụng rất đơn giản. Họ bắt đầu bằng quan sát trực tiếp các cửa hàng của khách hàng, siêu thị, cách thức sinh hoạt của các gia đình, cách bệnh nhân được điều trị trong bệnh viện. Công ty Gap và một số hãng sản xuất đồ thời trang phát hiện ra khách hàng mua sắp đồ thời trang thường đi thành nhóm hai hoặc ba người. Từ phát hiện này, họ quyết định làm các phòng thử có kích thước lớn hơn. Sau giai đoạn quan sát, họ sẽ đưa ra các mẫu thử để các nhà quản lý hiện thực hóa các ý tưởng, quyết định phát triển mẫu nào và tung sản phẩm ra thị trường. Một yếu tố mang lại thành công là phải biết cách thuyết phục khách hàng bằng các câu chuyện. Các nhà thiết kế nhận thấy để một sản phẩm mới lồng trong một câu chuyện cụ thể nào đó thường làm khách hàng chú ý hơn. Mẫu đồng hồ Mini và giày dành cho lái xe được lồng trên câu chuyện vui của Mini Cooper, một tài xế. Bước cuối cùng là phải xây dựng chu trình công việc sao cho mọi việc được thực hiện theo đúng kế hoạch và đồng bộ.            Chu trình 6 Sigma giúp quản lý chất lượng một cách toàn diện        Những công thức mới xuất hiện sau cuộc thoái trào của các công ty thương mại điện tử, cũng như sự cạnh tranh mạnh của các nước Châu Á khiến cho giám đốc điều hành của các công ty lớn buộc phải tìm một hướng đi mới. Con đường đi trong nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải có một mẫu hình kinh doanh mới có giá trị gia tăng cao hơn. Trong cuộc chơi của thế giới sản xuất giá rẻ nhờ sự phân công lao động, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cho biết, họ đã tìm được một cách chơi mới, phù hợp, mang lại lợi nhuận cao. Đó là luôn giữ được vai trò dẫn đầu về sáng tạo trong công nghệ.   (Theo Business Week)    Song Ca        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế thế giới tổn thất 18 tỷ USD do nạn cướp biển      Từ năm 2005 đến nay, cướp biển ở vùng Sừng  châu Phi* đã thu được hàng trăm triệu USD tiền chuộc. Ngân hàng thế giới,  Liên hiệp quốc và Interpol đã cùng nhau thực hiện dự án khá tốn kém có  tên là “Pirate Trails” để tìm dòng chảy tài chính của bọn cướp biển.    Người ta đã thẩm vấn những tên từng là cướp biển và cả những tên đang hành nghề, những kẻ đứng đằng sau chúng, những kẻ môi giới và cả quan chức chính phủ. Kết quả là: Từ 2005 đến 2012 bọn cướp biển đã thu được 413 triệu USD tiền chuộc, bình quân mỗi vụ đột nhập là 2,7 triệu USD.   Phần lớn khoản tiền chuộc mà các hãng tầu biển buộc phải chi trả cuối cùng lại rơi vào túi những kẻ đứng đằng sau bọn cướp biển, vốn là những kẻ có sức mạnh tài chính to lớn. Chúng dùng số tiền khủng đó đầu tư vào các hoạt động phi pháp như buôn bán vũ khí, buôn người và trả tiền cho lực lượng vũ trang bảo vệ chúng. Nền kinh tế thế giới bị thiệt hại từ hoạt động cướp biển lên đến 18 tỷ USD.   Số tiền mà bọn cướp biển giữ lại thực ra chỉ là một phần rất nhỏ của tổng số tiền chuộc, nghĩa là không tới 0,1%, theo nghiên cứu trên. Những tên cướp biển thông thường, sau một phi vụ, được lĩnh từ 30.000 đến 50.000 USD. Kẻ xuất hiện đầu tiên trên con tầu bị cướp hoặc những tên tự mang theo thang hoặc vũ khí của mình được cộng thêm khoản tiền thưởng 10.000 USD.     Bị trừ tiền vì… hạnh kiểm xấu   Theo công trình nghiên cứu, nhiều tên cướp khi tham gia tấn công thường nhai chất kích thích có tên là Khat mà chúng mua bằng tiền đi vay. Khi tiền chuộc được thanh toán, bọn cướp mới nhận được phần của mình, tất nhiên sau khi đã khấu trừ các khoản tiền nợ mua ma túy. Ngoài ra, theo truyền thống từ hàng trăm năm nay, bọn cướp còn bị khấu trừ tiền ăn, tiền phạt vì hạnh kiểm xấu, thí dụ hành hạ thủy thủ đoàn. Một số tên cướp, theo công trình nghiên cứu, nợ nần chồng chất cho nên có muốn bỏ nghề cũng không bỏ nổi.   Một phần nhỏ của khoản tiền chuộc thuộc về địa phương, tiền trả cho đầu bếp, luật sư, những kẻ môi giới, những kẻ làm dịch vụ nhận biết tiền thật, tiền giả, ngoài ra là tiền trả cho lực lượng dân quân làm nhiệm vụ bảo vệ cảng. Thậm chí bọn cướp biển còn phải nộp “thuế phát triển” cho địa phương, và khoảng 20% cho lực lượng dân quân Hồi giáo Schabab. Lái buôn ở địa phương và những kẻ làm dịch vụ sẵn sàng tạm ứng tiền vì lãi suất mà bọn cướp phải chi trả có khi lên đến 100%.   Một khoản tiền lớn hơn chui vào túi những kẻ môi giới và đứng ở hậu trường – như cựu cảnh sát, cựu quân nhân, quan chức nhà nước, bọn buôn bán chất kích thích Khat, cả dân đánh cá và những tên từng là cướp biển – chúng nhận được từ 30 đến 75 % tổng số tiền chuộc. Trong khi đó tiền chi cho các vụ cướp biển thường không tốn kém bao nhiêu: những vụ tấn công đơn giản nhất thường chỉ tốn vài ba trăm USD. Những phi vụ lớn hơn với sự tham gia của nhiều thuyền bè thì phí tổn có thể lên đến 30.000 USD.     Dòng tiền “năng động“  Phần lớn khoản đầu tư tổ chức các vụ cướp được đưa từ nước ngoài tới Somalia. Tiền chuộc sau khi được chuyển giao lại chạy ra nước ngoài. Ở Somalia có nhiều doanh nghiệp nhỏ sẵn sàng đứng ra làm dịch vụ chuyển tiền. Công trình nghiên cứu cho rằng lĩnh vực tài chính ở Somalia năng động một cách đáng ngạc nhiên.   Kenya, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Djibouti là những nước quá cảnh quan trọng nhất hoặc là những trạm cuối cùng cho phần lớn khoản tiền chuộc. Từ đây, một phần ba khoản tiền lời được chuyển tới lực lượng dân quân, các phần tử tôn giáo cực đoan hoặc được dùng vào các lĩnh vực để gây ảnh hưởng về chính sách. Phần còn lại thường được dùng vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản và buôn bán ma túy.   Theo công trình nghiên cứu, để ngăn chặn dòng tiền từ kinh doanh cướp biển thì các nước trong khu vực cần hợp tác chặt chẽ với nhau hơn, giám sát việc chuyển lậu tiền ra nước ngoài và điều chỉnh hoạt động của các hãng chuyển tiền ra nước ngoài. Ngoài ra phải kiểm soát và hạn chế sự sản xuất khat ở Kenya.   Chỉ khi nào chặn đứng được dòng chảy tài chính thì mới có thể tiêu diệt nạn cướp biển có hiệu quả. Dù sao thì nạn cướp biển ở vùng Sừng châu Phi sau khi lên đến cao trào vào năm 2011 đã giảm dần. Theo công trình nghiên cứu, nguyên nhân là do việc tăng cường các hoạt động quân sự ở ngoài khơi Somalia, trong đó có chiến dịch “Atalanta” của EU với sự tham gia của hải quân Cộng hòa Liên bang Đức.   Xuân Hoài dịch  —    * Vùng Sừng Châu Phi (còn có tên gọi khác là bán đảo Somalia) là một bán đảo thuộc Đông Phi lấn ra biển Ả Rập vài trăm cây số và nằm dọc theo bờ phía nam của Vịnh Aden.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa      Việt Nam đã chọn Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mô hình phát triển. Trong hơn hai thập kỷ qua, nhiều điểm tích cực của kinh tế thị trường đã được phát huy để đem lại mức tăng trưởng kinh tế khá cao, đưa phần lớn người dân Việt Nam thoát khỏi đói nghèo — nỗi ám ảnh của cả Dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Tuy nhiên, khi vẫn còn lúng túng trong việc hiểu định hướng xã hội chủ nghĩa là gì và mối quan hệ của nó với kinh tế thị trường như thế nào thì các nguyên tắc thị trường ngày càng chi phối sâu rộng các hoạt động kinh tế đã làm cho các vấn đề như: bất bình đẳng, chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm, thậm chí là mâu thuẫn xã hội đang trở nên nghiêm trọng và gay gắt hơn.&#160;  Để có thể đi đến cái đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”, Việt Nam cần phải phát huy nhiều hơn nữa yếu tố xã hội chủ nghĩa bằng việc tập trung nguồn lực của Nhà nước để giải quyết những mặt trái của kinh tế thị trường; song song với việc hoàn thiện các thể chế thị trường với nòng cốt là xây dựng một Nhà nước pháp quyền; và giảm thiểu tối đa việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh của Nhà nước, nhất là những hoạt động mà thị trường có thể làm tốt chức năng của nó.    Kinh tế thị trường không phải là chiếc đũa thần  Nói đến kinh tế thị trường nhiều người sẽ hình dung ngay đến các nước phát triển và cho rằng đó chính là chủ nghĩa tư bản. Thực ra, các nước phát triển đã gặt hái được thành công không chỉ nhờ tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường mà còn hạn chế được những mặt trái của nó. Trong khi đó, nhiều nước đã không thành công, hay ít nhất cũng gặp rắc rối, do đã lãng quên hay không xử lý được những thất bại của thị trường. Ở những mức độ khác nhau, các nước chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường đều đang gặp phải vấn đề.   Cải cách “vụ nổ lớn”: Thành công và thất vọng  Sau thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch, các nước Đông Âu và Liên Xô đã cải cách theo kiểu “vụ nổ lớn” để “xóa đi tất cả làm lại từ đầu”. Hầu hết tài sản Nhà nước được tư nhân hóa. “Sau một đêm”, các thể chế kinh tế tập trung được thay bằng các thể chế thị trường. Với cách tiếp cận này, một số nước đã có được những thành công nhất định, trong khi một số khác chỉ đem lại sự thất vọng cho công chúng cùng với bất ổn xã hội.  Các nước Đông Âu đã trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu (EU) như Czech, Hungary, Bungary hay Ba Lan, nói chung là đã thành công với mức độ phát triển hay tiến bộ xã hội tiệm cận với các nước phát triển. Lý do của sự thành công là (1) không ít thì nhiều về cấu trúc xã hội, hay văn hóa của các nước này cũng có những tương đồng với các nước Tây Âu; và (2) quan trọng nhất là sức ép để trở thành thành viên của EU đã buộc các nước Đông Âu phải tiến hành cải cách nhanh chóng và xây dựng các thể chế thị trường trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật hay pháp quyền giống như các nước khác trong EU. Tuy có được những thành công ban đầu, nhưng các nước này vẫn đang phải đối mặt với những mặt trái của kinh tế thị trường.   Đối với Liên bang Nga, có hai quan điểm trái chiều và người viết bài thuộc về nhóm cho rằng cải cách của nước Nga đã không thành công trên thực tế. Phần lớn khối tài sản khổng lồ của một quốc gia từng được xem là hùng mạnh nhất thế giới đã rơi vào tay một số ít người. Khi mà pháp quyền không được tôn trọng để chống lại tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, quy luật khắc nghiệt nhất của kinh tế thị trường, thì một xã hội bất công cho phần lớn dân chúng đã được tạo ra. Những xung đột xã hội hay sắc tộc gần đây chính là hậu quả của sự bất công này.  Cải cách ở những nước thuộc Liên Xô cũ như: Ucraina, Belarus… đã đem lại sự thất vọng cho công chúng. Chán ngán với Chính phủ hiện tại, công chúng hoặc là sử dụng lá phiếu của mình, hoặc là gây bạo loạn để hình thành nên Chính phủ mới. Đây chính là những cuộc cách mạng màu hay được nhắc đến. Tuy nhiên, sự thất vọng đã xảy ra ngay sau đó và đưa xã hội đã rơi vào tình trạng chia rẽ và bất ổn triền miên.   Thực ra, bản chất của sự bất ổn ở Nga hay các nước thuộc cộng hòa Xô Viết trước đây là do các quan hệ thị trường đã được đưa vào quá nhanh trong khi pháp quyền không được tôn trọng. Cho dù ai đứng trong Chính phủ cũng là để bảo vệ lợi ích của số ít những người đã thâu tóm phần lớn tài sản quốc gia trong quá trình chuyển đổi. Phúc lợi xã hội không được coi trọng và quyền lợi của phần lớn người dân bị hy sinh. Mặt trái của kinh tế thị trường không được quan tâm giải quyết làm cho dân chúng mất niềm tin.                “Dò đá sang sông”: Thành công ban đầu, nhưng…  Khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế theo cách tiệm tiến hay “dò đá sang sông”. Các hoạt động kinh tế từng bước được nới lỏng để chúng tuân theo các quy luật thị trường. Kết quả rõ nhất đối với hai nước là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian rất dài trong khi vẫn duy trì được sự ổn định chính trị, xã hội. Chính sách cải cách của hai nước đã đem lại lợi ích cho rất nhiều người, nhất là những cải cách về đất đai, nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên, hiện tại cả Việt Nam và Trung Quốc đang phải đối mặt với hai vấn đề hết sức nan giải.   Thứ nhất, cải cách kinh tế đã đi quá nhanh trong khi với mục tiêu ổn định được đặt lên hàng đầu nên cải cách hệ thống chính trị đã diễn ra khá thận trọng. Sự tương tích giữa các thể chế kinh tế và chính trị ở cả hai nước đang được tranh luận sôi nổi mà nó được biểu hiện rõ nét nhất qua bình luận gần đây của ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam và phát biểu của ông Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Trung Quốc ở Thâm Quyến hồi tháng 08/2010 vừa qua.   Cải cách các thể chế chính trị như thế nào là điều không hề đơn giản. Nếu không có những cải cách để loại bỏ sự sơ cứng hay thoái hóa của bộ máy, nhất là tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm tràn lan, thì sự ổn định của các thể chế chính trị nói riêng, xã hội nói chung sẽ bị đe dọa. Tuy nhiên, việc rập khuôn các thiết chế dân chủ theo kiểu phương Tây có lẽ không phải là phương cách tốt. Sự bất ổn, thậm chí là bạo loạn ở các nước thuộc Liên Xô cũ cũng như nhiều nước trong khu vực là bài học nhãn tiền cho bất cứ ai mơ về những cải cách không thực tế. Tuy nhiên, cho dù tiếp cận theo phương thức nào, thì cũng cần phải có sự cạnh tranh hay giám sát thực chất ở mỗi vị trí trong bộ máy Nhà nước.   Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường hay những thất bại thị trường đang nổi lên ngày càng nhiều và gay gắt. Kinh tế thị trường đã không là chiếc đũa thần để giải quyết mọi vấn đề của mô hình kinh tế kế hoạch như nhiều người mong đợi mà nó lại gây ra rắc rối. Cái vòng luẩn quẩn thất bại của thị trường dẫn đến thất bại của Nhà nước và ngược lại cứ liên tục xảy ra. Càng tăng trưởng kinh tế, thì những người ở vị thế bất lợi càng bị thiệt thòi. Nếu cứ để cho thị trường vận hành một cách tự do theo “bản năng” của nó thì sự bất công hay các vấn đề xã hội khác sẽ trở nên ngày một nghiêm trọng hơn. Không ai khác, Nhà nước sẽ phải giải quyết những vấn đề này. Tuy nhiên, câu hỏi khó nhất là Nhà nước nên làm như thế nào.  Cần phát triển thêm các lý luận của Marx và Lenin  Những lúng túng trong việc giải thích về định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam có lẽ là do sợ vi phạm các nguyên lý của Marx và Lenin, lý thuyết nền tảng của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, cần có cái nhìn uyển chuyển hơn về vấn đề này.   Sự vĩ đại của Marx là không thể phủ nhận. Ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thế giới. Những lý luận của ông là một trong những nền tảng quan trọng của kinh tế học và triết học hiện đại. Những phân tích về giá trị thặng dư, về bóc lột của Marx có thể đúng trong xã hội mà tính đồng nhất của các loại hàng hóa rất cao và hầu hết các hoạt động sản xuất đều là thâm dụng lao động. Giá trị của một mét vải nhìn chung là như nhau và sức lao động kết tinh rất lớn trong đó. Cách thức mà các nhà tư bản, những ông chủ sử dụng chủ yếu để bắt người lao động làm việc cật lực nhằm đem lại sự giàu có cho nhà tư bản là kỷ luật là đàn áp. Do vậy, tư duy cần có “chuyên chính vô sản” và Nhà nước đứng ra làm thay thị trường để chống lại tình trạng người bóc lột người có thể là hợp lý trong bối cảnh những mặt trái của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chưa được nghiên cứu cũng như trải nghiệm qua.                Tuy nhiên, thời đại “ăn chắc mặc bền”cách đây hơn một trăm năm rất khác với thời đại “ăn ngon mặc đẹp”của chúng ta. Việc rập khuôn cứng nhắc các lý luận của Marx và Lenin là không phù hợp trong bối cảnh hầu hết các hoạt động kinh tế thiên về thâm dụng tri thức, tài năng và vốn hơn là lao động. Việc Bill Gates trở thành nhà tư bản hay người người giàu nhất thế giới chính là nhờ ông đã tạo cho nhân loại một giá trị lớn hơn khối tài sản của ông nhiều lần chứ không phải do ông ta bóc lột của người khác bằng gậy gộc. Thêm vào đó, xét về sức lao động, công sức của một cầu thủ trung bình chạy trên sân chắc chắn không kém Messi hay Ronaldo, nhưng thu nhập của những cầu thủ đắt nhất hành tinh này cao hơn rất nhiều lần so với những cầu thủ thông thường. Lý do các cầu thủ này nhận được thù lao cao là do họ giúp cho khán giả có được niềm vui sướng nhiều hơn chứ không phải họ lao động nhiều hơn.  Những lập luận của Marx và Lenin vẫn còn những giá trị, nhưng chỉ riêng chúng không thể giải thích được thực tế sinh động hiện nay. Sự thất bại của mô hình kinh tế tập trung và những nghiên cứu về các hình thức sở hữu và hành vi đã chỉ ra rằng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không tạo ra động lực và cơ chế để nguồn lực được sử dụng hiệu quả, ít nhất là trong thời đại của chúng ta.   Xét về lý tưởng, mô hình kinh tế kế hoạch, Nhà nước làm thay thị trường nếu thành công thì tốt đẹp hơn nhiều so với kinh tế thị trường. Tuy nhiên, mô hình này đã vi phạm nguyên tắc cốt lõi về hành vi của con người. Điều nghịch lý là quyết định cá nhân và quyết định tập thể là khác nhau. Nếu một việc làm nào đó, để mỗi cá nhân làm thì tất cả mọi người sẽ có hành động như nhau, nhưng cũng những người này cùng tập hợp lại để đưa ra quyết định tập thể thì quyết định thường là trái ngược với quyết định của mỗi cá nhân. Trong chế độ công hữu, tình trạng ăn theo và “cha chung không ai khóc” là điều khó tránh khỏi. Hơn thế, trong bối cảnh không thể kiểm soát được hành vi thì hành động hợp lý của hầu hết những người được giao quản lý doanh nghiệp là sử dụng tài sản của Nhà nước để trục lợi cá nhân, củng cố địa vị của mình, thay vì đạt được các mục tiêu cao đẹp được mong đợi.   Mô hình sở hữu mà nó tạo động lực để các nguồn lực của xã hội được sử dụng hiệu quả chính là sở hữu cá nhân. Vì lý do này mà ngay cả ở các nước Bắc Âu, những quốc gia được xem là khá thành công trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa cũng đang triệt để tiến hành tư nhân hóa mà ở Việt Nam gọi là xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ công chứ không nói gì đến các hoạt động kinh doanh. Ngay cả nhà tù, một công cụ sức mạnh của Nhà nước hiện cũng đã được giao cho tư nhân quản lý.  Tóm lại, để mô hình Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể phát huy tốt đưa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh sớm trở thành hiện thực, Việt Nam cần làm rõ hơn nữa các khái niệm then chốt để có những định hướng rõ ràng trong mô hình phát triển của mình. Ở vế kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ nên tập trung vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh và xây dựng một Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Đối với vế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước nên tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội mà khu vực thị trường không thể hoặc thực hiện không hiệu quả. Với cách hiểu như vậy, sẽ không nhất thiết phải đặt ra vấn đề công hữu hay tư hữu, nguyên nhân của những rắc rối trong thời gian qua. Hơn thế, Việt Nam có thể gọi mô hình phát triển của mình là Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Việc cắt đi từ “định hướng” sẽ loại bỏ được cảm giác yếu tố xã hội chủ nghĩa chỉ được gắn thêm vào kinh tế thị trường, hai thứ vốn không ăn khớp với nhau.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế toàn cầu năm 2014: Lạc quan trong rủi ro      Kinh tế toàn cầu năm 2014 được dự báo đạt  tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2013. Các nền kinh tế đang phát triển,  trong đó có khu vực châu Á, cũng được hưởng lợi từ đà phục hồi tăng  trưởng tích cực của các nền kinh tế đầu tàu thế giới.    Những dự báo lạc quan  Theo dự báo của các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), kinh tế toàn cầu trong năm 2014 sẽ tiếp tục phục hồi và tăng trưởng cao hơn so với năm 2013, dự báo ở mức 3,6% (IMF) và 3,2% (WB).  Triển vọng của các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản đều được dự báo theo chiều hướng tích cực với tốc độ tăng GDP lần lượt ở mức 2,6% và 1,6%. Kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) mặc dù còn nhiều rủi ro nhưng dự báo vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng 1% năm 2014. Các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có khu vực châu Á, sẽ được hưởng lợi từ đà phục hồi tích cực của các nền kinh tế đầu tàu thế giới.  Trung Quốc tiếp tục thực hiện kế hoạch tái cơ cấu kinh tế để hướng tới mục tiêu phát triển ổn định và bền vững hơn trong dài hạn thay vì tăng trưởng nóng;  dự báo tăng trưởng của nền kinh tế này sẽ đạt mức 7,5% trong năm 2014. Kinh tế khu vực Đông Nam Á được dự báo sẽ tăng 5,2%  cao hơn mức tăng 4,8% của năm 2013.  Giá cả hàng hóa trên thế giới được dự báo tiếp tục xu hướng giảm, ngoại trừ giá dầu có chiều hướng tăng nhẹ, không gây sức ép tăng nguy cơ lạm phát mạnh trở lại trên phạm vi toàn cầu trong năm 2014.  Theo WB, giá dầu thô bình quân của năm 2014 được dự báo ở mức 106 đô la Mỹ/ thùng, tăng nhẹ 1% so với năm 2013. Nhu cầu dầu thô trên toàn thế giới được dự báo tăng thêm ít nhất 1,5% so với năm 2013, lên mức 90,78 triệu thùng/ngày.  Trong khi đó, chỉ số giá bình quân của hàng hóa phi nhiên liệu có chiều hướng giảm, dự báo giảm nhẹ khoảng 0,2% so với năm 2013. Giá vàng tiếp tục đà giảm trong năm 2014, dự báo bình quân ở mức 1.360 đô la Mỹ/ounce, giảm 1,4% so với năm 2013. Chỉ số giá lương thực giảm khoảng 6% trong năm 2014 do triển vọng nguồn cung thuận lợi.  Dòng vốn FDI toàn cầu được dự báo tiếp tục phục hồi trong năm 2014, có thể tăng lên mức 1.600 tỉ đô la, từ mức 1.400 tỉ đô la năm 2013, theo UNCTAD. Luồng vốn gián tiếp nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển dự báo tăng mạnh trở lại trong năm 2014, lên mức 87,8 tỉ đô la, tăng 22% so với năm 2013.  Trong khi đó, theo dự báo của IMF, thương mại toàn cầu sẽ tiếp tục phục hồi mạnh trong năm 2014 với mức tăng trưởng dự báo 4,9%, cao hơn so với mức 2,9% của năm 2013.  Một số rủi ro còn lại  Mặc dù tăng trưởng với tốc độ cao hơn năm 2013 nhưng kinh tế toàn cầu vẫn đứng trước một số rủi ro trong năm 2014.  Theo đánh giá của WB, kinh tế toàn cầu trong năm 2014 sẽ vẫn đối mặt với một số rủi ro sau: (i) khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) rút dần và tiến tới chấm dứt chương trình nới lỏng định lượng QE3 (mới đây nhất là vào ngày 18-12-2013 FED đã quyết định giảm quy mô mua trái phiếu hàng tháng từ 85 tỉ đô la xuống còn 75 tỉ đô la) có thể kích thích dòng vốn đảo chiều ở một số nền kinh tế, như đã diễn ra tại Ấn Độ và Indonesia trong năm 2013 khiến đồng nội tệ các nước này mất giá mạnh; (ii) tình trạng bế tắc tài khóa kéo dài ở Mỹ có thể ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới; tín hiệu tốt là tình trạng bế tắc này đã bắt đầu dịu đi sau khi Quốc hội Mỹ đạt được thỏa thuận ngân sách năm 2014 và 2015 vào đầu tuần này; (iii) tình trạng suy giảm đầu tư mạnh hơn dự kiến có thể xảy ra đối với Trung Quốc làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế này và tác động lan tỏa tiêu cực đối với các nền kinh tế có quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc.  Ngoài ra theo đánh giá của một số tổ chức tài chính toàn cầu khác như IMF, ADB mối lo ngại về nợ công vẫn tập trung chủ yếu ở các nền kinh tế phát triển mặc dù các nước này đã nỗ lực cắt giảm thâm hụt ngân sách. Quá trình hồi phục kinh tế của khu vực eurozone vẫn mong manh. Bất ổn chính trị có thể gia tăng tại một số khu vực kìm hãm kinh tế tăng trưởng.  —  (*) Chuyên viên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Trung Quốc đang bất ổn      Nền kinh tế Trung Quốc đang đối diện với một  giai đoạn bất ổn định và mất cân đối sau một thời kỳ tăng trưởng nhanh,  nhận định từ một chuyên gia kinh tế của Nhà nước Trung Quốc.    “Không thể xem nhẹ sức ỳ tăng trưởng khi mà một mô hình và xu hướng phát triển mới vẫn chưa được hình thành”, khẳng định của chuyên gia Yu Bin hôm 22/7. “Các kỳ vọng của thị trường đang không ổn định, sức ép đi xuống của nền kinh tế đang gia tăng, và đang tồn tại những vấn đề mất cân đối trong cơ cấu, cả cũ và mới. Nền kinh tế chưa bao giờ bất ổn và thiếu chắc chắn như hiện nay”, báo cáo cho biết.  Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại trong hai quý gần đây, giảm xuống còn 7,5% tăng trưởng trong giai đoạn từ tháng Tư tới tháng Sáu, làm tăng nguy cơ Thủ tướng Lý Khắc Cường không đạt được mục tiêu tăng trưởng của năm. Các báo cáo trên truyền thông Trung Quốc khẳng định ông Lý sẽ hành động nhằm thúc đẩy tăng trưởng nếu cần thiết, qua đó giúp chỉ số chứng khoán Shanghai Composite Indext tăng được 2% trong hôm 22/7.   Chuyên gia Yu Bin làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu Phát triển là một cơ quan tư vấn cho Chính phủ Trung Quốc, ông khẳng định rằng nếu Trung Quốc duy trì được “một môi trường kinh tế vĩ mô phù hợp”, bắt đầu tiến hành những cải cách cần thiết và kiểm soát thành công các nguy cơ, thì “tỷ lệ tăng trưởng của năm 2013 có thể tiếp cận mức 7,5%.”   Trong phiên hỏi đáp sau khi trình bày báo cáo, Yu khẳng định (qua phiên dịch) rằng mặc dù nền kinh tế toàn cầu có thể sẽ hồi phục mạnh hơn trong nửa cuối của năm, “điều đó không đảm bảo rằng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ được cải thiện”. Ông cũng nói rằng “sức ép đi xuống” của nền kinh tế là cao hơn dự kiến trước đây.  “Trong nửa cuối của năm, nếu nền kinh tế suy giảm sâu hơn, Trung Quốc sẽ có những chính sách đối phó mới, ví dụ như gia tăng thâm hụt ngân sách, hoặc phát hành thêm trái phiếu trung và dài hạn nhằm triển khai một số dự án hạ tầng lớn.”   ‘Không cho phép tăng trưởng dưới 7%’  Chính quyền Trung Quốc sẽ không cho phép tăng trưởng dưới 7% vì Trung Quốc cần đạt mục tiêu xã hội thịnh vượng tầm trung (moderately prosperous society) vào năm 2020, theo một tuyên bố đăng hôm 21/7 trên Tân Hoa Xã. Ông Lý Khắc Cường cũng khẳng định trong một cuộc họp gần đây với các nhà kinh tế rằng mức tăng trưởng 7% là ‘mức đáy’ và quốc gia không cho phép tăng trưởng thấp hơn nữa, tở Tin tức Bắc Kinh công bố hôm 22/7.   Trong tháng này, Trung Quốc đã loại bỏ lãi suất sàn nhằm kích thích tăng trưởng. Ngân hàng trung ương thừa nhận rằng giải pháp này còn giới hạn, điều quan trọng hơn là phải thả lỏng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.  Xuất khẩu của Trung Quốc bất ngờ giảm 3,1% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm ngoái, là mức giảm lớn nhất kể từ thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sản xuất công nghiệp cũng tăng thấp hơn dự kiến và giá cả hàng bán sỉ giảm trong vòng 16 tháng liên tiếp.  So với cùng kỳ năm ngoái, GDP Trung Quốc tăng 7,5% trong giai đoạn tháng 4 tới tháng 6, giảm so với mức 7,7% của quý 1 năm 2013. Tăng trưởng kinh tế đang ở mức thấp nhất trong 3 quý gần đây, và là giai đoạn dài nhất nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng dưới 8%/năm trong vòng hai thập kỷ trở lại đây.  Thanh Xuân lược dịch     Nguồn:   http://www.bloomberg.com/news/2013-07-23/chinese-economy-facing-instability-as-growth-cools-drc-says.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế tuần hoàn      Làm sạch một chai thủy tinh và sử dụng tiếp thì nhanh và rẻ hơn là tái chế hay sản xuất mới. Điều đơn giản ấy ai cũng hiểu nhưng rất ít người thực hiện. Đa số chúng ta vẫn cuốn theo guồng quay “sản xuất, sử dụng, loại bỏ” đầy lãng phí và thiếu bền vững – hiện có tới 1/3 lượng nhựa phế thải trên toàn cầu đang không được thu gom hoặc quản lý.    Nền kinh tế tuần hoàn mang đến một giải pháp an toàn cho tương lai của Trái đất.  Để khắc phục thực trạng đó, theo bài viết của kiến trúc sư Thụy Sĩ Walter R. Stahel đăng trên Tạp chí Nature, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu thực hiện một mô hình kinh tế mới – kinh tế tuần hoàn.  Stahel nhận định, “kinh tế tuần hoàn” sẽ biến những đồ đạc đang ở cuối vòng đời phục vụ của mình thành nguồn lực cho người khác, lấp đầy những khoảng trống trong các hệ sinh thái công nghiệp và giảm thiểu lượng rác thải. Điều này sẽ làm thay đổi logic kinh tế: tái sử dụng những gì có thể, tái chế những gì không thể tái sử dụng, sửa chữa những gì hỏng hóc, tái sản xuất những gì không thể sửa chữa.  Quan điểm này xuất phát từ ý tưởng thay thế sức người bằng năng lượng, được miêu tả lần đầu cách đây 40 năm trong một bản báo cáo mà Stahel và Geneviève Reday-Mulvey từng gửi tới Ủy ban châu Âu khi họ đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Battelle tại Geneva, Switzerland. Đó là thời đầu thập kỷ 1970 khi giá năng lượng và tỉ lệ thất nghiệp đều tăng cao. Là một kiến trúc sư, Stahel biết rằng để tân trang các tòa nhà cần nhiều lao động và ít nguồn lực hơn so với việc xây mới. Ông cho rằng nguyên tắc này đúng với bất kỳ loại sản phẩm hay nguồn vốn nào, từ điện thoại di động cho tới đất trồng trọt và di sản văn hóa.  Theo Stahel, mô hình kinh doanh trong nền kinh tế tuần hoàn được chia thành hai nhóm: nhóm thúc đẩy việc tái sử dụng và kéo dài thời gian sử dụng thông qua việc sửa chữa, tái sản xuất, nâng cấp, và cải tiến; và nhóm biến đồ đạc cũ thành các nguồn lực “như mới” bằng cách tái chế các nguyên vật liệu. Con người – ở mọi lứa tuổi và trình độ – là trung tâm của các mô hình này. Người chủ sở hữu trở thành chủ quản lý; người tiêu dùng trở thành người sử dụng và người sáng tạo. Việc tái sản xuất và sửa chữa các đồ đạc, tòa nhà và cơ sở vật chất cũ tạo ra những công ăn việc làm đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm trong các xưởng sửa chữa địa phương.  Tuy nhiên, Stahel cho rằng ý tưởng về kinh tế tuần hoàn đến nay vẫn còn xa lạ và chưa được phổ biến. Nó mâu thuẫn với các cấu trúc hình phễu của giới học thuật, các công ty và các cơ quan quản lý. Đối với các nhà kinh tế học liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP), việc tạo ra tài sản bằng cách kéo dài chu kỳ tồn tại của mọi thứ dường như là điều trái ngược hẳn với những gì họ được học ở trường. Chẳng hạn người ta dùng GDP để đo dòng chảy tài chính trong một giai đoạn, trong khi nền kinh tế tuần hoàn lại bảo tồn những nguồn dự trữ vật chất. Tuy nhiên, hiện nay khi những mối lo ngại về an ninh nguồn lực, đạo đức và an toàn cũng như vấn đề cắt giảm khí nhà kính đang làm thay đổi cách tiếp cận của con người, buộc người ta phải nhìn nhận vật chất là các tài sản cần được bảo toàn chứ không chỉ hướng tới tiêu thụ liên tục.  Một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, và các quốc gia châu Âu trong thập kỷ qua đã bắt đầu các chương trình nghiên cứu nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn bằng cách đẩy mạnh việc tái sản xuất và tái sử dụng. Tuy nhiên, Stahel nhận định còn rất ít người trong giới khoa học lưu tâm đến điều này.  Tư duy hệ thống  Bài viết của Stahel phân loại ba loại hình kinh tế công nghiệp: tuyến tính, tuần hoàn, và hiệu quả. Nền kinh tế tuyến tính vận hành như một dòng chảy, biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các vật liệu và sản phẩm cơ bản rồi bán ra thông qua một loạt những bước tạo thêm giá trị gia tăng, theo xu hướng bán được càng nhiều càng tốt, dẫn tới sự hoang phí khi sử dụng các nguồn tài nguyên trong các thị trường thường đã bão hòa.  Khác với nền kinh tế tuyến tính, một nền kinh tế tuần hoàn giống như một chiếc hồ, trong đó việc tái xử lý hàng hóa và nguyên vật liệu tạo ra công ăn việc làm và tiết kiệm năng lượng đồng thời làm giảm mức tiêu thụ nguồn lực và lượng rác thải. Ví dụ, làm sạch một chai thủy tinh và sử dụng tiếp thì nhanh và rẻ hơn là tái chế thủy tinh hay sản xuất ra chai mới từ quặng. Hoặc thay vì bị bỏ đi, những chiếc lốp xe cũ có thể được thu gom bởi những nhà quản lý rác thải và bán ở mức giá cao nhất cho những ai có nhu cầu.  Nền kinh tế hiệu quả (performance economy) bước một bước xa hơn bằng cách bán hàng hóa như một loại dịch vụ, thông qua các mô hình kinh doanh cho thuê, mượn và sử dụng chung. Nhà sản xuất vẫn giữ quyền sở hữu sản phẩm cùng các nguồn lực tượng trưng của nó, và do đó nhà sản xuất chịu trách nhiệm về chi phí rủi ro và thải bỏ sản phẩm. Ngoài thiết kế và tái sử dụng, nền kinh tế hiệu quả tập trung vào các giải pháp thay vì sản phẩm, và kiếm lợi nhuận từ sự hiệu quả, chẳng hạn như trong việc ngăn chặn xả rác.  Ví dụ, từ năm 2007 Michelin đã bán quyền sử dụng lốp xe “tính theo dặm” cho nhà điều hành của các đội xe. Công ty này đã phát triển hệ thống các xưởng di động để sửa chữa và tân trang lốp xe tại địa điểm của khách hàng và đặt mục tiêu phát triển các sản phẩm có tuổi thọ cao hơn. Lốp xe cũ được gửi tới các nhà máy của Michelin để đúc lại và tái sử dụng. Công ty Elite của Thụy Sĩ cũng áp dụng chiến lược tương tự với các tấm thảm ở khách sạn. Một số công ty cho thuê đồ dệt cung cấp đồng phục, vải dệt sử dụng trong khách sạn và bệnh viện và máy làm sạch công nghiệp như một loại dịch vụ.  Lâu nay, phương pháp quản lý rác thải truyền thống thường tìm cách giảm thiểu các chi phí thu gom và xả thải – tức là chôn lấp thay vì tái chế hay thiêu hủy rác. Nhưng trong một nền kinh tế tuần hoàn, mục tiêu là tối đa hóa giá trị tại mỗi giai đoạn trong vòng đời của một sản phẩm – mỗi giai đoạn đều đòi hỏi hình thành một hệ thống phụ trợ, đồng thời theo đó tạo ra công ăn việc làm mới. Do vậy, khuyến nghị của Stahel là cần có các điểm tập kết rác cùng thị trường mua bán chuyên nghiệp để người sử dụng và các nhà sản xuất lấy lại/mua lại các hàng hóa, vỏ chai, đồ đạc, trang bị máy tính và các nguyên vật liệu xây dựng để phân loại theo giá trị còn lại, rồi tái chế, làm sạch và bán lại ra thị trường.  Việc thu gom và tái sử dụng “rác thải” là một công việc nặng nhọc và đắt đỏ nên cần có các chính sách khuyến khích và quy tắc quản lý đối với hàng hóa đã qua sử dụng, ví dụ như Áo là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng các chính sách khuyến khích về thuế và bồi thường các phí tổn trong việc đưa sản phẩm trở lại thị trường thay vì bằng cách vứt bỏ đi các bộ phận.  Nền kinh tế tuần hoàn được Stahel coi là một phần trong xu thế tổng thể hướng đến việc phi tập trung thông minh – như in 3D hay sản xuất theo nhu cầu riêng của từng khách hàng. Ví dụ dịch vụ chia sẻ ô tô Autolib của Pháp mang đến cho mọi người một sự linh động khi di chuyển trong thành phố bằng cách sử dụng những chiếc ô tô điện nhỏ có chi phí bảo dưỡng thấp và có thể được xạc điện tại các điểm đỗ xe trên khắp Paris. Những mô hình kinh doanh như vậy hoàn toàn khác biệt và là sự thay thế cho mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống. Ưu thế của mô hình truyền thống là tính hiệu quả trong việc sản xuất đại trà sản phẩm theo cùng một khuôn, hay các khoản đầu tư nhằm kiểm soát nguồn cung toàn cầu và các chuỗi marketing. Nhưng tất cả những ưu điểm đó đều không có tác dụng khi cạnh tranh với các dịch vụ tại chỗ của Autolib.  Chúng ta cần làm gì?  Nghiên cứu và sáng tạo là yếu tố đầu tiên được Stahel khuyến nghị đối với mọi cấp độ và lĩnh vực – từ xã hội, công nghệ tới thương mại. Các nhà kinh tế học và các nhà khoa học vật liệu và môi trường cần phải đánh giá được tác động về sinh thái cũng như các chi phí và lợi ích của các sản phẩm. Việc thiết kế sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu tái sử dụng cần phải trở thành một thông lệ.  Bên cạnh đó cần có những chiến lược truyền thông và thông tin để nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất và công chúng về trách nhiệm của họ đối với các sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng. Chẳng hạn, chính các tạp chí thời trang – chứ không phải các tạp chí khoa học – phải là nơi kêu gọi thúc đẩy trào lưu chia sẻ đồ trang sức, cho thuê quần jeans và túi xách.  Các chính sách nên chú trọng vào chất lượng hoạt động hơn là các yếu tố vật chất; việc nội hóa các chi phí ngoài (external costs) như phát thải khí và ô nhiễm nên được khuyến khích; quyền quản lý thay vì quyền sở hữu và quyền hủy bỏ vật sở hữu. Internet of Things (trong đó các vật dụng hằng ngày của chúng ta đều được kết nối mạng) và Công nghiệp 4.0 (các hệ thống kỹ thuật thông minh dùng để sản xuất đại trà) sẽ góp phần thúc đẩy vào quá trình chuyển biến này, nhưng bên cạnh đó vẫn cần phải rà soát lại chính sách trong đó có cân nhắc đến những vấn đề về quyền sở hữu và trách nhiệm với dữ liệu và hàng hóa.  Các chính sách cần khuyến khích các hoạt động có lợi cho xã hội và trừng phạt những hành động có hại. Cần nâng thuế đối với việc tiêu thụ các nguồn lực không thể tái chế. Thuế giá trị gia tăng chỉ nên áp dụng đối với các hoạt động tạo giá trị gia tăng, chẳng hạn như đào mỏ, xây dựng và sản xuất, và không nên áp dụng với các hoạt động nhằm duy trì, bảo tồn giá trị chẳng hạn như việc tái sử dụng, sửa chữa và tái sản xuất. Cần tăng điểm carbon cho các hành động ngăn chặn việc phát thải khí tương tự như với việc giảm lượng phát thải khí.  Cần phải đo lường sự thịnh vượng của xã hội dựa trên lượng hàng hóa sẵn có chứ không phải lưu lượng hàng hóa, theo nguồn vốn chứ không phải theo doanh thu. Khi đó, sự tăng trưởng sẽ tỉ lệ thuận với sự gia tăng về chất lượng và số lượng của tất cả các nguồn lực hiện tồn – tự nhiên, văn hóa, con người, và hàng hóa sản xuất. Chẳng hạn, việc quản lý rừng bền vững đo lường nguồn lực tự nhiên, việc phá hoại rừng lại phá hủy nó; khôi phục phosphorus hay kim loại từ rác thải giúp duy trì nguồn lực tự nhiên, nhưng thải bỏ nó lại làm gia tăng tình trạng ô nhiễm; tân trang lại các tòa nhà giúp làm giảm lượng tiêu thụ năng lượng và gia tăng chất lượng của các công trình đã được xây dựng.  Kết hợp cả ba loại hình kinh tế trên là một thách thức không nhỏ. Khi sự thay đổi trong tâm điểm của chính sách từ việc bảo vệ môi trường sang thúc đẩy các mô hình kinh doanh dựa vào sự sở hữu và trách nhiệm hoàn toàn và không hạn chế về thời gian thay vì áp đặt thời hạn bảo hành hai năm đối với chất lượng sản phẩm, mức độ cạnh tranh của một quốc gia sẽ thay đổi hoàn toàn.  Chi Nhân lược dịch http://www.nature.com/news/the-circular-economy-1.19594  Các nguyên tắc cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn  1. Thiết kế để tái sử dụng: Rác thải sẽ không tồn tại nếu các thành phần sinh học và hóa học trong sản phẩm được thiết kế sao cho có thể đưa chúng vào tái sử dụng trong một chu trình mới. Nói cách khác, có thể phân tách và/hoặc tái sử dụng các thành phần này.   2. Khả năng linh động nhờ sự đa dạng: Các hệ thống có sự kết nối nội bộ đa dạng thường có sức chống chịu cao và linh động trước những tác động bất ngờ từ ngoại cảnh. Trong nền kinh tế, để có được sự linh động đó, cần phải có sự đa dạng về các loại hình doanh nghiệp, mô hình kinh doanh và hệ thống sản xuất, đồng thời các mạng lưới kinh doanh cũng phải có những mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cũng như với nhiều nhà cung cấp và khách hàng khác nhau. Các hệ sinh thái tự nhiên là những ví dụ minh họa sống động nhất cho các hệ thống sản xuất linh động như thế này.  3. Sử dụng năng lượng từ các nguồn vô tận: Để giảm tải những tổn thất về sản phẩm (bằng cách tái chế nâng cấp), cần phải sử dụng thêm năng lượng. Có hai nguồn năng lượng chính luôn sẵn có: năng lượng (năng lượng tái chế) và sức lao động. Chỉ có thể đáp ứng được các điều kiện của một nền kinh tế tuần hoàn bằng cách sử dụng các nguồn năng lượng tái chế.  4. Tư duy hệ thống: Tư duy hệ thống tập trung vào các hệ thống phi tuyến tính, đặc biệt là các vòng lặp phản hồi (feedback loop – là một cấu trúc hệ thống trong đó đầu ra ở một mắt xích trong cấu trúc này sẽ có tác động lên đầu vào tại chính mắt xích đó). Trong các hệ thống này, sự kết hợp giữa các nhân tố môi trường không chắc chắn với sự phản hồi trước các nhân tố đó thường mang lại những kết quả khó dự đoán trước. Tuy nhiên, để tìm hiểu cách tối ưu hóa các hệ thống này, cần phải cân nhắc đến những mối quan hệ giữa chúng và đường đi của các nguyên liệu trong chu trình sản xuất. Để làm được điều này, cần phải có sự định hướng lâu dài. Tại nhiều cấp độ và quy mô khác nhau trong nền kinh tế tuần hoàn, các hệ thống hoạt động trong đó tác động lẫn nhau, từ đó xuất hiện những mối quan hệ phụ thuộc và tạo nên những vòng lặp phản hồi giúp củng cố cho tính linh động của nền kinh tế tuần hoàn.  5. Nền tảng sinh học: Càng ngày càng có nhiều hàng hóa tiêu dùng được tạo nên từ các nguyên liệu sinh học và quá trình sử dụng chúng diễn ra dựa trên quy tắc “phân tầng”: các thành phần sinh học này được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trước khi quay trở về các chu trình sinh quyển. Nguồn: Rabobank      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam 2009: đối mặt với cơn khủng hoảng toàn cầu      Cả thế giới hiện đang đương đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái lớn nhất trong vòng 70 năm lại đây. Theo nhận định của những chuyên gia kinh tế hàng đầu về khủng hoảng, như Paul Krugman (giải Nobel về kinh tế năm 2008) hay Nuriel Roubini (biệt danh “Dr. Doom”, vì đa có những dự báo “đen tối” nhưng chính xác trong mấy năm qua), thì điểm tồi tệ nhất của khủng hoảng này còn đang đến, và suy thoái trên thế giới có nhiều khả năng còn kéo dài quá 2011. Trong bối cảnh đó, nền kinh tế của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.    Bài viết này nhằm phân tích một cách khách quan nhất có thể (dựa trên lượng kiến thức và thông tin hạn chế của tác giả) tình hình kinh tế tài chính Việt Nam năm 2009, và các giải pháp mà Chính Phủ có thể đưa ra hoặc sẽ đưa ra nhằm phát triển kinh tế ổn định và phòng chống khủng hoảng. Hiện ở Việt Nam  đa xuất hiện những mầm mống của khủng hoảng tài chính, và khả năng khủng hoảng xảy ra hay không tùy thuộc vào tính kịp thời của những giải pháp mà Chính Phủ có thể đưa  ra nhằm ngăn chặn nó. Theo nhận định của của tác giả thì xuất khẩu sẽ không tăng so với 2008, và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 sẽ khó vượt qua mức 3%. Việc cần được ưu tiên trước mắt của Chính Phủ là tận dụng các nguồn lực hạn hẹp trong thời gian tới để cải thiện nền kinh tế mạnh hơn về chất trong năm 2009, tạo đà cho phát triển sau này. Đối với các nhà đầu tư, vẫn sẽ có những cơ hội tốt để đầu tư ở Việt Nam năm 2009, kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư chứng khoán.  Các áp lực từ bên ngoài  – Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong năm 2009, bởi sự sụt giảm mức tiêu thụ ở các thị trường đó, sự cạnh tranh khốc liệt hơn từ các nước xuất khẩu khác, và sự giảm giá của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như hàng nông lâm nghiệp và dầu hỏa. Kim ngạch xuất khẩu có nguy cơ sẽ bị giảm trong năm 2009. Trên thực tế, kim ngạch xuất  khẩu những tháng cuối năm 2008 đã giảm đi, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Trung Quốc và những nước khác. Điều tất yếu là nhập khẩu của Việt Nam cũng sẽ phải giảm theo. Tuy nhiên thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam có thể bị tiếp tục tăng lên đáng kể, từ mức hơn 17 tỷ USD năm 2008 lên đến mức 20-25 tỷ USD vào năm 2009. Ngoài ra, ngành du lịch, là một ngành phát triển khá mạnh trong những năm trước và góp phần thu hút tiền từ nước ngoài vào Việt Nam, đến năm 2009 cũng gặp suy thoái, do các du khách nước ngoài có ít tiền để tiêu hơn và sẽ ít chọn những địa điểm xa xôi tốn kém như Việt Nam.  – Các nguồn tiền đầu tư và viện trợ vào Việt Nam, kể cả trực tiếp và gián tiếp, dài hạn hay ngắn hạn, chính phủ hay tư nhân, đều có xu hướng giảm trong năm 2009, do bản thân các nhà đầu tư đang gặp khó khăn và Việt Nam vẫn được đánh giá là thị trường có mức độ mạo hiểm cao. Các nguồn FDI có nguy cơ giảm (hầu hết tiền FDI vào Việt Nam không phải tiền tự có của các nhà đầu tư, mà cũng là tiền đi vay; ngoài ra một lượng lớn tiền FDI là đổ vào bất động sản, nhưng các dự án BĐS sẽ trở nên kém hấp dẫn trong năm 2009). Khoản kiều hối (tiền do 3 triệu người Việt sống ở nước ngoài gửi về), đang ở mức 6-7 tỷ USD một năm, cũng sẽ bị giảm đáng kể, vì bản thân những người Việt ở nước ngoài cũng gặp khó khăn hơn về kinh tế trong năm 2009. Các khoản viện trợ ODA cũng sẽ bị cắt giảm (ví dụ như Nhật đa tuyên bố tạm ngừng viện trợ ODA cho Việt Nam).  – Nếu như những năm trước các luồng tiền chảy vào Việt Nam bù lại được cho thâm hụt cán cân thương mại, thì đến 2007-2008 đa không còn được như thế nữa, và đến 2009 thì tình hình có xu hướng tồi thêm. Có thể có net outflow lên đến 7-10 tỷ USD hoặc hơn thế vào năm 2009 (bằng hơn một nửa dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện tại ?). Điều này sẽ có ảnh hưởng xấu trực tiếp đến dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, và có thể gây mất ổn định cho nền kinh tế.  Các khó khăn nội tại  – Vấn đề tham nhũng (corruption) và gian trá (fraud). Nó như là thứ sâu mọt không chỉ ăn lá của cái cây Việt Nam, mà ăn tận vào thân cây và gốc rễ, và nó đẻ ra nhiều vấn đề kinh tế và xã hội khác (như bất công, thoái hóa xã hội, thự phẩm độc hại, làm ăn kém hiệu quả, …). Trong bảng xếp hạng về tham nhũng của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International) năm 2008, thì Việt Nam chỉ đạt 2,7 điểm trên 10 về minh bạch, đứng hạng rất thấp so với thế giới. Theo một điều tra của tập đoàn kiểm toán Ernst & Young năm 2008 thì 96% các doanh nghiệp ở Việt Nam “chấp nhận chung sống với tham nhũng để được việc”.  – Cơ chế và trình độ quản lý. Việt Nam đã đi được chặng đường đổi mới 20 năm và đa có nhiều tiến  bộ về kinh tế. Tuy nhiên, trong cơ chế quản lý của Việt Nam vẫn còn nhiều cái cũ kỹ, bất hợp lý, nhiều lỗ hổng và mâu thuẫn, làm cản trở sự phát triển, và gây ra tham nhũng. Khó có thể chống tham nhũng một cách hiệu quả, nếu không đổi mới được các cơ chế và luật lệ sao cho phù hợp hơn. Trình độ quản lý kinh tế tài chính ở Việt Nam nhìn chung còn chưa cao. Cơ chế thiếu hợp lý cũng dẫn đến việc bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước ít thu hút được các nhà quản lý giỏi, và có giỏi cũng khó làm việc hiệu quả, và những người ít thực tài lại có khi dễ được đề bạt hơn nhờ tham nhũng.  – Thâm hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai, và nợ nước ngoài. Nợ nước ngoài của Chính Phủ Việt Nam ở mức 30% GDP chưa phải là cao (dưới mức 50% GDP có thể coi là an toàn), nhưng thâm hụt cán cân thương mại (balance of trade) đang ở mức rất cao (đến 1/4 GDP). Sự thâm hụt đó chủ yếu được bù lại bằng các khoản đầu tư vào Việt Nam hoặc tiền gửi không hoàn lại từ nước ngoài về Việt Nam. Nhưng nó sẽ là một trong những yếu tố gây bất ổn định rất nguy hiểm (gây tăng  nợ hoặc/và giảm dự trữ ngoại tệ), nếu như các khoản tiền rót vào Việt Nam bị cắt giảm hay đơn giản là không theo kịp sự thâm hụt cán cân thương mại. Tuy Việt Nam có tỷ lệ tiết kiệm khá cao (hơn 30% GDP), nhưng đầu tư cao hơn tiết kiệm (đến 40% GDP), dẫn đến thâm hụt cán cân vãng  lai (current account) năm 2007 gần 10% GDP và năm 2008 cũng sẽ cao. (Những năm 2005 và 2006 thâm hụt cán cân vãng lai chỉ có 0,9% và 0,3% GDP). Tỷ lệ -10% chư phải quá cao. (Các nước Đông Âu trong quá trình chuyển đổi có cáng cân vãng lai đến -20%). Tuy nhiên trong tình hình nguồn tiền từ nước ngoài khan hiếm thì sự thâm hụt cán cân vãng lai cũng đáng lo ngại.  – Đầu tư kém hiệu quả. Chỉ số ICOR (incremental capital output ratio) là một chỉ số đo hiệu quả đầu tư, và chỉ số đó càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao, và ngược lại. Việt Nam hiện tại có ICOR xấp xỉ 5 (tăng lên từ 4,4 trong giai đoạn 2001-2006) là thuộc loại quá cao, chứng tỏ hiệu quả đầu tư kém. Có thể do nhiều lý do, ví dụ như chiến lược kém, quản lý kém, đầu cơ quá nhiều, và tham nhũng. Trong giai đoạn phát triển, phải đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều, là những thứ không đem lại output lớn ngay nhưng quan trọng về lâu dài, và do đó ICOR có thể cao. Tuy nhiên điều đáng chú ý là ICOR của Việt Nam cao hơn hẳn của một số nước khác trong những giai đoạn phát triển tương tự. Ví dụ Nhật Bản có ICOR = 3,2 trong giai đoạn 1961-1970, Hàn Quốc có ICOR = 3, Đài Loan có ICOR = 2,7 và Thái Lan có ICOR = 4,1 trong giai đoạn 1981-1995, Trung Quốc có ICOR = 4 trong giai đoạn 2001-2006. Đặc biệt, năm 2007 là năm đầu tư và đầu cơ tăng đột biến ở Việt Nam, dẫn đến tăng trưởng tín dụng 120% và cung tiền tăng 60% so với 2006. Nhiều doanh nghiệp lớn chạy theo “lợi nhuận dễ dàng”, không tập trung vào các thế mạnh chính của mình mà đầu tư tràn lan sang các thứ khác như tài chính và bất động sản. Có một điểm sáng đáng chú ý ở Việt Nam, là tỷ lệ tiết kiệm ở mức 30-35% GDP trong năm năm vừa qua, thuộc loại rất cao so với thế giới. Nếu giả sử vốn nước ngoài không đổ vào thêm (nhưng cũng không rút ra), thì 30% tiết kiệm dành cho đầu tư với hệ số ICOR = 5 cũng tạo ra được tăng trưởng bằng 30%/5 = 6%. Nếu như năm 2009 không đạt được mức tăng trưởng 6%, thì sẽ là tổng hợp của nhiều lý do, nhưng có lẽ một trong những lý do chính sẽ là: hiệu quả đầu tư điều chỉnh giảm xuống, do những đầu tư tồi từ những năm trước bị điều chỉnh giá trị giảm xuống trong năm 2009. (Tức là chỉ số ICOR trên thực tế ở Việt Nam có thể còn cao hơn 5).  – Bong bóng bất động sản. Giá bất động sản ở Việt Nam đi lên chóng mặt trong những năm vừa qua, và hiện quá cao và bất hợp lý so với mức thu nhập trung bình. (Giá các dự án căn hộ ở Sài Gòn tăng từ 8 triệu / m2 năm 2006 lên thành 30 triệu / m2 cuối năm 2007. Một căn hộ mới “loại rẻ nhất, xây cho người thu nhập thấp” ở Hà Nội cũng được treo giá 50 nghìn USD, bằng 25 năm lương trung bình; để so sánh, giá nhà trung binh ở Mỹ vào thời điểm cao nhất năm 2006 trước khi sụt giảm cũng không vượt quá 7 năm lương trung bình). Sự tăng giá đó một phần là do kinh tế đi lên, nhưng mặt khác là do ảnh hưởng của “nguồn tiền dễ dãi” (trong đó tiền nước ngoài, và cả tiền tham nhũng) và đầu cơ quá nhiều (ước tính lên đến 80% ở TP HCM). Theo TS Lê Xuân Nghĩa (Vụ trưởng Vụ Chiến lược Ngân hàng Nhà nước) thì giá BĐS là “giá ảo”, cao gấp mấy lần giá trị thực, và tổng vay nợ BĐS ở Việt Nam qua các hình thức khác nhau bằng đến 50% dư nợ của hệ thống ngân hàng, và bằng cả GDP của Việt Nam năm 2008, tuy rằng theo một con số chính thức của Ngân Hàng Nhà Nước tháng 11/2008 thì tổng vay nợ BĐS “chỉ có” 115 tỷ đồng, hay gần 10% GDP (con số này chưa tính những khoản như vay thế chấp ?). Giá BĐS lên nhanh kéo theo xây dựng ồ ạt, dẫn đến dư thừa trong năm 2008 (thừa ở đây là thừa tương đối, do quá mất cân bằng so với khả năng tài chính, còn tất nhiên về tuyệt đối thì vẫn thiếu), cộng với việc “nguồn tiền dễ dãi” trở nên “khó khăn”, khiến giá rớt xuống, dẫn đến nhiều công ty xây dựng và “nhà đầu cơ” với đon bẩy cao đứng bên bờ phá sản. Tuy trong năm 2008 bong bóng bất động sản đa được xì hơi bớt (giá  BĐS nhiều nơi giảm 25-30%, và có nơi giảm đến 50-70%) nhưng vẫn ở mức lo ngại, có thể đe dọa hệ thống ngân hàng Việt Nam với khoản nợ xấu kếch xù. Có thể thấy nhiều điểm khá giống nhau giữa bong bóng BĐS ở Việt Nam với khủng hoảng BĐS ở Mỹ.  – Khủng hoảng tài chính 2008. Trong khi thế giới có khủng hoảng tài chính thế giới mà đến nửa sau 2008 mới bộc lộ rõ, thì Việt Nam có khủng hoảng tài chính của Việt Nam từ nửa đầu 2008 (và đến cuối 2008 đa giải quyết được phần nào). Hệ thống ngân hàng bị thiếu thanh khoản trong nhiều tháng, có khi lãi suất qua đêm lên đến 43% hồi đầu năm. Lãi suất quá cao trong năm 2008 góp phần tạo khó khăn cho phần lớn các doanh nghiệp. Theo hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì vào tháng 10/2008 có đến 80% các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn, trong đó có 20% có nguy cơ đóng cửa, 60% còn lại có sản xuất sút kém. Đến khi lãi xuất giảm vào cuối 2008 thì các ngân hàng lại đứng trước một khó khăn mới, là đa có thời gian vay vào với lãi suất cao (gần 20% cho tiền gửi 1 năm), và bây giờ cho vay ra với lãi suất thấp hơn (khoảng 13%) nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn sợ không dám vay, và tiền ứ đọng trong ngân hàng (vào thời điểm 11/2008 thừa gần 100 nghìn tỷ VND không có người vay). Hơn nữa, tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng có thể rất cao, và có thể đến năm 2009 mới thể hiện rõ điều này. Thị trường chứng khoán thụt sâu sau bong bóng 2006-2007 (từ 1100 điểm năm 2007 xuống còn 300 điểm hiện tại) và giảm thanh khoản, các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi thị trường, khiến việc huy động vốn qua kênh chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng bị tắc nghẽn. Bản thân vốn huy động trái phiếu chính phủ trong 10 tháng đầu năm 2008 cũng chỉ đạt 52% kế hoạch.  Lạm phát sẽ ra sao?  – Thập kỷ 80 của thế kỷ trước là thập kỷ siêu lạm phát của Việt Nam, với mức lạm phát trung bình đến 100%/năm, và đặc biệt là năm 1986 lạm phát lên đến gần 800%/năm. Nguyên nhân chính là do nền kinh tế bao cấp thời đó bị khủng hoảng thiếu kinh niên, quản lý tập trung quá yếu kém, và không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài (nguồn đầu tư chủ yếu từ nước ngoài là Liên Xô, nhưng bản thân lúc đó Liên Xô đang xuống dốc và sắp tan vỡ). Từ những năm 1990, cùng với việc mở cửa và phát triển kinh tế theo định hướng thị trường, đồng tiền Việt Nam đa trở nên ổn định hơn (tỷ giá USD/VND là 11000 vào năm 1992, sau 16 năm mới tăng lên tổng cộng hơn 40% thành 16-17000 vào năm 2008). Vấn đề chống làm phát trở thành một trong những vấn đề được chính phủ ưu tiên hàng đầu, và lạm phát thường giữ được ở mức dưới 10%. Tuy nhiên lạm phát của năm 2008 đa lên đến hơn 22% (và có lúc đỉnh điểm lên gần 30%). Những lý do chủ yếu khiến  lạm phát năm 2008 lên trên 20% là:  (Đồ thị: giá gạo trên thị trường CBOT ở Mỹ, tính theo US$ / hundredweight; 1 hundredweight = 50,8  kg)  – “Nhập khẩu lạm phát”. Giá cả các nguyên nhiên vật liệu (xăng dầu, sắt thép, …) và thực phẩm trên thế giới tăng rất mạnh trong thời gian 2007-2008, trước khi giảm xuống vào nửa sau 2008. Giá một số mặt hàng thiết yếu tính theo US$ có lúc tăng đến hơn 100% trong vòng 1 năm. Một phần sự tăng đó là do thế giới phát triển nóng (đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu của Trung Quốc tăng cao), nhưng một phần rất lớn là do các quĩ đầu cơ làm khuyếch đại lên nhiều lần sự tăng cầu và đẩy giá cả tăng nhanh. Giá cả trên thế giới tăng kéo giá ở Việt Nam tăng theo. Đặc biệt là giá thực  phẩm, và vì thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong rổ CPI của Việt Nam, nên lạm phát ở Việt Nam cao hơn hẳn các nước khác. Điều đó cũng giải thích vì sao những tháng cuối 2008 có thiểu phát  (deflation) tại Việt Nam, khi mà giá cả trên thế giới cho thực phẩm và nguyên nhiên vật liệu giảm nhiều.  (Đồ thị: tăng trưởng cung tiền, tín dụng, và lạm phát trong giai đoạn 2001-2007.  Nguồn: từ ThS Nguyễn Thanh Bình, lấy từ WB & IMF)  – Tỷ giá USD/VND gần như cố định. Khi giá các mặt hàng trên thế giới tăng lên trong giai đoạn 2007-2008 thì cũng là lúc đồng USD bị mất giá so với các đồng ngoại tệ khác. Nếu lấy một rổ ngoại tệ trong đó có cả USD và các đồng tiền lớn khác như Euro, Yên Nhật, Nhân Dân Tệ, … thì USD mất giá so với rổ đó khoảng 5-10% trong 1 năm. Có lúc trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND cũng giảm xuống vài % so với giá chính thức vào đầu 2008. Giá cả các mặt hàng nếu tính theo rổ ngoại tệ, thì ổn định hơn là nếu tính theo USD. Như vậy việc Việt Nam cố định tỷ giá USD/VND (nhằm ổn định tài chính) lại là yếu tố gây mất ổn định giá trong giai đoạn 2007-2008, góp phần tăng lạm phát thêm quãng 5-7%.  – Lượng cung tiền VND tăng mạnh (đặc biệt trong năm 2007 lượng M2 tăng những 60%), trong khi lượng hàng hóa không tăng nhiều tương ứng. Hiệu quả đầu tư kém (hệ số ICOR xấp xỉ 5) là một trong những nguyên nhân dẫn đến lượng hàng tăng không theo kịp lượng tiền. Về tốc độ thay đổi của lượng cung tiền, có một điểm cần chú ý, là các đồ thị thống kê ở trên chỉ tính đến lượng tiền VND. Lượng tiền USD và vàng được dùng như tiền ở Việt Nam khá lớn (hiện không có số liệu, nhưng có thể tạm hình dung là có đến 30% giao dịch ở Việt Nam là được thực hiện bằng USD và vàng) và lượng tiền USD và vàng này tăng chậm hơn nhiều so với VND. (Có thể tạm ước tính số $ tiền mặt ở Việt Nam khoảng vài tỷ USD, và lượng vàng được dùng như tiền ở Việt Nam lên đến hàng nghìn tấn, tương đương nhiều chục tỷ USD — riêng 4 tháng đầu năm 2008 Việt Nam đa nhập 52 tấn vàng, tương đương hơn 1,5 tỷ USD). Hơn nữa, việc tăng nhanh cung tiền VND một phần là do hệ thống ngân hàng phát triển, nhiều người gửi tiền vào ngân hàng và vay từ ngân hàng hơn. Lượng tiền đó trước kia không nằm trong các ngân hàng, nhưng không có nghĩa là không có lưu thông hay khuyếch đại. Nếu điều chỉnh theo các yếu tố đó, thì tổng lượng cung tiền tuy có tăng nhanh trong mấy năm vừa qua, đặc biệt là năm 2007, nhưng không tăng đến mức 40-60% (mà có thể là 25-40%). Nếu không thì khó giải thích vì sao lạm phát cho đến 2007 giữ được ở mức tương đối thấp. Tuy sự tăng đột biến cung tiền trong năm 2007 có đóng góp một phần đáng kể vào việc lạm phát cao đột biến trong 2008, nhưng ảnh hưởng của “nhập khẩu lạm phát” có lẽ vẫn lớn hơn.  (Đồ thị: so sánh giữa độ tăng cung tiền và độ tăng GDP)  – So với năm 2008, thì tình hình năm 2009 thay đổi khá nhiều.  Trong các yếu tố gây nên lạm phát của năm 2008, thì yếu tố lượng cung tiền VND tăng vẫn còn nhưng chắc sẽ không tăng nhanh như 2007, yếu tố VND mất giá so với các ngoại tệ mạnh vẫn còn (tuy lần này sẽ là VND mất giá ngay so với USD, trong khi USD có khả năng tăng giá so với Euro và Yên trong năm 2009). Tuy nhiên, giá cả các mặt hàng như lương thực, xăng dầu, sắt thép (và giá cả sinh hoạt nói chung) trên thế giới ít có xu hướng tăng trong năm 2009 so với năm 2008, mà ngược lại có xu hướng giảm kể từ cuối 2008, và như vậy nó cũng tạo áp lực kéo giá xuống ở Việt Nam (“nhập khẩu thiểu phát”). Do có những lực kéo giá lên và kéo giá xuống bù trừ bớt cho nhau, nhiều khả năng là năm 2009 ở Việt Nam vẫn có lạm phát, nhưng sẽ dưới 10%/năm.  Tỷ giá ngoại tệ đi về đâu?  – Sau giai đoạn khủng hoảng của những năm 1980, thì từ những năm 1990 đồng VND trở nên tương đối ổn định. Tỷ giá USD/VND năm 1992 là 11000, và đến 2008 là 16000-17000, với mức trượt giá của đồng VND so với đồng USD trung bình 2,5%/năm trong vòng 16 năm 1992-2008. Tuy có một số giai đoạn ngắn mà đồng tiền Việt Nam lên giá, nhìn chung thì VND có xu hướng giảm giá so với các ngoại tệ mạnh, bởi các yếu tố như: lạm phát trung bình ở Việt Nam cao hơn các nước giàu, tỷ lệ lượng tiền VND được bơm thêm vào hệ thống tài chính hàng năm nhiều hơn , và thâm hụt cán cân thương mại. (Những điều này khó tránh khỏi khi mà Việt Nam muốn giữ tốc độ phát triển kinh tế cao). Tuy nhiên, năm 2009 là năm đặc biệt, do có suy thoái toàn cầu, và khủng hoảng tài chính Việt Nam từ 2008. Câu hỏi đặt ra là liệu tỷ giá của VND so với các ngoại tệ mạnh có giữ được ổn định trong năm 2009 không, hay cũng sẽ thay đổi mạnh.  (Các đồ thị: tỷ giá USD/JPY và USD/EUR trong nửa sau 2008. Nguồn: x-rate.com)  – Một diểm đáng chủ ý là bản thân tỷ giá giữa các ngoại tệ mạnh với nhau cũng dao động rất mạnh trong năm vừa qua (một điều phản ánh sự đầu cơ quá nhiều và phát triển theo xu hướng bất ổn định của nền kinh tế toàn cầu). Ví dụ như tỷ giả USD/Yên giảm 20% từ 110 xuống còn 88 trong 4 tháng cuối 2008, và tỷ giá USD/Euro cũng lên xuống mấy chục % trong một thời gian ngắn . Trong tình hình đó, tỷ giá của VND so với các ngoại tệ không thể không giao động mạnh (nếu giao động ít so với ngoại tệ này, thì sẽ giao động nhiều so với ngoại tệ khác). Việc giao động mạnh như vậy ắt hẳn sẽ gây những khó khăn trong xuất nhập khẩu, nợ nước ngoài, và quản lý rủi ro.  – Hiện tại Việt Nam đang cố định tỷ giá USD/VND, nhưng đứng trước hai vấn đề: 1)  bản thân đồng USD mất ổn định hơn trước nhiều, và việc cố định tỷ giá VND vào USD trong hoàn cảnh như vậy có thể có hại nhiều hơn có lợi; 2) các yếu tố như thâm hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai, lạm phát cao làm cho VND có xu hướng giảm giá so với các ngoại tệ, và như vậy việc cố định tỷ giá cứng nhắc quá có thể dẫn đến khủng hoảng ở một thời điểm nào đó, như đa từng xảy ra ở nhiều nơi.  – Khi tỷ giá (giữa các đồng tiền với nhau, hay giữa tiền và vàng bạc) được giữ một cách thiên cưỡng ở mức quá cao hay quá thấp, trong khi các điều kiện kinh tế khác tạo lực đẩy mạnh theo hướng ngược lại, thì đến một lúc nào đó cái tỷ giá đó sẽ bị vỡ và tạo khủng hoảng trong một thời gian. Điều đó đa xảy ra đối với đồng USD năm 1971 (Mỹ phải bỏ đảm bảo USD bằng vàng khi mà dự trữ vàng của Mỹ xuống còn quá thấp), với đồng Bảng Anh năm 1992 (khi kinh tế của Anh yếu so với châu Âu mà đồng Sterling có tỷ giá quá cao trong cái “European Exchange Rate Mechanism”), và các đồng tiền Đông Nam Á vào năm 1997. Vào thời điểm trước khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Thái Lan và một số nước khác cố định tỷ giá đồng tiền của mình với USD. Việc cố định tỷ giá với ngoại tệ mạnh (dollarization) là hình thức chính phủ đứng ra đảm bảo đồng tiền nội tệ, giúp cho nó ổn định và kinh tế dễ phát triển. Tuy nhiên nó cũng làm sinh ra các mầm mống dẫn đến khủng hoảng như: các doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ quá nhiều, phát triển nóng và đầu cơ quá nhiều, một lượng tiền lớn từ nước ngoài đổ vào là tiền đầu cơ ngắn hạn. Kèm theo với thâm hụt ngân sách chính phủ và nợ nước ngoài lên cao, thì đến một lúc nào đó dự trữ ngoại tệ giảm đến mức báo động, hệ thống tài chính có dấu hiệu lung lay, các nhà đầu tư hay đầu cơ nước ngoài mất niềm tin đồng loạt rút vốn (và hơn nữa còn “bán khống” đồng tiền bản địa), dẫn đến khủng hoảng tiền tệ (currency crisis) khi mà đồng tiền mất giá đến một nửa so với USD trong vòng một thời gian rất ngắn, và kéo theo sự sập tiệm của hệ thống ngân hàng và nhiều doanh nghiệp khác.  – Tình hình của Việt Nam năm 2009 hiện chưa nguy hiểm như Thái Lan năm 1997: tỷ lệ nợ nước ngoài ít hơn (30% so với 70%), khả năng bị “đầu cơ tấn công” (speculative attacks) hầu như không  có (do thi trường không mở như Thái Lan, dòng tiền bị kiểm soát chặt chẽ hơn). Tuy nhiện vẫn có những mầm mống đáng lo ngại có thể dẫn đến khủng hoảng tiền tệ, như là: thâm hụt cán cân thương mại lớn (ước tính trên 20 tỷ USD, hay trên 1/4 GDP, trong năm 2009), dự trữ ngoại tệ giảm, phát triển nóng và hiệu quả đầu tư không cao, bong bóng bất động sản, nợ xấu nhiều trong hệ thống ngân hàng, nền kinh tế có nguy cơ chựng lại.  – Hiện tại, giá USD ở các ngân hàng Việt Nam khoảng 16900VND và giá tự do khoảng 17200VND, nhưng giá USD trong các forward contracts (hợp đồng đổi ngoại tệ cho tương lai) đa lên đến 20000VND. Theo dự đoán của tác giá, sẽ ít có khả năng khủng hoảng tỷ giả ngoại tệ ở Việt Nam trong năm 2009, vì Chính Phủ sẽ có những biện pháp mềm dẻo và điều chỉnh tỷ giá lên “theo hướng thị trường” (tức là hạ giá đồng VND so vớ USD) trước khi vấn đề trở nên quá căng thẳng. Những khó khăn của nền kinh tế (ví dụ như giảm đầu tư nước ngoài, thâm hụt cán cân vãng lai, giảm dự trữ ngoại tệ, nợ xấu trong ngân hàng, khó khăn của các doanh nghiệp, giảm độ confidence) là những yếu tố đẩy tỷ giá USD/VND đi lên. Việc nâng tỷ giá cũng là một cách hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong tình hình khó khăn, và hạn chế nhập khẩu bừa bãi, giúp các doanh nghiệp trong nước dễ tiêu thụ hàng trong thị trường nội địa hơn. Khó biết trước là giá USD/VND sẽ lên đến đâu trong năm 2009, nhưng giả sử có lên 10-15% thì cũng chưa có gì nguy hiểm đặc biệt cho nền kinh tế, nếu như giá các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu và thực phẩm tính theo USD giảm nhiều, và lạm phát tính theo VND giữ được ở mức vừa phải.  Xuất khẩu trong năm 2009  – Chính Phủ Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu năm 2009 tăng 13% so với 2008, tương đương kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD (giảm xuống từ mức tăng 20-30% trong mấy năm trước). Tuy nhiên, con số này có lẽ hơi quá lạc quan trong tình hình hiện tại.  (Đồ thị: giá dầu thô, theo đơn vị US$/thùng)    – Sự suy thoái, khủng hoảng tài chính và giảm sút tiêu dùng của các nước phát triển đa kéo theo thị trường xuất khẩu của toàn thế giới giảm sút từ cuối năm 2008, và xu hướng là năm 2009 sẽ giảm sút so với 2008. Mức tiêu thụ ở các thị trường chính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản giảm đi. Đồng thời, giá cả cũng có xu hướng giảm (thiểu phát tháng 11/2008 ở Mỹ là 1.7%) . Đặc biệt giá của một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp giảm rõ rệt. Hơn nữa, các thị trường chính gần như đa bão hòa, khi mà phần lớn các hàng tiêu dùng bán trong siêu thị là “made in China” hoặc được nhập từ các nước khác, trong đó có Việt Nam. Kể cả khi không có khủng hoảng, thì sự bão hòa thị trường ắt cũng dẫn đến sự giảm tăng trưởng xuất khẩu toàn cầu.  – Từ cuối 2008, xuất khẩu của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, bắt đầu giảm. Kể cả Trung Quốc, nước có tăng trưởng và xuất khẩu mạnh nhất thế giới (và chủ yếu là xuất hàng chế biến), cũng có xuất khẩu giảm trong tháng 11/2008. Trong khi thị trường có xu hướng bão hòa và tổng thị trường xuất khẩu có khả năng bị giảm, thì cách duy nhất để tăng xuất khẩu là chiếm thị phần của nước khác. Mà muốn chiếm thị phần thì phải có khả năng cạnh tranh mạnh. Nhìn chung, nước có khã năng cạnh tranh mạnh nhất vẫn là Trung Quốc. Bản thân việc Trung quốc là nước chủ nợ lớn (Mỹ nợ Trung Quốc cả ngàn tỷ USD) và là bạn hàng lớn nhất cửa nhiều nước khiến cho họ có lợi thế  trong đàm phán xuất khẩu cũng như trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước họ và tăng chất lượng các mặt hàng. Những nước khác như Ấn Độ, Malaysia, v.v. ắt hẳn cũng sẽ đấu tranh quyết liệt nhằm giữ thị phần xuất khẩu. So với các nước đó, thì Việt Nam không có nhiều lợi thế.  Việt Nam hiện chủ yếu cạnh tranh về giá thành (do giá nhân công Việt Nam rẻ) chứ ít cạnh tranh được về chất lượng. Nhưng khả năng cạnh tranh về giá cũng có hạn: ví dụ như Trung Quốc có thể cạnh tranh về giá với Việt Nam, vì họ có thể bán không cần lãi thậm chí bù lỗ cũng không sao, miễn sao giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và vấn đề xã hội của họ.    (Đồ thị: tỷ trọng xuất khẩu các ngành của Việt Nam năm 2008)  – Nếu tính theo ngành, thì kim ngạch xuất khẩu tài nguyên (hiện chiếm 20% xuất khẩu) sẽ giảm do giá giảm nhiều và khối lượng không thể tăng nhiều. Hàng nông sản cũng giảm: giá gạo giảm mà khối lượng xuất khẩu không thể tăng nhiều vì sản lượng có hạn, và ngành thủy sản cũng đang đứng trước rất nhiều vấn đề (thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, thừa cá, thiếu chất lượng, quản lý kém, lỗ chênh lệch tỷ giá, v.v.). Các mặt hàng chế biến như may mặc, giày dép, đồ gỗ cũng sẽ bị sức ép từ Trung Quốc và các nước khác. Tất nhiên không phải ngành xuất khẩu nào cũng có nguy cơ đi xuống. Có một số ngành xuất khẩu, ví dụ như công nghệ thông tin (như gia công phần mềm, sản xuất chip, …) có khả năng đi lên. Ngoài ra, có một số thị trường mới, như ở Trung Đông và Châu Phi, có thể bù lại phần nào việc các thị trường chính ảm đạm (nhưng đây không phải là những thị trường lớn, và không phải chỉ có Việt Nam nghĩ ra việc xuất sang Trung Đông, mà Trung Quốc và các nước khá đều nghĩ ra). Nếu cộng cả ngành tăng và ngành  giảm lại với nhau, thì tổng kim ngạch xuất khẩu ít có khả năng tăng. Ví dụ, giả sử kim ngạch xuất khẩu tài nguyên giảm 20%, nổng sản giảm 10%, các hàng công nghiệp và chế biến giữ nguyên, và các mặt hàng khác tăng 20%, thì tổng cộng xuất khẩu sẽ giảm khoảng 2%. (Con số này có thể vẫn còn quá lạc quan).  – Trong tình hình như vậy, rất khó có khả năng Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% trong năm 2009. Nếu giữ được mức xuất khẩu trong năm 2009 bằng năm 2008 đa có thể coi là may mắn. Tất nhiên, khi xuất khẩu giảm, nhập khẩu cũng sẽ phải giảm theo (một phần cũng vì giá của một số mặt hàng nhập khẩu đi xuống).  Tốc độ tăng trưởng kinh tế  – Trong những năm 1998-1999, khi mà ảnh hưởng xấu của đợt khủng hoảng tài chính châu Á còn đang diễn ra, thì kinh tế của Việt Nam cũng phát triển chậm lại, nhưng vẫn giữ được ở mức 5-6%, để rồi tăng lên mức 7-8% những năm sau đó. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng thế giới lần này nặng hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, và Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng mạnh hơn, do đa hội nhập sâu hơn vào nên kinh tế thế giới.  (Đồ thị: Mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hàng năm từ 1984 đến 2008. Nguồn: bài viết của TS Võ Hùng Dũng “Lạm phát với nông nghiệp – nông thôn” đăng trên các báo Việt Nam vào 06/2008)     – Vào thời điểm cuối năm 2008, Chính Phủ Việt Nam vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng 6-7% cho năm 2009, World Bank và IMF thì dự báo mức độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ là 5%, còn Deutsch Bank đánh giá là Việt Nam sẽ tăng trưởng quãng 4%. Hầu hết các nước khác cũng được dự báo là mức tăng trưởng trong năm 2009 sẽ giảm đi, và các nước tiên tiến sẽ suy thoái. Ví dụ nước Đức (nước có nền kinh tế mạnh nhất châu Âu) được dự báo suy thoái với GDP tăng trưởng âm 2.2% trong năm 2009. Tăng trưởng của Trung Quốc cũng được dự báo sẽ giảm từ 9% còn 6%.  Và vì “khi Trung Quốc hắt hơi thì Việt Nam cảm cúm”, nên độ tăng trưởng của Việt Nam cũng có nguy cơ giảm trên 3%, và như vậy dự báo của DB có vẻ hợp lý hơn dự báo của WB hay mục tiêu  của chính phủ Việt Nam đề ra. Tuy nhiên thậm chí con số tăng trưởng 4% mà DB đưa ra có thể vẫn còn quá lạc quan, và từ khi DB đưa ra con số đó, tình hình thế giới đa diến biến theo chiều hướng xấu đi thêm.  – Việc tăng nhanh xuất khẩu trong những năm vừa qua đa góp phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, và việc xuất khẩu bị chựng lại sẽ làm tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể. Để thấy điều đó, ta có thể xét mô hình giả dụ sau (tuy không hẳn đúng thực tế, nhưng có lẽ gần đúng). Giả dụ năm trước 25% output của Việt Nam là dành cho xuất khẩu (tuy kim ngạch xuất khẩu cao hơn 25% GDP nhiều, nhưng để tính output phải trừ đi phần nhập khẩu nguyên vật liệu về để chế biến tiếp rồi xuất khẩu), và 75% cho tiêu thụ trong nước. Nếu năm sau output cho xuất khẩu tăng 25%, thì làm tăng 25% X 25% = 6,25% cho GDP. Nếu GDP tăng tổng cộng 8% thì chỗ 75% dành cho tiêu thụ trong nước chỉ làm tăng 8% – 6,25% = 1,75% GDP, tức là phần output cho tiêu thụ nội địa chỉ tăng 1,75%/75% = 2,4% (mức tiêu thụ trong nước tăng nhanh hơn vậy, do nhập khẩu tăng nhanh). Nếu xuất khẩu tăng 13% (như Chính Phủ đề ra cho 2009), và mức tăng output cho nội địa vẫn như cũ, thì GDP tăng 25% X 13% + 1,75% = 5%. Còn nếu xuất khẩu không tăng (và cũng không giảm), thì GDP chỉ còn tăng 1,75%.  – Để bù lại cho việc xuất khẩu bị chựng lại, chính phủ có thể kích cầu trong nước, kích thích kinh tế nội địa “tự cung tự cấp” phát triển, để output cho tiêu dùng nội địa tăng lên. Hầu hết các nước đang đưa ra những chính sách “kích thích kinh tế” (stimulus plans) nhằm hạn chế suy thoái, ví dụ như giảm thuế tiêu dùng, giảm lãi suất, bơm thêm tiền vào hệ thống ngân hàng, tăng cường các công trình công cộng, v.v. Trung Quốc mới đây cũng quyết định tung ra gần 600 tỷ USD (tương đương 30% GDP) để kích thích kinh tế. Trong tháng 12/2008 Chính Phủ Việt Nam cũng tuyên bố giải pháp kích thích kinh tế bằng 1 tỷ USD, và dự kiến sẽ nâng con số này lên thành 6 tỷ USD (tương đương khoảng 7-8% GDP). Trung Quốc có thăng dự thương mại lớn (thăng dư của tháng 11/2008 lại lập kỷ lục mới, ở mức 40 tỷ USD), và là nước chủ nợ lớn, cho vay các nước khác tổng cộng hàng nghìn tỷ USD. Dự trữ ngoại tệ dư thừa khiến họ dễ dàng có thể tung một khoản tiền rất lớn để kích cầu trong nước, đảm bảo cho kinh tế phát triển. Việt Nam ở trong tình huống khó khăn hơn, vì là con nợ, và có thâm hụt cán cân thương mại cao. Bởi vậy khả năng kích cầu của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc, và trong khi kích cầu phải thận trọng để tránh thâm hụt sâu cán cân vãng lai và giảm sâu dự trữ ngoại tệ. Do đó, ngoài việc đưa ra các biện pháp chính sách đúng đắn để hỗ trợ nền kinh tế, Việt Nam nên đặt một mục tiêu tăng trưởng khiêm tốn cho năm 2009, là năm rất khó khăn chung cho cả thế giới. Nếu như GDP của Việt Nam tăng được khoảng 2-3% năm 2009, thì đa có thể coi là rất thành công.  – Tất nhiên, bản thân con số “tăng trưởng thô” mới chỉ phản ánh “một phần sự thật”, và còn phải xem “chất lượng tăng trưởng”, độ bền vững ra sao. Đánh đổi một chút tăng trưởng để lấy bền vững và chất lượng có lẽ tốt hơn là vay nợ quá nhiều (dùng đon bẩy cao) để tăng trưởng nóng, đến lúc gặp khó khăn có thể bị khủng hoảng dẫn đến những hậu quả tai hại sau đó. Hoặc là phá hoại môi trường để tăng trưởng nóng thì cũng phải trả giá lại sau này. Có những cái tăng trưởng mạnh về chất lượng nhưng không xuất hiện trên con số thống kê tăng trưởng kinh tế. Ví dụ như máy tính và dịch vụ telecom tăng về chất rất nhiều trong thập kỷ qua, tuy về lượng tiền có thể không tăng đáng kể. Ngược lại, có những thứ tăng về tiền nhưng chưa chắc chất lượng đa đi lên, ví dụ như chất lượng vệ sinh thực phẩm có thể bị giảm đi, không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước tiên tiến. Nếu có những cách tính tăng trưởng tinh vi hơn, trong đó tính được cả sự thay đổi về chất của các hàng hóa, dịch vụ, và môi trường, thì có lẽ chúng ta sẽ có được một bức tranh chính xác hơn về độ tăng trưởng kinh tế. (Vấn đề thay đổi chất lượng (quality bias) cũng là một trong những vấn đề được bàn đến trong việc cải thiện các cách tính chỉ số lạm phát). Trong năm 2009, kể cả nếu tăng trưởng GDP của Việt Nam bằng 0, nhưng cải thiện được các cơ chế luật lệ, cấu trúc hạ tầng, môi trường, tăng được độ minh bạch, nâng cao được mức văn hóa, v.v. để làm cơ sở cho việc phát triển bền vững của những năm sau, thì vẫn có thể coi là có sự đi lên đáng kể.  Xu hướng các ngành kinh tế trong năm 2009  – Những ngành nào có cầu lớn hơn cung nhiều thì vẫn sẽ phát triển kể cả khi kinh tế có khó khăn, đặc biệt nếu như để phát triển nó không cần nhập khẩu nhiều, không cần vốn nước ngoài nhiều. Ví dụ như các ngành giáo dục và đào tạo, dịch vụ bảo hiểm, y tế, e-commerce. Ngành điện sẽ phát triển do nhu cầu điện tăng nhanh (17%/năm trong những năm vừa qua), cung không đuổi kịp, và chính phủ sẽ phải nâng giá điện và có thêm những biện pháp khác để kích thích đầu tư vào ngành điện. Hiện giá điện ở Việt Nam (862 đồng / kwh) chưa bằng một nửa giá ở Mỹ (khoảng 0,11-0,12 $ / kwh) và chỉ hơn 1/3 giá ở Pháp (khoảng 0,11 Euro / kwh). Trong khi tổng sản lượng của toàn ngành nông nghiệp không thể tăng nhanh, thì có một lĩnh vực trong ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có đà tăng nhanh, đấy là thực phẩm sạch (chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh, ít chất hóa học). Ngành bảo vệ môi trường sẽ phải tăng nhanh vì đang rất thiếu ở Việt Nam. Ngành ngân hàng cũng còn đất để phát triển (nếu không tính đến mối hiểm họa về nợ xấu và khủng hoảng), vì tỷ lệ người có tài khoản ngân hàng còn dưới 20%, và những dịch vụ như thanh toán bằng thẻ còn rất ít phổ biến. Ngành dược sẽ phát triển khá nhanh vì nhu cầu thuốc thang ngày càng nhiều, người ta có thể bỏ không mua cái này cái khác chứ không ai bỏ mua thuốc chữa bệnh nếu còn có khả năng, và thuốc làm tại Việt Nam có giá thành rẻ hơn đáng kể so với thuốc nhập (dù là phần lớn nguyên liệu nhập từ nước ngoài). Ngành dịch vụ viễn thông ở Việt Nam (không kể dịch vụ “contents” và ecommerce) đa phát triển gần đến mức bão hòa (về lượng), và cầu không còn vượt cung, nên tuy vẫn sẽ làm ăn được nhưng khó có thể phát triển nhanh được nữa. Ngành này vẫn sẽ phát triển về chất, ví dụ như nâng tốc độ đường truyền internet, nhưng điều đó không có nghĩa là giá dịch vụ có thể thu tăng lên nhiều.  – Những ngành chủ yếu dành cho xuất khẩu nói chung sẽ gặp khó khăn. Trong đó có giầy dép may mặc, đồ gỗ, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp, xuất khẩu lao động, dầu hỏa. Ngành du lịch tuy không là xuất khẩu trực tiếp, nhưng có thể coi là “xuất khẩu tại chỗ” (phục vụ du khách nước ngoài), và sẽ gặp suy thoái. Giá khách sạn ở Việt Nam sẽ phải giảm đi sau mấy năm tăng chóng mặt. Giá dầu hỏa xuống dưới $40/thùng sẽ làm doanh thu và lợi nhuận của ngành dầu khí giảm đi nhiều. Việc giá gạo giao động mạnh có ảnh hưởng không tốt đến Việt Nam và đặc biệt là đến nông dân, vì tuy sau khi lên xuống một hồi giá trở về như cũ, nhưng quản lý rủi ro ở Việt Nam không được bằng ở các nước khác, dễ bị thua thiệt. Ngành gia công phần mềm cho nước ngoài có thể tránh được suy thoái (tuy rằng trên thế giới thì ngành này có suy thoái), vì chênh lệch giá lao động giữa kỹ sư phần mềm ở Việt Nam và ở các nước khác còn rất cao.  – Những gì lúc trước nảy nở ra quá nhiều, dẫn đến khủng hoảng thừa, thì sẽ gặp khó khăn, đặc biệt nếu như sự nảy nở đó dựa trên đon bảy tày chính cao, đầu cơ nhiều. Ví dụ bất động sản hiện tại đang trong khủng hoảng “thiếu vốn, thừa hàng”, đặc biệt là loại “nhà cao cấp” được mua chủ yếu để đầu cơ, và các dự án khu du lịch tràn lan. Ngành xây dựng sẽ gặp khó khăn, nhiều công ty có nguy cơ phá sản, và những ngành ăn theo như vật liệu xây dựng cũng sẽ gặp khó khăn suy thoái.  Trong ngành chứng khoán, có đến 100 công ty chứng khoán và 30-40 công ty quản lý quĩ là quá nhiều so với thị trường nhỏ bé (tổng vốn hóa thị trường niêm yết hiện còn khoảng 10 tỷ USD), ắt dẫn đến nhiều công ty thua lỗ, phải đóng cửa hoặc sát nhập. (Việc có quá nhiều công ty chứng khoán cũng là một ví dụ về đầu tư kém hiệu quả). Tuy nhiên trong bản thân ngành chứng khoán, có nhiều mảng mà có cầu mà chưa có cung, sẽ phải phát triển. Ví dụ mảng đầu tư trên thị trường thế giới, mảng commodities & derivatives, các công cụ làm hedging và quản lý rủi ro cho doanh nghiệp và cá nhân. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại còn “thô sơ” và qui mô còn nhỏ (hiện chưa đến 1% dân số có tài khoản chứng khoán), nên sẽ còn phải phát triển nhiều.  – Nhiều doanh nghiệp sản xuất phục vụ thị trường nội địa sẽ có thể sẽ “dễ thở hơn” trong năm 2009, do bớt cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Việt Nam sẽ có xu hướng tăng thuế hoặc ngăn chặn nhiều mặt hàng nhập khẩu được coi là “không thật cần thiết” để giảm bớt nhập khẩu, nhằm cân bằng cán cân vãng lai, đồng thời có xu hướng tăng tỷ giá ngoại tệ (giảm giá đồng VND), và như vậy hàng nội sẽ có dịp cạnh tranh tốt hơn với hàng ngoại ở Việt Nam. Tất nhiên nếu đấy là doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cho thị trường trong nước thì vẫn không thoái khỏi khó khăn do thị trường xây dựng suy thoái.  – Xu hướng các ngành ở Việt Nam cũng sẽ đi theo những xu hướng chung của thế giới. Ví dụ như xu hướng của “economy of scale”, sản xuất công nghiệp tập trung về một số khu, nhiều doanh nghiệp sẽ chỉ chuyên “design” còn phần sản xuất được “outsource”, và những doanh nghiệp chuyên sản xuất những mặt hàng nào đó (ví dụ đồ điện tử) phải có cỡ đủ lớn mới đạt hiệu quả kinh tế. Nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam có thể gặp khó khăn vì bị “chệch hướng” so với những xu hướng chung đó. Ví dụ có quá nhiều doanh nghiệp lắp ráp ô tô với công suất thấp ở Việt Nam, dẫn đến hiệu quả kinh tế kém. Những ngành đoi hỏi nhiều trí tuệ và sáng tạo sẽ ngày càng phát triển (xu hướng của “thế giới hiểu biết”), còn lượng những công việc cần “nhiều chân tay” trong lĩnh vực sản xuất sẽ ngày càng ít đi. Tuy một số ngành dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong năm 2009 (đặc biệt là dịch vụ du lịch), nhưng nhìn chung sẽ ngày càng có thêm nhiều ngành dịch vụ, và tổng tỷ lệ của dịch vụ trong nền kinh tế sẽ tăng lên.  Có khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính 2009?  – Hiện tại Việt Nam đang có nhiều mầm mống để có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009, trong đó có:  + Thâm hụt cán cân thương mại (có thể lên tới 25 tỷ USD? Mục tiêu chính phủ đề ra là giữ thâm hụt ở mức 17-18 tỷ USD).  + Thâm hụt ngân sách nhà nước. (Những năm vừa qua trung bình thâm hụt ngân sách khoảng 5% GDP một năm. Tuy nhiên năm 2009 thâm hụt ngân sách có nguy cơ tăng lên mạnh. Lượng thuế thu từ cuối 2008 có chiều hướng giảm, trong khi nhu cầu chi tiêu tăng lên, đặc biệt là nhu cầu cho chính sách kích thích nền kinh tế).  + Nguy cơ giảm dự trữ ngoại tệ (có thể giảm còn dưới 10 tỷ USD ?).  + Khủng hoảng niềm tin vào VND (hiện tại tỷ giá “forward” USD/VND lên đến 20000 trong khi tỷ giá “spot” khoảng 17300 chứng tỏ niềm tin vào VND có giảm đi).  + Nợ xấu trong hệ thống nhà băng, do các khoản nợ để đầu cơ (bất động sản và chứng khoán). Hiện tại các nhà băng vẫn đang đưa ra con số khả quan là tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, nhưng nếu chỉnh lại giá BĐS và chứng khoán, cũng như tỷ lệ các doanh nghiệp gặp khó khăn không có khả năng trả nợ, thì tỷ lệ này có thể cao lên nhiều.  + Việc cố định tỷ giá USD/VND (nhiều khủng hoảng tiền tệ xảy ra trước đây xuất phát từ việc cố định tỷ giá).  + Toàn thế giới đang mất ổn định về tài chính. Tỷ giá các ngoại tệ mạnh với nhau, và giá cả các mặt hàng như vàng, dầu hỏa, sắt thép, gạo sẽ tiếp tục giao động mạnh trong năm 2009.  + “Truyền nhiễm” (contagion) làm cho tình hình kinh tế của toàn thế giới nói chung, và châu Á nói riêng, có thể còn tồi đi hơn dự kiến vào năm 2009, làm cho nước nào cũng có thể bị khủng hoảng.  + Đầu tư hiệu quả thấp, đầu cơ nhiều.  + Tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn lên cao, kinh tế có dấu hiệu trì trệ.  + Trình độ quản lý không cao, nhiều sơ hở.  (Đồ thị: thâm hụt ngân sách của Việt Nam. Nguồn: tổng cục thống kê)  – Những mầm mống trên nếu để cho cộng hưởng với nhau và không giải quyết thì ắt sẽ tạo ra khủng hoảng. Nếu khủng hoảng xảy ra, thì có thể có những hậu quả như: VND mất giá mạnh, lạm phát tăng cao, nhiều ngân hàng và doanh nghiệp phá sản, kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao, v.v., và nếu thế thì các dự đoán ở các mục phía trên không còn đúng. Mặt khác, Việt Nam hiện vẫn còn có đủ thời gian để có thể kịp thời đưa ra các biện pháp nhằm chống khủng hoảng, tạo điều kiện cho kinh tế ổn định vượt qua được năm 2009 khó khăn. Bởi vậy, tác giả nghĩ rằng khả năng Việt Nam bị khủng hoảng tài chính “nặng” trong năm 2009 (không kể những đợt sóng gió “nhẹ”) hiện chưa cao, và hy vọng rằng nó sẽ không xảy ra. Nhưng tất nhiên điều đó còn phụ thuộc vào sự quyết tâm và sáng suốt của chính phủ, và các yếu tố ngoại cảnh.  Những biện phát nhằm phát triển chứng khoán và chống khủng hoảng  Để phát triển bền vững và phòng chống khủng hoảng, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp có tính chiến lược, lâu dài, và có những giải pháp có tính chiến thuật, áp dụng cho những giai đoạn ngắn. Mục đích số một trong thời điểm hiện tại là tạo một môi trường kinh tế và xã hội ổn định, và ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính thế giới để nó khỏi tràn vào và gây ra khủng hoảng tài chính ở Việt Nam. Sau đó mới nói đến chuyện tăng trưởng. Dưới đây là một số ý tưởng về những biện pháp có thể thực hiện.  – Mềm dẻo hơn trong chính sách tỷ giá ngoại tệ, để hạn chế thâm hụt cán cân vãng lai, tránh thụt giảm sâu dự trữ ngoại tệ (có thể hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu bừa bãi bằng việc điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ), và tránh chuyện giá chợ đen chênh lệch quá lớn so với giá chính thức, ảnh hưởng xấu đến cách doanh nghiệp và gây tham nhũng. Việt Nam mới đây đa nới lỏng biên độ tỷ giá USD/VND, nhưng vẫn có thể mềm dẻo hơn nữa. Ngoài việc nới biên độ, có thể cho phép tỷ giá chính thức thay đổi từ từ hàng năm (ví dụ mỗi tháng cho phép reference rate thay đổi trong vòng +-1%, ngoài việc cho phép biên độ +-5%), để vừa đảm bảo sự ổn định của đồng VND, nhưng vừa cho phép điều chỉnh tỷ giá hài hòa theo các điều kiện của nền kinh tế. Hơn nữa, thay vì dùng USD làm “chuẩn”, có lẽ đa đến lúc có thể dùng một rổ tiền tệ, trong đó có cả Euro, Yên, Nhân Dân Tệ, và có thể cả vàng, để có một “mốc” ổn định hơn, và phản ánh đúng hơn thương mại của Việt Nam.  – Phát triển, củng cố hệ thống ngân hàng và giữ lãi suất ở mức thấp vừa phải. Bảo hiểm bắt buộc cho tiền gửi của dân ở ngân hàng, nhằm nâng niềm tin vào hệ thống ngăn hàng. Kiểm tra chặt chẽ hơn sổ sách của các ngân hàng, đặc biệt là các khoản nợ xấu, và xử lý kịp thời các ngân hàng có  tỷ lệ nợ xấu quá lớn. Khuyến khích cho vay cho sản xuất và tiêu dùng, nhưng ngăn chặn việc cho vay để đầu cơ, vay quá khả năng trả nợ. Ngăn chặn không cho ngân hàng thương mại tham gia đầu cơ. Không nới lỏng tiền tệ quá (dễ dẫn đến đầu cơ và lạm phát) nhưng cũng không thắt chặt quá (và không thắt chặt đột ngột). Các doanh nghiệp (và cả cá nhân) rất cần có một môi trường tài chính ổn định để có thể phát triển, và một trong những yếu tố của ổn định, là lãi suất ở mức vừa phải. (Lãi suất trên 20% như năm 2008 là quá cao, làm nhiều doanh nghiệp ngạt thở). Chính phủ có thể đảm bảo là lãi suất dài hạn (cho cá nhân và doanh nghiệp có “credit rating” cao) không quá 10%/năm. Khuyến khích phát triển dịch vụ thanh toán bằng thẻ và thanh toán điện tử, nhằm giảm lượng tiền giấy lưu thông (kể cả VND và ngoại tệ, và như vậy cũng giải quyết được vấn đề có nhiều tiền ngoại tệ giả ở Việt Nam), tăng độ quay vòng của tiền (dẫn đến kích thích phát triển kinh tế), và tăng hiệu quả trong công việc kiểm toán. Có chính sách mở tài khoản ngân hàng và cấp thẻ thanh toán cho toàn bộ nhân dân, kể cả những người nghèo nhất, và đẩy mạnh việc sự dụng chuyển tiền ngân hàng trong mọi khoản thanh toán (thuế má, lệ phí, trợ cấp xã hội, v.v.) thay vì dùng tiền mặt.  – Cân đối nhập khẩu so với xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, và hạn chế nhập đồ sa xỉ phẩm. Chỉ tiêu Chính Phủ đề ra hiện tại cho năm 2009 là nhập khẩu 84 tỷ USD, tuy nhiên con số này có thể sẽ phải giảm đi nữa khi xuất khẩu và đầu tư nước ngoài giảm. Theo Bộ Công Thương, 76% nhập khẩu của Việt Nam là đồ máy móc, phụ tùng và nguyên liệu phục vụ sản xuất, 16,7% là giấy, dầu ăn, đá quí và kim loại quí hiếm, và 7,3% là thuốc lá, xe hơi và phụ tùng xe gắn máy. (Tỷ lệ trên thực tế có thể khác vậy nhiều do nhập “lậu” ?). Những đồ “sa xỉ phẩm” như xe hơi, thuốc lá, đá quí có thể đánh thuế nặng hơn nữa để hạn chế nhập khẩu. Khi xuất khẩu giảm thì nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu phục vụ xuất khẩu tự khắc giảm theo. Còn những máy móc và nguyên vật liệu phục vụ sử dụng trong nước có thể cần phải hạn chế nhập khi tìn hình khó khăn. Ưu tiên nhập máy móc từ những người bán hàng cho phép nợ dài hạn hoặc trả dần trong nhiều năm, một hình thức  làm cho người bán hàng cũng góp phần đầu tư vào Việt Nam, làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai. Kiểm tra chặt chẽ hơn các cửa khẩu biên giới để chống nhập lậu.  – Tăng hiệu quả đầu tư. Tỷ lệ đầu tư ở Việt Nam (35-40% GDP) là rất lớn, không cần tăng thêm mà ngược lại có thể giảm đi trong tình hình thế giới khó khăn. Cái cần tăng là hiệu quả đầu tư. Việt Nam cần nghiên cứu kỹ câu hỏi: tại sao chỉ số ICOR của Việt Nam lại cao hơn nhiều của các nước khác trong giai đoạn phát triển tương tự ? Làm sao để đạt hiệu quả đầu tư bằng họ? Cần phân tích xem học đa đầu tư ra sao để học tập. Chỉ cần nâng hiệu quả đầu tư lên thành ICOR = 4, và duy trì mức tiết kiệm 30% GDP, thì đa có thể đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,5% mà không cần vay nợ nước ngoài. Cần tìm ra và giải quyết những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả đầu tư kém ở Việt Nam. Có thể hình dung một số nguyên nhân như: đầu tư không đúng chỗ, thãng nhũng cửa quyền nhiều, cơ chế không khuyến khích làm việc thực sự, trình độ và thái độ trong công việc kém những nước khác, ít sáng tạo, đầu cơ quá nhiều, v.v.  – Huy động ngoại tệ từ nhân dân. Theo một con số thống kê, hiện có 14 tỷ USD của các tổ chức và cá nhân ở Việt Nam gửi ở ngân hàng. Ngoài ra còn có thêm vài tỷ USD tiền mặt được lưu thông ở Việt Nam (và nhiều người giữ của bằng cách cất USD vào két ở nhà, thay vì gửi ngân hàng). Lượng tiền USD này có thể tạo một “gối bảo hiểm” cho Việt Nam. Trong trường hợp nợ nước ngoài gặp khó khăn và dự trữ ngoại tệ giảm mạnh, nhà nước có thể có những chính sách khuyến khích nhằm huy động ngoại tệ từ nhân dân.  – “Tự thân vận động” và không trông đợi vào sự cứu trợ của World Bank và IMF. Bản thân IFM cũng đang bị thâm hụt ngân sách, mà lại cần giải cứu nhiều nước khi khủng hoảng đến, và Việt Nam là nước nhỏ (về kinh tế), không thuộc diện qua trọng cần được ưu tiên đối với họ. Bởi vậy nếu Việt Nam có được họ giúp đỡ, thì cũng sẽ chỉ ở mức độ nhỏ, và sự giúp đỡ đó có thể đi kèm theo những điều kiện chưa chắc đa có lợi. Theo ông Joseph Stiglitz (giải Nobel về kinh tế năm 2001, người đa từ chức Chief Economist và Vice President của WB vào 1999-2000 để phản đối các chính sách của WB/IMF) thì WB/IMF làm ăn cũng rất quan liêu và bị “điều khiển bởi Wall Street”, và nhiều nước  sau khi “được WB/IMF giúp đỡ” thì nghèo đi thêm, trong đó có cả Nga (trong quá trình cổ phần hóa vội vàng của Nga do WB/IMF thúc đẩy, một phần rất lớn tài sản quốc gia rơi vào tay một nhóm nhỏ tư nhân được Wall Street hậu thuẫn), các nước châu Phi (chính sách của WB/IMF không những không làm cho nông nghiệp châu Phi phát triển, mà làm cho dân châu Phi bị chết đói nhanh hơn), và Đông Nam Á (Indonesia xảy ra bạo loạn sau khi áp dụng các chính sách cứng nhắc do IMF/WB áp đặt trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á).  – Xây dựng hệ thống bảo hiểm và phúc lợi xã hội. Ví dụ bảm hiểm y tế sức khỏe, bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm thất nghiệp, quĩ lương hưu tối thiểu bắt buộc, trợ cấp cho dân nghèo, phát sữa cho trẻ em (học tập chính sách của Nhật Bản thời nước này còn nghèo). Có lẽ một trong những cách kích thích kinh tế xã hội hiệu quả nhắt bằng tiền nhà nước chính là cho dân nghèo vay ưu đai (học tập mô hình microcredit của ông Muhammad Yunus, giải Nobel về hòa bình, và nhà băng Grameen Bank do ông ta lập nên) để họ có thể làm việc hiệu quả hơn, thoát khỏi cảnh nghèo đói. Ngoài dân nghèo, còn có những diện khác cần được vay ưu đai (và giúp đỡ nói chung), ví dụ như sinh viên và những ngoanh nghiệp tư làm những công việc có nhiều ích lợi xã hội. Xây dựnng luật phá sản để cá nhân hay doanh nghiệp không có khả năng trả nợ có thể tuyên bố phá sản, có cơ hội được làm lại từ đầu.  – Hướng sự phát triển theo hướng bền vững, tăng về chất, bảo vệ môi trường. Thế giới đang tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên quá mức bền vững (tiêu trong vòng 10 tháng đa hết lượng tài nguyên sinh ra trong 1 năm), và nếu tiếp tục đà phát triển kiểu như như vậy thì sẽ nhanh chóng đi vào ngõ cụt, không tránh khỏi khủng hoảng. Bởi vậy cần phát triển về chất, tăng chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ, đồng thời giảm mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở nên khá trầm trọng ở Việt Nam (một trong những hậu quả là tỷ lệ người bị ung thư tăng cao ở mức báo động). Nếu chỉ lấy con số tăng trưởng GDP làm mục tiêu phát triển thì có nguy cơ dẫn đến “moral hazard” là phá hoại môi trường nhằm tăng nhanh output. Ví dụ giả sử một loại hình sản xuất nào đó cho ra output là 10 đồng nhưng để ra được output đó thì làm hại môi trường ở mức mà muốn khôi phục lại được như cũ phải mất 9 đồng, thì output “thực sự” sau khi tính đến yếu tố môi trường chỉ còn 1 đồng, nhưng trong GDP vẫn hiện 10 đồng, và cái “output âm” do môi trường bị hại đi không được tính đến. Cần sử dụng những cách tinh tăng trưởng kinh tế xã hội tinh tế hơn, trong đó tính cả yếu tố môi trường. Cần có hệ thống thu lệ phí môi trường (chủ của các xe cộ, nhà máy, công trình xây dựng, v.v. có làm ảnh hưởng xấu đến môi trường thì phải nộp lệ phí để bù lại) và lệ phí đó phải được dùng vào việc làm sạch môi trường và để khuyến khích sử dụng “phương tiện sạch”. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc ngăn chặn sự tăng dân số ở Việt Nam (hiện tại đa ở mức quá  tải cho môi trường).  – Thận trọng trong việc kích thích kinh tế bằng tiền nhà nước. Nhiệm vụ của chính phủ và quốc hội không phải là “GDP năm 2009 phải tăng mấy phần trăm” (nó tăng được mấy phần trăm là phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam), mà là đảm bảo an toàn và công bằng xã hội, xây dựng hệ thống luật pháp và các cơ chế luật lệ hợp lý, đảm bảo một hệ thống tài chính ổn định, tạo điều kiện cho nhân dân mở mang và doanh nghiệp phát triển. Khả năng tài chính của nhà nước có hạn (và đặc biệt năm 2009 ngân sách có thể gặp khó khăn), chỉ nên đầu tư thêm (trực tiếp, hoặc gián tiếp qua các chính sách tài chính khuyến khích tư nhân đầu tư) vào những chỗ có tính chiến lược, có hiệu quả và lợi ích công cộng cao (ví dụ như hệ thống giao thông, đê điều, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, điện lực phục vụ toàn dân), và cần quản lý đầu tư tiền công chặt chẽ để phòng chống lãng phí tham nhũng rút ruột. Nhiều nước trên thế giới đang đưa ra những gói kích thích kinh tế nhằm đối phó với suy thoái, và Chính Phủ Việt Nam cũng đang làm theo (dự kiến chi 6 tỷ USD cho kích cầu và kích đầu tư), tuy nhiên cần hết sức thận trọng để khỏi lãng phí, thâm hụt nặng thêm ngân sách mà hiệu quả không cao. Như có viết ở phía trước, vấn đề của Việt Nam không phải là “thiếu đầu tư” mà là “thiếu hiệu quả đầu tư”. Về vấn đề kích cầu, tầng lớp cần được kích cầu nhiều nhất có lẽ là tầng lớp người nghèo, nếu kích cầu thì nên chú trọng đến họ. Nếu có những mặt hàng bị ế thừa thì chủ yếu là các doanh nghiệp cần tự điều chỉnh sao cho sản xuất đúng cái cần thiết hơn, chất lượng tốt hơn, quảng cáo tốt hơn, giá cả hợp lý hơn, v.v., và nhà nước có thể định hướng, gợi ý, nhưng không nên can thiệp vào, trừ một số trường hợp đặc biệt có ảnh hưởng lớn đến xã hội.  – Đẩy nhanh tiến độ cải cách cơ chế và luật lệ, và tăng độ công khai và minh bạch trong quản lý. Tạo ra một cơ chế hợp lý, phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sơ hở trong quản lý, để có thể chống một cách hiệu quả những hiện tượng tham nhũng, cửa quyền, lãng phí, lừa đảo, trốn thuế, v.v. Đây là vấn đề rất lớn, có rất nhiều cái phải làm. Để đạt được mức độ minh bạch và hiệu quả như các nước tiên tiến sẽ cần rất nhiều năm. Ngoài ra không phải luật lệ gì của các nước tiên tiến cũng hợp lý, Việt Nam nên học tập các nước một cách có chọn lọc.  Thị trường chứng khoán Việt Nam  – TTCK (thị trường chứng khoán) Việt Nam, sau giai đoạn 2006-2007 tăng giá mạnh, có nhiều dấu hiệu “bong bóng” trong năm 2007 như: giá cổ phiếu quá đắt (chỉ số P/E của một số “blue chip” lên trên 50), nhiều doanh nghiệp niêm yết dùng vốn huy động được đem đầu tư tràn lan vào tài chính và bất động sản chứ không tập trung vào ngành nghề chính của mình, và có một tỷ lệ không nhỏ lợi nhuận là do đầu tư tài chính chứ không phải là do sản xuất và dịch vụ mang lại. Trong tình hình như vậy, việc thị trường sẽ phải điều chỉnh xuống là tất yếu, và chỉ cần gặp điều kiện bên ngoài “thích hợp” là đi xuống. Những điều kiện bên ngoài đó đa xảy ra từ cuối 2007 – đầu 2008 (khủng hoảng thanh khoản, lãi suất cao, lạm phát cao, bong bóng BĐS bị xì hơi, …), khiến chỉ số VNINDEX đi xuống từ 1100 còn dưới 400, trước khi hồi phục lại một chút vào mùa hè 2008. Sự hồi  phục này kéo dài không được lâu, vì các tin xấu của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cộng với lợi nhuận giảm sút của nhiều công ty niêm yết và sự rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài (trong tình hình khủng hoảng thế giới các nhà đầu tư nước ngoài “co lại” và rút vốn ra khỏi các nơi được coi là có độ rủi ro cao), khiến cho thị trường tiếp tục xuống chỉ còn 300 điểm vào cuối 2008. Chính phủ có những tuyên bố sẽ “giải cứu TTCK” trong năm 2008, tuy nhiên đa không có giải pháp hữu hiệu nào để ngăn cản được sự đi xuống. (Trong giai đoạn cuối 2007 – đầu 2008 tác giả bài viết này cũng  tư vấn cho một công ty đầu tư là nên bán chứng khoán đi, tuy rằng cho đến hè 2008 tác giả chưa nhận thức được sự nghiêm trọng của khủng hoảng toàn cầu và vẫn hy vọng là tình hình tài chính sẽ ổn định. Nhưng cùng với sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers vào 09/2008 thì tác giả cũng dự đoán “bi quan hơn” là VNINDEX có nhiều khả năng xuống dưới 300).  – Nhiều nhà đầu tư bị “sạt nghiệp vì cổ phiếu” trong lúc thị trường đi xuống, vì hai lý do chính: 1) đánh giá sai về thị trường hoặc dựa trên các tư vấn sai, ngụy biện về giá trị của cổ phiếu, mua “theo phong trào” với giá đắt mà cứ nghĩ là nó sẽ đi lên; 2) quản lý rủi ro kém, vay nợ nhiều để đầu tư cổ phiếu (ví dụ có 500 triệu nhưng vay thêm 500 triệu nữa để đầu tư 1 tỷ, khi giá đi xuống 1/2 thì mất 100% vốn chủ sở hữu). Về điểm thứ nhất, không chỉ có các nhà đầu tư cá nhân, mà các tổ chức và doanh nghiệp cũng “quá lạc quan” về giá cổ phiếu. Nhiều đợt IPO năm 2007 có giá quá cao so với “fair value”, ví dụ như VCB (Vietcombank) định giá khởi điểm cho IPO là 100 ngàn, trong khi theo các phương pháp định giá thông thường thì giá trị không quá 50-70 ngàn một cổ phiếu (các đối tác nước ngoài đa khôn ngoan từ chối mua cổ phần VCB khi nhà băng này đoi giá quá cao, nhưng các nhà đầu tư Việt Nam thì lại vay nợ để mua, kết quả là đến năm 2008 có nhiều người mất trắng khoản tiền đầu tư vào VCB). Về điểm thứ hai, “quản lý rủi ro” là một khái niệm còn rất mới mẻ trên TTCK Việt Nam, kể cả nhiều “chuyên gia đầu tư” còn khá mơ hồ về vấn đề này, và hầu hết các nhà đầu tư không được tư vấn về quản lý rủi ro mà chỉ được “gợi ý” về “nên mua nên bán cái gì”.  – Từ quan điểm của nhà đầu tư dài hạn (có tầm nhìn 2-3 năm trở lên), thì TTCK ở mức 300 điểm hiện tại hấp dẫn hơn nhiều khi nó ở mức 1100 điểm trước đây. Tất nhiên, một phần của sự “hấp dẫn” đó là do có những doanh nghiệp làm ăn tồi đi, giá trị thực sự bị giảm. Hơn nữa, tuy đa giảm sâu, nhưng TTCK Việt Nam chưa phải là hấp dẫn đặc biệt so với TTCK những nước làng giềng như Trung Quốc, Thái Lan, và ngay ở Mỹcũng có nhiều cổ phiếu khá hấp dẫn sau khi bị bán tháo. Tuy nhiên, hiện ít có người Việt Nam có “đặc quyền” được đầu tư ở nước ngoài, nên vấn đề chọn lựa giữa các thị trường có lẽ chưa đặt ra.  – Năm 2009 là năm thử thách cho kinh tế thế giới và Việt Nam, và không loại trừ khả năng TTCK có thể giảm tiếp (chứng khoán khi lên thì có thể lên quá đà, đắt hơn “fair value” nhiều lần, và khi xuống thì cũng có thể xuống quá đà, rẻ hơn “fair value” nhiều lần). Tuy nhiên, nếu như thời điểm 2007 có nhiều cổ phiếu quá đắt so với “fair value” thì hiện tại đa thấy những cổ phiếu “chất lượng cao” mà lại khá rẻ hơn “fair value”. Nhiều khả năng là lãi suất cơ bản se được duy trì ở mức dưới 10% trong năm 2009 và những năm sau (hiện là 8,5%). Như vậy, những doanh nghiệp nào làm ăn ổn định (có dòng tiền ổn định và mức rủi ro thấp, có dư khả năng trả nợ), và có P/E < 10 (đặc biệt nếu có price/dividend < 10), thì tương đối hấp dẫn, đầu tư vào đó tốt hơn là gửi tiền tiết kiệm. Ví dụ rổ cổ phiếu ngành điện (PPC, VSH, TBC, …) đang tương đối hấp dẫn, vì ít bị cạnh tranh, cầu nhiều hơn cung, dòng tiền ổn định, chi phí hoạt động thấp (một khi đa xây xong nhà máy điện), chỉ số P/ E trung bình hiện tại = 7, trả lợi tức khá cao (có khi lợi tức hơn 10% giá cổ phiếu), tuy rằng tăng trưởng của ngành điện không dễ dàng (muốn tăng trưởng phải đầu tư xây thêm nhà máy điện và những đầu tư này đoi hỏi nhiều vốn và thường có thời gian hoàn vốn khá lâu). Những công ty có ban lãnh đạo giỏi, làm ăn bài bản và độ tăng trưởng cao như FPT khi có P/E < 10 có thể coi là khá hấp dẫn. Những ngành dễ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn 2009-2010 thì cổ phiếu cũng có nhiều khả năng rủi ro. Ví dụ như ngành dầu khí (PVD, PVS, …), ngành chứng khoán (SSI, BVS,  PVF, …, tuy rằng nếu thị trường đi lên lại thì giá cổ cổ phiếu của các công ty chứng khoán lớn cũng dễ tăng theo), ngành bất động sản (ví dụ như cổ phiếu VIC có độ rủi ro cao), v.v.  – Sau khi đa “xì hơi” nhiều, TTCK ít có khả năng bị giảm mạnh tiếp như năm 2008, mà ngược lại nếu có giảm sâu thêm thì sau đó có khả năng tăng lại mạnh (theo một thống kê, các TTCK trên thế giới trung bình đi lên khoảng 50% trong năm đầu tiền sau mỗi thời kỳ suy thoái; TTCK Việt Nam lúc đi lên thì có thể còn lên nhiều hơn, do độ giao động mạnh hơn). Tuy nhiên các nhà đầu tư cần thận trọng, và đặt vấn đề quản lý rủi ro lên hàng đầu, nếu không muốn bị phá sản. Một số nguyên tắc quản lý rủi ro đơn giản (nhưng khó thực hiện, vì bản tính con người hay thích làm ngược lại) mà các nhà đầu tư cá thể nên tuân thủ là: không tham lam quá và không đầu tư quá khả năng tài chính của mình (tránh vay nợ để đầu tư), thận trọng nghiên cứu kỹ trước mỗi quyết định đầu tư (thà bỏ sót còn hơn bắt nhầm, vì “cứ 5 phút lại có một cơ hội đầu tư mới đặc biệt”), không tin tưởng quá cao vào khả năng nhận định thị trường của mình hay của bất cứ ai khác (ai cũng có thể bị sai lầm, đặc biệt trong điều kiện lượng thông tin hạn chế, thị trường thiếu minh bạch), khi thấy đầu tư nào đó là sai lầm hoặc nguy hiểm quá cao thì nhanh chóng rút lui dù có đang lỗ (“the first loss is the best loss”, nhiều người vì “hiếu thắng” không chịu lỗ nên để lỗ nhỏ biến thành lỗ to), phân bổ tài sản ra những đầu tư khác nhau để bù trừ rủi ro cho nhau (không quá tập trung vào một đầu tư nào), có tỷ lệ dự trữ tiền mặt (hoặc tương đương tiền) đủ lớn để phòng trường hợp bất trắc hoặc trường hợp có cơ hội thực sự hấp dẫn đặc biệt xảy đến.  —————-  Tác giả xin chân thành cảm ơn một số đồng nghiệp và bạn bè đa đọc bản thảo bài viết này và cho những ý kiến đóng góp rất bổ ích. Bài này được viết trong thời gian hạn chế, nên chắc không tránh khỏi nhiều sơ sót. Độc giả nào có ý kiến về bài viết này hoặc thông tin muốn chia sẻ, xin gửi về địa chỉ tienzung.nguyen@math.univ-toulouse.fr . Tác giả không hứa là sẽ trả lời hết các thư, nhưng rất quan tâm đến phản hồi của độc giả, và xin chân thành cám ơn trước.  NTZ, 12/2008    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam 2012-2013: Cơ hội xoay chuyển tình thế?*      Cho dù tại thời điểm hiện nay, nếu đánh giá  tình hình kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận ngắn hạn, có thể nhận thấy  sự cải thiện tích cực (theo hướng “quý sau tốt hơn quý trước”) ở một số  khía cạnh quan trọng, thì nhìn tổng thể cả năm, không thể phủ nhận rằng  kết quả kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2012 kém sút rõ rệt so với năm  2011 (và so với cả những năm trước đó).    Đầu năm nay, tại cuộc tranh luận về thực trạng và triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2012, diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Mùa Xuân do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đồng tổ chức (tháng 3/2012), có hai luồng ý kiến khác nhau được nêu. Một luồng ý kiến cho rằng tình hình kinh tế Việt Nam năm 2012 sẽ rất khó khăn, thậm chí còn khó khăn hơn cả năm 2011 và những năm trước đó. Một luồng ý kiến khác cho rằng với việc triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ (từ tháng 2/2011), với tư tưởng chính là thắt chặt tiền tệ, tình hình kinh tế năm 2012 sẽ được cải thiện rõ rệt theo cả hai hướng: lạm phát được khống chế và kiểm soát, tăng trưởng sẽ phục hồi và đi dần vào thế ổn định.    Trong bối cảnh phức tạp của cả kinh tế thế giới và Việt Nam lúc đó, sự khác biệt của các ý kiến trong cuộc tranh luận, đến mức ngược nhau, không chỉ ở khía cạnh dự báo mà cả trong việc nhận diện tình hình, đánh giá thực trạng, là điều bình thường. Nó phản ánh tính chất khó khăn, phức tạp và khó dự báo của tình hình kinh tế Việt Nam năm 2012.   Diễn biến kinh tế đất nước kể từ cuộc tranh luận đó đến nay, với ¾ chặng đường của năm 2012 đã đi qua, xác nhận rằng tình hình quả thật là khó khăn và phức tạp, lại theo xu hướng tăng lên, thậm chí đến mức đáng quan ngại, hơn là theo hướng được giải tỏa bớt. Cho dù tại thời điểm hiện nay, nếu đánh giá tình hình theo cách tiếp cận ngắn hạn (tính theo quý hay ngắn hơn – theo tháng), có thể nhận thấy sự cải thiện tích cực (theo hướng “quý sau tốt hơn quý trước”) ở một số khía cạnh quan trọng thì nhìn tổng thể cả năm, không thể phủ nhận rằng kết quả kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2012 kém sút rõ rệt so với năm 2011 (và so với cả những năm trước đó). Sự kém sút thành tích không chỉ biểu hiện ở các con số định lượng – như tốc độ tăng trưởng GDP giảm, số lượng doanh nghiệp đóng cửa và tỷ lệ hàng tồn kho cao. Quan trọng hơn, sự yếu kém còn thể hiện đặc biệt rõ nét ở xu hướng gia tăng số lượng các biến cố – sự cố bất thường, là những tín hiệu chỉ báo mức độ rủi ro hệ thống tăng lên, các loại tin đồn có tác động gây rối dư luận, làm suy giảm mạnh lòng tin thị trường vốn đã bị suy yếu đáng kể sau mấy năm nền kinh tế gặp khó khăn.  Việc nhấn mạnh sự phù hợp của một luồng ý kiến đánh giá và dự báo được nêu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân tháng 3 cũng như ở nhiều chỗ khác, với diễn biến thực tế của nền kinh tế nhằm khẳng định một điều: những gì đã và đang xẩy ra trong nền kinh tế, nhất là trong các xu hướng lớn và vấn đề nền tảng, cũng như triển vọng cơ bản của kinh tế Việt Nam năm 2012, về nguyên tắc, đều đã được chỉ ra, đều đã được dự báo. Những dự báo đó, tuy có thể không chính xác đến từng chi tiết – đến các con số sau “dấu phẩy” của các chỉ tiêu kinh tế hay đến tên tuổi, ngày giờ xẩy ra sự kiện -, song nhìn chung đã chỉ ra đúng các xu hướng lớn, các vấn đề cơ bản mà nền kinh tế đang đối mặt, sẽ tiếp tục đối mặt, triển vọng giải quyết chúng và các kết quả chính – có ý nghĩa căn bản, chiến lược – mà nền kinh tế có thể đạt. Chỉ tiếc là những dự báo, dự tính như vậy ít khi được coi là cơ sở đáng tin cậy, cần được sử dụng trong việc xác lập các mục tiêu kế hoạch.  Nói như vậy có nghĩa là những vấn đề được đưa ra thảo luận hiện nay, hôm nay, tại diễn đàn này, nhìn chung đều không mới. Có mới chăng thì chủ yếu cũng chỉ là mới (đúng hơn, chỉ là khác) ở cấp độ gay gắt hay dịu đi của tình thế chứ không phải là mới về chất hay mới về xu hướng lớn (tình thế đã xoay chuyển hay đảo ngược).   Nhưng mặt khác, dễ nhận thấy rằng trong khuôn khổ của sự “không mới” đó, trong nỗ lực vượt thoát tình thế khó khăn mà nền kinh tế đang lâm vào, dường như những khác biệt đặc trưng, mang tính chất lượng của cách tiếp cận đánh giá tình hình, triển vọng kinh tế năm 2012 và các giải pháp tháo gỡ so với các năm trước vẫn chưa được chú ý đúng mức, chưa được đặt đúng tầm.   Cách đánh giá tình hình vẫn chủ yếu theo tinh thần là “nền kinh tế đang gặp một số khó khăn” mà chưa mổ xẻ, chưa thấy hết và định vị đúng mức độ gay gắt của những nguy cơ mang tính cơ cấu và hệ thống (nguy cơ khủng hoảng) đang đe doạ nền kinh tế.   Việc xác định triển vọng vẫn bị trói buộc nhiều, một là vào mức rất cụ thể của các chỉ tiêu định lượng, vốn ít thể hiện sự thay đổi chất lượng, hiệu quả phát triển và đáng ra chỉ nên được dùng như là gợi ý định hướng hơn là ràng buộc pháp lệnh1; hai là vào cách ứng xử ngắn hạn truyền thống, tức là tìm kiếm các giải pháp phản ứng nhanh và mang nặng tính hành chính. Cách tiếp cận cơ bản, hệ thống, mang tính chiến lược, nhắm tới mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu, tuy có được đề cập, song trên thực tế ít được vận dụng và triển khai.   Trong khi đó, thực tiễn lại trông đợi rất nhiều ở chính việc nhận diện đúng sự khác biệt của năm 2012 với các năm trước, để trên cơ sở đó, có cách tiếp cận mới đến các giải pháp, vượt qua lối mòn tư duy và hành động của các năm trước (vốn từng làm cho bất ổn và lạm phát cứ “khứ hồi hàng năm”, nhờ đó, có thể tạo ra bước ngoặt làm xoay chuyển tình thế.   Thực tế những năm qua cho thấy chính sự khác biệt này mới là điểm cần tập trung phân tích, mổ xẻ, làm rõ, thay vì nỗ lực một cách thiên lệch vào việc thảo luận, cân nhắc định lượng, đắn đo sự sai biệt định lượng nhỏ nhoi, kiểu như năm nay GDP tăng trưởng 5,3% hay 5,6% thì phù hợp hơn. Nếu không tạo ra sự khác biệt như vậy trong cách tiếp cận, sẽ khó có sự thay đổi tích cực căn bản nào trong các định hướng chính sách và giải pháp. Và khi đó, nền kinh tế lại “vui vẻ” chấp nhận sự “khứ hồi” của tình trạng lạm phát cao, bất ổn sâu sắc, hiệu quả và năng lực cạnh tranh tụt giảm mạnh, như đã từng như vậy.   ***  I.    NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG NĂM 2012    1. Tình huống nghịch lý và sự khác biệt đặc trưng   Có thể hình dung sự khác biệt quan trọng của năm 2012 với những năm trước ở 3 tình huống có phần lạ thường, mang tính nghịch lý.  Tình huống thứ nhất: trạng thái lạm phát hạ nhanh, nhập siêu giảm mạnh trong những tháng đã qua của năm 2012 – những mục tiêu mà trong mấy năm qua, nền kinh tế đã nỗ lực hết sức để đạt nhưng không thể đạt được – đang gây ra lo ngại với mức độ sâu sắc không kém tình trạng lạm phát cao và nhập siêu lớn của những năm trước.   Tình huống thứ hai: hệ thống ngân hàng thừa thanh khoản, nhưng một bộ phận rất lớn doanh nghiệp vẫn thiếu vốn đầu tư nghiêm trọng do không thể (do nợ xấu), hoặc do khó tiếp cận vốn vay (do lãi suất quá cao), thậm chí, hoặc do không muốn vay (do không tiêu thụ được sản phẩm, hàng tồn kho lớn). Sự ách tắc này đang đe dọa sự tồn vong của các doanh nghiệp lẫn hệ thống ngân hàng – hai lực lượng chủ thể – chủ lực của kinh tế thị trường.  Tình huống thứ ba: nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, tuy đã được Đại hội Đảng XI ghi nhận là vấn đề chiến lược cấp bách hàng đầu, được nhiều nghiên cứu nhìn nhận là giải pháp “căn cơ” để đưa nền kinh tế thoát khỏi xu hướng khó khăn gay gắt kéo dài đang làm suy kiệt nền kinh tế, vậy mà cho đến nay, sau gần 2 năm, hầu như vẫn chưa được triển khai trên thực tế, trừ một vài công việc có tính khởi động (xây dựng dự án) ở một vài lĩnh vực. Hội nghị Trung ương 3, khóa XI, diễn ra cách đây gần một năm, yêu cầu triển khai thực hiện sớm tái cơ cấu nền kinh tế một cách quyết liệt và gay gắt hiếm thấy, với 3 tuyến nhiệm vụ ưu tiên được định rõ. Vậy mà sau một năm, trong khi tình hình kinh tế tiếp tục sa sút nhanh, vẫn chưa cảm nhận được tác động thực tiễn rõ ràng của Nghị quyết đó. Những hành động tái cơ cấu đang diễn ra phần lớn mang nặng tính tình thế, phản ứng ngắn hạn, chưa bài bản, hệ thống và triệt để, đủ để tạo sự xoay chuyển căn bản trong cơ chế phân bổ nguồn lực quốc gia.   Đặt năm 2012 trong tiến trình liên tục của quá trình phát triển, tình trạng nghịch lý nêu trên tự nhiên làm nẩy sinh câu hỏi: phải chăng tính “có vấn đề” của nền kinh tế đã trầm trọng đến mức không thể khơi thông dòng chảy cho các luồng vốn (dù đang có sẵn chứ không phải là thiếu thốn) lưu thông bình thường, rằng nền kinh tế “yếu” đến mức không còn đủ sức hấp thụ cả “nhân sâm”, không đủ sức thoát khỏi những vấn đề ngắn hạn để thực hiện một cú đột phá, dù chỉ mang tính cục bộ, để tạo sự xoay chuyển tình thế căn bản?2    Nếu tình hình đúng là như vậy, có phải nền kinh tế đã lâm vào trạng thái mà hồi đầu năm, một số nhà kinh tế gọi là “tình thế đặc biệt”? Và khi đã lâm vào tình thế đặc biệt, để xoay chuyển tình hình, phải chăng cần có “liều thuốc đặc trị”, chứ không thể dựa mãi vào mấy bài thuốc đã dùng quen mấy năm qua nhưng không mấy tác dụng?  Cách tiếp cận vấn đề như vậy đòi hỏi thay đổi cách “chẩn bệnh” và tìm kiếm giải pháp cho nền kinh tế. Nếu công cuộc này vẫn tiếp tục cách thức đã làm trong mấy năm qua, nghĩa là vẫn tập trung chú ý đến các thành tích ngắn hạn, lo tìm kiếm các giải pháp “ăn ngay”, vẫn tiếp tục “quan tâm sâu sắc” đến sự lên xuống chi ly từng % của các chỉ tiêu vĩ mô – mà không dành sự quan tâm thực tiễn, sự ưu tiên sống còn cho những quyết sách lớn, cho các giải pháp chiến lược – thì chắc chắn, trong điều kiện tình hình kinh tế thế giới còn u ám, khó có thể tạo ra bước ngoặt thực sự để thoát khỏi nguy cơ vòng xoáy, thậm chí khủng hoảng, mà nền kinh tế có thể lâm vào.    2. Nhận diện sự “khởi sắc”  Xét về xu hướng và căn cứ chủ yếu trên các con số định lượng, có thể nhận thấy rằng nền kinh tế nước ta bắt đầu có những dấu hiệu được coi là “khởi sắc” sau khi tốc độ tăng trưởng trong Quý I rơi xuống mức thấp nhất so với cùng kỳ nhiều năm trở lại đây. Trong quý II và quý III, lạm phát giảm mạnh, tốc độ tăng trưởng GDP cao dần, nhập siêu thấp, dự trữ ngoại tệ tăng.   – CPI giảm thấp. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2012 tăng chỉ 2,86% kể từ tháng 12/2011. Khả năng giữ lạm phát ở mức 7-8% cả năm là hiện thực. So với mức lạm phát hơn 18% của năm ngoái và so với mong mỏi nhiều năm là kéo được mức lạm phát xuống thấp, rõ ràng đây là một kết quả đáng kể.  – Tăng trưởng GDP: dự đoán đạt 4,8% cho 3 quý đầu năm và cả năm đạt 5,1%-5,3%, thấp đáng kể so với các năm trước3. Tuy nhiên, đối với mục tiêu luôn luôn dành được sự quan tâm hàng đầu này, theo “thông lệ”, sự chú ý đang được hướng tới khía cạnh khác: đó là nhấn mạnh xu hướng cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP qua từng quý: Quý I: GDP chỉ tăng 4%; quý II: nâng lên 4,66% và quý III dự đoán sẽ đạt 5,5%.   – Nhập siêu, mối quan ngại lớn của nhiều năm gần đây, căn bệnh kinh niên trầm kha của nền kinh tế bỗng nhiên được “xử lý gọn”, đảo ngược thành xuất siêu. Tính chung cuộc 9 tháng đầu năm, xuất siêu đạt 34 triệu USD. Đây là một thành tích thực sự hiếm hoi trong suốt mấy chục năm đổi mới. Nó đáng được coi là một “kỳ tích” nếu so với những con số nhập siêu cao ngất ngưởng 6-8 tỷ USD cùng kỳ của các năm trước.  – Dự trữ ngoại tệ được cải thiện đáng kể. Lượng dự trữ ngoại tệ đã tăng gấp đôi so với đầu năm, đạt mang lại một sự bảo đảm an toàn cao hơn cho nền kinh tế trong điều kiện nó đang gặp nhiều khó khăn và đối mặt với không ít rủi ro từ phía thị trường thế giới.   – Tổng cầu của nền kinh tế trong 9 tháng đầu năm tuy chưa thật sự mạnh nhưng đã có chuyển động tích cực. Xu hướng này thể hiện ở mức tăng 17,9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng dần trong năm 2012, từ mức tăng 6,5% so với cùng kỳ của 6 tháng đầu năm, lên 6,8% qua 8 tháng đầu năm.   Bên cạnh những chuyển biến tích cực về “lượng”, trong nền kinh tế cũng bắt đầu triển khai một số cải cách mạnh nhằm vào hệ thống thể chế. Tháng 4/2012, Quốc hội đã ra Nghị quyết không cho phép mở thêm Khu Công nghiệp mới. Đây là nỗ lực nhằm chống lại việc mở rộng tràn lan các Khu Công nghiệp, vừa lãng phí, vừa làm hư hỏng thể chế, gây bức xúc lớn trong xã hội, nhất là trong khu vực nông thôn, Tiếp theo đó, tháng Bảy, Chính phủ ra quyết định, trong số 15 Khu Kinh tế ven biển đã được thành lập, sẽ chỉ tập trung ưu tiên đầu tư cho 5 Khu thay vì dàn trải cho tất cả như trước đây.   Những nỗ lực cải cách nhằm thay đổi chất lượng thể chế như vậy vẫn còn ít, thậm chí, có thể nói quá ít nếu so với yêu cầu tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng – là những nhiệm vụ được xác định là cấp bách, rất cơ bản và mang tầm chiến lược. Thêm vào đó, những cải cách ít ỏi này vẫn mang đậm dấu ấn của cách phản ứng tình thế từ phía Chính phủ và khu vực kinh tế nhà nước trước áp lực thực tiễn gay gắt hơn là được diễn ra theo một chương trình hành động được thiết kế bài bản, hệ thống.   Nỗ lực và định hướng hành động là như vậy, song việc xác định nguồn lực bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến lược đó, ở hầu hết các địa phương, gần như trong mọi trường hợp, chỉ là áng chừng một cách cảm tính hoặc bị chi phối bởi các quan hệ lợi ích nhóm. Về nguyên tắc, nó cũng chưa lường được một cách thỏa đáng tổng chi phí điều chỉnh – một con số thường là không nhỏ.   Song vượt lên những nghi ngại mang tính kỹ thuật chuyên môn, vấn đề tái cơ cấu  đang được khởi động. Dù chưa thực sự “liền mạch”, chưa bảo đảm tính nhất quán, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, nó đã chứng tỏ công cuộc tái cơ cấu đầu tư công đang bắt đầu diễn ra “thật” và đúng hướng.  Công cuộc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại cũng đang được triển khai. Tuy tiến độ và kết quả ít được công khai, song những gì được ghi nhận cho thấy đã có những nỗ lực thực tiễn và kết quả bước đầu, chứ không dừng lại ở các Chương trình hành động trên giấy và những cuộc tranh luận hội trường.  Đây là những tin tốt, những dấu hiệu tích cực đích thực của tình hình kinh tế 8 tháng đầu năm. Không nghi ngờ gì, tình hình kinh tế – trên một số khía cạnh – đang được cải thiện so với đầu năm. Có vẻ như nền kinh tế Việt Nam đã qua “cơn nguy kịch” và đang bước vào quỹ đạo phục hồi. Và giống như nhiều năm trước, bài hát “lạc quan” lại bắt đầu được cất lên, tuy giọng điệu có phần nhẹ nhàng hơn.   Nhưng thực tiễn các năm trước cho thấy rằng bài hát đó thường gây ra sự lạc quan quá mức, để sau đó, nền kinh tế phải trả giá. Kinh nghiệm chỉ ra rằng những dấu hiệu tích cực như vậy vẫn còn là quá ít để bảo đảm cho dự báo về một xu hướng “chắc chắn tốt”, một sự phục hồi “mạnh mẽ và không thể đảo ngược”. Chúng cũng chưa đủ để tạo lập niềm tin về sự hình thành “một cơ sở lành mạnh” cho xu hướng vươn lên của nền kinh tế năm 2013 và những năm tiếp theo. Những dấu hiệu đó cũng là còn ít và có phần chậm trễ để báo hiệu một tiến trình cải cách có khả năng “xoay chuyển tình thế” diễn ra sớm và đạt hiệu quả mong đợi chứ không chỉ là “cải thiện tình hình”.  3. Tổng thể cả năm: Tình thế khó khăn hơn và xu hướng sa sút   Nhưng cho dù có những dấu hiệu tốt lên như vậy, nhìn tổng thể và trong quan hệ so sánh, xu hướng tích cực nêu trên không phải là trục chính phản ánh đúng và đủ diện mạo cơ bản của nền kinh tế 8 tháng qua.   Ở bình diện ngắn hạn, nhận định trên thể hiện rõ ở những điểm sau.  Thứ nhất, cho dù được cải thiện theo từng quý thì đà tụt giảm tốc độ tăng trưởng GDP so với năm trước là rõ rệt. Với mức tăng trưởng GDP quý 3 là 5,35%, diễn biến kinh tế vẫn cho phép dự báo kế hoạch tăng trưởng 6,0-6,5% của năm nay sẽ không thể đạt được. Mức tăng trưởng GDP năm 2012 mà Chính phủ dự kiến đạt chỉ khoảng 5,2%, thấp hơn nhiều so với kế hoạch (nhưng có tính khả thi cao).   Thứ hai, lạm phát hạ nhanh, thậm chí nhanh hơn mức dự kiến, làm cho nền kinh tế liên tục mấy tháng bị “âm”. Xu hướng giảm nhanh như vậy gây lo ngại sự “lạnh đi” đột ngột của cơ thể kinh tế vốn đang bi suy yếu kéo dài. Đã có những ý kiến đề cập đến tình trạng thiểu phát, kéo theo đó là xu hướng trì trệ trong tăng trưởng GDP.   Cũng cần lưu ý đúng mức đến xu hướng CPI chuyển hướng nhanh từ “âm” sang “dương” trong tháng 8 và 9 trong khi các thao tác nới lỏng tiền tệ chỉ mới bắt đầu.   Đồ thị 1: CPI theo tháng năm 2011 và 9 tháng năm 2012       Đồ thị 1 cho thấy qua các tháng, CPI có biên độ dao động khá lớn và mức độ đảo chiều cao. Biên độ dao động CPI lớn chứng tỏ nền kinh tế nước ta trong 9 tháng qua vẫn trong trạng thái bất ổn cao. Đồng thời, hiệu ứng tâm lý và cách thức phản ứng chính sách trước động thái CPI (sử dụng hàng loạt các biện pháp hành chính với mong muốn đối phó nhanh với lạm phát, để dễ dàng và thuận tiện hơn cho bộ máy điều hành) cho thấy mức độ nhạy cảm rất cao của cơ thể kinh tế đối với các tác động đảo chiều, ngay cả khi tác động đó chưa mạnh.  Thứ ba, thành tích “đột ngột” chuyển nhập siêu thành xuất siêu phản ánh một thực trạng đáng lo ngại: năng lực hấp thụ đầu vào của nền kinh tế bị suy yếu nghiêm trọng. Nền kinh tế nước ta có một đặc điểm nổi bật là phụ thuộc nặng vào đầu vào nhập khẩu4. Vì vậy, thành tích giảm nhập siêu trong 9 tháng đầu năm so với các năm trước đồng nghĩa với một mặt, sản xuất trong nước gặp khó khăn nghiêm trọng, năng lực hấp thụ đầu vào yếu đi rõ rệt; hai là triển vọng tăng trưởng không mấy lạc quan trong những tháng còn lại của năm 2012 và cho cả năm 2013.  Gắn với “thành tích” giảm nhập siêu, còn một chỉ số khác cũng rất đáng quan tâm. Đó là số lượng đơn đặt hàng của nền kinh tế được ký kết qua các tháng. Đây là chỉ số phản ánh đầu ra của nền kinh tế, mang tính dự báo cao. Xu hướng đơn đặt hàng của nền kinh tế qua các tháng (đồ thị 2) cho thấy động thái đầu ra vẫn còn kém sáng sủa (chưa khôi phục mức trung bình 50 điểm), tương tự động thái đầu vào. Với xu hướng này, khó có thể trông đợi triển vọng cải thiện mạnh mẽ tốc độ tăng trưởng GDP trong các tháng cuối năm và cả trong năm 2012.  Đồ thị 2: Xu hướng đơn đặt hàng và đơn đặt hàng xuất khẩu mới       Thứ tư, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm rõ rệt trong khi đây là lĩnh vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng chung, là động lực và đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng đầu năm tăng khoảng 4,8% so với cùng kỳ năm 2011, chỉ bằng 61,5% mức tăng cùng kỳ năm trước (7,8%). Cần lưu ý rằng tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp thấp, trong khi tốc độ tăng chi phí trung gian cao lên, làm tốc độ tăng giá trị tăng thêm của công nghiệp thấp xuống, kéo theo sự sụt giảm của tốc độ tăng GDP.  Tổng hợp lại, cho đến hết quý III, tăng trưởng công nghiệp vẫn có xu hướng chậm lại, chưa “thoát đáy”; cũng chưa lộ ra những yếu tố mới cho phép dự báo một sự thay đổi mang tính đột biến trong công nghiệp để xoay chuyển xu thế tăng trưởng GDP. Đây thực sự là một tin “xấu” cho việc dự báo triển vọng kinh tế cuối năm 2012, năm 2013.  Thứ năm, tốc độ tăng tồn kho giảm nhưng vẫn duy trì ở mức cao.  Đồ thị 3 dưới đây chỉ rõ động thái đó:   Đồ thị 3: Hàng tồn kho giảm chậm và vẫn ở mức cao  Nguồn: MPI    Hàng tồn kho, giống như nợ xấu, được coi là một “cục máu đông”, rất nguy hại cho lưu thông kinh tế. Ôm một khối lượng lớn hàng tồn kho, doanh nghiệp không thu hồi được vốn, không thể trả nợ ngân hàng, từ đó, nợ xấu gia tăng. Mặt khác, hàng tồn kho luôn là yếu tố triệt tiêu động lực sản xuất của doanh nghiệp. Năm 2012, tồn kho lớn kéo dài đang là yếu tố chính làm suy yếu hệ thống doanh nghiệp, đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình trạng phá sản hoặc đóng cửa. Trên bình diện vĩ mô, hàng tồn kho cản trở mạnh mẽ sự lưu thông trong nền kinh tế, đúng với tên gọi “cục máu đông”.           TỒN KHO BẤT ĐỘNG SẢN – “NGHIÃ ĐỊA” CHÔN VỐN   Trong cơ cấu hàng tồn kho, đáng lo ngại nhất là lượng tồn kho bất động sản đang chiếm một tỷ trọng rất lớn.    Theo tính toán của Bộ phận Nghiên cứu thuộc  Dragon Capital, cả TP.HCM và Hà Nội hiện đều có khoảng hơn 35.000 căn hộ  ở sẵn sàng để bán. Trong trạng thái thị trường đóng băng hiện nay, có  thể coi đây chính là lượng hàng tồn kho bất động sản (chắc là chưa đầy  đủ). Giả dụ giá trị mỗi căn hộ chỉ là 1 tỷ VNĐ (chắc là thấp xa so với  mức giá đã từng được bán trong 2-3 năm trước), thì lượng vốn bị “chôn”  trong số căn hộ “tồn kho” nói trên đã lên tới 70.000 tỷ VNĐ. Nếu mức giá  là 2 tỷ VNĐ/căn, tổng số vốn “bị chôn” sẽ lên tới 140.000 tỷ đồng. Đây  là con số khổng lồ và có lẽ nó không quá xa con số thực. Hệ lụy mà “cục  máu đông” này gây ra cho nền kinh tế cũng như mức độ rủi ro mà nó đe dọa  hệ thống ngân hàng chắc chắn còn vượt xa sự khổng lồ của chính nó.          Theo thống kê từ 69 công ty BĐS niêm yết,  các công ty này đều phải đối mặt với vấn đề thanh khoản nghiêm trọng. Tỉ  số thanh toán nhanh, phản ánh khả năng công ty có đủ tài sản ngắn hạn  để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho  hay không, giảm còn dưới 0,7 lần. Đến quý IV/2011, các công ty này đang  gánh một khoản nợ vay khoảng 67.000 tỉ đồng và chi phí lãi vay mỗi năm  là 13.400 tỉ. Đáng báo động là trong cơ cấu nợ vay, khoản vay ngắn hạn  trong quý IV đã tăng lên 26.400 tỉ. Điều này có nghĩa, các công ty này  phải có 39.800 tỉ để trả nợ vay đến hạn và lãi vay trong năm 2012.    Trong khi đó, lượng tiền mặt còn lại tại 69  công ty này là 915 tỉ đồng, chỉ đủ để trả 1/4 số nợ trên và lợi nhuận từ  hoạt động kinh doanh trước lãi vay và thuế chỉ bằng 1/3 chi phí lãi vay  mỗi năm. Mối tương quan này cho phép xác định lượng nợ xấu thực rất lớn  đang và sẽ tiếp tục đè nặng lên các doanh nghiệp kinh doanh bất động  sản và hệ thống ngân hàng.    Cũng cần lưu ý thêm rằng đây mới là số liệu  của 69 công ty bất động sản niêm yết trên sàn. Trong nền kinh tế, số  lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản chắc chắn còn lớn hơn nhiều.  Và với các công ty này, ít có cơ sở để tin rằng thực trạng tài chính của  chúng lại đẹp hơn 69 công ty niêm yết trên sàn nêu trên – thường là  những công ty có thực lực, hoạt động bài bản và hiệu quả hơn (niêm yết  trên sàn là tiêu chuẩn xác nhận đẳng cấp).    Đồng thời, chính Báo cáo này cũng nhận định  nếu không có giải pháp để kích cầu mua căn hộ, có lẽ cần ít  nhất 7 năm mới tiêu thụ hết lượng căn hộ tồn kho hiện nay. Nghĩa  là thời điểm đích cho việc giải quyết nợ xấu bất động sản hãy còn xa  lắm.           Tồn kho cao là thực trạng phổ biến trong khu vực doanh nghiệp hiện nay. Nó là kết quả của sự giảm sút sức cầu trên thị trường mà nguyên nhân sâu xa, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nằm trong chính cơ cấu và hệ thống phân bổ nguồn lực “có vấn đề” của nền kinh tế. Một nền kinh tế tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, cơ chế phân bổ vốn lại không hợp lý vận hành trong một thời gian dài, việc quản lý sử dụng vốn lại lỏng lẻo, làm cho hiệu quả đầu tư thấp, nhất là trong khu vực nhà nước, sẽ dẫn tới kết cục tất yếu là lạm phát cao kéo dài, sức cầu thị trường suy giảm liên tục.   Đối mặt với tình hình đó, hiện nay, khi sức khỏe của nền kinh tế – cả của khu vực doanh nghiệp lẫn của khu vực nhà nước – bị suy giảm mạnh thì nỗ lực “kích cầu” nhằm giải tỏa đống hàng tồn kho, từ đó vực dậy nền kinh tế thật sự là một bài toán khó, một thách thức lớn đặt ra cho Chính phủ.   Thứ sáu, ở mặt cung, trong mối liên hệ tương thông và tương thuộc với mặt cầu, tình hình cũng nghiêm trọng không kém.  Nền kinh tế nước ta có đặc điểm nổi bật là tăng trưởng lệ thuộc ngày càng nặng vào vốn đầu tư (đồ thị 4).   Đồ thị 4: Đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng GDP       Với một nền kinh tế đang “ốm yếu”, việc dư nợ tín dụng qua 9 tháng đầu năm chỉ tăng hơn 2% cho thấy một xu hướng bất bình thường đang diễn ra (không thể hấp thụ nổi vốn dù đang rất khát vốn). Tính bất thường này còn thể hiện rõ hơn qua sự kiện là cho đến hết tháng 6 thì tăng trưởng tín dụng vẫn chỉ đạt mức “âm”. Hoạt động cho vay mới bắt đầu phục hồi từ tháng 7, nhưng cũng rất yếu ớt. Nghĩa là quá trình “lưu thông máu” cho một cơ thể đang bị ốm nặng, đã bị đình trệ trong suốt nửa năm. Nên lưu ý thêm rằng điều này diễn ra sau khi nền kinh tế đã trải qua gần suốt một năm 2011 bị “đói vốn” (đồ thị 5).   Một nền kinh tế “nghiện nặng” vốn đầu tư mà bị cắt đứt khỏi dòng vốn – đó thực sự là một nguy cơ đe dọa. Nó cung cấp thêm một căn cứ thực tế để dự báo triển vọng.  Đồ thị 5 cho thấy mức độ trầm trọng của cú sốc tài chính mà nền kinh tế phải chịu khi chính sách thắt chặt tiền tệ được triển khai quyết liệt trong suốt gần hai năm qua.   Đồ thị 5: Tăng trưởng phương tiện và tăng trưởng tín dụng:    Cú sốc tài chính 2011-2012     Cần xem xét thêm một tương quan khác: Tính đến tháng 8, trong khi tổng huy động vốn tăng 11,23% thì dư nợ tín dụng chỉ tăng 1,4% (sang tháng 9, con số này nhích thêm được gần 1%). Tương quan này phản ánh tình trạng ách tắc tín dụng và sự lệch pha trong cán cân huy động và cho vay. Việc tìm đáp án trả lời câu hỏi: vì sao tín dụng “lệch pha” (hay tại sao nền kinh tế không hấp thụ được vốn dù đang rất khát vốn) và làm thế nào để phá thế “đóng băng” tín dụng, tiếp tục là bức xúc không chỉ riêng đối với ngành ngân hàng.  Cũng từ đó, phát sinh một nỗi lo mới trong hệ thống, đó là: rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường từ sự mất cân bằng giữa huy động và cho vay; cũng như bất an đến từ việc tín dụng tăng thấp nhưng huy động vẫn tăng đang ngày càng hiện hữu. Điều này đang diễn ra và có thể còn kéo dài trong những tháng tới.  Thứ bảy, tình trạng khó khăn nghiêm trọng kéo dài của hệ thống doanh nghiệp.   Nợ lớn, lãi suất cao, hàng tồn kho nhiều là “tam giác quỷ” đẩy đa số doanh nghiệp vào tình trạng cực kỳ khó khăn. Nó hình thành một cái “bẫy sụp đổ” mà nhiều doanh nghiệp không thể thoát ra.     II.    NĂM 2013: NHỮNG VIỆC PHẢI LÀM VÀ DỰ BÁO KẾT QUẢ  1. Những việc phải làm.  Phần này có nhiệm vụ đề xuất những việc phải làm trong năm 2013 theo một trật tự ưu tiên cho phép giải quyết tình trạng “tồn kho, ứ đọng” lâu năm các vấn đề, để nền kinh tế khôi phục các cơ sở ổn định vĩ mô và tăng trưởng một cách bền vững, đồng thời tiến hành đổi mới mô hình tăng trưởng bằng các hành động tái cơ cấu thực sự.  Để giải quyết nhiệm vụ đó, cần thiết phải có cách tiếp cận mới đến việc phân bổ nguồn lực cho các nhiệm vụ phải được ưu tiên giải quyết.  Thực chất của cách tiếp cận mới này là: ưu tiên phân bổ nguồn lực cho việc giải quyết các nhiệm vụ tái cơ cấu đã được xác định, cho nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, sau đó (còn bao nhiêu) mới dành cho nhiệm vụ tăng trưởng GDP. Tương quan cuối cùng này sẽ là căn cứ để xác định (mục tiêu) GDP sẽ tăng bao nhiêu trong năm 2013.   Cách làm này “ngược” với trình tự xử lý mối quan hệ phân bổ nguồn lực cho các mục tiêu vĩ mô của những năm trước, thường là xác định mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức “tiềm năng”, nghĩa là tập trung nguồn lực tài chính quốc gia cho mục tiêu tăng trưởng GDP sau khi đã trừ các khoản “chi thường xuyên” theo thông lệ, còn các nhiệm vụ khác như ổn định vĩ mô hay tái cơ cấu – như thực tế, dường như được quan niệm là những nhiệm vụ mà việc giải quyết chúng hầu như không cần đến nguồn lực tài chính nào.  Theo cách tiếp cận đó, xin đề xuất hệ nhiệm vụ kinh tế năm 2013 theo trật tự ưu tiên sau:  a/ “Trở lại” thực hiện những nhiệm vụ nền tảng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới ở tầm thế mới.  Những nhiệm vụ đó là: chuyển đổi cơ cấu sở hữu, chuyển dịch các quyền tài sản và phát triển cơ chế thực hiện sở hữu theo nguyên lý thị trường. Do quá trình cải cách thể chế bị “thả lỏng” để tập trung cho nhiệm vụ “đầu tư – tăng trưởng”, các vấn đề đất đai, doanh nghiệp nhà nước hay ngân sách nhà nước lại trở nên gay gắt trong mấy năm gần đây, tạo thành những ách tắc kinh tế – chính trị chủ yếu của quá trình phát triển kinh tế, là căn nguyên của tình trạng kém hiệu quả, mất cân đối vĩ mô và bất ổn ngày càng nghiêm trọng.   Đó là lý do để coi việc giải tỏa các ách tắc này là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của năm 2013.  Theo lập luận đó, việc tuyến nhiệm vụ cải cách thể chế ưu tiên năm 2013 là:   *   Giải quyết vấn đề ruộng đất: phát triển thị trường đất đai với những người chủ đích thực và phục vụ những người chủ đích thực (hàm ý chống các lực lượng hưởng lợi dựa trên đầu cơ và tham nhũng quyền lực). Trọng tâm là xây dựng Luật Đất đai đáp ứng các yêu cầu vận động của đất đai với tư cách là nguồn lực quan trọng bậc nhất của nền kinh tế theo nguyên lý thị trường; mấu chốt là giá đất thị trường (chỉ có thể xác lập được đúng khi đất đai và các quyền đối với đất được chuyển hóa thành và được thừa nhận là quyền tài sản được thực hiện theo nguyên tắc thị trường).   *   Cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước theo mục tiêu phát triển kinh tế thị trường (thúc đẩy cạnh tranh, xóa bỏ hay hạn chế độc quyền và thủ tiêu các ưu quyền, đặc quyền của doanh nghiệp nhà nước), trong đó tập trung “tái cơ cấu” thành công các tập đoàn [định vị lại (vai trò) chức năng và thay đổi cơ chế điều hành – quản trị của chúng].  *   Cải cách Ngân sách Nhà nước – một loại tài sản quốc gia thuộc sở hữu toàn dân – để xác lập cơ chế phân bổ nguồn lực – quyền lực mới trong nền kinh tế. Định hướng cơ bản là áp dụng nguyên tắc “ràng buộc ngân sách `cứng`” đối với hệ thống NSNN thay cho hệ thống ngân sách “ràng buộc `mềm`” hiện nay. Nhiệm vụ này phải được thực hiện khẩn trương với việc sớm thay đổi Luật NSNN.   *    Công khai, minh bạch các thông tin, số liệu kinh tế. Sự “tù mù” số liệu thống kê đang gây tổn thất kinh tế lớn nhưng khó đo đếm chính xác, đồng thời tạo ra một rủi ro lớn bậc nhất trong phát triển: không có cơ sở để dự báo và hoạch định chính sách kinh tế đúng, nhất là tại những thời điểm “hiểm nguy” như hiện nay.   b/ Nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế  Đây là nhóm nhiệm vụ ưu tiên trực tiếp, vừa có tác dụng tạo cơ sở nền tảng để đổi mới mô hình tăng trưởng, vừa giúp xoay chuyển chăc chắn tình thế kinh tế hiện nay.  Nhóm nhiệm vụ này bao gồm những nội dung sau:  *  Cải cách hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó, khâu trọng tâm là xử lý tình trạng sở hữu chéo và liên kết nhóm lợi ích thao túng hệ thống ngân hàng và thao túng nền kinh tế.  *  Tái cơ cấu tập đoàn kinh tế nhà nước: ưu tiên tái cơ cấu một số tập đoàn “mẫu” – Vinashin, Vinalines – theo nghĩa “làm tan những cục máu đông lớn” trong nền kinh tế. Sự tồn tại của những cấu trúc đã phá sản trên thực tế, nói khác đi, sự hiện diện của những “xác chết không chôn được” đang làm hao tổn đáng kể một khối lượng lớn nguồn lực quốc gia, vừa ngăn chặn quá trình lưu thông vốn bình thường trong nền kinh tế, lại chứng tỏ sự bất lực của Nhà nước trong việc giải quyết một cơ chế lỗi thời, qua đó, thúc đẩy xu hướng mất lòng tin vốn đang rất nghiêm trọng trong xã hội.  *   Tái cơ cấu đầu tư công: không nên hướng nỗ lực cao nhất cho nhiệm vụ “cắt giảm đầu tư công” – vốn là một giải pháp chỉ mang tính đối phó ngắn hạn và tỏ ra là bất khả thi hoặc chỉ làm tăng thêm tình trạng lãng phí và không hiệu quả trong đầu tư. Cần đặt trọng tâm tái cơ cấu đầu tư công vào việc thiết kế một cơ chế phối hợp có sự chế tài nghiêm túc giữa việc xác định và phê duyệt các dự án đầu tư công và năng lực thực hiện, không chỉ năng lực vốn tài chính mà đồng bộ các loại năng lực khác (ví dụ năng lực giải phóng mặt bằng, năng lực quản lý dự án, v.v.). Thực chất của nhiệm vụ này là phối hợp chính sách và hành động của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với Bộ Tài chính. Lâu nay, vấn đề phối hợp chính sách hầu như chỉ được tập trung xem xét ở tuyến quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước (máy bơm tín dụng) và Bộ Tài chính (máy bơm tiền chi tiêu Chính phủ) nên kết quả đạt được trong việc kiểm soát đầu tư công không cao.   c/ Đề xuất một số giải pháp cấp bách – ngắn hạn:  *    Thay đổi tư duy kế hoạch. Hiện nay, việc bị trói buộc trong tư duy và tầm nhìn kế hoạch hàng năm đang gây nên những hậu quả to lớn. Thứ nhất, nó dung dưỡng “chủ nghĩa thành tích”5. Thứ hai, nó không giúp mở tầm nhìn để thiết lập một chương trình khôi phục các cơ sở ổn định và tăng trưởng bền vững cũng như thực hiện bài bản các nhiệm vụ tái cơ cấu – thường là những công việc đòi hỏi một thời gian dài hơn nhiều (3-5 năm).   Đây là cơ sở để nêu kiến nghị lên Chính phủ và Quốc hội: Trong thời gian tới, thay vì triển khai kế hoạch từng năm như trước đây, chuyển sang thực hiện một Chương trình Hành động 3 năm (2013-2015), với nội dung là Chương trình Phục hồi sau Khủng hoảng và Thúc đẩy Tái cơ cấu nền kinh tế.  Đi liền với khuyến nghị này, xin đề xuất thêm khuyến nghị: bỏ chỉ tiêu tăng trưởng GDP theo quý và tăng trưởng GDP cấp tỉnh. Đây là hai chỉ tiêu thiếu nội dung kinh tế độc lập, không có cơ sở để đo lường chính xác. Và chúng chính là công cụ nuôi dưỡng “chủ nghĩa thành tích” đáng bị loại bỏ nhất hiện nay.  *   Hành động khẩn cấp: Kiến nghị Chính quyền các cấp trả ngay cho các doanh nghiệp các khoản nợ đọng công trình xây dựng đầu tư công lên đến hàng trăm ngàn tỷ, coi đây là giải pháp cơ bản để “cấp cứu” doanh nghiệp mà không làm “vỡ trận”. Đây cũng là giải pháp quan trọng góp phần giải tỏa hai “cục máu đông” lơn nhất hiện nay – nợ xấu và hàng tồn kho.  *    Áp dụng Luật Ngân sách năm (thường niên) để bảo đảm tính pháp lệnh và hiệu lực chế tài đối với các mục tiêu – chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua.   2. DỰ BÁO 2013  Năm 2013 vẫn là năm khó khăn, thậm chí không kém năm 2012.   Lý do đầu tiên để nêu nhận định bắt nguồn từ tình trạng u ám, chậm được cải thiện và tiếp tục bất ổn (xét tổng thể) của nền kinh tế thế giới. Sóng gió kinh tế khu vực EU chưa lắng dịu, thậm chí còn bị đe dọa mạnh hơn. Kinh tế Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề cơ cấu, không có cơ sở để giải quyết nhanh; làm cho xu thế giảm tốc độ tăng trưởng mạnh lên và chưa hãm lại được. Xung đột trên các vùng biển Đông Á, đặc biệt là xung đột Trung – Nhật, sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực khó lường. Các dự báo tổng thể về triển vọng kinh tế thế giới năm 2013 tiếp tục theo chiều hướng “ảm đạm” hơn.  Dự báo mới nhất (tháng 10/2012) về triển vọng kinh tế thế giới của ADB cho thấy xu hướng tăng trưởng GDP ảm đạm hơn của năm 2013 so với dự báo được nêu hồi tháng 5/2012 ở các trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới và của khu vực tăng trưởng kinh tế cao nhất và năng động nhất thế giới – châu Á. Cần lưu ý thêm rằng xung đột Trung – Nhật trên biển, nếu gia tăng cường độ, có thể làm u ám hơn các con số dự báo này ở mọi cấp độ – toàn thế giới và khu vực châu Á.  Lý do thứ hai để dự báo xu hướng tiếp tục khó khăn của nền kinh tế năm 2012 chính là các cơ sở tăng trưởng trong nước.  Những nguyên nhân để nêu dự báo trên nhìn chung là hiển nhiên và cơ bản đã được nêu ở các phần trên. Đó là:  –    Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá thấp cho một nền kinh tế mà tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lại đang thời kỳ “đau yếu” nặng (đến hết tháng 9/2012, dư nợ tín dụng mới tăng 2,35%). Cũng khó kỳ vọng một sự gia tăng mạnh tín dụng trong thời gian tới vì cho đến nay, các yếu tố cản trở tăng tín dụng (các “cục máu đông” nợ xấu, hàng tồn kho và lãi suất cao) vẫn chưa có dấu hiệu được giải tỏa nhanh.  –    Xu hướng tổng cầu vẫn trì trệ, không thể cải thiện nhanh trong một nền kinh tế mà xu hướng “đi xuống” của tăng trưởng và nguy cơ lạm phát cao vẫn còn thường trực.  –    Tình thế phát triển đòi hỏi phải dành nguồn lực đủ lớn cho các hoạt động tái cơ cấu. Tuy cho đến nay vẫn chưa có cơ sở để xác định năm 2013 cần phải dành bao nhiêu vốn cho công cuộc này (tùy thuộc vào Chương trình hành động thực tế của Chính phủ nhằm mục tiêu tái cơ cấu), song nguyên tắc chung là cần ưu tiên cho nhiệm vụ này, và càng ưu tiên thực sự thì nền kinh tế càng có cơ hội thoát nhanh khỏi tình thế đầy nguy cơ hiện nay. Mà càng dành nhiều nguồn lực cho tái cơ cấu thì có nghĩa là phần vốn dành phục vụ tăng trưởng GDP trực tiếp càng ít đi.  Với khuyến cáo chỉ nên sử dụng chỉ tiêu tăng trưởng GDP như một chỉ tiêu định hướng, gợi ý thay vì tính pháp lệnh như hiện nay, trên cơ sở các lập luận nêu trên, trong năm 2013, Chính phủ và Quốc hội không nên quá chú trọng mục tiêu tăng trưởng GDP, càng không nên chú trọng đặt mục tiêu tăng trưởng cao (theo kiểu bám sát hoặc vượt “giới hạn tiềm năng”).  Việc xác định chỉ tiêu tăng trưởng GDP, cho dù chỉ là chỉ tiêu định hướng, cần tuân thủ nguyên tắc: cần ưu tiên phân bổ các nguồn lực, nhất là nguồn lực tài chính – ngân sách, cho các nhiệm vụ tái cơ cấu và ổn định kinh tế vĩ mô trước khi xác định mục tiêu tăng trưởng GDP.  Theo logic đó, xin mạnh dạn nêu dự báo – và cũng đề xuất mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2013 (có thể và nên chỉ đặt) ở mức 3-4%.   Dường như bức tranh kinh tế 2013, với những đường nét vẽ ở trên, chưa có gì khởi sắc. Nhưng đó chỉ là bức tranh dựa trên những giả định “cứng” về các điều kiện “vật thể” – cả trong nước lẫn quốc tế – của quá trình tăng trưởng.   Nhưng bức tranh đó còn chừa lại một không gian cho sắc hồng: năm 2013 nếu được chọn là năm cho những hành động tái cơ cấu thực sự, mạnh mẽ và bài bản thì sự “tĩnh lặng”, thậm chí kể cả xu hướng “đi xuống”, của tốc độ tăng trưởng GDP vẫn báo hiệu một sự thay đổi có tính bước ngoặt theo hướng đi lên mạnh mẽ của nền kinh tế. Nếu điều đó xẩy ra – và có cơ sở để tin như vậy – thì triển vọng tạo một sự đột phá chiến lược sẽ trở thành hiện thực.  (Trích báo cáo cùng tên do Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế Việt Nam PGS.TS. Trần Đình Thiên, Bùi Trinh, Phạm Sỹ An, Nguyễn Việt Phong thực hiện; các tiêu đề đã được đánh số lại)  —  1 Cách làm này dẫn tới chỗ các nhà hoạch định chính sách lẫn các chuyên gia kinh tế thường bị lôi vào cuộc tranh luận bất tận về mức độ tăng giảm GDP, chi li đến 0,1-0,2 điểm %, thực sự không có nhiều ý nghĩa  2 Mức độ nhạy cảm cao của nền kinh tế bắt nguồn từ tình trạng yếu kém kéo dài cũng đang được ghi nhận tại thời điểm hiện nay: sự “đảo chiều” của CPI trong tháng 8 và tăng vọt trong tháng 9 (2,2%). Ngoài một vài nguyên nhân thời vụ (giá cả một số mặt hàng tăng do bước vào năm học mới), sự “đảo chiều” mạnh như vậy được nhìn nhận chủ yếu do năng lực hấp thụ vốn quá yếu của nền kinh tế, làm lạm phát trở lại nhanh khi chỉ mới có sự thay đổi chưa đáng kể trong cung tín dụng (8 tháng tín dụng mới tăng 1,4%, trong đó, có 6 tháng đầu tín dụng tăng trưởng “âm”).  3 Tại cuộc họp Chính phủ tháng 8 vừa qua, tăng trưởng GDP dự báo đạt 5,3-5,5%. Nhưng nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu cho rằng mức tăng trưởng GDP năm nay 5,1-5,3% là khả thi hơn. Hẳn chúng ta còn nhớ cuộc thảo luận sôi nổi tại kỳ họp Quốc hội tháng 5 vừa qua về mục tiêu tăng trưởng năm 2012. Tại kỳ họp này, lần đầu tiên Chính phủ “xin” Quốc hội cho hạ chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ mức 6,0-6,5% (đã được Quốc hội thông qua cuối năm 2011) xuống mức 5,5-5,7% với nhiều luận cứ thuyết phục. Tuy nhiên, đề nghị này đã không được chấp thuận.  4 Giá trị kim ngạch nhập khẩu của nước ta tương đương 85-90% GDP. Trong cơ cấu nhập khẩu, có đến khoảng 90% là nhập khẩu đầu vào sản xuất.  5 Cách báo cáo kế hoạch theo từng 6 tháng và từng năm với lập luận chủ đạo “thành tích quý sau cao hơn quý trước” tạo cơ sở cho việc dễ dàng che lấp và biện minh cho thực tế yếu kém về chất lượng và hiệu quả – là những thứ chỉ được nhận diện đầy đủ qua dài hạn. Tệ hại hơn, như lập luận ở phần đầu công trình này chỉ ra, cách ứng xử đó còn giúp che lấp thực tế “năm sau đang xấu hơn năm trước”, gây ra ảo tưởng nguy hiểm về thực trạng và thực lực quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam đang phục hồi nhẹ nhưng không thể chủ quan      Qua những tháng đầu năm 2014, nền kinh tế  Việt Nam đang có dấu hiệu phục hồi nhẹ trong bối cảnh vẫn tiềm ẩn một số  nguy cơ rủi ro, đòi hỏi những nhà hoạch định chính sách có sự điều  chỉnh linh hoạt và quyết tâm nỗ lực cải cách thực sự từ Chính phủ vì sự  phát triển bền vững lâu dài.    Đây là những thông điệp có thể thu nhận được từ phân tích của các chuyên gia kinh tế trong Hội thảo “Triển vọng kinh tế & tầm nhìn chính sách 2014” do Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức hôm 6/3 vừa qua.   Tại hội thảo, các chuyên gia đã đánh giá nền kinh tế của thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã có những bước hồi phục nhẹ. Trong năm 2014, dự kiến các nền kinh tế sẽ có mức tăng trưởng cao hơn năm trước, mức rủi ro cũng thấp hơn mặc dù vẫn tiềm ẩn nguy cơ từ các thị trường tài chính (đặc biệt là Trung Quốc) và những bất ổn về địa chính trị (bất ổn tại Ukraine và các tranh chấp biển đảo ở khu vực Châu Á).  Theo ông Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR, các số liệu kinh tế của Việt Nam trong hai tháng đầu năm nay cho thấy tình hình sản xuất công nghiệp, doanh thu bán lẻ, mức tiêu thụ và tồn kho, v.v đang nhích dần lên. Tuy nhiên, trong bối cảnh này Nhà nước không được chủ quan mà cần sự linh hoạt điều chỉnh chính sách, tránh những chính sách kích thích quá đà khiến thị trường tài chính quay trở lại tình trạng bong bóng – ông Thành cho rằng những diễn biến gần đây trên thị trường chứng khoán cho thấy có dấu hiệu bong bóng chứng khoán bắt đầu xuất hiện trở lại, mặc dù chỉ mới đang ở mức nhỏ.  Trong khi đó, nhiều vấn đề cấp bách vẫn đang tồn tại chờ Nhà nước giải quyết, như tình trạng thâm hụt ngân sách do chi thường xuyên tăng cao (thể hiện bộ máy hành chính Nhà nước đang phình ra quá nhanh), nợ xấu của các ngân hàng chỉ mới được gom về để đấy mà chưa được xử lý, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn chậm tái cơ cấu, đặc biệt chất lượng quản trị không được nâng lên, v.v.   Để nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới có sự phục hồi và phát triển một cách chắc chắn hơn, các chuyên gia nhất trí cho rằng Nhà nước cần những hành động cải cách mạnh mẽ, thay vì chỉ thể hiện quyết tâm qua lời nói như hiện nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang “Kinh tế Việt Nam đang tụt hậu”      “Kiểm điểm” nửa chặng đường phát triển giai đoạn 2011-2015, Trưởng Ban  Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ lo ngại: “Nền kinh tế Việt Nam đang tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực!”    Những cảnh báo đáng mạnh mẽ về tình hình kinh tế đã được đưa ra tại hội thảo “Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế xã hội 5 năm và những điều chỉnh chiến lược” diễn ra sáng 23/9. Sự kiện này do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội tổ chức.  Đừng đổ hết cho khủng hoảng  “Suy yếu”, “tụt hậu”, “khoảng cách ngày càng xa so với các nước” là những nhận định được các nhà hoạch định chính sách nhấn mạnh. Điểm sơ sơ về số liệu kinh tế, các diễn giả đều khẳng định, nhiều mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 có khả năng không thực hiện được.  Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm được xây dựng trong bối cảnh nhiều dự báo lạc quan về triển vọng phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới. Khi đó, trong nước cũng có nhiều chuyển biến theo hướng thuận lợi.  Tuy nhiên, thực tế hơn 2 năm qua, tình hình kinh tế thế giới biến động khá phức tạp. Trong nước, những hạn chế, yếu kém của nền kinh tế tích tụ nhiều năm cùng với những mặt trái của gói kích thích đã cộng hưởng tạo nên hiệu ứng lạm phát tăng cao, bất ổn vĩ mô dài hơn dự kiến.  Ông Phúc thẳng thẳn nhìn nhận: “Trong khi phần lớn các nước trong khu vực đã lấy lại đà tăng trưởng sau khủng hoảng thì tại Việt Nam, sự phục hồi còn chậm. Xét về mặt tuyệt đối, khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực đang ngày một cách xa”.  “Dư địa chính sách cho mô hình tăng trưởng hiện tại không còn nhiều. Những cảnh báo về một nền kinh tế chưa ẩn nhiều rủi ro và một triển vọng tăng trưởng không mấy tươi sáng đang có nguy cơ trở thành hiện thực”, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quan ngại.  Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan chia sẻ: “Vì sao nên nông nỗi như vậy? Tôi thấy bức tranh rất lổm nhổm, có thể do các nguyên nhân như chúng ta chủ quan duy ý chí đề ra những cái không tưởng. Thứ hai, đề ra nhưng không làm hoặc ngược lại; Thứ ba là tình hình đảo lộn quá; Thứ tư là tình hình thực tế biến động không lường được”.  Không chỉ vậy, theo nguyên Phó thủ tướng “bản kiểm điểm” còn ít nói về những sai lầm của chúng ta. “Khủng hoảng kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu vì nhiều anh cũng bị ảnh hưởng nhưng đâu đến nỗi như ta. Những cái liên quan đến thế giới như xuất khẩu, vốn nước ngoài không sụt giảm nhiều lắm nhưng tại sao lại đổ cho nó.”  Ông Khoan nói tiếp: “Nếu chúng ta không mạnh dạn xử lý thì sẽ lúng túng”.  Nhấn mạnh hơn về kết quả “bản kiểm điểm” này, Trưởng Ban kinh tế Trung ương Đảng, ông Vương Đình Huệ thừa nhận: “Nền kinh tế Việt Nam đang tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực!”  Theo ông Huệ, ngoài lý do bên ngoài thì với những yếu kém nội tại đã bộc lộ rõ hơn, cần phải xem xét những nguyên nhân do điều hành của chính chúng ta.  Đừng quá vội vàng  “Chúng ta có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng cần thận trọng để tránh rơi vào bẫy của tăng trưởng”, ông Huệ bày tỏ.  Ông Huệ đề nghị, chặng đường tới, chúng ta vẫn phải tiếp tục củng cố ổn định kinh tế vĩ mô. Nên chăng cần có chương trình trung hạn từ nay tới năm 2015 để phục hồi kinh tế, khôi phục niềm tin cho thị trường.  Bối cảnh hiện nay cho phép chúng ta chuyển sang chính sách kiểm soát lạm phát có mục tiêu, giải quyết hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu lạm phát.  Ví dụ như CPI nên dự kiến tăng khoảng 7% mỗi năm cho 3 năm tới là 2013 – 2015 và có thể dưới 5% cho các năm tiếp theo, đồng thời, nên đặt mục tiêu tăng trưởng hợp lý bằng khoảng 6% cho giai đoạn 2014 – 2015.  Vị trưởng Ban Kinh tế Trung ương còn đề xuất nên điều chỉnh một số chỉ tiêu kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 như tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm điều chỉnh từ kế hoạch 6,5 – 7% cũ về còn 5,4%. Chỉ số giá tiêu dung vào năm 2015 giảm điều chỉnh từ 5-7% lên 7%.  Theo Trưởng ban Kinh tế Trung ương, chúng ta nên chuyển sang thực hiện chính sách trọng cung thay vì trọng cầu như thời gian qua. Đây không hẳn là một kế hoạch trung hạn, nhưng là định hướng chính sách từ nay đến năm 2015, tránh việc áp dụng những giải pháp ngắn hạn để giải quyết vấn đề dài hạn.  Chuyên gia Võ Trí Thành lưu ý 3 điều là ổn định kinh tế vĩ mô, thứ hai là phục hồi và tiếp theo là tái cấu trúc. Từ nay tới 2015 – 2016 không vì áp lực nào mà né tránh, méo mó mục tiêu ổn định. Sự phục hồi phải trong khuôn khổ ổn định và không nên quá vội vã, phải đặt trong bối cảnh tái cấu trúc.  Thậm chí, ông Thành còn nói, không nên chỉ nhìn nước ta như nước nghèo, đã đến lúc phải nhìn ra khía cạnh thực sự mạnh của Việt Nam. Có hai vấn đề hiện nay đặt ra rất lớn là công nghiệp rất quan trọng với Việt Nam, nhưng 10 năm tới công nghiệp của Việt Nam chỉ là “follower”. Đã đến lúc Việt Nam cần tìm những lĩnh vực có thể đi đầu thế giới. Đồng thời, phải có thể chế thực thi và nguồn lực thực thi chiến lược đấy.        Theo GS Trần Thọ Đạt, Phó Hiệu trưởng Trường  kinh tế quốc dân : Ước tính trung bình giai đoạn 2011 – 2015, GDP của  Việt Nam chỉ đạt dưới 6%, thấp hơn 1-1,5 điểm phần trăm so với kế hoạch.   Tốc độ tăng trưởng Việt Nam giai đoạn 2011 –  2012 tương đương với Philipines, thấp hơn Indonesia và Malaysia và cao  hơn Singapore và Thái Lan. Tốc độ tăng trưởng trung bình của Việt nam  bắt đầu xu thế suy giảm nhanh và liên tục từ giai đoạn cuối năm 2007,  đến giai đoạn cuối năm 2012 nằm ở mức thấp nhất kể từ năm 2000. Trong  khi đó, tăng trưởng các nước ASEAN – 5 đều khởi sắc hơn kể từ cuối 2009,  sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu.   Từ năm 2012, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đã  giảm xuống nhưng đây là mức cao nhất so với các nước ASEAN-5, kể từ năm  2000. Trong khi tăng trưởng các nước trong khu vực đang có xu hướng gia  tăng nhưng vẫn giữ được mức lạm phát thấp thì Việt Nam đối diện với tốc  độ tăng trưởng suy giảm liên tục nhưng lạm phát lại cao.   Biến động lạm phát ở Việt Nam cũng cao hơn  nhiều phản ánh, sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại  Việt Nam lớn so với các nước trong khu vực và bất ổn vĩ mô vẫn chưa có  dấu hiệu được kiểm soát.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam dưới mắt báo nước ngoài      Kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ cao. Tuy nhiên cũng như với Trung Quốc, các công ty nước ngoài cần cẩn trọng khi bắt đầu. Đó là nhận xét của Paul French, báo “Ethical Corporation” (Anh).    Tuy nhiên trong 18 tháng qua, nhờ sự kết hợp của sự kiện gia nhập WTO với việc có một chính phủ “cởi mở” hơn ở Hà Nội, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng nhanh nhờ có nhiều hơn các công ty theo đuổi chiến lược “Trung Quốc +1” – tức là tìm kiếm khả năng sản xuất hàng hóa với giá thành thấp ở ngoài Trung Quốc.  Tăng trưởng kinh tế hiện ở mức cao. Trong vòng 5 năm qua, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh thứ hai trong các nền kinh tế châu Á, chỉ sau Trung Quốc, và nhanh nhất ở Đông Nam Á. Kim ngạch xuất khẩu hiện chiếm 66% quy mô nền kinh tế. Tuy nhiên một số vẫn đề vẫn tồn tại, đặc biệt là các vấn đề quan hệ lao động và năng lực quản lý…  Hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam cần nâng cấp toàn diện, dù đã có các dự án cải tạo hệ thống cảng biển, đường bộ và đường sắt. Tuy nhiên, trong khi Chính phủ bắt đầu các dự án đầu tư và khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài, vẫn còn thiếu đầu tư vào giáo dục, dẫn đến sự thiếu hụt lao động lành nghề. Hệ thống luật pháp còn nhiều bất cập. Mặc dù vậy, các nhà đầu tư nước ngoài đã bắt đầu chú ý đến Việt Nam: tổng giá trị của hơn 200 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng 144% trong năm 2006. Việt Nam dường như đã vượt qua những rào cản kinh tế lớn nhất: Quan hệ với Mỹ được cải thiện đáng kể, khởi đầu là Hiệp định thương mại song phương ký kết năm 2001, giúp kim ngạch thương mại hai nước tăng mạnh (Mỹ hiện chiếm 21% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam); quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tốt lên với hoạt động buôn bán ở biên giới tăng mạnh.  Việt Nam cũng tự nhận thức được sự thuận lợi trong cơ cấu dân số: tỷ lệ dân số trẻ cao, tỷ lệ giới cân bằng và tỷ lệ biết chữ cao. Trên thực tế, mức tiêu dùng bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp đôi trong vòng 5 năm qua, giúp Việt Nam trở thành thị trường tin cậy của phương Tây. Bên cạnh các dấu hiệu tích cực này, các nhà phân tích cũng lo ngại về “sức ỳ” của cơ cấu hành chính. Nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thực sự ổn định. Tương tự như Trung Quốc, Việt Nam phải duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao nhằm tạo đủ việc làm cho người lao động (thêm 1,4 triệu lao động/năm). Vấn đề quan trọng là các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Việt Nam chưa từng trải qua thử thách thực sự.  Đối với các nhà đầu tư, Việt Nam chắc chắn là địa điểm hấp dẫn hơn nhiều so với một vài năm trước đây, tuy nhiên các doanh nghiệp toàn cầu vẫn cần đối mặt với các rủi ro tương tự như ở Trung Quốc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam: Một năm nhìn lại      Chắc không cần nhắc lại điều tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nhiều tháng qua rằng 2006 là một năm cực kỳ thành công của Việt Nam. Chưa bao giờ hình ảnh của Việt Nam lại tốt đến như vậy. Tuy nhiên, con đường hướng tới mục tiêu “Vì một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” mà trước mắt là cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 còn rất nhiều chông gai. Tự hào với những gì đã có là điều cần thiết vì nó tạo động lực và sự lạc quan cho những bước tiếp theo. Nhưng, để có thể đi suốt trên chặng đường dài, việc nhìn nhận đánh giá đúng thực lực và những thách thức phía trước là điều cần thiết. Với mục tiêu này, bài viết xin nêu ra một số vấn đề cần xem xét và cải thiện tốt hơn nhằm đưa kinh tế Việt Nam tiếp tục đi lên.    Quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ  Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,17% với GDP danh nghĩa đạt 974 nghìn tỷ đồng (khoảng 60 tỷ đô-la). Đây là con số khá ấn tượng, nhưng nó chỉ xấp xỉ nền kinh tế Thái Lan vào năm 1988 và nhỉnh hơn kinh tế Singapore vào năm 1994 một chút. Nếu lấy hơn 60 tỷ đô-la chia cho 84 triệu người thì GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2006 là 725 đô-la, tương đương với con số này của Trung Quốc cách đây 10 năm, Thái Lan 20 năm và Singapore 30 năm.2  Mặt khác, theo số liệu trên website CIA Fact Book, GDP-PPP (GDP ngang bằng sức mua) năm 2006 của Việt Nam là 258 tỷ đô-la, xếp hạng 38 toàn thế giới và thứ 5 trong 10 nước Asean. GDP-PPP bình quân đầu người là 3.100 đô-la, xếp hạng 156 trên thế giới và thứ 7 trong 10 nước Asean. Giả sử tốc độ tăng GDP và GDP bình quân đầu người được duy trì bằng mức bình quân 7 năm qua, đến năm 2020, tổng GDP-PPP và GDP-PPP bình quân đầu người tính theo giá năm 2006 của Việt Nam lần lượt là 435 tỷ và 8.000 đô-la, bằng với vị trí số 28 và 104 trên thế giới hiện nay.  Những con số nêu trên có thể giúp hình dung phần nào vị trí của nền kinh tế Việt Nam ở hiện tại và vào năm 2020.  Tăng trưởng GDP nhờ lượng nhiều hơn chất  Tốc độ tăng trưởng đạt được trong năm 2006 nói riêng, một vài năm gần đây được cho là cao, nhưng so với số tiền đầu tư 399 nghìn tỷ đồng bỏ ra, chiếm đến 41% GDP thì cần phải nhìn nhận khách quan hơn. Chỉ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) có xu hướng gia tăng là điều không tốt cho nền kinh tế. Riêng năm 2006, ICOR là 5,02 và bình quân từ năm 2000 đến nay lên đến 5,11, cao hơn rất nhiều so với Trung Quốc cách đây 10 năm, Thái Lan 20 năm và Singapore 30 năm. Xin nhắc lại phát hiện rất có ý nghĩa của Giáo sư David Dapice, Nhà kinh tế trưởng Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard, rằng cũng với tỷ lệ đầu tư so với GDP tương đương với Việt Nam, nhưng Trung Quốc đạt được mức tăng trưởng 9-10%, trong khi Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức 7-8%. Điều này có nghĩa là với quy mô nền kinh tế hiện tại, hàng năm Việt Nam mất đi khoảng 1 tỷ đô-la. Bảng dưới đây cung cấp thêm một con số so sánh với các nước khác và nó có thể minh chứng phần nào lập luận trên.  Nước                          Đầu tư               Tăng trưởng          ICOR                                     (%GDP)            GDP (%)   Việt Nam (’00-’06)          38,3                  7,5                     5,1  Trung Quốc (’91-’03)      39,1                  9,5                     4,1  Đài Loan (’81-90)           21,9                  8,0                      2,7  Hàn Quốc (’81-90)         29,6                   9,2                     3,2  Nhật Bản (’61-’70)          32,6                  10,2                    3,2  Nguồn: Dựa trên thống kê của các nước và tính toán của tác giả.  Một điểm cần lưu ý khác là tuy có giảm một chút (2%), nhưng tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước vẫn chiếm đến 50,1% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội. Dựa trên con số này và nhìn vào tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp dân doanh và các doanh nghiệp nhà nước phần nào lý giải được tại sao ICOR của Việt Nam lại cao đến như vậy. Hơn thế nữa, trong 136 nghìn tỷ đồng GDP danh nghĩa tăng thêm trong năm 2006, có đến 15 nghìn tỷ đồng (gần 1 tỷ đô-la) gia tăng từ xuất khẩu dầu thô và 25 nghìn tỷ đồng gia tăng trong đầu tư của khu vực nhà nước.  Hệ thống tài chính có sự nở rộng nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro  Năm 2006 chứng kiến sự bùng nổ của thị trường chứng khoán khi mà tổng vốn hóa của toàn thị trường (bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu) bằng 30% GDP, cao gấp 5 lần so với thời điểm cuối năm 2005 và vượt qua mục tiêu đặt ra đến năm 2010. Việc gia tăng này có được là nhờ có thêm hơn 150 công ty lên sàn. Nhưng một phần rất lớn sự gia tăng của thị trường là do kỳ vọng quá lớn của công chúng dưới tác động của tâm lý đám đông. Khi mà rất nhiều người cảm thấy kiếm tiền quá dễ dàng qua việc kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường chứng khoán sẽ làm giảm nhiệt huyết và động cơ làm việc để tạo ra giá trị gia tăng thực sự cho toàn xã hội. Đây là một điều rất không tốt cho nền kinh tế.  Đối với các ngân hàng, với tốc độ tăng trưởng lên đến 33% đưa đến kết quả là lần đầu tiên, tổng tài sản của toàn hệ thống vượt 1 lần GDP (số cụ thể là 1,2 lần), tổng dư nợ cho vay trong nền kinh tế bằng khoảng 75% GDP, chỉ thấp hơn bình quân trong khối Asean một chút. Tuy nhiên, theo con số của Tổng cục Thống kê thì toàn bộ giá trị gia tăng của ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm chỉ đóng góp có 1,81% GDP. Con số này có phần khiêm tốn vì chỉ riêng lợi nhuận của các ngân hàng được công bố đã bằng 1,1% GDP. Phân tích ra sẽ thấy lợi nhuận của các ngân hàng có được chủ yếu là do chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra quá cao (gấp 1,5 lần so với mức bình quân chung trên thế giới). Điều này có nghĩa là chi phí của các doanh nghiệp đang bị đẩy lên đáng kể. Thêm vào đó, làn sóng ngầm trong cuộc đua lãi suất của các ngân hàng vẫn đang âm ỉ cộng với mức gia tăng cung tiền, tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua cao hơn so với ba nền kinh tế nêu trên ở các giai đoạn phát triển tương tự sẽ không tốt cho phát triển dài hạn.  Tuy có sự cải thiện, nhưng quy mô của các ngân hàng Việt Nam vẫn còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu cộng với câu hỏi về chất lượng nợ, nhất là các ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm trên 70% thị phần) nhưng lại tăng trưởng quá nhanh đã tạo ra sự nghi ngờ về khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững của các ngân hàng trong bối cảnh mở cửa và hội nhập hiện nay.  Từ những vấn đề trên cho thấy, dấu hiệu bong bóng trên thị trường chứng khoán cộng với sự mong manh của các ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho hệ thống tài chính nói riêng, nền kinh tế nói chung. Chắc ít ai trong chúng ta không hình dung ra hậu quả của một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ là như thế nào.    Tham nhũng và chất lượng giáo dục, hai điều đáng quan tâm  Trong những vài thập kỷ sau năm 1950, Hàn Quốc và Đài Loan có được sự tăng tốc thần kỳ để trở thành những nền kinh tế phát triển như ngày nay. Kết quả mà hai nước này có được không đơn thuần chỉ nhờ những khoản viện trợ của các nước phương Tây (Nếu tính viện trợ tuyệt đối hay so với quy mô nền kinh tế, thì Việt Nam có thể đang ở vị thế tốt hơn hai nước này cách đây hơn 4 thập kỷ) mà nhờ hai yếu tố hết sức quan trọng là họ có chính phủ mạnh, tình trạng tham nhũng rất ít cộng với chính sách giáo dục hợp lý.  Trái lại với hai nền kinh tế nêu trên, sau những năm 1950, cũng có một hệ thống giáo dục tốt, nhưng do tình trạng tham nhũng, sự đặc quyền của các quan chức chính phủ cộng với những bất ổn về chính trị mà sau gần 50 năm, Philipin phải rơi vào tình trạng bất ổn và phát triển chậm như ngày hôm nay.  Ở Việt Nam hiện nay, ổn định chính trị là điều không bàn cãi, nhưng tham nhũng và sự yếu kém trong hệ thống giáo dục có lẽ là hai vấn đề đau đầu nhất. Nếu không có những quyết sách đúng đắn thì chúng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển dài hạn.  Trên đây chỉ là một vài phân tích mang tính chấm phá. Cần có một sự đánh giá chi tiết và tổng quan hơn để nhận diện bức tranh chung. Nhưng chỉ cần nhìn vào những chấm phá này sẽ thấy có lý khi Thủ tướng thúc giục hệ thống ngân hàng đẩy nhanh tiến trình cải cách, nhất là việc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước và Chính phủ đưa ra ba nhiệm vụ được ưu tiên trong năm 2007 là tập trung cho tăng trưởng kinh tế, cải cách hành chính và chống tham nhũng.  Hy vọng rằng, với việc đánh giá, nhìn nhận đúng vấn đề, không chỉ năm 2007 này mà cả nhiều năm tiếp theo, Việt Nam sẽ có những chính sách và bước đi hợp lý để có thể đạt được mục tiêu đề ra với con đường ngắn nhất, trôi chảy nhất với chi phí thấp nhất.  —————-  1 Các số liệu trong bài này được lấy chủ yếu từ Tổng cục Thống kê, cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới và một số nguồn số liệu chính thức của các quốc gia.  2 Nếu tính toán theo giá cố định hay ngang bằng sức mua thì thời điểm cũng chỉ xê dịch quanh các con số này một vài năm.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam sau một năm vào WTO: Nỗi lo và hy vọng      Một năm, khoảng thời gian còn quá ít để có thể đánh giá đầy đủ về những ảnh hưởng của WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhưng rõ ràng nhiều dấu hiệu cho thấy, nền kinh tế nước ta đang đứng trước bước ngoặt lớn: hoặc làm nên điều kỳ diệu, hoặc vẫn tiếp tục “nhì nhằng” như mọi khi?    Một vài con số  Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng GDP nước ta năm nay đạt 8,5%, mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây; khối lượng vốn đầu tư thực hiện được qua 11 tháng từ ngân sách nhà nước đạt 86,76 nghìn tỷ đồng; giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 43,64 tỷ USD, tăng 20%; nhập khẩu – 54,11 tỷ USD, tăng 33,1%; tỷ trọng nhập siêu 10,5 tỷ USD, bằng 24% giá trị xuất khẩu.(1) Những con số thật ấn tượng. Nhưng ấn tượng và mang đậm dấu ấn WTO nhất đó chính là 1283 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 13,4 tỷ USD (tính đến 22/11/2007), đó là chưa kể số dự án chờ phê duyệt lên tới gần 50 tỷ USD Rõ ràng, vào WTO cùng với việc chính thức trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (10/2007), Việt Nam đang trở thành một điểm đến tin cậy của giới đầu tư toàn cầu. Tương lai tăng trưởng kinh tế của Việt Nam rất sáng sủa. Tuy nhiên, cũng chính trong luồng sáng đó đã nổi rõ nhiều vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt.   Áp lực lạm phát  Giá cả vẫn tiếp tục leo thang bất chấp các giải pháp kiềm chế tăng giá của Chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 11 tháng đầu năm 2007 tăng 7.92% so với năm trước. Cả 10/10 nhóm hàng dùng để tính chỉ số này đều tăng. Dẫn đầu là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: tăng 10,51%;  tiếp theo là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng  10,49%; đứng thứ 3 là nhóm đồ dùng và các dịch vụ khác – tăng 7,6%. Cá biệt, mặt hàng thực phẩm tăng kỷ lục là 14,98%. Có thể thấy ngay, đây là những hàng hóa chính ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân. Nên không có gì ngạc nhiên, khi dân chúng than phiền về cuộc sống sao ngày một chật vật? Năm qua, báo chí đã bàn quá nhiều về vấn đề này. Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh, rõ ràng, kinh tế của chúng ta tăng trưởng cao, nhưng năng lực sản xuất thực tăng không đáng kể, hiệu quả sản xuất cũng không có gì biến chuyển. Tăng trưởng của ta vì thế chủ yếu dựa nguồn vốn đầu tư được rót không mệt mỏi, mà một phần không nhỏ trong số đó là tiền đi vay. Hàng hóa tuy tràn ngập thị trường, nhưng chủ yếu là hàng ngoại nhập. Nên không khó để thấy chúng ta đang mắc vào vòng luẩn quẩn. Càng đầu tư, càng tăng trưởng, lượng tiền lưu thông đưa vào càng lớn, nhưng nền kinh tế không hấp thụ được, năng lực và hiệu quả sản xuất tăng không tương xứng, lạm phát cao là đương nhiên. Giá cả vì vậy chỉ còn một đường – tiến. Rõ ràng, mô hình tăng trưởng kinh tế của chúng ta đang có vấn đề. Đó là vấn đề gì?                Tài nguyên vẫn bị khai thác quá mức.        Mô hình tăng trưởng  Tăng trưởng của chúng ta lâu nay chủ yếu dựa vào xuất khẩu, với giá trị hiện nay đã xấp xỉ 60% GDP. Tất cả ưu tiên cho xuất khẩu từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến chính sách tỷ giá. Bối cảnh này làm ta nhớ lại cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á cách đây đúng 10 năm. Khi đó, mô hình kinh tế của các nước Đông Á về cơ bản là giống ta bây giờ, cũng được xây dựng theo lý thuyết của chủ nghĩa trọng tiền hiện đại (monetarism) với hai điểm đặc biệt: sản xuất tập trung chủ yếu vào xuất khẩu và đồng tiền quốc gia được gắn chặt vào đồng USD. Và lịch sử đã chứng minh mô hình phát triển kiểu này không bền vững chút nào. Thực tế, chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn không dễ dàng: tăng trưởng hay là lạm phát? Theo tỷ giá, VND đang mất giá so với USD. Và trên thế giới đồng USD lại đang mất giá so với những đồng ngoại tệ mạnh khác. Giữ được tỷ giá VND thấp, xuất khẩu sẽ có lợi, nhưng đổi lại khu vực nhập khẩu phải chịu áp lực nặng nề. Trong khi chúng ta đang nhập siêu, mà lại nhập siêu nguyên, nhiên liệu để phục vụ sản xuất. Nên trừ những ngành xuất khẩu, các ngành khác còn lại đều phải chịu chung áp lực lạm phát. Mà người chịu hậu quả cuối cùng là ai? Không ai khác ngoài người tiêu dùng. Nếu để tình trạng như thế kéo dài, chắc chắn đời sống người dân, đặc biệt là nông dân sẽ ngày một khó khăn. Vậy chẳng hóa ra, chúng ta càng tăng trưởng, đời sống của người dân sẽ càng vất vả? Cho nên giữ được chính sách tỷ giá như hiện nay là rất tốt, nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu ta phá vỡ được sự lệ thuộc thái quá vào nguyên nhiên liệu nhập khẩu, nâng cao được hiệu quả sản xuất và phát triển mạnh mẽ sản xuất phục vụ nhu cầu của thị trường nội địa.   Khoảng cách giàu – nghèo  Báo cáo cập nhật nghèo 2006 của WB cho thấy Việt Nam đạt kết quả xuất sắc trong việc giảm nghèo thời kỳ 1993-2004. Tỉ lệ nghèo năm 2004 chỉ bằng 1/3 năm 1993. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất đang bị nới rộng. Năm 1993, chi cho tiêu dùng bình quân đầu người của gia đình giàu nhất cao gấp 5 lần so với gia đình nghèo nhất, thì năm 2004, tỷ lệ này tăng lên 6,3 lần. Tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhất trong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhóm nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,1% ở cùng thời kỳ. Một chỉ số khác cũng phản ánh sự chênh lệch giàu – nghèo, chỉ số Gini, đo mức độ chênh lệch trong thu nhập giữa nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất. Theo UNDP, đối với Việt Nam chỉ số này hiện nay là 36,2 – cao hơn rất nhiều so với những nước phát triển trên thế giới và chỉ thấp hơn Trung Quốc (40,3) và Nga (45,6). Cũng theo tính toán của UNDP, toàn xã hội đang được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế, song người nghèo ở Việt Nam được hưởng lợi ít nhất, chỉ bằng 76,6% so với mức trung bình; trong khi đó người giàu được hưởng lợi hơn hẳn là 115%. Tất nhiên, không cần những con số thống kê này, chỉ cần nhìn vào sự kiện đời thường chúng ta cũng thấy khoảng cách đang lớn dần. Trong khi đồng bào vùng lũ lụt miền Trung nhận từng thùng mì ăn liền cứu trợ trị giá mấy chục nghìn đồng, thì giữa Sài Gòn người dân cũng chen nhau xếp hàng mua căn hộ với giá trung bình vài ba tỷ. Trong khi hàng trăm cô gái trẻ miền Tây, bất chấp dư luận, bất chấp pháp luật, tình nguyện cho người nước ngoài chọn làm vợ, thì các cuộc thi Hoa hậu đủ mọi màu sắc nở rộ ở khắp nơi, nhiều tới mức dư luận phải đặt câu hỏi “Thi hoa hậu hay tuyển người đẹp cho thuê?”. Trong khi nhiều người dân nông thôn ngày không kiếm nổi 10.000 đồng thì các hãng ô-tô liên doanh Việt Nam lắp rắp không đủ xe để bán, muốn mua phải xếp hàng chờ 6 tháng… Đã đến lúc, chúng ta phải nhận rõ sự khác biệt trong tăng trưởng và phát triển, nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề: mục tiêu của tăng trưởng là gì: tăng trưởng vị tăng trưởng hay vị nhân sinh? Tăng trưởng về lượng hay tăng trưởng về chất?    Năng lực cạnh tranh  Vào WTO mới thấy sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 5 tháng qua chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%, trong khi con số này ở ta là – 6,19%.(2) Có nghĩa năng lực cạnh tranh của ta kém xa các nước láng giềng. Cụ thể là ở đâu? Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí “bôi trơn”; công nghệ sản xuất lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu… cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Sản xuất với tình trạng lúc nào cũng căng dây cót về giá như thế thử hỏi làm gì còn sức để tăng cường năng lực cạnh tranh.  ————-  1. Tình hình kinh tế-xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2007. Báo cáo của Tổng cục Thống kê  2. Ngân hàng Phát triển châu Á và số liệu từ cơ quan thống kê của các nước.  ————  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh vào 2014”      Đó là nhận định của ông Warrick Cleine, Giám  đốc điều hành công ty kiểm toán quốc tế KPMG tại Việt Nam trong cuộc  trao đổi về triển vọng của môi trường kinh doanh Việt.    Chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do EuroCham thực hiện khảo sát và công bố mới đây cho thấy niềm tin của các doanh nghiệp châu Âu với môi trường kinh doanh Việt Nam đang cải thiện dần.  Vậy đây là sự phục hồi ngắn hạn hay nó phát đi tín hiệu về triển vọng sáng sủa hơn của môi trường kinh doanh? Ông Warrick Cleine, Giám đốc điều hành tại Việt Nam, Lào, Campuchia của Công ty kiểm toán quốc tế KPMG đã trả lời phỏng vấn về vấn đề này.  Chỉ số môi trường kinh doanh Việt Nam quý 1/2013 do Eurocham công bố cho thấy sự cải thiện nhưng nhìn chung trong 2 năm qua vẫn trong xu thế suy giảm. Vậy sự suy giảm này là của riêng Việt Nam hay của chung các nước khác trong khu vực Đông Nam Á?  – Nếu nhìn quanh khu vực Đông Nam Á, có thể thấy năm 2010 và năm 2011 đều là hai năm khó khăn, chính phủ của các nước đều phải ứng phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2012 và 2013, nhìn chung tình hình đối với các nền kinh tế Đông Nam Á đã sáng sủa hơn, niềm tin của doanh nghiệp nhờ vậy cũng cải thiện. Đối với Việt Nam, thời gian qua nền kinh tế phải xử lý một số vấn đề riêng, vì vậy đánh giá của doanh nghiệp đối với thị trường cũng chịu những tác động riêng.  Chỉ số môi trường kinh doanh của Eurocham cho thấy sự nhìn nhận của doanh nghiệp châu Âu đối với môi trường đầu tư Việt Nam. Vậy đầu tư và thương mại giữa doanh nghiệp châu Âu và Việt Nam chịu tác động ra sao từ việc kinh tế châu Âu đang khó khăn?  – Chúng ta cần phải phân biệt rõ giữa khó khăn mà chính phủ các nước châu Âu phải đối đầu và thách thức của các doanh nghiệp châu Âu. Chính phủ các nước châu Âu phải giải quyết vấn đề tài khóa, trong khi đó doanh nghiệp châu Âu vẫn khá mạnh, có khả năng tài chính tốt và vẫn tiếp tục muốn đầu tư vào Việt Nam.  Khi kinh tế châu Âu khó khăn, họ có thêm động lực để tìm kiếm thị trường mới hoặc nơi sản xuất mới để tiết kiệm chi phí, vì vậy họ đến Việt Nam. Còn ngược lại đối với hoạt động thương mại giữa Việt Nam và châu Âu, tôi muốn nhấn mạnh rằng kinh tế châu Âu đang khó khăn, người châu Âu ngày một tiết kiệm chi phí và khó tính hơn, nếu doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục muốn bán được nhiều hàng tại châu Âu thì cần đảm bảo hàng hóa có chất lượng thật sự tốt.  Một vài tổ chức quốc tế trong thời gian gần đây nhận định rằng kinh tế Việt Nam sẽ có thể phục hồi mạnh từ năm 2014, vậy KPMG có thể đưa ra dự báo của riêng mình?  – Đó là nhận định đúng. 2012 thực sự là một năm khó khăn của các doanh nghiệp. Cho đến nay nhiều yếu tố bất lợi đã dần thay đổi theo hướng tích cực, thế nhưng tôi nghĩ vẫn cần chờ thêm 12 tháng nữa để có thể thấy những đột phá.  Nhìn chung hiện tại, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang ổn định hơn và doanh nghiệp hưởng lợi từ điều này, họ sẵn sàng đưa ra các quyết định đầu tư. Kinh tế Việt Nam hiện đang có mối liên hệ chặt chẽ hơn với kinh tế thế giới và nhiều khu vực kinh tế lớn của thế giới như Mỹ hay Nhật đang phục hồi, hai thị trường này là điểm đến quan trọng cho hàng xuất khẩu Việt Nam.  Như vậy, nhìn chung kinh tế Việt Nam năm 2013 bình ổn dần và sẽ phục hồi mạnh từ năm 2014.    Xin cảm ơn ông về những thông tin trên!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam và những mối nguy lớn      Tuần vừa rồi, tôi đi quanh vài nước Á châu  để huy động vốn cho hai công ty Việt. Sự khác biệt trong nhận thức tình  hình giữa các nhà đầu tư ngoại và nội làm tôi khá ngạc nhiên. Nhu cầu  kiếm tiền giống nhau tại mọi nơi, nhưng số lượng và khả năng hấp thụ  thông tin tạo nên một sai biệt đáng kể. Theo những chuyên gia tài chính  ngoại, các vấn đề lớn của nền kinh tế Việt Nam có thể tóm lược như sau:    Con số thống kê rất mù mờ  Ai cũng biết rằng hệ thống ngân hàng Việt đang đối diện với số lượng nợ xấu và tính thanh khoản khá trầm trọng. Khi bong bóng bất động sản vỡ tung thì các vấn đề này sẽ lũy tiến gấp chục lần. Tuy nhiên, hình như từ các cấp, bộ ngành đến tư nhân không ai nắm rõ con số nợ xấu thực sự của các ngân hàng thương mại, công và tư.  Ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa tuyên bố là nợ xấu chiếm khoảng 10% dư nợ thì vài ngày sau đó, thống kê của NHNN đưa ra chỉ là 4,6% . Trong khi đó, Fitch Rating ước tính con số 13% chưa cộng vào nợ xấu từ các doanh nghiệp nhà nước (chỉ Vinashin và Vinalines đã tổng cộng đến 6 tỷ USD). Tư liệu của một ngân hàng tư nhân ước tính không kiểm chứng được là 27%. Vì số dư nợ tuyên bố là 2 triệu 580 ngàn tỷ (khoảng 123 tỷ USD) nên xê xích 1% cũng khác nhau tới 25.000 tỷ. Thêm vào đó, mọi người vẫn “bó tay” về số nợ xấu thực sự cùa các xí nghiệp nhà nước và của ngân hàng nhà nước ngoài hệ thống (như Ngân hàng Phát triển Việt Nam – VDB).  Tuy nhiên, vấn đề không phải là con số lớn đến thế nào, mà vấn đề là những mối nguy hiểm từ sự mù mờ. Một là cơ quan chức năng không nắm rõ, “không biết” chứng tỏ sự yếu kém về cách quản lý rủi ro của hệ thống. Hai là “biết mà giấu” đồng nghĩa với một thói quen không thể chấp nhận được theo kỷ cương của thị trường tài chính quốc tế. Bác sĩ nào cũng có thể kê đơn thuốc, nhưng việc cho thuốc bậy vì các chỉ số khi thử máu khi bị ngụy tạo hay sai lầm, sẽ mang lại hệ quả chết người.    Những ống loa không cần thiết  Các nhà đầu tư bài bản của thị trường chứng khoán thường rất lo ngại về hiện tượng “thổi giá để tháo chạy” (pump and dump). Khi mọi người nhận rõ là công ty đang gặp khó khăn mà các nhà quản lý quá lạc quan và cổ vũ cho cổ phiếu, thì kết quả của các chiêu PR này thường là đi ngược với dự định “thổi giá” của họ.  Một quản lý quỹ ở Shanghai (Thượng Hải) đã đầu tư khoảng 18 triệu vào Việt Nam cho biết ông đang tìm cách thoái vốn khi đọc các tin PR của các quan chức Việt khuyên dân mua bất động sản hay “phán” là nền kinh tế đang hồi phục mạnh mẽ.  Mỗi người mỗi tính, nhưng cá nhân tôi không bao giờ mua một món hàng mà người bán quá hào hứng, quá nhanh nhẩu, quá cố gắng… kiểu Sơn Đông mãi võ. Lý do tôi không dùng thuốc Tàu vì tờ quảng cáo trên hộp thuốc luôn bảo đảm là thuốc này trị cả trăm thứ bệnh, từ bệnh trĩ đến bệnh đau đầu.  Im lặng trước những tin đồn  Năm 1982, món hàng bán chạy nhất của hãng dược Johnson and Johnson là Tylenol bị đồn là bị bọn khủng bố bơm thuốc độc (chỉ vài chai thuốc trị giá chưa đến 10 USD). Trong vài giờ đồng hồ, vị CEO xác nhận tin đồn, thu hồi tất cả hàng trên thị trường, xin lỗi công chúng và công ty phải chịu lỗ hơn 170 triệu USD cho sự cố này. Bất cứ một công ty nào ở Âu Mỹ, lớn hay nhỏ, công cộng hay tư hữu, đều phản ứng rất nhanh lẹ trước những tin đồn ảnh hưởng đến sản phẩm, khách hàng, hoạt động hay ban quản lý của công ty.  Gần đây trên mạng Internet, rất nhiều tin đồn gây sốc được lan tỏa rộng rãi. Các tin này còn được phổ biến bằng Anh ngữ đến các nhà đầu tư ngoại có làm ăn với Việt Nam. Theo kỷ cương quốc tế, nhà hữu trách và các cá nhân bị nêu đích danh trong ngành ngân hàng nên tổ chức họp báo để nêu ra các sai lầm và bằng chứng ngụy tạo của các tin dồn này. Tuy nhiên, tất cả đều im lặng ngay cả khi nhận các câu hỏi từ báo giới hay các cổ đông.  Sự im lặng này mang những thông điệp rất bất lợi cho sự phân tích khoa học và chính xác về hiện tình kinh tế.  Bình cũ rượu cũ  Khi thực hiện đổi mới cách đây 25 năm, Việt Nam được kỳ vọng là con rồng mới của Á châu dựa trên cá tính năng động của doanh nhân Việt. Các chuyên gia tài chính thế giới tiên đoán một tương lai tốt đẹp và các nhà đầu tư ngoại hăng hái đổ tiền vào Việt Nam. Kết quả tài chính có lẽ đã làm thất vọng nhiều người, nhưng vấn đề chưa thành nghiêm trọng nếu nền kinh tế tiếp tục sáng tạo, đổi mới, trung thực và minh bạch. Các nhà đầu tư ngoại vẫn có thể kiên nhẫn đợi chờ.  Tuy nhiên, thói quen làm ăn dựa trên quan hệ và ân huệ của doanh nhân, bộ máy hành chính càng ngày càng quan liêu, cách quản lý liều lĩnh từ tư duy OPM (tiền người khác) đã làm thui chột mọi thiện chí. Kinh tế Trung Quốc vẫn có thể hấp dẫn các nhà đầu tư ngoại vì thị trường 1,3 tỷ dân và hệ thống cung cấp phụ kiện tiện lợi. Việt Nam không có sức hút này.  Theo góc nhìn và trải nghiệm của tôi, kinh tế Việt Nam đang hứng chịu nhiều vấn nạn gồm hệ thống ngân hàng, bong bóng tài sản, giá trị bản tệ, tình hình suy phát, doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu hành chính, kỷ cương đạo đức… Các chuyên gia hiện đã tốn rất nhiều thì giờ để mổ xẻ và kê nhiều toa thuốc khác nhau. Tuy nhiên, đây là những vấn đề nhỏ, có thể giải quyết được với ý chí và thời gian.  Hai vấn đề lớn hơn mà không ai nói đến là tư duy làm ăn của doanh nhân và niềm tin của các thành phần kinh tế với nhau. Tôi cho rằng, Việt Nam không thể phát triển bền vững và mạnh mẽ trong sự cạnh tranh toàn cầu nếu doanh nhân còn dựa vào sự ban phát (có điều kiện) của Chính phủ. Và khi không ai tin ai trong các giao dịch qua lời nói cũng như hành động, nội và ngoại, công và tư, thì mọi thủ thuật phù phép để lừa bịp đều là dụng cụ thiết yếu.  Nền kinh tế thị trường đặt cơ sở trên niềm tin. Khi niềm tin không còn, tôi nghĩ nền kinh tế chỉ huy và bao cấp có thể thích hợp hơn cho xã hội. Chúng ta không cần thuốc men gì cho một con bệnh đã tuyệt vọng.  —  , Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế Việt Nam và Thế giới  trong và sau thời kỳ phục hồi      C&#225;c giao dịch thương mại diễn ra trong một thế giới phẳng vẫn tiềm ẩn c&#225;c rủi ro. Sự chủ quan của con người đ&#227; tạo ra cuộc khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh, trong thế giới phẳng n&#243; nhanh ch&#243;ng chuyển ho&#225; th&#224;nh cuộc khủng hoảng kinh tế to&#224;n cầu. Ngay tại thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế thế giới c&#243; vẻ như đang hồi phục, c&#225;c nguy cơ rủi ro hiện vẫn đang tiềm t&#224;ng. Tuy nhi&#234;n, hẳn sẽ c&#242;n tồi tệ hơn nếu c&#225;c quốc gia t&#236;m c&#225;ch tự c&#244; lập m&#236;nh th&#244;ng qua c&#225;c r&#224;o cản thương mại. C&#225;ch tốt nhất để ph&#242;ng vệ l&#224; mỗi quốc gia ch&#250; trọng hơn nữa v&#224;o chất lượng ph&#225;t triển v&#224; n&#226;ng cao nội lực kinh tế của m&#236;nh.&nbsp;&nbsp;     Những điểm nhấn về hiện trạng kinh tế thế giới  1. Nhiều dấu hiệu hồi phục nhưng vẫn có nguy cơ   Những dữ liệu mới nhất công bố từ nghiên cứu của Citigroup(1) cho thấy châu Á, đặc biệt là Trung Quốc đang hồi phục mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng hiện hành. Cả Mỹ và EU hiện đều đang cận kề thoát khủng hoảng, trong khi Nhật được dự đoán sẽ vượt qua khủng hoảng ngay trong quý 3 (một quốc gia được coi là thoát khỏi khủng hoảng kinh tế khi tăng trưởng GDP ở mức dương). Hàn Quốc cũng đã sớm thoát khỏi khủng hoảng từ quý 1.   Tuy những tin tức này rất tích cực, nhưng báo cáo của Citigroup cũng cho biết rằng sự hồi phục của Nhật và Hàn Quốc một phần lớn đến từ gói kích thích tài chính, một phần khác là do xuất khẩu từ các nước này vào Trung Quốc vẫn ở mức độ cao. Nhưng lưu ý rằng Trung Quốc nhập khẩu từ các nước này cũng như từ các quốc gia châu Á khác không nhằm phục vụ nhu cầu nội địa trong nước mà chủ yếu là nhập linh kiện và các hàng hóa đầu vào khác để sản xuất hàng xuất khẩu với đầu ra là Mỹ và EU. Hiện nay các hàng hóa xuất khẩu này của Trung Quốc chưa thể xuất đi vì cả Mỹ và EU chưa có nhu cầu do nền kinh tế của họ còn chưa thoát khỏi khủng hoảng.   Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Mỹ và EU không kịp thời hồi phục? Cũng phải lưu ý thêm rằng tình trạng tín dụng của các hộ gia đình phương Tây hồi phục rất chậm và điều này tác động tiêu cực tới lựa chọn mua hàng của họ. Như vậy, trong trường hợp xấu nhất Trung Quốc sẽ không thể xuất khẩu lô hàng hiện đang nằm trong kho của họ sang Mỹ và EU và nền kinh tế của họ với tỷ trọng xuất khẩu hiện chiếm hơn 30% GDP chắc chắn sẽ bị tác động không nhỏ. Hệ lụy gián tiếp không tránh khỏi là Nhật, Hàn Quốc, và các quốc gia châu Á khác phải giảm đáng kể lượng xuất khẩu vào Trung Quốc. Đây có thể là nguy cơ tiềm ẩn cho một đợt sóng khủng hoảng tái diễn.   2. Đình trệ đồng bộ ảnh hưởng tiêu cực tới các quốc gia chú trọng thiên về xuất khẩu    Theo các báo cáo của IMF(2), tình trạng đình trệ đồng bộ khiến gánh nặng khủng hoảng của một quốc gia khó lòng san sẻ sang các quốc gia khác (trường hợp của Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc như nêu trên là hi hữu trong bức tranh toàn cảnh hiện nay). Đặc biệt, với các quốc gia có chính sách chú trọng xuất khẩu thì càng lâm vào tình trạng khó khăn do lệ thuộc vào nhu cầu kinh tế thế giới.   Ở châu Á, lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu điển hình là Đài Loan và Hàn Quốc. Cả hai đều thuộc diện chịu ảnh hưởng trầm trọng từ khủng hoảng. Tuy nhiên, lưu ý rằng những nước chú trọng xuất khẩu, nhưng tỷ trọng xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu) so với GDP không lớn thì tác động ảnh hưởng từ khủng hoảng cũng ở mức vừa phải.  Một trong những nước chú trọng xuất khẩu nhưng tỷ lệ xuất khẩu ròng thấp chính là Việt Nam. Khi khủng hoảng mới bắt đầu xảy ra, người ta từng dự đoán Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề do xuất khẩu, chiếm tới 70% của GDP, sẽ suy giảm. Nhưng người ta đã bỏ qua một thực tế là Việt Nam không chỉ chú trọng xuất khẩu, mà nhập khẩu cũng rất nhiều. Khi cả hai chỉ số cùng giảm thì tác động tới tổng GDP không còn ở mức quá lớn nữa. Vì vậy, Việt Nam cùng với Philippines, Ấn Độ, ở trong nhóm các quốc gia ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng dù có tỷ trọng xuất khẩu đáng kể.    3) Châu Á đã có sự phòng bị tốt về nội lực tài chính  Cuộc khủng hoảng tài chính cuối thập kỷ trước từng khiến nền kinh tế các nước châu Á khốn đốn vì thiếu dự trữ ngoại hối. Cũng trong giai đoạn này, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cho thấy nó chủ yếu quan tâm tới quyền lợi của người đi vay thay vì đóng vai trò cứu nguy kịp thời. Sự mất lòng tin vào IMF đã khiến các quốc gia châu Á nghiêm túc hơn trong việc tích luỹ kho dự trữ ngoại hối để dự phòng cho các trường hợp khẩn cấp. Cho tới nay, khi thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng hiện hành đã qua đi, tình hình thanh khoản ngoại hối của các nước châu Á nhìn chung vẫn rất an toàn. Theo số liệu của Citigroup tới tháng 5 năm 2009, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc gần chạm mức 2000 tỷ USD, tổng dự trữ ngoại hối của các nước châu Á khác xấp xỉ 1200 tỷ USD, và những con số này vẫn đang có xu hướng gia tăng.   Tuy nhiên, khác với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập kỷ trước, khi mà các nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy theo tâm lý số đông, lần này các nhà đầu tư cũng rút lui phần nào khỏi châu Á nhưng không phải để tìm một địa chỉ an toàn hơn, mà đơn thuần là bị buộc phải thu hẹp mình lại sau một thời gian giãn nở quá cỡ trên toàn cầu.   So sánh một cách tương đối với các nơi khác, châu Á hiện vẫn đang là địa chỉ hứa hẹn hơn cả. Dòng chảy đầu tư cá nhân ròng vào châu Á dự kiến sẽ tiến lên ổn định trong năm nay và các năm tới, tuy không thể so với con số của năm 2007, khi tài chính toàn cầu phát triển quá nóng.    Những vấn đề liên quan tới Việt Nam  1) Trước mắt  Tiêu dùng tư, đầu tư, và xuất khẩu ròng là ba thành tố tạo nên tăng trưởng GDP. Xuất khẩu ròng là con số âm do thâm hụt cán cân thương mại, nhưng thâm hụt này đã giảm đáng kể so với 2007, không còn là lực cản quá lớn cho tăng trưởng GDP. Tiêu dùng tư những năm gần đây duy trì ở mức khá ổn định. Thời gian hậu khủng hoảng dự kiến sẽ tăng trưởng thấp hơn mức ở các năm 2007 và 2008, ít nhiều làm giảm tăng trưởng GDP. Nhưng vấn đề đáng quan tâm nhất là đầu tư. Mức tăng trưởng của đầu tư trong năm 2008 khoảng hơn 5%, giảm đáng kể so với con số trên 25% của 2007. Đà suy giảm sẽ tiếp tục trong năm 2009.  Bên cạnh đà giảm đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cũng giảm đáng kể so với các năm trước. Năm 2007 FDI ở mức 8 tỷ USD, năm 2008 là 11,3 tỷ USD. Năm 2009, tới tháng 5 FDI mới chỉ đạt 2,8 tỷ USD. Kiều hối của năm 2009 dự kiến cũng giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng.   Đầu tư chững lại trong khi tiền được bơm vào từ gói kích cầu khiến lạm phát gia tăng trở lại. Tuy tính theo năm thì lạm phát giảm đáng kể so với 2008, nhưng lưu ý rằng vì mức giá CPI của 2008 vốn đã rất cao nên mức lạm phát hiện nay không thực sự phản ánh mức nghiêm trọng của diễn biến tình hình, đặc biệt là khi xu hướng giá cả ở mức độ nào đó đang dần lặp lại những gì đã xảy ra trong năm 2008.  2) Lâu dài  Vấn đề kinh tế nổi cộm xuyên suốt các khía cạnh của kinh tế Việt Nam trong thời gian tới là chất lượng nền kinh tế. Đây là hậu quả của sự thiếu quan tâm từ người làm chính sách, người thực hiện và giám sát. Đồng thời bản thân chính sách kinh tế cũng có vấn đề khi chú trọng về số lượng và hình thức bề ngoài hơn là giá trị thực chất.  Trong bối cảnh toàn thế giới suy giảm về lượng tín dụng, hai quốc gia vẫn tiếp tục gia tăng tín dụng là Trung Quốc và Việt Nam. Trung Quốc là một nền kinh tế lớn với nhiều tiềm năng để khai thác, khác với môi trường đầu tư ở Việt Nam đã bão hoà, lượng đầu tư đang dần chững lại. Vì vậy, sự gia tăng tín dụng chính là biểu hiện đáng quan ngại về chất lượng tài sản tài chính trong dài hạn.  Ngân hàng Nhà nước duy trì tỷ giá VND/USD bằng phát ngôn nhiều hơn bằng hành động. Thị trường cần được mua USD để duy trì tỷ giá nhưng Ngân hàng Nhà nước hạn chế bán ra, với mong muốn doanh nghiệp xuất khẩu tự nguyện bán USD ra thị trường. Đây là điều không khả thi, khi mà doanh nghiệp xuất khẩu đồng thời cũng là doanh nghiệp nhập khẩu, cần giữ USD cho mục đích nhập hàng hoá, nguyên liệu, và nhìn tổng thể cán cân thương mại Việt Nam thì nhu cầu mua USD để nhập khẩu luôn lớn hơn lượng USD thu về từ xuất khẩu. Như vậy, cách duy nhất giữ vững tỷ giá là Nhà nước cung ứng đủ USD. Nhiều khả năng buộc phải rút USD từ nguồn dự trữ ngoại hối và đây là cách khả thi duy nhất. Giá trị của VND chỉ có thể được duy trì bằng cách điều phối quan hệ cung cầu, thay vì bằng lời nói, với khẳng định về một lượng dự trữ USD dồi dào cùng các tuyên bố về siết chặt quản lý ngoại hối. Chính những tuyên bố không đi kèm hành động điều phối có tính thực tiễn đã làm mất lòng tin của công chúng vào lời nói của Ngân hàng Nhà nước, làm gia tăng thêm sức ép mất giá VND.  Cơ sở hạ tầng của các đô thị lớn, các khu công nghiệp, công nghệ cao còn lạc hậu, trong khi không ít các công trình mới xây dựng chưa lâu đã xuống cấp nghiêm trọng. Thực trạng này hứa hẹn một viễn cảnh không sáng sủa về chi tiêu ngân sách, giữa bối cảnh thâm hụt ngân sách có xu thế gia tăng, nhất là sau khi dành chi tiêu vào gói kích cầu. Bên cạnh đó, tỷ trọng nợ công so với GDP hiện xấp xỉ 50%, nhiều hơn đáng kể so với mức tương đương của các nước trong cùng nhóm hệ số tài chính BB. Những vấn đề đáng lo ngại này buộc Chính phủ phải thật sự quan tâm tới quản lý chi phí và chất lượng đầu tư cho cơ sở hạ tầng.     Việt Nam không bị lún sâu vào khủng hoảng như các quốc gia khác có chính sách chú trọng xuất khẩu, vì giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu của Việt Nam chưa cao. Điều này không đáng mừng. Việc chú trọng vào giá trị gia tăng trong xuất khẩu là điều cần hướng tới, nếu chúng ta muốn thoát ra khỏi vị thế một quốc gia chậm phát triển chịu lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên và sức lao động thô sơ.   Mặt khác, tổn thất trong khủng hoảng của các nước chú trọng xuất khẩu, trong đó có những nước tương đối phát triển như Hàn Quốc và Đài Loan, cho thấy Việt Nam nên cân nhắc cho một đường lối phát triển hài hoà hơn. Trung Quốc tới nay là nước ít chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng nhất là vì sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước của họ chiếm một tỷ trọng đáng kể của GDP (cao hơn tỷ trọng dành cho xuất khẩu). Trong bối cảnh kinh tế, chính trị, điều kiện tự nhiên (ví dụ như ảnh hưởng khí hậu) trên thế giới có thể sẽ biến động phức tạp, việc chú trọng tạo động lực phát triển thị trường trong nước là chủ trương cần thiết được đặt ra cho Việt Nam.   Kết luận  Các diễn biến bấp bênh của kinh tế thế giới trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây cho thấy các chỉ tiêu kinh tế thông thường không phải khi nào cũng là thước đo thể hiện sự phát triển ổn định, chưa kể đến tính bền vững về môi trường và xã hội. Khủng hoảng cho thấy các quốc gia, trong đó có Việt Nam cần chú trọng hơn nữa vào chất lượng thay vì số lượng. Hiện tượng suy thoái chất lượng sản phẩm tài chính lộ rõ trong năm 2008 mới chỉ là sự phản ánh trên bề mặt nền kinh tế của những bất cân bằng bên trong. Chất lượng hàng hoá, độ an toàn của thực phẩm, sự xuống cấp của môi trường, là những biểu hiện của cùng một bản chất vấn đề. Việc chú trọng chất lượng, nâng cao giám sát chất lượng, là chính sách cần thiết để cải thiện nội lực của từng nền kinh tế riêng lẻ, trong đó có Việt Nam. Điều này cũng giúp đẩy mạnh chất lượng các thị trường nội địa, làm giảm bớt nguy cơ rủi ro do những biến động trong môi trường thương mại quốc tế.          ————————  (1) Báo cáo tháng 1 của Johanna Chua, Managing Director Head, Asia Pacific Economics and Market Analysis, Citi Group Global Markets  (2) IMF World Economics Outlook, April 2009         Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh thánh cho gọi vốn cộng đồng      Crowdfunding – “Gọi vốn cộng đồng” đã bắt đầu hình thành ở Việt Nam với nhiều dự án kêu gọi được khoảng một triệu USD trên các nền tảng gọi vốn của Mỹ (như Emotiv Insight và Misfit Wearables gọi vốn trên Kickstarter và Indiegogo) và vài trăm triệu đồng trên các nền tảng của Việt Nam (như các tác giả của bộ truyện tranh Long Thần Tướng kêu gọi được hơn 300 triệu để xuất bản mỗi tập) dù thành công như vậy rất hiếm.       Tuy nhiên, dù thất bại hay thành công, việc kêu gọi vốn cộng đồng đem lại những bài học quan trọng đối với các dự án và doanh nghiệp khởi nghiệp.   Cuốn “Kinh thánh cho gọi vốn cộng đồng – Làm thế nào để gọi vốn cho khởi nghiệp, các trò chơi, video và các dự án” của Scott Steinberg và Rusel DeMaria là một cuốn sách vỏn vẹn 90 trang nhưng nó chính xác là những gì bạn cần để xây dựng chiến lược gọi vốn cộng đồng thành công.   Bạn có thể đọc hết cuốn sách trong vòng hơn một giờ, nhưng để thực hiện được nó, bạn cần cả tháng, thậm chí vài tháng bởi lẽ, “không chuẩn bị là chuẩn bị cho thất bại”.  Cuốn sách bắt đầu từ những khái niệm cơ bản như định nghĩa, kèm theo những so sánh rất thực tiễn về gọi vốn thông thường và gọi vốn cộng đồng, điểm mạnh, điểm yếu của từng loại hình. Với lợi thế vượt trội như không phải đổi cổ phần, gọi các khoản tài trợ nhỏ từ nhiều khách hàng tiềm năng, gọi vốn cộng đồng thành công không chỉ có ý nghĩa về tài chính mà còn có ý nghĩa thử nghiệm thị trường khi đo lường được mức độ quan tâm của đám đông với sản phẩm. Khi chuẩn bị gọi vốn cộng đồng cho dự án, sản phẩm dịch vụ của mình, chính là lúc bạn chuẩn bị cho sản phẩm những bước đầu tiên ra thị trường, tìm kiếm những người đầu tiên chấp nhận nó.   Sự thành công hay thất bại của gọi vốn đầu tư đều cho chúng ta những bài học nhất định về câu chuyện thị trường, sự chuẩn bị và tiềm năng sản phẩm. Không phải là cuốn sách giáo điều mà đây là những ví dụ thực tế giúp bạn trang bị ngay mọi thứ mình cần trước khi gọi vốn. Các trường hợp nghiên cứu được mô tả tỉ mỉ từ chính tác giả của những chiến dịch gọi vốn cộng đồng, cách họ đi từ thất bại đến thành công thực sự hữu ích cho những ai đang phát triển hoạt động này.   Đọc cuốn sách này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ nhìn nhận một thực tế là gọi vốn cộng đồng là một cơ hội gây quỹ để phát triển sản phẩm của mình cho giai đoạn đầu mà còn là một cách đánh giá thị trường hiệu quả. Phản ứng của những người tương tác với dự án của bạn là một cách để bạn hình dung ra tiềm năng thị trường và khách hàng tương lai của bạn. Đọc cuốn sách, bạn sẽ học cách gạt sang một bên ảo tưởng sức mạnh của gọi vốn cộng đồng để bắt tay vào một chặng đường gian khổ. Điều quan trọng nhất bạn sẽ học từ cuốn sách này là phải có mục đích và chiến lược rõ ràng cho mọi chiến dịch gọi vốn cộng đồng.    Không chỉ là những trường hợp nghiên cứu, cuốn sách cũng dành cho những nhà khởi nghiệp, những chủ dự án cần tìm đến những địa chỉ hữu ích để gọi vốn cộng đồng, với hướng dẫn cụ thể cho việc sử dụng những công cụ/website khác nhau.   Đúng như tên gọi, cuốn sách thực sự là sách gối đầu giường cho những khởi nghiệp tìm kiếm câu chuyện thành công từ việc phát hiện cơ hội từ đám đông đầy tiềm năng nhưng không kém thách thức.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính viễn vọng giúp thay đổi nhiều hiểu biết về các thiên hà      Hình ảnh từ kính viễn vọng James Webb tiết lộ vô số thiên hà lấp lánh trong vũ trụ xa xôi, xuất hiện chỉ vài trăm triệu năm sau khi Vụ nổ lớn xảy ra vào 13,8 tỷ năm trước. Những hình ảnh sắc nét đáng kinh ngạc của kính thiên văn này đã phá vỡ nhiều định kiến của các nhà thiên văn học về Vũ trụ sơ khai.    Những thiên hà chưa từng được biết đến    Kính thiên văn James Webb có khả năng phát hiện ánh sáng hồng ngoại, và bởi vì sự mở rộng của vũ trụ làm cho quang phổ quang học của các thiên hà dịch chuyển nhiều hơn về phía phổ đỏ, thiết bị này rất thích hợp cho việc phát hiện các thiên hà hình thành sớm trong Vũ trụ. Trong lần quan sát đầu tiên vào tháng 6, Webb đã phát hiện nhiều thiên hà xa xôi nằm ngoài tầm ngắm của các kính thiên văn khác, chẳng hạn như Kính viễn vọng Không gian Hubble.    Kỷ nguyên của các thiên hà sơ khai bắt đầu từ khoảng 250 triệu năm sau Vụ nổ lớn, khi những ngôi sao đầu tiên hình thành và thắp sáng Vũ trụ. Các thế hệ sao sau đó tự tích tụ thành các thiên hà – những đốm màu đỏ mờ nhạt mà Webb đang bắt đầu khám phá.    Hầu hết các hình ảnh Webb trả về là những thiên hà chưa từng thấy trong Vũ trụ xa xôi. Một nghiên cứu đã tổng hợp dữ liệu mà Webb đã quan sát cho đến nay đã tìm thấy 44 thiên hà chưa từng được biết đến trước đây.    Nhiều thiên hà cạnh tranh danh hiệu “sớm nhất”    Nhiều nhóm nghiên cứu đang chạy đua xác định thiên hà sớm nhất trong dữ liệu do Webb cung cấp. Một số ứng viên sẽ cần được xác nhận thông qua các nghiên cứu sâu hơn, nhưng tất cả đều phá vỡ kỷ lục của Hubble về thiên hà sớm nhất. Thiên hà sớm nhất Hubble quan sát được có niên đại khoảng 400 triệu năm sau Vụ nổ lớn.    Một ứng viên trong dữ liệu của Webb là thiên hà GLASS. Tuổi của các thiên hà được xác định bằng phép đo dịch chuyển đỏ hay đo lượng ánh sáng đã chuyển sang ánh sáng đỏ của một thiên hà. Dịch chuyển đỏ càng cao, thiên hà càng xa xưa. GLASS có độ dịch chuyển đỏ khoảng 13. Nhưng vào ngày 25 và 26/7, vài ngày sau khi xuất hiện báo cáo về GLASS, đã xuất hiện các bài báo khác cho rằng có các thiên hà khác có độ dịch chuyển đỏ thậm chí còn cao hơn.    Một trong số đó có độ dịch chuyển đỏ 14, do nhóm Steven Finkelstein tại Đại học Texas phát hiện. Finkelstein đặt tên thiên hà này là Maisie’s Galaxy, theo tên con gái mình. Một nhóm khác nói đã tìm ra một thiên hà với độ dịch chuyển đỏ 16, có nghĩa là nó đã xuất hiện chỉ 250 triệu năm sau Vụ nổ lớn.      Maisie’s Galaxy: Nhà thiên văn học Steven Finkelstein đã đặt biệt danh cho thiên hà xa xôi này theo tên con gái của ông. Ông ước tính rằng nó xuất hiện chỉ 280 triệu năm sau Vụ nổ lớn.    Lịch sử phức tạp của các thiên hà sớm    Các thiên hà xa xưa mà Webb phát hiện hóa ra cũng có cấu trúc phức tạp hơn so với giả thuyết trước đây của các nhà thiên văn học.    Sử dụng kính Hubble, các nhà thiên văn học trước đây kết luận rằng các thiên hà hình thành sớm hơn sẽ có hình dạng bất thường, chứ không có hình đĩa ổn định như các thiên hà mới hơn, như Dải Ngân hà. Họ cho rằng các thiên hà sớm đã bị bóp méo khi hình thành và tương tác trong môi trường có nhiều thiên hà lân cận. Nhưng các quan sát của Webb cho thấy số lượng thiên hà sớm có hình đĩa nhiều gấp mười lần so với con số ước tính trước đây.    “Với độ phân giải của James Webb, có thể thấy rằng các thiên hà có hình đĩa xuất hiện sớm hơn chúng ta nghĩ,” nhà thiên văn học Allison Kirkpatrick tại Đại học Kansas cho biết. Đây là một vấn đề mới cần có lời giải thích, vì nó mâu thuẫn với các lý thuyết trước đây về sự tiến hóa của các thiên hà, theo Kirkpatrick.    Một nghiên cứu từ dữ liệu mới của Webb cũng gợi ý rằng các thiên hà khổng lồ hình thành sớm hơn trong Vũ trụ so với những gì đã biết trước đây. Nhóm nghiên cứu Úc, do Ivo Labbé tại Đại học Công nghệ Swinburne dẫn đầu, báo cáo đã tìm thấy bảy thiên hà lớn với dịch chuyển đỏ trong khoảng từ 7 đến 10. “Chúng tôi suy ra rằng vùng trung tâm của ít nhất một số thiên hà lớn đã xuất hiện 500 triệu năm sau Vụ nổ lớn, và việc hình thành các thiên hà khổng lồ đã bắt đầu rất sớm trong lịch sử vũ trụ,” theo nhóm Labbé.    Các nghiên cứu về hóa học thiên hà từ dữ liệu Webb cũng cho thấy một bức tranh phong phú và phức tạp. Một nghiên cứu kiểm tra ánh sáng do các thiên hà phát ra ở độ dịch chuyển đỏ từ 5 trở lên phát hiện sự tồn tại của các nguyên tố như oxy. Trước đây, các nhà thiên văn học nghĩ rằng quá trình làm giàu hóa học – đó là khi các ngôi sao kết hợp hydro và heli để tạo thành các nguyên tố nặng hơn – xuất hiện khá muộn trong lịch sử vũ trụ. Nhưng kết quả mới cho thấy quá trình này đã xuất hiện trong các thiên hà sơ khai, và “sẽ khiến chúng ta suy nghĩ lại về tốc độ hình thành sao”, Kirkpatrick nói.    Các thiên hà muộn nhỏ hơn dự tính    Dữ liệu từ Webb cũng làm thay đổi nhiều giả thuyết về giai đoạn sau trong quá trình phát triển của Vũ trụ. Một nghiên cứu so sánh dữ liệu của Webb và dữ liệu của Hubble về “buổi trưa” của Vũ trụ, hay khoảng 3 tỷ năm sau Vụ nổ lớn, khi sự hình thành sao đạt đến đỉnh điểm và nhiều ánh sáng nhất được tạo ra. Kết quả, ở bước sóng hồng ngoại, hầu hết các thiên hà lớn trông nhỏ hơn nhiều so với hình ảnh của Hubble.    “Kết quả này có khả năng thay đổi toàn bộ quan điểm của chúng ta về cách thiên hà phát triển kích thước theo thời gian. Dự đoán trước đây, dựa trên dữ liệu Hubble, cho rằng các thiên hà ban đầu có kích thước nhỏ và lớn dần theo thời gian. Nhưng phát hiện của Webb cho thấy quá trình tiến hóa thiên hà có thể phức tạp hơn thế,” nhà thiên văn học Wren Suess tại Đại học California, người dẫn đầu nghiên cứu này, cho biết.    Đây mới chỉ là dữ liệu từ những tháng đầu tiên trong kế hoạch hoạch động hơn 20 năm của kính James Webb, nhưng các nhà thiên văn học dự đoán rằng rất điều chúng ta biết về thiên văn sẽ thay đổi. “Giờ đây, tôi thường trằn trọc lúc ba giờ sáng tự hỏi liệu mọi nghiên cứu tôi đã làm có sai không,” Kirkpatrick nói.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Kính viễn vọng vũ trụ sẽ vẽ bản đồ các tia X năng lượng cao đầu tiên trên thế giới      Kính viễn vọng Quang phổ -Tia Roentgen – Tia Gamma (SRG), một nhiệm vụ hợp tác khoa học Đức – Nga, sẽ dò hàng triệu lỗ đen siêu khối lượng cùng hàng trăm nghìn ngôi sao.      SRG  được  lắp đặt trong tháng 6/2019. Nguồn: The Planetary Society.    Vào ngày 21/6/2019, SGG được lắp đặt để lập các bản đồ vũ trụ chưa từng có trước đây. Đây không chỉ là kính viễn vọng vũ trụ đầu tiên có độ nhạy với các tia X năng lượng cao, vốn có khả năng mở ra cho các nhà khoa học cơ hội nghiên cứu các vật thể có tín hiệu mờ nhạt trong vũ trụ, mà còn là thiết bị đầu tiên có khả năng lập được trọn vẹn bản đồ quang phổ bầu trời. Nó sẽ trao cho các nhà nghiên cứu cách dò theo sự dãn nở và gia tốc của vũ trụ trong vô tận. “Trong vòng nửa năm, chúng tôi sẽ có dữ liệu về toàn bộ bầu trời”, Peter Predehl, một nhà thiên văn học tia X tại Viện Nghiên cứu Vật lý ngoài Trái đất Max Planck và là một trong những nhà nghiên cứu chính của nhiệm vụ này.  Mục tiêu chính của SRG là tạo ra bản đồ 3D của vũ trụ để tìm hiểu vũ trụ gia tốc như thế nào dưới tác động của năng lượng tối. Các nhà vũ trụ học có thể chứng minh được sự tồn tại và tác động của lực này thông qua các chùm thiên hà, những yếu tố góp phần giải mã cấu trúc và lịch sử phát triển của vũ trụ. SRG sẽ lập bản đồ web vũ trụ của khoảng 100.000 cụm thiên hà từ dữ liệu do tia X dò được từ plasma giữa các thiên hà và từ các sợi plasma. Nhiệm vụ này cũng sẽ dò theo ba triệu lỗ đen siêu khối lượng – nhiều trong số đó sẽ hoàn toàn mới với khoa học – và các tia X từ khoảng 700.000 ngôi sao trong dải Ngân hà.  Với Nga, SRG là một trong những nhiệm vụ không gian có ý nghĩa bậc nhất trong nhiều thập kỷ, và nó nhằm hỗ trợ cộng đồng vật lý thiên văn của đất nước này, vốn đang phải chịu cảnh cắt giảm ngân sách nghiên cứu và chảy máu chất xám nhiều thập kỷ. Nhiệm vụ này gồm hai kính viễn vọng tia X độc lập: một do Đức xây dựng mang tên eROSITA (Extended Roentgen Survey with an Imaging Telescope Array) và một do Nga xây dựng mang tên ART-XC (Astronomical Roentgen Telescope — X-ray Concentrator), vốn là thiết bị đầu tiên thuộc lĩnh vực này trong lịch sử nghiên cứu không gian của Nga cũng như Xô viết, theo Mikhail Pavlinsky, một nhà vật lý thiên văn năng lượng cao tại Viện nghiên cứu Khoa học vũ trụ Nga ở Moscow và là nhà nghiên cứu chính của ART-XC. “Giờ đây chúng tôi có một cơ hội mới để trở lại với khoa học ở đẳng cấp thế giới,” ông nói.  Tên lửa Proton-M sẽ phóng tàu vũ trụ từ sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan. Các cuộc điều tra bầu trời bằng tia X từng được thực hiện trong nhiều nhiệm vụ trước đây, bao gồm ROSAT  – một nhiệm vụ tại Đức trong những năm 1990. Nhưng nhiệm vụ này chỉ hiệu quả với các tia X “mềm” với năng lượng khoảng 2 kiloelectronvolts (keV). Với những nhiệm vụ hiện hành như Đài quan sát Chandra X-ray và NuSTAR của NASA, dù có thể thấy bức xạ năng lượng cao hơn và có thể phân tích cả những chi tiết nhỏ của các cấu trúc vũ trụ nhưng chỉ có thể quan sát được một phần nhỏ bầu trời.  Mỗi thiết bị của SRG đều có một 7 kính viễn vọng tia X có khả năng bao quát một khu vực trên bầu trời cùng lúc; sức mạnh tổng hợp của chúng sẽ giúp thu thập được nhiều hạt photon hơn một kính thiên văn đơn lẻ. Các photon tia X trên bầu trời thường không tập trung nên các cảm biến bán dẫn của kính thiên văn – các phiên bản năng lượng cao hơn so với các cảm biến trong các camera số- sẽ có khả năng ước lượng năng lượng chứa trong từng photon.   Trong 4 năm diễn ra nhiệm vụ này, SRG sẽ lập bản đồ toàn bộ bầu trời 8 lần và các nhà nghiên cứu sẽ so sánh các bản đồ để tìm xem có những thay đổi nào không. Ví dụ một số lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của thiên hà trở nên sáng hơn khi chúng “nuốt” vật chất với tốc độ cao, và sau đó trở về trạng thái im lìm. Dẫu đa phần các tia X mềm từ các lỗ đen này đều được bụi vũ trụ xung quanh hấp thụ, các tia X cứng vẫn có thể xuyên qua được nó, Pavlinsky nói. ART-XC có thể quan sát được các vật thể xuất hiện và sau đó biến mất một lần nữa khoảng một năm cho đến lần xuất hiện tiếp theo, do đó có thể cung cấp thông tin về cách các lỗ đen hút vật chất như thế nào.      Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01831-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang KTS Hoàng Thúc Hào: Hướng đến hạt nhân của truyền thống mới      Liên tiếp hai năm, những kiến trúc hướng tới các cộng đồng yếm thế ở miền núi và nông thôn của Hoàng Thúc Hào được quốc tế vinh danh. Anh có cuộc trò chuyện với tạp chí Tia Sáng chung quanh quan niệm kiến trúc và những trách nhiệm nghề nghiệp của mình.      Nhà cộng đồng kiêm dịch vụ homestay ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, do KTS Hoàng Thúc Hào cùng các cộng sự thiết kế và thi công. Mái nhà xòe rộng, cách điệu cánh én, lấy cảm hứng từ việc chim én thường về làm tổ dưới các mái nhà trong thôn. Sau khi công trình này xuất hiện, hơn 10 hộ dân trong thôn đã tự tin cải tạo nhà mình thành nhà homestay để đón khách du lịch. Ảnh do nhân vật cung cấp.  Năm 2016, anh nhận giải SIA-GETZ cho kiến trúc sư nổi bật châu Á với cụm sáu công trình xã hội, cộng đồng; tháng Bảy này anh lại được Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (International Union of Architects) trao giải Vassilis Sgoutas 2017 vì những đóng góp đặc biệt trong việc cải thiện điều kiện sống hằng ngày của người dân nông thôn và miền núi. Cảm giác của anh thế nào?  Đến giờ tôi không còn cảm giác quá vui sướng hay thất vọng trước kết quả một cuộc thi nào đó. Nhưng giải thưởng lần này khiến chúng tôi vui vì đó là sự ghi nhận một con đường chứ không chỉ là một công trình.  Vì sao và từ bao giờ anh lại chọn con đường đó, mang những thực hành kiến trúc đến với nông thôn và miền núi?  Tôi cho rằng, thách thức thật sự với kiến trúc sư nằm ở nông thôn và miền núi, nơi hầu như chỉ tồn tại kiến trúc dân gian, hiếm có sự hiện diện của kiến trúc sư chuyên nghiệp. Đó là những vùng nghèo, thiếu nguồn lực tài chính, con người, và trình độ nhận thức hạn chế, nhưng cũng là nơi sở hữu giá trị lớn về cảnh quan môi trường và văn hóa bản địa. Năm 2008, tôi thử một cách tiếp cận mới qua công trình nhà cộng đồng Suối Rè ở Hòa Bình với mong muốn tạo ra một kiến trúc được người dân địa phương chấp nhận. Thực tế, họ đã tham gia vào quá trình xây dựng và vận hành công trình, coi nó như “ngôi đình” hiện đại của cộng đồng. Đến nay, chúng tôi đã thiết kế thêm 40 công trình, không chỉ nhà cộng đồng mà còn có nhà chống lũ, nhà homestay nông dân, nhà trẻ, trường học, sân chơi… Hướng đi này đòi hỏi nhiều thời gian và kiên nhẫn nhưng mang đến rất nhiều niềm vui – niềm vui gặp gỡ những cộng đồng độc đáo, được thỏa mãn trách nhiệm nghề nghiệp chúng tôi tự đặt ra cho bản thân. Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy nó là “cái ngách”, mà dường như giờ đây đã thành “đại lộ”, thông ra quốc tế.    Nhà cộng đồng xã Cẩm Thanh (Hội An) được KTS Hoàng Thúc Hào áp dụng những giải pháp làm mát ít tốn kém như thiết kế mái nhà có chức năng thu nước mưa và dẫn nước vào bể lộ thiên đúng hướng gió vào nhà – gió thổi qua mặt nước sẽ mang theo hơi mát. Nhà làm chủ yếu bằng vật liệu hữu cơ, có độ dẫn nhiệt thấp. Một dàn cây rộng 700m2 bao trùm toàn bộ mái nhà, giảm bức xạ nắng nóng miền Trung. Cây dầu chính là trụ đỡ giàn cây, còn cây leo là loại cho thu hoạch. Ảnh do nhân vật cung cấp.  Anh vừa nói về những trách nhiệm nghề nghiệp tự đặt ra cho bản thân, vậy cụ thể đó là trách nhiệm gì?  Đó là trách nhiệm làm kiến trúc cho các cộng đồng yếm thế không có điều kiện, nguồn lực bảo vệ tiếng nói riêng, có nguy cơ bị xóa nhòa, thậm chí bị triệt tiêu bản sắc; trách nhiệm bảo vệ sự đa dạng của kiến trúc bản địa trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.  Thiết kế các công trình cho nông thôn và miền núi, quan niệm kiến trúc của anh có thay đổi so với khi thiết kế các công trình ở đô thị?  Với bất kỳ công trình nào, chúng tôi cũng thực hành một quan niệm, một ý thức là công việc của kiến trúc sư hôm nay sẽ ảnh hưởng lâu dài đến ngày mai nên sản phẩm anh ta làm ra phải xứng đáng là hạt nhân của truyền thống mới, có khả năng đánh động nhận thức hoặc truyền cảm hứng cho cộng đồng và những người hành nghề khác. Có những đòi hỏi chung khi thiết kế như tôn trọng khung cảnh, tiết kiệm năng lượng, tăng khả năng đối thoại giữa những người sống/làm việc trong công trình và giữa con người với môi trường. Tòa nhà như một “duyên ngầm”, khiến người sử dụng có thể dần khám phá những giá trị mà nó mang đến, chẳng hạn như họ có thể nhận biết sự biến đổi về không gian theo mùa. Tôi gọi đó là kiến trúc “ngạc nhiên bền vững”, không phải ngạc nhiên, lạ, sốc tức thời mà là ngạc nhiên chậm.  Với nông thôn và miền núi, việc thiết kế những ngôi nhà đủ không gian riêng – chung, trong – ngoài để bốn mùa có chỗ “chạy qua” dễ khả thi vì đất đai rộng rãi, nhưng với công trình ở đô thị, nhất là vị trí trung tâm, anh đạt tới điều đó bằng cách nào?  Chỉ có thể phát huy những kiến trúc nhân văn khi có sự hỗ trợ của một hình thái đô thị tốt. Trong khi trên thực tế, nhà chia lô ngày càng bành trướng, hồ ao thì bị lấp, đô thị mọc lên thiếu kiểm soát (chẳng hạn, chưa có cốt nền chung, dẫn đến nước mưa thoát rất chậm, dồn từ chỗ này sang chỗ khác – Sài Gòn là trường hợp điển hình, nhiều khu vực thành phố bị ngập một phần do triều cường, song chủ yếu do thiếu cốt nền thống nhất, mạnh ai nấy làm). Trong bối cảnh đó, chúng tôi tự nhủ “tự tốt lấy ta”, gắng làm tốt nhất trong khả năng có thể.  Nhận xét về các công trình xã hội, cộng đồng của anh, TS Nirmal Kishnani, chuyên gia kiến trúc xanh, Hiệu phó Trường Kiến trúc, ĐH Quốc gia Singapore, Tổng biên tập tạp chí Future Arc, viết: Ngôn ngữ thiết kế của anh giản dị nhưng luôn ẩn chứa sự cách tân về công nghệ và kỹ thuật, nâng cao giá trị trải nghiệm cho người sử dụng. Anh có thể nói rõ thêm về những cách tân đó?  Thực chất, những cải tiến công nghệ và kỹ thuật đó khá đơn giản, phù hợp với hiểu biết và điều kiện kinh tế người dân nên không khó thực hiện. Có thể kể đến việc kết hợp vật liệu địa phương với vật liệu hiện đại nhằm tăng độ bền công trình, như sử dụng phụ gia và cột bê tông gia cố, tránh hiện tượng tường trình trong kiến trúc nhà người Dao bị nứt, hay mái nhà vẫn lợp lá theo lối truyền thống nhưng có lớp lót chống dột. Chúng tôi tính toán tận dụng vật liệu tái chế, dùng thép và bu-lông kết nối những xà gỗ cũ tạo ra những kết cấu khẩu độ lớn; tiết kiệm nước bằng cách tái sử dụng nước mưa với hệ thống mái nhà – ống máng – bể chứa liên hoàn; sử dụng bể phốt năm khoang lọc sạch nước thải, góp phần bảo vệ môi trường. Chúng tôi cũng lọ mọ thiết kế lò sưởi ít tốn củi, tận dụng nhiệt thừa từ lò để phục vụ sinh hoạt. Hơn nữa, cách thi công cũng phải cải tiến, không tốn nhân công, thời gian; dụng cụ thi công phải được thiết kế khôn khéo, an toàn và hiệu quả. Tất cả nhằm tạo ra những công trình “ăn chắc mặc bền” và tiết kiệm chi phí, chứ không chỉ phục vụ cái sướng mắt của kiến trúc sư. Nhiều khi một cải tiến nhỏ cũng có thể tạo ra thay đổi lớn. Chẳng hạn, nhà ở nông thôn và miền núi thường bị tối do mái dốc lớn; nhờ sử dụng vật liệu hiện đại như kính cường lực trên mái hay áp dụng các thủ pháp chuyên môn, chúng tôi đã làm ra những cái mái vừa xòe rộng bảo vệ nhà trước mưa nắng vừa bảo đảm nhà không thiếu ánh sáng tự nhiên. Những cải tiến tưởng chừng đơn giản như vậy nhưng lại góp phần đổi mới cốt lõi truyền thống.    KTS Hoàng Thúc Hào làm việc với người dân địa phương trong quá trình thực hiện dự án Nhà cộng đồng Nậm Đăm. Ảnh do nhân vật cung cấp.  Các thiết kế của anh luôn đề cao kiến trúc bản địa, hay nói cách khác là kiến trúc truyền thống. Vậy anh nhìn nhận di sản kiến trúc truyền thống Việt Nam như thế nào?  Di sản kiến trúc của ông cha còn lại không bao nhiêu, trên hết vẫn là các kiến trúc tôn giáo. Di sản kiến trúc dân sinh, dân dụng rất khiêm tốn, chỉ là những mảnh vụn, những dấu vết rời rạc. Tuy nhiên đây là cái cớ, là tiền đề quý báu giúp nảy ra những sáng tạo nếu ta biết phát hiện và tiếp biến những cốt lõi đó vào trong một ngôn ngữ kiến trúc hiện đại. Chẳng hạn, mái nhà ngói âm dương rất mát, có thể chuyển hóa nguyên lý làm mát đó thiết kế ra những mái nhà tránh bức xạ hiệu quả mà không nặng như ngói âm dương xưa. Hay như cấu trúc không gian dạng lớp của nhà nông thôn Bắc bộ là gợi ý tuyệt vời cho các giải pháp chắn nắng, thông gió tự nhiên; cũng như cách lấy sáng gián tiếp trong đình chùa hoàn toàn có thể phát huy trong kiến trúc hiện đại.  Sắp tới anh có thêm những công trình xã hội, cộng đồng nào?  Chúng tôi sắp hoàn thành công trình làng thiền ở Yên Bái và nhà cộng đồng ở Sơn La; còn Trung tâm/trường tập huấn kỹ năng làm du lịch cho đồng bào ở Tả Phìn, Sapa, đang bước vào giai đoạn thiết kế kỹ thuật, chuẩn bị khởi công.  Cảm ơn anh đã dành thời gian trò chuyện với Tia Sáng.   Thái Thanh thực hiện  Di sản kiến trúc của ông cha còn lại không bao nhiêu, trên hết vẫn là các kiến trúc tôn giáo. Di sản kiến trúc dân sinh, dân dụng rất khiêm tốn, chỉ là những mảnh vụn, những dấu vết rời rạc. Tuy nhiên đây là cái cớ, là tiền đề quý báu giúp nảy ra những sáng tạo nếu ta biết phát hiện và tiếp biến những cốt lõi đó vào trong một ngôn ngữ kiến trúc hiện đại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KTS Hoàng Thúc Hào nhận Giải thưởng Vassilis Sgoutas của UIA      Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (International Union of Architects) vừa công bố trao giải thưởng Vassilis Sgoutas 2017 cho KTS Hoàng Thúc Hào để “ghi nhận đóng góp vô giá” của ông trong việc cải thiện điều kiện sống của người dân nông thôn và miền núi.      KTS Hoàng Thúc Hào trong một buổi làm việc tại thực địa ở miền núi. Ảnh do nhân vật cung cấp.  Trong bức thư gửi KTS Hoàng Thúc Hào, Chủ tịch UIA Esa Mohamed cho biết, Giải thưởng Vassilis Sgoutas có mục đích “ghi nhận những giải pháp sáng tạo, có tính khả thi trong công cuộc xóa nghèo.” Bức thư có đoạn viết: “Ban giám khảo đã ghi nhận cam kết của ông đối với việc cải thiện điều kiện sống hằng ngày của người Việt Nam ở nông thôn và miền núi, đồng thời vẫn tôn trọng văn hóa bản địa và môi trường tự nhiên.”  Giải thưởng sẽ được trao tại Đại hội UIA lần thứ 26 ở Seoul vào ngày 6/9 tới.  KTS Hoàng Thúc Hào sinh năm 1971, tốt nghiệp Khoa Kiến trúc – Quy hoạch, trường Đại học Xây dựng năm 1992; tốt nghiệp cao học tại Đại học Bách khoa Turin – Italia năm 2002. Hiện ông là giảng viên tại bộ môn Kiến trúc Dân dụng và Công nghiệp, trường Đại học Xây dựng, và Kiến trúc sư trưởng Văn phòng kiến trúc 1+1>2. Ông được biết đến nhiều qua các dự án nhà cộng đồng, nhà ở cho nông dân và công nhân, trường học cho trẻ em nghèo như Nhà cộng đồng thôn Suối Rè (Hòa Bình), Nhà cộng đồng Tả Phìn (Sa Pa, Lào Cai), Làng Homestay Nậm Đăm (Hà Giang), Nhà cộng đồng xã Cẩm Thanh (Hội An), Trường tiểu học Lũng Luông (Thái Nguyên), và Trung tâm hạnh phúc Quốc gia Bhutan.  Cuối năm 2016, ông cũng đã được trao Giải thưởng SIA-GETZ của Singapore cho cụm công trình này. Các công trình của ông được cho là có ngôn ngữ thiết kế giản dị nhưng luôn ẩn chứa sự cách tân về công nghệ và kỹ thuật, nâng cao giá trị trải nghiệm cho người sử dụng.  Được biết, Vassilis Sgoutas là tên vị KTS người Hy Lạp từng giữ chức Chủ tịch UIA. Trong thời gian ông lãnh đạo UIA, tổ chức này luôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với các giải pháp kiến trúc góp phần xóa nghèo, bảo đảm bền vững môi trường cũng như thân thiện cho người khuyết tật. Để vinh danh ông, UIA đã đặt ra giải thưởng mang tên ông, trao ba năm một lần kể từ năm 2008.    Author                Thái Thanh        
__label__tiasang Kurt Gödel và sự lãng mạn của logic      Lý thuyết vĩ đại của thiên tài triết học gầy gò này đã khuất phục những bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ 20, và cứu giữ lấy ý tưởng rằng có những chân lý mà con người không thể chứng minh.      Định lý Bất toàn của Gödel xếp ngang hàng với Thuyết tương đối của Einstein và Nguyên lý bất định của Heisenberg.  Mặc dù chẳng bao giờ hiểu được công trình của các học giả nhưng chúng ta vẫn có xu hướng biến họ  thành những hình ảnh văn hóa quen thuộc, ví dụ lối ăn mặc cổ lỗ và kiểu cách của Bertrand Russell, cũng như gương mặt thân thiện và mái tóc bạc dựng đứng của Einstein. Quả thực, nhiều thập kỷ sau khi đưa ra Thuyết tương đối, Einstein nổi tiếng đến mức được mời làm Tổng thống Israel (vị trí chủ yếu mang tính nghi lễ) trong khi ông lão Russell được các đài phát thanh và truyền hình mời phát biểu về đủ thứ, từ chủ nghĩa cộng sản tới son môi nên dùng cho phụ nữ. Tất nhiên, người ta mời ông không phải vì ông là một chuyên gia về những chủ đề đó, mà vì thời trẻ ông đã viết ra những thứ khó hiểu về logic toán và triết lý của toán học. Tác phẩm nổi bật nhất trong số đó, Principia Mathematica, trong đó ông và đồng tác giả Alfred North Whitehead đưa ra một hệ logic xây dựng từ tiên đề với hy vọng từ đó xây dựng số học, rồi toàn bộ toán học, được chính các chuyên gia trong ngành coi là cực khó.  Nhà logic học và triết học Kurt Gödel đạt đủ tiêu chuẩn Einstein/Russell: công trình của ông mang tầm quan trọng không thể bàn cãi, nhưng cũng vô cùng khó hiểu. Để chứng minh ông xứng đáng là một nhân vật nổi tiếng ngang với Einstein và Russell, ta có thể chỉ ra đóng góp quan trọng của ông cho việc diễn giải thuyết tương đối của Einstein, hay việc phủ định công trình tâm huyết nhất của Russell. Và cái tên Gödel được thừa nhận nhiều hơn là ta tưởng. Năm 1999, trong một cuộc thăm dò ý kiến bạn đọc của tạp chí Time về 20 nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20, Gödel, người thường được mô tả là “nhà logic quan trọng nhất kể từ Aristotle,” xếp thứ chín, trước nhà kinh tế học Keynes, hai nhà khoa học phát hiện ra cấu trúc DNA – Watson và Crick, và cha đẻ của mạng toàn cầu, Tim Berners-Lee (Einstein dẫn đầu danh sách này).  Trong văn hóa đại chúng, vị thế của Gödel thua xa Russell chứ chưa nói gì đến Einstein. Và liệu bạn có thể nhận ra người trong bức ảnh kèm theo bài này, nếu nó không ở trong một bài báo về Gödel? Cũng có thể bạn nhận ra, nếu bạn từng thấy mặt ông trong một cuốn tiểu sử về Einstein, trong một bức ảnh hai người chụp chung ở Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey: trong bức ảnh đó, Einstein trông ra dáng một lão nông hiền hậu với chiếc bụng phệ và chiếc quần có dây đeo, còn Gödel mặc áo khoác trắng, trông gầy gò, trịnh trọng và khó gần. Nhưng ngoài mối liên hệ với Einstein, chúng ta thực sự biết gì về Gödel? Ngay cả với hầu hết những người từng nghe tới ông, ông giống như một cái tên hơn là một nhân vật có thể nhận biết với đầy đủ tính cách.  Cái tên Gödel vẫn còn được nói đến chủ yếu do tầm quan trọng mang tính nền tảng của “định lý Không đầy đủ thứ nhất” (còn gọi là “Định lý Bất toàn” – ND) của ông: các hệ xây dựng từ tiên đề, như Principia Mathematica của Russell và Whitehead, không thể chứng minh mọi chân lý của số học. Mọi hệ như thế luôn luôn không đầy đủ. “Định lý Không đầy đủ thứ hai”, ít được nhắc đến hơn, nói rằng một lý thuyết số học không thể tự chứng minh tính chặt chẽ của nó.   Cần lưu ý rằng ý tưởng về những chân lý không thể chứng minh có sức quyến rũ vượt ra ngoài môn logic. Nhà toán học Mỹ Jordan Ellenberg đã gọi Gödel là “nhà toán học yêu thích của kẻ lãng mạn”.    Nhà toán học Kurt Gödel (phải) và nhà vật lý học Albert Einstein (trái) tản bộ ở Princeton, 1954.  Và như vậy, dù không quá nổi tiếng, công trình của ông đã truyền cảm hứng cho biết bao thứ: nó được trích dẫn trong những thảo luận về triết học, văn học, khoa học và cả thần học. Ông cũng được nói đến trong thơ ca (tác phẩm Tưởng nhớ Gödel của Hans Magnus Enzensberger) và âm nhạc (bản Concerto violin số hai của Hans Werner Henze có một đoạn phổ bài thơ của Enzensberger). Định lý nổi tiếng của ông nhiều lần được phổ biến cho đại chúng, đáng chú ý nhất là từ cuốn sách xuất bản năm 1979 của Douglas Hofstadter, Gödel, Escher, Bach: Sợi dây vàng vĩnh cửu; cuốn sách này đã đoạt giải Pulitzer và bán chạy một cách khó tin.  Ngài Tại sao  Trái với suy nghĩ của nhiều người quen biết, trong đó có cả Russell (hai người gặp nhau ở Princeton năm 1943), Gödel không phải người Do Thái. Ông sinh năm 1906, trong một gia đình giáo dân Luther nói tiếng Đức ở Brünn, vùng Moravia, khi đó thuộc đế quốc Áo-Hung, nay là Brno, thành phố lớn thứ hai của Cộng hòa Czech. Khác với những cư dân nói tiếng Đức khác trong vùng, Gödel không nói tiếng Czech (dù khả năng ngôn ngữ của ông không hề kém: ông thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Pháp), và ngay cả sau khi nước Tiệp Khắc được thành lập năm 1918, ông vẫn coi mình là người Áo.  Thời nhỏ, ông là một cậu bé rụt rè, nhút nhát, sức khỏe yếu, nhưng kết quả trong học bạ thì xuất chúng. Ông ham tìm hiểu về mọi thứ, đến nỗi được đặt biệt danh “Herr Warum” (Ngài Tại sao). Có đúng một lần ông không đạt điểm tối đa, và thú vị làm sao, đó lại là điểm môn toán.  Năm 1924, ông theo học vật lý ở Đại học Vienna, và năm 1926 thì chuyển sang học toán. Cũng trong khoảng thời gian đó, ông được nhà toán học Hans Hahn mời tham gia các buổi gặp gỡ của Nhóm Vienna, một nhóm các triết gia do Moritz Schlick lãnh đạo. Nhóm này theo “chủ nghĩa thực chứng logic”, một triết học bác bỏ chủ nghĩa thần bí, tôn giáo và siêu hình, thay vào đó nhấn mạnh việc sử dụng logic toán học để giải quyết các vấn đề triết học, và kiên định với cái họ gọi là “quan điểm khoa học”.  Gödel đồng tình với quan điểm của họ về vai trò của logic toán đối với triết học, tuy nhiên, từ thời sinh viên cho tới khi qua đời, ông luôn giữ hai niềm tin trái ngược hoàn toàn với chủ nghĩa thực chứng. Thứ nhất là niềm tin vào Chúa Trời. Về cuối đời, ông có thổ lộ với bạn bè rằng mình có lẽ đã tìm ta một chứng minh sử dụng logic mô thái cho sự tồn tại của Chúa. Một bản nháp của chứng minh đó được tìm thấy trong tập Nachlass (di cảo) của ông, nó là một biến thể của “lý lẽ bản thể luận” của Leibniz, nó lập luận rằng sự tồn tại của Chúa là hệ quả tất yếu của các thuộc tính của Người. Gödel cũng tin vào kiếp sau. Sự lệch hướng thứ hai khỏi chủ nghĩa thực chứng, có lẽ quan trọng hơn đối với việc hình thành quan điểm học thuật của ông, là niềm tin có thể nói là “nồng nhiệt” của ông vào chủ nghĩa Platon trong toán học.  Chủ nghĩa Platon đối lập với chủ nghĩa kiến thiết. Sự đối lập giữa chúng có thể được thể hiện như sự khác biệt giữa việc coi một nhà toán học là một nhà phát minh và việc coi ông/bà ta là một nhà khám phá. Những người theo phái kiến thiết tin rằng toán học là sáng tạo của [trí tuệ] con người; còn những người theo phái Platon tin rằng nó là một tập hợp các chân lý do con người khám phá ra.  Trở ngại với quan điểm kiến thiết là nó biến toán học thành một ngành hư cấu; trở ngại với quan điểm Platon là nó có vẻ bắt chúng ta chấp nhận sự tồn tại của các đối tượng toán học (và logic). Chúng ta có thể nhìn thấy năm con cừu, nhưng chúng ta không nhìn thấy số năm. Thế nhưng phe Platon khăng khăng rằng số năm tồn tại, theo một nghĩa nào đó. Và theo họ, cũng như Thiên Vương tinh vẫn luôn ở trong không gian chờ được Herschel tìm ra, các con số như năm, không, âm năm, căn bậc hai của âm một, cùng với những mối quan hệ giữa chúng, luôn ở đó chờ được các nhà toán học khám phá ra.  Hầu hết các thành viên của Nhóm Vienna đều bác bỏ chủ nghĩa Platon, họ cho rằng nó là một thứ siêu hình thuộc về một thế giới quan tiền khoa học. Với Gödel, nó lại chính là nền tảng tư tưởng của ông. Trong cuốn tiểu sử rất hấp dẫn Sự bất toàn: Chứng minh và nghịch lý của Kurt Gödel, tác giả Rebecca Goldstein viết rằng khi còn là sinh viên đại học, “Gödel đã phải lòng chủ nghĩa Platon.” (Bà cũng nhấn mạnh những mối liên hệ giữa niềm tin của Gödel vào chủ nghĩa Platon và định lý Không đầy đủ của ông; bản thân Gödel cũng khẳng định những mối liên hệ này).      Cuốn sách Gödel, Escher, Bach: Sợi dây vàng vĩnh cửu là sự liên kết tinh tế mà Hofstadter thiết lập nên giữa âm nhạc của Bach, các bức tranh của nghệ sỹ người Hà Lan Escher, và “định lý Không đầy đủ thứ nhất” của Gödel, thông qua khái niệm “vòng lặp kỳ dị”, một cách tuyệt vời để truyền tải “hương vị” của chứng minh của kết quả ảnh hưởng nhất của Gödel.      Năm 1930, Gödel bảo vệ tiến sỹ, và luận văn của ông, sau khi được soát lại, được xuất bản cùng năm dưới tiêu đề “Tính đầy đủ của hệ tiên đề của giải tích hàm logic”. Nó chứng minh rằng “giải tích hàm logic”, hay “logic cấp một” trong ngôn ngữ ngày nay, là đầy đủ. Điều đó có nghĩa là mọi chân lý logic biểu diễn được bằng ngôn ngữ logic vị từ cấp một (một hệ thống các ký hiệu và quy tắc được các nhà logic hiện đại dùng để phân tích các mối liên hệ giữa các mệnh đề chủ-vị) đều có thể được chứng minh trong một hệ xây dựng từ tiên đề. Tuy nhiên, điều này không đúng cho các mệnh đề số học, vì số học không biểu diễn được bằng logic vị từ cấp một. Để biểu diễn số học, cần có một thứ logic mạnh hơn, chẳng hạn thứ logic được Russell và Whitehead dùng trong Principia Mathematica.   Sau khi nhận bằng tiến sỹ, Gödel bắt đầu ngay với nghiên cứu mà về sau cho ra định lý nổi tiếng của ông. Ông chỉ mất vài tháng để nhận ra công trình của mình có thể dẫn đến đâu, và mùa thu năm 1930, ông đã sẵn sàng công bố kết quả về sự không đầy đủ. Ông công bố vào ngày cuối của Hội thảo Königsberg về nhận thức luận của các khoa học chính xác, ngày 7 tháng 9. Nhà logic Jaakko Hintikka viết “vị thế của Gödel thể hiện ở việc thời điểm quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông là thời điểm quan trọng nhất của lịch sử logic thế kỷ 20, và có thể của lịch sử logic nói chung.” Tuy nhiên, phải mất một thời gian để tầm quan trọng của công bố này được thừa nhận. Chính ở hội thảo, nó được đón nhận bằng sự im lặng. Người có mặt duy nhất nhận ra sự quan trọng của nó là nhà toán học và bác học người Hungary John von Neumann, người đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực, từ lý thuyết trò chơi đến cơ học chất lưu. Khi đó, John von Neumann vừa mới được bổ nhiệm đến Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton. Chứng minh được công bố sau đó vài tháng, vào tháng 1 năm 1931, trong sự mong đợi của mọi người, và chính Gödel cũng được mời đón rất nhiều. Trong hai năm 1933-1934, ông được mời sang Princeton để giảng về kết quả của mình. Những bài giảng này là công bố đầu tiên bằng tiếng Anh của định lý.     Hiện thực và cái bóng  Gödel ở lại Vienna suốt thập niên 1930, giảng dạy ở trường đại học và tiếp tục nghiên cứu logic toán học. Công việc ở trường đại học bị gián đoạn mấy lần vì đau ốm và rối loạn tâm thần. Một phần trong đó, theo bạn bè, gia đình và bản thân Gödel, liên quan đến mâu thuẫn gây ra bởi tình yêu ông dành cho Adele Nimbursky. Cha mẹ, nhất là cha ông, phản đối mối tình này vì bà lớn hơn ông sáu tuổi, đã ly dị, và là một vũ công. Cuối cùng, năm 1938, họ vẫn lấy nhau, chuyển sang Princeton và sống ở đó cho tới khi ông qua đời vào năm 1978. Năm 1947, ông nộp đơn xin quốc tịch Mỹ và mặc dù được chấp nhận nhưng buổi phỏng vấn quốc tịch suýt nữa trở thành kỳ thi trượt duy nhất trong đời ông. Ông tuyên bố đã nghiên cứu chi tiết Hiến pháp Mỹ – chắc hẳn là sau khi mổ xẻ từng mệnh đề một, và có lẽ kiểm chứng chúng bằng các thí nghiệm tưởng tượng trong những viễn cảnh điên rồ cho phép tổng thống vượt khỏi tầm kiểm soát – ông đã tìm ra cách biến nước Mỹ, một cách hợp pháp, thành một chế độ độc tài.  Dù gì thì ông cũng yên ổn ở lại Princeton, chuyển hướng quan tâm sang triết học một cách công khai hơn, và dù viết nhiều nhưng ông công bố rất ít bởi quá cầu toàn. Những bài báo được ông công bố, trong đó nổi bật nhất là Logic toán của Russell (1944) và Bài toán liên tục của Cantor là gì? (1947) thể hiện cái nhìn Platon triệt để của ông về toán học. Trong bài báo triết học cuối cùng được ông công bố, Một nhận xét về mối quan hệ giữa thuyết tương đối và triết học duy tâm (1949), Gödel đưa ra một nghiệm mới cho phương trình trường trong Thuyết tương đối rộng của Einstein. Phương trình trường của Einstein có nhiều nghiệm, mỗi nghiệm mô tả một mô hình không – thời gian khác nhau. Nghiệm của Gödel (mà theo chính Einstein là một đóng góp quan trọng cho vật lý lý thuyết) cho một mô hình vũ trụ tự quay, trong đó du hành ngược thời gian là khả thi.  Gödel sử dụng điều này để lập luận rằng thời gian không phải khách quan. Plato đã đúng: các đối tượng toán học thật hơn là thế giới không – thời gian mà chúng ta trải nghiệm. Rốt cuộc, giống như ngụ ngôn nổi tiếng của Plato, chúng ta sống trong một cái hang, và những thứ chúng ta có kinh nghiệm tiếp xúc chỉ là những cái bóng của thực tế. Chấm hết cho chủ nghĩa thực chứng.  Trong những năm cuối đời, Gödel gần như chỉ còn tập trung quan tâm vào triết học. Năm 1959, ông bắt đầu nghiên cứu sâu các công trình của Leibniz và Husserl. Đến lúc này, ông đã có gần một thập kỷ không công bố gì, và sẽ không công bố trong gần hai mươi năm nữa, cho đến tận khi qua đời. Phần lớn hiểu biết của chúng ta về triết lý của Gödel trong nửa sau cuộc đời đến từ các cuộc đàm luận được người bạn Hao Wang của ông ghi lại, và từ các bài báo trong Nachlass, nay đã được xuất bản thành 5 tập Tuyển tập Gödel. Năm 1974, được phép của Gödel, Wang xuất bản một số đoạn trích các cuộc đối thoại giữa ông và nhà logic thành cuốn Từ Toán học tới Triết học. Sau khi Gödel mất, Wang tiếp tục xuất bản Suy nghĩ về Kurt Gödel (1987) và Một hành trình logic: từ Gödel tới Triết học (1996).  Vốn dễ đau ốm, cả về thể chất lẫn tâm thần, trong hai mươi năm cuối đời, Gödel ngày càng yếu, gầy và bị rối loạn. Ông rất lo lắng về sức khỏe, nhưng hầu như không tin tưởng ai ngoài vợ. Ông đặt hẹn khám bệnh nhưng không đến, hoặc có đi khám nhưng không uống thuốc. Năm 1976, ông nghỉ hưu ở Viện Princeton. Một năm sau, Adele phải phẫu thuật và nằm viện. Vì bà là người duy nhất nấu ăn được cho Gödel, việc bà nằm viện thật tai hại cho sức khỏe của ông. Ông không chịu ăn, kể cả sau khi được đưa vào bệnh viện. Ông mất ngày 14 tháng 7 năm 1978. Giấy chứng tử của ông ghi nguyên nhân qua đời là “thiếu dinh dưỡng và đói lả do rối loạn nhân cách.”  Những vòng lặp logic  Cuốn sách Gödel, Escher, Bach: Sợi dây vàng vĩnh cửu được Hofstadter xuất bản một năm sau đó, và mang lại cho ông một chút danh tiếng sau khi qua đời. Đó không phải là một cuốn sách dễ đọc, nó dày gần 800 trang, và nói về logic, toán học, triết học, sinh học, tâm lý học, vật lý và ngôn ngữ học. Nhưng cái lõi của nó là sự liên kết tinh tế mà Hofstadter thiết lập nên giữa âm nhạc của Bach, các bức tranh của nghệ sỹ người Hà Lan Escher, và “định lý Không đầy đủ thứ nhất” của Gödel, thông qua khái niệm “vòng lặp kỳ dị”, một cách tuyệt vời để truyền tải “hương vị” của chứng minh của kết quả ảnh hưởng nhất của Gödel.  “Định lý Không đầy đủ thứ nhất” có nội dung như sau. Trong mọi hệ số học được xây dựng chặt chẽ từ một hệ tiên đề, tồn tại ít nhất một mệnh đề không thể được chứng minh, cũng không thể được phủ định [trong hệ đó]. Hơn nữa (ý này không phải một phần của định lý, mà là nhận xét của Gödel về nó), mệnh đề đó là đúng. Nói cách khác, kế hoạch của Russell và Whitehead, cũng như mọi hy vọng xây dựng toàn bộ số học từ một hệ logic, đã phá sản. Không tồn tại một hệ tiên đề đầy đủ và chặt chẽ của số học. Hơn nữa, sự không tồn tại của một hệ như thế bản thân nó lại là một chân lý, một hệ quả của một định lý logic toán học.  Khái niệm “vòng lặp kỳ dị” của Hofstadter giúp giải thích vì sao lại thế. Thí dụ đầu tiên của ông là Canon per Tonos, bản canon “bất tận” của Bach. Mỗi lần bản nhạc này lặp lại từ đầu, cung lại tăng thêm một âm, cho tới khi quay lại cung Đô thứ. Vòng lặp kỳ dị nằm ở chỗ bản nhạc như đạt được một điều không tưởng: nó không ngừng đi lên, rồi bằng cách nào đó quay trở lại đúng điểm xuất phát. Các tác phẩm của Escher thể hiện một hiệu ứng tương tự bằng hình ảnh. Chẳng hạn, trong tác phẩm in thạch bản nổi tiếng Thác nước (1969), chúng ta thấy nước chảy từ trên xuống dưới sáu lần, để rồi quay lại vị trí ban đầu. Trong Hai bàn tay vẽ (1948), Escher tạo ra cái được Hofstadter gọi là “vòng lặp kỳ dị hai bước”: bàn tay thứ nhất vẽ bàn tay thứ hai, bàn tay thứ hai lại vẽ bàn tay thứ nhất.  “Vòng lặp kỳ dị” của Gödel là một mệnh đề số học tự chỉ, tức là một mệnh đề số học nói về chính nó. Các mệnh đề tự chỉ trong ngôn ngữ thông thường đã được biết đến từ lâu, một thí dụ nổi tiếng là câu nói của triết gia người đảo Crete Epimenides: “Mọi người Crete đều dối trá”. Ông ta có nói thật không? Nếu ông nói thật, thì ông không thể nói thật. Hoặc ngắn gọn hơn, hãy xét mệnh đề sau: “Câu này sai.” Nếu nó đúng, thì nó sai, và nếu nó sai, thì nó đúng. Hofstadter gọi điều này là “vòng lặp kỳ dị một bước”.  Bạn bắt đầu thấy sự tự chỉ có thể đưa ta tới một nơi kỳ lạ và đầy nghịch lý của logic. Thế nhưng vẫn khó mà hiểu được làm thế nào một mệnh đề số học có thể nói về chính nó. Một mệnh đề số học nói về những con số, chẳng hạn mệnh đề “7 + 5 = 12” nói về mối liên hệ giữa các số 7, 5, và 12. Nó không nói về mệnh đề “7 + 5 = 12”. Những mệnh đề về mệnh đề số học được các nhà logic và các nhà toán học gọi là những “mệnh đề siêu toán học” (metamathematics). Thí dụ: “Mệnh đề ‘7 + 5 = 12’ là chứng minh được trong hệ xây dựng bởi tiên đề mà Russell và Whitehead tạo nên trong Principia Mathematica” là một mệnh đề siêu toán học.  “Vòng lặp kỳ dị” ở trung tâm chứng minh định lý của Gödel là một dạng phiên bản số học của nghịch lý Epimenides ở trên, tuy nhiên cần hiểu rõ rằng kết quả không phải là một nghịch lý, mà là một định lý. Đó là định lý về sự không đầy đủ tất yếu của các hệ tiên đề số học chặt chẽ, nghĩa là trong mọi hệ số học [xây dựng từ tiên đề một cách] chặt chẽ, tồn tại ít nhất một chân lý không thể được chứng minh.  Để chứng minh định lý này, Gödel chỉ ra cách xây dựng một mệnh đề về các con số, tức là một mệnh đề số học, và về cả chính nó. Ông sử dụng một phương pháp cực kỳ khéo léo, ngày nay được gọi là “phép đánh số của Gödel”: ông gán một con số duy nhất cho mỗi ký hiệu (+, -, 1, 2, v.v.), mỗi dãy ký hiệu (trong số này có tất cả các mệnh đề, thí dụ “2 + 2 = 4”), và tất cả các dãy gồm các dãy ký hiệu (trong đó có tất cả các chứng minh). Bằng cách dán nhãn này, mọi mệnh đề số học được biểu diễn bằng một con số duy nhất, do đó có thể tạo ra những mệnh đề số học (mệnh đề về các con số) nói về những mệnh đề số học.  Như thế, ông chỉ ra rằng một mệnh đề số học về hai con số có thể cũng là một mệnh đề siêu toán học về tính chứng minh được hay không của một mệnh đề số học nào đó trong một hệ, chẳng hạn Principia Mathematica. Điều này cho phép ông tạo ra sự tự chỉ cần thiết để có một “vòng lặp kỳ dị” và tạo ra một mệnh đề số học có nội dung, theo kiểu của Epimenides: “Tôi không thể được chứng minh trong hệ Principia Mathematica”.  Nếu hệ Principia Mathematica là chặt chẽ, thì mệnh đề trên phải đúng. Vì sao? Vì nếu nó sai, thì nó phải chứng minh được trong hệ Principia Mathematica, và vì nó nói rằng nó không chứng minh được, điều này tạo ra mâu thuẫn. Như vậy, nếu hệ là chặt chẽ, thì mệnh đề phải đúng. Nhưng nếu nó đúng, và (đây là điểm mấu chốt) nó là một mệnh đề số học, thì nó là một chân lý số học: một chân lý số học không thể được chứng minh trong hệ Principia Mathematica, chính bởi vì nó đúng. Tóm lại, nếu một hệ số học là chặt chẽ, thì nó chắc chắn không đầy đủ.  Khám phá và một đời người  Nhưng vì sao ai đó không làm về logic phải quan tâm? Một số trí tuệ vừa đặc biệt giỏi toán, vừa đặc biệt sáng tạo, đã đề xuất một số ứng dụng quan trọng. Chẳng hạn, nhà toán học và vật lý lý thuyết Roger Penrose lập luận rằng định lý của Gödel bác bỏ thuyết “AI mạnh” (Ý tưởng rằng trí tuệ con người về bản chất giống như các chương trình máy tính – ND): bộ não người không phải là máy tính, và do đó trí tuệ máy tính không thể nào tái tạo hoàn toàn bộ não người. Nhưng có một cách khác, khái quát hơn, để hiểu về tầm quan trọng của định lý, và nó bắt đầu với chủ nghĩa Platon. Ngay chính Gödel cũng không cho rằng kết quả về tính không đầy đủ của mình chứng minh rằng chủ nghĩa Platon là đúng, nhưng ông tin rằng nó có ủng hộ thuyết này. Bằng cách nào? Bằng cách hạ thấp một yếu tố chống Platon quan trọng: quan điểm rằng trong toán học, tính chân lý và tính chứng minh được là một.  Quan điểm này, rằng tính chân lý và tính chứng minh được là tương đương, gắn liền với hình ảnh nhà toán học như một nhà phát minh chứ không phải nhà khám phá. Nếu – thực ra điều này đã được “định lý Không hoàn hảo” khẳng định chứ không còn là giả định – trong mọi hệ đều có một mệnh đề số học đúng nhưng không thể được chứng minh, thì ta có thể suy ra rằng tính chân lý và tính chứng minh được không thể là cùng một thứ. Trừ phi phe chống Platon tìm thấy sai sót trong chứng minh của Gödel, họ phải tìm cách diễn giải nó mà không phải chấp nhận ý tưởng rằng tính chân lý của một mệnh đề số học là độc lập với chứng minh của nó, một ý tưởng rất gần với quan niệm Platon rằng các chân lý số học, theo nghĩa nào đó, vẫn “ở đó”.  Gần 80 năm sau Hội thảo Königsberg, việc thách thức trên có thể được vượt qua hay không vẫn còn gây tranh cãi. Có thể nhiều nhà toán học và nhà triết học đơn giản là không biết nói gì khi đối mặt với nó. Cả Russell và Wittgenstein – những người thông minh nhất thế hệ của họ, đều không hiểu nổi nó. Vì vậy, nếu bạn thấy công trình của Gödel và các hệ quả của nó quá khó hiểu, đừng lo lắng, bạn không cô đơn. Dù sao đi nữa, có vẻ như sẽ đến lúc thiên tài gày gò này có được vị trí xứng đáng trong công chúng, bên cạnh người bạn thân Einstein, và mối quen biết ngắn ngủi Russell. Cả hai đã tạo cảm hứng và bối cảnh cho những đóng góp đặc biệt khó hiểu, mang tính triết học hóc búa, và có tầm quan trọng nền tảng của ông cho đời sống học thuật.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.prospectmagazine.co.uk/magazine/kurt-godel-and-the-romance-of-logic    Author                Ray Monk        
__label__tiasang Kỳ 1: Bờ vai gã thợ săn      Vào những ngày này, nếu bạn nhìn về phía Tây ngay sau khi Mặt trời lặn, có thể bạn sẽ kịp thấy một ngôi sao rực rỡ màu đỏ cam từ từ lặn xuống dưới đường chân trời. Trong dân gian Việt Nam, ngôi sao này chỉ là một trong bốn góc của thửa ruộng bao quanh sao Cày, nhưng trong thiên văn học hiện đại, đây là sao Betelgeuse, đánh dấu bờ vai của chòm sao mang hình ảnh gã thợ săn Orion từ thần thoại Hy Lạp.  Hằng năm ở bán cầu Bắc, Betelgeuse thường bắt đầu xuất hiện trên bầu trời tối vào cuối tháng 12, rồi ngự trị ở khoảng trời phía Nam và Tây Nam trước khi lặn xuống chân trời phía Tây vào đầu tháng 5. Khác với những vì sao ở cùng khoảng trời với nó, Betelgeuse đầy rẫy những ẩn số và đã khơi dậy trí tò mò của những người quan sát bầu trời đêm từ trước đến nay.  Tia Sáng xin giới thiệu với bạn đọc ba kì về lịch sử và những hiện tượng kì lạ xung quanh ngôi sao bất thường này.      Sao Betelgeuse, chụp cận cảnh bằng Dãy kính thiên văn lớn bước sóng milimét Atacama (Atacama Large Millimeter Array), gọi tắt là ALMA. Nguồn: ALMA (ESO/NAOJ/NRAO)/E. O’Gorman/P. Kervella  Một màu đỏ lạnh lẽo     Trong các hệ thống phân loại hiện đại, Betelgeuse được xếp vào nhóm “siêu sao khổng lồ đỏ” (red supergiant) – giai đoạn cuối đời của những ngôi sao có khối lượng trong khoảng từ 10 đến 60 khối lượng Mặt trời (Mo). Bản thân Betelgeuse được các nghiên cứu gần đây ước tính là có khối lượng ban đầu ở khoảng 15-20 Mo, song con số này hoàn toàn có thể thay đổi. Do thời điểm hiện tại cách quá xa so với giai đoạn đầu đời của Betelgeuse, và do những ngôi sao như Betelgeuse rất hiếm trong vũ trụ khả kiến, hiểu biết của chúng ta về đặc điểm ban đầu của Betelgeuse chủ yếu được dựa trên các mô hình tiến hóa sao khác nhau và vẫn còn nhiều chỗ trống. Tuy nhiên, các nhà thiên văn học chắc chắn rằng với khối lượng ban đầu lớn hơn gấp bội so với Mặt trời, con đường tiến hóa trước đây của Betelgeuse khác hẳn với con đường mà Mặt trời sẽ đi trong vòng hàng triệu năm nữa.    Trong thiên văn học, nhiệt độ và độ sáng của các ngôi sao được biểu diễn thành hai trục của một biểu đồ phân tán mang tên biểu đồ Hertzsprung-Russell. Mặt trời của chúng ta nằm trong một dải sao cắt ngang qua biểu đồ gọi là “dãy chính” (main sequence). Ở các sao dãy chính như Mặt trời, trọng lực luôn cố gắng hút vật chất của ngôi sao vào phía trong, song được cân bằng bởi áp lực nhiệt hướng ra bên ngoài từ sự tổng hợp hạt nhân diễn ra trong lõi. Nói cách khác, mỗi ngôi sao dãy chính là một sân chơi cho cuộc thi kéo co không ngừng nghỉ giữa trọng lực hướng nội và áp lực hướng ngoại, và để duy trì thế cân bằng, phe áp lực cần được tiếp sức liên tục. Vai trò tiếp sức như thế được đảm nhiệm bởi năng lượng sinh ra khi các hạt nhân hydro trong lõi được tổng hợp thành các hạt nhân heli, mãi cho đến lúc lượng hydro trong lõi trở nên cạn kiệt. Tình trạng cạn kiệt này vẫn còn ở rất xa trong tương lai của Mặt trời, song đã trở thành một phần quá khứ của Betelgeuse.      Thiếu hụt năng lượng, Betelgeuse càng ngày càng phát ra bước sóng dài hơn, dần dần chuyển màu sang vàng và cuối cùng là đỏ. Màu đỏ trong mỹ thuật có thể tượng trưng cho cái nóng và sức sống, song đối với Betelgeuse, màu đỏ thể hiện sự lạnh lẽo của một ngôi sao đã tới chặng cuối của đời mình. Vậy giai đoạn chuyển sang màu đỏ đã xảy ra cách đây bao nhiêu năm, và liệu có ai nhìn thấy Betelgeuse khi nó mới bắt đầu chuyển đỏ hay không?      Khi những ngôi sao như Betelgeuse bắt đầu cạn hydro trong lõi, phần lõi này lập tức co lại và nhiệt độ ở đó cũng tăng lên, làm nhiệt độ của cả ngôi sao tăng theo đến mức các hạt nhân heli cũng bị tổng hợp thành các hạt nhân nặng hơn. Heli cháy sinh ra nhiệt năng, sinh ra áp lực hướng ngoại, khiến ngôi sao phình to ra. Càng phình to, nhiệt độ của ngôi sao càng giảm, song độ sáng lại không thay đổi nhiều so với lúc bắt đầu đốt heli, bởi sự tăng lên về kích thước đã được sự giảm xuống của nhiệt độ làm cho cân bằng. Trên biểu đồ nhiệt độ và độ sáng, quá trình đốt heli đã đẩy Betelgeuse ra khỏi dãy chính, tiến về vùng nhiệt độ thấp trên một đường nằm ngang. Thiếu hụt năng lượng, Betelgeuse càng ngày càng phát ra bước sóng dài hơn, dần dần chuyển màu sang vàng và cuối cùng là đỏ. Màu đỏ trong mỹ thuật có thể tượng trưng cho cái nóng và sức sống, song đối với Betelgeuse, màu đỏ thể hiện sự lạnh lẽo của một ngôi sao đã tới chặng cuối của đời mình.     Từ vàng sang đỏ     Sự tiến hóa của Betelgeuse có thể được dựng lại một cách bao quát dựa trên những gì thiên văn học đã biết về các ngôi sao siêu khổng lồ, song để đi sâu vào từng chi tiết thì cần có nhiều thông tin hơn thế. Theo nghiên cứu của Dolan và cộng sự (2016), các mô hình khác nhau có thể cho ra các ước tính khác nhau về khoảng thời gian mà Betelgeuse rời khỏi dãy chính trên biểu đồ Hertzsprung-Russell. Cùng lúc đó, những mô hình mà các tác giả này sử dụng đều đồng ý rằng Betelgeuse đã cạn kiệt hydro ở lõi vào khoảng 40,000 năm trước. Nếu ước tính dựa theo sự tiến hóa sao thì một thời gian sau đó, Betelgeuse sẽ bắt đầu có màu đỏ trên bầu trời đêm. Vậy giai đoạn chuyển sang màu đỏ đã xảy ra cách đây bao nhiêu năm, và liệu có ai nhìn thấy Betelgeuse khi nó mới bắt đầu chuyển đỏ hay không?    Vào năm 1978, nhà sử học Bạc Thọ Nhân (薄樹人) và cộng sự đã tìm được câu sau trong quyển 27 bộ Sử ký Tư Mã Thiên: “Bạch bì Lang, xích bì Tâm, hoàng bì Sâm Tả Kiên, thương bì Sâm Hữu Kiên, hắc bì Khuê Đại Tinh” (白比狼，赤比心，黄比参左肩，比参右肩，黒比奎大星). Trong đoạn này, Tư Mã Thiên đề cập tới màu của các ngôi sao được lấy làm chuẩn trong thiên văn học Trung Quốc cổ đại, và những cái tên Lang, Tâm, Sâm Tả Kiên, Sâm Hữu Kiên, Khuê Đại Tinh ứng với các sao Sirius, Antares, Betelgeuse, Bellatrix và Mirach. Theo Tư Mã Thiên, Sirius có màu trắng (“bạch”), Antares có màu đỏ (“xích”), Betelgeuse có màu vàng (“hoàng”), Bellatrix có màu xanh nhạt (“thương”), và bằng cách nào đó Mirach có màu đen (“hắc”). Màu của Sirius, Antares và Bellatrix theo miêu tả của Tư Mã Thiên trùng khớp hoàn toàn với màu của chúng ở thời điểm hiện tại. Đối với sao Mirach, nhà sử học Giang Hiểu Nguyên (Jiang Xiao-yuan) giải thích vào năm 1998 rằng người hiện đại không nên hiểu từ “hắc” theo nghĩa đen, bởi các phép miêu tả này chịu ảnh hưởng của lý thuyết Ngũ hành với năm màu sắc đặc trưng là vàng, xanh, trắng, đỏ, đen, và một khi đã miêu tả vàng, xanh, trắng, đỏ thì bắt buộc phải có đen. Nếu cách lý giải của Giang Hiểu Nguyên là đúng và chúng ta có thể bỏ qua trường hợp sao Mirach, phải chăng vào thời Tư Mã Thiên (145 TCN – 86 TCN), Betelgeuse đang trên đường tiến ra xa khỏi dãy chính và mới chỉ là một siêu sao khổng lồ vàng (yellow supergiant), chứ chưa phải một siêu sao khổng lồ đỏ như ngày nay?       Bản đồ sao thể hiện vị trí và tên gọi của một số sao trong chòm sao Lạp Hộ (Orion). Nguồn: Wikipedia     Khi xem xét các tài liệu thiên văn từ thời xa xưa, một học giả hiện đại buộc phải đánh giá xem các triết lý, các niềm tin từ thời trước có thể đã chi phối các phép miêu tả đến mức nào. Việc màu vàng của Betelgeuse được tả ngay cạnh màu “hắc” của Mirach đã làm dấy lên câu hỏi: liệu có thật là Betelgeuse từng có màu vàng vào thời Tư Mã Thiên, hay màu sắc của nó khi ấy đã bị miêu tả theo một cách khác đi để phù hợp với quan niệm Ngũ hành? Câu hỏi này sẽ còn bỏ ngỏ cho tới khi có thêm nghiên cứu chi tiết về từng giai đoạn tiến hóa của ngôi sao này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi nguồn thông tin từ thời xưa về Betelgeuse đều sai, vì một số nền văn minh cũng ghi nhận được một hiện tượng ở Betelgeuse mà đến bây giờ chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy.     Phép thuật lửa     Betelgeuse là một sao biến quang bán đều đặn (semiregular variable star), nghĩa là độ sáng của nó có thể thay đổi nhưng không phải lúc nào cũng theo một chu kì cố định. Nhà thiên văn học hiện đại đầu tiên nhận thấy hiện tượng này là John Herschel, người đã quan sát cả Betelgeuse lẫn sao Rigel ở cùng chòm và nhận thấy Betelgeuse sáng hơn Rigel vào tháng 10/1837 và tháng 11/1839. Ông miêu tả sự thay đổi độ sáng của Betelgeuse dựa vào thang đo cấp sao biểu kiến (apparent magnitude) mà ngày nay vẫn còn được thiên văn học sử dụng, trong đó một ngôi sao càng sáng thì càng có cấp sao biểu kiến nhỏ. Theo lời Herschel năm 1849, cấp sao biểu kiến của Betelgeuse đã giảm từ +1.0 xuống còn +1.2. Không lâu sau, các nhà thiên văn học ở Mỹ cũng bắt đầu theo dõi các sao biến quang, và theo dữ liệu của Hiệp hội nhà quan sát sao biến quang Hoa Kỳ (AAVSO), Betelgeuse đã đạt cấp sao biểu kiến cực đại là +0.4 và cực tiểu là +1.3 trong khoảng từ 1913 đến 1998. Những phép đo đạc này khiến các nhà nhân chủng học, các nhà sử học và các nhà thiên văn học tự hỏi: nếu Betelgeuse vừa nổi bật trên bầu trời đêm, vừa có tính biến quang rõ rệt, liệu có cộng đồng nào quan sát được hiện tượng này trước Herschel hay không?      Việc màu vàng của Betelgeuse được tả ngay cạnh màu “hắc” của Mirach đã làm dấy lên câu hỏi: liệu có thật là Betelgeuse từng có màu vàng vào thời Tư Mã Thiên, hay màu sắc của nó khi ấy đã bị miêu tả theo một cách khác đi để phù hợp với quan niệm Ngũ hành?      Theo một phân tích vào năm 2018 của nhà thiên văn học Duane Hamacher, câu trả lời là có. Ở gần khu định cư Ooldea giữa sa mạc miền Nam châu Úc, dân tộc bản địa Úc Kokatha có một truyện truyền miệng về gã thợ săn Nyeeruna tượng trưng cho chòm sao Lạp Hộ (Orion), hằng đêm cầm chùy đuổi theo chị em nhà Yugarilya, tượng trưng cho cụm sao Tua Rua (Pleiades). Nyeeruna cố gắng bắt chị em nhà Yugarilya về làm vợ, nhưng cô chị cả xông lên chống cự, khiến gã thợ săn phải dùng đến phép thuật lửa của hắn. Cả hai người giao chiến và ngọn lửa trong tay Nyeeruna dần yếu đi, nhưng sớm muộn lại rực cháy trở lại và cuộc giao đấu tay đôi không bao giờ chấm dứt. Theo nhà thiên văn học Hamacher, ngọn lửa yếu đi rồi lại mạnh lên của Nyeeruna chính là ngôi sao Betelgeuse, và hình ảnh này đã chứng tỏ rằng người Kokatha, hay nói rộng ra là cả các dân tộc bản địa Úc lân cận, đã nhận thấy sự biến quang của Betelgeuse từ thời xưa và đã đưa hiện tượng này vào kho tàng văn học dân gian. Ý tưởng của Hamacher nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhà vật lý thiên văn Bradley Schaefer, người chỉ ra rằng sự biến quang của Betelgeuse rõ rệt tới mức chẳng cần phải ghi chép lại, bởi một nhà quan sát thời xưa hoàn toàn có thể nhớ rằng vào một năm nọ, Betelgeuse sáng hơn Procyon (cấp sao biểu kiến +0.38), trong khi năm ngoái vẫn còn tối hơn Rigel (cấp sao biểu kiến +0.13).    Truyền thuyết của người Kokatha về sự biến quang của Betelgeuse có thể nổi bật vì tính sinh động của nó, nhưng nó không phải là duy nhất. Trước Hamacher, một vài tác giả khác cũng đã viết về truyện truyền miệng liên quan tới chòm sao Lạp Hộ của người Hungary, người Lakota ở Bắc Mỹ hay là người Pemon ở Nam Mỹ, trong đó nhân vật tượng trưng cho chòm sao này thường bị mất hoặc phải thay thế một phần cơ thể mình, tương tự như sự bất định của Betelgeuse. Những tác giả này cho rằng đối với nhiều cộng đồng trên thế giới, tính biến quang của Betelgeuse không chỉ là một hiện tượng quen thuộc, mà còn là nguồn cảm hứng cho những truyền thuyết dân gian đa dạng. Và quả thật, với trí tưởng tượng của con người, việc một ngôi sao thường xuyên sáng lên rồi lại tối đi như thế hẳn sẽ kích thích trí tò mò của nhiều thế hệ ở khắp các nơi. Điều này trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết vào mùa đông năm 2019, khi độ sáng của Betelgeuse giảm một cách chưa từng có tiền lệ, khiến mọi người bắt đầu đồn rằng ngôi sao này sắp phát nổ. □  —  Dolan, M.M., Mathews, G.J., Lam, D.D., Lan, N.Q., Herczeg, G.J. and Dearborn, D.S. (2016), “Evolutionary tracks for Betelgeuse”, The Astrophysical Journal 819 (1).  Hamacher, D.W. (2018), “Observations of red‐giant variable stars by Aboriginal Australians”, The Australian Journal of Anthropology 29(1), pp. 89-107.  Schaefer, B.E. (2018), “Yes, Aboriginal Australians Can and Did Discover the Variability of Betelgeuse”, Journal of Astronomical History and Heritage 21 (1), pp. 7-12.  Xiao-yuan, J. (1993), “The colour of Sirius as recorded in ancient Chinese texts”, Chinese Astronomy and Astrophysics 17 (2), pp. 223-228.  Wilk, S.R. (1999), “Further mythological evidence for ancient knowledge of variable stars”, Journal of the American Association of Variable Star Observers 27, pp. 171-174.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Ký Hiệp định khung IPP giai đoạn hai      Chiều 6/3, tại trụ sở Bộ KH&amp;CN, Hà Nội,  Bộ trưởng Nguyễn Quân và Đại sứ Phần Lan Kimmo Lähdevirta đã thay mặt  hai Chính phủ ký Hiệp định Chương trình Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần  Lan (IPP) giai đoạn hai (2014-2018).    Sau khi IPP giai đoạn một đạt được “những kết quả hứa hẹn nhờ thiện chí và nỗ lực của hai bên” như lời phát biểu của Đại sứ Kimmo Lähdevirta, Phần Lan đã đồng ý tiếp tục giúp Việt Nam thực hiện IPP giai đoạn hai với tổng kinh phí 11 triệu euro, trong đó Phần Lan viện trợ không hoàn lại 9,9 triệu euro.  Mục tiêu của IPP giai đoạn hai là hỗ trợ hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để Luật và Chiến lược KH&CN của Việt Nam đi vào cuộc sống; tăng cường đào tạo về ĐMST thông qua việc hoàn thiện giáo trình ĐMST và tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu cho các nhà quản lý KH&CN, doanh nghiệp và viện nghiên cứu; hình thành đội ngũ chuyên gia tư vấn đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp.   Đặc biệt, theo ông Trần Quốc Thắng, Giám đốc IPP, giai đoạn hai chú trọng hỗ trợ để một số sản phẩm cấp vùng có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước và nước ngoài, tiến tới trở thành sản phẩm quốc gia. Việc tặng giải thưởng ĐMST cho các tổ chức/cá nhân có những ý tưởng giá trị hoặc thực hành xuất sắc cũng sẽ được xem xét. “Sáu tháng tới là thời gian chúng tôi làm việc cùng nhóm tư vấn để lên kế hoạch chi tiết cho tất cả những nội dung của Chương trình,” ông Thắng cho biết.  IPP là chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Phần Lan nhằm giúp xây dựng năng lực ĐMST cho giới quản lý KH&CN và doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở áp dụng kinh nghiệm, kiến thức về ĐMST mà Phần Lan đã thực hiện rất thành công trong khoảng 30 năm trở lại đây.   IPP giai đoạn một được thực hiện từ năm 2009 đến năm 2013 với ngân sách hơn 7 triệu euro, trong đó 89% do Chính phủ Phần Lan tài trợ. IPP hỗ trợ các sáng kiến ĐMST của doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, và cũng không giới hạn lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ lục mới của máy tính lượng tử      Các phân tử berry hyđrua (beryllium hydride, BeH2) vốn rất nhỏ bé – cấu tạo gồm 2 nguyên tử hydro liên kết với một nguyên tử berry duy nhất, giờ đây trở thành phân tử lớn nhất từng được mô phỏng bởi máy tính lượng tử, một công nghệ mới hứa hẹn giúp giải quyết những vấn đề phức tạp mà máy tính bình thường hiện nay không làm được. Đây được xem là cơ sở cho những phương pháp mới và hiệu quả hơn trong  nghiên cứu về các loại thuốc và các vật liệu mới.      Máy tính lượng tử IBM mô phỏng phân tử berry hyđrua, lithi hyđrua và hydro (từ trái sang phải), thiết lập kỷ lục thế giới  Nhà hóa học lý thuyết Marco De Vivo tại Viện Công nghệ Genoa (Italia), người nghiên cứu về tương tác của dược phẩm với các protein nói rằng bước tiến trên là rất hứa hẹn, “nó đánh vào giới hạn của những gì mà máy tính hiện nay có thể làm được”.  Các nhà vật lý và hóa học thường sử dụng máy tính để mô phỏng hoạt động của các nguyên tử, phân tử. Dạng mô phỏng này thường đòi hỏi năng lực tính toán mạnh mẽ vì những tương tác của 3 phân tử trở nên là vô cùng phức tạp. Ngoài ra, các electron trong phân tử thường tuân theo những quy luật rất khác lạ của cơ học lượng tử – lý thuyết của những thứ vô cùng nhỏ – chẳng hạn, để xác định đồng thời vị trí và vận tốc của electron là điều bất khả thi. Chính những hạn chế này khiến cho việc tính toán sự phân bổ các electron bên trong phân tử còn gặp nhiều khó khăn hơn. Thậm chí, siêu máy tính mạnh nhất hiện nay cũng mới chỉ có khả năng mô phỏng hoạt động của những phân tử của vài trăm nguyên tử.  Dẫu vậy, các nhà khoa học vẫn tin tưởng rằng máy tính lượng tử sẽ thay thế vai trò của máy tính thông thường. Năm 1981, nhà vật lý đạt giải Nobel Richard Feynman dự đoán, những máy tính được xây dựng theo cơ học lượng tử có thể mô phỏng chính xác những phân tử lớn. Trong khi máy tính bình thường sử dụng những bit thông tin 0 hoặc 1 thì máy tính lượng tử lại triển khai các bit lượng tử (qubits) 0,1 hay 0 và 1 cùng lúc. Những bit lượng tử có khả năng kết hợp với nhau, tạo nên bộ xử lý lượng tử vô cùng mạnh mẽ, theo lý thuyết có khả năng mô phỏng các phân tử hiệu quả hơn nhiều so với máy tính thông thường. Các nhà khoa học tin rằng máy tính lượng tử sẽ mở ra khả năng mới trong nghiên cứu, giúp phát hiện các loại thuốc và vật liệu mới, điều đang được phát triển một cách mạnh mẽ tại các trường đại học và công ty trên toàn thế giới.          Tuy nhiên, hiện nay máy tính lượng tử vẫn gặp trở ngại lớn do độ nhạy của những bit lượng tử, sự biến thiên nhiệt độ và sự rải rác của điện tích hay từ trường có thể gây gián đoạn tới sự chuyển pha trạng thái giữa 0 và 1. Càng nhiều bit lượng tử liên kết với nhau, chúng càng dễ trở nên lộn xộn. Năm ngoái, các nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm lượng tử của Google ở Venice (California) đã sử dụng 3 bit lượng tử để tính toán sự sắp xếp electron ở mức năng lượng thấp nhất trong phân tử hydro – mộtphân tử thuộc loại đơn giản nhất.  Các nhà nghiên cứu về máy tính lượng tử của IBM cũng đang dần nâng cao chuẩn mực trong tính toán lượng tử khi sử dụng tới 6 bit lượng tử – được tạo ra từ một kim loại đặc biệt (vật liệu siêu dẫn) có thể cùng lúc dẫn dòng điện ở những mức cường độ khác nhau, để phân tích phân tử hydro (H2), lithi hyđrua (lithium hydride, LiH2) và berry hyđrua. Trước tiên, họ mã hóa sự sắp xếp electron trong phân tử mô phỏng bằng máy tính lượng tử, rồi sử dụng một thuật toán đặc biệt ép cho các phân tử tồn tại ở trạng thái năng lượng thấp để đo và mã hóa bằng máy tính thông thường. Tiến trình này được lặp lại cho tới khi tìm ra trạng thái năng lượng thấp nhất của phân tử – một bước quan trọng trong những ứng dụng hóa học. Bằng việc sử dụng thuật toán lặp, máy tính lượng tử của IBM đã thành công trong tính toán trạng thái năng lượng căn bản của cả ba phân tử trên, xác lập lỷ lục thế giới về mô phỏng lượng tử, kết quả này vừa được công bố trên Nature.  Bởi vì những sai số là khó tránh khỏi trong tính toán lượng tử, các nhà khoa học lưu ý rằng kết quả trên không thể chính xác một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, nó có thể giúp cho những nhà hóa học hiểu rõ hơn về phân tử và tiếp tục có những khám phá mới.  Jerry Chow, nhà vật lý tại Yorktown Heights (New York), người phụ trách nhóm nghiên cứu về tính toán lượng tử của IBM, cho biết: “Chúng tôi muốn làm cho máy tính lượng tử vượt khỏi địa hạt của vật lý thuần túy”. Tuy nhiên, máy tính lượng tử hãy còn một chặng đường rất dài cần phải đi để thật sự tạo được dấu ấn, giống như “lần đầu nhìn thấy máy bay, chúng ta lại muốn lên mặt trăng vậy” – theo De Vivo.  Hải Đăng dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/09/quantum-computer-simulates-largest-molecule-yet-sparking-hope-future-drug-discoveries       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ nguyên về công nghệ tự tạo năng lượng điện đã bắt đầu      Bình ắc quy, công tắc, đường phố và cả máy bay đều có thể biến sự rung động, âm thanh hay luồng gió thành năng lượng điện. Kỷ nguyên về công nghệ tự tạo năng lượng điện đã bắt đầu.    Tận dụng năng lượng dư thừa   Thông thường khi muốn vượt Thái Bình Dương, người ta tránh không thực hiện trong tháng chín, đây là thời gian thường xảy ra giông tố, bão táp, và ở ven biển California thường có sóng dồi cao hàng mét. Nhưng đó lại là điều mà kỹ sư Luke Beatman mong muốn. Nhờ những đợt sóng đó, “vật ăn bám” (die Drohne) của vị kỹ sư làm việc tại hãng Startups Liquid Robotics (California) có thể đến đích nhanh hơn trong quá trình vượt đại dương. Vật lướt sóng vượt đại dương này có hình dáng như ván lướt sóng, giá mỗi cái khoảng 150.000 USD, thiết bị này không có động cơ, cánh quạt hay bình chứa nhiên liệu. “Con Drohne” này tận dụng năng lượng vận động của biển cả.  Để di chuyển được Drohne có một sợi cáp kéo theo thiết bị truyền động đặc biệt ở độ sâu 7 mét, thiết bị này trông như một đoạn hàng rào gồm nhiều thanh chắn có khả năng vận động. Cấu trúc của thiết bị không những hết sức đơn giản mà còn rất khôn ngoan: Sóng dâng Drohne trên mặt nước, mỗi khi Drohne được đẩy lên cao nó lại lôi thiết bị truyền động lên theo. Do áp lực nước nên những tấm chắn tự dịch chuyển xuống dưới và đẩy Drohe tiến lên, cơ chế này tương tự vây bơi lùi ở cá voi. Nhờ vậy, Drohne có thể di chuyển không ngừng theo mọi hướng với vận tốc 3,7 km/giờ. Những thiết bị lắp trên Drohne như thiết bị định vị hay phát tín hiệu được nạp điện thông qua các tấm pin mặt trời cỡ nhỏ.  Kỹ sư Beatman dự kiến cho hai thiết bị lướt sóng tự tạo năng lượng này vượt một khoảng cách 1.1000 km khởi hành từ San Francisco tới Australia và Nhật Bản. Nếu điều này trở thành hiện thực thì theo kỹ sư Beatman “đây là một kỷ lục thế giới” và có thể ghi vào sách kỷ lục Guiness.  Ý đồ vượt đại dương nói trên chỉ là một trong nhiều ví dụ tuyệt vời về công nghệ sử dụng năng lượng dư thừa để tạo ra năng lượng điện: những tuốc bin gió kiểu mới đặt ở ven đường chuyển hóa sức gió do xe chạy thành điện, thiết bị giảm xóc chuyên dụng mỗi khi vào ổ gà lại tác động vào máy phát điện và các cảm biến công nghiệp cực nhỏ tự cấp năng lượng cho mình thông qua chuyển hóa nhiệt năng thành điện năng. Từ những rung động nhỏ nhất, từ tín hiệu radio và thậm chí cả từ sóng âm người ta vẫn có thể dùng thiết bị chuyển hóa năng lượng mới nhất để làm ra điện.   Thu hái điện  Giới chuyên môn dùng khái niệm Energy Harvesting để nói về việc này (tạm dịch sang tiếng Việt là “thu hái điện”). Thực ra ý tưởng này cũng không hoàn toàn mới: thí dụ từ lâu người ta đã gắn dynamo vào xe đạp để lấy điện chiếu sáng hay ở một số loại đồng hồ đeo tay tự tích điện thông qua vận động của cánh tay v.v.  Trong tương lai nguyên tắc này sẽ được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp cũng như trong cuộc sống hàng ngày: các cảm biến (Sensor), thiết bị cấy ghép (Implantate) , điện thoại di động và thậm chí cả máy bay điện sẽ tự tạo năng lượng điện cho mình.   Ông Peter Harrop thuộc doanh nghiệp nghiên cứu thị trường công nghệ của Mỹ IDTechE cho rằng: “Energy Harvesting có vai trò đối với một loạt công nghệ tương lai”.   Giới chuyên môn Mỹ dự đoán năm nay doanh thu của ngành này sẽ đạt khoảng 663 triệu USD; đến năm 2021 thị trường này sẽ phát triển lên 4,4 tỷ USD.  Những cảm biến không cần điện hay pin  Khái niệm cung cấp điện, như cách hiểu thông thường của chúng ta, đã thay đổi. Tương lai có thể có mạng lưới hình thành từ những cảm biến vô tuyến không có pin mà tự tạo năng lượng điện. Nhờ thế cảm biến có thể hoạt động ở những vị trí khó hoặc không thể tiếp cận được: thí dụ như ở trong bê tông của những cây cầu lớn, nơi những râu đo đạc không thể phát hiện kịp thời để cảnh báo về những vết rạn nứt.  Trong ngành hàng không dân dụng: Các nhà nghiên cứu EADS đã dán thí nghiệm cảm biến không cần pin lên thân máy bay, những cảm biến này có thể báo cho nhân viên kỹ thuật trong buồng điều khiển khi các bộ phận bị ăn mòn có vấn đề. Những cảm biến này nạp điện từ cái gọi là máy phát điện nhiệt (Thermogenerator). Đó là những tấm Chips-silic nhỏ, chúng có thể tạo ra điện khi hai đầu tấm chíp có sự chênh lệch về nhiệt – thí dụ phần kim loại trên máy bay một phía thì nóng nhưng phía tiếp giáp với không khí thì rất lạnh. Các nhà vật lý gọi hiện tượng này là hiệu ứng Seebeck.  Hãng Startup Perpetuum của Anh tới đây dự kiến sẽ tung ra thị trường một loại râu điện tử để giám sát ổ phanh của các toa xe lửa. Hệ thống phát mini nạp năng lượng nhờ sự rung động khi tàu chạy. Một cuộn kim loại rất nhỏ tiếp nhận sự rung động này, sự rung động này diễn ra nhiều lần trong một giây đồng hồ qua một thanh nam châm. Từ đó tạo điện áp, như ở đynamô – xe đạp. Thậm chí loại GPS-Chips đòi hỏi nhiều năng lượng lắp trong Container trên tàu hỏa cũng có thể áp dụng kỹ thuật này để lấy điện.  Những loại cảm biến mới này xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta sẽ có những công tắc đóng mở không dùng pin để điều khiển hệ thống lò sưởi hoặc hệ thống chiếu sáng.   Sức sống của một định luật  Sở dĩ Energy Harvesting có thể vận hành được chính là nhờ một định luật tự nhiên. Nhà vật lý Julius Robert von Mayer (Đức) đã phát hiện định luật này năm 1840. Ở tuổi 26, khi là bác sỹ làm việc trên một tàu biển của Hà Lan chạy tuyến Indonesia ông phát hiện vùng biển có nhiều sóng bao giờ cũng ấm áp hơn so với vùng biển lặng.  Và von Mayer cho rằng sự chuyển động đã tạo ra nhiệt. Từ phát hiện tình cờ này nhà vật lý nghiệp dư đã phát triển một trong những định luật vật lý quan trọng nhất đó là định luật bảo toàn năng lượng. Nội dung của định luật này là: năng lượng không bao giờ mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác.   Các chuyên gia kỹ thuật dựa vào định luật này tái sử dụng những năng lượng bị coi là “năng lượng phế thải” và biến chúng thành năng lượng điện.   Với chiếc máy bay chạy điện X2 do hãng chế tạo máy bay điện của Mỹ Electraflyer đưa ra thị trường trong năm nay, chỉ cần ấn nút là lượng năng lượng phát sinh khi cất cánh hay hạ cánh và khi bay được chuyển vào một máy phát điện để biến thành điện nạp vào bình ác quy trên máy bay. Điều này có nghĩa là máy bay có thể bay liên tục cả ngày mà không hết điện.   Những người sử dụng loại ô tô hybrid (ô tô lai) như model Prius của hãng Toyota đã biết mỗi khi hãm xe, máy phát điện sẽ hoạt động. Khi gặp đèn đỏ, người ta hãm xe, lượng điện thu hồi được đủ để sau đó xe chạy được vài trăm mét mà không tiêu hao nhiên liệu.  Để tiết kiệm nhiên liệu tới đây sẽ có những những máy phát điện có khả năng thu hồi nhiệt ở ống xả để biến thành điện năng: Tập đoàn công nghệ Siemens, Bosch và Viện Kỹ thuật đo lường Fraunhofer Freiburg (IPM) tham gia dự án EU HeatReCar với ý tưởng trên. Mục tiêu là tạo được một Kilowatt, tiết kiệm được 5% nhiên liệu.  Sắp tới, ngay từ năm 2012 các loại xe buýt và xe tải có thể được lắp giảm xóc của hãng US-Startups Levant Power và có thể sản sinh tới 400 Watt điện. Sau nhiều thí nghiệm người Mỹ hy vọng với loại giảm sóc này mỗi xe tải mỗi năm tiết kiệm được 1% nhiên liệu. Thoạt nghe thì dường như mức tiết kiệm này chẳng đáng bao nhiêu, nhưng nếu bình quân một xe tải ở Mỹ chạy một năm khoảng 192.000 km thì bình quân một năm cũng tiết kiệm được 800 USD nhiên liệu.  Đi vào cuộc sống thường ngày  Những loại công nghệ này sẽ ngày một quan trọng hơn vì giá nhiên liệu ngày một tăng và các nhà chế tạo ô tô cứ vài năm lại phải thực hiện các quy định khắt khe hơn về khí thải CO2.   Chi phí năng lượng tăng cũng là một gánh nặng đối với ngân sách của các địa phương. Các địa phương ở Đức chi mỗi năm 570 triệu Euro để chiếu sáng đường phố. Đấy là chưa kể đến khoản chi phí cho các cảm biến giao thông hay bảng chỉ dẫn điện tử.   Cả ở lĩnh vực này Energy Harvesting cũng đưa ra các giải pháp: Đơn vị quản lý hệ thống đường cao tốc ở Pháp Autoroute Paris-Rhin-Rhône đã thử sản xuất điện gió trên một đoạn đường thuộc xa lộ A6 phía nam Paris, điện gió được sản xuất từ sức gió do xe ô tô chạy qua tạo nên. Lượng điện tạo ra ở trạm thí nghiệm này đủ để cung cấp cho các bảng thông tin điện tử hay cho các trạm thời tiết.   Doanh nghiệp Startup Innowattech của Israel còn tạo ra điện từ mặt đường ô tô. Các chuyên gia đính vào lớp nhựa trên mặt đường sợi-gốm áp điện tử (piezoelektronischen Fasern – Keramiken), khi mặt đường chịu lực nén thì sản sinh ra điện.  Người Israel đã thử nghiệm trên đoạn đường dài 10 mét có mật độ xe chạy dày đặc mỗi giờ thu được 200 Kilowatt giờ – lượng điện này đủ dùng cho 300 hộ gia đình. Chuyện này nghe như chuyện khoa học viễn tưởng. Nhưng điều này đã được áp dụng trong thực tế, cụ thể là ở câu lạc bộ khiêu vũ ở London và Rotterdam: Doanh nghiệp Startup Sustainable Dance Club của Hà Lan đã lắp đặt dưới sàn nhảy những dynamo mini, các bước nhảy của các thành viên câu lạc bộ này đủ để tạo được điện thỏa mãn nhu cầu thắp sáng ở câu lạc bộ.  Cơ thể con người cũng là một nhà máy điện với nhiều con số gây bất ngờ: khi đi lên cầu thang con người xử dụng 200 Watt năng lượng vận động, khi nghỉ ngơi nhiệt lượng cơ thể là 70 Watt, khi phóng xe đạp các vận động viên vào lúc đỉnh điểm có thể tạo ra một Kilowatt. Một số thiết bị thể dục thể hình của hãng US-Startups The Green Revolution đã tận dụng điều này để tạo ra điện – do chi phí sản xuất thiết bị quá cao nên khả năng này mới được dùng vì mục đích quảng cáo.   Tuy nhiên các thầy thuốc muốn tận dụng năng lượng dự trữ trong cơ thể con người để cung cấp điện cho những thiết bị cấy ghép trong cơ thể người. Nhà nghiên cứu Zhong Lin Wang thuộc Viện Công nghệ Georgia ở bang Atlanta (Hoa kỳ) nghiên cứu dùng dây áp điện tử để lấy năng lượng từ sự vận động của động mạch phục vụ các thiết bị y tế mini thí dụ các cảm biến vô tuyến để đo áp lực trong huyết quản.   Các nhà y học cũng muốn làm sao để các thiết bị tạo nhịp tim có khả năng tự túc về điện. Cho đến nay cứ mười năm các bệnh nhân lại phải phẫu thuật một lần để thay pin. Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu hệ thống vi kỹ thuật (Institut für Mikrosystemtechnik) (Imtek) ĐH Freiburg đã thiết kế một tế bào nhiên liệu lấy điện từ đường huyết. Nhà nghiên cứu Sven Kerzenmacher của Imteck hy vọng sau vài năm nữa sẽ có thiết bị tạo nhịp tim không bao giờ hết điện.   Những thiết bị chuyển hóa năng lượng kiểu mới cũng sẽ giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày – thí dụ khi pin trong MP3 hết điện mà người sử dụng lại đang trên đường công tác. Hãng Startup Tremont Electric của Mỹ bán thiết bị chuyển hóa năng lượng dạng dynamo, thiết bị này chuyển hóa năng lượng vận động cơ thể thành điện năng: thiết bị là một thanh tròn, dài 23 cm có tên là nPower PEG có thể gắn vào ba lô và tạo ra điện theo bước chân. Theo nhà sản xuất thì đi bộ một phút đủ để có điện cho iPod Nano hoạt động trong một phút.  Nghe như vậy thì có cảm giác lượng điện không nhiều nhặn gì. Nhưng công nghệ này có thể giải quyết những vấn đề cơ bản trong cuộc sống: chuyên gia của tổ chức viện trợ phát triển Uncharted Play đã áp dụng công nghệ này để tạo điện trong quả bóng tròn, mang tên Soccket, trong tháng 9 này Soccket sẽ được tặng cho các thôn bản hẻo lánh ở châu Phi, ở đây thường không có điện nhưng trẻ em lại rất ham mê đá bóng. Ban ngày khi các em chơi bóng bên trong quả có gắn thiết bị tạo ra điện và tích vào bình ắc quy . Buổi tối bố mẹ các em gắn quả bóng vào đèn-LED: theo tổ chức Uncharted Play nếu chơi bóng độ 15 phút thì có đủ điện chiếu sáng trong ba giờ đồng hồ.   Energy Harvesting phát triển mạnh nhất trên biển cả. Dọc bờ biển Hawaii, Nasa đã tiến hành thử nghiệm dài ngày đối với tàu ngầm-Drohnen (U-Boot-Drohne) và thấy rằng có thể tạo ra những phương tiện đi biển tự tạo năng lượng điện.  Con tàu hình ngư lôi tận dụng sự chênh lệch nhiệt độ ở các độ nước sâu khác nhau để tạo ra điện: những vật liệu chuyên dụng thường co lại khi nhiệt độ thấp do tàu ở sâu dưới nước; khi tàu ngoi lên vật liệu này dãn ra và nén vào dầu, áp lực của dầu kích cho máy phát điện hoạt động; nhờ đó tàu ngầm có thể hoạt động liên tục. Không lâu nữa các nhà nghiên cứu sẽ biến ước mơ về một con tàu hoạt động vĩnh cửu thành sự thật.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ niệm 200 năm ngày sinh của William Froude      &#160;Một hội thảo vừa được tổ chức long trọng tại Anh để vinh danh William Froude, tác giả của mô hình bể thử bể thử tàu đầu tiên của loài người mà tất cả các bể thử tàu sau này đều áp dụng.     Với những ai làm trong nghề đóng tàu và hàng hải, tên tuổi của Froude chẳng có gì xa lạ. Ngay từ khi còn mài ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta biết tới tên ông sau khi đã đánh vật với hàng loạt công thức, phương trình mang tên những bực tiền bối của ông, nào độ nhớt Reynolds, phương trình Navier, rồi công thức Stockes, những nhà thủy động học mà tên tuổi mãi mãi gắn với các con tàu.   Froude sinh vào năm 1810, ông sinh ra thật đúng lúc, hình như ông được chọn sinh ra để thi thố tài năng. Đó là giai đoạn trị vì của Nữ Hoàng Anh Victoria (từ năm 1837 tới năm 1901, tức là kéo dài 64 năm, một giai đoạn dài nhất trong lịch sử nước này), một giai đoạn huy hoàng để lại một dấu ấn lớn trong lịch sử mà người ta gọi là kỷ nguyên Victoria (Victorian era) với những cụm từ như kỹ thuật thời Victoria, phong cách ăn mặc thời Victoria, một giai đoạn nước Anh bành trướng với “mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh”… Đó cũng chính là giai đoạn phát triển tư bản mà sức người bị vắt cùng kiệt, đã bị lên án trong các tác phẩm của các nhà lý luận cộng sản kinh điển K. Marx, F. Engels, cũng như được mô tả trong các áng văn chương của Charles Dickens mà chính nhà văn là lao động khổ sai từ khi 12 tuổi. Đường sắt được xây dựng, tàu máy hơi nước phát triển, đèn gas thay cho nến… nhiều mảnh đất cho các nhà khoa học kỹ thuật phát triển.   Tốt nghiệp trường Oxford lừng danh với điểm ưu về toán học, Froude bị cuốn hút vào các công trình xây dựng đường sắt do Brunel phụ trách. Có lẽ cũng cần nói thêm một chút về người kỹ sư hơn Froude 4 tuổi mà năm 2006, khi kỷ niệm 200 năm ngày sinh, Brunel – thông qua một chương trình của BBC – được đánh giá là nhân vật thứ hai trong số 100 người Anh nổi tiếng nhất mọi thời đại. Đầu quân cho Brunel, chàng trai trẻ Froude bị cuốn hút theo những chương trình “rồ dại” khác người của chàng kỹ sư xây dựng con đường sắt với cái hầm chui xuyên núi nổi tiếng mang tên Brunel đã nối dài và cắt ngang nước Anh ra tới tận bờ biển. Vậy muốn đi tiếp sang Mỹ phải làm gì? Tất nhiên chỉ có tàu biển mới vượt được Đại Tây Dương. Brunel bắt tay chuyển nghề sang đóng tàu với những con tàu lớn nhất thời bấy giờ mang những cái tên như tàu “Great Western-Phương Tây Vĩ Đại” rồi tới “Great Eastern-Phương Đông Vĩ Đại”.   Có lẽ vì Brunel mà Froude cũng bắt đầu gắn bó với sông biển và tàu thuyền. Khác với Brunel nặng thực hành, Froude suy tưởng tới những vần đề cơ bản của kỹ thuật đóng tàu. Cho tới lúc này, mặc dầu đã có đóng góp của rất nhiều nhà khoa học kỹ thuật từ cổ tới kim như Achimedes cổ Hy Lạp tới các nhà toán học cận đại như Euler, Bernoulli, Navier… đóng tàu vẫn mang màu sắc một nghề của nghệ nhân, của các “lò” truyền thống cha truyền con nối kiểu như “ghe Gò Công” hay “nôốc Huế” ở nước ta.   Đã biết vẽ tuyến hình tức là có thể tính toán với các công thức gần đúng Simpson nhưng với những kết quả cuối cùng của con tàu như tốc độ, các tính năng hàng hải… thì người ta gần như không dự đoán trước được mà chỉ sau khi có con tàu thật mới cho chạy rút kinh nghiệm để làm những con tàu tiếp theo cùng một prototype, tức là phải đem con tàu thật ra làm thí nghiệm, một việc làm vô cùng tốn kém.   Nhiều nhà khoa học trước Froude đã nảy sinh ý nghĩ tại sao không thử trước với những con tàu bé tí hon, những mô hình thu nhỏ của con tàu định đóng. Tất nhiên, hàng loạt bài toán được đặt ra: liệu mô hình có đồng dạng với tàu thật, làm sao cho điều kiện lúc thử tương đồng sóng gió biển, bằng cách nào suy luận được bằng con số từ kết quả thử sang số liệu thật v.v. Là một nhà toán học kiêm kỹ sư thực hành, ông không chờ giải quyết hết thảy mọi vấn đề mà bắt tay ngay một việc vô cùng đơn giản thể hiện một quyết tâm mày mò thực nghiệm: dùng thuyền kéo một chiếc mô hình chạy trên sông gần nhà. Tiếp đến, Froude cho xây dựng một con kênh nhỏ, tức bể thử tàu đầu tiên thế giới ngay tại nhà mình. Mô hình con tàu được làm bằng nến, một hệ xe kéo trên đường ray làm cho con tàu tí hon chuyển động làm bằng sắt mỏng do tự tay ông cắt hàn, một hệ thống chuyển dữ liệu và ghi chép, việc suy luận kết quả từ con tàu tí hon sang tàu thật, đó là những di sản mà Froude đã để lại, được tất cả các bể thử tàu sau này đều áp dụng.   Chỉ với hai nghìn bảng Anh trợ cấp từ Bộ Hải quân, do Kỹ sư trưởng Edward Reed của Bộ nghe tin về những kết quả bước đầu của Froude, nhà phát minh đã cố giật gấu vá vai xây bể thử ngay trong khu đất nhà mình, không nhận thù lao mà chỉ chi một số tiền nhỏ nhoi cho đứa con thứ ba R. E. Froude, nay đã là một trợ thủ đắc lực của bố. Và khi William qua đời vào năm 1869, Froude-Con là người chỉ huy toàn bộ việc di chuyển bể thử xuống Haslar, sát với quân cảng Portsmouth, tận cùng phía đông nam nước Anh.   Chỉ trong hai thập kỷ bể thử này đã thí nghiệm cho 500 con tàu trong đó có 61 tàu tuần dương, 33 tàu khu trục, 14 tàu ngầm… góp phần tạo nên huyền thoại về sức mạnh của đế quốc Anh trên biển. Các nước thi nhau mời Froude-Con làm cố vấn xây các bể thử tương tự như bể tại St Petersburg của Nga, bể tại Spezia nước Ý…  Cuộc hội thảo vinh danh Froude  Từ ngày 21 đến 25 tháng Mười Một năm nay, tại ngay đường phố mang tên Froude của cảng Portsmouth, một hội thảo mang tên “Hội thảo quốc tế William Froude –Những tiến bộ của thủy động học tàu thủy lý thuyết và ứng dụng – Quá khứ và Tương lai”, đã được Đăng kiểm Lloyd’s, Hội Đóng Tàu Hoàng Gia Anh Rina, Tập đoàn Kỹ thuật quân sự Qinetiq cùng đài BBC long trọng tổ chức để vinh danh William Froude…   Hai thế kỷ đã trôi qua, ngành thủy khí động học và các bể thử tàu đã trải qua biết bao thay đổi. Cũng vẫn là xe kéo chạy trên đường ray, vẫn là các mô hình, nhưng máy tính và các phần mềm đã thực sự làm một cuộc cách mạng tại các bể thử tàu. Thử mô hình thực chất là một cuộc mô phỏng vật lý, từ mô hình tí hon và sóng nước tự tạo (dùng các cánh đập) suy ra cho con tàu thật thì kỹ thuật mô phỏng trên máy tính ngày nay có thể tạo ra con tàu ảo, biển cả ảo mà như thật.   Với người bình thường chúng ta, nếu có một lần ghé qua các trò chơi điện tử đầy hấp dẫn, hay những cuốn phim 3-D như Avatar, Shrek… của Hollywood, ta cũng thấy được phần nào kết quả của mô phỏng trong văn hóa nghệ thuật. Còn đối với các hãng hàng không, các công ty chế tạo thiết bị vũ trụ, các tập đoàn đóng tàu…, công nghệ CFD, một ngành khoa học mới có tên là Động Học Tính Toán các Lưu Chất (viết tắt các chữ Computational Fluids Dynamic) với sự trợ giúp của các siêu máy tính có thể mô phỏng và tính toán các con tàu vũ trụ, tính tốc độ và các chỉ tiêu của con tàu chả thua kém gì kết quả từ các bể thử tàu thật. Nhiều bài toán ví như bài toán tàu trên mặt nước tự do là một trong những bài toán quan trọng nhất và khó khăn nhất đối với thủy động học tàu thủy khiến cho ta phải lý tưởng hóa trường dòng chảy với những thừa nhận chiều cao sóng nhỏ… Nhưng với CFD ta không cần phải chấp nhận những giả thiết đó, và kết quả tính toán khảo sát gần với thực tế hơn.     Trường dòng chảy quanh con tàu trên bề mặt tự do được mô phỏng bằng CFD,   một bài toán khó giải trước đây với nhiều giả thiết để đơn giản hóa bài toán  Hãng SSPA Thụy Điển là một cơ sở với 60 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu bể thử và thiết kế tàu, một cơ quan đã từng thiết kế tàu ngầm lớp Visby của Hải Quân nước này. Dùng công nghệ CFD, hãng SSPA đã thực hiện nhiều nghiên cứu về hành vi của tàu ngầm.     Thay vì phải dùng bể thử, bằng code ShipFlow và Fluent của CFD,   hãng SSPA Thụy Điển xác định được sự phân bố dấu vết sóng và phân bố áp suất   quanh tàu ngầm dài khoảng 60 mét chạy với tốc độ 8 hải lý/giờ trong vùng nước nông   Hội các Bể Thử Tàu Quốc Tế ITTC (viết tắt các chữ International Towing Tank Conference) là nơi tập họp vài chục hội viên, từ những bể thử hang đầu thế giới với các kết quả đã đưa vào sách giáo khoa dạy dỗ các nhà đóng tàu trẻ tuổi như bể David Taylor Hoa Kỳ, bể Wageningen Hà Lan cho tới các bể thử bé nhỏ dung để minh họa học tập giảng dậy của một số nước không có nhiều sông biển như Bulgaria, Romania…  Hiện nay ITTC cứ ba năm hội họp một lần. Kỳ họp lần thứ 26 sắp tới sẽ diễn ra tại Rio de Janeiro Brazil vào tháng Tám năm 2011. Hầu như tất cả các bể đó đều dung công nghệ CFD như một phương tiện hỗ trợ đối chiếu với một loạt hệ máy tính chuyên dụng.    Bể thử tàu ở nước ta   Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, khi bắt tay vào học đóng và thiết kế những con tàu nhỏ bé đầu tiên trên miền Bắc Việt Nam, việc cần thiết trang bị một bể thử  tàu đã được các nhà lãnh đạo đề cập tới. Trải qua nhiều năm tháng, tại Đại học Hàng hải Hải Phòng đã xây dựng xong bể thử mô hình với trang thiết bị của hãng Cussons Anh Quốc chế tạo.     Thiết bị kéo mô hình thử tàu của hãng Cussons Anh Quốc   tại bể thử tàu Đại Học Hàng Hải Hải Phòng  Còn tại cơ quan thiết kế tàu lớn nhất của cả nước mà nay là Viện Nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc Vinashin đã xây dựng một bể thử tại khu vực Hoàng Mai gần bến xe Giáp Bát Hà Nội. Công trình đang dở dang lại được di chuyển lên khu vực đất cực đẹp tại Hòa Lạc, Thạch Thất, trong một chương trình quốc gia, là một trong 17 phòng thí nghiệm khoa học kỹ thuật trọng điểm. Bản tin Vinashin cho biết:      “Công trình được khởi công xây dựng ngày 13/8/2009 với diện tích khoảng 25ha, quy hoạch chia thành 5 khu chính: Khu thí nghiệm có diện tích 10,5 ha; Khu đào tạo 3,5ha; Khu trung tâm điều hành 2,4 ha; Khu chuyên gia và phục vụ: 1,6 ha; Khu thử nghiệm ngoài trời 6,9 ha. Tổng mức đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng, đây sẽ là một trung tâm nghiên cứu khoa học-thử nghiệm lớn nhất về tàu thủy và công trình biển ở trong nước và khu vực, với các trang thiết bị thí nghiệm hiện đại, đồng bộ; đủ năng lực giải quyết mọi vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực: kỹ thuật tàu thuỷ, kỹ thuật biển, thuỷ khí động lực học và một số lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp khác; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tiến tới gia nhập và trở thành thành viên của Hiệp hội Bể thử thế giới.”      Điều đáng tiếc là ngay trong đợt kiểm tra vào cuối năm 2009, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện thấy nhiều sai sót, trong đó ngoài những thiếu sót về quản lý lỏng lẻo, để mất mát vật tư tiền của, khiếm khuyết lớn nhất trong dự án này theo báo cáo của Thanh tra là dự toán không hết, phải bổ sung nhiều lần vì không thấy hết được mọi vấn đề.   Ta có thể hiểu rằng, bể thử là một phức hợp khoa học công nghệ, đòi hỏi phải có một đội ngũ xây dựng, quản lý điều hành thuộc nhiều chuyên ngành như thủy động học, toán ứng dụng, cơ điện tử… Trong khi đó, đội ngũ thực hiện hiện nay là những người làm nghề đóng tàu, tức là những người chủ yếu sử dụng kết quả của bể thử.   Bởi vậy trong cuộc hội thảo kỷ niệm 200 năm ngày sinh William Froude được tổ chức bởi Hội KHKT Biển TP Hồ Chí Minh dưới sự chủ trì của tiến sĩ – nguyên Phó đô đốc Hải quân Lê Kế Lâm, các vị đại biểu đã nêu rõ sự cần thiết phải có đóng góp của toàn bộ giới KH-CN đối với bể thử này. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, kinh tế đang phát triển, việc đầu tư cho công trình này là một quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.   Với tinh thần đó, theo ý kiến kết luận của tiến sĩ Lê Kế Lâm, bể thử nên là một bộ phận của Trung tâm thủy khí Quốc gia phục vụ cho toàn bộ sự nghiệp xậy dựng và bảo vệ chủ quyền của đất nước, cho các ngành hàng hải, hàng không, công nghiệp đóng tàu, thủy lợi…, như vậy mới có điều kiện tập trung tiền của, nhân tài vào thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 mà Đảng đã đề ra.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ sư Hồ Quang Cua: Đổi vận hạt lúa Sóc Trăng      Hơn 20 năm gắn bó với cây lúa, kỹ sư Hồ Quang Cua, nguyên Phó Giám đốc Sở NN&amp; PTNT Sóc Trăng, đã đem lại danh tiếng cho hàng chục giống lúa thơm ST không chỉ ở thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế.      Trong quá trình thực địa ở các địa phương, kỹ sư Hồ Quang Cua đã phát hiện ra nhiều giống lúa bản địa thơm dẻo ngon cơm nhưng ít người nông dân quan tâm canh tác vì lý do dễ bị sâu bệnh, năng suất thấp. Khi đó, ông và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu về lúa ở Sở NN & PTNT Sóc Trăng đã bỏ công lai tạo, nhân giống lúa… trong phòng thí nghiệm. Thành công đầu tiên của ông là tìm được cá thể VD20 đột biến đầu tiên, cơ sở để hình thành giống lúa ST3 vào năm 2001, một trong những giống lúa thơm chủ lực được nhân ra đại trà khắp đồng bằng sông Cửu Long.   Theo nhận xét của các nhà chuyên môn, ST3 có thời gian sinh trưởng và năng suất thu hoạch tương đương với giống lúa chất lượng cao IR 64, vốn được nhập nội và tuyển chọn từ Viện lúa Quốc tế IRRI,  nhưng có chất lượng gạo tốt hơn và ít bị bạc bụng. Ưu điểm lớn nhất của ST3 là hoàn toàn phù hợp với thổ nhưỡng của các địa phương vùng ĐBSCL và có khả năng sinh trưởng rất tốt, cho năng suất cao ở các vùng thổ nhưỡng ven biển.   Sau thành công bước đầu này, kỹ sư Hồ Quang Cua đã tiếp tục tìm ra hàng loạt giống lúa thơm ST và hình thành bộ sưu tập giống lúa ST1 đến 20 và ST3 đỏ. Bộ sưu tập lúa thơm ST của ông có tới 20 giống lúa, qua đó định hình một trong những chỉ dẫn địa lý gạo thơm hàng đầu của Việt Nam.   Trong số 20 giống lúa này, đáng chú ý có giống ST màu tím than giàu vitamin, chứa chất chống ô xy hóa anthocyanin, quá trình gây ra sự lão hóa ở con người nên được mệnh danh là “gạo dược liệu”. Từ hạt gạo ST màu tím than này, những “bữa cơm nên thuốc” đã được người mắc bệnh tiểu đường, béo phì, cao huyết áp… hoặc những người ăn kiêng thực dưỡng ưa chuộng. Theo kỹ sư Hồ Quang Cua, giống gạo thảo dược này có thể đem lại thu nhập bình quân của người dân tăng 30-50% so với gạo trắng thường vì “tùy từng thời điểm mà giá gạo thảo dược cao hơn từ 60 đến 70% gạo trắng, qua đó thu nhập người nông dân cao hơn bình thường”.   Không chỉ tạo ra những giống lúa ST chất lượng cao, ông Hồ Quang Cua còn quan tâ, đến khâu đầu ra cho sản phẩm. Ông cho rằng, trong quy trình sản xuất lúa gạo hiện nay có bốn khâu chính nhưng người nông dân chỉ tham gia hai khâu cực nhọc nhất nhưng lại thu lời ít nhất. Vì vậy để đảm bảo cho người nông dân có được thu nhập tương xứng với sức lao động, ông và ban giám đốc Sở NN & PTNT Sóc Trăng đã tìm mọi cách đưa hạt gạo ST đến thẳng thị trường trong và ngoài nước. Một bước quan trọng trong hành trình đó là đăng ký chỉ dẫn địa lý cho các giống gạo thơm ST. Nhờ vậy, giá bán gạo ST trên thị trường xuất khẩu và trên thị trường nội địa luôn đứng vững ở mức cao hơn 600 USD/tấn, đem lại cuộc sống ổn định cho người trồng lúa ST.  Đến nay, vùng nguyên liệu cho các giống lúa thơm ST đã được mở rộng đến 30.000 hecta và đạt ngưỡng giá trị sản xuất mỗi ha đất canh tác là 50 triệu đồng.   Để đi đến thành công, kỹ sư Hồ Quang Cua chia sẻ, bài học kinh nghiệm mà ông đúc rút là “chọn tạo được giống lúa thơm tại chỗ, thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, xây dựng được qui trình canh tác hiệu quả phù hợp với trình độ nông dân”.   Với những cống hiến của mình, Hồ Quang Cua đã được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lao động.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ sư, nhân vật trung tâm trong công nghiệp*      Ý tưởng cho bài này, người viết nghĩ tới đã lâu, chủ yếu là qua… sự vắng bóng nổi bật (hay nhẹ nhàng hơn, sự có mặt yếu ớt) của nghề kỹ sư trong các bài viết về khoa học, công nghệ hay giáo dục,  trên báo chí trong nước.      Hai lý do thúc đẩy quyết định biến ý tưởng đó thành hiện thực:   –    Trong một chuyến về nước gần đây, người viết đã có dịp trực tiếp trải nghiệm một điều đã đọc rất nhiều trên báo chí: những con đường đầy cạm bẫy với xe cộ, lô cốt, “hố tử thần”, hay chỉ là những ổ gà lởm chởm mặt đường… Khi bực mình thốt ra “mấy tay kỹ sư xây dựng đường sá thế này phải cho đi học lại hết”, anh bạn cùng đi đáp lại “không phải họ đâu, họ cũng có tay nghề đấy nhưng bị rút đi phần lớn phương tiện thì có thánh cũng chịu”. Anh bạn không phải không có lý, chuyện tham nhũng rút ruột công trình ai cũng biết, song có phải những người kỹ sư không có trách nhiệm, khi không quyết liệt đấu tranh, chỉ nhận làm với những điều kiện bảo đảm làm được tới nơi tới chốn, và đánh động dư luận nếu cần?   –    “Trách nhiệm với xã hội” cũng là một chủ đề được nêu trong bản báo cáo về nghề kỹ sư và phát triển, vừa được UNESCO xuất bản năm nay (tên tiếng Anh đầy đủ của báo cáo là “Engineering: Issues, Challenges and Opportunities for Development”). Đây cũng là báo cáo đầu tiên về chủ đề này do một tổ chức quốc tế đưa ra, với các bài đóng góp của 120 chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nhà kinh tế, chính khách, nhà khoa học, giáo sư đại học…), ngành nghề (xây dựng, cơ khí, điện và điện tử, môi trường, sinh hoá…), quốc tịch khác nhau (rất tiếc là không có Việt Nam).   Bài viết này không có tham vọng tóm tắt bản báo cáo dày 400 trang A4, chữ nhỏ, của UNESCO, nhưng sẽ sử dụng một vài khái niệm trích trong đó.  Kỹ sư, anh/chị là ai?  Theo từ điển Robert, nhà vật lý Louis de Broglie định nghĩa “Kỹ sư là một người thực hiện những ứng dụng của khoa học”. Đó là từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 trở đi, khi khoa học đã phát triển cao, và hầu như mọi sáng chế về công nghệ đều khởi đi từ những tri thức khoa học. Nhưng thực ra, cả trong tiếng Anh (engineer) và tiếng Pháp (ingénieur), từ mà chúng ta dịch là kỹ sư vốn dùng để chỉ những người chế tạo ra các máy móc dùng trong chiến tranh (engine, engin). Khi những máy móc dân sự ra đời trong cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên (1750-1850), từ “engine” cũng được dân sự hoá, và “engineer” trở thành người thiết kế, chế tạo ra các loại máy móc trong công nghiệp, rồi người điều khiển những máy móc ngày càng phức tạp cũng được mang danh hiệu đó.   Dần dần, với sự mở rộng của các ngành nghề công nghiệp, được coi là kỹ sư những người được đào tạo về khoa học – kỹ thuật đủ để tham gia điều khiển các công trình công nghệ phức tạp. Nhưng người được đào tạo thành kỹ sư cũng có thể, hoặc trực tiếp điều khiển các công trình đó, ngoài công trường hay trong xí nghiệp, hoặc làm việc tại các phòng nghiên cứu thiết kế (và sáng chế ra) toàn bộ hay từng bộ phận của công nghệ đó. Một người kỹ sư lành nghề cũng có thể tham gia tư vấn cho các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp khi cần nghiên cứu, thiết kế những giải pháp công nghệ cho một ý tưởng mà cơ quan, doanh nghiệp đó muốn đưa ra thực hiện – kể cả việc cân nhắc, so sánh hiệu quả kinh tế, xã hội của một công nghệ nào đó, vì trong quá trình công tác của mình, người kỹ sư đó cũng đã phải “đụng độ” với các vấn đề đó, suy nghĩ về chúng…  Như thế, không cần một định nghĩa “hoàn hảo”, ta vẫn thấy quan điểm trên kia của Louis de Broglie là quá hẹp, không đủ nói lên các khía cạnh phong phú và vị trí có thể nói là trung tâm của người kỹ sư trong công nghiệp hiện đại, nhất là trong những ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức cao.   Vậy các phẩm chất của người kỹ sư gồm những gì, người thanh niên muốn theo nghề kỹ sư cần được đào tạo ở nhà trường như thế nào? Vị trí xã hội của anh ta ra sao?  Đó là những câu hỏi không độc lập với nhau, và để trả lời thiết nghĩ đơn giản nhất là đưa ra vài ví dụ.   Một người kỹ sư hoá làm việc trên những chất hoá học được chế biến từ những vật liệu tự nhiên hay hoá chất khác, phải hiểu những tính chất đặc thù của các hoá chất đó, biết các phản ứng có thể hoặc tất yếu sẽ xảy ra khi kết hợp chúng với nhau (trong những điều kiện nhất định), để tạo ra các sản phẩm đáp ứng một yêu cầu nào của thị trường, hay giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các quá trình công nghệ. Nhiều phản ứng hoá học cũng đi liền với các phản ứng sinh học, vật lý, mà anh ta phải làm chủ được (trong công nghiệp chế biến thực phẩm, hay công nghiệp chế biến các chất vô cơ như dầu, khí, than…) mới có thể nghĩ ra những thao tác, những phương pháp sản xuất mới, hữu hiệu và kinh tế hơn trước.   Người kỹ sư cơ khí thao tác và chế tạo ra các loại máy móc, vật liệu dùng trong giao thông vận tải, trong sản xuất năng lượng v.v., ngoài vật lý cổ điển (như cơ học, nhiệt học, thuỷ động học, điện và điện từ), càng ngày càng phải có những hiểu biết sâu rộng về điện tử, về toán ứng dụng (lý thuyết điều khiển, lý thuyết phần tử hữu hạn), về các phương pháp thiết kế trên máy tính điện tử…  Người kỹ sư cầu đường vẽ ra và xây dựng những con đường mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của cả nước và các vùng chúng đi qua, phù hợp địa hình và môi trường của vùng; làm cầu, hầm khi cần thiết. Cả cầu và đường phải đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, để không dễ bị phá huỷ bởi thiên nhiên và con người trong quá trình sử dụng, tôn trọng quang cảnh của khu vực – và đẹp nữa, nếu có thể!   Đòi hỏi của xã hội  Tóm lại, người kỹ sư trước hết phải có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để sáng tạo, thiết kế ra những sản phẩm công nghiệp mới, hữu ích, dễ sử dụng, có tính mỹ thuật cao v.v.   Nhưng mặt khác, anh ta phải luôn luôn nhớ rằng tất cả những sản phẩm mình góp phần làm ra ấy đều là những sản phẩm xã hội, người sử dụng tiềm năng là toàn xã hội (dùng chung, như đường sá, điện năng) hoặc các cá nhân nhưng ở mức độ phổ thông – khác với những sản phẩm thường duy nhất của nghệ thuật.   Người kỹ sư thường được nhắc nhở rằng, nếu một bác sĩ chẩn bệnh sai, anh ta có thể làm cho một hay vài bệnh nhân bị thiệt mạng, nhưng một công trình xây dựng, một chiếc máy bay thiết kế/thi công sai có thể làm cho hàng trăm người thiệt mạng, hoặc gây thiệt hại lớn cho toàn xã hội (cầu mới xây, thậm chí chưa xây xong đã sụp đổ, “hố tử thần”… là những ví dụ điển hình, đã và đang xảy ra quá nhiều ở Việt Nam). Những đồ chơi không bảo đảm an toàn cho trẻ em vì làm bằng một hoá chất có tiềm năng độc hại, là một ví dụ khác.  Trên một công trường xây dựng (nhà cửa, đường sá), nếu một công nhân làm ẩu, sai quy trình kỹ thuật, thì người đốc công phải can thiệp ngay, bắt làm lại. Nhưng nếu toàn bộ công việc (của một công đoạn nào đó, hay của toàn bộ công trình) được hoàn thành đúng quy trình mà công trình không sử dụng được, hoặc bị hư hại sớm so với thời hạn sử dụng được bảo đảm trên nguyên tắc (thời hạn đảm bảo trên nguyên tắc này thường ngắn hơn nhiều so với thời hạn sử dụng thực tế nếu công trình được thiết kế tốt và thi công nghiêm chỉnh(1), thì người kỹ sư phụ trách phải chịu trách nhiệm chính: quy trình kỹ thuật anh ta đưa ra “có vấn đề”, xử lý nền móng không đầy đủ, chất lượng vật liệu không đáp ứng các thông số kỹ thuật, thiết kế sai sót vì tính thiếu một điều kiện ràng buộc… Cũng vậy, một chiếc xe hơi, chiếc máy bay xuất xưởng mà xảy ra sự cố nghiêm trọng trước thời hạn bảo hành thì hãng sản xuất một mặt phải bồi thường khách hàng (2) mặt khác chắc chắn sẽ xem xét trách nhiệm của người kỹ sư phụ trách thi công hoặc thiết kế ra sản phẩm có lỗi.   Người kỹ sư không có quyền “đánh cuộc” với sức khoẻ, sinh mạng của người khác khi thiết kế và/hoặc thi công ra sản phẩm.  Những điều đó đòi hỏi người kỹ sư phải rất nghiêm ngặt trong công việc, có tinh thần trách nhiệm cao, và biết làm việc chung với những người khác, để bảo đảm cho các sản phẩm của mình có đầy đủ các tính năng được trông đợi và không gây ra thiệt hại cho xã hội khi vận hành – cũng như bảo đảm tối đa cho sức khoẻ của người công nhân trong quá trình làm ra sản phẩm.   Với các đòi hỏi đó, xã hội công nghiệp luôn luôn tôn trọng nghề và người kỹ sư, thể hiện ở hai mức: đối với số đông, là điều kiện làm việc tốt, lương bổng cao (3), và với những người xuất sắc, là sự vinh danh qua nhiều hình thức. Louis Blériot (xe hơi, máy bay), Nicolas Léonard Sadi Carnot (nhiệt động học), Rudolf Diesel (máy nổ), Thomas Edison (điện), Henri Ford (xe hơi), Gustave Eiffel (xây dựng), Nikola Tesla (máy móc cơ, điện) v.v., là những tên tuổi luôn được nhắc tới trong sách vở viết về khoa học, công nghệ, trong các viện bảo tàng khoa học, được đặt tên cho các đường phố ở nhiều thành phố trên thế giới. Họ sống mãi với lịch sử nhân loại.    Trở thành người kỹ sư  Các nước châu Âu quan tâm tới việc đào tạo kỹ sư ngay từ đầu thế kỷ 18. Đầu tiên là một trường mỏ và luyện kim, thành lập năm 1702 ở Freiberg (Đức), năm năm sau, một viện đại học kỹ thuật được thành lâp ở Praha (Tiệp). Pháp mở ra hệ thống đào tạo kỹ sư của mình vào nửa sau thế kỷ 18: trường cầu cống được thành lập năm 1747, trường mỏ năm 1783, và trường bách khoa năm 1794. Nhưng theo TS Tony Marjoram trong Báo cáo UNESCO, chính mô hình đào tạo kỹ sư của Pháp, với một phần khá quan trọng dành cho khoa học cơ bản, mới là mô hình mà các nước châu Âu và Hoa Kỳ noi theo khi lần lượt các nước này thành lập những đại học kỹ thuật vào đầu thế kỷ 19: Đức với các trường Berlin, Karlsruhe, Munich, Dresden, Stuttgart, Hanover và Damstadt trong hơn 30 năm, từ 1799 đến 1831, song song với ý tưởng đại học nghiên cứu của Humboldt; Nga với trường St Petersburg năm 1825 và Moscou năm 1831; Mỹ với West Point năm 1819, Rensselaer năm 1823 và Ohio năm 1828 v.v. Trong khi đó, Anh chọn đào tạo qua thực tiễn, với chế độ thực tập tại các xưởng máy rồi trở thành kỹ sư mà không nhất thiết phải học qua đại học.  Tới cuối thế kỷ 19 thì hầu hết các nước đã công nghiệp hoá đều có trường đào tạo kỹ sư theo mô hình Pháp – Đức. Ngày nay, với sự tiến bộ như vũ bão của nền kinh tế tri thức, nhiều thách thức mới được đặt ra cho sự đào tạo kỹ sư, mà ba tác giả Anette Kolmos, Mona Dahms và Xiang Du tóm tắt trong bài viết của mình trong Báo cáo:  –    Các hiểu biết (về công nghệ) thay đổi rất nhanh, đặc biệt trong công nghệ tin học và viễn thông;  –    Sáng tạo không còn dựa trên các hiểu biết cá nhân mà phần lớn trên tri thức có tính tập thể;  –    Sự cộng tác để tạo thành tri thức tập thể đó ngày càng diễn ra trên diện rộng (về mặt địa dư, trong quá trình toàn cầu hoá) và liên ngành;  –    Đòi hỏi của xã hội về phát triển bền vững đặt ra những thách thức về công nghệ tôn trọng môi trường và có trách nhiệm xã hội.  Thách thức mới đòi hỏi những kỹ năng mới. Hai tổ chức chứng thực về đào tạo kỹ sư ABET (Accreditation Board for Engineering and Technology, của Mỹ) và EUR-ACE (European Accreditation Board for Engineering Education) đưa ra nhiều tiêu chí để công nhận một bằng kỹ sư, trong đó các tiêu chí sau được cả hai nêu ra:  –    Khả năng hoạt động trong các ê-kip liên ngành;  –    Khả năng chỉ ra và giải quyết các bài toán khoa học ứng dụng;  –    Hiểu rõ trách nhiệm nghề nghiệp và đạo lý;  –    Khả năng giao tiếp tốt;  –    Nền tảng giáo dục rộng, đủ để hiểu tác động của các giải pháp trong một khung cảnh xã hội toàn cầu;  –    Biết thừa nhận sự cần thiết phải học suốt đời và khả năng đeo đuổi sự học đó;  –    Hiểu biết về các vấn đề của thời đại;  –    Khả năng sử dụng các kỹ thuật, kỹ năng, và các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại trong thực tiễn nghề nghiệp của mình.  Danh sách các tiêu chí này cho thấy học để có bằng kỹ sư là một quá trình đòi hỏi sinh viên tập trung nhiều hơn ở nhiều ngành nghề khác (nhưng cũng cắt nghĩa tại sao lương kỹ sư dù mới ra trường vài năm cao không kém lương tiến sĩ!). Để có một khái niệm cụ thể hơn, tôi xin trình bày sơ lược về chương trình học ở một trường đào tạo kỹ sư ở Pháp, trường Đại học công nghệ Compiègne (UTC). Đây là một trường thường đứng ở “top 10” trong các bảng xếp hạng các trường kỹ sư Pháp, khi các tiêu chí về sinh viên tốt nghiệp được nêu cao (thời gian chờ có công việc đầu tiên ngắn, lương khởi điểm cao, trách nhiệm lớn sau 5 hay 10 năm làm việc…) – xem chi tiết tại địa chỉ mạng http://www.utc.fr/presentation-utc.php.  Chương trình gồm năm năm (ngang với thời gian đào tạo thạc sĩ), như tuyệt đại đa số các chương trình kỹ sư ở Pháp và nhiều nước châu Âu khác, chia làm hai giai đoạn.  Giai đoạn 1 gồm 4 học kỳ (hai năm (4), sinh viên các ngành học chung: các môn khoa học cơ bản – toán, lý, hoá, sinh, với một vài chọn lựa được giáo sư hướng dẫn cho phép; một vài tín chỉ về tin học, ngoại ngữ, kinh tế, triết học… Sinh viên bắt buộc phải đi thực tập 4 tuần tại một xí nghiệp hay phòng thí nghiệm khoa học, trong hay ngoài nước Pháp. Kỳ thực tập này thường diễn ra giữa hai học kỳ của năm thứ hai.  Giai đoạn 2 gồm 6 học kỳ (ba năm), học chuyên ngành: một số tín chỉ bắt buộc về khoa học cơ bản đối với ngành mình chọn (SV trong ngành học chung trong hai học kỳ đầu) và một số tín chỉ tuỳ chọn về khoa học ứng dụng – chuyên nghiệp hơn, trong các học kỳ 4 và 5; Song song, tất nhiên vẫn có những tín chỉ về kinh tế, quản lý, triết, sử, ngoại ngữ v.v. Về ngoại ngữ, SV có thể chọn một trong 7 ngôn ngữ được dạy (tiếng Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung, Nhật), và phải đạt trình độ B2 (tiêu chí châu Âu) trong ngôn ngữ này, nhưng nếu sinh viên không chọn tiếng Anh là ngôn ngữ chính thì vẫn phải học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (trừ khi đã có trình độ tiếng Anh B2 ở trung học)!  Ngoài ra, SV sẽ đi thực tập ở xí nghiệp, phòng thí nghiệm trong các học kỳ 3 và 6. Ở kỳ thực tập cuối, SV phải viết báo cáo như một luận văn tốt nghiệp.   Ở các trường kỹ sư khác tại Pháp, thông thường chỉ có một học kỳ thực tập. Nhưng một hay hai, chính các học kỳ thực tập này tạo nên nét đặc thù của đào tạo kỹ sư, so với các ngành đào tạo khác.  Thay lời kết  Theo dõi mục giáo dục đại học trên báo chí trong nước, người ta có thể dễ dàng nhận ra mối quan tâm dành cho các bằng tiến sĩ, thạc sĩ (đặc biệt là thạc sĩ quản trị kinh doanh – MBA) nhiều hơn hẳn so với bằng (và nghề) kỹ sư. Báo cáo của UNESCO cũng nhận xét: ở các nước phát triển, số kỹ sư nhiều hơn tiến sĩ, nhưng ở các nước chưa phát triển thì ngược lại. Tôi không biết thực tế ở Việt Nam như thế nào, song rõ ràng cả nghề và người kỹ sư không được xã hội đánh giá đúng mức (trong khi, như trình bày trên kia cho thấy, học lực và vị trí của bằng kỹ sư ở một nước công nghiệp là ngang với bằng thạc sĩ).   Rất có thể căn bệnh sính bằng cấp là nguyên nhân chính của tình trạng này. Nhưng có thể nào không nghĩ tới sự phát triển không lành mạnh mà nhiều người đã nêu ra, với số doanh nhân giàu lên vì buôn bán chứng khoán, bất động sản nhiều hơn là các chủ xí nghiệp công nghệ; với những “nhà sản xuất công nghiệp” mua công nghệ chìa khoá trao tay nhiều hơn là phát triển công nghệ nội địa (chỉ cần đọc lại các bài về khó khăn “nội địa hoá” ngành ô-tô) v.v.?   Các nhà báo cũng hay nói tới sự phát triển rất nhanh của điện thoại di động ở Việt Nam, có ai tự hỏi, bao nhiêu phần công nghệ trong những chiếc máy di động mà hầu như ai cũng có đó, là công nghệ được phát triển ở Việt Nam, sản xuất tại Việt Nam?  Báo cáo UNESCO đặt câu hỏi: làm sao phát triển nếu không có kỹ sư? Xin mượn câu hỏi này làm câu kết cho bài.           [*] Chẳng hạn, ở Pháp, luật pháp buộc người bán nhà mới phải bảo đảm là trong 10 năm đầu (tiếng Pháp là “garantie décennale”), nếu không xảy ra những sự cố lớn từ bên ngoài như động đất, hoả hoạn v.v., căn nhà phải không bộc lộ sai sót về thiết kế và thi công nào dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng làm mất đi tính bền vững hoặc không thể sử dụng được nữa. Tất nhiên, tuyệt đại đa số nhà cửa có độ bền hơn 10 năm nhiều.      [1] Một ví dụ: từ tháng 11.2009 đến đầu năm 2010, hãng Toyota phải gọi về 8 triệu chiếc xe để sửa lại một lỗi kỹ thuật trên chiếc bàn đạp ga.       [2] Ở Pháp, lương trung bình của kỹ sư tương đương hoặc nhỉnh hơn đôi chút với lương giáo sư đại học, ở khoảng 10% đầu trong thang lương của mọi ngành nghề.      [3] Mỗi học kỳ gồm 17 tuần, kể cả thi, cộng với những ngày nghỉ lễ thành khoảng 4 tháng rưỡi. Năm học bắt đầu tháng 9 với học kỳ “thu”, ngưng khoảng 5 tuần rồi tới học kỳ “xuân”, cho tới giữa tháng 7, nghỉ hè…  [4] Mỗi học kỳ gồm 17 tuần, kể cả thi, cộng với những ngày nghỉ lễ thành khoảng 4 tháng rưỡi. Năm học bắt đầu tháng 9 với học kỳ “thu”, ngưng khoảng 5 tuần rồi tới học kỳ “xuân”, cho tới giữa tháng 7, nghỉ hè…        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật AI trong tái tạo hình ảnh y tế có thể dẫn đến chẩn đoán không chính xác      Một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học ở Đại học Cambridge và Đại học Simon Fraser dẫn dắt đã thiết kế một loạt thử nghiệm các thuật toán tái tạo hình ảnh y tế dựa trên AI và học sâu. Họ nhận thấy những kỹ thuật này tạo ra vô số ảnh giả hoặc gây biến đổi dữ liệu, bên cạnh không ít lỗi nghiêm trọng khác trong hình ảnh đầu ra. Những lỗi này thường ít gặp trong những kỹ thuật tái tạo hình ảnh không dựa trên AI.    Hiện tượng này đã lan rộng trên các loại mạng thần kinh nhân tạo khác nhau, cho thấy vấn đề này sẽ không dễ khắc phục. Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng việc phụ thuộc vào kỹ thuật tái tạo hình ảnh dựa trên AI để đưa ra chẩn đoán và xác định phương pháp điều trị có thể gây hại cho bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trong tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.  “Nhiều người hào hứng với ứng dụng AI trong tái tạo hình ảnh y tế vì cho rằng có thể nó có tiềm năng cách mạng hóa y học hiện đại. Tuy nhiên, chúng ta không thể phớt lờ những cạm bẫy tiềm ẩn”, TS. Anders Hansen ở Khoa Vật lý lý thuyết & Toán ứng dụng, ĐH Cambridge, người phụ trách nghiên cứu cùng TS. Ben Adcock ở ĐH Simon Fraser cho biết. “Chúng tôi thấy, kỹ thuật AI có độ bất định cao trong chẩn đoán hình ảnh y tế, do vậy một sự biến đổi nhỏ ở đầu vào cũng có thể dẫn đến thay đổi lớn ở kết quả đầu ra”.  Mỗi lần chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể mất 15 phút – 2 tiếng đồng hồ, tùy thuộc vào kích thước khu vực chụp và số lượng hình ảnh chụp. Bệnh nhân ở trong máy càng lâu thì chất lượng hình ảnh càng cao. Tuy nhiên, thực tế cần rút ngắn thời gian bệnh nhân ở trong máy để giảm rủi ro cho bệnh nhân và tăng số lần sử dụng máy.  Việc sử dụng AI để cải thiện chất lượng ảnh chụp MRI hoặc các loại chiếu chụp y tế khác là phương thức hấp dẫn để giải quyết bài toán có được chất lượng hình ảnh cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Về lý thuyết, AI có thể đưa những hình ảnh có độ phân giải thấp thành hình ảnh có độ phân giải cao. Các thuật toán AI “học” cách tái tạo hình ảnh dựa trên việc đào tạo từ những dữ liệu trước đó. Quá trình này nhằm tối ưu hóa chất lượng tái tạo hình ảnh. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với kỹ thuật tái tạo hình ảnh truyền thống chỉ dựa trên lý thuyết toán chứ không sử dụng các dữ liệu đã có. Đặc biệt, kỹ thuật truyền thống không có quá trình “học” như AI.  Bất kì một thuật toán AI đáng tin nào cũng cần độ chính xác và độ ổn định. Một thuật toán AI thường sẽ phân loại hình ảnh con mèo là con mèo. Tuy nhiên, những thay đổi rất nhỏ, gần như vô hình trong ảnh có thể khiến thuật toán xếp hình ảnh con mèo thành xe tải hoặc cái bàn. Trong ví dụ phân loại hình ảnh này, kết quả sai duy nhất là bị phân loại sai. Tuy nhiên, trong tái tạo hình ảnh y tế có thể xuất hiện nhiều loại lỗi sai khác nhau, chẳng hạn như các khối u bị biến mất hoặc thêm vào, các chi tiết nhỏ có thể bị che khuất và những hình ảnh giả không mong muốn có thể xuất hiện trong phim chụp.  Hansen và các đồng nghiệp đã thiết kế một loạt thử nghiệm để tìm ra những lỗi sai trong các hệ thống tái tạo hình ảnh y tế dựa trên AI, bao gồm MRI, CT và NMR. Họ xem xét 3 vấn đề chính: sự bất ổn liên quan đến những nhiễu loạn nhỏ hoặc chuyển động; sự bất ổn đối với những thay đổi cấu trúc nhỏ, chẳng hạn một hình ảnh não bộ có hoặc không có khối u nhỏ; và sự bất ổn liên quan đến thay đổi số lượng mẫu.  Họ nhận thấy, những chuyển động nhỏ nhất định dẫn đến vô số sai lệch trong những hình ảnh cuối cùng, các chi tiết bị mờ hoặc biến mất, chất lượng tái tạo hình ảnh giảm xuống với bước lấy mẫu phụ lặp đi lặp lại (subsampling). Những lỗi sai này đã lan rộng trên các kiểu mạng thần kinh khác nhau.  Theo các nhà nghiên cứu, những lỗi sai đáng lo ngại nhất là khi bác sĩ hình ảnh nghĩ rằng đó là vấn đề bệnh lý, trái với những lỗi sai có thể dễ dàng loại bỏ vì vấn đề kỹ thuật. □  Thanh An dịch  Nguồn tin và ảnh: https://techxplore.com/news/2020-05-ai-techniques-medical-imaging-incorrect.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật cải thiện độ chính xác của công cụ dự tính nhiệt độ và lượng mưa      Một nghiên cứu mới được công bố trên Nature Communications cho thấy các kịch bản của Dự án Đối chứng các mô hình khí hậu giai đoạn 6 (CMIP6) thuộc Chương trình Nghiên cứu Khí hậu Thế giới đã đưa ra dự đoán về mức nhiệt gia tăng trong tương lai cao hơn từ 3,4% đến 11,6% so với thực tế có thể xảy đến.     Khối núi Annapurna ở dãy Himalaya, miền Trung – Bắc Nepal. Ảnh: Unsplash  Sau khi sửa đổi các tính toán, các nhà nghiên cứu quốc tế cho biết, như vậy, tỷ lệ lớp tuyết phủ suy giảm ở châu Á, đặc biệt là ở dãy Himalaya, thấp hơn từ 10,5% đến 40,2% so với dự đoán trước đây.  Châu Á là khu vực đông dân cư nhất thế giới. Các nhà khoa học và kỹ sư môi trường phải liên tục ước tính tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu đối với chu trình thủy văn, đặc biệt là lượng mưa.  Những ước tính như vậy cực kỳ quan trọng, góp phần xây dựng và sửa đổi các chính sách giảm thiểu biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên nước trong hiện tại cũng như trong tương lai.  Alistair Borthwick, giáo sư Thủy động lực học Ứng dụng tại Đại học Plymouth và là một trong những đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết, “Những hiểu biết về các mối liên hệ giữa sự nóng lên toàn cầu và các thông số lượng mưa trong tương lai là chìa khóa để ước tính quy mô, cường độ và tần suất xuất hiện của lũ, hạn hán trên thế giới”.  “Bằng cách sử dụng các kỹ thuật mới nhất trong phân tích dữ liệu, chúng tôi đã xác định được những mối quan hệ thực nghiệm giúp các chuyên gia ra dự tính tốt hơn về lượng mưa trong tương lai ở châu Á”.  Nghiên cứu này quy tụ các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học ở Amsterdam, Vũ Hán, Edinburgh, Nam Kinh, Oxford và Plymouth. Các nhà khoa học đã sử dụng những ràng buộc (các nguyên tắc quy định kiểm soát kết quả trong một giới hạn cụ thể) để đánh giá mối quan hệ giữa mức độ tăng nhiệt từ năm 1970 đến năm 2014 và mức độ tăng lượng mưa từ năm 2015 đến năm 2100 trên khắp châu Á.  Qua đó, các nhà khoa học đã cải thiện độ chính xác trong các dự tính lượng mưa trong tương lai của mô hình CMIP6 lên tới 31%.  Giáo sư Yuanfang Chai thuộc Đại học Vũ Hán và Đại học Vrije Amsterdam, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết “cần phải cải thiện độ chính xác của các dự tính liên quan đến biến đổi khí hậu trong tương lai, bởi đây là cơ sở để các nhà quản lý đề ra những biện pháp giảm thiểu và thích ứng với khí hậu. Tuy nhiên, các dự tính của CMIP6 vẫn chưa chính xác như kỳ vọng. Bằng cách áp dụng kỹ thuật ràng buộc, nghiên cứu của chúng tôi đã cải thiện độ chính xác của các dự tính về lượng mưa, nhiệt độ và lượng tuyết suy giảm ở châu Á trong tương lai so với kết quả đầu ra ban đầu của CMIP6”.  Giáo sư Alistair Borthwick viết, “khi Trái đất ấm lên, mức nhiệt của châu Á sẽ gia tăng, đặc biệt là các mùa cháy rừng kéo dài hơn, tần suất và cường độ cháy rừng tăng lên”.  “Ấn Độ là đất nước dễ bị ảnh hưởng nhất, người dân sẽ phải đối diện các vấn đề sức khỏe do nắng nóng. Trung Quốc phải đối mặt với tình trạng sa mạc hóa, xói mòn đất, bão cát và ô nhiễm không khí ở các khu vực Tây Bắc khô hạn và bán khô hạn. Tại một số khu vực ở châu Á, mức nhiệt tăng có thể ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Mực nước giảm ở một số sông và hồ ở châu Á có thể gây hại cho quần thể cá, tăng mức độ ô nhiễm và thúc đẩy sự phát triển của tảo (hiện tượng phú dưỡng).  Đối với dãy Himalaya, nhiệt độ cao hơn sẽ gây suy giảm lượng tuyết phủ. Băng tan có thể làm gia tăng đáng kể lưu lượng dòng chảy của sông, dẫn đến lũ lụt và sạt lở đất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến các thành phố, khu đô thị và đất nông nghiệp ở hạ lưu.  “Nghiên cứu cải thiện độ chính xác của các dự tính tốc độ tăng nhiệt và lượng mưa ở châu Á, hỗ trợ các nhà chức trách phát triển các kế hoạch tái định cư, các biện pháp giảm thiểu lũ lụt và hệ thống cảnh báo lũ lụt tốt hơn”.□  Hà Trang dịch  https://phys.org/news/2022-07-future-temperature-growth-asia-overestimated.html    Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật của Rembrandt từ hợp chất chưa được biết đến      Các nhà khoa học Hà Lan và Pháp mới đây đã khám phá ra bí mật đằng sau kỹ thuật impasto (kỹ thuật vẽ đắp nhiều lớp) đầy sức sống và sáng chói của danh họa Hà Lan Rembrandt.      Bức Susanna (1636) của Rembrandt van Rijn, là mootjtrong số các bức họa có mặt trong nghiên cứu này. Courtesy Mauritshuis, The Hague.  Họ đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Angewandte Chemie International Edition, trong đó nêu một hợp chất có tên gọi plumbonacrite, vốn mới được tìm thấy trong các tác phẩm nghệ thuật thế kỷ 20 và duy nhất một tác phẩm của Vincent van Gogh.  Các họa sỹ thông thường hay sử dụng những màu và dầu vẽ mới để tạo ra nhiều sắc màu rực rỡ, sáng sủa và thú vị. Rembrandt van Rijn không phải trường hợp ngoại lệ. Danh họa Hà Lan này có một điểm đặc biệt: ông không chỉ có kỹ thuật, sự sáng tạo và lao động nghệ thuật mà còn có cả các hợp chất hóa học. Một phân tích mới các tác phẩm của ông chứng tỏ ông đã dùng một hợp chất hiếm trong một số bức tranh, giúp ông tạo ra kỹ thuật impasto mang dấu ấn riêng của mình.  Trước đây, các nhà lịch sử mỹ thuật biết Rembrandt đã từng dùng nhiều hợp chất có sẵn như chì trắng và dầu như dầu lanh để tạo ra các màu sơn mềm nhão mà ông thường “nhồi” vào các lớp dầy để đem đến cho các tác phẩm của ông một hiệu ứng dưới hình thức tương tự không gian ba chiều. Khi trích những màu sơn tí xíu từ ba bức nổi tiếng nhất của ông “Portrait of Marten Soolmans” (1634) tại Rijksmuseum, “Bathsheba” (1654) tại Louvre và “Susanna” (1636) tại Mauitshuis ở Hague để đưa vào phân tích trên tia X tại Trung tâm Máy gia tốc Synchrotron châu Âu ở Grenoble, Pháp thì các nhà nghiên cứu bất ngờ dò được một hợp chất khác: một khoáng chất chì carbonate vẫn gọi là plumbonacrite, Pb5(CO3)3O(OH).  Phát hiện sự hòa trộn “chất mới” trong kỹ thuật impasto của ông gây ngạc nhiên bởi về cơ bản plumbonacrite chỉ được phát hiện trong các tác phẩm thế kỷ 20 trở đi, dẫu cũng từng thấy trong “Wheat Stack under a Cloudy Sky” (1889) của họa sỹ Vincent van Gogh – với màu chì đỏ. Và giờ đây, các nhà nghiên cứu mới biết, trong nửa đầu thế kỷ 17, Rembrandt từng dùng nó để vẽ.  “Chúng tôi không chờ đợi là tìm được nó [trong bức tranh này], vì đây là điều vô cùng khác thường trong các bức vẽ bậc thầy (Old Master painting – những bức vẽ của các họa sỹ châu Âu sống trước thế kỷ 18)”, Victor Gonzalez – tác giả chính của công bố và là nhà nghiên cứu tại Rijksmuseum và trường đại học công nghệ Delft, cho biết.  Vậy hợp chất bất thường này đến từ nơi nào? Sau khi nghiên cứu các văn bản lịch sử và xác định những gì có thể có sẵn cho danh họa thế kỷ 17, các nhà khoa học cho rằng “Rembrandt đã trộn thêm chì ôxít, hay litharge, vào dầu rồi đưa hỗn hợp này thành một loại màu vẽ mềm nhão”, chuyên gia bảo tồn Marine Cotte nói.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự hiện diện cả nó không phải là do tai nạn hoặc do ô nhiễm mà là kết quả của một sự tổng hợp có chủ ý”, Gonzalez cho biết thêm.  Thông tin này không chỉ giúp chúng ta hiểu về tác phẩm của Rembrandt mà còn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra những cách hiệu quả để bảo quản và phục chế các kiệt tác của ông. Nhóm nghiên cứu đang lập kế hoạch tái tạo lớp sơn impasto của Rembrandt và đưa nó vào các môi trường giả lập với không khí có nồng độ CO2 cao và không CO2 nhằm hiểu tốt hơn về những điều kiện khô và ẩm ướt tác động như thế nào tới các màu sơn. Họ cũng hi vọng sẽ xem xét kỹ các bức họa của Rembrandt và các họa sỹ thuộc Thời kỳ hoàng kim của Hà Lan (Dutch Golden Age) để xem là liệu việc sử dụng hợp chất chứa plumbonacrite có rộng rãi hơn họ nghĩ trước đây hay không.  “Chúng tôi đang nghiên cứu với các giả thuyết là Rembrandt có thể sử dụng những công thức “pha chế” khác và đó là nguyên nhân tại sao chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm các mẫu từ những bức họa khác của Rembrandt cũng như các danh họa bậc thầy Hà Lan thế kỷ 17, bao gồm Vermeer, Hals, và các họa sỹ cũng liên quan đến Rembrandt,” đồng tác giả Annelies van Loon, một nhà khoa học nghiên cứu về hội họa tại Bảo tàng Rijksmuseum và Royal Picture Gallery Mauritshuis, cho biết.  Đây không phải là bí mật nghệ thuật duy nhất được tia X phát hiện ra trong những năm gần đây. Vào năm 2016, một máy gia tốc synchrotron đã giúp tiết lộ một bức vẽ chưa từng được biết bên dưới bức “Portrait of a lady” của Degas và năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã dùng các tia X để thấy Picasso đã vẽ trên toan của một người bạn để tạo ra tác phẩm “Crouching Beggar”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/rembrandt-used-secret-ingredient-his-signature-technique-180971292/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn có thể làm giảm khả năng phẫu thuật ung thư      Kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn có thể làm giảm khả năng phẫu thuật ung thư      Nhóm nghiên cứu này do Roger Zemp dẫn dắt đang sử dụng kính hiển vi viễn thám quang âm tia cực tím (UV-PARS) để hiển thị và phân tích một cách nhanh chóng mô khối u trong khi bệnh nhân vẫn trên bàn phẫu thuật, để kiểm tra một cách hiệu quả hơn là liệu toàn bộ khối u đã được loại bỏ hay chưa và đảm bảo không phải lặp lại các phẫu thuật cần thiết.  Hiện tại để xác định liệu một khối u đã được loại bỏ trong quá trình phẫu thuật, ngành y áp dụng thực hành gọi là mô học, trong đó có sự tham gia của các nhà nghiên cứu bệnh học. Họ sẽ kiểm tra một mặt cắt của khối u mới bị loại thông qua một kính hiển vi điện tử, một quá trình có thể kéo dài nhiều tuần.  “Họ có thể chỉ nhìn vào một mẫu chỉ bằng 0,1% thể tích khối u này”, Zemp nói. Ông cũng còn là một thành viên của Viện nghiên cứu Ung thư Bắc Alberta. “Tuy nhiên, mô học hiện là tiêu chuẩn vàng để xác định các bác sĩ phẫu thuật có loại toàn bộ khối u hay chưa và để biết các rìa quanh khối u đã hoàn toàn hết chưa”.  Công nghệ UV-PARS đem lại các hình ảnh giống mô học có thể so sánh với dữ liệu chẩn đoán thu được trước đó, không cần đến việc phải gửi mô đi phân tích.  Nhóm nghiên cứu của Zemp đã phát triển một mô hình để tinh chỉnh công nghệ này, qua đó gia tăng tốc độ phân tích mô và tạo ra một mô hình nhỏ hơn có thể phù hợp cho phẫu thuật trong vòng vài năm tới.  Nhóm nghiên cứu đang tập trung vào việc làm cho kỹ thuật này an toàn hơn cho việc áp dụng trong các nội quan hay tế bào sống chứ không chỉ trên các mẫu mô đã được trích xuất. Ánh sáng tia cực tím, khi được sử dụng trong kỹ thuật UV-PARS, không an toàn cho việc sử dụng trên mô sống, trừ phi đây là để cho một quy trình, trong đó các lớp mô đang bị loại bỏ, vốn vẫn còn là phổ biến trong các cuộc phẫu thuật.  “Chúng tôi đã một dữ liệu mới chứng minh hình ảnh tế bào sống, và hãy tin là chúng tôi thực sự có lợi thế hơn bất kỳ kỹ thuật nào cho mô học”, Zemp nói.  Zemp và nhóm nghiên cứu của mình gần dây đã nhận được một tài trợ từ Viện nghiên cứu Y tế Canada và hai tài trợ khác đang được xem xét để đầu tư cho kỹ thuật sử dụng ánh sáng đỏ trung bình thay thế, vốn an toàn hơn cho việc sử dụng trên các mô và tế bào sống. Từ công nghệ này, họ đã lập ra một công ty khởi nghiệp illumiSonics Inc.  Những nghiên cứu đầu tiên “Ultraviolet Photoacoustic Remote Sensing Microscopy” và “Reflective Objective-Based Ultraviolet Photoacoustic Remote Sensing Virtual Histopathology” đã được xuất bản trên Optics Letters với tác giả thứ nhất là Nathaniel Haven, một thành viên trong nhóm nghiên cứu của Zemp.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-non-invasive-imaging-technique-cancer-surgeries.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật kính hiển vi mang tính cách mạng giành giải Breakthrough      Các giải Breakthrough, mỗi giải trị giá 3 triệu USD, vinh danh những nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học sự sống, vật lý và toán học.      Xiaowei Zhuang đã giành giải thưởng Breakthrough trong khoa học sự sống trị giá 3 triệu USD cho nghiên cứu về kỹ thuật kính hiển vi. Nguồn: Cheryl Senter/HHMI  Một bức ảnh có thể trị giá bằng cả ngàn lời – nhưng việc phát minh ra cách có thể tạo ra các bức ảnh ở cấp độ nano có thể trị giá 3 triệu USD. Phát minh kỹ thuật kính hiển vi “siêu phân giải” mà các nhà sinh học đang sử dụng để phát hiện ra các cấu trúc phân tử bị dấu kín của tế bào là một trong số 6 người giành giải thưởng Breakthrough 2018 – giải thưởng danh giá về toán học, khoa học thường được loan báo vào ngày 17/10 hàng năm.     Xiaowei Zhuang – người đóng vai trò quan trọng trong phương pháp kính hiển vi này, là một nhà sinh lý học tại trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts và là nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Y tế Howard Hughes (HHMI) ở Chevy Chase, Maryland. Chị là một trong số 4 người được trao giải ở lĩnh vực khoa học sự sống vì đã phát triển STORM – phương pháp dựng ảnh hiển vi quang học từ ánh sáng ngẫu nhiên, trong vòng một thập kỷ qua. Là một trong những kỹ thuật đầu tiên phá vỡ giới hạn phân giải cơ bản của kính hiển vi ánh sáng thông thường, kỹ thuật này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng sinh học.   “Nhận được giải thưởng lớn này là điều vô cùng vinh dự, tôi cảm thấy xúc động khi nhận được cuộc gọi của hội đồng giải thưởng”, Xiaowei Zhuang nói.  “Đây là một nghiên cứu xuất sắc, Allard Mosk – nhà vật lý quang học và chuyên gia về kính hiển vi ở đại học Utrecht ở Hà Lan, nhận xét. “Zhuang đã đóng góp nhiều kết quả thực sự đem lại cuộc cách mạng siêu phân giải trong kính hiển vi sinh học” (Giải Nobel Hóa học 2014 được trao cho những nhà phát triển các phương pháp siêu phân giải khác).   Giới hạn phân giải của kính hiển vi ánh sáng thông thường – vốn tỷ lệ với bước sóng của ánh sáng quang học được sử dụng cùng – đã được xác định đầu tiên vào thế kỷ 19 và không thể phân biệt được các vật thể nhỏ hơn 200 nanomet. “Những bức ảnh của hai vật thể chồng lên nhau trong không gian sẽ nhòe vào nhau ở một điểm, vậy anh có thể phân tách chúng ra như thế nào”, Zhuang nói. “Câu trả lời của chúng tôi là STORM đã phân tách chúng ra trong chiều thời gian”.    Cách thức này bao gồm cả việc gắn thẻ các phân tử chồng lấn với các hợp chất huỳnh quang “có khả năng nhạy ánh sáng (photoswitchable)” có thể hoặc không có thể phát sáng khi được rọi sáng. Các nhà sinh học có thể kiểm soát được các phân tử riêng lẻ sẽ được nhuộm huỳnh quang – những phân tử khác được chiếu sáng một cách ngẫu nhiên từng thời điểm.   Khi một mẫu sinh học được gắn thẻ được chiếu sáng bằng một tia laser cường độ thấp, chỉ một miếng nhỏ, ngẫu nhiên của các phân tử sẽ sáng lên, cho phép các nhà nghiên cứu thu được những hình ảnh dễ nhận biết của tập hợp con các phân tử luân phiên để các vị trí của những phân tử này được xác định một cách chính xác. Quá trình này sau đó được tái lặp nhiều lần, mỗi lần tập trung vào một tập hợp con ngẫu nhiên khác nhau. Sau đó các nhà sinh học có thể xếp lớp các bộ ảnh chụp nhanh này để tạo ra một bức ảnh toàn vẹn.    Kỹ thuật này dẫn đến một chùm những khám phá. Giữa những khám phá này, nhóm nghiên cứu Zhuang đã dùng STORM để nhìn vào các phân tử ngay bên dưới lớp màng của các neuron thần kinh, và khám phá cytoskeleton – khung cấu trúc của một tế bào – là gồm các yếu tố lặp lại. “Thật là một cấu trúc đẹp và bất ngờ, hầu như giống hệt các xương sườn của một bộ xương mà anh thấy trong dịp Halloween”.   Từ đó chị đã phát triển kỹ thuật hình ảnh khác và đặt mục tiêu cuối cùng là tạo ra một “Google Map của từng tế bào trong cơ thể chúng ta – đặc biệt là não”.     Eugene Mele (trái) và Charles Kane cùng chia sẻ giải thưởng Breakthrough cho nghiên cứu về các vật liệu ngoại lai trong lĩnh vực vật lý. Nguồn: Eric Sucar/Univ. Pennsylvania  Vật lý và toán học  Giải thưởng Breakthrough cho vật lý cơ bản được trao cho Charles Kane và Eugene Mele của trường đại học Pennsylvania ở Philadelphia cho công trình dự đoán về sự tồn tại của một loại vật liệu ngoại lai được biết là cách điện dạng topo. Những phần bên trong của các vật liệu này là chất cách điện trong khi bề mặt của nó lại dẫn điện. Một ngày nào đó chúng có thể được dùng để tạo ra các thiết bị điện tử hiệu suất điện năng cao và tạo ra các máy tính lượng tử.   Kane nhớ lại việc cố gắng tính toán các tính năng có thể của vật liệu graphene carbon độ dày một nguyên tử trong năm 2005 và dự đoán về hiệu ứng phản trực giác có thể xuất hiện mặt lý thuyết. Hiệu ứng được dự đoán này tuy nhỏ nhưng không thể xác nhận trong vật liệu graphene bằng thực nghiệm, và Kane thừa nhận gần như bỏ bê ý tưởng này. “Có một giọng nói trong đầu tôi cho rằng ‘thật là ngu xuẩn’”, ông kể lại. Nhưng hiệu ứng này sau đó đã được nhiều nhà nghiên cứu khác xác nhận trong hợp chất mercury telluride vào năm 2007 và kể từ đó đã được kiểm chứng trong nhiều vật liệu khác. “Tôi nghĩ là tôi vui khi đã ‘mắc kẹt’ với nó”, Kane nói.   “Kane và Mele đã viết lại vật lý chất rắn từ nguyên tắc cơ bản này”, Judy Cha – nhà nghiên cứu cách tử topo  tại trường đại học Yale tại New Haven, Connecticut, nhận xét. Bà kể lại, khi các vật liệu này được khám phá đã tạo ra ‘bầu không khí phấn khích rõ ràng” trong cộng đồng vật lý. Năm nay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra cũng khoảng ¼ các vật liệu có khả năng đem lại các đặc tính topo.     Angelika Amon giành một giải Breakthrough trong lĩnh vực khoa học sự sống cho những tính toán nhiễm sắc thể bất thường. Nguồn: Samara Vise/MIT  Các nhiễm sắc thể và hệ miễn dịch     Các giải thưởng về khoa học sự sống khác thuộc về  C. Frank Bennett của công ty dược Ionis Pharmaceuticals tại Carlsbad, California, và  Adrian Krainer tại Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor ở New York được ghi nhận do phát triển một liệu pháp hiệu quả để “khóa” gene là nguyên nhân dẫn đến bệnh thoái hóa cơ tủy ở trẻ em; và Angelika Amon của Viện Công nghệ Massachusetts MIT ở Cambridge và HHMI bởi việc xác định một số lượng dị thường các nhiễm sắc thể có thể phá vỡ cơ chế tự sửa chữa của tế bào như thế nào, dẫn đến hậu quả như hội chứng Down hoặc sảy thai; và nhà nghiên cứu HHMI Zhijian Chenat tại UT Southwestern Texas ở Dallas vì khám phá cGAS – enzyme thụ cảm DNA, có liên quan đến việc kích hoạt các phản hồi miễn dịch và tự miễn dịch.   Vincent Lafforgue  của Hội đồng nghiên cứu quốc gia (CNRS) ở Grenoble, Pháp nhận giải Breakthrough toán học cho những đóng góp vào chương trình Langlanhs. Thường được nhắc đến như một lý thuyết tập hợp lớn của toán học, chương trình này bao gồm việc tạo ra một bộ các giả định kết nối các lĩnh vực vốn ở cách xa nhau của đại số, lý thuyết số và giải tích.    Được nhà sáng lập internet Yuri Milner và sáng lập Facebook Mark Zuckerberg thành lập từ năm 2012, giải thưởng Breakthrough được một hội đồng khoa học chọn lựa và trao hằng năm. Việc loan báo giải thưởng năm nay được mở màn vào tháng 9 với giải thưởng Breakthrough đặc biệt cho nhà vật lý thiên văn Jocelyn Bell Burnell của trường đại học Oxford và Durham cho những khám phá về các sao pulstar.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07079-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật mới giúp bảo tồn các loài thực vật bản địa ở Jordan      Các nhà môi trường đã tiến hành thử nghiệm trồng cây theo phương pháp Miyawaki — với hy vọng nó có thể giúp bảo tồn các loài thực vật bản địa, giảm thiểu tác động của quá trình đô thị hóa tràn lan, và thay đổi cách nhìn của mọi người về cảnh quan đô thị.      Các tình nguyện viên tham gia trồng cây non và nhặt cỏ dại tại một địa điểm thử nghiệm ở Amman. Ảnh: Atlas Obscura  Tại một công viên ở khu dân cư Marka, phía đông Amman, có một con mèo hoang đang rình rập hai chú chim nhỏ sau những bụi cây. Nhà môi trường học Deema Assaf, người từng là một kiến ​​trúc sư, khựng lại một chút để nhìn xem hành động những con vật. Chỉ cách hai chú chim đang lơ đãng vài bước chân, con mèo bỗng đứng yên. Sau đó, nó mất hứng và bỏ đi, cuộn mình trong một đám cỏ dại hiếm hoi — các tình nguyện viên đã nhổ sạch hầu hết đám cỏ dại vào ngày hôm trước.  Assaf nói rằng những chú chim tụ tập đông hơn nhiều vào buổi sáng. Và mèo không phải là sinh vật duy nhất bị chúng thu hút. Nhân viên bảo vệ của công viên đã nhìn thấy một con cáo Fennec đang đi săn; nó có thể đi từ không gian xanh xung quanh một sân bay nhỏ gần đó, phần duy nhất của khu vực lân cận không hiện hữu các tòa nhà xi măng và bê tông. Nhưng tin vui là điều đó đang thay đổi. Assaf cho biết, khoảnh nhỏ của thảm thực vật cao đến đầu gối nơi cô ấy đang đứng hiện tại không giống một khu rừng, nhưng hãy thử chờ một vài năm, hầu hết các loài cây sẽ cao từ 5 đến 6 feet.  Khu vực rộng hơn 2500 feet vuông một chút – bằng kích thước của một ngôi nhà trung bình của người Mỹ, được bao bởi hàng rào, và trông có phần lộn xộn như thể ai đó đã trồng một cách ngẫu nhiên nhiều loại cây gần nhau. Song mọi thứ đều có chủ đích. Đây là một trong số các địa điểm nhỏ ở thủ đô Jordan ứng dụng kỹ thuật trồng cây mới do Assaf và nhà môi trường Nhật Bản Nochi Motoharu đề xuất, được gọi là phương pháp Miyawaki. Đây là lần đầu tiên kỹ thuật trồng cây này được triển khai ở Trung Đông – với hy vọng bảo tồn các loài thực vật bản địa, giảm thiểu tác động của quá trình đô thị hóa tràn lan, và thay đổi cách nhìn của mọi người về cảnh quan đô thị.  Nơi đây đã chứng kiến ​​những thay đổi mạnh mẽ trong 100 năm qua: Những dòng người tị nạn đã khiến dân số Amman tăng vọt từ khoảng 5.000 người lên khoảng 4 triệu người. Thung lũng Địa Trung Hải với những cánh rừng giờ đây hầu hết đều đã lát đá.  “Cuộc khủng hoảng do chính chúng ta gây nên, nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn có khả năng sửa chữa phần nào thiệt hại bằng cách thấu hiểu và hợp tác với thiên nhiên, thay vì chống lại nó”, Motoharu nói, lặp lại triết lý đằng sau phương pháp mà ông và Assaf đang sử dụng để phát triển rừng quy mô nhỏ.  Phương pháp Miyawaki, do nhà thực vật học Nhật Bản Akira Miyawaki phát triển vào những năm 1970, tập trung vào việc trồng cây bản địa và cây bụi gần nhau. Các cây phải cạnh tranh để thu được ánh sáng mặt trời, từ đó phát triển hướng lên trên với tốc độ nhanh hơn. Ý tưởng này đã được triển khai trên khắp thế giới, và Motoharu và Assaf tiếp tục thử nghiệm nó trên phần đất tư nhân ở phía tây Amman, Jordan. Trước tình trạng các nghiên cứu về thảm thực vật tự nhiên xung quanh thành phố quá ít ỏi, ban đầu cả hai phải sử dụng một số chiến lược mới lạ, như tìm kiếm các sổ sách từ hàng thế kỷ trước ghi chép về thảm thực vật của Amman và tìm hiểu xem loài thực vật nào sẽ phát triển mạnh qua nhiều lần thử nghiệm.  Bản thân phương pháp Miyawaki “là một giải pháp hoàn toàn dựa trên tự nhiên, mô phỏng cách thức hoạt động của tự nhiên,” Motoharu nói. Nhóm nghiên cứu không sử dụng phân bón hoặc thuốc trừ sâu, và ông nói rằng sau hai hoặc ba năm các địa điểm này không cần được tưới tiêu thường xuyên. Hiện tại, các cây tại địa điểm trồng thử nghiệm vào năm 2018 đã cao 10 feet.  Dự án thử nghiệm của nhóm cũng giúp lưu trữ một số loài thực vật quý hiếm nhất của Jordan. Ở Marka, có các cây non của Pistacia lentiscus, cây hồ trăn rừng – chỉ còn khoảng 50 cây trong tự nhiên ở Jordan, và một loại cây còn hiếm hơn: Celtis australis, đôi khi được gọi là cây hackberry châu Âu.  Tuy nhiên, không phải ai cũng tin rằng những khu rừng quy mô nhỏ này sẽ giúp giảm bớt các vấn đề môi trường của Jordan. Biến đổi khí hậu đã và đang làm cho đất nước trở nên nóng nực và khô cằn hơn – và nhu cầu phục hồi rừng cũng ngày càng tăng lên. Hiện tại, chỉ khoảng 1% diện tích Jordan vẫn còn rừng, song những khu vực này đang bị đe dọa bởi nạn cháy rừng, chăn thả gia súc và khai thác gỗ trái phép. Nizar Obeidat, người chuyên nghiên cứu về rừng và bãi chăn thả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Jordan, cho rằng phương pháp Miyawaki không phù hợp để triển khai vào việc tái trồng rừng trên đất nước này theo bất kỳ cách thức thực tế nào.  Dù thành công hay không, ít nhất những khu rừng đô thị nhỏ bé này cũng giúp nâng cao nhận thức của người dân trong vùng lẫn các nhà quản lý về giá trị của không gian xanh trong khu vực đô thị. “Bạn phải nuôi dạy một thế hệ trẻ phù hợp để có được những dự án ý nghĩa như vậy”, Dana Mismar, một tình nguyện viên trong nhóm cho biết. “Và chính phủ nên đầu tư vào việc này. Đó là điều quan trọng nhất.”    Cây con tại vườn ươm của Trang trại hữu cơ Mujeb nằm ở phía nam Amman, nơi đang nhân giống nhiều loài bản địa khác nhau. Ảnh: Atlas Obscura  “Ngày nay, chúng ta trở nên thờ ơ với hệ sinh thái bản địa, như thể đây là vấn đề xa lạ nào đó vậy, ”Assaf nói, đề cập đến tri thức bản địa về các loài thực vật đã biến mất. “Theo tôi, cần phải tái tạo hệ sinh thái bản địa vào kết cấu đô thị, cuộc sống của người dân và ký ức của họ.”  Cô ấy hy vọng những đứa trẻ thành phố có thể nhận biết và các loài thực vật, chẳng hạn như cây sồi valonia, biểu tượng thực vật của Jordan, ngay cả khi chúng chưa bao giờ rời khỏi Amman. “Nó sẽ trở thành một phần ký ức của chúng, và điều này thực sự kích thích tôi. Chúng ta không thể bảo vệ những gì chúng ta không quan tâm và yêu mến, song chúng ta cũng không thể quan tâm và yêu mến một thứ mà chúng ta thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của nó”, Assaf nói.  Trong dự án của mình, Assaf và Motoharu đã hợp tác với các vườn ươm địa phương. Fadwa Al-Madmouj, một tình nguyện viên 25 tuổi và là kỹ sư nông nghiệp tại một vườn ươm ở phía nam Amman, đã có công trong việc nghiên cứu các phương thức khác nhau nhằm nhân giống cây bản địa của Jordan. Vào năm 2019, trong năm đầu tiên làm việc với Assaf và Motoharu, vườn ươm đã phát triển khoảng 15 loài địa phương khác nhau. Ngày nay, con số đó là khoảng 50 – và quan trọng là, sự quan tâm của khách hàng cũng đang tăng lên.  “Năm đầu tiên, mọi người cười nhạo chúng tôi vì đã bán những giống cây bản địa”, Al-Madmouj kể. “Thế mà bây giờ chúng tôi đã có một hội rất đông yêu thích những loài cây này. Họ giới thiệu cho bạn bè, họ đưa gia đình đến để mua cây”.  Với Al-Madmouj, dự án Marka “là một khu rừng nhỏ, nhưng nó mang đến một thông điệp quan trọng cho mọi người: ‘Thấy chưa, chúng tôi có thể làm được, và bạn cũng thế. Cùng nhau, chúng ta sẽ biến điều gì đó thành hiện thực.’”  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:   To Resurrect Jordan’s Lost Forests, Plant a Seed in Hearts and Minds  In Jordan, the Middle East’s first Miyawaki-style ‘baby’ forests take root       Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật mới giúp chỉnh sửa gene động vật nhanh hơn, quy mô lớn hơn      Một kỹ thuật chỉnh sửa gene mới do các nhà nghiên cứu ở Đại học Oregon (UO) phát triển đã rút ngắn quy trình kéo dài nhiều năm trước đây xuống còn vài ngày, tạo thuận lợi cho việc triển khai nhiều loại nghiên cứu mới trên các mô hình động vật. Kỹ thuật này cũng cho phép các nhà sinh học thực hiện các thí nghiệm so sánh nhiều biến thể gene, tìm kiếm các đột biến dẫn đến các tính trạng cụ thể và theo dõi sự tiến hóa của chúng theo thời gian.    Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm kỹ thuật này ở C.elegans, một loài giun nhỏ thường dùng trong nghiên cứu sinh học. Kết quả đã được công bố trong một bản thảo trên bioRxiv.  “Kỹ thuật di truyền DNA của vi sinh vật đóng vai trò nền tảng cho cuộc cách mạng công nghệ sinh học trong ba thập kỷ qua, nhưng rất khó để triển khai các phương pháp này với quy mô lớn trên động vật”, GS. Patrick Phillips ở UO, đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Cách tiếp cận mới của chúng tôi có thể trở thành nền tảng cho một phương pháp hoàn toàn mới trong việc sử dụng một động vật đơn giản làm cơ sở cho sinh học tổng hợp – tương tự với việc sử dụng vi khuẩn và nấm men trước đây.    Có nhiều lý do khiến các nhà khoa học muốn tạo ra nhiều đột biến gene cùng một lúc. Chẳng hạn, họ có thể tìm kiếm một đột biến khiến động vật kháng một loại thuốc cụ thể, hoặc có thể sống sót tốt hơn dưới các điều kiện nhất định, hoặc ít nhạy cảm hơn với bệnh tật. Họ cần sàng lọc hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm biến thể trên một gene để tìm ra biến thể phù hợp nhất.  Những thí nghiệm này ở động vật tốn rất nhiều thời gian. Mỗi chủng đột biến – một nhóm giun với một đột biến gene cụ thể – phải được thiết kế riêng. Việc tạo ra một đột biến “thường mất đến bảy hoặc mười giờ thực hành”, Zach Stevenson, một nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm của GS. Patrick Phillips ở UO, tác giả thứ nhất của nghiên cứu nói. Nếu áp dụng hệ thống mới, “với cùng một công sức, trước đây chỉ tạo ra ba hoặc bốn đột biến, thì giờ đây chúng tôi có thể tạo ra hàng chục nghìn đột biến”.  Để đẩy nhanh tiến độ, Stevenson và cộng sự đã thiết kế một phương pháp để nén hàng trăm hoặc hàng ngàn đột biến vào một “thư viện”. Mỗi cuốn sách trong thư viện là một đoạn mã di truyền nhỏ, vô nghĩa và không có chức năng riêng. Mỗi đoạn mã phù hợp với một khoảng trống được thiết kế trong gene mục tiêu. Với phương pháp này, thay vì đưa các phiên bản gene khác nhau vào từng con giun, các nhà nghiên cứu có thể chèn toàn bộ thư viện các đột biến vào một con giun.  Sau đó, thư viện sẽ mở rộng khi con giun sinh sản. Vào mỗi mùa sinh sản, một cuốn sách ở thư viện đột biến sẽ được chọn ngẫu nhiên để hoàn thiện gene đang được nhắm mục tiêu. Khi chèn một đoạn trong thư viện gene vào, nó sẽ kích hoạt gene, giống như bật công tắc để hoàn thành mạch điện. Kết quả là một tập hợp giun đều có các đột biến gene được lựa chọn ngẫu nhiên khác nhau.  Nhóm nghiên cứu đã đặt tên kỹ thuật này là TARDIS – tương tự với tên của cỗ máy du hành không thời gian trong phim Dr. Who. Tuy nhiên, TARDIS ở đây là viết tắt của Transgenic Arrays Resulting in Diversity of Integrated Sequences. Cũng giống như cỗ máy TARDIS hư cấu, con giun trong thí nghiệm có “bên trong lớn hơn bên ngoài” (lời thoại trong phim Dr. Who), Stevenson nói. (Nghĩa là bên trong con giun chứa rất nhiều vật liệu di truyền).  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm TARDIS với một gene giúp giun kháng thuốc kháng sinh. Nhưng họ đã thấy tiềm năng ứng dụng của phương pháp này trong lĩnh vực sinh học nói chung, bao gồm cả nghiên cứu trong các mô hình sinh vật khác.  Phương pháp này sẽ đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu tương tác giữa các protein hoặc tín hiệu giữa các tế bào, GS. Stephen Banse ở UO, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết. Dù những tương tác này liên quan đến việc nghiên cứu bệnh tật, song trước đây các nhà khoa học đã bỏ lỡ những thông tin quan trọng khi nghiên cứu trên vi khuẩn hoặc nấm men, Banse nói. “Giờ đây, chúng ta có thể nghiên cứu những thứ này trên các mô hình động vật.”  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-technique-gene-scale-animals-shortening.html    Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật mới giúp thu được DNA của động vật từ trong không khí      Nhờ kỹ thuật eDNA, các nhà nghiên cứu đã xác định được vật chất di truyền từ hàng chục loài, từ đó lập ra kế hoạch theo dõi và bảo tồn động vật hoang dã.      Một con lười trong vườn thú Copenhagen, nơi Kristine Bohmann thu thập mẫu DNA không khí. Ảnh: Christian Bendix / WIRED  Trong một khu rừng, Kristine Bohmann cẩn trọng lội xuống một con suối đầy đỉa ở Madagascar. Cô phải kiểm tra ruột của loài ký sinh trùng này nhằm thu thập manh mối di truyền về động vật hoang dã trong khu vực. Để làm như vậy, trước tiên cô phải để chúng bám vào làn da trần của mình. “Tôi giả vờ như mình là một con mồi”, Bohmann, phó giáo sư chuyên nghiên cứu về bộ gen tiến hóa tại Đại học Copenhagen cho biết. “Những con đỉa này đã hút máu các động vật trong rừng nhiệt đới, điều đó khiến chúng trở thành kho bảo quản DNA tuyệt vời.”  Giờ đây, Bohmann và các đồng nghiệp đã tìm ra được một cách dễ dàng hơn để thu thập mẫu DNA từ môi trường, hay còn gọi là “eDNA”. Họ thiết lập một vài bộ lọc không khí trong và xung quanh hai vườn thú để thu giữ các mảnh vật chất di truyền cực nhỏ nương theo làn gió. Sau khi tháo các bộ lọc nhỏ và khuếch đại DNA bằng bộ giải trình tự, họ có thể tìm thấy các dấu hiệu di truyền cho hàng chục loài động vật nuôi nhốt, cũng như các sinh vật tự do sống gần đó như sóc, mèo và nhím. Trước đây, các nhà khoa học đã sử dụng các kỹ thuật lấy mẫu eDNA tương tự để phát hiện vật chất di truyền từ cá và các sinh vật khác ở sông và đại dương, đây là lần đầu tiên nó được sử dụng để thu thập DNA của động vật có vú từ không khí. “Bước tiếp theo là tìm cách ứng dụng phương pháp này vào tự nhiên, với các loại môi trường sống và hệ sinh thái khác nhau,” Bohmann nói. “Việc này khá thú vị.”  Mới đây đã có hai nhóm nghiên cứu công bố kết quả thí nghiệm của mình trên tạp chí Current Biology. Bài báo đầu tiên là của nhóm Bohmann tại Đại học Copenhagen; bài báo thứ hai là của một nhóm tại Đại học Queen Mary ở London và Đại học York ở Toronto.  Các nhà nghiên cứu Đan Mạch đã thiết lập ba bộ lọc không khí trong 30 tiếng đồng hồ, có thể xác định 49 loài động vật có xương sống, bao gồm 30 loài động vật có vú, 13 loài chim, bốn loài cá, một loài lưỡng cư và một loài bò sát. Họ đã tìm thấy DNA của những động vật được nuôi trong vườn thú như hươu đùi vằn (okapi) và con tatu (armadillo), một con cá bảy màu sống trong ao của khu rừng nhiệt đới, và thậm chí cả những loài gây hại như chuột nâu và chuột nhà. Bộ lọc cũng phát hiện ra các đoạn DNA nhỏ của cá được dùng làm thức ăn cho các động vật khác trong vườn thú.  Trong khi đó, nhóm các nhà khoa học tại Anh chỉ lấy mẫu không khí xung quanh Vườn Bách thú Hamerton gần Cambridge trong 30 phút, cứ mỗi 30 phút họ lại di chuyển các bộ lọc từ nơi này sang nơi khác để xem liệu họ có thể theo dõi chuyển động của động vật hay không. Nhóm nghiên cứu đã thu thập 72 mẫu và sử dụng kỹ thuật PCR (phản ứng chuỗi polymerase) để khuếch đại một lượng nhỏ vật chất nhằm xác định các dấu hiệu di truyền cho từng loài. Elizabeth Clare, nhà nghiên cứu chính và là trợ lý giáo sư sinh học tại Đại học York mô tả rằng bộ lọc DNA hoạt động giống như một bộ lọc cà phê: “Không khí đi qua và bất cứ thứ gì dạng hạt sẽ bị giữ lại, giống như cách bã cà phê của bạn bị chặn lại, chỉ có nước thấm xuống được. Chúng tôi đang cố gắng thu giữ DNA, tế bào hoặc các mảnh mô siêu nhỏ trong không khí bằng bộ lọc này. Sau đó, chúng tôi có thể quay trở lại phòng thí nghiệm vô trùng, mở ống, rút ​​bộ lọc nhỏ này ra và chiết xuất DNA trực tiếp từ đó.”  Nhóm các nhà khoa học Anh đã xác định được 25 loài động vật, bao gồm 17 loài động vật nuôi nhốt, chẳng hạn như vượn, chó Dingo, chồn đất châu Phi (meerkat), con lười và lừa. Họ cũng tìm thấy những con vật ngẫu nhiên, như những con sóc và một con nhím có thể đang lang thang xung quanh công viên để tìm kiếm thức ăn. Nhóm nghiên cứu đã ghi nhận được chuyển động của các loài động vật trong vườn thú, chứ không chỉ sự hiện diện của chúng. Clare hy vọng rằng việc lấy mẫu không khí sẽ sớm được sử dụng vào việc nghiên cứu thực địa — nó sẽ giúp các nhà sinh vật học rất nhiều trong quá trình cố gắng tìm ra nơi các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng sống, sinh sản hoặc di cư, từ đó có phương án bảo vệ những khu vực đó khỏi sự xâm lấn của con người.  Công cụ tiềm năng  Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu động vật hoang dã luôn nỗ lực tìm kiếm những phương pháp theo dõi động vật hiệu quả. Một số nhóm đã lắp đặt “bẫy ảnh” dọc theo những con đường mòn có động vật hoang dã để thu được hình ảnh của những sinh vật nhút nhát hiếm khi xuất hiện hoặc chỉ kiếm ăn vào ban đêm. Một số nhà khoa học khác thì tìm kiếm dấu hiệu của phân – nó có thể cho thấy sự hiện diện của những con vật và thức ăn của chúng là gì. Ngoài ra còn có một phương thức truyền thống: tìm kiếm dấu chân để lại dọc theo bờ sông lầy lội, bờ tuyết hoặc sa mạc cát.  Nhưng đối với nhiều nhà sinh vật học, việc theo dõi các loài động vật có vú di chuyển hàng dặm mỗi ngày và cảnh giác với con người là điều gần như bất khả. Lúc này, họ cần đến phương pháp eDNA . “Nếu chúng ta muốn khôi phục các hệ sinh thái, chúng ta cần hiểu rõ kế hoạch bảo tồn của chúng ta ảnh hưởng như thế nào đến các loài đang bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần có khả năng phát hiện ngay cả những loài hiếm nhất, nhút nhát nhất và khó hiểu nhất”, Michael Schwartz, chuyên gia tại Trung tâm Bảo tồn Cá và Động vật Hoang dã Quốc gia thuộc Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ ở Missoula, Montana, viết trong một email trao đổi với WIRED. “Chúng ta cần các công nghệ mới, như khả năng phát hiện DNA môi trường trong không khí.”    Nhà sinh vật học Kristine Bohmann thu thập mẫu không khí  tại Vườn thú Copenhagen. Theo cô, các nhà khoa học có thể sử dụng DNA bay lơ lửng trong không khí để theo dõi các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Ảnh: Christian Bendix / Sciencenews  Schwartz, người không tham gia vào hai nghiên cứu mới này, đã sử dụng các mẫu không khí, nước và đất để theo dõi những con dơi nâu lớn (Eptesicus fuscus), chúng đã bị suy giảm bởi hội chứng mũi trắng, một căn bệnh do nấm gây ra. Schwartz và các đồng nghiệp của ông đã công bố một nghiên cứu vào tháng 9 trên tạp chí Biological Conservation về việc kiểm tra các mẫu eDNA từ đất và nước bên ngoài những hang động nơi dơi trú ngụ. Họ cũng sử dụng thiết bị lấy mẫu không khí để xem liệu có thể thu thập DNA trong không khí từ một chuồng dơi ở Ohio hay không. Nghiên cứu cho biết sáu trong số bảy mẫu từ bộ lọc đã phát hiện thành công eDNA của chúng trong không khí, nhưng nồng độ thấp, mặc dù có 30 con dơi được nuôi trong chuồng.  Schwartz cho biết các đồng nghiệp của ông đang cải tiến kỹ thuật lấy mẫu không khí và nghiên cứu phương pháp thu thập một lượng nhỏ DNA từ tuyết. Điều này không chỉ giúp nhóm phát hiện những loài động vật có vú nào gần đây đã đi qua lớp băng tuyết, mà nó còn cho phép họ tìm ra bằng chứng cho thấy một loại động vật cụ thể đã đi qua khu vực này nhiều tháng trước đó. Nhóm của Schwarz đã công bố một số kết quả của dự án này trên tạp chí Biological Conservation vào năm 2019. Việc sử dụng dấu vết từ tuyết để phát hiện những kẻ săn mồi nhút nhát như linh miêu giúp tiết kiệm chi phí, hiệu quả và cho ra kết quả rõ ràng.  Ngoài ra, một trong những người sử dụng eDNA để tìm hệ động vật nước ngầm là Tom Devitt, một nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Texas ở Austin. Kể từ năm 2013, Devitt đã tham gia tìm kiếm và lập bản đồ các loài kỳ nhông Texas quý hiếm. Công trình của ông đã tiết lộ sự tồn tại của ba loài kỳ nhông chưa từng được ghi nhận trước đây, cũng như ranh giới của các loài động vật.  Trong khoảng một năm trở lại đây, Devitt đã dùng eDNA để lập bản đồ những con kỳ nhông này và phạm vi của chúng, đặc biệt là ở những nơi mà chúng chưa từng được tìm thấy trước đây. Công việc yêu cầu ông phải lấy vài lít nước ngầm từ sông, suối hoặc hang động, lọc để thu thập mẫu, sau đó chạy mẫu qua máy có thể phát hiện dấu vết DNA cụ thể. Bằng cách biết nơi kỳ nhông được tìm thấy, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách có thể xác định khu vực nào cần nghiên cứu hoặc bảo vệ.  Có thể dùng kỹ thuật lấy mẫu DNA không khí để theo dõi vật liệu di truyền của con người không? Theo một chuyên gia trong ngành, về mặt lý thuyết thì câu trả lời là có, nhưng trên thực tế thì không. “Cũng có thể, nhưng sẽ khó hơn một chút”, Melania Cristescu, phó giáo sư về bộ gen sinh thái tại Đại học McGill, người sử dụng eDNA để lấy mẫu môi trường sống dưới nước cho biết. Các đoạn DNA của con người từ tóc, nước bọt, máu hoặc các vật liệu di truyền khác bị bỏ lại trên bề mặt dễ phân tích hơn trong không khí.Sẽ mất nhiều thời gian hơn để thu được một mẫu vật liệu di truyền trong không khí đủ lớn, và các nhà nghiên cứu sẽ phải hết sức cẩn thận nhằm không để DNA của chính họ nhiễm vào bộ lọc.  Với DNA trong không khí, thời tiết cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng. Ví dụ, việc lấy mẫu có thể không hiệu quả nếu trời mưa hoặc gió vì những điều kiện này có thể làm sạch không khí của các hạt mang DNA. Người ta cũng không rõ phân tử sẽ như thế nào dưới nhiệt độ cao hoặc ánh sáng mặt trời. “Bức xạ mặt trời có làm suy giảm DNA không? Có thể, nhưng chúng tôi không biết ở mức nào,” Clare nói. “Chúng tôi không biết gió có thể phân tán DNA bao xa. Chúng tôi không biết nhiệt độ có thể ảnh hưởng đến tốc độ suy thoái của nó như thế nào. Đây đều là những câu hỏi thực sự thú vị ”.  Cả Bohmann và Clare đều cho biết các thí nghiệm của họ tại vườn thú chỉ là bước khởi đầu và họ hy vọng sẽ có thể tiếp tục nghiên cứu để cải thiện cả kỹ thuật lấy mẫu và các công nghệ liên quan. Toàn bộ lĩnh vực eDNA đang phát triển nhanh chóng và các nhà khoa học dự đoán rằng họ có thể sớm sử dụng nó để xác định liệu các loài động thực vật có đang di chuyển vào một khu vực, hay liệu có một cánh rừng nào đó cần được bảo vệ vì đó là nơi động vật hoang dã sinh sống hay không.  Các nhà nghiên cứu cho biết, việc phát hiện các hướng chuyển động của động vật theo thời gian, thay vì chỉ biết vị trí hiện tại của nó, là chìa khóa để bảo vệ môi trường sống của chúng và bảo tồn đa dạng sinh học của hành tinh. “Nếu bạn sử dụng bẫy ảnh, điều kiện tiên quyết là sinh vật phải xuất hiện ngay phía trước máy ảnh. Nếu nó đi phía sau, bạn sẽ không bao giờ biết nó đã ở đó”, Clare nói. “DNA là một phương pháp không xâm lấn — vì vậy con vật có thể đã ở đó ngày hôm qua hoặc ngày hôm kia, và bạn vẫn có thể phát hiện ra nó”.  Hoàng Nhi  tổng hợp  Nguồn:  Scientists Capture Airborne Animal DNA for the First Time  In Underground Waterways, an Endangered Ecosystem    Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật mới phá vỡ các hóa chất khó phân hủy      Các hóa chất độc hại do người tạo ra có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới và liên quan đến vô số vấn đề sức khỏe.        Các nhà khoa học đã tìm ra một phương pháp mới để phá hủy một nhóm các hóa chất khó phân hủy liên quan đến sự tồn tại của nhiều vấn đề sức khỏe.    Các hóa chất này được gọi là PFAS (các chất per- và polyfluoroalkyl), vốn là là các hợp chất hóa học organofluorine tổng hợp có nhiều nguyên tử flo gắn với một chuỗi alkyl và được gọi là hóa chất khó phân hủy bởi rất khó để loại trừ chúng khỏi môi trường.    Trong một nghiên cứu mới, xuất bản trên tạp chí Science, các nhà nghiên cứu đã phá hủy được PFAS bằng việc hòa chúng với nước, một thành phần gốc xà phòng và một loại dung môi thông thường. Khi họ gia nhiệt cho dung dịch này, phần lớn PFAS đã bị phá vỡ thành những chất phụ ít độc trong vòng vài giờ, và phần còn lại trong vòng vài ngày, theo nhận xét trên báo New York Times.    Kỹ thuật mới chỉ phá hủy được một vài dạng PFAS. Nhưng nó có thể trở nên đơn giản hơn và rẻ hơn nhiều phương pháp hiện hành vẫn áp dụng để phân rã hóa chất, theo giới thiệu trên Science. “Đây là lần đầu tiên tôi thấy một cơ chế phân rã mà tôi từng nghĩ ‘đây có thể tạo ra một khác biệt trên thực tế’”, Shira Joudan, một nhà hóa học môi trường tại đại học York ở Toronto, Canada, và không tham gia nghiên cứu, nói với Nature News.    PFAS từng được sử dụng trong ngành công nghiệp để sản xuất hàng hóa tiêu dùng kể từ những năm 1940. Chúng đã được đưa thêm vào các dodofddongs gói thực phẩm, nồi niêu chống dính, đồ nội thất, đồ trang điểm, dưỡng da và nhiều loại khác nữa. Để sản xuất ra sản phẩm mong muốn, các hóa chất này là một lựa chọn rất tối ưu: chúng không tương tác với những phân tử khác, vì vậy chúng có khả năng đẩy lùi nước và mỡ, theo tin của Gizmodo.    “Các hóa chất này ban đầu được chế tạo bởi các công ty sản xuất để làm tăng độ bền cho sản phẩm – đó là một ưu điểm nhưng một khi thoát vào môi trường thì nó tạo ra một lỗ hổng sinh thái”, Joudan nói thêm với Nature News.    Các nhà máy sản xuất đã làm PFAS thoát vào không khí và các công ty đã để chúng hòa vào nước sông, nơi chúng có thể tồn tại một cách bền bỉ qua nhiều thế hệ. Hiện tại nước Mỹ có 3.000 địa điểm ô nhiễm PFAS, theo Science. “Chúng ta thực sự làm ô nhiễm cả thế giới này với loại hóa chất này”, William Dichtel, đồng tác giả của nghiên cứu mới này và là nhà hóa học tại trường đại học Northwestern, nói.    Kể từ khi PFAS không thể bị phân hủy, chúng chồng chất trong nước uống, đất và không khí, cuối cùng thì rơi vào cơ thể của chúng ta, theo Gizmodo. Một nghiên cứu đã ước tính là có thể tìm thấy PFAS trong máu của 97% người Mỹ.    Nhà khoa học đã tìm kiếm những giải pháp cách hiệu quả, rẻ tiền và an toàn để loại bỏ hóa chất này. Chúng có thể được lọc được khỏi nước, nhưng nếu sau đó chúng ra một bãi rác thì chúng sẽ ngấm vào đất, theo Science. Các nhà khoa học đã thử đốt PFAS nhưng cách làm tốn kém này vẫn không loại trừ được một cách hoàn toàn và khiến một số hóa chất vẫn tồn tại và thoát ra ngoài không khí.    Các chuyên gia cho biết, dù cách làm đầy hứa hẹn mới có thể loại bỏ được PFAS đây vẫn không phải là “viên đạn bạc”. Có hàng ngàn cách có thể loại PFAS và phương pháp mới chỉ hiệu quả với một số loại chính của chúng. Và theo Dichtel, vẫn cần rất nhiều công việc cần phải được thực hiện trước khi áp dụng kỹ thuật này trên diện rộng.    Thêm vào đó, phương pháp mới chỉ loại bỏ PFAS ra khỏi nước. Nhà hóa học Brittany Trang, tác giả thứ nhất của bài báo, cho biết “sẽ không tốt nếu chỉ đổ xà phòng và dung môi hòa tan PFAS vào nguồn cung cấp nước”.    Tuy nhiên, đây vẫn là một bước tiến tới giải pháp loại bỏ hoàn toàn PFAS. “Đó là một phương pháp hiệu quả”, Chris Sales, một kỹ sư môi trường tại Đại học Drexel, người không tham gia vào nghiên cứu, nói. “Câu hỏi lớn nhất vẫn là làm thế nào để điều chỉnh giải pháp này và mở rộng quy mô xử lý của nó?”  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nytimes.com/2022/08/18/science/pfas-forever-chemicals.html  https://www.nature.com/articles/d41586-022-02247-0  https://gizmodo.com/simple-method-break-down-pfas-forever-chemicals-1849425993  ————————————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abm8868?adobe_mc=MCMID%3D87405751245436731003476501941219687288%7CMCORGID%3D242B6472541199F70A4C98A6%2540AdobeOrg%7CTS%3D1660658873&_ga=2.228389917.183627334.1660532753-1917198022.1509206891      Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật mới rọi ánh sáng vào chuỗi xoắn DNA      Các nhà nghiên cứu ở trường đại học Cornell đã xác định được một cách mới để đo đạc được độ chịu xoắn của DNA – chuỗi xoắn có độ bền như thế nào khi bị xoắn lại – thông tin có thể có tiềm năng rọi ánh sáng vào cách tế bào hoạt động.      Việc hiểu về DNA rất quan trọng: nó lưu giữ thông tin định hướng cách các tế bào vận hành và làm gia tăng khả năng ứng dụng công nghệ nano và công nghệ sinh học. Một trong những vấn đề chính yếu mà các nhà nghiên cứu DNA cần giải quyết là bản chất xoắn của DNA đóng vai trò gì trong các quá trình xử lý diễn ra trên DNA.  Khi một protein vận động huyển động hướng dọc theo DNA, nó phải xoắn hay quay quanh DNA, và do đó hoạt động này có thể chống lại độ chịu xoắn của DNA (các vận động đó có thể mang ra ngoài biểu hiện gene hoặc sao chép DNA khi chúng chuyển động dọc theo DNA.) Nếu một protein vận động gặp quá nhiều lực cản, nó có thể bị dừng lại. Dẫu các nhà khoa học biết rằng độ chịu xoắn DNA đóng một vai trò cốt lõi trong các quá trình xử lý cơ bản của DNA nhưng việc đo đạc độ chịu xoắn về mặt thực nghiệm là vô cùng khó.  Trong công trình “Torsional Stiffness of Extended and Plectonemic DNA”, xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, các nhà nghiên cứu đã nêu một cách mới để đo đạc độ chịu xoắn của DNA bằng việc đo độ cứng của nó như thế nào khi xoắn DNA và khoản cách đầu cuối của DNA không đổi 1.  “Chúng tôi đã xác định được một cách rất thông minh để đo đạc độ chịu xoắn của DNA”, Michelle Wang, giáo sư danh hiệu James Gilbert White về khoa học vật lý ở Khoa Vật lý trường Khoa học và nghệ thuật, nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Y học Howard Hughes và là tác giả chính của công trình, nói.  “Bằng trực giác, chúng ta có thể hiểu rằng dường như DNA sẽ trở nên vô cùng dễ dàng xoắn dưới một lực tác động vô cùng thấp”, Wang nói. “Trên thực tế thì nhiều người đã giả định như vậy. Chúng tôi đã tìm ra là nó không phù hợp với trường hợp này, cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm”.  Tác giả thứ nhất của công trình này là Xiang Gao, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở Phòng thí nghiệm Vật lý nguyên tử và chất rắn.    Michelle Wang, giáo sư danh hiệu James Gilbert White về khoa học vật lý ở Khoa Vật lý trường Khoa học và nghệ thuật, nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Y học Howard Hughes  Michelle Wang và đồng nghiệp đã sử dụng các bẫy quang và nhíp từ để nghiên cứu về động lực học của DNA và liên kết RNA với các phân tử protein. Năm 2007, cô và nhóm nghiên cứu của mình đã phát triển một cờ lê mô men xoắn quang, trong đó một cylinder hình trụ thạch anh được chế tạo ở cấp độ nano gắn vào một điểm cuối của một chuỗi DNA xoắn về sau và trước trong đường đến một chùm tia laser bẫy chịu tác động của một ngoại lực. Sau khi vượt qua được cylinder này, chùm tia thay đổi theo một mô men góc, dẫn đến việc xác định trực tiếp độ xoắn trong phân tử.  Để thực hiện thực nghiệm này, Wang và Xiang Gao cùng các thành viên khác của nhóm đã giải quyết nhiều rối phức tạp về mặt toán học của DNA mà người ta vẫn gọi là siêu xoắn. Trong một thay đổi khác, thay vì giữ chuỗi DNA dưới điều kiện cực đoan như những nghiên cứu trước, họ giữ phân tử tại một độ giãn không đổi và tác động nhiều mức lực khác nhau vào bên trong bẫy quang học. Do nhóm nghiên cứu có thể đo đạc được độ giãn với ít nhiễu, họ có thể cải thiện được dữ liệu về độ xoắn của mình.  Họ đã đo đạc được độ dài xoắn bền của hai topology DNA, một chuẩn đo về độ chịu xoắn. Do đó họ hi vọng công trình của mình sẽ dẫn đến việc hiểu sâu hơn về cơ chế phân tử DNA.  Kỹ thuật này đã mở ra những cơ hội mới để nghiên cứu những chuyển pha do xoắn gây ra trong DNA và những gợi ý về mặt sinh học của chúng. “Nhiều đồng nghiệp đã bình luận với tôi rằng họ cảm thấy vô cùng thú vị về phát hiện này khi nó gợi ra một phổ gợi ý rộng lớn về các quá trình xử lý DNA in vivo”, Wang nói.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-technique-illuminates-dna-helix.html  https://www.osa-opn.org/home/newsroom/2021/august/shedding_light_on_dna_s_twist/  ————————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.127.028101    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật sinh học quang hợp làm tăng sản lượng mùa vụ      Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu RIPE đã chứng tỏ kỹ thuật sinh học đa di truyền về quang hợp làm gia tăng sản lượng của một loại cây lương thực trong một thử nghiệm trên đồng ruộng. Sau hơn một thập kỷ tập trung nghiên cứu cho mục tiêu này, một nhóm hợp tác do các nhà nghiên cứu trường đại học Illinois dẫn dắt đã làm thay đổi gene của cây đậu tương để làm gia tăng hiệu suất quang hợp, dẫn đến mùa vụ gia tăng mà không ảnh hưởng đến chất lượng.      Kết quả này đến thật đúng lúc. Trong báo cáo gần đây của Liên hợp quốc, “The State of Food Security and Nutrition in the World 2022”, vào năm 2021 gần 10% dân số thế giới sống trong cảnh thiếu lương thực, một tình trạng đã ngày một trở nên xấu hơn trong vài năm trở lại đây. Nó làm lu mờ cả những mối nguy về sức khỏe toàn cầu khác. Theo UNICEF, vào năm 2030, hơn 660 triệu người đang được dự đoán là phải đối mặt với tình trạng khan hiếm lương thực và suy dinh dưỡng. Hai trong số những nguyên nhân chính của tình trạng này là sự bất bình đẳng trong chuỗi cung cấp lương thực (khả năng tiếp cận lương thực) và các điều kiện trồng trọt ngày một khắc nghiệt do tác động của biến đổi khí hậu. Cải thiện khả năng tiếp cận lương thực và cải thiện sự bền vững của lương thực ở những vùng nghèo đói là những mục tiêu chính của nghiên cứu này cũng như của dự án RIPE.  Hiện thực hóa sự gia tăng hiệu suất quang hợp (RIPE) là một dự án nghiên cứu quốc tế nhằm hướng đến gia tăng sản phẩm lương thực toàn cầu bằng cải thiện hiệu quang hợp trong mùa vụ cho những hộ nông dân nhỏ ở vùng Hạ Sahara châu Phi.  “Số người bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu lương thực tiếp tục gia tăng, các dự đoán ngày một chứng tỏ một cách rõ ràng là cần một sự thay đổi ở cấp độ chuỗi cung ứng để thay đổi quỹ đạo này”, Amanda De Souza, người tham gia dự án RIPE và là tác giả dẫn đầu nghiên cứu. “Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng tỏ một cách hiệu quả để đóng góp vào an ninh lương thực cho những người cần nó nhất trong khi vẫn tránh được việc dành quá nhiều quỹ đất vào trồng trọt. Cải thiện khả năng quang hợp là một ưu tiên lớn để có được một bước nhảy vọt cần thiết về sản lượng mùa vụ tiềm năng”.  Quang hợp, một quá trình tự nhiên mà tất cả mọi loại cây trồng đều sử dụng để chuyển đổi ánh nắng mặt trời thành năng lượng và sản lượng, lại là một quá trình 100+ bước thiếu hiệu quả đến đáng ngạc nhiên. Các nhà nghiên cứu RIPE đã làm việc để cải thiện nó trong vòng hơn một thập kỷ. Trong công trình độc nhất vô nhị này, mới xuất bản trên Science, nhóm nghiên cứu đã cải thiện cấu trúc VPZ bên trong cây đậu tương để cải thiện sự quang hợp và sau đó thử nghiệm trên đồng ruộng để kiểm tra xem liệu nó có được cải thiện như mong đợi hay không 1.    Những người nông dân sẽ được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu này. Nguồn: phys  Cấu trúc VPZ chứa ba gene mã hóa các protein của chu trình xanthophyll, một chu trình sắc tố giúp bảo vệ quang của các loại thực vật. Một khi được mặt trời chiếu sáng, chu trình này được kích hoạt trong lá cây để bảo vệ chúng khỏi bị phá hủy, cho phép lá khỏi bị phân rã bởi năng lượng dư. Tuy nhiên, khi lá bị che khuất (bởi các lá khác, mây, hoặc khuất bóng mặt trời trên không trung), sự bảo vệ quang cần chuyển những chiếc lá tiếp tục xử lý quang hợp với ánh sáng dự trữ. Mất nhiều phút để cây chuyển đổi cơ chế bảo vệ khiến cho mất nhiều thời gian giá trị lẽ ra để tập trung vào quá trình quang hợp.  Sự biểu hiện quá mức của ba gene của cấu trúc VPZ làm gia tốc quá trình này, vì vậy thời gian để chuyển đổi một cái lá từ ánh sáng sang bóng râm của bảo vệ quang sẽ nhanh hơn. Lá cây dư thêm thời gian cho quá trình quang hợp, khi diễn ra trong toàn bộ thời gian sinh trưởng sẽ làm gia tăng tốc độ quang hợp. Nghiên cứu này chứng tỏ là dù tăng thêm hơn 20% sản lượng thì chất lượng hạt thu được vẫn không thay đổi.  “Dẫu mùa vụ cao hơn nhưng protein chứa trong hạt vẫn không suy suyển. Điều này cho thấy một số năng lượng thu được từ cải thiện quang hợp có thể đã được chuyển sang vi khuẩn cố định đạm trong các nốt sần của cây đậu tương”, Stephen Long, giám đốc dự án RIPE và chủ tịch Viện Sinh học hệ gene Carl R. Woese, ĐH Illinois, nói.  Đầu tiên, các nhà nghiên cứu thử nghiệm ý tưởng của mình trên cây thuốc lá bởi vì sự dễ dàng trong chuyển đổi di truyền và lượng hạt của loại cây này ngay trên một cây. Những nhân tố đó cho phép họ chuyển gene trên cây và thử nghiệm trên đồng ruộng trong vòng vài tháng. Kh ý tưởng chứng minh được hiệu quả trên cây thuốc lá, họ lại chuyển sang nhiệm vụ phức tạp hơn là đặt gene vào một cây lương thực như cây đậu tương.  “Nó đã chứng tỏ sự gia tăng hiệu quả bền vững trên cây thuốc lá và đậu tương, hai loại cây trồng khác nhau. Điều này cho thấy khả năng ứng dụng phổ quát”, Long nói. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những cải thiện mùa vụ có thể thực hiện được dưới tác động của môi trường. Hiện tại, điều quan trọng là xác định độ lặp lại của kết quả trong các môi trường khác nhau và cải thiện thêm để đảm bảo sự ổn định”.  Việc thực hiện thêm các thử nghiệm ngoài đồng ruộng của các cây đậu tương biến đổi gene đang được tiến hành trong năm nay và kết quả được chờ đợi sẽ có vào đầu năm 2023.  “Tác động quan trọng của công trình này là mở ra con đường chứng tỏ chúng ta có thể dùng kỹ thuật sinh học để cải thiện quang hợp và cải thiện mà vụ để tăng năng suất cho những cây lương thực chính”, De Souza nói. “Đây mới là thời điểm bắt đầu xác nhận các ý tưởng mà dự án RIPE đem lại có thể thành công với các cây lương thực chính”.  Dự án RIPE và các nhà tài trợ cho nó đã cam kết đảm bảo khả năng tiếp cận toàn cầu và sẵn sàng để các công nghệ mà dự án làm ra đến với các nông dân cần chúng nhất.  “Với tôi thì đó là một quãng đường một phần tư thế kỷ”, Long chia sẻ. “Bắt đầu với một phân tích lý thuyết về khả năng quang hợp của cây lương thực, mô phỏng toàn bộ quá trình trên các siêu máy tính, sau đó là ứng dụng các quá trình tối ưu hóa để phá hiện ra một số điểm nghẽn trong quá trình này. Sự tài trợ trong 10 năm qua cho phép chúng tôi tháo gỡ những nút thắt cổ chai đó và thử nghiệm trên đồng ruộng. Sau nhiều năm thử nghiệm và khó khăn, với cả nhóm nghiên cứu, thật tuyệt vời khi được tưởng thưởng một kết quả ngoạn mục như vậy”.  RIPE do các nhà khoa học Illinois dẫn dắt, với sự hợp tác của trường ĐH Quốc gia Australia, Viện Hàn lâm KH Trung Quốc, tổ chức CSIRO Úc, ĐH Lancaster, ĐH bang Louisiana, ĐH California, Berkeley, ĐH Cambridge, ĐH Essex, và Cơ quan dịch vụ nghiên cứu nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp Mỹ.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-bioengineering-photosynthesis-yields-food-crops.html  https://www.climatechange.ie/bioengineering-better-photosynthesis-increases-yields-in-food-crops/  ———————————————————-  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.adc9831    Author                .        
__label__tiasang Kỹ thuật xử lý hình ảnh có thể giúp dò sớm các bệnh phổi      Một quá trình chụp ảnh mà ngày nay thường chủ yếu sử dụng trong các phòng thí nghiệm có thể có tiềm năng dò được ung thư phổi giai đoạn đầu, nếu được phát triển thêm để dùng trong bệnh viện và phòng khám, theo kết quả của một công bố mới.    Các nhà nghiên cứu từ Viện Công nghệ Hoàng gia KTH ở Stockholm đã thử nghiệm một quá trình mà người ta vẫn gọi là chụp ảnh tia X pha tương phản, để hướng đến sử dụng chụp ảnh trên phổi người thông qua việc sử dụng một mô hình do các nhà nghiên cứu trường ĐH Duke phát triển để mô phỏng ngực người.  Họ cho biết, ảnh chụp X quang ngực tương phản pha có thể được hình dung cả đường hô hấp nhỏ nhất – nhỏ hơn 2mm – và những bệnh tắc nghẽn đường thở liên quan. Các tác giả đầu của nghiên cứu này, như Häggmark và Kian Shaker của Viện Công nghệ Hoàng gia KTH, cho rằng có những chi tiết không hiển thị trong phương pháp chụp ảnh X quang thông thường.  Các nhà nghiên cứu đã thông báo phát hiện của mình trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences 1.  Hình ảnh tương phản pha thường được sử dụng trong các phòng thí nghiệm với các thiết bị mà ngày nay giới hạn trong sử dụng chụp ảnh các mẫu vật mô mềm có kích thước hàng centimeter. Nhưng Häggmark nói, nghiên cứu này đã chứng tỏ một cách rõ ràng là có thể làm được nhiều hơn với hình ảnh tia X tương phản pha, nếu các yêu cầu về mặt kỹ thuật cho thực hành lâm sàng có thể được thiết kế.  Chụp ảnh tia X ngực mà các cơ sở y tế thường sử dụng ngày nay đóng một vai trò quan trọng trong dò các bệnh về hô hấp nhưng giới hạn cơ bản của nó là cách các hình ảnh được tạo ra, Häggmark nói.  Ông cho rằng, kỹ thuật tương phản pha được sử dụng trong nghiên cứu có thể chứng tỏ được sự hiện diện của những thay đổi bệnh lý ở mức sơ khai mà các phương pháp chụp ảnh X quang thông thường khó nhận thấy, trong khi đây là điều tối quan trọng trong sàng lọc các bệnh như suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (chronic obstructive pulmonary disease COPD). “Chụp ảnh tia X tương phản pha có thể trích rút ra được nhiều thông tin hơn ở mức độ phân giải cao thông qua việc sử dụng cùng một liều phóng xạ như các chụp ảnh X quang thông thường”, Häggmark nói về sự hiệu quả của phương pháp mà họ đã chứng minh.  Trong chụp ảnh tia X thông thường, chùm tia X đi qua cơ thể, nơi các mô khác nhau hấp thụ tia X dọc theo đường tia ở các mức khác nhau. Bên cạnh đó, một thiết bị đo đạc cường độ của chùm tia sau khi đi qua cơ thể. Quá trình này được gọi là sự suy giảm (attenuation) và cơ chế cơ bản đem đến độ tương phản khiến cho chụp ảnh tia X hữu dụng.  Kỹ thuật tương phản pha là một cách thu được nhiều thông tin hơn các chùm tia X thông thường. Sở di có được điều này là có thể đo đạc được những mức độ khác nhau trong hình thành sóng của tia X khi chuyển qu một mẫu. Các chùm tia X gặp các nguyên tử và các cấu trúc khác có thể thay đổi vị trí của sóng tại bất kỳ điểm nào theo thời gian – pha – trong sự tương quan với sóng tham chiếu.  Thông tin pha này được dùng để tạo ra một hình ảnh có thể tăng cường các cấu trúc trong mẫu với độ tương phản cao hơn và độ phân giải tốt hơn. Điều này cần thiết bởi ngực người có các đường biên của các vách cuống phổi và nhiều đường khí nhỏ.  Häggmark cho rằng một yếu tố để thúc đẩy sự ra đời của phương pháp này là muốn để thiết bị cách xa bệnh nhân hơn.  Sự phát triển của thiết bị chụp các mẫu lớn hơn sẽ cần thời gian, ông nói. “Anh cần nguồn tia X với nguồn điện lớn và một điểm nhiễm nhỏ hơn. Về cơ bản anh cần một nguồn tia X phù hợp”.  Ông cho biết những phát triển hứa hẹn đang được thực hiện nhưng vẫn cần nhiều thời gian để có thể sử dụng cho người. “Từ bây giờ, mô phỏng và các ca lâm sàng số đang là những công cụ hoàn hảo để khám phá ra những gì chúng ta có thể làm khi công nghệ thực sự sẵn sàng”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-02-advanced-imaging-tech-early-stage-lung.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/980083  ———————————–  1. https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2210214120    Author                .        
__label__tiasang Lai tạo các hạt giống tốt hơn: Thức ăn lành mạnh cho nhiều người hơn      Các loại ngũ cốc có thể cung cấp nguồn nguyên liệu chính cho bữa ăn sáng của bạn như bột yến mạch, bột ngô, bột mì cho bánh mì, sandwich… cũng như bánh quy cho tráng miệng. Không thứ đồ ăn vừa liệt kê này lại có thể thiếu đi những thứ nguyên liệu cần thiết, đó là các hạt giống.      Nông dân kiểm tra chất lượng các hạt lúa mì chuẩn bị thu hoạch.  Các loại hạt như hạt lúa mì, lúa gạo hay ngô là nguồn cung cấp trực tiếp 70% calo mà con người ăn hàng ngày. Và cuối cùng chúng cũng ảnh hưởng tới gần như toàn bộ đồ ăn khác của con người thông qua việc trở thành thức ăn cho vật nuôi hoặc bón cho rau cỏ và cây ăn quả. Không nói quá khi nói rằng nếu thiếu các loại hạt, không thể diễn ra quá trình văn minh hóa của con người.  Nhưng sự thật là các hạt giống cũng cần sự hỗ trợ của chúng ta. Chúng đang chịu sức ép của biến đổi khí hậu cũng như sự gia tăng của dân số thế giới đang không ngừng tăng lên.  Nhiều nhà khoa học đã dành sự nghiệp của mình vào việc cải thiện năng suất và chất lượng các hạt giống. Họ đã sử dụng những tiên tiến khoa học bậc nhất để khiến cho các hạt giống gia tăng kích thước, nhiều chất dinh dưỡng hơn và tăng khả năng chống chịu với ngoại cảnh.  Rodomiro Ortiz, làm việc tại Khoa Lai tạo giống cây trồng, trường đại học Khoa học Nông nghiệp Thụy Điển ở Alnarp, nghiên cứu về cách nhân giống cây trồng có thể giúp con người đạt được những mục tiêu này như thế nào. Nghiên cứu của anh mới được xuất bản trên Crop Science, một tạp chí của Hội Khoa học cây trồng Mỹ với tiêu đề “First the seed: Genomic advances in seed science for improved crop productivity and food security” (Hạt giống đầu tiên: Những tiên tiến hệ gene trong khoa học hạt giống để cải thiện thu hoạch mùa vụ và an ninh lương thực).  Vì khoa học là yếu tố quyết định đằng sau những cải thiện hạt giống, việc nhân giống cây trồng là nền tảng để  đảm bảo cho ngành nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu của con người. “Hạt giống được tạo ra từ sự nhân giống cây trồng có những đặc tính mong chờ, cho phép gia tăng sản lượng thu hoạch, giảm thiểu sự suy dinh dưỡng của con người, cải thiện sự đa dạng di truyền trong các hệ sinh thái, và đảm bảo việc tạo ra lương thực bền vững dưới nỗi ám ảnh biến đổi khí hậu”, Ortiz nói.  Cách lai tạo giống cây trồng cổ điển không có các kỹ thuật di truyền. Thay vào đó, các nhà làm giống cây trồng còn lai tạo các cây trồng lai các loại cây có đặc điểm mạnh riêng biệt để lai một cây mới với một số đặc điểm có lợi. Quy trình tương tự đã được nông dân và các nhà khoa học sử dụng trong hàng trăm năm nay để tạo ra những vụ mùa tốt hơn. Nhưng ngày nay, các nhà tạo giống cây trồng đã có được nhiều thông tin hơn và nhiều công cụ tốt hơn trước đây, ví dụ việc sử dụng một cách rộng rãi trình dự gene DNA giúp cho các nhà tạo giống một số lượng lớn dữ liệu về các loại gene hữu dụng, liên quan đến các đặc tính của cây trồng. Bằng việc xác định được những gene nào có thể giúp làm gia tăng những đặc tính mong muốn, các nhà lai tạo giống cây trồng có thể phát triển được nhiều loại biến dị cây trồng mới nhanh hơn nhiều so với trước đây.  “Hiểu biết từ hệ gene của hạt giống có thể làm nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện chuỗi cung cấp din dưỡng và thực phẩm thông qua lai tạo giống”, Ortiznói.  Nhưng các gene mới chỉ là một phần của bài toán này. Các nhà khoa học như Ortiz cần biết cách cây trồng tăng trưởng như thế nào và nó trông như thế nào. Trong quá khứ, các nhà khoa học có thể có khả năng nhìn thấy và nói một cách dễ dàng về một loại cây, ví dụ có hạt giống lớn hơn. Tuy nhiên ngày nay, việc cải thiện các hạt giống còn đòi hỏi chi tiết cụ thể hơn.    Một nhóm nhà khoa học đang tìm hiểu cách hạt quinoa (diêm mạch) có khả năng chịu nhiệt tốt hơn. Nguồn: Kevin Murphy   Họ cần biết thêm về kiểu hình, khoa học của đo lường. Kiểu hình của một cây trồng là toàn bộ biểu hiện của kiểu gene của nó trong môi trường của nó. Chiều cao, màu sắc của cây trồng, khối lượng và hình dạng của hạt giống, xu hướng chống chịu hoặc khả năng kháng cự với bệnh tật – tất cả những điều đó là kiểu hình.  Việc nắm bắt thông tin này đòi hỏi mất nhiều thời gian. Con người thậm chí còn không thể thấy được một số tính trạng này, và các hạt giống lại quá nhỏ, không thể đo đạc chúng bằng tay. Lúc này chúng ta cần đến công nghệ.  “Việc xác định kiểu hình các tính trạng của hạt giống là một nút thắt lớn trong việc phân tích các biến dị hạt một cách có hệ thống”, Ortiz nói. “Những tiên tiến trong công nghệ hình ảnh số có thể đo đạc một cách tự động những biến dị của các tham số hình dáng bằng việc sử dụng các hình ảnh có độ phân giải cao về hạt giống”.  Với những công cụ này trong tay, các nhà lai tạo giống có thể cải thiện hạt giống và phát triển những biến dị cây trồng mới một cách nhanh hơn trước đây. Ortiz cũng hình dung ra việc làm cho các hạt giống to hơn, vì thế mỗi loại hạt sẽ có thể đem lại nhiều calo hơn để nuôi dưỡng con người. Các hạt giống lớn hơn có thể giúp cho thế hệ cây trồng mới nhanh chóng lớn hơn trên các vùng trồng trọt, sẵn sàng đem lại mùa thu hoạch với số lượng cao hơn. Và các nhà lai tạo giống đang cố găng khiến cho các protein của hạt đem lại nhiều dưỡng chất hơn hoặc chất béo trong các hạt giống đủ ổn định để lưu trữ trong các kho chứa lâu hơn.  Mỗi cải thiện như vậy cũng có nghĩa là khiến hạt giống mạnh hơn, trở thành nguồn nguyên liệu tốt hơn và nuôi dưỡng được nhiều người hơn. Vì vậy với mỗi chiếc thìa đầy ắp hạt yến mạch thơm ngon, bạn hãy nên xem xét đằng sau mỗi hạt giống nhỏ bé đó là những tiên tiến công nghệ và cả know-how mà các nhà khoa học đã khổ công nghiên cứu và áp dụng.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-seeds-healthy-food-people.html  https://acsess.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/csc2.20402    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm chủ “bộ óc” SG- 8V1      Với các thiết bị như giám sát hành trình,  điện kế điện tử, máy đo huyết áp, máy điều hòa… thì “bộ óc” của các  thiết bị này hoàn toàn ngoại nhập. Hay nói cách khác, dù các thiết bị có  nội địa hóa, nhưng con chíp xử lý bên trong các thiết bị trên đều của  các hãng công nghệ nước ngoài. Nhưng qua 2014 sẽ khác, với con chip SG-  8V1 vừa được Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch (ICDREC) –  ĐH Quốc Gia TPHCM chạy thử thành công hơn cả mong đợi, sẽ mở ra cánh  cửa mới…      Hiện trong các thiết bị nói trên, chip PIC của Microchip, chip 8051 của Intel… vốn “độc quyền” trên thị trường, nhất là thị trường nội địa của ta mà nguyên nhân chính do trước đây ta chưa chế tạo thành công loại chip này.  Nhưng với SG-8V1, sản phẩm đặt hàng của Sở KH-CN TPHCM từ năm 2008, ICDREC đã hoàn thành sản phẩm vào những ngày cuối cùng của năm 2013. SG-8V1 cho phép tăng tốc độ xử lý lên nhiều lần và dung lượng bộ nhớ chương trình (nơi lưu giữ mã lệnh) cũng tăng so với yêu cầu ban đầu của dự án. Khi đặt hàng con chip này, Sở KHCN TPHCM đã kỳ vọng nó sẽ tạo ra  ưu thế vượt trội về mặt kỹ thuật và giá thành rẻ hơn  so với các chip cùng loại của các hãng trên thế giới. Điều này sẽ rõ hơn khi trong vài ngày tới, khi hội đồng khoa học thẩm định của Sở KH-CN TPHCM sẽ có những kết luận cụ thể, chi tiết hơn, là cơ sở khoa học tiên quyết của thành công.  Bài toán đầu ra cũng được đặt ra. Bình quân giá thị trường của dòng chip 8 bit hiện nay khoảng 75.000 đồng/chip cho lô hàng trên 5.000 con chip, nhưng với SG-8V1 chỉ tầm 40.000 đồng/chip cho lô hàng trên 1.000 con. Riêng phân khúc sản phẩm giám sát hành trình cho ô tô và xe máy, ICDREC “chiếm lĩnh” 30.000 chip/năm, sản phẩm phổ dụng như điện kế điện tử cũng khoảng 300.000 chip/năm. Tính chung cho thị trường nhiều loại thiết bị dân dụng sử dụng vi xử lý 8 bit, tầm 1 triệu con chip/năm. Đến đây, bài toán ngoại – nội đã khá rõ ràng: khi mua 1 triệu con chip ngoại với giá 75.000 đồng/con tốn khoảng 75 tỷ đồng; trong khi đó  so với SG-8V1 chỉ 40.000 đồng/con chip thì tốn 40 tỷ đồng, tức giảm được 35 tỷ đồng…  Có thể khẳng định rằng, SG-8V1 là sản phẩm có hàm lượng chất xám tích lũy cao, giá trị gia tăng lớn, góp phần tiết kiệm cho đất nước một lượng ngoại tệ rất lớn và quan trọng hơn, còn là sản phẩm đầu vào cho nhà máy chip mà thành phố đang gấp rút các công tác chuẩn bị cho việc đầu tư, xây dựng. Ở một góc nhìn khác còn cho thấy, Ban chỉ đạo chương trình phát triển công nghiệp vi mạch TPHCM đang xây dựng các lộ trình cần thiết để ứng dụng SG-8V1 vào một số sản phẩm phổ dụng  với sự phối hợp của các công ty công nghiệp thuộc thành phố… Thêm khẳng định, “bộ óc” SG-8V1 là sản phẩm đầy tiềm năng, khát khao sử dụng, ứng dụng công nghệ của chính mình làm chủ luôn là điểm đến chính đáng và điều này cũng dự báo, 2014 là năm bùng phát những ứng dụng vi mạch do chính chúng ta tạo ra và làm chủ công nghệ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm dụng phân bón khiến Trái đất có nguy cơ bị hủy hoại vì phosphorus      Nguyên tố phosphorus trong phân bón có vai trò rất quan trọng đối với việc cung cấp nông sản cho con người. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu người Anh cảnh báo, con người hiện đang sử dụng quá lãng phí loại hàng hóa quý giá này, và kéo theo những nguy cơ hủy hoại môi trường rất nặng nề.    Việc lạm dụng phosphat (phân lân) trong nông nghiệp không chỉ dẫn đến thiếu phân bón mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với khí hậu và môi trường.  Chuyên gia thổ nhưỡng Phil Haygarth của Đại học Lancaster nói với The Guardian: “Chúng ta đã đạt đến ngưỡng bùng phát quan trọng. Có lẽ chúng ta vẫn có thể xoay chuyển tình thế, nhưng chúng ta phải sử dụng phân lân một cách khôn ngoan hơn, nếu không, chúng ta sẽ phải đối mặt với một thảm họa mang tên là ‘Phosphorgeddon’.”    Thảm tảo màu xanh lục độc hại trên bãi biển Baltic của Thụy Điển  Phosphorus là một nguyên tố cần thiết cho sự sống, nhưng việc sử dụng quá mức sẽ gây ô nhiễm môi trường. Nhà khoa học người Đức Hennig Brandt đã phát hiện ra nguyên tố này vào năm 1669, ông đã chiết xuất nó từ nước tiểu. Phosphorus là một trong những chất dinh dưỡng chính của cây trồng và việc bón phân lân làm tăng năng suất cây trồng rõ rệt.  Khoảng 50 triệu tấn phân lân được bán ra trên toàn thế giới mỗi năm, theo các chuyên gia, việc nuôi sống 8 tỷ người trên trái đất hiện nay là điều không tưởng nếu không có phosphorus.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cảnh báo chúng ta hiện đang quá lãng phí phosphorus. Dữ liệu từ Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA) cho thấy mức tiêu thụ phosphorus toàn cầu đã tăng gấp 5 lần từ năm 1961 đến năm 2020. Điều này có thể gây ra những hậu quả đối với an ninh lương thực, bởi phosphorus thuộc diện quý hiếm, chủ yếu chỉ có ở một số nước như Maroc, Trung Quốc, Ai Cập, Algeria và Syria. Phân lân bị rửa trôi từ đồng ruộng cũng gây hại cho môi trường.  Một số hồ nước ngọt lớn nhất trên thế giới đang phải vật lộn với bệnh dịch tảo chưa từng có. Tảo nở hoa và các thực vật thủy sinh khác lấy đi oxy của cá, dẫn đến “vùng chết” trong các vùng nước.    Ngư dân Kenya khốn đốn vì tình trạng thực vật phát triển quá nhanh che phủ mặt nước Hồ Victoria  Phosphorus làm cho thực vật trong ao hồ phát triển mạnh mẽ. Ví dụ, ở biển Baltic, tảo trở thành một thảm họa và xuất hiện nhiều trong vài chục năm gần đây. Một phần của hồ Victoria ở Đông Phi, hồ nước ngọt lớn thứ hai trên thế giới, từ cuối những năm 1990 cũng bị che phủ bởi một loại bèo tây hay còn gọi là lục bình. Loại “cỏ dại” thủy sinh không chỉ cướp đi không khí của cá mà còn là nơi sinh sản của muỗi mang mầm bệnh. Sự phát triển dày đặc của chúng ngăn cản giao thông đường thủy, thậm chí làm tắc nghẽn các đường ống ở các nhà máy thủy điện.  Bryan Spears thuộc Trung tâm Sinh thái và Thủy văn Vương quốc Anh cho biết: “Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết ấm lên từ đó sẽ có nhiều tảo nở hoa hơn, bên cạnh đó lượng phosphat dư thừa làm cho tảo và các loại thực vật trong nước phát triển mạnh mẽ hơn. Theo chuyên gia Spears: “Khi tảo chết đi, nó sẽ giải phóng khí methan trong quá trình phân hủy. Do vậy, tảo nở hoa phát triển mạnh có nghĩa là khí methan được bơm vào bầu khí quyển nhiều hơn.” Khí methan thúc đẩy sự nóng lên toàn cầu gấp khoảng 80 lần so với khí CO2 thông thường. Điều này thực sự rất đáng lo ngại.  Xuân Hoài  lược dịch  Nguồn: https://www.focus.de/klima/leben/vielleicht-kriegen-wir-noch-die-kurve-unsere-sucht-nach-duengern-fuehrt-die-erde-in-den-phosphorgeddon_id_188254095.html    Author                .        
__label__tiasang Làm giàu từ tảo xoắn Spirulina      Nuôi tảo xoắn Spirulina là một nghề mới ở Việt Nam nhưng nếu nuôi thành công sẽ mang lại giá trị kinh tế cao vì đây là nguồn để bào chế thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng rất tốt cho sức khỏe và hiện đang được sử dụng nhiều trên thế giới.  &#160;    Bén duyên  Bà Trần Thị Thao (xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) nảy sinh ý tưởng nuôi tảo xoắn khi bà được tặng một lọ thực phẩm chức năng của Nhật Bản, được bào chế từ tảo xoắn Spirulina. “Sử dụng thấy loại tảo này tốt, tìm hiểu thấy nó chứa nhiều hàm lượng chất khoáng, protein nên tôi bắt đầu tò mò. Nhưng, ý tưởng ấy chỉ dừng lại ở ý tưởng nếu tôi không gặp được GS-TS Dương Đức Tiến – một chuyên gia hàng đầu về ngành tảo và công nghệ sinh học của Việt Nam tại một cuộc hội thảo tổ chức tại Đà Nẵng”. Từ cuộc gặp gỡ này, bà Thao được GS-TS Dương Đức Tiến hướng dẫn kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng.  Năm 2012, bà Thao vào Bình Thuận tham quan mô hình nuôi tảo xoắn của doanh nghiệp Vĩnh Hảo. Về quê, bà tìm đến xóm 6 xã Quỳnh Lương – một xóm ven biển, cách nhà 15km để thuê mặt bằng triển khai ý tưởng. Đầu tiên bà thuê người khoan giếng, khảo sát nguồn nước. Qua phân tích cho thấy chất lượng nước ở đây phù hợp với tảo xoắn. Sau đó, bà mời GS-TS Dương Đức về trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật và giới thiệu nơi lấy nguồn giống. Lứa tảo đầu tiên được nuôi trong phòng thí nghiệm đã thành công. Tuy nhiên, khi đưa tảo ra bể xi măng ngoài trời thì không phát triển được. Vậy là thất bại. Không nản lòng, bà và các kỹ sư cộng sự lại tiếp tục mò mẫm, thử nghiệm lại, cứ thế hơn 4 tháng trời.  Mở hướng làm giàu  Không phụ công bà Thao và mọi người, đến tháng 4-2013, sau nhiều thử nghiệm, giống tảo khó tính Spirulina đã phát triển được trong bể xi măng. Như vậy, tảo sau khi được nhân cấy trong phòng giống cấp 1 từ 3 – 5 ngày, sau đó cho ra phòng giống cấp 2. Tại đây tảo được chăm sóc thêm 5 – 7 ngày thì đem ra bể xi măng ngoài trời. Điều kiện sản xuất ngoài trời bắt buộc phải vô trùng các thiết bị vì nếu bị nhiễm khuẩn, tảo sẽ không phát triển.  Từ khi đưa ra bể xi măng nuôi 8 – 15 ngày, tảo có thể cho thu hoạch và được sấy khô để làm nguyên liệu bào chế thuốc, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Giữa năm 2013, mẻ sản phẩm tảo xoắn đầu tiên của bà Thao sản xuất đã có mặt trên thị trường.  Dù mới xuất hiện nhưng thương hiệu tảo xoắn Spirulina của bà Thao đã được nhiều người biết đến. Với giá bán như hiện nay (215.000 đồng/lọ 100 viên loại 0,5g/viên), sản phẩm tảo xoắn của bà Thao có giá thấp hơn nhiều so với sản phẩm nhập khẩu. Đến nay, cơ sở của bà Thao cho sản lượng trung bình 2 tấn tảo xoắn khô thành phẩm mỗi năm, tạo công ăn việc làm cho hơn 20 lao động, trong đó có 9 kỹ sư. Bà Thao cho rằng tảo xoắn tuy “khó tính” nhưng khi đã “hiểu” được nó thì việc nuôi không còn phức tạp.  Hiện bà Thao đang hướng dẫn nhiều gia đình nuôi trồng tảo xoắn theo hướng vùng nuôi tảo tập trung, nuôi giống và lưu giữ giống, mở ra một hướng làm ăn mới cho người dân vùng ven biển, trước mắt là người dân Quỳnh Lưu quê bà.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm nông phương pháp cây che phủ, không làm đất và phủ xanh      Vào một ngày nắng cuối tháng 3, khi hàng xóm chuẩn bị các máy trỉa hạt, bạn có thể bắt gặp Trey Hill trồng bắp vào bên gốc cây cỏ ba lá xanh, cây lúa mạch đen, và một hỗn hợp các loại cây che phủ khác.      Bắp được trồng bên gốc cỏ ba lá, lúa mạch và dầu gai.  Bác nông phu ở Rock Hall, bang Maryland, Mỹ dùng cây che phủ trên khắp 13.000 mẫu anh (1) và ông phủ xanh (2) phần lớn diện tích ấy. Ông làm thế không phải chịu thiệt về năng suất bắp. “Chúng tôi đã tiến hành các thử nghiệm đối chứng canh tác đậu nành theo phương pháp xanh và nâu (3) trong suốt ba năm qua. Đậu thu hoạch cao hơn khoảng 10 giạ (4) khi trồng theo phương pháp xanh”, ông Hill cho biết. Năng suất đậu của ông bình quân 60 – 70 giạ/mẫu anh. Thành công của Hill xuất phát từ khởi đầu làm ít, rút kinh nghiệm, và rồi áp dụng các cách làm ấy trong toàn bộ hoạt động của Harborview Farms. Hill và cha ông, Herman, cùng với mười nhân công làm toàn thời gian tập trung vào các cách làm vừa có hiệu quả nông nghiệp lẫn kinh doanh.  Thực hành nông nghiệp bền vững  Các nỗ lực này không phải không được chú ý. Harborview Farms sẽ là địa điểm đầu tiên của dự án ForwardFarm của Bayer ở Mỹ. ForwardFarm là các hoạt động độc lập dẫn đến cách thực hành nông nghiệp bền vững. Mạng lưới bao gồm cả các nông dân bên châu Âu và Mỹ Latinh. Hầu hết đều toạ lạc ở vị trí chiến lược gần các trung tâm đô thị, để các quan chức chính phủ và các nhà lãnh đạo khu vực tư nhân có cơ hội tận mục sở thị các hoạt động đó. Harborview chỉ cách Washington D.C. hai giờ xe, là một địa điểm lý tưởng.  “Bằng cách mở rộng mạng lưới ForwardFarm sang Mỹ, chúng tôi đang đem đến một diễn đàn mới qua đó chúng ta có thể nối kết các nhà nông, xã hội, ngành công nghiệp và các định chế quần chúng. Chúng tôi nhắm đến việc phát triển xa hơn và chứng minh các thực hành nông nghiệp có trách nhiệm và cơ hội để tăng và duy trì năng suất cây trồng mà vẫn bảo vệ đất canh tác và môi trường”, Bernd Naaf, thủ trưởng bộ phận kinh doanh và truyền thông của Crop Science, một công ty con của Bayer, nói. “Chúng tôi mạnh mẽ tin rằng qua một đối thoại mở với các bên liên quan khác nhau là chìa khoá để thấu cảm các quan điểm khác biệt, giải quyết các mối lo, và nhận diện cơ hội cùng hợp tác trong các giải pháp bền vững”.  “Chúng tôi tự hào khi chứng minh cho mọi người cái chúng tôi đang làm và tại sao chúng tôi làm điều đó”, Hill bổ sung.  Một phát hiện tình cờ  Chuyện tiên phong của Harborview Farms trong phủ xanh, theo Hill, chỉ là “tình cờ”. Chỉ có những phần đất gò được phun tưới trong một cánh đồng xanh mướt cây che phủ trước khi mưa dông đến. Khi đến lúc trồng trỉa, các vùng đất gò màu nâu và phần còn lại của cánh đồng là một màu xanh. “Chúng tôi không muốn phun tưới cánh đồng ngay. Chúng tôi quyết định canh tác không theo truyền thống – trồng trước và tưới sau”.  Điều diễn ra đã gây ấn tượng cho mọi người, thậm chí cả George Wilson, một lão nông đã làm việc tại Harborview hơn 36 vụ. “Trông thật đẹp”, ông nói với Hill. “Đừng có diệt cây che phủ nữa. Đây là cánh đồng không làm đất tốt nhất mà tôi từng canh tác”.  Trong khi các vùng đất gò màu nâu quá ướt, làm cho đất bị dẽ còn vùng đất màu xanh, như Wilson nói, trông mướt mắt. Kết quả này không chỉ làm thay đổi chiến lược canh tác của Harborview, mà còn thay đổi cách tiếp cận của nông trại về làm đất.  Không cày và xuống giống sớm  Năm 2005, một nửa nông trại không làm đất và nửa kia cày xới theo thông lệ. Với 5.000 mẫu anh bắp, Hill ưu tiên xuống giống sớm một phần diện tích để khỏi bị ảnh hưởng hạn vào cuối vụ. “Phủ xanh là cách giúp chúng tôi vượt trở ngại để bảo đảm thu hoạch bắp sớm”, ông nói, điều đó cho phép họ chuyển đổi gần như không làm đất nữa. Hai năm qua, khoảng 10% bắp được trồng vào cuối tháng 3. Năm nay, ẩm và lạnh buộc người trồng phải xuống giống đầu tháng 4. “Nếu chúng tôi phủ xanh, chúng tôi có thể trồng trước những nông dân làm theo kiểu truyền thống”, Hill giải thích, và cho biết thêm là họ có vụ mùa bội thu.  Cách tiếp cận đó chứng minh việc Hill thử nghiệm các cách làm mới, trong đó có phối hợp các cây che phủ khác nhau. “Ba hoặc bốn năm qua, chúng tôi thử nghiệm từ 10 – 12 cách phối hợp trên 100 mẫu anh, để biết chắc chúng tôi có thể trồng trên đó trước khi áp dụng trồng đại trà”, ông nói. Tất cả các thí nghiệm không phải đều đạt, nhưng chúng đều cho những bài học mới. Chẳng hạn, Hill và các tá điền của nông trại không còn trồng bắp chung với các loại cây che phủ cao hơn 45 phân. “Nếu cây che phủ cao hơn từng đó, nó có thể ảnh hưởng đến năng suất”, Hill giải thích và cho biết điều đó chỉ đúng với bắp thôi. “Còn đậu hả, tôi sẽ trồng bất cứ cây che phủ cao cỡ nào. Chúng có cao bằng tôi cũng chẳng ảnh hưởng gì tới năng suất đậu”.  Khởi Thức (theo TGHN/SuccessfulFarming)  ——–  (1) Mẫu Anh = 0,4ha; (2) planting greens: dùng cây che phủ thay cho phương pháp làm đất bằng cơ giới; (3) nâu: làm đất bằng cơ giới; (4) giạ = 36 lít.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm phát, mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế      Thực chất của quan hệ giữa lạm phát với năng suất và tăng trưởng là thế nào? Mục tiêu lạm phát (MTLP) có phải là điều kiện cần trong chính sách tiền tệ không? Bài viết này sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và kết quả thực chứng cho những vấn đề này và liên hệ với Việt Nam.    Trong quan niệm của nhiều người, lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì làm giảm năng suất lao động. Lạm phát bóp méo mức độ khan hiếm tương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sản xuất và do đó bóp méo các quyết định đầu tư và sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm này. Lạm phát còn làm giảm mức khấu trừ thực tế cho phép trong thuế doanh nghiệp đối với khấu hao tài sản cố định và làm tăng giá thuê tư bản, do đó làm giảm tích lũy vốn, dẫn đến giảm năng suất. Hàm lượng thông tin liên quan đến biến động giá cả giảm đi kể cả trong thời kỳ lạm phát ổn định. Như vậy, các nhà đầu tư thường có xu hướng mắc lỗi trong quyết định của mình và chọn những “gói” yếu tố sản xuất không phải là tối ưu, làm giảm hiệu quả kinh tế và, do đó, giảm năng suất.  Tuy nhiên, không ít người lại lập luận rằng lạm phát ở một mức nhẹ lại có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, nhà kinh tế học nổi tiếng Tobin cho rằng lạm phát làm cho nhà đầu tư tái phân bổ danh mục đầu tư của mình từ tiền sang chứng khoán, làm giảm lãi suất thực tế và do đó làm tăng đầu tư và nâng cao năng suất lao động. Ông lập luận thêm rằng “một chút lạm phát giúp bôi trơn nền kinh tế” vì nó giúp thị trường lao động điều chỉnh cho phù hợp. Một số khác cũng chỉ ra rằng nhu cầu tăng lên ổn định sẽ gây ra lạm phát ở mức nhẹ, là cái mà thực ra lại làm tăng, chứ không phải giảm, năng suất lao động và, do đó, tăng tốc độ tăng trưởng. Vì thế, động thái nhằm đạt mức lạm phát bằng 0 chẳng qua là chính sách trả trước ngay bây giờ cho nhiều thiệt hại hơn sau này.  Từ một khía cạnh khác, một số người cho rằng lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế nếu xét đến mối quan hệ giữa tính bất trắc của lạm phát trong tương lai với tăng trưởng sản lượng. Họ cho rằng tính bất trắc của lạm phát càng cao thì tăng trưởng sản lượng càng thấp. Sở dĩ có điều này bởi vì nhà sản xuất khai thác triệt để tính bất đối xứng về thông tin trên thị trường – thông tin có được của người tiêu dùng bị hạn chế so với nhà sản xuất – để tăng biên độ lợi nhuận, do đó làm tăng doanh thu kể cả cho những nhà sản xuất không thật sự hiệu quả. Việc phân bổ các nguồn lực sản xuất tới những nhà sản xuất không hiệu quả như vậy sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng. Nhưng ngược lại với dòng lập luận này, một số nhà kinh tế chỉ ra rằng tính bất trắc của lạm phát lại có tác động tích cực đến tăng trưởng, nhờ vào động thái tăng tiết kiệm để phòng ngừa lạm phát. Họ cũng chỉ ra thêm rằng trên thực tế, quan hệ nhân quả giữa hai biến số này là không nhất quán ở từng trường hợp nghiên cứu quốc gia.  Như vậy có thể nói rằng về lý luận, quan hệ nhân quả giữa lạm phát với năng suất lao động và/hoặc tăng trưởng chưa hoàn toàn sáng tỏ. Thực tế, kết quả nghiên cứu thực chứng trong nhiều nghiên cứu cấp quốc gia và nhóm quốc gia cũng chỉ ra một quan hệ phức tạp giữa 2 nhóm biến số này. Các nghiên cứu thực chứng ban đầu chỉ tập trung vào nhóm G7, hoặc các nước trong tổ chức OECD, và kết quả nghiên cứu không chỉ ra được một kết luận rõ ràng về quan hệ này. Tùy theo dữ liệu sử dụng là chuỗi thời gian (cho trường hợp nghiên cứu từng quốc gia cụ thể), hay dữ liệu cho nhóm quốc gia sẽ có các kết quả đối ngược nhau. Về sau này, một số tác giả bắt đầu nghiên cứu thêm nhóm các nước ở châu Á. Kết quả nghiên cứu cũng không khác mấy so với kết quả từ các nghiên cứu trước đó đối với nhóm OECD hay G7. Cụ thể, ở một số nước như Nhật, Thái Lan, Sri Lanca, Philippines, và Indonesia, lạm phát và năng suất không hề có quan hệ gì với nhau. Ở một số nước khác như Malaysia, lạm phát có tác động tiêu cực đến năng suất. Ở những nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Singapore, 2 biến số này tác động lẫn nhau.  Căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia như nêu trên, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam liên quan đến MTLP ở ta như hiện nay:  Ảnh hưởng của lạm phát là không rõ ràng lên tăng trưởng kinh tế. Ở một nước/nhóm nước nào đó lạm phát (và tính bất trắc lạm phát) có thể làm giảm năng suất (và giảm tăng trưởng), nhưng ở một nước/nhóm nước khác điều này là không đúng. Vì vậy, trước khi đưa ra một MTLP để kiềm chế lạm phát ở nước ta (mà chủ yếu dựa vào chính sách tiền tệ), cần phải có những nghiên cứu thực chứng công phu để có một đánh giá đúng về quan hệ giữa lạm phát và năng suất (và tăng trưởng) ở nước ta. Khi chưa có những nghiên cứu này thì không thể loại trừ khả năng lạm phát ở ta tuy cao nhưng tác động của nó lên tăng trưởng là không đáng kể, và do đó chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát là không cần thiết và chỉ dẫn đến suy giảm tăng trưởng.  Cũng giống như nhiều quốc gia, lạm phát ở ta cũng do một nguyên nhân quan trọng là ngân sách nhà nước liên tục ở mức thâm hụt. Hầu như từ khi thống nhất đất nước đến nay chưa bao giờ ngân sách đạt được cân bằng thu chi, đặc biệt trong những thời kỳ khủng hoảng kinh tế vĩ mô trước thập kỷ 90. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, thâm hụt ngân sách tăng dần, từ mức 0.13% GDP năm 1998 lên đến 3.23% năm 2001, sau đó giảm xuống, nhưng vẫn còn đứng ở mức khá cao, trên 2% trong vòng 2, 3 năm gần đây. Như vậy, kiềm chế thâm hụt tài khóa sẽ góp phần đáng kể vào việc kiềm chế lạm phát và do đó làm giảm bớt tầm quan trọng của chính sách thắt chặt tiền tệ. Dường như lâu nay ở ta có một quan niệm sai lầm và nguy hại rằng lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các cơn sốt giá nguyên nhiên liệu chiến lược đầu vào. Một số ít người thì tỉnh táo hơn đã nhắc đến sự tăng trưởng tín dụng mạnh để kích cầu trong những năm trước là một nguyên nhân khác của xu hướng lạm phát tăng cao trong những năm gần đây. Thế nhưng hầu như không ai đả động đến một nguyên nhân cũng rất quan trọng là thâm hụt tài khóa đã và đang ở mức khá cao như hiện nay. Từ nhận thức đầy đủ về nguồn gốc lạm phát này, có thể thấy chính sách kiềm chế lạm phát nhờ thắt chặt tín dụng và kiềm chế giá của các nguyên nhiên liệu đầu vào không cho tăng lên là chưa đủ, chưa thật thích hợp, thậm chí là có hại (vì, ví dụ, giá các loại yếu tố đầu vào này sớm hay muộn cũng phải tăng lên cho phù hợp với giá cả thực tế của chúng).  Để có cơ sở áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát như hiện nay, cần phải có thêm một nghiên cứu thực chứng đầy đủ về quan hệ giữa cung tiền và lạm phát trong bối cảnh cụ thể Việt Nam. Điều này là cần thiết vì tăng cung tiền không nhất thiết sẽ gây ra lạm phát. Và nghiên cứu thực chứng ở một số nước (chẳng hạn Ấn Độ và Hàn Quốc) cũng khẳng định rằng tăng cung tiền không phải là nguyên nhân của lạm phát ở những nước này.  Để cho chính sách tiền tệ có hiệu lực trong việc kiềm chế lạm phát, có một số điều kiện tiên quyết. Đó là một thị trường tài chính được tự do hóa, một ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, và một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, tiến gần đến cơ chế thả nổi hoàn toàn. Ở Việt Nam, 3 điều kiện này chưa (hoàn toàn) được xác lập. Chúng ta mới bắt đầu tự do hóa thị trường tài chính qua một số động thái, trong đó có việc xóa bỏ trần lãi suất, nhưng hoạt động trong các ngành tài chính và ngân hàng chưa hoàn toàn dựa trên các nguyên tắc thị trường. Ngân hàng Nhà nước, với tư cách là một ngân hàng trung ương, vẫn là một thành viên của chính phủ và chịu nhiều chi phối từ đây. Cơ chế tỷ giá vẫn rất cứng nhắc, hầu như là gắn chặt giá đồng nội tệ với đôla Mỹ.  ———–  *Tiến sĩ Khoa kinh tế, Đại học Kyushu, Nhật Bản  —————  CHÚ THÍCH:  -lamphat: Quan hệ nhân quả giữa lạm phát với năng suất lao động và tăng trưởng chưa hoàn toàn sáng tỏ.      Phan Minh Ngọc       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm phát từ góc nhìn cung tiền      Một số nhà quản lý cho rằng tình hình lạm phát tăng cao hiện nay là do hiện tượng tăng giá toàn cầu nhưng lý do này thật sự chưa thuyết phục, vì trong số hàng trăm nước đã và đang phát triển trên thế giới trong cùng thời điểm hiện tại, hiếm nước nào có mức lạm phát cao như ở Việt Nam.    Tình hình lạm phát tăng cao hiện nay, gấp đôi chỉ tiêu mà Chính phủ đề xuất và Quốc hội thông qua cách đây chỉ hơn nửa năm, đã đặt ra dấu hỏi đối với năng lực dự đoán và hoạch định – một phần tất yếu trong năng lực quản lý điều hành kinh tế – của Chính phủ và Quốc hội. Những lý lẽ đổ lỗi cho hiện tượng tăng giá toàn cầu như một số nhà quản lý đưa ra là chưa thuyết phục, vì trong số hàng trăm nước đã và đang phát triển trên thế giới trong cùng thời điểm hiện tại, hiếm nước nào có mức lạm phát cao như ở Việt Nam.  Lạm phát năm 2011 đến từ đâu?  Đứng ở thời điểm hiện tại, bằng phương pháp loại trừ chúng ta có thể xác định sơ bộ nguồn gốc chủ yếu gây ra mức lạm phát cao vọt như hiện nay. Về chính sách tiền tệ, nguồn cung tiền tệ trong 6 tháng đầu năm 2011 tăng không nhiều (2,45%), không thể coi là tác nhân chính. Về chính sách tài khóa, nguồn chi tiêu công của năm 2011 chưa được cắt giảm theo đúng tiến độ của Nghị quyết 11, dễ bị coi là một nguyên nhân gây lạm phát, nhưng phần lớn chi tiêu công lấy nguồn từ thu ngân sách Nhà nước, tức là vẫn đảm bảo không bơm tiền vào nền kinh tế (nguồn chi tiêu công trong quý I không vượt quá nguồn thu từ ngân sách, theo công bố trên trang web của Bộ Tài chính). Mặt khác, nếu đúng là chi tiêu công năm 2011 là nguyên nhân gây lạm phát lúc này, thì vẫn phải thông qua việc bơm tiền vào nền kinh tế, nhưng như chúng ta đã biết, cung tiền năm 2011 chưa tăng nhiều để gây lạm phát cao như vậy.   Do đó, các chính sách kinh tế vĩ mô năm 2011 không thể coi là nguyên nhân chính gây ra tình hình lạm phát cao như hiện nay. Vì vậy, về cơ bản có thể khẳng định nguồn gốc gây lạm phát cao lúc này là do tác động có độ trễ của các chính sách kinh tế vĩ mô năm 2010, đặc biệt là chính sách tăng cung tiền giai đoạn nửa cuối năm này.    Trên lý thuyết, nếu tốc độ lưu thông của đồng tiền không thay đổi thì mức tăng cung tiền 27% trong điều kiện mức tăng trưởng GDP khoảng 7% của năm 2010 lẽ ra phải gây ra mức lạm phát khoảng 20%. Tuy nhiên, mức lạm phát thực tế của năm 2010 chỉ xấp xỉ 12%, tức là có một độ trễ nhất định. Theo Phạm Đỗ Chí(1) thì độ trễ trong tương tác giữa lượng tăng cung tiền và lạm phát là 6-7 tháng, tức là tới tháng 7 năm 2011 thì chính sách tăng cung tiền của năm 2010 mới ngừng tác động lên lạm phát 2011.   Cần tiếp tục hạn chế tăng cung tiền 2011  Ý thức được nguy cơ lạm phát, từ đầu năm Chính phủ đã xác định chỉ tăng cung tiền ở mức 16%/năm. Với chỉ tiêu tăng GDP khoảng 6-7%/năm, giả định rằng tốc độ lưu chuyển của đồng tiền trong nền kinh tế không đổi, thì mức lạm phát sẽ vào khoảng dưới 10%.  Nhưng thực tế đã xảy ra theo một kịch bản hoàn toàn khác.  Như đã trình bày trên đây, tác động có tính độ trễ từ việc tăng cung tiền năm 2010, cùng tác động tăng giá khách quan mang tính toàn cầu đã làm CPI tháng 7 tăng vọt lên trên 22% so với cùng kỳ năm trước(2).    Như vậy, nếu hiện giờ chúng ta vẫn định bám theo sườn kế hoạch tăng cung tiền 16% thì sẽ rất nguy hiểm. Hiện đã xuất hiện các ý kiến đề nghị tăng tốc bơm tiền vào nền kinh tế để tránh trì trệ kinh doanh sản xuất3. Nhưng nếu để cho tốc độ tăng cung tiền nhanh hơn tốc độ tăng GDP trong những tháng còn lại của 2011, chắc chắn hậu quả sẽ là gia tăng lạm phát vào năm 2012, giống như chúng ta hiện tại đang phải trả giá cho việc tăng cung tiền hồi cuối năm 2010.  Vì vậy, nếu giả định lạc quan rằng tăng trưởng GDP trong nửa cuối năm 2011 sẽ đóng góp thêm 3-4% trong tổng mức tăng trưởng 5-7% của cả năm, thì nếu chúng ta muốn giữ chân lạm phát, cung tiền từ nay tới cuối năm cũng chỉ nên tăng khoảng 5-6% (độ chênh 2% giữa mức tăng cung tiền và mức tăng trưởng GDP có thể hiểu như để bôi trơn cho nền kinh tế).     Trông đợi gì ở chính sách 2012?  Thủ phạm trực tiếp nhất gây ra lạm phát cao như hiện nay là chính sách tăng cung tiền bất hợp lý của năm 2010. Sự bất cẩn của những người làm chính sách năm 2010 – hẳn vì mong muốn kích thích đầu tư, nhằm đạt mức tăng trưởng GDP cao như chỉ tiêu đề ra – đã làm khó cho những doanh nghiệp và người dân phải vật lộn vì mức lạm phát và lãi suất quá cao. Vì thành tích nhất thời mà chúng ta phải gánh lấy một năm trời lận đận cho cả nền kinh tế.  Đây là một bài học đắt giá cho công tác hoạch định chính sách năm 2012. Tư duy “phấn đấu” đạt chỉ tiêu tăng trưởng GDP là một tư duy hành chính quan liêu, thiếu cơ sở khoa học khách quan. Khi tư duy này kết hợp với một thói quen cũng vô cùng cứng nhắc khác, là xây dựng mọi kế hoạch tài chính quốc gia trên cơ sở năm sau na ná như của năm trước – thiếu đánh giá một cách thực chất các kịch bản khác nhau của nền kinh tế – thì có thể gây ra bất cân đối nghiêm trọng, hậu quả cụ thể là tình trạng lạm phát ở Việt Nam cao một cách bất thường so với thế giới.   Để xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho năm 2012, cần một cái nhìn mới. Không thể vì một chút tăng trưởng mang tính hình thức (tiềm ẩn bên trong nhiều nguy cơ thiếu bền vững) mà chúng ta phải kích thích đầu tư bằng cách tăng cung tiền quá mức để rồi gánh về mức lạm phát ngất ngưởng năm nào cũng trên một con số. Mức tăng cung tiền chỉ nên cao hơn mức dự kiến tăng GDP một chút vừa đủ để đảm bảo bôi trơn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần phải đề phòng những dư chấn từ các chính sách vĩ mô của năm cũ khi hoạch định chính sách của năm mới.  Mặt khác, như nhiều nhà phân tích đã chỉ ra, mấu chốt vô cùng quan trọng là tiết chế đầu tư công. Một quốc gia có thể giám sát chặt chẽ vấn đề phát hành tiền để hạn chế thành công lạm phát, nhưng nếu chủ quan thả lỏng về tài khóa thì sẽ phải cảnh giác với một nguy cơ lớn khác mà ngay cả những quốc gia phát triển hiện cũng đang phải nhức đầu: mất an toàn nợ công.  1: Phạm Đỗ Chí, Bài toán 2011 cho lạm phát, lãi suất và tỷ giá, đăng trên Diễn đàn Kinh tế Việt Nam ngày 19/02/2011  2: Tình hình kinh tế xã hội 7 tháng đầu năm 2011, Tổng cục Thống kê, 25/07/2011  3: Vietnam Money – Money supply must increase to avoid stagflation, http://www.reuters.com/article/2011/07/25/vietnam-economy-money-idUSL3E7IP0BG20110725    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm phát vẫn đang trong tầm kiểm soát      So với tháng 12/2006, tốc độ lạm phát 7 tháng đầu năm 2007 đã lên tới 6,19%- mức cao nhất trong 5 năm trở lại đây và có nguy cơ tiếp tục tăng đến mức hai chữ số vào những tháng cuối năm, tức là vượt “chỉ tiêu” Quốc hội “cho phép”: mức lạm phát phải thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP (dự tính đạt 8,5%).  PGS. TS Trần Đình Thiên đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về những giải pháp để ứng phó với tình huống này.    Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát của 7 tháng đầu năm:  1) Tình trạng dịch bệnh gia súc, gia cầm và vàng lùn (lúa) nghiêm trọng, cộng với thời tiết không thuận lợi, trong khi việc nhập khẩu các mặt hàng này bị hạn chế, đã làm giảm mạnh nguồn cung lương thực, thực phẩm, đẩy giá lương thực thực phẩm tăng cao.  2) Giá một số hàng hóa đầu vào cơ bản trên thế giới tăng mạnh, đặc biệt là giá xăng dầu, phôi thép, than đá, cà phê hạt… Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao làm tăng khối lượng nhập khẩu các loại đầu vào cơ bản. Còn việc tăng mạnh xuất khẩu than và cà phê khi giá hai mặt hàng xuất khẩu này tăng cao cũng gây hiệu ứng tăng giá trong nước.  3) Ngân hàng Nhà nước mua 7 tỷ USD để tăng dự trữ ngoại tệ, đồng nghĩa với việc “ném” ra thị trường hơn 110.000 tỷ đồng (hơn 10% GDP), tạo nên sức “cầu kéo” rất mạnh đối với giá cả.  Theo ông, vì sao cùng chịu giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới tăng mà lạm phát của Việt Nam lại cao hơn các nước, chẳng hạn Thái Lan, Trung Quốc?  Trong số các nguyên nhân tăng giá nêu trên, có những nguyên nhân “đặc thù” Việt Nam, ví dụ như cơ cấu “rổ hàng hóa” tính CPI, chủ trương hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng như lương thực, thực phẩm, “bơm” tiền ra thị trường quá mạnh. Tính đặc thù này giải thích tại sao ở Việt Nam, trong những hoàn cảnh khách quan cơ bản không khác nhiều lắm so với một số nước, lạm phát lại đạt mức cao hơn đáng kể (xem bảng).  Đặc thù về nguyên nhân lạm phát là điểm phải được tính kỹ trong quá trình tìm kiếm và lựa chọn các giải pháp ứng phó với lạm phát ở nước ta. Đơn giản vì trong khi những yếu tố khách quan gây tác động tăng giá mạnh nằm ngoài tầm “khống chế” của Chính phủ (giá cả trên thị trường thế giới, thiên tai bệnh dịch), thì những nguyên nhân “đặc thù” Việt Nam lại là những yếu tố mà Chính phủ có thể can thiệp và có tác động “điều chỉnh”.  Dự đoán của ông cho 5 tháng còn lại?  Những yếu tố cơ bản gây lạm phát trong những tháng cuối năm chưa có dấu hiệu suy yếu. Thậm chí, tác động của chúng có thể còn mạnh hơn do tác động “trễ” của việc cung tiền.  Trước hết, các dấu hiệu đều cho thấy giá thế giới của một số đầu vào cơ bản của nền kinh tế nước ta như xăng dầu, phôi thép, có khả năng tiếp tục duy trì ở mức cao.  Giá lương thực, thực phẩm cuối năm khó giảm, thậm chí có khả năng tăng cao hơn do thiên tai, dịch bệnh vẫn đang tiếp diễn. Hậu quả hạn hán chưa xong thì bây giờ đến lượt bão lụt, có khả năng sẽ rất nghiêm trọng. Nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước cuối năm khó phục hồi lại cân bằng; ngược lại, có thể còn căng thẳng hơn.  Về phía cung tiền, có thể nguồn cung do mua ngoại tệ sẽ bị “cắt”, song nên lưu ý rằng trong 7 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư xây dựng cơ bản chỉ mới đạt hơn 40%. Nghĩa là sẽ xuất hiện xu hướng “dốc sức” đầu tư vào cuối năm. Điều này càng đúng khi mục tiêu tăng trưởng 6 tháng cuối năm phải đẩy lên mức ít nhất 9% (so sánh: chỉ số tăng GDP – lạm phát của 6 tháng đầu năm là 7,87% – 6,2%).   Như vậy là có cả những lý do khách quan lẫn những động cơ bên trong duy trì sức “cung đẩy – cầu kéo” lạm phát mạnh vào cuối năm. Những yếu tố này cơ bản vượt ra ngoài tầm khống chế (trực tiếp) của Chính phủ. Cộng với cái “thông lệ” tăng giá theo thời gian, có cơ sở để phải tính đến khả năng lạm phát cả năm đạt mức hai chữ số. Tôi cho rằng cần dự liệu tình huống này một cách nghiêm túc để chuẩn bị sớm các giải pháp ứng phó phù hợp.  Đây là cách tiếp cận chống lạm phát mà Chính phủ cần tính trước, càng sớm càng tốt, thay vì chỉ “lo” nỗ lực tối đa để kéo lạm phát xuống mức mục tiêu đã định. Cố “ghì” lạm phát xuống, bất chấp các cơ sở khách quan thực tế thì hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chịu sẽ là khó lường.   Để giảm tốc độ tăng giá trong 5 tháng còn lại của năm, Chính phủ mới đang có hàng loạt biện pháp sẽ được áp dụng như: đẩy mạnh sản xuất để giảm căng thẳng cung cầu; điều chỉnh vốn các dự án triển khai chậm và chưa mang lại hiệu quả ngay; kiểm soát tín dụng để giảm cung tiền; tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ để “hút” tiền; giảm thuế nhập khẩu và thông suốt nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu; tích cực chống thiên tai, dịch bệnh… Ông đánh giá thế nào về tính khả thi của các giải pháp này?  Về tổng thể, đây là bộ giải pháp toàn diện, đúng hướng và đúng cách để giải quyết mối quan hệ tăng trưởng và lạm phát trong mấy tháng cuối năm. Có thể tin vào hiệu lực chống lạm phát của bộ giải pháp này.  Tuy nhiên, như đã nói ở trên, do nguy cơ lạm phát tăng cao là rất lớn, cần sớm tính đến khả năng phải sử dụng một số giải pháp tình thế mạnh. Theo tôi, cần đặc biệt chú ý đến các giải pháp mà hiệu ứng tác động phần lớn nằm trong tầm tay” Chính phủ. Đó là: cắt giảm chi tiêu Chính phủ, sử dụng các công cụ mạnh của chính sách tiền tệ để “hút” tiền khỏi lưu thông, chẳng hạn nâng lãi suất tiết kiệm, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Ngoài ra, còn phải chú ý đến các giải pháp “tăng cung” như giảm thuế nhập khẩu cho những sản phẩm đầu vào then chốt như xăng dầu, phôi thép; nới lỏng nhập khẩu một số sản phẩm lương thực – thực phẩm quan trọng để bình ổn thị trường.  Ông có phát biểu trên VTV là lạm phát ở nước ta vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát?  Đúng vậy. Bộ công cụ chống lạm phát mà Chính phủ có thể sử dụng hiệu quả vẫn còn nhiều. Hơn thế Việt Nam ta cũng đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm chống lạm phát trong những năm qua. Kinh nghiệm đó có thể sẽ rất hữu ích tại thời điểm này. Lạm phát là không đáng sợ, nhất là khi nó trở thành “lạm phát được dự báo”. Nếu được như vậy, trong một giới hạn nhất định, lạm phát còn giúp nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế (“loại bỏ” các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả), đồng thời, đóng vai trò là công cụ tốt để thúc đẩy tăng trưởng. Tương quan lạm phát – tăng trưởng GDP từ 1986 đến nay, phần nào làm sáng tỏ nhận định đó.  Đồ thị. Mối quan hệ chữ U ngược giữa lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1986-2006, %                   Nghe Ông nói thì có vẻ dễ ổn quá, trong khi tình hình lại đang “nóng” lên nhanh?  Có thể làm được không có nghĩa rằng chúng ta sẽ “dễ dàng” kiểm soát được lạm phát. Tình hình cuối năm chắc chắn sẽ rất khó khăn. Cần phải đặc biệt lưu ý đến khả năng lạm phát leo lên mức 2 con số. Nếu điều đó xảy ra, cộng thêm hiệu ứng tâm lý thì vấn đề sẽ trở nên rất phức tạp. Khi đó, lạm phát chắc là vẫn chống được nhưng giá phải trả sẽ lớn hơn.  Để chống được lạm phát, vấn đề không chỉ là việc đề ra một bộ giải pháp đầy đủ, đúng bài bản lý thuyết. Phối hợp các chính sách và giải pháp chống lạm phát một cách hiệu quả là một nghệ thuật không dễ “xài”. Ở đây, ít nhất, có hai yêu cầu đặt ra. Thứ nhất, các giải pháp chống lạm phát phải không xung đột, phải nhất quán với nhau trong những tác động kiềm chế lạm phát cơ bản. Thứ hai, phải biết sử dụng giải pháp nào vào thời điểm nào, với liều lượng nào, trong tương quan nào với các giải pháp khác. Nghệ thuật phối hợp chính sách vẫn là bài toán khó giải bậc nhất trên đời, nhất là khi đó là bài toán chống lạm phát. Đối với nước ta, khả năng phối hợp chính sách đang là một khâu yếu trong hoạt động quản lý và điều hành vĩ mô. Vì thế, sự khó còn tăng lên một bậc.  Xin cảm ơn ông  P.V thực hiện  Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thường sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để biểu thị mức độ lạm phát. Vì thế, việc so sánh lạm phát giữa hai nước. là so sánh chỉ số CPI. Có một điểm cần lưu ý: cơ cấu “rổ hàng hóa” để tính CPI của các nước là khác nhau. Do vậy cùng một hiện tượng giá cả (ví dụ giá xăng dầu thế giới tăng) sẽ tác động khác nhau đến CPI của các nước. Để xem xét nguyên nhân của lạm phát, chúng tôi tạm chia các mặt hàng trong rổ hàng hóa thành hai loại: loại “có thể thương mại” (tradeable) và loại “không thể thương mại” (non-tradeable).  Loại “có thể thương mại” gồm các hàng hóa và dịch vụ có thể được mua từ nước khác nếu giá trong nước của mặt hàng đó cao hơn so với giá các nước khác (có tính đến chi phí vận chuyển). Chẳng hạn, nếu giá gạo của Việt Nam cao hơn so với giá gạo của Trung Quốc, người tiêu dùng có thể mua gạo của Trung Quốc.  Loại “không thể thương mại” gồm các mặt hàng không thể nhập khẩu để bán cho người tiêu dùng trong nước cho dù giá trong nước cao hơn giá cũng mặt hàng này ở nước ngoài. Chẳng hạn, giá nhà ở của Việt Nam cao hơn thì cũng không thể mang nhà từ Trung Quốc sang bán được (do không thể di chuyển), hoặc giá thuốc lá của Việt Nam cao thì cũng không thể nhập khẩu thuốc lá rẻ từ Trung Quốc (do Chính phủ Việt Nam cấm nhập khẩu thuốc lá).      P.V thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạm phát – vấn đề đáng lo ngại nhất      Keiko Kubota là chuyên gia kinh tế cao cấp của Ban Xóa đói giảm nghèo và Quản lý kinh tế thuộc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Bài trả lời phỏng vấn của Tạp chí Tia Sáng dưới đây thể hiện đánh giá của bà đối với một số thực trạng kinh tế và chính sách quản lý tài chính – tiền tệ của Việt Nam.      Trong bối cảnh có nhiều triệu chứng tiêu cực cho nền kinh tế, như lạm phát cao, thâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân thanh toán cao, dự trữ ngoại hối thấp, thâm hụt ngân sách cao, dư nợ công đang ngấp nghé vượt ngưỡng an toàn, đâu là vấn đề cấp thiết nhất mà Việt Nam cần giải quyết?  Tất cả đều liên quan tới nhau nhưng lạm phát là vấn đề đáng lo ngại nhất. Dự trữ ngoại hối là vấn đề đáng lo ngại ở mức tương đối. Đối với thâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân thanh toán thì Việt Nam chưa cần lo ngại. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam cũng chưa phải là cao. Theo cách tính của Việt Nam thì thâm hụt ngân sách đang ở khoảng 5%, còn theo cách tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì thâm hụt ngân sách Việt Nam đang ở khoảng 3,28-3,5%. Dư nợ công của Việt Nam hiện đã tương đối cao nhưng Chính phủ vẫn có thể kiểm soát và dần điều chỉnh xuống được.                   Mức lạm phát của Việt Nam hiện đã là 13,9%, mà một khi lạm phát đã trên mức 10% thì không dễ để hạ xuống. Người dân sẽ thường trực có tâm lý dự đoán giá cả gia tăng và điều này rất khó để giải tỏa. Lạm phát cao khiến người dân không tích lũy được tài sản, đời sống người nghèo bị ảnh hưởng.  Đối với vấn đề dự trữ ngoại hối, hiện tượng suy giảm dự trữ ngoại hối như những năm vừa qua nay đã giảm, tuy nhiên lượng dự trữ hiện nay còn rất thấp. Đây là vấn đề mang tính thanh khoản. Nếu ở thời điểm nào đó, Việt Nam không có đủ ngoại hối để thực hiện một khoản thanh toán quốc tế nào đó thì ngay lập tức uy tín tài chính sẽ bị ảnh hưởng và đấy sẽ là vết sẹo gần như vĩnh viễn.   Lạm phát đang là mối lo ngại chính của một số nước châu Á, bao gồm Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, … Nguyên nhân chính của vấn nạn này có phải là do sự tăng giá toàn cầu của một số mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm và xăng dầu? Hay là từ sự bất hợp lý trong mô hình phát triển kinh tế của các quốc gia này?  Sự gia tăng mang tính toàn cầu của các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, và xăng dầu đóng một vai trò nhất định trong tác động tới lạm phát của mỗi quốc gia. Nhưng mỗi nước có một đặc thù riêng. Ví dụ như quốc gia nào càng sử dụng năng lượng kém hiệu quả thì càng tiêu nhiều năng lượng, và tác động của tăng giá xăng dầu toàn cầu càng lớn. Rổ hàng hóa của quốc gia nào có tỷ trọng lương thực, thực phẩm càng nhiều thì tác động của tăng giá lương thực, thực phẩm toàn cầu tới lạm phát ở quốc gia đó càng lớn.  Những gói kích thích tài chính của các quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa rồi cũng đóng vai trò nhất định. Một nền kinh tế không giống như một chiếc xe hơi để có thể muốn nhấn ga hay giảm ga theo ý muốn. Trong thời kỳ kinh tế toàn cầu suy thoái, người ta bơm tiền vào nền kinh tế qua các gói kích thích tài chính. Nhưng tới khi nhận ra nền kinh tế đang bị tăng trưởng quá nóng, người ta rút các gói kích thích tài chính này ra thì đã muộn, và hậu quả là lạm phát cao. Vì vậy, mô hình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia không hẳn đã bị sai, mà là thời điểm thực thi các chính sách có độ vênh nhất định so với thực tiễn thị trường.  Tuy nhiên, khác với các quốc gia khác trong khu vực, lạm phát ở Việt Nam là đặc biệt cao. Ở các nước khác, lạm phát tới 6% đã bị coi là cao, trong khi Việt Nam đang là 13,9%. Điều này không thể chỉ do tăng giá toàn cầu, mà liên quan tới sự bùng nổ quá lớn về tín dụng trong những năm gần đây ở Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển nên việc huy động vốn chủ yếu là qua vay nợ ngân hàng.   Nguyên nhân nào khiến hình thức huy động vốn qua vay ngân hàng lại gây ra lạm phát nhiều hơn các hình thức huy động vốn khác? Vì sao thị trường vốn của Việt Nam vẫn chưa phổ biến hóa các hình thức huy động này?  Hình thức vay nợ ngân hàng tạo sức ép lên người đi vay vì kỳ hạn không dài và phải trả lãi suất. Ngân hàng sử dụng nguồn thanh toán này để tiếp tục cho vay và quy trình lặp đi lặp lại như vậy dễ tạo ra nguồn cung tín dụng quá lớn, gây ra lạm phát cao. Ngược lại, nếu thị trường vốn phát triển, người ta có thể huy động vốn qua thị trường trái phiếu, một hình thức ít tạo ra lạm phát hơn.   Lãi suất từ trái phiếu công ty thường tương ứng với lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận công ty càng cao thì lãi suất trái phiếu càng cao, nhưng điều đó không gây ra lạm phát vì tiền này được tạo ra từ sản phẩm và dịch vụ thực. Một khoản vay của ngân hàng thì không như vậy, dù bạn có làm ra sản phẩm hay không thì vẫn phải liên tục trả tiền lãi cho ngân hàng.  Các nước đang phát triển có thu nhập thấp thường chưa có một thị trường vốn phát triển toàn diện, và hình thức huy động vốn qua vay ngân hàng luôn là phổ biến nhất. Hình thức huy động vốn này thường không có độ linh hoạt cần thiết cho kinh doanh sản xuất giống như trái phiếu. Nhưng để có một thị trường trái phiếu phát triển thì trước hết phải có hành lang pháp lý hoàn thiện và một số lượng tối thiểu các nhà đầu tư trái phiếu, những chuyên gia có khả năng phân tích và quản lý trái phiếu. Đối với một khoản vay ngân hàng, bạn chỉ cần hai bên tham gia là đủ, nhưng để có một giao dịch mua bán trái phiếu thì cần có rất nhiều nhà đầu tư trái phiếu; cần có sự tương tác của nhiều phần tử tham gia để có thể tạo thành một thị trường trái phiếu đúng nghĩa.  Việt Nam không phải là trường hợp duy nhất gặp phải những vấn đề nêu trên. Vậy đâu là nguyên nhân?        Chính sách tài khóa cần minh bạch hơn. Cần giám sát chặt hơn các ngân hàng và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Tránh tình trạng đầu tư mang tính đầu cơ. Về lâu dài, các doanh nghiệp Nhà nước cần tiếp tục được cải tổ để tránh lãng phí các nguồn lực của quốc gia. Ngay cả với những doanh nghiệp Nhà nước sử dụng vốn hiệu quả thì các thông tin tài chính của những doanh nghiệp này cũng cần phải minh bạch hơn, công khai hơn.         Có lẽ WTO chính là thủ phạm. Sau khi tham gia vào WTO, Việt Nam được kết nối tự do với thị trường tài chính thế giới và đón nhận một dòng vốn khổng lồ qua hình thức vay nợ hoặc đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, khả năng quản lý trong nước thì có hạn. Vì vậy dòng vốn nước ngoài đã vượt quá khả năng hấp thụ và khai thác hiệu quả của quốc gia, và đã bị biến thành cơn bùng nổ về tín dụng.  Khả năng điều tiết của Chính phủ Việt Nam còn hạn chế. Đáng nhẽ phải nỗ lực thúc đẩy phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính hơn nữa thì Việt Nam lại dựa nhiều vào những chính sách quản lý hành chính mang tính chất ép buộc lên thị trường. Ví dụ như trong chính sách quản lý tỷ giá, giá cả, và hạn chế nhập khẩu. Những chính sách ép buộc như vậy khiến thị trường không thể tự chuyển hóa một cách linh hoạt tự nhiên, và càng làm gia tăng sức ỳ. Rõ ràng Chính phủ luôn muốn giành quyền kiểm soát, nhưng thực tiễn đã chứng minh điều này là không thể.    Đâu là chính sách gây ảnh hưởng bóp méo lên thị trường nhiều nhất của Việt Nam, và động cơ nào lý giải chính sách này?  Hẳn là chính sách neo tỷ giá. Chính sách này khiến giá USD của Ngân hàng Nhà nước luôn thấp hơn giá thị trường tự do, tạo ra động cơ găm giữ USD và vàng thay vì giữ đồng VND.   Động cơ nào lý giải chính sách này? Một phần là do Nhà nước muốn duy trì kiểm soát, nhưng một phần khác là sức ỳ từ thói quen. Mọi cơ quan quản lý, ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng không ngoại lệ, đều có những lề thói và quy định cố hữu nào đó, và người ta đều rất ngại phải thay đổi.                  Nếu như có thể chuyển đổi từ chính sách neo tỷ giá sang chính sách thả nổi tỷ giá, Chính phủ Việt Nam sẽ giải quyết được rất nhiều vướng mắc hiện nay. Nhưng mặt khác, một sự chuyển đổi như vậy cũng sẽ gây phát sinh ra những vấn đề mới, ví dụ như nghĩa vụ thanh toán nợ nước ngoài sẽ biến thiên hằng ngày tùy thuộc vào tỷ giá thị trường. Tuy nhiên, về lâu dài thì rõ ràng không có lực kiểm soát nào có thể thắng được nhu cầu dịch chuyển tự nhiên của thị trường, nên ngay cả khi cố theo đuổi chính sách neo tỷ giá thì vẫn có những lúc Chính phủ buộc phải phá giá VND như vừa qua. Vì vậy, về lâu dài Việt Nam cần hướng tới chính sách tỷ giá thả nổi hơn 1. Trước mắt thì chưa nên, vì mục tiêu quan trọng nhất bây giờ là ổn định kinh tế. Khi kinh tế Việt Nam đã ổn định, dự trữ ngoại hối đã được tích lũy đủ, đó là lúc nên chuyển đổi chính sách triệt để hơn vì khi ấy nền kinh tế đủ sức để hấp thụ các cơn sốc ngoài mong muốn.  Ngân hàng Thế giới có khuyến nghị gì để giúp Chính phủ Việt Nam giải quyết vấn đề lạm phát cao hiện nay?  Chính sách tiền tệ cần thắt chặt hơn nữa. Lãi suất cần được tiếp tục nâng cao một cách thận trọng cho tới khi lạm phát có dấu hiệu giảm xuống. Đây là một chính sách khắc nghiệt, khiến cho một số doanh nghiệp gặp khó khăn, nhân công mất việc, vì vậy cần thận trọng. Nhưng dù thế nào thì lãi suất tối thiểu cũng phải cao hơn mức lạm phát.         Đối với nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước, vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay không phải là nợ nước ngoài, mà là nợ trong nước. Nếu một doanh nghiệp Nhà nước nào đó mất khả năng thanh toán nợ cho một khoản vay từ một ngân hàng trong nước thì ngân hàng này sẽ thực sự gặp khó khăn. Khó khăn này nếu vượt quá khả năng hấp thụ của ngân hàng đó thì sẽ gây đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống tài chính.         Chính sách tài khóa cần minh bạch hơn. Cần giám sát chặt hơn các ngân hàng và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Tránh tình trạng đầu tư mang tính đầu cơ. Về lâu dài, các doanh nghiệp Nhà nước cần tiếp tục được cải tổ để tránh lãng phí các nguồn lực của quốc gia. Ngay cả với những doanh nghiệp Nhà nước sử dụng vốn hiệu quả thì các thông tin tài chính của những doanh nghiệp này cũng cần phải minh bạch hơn, công khai hơn.   Cách đây chưa lâu, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế bày tỏ sự nhất trí với khẳng định từ Chính phủ Việt Nam rằng nợ công của Việt Nam là trong giới hạn an toàn. Còn hiện nay, sau sự kiện Vinashin không trả được khoản thanh toán nợ 60 triệu USD, Ngân hàng Quốc tế và dư luận quốc tế đang nhìn nhận ra sao về vấn đề an toàn nợ quốc gia của Việt Nam?  Đối với cộng đồng tài chính quốc tế, không có sự khác biệt lớn về trách nhiệm tài chính giữa Nhà nước với doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp mà Nhà nước có 100% vốn sở hữu. Vì vậy, khi tập đoàn Vinashin mất khả năng thanh toán, người ta coi đây là dấu hiệu Chính phủ Việt Nam đang mất khả năng thanh toán nợ. Trong bối cảnh dự trữ ngoại hối của Việt Nam suy giảm trong những năm gần đây, người ta có thể suy đoán rằng Chính phủ đang có rất ít ngoại hối dành cho trả nợ và các giao dịch thông thường khác. Tất nhiên, những người am hiểu về tài chính công của Việt Nam biết rằng thực tế không phải như vậy, nhưng việc Vinashin mất khả năng thanh toán rõ ràng ảnh hưởng không tốt tới uy tín tài chính của Chính phủ.  Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế hằng năm vẫn nghiên cứu về an toàn nợ công của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ được Chính phủ Việt Nam cung cấp các số liệu về nợ của Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh. Đối với nợ của các doanh nghiệp Nhà nước mà không được Chính phủ bảo lãnh, chúng tôi không hề có số liệu. Vì vậy, đánh giá về an toàn nợ công Việt Nam của chúng tôi không bao gồm nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước.  Đối với nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước, vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay không phải là nợ nước ngoài, mà là nợ trong nước. Nếu một doanh nghiệp Nhà nước nào đó mất khả năng thanh toán nợ cho một khoản vay từ một ngân hàng trong nước thì ngân hàng này sẽ thực sự gặp khó khăn. Khó khăn này nếu vượt quá khả năng hấp thụ của ngân hàng đó thì sẽ gây đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống tài chính. Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới không có nhiều số liệu về nợ trong nước của các doanh nghiệp Nhà nước, vì vậy rất khó để chúng tôi phân tích bền vững nợ cho hạng mục này.   Việc Chính phủ từ chối hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước như Vinashin trong thanh toán nợ (nếu các khoản vay này không thuộc diện được Chính phủ bảo lãnh) sẽ buộc các doanh nghiệp Nhà nước phải hành xử khôn ngoan hơn và có trách nhiệm hơn đối với hoạt động vay nợ. Tuy nhiên, cách xử lý này của Chính phủ Việt Nam liệu có phù hợp với thông lệ quốc tế hay không? Và hậu quả nếu có thì sẽ là gì?  Điều tích cực của việc Chính phủ Việt Nam từ chối giúp các doanh nghiệp Nhà nước thanh toán nợ [của các khoản vay không được Chính phủ bảo lãnh] là nó khiến người cho vay từ nay phải thận trọng hơn khi quyết định cho một doanh nghiệp Nhà nước nào đó vay tiền. Nguồn vốn eo hẹp sẽ buộc các doanh nghiệp này phải sử dụng vốn một cách hiệu quả, bớt dàn trải hơn.   Tuy nhiên, việc Chính phủ từ chối hỗ trợ Vinashin thanh toán trả một khoản thanh toán nợ quốc tế như vừa qua là không thông thường trên thị trường tài chính quốc tế. Thật không hợp lý khi một mặt, Chính phủ từ chối giúp doanh nghiệp Nhà nước thanh toán nợ, mặt khác vẫn tiếp tục có những chính sách ưu đãi về tài chính khác. Ví dụ như giúp thanh toán lương cán bộ công nhân viên, hoặc giúp tái cơ cấu nợ. Như vậy là không logich. Vả lại, như đã đề cập, trên thị trường quốc tế người ta không thấy có gì là khác biệt giữa Chính phủ và doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100%.    Vì vậy, hậu quả là ngay lập tức hệ số tín nhiệm tài chính quốc gia của Việt Nam sụt giảm. Tất nhiên, đây cũng là hậu quả của một số dấu hiệu tiêu cực khác, ví dụ như thực tế là người dân không thiết tha nắm giữ đồng tiền VND, buộc nó phải bị phá giá. Khi thị trường mất tin tưởng vào ai thì người đó phải chấp nhận đi vay với chi phí cao hơn. Do đó, trong tương lai, nhiều khả năng cả doanh nghiệp Nhà nước lẫn Chính phủ Việt Nam phải vay nợ với chi phí cao.   Chi phí vay cao sẽ càng khiến các doanh nghiệp Nhà nước gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ nước ngoài để chi trả cho các hoạt động thông thường. Tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng sẽ bị chậm lại. Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ gặp khó trong huy động vốn nước ngoài để đảo nợ các khoản vay trong nước tới hạn. Điều này khiến khối ngân hàng trong nước cũng có thể gặp khó khăn và sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp lên toàn bộ nền kinh tế. Đây là kịch bản không dễ chịu cho Chính phủ, vì buộc phải ra tay can thiệp, và sẽ rất tốn kém để xử lý. Cách đây không lâu chúng ta đã thấy Chính phủ Mỹ buộc phải ra tay giải cứu cho Citi Bank. Hiện ít có khả năng xảy ra một kịch bản tương tự như vậy ở Việt Nam, khi Chính phủ phải ra tay cứu một ngân hàng nào đó, nhưng cũng không thể hoàn toàn loại trừ rủi ro này.      Ngân hàng Thế giới có thể làm gì để hỗ trợ nhiều hơn cho các nhà hoạch định chính sách tài chính của Việt Nam?   Tôi không rõ Ngân hàng Thế giới có thể làm gì nhiều hơn. Chính phủ Việt Nam chưa thể hiện có nhu cầu thiết tha đối với những hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới, về kinh phí, hỗ trợ kỹ thuật, cũng như tư vấn chính sách. Từng cơ quan riêng lẻ của Nhà nước thể hiện những mong muốn hỗ trợ cụ thể, ví dụ như Ngân hàng Nhà nước muốn được hỗ trợ về hoạch định chính sách ngân hàng. Nhưng đối với việc hỗ trợ tư vấn chính sách tài chính mang tính vĩ mô tổng thể thì Chính phủ Việt Nam chưa có đề xuất cụ thể. Bản thân Ngân hàng Thế giới cũng có nhiều hạn chế cần khắc phục, ví dụ như còn ít kinh nghiệm trong việc tư vấn cho các quốc gia có mô hình quản lý kinh tế mang tính tập trung về Trung ương cao như ở Việt Nam.  Chính phủ Việt Nam cần làm gì để hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới đạt hiệu quả cao hơn?  Chính phủ cần thể hiện rõ hơn mục tiêu của mình. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Ấn Độ. Ấn Độ lựa chọn rất rõ các mục tiêu của mình, và căn cứ trên các mục tiêu này họ chọn lọc ra một số các nhà tài trợ thích hợp, đủ năng lực về tài chính cũng như trình độ kỹ thuật.  Đối với Việt Nam, chúng tôi được thấy Chính phủ đề ra nhiều chương trình, kế hoạch, mục tiêu. Nhưng nếu mục tiêu nào cũng được coi là ưu tiên thì thực ra là không ưu tiên cho mục tiêu nào.  Một khi đã chọn ra mục tiêu ưu tiên, Chính phủ cần tinh thần cam kết cao. Ví dụ như mục tiêu xây dựng các đại học tiêu chuẩn quốc tế. Mục tiêu này là tốt, nhưng khi Chính phủ chưa thống nhất và chưa thật cam kết thì không thể làm được. Chính phủ cần cam kết thực sự cho mục tiêu đặt ra, và giao cho một cơ quan cụ thể chủ trì và chịu trách nhiệm. Như vậy mới đủ cơ sở cần thiết để Ngân hàng Thế giới có thể tài trợ hiệu quả về kinh phí, hoặc đưa vào một đội ngũ chuyên gia tư vấn phù hợp cho Chính phủ.   Phạm Trần Lê thực hiện     —————  Đây là quan điểm cá nhân của bà Keiko Kubota, không phải của Ngân hàng Thế giới. Thông thường các khuyến nghị về chính sách tiền tệ thuộc phạm vi chức năng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sáng tỏ dòng chảy rối: Khi chất lỏng chuyển từ trật tự sang hỗn loạn      Dòng chảy rối có mặt tại khắp mọi nơi – nó làm lắc các chiếc máy bay và tạo ra những  xoáy nước trong bồn tắm – nhưng đó cũng là một trong số những hiện tượng của vật lý cổ điển vẫn còn chưa được biết rõ nhất.      Một tái cấu trúc 3D động lực học va chạm của hai vòng xoáy. Nguồn: Ryan McKeown/Harvard SEAS  Dòng chảy rối xuất hiện khi một dòng chảy chất lỏng chuyển động có trật tự bị phá vỡ thành các cuộn xoáy nhỏ, mỗi xoáy chất lỏng đó lại tương tác với nhau và lại bị phá vỡ thành những cuộn xoáy nhỏ hơn, và tiếp tục như vậy, trở thành một điểm xoáy chất lỏng hỗn loạn khiến nước cũng kết lại thành hình hết sức thú vị.  Nhưng cơ chế đưa chất lỏng từ trật tự sang hỗn loạn làm các nhà khoa học bối rối hàng thế kỷ.  Khi chưa hiểu rõ vấn đề, các nhà vật lý đã có một giải pháp hữu hiệu: cho chúng va chạm với nhau. Muốn hiểu về các khối cơ bản xây dựng nên vũ trụ này? Cho các hạt va chạm với nhau. Muốn làm sáng tỏ cơ chế bên trong  của dòng chảy rối? Hãy để các cuộn xoáy va chạm nhau.  Các nhà nghiên cứu tại trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng John A. Paulson Harvard (SEAS) có thể nhận ra một cơ chế cơ bản của sự phát triển trên dòng chảy rối bằng việc để các vòng xoáy va chạm trực diện với nhau, ghi lại kết quả với các camera có độ phân giải siêu cao, và tái cấu trúc động lực va chạm đó bằng việc sử dụng một chương trình trực quan hóa 3D. Kết hợp với phân tích các mô phỏng số do các đồng nghiệp tại trường đại học Houston và ENS de Lyon thực hiện, các nhà nghiên cứu đã có được cái nhìn sâu sắc chưa từng thấy vào cách các hệ chất lỏng chuyển đổi từ trật tự sang hỗn loạn như thế nào.  Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bài báo “Turbulence generation through an iterative cascade of the elliptical instability” trên tạp chí Science Advances.    Xoáy chất lỏng được bắn vào một bể cá 75 gallon để tạo thêm các xoáy. Mỗi xoáy được nhuộm một màu khác biệt, vì vậy các nhà nghiên cứu có thể quan sát cách chúng tương tác với nhau. Nguồn: Harvard SEAS  “Khả năng của chúng tôi để dự đoán weather, hiểu được tại sao một chiếc Boeing 747 có thể bay ngay cả với các dòng chảy rối theo đường bay của nó, và xác định các dòng chảy ở quy mô toàn cầu trên đại dương phụ thuộc vào cách chúng tôi mô hình hóa dòng chảy rối như thế nào”, Shmuel Rubinstein, phó giáo sư vật lý ứng dụng tại SEAS và là tác giả chính của công trình, cho biết. “Dẫu vậy, hiểu biết của chúng tôi về dòng chảy rối vẫn còn thiếu một miêu tả về cơ chế để có thể giải thích cách năng lượng đổ xuống để tạo thành các mức nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa cho đến lúc bị tiêu tán”.  “Cố gắng để hiểu ý nghĩa của những gì sẽ đến trong một hệ vô cùng phức tạp như dòng chảy rối luôn luôn là thách thức”, Rodolfo Ostilla-Mónico, phó giáo sư Kỹ thuật cơ khí trường đại học Houston và cũng là tác giả liên hệ của công bố. “Tại mọi mức chiều dài, các cuộn xoáy đang biến dạng và nén lên sau để tạo ra một một bức tranh hỗn loạn. Với công trình này, chúng tôi có thể bắt đầu cô lập và xem những tương tác theo cặp đơn giản, và cách nó dẫn đến động lực học rất mạnh cho đến khi đủ để chúng hiện diện”.  Các nhà vật lý từng sử dụng các vành va chạm xoáy để hiểu các dòng chảy rối từ những năm 1990 nhưng những thực nghiệm trước đây không đủ để làm chậm và tái cấu trúc được cơ chế của va chạm, khoảnh khắc nó bắt đầu rơi vào hỗn loạn. Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu đã đồng bộ hóa tấm laser quét rất mạnh với một camera tốc độ cao – có năng lực bắt được hàng ngàn bức ảnh mỗi giây – để quét một cách nhanh chóng toàn bộ va chạm theo thời gian thực.    Các đỉnh của những con sóng đó phát triển thành các sợi hình ngón tay, được phát triển vuông góc giữa các lõi va chạm. Nguồn: Harvard SEAS  Họ sử dụng những loạt “bắn phá” bằng xoáy chất lỏng trong một bể cá có sức chứa 75gallon để taojra các xoáy. Mỗi xoáy dược nhuộm một màu khac biệt, vì vậy các nhà nghiên cứu có thể quan sát xem chúng tương tác với nhau như thế nào khi chúng va chạm nhau một cách dữ dội. Dù chỉ mất khoảng một giây để cho các vòng tròn biến mất vào một luồng màu sau va chạm nhưng khoảng thời gian đó đã là quá nhiều cho các hiện tượng vật lý xảy ra.  Đầu tiên, các vòng sóng chất lỏng căng ra ra hơn khi chúng va chạm với nhau và các vùng rìa hình thành các sóng phản đối xứng. Các đỉnh của những con sóng đó phát triển thành các sợi hình ngón tay, được phát triển vuông góc giữa các lõi va chạm.  Những sợi này quay ngược lại với các sợi lân cận, tạo ra một dãy những vòng xoáy thu nhỏ tương tác với nhau trong khoảng vài millisecond. Những vòng xoáy mới được hình thành này cũng tạo ra các sợi, sau đó cũng lần lượt tạo ra những xoáy khác. Nhóm nghiên cứu đã quan sát ba lần tạo dựng như vậy của chu kỳ phân tầng này, mỗi lần lại tương tự nhau, chỉ khác là quy mô nhỏ hơn – một dạng hỗn loạn theo dưới hình thức những con búp bê Nga được lồng vào nhau.  “Hành xử này tương tự nhau từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, nó xuất hiện rất nhanh chóng và ở trạng thái trật tự trước khi tất cả bị phá vỡ thành dòng chảy rối”, Ryan McKeown, một học viên tốt nghiệp tại SEAS và là tác giả thứ nhất của bài báo. “Hiệu ứng phân tầng này thực sự rất thú vị bởi nó có thể chỉ ra cơ chế phổ quát cho cách những tương tác này diễn ra và nó độc lập về quy mô như thế nào”.  Thêm vào thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã phát triển các mô phỏng số để hiểu về động lực học  của sự phân hóa và định lượng phổ năng lượng của sự phân tầng phát ra. Dòng chảy rối có một phổ rất cụ thể và được xác định rất rõ. Trong khi hệ này được coi là đơn giản hơn so với dòng chảy rối trên đường bay của một chiếc máy bay thì các nhà nghiên cứu đã tìm thấy phổ năng lượng tại giai đoạn cuối của quá trình phân hóa những vòng xoáy đã theo sát những vòng xoáy tương tự để hình thành một cách đầy đủ dòng chảy rối.  “Đây là một chỉ dấu lớn cho thấy dù đây là một hệ khác biệt – với một thời gian ngắn, nó cũng có thể tạo ra những điều kiện tương tự của dòng chảy rối. Đây là điểm bắt đầu”, McKeown nói.  Thanh Nhàn  dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00548-w       Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao để có sách toán tốt cho học sinh?      Vào ngày 15/4, công ty cổ phần giáo dục Sputnik tổ chức tọa đàm về chủ đề :”Làm sao để có sách toán tốt cho học sinh?”      Hiện nay, vấn đề cải tiến sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa toán nói riêng đang thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội. Theo đánh giá của một số chuyên gia giáo dục, với sự hình thành của hệ thống chuyên toán, các bài toán khó dần xuất hiện trong sách giáo khoa cho học sinh tiểu học và khiến cuốn sách giáo khoa xa dần mục tiêu ban đầu là dạy kiến thức cơ bản. Học sinh sẽ thích toán nhờ nắm được kiến thức cơ bản ở sách giáo khoa và nhờ tự làm thêm các bài tập khó ở cuốn sách bài tập nâng cao. Theo PGS. TS Chu Cẩm Thơ, sách giáo khoa chứa đựng trong đó hoạt động dạy (của thầy) và hoạt động học (của trò). Vì thế, sách giáo khoa cần đảm bảo: tạo ra tiền đề xuất phát để tiếp cận kiến thức mới (kiến thức có thể là một khái niệm, một công thức, một định lý, một cách giải…); Thể hiện con đường tiếp cận nội dung mới (về phương pháp dạy học, phương pháp tự học, có từ khóa để tự tiếp cận, các kênh thông tin); Củng cố được kiến thức mới (phù hợp với trình độ học sinh, giúp giáo viên dễ dàng chế biến để phù hợp với trình độ, dạy học phân hóa), phản ánh năng lực của người học (qua tự đánh giá)…  Để giúp giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh tiếp cận sát hơn nữa với xu thế cải tiến sách giáo khoa Toán bậc tiểu học, công ty cổ phần giáo dục Sputnik tổ chức tọa đàm về chủ đề :”Làm sao để có sách toán tốt cho học sinh?” xoay quanh các vấn đề chính: các quan điểm về sách giáo khoa toán tốt; các vấn đề nổi cộm của sách giáo khoa toán hiện tại; các kinh nghiệm làm sách và đề xuất để có sách toán chất lượng cao cho trẻ em với sự tham gia của nhiều nhà giáo, nhà khoa học lĩnh vực toán học phổ thông đang giảng dạy trong nước và nước ngoài.    Author                T. H        
__label__tiasang Làm sao để vùng vẫy trong hồ lớn      Trong khi AEC đang đến rất gần, nhiều doanh nghiệp từ các nước ASEAN đang rầm rộ đổ bộ vào Việt Nam, thì phần lớn các cơ quan nhà nước lẫn doanh nghiệp Việt Nam đều có vẻ chưa biết lo giữ lấy sân nhà, cũng chưa biết đi tìm cơ hội ở các thị trường bạn.     Với bốn trụ cột – thị trường thống nhất, không gian sản xuất chung; khu vực kinh tế cạnh tranh cao; khu vực phát triển kinh tế cân bằng; và hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu -, AEC sẽ thiết lập nền tảng cho sự tự do dịch chuyển của tất cả các nhân tố sản xuất quan trọng – hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ thuật và dòng vốn trong nội bộ khối.  Với qui mô GDP năm 2013 tổng cộng khoảng 2.400 tỉ USD, nếu là một quốc gia, AEC sẽ là nền kinh tế lớn thứ bảy trên thế giới. Dân số trên 600 triệu người của AEC lớn hơn qui mô dân số của Liên minh châu Âu hoặc Mỹ, và chỉ đứng thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Cơ cấu dân số trẻ, mức tăng năng suất lao động khá tốt, trạng thái kinh tế vĩ mô tương đối ổn định của ASEAN trong những năm qua cũng tạo niềm tin đối với khối này, đặc biệt về triển vọng của các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, thị trường bán lẻ, dịch vụ thông tin và viễn thông, dịch vụ du lịch, giao thông vận tải…   Về thương mại, ASEAN là một thị trường tiêu thụ rộng lớn đầy tiềm năng, nhờ tốc độ giảm nghèo và tăng thu nhập khá cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, tính đa dạng của dân cư và khả năng tiếp cận với xu hướng hiện đại trong tiêu dùng. ASEAN đang là khu vực xuất khẩu lớn thứ tư của thương mại toàn cầu, chỉ sau EU, khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc-Hồng Kông. Thương mại nội vùng giữa các nước ASEAN hiện nay chỉ chiếm khoảng 25% tổng thương mại của khối, nhưng có triển vọng tăng cao hơn khi AEC hình thành, và sẽ đặc biệt lớn khi RCEP tức ASEAN+6 ra đời, biến cả khu vực thành một thị trường siêu lớn với GDP 21.000 tỉ USD và chiếm khoảng 30% tổng thương mại toàn cầu. Về đầu tư, ASEAN cộng lại đang đứng thứ bảy thế giới về mức thu hút các công ty lớn trên toàn cầu, với 227 công ty có doanh thu trên 1 tỉ USD/năm hoạt động ở khu vực và tỉ lệ 38% các vụ IPO của toàn châu Á. Mong muốn tạo thêm việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các ngành kinh tế và hướng tới thịnh vượng cũng tạo nên nhu cầu lớn trong AEC về phát triển con người, công nghệ và hạ tầng, mở thêm những cơ hội hợp tác rộng lớn trong và ngoài khối trên các lĩnh vực này.   Tất nhiên, trước mắt ASEAN cũng còn rất nhiều việc phải làm để tiếp tục loại bỏ hàng rào thuế quan, cải cách để AEC trở thành khu vực đầu tư hấp dẫn và giảm khoảng cách giữa hai khối ASEAN-6 và ASEAN-4. Sau năm 2015, AEC sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để hướng đến một nền kinh tế chung tốt nhất về mặt thể chế và có khả năng phản ứng nhanh, đối phó tốt với những biến động kinh tế toàn cầu và biến đổi khí hậu…  Một AEC như vậy chắc chắn vừa là cơ hội to lớn, vừa là thách thức nặng nề của Việt Nam. Không ít báo cáo, thuyết trình của các chuyên gia đã vạch ra những cơ hội, thách thức đó cũng như các giải pháp cần thiết, đặc biệt cho doanh nghiệp. Chi tiết có thể khác nhau, nhưng những khuyến cáo này đều xoay quanh các vấn đề: xuất phát từ một nền kinh tế phát triển thấp hơn, các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung sẽ phải đương đầu với sức ép cạnh tranh lớn, trong khi lại yếu hơn các doanh nghiệp ASEAN về qui mô vốn, về năng lực thiết bị, trình độ công nghệ, kỹ năng quản lý và lao động, cũng như chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh hợp lý. Để đối phó với thách thức và nắm bắt những cơ hội về xuất khẩu, đầu tư trong AEC, việc tự cải thiện năng lực của mình, đồng thời tận dụng những thuận lợi trong cơ chế nội bộ của AEC, tăng cường hợp tác, tham gia liên kết trong các chuỗi cung ứng… là điều rõ ràng các doanh nghiệp phải làm.  Nhìn rộng hơn trong phạm vi cả nền kinh tế, có nhiều điều đáng suy nghĩ hơn về Việt Nam với AEC. Tham gia ASEAN đã 20 năm, nhưng đến nay Việt Nam vẫn nằm trong nhóm bốn nước kém phát triển của khối. Khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với ASEAN-6 thì rộng ra, trong khi với ba thành viên khác của ASEAN-4 thì hẹp lại, thậm chí đã có lời cảnh báo Việt Nam có thể sẽ thua ba nước này về thu nhập bình quân đầu người trong vài năm nữa. Việc thực hiện ba đột phá chiến lược (cải cách thể chế, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực) và tái cơ cấu nền kinh tế – những việc cấp bách nhất để đưa nền kinh tế đi lên – diễn ra rất chậm chạp.   Trong khi AEC đang đến rất gần, nhiều doanh nghiệp từ các nước ASEAN đang rầm rộ đổ bộ vào Việt Nam, thì phần lớn các cơ quan nhà nước lẫn doanh nghiệp Việt Nam đều có vẻ chưa biết lo giữ lấy sân nhà, cũng chưa biết đi tìm cơ hội ở các thị trường bạn, mà cứ mải mê chờ hoàn thành các đàm phán hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” như FTA với EU hay TPP! Phải chăng ta “điếc không sợ súng”, hay bị cái bệnh thích hoành tráng cuốn vào giấc mơ ra biển lớn mà quên đi việc tập bơi để khỏi đuối nước ngay tại ao làng? Hãy tỉnh dậy đi, bởi không mạnh lên để trụ nổi trong ao làng, để vùng vẫy được trong cái hồ AEC thì khó ra biển lớn lắm!   Đọc thêm:  Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam (Lê Đăng Doanh)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=8015&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao thúc đẩy sử dụng hiệu quả dữ liệu lớn? (Phần 3)      Cần phải giải quyết được các vấn đề liên quan đến thu thập, tổ chức và phân tích dữ liệu.    Điện thoại di động thúc đẩy sử dụng dữ liệu lớn  Điện thoại di động đã được các tổ chức phi lợi nhuận bắt đầu tận dụng để thu thập dữ liệu lớn. Năm 2010, hơn 5 tỷ điện thoại di động đã được sử dụng, với hơn 80% là ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ người sở hữu điện thoại di động ở vùng hạ Sahara châu Phi tăng từ 32,1% năm 2008 lên 57,1% năm 2012. Mức tăng trưởng này đã mang lại cho người dân ở các nước đang phát triển những cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.  Ví dụ, Cell Life, một tổ chức ở Nam Phi, đã tạo ra một dịch vụ di động nhắn tin đại chúng gọi là Communicate, nhắc nhở bệnh nhân dùng thuốc, liên kết bệnh nhân tới phòng khám và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ ngang hàng như tư vấn và giám sát. Life cũng phát triển Capture, một dịch vụ giúp cho nhân viên y tế trong lĩnh vực này có thể thu thập và lưu thông tin dưới dạng kỹ thuật số bằng điện thoại di động của họ.  Sử dụng điện thoại di động và Internet ngày càng phổ biến cho phép thu được những lượng thông tin chưa từng có. Hầu hết các điện thoại di động hiện đại đều có công nghệ hệ thống định vị toàn cầu, xác định vị trí địa lý của điện thoại. Ngoài dữ liệu định vị, điện thoại di động còn chứa một kho tàng thông tin, chẳng hạn như nhật ký cuộc gọi, tin nhắn SMS và các bài đăng trên mạng xã hội. Điện thoại di động còn hoạt động như một cảm biến riêng lẻ thu thập thông tin từ môi trường, khi được tổng hợp và phân tích với thông tin từ hàng triệu chiếc điện thoại di động khác có thể dẫn đến những thông tin quan trọng để thông báo ngược lại cho chính người sử dụng chiếc điện thoại đó. Ví dụ, các nhà khoa học đang nghiên cứu các xu hướng chuyển động di cư sau thảm họa để tìm hiểu sự lây lan của bệnh truyền nhiễm. Caroline Buckee, nhà dịch tễ học tại đại học Harvard và cộng sự, đã sử dụng dữ liệu định vị từ điện thoại di động để tìm hiểu các mô hình di chuyển của con người ở Kenya nhằm giúp ngăn chặn bệnh sốt rét và các bệnh lây lan khác.  Các bước tăng cường sử dụng dữ liệu lớn  Dữ liệu lớn có tiềm năng to lớn để hình thành nên các quyết định nhằm giúp giải quyết các vấn đề xã hội nan giải nhất trên thế giới. Để thực hiện được, cần phải giải quyết được các vấn đề liên quan đến thu thập, tổ chức và phân tích dữ liệu. Bốn khuyến nghị sau đây có tiềm năng tạo ra các tập dữ liệu hữu ích cho việc hoạch định kế hoạch dựa trên số bằng chứng hoặc số liệu.  Xây dựng những ngân hàng dữ liệu toàn cầu về các vấn đề quan trọng: Cộng đồng toàn cầu cần tạo ra các ngân hàng dữ liệu lớn về các vấn đề phức tạp như nạn buôn người, nạn đói và nghèo đói toàn cầu. Ngân hàng dữ liệu sẽ có khả năng chứa nhiều loại dữ liệu khác nhau cùng với siêu dữ liệu mô tả các tập dữ liệu. Để thực hiện việc này, cần thành lập các liên minh đa ngành thúc đẩy chia sẻ dữ liệu về các vấn đề theo chủ đề. Tại Hội nghị thượng đỉnh G-8 năm 2012, lãnh đạo của các nền kinh tế lớn nhất thế giới và bốn nhà lãnh đạo châu Phi đã gặp, thảo luận và cam kết chống lại nạn đói và đảm bảo an ninh lương thực. Một số sáng kiến dựa trên công nghệ và dữ liệu đã được đưa ra. Trong đó, tiêu biểu là sáng kiến Agrilinks.org, một nền tảng chia sẻ dữ liệu được cập nhật nhất quán. Nông dân có thể truy cập vào Agrilinks.org để đọc về các phương thức thực hành nông nghiệp mới hoặc gửi tweet trực tiếp từ điện thoại di động của họ để đặt câu hỏi cho chuyên gia nông nghiệp.  Thu hút nhân dân và thúc đẩy công dân làm khoa học. Big data không phải là lĩnh vực chỉ dành riêng cho chuyên gia. Người dân cũng có thể góp phần tạo và phân tích các tập dữ liệu. Với sự gia tăng của dữ liệu thông qua các nền tảng dữ liệu mở, ngày càng có nhiều người dân đang tạo ra những ý tưởng và sản phẩm mới và hình thành nên xu thế “công dân làm khoa học” Năm 2010, London cung cấp dữ liệu của chính phủ cho công chúng bằng cách mở London Datastore. Được quản lý bởi Cơ quan Greater London, London Datastore tạo điều kiện cho người dân có cơ hội xem và sử dụng dữ liệu thô được các cơ quan thành phố và công chức tạo ra. Thông tin được công bố bao gồm dữ liệu về tội phạm, kinh tế và dữ liệu theo thời gian thực từ các hệ thống chuyển tuyến. Nhờ thế, Matthew Somerville, một nhà phát triển Web, đã tạo ra một ứng dụng bản đồ trực tuyến của hệ thống tàu điện ngầm City of London đạt hơn 250.000 lượt truy cập trong vài ngày. Tương tự như vậy, Ben Barker, một kỹ sư điện tử và là người đi xe đạp, đã tạo ra một bản đồ xe đạp với thông tin được lấy từ London Datastore.  Xây dựng đội ngũ các nhà phân tích và quản lý dữ liệu.  Ngày nay, chúng ta không chỉ thiếu các nhà quản lý và phân tích dữ liệu có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội mà còn  hạn chế trong việc trang bị và đào tạo cho nhân viên những kỹ năng thích hợp. Các sinh viên thường chỉ được học những kiến thức cơ bản về thống kê. Cách tiếp cận này không còn đáp ứng được nếu muốn sử dụng lợi thế của dữ liệu lớn. Vì vậy, cần trang bị cho sinh viên và các nhà phân tích các kỹ năng cần thiết để sắp xếp dữ liệu để tạo ra các tập dữ liệu lớn. Những kỹ năng này thường có trong các chương trình tin học và thông tin thư viện. Trong những chương trình này, sinh viên sẽ được học về cách tổ chức dữ liệu, bảo quản, trực quan hóa, tìm kiếm và truy xuất và sử dụng dữ liệu.  Thúc đẩy các nền tảng thử nghiệm ảo. Để tăng cường hiểu biết về cách sử dụng dữ liệu lớn giải quyết các vấn đề xã hội, cần thúc đẩy nhiều thử nghiệm. Các nền tảng thử nghiệm ảo, cho phép các cá nhân chia sẻ ý tưởng, tương tác với ý tưởng của người khác và hợp tác để tìm giải pháp cho vấn đề hoặc tận dụng các cơ hội, sẽ có khả năng liên kết các bên để tạo các tập dữ liệu lớn, phát triển các thuật toán sáng tạo để phân tích và trực quan hóa dữ liệu và phát triển kiến thức mới. Một ví dụ là Kaggle, một trang web điều hành các cuộc thi phân tích dữ liệu. Tuy nhiên, các tổ chức đang giải quyết các vấn đề xã hội hiếm khi tham gia vào các nền tảng này.  Nền tảng thử nghiệm ảo rât cần thiết nếu sử dụng dữ liệu lớn để giải quyết các vấn đề xã hội. Đầu tiên, những nền tảng này sẽ tổ chức các cuộc thi để tạo ra các tập dữ liệu lớn về nhiều vấn đề khác nhau. Những cuộc thi tạo ra các tập dữ liệu lớn sẽ rất quan trọng để giúp cộng đồng nhận ra những thách thức xã hội. Khi các tập dữ liệu được tạo ra, có thể tổ chức các cuộc thi tập trung vào phân tích dự đoán và khám phá các mô hình mới. Việc sử dụng các diễn đàn mở như wiki và các nhóm thảo luận có thể giúp cộng đồng chia sẻ các bài học kinh nghiệm, cộng tác và tìm ra các giải pháp mới.  Tương lai của dữ liệu lớn  Lĩnh vực kinh doanh và khoa học đã chứng tỏ không thể phủ nhận được tầm quan trọng của Big data. Hiện tại, những tổ chức giải quyết các vấn đề xã hội cần phải tìm cách kết hợp năng lực sử dụng big data trong việc đề ra quyết định vào hoạt động của mình. Tiềm năng tăng cường sử dụng Big data để giải quyết các vấn đề xã hội rất lớn, nhưng cũng còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại nghiêm trọng. Lý do là những vấn đề xã hội thường được giải quyết theo nhiều cách phức tạp hơn rất nhiều so với trong kinh doanh hay khoa học, khiến cho việc sử dụng dữ liệu lớn gặp khó khăn hơn. Ngoài ra, quyền lợi, sự riêng tư và phẩm giá của các đối tượng trong các vấn đề xã hội đang được giải quyết cũng cần phải hết sức chú ý.  Bất chấp những trở ngại này, rất nhiều nỗ lực đang được thực hiện. Các cơ quan nhà nước đều nhận thức rõ dữ liệu là một yếu tố quan trọng của sự đổi mới xã hội. Nhiều tổ chức như Ngân hàng Thế giới đã công khai dữ liệu của họ cho công chúng khai thác và sử dụng. Có rất nhiều cá nhân đang sử dụng dữ liệu để tạo ra những đổi mới, chủ yếu là ứng dụng, nhằm giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể.  Bên cạnh đó, có những tổ chức được thành lập để góp phần sử dụng dữ liệu lớn giải quyết các vấn đề xã hội một cách tốt hơn. Ví dụ, DataKind, là tổ chức giúp kết nối các nhà khoa học và thống kê với các tổ chức phi lợi nhuận để giúp khắc phục tình trạng thiếu nhân viên công nghệ có khả năng xử lý các dự án dữ liệu lớn. Trên toàn cầu, rất nhiều tổ chức cũng đang nỗ lực sử dụng dữ liệu mở và dữ liệu lớn để phát triển các giải pháp cho các vấn đề xã hội theo những cách sáng tạo và hợp tác.  Phương Anh (Theo Big data for social innovation, Standford Social Innovation Review)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm thế nào để nghiên cứu và tái cấu trúc mùi hương quá khứ?      Hàng triệu người trên toàn thế giới đã phải chịu đựng nỗi đau khổ mất mùi do lây nhiễm COVID-19. Ngay cả những người tránh bị coronavirus nhiễm bằng khẩu trang thì họ cũng phải trải nghiệm thế giới mùi hương ở một mức độ khác biệt. Sự mất mát của khứu giác đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của mùi trong cách chúng ta đón nhận và định vị thế giới này, và nhấn mạnh vào những kết nối giữa khứu giác, sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất.      Các mùi hương trong quá khứ có thể được tái hiện từ kho lưu trữ mùi hương qua cách chiết xuất phân tử bằng nhiều phương pháp khác nhau. Với việc dò thành công và nhận diện bằng hợp phần phân tử của các mẫu vật, các nguồn mùi hương cổ xưa có thể được nhận diện. Nguồn: Nature Human Behaviour (2022). DOI: 10.1038/s41562-022-01325-7  Mùi hương luôn luôn là một hợp phần tích hợp trong trải nghiệm của con người nhưng cho đến hiện tại, quá khứ thường ít khi lưu giữ được mùi. Phần lớn các mùi từ các thành phần hữu cơ thường phân rã một cách nhanh chóng, thường chỉ để lại chút ít dấu vết cho các nhà khảo cổ tìm hiểu ở hàng nghìn năm sau. Hiện tại, một nhóm nghiên cứu từ Viện Khoa học về lịch sử con người MPI (Đức) đang tìm những cách mới để mang “các mùi hương” của quá khứ trở lại với đời sống hiện tại và sử dụng mùi để nghiên cứu trải nghiệm, hành vi và xã hội trong quá khứ.  “Dò tìm theo mùi trong quá khứ sâu thẳm đã qua là một nhiệm vụ không hề đơn giản”, Barbara Huber, tác giả thứ nhất của nghiên cứu xuất bản trên Nature Human Behavior, nói, “nhưng sự thật là lịch sử ghi lại các cuộc khám phá, chiến tranh và những trao đổi thương mại diễn ra giữa các quốc gia thường liên quan đến những vật liệu với các đặc tính khứu giác mạnh như gia vị, trầm hương – nó tiết lộ một cách đáng kể cách các mùi hương có ý nghĩa như thế nào với con người”.  Hiểu về hương vị trong lịch sử con người và việc sử dụng các thành phần liên quan đến khứu giác và hương thơm có thể đem lại những hiểu biết sâu sắc về nhiều khía cạnh của quá khứ – bao gồm nghi thức tôn giáo, nước hoa, vệ sinh, ẩm thực thương mại… Nhưng bởi vì mùi hương là một phần trải nghiệm, hiểu biết và định vị thế giới của chúng ta nên các mùi hương cổ đại có thể đem lại cái nhìn xuyên suốt vào những khía cạnh tổng quát hơn của quá khứ, từ sự phân tầng xã hội, thực hành xã hội đến bản sắc từng nhóm người.  ​  Dữ liệu về mùi hương có thể được chuyển hóa thành ngữ cảnh trong khuôn khổ của văn bản lịch sử liên quan và sự tái hiện trực quan cũng như các ghi chép khảo cổ, môi trường. Kết nối những nguồn thông tin khác nhau lại có thể giúp chúng ta tái cấu trúc các khía cạnh của lối sống và xã hội cổ đại. Nguồn: Nature Human Behaviour (2022). DOI: 10.1038/s41562-022-01325-7  “Mùi hương là một khía cạnh vô cùng hiệu quả nhưng lại ít được đánh giá cao trong trải nghiệm của con người”, giáo sư Nicole Boivin, người dẫn dắt nghiên cứu và là giám đốc Ban Khảo cổ của Viện Khoa học lịch sử con người MPI, nhận xét. “Mùi chạm đến não của chúng ta một cách trực tiếp và rõ rệt, và tác động đến chúng ta theo nhiều cách hết sức quan trọng – liệu nên tránh hiểm nguy, nhận diện được cái gi đó là tốt cho chúng ta, hay nhớ đến một điều gì đó từng xảy ra trong quá khứ của mình, ví dụ như vậy”.  “Việc sử dụng cách các thành phần còn lưu giữ mùi trong các hiện vật khảo cổ và các đặc điểm quá khứ”, Huber cho biết thêm, “các phương pháp mới đang tiết lộ cho chúng ta thấy các mùi mạnh là một đặc điểm chủ yếu của những thực tại cổ đại và nó định hình hành động, suy nghĩ, biểu cảm và cả ký ức của con người”.  Bằng công cụ mang tính quyết định là những cách tiếp cận dựa trên sinh học phân tử mới và các hệ omics, như các kỹ thuật proteomic và metabolomics, cùng sự kết nối với dữ liệu mới với những thông tin từ các văn bản cổ đại, các miêu tả trực quan, và các hồ sơ khảo cổ học, cổ môi trường học rộng lớn hơn, các nhà nghiên cứu đã mở ra các khía cạnh mới về thế giới cổ đại, các xã hội và các nền văn hóa đã thay đổi của chúng ta, và cả sự tiến hóa của chúng ta với tư cách một loài.  Do đó, các tác giả của công trình nghiên cứu này hi vọng có thêm nhiều nghiên cưu mới để làm giàu có hơn “mùi hương” của quá khứ, qua đó se giúp chúng ta nhìn vào thế giới mùi hương ở thời điểm xa hơn, và các cách hết sức đa dạng mà con người nắm bắt mùi hương từ tự nhiên theo cách để định hình trải nghiệm của con người.  Nghiên cứu “How to use modern science to reconstruct ancient scents” (Làm thế nào để khoa học hiện đại tái cấu trúc được những mùi hương trong quá khứ) được xuất bản  trên Nature Human Behavior.  Nguyễn Anh Vũ   tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-scientists-ways-reconstruct-scents.html  https://www.thehindubusinessline.com/business-tech/smell-the-past/article65306050.ece  https://www.birminghamtimes.com/2022/04/scent-back-suskinds-perfume-could-come-to-life-as-german-scientists-recreate-smells-from-the-past/    Author                .        
__label__tiasang Làm thế nào để người dùng tin tưởng AI?      Mọi người thường miễn cưỡng cung cấp thông tin cá nhân cho các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), mặc dù các hệ thống này cần những thông tin đó để cung cấp các dịch vụ chính xác và cá nhân hóa hơn. Nhưng một nghiên cứu mới đây của Đại học Bang Pennsylvania đã cho thấy cách các AI yêu cầu thông tin từ người dùng có thể tạo ra sự khác biệt.    Họ trình bày những phát hiện của mình tại Hội nghị quốc tế hàng đầu về nghiên cứu tương tác người – máy ACM CHI 2021. Kết quả cho thấy, những người dùng quen thuộc với công nghệ – hay còn được gọi là những người dùng quyền lực như các kỹ sư phần mềm, những người sử dụng các tính năng nâng cao của phần cứng, hệ điều hành, chương trình hoặc trang web; chuyên gia chỉnh sửa video, nhà thiết kế đồ họa; game thủ, … ưa thích AI khi chúng cần giúp đỡ. Trong khi đó, người dùng không chuyên thích hệ thống AI tự giới thiệu rằng chúng vừa cung cấp sự hỗ trợ, vừa tìm kiếm sự giúp đỡ.   Theo giáo sư S. Shyam Sundar tại trường truyền thông Donald P. Bellisario của ĐH Bang Pennsylvania và là đồng giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu hiệu ứng truyền thông, khi AI ngày càng trở nên phổ biến, các nhà phát triển cần tạo ra những hệ thống liên hệ tốt hơn với con người. “Chúng ta cần phải suy nghĩ lại về cách các hệ thống AI nói chuyện với người dùng. Vấn đề này nổi lên bởi ngày càng có nhiều quan ngại về việc AI đã bắt đầu chiếm lấy cuộc sống của chúng ta và biết về chúng ta nhiều hơn những gì ta nhận ra. Vì vậy, tốt hơn là chúng ta nên bắt đầu chuyển từ những kịch bản đối thoại truyền thống [mà máy móc đang sử dụng] sang một dạng giao tiếp mang tính hợp tác hoặc cộng tác hơn để thừa nhận vai trò tự quyết của người dùng”, ông nói.   Các nhà nghiên cứu cho biết những đối thoại AI truyền thống thường đóng khung vai trò của AI như một kẻ trợ giúp. Trên thực tế, những người chuyên dùng máy tính có thể cảm thấy khó chịu với điều này vì chúng như thể đang ra vẻ bề trên với họ. Chẳng hạn như yêu cầu cung cấp thông tin ngày sinh của Facebook để AI của họ có thể đưa ra trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi, Sundar nói rằng khi đó, AI dường như có thái độ… gia trưởng trong cách giao tiếp với người dùng.   Mặt khác, khi một hệ thống AI đề nghị người dùng giúp đỡ, nó sẽ mang tính xã hội hơn. Theo Mengqi Liao, nghiên cứu sinh truyền thông đại chúng và là tác giả chính, “việc ai đó tìm kiếm sự giúp đỡ là hành vi vốn có của xã hội và rất tự nhiên trong giao tiếp. Nó giúp mọi người tin tưởng hơn và tăng ý định cung cấp thông tin cá nhân cho AI hơn. Người dùng quyền lực cũng đánh giá cao năng lực của những AI này hơn, mặc dù chúng mang lại kết quả tương tự như các AI khác”. Khi hệ thống vừa tìm kiếm sự giúp đỡ vừa nói với người dùng rằng nó có thể giúp họ trong tương lai, những người dùng không chuyên cũng sẽ ít lo ngại về quyền riêng tư hơn.  Nghiên cứu đem lại cho các nhà thiết kế một cách tiếp cận đạo đức để tăng niềm tin của người dùng với máy móc thay vì cố gắng lừa họ cung cấp thông tin cá nhân. Nó cũng hữu ích với các nhà thiết kế muốn xây dựng chiến thuật để chống lại những hệ thống AI săn người dùng. Ví dụ, Liao cho biết họ thấy rằng sự hiện diện của cả hai tín hiệu “tìm kiếm sự giúp đỡ” và “cung cấp sự giúp đỡ” có thể làm tăng mối lo ngại về quyền riêng tư của những người dùng chuyên nghiệp. Do đó, chỉ cần thêm cả hai dấu hiệu đó vào lời giới thiệu của AI là có thể khiến họ trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.   Đối với người dùng không chuyên, các nhà thiết kế có thể thêm các tín hiệu “tìm kiếm sự trợ giúp” để làm giảm sự hiện diện xã hội và khuyến khích người dùng trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.   Trong tương lai, họ có thể xem xét việc sử dụng AI trong những bối cảnh nhạy cảm hơn, chẳng hạn như thu thập thông tin tài chính và y tế, để xác định xem cách giới thiệu nào có thể ảnh hưởng đến sự cảnh giác của người dùng trong việc bảo vệ thông tin này.   Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-05-ais-personal-important-gaining-user.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm thế nào để xây dựng một kế hoạch khởi nghiệp      Khi bạn nghe đến các kế hoạch kinh doanh dài hạn, bạn có thể hình dung đến một bản tài liệu khoảng 40 trang, dày đặc những văn bản, biểu đồ và sơ đồ. Trên thực tế, bây giờ hầu hết các kế hoạch kinh doanh không đi theo cách này. Các kế hoạch kinh doanh ngày nay thường đi theo hình thức lập các slide hoặc là văn bản ngắn hơn bao gồm 10 trang tóm tắt điều hành.    Một bản kế hoạch khởi nghiệp là rất quan trọng.Rất nhiều người bị mắc kẹt với những phân tích vô dụng và dành 6 tháng xây dựng kế hoạch kinh doanh trước khi họ bắt tay vào khởi nghiệp. Tốt hơn là nên bắt đầu thử nghiệm một số công việc trước khi bạn dành thời gian vào một kế hoạch.   Bạn nên đồng thời, in một số danh thiếp, tạo một website và bắt đầu vào việc tạo ra nguyên mẫu cho một sản phẩm khả thi tối thiểu (MVP: Minimum Viable Product).   Những ý tưởng kinh doanh thường giản dị. Không có gì thật đặc biệt ở hầu hết các ý tưởng. Điều thật sự quan trọng là cách triển khai hoạt động, khả năng biến ý tưởng thành hiện thực, và chất lượng của đội nhóm những người tham gia.  Thuyết phục nhà đầu tư   Có thể nói rằng, khi bạn sẵn sàng để mở rộng ý tưởng hoặc tăng nguồn vốn, bạn sẽ cần ít nhất một pitch deck cơ bản (pitch deck là bản kế hoạch start up với tiêu chí thật đơn giản và dễ hiểu để thuyết phục nhà đầu tư) và một bản kế hoạch tài chính. Cần có một pitch deck thật tốt để trình bày với nhà đầu tư nhằm đảm bảo startup của bạn không bị hết vốn trước khi bạn ra mắt sản phẩm của mình.   Kế hoạch kinh doanh gồm: những vấn đề mà công ty của bạn đang cố gắng giải quyết, làm thế nào bạn có kế hoạch để giải quyết vấn đề đó, thị trường và các đối thủ cạnh tranh, làm thế nào bạn có kế hoạch kiếm tiền; và một dự báo tài chính cho 3 đến 5 năm tới.  Các phần trong kế hoạch của bạn  1.  Đội nhóm. Khi bạn lên đề cập các bộ phận trong đội ngũ của bạn, bạn nên nhấn mạnh không chỉ những người tham gia vào các hoạt động thường nhật của công ty, mà cả các cố vấn và các mentor xung quanh đội ngũ. Yếu tố con người là tất cả trong một công ty. Hầu hết các nhà đầu tư tốt sẽ cho bạn biết rằng họ sẽ chọn một đội A với một ý tưởng kinh doanh B hơn là một ý tưởng kinh doanh A với một đội B.  2. Vấn đề. Mô tả vấn đề mà bạn đang cố gắng giải quyết và đưa ra bằng chứng cho nhu cầu của giải pháp này. Điều quan trọng là phải chứng minh được bạn hiểu vấn đề là gì, bạn có một kế hoạch rõ ràng để giải quyết nó, và bạn biết vấn đề bạn giải quyết nhắm đến đối tượng nào. Việc chứng tỏ được bạn xác định được thị trường mục tiêu là rất quan trọng.  3. Sản phẩm. Đây là điểm rất nhiều doanh nhân gặp khó khăn. Họ sẽ nói về một sản phẩm có thể tồn tại vào một ngày nào đó trong tương lai, nhưng họ không có gì để thể hiện điều đó. Nếu bạn đến gặp một nhà đầu tư với một nguyên mẫu thì mọi thứ sẽ trở nên dễ hình dung – thậm chí dù chỉ là bản wireframes, mockups, hoặc phiên bản in 3-D của sản phẩm tương lai này – bạn sẽ nhận được nhiều hơn từ phía các nhà đầu tư. Trong phần sản phẩm này, bạn cũng có thể chia sẻ với nhà đầu tư về thời hạn tạo ra sản phẩm và những cột mốc quan trọng bạn sẽ hướng đến trong việc phân phối sản phẩm, cũng như bàn bạc về sản phẩm tương lai có thể áp dụng trong thị trường mục tiêu ra sao, và những dịch vụ bạn có thể cung cấp như quà tặng kèm, đồ hạ giá để tăng doanh thu trung bình từ khách hàng.  4. Thị trường. Trong phần thị trường, bạn cần có khả năng trình bày về các các nhà cung cấp của bạn, và các nguồn hoặc các bộ phận, thành phần cần thiết để tạo ra sản phẩn (hoặc kỹ thuật số hoặc hữu hình). Bạn nên bao gồm cả thông tin về những thách thức bạn sẽ phải đối mặt và các rào cản để gia nhập vào thị trường này, cho dù là về nguồn vốn hay kiến thức. Bạn cũng nên đề cập đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ và cấp bằng sáng chế trong ngành của bạn. Tìm ra những báo cáo phân tích gần đúng về phạm vi của thị trường, và bàn bạc về giai đoạn thị trường này sẽ đạt tới trong quá trình phát triển. Đây là một thị trường 10 năm tuổi, 1 năm tuổi, hay một thị trường 100 năm tuổi? Làm thế nào bạn cạnh tranh được với đối thủ? Ai sẽ là đối thủ của bạn, và ai sẽ là công ty đối tác tiềm năng mà bạn có thể cộng tác làm việc để đẩy mạnh những giải pháp bạn đang cố gắng mang đến với thế giới?  5. Mô hình tài chính của bạn. Phần này đề cập đến việc bạn sẽ kiếm tiền như thế nào. Rất nhiều công ty ở California vật lộn với việc tìm ra mô hình doanh thu của họ. Mọi người thường cho rằng nếu họ xây dựng sản phẩm và có người dùng nó, vậy là họ có thể kiếm tiền. Và sau khi kiếm được tiền, họ có thể mở rộng quy mô và tìm ra mô hình doanh thu sau. Tốt thôi, nhưng tôi thấy rằng việc hiểu được mô hình doanh thu (ít nhất là một mô hình doanh thu cụ thể) trước khi bạn bắt đầu kiếm tiền và dành vốn cho công ty là điều cần thiết.   Những câu hỏi quan trọng để giải quyết kế hoạch khởi nghiệp sơ lược:   Khi bạn xây dựng kế hoạch, bạn sẽ muốn nói về thị trường của bạn cho dù bạn đang bán hàng cho doanh nghiệp hay cho khách hàng. Bạn sẽ muốn nói về cách bạn bán hàng, và thông qua những kênh phân phối nào. Bạn sẽ bán buôn hay mở cửa hàng? Hay bạn sẽ bán hàng online với giá bán lẻ? Hay là một sản phẩm kỹ thuật số? Hay là sản phẩm cơ học? Bạn sẽ bán hàng với số lượng lớn hay bán lẻ?   Nhưng câu hỏi quan trọng nhất là: Sản phẩm của bạn tạo ra doanh thu một lần hay doanh thu định kỳ cho doanh nghiệp. Tôi nhận thấy, từ kinh nghiệm của các công ty như iContact, nếu bạn có thể tạo ra mô hình doanh thu định kỳ, bạn có thể dễ dàng và trơn tru hơn để tăng doanh thu của mình.   Bạn cũng cần cần đưa ra giả định khi số lượng người dùng hoặc khách hàng của bạn tăng lên. Và bạn muốn xác định giá thành đơn vị sản phẩm – bạn sẽ tốn bao nhiêu để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Giá thành thay đổi phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm của bạn. Ví dụ, nếu bạn sản xuất một sản phẩm, chi phí là 50,000 đô la, nhưng nếu bạn mở rộng quy mô và sản xuất 10,000 sản phẩm, mỗi sản phẩm có thể chỉ tốn 1000 đô la.   Khi bạn đã tính được chi phí đơn vị, bạn cũng tính được doanh thu đơn vị, tùy thuộc vào bạn sẽ định giá sản phẩm ra sao. Nếu bạn định giá 5000 đô la cho một sản phẩm chi phí mất 1000 đô la khi mở rộng sản xuất, thì đó là một cơ hội tuyệt vời để xây dựng một doanh nghiệp mang lại lợi nhuận.   Khi thuyết phục nhà đầu tư. Bạn cần phải làm rõ giả định về giá thành và chi phí. Bạn nên có kế hoạch doanh thu theo tháng ít nhất là trong 36 (hoặc 60) tháng đầu tiên. Và, dĩ nhiên, doanh thu trừ đi chi phí chí cho ra lãi suất ròng. Tiếp đó, bạn sẽ cần chứng minh sau bao nhiêu tháng thì bạn hòa vốn. Hòa vốn được định nghĩa là điểm tại đó bạn kiếm được nhiều hơn những gì bạn chi ra (nói cách khác, thu nhập của bạn là dương).   Dưới đây là ví dụ cho kế hoạch tài chính của 60 tháng (5 năm)   Đường màu xanh là doanh thu của bạn, đường màu đỏ là chi phí, đường màu đen là lợi nhuận. Trong những năm đầu tiên của quá trình đầu tư mạo hiểm, bạn có thể có chi phí (màu đỏ) lớn hơn doanh thu (màu xanh). Không sao đâu. Đây là thời gian bạn đang đầu tư.   Đường màu đen (tổng lợi nhuận) ban đầu chỉ đơn giản là vùng chi phí đầu tư chưa thu hồi được. Ví dụ, tổng chi phí đầu tư ở tháng thứ 27 là 2,4 triệu đô la. Nếu đây là sơ đồ chiếu lệ của bạn, bạn cần phải kiếm được trên 2,5 triệu đô để đảm bảo rằng bạn có đủ tiền để trong một vài năm tới có thể hòa vốn hoặc có phương án dự phòng trong trường hợp giả định của bạn là sai.   Cuối cùng, đường màu xanh bắt đầu nằm trên đường màu đỏ, doanh thu của bạn bắt đầu nhiều hơn chi phí bỏ ra, và đường tổng lợi nhuận bắt đầu đi lên cho đến khi chạm điểm mà tại đó tổng lợi nhuận của công ty được duy trì là dương. Tại điểm này và tiếp đó, bạn có một công ty sinh lời. Và khi bạn có một công ty sinh lời, bạn có một công ty giá trị.   List câu hỏi cho kế hoạch khởi nghiệp   Kế hoạch khởi nghiệp của bạn cần giải quyết những câu hỏi sau: –    Đội của bạn gồm những ai? –    Nền tảng của họ là gì? –    Những gì là cần thiết cho sản phẩm của bạn? –    Giá cả sản phẩm của bạn như thế nào? –    Phạm vi thị trường ra sao? –    Thị trường có sẵn sàng với sản phẩm này không? –    Chi phí sản xuất sản phẩm ra sao? –    Tổng kinh phí khởi nghiệp là bao nhiêu?   Bạn cũng cần giải quyết được những câu hỏi này: –    Mất bao lâu để đạt tới hòa vốn? –    Liệu bạn có cần yêu cầu bằng sáng chế hay bằng sở hữu trí tuệ không? –    Sản phẩm trong tương lai của bạn là gì? –    Dự án doanh thu hằng năm của bạn? –    Dự án giá cả hằng năm của bạn? –    Dự án lợi nhuận hằng năm của bạn?   Những câu trả lời này rất quan trọng trong kế hoạch và bản pitch deck của bạn. May mắn thay, bạn sẽ không cần đến một bản kế hoạch kinh doanh dài 40, 50 hay 60 trang để có thể huy động vốn, nhưng bạn sẽ cần nhiều hơn là chỉ một vài trang. Một bản gồm 10 – 20 slide, và có thể thêm một vài slide nữa trong trường hợp ai đó muốn hỏi thêm thông tin, điều này sẽ làm tăng cơ hội huy động vốn và tài trợ cho doanh nghiệp của bạn.  Phương Thảo dịch.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu chứng minh được nước siêu lạnh là chất lỏng bền      Nước siêu lạnh thực sự là thứ chất lỏng hai trong một. Một nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Tây Bắc Thái bình dương của Bộ Năng lượng Mỹ đã đi đến kết luận này sau khi lần đầu tiên thực hiện được những đo đạc về nước ở trạng thái lỏng tại các mức nhiệt độ lạnh hơn mức đóng băng của nó.      Các nhà khoa học đã bắt được các thay đổi trong cấu trú của nước siêu lạnh trong lần đầu tiên, sử dụng các laser gia nhiệt và quang phổ hồng ngoại. Nguồn: Timothy Holland/Pacific Northwest National Laboratory  Được xuất bản trên Science với tiêu đề “Reversible structural transformations in supercooled liquid water from 135 to 245 K”, phát hiện này đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đã được mong chờ từ lâu để có thể giải thích về một số hành xử kỳ lạ của nước tại các mức nhiệt độ cực lạnh mà người ta có thể tìm thấy bên ngoài không gian và ở vùng trong tầm với của bầu khí quyển Trái đất. Cho đến tận bây giờ, nước ở trạng thái chất lỏng trong những mức nhiệt độ có thể là cực hạn nhất đã là chủ đề của nhiều dự đoán lý thuyết. Một số nhà khoa học đã đặt câu hỏi là liệu có thể có sự tồn tại của nước ở dạng lỏng khi đạt tới các mức nhiệt độ thấp như -117.7 F (190 K) hay không hoặc liệu hành xử kỳ quặc của nước là việc tái cấu trúc lại nước là phần không thể tránh khỏi khi trở thành dạng rắn.  Tranh cãi này có ý nghĩa quan trọng bởi việc hiểu về nước, vốn chiếm tới 71% bề mặt trái đất, là điều cần thiết để hiểu về cách nó ảnh hưởng đến môi trường của chúng ta, cơ thể của chúng ta và cả bản thân sự sống.  “Chúng tôi đã chứng tỏ nước ở dạng lỏng tại các mức nhiệt độ lạnh không chỉ liên quan đến trạng thái bền, nó còn tồn tại trong hai motiv cấu trúc”, Greg Kimmel, một nhà hóa lý tại PNNL, nói. “Phát hiện này giải thích một vấn đề gây tranh cãi trong một thời gian dài là liệu có hay không việc nước ở mức siêu lạnh luôn luôn kết tinh trước khi nó có thể vào trạng thái cân bằng. Câu trả lời là không”.  Nước siêu lạnh: Câu chuyện kể về hai chất lỏng  Mọi người có thể nghĩ là chúng ta đã hiểu về nước. Đây là thứ vật chất nhiều nhất và được nghiên cứu nhiều nhất trong hành tinh của chúng ta. Nhưng bất chấp “bề ngoài” tưởng chừng đơn giản – hai nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy trong mỗi phân tử – H2O lại phức tạp một cách bất ngờ.  Thật khó khăn một cách đáng ngạc nhiên cho nước đóng băng chỉ dưới điểm tan chảy của nó: nước kháng cự lại việc đóng băng trừ khi có cái gì đó để nó bắt đầu quá trình này, giống như bụi hoặc một thứ chất rắn nào đó bám vào. Trong nước tinh khiết, cần có một cú hích năng lượng để đẩy các phân tử vào một sự sắp xếp đặc biệt cần thiết để đóng băng. Và nó mở rộng ra khi đóng băng, vốn là hành xử bất thường nếu so sánh với các loại chất lỏng khác. Nhưng chính sự bất thường đó là thứ duy trì sự sống trên trái đất. Nếu các khối băng tan hoặc hơi nước trong bầu khí quyển không đủ giữ ấm, sự sống trên trái đất mà chúng ta biết không thể tồn tại.  Hành xử kỳ lạ của nước đã là mối quan tâm của nhà hóa lý Bruce Kay và Greg Kimmel trong hơn 25 năm. Hiện thời, họ và các nhà nghiên cứu postdoc của mình là Loni Kringle và Wyatt Thornley đã hoàn thành một cột mốc trong hướng nghiên cứu này, điều khiến họ hi vọng sẽ mở rộng hiểu biết về những biến đổi mà các phân tử nước ở dạng lỏng có thể thực hiện được.  Vô số mô hình đã được đề xuất để giải thích các đặc tính bất thường của nước. Dữ liệu mới thu thập được bằng việc sử dụng một dạng ảnh chụp nhanh hoạt hình tĩnh vật (stop-motion) của nước ở mức siêu lạnh đã chứng tỏ nó có thể đông lại thành một cấu trúc giống chất lỏng siêu đặc. Hình thức đậm đặc hơn cùng tồn tại bên cạnh một cấu trúc ít đặc hơn phù hợp hơn với dạng liên kết điển hình được chờ đợi ở nước. Tỷ lệ của chất lỏng siêu đậm đặc suy giảm khi nhiệt độ xuống từ -18.7 F (245 K) đến -117.7 F (190 K), phù hợp với những dự đoán của các mô hình “hỗn hợp” cho nước siêu lạnh.  Kringle và Thornley đã dùng quang phổ hồng ngoại để tìm các phân tử nước bị mắc bẫy trong một dạng kiểu hoạt hình tĩnh vật khi một màng mỏng băng được bắn đi với một tia laser, tạo ra một chất lỏng siêu lạnh chỉ trong một vài nano giây.  “Một quan sát quan trọng là tất cả các thay đổi về cấu trúc đều có thể lặp lại và đảo ngược”, Kringle, người tham gia nhiều thực nhiệm của nhóm, cho biết.    Mưa đá mềm: đấy là nước siêu lạnh!  Nghiên cứu này có thể giúp giải thích về mưa đá mềm, hiện tượng những giọt mềm thi thoảng rơi xuống trong các cơn bão khi thời tiết rất lạnh. Mưa đá mềm hình thành khi một bông hoa tuyết tương tác với nước lỏng siêu lạnh trong tầng trên khí quyển.  “Nước ở trạng thái lỏng trong tầng trên khí quyển rất lạnh”, Kay, một học giả trao đổi của Phòng thí nghiệm PNNL và chuyên gia vật lý nước, nói. “Khi nó gặp một bông hoa tuyết, nó đông lại nhanh chóng và sau đó trong điều kiện thuận lợi, nó rơi xuống trái đất. Đây thực sự là thời điểm duy nhất để phần lớn mọi người trải nghiệm được hiệu ứng của nước siêu lạnh”.  Nghiên cứu này có thể giúp hiểu cách nước ở trạng thái lỏng có thể tồn tại ở nhưng hành tinh rất lạnh – sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên vương và sao Hải vương – trong hệ mặt trời của chúng ta và còn cả ở hệ khác. Nước siêu lạnh hóa hơi có thể tạo ra những cái đuôi đẹp đẽ trải dài ở phía sau các sao chổi.  Phân tử nước “rèn luyện thân thể”  Trên trái đất, một hiểu biết sâu hơn về việc nước có thể vặn xoắn lại khi được đặt vào trong những vị trí chật hẹp như một phân tử nước đơn lẻ xếp chặt trong một protein, có thể giúp các nhà khoa học thiết kế ra những loại thuốc mới.  “Không có nhiều không gian cho các phân tử nước bao quanh các protein”, Kringle nói. “Nghiên cứu này có thể rọi ánh sáng vào cách nước ở trạng thái chất lỏng hành xử trong những môi trường được sắp xếp một cách chặt chẽ”.  Thornley lưu ý “trong những nghiên cứu tới, chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật mới này để theo dõi những tái sắp xếp phân tử nằm trong một diện rất rộng các phản ứng hóa học”.  Có rất nhiều điều cần học hỏi và những đo đạc đó sẽ giúp chúng ta tìm được một hiểu biết sâu sắc hơn về phần lớn chất lỏng giúp mang lại sự sống trên trái đất này.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-supercooled-stable-liquid-scientists.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu công bố bộ chỉ số ngành logistics Việt Nam      Ngày 18/3, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp  hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam phối hợp với Viện nghiên cứu  và phát triển Logistics tổ chức lễ công bố bộ chỉ số ngành logistics  (dịch vụ vận chuyển, giao nhận, kho bãi).    Đây là lần đầu tiên ngành dịch vụ logistics có một bộ chỉ số được thiết lập, nhằm cung cấp một phần bức tranh thị trường dịch vụ đầy tiềm năng này.  Ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam kiêm Chủ tịch Hiệp hội giao nhận ASEAN, cho biết, bộ chỉ số ngành logistics được nghiên cứu, tham khảo dựa trên kinh nghiệm của các nước trên thế giới sẽ cung cấp những thông tin mang tính thực tiễn, giúp phần nào phác họa được bức tranh thị trường dịch vụ logistics, đồng thời đem thị trường logistics đến gần hơn với các nhà đầu tư tài chính.  Đây cũng là những nền móng đầu tiên để góp phần tạo dựng thông tin chuẩn cho ngành dịch vụ logistics Việt Nam.  Với quy mô 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước, những năm gần đây, ngành dịch vụ logistics đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Vì vậy, bộ chỉ số ngành ra đời, sẽ là bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển ngành dịch vụ này.  Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics, cả nước hiện có khoảng 1.200 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistis, chủ yếu về dịch vụ giao nhận vận tải, kho bãi, bốc dỡ, đại lý vận tải,… tập trung ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ngoại trừ các doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hóa, hầu hết các doanh nghiệp này có quy mô vừa và nhỏ, vốn điều lệ bình quân từ 4-6 tỷ đồng, tỷ lệ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về logistics còn chiếm khá thấp, chỉ từ 5-7%.  Tuy nhiên, số vốn điều lệ, nguồn nhân lực, quy mô các công ty logistics,… đã được đầu tư và cải thiện hơn rất nhiều trong những năm gần đây. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế.  Bên cạnh đó, có 25 doanh nghiệp đa quốc gia hiện hoạt động trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam, tuy nhiên các doanh nghiệp này đang chiếm tới 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistisc.  Theo tiến sỹ Đặng Vũ Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển Logistics, bộ chỉ số ngành Logistics (còn gọi là VLI Logistics Index) là chỉ số được tính toán liên tục hàng ngày, luôn được cập nhật, cung cấp bức tranh qua chuỗi thời gian liên tục, làm cơ sở cho việc dự báo bằng các mô hình, phản ánh các sự kiện bất thường kịp thời giúp cho các nhà đầu tư đưa ra quyết định nhanh chóng.  Tương tự như chỉ số chứng khoán, chỉ số ngành logistics sẽ đem đến thông tin nhiều hơn để các nhà đầu tư có một góc nhìn khác về các công ty logistics niêm yết trên thị trường và là cơ sở để các quỹ đầu tư chỉ số quan tâm, đầu tư.  Ban Tổ chức cũng đã công bố chương trình bình chọn tốp 25 doanh nghiệp logistics Việt Nam, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành quan tâm, đầu tư thương hiệu bài bản để có thể lớn mạnh, cạnh tranh được với các thương hiệu quốc tế. Chương trình dự kiến sẽ công bố kết quả vào tháng Sáu tới.    Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/lan-dau-tien-cong-bo-bo-chi-so-nganh-logistics-viet-nam/249388.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu làm việc với nhà đầu tư      Lê Huỳnh Kim Ngân không chỉ được nhiều người biết đến với vai trò là một người xây dựng cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam mà còn với kinh nghiệm nhiều năm làm việc với các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu thiên thần, thương thảo nhiều thương vụ thành công. Dưới đây là chia sẻ của chị dành cho những người gọi vốn lần đầu tiên.    Chuẩn bị tinh thần    Nguồn ảnh: The next web  Bạn cần xác định rõ bạn có phải là con người phù hợp với khởi nghiệp hay không? Startup không phải là một cuộc chơi vui là chính, khi bạn khởi nghiệp, nghĩa là bạn bắt đầu kinh doanh. Bạn hãy tự hỏi bản thân 100 lần là bạn có thể nhịn đói ăn mì gói suốt mấy năm liền hay không? Bạn hãy tự hỏi bản thân là bạn có nguồn tài chính tự đủ nuôi mình trong thời gian ngắn hạn ít nhất là 1 năm chưa? Bạn có sẵn sàng không nhận lương mà tiền bạn kiếm được sẽ dành cho việc trả lương người khác không?  Trên thực tế sau khi đọc nhiều hồ sơ, mình cảm giác nào đó không rõ là có nhiều bạn chỉ phù hợp với đi làm có chức vụ cao hơn khởi nghiệp. Khi khởi nghiệp, bạn cần đặt quyền lợi của công ty trước quyền lợi của cá nhân mình. Mình không rõ khoảng 200 hồ sơ mình đọc được (của các vườn ươm và các khóa tăng tốc khởi nghiệp) có phản ánh mặt bằng chung nhận thức của các nhà sáng lập hiện nay hay không, mà nếu có thật đúng vậy, thì đúng là có nhiều điều để suy nghĩ.  Ngày trước mình không hiểu tại sao những làn sóng khởi nghiệp đợt 1 đợt 2 tuy không có nhiều điều kiện hay môi trường khởi nghiệp như hiện nay, thế mà lại là giai đoạn có nhiều người sáng lập thành công bền vững nhất. Cách đây 10 năm trước hay mới 5 năm trước, những người sáng lập khi bắt đầu khởi sự kinh doanh, họ vốn dĩ đã và đang là người có kinh nghiệm rồi, không như hiện nay, người người khởi nghiệp mà chẳng hiểu vì sao mình lại lựa chọn khởi nghiệp. Đây là điều nguy hiểm   Đặc điểm chung của những nhà sáng lập là: họ từng làm qua rất nhiều thứ, ban đầu họ không biết đam mê của họ thực sự là gì, nhưng họ thực sự bắt tay vào làm việc, từ những công việc nhỏ nhặt vụn vặt nhất cho đến khi vào một ngày đẹp trời, họ đặt để tâm hồn của họ vào đứa con tinh thần của mình và phát triển nó. Bạn không thể khởi nghiệp khi bạn chưa thực sự trải qua kinh nghiệm làm việc thực tế hay cọ xát trong cuộc sống; bạn cần thất bại thật nhiều trước khi khởi nghiệp thực sự. Có nhiều người thất bại nhiều quá rồi đi làm ở công ty lớn luôn cho khoẻ tấm thân, điều đó cũng đâu có sao.  Làm “bài tập” trước khi gọi vốn/nộp đơn vào accelerator/incubator  “Bài tập” hay còn gọi là mấy câu hỏi phỏng vấn đấy, thật ra đều là như nhau. Quỹ đầu tư cũng sẽ hỏi hệt những câu mà accelerator/incubator hỏi, trừ khi bạn đang gọi vốn những vòng sau với số tiền to hơn, giá trị công ty lớn hơn thôi. Thế nên, những câu hỏi của một accelerator đăt ra là không bao giờ thừa thãi. Điều đáng buồn là hầu hết, những câu trả lời chỉ mang tính chất qua loa/chém gió là chính.  Mình có làm một bộ câu hỏi mẫu ở đây, nếu bạn nào chịu khó làm thì sẽ rất tốt cho chính bạn: http://bit.ly/seedforaction  Những gì cần trình diễn trong bài tập này?  1.    Nói chuyện bằng con số, không nói chuyện cảm tính. “Tôi cảm thấy thị trường này lớn” không có tác dụng bằng “Theo báo cáo của TNS thì thị trường tiềm năng của sản phẩm A tại Việt Nam là 50 triệu USD”. Mọi người rất lười trong việc tìm số liệu hoặc hay biện minh là không tìm thấy, nào là Việt Nam giấu số liệu kỹ quá, blah blah. Mình chỉ có một câu nói: “Khi người ta muốn, người ta tìm cách. Khi người ta không muốn, người ta tìm lý do.”  2.    Các con số phải logic và có mắt xích liên quan đến nhau. Nếu có nguồn dẫn chứng thì cũng nên dẫn chứng rõ ràng. Không có con số nào đúng hay chính xác 100%, nhưng luôn có những con số hợp lý và chấp nhận được ở một vài góc độ nào đó.  3.    Diễn giải ít thôi, bớt “chém gió” chuyện người khác, sử dụng kinh nghiệm của mình để đưa ra nhận định. Tất cả những gì bạn cần làm là thể hiện khi bạn chọn ngách/ngành/dịch vụ/lĩnh vực nào đó bạn khởi nghiệp, hãy chắc chắn bạn hiểu về thị trường, hiểu về đối thủ, hiểu bạn đang làm gì nhiều hơn nhà đầu tư.  4.    Đừng lười!!!  Bật mí bí mật “quyến rũ” nhà đầu tư   Khi phỏng vấn hay gặp gỡ, thời gian của cả hai không nhiều, thế nên làm sao để gây ấn tượng với nhà đầu tư rất quan trọng. Mình có hỏi han vài bạn bè làm đầu tư lâu năm, hay hỏi nhiều anh chị đã từng bỏ tiền vào các công ty khởi nghiệp khác nhau, thì họ đều thích/ấn tượng với những tính cách tiêu biểu của người sáng lập như sau:  1.    Quyết liệt. Chưa cần biết bạn có thành công về sau hay không, nhưng bạn phải là một người vô cùng quyết liệt với những gì mình làm, bảo vệ ý tưởng của mình, bảo vệ startup của mình vì nó là con của bạn, và bạn cần bảo vệ nó tối đa. Bạn cần thể hiện được tinh thần: nếu có ai cũng có ý tưởng giống tôi, thì chỉ có thể là tôi làm được mà không phải ai khác.  2.    Biết tiếp thu, không bảo thủ. Quyết liệt không có nghĩa là bảo thủ nhé, nếu bạn hạ thấp bản thân/cái tôi một chút, bạn sẽ học được rất nhiều từ sau buổi nói chuyện với nhà đầu tư.  3.    Là người “bán” được sản phẩm của mình. Có một đặc điểm là nhiều bạn hay lấy lý do, vì tôi là geek nên tôi có biết sale là gì đâu. Sale ở đây không có nghĩa là bạn cứ chăm chăm bán cho bằng được sản phẩm hay dịch vụ của mình mà bạn đang thuyết phục người khác dùng được sản phẩm của mình, yêu thích nó, và họ sẵn sàng sau khi dùng thử nghiệm xong sẽ giới thiệu cho người khác. Đó là thành công rồi đấy. “Ép” nhà đầu tư phải sử dụng sản phẩm của mình trong lần gặp đầu tiên và nhắc nhở họ một cách khéo léo (nhưng liên tục) cũng là 1 “chiêu thức” không tồi.  4.    Giỏi một thứ gì đó (và chắc chắn mình giỏi chứ không chém gió nhé). Bạn có thể là một người làm kỹ thuật tốt nhưng quản lý tồi – không sao. Bạn có thể là một người sale giỏi nhưng không biết tí gì về kỹ thuật – không sao. Nhưng phải chắc chắn bạn phải giỏi một thứ gì đó và nó có ích lợi cho công ty bạn xây dựng. Những mảnh ghép còn thiếu, bạn có thể tìm chuyên gia sau (hoặc đồng sáng lập với mình, nếu bạn đủ may mắn).  5.    Hãy luôn gặp nhà đầu tư cùng với người đồng sáng lập hay cố vấn của mình. Đừng đi một mình nếu bạn chưa đủ giỏi hay sẹo chưa đủ đầy mình để tiếp xúc với nhà đầu tư, hãy luôn đi cùng một ai đó – người có thể lấp vào chỗ trống kinh nghiệm của bạn.  À còn dòng nhắn nhủ cuối:  Nếu bạn không tin vào bản thân mình, không tin vào sản phẩm của bạn thì làm sao chúng tôi có thể tin vào khả năng thành công của bạn? Phải luôn tin vào chính mình đấy nhé :”)      Author                Ngân sâu        
__label__tiasang Lần đầu tạo ra nam châm hai chiều      Với nam châm có độ dày cỡ một nguyên tử, các nhà nghiên cứu có thể thực hiện được nhiều thí nghiệm không thể thực hiện ở thời gian trước đây.      Một dạng từ tính của crôm iôdua mới được bổ sung vào gia đình vật liệu 2D  Kể từ khi tìm ra graphene vào năm 2004, số lượng những vật liệu 2 chiều (2D) được khám phá đã tăng lên. Tuy nhiên bộ sưu tập các chất bán dẫn, chất điện môi và siêu dẫn có độ dày đơn nguyên tử còn thiếu một thành viên – các chất từ tính. Trên thực tế, cho đến gần đây thì các nhà vật lý vẫn chưa chắc chắn là có thể tạo ra các nam châm 2D.    Qua công trình xuất bản trên Nature vào 7/6, các nhà nghiên cứu thông báo đã chế tạo ra nam châm 2D thực sự đầu tiên, được làm bằng hợp chất có tên gọi là crôm iôdua. Khám phá này có thể dẫn đến việc ra đời những thiết bị lưu trữ dữ liệu mới và thiết kế các máy tính lượng tử. Các nam châm 2D sẽ giúp cho các nhà vật lý thực hiện được nhiều thí nghiệm mà trước đây tưởng chừng không thể thực hiện được và kiểm nghiệm các lý thuyết cơ bản về từ tính.  Trước khi gặp nhau vào năm 2016, Pablo Jarillo-Herrero, nhà vật lý các chất cô đặc tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge và Xiaodong Xu, nhà nghiên cứu quang điện tử học tại trường đại học Washington ở Seattle, cũng từng nghiên cứu độc lập về nam châm 2D. Họ đã quyết định hợp lực để nghiên cứu, “đấy là vấn đề nguyên lý – có một thứ lớn gì đó bị bỏ qua”, Jarillo-Herrero cho biết.  Tính chất từ tính   Xu và Jarillo-Herrero nghiên cứu về hợp chất vô cơ crôm iôdua vì nó là một tinh thể bao gồm các tấm xếp chồng lên nhau và có thể tách ra bằng phương pháp băng dính Scotch: cách tạo ra vật liệu 2D bằng việc dùng dải băng dính để tách ra những lớp mỏng hơn. Các nhà vật lý cũng bị hợp chất này thu hút bởi các tính chất từ tính của nó.   Giống như các nam châm làm lạnh, crôm iôdua là một chất sắt từ, loại vật liệu phát ra một từ trường cố định do các spin của electron sắp thẳng hàng. Crôm iôdua có tính chất bất đẳng hướng, nghĩa là các electron của nó có chiều spin ưu tiên – trong trường hợp này, chiều vuông góc với bề mặt tinh thể. Các thuộc tính cơ bản này khiến Xu và Jarillo-Herrero nghi crôm iôdua còn có thể giữ được các đặc tính từ tính khi tách ra thành một đơn lớp các nguyên tử. Đó là những gì mà các vật liệu 2D khác không thể làm được.  Nhóm nghiên cứu của Jarillo-Herrero nuôi cấy các tinh thể crôm iôdua và tách thành các tấm đơn lớp và đa lớp trong khi nhóm nghiên cứu của Xu nghiên cứu các mẫu bằng từ kế siêu nhạy.  Các nhà nghiên cứu tìm thấy không chỉ một ở lớp đơn nguyên tử nam châm crôm iôdua mà còn thấy tính chất từ này xuất hiện ở nhiệt độ được coi là tương đối không quá thấp – 228 độ C. Họ còn khám phá thấy rằng phiến hai lớp của loại vật liệu này không có từ tính nhưng khi đưa thêm phiến thứ ba vào thì nó trở lại là vật liệu chất sắt từ. Vật liệu này cũng giữ lại tính chất từ nếu lớp thứ tư được đưa thêm vào, nhưng lại có thêm những tính chất khác mà hiện các nhà nghiên cứu vẫn còn đang tìm hiểu.  Phương pháp trong các nam châm  Ngoài Jarillo-Herrero và Xu còn có nhiều người khác nghiên cứu về nam châm 2D. Vào tháng 4 vừa qua, một nhóm nghiên cứu khác đã công bố quan sát được từ tính trong tinh thể cực mỏng tạo từ crôm, gecmani và telua. Một nam châm 2D thực thụ có thể giữ được từ tính tại lớp đơn nguyên tử nhưng tinh thể cực mỏng này chỉ có từ tính khi có đa lớp.   Các kết quả đều có ý nghĩa đáng kể, Nitin Samarth, một nhà vật lý các chất cô đặc tại Đại học Bang Pennsylvania tại University Park và mới có bài phân tích xu hướng nghiên cứu vật liệu từ tính 2D gần đây, đánh giá. Trước các khám phá này, “chúng ta chưa có một phương pháp khái quát chế tạo ra những vật liệu từ tính 2D đích thực”, ông cho biết. Từ những năm 1970, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tạo ra và nghiên cứu các nam châm cực mỏng nhưng tất cả các kết quả chỉ là các vật liệu lỗ chỗ nham nhở chứ không phải là vật liệu 2D thực sự.  Các nhà vật lý vẫn ao ước tìm được một nam châm 2D có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng và không được bảo vệ khỏi bị ô xy hóa để có thể dùng trong ngành điện dân dụng. Hiện nay, Jarillo-Herrero và Xu đang tìm kiếm thêm những nam châm 2D khác trong họ hóa học của crôm iôdua và nghiên cứu những vật liệu mà họ tạo ra.  Jarillo-Herrero muốn xếp lớp nam châm 2D với một chất siêu dẫn 2D và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Trong một nam châm, spin của electron tất cả sắp thẳng hàng; trong chất siêu dẫn, chúng được xếp thành các cặp ngược nhau. Jarillo-Herrero tự hỏi, “liệu siêu dẫn sẽ phá hủy sắt từ hay sắt từ sẽ phá hủy siêu dẫn? Trước nay vẫn chưa thểthực hiện được thí nghiệm này”.  Samarth cho rằng, vẫn còn quá sớm để nói rằng liệu có điều gì cơ bản mới về vật lý được phát hiện ở đây không nhưng hiện tại các nhà vật lý có thể thực nghiệm với các nam châm 2D và họ hứng thú để tìm kiếm thêm những tính chất mới của nó.  Thanh Nhàn dịch  PGS. TS. Trần Minh Tiến (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: http://www.nature.com/news/physicists-have-finally-created-a-2d-magnet-1.22115       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tạo ra thịt gà trong phòng thí nghiệm      Công ty start-up Memphis Meats tại San Francisco cho biết họ đã tạo ra những miếng thịt gà được nuôi cấy bằng tế bào đầu tiên trên thế giới.      Miếng thịt gà rán do công ty Memphis Meats nuôi cấy từ tế bào.  Hôm 14/3, Memphis Meats đã mời một số người đến nếm thử thịt gà của họ và theo công ty này, các khách mời đều nhận xét thịt gà nhân tạo có vị y như thịt gà nuôi.  “Thật hồi hộp khi giới thiệu những miếng thịt gà và thịt vịt đầu tiên được tạo ra không phải từ chăn nuôi. Đây là khoảnh khắc lịch sử cho phong trào thịt sạch”, Uma Valeti, người đồng sáng lập và đồng thời là CEO của Memphis Meats, nói.  Hồi tháng 2/2016, Memphis Meats công bố họ đã tạo ra được thịt bò trong phòng thí nghiệm bằng cách nuôi cấy mô cơ của bò trong môi trường vô trùng. Ngoài thịt gà, công ty cũng tuyên bố hôm 15/3 đã nuôi cấy được thịt vịt. Nhóm nghiên cứu bày tỏ hi vọng sẽ giảm được chi phí sản xuất trong vài năm tới và bắt đầu đưa sản phẩm của mình ra thị trường vào năm 2021.  Memphis Meats là một trong nhiều công ty khởi nghiệp đặt mục tiêu cắt giảm sự phụ thuộc của con người vào thịt truyền thống. Tiến sĩ Mark Post, nhà nghiên cứu tại Maastricht, Hà Lan, đã tạo ra thịt bò băm từ phòng thí nghiệm vào năm 2013 và sau đó mở công ty Mosa Meats để phát triển công trình nghiên cứu của mình. Trong khi đó, Impossible Foods và Beyond Meat thì bán thịt bò và thịt gà sản xuất từ thực vật có hương vị giống thịt nuôi đến kì lạ.  Tất cả những công ty này đều đang hi vọng đột phá ngành công nghiệp thịt trị giá 200 tỉ USD của Mĩ (và ngành gia cầm trị giá 48 tỉ USD), bằng việc cung cấp những thực phẩm bắt chước thịt nuôi nhưng thân thiện với môi trường hơn.  Trên toàn cầu, ngành chăn nuôi truyền thống chiếm khoảng 18% lượng khí thải nhà kính, sử dụng khoảng 12 triệu hecta đất mỗi năm và làm cạn kiệt 70% lượng nước của thế giới.  Memphis Meats nói rằng họ có thể sản xuất ra thịt bò và thịt gia cầm hiệu quả hơn rất nhiều (ở môi trường trong nhà và không phải giết thịt động vật). Tuy nhiên, thịt được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm vẫn cần đến huyết thanh bào thai, lấy từ con non chưa chào đời, để bắt đầu quá trình nuôi cấy. Năm 2016, Memphis Meats nói, họ hi vọng sẽ sớm thay thế được huyết thanh này bằng loại có nguồn gốc từ thực vật.  Memphis Meat cũng ước tính công nghệ hiện tại có thể làm ra khoảng 450gr thịt gà với giá dưới 9.000 USD – bằng một nửa so với chi phí để nuôi cấy 450gr thịt bò khoảng một năm trước đây, và đó là một trong những lí do tại sao công ty chưa thể tham gia thị trường. Để so sánh, ở Mĩ, chỉ mất khoảng 3,22 USD để sản xuất 450gr ức gà đã lọc xương.  Chi phí để sản xuất thịt bò trong phòng thí nghiệm đã giảm đáng kể trong những năm gần đây. Khi Mark Post tạo ra miếng thịt bò băm trong chiếc bánh kẹp hồi năm 2013, nó có giá lên tới 325.000 USD. Năm 2015, ông nói đã giảm được mức giá này xuống chỉ còn hơn 11 USD cho một miếng bò băm trong bánh kẹp.  Thịt gà là chất đạm phổ biến nhất ở Mĩ. Theo Bộ Nông nghiệp Mĩ, năm 2016, trung bình mỗi người Mĩ tiêu thụ khoảng 40kg thịt gia cầm. Còn FAO thì dự đoán thịt gà sẽ tiếm ngôi thịt lợn, trở thành loại thịt được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới vào năm 2020.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.businessinsider.com/memphis-meats-chicken-lab-grown-2017-3  http://www.businessinsider.com/memphis-meats-is-making-lab-grown-meatballs-2016-7             Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu thấy fermion Majorana bí ẩn trong một kim loại thông thường      Các nhà vật lý tại MIT và nơi khác đã thấy bằng chứng của các hạt fermion Majorana – những hạt về mặt lý thuyết cũng là phản hạt của chính nó – trên bền mặt của một kim loại thông thường, vàng. Đây là cái nhìn đầu tiên về các fermion Majorana trên một nền tảng có thể có tiềm năng mở rộng quy mô. Kết quả được xuất bản trên “Proceedings of the National Academy of Sciences”, là một bước tiến lớn hướng về việc cô lập các hạt thành thành các qubit bền vững cho tính toán lượng tử.      Trong vật lý hạt, fermion là một  loại hạt cơ bản bao gồm các electron, proton, neutron, và quark, tất cả cùng tạo ra các khối cơ bản của vật chất. Phần lớn các hạt này được coi là các fermion  Dirac, sau khi nhà vật lý Anh Paul Dirac, người đầu tiên dự doán tất cả các hạt cơ bản fermion phải có bản sao, ở một vài nơi trong vũ trụ này, trong hình thức một phản hạt – về bản chất là một hạt sinh đôi có điện tích trái dấu.  Năm 1937, nhà vật lý lý thuyết người Ý Ettore Majorana đã mở rộng lý thuyết của Dirac, dự đoán là giữa các fermion, có một số hạt khác, từ đó được đặt tên là hạt fermion Majorana, được phân biệt với các phản hạt của chúng. Một cách bí ẩn nhà vật lý này đã biến mất trong một chuyến tàu rời khỏi bờ biển Ý chỉ một năm sau dự đoán của mình. Kể từ đó, các nhà khoa học tìm kiếm hạt bí ẩn của Majorana. Người ta từng đề xuất mà chưa chứng minh được là có thể có một hạt Majorana. Mặt khác, các nhà lý thuyết dự đoán là các hạt fermion Majorana có thể tồn tại trong trạng thái đậm đặc ở những điều kiện đặc biệt.  Hiện tại một nhóm nghiên cứu do các nhà nghiên cứu MIT dẫn dắt đã quan sát bằng chứng về các hạt fermion Majorana trong một hệ vật liệu họ thiết kế và chế tạo, trong đó chứa các dây vàng nano được cấy trên đỉnh một vật liệu siêu dẫn là vanadium, và điểm các chấm là các ‘hòn đảo’ sắt từ nhỏ của Europi(II) sunfua. Khi các nhà nghiên cứu quét bề mặt này gần các hòn đảo, họ thấy tín hiệu tăng vọt gần mức năng lượng bằng không trên đỉnh bề mặt của vàng mà theo lý thuyết, chỉ có thể sinh ra từ các cặp fermion Majorana.  “Các ferminon Majorana là những thứ kỳ lạ được nhiều người mơ ước được chiêm ngưỡng, và giờ đây chúng tôi đã thấy chúng trong một kim loại rất bình thường – vàng”, Jagadeesh Moodera, một nhà nghiên cứu chính tại Khoa Vật lý của MIT. “Chúng tôi đã chứng tỏ là chúng ở đó và dễ dàng có thể tăng quy mô”.  “Bước tiếp theo sẽ là nắm lấy các vật thể này đưa chúng trở thành các qubit, vốn là một quá trình quan trọng để tiến gần tới máy tính lượng tử”, theo Patrick Lee, giáo sư vật lý William& Emma Rogers tại MIT và là đồng tác giả nghiên cứu này.  Rủi ro cao  Nếu được khai thác, các hạt fermion Majorana trở thành các qubit hoặc các đơn vị tính toán đơn lẻ cho các máy tính lượng tử. ý tưởng một qubit có thể được làm từ những kết hợp các cặp fermion Majorana, mỗi hạt chia tách với chính phản hạt của chúng. Nếu các lỗi gây nhiễu ảnh hưởng đến một hạt của cặp, hạt còn lại sẽ không bị ảnh hưởng, do đó bảo vệ được tính toàn vẹn của qubit và cho phép nó thực hiện tính toán một cách chính xác.  Các nhà khoa học đã tìm kiếm các hạt fermion Majorana trong các chất bán dẫn, vât liệu dùng trong máy tính có transistor thông thường. Trong những thực nghiệm đó, họ đã kết hợp các bán dẫn với siêu dẫn – các vật liệu để các electron di chuyển mà không gặp trở lực. Sự kết hợp này truyền các đặc tính siêu dẫn cho bán dẫn thông thường, vốn được các nhà vật lý cho là có thể khiến các hạt trong bán dẫn phân tách, hình thành các cặp fermion Majorana.  “Có nhiều nền tảng vật liệu mà con người tin tưởng là có thể thấy các hạt Majorana”, Lee nói. “Bằng chứng này ngày càng mạnh hơn nhưng vẫn chưa được chứng minh”.  Hơn nữa, những thiết kế chứa chất bán dẫn rất khó để tăng quy mô tạo ra hàng ngàn hoặc hàng triệu qubit cần thiết cho một máy tính lượng tử thực tế, bởi vì chúng đòi hỏi được nuôi từ các tinh thể vật liệu bán dẫn một cách chính xác và rất nhiều thách thức khi đưa chúng vào các siêu dẫn chất lượng cao.  Một thập kỷ, Lee, nghiên cứu với nghiên cứu sinh Andrew Potter, trên một ý tưởng: có lẽ các nhà vật lý phải có khả năng quan sát các hạt fermion Majorana trong một kim loại, một vật liệu có thể trở thành có tính siêu dẫn khi ở gần một siêu dẫn. Và các nhà khoa học thường đưa dùng kim loại, trong đó có vàng, để thử nghiệm. Ý tưởng của Lee là xem liệu trạng thái bề mặt của vàng – lớp nguyên tử phía trên của chúng – có thể tạo ra siêu dẫn hay không. Nếu thành công, sau đó vàng có thể là một hệ chính xác để các nhà nghiên cứu quan sát các fermion Majorana.  Trên cơ sở nghiên cứu trước đó của Moodera với chất cách ly sắt từ, Lee đề xuất là có thể thấy được các tín hiệu fermion Majorana nếu đặt hệ vật liệu lên đỉnh một trạng thái bề mặt của vàng.  “Khi đề xuất ý tưởng này, tôi không thể thuyết phục các nhà thực nghiệm cố gắng thử nghiệm nó, bởi công nghệ sẵn sàng”, Lee nói. Anh cuối cùng hợp tác với nhóm thực nghiệm của Moodera với kinh phí từ Templeton Foundation. “Những người trong nhóm như Jagadeesh và Peng thực sự đã phải thúc đẩy nó. Thật phải hết sức can đảm để tham gia thí nghiệm này dù nó hứa hẹn kết quả rất nhiều, bởi rủi ro của nó rất cao”.  “Kiếm tìm Majorana”    Các nhà nghiên cứu thấy sự “đột khởi” theo các cạnh đối diện của hòn đảo như lý thuyết đã dự đoán  Trong vài năm qua, các nhà nghiên cứu đã mô tả chi iết trạng thái bề mặt của vàng và chứng minh nó có thể hiệu quả như một nền tảng cho quan sát các fermion Majorana, sau khi nhóm nghiên cứu này bắt đầu chế tạo thiết kế mà Lee đã hình dung nhiều năm trước.  Họ đã nuôi cấy thành công một lớp siêu dẫn vanadium, trên đỉnh của nó họ xếp chồng các dây nano vàng thành lớp dày khoảng 4 nano mét. Họ thử nghiệm tính dẫn của lớp trên cùng của vàng và thấy rằng trên thực tế nó đã có tính siêu dẫn khi được xếp gần với vanadium. Sau đó họ để lắng các ‘đảo’ europium sulfide, một vật liệu sắt từ có thể cung cấp từ trường để tạo ra các fermion Majorana, trên các dây vàng nano.  Nhóm nghiên cứu sau đó đã áp một điện áp cực nhỏ vào và dùng kính hiển vì quét truyền qua, một kỹ thuật đặc biệt cho phép họ quét phổ năng lượng quanh từng hòn đảo trên bề mặt vàng.  Moodera và đồng nghiệp sau đó thấy một tín hiệu năng lượng rất đặc biệt mà chỉ có các hạt fermion Majorana có thể tạo được ra, nếu chúng tồn tại. Trong bất kỳ vật liệu siêu dẫn nào, các electron di chuyển khắp các phạm vi năng lượng nào đó, tuy nhiên vẫn có một sa mạc, hay một “khoảng trống năng lượng” không có electron nào. Nếu có một đột ngột xảy ra bên trong khoảng trống đó, đó thực sự là một dấu hiệu của fermion Majorana.  Nhìn vào trong dữ liệu của mình, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy những “đột khởi” bên trong khoảng trống năng lượng ở hai phía đối diện của các đảo dọc theo hướng của từ trường, đó là những dấu hiệu rõ ràng của các cặp fermion Majorana.  “Chúng tôi chỉ thấy sự “đột khởi” theo các cạnh đối diện của hòn đảo như lý thuyết đã dự đoán”, Moodera nói. “Không thể thấy điều đó ở bất kỳ chỗ khác”.  “Tôi có thể nói là chúng tôi đang tìm kiếm Majorana, trên một hòn đảo trên một biển vàng”, Lee cho biết thêm.  Moodera cho biết thiết kế của nhóm đòi hỏi ba lớp – một lớp vàng kẹp giữa sắt từ và siêu dẫn – là “một hệ thành công và bền vững một cách dễ dàng” có thể mở rộng quy mô để tạo ra các qubit mà vẫn kinh tế, nếu so với cách tiếp cận bằng chất bán dẫn thông thường.  “Hãy coi một cặp fermion Majorana là một bước tiến quan trọng để tạo ra một qubit”, Wei  nói. “Bước tiếp theo sẽ là tạo ra một qubit từ các hạt này và chúng tôi giờ đang có một vài ý tưởng cho điều đó”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-sighting-mysterious-majorana-fermion-common.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên định hướng tia sét bằng tia laser      Sét gây thiệt hại nghiêm trọng khi đánh vào các tòa nhà. Giờ đây, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc dùng tia laser để làm chệch hướng đi của tia sét.     Thí nghiệm trên núi Säntis ở Thụy Sĩ: Tia laser xanh phía trên tháp là cột thu lôi.  Không ai có thể nói chính xác vị trí sét đánh trong cơn giông bão – ngay cả cột thu lôi cũng không thể bảo vệ 100%. Một nhóm các nhà khoa học quốc tế đã thực hiện một nghiên cứu trên tháp viễn thông cao 124m trên núi Säntis (Thụy Sĩ) nhằm dẫn sét đến cột thu lôi. Nghiên cứu này do Aurélien Houard từ Phòng thí nghiệm Quang học ứng dụng (Laboratoire d’Optique Appliquée) của Pháp dẫn dắt và được công bố trên tạp chí Nature Photonics. Họ cho biết kết quả này có thể giúp chống sét tốt hơn cho các sân bay, bệ phóng và các cơ sở hạ tầng lớn.  Việc sử dụng tia laser để chống sét đã được đề xuất từ năm 1974. Cuối những năm 1990, các nhà khoa học đã tiến hành những thực nghiệm dùng tia laser để dẫn tia sét trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, những thí nghiệm ngoài trời tiến hành năm 2004 tại bang New Mexico của Hoa Kỳ và năm 2011 tại Singapore lại không thành công. Các nhà khoa học cho rằng các thí nghiệm trên núi Säntis ở Thụy Sĩ đã thành công là do tỷ lệ lặp lại xung laser cao hơn hai bậc so với các thí nghiệm trước đó. Tia laser sử dụng ánh sáng có bước sóng khoảng một micron (một phần nghìn milimet) và tỷ lệ lặp lại là 1000 hertz.  Các nhà nghiên cứu đã tận dụng tòa tháp trên núi Säntis, từng được sử dụng nhiều lần để đo số lần sét đánh trong những năm gần đây. Các tác giả nghiên cứu viết: “Tòa tháp này, nơi bị sét đánh khoảng 100 lần mỗi năm, được trang bị nhiều cảm biến ghi lại dòng sét, trường điện từ ở các khoảng cách khác nhau, tia X và nguồn bức xạ từ các tia sét”. Họ đã lắp đặt thêm các thiết bị đo lường và hai camera tốc độ cao ghi lại các tia sét với tốc độ lên tới 24.000 khung hình/giây.  Các camera này được đặt cách đỉnh tháp 1,4km và 5km và chỉ cung cấp kết quả hữu ích khi có tầm nhìn tốt. Hình ảnh trên là một trong bốn lần sét đánh được ghi lại khi bật tia laser. Có thể thấy các cuộn sét bao quanh chùm tia laser hơn 50m rồi đánh vào cột thu lôi của tòa tháp. Chùm tia laser hơi nghiêng được điều khiển sao cho nó đến gần đỉnh tháp.  Bức ảnh hêt sức ngoạn mục chụp bằng máy ảnh tốc độ cao: Tia sét bị tia laser điều hướng tới cột thu lôi trên tháp.  Từ góc độ vật lý, những điều sau đây có thể xảy ra: các xung laser cực mạnh làm nóng không khí đến mức nhiều phân tử không khí thoát ra môi trường mát hơn; một loại kênh có mật độ không khí rất thấp, gọi là dây tóc, được tạo ra dọc theo chùm tia laser. Trong dây tóc này, không khí dẫn điện tốt hơn đáng kể so với khu vực xung quanh nên dễ dẫn sét hơn.  Kết quả so sánh với các vụ sét đánh được ghi lại mà không có tia laser cho thấy, tia sét đánh vào cột thu lôi của tháp chính xác hơn nhiều nhờ sự dẫn đường của tia laser.  Các tác giả nghiên cứu kết luận: “Kết quả của chiến dịch thử nghiệm Säntis vào mùa hè năm 2021 cung cấp bằng chứng gián tiếp rằng các dây tóc được hình thành bởi các xung laser ngắn và cường độ cao có thể dẫn truyền tia sét trên một khoảng cách đáng kể”. Tuy nhiên, những kết quả sơ bộ này cần được khẳng định bằng loạt thử nghiệm tiếp theo với cấu hình mới.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/gewitter-wissenschaftler-lenken-erstmals-blitze-mit-laserstrahl-a-679d67d1-71f1-4599-818b-2e80776e2e28    Author                .        
__label__tiasang Lần đầu tiên dò được các hạt ‘X’ lạ trong quark-gluon plasma      Trong những phần triệu giây đầu tiên sau Big Bang, vũ trụ là một plasma của quark và gluon với nhiệt độ lên tới hàng nghìn tỉ độ – các hạt cơ bản kết hợp lại với nhau theo những tổ hợp không thể đếm được trước khi trở nên lạnh đi và hình thành những dạng bền vững hơn để tạo ra các neutron và proton của vật chất thông thường.      Trong sự hỗn độn trước khi lạnh đi, một phần các hạt quark và gluon đó va chạm một cách ngẫu nhiên để hình thành các hạt ‘X’ có thời gian sống ngắn – người ta đặt tên cho nó như vậy bởi những cấu trúc bí ẩn của nó. Ngày nay, các hạt X vô cùng hiếm hoi, dẫu các nhà vật lý nghĩ rằng về lý thuyết thì có thể tạo ra chúng trong những máy gia tốc hạt thông qua sự liên kết các hạt quark, nơi các va chạm năng lượng cao có thể tạo ra các quark –gluon plasma tương tự trong vũ trụ sớm.  Hiện tại, các nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm Khoa học hạt nhân ở MIT và nhiều nơi khác đã tìm thấy bằng chứng về các hạt X trong quark-gluon plasma được tạo ra trong Máy gia tốc hạt lớn (LHC) tại CERN.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật học máy để sàng lọc hơn 13 tỉ va chạm ion nặng, mỗi cuộc va chạm có xu hướng tạo ra hàng ngàn các hạt tích điện. Giữa ‘nồi súp’ hạt năng lượng cao và siêu đặc đó, các nhà nghiên cứu có thể tìm ra khoảng 100 hạt X, hay một dạng mà người ta biết là X (3872), tên được đặt theo khối lượng ước tính của hạt này.  Kết quả nghiên cứu, được xuất bản trên Physical Review Letters, đánh dấu lần đầu tiên các nhà nghiên cứu dò được các hạt X trong quark-gluon plasma – một môi trường mà họ hi vọng sẽ soi rọi ra cấu trúc chưa biết của hạt này 1.  “Đây mới chỉ là điểm khởi đầu của câu chuyện”, Yen-Jie Lee, nhà khoa học dẫn dắt nghiên cứu này và là phó giáo sư vật lý của MIT, nói. “Chúng tôi đã chứng tỏ chúng tôi có thể tìm ra được một tín hiệu.  Trong vài năm tới, chúng tôi muốn sử dụng quark-gluon plasma để chứng minh cấu trúc bên trong của hạt X, vốn có thể thay đổi cái nhin của chúng ta về dạng vật liệu mà vũ trụ này có thể tạo ra”.   Các đồng tác giả của nghiên cứu cũng là thành viên của Nhóm hợp tác CMS Collaboration, một nhóm nghiên cứu quốc tế đang vận hành và thu thập dữ liệu từ Compact Muon Solenoid, một trong số các máy dò hạt của LHC.  Các hạt trong plasma  Các khối cơ bản của vật chất là neutron và proton, mỗi loại đều được tạo ra từ ba hạt quark được gắn kết một cách chặt chẽ. “Trong nhiều năm, chúng tôi đã từng nghĩ là do một số nguyên nhân, tự nhiên đã chọn việc tạo ra các hạt chỉ bao gồm hai hoặc ba quark”, Lee nói.  Chỉ mới gần đây, các nhà vật lý mới bắt đầu thấy những dấu hiệu của các tetraquark lạ – các hạt được tạo ra từ sự kết hợp hiếm của bốn quark. Các nhà khoa học nghi ngờ là X (3872) là một compact tetraquark hoặc một dạng hoàn toàn mới của phân tử không phải từ các nguyên tử mà được tạo ra từ các meson liên kết một cách lỏng lẻo chứ – các hạt hạ nguyên tử được hình thành từ hai quark.  X (3872) được khám phá lần đầu tiên vào năm 2003 bằng thực nghiệm Belle, một máy gia tốc hạt ở Nhật Bản cho phép va chạm các electron và positron năng lượng cao. Trong môi trường đó, các hạt hiếm phân rã quá nhanh để các nhà khoa học kiểm tra cấu trúc chi tiết của chúng. Người ta nêu giả thuyết là X (3872) và các hạt lạ khác phải được hiểu một cách tốt hơn trong quark-gluon plasma.  “Về mặt lý thuyết, có quá nhiều quark và gluon trong plasma khiến việc tạo ra các hạt X phải được gia tăng”, Lee nói. “Nhưng người ta nghĩ quá khó để tìm thấy chúng bởi có quá nhiều hạt khác cũng được tạo ra trong nồi súp quark này”.   “Một tín hiệu thực sự”  Trong nghiên cứu mới này, Lee và cộng sự chờ đợi các tín hiệu của các hạt X ở trong quark-gluon plasma được tạo ra từ các va chạm ion nặng ở Máy gia tốc hạt lớn LHC của CERN. Họ dựa vào phân tích mà họ thực hiện với bộ dữ liệu năm 2018 LHC, vốn bao gồm hơn 12 tỉ va chạm ion chì, mỗi cuộc va chạm giải phóng quark và gluon được tán xạ và sáp nhập để hình thành hơn một nghìn triệu triệu hạt có thời gian sống ngắn trước khi giảm nhiệt độ và phân rã.  “Sau khi quark-gluon plasma hình thành và giảm nhiệt độ, có quá nhiều hạt được tạo ra”, Lee nói. “Vì vậy chúng tôi phải giảm số lượng đi để có thể cuối cùng tìm thấy các hạt X trong dữ liệu”.   Để làm điều này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một thuật toán học máy mà họ đã huấn luyện để chọn ra các mẫu hình có đặc điểm của các hạt X. Ngay lập tức, họ đã tìm ra các hạt “chị em”. Với các hạt X,   mẫu hình phân rã, hoặc sự phân bố góc, được phân biệt rõ ràng so với các hạt khác.  Các nhà nghiên cứu do postdoc Jing Wang ở MIT dẫn dắt, nhận diện được các biến thiên chính miêu tả hình dạng của mẫu hình phân rã hạt X. Họ huấn luyện một thuật toán học máy để ghi nhận các biến thiên đó, sau đó “nuôi” chúng bằng dữ liệu từ các thực nghiệm va chạm ở LHC. Thuật toán này có thể sàng lọc bộ dữ liệu có nhiều nhiễu và dậm đặc để chọn ra các biến chính dường như là kết quả của phân rã của các hạt X.  Các nhà nghiên cứu nhìn vào các tín hiệu đó và quan sát đỉnh tại một khối lượng cụ thể, chỉ dấu sự hiện diện cúa các hạt X (3872) với số lượng 100 hạt. “Hầu như không thể tin được là chúng tôi có thể sàng lọc được hơn 100 hạt từ bộ dữ liệu khổng lồ này” Lee nói. Hiện anh đang cùng với Wang kiểm tra lại quan sát của mình.  “Hằng đêm tôi tự hỏi chính mình, đây có phải thực sự là tín hiệu hay không?”, Wang kể lại. “Và cuối cùng thì dữ liệu đã ‘nói’ là đúng”.  Các nhà nghiên cứu lập kế hoạch trong năm tới hoặc một vài năm tới sẽ tập hợp thêm nhiều dữ liệu để giải thích cấu trúc của hạt X. Nếu hạt này chính là một tetraquark được kết cấu một cách chặt chẽ thì sự phân rã sẽ phải chậm hơn so với một phân tử lỏng lẻo. Hiện tại nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ các hạt X có thể dò được trong quark-gluon plasma nên họ muốn chứng tỏ hạt này với nhiều chi tiết hơn để xác định được cấu trúc của hạt X. “Chúng tôi không có đủ một thống kê cần thiết. Trong vài năm tới chúng tôi sẽ có thêm nhiều dữ liệu hơn để có thể phân tách thành hai kịch bản”, Lee nói. “Nó sẽ mở rộng cái nhìn của chúng tôi về các dạng hạt được tạo ra nhiều vô kể trong vũ trụ sớm”.   Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-exotic-particles-quark-gluon-plasma.html  http://www.sci-news.com/physics/x-3872-particles-quark-gluon-plasma-10488.html  https://news.mit.edu/2022/x-particles-quark-gluon-plasma-detection-0121     —————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.128.032001       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên đo được một phân tử phóng xạ có thời gian sống ngắn      Các nhà nghiên cứu tại MIT và một số cơ sở nghiên cứu khác đã kết hợp được sức mạnh của một máy siêu gia tốc với kỹ thuật của quang phổ laser để lần đầu tiên đo một cách chính xác một phân tử phóng xạ có thời gian tồn tại ngắn, radium monofluoride.    Độ chính xác của các nghiên cứu về những phân tử phóng xạ mở ra nhiều cơ hội cho các nhà nghiên cứu kiếm tìm một dạng vật lý mới ngoài Mô hình chuẩn, như những hiện tượng vi phạm các đối xứng cơ bản trong tự nhiên và tìm những dấu hiệu về vật chất tối. Kỹ thuật thực nghiệm của nhóm nghiên cứu này có thể được sử dụng để thực hiện những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về các phân tử phóng xạ được tạo ra trong các quá trình vật lý thiên văn.  “Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã tiến trên con đường đến các nghiên cứu có độ tính xác cao về các phân tử có thời gian sống ngắn, vốn có thể đưa ra một dạng phòng thí nghiệm mới và độc nhất vô nhị cho nghiên cứu vật lý cơ bản và những lĩnh vực khác”, Ronald Fernando Garcia Ruiz, nhà vật lý tại MIT và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.  Các đồng nghiệp của Garcia Ruiz bao gồm Alex Brinson, một người từng học ở MIT, cùng với một nhóm nghiên cứu quốc tế làm việc tại CERN. Kết quả nghiên cứu được xuất bản trên Nature.    Đảo chiều thời gian  Phân tử đơn giản nhất được tạo ra từ hai nguyên tử, mỗi nguyên tử có một hạt nhân chứa các proton và neutron khiến cho nguyên tử này nặng hơn nguyên tử khác. Mỗi hạt nhân được bao quanh một đám mây electron. Với sự hiện diện của một điện trường, các electron này có thể được tái phân bố để tạo ra một điện trường lớn hơn bên trong phân tử.  Các nhà vật lý đã sử dụng các phân tử và điện trường của chúng như những phòng thí nghiệm tối giản để nghiên cứu về những đặc tính cơ bản của electron và các hạt hạ nguyên tử khác. Ví dụ, khi một electron được giới hạn tương tác với điện trường của phân tử đó, năng lượng của nó có thể thay đổi, và các nhà khoa học có thể đo đạc để có thể suy ra các đặc tính của electron, như mô men lưỡng cực điện (electrostatic dipole moment), vốn có thể đem lại một phép đo đạc sự chuyển hướng khỏi dạng hình cầu.  Theo Mô hình Chuẩn của vật lý hạt, các hạt cơ bản có thể là hình cầu hoặc có một mô men lưỡng cực điện không đáng kể. Nếu một mô men lưỡng cực điện không đổi của một hạt hoặc một hệ đang tồn tại, nó có thể ngụ ý rằng các quá trình trong tự nhiên không đối xứng như các nhà vật lý giả định.  Ví dụ, các nhà vật lý tin rằng các quy luật cơ bản của tự nhiên có thể giữ không thay đổi với hướng thời gian – một nguyên tắc được biết như thời gian đảo chiều đối  xứng. Đó là, bất chấp việc liệu thời gian trôi theo hướng về phía trước hay sau, lực hấp dẫn, ví dụ, có thể là nguyên nhân của việc một quả bóng rơi khỏi vách đá, hoặc lăn vòng trở lại, dọc theo cùng đường với vận tốc và không gian. Dẫu sao, nếu một electron không ở dạng hình cầu hoàn hảo, nó có thể chỉ dấu là thời gian đảo ngược đối xứng bị vi phạm. Vi phạm này có thể đem lại một điều kiện cần thiết để giải thích tại sao lại có nhiều vật chất hơn phản vật chất trong vũ trụ của chúng ta.  Bằng việc nghiên cứu về các tương tác của một electron với các điện trường cực mạnh, các nhà nghiên cứu có thể có được cơ hội đo đạc một cách chính xác các mô men lưỡng cực điện của chúng. Trong các phân tử nhất định, các nguyên tử của chúng càng nặng thì các nội điện trường của chúng càng mạnh. Các phân tử phóng xạ – những phân tử chứa ít nhất một hạt nhân không bền – có thể được thiết kế để tối đa các nội điện trường của chúng. Dẫu sao, hạt nhân phóng xạ nặng có thể có các hình dạng như quả lê, vốn có thể khuếch đại các đặc tính vi phạm đối xứng của chúng.    Bởi vì các điện trường cao của chúng và những hình dạng hạt nhân độc nhất vô nhị, các nguyên tử phóng xạ có thể khiến các phòng thí nghiệm tự nhiên này chứng minh không chỉ về cấu trúc của electron mà còn cả các đặc tính hạt nhân vi phạm đối xứng. Nhưng các phân tử này có thời gian sống ngắn, và các nhà khoa học đã không thể bắt được chúng.  “Các phân tử phóng xạ này rất hiếm tồn tại trong tự nhiên và một vài phân tử trong số chúng không thể tồn tại trên hành tinh chúng ta mà chỉ có thể thấy được trong những quá trình vật lý thiên văn như các vụ nổ sao, hoặc những sáp nhập sao neutron”, Garcia Ruiz giải thích. “Vì vậy chúng tôi phải tạo ra chúng và những thách thức lớn nhất là chúng chỉ có thể được tạo ra trong một lượng nhỏ ở những mức nhiệt độ cao và có thời gian sống ngắn”.  Cái kim trong bóng tối   Nhóm nghiên cứu đã tìm kiếm theo cách tạo ra radium monoflouride (RaF) – một phân tử phóng xạ có một nguyên tử rất nặng và không bền, và một nguyên tử fluoride. Phân tử này được quan tâm đặc biệt bởi các đồng vị nhất định của hạt nhân radi tự chúng đã bất đối xứng, giống như quả lê, với nhiều bất đối xứng về khối lượng tại điểm cuối của hạt nhân hơn những hạt nhân khác.  Thêm nữa, các nhà vật lý lý thuyết sự đoán là cấu trúc năng lượng của radium monofluoride có thể khiến cho nguyên tử này tuân theo việc làm mát bằng laser, một kỹ thuật sử dụng các laser để hạ nhiệt độ của các phân tử, và làm chậm chúng đủ để thực hiện chính xác các nghiên cứu. Trong khi phần lớn các phân tử có nhiều trạng thái năng lượng chúng có thể chiếm giữ, với một số lượng lớn các trạng thái vi phạm và quay thì radium monofluoride thiên về những biến đổi electron giữa một vài mức năng lượng chính – một phân tử đơn giản một cách khác thường để kiểm soát, sử dụng sự làm lạnh bằng laser.  Nhóm nghiên cứu đã có thể đo đạc được các phân tử RaF bằng việc đầu tiên tạo ra một số lượng nhỏ phân tử này bằng thiết bị Trực tuyến Phân tách Khối  đồng vị (Isotope mass Separator On-Line ISOLDE) tại CERN, sau đó họ thao tác và nghiên cứu với laser bằng việc sử dụng thí nghiệm Quang phổ học ion hóa cộng hưởng cộng tuyến  (Collinear Resonance Ionization Spectroscopy CRIS).  Trong thí nghiệm của mình, các nhà nghiên cứu đã sử dụng máy gia tốc Proton Synchrotron Booster của CERN, một chuỗi các vòng tròn giữ các proton từ một máy gia tốc hạt và sau đó gia tốc chúng. Nhóm nghiên cứu đã bắn các proton này vào một bia được làm từ uranium carbide, tại các mức năng lượng cao đủ phá hủy uranium, tạo ra một “cơn mưa” proton và neutron được trộn thành một hạt nhân phóng xạ chứa radium.    Nhà nghiên cứu Ronald Fernando Garcia Ruiz.  Các nhà nghiên cứu sau đó bơm một luồng khí carbon tetrafluoride, vốn có thể tương tác với radium để tích điện tích, hoặc ion hóa các phân tử radium monofluoride, vốn được phân tách khỏi phần còn lại của uranium thông qua một hệ từ tách khối. Sau đó họ giữ chặt các phân tử trong một bẫy ion và bao bọc chúng bằng khí helium, làm lạnh các phân tử xuống mức đủ để cho các nhà nghiên cứu đo đạc chúng.  Tiếp theo, nhóm nghiên cứu đo các phân tử bằng việc tái gia tốc và đưa chúng qua CRIS, nơi các phân tử ion hóa tương tác với các nguyên tử sodium, đưa một electron vào mỗi phân tử để trung hòa chùm tia phân tử ngay tại chỗ. Các phân tử được trung hòa tiếp tục tham gia một vùng tương tác, nơi các nhà nghiên cứu rọi hai chùm laser – một đỏ, một xanh.  Họ đưa tần số của tia laser đỏ lên và xuống, rồi tìm thấy là lại những bước sóng nhất định, laser cộng hưởng với các phân tử đó, kích thích một electron trong phân tử với mức năng lượng khác, còn laser xanh đủ năng lượng để loại electron khỏi phân tử. Các phân tử được kích thích, ion hóa thêm lần nữa, đã chuyển hướng và được thu nhận lại trên một máy dò hạt, cho phép các nhà nghiên cứu đo đạc lần đầu tiên, các mức năng lượng của chúng, và các đặc tính của phân tử liên kết chứng minh cấu trúc của các phân tử thuận lợi cho việc làm lạnh bằng laser.  “Trước khi nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện thì tất cả các mức năng lượng của những phân tử này còn chưa được biết đến một cách rõ ràng”. Garcia Ruiz nói. “Nó giống như tìm một cái kim trong gian phòng tối với chiều rộng hàng trăm mét. Giờ đây chúng tôi đã tìm thấy cái kim, chúng tôi có thể đo đạc được đặc tính của cái kim đó và bắt đầu cuộc chơi với chúng”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-physicists-short-lived-radioactive-molecule.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên đưa ra thị trường thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm      Sự kiện Singapore phê duyệt đưa ra thị trường tế bào gà nuôi trong lò phản ứng sinh học được xem là một bước ngoặt quan trọng trong ngành công nghiệp thịt.      Bước đầu, món “Những miếng thịt gà” của Eat Just sẽ có mặt tại một nhà hàng ở Singapore. Ảnh: Hampton Creek/Eat Just.  “Những miếng thịt gà” (chicken bites) do công ty Eat Just của Mỹ sản xuất đã vượt qua vòng đánh giá về độ an toàn của Cơ quan Thực phẩm Singapore. Theo công ty này, việc phê duyệt sẽ mở ra một cánh cửa bước đến tương lai, khi chúng ta có thể sản xuất tất cả loại thịt mà không cần giết hại gia súc.   Hàng chục công ty đang phát triển thịt gà, thịt bò và thịt lợn nuôi cấy nhằm giảm thiểu tác động của ngành công nghiệp chăn nuôi đối với cuộc khủng hoảng khí hậu, cũng như cung cấp thịt sạch hơn, không bơm thuốc hay độc tố. Hiện nay, có khoảng 130 triệu con gà và 4 triệu con lợn bị giết mổ mỗi ngày để lấy thịt.   Công ty Eat Just nuôi các tế bào của sản phẩm “Những miếng thịt gà” trong một lò phản ứng sinh học (bioreactor) 1.200 lít, sau đó kết hợp chúng với các thành phần có nguồn gốc thực vật. Công ty cho biết giai đoạn đầu họ sẽ bán sản phẩm với số lượng có hạn tại một nhà hàng ở Singapore. Ban đầu, giá thành sẽ đắt hơn thịt gà thông thường khá nhiều, nhưng khi Eat Just mở rộng sản xuất thì cuối cùng nó sẽ rẻ hơn.   Để bắt đầu quy trình, họ sử dụng những tế bào từ một ngân hàng tế bào – không cần phải giết mổ gà vì có thể lấy tế bào này thông qua sinh thiết của động vật sống. Những chất dinh dưỡng dùng để nuôi tế bào đều có nguồn gốc thực vật. Môi trường nuôi cấy tế bào trong quy trình sản xuất ở Singapore bao gồm huyết thanh thai bò, nhưng các nhà nghiên cứu sẽ loại bỏ phần lớn chúng trước khi đưa ra tiêu thụ. Công ty cho biết họ sẽ sử dụng một loại huyết thanh có nguồn gốc thực vật trong dây chuyền sản xuất tiếp theo.   Một loạt các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng người dân ở các quốc gia giàu có đang ăn nhiều thịt hơn so với cần thiết. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy việc cắt giảm tiêu thụ ít sẽ góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu. Thậm chí một số nhà khoa học còn cho rằng đây là điều tốt nhất mà một người có thể làm vì môi trường.    Các công ty phát triển thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm tin rằng đây là sản phẩm hữu ích đối với những người đã cam kết không ăn thịt từ các nguồn giết mổ động vật truyền thống. Một số người cảm thấy chế độ ăn thuần chay không mấy hấp dẫn, và các món giả-thịt không phải lúc nào cũng mang lại hương vị thơm ngon như thịt thông thường. Thêm vào đó, thịt nuôi cấy trong lò phản ứng sinh học cũng tránh được các vấn đề ô nhiễm vi khuẩn từ chất thải động vật hay việc lạm dụng kháng sinh và hormone ở động vật.   Những thách thức  Hiện nay, công ty chỉ mới sản xuất thịt nuôi cấy trên quy mô nhỏ, quy trình này đòi hỏi sử dụng nhiều năng lượng và do đó phát thải carbon. Nhưng một khi mở rộng quy mô, các nhà sản xuất cho biết họ sẽ tạo ra lượng khí thải thấp hơn nhiều, cũng như sử dụng ít nước và đất hơn so với thịt thông thường.   Ngoài ra, họ cũng phải đối mặt với một số khó khăn bao gồm việc nhận được sự chấp thuận ở các quốc gia khác và tăng sản lượng. “Nếu chúng tôi muốn phục vụ toàn bộ đất nước Singapore, hay đưa sản phẩm này ra các nước khác trên thế giới, chúng tôi cần chuyển sang các lò phản ứng sinh học 10.000 lít hoặc 50.000 lít.  Eat Just đã có kinh nghiệm bán các sản phẩm không bắt nguồn từ động vật cho người tiêu dùng, chẳng hạn như trứng có nguồn gốc thực vật và sốt mayonnaise thuần chay. Một công ty khác, Supermeat.com ở Israel, cũng vừa tổ chức các buổi ăn thử miễn phí món “gà nuôi cấy giòn”.   Các chuyên gia trong ngành cho biết những công ty khác, bao gồm Memphis Meats, Mosa Meat và Aleph Farms, trong tương lai có thể kinh doanh đắt hàng bởi họ nghiên cứu các sản phẩm có đặc tính như bít tết và có thể sản xuất một số lượng lớn thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm ngay từ đầu. Tyson và Cargill, hai trong số các công ty thịt truyền thống lớn nhất thế giới, hiện có cổ phần trong Memphis Meats.   Báo cáo mới đây của công ty tư vấn toàn cầu AT Kearney dự đoán rằng vào năm 2040, hầu hết thịt mà ta dùng sẽ không bắt nguồn từ động vật. Đại diện công ty, ông Carsten Gerhardt cho hay: “’Cái gật đầu’ của Singapore – một quốc gia nổi tiếng về đổi mới sáng tạo – có thể sẽ thúc đẩy các quốc gia phát triển khác gia nhập vào thị trường này. Về lâu dài, chúng tôi tin rằng thịt nuôi cấy sẽ giúp giải quyết các vấn đề về sức khỏe và tác động môi trường mà ta đã phải đối diện khi sản xuất thịt truyền thống theo phương thức công nghiệp.”    “[Việc Singapore chấp thuận phân phối sản phẩm của Eat Just] là một bước tiến quan trọng đối với tương lai của ngành sản xuất thịt trên toàn cầu”, Bruce Friedrich, Viện Thực phẩm Chất lượng của Mỹ cho hay. “Cuộc đua cho tương lai ngành thực phẩm đã bắt đầu.” Ông cho biết, thịt nuôi cấy sẽ trở thành xu hướng phổ biến khi giá thành của nó trở nên phù hợp với người tiêu dùng.  Hsing Huang, tổng thư ký của Ban Thư ký Thịt Quốc tế (IMS), đại diện cho ngành thịt và chăn nuôi toàn cầu, đồng ý rằng sự kiện phê duyệt thịt nuôi cấy là một dấu ấn quan trọng. “Các công ty khác sẽ làm ra những sản phẩm tương tự”, ông nói. “Chúng tôi tin rằng thị trường cho thịt nuôi cấy sẽ rất lớn, vì người tiêu dùng nhìn chung đều tỏ ra hào hứng với hương vị và lợi ích dinh dưỡng của các sản phẩm từ động vật. Tất nhiên, quan điểm của chúng tôi là các sản phẩm từ động vật thật sẽ đáp ứng tốt hơn các nhu cầu này, nhưng chúng tôi cũng hoan nghênh mọi cuộc cạnh tranh lành mạnh.”  Ông nói thêm rằng ngành chăn nuôi hiện nay vẫn rất cần thiết, đó là sinh kế của khoảng một tỷ người nghèo trên toàn cầu. Ông cho hay IMS tin tưởng mạnh mẽ vào sự lựa chọn của người tiêu dùng, cũng như nhãn mác và quy định phù hợp.   Anh Thư dịch  Nguồn: No-kill, lab-grown meat to go on sale for first time    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên giải mã được bộ gene của bèo hoa dâu      Một nhóm các nhà khoa học đã chọn lọc được gene di truyền của bèo hoa dâu – trong một nghiên cứu vừa công bố trên Nature Plant. Điều đặc biệt là nghiên cứu này không có nguồn kinh phí từ ngân sách như thông lệ , mà chủ yếu thông qua huy động vốn cộng đồng.    Fay-Wei Li làm việc tại Viện nghiên cứu Boyce Thompson ở Ithaca (USA), từ khi  là sinh viên đã quan tâm đến bèo hoa dâu – có tên la tinh là Azolla filiculoides, và còn có tên là bèo dương xỉ. Cùng với các đồng sự, anh đã nghiên cứu sâu về gene của bèo hoa dâu. Bèo hoa dâu cộng sinh với vi khuẩn Cyano có khả năng thu hút một lượng lớn khí Nitơ, vì thế ở châu Á bèo dâu được dùng làm phân bón cho lúa. Tuy nhiên các nhà khoa học trẻ không nhận được kinh phí nghiên cứu với lý do dự án của họ “chưa thật sự quan trọng”.  Cuối cùng các nhà khoa học đã quyên góp được 22.160 USD từ 123 “nhà tài trợ” thông qua việc gọi vốn cộng đồng. Với dự án như thế này, khoản tiền đó là không nhiều. Tuy nhiên, một phòng thí nghiệm ở Trung quốc cho phép nhóm của Fay-Wei Li sử dụng thiết bị dịch vụ miễn phí nên các nhà nghiên cứu đã giải mã toàn bộ bộ gene.    Azolla filiculoides  “Bèo hoa dâu Azolla có đời sống sinh học và lịch sử tiến hoá đầy thú vị”, ông Li nói. Do bộ gene của vi khuẩn Cyano đã từng được giải mã, nên sau khi giải mã được bộ gene của bèo hoa dâu, các nhà khoa học đã có một phát hiện rất thú vị: dường như có chuyển giao gene (gentransfer) theo chiều ngang giữa vi khuẩn và bèo dâu.   Cây bèo hoa dâu có khả năng tạo ra một loại thuốc diệt trừ sâu bọ. “Khi ta đi trong rừng thường ngạc nhiên khi thấy cây dương xỉ hầu như không bị côn trùng phá hại”, Li nói. Một loại gene đặc biệt làm rõ đặc điểm này, và ở các loại cây khác không thấy có loại gene này. Có lẽ nó hình thành từ vi khuẩn Cyano. Có thể nói, theo Li, thì đây là một “món quà” về gene.  Hiện nay các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục giải mã các loại cây dương xỉ khác trong khuôn khổ dự án 10K Plant Genome Project. Mười loại cây đang chờ để được các nhà khoa học mổ xẻ, phân tích.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wissenschaft/natur/grosser-algenfarn-genom-durch-crowd-funding-sequenziert-a-1216449.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên khám phá hiện tượng rối lượng tử của nhiều nguyên tử      Khi trở thành nam châm hoặc siêu dẫn, các vật liệu thường mang nhiều đặc tính thú vị khác nhau. Tuy nhiên, các đặc tính này lại hay thay đổi một cách tự nhiên trong những điều kiện cực đoan. Các nhà nghiên cứu ở trường Đại học Kỹ thuật Dresden (TUD) và trường đại học Kỹ thuật München (TUM) đã khám phá ra một dạng hoàn toàn mới của các chuyển pha này. Họ đã thực hiện được hiện tượng rối lượng tử bao gồm nhiều nguyên tử, trước đây mới chỉ được quan sát ở một vài nguyên tử.     Kết quả mới được xuất bản trên Nature.  Bộ lông mới cho con mèo  Trong vật lý, con mèo của Schroedinger là một hiện tượng phúng dụ về hai trong số hiệu ứng truyền cảm hứng bậc nhất của cơ học lượng tử: rối và chồng chập lượng tử. Các nhà nghiên cứu từ Dresden và Munich mới quan sát được các hành xử đó trong một quy mô hiện tượng lớn hơn so với các hạt nhỏ nhất vũ trụ. Cho đến hiện giờ thì các vật liệu hiển thị những đặc tính đó, vốn được biết với tên gọi là các miền (domain) – những hòn đảo trong đó các đặc tính vật liệu hoặc thuần nhất hoặc thuộc về một dạng khác (hãy tưởng tượng ra chúng là đen hoặc trắng).  Hãy nhìn vào lithium holmium fluoride (LiHoF4), vật liệu mà mới đây các nhà vật lý khám phá ra một chuyển pha hoàn toàn mới, tại đó các miền thể hiện những đặc điểm cơ học lượng tử một cách vô cùng ngạc nhiên, dẫn đến các đặc tính của chúng trở nên rối (trở nên trắng và đen tại cùng một thời điểm). “Con mèo lượng tử của chúng tôi hiện tại có một bộ lông mới bởi vì chúng tôi đã khám phá ra một chuyển pha lượng tử mới trong LiHoF4 chưa từng được biết đến trước đây”, Matthias Vojta, Chủ tịch Vật lý lý thuyết chất rắn tại TUD, nói.  Các chuyển pha và rối lượng tử  Chúng ta có thể dễ dàng quan sát sự thay đổi của các đặc tính thuần nhất trong một vật chất nếu nhìn vào nước – tại mức 100 độ C, nó hóa thành hơi còn tại 0 độ C nó đông thành băng. Trong cả hai trường hợp, các trạng thái mới của vật chất đều là hệ quả của một chuyển pha, nơi các phân tử nước tái sắp xếp chính mình, dẫn đến sự thay đổi của đặc tính vật chất. Các đặc tính như từ hóa hoặc siêu dẫn xuất hiện như kết quả của các electron trải qua các chuyển pha trong tinh thể. Với các chuyển pha tại mức nhiệt độ chạm tới độ không tuyệt đối – 273.15 độ C, các hiện tượng cơ học lượng tử như rối và chuyển pha lượng tử đã phát huy tác dụng.  “Mặc dù có hơn 30 năm nghiên cứu sâu rộng về các chuyển pha  trong vật liệu lượng tử nhưng trước đây, chúng tôi mới đặt giả định là hiện tượng rối chỉ đóng vai trò ở cấp độ vi mô, nơi có sự tham gia của vài nguyên tử tại cùng một thời điểm”, Christian Pfleiderer, giáo sư Topology của các hệ tương quan tại TUM, nói.  Rối lượng tử là trạng thái trong đó các hạt lượng tử rối tồn tại trong một chia sẻ trạng thái chồng chập cho phép xuất hiện các đặc tính riêng biệt qua lại (ví dụ đen và trắng) một cách đồng thời. Như một quy tắc, cơ học lượng tử mới chỉ áp dụng ở các hạt vi mô. Các nhóm nghiên cứu ở Munich và Dresden đã thành công trong việc quan sát các hiệu ứng rối lượng tử ở quy mô lớn hơn với sự tham gia của hàng ngàn nguyên tử với hợp chất LiHoF4.  Các mẫu hình cầu cho phép đo đạc chính xác  Tại mức nhiệt độ cực thấp, LiHoF4 hành xử như một vật liệu sắt từ, nơi tất các các mô men từ đều chỉ theo cùng một hướng. Nếu đưa một từ trường vào hướng thích hợp, các mô men từ sẽ thay đổi hướng, tạo ra hiện tượng thăng giáng. Nếu cường độ từ trường cao hơn thì các thăng giáng này mạnh hơn cho đến khi cuối cùng hiện tượng sắt từ hoàn toàn biến mất tại một chuyển pha lượng tử. Điều đó dẫn đến rối các mô men từ lân cận. “Nếu giữ một mẫu LiHoF4 với một nam châm rất mạnh thì đột nhiên nó sẽ không còn từ tính nữa. Điều này đã được biết đến 25 năm trước”, Vojta nói.  Điều gì sẽ xảy ra khi thay đổi hướng từ trường? “Chúng tôi khám phá ra chuyển pha lượng tử tiếp tục xuất hiện, dẫu trước đây được tin là trong khi trước đây người ta tin rằng ngay cả độ nghiêng nhỏ nhất của từ trường cũng sẽ triệt tiêu nó”, Pfleiderer giải thích. Trong những điều kiện đó, tuy nhiên không phải các mô men từ đơn lẻ mà cả các khu vực từ mở rộng, hay còn gọi là các miền sắt từ, trải qua các chuyển pha lượng tử đó. Các miền tạo thành toàn bộ các đảo mô men từ chỉ cùng về một hướng.  “Chúng tôi đã sử dụng các mẫu hình cầu cho các phép đo chính xác của mình. Nó cho phép chúng tôi nghiên cứu một cách chính xác về hành xử phụ thuộc vào những thay đổi nhỏ theo hướng của từ trường”, Andreas Wendl, người thực hiện thí nghiệm này trong thời gian làm nghiên cứu sinh, cho biết.  Từ vật lý cơ bản đến ứng dụng  “Chúng tôi đã khám phá ra một dạng hoàn toàn mới của các chuyển pha lượng tử nơi rối lượng tử đóng vai trò trên quy mô hàng ngàn nguyên tử thay vì chỉ ở mức vài hạt”, Vojta giải thích. “Nếu anh tưởng tượng các miền từ tính như một mẫu hình đen và trắng, chuyển pha mới dẫn đến hoặc các khu vực đen hoặc trắng trở nên nhỏ hơn, tạo ra một mẫu hình lượng tử trước khi phân rã một cách hoàn toàn”. Một mô hình lý thuyết mới phát triển đã giải thích một cách thành công dữ liệu thu được từ thực nghiệm này.  “Với phân tích của chúng tôi, chúng tôi tổng quát hóa những mô hình cực nhỏ hiện có và tính đến những phản hồi của các miền sắt từ lớn đối với các đặc tính vi mô của nó”, Heike Eisenlohr, người thực hiện các tính toán trong quá trình làm luận văn nghiên cứu sinh tiến sĩ của mình. Phát hiện về những chuyển pha lượng tử mới quan trọng vì là nền tảng và khung tham chiếu chung cho các nghiên cứu về hiện tượng lượng tử trong vật liệu cũng như những ứng dụng mới. “Rối lượng tử được ứng dụng và sử dụng trong nhiều loại công nghệ như cảm biến lượng tử, máy tính lượng tử cùng nhiều thứ khác”, Vojta nói. Pfleiderer cho biết thêm, “Công trình của chúng tôi mới là phần nghiên cứu cơ bản, tuy nhiên có một tác động trực tiếp đến sự phát triển của những ứng dụng thực tiễn, nếu sử dụng các đặc tính của vật liệu có kiểm soát”.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-fur-quantum-cat-entanglement-atoms.html  https://www.mcqst.de/news-and-events/news/new-fur-for-the-quantum-cat.html    Author                .        
__label__tiasang Lần đầu tiên nuôi thành công mạch máu của người từ tế bào gốc      Bước đột phá y học này có thể giúp cải thiện đáng kể các phương pháp điều trị bệnh tiểu đường, bệnh Alzheimer, các vấn đề về tim mạch, ung thư và nhiều căn bệnh nguy hiểm khác.      Cấu trúc mô tả hệ thống mạch máu hình thành khi nuôi cấy  Lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu, các mạch máu người phát triển trong một đĩa nuôi cấy chứa các organoids (những mẫu mô nhỏ được nuôi cấy 3D có nguồn gốc từ tế bào gốc) có thể tái tạo những cơ quan phức tạp. Những nghiên cứu về organoids này được công bố vào ngày 16 tháng 1 năm 2019, trên tạp chí Nature.  Josef Penninger, người đứng đầu nghiên cứu này, là giám đốc Viện Khoa học sự sống tại Đại học Bristish Columbia, gọi nghiên cứu này là cuộc cách mạng đối với bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, vì nó có thể giúp cải thiện các phương pháp điều trị những biến chứng về mạch máu, một nguyên nhân gây tử vong phổ biến. Phát hiện này cũng đem lại những tiến bộ trong điều trị bất kỳ bệnh liên quan đến mạch máu.   “Mỗi cơ quan trong cơ thể chúng ta đều được liên kết với hệ thống tuần hoàn,” Penninger giải thích trong một thông cáo báo chí. “Do vậy, nghiên cứu này cho phép làm sáng tỏ nguyên nhân gây bệnh, từ đó đưa ra phương pháp điều trị cho nhiều loại bệnh mạch máu, từ bệnh Alzheimer, bệnh tim mạch, các vấn đề chữa lành vết thương, đột quỵ, ung thư và dĩ nhiên là bệnh tiểu đường”.   Trước đó, Penninger và các cộng sự đã cố gắng tìm ra nguyên nhân và phương pháp điều trị các triệu chứng của bệnh tiểu đường, bao gồm lưu thông máu yếu dẫn đến oxy cung cấp cho các mô giảm gây suy thận, đau tim, đột quỵ, mù và bệnh động mạch ngoại biên. Mặc dù tỷ lệ phổ biến của những hệ quả này khá cao, nhưng rất ít thông tin về sự suy giảm mạch máu được thấy ở những người mắc bệnh tiểu đường.   Sau khi nuôi thành công “Hệ thống mạch máu 3D từ các tế bào gốc đa năng” và ghép các mạch máu này lên chuột, họ thu nhận được kết quả là các mạch máu này có chức năng hoàn hảo, bao gồm cả động mạch và mao mạch. Các tế bào gốc đa năng có khả năng tự sao chép và tạo ra tất cả các tế bào của các mô trong cơ thể. Các mạch máu khi tạo ra giống hệt với cấu trúc và chức năng của các mạch máu người thật, có thể đưa vào thử nghiệm cận lâm sàng.  Các oganoids có sự tương đồng lớn với mao mạch của người, thậm chí ở mức độ phân tử, và bây giờ chúng có thể được dùng để nghiên cứu các bệnh về mạch máu trực tiếp trên cơ thể con người.  Nhóm nghiên cứu cũng cho biết thêm, nghiên cứu đã đưa đến việc phát hiện ra một loại enzyme trong cơ thể ngăn chặn sự dày lên của thành mạch máu – một triệu chứng chính của bệnh tiểu đường – trên mô hình động vật. Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân gây bệnh mạch máu cũng có thể được tìm ra và có phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa.  Huỳnh Thúy Oanh (Viện Tế bào gốc, ĐH KHTN TP.HCM) dịch  Nguồn tin và ảnh:  https://health.howstuffworks.com/human-body/parts/scientists-grow-human-blood-vessels-in-lab.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên sau 200 năm, màu xanh lam mới sẵn sàng để bán      Cái ống nhỏ bé đựng 40 ml màu xanh lam (hay còn gọi là xanh dương hay xanh nước biển), với giá đắt đỏ 179,40 USD, được Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) chấp thuận cho thương mại hóa trong lĩnh vực nghệ thuật, lại đến từ sự tình cờ.      Giáo sư Mas Subramanian trong phòng thí nghiệm với phát minh bất ngờ: màu xanh lam YInMn. Nguồn: trường ĐH Oregon  Nhiều nền văn hóa ở nhiều không gian và thời gian khác nhau đã sử dụng thứ màu lam huyền thoại (blue) với các sắc độ khác nhau như màu lam Ai Cập, màu xanh da trời Maya, lam tối Phổ (xanh Prussia), lam Hán… Kể từ thời cổ đại, nó đã là một màu quan trọng trong nghệ thuật và trang trí. Lapis lazuli (hay ngọc lapis, ngọc lưu ly) đã được sử dụng từ thời Ai Cập cổ đại để làm đồ trang sức, sau nữa đến thời kỳ Phục Hưng là để tạo màu lam sẫm (ultramarine), thứ đắt đỏ bậc nhất trong tất cả các màu, thậm chí theo tiến sĩ Abbie Vandivere (Phòng bảo tồn bảo tàng Mauritshuis Hà Lan) thì “ở thế kỷ 17, nó còn đắt hơn cả vàng”. Ngay cái tên ultramarine mang trong mình lịch sử của cả một giai đoạn: nó xuất phát từ tiếng Latin ultramarinus, nghĩa là “vượt qua biển cả” bởi màu này được nhập khẩu vào châu Âu từ những mỏ đá ở đông bắc Afghanistan với công lao của các thương gia Ý trong thế kỷ 14 và 15. Nó được nhiều họa sĩ nổi tiếng thời kỳ Phục Hưng và Baroque như Masaccio, Perugino, Titian, Vermeer… sử dụng để tô màu trang phục cho nhân vật trung tâm còn còn các họa sĩ trường phái Ấn tượng như Pierre-Auguste Renoir, Claude Monet, Alfred Sisley, Vincent van Gogh… dùng để tô bầu trời, mặt nước…     Trong bức “Chèo thuyền”, Pierre-Auguste Renoir sử dụng màu xanh lam để tô mặt nước. Nguồn: Bảo tàng tranh quốc gia Anh.​     Trong thế kỷ thứ 8, các nghệ sĩ Trung Quốc sử dụng màu xanh cobalt để tô màu cho đồ gốm hoa lam (mua từ các mỏ ở Ba Tư). Trong thời kỳ Trung cổ, các nghệ sĩ châu Âu đã sử dụng màu xanh này để trang trí các cửa sổ nhà thờ. Còn trang phục châu Âu được nhuộm màu bằng phẩm nhuộm chiết xuất từ cây tùng lam cho đến khi các nghệ nhân phát hiện ra chất nhuộm tốt hơn từ cây chàm châu Mỹ (indigo).      Cái tên YInMn dành cho màu mới là tập hợp ký hiệu các hợp chất trong bảng tuần hoàn: yttri, indi và mangan. Một trong những đặc tính trứ danh của nó là hấp thụ một cách hoàn toàn các bước sóng ánh sáng đỏ và xanh lá cây, vì vậy chỉ phản xạ màu xanh lam.      Đến thế kỷ 19, các chất nhuộm và màu vẽ màu lam tổng hợp đã thay thế cho các chất nhuộm hữu cơ và màu vẽ từ khoáng chất. Tuy nhiên thật đáng buồn là dù có bắt chước Mẹ thiên nhiên thì con người mới chỉ tạo ra những màu thứ cấp. Việc mơ ước tạo ra những màu tổng hợp với số lượng lớn và bền hơn tự nhiên gặp nhiều thất bại theo nhiều cách. Phức hợp vô cơ màu xanh lam gần nhất được thương mại hóa kể từ thế kỷ 19 là xanh cobalt lại có nhược điểm là không chỉ gây ngộ độc khi nuốt hoặc hít phải mà còn không chịu được bức xạ nhiệt, dễ bị phai màu theo thời gian.     Thành công từ sự tình cờ     Ngày nay, mọi màu xanh lam của chúng ta đều được các nhà hóa học tạo ra từ phòng thí nghiệm nhưng điều đó không có nghĩa là dễ dàng có được những sắc thái mới của màu này. Trong bối cảnh đó, giáo sư Mas Subramanian (trường Đại học Ohio, Mỹ) tìm ra màu xanh lam YInMn một cách tình cờ. “Bằng kinh nghiệm của mình, tôi biết màu xanh lam là một màu khó tạo ra. Phần lớn màu xanh lam trong tự nhiên không thực sự là màu xanh lam bởi chúng đều chủ yếu hình thành qua ánh sáng phản xạ lên các vật thể”, ông nói.     Vào năm 2008, giáo sư Subramanian nhận được tài trợ của Quỹ Khoa học Mỹ để khám phá về những vật liệu mới cho những ứng dụng trên linh kiện điện tử. Trong quá trình thực hiện dự án, ông đặc biệt quan tâm đến việc tổng hợp multiferroics – những vật chất có nhiều tính chất trong cùng một pha của vật liệu như các tính chất sắt (ferro): sắt từ, sắt điện hoặc phản sắt…, trên nền những ô xít mangan. Ông cùng với học trò là nghiên cứu sinh Andrew E. Smith, nghiên cứu một dung dịch ô xít đặc gồm vật liệu sắt điện YInO3 và vật liệu phản sắt từ YMnO3 được gia nhiệt tới gần 1.093°C. Kỳ lạ là thay vì một vật liệu điện tử mới có hiệu suất cao, những gì xuất hiện từ buồng đốt là một hợp chất xanh lam sáng – một màu xanh lam mà ngay lập tức giáo sư Subramanian hiểu là một kết quả đột phá. “Nếu tôi không có nền tảng hiểu biết về nghiên cứu trong ngành công nghiệp thì có thể tôi sẽ không biết đó là điều bất thường, một khám phá có tiềm năng thương mại hóa lớn”, ông đã trả lời trên New York Times vào năm 2020 như vậy (ông từng có thời gian làm cho DuPont, một công ty hóa chất lớn của Mỹ).      Màu xanh YInMn. Nguồn: trường ĐH Oregon   Subramanian chưa từng thấy màu xanh nào tương tự “nó sống động và rực rỡ hơn màu xanh cobalt và xanh Phổ”. Vì vậy, ông cho rằng nó sẽ phù hợp làm màu vẽ hơn là trong những thiết bị công nghệ. “Tôi rất tò mò muốn biết tại sao mangan lại có thể cho ra được màu này bởi vì nó ít khi được dùng làm nguyên liệu chế màu vẽ. Vì vậy tôi cũng thoáng nghĩ là có thể mình sai. Do đó tôi quyết định lặp lại thí nghiệm”, ông nói (mangan cũng từng được dùng để tạo một số màu đen và nâu nhạt chứ không phải màu lam).    Cái tên YInMn dành cho màu mới là tập hợp ký hiệu các hợp chất trong bảng tuần hoàn: yttri, indi và măng gan. Một trong những đặc tính trứ danh của nó là hấp thụ một cách hoàn toàn các bước sóng ánh sáng đỏ và xanh lá cây, vì vậy chỉ phản xạ màu xanh lam.    Cái đẹp của màu lam YInMn là ở chỗ không chỉ được tạo ra ở quy mô lớn trên cơ sở công thức của giáo sư Subramanian mà còn ở chỗ nó không độc, an toàn cho sử dụng – và có lẽ cũng thân thiện hơn với môi trường. “Việc được tổng hợp tại mức nhiệt độ rất cao cho thấy màu mới vô cùng bền, một đặc tính được chờ đợi trong một thời gian dài”, ông giải thích. “Nó không bị rã theo nước mưa hoặc trong bất kỳ điều kiện môi trường có a xít nào”.      Không chỉ các nhà sản xuất công nghiệp mà Bảo tàng nghệ thuật Harvard, cũng quan tâm đến YInMn và đưa nó vào bộ sưu tập màu Forbes với 2.500 màu của mình. Hiện YInMn chiếm một vị trí trưng bày ở tầng bốn với tên gọi “xanh đẹp” (“Bluetiful”, một cách chơi chữ ghép từ blue và từ beautiful).      Đường đến thị trường     Subramanian và Smith cùng với một giáo sư hóa học khác của trường là Arthur Sleight đã đăng ký sáng chế về vật liệu YInMn trước khi xuất bản công bố về khám phá của họ trên tạp chí Journal of the American Chemical Society. Không lâu sau đó, Geoffrey Peake, người phụ trách mảng R&D tại The Shepherd Color Co., một công ty chuyên về các màu vô cơ, đã liên hệ với trường để xúc tiến thử nghiệm màu mới. Không giống như các công ty khác, Shepherd Color chỉ quan tâm đến việc đưa nó vào sơn và nhựa để ứng dụng trên gốm và kim loại, vốn đòi hỏi tính bền của màu khi sử dụng cho các đồ vật hoặc trang trí ngoài trời. “Đó là lý do tại sao không cái tên nào phù hợp với màu lam này hơn YInMn cả. Với một nhà sản xuất công nghiệp thì không nhất thiết phải tìm ra một cái tên câu khách”, Peake giải thích.    Công ty Shepherd thường trông chờ bốn điều thú vị ở màu mới, Peake nói, đó là màu mới có tông mạnh hơn các màu tương tự đang có trên thị trường không? có thể chống chịu lại nhiệt độ và thời tiết không? có lợi thế về giá cả không? có đòi hỏi bất kỳ điều chỉnh hay vấn đề nào về môi trường không? “Ngay lập tức có thể nói đây là một màu đặc biệt bởi vì nó phản xạ nhiệt hơn cả màu xanh cobalt. Nó thực sự bền và thực sự là màu xuất sắc như màu đá lapis”, Subramanian nói.     Việc phát triển YInMn ở Shepherd đã đem công việc mới cho TS. Andrew E. Smith vào năm 2010 và tới tháng 9/2017, EPA chấp thuận đề xuất sử dụng trong công nghiệp. “Khi khám phá một màu mới, cần phải chứng minh có thể sản xuất ở quy mô lớn và được trao giấy phép thương mại hóa sản phẩm. Cần phải tiến hành những bước tiếp theo”, Peake cho biết còn Subramanian bổ sung “để nhà sản xuất sử dụng công thức một cách dễ dàng hơn, cần rất nhiều thử nghiệm, và sau đó cũng thật khó để thuyết phục EPA”.    Không chỉ các nhà sản xuất công nghiệp mà Bảo tàng nghệ thuật Harvard, cũng quan tâm đến YInMn và đưa nó vào bộ sưu tập màu Forbes với 2.500 màu của mình. Narayan Khandekar, một nhà khoa học bảo tồn và giám đốc của Trung tâm Bảo tồn và nghiên cứu kỹ thuật Straus tại bảo tàng, cũng theo sát sự phát triển của màu này trong nhiều năm và đón nhận những mẫu YInMn sớm nhất để đưa nó vào bảo tàng. Hiện YInMn chiếm một vị trí trưng bày ở tầng bốn với tên gọi “xanh đẹp” (“Bluetiful”, một cách chơi chữ ghép từ blue và từ beautiful).    Màu của giáo sư Subramanian được đưa vào bộ sưu tập bởi đó là một ví dụ hiếm về một màu hiện đại, hoàn toàn tương phản với rất nhiều màu lam đã có từ thời Trung cổ trong bộ sưu tập này. Khandekar nói với giáo sư Subramanian, “anh đã có được một màu ultramarine tổng hợp, màu xuất hiện từ năm 1826 và đây là tổng hợp một màu đã biết. Rất hiếm khi có được một màu vô cơ tổng hợp như vậy”. Ngay cả trong thời gian 27 năm làm việc thì Peake cũng chỉ chứng kiến năm hoặc sáu màu vô cơ được tổng hợp thành công.      Thế giới nghệ thuật rộng mở     Màu xanh lam là màu lạnh nhất, nó gợi những cảm xúc khác biệt: cô đơn, thiêng liêng, sầu muộn và cả nổi loạn. Đây là lý do mà Crayola, công ty chuyên về màu vẽ hàng đầu thế giới đã giành được quyền thương mại hóa YInMn trong lĩnh vực nghệ thuật. “Chúng tôi cố gắng giữ tính đổi mới và sự thời thượng cho bảng màu của mình, đó là lý do tại sao chúng tôi vô cùng phấn khích giới thiệu màu xanh lam mới được truyền cảm hứng từ YInMn”, Smith Holland, CEO và chủ tịch Crayola, nói trong một thông cáo báo chí.    Một số nhà sản xuất màu vẽ khác cũng nắm bắt được ngọn gió mới. Kremer Pigmente ở Aichstetten, Đức và Golden Artist Colors ở New Berlin, New York, muốn đặt quyền cung cấp màu YInMn Blue cho thế giới nghệ thuật và phải chờ đợi nhiều năm để đón nhận một chút màu xanh lam này. “Chúng tôi phải nói với nhiều nghệ sĩ là chúng tôi có thể không được phép bán vật liệu này”, Jodi L. O’Dell, người phụ trách truyền thông ở Golden kể với Artnet News về sự chờ đợi sản phẩm được phép thương mại hóa. Nhưng đó là sự chờ đợi đáng giá bởi “YInMn xứng đáng lấp đầy khoảng trống trong dải màu sắc,” Georg Kremer, người sáng lập và chủ tịch Kremer, hào hứng nói. “Các khách hàng  của chúng tôi đều yêu nó ngay từ khoảng khắc đầu tiên thấy nó”. Ví dụ Michael Rothman, một họa sĩ chuyên về minh họa khoa học ở Connecticut, đã thử dùng màu YInMn từ lúc nó chưa được chấp nhận thương mại, trộn bột khô với nhựa thông dạng nhũ tương rồi tô bộ lông của một con chim được tin là cổ nhất thế giới từng tồn tại 47 triệu năm trước.     Subramanian không hề ngạc nhiên về điều này. “Dù với tôi hóa học hấp dẫn hơn nghệ thuật nhưng nếu là một nghệ sĩ, tôi luôn ước ao thử cái gì đó mới mẻ. Thật vui sướng khi sử dụng một màu hoàn toàn mới”.    Tuy nhiên không phải họa sĩ nào cũng hào hứng bởi nó quá đắt đỏ. Gail Fishback của Cửa hàng nghệ thuật Ý ở Maine, Mỹ, nói nó đắt gấp sáu lần những màu đắt nhất hiện nay. “Tôi cho rằng phần lớn khách hàng đang mua nó vì tò mò và vì muốn khoe khoang”, cô nhận xét. Cửa hàng này bán màu xanh lam với mức giá 179,40 USD cho ống màu 40 ml trong khi các màu khác chỉ có 8,70 USD một ống 75 ml.    Đó cũng là lý do vì sao một số công ty như Turner Colour Works Ltd., Holbein, và Kusakabe đều quyết định không đưa nó vào dòng sản phẩm của mình. Trong một thông cáo báo chí, công ty Gamblin Artists Colors nhấn mạnh “giá cả quá cao so với khả năng chi trả của họa sĩ”. Tuy nhiên O’Dell vẫn cho rằng “nhu cầu về sản phẩm vẫn gia tăng một cách bền vững”.     Cũng có những người phản đối màu mới khi cho là không thấy nhiều khác biệt giữa màu xanh biển và YInMn. Nhưng giáo sư Subramanian cho rằng “đây là khám phá vô cùng đặc biệt bởi lần đầu tiên một khám phá của tôi chạm đến những thành phần đa dạng của xã hội – họa sĩ, kiến trúc sư, những nhà công nghiệp thời trang, thậm chí cả ngành công nghiệp mỹ phẩm. Chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng là phát hiện của mình có thể đi xa đến thế” và nói thêm “nó đã thay đổi đời tôi”.     Có lẽ, Subramanian đã đúng bởi ông không tìm vật liệu mới cho ngành điện tử nữa. Dự án mà ông hiện theo đuổi là tìm kiếm một màu đỏ đẹp hơn, một màu thường có xu hướng đến từ những kim loại nặng hoặc những chất liệu độc tố cao như thủy ngân và chì. Điều đó có nghĩa là có thách thức rất lớn trên đường tìm ra màu đỏ hoàn hảo về sắc độ, tính bền và cả phi độc tố. Chúng ta sẽ cùng chờ xem. □      Tô Vân tổng hợp     Nguồn: https://www.nytimes.com/2021/02/05/style/blue-pigment-YInMn.html  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/first-blue-pigment-discovered-200-years-finally-sale-180976769/  https://news.artnet.com/art-world/yinmn-blue-comes-market-1921665    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên sau hơn 3 năm, CPI tụt về âm      Sau 40 tháng liên tục tăng ở ngưỡng dương,  chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tháng 6 đã bắt đầu giảm phát với mức  âm 0,26% và là mức tăng thấp nhất so với các tháng 6 kể từ năm 2003.    Đây là thông tin được Tổng cục Thống kê công bố ngày 24-6.  Với mức tăng trưởng âm này, CPI sáu tháng qua chỉ tăng 2,52 % so với tháng 12-2011 và tăng 12,2% so với bình quân sáu tháng cùng kỳ 2011.  Vụ trưởng Vụ Giá – Tổng cục Thống kê Nguyễn Đức Thắng cho biết CPI tháng 6 lần đầu tiên giảm phát sau 40 tháng tăng liên tục là do ba nhóm hàng hóa chiếm tỉ trọng lớn nhất theo thứ tự trong rổ hàng hóa chung gồm hàng ăn, dịch vụ ăn uống (chiếm gần 40%); nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (chiếm trên 10%); giao thông (gần 9%) đều có mức giảm rõ rệt.  Thêm vào đó, chiếm tỉ trọng khoảng 30% trong CPI chung, việc giảm phát tại cả hai thành phố đầu tàu kinh tế của cả nước là Hà Nội (âm 0,17%) và TP.HCM (âm 0,43%) đã tạo ra lực kéo mạnh khiến CPI cả nước giảm mạnh theo.  Đặc biệt, việc CPI tháng 6 cả nước đánh dấu mốc giảm phát sau nhiều tháng tăng với mức độ cực thấp chính là hệ quả của sức tiêu dùng bị suy giảm nghiêm trọng khi chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát đã bắt đầu nảy sinh các “tác dụng phụ” không mong muốn, ông Thắng nhấn mạnh.  CPI tháng 6 giảm ở 5/11 nhóm trong rổ hàng hóa chung với mức giảm từ 0,02%-1,64%; trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông và giảm nhẹ nhất là nhóm bưu chính viễn thông.  Cụ thể, việc giá xăng dầu được điều chỉnh giảm 4 lần liên tiếp trong các ngày 9-5, 23-5, 7-6 và 21-6 với tổng mức giảm giá là 2.600 đồng/lít so với thời điểm cuối tháng tư đã kéo nhóm giao thông giảm tới 1,64%; trong đó riêng chỉ số giá xăng dầu giảm 3,75% so với tháng 5.  Với nhóm nhà ở – điện nước – chất đốt và vật liệu xây dựng, việc giá gas trong nước giảm tới 7,83% theo giá gas thế giới; giá vật liệu xây dựng giảm 0,17% do tồn kho quá nhiều; giá dầu hỏa giảm 1,64% qua các lần điều chỉnh liên tiếp đã khiến nhóm chiếm quyền số lớn thứ hai trong rổ hàng hóa chung này giảm tới 1,21%.  Với nhóm chiếm tỉ trọng lớn nhất trong rổ hàng hóa là hàng ăn và dịch vụ ăn uống, việc lương thực tiếp tục giảm giá 0,78% và thực phẩm giảm 0,31% đã khiến CPI chung cả nhóm giảm 0,23%.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên xác nhận lý thuyết lỗ đen của Hawking thông qua quan sát      Dựa vào sóng hấp dẫn, nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho thấy tổng diện tích chân trời sự kiện của lỗ đen sẽ không bao giờ giảm.      Các nhà khoa học đã lần đầu tiên sử dụng dữ liệu quan sát về sóng hấp dẫn dể xác nhận định lý diện tích Hawking. Mô phỏng máy tính cho thấy sự va chạm giữa hai lỗ đen tạo ra tín hiệu sóng hấp dẫn, GW150914. Ảnh: Mô phỏng dự án eXtreme Spacetimes (SXS).   Có một số quy tắc mà ngay cả những vật thể cực đoan nhất trong vũ trụ cũng phải tuân theo. Một định luật trung tâm về lỗ đen dự đoán chân trời sự kiện của chúng – ranh giới mà một khi vật chất vượt qua sẽ không thể thoát ra ngoài – không bao giờ có thể bị thu hẹp. Đây là định lý diện tích Hawking – đặt theo tên nhà vật lý Stephen Hawking và do chính ông đưa ra vào năm 1971.    Năm mươi năm sau đó, các nhà vật lý tại Viện Công nghệ Massachusetts và các nơi khác lần đầu tiên xác nhận định lý diện tích Hawking là chính xác nhờ sử dụng dữ liệu quan sát về sóng hấp dẫn. Họ đã công bố kết quả nghiên cứu này trên tạp chí Physical Review Letters.  Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã cẩn thận quan sát GW150914, tín hiệu sóng hấp dẫn đầu tiên được Đài quan trắc Sóng hấp dẫn bằng Giao thoa kế Laser (LIGO) ghi nhận năm 2015. Tín hiệu này phát ra từ hai lỗ đen quay quanh nhau theo quỹ đạo xoắn ốc cho đến khi sáp nhập thành một lỗ đen mới và giải phóng năng lượng cực lớn lan truyền trong không-thời gian dưới dạng sóng hấp dẫn.  Nếu định lý diện tích của Hawking là chính xác, thì diện tích chân trời sự kiện của lỗ đen mới sẽ không được nhỏ hơn tổng diện tích chân trời sự kiện của hai lỗ đen mẹ. Trong nghiên cứu mới, các nhà vật lý tiến hành phân tích lại tín hiệu từ GW150914 trước và sau vụ va chạm trong vũ trụ. Thật vậy, họ nhận thấy tổng diện tích chân trời sự kiện đã không giảm sau khi hai lỗ đen hợp nhất – kết quả được họ công bố với độ tin cậy đạt 95%.  Phát hiện của nhóm nghiên cứu đánh dấu lần đầu tiên định lý diện tích Hawking được kiểm chứng thông qua quan sát trực tiếp. Trước đó, định lý này tuy đã được chứng minh về mặt toán học, song chưa bao giờ được kiểm nghiệm bằng quan sát trong tự nhiên. Nhóm nghiên cứu có kế hoạch kiểm tra các tín hiệu sóng hấp dẫn trong tương lai, nhằm xem xét liệu chúng có là bằng chứng để củng cố khẳng định về định lý Hawking hay dấu hiệu về một dạng vật lý mới.  Maximiliano Isi, tác giả chính của bài báo, nghiên cứu sinh chương trình NASA Einstein làm việc tại Viện Nghiên cứu Vật lý Thiên văn và Không gian Kavli tại MIT, cho biết: “Rất có thể tồn tại một loạt các vật thể compact khác nhau. Một vài trong số đó là các lỗ đen tuân theo các quy luật vật lý của Einstein và Hawking, trong khi những vật thể còn lại có thể hơi kỳ dị một chút. Bởi vậy, thử nghiệm này không phải làm một lần đã xong mà mới chỉ là bước khởi đầu.”  Ngoài Isi, các tác giả còn lại đứng tên trong bài báo là Will Farr thuộc Đại học Stony Brook và Trung tâm Vật lý Thiên văn Tính toán tại Viện Flatiron, Matthew Giesler thuộc Đại học Cornell, Mark Scheel thuộc Viện Công nghệ California, và Saul Teukolsky thuộc Đại học Cornell và Viện Công nghệ California.  Kỷ nguyên của những khám phá sâu sắc  Năm 1971, Stephen Hawking đưa ra định lý diện tích, từ đó mở ra một loạt những hiểu biết cơ bản về cơ học lỗ đen. Định lý này dự đoán tổng diện tích chân trời sự kiện của một lỗ đen – và nhìn chung của tất cả lỗ đen trong vũ trụ – sẽ không bao giờ giảm. Phát biểu này rất giống với định luật thứ hai của nhiệt động lực học, vốn khẳng định entropy, hay mức độ hỗn loạn của một vật, luôn tăng chứ không giảm.  Sự tương đồng giữa hai lý thuyết gợi ý, lỗ đen có thể hoạt động như các vật thể phát nhiệt – đây là một mệnh đề khó hiểu, bởi người ta tin rằng lỗ đen về bản chất không thể cho phép năng lượng thoát ra, hoặc phát xạ. Vào năm 1974, Hawking cuối cùng đã giải quyết mâu thuẫn giữa hai quan điểm này khi chỉ ra lỗ đen có thể có entropy và phát ra bức xạ trong thang thời gian rất dài nếu tính đến các hiệu ứng lượng tử của chúng. Hiện tượng này được gọi là “bức xạ Hawking” và cho đến nay vẫn là một trong những khám phá cơ bản nhất về lỗ đen.  Isi cho hay: “Tất cả bắt nguồn từ nhận định của Hawking về tổng diện tích chân trời sự kiện không bao giờ giảm của lỗ đen. Định lý diện tích này đã tóm gọn thời đại hoàng kim những năm 1970, khi những khám phá thiên văn đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc về vũ trụ.  Hawking và những người khác đã chứng minh rằng định lý diện tích hợp lý về mặt toán học nhưng không có cách nào kiểm tra nó trong tự nhiên, cho đến khi LIGO phát hiện ra sóng hấp dẫn.  Sau khi nghe tin, Hawking nhanh chóng liên lạc với nhà đồng sáng lập LIGO là Kip Thorne, giáo sư Vật lý Lý thuyết Feynman tại Viện Công nghệ California. Câu hỏi của ông: Liệu phát hiện này có thể kiểm chứng định lý diện tích hay không?  Tại thời điểm đó, giới nghiên cứu không có khả năng lọc ra những thông tin cần thiết từ tín hiệu sóng hấp dẫn, trước và sau vụ sáp nhập lỗ đen, nhằm xác định xem liệu diện tích chân trời sự kiện cuối cùng có đúng là không giảm đi như dự đoán của Hawking hay không. Phải đến vài năm sau, khi Isi và đồng nghiệp đã phát triển một kỹ thuật mới, giới khoa học mới có thể kiểm nghiệm định lý diện tích trong thực tế.       Định lý diện tích Hawking được đặt theo tên nhà vật lý Stephen Hawking và do chính ông đưa ra vào năm 1971. Ảnh: CPR     Trước và sau    Vào năm 2019, Isi và đồng nghiệp đã phát triển một kỹ thuật cho phép trích xuất âm thanh dội lại ngay sau khi GW150914 đạt đỉnh – thời khắc hai lỗ đen mẹ va chạm và hợp thành một lỗ đen mới. Nhóm nghiên cứu sử dụng công nghệ này để lọc ra các tần số cụ thể từ những dạng âm thanh nhiễu loạn phát ra từ vụ sáp nhập, từ đó tính toán được khối lượng và spin của lỗ đen cuối cùng.  Khối lượng và spin của một lỗ đen liên quan trực tiếp đến diện tích chân trời sự kiện của nó. Từ mối băn khoăn của Hawking, Thorne đặt thêm một câu hỏi về những đặc tính này: Liệu họ có thể sử dụng kỹ thuật tương tự để so sánh tín hiệu trước và sau vụ sáp nhập, và xác nhận định lý diện tích hay không?  Các nhà nghiên cứu chấp nhận thử thách và một lần nữa phân tách tín hiệu GW150914 khi đạt đỉnh. Họ phát triển một mô hình nhằm phân tích tín hiệu trước đỉnh, tương ứng với hai lỗ đen đang xích lại gần nhau theo quỹ đạo xoắn ốc, và xác định khối lượng và spin của chúng trước khi hợp nhất. Dựa trên những ước tính này, họ tính ra tổng diện tích chân trời sự kiện của cặp lỗ đen – vào khoảng 235.000 km2, gấp chín lần diện tích tiểu bang Massachusetts.  Sau đó, họ sử dụng kỹ thuật trước đó để trích xuất tiếng lỗ đen mới hình thành, từ đó tính toán khối lượng và spin của nó, và sau cùng là diện tích chân trời sự kiện. Con số sau cùng được tính ra rơi vào khoảng 367.000 km2, tương đương với 13 lần diện tích tiểu bang Massachusetts.  Theo Isi, “Dữ liệu cho thấy diện tích chân trời sự kiện gần như chắc chắn đã tăng lên sau khi hai lỗ đen hợp nhất, và xác suất thỏa mãn định lý diện tích là rất cao. Thật nhẹ nhõm khi kết quả của chúng tôi phù hợp với mô hình dự kiến và xác nhận hiểu biết của chúng tôi về những vụ sáp nhập lỗ đen phức tạp như thế này.”  Nhóm nghiên cứu có kế hoạch sử dụng dữ liệu thu thập từ LIGO và Virgo, một đài quan trắc sóng hấp dẫn khác đặt tại Ý, nhằm tiếp tục kiểm tra định lý diện tích của Hawking và các lý thuyết cơ học lỗ đen lâu đời khác.  Isi cho biết: “Điều đáng mừng là giờ đây chúng ta có thể suy nghĩ về dữ liệu sóng hấp dẫn theo những cách mới và sáng tạo, và đặt những câu hỏi mà trước đây ta nghĩ rằng không thể được đặt ra. Chúng ta có thể tiếp tục khơi ra những mẩu thông tin đối thoại trực tiếp với những trụ cột trong hiểu biết hiện tại của con người. Một ngày nào đó, lượng dữ liệu này có thể tiết lộ điều mà chúng ta chưa từng ngờ tới.    Hà Trang dịch     Nguồn: Physicists observationally confirm Hawking’s black hole theorem for the first time    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên xác nhận vật chất “lạ” bằng thực nghiệm      Các nguyên tử “lạ” có các electron được thay thế bằng các hạt hạ nguyên tử cùng điện tích cho phép các nhà nghiên cứu nhìn sâu vào thế giới lượng tử. Sau tám năm nghiên cứu, một nhóm các nhà nghiên cứu do nhà vật lý Masaki Hori tại Viện nghiên cứu Quang lượng tử Max Planck ở Garching, Đức, dẫn dắt đã thành công với một thí nghiệm đầy thách thức.      Thí nghiệm mà họ thực hiện là trong một nguyên tử helium atom, họ thay thế một electron bằng một pion trong một trạng thái lượng tử đặc biệt và lần đầu tiên, xác thực sự tồn tại của heli pion có thời gian tồn tại dài này. Với cách làm này, pion vốn có thời gian “sống” ngắn có thể tồn tại lâu hơn 1000 lần so với những vật chất thông thường. Các pion thuộc về một họ các hạt quan trọng, được quyết định sự ổn định và phân rã của các hạt nhân nguyên tử. Nguyên tử heli pion có thể cho phép các nhà khoa học nghiên cứu về các pion trong một phương thức vô cùng chính xác là sử dụng quang phổ laser.   Nghiên cứu này được xuất bản trên Nature với tiêu đề “Laser spectroscopy of pionic helium atoms”.   Trong vòng tám năm, nhóm nghiên cứu đã kiên trì thực hiện thí nghiệm đầy thách thức này, thí nghiệm được đánh giá là có tiềm năng mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới. Họ đã trở thành những người đầu tiên chứng minh được các hạt heli pion thực sự tồn tại. “Đây là một hình thức của phản ứng hóa học xảy ra một cách tự động”, Hori giải thích. Nguyên tử “lạ” này được dự đoán về mặt lý thuyết vào năm 1964 sau các thí nghiệm được thực hiện vào thời điểm đó chỉ có thể ra có sự tồn tại của nó. Dù vậy thì vẫn còn vô cùng khó khăn để chứng tỏ dự đoán này về mặt thực nghiệm. Thông thường trong một nguyên tử, pion tồn tại trong khoảng thời gian cực ngắn và phân rã một cách nhanh chóng. Trong heli pion, có thể nó được duy trì trong khoảng thời gian lâu hơn 1000 lần so với các nguyên tử khác.  “Súng phun khói”  Thách thức mà nhóm nghiên cứu phải đối mặt trong tám năm là chứng minh rằng một heli pion tồn tại trong một bể chứa đầy heli siêu lỏng và lạnh. Trong nguyên tử heli này, pion hành xử như một electron rất nặng. Nó chỉ có thể nhảy giữa các trạng thái lượng tử rời rạc, tương tự như việc trèo lên từng bậc thang dây. Nhóm nghiên cứu phải tìm ra một trạng thái tồn tại trong thời gian dài và một bước nhảy lượng tử đặc biệt, trong đó họ kích thích một tia laser và có thể “giật” pion nhảy vào các hạt nhân heli và phá hủy nguyên tử đó như một “khẩu súng phun khói”. Sau đó, nhóm nghiên cứu dò mảnh vỡ từ các hạt nhân bị phá vỡ đó. Dẫu vậy thì các nhà lý thuyết không thể dự đoán một cách chính xác tại điểm nào bước sóng ánh sáng của bước nhảy lượng tử xuất hiện. Vì vậy nhóm nghiên cứu đã phải lắp đặt ba hệ laser phức hợp, cái nọ nối tiếp cái kia, cho đến khi họ thành công.    “Thành công này mở ra những con đường hoàn toàn mới để tìm hiểu về các pion với những phương pháp quang lượng tử”, Hori nói. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng quang phổ laser, một trong những công cụ chính xác bậc nhất của vật lý. Do đó, các pion trong các trạng thái lượng tử có thể được nghiên cứu với độ chính xác cao hơn so với trước đây.  Một cánh cửa mới vào vũ trụ lượng tử  Pion thuộc về họ các hạt được gọi là các hạt meson. Chúng là các hạt trung gian trong lực tương tác mạnh giữa các khối cơ bản của hạt nhân nguyên tử là các neutron và các proton. Dẫu các proton có cùng điện tích đẩy nhau một cách dữ dội nhưng lực tương tác hạt nhân mạnh hơn đã liên kết chúng với nhau để hình thành các hạt nhân nguyên tử. Không có lực này, thế giới của chúng ta không thể tồn tại. Các hạt meson về cơ bản khác biệt với các proton và neutron – thường được tạo ra bằng ba hạt quark, trong khi các hạt meson chỉ bao gồm hai quark.  Thí nghiệm của các nhà nghiên cứu Viện nghiên cứu Quang lượng tử Max Planck đã được hình thành với việc sử dụng nguồn pion mạnh bậc nhất thế giới, vốn được đặt tại Viện nghiên cứu Paul Scherrer (PSI). Do sự rủi ro của thất bại ở mức rấy cao và trên đường tới thành công “hứa hẹn” vô số thất bại nên nhóm nghiên cứu đã cần sự ủng hộ dài hạn của cả PSI và Hội Max Planck (MPG). PSI hỗ trợ họ việc thực hiện thí nghiệm trên thiết bị tạo nguồn pion, các nhóm hỗ trợ kỹ thuật tại CERN cung cấp một phần quan trọng về thiết bị thí nghiệm, còn MPG tạo điều kiện nghiên cứu dài hạn. Quan trọng không kém, dự án này được Hội đồng nghiên cứu châu Âu (European Research Council ERC) tài trợ kinh phí.  TS. Hori hi vọng nghiên cứu này sẽ mở ra một cánh  cửa mới vào vũ trụ lượng tử với các hạt và lực tương tác.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-long-lived-pionic-helium-exotic-experimentally.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tổ chức hội thảo quốc tế về y học cá thể ở Việt Nam      Y học cá thể (personalized medicine), một lĩnh vực “mới” và “nóng” của y học thế giới, sẽ được thảo luận tại hội nghị Y Dược Di truyền 2017 (Genomic Medicine) do Khoa Công nghệ sinh học (trường Đại học Quốc tế – ĐHQG TPHCM) phối hợp với Viện nghiên cứu Hệ Gene Singapore tổ chức. Là phương pháp điều trị phân loại bệnh nhân vào các nhóm khác nhau với các quyết định điều trị, can thiệp và chỉ định thuốc phù hợp với từng người bệnh dựa trên các dữ liệu về gene, y học cá thể rất có tiềm năng ứng dụng trong điều trị các bệnh ung thư.      Khi hiểu rõ về bộ gene của từng người thì việc dự đoán bệnh, dự đoán khả năng phản ứng với thuốc cũng như phân tích và lựa chọn thuốc sẽ dễ dàng hơn  Diễn ra trong hai ngày 17 và 18/8 tại đại học Quốc tế, TPHCM, hội nghị Y Dược Di truyền 2017 được các nhà tổ chức hy vọng sẽ đem lại cái nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa tin sinh học với Big Data, những bước tiến mới về công nghệ gene và ứng dụng của nó trong việc chăm sóc sức khỏe con người. Hội nghị  quy tụ nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế, bao gồm GS. TS Hồ Tú Bảo (Viện KH&CN tiên tiến Nhật Bản), TS. Michiaki Kubo, TS. Taisei Mushiroda (Viện nghiên cứu RIKEN, Nhật Bản), TS. Michael Winther (Viện nghiên cứu hệ Gene Singapore), GS. TS Wasun Chantratita (Bệnh viện Ramathibodi, Thái Lan), PGS. TS Chonlaphat Sukasem (Đại học Mahidol, Thái Lan), TS. Nguyễn Cường (Viện nghiên cứu Tế bào gốc và công nghệ Gene Vinmec)…  PGS. TS Lê Thị Lý (Khoa Công nghệ sinh học, trường Đại học Quốc tế), trưởng ban tổ chức hội thảo, cho biết, mặc dù mới xuất hiện trên thế giới nhưng y học cá thể được đánh giá là lĩnh vực có nhiều đổi mới sáng tạo của ngành y, những bước tiến rất nhanh trong nghiên cứu và ứng dụng của y học cá thể, thậm chí còn được dự báo có thể thay đổi cả phương thức điều trị, quản trị trong ngành y thế giới. Giải thích rõ hơn với Tia Sáng về vấn đề này, PGS. TS Lê Thị Lý nói: “Những thành tựu của Dự án Giải mã bộ gene người và sự ra đời của những siêu máy tính, những thiết bị giải trình tự gene thế hệ mới… cho phép chúng ta có thể phân tích số liệu, lắp ráp hoàn chỉnh hệ gene để chú giải, tìm hiểu chức năng gene. Đây là cơ sở để chúng ta có thể lý giải được vì sao một loại thuốc có thể tác dụng rất tốt với người này nhưng lại ít tác dụng với người khác. Trong trường hợp một bệnh nhân điều trị bằng nhiều thuốc cùng một lúc thì việc phân tích tác dụng của thuốc lại càng trở nên phức tạp. Vì thế khi chúng ta hiểu rõ bộ gene của bệnh nhân thì việc dự đoán bệnh, dự đoán khả năng phản ứng với thuốc cũng như phân tích và lựa chọn thuốc sẽ dễ dàng hơn”.  Ở nhiều nước trên thế giới, khi sự phát triển của các công nghệ gene, công cụ phân tích gene khiến giá thành và thời gian giải mã bộ gene đã được giảm xuống, y học cá thể đã bắt đầu được áp dụng trong chăm sóc và điều trị, tuy chưa ở mức đại trà. Riêng tại khu vực Đông Nam Á, Singapore là quốc gia tiên phong trong đầu tư vào y học cá thể khi thành lập Viện nghiên cứu hệ Gene Singapore (GIS) vào năm 2001 trên cơ sở thành công của dự án Giải mã Hệ Gene Singapore năm 2000. Tiếp theo, Thái Lan cũng thành lập Viện nghiên cứu Hệ Gene cá nhân và liệu pháp gene (IPGG) để tiến hành nghiên cứu về Gene và y học cá thể; Malaysia cũng đã có một số công bố đáng chú ý và tổ chức khá nhiều hội nghị về y học cá thể 1…  Với một quốc gia vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong y tế như điều kiện cơ sở vật chất, khả năng chữa trị… như Việt Nam, việc giới thiệu khái niệm y học cá thể có quá sớm? PGS. TS Lê Thị Lý cho biết: “Với các nhà nghiên cứu y dược và tin sinh học Việt Nam, việc tiếp cận những xu hướng nghiên cứu, những phương pháp nghiên cứu mới hết sức cần thiết. Chúng ta cần phải tìm hiểu và tiến hành những nghiên cứu để có thêm nhiều kiến thức về y học cá thể trước khi tư vấn cho các nhà quản lý ngành y cũng như chính thức áp dụng trong khám chữa bệnh”.  Không riêng các nhà nghiên cứu mà các công ty về công nghệ sinh học, dược phẩm quốc tế Việt Nam và nước ngoài đã nhìn nhận Việt Nam là thị trường nhiều tiềm năng trong tương lai. Đây là lý do mà nhiều công ty đã đăng ký tham dự và tài trợ hội thảo. “Vì vậy, chúng tôi có thể chủ động về kinh phí tổ chức hội thảo và sẵn sàng mở cửa đón các nhà nghiên cứu cũng như những ai quan tâm tới tham dự mà không phải đóng lệ phí”, PGS. TS Lê Thị Lý nói.     Chị cũng hy vọng, với việc tham gia hội thảo, các nhà nghiên cứu tin sinh học Việt Nam có thêm nhiều cơ hội trao đổi và hợp tác nghiên cứu với các đồng nghiệp quốc tế.   Hội nghị diễn ra trong vòng hai ngày với hai hoạt động chính: Hội nghị thường niên lần thứ 7 của Mạng lưới nghiên cứu Di truyền học dược Đông Nam Á (SEAPharm) và Ngày Y Dược Di truyền: ứng dụng của Tin sinh học trong vấn đề kháng thuốc, sử dụng thuốc và y học cá thể hóa.  —–  1. Có thể tham khảo thêm thông tin tại đây: , https://www.waset.org/conference/2016/12/penang/ICAPM    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Lần đầu VN đến hội chợ thời trang Who’s next Paris      Lần đầu doanh nghiệp may của Việt Nam đã  có mặt tại hội chợ thời trang Who’s Next Paris 2014 từ ngày 25 đến  28/1, một trong những hội chợ triển lãm thời trang quốc tế hàng đầu, nơi  gặp gỡ giữa các hãng may mặc có uy tín và các công ty nhập khẩu, phân  phối sản phẩm may mặc đến từ các thị trường phát triển.    Ba doanh nghiệp may H.A Fashion (Hà Nội), Casway (Hưng Yên) và Como (TP. Hồ Chí Minh) được lựa chọn từ hơn 30 doanh nghiệp Việt Nam tham dự hội chợ tại Trung tâm hội chợ triển lãm Porte de Versailles. Các doanh nghiệp đến Hội chợ với quyết tâm chinh phục thị trường thời trang cao cấp châu Âu bằng các sản phẩm áo đầm, áo gió… được ghi rõ sản xuất tại Việt Nam và thiết kế tại châu Âu.  Đây được coi là tín hiệu đáng mừng cho ngành may mặc Việt Nam, vốn chủ yếu được biết đến với lợi thế gia công theo đơn đặt hàng mà còn ít có sự đầu tư phát triển về thương hiệu ra thị trường thế giới, chưa chuyển sang vị thế nhà cung cấp thương hiệu riêng như các nước trong khu vực châu Á.   Who’s Next Paris năm nay quy tụ khoảng 1.000 doanh nghiệp đến từ 30 quốc gia, trưng bày các sản phẩm thời trang tự thiết kế để cùng góp mặt trong xu hướng thời trang tương lai.  Tháng 6/2014 tới, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ quay lại Paris để đem sản phẩm đến giới thiệu với một số đối tác như tập đoàn bán lẻ Casino (chủ chuỗi siêu thị Big C tại Việt Nam), dưới sự hỗ trợ của Thương vụ Việt Nam tại Paris.  Theo Bộ Công thương Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làn sóng khởi nghiệp hướng đến giải quyết các vấn đề khí hậu      Mọi người ngày càng quan tâm đến công nghệ khí hậu. Các nhà đầu tư đã bắt đầu thu được lợi nhuận từ những thương vụ trong lĩnh vực công nghệ sạch — như nhà sản xuất xe điện Rivian — điều này kích thích các nhà đầu tư khác cân nhắc đổ tiền vào lĩnh vực này.     Các “viên” nước có có vỏ làm bằng rong biển, được gọi là Ooho do Công ty Skipping Rocks Lab – một startup trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường bền vững tại London (Anh) – sản xuất. Người dùng có thể xơi nguyên các viên mọng nước này, những chiếc vỏ rong biển sẽ nhanh chóng phân hủy trong môi trường tự nhiên. Ảnh: buzzworthy  Một chú bò có thể ợ hơi vài trăm lần mỗi ngày. Chúng thải ra hàng tấn khí mê-tan vào bầu khí quyển, điều này khiến chúng trở thành một trong những nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính. Trong nhiều thập kỷ, các nhà bảo vệ môi trường đã kêu gọi người dân tiêu thụ ít thịt bò hơn, như một cách để hạn chế tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi gia súc lên hành tinh. Song ông Alex Brown lại tiếp cận vấn đề theo một cách: Làm cho bò ợ hơi ít hơn.  Brown, nhà đồng sáng lập và cũng là CEO của công ty khởi nghiệp Alga Biosciences, đang phát triển một loại phụ gia thức ăn chăn nuôi có thể thay đổi hệ tiêu hóa của bò. Thông qua nghiên cứu, các chuyên gia của công ty phát hiện ra rằng việc cho gia súc ăn một loại tảo (algae) đặc biệt – cụ thể là Asparagopsis taxiformis – có thể giúp giảm hơn 80% lượng khí mê-tan ợ hơi của chúng. Trên thực tế, việc sản xuất Asparagopsis taxiformis trên quy mô lớn khá tốn kém, vì vậy công ty của Brown đang nghiên cứu cách biến đổi hoá học tảo bẹ (kelp) để tạo ra một loại tảo bẹ rẻ tiền có tác dụng tương tự. Brown cho biết, công ty đang xây dựng thương hiệu như một đơn vị cung cấp giải pháp tiết kiệm chi phí cho nông dân: Bò giữ được nhiều chất dinh dưỡng hơn khi chúng ăn tảo bẹ, vì vậy người nông dân có thể cho chúng tiêu thụ ít thực phẩm hơn khoảng 20%.  Brown là một trong khoảng 400 nhà sáng lập trình bày ý tưởng kinh doanh của mình tại một sự kiện do Y Combinator (YC) tổ chức mới đây. Đây là sự kiện được tổ chức hai lần một năm nhằm trao cho những startup tiềm năng cơ hội giới thiệu ý tưởng của mình đến các nhà đầu tư thiên thần và nhà đầu tư mạo hiểm (Sự kiện năm nay được tổ chức qua Zoom nhằm thích ứng với đại dịch.) Nhiều nhà sáng lập đã đưa ra những ý tưởng lớn về ngân hàng kỹ thuật số trực tuyến và công nghệ tài chính cho các thị trường mới nổi. Nhưng điểm nhấn trong sự kiện lần này đó là có đến 31 người đang xây dựng các sản phẩm và dịch vụ để cứu lấy hành tinh – một con số kỷ lục qua các kỳ tổ chức. Kể từ năm 2010, YC đã tài trợ cho 90 công ty giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.  Có một số ý tưởng vô cùng tham vọng, chẳng hạn như một startup mong muốn chế tạo những cỗ máy khổng lồ để hút carbon dioxide ra khỏi không khí. Một số đang nghiên cứu phần mềm tối đa hoá sản lượng của các trang trại sản xuất năng lượng mặt trời, hoặc giúp các công ty giảm lượng khí thải carbon do họ thải ra. “Cách đây khoảng ba, bốn năm, nhiều nhà sáng lập không chắc rằng các nhà đầu tư có tài trợ cho những ý tưởng kiểu này hay không”, Gustaf Alströmer, một chuyên gia phụ trách mảng khí hậu thuộc YC, cho biết. “Giờ đây chúng ta biết chắc rằng họ sẵn lòng hỗ trợ”.  Các công ty này đang cố gắng dấn thân vào một xu hướng giàu tiềm năng: Năm ngoái, các công ty khởi nghiệp công nghệ khí hậu có trụ sở tại Hoa Kỳ đã huy động được hơn 40 tỷ đô la vốn đầu tư mạo hiểm – tăng gấp 100 lần so với năm 2013.  Mọi người ngày càng quan tâm đến công nghệ khí hậu. Các nhà đầu tư đã bắt đầu thu được lợi nhuận từ những thương vụ trong lĩnh vực công nghệ sạch — như nhà sản xuất xe điện Rivian — điều này kích thích các nhà đầu tư khác cân nhắc đổ tiền vào lĩnh vực này. Trong vài năm qua, các quốc gia cũng tích cực ban hành nhiều chính sách về việc khử carbon. Các nhà lãnh đạo ở Hoa Kỳ và Châu Âu đã kêu gọi thế giới cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030, tạo cơ hội để các công ty khởi nghiệp muốn xây dựng công nghệ bảo vệ môi trường có thể khẳng định mình.  Một điểm khác giúp thu hút các nhà đầu tư là ở chính bản thân nhà sáng lập. Trong vài thập kỷ qua, nhiều nhà khoa học đã biến các công trình nghiên cứu của mình thành công nghệ ứng dụng thực tiễn. Thêm vào đó, nhiều nhà sáng lập startup công nghệ khí hậu từng làm ở các tập đoàn lớn như Amazon, Google và Airbnb.  “Chúng tôi có thể phát triển công ty với tốc độ tương tự như một công ty phần mềm”, Brown, người đã từng làm việc tại một công ty khởi nghiệp dữ liệu trước khi thành lập Alga Biosciences cho biết (những người đồng sáng lập công ty cùng ông đều là nhà khoá học). Họ mới chỉ bắt đầu nghiên cứu công hiệu của tảo trong việc làm thức ăn gia súc, nhưng startup của Brown có kế hoạch mở rộng quy mô nhanh chóng trong thời gian tới. Họ sắp đưa sản phẩm ra thị trường thông qua đơn hàng tảo cho 15.000 con bò vào mùa thu này.  Các nhà đầu tư có thể sẽ bị hấp dẫn trước tốc độ mở rộng quy mô, nhưng giới khoa học cảnh báo rằng mọi việc đều nên cẩn trọng. Matthew Hayek, giáo sư chuyên nghiên cứu về môi trường tại NYU, họ chưa chứng minh được khẳng định của mình rằng tất cả các chất phụ gia thức ăn gia súc chứa tảo “giúp giảm lượng khí thải trong suốt quy trình sản xuất thịt bò, điều này thậm chí có thể khuyến khích các công ty sản xuất thịt bò nhiều hơn nữa”.  Chia sẻ với WIRED, Hayek lập luận rằng “những công nghệ như vậy giúp mọi người thoát khỏi cảm giác tội lỗi trước khí hậu. Thậm chí tệ hơn, các nhà công nghệ có thể đánh giá quá cao tác động của chúng, làm mọi người không quan tâm đến những giải pháp mang lại nhiều tác động tích cực hơn. Hayek lưu ý rằng mình không có mâu thuẫn gì với Alga Biosciences. “Tôi vui vì ngày càng nhiều công ty đang tìm kiếm nguồn đầu tư và nỗ lực tăng trưởng”, ông lưu ý.  Robert Stoner, phó giám đốc khoa học và công nghệ tại MIT Energy Initiative, đồng ý rằng còn quá sớm để đánh giá ý tưởng công nghệ khí hậu mới nào sẽ tạo ra tác động thực sự. “Yếu tố quyết định về khả năng tồn tại của các strarup này vẫn là họ có đáp ứng được nhu cầu của thị trường, và có đủ nhiệt huyết hay không”, ông chia sẻ. Dựa trên những thông tin mà tôi có được, tôi không quá lạc quan về tiềm năng của những ý tưởng cụ thể này”, song “tôi không muốn nói một điều gì có thể khiến họ nhụt chí “  Những công ty khởi nghiệp này giờ đây phải thuyết phục cộng đồng đầu tư rằng ý tưởng của họ có thể là hướng kinh doanh tiềm năng. Trong buổi giới thiệu tại sự kiện, những nhà sáng lập đã nhấn mạnh các công ty khởi nghiệp của họ vừa có thể giảm lượng khí thải carbon vừa kiếm tiền từ việc đó. Chỉ vài năm trước đây, các chuyên gia thường góp ý rằng ý tưởng này không thể sinh lời, sẽ tốt hơn nếu họ trở thành một tổ chức phi lợi nhuận và áp dụng công nghệ của mình. Nhưng không khí trong căn phòng hiện tại rất khác.  “Những nhà sáng lập hiện tại đang có nhiều điều kiện thuận lợi”, Alain Rodriguez, đồng sáng lập của SINAI Technologies, công ty sản xuất phần mềm quản lý carbon, cho biết. SINAI đã đã từng tham gia sự kiện của Y Combinator vào năm 2020, lúc bấy giờ chỉ có ba công ty công nghệ khí hậu giới thiệu sản phẩm, và rất ít nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực môi trường. Song giờ đây, “mọi người không còn nghi ngờ rằng liệu có thị trường nào cho các startup trong lĩnh vực này hay không.”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  A Wave of Startups Is Tackling Cow Burps and Other Climate Issues  The Quest to Trap Carbon in Stone—and Beat Climate Change    Author                .        
__label__tiasang Làng bích họa độc đáo ở Đồng Tháp      “Làng bích họa Australia – Việt Nam” dưới chân cầu Cao Lãnh tại phường Tân Tích, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mới ra mắt ngày 26 tháng 1 đã mang lại sức sống mới cho ngôi làng và sẽ trở thành một điểm đến mới, hấp dẫn du khách ở Đồng Tháp.      Tranh hoa sen, đặc trưng của Đồng Tháp. Ảnh: Đại sứ quán Australia.  Hàng trăm bức tranh sắc màu khác nhau đã được thổi hồn bởi các nghệ sĩ đến từ Úc và các sinh viên tình nguyện của Đại học Đồng Tháp.  Ông Bradley Kickett, một nghệ sĩ Australia tham gia dự án, cho biết: “Dự án nghệ thuật này là cơ hội cho những thanh niên tại địa phương cùng đóng góp tích cực cho cộng đồng, cũng như là cơ hội cho các nghệ sỹ Australia và Việt Nam thể hiện sự sáng tạo của mình.”  Làng bích họa Australia – Việt Nam hy vọng ​​sẽ mang lại sức sống mới cho khu phố Tân Tích khi vẫn bảo tồn được nét quyến rũ của cộng đồng địa phương đầy gắn kết. Dự kiến, khi cầu Cao Lãnh thông xe, làng bích họa sẽ thu hút nhiều du khách, trở thành một điểm dừng chân quan trọng dưới chân cầu Cao Lãnh.  Cầu Cao Lãnh là một trong hai cây cầu chính (Cao Lãnh và Vàm Cống) thuộc Dự án Kết nối Trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, được nhận viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Australia và khoản vay ưu đãi từ ADB. Cầu Cao Lãnh là hoạt động viện trợ lớn nhất của Australia ở khu vực Đông Nam Á. Dự án này sẽ giúp liên kết con người, cộng đồng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long với tất cả Đông Nam Á và vươn xa hơn nữa. Cầu Cao Lãnh sẽ trực tiếp đem lại lợi ích cho hơn 5 triệu người và dự kiến ​​rút ngắn thời gian đi lại hàng ngày cho 170.000 người dân.      Sinh viên Đại học Đồng Tháp đang vẽ. Ảnh: Báo Đồng Tháp.      Học sinh chụp ảnh lưu niệm cùng các họa sĩ người Australia. Ảnh: Báo Đồng Tháp.       Người dân địa phương bên ngôi nhà được trang trí lại.   Nguồn thông tin: Sứ quán Australia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lao động trẻ: Tỉ lệ thất nghiệp cao, kỹ năng mềm ở mức trung bình      Nhóm lao động trẻ sở hữu nhiều lợi thế như sức khỏe, sự năng động, trình độ học vấn nhưng lại có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất và chỉ đáp ứng yêu cầu về kỹ năng mềm ở mức kém và trung bình trong các doanh nghiệp FDI.    Đây là những thông tin đáng chú ý trong Báo cáo “Đánh giá về tình trạng thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp và thực hành tốt của doanh nghiệp để nâng cao tay nghề cho thanh thiếu niên yếu thế và dễ bị tổn thương” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRI) thực hiện.     Kỹ năng “ứng xử với khách hàng”, “làm việc nhóm”, quản lý cảm xúc và kỹ năng sáng tạo là nhóm kỹ năng được các nhà tuyển dụng kỳ vọng. Các nhà tuyển dụng cũng cho biết sẽ cắt giảm lao động ở các khâu lặp lại để thay thế bằng robot. Nguồn ảnh minh họa: Dangcongsan.vn  Kiến thức và kỹ năng không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng  Trong một thập niên qua, có tình trạng sụt giảm tỉ lệ lao động ở nhóm lao động trẻ (15-24 tuổi). Báo cáo này lý giải một phần sự sụt giảm trong tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của thanh thiếu niên có thể do những năm gần đây thanh thiếu niên đi học bậc Đại học/Cao đẳng ngày càng nhiều hơn và giảm tỷ suất sinh. Quy mô lao động trẻ có xu hướng giảm dần, từ 8,5 triệu người trong năm 2010 xuống còn khoảng 6,6 triệu người vào năm 2018. Ngoài ra, từ năm 2000, nhóm lao động trẻ ngày càng học lên cao hơn – tỷ lệ thanh thiếu niên đi học cao đẳng/ đại học tăng lên gấp 3 lần, từ 9% lên gần 30% vào năm 2016.  Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại nhất là tỷ lệ thất nghiệp cao ở nhóm lao động trẻ (gần 7%, so với 1.5% ở nhóm 25-49 và gần 1% ở nhóm 50+) cho thấy các em thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm so với các nhóm tuổi lớn hơn. Trong đó, hai khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ cao nhất, đều gần 9%. Đây cũng là hai khu vực có người lao động di cư và làm các công việc phi chính thức trong các đô thị nhiều nhất hiện nay, trong tổng số 6 vùng kinh tế. Lý giải về điều này, nhóm tác giả của báo cáo cho rằng, có thể một do nhóm lao động trẻ chỉ vừa mới gia nhập lực lượng lao động và phải rất chật vật để cạnh tranh với những người lao động lớn tuổi và dày dặn kinh nghiệm hơn.     Điểm đáng chú ý ở đây là chính nhóm có trình độ học vấn cao lại có tỷ lệ thất nghiệp cao rõ rệt. Thêm vào đó là tỷ lệ thất nghiệp của những lao động trẻ có bằng cao đẳng/đại học hoặc sau đại học cao hơn so với nhóm còn lại. Điều này phản ánh thực trạng mất cân bằng giữa kiến thức và kỹ năng mà các em được đào tạo so với nhu cầu thực tế của nhà tuyển dụng. Đây chính là rào cản đối với sinh viên mới tốt nghiệp khi tìm một môi trường làm việc phù hợp.   Cụ thể, về kỹ năng cứng, các doanh nghiệp tham gia khảo sát khá hài lòng với các kỹ năng đọc hiểu văn bản hướng dẫn, tính toán cơ bản, công nghệ thông tin (CNTT) cơ bản/ tin học văn phòng. Nhưng các kỹ năng về ngoại ngữ và tin học nâng cao của người lao động bị đánh giá là yếu nhất. Khoảng một nửa lao động trong khối sản xuất được các doanh nghiệp cho điểm đánh giá kỹ năng dưới mức trung bình, lao động khối văn phòng “nhỉnh” hơn chút ít nhưng cũng chỉ đạt điểm trên trung bình.    Về các kỹ năng mềm, các kỹ năng “ứng xử với khách hàng”, “làm việc nhóm”, quản lý cảm xúc và kỹ năng sáng tạo là nhóm kỹ năng được các nhà tuyển dụng kỳ vọng thì được đánh giá ở mức trung bình trong nhóm lao động được hiện tại. Nhưng đáng ngại nhất là ba kỹ năng về (1) hướng dẫn, giảng dạy, đào tạo con người, (2) bán hàng, và (3) thuyết trình của lao động trẻ chỉ được các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá là kém hoặc dưới trung bình.  Nhóm lao động trẻ cũng phải đứng trong một nghịch lý khác, là họ có khả năng sử dụng công nghệ, hấp thụ các kỹ năng việc làm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nhiều nhất so với các nhóm tuổi khác nhưng đến nay vẫn chủ yếu làm các công việc phi chính thức (lên tới 60%) – bấp bênh, không có hợp đồng lao động ổn định, mức độ an toàn thấp. Nếu nhóm này làm trong khu vực phi chính thức cũng thường là việc giản đơn, rất dễ bị tự động hóa và máy móc thay thế. Theo dữ liệu từ Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR, 2018), trong giai đoạn 2019-2021, mức độ tăng trưởng hàng năm của các lô hàng robot công nghiệp tại Việt Nam có thể vượt quá 40%, gần gấp đôi tỷ lệ này ở Thái Lan và Trung Quốc.       Nhóm lao động trẻ (15-24 tuổi) có khả năng sử dụng công nghệ, hấp thụ các kỹ năng việc làm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nhiều nhất so với các nhóm tuổi khác nhưng lại chủ yếu làm các công việc phi chính thức (lên tới 60%) – bấp bênh, không có hợp đồng lao động ổn định, mức độ an toàn thấp.      Doanh nghiệp tiếp tục giảm nhu cầu lao động giản đơn  Đây là những thực trạng đáng chú ý để chính phủ, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo đưa ra chiến lược tập trung hỗ trợ lao động trẻ, bởi vì trong bối cảnh chuyển đổi số, tự động hóa mạnh mẽ khiến máy móc thay thế nhiều công đoạn lặp lại và nhà tuyển dụng sẽ cần kỹ năng mềm nhiều hơn. Trong cuộc khảo sát tại 44 quốc gia của ManPower Group vào năm 2019, 19.000 doanh nghiệp cho biết ưu tiên các kỹ năng của con người (kỹ năng mềm như kỹ năng xã hội và cảm xúc) hơn các kỹ năng về kỹ thuật bởi máy móc thường làm tốt hơn con người trong công việc mang tính chu trình/ lặp lại.  Khảo sát này cũng cho thấy các doanh nghiệp sẽ có nhiều thay đổi về nhu cầu nhân sự trong thời gian tới. Tiêu biểu, ngành Dệt may sẽ có xu hướng cần nhiều lao động có tay nghề ở mức trung bình hoặc cao hơn, tiếp tục giảm tỉ lệ lao động giản đơn. Ngành này sẽ cần thêm lao động cho các vị trí mới như: vẽ và tạo mẫu 3D, thiết kế và in ấn 3D, lập trình robot dệt, đánh giá và phân tích mẫu trong môi trường ảo VR, gửi và nhận mẫu sản phẩm hoặc thiết kế đến máy cắt vải qua công nghệ đám mây, dự đoán lịch bảo trì, quản lý chuỗi cung ứng điện tử, trang thương mại điện tử…. “Không thể đứng ngoài cuộc CMCN4.0. Các doanh nghiệp sẽ tận dụng lợi thế của mình cũng như điều kiện áp dụng các thiết bị máy móc hiện đại để thay thế lao động giản đơn, những người còn ở lại làm việc, còn được sử dụng làm việc thì đương nhiên phải có chất lượng cao hơn, có những kỹ năng cao hơn, những kỹ năng khác biệt hơn. Những công việc còn kiểu lặp đi lặp lại hiện nay chắc chắn sẽ bị thay thế”, ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết.   Về kế hoạch đào tạo và tuyển dụng mới nhân sự, khoảng 1/3 doanh nghiệp cho biết sẽ giữ nguyên đội ngũ nhân viên hiện tại và có thêm các hoạt động đào tạo nội bộ nhưng cũng có tới hơn 20-30% doanh nghiệp lên kế hoạch tuyển dụng thêm lao động với kiến thức/kỹ năng chuyên biệt. Do đó, rất cần hỗ trợ đào tạo và đầu tư vào giáo dục để nâng cao kỹ năng cho lao động trẻ.   Tất cả những khó khăn trên càng trở nên nặng nề với nhóm lao động trẻ nhất là độ tuổi 15-17 và nhóm yếu thế nhất hiện nay là nhóm khuyết tật. Một mặt, các nhóm này thường ít có kỹ năng và kiến thức nhất. Mặt khác, các doanh nghiệp không đặt nhiệm vụ tuyển dụng các nhóm này trong sứ mệnh và tầm nhìn của mình vì nhiều quy định pháp luật phức tạp, thậm chí nhiều công ty không nắm hết các quy định tuyển dụng hai nhóm đặc biệt này; đồng thời khó đầu tư cơ sở vật chất thân thiện cho người lao động khuyết tật. Trong khi các ưu đãi về thuế để tuyển dụng các nhóm yếu thế chưa đủ hấp dẫn để các công ty xây dựng chính sách tuyển dụng đa dạng. Khảo sát cho thấy, nhiều doanh nghiệp lo lắng về năng lực thể chất/ tinh thần và khả năng hòa nhập của những lao động khuyết tật này. Chỉ có các công ty CNTT có điều kiện làm việc linh hoạt mới cho biết sẵn sàng tuyển dụng người khuyết tật nhất (77%), tỉ lệ này ở các công ty Dệt May & Da giày và các công ty Du lịch & Lữ hành lần lượt là 48% và 39%. Các công ty cũng có ít xu hướng tuyển dụng với các nhóm yếu thế khác như dân tộc thiểu số, LGBTQ hay những người nhiễm HIV.  Khuyến nghị  Do đó, TS Phùng Đức Tùng, Viện trưởng MDRI, trưởng nhóm thực hiện Báo cáo, khuyến nghị “Chính phủ nên xây dựng và phát triển nền tảng dịch vụ việc làm tự động, miễn phí và dễ tiếp cận với thông tin về thị trường việc làm được cập nhật liên tục; cùng với đó là đưa ra các ưu đãi hấp dẫn hơn về thuế và các gói hỗ trợ tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng chính sách tuyển dụng bao trùm dành nhóm lao động yếu thế và dễ bị tổn thương. Các cơ sở giáo dục nên thiết kế chương trình giảng dạy sáng tạo và tự chủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường việc làm. Ngoài ra, nội dung định hướng nghề nghiệp cho học sinh theo sở thích thích cũng cần được lồng ghép một cách có ý nghĩa vào chương trình học ngay từ cấp tiểu học để các em học sinh trau dồi năng lực khám phá bản thân và nuôi dưỡng tài năng, giúp các em chuẩn bị tốt hơn cho quá trình chuyển tiếp trong tương lai.”  Mặt khác, các trường đại học, cao đẳng và các cơ sở đào tạo nghề cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để tích hợp đào tạo kỹ năng mềm, hướng nghiệp vào chương trình giảng dạy chính thức. Chẳng hạn, các doanh nghiệp có thể tham gia thiết kế hoặc cung cấp giáo trình cho các cơ sở đào tạo, thông qua tích hợp hoặc phát triển các chương trình hoặc khóa học, các chương trình thực tập và trao đổi thực tập sinh, các chương trình đào tạo cho sinh viên và nhân viên, làm giảng viên khách mời, thiết kế các chương trình học cụ thể hoặc các khóa học chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của ngành…  Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ cần trao đổi với các bên liên quan trong việc đưa ra các đánh giá, phản hồi về các chính sách, dịch vụ hỗ trợ cũng như thực hiện nghiên cứu thị trường để tư vấn chính sách cho chính phủ nhằm nhân rộng thực hành tốt sau thí điểm ở cấp độ quốc gia.Riêng đối với nhóm lao động trẻ yếu thế như những người khuyết tật, TS Phùng Đức Tùng cho biết, Chính phủ nên đưa ra các ưu đãi về thuế và các gói hỗ trợ tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương. Ngân sách nhà nước cũng nên chi trả một phần tiền lương thử việc, học nghề của người lao động khuyết tật. Chính phủ nên nghiên cứu, xem xét quy định một tỷ lệ cụ thể về vị trí công việc dành riêng cho lao động yếu thế và dễ bị tổn thương trong doanh nghiệp.  Bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, căng thẳng thương mại gia tăng và đại dịch COVID-19, sẽ càng gây ra nhiều áp lực và thách thức với thanh niên. Ông Felix Weidenkaff, chuyên gia về việc làm của ILO cho rằng bối cảnh xã hội hiện nay có thể đặc biệt gây bất lợi cho những người trẻ tuổi vì “triển vọng nghề nghiệp của họ nhạy cảm với suy thoái kinh tế hơn so với lao động lớn tuổi. Vì cơ hội trong các khu vực kinh tế chính thức ngày càng ít đi, giới trẻ ngày càng khó dịch chuyển từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức”.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Lập bản đồ ảnh hưởng của hạn hán tới những nhóm dân cư dễ bị tổn thương      Tần suất hạn hán ngày càng tăng cùng với nguy cơ tiềm ẩn về xã hội, kinh tế và môi trường cho thấy mức độ thiệt hại ngày càng cao của các đợt hạn tới những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển.         Tại nhiều quốc gia đang phát triển, trẻ em là đối tượng bị tổn thương vì hạn hán nhiều nhất  Trong một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) của Mỹ, các nhà khoa học ở Viện quốc tế về phân tích hệ thống ứng dụng (IIASA) và trường Đại học Maryland đã lập bản đồ về những vùng đang gặp rủi ro do hạn hán trên phạm vi toàn cầu.  Những hiện tượng nhiệt độ cực đoan và các mẫu hình lượng mưa thất thường kết hợp với biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến tình hình sản xuất lương thực và cơ sở hạ tầng phân phối thực phẩm, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề dinh dưỡng của con người. Một phần chín dân số thế giới hiện đang bị suy dinh dưỡng và gần một nửa trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì suy dinh dưỡng. Gánh nặng này chủ yếu tập trung ở châu Phi và Nam Á, những nơi ngày càng phổ biến các hiện tượng xung đột, bất ổn chính trị và hạn hán. Chỉ riêng hạn hán cũng đủ sức ang gây thiệt hại cho các cộng đồng nghèo, đặc biệt là trẻ em ở các quốc gia đang phát triển. Nguồn sinh kế nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp và tưới tiêu bằng nước mưa.   Một trong những hậu quả của suy dinh dưỡng là trẻ em bị thấp còi, nói cách khác là làm suy yếu sự tăng trưởng và phát triển – vốn hiện đang gây ảnh hưởng đến ít nhất 1/3 trẻ em ở các quốc gia đang phát triển.  Trẻ em thấp còi gặp nhiều nguy cơ như tỉ lệ tử vong cao hơn, suy giảm về thể chất, nhận thức và khả năng học tập, đồng thời dễ gặp các vấn đề sức khỏe do hệ miễn dịch bị yếu đi. Giải quyết vấn đề thấp còi ở trẻ em là điều hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững bởi chúng có tác động lên con người một cách lâu dài và trong nhiều trường hợp có khả năng truyền qua nhiều thế hệ, do đó cản trở sự phát triển của kinh tế tương lai ở những nhóm dân cư tại các vùng đang cần tăng trưởng kinh tế nhất.  Mặc dù tỉ lệ thấp còi trên toàn thế giới đã suy giảm trong vài thập kỷ qua, những cú sốc khí hậu ngày càng tăng do biến đổi khí hậu có thể cản trở hoặc thậm chí đảo ngược kết quả này. Bởi vậy việc xác định những vùng gặp rủi ro vì tác động của hạn hán có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp những nỗ lực khắc phục tình trạng hướng đúng mục tiêu và đạt hiệu quả tối đa.  Bởi dữ liệu về tình trạng thấp còi đã được thu thập rộng rãi trong hàng thập kỷ qua, chúng ta có thể tìm hiểu chi tiết xem vùng nào dễ bị tổn thương nhất do những cú sốc khí hậu và những yếu tố nào ảnh hưởng đến nó.   Các tác giả cho biết, mặc dù có thể dễ dàng xác định những vùng dân cư dễ bị tổn thương do các tác động khí hậu như mực nước biển dâng nhưng chúng ta vẫn chưa có đủ nghiên cứu liên quan đến tác động của hạn hán ảnh hưởng đến nguồn lương thực và dinh dưỡng. Trước đây những nỗ lực lập bản đồ về sự tổn thương của các hệ thống lương thực không gắn liền với những quan sát về cú sốc khí hậu và hậu quả dinh dưỡng. Nghiên cứu này đã khắc phục vấn đề đó bằng cách sử dụng dữ liệu quan sát hơn 580 000 trẻ em ở 53 quốc gia từ năm 1990 để kiểm tra sự ảnh hưởng của lượng mưa cực đoan tới hậu quả dinh dưỡng.   Bộ dữ liệu khổng lồ về suy dinh dưỡng này được xử lý và phân tích trên đám mây dữ liệu của Microsoft Azure, sử dụng nguồn hỗ trợ tài chính từ chương trình “AI cho Trái đất” của Microsoft. Kết quả cho thấy lượng mưa và hạn hán có mối liên hệ đặc biệt tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em, tuy nhiên có thể điều chỉnh mức độ ảnh hưởng tăng giảm thông qua một vài nhân tố.  “Chúng tôi nhận thấy một số nhân tố có thể giảm bớt ảnh hưởng của hạn hán tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ em như hệ thống quản trị tốt, cây trồng đa dạng dinh dưỡng, tăng cường nhập khẩu, tưới tiêu và sản xuất nông nghiệp tập trung”, Matthew Cooper, tác giả chính của nghiên cứu, giải thích, “Bằng cách đánh giá định lượng tất cả những nhân tố này, chúng tôi có thể xác định các địa điểm dễ bị tổn thương nhất do hạn hán. Chủ yếu là những quốc gia có đất đai khô cằn, chính phủ yếu và ít giao dịch thương mại như Sát, Eritrea, Somalia, Nam Sudan, Sudan và Yemen.”  Cooper cho biết một trong những phát hiện thú vị nhất của nghiên cứu là hệ thống cây trồng đa dạng dinh dưỡng có tác dụng rất lớn trong việc giải quyết tình trạng trên. Thông tin này có thể giúp Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc hoặc Tổ chức Y tế thế giới xác định những vùng cần viện trợ hoặc dễ bị tổn thương nhất do hạn hán. Thông tin về các nhân tố có thể góp phần giải quyết tình trạng này sẽ hữu ích với các nhà phát triển và các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở những quốc gia dễ bị hạn hán tổn thương, bằng cách tập trung ủng hộ và thực hiện hệ thống canh tác đa dạng dinh dưỡng để tăng cường khả năng chống lại hạn hán.  Cooper kết luận: “Ngoài tác dụng thiết thực với các thực hành phát triển cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách, nghiên cứu này cho thấy một trong những tác động chính của biến đổi khí hậu là gây ra hạn hán ngày càng thường xuyên và nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến trẻ em ở các quốc gia nghèo vốn không góp phần vào vấn đề biến đổi khí hậu. Đây là một bất công nghiêm trọng cần phải giải quyết”.   Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-effects-drought-vulnerable-populations.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lắp đặt thiết bị Movimar cho tàu cá đánh bắt xa bờ      Sau bốn năm nghiên cứu (2010 -2014), Dự án  Hệ thống quan sát tàu cá, vùng đánh bắt và nguồn lợi thủy sản bằng công  nghệ vệ tinh (Movimar) đã bắt đầu được đưa vào áp dụng tại các ngư  trường Việt Nam, gần đây nhất là tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu    Dự án Movimar do Pháp tài trợ có tổng số vốn là 15,124 triệu Euro (tương đương 408,339 tỷ đồng), trong đó tiền từ nguồn vốn ODA của Pháp là 13,9 triệu Euro (tương đương 375,3 tỷ đồng), vốn đối ứng của Việt Nam 33,039 tỷ đồng (tương đương 1,224 triệu Euro). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản của dự án.   Dự án được triển khai tại Hà Nội và 28 tỉnh ven biển.  Mục tiêu dài hạn của dự án là góp phần hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý nghề cá trên biển hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản; quản lý, giám sát hoạt động khai thác hải sản hiệu quả và an toàn, góp phần đảm bảo trật tự an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.   Về ngắn hạn, dự án đặt mục tiêu: Góp phần thiết lập hệ thống quan sát tàu cá, vùng đánh bắt và nguồn lợi thủy sản sử dụng công nghệ vệ tinh (Vessels Monitoring System – VMS) được thiết lập và vận hành tại Việt Nam, bao gồm xây dựng Trung tâm điều khiển tích hợp thông tin hàng hải (Trung tâm THEMIS) và khu vực, lắp đặt thiết bị kết nối vệ tinh cho 3.000 tàu cá khai thác hải sản xa bờ của 28 tỉnh ven biển, làm các nghề câu mực, cá ngừ đại dương…; Xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu hải dương học nghề cá phục vụ dự báo ngư trường; cải thiện chất lượng dự báo khí tượng hải văn, đặc biệt là công tác dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, các hiện tượng thời tiết bất thường trên các vùng biển; Đào tạo, chuyển giao công nghệ sử dụng công nghệ vệ tinh, xử lý ảnh viễn thám cho đội ngũ cán bộ làm việc tại Trung tâm THEMIS và các khu vực, Trung tâm bảo dưỡng thiết bị, hướng dẫn ngư dân sử dụng thiết bị vệ tinh.  Sau bốn năm triển khai, dự án đã đạt được nhiều kết quả khả quan, mà nổi bật là thiết lập được hệ thống VMS, qua đó cho phép cơ quan quản lý nghề cá Việt Nam giám sát chặt chẽ hoạt động đánh bắt của các tàu cá, đánh giá tốt hơn sản lượng đánh bắt trên các vùng biển và có những giải pháp xử lý nhanh, chính xác các tai nạn, sự cố kỹ thuật đối với các tàu cá hoạt động trên các vùng biển. Đây cũng là công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ nguồn lợi hải sản, ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác những sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời hỗ trợ thông tin để đưa ra quyết sách kịp thời như thành lập các khu bảo tồn biển, vùng cấm khai thác cho những khu vực nhất định trong một thời gian nhất định hoặc lâu dài…  Qua dự án, những công nghệ cao trong việc lập mô hình hải dương học và khí tượng học, sử dụng phần mềm, vận hành hệ thống định vị vệ tinh, quản lý an toàn, ứng dụng thủ tục theo dõi giám sát, tìm kiểm và cứu hộ cứ nạn, an toàn trên biển, hệ thống cảnh báo sớm, khoa học biển, giám sát và điều phối hoạt động khai thác hải sản trên các vùng biển… được chuyển giao cho các tỉnh thành ven biển Việt Nam.  Hiện Bà Rịa Vũng – Tàu là một trong những địa phương đầu tiên của Việt Nam triển khai áp dụng công nghệ VMS sau hai năm chuyển giao (2013-2015). 270 tàu cá đánh bắt xa bờ của ngư dân của tỉnh đều được lắp đặt thiết bị này với giá thành 135 triệu đồng/chiếc. Trung tâm bảo dưỡng Movimar thuộc Đài Thông tin Duyên Hải Vũng Tàu  sẽ đảm nhận vai trò bảo dưỡng thiết bị vệ tinh Movimar miễn phí cho bà con ngư dân  khu vực phía Nam.  Việc lắp đặt thiết bị không chỉ giúp các nhà quản lý kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động khai thác hải sản, tăng cường vấn đề đảm bảo an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển mà còn góp phần đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân khai thác đánh bắt cá trên biển, giúp các tàu cá xử lý tốt tình huống nguy hiểm, nhất là trong việc phối hợp tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ trên biển.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lập giới hạn trên của khối lượng neutrino      Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã sử dụng một quang phổ kế mới để tìm kiếm và thiết lập một giới hạn trên cho khối lượng của một hạt neutrino. Trong công bố “Improved Upper Limit on the Neutrino Mass from a Direct Kinematic Method by KATRIN” xuất bản trên Physical Review Letters, nhóm nghiên cứu KATRIN đã miêu tả cách họ thực hiện với giới hạn mới và giải thích tại sao họ lại tin tưởng kết quả này quan trọng.      Các hạt neutrino có nhiều bí ẩn – các nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của chúng nhưng vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các tính chất của chúng. Họ muốn biết nhiều hơn về các hạt này bởi chúng rất phong phú – các nhà khoa học tin là chúng nhiều hơn các hạt nhân trong vũ trụ tới cả tỷ lần. Nhiều người còn tin rằng chúng đóng vai trò chính yếu để hiểu về vũ trụ sớm, và có lẽ là cả lĩnh vực vật lý tại cấp độ nhỏ nhất. Một đặc tính của hạt neutrino mà các nhà khoa học muốn tìm hiểu là khối lượng của chúng – cho mãi đến gần đây, người ta còn nghĩ loại hạt nhỏ bé này còn không có khối lượng. Nhưng những nghiên cứu gần đây đã thấy không phải như vậy. Do đó bước tiếp theo mà họ muốn triển khai là xác định khối lượng của nó. Để làm được điều này, các nhà khoa học đã thực hiện ba hướng tiếp cận: thứ nhất là nghiên cứu về bức xạ nền vũ trụ; thứ hai là tìm hiểu sự phân rã beta kép không neutrino – một sự kiện vô cùng hiếm gặp; thứ ba là nỗ lực đo đạc trực tiếp khối lượng của hạt neutrino theo những cách không phụ thuộc vào mô hình lý thuyết.  Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã áp dụng cách tiếp cận thứ ba.  Các nhà nghiên cứu đã thực hiện công trình này như một phần của Thực nghiệm neutrino tritium Karlsruhe (KATRIN) tại Viện nghiên cứu Công nghệ Karlsruhe ở Đức. Thiết bị đóng vai trò quyết định của thí nghiệm là quang phổ kế electron 200 tấn. Các nhà nghiên cứu đã dùng nó để nghiên cứu sự phân rã của tritium – một dạng đồng vị phóng xạ của hydrogen. Khi phân rã, nó phát xạ một đơn electron và một neutrino cùng lúc. Bằng việc đo đạc năng lượng của electron được giải phóng bằng quang phổ kế, họ đã có thể tính toán được khối lượng của neutrino ở mức chính xác hơn nhiều so với trước đây. Họ đã tìm được giới hạn trên của neutrino là 1,1 electronvolts, xấp xỉ một nửa giới hạn trên từ những đo đạc trước. Đây cũng là mức độ cực nhỏ – nhỏ hơn một hạt electron xấp xỉ 500.000 lần.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-upper-limit-neutrino-mass.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lập giới hạn trên của tốc độ âm thanh      Một nhóm hợp tác nghiên cứu giữa trường đại học Queen Mary London, trường đại học Cambridge và Viện nghiên cứu vật lý áp suất cao ở Troitsk đã khám phá ra tốc độ nhanh nhất có thể của âm thanh.      Giáo sư Kostya Trachenko, tác giả chính của công bố. Nguồn: trường đại học Queen Mary London  Kết quả – khoảng 36 km mỗi giây – gấp khoảng hai lần tốc độ của âm thanh trong kim cương, vật chất rắn nhất trong thế giới.  Các sóng, như sóng âm thanh hoặc sóng ánh sáng, là những nhiễu loạn di chuyển năng lượng từ chỗ này sang chỗ khác. Sóng âm thanh có thể di chuyển thông qua các môi trường khác nhau như không khí hay nước, và di chuyển với những tốc độ khác nhau phụ thuộc vào việc chúng đang đi qua môi trường nào. Ví dụ, chúng di chuyển qua môi trường chất rắn nhanh hơn lúc chúng di chuyển qua chất lỏng và khí, vốn là điều giải thích tại sao chúng ta có thể nghe thấy tiếng của đoàn tàu đang đến nhanh hơn nhiều khi lắng nghe tiếng động truyền qua đường ra nhanh hơn qua không khí.  Thuyết tương đối hẹp của Einstein đã lập ra một giới hạn tốc độ tuyệt đối mà tại đó, một sóng có thể di chuyển bằng tốc độ ánh sáng, tương đương 300.000 km/s. Tuy vậy cho đến tận bây giờ thì chưa rõ là liệu sóng âm thanh có giới hạn trên hay không khi di chuyển qua môi trường chất lỏng và khí.  Nghiên cứu này, xuất bản trên tạp chí Science Advances, chứng tỏ là dự đón giới hạn trên của tốc độ âm thanh phụ thuộc vào hai hằng số cơ bản không thứ nguyên: hằng số cấu trúc tinh tế (the fine structure constant) và tỉ lệ khối lượng proton trên electron.    Hai con số này đã được biết là đóng vai trò quan trọng trong hiểu biết về vũ trụ của chúng ta. Các giá trị mang tính chất tinh chỉnh của chúng có thể chi phối các phản ứng hạt nhân như phân rã proton và tổng hợp hạt nhân trong những ngôi sao và sự cân bằng giữa hai con số này cũng đem lại một “vùng có thể ở được” ở trên các ngôi sao và hành tinh, những nơi có thể hình thành và các cấu trúc phân tử hỗ trợ sự sống có thể xuất hiện. Bên cạnh đó, phát hiện mới cho thấy hai hằng số cơ bản này còn có thể ảnh hưởng đến những lĩnh vực khoa học khác, ví dụ như khoa học vật liệu, vật lý chất rắn, bằng việc lập các giới hạn để những đặc tính đặc biệt của vật liệu như tốc độ của âm thanh.  Các nhà khoa học kiểm tra dự đoán lý thuyết của mình trên một phạm vi rất rộng các vật liệu và giải quyết được một dự doán cụ thể trong lý thuyết là tốc độ của âm thanh có thể giảm đi với khối lượng của nguyên tử. Dự đoán này ngụ ý rằng âm thanh đạt tốc độ di chuyển nhanh nhất trong nguyên tử hydro rắn, một nguyên tử rắn ở áp suất cao trên một triệu atmosphere, mức áp suất tương đương với áp suất trong lõi khí của những hành tinh như sao Mộc. Tại mức áp suất đó, hydro trở thành chất rắn kim loại đặc biệt với khả năng dẫn điện như đồng và được dự đoán là tại nhiệt độ phòng thì trở thành siêu dẫn. Do đó, các nhà nghiên cứu đã thực hiện các tính toán cơ học lượng tử để kiểm tra dự đoán này. Rút cục, họ tìm thấy là tốc độ của âm thanh trong nguyên tử hydro rắn gần với giới hạn cơ bản về lý thuyết.  Giáo sư Chris Pickard, giáo sư khoa học vật liệu tại trường đại học Cambridge, nói: “Sóng âm thanh luôn luôn tác động lớn lao đến nhiều lĩnh vực khoa họ. Ví dụ, các nhà địa chấn học sử dụng sóng âm thanh do những trận động đất ở sâu bên trong trái đất gây ra để hiểu về bản chất của các sự kiện địa chấn và những đặc tính của cấu tạo trái đất. Chúng cũng là mối quan tâm của các nhà khoa học vật liệu bởi sóng âm thanh liên quan đến các đặc tính đàn hồi quan trọng, bao gồm khả năng chống lại ứng suất từ những tác động bên ngoài như ngoại lực, thay đổi nhiệt độ”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-scientists-upper-limit.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lassina Zerbo: Dò tìm thử nghiệm hạt nhân      Anh là nhà vật lý địa cầu nỗ lực tìm mọi cách để thúc đẩy công việc không phổ biến vũ khí hạt nhân.      Chỉ chưa đầy 30 phút sau vụ thử hạt nhân thứ sáu của Bắc Triều Tiên vào chủ nhật 3/9/2017, điện thoại của Lassina Zerbo đã rung lên. Nó diễn ra trước 6 giờ sáng theo giờ Vienna, và có ngay một bản dữ liệu địa chấn nêu lên nguyên nhân của vụ nổ đó là nổ bom lớn nhất mà Bắc Triều Tiên gây ra, làm rung lắc trái đất với một lực tương đương với một trận động đất 6.1 độ. “Thật khủng khiếp”, Zernbo nói, anh là người phụ trách Tổ chức hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBTO), nơi có nhiệm vụ ngăn chặn các vụ thử hạt nhân trên toàn thế giới. Trước đó, anh đã gọi điện cho các đại sứ Hàn Quốc và Nhật Bản tại Áo và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với báo giới để nêu quan điểm của CTBTO về vụ nổ hạt nhân này.  Đây là một năm đầy thách thức cho Zerbo và những người ủng hộ không phổ biến vũ khí hạt nhân. Tình hình trở nên căng thẳng hơn sau những đối đáp của nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Mỹ Donald Trump và sự thiếu chắc chắn về sự cam kết của Mỹ với liên minh cũng tăng lên.   Dẫu Bắc Triều Tiên là quốc gia duy nhất chỉ đạo thực hiện thử hạt nhân trong gần 20 năm qua và phần lớn các quốc gia đều tiếp tục hưởng ứng không phổ biến vũ khí hạt nhân.  Sinh năm 1963 tại Burkina Faso, Zerbo đã chuyển tới Pháp theo học chương trình tiến sỹ vật lý địa cầu và làm việc trong ngành công nghiệp khai khoáng trước khi tham gia CTBTO vào năm 2004.  Một trong những sáng kiến đầu tiên của anh là thiết lập một hệ thống cho phép chia sẻ thông tin thu thập được từ các trạm giám sát của tổ chức với cộng đồng khoa học quốc tế (nhờ đó đã thu thập được dữ liệu về thủy âm học, hạ âm, địa chấn và các cảm biến phát hiện nuclit phóng xạ đã được dùng để phục vụ cho nhiều mục đích khác, bao gồm việc dò sóng thần và theo dấu di cư của cá voi).   Zerbo đã trở thành thư ký điều hành của CTBTO vào năm 2013 và hiện dành nhiều thời gian để hoàn tất mạng lưới các trạm giám sát của tổ chức này. Quan trọng hơn, anh ủng hộ Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân đã được phê chuẩn năm 1996 nhưng vẫn chưa được thực hiện bởi sự trì hoãn tham gia của một số quốc gia, trong đó đóng vai trò chính là Mỹ và Trung Quốc. Siegfried Hecker, nhà tư vấn chính sách hạt nhân tại trường đại học Stanford (California, Mỹ) đã gọi Zerbo là “người khởi xướng đầy hiệu quả và không mệt mỏi” cho việc cấm thử vũ khí hạt nhân.  Bất chấp những thách thức đến trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Zerbo cho biết không có gì vinh dự hơn việc được làm việc tại mối giao thoa giữa khoa học và ngoại giao như vậy. Anh thường xuyên đề xuất cho các nhà nghiên cứu trẻ thực hiện những nhiệm vụ tương tự bởi “khoa học kết giao với chính sách để [làm cho] thế giới tốt đẹp hơn”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: Nature: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấy nông dân làm chủ thể của tái cơ cấu nông nghiệp      Mọi đổi mới kinh tế – xã hội đều bắt đầu từ con người và chỉ khả thi khi nền tảng văn hóa của con người sẵn sàng cho sự đổi mới ấy. Vì vậy, cách tiếp cận của Đồng Tháp trong tái cơ cấu nông nghiệp bắt đầu từ việc thay đổi ý thức và tầm nhìn của cộng đồng.      Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp Lê Minh Hoan cho rằng: Chiến lược mưa dầm thấm lâu hướng vào người nông dân là điều phù hợp và có ý nghĩa thực chất nhất. Ông thường dành thời gian đến các hội quán và nói chuyện với người dân hàng tiếng đồng hồ về sản xuất sạch, có định hướng tới thị trường.  Toàn tỉnh Đồng Tháp hiện đang có 140 nghìn hecta làm lúa vụ ba, chiếm 28% tổng diện tích trồng lúa của tỉnh. Lúa vụ ba ở Đồng bằng Sông Cửu Long gắn liền với hệ thống bờ bao ngăn lũ được xây dựng mà hậu quả là cũng ngăn luôn cả phù sa. Sau vài năm liên tục gánh ba vụ lúa mỗi năm, đất bị vắt kiệt sự màu mỡ, đồng thời việc kéo dài liên tục các vụ lúa khiến sâu bệnh nở rộ. Không cách nào khác, người nông dân phải tăng phân bón và thuốc trừ sâu, nhưng làm cách nào thì hạt lúa cũng không thể thơm ngon như trước. Như vậy chi phí đội lên trong khi chất lượng, giá trị hạt gạo và mức độ an toàn giảm, khiến lợi nhuận giảm theo và rủi ro cao hơn cho người tiêu dùng cũng như môi trường sinh thái. Tình trạng bất cập – nếu không muốn nói là nhức nhối – này đã lặp đi lặp lại qua nhiều năm.  Sự bế tắc về lúa vụ ba chỉ là một trong những ví dụ điển hình cho tư duy làm nông nghiệp chạy theo sản lượng xuất phát từ tầm nhìn ngắn hạn, cục bộ, từng tồn tại trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và vẫn còn tồn tại dai dẳng cho đến tận ngày nay. Để thay đổi thực trạng ấy, phải bắt đầu từ yếu tố con người, mà chủ thể quan trọng nhất là người nông dân.  Chính vì vậy, một trong những quan điểm quan trọng nhất của Đồng Tháp trong tái cơ cấu nông nghiệp đó là tập trung hàng đầu vào thay đổi tư duy, nhận thức của người nông dân, thúc đẩy họ chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp, nghĩa là nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện ở giá trị và lợi nhuận, thay vì chỉ tối đa hóa sản lượng; đồng thời hướng người nông dân theo tầm nhìn dài hạn, không chỉ quan tâm tới lợi ích bản thân mà cả lợi ích chung của cộng đồng.    Ông Nguyễn Văn Trãi (bìa trái), Giám đốc Hợp tác xã Tân Cường trao đổi với  Tia Sáng: “Doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm thì nhiều, nhưng thực sự thực hiện được hợp đồng thì không có bao nhiêu”.  Quan điểm và cách tiếp cận đó của Đồng Tháp trong tái cơ cấu nông nghiệp được phản ánh rõ nhất qua những chuyến đi miệt mài xuống các thôn ấp nói chuyện trực tiếp trước nông dân của ông Bí thư Tỉnh ủy Lê Minh Hoan. “Bà con tính coi, dù đã đội thêm các khoản thuế, phí cùng tiền công vận chuyển, vậy mà gạo Campuchia vẫn đủ sức cạnh tranh ngay trên sân nhà của chúng ta, vậy bà con thấy phải làm sao?” Đó là một trong nhiều câu hỏi nóng mà ông Hoan đặt ra cho những người nông dân xã Tân Thuận Tây, TP Cao Lãnh trong một bài nói chuyện diễn ra cách đây không lâu trong tháng Tư. Những bài nói chuyện như vậy kéo dài hai tới ba tiếng nhưng đầy cuốn hút với nông dân, trong đó xen kẽ sinh động rất nhiều câu chuyện người thực việc thực, những thước phim tư liệu, cùng những bài học tâm đắc rút ra từ các cuốn sách được ông đưa ra làm dẫn chứng – từ Khuyến học của Fukuzawa tới Cuộc cách mạng từ một cọng rơm của Fukuoka.  Giải pháp duy nhất khả dĩ tháo gỡ bế tắc về lúa ba vụ, theo ông Nguyễn Thành Tài, PGĐ Sở NN&PTNT Đồng Tháp, là xen một vụ màu vào giữa hai vụ lúa. Việc cắt giảm một vụ lúa như vậy sẽ giúp loại bớt sâu bệnh cho cây lúa và cho phép đất được nghỉ ngơi để phục hồi phần nào. Tuy nhiên, trong số 140 nghìn hecta trồng lúa vụ ba, hiện nay mới chỉ có 25 nghìn hecta là đã thay một vụ lúa bằng một vụ màu, ông Tài cho biết. Để có thể mở rộng diện tích trồng màu với 115 nghìn hecta lúa vụ ba còn lại, người nông dân cần có nhiều kênh tiêu thụ ổn định. Như vậy, bản chất sự bế tắc về lúa ba vụ không chỉ là vấn đề nhận thức của người nông dân, mà quan trọng hơn là tìm đầu ra ổn định cho hoa màu được trồng thay thế cho vụ lúa thứ hai trong năm.  Tất cả những nỗ lực ấy của ông Hoan phục vụ cho chiến lược mà ông gọi là mưa dầm thấm lâu. Nó không hào nhoáng với các ngôn từ như đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, thúc đẩy hợp tác ba nhà – bốn nhà, v.v. mà nhiều vị lãnh đạo, chuyên gia khác vẫn thường nói trong các hội nghị về chủ đề tái cơ cấu nông nghiệp. Mặc dù Đề án tái cơ cấu nông nghiệp của Đồng Tháp cũng đề cập rất đầy đủ vai trò của các mắt xích doanh nghiệp, hợp tác xã, khu nông nghiệp công nghệ cao,…, nhưng trao đổi với chúng tôi, dường như ông Lê Minh Hoan cho rằng chiến lược mưa dầm thấm lâu hướng vào người nông dân là điều phù hợp và có ý nghĩa thực chất nhất. Phải trực tiếp đến Đồng Tháp, chúng ta mới hiểu rõ căn nguyên của cách nhìn này.  Mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo  Một trong những định hướng quan trọng hàng đầu trong Đề án tái cơ cấu nông nghiệp của Đồng Tháp là xây dựng chuỗi ngành hàng và vùng chuyên canh, qua đó cho thấy sự chú trọng đặc biệt dành cho mối liên kết giữa nông dân doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi nếu thiếu sự liên kết này, nông sản của nông dân sẽ gặp nhiều khó khăn trong bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và xúc tiến xuất khẩu, và những vùng chuyên canh quy mô lớn sẽ không thể hình thành, phát triển bởi đầu ra không đảm bảo.  Để việc bao tiêu sản phẩm trở nên khả thi, doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực, có hệ thống kho bãi bảo quản hiện đại, gắn với chuỗi tiêu thụ để đảm bảo đầu ra. Đối với Đồng Tháp, một tỉnh nằm xa trung tâm và điều kiện hạ tầng giao thông chưa thuận lợi, việc thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực như vậy trong nông nghiệp là điều không dễ dàng, bởi khoảng cách vận chuyển xa làm tăng chi phí và hư hao cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, có lẽ trở ngại lớn nhất với doanh nghiệp là tạo mối liên kết bền vững với người nông dân.    Trung tâm Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh đã thực hiện thành công kỹ thuật nhân nhanh một số giống hoa kiểng mới, lạ ở vùng ôn đới như: hoa đồng tiền, hoa ly, hoa chuông… cung cấp cho nhà vườn trồng hoa tại TP. Sa Đéc.  Hiện nay, Đồng Tháp bước đầu đã có một vài doanh nghiệp đủ năng lực chiếm lĩnh thị trường và đảm bảo đầu ra cho nông dân. Tuy nhiên, những doanh nghiệp như vậy hầu như mới chỉ tập trung vào một vài ngành nông sản nhất định như cá tra hay xoài, và lượng đặt hàng của họ còn rất hạn chế bởi chỉ một tỉ lệ nhỏ nông dân tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn về nuôi trồng nông sản sạch (Global Gap, VietGap).  Trong ngành lúa gạo, mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp đặc biệt thiếu bền vững. Cỏ May, một công ty đa ngành nghề đã thành công trong mô hình liên kết với người nuôi cá, vừa bán thức ăn chăn nuôi vừa đảm bảo đầu ra cho người nuôi cá, thế nhưng với sản phẩm lúa gạo – một trong những sản phẩm chủ lực truyền thống của công ty và là thương hiệu lúa gạo hàng đầu của tỉnh – họ lại thất bại khi cố gắng tạo dựng vùng nguyên liệu theo mô hình “cánh đồng mẫu lớn”. Nguyên nhân bởi đến mùa thu hoạch người nông dân tự phá vỡ hợp đồng, bán cho thương lái những nông sản mà trước đó đã được doanh nghiệp đầu tư cung ứng giống. “Chúng tôi thuê ghe đến chở hàng như đã hẹn mà rồi đành phải quay về trắng tay”, bà Hoàng Thị Minh Hà, Phó Giám đốc Công ty TNHH Cỏ May cho biết.  Theo ông Huỳnh Minh Tuấn, Giám đốc Sở KH&CN Đồng Tháp, quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân đang gặp vướng mắc bởi cả hai phía đều không tin tưởng nhau: những doanh nghiệp hoạt động bài bản đòi hỏi nông dân gây dựng được vùng nguyên liệu sạch rồi mới dám ký hợp đồng trong khi nông dân đòi hỏi doanh nghiệp đảm bảo bao tiêu đầu ra rồi mới dám đầu tư làm vùng nguyên liệu sạch.  Qua chia sẻ của bà Hà và ông Tuấn, chúng ta phần nào hiểu được vì sao Đồng Tháp chú trọng việc thay đổi nhận thức của người nông dân, bởi chỉ khi người nông dân có tầm nhìn dài hạn, có ý thức tuân thủ các quy trình, tiêu chuẩn trong sản xuất và giữ gìn chữ tín trong kinh doanh, khi đó họ mới chứng tỏ được mình là mắt xích đáng tin cậy trong chuỗi ngành hàng.  Tuy nhiên, ý thức và sự chuyên nghiệp của người nông dân chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để đảm bảo sự liên kết bền vững giữa họ với doanh nghiệp. Nếu bản thân doanh nghiệp không đủ tiềm lực đảm bảo bao tiêu đầu ra cho nông dân thì chính họ rất dễ trở thành bên thất tín. Đây là điều khá thường xuyên xảy ra, qua lời bộc bạch của ông Nguyễn Văn Trãi, Giám đốc Hợp tác xã Tân Cường: “Doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm thì nhiều, nhưng thực sự thực hiện được hợp đồng thì không có bao nhiêu”.  Cải tiến khoa học kỹ thuật: điều nông dân quan tâm nhất vẫn là đảm bảo đầu ra  Doanh nghiệp và nông dân là hai chủ thể cơ bản trong tiến trình vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Đối với khu vực doanh nghiệp ở Đồng Tháp, có thể thấy một số doanh nghiệp có tiềm lực đã khá chủ động trong đổi mới công nghệ nhằm chế biến sâu, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Vĩnh Hoàn đầu tư hàng trăm tỷ đồng để tiếp nhận dây chuyền công nghệ sản xuất collagen từ phụ phẩm cá tra; Cỏ May cũng đang đầu tư vài chục tỷ đồng nghiên cứu sản xuất các loại tinh dầu…  Ngoài các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh như vậy, cũng phải kể đến các doanh nghiệp khởi nghiệp, thường do các bạn trẻ có tri thức và giàu tâm huyết cùng tinh thần năng động sáng tạo, biết phát huy những lợi thế của địa phương mình để tạo ra những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn, điển hình như thương hiệu gạo Tâm Việt nổi tiếng của doanh nhân khởi nghiệp 26 tuổi Võ Văn Tiếng.    Bao trái xoài là một kỹ thuật để bảo vệ trái xoài từ khi được 40 ngày tuổi cho đến lúc thu hoạch, đảm bảo trái xoài không có thuốc và chín đều, vỏ đẹp, không có vết. Đây cũng là một điều kiện cần để nhà vườn đạt Global Gap. 80% nhà vườn ở Đồng Tháp sử dụng kỹ thuật này. Ảnh: dungcunongnghiep.com.  Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp có ý thức đầu tư cho KH&CN như trên ở Đồng Tháp còn chưa nhiều, và dù là những doanh nhân khởi nghiệp năng động, linh hoạt như Võ Văn Tiếng, hay thậm chí các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh như Vĩnh Hoàn, Cỏ May thì phạm vi ảnh hưởng trong cộng đồng còn khá giới hạn.  Về phía người nông dân, tỉnh đã có những nỗ lực thúc đẩy cơ giới hóa các khâu sản xuất, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật (ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa hữu cơ, thí điểm sử dụng phân bón thông minh, ứng dụng chế phẩm sinh học nấm xanh Ometar trong phòng trừ rầy nâu…), tổ chức lại quy trình sản xuất xoài nhằm đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP… Trung tâm Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh đã thực hiện thành công kỹ thuật nhân nhanh một số giống hoa kiểng mới, lạ ở vùng ôn đới như: hoa đồng tiền, hoa ly, hoa chuông… cung cấp cho nhà vườn trồng hoa tại TP. Sa Đéc, góp phần hình thành thương hiệu “Thành phố Hoa Sa Đéc” trong bản đồ du lịch Việt Nam.  Trong bối cảnh mối liên kết với các doanh nghiệp chưa khăng khít, người nông dân phải tiêu thụ sản phẩm qua những kênh trôi nổi bấp bênh. Điều đó khiến việc làm nông nghiệp sạch là điều khó khả thi bởi chi phí đầu tư cao mà đầu ra lại không đảm bảo. Hi hữu cũng có một số người bỏ tiền của, công sức để làm nông sản hữu cơ, chấp nhận trước mắt bán cho thương lái với giá chỉ tương đương với các nông sản khác và kiên nhẫn chờ đợi cho tới khi tìm được kênh tiêu thụ với giá thành tương xứng với công sức, chi phí bỏ ra. Tuy nhiên, do phân khúc thị trường nông sản hữu cơ còn rất hẹp nên đây là con đường đầy khó khăn và rủi ro mà số đông người nông dân khó chấp nhận.  Nhưng phần lớn các mô hình trên chưa mang lại ảnh hưởng trên quy mô rộng. Bà con nông dân còn dè dặt trong áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, một phần do không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật được hướng dẫn vì họ tin vào những kinh nghiệm và thói quen truyền thống. Nhưng nguyên nhân lớn hơn, như chia sẻ từ ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, đó là người nông dân chỉ dám mạnh dạn áp triển khai thực hiện khi có kết quả thực tiễn từ mô hình thí điểm cho thấy mang lại gia tăng lợi nhuận một cách rõ rệt. Hay nói cách khác, người nông dân chỉ tin vào KH&CN khi được đảm bảo tiêu thụ đầu ra. Điều này đã được thực tiễn chứng minh với thành công của ngành cá tra: đây là ngành đảm bảo đầu ra một cách ổn định nhất, đồng thời cũng là ngành bà con nông dân tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật một cách nghiêm túc nhất, với trên 95% vùng nuôi được chứng nhận sản xuất an toàn.  Vai trò các hợp tác xã  Trong những ngành hàng mà mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn bấp bênh thì các hợp tác xã được kỳ vọng là tầng đệm giúp giảm bớt rủi ro cho nông dân khi có thể mua nông phẩm tạm trữ, hoặc ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với mức giá cố định từ đầu hay có điều tiết khi thị trường biến động, tùy theo thỏa thuận với từng hộ. Các hợp tác xã cũng được trông đợi sẽ xây dựng thói quen mua chung, bán chung ở người nông dân: cùng mua vật tư đầu vào để có đơn hàng lớn, đặt chính hãng tại nhà máy, tránh nguy cơ mua phải hàng nhái, kém chất lượng; cùng bán để tạo sức mạnh trong đàm phán, tránh bị thương lái ép giá. Bên cạnh đó, hợp tác xã còn là nhân tố thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại quy trình sản xuất theo xu hướng chuyên nghiệp, chính xác, làm tới đâu có ghi chép hồ sơ chính xác tới đó, tiếp cận với đòi hỏi về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của một nền nông nghiệp sạch.    Xoài Cao Lãnh là một trong những sản phẩm nông nghiệp hiếm hoi của Đồng Tháp có chỉ dẫn địa lý, có thương hiệu và đóng gói bao bì một cách khá bài bản. Ảnh: VGP/Quang Hiếu  Tuy nhiên, trên thực tế đa số các hợp tác xã chưa đáp ứng được những kỳ vọng này, chủ yếu do năng lực quản trị và tiềm lực kinh tế còn hạn chế. Tiềm lực kinh tế chưa đủ nên các hợp tác xã chưa cung ứng được nhiều dịch vụ và không san sẻ được nhiều rủi ro cho nông dân. Nằm trong số các hợp tác xã có tiềm lực mạnh hàng đầu của tỉnh nhưng hợp tác xã Tân Cường chỉ có thể mua lúa gạo tạm trữ cho nông dân trong thời gian ba tháng. “Để có thể bảo quản trong thời gian lâu dài hơn sẽ phải đầu tư tới vài trăm tỷ đồng, điều đó là quá sức với một hợp tác xã”, ông Nguyễn Văn Trãi, Giám đốc HTX Tân Cường chia sẻ.  Năng lực quản trị hạn chế khiến các hợp tác xã chưa làm tốt chức năng giám sát việc sử dụng vật tư đầu vào và thực hiện các quy trình, kỹ thuật sản xuất, chưa khắc phục được sự thiếu chuyên nghiệp cùng những hạn chế về nhận thức và thói quen chạy theo lợi ích trước mắt của người nông dân. Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo hợp tác xã Tân Cường than phiền về tình trạng người nông dân không tuân thủ đúng yêu cầu “mua chung”, tự ý mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kém phẩm chất từ bên ngoài, khiến năng suất, chất lượng nông sản không đạt yêu cầu. Tuy nhiên, đại diện các cơ quan chức năng khi được hỏi về vấn đề này lại khẳng định rằng đa số người nông dân thừa biết ở địa phương mình đâu là nơi bán vật tư nông nghiệp kém phẩm chất, song dù biết thì họ vẫn chủ động mua, bởi giá rẻ, lại được mua chịu. “Cơ quan quản lý không thể nắm rõ tình hình địa bàn như người dân. Nông dân họ biết hết trơn, nhưng họ không nói. Trong khi đó, việc xử lý [các đối tượng bán vật tư nông nghiệp đầu vào là hàng giả, hàng nhái] phải qua các bước lấy mẫu để kiểm nghiệm, trong quá trình kiểm nghiệm thì không được cấm cơ sở bán hàng, mà kiểm nghiệm xong thì nhiều khi hàng đã bán hết rồi, và chế tài xử phạt theo luật định lại quá nhẹ”, ông Nguyễn Thành Tài, PGĐ Sở NN&PTNT bộc bạch.  Mấu chốt của tái cơ cấu nông nghiệp là giảm thiểu rủi ro  Từ nhiều thập kỷ trở lại đây, người nông dân sản xuất, kinh doanh một cách manh mún, nhỏ lẻ. Tính hình thức, quan liêu dẫn tới đổ vỡ của mô hình các hợp tác xã trước đây khiến người nông dân mất lòng tin vào kinh tế hợp tác và dẫn tới tâm lý mạnh ai nấy làm. Tiềm lực của cá nhân và từng nông hộ là quá nhỏ trong khi thị trường lại luôn biến động bấp bênh nên người nông dân thường chạy theo cái lợi trước mắt. Câu chuyện về vấn đề lòng tin và chữ tín mà doanh nghiệp Cỏ May chia sẻ là một minh chứng điển hình cho thấy tái cơ cấu một nền nông nghiệp phải bắt đầu từ việc đổi mới nền tảng văn hóa và nhận thức con người. Thiếu nền tảng nhận thức và văn hóa, người nông dân sẽ không tuân thủ đúng các quy trình ứng dụng tiến bộ KH&CN mới trong nông nghiệp, không đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong nông nghiệp sạch, khó có mối liên kết bền vững với doanh nghiệp và càng khó nuôi dưỡng, phát triển tinh thần hợp tác để có được những hợp tác xã một cách đúng nghĩa.  Đó là lý do Bí thư Lê Minh Hoan và các nhà quản lý ở Đồng Tháp quyết tâm đổi mới tư duy, nhận thức người nông dân, cho dù phải theo cách tiếp cận mưa dầm thấm lâu. Những hội quán lần lượt hình thành ở các xã, do người dân tự lập ra theo nhu cầu của cộng đồng và hoạt động vì mục tiêu tự thân của cộng đồng, có thể coi là tín hiệu tích cực cho thấy cách tiếp cận ấy của những người lãnh đạo Đồng Tháp bước đầu đã có kết quả.      Trụ sở của Vinh Hoan Colagen 5, trong đó phía bên tay trái là các xe container chứa cá tra và phụ phẩm của cá tra, phía bên tay phải là cơ sở sản xuất collagen và gelatin từ da cá tra. Ngành nuôi cá tra ở Đồng Tháp là một ngành khá thành công vì có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người dân.   Tuy nhiên, gốc rễ của tái cơ cấu trong nông nghiệp không chỉ là thay đổi văn hóa, nhận thức, mà còn là tìm lời giải để giảm rủi ro cho người nông dân. Xuyên suốt các vấn đề, lĩnh vực được đề cập trong bài viết, chúng ta thấy điều người nông dân đau đáu nhất luôn là việc đảm bảo đầu ra cho nông sản. Nếu không có đầu ra cho vụ màu, người nông dân sẽ tiếp tục trồng lúa ba vụ. Nếu đa số các doanh nghiệp không đủ tiềm lực bao tiêu nông sản, nông dân sẽ tiếp tục nhìn các doanh nghiệp bằng con mắt ngờ vực và các vùng nguyên liệu sẽ rất khó hình thành. Các quy trình, tiêu chuẩn nông nghiệp sạch, hay các tiến bộ KH&CN sẽ không thể triển khai nếu không chứng minh được nông sản làm ra có thị trường và lợi nhuận gia tăng. Nói một cách ngắn gọn, nếu mức rủi ro mà nông dân phải gánh chịu quá lớn, họ sẽ không thể gánh vác, hoặc sẽ tìm cách đẩy rủi ro đó cho người khác.  Để đảm bảo đầu ra cho nông sản, chúng ta thường trông chờ vào những doanh nghiệp lớn, đủ tiềm lực để gánh bớt một phần rủi ro từ thị trường cho nông dân. Nhưng thực tiễn từ Đồng Tháp cho thấy điều ấy là bất cập, bởi những doanh nghiệp giàu tiềm lực như vậy không nhiều và thường chỉ tập trung trong một số ngành hàng nhất định. Vì vậy, vấn đề mấu chốt mà các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách cần quan tâm là xây dựng một sân chơi phù hợp, cho phép những doanh nghiệp hay các hợp tác xã có tiềm lực vừa phải cũng có thể san sẻ bớt rủi ro cho người nông dân một cách hiệu quả. Ví dụ: một số địa phương có thể bàn bạc với cộng đồng các doanh nghiệp, hợp tác xã để chung sức xây dựng kho bảo quản sau thu hoạch ở một vị trí đảm bảo tính tối ưu trong lưu thông cho cả vùng, sau đó cho các doanh nghiệp và hợp tác xã thuê lại từng phần theo mức giá phải chăng, với diện tích lớn nhỏ tùy theo nhu cầu, năng lực của họ. Như vậy, nông sản có thể được tạm trữ với thời gian dài hơn, giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bán trước những biến động thị trường. Một ví dụ khác là nghiên cứu chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hình thành các sàn giao dịch điện tử trong nông nghiệp, qua đó đảm bảo hàng hóa và các tài nguyên được mua bán, thuê mướn một cách linh hoạt, minh bạch và tối ưu, các giao dịch diễn ra trên tinh thần cạnh tranh lành mạnh, có khả năng truy xuất và quy trách nhiệm, giảm thiệu sự thao túng, độc quyền và những gian lận, phá vỡ hợp đồng – sàn giao dịch điện tử cũng có thể là công cụ để các nhà quản lý thường xuyên cập nhật giá cả và có nguồn dữ liệu cần thiết phục vụ dự báo thị trường.  Cách tiếp cận như vậy đòi hỏi một nhìn nhận khác về thực tiễn trong nông nghiệp. Chúng ta đã chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế trong nông nghiệp, từ chú trọng sản lượng sang chú trọng lợi nhuận, nhưng trên thực tế không ai có thể tự định đoạt lợi nhuận nếu giá cả biến động ngoài khả năng dự đoán. Khi ấy, người ta chỉ có thể tối ưu hóa lợi nhuận mà họ kỳ vọng sẽ xảy ra. Bởi vậy, trong thực tiễn nông dân vẫn chạy theo sản lượng, điều ấy không phải do sự lệch lạc trong nhận thức, mà trái lại đó là một tính toán có cân nhắc, rằng ngay cả trong kịch bản xấu nhất khi bán không được giá thì ít ra còn có sản lượng bù lại. Phương thức ấy có thể không cho ra lợi nhuận thực tế cao nhất, nhưng có thể là lựa chọn được kỳ vọng là bảo vệ lợi ích một cách tốt nhất cho nông dân tại thời điểm khi họ buộc phải đưa ra quyết định trong điều kiện thị trường nhiều rủi ro và thiếu thông tin.  Thực tiễn từ Đồng Tháp cho thấy hoạt động nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp ở các cơ sở khoa học công lập địa phương cần theo sát định hướng từ thị trường, bởi người nông dân chỉ chấp nhận áp dụng những tiến bộ KH&CN đã chứng minh được rõ rệt khả năng thương mại hóa. Vì vậy, theo quan điểm của Sở KH&CN Đồng Tháp, việc triển khai thương mại hóa các kết quả nghiên cứu cần được đẩy mạnh để có thể chứng minh tính hiệu quả với nông dân. Một số khuyến nghị cụ thể như sau: Sửa đổi quy định về việc quản lý tài sản và chuyển giao kết quả nghiên cứu của Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 01 tháng 09 năm 2015 để cho phép kết quả của các đề tài nghiên cứu sử dụng kinh phí nhà nước được giao cho đơn vị chủ trì và tổ chức có khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà không thu hồi kinh phí. Tăng cường yêu cầu tự chủ đối với các cơ sở KH&CN thuộc Sở, bằng cách sửa quy định về cơ cấu các tổ chức tham mưu, tổng hợp và số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc Sở của Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15 tháng 10 năm 2014 theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối tổ chức tham mưu, tổng hợp; quy định cứng đơn vị sự nghiệp thuộc Sở theo xu hướng tự chủ, cấp kinh phí theo nhiệm vụ thực tế. Đổi mới cơ chế, giải pháp để rút ngắn thời gian đăng ký, cấp chứng nhận quyền sở hữu công nghiệp. Ban hành quy định về hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng đối với “nhà khoa học chân đất” để khơi dậy và đưa những kết quả nghiên cứu, sáng tạo không chuyên phục vụ thiết thực sản xuất và đời sống. Thông tin với địa phương về các nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước đã đề xuất, được phê duyệt thực hiện trên địa bàn để biết phối hợp triển khai.          Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Lấy nước từ các núi băng Nam Cực cung cấp nước cho Cape Town      Kéo núi băng từ Nam Cực để cung cấp nước cho những vùng bị khô hạn là ý tưởng không mới nhưng chưa có tiền lệ thành công. Tuy nhiên hy vọng lần này sẽ thành công và đã có các công nghệ cần thiết để biến ý đồ này thành hiện thực.      Những núi băng trôi nổi   Phải chăng những núi băng khổng lồ là chìa khoá để giải quyết nạn khan hiếm nước ở Nam Phi?  Với một ý tưởng đã có từ lâu nay người ta hy vọng giải quyết được nạn thiếu nước nghiêm trọng ở một thành phố lớn thuộc Nam Phi: Các núi băng ở Nam cực sẽ cung cấp nước cho thành phố Cape Town trước khi các hồ chứa nước ở thành phố này bị cạn kiệt. Ba năm liền Cape Town bị hạn nặng, nhờ các biện pháp tiết kiệm nước triệt để, thành phố này mới chống chọi được nạn hạn hán nghiêm trọng cho đến năm 2018. Nay là lúc người ta phải tính đến việc  đưa các núi băng Nam cực vào việc chống hạn, nếu mùa đông này tiếp tục vẫn không có mưa.  Tàu thuỷ sẽ dồn các núi băng ở Nam cực về điểm cực nam của Nam Phi. Khởi xướng sáng kiến này là ông Nick Sloane, một chuyên gia về cứu nạn, cứu hộ. Năm 2013 ông này đã tham gia vụ trục vớt tầu “Costa Concordia” của Italia bị hư hỏng. Ông và tập thể thuộc đội cứu nạn đang tìm nhà đầu tư cho dự án dịch chuyển núi băng của mình.  “Nếu cuộc khủng hoảng nước này không xử lý được thì chúng tôi sẽ chứng minh ý tưởng của mình, một ý tưởng mà cho đến nay chưa có ai nêu ra”, Sloane đã nói với Reuters. Thực ra ý tưởng này không phải hoàn toàn mới: Gần đây nhất, vào năm 2017 đã có một doanh nghiệp ở Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất đề xuất vấn đề này nhằm giải quyết vấn đề nước sinh hoạt tại đây.  Kỹ sư người Pháp Georges Mougin là người đầu tiên đưa ra ý tưởng đưa núi băng ở vùng cực về các vùng bị thiếu nước. Cuối những năm 1970 tại Hoa kỳ thậm chí đã có các hội nghị thảo luận về các kế hoạch này. Cho đến nay đã có một số thử nghiệm song bị thất bại vì những thách thức về công nghệ cũng như chi phí quá lớn.  Dù sao thì hiện nay sang kiến này không còn là chuyện xa vời so với các kế hoạch được nêu lên trước đây. Một phần vì Nam Phi khá gần khu vực các núi băng, vả lại vùng biển Nam Cực từ lâu đã được nghiên cứu sâu rộng với các công nghệ, thiết bị máy móc tân tiến. Trong quá trình vận chuyển người ta có thể chủ yếu dựa vào dòng chảy và hướng các núi băng trôi về hướng Bắc cho đến khi chúng được tiếp cận với dòng chảy Benguela và từ đây cung cấp nước cho thành phố Cape Town.  Hơn nữa còn có công nghệ thu gom các tảng băng trôi nổi thông qua các tầu thuỷ đặc biệt vốn có nhiệm vụ bảo vệ các dàn khoan trên Bắc Đại tây dương.  Vấn đề đặt ra là liệu thủ thuật này có thể áp dụng được ở vùng biển Nam cực với điều kiện khắc nghiệt hơn hay không: Vùng biển nam cực vốn khét tiếng vì thường có các cơn bão hết sức dữ dội và khó lường. Nếu mọi chuyện ổn thoả thì quá trình thực hiện cũng vô cùng tốn kém. Rất có thể chỉ có những người giàu có mới có khả năng chi trả và kham nổi loại nước ăn quý hiếm từ Nam cực đưa về.   Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.handelsblatt.com/technik/energie-umwelt/wasser-aus-der-antarktis-eisberge-sollen-kapstadt-vor-duerre-retten/21239554.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 4      Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 4 sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 12/3 với chủ đề: “Cà phê Buôn Ma Thuột liên kết và phát triển”.    Tại buổi họp báo ngày 15/1 tại TP.HCM, ông Lý Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Đầu tư và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, cho biết: “Mục đích của việc tổ chức Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 4 năm 2013 là quảng bá sâu rộng về Chỉ dẫn địa lý “Cà phê Buôn Ma Thuột”; củng cố mặt hàng cà phê tiếp tục là 1 trong 7 sản phẩm của quốc gia có giá trị xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD và khẳng định vị trí quan trọng của cà phê Việt Nam trong ngành cà phê thế giới.”  Trung Nguyên sẽ tiếp tục đồng hành cùng với UBND tỉnh Đắk  Lắk tổ chức lễ hội cà phê lần này với các hoạt động chính: Chuỗi hoạt động Sáng tạo khởi nghiệp cho thanh niên, Cuộc thi Nữ hoàng cà phê, Chuỗi Coffee tour, Gian hàng hội chợ triển lãm cà phê giới thiệu năm nền văn hoá cà phê tiêu biểu: Ethiopia, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam, Lễ hội đường phố...  Là người khởi xướng ý tưởng tổ chức Lễ hội cà phê nhằm thúc đẩy quảng bá thương hiệu cho cà phê Việt Nam từ lần đầu tiên vào năm 2005, ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Tổng Giám đốc Trung Nguyên, cho biết: “Tham gia lễ hội cà phê lần thứ 4, chúng tôi tiếp tục cam kết vai trò là doanh nghiệp tiên phong trong ngành, đi đầu trong chiến lược nâng cao lượng tiêu thụ cà phê nội địa, đồng thời nỗ lực bảo vệ sự bền vững vùng nguyên liệu cà phê quốc gia. Vừa qua, chúng tôi đã đệ trình lên Chính phủ dự án Cụm ngành cà phê quốc gia với 3 mục tiêu: Thịnh Vượng, Bền vững và Bản sắc, được sự ủng hộ và đồng thuận cao độ từ cấp Chính Phủ, Nhà nước tới địa phương với mô hình mẫu dự tính sẽ được thực hiện tại Đắk Lắk. Dự án được trông đợi sẽ tạo ra 5-6 triệu việc làm và mang lại giá trị 20 tỷ USD cho ngành cà phê Việt Nam trong 15 năm tới. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị ban ngành trong công tác xây dựng thế hệ thanh niên địa phương, giúp các em vươn lên làm giàu ngay tại quê hương, vì chính lợi ích của các em, gia đình các em, bà con buôn làng của các em, đồng thời giữ gìn và phát huy được bản sắc của cộng đồng. Chúng tôi sẽ tiếp tục đề xuất những sáng kiến, chiến lược cho ngành cà phê Việt Nam cũng như cho sự phát triển của Việt Nam, để chúng ta có thể tự tin đua tranh và thành công ở tầm mức toàn cầu!”        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8: Ấn tượng về một điểm đến của cà phê thế giới      Sau 5 ngày tổ chức, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 với chủ đề “Buôn Ma Thuột – Điểm đến của cà phê thế giới” đã khép lại vào ngày 14/3 vừa qua, để lại nhiều ấn tượng về một vùng đất giàu giá trị lịch sử và bản sắc văn hóa, thủ phủ của cường quốc cà phê Robusta hàng đầu thế giới.    Diễn ra từ ngày 10 đến 14/3/2023, lễ hội đã thu hút hơn 90.000 lượt du khách, trong đó có 600 lượt du khách quốc tế đến với Đắk Lắk. Theo Ban tổ chức, lễ hội là một dấu mốc quan trọng để tiếp tục cuộc hành trình tôn vinh sản phẩm cà phê Việt Nam, đặc biệt là thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột trên trường quốc tế; quảng bá phát triển cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản, với mục tiêu đưa Buôn Ma Thuột trở thành “Điểm đến của cà phê thế giới”, “Thành phố cà phê thế giới”.  Đến với Lễ hội, du khách đã được trải nghiệm 18 chương trình chính đặc sắc. Trong đó, Hội chợ Triển lãm chuyên ngành cà phê “Cà phê Buôn Ma Thuột – Vững bước hội nhập” thu hút hơn 400 gian hàng tiêu chuẩn, 150 doanh nghiệp trong nước và quốc tế tham gia. Riêng gian hàng cà phê năng lượng Trung Nguyên Legend đem đến những trải nghiệm về ba nền văn minh cà phê thế giới Ottoman – Roman – Thiền đã tiếp đón khoảng 50.000 lượt khách tham quan và phục vụ 20.000 ly cà phê miễn phí.  Đây cũng là lần đầu tiên Trung Nguyên Legend giới thiệu, quảng bá rộng rãi những câu chuyện về lịch sử, văn hóa thưởng lãm cùng hệ sản phẩm, công cụ dụng cụ pha chế theo ba nền văn minh cà phê đến cộng đồng. Đặc biệt, gian hàng Trung Nguyên Legend còn diễn ra các hoạt động sôi nổi như: tiết mục trình diễn nghệ thuật theo ba nền văn minh cà phê thế giới, trao tặng hàng ngàn cuốn sách nền tảng đổi đời thuộc “Hành trình từ trái tim”…  Các đoàn khách quý ghé thăm thích thú với những hoạt động diễn ra tại Bảo tàng Thế giới Cà phê  Là một trong những hoạt động được mong chờ nhất, Lễ hội đường phố năm nay với chủ đề “Buôn Ma Thuột – Nơi hội tụ 3 nền văn minh cà phê thế giới” đã thu hút hơn 20,000 người dân và du khách trong nước lẫn quốc tế, trải dài từ trung tâm Ngã sáu đến Quảng trường 10/3, để đón xem các tiết mục diễu hành cùng chương trình nghệ thuật độc đáo. Nhân dịp kỷ niệm 48 năm Ngày lịch sử Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, trên cương vị Nhà tài trợ Đặc biệt, Trung Nguyên Legend đã mang đến một lễ hội đường phố với nhiều tiết mục sáng tạo và quy tụ hàng nghìn diễn viên, nghệ sỹ, các đoàn nghệ thuật đường phố trong nước, quốc tế… biểu diễn.  Nổi bật trong chuỗi hoạt động lễ hội là sự kiện “Ngày hội cà phê miễn phí”. Trên địa bàn thành phố có 472 cơ sở kinh doanh tham gia chương trình mời khách hàng uống cà phê miễn phí. Phố thưởng thức cà phê miễn phí trên tuyến đường Phan Đình Giót cũng là nét mới trong dịp Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 năm 2023. Đồng thời, là tiền đề để UBND thành phố nghiên cứu, triển khai phố đi bộ trong thời gian tới.  Hưởng ứng lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8, các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã xây dựng 42 chương trình tour du lịch. Bên cạnh hoạt động du lịch trải nghiệm như đạp xe, leo núi, chèo thuyền vượt thác, nhiều tuyến được thiết kế cho du khách tìm hiểu đời sống, văn hóa, ẩm thực, phong tục tập quán của đồng bào sinh sống tại đây.  Các điểm mới của lễ hội năm nay như Lễ hội Ánh sáng với chủ đề “Thế giới cà phê – Bừng sáng Ban Mê”, Hội thi chế tác sản phẩm mỹ nghệ từ cây cà phê, đã tạo ra không khí vui tươi, góp phần vào thành công của Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8. Đồng thời, hai triển lãm nghệ thuật về cà phê: Triển lãm ảnh chuyên đề “Lịch sử cà phê thế giới” và Triển lãm ảnh nghệ thuật chủ đề “Cà phê Việt Nam – Hành trình kiến tạo di sản văn hóa thế giới”, lần đầu tiên tổ chức tại Bảo tàng Thế giới Cà phê đã thu hút hơn 40,000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan.  Trong khuôn khổ Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 năm 2023, bên cạnh các hoạt động hội hấp dẫn, đặc sắc còn có các chương trình hội thảo như hội nghị kết nối giao thương quốc tế năm 2023 “Cà phê Buôn Ma Thuột – Kết nối đam mê và khát vọng phát triển”, hội thảo phát triển cà phê Việt Nam chất lượng cao “Xây dựng chuỗi ngành hàng cà phê Việt Nam chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”. Qua đây, các nhà quản lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp trong ngành cà phê trong nước và quốc tế đã trao đổi kinh nghiệm về việc xây dựng giải pháp, nhằm đẩy mạnh thương hiệu, giá trị cà phê Việt Nam trên toàn cầu trong thời gian tới. Tại Hội nghị kết nối giao thương quốc tế năm 2023, Tập đoàn Trung Nguyên Legend tiếp tục chia sẻ những sáng kiến và kinh nghiệm để cùng chung tay hiện thực hóa đề án xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành “Thành phố cà phê của thế giới”. Cũng tại hội nghị, các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu cà phê trong và ngoài nước đã ký kết 10 biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác, kết nối giao thương.  Tại lễ Bế mạc lễ hội diễn ra vào ngày 14/3/2023 “Buôn Ma Thuột, thành phố cà phê – Nơi khởi nguồn sáng tạo”, Ban tổ chức đã ghi nhận và trao tặng bằng khen cho sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp vào thành công chung của Lễ hội. Trong đó, Tập đoàn Trung Nguyên Legend vinh dự nhận 3 bằng khen cho tập thể và 2 bằng khen cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong các hoạt động của lễ hội.  PV    Author                .        
__label__tiasang Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8: Những điểm nhấn văn hóa      Khai mạc vào sáng ngày 9/3/2023, triển lãm chuyên đề “Lịch sử cà phê thế giới” và triển lãm ảnh nghệ thuật “Cà phê Việt Nam – Hành trình kiến tạo di sản văn hoá thế giới” đã trở thành hai điểm đến văn hóa thu hút người thưởng lãm trong khuôn khổ Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8.    Ban tổ chức Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 8 năm 2023 thực hiện nghi thức khai mạc triển lãm chuyên đề tại Bảo tàng Thế giới Cà phê  Diễn ra tại Bảo tàng Thế giới Cà phê, hai cuộc triển lãm đã thu hút hơn 5.000 lượt khách tham quan trực tiếp và hàng nghìn lượt theo dõi trên các nền tảng trực tuyến ngay trong ngày đầu khai mạc. Có lẽ, ở không gian dành riêng cho cà phê này, người ta mới cảm nhận được trọn vẹn những dấu ấn lịch sử và những vẻ đẹp độc đáo của thứ sản vật có nguồn gốc từ Ethiopia rồi bén rễ ở Việt Nam đem lại. Cả một hành trình dài, tiếp nhận những tinh túy văn hóa, tinh thần khi qua nhiều vùng đất, cà phê đã trở thành một thức uống chứa đựng nhiều ý nghĩa. Theo Trung Nguyên Legend, đơn vị đồng hành với Buôn Mê Thuột tổ chức Lễ hội cà phê, thì cà phê có nguồn gốc từ Ethiopia và phát triển, hình thành nền văn minh cà phê Ottoman (phương Đông) rồi du nhập và phát triển bởi phương Tây tạo nên nền văn minh cà phê Roman. Từ đây, người phương Tây lại mang cà phê trở về phương Đông trồng trọt, tạo ra những vùng nguyên liệu rộng lớn, đem lại cho con người một thức uống năng lượng không thể thiếu trong đời sống. Cà phê đã sinh ra, phát triển như một vòng tuần hoàn từ Đông sang Tây rồi lại quay trở về nguồn cội, tìm kiếm văn minh phương Đông.  Du khách tìm hiểu nội dung “vành đai cà phê” của triễn lãm chuyên đề “Lịch sử cà phê thế giới”  Dựa trên những khảo luận của “Cà phê triết đạo” này, triển lãm chuyên đề “Lịch sử cà phê thế giới” được Bảo tàng Thế giới Cà phê xây dựng với ba nội dung chính, xuyên suốt hơn 12 thế kỷ của ngành cà phê thế giới và Việt Nam gồm: Văn minh cà phê Ottoman, Văn minh cà phê Roman, Văn minh cà phê Thiền cùng thông điệp “cả vũ trụ trong một tách cà phê”. Điểm đặc biệt của triển lãm là có hai khu vực trưng bày: trong lòng Bảo tàng Thế giới Cà phê và khuôn viên ngoài trời, giúp tất cả du khách tới Buôn Ma Thuột đều có thể tham quan miễn phí.  “Ở không gian trưng bày triển lãm ngoài trời “vành đai cà phê”, tôi được tìm hiểu về 51 quốc gia, vùng lãnh thổ, là các quốc gia dọc theo đường xích đạo, có điều kiện thổ nhưỡng giúp cây cà phê sinh trưởng và phát triển, trong đó có Việt Nam. Nội dung trên các biển thông tin dễ theo dõi, thú vị, đa dạng như: lịch sử và quá trình phát triển ngành cà phê, sản lượng cà phê trồng được, loại cà phê nổi tiếng, thổ nhưỡng, khí hậu đặc trưng cũng như giá trị ngành cà phê đóng góp cho từng nền kinh tế…. thuộc mỗi quốc gia ấy; còn không gian trưng bày triển lãm trong lòng Bảo tàng Thế giới Cà phê thì vô cùng sáng tạo, độc đáo, khéo léo kết hợp giữa nội dung, hiện vật,… giúp mỗi khu vực trưng bày trở thành một không gian nghệ thuật!” – Chị Phạm Hải An, du khách đến từ Nha Trang chia sẻ.  Với lịch sử hơn 12 thế kỷ, cà phê đi sâu vào đời sống trở thành văn hoá của nhiều vùng đất, nhiều quốc gia và trở thành di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, được UNESCO công nhận như: cà phê Vienna (Áo), Cảnh quan văn hoá cà phê Colombia, Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ (hay còn gọi là cà phê Ottoman), Nghi thức cà phê Ả Rập… Di sản văn hoá cà phê đã góp phần thu hút hàng triệu du khách tới tham quan, trải nghiệm tại các quốc gia này, thúc đẩy du lịch phát triển và tạo giá trị toàn chuỗi ngành cà phê tăng trưởng hàng tỷ đô la mỗi năm. Ví dụ, riêng tại Áo, vào năm 2019 đã đón gần 32 triệu lượt khách quốc tế trong đó di sản phi vật thể “cà phê Vienna” đóng góp một phần quan trọng trong trải nghiệm văn hoá của du khách. Tại Italia, người Ý cũng đang trong tiến trình đưa cà phê Espresso trở thành di sản văn hóa nhân loại…  Trung Nguyên Legend đã khởi xướng, cùng Buôn Ma Thuột đưa cà phê Việt Nam trở thành di sản văn hoá thế giới  Không chỉ đồng hành trong các dịp Lễ hội Cà phê, Trung Nguyên Legend còn đồng hành trong Đề án phát triển thương hiệu thành phố Buôn Ma Thuột trở thành “Thành phố cà phê của thế giới”, nỗ lực đưa Cà phê Việt Nam trở thành di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận. Tại khuôn khổ Lễ hội cà phê lần 8 năm 2023, Trung Nguyên Legend phối hợp với Ban tổ chức Lễ hội Cà phê tỉnh Đắk Lắk, hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk phát động cuộc thi ảnh nghệ thuật “Cà phê Việt Nam – Hành trình kiến tạo di sản văn hóa thế giới” từ ngày 23/11/2022 đến ngày 21/2/2023.  Ban khám khảo cuộc thi đã chọn được 76 tác phẩm để tổ chức triển lãm, từ hơn 1.100 tác phẩm dự thi của hơn 170 tác giả, đến từ hơn 30 tỉnh thành cả nước. Cũng tại Lễ khai mạc triển lãm này, Ban tổ chức cuộc thi đã trao 4 giải đặc biệt dành cho 4 tác giả có tác phẩm xuất sắc nhất; 10 giải khuyến khích và 01 giải do cộng đồng bình chọn. Đây cũng là triển lãm ảnh nghệ thuật về ngành cà phê Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức trong khuôn khổ Lễ hội Cà phê.  PV       Author                .        
__label__tiasang Lễ hội hoa Cà phê      Tr&#234;n thế giới mỗi ng&#224;y diễn ra rất nhiều lễ v&#224; hội cũng như lễ hội. C&#243; lễ mang t&#237;nh t&#244;n gi&#225;o, t&#226;m linh, c&#243; hội đ&#250;ng nghĩa hội h&#232; vui chơi giải tr&#237;, v&#224; cũng kh&#244;ng &#237;t lễ hội vừa đậm chất lễ vừa lan tỏa chất Hội. Lễ hội T&#233; nước của người Th&#225;i, người L&#224;o cầu may, cầu lộc, cầu hạnh ph&#250;c. Lễ hội hoa Anh đ&#224;o của người Nhật mang t&#237;nh triết l&#253; về lối sống của người Nhật: &#8220;Sống – d&#226;ng hiến hết m&#236;nh, tỏa sắc, tỏa hương như hoa anh đ&#224;o, chết – thanh thản như c&#225;nh hoa anh đ&#224;o về với đất&#8221;. Lễ hội Carnaval của nhiều quốc gia đều thăng hoa c&#225;i đẹp, sức sống quyến rũ v&#224; những truyền thống văn h&#243;a độc đ&#225;o.    Ở Việt Nam cũng có rất nhiều lễ hội như Lễ hội Đền Hùng, Lễ hội Cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, Lễ hội Quan họ Bắc Ninh… tôn vinh những truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời của người Việt. Và giờ đây trong Dự án Thủ phủ cà phê toàn cầu của Trung Nguyên có dự án về một lễ hội mang tính toàn cầu hội tụ những khát khao của nhân loại về một thế giới hài hòa, phát triển, bền vững, tôn vinh các giá trị tinh thần xanh, không gian xanh, kinh tế xanh được vun đắp bởi trách nhiệm nhân văn, dâng hiến, sáng tạo mạnh mẽ của mỗi con người dù ở bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào đối với hành tinh chúng ta đang sống, đối với cộng đồng chúng ta đang tồn tại.  Tháng 4/2008 tại Hội trại Sáng tạo Tây Nguyên ở Mad’rắc do Trung Nguyên tổ chức, nhiều chuyên gia văn hóa, xã hội, lịch sử, kinh tế, văn học nghệ thuật hàng đầu Việt Nam đã bàn thảo chiến lược cũng như những kịch bản cốt lõi cho Lễ hội hoa Cà phê. Tất cả đồng thuận ở tư tưởng, tính toàn cầu, tính văn hóa độc đáo, vừa mang bản sắc truyền thống vừa mang tính tinh hoa hiện đại, và, là một ngày hội thực sự của những người trồng cà phê, những người say mê thưởng thức cà phê, những người là tín đồ của tinh thần khai sáng cà phê, những người đang ngày đêm sáng tạo cống hiến cho nhân loại mà nguồn năng lượng chính từ các giá trị của cà phê… Và, khẳng định sẽ phấn đấu đưa thương hiệu của Lễ hội hoa Cà phê trở thành lễ hội có ý nghĩa nhất, hội tụ lớn nhất, có tầm ảnh hưởng toàn cầu lớn nhất trong các lễ hội trên thế giới.  Bước đầu một loạt hoạt động cần có một lễ hội đã được hoạch định cụ thể như các lễ nghi gieo hạt cà phê, cầu mưa cho cà phê, đón mừng hoa cà phê, rước hoa cà phê vào Đền thờ Cà phê (sẽ được xây dựng ở Thủ phủ Cà phê), được thiết kế ở tầm văn hóa cao mang bản sắc Tây Nguyên và tinh hoa văn hóa nhiều quốc gia trồng cà phê khác nhưng lại thể hiện tính toàn cầu.  Rồi các hoạt động phong phú đa dạng nhiều bản sắc nhưng lại chung một tinh thần của nền kinh tế xanh mà cà phê mang lại Hội tụ – Hài hòa – Bền vững của những người trồng cà phê, những người say mê cà phê, những tín đồ cà phê. Tại Lễ hội sẽ tưng bừng và không kém phần sâu sắc, tinh tế diễn ra các “hội” uống cà phê dù với nhiều chất liệu khác nhau, phong cách, nghi thức uống khác nhau của nhiều con người từ nhiều vùng miền, tôn giáo, thể chế chính trị khác nhau nhưng bên ly cà phê – ngôn ngữ thứ hai (theo Luận thuyết của Trung Nguyên) sẽ tìm ra tiếng nói chung: Tiếng nói của Sáng tạo cho sự bền vững, văn minh toàn cầu mà Sáng tạo được cà phê khơi nguồn, kích thích, nói như bà Nguyễn Thị Bình đó chính là động lực phát triển quốc gia, và, ở bình diện toàn cầu, đó cũng chính là động lực phát triển thế giới. Bên ly cà phê tại lễ hội, con người, các trí tuệ khác nhau gắn kết thân thiện với nhau, và đó chính là sức mạnh toàn cầu không phải chỉ ở thế giới phẳng mà bước đột phá công nghệ thông tin đem lại, mà là sức mạnh toàn cầu từ Thế giới xanh của kinh tế xanh mang lại.  Những lợi ích cho Việt Nam, đặc biệt là cho Tây Nguyên, cho hàng triệu nông dân trồng cà phê của Tây Nguyên mà Lễ hội hoa Cà phê nếu được thực hiện mang lại là vô giá mà bất cứ nhà hoạch định chính sách, kinh tế nào cũng dễ dàng nhận ra. Cái tinh thần  – “chỉ có sự phát triển mới tạo nên sự ổn định bền vững” cho vùng đất nhạy cảm này hơn bao giờ hết sẽ được minh chứng. Và, điều đặc biệt, thông qua mô hình Lễ hội hoa Cà phê cũng như mô hình “Thủ phủ Cà phê” Việt Nam sẽ đóng gói được các giá trị để nâng tầm cao của mình hòa nhập “Toàn cầu hóa” một cách chủ động nhất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lean Startup: Tránh những “thất bại đau thương”      Phan Hoàng Lan, một trong số các tác giả chính của Đề án “Xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2020” chia sẻ với tôi rằng khi chị hỏi các startup xem họ đang ở giai đoạn phát triển nào thì nhiều người trong số họ trả lời rằng công ty đã có rất nhiều khách hàng và sắp chiếm lĩnh thị trường, chuẩn bị đến giai đoạn chào bán cổ phiếu ra công chúng đến nơi rồi trong khi các huấn luyện viên khởi nghiệp thì đánh giá rằng các startup này đang ở giai đoạn đầu tiên, mới có sản phẩm  tối thiểu (minimum viable product) và số khách hàng hiện tại của họ…chưa ăn thua gì cả!      Steve Blank, cha đẻ của Lean Startup (đứng thứ ba từ phải sang) với các nhà khoa học, kỹ sư tham dự khóa Innovation Corps đầu tiên. Nguồn ảnh: Steveblank.com.  Tôi nhớ đến ví dụ này khi nhận được bài viết về thang đo mức độ sẵn sàng nhận đầu tư. Ít nhất, khi sử dụng thang đo này, startup có thể đánh giá được mình đang ở giai đoạn nào và thuyết phục nhà đầu tư ra sao. Từ trước đến nay, mỗi khi được hỏi về tiêu chí lựa chọn startup, các nhà đầu tư mạo hiểm thường đưa ra các yếu tố rất “trừu tượng” và rất khó định lượng như đội ngũ sáng lập có hoài bão không, sản phẩm gì đột phá, tiềm năng thị trường có lớn không. Thành ra, sự mơ hồ của các tiêu chí này khiến startup không dám đến gặp nhà đầu tư, hoặc ngược lại, quá “ảo tưởng sức mạnh”. Vì vậy, đưa ra một “thang đo” cụ thể tiềm năng của họ, chẳng phải là quá tốt hay sao?  Công cụ về thang đo mức độ sẵn sàng nhận đầu tư chỉ là một trong số nhiều công cụ khởi nghiệp đã được giới thiệu trên Tia Sáng. Tuy nhiên, mặc dù các công cụ được giới thiệu đều gắn liền với những vấn đề cấp bách nhất, phổ biến nhất của các công ty khởi nghiệp, dường như vẫn chưa làm các startup quan tâm. Khi gửi bài viết về các công cụ này, nhiều startup phản hồi là những công cụ này quá mới và ngần ngại áp dụng vì cho rằng nó mang tính lý thuyết, không thiết thực trong thực tế.    Có lẽ, không nhiều người biết rằng, những công cụ này thực chất được đúc rút từ thực tiễn khởi nghiệp của Steve Blank với 20 năm khởi nghiệp tám startup, trong đó có bốn startup đã trở thành công ty đại chúng.  Chúng chính là sự cụ thể hóa của tinh thần khởi nghiệp tinh gọn – Lean Startup để startup áp dụng và tránh những “thất bại đau thương”, thay đổi “lời nguyền”: cứ 10 startup thì có chín cái thất bại.  Lean Startup của Steve Blank đã trở thành một công thức mẫu mực trong khởi nghiệp, được giảng dạy trong những trường đại học về kinh doanh hàng đầu thế giới từ năm 2011.    Vòng lặp của Lean Startup: Học hỏi – Xây dựng – Đánh giá. Nguồn ảnh: Quicket.  Tinh thần của Lean Startup  Lean Startup không chỉ mới, nó buộc nhiều người phải thay đổi tư duy về khởi nghiệp. Cho đến bây giờ, vẫn rất nhiều người nghĩ về khởi sự kinh doanh theo mô típ cũ, đó là: có một ý tưởng, viết một kế hoạch kinh doanh, xin tiền, kêu gọi một đội ngũ, xây dựng sản phẩm và cuối cùng là “điên cuồng” bán sản phẩm đó. Kết cục là, rất có thể, sau một thời gian dài “vật vã”, startup mới “ngớ ra”: sản phẩm họ đưa ra thị trường không phải là cái mà khách hàng thực sự cần.  Quan niệm “truyền thống” trên mặc định mô hình kinh doanh là bước đầu tiên phải xong xuôi trước khi khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, với Lean Startup, đó lại điều mà startup phải đi tìm trong suốt quá trình “vật lộn” của mình. Khởi nghiệp tinh gọn bắt đầu với công cụ Business Model Canvas (Mô hình kinh doanh canvas). Đây không phải là mô hình kinh doanh thông thường mà chỉ là các giả thiết mà một người khởi sự kinh doanh hình dung về công ty và sản phẩm của mình (Phục vụ cho phân khúc nào? Giá trị mang lại cho họ? Làm thế nào để thiết lập quan hệ với họ? Dòng tiền thu về bằng cách nào? Hoạt động trọng yếu nào? Những đối tác chính? Cơ cấu chi phí?) và quá trình họ kinh doanh cũng là quá trình họ kiểm nghiệm và chỉnh sửa những giả thuyết này. Hai doanh nghiệp mà Tia Sáng có điều kiện hỏi là Bếp Thế hệ xanh và Fargreen thì đều trả lời rằng họ áp dụng Business Model Canvas thường xuyên.  Vậy quá trình “vật lộn” đó diễn ra thế nào? Trước đây, tôi từng có dịp nói chuyện với một startup được cho là thành công trong chương trình Thung lũng Silicon Việt Nam (VSV) thì người sáng lập cho biết họ chỉ đưa sản phẩm ra thị trường khi nó “hoàn hảo”. Với tư duy này, startup ban đầu sẽ “đóng cửa then cài trong phòng” một thời gian dài cho đến khi rất ưng ý về sản phẩm rồi mới đem ra thị trường. Nhưng lúc đó, nếu khách hàng đón nhận thì may, còn nếu không thì công ty sẽ sụp đổ hoặc gần như sụp đổ. Lean Startup kêu gọi các nhà khởi nghiệp phải “xách ba lô lên và đi”, “ra khỏi phòng” từ những ngày đầu tiên, liên tục hỏi và trò chuyện các khách hàng, đối tác tiềm năng…để kiểm chứng các giả thuyết của mình xem có đúng không. Và để như vậy thì startup nói chung nên gạt bỏ nỗi lo sợ bị “ăn cắp” mất ý tưởng mà phải ưu tiên nhận phản hồi của khách hàng. (Vả lại, nói chung, ý tưởng thì có hàng ngàn cái giông giống nhau nhưng bí quyết của ý tưởng thành công nằm ở khâu thực hiện).  Theo khởi nghiệp tinh gọn thì dĩ nhiên, không có sản phẩm nào “hoàn hảo” ngay từ đầu cả mà startup ban đầu sẽ đưa ra một sản phẩm có tính năng tối thiểu, thử nghiệm ngay trong một nhóm khách hàng, nhận phản hồi và cải tiến. Sau khi cải tiến, sẽ lại tiếp tục đưa cho khách hàng, đối tác, nhận phải hồi và cải tiến tiếp…Đây là một quá trình liên tục mà nhiều người vẫn gọi là “fail fast, fail cheap” (thất bại nhanh, thất bại rẻ) thay vì một cú “rơi thẳng xuống vực” nếu theo cách làm cũ. Quy trình này lấy cảm hứng từ công cụ phát triển phần mềm agile (agile development) tránh tối đa những lãng phí về nguồn lực khi phát triển sản phẩm.  Công cụ không chỉ dành cho startup  Các công cụ sinh ra từ trào lưu khởi nghiệp tinh gọn thường tập trung vào cách thức đo lường, đánh giá khách hàng, làm thế nào để thu về các phản hồi nhanh nhất và sau đó là làm thế nào để phân tích và sử dụng các phản hồi này. Chẳng hạn, trong số này, thang đo mức độ sẵn sàng để đầu tư được phát triển dựa trên Business Model Canvas hướng dẫn những nhà khởi nghiệp sử dụng các số liệu, thông tin từ quá trình phát triển sản phẩm và phản hồi khách hàng để định vị bản thân và gặp gỡ các nhà đầu tư với những bằng chứng thuyết phục đi từ giả thuyết trong Business Model Canvas: Đây là điều chúng tôi nghĩ; Thử nghiệm: Đây là điều chúng tôi làm; Dữ liệu phản hồi từ khách hàng: Đây là điều chúng tôi học được; Hành động: Đây là cái chúng tôi sẽ làm tiếp theo1.  Có một phản hồi khác của một nhà khởi nghiệp, thực ra cũng là suy nghĩ của tôi từ lâu, đó là độc giả của Tia Sáng không có nhiều doanh nhân khởi nghiệp, nếu không cẩn thận thì rồi cũng như phát triển sản phẩm kiểu tư duy truyền thống: cứ cố viết cho hay, cố làm cho tốt nhưng rồi lại không phải là cái khách hàng cần. Tuy nhiên, cách tiếp cận của khởi nghiệp tinh gọn không chỉ được áp dụng cho các công ty khởi nghiệp mà còn áp dụng cho cả việc triển khai các dự án mới. Có người còn cho rằng, cách tiếp cận của khởi nghiệp tinh gọn có thể áp dụng cho tất cả mọi thứ, kể cả trong cuộc sống cá nhân!  Tinh thần của khởi nghiệp tinh gọn là làm thế nào để có thể nhận được phản hồi từ khách hàng và ngay lập tức quay trở lại để cập nhật sản phẩm. Một trong những tập đoàn lớn áp dụng khởi nghiệp tinh gọn thành công là General Electric (GE) với mong muốn tìm lại “vinh quang” cho ngành công nghiệp chế tạo của Mỹ, cạnh tranh trực tiếp với các “ngôi sao” trong ngành thiết bị điện gia dụng của Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico. Họ giảm thời gian nghiên cứu cho đến ra mắt sản phẩm từ ba năm sang còn từ 1-1.5 năm. Những người phát triển sản phẩm là một nhóm rất ít người và thay vì làm việc theo hình tháp kiểu truyền thống: từ yêu cầu của đội ngũ bán hàng – đội ngũ kỹ sư – đội ngũ thiết kế – đội ngũ sản xuất – đội ngũ bán hàng thì đội ngũ này sẽ ngồi cùng với đội ngũ bán hàng để liên tục lắng nghe phản hồi từ khách hàng (đây là một trải nghiệm “đau khổ” đối với các kỹ sư vì họ không muốn ai chê “đứa con” của mình) và sau đó cùng ngồi với đội ngũ thiết kế, sản xuất để thử sản phẩm, nắm rõ thông số và yêu cầu của đối tác…Trong một năm từ 2013-2014, GE đã hoàn thiện sản phẩm đầu tiên, nhận được phản hồi tích cực từ khách hàng sau sáu phiên bản.  Lean Startup cũng được sử dụng để có thể thử nghiệm những ý tưởng xem chúng có thực sự viển vông hay không. Phương thức này cũng được áp dụng vào việc thương mại hóa các nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm thông qua chương trình Innovation Corps của quỹ Khoa học quốc gia Mỹ – NSF. Ban đầu, họ lựa chọn 21 dự án tiềm năng với khoảng 63 nhà khoa học và các kỹ sư tham dự lớp học trong bảy tuần về các công cụ cơ bản như Business Model Canvas và Phát triển khách hàng trong Lean Startup của Steve Blank. Sau hai năm, Steve Blank tổng kết rằng, những nhà khoa học tham dự lớp của ông có khả năng gọi vốn cho dự án của mình cao hơn gấp ba lần so với những người khác. Innovation Corps hiện nay tuyển chọn 25 dự án cho mỗi quý.    Tuy nhiên, để một công ty áp dụng các công cụ của khởi nghiệp tinh gọn vào không phải là chuyện một sớm một chiều. Mặc dù được đúc kết từ thực tiễn nhưng khi đọc về các công cụ này, nhiều người vẫn thấy chúng mang tính lý thuyết. Ngay cả Business Model Canvas, mặc dù rất nhiều người biết nhưng chưa có ý thức vận dụng nó. Chị Lê Huỳnh Kim Ngân, người sáng lập website đầu tiên về khởi nghiệp ở Việt Nam Action.vn chia sẻ với tôi rằng, ban đầu quyển khởi nghiệp tinh gọn “quá hàn lâm” với chị, “phải startup rồi mới thấm”. Thông thường, theo chị Nguyễn Đặng Tuấn Minh, các công cụ này được áp dụng một cách hiệu quả và nhanh nhất thông qua các huấn luyện viên khởi nghiệp hoặc các chương trình ươm tạo, tăng tốc khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu không, người ta vẫn có thể tự học và thực hành ban đầu theo phương châm “thử và sai”, “fail fast, fail cheap”.  ——–  1 https://steveblank.com/2013/11/25 /its-time-to-play-moneyball-the-investment-readiness-level/    Author                Nguyên Hạnh        
__label__tiasang “Lên đời” quả măng cụt Tân Qui      Mới đây cây măng cụt ở Tân Qui (xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh) đã bắt đầu được sản xuất, thu hái theo tiêu chuẩn VietGap để nâng cao thương hiệu trên thị trường. Tiếp theo, kế hoạch trong tương lai gần là đưa măng cụt Tân Qui lên tầm tiêu chuẩn GlobalGap để tiếp cận thị trường châu Âu.  &#160;    Dự án “Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể ‘Măng cụt Tân Qui’ cho sản phẩm măng cụt cù lao Tân Qui” do Sở KH&CN Trà Vinh thực hiện đã đem lại một thương hiệu mới cho thứ quả đặc sản này trên thị trường.   Cây măng cụt đã được trồng cách đây hơn 100 năm trên đất Cù lao Tân Qui, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè. Với đặc điểm trái to, hạt nhỏ, vị ngọt thanh, vỏ màu tím đậm bắt mắt, măng cụt Tân Quí đã nhanh chóng được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng. Tuy nhiên, cũng như nhiều cây tồng khác, măng cụt Tân Qui nhiều khi vẫn phải lao đao trước những biến động thị trường, tư thương ép giá hoặc thu nhập của người nông dân trồng măng cụt vẫn còn ở mức thấp.   Để nâng cao giá trị của quả măng cụt Tân Qui, kỹ sư chế biến nông sản Trần Văn Nhàn đã nhận chủ trì dự án. Phối hợp với hợp tác xã Tân Thành, ông Nhàn đã xây dựng quy trình sản xuất, thu hái theo tiêu chuẩn VietGap. Với quy trình này, hơn 30 xã viên của hợp tác xã Tân Thành đã chăm bón vườn măng cụt theo những nguyên tắc nghiêm ngặt về kỹ thuật sản xuất, về an toàn thực phẩm, đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn của quả, về môi trường sản xuất và về nguồn gốc sản phẩm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ… Các xã viên đều được trải qua nhiều khóa tập huấn, nâng cao trình độ canh tác, ý thức bảo quản sản phẩm nhằm đem lại những trái măng cụt chất lượng đồng nhất, hình thức bắt mắt và nhất là an toàn cho người tiêu dùng.   Trải qua một vài mùa thử nghiệm, trái măng cụt Tân Qui đã được ghi nhận đạt tiêu chuẩn VietGap, gia tăng cả về sản lượng và giá trị sản phẩm, đặc biệt giá trị tăng từ 10-13%. Đây là cơ hội để nâng cao thương hiệu măng cụt Tân Qui trên thị trường, cải thiện đời sống người nông dân trồng măng cụt. Thành công của dự án cũng đem lại nhiều kinh nghiệm cho Sở KH&CN Trà Vinh xây dựng và phát triển nhiều danh hiệu sản phẩm đặc sản khác của tỉnh.   Chủ nhiệm hợp tác xã Tân Thành, ông Đỗ Văn Tài cho biết, hiện từ 22 ha trồng măng cụt của hợp tác xã Tân Thành, hàng năm thu hoạch khoảng 200 tấn trái. Trong một vài năm tới, ông sẽ có kế hoạch đưa măng cụt Tân Qui lên tầm tiêu chuẩn GlobalGap nhằm phấn đấu xuất khẩu măng cụt sang thị trường châu Âu.   Hiện nay trên thị trường Việt Nam mới có hai loại măng cụt được trao chứng nhận VietGap là Tân Qui và Gia An (thuộc trang trại Gia An ở Bon SrêÚ, Đăk Nia, Gia Nghĩa, Đắk Nông).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lên men bột mì bằng vỏ táo và mật ong      &#160;Tháng 7-2013, Doanh nghiệp tư nhân Bánh  kẹo Á châu (ABC) đã chính thức ra mắt người tiêu dùng tại TPHCM  10 sản phẩm mới cùng công nghệ làm bánh ngọt mới với tên gọi là Pre – Poolish. Sự  kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn của ABC khi họ trở  thành doanh nghiệp sản xuất bánh đầu tiên tại Việt Nam tự chế  tạo ra công thức mới sử dụng dinh dưỡng của vỏ táo và mật ong để lên  men bột mì và đưa ra công nghệ làm bánh hoàn toàn “Made in  Vietnam”.    Người đưa vỏ táo đến với mật ong…  “Khi người ta ăn táo, họ gọt vỏ. Tôi thấy tiếc vì vỏ táo mới chứa hàm lượng dinh dưỡng nhiều nhất. Một ý nghĩ hiện rõ trong đầu tôi – “Tại sao chúng ta không sử dụng nguồn thực phẩm chất lượng này vào trong công thức lên men bột mì?”, ông Kao Siêu Lực – giám đốc ABC kể lại ý tưởng ban đầu của ông.  Ý tưởng tuy đơn giản là thế nhưng dù đã mất rất nhiều công lao tìm tòi và nhiều lần thử nghiệm với thức ăn của men là đường và dinh dưỡng của vỏ táo nhưng vẫn không thấy hiệu quả. Không chấp nhận thất bại, ông lại dùng nước đường và cho thêm mật ong thì đã mang lại một hiệu quả bất ngờ. Ông nhận ra mình đã đi đúng hướng và tiếp tục nghiên cứu trong suốt một quá trình dài gần cả năm trời để đưa ra phương pháp lên men mới này.  Kết hợp giữa Phương pháp lên men táo – mật ong và Công nghệ làm bánh Pre – Poolish đã cho ra lò những sản phẩm đầu tiên với mùi thơm thiên nhiên trái cây hấp dẫn và hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn. Bánh mới có thể để lâu hơn loại bánh cũ hai ngày và có độ mềm hơn. Công nghệ làm bánh Pre – Poolish là phương thức ủ bột thời gian dài để tạo hương thơm tự nhiên. Thời gian ủ lên men càng lâu thì bánh càng thơm ngon. Trong công nghệ làm bánh này thứ quan trọng nhất là người làm bánh phải cân bằng được bột và nước. Phương pháp này rất ít được sử dụng ở Việt Nam vì nó rất khó làm và tốn nhiều thời gian.   Rồi ông Lực lại tiếp tục nghiên cứu để phát triển phương pháp làm bánh mới này. Đằng đẵng một thời gian dài, đến nay đã có 10 loại bánh có nhân khác nhau lần lượt ra đời. Để làm ra một chiếc bánh phải mất 30 giờ, trong đó công đoạn ủ lên men mất tới 24 giờ cộng với 6 giờ làm bánh.          Hiện nay ABC đã có hệ thống 29 cửa hàng tại  Việt Nam và năm cửa hàng tại Campuchia cùng với hai nhà máy làm việc hết  công suất. Dự kiến đến cuối năm nay, ABC sẽ đưa nhà máy thứ ba, trị giá  4 triệu USD vào hoạt động.        “Có người nói với tôi rằng cần gì phải hao công tổn sức để nghiên cứu ra một loại bánh trong khi doanh nghiệp vẫn làm ăn phát đạt. Hơn nữa, khi đã nghiên cứu thành công rồi, thì việc biến thành thành phẩm cũng tốn thời gian hơn mà giá thành thì tương đương. Tuy nhiên, tôi lại có tư tưởng khác, trên cả việc kinh doanh tôi muốn bản thân tôi, các cộng sự và toàn thể nhân viên của ABC phải không ngừng sáng tạo để luôn có những loại bánh mới cho người tiêu dùng” – ông Lực tâm sự. “Khi bạn nhận ra được giá trị to lớn của mục đích bạn muốn thay đổi và làm việc bằng cả sự nhiệt huyết, sự kiên trì và tấm lòng thì có khó mấy cũng có thể vượt qua. Tôi xin nhấn mạnh một điểm về nguyên liệu mà ABC sử dụng hoàn toàn là của những người nông dân Việt trồng trọt, sản xuất. Đã đến lúc chúng ta nên tôn vinh những con người, những sản phẩm được nuôi trồng do chính người Việt đang ngày ngày lao động.”    … và tạo ra dây chuyền máy làm bánh “Made in Vietnam”   Tất cả các dây chuyền làm bánh của ABC đều dán tem “Made in Vietnam” và đều đồng bộ hóa công nghệ Pre – Poolish. Và chuyện những chiếc máy mang thương hiệu Việt này cũng có gốc tích ý nghĩa lắm.   Là Chủ tịch Hiệp hội bánh mì Châu Á nên ông Lực có từng đi tham quan nhiều xưởng bánh nổi tiếng trên thế giới. Mỗi lần ông nhìn thấy những chiếc máy làm bánh bị lỗi không được sử dụng đều nhập về Việt Nam để chế tạo lại. Và rồi, từ sự kết hợp giữa bộ óc tìm tòi và bàn tay khéo léo của người thợ đầy kinh nghiệm, những chiếc máy tưởng như bỏ đi đó đã biến thành những dây chuyền hữu ích. Cộng với việc sử dụng công nghệ Pre – Poolish đã làm cho chiếc bánh không chỉ đẹp về kiểu dáng mà còn đầy hương vị.   Rồi những chiếc máy làm bánh mang thương hiệu “made in VietNam” này được xuất ra các nước như Singapore, Đài Loan, Philippines … Điều đáng nói là không chỉ nhận tiền trao vật mà ABC còn cử chuyên viên của mình sang đó để hướng dẫn các khâu làm bánh để đối tác có thể sử dụng những chiếc máy này có hiệu quả nhất. Trong vòng một tuần, khi bên khách hàng chắc chắn về sản phẩm của mình chạy tốt và có thể hoạt động bình thường thì mới cho nhân viên về. “Có như vậy họ mới tâm phục khẩu phục về sản phẩm và đánh giá cao sự chuyên nghiệp của nhân viên ABC” – ông Lực nói.  Cho tới thời điểm này, từ nguyên liệu, máy móc, sản phẩm của ABC đều mang thương hiệu của Việt Nam. Sự sáng tạo trong việc tạo ra công thức làm bánh, công nghệ làm bánh và cả việc đẩy mạnh thương hiệu Việt đã khiến cho người tiêu dùng tin ở tiệm bánh này. Giữa lúc các thương hiệu bánh ngọt nước ngoài đang đổ xô đến Việt Nam, thì việc giữ được khách hàng và không ngừng mở rộng kinh doanh như ABC là điều không phải ai cũng làm được.    “Chúng ta phải tự hào là những doanh nghiệp Việt có những sản phẩm tốt nhất, chất lượng nhất, không ngừng sáng tạo ra những sản phẩm mới có lợi cho người tiêu dùng và luôn luôn làm vì cái tâm”, ông Lực chia sẻ     Author                Quản trị        
__label__tiasang LHC tạo vật chất từ ánh sáng      Cỗ máy gia tốc hạt lớn (LHC) sử dụng phương trình nổi tiếng của Albert Einstein E = mc2, để chuyển đổi vật chất thành năng lượng, sau đó trở lại thành những hình thức khác của vật chất. Nhưng trong những cơ hội hiếm hoi, nó có thể bỏ qua bước đầu tiên và va chạm thành năng lượng thuần túy – trong hình thức sóng điện từ.      Năm ngoái, thực nghiệm ATLAS tại LHC đã quan sát hai photon, các hạt ánh sáng, va chạm vào nhau và tạo thành hai photon mới. Năm nay, các nhà nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu tiến thêm một bước xa hơn và khám phá sự sáp nhập và chuyển đổi của các hạt photon thành một thứ khác thú vị hơn nhiều: W boson, các hạt mang lực tương tác yếu, vốn ảnh hưởng đến quá trình phân rã hạt nhân.  Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ khái niệm trung tâm của ảnh hưởng đến các quá trình diễn ra bên trong LHC: năng lượng và vật chất là hai mặt của đồng xu. Nó cũng xác nhận tai những mức năng lượng đủ cao, các lực dường như phân tách trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta – điện từ và lực tương tác yếu – đã được hợp nhất.  Từ không khối lượng đến có khối lượng  Nếu cố gắng sao chép thực nghiệm va chạm photon này tại nhà bằng việc bước qua các chùm tia laser, bạn có thể không đủ khả năng tạo ra các hạt có khối lượng mới. Thay vào đó, bạn sẽ thấy hai chùm tia kết hợp để hình thành một chùm tia ánh sáng sáng hơn.  “Nếu anh quay lại và nhìn vào các phương trình điện từ cổ điển của Maxwell, anh sẽ thấy hai sóng va chạm hợp lại thành một sóng lớn hơn”, Simone Pagan Griso, một nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley của Bộ Năng lượng Mỹ, nói. “Chúng tôi chỉ thấy hai hiện tượng đó gần đây do ATLAS quan sát khi đặt các phương trình của Maxwell lại với thuyết tương đối hẹp và cơ học lượng tử vào lý thuyết động lực học lượng tử”.  Bên trong máy gia tốc của CERN, các proton được gia tốc đến gần tốc độ ánh sáng. Các dạng thành hình tròn thông thường của chúng bị ép dọc theo hướng chuyển động khi thuyết tương đối hẹp thay thế các định luật chuyển động cổ điển cho các quá trình được thực hiện tại LHC. Cả hai proton mới sẽ được thấy như những chiếc bánh pancake bị nén kèm theo một trường điện từ ép ngang bằng (các proton đều mang điện tích và tất cả các hạt mang điện tích đều có điện từ trường). Năng lượng của LHC tăng cường độ của các điện từ trường của các proton theo hệ số 7500.  Khi hai proton lướt qua nhay, các điện từ trường của chúng giao nhau. Các trường này bỏ qua quy tắc khuếch đại cổ điển vẫn được ứng cho cho các vùng năng lượng thấp, thay vào đó chịu ảnh hưởng của sắc động lực học lượng tử. Thông qua những quy luật mới, hai trường này có thể sáp nhập và trở thành khối lượng trong E=mc².  “Nếu anh đọc phương trình E=mc² từ phải qua trái, anh sẽ thấy một khối lượng nhỏ tạo ra một nguồn năng lượng lớn nhờ hằng số c², vốn là bình phương tốc độ chiếu sáng”, Alessandro Tricoli, một nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, nơi thực hiện thí nghiệm ATLAS, nơi nhận được đàu tư từ Phòng Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE). “Nhưng nếu như nhìn vào công thức này theo đường khác, anh sẽ thấy là anh cần khởi động với một lượng năng lượng lớn để tạo ra một chút khối lượng”.  LHC là một trong những nơi trên trái đất có thể tạo ra các photon mang năng lượng và cho va chạm nó, và là nơi duy nhất để các nhà khoa học thấy cả hai hoạt động sáp nhập photon mang năng lượng và chuyển đổi thành W bosons có khối lượng.  Sự hợp nhất các lực  Việc tạo ra các W boson từ các photon năng lượng cao minh họa cho phát hiện này đã đem lại Sheldon Glashow, Abdus Salam và Steven Weinberg giải Nobel vật lý năm 1979: tại các mức năng lượng cao, điện từ và lực tương tác yếu hợp nhất thành một.  Điện học và từ học thường được phân tách thành những lực riêng rẽ. Thông thường, người ta không lo về khả năng bị giật khi cầm một miếng nam châm dán tủ lạnh. Và những bóng đèn thậm chí ngay cả khi phát sáng, cũng không kết bám với cánh cửa tủ lạnh. Vậy tại sao các trạm điện lại có gắn các biển cảnh báo về từ trường cao của chúng?  “Một nam châm là một hiển thị về điện từ còn điện học là vấn đề khác”, Tricoli nói. “Nhưng đó là câu chuyện của các sóng điện từ, chúng ta thấy sự hợp nhất đó trong công nghệ mà chúng ta hay sử dụng như điện thoại truyền tin thông sóng điện từ”.  Tại mức năng lượng siêu cao, điện từ kết hợp với lực cơ bản khác, lực tương tác yếu. Tương tác yếu chi phối các chuỗi phản ứng hạt nhân, bao gồm nhiệt hạch hydro thành heli tạo điện từ mặt trời và quá trình phân rã của các nguyên tử phóng xạ.  Chỉ khi các photon mang lực điện từ, các W và Z boson mang lực tương tác yếu. Nguyên nhân là các photon có thể va chạm và tạo ra các hạt W boson tại LHC ở các mức năng lượng cao, những lực đó kết hợp để tạo ra lực điện yếu.  “Cả các photon và W boson đều là những hạt mang điện tích, và chúng đều mang lực điện yếu”, Griso nói. “Hiện tượng này thực sự diễn ra bởi bản chất của nó là cơ học lượng tử”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-lhc.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Li Lanjuan: Người đề xuất phong tỏa Vũ Hán      Nhà dịch tễ học này khuyên nên đóng cửa Vũ Hán để kiểm soát đợt bùng phát COVID-19 sớm nhất có thể.      Li Lanjuan. Ảnh: Xinhua/Shutterstock  Ngày 18 tháng 1, cơ quan hành chính cấp cao nhất của Trung Quốc đã cử Li Lanjuan và các chuyên gia khác đến Vũ Hán để kiểm soát tình trạng bùng phát virus. Vài ngày sau, nhà dịch tễ học 73 tuổi tại Đại học Chiết Giang ở Hàng Châu đã kêu gọi ngay lập tức phong tỏa Vũ Hán – thành phố với dân số 11 triệu người. “Nếu dịch bệnh tiếp tục lan rộng, các tỉnh khác cũng sẽ rơi vào tình cảnh mất kiểm soát như Vũ Hán. Nền kinh tế – xã hội của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng”, bà nói trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 22 tháng 1 trên kênh truyền hình Trung Quốc.     Zhong Nanshan, một chuyên gia về hô hấp tại Đại học Y khoa Quảng Châu (Trung Quốc), người dẫn đầu nhóm nghiên cứu tại Vũ Hán, đã thông báo rằng virus có thể lây từ người sang người. Những cảnh báo từ Li và Zhong chính là yếu tố quan trọng để đưa ra quyết định.   Vào ngày 23 tháng 1, tất cả các phương tiện giao thông ra vào Vũ Hán đều bị chặn lại, và mọi người được lệnh ở nhà. Kế hoạch du lịch vào Tết Nguyên đán từ ngày 25/1 đã ‘phá sản’. Vào thời điểm đó, nhiều người cho rằng lệnh phong tỏa là một phản ứng thái quá của chính phủ; các nhà quản lý đã thực thi quyết luyệt chính sách phong tỏa trong suốt 76 ngày. Một số cư dân không thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế, họ phàn nàn rằng mình đã bị bỏ rơi.   Nhưng kế hoạch đã hiệu quả. “Nó đã giúp Trung Quốc kiểm soát tốt dịch bệnh”, nhà dịch tễ học Raina MacIntyre tại Đại học New South Wales ở Sydney (Úc) cho hay. Các nhà khoa học lập mô hình ước tính rằng phong tỏa đã trì hoãn sự lây lan của dịch bệnh ra khắp Trung Quốc từ 3-5 ngày, giúp các khu vực khác có thời gian chuẩn bị. Và số lượng các ca dương tính di chuyển ra nước khác giảm 80% trong một vài tuần.   Việc phong tỏa một thành phố 11 triệu dân nhằm giúp ngăn chặn sự lây lan ra bên ngoài, Ben Cowling, một nhà dịch tễ học tại Đại học Hong Kong cho biết. “Tôi là chưa từng có tiền lệ nào cho việc này.”    Li ở lại Vũ Hán để giúp chăm sóc những người mắc Covid-19, và nhà nước đã công nhận bà như một biểu tượng về những bác sĩ quên mình trong cuộc khủng hoảng. Bà thường xuất hiện với trang phục y tế trên những tấm ảnh; và trên khắp các trang mạng xã hội, mọi người thường gọi bà một cách thân thương là “Bà Li” (Grandma Li). Truyền thông Trung Quốc kể rằng, bà sinh ra trong một gia đình nghèo ở Chiết Giang và trở thành một trong những ‘bác sĩ chân đất’ của đất nước, người đã giúp thực hiện các biện pháp phòng bệnh cơ bản và điều trị bệnh tật. Bà đã đậu vào trường đại học y của tỉnh và sau này tập trung vào chuyên ngành viêm gan. Vào năm 2003, với tư cách là giám đốc sở y tế Chiết Giang, bà đã yêu cầu cách li hàng nghìn người tiếp xúc với những người đã mắc SARS: một quyết định gây tranh cãi lúc bấy giờ, mà về sau được xem là chìa khóa để ngăn chặn virus.   Chính nhờ những thành tựu đó, mà các chính trị gia đã sẵn sàng lắng nghe khi bà đưa ra lời khuyên về việc phong tỏa toàn thành phố. Câu chuyện của bà trái ngược với tình cảnh của một bác sĩ khác ở Vũ Hán, Li Wenliang. Vào cuối tháng 12, vị bác sĩ nhãn khoa này đã chia sẻ với bạn bè những lo ngại của mình về các ca bệnh có triệu chứng giống SARS tại Bệnh viện Trung ương Vũ Hán. Cảnh sát thành phố đã cảnh cáo anh vì tội tung tin đồn thất thiệt, nhưng sau đó anh phát hiện ra mình đã mắc Covid-19, và anh quyết định trả lời phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông nhằm kêu gọi sự minh bạch. Anh mất vào ngày 7 tháng 2. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ trích động thái ngăn chặn tiếng nói của những người như Li Wenliang, và sự miễn cưỡng của nước này trong việc thừa nhận mức độ lây lan nghiêm trọng của dịch bệnh.   Cuối cùng, Trung Quốc đã quyết liệt ngăn chặn Covid-19, nhưng các quốc gia khác lại không mạnh dạn như vậy. “Nhiều quốc gia dường như đã quên đi các nguyên tắc cơ bản về kiểm soát dịch bệnh hoặc những cố vấn của họ không có đủ kiến thức cần thiết, đó là những người đang mò mẫm và học hỏi theo kiểu vội vã”, MacIntyre cho biết.   Anh Thư dịch  Nguồn: Nature’s 10: ten people who helped shape science in 2020 (Li Lanjuan: Lockdown architect)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử chocolate: Khi tiền thực sự mọc trên cây      Lịch Mùa Vọng với những món quà bằng chocolate được dấu kín, những hộp kẹo của Quality Street to đùng và những cốc chocolate nóng phủ kem tươi và kẹo xốp marshmallow được yêu thích vào Giáng sinh và cuối năm. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ về việc trên thực tế chocolate đến từ đâu và bằng cách nào nó gia nhập văn hóa ẩm thực của chúng ta?    Câu chuyện về chocolate có một lịch sử phức tạp, phong phú khiến các nhà nghiên cứu vẫn phải tìm hiểu về nó mỗi ngày.    Chocolate là sản phẩm thu được từ các công đoạn lên men, làm khô, gia nhiệt và nghiền các hạt của thứ cây trồng nhiệt đới thuộc giống Theobroma này. Phần lớn các chocolate được bán ngày nay đều được làm từ hạt quả loài caccao Theobroma nhưng những người bản địa ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, Trung Mỹ và Mexico còn chế biến nó làm thực phẩm, đồ uống và thuốc với nhiều loài Theobroma.    Cacao được thuần hóa ít nhất từ 4.000 năm trước, lần đầu tiên tại đồng bằng Amazon và sau đó ở Trung Mĩ. Bằng chứng khảo cổ học lâu đời nhất về cacao, có thể là từ năm 3.500 trước công nguyên ở Ecuador. Tại Mexico và Trung Mỹ, các thùng đựng bã cacao được xác định vào thời điểm sớm, năm 1.900 trước Công nguyên.    Cacao là tên gọi của nhiều ngôn ngữ khác nhau ở Mesoamerica (Trung Bộ châu Mỹ, vùng Mexico và Trung Mỹ ngày nay) với cả cây, hạt và quá trình chuẩn bị làm nó. Những người sử dụng từ này đã đồng thuận với quan điểm của những người da đỏ cổ đại. Cacao là một thuật ngữ được chấp nhuận chung, như cách từ “bánh mì” trong tiếng Anh miêu tả một cái bánh được làm từ bột mì, nước và men.    Trong hàng trăm năm, những người Mesoamerica sử dụng cacao cho nhiều mục đích khác nhau: như một món đồ phục vụ nghi lễ, một loại thuốc, một thành phần chính trong những dịp đặc biệt và món ăn, đồ uống hằng ngày – mỗi dạng thức đều mang một cái tên khác. Một trong những loại đồ uống cacao đặc biệt là “chocolat”.    Thực dân và lưu hành    Bằng cách nào mà chocolate lại được thích ở khắp nơi trong khi nơi khởi sinh ra nó đã bị lãng quên? Cacao đã trở thành thứ đồ được ưa chuộng từ thế kỷ 16, bằng sự giới thiệu của những thực dân từ châu Âu, châu Phi, và được thịnh hành hơn bất kỳ đồ ăn thức uống nào.    Việc nghiên cứu về caccao được dùng như một đơn vị tiền tệ cho thấy sự phát triển vững vàng của đồng xu nhỏ bé này như một trong những đồng tiền được nhiều cộng đồng thừa nhận ở thời kỳ Mesoamerica tiền Colombo. Thung lũng Rio Ceniza mà ngày nay là Tây El Salvador hiện đại  là một vùng sản xuất cacao lừng lẫy, là một trong bốn trung tâm trồng trọt quy mô lớn đã mở rộng đến cực đại chuỗi cung cấp tiền cacao trong thế kỷ 13.    Thực dân Tây Ban Nha đã nhanh chóng đưa đồng tiền cacao này thành một xu hướng trao đổi thương mại ở mọi hình thức. Tuy nhiên, ban đầu họ vẫn còn chưa rõ về khả năng ăn được của loại chất phi thường này, thậm chí tranh cãi về tác động đến sức khỏe và hương vị của nó. Thung lũng e Rio Ceniza, theo tiếng bản địa là Izalcos, trở nên nổi tiếng như nơi tiền mục trên cây và những tên thực dân tới đó có thể nắm lấy vận may này.  Thứ uống độc nhất vô nhị được người địa phương làm từ cacao mang tên “chocolat”.    Băng qua khắp thế giới    Từ một thứ đồ ăn của người thổ dân, chocolate bất ngờ trở nên vô cùng phổ biến ở châu Âu vào cuối thế kỷ 16. Với những hương vị mới từ châu Mỹ, chocolate thu hút một cách đặc biệt. Điều quan trọng nhất là việc uống chocolate trở thành một cách để gắn kết, hòa nhập xã hội.    Món đồ ăn mới ngày một gắn kết với sự sang chảnh và niềm ham mê, cũng như những đặc tính có lợi cho sức khỏe mà cụ thể là làm tăng vẻ đẹp và sức sinh sản. Vào những năm 1600, những người châu Âu đã dùng từ chocolate để miêu tả kẹo, đồ uống và các loại xốt mang hương vị cacao.    Chocolate nhanh chóng bắt đầu thay đổi cách con người làm nhiều thứ. Học giả văn học Tây Ban Nha Carolyn Nadeau đã chỉ ra: “Trước khi có chocolate, bữa sáng không là một sự kiện chung như ăn trưa hoặc ăn tối”. Vì chocolate đã dần trở nên phổ biến tại Tây Ban Nha nên nhiều người đã dùng nó cho bữa sáng. Nó cũng trở nên thời thượng như bữa xế hoặc bữa nhẹ tối muộn, được dùng với bánh mì tròn hoặc ngay cả bánh mì rán – tổ tiên của churro, một dạng bánh rán hình sợi ở Tây Ban Nha thường được dùng cho bữa sáng.    Sang thế kỷ 18, một loạt các công thức sử dụng chocolate đã xuất hiện liên tiếp trong các cuốn sách dạy nấu ăn của châu Âu, chứng tỏ tầm quan trọng của nó ở mọi giai tầng xã hội. Từ những người thổ dân Trung Mỹ, những người nô lệ châu Phi, trồng trọt châu Mỹ Latin và sau đó là Tây Phi, diện tích trồng cacao đã được gia tăng để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của thị trường toàn cầu. Với các thị trường và người tiêu dùng, chocolate phát triển với những kết nối các tầng lớp, giới và chủng tộc trong xã hội.    Sự bất bình đẳng đã trở nên trầm trọng trong quá trình toàn cầu hóa chocolate. Ví dụ, 75% lượng chocolate được tiêu thụ ở châu Âu, Mỹ và Canada trong khi toàn bộ 100% lượng cocoa trên thế giới được những người châu Phi, bản địa châu Mỹ và châu Á trồng trọt – những nơi tiêu thụ chỉ 25% lượng chocolate của thế giới, trong đó người châu Phi tiêu thụ ít nhất với 4%.    Việc trồng trọt, chăm sóc cây cacao chủ yếu là công việc tay chân nhưng là nguồn sống của trên 50 triệu người sống ở các quốc gia đang phát triển. Đại dịch COVID-19 khiến mọi thứ trở nên trầm trọng hơn. Giảm thiểu việc đi lại, giới hạn tụ tập đã khiến đứt gãy chuỗi cung cấp và ít có khả năng truy cập vào các dịch vụ sức khỏe đã đánh những cú đòn chí mạng vào các cộng đồng trồng cacao.    Các doanh nghiệp ngừng việc mua bán, nhập khẩu cacao trong vòng hai năm cũng như những bất định về nhu cầu khách hàng đã tạo ra bấp bênh này.    Bất bình đẳng, thương mại công bằng và nông dân      Những xu hướng hiện tại bắt rễ từ quá khứ của chocolate. Nhu cầu về chocolate tiếp tục tăng trưởng. Những người châu Âu là những người tiêu thụ chocolate nhiều bậc nhất và Anh thuộc top của châu Âu, với trung bình đầu người 8,1kg mỗi năm và là thị trường chocolate công bằng lớn nhất thế giới.      Khi thị trường chocolate tăng trưởng, nó tạo ra quá nhiều vấn đề về bất bình đẳng xã hội và đứt gãy hệ sinh thái. Carla Martin, giám đốc Viện nghiên cứu Cacao và Chocolate và đồng nghiệp đã giải thích là con đường hướng tới sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường đòi hỏi một diện rộng các khoản đầu tư đáng kể 1.    ĐH Reading đã có những nỗ lực ban đầu là thành lập cơ sở dữ liệu nguồn gene Cacoa để giúp người nông dân nhận diện và đánh giá được sự đa dạng di truyền của cacao và để hiểu được các hồ sơ di truyền liên quan đến sức chống chịu và sản lượng mùa vụ 2.    Các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo như Cocoa360 là những nơi ươm mầm giải quyết những thách thức lớn mà những người trồng cacao đang phải đối mặt, và vẽ lên một tương lai nhiều hi vọng hơn cho chocolate và những người trồng nó.    Tô Vân  tổng hợp    Nguồn: https://www.english-heritage.org.uk/easter/the-history-of-chocolate/    https://phys.org/news/2022-12-history-chocolate-money-trees.html    ————-    1.https://www.chocolateinstitute.org/  2. http://www.icgd.reading.ac.uk/index.php      Author                .        
__label__tiasang Lịch sử cuộc đua lên mặt Trăng      Ngày 20.7.1969  Neil Armstrong là người Mỹ đầu tiên đã đặt chân lên mặt trăng, đánh dấu mốc loài người lần đầu tiên đặt chân lên một thiên thể ngoài hành tinh. Đằng sau đó là một cuộc đua quyết liệt giữa Mỹ và Liên Xô. Và có một kiến trúc sư của chương trình nghiên cứu của Liên Xô, vẫn còn rất ít được biết đến.      Phóng Saturn V, đưa “Apollo 11” lên Mặt trăng.​  Những người đi tiên phong  Từ thời cổ đại, con người đã quan tâm đến mặt trăng, các hành tinh khác và mơ về việc tiếp cận những hành tinh xa xôi này bằng những phương tiện kỳ quặc như tàu buồm bay hoặc xe do chim kéo, có lúc nghiêm túc, đôi khi chỉ là sự châm biếm hài hước. Chính các nhà thơ đã mơ về những chuyến đi như vậy.   Đôi khi các nhà khoa học suy đoán về các thế giới có sự sống, tuy nhiên hầu như tuyệt đại đa số đều cho rằng không thể có các chuyến du hành vũ trụ trong thế kỷ 20. Chính các nhà văn, nhà thơ lại là những người đưa ý tưởng du hành vũ trụ sát với thực tế cuộc sống. Jules Verne (1828–1905) đã viết liền mấy cuốn sách như “Từ trái đất lên mặt trăng” (1865), hay “Chuyến đi vòng quanh mặt trăng” (1870), dù hoàn toàn không phải là những cuốn sách về chuyên môn nhưng lại đề cập đến những vấn đề cơ bản về du hành vũ trụ như tốc độ thoát, động lực tên lửa, việc chọn lựa bãi phóng tên lửa, vấn đề không trọng lượng, hạ cánh trên mặt nước… và một vấn đề không kém phần quan trọng là toàn bộ công tác điều hành, quản lý dự án vô cùng phức tạp này.  Nếu như không có bộ sách lý thú này thì đã không có nhà nghiên cứu du hành vũ trụ đầu tiên, điều này đã được chính ông nói ra. Đó là một người Nga, ông tin chắc rằng những ý tưởng của Jules Verne về du hành vũ trụ đến một ngày nào đó sẽ trở thành hiện thực. Người đó là Konstantin Tsiolkovsky (1857–1935).   Thoạt đầu hầu như không có ai quan tâm đến những gì mà Ziolkowski nghiên cứu, ông miệt mài với kỹ thuật tên lửa và du hành vũ trụ. Ông làm điều đó khi những chiếc ô tô đầu tiên mới bắt đầu xuất hiện. Ngày nay ông là một trong số những người đi tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ. Ngay cả cái tên  “Sputnik” được đặt cho vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 cũng xuất phát từ câu chuyện khoa học viễn tưởng  của ông, nhằm phổ biến rộng rãi hơn ý tưởng của mình.  Tsiolkovsky xây dựng đường hầm gió đầu tiên vào năm 1896. Sang thế kỷ hai mươi ông đã công bố phương trình tên lửa, cùng với những thứ khác như tên lửa nhiều tầng, vệ tinh, trạm không gian và bộ quần áo vũ trụ. Ông từng viết: “Đúng là trái đất là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta.”   Sau đó, Hermann Oberth (1894–1989) người Đức, dường như là người kế nhiệm Tsiolkovsky. Ông cũng rất ngưỡng mộ Jules-Verne. Luận án tiến sỹ của ông “Tên lửa đến các không gian hành tinh“ bị trường đại học Heidelberg từ chối năm 1922 vì không có người hướng dẫn đủ trình độ chuyên môn. Năm sau ông công bố tác phẩm tầm cỡ thế kỷ này dưới dạng một cuốn sách chuyên khảo “bình thường”.       “Đúng là trái đất là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta.”         Robert Goddard (1882–1945), người Mỹ, là nhân vật thứ ba trong nhóm các nhà tiên phong quan trọng nhất này. Năm 1920 ông công bố một công trình mang tên “Methods of Reaching Extreme Altitudes”, đề cập đến các chuyến bay không có người lên mặt trăng, đã bị đông đảo dư luận chế nhạo và chê cười mặc dù trước đó ông đã phát triển thành công tên lửa chất rắn phục vụ mục đích quân sự.   Những nhà sản xuất  Cho đến thời điểm đó tất cả các nghiên cứu về du hành vũ trụ đều có tính lý thuyết hoặc chỉ là nhưng thực nghiệm nhỏ lẻ khá khiêm tốn. Người ta thiếu kinh phí để làm những tên lửa cỡ lớn.   Cho đến một bước ngoặt, với sự ra đời của Viện nghiên cứu quân sự của Đức và Wernher von Braun là giám đốc kỹ thuật khi còn rất trẻ. Đỉnh cao trong sự nghiệp phát triển tên lửa của ông diễn ra năm 1939 với quả tên lữa cỡ lớn dài 14 mét (A4), còn có tên là vũ khí trả đũa (retaliatory weapon 2 – V2). Tháng 10/1942 trong một chuyến thử tên lửa lên tới độ cao 84,5 km (lên quá ranh giới không gian là 80 km – theo tiêu chuẩn của NASA hiện nay), hai năm sau lên đến độ cao 174,6 km. Từ 1944, tên lửa này được coi là tên lửa khủng bố đối với nhiều nước. Wernher von Braun là người đóng vai trò quyết định trong việc phát triển tên lửa lỏng A4/V2.    Von Braun tại Trung tâm Phi hành không gian Marshall vào năm 1964, đằng sau là những mô hình Saturn. Nguồn ảnh: https://www.nasa.gov/topics/history/features/vonbraun.html   Cả người Nga và người Mỹ đều ý thức được sự vượt trội về công nghệ nghiên cứu tên lửa của Đức. Vì vậy khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945, họ đã tìm mọi cách để vơ vét tất cả những gì liên quan đến tên lửa V2. Vì thế nên ngay cả đến bảo tàng của Đức ở Peenemünde cũng chỉ có bản sao của V2 để giới thiệu với công chúng.  Người ta không chỉ lấy đi các nguyên liệu, bản vẽ mà cả những tác giả của công nghệ tên lửa. Những chuyên gia tên lửa hàng đầu của Đức đã cùng với Wernher von Braun nhanh chóng chạy về vùng Bayern để đầu hàng quân đội Mỹ. Một số người khác, tài năng không kém, thì rơi vào tay quân Nga. Nhưng bọn họ đã nhanh chóng được thả sau khi đã khai báo mọi sự hiểu biết của mình. Lý do là nhờ cá nhân một người đàn ông, người đó là Sergei Pavlovich Korolev (1906–1966).   Sergei Pavlovich Korolev có một thời gian dài ở Đông Đức  để nghiên cứu các kế hoạch về  A4/V2, nhờ các chương trình này ông đã phát triển R1 của Liên Xô. Không lâu sau nổ ra cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô trước tiên đơn thuần về mặt quân sự. Trên cơ sở A4, cả hai bên này đều chú trọng phát triển tên lửa liên lục địa.   Du hành vũ trụ dân sự được phát triển như một bước ngoặt. Liên Xô với “Sputnik 1″năm 1957 đã tạo ra một đòn trúng đích, đã thực sự làm thức tỉnh nước Mỹ. Sau đó Liên Xô tiếp tục dẫn đầu: “Luna 2” thực hiện chuyến hạ cánh cứng đầu tiên lên mặt trăng vào năm 1959, Yuri Gagarin là người đầu tiên bay quay quanh trái đất vào năm 1961 trên tàu vũ trụ “Vostok 1”.    Để đối chọi với “Sputnik” Mỹ trước hết tung ra dự án “Vanguard”, theo đó Hải quân Mỹ được giao chính thức  nhiệm vụ phục vụ Năm vật lý địa cầu 1958. Tuy nhiên dự án “Vanguard” là một thất bại, trong số 12 cuộc phóng thì 9 không thành công. Dù sao thì từ năm 1958 đã có ba vệ tinh  lên được quỹ đạo trái đất.  Còn các chuyên gia tên lửa của Đức không tham gia hoạt động này. Kể từ khi tái định cư, họ chịu sự quản lý của quân đội Mỹ, cư trú tại căn cứ quân sự Fort Bliss ở El Paso (Texas), từ năm 1950 ở Huntsville (Alabama). Lúc đầu họ làm thí nghiệm với A4 và đầu những năm 50  phát triển tên lửa quân sự như Redstone trên nền tảng này. Có lẽ Wernher von Braun không được khai thác hết năng lực nên ông ta viết sách khoa học cũng như sách, báo khoa học thường thức, rồi còn làm phim hoạt hình cùng hợp tác với Walt Disney.    Sergei Pavlovich Korolev (1907-1966), nhà thiết kế tên lửa lỗi lạc của Liên Xô.  Cuộc chạy đua  Năm 1961 có ý nghĩa quyết định đối với con đường lên mặt trăng. Ngày 25.5 tổng thống Kennedy tuyên bố mục tiêu ngay trong thập niên này sẽ đưa người lên mặt trăng và trở về an toàn. Đây là một dự án đầy tham vọng và vô cùng tốn kém nhưng được khích lệ bởi quyết tâm không để thua Liên Xô một lần nữa.      Nếu như Sergei Pavlovich Korolev không phải rời khỏi cuộc đua vì bệnh tật và cái chết, điều gì sẽ xảy ra? Có phải Liên Xô vẫn có cửa thắng chăng?      Cũng trong năm đó Liên Xô ra một quyết định tương tự, chương trình mặt trăng, nhưng giữ bí mật. Chương trình Apollo của Mỹ do Cơ quan không gian dân dụng NASA, ra đời năm 1958, chịu trách nhiệm. Wernher von Braun và đội ngũ của ông đóng vai trò quyết định cho dù NASA thời kỳ đầu có tới 450.000 nhân sự tham gia giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ của chương trình Apollo mà thoạt đầu tưởng chừng không thể kham nổi.   Von Braun và người của ông có nhiệm vụ phát triển một lọai tên lửa đẩy thích hợp. Sau đó Saturn V đã thành hình, với chiều cao 111 mét, cho đến nay vẫn là loại tên lửa đẩy lớn nhất thế giới. Các bộ phận riêng lẻ được lắp ráp với nhau trong một nhà xưởng lắp ghép cao tới 160 mét ở Trung tâm Vũ trụ  John F. Kennedy (KFC).  Chuyên gia tên lửa von Braun không chịu trách nhiệm thiết kế tầu vũ trụ Apollo dài 11 mét và các bộ phận đi kèm. Khi thử nghiệm trên mặt đất năm 1967 rất tiếc một thảm họa nghiêm trọng đã xảy ra. Khoang Apollo 1 bốc cháy làm ba nhà du hành vũ trụ bị chết ngạt.  Trong khi đó, ngay trong chuyến bay thử đầu tiên vào ngày 9.11.1967 Saturn V đã thành công. Có thể nói toàn bộ chương trình Apollo với tên lửa đẩy khổng lồ hầu như không có trục trặc đáng kể nào. Phải chăng von Braun và các cộng sự của ông đã gặp nhiều may mắn? Nhưng, may mắn chỉ đến với những người thực sự tài năng và có quyết tâm. Và thành công này là vô cùng xuất sắc.  Trong khi đó Liên Xô vẫn lặng lẽ bí mật xúc tiến chương trình của mình. Đối thủ của Apollo khi đó là tầu vũ trụ Sojus, cho đến tận ngày nay vẫn còn hoạt động. Ngay trong chuyến bay đầu tiên đã xảy ra một tai nạn chết người, khi hạ cánh dù không hoạt động. Để phục vụ cho các chuyến bay lên mặt trăng Liên Xô dự định sử dụng loại tên lửa đẩy N1, cao 105 mét. Trong khi tiến triển dự án ngành du hành vũ trụ Liên Xô đã bị một cú đánh trời giáng. Kiến trúc sư thiên tài Sergei Pavlovich Korolev bị chết năm 1966 trong một ca phẫu thuật bệnh tim, hậu quả của thời kỳ bị tù đầy khắc nghiệt trước đó dưới thời Stalin.  Hai kỳ phùng địch thủ Korolev và von Braun trong cùng một giải đấu nay đã chỉ còn lại một. Nếu như Korolev không phải rời khỏi cuộc đua vì bệnh tật và cái chết, điều gì sẽ xảy ra? Có phải Liên Xô vẫn có cửa thắng chăng?  Thực ra sau đó thì cuộc đua ở phía Liên Xô bị trì trệ. Tất cả bốn cuộc thử tên lửa từ 1969 đến 1972 đều trục trặc, không thành công, đến đây cuộc chạy đua coi như đã bị thất bại, Liên Xô ngừng chương trình lên mặt trăng.  Còn về phía Sergei Korolev, Liên Xô đã giữ bí mật về sự tồn tại của ông mãi đến khi ông qua đời. Người Mỹ thực sự mù tịt không biết ai thực sự là đối thủ chính của mình trong cuộc chạy đua này. Sau này Sergei Korolev được an nghỉ ở chân tường điện Kremli. Người ta xây tượng đài để tưởng niệm ông, nhiều nước Đông Âu phát hành các bộ tem bưu chính lưu niệm về ông.     Đài tưởng niệm Sergei Pavlovich Korolev (1907–1966) ở vùng Baikonur của Nga ở Kazakhstan.  Còn Wernher von Braun, dù có vai trò to lớn trong việc phát triển ngành du hành vũ trụ tuy nhiên do ông dính líu với chế độ Quốc Xã nên tên tuổi ông có phần bị lu mờ.   Sứ mệnh lên cung trăng vẫn tiếp tục. Sứ mệnh “Apollo 8” diễn ra ngày 21. 12. 1968 là một bước đệm quan trọng trên con đường đưa người lên mặt trăng. Chưa đầy ba ngày sau đã lên quỹ đạo bay quanh mặt trăng ở độ cao 112 km. Trong chuyến bay này và mười vòng bay xung quanh mặt trăng người ta đã chụp được vô vàn các bức ảnh với rất nhiều chi tiết về mặt trăng. Gần đúng 100 năm sau tầm nhìn của  Jules Vernes về một chuyến bay lên cung trăng nay đã được trở thành hiện thực.  Sau các cuộc thử nghiệm mô-đun mặt trăng trong quỹ đạo trái đất và mặt trăng với “Apollo 9” và “Apollo 10” vào đầu năm 1969, các phi hành gia trên “Apollo 11” Neil Armstrong và Edwin Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/geschichte/article192905081/Sergei-Koroljows-Tod-machte-die-USA-zum-Sieger-auf-dem-Mond.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử trắc trở và vinh quang của vaccine công nghệ mRNA      Với những đóng góp đột phá vào công cuộc phòng chống dịch COVID, cuộc tranh luận người xứng đáng được công nhận đã đi tiên phong cho công nghệ mRNA càng trở nên sôi nổi. Nhất là khi các giải thường khoa học bắt đầu tìm kiếm chủ nhân và mùa Nobel 2021 sắp sửa khởi động. Tuy nhiên, vaccine mRNA là thành quả của hàng trăm nhà nghiên cứu trong hơn 30 năm. Thật khó tôn vinh đầy đủ tất cả họ trong khuôn khổ giới hạn của một vài giải thưởng chính thức. Thành tựu hôm nay là kết quả của nhiều thập kỷ bế tắc, sự tìm tòi và bền bỉ vượt qua những hoài nghi, và sẽ không thể đến đích nếu thiếu sự tài trợ hào phóng cho một cuộc đua nhiều chặng mà bạn không biết trước chặng nào hữu ích.      Minh họa: Nik Spencer/Nature; dựa trên M. D. Buschmann et al. Vaccines 9, 65 (2021).  Cuối năm 1987, Robert Malone, một nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu sinh học Salk, California thực hiện một thí nghiệm mang tính bước ngoặt: Ông trộn các sợi RNA thông tin (mRNA) với các giọt chất béo, để tạo ra một “món súp” giúp tế bào “tiêu hóa” được các mRNA và bắt đầu dịch mã thành protein. Malone đã cẩn thận ghi chú: “Ngày 11/01/1988, nếu tế bào có thể tạo ra protein từ mRNA ngoại lai thì có thể coi RNA là một loại thuốc.” Cuối năm đó, thí nghiệm của Malone cho thấy phôi ếch hấp thụ các mRNA từ bên ngoài.   Những thí nghiệm này là bước đầu tiên hướng đến hai vaccine quan trọng và hiệu quả nhất trong lịch sử, đã được sử dụng cho hàng trăm triệu người, đạt doanh thu dự kiến 50 tỉ USD trong năm 2021.  Nhưng ba thập kỷ trước, con đường không hề suôn sẻ. Bản thân Malone và các nhà nghiên cứu đều nhận thấy mRNA rất không ổn định và đắt tiền nên khó có thể ứng dụng vào thực tế. Hàng chục phòng thí nghiệm và công ty vật lộn tìm ra công thức phù hợp của màng lipid và thành phần nucleic acid trong mRNA.  Từ một khởi nguồn  Từ năm 1978, các nhà khoa học đã sử dụng hạt màng chất béo liposome hình cầu bao bọc và bảo vệ mRNA, sau đó hòa màng tế bào để mRNA vào trong tế bào và biểu hiện protein.  Tuy nhiên, ở thời điểm đó, rất ít nhà nghiên cứu nghĩ đến tác dụng y học của mRNA vì chưa có cách sản xuất chúng trong phòng thí nghiệm, mà phải chiết tách từ máu thỏ, tế bào chuột được nuôi cấy hoặc các nguồn động vật khác. Họ chỉ hy vọng lợi dụng mRNA để tìm hiểu các quá trình sinh học phân tử cơ bản.     Tóm tắt lịch sử phát triển vaccine mRNA. Dựa vào sơ đồ của Nik Spencer/Nature.   Đến năm 1984, nhóm các nhà nghiên cứu Paul Krieg, Douglas Melton và cộng sự tại Đại học Harvard đã có thể tạo ra mRNA nhờ một enzyme tổng hợp mRNA của virus và một số công cụ khác. Lúc này họ đều xem mRNA tổng hợp là công cụ nghiên cứu chức năng và hoạt động của gene. Năm 1987, Melton phát hiện mRNA có thể kích hoạt lẫn ngăn chặn sản xuất protein, ông đã thành lập công ty Oligogene (sau này đổi tên thành Gilead Sciences, trụ sở tại California) nhằm biến mRNA tổng hợp thành thuốc điều trị. Nhưng lúc này không ai nghĩ đến vaccine cả.  Nhưng “không ổn định, không đáng tin cậy là đặc tính nổi bật của RNA”, Krieg nói. Điều đó giải thích tại sao Đại học Harvard đã không thèm đăng ký cấp bằng sáng chế cho phương pháp tổng hợp mRNA mới mà mang bán nó cho Promega, công ty chuyên cung cấp sinh phẩm tổng hợp RNA cho các nhà nghiên cứu, với giá tiền khiêm tốn kèm một hộp rượu champagne.   Tranh chấp bản quyền  Nhiều năm sau, áp dụng cách làm tương tự, Malone đã sử dụng thêm loại liposome mới mang điện tích dương giúp tăng cường tính liên kết với mRNA mang điện tích âm. Chúng là phát minh của nhà hóa sinh Philip Felgner, hiện đang lãnh đạo trung tâm nghiên cứu và phát triển vaccine của Đại học UC-Irvine.  Bất chấp thành công của mình, Malone vẫn không đạt được học vị tiến sĩ vì bất hòa với người hướng dẫn, nhà nghiên cứu liệu pháp gene Inder Verma, tại Viện Salk. Malone bỏ dở nghiên cứu để đến làm tại công ty Vical do Felgner mới thành lập tại San Diego. Tại đây, họ và các cộng tác viên từ Đại học Wisconsin Madison đã nhận ra rằng phức hợp mRNA-lipid có thể kích hoạt sản xuất protein trên chuột.    Một ghi chú thí nghiệm của của Robert Malone năm 1989 mô tả cách tổng hợp mRNA để tiêm vào chuột. Ảnh: Robert Malone.  Nhưng sau đó, mọi thứ trở nên lộn xộn. Cả Công ty Vical (cùng với Đại học Wisconsin-Madison) và Viện Salk đều nộp đơn xin cấp bằng sáng chế vào tháng 3/1989. Nhưng Salk đã sớm từ bỏ yêu cầu, đến năm 1990 thì Verma lại gia nhập ban cố vấn của Vical.  Malone cho rằng Verma và công ty Vical đã lén lút đi đêm với nhau và không nhận được lợi ích gì từ các hợp đồng cấp phép sử dụng bản quyền sau đó, điều mà Malone có thể được nhận nếu bằng sáng chế thuộc về Viện Salk.   Verma và Felgner kiên quyết phủ nhận cáo buộc của Malone. “Điều đó hoàn toàn vô nghĩa,” Verma nói rằng quyết định từ bỏ bằng sáng chế là từ văn phòng chuyển giao công nghệ của Viện Salk. (Verma đã từ chức tại Viện Salk năm 2018 do cáo buộc quấy rối tình dục mà ông cũng phủ nhận).  Malone rời công ty Vical tháng 8/1989 vì bất đồng với Felgner vì “sự đánh giá bất công đối với đóng góp trí tuệ của mình”. Ông đã học y khoa và thực hành lâm sàng một năm trước khi nghiên cứu trở lại. Ông đã cố gắng nghiên cứu vaccine dựa trên mRNA nhưng rất khó xin tài trợ. Đáng chú ý, năm 1996, ông đã không thể xin ngân sách từ cơ quan nghiên cứu bang California để phát triển một loại vaccine mRNA chống lại cúm mùa do coronavirus. Malone chuyển hướng sang vaccine DNA và các công nghệ khác.  Năm 2001, Malone đổi sang nghề tư vấn và công việc thương mại. Trong vài tháng qua, ông đã công khai quan ngại về tính an toàn của vaccine mRNA. Ông cho rằng các protein được tạo ra bởi vaccine có thể gây tổn hại tế bào và rủi ro của việc tiêm chủng lớn hơn lợi ích ở nhóm trẻ em và thanh thiếu niên. Tuyên bố này bị các nhà khoa học và giới chức y tế nhiều lần bác bỏ.  Trắc trở khi tìm nhà tài trợ  Năm 1991, Vical hợp tác với tập đoàn Merck, một trong những nhà phát triển vaccine lớn nhất thế giới, để đánh giá công nghệ mRNA trên chuột với mục đích tạo ra vaccine cúm. Nhưng sau đó Merck đã từ bỏ vì lo ngại chi phí và tính khả thi của dự án.  Ở tận nước Pháp, các nhà nghiên cứu tại Transgène, một công ty công nghệ sinh học nhỏ tại Strasbourg cũng cảm thấy như vậy. Năm 1993, nhóm của Pierre Meulien ở đây đã lần đầu tiên chứng minh mRNA trong hạt liposome có thể tạo ra phản ứng miễn dịch kháng virus trên chuột. Cũng có một tiến bộ thú vị khác, từ năm 1992, viện Scripps đã sử dụng mRNA thay thế một loại protein bị thiếu hụt của chuột để điều trị một rối loạn chuyển hóa. Nhưng phải mất gần hai thập kỷ nữa để kiểm chứng nghiên cứu này.     Paul Krieg (trái) và Douglas Melton (phải), những người đầu tiên tổng hợp mRNA trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Đại học Arizona; Kevin Wolf/AP.  Các nhà nghiên cứu của Transgène được cấp bằng sáng chế cho phát minh của họ và tiếp tục nghiên cứu vaccine mRNA. Nhưng Meulien, (hiện đang đứng đầu một công ty cải tiến các thuốc (IMI) tại Brussels), lúc đó ước tính mình phải cần xin ít nhất 100 triệu euro để tiếp tục một dự án khó khăn, rủi ro cao mà không ai chấp nhận. Bằng sáng chế hết hiệu lực sau khi công ty mẹ của Transgène ngưng chi trả kinh phí hoạt động.  Nhóm của Meulien, cũng như Merck, đã tập trung vào vaccine DNA và các phương pháp vector chuyên chở khác. Cuối cùng, nền tảng DNA đã được cấp phép cho vaccine chống nhiễm trùng trên cá (tháng trước, Ấn Độ đã phê duyệt khẩn cấp vaccine DNA đầu tiên dùng cho người chống lại COVID-19. Nhưng tiến độ ứng dụng vaccine DNA trên người vẫn còn chậm).  Nhiều “hệ phái”  Trong những năm 1990 và 2000, hầu hết các công ty gạt việc nghiên cứu vaccine mRNA sang một bên để dồn nguồn lực cho các hướng tiếp cận khác, bởi không thể tiếp tục mạo hiểm cho việc nghiên cứu sản xuất mRNA quá đắt.   Ý tưởng vaccine mRNA được đón nhận tích cực hơn trong ngành ung thư, nhưng như một dạng thuốc điều trị, hơn là dự phòng. Liệu mRNA mã hóa protein biểu hiện trong tế bào ung thư có giúp huấn luyện hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào ung thư đó?  Nhà nghiên cứu liệu pháp gene David Curiel đa thành công bước đầu trên chuột. Nhưng công ty Ambion chuyên cung cấp vật tư phòng thí nghiệm lại không thấy bất cứ tiềm năng kinh tế nào ở đây khi ông đề xuất khả năng thương mại hóa. Nhà miễn dịch ung thư Eli Gilboa thành lập công ty trị liệu mRNA đầu tiên năm 1997 với phương pháp chiết tách tế bào miễn dịch từ máu và cho chúng tiếp nhận các mRNA tổng hợp mã hóa protein của khối u, rồi tiêm trở lại cơ thể và kỳ vọng chúng kích hoạt hệ thống miễn dịch tấn công các khối u đang ẩn nấp.  Gilboa và cộng sự tại trung tâm y tế Đại học Duke đã thí nghiệm thành công trên chuột. Cuối những năm 1990, công ty Merix Bioscience (sau này là Argos Therapeutics, nay là Colmmune) đã tiến hành thử nghiệm trên người. Cách tiếp cận này rất hứa hẹn cho đến khi vaccine thất bại trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối; và sau đó trở nên lỗi thời.  Dù vậy, Gilboa đã truyền cảm hứng các nhà sáng lập của CureVac và BioNTech, hai trong số các công ty ứng dụng mRNA lớn nhất hiện nay, trong đó BioNTech sản xuất vaccine mRNA cùng Pfizer. Từ ý tưởng từ Gilboa, họ muốn đưa mRNA trực tiếp vào cơ thể.  Bước ngoặt  Ingmar Hoerr của CureVac là người đầu tiên đạt được thành công. Hồi còn ở trường Đại học Tübingene năm 2000, ông đã tiêm trực tiếp mRNA vào chuột và tạo ra phản ứng miễn dịch. Ông lập nên công ty CureVac cùng năm đó. Khi ông trình bày kết quả ban đầu tại một hội nghị, một người đoạt giải Nobel ngồi hàng đầu còn nói: “Những gì anh trình bày hôm nay thật vớ vẩn”.    Özlem Türeci (trái) và Uğur Şahin (phải) đồng sáng lập hãng BioNTech. Ảnh: BioNTech SE 2021.  Dù vậy, cuối cùng cũng có tài trợ và thử nghiệm trên người được tiến hành. Giám đốc y khoa của công ty khi đó, Steve Pascolo, đã tự mình tiêm mRNA và vẫn còn những vết sẹo trắng rộng bằng quả bóng tại nơi bác sĩ da liễu lấy mẫu sinh thiết. Một thử nghiệm mRNA đặc hiệu cho bệnh ung thư da đã bắt đầu như thế.  Uğur Şahin (của BioNTech) và vợ mình, nhà miễn dịch Özlem Türeci cũng bắt đầu nghiên cứu mRNA cuối những năm 1990, nhưng khởi nghiệp trễ hơn Hoerr. Họ đã nghiên cứu nhiều năm tại Đại học Mainz, nhận được các bằng sáng chế, tài trợ trước khi đưa ra một kế hoạch thương mại hóa cho các tỷ phú năm 2007. “Nếu nó hoạt động, đây sẽ là bước đột phá”, và Şahin đã nhận được 150 triệu euro tiền đầu tư ban đầu.  Cùng năm đó, RNARx, một công ty non trẻ đã nhận được 97,396 USD tài trợ doanh nghiệp nhỏ bởi chính phủ Hoa Kỳ. Các nhà sáng lập, nhà hóa sinh Katalin Karikó và nhà miễn dịch Drew Weissman, khi đó đều đang công tác tại Đại học Pennsylvania (UPenn), đã phát hiện rằng thay đổi một phần mã mRNA tổng hợp sẽ giúp nó vượt qua hệ thống miễn dịch bẩm sinh của tế bào.  Nền tảng khoa học cơ bản  Karikó miệt mài cặm cụi trong phòng thí nghiệm suốt những năm 1990 với mục tiêu biến mRNA thành thuốc, mặc dù liên tục bị các cơ quan tài trợ từ chối. Năm 1995, bà phải rời khỏi UPenn hoặc bị cách chức, giảm lương. Bà chọn ở lại để theo đuổi mục tiêu của mình, cải tiến phương pháp của Malone, sao cho tế bào biểu hiện được các protein lớn và phức tạp.  Năm 1997, bà cộng tác với Weissman, người vừa nhận phụ trách một phòng thí nghiệm mới tại UPenn. Họ cùng nhau phát triển một vaccine chống lại HIV/AIDS/ Nhưng mRNA của Karikó gây ra phản ứng viêm quá mức trên chuột. Bà và Weissman nhanh chóng tìm ra nguyên nhân: mRNA đã kích ứng một loạt các thụ thể miễn dịch dạng Toll (đáp ứng đầu tiên đối với các tín hiệu nguy hiểm từ mầm bệnh). Năm 2005, họ đã thay nucleotide uridine bởi một chất tương tự là pseudouridine để ngăn hệ miễn dịch của cơ thể xác định mRNA ngoại lai là kẻ thù.  Rất ít nhà khoa học vào thời điểm đó công nhận giá trị chữa bệnh của chuỗi nucleotide biến đổi. Đến tháng 9/2010, nhóm nghiên cứu tế bào gốc của Derrick Rossi tại bệnh viện nhi Boston đã mô tả cách sử dụng mRNA loại này để biến đổi tế bào da thành tế bào gốc dạng phôi rồi thành mô cơ. Rossi được tạp chí Time tôn vinh là một trong những nhân vật quan trọng nhất năm 2010. Và ông trở thành đồng sáng lập của một cái tên đình đám về sau: Moderna.  Moderna đã cố gắng xin bản quyền sáng chế cho mRNA sửa đổi, nhưng quá trễ so với Karikó và Weissman. Sau khi không đạt được thảo thuận với RNARx, UPenn đã bán độc quyền sử dụng bằng sáng chế này cho nhà cung ứng vật tư thí nghiệm Cellscript tại Madison với giá 300,000 USD. Nhờ đó, nó đã thu về hàng trăm triệu USD từ việc cấp giấy phép thứ cấp cho Moderna và BioNTech, bởi vaccine của hai hãng này đều sử dụng mRNA chỉnh sửa.  Trong khi đó, RNARx đã sử dụng hết 800,000 USD tài trợ của các doanh nghiệp nhỏ và ngừng hoạt động năm 2013, và Karikó gia nhập BioNTech (và giữ lại vị trí trợ lý tại UPenn).  Cuộc tranh luận về pseudouridine  Các nhà nghiên cứu vẫn tranh cãi liệu khám phá của Karikó và Wiessman có thực sự thiết yếu cho sự thành công của vaccine mRNA. Moderna chắc chắn về điều đó bởi chính tên gọi của họ là viết tắt tiếng Anh của “mRNA đã biến đổi”. Nhưng một số khác thì không.  Hãng dược phẩm Shire tại Lexington, MA cho rằng mRNA không biến đổi có thể hiệu quả với cấu trúc “mũ” phù hợp và loại bỏ các tạp chất. Michael Heartein, người dẫn đầu nghiên cứu của Shire đã tiếp tục cải tiến công nghệ tại Translate Bio tại Cambridge, MA, nơi mua lại bộ phận nghiên cứu mRNA của Shire. (Shire hiện là môt phần của tập đoàn dược phẩm Takeda).  Mặc dù một vài dữ liệu trên người gợi ý mRNA của họ không gây ra đáp ứng miễn dịch quá mức, nhưng nó vẫn chưa được chứng minh lâm sàng: vaccine COVID của hãng vẫn đang trải qua thử nghiệm ban đầu. Công ty dược khổng lồ Sanofi đã bị hấp dẫn: Tháng 8/2021, họ mua lại Translate Bio với giá 3.2 tỷ USD. (Heartlein rời đi từ năm ngoái để lập một công ty khác, Maritime Therapeutics, tại Waltham, MA).   CureVac lại có hướng tiếp cận khác để giảm đáp ứng miễn dịch bất lợi. Họ giảm thiểu lượng uridine trong chuỗi mRNA trong vaccine. Các thử nghiệm ban đầu với vaccine bệnh dại và COVID-19 đều thành công. Tuy nhiên, dữ liệu pha III hồi tháng sáu cho vaccine COVID-19 của CureVac cho thấy đạt hiệu quả bảo vệ kém hơn nhiều so với Moderna và BioNTech.  Vì vậy, một số chuyên gia cho rằng pseudouridine là thành phần thiết yếu của công nghệ vaccine mRNA, và nhận định đóng góp của Karikó và Wiessman đáng được công nhận.   Bo Ying, giám đốc điều hành hãng Suzhou Abogene Biosciences tại Trung Quốc, không chắc chắn về điều đó. “Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả của vaccine mRNA, và biến đổi hóa học của mRNA chỉ là một trong số đó”. Vaccine ARCoV của họ đang được thử nghiệm lâm sàng pha III, sử dụng mRNA không sửa đổi.   Đột phá về hạt lipid  Nhiều chuyên gia nhấn mạnh phát minh then chốt cho vaccine mRNA không phải là mRNA mà là những vi hạt chất béo LNP, bao bọc và đưa mRNA vào trong tế bào.   Công nghệ này đến từ phòng thí nghiệm của Pieter Cullis, nhà hóa sinh tại Đại học British Columbia.Từ cuối những năm 1990, công ty của ông đã tiên phong trong việc tạo ra các vi hạt LNP vận chuyển các chuỗi nucleic acid để tắt các hoạt động gene. Một thuốc như thế, Patisiran, đã được chấp thuận sử dụng cho một căn bệnh di truyền hiếm gặp.  Sau những sản phẩm triển vọng đầu tiên, hai công ty của Cullis đã tìm tòi để ứng dụng LNP vào các loại thuốc dựa vào mRNA. Acuitas Therapeutics đã liên kết với Weissman ở UPenn và một số công ty khác để thử nghiệm các công thức phối hợp mRNA-LNP khác nhau. Thành quả hợp tác của họ hiện diện trong vaccine COVID-19 của CureVac và BioNTech. Các vi hạt LNP trong Moderna cũng không khác mấy.    Chúng là hỗn hợp của bốn phân tử chất béo: ba trong số đó đóng vai trò khung cấu trúc ổn định cho chất còn lại là lipid ion hóa đóng vai trò then chốt. Chất này mang điện tích dương nên có ưu điểm giống như hạt liposome mà Felgner đã phát triển và Malone đã thử nghiệm cuối những năm 1980. Nhưng sản phẩm của Cullis ưu việt ở chỗ chất này có thể trở nên trung hòa điện tích trong điều kiện sinh lý như máu, giúp hạn chế tác hại gây độc cho cơ thể. Hỗn hợp bốn loại chất béo giúp sản phẩm được lưu trữ lâu hơn và ổn định hơn trong cơ thể.   Vào giữa những năm 2000, một phương pháp mới phối trộn các hạt LNP được áp dụng. “Phức bộ kết nối T” giúp kết hợp chất béo (tan trong rượu) với nucleic acid (tan trong môi trường đệm acid). Khi trộn hai dòng dung dịch này với nhau sẽ tự phát tạo ra các hạt LNP chứa mRNA đạt mật độ cao. Quy trình này có thể phát triển thành quy mô công nghiệp, và đang là đối tượng tranh chấp bằng sáng chế. Moderna đang trong trận chiến pháp lý với Arbutus, một công ty liên kết với Cullis, đối với công nghệ LNP trong vaccine COVID-19.  Sự ra đời của một ngành công nghiệp  Cuối những năm 2000, một số tập đoàn dược phẩm lớn tham gia lĩnh vực mRNA. Năm 2008, Novartis và Shire đều lập đơn vị nghiên cứu ứng dụng mRNA cho vaccine và thuốc. Cùng năm đó, BioNTech ra đời. DARPA, cơ quan nghiên cứu quốc phòng Mỹ đã bắt đầu tài trợ cho công nghiệp mRNA từ năm 2012. Moderna là một trong những công ty được hưởng lợi, đã nhận hơn 1 tỷ USD nhằm sản xuất thuốc cho các bệnh khiếm khuyến protein. Tham vọng đó thất bại, giám đốc điều hành Stéphane Bancel liền chuyển sang mục tiêu ít tham vọng hơn: chế tạo vaccine.  Điều đó khiến các nhà đầu tư thất vọng ban đầu vì vaccine là lĩnh vực chậm đổi mới và ít sinh lời. Đầu năm 2020, Moderna tạo ra chín ứng viên vaccine mRNA cho các bệnh truyền nhiễm. Chỉ một trong số đó tiến tới giai đoạn thử nghiệm cỡ mẫu lớn.  Đến khi COVID-19 xuất hiện, Moderna mới nhanh chóng tạo được dấu ấn với nguyên mẫu vaccine chỉ trong vài ngày kể từ khi trình tự gene của virus được công bố trên internet. Công ty hợp tác với viện dị ứng và bệnh truyền nhiễm quốc gia (NIAID) để tiến hành các nghiên cứu trên chuột và khởi động các thử nghiệm trên người, chỉ trong vòng chưa đầy 10 tuần.  BioNTech cũng thực hiện cách tiếp cận toàn diện. Tháng 3/2020, công ty hợp tác với gã khổng lồ dược phẩm Pfizer để tiến hành thử nghiệm lâm sàng với tốc độ kỷ lục, từ thử nghiệm đầu tiên trên người đến khi được phê duyệt khẩn cấp chỉ trong tám tháng.  Cả hai đều sử dụng vi hạt LNP mang mRNA được chỉnh sửa, mã hóa protein gai của SARS-CoV-2 có hình dạng tối ưu để tạo miễn dịch. Nhiều ý kiến cho rằng các tinh chỉnh protein gai do nhà sinh học cấu trúc Jason McLellan của đại học Texas-Austin và Andrew Ward của viện Scripps cũng đáng được ca ngợi, mặc dù chỉ đóng góp cho vaccine COVID chứ không phải đối với công nghệ vaccine mRNA nói chung.  Tranh cãi về quyền lợi từ các bằng sáng chế vẫn tiếp tục, nhưng phần lớn tài sản trí tuệ từ năm 1989 của Felgner, Malone và các đồng nghiệp của họ tại Vical (và năm 1990 của Liljeström) đã hết thời hạn 17 năm. Bằng sáng chế của Karikó–Weissman từ năm 2006 sẽ hết hạn trong năm năm tới. Chúng sắp thành tài sản công cộng. Các công ty chỉ có thể xin cấp bằng sáng chế cho các trình tự mRNA cụ thể và các công thức lipid độc quyền.   Moderna, người thống trị trong lĩnh vực vaccine mRNA, đang hướng đến thử nghiệm lâm sàng vaccine ngừa cúm, cytomegalovirus và một loạt các bệnh truyền nhiễm khác. Họ đã được cấp bằng sáng chế năm ngoái về quyền sử dụng rộng rãi mRNA để sản xuất các protein chế tiết. Nhưng nhiều người trong ngành còn dè dặt nghi ngờ: “Có nhiều thứ được cấp bằng sáng chế, nhưng không bao giờ trở thành sự thực”.  Liệu sẽ có một giải Nobel cho công nghệ mRNA?  Karikó và Weissman là hai cái tên tiềm năng cho giải  Nobel, và họ cũng đã giành được một số giải thưởng như giải Đột phá (trị giá 3 triệu USD, lớn nhất trong các giải thưởng khoa học) và giải Asturias. Giải Asturius cũng xướng tên Felgner, Şahin, Türeci và Rossi, cùng với Sarah Gilbert, nhà virus học đứng sau vaccine AstraZeneca sử dụng công nghệ vector virus.   Một số ý kiến cho rằng Karikó nên được ghi nhận nhiều hơn vì đóng góp cho nghiên cứu mRNA nói chung cũng như các khám phá trong phòng thí nghiệm, và vì “bà đã nâng đỡ người khác khi họ chưa có danh tiếng khoa học”.   “Mỗi người bổ sung dần từng chút một, trong đó có tôi”, Karikó khiêm tốn chia sẻ.□  Cao Hồng Chiến lược thuật   Nature 597, 318-324 (2021)  doi: 10.1038/d41586-021-02483-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên kết “bốn nhà” để thực hiện giấc mơ “Dược sơn”      Năm 1998, khi Traphaco khởi động dự án vùng trồng dược liệu tại Sapa, cả thị trấn miền núi chỉ còn lại vài cây Actiso cuối cùng. 18 năm sau, Actiso đã phủ xanh các xã Sa Pả, Tả Phìn…, trở thành cây thuốc chủ lực của Traphaco và “Cây đổi đời” của bà con dân tộc thiểu số nơi đây. Như lời ông Nguyễn Huy Văn, Phó Tổng giám đốc Traphaco, bí quyết kinh doanh dược liệu thành công gói gọn trong bốn từ: Liên kết bốn “nhà”.      Kỹ sư của Traphaco Sapa hướng dẫn bà con chăm sóc cây Actiso. Nguồn ảnh: Traphaco Sapa.  Từ Actiso đến giấc mơ “Dược sơn”  Nhắc đến những vườn Actiso trải rộng trên 70 ha, bên cạnh đó là các vườn Đương quy, Bạch truật, Giảo cổ lam, Chè dây… đều đang kỳ “bội thu”, Phó Tổng giám đốc Traphaco Nguyễn Huy Văn tiết lộ một giấc mơ lớn: Tạo nên một Dược sơn1 – Núi thuốc huyền thoại thứ hai tại Sapa. Tất nhiên, đó là kế hoạch trong tương lai, khi thị trấn miền núi này đã trở thành một vựa cây thuốc khổng lồ, cho năng suất dồi dào, ổn định. Gần 20 năm trước, dự án phát triển bền vững nguồn dược liệu của Traphaco cũng thành hình từ một giấc mơ lớn: Chủ động về dược liệu. Khi đó, vì nhiều lý do như: người dân khai thác tràn lan không tái tạo, xuất khẩu ồ ạt, tất cả các công ty dược của Việt Nam đều rơi vào tình cảnh thiếu nguyên liệu “sống còn” – dược liệu, phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, vừa đắt, vừa chông chênh và có khi không đảm bảo chất lượng. Theo thống kê của Bộ Y tế, tới 70% dược liệu dùng trong y học cổ truyền đều là nhập khẩu. Muốn thoát khỏi tình trạng lệ thuộc đó chỉ có cách tự trồng cây thuốc. Nhưng, trồng cây gì, trồng ở đâu và trồng thế nào lại là bài toán khó.  “Chúng tôi nhận ra, muốn phát triển bền vững, tạo nguồn dược liệu đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, bắt buộc phải phát triển vùng trồng dược liệu ở các tỉnh miền núi – nơi có khí hậu thích hợp cho cây thuốc tăng trưởng”, ông Huy Văn chia sẻ. Năm 2008, dự án Greenplan (Dự án xanh) được Traphaco triển khai tại Sapa, nơi trước đây từng là vùng trồng dược liệu lớn của phía Bắc. Actiso được chọn làm cây thuốc chủ lực, ngoài chuyện hợp thổ nhưỡng và tiềm năng kinh tế còn vì một lý do: Đầu thế kỷ XX, Actiso từng được người Pháp di thực đến Sapa trước tiên, sau đó, mới tới các vùng khác. Nhưng đến khi Actiso trở thành “cây kinh tế” tại một số địa phương, đặc biệt là Đà Lạt thì cả Sapa chỉ còn lại vài cây do không được “đầu tư”. Greenplan thành công cũng có nghĩa cây Actiso được hồi sinh trên chính “quê hương”. Với Actiso, Traphaco xác định, không thể có ngay diện tích trồng lớn, nhưng về chất lượng, mỗi lứa Actiso đều phải đạt tiêu chuẩn GACP (Good Agricultural and Collection Practices – Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc) do WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) ban hành. Nói đến chất lượng cây thuốc là nói đến hoạt chất nhiều hay ít và tỷ lệ này hoàn toàn phụ thuộc vào việc cây giống có tốt hay không. Nhưng, theo lời ông Huy Văn, “Cây giống chính là vấn đề nan giải của ngành dược liệu. Cây thuốc nào cũng thiếu giống và không có giống tốt. Nói như TS Trần Văn Ơn (Bộ môn Thực vật, Đại học Dược Hà Nội) thì ‘Động đâu chết đấy!’”.  Để “giải” bài toán cây giống, Traphaco đã mời các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu trồng cây thuốc Sapa (Viện Dược liệu) và Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây ôn đới Sapa (Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) “vào cuộc”, không ngại “chi mạnh” để “kéo” các nhà khoa học tham gia chuỗi phát triển giá trị dược liệu, “chung sức” cùng doanh nghiệp và người nông dân từ khâu đầu tiên – cây giống đến khâu cuối cùng – thu hái, đảm bảo cả quy trình trồng cây, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hái đều đạt chuẩn GACP – WHO. Kết quả, đến nay, Traphaco đã chủ động được nguồn dược liệu dù khối lượng dược liệu sử dụng  mỗi năm rất lớn – 4.000 tấn. Năm cây thuốc chủ lực của công ty, trong đó có Actiso, đều được Bộ Y tế cấp chứng nhận GACP – WHO. Ngoài vùng trồng Actiso, Chè dây, Đương quy… đang phát triển rất tốt và, Giảo cổ lam đang vào giai đoạn chuyển giao đề tài, lựa chọn giữa cây năm lá hay bảy lá, sắp tới, Traphaco còn tiến hành nuôi cấy Đông trùng hạ thảo. Nếu xét trên sản lượng, chất lượng và tốc độ phủ xanh cây thuốc tại Sapa, có thể nói, giấc mơ “Dược sơn” không quá tầm với!  Phát triển bền vững trên nguyên tắc cùng có lợi  Traphaco là đơn vị tiên phong ứng dụng mô hình “Bốn nhà” sang lĩnh vực dược liệu, bắt đầu từ Actiso, bởi trước hết, dược liệu là một loại nông sản đặc biệt, chất lượng được đánh giá dựa trên tỷ lệ hoạt chất. Ngoài ra, nếu thiếu dược liệu, dẫu đắt mấy doanh nghiệp vẫn phải mua vì bớt một thành phần thì thuốc thành thuốc giả. Còn nếu thừa cũng không sử dụng được mà có khi phải tốn tiền tiêu hủy. Do đó, cần có sự liên kết chắt chẽ giữa người sản xuất và người tiêu thụ. Đồng thời, mô hình “Bốn nhà” cũng phù hợp với triết lý kinh doanh của Traphaco: Phát triển bền vững trên nguyên tắc cùng có lợi, tức là, lợi ích của các đối tác tham gia vào chuỗi phát triển giá trị dược liệu được coi trọng như nhau.  Nhận thức rõ, trong mô hình “Bốn nhà”, doanh nghiệp và người nông dân chính là chủ nhân của chuỗi phát triển giá trị dược liệu còn nhà nước và nhà khoa học đóng vai trò tác nhân nên trước khi mở vùng trồng dược liệu ở Sapa, Traphaco đã làm việc với Ủy ban nhân dân thị trấn, xã về quy hoạch diện tích trồng, đồng thời, ký cam kết bao tiêu toàn bộ dược liệu hằng năm theo đúng kế hoạch. Và, với một số cây thuốc chủ lực như Actiso, nếu đạt chuẩn GACP – WHO, công ty sẽ thu mua với giá cao hơn thị trường ít nhất 10%. Tham gia chuỗi phát triển giá trị dược liệu, chính quyền thị trấn, xã vừa là “trọng tài”, vừa làm công tác tuyên truyền, giúp doanh nghiệp “đả thông tư tưởng” cho bà con nông dân. “Nếu không có ‘tiếng nói’ của lãnh đạo địa phương, Traphaco chắc chắn khó thuyết phục người dân, đa số là đồng bào dân tộc ít người, trở thành đối tác trong dự án phát triển vùng dược liệu tại Sapa”, ông Huy Văn nhấn mạnh.        Thử thách “xương” nhất chương trình Thách thức doanh nghiệp Việt Nam đặt ra cho các doanh nghiệp là: Tôi hỗ trợ anh 1.000 USD, hãy tạo ra 20 việc làm cho bà con nông dân. Đến giờ, ý nghĩa cao nhất của giải thưởng luôn được Traphaco trân trọng, đó là: Sáng tạo không ngừng vì lợi ích của chính mình và đối tác.      Tất nhiên, để thay đổi tập quán canh tác là cả một vấn đề, nhất là khi đa số bà con nông dân ở các xã như Sa Pả, Tả Phìn… không biết chữ, không biết nói tiếng Kinh, cũng không có khả năng kinh tế và kỹ thuật để hiện đại hóa quy trình trồng và thu hái cây thuốc. Cái gọi là chuẩn Organic hay GACP hoàn toàn xa lạ với họ. Actiso tuy là cây thuốc dễ trồng, không đòi hỏi quá nhiều công chăm bón nhưng lại khá đỏng đảnh ở khâu thu hoạch. Chỉ lá tươi mới cho nhiều hoạt chất. Lá héo lập tức hoạt chất bị phân hủy. Theo yêu cầu của Bộ Y tế, để được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn GACP, mỗi một cây thuốc phải có hồ sơ được ghi chép tỉ mỉ hằng ngày và phải đảm bảo chất lượng, tức tỷ lệ hoạt chất cao. Bởi vậy, ngoài việc “nhờ cậy” cán bộ thị trấn, xã thực hành trước để “làm gương” cho bà con, Traphaco đã “mạnh tay” đầu tư cho cả chuỗi sản xuất, từ việc cấp giống, ứng giống đến tập huấn, hỗ trợ về kỹ thuật canh tác, đốc thúc, giám sát… Tuy nhiên, trong một số công đoạn cũng phải linh hoạt, chẳng hạn, cho phép bà con “đánh dấu” thay vì ghi chép. Năm 2013, Quỹ Xoay vòng được thành lập với số tiền luôn ở mức trên 2 tỷ đồng, hoạt động theo cơ chế tạm ứng và chỉ nhằm mục đích hỗ trợ bà con trồng dược liệu trong trường hợp khẩn cấp như vấn đề cây giống, mất mùa do thiên tai… Ý tưởng của Quỹ được hình thành sau khi Traphaco giành chiến thắng tại chương trình Thách thức doanh nghiệp Việt Nam2 với mô hình phát triển một số cây dược liệu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Actiso, Đương quy, Chè dây…   Nhằm gia tăng lợi ích cho đối tác, cụ thể là người nông dân ở Sapa, sau khi sản lượng Actiso hằng năm bắt đầu ổn định, Traphaco Sapa đã nghiên cứu mở rộng sản phẩm, ngoài cao đặc, cao khô, cao mềm  “bán” cho công ty “mẹ”, bà con được hướng dẫn thử nghiệm một số sản phẩm bản địa phục vụ khách du lịch như: trà Actiso, phấn ong, mật ong Actiso… Ngoài ra, Traphaco cũng đầu tư 50 tỷ đồng để xây dựng một nhà máy sản xuất chế biến dược liệu đặt tại Sapa, dự kiến chính thức hoạt động vào cuối năm nay. Đó như một cam kết với bà con: Tất cả dược liệu do người nông dân trồng, thu hái đều được doanh nghiệp bao tiêu, chế biến, mang lại thu nhập bền vững cho người sản xuất. Sau gần 10 năm Traphaco triển khai dự án GreenPlan tại Sapa, đã có 300 hộ dân tham gia trồng dược liệu. Từ chỗ phải nhờ cán bộ huyện, xã đi vận động người dân, đến nay, các cán bộ “nằm vùng” của Traphaco được bà con dân tộc thiểu số xem như người nhà. Để có được sự tin tưởng quý giá đó, chỉ có cách tận tâm, thật lòng, gắn bó với bà con, mở rộng ra là đối tác. Theo ông Huy Văn, đó cũng là chính là tinh thần các nhà sản xuất và kinh doanh dược liệu cần phải có nếu muốn phát triển bền vững!  ———  1 Vườn thuốc huyền thoại được nhà Trần phát triển tại núi Chí Linh (Hải Dương) với mục đích cung cấp dược liệu chữa bệnh cho quân sĩ. Dược Sơn được xem là vườn thuốc Quốc gia đầu tiên của Việt Nam.  2 Chương trình Thách thức doanh nghiệp Việt Nam do Quỹ Thách thức doanh nghiệp Việt Nam (hoạt động với sự tài trợ của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh) tổ chức. Quỹ có mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam xây dựng mô hình kinh doanh sáng tạo cùng người thu nhập thấp.          Author                Hương Lan        
__label__tiasang Liên kết giữa di sản và nhà trường: Sức sống của giáo dục di sản      Quy trình cho trẻ em tham quan di sản vẫn thường được tiến hành một cách “cứng nhắc” và một chiều: hướng dẫn viên thao thao bất tuyệt, hàng trăm em đứng nghe thiếu hào hứng, thậm chí ít khi hỏi đáp. Gần đây, một phương pháp giáo dục di sản mới được áp dụng giúp học sinh chủ động, sáng tạo khám phá di sản đã thể hiện tính ưu việt trong việc giúp các em củng cố kiến thức phổ thông và kỹ năng sống một cách trực quan, sinh động.      Các em học sinh lớp 4 trường TH Lý Thường Kiệt cùng cô giáo Nguyễn Kim Toàn chuẩn bị nội dung trước tham quan.   Chủ động và hào hứng khám phá  Trong lớp học, một nhóm học sinh lớp 4 đứng trước cả lớp thuyết trình về những sản phẩm các em đã tự tạo như tranh vẽ, bút tre, ống quyển… sau khi tìm hiểu về “lớp học xưa” tại Văn Miếu. Sau đó, nhóm thứ hai diễn vở kịch về lớp học của thầy đồ Chu Văn An. Cuối cùng, nhóm thứ ba gõ nhịp phách bài vè khá vui nhộn: “Ve vẻ ve ve/ Nghe vè học tập/ Ngày xưa ngồi sập / Là thầy đồ già/ Học trò thiết tha/ Đến cùng cha mẹ/ Không nặng thì nhẹ/ Không ít thì nhiều/ Nhà có bao nhiêu/ Sắm sanh lễ vật / Của ít lòng thật/ Nhập môn kính thầy/ Kính lễ nơi đây/ Xin thầy dạy chữ…”. Sau khi đọc vè xong, các em ào lên hỏi cô giáo Nguyễn Kim Toàn: “Khi nào con lại được đi Văn Miếu?” và cùng tranh luận những hoạt động tiếp theo mà các em có thể tham gia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.  Đó là một giờ học sau tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám của các em lớp 4 trường tiểu học Lý Thường Kiệt, quận Đống Đa, Hà Nội được thực hiện trong Chương trình thực hành cho trẻ tham quan di sản theo cách tiếp cận mới (Chương trình) đề cao tính tham gia, chủ động và sáng tạo của học sinh do Ban quản lý Văn Miếu Quốc Tử Giám phối hợp với Trường tiểu học Lý Thường Kiệt tiến hành.  Cách tiếp cận mới trong giáo dục di sản này đòi hỏi xây dựng các chương trình giáo dục thông qua trải nghiệm di sản một cách chủ động, tích cực, sáng tạo gắn với mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức và kỹ năng của cấp học, khối lớp và phù hợp yêu cầu của từng môn học thông qua một khung chương trình do cán bộ di tích thiết kế theo ba bước: trước, trong và sau tham quan. Cụ thể: Trước tham quan là hoạt động do giáo viên tổ chức tại lớp học, giúp học sinh tự chuẩn bị tài liệu về di sản, di tích ngay trước chuyến tham quan trải nghiệm tại di tích; gắn kết di sản với chương trình của học sinh. Các em được hướng dẫn cùng cha mẹ tìm hình ảnh, các mẩu chuyện xung quanh lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám và sau đó chia sẻ thông tin với các bạn trong lớp. Qua đó mọi người cùng nâng cao nhận thức và thích thú với chuyến đi sắp tới. Trong tham quan là hoạt động tại di tích: cán bộ giáo dục1 hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động trải nghiệm đã được thiết kế theo từng chủ đề. Hiện nay các cán bộ hướng dẫn của Văn Miếu Quốc Tử Giám đã nghiên cứu kỹ chương trình học của học sinh Tiểu học sau đó thiết kế các hoạt động tại di tích phù hợp với từng môn. Ví dụ: Thiết kế tour tìm hiểu về các con giáp và bia Tiến sĩ trong Văn Miếu với học sinh lớp 1 đang học thống kê (đếm, cộng, trừ), nhận biết, kể chuyện mô tả, so sánh với con vật thật, nhận biết đường nét về mỹ thuật… Đối với các em học sinh lớp lớn hơn sẽ có các hoạt động liên quan đến kỹ năng tính toán, thực hành kỹ năng miêu tả, hay giáo dục thẩm mỹ (vẽ, nặn tượng..)… phức tạp tương ứng. Hiện nay Văn miếu Quốc Tử Giám đã thiết kế được nhiều tour trong tham quan với gần 10 chủ đề khác nhau. Sau tham quan là những hoạt động sáng tạo tập thể của học sinh giống như làm bài “thu hoạch” nhưng đầy sáng tạo, hấp dẫn dưới cách trình bày đa dạng thể loại như của lớp 4 trường Tiểu học Lý Thường Kiệt kể trên. Đây là hoạt động đặc biệt được chú trọng để học sinh có thể “bồi đắp”, bay bổng xa hơn qua những “ghi nhớ” sau quá trình tham quan, qua đòi hỏi sự sáng tạo của học sinh và thầy cô giáo. Giáo viên cần phải định hướng đúng và khéo léo, linh hoạt để giúp học sinh thiết kế những sản phẩm sáng tạo hiệu quả.  Về cách tổ chức, Chương trình này chia học sinh thành các nhóm nhỏ trên dưới 10 em/ nhóm để cùng tìm hiểu về một khía cạnh của chủ đề tìm hiểu. Có sự “tương tác” chặt chẽ giữa các em học sinh với nhau và giữa học sinh với cán bộ giáo dục tại di tích. Cách làm này thay hoàn toàn cho cách tham quan cũ theo quy trình “thụ động” “thuyết minh dùng loa hướng dẫn cho những đoàn học sinh đông hàng trăm em, các em chỉ biết “sơ sơ” về di sản, khó nắm bắt nội dung cụ thể chứ chưa nói tới tích cực tương tác”, chị Hoàng Tuyết Hương, Cán bộ giáo dục tại Văn Miếu Quốc Tử Giám cho biết.  Mô hình thí điểm “mạnh dạn” của Văn Miếu  Văn Miếu Quốc Tử Giám được đánh giá là một di sản “hút khách” bởi hằng năm đón tiếp hàng trăm nghìn lượt người tới tham quan. Chỉ tính riêng học sinh bậc phổ thông, năm 2015 di tích này đón tiếp 60.000 em. Tuy nhiên, chính ban quản lý Văn Miếu Quốc Tử Giám nhận thấy, từ nhiều năm nay chương trình tham quan ở đây, không phù hợp với xu hướng tham quan chủ động trên thế giới, chưa thực sự gắn với chương trình giáo dục phổ thông. Vì vậy, năm 2016, Văn Miếu Quốc Tử Giám đã triển khai thí điểm Chương trình giáo dục di sản kiểu mới với sự hỗ trợ chuyên môn của Trung tâm nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa (CCH). Dự kiến sau khi thí điểm thành công, di tích này sẽ áp dụng rộng rãi phương pháp mới này vào tham quan di sản (vẫn áp dụng phương pháp thuyết minh cũ với những đoàn học sinh ở xa, chưa có điều kiện cho học sinh thực hiện các bước trước và sau tham quan).  Chương trình thí điểm này của Văn Miếu Quốc Tử Giám “mang tính sư phạm, tôn trọng tính tham gia tích cực của học sinh và đảm bảo các em là chủ thể tiếp nhận thông tin một cách chủ động”, theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, phó Giám đốc CCH, người tư vấn chuyên môn cho Chương trình này của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Do đó, rất cần đưa phương pháp giáo dục mới này vào áp dụng trong nhà trường.  TS. Nguyễn Thành Nam, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự, người từng tham gia xây dựng nhóm Cánh buồm từ những ngày đầu và có kinh nghiệm “bán” các tour giáo dục dã ngoại của nhóm giáo dục Ô xinh đánh giá: “Với những nội dung hấp dẫn như cách làm của Văn Miếu Quốc Tử Giám, học sinh và phụ huynh đều cảm thấy rất thu hút. Không chỉ thiết kế nội dung tham quan tích hợp trong chương trình giáo dục, Văn Miếu hoàn toàn có thể thiết kế các tour tham quan “độc lập” mang tính thương mại và rất nhiều phụ huynh quan tâm “mua” cho con học theo các khoá này chứ không chỉ thí điểm miễn phí như hiện nay”.  Sự vui thích, chủ động tham gia và sáng tạo nhiều sản phẩm sau tham quan của các học sinh những trường thí điểm phối hợp với Văn Miếu như trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, trường Tiểu học Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy, trường Tiểu học Cát Linh, Q. Đống Đa đã cho thấy rõ tính hiệu quả của Chương trình này.  Liên kết là vấn đề mấu chốt nhất  Tuy nhiên, trên thực tế, một thử nghiệm tương tự đã từng diễn ra từ cách đây… 5 năm. Năm 2012, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội có một dự án đưa phương thức giáo dục di sản vào nhà trường và cho học sinh thử nghiệm tham quan di sản chùa Láng và Bảo tàng Phụ Nữ. Dự án đó được xây dựng rất bài bản, mời các chuyên gia về di sản để “chọn lọc” các kiến thức về lịch sử, văn hóa của di sản phù hợp với học sinh, chuyên gia giáo dục thiết kế chương trình tham quan phù hợp với khung chương trình phổ thông. Mặc dù dự án này được đánh giá là rất hữu ích, cấp thiết với giáo dục phổ thông và sau đó góp phần “thúc đẩy” cho ra đời thông tư liên bộ số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL về việc Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên nhưng lại được cho là … chưa thành công. Bởi vì thiếu liên kết giữa các di sản và cơ sở giáo dục, “khi dự án kết thúc, không có đơn vị nào đứng ra nhận tiếp tục thực hiện [mô hình này] một cách bài bản, bảo tàng và các trường cũng đều quá bận và không thể tự thiết kế, phát triển các chương trình trải nghiệm tiếp theo chính là được”, TS. Nguyễn Thành Nam, một trong những chuyên gia giáo dục tham gia dự án này cho biết.  Trong trường hợp của Văn Miếu Quốc Tử Giám, để có được những thành công bước đầu hiện nay, trong suốt hơn một năm thí điểm Chương trình, đơn vị này phải “vượt qua” vấn đề đầu tiên là “chung tay” liên kết chặt chẽ với các trường để cùng soạn thảo nội dung từng chủ đề trong bối cảnh cán bộ giáo dục của cả hai phía đều đang quá bận với chương trình chính khóa. Có thể nói, sự phối hợp của các trường Tiểu học với Văn Miếu Quốc Tử Giám là “may mắn”, hoàn toàn xuất phát từ tâm huyết và nhận thức về tầm quan trọng của phương pháp giáo dục di sản mới này của chính Ban giám hiệu và giáo viên các trường tiểu học đã liên kết, bởi có thông tư 73 hướng dẫn khá “chung chung” nhưng không có một cơ chế nào bắt buộc các trường phải tham gia áp dụng tiếp cận giáo dục di sản mới. Mặt khác, “nội dung giáo dục di sản này không có trong Hướng dẫn chương trình chính thức. Chúng tôi phải “tranh thủ” thời gian ra chơi, các tiết sinh hoạt tập thể, tiết hướng dẫn học tập để hướng dẫn học sinh thực hiện các bước trước tham quan, sau tham quan tại lớp”, cô giáo Nguyễn Kim Toàn, chủ nhiệm lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt cho biết. Đó là một lỗ hổng của Thông tư Liên bộ này mà thực tế đang chỉ ra nếu muốn cách tiếp cận mới này được áp dụng rộng rãi.  Vấn đề thứ hai mà Văn Miếu Quốc Tử Giám đã “vượt qua” là “đào tạo lại” cán bộ thuyết minh. Bảy cán bộ giáo dục của Phòng Nghiệp vụ – Thuyết minh phải “căng mình” làm việc, nỗ lực học tập những phương pháp và kiến thức mà trước đó chưa từng được tiếp cận. “Chúng tôi phải tìm đọc toàn bộ chương trình giáo dục phổ thông để hiểu được các em ở từng khối lớp cần những kiến thức và kỹ năng gì rồi mới xây dựng các chủ đề tham quan. Chúng tôi học làm phiếu khảo sát sao cho đơn giản, dễ hiểu để các em học sinh thực hiện khi tham quan, học cách kể chuyện, tìm trò chơi… Những kỹ năng này hoàn toàn mới so với thuyết minh trước đây đơn giản gần như là “độc thoại”, chị Hoàng Tuyết Hương cho biết. Bảy cán bộ giáo dục của Phòng sẽ là quá ít ỏi nếu Chương trình thí điểm này được nhân rộng thay thế cho phương pháp tham quan cũ và được “đặt hàng” nhiều. Hiện nay phòng Nghiệp vụ – Thuyết minh tính tới phương án phải huy động tình nguyện viên.  “Sức sống” của Chương trình giáo dục di sản này đã được thể hiện ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, xuất phát từ chính nhận thức cần phải thay đổi cách giáo dục di sản của đơn vị này và nhận được sự phối hợp từ các cơ sở giáo dục nhưng đây mới chỉ là một hiện tượng “đơn lẻ”. Phương pháp giáo dục di sản mới này có được “lan toả” hay không lại phụ thuộc ở khả năng thay đổi nhận thức của các ban quản lý di sản và các trường khác.  ——-  1 Trong Chương trình này, thay vì dùng từ “cán bộ thuyết minh”, Văn Miếu Quốc Tử Giám sử dụng khái niệm mới có nội hàm riêng là “Cán bộ giáo dục” tại di tích cho đúng với tinh thần chức năng giáo dục trong bảo tàng và di sản.       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Liên kết giữa doanh nghiệp: Nút thắt ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam      Việc tồn tại quá nhiều rủi ro và sự non yếu của chính các doanh nghiệp là những nút thắt lớn trong quá trình thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ tại Việt Nam.     Lâu nay, người ta vẫn thường ái ngại và chua xót cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam với câu nói cửa miệng “không thể cung cấp cái ốc vít cho các ông lớn FDI”. Hội thảo “Kết nối ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước với khu vực FDI, thực trạng, thách thức và giải pháp”, do Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tổ chức vào tháng 9/2019, đã tiếp tục phơi bày những câu chuyện tưởng chừng muôn thuở đó nhưng dưới góc độ khác.[1] Ví dụ, là một trong những doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (CNHT) “đi đầu” ở Việt Nam trong việc sản xuất các thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu, công ty CP Công nghệ môi trường TĐA của anh Nguyễn Mạnh Tuân mặc dù được coi là “khá thành công” với nhiều khách hàng lớn như Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Công ty CP hóa dầu quân đội, Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam,… song câu chuyện tồn tại không dễ dàng. Anh Tuân cho biết, việc cạnh tranh của công ty rất “vất vả” vì nhiều doanh nghiệp của nước ngoài cũng cung cấp các sản phẩm tương tự với mức giá rẻ hơn. “Có nơi gọi điện hỏi báo giá thiết bị phao quây dầu, so sánh ra chúng tôi rất sốc khi biết tiền mua nguyên liệu của chúng tôi đã bằng giá bán sản phẩm hoàn chỉnh của các hãng nước ngoài rồi”, anh Tuân kể lại.  Trường hợp mà công ty TĐA gặp phải cũng là vấn đề chung mà nhiều doanh nghiệp trong các ngành CNHT ở Việt Nam hiện đang phải đối mặt. Giá thành sản xuất cao khiến các doanh nghiệp CNHT trong nước khó bề cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Theo thống kê năm 2018 của Bộ Công Thương, cả nước có khoảng 1.800 doanh nghiệp CNHT, tuy nhiên chỉ hơn 1/6 số đó có đủ khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. “Phụ kiện sản xuất trong nước có thể bảo đảm về chất lượng nhưng khi nói đến giá thì lại khó cạnh tranh với Trung Quốc và các nước ASEAN. Vướng mắc vẫn nằm ở khâu giá”, bà Trương Thị Chí Bình, Tổng thư ký Hiệp hội CNHT Việt Nam cho biết.  Thực tế này đang gây khó khăn cho việc phát triển ngành CNHT ở Việt Nam. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?  Thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp  Trả lời cho câu hỏi này, PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội CNHT Việt Nam, từng là Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách phát triển công nghiệp và Chủ tịch HĐQT Sabeco, cho rằng nguyên nhân chính là do thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp, cụ thể là giữa các doanh nghiệp CNHT với nhau.    Anh Nguyễn Mạnh Tuân, Giám đốc công ty TĐA, giới thiệu về sản phẩm miếng thấm dầu trong triển lãm VCCA 2019. Ảnh: TA  Đây là một quan điểm khá khác biệt với những lý do thường được đưa từ trước đến nay, phần lớn đều cho rằng nguyên nhân khiến doanh nghiệp CNHT Việt Nam khó cạnh tranh về giá là do trình độ công nghệ của doanh nghiệp trong nước chưa cao. Với kinh nghiệm của người đã có nhiều kinh nghiệm năm kinh nghiệm trong lĩnh vực CNHT, ông nhận định, “công nghệ chỉ là một phần, vấn đề liên kết mới là yếu tố cốt lõi để phát triển CNHT thì mình chưa làm được “.  Điều này xuất phát từ đặc điểm của ngành CNHT – có mức độ chuyên môn hóa rất cao, mỗi doanh nghiệp thường chỉ sản xuất một chi tiết nhỏ cấu thành phụ kiện. CNHT sản xuất nguyên vật liệu, phụ tùng linh kiện,… cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất “chính” để lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh. Các doanh nghiệp CNHT thường có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhà cung ứng linh kiện cấp 1 (cung ứng trực tiếp linh kiện cho nhà sản xuất), cấp 2 (cung ứng nguyên liệu hoặc chi tiết máy cho cấp 1 để chế tạo linh kiện),… “Mỗi doanh nghiệp sản xuất một chi tiết cụ thể thì sẽ tập trung, chuyên nghiệp hơn”, PGS.TS. Phan Đăng Tuất cho biết. Hơn nữa, phần lớn doanh nghiệp CNHT nói riêng và các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung đều thuộc loại vừa & nhỏ, vốn không lớn trong khi “để mỗi doanh nghiệp tự sản xuất một phụ kiện hoàn chỉnh thì tốn quá nhiều chi phí đầu tư”. Bên cạnh đó, CNHT cũng có đặc tính rủi ro cao vì mỗi doanh nghiệp sản xuất chính lại có quy trình công nghệ khác nhau, yêu cầu về phụ tùng linh kiện cũng khác nhau. Chính vì vậy, “làm công nghiệp hỗ trợ như đi trên dây, mua máy móc, nguyên liệu về, chỉ cần doanh nghiệp thu mua thay đổi ý kiến, chuyển sang thiết kế mới chẳng hạn,… là toàn bộ dây chuyền coi như bỏ đi, không bán được cho ai khác”, PGS.TS. Phan Đăng Tuất chỉ ra một thực tế.  Với những đặc điểm này, việc tập hợp các doanh nghiệp CNHT trong cùng lĩnh vực lại cùng một chỗ là điều hết sức cần thiết để giảm thiểu chi phí và dễ dàng đối phó trước những rủi ro thay đổi. Những quốc gia có nền công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,… đều thành công trong việc kết nối các doanh nghiệp CNHT thành những cụm công nghiệp lớn nhỏ. Chẳng hạn để sản xuất bộ chế hòa khí cho xe máy Yamaha, 28 doanh nghiệp Nhật Bản đã tập trung với nhau trong cùng một khu công nghiệp, mỗi doanh nghiệp chế tạo một phần để tạo thành bộ chế hòa khí hoàn chỉnh, bởi vậy việc vận chuyển nhanh chóng và dễ dàng hơn. Đồng thời, khi Yamaha có thay đổi về sản phẩm, sản xuất một loại xe mới, 28 doanh nghiệp sẽ cùng ngồi họp bàn với nhau để tìm cách cùng thay đổi phù hợp.  Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp CNHT ở Việt Nam hiện nay vẫn nằm rải rác, chưa quy hoạch thành các khu công nghiệp tập trung nên thường rơi vào tình cảnh của công ty TĐA: “Hiện nay chúng tôi mỗi người một nơi, muốn hợp tác cũng khó, chi phí vận chuyển để làm ra một sản phẩm cũng rất cao”, anh Nguyễn Mạnh Tuân cho biết, “đây là phần khó khăn nhất, các yếu tố khác như công nghệ, năng lực sản xuất chúng tôi có thể cố gắng khắc phục được”.  Mong có chính sách quy hoạch  Trên thực tế, tầm quan trọng của việc kết nối các doanh nghiệp CNHT trong nước đã được Chính phủ xem xét và triển khai qua một loạt chính sách như Nghị định 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển CNHT, Quyết định 879/QĐ-TTg năm 2014, Quyết định số 319/QĐ-TTg năm 2018 của Thủ tướng về chiến lược phát triển các ngành CNHT như cơ khí, dệt may, điện tử,… Tuy nhiên, việc quy hoạch khu CNHT ở nhiều nơi gặp khó khăn do “chưa đủ rõ ràng”, dẫn đến hiện tượng chồng chéo hoặc vướng vào quy hoạch ở địa phương, ông Đàm Tiến Thắng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, lý giải một phần nguyên nhân. Nhiều cụm CNHT đã nằm trong quy hoạch phát triển, nhưng khi triển khai thì diện tích đất lại không phải của cụm công nghiệp, hoặc mục đích sử dụng đất chưa được cập nhật. “Cần phải làm rõ việc thực hiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp cũng như đồng bộ các quy hoạch, kế hoạch liên quan trước làm cơ sở để ra quyết định cụ thể”, ông đề xuất.  Để góp phần tháo gỡ khó khăn này, “Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng về việc hình thành những trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cho CNHT, trước mắt là tại 3 trung tâm kinh tế lớn khu vực miền Bắc, Trung, Nam. Những trung tâm này không chỉ tập trung vào giới thiệu công nghệ, hỗ trợ điều kiện tiếp cận công nghệ và kết nối các doanh nghiệp”, ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương, nêu giải pháp.  Tuy nhiên, để các chính sách này thực sự phát huy được hiệu quả, PGS.TS. Phan Đăng Tuất cho rằng những chính sách của nhà nước nên tập trung vào việc hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động kết nối với nhau. “Để sản xuất bộ chế hòa khí cho xe máy Yamaha, 28 doanh nghiệp của Nhật Bản đều tự tìm nhau trên mạng, ngồi lại tự bàn bạc làm với nhau”, ông cho biết. Khi đó, Chính phủ chỉ cần tạo điều kiện thông qua các chính sách như cho thuê đất miễn phí, khi nào có lợi nhuận thì nộp hoặc áp dụng thuế tự nguyện, ghi nợ thuế để trả sau,…  Thanh An  Chú thích  [1] https://khoahocphattrien.vn/tin-tuc/vcca-2019-co-hoi-ket-noi-ba-nha-trong-linh-vuc-tu-dong-hoa/201909060157075p1c882.htm    Author                Thanh An        
__label__tiasang Liên kết lỏng lẻo do thiếu niềm tin      Cách đây gần 15 năm, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng nhằm thúc đẩy quá trình liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân. Tuy nhiên nhìn lại cả quá trình thực hiện suốt từ năm 2002 đến nay, có thể thấy kết quả thu được vẫn chưa như mong đợi.       Nông dân vẫn mong doanh nghiệp đảm bảo sự ổn định ở khâu tiêu thụ sản phẩm.  Mới đây, chúng tôi có tiến hành một khảo sát sơ bộ trên địa bàn các tỉnh phía Bắc (từ Quảng Trị trở ra), thấy rằng tỷ lệ ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của nông dân với doanh nghiệp chỉ cao với các ngành bông và sữa, còn lại đa số các ngành khác thấp hoặc rất thấp, ví dụ như mía đường 31%, lúa gạo 18%, chè 9%, thủy sản 3%, cà phê 2,5%, rau quả 0,9%…  Trong một báo cáo gần đây của World Bank về nông nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, tỷ lệ ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp giữa doanh nghiệp và nông dân chỉ từ 2 đến 3%, và trong số các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm này có 60 % chỉ tiến hành tổ chức thu mua nông sản của nông dân khi đến mùa thu hoạch, không đầu tư vào quá trình sản xuất của nông dân (quy hoạch, tổ chức sản xuất, cung ứng giống, vật tư, tập huấn…). Điều đó cho thấy những tổ chức, doanh nghiệp như công ty của kỹ sư Hồ Quang Cua ở Sóc Trăng chấp nhận đầu tư từ đầu vào giống, vốn, kỹ thuật, hướng dẫn kĩ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nông dân là chưa nhiều, còn lại đa số các doanh nghiệp đều không muốn đầu tư từ đầu, trọn gói, không muốn chia sẻ rủi ro với người nông dân, họ chỉ muốn “ăn sẵn”, đến mùa thu hoạch mới tổ chức thu mua. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc mối liên hệ trong chuỗi giá trị giữa người nông dân và doanh nghiệp ở Việt Nam còn hết sức lỏng lẻo.  Báo cáo phát triển Việt Nam 2016 “Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào” của World Bank cho thấy liên kết ngang – liên kết giữa nông dân với nông dân để tạo ra vùng nguyên liệu (số liệu điều tra trên 9.200 hợp tác xã) – có tới 85% trong số này không tổ chức sản xuất theo hướng thị trường, không quan tâm đến những yêu cầu của thị trường để điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất của các hộ nông dân thành viên mà HTX chủ yếu mới chỉ là nơi cung cấp các sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất như thuốc trừ sâu, phân bón, giống, công tác thủy lợi… Điển hình, trong một ngành xuất khẩu quan trọng như cà phê, chỉ dưới 1% hợp tác xã trồng cà phê tổ chức cho nông dân trồng trọt theo hướng thị trường, tức là người nông dân nắm được kế hoạch đầu ra với các công đoạn cần thiết như trồng trọt, chăm sóc thế nào, đóng gói sản phẩm ra sao, bán sản phẩm ở đâu, bán cho ai, giá cả nào… Có thể trên thực tế thì số lượng này sẽ cao hơn, hy vọng là vậy, vì số liệu mà nhóm tác giả xây dựng Báo cáo này dựa vào kết quả điều tra năm 2012; tuy nhiên có thể chắc chắn rằng, mối liên kết dọc và ngang trong sản xuất nông nghiệp của chúng ta hiện nay đều không được như mong muốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp định hướng thị trường.  Nguyên nhân của sự lỏng lẻo và thiếu bền chặt trong mối liên kết giữa người nông dân và doanh nghiệp là do cả hai bên đều thiếu niềm tin vào nhau. Với người nông dân, điều mà họ cần nhất ở doanh nghiệp chính là đảm bảo ổn định ở khâu tiêu thụ sản phẩm với giá cả chấp nhận được, đi kèm với đảm bảo cung cấp các dịch vụ đầu vào cho sản xuất với chất lượng cao. Trong điều tra mà chúng tôi đã thực hiện có nhấn mạnh đến mục tiêu liên kết mà người nông dân hướng tới với tám tiêu chí quan trọng là đảm bảo tiêu thụ đầu ra; tiếp cận dịch vụ đầu vào (đảm bảo chất lượng dịch vụ, không có hàng giả); trả tiền mua sản phẩm đúng thời hạn; giá sản phẩm hợp lý; tiếp cận nguồn tín dụng; tiếp cận các dịch vụ thú y, sâu bệnh; tiếp cận các kỹ thuật mới trong trồng trọt, chăn nuôi; giá cả ổn định lâu dài (chu kỳ năm năm). Trong số 500 hộ nông dân được khảo sát, chúng tôi phân loại thành hộ khá – với hộ nông dân ở đồng bằng sông Hồng là tích tụ được trên 2 ha, hộ trung bình – tích tụ ruộng đất dưới 2 ha và hộ nghèo. Kết quả đạt được với các hộ nông dân trung bình: 76% hộ quan tâm nhất đến khâu tiêu thụ, trên 52% quan tâm đến khâu cung cấp dịch vụ đầu vào có chất lượng cao. Với các chỉ số về các chỉ tiêu khác đều rất thấp, ví dụ về tiếp cận nguồn tín dụng thì số lượng quan tâm đến chỉ số này rất thấp, chỉ đạt 4% hộ khá, 9,5% hộ trung bình, với lý do giấy tờ, thủ tục phiền hà, nhiêu khê.  Về phía doanh nghiệp, chúng tôi đã điều tra 19 doanh nghiệp vẫn thường thu mua các sản phẩm nông nghiệp thiết yếu như cam, rau, mía, chè, trứng, sữa, ngô, sắn…, kết quả là chỉ có năm doanh nghiệp tiến hành ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với nông dân bằng văn bản, mười doanh nghiệp có hợp đồng thỏa thuận miệng (trên thực tế tám doanh nghiệp trong số này từng bị nông dân “phá ngang” hợp đồng), bốn doanh nghiệp còn lại không thực hiện mua bán theo bất cứ dạng hợp đồng nào, khi nông dân thu hoạch thì đến thu mua. Rõ ràng, tỷ lệ doanh nghiệp đặt niềm tin vào nông dân cũng chưa cao.  Đa số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn ở mức vừa và nhỏ, hoặc rất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không cao như doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác, do đó quy mô hợp đồng mà họ ký kết với nông dân cũng ở mức nhỏ. Mỗi doanh nghiệp ký hợp đồng với trung bình 300 nông hộ, mặc dù cũng có đơn lẻ trường hợp doanh nghiệp ký với 3.000 hộ. Các doanh nghiệp thường có xu hướng hợp tác với các nông hộ tích tụ được ruộng đất đủ lớn như quy mô trang trại, gia trại, phần lớn các doanh nghiệp đều rất ngần ngại hợp tác với những nông hộ có quy mô sản xuất nhỏ, hộ nghèo vì các hợp đồng ký kết với các hộ này đều ở qui mô nhỏ nên khó kiểm soát chất lượng sản phẩm.    Những ‘nút thắt’ trong phát triển nông nghiệp hàng hóa hiện nay chủ yếu là quy mô ruộng đất, sự vào cuộc của doanh nghiệp và tổ chức nông dân. Để củng cố mối liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân, theo tôi, giải pháp quan trọng nhất là đa dạng hóa hình thức liên kết và nhà nước cần thừa nhận những hình thức liên kết khác ngoài hình thức HTX hiện có, trên cơ sở đó ‘tích tụ’ ruộng đất đến quy mô đủ lớn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, áp dụng KHKT và tiến hành công nghiệp hóa. Hiện nay nhà nước mới chỉ thừa nhận hình thức liên kết hợp tác xã, và các hỗ trợ của nhà nước chủ yếu đi qua ‘kênh’ này. Trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam cần nghiên cứu và thí điểm thêm nhiều mô hình liên kết khác để lựa chọn ra những hình thức phù hợp để họ có tư cách pháp nhân, qua đó tạo điều kiện cho các tổ chức này có quyền vay vốn, quyền thế chấp tài sản… Nếu tìm ra những mô hình liên kết mới, nơi cố kết và tạo dựng được niềm tin cho người nông dân và doanh nghiệp thì vấn đề mới được giải quyết triệt để.  Mối liên kết giữa doanh nghiệp với người nông dân vấp phải nhiều khó khăn và rủi ro thể hiện qua khối lượng sản phẩm không đảm bảo như hợp đồng thỏa thuận; chất lượng sản phẩm không đồng đều; thiếu vốn kinh doanh; lãi suất ngân hàng cao; thiếu lao động; giá cả đầu vào và đầu ra bấp bênh, không ổn định. Qua khảo sát, chúng tôi thấy, 83% doanh nghiệp than phiền về lãi suất ngân hàng cao, theo nhận định của phần lớn các doanh nghiệp, sản xuất nông nghiệp có đặc thù là độ rủi ro cao, không như sản xuất công nghiệp nhưng lãi suất ngân hàng với doanh nghiệp hoạt động trong hai lĩnh vực này đều giống nhau; 58% doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh – yếu tố đóng vai trò quan trọng khi cần nguồn tiền lớn để thu mua nông sản và đầu tư cho sản xuất.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Liên minh Sáng tạo Hạt nhân kêu gọi tăng gấp đôi sản lượng điện hạt nhân      Tổ chức nghiên cứu của Liên minh Sáng tạo Hạt nhân (NIA) của Hoa Kỳ: Tăng gấp đôi sản lượng điện hạt nhân trong nước vào năm 2050 là một mục tiêu quốc gia “đầy tham vọng nhưng có thể đạt được” giúp Hoa Kỳ đạt được 100% năng lượng sạch. Tổ chức này đang kêu gọi Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) khởi động Giải thưởng Năng lượng hạt nhân Tiên tiến Trái đất như một phần của sáng kiến ​​Giải thưởng Năng lượng Trái đất.    Giám đốc điều hành NIA, bà Judi Greenwald phát biểu tại sự kiện Fission Vision: “Hoa Kỳ cần phải phát triển các công nghệ hạt nhân tiên tiến để đạt được những mục tiêu khí hậu giữa thế kỷ này”.    Fission Vision sẽ trả lời cho câu hỏi Năng lượng hạt nhân Tiên tiến đóng vai trò như thế nào trong việc giúp cung cấp nguồn năng lượng sạch, an toàn, đáng tin cậy với giá cả phải chăng?    Bà Greenwald cho biết Fission Vision đề ra ba mục tiêu: thúc đẩy hệ sinh thái thương mại hóa và đổi mới mạnh mẽ của Hoa Kỳ; đảm bảo “giấy phép xã hội” để vận hành năng lượng hạt nhân tiên tiến; lên ý tưởng và tích hợp năng lượng hạt nhân tiên tiến với các nguồn năng lượng sạch khác. Bà khăng định: “Chúng tôi hoàn toàn có thể đạt được những mục tiêu này, và các lò phản ứng tiên tiến sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các mục tiêu về khí hậu và năng lượng bằng cách tăng ít nhất gấp đôi sản lượng năng lượng hạt nhân của Hoa Kỳ vào năm 2050”.    Nền kinh tế không phát thải carbon là giảm lượng khí thải carbon từ mọi thứ, không chỉ lưới điện mà còn cả vận tải, sản xuất, hệ thống sưởi trong nhà “và mọi thứ làm nóng, lạnh”. Báo cáo chỉ ra rằng các công nghệ tạo ra carbon thấp như gió và năng lượng mặt trời đang được triển khai với số lượng ngày càng tăng trong suốt thập kỷ qua và sẽ làm giảm lượng khí thải từ nhiên liệu hóa thạch, nhưng chỉ những công nghệ này là không đủ cho toàn bộ hệ thống năng lượng vốn là một “mạng lưới sản xuất và tiêu thụ phức tạp”. Do đó rất cần một nguồn phát điện có thể sử dụng linh hoạt được khi “không có sẵn năng lượng tái tạo” và đáp ứng đủ tiêu chí an toàn khi hoạt động kinh tế, sức khỏe và sự thoải mái được đặt lên hàng đầu.    Giải thưởng Earthshot    Theo báo cáo “DOE – Bước đầu tiên cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu”, việc tăng gấp đôi sản lượng năng lượng hạt nhân sẽ thúc đẩy việc triển khai các công nghệ năng lượng hạt nhân tiên tiến, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng 100% năng lượng sạch vào năm 2050, với “chính sách lãnh đạo và kỹ thuật đan xen”. Việc tạo ra một giải thưởng Earthshot trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân tiên tiến mới của Bộ Năng lượng, dựa trên mô hình sáng kiến ​​giải thưởng DOE Earthshot tiên phong cho các công nghệ khác nhằm nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển và triển khai các công nghệ năng lượng hạt nhân tiên tiến của Hoa Kỳ.      Sáng kiến Giải thưởng ​​Đổi mới Năng lượng Earthshots của DOE được đưa ra vào tháng 6 năm 2021 nhằm tăng tốc đột phá về các giải pháp năng lượng sạch phong phú, giá cả phải chăng và đáng tin cậy hơn trong thập kỷ tới.    Theo Fission Vision, mô hình giải thưởng Earthshots của DOE nên được sử dụng để tiếp cận một cách tổng hợp, xuyên suốt nhằm giảm đáng kể chi phí và thời gian của các dự án hạt nhân trong thập kỷ này.    “Giải thưởng Năng lượng hạt nhân Tiên tiến Trái đất sẽ tích hợp các hoạt động của DOE trên nhiều khía cạnh, đồng thời tích hợp các nỗ lực R&D với các thử nghiệm tại OECD, tài trợ sáng tạo thông qua Loan Programs Office, và khả năng thương mại hóa và thử nghiệm của các phòng thí nghiệm quốc gia, các nỗ lực đổi mới từ đầu trước đến cuối chu trình nhiên liệu. Giải thưởng cũng kết hợp đổi mới lò phản ứng tiên tiến với đổi mới chuỗi cung ứng, các nỗ lực của DOE với hệ sinh thái đổi mới và thương mại hóa rộng lớn hơn bao gồm nhiều công ty tư nhân.  Điều này có thể sẽ đòi hỏi DOE phát triển các kỹ năng mới, cơ chế hợp đồng và tài chính mới cũng như quan hệ đối tác mới, cũng như tận dụng tốt hơn các cơ chế hiện có”.    “Thông qua Giải thưởng Năng lượng hạt nhân Tiên tiến Trái đất, DOE sẽ giúp tạo ra các điều kiện để thành công cho Fission Vision”.  Trần Thiện Phương Anh tổng hợp  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/US-organisation-calls-for-doubling-of-nuclear  https://www.weforum.org/agenda/2022/05/nuclear-energy-decarbonization/      Author                .        
__label__tiasang Liệu còn linh nghiệm      Tình cờ tôi đọc lại bài báo cũ đăng trên tờ “Strait Times” cách nay hơn 10 năm. Tác giả đưa ra dự đoán: Liệu Châu Á Thái Bình Dương sẽ là trung tâm của thế giới vào thế kỷ 21? Ở thời điểm tác giả dự báo, Hồng Kông chưa được trả về Trung Quốc, khủng hoảng tài chính chưa bộc phát ở Châu Á vào cuối thập niên 90, sự kiện 11 tháng 9 chưa xảy ra ở New York, Hoa Kỳ chưa tấn công Afganistan và Iraq, Nhật vẫn còn bị Mỹ “đì” cho đồng yen tăng vọt đến khốn khổ, Mỹ cũng đã “quên” quy chế tối huệ quốc với Trung Quốc, Trung Quốc cũng chưa phóng phi thuyền lên không gian… và Việt Nam vẫn chưa gia nhập Asean. Mời bạn cùng chiêm nghiệm với những “tiên tri” trước đây 10 năm, và xin lưu ý, số liệu kinh tế trong bài cũng là số liệu cũ hơn 10 năm.    “Kỷ nguyên của Địa Trung Hải đã  thuộc về quá khứ, ngày nay là của Đại Tây Dương, nhưng tương lai sẽ thuộc về Thái Bình Dương”. Đó là tiên đoán của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Hay cách nay gần một thế kỷ, phát biểu trong buổi lễ khánh thành kênh đào Panama.  Hơn một trăm năm trước, Alexandre Hertzen, một lý thuyết gia người Nga, cũng tiên đoán Thái Bình Dương chắc chắn sẽ trở thành trung tâm thương mại của thế giới, một “tân Địa Trung Hải của nền văn minh tương lai”.  Giờ đây kỷ nguyên của Thái Bình Dương đang ló dạng với sự hùng mạnh áp đảo của nền kinh tế Nhật Bản, tốc độ phát triển nhanh và rất năng động của 7 nước và lãnh thổ Châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Đó là chưa kể một Trung Quốc khổng lồ với mức độ tăng trưởng không lường trước được và những nước nằm dọc theo bờ Thái Bình Dương như Hoa Kỳ, Canada, Úc và Tân Tây Lan.  Thực ra, nếu nhìn từ một góc độ nào đó thì kỷ nguyên Thái Bình Dương đã hình thành rồi. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, ba nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới đều nằm ở khu vực Thái Bình Dương, đó là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Ba quốc gia này chiếm tới 48% GDP có điều chỉnh theo tỉ suất ngang nhau về mãi lực (PPP- adjusted GDP) của cả thế giới.  Nếu tính thêm các nước Asean, cộng thêm cả Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam, Úc, Tân Tây Lan, Canada và Mexico thì có thêm một nền kinh tế nữa tầm cỡ như Nhật Bản. Điều này làm GDP của khu vực Thái Bình Dương chiếm tới 63%, nghĩa là gần 2/3 GDP của cả thế giới.  Tuy nhiên, một số nhà quan sát lại cho rằng kỷ nguyên Thái Bình Dương vẫn chưa thực sự xuất hiện. Điều này là do họ dùng phương pháp tính gộp GNP thông thường của các nước trong khu vực.  GNP tính trên đầu người của Trung Quốc là 435 USD, nhưng nếu tính theo GDP có hiệu chỉnh PPP sẽ là 2.413 USD. Con số sau sát với thực tế nhiều hơn. Dù vậy con số này vẫn thấp hơn Hoa Kỳ 9,5 lần (22.595 USD) và thấp hơn 7 lần so với Singapore (16.674 USD).  Cách tính GNP thường đưa đến những khó khăn khi phải so sánh nền kinh tế của nước này với nước khác vì không thể hiện được các dịch vụ và hàng hóa mua bán trong nước.  Hối suất thông thường được sử dụng chỉ liên quan tới lĩnh vực ngoại thương, nhưng với các quốc gia có thị trường trong nước rộng lớn như Trung Quốc, Nhật Bản hay Indonesia thì hối suất có thể dẫn đến những kết quả sai lầm, trừ khi trị giá hàng hóa hay dịch vụ trong nước được điều chỉnh theo một tỉ suất ngang nhau về mãi lực, một cách tính toán vừa được Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thừa nhận.  Vào khoảng năm 2005, GDP tính trên đầu người có hiệu chỉnh PPP của Nhật Bản và Singapore sẽ vượt qua Hoa Kỳ. Hiện nay, hai quốc gia này đã qua mặt Anh Quốc. Đến thời điểm trên khoảng cách còn xa hơn nữa. GDP của Hàn Quốc sẽ bám sát Hoa Kỳ, còn Malaysia sẽ bắt kịp Anh Quốc. Lúc này GDP của Trung Quốc chỉ còn thấp hơn 2,4 lần so với hiện nay là 9,5.  Liệu sự đuổi kịp của các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc có bảo đảm cho nền hòa bình tại khu vực Thái Bình Dương vào thế kỷ 21 chăng? Theo Lim Chong Yah, Giáo sư kinh tế Đại học NanYang, thì hòa bình của khu vực này dĩ nhiên phải đi đôi với sức mạnh về kinh tế của Đông Á.  Phát triển nghĩa là thay đổi, và thay đổi tự nó đã hàm chứa trong đó những bất ổn. Cạnh tranh để giành giật thị trường, tìm kiếm đầu ra đầu vào có thể làm nảy sinh những điều bất đồng, những chuyện rắc rối. Quy chế tối huệ quốc của Hoa Kỳ dành cho Trung Quốc, mức thâm thủng mậu dịch triền miên giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn và vẫn tiếp tục là vấn đề gây nhiều tranh chấp.  Sang thế kỷ 21, Nhật Bản sẽ có những phương tiện phòng chống vũ khí hạt nhân của riêng mình.                         Một góc Kobe, Nhật Bản        Không chỉ nói đến sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, mức tăng trưởng nhanh của các nước Đông Á hay sự suy thoái tương đối của Hoa Kỳ và Phương Tây, mà vấn đề đáng quan tâm khác đó là nên hòa bình tại khu vực Thái Bình Dương.  Hồng Kông rồi sẽ gắn liền với số phận Trung Quốc, một Trung Quốc đầy thế lực và bản lĩnh sẽ góp phần tạo ra một Hồng Kông thịnh vượng hơn nhiều. Mọi tương quan đảo nghịch trước đây sẽ không còn tồn tại nữa.  Việt Nam chắc chắn khi đó đã gia nhập Asean rồi và sẽ giữ một vai trò quan trọng trong khối Đông Nam Á này.  Nam-Bắc Triều Tiên sớm muộn rồi sẽ thống nhất, vĩ tuyến 38 chỉ còn là vấn đề lịch sử. Triều Tiên là một đất nước lâu đời, nên yếu tố dân tộc và chân lý sẽ vượt qua mọi trở ngại để đi tới thống nhất.  Trung Quốc sẽ không chỉ là quốc gia có dân số đông nhất thế giới, mà thay vào đó là quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh nhất. Về vụ tranh chấp quần đảo Trường Sa, rồi các bên liên quan sẽ ngồi lại để phối hợp tìm cách phát triển nó, đóng góp các khoản lợi nhuận từ Trường Sa cho Ngân hàng Phát triển Châu Á (dĩ nhiên ngân hàng này cũng cần phải cải tổ lại) để hỗ trợ cho các khu vực khác của Châu Á còn kém phát triển.   Vấn đề hàng đầu trong khu vực không chỉ là mối quan hệ giữa Hoa Kỳ – Trung Quốc, giữa Hoa Kỳ- Nhật Bản, giữa Phương Tây- Trung Quốc và còn là mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.  Rudyard Kipling cho rằng “Đông là Đông, Tây là Tây. Cặp song sinh này sẽ chẳng bao giờ gặp nhau được”. Nhưng lời phát biểu này thốt ra trong một thế giới còn thuộc địa, khi cục diện sân chơi lúc đó không cân sức giữa Đông và Tây.  Sự phân bố quyền lực vào thời kỳ thuộc địa hoàn toàn không cân xứng. Rồi với đà phát triển cực nhanh trong kỹ thuật truyền thông. Đông và Tây sẽ gặp nhau nhiều hơn, không chỉ dưới danh nghĩa đối tác mà còn là… đối thủ của nhau trong quá trình phát triển. Sang thế kỷ 21, Phương Tây sẽ chứng kiến cạnh tranh càng lúc càng trở nên gay gắt.  Khi thế kỷ sang trang, tại Hoa Kỳ đã có nhiều biến chuyển về mặt nhân chủng, ngày càng có thêm nhiều sắc dân Châu Á sinh sống tại Hoa Kỳ. Việc mưu tìm hòa bình giữa Đông và Tây xuất phát từ sự dịch chuyển nhân chủng này tỏ ra có nhiều triển vọng và càng phải được đẩy mạnh hơn nữa.                  Tuy nhiên, về mặt nhận thức cũng cần được các bên điều chỉnh cho phù hợp. Cùng nhau chia sẻ mục tiêu chung là một vấn đề trọng yếu.  Trong tác phẩm “Những cuộc phiêu lưu của Julliver”, Jonathan Swift đã mô tả châm biếm dân Lilliputia cãi nhau chí chóe về chuyện đầu nào của quả trứng là đầu cần đập vỡ. Chẳng ai chịu ai và họ giải quyết bằng chiến tranh.  Tình huống tại Thái Bình Dương sẽ không đến nỗi nghiêm trọng một cách ngờ nghệch như thế. Chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, dung nạp lẫn nhau và tôn trọng lẫn nhau giữa một Đông Á đang trên đà phát triển và một Phương Tây đang trên đà suy thoái. Dù sao, lúc đó Hoa Kỳ vẫn còn là một thực thể kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, dù sự hùng mạnh này được biểu hiện bằng GNP danh nghĩa hay GDP hiệu chỉnh PPP. Đó là chưa kể Hoa Kỳ là một cường quốc quân sự mạnh nhất.  Rồi sẽ có những nước từ Phương Tây không cạnh tranh nổi trong lĩnh vực kinh tế, sẽ giở những thủ thuật cổ điển núp dưới chiêu bài “bảo vệ mậu dịch”. Nhưng những chiến thuật như thế cũng không thể nào ngăn chặn đựơc xu hướng suy thoái triền miên của Phương Tây. Bởi lẽ sự suy thoái bắt nguồn từ những xơ cứng trong hệ thống kinh tế-xã hội trong nước và ngay cả chính từ sự thành công về kinh tế của nó. Sự bộc phát từ trong mà ra chứ không phải do yếu tố bên ngoài.       Vũ Thế Thành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu đã đến lúc có thể cất cánh?      “Cất cánh” nghĩa là Việt Nam thực sự gia nhập vào “đội bay” của nền kinh tế toàn cầu, nghĩa là Việt Nam sẽ “bay” cùng với các nền kinh tế phát triển, dù là ở vị trí phía sau họ. Vì thế, chắc chắn “cất cánh” là câu chuyện đáng được chờ đợi và đã từng được chờ đợi rất lâu ở Việt Nam. Khó mà không tin rằng với đà tăng trưởng và khí thế hội nhập hừng hực, với các dự báo tăng trưởng đặc biệt sáng sủa, nền kinh tế lại vẫn tiếp tục “chạy đà” trên mặt đất mà chưa “cất cánh” được. Nhưng với sự cẩn trọng và nghiêm túc, vẫn cần đặt ra câu hỏi: có thực là nền kinh tế Việt Nam đã có đủ điều kiện để có thể cất cánh trong năm 2006?    1. Năm 2006, bước vào một chặng mới, triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta được dự báo bằng những con số thật sự lạc quan và có căn cứ khá vững chắc vì chúng dựa trên những nền tảng và xu hướng thực tiễn rõ ràng.                Tính đáng tin cậy của các dự báo đó còn được xác nhận bằng nhiều sự kiện phản ánh thế đi lên rõ ràng của nền kinh tế mà hai yếu tố nổi bật và có ý nghĩa quan trọng bậc nhất là sự phục hồi mạnh mẽ của dòng FDI và triển vọng gia nhập WTO trong năm nay của Việt Nam.  Nhiều người nói đến làn sóng FDI thứ hai với sức quyến rũ của vị “nữ hoàng đầu tư đang mỉm cười với Việt Nam”. Việc Canon, Intel… – những tập đoàn lớn, có tiềm lực tài chính, thị trường và công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới – quyết định chọn Việt Nam làm điểm đến sau nhiều năm cân nhắc là những sự kiện chứa đựng tiềm năng đột phá phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế trong giai đoạn tới. Thực sự, đó là những quyết định có giá trị chỉ báo và định hướng đầu tư toàn cầu với sức thuyết phục rất cao. Cộng hưởng với triển vọng trở thành thành viên WTO, sức hấp dẫn FDI tăng lên một cách hiện thực đang cải thiện mạnh mẽ vị thế của Việt Nam với tư cách là một “điểm đến” của vốn và công nghệ, và “điểm bùng nổ” tăng trưởng.  Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhiều chính khách, nhà đầu tư và học giả nước ngoài, những người vốn rất thận trọng và khách quan khi đưa ra các nhận định, lại trở nên rất cởi mở khi phát biểu về triển vọng của kinh tế Việt Nam. Ông Đại sứ Nhật Bản, khi trả lời VietnamNet, thậm chí đã đưa ra nhận định rằng “về kinh tế, Việt Nam sẽ vượt Thái Lan trong 10 năm tới” (Vietnam Net, 13/3/2006).   Những nhận định loại này đã được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tạo nên một bầu không khí hào hứng, lạc quan trong xã hội, bất chấp sự u ám do những sự cố kiểu như PMU-18 gây ra.  Hào hứng, lạc quan đến mức có ý kiến nói rằng đến năm 2006, nền kinh tế Việt Nam sẽ “cất cánh”.  2. Nói đến “cất cánh” là nói đến một trình độ phát triển mới về chất, cao hơn hẳn của nền kinh tế. Với khái niệm “cất cánh”, các học giả muốn đề cập đến một thời đại phát triển mới, hay đúng hơn, đến một bước chuyển quan trọng bậc nhất trong tiến trình phát triển của loài người: từ trạng thái “trườn bò trên mặt đất”, nền kinh tế nước ta sẽ chuyển sang trạng thái cất cánh bay lên, nhập vào quỹ đạo bay của thế giới hiện đại.  Theo logic đó, câu hỏi đặt ra xác thực hơn sẽ là: Có thực là trong năm 2006, hay thậm chí, để cho chắc chắn hơn, năm 2007, nền kinh tế Việt Nam sẽ chuyển sang một thời đại phát triển mới về chất, sẽ vận động theo một nguyên lý mới?  3. Tất nhiên, ở đây không có mốc năm tháng rõ ràng của sự cất cánh. Không ai có thể quả quyết được thời điểm cụ thể mà tại đó, nền kinh tế nước ta nhất định sẽ bay lên. Nhưng có những tiêu chuẩn chất lượng, những nguyên tắc đủ rõ ràng để xác định trạng thái đó. Không có những tiêu chuẩn này thì dù khí thế có mạnh đến mấy, tinh thần có lạc quan đến đâu cũng không thể tuyên bố về “sự cất cánh”.  Sai lầm trong sự định vị này có thể dẫn nền kinh tế đến những sự cố khó lường, thậm chí là tai họa. Thực tế, nền kinh tế nước ta đã có mấy lần trải qua cảm giác “bay bổng” như vậy để rồi lại “rơi oạch” xuống và tự phát hiện ra rằng mình vẫn đang “bò trên mặt đất”.                  4. Về mặt định lượng, không có gì phải nghi ngờ những con số dự báo tăng trưởng đẹp đẽ nêu trên. Năm ngoái, trong nhiều điều kiện rất khó khăn và phức tạp, Việt Nam vẫn đủ quyết tâm và tài trí để vượt qua các khó khăn và đạt tốc độ tăng trưởng cao kỷ lục của 10 năm gần đây: 8,4%. Vậy thì năm nay, với các điều kiện cơ bản được dự báo là sẽ không khó hơn năm ngoái, càng có quyền để tin chắc rằng tốc độ tăng trưởng GDP  7,5-8% là mục tiêu trong tầm tay của chúng ta.  Những dự báo tốc độ nêu trên là đáng tin cậy. Nhưng đó chỉ là một nửa câu chuyện, thậm chí không phải là nửa quan trọng nhất. Chúng không đủ và chưa phản ánh điểm mấu chốt nhất của tương lai phát triển của nền kinh tế nước ta trong một thế giới hội nhập và cạnh tranh khốc liệt. Hơn thế, kinh nghiệm lịch sử của chính nền kinh tế đổi mới của nước ta trong những năm gần đây cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng cao không nhất thiết đi liền với xu hướng tạo ra một nền kinh tế mạnh. Tăng trưởng cao chỉ là một điều kiện cần nhưng còn xa mới là “đủ”. “Hiệu quả sử dụng vốn thấp”, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện”, “khả năng bị thua trên sân nhà”… là những câu nói vang lên với tần số ngày càng dày đặc trong mấy năm gần đây, kể cả trong các báo cáo và văn kiện chính thức của Đảng và Chính phủ.  Càng ngày, chúng ta càng nhận thức rõ hơn một điều vốn là thông thường: trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, triển vọng hình thành “thể chế kinh tế thị trường đồng bộ”, khả năng “tan băng” trên thị trường nhà đất, mức độ kiềm chế tham nhũng, lãng phí; khả năng ứng phó với các tác động hội nhập và tiến độ nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam… là những nội dung quyết định triển vọng phát triển của nền kinh tế.  Nhưng những nội dung này còn tương đối ít (nếu không muốn nói là rất ít) được dự báo.  5. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, bên cạnh những mảng rất “sáng”, còn có những mảng “tối” đáng lo ngại. Những vụ việc kiểu PMU – 18 chỉ là một trong số những yếu tố cụ thể minh họa cho phía tối của bức tranh.   Ở một tầm bao quát hơn, xin đề cập đến xu hướng tụt hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng và tự do hóa kinh tế của Việt Nam đang tiếp tục diễn ra và chưa thấy có dấu hiệu dừng lại một cách chắc chắn. Xu hướng này đang làm trầm trọng thêm thực tế “tụt hậu xa hơn” của nền kinh tế, bất chấp GDP liên tục tăng trưởng “năm sau cao hơn năm trước”1.                Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chỉ ra cho mọi người biết khả năng Việt Nam sẽ leo thêm một số bậc nhất định (mấy bậc?) trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh và tăng trưởng toàn cầu sau một hay một số năm nào đó. Chúng ta cũng không rõ bao nhiêu khoảng cách phát triển với các nước đi trước, với các đối thủ cạnh tranh chủ chốt sẽ được rút ngắn và quá trình này diễn ra trên cơ sở nào.  Đương nhiên, FDI và kinh tế tư nhân sẽ tạo đà tốt cho quá trình tăng trưởng. Những “cú huých” đầu tư của Canon, Intel và các công ty nước ngoài khác sẽ tạo tiền đề để Việt Nam có được “bước ngoặt” (cất cánh). Nhưng chỉ thế thôi sẽ rất chưa đủ cho một sự cất cánh nếu chính bản thân nền kinh tế, nếu các chủ thế đích thực của nó chưa đủ năng lực, chưa đủ điều kiện và chưa sẵn sàng bay.  Cho đến năm 2006, tức là sau 20 năm tăng trưởng trong không gian thị trường – mở cửa, soi chiếu vào kinh nghiệm “cất cánh” của thế giới, chúng ta vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận một thực tế: còn thiếu rất nhiều điều kiện tiền đề cho sự cất cánh.  Chắc chắn rằng nền kinh tế không thể cất cánh một khi các yếu tố đầu vào cơ bản của nền kinh tế thị trường – đất đai và lao động – vẫn tiếp tục tồn tại dưới hình thái hiện vật nguyên sơ của nó. Một thị trường đất đai nghẹt thở vì tình trạng đóng băng kéo dài, đang đe dọa không chỉ sự yên ổn của hệ thống tài chính – ngân hàng mà cả triển vọng của nền kinh tế nông thôn cũng như quá trình đô thị hóa đang bị “tắc nghẽn”. Một thị trường lao động vận hành một cách yếu ớt và đầy bất trắc là nguyên nhân của tình trạng bất ổn và kém hiệu quả của việc phát huy thế mạnh nguồn nhân lực. Thiếu đôi cánh thị trường cơ sở đó, liệu nền kinh tế nước ta sẽ cất cánh đi đâu?                Nền kinh tế cũng không thể cất cánh với nguồn nhân lực mà lợi thế hiện thực lớn nhất là “rẻ” đang bị mất dần và bộc lộ ngày càng rõ bất lợi thế cơ bản và dài hạn là kỹ năng kém, kỷ luật không cao và năng suất thấp.  Nền kinh tế cũng không thể cất cánh với bộ máy quản lý nhà nước đang bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập, điều hành nền kinh tế với một cơ chế có quá nhiều “lỗ thủng” cho tham nhũng và lãng phí. Nền kinh tế cũng không thể cất cánh với môi trường kinh doanh tiếp tục bị phân biệt đối xử như hiện nay, tức là với một trạng thái các yếu tố động lực của cỗ máy còn hoạt động theo những “nguyên lý” khác nhau và chưa đồng thuận (thậm chí, xung đột) về lợi ích.  Đó là chưa kể hàng loạt điểm “thắt nút cổ chai” khác – có cái đã bộc lộ rõ và cũng còn nhiều cái chưa bộc lộ. Những lời cảnh báo gay gắt về tình trạng thiếu điện, thực tế đáng lo ngại về giao thông vận tải (tắc nghẽn giao thông, thiếu đường cao tốc, hệ thống đường sắt, cảng biển, sân bay yếu kém…) hay hạ tầng viễn thông… có lẽ nói lên rất nhiều điều về khả năng cất cánh đích thực của nền kinh tế nước ta hiện nay.  Có lẽ cần phải có cách nhìn tích cực hơn đối với sự cất cánh chứ không thể chỉ căn cứ vào các con số dự báo nghiêng hẳn về mặt lượng. Và không phải chỉ nhìn nhận một cách tích cực hơn mà cần hành động quyết liệt hơn, với một tư duy phát triển mới mẻ về chất và lượng.  ——–    Cách đây chưa lâu, Ông Lee I.H., đại diện IMF ở Việt Nam, đưa ra “dự báo” (đã được đăng tải trên nhiều tờ báo): giả định giữ nguyên tốc độ tăng trưởng hiện nay, Việt Nam phải mất 18 năm nữa mới đuổi kịp Indonesia, 34 năm để đuổi kịp Thái Lan và 197 năm để đuổi kịp Singapore. Tuy đây là con số có giá trị cảnh báo hơn là khẳng định, nhưng để một số người đọc khỏi cảm thấy bị tổn thương khi thấy triển vọng kém tươi sáng như vậy của Việt Nam, Ông Lee đã phải đưa ra các lý lẽ để biện minh. Một số nhà kinh tế Việt Nam cũng đã đăng đàn giải thích luận điểm của Ông Lee, có lẽ là để giảm bớt khả năng “gây xúc động” quá mức của nó đối với nhiều người Việt Nam.  Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu Mexico có trở thành một Trung Quốc mới?      Lần đầu tiên sau gần 20 năm, Mexico hầu như đã trở thành một đối thủ cạnh tranh sát sườn với Trung Quốc về địa bàn đầu tư.     Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Đức chuyển tới Mexico. Điều kiện khung ở đây tốt, có những cái còn thuận lợi hơn so với Trung Quốc – liệu Trung Quốc có mất vị trí hàng đầu thế giới về địa bàn đầu tư?   Có nhiều thông tin giống nhau: Dù là BMW, Daimler hay Audi – tất cả các nhà sản xuất ô tô hạng sang đều tiết lộ sẽ ồ ạt chuyển tới địa bàn đầu tư Mexico. Các tập đoàn này dự định đầu tư khoảng 10 tỷ USD trong hai năm 2013 và 2014 để xây dựng các nhà máy mới. Mexico rất được ưa chuộng đối với công nghiệp sản xuất ô tô quốc tế.  Niềm tự hào chính đáng  Tổng thống Mexico Enrique Peña Nieto khi tiếp phái đoàn của chính phủ Đức, cũng không che giấu niềm tự hào của ông về sự phát triển hiện nay. Tập đoàn BMW “sau khi đã phân tích các địa bàn đầu tư trên khắp thế giới” đã quyết định chọn Mexico. Tổng thống có quyền tự hào vì chính phủ Mexico đã góp phần để tạo nên quyết định này. Chính phủ đã tạo các điều kiện khung về chính trị và kinh tế để các doanh nghiệp quốc tế cảm nhận được sự thoải mái, dễ chịu khi làm ăn ở Mexico.   Các doanh nghiệp Đức tại đây hầu như không phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến ma tuý hay các cuộc tấn công cướp bóc. Cả Phòng Thương mại Đức-Mexico cũng tỏ ra bình thản về vấn đề này. Theo tổ chức này thì cho đến nay không có một doanh nghiệp Đức nào phải rời khỏi Mexico vì lý do an ninh. Thay vào đó là nhiều lời khen, kể cả của các chuyên gia.  “Mexico có một hạ tầng cơ sở tốt và phát triển, có trình độ đào tạo cao và chi phí lao động tương đối thấp,” bà Galina Kolev, cán bộ về kinh tế đối ngoại của Viện Kinh tế Đức (IW) ở Köln nói. Với những yếu tố nói trên, trong những năm gần đây, Mexico đã trở thành một địa bàn đầu tư mới được các tập đoàn của Đức và quốc tế ngày càng ưa chuộng dù đó là Miele, hãng sản xuất máy đóng gói Multivac hay Cola-Cola. Hôm thứ Tư vừa qua, tập đoàn nước giải khát khổng lồ của Mỹ tuyên bố từ nay đến 2020 sẽ đầu tư tổng cộng trên 8,2 tỷ USD ở Mexico – mỗi năm gần 1,2 tỷ USD. Lần đầu tiên sau gần 20 năm, Mexico hầu như đã trở thành một đối thủ cạnh tranh sát sườn với Trung Quốc (TQ) về địa bàn đầu tư.   Cho đến nay, TQ được coi là nhà xuất khẩu sản phẩm công nghiệp lớn nhất thế giới. Giờ đây Mexico đang vươn lên và đuổi sát TQ, trên cơ sở giành một phần của TQ. Theo tính toán của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trong thời gian từ 2010 đến 2012, tăng trưởng sản lượng công nghiệp của Mexico đạt 40%.   Không lâu nữa TQ sẽ mất thêm một điểm mạnh của mình, đó là chi phí lương thấp. Tiền lương ở TQ trong những năm qua tăng chóng mặt. Hiện tại tiền lương cho một giờ lao động đối với công nhân Mexico là 6,5 USD, chỉ cao hơn nửa USD so với các đồng nghiệp TQ.   Bên cạnh đó, chi phí sản xuất ở TQ cũng tăng. “TQ đã bùng nổ, giờ bước vào thời kỳ củng cố, do đó các con số hiện tại dường như bị chững lại,” Oliver Groll, giám đốc điều hành về mảng Quốc tế tại Phòng thương mại và công nghiệp bang Saarland, nói. Các tập đoàn công nghiệp ô tô của Đức được khuyến cáo nên phát triển sản xuất tại Mexico, theo chuyên gia Kolev thuộc Viện Kinh tế. “Ngành công nghiệp ô tô đang phát triển mạnh Mexico, mạng lưới sản xuất phụ tùng, linh kiện tương đối phát triển.”     Đầu tư cho giáo dục  “Đặc biệt Mexico có một môi trường kinh tế khá bền vững với một nhà nước pháp quyền tương đối phát triển,” Nils Stieglitz, Giáo sư quản trị chiến lược của Trường Tài chính và Quản trị Frankfurt đánh giá. Điều này ở TQ phức tạp hơn và đôi lúc làm cho các nhà đầu tư không yên tâm. Ngoài ra, còn có vấn đề ô nhiễm môi trường, nhất là ở phía nam TQ, nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất.   Trong khi đó những năm gần đây, Mexico đã xử lý tương đối thành công nạn tham nhũng và giành được thế chủ động trong cuộc chiến ma tuý. Ngoài ra, theo nhà khoa học Galina Kolev, ở Mexico còn phải kể đến một yếu tố nữa làm cho quốc gia này trở nên đặp biệt hấp dẫn đối với các nhà đầu tư – đó là kiên quyết thực thi chính sách tự do thương mại và Mexico liền kề với thị trường Mỹ.   Hiện tại, Mexico có 40 đối tác thương mại với Hiệp định tự do thương mại. Điều này cụ thể có nghĩa là: các doanh nghiệp nước ngoài được tự do tiếp cận thị trường Mỹ mà không phải đóng thuế. Đối với nhiều doanh nghiệp, sự cởi mở này có ý nghĩa chiến lược, với các doanh nghiệp Đức cũng vậy.   Đức hiện có 1.200 doanh nghiệp ở Mexico với 120.000 công nhân viên thuộc các lĩnh vực sản xuất ô tô, phụ tùng, phụ kiện, công nghiệp dược phẩm, hoá chất và điện tử – những lĩnh vực hiện có điều kiện đầu tư tốt nhất. Đầu tư trực tiếp của Đức từ 2009 đến 2012 tại đây tăng 60%.  Tuy nhiên Mexico chưa khai thác hết tiềm năng của mình. Lĩnh vực ngân hàng bị thiếu nguồn vốn, hạ tầng cơ sở có nơi, có chỗ chưa đạt yêu cầu, còn thiếu các chương trình về đào tạo và bồi dưỡng. Chính phủ Mexico muốn dùng các chương trình như “Pacto por México” để xử lý những vấn đề này và sẽ chi khoảng 400 tỷ USD để mở rộng mạng lưới năng lượng, giao thông vận tải và thông tin liên lạc.  Một lợi thế nữa của địa bàn đầu tư Mexico là dân số trẻ, trên 50% dưới tuổi 30. “Người Mexico là những người kiêu hãnh và năng động. Tuy nhiên trình độ của họ nhiều khi chưa đáp ứng được những đòi hỏi cao về kỹ thuật,” Carsten Schubert, giám đốc điều hành hãng cung ứng phụ tùng, thiết bị ô tô Willy Voit ở St. Ingbert, nhận xét. Doanh nghiệp này hoạt động tại Mexico từ năm 1998.  Với sự hỗ trợ của các đại sứ quán và các tổ chức của hai nước, Mexico đang nỗ lực xây dựng hệ thống đào tạo song hành vì một lý do đơn giản, Mexico không chỉ cần máy móc, thiết bị của nước ngoài mà còn cần những người dân sở tại có thể điều khiển những máy móc thiết bị đó.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp điều trị chứng trầm cảm mới      Theo nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hiện có khoảng 350 triệu người mắc chứng trầm cảm trên khắp thế giới, và chi phí điều trị cho chứng bệnh này trên toàn cầu ước vào khoảng 5,4 nghìn tỉ trong 20 năm từ 2011-2030.      Thực ra, đây là chứng bệnh có thể chữa trị được bằng liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) hoặc các loại thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, kết quả của những liệu pháp trên lại phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của nhà tâm lý học hoặc những người chăm sóc. Hơn nữa, chi phí cho việc điều trị này còn khá đắt đỏ.  Giờ đây, theo một nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Anh công bố trên Tạp chí The Lancet, các bệnh nhân trầm cảm có thể có một phương pháp trị liệu mới, không đòi hỏi những chuyên gia được đào tạo bài bản nên hứa hẹn sẽ có tầm phổ quát và chi phí rẻ hơn so với CBT.  Được biết đến với tên kích hoạt hành vi (behavioral activation  – BA), phương pháp mới vẫn áp dụng một vài yếu tố trong các phương pháp trị liệu truyền thống, chẳng hạn như xác định những tình huống và những suy nghĩ kích thích trạng thái trầm cảm hoặc dùng thuốc song song. Điểm khác biệt chính của BA là các buổi điều trị với các chuyên gia liệu pháp không hoàn toàn dùng để tập luyện các kỹ năng phản ứng về hành vi và nhận thức như CBT mà phần nào hướng đến việc tổ chức những hoạt động mang lại niềm vui và hiệu quả cho bệnh nhân, chẳng hạn như tập luyện thể dục thể thao hoặc làm các công việc tình nguyện hoặc đi chơi với bạn bè hoặc đọc sách. Các hoạt động này có thể do những chuyên viên y tế bình thường thực hiện, không cần đến sự có mặt của các chuyên gia trị liệu được đào tạo bài bản với mức chi phí cao như hiện nay.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp gene dựa trên kỹ thuật CRISPR giúp giảm đau mãn tính      Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Science Translational Medicine, kỹ thuật ức chế gene (gene-silencing) dựa trên CRISPR có thể giúp giảm đau ở chuột. Mặc dù vẫn còn một chặng đường rất dài để liệu pháp này có thể ứng dụng trên người song các nhà khoa học cho rằng đây là một hướng tiếp cận đầy hứa hẹn để chữa trị những cơn đau mãn tính kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm.      Những tín hiệu về cơn đau được truyền đến bộ não thông qua các tế bào thần kinh tương tự như tế bào thần kinh trong tủy sống. Ảnh: Jose Calvo/Science Photo Library.  Trước đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu các liệu pháp CRISPR chỉnh sửa hệ gene của một người để điều trị các bệnh về máu hoặc mù do di truyền. Nhưng phiên bản mới này của CRISPR sẽ không trực tiếp chỉnh sửa gene mà chỉ ngăn chặn biểu hiện, do vậy sẽ không gây ra những thay đổi vĩnh viễn, mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa xác định được chính xác hiệu quả sẽ kéo dài trong bao lâu.  Các cơn đau mãn tính có thể cản trở người bệnh thực hiện các hoạt động thường ngày trong cuộc sống, khiến họ yếu đi theo thời gian và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm lý. Mặc dù đây là một vấn đề vô cùng phổ biến nhưng hiện có rất ít phương thức giảm đau trong một thời gian dài mà không gây ra tác dụng phụ. Thêm vào đó, các bác sỹ cũng không muốn kê thuốc giảm đau có nguồn gốc từ thuốc phiện vì nguy cơ gây nghiện, khiến cho những lựa chọn đã ít lại càng trở nên ít hơn.  Tình cảnh này đã khiến nhà kỹ thuật sinh học Ana Moreno và các đồng nghiệp tại Đại học California, San Diego quyết tâm phải tìm ra một phương thức điều trị khác.  Khi một kích thích – ví dụ như khi con người chạm tay vào chảo nóng hoặc một vật sắc nhọn – kích hoạt các tế bào thần kinh gửi tín hiệu điện qua các dây thần kinh trong tủy sống đến não, bộ não của con người sẽ ghi nhận các cơn đau. Điều này xảy ra khi các lỗ giống như lỗ chân lông dọc theo tế bào thần kinh (được gọi là kênh ion) mở và đóng để cho phép ion đi qua, từ đó truyền dòng điện qua dây thần kinh. Với những cơn đau mãn tính, con đường này có thể sẽ hoạt động quá mức bình thường.  Nhiều nghiên cứu đều đề xuất cho rằng, kênh natri Nav1.7 đóng vai trò trung tâm trong các cơn đau mãn tính. Khi một người có các đột biến trong gene mã hóa kênh này, họ có thể sẽ phải chịu những cơn đau tột cùng hoặc cũng có thể không cảm thấy một cơn đau nào cả.  Do vậy, họ nghĩ, nếu ngăn chặn các neuron sản xuất ra Nav1.7 thì có thể ngăn được các tín hiệu đau truyền đến não. Trước đây, các nhà hóa học đã cố gắng ngăn chặn Nav1.7 bằng các loại thuốc phân tử nhỏ và kháng thể, song không thực sự thành công do những liệu pháp đó cũng tương tác với những kênh ion có cấu trúc tương tự trong cơ thể, gây ra sự tê liệt và phối hợp vận động kém ở người bệnh. Tuy nhiên với CRISPR hướng chính xác đến gene, các nhà khoa học cho rằng họ có thể tác động trực tiếp đến Nav1.7 mà không gây ra bất cứ hiệu ứng không mong muốn.  Nhóm nghiên cứu bắt đầu với một phiên bản chỉnh sửa của protein Cas9 – vốn là một bộ phận bình thường của hệ thống chỉnh sửa gene CRISPR. Nó nhắm đích nhưng không cắt chuỗi DNA mã hóa Nav1.7. Các nhà khoa học đã gắn phiên bản Cas9 này vào một protein “ức chế” thứ hai để ngăn gene Nav1.7 biểu hiện. Sau đó, họ “đóng gói” hệ thống này trong một virus nhỏ bất hoạt được gọi là virus kết hợp adeno để đưa nó vào cơ thể.  Họ tiêm vào cột sống của những con chuột một liệu pháp ức chế gene, rồi gây ra những cơn đau mãn tính bằng cách tiêm thuốc hóa trị hoặc chất gây viêm. Kết quả cho thấy, những con chuột này có khả năng chịu đựng các cơn đau tốt hơn, thậm chí có hiệu quả với cả những con chuột đã bị đau từ trước. Trong một số trường hợp, hiệu quả giảm đau còn kéo dài đến 44 tuần sau khi được áp dụng.   Dù có kết quả tích cực, nhóm nghiên cứu vẫn lưu ý rằng đây mới chỉ là kết quả sơ bộ và họ chưa biết liệu tác dụng giảm đau này có hiệu quả trên người hay không. “Liệu pháp gene cho chúng ta hi vọng chữa trị được các cơn đau mãn tính, tuy nhiên cần phải tiến hành thêm rất nhiều nghiên cứu tiếp theo”, Dib-Hajj cho biết.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-00644-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp tế bào gốc: Mở ra tiềm năng điều trị bệnh tự miễn      Các nghiên cứu gần đây cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của các bệnh tự miễn thông qua ba cơ chế: Điều chỉnh miễn dịch, điều biến miễn dịch và cấy ghép tế bào gốc đã qua chỉnh sửa gene.    Các bệnh tự miễn dịch (AD), phổ biến như tiểu đường loại 1, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ… ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của bệnh nhân nhưng không thể điều trị dứt điểm. Cho đến nay, thông thường để điều trị AD, phải sử dụng các chất ức chế miễn dịch như corticosteroid, cyclophosphamide (CYC), azathioprine và methotrexate. Tuy vậy, thuốc ức chế miễn dịch chỉ “hữu hiệu” trong giai đoạn đầu, sau khi điều trị lâu dài, hầu hết bệnh nhân trở nên kháng thuốc cũng như gặp phải các tác dụng phụ và độc tính của thuốc.   Vai trò của tế bào gốc trong điều trị bệnh tự miễn  Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của AD. Tế bào gốc có thể tác động đến hệ thống miễn dịch bằng ba cách khác nhau:  (1) điều chỉnh miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc tạo máu – HSC) có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch và cải thiện khả năng chịu miễn dịch đối với tự kháng nguyên;  (2) điều biến miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc trung mô – MSC có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch thông qua ức chế một số tế bào tác động cũng như kích thích tế bào T điều hòa (Tregs));   và (3) chỉnh sửa gene (ví dụ, cấy ghép HSC hoặc cấy ghép MSC đã qua chỉnh sửa gene).   Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy, cả hai chiến lược điều chỉnh miễn dịch và điều hòa miễn dịch đều được sử dụng để điều trị các AD khác nhau với kết quả đầy hứa hẹn.   Bên cạnh các hiệu ứng miễn dịch, liệu pháp tế bào gốc cũng có thể làm tăng khả năng tái tạo mô tại các mô bị thương hoặc bị lỗi. HSC là nguồn gốc của tất cả các loại tế bào máu, bao gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Các tế bào này có thể được phát hiện và phân lập từ các mô khác nhau, chẳng hạn như tủy xương của người trưởng thành, các mô khác nhau của thai nhi (gan, lá lách và tuyến ức), dây rốn và máu ngoại vi. HSC có thể di chuyển tới tủy xương (BM) để tái tạo hệ thống miễn dịch hoặc hệ thống tạo máu. Còn các cytokine hoặc các yếu tố tăng trưởng mà MSCs tạo ra có thể kích thích tái tạo mô và ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào tại các mô bị thương.     Ứng dụng lâm sàng   Cả tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô đã được sử dụng để điều trị AD trên cả mô hình động vật và thử nghiệm lâm sàng.   Cấy ghép tế bào gốc tạo máu HSC đã được sử dụng từ năm 1997 để điều trị các bệnh AD nặng và khó trị liệu. Đã có hơn 2500 bệnh nhân AD được điều trị bằng liệu pháp này tại 247 trung tâm ở 40 quốc gia. Theo cơ sở dữ liệu của the Autoimmune Diseases Working Party, đã có 2606 quy trình cấy ghép HSC để điều trị AD, với 2417 bệnh nhân sử dụng HSC tự thân và 133 bệnh nhân sử dụng HSC đồng loại. Nhiều bệnh tự miễn khác nhau đã được điều trị bằng ghép tế bào gốc tạo máu như đa xơ cứng, viêm khớp, lupus ban đỏ hệ thống, suy giảm tế bào miễn dịch, viêm mạch, bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, viêm đa dây thần kinh mãn tính, viêm dây thần kinh thị giác và bệnh nhược cơ…  Trong khi cấy ghép HSC có thể thay thế hệ thống miễn dịch thông qua cấy ghép tự thân hoặc cấy ghép đồng loài, thì cấy ghép MSC có thể cải thiện AD bằng các cơ chế điều chỉnh hệ thống miễn dịch của vật chủ để sửa chữa các mô bị thương thông qua các yếu tố mà nó tiết ra.   Trong lâm sàng, MSC đã được sử dụng trong cấy ghép để điều trị các bệnh tự miễn khác nhau. Cấy ghép MSC điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) cho thấy có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng bệnh, protein niệu và giảm thiếu máu ở bệnh nhân. Một phân tích kết quả điều trị từ 8 nghiên cứu lâm sàng trên 213 bệnh nhân trong và ba thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 66 bệnh nhân cho thấy cấy ghép MSC làm giảm đáng kể chỉ số hoạt động của bệnh lupus ban đỏ hệ thống và protein nước tiểu trong 24 giờ, trong khi bổ thể C3 tăng đáng kể. Chỉ có ba nghiên cứu trong các phân tích này cho thấy việc cấy ghép MSC có một số tác dụng phụ (bao gồm sốt, tiêu chảy và đau đầu) trong quá trình truyền dịch.  Bệnh đa xơ cứng (MS) là bệnh viêm tự miễn phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương, cuối cùng dẫn đến huỷ myelin và mất sợi trục. Công bố đầu tiên về cấy ghép MSC cho bệnh đa xơ cứng là vào năm 2007. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng MSC tự thân (ghép qua đường tiêm nội tủy) cho 10 bệnh nhân bệnh đa xơ cứng. Tuy nhiên, hiệu quả một cải thiện lâm sàng không đáng kể. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng cấy ghép MSC có thể giúp tăng tỷ lệ tế bào T điều hòa CD4 + CD25 +, giảm sự tăng sinh tế bào lympho và giảm các dấu ấn hoạt hóa của tế bào đuôi gai. Một nguồn MSC khác đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị bệnh đa xơ cứng. Loại MSC đầu tiên được sử dụng là MSCs lấy từ tủy xương tự thân. Sau đó, MSCs từ tủy xương của người hiến tặng được sử dụng. Năm 2013, nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng MSC có nguồn gốc từ mỡ cho bệnh MS đã được báo cáo. Trong nghiên cứu này, ADSCs được trộn với axit hyaluronic và tiêm vào mặt hoặc cánh tay của bệnh nhân. Bằng quy trình này, 6 bệnh nhân đã cải thiện tình trạng xơ hóa da của họ (với 5 bệnh nhân cải thiện đáng kể và 1 bệnh nhân vừa phải). Cho đến nay, chỉ có một báo cáo sử dụng MSC có nguồn gốc từ dây rốn để điều trị MS. Trong một số thử nghiệm ban đầu, các nhà nghiên cứu đã đánh giá việc tiêm truyền tĩnh mạch MSCs có nguồn gốc từ tủy xương tự thân, trong khi gần đây hơn thì các nghiên cứu đã đánh giá được việc tiêm tại chỗ cả MSC tự thân và đồng sinh.  Cho đến nay, cả bằng chứng tiền lâm sàng và lâm sàng đều cho thấy cấy ghép HSC và MSC đều có thể mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân AD. Mặc dù một số cơ chế điều trị vẫn chưa rõ ràng, cùng với sự hạn chế của một số ít bệnh nhân được đánh giá, các nghiên cứu đã được công bố gần đây cho thấy rằng cấy ghép HSC và MSC có tiềm năng rất lớn để điều trị AD.  Các bệnh tự miễn dịch (AD) là các bệnh phổ biến liên quan đến phản ứng của các tế bào miễn dịch đối với tế bào chủ cũng như các mô của vật chủ. AD có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau – từ hệ thống nội tiết đến các mô liên kết, đường tiêu hóa, thận, da và tim. Có hơn 100 AD được ghi nhận với 15 bệnh thông thường; các AD này được chia thành hai nhóm: AD đặc hiệu cho cơ quan và AD toàn thân. AD đặc hiệu cho cơ quan là một phần của nhóm AD mà hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào cụ thể trong một cơ quan. Các AD này bao gồm: bệnh tiểu đường loại 1, bệnh Addison, bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Graves, hội chứng Sjögren, bệnh bạch biến, bệnh thiếu máu ác tính, viêm cầu thận, bệnh nhược cơ, hội chứng Goodpasture, bệnh thiếu máu tan máu tự miễn, ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và bệnh xơ phổi. Mặt khác, đối với AD toàn thân, hệ thống miễn dịch tấn công các cơ quan khác nhau; những AD này bao gồm lupus ban đỏ hệ thống (SLE), viêm khớp dạng thấp (RA), xơ cứng bì hệ thống (SSc), viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ. Những bệnh này có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.    Author                Vũ Bích Ngọc        
__label__tiasang Liệu pháp tế bào gốc phục hồi thính lực      Một nhóm các nhà khoa học từ Bệnh viện Brigham (BWH) thuộc MIT, đã tìm ra phương pháp mới để điều trị tình trạng mất thính lực, bằng cách tái phát triển các tế bào lông siêu nhỏ có thể thu nhận được âm thanh. Phương pháp này có thể được đưa vào thử nghiệm lâm sàng trong 18 tháng tới.  Con người có khoảng 15.000 tế bào lông tai trong, mỗi tế bào này đều thu nhận rung động âm thanh, chuyển đổi chúng thành những tín hiệu điện và truyền đến não để xử lí.        Tế bào lông ở tai.  Theo thời gian, tiếng ồn quá lớn, thuốc men và tuổi già kết hợp lại làm chết những tế bào này –  những lông siêu nhỏ này được gọi là stereocilia – dẫn đến mất thính lực. Một số loài động vật có thể tự tái tạo các tế bào này, tuy nhiên con người và động vật có vú không có khả năng đó. Nhưng một nhóm các nhà khoa học tại Boston nói rằng họ đã tìm ra một cách để khởi động những “nhà máy” sản xuất tế bào này của cơ thể và có thể phục hồi thính lực.  Jeffrey Karp, giáo sư tại BWH, Trường Y Harvard, và là tác giả của nghiên cứu mới xuất trên tạp chí Cell Reports và các đồng nghiệp đã tái phát triển những tế bào lông này bằng cách kích hoạt một tế bào gốc trong ốc tai được gọi là Lgr5 với một viên thuốc phân tử nhỏ. Một tế bào gốc tương tự được tìm thấy trong ruột người, cho phép cơ thể tái phát triển lớp lót bên ngoài của mỗi cơ quan theo chu kì năm ngày.  Trước đó, nhóm đã tiến hành nghiên cứu khả năng tái tạo tế bào lông trong một nghiên cứu về tế bào của niêm mạc ruột. Trong nghiên cứu được công công bố vào năm 2013, Karp và các đồng nghiệp công bố rằng họ có thể tạo ra một lượng lớn những tế bào ruột non và sau đó kích thích chúng phân hóa bằng cách cho chúng tiếp xúc với những phân tử nhất định.  Trong nghiên cứu đó, nhóm nhận ra rằng các tế bào cung cấp sự hỗ trợ về cấu trúc trong ốc tai cho thấy một số protein bề mặt tương tự như tế bào gốc của ruột. Vì vậy, họ đã quyết định áp dụng phương pháp tiếp cận tương tự với những tế bào hỗ trợ này.  Họ lấy những tế bào từ ốc tai của chuột, nuôi trong một đĩa thí nghiệm, để các phân tử kích thích tín hiệu wnt [loại protein truyền tín hiệu giữa các tế bào], khiến tế bào nhân lên nhanh chóng.  Khi có một lượng lớn những tế bào trưởng thành (nhiều hơn khoảng 2.000 lần so với bất kì nghiên cứu nào được báo cáo trước đó), các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm một số những phân tử khác để kích thích các tế bào phân hóa thành những tế bào lông trưởng thành. Quá trình này tạo ra nhiều hơn khoảng 60 lần những tế bào lông trưởng thành so với kĩ thuật hoạt động tốt nhất trước đó.   “Chúng tôi không muốn mang lại hi vọng ảo tưởng, nhưng chúng tôi cảm thấy hết sức lạc quan từ công trình này. Và khả năng chúng tôi tạo ra được những tế bào lông thật sự là hấp dẫn”, Karp nói.  Bước tiếp theo là lấy dữ liệu thực nghiệm và bắt đầu thử nghiệm lâm sàng ở người. Karp và Robert Langer từ MIT là những người đồng sáng lập công ty Frequency Therapeutics, đang tiến hành hướng đến thử nghiệm giai đoạn I trong 18 tháng tới.  “Đề xuất của họ rất mới mẻ và về cơ bản, bằng cách kích hoạt những tế bào hỗ trợ này, một tiến trình tự nhiên sẽ nối tiếp và một tỉ lệ nhất định sẽ trở thành những tế bào lông có khả năng đóng vai trò trong việc mã hóa âm thanh. Tôi không thấy bất kì dấu hiệu tiêu cực nào rõ rệt cho đến thời điểm hiện tại”, theo Nicolas Reed, chuyên gia tai mũi họng tại trường John Hopkins.  Theo Larry Medwetsky, Chủ tịch Phòng Nghe, Nói và Ngôn ngữ khoa học của trường Đại học Gallaudet, việc mất thính lực có thể gây ra những vấn đề lớn khi chúng ta già đi, bao gồm sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, ngã và sự tách biệt xã hội.  “Đây không phải là vấn đề nhỏ”, Medwetsky nói. “Việc mất thính lực có thể ảnh hưởng đến tinh thần và tình cảm của bạn. Nếu có thể ngăn ngừa hoặc khắc phục nó, bạn cũng có thể khôi phục chất lượng cuộc sống và tránh được các vấn đề nêu trên.”  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.seeker.com/stem-cell-therapy-could-reverse-hearing-loss-2278225735.html  http://news.mit.edu/2017/drug-treatment-combat-hearing-loss-0221       Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp tế bào gốc sử dụng hệ thống miễn dịch để chỉnh sửa những tổn thương tim      Các nhà sinh học đã phát hiện ra cơ chế của các liệu pháp tế bào gốc trong việc cải thiện chức năng tim. Thử nghiệm trên chuột, họ phát hiện ra các tế bào thúc đẩy một phản ứng miễn dịch giúp cải thiện chức năng của cơ quan và cách bắt chước sửa chữa này bằng một loại hóa chất.      Các tế bào lấy từ tủy xương là một liệu pháp tế bào gốc phổ biến. Credit: Dennis Kunkel Microscopy/SPL  Các liệu pháp tế bào gốc cho những tổn thương tim đã cho thấy một số cải thiện ngắn hạn ở động vật, nhưng vẫn còn hạn chế đối với con người. Lúc đầu, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết những cải thiện ở chuột là nhờ sự biệt hóa tế bào gốc thành tế bào cơ tim. Nhưng các nghiên cứu sau này, bao gồm một nghiên cứu của Jeffery Molkentin, một nhà nghiên cứu sinh học tim mạch tại Trung tâm Y tế Bệnh viện Trẻ em ở Ohio, cho thấy sự thật không phải vậy.  Trên Nature, nhóm của Molkentin nêu hai liệu pháp tế bào gốc phổ biến kích hoạt các tế bào miễn dịch gọi là đại thực bào, giúp sửa chữa mô liên kết ở khu vực bị tổn thương của tim và cải thiện chức năng của nó. Cơ chế sửa chữa này cũng có thể tạo ra bằng cách sử dụng zymosan, một chất tạo ra phản ứng miễn dịch.  Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai của các liệu pháp tế bào gốc ở người, một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ USD. Các bệnh viện ở một số quốc gia đã cung cấp các liệu pháp tế bào gốc cho bệnh tim – căn bệnh gây tử vong số 1 trên toàn thế giới, gây ra khoảng 17 triệu ca tử vong mỗi năm. Nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong các liệu pháp này. Nhiều nhà khoa học không còn nghĩ rằng các tế bào được sử dụng trong các liệu pháp như vậy là tế bào gốc thực sự bởi vì chúng không thể tự làm mới, nhưng thuật ngữ “liệu pháp tế bào gốc” vẫn được các công ty hay các phòng khám sử dụng rộng rãi.  Nhóm Molkentin đã tiêm hai loại tế bào được sử dụng trong các liệu pháp này vào vùng bị tổn thương của tim chuột được gây thiếu oxy tạm thời, mô phỏng các đặc điểm của nhồi máu cơ tim. Một trong những loại này là các tế bào đơn nhân lấy từ tủy xương, tế bào được sử dụng gần như phổ biến nhất trong các thử nghiệm lâm sàng ở người về các liệu pháp tế bào gốc, loại còn lại là các tế bào trung mô tim. Họ phát hiện ra, chức năng tim của những con chuột được tiêm tế bào tốt hơn đáng kể so với những con chuột được dùng giả dược.  Nhưng nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra thêm những con chuột được điều trị bằng tế bào gốc không tốt hơn bằng zymosan bởi zymosan duy trì tác dụng của nó lâu hơn các liệu pháp tế bào gốc. Để kiểm tra thêm lý thuyết, nhóm nghiên cứu đã tiêm tế bào chết vào một số con chuột và thấy rằng điều này cũng có thể cải thiện chức năng của tim. “Nghiên cứu cho thấy rằng chúng ta không còn cần phải tiêm tế bào sống nữa”, Molbestin nói.  Trong các thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu đã chặn hoạt động của đại thực bào ở một số con chuột. Tại đây, quá trình sửa chữa xảy đã không xảy ra ở những con chuột được điều trị bằng tế bào gốc lẫn zymosan.  “Nghiên cứu này rất quan trọng. Nó cho thấy rõ rằng tình trạng viêm được kích hoạt bởi hệ thống miễn dịch thúc đẩy cơ chế sửa chữa”, Thomas Thum, một bác sĩ tim mạch tại Trường Y khoa Hannover ở Đức cho biết.  Molkentin nói rằng kết quả cũng có thể áp dụng cho các liệu pháp tế bào gốc được sử dụng trong các điều kiện khác. “Bất kỳ lợi ích nào có được đều có khả năng đến từ phản ứng miễn dịch tại chỗ và cấp tính hơn là từ khả năng tái tạo của chính các tế bào”, ông nói.  Kory Lavine, một bác sĩ tim mạch và nhà miễn dịch học về suy tim tại Đại học Washington ở St Louis, đánh giá nghiên cứu này có thể sẽ thách thức những người đang theo đuổi phương pháp điều trị tế bào gốc cho các tình trạng từ viêm xương khớp đến bệnh thoái hóa thần kinh để tập trung vào vai trò của các tế bào miễn dịch trong cơ thể, thay vì sức mạnh của liệu pháp tế bào gốc. □  Đức Phát dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-03645-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp ung thư không xâm lấn: Một cách tiếp cận mới sử dụng ánh sáng NIR-III      Mới đây, các nhà khoa học ĐH Quốc gia Thành Công (Đài Loan) đã lần đầu tiên sử dụng ánh sáng cửa sổ sinh học cận hồng ngoại thứ ba (viết tắt NIR-III, bước sóng 1500-1700nm) để kích hoạt hạt nano mang hai chất nhạy quang cho liệu pháp quang động lực dựa trên hạt nano (viết tắt PDT) nhằm tiêu diệt tế bào ung thư.      TS Phạm Yên Khang  Mới đây, TS Phạm Yên Khang cùng các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm Nano-Odyssey, Khoa Hóa học, ĐH Quốc gia Thành Công (Đài Loan) đã lần đầu tiên sử dụng ánh sáng cửa sổ sinh học cận hồng ngoại thứ ba (viết tắt NIR-III, bước sóng 1500-1700nm) để kích hoạt hạt nano mang hai chất nhạy quang cho liệu pháp quang động lực dựa trên hạt nano (viết tắt PDT) nhằm tiêu diệt tế bào ung thư, mở ra hướng nghiên cứu mới về sử dụng ánh sáng NIR-III cho liệu pháp ung thư không xâm lấn mà không ảnh hưởng đến tế bào lành. Công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí khoa học uy tín Journal of Materials Chemistry B thuộc Hội hóa học Hoàng gia Anh và được ban biên tập bình chọn là “HOT paper”.  Tìm kiếm ‘nước sông Styx’ cho ‘gót chân Achilles’  Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ nano đã cho ra đời phương pháp điều trị ung thư mới, liệu pháp quang động lực dựa trên hạt nano (photodynamic therapy-PDT. Đầu tiên, chất nhạy quang (photosensitizer) được đưa đến vị trí khối u bằng hạt nano. Sau đó, chiếu tia laze có bước sóng thích hợp vào khối u. Chất nhạy quang sau khi hấp thụ bức xạ laze sẽ tạo ra các tiểu phân oxy có hoạt tính cao (viết tắt ROS, hay gặp là 1O2). Những tiểu phân này tiêu diệt tế bào ung thư, cuối cùng dẫn đến phá hủy khối u ung thư.  Theo cơ chế này, liệu pháp PDT là một dạng điều trị không xâm lấn. Nói cách khác, các bác sĩ không cần rạch cơ thể hoặc cắt bỏ mô, mà chỉ cần kích hoạt phản ứng tạo ra ROS bằng tia laze. Thêm vào đó, điều làm nên ưu thế của PDT là các thành phần riêng lẻ của nó (gồm ánh sáng laze, chất nhạy quang, oxy) đều không độc, chúng chỉ tạo ra ROS gây độc tế bào khi kết hợp với nhau tại vị trí khối u. Do những ưu điểm này, PDT có khả năng chọn lọc cao, chỉ tiêu diệt tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến tế bào lành, giảm tối đa tác dụng phụ khi so sánh với những phương pháp vẫn sử dụng phổ biến hiện nay như hóa trị và xạ trị.  Mặc dù liệu pháp PDT đầy hứa hẹn trong việc tiêu diệt khối u và nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân, nhưng các nhà khoa học vẫn phải đối mặt với một thách thức: Ánh sáng kích chất nhạy quang sinh ra ROS là ánh sáng UV/vis có độ thâm nhập mô chỉ vài milimet, không thể tới được các khối u nằm sâu trong cơ thể. Để ánh sáng UV/vis đến được chỗ khối u nằm sâu hơn dưới da thì các nhà khoa học cần phải tìm ra ánh sáng có độ thâm nhập mô sâu hơn. Do chưa thể vượt qua được thách thức này nên độ sâu thâm nhập mô kém của ánh sáng UV/vis đã trở thành điểm yếu cốt lõi, hay còn gọi là ‘gót chân Achilles’ của liệu pháp PDT truyền thống. Người ta vẫn chờ đợi tới ngày tìm được giải pháp để nâng cao hiệu quả của liệu pháp PDT trên nhiều loại ung thư khác nhau, thay vì giới hạn ở việc điều trị một số loại ung thư, mà hầu hết là ung thư da, như hiện nay.  Cũng giống như các đồng nghiệp quốc tế, thách thức này là điều mà TS Phạm Yên Khang và các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm Nano-Odyssey, khoa Hóa học, Đại học quốc gia Thành Công (National Cheng Kung University – NCKU) Đài Loan vẫn luôn trăn trở. Achilles là một á thần, ranh giới giữa sự bất tử vĩnh hằng của thần thánh và một phàm nhân như anh là nơi gót chân không được nhúng nước sông Styx. Hệt như vậy, nếu không vượt qua được ranh giới về độ sâu thâm nhập mô, liệu pháp PDT sẽ có thể vĩnh viễn dừng lại ở vị trí là một phương pháp điều trị ung thư da.  Những tưởng nhóm nghiên cứu của TS Phạm Yên Khang sẽ phải đối diện với thất bại như các đồng nghiệp quốc tế của mình, nhưng rồi họ đã tìm ra được ‘nước sông Styx’ để khắc phục điểm yếu đó: ánh sáng thuộc cửa sổ sinh học cận hồng ngoại thứ ba (NIR-III). “NIR-III không phải là một hướng nghiên cứu quá mới”, TS Phạm Yên Khang chia sẻ. “Năm 2015, nhóm nghiên cứu của GS Hongjie Dai ở Đại học Stanford đã lần đầu tiên sử dụng ánh sáng thuộc vùng NIR-III phát xạ từ vật liệu bán dẫn ống nano carbon đơn vách để tiến hành chụp ảnh huỳnh quang của mạch máu não chuột”.  “Độ thâm nhập mô sâu” – đó là một cụm từ vô cùng quan trọng. Các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới vô cùng hào hứng với những ưu điểm của ánh sáng này – cho hình ảnh huỳnh quang phân giải cao gần như không bị nhiễu nền, và có độ thâm nhập mô sâu, thậm chí họ gọi NIR-III là “golden window” – cửa sổ vàng. Tuy nhiên, họ mới chỉ nhìn nhận khả năng thâm nhập mô sâu của NIR-III trong lĩnh vực chụp ảnh huỳnh quang, còn TS Phạm Yên Khang và các cộng sự của mình đã nhận ra rằng NIR-III chính là ‘cửa sổ vàng’ để hóa giải gót chân Achilles, bởi ánh sáng này có độ thâm nhập mô sâu hơn hẳn ánh sáng trong vùng UV/vis.  “Đối lập hoàn toàn với sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực hình ảnh huỳnh quang, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào sử dụng ánh sáng NIR-III cho mục đích điều trị ung thư, cụ thể là PDT. Điều đó gợi ý chúng tôi tiến hành thử nghiệm liệu pháp PDT sử dụng ánh sáng NIR-III”, TS Phạm Yên Khang nhớ lại. Và thế là vào năm 2017, dưới sự dẫn dắt của GS Chen-Sheng Yeh, trưởng khoa Hóa học đồng thời là Chủ tịch Hội nano y sinh Đài Loan, anh và các đồng nghiệp đã bắt tay vào thử nghiệm ý tưởng mới này.  Tăng hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư  Dù đã chuẩn bị suy nghĩ rằng đây là một nghiên cứu liên ngành nên sẽ không có một công đoạn nào… dễ dàng cả, nhưng nhóm nghiên cứu vẫn bất ngờ khi phải trải qua nhiều đêm thức trắng ở phòng thí nghiệm để giải những câu hỏi mới liên tục nảy ra trong thời gian thử nghiệm.  Dù là một ứng viên tiềm năng, nhưng việc chiếu trực tiếp ánh sáng NIR-III vào chất nhạy quang lại dẫn đến trở ngại khác: năng lượng thấp của ánh sáng NIR-III không đủ hiệu quả để tạo ra lượng ROS cần thiết nhằm gây chết tế bào. Câu hỏi mới mà giờ đây nhóm nghiên cứu phải đối diện, đó là làm thế nào tận dụng được độ thâm nhập mô sâu của ánh sáng NIR-III mà vẫn tạo ra đủ lượng ROS cần thiết? “Chúng tôi nhận ra rằng vật liệu nano phát quang ngược (UNCPs) là một giải pháp tốt”, TS Khang cho biết. “Vật liệu UCNPs có một tính chất độc đáo, đó là khả năng chuyển đổi ánh sáng năng lượng thấp, có bước sóng dài (thường trong vùng cận hồng ngoại – NIR) sang bức xạ có năng lượng cao hơn, bước sóng ngắn hơn (thường trong vùng UV/vis). Do đó, vật liệu UCNPs mở ra khả năng kích thích chất nhạy quang bằng ánh sáng NIR-III để tận dụng độ thâm nhập mô sâu của loại ánh sáng này”, anh giải thích.  Thay vì đi vào ngõ cụt, nhóm nghiên cứu đã tìm ra vật liệu UNCPs, và thậm chí đã nảy ra ý tưởng sử dụng hai loại chất nhạy quang khác nhau là RB và Ce6 để tạo ra lượng ROS dồi dào nhằm năng cao hiệu suất PDT. “Vật liệu nano của chúng tôi dưới kích thích 1550 nm có khả năng phát xạ đồng thời ra ánh sáng xanh (548 nm) và đỏ (666 nm) với cường độ không khác nhiều. Do đó, nếu chỉ sử dụng một loại chất nhạy quang thì chỉ hấp thụ được 1 trong 2 ánh sáng trên, và sẽ lãng phí ánh sáng còn lại. Vì vậy, chúng tôi sử dụng hai loại chất nhạy quang để không bỏ phí phát xạ nào, đồng thời tăng lượng ROS để tăng hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư”, TS Khang cho hay.  Việc sử dụng hai chất nhạy quang khác nhau để tăng lượng ROS không phải là một ý tưởng mới, vì đã có những nhóm nghiên cứu khác sử dụng. “Tuy nhiên, bên cạnh sự khác biệt về thành phần và thiết kế, cái mới ở đây là chúng tôi sử dụng ánh sáng kích thích 1550 nm (để lợi dụng khả năng thâm nhập mô sâu của nó), và tận dụng khả năng sinh dồi dào ROS khi dùng hai chất nhạy quang”, anh giải thích.    Sơ đồ minh họa cơ chế liệu pháp PDT dựa trên vật liệu nano phát quang ngược (UCNPs) mang chất nhạy quang kép. Hạt nano UCNPs (kích thước khoảng 43 nm) được bọc bởi vỏ silica (màu xám), sau đó hai chất nhạy quang là RB và Ce6 được tải lên vỏ silica này. Dưới kích thích của laze bước sóng 1550 nm, hạt nano UCNPs sẽ chuyển ánh sáng kích thích thành hai bức xạ mới có bước sóng 548 nm và 666 nm. Hai loại bức xạ sẽ được hấp thụ đồng thời bởi chất nhạy quang RB và Ce6 tương ứng. Việc kích thích hai chất nhạy quang cùng lúc tạo ra lượng singlet oxygen (1O2) dồi dào, tiêu diệt nhiều tế bào ung thư hơn, từ đó tăng hiệu quả liệu pháp PDT.  Với thiết kế độc đáo như trên, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư tuyến tụy (PANC-1). Kết quả cho thấy, liệu pháp PDT mới (kết hợp hai loại chất nhạy quang khác nhau và sử dụng ánh sáng kích thích bước sóng 1550 nm) đã tiêu diệt được hơn 70% tế bào ung thư chỉ sau khi chiếu laze 10 lần, mỗi lần 30 giây. “Thử nghiệm in vivo trên chuột bạch mang khối u đã cho thấy sự giảm đáng kể kích thước khối u sau ba tuần chỉ với 1 liều nano duy nhất”, TS Phạm Yên Khang cho hay. Với vai trò là tác giả chính của nghiên cứu, anh bày tỏ sự vui mừng khi so sánh nghiên cứu của mình với những công trình khác sử dụng liệu pháp PDT, “nghiên cứu của chúng tôi có ưu điểm hơn ở chỗ là thời gian chiếu laze ngắn hơn, và chỉ dùng 1 liều duy nhất là đã có hiệu quả rõ rệt (thông thường 1-3 liều)”.  Gợi mở khả năng phát triển và ứng dụng  “Hệt như một trận bóng, và chúng tôi đã ghi bàn”, TS Phạm Yên Khang ví von khoảnh khắc nhóm nghiên cứu nhận được tin ban biên tập tạp chí Journal of Materials Chemistry B (JMCB) chấp nhận xuất bản nghiên cứu, và thậm chí do tính tiên phong của công trình nên họ đã bình chọn đây là “HOT paper”.  Dù đáng lý nhóm nghiên cứu có thể công bố công trình của mình trên một tạp chí thuộc hàng nhất, nhì về lĩnh vực khoa học nano, nhưng vì muốn được công bố sớm để giữ tính tiên phong của đề tài, họ đã quyết định xuất bản trên JMCB – một tạp chí khoa học uy tín khác.  Với TS Phạm Yên Khang, đây thực sự là “trái ngọt”, bởi “nghiên cứu này đã kéo dài hơn ba năm với rất nhiều thí nghiệm, và bản thân tôi luôn phải chuẩn bị một tinh thần đặc biệt vững để đối mặt với thất bại bất kỳ lúc nào, đặc biệt là đối với một nghiên cứu khó như liệu pháp điều trị ung thư”, anh chia sẻ.  Tuy nhiên, với nhóm nghiên cứu, đây mới chỉ là thành công bước đầu, họ vẫn đang tiếp tục hoàn thiện và tối ưu hóa phương pháp của mình. Cụ thể, theo TS Khang, để hoàn thiện hơn và tối ưu hóa phương pháp, nhóm cần giải quyết vấn đề nồng độ oxy thấp của tế bào khối u ung thư (đặc tính hypoxia) cũng như gắn thêm các phân tử hướng đích chủ động để vật liệu nano đến được khối u nhiều hơn. Ngoài ra, để đi xa hơn như chữa trị trên người, nhóm cần phải làm rất nhiều việc, vì đây mới chỉ dừng lại là nghiên cứu cơ bản.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Liều thứ ba an toàn và hiệu quả đến đâu?      Các nhà sản xuất vaccine đưa ra các dữ liệu mới cho thấy tiêm bổ sung đợt ba không có gì đáng ngại và có hiệu quả. Các nhà quản lý cũng như Ủy ban thường trực tiêm chủng quốc gia Đức (Stiko) cho đến nay cảm thấy vấn đề này chưa thuyết phục. Vậy hiện tại khoa học nói gì về mũi tiêm thứ ba.      Nhà phát triển vaccine của hãng Biontech muốn triển khai mũi tiêm bổ sung: “Chúng tôi cho rằng lúc này là thời điểm tốt nhất bồi thêm mũi tiêm thứ ba chống lại chủng virus hiện nay qua đó quản lý được tình hình“, giám đốc hãng Ugur Sahin nói. Hiệu quả bảo vệ chống lại các triệu chứng của Covid 19 giảm 6% sau hai tháng một, hãng đã đo lường trong một nghiên cứu vào cuối tháng bảy. Chậm nhất là một năm rưỡi sau liều thứ hai, khả năng miễn dịch do vaccine gây ra  giảm một nửa. Ngoài ra, với biến thể delta, mầm bệnh hiện đang hoành hành thì tiêm chủng chỉ có thể bảo vệ một số người ở mức độ hạn chế. Vì vậy, tại sao phải đợi một thời gian dài trong khi  nhiều người có thể bị bệnh nặng và phải chăm sóc đặc biệt?    Cho đến nay, Bộ Y tế Đức chỉ khuyên tiêm bổ sung lần ba cho những người có hệ miễn dịch đặc biệt yếu và người cao tuổi. Ngay cả các chuyên gia của Stiko cũng tỏ ra e dè bởi họ muốn có thêm dữ liệu khoa học để nghiên cứu trước khi ra quyết định có cần tiêm bổ sung rộng rãi lần thứ ba hay không. Tại Israel, nơi biến thể Delta đang lây lan mạnh, người ta đã quyết định tiêm bổ sung lần ba cho tất cả những người trên 60 tuổi.  “Xét về khía cạnh miễn dịch học – thì không có lý do gì để lo ngại lần tiêm thứ ba sẽ nguy hiểm với khoảng cách thời gian là nhiều tháng trời sau đợt tiêm thú nhất và thứ hai.“, theo bà Christine Falk, chủ tịch Hội Miễn dịch Đức. Cho đến nay, các tác động phụ cấp tính ở người già thường yếu hơn so với giới trẻ trong khi đó, lần tiêm thứ ba, chủ yếu nhằm vào nhóm người trên 60, ví dụ như ở Israel.    Hiện cũng chưa có chứng minh qua tiêm bổ sung đợt ba người tiêm sẽ được bảo vệ tốt hơn nữa. Để làm một cuộc điều tra về vấn đề này vừa tốn tiền bạc, vừa tốn thời gian.  Tiêm bổ sung bổ ích cho người ghép tạng  Cuối tháng sáu, tạp chí New England Journal of Medicine đưa tin việc tiêm bổ sung lần thứ ba hữu ích đối với những người ghép tạng vì số lượng kháng thể qua đó được tạo ra khá đầy đủ. Điều này thể hiện rõ ở những người hệ thống miễn dịch bị suy yếu.  Doanh nghiệp Pfizer, nhà đồng sản xuất vaccine với  Biontech hồi đầu tháng 7 đã đo thử lượng kháng thể ở những người khỏe mạnh tiêm lần thứ ba sau lần thứ hai nửa năm thì thấy tăng từ 5 đến mười lần. Tuy nhiên những nghiên cứu này cho đến nay chưa được kiểm chứng độc lập đầy đủ. Do đó, các kết quả này cần xem xét thận trọng. Vả lại các đối tác như  Biontech và Pfizer đều có tư lợi lớn trong vấn đề này bởi nếu thực sự cần tiêm lần thứ ba thì các nhà sản xuất vaccine sẽ kiếm thêm được tiền tỷ. Đối với Đức, tiêm bổ sung chỉ có ý nghĩa với những người “phản hồi thấp”, tức những người phản ứng yếu kém khi tiêm chủng do di truyền hoặc do đang dùng một số loại thuốc cũng như do yếu tố tuổi tác.   Tại Hoa Kỳ, hiện các nhà nghiên cứu độc lập Biontech cũng chưa được phép tiêm bổ sung. Tình hình ở Đức cũng tương tự do đó Biontech đã chính thức có đơn xin được tiêm bổ sung lần ba.  Tóm lại có cần tiêm mũi thứ ba hay không? Ý kiến của nhiều chuyên gia là không nhất thiết hàng năm phải tiêm bổ sung lần ba một khi con virus này tồn tại lâu dài như dự đoán. Một số chuyên gia thậm chí còn cho rằng chỉ độ mươi năm mới cần tiêm nhắc lại để làm mới bộ nhớ miễn dịch.   Xuân Hoài tổng hợp   Nguồn: Booster-Impfung: Wie sicher und wirksam ist die dritte Dosis? – WELT  https://www.fr.de/panorama/dritte-corona-impfung-biontech-pfizer-israel-impfreaktionen-studie-booster-impfstoff-vakzin-90910816.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lindau, nơi tụ hội các nhà kinh tế hàng đầu      Thị trấn Lindau của nước Đức là nơi gặp gỡ của mười bảy nhà khoa học kinh tế từng được giải thưởng Nobel. Ngoài ra còn có sự hiện diện của trên 300 nhà nghiên cứu trẻ được biết đến nhờ có những ý tưởng hay và mới. Đây là lần thứ tư sự kiện mang tính thường niên này được tổ chức, diễn ra từ ngày 23 tới 27 tháng 8 vừa qua.      Chưa khi nào dư luận thế giới lại quan tâm đến cuộc họp mặt ở Lindau như năm nay. Đông đảo phóng viên từ nhiều quốc gia trên thế giới đã có mặt để nghe xem giới tinh hoa trong ngành kinh tế học đề cập tới những biện pháp gì nhằm đưa thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay.   Lindau vẫn là nơi tụ hội của cả những nhà kinh tế tầm cỡ – nhiều người trong số họ đã thuộc diện ngoài thất tuần – với các lý thuyết ủng hộ khả năng tự điều chỉnh của thị trường tự do. Đôi lúc họ mới đề cập đến “thất bại của thuyết kinh tế vĩ mô” nhưng thường thì né tránh khái niệm “khủng hoảng tài chính”.   Joseph Stiglitz  Ở thái cực khác, Joseph Stiglitz, nhà kinh tế đoạt giải Nobel, vẫn tiếp tục có những phê phán dành cho những lý thuyết kinh tế về thị trường tự do mà ông cho là đã cổ hủ, với những nhận xét dí dỏm. “Có lẽ bàn tay vô hình của thị trường vô hình vì nó không hề có”. Theo Stiglitz thì cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từng diễn ra trong bước giao thời từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế chủ yếu là công nghiệp. Ngày nay nền công nghiệp đang bị thay thế bới các ngành dịch vụ, điều đó dẫn đến cuộc khủng hoảng tiếp theo. Sự hòa mạng ngày càng tăng trên thế giới càng làm cho việc kiềm chế khủng hoảng khó khăn hơn. Chính vì thế Stiglitz yêu cầu phải có những biện pháp bảo vệ để ngăn chặn sự lây lan, thí dụ như cơ chế kiểm soát dòng chảy của vốn.    Sự tham gia của các nhà kinh tế trẻ  Một trong những khía cạnh gây cuốn hút cho sự kiện ở Lindau là những ý tưởng mới mẻ của các nhà nghiên cứu trẻ, và cả những người hiện còn đang là khán, thính giả ở Lindau. Họ là những người quyết định kinh tế học tới đây sẽ đi theo hướng nào.   Ba năm đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính. Nhiều người trong số các nghiên cứu sinh tới Lindau lần này đã bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế. Và điều này đã để lại dấu ấn trong các công trình nghiên cứu của họ.   Eduardo Davila, sinh viên người Tây Ban Nha tại Đại học Harvard nghiên cứu về quy mô của các ngân hàng và cho rằng Nhà nước không nên chỉ tập trung cứu giúp các ngân hàng lớn. “Nếu 10 ngân hàng nhỏ bị phá sản cùng một lúc thì tổn hại đối với nền kinh tế có thể cũng không hề ít hơn một khi phá sản một ngân hàng lớn”. Nghiên cứu Eduardo cũng cung cấp thêm một tin vui: chí ít thì phần lớn các ngân hàng nhỏ luôn dành ra một khoản dự phòng, vì các ngân hàng đó biết rằng họ không thể trông chờ gì nhiều vào sự giải cứu của Nhà nước.  Một số nhà kinh tế trẻ khác nghiên cứu về việc phải làm gì để Chính phủ thuộc các thể chế dân chủ không bị nợ hay làm sao để có thể dự báo các giai đoạn tăng trưởng tốt hơn.   Nhưng vấn đề tăng trưởng không phải là đề tài duy nhất được quan tâm. Các nhà kinh tế trẻ nghiên cứu cả về vai trò của hạnh phúc. Nghiên cứu của Alex Rees-Jones, đang học tại trường Cornell University cho thấy, con người phần đông không chọn loại công việc mang lại nhiều sự phấn khởi mà thiên về công việc mang lại nhiều tiền bạc.   Xuân Hoài lược dịch  Theo Frankfurter Allgemeine  Zeitung, số ra tháng 8, 2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen có thể định hình thiên hà      Dữ liệu từ đài quan sát XMM-Newton X-ray của Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) cho thấy cách các lỗ đen siêu khối lượng định hình các thiên hà chủ của chúng với những luồng gió vũ trụ có thể quét sạch cả vật chất liên sao.      Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã phân tích kết quả thu được trong 8 năm ở đài quan sát XMM-Newton về lỗ đen ở lõi của PG 1114+445, một thiên hà hoạt động, qua đó chứng tỏ rằng các luồng gió siêu nhanh – những luồng chảy mạnh của khí phát ra từ phần cấu trúc hình đĩa đang được mở rộng rất gần với lỗ đen đó – tương tác với vật chất liên sao ở những phần trung tâm của thiên hà này. Những luồng chảy từng được biết đến trước đó nhưng nghiên cứu mới này đã nhận diện một cách rõ ràng, lần đầu tiên, ba pha tương tác của chúng với thiên hà chứa nó.  “Những luồng gió này có thể giải thích cho chúng ta một số mối tương quan hết sức ngạc nhiên mà chúng ta đã biết nhiều năm nhưng chưa lý giải được nó”, Roberto Serafinelli – Viện nghiên cứu vật lý thiên văn quốc gia Ý ở Milan và là tác giả chính của nghiên cứu, vốn là một phần của chương trình tiến  sĩ mà anh theo đuổi ở trường đại học Rome Tor Vergata.  “Ví dụ, chúng tôi thấy có mối tương liên giữa khối lượng của các lỗ đen siêu khối lượng và tốc độ tán sắc của các ngôi sao ở các phần bên trong của những thiên hà chủ. Nhưng không có cách giải thích nào phù hợp với hiệu ứng hấp dẫn của lỗ đen. Nghiên cứu của chúng tôi lần đầu tiên chứng tỏ được cách các luồng gió lỗ đen tác động đến thiên hà trên một phạm vi rộng, có thể cung cấp bằng chứng về mối liên hệ còn khuyết thiếu này”.    Trước đây, các nhà thiên văn học đã dò tìm hai loại gió vũ trụ trong những quang phổ tia X do các nhân thiên hà hoạt động phát ra, những vùng đậm đặc ở trung tâm của các thiên hà đã biết chứa những lỗ đen siêu khối lượng.  Thứ mà chúng ta vẫn gọi là các luồng chảy siêu nhanh (ultra-fast outflows UFOs), được tạo ra từ khí ion hóa, di chuyển tại tốc độ lên tới 40% tốc độ ánh sáng và được quan sát trong vùng lân cận của trung tâm lỗ đen.  Những dòng chảy chậm hơn, như những các vật thể hấp thụ nhiệt ấm, di chuyển với tốc độ thấp hơn nhiều, khoảng vài trăm km/s và có những đặc điểm vật lý tương đồng – như độ đậm đặc và ion hóa của hạt – đến vật chất liên sao xung quanh. Có thể dò được những dòng chảy chậm hơn đó tại các khoảng cách lớn hơn từ những vùng trung tâm của thiên hà.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học miêu tả loại dòng chảy thứ ba có sự kết hợp của các đặc tính của hai dòng chảy trước: tốc độ của UFO và các thuộc tính vật lý của các vật thể hấp thụ nhiệt ấm.  “Chúng tôi tin tưởng đây chính là điểm khi UFO chạm đến vật chất liên sao và quét chúng đi như kiểu máy cào tuyết”, Serafinelli nói. “Chúng tôi có thể gọi đây là “dòng chảy cuốn siêu nhanh” bởi vì UFO trong phạm vi này đang thổi suốt vật chất liên sao, tương tự như gió đẩy các cánh buồm trên biển cả”.  Quá trình thổi này xảy ra tại một khoảng cách từ hàng chục đến hàng trăm năm ánh sáng từ lỗ đen. UFO đẩy vật chất liên sao khỏi các phần trung tâm của thiên hà, thổi sạch khí khỏi nó và làm chậm dần dần sự bồi đắp của vật chất quanh lỗ đen siêu khối lượng.    Nếu trước đây, các mô hình đã từng dự đoán kiểu tương tác này trước đó thì nghiên cứu hiện tại là công trình đầu tiên trình bày được những quan sát thực tế của cả ba pha đó.  “Trong dữ liệu XMM-Newton, chúng tôi có thể thấy vật chất tại khoảng cách lớn từ trung tâm thiên hà một cách rõ ràng, không bị nhiễu vì phần bên trong của UFO”, đồng tác giả Francesco Tombesi của trường đại học Rome Tor Vergata và Trung tâm nghiên cứu Không gian Goddard của NASA. “Chúng tôi có thể thấy những đám mây gần với lỗ đen, ở vùng lõi của thiên hà, nơi UFO bắt đầu tương tác với vật chất liên sao”.  Tương tác đầu tiên này xảy ra nhiều năm sau khi UFO rời khỏi lỗ đen. Nhưng năng lượng của UFO cho phép lỗ đen nhỏ có liên quan tác động lên vật chất, dù chúng ở quá tầm với của lực hấp dẫn của lỗ đen.  Theo các nhà khoa học, các lỗ đen siêu khối lượng truyền năng lượng của chúng vào môi trường xung quanh thông qua các dòng chảy và các vủng trung tâm không còn vật chất của thiên hà khỏi khí, vốn có thể làm tạm ngừng việc hình thành sao. Trên thực tế, các thiên hà ngày nay tạo ra các ngôi sao với tần suất ít hơn so các giai đoạn đầu của quá trình tiến hóa.  “Đây là lần thứ 6 chúng tôi dò được các dòng chảy này”, Serafinelli nói. “Đây là một thứ khoa học mới. Những pha của dòng chảy đó từng được quan sát một cách riêng rẽ trước đây nhưng cho đến gần đây, việc kết nối giữa chúng mới thực sự trở nên rõ ràng”.    Độ phân giải năng lượng chưa từng thấy XMM-Newton là chìa khóa để phân biệt giữa ba kiểu đặc điểm tương ứng với ba kiểu dòng chảy. Trong tương lai, với những quan sát mới và tăng cường độ chính xác hơn như Kính viễn vọng tiên tiến cho vật lý thiên văn năng lượng cao Athena của ESA, các nhà thiên văn sẽ có khả năng quan sát hàng trăm trong số hàng ngàn lỗ đen siêu khối lượng và dò được các dòng chảy một cách dễ dàng hơn. Athena là kính viễn vọng có độ nhạy gấp 100 lần so với XMM-Newton và đã được lên lịch lắp đặt vào khoảng đầu năm 2030.  “Có được nguồn phát là điều xuất sắc nhưng nếu biết tường tận hiện tượng này thực sự là điểm chung của toàn vũ trụ thậm chí có thể là một đột phá thực sự”, Norbert Schartel, một nhà khoa học tham gia dự án XMM-Newton tại ESA nhận xét. “Thậm chí với XMM-Newton, chúng tôi có thể có khả năng tìm thấy nhiều nguồn thông tin hơn nữa trong thập kỷ tới”.  Nhiều dữ liệu trong tương lai sẽ giúp làm sáng tỏ các tương tác phức tạp giữa các lỗ đen siêu khối lượng và những thiên hà chứa chúng một cách chi tiết và giải thích sự giảm sút hình thành sao mà các nhà thiên văn đã quan sát được, vốn đã được diễn ra vài tỷ năm trước.    Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-07-black-holes-galaxies.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lo ngại sức khoẻ doanh nghiệp      Số doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt  động năm nay là 60.737, tăng 11,9% so với năm trước, cho thấy sức khoẻ  của khu vực doanh nghiệp tiếp tục suy giảm đáng báo động, theo Cục Quản  lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư.    Trong đó số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818, tăng 4,9%; số đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803, tăng 35,7%; số ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116 doanh nghiệp, tăng 8,6%.  Bên cạnh đó, ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 76.955, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổng vốn đăng ký là 398,7 ngàn tỉ đồng, giảm 14,7%.  Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm, quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp mới thành lập năm 2013 giảm so với năm 2012 từ 6,68 tỉ đồng xuống còn 5,18 tỉ đồng.  Nếu quy về mặt bằng giá năm 2012 thì quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp mới thành lập trong năm 2013 chỉ khoảng 4,18 tỉ đồng.  Ông Lâm bình luận: “Điều này trên góc độ nào đó cho thấy quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp đang diễn ra khá mạnh mẽ. Nói chung, các doanh nghiệp vẫn đang rất khó khăn”.  Trong khi đó, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cho rằng, số lượng doanh nghiệp đóng cửa lên tới hơn 60.000 trong năm 2013 là điều rất đáng lo lắng.  Ông nói: “Xu hướng doanh nghiệp phá sản vẫn tiếp tục, với 60.000 doanh nghiệp biến mất trong năm 2013. Họ đã tồn tại qua mấy năm khó khăn vừa qua, nhưng nay thì không thể trụ nổi. Chuyện các doanh nghiệp này chết đi khác hẳn những doanh nghiệp mới đăng ký, chưa sản xuất, hay kinh doanh được gì cả”.  Ông Thiên bổ sung, có tới hơn 100.000 doanh nghiệp đã phá sản trong 2 năm 2011-2012. “Những doanh nghiệp phá sản này theo tôi cũng làm tới 30% công suất của các doanh nghiệp đang tồn tại”, ông nói.  Bộ Tài chính còn cho biết, có tới 2/3 doanh nghiệp báo lỗ. Như vậy, nhìn tình trạng của khu vực doanh nghiệp như vậy thì còn đâu động lực cho tăng trưởng nữa, ông nói.  Số doanh nghiệp đóng cửa đã lên tới 54.000 năm 2012, hơn 79.000 năm 2011, theo các cơ quan nhà nước.  Tại một hội thảo gần đây, chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cảnh báo: “Chúng ta tập trung quá nhiều vào chính sách tài chính, tiền tệ, … vô hình trung chúng ta có cú đánh rất mạnh vào nền kinh tế thực, làm cho nhiều doanh nghiệp không ngóc đầu lên được. Chúng ta nói ví von là các doanh nghiệp Việt Nam là đội thuyền thúng ra biển khi gia nhập WTO, nhưng từ khi vào WTO, các chính sách của chúng ta đã đánh cho đội thuyền thúng đó tan nát hết, không biết sắp tới chúng ta sẽ như thế nào”.  Ông khuyến nghị rằng, các chính sách kinh tế cần tập trung vào nền kinh tế thực để vực dậy sức khoẻ cho doanh nghiệp, và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lo ngại việc chuyển giao DNNN “sống dở chết dở”      Các chuyên gia, nhà nghiên cứu lo ngại rằng  chủ trương chuyển giao doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang sống dở chết dở  từ các tập đoàn kinh tế này sang tập đoàn kinh tế khác đang là cơ hội  để các “mầm bệnh” lây lan, chứ không phải được chữa trị.    Hơn nữa, cơ sở pháp lý cho các thương vụ chuyển giao này là chưa hề có, theo thông tin từ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu tại hội thảo “Đổi mới vai trò nhà nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương tổ chức ngày 16-10.  “Chuyển giao này thực chất là chuyển khó khăn từ tập đoàn kinh tế nhà nước này sang tập đoàn kinh tế nhà nước khác. Đó là một hình thức chủ động làm lây bệnh”, ông Trần Tiến Cường, nguyên chuyên gia của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) nhận xét.  Báo cáo của CIEM cho biết, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy (Vinashin) đã bàn giao sang Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) 7 công ty con, 23 công ty cháu, và 5 dự án.  Chẳng hạn, Vinalines nhận chuyển giao khu công nghiệp (KCN) Cảng biển Hải Hà (Quảng Ninh), Cảng Vinashin Đình Vũ (Hải Phòng), KCN và Nhà máy đóng tàu Hậu Giang,…  PVN nhận chuyển giao các dự án KCN Tàu thủy Lai Vu (Hải Dương), KCN Tàu thủ Nghi Sơn (Thanh Hoá), KCN Tàu thuỷ Soài Rạp (Tiền Giang).  Báo cáo của CIEM nhận xét, do phải thực hiện chuyển giao “nguyên trạng”, khi hầu hết các doanh nghiệp bị chuyển giao có tình hình tài chính mất cân đối nghiêm trọng, nên cả PVN và Vinalines phải giải quyết rất nhiều gánh nặng tài chính này.  Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp bị chuyển giao đang làm chủ nhiều dự án dở dang, nên việc xác định giá trị các dự án này rất khó khăn.  Bên cạnh đó, việc chuyển giao các doanh nghiệp này là các quyết định hành chính, gây khó khăn cho đơn vị tiếp nhận.  Báo cáo cho biết, các khoản nợ và các dự án dang dở của Vinashin chuyển giao sang cho PVN và Vinalines là rất lớn, nhưng lại chưa có hồ sơ đầy đủ.  Báo cáo cũng ghi nhận, thương vụ chuyển giao EVN Telecom thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) sang Viettel, doanh nghiệp sau đó đã phải đau đầu xử lý các vấn đề nợ, nhân sự, hợp đồng cũ, và khối tài sản lớn đã đầu tư không sử dụng được.  Ông Cường nói: “Hơn nữa, việc chuyển giao các doanh nghiệp phản ánh rõ tư duy can thiệp hành chính, phi thị trưởng của nhà nước… Nó không tạo ra sức ép và động lực cần thiết để đổi mới doanh nghiệp”.  Trong khi đó, ông Lê Viết Thái, thuộc CIEM nhận xét, khung pháp luật của việc chuyển giao các doanh nghiệp nhà nước với nhau là chưa hề có.  Ông Thái cho rằng, việc chuyển giao các doanh nghiệp giữa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chỉ nên áp dụng đối với một số trường hợp đặc thù liên quan đến bí mật ngành, bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng, hoặc có ảnh hưởng lớn đến xã hội. Còn các trường hợp khác nên chuyển nhượng dự án, hoặc bán công khai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng đầu tiên của UAE đạt trạng thái tới hạn      Công ty điện lực Nawah đã khởi động lò phản ứng số một của nhà máy điện hạt nhân Barakah, đặt tại vùng Al Dhafrah của Abu Dhabi. Nawah là chi nhánh về vận hành và bảo trì của Công ty Năng lượng hạt nhân Emirates và Công ty Điện lực Hàn Quốc (KEPCO). Lò phản ứng APR1400 đã đạt tới phản ứng chuỗi bền vững lần đầu tiên vào sớm ngày 31/7/2020 và được chờ đợi sẽ bước vào thời kỳ vận hành thương mại vào cuối năm nay.      Lò phản ứng Barakah 1 là lò phản ứng thương mại đầu tiên trong thế giới Ả rập. Nguồn: ENEC  Kể từ khi nhận được chứng nhận vận hành từ Cơ quan Điều hành hạt nhân liên bang (FANR) trong tháng 2/2020, và hoàn tất việc tải nhiên liệu trong tháng 3/2020, Nawah đã thực hiện một chương trình kiểm tra trước khi hoành thành khởi động lò phản ứng này.  Mohamed Al Hammadi, giám đốc điều hành ENEC, cho biết đây là “một khoảng khắc lịch sử thực sự” với UAE. “Nó là sự tích tụ của nhiều yếu tố trong hơn một thập kỷ: tầm nhìn, kế hoạch mang tính chiến lược và quản lý, điều phối chương trình. Bất chấp những thách thức mang tính toàn cầu hiện nay, nhóm làm việc của chúng tôi vẫn thể hiện sự kiên trì tột bậc và cam kết đem lại sự an toàn trong vận hành của lò phản ứng số một. Chúng tôi giờ đây đang tiến một bước gần hơn để đạt được mục tiêu của mình là ung cấp một phần tư nhu cầu điện năng của đất nước và đảm bảo điện cho sự tăng trưởng trong tương lai của đất nước bằng một nguồn điện năng an toàn, tin cậy và không phát thải”.  Agneta Rising, giám đốc của Hội hạt nhân thế giới (WNA), nói: “Đây là một thành quả lớn cho mọi nỗ lực của tất cả những ai đang làm việc tại Barakah. Các lò phản ứng này sẽ tạo ra nguồn điện sạch, đem lại những công việc đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp cao và sự tăng trưởng kinh tế cho nhiều thập kỷ. Barakah sẽ sớm gia nhập cùng các lò phản ứng khác đang được xây dựng tại Belarus, Bangladesh và Turkey. Chúng ta cần thấy điều này tiếp diễn ở nhiều quốc gia mới phát triển hạt nhân nữa để có được một nguồn điện phi carbon thực sự và đem đến một ngày mai bền vững hơn, sạch hơn”.    Nhà máy điện hạt nhân Barakah. Nguồn: aljazeera.com  UAE là quốc gia đầu tiên trong các nước Ả rập, và là quốc gia thứ 22 trên toàn cầu phát triển chương trình điện hạt nhân dân sự. ENEC cho biết nhà máy điện hạt nhân Barakah đang đóng góp một cách đáng kể vào những nỗ lực của đất nước để chuyển hướng điện khí hóa của lĩnh vực năng lượng, và việc tạo ra nguồn điện phi phát thải carbon. Khi vào giai đoạn vận hành đầy đủ, nhà máy điện hạt nahan này sẽ phát ra 5,6 GW điện năng đồng thời tránh phát thải 21 triệu tấn carbon mỗi năm, nếu so với việc tạo ra điện từ nhiên liệu hóa thạch.  Chương trình phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình của UAE bắt đầu từ năm 2009 và ENEC đã làm việc với nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Hội các nhà vận hành hạt nhân thế giới (WANO) “trong khuôn khổ quy định rất thiết thực của FANR”, ENEC cho biết.  ENEC mới loan báo đã hoàn thiện việc xây dựng lò phản ứng số 2 với những chuẩn bị sẵn sàng về mặt vận hành của đang được Nawah thực hiện. Việc xây dựng lò phản ứng số 3 và 4 của nhà máy này đang trng những giai đoạn cuối, với việc hoàn thiện xây dựng của bốn lò phản ứng hiện đạt 94%.  Với thỏa thuận 20 tỉ USD được thông báo vào tháng 12/2009, bốn lò phản ứng APR1400 theo thiết kế của Hàn Quốc được xây dựng tại Barakah do một tập đoàn do KEPCO dẫn đầu. Việc đổ xi măng ở lò phản ứng Barakah 1 đã diễn ra vào tháng 7/2012, trong khi lò phản ứng số 2 đến 4 đã được đổ lần lượt vào tháng 4/2013, 9/2014 và tháng 7/2015.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/UAEs-first-power-reactor-achieves-criticality    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng Kakrapar 3 lần đầu đạt trạng thái tới hạn      Một thời khắc quan trọng trong lịch sử phát triển năng lượng hạt nhân của Ấn Độ đã được ghi nhận: lò phản ứng nước nặng (PHWR) công suất 700 MW đầu tiên do các nhà nghiên cứu trong nước thiết kế được vận hành thử.    Tổ máy số 3 – lò phản ứng nước nặng (PHWR) công suất 700 MW, của nhà máy điện hạt nhân Kakrapar tại quận Surat bang Gujarat của Ấn Độ đã đạt tới phản ứng chuỗi bền vững lần đầu tiên. Việc nạp nhiên liệu vào lõi lò phản ứng đã được hoàn thành trước đó vào trung tuần tháng ba.  “Sau đó, có nhiều cuộc kiểm tra và các thủ tục đã được triển khai trong suốt giai đoạn đóng cửa theo các hướng dẫn của chính phủ trước Covid-19”, Tập đoàn điện hạt nhân Ấn Độ (NPCIL) đã cho biết trong một thông cáo báo chí. Lò phản ứng này đã đạt trạng thái tới hạn đầu tiên vào lúc 9 giờ 36 ngày 22/7/2020, đánh dấu “một sự phát triển mang tính lịch sử” đối với ngành năng lượng nguyên tử Ấn Độ cũng như đất nước Ấn Độ.    NPCIL cũng cho biết các hợp phần và thiết bị cho lò phản ứng này đều do ngành công nghiệp Ấn Độ chế tạo và công việc xây dựng nó cũng do nhiều nhà thầu Ấn Độ đảm trách. “Bước tiếp theo, rất nhiều thực nghiệm/kiểm tra sẽ được tiến hành và lượng điện từ lò phản ứng sẽ được gia tăng một cách dần dần. Công việc sau đó sẽ là nối lưới điện.” Tổ máy mới này là lò phản ứng thứ 23 của Ấn Độ được vận hành.  Tham gia chứng kiến thời khắc lịch sử này còn có Thủ tướng Narendra Modi. Sau đó ông đã viết trên tài khoản Twitter cá nhân của mình: “Chúc mừng các nhà khoa học của chúng ta đã đạt được mức tới hạn trên lò phản ứng số ba của nhà máy điện hạt nhân Kakrapar! Lò phản ứng KAPP-3 công suất 700 MW được nội địa hóa về thiết kế này là ví dụ sáng chói về phương châm “Làm tại Ấn Độ’ (Make in India). Và là một thành công mở đường cho nhiều thành tựu tiếp theo trong tương lai!”  Vào tháng 4/2007, chính quyền Ấn Độ đã thông qua các kế hoạch cho bốn lò phản ứng đầu tiên trong số 8 lò phản ứng theo công nghệ PHWR công suất 700 MW: lò phản ứng số 3 và 4 Kakrapar, 7 và 8 Rajasthan, do công ty Hindustan Construction thực hiện với công nghệ nội địa hóa. Vào  giữa năm 2009, Ấn Độ xác nhận đã thông qua kế hoạch xây dựng và sau đó vào cuối năm, phương án tài chính cho bốn lò phản ứng này được phê duyệt.  Các địa điểm được lựa chọn tại Kakrapar đã hoàn thành vào tháng 8/2010. Và lần lượt mẻ bê tông cho Kakrapar 3 và 4 thực hiện vào tháng 11/2010 và tháng 3/2011, sau khi Ban điều hành Năng lượng nguyên tử Ấn Độ (Atomic Energy Regulatory Board AERB) chấp thuận. AERB cũng đồng ý với kế hoạch xây dựng Rajasthan 7 và 8 vào tháng 8/2010, công việc xây dựng ở các địa điểm cũng bắt đầu được tiến hành, mẻ bê tông đầu tiên cho các lò này được đưa vào tháng 7/2011. Dự kiến thời gian xây dựng là 66 tháng.  Vào ngày 5/3/2020, khi trả lời câu hỏi của Rajya Sabha, thượng viện Ấn Độ, Bộ trưởng Jitendra Singh cho biết “vận hành thử và vận hành” của Kakrapar 3 dự kiến vào tháng 10 tới và Kakrapar 4 vào tháng 9/2021. Các lò phản ứng PHWR đang được xây dựng tại Rajasthan dự kiến sẽ vận hành thử vào tháng 3/2022 – với tổ máy số 7, và 2023 – với tổ máy số 8.  Ấn Độ lên kế hoạch có 21 lò phản ứng điện hạt nhân mới – bao gồm 10 lò phản ứng PHWR được nội địa hóa trong thiết kế – với năng lực phát điện là 15.700 MW vào năm 2031, Ủy ban Năng lượng nguyên tử Ấn Độ loan báo vào tháng 1/2019.  Các tổ máy Kakrapar 1 và 2 – cả hai đều là lò phản ứng PHWR do Ấn Độ thiết kế – đã lần lượt vận hành thương mại vào năm 1993 và 1995.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/Kakrapar-3-achieves-first-criticality    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò sấy lúa đoạt giải nhất Gala Nhà sáng chế năm 2014      Vượt qua năm sản phẩm lọt vào chung kết cuộc  thi Nhà sáng chế 2014, giải nhất trị giá 400 triệu đồng thuộc về “vua  lò sấy” Dương Xuân Quả (xã Phú Hưng, Phú Tân). Lò sấy lúa này có nhiều  ưu điểm như góp phần giảm chi phí chất đốt, thời gian và công lao động,  đảm bảo vệ sinh môi trường…  &#160;    Ông Dương Xuân Quả có niềm đam mê với máy móc phục vụ nông nghiệp từ rất sớm. Từng làm thợ hàn cho một công ty của Đài Loan, ông đã học hỏi và tích lũy được nhiều kinh nghiệm về cơ khí, nhất là kỹ thuật hàn, động nhiệt học… Với kinh nghiệm này, ông đã mày mò nghiên cứu, tự tìm ra thông số kỹ thuật của một lò sấy lúa vừa tốn ít điện, ít  chất đốt nhưng hiệu quả cao, hạt thóc trải qua quá trình xay xát còn nguyên hạt, đạt chất lượng gạo cao. Sản phẩm đầu tiên của ông là lò sấy với lớp lúa dày 1 m cho sản phẩm khô đều, nhanh và đạt tiêu chuẩn đề ra.  Sau thành công này, ông Xuân Quả tiếp tục cải tiến thêm để làm ra những loạt lò sấy mới như lò sấy tĩnh, vỉ ngang. Loại lò này nhanh sinh nhiệt, nhiệt độ giữ đều, không chỉ sấy lúa mà còn sấy nhiều sản phẩm nông nghiệp khác như khoai, sắn, ngô… Bên cạnh đó ông còn đưa ra thị trường lò sấy lúa cơ động có thể lắp đặt, sử dụng ngay trên cánh đồng, hoặc trên phương tiện tàu thuyền. Các loại lò sấy của ông nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của bà con nông dân trong vùng và mở rộng cho nhiều tỉnh khác bởi tiết kiệm nhiên liệu, giữ lúa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, góp phần nâng cao giá trị nông sản của nông dân.  Một trong những sản phẩm bán chạy nhất của ông Dương Xuân Quả là lò sấy cải tiến không trở mẻ (lúa nằm yên một chỗ). Năm 2011, ông đã xuất sang Campuchia được 30 bộ phận cánh quạt và lò sấy. Từ năm 2005 đến nay, ông đã lắp đặt trên 1.300 lò sấy ở 18 tỉnh thành, gồm loại lò 10 tấn, loại 20 tấn và loại 30 tấn, giá bán các loại lò sấy từ 110 đến 240 triệu đồng/lò.  Đầu năm 2012 ông đã ký hợp đồng với Nông trường Cờ Đỏ và Nông trường Sông Hậu thực hiện lắp đặt trên 80 máy. Ngoài ra, ông còn được sự hỗ trợ của dự án Đổi mới sáng tạo IPP Đan Mạch nên ký hợp đồng sản xuất với quy mô lớn nhằm phục vụ cho ngành nông nghiệp ở ĐBSCL.   Ông Dương Xuân Quả cho biết, hiện ông đang sáng chế thử nghiệm lò sấy sử dụng bằng năng lượng mặt trời.            Tại Gala Nhà sáng chế 2014, năm sản phẩm lọt  vào chung kết là Dụng cụ đọc chỉ số công tơ điện, Máy cày cho ruộng bậc  thang, Máy gọt củ quả dạng dài, Ổ cắm điện lò xo và Lò sấy lúa. Ngoài  giải nhất cho sản phẩm Lò sấy lứa, BTC cuộc thi Nhà sáng chế còn trao  giải thưởng triển vọng cho tác giả Trần Thị Lan Anh với sản phẩm máy  đánh bắt ngao, giải thưởng Nhà sáng chế nhân văn cho tác giả Nguyễn Văn  Tiến với sản phẩm giường cho người bị bệnh.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỡ thị trường gần 11 tỷ USD      Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), ông Mai Văn Phúc đã đưa ra con số chi phí cho giao nhận kho vận (logistics) của VN hằng năm khoảng 8 đến 11 tỷ USD, chiếm 15 đến 20% GDP của năm 2006, mà trong đó chi phí cho vận tải (chủ yếu là vận tải biển) chiếm đến 60%. Điều đáng nói là gần như toàn bộ chi phí này rơi hết vào túi các công ty vận tải biển nước ngoài.    Có thể hình dung đơn giản như thế này : trong khi các tập đoàn vận tải biển quốc tế đang hoạt động theo phương thức “cửa đến cửa” (khép kín toàn bộ quá trình vận chuyển từ nhà máy đến các điểm bán lẻ) thì tại VN với hàng xuất giỏi lắm cũng chỉ từ “cửa đến cảng” hoặc từ “cảng đến cảng” (mà cũng chỉ đến cảng trung chuyển thôi) còn hàng nhập thì hoàn toàn trắng tay. Cứ thế hằng năm gần 170 triệu tấn hàng xuất nhập khẩu qua hệ thống cảng biển VN phụ thuộc đến 80% vào “sức khoẻ” của các đội thương thuyền nước ngoài. Và như vậy không chỉ vấn đề lợi nhuận từ dịch vụ vận tải, VN còn mất quyền kiểm soát trên toàn bộ chuỗi logistics từ các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, lưu kho bến bãi đến khâu phân phối hàng.  Tại sao lại như vậy?  Phát triển cảng biển nước sâu quá chậm            Cảng Hải Phòng        Tại Diễn đàn dịch vụ cảng biển và hậu cần thương mại Việt Nam tổ chức ở Đà Nẵng giữa tháng 10.2007, Cục trưởng Cục Hàng hải VN, ông Vương Đình Lam lưu ý rằng ngày nay sự phát triển của các quốc gia (đặc biệt là các quốc gia nằm ven biển) trong lưu thông hàng hóa không thể tách rời với sự phát triển của ngành công nghiệp vận tải container. Do đặc tính ưu việt trong vận chuyển, trong vòng 20 năm (1980 – 2000) khối lượng vận chuyển container trên toàn thế giới từ 36 triệu TEU (1 TEU tương đương 1 container 20 feet) tăng lên đến 244 triệu TEU (gấp hơn 6 lần), dự báo đến năm 2015 sẽ lên đến 620 triệu TEU.  Xu thế tất yếu là sự tăng lên nhanh chóng của cỡ tàu. Chỉ trong vòng 7 năm (1993 – 2000) trên thế giới từ 12 tàu container với tổng sức chở 52.613 TEU đã tăng lên 236 chiếc với tổng sức chở 1,1 triệu TEU. Chỉ vài năm nữa thôi con số này sẽ thay đổi với đội tàu hơn 400 chiếc và tổng sức chở có thể hơn 2 triệu TEU. Phó chủ tịch Hiệp hội cảng biển VN, ông Nguyễn Thu nói rằng 10 năm tới xu hướng của thế giới là đầu tư mở rộng và hiện đại hóa các cảng biển để tiếp nhận những loại tàu container siêu trọng (super post panamax) có chiều dài đến 400 mét, chở được 14.500 TEU (tàu container hiện tại cỡ lớn nhất chỉ chở chưa tới 10.000 TEU). Hoạt động của các cảng biển đó sẽ dựa vào hệ thống phân phối hàng có tốc độ xử lý nhanh gắn kết các trung tâm hậu cần với các trung tâm tập kết container nằm sâu trong đất liền của các quốc gia không có biển bằng những tuyến đường sắt, đường bộ chằng chịt.  Để tham gia được vào cuộc chơi này, trước tiên VN cần phải có ít nhất là một hoặc hai cảng nước sâu làm nhiệm vụ trung chuyển quốc tế container. Vấn đề là phải có từ 5 hoặc 10 năm trước chứ không phải là bây giờ, vì hiện tại việc phân định thị phần dịch vụ vận tải biển khu vực Đông Nam Á gần như đã được an bài. Hiện nay vận tải container trên thế giới chủ yếu có 3 tuyến chính : Đông Tây, Bắc Nam và tuyến nội bộ trong mỗi khu vực mà trong đó châu Á (đặc biệt là Đông Nam Á) đóng vai trò cầu nối cho các tuyến châu Âu sang châu Mỹ và ngược lại. Chính vì thế mà Singapore, Hongkong đã dồn toàn lực cho mục tiêu trở thành trung tâm chuyển tải lớn nhất thế giới chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn. Còn hiện nay một số cảng khác trong khu vực cũng đang trong giai đoạn bức phá về sản lượng hàng container như Kaoshiung (Trung Quốc, lớn thứ 4 thế giới), Klang, Tanjung Pelepas  (Malaysia), Laem Chabang (Thái Lan)… Nói chung sự lớn mạnh của các cảng container châu Á không chỉ tạo ra những màu sắc mới trong bức tranh mạng lưới vận tải biển quốc tế mà còn biến khu vực này trở thành một thương trường khốc liệt nhất thế giới về thị phần cung ứng dịch vụ vận tải biển.  Cũng cần nhắc lại là mô hình vận tải container ra đời từ năm 1957 bắt đầu từ tuyến vận tải ven biển New York – Houston (Mỹ), thì chưa tới 10 năm sau mặc dù nền kinh tế vẫn còn rất khó khăn Nhật Bản đã thành lập các công ty vận tải với mục tiêu container hóa cảng biển. Theo đó hệ thống 1.100 cảng biển của nước này được chia ra làm 3 loại rõ ràng (cảng đặc biệt quan trọng, quan trọng và cảng địa phương). Việc phân chia này được thực hiện minh bạch, phân định tính chất ưu tiên rạch ròi cho nên 35% lượng hàng hóa tập trung vào 11 cảng chủ chốt. Tương tự như thế, Pháp có 300 cảng thì 87% lượng hàng tập trung vào 6 cảng chính, Ý có 114 cảng thì 85% lượng hàng tập trung vào16 cảng lớn, Nga có 80 cảng thì 90% lượng hàng tập trung vào 28 cảng…  Trong khi đó thì quy hoạch phát triển cảng biển của VN thì lại đang làm ngược lại. Hoặc theo cách nói của Tổng thư ký Hiệp hội cảng biển VN, ông Hồ Kim Lân thì sự phát triển cảng biển là do xuất phát từ ưu tiên chung của nhà nước, quy hoạch nhẹ tay, dễ dãi phóng cho dài hạn nên cảng quốc gia, cảng địa phương mạnh ai nấy làm. Trường hợp điển hình chính là là vịnh Vân Phong. Được coi là tài nguyên tuyến nước sâu vô cùng quý giá để xây dựng cảng biển container với những cầu cảng có thể tiếp nhận tàu trọng tải trên 100 nghìn DWT, tức loại tàu super post panamax. Tuy nhiên vịnh này chỉ mới chính thức được lập quy hoạch tổng thể từ đầu năm 2003 với tư cách một cảng trung chuyển quốc tế và cho đến nay công nghệ vận chuyển mới nhất đang được sử dụng tại đây là sang mạn (ship to ship) cho tàu chở xăng dầu, tiết kiệm được phần chi phí lâu nay thuê tàu chở dầu VN đến nước thứ ba để nhận hàng do tàu nước ngoài vận chuyển từ Trung Đông về!  Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics VN yếu toàn diện  Phó chủ tịch Hiệp hội giao nhận kho vận VN, ông Nguyễn Thâm cho biết hơn 80% doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở VN hiện nay có số vốn rất nhỏ, thậm chí có doanh nghiệp chỉ đăng ký từ 300 đến 500 triệu đồng (tương đương 18.750 đến 31.250 USD). Trong khi đó để có thể ký vận đơn vận tải đa phương thức thì doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp hay bảo lãnh của ngân hàng tối thiểu 80.000 SDR (tương đương 120.000 USD) theo quy định 125/2003/NĐ-CP. Chưa hết, nếu muốn phát hành vận đơn này vào Mỹ thì doanh nghiệp phải ký quỹ tiếp 150.000 USD nữa theo Luật vận tải biển Hoa Kỳ (Surety bond – US Carriage of Goods by Sea Act –COGSA 1984, reviset 1998). Nhưng quan trọng nhất là trong bối cảnh logistics toàn cầu hiện nay thì hầu hết các doanh nghiệp VN lại chưa có văn phòng đại diện của mình ở nước ngoài, chưa có doanh nghiệp nào đủ điều kiện tham gia đấu thầu độc lập ở nước ngoài để cung ứng dịch vụ logistics.  Nếu các doanh nghiệp kinh doanh logistics VN chịu liên kết lại với nhau trong những nghiệp đoàn, không chỉ có thể dễ dàng giải bài toán về quy mô nguồn vốn hoạt động cũng như tiết kiệm chi phí kinh doanh, mà còn có thể thay đổi một cách cơ bản phương thức mua bán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu VN, lấy lại phần nào số lợi nhuận đã mất vào túi các công ty vận tải nước ngoài. Như đã biết hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hiện nay tại VN đều được thực hiện theo phương thức mua CIF và bán FOB (mua hàng tại cảng nhập và bán hàng tại cảng xuất). Với cách mua bán này các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã vô tình loại các doanh nghiệp kinh doanh logistics VN ra khỏi chuyện làm ăn của mình. Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, Ông Dương Chí Dũng nói rằng khi hỏi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ông đã nhận được những giải thích như sau: thứ nhất họ chấp nhận lãi ít để tránh rủi ro, thứ hai là họ chưa yên tâm đối với đội tàu biển VN, từ lịch trình, chất lượng tàu cho đến việc mua bảo hiễm hàng hóa. Cũng có thể các doanh nghiệp này luôn bị động trong khi thương lượng hợp đồng mua bán với nước ngoài, nhưng bỏ qua điều kiện ngoại thương thì không chỉ loại bỏ cơ hội cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics VN mà còn làm giảm một phần kim ngạch xuất khẩu hằng năm do mất đi giá trị dịch vụ vận tải, giao nhận kho vận.     Có thể nói không quá lời rằng sự hạn chế tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp kinh doanh logistics VN đã góp phần làm cho khoản chi phí tương đương giá trị 20% GDP hằng năm dễ dàng để cho các công ty nước ngoài giành mất thị phần. Không chỉ bất hợp tác với nhau, các doanh nghiệp VN còn “tiêu diệt” lẫn nhau bằng sự cạnh tranh không lành mạnh. Rồi chính vì sự cạnh tranh không lành mạnh này đã tác động trở lại, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu VN trước các đối thủ nước ngoài ngay tại thị trường trong nước. Chẳng hạn việc giảm giá dịch vụ hàng nhập khẩu thông qua việc trả lại tiền cho nhà ủy thác nước ngoài, chi hoa hồng cao, thậm chí còn cao hơn cả mức cước phí của hàng xuất khẩu để giành giật dịch vụ đóng gom hàng… Rốt cuộc chỉ gây tổn thất cho chủ hàng trong nước, làm tăng giá thành xuất khẩu.  Ông Nguyễn Thâm nói rằng trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, một số nước đã dùng nguyên tắc phải mở cửa thị trường dịch vụ logistics ngay lập tức như một trong những điều kiện để thương lượng. Điều đó chứng tỏ các nước này đã chuẩn bị cho việc phân chia thị phần tại VN từ trước, và đã có sẵn những bước đi cơ bản. Trong khi đó thì các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics VN lại chưa sẵn sàng cho cuộc chơi này, nói đúng hơn là chưa đủ điều kiện tham gia phân chia thị phần với nước ngoài, mặc dù biết rất rõ điều kiện đó.  Hải Văn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lộ trình để giải quyết các rủi ro khí hậu      Thông cáo mới đây về Báo cáo Quốc gia Khí hậu và Phát triển cho Việt Nam (Báo cáo) của Nhóm Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh tính cấp thiết của việc thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời với việc cần triển khai nhiều chính sách và đầu tư công và tư để giảm cường độ carbon trong tăng trưởng.      Biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp.  Việt Nam thuộc nhóm dễ bị tổn thương nhất trên thế giới trước tác động của khí hậu đang phải đối mặt với nhiều rủi ro dọc theo bờ biển dài 3.260 km và các vùng trũng thấp rộng lớn của đất nước. Nguy cơ đối với các khu đô thị và khu công nghiệp, đặc biệt là trong và xung quanh trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặt nhiều bộ phận lớn của nền kinh tế vào rủi ro. Đồng bằng sông Cửu Long, nơi sinh sống của 18 triệu người, đã và đang bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu; hơn 70% diện tích đất của một số tỉnh thành có thể bị ngập trong vòng 80 năm nữa. Báo cáo cho biết Việt Nam thiệt hại khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020, tương đương 3,2% GDP, do các tác động của khí hậu. Các mô hình cho thấy tổng chi phí kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra có thể lên tới 523 tỷ USD vào năm 2050. Báo cáo cho rằng cần ưu tiên đầu tư để giải quyết các tác động của biến đổi khí hậu.    Khi nền kinh tế đang phát triển nhanh của Việt Nam tiến dần đến vị thế là nước có thu nhập cao, Việt Nam cũng cần phải giảm cường độ carbon. Đóng góp của Việt Nam vào tổng lượng phát thải khí nhà kính (KNK) toàn cầu tương đối nhỏ, chỉ ở mức 0,8%. Tính theo bình quân đầu người, lượng phát thải của Việt Nam chưa bằng một nửa lượng phát thải bình quân đầu người của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam đã tăng lượng phát thải KNK bình quân đầu người lên gấp 4 lần trong thế kỷ này, từ 0,79 tấn carbon dioxide (CO2) tương đương vào năm 2000 lên 3,81 tấn CO2 vào năm 2018, và lượng khí thải đang tăng với tốc độ nhanh nhất trên thế giới. Ô nhiễm liên quan đến khí thải này ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm năng suất; tình trạng cạn kiệt tài nguyên và các tác động của biến đổi khí hậu đã làm tổn hại đến thương mại và đầu tư.    Việt Nam đã cam kết chấm dứt phá rừng vào năm 2030, giảm 30% lượng khí thải mêtan và chấm dứt mọi hoạt động đầu tư vào sản xuất điện than mới, mở rộng quy mô triển khai năng lượng tái tạo và loại bỏ điện than vào những năm 2040. Những cam kết này cao hơn Đóng góp do quốc gia xác định (NDC) năm 2020, trong đó Việt Nam cam kết đạt mục tiêu giảm phát thải không điều kiện là 9% vào năm 2030 so với năm cơ sở 2014 và mục tiêu giảm phát thải có điều kiện là 27%.    Để giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển, đồng thời thực hiện các cam kết về khí hậu, Báo cáo đề xuất nhiều giải pháp trên hai góc độ: nâng cao khả năng chống chịu với các tác động của khí hậu và theo đuổi chiến lược tăng trưởng hướng nền kinh tế giảm dần các nguồn năng lượng thâm dụng carbon. Hai lộ trình này sẽ giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu về khí hậu đồng thời tăng GDP bình quân đầu người hơn 5%/năm – tỷ lệ trung bình cần thiết để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.    Nếu không có các biện pháp thích ứng toàn diện, tác động của biến đổi khí hậu có thể khiến thêm từ 400.000 đến 1 triệu người rơi vào cảnh nghèo cùng cực vào năm 2030. Đồng thời, để bảo vệ các hộ gia đình dễ bị tổn thương nhất trước giá năng lượng tăng cao và gián đoạn việc làm trong quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp, Việt Nam sẽ cần đẩy mạnh các chương trình khuyến khích khu vực tư nhân áp dụng những công nghệ sạch hơn và tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động.    Dựa trên kết quả chạy mô hình, Báo cáo đề xuất các ưu tiên bao gồm:    Một chương trình cấp vùng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long dễ bị tổn thương, là nơi đóng góp 50% sản lượng lúa gạo và một phần ba GDP nông nghiệp của đất nước. Khu vực này đang phải đối mặt với nhiều rủi ro như xói lở bờ biển và bờ sông, mực nước biển dâng và xâm nhập mặn. Chương trình này sẽ hạn chế khai thác cát và khai thác nước ngầm, đầu tư thêm cơ sở vật chất và tăng cường điều phối vùng, đồng thời hỗ trợ sinh kế cho những người nông dân đang tìm giải pháp thích ứng với những thách thức của biến đổi khí hậu.  Một kế hoạch tổng hợp bảo vệ các đô thị ven biển và kết nối giao thông khỏi tác động của thời tiết khắc nghiệt. Kế hoạch này bao gồm hoạt động nâng cấp hệ thống đường bộ và năng lượng, cũng như tăng cường hệ thống quản lý rủi ro thời tiết và cảnh báo sớm.  Một chương trình giảm ô nhiễm không khí bao vây khu vực Hà Nội, nơi chất lượng không khí kém đã vượt ít nhất 5 lần giới hạn theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới trong hơn một nửa thời gian từ năm 2018 đến năm 2021, và dự báo nồng độ bụi mịn sẽ còn tiếp tục tăng lên.  Tăng tốc quá trình chuyển dịch sang năng lượng tái tạo bằng cách cải thiện khung pháp lý để khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân đầu tư tăng công suất của lưới điện và thực hiện các kế hoạch tiết kiệm năng lượng.  Mở rộng an sinh xã hội để bù đắp những tác động kinh tế mà các giải pháp khí hậu có thể tác động đến những người dễ bị tổn thương nhất. Tài trợ cho các chương trình xã hội bằng nguồn thu từ thuế carbon sẽ giúp hỗ trợ người nghèo khỏi tác động của việc tăng chi phí đi lại và năng lượng.    Báo cáo ước tính giá trị hiện tại của nhu cầu đầu tư thêm vào các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu từ nay đến năm 2040 lên đến khoảng 6,8% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 368 tỷ USD. Việt Nam cũng sẽ cần bổ sung đầu tư công bằng nhiều cải cách chính sách để thu hút đầu tư tư nhân. Các dự án đầu tư ưu tiên cho thích ứng từ nay đến năm 2040 có thể cần khoảng 254 tỷ USD, và để giảm tốc độ tăng phát thải sẽ cần ít nhất 81 tỷ USD. Thuế carbon hoặc các quy định hình thành hệ thống mua bán khí thải sẽ là chìa khóa để Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển và khí hậu đầy tham vọng.      Báo cáo quốc gia về Khí hậu và Phát triển (CCDR) của Nhóm Ngân hàng Thế giới là các báo cáo đánh giá quan trọng mới tích hợp các mối quan tâm về biến đổi khí hậu và phát triển. Báo cáo này sẽ giúp các quốc gia ưu tiên giải pháp có tác động lớn nhất về giảm phát thải KNK và nâng cao khả năng thích ứng, đồng thời thực hiện các mục tiêu phát triển lớn hơn. Báo cáo CCDR được xây dựng dựa trên dữ liệu và nghiên cứu chặt chẽ, đồng thời xác định các lộ trình chính để giảm phát thải KNK và tính dễ bị tổn thương do khí hậu, bao gồm các chi phí và thách thức cũng như lợi ích và cơ hội của các lộ trình này. Các báo cáo đề xuất những hành động cụ thể và mang tính ưu tiên để hỗ trợ quá trình chuyển dịch sang carbon thấp và thích ứng. Là tài liệu được công bố công khai, Báo cáo CCDR có mục tiêu cung cấp thông tin cho các chính phủ, người dân, khu vực tư nhân và các đối tác phát triển, và tăng cường hỗ trợ cho chương trình nghị sự về phát triển và khí hậu. Báo cáo CCDR sẽ cung cấp thông tin cho các đánh giá quan trọng khác của Nhóm Ngân hàng Thế giới, các hoạt động hỗ trợ và cho vay quốc gia, đồng thời giúp thu hút vốn và tài trợ trực tiếp cho những giải pháp khí hậu mang lại tác động lớn.      Thanh Hương      Author                .        
__label__tiasang Loại hải sản nào vừa có lợi cho sức khỏe vừa thân thiện với khí hậu?      Các nhà nghiên cứu khuyên nên ăn ít thịt hơn và tăng cường ăn cá. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn về hàm lượng chất dinh dưỡng cũng như tác động đến khí hậu của các loại thủy hải sản khác nhau.       Việc tiêu thụ cá và hải sản không chỉ thân thiện hơn với khí hậu mà còn có lợi hơn cho sức khỏe của con người so với ăn thịt. Sau đây là kết quả một nghiên cứu quốc tế, một sự so sánh khá toàn diện về chủ đề này.  Người ta không chỉ đánh giá hàng chục loài động vật biển với nhau mà còn so sánh dữ liệu của các động vật nuôi như lợn, gia súc lớn và gia cầm.  Công trình được công bố trên tạp chí Nature Communications Earth and Environment của nhóm nghiên cứu do Friederike Ziegler thuộc Viện Nghiên cứu quốc gia Thụy Điển (RISE) phụ trách. Mục đích của nghiên cứu này là khuyến khích tiêu thụ cá và các loài hải sản, đặc biệt chú ý đến ảnh hưởng của các loài động vật này đến hệ sinh thái và cân bằng dinh dưỡng.  Tiêu thụ hải sản chiếm khoảng 17% lượng tiêu thụ protein động vật của con người vào thời điểm 2017. Thực phẩm từ biển ngày càng quan trọng hơn đối với toàn cầu. Nhóm nghiên cứu lưu ý có bằng chứng rõ rệt về lợi ích của thủy, hải sản đối với sức khỏe con người, trong khi nguy cơ tiềm ẩn , ví dụ do ô nhiễm, là không đáng kể. Động vật biển không chỉ chứa nhiều protein hơn, mà còn có axit béo omega-3 cũng như vitamin D, vitamin B12, selen, iốt, sắt, kẽm và phốt pho.  Mặc dù tác động môi trường của việc ăn thịt đã được so sánh nhiều lần với tiêu thụ sinh vật biển, song  những phân tích, so sánh như vậy rất phức tạp. Nó liên quan đến sử dụng đất, đến phát thải khí nhà kính và các yếu tố khác. Các loài động vật biển vô cùng đa dạng, bên cạnh các nhóm cá khác nhau, còn có các loài giáp xác và nhuyễn thể, được đánh bắt tự nhiên hoặc nuôi trồng.  Mật độ dinh dưỡng tốt hơn thịt lợn, thịt bò và thịt gia cầm  Trong các phân tích của mình, nhóm nghiên cứu của Ziegler không tính lượng phát thải khí nhà kính gây hại cho khí hậu với khối lượng thực phẩm tính bằng kilôgam mà dựa vào mật độ chất dinh dưỡng. Nhưng ngay cả điều này cũng không dễ dàng: Bởi vì lượng khí thải liên quan nhiều đến điều kiện sản xuất, và mật độ dinh dưỡng cũng phụ thuộc vào thành phần nào được đề cập.  Nói chung Ziegler và các đồng nghiệp nhận định, động vật biển có mật độ dinh dưỡng tốt hơn thịt lợn, thịt bò và thịt gia cầm, cân bằng khí hậu cũng tốt hơn ít nhất là so sánh với thịt lợn và thịt bò. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm động vật biển khác nhau, đặc biệt là về lượng khí thải.  Do đó, lượng khí thải từ cá đánh bắt tự nhiên phụ thuộc chủ yếu vào mức tiêu thụ nhiên liệu, do đó thay đổi theo hình thức đánh bắt và quy mô của đàn. Ví dụ, câu cá ngừ bằng dây, như đối với cá ngừ mắt to và cá ngừ albacore, tiêu tốn nhiều năng lượng hơn nhiều so với các loài đánh bắt bằng lưới vơí cá ngừ vây vàng và cá vằn.  Cá hồi đánh bắt tự nhiên (Salmonidae), như cá hồi hồng và cá hồi mắt đen,  có tỷ lệ tốt nhất giữa các đơn vị dinh dưỡng và lượng khí thải, cũng như các loại cá béo nhỏ hơn như cá trích, cá thu và cá cơm, và loại nhuyễn thể nuôi. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu đây không phải là những sinh vật biển được tiêu thụ nhiều nhất, việc đánh bắt cá hồi phụ thuộc vào trữ lượng và những con cá nhỏ hơn thường chỉ được dùng làm thức ăn cho nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi. Ngược lại, động vật giáp xác như cua và tôm hoặc động vật như bạch tuộc, mực có mật độ dinh dưỡng thấp hơn và có lượng khí thải cao hơn.  Mật độ dinh dưỡng của nhiều loại cá chưa được biết đến  Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh  trong khi mật độ dinh dưỡng của các loài cá khác nhau hầu như khó có thể thay đổi, thì sự cân bằng phát thải có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu đề cập đến các công nghệ đánh bắt hoặc trong trường hợp nuôi trồng thủy sản , đến các điều kiện chăn nuôi. Sự cân bằng CO2 của thức ăn được sử dụng cũng đóng một vai trò quan trọng.  Lợi ích dinh dưỡng lớn nhất của hải sản so với thịt là dựa trên hàm lượng niacin, vitamin D và đặc biệt là vitamin B12. Cá trắng, tức là cá có thịt trắng như cá tuyết hoặc cá chép, có mật độ dinh dưỡng và sự cân bằng khí thải không thuận lợi. Do tầm quan trọng nổi bật của nhóm này là cá để ăn, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng cá trắng được nuôi trong môi trường nuôi có sự cân bằng tốt hơn so với cá  hoang dã.  Dựa trên kết quả thu được  các nhà nghiên cứu khuyến cáo đẩy mạnh đánh bắt và nuôi trồng thủy sản thân thiện hơn với khí hậu và khuyến khích tiêu thụ hải sản. Để làm được điều này, cần có sự hợp tác của ngành công nghiệp thực phẩm và thương mại bán lẻ.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/natur/klimafreundliche-ernaehrung-mehr-meerestiere-statt-fleisch-essen-a-c19ed65c-cb64-4bc9-82f1-5f3e2b4fe0af  https://www.n-tv.de/wissen/Meerestiere-sind-besser-als-Fleisch-article23582727.html    Author                .        
__label__tiasang Loại men tạo ra kháng thể giúp ngăn chặn nhiễm trùng đường ruột      Việc dùng thuốc kháng sinh để chữa bệnh nhiễm trùng có thể khiến cho một loại vi khuẩn khác xâm nhập vào cơ thể: đó chính là Clostridioides difficile – loại vi khuẩn gây ra bệnh nhiễm trùng ruột kết nguy hiểm đã cướp đi sinh mạng của gần 30,000 người dân Mỹ mỗi năm. Những người này hầu hết đều trên 65 tuổi. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra được một ý tưởng mới để chống lại vi khuẩn C. diff. Họ đã biến đổi một loại men để chúng có thể sản xuất ra các kháng thể có khả năng làm suy yếu hai độc tố của vi khuẩn. Men này đã được thử nghiệm trên chuột.      Ảnh: Kari Lounatmaa/Science Source/sciencemag.org  Loại men chỉnh sửa gene này có nguồn gốc từ một chủng được sử dụng trong một chế phẩm sinh học phổ biến. Nếu loại men có tác dụng đối với người, nó sẽ có thể được sử dụng như một loại thuốc hằng ngày để ngăn ngừa hoặc điều trị nhiễm trùng C.diff. Trưởng nhóm nghiên cứu Hanping Feng, nhà vi sinh vật học tại trường Nha khoa, Đại học Maryland, nhận định, phương pháp này sẽ rất “rẻ, dễ sản xuất và thuận tiện” để cung cấp kháng thể. “Điểm đặc biệt ở đây là chúng có một hệ thống vận chuyển sống” cho các kháng thể chữa bệnh, Vincent Young, nhà vật lý học và vi sinh vật học của Đại học Michigan, Ann Arbor cho biết.  Gần đây, phương pháp ghép vi sinh vật trong phân từ những người khỏe mạnh cũng đã được chứng minh là có thể tiêu diệt bệnh nhiễm trùng C. diff cứng đầu bằng cách thay thế các vi sinh vật đường ruột có lợi bị mất trước đó. Tuy nhiên, phương pháp cấy ghép này mới chỉ ở bước thử nghiệm và chứa đầy những rủi ro. Mặc dù đã được sàng lọc trước nhưng các mẫu phân nhiều khi vẫn ẩn chứa các mầm bệnh khác; đồng thời, việc cấy phân cũng không thể được sử dụng cùng với thuốc kháng sinh.  Các nhà khoa học cũng nghĩ đến một phương pháp điều trị tiềm năng khác liên quan đến các protein miễn dịch được gọi là kháng thể đơn dòng trung hòa hai độc tố của C. diff. Song, chúng thường phải được tiêm dưới dạng tiêm tĩnh mạch và phải di chuyển từ máu vào đến ruột. Bởi vậy, để có thể tiết kiệm được chi phí cho việc sản xuất các kháng thể như vậy và đưa trực tiếp chúng vào ruột, nhóm nghiên cứu của Feng đã chuyển sang sử dụng Saccharomyces boulardii, một loại men được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) coi là một men vi sinh an toàn để cải thiện sức khỏe đường ruột.   Để kiểm tra xem liệu men S. boulardii đã được chỉnh sửa gene có thể bảo vệ được chuột khỏi C. diff hay không, Feng và các cộng sự đã cho những con chuột sử dụng thuốc kháng sinh để tiêu diệt các vi khuẩn đường ruột bình thường của chúng, và sau đó làm cho chúng nhiễm các bào tử vi khuẩn. Kết quả cho thấy, những con chuột đã nhận được kháng thể S. boulardii ba ngày trước khi nhiễm C. diff đều sống sót sau bệnh, trong khi 60% trong số những con được sử dụng chủng nấm men đối chứng hoặc dung dịch muối đều chết trong vòng 4 ngày, nhóm nghiên cứu cho biết trên tạp chí Science Translational Medicine. Các mô đại tràng của những con chuột được điều trị bằng men S. boulardii cũng ít bị viêm hơn và không có mô tổn thương bởi độc tố C.diff như ở chuột đối chứng.  Các nhà nghiên cứu sau đó thử nghiệm thuốc điều trị nấm men trong 4 ngày với những con chuột đã bị nhiễm C. diff trước đó. Kết quả cũng cho thấy, khoảng 70% trong số chúng sống sót, trong khi hai phần ba trong số những con sử dụng loại nấm men đối chứng hoặc nước muối lại chết rất nhanh. Kết quả này cũng tương đồng với những con chuột bị tái phát nhiễm C. diff. Ở cả hai thí nghiệm, những con chuột bị bệnh sử dụng S. boulardii cũng phục hồi cân nặng nhanh hơn và ít bị tiêu chảy hơn, nhóm của Feng cho biết.  “Kết quả này thực sự rất thú vị”, nhà sinh học cấu trúc Borden Lacy ở Đại học Vanderbilt, người nghiên cứu về độc tố C. diff cho biết. “Điều chúng tôi cần làm là tạo ra một khoảng thời gian cần thiết để người bệnh có thể phục hồi hệ vi sinh vật khỏe mạnh trước khi các độc tố gây ra thương tổn. Kết quả này đã giúp chúng tôi kéo dài được khoảng thời gian đó”, Lacy cho biết.  Feng đã thành lập một công ty để phát triển loại men này cho thử nghiệm ở người. Cơ quan FDA sẽ cần phải cân nhắc tính an toàn của nấm men biến đổi gene – loại thuốc đầu tiên thuộc loại đó, và công ty của Feng cũng sẽ cần phải gây quỹ từ các nhà đầu tư. Ông hi vọng có thể thử nghiệm lâm sàng trong ba năm tới.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/10/antibody-producing-yeast-vanquishes-deadly-gut-infection-mice       Author                Quản trị        
__label__tiasang Loại mực mới để in 3 D thiết bị điện tử sinh học đeo trên người      Các vật liệu điện tử có tính linh hoạt cao có thể được dùng để thiết kế các cảm biến, thiết bị dẫn động, vi lưu… thành các lớp điện tử có thể co duỗi, kéo dãn thoải mái cho những ứng dụng thiết bị có thể mang theo người, đưa vào cơ thể người hoặc thậm chí cấy vào cơ thể… Tuy nhiên, các thiết bị như vậy có những đặc tính sinh học và cơ học khác nhau khi so sánh với mô người và không thể tích hợp với cơ thể con người.      Akhilesh Gaharwar và nghiên cứu sinh Kaivalya Deo đã thiết kế một mực in hydrogel có tính tương thích sinh học và khả năng dẫn điện cao. Nguồn: Texas A&M Engineering  Một nhóm nghiên cứu ở trường đại học Texas A&M đã phát triển một lớp mực in bằng vật chất sinh học mới có thể bắt chước các đặc tính tự nhiên có độ dẫn cao của các mô người như gia, vốn là yếu tố cốt lõi của mực được sử dụng trong in 3 D.  Mực in bằng vật liệu sinh học là đòn bẩy cho một lớp vật liệu nano 2 D là molybdenum disulfide (MoS2). Cấu trúc lớp mỏng của MoS2 có các thiếu khuyết ở trung tâm khiến cho nó hoạt hóa về mặt hóa học và kết hợp với gelatin đã được biến đổi để thành hydrogel, một polyme ưa nước liên kết chéo không hòa tan trong nước, so với cấu trúc của Jell-O.  “Công trình này có tác động sâu rộng trong lĩnh vực in 3D”, Akhilesh Gaharwar, phó giáo sư tại Khoa Kỹ thuật Y sinh, nói. “Thiết kế mới về mực in hydrogel có tính tương thích về sinh học cao và tính dẫn điện cao. Nó đang tiến thêm bước dài trên đường tới thế hệ mới của thiết bị điện tử sinh học có thể cấy ghép và mang theo người”.  Công trình này mới được xuất bản trên tạp chí ACS Nano “Nanoengineered Ink for Designing 3D Printable Flexible Bioelectronics” 1.  Mực in thể rất mỏng khi cắt để làm giảm độ nhớt khi gia lực, vì vậy nó có thể ở thể đặc bên trong ống nhưng lại dễ thành dòng chảy như chất lỏng khi đông lại, tương tự như tương cà hay kem đánh răng. Nhóm nghiên cứu đã tích hợp các vật liệu nano có tính dẫn điện vào bên trong một gelatin đã được biến đổi để tạo ra một loại mực in hydrogel với các đặc tính cốt yếu cho thiết kế mực in phù hợp cho in 3D.  “Các thiết bị được làm từ in 3D đều vô cùng đàn hồi và có thể chịu nén, chịu uốn hoặc xoắn mà không bị vỡ”, Kaivalya Deo, một nghiên cứu sinh trong khoa Kỹ thuật y sinh và tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết. “Thêm vào đó, các thiết bị này đều nhạy về mặt điện tử nên cho phép chúng giám sát động năng chuyển động của con người và tiến thêm một bước trên đường thành thiết bị giám sát chuyển động liên tục”.    Trong lĩnh vực mực in dành cho in 3D, các nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm Gaharwar đã thiết kế một máy in sinh học 3 D nguồn mở hiệu quả về chi phí, đầy đủ về chức năng và có khả năng tùy biến, vận hành với các công cụ nguồn mở và miễn phí. Điều này cho phép bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể xây dựng máy in sinh học 3D để thiết kế cho phù hợp với nghiên cứu của mình.  Mực in hydrogel cho in 3 D có tính dẫn điện có thể tạo ra các mạch 3D phức hợp và không giới hạn cho các thiết kế hai chiều, cho phép các nhà nghiên cứu có thể thiết kế tùy biến các thiết bị điện tử sinh học cho những bệnh nhân đặc biệt.  Trong cơ sở nghiên cứu các máy in 3D đó, Deo có thể in các thiết bị điện tử có độ co dãn và linh hoạt. Các thiết bị này có các năng lực thụ cảm kỳ diệu và có thể hữu dụng cho các hệ giám sát tùy biến. Điều này mở ra những khả năng có thể mới cho thiết kế các cảm biến có độ co dãn và được tích hợp các hợp phần vi điện tử khác.  Một trong những ứng dụng tiềm năng của mực in mới này là để làm ra các thiết bị điện tử có thể cấy vào các bệnh nhân mắc bệnh Parkinson như hình xăm trên da. Các nhà nghiên cứu mường tượng rằng loại “hình xăm điện tử” được in 3D này có thể giám sát chuyển động của bệnh nhân, bao gồm cả những cái rùng mình.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-08-scientists-inks-3d-printable-wearable-bioelectronics.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/08/220818122145.htm  ———————————————  1. https://pubs.acs.org/doi/10.1021/acsnano.1c09386    Author                .        
__label__tiasang Loại thuốc cũ đem lại phương thức điều trị mới cho ung thư ruột      Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Auckland (New Zealand) đã phát hiện: những kết hợp mới và những công thức mới từ các loại thuốc cũ cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc điều trị ung thư ruột.    “Mặc dù các phương pháp điều trị bệnh ung thư ruột đã có nhiều tiến bộ trong những năm gần đây, tuy nhiên việc phát triển các loại thuốc điều trị mới vẫn vô cùng tốn kém và mất thời gian”, giáo sư Peter Shepherd – trưởng nhóm nghiên cứu – cho biết. “Nhằm tìm ra một giải pháp khả thi hơn, nhóm chúng tôi đã nghiên cứu xem liệu việc sử dụng các loại thuốc cũ theo những cách mới có thể đem lại phương pháp điều trị bệnh nhanh chóng và rẻ hơn hay không.”  Để tiến hành nghiên cứu, các nhà khoa học đã khảo sát một số loại thuốc trị ung thư sắp hết thời hạn bảo hộ sáng chế. Khi thử kết hợp hai loại thuốc, họ nhận thấy hiệu quả tổng thể trong việc điều trị ung thư ruột hoặc đại trực tràng tăng lên đáng kể trong các nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm.  Theo Shepherd, những hiểu biết mới về cách thức hoạt động của ung thư đã mở đường cho nghiên cứu này.  “Trong những năm gần đây, các nghiên cứu mới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình tiến triển của ung thư đại trực tràng, đặc biệt là một số loại bệnh liên quan mật thiết đến sự hình thành của các mạch máu nhỏ và các protein có tên BRAF và beta-catenin”.  chúng tôi đã xác định những loại thuốc hiện có nhắm vào các đích này và nghiên cứu xem liệu việc kết hợp chúng có thể mang lại tác dụng chống ung thư hiệu quả hơn hay không”.  Kết quả từ các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tại Đại học Auckland đã cho thấy nhiều hứa hẹn đối với hai loại thuốc điều trị cũ. Loại thứ nhất là thuốc chống ung thư có tên là axitinib và loại thứ hai là pyrvinium –  một loại thuốc giá rẻ được phát triển vào những năm 1960 để điều trị giun kim. Đây là những loại thuốc được các nhà nghiên cứu tin rằng có thể sử dụng trong điều trị ung thư nếu thay đổi một số công thức. Trong loạt nghiên cứu thứ nhất, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, hiệu quả của một loại thuốc cũ khác có tên là vemurafenib nhắm vào BRAF có thể được tăng cường đáng kể khi bổ sung axitinib. Theo đó, axitinib hoạt động bằng cách giảm sự phát triển của các mạch máu nhỏ.  Shepherd cho biết cả hai loại thuốc này đều được sử dụng để điều trị các loại ung thư khác và sẽ sớm hết thời hạn bảo hộ bằng sáng chế, vì vậy chi phí sử dụng chúng trong điều trị sẽ giảm đáng kể.  Trong loạt nghiên cứu thứ hai, nhóm đã tìm thấy bằng chứng cho thấy pyrvinium, nhắm vào beta-catenin, cũng có thể làm tăng hiệu quả của vemurafenib.  “Nghiên cứu mới này cho thấy các loại thuốc hiện có có thể được tái sử dụng để điều trị ung thư ruột, và điều này có thể làm giảm đáng kể chi phí của liệu pháp đó”, tiến sĩ Khanh Tran, người thực hiện hầu hết các thí nghiệm, cho biết.  “Do các loại thuốc chúng tôi sử dụng đã được dùng cho các mục đích khác, nên việc phát triển các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá kết quả thực sự của nghiên cứu trên bệnh nhân sẽ dễ dàng hơn nhiều”, Tran nói.  Nghiên cứu này đã nhận được 1,2 triệu USD trong ba năm từ HRC và 150.000 USD từ Quỹ Ung thư ruột. Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Molecular Cancer Therapeutics.  Sau khi hoàn thành, các nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch cho một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng ở bước tiếp theo.  Kim Dung tổng hợp  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2022/10/221011183859.htm  https://www.rnz.co.nz/national/programmes/afternoons/audio/2018862204/using-older-drugs-in-a-new-way-to-treat-bowel-cancer    Author                .        
__label__tiasang Loại thuốc cũ mang lại triển vọng mới trong việc điều trị bệnh thận phổ biến      Một nghiên cứu mới trên tạp chí Science Translational Medicine cho thấy, các loại thuốc đang có hiện nay có thể giúp điều trị một tình trạng nghiêm trọng – vốn có thể khiến thận đột ngột ngừng hoạt động.    Hình ảnh quét quả thận khỏe mạnh và hình ảnh thận bị tổn tương tái tưới máu do thiếu máu cục bộ (ischemia-reperfusion injury – IRI) ở chuột. Ảnh: Science Translational Medicine/medicalxpress.com  Trong một nghiên cứu trên chuột, các nhà khoa học phát hiện ra rằng, những loại thuốc thường được sử dụng để điều trị tình trạng đau thắt ngực và cao huyết áp đã đem lại hiệu quả ngăn ngừa tổn thương lâu dài đối với thận và hệ thống tim mạch – những hậu quả do tổn thương thận cấp (AKI) gây ra.  Các chuyên gia hy vọng rằng phát hiện này sẽ mở đường cho những phương pháp điều trị AKI hiệu quả hơn – một căn bệnh phổ biến xảy ra với khoảng 20% số ca nhập viện cấp cứu ở Vương quốc Anh.  Theo tổ chức Kidney Care UK, mỗi năm ở Anh có 100.000 ca tử vong liên quan đến AKI – “tương đương 10 người mỗi giờ”. Căn bệnh này cũng tiêu tốn từ 434-620 triệu bảng mỗi năm, tương đương với khoảng 1% ngân sách hằng năm của Dịch vụ Y tế Quốc gia NHS. Đây là con số “nhiều hơn chi phí liên quan đến ung thư vú, ung thư phổi và ung thư da cộng lại”, Kidney Care UK nhấn mạnh.  AKI thường do các bệnh khác làm giảm lưu lượng máu đến thận hoặc do độc tính phát sinh từ một số loại thuốc gây ra.  Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc AKI phải nhanh chóng được điều trị để tránh dẫn đến tử vong. Ngay cả khi thận đã phục hồi, AKI vẫn có thể để lại những tổn thương lâu dài đối với thận và hệ thống tim mạch.  Có 30% số những người sống sót sau một đợt mắc AKI bị bệnh thận mãn tính (CKD). 70% số người còn lại, dù phục hồi đầy đủ chức năng thận, vẫn có nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao gấp khoảng 30 lần.  Trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân, một nhóm nghiên cứu ở Đại học Edinburgh đã phát hiện ra, những bệnh nhân mắc AKI bị tăng nồng độ endothelin trong máu. Đây là một loại protein kích hoạt tình trạng viêm và khiến cho các mạch máu bị co lại. Ngay cả sau khi bệnh nhân đã phục hồi được một thời gian dài, nồng độ endothelin vẫn duy trì ở mức cao.  Sau khi phát hiện ra chuột mắc AKI cũng có sự gia tăng endothelin tương tự, các chuyên gia đã thử điều trị cho chúng bằng những loại thuốc ngăn chặn hệ thống endothelin. Loại thuốc này – thường được sử dụng để điều trị chứng đau thắt ngực và huyết áp cao – hoạt động bằng cách ngăn sự sản xuất endothelin hoặc dừng hoạt động của các thụ thể endothelin trong tế bào.  Sau đó, nhóm nghiên cứu đã theo dõi những con chuột này trong 4 tuần sau khi mắc AKI. Kết quả cho thấy, những con chuột được điều trị bằng thuốc ngăn chặn endothelin có huyết áp thấp hơn, ít viêm sưng hơn và giảm sẹo ở thận.  Đồng thời, mạch máu của chúng giãn ra nhiều hơn và chức năng thận cũng được cải thiện so với những con chuột không được điều trị.  “AKI là một tình trạng nguy hiểm, đặc biệt là với người già, và ngay cả khi đã phục hồi thì nó vẫn để lại những hậu quả lâu dài đối với sức khỏe người bệnh”, tiến sĩ Bean Dhaun – giảng viên lâm sàng cao cấp và là chuyên gia tư vấn danh dự về thận tại Trung tâm Khoa học Tim mạch của Đại học Edinburgh – cho biết. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, việc ngăn chặn hệ thống endothelin giúp tránh được những tổn thương lâu dài của AKI trên chuột. Do những loại thuốc này đã có sẵn và đang được dùng cho người, chúng tôi hi vọng có thể nhanh chóng tiến hành các bước tiếp theo để xem liệu thuốc có hiệu quả tương tự trên các bệnh nhân không”.  Theo giáo sư James Leiper, Phó Giám đốc y tế của Quỹ Tim mạch Anh, “suy giảm chức năng thận do tổn thương thận cấp tính cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc và tử vong vì các bệnh tim và tuần hoàn. Do đó, việc tìm ra được cách giảm thiểu rủi ro trên rất quan trọng”.  “Nghiên cứu đầy hứa hẹn này cho thấy các loại thuốc đã phổ biến rộng rãi có thể giúp ngăn chặn hậu quả của tổn thương thận cấp tính trước khi nó gây ra tổn thương và các biến chứng nặng hơn. Mặc dù cần có thêm các nghiên cứu để chứng minh liệu phương pháp điều trị này có an toàn và hiệu quả đối với bệnh nhân hay không, tôi cho rằng kết quả ban đầu này vẫn là một bước đầu tiên rất đáng khích lệ.”  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn:  Drug discovery offers potential treatment for common kidney disease  Potential Treatment for Acute Kidney Injury Following Drug Discovery      Author                .        
__label__tiasang Loài vi khuẩn mới đột biến đe dọa mùa màng      Một loài vi khuẩn có mối quan hệ mật thiết với bệnh vàng lá gân xanh ở các cây thuộc chi cam chanh đang tiến hóa nhanh chóng và có khả năng lây nhiễm sang các vật chủ côn trùng cũng như cây trồng.    Rầy chổng cánh là loài côn trùng liên quan đến vi khuẩn mới được phát hiện. Ảnh: UCANR/phys.org  Loài vi khuẩn mới được phát hiện này thuộc Liberibacter, một họ vi khuẩn vốn có khả năng gây bệnh cho các cây trồng có giá trị kinh tế cao. Các nhà khoa học đã xác định được 9 loài Liberibacter, bao gồm một loài lây nhiễm vào khoai tây và ba loài liên quan đến bệnh vàng lá gân xanh ở cam quýt.  Bệnh vàng lá gân xanh, còn được biết đến với cái tên Huanglongbing, là kẻ thù số một của các loài cây có mùi như cam, chanh, quýt trên toàn thế giới. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm giải pháp, song hiện nay vẫn chưa có một biện pháp phòng ngừa hay trị bệnh hiệu quả nào được tung ra thị trường.  Nhận thấy nguy cơ tiềm tàng của những vi khuẩn “họ hàng”, các nhà khoa học ở Đại học California, Riverside (UCR) đã quyết định tìm hiểu xem loài vi khuẩn mới, L. capsica, giống với các loài Liberibacter khác về mặt di truyền như thế nào.  “Tương tự như các chủng mới của COVID-19, vi khuẩn sẽ trở thành những biến thể đáng lo ngại nếu các đột biến của chúng có thể ảnh hưởng đến các đặc tính gây bệnh hoặc lây truyền”, Allison Hansen – nhà côn trùng học ở UCR và trưởng nhóm nghiên cứu – cho biết.  Nhiều vi khuẩn Liberibacter cũng chia sẻ các gene giúp cho chúng có khả năng sống bên trong vật chủ.  “Các vi khuẩn này thu nhận DNA từ vật chủ, do đó nếu không có vật chủ, chúng sẽ biến mất, chúng sẽ chết”, Hansen nói.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã xác định được 21 gene trong L. capsica đang biến đổi nhanh chóng các đột biến axit amin liên quan đến khả năng lây nhiễm. Mới đây, các nhà nghiên cứu đã công bố kết quả này trong bài báo trên tạp chí Microbiology Spectrum.  Một tập hợp con các đột biến mà các nhà khoa học nhiều lần tìm thấy là các gene tác động đến “lông mao” (pilus) – những “sợi lông” siêu nhỏ của vi khuẩn giúp cho chúng có thể di chuyển vào vật chủ công trùng và hấp thụ DNA. Sau đó, con côn trùng ấy sẽ truyền vi khuẩn sang cây trồng.  L. capsica được phát hiện một cách tình cờ ở một cặp rầy chổng cánh trên cây ớt tại Brazil. Đây là những con côn trùng vốn gây hại cho cây ớt. Tuy nhiên, cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa biết được liệu L. capsica có lây nhiễm vào loại cây này hoặc các cây trồng khác hay không.  Tuy nhiên, việc thu thập được bằng chứng trực tiếp cho câu hỏi này là một thách thức. Do nhóm của Hansen chỉ có một mẫu duy nhất nên khó có thể nuôi L. capsica trong phòng thí nghiệm.  Diana Percy – nhà côn trùng học tại Đại học British Columbia và là cộng tác viên thường xuyên của Hansen – là người đã thu thập những con rầy chổng cánh. Percy đã đi khắp thế giới để tìm kiếm rầy chổng cánh nhưng không biết rằng chúng sẽ chứa vi khuẩn mới. Sau đó, phòng thí nghiệm của Hansen đã tìm ra phát hiện này, khi Percy chia sẻ cho phòng thí nghiệm những con rầy chổng cánh mà cô thu được ở nước ngoài.  “Chúng tôi đang thông báo cho các nhà khoa học ở Brazil và các nơi khác để họ tiến hành sàng lọc cây trồng”, Hansen nói. “Tất cả các mọi người nên quan tâm đến khả năng bùng phát bệnh này trên cây, do Liberibacter có xu hướng trở thành mầm bệnh nghiêm trọng trên cây trồng”.  Ariana Sanchez – sinh viên đại học chuyên ngành vi sinh vật học của UCR và là người quan tâm đến các mầm bệnh do vi khuẩn truyền qua côn trùng – cũng có nhiều đóng góp trong nghiên cứu. Nhờ xác định được các cách thức mà L. capsica tiến hóa, Sanchez đã góp phần đem lại những hiểu biết quan trong về Liberibacter.  “Việc hiểu rõ về các mầm bệnh như thế này, cũng như cách mà chúng tương tác với côn trùng vật chủ, là điều vô cùng quan trọng với an ninh lương thực của chúng ta”, Hansen cho biết. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-cousin-crop-killing-bacteria-mutating-rapidly.html    Author                .        
__label__tiasang Logic nào cho mô hình tập đoàn kinh tế?      Sau Quyết định 58/2005/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 23.03.2005) phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại Tổng công ty (TCT) Bưu chính viễn thông và các đơn vị thành viên. Sắp tới lần lượt nhiều TCT khác sẽ được chuyển đổi cơ cấu, trước mắt là TCT Than, Dầu khí, Điện lực…    Có vẻ như chúng ta sắp được chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn kinh tế nhà nước thay thế cho các tổng công ty 90, 91 mới xuất hiện cách đây khoảng 10 năm. Tập đoàn kinh tế – một  mô hình tuy quen thuộc với các nước phát triển, nhưng với ta thì rất mới. Đó là chưa kể nền kinh tế của ta có nhiều nét đặc thù riêng. Vậy, làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa kinh nghiệm, điều kiện của nước mình với mô hình và kinh nghiệm từ nước ngoài?  Cần thay đổi cách nghĩ          Dầu khí là một trong những ngành công nghiệp chủ chốt hiện nay ở Việt Nam. Ảnh: Quốc Tuấn          Chúng ta luôn muốn có những doanh nghiệp đủ mạnh, làm đầu tàu chủ đạo cho nền kinh tế quốc dân. Tiến tới về lâu dài, những doanh nghiệp này phải trở thành các tập đoàn kinh tế hùng hậu, đủ sức hội nhập và cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới…  Mục đích như vậy là quá rõ. Vấn đề là ở chỗ bằng các biện pháp hành chính, chúng ta đã áp đặt từ trên xuống, thiết lập hàng loạt các tổng công ty xuất phát từ cái mình cần mà không tính đến vai trò chủ đạo của các đơn vị thành viên… Sau hơn 10 năm hoạt động, thực tế đã chứng minh sự bất ổn định, kém hiệu quả của cấu trúc này. Những mối quan hệ chồng chéo, ràng buộc không theo cơ chế thị trường vô hình chung đã biến các tổng công ty đã trở thành cái rào chắn đối với bất kỳ đơn vị thành viên nào muốn phát triển bứt lên. Trục trặc ở đây, theo cách nghĩ của chúng tôi, chính ở lối tư duy một chiều, chỉ biết cái mình cần mà không tính đến cái mình có. Tình thế chắc sẽ khác đi nhiều nếu chúng ta đi theo chiều ngược lại để vừa nhìn thấy cái mình cần nhưng bắt đầu từ cái mình có.  Sau gần 20 năm tiến hành cải cách kinh tế, chúng ta đã đạt được những thành công lớn. Đời sống người dân được nâng cao rõ rệt làm thay đổi hẳn bộ mặt của Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế. Thế nhưng, với tổng sản phẩm ngành công nghiệp chiếm 41,2 % tổng sản phẩm nội quốc mà chỉ có giá trị xấp xỉ 19 tỷ đô la Mỹ (theo giá hiện hành), chúng ta chưa thể nói đến một nền kinh tế mạnh hay một nền công nghiệp mạnh được.  Trên thực tế, nền kinh tế nước ta nói chung và ngành công nghiệp nói riêng đang đứng trước một giai đoạn phát triển đầy thử thách và phức tạp, đúng hơn là một cuộc chạy đua không cân sức với thời gian. Bởi vì, nếu chiếu theo trục thời gian của lịch sử phát triển công nghiệp thế giới, nền công nghiệp của nước ta hôm nay đang chập chững những bước đi đầu tiên vào thế kỷ 20, trong khi thế giới đã bước sang thế kỷ 21 với những tính chất và đặc thù mới của nền kinh tế hậu công nghiệp.  Bài toán càng trở nên phức tạp hơn khi các chu kỳ phát triển kinh tế thế giới lớn có chiều hướng rút ngắn từ 50-70 năm xuống chỉ còn 30-40 năm dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ và thông tin. Nói như vậy để chúng ta phần nào hình dung được trách nhiệm nặng nề của nền công nghiệp trẻ Việt Nam. Một trong những chiếc chìa khoá giúp chúng ta giải bài toán trên, thiết nghĩ không có gì khác chính là chiến lược quản lý kinh tế hữu hiệu. Và chiến lược đó phải được bắt đầu xây dựng từ thực trạng công nghiệp Việt Nam.        Trục trặc chính là ở lối tư duy một chiều, chỉ biết cái mình cần mà không tính đến cái mình có. Tình thế chắc sẽ khác đi nhiều nếu chúng ta đi theo chiều ngược lại để vừa nhìn thấy cái mình cần nhưng bắt đầu từ cái mình có.          Ngoài việc nguồn vốn eo hẹp, công nghệ lạc hậu, tỉ lệ nguồn nhiên liệu nhập ngoại quá cao, công nhân tay nghề thấp, kỷ luật lao động lỏng lẻo…, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của chúng ta thiếu hẳn cơ chế và hệ thống quản lý hiệu quả, cũng như thiếu những nhà quản lý giỏi đáp ứng được yêu cầu phát triển của thời đại. Trong bối cảnh, khi các doanh nghiệp phải “chật vật” phấn đấu mới làm ăn không bị thua lỗ, nội lực của từng doanh nghiệp còn yếu (đặc biệt là hệ thống quản lý kém) chúng ta lại nảy ra ý tưởng nối kết lại để tạo nên sức mạnh tổng hợp (!). Đành rằng xu thế liên kết và yêu cầu hội nhập quốc tế đang hối thúc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có thể dùng biện pháp hành chính để tham gia hội nhập, thiết lập lên những tổng công ty lớn hơn về vốn (ít ra là trên giấy tờ) nhưng hoàn toàn rời rạc về sức mạnh. Phải chăng, chúng ta nên bắt đầu chính từ các doanh nghiệp (DN), tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp  có thể phát huy hết khả năng nội lực của mình, kịp thời thay đổi cơ chế quản lý nhằm tạo được những chủ sở hữu làm ăn có hiệu quả…  Điều quan trọng nhất là sớm đặt các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào môi trường cạnh tranh bình đẳng. Qua sự sàng lọc của thị trường, nhà nước cần kịp thời giải thể hoặc tư nhân hoá các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Những DN nào trụ lại được phải chứng tỏ được sức sống của mình, liên tục tìm tòi phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Trên con đường phát triển đó, dưới tác động của điều kiện trong, ngoài, nhu cầu liên kết, tích hợp thương nghiệp sẽ đến như một điều tất yếu. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xúc tiến quá trình này càng nhanh càng tốt, nhưng không phải dùng các biện pháp hành chính để đảo lộn nó.  Như vậy, có thể thấy rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả làm việc không được như mong muốn của các DNNN, đặc biệt là các tổng công ty như hiện nay là sự thiếu vắng một lôgic thích hợp trên cơ sở thị trường để tiến hành quá trình tập đoàn hóa.    Lôgic của quá trình tập đoàn hóa  Tìm hiểu quá trình liên kết hoặc tích hợp doanh nghiệp trong lịch sử phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, có thể nhận thấy ở mỗi nước tuỳ theo đặc thù kinh tế của mình đều có những mô hình riêng, khác biệt. Nhưng cũng có thể rút ra được một số nguyên tắc chung, quyết định sự thành công của mô hình kinh tế này.        Đành rằng xu thế liên kết và yêu cầu hội nhập quốc tế đang hối thúc, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có thể dùng biện pháp hành chính để tham gia hội nhập, thiết lập lên những tổng công ty lớn hơn về vốn (ít ra là trên giấy tờ) nhưng hoàn toàn rời rạc về sức mạnh.        1. Nhu cầu tập đoàn hóa phải là hệ quả tất yếu, nảy sinh trong quá trình phát triển của chính các doanh nghiệp trực tiếp tham gia trên thị trường. Nguyên tắc này khẳng định lại một lần nữa vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp, nếu không chọn đây làm điểm xuất phát thì các mối liên kết, tích hợp khó có thể đem lại hiệu quả mong muốn.  2. Phải xác định được đâu là hệ tuần hoàn bảo đảm tính thống nhất cho tổ chức kinh tế mới. Đó có thể là chuỗi mắt xích kỹ thuật–công nghệ hoàn thiện từ khâu khai thác nguyên liệu, tổ chức sản xuất, đến bán sản phẩm cho người tiêu dùng (cấu kết dọc). Đó cũng có thể là hệ thống quản lý tài chính rành mạch trong trường hợp tập đoàn được cấu thành từ các doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau (cấu kết ngang). Và cũng có thể là mối quan hệ trật tự trong sở hữu tài sản giữa các doanh nghiệp vệ tinh và doanh nghiệp trung tâm – tạo thành một hệ thống mạng (cấu kết tròn). Nói tóm lại, cần phải xác định được các thành viên trong tập đoàn sẽ được nối kết theo một nguyên tắc nào.  3. Độc lập, tự chủ trong một thể thống nhất. Bảo đảm đồng thời tính thống nhất của tập đoàn và khả năng độc lập, tự chủ trong hạch toán, kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên là một việc làm khó khăn. Để làm được điều này đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ thị trường rạch ròi giữa các thành viên về quản lý tài chính, quản lý vốn đầu tư cũng như quản lý và điều phối cổ phần.            Phân hệ sản xuất đóng một vai trò hết sức quan trọng trong mô hình tập đoàn. Ảnh: Quốc Tuấn          4. Đã là sản xuất–kinh doanh thì một trong những nguyên tắc quan trọng là làm ăn phải có lãi. Trước mắt, với bản tính độc lập tự chủ, các doanh nghiệp thành viên sẽ có nhiều cơ hội phấn đấu làm ăn sinh lợi trên khu vực của mình, nhịp nhàng kết hợp với các thành viên khác để nâng cao hiệu quả làm việc chung. Về lâu dài, tuỳ theo đặc thù của các mối nối kết, phải tạo dựng được các trung tâm lợi nhuận của tập đoàn. Có nghĩa là cần xác định và tập trung phát triển những khu vực (ngành) kinh doanh có thế mạnh cạnh tranh, cấu thành các trung tâm sinh lợi chính (ví dụ như thành lập trung tâm lợi nhuận theo sản phẩm, công nghệ, hay khu vực địa lý …).  5. Nâng cao sức cạnh tranh. Một trong những bản chất cốt lõi của thị trường và phát triển là cạnh tranh. Dù có liên kết hoặc tích hợp doanh nghiệp dưới một hình thức nào, thì vấn đề có nâng cao được hay không sức cạnh tranh của từng thành viên và cả tập đoàn có ý nghĩa quyết định. Ngoài ra, chúng ta cần phải thiết lập được cơ chế thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp không chỉ với môi trường bên ngoài mà ngay trong nội bộ tập đoàn.  6. Phải tạo được những chủ sở hữu làm ăn có hiệu quả. Cổ phần hóa doanh nghiệp là hiện tượng khách quan trong quá trình chuyển đổi sang thị trường. Đối với các DNNN cần đẩy nhanh tiến độ của quá trình này. Điều đáng lưu ý ở đây đó là mục đích cuối cùng của quá trình cổ phần hóa cũng như tư hữu hóa là tìm và tạo được những chủ sở hữu biết sự dụng tài sản có hiệu quả nhất. Một trong những mô hình sở hữu tương đối phù hợp với các DNNN ở ta hiện nay là: phương thức sở hữu đa thành phần. Trong đó, ngoài cổ đông truyền thống là nhà nước, một phần quyền sở hữu sẽ được trao cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên của DN, một phần nữa sẽ được tung ra thị trường, thu hút các nhà đầu tư. Tuỳ thuộc vào vai trò và giai đoạn phát triển của DN trong nền kinh tế quốc dân sẽ có sự xác định tỉ lệ phần trăm tương ứng giữa các chủ sở hữu.  Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản cần được cân nhắc, đối chiếu khi bắt tay vào xây dựng các tổ chức liên kết kinh tế mới. Vận dụng sáng tạo những lôgíc cơ bản này sẽ cho chúng ta định hướng đúng đắn và chiếc chìa khóa dẫn đến thành công. Tuy nhiên, để tạo được một mô hình tập đoàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội nước ta hiện nay, cần phải lưu ý đến nhiều yếu tố khác nữa, đặc biệt là yếu tố con người và trình độ phát triển công nghiệp của nền kinh tế.    Mô hình nào cho các tổng công ty hiện nay?  Dưới góc nhìn của một hệ kinh tế thì tập đoàn thường được cấu thành từ 4 phân hệ chính.  1. Phân hệ sản xuất có nhiệm vụ bảo đảm quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng. Thông thường phân hệ này bao gồm các nhà máy, xí nghiệp trực tiếp làm ra thành phẩm và các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu. Hệ thống này hoạt động liên quan trực tiếp đến các thị trường như: thị trường tư liệu, phương tiện sản xuất; thị trường lao động; thị trường nguyên liệu và bán thành phẩm.        Điều quan trọng nhất là sớm đặt các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào môi trường cạnh tranh bình đẳng. Qua sự sàng lọc của thị trường, nhà nước cần kịp thời giải thể hoặc tư nhân hoá các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Những DN nào trụ lại được phải chứng tỏ được sức sống của mình, liên tục tìm tòi phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.        2. Phân hệ hỗ trợ sản xuất: bao gồm các doanh nghiệp không có chức năng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm khả năng làm việc của quá trình này. Thường thì phân hệ này có ba nhóm chính:  – Nhóm bảo đảm về khoa học kỹ thuật sẽ có thành viên là các cơ sở nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm… làm việc trên các thị trường như thị trường công nghệ và thông tin; thị trường dịch vụ khoa học kỹ thuật;  – Nhóm sử dụng tài nguyên hoạt động chủ yếu trên thị trường tài nguyên thiên nhiên;  – Nhóm tự phục vụ trong nội bộ tập đoàn. Thường bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực: kho bãi, vận tải nội bộ, thông tin liên lạc, bảo hiểm xã hội và môi trường.  3. Phân hệ tiêu thụ sản phẩm có nhiệm vụ bảo đảm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, là tập hợp của các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực như: marketing, PR, quảng cáo, hệ thống mạng bán lẻ, bán buôn.  4. Phân hệ tài chính đây là một trong những phân hệ quan trọng nhất của tập đoàn có nhiệm vụ bảo đảm về tài chính cho tất cả các phân hệ trên, thực hiện quản lý hiệu quả các dòng chảy tiền tệ trong tập đoàn, sự dụng tối ưu vốn lưu động cũng như vốn đầu tư, tham gia tích cực vào thị trường tín dụng và chứng khoán. Như thế, các doanh nghiệp nằm trong phân hệ này cần giải quyết tốt hai nhiệm vụ chính: sự dụng thật hiệu quả nguồn lực và quản lý các hoạt động tài chính của tập đoàn trên thị trường.  Như vậy, có thể thấy nhiệm vụ chính của tập đoàn là làm sao quản lý tốt các quy trình sản xuất kinh doanh (Business-process) xuyên suốt 4 phân hệ chính nêu trên. Thông thường các quy trình trên được biểu diễn qua ba dòng chảy cơ bản: dòng chảy tài chính, dòng chảy của nguyên liệu –sản phẩm và dòng chảy thông tin (Hình 1).  Trở lại mô hình tổng công ty ở ta. Xuất phát từ những nguyên tắc và định hướng về cấu trúc như đã trình bày ở trên, đối chiếu với hoàn cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi thấy có mấy mô hình tổ chức tương đối phù hợp: đó là tập đoàn công nghệ, tập đoàn tài chính và mạng kinh tế.  Tập đoàn công nghệ là một tổ chức kinh tế hội tụ các doanh nghiệp có quan hệ mật thiết xung quanh một dây chuyền công nghệ khép kín, từ khai thác, cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất và bán sản phẩm, đến nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới v.v… Các doanh nghiệp ở nhóm này thường tập trung trên một vùng lãnh thổ nhất định và điều này càng có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển kinh tế khu vực. Thế mạnh của mô hình tập đoàn công nghệ là mức độ tập trung nội lực cao, thu hút được đầu tư trọng điểm vào công nghệ, cơ cấu tổ chức quản lý rành mạch. Doanh nghiệp nào đóng vai trò chủ chốt trong mắt xích công nghệ sẽ được chọn làm hạt nhân. Mối quan hệ với các doanh nghiệp thành viên khác phải được thiết lập theo cơ chế thị trường, phù hợp với 6 nguyên tắc cơ bản đã nêu trên.  Tập đoàn tài chính-đây là mô hình phổ biến, được ứng dụng rộng rãi ở rất nhiều nước trên thế giới. Chính vì thế đã có nhiều bài viết chi tiết về cấu trúc của mô hình này, ở đây chúng tôi chỉ xin lưu ý thêm một điểm: nếu như mô hình tập đoàn công nghệ lấy phân hệ sản xuất làm hạt nhân, thì ở đây phân hệ tài chính sẽ là trọng điểm. Do vậy, để bảo đảm việc quản lý hiệu quả dòng chảy tài chính của tổ chức kinh tế mới này cần phải huy động được nguồn vốn tư bản hùng hậu và một thể chế tài chính phù hợp.  Mạng kinh tế–đây là một mô hình liên kết doanh nghiệp tương đối mới và có nhiều ưu điểm phù hợp với kinh tế nước ta hiện nay. Có thể hiểu nôm na mạng kinh tế là một tổ chức trong đó nối kết các chủ thể kinh tế độc lập vào một mạng thống nhất với mục đích tăng hiệu quả hoạt động kinh tế của từng thành viên và của toàn hệ thống. Hiệu quả của mạng đạt được thông qua việc các thành viên cùng sử dụng những nguồn lực chung, thu nhỏ đến mức tối thiểu các chi phí phát sinh, đặc biệt là chi phí hợp đồng. Quan hệ giữa các doanh nghiệp trong mạng là quan hệ tối tác, trên cơ sở hợp đồng ký kết. Chính vì vậy mạng kinh tế đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của tổ chức kinh tế hiện đại: mềm dẻo trong cấu trúc, năng động trong quản lý và bền vững trong phát triển. Nhưng bên cạnh đó, với bản tính nối kết các đơn vị kinh tế độc lập (chứ không phải là hợp nhất), mạng kinh tế cho phép các thành viên với những trình độ phát triển rất khác nhau cùng hoạt động hiệu quả. Và điều này có ý nghĩa đặc biệt với nền kinh tế đang chạy đua cùng thời gian của chúng ta.  Trên đây là ba mô hình cơ bản mà theo chủ quan của chúng tôi có thể ứng dụng trong quá trình tập trung sức mạnh để xây dựng và phát triển các tổng công ty ở Việt Nam.                Sơ đồ biểu diễn những dòng chảy chính của các quy trình sản xuất-kinh doanh qua các phân hệ của một tập đoàn    Tài liệu tham khảo  1. Milnher B.Z. Lý thuyết tổ chức: sách giáo khoa. Mátxcơva, NXB: INFRA-M, 2000. – tr. 354-424  2. Krasnova V. 7 Notes Management. Tạp chí Expert, 2001. – tr.434-442.  3. Nguyễn Văn Minh. Cơ chế hình thành mạng thương mại-công nghiệp: sách chuyên khảo. Mátxcơva, NXB.: UCCR, 2001. – tr. 70-105.      Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lối đi phát điện ở Olympic London 2012      Những viên gạch đặc biệt khi có người giẫm chân lên sẽ phát ra điện đã được lát tại  lối đi vào sân vận động chính và mặt phố trước Trung tâm Thương mại sầm uất Westfield Stratford City nhân dịp Olympic London 2012.    Sau khi giành được quyền đăng cai tổ chức Thế vận hội mùa hè 2012 cùng Thế vận hội dành cho người khuyết tật, thành phố London đã lập một quỹ trị giá 9,3 tỷ Bảng Anh (14,8 tỷ USD) để chi vào việc phục vụ lễ hội thể thao này, như xây dựng các công trình thể thao, giao thông, làng vận động viên v.v… Đây là Olympic tốn kém nhất xưa nay, thế nhưng với tài tổ chức kinh doanh của người Anh, với kinh nghiệm từng hai lần tổ chức Thế vận hội vào các năm 1908 và 1948, Anh Quốc hy vọng sẽ thu được hơn 13 tỷ Bảng Anh nhờ đăng cai Thế vận hội này.   Các công trình Olympic London 2012 được xây dựng với Ý tưởng di sản (The idea of legacy): 3/4 khoản ngân sách nói trên sẽ dành cho việc tái sinh và phục hồi vùng đất phía Đông London, một vùng đất hoang được chọn để xây dựng phần lớn công trình Olympic. Sau khi Thế vận hội kết thúc, toàn bộ các công trình xây dựng này sẽ được chuyển sang phục vụ dân sinh chứ không bị bỏ phí như ở nhiều nước từng đăng cai Olympic. Ban tổ chức đã áp dụng nhiều phát minh khoa học công nghệ nhằm thực hiện phương châm gìn giữ môi trường và phát triển bền vững.   Dự kiến Olympic London sẽ thu hút khoảng 2 triệu du khách đến từ khắp nơi. Dĩ nhiên một lượng lớn người như vậy dồn về đây trong thời gian chưa đầy 3 tuần lễ sẽ gây ra nhiều vấn đề về môi trường và an ninh. Nhưng tại Anh Quốc, đất nước nổi tiếng lắm sáng kiến kinh doanh này thì lập tức có những nhà phát minh tìm ra cách lợi dụng sự đi lại nhộn nhịp của du khách để kiếm lời. Một thí dụ điển hình là phát minh Lối đi phát điện (Pavegen energy-generating-walkway), một trong những công nghệ mới được Olympic London áp dụng.  Nội dung của phát minh này là lát những viên gạch đặc biệt Pavegen tile trên các lối đi nhiều người qua lại, khi có bước chân giẫm lên viên gạch thì tác động của bước chân ấy sẽ làm cho viên gạch phát ra điện. 5% lượng điện này được dùng để bật sáng một đèn LED (loại đèn tiết kiệm điện nhất hiện nay) lắp ở chính giữa mặt viên gạch; 95% điện năng còn lại sẽ nạp vào một bộ ắc quy chung; điện năng của nó được dùng cho các nhiệm vụ khác như chiếu sáng lối đi cho khách bộ hành, biển quảng cáo, chạy máy bán vé v.v…  Nguyên liệu để làm ra loại gạch đặc biệt này đều tái chế từ các vật liệu bỏ đi. Mặt viên gạch làm từ lốp xe ô tô phế thải. Do làm bằng cao su nên mặt viên gạch có đàn tính; khi chân người giẫm lên, mặt gạch sẽ lún xuống ít nhất 5 mm và động năng sinh ra từ sự lún ấy được hệ thống thiết bị chuyển thành điện năng. Nếu cứ 4 đến 10 giây lại có một bước chân đè lên thì viên gạch sẽ tạo ra một lượng điện khoảng 2,1 watt mỗi giờ. Phần đế viên gạch cũng làm từ các vật liệu tái chế. Mỗi viên gạch có thể dùng trong 5 năm hoặc chịu được 20 triệu bước chân đi qua.   Hãy tưởng tượng quang cảnh đường phố rực sáng một màu xanh đom đóm khi những đèn LED trên hàng trăm viên gạch phát sáng trong đêm dưới bước chân của khách bộ hành. Họ đâu có biết chính mình đang góp phần vào việc phát ra điện năng thắp sáng đường phố.  Tác giả gạch phát điện là Laurence Kemball-Cook, một trong những nhà phát minh trẻ tuổi tài giỏi nhất Anh Quốc hiện nay. Vài năm trước, khi làm đề tài nghiên cứu về chiếu sáng đường phố, chàng sinh viên Đại học Loughborough mới 24 tuổi ấy đã đề xuất ý tưởng táo bạo đó. Năm 2009 công ty Pavegen Systems Ltd. do chính Laurence làm Giám đốc đưa phát minh này vào ứng dụng. Tuy được hoan nghênh và áp dụng thử tại một số địa điểm nhưng phải đến khi London triển khai xây dựng các công trình phục vụ Thế vận hội 2012 thì gạch phát điện mới có dịp ứng dụng đại trà. Pavegen Systems Ltd. nhận được đơn đặt hàng của Ban tổ chức Olympic London 2012. Theo dự kiến, người ta sẽ lát các viên gạch phát điện tại lối đi vào sân vận động chính và mặt phố trước Trung tâm Thương mại Westfield Stratford City đông khách nhất châu Âu (hàng năm có khoảng 3 triệu lượt người ra vào).    Gạch phát điện có triển vọng áp dụng rất sáng sủa. Bất kỳ một điểm nào trên các đường phố đông người đều có thể tiếp nhận mỗi ngày tới 50.000 bước chân. Tại các nhà ga đông khách, tính đổ đồng mỗi giờ có tới 52.000 người qua lại. Trung bình một người bước khoảng 20 triệu bước trong cả cuộc đời mình. Nếu tận dụng được một phần nhỏ động năng do các bước đi ấy tạo ra thì rõ ràng loài người sẽ tiết kiệm được rất nhiều năng lượng làm ra từ các nguồn gây ô nhiễm (như nhiên liệu hóa thạch), nhờ thế môi trường sống của chúng ta sẽ được cải thiện rất nhiều. Theo giới thiệu, chỉ cần 5 viên Pavegen tile là đủ phát ra điện năng chiếu sáng một trạm chờ xe bus suốt một đêm.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời giải bài toán thế kỷ có thể dự đoán lan truyền của bệnh truyền nhiễm      Một nhà nghiên cứu Bristol đã đạt được một mốc quan trọng trong vật lý thống kê/vật lý toán bằng việc giải bài toán trăm tuổi – phương trình khuếch tán rời rạc (the discrete diffusion equation) trong không gian hữu hạn.      Lời giải sau cả thế kỷ chờ đợi này có thể được sử dụng để dự đoán một cách chính xác xác suất gặp và lan truyền giữa mỗi cá nhân trong một môi trường gần gũi, không cần đến những mô phỏng trên máy tính tốn nhiều thời gian.  Trong công trình của mình, xuất bản trên Physical Review X, tiến sĩ Luca Giuggioli của Khoa Toán kỹ thuật tại trường đại học Bristol đã miêu tả cách tính toán theo cách giải tích xác suất của việc chiếm giữ (trong thời gian rời rạc và không gian rời rạc) từ một hạt khuếch tán hoặc một thực tể trong một không gian hạn chế – những thứ mà cho đến nay vẫn chỉ có thể có được bằng tính toán.  Tiến sĩ Giuggioli nói: “Các mô hình phương trình khuếch tán chuyển động ngẫu nhiên và là một trong những phương trình cơ bản của vật lý. Giải pháp phân tích phương trình khuếch tán trong các miền hữu hạn, nơi không gian và thời gian tiếp diễn, đã được biết đến trong một thời gian dài.  “Tuy vậy, để so sánh mô hình các dự đoán với những quan sát mang tính kinh nghiệm, cần thiết nghiên cứu phương trình khuếch tán trong không gian hữu hạn. Mặc dù có công trình của các nhà khoa học xuất sắc như  Smoluchowski, Pólya, và nhiều người khác, nó vẫn còn một vấn đề còn tồn tại hơn một thế kỷ – cho đến gần đây.  “Thật thú vị, khám phá về giải pháp phân tích chính xác cho phép chúng ta giải quyết các vấn đề thực sự từng là bất khả thi trong quá khứ bởi chi phí tính toán không cho phép”.  Phát hiện đã chỉ ra một phạm vi rộng của các ngành và khả năng có thể của các ứng dụng bao gồm dự đoán các phân tử khuếch tán bên trong những tế bào, vi khuẩn di chuyển trong một đĩa petri, hành vi di chuyển của động vật trong phạm vi quen thuộc của chúng, hoặc cách tìm kiếm của các robot trong vùng bị thảm họa.  Nó thậm chí còn có thể được dùng để dự đoán cách một mầm bệnh được lan truyền trong một đám đông giữa các cá thể.  Giải được bài toán khó này bao gồm việc sử dụng hai kỹ thuật: các hàm toán học đặc biệt như Chebyshev polynomials, và một kỹ thuật tiên phong để giải quyết các bài toán tĩnh điện, vốn còn gọi là phương pháp hình ảnh.  Lối tiếp cận này cho phép tiến sĩ Giuggioli có thể cấu trúc về mặt phân cấp lời giải cho phương trình khuếch tán rời rạc trong chiều bậc cao hơn từ một lời giải trong những chiều thấp hơn.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-solution-century-old-math-problem-transmission.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời giải cho nhiệm vụ ổn định vĩ mô và tái cấu trúc nền kinh tế      Năm 2012 là năm nền kinh tế Việt Nam phải giải quyết nhiều khó khăn, thách thức, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là ổn định kinh tế vĩ mô và khởi động thành công ba nhiệm vụ tái cấu trúc.      Để tìm hiểu về thực trạng, các mục tiêu và giải pháp của nhiệm vụ này,  phóng viên Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với TS. Võ Trí Thành –  Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, kết hợp với  tham khảo ý kiến từ chuyên gia kinh tế(CGKT) Phạm Chi Lan.   Nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh chung của thế giới đã trải qua năm 2011 nhiều khó khăn và năm 2012 khởi đầu một cách chưa được suôn sẻ. Vậy dự kiến trong năm nay, xu hướng phát triển kinh tế sẽ diễn biến ra sao thưa ông?   Võ Trí Thành: Khái quát lại thì kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn theo các dự báo từ cuối năm 2011 và đầu 2012, ví dụ dự báo tại hội nghị Davos của IMF và những dự báo gần đây của WB và các tổ chức tài chính thế giới cho thấy kinh tế thế giới đang xấu đi, tăng trưởng kinh tế dự kiến có thể còn thấp hơn những dự báo từ trước đây. Tình hình không khả quan bao trùm lên nhiều nhóm nước, trong đó ngay cả những nền kinh tế mới nổi như khu vực Đông Á cũng tăng trưởng chậm lại, dù vẫn là động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới.   Những diễn biến này gây bất lợi cho tình hình thương mại và đầu tư của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn đang vật lộn với hai vấn đề nội tại riêng. Một là tình hình kinh tế vĩ mô dù đã có một số chuyển biến tích cực vào cuối năm 2011, đầu năm 2012, nhưng hiện nay vẫn còn những bất ổn gây rủi ro. Hai là mô hình phát triển của chúng ta vừa qua đã lộ rõ những khiếm khuyết, mà ẩn chứa đằng sau là sự cần thiết phải cải cách về thể chế, quan niệm, và tư duy tăng trưởng.   Trong bổi cảnh khó khăn như vậy, mục tiêu kỳ vọng của kinh tế Việt Nam năm 2012 là gì?  Năm 2012 chúng ta phải tiếp tục với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời vẫn phải đảm bảo tăng trưởng và thực hiện được những chính sách an sinh xã hội,   Hiện nay, các cơ quan dự báo trong nước, các định chế tài chính nước ngoài đều dự báo tăng trưởng Việt Nam khoảng 5-6%. Có thể nói 6% là một con số khả thi và phù hợp, vừa đảm bảo tăng trưởng, vừa đảm bảo an sinh xã hội, không gây ra những đổ vỡ xáo trộn do thu nhập giảm và thất nghiệp.   Về lạm phát, đa số dự báo lạm phát trong năm sẽ ở mức một con số. Nhưng lạm phát trung bình năm sẽ cao hơn, khoảng 11-12%, nguyên nhân vì lạm phát cuối năm ngoái vẫn còn 18%, sang tháng 1 năm nay còn 17%, và tiếp tục phải qua một quá trình giảm dần dần.  Bên cạnh khó khăn do tình hình chung của kinh tế thế giới, đâu là trở ngại mà kinh tế Việt Nam cần khắc phục để đạt được những mục tiêu về tăng trưởng và kiểm soát lạm phát như trên?        Nên dùng các biện pháp kinh tế để đưa tín dụng vào những đối tượng và lĩnh vực dễ tạo công ăn việc làm, tăng xuất khẩu, ví dụ đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và một số ngành công nghiệp chế biến.        Có ý kiến cho rằng khả năng Việt Nam đạt tăng trưởng 6% là khó, vì nền kinh tế của chúng ta đã khá mở nên chịu ảnh hưởng nhiều từ xu thế chung của thị trường thế giới. Nếu nhìn vào dự báo tăng trưởng kim ngạch thương mại khoảng 12-13%, và mức đầu tư nước ngoài trực tiếp (cam kết ở mức khoảng 15 tỷ USD) thì thấy xu hướng tăng trưởng vẫn còn khá dè dặt. Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình ổn kinh tế vĩ mô, Việt Nam đang phải thực hiện những chính sách tín dụng, tiền tệ, tài khóa theo xu hướng tương đối thắt chặt. Tín dụng năm nay dự kiến tăng ở mức 15-17%, cao hơn một chút so với mức 11-12% của năm ngoái nhưng nhìn chung vẫn khá chặt chẽ. Trong khi đó, khối ngân hàng từ đầu năm đã gặp không ít khó khăn do vấn đề thanh khoản và nợ xấu.  Để vượt qua những trở ngại trên đây và đạt được những mục tiêu kinh tế đã đề ra thì công tác điều hành và chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ sẽ phải như thế nào?  Có thể nói năm 2012 sẽ phải thể hiện được ý chí chính trị và bản lĩnh chính trị của Chính phủ trong việc chuyển đổi mô hình và ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng cũng đòi hỏi một nghệ thuật điều hành linh hoạt và uyển chuyển.     Với chính sách tiền tệ, mức tăng cung ứng tiền tệ dự kiến là 15-17% nhưng cũng có thể cao hơn một chút, tùy vào mức suy giảm của nền kinh tế thế giới. Mức cung ứng tiền tệ cũng nên linh hoạt tùy theo đối tượng để tiếp cận sản xuất kinh doanh tốt hơn. Nên dùng các biện pháp kinh tế để đưa tín dụng vào những đối tượng và lĩnh vực dễ tạo công ăn việc làm, tăng xuất khẩu, ví dụ đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và một số ngành công nghiệp chế biến.  Với chính sách tài khóa, cũng cần có những chính sách đặc thù cho các đối tượng và lĩnh vực cần ưu tiên nêu trên, như ưu đãi về thuế (ví dụ: chính sách giãn thuế cho các đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ). Về phân bổ vốn đầu tư, có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân tiếp cận tốt hơn các nguồn vốn ưu đãi như ODA và vốn trái phiếu.  Nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội là rất lớn, trong khi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lại đòi hỏi Chính phủ thi hành chính sách thắt chặt. Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề khó khăn này như thế nào?         Cải cách đầu tư công thực chất là một cuộc cải cách sâu rộng về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước liên quan đến quản lý ngân sách, quản lý doanh nghiệp Nhà nước, phát triển kết cấu hạ tầng, v.v.        Vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng – một lĩnh vực rộng, liên quan tới năng lượng, công nghệ thông tin, giao thông, thủy lợi, v.v. – là rất quan trọng, đòi hỏi những lựa chọn, quyết sách chính xác. Chúng ta cần lựa chọn trọng điểm đầu tư là những lĩnh vực có tính quyết định làm nền tảng cho phát triển, tạo hiệu ứng lan tỏa. Tuy nhiên, khi chúng ta đã lựa chọn đúng rồi, thì phải đặt câu hỏi nguồn lực ở đâu. Rõ ràng dựa vào nguồn lực nội tại trong nước là không đủ nên bên cạnh việc tăng hiệu quả đầu tư công, cần có những cơ chế tăng thu hút đầu tư nước ngoài và huy động nguồn vốn tư nhân (như PPP).   Lạm phát là căn bệnh trầm kha của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây, liệu mục tiêu đưa mức lạm phát về một chữ số có thực sự là khả thi?  Mục tiêu lạm phát một chữ số hoàn toàn khả thi, do ba lý do cơ bản. Một là xu hướng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nhu cầu hàng hóa cơ bản giảm (ngoại trừ vàng và nông sản có thể có những biến động khó lường) nên áp lực chi phí đẩy lên giá cả cũng giảm xuống. Hai là tác động có độ trễ từ chính sách thắt chặt mạnh mẽ của chúng ta trong năm 2011. Ba là chính sách vĩ mô khá chặt chẽ, do ưu tiên của Chính phủ trong năm nay vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô.  Tuy có thể có những biến động ngược chiều, như chính sách tăng lương, tăng giá điện, hay các cú sốc về giá lương thực, nhưng với ba lý do cơ bản nêu trên, có thể nói mục tiêu đưa lạm phát về mức một con số có xác suất thành công là khá cao.  Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có sự kết nối khá mật thiết với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, đâu là những cơ hội từ bên ngoài mà chúng ta cần tích cực nắm bắt?  Trong bối cảnh khó khăn của kinh tế thế giới, không phải là không có những cơ hội tốt cho thu hút đầu tư nước ngoài và tăng xuất khẩu. Ví dụ, khu vực Đông Á tuy tăng trưởng có chậm lại ít nhiều, nhưng vẫn được coi là động lực tăng trưởng của thế giới. Khu vực này lại đang dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào cầu bên trong. Đây cũng là khu vực có nguồn lực dồi dào, dự trữ ngoại tệ cao, tiết kiệm nhiều, tức là đang thừa vốn. Để đón được nguồn vốn này, vấn đề là chúng ta cần sớm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế, và có những cải cách thể chế tích cực để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư.   Bên cạnh đó, khu vực Đông Á cũng là thị trường truyền thống rất quan trọng cho xuất khẩu. Năm 2011 xuất khẩu của chúng ta tăng 33% nhờ một phần quan trọng vào sự ổn định của Đông Á.   Gần đây, nhiệm vụ tái cấu trúc trên ba lĩnh vực được đề cập thường xuyên bởi các nhà quản lý và hoạch định chính sách, và nhận được sự quan tâm rất lớn của dư luận. Nhưng một số chuyên gia cho rằng nhiệm vụ này không đơn giản. Theo ông, khó khăn và thuận lợi cơ bản của nhiệm vụ này là gì?  Việc thực hiện một cuộc cải cách mang tính cách mạng trên ba lĩnh vực chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Khó khăn thứ nhất là làm sao có một sự thay đổi tư duy từ một nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, trong đó có tư duy về động lực phát triển của đất nước, vai trò Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Khó khăn thứ hai là làm sao vượt qua được vấn đề lợi ích nhóm, khi mà trong xã hội lâu nay đã tồn tại những nhóm lợi ích được hưởng lợi thế từ cách thức quản lý và đầu tư phát triển trước đây. Thứ ba là phải làm sao tạo được tính quyết liệt, tính đồng bộ trong cải cách để tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực. Việt Nam hiện thiếu kinh nghiệm để giải quyết êm thấm cả ba khó khăn này.        CGKT Phạm Chi Lan: công khai minh bạch để tạo niềm tin                              Khi được hỏi về giải pháp chung cho ổn định kinh tế trước mắt và tái cấu trúc thành công trong lâu dài, CGKT Phạm Chi Lan cho rằng mấu chốt là minh bạch hóa thông tin. Mục tiêu của Chính phủ là thắt chặt là ổn định kinh tế vĩ mô để tạo nền tảng cho phát triển, với biện pháp là thắt chặt về tiền tệ, tài khóa, và kiểm soát đầu tư công. Nhưng để tạo được sự đồng thuận để thực hiện chính sách này thì Chính phủ cần phải tăng cường tính công khai minh bạch. Các địa phương và doanh nghiệp Nhà nước đều “muốn được ưu tiên vì lợi ích cục bộ”, nên không tránh khỏi việc “người nọ nhìn người kia”. Như vậy, nếu không công khai minh bạch thì không thể tái cấu trúc thành công.                Trong thời đại Internet hiện nay, nhu cầu và tính khả thi của minh bạch càng cao. Chính phủ cần tăng cường công khai thông tin qua Internet về các kế hoạch, chính sách, đặc biệt là công khai về đầu tư công. Quốc hội cũng cần công khai qua Internet về các dự án lớn được Chính phủ đệ trình. Internet là công cụ hữu hiệu để người dân góp ý kiến với Quốc hội, Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương về nhu cầu của họ, phản ánh chính xác đâu mới là dự án hợp lý mà họ thực sự cần.                 Lâu nay, nhiều dự án đầu tư công là do các doanh nghiệp Nhà nước khởi xướng. Ngay cả những chiến lược trọng điểm của Nhà nước cũng do các tập đoàn Nhà nước đề xuất. Vai trò tham gia, giám sát của người dân là rất ít. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư công mà còn khiến giảm sút lòng tin ở người dân. CGKT Phạm Chi Lan cho rằng “muốn tạo niềm tin ở người dân thì trước hết phải cung cấp cho họ đầy đủ thông tin”.                Như vậy, Ngân hàng Nhà nước cần được yêu cầu cao hơn về tính minh bạch, công khai thông tin về dòng tiền đầu tư công. Từ đó người dân mới có cơ sở để góp phần giám sát, phản hồi về những dự án và doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả.                Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, đòi hỏi công khai minh bạch thông tin càng phải cụ thể, chặt chẽ, trong đó cổ phần hóa là một biện pháp hữu hiệu. Cổ phần hóa sẽ tất yếu dẫn tới việc phải công khai thông tin trước công chúng. Cổ phần hóa chính là một sự sàng lọc tự nhiên, đòi hỏi doanh nghiệp phải chuyên nghiệp hóa để có đủ thông tin cung cấp cho công chúng.               Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang có một thuận lợi rất cơ bản, đó là chúng ta đã ý thức được mình phải thay đổi, và ý chí chính trị đó phần nào đã được thể hiện. Bên cạnh đó, tuy chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng chúng ta luôn có thể tự rút kinh nghiệm, cũng như học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè quốc tế.    Đầu tư công là một mảng rất quan trọng trong ba lĩnh vực tái cấu trúc, xin ông cho biết đâu là những vấn đề và mục tiêu cụ thể cần được đặt ra đối với nhiệm vụ tái cấu trúc đầu tư công?  Hiện nay, đầu tư công đang chiếm tới 40% tổng đầu tư của quốc gia. Trong 5 năm tới, chúng ta muốn tỷ lệ tổng đầu tư trên GDP giảm, trong đó tỷ lệ đầu tư công trên tổng đầu tư cũng giảm, còn khoảng trên dưới 34%. Nhưng điều chúng ta muốn đạt được không chỉ là giảm về tỷ lệ, mà là một sự thay đổi về bản chất. Vì vậy, cần nhìn nhận lại một hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công, bao gồm hiệu quả của từng dự án cũng như hiệu quả trong sức lan tỏa. Ví dụ xem lại đầu tư vào đâu thì tạo sức lan tỏa tốt, thúc đẩy thay vì làm thui chột đầu tư tư nhân.         Năm 2012 là năm quan trọng cho công cuộc tái cấu trúc vì vạn sự khởi đầu nan. Đây là năm chúng ta phải xây dựng được các đề án tái cấu trúc mà qua đó sẽ lộ diện ngay từ đầu những vấn đề cơ bản trong cải cách, từ tư duy tới cách làm và các kỹ thuật. Nếu tư duy cải cách vẫn chưa đúng thì tái cấu trúc sẽ chỉ nửa vời, không thực chất. Đồng thời, năm nay là năm lửa thử vàng khi thị trường, nhà đầu tư và người dân đều đang nhìn vào để xem liệu Nhà nước có thực sự tái cấu trúc được như đã nói hay không.         Đầu tư công liên quan trực tiếp đến ngân sách, tín dụng Nhà nước, vay nợ nước ngoài, … nên rất liên quan đến vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời, cũng liên quan nhiều đến các vấn đề thể chế. Nhiệm vụ quản lý đầu tư từ ngân sách, đầu tư tín dụng (như nguồn vốn ODA cho vay lại), đầu tư cho doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư trái phiếu Chính phủ, đều liên quan nhiều đến khuôn khổ pháp lý, vấn đề phân cấp, phân quyền, cơ chế chịu trách nhiệm. Cải cách đầu tư công thực chất là một cuộc cải cách sâu rộng về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước liên quan đến quản lý ngân sách, quản lý doanh nghiệp Nhà nước, phát triển kết cấu hạ tầng, v.v.  Để tiến hành một cuộc cải cách toàn diện, sâu rộng như ông đề cập thì cần có một lộ trình rõ ràng. Hiện nay chúng ta đã có lộ trình cụ thể cho ba nhiệm vụ tái cấu trúc hay chưa?  Hiện nay, đề án tái cấu trúc ngân hàng có thể nói là đã tương đối chi tiết và trên thực tế đã bắt tay vào thực hiện. Còn đề án tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước hiện nay đã bắt đầu có bản thảo, dự kiến hoàn thành trong Quý 1 này để trình Quốc hội thảo luận thông qua.   Tuy nhiên, dù các đề án đã được thông qua thì để triển khai thực hiện thành công đòi hỏi chúng ta phải có sự đổi mới tư duy rất rõ ràng như đã đề cập. Đồng thời qua các bước đi kỹ thuật, chúng ta phải luôn có sự đánh giá lại qua phản hồi từ thị trường và qua tương tác với các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh để kịp thời có những điều chỉnh cần thiết.  Quá trình triển khai thực hiện các đề án dự kiến kết thúc trong khoảng 4-5 năm. Hi vọng rằng chúng ta sẽ được thấy những kết quả có ý nghĩa trong hai năm đầu tiên.  Những trồi sụt vừa qua của nền kinh tế chắc chắn liên quan đến việc thực hiện các chiến lược kinh tế chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Theo ông, công tác làm chiến lược kinh tế và tổ chức thực hiện ở Việt Nam còn có hạn chế, vướng mắc gì?   Nói đến chiến lược kinh tế là phải nói đến các cách thức và động lực tạo ra tăng trưởng và phát triển. Hiện nay, một vướng mắc cơ bản trong công tác xây dựng chiến lược là chúng ta vẫn chưa quyết định rõ ràng sẽ chú trọng động lực phát triển nào cho Việt Nam. Liệu chúng ta sẽ tiếp tục chú trọng vào khu vực doanh nghiệp Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài, hay là chú trọng khu vực tư nhân trong nước?  Trong tổ chức thực hiện chiến lược, cách làm của chúng ta còn có những thiếu sót cần được điều chỉnh và bổ sung. Một là cần có nguồn lực để tổ chức thực thi các chiến lược. Trong chiến lược cấp Trung ương và địa phương đều chưa thể hiện tốt được việc xác định nguồn lực thực hiện. Vì vậy, các nhà tài trợ vẫn nói là chúng ta thường vẽ ra các viễn cảnh nhưng thiếu nguồn lực để triển khai vào thực tế.  Cái thiếu thứ hai là vấn đề giám sát và đánh giá rủi ro có thể xuất hiện. Hai công đoạn này chúng ta thực ra cũng có ở đâu đó, nhưng còn yếu và mờ nhạt. Công tác giám sát vẫn yếu về chuyên môn, thiếu tầm nhìn, thiếu tính độc lập, có khi bị ràng buộc bởi thể chế và giới hạn trong phạm vi hẹp của từng ngành. Chính vì yếu công tác giám sát nên các dự án của chúng ta thường thiếu khả năng điều chỉnh linh hoạt, đồng thời bị giảm khả năng giải trình minh bạch trước xã hội. Công tác đánh giá rủi ro chưa hiệu quả để chúng ta có thể đưa ra được những biện pháp hữu hiệu cần thiết nhằm hạn chế rủi ro.  Xin cảm ơn ông!    PV       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời hứa của Tổng thống      Một ngày cuối tháng 10, đưa con đến Mẫu giáo, tôi được cô giáo thông báo xuống gặp tài vụ để nhận tiền bồi hoàn của chính phủ – 20% của khoản tiền chúng tôi vẫn nộp hằng tháng cho con đi học.    Sực nhớ đến chương trình Tổng thống LB Nga trả lời chất vấn người dân qua truyền hình trực tiếp vào ngày 18-10, tức là mới cách đó độ mươi ngày, mọi ấn tượng còn rất tươi mới, tôi chợt hiểu ra rằng, đây chính là… “lời hứa của Tổng thống”!  Hôm ấy, trả lời câu hỏi của một nhân viên phòng thí nghiệm khoa học thành phố Novosibirsk – anh IA. Rokshun – về “học phí” cho trẻ đi Mẫu giáo, V. Putin đã tỏ ra rất tường tận những cấn cái của người dân trong vấn đề này. Tính đến thời điểm đầu tháng 10-2007, ở khu vực Matxcơva và các thành phố ngoại vi thì mỗi tháng, nhà nước thu của mỗi cháu trên dưới 1000 rúp, nghĩa là bằng toàn bộ lương tối thiểu của dân Nga tính từ ngày 1-5-2006 đến 1-9-2007. Mặc dù từ tháng 9-2007, lương tối thiểu đã tăng gấp đôi, số tiền phải nộp cũng vẫn là lớn so với mức sinh hoạt của người dân, đó là chưa kể đến tiền bảo vệ, tiền mua giấy bút, tiền mua một số nhu yếu phẩm khác. V. Putin giải thích rất cụ thể lý do phụ huynh phải đóng góp tài chính cho trường đồng thời nêu rõ, chính phủ hiểu sâu sắc những khó khăn của dân và đã có những động thái sửa đổi quan trọng. Đó là quyết đinh: đối với trẻ là con thứ nhất trong gia đình, nhà nước sẽ bồi hoàn lại 20% số tiền bố mẹ phải đóng góp, đối với trẻ là con thứ hai – 50%, trẻ là con thứ ba– 70%. Ông nhấn mạnh rằng sẽ theo dõi để “dự án hỗ trợ gia đình” này của chính phủ hoạt động có kết quả ở các thành phố nhỏ, nhất là vùng sâu vùng xa, và hứa “chính phủ sẽ có những giúp đỡ nhất định về vật chất cho địa phương khó khăn” nhằm triệt để giải quyết vấn đề đã nêu.  Cầm đồng tiền bồi hoàn trên tay, tôi rất xúc động. Hình như, đây là lần đầu tiên trong đời, tôi trực tiếp cảm nhận được “lời hứa” của một yếu nhân trong chính phủ có ảnh hưởng lớn thế nào đối với người dân. Dám hứa và biết giữ lời – phải chăng dân Nga sùng bái Tổng thống của mình phần nào vì phẩm chất ấy?  Còn nhớ, cuối năm 2005, giá một chiếc bánh mì trắng đột nhiên tăng từ 8 rúp lên 10 rúp. Nghe có vẻ không quá nhiều, nhưng điều đó khiến nhiều người Nga nghèo càng chật vật vì bánh mì là thức chính trong bữa ăn của họ. Rất may, tình hình đó kéo dài chỉ độ trong vòng vài tuần, vì sau khi nhận được những lời phàn nàn của dân, Tổng thống đã làm việc với các bộ ngành và giá bánh mì được điều chỉnh trở lại như cũ – 8 rúp. Không rõ quyết định ấy có ảnh hưởng gì đến những “người Nga mới” không, chứ các bà già trong khu nhà tôi ở đều hân hoan ra mặt.  Năm nay, những ngày tháng 10, giá cả sinh hoạt cũng lại bỗng tăng vòn vọt (tăng 10%). Đó cũng là lý do khiến đảng Cộng sản Nga chĩa mũi dùi vào cái gọi là “kế hoạch của Putin” trong các tờ rơi quảng cáo của mình bằng hình ảnh giá sữa từ 25 rúp lên 42 rúp, dầu ăn từ 37 lên 58 rúp, chua thêm câu: “Phải chăng khiến dân chết đói – đó chính là kế hoạch?”.  Trên thực tế, ngày 24-10-2007, theo chỉ thị của Putin, đã có thỏa thuận được ký kết giữa chính phủ và các nhà sản xuất thực phẩm, các nhà phân phối bán lẻ nhằm ngăn chặn lạm phát ở Nga. Trong thỏa thuận có hiệu lực đến ngày 31-01-2008 (có thể sẽ được gia hạn) này, các nhà phân phối thực phẩm đồng ý “đóng băng” giá bán lẻ được xác định vào thời điểm 15-10-2007 đối với các loại hàng thực phẩm gồm bánh mì trắng, đen, sữa béo 1,5%, sữa chua độ béo không dưới 1%, trứng và dầu thực vật.  Lẽ đương nhiên, Putin không phải là thầy phù thủy Dumbledore để có thể trong một vài ngày đưa mọi thứ vào trật tự của nó như người ta mong muốn, nhưng trong con mắt của dân Nga, rõ ràng ông đã “nói và làm”, thậm chí, hơn thế, có một đài địa phương đã bình luận về Putin như thế này sau cuộc tiếp xúc với dân lần thứ 6 của ông vào giữa tháng 10-2007:  “Putin là ông tiên, là người có phép thần thông đấy. Bạn muốn ước mơ trong đời của mình trở thành hiện thực ư, hãy cố gắng một lần trò chuyện với ông qua đường dây nóng. Cơ hội này một năm có một lần. Nhưng năm nay, rất tiếc, đã là lần cuối cùng có thể thực hiện ước mơ… Liệu Tổng thống kế vị có là ông tiên như thế không? Ta phải chờ xem…”  Thực lòng mà nói, khi đi trên taxi, tình cờ nghe được câu bình luận ấy, tôi cảm giác được đôi chút mỉa mai, bởi lẽ, công việc của chính phủ đâu phải một mình cá nhân nào giải quyết được.  Không hay ho gì tệ “sùng bái cá nhân” – lịch sử đã chứng minh rằng, điều đó không ít lần đưa cả một dân tộc đến con đường đau khổ. Song, hoàn toàn có thể “hâm mộ” một con người, nếu con người ấy thực sự đem đến cho bạn những cảm nhận tốt đẹp và cái nhìn hân hoan hơn về cuộc sống.  Và bác tài xế taxi gật đầu rất mạnh đồng tình với tôi ở điểm ấy. Cũng như tôi, bác hâm mộ Putin!  Thụy Anh, từ LB Nga      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi ích cao nhất cho nông dân      Ngay từ đầu năm 2008, nước ta phải chịu những đợt thời tiết khắc nghiệt, nên nếu vụ hè thu này mùa màng không thuận lợi, vấn đề lương thực sẽ trở nên rất gay gắt. Làm thế nào để vừa bảo đảm xuất khẩu gạo, vừa bảo đảm an ninh lương thực trong hoàn cảnh hiện nay? Trọng tâm của bài toán vẫn là “lợi ích nhà nông”.    Tháng 3/2008, Thủ tướng Chính phủ có chủ trương tạm ngưng ký hợp đồng xuất khẩu gạo mới nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phầm kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đã “lách luật” vẫn  xuất khẩu gạo bằng cách báo cáo xuất khẩu gạo thơm và nếp – loại được khuyến khích xuất khẩu – nhưng vẫn là gạo thường.  Với thực tế là chi phí đầu vào cho sản xuất gạo ở Việt Nam đang ngày một tăng, nhất là giá phân bón, thuốc trừ sâu, chi phí cho thu hoạch, v.v…; trong khi đó, giá gạo thế giới lại tăng vọt do lượng gạo dự trữ trên thế giới lại thấp nhất trong 20 năm qua (theo FAO, chỉ đạt 60-70 triệu tấn), khí hậu toàn cầu năm 2008 lại biến động bất lợi cho sản xuất nông nghiệp… có thể nói, việc xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện vẫn hết sức cần thiết.  Có ba giải pháp cho xuất khẩu gạo: Áp dụng hạng ngạch; Đánh thuế xuất khẩu và Áp dụng đồng thời cả hai giải pháp trên.  Áp dụng hạng ngạch xuất khẩu gạo là một cơ chế dễ quản lý từ “trên” nhưng cũng lại dễ gây ra tình trạng “xin, cho”, chưa kể tệ nhũng nhiễu, hối lộ. Có hạn ngạch, doanh nghiệp có thể ép giá đối với nông dân và thu hết phần lớn lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu tốt có thể thiếu hạn ngạch, doanh nghiệp xuất khẩu kém có thể thừa hạn ngạch. Sự thay đổi hạn ngạch lại phải “xin, cho” gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu khi đã lỡ ký hợp đồng với nước ngoài. Vấn đề kiểm tra xác nhận hạn ngạch và hợp đồng xuất khẩu gạo phức tạp, kéo theothời gian, chi phí, rắc rối phát sinh… có thể làm cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo mất thị trường.  Theo tôi,  áp dụng hạn ngạch xuất khẩu gạo là một bước lùi khiến nông dân vừa bị thiệt thòi, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo lại bị nhiều phiền toái.  Đánh thuế xuất khẩu gạo là một giải pháp phù hợp với kinh tế thị trường. Giá cả biến động,  nông dân sẽ luôn phải tự mình theo dõi sự biến động thị trường thế giới, khu vực và trong nước để quyết định thời điểm bán ra và thời gian phải dự trữ lại để cuối cùng có lợi nhất cho mình. Từ đó, nông dân có thể làm quen và học hỏi nâng cao trình độ sản xuất lương thực đạt tiêu chuẩn cao, phù hợp với thị trường và tiến tới xuất khẩu gạo trực tiếp “từ gốc đến ngọn” không qua trung gian. Khi giá gạo trong nước tăng cao, một mức thuế xuất khẩu cao sẽ khuyến khích nông dân và người xuất khẩu gạo tăng lượng bán gạo trong nội địa. Khi giá gạo thị trường nội địa xuống thấp hơn giá gạo thế giới, mức thuế xuất khẩu gạo được điều chỉnh, nông dân sẽ tự bán gạo cho doanh nghiệp xuất khẩu để đạt lợi nhuận cao hơn. Thị trường điều tiết, người nông dân phải thực sự “suy nghĩ trên thửa ruộng của mình”.  Ở tầm vĩ mô, một quốc gia cần phải kết hợp đồng thời hạn ngạch và đánh thuế xuất khẩu gạo. Năm 2008, chỉ tiêu xuất khẩu gạo của Việt Nam tối đa mà Chính phủ đề ra là 3,5-4,0 triệu tấn, trong đó, từ nay đến tháng 9-2008 chỉ xuất khẩu 3,2 triệu tấn gạo. Vào quý 3, sau khi đã cân đối lại sản lượng, mùa vụ, con số này có thể được điều chỉnh. Con số tối đa 3,5-4,0 triệu tấn và 3,2 triệu tấn là hạn ngạch, trong quá trình xuất khẩu gạo vẫn có thể đánh thuế thuế xuất khẩu gạo.  Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài Chính nghiên cứu biểu thuế và áp dụng đánh thuế trong việc xuất khẩu gạo. Hiện vẫn có ý kiến cho rằng: “việc đánh thuế xuất khẩu gạo phải có lộ trình chứ không phải triển khai được ngay”. Đúng là mọi chủ trương đều cần lộ trình , song vấn đề là chủ trương đó mang lại lợi ích cho ai, đến mức độ nào?  Theo tôi, tất cả các giải pháp về lương thực hiện nay đều phải có mục đích cuối cùng  là đem lại lợi ích cao nhất nông dân. Nếu không có lợi ích cao nhất, người nông dân sẽ còn “hăng hái” sản xuất lương thực và tìm mọi cách sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác có lợi hơn, lúc đó hậu quả sẽ khôn lường.  Nguyễn Hoàn       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi thế cạnh tranh: Hiệu ứng boomerang      Khi giá nhân công ở Trung Quốc tăng, việc sản xuất đang quay lại thế giới giàu.    30 năm trước Thâm Quyến, giáp với biên giới Tân Giới của Hồng Kông, chỉ hơn một làng chài chút xíu. Khi Đặc khu Kinh tế đầu tiên của Trung Quốc được thành lập vào đầu các năm 1980, các xưởng bắt đầu mọc lên và các tòa nhà chọc trời lấp lánh bắt đầu nổi lên. Dân số của nó bây giờ khoảng 12 triệu, kể cả có lẽ 6 triệu lao động di cư. Họ thường sống trong các nhà tập thể gần các nhà máy mà đã giúp biến thành phố này thành một thành phố giàu nhất ở Trung Quốc.  Một trong các nhà máy này được biết đến như Foxconn City. Nó do Hon Hai Precision Industry, một công ty Đài Loan, sở hữu, là một trong các tổ hợp chế tác lớn nhất ở Trung Quốc, có khoảng 230.000 nhân viên. Một số iPhone và iPad của Apple được lắp ráp ở đây. Tháng Ba Apple đã đồng ý cải thiện điều kiện làm việc tại các nhà máy Trung Quốc của nó sau khi một cuộc kiểm toán bên ngoài phát hiện sự lạm dụng quy chế lao động, kể cả việc làm thêm giờ quá mức.  Các nước chế tạo các thứ một cách rẻ hơn các nước khác, thường bị tố cáo vận hành các xưởng bóc lột nhân công tàn tệ, và không nghi ngờ gì lao động ở Trung Quốc đã rẻ: đó là vì sao các nhà máy may và đồ chơi của Hồng Kông đã chuyển vào Trung hoa lục địa. Nhưng với sự thịnh vượng gia tăng các công nhân Trung Quốc muốn nhiều lương hơn, giờ làm việc ngắn hơn và nhiều phúc lợi hơn, hệt như các công nhân Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc đã muốn trước họ. Chi phí lao động ở Trung Quốc gần đây đã tăng khoảng 20% một năm.  Một số doanh nghiệp tốn lao động bây giờ chuyển từ các vùng duyên hải vào nội địa Trung Quốc, nơi các chi phí thấp hơn, dù hạ tầng cơ sở có thể không đạt tiêu chuẩn. Nhiều hãng, đặc biệt là các hãng sản xuất quần áo và giày dép, đã bỏ đi và chuyển sang Bangladesh, Cambodia, Indonesia và Việt Nam. Thí dụ, ở Trung Quốc Nike đã từng tạo ra phần đông nhất trong số các cán bộ đào tạo (trainer) của mình, nhưng nhiều nhà cung cấp lớn của nó đã chuyển đi nơi khác, và vào năm 2010 Việt Nam đã trở thành cơ sở sản xuất lớn nhất của công ty trên toàn thế giới. Trừ phi xuất hiện cách nào đó để sản xuất quần áo và giày dép không cần lao động chân tay (mà, như báo cáo này sẽ gợi ý muộn hơn, là hoàn toàn có thể), các doanh nghiệp này sẽ lại chuyển đi trong tương lai; Myanmar có vẻ cám dỗ, với điều kiện là các cuộc cải cách ở đó tiếp tục.  Thế nhưng đối với một số nhà chế tạo, các chi phí lao động thấp ngày càng trở nên ít quan trọng hơn bởi vì lao động chỉ chiếm một phần nhỏ của tổng chi phí sản xuất và bán các sản phẩm của họ. Các nhà nghiên cứu cho Trung tâm Công nghiệp Tính toán Cá nhân (Personal Computing Industry Centre) tại Đại học California, Irvine, đã tháo rời một iPad và xem xét các phần khác nhau ở bên trong máy đến từ đâu và có chi phí bao nhiêu để sản xuất và lắp ráp chúng (xem hình 1). Họ thấy rằng một chiếc iPad với 16-gigabyte năm 2010 được bán với giá $499 chứa các vật liệu và bộ phận có giá trị $154 từ các nhà cung cấp Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Âu châu (Apple có tổng cộng hơn 150 nhà cung cấp, nhiều trong số đó cũng sản xuất hay hoàn tất bộ phận của họ ở Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu ước tính toàn bộ chi phí lao động khắp thế giới cho iPad là $33, trong đó phần của Trung Quốc đã chỉ là $8. Apple liên tục tinh chỉnh các sản phẩm của nó cho nên các con số thay đổi liên tục, nhưng không nhiều.    Hình 1  Nếu Trung Quốc cung cấp một phần nhỏ như vậy của tổng chi phí lao động, chắc Apple có thể sản xuất iPad ở Mỹ? Hóa ra là, lương thấp không phải là sự hấp dẫn duy nhất. Cái Thâm Quyến có để chào mời là kinh nghiệm 30 năm sản xuất đồ điện tử. Nó có một mạng lưới các hãng với các chuỗi cung ứng tinh vi, nhiều kỹ năng thiết kế và kỹ thuật, hiểu biết riêng biệt về các quá trình sản xuất của họ và sự sẵn lòng lao vào hành động nếu được yêu cầu tăng quy mô sản xuất.  Cái Thâm Quyến cung cấp, nói cách khác, là một cụm (cluster) công nghiệp thành công. Tốt cho Apple bởi vì các bộ phận điện tử nó sử dụng là các mặt hàng thông dụng. Đổi mới sáng tạo thật sự nằm ở việc thiết kế sản phẩm và tạo ra phần mềm thông minh, mà là đặc sản của một cluster thành công khác, ở Thung lũng Silicon, nơi Apple có trụ sở.  Trung Quốc ghi điểm ở đâu  Li & Fung, một hãng Hồng Kông giúp các công ty tìm các nhà cung cấp ở châu Á, nói trong một báo cáo nghiên cứu gần đây rằng các cluster giống Thâm Quyến là “một phần không tách rời của năng lực quốc tế của Trung Quốc trong chế tác”. Có hơn 100 cụm công nghiệp ở Trung Quốc – kể cả cụm tại Chư Kỵ (Zhuji) ở tỉnh Chiết Giang (Zhejiang), nơi chỉ sản xuất bít tất. Nó gồm hơn 3.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi sản xuất bít tất. Chừng nào các cụm công nghiệp của Trung Quốc duy trì được tính sắc sảo của chúng, những việc làm này, bất luận là sản xuất iPad hay bít tất, sẽ không quay lại Mỹ hay châu Âu.  Thế nhưng một số việc làm đang quay lại các nước đã phát triển. Với chi phí lương Trung Quốc tăng lên, những cải thiện năng suất của Mỹ có thể giúp làm lật cán cân, đặc biệt khi các hãng Mỹ đầu tư vào tự động hóa nhiều hơn. Nhưng mà các robot có thể được dùng ở bất cứ đâu để giảm các chi phí lao động, Thí dụ, Terry Gou, ông chủ của Hon Hai, nói ông có kế hoạch dùng nhiều robot hơn cho công việc lắp ráp ở Trung Quốc. Ông cũng dựng lên các nhà máy ở một số tỉnh nội địa.  Lại lần nữa, chi phí lương không phải là cân nhắc duy nhất trong chuyển sản xuất từ Trung Quốc quay về Mỹ. Công ty Chesapeake Bay Candle đã thường vận chuyển nến thơm cho thị trường Mỹ từ Trung Quốc, và sau đó từ Việt Nam khi Mỹ tăng thuế nhập khẩu nến sản xuất tại Trung Quốc. Vào tháng Sáu 2011 công ty đã mở một nhà máy được tự động hóa cao gần cơ sở của nó ở Maryland, một phần vì chi phí lao động tăng ở châu Á và các chi phí vận tải gia tăng, nhưng cũng vì do có cơ sở nghiên cứu và phát triển trong nhà máy Mỹ cho phép công ty đáp ứng với các xu hướng mới nhanh hơn nhiều.  Nhà sản xuất nến này vẫn giữ nhà máy của mình ở Trung Quốc để phục vụ thị trường nội địa mênh mông ở đó. Nhiều hãng chọn chiến lượng “Trung Quốc cộng một” này, thường đặt một cơ sở sản xuất thêm tại một nước chi phí thấp ở châu Á. Ý tưởng này bây giờ được mở rộng cho việc hồi hương các cơ sở chế tác về các nước giàu. Việc này cũng cứu các công ty khỏi để tất cả trứng của họ vào một rổ. Một loạt các tai họa thiên nhiên trong các năm gần đây đã cho thấy các chuỗi cung tinh gọn có thể quá dễ gãy.  Đối với Peerless AV, một công ty có cơ sở ở Aurora, Illinois, chuyển việc sản xuất từ Trung Quốc về nước đã bắt đầu với sự lo ngại về bảo vệ sở hữu trí tuệ của mình. Peerless sản xuất các bộ gá và giá đỡ kim loại cho đủ loại TV, từ mắc treo các màn hình ở văn phòng đến các bảng thông tin tại các ga xe lửa và “các tường video” khổng lồ dùng tại các sự kiện âm nhạc và thể thao. Để làm các giá đỡ nhẹ hơn, nhìn đẹp hơn cho các màn hình mỏng hơn mà nó thấy sẽ đến, công ty đã quyết định trong năm 2002 để sản xuất một dải sản phẩm bằng nhôm thay cho bằng thép. Không thể tìm thấy một hãng Mỹ để cung cấp các sản phẩm ép đùn và đúc phù hợp với giá tốt, nó đã quay sang Trung Quốc. Khi các màn hình mỏng nở rộ, doanh số tăng vọt – nhưng sau đó công ty đã bắt đầu thấy các bản sao các sản phẩm của mình xuất hiện khắp thế giới.  Chính những sao chép bất hợp pháp này là cái đã dẫn đến quyết định đưa sản xuất quay về Mỹ, Mike Campagna, chủ tịch hãng, nói. Tiếp theo là các lợi ích khác. Ngẫu nhiên công nghiệp ô tô xuống dốc và công ty đã có thể mua thiết bị chế tạo mà nó cần với giá thấp. Nó dũng đã tìm được cách để lần tìm những người có kinh nghiệm sản xuất. Lần đầu tiên kể từ khi khai trương năm 1941, hãng đã đi vay: 20 triệu $ để xây dựng và trang bị một nhà máy mới, mà đã mở cửa trong năm 2010 để quy tụ tất cả hoạt động của nó dưới một mái nhà.  “Tổng chi phí chế tác ở Trung Quốc không rẻ như nó có vẻ,” Campagna nói. Các chi phí vận tải đã tăng lên, container là đắt và phải duy trì nhân viên ở cả hai nước để quản lý hoạt động. Cũng khó để phản ứng nhanh nếu thị trường thay đổi. Thường cần lượng tồn trữ khoảng 30 ngày tại mỗi khâu của chuỗi cung: hàng tồn của các nhà cung cấp cho nhà máy Trung Quốc, lượng tồn trữ của chính nhà máy đó, dung lượng của một container tàu biển trên đường đến Mỹ, và vân vân. Một sự thay đổi thiết kế có thể cần ít nhất sáu tháng để thực hiện. Bây giờ công ty có thể có một nguyên mẫu cho một khách hàng trong vài tuần.  Ông Campagna sẽ vui hơn nếu giả như nền kinh tế sáng sủa hơn, nhưng ông nói rằng sản xuất 95% các sản phẩm của nó ở Mỹ thay cho 65% đã làm biến đổi việc kinh doanh của hãng. Công ty đã thường có 250 công nhân ở Mỹ và 400 ở Trung Quốc; bây giờ nó có 350 ở Mỹ và các robot làm những công việc nóng và bẩn, như rót nhôm nóng chảy và thép được cắt bằng laser. Cách sắp đặt mới, Campagna đánh giá, “làm cho chúng tôi rất linh lợi”. Việc đó không chỉ đẩy nhanh việc sản xuất các giá đỡ tùy chỉnh theo đơn khách hàng, nó cũng giúp các sản phẩm chuẩn. Các sản phẩm chuẩn của công ty thường đã có vòng đời mười năm, nhưng với các TV mới xuất hiện với một tốc độ nhanh hơn bao giờ hết thì các gá đỡ và giá đỡ của nó bây giờ cần thay mỗi khoảng 18 tháng.  Nắng và silicon  Cũng có thể hồi hương công việc cho các mặt hàng thông dụng? Cho đến khoảng một thập niên trước hầu hết các bảng (pin) mặt trời được sản xuất bởi các hãng Mỹ, Âu châu và Nhật. Rồi các nhà chế tạo Trung Quốc đã chen vào ngành này, được hỗ trợ bởi các khuyến khích khác nhau của chính phủ. Trung Quốc bây giờ đã chiếm hơn nửa thị trường thế giới đối với các bảng pin mặt trời được dùng rộng rãi nhất, dựa vào các tế bào quang điện được làm từ silicon tinh thể. Nhưng điều đó lại có thể thay đổi.  Một phần bởi vì sự tấn công của Trung Quốc, (các công ty ở) dưới đáy bị loại khỏi thị trường: theo GTM Research, một hãng nghiên cứu thị trường, giá của các bảng pin mặt trời dựa trên silicon đã sụt từ $1,80/watt vào đầu năm 2011 xuống 90 cent/watt vào cuối năm đó. Việc này đã đánh bại hoàn toàn một số hãng sử dụng các công nghệ pin mặt trời khác. Một trong số những thương vong đó đã là Solyndra, một hãng ở California, đã chế tạo các bảng quang điện dưới dạng mảng các ống trong suốt được phủ film-màng mỏng. Mặc dù đắt hơn các bảng dựa trên silicon, các ống đã có khả năng thâu ánh nắng hiệu quả hơn ở các góc khác nhau suốt ngày. Nhưng Solyndra đã không thể cạnh tranh chống lại sự dư dật của các bảng pin Trung Quốc. Nó đã xin tuyên bố bảo hộ phá sản theo Chương 11 cuối năm vừa qua, bất chấp đã nhận được (một cách đáng tranh cãi) $535 triệu bảo lãnh vay liên bang.  Các nhà sản xuất bảng pin mặt trời đang chiến đấu, thường mấy tiền, trong việc đoán trước về thị trường khổng lồ sẽ đến khi các bảng mặt trời đạt “độ ngang bằng mạng lưới-grid parity”—tức là, khả năng ngang sức với nhiên liệu hóa thạch trong cung cấp điện năng cho mạng lưới quốc gia mà không có trợ cấp. Zhengrong Shi, ông chủ Suntech Power của Trung Quốc, mà đã trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới về bảng mặt trời, nghĩ rằng thị trường bây giờ đang cho thấy các dấu hiệu lên và rằng Trung Quốc có thể đạt độ ngang bằng mạng lưới trong vòng ba hay bốn năm.  Thế thì có cơ hội nào cho các nhà sản xuất bảng mặt trời ở châu Âu và Mỹ? Để bắt đầu, không phải là một sự lựa chọn tất cả-hay-không gì cả. Để làm một bảng mặt trời, silicon được cắt thành các phiến mà trên đó các tế bào quang điện được tạo ra. Sau đó các tế bào được nối dây, đóng vỏ trong các khung và phủ bằng kính. Biến các tế bào thành các bảng có thể được tiến hành một cách kinh tế hơn ở nước nơi chúng được dùng để tiết kiệm các chi phí chuyên chở. Và lắp các bảng vào các tòa nhà, mà việc này chiếm phần lớn nhất của chi phí năng lượng mặt trời, luôn luôn là việc kinh doanh địa phương. Giá lắp đặt ở Mỹ hiện nay là khoảng $6,50/watt cho một căn nhà. Vì thế các hãng phương Tây có thể nhập khẩu các pin mặt trời từ Trung Quốc và kiếm khá tiền từ việc lắp đặt. Nhưng có những tiến bộ chế tạo trong quá trình mà có thể làm ngang bằng chi phí sản xuất pin dựa trên silicon ở Mỹ và Trung Quốc, Tonio Buonassisi, trưởng Phòng Thí nghiệm Photovoltaic Research Laboratory tại MIT, nói.     Có thể tính toán từ các dữ liệu sẵn có công khai rằng chi phí chế tạo một bảng pin mặt trời hoàn chỉnh ở Mỹ là cao hơn khoảng 25% so với sản xuất ở Trung Quốc và chuyên chở đến bờ tây nước Mỹ. Phần lớn lợi thế chi phí của Trung Quốc là từ vật liệu rẻ hơn, lương thấp hơn và chi phí vốn thấp hơn. Doug Powell, một nhà nghiên cứu tại Photovoltaic Research Laboratory, tiến hành một phân tích chi tiết về các chi phí sản xuất ở cả hai nước. Sau khi phân tích các nhân tố về các tiến bộ chế tạo trong quá trình rồi, chi phí của một bảng pin mặt trời chế tạo tại Mỹ sẽ giảm hơn một nửa, xuống khoảng 50 cent/watt, trong vòng một thập niên (xem hình 2). Các bảng pin mặt trời có thể chế tạo ở giá 40-75 cent/watt được kỳ vọng là tạo ra sự ngang bằng mạng lưới ở Mỹ. Sự thay đổi (từ 0,40 đến 0,75 $) phản ánh những khác biệt khu vực về lượng nắng và giá điện.    Hình 2  Chẳng có gì chặn Trung Quốc đạt được cùng những sự đột phá chế tạo, và Powell cũng khảo sát các tác động của việc đó nữa. Nhưng đã rõ rằng nhiều đổi mới sáng tạo sản xuất bây giờ đang tiến hành sẽ loại bỏ các lợi thế của Trung Quốc. Thí dụ, các phương pháp sản xuất mới dính líu đến các phiến mỏng hơn, làm giảm lượng silicon cần thiết. Các tế bào sẽ trở nên hiệu quả hơn, việc sản xuất được đơn giản hóa sẽ làm giảm chi phí vốn và tự động hóa nhiều hơn sẽ cắt bớt chi phí lao động. “Bạn chỉ thực sự cần một sự đột phá trong mỗi lĩnh vực đổi mới sáng tạo có kết quả và chúng ta quay lại trong ngành kinh doanh này,” Buonassisi nói.  Mặc dù Solyndra và các hãng khác đã vấp ngã, công nghệ film màng mỏng họ sử dụng vẫn hấp dẫn. Nhất là GE đang đánh cuộc về nó. Như một phần của một khoản đầu tư 600 triệu $ trong kinh doanh pin mặt trời nó đang hoàn tất nhà máy bảng pin mặt trời lớn nhất Mỹ gần Denver, Colorado. Nó sẽ sử dụng công nghệ film màng mỏng để làm ra các bảng lớn hơn và nhẹ hơn mà nó đánh giá sẽ cắt khoảng một nửa các chi phí lắp đặt. Sử dụng đúng 350 người, cơ sở của GE sẽ có khả năng sản xuất đủ số bảng trong một năm cho khoảng 80.000 ngôi nhà.  Nguyễn Quang A dịch    Đọc thêm:  * Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5530  * Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5531    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi thế dân số      Cuộc phỏng vấn giáo sư Gary Becker, người từng được giải thưởng Nobel, về sự già hóa của xã hội Đức, về kế hoạch xây dựng nhà trẻ, trường mẫu giáo của chính phủ Đức và về dự kiến nâng tuổi nghỉ hưu lên 70 của SPIEGEL ONLINE.    Becker: Tôi nghĩ rằng về một khía cạnh nào đó thì việc chăm sóc, nuôi nấng trẻ em không phải là công việc của nhà nước. Một khi thực sự có nhu cầu thì thị trường sẽ đứng ra lo việc nuôi dưỡng này. Đây không phải là một công việc kinh doanh mang tính tổng hợp: cần phải có một vài căn phòng, phải chú ý đến bọn trẻ, phải lo cho chúng ăn uống.  Tại nước Mỹ có nhiều cơ sở cung ứng dịch vụ này nhằm  đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Mặt khác – mà đây mới là vấn đề then chốt – việc xây dựng nhà trẻ không tạo ra sự kích thích để chấm dứt tình trạng mỗi gia đình chỉ có một con để rồi tăng lên hai hoặc ba con. Phần lớn các bậc cha mẹ chỉ  muốn có một con và sẽ  đầu tư hết sức vào viêc nuôi dạy đứa con đó. Tôi coi đây là sự cân nhắc giữa chất và lượng trong việc sinh đẻ con cái.  Nghe thế có vẻ như hơi thô thiển, cay độc – dường như trẻ em là những sản phẩm kinh tế vậy.  Chúng ta cần phải thực tế. Đối với phần lớn các gia đình thì quyết định có một hay nhiều con là một vấn đề về  kinh tế. Những gia đình này coi hạn chế số lượng con cái là hợp lý. Quan niệm này có khi lại mâu thuẫn với mục tiêu chung của toàn xã hội.  Thưa giáo sư việc dân số đang ngày càng giảm sút có thực sự là một thảm họa như người ta thường đề cập hay không? Phải chăng lo lắng này là thái quá?  Nhiều nhà kinh tế cho rằng, dân số giảm cũng chẳng có gì đáng lo ngại cả. Tôi không nghĩ như vậy. Ngược lại, tôi cho rằng trong một xã hội hiện đại thì sự tăng trưởng dân số lành mạnh sẽ có lợi về kinh tế. Thí dụ: các hãng bào chế thuốc chữa bệnh sẽ ít được kích thích trong việc nghiên cứu, phát triển các loại thuốc chữa bệnh mới một khi dân số giảm đi. Bởi nếu như vậy thì những sáng kiến, phát minh mới không thu lợi được nhanh như mong muốn. Một điều không thể chối cãi là sự giảm sút về dân số là một gánh nặng đối với hệ thống xã hội. Vì thế người ta buộc phải tăng tuổi nghỉ hưu. Nhật bản đã thực hiện điều đó, ở Nhật tuổi nghỉ hưu bình quân ở đàn ông là 68.  Đức cũng có ý định  nâng tuổi nghỉ hưu theo luật định lên 67.  Tôi cũng nắm sơ bộ luật pháp của Đức. Tôi thấy dự kiến các bước để thực hiện điều đó kéo dài quá, cần phải rút ngắn lại. Các vị hãy xem tôi đây này, tôi đã cuối tuổi bẩy mươi  vậy mà vẫn đi làm cả ngày. Tất nhiên không phải ai cũng có thể làm được như vậy. Nhưng tuổi thọ của chúng ta giờ đây cao hơn, sức khỏe của chúng ta cả về thể chất lẫn tinh thần đều tốt hơn nhiều so với trước. Tôi không thể hiểu vì sao nhiều nước châu Âu lại khích lệ người ta về hưu ở cuối tuổi 50, đây thực sự là một sự khích lệ thiếu lành mạnh.  Theo Giáo sư liệu châu Âu có thể giải quyết nổi cuộc khủng hoảng dân số hiện nay  không?  Nếu tỷ lệ sinh đẻ giữ nguyên như hiện nay thì một dân tộc như dân tộc Italia sau năm đến sáu thế hệ sẽ bị tiêu biến. Liệu các xã hội ở châu Âu có xử lý được vấn đề này hay không lệ thuộc rất nhiều vào việc các xã hội đó có ít nhiều chấp nhận chính sách nhập cư hay không. Theo quan điểm của tôi thì đây chính là biện pháp có hiệu quả nhất để ổn định, thậm chí để tăng dân số. Đây cũng là biện pháp ít tốn kém nhất: những người nhập cư  được các nước khác nuôi nấng, giáo dục và đào tạo, họ di cư và làm việc, nộp thuế đồng thời giảm nhẹ gánh nặng đối với  hệ thống xã hội ở đất nước của bạn.  Ít ra thì khi những người nhập cư đó là những người trẻ tuổi, khỏe mạnh và có trình độ học vấn cao.  Vì thế tôi tán thành một hệ thống cho điểm. Những người được đào tạo tốt sẽ có nhiều điểm hơn và dễ dàng được nhập cư hơn so với những người có ít điểm hơn. Những nước như Newzealand và Australia đã áp dụng thành công vấn đề này. Mỹ và châu Âu trong vấn đề nhập cư chưa chú trọng nhiều đến trình độ của người xin nhập cư.    Thưa giáo sư đến một lúc nào đó có thể xảy ra tình trạng chạy đua giữa châu Âu và nước Mỹ để giành giật những người nhập cư thông minh, giỏi giang  nhất không?  Trong chừng mực nào đó việc ấy đã diễn ra rồi. Cho đến nay thường thì nước Mỹ bao giờ cũng có lợi thế hơn trong việc thu hút các nhà khoa học hoặc các chuyên gia phần mềm.  Một phần cũng vì chúng tôi đã có truyền thống lâu đời về nhập cư. Thí dụ: bà nhà tôi là dân nhập cư từ Iran,  hiện đang giảng dạy tại trường đại học và bà ấy không còn xa lạ với nước Mỹ. Em trai bà ấy là bác sỹ làm việc ở Đức – ở đấy người ta không mấy cởi mở với dân ngụ cư. Rất tiếc là nước Mỹ đã làm mất ít nhiều lợi thế này khi gây khó dễ với sinh viên nước ngoài trong việc xin thị thực nhập cảnh sau vụ 9/11. Quả thật nước Mỹ đã phạm  một sai lầm lớn về việc này.  Xuân Hoài dịch                     Gary S. Becker, sinh năm 1930, năm 1992 ông được trao giải thưởng Nobel về kinh tế.  Sau khi giáo sư Milton Friedman, người thầy của ông qua đời, Becker được đánh giá là nhà nghiên cứu kinh tế đương đại có ảnh hưởng lớn nhất. Giáo sư Becker đã mở rộng diện nghiên cứu của mình: ông là một trong những người đầu tiên áp dụng phương pháp toán kinh tế hiện đại vào những vấn đề hàng ngày của cuộc sống. Ông nghiên cứu các hiện tượng như sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động, lợi suất của sự phạm tội và tính kinh tế của gia đình. Những nghiên cứu của ông về vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng – ông chỉ rõ lợi ích của sự đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đối với từng người cũng như với từng quốc gia. Phần lớn hoạt động của giáo sư Becker diễn ra tại trường đại học tổng hợp Chicago, hiện nay ông vẫn giảng dạy và nghiên cứu tại đây.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi thế khi ở trong Accelerator giữa Silicon Valley      Được nhận vào một accelerator là một lợi thế, nhưng khi accelerator này ở Silicon Valley thì đây là cơ hội “ngàn năm có một”.    500 Startups là gì?  “À tôi đã nói với bạn là tôi khùng chưa nhỉ?” – Dave McClure trả lời câu hỏi “làm việc với Dave McClure mang lại cảm giác như thế nào?” trên Quora – một mạng xã hội hỏi đáp do hai cựu kỹ sư của Facebook sáng lập.  Ở Silicon Valley, không ai lạ gì Dave McClure, một nhà đầu tư “Siêu Thiên Thần” cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (Startup). Ông là người sáng lập 500 Startups, một accelerator (khóa tăng tốc khởi nghiệp) đáng chú ý nhất ở thung lũng công nghệ này. Với hàng nghìn doanh nhân khởi nghiệp tự ứng cử từ khắp thế giới, tối đa là 35 doanh nghiệp khởi nghiệp được chọn cho mỗi khóa học kéo dài bốn tháng ở đây. Đó còn chưa kể, quá trình ứng cử vào 500 Startups cũng “khùng” như người sáng lập của nó. Tức là không hề có thứ tự nộp đơn – xét duyệt – phỏng vấn nào cả. Bằng cách nào đó, các doanh nhân khởi nghiệp phải tự khiến Dave chú ý để có cơ hội thuyết trình về sản phẩm của mình.  Có một công ty của Việt Nam được tham gia vào 500 Startups. Đó là GreenGar, một công ty công nghệ với sản phẩm Whiteboard/Smartboard – ứng dụng cho phép mọi người đồng thời vẽ/viết một bức tranh trên các thiết bị công nghệ khác nhau. Một trong những lí do GreenGar được mời vào 500 Startups là nhờ sự thể hiện xuất sắc của CEO Trương Thanh Thủy tại cuộc thi hùng biện dành cho các nữ doanh nhân khởi nghiệp tại San Francisco. Sau khi vượt qua 290 ứng cử viên rồi lọt vào top 10, trước 1.000 người, Thủy đã thuyết trình về sản phẩm của mình và đoạt giải Nhì. Điều này đã khiến một nhà đầu tư chú ý và giới thiệu GreenGar tham gia 500 Startups. Mỗi một khóa học, được gọi là Batch, diễn ra trong vòng bốn tháng. GreenGar tham gia Batch thứ 6, nơi 22 trong tổng số 28 doanh nghiệp khởi nghiệp đến từ các quốc gia bên ngoài Mỹ.  Ngoài 500 Startups, GreenGar còn được một accelerator khác chấp nhận là Founder Fuel (Canada). Tuy nhiên, Thủy lựa chọn 500 Startups để công ty của mình có cơ hội đặt chân vào Silicon Valley. Đây chính là môi trường tuyệt vời cho các startups mà cô từ lâu luôn hướng tới trên con đường khởi nghiệp của mình.    Sống giữa Silicon Valley, một cộng đồng cùng chí hướng   “Những người khởi nghiệp là những người mà người bình thường không bao giờ hiểu được. Có những điều chỉ những người CEO hiểu với nhau. Đó là vị trí cực kì cô đơn. Khi bạn khởi nghiệp, có những vấn đề chỉ riêng mình bạn phải đối mặt trong khi đi giải quyết vấn đề cho cả thế giới”– Thủy, làm CEO đã được tám năm, kể từ năm 21 tuổi, nói.          Trương Thanh Thủy từng viết trên blog của mình vào ngày 4/8/2013: “Ứng cử và tham gia 500 Startups hẳn là quyết định gây tranh cãi nhất nhưng cũng là quyết định tuyệt vời nhất khi là CEO của GreenGar”.                500 Startups có mối liên kết với mạng lưới cộng đồng khởi nghiệp rộng lớn, gồm ít nhất 500 startups và mạng lưới chuyên gia gồm hơn 1.000 người sáng lập (founders) và hơn 200 người hướng dẫn (mentors) ở mọi lĩnh vực, giúp đỡ giải quyết và định hướng mọi vấn đề mà các doanh nghiệp khởi nghiệp thường gặp phải. Ngoài ra, 500 Startups còn tổ chức ngày Demo Day để các doanh nhân khởi nghiệp và các nhà đầu tư có thể gặp gỡ, giao lưu. Trương Thanh Thủy viết rằng, cô học được hàng ngàn thứ ở đây. Là một doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam – một hệ sinh thái khởi nghiệp còn nhiều khiếm khuyết so với Mỹ, GreenGar mang về nước sau bốn tháng ở 500 Startups những mối quan hệ và tinh thần khởi nghiệp của Silicon Valley.        Với một khóa accelerator của 500 Startups, các công ty khởi nghiệp cùng nhau làm việc trong một không gian. Trương Thanh Thủy từng viết trong blog của mình: “Với lợi thế từ co-working space (không gian làm việc chung) chúng tôi học từ những chiến hữu (Batch mates) nhiều như học từ những người hướng dẫn và các nhân viên của 500 Startups. […] Trong suốt chương trình accelerator, tôi có nhiều người bạn tuyệt vời. Chúng tôi dành đêm ngày cùng nhau ở văn phòng, giúp đỡ nhau một tay, cổ vũ động viên nhau hoặc chỉ đơn giản là một lời khen để khiến nhau vui vẻ”.  Nhưng quan trọng hơn, 500 Startups được đặt trong thung lũng Silicon Valley nơi mà “tôi có được sự ủng hộ của những người thậm chí không biết gì về mình cả. Có những người, mình chỉ gặp họ trên đường, trở thành bạn và giúp mình rất nhiệt tình” – Thủy kể.  “Họ có khả năng giúp đỡ. Ở Việt Nam, mọi người có lòng mà không có sức, họ muốn nhưng không thể hỗ trợ. Mấy tháng trước, server của tôi bị hỏng, ở Việt Nam, tôi không thể gọi ai giúp được. Tôi gọi cho bạn (ở Silicon Valley) và anh ấy sửa từ xa” – Thủy kể lại. “Điều đó quý hơn tiền đúng không? Họ bỏ ra một tiếng để giúp mình, trong khi một tiếng ở Silicon Valley trị giá rất nhiều tiền”.  “Nhà đầu tư ở đó cũng mang lại những lợi thế khác biệt, không chỉ là bỏ tiền ra hỗ trợ mình mà họ còn đưa ra nhiều chiến lược. Những chiến lược đến từ Silicon Valley tốt hơn nhiều so với từ Việt Nam”.  Thất bại và cảm hứng để đi tiếp  GreenGar là một trong những công ty khởi nghiệp hiếm hoi của Việt Nam lọt vào 500 Startups và nhận được 14 triệu lượt tải với doanh thu 1 triệu đô la trước khi tham gia 500 Startups. Nhưng, GreenGar đã thất bại và dừng hoạt động vào tháng 6 vừa qua.  Khởi nghiệp là một con đường khó khăn, sống và làm việc tại Silicon Valley truyền cảm hứng đi tiếp cho CEO cuối cùng của GreenGar. Đội ngũ của GreenGar hiện giờ quay trở lại thị trường ứng dụng di động bằng công ty mới toanh mang tên Tappy.Co với sản phẩm kết nối và tương tác mọi người trong một không gian sự kiện.   Khi được hỏi tại sao khởi nghiệp, Thủy đã dẫn ngay câu nói của Paul Singh, đối tác của 500 Startups, người hướng dẫn GreenGar trong những ngày đầu tiên: “Nếu bạn muốn một cuộc sống vui vẻ hạnh phúc thì hãy kiếm một công việc (trong công ty) đi, đừng khởi nghiệp”.  “Tôi khởi nghiệp vì khởi nghiệp vui? Không, nó chẳng có gì vui cả. Lý do duy nhất mà tôi khởi nghiệp là vì tôi muốn đem lại giá trị cho những người xung quanh”- Thủy nói.        Silicon Valley là nơi đã hình thành văn hóa khởi nghiệp lâu đời, nơi mà startups không phải là câu chuyện kinh doanh kiếm tiền mà vì muốn tạo ra giá trị. Đỗ Hoài Nam, một doanh nhân khởi nghiệp ở Silicon Valley với Emotiv Systems, công ty có sản phẩm là máy đọc não EPOC mà James Cameron sử dụng để đo phản ứng khán giả khi xem Avatar vào năm 2008, từng nói: “Tôi nhớ, những người thành công mà tôi từng gặp như Bill Gates hay Mark Zuckerberg cho đến những người bước chân vào Silicon Valley, chưa một ai khởi nghiệp vì tiền cả, nhất là khởi nghiệp trong ngành công nghệ, một ngành cực kỳ vất vả”.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Lối thoát của nền kinh tế kém hiệu năng      Nếu hỏi yếu kém nội tại nào là đáng lo ngại  nhất đối với nền kinh tế Việt Nam, thì năng suất lao động quá thấp có lẽ  sẽ là câu trả lời có được nhiều đồng thuận nhất.  &#160;    Theo số liệu của UNDIO (2000) thì năng suất lao động trung bình của Việt Nam thấp hơn của Mỹ đến 40 lần. Hiểu đơn giản, một lao động người Mỹ làm việc trong một giờ tạo ra nhiều của cải hơn một lao động người Việt Nam 40 lần. Với thời gian lao động như nhau, sức khỏe cơ bắp không hơn kém nhau nhiều, thì phần chênh lệch quá lớn đó đến từ đâu? Chỉ có thể trả lời: đến từ sự chênh lệch về trình độ công nghệ và quản lý.  Để thu hẹp sự chênh lệch này, và qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, không còn cách nào khác là phải thúc đẩy đổi mới và sáng tạo công nghệ, cải thiện quy trình quản lý.   Nhưng ai sẽ làm công việc này? Rõ ràng, đó chỉ có thể là doanh nghiệp, vì chỉ có doanh nghiệp mới đủ sâu sát để hiểu rõ mình cần đổi mới công nghệ nào, cải thiện quy trình quản lý nào. Sự hỗ trợ của nhà nước, nếu có, và xét ở mức cao nhất, thì cũng chỉ có thể dừng ở mức định hướng, hoàn thiện khung pháp lý và gỡ bỏ những cản trở về thủ tục hành chính cho sự hoạt động của doanh nghiệp.  Sự phát triển tốt trên nền tảng công nghệ cạnh tranh, hiện đại, như Nanogen, Gốm sứ Minh Long, Rạng Đông… là những ví dụ khá điển hình cho một sự thật: muốn phát triển bền vững và tạo ra sức mạnh thực sự, doanh nghiệp cần ý thức được vai trò sống còn của việc nâng cao trình độ công nghệ và quản lý, qua đó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh trên thị trường, cả trong nước lẫn quốc tế. Điều này không chỉ đúng ở quy mô doanh nghiệp, mà còn có thể mở rộng ra cho cả nền kinh tế. Thực tế cho thấy, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, nhiều nước đã nghiêm túc xem lại định hướng phát triển của mình theo hướng khôi phục trở lại sức mạnh sản xuất, thay vì chạy theo các ngành thương mại, tài chính, dịch vụ… Ngay cả một nước nhỏ như Singapore, dù có tỷ lệ các ngành dịch vụ lên đến hơn 70% GDP, cũng quyết tâm giữ một số ngành sản xuất chủ lực như điện tử, cơ khí chính xác, máy công cụ, dược phẩm… để tạo nền và giữ nhịp cho sự phát triển bền vững, nhất là khi kinh tế thế giới đang có nhiều biến động lớn.  Với Việt Nam, do không ý thức hết tầm quan trọng của sản xuất, nên nhiều tập đoàn lớn chỉ nhắm đến việc đầu cơ trước mắt, điển hình là đầu cơ bất động sản, mua qua bán lại, mà không phát triển những sản phẩm cốt lõi, không đầu tư cho công nghệ để kiến tạo sự phát triển bền vững lâu dài, nên khi nền kinh tế gặp khó khăn thì sụp đổ hàng loạt mà không có cách nào gượng đỡ được. Vì vậy, việc doanh nghiệp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo để đưa nền kinh tế đi theo hướng phát triển bền vững lại càng trở nên quan trọng.   Điều này chỉ có thể đuợc thực hiện khi các doanh nghiệp tự hướng đến mô hình doanh nghiệp đổi mới – sáng tạo để nâng cao năng suất lao động, và qua đó là nâng cao sức cạnh tranh, nhằm trước hết là tự cứu mình, sau đó là cứu cả nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng.   Nói cách khác, doanh nghiệp đổi mới – sáng tạo chính là lối thoát cho nền kinh tế đang kém hiệu năng hiện thời.      Author                Quản trị        
__label__tiasang London: Xe buýt hai tầng Routermaster trở lại      Xe buýt hai tầng Routermaster sắp xuất hiện trở lại ở London không chỉ như một phương tiện giao thông công cộng hiện đại mà còn là một tác phẩm nghệ thuật.    Thủ đô London của nước Anh vốn từng rất nổi tiếng bởi những chiếc Routemaster – xe buýt hai tầng màu đỏ. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, những chiếc xe này đã ngừng hoạt động từ năm 2005 sau 51 năm vận hành. Nhưng nay, biểu tượng một thời đã thực sự quay trở lại để hòa mình vào cùng London chuẩn bị cho sự kiện Olympic 2012.  Người làm sống lại chiếc Routermaster theo một diện mạo hoàn toàn mới là nghệ sĩ, nhà thiết kế người Anh Thomas Heatherwick. Ông muốn chứng minh cho công chúng thấy rằng xe buýt không chỉ là phương tiện đi lại công cộng mà còn là tác phẩm nghệ thuật. Và với sự giúp đỡ của tập đoàn Wright, điều này đang dần trở thành hiện thực trong tương lai gần.  Với động cơ hybrid, mẫu thiết kế mới sẽ tiết kiệm được tới 40% lượng nhiên liệu tiêu hao so với một chiếc xe buýt tiêu chuẩn. Xe buýt mới sẽ có ba cửa và hai cầu thang để phục vụ tối đa sự thoải mái, thuận tiện, tránh tình trạng đợi chờ cho hành khách. Thiết kế cách âm tốt sẽ làm giảm tối đa tiếng ồn từ bên ngoài ảnh hưởng vào trong xe. Thay vì dùng bóng đèn huỳnh quang như các loại xe buýt hiện hành, chiếc xe mới được trang bị một số các kỹ thuật ánh sáng hiện đại đang rất được ưa chuộng trong các thiết kế nội thất.  Ông Boris Johnson – Thị trưởng thành phố London, nói: “Mô hình chiếc xe buýt hai tầng mới này sẽ làm thay đổi diện mạo của thủ đô, cũng như một sự chào đón của thành phố với thế giới trong ngày hội Olympic.”   Duyên Anh dịch theo   http://edition.cnn.com/2011/11/25/world/europe/london-routemaster-heatherwick/index.html?hpt=hp_mid       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lòng trắng trứng hứa hẹn khả năng lọc vi nhựa khỏi nước biển      Các nhà nghiên cứu ở Princeton Engineering đã tìm ra một cách đưa một món ăn vào bữa sáng hằng ngày thành một vật liệu mới, không đắt đỏ có thể loại bỏ muốn và vi nhựa khỏi nước biển.    Các nhà nghiên cứu đã dùng lòng trắng trứng để tạo ra một loại aerogel, một vật liệu rất nhẹ và xốp có thể được sử dụng ở nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm lọc nước, lưu trữ năng lượng, cách nhiệt và cách âm… Craig Arnold, giáo sư kỹ thuật cơ học và hàng không Susan Dod Brown và phó hiệu trưởng phụ trách đổi mới sáng tạo của Princeton, làm việc với các thành viên trong phòng thí nghiệm của mình để tạo ra những vật liệu mới, bao gồm các loại aerogel, cho những ứng dụng kỹ thuật.  Một ngày, tham gia vào một buổi họp khoa, ông nêu một ý tưởng.  “Tôi ngồi đây, bắt đầu ăn bữa sáng với bánh mì sandwich của mình”, Arnold nói. “Và tôi tự nghĩ, đây chính xác là cấu trúc mà chúng ta cần”. vì vậy ông đề nghị nhóm nghiên cứu của mình thử làm điều khác biệt với các công thức bánh mì bằng việc trộn với carbon để xem liệu nó có tái tạo được cấu trúc aerogel mà công đang tìm kiếm không. Ban đầu thì chúng không hoàn toàn tạo ra dạng mong muốn, vì vậy nhóm nghiên cứu đã loại bỏ những thành phần qua các cuộc thử nghiệm, cuối cùng chỉ còn mỗi lòng trắng trứng là còn được giữ lại.  “Chúng tôi bắt đầu với một hệ phức tạp hơn nhiều”, Arnold nói, “và chúng tôi chỉ giữ cho nó tối giản, tối giản, tối giản đến khi chúng tôi chạm đến lõi của vật liệu. Đó là những protein trong lòng trắng trứng có thể dẫn đến các cấu trúc mà chúng tôi cần”.  Lòng trắng trứng là một hệ phức hợp với phần lớn là protein tinh khiết – khi làm nó đông lại và gia nhiệt đến 900 độ C trong một môi trường thiếu ô xy – tạo ra một cấu trúc chuỗi các sợi carbon có nối kết và các tấm graphene. Trong một bài báo xuất bản trên Materials Today, Arnold và cộng sự của mình đã chứng tỏ là kết quả dẫn đến một vật liệu có thể loại bỏ muối và vi nhựa khỏi nước biển với hiệu quả lần lượt đạt 98% và 99%.  “Lòng trắng trứng thậm chí hoạt động ngay cả khi chúng được rán trên chảo lần đầu tiên hoặc được đánh bông lên”, Sehmus Ozden, tác giả thứ nhất của bài báo, nhận xét. Ozden là cựu postdoct của Trung tâm Vật liệu phức hợp Princeton và giờ là nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu Aramco. Trong khi lòng trắng trứng được lấy từ những quả trứng mua ở cửa hàng tiện ích để thực hiện những thí nghiệm đầu tiên, Ozden nói, thì những quả trứng khác cũng đem lại kết quả tương tự.  Cấu trúc của các protein trứng  “Những quả trứng rất thú vị bởi chúng tôi có thể kết nối với chúng dễ dàng mua chúng, tuy vậy anh cũng cần cẩn thận về sự cạnh tranh với chuỗi cung cấp thực phẩm”, Arnold nói. Bởi vì vật liệu này có tiềm năng được chế tạo trong phạm vi sản xuất lớn nên nguồn cung cấp phải rẻ và không gây tác động đến chuỗi cung ứng lương thực. Bước tiếp theo với các nhà nghiên cứu, Ozden lưu ý, là tinh chỉnh quá trình pha tạp để có thể hữu dụng trong việc làm tinh khiết nước ở quy mô lớn.  Nếu giải quyết được thách thức này, vật liệu mới có thể đem lại lợi ích đáng kể cho con người bởi không quá đắt đỏ để sản xuất, hiệu quả năng lượng… “Than hoạt tính là một trong những loại vật liệu rẻ nhất được sử dụng để tinh khiết nước. Chúng tôi so sánh kết quả của mình với than hoạt tính, nó thậm chí còn tốt hơn”, Ozden nói. So với việc thẩm thấu ngược, vốn đòi hỏi nguồn năng lượng đáng kể và lượng nước lớn để vận hành, quá trình lọc này đòi hỏi ít trọng lực để vận hành và không lãng phí nước.  Trong khi Arnold thấy độ tinh khiết nước như một “thách thức vô cùng lớn”, nhưng đó không phải là ứng dụng tiềm năng duy nhất của vật liệu này, Ông cũng khá phá ra những cách sử dụng liên quan đến lưu trữ điện và cách điện.  Nghiên cứu này được thực hiện với sự đóng góp của nhiều khoa khác như Khoa kỹ thuật Hóa học và sinh học và Khoa học địa chất ở Princeton cũng như nơi khác. “Luôn luôn là muốn làm điều gì đó trong phòng thí nghiệm”, Arnold nói, “thì cũng làm cả những điều khác để hiểu tại sao làm như vậy và làm điều đó như thế nào”. Những người hợp tác với phòng thí nghiệm của ông để giúp trả lời các câu hỏi tại sao và như thế nào bao gồm giáo sư Rodney Priestley và A. James Link của Khoa kỹ thuật hóa học và sinh học, để nhaanh diện cơ chế chuyển pha của protein trong lòng trắng trứng ở cấp độ phân tử. Các đồng nghiệp khoa học địa chất liên quan đến những đo đạc trong quá trình lọc nước.  Susanna Monti của Viện Hóa học các hợp chất hữu cơ kim loại và Valentina Tozzi của Viện Khoa học nano và NEST-Scuola Normale Superiore làm ra các mô phỏng lý thuyết tiết lộ sự chuyển đổi của protein lòng trắng trứng thành aerogel.  Kết quả được công bố trong bài báo “Egg protein derived ultralightweight hybrid monolithic aerogel for water purification” và được xuất bản trên tạp chí Materials Today 1.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-egg-whites-material-capable-filtering.html  https://www.materialstoday.com/carbon/news/simple-ingredient-is-right-for-ultralight-aerogels/  ———————————————————————  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1369702122002103?via%3Dihub    Author                .        
__label__tiasang Lớp áo mới giữ thuốc khỏi bị phá vỡ quá sớm      Các nhà hóa học đã phát triển một lớp áo mỏng hơn một sợi tóc người có thể khiến các loại dược phẩm hiện hành cũng như các dược chất khác bền vững hơn.      Lớp phủ này có thể bảo vệ những gì ở bên trong, các nhà nghiên cứu cho biết, và có thể giúp các loại thuốc không cần bổ sung thêm nhiều tá dược để giữ chúng khỏi tan thành từng phần quá sớm.  “Hãy nghĩ về nó như một dãy đồng xu – một chồng các đồng xu được xếp lên nhau – và chồng xu đó tự nó có thể đổ thành từng phần”, Jon Parquette, tác giả chính của nghiên cứu và là giáo sư hóa học của trường đại học bang Ohio. “Nhưng nếu anh lấy đi một chồng xu từ ngân hàng, họ sẽ bọc cho anh một lớp bọc bằng nhựa lên chồng xu đó, và chính lớp áo bằng nhựa giữ các đồng xu lại với nhau. Đó chính xác là những gì chúng tôi đã làm ở đây”.  Sự khác biệt: Các nhà nghiên cứu đã tạo ra lớp áo từ polydopamine, một vật liệu được truyền cảm hứng từ tự nhiên nhưng lại được tạo ra trong phòng thí nghiệm. Và họ dùng nó để phủ lên các sợi nano peptide, các chuỗi cực nhỏ của amino acid, vốn là các khối cơ bản của protein. Các chuỗi nano peptide cũng là khối cơ bản của những vật liệu mà chúng ta thường sử dụng, bao gồm dược phẩm, và hình thành một quá trình mà người ta vẫn gọi là “tự lắp ráp”. Hãy nghĩ về chuỗi các đồng xu: mỗi phân tử peptide là một đồng xu; toàn bộ chuỗi xu tự nó là một sợi nano peptide. Lớp phủ khiến chuỗi đó không bị ngấm nước từ môi trường xung quang và nhờ đó không bị rời ra.  Công bố của họ được xuất bản trên Chemistry. A European Journal.  Phòng thí nghiệm của Parquette tập trung vào các vật liệu ở cấp độ nano. Một nano mét là một phần triệu của một millimeter, và khoảng 75.000 lần nhỏ hơn chiều ngang một sợi tóc người.  Nhóm nghiên cứu đã cố gắng tìm cách giữ cho các dược chất bền vững hơn trong cuộc chiến chống lại ung thư trong cơ thể người. Những dược chất này là thành phần cấu tạo thuốc và kết dính để giữ cho thuốc nguyên vẹn cho đến khi chúng chạm đến đích được định trước bên trong cơ thể người.  “Giống như những viên gạch xây nên một ngôi nhà – chúng phải được gắn kết cùng nhau bằng một chất gì đó”, Parquette nói. “Nhưng  các kết nối” chất vữa” – có thể dễ dàng bị phá vỡ nếu anh thay đổi các điều kiện. Và môi trường cơ thể con người có thể khiến mọi việc trở nên trầm trọng hơn”.  Điều đó nghĩa là những người làm thuốc thường phải tạo các dược chất bao gồm tỷ lệ thuốc cao và tá dược thêm vào để thuốc hiệu quả hơn. Điều này có thể khiến cho các dược chất thêm đắt đỏ, thậm chí có thể tạo ra nhiều tác dụng phụ.  Các nhà nghiên cứu đã làm việc trong phòng thí nghiệm để tìm ra một loại làm chất phủ khi Mingyang Ji, một nhà nghiên cứu thuộc nhóm của Parquette và đồng tác giả nghiên cứu, đề xuất thử polydopamine. Polydopamine là một hình thức của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến những cảm giác khoan khoái, hài lòng trong não. Polydopamine lại có tính bền vững rất lớn và hoạt động tốt trong cơ thể người bởi cơ thể người “hiểu được” những gì đi kèm với dopamine.  “Với polydopamine, chúng ta có thể tạo ra một lớp áo bền vững hơn và có thể chịu được những tình huống phức hợp bên trong cơ thể chúng ta, vốn có thể tạo ra một môi trường không thuận lợi cho các dược chất”, Ji nói.  Polydopamine đóng vai trò như một kiểu thảm hai mặt, Parquette nhận xét.  “Nhờ có những điểm bám khác, chúng tôi có thể gắn những thứ như kháng thể hoặc bất cứ thứ gì khác có thể có tiềm năng hướng đích các tế bào ưng thư cụ thể để tạo ra hiệu quả cho dược chất”, ông nói.  Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng polydopamine có thể được sử dụng như một lớp mỏng bảo vệ pin mặt trời hoặc các loại vật liệu khác khỏi phơi lộ trước ánh mặt trời, yếu tố có thể phá vỡ kết nối, và giữ các vật liệu bên cạnh nhau bền vững hơn.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-nature-inspired-coating-drugs-early.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lớp học sáng tạo cho lãnh đạo doanh nghiệp      Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ  doanh nghiệp (BSA), Hội doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao phối  hợp với Systematic Inventive Thinking (SIT., Israel) tổ chức khóa đào tạo Tư duy  sáng tạo có hệ thống cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa  và nhỏ tại Việt Nam trong tháng 6 vừa qua.    Tham gia có 11 doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ, vừa và cả những doanh nhiệp lớn như: Minh Long, Nutifood, Sai Gon food, Thái Tuấn, Viettel group, …  Chương trình là sự tiếp nối khóa huấn luyện “Kinh doanh sáng tạo như người Do Thái” do BSA tổ chức tháng 2/2014 và nằm trong khuôn khổ dự án hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo kéo dài  bốn năm từ 2014 -2018 với sự cố vấn của các chuyên gia trong nước và quốc tế.  Khóa học tận dụng nhiều tương tác, đề cao sự chủ động của học viên trong toàn chương trình. Mỗi doanh nghiệp là một đội, nhằm làm chung bài tập cho chính thực tế doanh nghiệp mình.  Với sự tư vấn của hai nữ chuyên gia từ SIT là Daphna Murvitz và Idit Biton, doanh nghiệp Việt được đào tạo những phương pháp tư duy mới trong kinh doanh. Điều đặc biệt là doanh nghiệp phải dùng những cái mình đang có để đổi mới, sáng tạo chứ không đầu tư (thinking inside the box). Sự bó hẹp này giúp cho doanh nghiệp có thể đối mặt với những khó khăn nhất của tình hình kinh tế hiện nay nhưng vẫn phát triển mạnh và bền vững.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lốp xe làm từ mủ cây bồ công anh      Theo dự đoán, từ năm tới, một phần lốp xe ô tô ở Đức sẽ được sản xuất từ mủ của  cây bồ công anh (hay còn gọi là cây răng sư tử).     Hiện tại, hãng sản xuất lốp ô tô Continental ở Hannover và các nhà nghiên cứu Viện Fraunhofer đang xây dựng một cơ sở chế biến thực nghiệm ở Münster. Tại cơ sở thí điểm này, mủ cây bồ công anh sẽ được sử dụng thay thế một phần mủ cây cao su.  Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu tại Viện Fraunhofer về sinh vật học phân tử và sinh thái học ứng dụng ở Aachen và Münster đã nghiên cứu, biến đổi giống cây bồ công anh lấy từ vùng Caucasus để tăng hàm lượng mủ của nó.  Mục tiêu nữa của các nhà nghiên cứu là thích nghi loại cây mới này với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở Đức để tiến hành sản xuất lớn. Hiện tại bồ công anh Caucasus đang được trồng thử trên diện tích khoảng 30.000 mét vuông tại một nhà vườn ở Bayern.  Giáo sư Rainer Fischer, lãnh đạo chi nhánh Viện Fraunhofer ở Aachen, nói “Nhờ áp dụng các phương pháp chọn giống hiện đại nhất và tối ưu hóa việc sử dụng thiết bị chế biến, sản xuất, chúng tôi đã thành công trong việc tạo ra mủ chất lượng cao từ cây bồ công anh ở trong phòng thí nghiệm. Giờ là lúc chúng tôi đưa công trình này vào ứng dụng trong sản xuất công nghiệp. Dự án sẽ tiến hành đến năm 2016.”  Ngay cả ở những nhà máy sản xuất lốp ô tô hiện đại nhất, tỷ lệ cao su thiên nhiên trong lốp xe cũng phải chiếm khoảng 40%.  So với cây cao su, cây bồ công anh Caucasus có ba ưu thế hơn hẳn: Trong khi cây cao su phải sau ít nhất ba năm mới có thể cạo mủ thì bồ công anh cho thu hoạch mủ ngay từ năm đầu tiên sau khi gieo hạt. Bồ công anh không dễ bị sâu bệnh đe dọa, không cần có điều kiện khí hậu nhiệt đới và có thể phát triển trên đất đai ít mầu mỡ. Tóm lại bồ công anh không cạnh tranh với các loại cây lương thực và cây làm thức ăn gia súc.  Cây bồ công anh Caucasus tên khoa học là Taraxacumkok saghys đã được trồng ở Đức, Nga và Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai để thay thế phần nào mủ cao su. Theo các chuyên gia Đức, nếu nước này có một diện tích trồng bồ công anh khoảng 10.000 ha thì sẽ đáp ứng 10% nhu cầu của mình về mủ cao su thiên nhiên.  Một sản phẩm phụ của cây bồ công anh là chất Inulin có ở rễ cây, được sử dụng làm chất độn trong một số loại thức ăn gia súc.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lotte Hà Nội giành giải nhất Chiếc thìa vàng phía Bắc      Khách sạn Lotte Hà Nội với thực đơn dung hòa âm dương, cân bằng giữa món nóng  với món lạnh đã thuyết phục được BGK vòng thi Chiếc thìa vàng phía Bắc trao giải nhất.&#160;       Vòng thi Chiếc thìa vàng phía Bắc diễn ra vào tối ngày 13/10 tại Showroom Minh Long 1, Gia Lâm, Hà Nội với màn tranh tài của các đầu bếp được lựa chọn từ ba cụm thi Đà Nẵng (khu vực miền Trung), Lào Cai (cao nguyên Bắc bộ), Hà Nội (đồng bằng sông Hồng và Hà Nội).   Nếu ở những vòng ngoài tập trung vào sự mới lạ của gia vị, độc đáo của nguyên liệu, ngon và lành của món ăn, đẹp mắt của bàn tiệc, chuyên nghiệp của thao tác bếp như ở vòng trước thì vòng bán kết đặt ra những đòi hỏi cao hơn với chủ đề “Món ăn vàng”. Vì vậy, các đầu bếp được lựa chọn những món ăn độc đáo nhất, ưng ý nhất của mình mang tới cuộc thi.  Tiên lượng được tính chất quan trọng cũng như gay cấn và căng thẳng của vòng thi này nên ngay khi đoạt vé vào vòng bán kết, các đầu bếp đã bắt tay ngay vào việc tìm kiếm, nghiên cứu, lên thực đơn và chế biến thử các món ăn vàng của mình.   Các đầu bếp Nhà hàng Red Dao (Lào Cai) phát huy “phong độ” ở vòng thi trước khi mang tới một thực đơn các món ăn truyền thống được cải biên theo hướng hiện đại. Chẳng hạn món khai vị Nông sản cùng hội nhập có tới ba món, lấy cảm hứng từ khoai lang: khoai lang chiên, bánh khoai bỏ lò, nộm đu đủ với tôm cháy tỏi. Ngoài ra, đội cũng giới thiệu món ăn chế biến từ loại ếch hương đặc sản, kết hợp với các loại gia vị mới lạ của Tây Bắc…   Đại diện miền Trung, các đầu bếp Khách sạn Mondial Huế lại mang tới sản vật xứ thần kinh như gỏi cua Tam Giang, gà cuộn lá đinh lăng. Hay các đầu bếp đồng hương – Khách sạn SaiGon – Morin cũng lấy cảm hứng từ những món ăn dân dã đã thành đặc sản Huế, như gỏi dừa – nem cua – kim chi cuộn tôm thịt, súp thủy hải sản phá Tam Giang, bánh mít hạt sen.   Các đầu bếp Novotel Đà Nẵng vẫn tìm và khai thác những giá trị mới lạ của sản vật địa phương, biến tấu các loại rau rừng và hải sản lại với nhau để món khai vị rừng Chàm mang đến phong cách bản địa mới lạ. Ngoài ra, tận dụng yến là đặc sản Cù Lao có sẵn, kết hợp với nước dùng thịt cua tạo món ăn khác biệt trong cách trình bày và chế biến mang đến phong cách mới cho món ăn quê hương Quảng Nam – món súp yến Cù Lao.   Trong khi đó, các đầu bếp trẻ của Hilton Hanoi Opera vẫn với những phá cách, sáng tạo, ham mê học hỏi khi sử dụng những nguyên liệu sẵn có trong dân gian để làm nên món gỏi nộm cóc, xoài xanh với mực khô; nghiên cứu, tìm tòi lấy cảm hứng từ món ăn đặc sắc được dùng trong những bữa cỗ và tiệc của người dân khu vực Bắc Bộ – chim câu Hà thành – nhưng nay đã được biến tấu và đổi mới bởi những bàn tay khéo léo của người đầu bếp…   Kinh nghiệm chấm thi vòng bán kết từ những mùa thi trước, nghệ nhân ẩm thực Bùi Thị Sương, Cố vấn và là Giám khảo chuyên môn của cuộc thi, lưu ý: “Một vấn đề tưởng đơn giản nhưng hóa ra lại khó khăn với các đầu bếp là lên thực đơn với kết cấu món ăn sao cho hợp lý. Kinh nghiệm các mùa trước cũng như vòng sơ tuyển vừa qua, có nhiều đội vẫn mắc lỗi khi đưa ra một thực đơn nhưng không có món nước, không có tinh bột. Cứ hình dung một bữa cơm của người Việt có khi nào không có tinh bột, không có canh hay không? Nhiều đội chọn thực đơn an toàn, đọc tên món ăn chưa thấy có sức hấp dẫn. Có thể nấu những món ấy ngon nhưng tính đột phá, hấp dẫn lại không có. Vì vậy các đầu bếp nên chọn món ăn mang tính đột phá thì sẽ tạo ra sự hấp dẫn, hứng thú hơn nhiều và điều đó cũng xác định được đẳng cấp, tài năng của mình.”  Bà Sương cho biết thêm: “Ở vòng thi này, đặc thù là quy tụ đầu bếp của nhiều địa phương, tính vùng miền cao và có ưu thế về gia vị đặc trưng, tuy nhiên không phải cứ có gia vị mới thì thực đơn sẽ lạ. Chẳng hạn vòng thi ở TP.HCM, các đầu bếp ở đây còn sử dụng gia vị vùng miền linh hoạt, hiệu quả hơn những đầu bếp ở vùng đất sở hữu loại gia vị đó. Cốt yếu vẫn là cách sử dụng gia vị đó sao cho hiệu quả, tôn được món ăn lên”.   Nắm được yếu tố cốt tử này, đội khách sạn Lotte Hà Nội đã xây dựng một thực đơn chứa đựng những yếu  tố ẩm thực phương Đông như dung hòa âm dương, cân bằng giữa món nóng  với món lạnh: salad sứa biển với rau má, súp tôm với trà và bí đỏ, thịt nai nướng với gia vị Tây Bắc, chè đậu phụ. Giám khảo Triệu Thị Chơi cũng như các thành viên khác của ban giám khảo đều tâm đắc với ý tưởng của Lotte Hà Nội và trao giải nhất cho các đầu bếp của khách sạn này.  Giải nhì thuộc về bốn đội: Khách sạn Sofitel Plaza Hà Nội, Flamingo Đại Lải (Vĩnh Phúc), Novotel Danang Premier Han River (Đà Nẵng), Palm Garden Resort & Spa (Quảng Nam).  Vòng thi Chiếc thìa vàng phía Nam sẽ diễn ra vào ngày 27 và 28/10/2015 tại Khu du lịch Văn Thánh, TPHCM với sự tranh tài của 34 đội thuộc các cụm thi: Đồng bằng sông Cửu Long, TP.HCM và Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên; còn vòng chung kết cuộc thi Chiếc thìa vàng toàn quốc sẽ diễn ra vào tháng 12 tới.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Lũ lụt ở Thái Lan có thể làm chuyển hướng đầu tư của Nhật Bản      Lũ lụt ở Thái Lan có thể khuyến khích các công ty Nhật Bản chuyển đầu tư sang Indonesia và Việt Nam.    Các công ty Nhật Bản hiện đang là những nhà đầu tư vào Thái Lan nhiều nhất, có khả năng họ sẽ xây dựng thêm nhà máy ở các nước láng giềng, trong đó có Indonesia và Việt Nam, sau khi trận lụt tồi tệ nhất ở nước này trong vòng 70 năm xảy ra và đã làm gián đoạn sản xuất của một số công ty trên phạm vi toàn cầu.  Ông Takahiro Sekido, trưởng ban kinh tế Credit Agricole CIB ở Tokyo cho hay: “Các nhà điều hành nhận thấy nhiều rủi ro sau lũ lụt. Xu hướng gần đây trong việc đầu tư tăng cường vào Thái Lan sẽ giảm sút mặc dù thực tế Thái Lan từng là điểm đến lí tưởng”.  Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã đề xuất chi 130 tỷ bạt (tương đương 4,2 tỷ Đôla Mỹ) để tái thiết và từng bước ngăn chặn lũ lụt trong tương lai. Bà tìm cách trấn an các nhà đầu tư, như Pionneer Corp., Honda Motor và Toyota Motor Corp. rằng Thái Lan vẫn là nơi an toàn cho kinh doanh, trong bối cảnh họ phải huỷ bỏ những chỉ tiêu dự kiến lợi nhuận sau khi lũ lụt làm các nhà máy phải đóng cửa.   Thảm hoạ này lan truyền qua chuỗi các nhà cung cấp thiết bị điện tử và ô tô Nhật Bản vì những thiếu hụt đã tác động lên sản xuất trên toàn cầu. Nhà sản xuất ô tô lớn thứ ba Nhật Bản – Honda cho biết trong thông báo ngày 9/11: vì tình hình lũ lụt ở Thái Lan gây ra, Honda sẽ tiến hành rộng rãi việc cắt giảm sản lượng ở sáu nhà máy tại Hoa Kì và Canada.  Giám đốc tài chính của Honda, ông Fumihiko Ike phát biểu ngày 31/10 rằng ông hi vọng chính phủ Thái Lan sẽ cải thiện cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống thoát nước. Ông Ike chia sẻ với báo chí tại Tokyo rằng công ty dự kiến sẽ điều chỉnh linh hoạt điều hành sản xuất ở các nhà máy đặt tại các nước láng giềng.   Các công ty Canon Inc., Nissan Motor Co., Hitachi Ltd. và Toshiba Corp. cũng đã tạm ngừng sản xuất tại các nhà máy đặt ở Thái Lan vì lũ lụt.  “Chúng tôi nhận thấy cần thiết phải cân nhắc đa dạng hóa đầu tư trong nội địa Thái Lan cũng như ra các nước khác trong tương lai,” phát ngôn viên của Pioneer ông Hiromitsu Kimura trả lời phỏng vấn qua điện thoại ngày 10/11, một ngày sau khi công ty này rút lại dự báo lợi nhuận cả năm của mình do thảm hoạ xảy ra ở Thái Lan.  Việc phân bố của chuỗi cung ứng Nhật bản trong khu vực có thể thay đổi trong bối cảnh tiêu dùng trong nước ở Nhật ngày càng tăng và các công ty Nhật dự kiến sẽ kết nối toàn diện hơn vào nền  kinh tế khu vực.  Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang hướng tới mục tiêu năm 2015 tạo ra một khu vực kinh tế thị trường theo mô hình của Liên minh châu Âu (EU), mà không có đồng tiền chung. Nhật Bản hiện tại là nhà đầu tư lớn nhất trong khu vực tính từ năm 2008 đến 2010, vượt qua Mỹ và Trung Quốc, theo như thống kê của ASEAN.   Ông Tohru Nishihama, nhà kinh tế tại Viện Nghiên cứu Dai-ichi Life Inc. tại Tokyo cho biết Indonesia và Việt Nam đang thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều hơn Thái Lan trong năm ngoái, năm nay có vẻ chắc chắn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản nhiều hơn nữa.  Huyền Thanh lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2011-11-14/thai-floods-may-spur-japanese-manufacturers-to-shift-output-to-indonesia.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lúa mùa nước nổi chi phí thấp, lợi nhuận lớn      Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn trường ĐH An Giang thực hiện chương trình duy trì và phát triển diện tích trồng lúa mùa nước nổi, giống lúa truyền thống chỉ có riêng ở vùng Tứ giác Long Xuyên.  &#160;    Theo đó, 60 ha lúa mùa nổi được gieo trồng ở xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn trên đất trũng thấp, nhiễm phèn và không thể trồng được giống lúa ngắn ngày. Bà con xã Vĩnh Phước cho biết, năm nay năng suất lúa vẫn đạt khoảng hơn 1 tấn/ha dù so với mọi năm dù thời tiết không thuận lợi cho mùa vụ do mức nước nổi thấp. Bà con nông dân thêm phấn khởi là giá bán lúa mùa nổi tươi tại ruộng cao gần gấp ba lần giá lúa thường, khoảng 12.000 đồng/kg. Nhu cầu của thị trường rất lớn nên bà con thu hoạch không đủ bán. Số phụ phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch như rơm rạ rất tốt để bón ruộng trồng hoa màu, làm giá thể trồng rau theo hướng dẫn của các nhà nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu & phát triển nông thôn trường ĐH An Giang cũng góp phần đem lại thu nhập cao cho người nông dân.  Qua các mùa vụ, Trung tâm đều tổng hợp các số liệu để phân tích, đánh giá. Theo những ghi nhận này, ưu thế của lúa mùa nổi vượt trội so với lúa thường, đặc biệt là lúa vụ ba. Ví dụ cùng trên 1.000m2 đất ở vùng Vĩnh Phước, việc canh tác lúa ba vụ sẽ mất 276 ngày/năm, tổng chi phí trên 5,74 triệu đồng, tổng thu hơn 9,44 triệu đồng, lời 3,7 triệu đồng. Nhưng nếu trồng lúa mùa nổi, sau đó phụ phẩm nông nghiệp là gốc rạ trồng mì với kỹ thuật khá đơn giản thì hiệu quả khác biệt: dù mất gần 322 ngày/năm và tổng thu 7,14 triệu đồng nhưng chi phí đầu tư chỉ ở mức 1,66 triệu đồng, đem lại món lời 5,48 triệu đồng. Trong trường hợp dùng gốc rạ lúa mùa nổi trồng kiệu (đòi hỏi kỹ thuật cao hơn), thời gian canh tác mất 315 ngày/năm, vốn đầu tư đòi hỏi cao, quãng 15,84 triệu đồng nhưng tổng thu lớn hơn 53,15 triệu đồng. Vì vậy lợi nhuận cao gấp 10 lần so với canh tác lúa ba vụ, ước đạt 37,3 triệu đồng/1.000m2/năm.   Thêm một ưu điểm nữa là việc canh tác lúa mùa nổi hoàn toàn không dùng phân hóa học hay thuốc trừ sâu, nguồn nước cung cấp cho lúa chủ yếu là nước lũ tràn về trên các nhánh sông Cửu Long. Vì vậy người tiêu dùng không phải lo về dư chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm như với nhiều loại lúa khác. Đây là yếu tố đem lại thương hiệu “gạo siêu sạch” cho giống lúa này.  Nhằm phát huy những ưu điểm này, Hội thảo tổng kết giữa kỳ về kết quả nghiên cứu lúa mùa nổi do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn trường ĐH An Giang cùng với UBND xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn (An Giang) phối hợp tổ chức vào cuối năm 2014. Dự kiến đến năm 2016, diện tích lúa mùa nổi tăng sẽ khoảng 100 ha, đến 2030 trên 500 ha. Việc bảo tồn lúa mùa nổi không chỉ tránh cho giống lúa quý này bị thoái hóa mà còn góp phần đem đến những lợi ích khác như bảo vệ môi trường, chứa nước mùa lũ, phát triển đàn cá đồng tự nhiên, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho cho địa phương.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật CHIPS và Khoa học: Một thay đổi mang tính bước ngoặt      Đạo luật CHIPS và Khoa học mới được Hạ viện và Thượng viện thông qua, được đánh giá là một thay đổi mang tính bước ngoặt, hứa hẹn sẽ tiếp tục có những khoản tài trợ lớn cho khoa học trong nhiều năm tới.    Luật đặt một trọng tâm vào việc thúc đẩy sản xuất chất bán dẫn trong nước (Chip) – rất quan trọng đối với thiết bị điện tử. Vì hiện tại, Hoa Kỳ chỉ sản xuất 12% chip của thế giới và lưỡng viện Hoa Kỳ đã tuyên bố sẽ giảm sự phụ thuộc vào các quốc gia khác để tăng cường an ninh quốc gia và phát triển thị trường việc làm trong nước.        Kế hoạch tài trợ mới cho phép tăng ngân sách hàng tỷ USD trong năm năm tới cho các cơ quan nghiên cứu liên bang, bao gồm Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), Bộ Năng lượng (DOE) và Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia. Bằng cách đầu tư vào các cơ quan này, các cơ quan lập pháp Hoa Kỳ đặt mục tiêu phải thúc đẩy đổi mới khoa học và công nghệ ở Hoa Kỳ. Cụ thể, theo đề xuất thì sẽ tăng hơn gấp đôi ngân sách của NSF trong vòng năm năm, tăng ngân sách của DOE lên 45% và tăng ngân sách cho Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia lên 50%.    Deborah Altenburg, Phó Chủ tịch phụ trách Chính sách nghiên cứu và các vấn đề của chính phủ tại Hiệp hội các trường đại học công lập và đại học được sử dụng quỹ đất công ở Washington DC, cho biết cảm giác của mình khi lưỡng viện thông qua Luật, như “một hơi thở nhẹ nhõm”. Tuy nhiên, bà nói thêm, “đây cũng chỉ là một bước”.    Hầu hết các khoản tăng tài trợ này là cho phép tăng chi tiêu một số tiền nhất định – không phải là các khoản trích lập ngân sách để cung cấp nguồn tài chính ngay. Vì vậy, mỗi năm, khi phê duyệt các kế hoạch phân bổ quy định chi tiêu hằng năm cho các cơ quan liên bang, Quốc hội sẽ vẫn phải quyết định phân bổ cấp số tiền cụ thể hằng năm.    Dựa vào khoa học cơ bản    Với nghiên cứu cơ bản, kế hoạch này sẽ đem lại một bước ngoặt rất lớn – dự kiến sẽ cấp cho NSF một trong những khoản tài trợ lớn nhất mà NSF có được ​​trong suốt lịch sử 72 năm từ khi thành lập. Luật cho phép cơ quan khoa học quốc gia này chi 81 tỷ USD trong năm tài chính 2027, tăng gần gấp đôi ngân sách so với trước. Amanda Hallberg Greenwell, người đứng đầu Văn phòng Các vấn đề chính sách Công và Lập pháp tại NSF, cho biết: “Đạo luật cho thấy sự ủng hộ to lớn không chỉ đối với khoa học nói chung, mà còn là sự ủng hộ với sứ mệnh của NSF”.    Một phần tư tổng số tiền ngân sách tài trợ sẽ hỗ trợ một cơ quan quan trọng mà Quỹ Khoa học quốc gia Hoa Kỳ mới thành lập trong năm nay: Cơ quan Công nghệ, Đổi mới và Đối tác (TIP). Là một trong tám đơn vị trực thuộc NSF, TIP được NSF thành lập nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình đưa một số công nghệ nhất định, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo và tính toán lượng tử, từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Việc thành lập một cơ quan mới này đánh dấu một cam kết thúc đẩy khoa học ứng dụng ngay tại một cơ quan tài trợ có lịch sử tập trung vào khoa học cơ bản.    Tobin Smith, Phó Chủ tịch cấp cao về Chính sách khoa học và Các vấn đề toàn cầu tại Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ ở Washington DC, cho biết: TIP sẽ giúp bắc cầu để bước qua “thung lũng chết chóc” – khoảng ngăn cách giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng.    61 tỷ USD còn lại dành cho NSF sẽ hỗ trợ các hoạt động cốt lõi, bao gồm các tài trợ nghiên cứu cơ bản, tài trợ cho giáo dục khoa học và mở rộng cơ hội nghiên cứu cho các nhà khoa học. Khoản tài trợ nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ xây dựng năng lực nghiên cứu, nâng cao năng lực cho các cơ sở nghiên cứu mà trình độ của sinh viên còn yếu và sẽ tăng cường đầu tư vào các cơ sở học thuật ở các bang và vùng lãnh thổ nhận ít tài trợ nghiên cứu của liên bang hơn.    Tương tự, DOE dự kiến ​​sẽ nhận được gần 70 tỷ USD, phần lớn trong số đó sẽ được chuyển đến Văn phòng Khoa học của của DOE. Khoản tài trợ này sẽ hỗ trợ các lĩnh vực khoa học vật lý – chẳng hạn như nhiệt hạch và vật lý hạt nhân – trong các phòng thí nghiệm quốc gia, các trường đại học và các công ty tư nhân. Cũng giống như Quỹ Khoa học và Công nghệ quốc gia Hoa Kỳ, cơ quan này sẽ tăng cường phân bổ ngân sách cho các trường cao đẳng và đại học ở các vị trí địa lý xa xôi vốn trước đây nhận được nguồn ngân sách nghiên cứu còn ít ỏi.    Ngoài ra, Luật cũng đưa ra những giải pháp về lo ngại liên quan tới bảo mật nghiên cứu. Nói chung, các điều khoản bảo mật nghiên cứu này thắt chặt việc giám sát các tương tác giữa các nhà khoa học Hoa Kỳ và nước ngoài, và với các chính phủ nước ngoài. Ví dụ: luật cấm các nhà khoa học có trụ sở tại Hoa Kỳ, đã có tài trợ của liên bang tham gia vào chương trình tuyển dụng nhân tài nước ngoài do Trung Quốc và Nga tài trợ. Luật cũng ngăn không cho NSF trao giải thưởng cho bất kỳ trường đại học nào thực hiện chương trình do Viện Khổng Tử của Trung Quốc tài trợ.    Tầm nhìn dài hạn    Trong quá trình thảo luận đưa ra Luật Khoa học mới này, hai năm trước đó Lưỡng viện đã đưa ra nhiều các kế hoạch tăng tài trợ cho khoa học. Hai năm trước, kế hoạch thúc đẩy khoa học ứng dụng đã được đưa ra trong một bản đề xuất được giới thiệu ra lưỡng viện Hoa Kỳ là Dự luật về Đạo luật không biên giới. Dự luật đề xuất tăng ngân sách NSF lên 100 tỷ USD trong vòng năm năm để tài trợ cho một ban thúc đẩy công nghệ nhằm cạnh tranh với Trung Quốc.    Jacob Feldgoise, thành viên của Carnegie Endowment for International Peace, một tổ chức tư vấn ở Washington DC, cho biết: “Trong lịch sử, Hoa Kỳ rất mạnh trong nghiên cứu cơ bản, phần lớn là do NSF thúc đẩy. Nhưng trong vài thập kỷ qua, chúng tôi đã tụt hậu lại phía sau Trung Quốc khi chuyển giao các nghiên cứu đó thành các sản phẩm thương mại có khả năng sinh lời và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”.    Nhưng bản kế hoạch lúc đó đã vấp phải các chiều hướng thảo luận khác nhau, một phần vì dự luật đề xuất đổ quá nhiều tiền cho khoa học ứng dụng vào cơ quan khoa học công nghệ quốc gia, và một số nhà khoa học lo ngại rằng nghiên cứu cơ bản sẽ bị ảnh hưởng.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Lực phát triển mới cho startup Hong Kong      Suốt nhiều năm qua, Hong Kong đã xoay vần tìm cách tạo  dựng vị thế riêng trong bối cảnh startup thế giới, nhưng có vẻ như tới  tận bây giờ hệ sinh thái khởi nghiệp của Hong Kong mới đang bắt đầu định  hình, trong đó sự gần gũi về địa lý với Trung Quốc và lịch sử kinh tế  của thành phố này tiếp tục là hai yếu tố đóng vai trò chủ đạo.       Bối cảnh lịch sử  Nhìn lại nửa thập kỷ vừa qua, Hong Kong đã thay da đổi thịt rất nhiều. Trong giai đoạn hậu Thế chiến II từ thập niên 1950-1970, các nhà máy sản xuất ở Hong Kong phát triển mạnh, đặc biệt là các nhà máy dệt, nhà máy sản xuất đồng hồ, đồ chơi và giầy dép. Made in Hong Kongtrở thành một cụm từ quen thuộc trên khắp thế giới. Nhưng bước sang thập niên 1980, chi phí lao động và giá bất động sản tăng cao, cùng với đó là những cải cách kinh tế tại đại lục, đã buộc các nhà máy ở Hong Kong phải chuyển đến miền nam Trung Quốc để có thể cạnh tranh hiệu quả với các quốc gia châu Á. Chính nhờ tách khỏi hoạt động sản xuất mà thành phố này chuyển mình trở thành trung tâm các dịch vụ tài chính, hậu cần, vận chuyển và bất động sản như ngày nay.  Bối cảnh hiện tại  Theo số liệu của Cục Điều tra Dân số và Thống kê, hiện nay Hong Kong có dân số xấp xỉ 7,2 triệu người. Khoảng 93% nền kinh tế thành phố này xuất nguồn từ khu vực dịch vụ, trong đó các lĩnh vực chủ đạo bao gồm dịch vụ hậu cần, tài chính và bất động sản. Hong Kong cũng nổi tiếng là một trung tâm tài chính quốc tế và thu hút nhiều lao động nước ngoài tới làm việc cho các ngân hàng và công ty bảo hiểm tại đây. Và tuy gần đây đã có một vài ý kiến về việc giảm giá bất động sản, song từ lâu giá nhà đất đắt đỏ đã và vẫn là một trong những đặc trưng của Hong Kong. Địa hình thành phố có đặc điểm là nhiều đồi núi và các cao điểm, vì thế các nhà phát triển bất động sản buộc phải xây các tòa nhà cao tầng trên diện tích đất bằng ít ỏi còn lại.  Giá nhà đất cao cộng với lĩnh vực tài chính phát triển mạnh đã khiến nhiều cử nhân trẻ định hình sẵn trong đầu công thức thành công là kiếm được một công việc có thu nhập ổn định trong ngành tài chính. Một điệp khúc thường gặp khi ta tiếp xúc với người dân ở đây là thành phố không nhất thiết phải xây dựng một nền văn hóa kinh doanh vững chắc, khích lệ tinh thần mạo hiểm. Nhưng nhìn vào các số liệu, ta có thể thấy sự thay đổi đang diễn ra từng ngày ở Hong Kong.  InvestHK, cơ quan chính phủ làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài để tư vấn cho họ về cách thức kinh doanh tại Hong Kong, vừa thực hiện một cuộc điều tra cho thấy hệ sinh thái startup ở đây đang phát triển bùng nổ ra sao. Hiện Hong Kong có trên 1.500 startup, tăng 46% so với năm ngoái. Tỉ lệ doanh nhân bản xứ và ngoại quốc khá đồng đều nhau, tạo nên một cộng đồng các nhà sáng lập đa dạng và phong phú. Điểm ấn tượng nhất là sự thống trị của các lĩnh vực thương mại điện tử, IoT và công nghệ thông tin. Các ngành này chiếm tới gần 40% trong tổng số các startup ở Hong Kong; trong khi đó, lĩnh vực công nghệ tài chính chỉ chiếm 5%.  Nhìn chung, các startup ngày càng nhận thêm nhiều sự hỗ trợ hơn từ các tổ chức như InvestHK và cộng đồng kinh doanh trong việc tạo lập các kế hoạch tài trợ vốn, các cộng đồng tư vấn và các vườn tăng tốc khởi nghiệp. Một ví dụ là chương trình Blueprint, vườn tăng tốc khởi nghiệp và không gian làm việc chung do nhà phát triển bất động sản khổng lồ Swire Properties ra mắt hồi cuối năm 2014. Chương trình này tập trung chủ yếu vào công nghệ B2B và hiện là nơi làm việc của trên 200 nhân viên trong các startup. Các doanh nhân tham gia chương trình này đã hoàn tất giai đoạn kiểm nghiệm thực tế các sản phẩm của mình đối với khách hàng tiềm năng và đang tìm kiếm các thị trường sẵn sàng đón nhận công nghệ mới. Richard Hanson, nhà đồng sáng lập Hiring Screen, một startup chuyên về phần mềm tuyển dụng, cho biết: “Khi bắt tay vào thành lập công ty, chúng tôi vẫn không biết rằng liệu các chuyên gia nhân sự ở châu Á có sẵn sàng ứng dụng các công nghệ mới vào quy trình tuyển dụng của mình hay không. Và sau khi va chạm thực tế, chúng tôi thấy rằng họ không những không hề do dự mà phần lớn còn có tư tưởng cực kỳ tiến bộ. Cản trở lớn nhất của họ là ít hoặc không có cơ hội tiếp cận với các sản phẩm sáng tạo. Vì vậy mà cơ hội đáp ứng nhu cầu này hiện đang rất hấp dẫn.” Kevin Mak, nhà đồng sáng lập Iron Fly Technologies, startup chuyên cung cấp hệ thống phân tích hình ảnh thời gian thực và hệ thống giao dịch, lưu ý: “Qua kinh nghiệm làm việc với các công ty lớn nhỏ, chúng tôi thấy rằng trong các dữ liệu thời gian thực tàng ẩn những giá trị lớn. Các khách hàng của chúng tôi nhận ra rằng việc tìm hiểu thông tin sớm thì sẽ có ý nghĩa hơn, có thể mang về cho họ hàng triệu đô la.”  Sự hỗ trợ của các doanh nghiệp lớn thông qua các chương trình tăng tốc khởi nghiệp có lẽ là một trong những tài sản then chốt nhất trong bất kỳ hệ sinh thái khởi nghiệp nào. Các công ty lớn đóng vai trò là các kênh tiếp cận của startup tới các khách hàng tiềm năng, các cố vấn và các nhà đầu tư. Mặc dù lĩnh vực dịch vụ tài chính vẫn là điểm nhấn chủ đạo trong nền kinh tế Hong Kong, song các số liệu thống kê từ tổ chức Quan hệ Nhà Đầu tư châu Á – Thái Bình Dương cho thấy Sàn Giao dịch Chứng khoán Hong Kong hiện có trên 250 công ty niêm yết đang hoạt động trong các ngành công nghệ, phần mềm và IT. Các công ty công nghệ quốc doanh lớn có thể tạo lập một mối quan hệ tương hỗ với các startup công nghệ, theo đó họ có thể cử các chuyên gia và cố vấn công nghệ dày dạn kinh nghiệm tới giúp sức cho các startup này, đồng thời họ lại có cơ hội tiếp cận sâu sát với nguồn nhân tài kinh doanh trong khu vực tư nhân.  Hong Kong còn có những lợi thế độc đáo khác để vươn lên trở thành một startup hub (trung tâm startup). Sự gần gũi về địa lý giữa thành phố với các tỉnh có nhiều nhà máy sản xuất tại Trung Quốc giúp cho các startup về IoT ở đây được tiếp cận dễ dàng hơn với các nhà sản xuất phần cứng so với các thành phố khởi nghiệp khác trên thế giới. Lợi thế này đã được phản ảnh trong kết quả điều tra của InvestHK, trong đó cho thấy tính riêng trong năm 2015 Hong Kong đã có thêm 152 startup mới về IoT và công nghệ phần cứng. Hong Kong cũng tự hào khi sở hữu một danh sách các triệu phú và tỉ phú ngày càng dài hơn; đây là những người có đủ khả năng để trở thành các nhà đầu tư thiên thần. Và cuối cùng, với thành phố có mức giá thuê nhà cao ngất ngưởng như Hong Kong, số lượng 25 không gian làm việc chung (và con số này còn tiếp tục phát triển hơn nữa) với những điều khoản sử dụng linh động cũng đang góp phần hỗ trợ rất lớn cho các startup trong các giai đoạn phát triển ban đầu.  Nhưng bên cạnh đó, Hong Kong cũng đang thiếu một số “mảnh ghép” trong “trò chơi xếp hình” startup. Thành phố này dường như vẫn còn quá ít các công ty đầu tư mạo hiểm tập trung vào các startup hạt giống hoặc các startup trong giai đoạn mới hình thành. Thực tế này đã tạo ra một khoảng trống trong việc đa dạng hóa các lựa chọn đầu tư cho các doanh nhân cần thực hiện vòng gọi vốn tiếp theo sau khi các mô hình sản phẩm của họ đã thành công và sản phẩm của họ đã được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thị trường. Nhưng có thể điều này sẽ thay đổi bởi các công ty đầu tư mạo hiểm đang bắt đầu để mắt tới châu Á. Hong Kong có khả năng trở thành một startup hub tầm cỡ thế giới, song sự hỗ trợ tiếp tục từ cộng đồng doanh nghiệp và các hãng đầu tư mạo hiểm sẽ đóng vai trò chủ đạo trên hành trình này.  Bùi Thu Trang dịch     http://www.forbes.com/sites/falgunidesai/2015/12/17/hong-kongs-startup-scene-gains-momentum/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Lượng hóa tác động của tham nhũng tới doanh nghiệp tư nhân trong nước      Xét về khía cạnh đạo đức và pháp luật, mọi hiện tượng tham nhũng đều đáng lên án, nhưng trong điều kiện nguồn lực và năng lực hữu hạn người làm quản lý chỉ có thể tập trung vào ngăn chặn và xử lý những hành vi tham nhũng gây thiệt hại kinh tế nặng nề nhất. Muốn vậy, trước hết cần có những nghiên cứu “lượng hóa” tác động kinh tế của tham nhũng một cách khách quan và chặt chẽ. Tuy nhiên, lâu nay ở Việt Nam mới chỉ có các thống kê mang tính mô tả, dẫn tới các khuyến nghị thiếu cụ thể, thậm chí sa vào “cảm tính”. Phải tới gần đây, lần đầu tiên Việt Nam mới có một số nghiên cứu công bố ISI của các tác giả trong nước lượng hóa tác động của tham nhũng và chất lượng thể chế cấp tỉnh tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân, từ đó đặt cơ sở để xác định ưu tiên trong việc ra chính sách cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp.      Doanh nghiệp làm thủ tục thuế. Ảnh: Báo đầu tư.   Khoảng trống học thuật trong nghiên cứu về tham nhũng và chất lượng thể chế  Có tới 66% doanh nghiệp tư nhân Việt Nam than phiền về việc phải chi trả các nguồn phí không chính thức, và thậm chí lượng phí “bôi trơn” này có thể chiếm tới 10% doanh thu của doanh nghiệp1. Đây là những con số từ cuộc điều tra năng lực thể chế cấp tỉnh (PCI) năm 2016 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện, thường xuyên được các chuyên gia kinh tế trong nước và giới truyền thông dẫn lại để minh chứng về việc hiệu quả doanh nghiệp bị ảnh hưởng từ chất lượng yếu kém của thể chế cấp tỉnh. Tuy những con số trên đã cho thấy quy mô và tần suất các khoản trả phi chính thức của doanh nghiệp cho các hoạt động khác nhau nhưng mới chỉ dừng lại ở mức “thống kê mô tả” thuần tuý mà chưa thực sự “lượng hóa” được tác động của các yếu tố như chất lượng thể chế cấp tỉnh, loại hình và mức độ tham nhũng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.  “Bởi vậy, có người đặt vấn đề ngược lại là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động chủ yếu bởi đặc điểm và năng lực của chính doanh nghiệp, điều kiện thị trường, địa lý và cơ sở hạ tầng, còn yếu tố chất lượng thể chế có thể không có tác động. Ví dụ chất lượng thể chế của Lào Cai tốt hơn Hà Nội, nhưng nhìn chung doanh nghiệp vẫn muốn hoạt động ở Hà Nội hơn vì Lào Cai thiếu thốn về cơ sở hạ tầng và thị trường nhỏ hẹp”, TS. Trần Quang Tuyến, (Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) đặt vấn đề.  Trước đây, chúng ta chưa thể chỉ ra cụ thể mức độ và cơ chế ảnh hưởng của chất lượng thể chế và tham nhũng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nếu chỉ dựa vào những con số thống kê như VCCI đã đưa ra, TS. Trần Quang Tuyến khẳng định. Đặc biệt, với những nước có chất lượng thể chế thấp thì tham nhũng đôi khi có thể mang lại tác động tích cực cho tăng trưởng và đầu tư của doanh nghiệp, như các nghiên cứu ở Trung Quốc và Indonesia đã lý giải2, rằng việc trả tiền hối lộ có thể giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian khi đối mặt với các thủ tục hành chính quan liêu, các quy định không rõ ràng.  Những khoảng trống học thuật trong nghiên cứu về tham nhũng và chất lượng thể chế ở Việt Nam đã được làm rõ trong nghiên cứu “Tham nhũng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Bằng chứng kinh tế lượng mới từ phân tích các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” do TS. Trần Quang Tuyến làm trưởng nhóm thực hiện trong hai năm (2014 – 2016) do Đại học Quốc gia cấp kinh phí (với yêu cầu kết quả phải được công bố trên hai tạp chí trong danh mục ISI). Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh và tham nhũng tới hiệu quả doanh nghiệp được đo bằng nhiều chỉ số khác nhau dựa trên phân tích dữ liệu từ các điều tra PCI hằng năm và Điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) thực hiện. Nghiên cứu này chỉ tập trung vào phân tích tác động của tham nhũng tới doanh nghiệp ở lĩnh vực chế tạo vì các hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này có ý nghĩa quan trọng cho mục tiêu công nghiệp hóa của Việt Nam.  Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động của tham nhũng, chất lượng thể chế cấp tỉnh tới năng suất và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã phân tích từng loại hình tham nhũng và “đong” được cả tác động “hai mặt” của từng loại hình tới doanh nghiệp: những loại hình tham nhũng nào làm lợi hơn (tác động dương) cho doanh nghiệp, loại hình nào có hại (tác động âm) cho doanh nghiệp. Trong đó, một số khoản chi phí không chính thức để có được giấy phép và hợp đồng của chính phủ có tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; còn việc trả tiền hối lộ cho các dịch vụ công cộng lại khiến các công ty đạt được hiệu quả tài chính cao hơn. Có thể thấy những phân tích này qua trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu: một mặt hoạt động hối lộ để có các hợp đồng của chính phủ sẽ làm giảm khả năng tham gia xuất khẩu nhưng ở chiều ngược lại, hành vi hối lộ về thủ tục hải quan lại giúp doanh nghiệp tăng khả năng xuất khẩu.  Mặc dù chỉ ra những tác động “dương” của tham nhũng tới một số khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp nhưng nghiên cứu này vẫn khẳng định, đối với tổng thể nền kinh tế và xã hội, tham nhũng gây ra sự phát triển thiếu bền vững trong dài hạn của Việt Nam, làm méo mó mô hình kinh doanh, làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp và gây sai lệch động cơ của doanh nghiệp, ví dụ sử dụng nguồn lực để hối lộ thay vì đầu tư cho đổi mới sáng tạo.  Phương pháp có tính ứng dụng cho các chính sách vĩ mô và vi mô  “Chỉ khi dựa vào phân tích hồi quy chúng tôi mới tính toán được tác động thực (net impact) là dương hay âm một cách có kiểm soát. Nghĩa là, cần có sự so sánh giữa các doanh nghiệp sau khi đã quy chúng vào những điều kiện giống nhau về cơ sở hạ tầng, về công nghệ, về đầu tư…, chỉ khác nhau là doanh nghiệp này hoạt động ở một tỉnh có chất lượng thể chế tốt, doanh nghiệp kia ở tỉnh có chất lượng thể chế kém, như vậy mới biết được thể chế có tác động thực sự tới doanh nghiệp như thế nào”, TS. Trần Quang Tuyến phân tích.  Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu vẫn có thể bị phản bác rằng: những doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh yếu nên phải hối lộ, do đó hối lộ giúp họ “hưởng” lợi nhuận nhiều hơn. Trong trường hợp đó, yếu tố tham nhũng sẽ mang tính “nội sinh”, làm cho kết quả phân tích định lượng thiếu chính xác và kém tin cậy. “Chúng tôi phải ‘khử’ các biến nội sinh, nếu không làm được điều đó, nghiên cứu này sẽ… vứt đi, không thể được tạp chí quốc tế uy tín chấp nhận”, TS. Trần Quang Tuyến cho biết. Việc tiến hành hàng loạt các thao tác kỹ thuật loại yếu tố nội sinh nhằm của nghiên cứu đã được các phản biện quốc tế phản biện nghiêm ngặt, nhờ đó kết quả nghiên cứu đã được công bố trên hai tạp chí ISI theo phân ngành kinh tế học và kinh doanh3.  Việc phân loại và xếp hạng ưu tiên những hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực tới doanh nghiệp (trong số 10 chỉ số thành phần phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh tế ở các tỉnh có tác động tới sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân theo PCI) đã đem lại hàm ý chính sách rõ ràng, mà căn cứ vào đó, nhà nước cần đặt mục tiêu, tập trung nguồn lực để cải thiện ngay. Chẳng hạn, các tỉnh có chỉ số về “chi phí thời gian” và “dịch vụ hỗ trợ khu vực tư nhân” thấp cần tập trung vào cải thiện ngay hai chỉ số này để nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương vì đây là hai chỉ số đã được đo lường là có mối quan hệ chặt chẽ nhất với năng suất của doanh nghiệp. Nghiên cứu đồng thời gợi ý rằng các biện pháp chống tham nhũng khác nhau cũng nên được áp dụng cho từng loại tham nhũng.  TS. Vũ Văn Hưởng, Học viện Tài chính, đồng tác giả của đề tài cho biết nghiên cứu này mới chỉ hạn chế trong phạm vi các doanh nghiệp sản xuất và sở hữu ngoài quốc doanh trong nước. Trong tương lai, nhóm sẽ mở rộng để xem xét tác động của tham nhũng tới các công ty lớn, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI cũng như các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế khác như dịch vụ hoặc nông nghiệp, nhằm cung cấp hiểu biết rộng hơn về tác động của các loại tham nhũng tới hoạt động tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam.  Nhận xét về nghiên cứu này, TS. Phạm Thế Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết: “Các nghiên cứu như thế này có giá trị tham khảo đối với quá trình hoạch định chính sách ở nhiều nước. Tất nhiên, đó phải là các nghiên cứu được thực hiện chặt chẽ, có phản biện nghiêm túc. Bên cạnh đó, nguồn dữ liệu điều tra phải đáng tin cậy, đảm bảo rằng doanh nghiệp trả lời khảo sát trung thực”.  Trong thực tế, TS. Trần Quang Tuyến cho biết, phương pháp phân tích kinh tế lượng vi mô với dữ liệu mảng (panel data) được áp dụng trong nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa với hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, mà có thể áp dụng vào giải quyết những vấn đề rất cụ thể trong đời sống xã hội thường ngày. Ví dụ từ những năm 1970, khi Chính phủ Mỹ quyết định xây các lò đốt rác ở vùng Bắc Andover, Masachusetts, và hệ quả được cho là đã làm giảm giá các căn hộ có vị trí gần lò đốt rác4. Khi đó, các nhà kinh tế đã sử dụng phương pháp hồi quy để kiểm soát các biến số khác liên quan tới đặc điểm căn hộ và đặc biệt là kiểm soát giá nhà trước và sau khi xây dựng lò đốt rác. Căn cứ vào đó, chính phủ đã đưa ra được mức giá đền bù hợp lý so với đòi hỏi đền bù quá cao mà các hộ dân đưa ra ban đầu.  “Hiện nay, chúng tôi cũng đã nhận được đơn đặt hàng của nhóm các doanh nghiệp tư nhân về việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của các dự án nhà ở giá trung bình thấp tại một số đô thị lớn. Họ cũng yêu cầu kết quả nghiên cứu phải được bố quốc tế hai bài tạp chí ISI hoặc Scopus để có thẩm định quốc tế”, TS. Trần Quang Tuyến nói.  ——  1Trong nghiên cứu này, tham nhũng được định nghĩa là việc doanh nghiệp trả các khoản phí phi chính cho các công/viên chức trong các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp như thuế, hải quan, cấp phép,… (Xem thêm báo cáo PCI của VCCI).  2Xem chi tiết nghiên cứucủa Rock và Bonnett (2004)tại: http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0305750X04000440  3Kết quả nghiên cứu được công bố trên Journal of Business Ethics và Estudios De Economia. Cả hai tạp chí trong danh mục ISI (SSCI) theo phân ngành kinh tế & kinh doanh.  4Xem thêm Jeffrey M Wooldridge (2013) “Introductory Econometrics: A modern approach”,  Cengate Learning, Mason, USA, trang 454-457.  Nhóm nghiên cứu của TS. Trần Quang Tuyến, TS. Vũ Văn Hưởng và các cộng sự có nhiều công bố trên các tạp chí quốc tế về khoa học xã hội uy tín, được xếp thứ hạng cao. Có thể kể tới một số nghiên cứu tiêu biểu gần đây như: “Lost in transition? Declining returns to education in Vietnam” [Lợi tức từ giáo dục ở Việt Nam đang suy giảm] đăng trên European Journal of Development Research, 2017; “Does Economic Inequality Affect the Quality of Life of Older People in Rural Vietnam?” [Bất bình đẳng kinh tế liệu có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam?] đăng trên Journal of Happiness Studies,2017; “Corruption, Types of Corruption and Firm Financial Performance: New Evidence from a Transitional Economy” [Tham nhũng, các loại hình tham nhũng và hiệu quả tài chính doanh nghiệp: những phát hiện mới từ một nền kinh tế chuyển đổi] đăng trên Journal of Business Ethics, 2016; “Farmland loss and livelihood outcomes: a micro-econometrics analysis of household surveys in Vietnam” [Mất đất và kết quả sinh kế: phân tích kinh tế lượng vi mô từ khảo sát hộ gia đình ở Việt Nam] đăng trên Journal of the Asia Pacific Economy, 2014.       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Lương y Đào Viết Thoàn: Nghề chọn người      Trải  qua gần 20 năm chữa bỏng cứu người, lương y Đào Viết Thoàn (thôn Đồng  Ấu, xã An Quý, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) không ngừng mày mò sáng  tạo để tìm ra phương pháp chữa trị hiệu quả, giảm đau đớn cho người  bệnh. Ông luôn coi điều cốt lõi của nghề là chữa bệnh phải xuất phát từ  cái tâm.    Bài thuốc nơi cửa Phật   Bài thuốc chữa bỏng mà ông Thoàn có trong tay đã được đúc rút và truyền thụ qua nhiều thế hệ. Đó là phương thuốc Nam mà ni sư trụ trì chùa Trắng (Hà Đông), Thích Đàm Lương, được mẹ truyền cho trước lúc xuất gia. Song song với việc thực hiện bổn phận hoằng dương Phật pháp của một bậc tu hành, ni sư Thích Đàm Lương vẫn nghiên cứu các phương thuốc, hướng dẫn các vị sư khác trong chùa tham gia chữa bệnh. Ở tuổi gần 90, bà tìm thấy một truyền nhân hết sức đặc biệt, thương binh hạng ¼ Đào Viết Thoàn.    Khi đó, ông Thoàn đang điều trị tại Bệnh viện 103 sau hàng chục lần mổ để giành giật sự sống. Ông phải chịu những đau đớn mà “sáng thay băng nhưng tới chiều vẫn còn đau”. Được mách tới chùa Trắng, ông Thoàn đắp thuốc của ni sư Thích Đàm Lương. Khác với các loại thuốc Tây y mà ông vẫn điều trị, thuốc mỡ này không chỉ đem lại cảm giác mát dịu “mỗi lần thay băng không còn thấy đau rát” mà còn rất công hiệu, giúp tránh nhiễm trùng và làm đầy vết thương.    Trong quá trình chữa trị ở chùa Trắng, ông Thoàn chịu khó học hỏi theo lời chỉ bảo của ni sư Thích Đàm Lương, thu hái các cây thuốc Nam và điều chế thuốc mà theo lời kể của ông “trước là để ứng dụng chữa bệnh trên chính mình”. Ông cũng mày mò tìm đọc một số tài liệu thuốc Đông y, chịu khó quan sát, nghiền ngẫm tính chất dược lý của từng loài cây.  Quãng thời gian theo học nghề thuốc ở chùa Trắng của ông kéo dài trong năm năm cho đến khi ni sư tạ thế vào năm 1987. Sau sáu tháng để tang thầy, ông Thoàn rời chùa trở về Quỳnh Phụ, bắt đầu cuộc hành trình mới mà ông không ngờ rằng sẽ làm thay đổi cuộc sống của chính mình và nhiều người khác.    Ở quê nhà, ông Thoàn tiếp tục tìm hiểu các loại thảo dược để có thể bồi bổ, đưa thêm một số vị nữa vào phương thuốc được truyền thụ, khiến “nó khác rất nhiều so với công thức ban đầu”, như lời bộc bạch của ông. Hầu hết các vị thuốc đều rất dễ kiếm như mật ong, sáp ong, củ nghệ, lạc tiên, cối xay, chìa vôi…, vốn được ghi nhận trong các sách y dược là có dược tính kháng khuẩn, chống viêm loét, tiêu độc, làm mềm da, chống ô xi hóa… Sau khi thu hái, ông phơi khô, xác định tỷ lệ phù hợp rồi bào chế thành một dạng thuốc cao đặc sẫm màu được ông gọi là “thuốc mỡ sinh cơ”. Sau nhiều công bồi đắp, thuốc bỏng sinh cơ của ông Thoàn có khả năng chữa được những vết bỏng nặng độ ba và các vết thương loét miệng lâu ngày với tiêu chí không gây nhiễm trùng, không gây dị ứng, không bị dính vào thịt, không tổn hại mô cơ bên dưới, hạn chế để lại sẹo; đồng thời trong quá trình đắp thuốc, bệnh nhân không cần kiêng khem bất kỳ loại thực phẩm nào như khi dùng nhiều loại thuốc Đông Tây y khác. Vì thế, đến ông Thoàn chữa bệnh, ai cũng có thể thoải mái ăn lấy sức mà không phải canh cánh e ngại ảnh hưởng đến vết thương. Công hiệu như vậy nhưng giá thuốc rất rẻ bởi theo giải thích của ông, nguyên liệu đều không mấy tốn kém, có thể thu hái quanh năm và hơn nữa, ông muốn người dân nghèo các vùng quê đều được chạy chữa với chi phí thấp.   Bên cạnh đó, ông Thoàn còn liên tục có nhiều sáng kiến cải tiến, ví dụ như giải pháp dùng gạc tẩm nước muối sinh lý cho ẩm rồi bôi thuốc mỡ lên để hạn chế tới mức thấp nhất cảm giác đau rát như khi dùng gạc khô, hay tìm những tỷ lệ pha chế thích hợp để hạn chế lượng thuốc bôi mà vết thương vẫn mau liền miệng. Nhìn nhận về các cải tiến này, ông Thoàn chỉ đơn giản cho rằng “nó giúp rút ngắn thời gian điều trị, giảm chi phí cho bệnh nhân chừng nào tốt chừng đó”.    Những ưu điểm từ bài thuốc mỡ chữa bỏng sinh cơ của ông Thoàn cũng như những ứng dụng trong thực tế điều trị bệnh đã thuyết phục được Vụ Y dược cổ truyền (Bộ Y tế) và Sở Y tế Thái Bình cấp đặc cách giấy chứng nhận phương thuốc này. Tất cả những điều đó đã góp phần đem lại thương hiệu “ông Thoàn bỏng” như hiện nay.     Thương hiệu “ông Thoàn bỏng”   Ban đầu, ông Thoàn cũng chỉ có ý định giúp đỡ bà con xóm giềng mỗi khi cần kíp mà bệnh viện lại ở quá xa. Thế rồi “tiếng lành đồn xa”, dù không một dòng quảng cáo nhưng sự hiệu nghiệm của phương thuốc chữa bỏng đã dần đưa danh tiếng của ông lang xã Đồng Ấu vượt qua ranh giới tỉnh Thái Bình, lan xa tới nhiều vùng miền trong cả nước, “cả Thái Nguyên, Lai Châu đến Nghệ An, Nha Trang cũng khăn gói tìm đến đây bằng nhiều phương tiện, có người còn mời cả bác sỹ đi cùng để hỗ trợ chữa trị”, bà Nguyễn Thị Hơn, vợ của ông Thoàn cho biết như vậy.   Trung bình mỗi ngày, ông Thoàn đón nhận khoảng 35 đến 40 bệnh nhân, phần lớn đều bị bỏng nhiều cấp độ do bất cẩn bỏng nước sôi, bỏng lửa, bỏng xăng cồn, bỏng vôi, bỏng cháo… Tất bật cả ngày, thậm chí nửa đêm có khi còn phải dậy đón người bệnh nhưng ông Thoàn vẫn cố gắng nhận khám, không bỏ sót trường hợp nào bởi theo chia sẻ của ông thì “khi đến với mình, người ta đã lâm vào tình trạng rất khó khăn rồi”.    Khi mới bắt tay chữa bệnh, ông Thoàn chưa có ý thức ghi chép, lập sổ bệnh án. Sau đó, để tiện thống kê, theo dõi tình trạng bệnh nhân, ông ghi lại từng trường hợp với các thông tin về tình trạng bệnh, ngày khám chữa, ngày bình phục, địa chỉ liên lạc… Hàng chục cuốn sổ dày cộm đầy đủ thông tin về tình trạng bệnh nhân khám trước và sau khi được ông điều trị đã được lưu trữ ở nhà ông kể từ năm 1990 đến nay, “không có ai bị dị ứng hay biến chứng sau khi dùng thuốc của tôi”, ông Thoàn khoe. Cũng nhờ vào những cuốn sổ đặc biệt này, ông đã phân loại được các dạng bệnh lý để xác định cách điều trị chung cho từng dạng, qua đó rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân.   Có cơ hội làm giàu chính đáng nhưng ông Thoàn không lấy đó làm mục đích của mình. Ông miễn tiền khám chữa bệnh cho các bệnh nhân độ tuổi dưới bảy và trên 70, Bà mẹ Việt Nam anh hùng…, thậm chí còn hỗ trợ thêm những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, xây thêm một dãy nhà đủ sức chứa 17 giường mà tiền thu cũng chỉ để “trả tiền điện nước hằng tháng chứ không lấy thêm của bà con”. Với sự hỗ trợ của chính quyền, ông chuyển một lượng bệnh nhân tới bệnh xá xã để giảm tải nhưng vẫn thường xuyên tới khám và đưa ra phác đồ điều trị hợp lý. Những năm gần đây, ông kết hợp dùng kháng sinh kèm với thuốc mỡ nhằm rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân.   Theo nghề hơn 20 năm, ông Thoàn vẫn luôn ấp ủ ý định tìm truyền nhân, người có khả năng hiểu từng vị thuốc và cái tâm đích thực của người làm nghề. Dù con gái và con rể ông cũng theo nghề y nhưng “chưa đủ tiêu chuẩn vì ngay cả khi chúng nó thay băng cho bệnh nhân, tôi vẫn thấy chưa thực sự hài lòng”, ông kể. Niềm hy vọng còn lại của ông là cậu con trai út, đang công tác tại Viện Bỏng trung ương. “Có thể tôi sẽ truyền nghề cho nó, nhưng nếu không thành công, tôi sẽ trao lại bài thuốc cho Nhà nước để tránh thất truyền một phương thuốc quý của dân tộc”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lướt sóng “maker movement”      Maker  movement là một cơn sóng đem theo những tài nguyên mà chúng ta có thể  tận dụng để tạo dựng văn hóa sáng tạo riêng. Cần phải biết lướt theo con  sóng đó, hướng nó vào bối cảnh của Việt Nam, đó là đi vào trong nhà  trường và những cơ sở dạy nghề.      Gần đây maker movement (một phần của phong trào DIY – Do-it-Yourself – tự làm mọi thứ vốn rất phổ biến mà IKEA – tập đoàn kinh doanh thiết bị nội thất lắp-ghép của Thụy Điển đã đón đầu và thành công) trở nên quan trọng ở các nước Âu- Mỹ vì hai lí do: Thứ nhất, vì phần lớn công việc ở các quốc gia này đều được hiện đại hóa và tự động hóa nên mọi người muốn dành ra 10%-20% quỹ thời gian để lao động chân tay nhằm cân bằng cuộc sống và lưu giữ những tinh túy từ lao động của thế hệ đi trước. Thứ hai, nhiều nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, đang tìm cách thoát khỏi sự phụ thuộc sản xuất vào Trung Quốc – nước duy nhất trên thế giới hiện nay bao trọn quy trình sản xuất sản phẩm từ khi là quặng cho đến lúc hoàn thiện. Mỗi chiếc Iphone được sản xuất bởi 785 nhà cung cấp trên thế giới, với hơn một nửa từ Trung Quốc trong khi Trung Quốc tự sản xuất hoàn toàn Mi-phone. Chính vì vậy, để “rút chân” ra khỏi vòng kiềm tỏa sản xuất của Trung Quốc mà Mỹ đã bị “vướng” vào vì lao động giá rẻ, họ cần một cú đột phá bằng cách tạo ra “lao động giá trị”. Đó là làm ra những sản phẩm đặc biệt (unique) với hàm lượng sáng tạo cao để Trung Quốc khó lòng bắt kịp nhưng Mỹ vẫn có thể sản xuất chúng hàng loạt. Máy in 3D, một trong những biểu tượng của maker movement là một công cụ như thế – tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau nhưng chỉ dùng một phương thức công nghiệp – in.    Maker movement cũng như tất cả các làn sóng của thế giới, một lúc nào đó sẽ rộ lên ở Việt Nam nhưng để biến nó thành bền vững và khai thác nó không chỉ như một trào lưu thời thượng mà mang lại giá trị lâu dài cho xã hội thì không đơn giản. Cách đây bốn năm, tôi từng mời Techshop hợp tác với công ty mình để mở một không gian sáng chế tương tự ở Việt Nam nhưng khi họ đưa ra con số tài chính thì bài toán này không hề khả thi. Với khoảng một triệu USD đầu tư ban đầu để xây dựng một xưởng của Techshop với hàng trăm thiết bị hiện đại, trong đó có cả máy waterjet (máy cắt kim loại có thể cắt những tấm thép dày 5 cm) trị giá hàng trăm nghìn USD thì làm sao kiếm đủ hàng nghìn thành viên sẵn sàng trả mỗi người 100USD/ tháng ?    Maker movement cũng không thể đến Việt Nam với triết lí và cách thức như nó đã hình thành ở Mỹ và châu Âu. Thứ nhất, 70% dân số Việt Nam là người dân lao động chân tay, ít có nhu cầu tự mày mò sáng tạo. Thứ hai, nếu Việt Nam đặt mục tiêu vượt qua Trung Quốc về mặt sản xuất cũng như bước vào một cuộc chiến mà bên mình cầm chắc phần thua.    Maker movement cần phải vào Việt Nam bằng con đường giáo dục, khuyến khích sự sáng tạo – điều cần thiết trong mọi lĩnh vực của đời sống. Khi đó, thay vì giống như Mỹ – để phong trào này dâng lên từ sự tự nguyện của các cá nhân và cộng đồng, ở Việt Nam, cần “trao” maker movement cho học sinh, sinh viên – những người cần có thói quen và ý thức sáng tạo.     Xây dựng cộng đồng từ trường học   Với thực trạng giáo dục lạc hậu “toàn lý thuyết, không có thực hành” ở nước ta hiện nay, đem maker movement tới các trường học là một cách hiệu quả để thay đổi giáo dục, bắt kịp với xu hướng của thế giới mà không mất nhiều thời gian và thậm chí cũng không tốn nhiều kinh phí. Những buổi ngoại khóa chế tạo tên lửa, tàu ngầm, máy bay bằng vỏ chai, giấy… do công ty sách Long Minh phối hợp với các trường trung học tổ chức gần đây; các thí nghiệm của Học viện Sáng tạo S3 dành cho trẻ em; bộ TUHOC (tự học) STEM được xây dựng từ những bảng mạch và cảm biến của Adruino (hãng phần cứng nguồn mở số 1 của Ý) để các em học sinh phổ thông có thể chế tạo những đồ vật thông minh đều là make (sáng chế) ở mức độ giản đơn.    Việc xây dựng những không gian chế tạo – makerspace cho các trường phổ thông với những thiết bị như máy in 3D, máy cắt gỗ, máy khắc laser… cũng hoàn toàn khả thi nếu nhà nước đầu tư đúng nguồn lực vào việc xây dựng chính sách, truyền thông để hình thành nhu cầu “học qua hành” ở học sinh, phụ huynh. Khi đó, việc xây dựng xưởng thực hành sẽ được xã hội hóa. Dựa vào số lượng, nhu cầu, năng lực của học sinh của từng khu vực, các cá nhân tổ chức sẽ tính toán xây dựng quy mô của các makerspace để kinh doanh. Có thể là mỗi trường một makerspace nhỏ với 20 triệu đồng (với một chiếc máy in 3D) hoặc xây dựng một makerspace lớn với chi phí đầu tư ban đầu khoảng 100.000 USD cho năm trường phổ thông dùng chung.    Tuy nhiên, bên cạnh tạo dựng maker movement trong các trường học, còn cần phải tạo một cộng đồng sáng tạo mở trên mạng (nơi mọi người chia sẻ toàn bộ sáng chế của mình đồng thời đóng góp, xây dựng những sáng chế của người khác). Maker movement trong thời đại hiện nay là cập nhật thông tin qua internet, sử dụng những vật liệu, thiết bị thông minh và những phần mềm đồ họa, thiết kế. Vì vậy, những cộng đồng sáng tạo mở tạo điều kiện để người đi sau làm tốt hơn người đi trước mà không phải cất công làm lại từ đầu. Hiểu đơn giản, nếu người đến trước đã làm cái cốc thì người đi sau sẽ cải tiến thêm cái quai. Tuy nhiên, cộng đồng sáng tạo mở không chỉ có ý nghĩa cải tiến sản phẩm có sẵn mà đây còn là nơi tập hợp các kỹ năng của nhiều người khác nhau để xây dựng, đóng góp và phát triển nhiều khía cạnh của một sáng kiến. Ví dụ, sinh viên có thể đến gặp “vua chuột” Nguyễn Quang Thiều phỏng vấn, ghi âm, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu của ông để phổ biến cho mọi người chẳng hạn.   Cộng đồng là một trong hai yếu tố làm nên maker movement nhưng lại đang trống vắng ở Việt Nam. Sự hình thành cộng đồng một cách tự nhiên trong Techshop không dễ gì được hình thành ngoài xã hội nước ta hiện nay nhưng tinh thần đó lại có thể xây dựng trong trường học. Vì vậy, nhà nước cần tạo ra chính sách, sân chơi để thúc đẩy tiềm năng của các nguồn lực, khơi dậy một hệ sinh thái gồm những cá nhân, tổ chức hỗ trợ lẫn nhau cùng tạo ra giá trị trong xã hội. Lúc đầu, lực lượng chủ yếu tham gia sẽ là sinh viên, sau đó có thể sẽ thu hút những nhà đầu tư, nhà khoa học, doanh nghiệp… liên quan đến công nghệ, thiết kế, kĩ thuật… để đóng góp dữ liệu, xây dựng một kho mở trên internet mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận và học tập. Điều này dần dần sẽ tạo ra một văn hóa chia sẻ vì mọi người đều có lợi. Nhờ thế, những giá trị mới sẽ được tạo ra, sẽ hình thành liên kết giữa bên có khả năng xây dựng, khai thác và chia sẻ các tài nguyên nguồn mở (sinh viên, học sinh) và những người có ý tưởng (những nhà sáng chế nông dân chẳng hạn).                  Tôi không phủ nhận vai trò của những nhóm có  sở thích sáng chế đem maker movement vào Việt Nam nhưng phong trào này  được khởi sinh trong giáo dục sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều bởi  nó chạm đến hơn 20 triệu học sinh, sinh viên trên toàn quốc. Hơn nữa,  sau khi tốt nghiệp, các em có thể kinh doanh những “món” các em làm ra  hoặc tiếp tục thực hiện, phát triển những ý tưởng thai nghén từ khi còn  đi học hoặc đơn giản là các em đã được trang bị những kiến thức căn bản  về quy trình làm sản phẩm để tham gia ngay vào quá trình sản xuất.    
__label__tiasang Bảo tồn và lai tạo một số giống lan rừng quý hiếm      Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM đã thu thập, đánh giá đa dạng di truyền nhằm bảo tồn và lai tạo một số giống lan Hoàng thảo rừng có giá trị.    Lan Hoàng thảo là loại cây ra hoa quanh năm, thích hợp với khí hậu nhiệt đới, có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưa chuộng. Hiện nay, đa số các giống lan Hoàng thảo đang được nuôi trồng ở TPHCM đều được nhập từ Thái Lan. Trong khi đó, các nhà vườn vẫn sở hữu một số giống lan Hoàng thảo rừng đã được thuần hóa, lai tạo nhưng chưa được đánh giá và khai thác một cách hiệu quả.        Trước thực tế đó, Trung tâm Công nghệ Sinh học TPHCM đã thực hiện đề tài “ Đánh giá, xác định bằng chỉ thị phân tử DNA và hình thái kết hợp bảo tồn một số giống lan Hoàng thảo (Dendrobium spp.) có giá trị”.    Theo đó, nhóm nghiên cứu đã thu thập 45 mẫu giống lan Hoàng thảo – gồm 35 giống lan giả hạc, 5 giống lan trầm, 5 giống lan long tu – ở nhiều nơi như Đăk Lắk, Kon Tum, Ninh Thuận, Thừa Thiên-Huế, Bến Tre,… Các giống này được theo dõi, chăm sóc theo đúng kỹ thuật trồng lan. Sau đó, nhóm đánh giá nguồn gen và phân tích mối quan hệ di truyền dựa trên trình tự DNA cho các giống lan đã thu thập.    Kết quả cho thấy, các mẫu giống lan ở các địa điểm thu thập có mối quan hệ di truyền gần nhau. Nhóm đã chọn được 10 giống lan đang được thị trường ưa chuộng nhất và tạo chồi, cây in vitro. Các giống này đều có thể phục vụ công tác nghiên cứu và sản xuất giống.    Ngoài ra, nhóm còn thu thập dữ liệu hình thái và cơ sở dữ liệu di truyền, phục vụ công tác đánh giá đa dạng di truyền, bảo tồn và lai tạo giống lan.    Đề tài của nhóm tác giả đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu. Trong thời gian tới, nhóm tiếp tục nghiên cứu khai thác nguồn gen một số mẫu giống lan đã được lưu trữ in vitro để nhân giống cung cấp cho thị trường, đồng thời lai tạo giống mới nhằm khai thác hiệu quả nguồn lan rừng quý của Việt Nam.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Lý giải bí ẩn trong kiệt tác của Vermeer      Tưởng chừng những tranh cãi về thời điểm vẽ “View of Delft” (Quang cảnh thành Delft), một trong những kiệt tác của danh họa Hà Lan thế kỷ 17 Johannes Vermeer, sẽ được giải quyết bằng công trình nghiên cứu của giáo sư thiên văn học Donald Olson, trường Đại học Texas nhưng ngược lại, nó lại mở ra một số tranh cãi mới.      Bức tranh “Quang cảnh thành Delft” của Johannes Vermeer. Nguồn: news.txstate.edu  Được biết đến nhiều với bức Cô gái đeo hoa tai ngọc trai nhưng đây không phải là kiệt tác duy nhất của Johannes Vermeer. Danh tiếng của họa sĩ thời kỳ Baroque này được lưu lại hậu thế qua nhiều bức tranh khác, trong đó có Quang cảnh thành Delft. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi ông là “Con nhân sư thành Delft”, hầu như toàn bộ cuộc đời và các tác phẩm mà ông sáng tác, đều dành riêng cho thành phố này.    Bức họa này trở nên nổi tiếng một phần nhờ nhà văn Marcel Proust, tác giả bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất. Trong Đi tìm thời gian đã mất, một nhân vật là nhà văn Bergotte đã thốt lên sửng sốt trước kỹ thuật của Vermeer: “Hẳn là tôi phải viết như thế này…. cuốn sách của tôi quá khô khan, hẳn là tôi phải… tạo ra ngôn ngữ chính xác giống như bức tường nhỏ màu vàng này”. Là người ngưỡng mộ Vermeer, đặc biệt là Quang cảnh thành Delft, Proust đã để lại một câu nói mà người ta hay trích dẫn khi nhắc đến bức họa “Kể từ khi thấy Quang cảnh thành Delft trong bảo tàng ở La Haye, tôi đã nhận ra rằng mình đã thấy một trong những bức họa đẹp nhất thế giới”.    Những dấu hỏi thời gian    Bức họa Quang cảnh thành Delft có lẽ được vẽ từ vị trí cao từ một ngôi nhà ở cạnh cảng ven sông Schie, nhìn ra cổng Schiedam ở rìa trái bức tranh và cổng Rotterdam ở bên cạnh và lũy ngoài của nó ở bên phải. Tất cả các công trình đều in bóng trong mặt nước ở bến cảng, vốn được xây dựng từ năm 1616 đến 1620. Đằng sau cổng Schiedam là kho vũ khí có mái lợp màu đỏ Armamentarium (ngày nay là bảo tàng quân sự hoàng gia Hà Lan Legermuseum).    Những thông tin từ bức họa cho thấy có thể nó miêu tả một góc thành Delft, với những tia nắng Mặt trời chiếu rọi lên gác chuông Nieuwe Kerk (nghĩa là Nhà thờ mới) – chuông của nhà thờ được thay thế vào năm 1660. Nieuwe Kerk ở Delft là nơi chôn cất William xứ Orange, được coi là người xây dựng đất nước Hà Lan và bản quốc ca Het Wilhelmus được viết để vinh danh ông.    Bên cạnh đó lần lượt là tòa nhà “De Papegaey” (con vẹt) và một đỉnh của Oude Kerk (Nhà thờ cũ). Một số xà lan trong bến đang được bốc dỡ hàng hóa. Bầu trời đầy mây của thành phố nổi bật với một vài đám mây màu đen, báo hiệu một cơn mưa chỉ mới qua.    Nhưng bức họa không chỉ là bức họa, người ta hi vọng Quang cảnh thành Delft sẽ cho thấy nhiều thông tin hơn về Vermeer, người họa sĩ qua đời trong gia cảnh sa sút và ít được người đương thời biết đến.    Các nhà lịch sử nghệ thuật từ lâu cho rằng Vermeer vẽ nó vào cuối xuân hoặc đầu hè năm 1660. Họ đề xuất thời điểm cụ thể vẽ tranh trong một dải thời gian rất rộng trong ngày, từ buổi sáng, ban trưa đến buổi tối, phần lớn các ý kiến đều xoay quanh yếu tố ánh sáng rọi lại từ phía Tây, một số khác thì cho rằng ánh nắng từ Mặt trời ở trên đỉnh đầu.    Hiện tại, một nhóm nghiên cứu tại trường Đại học Texas của giáo sư thiên văn học đã hồi hưu Donald Olson, người từng xuất bản cuốn “Celestial Sleuth: Using Astronomy to Solve Mysteries in Art, History and Literature” (Thám tử bầu trời: Sử dụng thiên văn học để giải quyết các bí ẩn trong nghệ thuật, lịch sử và văn học) vào năm 2013, đã sử dụng những kỹ thuật độc đáo để xác định được thời điểm vẽ tranh của  Vermeer. Kết quả được ông công bố trong ‘Dating Vermeer’s View of Delft” (Xác định thời điểm trong bức tranh Quang cảnh thành Delft của Vermeer) và đăng tải trên ấn bản tháng 9/2020 của tạp chí Sky&Telescope.      Thành phố Delft ngày nay, đúng ở góc nhìn của họa sĩ. Nguồn: news.txstate.edu    Chuyến du hành tới thành Delft    “Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã tìm hiểu về bức họa trong một năm trời”, Olson nói. “Chúng tôi dành nhiều thời gian để nghiên cứu về địa hình của thành phố, sử dụng bản đồ vẽ từ thế kỷ 17 và bản đồ in thế kỷ 19 và cả Google Earth. Chúng tôi cũng phải lập kế hoạch cho những gì chúng tôi phải làm”.    Để có được những số liệu đo đạc chính xác, hai nghiên cứu sinh Condos và Saschez đã tới tận Delft, tìm hiểu về các dữ liệu địa hình, chụp ảnh theo đúng trục cái nhìn của Vermeer khi nắm bắt khung cảnh thành Delft và tái hiện nó bằng màu vẽ, có thể là quan sát thông qua camera obscura, một thiết bị quang học gồm một hộp với lỗ ở bên, cho phép ánh sáng từ một cảnh bên ngoài đi qua lỗ và chiếu vào bề mặt bên trong để đem đến hình ảnh theo chiều ngược lại, hoặc có thể là một kính viễn vọng để nắm bắt được các chi tiết. Sau đó họ đã vạch ra những điểm mốc trong bức vẽ rồi dùng Google Earth để xác định khoảng cách và góc của tầm nhìn gần nhất với tầm nhìn từ nhiều thế kỷ trước của Vermeer.    Khi đến Delft, Olson và một giáo sư khác là Doescher đã có được một bộ những bức ảnh toàn cảnh và những đo lường tiếp theo. Khi kiểm tra những bản đồ khác nhau của thành Delft, ông phát hiện ra là cái nhìn của họa sĩ hướng về phía Bắc. Điều đó có nghĩa là ánh nắng có thể từ phía Đông Nam và qua đó xác định cảnh tượng mà họa sĩ miêu tả vào buổi sáng như một số ý kiến đã xác nhận.    Họ còn xác định là Vermeer đã ngồi ở tầng trên một trạm nghỉ dành cho khách du lịch bên trục đường chính, ở phía nam của Kolk, một bến cảng của thành phố có hình dáng giống hình tam giác. Với việc kết hợp nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là dữ liệu điều tra địa hình trực tiếp, họ đã xác định được trường nhìn của họa sĩ là một góc rộng 42°, một thông số vô giá.    Vào thế kỷ 17, tháp hình bát giác của Nieuwe Kerk là một trong những điểm mốc đặc trưng của Delft. Các tài liệu hiện Delft còn lưu giữ cho rằng Vermeer đã gia tăng kích cỡ của tòa tháp chuông một cách đáng kể trong bức họa của mình như tăng gấp đôi chiều rộng cúa nó. Để xác nhận độ chính xác của tài liệu, Olson và nhóm nghiên cứu của ông đã thực hiện những đo đạc chi tiết bức tranh đang được đặt tại bảo tàng Mauritshuis ở La Haye và so sánh nó với những bức ảnh có độ phân giải cao được chụp từ một điểm tương tự và có trường nhìn tương tự của Vermeer. Và để chứng thực hơn về độ chính xác của họa sĩ, Olson cũng đo đạc cả tháp bát giác. Kết quả cho thấy Vermeer đã tái hiện Nieuwe Kerk hoàn toàn chính xác như những gì ông thấy.    Việc lập được chính xác thông số về tòa tháp với tám cột ở tám góc là yếu tố chính để xác nhận thời điểm vẽ. Trong bức họa, cột ở trung tâm gần như che khuất cột bên trái. Một tia sáng rất mảnh theo chiều thẳng đứng lướt qua cột trung tâm và chiếu lên cột bên trái, điều này cho phép các nhà thiên văn tính được góc chiếu của mặt trời với độ chính xác vô cùng lớn. Vermeer vốn nổi tiếng với kỹ thuật miêu tả ánh sáng và bóng tối, nên việc tìm ra sự tương đồng của nó với ánh sáng và bóng tối trên thực tế là manh mối quan trọng trong dự án này. “Đây là điều chính yếu của nghiên cứu khi mẫu hình ánh sáng và bóng tối này trở thành chỉ dấu chính xác nhất về vị trí của mặt trời”, Olson nói.    Trong tranh có chi tiết chiếc đồng hồ treo ở mặt tiền cổng Schiedam, nó đã được chú ý trong nhiều năm và được mọi người cho rằng hiển thị thời gian là “mới chỉ qua 7 giờ”. Tuy nhiên Sánchez đã chỉ ra một trung hợp thú vị. Khi kiểm tra nhiều bức vẽ có đồng hồ khác cùng thời kỳ, anh nhận thấy là dường như đồng hồ chỉ có một kim. Sau khi hỏi thêm nhiều chuyên gia kiến trúc Hà Lan, họ phát hiện ra, những chiếc đồng hồ treo ở các công trình kiến trúc thời kỳ này không có kim chỉ phút và điều này chỉ thay đổi cho mãi đến thế kỷ 19 – lúc đó, những chiếc đồng hồ mới chỉ có duy nhất một chiếc kim chỉ giờ. Với hiểu biết mới đó, họ kiểm tra lại bức họa của Vermeer, tạo ra một phiên bản cận cảnh đồng hồ và nhận thấy chiếc kim đó chỉ vào số 8 và số 2 trên mặt. Kết hợp với góc chiếu của Mặt trời, bóng nắng khiến Olson đưa ra kết luận: cái kim chỉ giờ kích thước lớn đó ra dấu mốc 8 giờ sáng.      Mực khoanh vị trí vẽ của Vermeer ở tầng trên một trạm nghỉ dành cho khách du lịch bên trục đường chính, ở phía Nam của Kolk. Nguồn: news.txstate.edu  Bên cạnh đó, họ còn phát hiện ra là trong tháp chuông của Nieuwe Kerk không có chuông, vốn thông thường là sẽ có một chùm chuông treo trong đó. Các ghi chép lịch sử cho biết, việc lắp đặt những chiếc chuông đầu tiên bắt đầu vào tháng tư năm 1660 và hoàn thành vào tháng chín năm đó. Khi khớp với chi tiết tháp chuông không có chuông trong bức vẽ, có thể là Quang cảnh thành Delft được vẽ vào trước khi lắp đặt chuông.    Với tất cả những dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu trường Đại học Texas đã thử chạy phần mềm mô phỏng thiên văn học để tính toán vị trí của Mặt trời trên không trung vào lúc 8 giờ sáng giờ địa phương ở Delft để thử xem các bóng tối quan sát được trên tháp Nieuwe Kerk như thế nào. Phần mềm này đưa ra hai phạm vi thời điểm có thể là ngày 6 đến 8/4 và 3 đến 4/9. Trong khí hậu phía Bắc của Delft, cây cối không bị ảnh hưởng vào mùa đông cho đến tận cuối tháng tư hoặc tháng năm và bức họa của Vermeer chỉ dấu những vòm lá sum xuê. Vì chuông được lắp đặt trên tháp Nieuwe Kerk từ tháng tư đến tháng chín năm 1660 nên có thể mốc gần với sự thật nhất là ngày 3/9/1659 (hoặc một năm sớm hơn đó), như phần lớn thời điểm vẽ các kiệt tác của Vermeer.        “Người ta biết là Vermeer thường vẽ rất chậm. Việc hoàn thành tất cả các chi tiết trên một bức toan khổ lớn như các kiệt tác của ông có thể mất nhiều tuần lễ, nhiều tháng hoặc thậm chí là nhiều năm”, Olson nhận xét. “Miêu tả chính xác một cách khác thường của ông về sự phù du của ánh sáng và bóng tối trên tháp Nieuwe Kerk cho thấy, ít nhất chi tiết này đã dược truyền cảm hứng từ quan sát trực tiếp hình ảnh tháp chuông hứng những tia nắng sớm nổi lên trên những bức tường và mái ngói ở Delft”.    Từ đó, nhóm nghiên cứu của Olson kết luận, Vermeer vẽ tranh từ năm 1659 hoặc sớm hơn, ông quan sát thành Delft từ cửa số tầng hai của trạm nghỉ vào lúc 8 giờ sáng trong một ngày gần với ngày 3/9.    Kết luận này của Olson đã nhận được nhiều phản ứng khác nhau. Lea van der Vinde, giám tuyển của Bảo tàng Mauritshuis ở La Hay, nơi treo bức họa kể từ năm 1822 bên cạnh Cô gái đeo hoa tai ngọc trai, nhận xét là nghiên cứu “thú vị, đáng quan tâm và lý thú”. Tuy nhiên Kees Kaldenbach, một nhà sử học nghệ thuật, vẫn khăng khăng với tờ De Volskrant là bức họa này miêu tả Delft vào tháng năm vì những chiếc thuyền bắt cá trích trong bức họa thường chỉ xuất hiện ở cảng để chuẩn bị cho mùa đánh bắt cá trích vào tháng sáu. “Do đó tôi loại ngay thông tin của họ. Sự thật vẫn là sự thật”.□    Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://arstechnica.com/science/2020/07/new-analysis-prompts-rethinking-of-date-time-for-vermeers-view-of-delft/  https://news.txstate.edu/research-and-innovation/2020/celestial-sleuth-sheds-new-light-on-vermeers-masterpiece-view-of-delft-.html  https://www.theguardian.com/artanddesign/2020/jul/22/astronomy-helps-pinpoint-date-of-vermeers-view-of-delft?utm_source=dlvr.it&utm_medium=twitter    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết “làm mối” giành giải Nobel Kinh tế      Hai nhà kinh tế Alvin E. Roth và Lloyd S.  Shapley đã được đồng trao giải Nobel 2012 trong lĩnh vực Kinh tế cho  những công trình nghiên cứu của họ về khớp nối cung và cầu. Lý thuyết  này có thể ứng dụng cho mọi lĩnh vực, từ chuyện làm mối cho đàn ông –  đàn bà tới việc tìm người ghép tạng phù hợp.     “Sự kết hợp giữa lý thuyết cơ bản của Shapley và những nghiên cứu và mô hình mang tính thực nghiệm của Roth đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu phong phú, giúp cải thiện hoạt động của nhiều thị trường”, tuyên bố của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển hôm 15/10 vừa qua.  Nhà kinh tế Shapley nay đã 89 tuổi, là người xây dựng các mô hình lý thuyết và thuật toán phục vụ việc nghiên cứu và so sánh các phương pháp khớp nối khác nhau. Nhà kinh tế Roth, 60 tuổi, đã dựa theo những mô hình này của Shapley và áp dụng kinh tế thực nghiệm cùng các mô hình thị trường để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn, ví dụ như việc phân công công tác cho 20 nghìn bác sĩ tại các bệnh viện của Mỹ trong năm đầu làm việc của họ, hoặc phân trường cho 90 nghìn thiếu niên thành phố New York.  Roth đang là giáo sư kinh tế và quản trị kinh doanh của Đại học Harvard từ năm 1998, nhưng dự kiến cuối năm nay ông sẽ chuyển sang làm việc cho Đại học Stanford, nơi ông đang làm giáo sư thỉnh giảng. Còn Shapley là giáo sư đã về hưu của trường UCLA.  Đánh giá về công trình nghiên cứu của hai người, nhà kinh tế Robert Solow – từng đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1987 – cho rằng kết quả của họ đã soi sáng cách thức phân bổ những tài nguyên khan hiếm. “Tôi mừng khi biết tin”, Solow nói. “Những người nghiên cứu những công trình có tính cơ bản như vậy thường không được để ý nhiều”.   Theo nhà kinh tế Hubert Fromlet, Giáo sư Kinh tế Quốc tế tại Đại học Linnaeus và Trường Kinh doanh Quốc tế Joenkoeping ở Thụy Điển, nghiên cứu của Shapley và Roth cho chúng ta thấy cách khớp nối cung và cầu trong những lĩnh vực giao dịch đặc biệt, nơi giá cả không thực hiện được vai trò này, ví dụ như hoạt động hiến tạng. Công trình nghiên cứu của họ “có thể giúp cứu những mạng sống”, ông nói khi được phỏng vấn qua điện thoại.  Thanh Xuân lược dịch theo Bloomberg    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết Siêu hấp dẫn giành giải thưởng Breakthrough      Ba nhà vật lý đã được vinh danh với lý thuyết đã gây ảnh hưởng lớn trong giới vật lý nhưng đến nay vẫn chưa được xác nhận bằng thực nghiệm.      Peter van Nieuwenhuizen, Sergio Ferrara và Dan Freedman (từ trái qua phải, năm 2016) nhận giải Breakthrough cho những sáng tạo về Thuyết Siêu hấp dẫn. NguồnCERN  Lý thuyết Siêu hấp dẫn – một nỗ lực thống nhất tất cả các lực trong tự nhiên, là một miêu tả hiện thực về thế giới được được ba nhà vật lý hạt Sergio Ferrara (CERN), Daniel Freedman (Viện công nghệ Massachusetts) và Peter van Nieuwenhuizen (trường đại học Stony Brook) đề xuất hơn 40 năm trước và gây nhiều tranh cãi. Nó mới được nhận giải thưởng Breakthrough đặc biệt trong vật lý cơ bản trị giá 3 triệu USD. Ủy ban xét duyệt giải thưởng đã lựa chọn lý thuyết này bởi ảnh hưởng của nó lên những hiểu biết về hấp dẫn. Siêu hấp dẫn cũng làm củng cố thêm một trong những ứng cử viên tiêu biểu của nhóm “lý thuyết về mọi thứ”, Lý thuyết Dây. Lý thuyết Siêu hấp dẫn khẳng định các hạt cơ bản được tạo ra từ năng lượng dạng sợi vô cùng nhỏ, nhưng đến tận bây giờ thì nó vẫn chưa được chứng minh.  “Siêu hấp dẫn có một vai trò quan trọng rõ ràng trong phát triển vật lý hơn 40 năm qua và trong phám phá về các ẩn dấu trong những điều chúng ta đã biết về tự nhiên”, nhà lý thuyết dây Andrew Strominger tại trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, thành viên của hội đồng xét duyệt giải thưởng, nhận xét.  Doanh nghiệp người Nga Yuri Milner và Sergey Brin, đồng sáng lập Google và Mark Zuckerberg – sáng lập Facebook đã lập giải thưởng Breakthrough năm 2012. Thường được trao vào cuối năm, giải thưởng bao phủ một diện rộng các lĩnh vực trong khoa học. Nhưng ủy ban xét chọn giải thưởng, với các thành viên được chọn từ những người thắng giải Breakthrough những mùa trước – có thể trao những giải đặc biệt để ghi nhận những công trình khác thường. Ví dụ Stephen Hawking được trao giải năm 2013 cho lý thuyết về bức xạ của lỗ đen – đến bây giờ người ta vẫn chưa thể kiểm chứng được lý thuyết này bằng thực nghiệm.  Vào đầu những năm 1970, các nhà vật lý đã xây dựng Mô hình chuẩn của vật lý hạt, trong đó ba đến bốn lực cơ bản của tự nhiên được liên kết với các hạt của chúng: lực điện từ tác động lên photon, những hạt ánh sáng; lực tương tác mạnh từ hạt gluon – hạt mang lực tương tác mạnh, “giữ” các hạt nhân nguyên tử; lực tương tác yếu gây ra phân rã phóng xạ được liên kết với các hạt boson W và boson Z. Người ta đều đã quan sát được các hạt này thông qua thực nghiệm, tuy nhiên Mô hình chuẩn vẫn chưa miêu tả được lực cơ bản thứ 4 là lực hấp dẫn. Siêu hấp dẫn là một nỗ lực để bù vào điểm khuyết thiếu này, liên kết vật lý hạt với Thuyết tương đối rộng của Einstein.  Ferrara, Freedman và van Nieuwenhuizen đều quan tâm đến Siêu đối xứng, một sự mở rộng của Mô hình chuẩn được đề xuất lần đầu vào năm 1973. Siêu đối xứng khẳng định mỗi hạt được biết đều liên quan đến một hạt nặng hơn, sinh đôi tạo thành siêu đối xứng, tuy nhiên đến nay người ta vẫn chưa quan sát được điều đó. Các mô hình đều cố gắng mang lực hấp dẫn vào mô hình thông qua graviton – hạt truyền tương tác hấp dẫn. Họ đã đề xuất một hạt siêu đối xứng với graviton là gravitino. Van Nieuwenhuizen nhớ lại cái đêm ông ngồi nghiền ngẫm chương trình máy tính về tính toán siêu hấp dẫn, cảm thấy sợ hãi vì có thể có dấu hiệu cho thấy lý thuyết này sai. “Tôi ngồi với sự căng thẳng tột độ”, ông kể. Nhưng khi chương trình này ra được kết quả một cách thành công, ông đã thực sự tin siêu hấp dẫn là có thực.  40 năm sau, van Nieuwenhuizen vẫn không thể nói nên lời trước thông tin về giải thưởng mà ông được nhận cùng đồng nghiệp. “Tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Tôi không hi vọng rằng điều này sẽ tới”, ông nói.  David Tong, nhà lý thuyết dây tại trường đại học Cambridge, Anh, cho biết những nét đổi mới sáng tạo trong lý thuyết dây là “hoàn toàn lạ lùng”, và xuất hiện trong thời điểm các nhà vật lý hạt và nghiên cứu về hấp dẫn còn hiếm khi hợp tác với nhau. “Tại đó, nhóm nghiên cứu đã ứng dụng các kỹ thuật của vật lý hạt với hấp dẫn và sau đó kiểm chứng chúng bằng tính toán, vào thời điểm còn chưa có ai sử dụng máy tính để làm việc đó”, Tong nói.  Ngày nay, siêu hấp dẫn là viên đá nền tảng của Lý thuyết dây, vốn là ứng cử viên sáng giá cho miêu tả cơ bản về thực tại. Nhưng trong nhiều thập kỷ, các máy gia tốc hạt, bao gồm cả LHC ở CERN cũng thất bại trong việc dò bất kỳ dấu hiệu nào của các hạt siêu đối xứng hay gravitino, hoặc bất kỳ bằng chứng nào của Lý thuyết dây. “Các ý tưởng đó có thể không thể kiểm chứng trong thời đại của chúng ta,” Tong nêu lý do.  Strominger cho rằng, việc thiếu bằng chứng có thể không làm giảm thành công của Siêu hấp dẫn, bởi lý thuyết này từng được dùng để giải quyết những điều bí ẩn về hấp dẫn. Ví dụ, về lý thuyết thì Thuyết tương đối tổng quát hiển nhiên cho phép các hạt không mang khối lượng và năng lượng. “Nếu đó là sự thật, một số thứ khi bị rơi sẽ không thể rơi về phía trái đất mà vào phía vũ trụ”, Strominger lý giải. Dù nó chưa được kiểm chứng nhưng không ai có thể giải thích vì sao lại như vậy. Dẫu sao, việc đưa công cụ toán học vào Thuyết tương đối tổng quát cho phép các nhà vật lý chứng minh các hạt không thể có khối lượng và năng lượng âm. “Các kết quả đó sẽ vẫn có cho dù có hay không Siêu hấp dẫn tồn tại một cách thật sự trong tự nhiên”, Strominger nói.  Nhưng Sabine Hossenfelder, một nhà vật lý lý thuyết tại Viện nghiên cứu Khoa học tiên tiến Frankfurt tại Đức, đã cảnh báo thất bại của LHC trong việc tìm các hạt Siêu đối xứng đã giáng một cú chí tử vào những cơ hội xác nhận sự đúng đắn của Siêu hấp dẫn. Chị cho rằng những người giành giải thưởng “đã hoàn thành một công việc xuất sắc về toán học xứng đáng được ghi nhận” và nói thêm “nhưng có lẽ giải thưởng này có thể chỉ thuần túy về mặt toán học bởi vì nó không phải là vật lý”.  Thanh phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02397-8       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết thiết kế cơ chế      Giải (Tưởng Niệm) Nobel Kinh tế năm 2007 vừa được Hàn lâm viện Khoa học Thuỵ Điển trao tặng cho ba giáo sư người Mỹ: Leonid Hurwicz (90 tuổi, gốc Nga, giáo sư hồi hưu Đại học Minnesota), Eric Maskin (56 tuổi, hiện là thành viên của Viện Nghiên cứu Tiên tiến ở Princeton, bang New Jersey), và Roger Myerson (56 tuổi, giáo sư Đại học Chicago). Ba ông được tuyên dương do những đóng góp vào “lý thuyết thiết kế cơ chế” (mechanism design theory). Nghe tin này, nhiều đồng nghiệp của các ông đã nói đùa: Nobel kinh tế năm nay sẽ khiến đông đảo nhà báo nhức đầu, vì có mấy ai giải thích được cái thuyết này cho công chúng?    Vậy, “lý thuyết thiết kế cơ chế” là gì?  Nhớ lại rằng theo Adam Smith thì thị trường sẽ đem người mua và người bán lại với nhau. Vô số người bán sẽ gặp vô số người mua, “bàn tay vô hình” sẽ “hướng dẫn” mọi giao dịch, người bán sẽ bán hàng của họ ở giá cao nhất mà người mua chấp thuận, ai nấy đều thỏa mãn, tài nguyên sẽ được phân bố một cách hữu hiệu nhất.  Nhưng… thực tế hầu như chẳng bao giờ được như thế. Đành rằng thị trường rất là hữu hiệu, song chúng chỉ vận hành tối ưu trong những điều kiện vô cùng khắt khe mà thực tế ít khi (nếu có khi nào!) hội đủ. Chẳng hạn như: người mua và người bán lắm lúc không tìm ra nhau, hoặc một người mua tìm cách đầu cơ, hoặc người bán chính là nhà nước (mà mục tiêu không (chỉ) là lợi nhuận)…  Rồi, nếu thông tin mà người mua hoặc người bán là “riêng tư” (nghĩa là chỉ người ấy biết, ví dụ như chất lượng của món hàng, hoặc mức giá tối đa mà họ có thể chấp nhận (nếu là người mua) hoặc tối thiểu (nếu là người bán)), thì thị trường có thể “thất bại”, thậm chí buôn bán không thể xảy ra.  Ví dụ: công ty nọ có thể nói rằng họ chỉ chấp thuận cung cấp một dịch vụ với giá 200USD, trong lúc mà thật sự họ có thể đủ lợi nhuận với giá 150USD. Một công ty khác có thể nói rằng họ chỉ chịu mua dịch vụ ấy với giá 100 USD, dù (trong thâm tâm, không nói ra) họ sẵn sàng trả đến 170USD. Hiển nhiên, hai công ty này có thể mua bán với nhau nếu giá dịch vụ ấy rơi vào khoảng từ 150USD đến 170USD, nhưng sự buôn bán này có thể không xảy ra bởi lẽ cả hai đều có động lực giữ kín cái “thế” của họ.           Eric S. Maskin        Thuyết “thiết kế cơ chế” bắt nguồn từ câu hỏi: cơ chế nào là tối ưu (đối với một chủ thể nhất định, có thể là nhà nước, có thể là công ty, hay bất kỳ một tổ chức nào khác) để phân bố hàng hóa và dịch vụ khi mà mọi người đều (a) có những “thông tin riêng tư”, và (b) hành xử theo tư lợi của mình.  Cần nói rõ là chữ “cơ chế” (mechanism), ít ra vào giai đoạn đầu của dòng lý thuyết này, là do Hurwicz dùng trong một nghĩa cực kỳ chuyên môn. “Cơ chế”, ông định nghĩa, là “một trò chơi trong đó các “tay chơi” gửi “thông điệp” cho nhau hoặc/và đến một “trung tâm thông điệp”, và có một quy luật định trước để ghép một hậu quả nhất định (tỷ như một cách phân bố hàng hóa và dịch vụ) đến mỗi tập hợp thông điệp nhận được”. Đấu giá, chẳng hạn, là một “cơ chế” theo nghĩa này.  Dù có tên khá “tối tăm” như vậy, “lý thuyết thiết kế cơ chế” đi vào trung tâm bài toán căn bản nhất của kinh tế học: Làm sao “sắp xếp” những định chế, những luật chơi kinh tế để, khi mỗi người cư xử thuần vì tư lợi, kết quả sẽ tối ưu (theo một nghĩa nhất định) cho mọi người liên hệ. Trong kinh tế học hiện đại, danh từ “cơ chế” thường được dùng một cách “thoáng” hơn trong nghĩa chuẩn xác nguyên thuỷ của Hurwicz. Nó có thể ám chỉ mọi thể chế và “luật chơi” chi phối các sinh hoạt kinh tế, từ Bộ Kế hoạch trong một nền kinh tế chỉ huy, đến tổ chức nội bộ một công ty, đến buôn bán trên thị trường v.v.  Công trình của Hurwicz, Maskin và Myerson  Năm 1972, Leonid Hurwicz đưa vào khoa học kinh tế một ý niệm quan trọng, đó là “sự tương thích động lực” (incentive compatibility). Theo định nghĩa của ông, một tiến trình sẽ có tính “tương thích động lực” khi tất cả những người tham dự tiến trình ấy đạt được mức thỏa mãn cao nhất nếu họ thành thực tiết lộ những thông tin tư riêng của họ. Ý niệm này, và nhất là cách nó được “toán hóa” một cách giản dị và cực kỳ “trang nhã” trong tay Hurwicz, là nền móng của toàn bộ lý thuyết thiết kế cơ chế.  Định vị thuyết này trong dòng tiến hóa của tư tưởng kinh tế thì có thể nói rằng Hurwicz (một người gốc Nga, sinh đúng vào năm 1917) chịu ảnh hưởng của Friedrich Hayek (Nobel 1974) lẫn đối thủ của Hayek là Oskar Lange về tính khả thi của kế hoạch hóa tập trung. (Nhắc lại: Oskar Lange lý luận rằng những công cụ thị trường có thể được dùng trong kế hoạch hóa tập trung, còn Hayek thì cho rằng việc ấy là ảo tưởng, vì kế hoạch hóa kiểu đó sẽ cần một số lượng thông tin khổng lồ – hầu như vô tận – và, hơn nữa, thông tin, chính chúng, sẽ tiêu tốn tài nguyên). Thật vậy, có thể xem công trình của Hurwicz như tiếp nối nỗ lực của Hayek để chứng minh rằng thị trường là hữu hiệu (theo một nghĩa nhất định) hơn kế hoạch nhà nước trong mục tiêu phân bố nguồn lực kinh tế.           Eric S. Maskin         Nhưng Hurwicz đi xa hơn Hayek, bởi vì theo ông thì thị trường cũng không thể hoàn hảo. Theo Hurwicz, nhược điểm căn bản, “chết người”, của kinh tế kế hoạch không chỉ là sự vô cùng phức tạp của nền kinh tế (mà không một “trung ương” nào có đầy đủ và kịp thời mọi thông tin), song kế hoạch hóa quy mô là một ảo tưởng vì con người nhận được những khuyến khích “sai” (đối với mục tiêu của kế hoạch), và vì sinh hoạt kinh tế là đầy dẫy những sự “bất đối xứng thông tin” (cụm từ mà thế hệ kinh tế gia sau Hurwicz sẽ phổ cập hóa), nói nôm na là người này biết nhiều hơn người kia về mặt nào đó của giao dịch, và không muốn tiết lộ thông tin ấy cho đối tác. Thị trường tự do, tuy hữu hiệu hơn kế hoạch hóa về nhiều mặt, vẫn còn nhiều hụt hẫng do những vấn đề về thông tin và động lực bất tương thích như thế. Thuyết thiết kế cơ chế của ông là nhằm phân tích các hụt hẫng này, và đưa ra một số tiêu chuẩn để thiết lập và thẩm định những thể chế có khả năng bổ sung thị trường. Nhờ Hurwicz, các lý thuyết gia kinh tế ngày nay biết rằng: khi đi tìm một cơ chế tối ưu để giải quyết một vấn đề nào đó, nhà nghiên cứu có thể giới hạn sự tìm kiếm của mình trong một nhóm cơ chế tương đối nhỏ, nhóm đó được Hurwicz gọi là các “cơ chế trực tiếp” (direct mechanism) thỏa mãn điều kiện “tương thích động lực” mà Hurwicz vạch ra.  Roger Myerson, xây dựng trên căn bản lý thuyết của Hurwicz, cho rằng một trong những căn nguyên của sự bất tương thích động cơ là sự “chọn lựa ngược” (adverse selection). Các công ty bảo hiểm y tế, chẳng hạn, gặp khó khăn này: đa số những người mua bảo hiểm đắt tiền là những người mà sức khỏe có “vấn đề” – tức là loại khách hàng mà các công ty bảo hiểm không muốn có – mà chỉ những người này biết. Nếu công ty bảo hiểm tăng giá bảo hiểm để bù lỗ thì lại chỉ những người có sức khỏa kém hơn nữa mới mua, công ty lại càng thêm lỗ…  Đóng góp nổi bật của Myerson vào thuyết thiết lập cơ chế là về cái gọi là “nguyên tắc biểu lộ” (revelation principle), dùng toán học để đơn giản hoá cách tính những “luật chơi” hữu hiệu nhất để khuyến khích các cá nhân liên hệ chân thật bộc lộ những thông tin riêng tư của mỗi người. Bài “Optimal auction design” (Thiết kế đấu giá tối ưu) của Myerson là một “hạt giống” kinh điển cho những tiến bộ sau này trong lý thuyết ấy.  “Nguyên tắc biểu lộ” của Myerson là một bước tiến lớn cho những phân tích về cơ chế kinh tế. Song, còn rắc rối: trong nhiều trường hợp, một cơ chế sẽ đưa đến, không chỉ một “cân bằng” (equilibrium) duy nhất, nhưng nhiều “cân bằng”, có cái “thật tốt”, có cái “không tốt bằng”. Câu hỏi sẽ là: có một cơ chế nào mà mọi cân bằng của nó đều là tối ưu? Maskin (1977) là người đầu tiên phác thảo đáp án cho bài toán này.  Khám phá của Eric Maskin là cốt lõi của “thuyết thực thi” (implementation theory). Cụ thể, thuyết này soi sáng vấn đề: trong trường họp nào thì có thể thiết kế một cơ chế mà hậu quả chỉ gồm những “điểm cân bằng” thỏa mãn tính “tương thích động lực” của Hurwicz, nghĩa là tối ưu. Maskin cũng là người khám phá một điều kiện trong khoa thống kê gọi là “tính đơn điệu Maskin” (Maskin monotonicity) mà người “ngoại đạo” có lẽ không cần biết làm gì!  Ứng dụng  Nhìn lại, Hurwicz, Maskin, và Myerson (và những người đi sau các ông) phác họa một cách khoa học các “cơ chế phân bố tài nguyên” trong một thế giới có nhiều nền kinh tế đua chen nhau: từ kinh tế kế hoạch như của Liên Xô cũ, đến kinh tế thị trường, đến những nền kinh tế “được quản lý”. Các ông đưa ra những cơ chế phân bố (allocation mechanism) khác nhau, cho phép các cơ quan điều tiết kinh tế của nhà nước, các nhà quản lý kinh doanh, thấy cái ưu và nhược điểm của từng cơ chế, và chọn lựa thiết kế tối ưu trong một tình huống nhất định nào đó. Từ những năm 1970 thì lý thuyết này ngày càng tinh vi và phức tạp nhờ các tiến bộ của máy tính điện tử và thuyết trò chơi.  Trong thực hành, một ứng dụng rất quan trọng là trong việc điều tiết công nghiệp (kể cả điều tiết chống độc quyền), khi mà các công ty không bao giờ muốn tiết lộ chi phí sản xuất và những thông tin tư riêng khác. Những áp dụng quan trọng nữa là trong các biện pháp chống ô nhiễm môi trường, bán đấu giá các mạng lưới phân phối điện, và đặc biệt là bán đấu giá các dải băng tầng radio. (Paul Klemperer, một đồng sự của Myerson, đã nhận được một số tiền rất “sộp” của Liên hiệp Châu Âu để nghiên cứu những phương án bán đấu giá này). Một ứng dụng nữa là giúp nhà nước nghĩ ra những cách tốt hơn để “cấu trúc” hợp đồng với các công ty cung cấp vũ khí (thường lợi dụng sự thiếu thông tin của nhà nước để bán với giá cao tận mây xanh, ít khi đúng hạn, mà chất lượng thì dưới chuẩn…).  Công trình của ba nhà kinh tế được giải Nobel năm nay cũng có thể được xem như gieo nghi vấn là quyền sở hữu có thể là “quá đáng” trong một nền kinh tế tư bản. Theo quan điểm này, những người sở hữu công ty thường có xu hướng giấu nhau những thông tin về công ty của họ. Myerson cho rằng chính vì lý do này mà các công ty thuê người làm công, bởi những người này (không là sở hữu chủ của công ty) sẽ dễ cộng tác với nhau hơn là những người ngoài mà công ty thuê. Myerson khẳng định: Về những vấn đề dính dáng đến thông tin thì lắm khi ít quyền sở hữu tài sản lại là tốt hơn!  Vài lời cuối  Tóm lại, thuyết “thiết kế cơ chế” mà Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson được vinh danh năm nay, tuy khá trừu tượng, song đã có ảnh hưởng sâu sắc trong cách suy nghĩ của các nhà kinh tế về nhiều vấn đề căn bản trong kinh doanh, quản trị, chính sách…  Đối với những người “quá tin” vào “thị trường”, lý thuyết này là cần thiết như một hồi chuông cảnh tỉnh. Đành rằng thị trường là một thể chế phân bố nguồn lực xã hội một cách “khá tốt”, hầu như không bao giờ nó có thể vận hành tối ưu, dù có được điều tiết. Những người lãnh đạo khôn ngoan, hiểu biết, phải ý thức điều ấy và khiêm tốn hơn trong những quyết định của mình.  Không như nhiều lần trong những năm trước, giải Nobel Kinh tế năm nay ít bị chỉ trích là mang tính chính trị. Có vài than phiền rằng thuyết thiết kế cơ chế là quá vi mô (hiện vẫn chưa có áp dụng đáng kể nào cho kinh tế vĩ mô), và quá “tĩnh” (static).  Dù gì, cách phân tích của các nhà kinh tế này cũng là tiêu biểu của kinh tế học (nhất là kinh tế học vi mô) hiện đại: cực kỳ sáng tạo, nhưng rất “toán”, và lắm khi những tiến bộ là do “tiểu xảo” chứ không là từ một lý thuyết “hoành tráng” như những tiến bộ trong kinh tế ở thế hệ trước… (Một tiểu tiết thú vị: bằng tiến sĩ của cả Maskin lẫn Myerson là về toán ứng dụng, không phải kinh tế).  Ở Princeton, giáo sư Maskin hiện cư ngụ trong ngôi nhà mà Einstein (cũng là một thành viên của Viện Nghiên cứu Tiên tiến vào những năm cuối đời) đã từng sống.    Trần Hữu Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết toán học mới có thể giải thích sự ngẫu nhiên trong thế giới thực      Chuyển động Brown miêu tả chuyển động ngẫu nhiên của các hạt trong chất lỏng. Tuy nhiên mô hình mang tính cách mạng này vẫn chỉ thực sự hiệu quả khi một chất lỏng ở trạng thái tĩnh hoặc cân bằng.      Mô tả chuyển động Brown của các hạt. Nguồn: ResearchGate   Trong môi trường của thế giới thực, các chất lỏng thông thường chứa các hạt tự chuyển động như những vi sinh vật bé tí di chuyển. Các tay bơi “tự đẩy” này có thể là nguyên nhân dẫn đến chuyển động hoặc khuấy động trong dòng chất lỏng, khiến cho chất lỏng đó không còn ở trạng thái cân bằng nữa.  Các thí nghiệm đã chứng tỏ các hạt “thụ động” không di chuyển có thể phô diễn các chuyển động lạ, hình vòng khi tương tác với các dòng chảy “chủ động” có chứa những ‘tay bơi” như thế. Nhiều chuyển động không phù hợp với những hành xử của các hạt thông thường mà người ta vẫn gọi là chuyển động Brown và do đó, các nhà khoa học đã giải thích cách các chuyển động hỗn độn ở quy mô lớn là kết quả của những tương tác cực nhỏ giữa những đơn hạt.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu từ trường đại học Queen Mary London, trường đại học Tsukuba và trường đại học Bách khoa de Lausanne và Imperial College London, đã trình bày một lý thuyết mới để giải thích những chuyển động của các hạt quan sát được trong những môi trường động lực đó.  Họ đề xuất một mô hình mới có thể tạo ra nhiều dự đoán về các hành xử trong các hệ sinh học của thế giới thực, như các mẫu hình tập tính về khả năng bơi của tảo hoặc vi khuẩn.  TS. Adrian Baule, giảng viên chính về toán học ứng dụng của trường đại học Queen Mary London và là người phụ trách dự án, cho biết: “Chuyển động Brown đã được sử dụng rộng rãi để miêu tả sự khuếch tán trong các ngành khoa học như sinh học, vật lý, hóa học; dẫu vậy thì nó không thể sử dụng để miêu tả sự khếch tán của các hạt trong những hệ nhiều hạt “chủ động” mà chúng ta thường quan sát được trong đời thực”.  Bằng việc giải quyết một cách rõ ràng động lực tán xạ giữa các hạt thụ động và các “tay bơi” chủ động trong dòng chất lỏng, các nhà nghiên cứu đã có khả năng suy ra một mô hình hiệu quả cho chuyển động của hạt trong những chất lỏng “chủ động” có thể giải thích cho tất cả các quan sát thực nghiệm.  Tính toán trên diện rộng của họ tiết lộ là động lực của hạt bị ảnh hưởng tùy thuộc vào “chuyến bay Lévy” (Lévy flight) – thuật ngữ được dùng để miêu tả các chuyển động cực hạn trong các hệ phức hợp khác xa với kiểu hành vi điển hình như các hệ sinh thái hoặc động lực học của các trận động đất.  TS. Kiyoshi Kanazawa của trường đại học Tsukuba – tác giả thứ nhất của nghiên cứu, nói: “Cho đến nay không có lời giải thích cao về các ‘chuyến bay Lévy’ có thể xuất hiện thực sự như thế nào trong các tương tác ở quy mô cực nhỏ tuân theo các quy luật vật lý. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi  cho thấy các chuyến bay Lévy có thể tăng lên như kết quả của tương tác thủy động lực học giữa các ‘tay bơi’ chủ động và các hạt thụ động”.    Nhà thực vật học Robert Brown là người đầu tiên mô tả chuyển động Brown vào năm 1827. Nguồn: Wkipedia:   Nhóm nghiên cứu tìm thấy mật độ dày đặc của các tay bơi “chủ động” cũng ảnh hưởng đến khoảng thời gian của chế độ “chuyến bay Lévy”, do đó nó cho thấy các vi sinh vật có thể khai thác được dưỡng chất của các ‘chuyến bay Lévy’ để xác định được các chiến lược về tập tính tìm mồi trong những môi trường khác nhau.  TS. Baule cho biết thêm: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã đề xuất các chuyến lược về tập tính tối ưu có thể phụ thuộc vào mật độ của các hạt bên trong môi trường của chúng. Ví dụ, tại các mật độ cao hơn, các hành động tìm kiếm chủ động theo tập tính có thể là cách tiếp cận nhiều thành công hơn, trong khi ở mức mật độ thấp thì việc làm phù hợp nhất đơn giản là chờ một nguồn dinh dưỡng tới gần do các ‘tay bơi’ khác lôi kéo và khám phá những vùng không gian rộng lớn hơn.  Dẫu vậy thì công trình này không chỉ hé lộ về cách các vi sinh vật bơi tương tác với các hạt ‘thụ động”, như các dưỡng chất hoặc các loại nhựa mà còn tiết lộ về tổng thể sự ngẫu nhiên xuất hiện trong môi trường bất cân bằng chủ động. Phát hiện này có thể giúp chúng ta hiểu về hành xử của các hệ được bắt nguồn từ hệ cân bằng, thường xảy ra không chỉ trong lĩnh vực vật lý và sinh học mà còn trong thị trường tài chính”.  Nhà thực vật học người Anh Robert Brown là người đầu tiên mô tả chuyển động Brown vào năm 1827, khi ông quan sát các chuyển động ngẫu nhiên được hiển thị bằng các hạt phấn hoa cây lúa mì khi có thêm nước.  Hàng thập kỷ sau, nhà vật lý Albert Einstein đã phát triển môt hình toán học để giải thích hành xử này và chứng minh sự tồn tại của các nguyên tử, qua đó đặt nền tảng cho những ứng dụng rộng rãi trong khoa học và sau đó vượt ra ngoài thế giới khoa học.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-mathematicians-theory-real-world-randomness.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết vật chất hoạt động giải thích hành vi nhóm của kiến lửa      Kiến là những côn trùng mang tính xã hội và loài Solenopsis invicta, hay còn gọi là kiến lửa, không ngoại lệ. Các tương tác xã hội trong loài côn trùng thích hung hăng đến từ Nam Mỹ này, đã được lý thuyết vật chất hoạt động giải thích hành vi nhóm như một tương tác với các cơ chế mang tính bản chất của cả hệ thống.    Đây là một trong những kết luận của bài báo được xuất bản trên Science Advances của các nhà nghiên cứu Alberto Fernández-Nieves, Caleb Anderson, Khoa Vật lý, ĐH Barcelona, và Guillermo Goldsztein, Viện Công nghệ Georgia.  Nghiên cứu cho thấy mật độ là yếu tố thiết yếu để kiến lửa trải nghiệm các chu kỳ hoạt động và trải qua các thời kỳ nhóm côn trùng này chuyển động thu thập. Trong những điều kiện mật độ [nhóm] cao, các chu kỳ hoạt động đã được hiển thị theo một cách đáng ngạc nhiên, khi cộng đồng kiến tổ chức thành một cột thẳng đứng, tạo ra các sóng chuyển động lan truyền xa hơn.  Kiến lửa như một mô hình trong vật lý  Kiến lửa, một loại côn trùng trong Bộ Cánh màng có khả năng sinh sản và phân tán cao, đã được sử dụng làm mô hình tham cheieus cho nghiên cứu về các hệ chuyển động với mật độ cao. Trong những điều kiện khác biệt, các trải nghiệm thu thập của kiến được gọi là các chu kỳ hoạt động: nhóm kiến thay đổi qua lại trong một hoàn cảnh có nhiều con kiến hoàn toàn tĩnh tại rồi tiến tới một hoàn cảnh có nhiều con kiến đang chuyển động.  “Nghiên cứu về các hệ đậm đặc chuyển động trong một phòng thí nghiệm không hấp dẫn lắm. Dưới góc nhìn vật lý, kiến được coi là các hạt sử dụng năng lượng hóa học để chuyển động. Chúng có thể tập hợp một cách dễ dàng để tạo thành một tập hợp đậm đặc có chuyển động mà chúng tôi có thể sử dụng để giải quyết những câu hỏi về vật chất chuyển động”, Alberto Fernández-Nieves, giáo sư ICREA tại Khoa Vật lý chất đậm đặc và Viện Các hệ thống phức hợp UB (UBICS), lưu ý.  Vật chất hoạt động dựa trên những hạt có thể tự di chuyển, và kết quả là, chuyển động tùy theo sự tiêu hao năng lượng địa phương, không giống như nguyên tử hay các hệ keo, nơi các thành phần chuyển động do sự thay đổi của nhiệt độ.  Từ lực hút xã hội đến hành vi thu thập  Có hai hành vi lớn xuất hiện trong vật chất hoạt động: đầu tiên là sự chuyển đổi thành một trạng thái trong đó các tập hạt chuyển động theo cùng một hướng (mode thu thập), một hành vi thông thường liên quan đến bầy chim hoặc các đàn cá. Một biểu thị khác khi chuyển động của các hạt suy giảm với khoảng cách tách cặp của chúng. Trong trường hợp này, khi các hạt tiến gần hơn, chúng ngừng chuyển động, một kết quả có thể hiểu là một lực hút xuất hiện giữa chúng. Trong những điều kiện nhất định, lực hút có thể dẫn đến sự hình thành của tập hợp và trong một số trường hợp, đến việc tách ra một pha hình thành bởi những con kiến tĩnh tại và một pha hình thành bởi những con kiến chuyển động.  Theo nghiên cứu này, mật độ là điều tối quan trọng với hành vi thu thập của kiến để dẫn đến thay đổi giữa hai dạng hành vi này. “Với một mật độ thấp hơn, pha chúng tôi quan sát liên quan đến các lực hút xã hội”, các tác giả cho biết, “Những thay đổi đến pha chuyển động thu thập chỉ được thấy khi mật độ đủ dày. Điều này giải thích tại sao các con sóng luôn luôn được tạo ra ở gần với chỗ chân các cột kiến, nơi mật độ ở mức cao hơn”.  Nghiên cứu cho biết lực hút xã hội của kiến – ví dụ tương tác của chúng – có thể được giải thích như một hiện tượng cảm ứng tùy thuộc vào một di chuyển sụt giảm với sự phân tách của kiến – kiến. Tuy nhiên, ở các mức mật độ cao, lực hút biến mất và cộng đồng kiến chấp thuận mode thu thập nhóm với kết quả là các sóng hoạt động lan truyền.  “Mật độ đó và các sóng hoạt động phản chiếu các trạng thái của chu kỳ hoạt động, trong đó các con kiến đàn chuyển động phản hồi với pha thu thập, vốn tương tự với pha tập hợp của đàn chim hoặc đàn cá”, nhóm chuyên gia giải thích.    Mode thu thập của kiến trong môi trường  Trong tự nhiên, mode thu thập của kiến có thể được xem như ở trong những điều kiện khác biệt. Các con côn trùng vốn đến từ vùng có lượng mưa phong phú và có thể dẫn đến lụt lội đã tiến hóa để vượt qua các kịch bản cực đoan trong các chu kỳ hoạt động.  “Để sống sót trong những hiện tượng đó, kiến lửa đã xây dựng những cái vè trong đó mọi cá nhân tụ hợp lại với nhau; do đó, mật độ của bè cũng rất cao. Theo những nghiên cứu trước, khi kiến ở trên bè, kiến trải qua những thời kỳ bất động nơi hình dạng của bè là hình tròn. Trong kịch bản cuối cùng, hình dạng của bè trở nên được định hình bởi sự hình thành của những xâm nhập lồi thu thập hình ngón tay”, các tác giả viết.  Trong suốt thời kỳ tĩnh tại, cái bè có thể hành xử như một khối đậm đặc đàn hồi giúp chống lại tác động của các vật thể đang bị mưa cuốn trôi theo dòng nước. Cùng thời điểm, sự hình thành của hình dạng hình ngón tay cho phép những con kiến tìm kiếm được mặt đất vững chắc. Nếu tìm được, chúng sẽ di cư đến vùng đất mới và nếu không thì chúng sẽ một lần nữa tiếp tục các chu kỳ theo thời gian cho đến khi thành công.  “Do đó, chúng tôi nghĩ là các thời kỳ chuyển động bao gồm cả sự hình thành của các ngón tay tương tự với mode thu thập mà chúng tôi quan sát trong thực nghiệm và nó tạo ra những làn sóng kiến trong các cột thẳng đứng”, họ kết luận.  Vật chất hoạt động và các hệ bất cân bằng  Các biến thiên trong trạng thái tập hợp kiến có gợi ý về đặc tính vật liệu. Các nhà nghiên cứu giải thích là trong nghiên cứu trước đây, họ “tìm thấy là các đặc tính cơ học thay đổi phụ thuộc một cách chặt chẽ vào trạng thái của thu thập kiến. Trong các pha lực hút lấn át, hành vi này tương đồng với một chất đậm đặc đàn hồi. Tương phản, trong các pha hoạt động, cộng đồng được tái tổ chức ở cấp độ hạt thành dạng chất lỏng”.  “Nếu phân tích như một vật chất hoạt động, cộng đồng kiến có thể thay đổi hành vi về mặt cơ chế thông qua những thay đổi trong hoạt động của chúng. Trong khoa học vật liệu, đây là dạng thành công bởi thay đổi cấu trúc của vật chất. Trong trường hợp của kiến, điều này có thể xảy ra khi ở xa trạng thái cân bằng. Sự chuyển pha đậm đặc-sang-lỏng là một kết quả của những cơ chế nội tại mang đến hệ nằm-ngoài-sự-cân-bằng. Nó gợi nhớ đến hành động của các hạt vật chất hoạt động. Nó không liên quan đến những thay đổi về cấu trúc; các cộng đồng kiến mật độ cao luôn luôn rối loạn. Hành vi này gợi chúng ta nhớ đến nhân vật chính trong phim Kẻ hủy diệt luôn thay đổi một cách tự nhiên từ trạng thái lỏng sang rắn. Theo nghĩa này, bất chấp sự phức tạp của nó, Kẻ hủy diệt chính là vật chất hoạt động”, các nhà nghiên cứu kết luận.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-theory-fire-ant-group-behavior.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2023/01/230119112750.htm  ————————————————-  1.https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.add0635    Author                .        
__label__tiasang Mã QR ra đời như thế nào      Masahiro Hara không phải là người đầu tiên  tìm cách cải tiến mã vạch (barcode), nhưng chỉ có mã ma trận hay mã vạch  hai chiều QR của ông mới đi được vào thực tế, thậm chí còn mở ra nhiều  cách ứng dụng khiến bản thân nhà phát minh cũng phải bất ngờ.     Từ năm 1974, mã vạch đã được sử dụng trong các siêu thị – đó là tập hợp nhiều vạch có độ đậm khác nhau trên bao bì rất nhiều loại sản phẩm mà với một máy quét thích hợp, mã vạch cho phép người ta có thể đọc trong giây lát giá cả và thông tin về sản phẩm.   Tuy nhiên, với một chuỗi chỉ gồm 20 chữ số và chữ cái khác nhau – mã vạch không thể xử lý được nhiều hơn – nếu cả thế giới áp dụng cùng một cách đánh dấu bằng mã vạch thì người ta nhanh chóng đứng trước giới hạn tận cùng của nó.   Giải pháp cho vấn đề này là chiều thứ hai. Nhờ mã QR (Quick-Response Code), mã đáp ứng nhanh bậc hai, hay quen thuộc hơn với tên mã ma trận, mã vạch hai chiều – có thể đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới – người ta có thể thể hiện tới 7.000 chữ số và chữ cái. Với công nghệ mới nhất, mã-iQR nén (compressed IQR Code) thậm chí có thể đạt tới 40.000 chữ số và chữ cái.  Mặc dù khi được phát minh vào năm 1994, mã QR chỉ nhằm giải quyết vấn đề theo dõi thông tin về sản phẩm tốt hơn nhưng ngày nay, mã QR được ứng dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau như quản lý các hiện vật trưng bày ở bảo tàng, biển quảng cáo, mã hoá văn bản, số điện thoại, email, địa chỉ website… Tại Seoul, Hàn Quốc, mới đây đã khai trương một chuỗi siêu thị kiểu mới chỉ có duy nhất một loạt bảng cỡ lớn giới thiệu hình ảnh các sản phẩm được trưng ở các ga tầu điện ngầm. Khách hàng dùng mã QR và Smartphone để mua hàng. Hàng đặt mua sau đó sẽ được chuyển đến tận tay khách.   Những phát minh đột phá thường là một công trình của một nhóm nhưng mã QR lại hoàn toàn do một cá nhân tạo nên.  Sau khi ra trường, ở tuổi 22, chàng sinh viên Masahiro Hara, người phát minh ra QR-Code, làm việc tại tập đoàn sản xuất linh kiện xe hơi Denso của Nhật Bản. “Hãng giao cho tôi nhiệm vụ tìm thêm các giải pháp để đưa nhiều không tin hơn vào mã sản phẩm, nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn,” ông kể.  Hara không phải là người đầu tiên tìm cách cải tiến công nghệ mã sản phẩm. Trước đó đã có những thử nghiệm để mã vạch điện tử mở rộng. Kể từ những năm 1980 đã có mã hai chiều đầu tiên. Nhưng việc quét loại mã này mất quá nhiều thời gian nên không thể ứng dụng trong thực tế. Masahiro Hara nghĩ tới giải pháp xử lý vấn đề trong một lần đi dạo khi ông nhìn lên bãi đáp của máy bay trực thăng trên nóc một toà nhà cao tầng và nảy ra ý tưởng về hoa văn định vị ở ba góc của mã. Với sự hỗ trợ xác định vị trí này, máy quét tập trung vào mã nhanh hơn và tốt hơn đồng thời vẫn phân biệt được trên và dưới, trái và phải. “Với loại mã vạch nén, máy đọc cần khoảng 3 giây để giải mã nội dung,” Hara cho biết.  Nhưng thách thức lớn nhất đối với nhà sáng chế chính là khâu thiết kế một máy quét thích hợp bởi một lý do mà giờ đây nhìn lại người ta sẽ thấy khó tưởng tượng: trong những năm 90, máy tính còn rất nhạy cảm với nhiệt độ cao. “Nhất là vào lúc nóng bức trong mùa hè, nếu tôi làm việc cả tuần lễ liền, máy móc của tôi luôn giở chứng”, Hara kể. Cuối cùng vấn đề này đã được giải quyết bằng cách dùng những chi tiết máy của hãng và tự lắp thiết bị và tạo ra chương trình phần mềm thích hợp.   Những cách ứng dụng khiến cha đẻ mã QR cũng phải bất ngờ     Phát minh về mã QR đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của doanh nghiệp spinoff Denso Wave từ công ty mẹ Denso. Mặc dù mã QR được bảo vệ bởi bằng sáng chế nhưng việc ứng dụng và tạo mã đều được miễn phí. Thu hoạch của Denso Wave dựa vào việc phát triển và phân phối thiết bị đọc mã QR.  Hiện kỹ sư Hara là người quản lý bộ phận Auto-ID Engineering thuộc Denso Wave. Vị kỹ sư 56 tuổi này vẫn tiếp tục cải tiến công suất của mã và phát triển thuật toán để mã QR có thể đọc được nhanh hơn với Smartphone. “Ngoài ra chúng tôi quan tâm tới việc thiết kế mã. Chúng tôi muốn làm cho nó hấp dẫn, thú vị hơn và muốn cài đặt cả chức năng bảo mật IT.”  Giữa những năm 90, khi kỹ sư Hara phát triển mã thì điện thoại thông minh còn là điều vô cùng xa vời. Hồi đó ông cũng không thể ngờ rằng phát minh của mình lại trở thành cánh cửa dẫn đến Augmented Reality. Theo số liệu của doanh nghiệp nghiên cứu thị trường ComScore thì số người châu Âu dùng điện thoại thông minh đã từng quét mã QR ít nhất một lần trong thời gian từ 2011 đến 2012 đã tăng 96%.      Điều gì làm kỹ sư Hara ngạc nhiên trong việc ứng dụng mã hiện nay? “Giờ đây trên áo phông, mã đã trở thành hoa văn trang trí. Một số người thậm chí còn xăm hình mã. Đấy là điều mà tôi quả thật không bao giờ nghĩ tới. Ở Mỹ, trong một nghiên cứu về ong mật người ta đã dùng mã QR đánh dấu các con ong để theo dõi hành vi và sự vận động của chúng. Điều này tôi thấy thật thú vị.”      Mới đây nhất, với phát minh về mã QR, Hara đã được đề cử cho giải thưởng “Nhà sáng chế châu Âu” 2014 do Cơ quan Patent châu Âu trao hằng năm nhằm tuyên dương những nhà sáng chế xuất sắc nhất thế giới.     Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạch điện từ vật liệu graphene có thể tạo ra điện sạch, phi giới hạn      Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Arkansas đã phát triển thành công một mạch điện có khả năng bắt được chuyển động nhiệt của graphene và chuyển nó thành dòng điện.      “Một mạch tự khai thác điện chứa graphene như vậy có thể tích hợp với một con chip để cung cấp một nguồn điện áp thấp, sạch, phi giới hạn cho những thiết bị nhỏ hoặc cảm biến”, Paul Thibado, giáo sư vật lý và là người dẫn dắt nghiên cứu này, cho biết.  Phát hiện này được xuất bản trên tạp chí Physical Review E. Nó bắt nguồn từ một lý thuyết được các nhà vật lý tại trường đại học Arkansas phát triển  ba năm trước về freestanding graphene – một đơn lớp các nguyên tử  carbon – gợn sóng và uốn cong theo một cách hứa hẹn khả năng khai thác năng lượng.  Ý tưởng khai thác năng lượng từ graphene gây tranh cãi bởi nó đi ngược lại khẳng định nổi tiếng của nhà vật lý Richard Feynman là chuyển động nhiệt của các nguyên tử, mà người ta quen gọi là chuyển động Brown, không thể thực hiện được. Nhóm nghiên cứu của Thibado đã tìm thấy là ở nhiệt độ phòng, chuyển động nhiệt của graphene trên thực tế đã đem lại một dòng điện xoay chiều trong một mạch điện, một thành công tưởng chừng không thể.  Trong những năm 1950, nhà vật lý Léon Brillouin đã xuất bản một bài báo mang tính cột mốc bác bỏ ý tưởng thêm vào một đơn diode, một cái cổng chỉ cho phép dòng điện một chiều đi qua, để một mạch điện có thể có tính năng khai thác điện năng từ chuyển động Brown. Biết rõ điều đó, nhóm nghiên cứu của Thibado đã tự xây dựng được một mạch điện với hai diode để chuyển đổi dòng điện xoay chiều thành một chiều. Với các diode được bố trí ở trạng thái đối lập cho phép dòng điện chạy qua cả hai chiều, họ đã đem lại các ngả đường riêng rẽ qua mạch điện, tạo ra một dòng điện một chiều xung có thể hoạt động trên một điện trở tải.  Thêm vào đó, họ phát hiện ra là thiết kế của mình đã làm tăng thêm lượng điện được truyền tải. “Chúng tôi đã tìm thấy hành xử như thay đổi bật tắt của các diode này trên thực tế đã làm khuếch đại lượng điện được truyền tải hơn là giảm đi như trước đây người ta vẫn nghĩ”, Thibado cho biết. “Tỷ lệ thay đổi trong điện trở do các diode tạo ra đã tăng thêm nhân tố góp phần tăng thông lượng điện này”.  Nhóm nghiên cứu đã dùng một lĩnh vực vật lý mới liên quan để chứng minh các diode làm tăng thêm điện năng trong mạch điện. “Để chứng minh sự tăng cường điện năng đó, chúng tôi đã tìm đến lĩnh vực mới nổi là nhiệt động lực học ngẫu nhiên(stochastic thermodynamics) và mở rộng Nyquist, lý thuyết đã tồn tại gần thế kỷ”, đồng tác giả Pradeep Kumar, phó giáo sư vật lý, nói.  Theo giải thích của Kumar, graphene và mạch điện cùng chia sẻ một mối liên hệ mang tính cộng sinh. Dẫu môi trường nhiệt đang cho phép thực hiện trở điện tải, graphene và mạch cùng ở một mức nhiệt độ và độ nóng không trao đổi giữa chúng.    Giáo sư Paul Thibado. Nguồn: ĐH Arkansas  Điều này hết sức quan trọng, Thibado cho biết, bởi một sự khác biệt về nhiệt độ giữa graphene và mạch, trong một mạch tạo ra điện, có thể mâu thuẫn với định luật thứ hai của nhiệt động lực học. “Điều đó có nghĩa là định luật thứ hai của nhiệt động lực học không bị vi phạm, cũng như không có điều gì khiến phải tranh cãi về việc ‘con quỷ của Maxwell’ chia tách các electron nóng và lạnh”, Thibado nói.  Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra chuyển động chậm liên quan của graphene dẫn đến dòng điện trong mạch tại các tần số thấp, vốn là điều quan trọng nếu nhìn từ góc độ công nghệ bởi chức năng điện tử thường hoạt động hiệu quả hơn ở các mức tần số thấp.  “Con người có thể nghĩ là dòng điện chạy trong một điện trở là nguyên nhân gia nhiệt nhưng dòng điện Brown lại không như thế. Trên thực tế, nếu không có dòng điện chạy qua, điện trở đó có thể giảm nhiệt”, Thibado giải thích. “Những gì chúng tôi làm là tái định tuyến dòng điện trong mạch và chuyển nó thành một thứ hữu dụng”.  Chủ đề tiếp theo của nhóm nghiên cứu là xác định xem dòng điện một chiều có thể lưu trữ được trong một cái tụ điện để sử dụng nguồn điện dự trữ đó cho những lần sau không – đây là một mục tiêu đòi hỏi tối giản mạch và tạo mẫu vào một lát mỏng silicon, hoặc chip. Nếu hàng triệu mạch nhỏ xíu đó được tạo ra trên một con chip có diện tích 1×1 mi li mét, chúng có thể đóng vai trò thế chỗ một cái pin trữ điện rất nhỏ.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-physicists-circuit-limitless-power-graphene.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Maker movement – Bước đột phá trong sản xuất      Hướng đến một sự đột phá trong sản xuất, maker movement thay đổi quan niệm giữa người “làm” và người “nghĩ”. Không chỉ vậy, maker movement còn tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ mọi người tiếp cận với các nguồn tài nguyên nhanh nhất và với chi phí rẻ nhất.    Ai cũng là “maker”   Techshop là công ty kinh doanh “không gian sáng chế” (makerspace) lớn nhất nước Mỹ với chín địa điểm trên toàn quốc. Mỗi không gian của Techshop rộng trung bình 17.000 m2 cung cấp gần một trăm loại máy móc và phòng máy tính với các phần mềm thiết kế 2D và 3D phức tạp nhằm hỗ trợ sản phẩm của những makers (nhà sáng chế) từ khi là bản vẽ trên máy tính đến lúc thành phẩm. Cơ sở vật chất trong Techshop cho phép những người tới đây có thể sản xuất các sản phẩm đơn giản từ vỏ điện thoại và Ipad bằng da cho đến thiết bị y tế, sản phẩm điện tử tiêu dùng, thậm chí cả thiết bị hàng không (Lightnigh Motors, công ty sản xuất xe máy đua nhanh nhất thế giới khởi nghiệp và sản xuất ở Techshop). Phí thành viên hằng tháng của Techshop vào khoảng 100USD-200USD. Các máy móc thiết bị ở đây hoạt động liên tục và hơn 6.000 thành viên đến sử dụng phải đăng kí khung giờ từ trước.    Ngoài Techshop, ở Mỹ còn có hàng chục công ty kinh doanh không gian sáng chế tương tự và có hàng trăm nhóm phi lợi nhuận lập ra những không gian nhỏ hơn với số lượng thiết bị khiêm tốn hơn. Những thiết bị không thể thiếu ở những nơi này là các máy móc rút ngắn thời gian từ bản vẽ tới sản phẩm thử như các loại máy in 3D và máy cắt laser.    Tuy nhiên, Techshop hay những không gian sáng chế chỉ là một thành tố nhỏ tạo nên maker movement (phong trào sáng chế) đang trỗi dậy mạnh mẽ tại Mỹ và châu Âu trong gần 10 năm trở lại đây, cho phép ai cũng có thể tự chế tạo những “thiết bị trong mơ”. Maker movement tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ mọi người tiếp cận với các nguồn tài nguyên nhanh nhất và với chi phí rẻ nhất bao gồm từ cơ sở vật chất, thiết bị; dịch vụ in 3D, khắc laser giá rẻ; các lớp học kỹ thuật miễn phí; các cộng đồng sáng tạo mở trên internet với phần mềm nguồn mở, phần cứng nguồn mở, thiết kế mở.    Từ năm 2006, Maker Faire, một hội chợ triển lãm dành cho những nhà sáng chế – khởi xướng bởi tạp chí Make (tạp chí dành cho các makers với những hướng dẫn làm các dự án sáng chế phức tạp từ vật liệu đơn giản) được mở ra. Lần đầu tiên, Maker Faire được tổ chức tại California trong khuôn viên của Trung tâm tổ chức sự kiện San Mateo rộng 20.000 m2 với 20.000 người tham dự và 200 quầy triển lãm. Ngay trong lần tổ chức kế tiếp, con số này đã tăng lên gấp đôi và sau gần 10 năm, Maker Faire không chỉ là sự kiện ở Mỹ mà đã lan rộng ra toàn thế giới với hơn 100 địa điểm ở khắp châu Âu và Bắc Mỹ. Những người tham gia triển lãm ở Maker Faire hầu hết đều là những nhà sáng chế nghiệp dư, trong đó có cả những học sinh phổ thông.     Tự sáng chế hôm nay – “made in America” ngày mai   Maker movement không còn là một làn sóng tự phát mà đã “lôi kéo” cả chính phủ Mỹ tham gia. Vào tháng sáu năm ngoài, Nhà Trắng đã đăng cai tổ chức một Maker Faire trong khuôn viên với sự góp mặt của 100 nhà sáng chế và 30 quầy triển lãm. Trong số đó, một kỹ sư lập trình ở California đã mang đến triển lãm công trình sáng chế trong một năm của mình là robot hươu cao cổ cao 5m, nặng gần một tấn, có thể chơi nhạc, phát sáng, di chuyển và “cõng” hơn 30 người trên lưng. Ngoài ra, còn có nhóm bốn học sinh trung học phổ thông trình bày chiếc xe ô tô bốn chỗ các em tự sản xuất chạy bằng nhiên liệu xanh chế từ đậu nành.    Trong sự kiện Maker Faire tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu: “Phong trào tự sáng chế ngày hôm nay sẽ tạo nên các thương hiệu “made in America” vào ngày mai”. Ông cũng thông báo sẽ mở cửa một số phòng nghiên cứu và phát triển quốc gia cho công chúng sử dụng và kêu gọi các thị trưởng phải thúc đẩy việc xây dựng các makerspaces.    Vào năm 2011, Cơ quan hỗ trợ nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Mỹ (DARPA) đã triển khai một chương trình thử nghiệm bốn năm để đưa những makerspace hiện đại vào vào 1.000 trường trung học phổ thông khắp đất nước với sự hợp tác của những trường đại học nghiên cứu của từng địa phương. Năm 2014, DARPA cũng thông báo sẽ hỗ trợ 12,5 triệu USD cho việc phát triển các công cụ và giáo trình để đào tạo các học sinh trung học và sau trung học biết sử dụng những thiết bị công nghệ cao ở những vùng “công nghệ thấp”. Ở Mỹ, hệ thống trường phổ thông dân lập High Tech High ở San Diego và hệ thống trường công lập ở quận Albemarle cũng đã thử nghiệm áp dụng maker movement vào trong chương trình học. Trong khi High Tech High áp dụng việc sáng chế vào môn vật lý và kỹ thuật thì các trường công lập mới hướng dẫn học sinh cùng làm một dự án thiết kế lớn sử dụng các thiết bị hiện đại để chế tác.   Hướng đến một sự đột phá trong sản xuất, maker movement thay đổi quan niệm giữa người “làm” và người “nghĩ”. Học viện công nghệ MIT (một nơi vốn tập trung vào lý thuyết) xây dựng Trung tâm Bits and Antoms với tất cả máy móc chế tác điện tử (digital fabrication) tiên tiến nhất nhằm hiện thực hóa những bản vẽ trên máy tính (được tạo từ các mã bits) thành mô hình thật ngoài đời (được tạo thành từ nguyên tử). Giáo sư Neil Gershenfeld, giám đốc trung tâm, cho rằng, quan điểm “Những việc chân tay chỉ dành cho người không có cơ hội học lên cao” sẽ không tồn tại nữa.          Phong trào sáng chế ở Mỹ khởi nguồn từ các cá nhân, hội nhóm và bây giờ còn có sự hỗ trợ của các tập đoàn lớn như Ford và Microsoft. Văn hóa đề cao các cá nhân sáng chế – các maker – còn được gọi bằng một cái tên rất kêu là “hacker” nhen nhóm từ những năm 1970 khi khái niệm máy tính cá nhân bắt đầu hình thành. Những “Hackers” đầu tiên, những người tạo ra cuộc cách mạng về công nghệ là thành viên trong một câu lạc bộ sở thích về máy tính có tên là “Homebrew Computer Club” bao gồm Steve Wozniak và Steve Jobs (hai nhà sáng lập Apple. Inc). Hiện nay, những người nhiệt thành với maker movement như cựu Tổng biên tập của tạp chí Wired – Chris Anderson – và CEO của TechShop – Mark Hatch – trong những tác phẩm gần đây của mình đều cho rằng maker movement sẽ hứa hẹn một cuộc cách mạng công nghiệp mới bởi trong tương lai, ai cũng có thể nắm công cụ sản xuất.                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Makoto Yoshikawa: Săn tiểu hành tinh      Ông là nhà thiên văn học phụ trách một dự án thu thập các mẫu vật từ một tiểu hành tinh.      Tàu vũ trụ Hayabusa-2 đang tiến lại gần tiểu hành tinh Ryugu mang mẫu vật về trái đất. Nguồn: JAXA  Vào tháng 6/2018, nhà thiên văn học Makoto Yoshikawa không rời chiếc đồng hồ vì nhiệm vụ không gian mà ông phụ trách đã vào giai đoạn cuối của cuộc kiếm tìm – một tiểu hành tinh bằng đá có hình dạng như một chiếc bánh bao tên là Ryugu. Trong một chuyển động đầy tinh tế sau một cuộc du hành kéo dài hơn ba năm, tàu vũ trụ Hayabusa2 đã đốt nóng các động cơ đẩy của mình để có thể chuyển động đồng thời với tiểu hành tinh có chiều rộng 1km này và chúng cùng quay xung quanh mặt trời.  Để đạt được mục tiêu, Yoshikawa và nhóm nghiên cứu của ông tại Cơ quan Khám phá Vũ trụ Nhật Bản (JAXA) đã chuyển sang giai đoạn khám phá. Vào đầu tháng 10, con tàu đã ba lần hạ cánh thành công xuống Ryugu và cung cấp những cái nhìn cận cảnh đầu tiên vào tiểu hành hinh này.  Vào năm tới, Hayabusa2 sẽ phải đối mặt với một cuộc thử nghiệm lớn hơn, khi nó hạ xuống Ryugu và thu thập mẫu thử. Bất kỳ sự thiếu chính xác về định vị nào cũng có thể dẫn tới việc con tàu này đâm sầm vào Ryugu. Trong một cuộc hạ cánh thậm chí còn táo bạo hơn, con tàu này sẽ bắn ra một thiết bị xuống tiểu hành tinh và phân tích vật liệu mà nó mang về sau khi được thu hồi. Hayabusa2 sẽ về trái đất vào năm 2020, mang theo những mẫu vật có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về những giai đoạn sơ khai của cuộc tiến hóa ở Hệ mặt trời.  Yoshikawa đã từng nỗ lực trong nhiều nhiệm vụ không gian trước đây. Là nhà thiên văn học của JAXA, ông đã cùng tham gia vạch kế hoạch cho hai trong số những cuộc điều phối giải thoát ngoạn mục nhất trong lịch sử các cuộc khám phá không gian không có phi hành đoàn tham gia.  Nhiệm vụ đầu tiên là con tàu mang tên Hayabusa thu thập một mẫu vật từ một tiểu hành tinh đáp xuống tiểu hành tinh Itokawa năm 2005. Không lâu sau khi đáp xuống, họ mất kiểm soát con tàu. Họ đã phải điều khiển để phục hồi thông tin và lái Hayabusa trở lại trái đất bất chấp việc mất động cơ chính. Con tàu di chuyển với tốc độ cao đã bị cháy trong suốt thời gian trở lại trái đất nhưng hộp kín đựng mẫu vật cuối cùng vẫn an toàn.  Sau đó năm 2010, Akatsuki – một thí nghiệm JAXA khác, bị sự cố động cơ vì cố gắng giảm tốc độ để gia nhập quỹ đạo của sao Kim. Akatsuki bị cuốn xa và chuyển động quanh mặt trời cho đến năm 2015, sau đó tiếp tục chuyển động quanh sao Kim một lần nữa và nhóm nghiên cứu điều khiển nó trở lại quỹ đạo.  Yoshikawa nói, một số tai nạn không thể tránh được, điều đó khiến chương trình không gian của Nhật Bản không có được một truyền thống khám phá không gian dài hơi. “Chúng tôi cần kinh nghiệm”, ông nhận xét. Nhưng Hayabusa2 cũng đã đem lại một số “đền bù” cho lịch sử thiếu may mắn của JAXA.  Stephan Ulamec, một nhà địa vật lý tại Trung tâm hàng không vũ trụ Đức tại Cologne và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển MASCOT, một trong những thiết bị đáp của Hayabusa2, cho rằng việc chấp nhận rủi ro và năng lực học hỏi từ những thất bại đã đem lại cho  vũ trụ Nhật Bản những nỗ lực bên cạnh sự thận trọng – và được đầu tư nhiều hơn – của các cơ quan vũ trụ phương Tây.  “Họ có xu hướng thực hiện những nhiệm vụ táo bạo hơn, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro mà NASA cũng phải ngần ngại”, ông bình luận.  Yoshikawa có khả năng ít có ở người khác là dẫn dắt sự hợp tác của nhiều phòng thí nghiệm khác nhau và không đề cao mình. Đây là yếu tố dẫn đến thành công của các dự án, Aurélie Moussi – một nhà vật lý thiên văn tại CNES ở Toulouse và đồng quản lý dự án MASCOT. “Ông ấy là nhà khoa học tử tế nhấ mà tôi từng làm việc cùng”, chị cho biết.  Yoshikawa quan tâm đến các tiểu hành tinh kể từ khi còn là đứa trẻ mê “Hoàng tử bé” – cuốn sách viết năm 1943 về một cậu bé sống trên một tiểu hành tinh và tới trái đất. Các tiểu hành tinh đều có tiềm năng gây hiểm họa cho trái đất và cần giữ cho nó tránh khỏi tình huống này- nhưng chúng đều giữ những bí mật của hệ mặt trời, và là một nguồn nguyên liệu tiềm năng để cho những khám phá vũ trụ trong tương lai. Yoshikawa nói: “Các tiểu hành tinh và những vật thể rất nhỏ bé trong vũ trụ nhưng lại rất quan trọng với tương lai của loài người.”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Malcolm Baldrige: “Khuôn vàng thước ngọc” của các tổ chức và doanh nghiệp Mỹ      Mục đích của Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Mỹ (The Malcolm Baldrige National Quality Award) là tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh trong các tổ chức, đồng thời thúc đẩy việc chia sẻ các chiến lược cùng những kinh nghiệm, lợi ích rút ra từ việc áp dụng thành công chúng.  Malcolm Baldrige cũng chính là hình mẫu mà Việt Nam đã tham khảo khi xây dựng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia của mình      Đây là giải thưởng chính thức duy nhất được Tổng thống Mỹ trao tặng nhằm vinh danh chất lượng hoạt động của các tổ chức thuộc cả hai khu vực công và tư nhân tại Mỹ mà không nhằm vào sản phẩm hay dịch vụ nào cụ thể. Phụ trách giải thưởng là Ủy ban Chương trình Chất lượng Hoạt động Baldrige (Baldrige Performance Excellence Program) do Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia trực thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ quản lý. Hằng năm có khoảng 18 giải thưởng được trao cho sáu ngành chính: sản xuất, dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, và phi lợi nhuận.   Lịch sử Giải thưởng  Vào giai đoạn đầu thập kỷ 1980, nhiều lãnh đạo chính phủ và các lãnh đạo trong khối kinh doanh tại Mỹ nhận thấy rằng cần phải nâng cao nhận thức của các tổ chức về chất lượng hoạt động trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng mở rộng và cạnh tranh hơn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Mỹ vẫn cho rằng chất lượng không phải là vấn đề lớn đối với họ, hoặc cũng có doanh nghiệp không biết nên cải thiện chất lượng từ đâu.  Thông qua những vận động của Ủy ban Cố vấn về Sản lượng Quốc gia do Jack Grayson đứng đầu, Đạo luật Cải thiện Chất lượng Quốc gia Malcolm Baldrige đã được chính thức đưa vào luật từ ngày 20/8/1987. Tiếp đó, Grayson thành lập tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận APQC và tổ chức này trở thành cơ quan đi đầu trong việc hình thành nên Giải thưởng Quốc gia Malcolm Baldrige – lấy tên vị Bộ trưởng Thương mại phục vụ trong chính phủ của Tổng thống Ronald Reagan – vào năm 1987. Giải thưởng là sự hợp tác giữa cả khu vực công và tư nhằm cải thiện chất lượng của các tổ chức tại Mỹ, từ đó mang lại một chuẩn mực về chất lượng hoạt động, giúp các tổ chức ở Mỹ vươn tới đẳng cấp .              Ý kiến của một số lãnh đạo về Giải thưởng Baldrige              “Các  đơn vị giành được Giải thưởng Baldrige luôn là biểu tượng cho chất  lượng hoạt động xuất sắc, đồng thời là những hình mẫu lý tưởng cho mọi  khu vực trong nền kinh tế đất nước. Họ đã chứng tỏ được rằng các tổ chức  của Mỹ có thể vượt trội trong nền kinh tế toàn cầu.” –   George H.W.  Bush, cựu tổng thống Mỹ.              “Các công ty giành được giải Baldrige  đều có thể tự hào thông báo điều đó trước cả thế giới, và qua đó họ sẽ  thu về vô vàn lợi ích.”  –   Steve Jobs, CEO của Apple.              “Nếu bạn tự  đánh giá tổ chức mình dựa trên các tiêu chí do Giải thưởng Baldrige đưa  ra, điều đó có nghĩa là bạn đã nắm trong tay lộ trình xây dựng một công  ty tốt hơn rồi đấy.” –   Jerry Junkins, CEO của công ty Texas  Instruments.              “Chỉ cần nộp đơn tham dự giải và nhận về những ý  kiến phản hồi mà họ đưa lại cho bạn cũng là một điều vô cùng giá trị cho  một công ty rồi.” – Roger Milliken,   CEO của công ty Milliken & Co.            “Khuôn vàng thước ngọc” về đo lường chất lượng hoạt động  Tuy không có giá trị về vật chất (Giải thưởng chỉ bao gồm một huy chương vàng đựng trong một khối thủy tinh cao chừng 35cm), song rất nhiều CEO cũng như lãnh đạo của các tổ chức khác nhau trên nước Mỹ sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ để giành được Giải thưởng này. Chỉ ba năm sau khi ra đời, Giải thưởng đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” đo lường chất lượng hoạt động của các tổ chức ở cả khu vực công và tư nhân và là sự khẳng định ngầm rằng đơn vị được giải là tổ chức đang sản xuất ra những hàng hóa/ dịch vụ đẳng cấp thế giới.   Không có nhiều tổ chức Mỹ thỏa mãn được những tiêu chuẩn khắt khe mà ban giám khảo của Giải thưởng đề ra. Do vậy, trong hai năm đầu tổ chức giải, trong số hàng chục nghìn đơn vị có khả năng, chỉ có 106 đơn vị ứng cử. Tuy vậy, giành chiến thắng không phải là tất cả. Một tổ chức chỉ cần đủ dũng cảm bước vào cuộc thi này là đã đủ để chứng tỏ cho thị trường thấy những nỗ lực rất lớn của họ, từ đó tạo ra áp lực cạnh tranh lên các đối thủ khác. Đối với cả người thắng cuộc, kẻ thua cuộc, và thậm chí là cả những đơn vị không tham gia, Giải thưởng Baldrige đã, đang và vẫn sẽ là một nguồn định hướng phát triển của họ.  Giải thưởng hiện đóng ba vai trò then chốt trong việc củng cố sức mạnh cạnh tranh cho các tổ chức của Mỹ, bao gồm:  – Góp phần cải thiện các quy trình, năng lực và thành quả hoạt động của tổ chức  – Mang lại kênh truyền thông và chia sẻ kinh nghiệm giữa các tổ chức tại Mỹ thông qua Giải thưởng Baldrige, Hội thảo Quest for Excellence cùng các tài liệu giáo dục khác.  – Là công cụ hữu hiệu giúp các tổ chức định hướng tư duy chiến lược và tạo cơ hội học hỏi, tìm hiểu và quản lý chất lượng hoạt động của mình.  Bộ Tiêu chí và mức điểm số  Bảy hạng mục trong Bộ Tiêu chí về Chất lượng Hoạt động trong Giải thưởng Baldrige được chia thành những tiểu mục nhỏ với những trọng tâm chi tiết khác nhau. Các hạng mục này được chia thành ba nhóm:  – Hồ sơ Tổ chức: xác định tình hình hiện tại của tổ chức.  – Các hạng mục về Quy trình của tổ chức (hạng mục 1-6).   – Các hạng mục về Thành tích (hạng mục 7) đạt được nhờ áp dụng các quy trình của tổ chức.                       Hạng   mục      Mô   tả chung      Điểm   tổng hạng mục      Khía   cạnh đánh giá      Điểm   cho từng khía cạnh          Hồ   sơ Tổ chức      Đây là phần mô tả ngắn gọn   về tổ chức, những ảnh hưởng chính đối với hoạt động và môi trường cạnh tranh   của tổ chức      Không cho điểm      Mô   tả về tổ chức  Đâu là những đặc điểm   chính về tổ chức của bạn?      Không   cho điểm          Tình   hình của tổ chức  Tình hình chiến lược hiện   tại của tổ chức bạn là gì?          1.   Lãnh đạo      Tìm hiểu về các hành vi   mang tính cá nhân của đội ngũ lãnh đạo cao cấp trong vai trò hướng dẫn và duy   trì tổ chức. Hạng mục này cũng tìm hiểu về hệ thống quản trị của tổ chức và   phương pháp tổ chức đáp ứng những trách nhiệm về pháp lý, đạo đức và xã hội của   mình.       120      Lãnh   đạo cấp cao  Đội ngũ lãnh đạo cấp cao   dẫn dắt tổ chức bạn như thế nào?      70          Trách   nhiệm quản trị và xã hội  Tổ chức bạn quản trị và   thực thi các trách nhiệm của mình về xã hội như thế nào?        50          2.   Chiến lược      Tìm hiểu cách thức tổ chức   phát triển các mục tiêu chiến lược/ kế hoạch hành động, phương thức thực thi   và điều chỉnh chiến lược theo tình hình thực tế cũng như cách đo lường tiến độ   thực hiện các chiến lược/kế hoạch trên.      85      Phát   triển chiến lược  Tổ chức bạn phát triển kế   hoạch hành động như thế nào?         45          Thực   hiện chiến lược  Tổ chức bạn thực thi chiến   lược đã vạch ra như thế nào?      40          3.   Khách hàng      Tìm hiểu cách thức thu   hút khách hàng của tổ chức nhằm bảo đảm thành công lâu dài trên thị trường,   bao gồm cách lắng nghe khách hàng, xây dựng mối quan hệ khách hàng, và sử dụng   kiến thức về khách hàng để thực hiện những sáng tạo cần thiết nhằm đáp ứng   nhu cầu khách hàng      85      Lắng   nghe khách hàng  Tổ chức bạn thu thập   thông tin phản hồi của khách hàng như thế nào?      40          Sự   tham gia của khách hàng  Tổ chức bạn thu hút sự   tham gia của khách hàng bằng cách đáp ứng các nhu cầu và xây dựng mối quan hệ   với họ như thế nào?      45          4.   Đo lường, Phân tích và Quản trị Thông tin      Tìm hiểu cách thức tổ chức   lựa chọn, thu thập, phân tích, quản lý, và cải thiện chất lượng dữ liệu/thông   tin cùng các tài sản trí tuệ của mình; cách thức học tập và quản lý công nghệ   thông tin của tổ chức.       90      Đo   lường, Phân tích, và Cải thiện chất lượng hoạt động tổ chức  Tổ chức bạn đo lường,   phân tích, và sau đó là cải thiện chất lượng hoạt động của mình như thế nào?      45                 Quản   trị thông tin/kiến thức và Công nghệ thông tin  Tổ chức bạn quản trị các   tài sản trí tuệ, thông tin và cơ sơ hạ tầng công nghệ thông tin của mình ra   sao?      45          5.   Lực lượng lao động      Tìm hiểu về cách thức mà   tổ chức áp dụng để đánh giá năng lực của lực lượng lao động và các nhu cầu về   năng lực lao động đồng thời xây dựng môi trường lao động hiệu quả để nâng cao   chất lượng hoạt động của cả tổ chức. Hạng mục này cũng tìm hiểu về cách thức   thu hút, quản trị và phát triển đội ngũ nhân lực của tổ chức nhằm phát huy hết   tiềm năng nội bộ phù hợp với các nhu cầu hoạt động chung.         85      Môi   trường lao động  Tổ chức bạn làm gì để xây   dựng một môi trường làm việc hiệu quả và mang tính tương hỗ lẫn nhau?         40          Sự   tham gia của lực lượng lao động  Tổ chức bạn làm gì để thu   hút sự tham gia của đội ngũ nhân lực nhằm kiến tạo nên một môi trường làm việc   có hiệu suất cao?         45          6.   Hoạt động      Tìm hiểu về phương pháp   thiết kế, quản lý, cải thiện và sáng tạo sản phẩm/ quy trình làm việc và nâng   cao hiệu suất vận hành để mang đến giá trị cho khách hàng đồng thời duy trì   được thành công lâu dài của tổ chức         85      Quy   trình làm việc   Tổ chức bạn làm gì để thiết   kế, quản lý và cải thiện các sản phẩm và quy trình làm việc chủ đạo của mình?      45          Hiệu   suất hoạt động  Tổ chức bạn làm gì để bảo   đảm tính hiệu quả trong việc quản lý các hoạt động của mình?      40          7.   Thành tích      Tìm hiểu về hoạt động và   những biến chuyển của tổ chức xét trên mọi khía cạnh chủ đạo – sản phẩm và   quy trình, khách hàng, lực lượng lao động, lãnh đạo và quản trị, tài chính và   thị trường. Hạng mục này cũng tìm hiểu về chất lượng hoạt động của tổ chức so   với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.         450      Thành   tích về sản phẩm và quy trình  Đâu là những thành tích của   tổ chức bạn về hiệu quả của sản phẩm và quy trình?      120          Thành   tích về khách hàng  Đâu là những thành tích của   tổ chức bạn liên quan đến khía cạnh khách hàng?      80          Thành   tích về lực lượng lao động  Đâu là những thành tích của   tổ chức bạn liên quan đến lực lượng lao động?         80          Thành   tích về lãnh đạo và quản trị  Đâu là những thành tích của   tổ chức bạn xét về mặt ban lãnh đạo và quản trị?         80          Thành   tích về tài chính và thị trường  Đâu là những thành tích của   tổ chức bạn về khía cạnh tài chính và trên thị trường?      90          Tổng   điểm      1000             Vì sao các tổ chức, doanh nghiệp Mỹ chọn Baldrige làm khung tham chiếu quản trị?      Bộ Tiêu chí về Chất lượng Hoạt động được coi là yếu tố nền tảng để trao Giải thưởng cho các tổ chức. Đây cũng là công cụ giúp các tổ chức tìm hiểu về điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình. Bộ Tiêu chí bao gồm những khía cạnh hình thành nên các nhân tố thiết yếu giúp mang lại thành công cho các tổ chức.      Tính bao quát của Bộ Tiêu chí rất cao, đưa ra một khung tham chiếu quản trị kết hợp, liên quan đến mọi nhân tố hình thành nên tổ chức, hoạt động của tổ chức cũng như kết quả hoạt động của tổ chức đó. Chúng tập trung vào những yêu cầu mang tính phổ quát, không tập trung vào các quy trình/công cụ/kỹ thuật cụ thể. Các công cụ cải thiện chất lượng khác (như ISO, Six Sigma,…) đều có thể được tích hợp vào trong hệ thống quản trị của tổ chức.  Bộ Tiêu chí có khoảng 100 câu hỏi được chia thành bảy hạng mục khác nhau, mang lại khung tham chiếu hoạt động một cách khách quan và có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, các tổ chức vẫn được khuyến khích phát triển những phương thức sáng tạo và linh động phù hợp với tình hình thực tiễn trong nội bộ của mình. Nhìn chung, Bộ Tiêu chí có thể được sử dụng một cách hết sức linh động, áp dụng trong các doanh nghiệp lớn hoặc nhỏ, các tổ chức kinh doanh cũng như các tổ chức giáo dục và chăm sóc sức khỏe, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.      Có thể nói Bộ Tiêu chí cung cấp những phương pháp quản trị hàng đầu. Chúng thường xuyên được cập nhật để đáp ứng nhu cầu của tất cả các bên liên quan trong một tổ chức và đáp ứng được những đòi hỏi quan trọng của tổ chức.                 Sức ảnh hưởng của Giải thưởng                  Theo  số liệu thống kê từ nhiều nguồn, Giải thưởng này đã tạo ra những thay  đổi lớn trong môi trường hoạt động của các tổ chức tại Mỹ, cụ thể:              Tỉ lệ giữa lợi ích mà Giải thưởng mang lại cho nền kinh tế Mỹ với chi phí bỏ ra để tổ chức Giải thưởng là 820/1.              95 đơn vị nhận giải (bao gồm sáu đơn vị nhận giải hai lần) đều trở thành những mô hình tổ chức kiểu mẫu quốc gia của Mỹ.              Tỉ lệ tăng trưởng doanh thu trung bình của các đơn vị hai lần đạt giải là 92,5%.              Tỉ  lệ tăng trưởng việc làm trung bình của các đơn vị hai lần đạt giải là  65,5% (so với mức trung bình trên các ngành ở cùng thời điểm là 2,5%).              Một  nghiên cứu do công ty Phân tích Dữ liệu Y tế Truven thực hiện cho thấy  có mối liên hệ giữa các bệnh viện áp dụng Bộ Tiêu chí Baldrige với mức  độ thành công trong việc tổ chức hoạt động, quản lý cũng như chất lượng  hoạt động chung của chính các bệnh viện đó.              65% bệnh viện tại Mỹ sẵn  sàng sử dụng Bộ Tiêu chí Baldrige về Chất lượng Hoạt động làm khung tham  chiếu để cải thiện chất lượng nội bộ hoặc dùng Bộ Tiêu chí làm công cụ  đánh giá nội bộ.              Tính trên toàn thế giới, hiện đã có khoản 100 chương  trình đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên khung tham chiếu và mô hình  tổ chức của Giải thưởng.          Thu Trang tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạng 5G ảnh hưởng tới dự báo thời tiết      Công nghệ di động thế hệ mới có thể ảnh hưởng tới việc quan sát Trái đất từ những vệ tinh quan trọng.    Chính phủ Hoa Kỳ đã bắt đầu bán đấu giá các block tần số vô tuyến không dây được sử dụng cho mạng truyền thông di động thế hệ mới 5G. Nhưng một vài tần số này nằm gần với tần số mà các vệ tinh sử dụng trong những quan sát quan trọng về Trái đất – và các nhà khí tượng học lo lắng rằng việc truyền 5G từ điện thoại di động và các thiết bị khác có thể gây trở ngại cho việc thu thập dữ liệu của họ.  Nếu các cơ quan quản lý hoặc công ty viễn thông không thực hiện các bước để giảm nguy cơ nhiễu sóng, các vệ tinh quan sát trái đất bay trên các khu vực của Hoa Kỳ có vùng phủ sóng không dây 5G sẽ không thể phát hiện chính xác nồng độ hơi nước trong khí quyển. Các nhà khí tượng học ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác dựa vào những dữ liệu đó từ các vệ tinh để đưa vào mô hình của họ; nếu thiếu thông tin đó, dự báo thời tiết trên toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng.  “Đây là một vấn đề toàn cầu”, Jordan Gerth, một nhà khí tượng học tại Đại học Wisconsin, Madison, cho biết.  Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) và NASA hiện đang “mắc kẹt” trong một cuộc đàm phán quan trọng với Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) – làcơ quan giám sát các mạng không dây của Hoa Kỳ. NOAA và NASA đã yêu cầu FCC hợp tác với họ để bảo vệ tần số được sử dụng cho việc quan sát Trái đất không bị nhiễu khi 5G xuất hiện. Nhưng FCC đã bán đấu giá đoạn đầu tiên của phổ 5G với mức bảo vệ tối thiểu. Thương vụ này đã kết thúc vào ngày 17 tháng 4 và thu về gần 2 tỷ USD.    Hơi nước trên lục địa Hoa Kỳ được thể hiện trong hình ảnh vệ tinh bị sai màu của Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia. Nguồn: Nature  Chia sẻ bầu trời  Là một thị trường truyền thông lớn nên các quyết định được Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra về cách thức triển khai 5G có khả năng ảnh hưởng đến các cuộc thảo luận toàn cầu về cách điều tiết công nghệ. Ngày 28/10 tới đây, các cơ quan quản lý từ khắp nơi trên thế giới sẽ tập hợp tại Sharm el-Sheikh, Ai Cập, để bàn luận về các thỏa thuận quốc tế – trong đó các công ty tần số có thể truyền phát 5G với độ ảnh hưởng tới tần số quan sát Trái đất ở mức độ chấp nhận được.  Các nhà thiên văn học, nhà khí tượng học và các nhà khoa học khác từ lâu đã chia sẻ quang phổ với những nhóm khác, đôi khi chuyển sang các tần số khác nhau để ngăn ngừa xung đột. Nhưng “đây là lần đầu tiên chúng ta thấy mối đe dọa đối với những “báu vật” tần số của chúng ta –những tần số mà chúng ta phải bảo vệ trước những điều có thể xảy đến”, Stephen English, nhà khí tượng học tại Trung tâm Các dự báo hạn vừa của châu Âu ở Reading, Vương quốc Anh cho biết.  Các “báu vật” đó bao gồm cả tần số 23,8 gigahertz, tại đó hơi nước trong khí quyển phát ra tín hiệu mờ nhạt. Vệ tinh, như tàu thăm dò MetOp châu Âu, theo dõi năng lượng phát ra từ Trái đất ở tần số này để đánh giá độ ẩm trong bầu khí quyển bên dưới – các phép đo có thể được thực hiện vào ban ngày hoặc ban đêm, thậm chí cả khi có mây. Các nhà dự báo đưa các dữ liệu này vào các mô hình để dự đoán các cơn bão và các hệ thống thời tiết khác sẽ phát triển như thế nào trong một vài giờ đồng hồ và một vài ngày tới.  Nhưng một trạm 5G truyền ở tần số tương tự sẽ tạo ra tín hiệu giống hơi nước. “Chúng ta sẽ không biết rằng đó không phải là tín hiệu tự nhiên” Gerth cho biết. Dự báo sẽ trở nên kém chính xác hơn nếu các nhà khí tượng học kết hợp những dữ liệu sai lệch đó vào mô hình của họ.  Những người “hàng xóm” ồn ào  Phiên đấu giá gần đây của FCC có của 2 nhóm tần số: một nhóm từ 24,25 đến 24,45 gigahertz và nhóm còn lại từ 24,75 đến 25,25 gigahertz. Thiết bị không dây truyền phát với tần số gần giới hạn dưới của vùng tần số này có thể gây trở ngại cho việc đo hơi nước ở 23,8 gigahertz. FCC đã không trả lời đề nghị bình luận của tờ Nature về vấn đề này.  Tình huống trên giống như việc ở bên cạnh một người hàng xóm ồn ào, Gerth nhận xét. Nếu người đó chơi nhạc, rất nhiều tiếng ồn có thể sẽ xuyên qua tường vào căn hộ của bạn. Nhưng nếu có thể thuyết phục người đó tắt nhạc, bạn sẽ có thể ngủ yên hơn.  Các kỹ sư tần số vô tuyến đo tiếng ồn theo đơn vịdecibel watt. Các cơ quan quản lý thiết lập kiểm soát giới hạn tiếng ồn cho phép; lượng số âm ngày càng nhiều hơn cho thấy việc kiểm soát ngày càng nghiêm ngặt. Cuộc đấu giá của FCC đã đặt ra giới hạn tiếng ồn là -20 decibel watt cho mạng 5G của Hoa Kỳ – mức ồn hơn nhiều so với ngưỡng của các quốc gia khác. Chẳng hạn Ủy ban Châu Âu đã đặt giới hạn ở mức -42 decibel watt cho các trạm gốc 5G và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đang khuyến nghịvới mức -55 decibel watt.  Nhiều người hy vọng rằng những con số mà WMO đưa ra sẽ giúp các cơ quan quản lý chấp nhận các tiêu chuẩn tiếng ồn toàn cầu nghiêm ngặt tại cuộc họp ở Ai Cập.   Những thách thức trong tương lai  Có rất ít nghiên cứu về việc chính xác dự báo thời tiết sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi độ nhiễu tăng ở tần số 23,8 gigahertz và các tần số quan trọng khác đối với việc quan sát Trái đất.  NOAA và NASA đã hoàn thành một nghiên cứu về tác động của các mức độ nhiễu khác nhau, nhưng kết quả này chưa được công bố, mặc dù đã có ít nhất một yêu cầu [công bố] chính thức từ Quốc hội. Một báo cáo năm 2010 của Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia đã kết luận rằng nếu không thể tiếp cậnvào tín hiệu 23,8 gigahertz sẽ làm mất 30% tất cả dữ liệu hữu ích trong các tần số vi sóng – có vai trò quan trọng đối với hoạt động dự báo thời tiết trên toàn cầu.  Stephen English cho biết, thiếu dữ liệu khí quyển từ Hoa Kỳ cũng có thể gây ảnh hưởng đáng kể tới dự báo thời tiết ở châu Âu, nơi các dạng thời tiết thường bị chi phối bởi điều kiện thời tiết ở Hoa Kỳ 3-4 ngày trước đó.  Bộ Thương mại, cơ quan quản lý của NOAA, thì cho biết họ “ủng hộ mạnh mẽ chính sách của cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy khả năng đi đầu của Hoa Kỳ trong phát triển mạng 5G an toàn, đồng thời duy trì và cải thiện các nhiệm vụ khoa học và chính phủ quan trọng.” Jim Bridenstine, quản trị viên của NASA từ chối bình luận, nhưng bày tỏ mối quan tâm đối với 5G tại một cuộc họp của cơ quan vào đầu tháng này. “Đây là một vấn đề lớn,” Bridenstine cho biết.  FCC đã lập kế hoạch bắt đầu phiên đấu giá 5G tiếp theo – lớn nhất từ trước tới nay ở Hoa Kỳ vào tháng 12. Phiên đấu giá này sẽ liên quan đến ba dải tần số nữa – một số dải tần được sử dụng trong quan sát vệ tinh về lượng mưa, băng biển và mây.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01305-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Màng bảo quản giữ hoa quả tươi lâu      TS. Đinh Gia Thành cùng đồng nghiệp thuộc  Viện Hóa học (Viện KH&amp;CN Việt Nam) vừa nghiên cứu, thử nghiệm thành  công màng bao gói giúp bảo quản quả tươi trong nhiều tuần không cần hóa  chất.    Lời giải cho bài toán khó của người nông dân  Sản phẩm này đã mở ra triển vọng cho ngành công nghệ bảo quản sau thu hoạch, góp phần nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản Việt Nam trên thị trường tiêu dùng.  Chị Nguyễn Thị Thanh ở Lục Ngạn – Bắc Giang vẫn còn nhớ lần được thử nghiệm màng bảo quản này cho quả vải vườn nhà. “Quả vải sau khi được bọc bằng màng gì đó”, theo như cách kể của chị Thanh, thì đến hơn 1 tuần sau, khi mở ra vẫn giữa nguyên màu sắc, ăn thử vị vẫn đậm đà, ngon ngọt như mới hái. Không giấu nổi niềm vui, chị Thanh cho biết, đây thực sự là niềm hy vọng không chỉ cho gia đình chị mà cả vùng trồng vải bởi quả vài chính vụ nếu chậm hái vài ngày là vỏ ngoài xuống màu ngay, và tư thương lấy đó làm lý do  để ép giá.  Theo đánh giá của Bộ NN & PTNT thì hiện nay tỉ lệ hư hỏng rau quả sau thu hoạch ở nước ta còn khá cao, khoảng 20% tổng sản lượng. Vấn đề bảo quản sau thu hoạch các loại rau, hoa quả đang là bài toán khó đối với người nông dân.  Công nghệ bảo quản mà các nhà khoa học Viện Hóa học nghiên cứu thành công đã góp phần giải quyết khó khăn này. Đây là một trong những thành quả của đề tài “Nghiên cứu chế tạo vật liệu sử dụng trong lĩnh vực bảo quản quả (vải, nhãn, mận)” thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước KC02.20/06-10, do TS. Đinh Gia Thành làm chủ nhiệm đề tài.  Kéo dài thời gian bảo quản trái cây lên 3-4 lần  Theo TS. Đinh Gia Thành, công nghệ mà nhóm nghiên cứu thực hiện là bảo quản bằng bao gói khí quyển biến đổi (gọi tắt là MAP). Có thể hiểu đơn giản đó là tạo một vật liệu bao bọc sản phẩm thực phẩm trong các vật liệu chắn khí, trong đó môi trường khí được thay đổi để ức chế tác nhân gây hư hỏng, nhờ đó có thể duy trì chất lượng cao hơn của các thực phẩm dễ hỏng trong quá trình sống tự nhiên hay kéo dài thời hạn sử dụng.  Sản phẩm MAP của Viện Hóa học được sản xuất từ nguyên liệu nhựa polyetylen tỷ trọng thấp (LDPE) kết hợp với một số chất phụ gia vô cơ như silica, zeolit, bentonit. Đây là những vật liệu an toàn, không gây độc cho người sử dụng.  Thử nghiệm trên thực tế như với quả vải tại Bắc Giang, quả nhãn lồng tại Hưng Yên và quả mận tại Lào Cai, màng MAP đã tỏ ra là vật liệu bảo quản đáng tin cậy và hữu dụng trong điều kiện Việt Nam. Với điều kiện bảo quản tại các nông hộ, các nhà khoa học đã xây dựng mô hình bảo quản trên 3 đối tượng quả phổ biến là vãi, nhãn, mận.  Với mô hình 2 tấn vải quả vải tại Bắc Giang, nếu để trong túi PE thông thường chỉ sau 5 – 7 ngày là quả vải bị khô và hỏng hoàn toàn, Tuy nhiên nếu sử dụng màng MAP vải sau 4 tuần vẫn tươi, tỉ lệ thâm vỏ không đáng kể, mùi vị, độ ngọt, độ cứng hầu như không thay đổi. Hiệu quả kinh tế tăng gần 80%.  Tương tự đối với quả nhãn lồng Hưng Yên, thời gian bảo quản cũng kéo dài gấp 3 lần nếu như không bảo quản, do đó người trồng nhãn có thể chủ động điều chỉnh thời diểm đưa nhãn ra thị trường để tăng hiệu quả kinh tế. Theo Hiệp hội nhãn lồng Hưng Yên thì do không sử dụng hóa chất, lại dễ sử dụng nên màng MAP đang được rất nhiều bà con quan tâm.  Riêng với mô hình thử nghiệm 1 tấn mận tại Lào Cai thì mận có thể giữ tươi sau 8 tuần mà không hề làm thay đổi đáng kể các chỉ tiêu chất lượng, cảm quan của quả.  Nếu không có kho lạnh, bà con có thể để hoa quả được bao gói trong điều kiện râm mát, độ ẩm thấp. Không chỉ 3 đối tượng này mà trên các loại quả khác, màng MAP đều có tác dụng kéo dài thời gian bảo quản.  Thử nghiệm cho thấy màng MAP có tác dụng kéo dài thời gian bảo quản của những loại trái cây này từ 3 – 4 lần, tỷ lệ hao hụt sau 4 tuần chỉ khoảng 5%. TS. Đinh Gia Thành đánh giá về ưu điểm của màng MAP: “Nếu không sử dụng thì tỷ lệ hao hụt khoảng từ 20 – 60%. Còn nếu sử dụng màng thì tỷ lệ này giảm còn khoảng 10 %. Rõ ràng bài toán kinh tế rất lớn.”  Với việc chế tạo ra màng MAP, các nhà khoa học Việt Nam đã hoàn thiện một bước công nghệ bảo quản các sản phẩm dễ héo ở nước ta như vải, nhãn, mận, đào, chôm chôm, xoài, chuối… cũng như các loại rau, hoa để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đạt giá trị cao. Sản phẩm này đã mở ra triển vọng cho ngành công nghệ bảo quản sau thu hoạch, góp phần nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản Việt Nam trên thị trường tiêu dùng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Màng lọc RO loại bỏ muối để tách nước biển thành nhiên liệu      Năng lượng Mặt trời, gió và nước biển có thể sớm kết hợp với nhau tạo thành nhiên liệu hydro sạch khi đốt cháy. Do đó, một nhóm nghiên cứu tại ĐH bang Pennsylvania đã tích hợp công nghệ lọc nước vào một thiết kế thiết bị điện phân nước biển mới cho phép dòng điện tách hydro và oxy ra khỏi phân tử nước.      Nước biển có thể chuyển thành nhiên liệu hydro nhờ thiết kế điện phân nước biển mới của nhóm nghiên cứu thuộc ĐH bang Pennsylvania | Ảnh: Tyler Henderson  Theo Bruce Logan, Giáo sư ngành Kỹ thuật Môi trường Bruce Logan tại trường, phương pháp này có thể giúp biến năng lượng gió và Mặt trời thành một loại nhiên liệu có thể lưu trữ và di chuyển dễ dàng hơn. “Hydro là một loại nhiên liệu tuyệt vời nhưng ta phải chế tạo ra nó”, Bruce Logan nhận xét. “Cách bền vững duy nhất là sử dụng năng lượng tái tạo [để điện phân] và tạo ra nó từ nước. Chúng ta cũng phải dùng nguồn nước mà không ai muốn sử dụng cho những việc khác, đó là nước biển. Do đó, “chén thánh” để sản xuất nhiên liệu hydro chính là kết hợp giữa nước biển với năng lượng gió và Mặt trời ở ven biển hoặc ngoài khơi”.   Mặc dù lượng nước biển trên thế giới rất dồi dào, nhưng người ta ít dùng để điện phân. Trừ khi nước biển được khử muối trước khi đi vào máy điện phân [và đây là một bước bổ sung đắt tiền], các ion clorua (Cl-) trong nước biển sẽ chuyển thành khí clo độc hại làm xuống cấp thiết bị và thất thoát ra môi trường.  Để ngăn chặn quá trình đó, nhóm nghiên cứu đã chèn thêm một lớp màng mỏng, bán thấm, lúc đầu được tạo ra để lọc nước trong quá trình xử lý thẩm thấu ngược (RO). GS. Logan cho biết: “Ý tưởng đằng sau màng RO là tạo ra một áp suất thật lớn lên khối nước, đẩy nó qua màng lọc và giữ lại các ion clorua ở sau”.  Ở đây, màng RO được dùng thay cho màng trao đổi ion thường có trong máy điện phân. Nước biển sẽ không được đẩy qua màng RO [như cách lọc nước thông thường] mà được chứa trong nó. Tấm màng này sẽ ngăn các phản ứng diễn ra gần hai điện cực âm và dương trong dung dịch khi được nối với nguồn điện bên ngoài. Khi nguồn điện được bật lên, các phân tử nước (H2O) bắt đầu tách ra ở cực dương, giải phóng các ion hydro (H+) siêu nhỏ gọi là proton và tạo ra khí oxy (O2). Các proton sau đó đi qua lớp màng và kết hợp với các electron ở cực âm để tạo thành khí hydro (H2). Khi dùng màng RO, nước biển được giữ lại phía cực âm, các ion clorua quá lớn sẽ không thể đi qua màng và về cực dương, do vậy ngăn được quá trình sản sinh ra khí clo.    Trong quá trình tách nước, các muối khác cũng được hòa tan trong nước để giúp dung dịch dẫn điện. Trong khi màng trao đổi ion thông thường lọc ion bằng điện tích sẽ cho phép các ion muối đi qua, thì màng RO lại không. “Màng RO ức chế chuyển động của muối, nhưng cách duy nhất để tạo ra dòng điện trong mạch là các ion mang điện tích phải dịch chuyển giữa hai điện cực”, GS. Logan cho biết.   Thông qua một loạt thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã thử hai loại màng RO có sẵn trên thị trường và hai màng trao đổi ion dương (cation) cho phép điện tích dương chạy qua. Mỗi thí nghiệm đều xem xét khả năng chống chuyển động ion của màng, lượng điện cần để hoàn thành các phản ứng, lượng khí hydro và oxy sản xuất ra, các tương tác với ion clorua cũng như mức độ hư hỏng của màng.  Logan giải thích, trong khi một loại màng RO cho kết quả là “đường mòn” thì màng RO kia lại hoạt động khá tốt so với các màng trao đổi cation. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu xem tại sao lại có sự khác biệt như vậy giữa hai màng RO. “Ý tưởng [màng RO] đã trở thành hiện thực” GS. Logan nói, “Chúng tôi không biết chính xác tại sao hai màng này lại hoạt động khác nhau như vậy nhưng chúng tôi sẽ tìm ra nguyên nhân.”. Các kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Energy & Environmental Science.   Gần đây, các nhà nghiên cứu đã nhận được tài trợ 300.000 USD từ Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) để tiếp tục nghiên cứu quá trình điện phân nước biển. GS. Logan hy vọng nghiên cứu của họ sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm lượng khí thải CO2 trên toàn thế giới. □  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-membranes-salt-sea-fuel.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạng lưới khoa học và đổi mới châu Âu thúc đẩy hỗ trợ Đông và Trung Âu      Tổ chức Hợp tác về KH&CN châu Âu (COST) và Viện nghiên cứu Đổi mới sáng tạo và công nghệ châu Âu (EIT) mong muốn rót các khoản tài trợ trong phạm vi rộng của mình vào những khu vực còn ít đổi mới sáng tạo để đem lại lợi ích cho cả vùng.    Martin Kern, giám đốc EIT (trái) và Ronald de Bruin, giám đốc COST.  Mạng lưới các nhà nghiên cứu, COST và EIT đang cùng nhóm lại để đem lại các khóa tập huấn và các dịch vụ tài trợ, hỗ trợ cho các nhà đổi mới sáng tạo ở Trung và Đông Âu.  Ý tưởng này là để giúp các nhà đổi mới sáng tạo có được sự hỗ trợ thuận lợi của hai tổ chức nghiên cứu đang nhận tài trợ từ chương trình Horizon Europe đề xuất, đem lại hỗ trợ kinh phí cho những ý tưởng về thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ mới.  “Toàn bộ ý tưởng đằng sau biên bản ghi nhớ này là cần cấu trúc lại nhiều hơn và bổ sung một chút thực tế”, Ronald de Bruin, giám đốc của COST nói. “Chúng tôi không dám đưa ra một tuyên bố là mình sẽ giải quyết được một khỏng trống lớn mà chỉ cố gắng đem đến việc tập trung vào công việc nhiều hơn”.  Với EIT, một hợp tác mới là một cơ hội để thúc đẩy nhanh hơn những cam kết cho việc tập trung nhiều hơn vào những nơi còn ít đổi mới sáng tạo ở châu Âu, đem đến cơ hội rèn luyện kỹ năng cho các doanh nghiệp, gia tốc các dự án kinh doanh và tài trợ cho các dịch vụ.  EIT có các mạng lưới ở 18 quốc gia thuộc các vùng còn hiếm hoạt động đổi mới sáng tạo, và hi vọng các nhà đổi mới sáng tạo tiềm năng trong những mạng lưới này sẽ sẵn sàng để kết nối với các dịch vụ COST theo cách đã được cấu trúc lại 1.  COST, vốn đã tài trợ cho hơn 45.000 nhà nghiên cứu đến với mạng lưới này và tạo điều kiện cho họ được trao đổi công việc, đặt hi vọng trở thành nền tảng mạng lưới trong Vùng nghiên cứu châu Âu tương lai (European Research Area) và xây những cây cầu kết nối với những vùng khác của Horizon Europe.  Đề xuất đầu tiên về thương mại là đem đến một con đường cho những người nhận tài trợ của COST để có được cơ hội thuận lợi tham gia tiếp chương trình Jumpstarter EIT, vốn giúp các nhà đổi mới sáng tạo và các doanh nghiệp đưa các ý tưởng thành các mô hình kinh doanh thực tế.  COST chủ yếu tài trợ cho các nhà nghiên cứu nhưng cũng thường dành những khoản tài trợ cho đổi mới sáng tạo  trong thời hạn một năm để những người hưởng tài trợ có thể khám phá ra những tiềm năng đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu của mình. Với sự hỗ trợ thêm này, “họ có vị trí tốt hơn để có cơ hội xin thêm dầu tư mạo hiểm hoặc cơ hội tài trợ khác để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình”, de Bruin nói. Với mối hợp tác mới, COST hi vọng các nhà nghiên cứu có thể nhận được hỗ trợ từ EIT để đem các ý tưởng đó ra ngoài thị trường.  Các kế hoạch tương lai    Chương trình Bước nhảy đầu tiên (The Jumpstarter) sẽ là chương trình đầu tiên của EIT để mở rộng cơ hội cho các nhà nghiên cứu trong mang lưới của COST, nhưng có lẽ không phải là chương trình cuối cùng.  EIT có một số dự án mới trong lộ trình này như hỗ trợ các trường đại học đổi mới và đóng góp thêm cho nỗ lực của Ủy ban châu Âu về kiến trúc xanh trong chương trình Bauhaus châu Âu mới (New European Bauhaus). “Chúng ta cảm thấy có rất nhiều cơ hội có thể tăng cường sự hợp tác này hơn mỗi chương trình hoạt động đơn lẻ”, Martin Kern, giám đốc EIT, nói.  Kern hi vọng là cùng với COST, EIT có thể hỗ trợ các nhà đổi mới sáng tạo ở Ukraine khi xung đột kết thúc và quốc gia này bắt đầu tái thiết.  Ở cấp độ châu Âu, mối hợp tác mới đi kèm nỗ lực của Ủy ban châu Âu với chương trình Horizon Europe. Tuy nhiên đây không phải là thỏa thuận hợp tác đầu tiên của EIT trong vòng vài tháng qua, còn có một số chương trình hợp tác khác với Hội đồng Đổi mới sáng tạo châu Âu, một chương trình hỗ trợ riêng cho đổi mới sáng tạo, chủ yếu ở dạng tài trợ.  “Ý tưởng này đơn giản là đem lại sự bổ sung cho các chương trình cùng hướng về những chủ đề tương tự nhuau để tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo của châu Âu”, Kern nói. “Nếu bạn có các công cụ nhiều như chúng tôi có với con đường của EIC, những nhà đổi mới sáng tạo không thể khởi đầu với những vật liệu siêu thô được”.  Cách này, hỗ trợ tài chính từ một chương trình ở giai đoạn sớm có thể hoàn tất với việc tập huấn ở một cơ sở nào đó và tài trợ ở giai đoạn sau, đưa các ý tưởng đến thị trường.  Những người nhận được hỗ trợ đầu tiên từ Horizon cho biết thu được lợi ích từ việc kết nối hỗ trợ dạng này. Ví dụ, Ligence, một công ty khởi nghiệp về sức khỏe ở Lithuania, đã tham gia chương trình tăng tốc khởi nghiệp của EIT hỗ trợ giai đoạn đầu dành cho các công ty ở Trung, Nam và Đông Âu, gần đây đã có được tài trợ của EIC cho công nghệ phân tích siêu âm tim do AI dẫn hướng. “Có rất nhiều ví dụ cho hiệu quả của dạng hỗ trợ này”, Kern cho biết.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu-innovator-and-researcher-networks-team-boost-support-eastern-and-central-europe  https://ec.europa.eu/info/research-and-innovation_en  ———————————————-  1. https://errin.eu/    Author                .        
__label__tiasang Manh mối mới giải thích tại sao ít phản vật chất trong vũ trụ      Khi tưởng tượng ra một hạt bụi trong đám mây vũ tích, bạn có thể đón lấy ý tưởng về sự nhỏ bé đến vô nghĩa của một neutron so với độ lớn của một phân tử.      Nhưng một hạt bụi có thể ảnh hưởng đến đường đi của một đám mây, một neutron có thể ảnh hưởng đến năng lượng của phân tử của nó bất chấp việc chỉ bằng phần triệu về kích thước. Và hiện tại thì các nhà vật lý trong và ngoài MIT đã đo đạc thành công một ảnh hưởng cực nhỏ của một neutron trong một phân tử phóng xạ.  Nhóm nghiên cứu này đã phát triển một kỹ thuật mới để tạo ra các phân tử phóng xạ có thời gian sống ngắn với số lượng các neutron mà họ có thể kiểm soát một cách chính xác rồi nghiên cứu chúng. Họ đã lựa chọn được một số đồng vị của cùng một phân tử, mỗi đồng vị có số neutron nhiều hơn so với đồng vị tiếp theo. Sau đó, họ đo đạc mức năng lượng của từng phân tử, và có thể dò những thay đổi nhỏ đến mức gần như không thể cảm nhận được của kích thước hạt nhân, tùy thuộc vào ảnh hưởng của một đơn neutron.  Thực tế là việc họ có thể thấy được rất nhiều hiệu ứng hạt nhân nhỏ như vậy cho thấy một vấn đề: hiện các nhà khoa học có thể có cơ hội tìm kiếm nhiều phân tử phóng xạ đem lại những hiệu ứng còn mờ nhạt hơn, ví dụ như vật chất tối gây ra hoặc hiệu ứng của những nguồn mới về các vi phạm đối xứng liên quan đến một vài bí ẩn hiện nay của vũ trụ.  “Nếu các định vật lý là đối xứng như chúng ta vẫn thường nghĩ, sau đó Big Bang phải tạo ra trong vũ trụ lượng vật chất và phản vật chất tương đương nhau. Thực tế là phần lớn những gì chúng ta thấy đều là vật chất, và chỉ có một phần tỉ phản vật chất, điều đó có nghĩa là một sự vi phạm các đối xứng cơ bản bậc nhất của vật lý theo một cách mà chúng ta không thể giải thích nổi nếu dựa trên tất cả những gì chúng ta biết”, Ronald Fernando Garcia Ruiz, một trợ lý giáo sư vật lý ở MIT, nói.  “Giờ chúng ta có một cơ hội để đo đạc các vi phạm đối xứng này bằng việc sử dụng các phân tử phóng xạ nặng, vốn vô cùng nhạy với hiện tượng hạt nhân mà chúng ta không thể thấy ở các phân tử khác trong tự nhiên”, ông nói. “Nó có thể đem lại những câu trả lời về một trong những bí ẩn chính của vũ trụ là vũ trụ này đã được tạo ra như thế nào”.  Ruiz và đồng nghiệp của ông đã xuất bản nghiên cứu của mình trên Physical Review Letters.  Một phi đối xứng đặc biệt    Phần lớn các nguyên tử trong tự nhiên đều chứa một hạt nhân hình cầu phi đối xứng ở trung tâm, các neutron và proton phân bố xung quanh. Nhưng trong các nguyên tố phóng xạ như radium, hạt nhân nguyên tử đều có hình dạng như quả lê khác thường với một phân bố không đồng đều các neutron và proton. Các nhà vật lý đặt giả thuyết là sự biến dạng này có thể làm tăng cường sự vi phạm đối xứng đã tạo ra nguồn gốc của vật chất trong vũ trụ.  “Hạt nhân phóng xạ có thể cho phép chúng ta dễ dàng thấy hiệu ứng vi phạm đối xứng đó”, tác giả thứ nhất của nghiên cứu là Silviu-Marian Udrescu, một học viên Khoa Vật lý MIT, nói. “Điều bất lợi khi áp dụng cách này là chúng không bền và thời gian sống ngắn, vì vậy chúng ta cần những phương pháp tinh tế hơn để tạo ra chúng và dò được chúng thật nhanh”.  Thay vì nỗ lực giữ cho hạt nhân phóng xạ tồn tại, nhóm nghiên cứu đã đặt chúng vào trong một phân tử để khuếch đại hơn độ nhạy với các va chạm đối xứng. Các phân tử phóng xạ gồm ít nhất một nguyên tử phóng xạ, liên kết với một hoặc nhiều nguyên tử khác. Mỗi nguyên tử được bao bọc bằng một đám mây các electron phát sinh ra một điện trường cực cao trong phân tử đó. Các nhà vật lý tin là chúng có thể khuếch đại được các hiệu ứng hạt nhân mờ nhạt như các hiệu ứng vi phạm đối xứng.  Tuy nhiên, bên cạnh các quá trình vật lý thiên văn xác thực như những ngôi sao neutron sáp nhập và các vụ nổ sao, các phân tử phóng xạ được quan tâm này không tồn tại trong tự nhiên và do đó phải được tạo ra một cách nhân tạo. Garcia Ruiz và cộng sự của mình đã tinh chỉnh các kỹ thuật để tạo ra được các phân tử phóng xạ trong phòng thí nghiệm và tìm hiểu một cách cẩn thận những đặc tính của nó. Năm ngoái, họ đã báo cáo một phương pháp tạo ra các phân tử radium monofluoride (RaF), một phân tử phóng xạ chứa một nguyên tử radium không bền và một nguyên tử fluoride.  Trong nghiên cứu mới của mình, họ đã sử dụng các kỹ thuật quen thuộc để tạo ra các đồng vị của RaF, hoặc các phiên bản của phân tử phóng xạ với các số neutron khác nhau. Khi họ làm điều này trong các thực nghiệm trước, họ sử dụng thiết bị phân tích khối phổ đồng vị On-Line, ISOLDE tại CERN ở Geneva, Thụy Sĩ, để tạo ra một lượng nhỏ đồng vị RaF.  Cơ sở nghiên cứu này có một chùm tia proton năng lượng thấp, được nhóm nghiên cứu chiếu thẳng vào một bia – một tấm uranium-carbide, nơi họ cũng đồng thời bắn vào một dòng khí carbon fluoride. Các phản ứng hóa học này đảm bảo góp phần tạo ra một số lượng lớn các phân tử, bao gồm cả RaF, sau đó được họ phân tách bằng một hệ laser, điện từ trường và các bẫy ion một cách chính xác.  Các nhà nghiên cứu đo đạc khối lượng mỗi phân tử để ước tính số lượng các neutron trong hạt nhân radium của một phân tử. Sau đó họ phân loại các phân tử bằng các đồng vị theo số lượng các neutron của chúng.  Cuối cùng, họ đã lựa chọn các nhánh của năm loại đồng vị khác nhau của RaF, mỗi loại mang số lượng neutron nhiều hơn loại kế bên. Với một hệ laser phân tách, họ đo đạc các mức lượng tử của từng phân tử một.  “Hãy tưởng tượng một phân tử dao động như hai quả bóng trên một lò xo, với một mức năng lượng nhất định”, Udrescu, học viên của Phòng thi nghiệm KH hạt nhân ở MIT, giải thích. “Nếu thay đổi số lượng neutron trong mỗi quả bóng, tổng mức năng lượng này có thể bị thay đổi. Nhưng một neutron thì nhỏ hơn một phân tử cả 10 triệu lần, và với độ chính xác hiện hành, chúng tôi không thể chờ đợi là một thay đổi có thể tạo ra một mức khác biệt về năng lượng, nhưng cũng có thể thực hiện được. Và chúng tôi đang có thể trông thấy một cách rõ ràng hiệu ứng này”.  Kết quả cho thấy các phân tử phóng xạ như RaF siêu nhạy với các hiệu ứng hạt nhân và độ nhạy của nó có thể tiết lộ nhiều hiệu ứng còn tinh tế hơn, chưa từng được thấy trước đây như các đặc tính hạt nhân vi phạm đối xứng, có thể giúp giải thích sự phi đối xứng vật chất – phản vật chất trong vũ trụ.  “Các phân tử phóng xạ nặng này hết sức đặc biệt và vô cùng nhạy với hiện tượng hạt nhân mà chúng ta không thấy với các phân tử khác trong tự nhiên”, Udrescu nói. “Nó cho thấy, khi chúng ta bắt đầu tìm kiếm các hiệu ứng vi phạm đối xứng, chúng ta có cơ hội lớn để nhìn thấy chúng trong các phân tử này”.   Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://scitechdaily.com/mit-physicists-find-new-clues-to-why-theres-so-little-antimatter-in-the-universe/  https://phys.org/news/2021-07-clues-antimatter-universe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Maria Orosa: Nhà sáng chế thực phẩm người Philippines      Bà mong muốn giảm thiểu mức độ phụ thuộc của  Philippines vào thực phẩm nhập khẩu thông qua việc sáng tạo ra các cách chế biến mới cho sản phẩm địa phương.     Maria Orosa, là một nhà khoa học thực phẩm người Philippines, người đã đi tiên phong trong các ý tưởng đóng hộp và bảo quản trái cây bản địa, với mong muốn giúp đất nước của mình có khả năng tự cung tự cấp lương thực.  Màu đỏ tươi, hơi ngọt, khá thơm, một loại gia vị phổ biến của Philippine: Đó là tương chuối. Người sáng tạo ra nó, Maria Orosa, là một nhà khoa học thực phẩm người Philippines, người đã đi tiên phong trong các ý tưởng đóng hộp và bảo quản trái cây bản địa, với mong muốn giúp đất nước của mình có khả năng tự cung tự cấp lương thực.  Khi người Mỹ đô hộ Philippines vào năm 1898, họ đã du nhập vào nước này các loại thực phẩm phương Tây, biến tương cà trở thành một loại gia vị phổ biến. Song nhập khẩu tương cà rất tốn kém, và loại thực phẩm này cũng rất khó để tự sản xuất, bởi cà chua lại không phát triển mạnh trong khí hậu nhiệt đới của Philippines.  Vì vậy, Orosa đã nảy ra ý định tạo ra một phiên bản tương cà không… cà chua.  Vào những năm 1930, bà đã sáng tạo ra một loại tương chuối có kết cấu mịn và sệt hơn so với phiên bản cà chua, nên người dùng sẽ khó lắc tương ra khỏi chai hơn một chút. Hỗn hợp – được làm từ chuối saba bản địa, đường, giấm và gia vị, với một chút màu đỏ để trông giống phiên bản nhập khẩu hơn – ngày nay là mặt hàng chủ lực trên kệ của các cửa hàng tạp hóa ở Philippines.  “Tôi có thể khẳng định tương chuối là một yếu tố quan trọng làm nên khẩu vị của người Philippines”, Yana Gilbuena, một đầu bếp sinh ra ở Philippines, hiện đang sống tại Oakland, California, điều hành chuỗi cửa hàng SALO chuyên phục vụ món ăn Philippines tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác, chia sẻ.  “Tôi đã lớn lên cùng với tương chuối, và đinh ninh rằng đó là hương vị nguyên bản của tương cà”, cô viết trong một email. “Chỉ đến khi tôi đặt chân tới Mỹ và nếm thử tương cà, tôi mới biết phiên bản ‘thực’ có vị như thế nào.”  Ngày nay, người dân thường dùng tương chuối kèm với nhiều món ăn, và nó còn được sử dụng như một chất tạo ngọt trong nước xốt thịt nướng và các món hầm. Mọi người thường nói đây là món nhất định phải có khi ăn gà rán tại Max – chuỗi nhà hàng đa quốc gia nổi tiếng chuyên phục vụ món Philippines.  Đây cũng là thành phần chính làm nên “nước xốt cà chua” màu đỏ của món mì Ý ngọt kiểu Philippines, trong đó đầu bếp sử dụng những miếng xúc xích nhỏ thay vì thịt viên – một món ăn phổ biến tại chuỗi cửa hàng ăn nhanh toàn cầu Jollibee’s.  Ra mắt lần đầu tiên vào năm 1942, tương chuối lập tức trở nên phổ biến đến mức Heinz, thương hiệu được mệnh danh là “vua của các loại tương cà chua”, cũng phải tạo ra một phiên bản tương chuối. Heinz đã cho ra mắt sản phẩm này vào năm 2019, họ chia sẻ đây là một cách “để vinh danh Maria Orosa” và nhắn nhủ rằng những người yêu thích tương cà sẽ “bị mê hoặc bởi hương vị đậm đà và thơm ngon của nó, hương vị vượt qua bất kỳ thách thức nào, ngay cả thách thức làm tương cà mà không cần cà chua”.  “Nhà giả kim trong căn bếp”  Maria Ylagan Orosa sinh ngày 29 tháng 11 năm 1893 tại Taal, một thị trấn ven biển ở tỉnh Batangas, Philippines. Bà là con thứ tư của cặp vợ chồng Simplicio Orosa y Agoncillo và Juliana Ylagan. Cha bà, một thương gia, tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Mỹ ác liệt với vai trò là thuyền trưởng của một con tàu hơi nước chuyên chở quân đội Philippines qua lại giữa các hòn đảo của đất nước; còn mẹ bà mở một cửa hàng buôn bán nhỏ.  Năm 1916, khi Orosa 23 tuổi, bà đến Hoa Kỳ nhờ khoản tài trợ của chính phủ và lấy bằng cử nhân và thạc sĩ lĩnh vực hóa học và khoa học dược phẩm tại Đại học Washington ở Seattle. Trong suốt thời gian học, bà vẫn thường cặm cụi trong phòng thí nghiệm thực phẩm tại Khoa Dược của trường để thử nghiệm và kiểm tra các sản phẩm, đảm bảo rằng chúng đáp ứng các tiêu chuẩn của chính phủ. Đó là một cơ hội hiếm đối với một sinh viên, nhất là khi sinh viên ấy không phải là công dân Hoa Kỳ.  “Ở Mỹ, rất khó để có được công việc như công việc mà con đang làm”, bà viết trong một bức thư gửi mẹ mình vào năm 1918. “Họ sẽ ưu tiên người da trắng trước, rồi mới đến những người thuộc các màu da khác như người Philippines, người Nhật. hoặc Trung Quốc”.  Bà kết thúc bức thư của mình với những lời dặn dò: “Mẹ nhớ ăn uống điều độ, Nếu được, mẹ nên ăn các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt, trứng và sữa vào buổi sáng. Mẹ đừng làm việc lao lực, mà hãy ngủ đủ giấc. Mẹ nên ngủ trước 9 giờ tối và thức dậy lúc 7 giờ sáng. Mẹ cần ngủ nhiều.”  Orosa đã làm việc tại các nhà máy sản xuất cá đóng hộp ở Alaska trong suốt mùa hè, nhờ đó bà đã thu được những kỹ năng và kiến thức quan trọng, hữu ích cho sự nghiệp của bà về sau.  Sau khi hoàn thành chương trình học, Orosa được mời làm phụ tá hoá học cho Bang Washington (Phụ tá hoá học là công việc dành cho những chuyên gia mới vào nghề, họ sẽ làm các công việc như phân tích mẫu, ghi dữ liệu, chuẩn bị vật liệu thí nghiệm, dưới sự giám sát của một chuyên gia hoá học giàu kinh nghiệm). Song, thay vì ở lại, bà đã chọn quay trở về Philippines với mong muốn giúp đất nước có thể tự chủ trong sản xuất lương thực thông qua các phương pháp chế biến và bảo quản hiện đại. Bà gia nhập Văn phòng Khoa học của chính phủ và sớm tham gia dẫn dắt các bộ phận kinh tế gia đình và bảo quản thực phẩm của Văn phòng.  Orosa thường được gọi là “nhà giả kim trong căn bếp”. Dưới bàn tay bà, các loại rượu và thạch từ trái cây bản địa, bột từ chuối và sắn, và giấm từ dừa lần lượt ra đời. Bà đã phát triển các phương pháp đóng hộp trái cây địa phương, đặc biệt là xoài đông lạnh, và sáng chế ra chiếc nồi palayok, loại nồi đất phổ biến để nấu ăn ở các vùng nông thôn không có điện. Palayok được làm bằng đất nung, một loại gốm xương xốp, điều này cho phép hơi nước từ quá trình nấu ăn bay hơi ra khỏi các lỗ xốp trong nồi đất.  Trong một bài viết về cuộc đời Orosa trên website Lady Science vào năm 2020, nhà báo Jessica Gingrich đã viết: “Bà ấy đã cung cấp nguồn dinh dưỡng cho một quốc gia thông qua kiến thức hóa học và sự am hiểu về ẩm thực.”  Tương chuối, hiện vẫn là một mặt hàng chủ lực của Philippines. Trước đây, việc nhập khẩu tương cà chua rất tốn kém, và loại thực phẩm này cũng rất khó để tự sản xuất, bởi cà chua lại không phát triển mạnh trong khí hậu nhiệt đới của Philippines. Ảnh: Shutterstock  Khi Nhật Bản xâm lược và chiếm đóng Philippines vào năm 1941, Orosa tham gia vào một đội quân du kích kháng Nhật, bà giữ cấp bậc đại úy. Bà chuyển hướng sang việc sáng chế ra các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng để duy trì sức khoẻ cho quân sĩ.  Có thể kể đến một số sáng chế đáng chú ý nhất của bà như soyalac, một thức uống làm từ hạt đậu nành và darak, bột gạo có thể ăn hoặc nướng thành bánh quy giàu vitamin B-1, rất cần thiết trong việc ngăn ngừa bệnh beriberi (Bệnh beriberi là một bệnh tê phù gây ra do sự thiếu hụt vitamin B1. Bệnh được phân làm hai loại: Tê phù ướt và tê phù khô. Bệnh tê phù ướt có ảnh hưởng đến tim mạch và hệ tuần hoàn. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, tê phù ướt còn dẫn đến suy tim).  “Một thìa cà phê” darak mỗi ngày “có thể giúp hệ tiêu hóa của một người đang đói ngấu mở ra, ruột của anh ta hoạt động bình thường, không bị ép chặt”, Yay Panlilio, một thủ lĩnh du kích và là bạn của Orosa, viết trong một bài báo năm 1975 trên Women’s Journal. “Một lòng bàn tay đầy darak có thể giữ anh ấy đứng vững. Hai lòng bàn tay đầy darak, anh ấy đủ sức chiến đấu”.  Bà thậm chí còn tổ chức một đường dây tuồn những sáng chế mang tính sống còn này cho những người bị giam giữ trong trại Santo Tomas, đây là nơi giam giữ hơn 4.000 thường dân, trong 4 năm.  Trong trận chiến cuối cùng tại Manila, Orosa bị mảnh đạn găm vào chân và được đưa đến Bệnh viện Remedios. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1945, bệnh viện bị càn quét bởi một đợt pháo kích của Mỹ, và Orosa là một trong số hàng trăm người chết. Khi đó, bà 51 tuổi.  Bà đã giúp mọi người “không phải chết đói”, anh họ Apolinario Orosa chia sẻ với đài truyền hình Philippines ABS-CBN vào năm 2020. “Và chính một quả đạn pháo của Mỹ đã giết chết chị ấy. Thật là trớ trêu. “  Pedro Picornell, một tình nguyện viên tại bệnh viện, đã viết trong một cuốn hồi ký rằng không thể chôn các thi thể vì “Người Nhật nã đạn vào bất kỳ ai cố gắng di chuyển trên đường phố”. Sau cùng, những người chết trong đợt pháo kích được chôn trong những ngôi mộ tập thể. Hài cốt của Orosa không bao giờ được tìm thấy. Bà đã để lại rất nhiều di sản, trong đó, tương chuối vẫn là sáng chế phổ biến và được yêu thích nhất.  Claude Tayag, một đầu bếp, nhà văn và nghệ sĩ người Philippines, cho biết tương chuối là “vị cứu tinh của tôi” khi còn là một sinh viên nghèo. Anh thường dùng nó với sandwich khoai lang nghiền hoặc cá rán. Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại, anh chia sẻ rằng việc nó được làm từ chuối “không phải là vấn đề lớn đối với chúng tôi”. “Có luật nào cấm việc làm tương cà chua từ chuối không? Hay hải làm từ cà chua thì mới được?”  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  Overlooked No More: Maria Orosa, Inventor of Banana Ketchup  How Philippine food scientít Maria Orasa saved thousainds of pows during workd war II.     Author                .        
__label__tiasang Marketing Hàng Tiêu Dùng Tại Mỹ có gì hay ?      Cho tới thời điểm hiện tại thì thị trường hàng tiêu dùng tại Mỹ vẫn là thị trường hàng đầu thế giới, với khoảng 297 triệu dân có sức mua mạnh tương đối đồng đều với thu nhập bình quân xấp xỉ 45000 đôla Mỹ một năm1. Do vậy thị trường Mỹ tập hợp muôn vàn các mặt hàng từ khắp các nơi trên thế giới, từ loại cam đỏ nhập từ vùng Sisilia của Ý cho tới táo và nho nhập từ Chi- lê, Ac-hen-ti-na, và đặc biệt là hàng của các hãng của Mỹ sản xuất tại Trung Quốc. Với một thị trường sôi nổi như vậy, có thể nói Marketing tại thị trường Mỹ có nhiều nội dung phong phú và những trường hợp nổi bật mang tính kinh điển.    Người tiêu dùng cũng như sinh viên ngành kinh doanh tại các trường đại học trên nước Mỹ và trên toàn thế giới không thể quên cuộc chiến Marketing giữa hai hãng Coca Cola và Pepsi Cola. Các cuộc nếm thử sản phẩm Coca Cola kiểu mới và CoCa Cola hương vị truyền thống từ những năm 1980 và Pepsi Cola vẫn là đề tài hấp dẫn được bàn luận tại các trường quản lý kinh doanh hàng đầu của nước Mỹ. Trong khi người tiêu dùng khó có thể phân biệt nổi đâu là nước coca mới hay cũ của chính Coca Cola cũng như chẳng thể nào xác định được đâu là Pepsi hay Cola, họ vẫn giữ một mức độ trung thành đáng nể với từng hãng. Các cuộc biểu tình rầm rộ trong năm 19852 phản đối việc Coca Cola thay đổi sang một hương vị mới rốt cục khiến hãng này phải giữ nguyên hương vị cũ bên cạnh vị Coca Cola mới để hấp dẫn những người tiêu dùng muốn có xu hướng thích chọn thử những thứ mới lạ .  Hiện tượng trên nêu bật thông điệp về sức mạnh của Marketing hàng tiêu dùng tại Mỹ, khi người ta sử dụng những biện pháp và kỹ thuật tối tân nhất để theo dõi từng khách hàng, biết rõ từ nơi ở, công sở làm việc, giờ xem ti vi, chương trình ti vi ưa thích, giờ đi ngủ, màu sắc ưa thích của từng khách hàng, trang web mà họ thích xem, vv… Các hãng AC Nelsien, Simmons là các hãng nghiên cứu thị trường hàng đầu của Mỹ, kết hợp chặt chẽ với các hãng bán lẻ, cũng như các nhà sản xuất, hiện đang cố găng đưa vào áp dụng RFID (Radio Frequency Identity, xác định mã hàng bằng tần số radio) để theo dõi từng sản phẩm một xem số phận của từng sản phẩm sẽ chu du và kết thúc ra sao trong suốt chặng đường từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.  Chuyên ngành dọc Marketing ở Mỹ hiện nay chia làm Marketing và Brand Magement (quản lý thương hiệu), với Brand Management nổi lên thành một ngành riêng, rất nhiều người muốn theo đuổi và biến thành sự nghiệp của mình. Sức mạnh của thương hiệu giờ đây đã trở thành thế mạnh chính và tài sản quan trọng nhất của các công ty Mỹ khi công đoạn sản xuất hoàn toàn nằm tại các nước thế giới thứ ba như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, vv… Những hãng sản phẩm tiêu dùng hàng đầu như P&G cùng một lúc quản lý hàng chục cho tới hàng trăm thương hiệu. Thời gian đầu những năm 2000, Unilever cùng một lúc có tới 408 thương hiệu sản phẩm khác  nhau và đã tiến hành một chiến dịch thu hẹp bớt các thương hiệu xuống còn khoảng hơn 1003 thương hiệu để công việc điều hành quản lý được hiệu quả và tiết kiệm chi phí.  Trong quản lý thương hiệu, môt thách thức lớn đối với các hãng là hoạt động cải tiến và đưa các sản phẩm mới ra thị trường. Với tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hãng ngày càng bám sát người tiêu dùng và thậm chí đưa ra những sản phẩm phục vụ những nhu cầu mà chính bản thân người tiêu dùng còn chưa hoàn toàn ý thức được hết. Theo số liệu của P&G, hàng năm có tới 99% các mặt hàng tiêu dùng cải tiến và đổi mới bị thất bại, con số rất ít 1% còn lại thu được thắng lợi trên thị trường nhờ có những bước tiến mang tính đột phá, đáp ứng những nhu cầu hết sức thiết thực chưa được thỏa mãn của người tiêu dùng.  Minh họa cho hoạt động marketing theo sát người tiêu dùng và phục vụ  những nhu cầu chưa được đáp ứng,  xin giới thiệu với độc giả hai ví dụ tiêu biểu về marketing hàng tiêu dùng thuộc trong số 1% ít ỏi các trường hợp thành công ở Mỹ trong vài năm vừa qua.  Trường hợp thứ nhất là mặt hàng bột bánh quy trộn sẵn của Neslé. Vốn là một hãng bánh kẹo thực phẩm công nghệ của Châu Âu, Neslé tại Mỹ trở thành một trong những chi nhánh làm ăn phát triển nhất của hãng. Cuối năm 2001, từ nghiên cứu thị trường đúng hướng, hãng đã tung ra một mặt hàng mới là bột bánh quy làm sẵn, dựa trên cơ sở các gia đinh ở Mỹ, đặc biệt là các nữ sinh trung học, rất thích làm bánh để tặng bạn bè và người thân nhân dịp năm mới, nhưng không phải ai cũng biết trộn bột cho đúng tỷ lệ. Loại bột trộn sẵn để làm bánh gatô đã tồn tại trên thị trường từ khá lâu, xong cho tới gần đây Neslé mới đưa ra loại bột trộn và cắt sẵn thành từng miếng, các vị đầu bếp chỉ việc xếp vào khay, cho vào lò, và tích tắc, 20 phút sau đã có bánh quy thơm phức để tặng bạn bè và biếu thầy cô giáo nhân dịp lễ Noel.  Cũng cùng thời điểm, hãng bánh kẹo nổi tiếng khác của Mỹ là Pillsbury cũng đưa ra sản phẩm tương tự, nhưng Neslé tập trung vào bánh quy có socola, còn Pillsbury đưa ra bánh quy rắc đường nhiều màu. Kết quả là cả hai cùng tăng được thị phần mà không lấn vào thị phần của các loại bánh kẹo  làm sẵn khác của hãng.  Trường hợp thứ hai là mặt hàng túi đựng rác với thương hiệu Ultraforce (tăng cường sức mạnh) của Hãng Clorox, một hãng hàng tiêu dùng chuyên về các sản phẩm hộp đựng thức ăn, túi dựng thức ăn, các loại giấy và thuốc tẩy trùng, sản phẩm cọ bồn cầu và túi đựng rác v.v… Xét về giá trị thị trường, doanh số bán hàng thường niên của công ty Clorox trị giá khoảng 4 tỷ đôla Mỹ4, chỉ bằng chưa tới 1 phần 10 của P&G (51.4 tỷ đôla)5 nhưng là hãng hàng đầu về những mặt hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu bảo đảm vệ sinh trong đời sống hàng ngày nói trên.  Đầu năm 2002, hãng muốn tăng thị phần từ mức 30% lên cao hơn nữa nhưng chưa có biện pháp nào hiệu quả. Lúc đó các nhà marketing đưa ra một ý kiến mới, đó là các loại túi đựng rác hiện có trên thị trường không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, thường bị bục vỡ nếu các vật nhọn sắc hoặc nặng được bỏ vào. Ngay lập tức, Clorox tiến hành triển khai phát triển một loại túi đựng rác mới, cũng làm bằng ni-lông nhưng sử dụng một công nghệ tăng cường độ bền mà hãng có bản quyền, trước đây đã sử dụng cho các loại tã giấy. Công nghệ này đưa vào sản phẩm các sợi nilông đan chéo nhau, khiến cho túi nylông không bị bục nếu người tiêu dùng vứt vào đó một chai rượu vỡ, hay một hộp đựng bánh pizza có góc nhọn. Ý tưởng được triển khai sản xuất và đưa ra thử nghiệm trên thị trường thông qua các nhóm nghiên cứu tập trung, gửi thử sản phẩm tới người tiêu dùng theo đường bưu điện, tập hợp ý kiến phản hồi của người tiêu dùng. Mọi hoạt động diễn ra hết sức nhanh chóng; trong vòng 6 tháng sản phẩm đã được tung ra thị trường, bán với giá cao hơn loại túi đựng rác thông thường của chính bản hãng, nhưng thu hút được người tiêu dùng và tăng thị phần của công ty lên 48%6.           Một mẫu quảng cáo sản phẩm của Nestlé        Cùng thời điểm, một hãng khác là đối thủ cạnh tranh cùng các mặt hàng tương tự Hefty, cũng tung ra sản phẩm có hình thức tương tự, xong không có công nghệ tăng đan chéo sợi ny lông để tăng cường độ bền hàng đầu như Clorox, nên đã mất 18% thị phần vào tay Clorox một cách nhanh chóng.  Cuộc chiến không ngừng nghỉ của các hãng sản phẩm tiêu dùng của Mỹ nhằm chiếm chỗ trong trái tim và túi tiền của người tiêu dùng là cuộc chiến dựa trên bề dày nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, sử dụng khoa học tâm lý và công nghệ thông tin hiện đại, phân tích chi tiết dữ liệu sự kiện, và đặc biệt tập trung vào tính sáng tạo và tính mới của sản phẩm. Hy vọng cùng với thời gian và sự học hỏi nhanh chóng, các nhà sản xuất Việt Nam có thể đạt được thành công tương tự trong một thế giới hội nhập với tốc độ ngày càng nhanh mà chúng ta đang chứng kiến.    Theo số liệu của Cục Điều Tra Dân Số Mỹ, www.census.com  2 www2.cocacola.com/heritage và các phim chiếu tại chương trình Marketing,  MBA Program, USC.  3 www.unilever.com  4 www.clorox.com  5 www.hoovers.com  6 Theo bài trình bày giới thiệu của đại diện Marketing hãng Clorox tại USC, Marshall School of Business, 2005  Thanh Phương    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Marketing trong tuyển dụng nhân sự- Chính sách thu hút nhân tài của các công ty và nhà tuyển dụng ở      Từ khi xã hội hình thành người thuê nhân công và lao động đã có mối quan hệ giữa người lao động và người tuyển dụng lao động. Nhưng chỉ khi lao động, đặc biệt là chất xám, trở thành tài sản giá trị quyết định thắng lợi của các công ty trên thương trường, các nhà tuyển dụng lao động mới thật sự chú trọng vào việc thu hút những nhân tài phù hợp nhất cho hoạt động kinh doanh của mình. Từ đó hình thành một loạt những hoạt động của các công ty như tham gia các hội chợ việc làm, tham gia trình bày diễn thuyết tại các trường học, tài trợ các cuộc hội thảo chuyên đề, cấp học bổng cho các trường đào tạo chuyên ngành, tổ chức các chương trình thực tập mùa hè… Tất cả những hoạt động này chính là marketing trong tuyển dụng nhân sự, một phần trong việc thực hiện chính sách tuyển dụng nhân tài của các công ty và nhà tuyển dụng trên thế giới.    Khái niệm “employment branding”, tạm chuyển dịch là “marketing trong tuyển dụng nhân sự” là một khái niệm khá mới trong ngành quản trị nhân sự trên thế giới. Marketing trong tuyển dụng nhân sự mới chỉ được công nhận là một ngành riêng biệt từ giữa thập kỷ 90 thế kỷ trước. Khái niệm này khởi nguồn từ các nước Châu Âu vì đây là khu vực sớm phát sinh những vấn đề về thiếu hụt nguồn lao động và nhân tài, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ các công ty trong ngành công nghệ thông tin và công nghệ trực tuyến. Trong vòng 10 năm qua, marketing trong tuyển dụng nhân sự đã thực sự phát triển và trở thành một mảng hoạt động chiếm phần quan trọng đáng kể trong toàn bộ quy trình kinh doanh phát triển của các công ty, đặc biệt là ở Mỹ, nơi đóng trụ sở của những tập đoàn lớn nhất thế giới trong mọi lĩnh vực từ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ thông tin, công nghệ y tế, công nghệ giải trí, dịch vụ,  tư vấn…                     Với quy mô hoạt động trên toàn cầu và thường tuyển dụng hàng chục ngàn cho tới hàng trăm ngàn nhân công ngay trong nước Mỹ, mỗi hãng như P&G, IBM, Cisco Systems, Bank of America, Google… chi tiêu hàng trăm ngàn đôla hàng năm cho hoạt động marketing tuyển dụng nhân sự. Số tiền đầu tư đó đem lại lợi ích thiết thực cho công ty trên rất nhiều phương diện. Đồng thời với việc quảng bá và duy trì danh tiếng thương hiệu, hỗ trợ cho hoạt động bán hàng của công ty, các công ty tiết kiệm được rất nhiều thời gian cho việc thu hút và tìm kiếm nhân lực. Nhờ xây dựng được hình ảnh tốt về công ty trong con mắt các ứng cử viên viên đang tìm kiếm việc làm, các hãng này bao giờ cũng có sẵn rất nhiều các ứng cử viên từ các trường học ưu tú nhất nộp đơn vào và họ có thể tùy thuộc công việc mà chọn lựa những người tài năng nhất trong thời gian ngắn nhất có thể.  Tùy thuộc mô hình kinh doanh, các hãng có thể tập trung vào đối tượng cử nhân tin học cho bộ phận lập trình (IBM, Microsoft) hay thạc sỹ quản trị kinh doanh (các công ty tư vấn quản trị kinh doanh như Boston Consulting Group, McKenzy, Deloitte Touche…). Mỗi một hãng cũng xây dựng một thông điệp marketing riêng gửi đến các ứng viên tiềm năng.  Ví dụ, SAS, nhà sản xuất phần mềm phân tích nghiên cứu thị trường lớn hàng đầu của Mỹ, mô tả một môi trường làm việc ổn định, lâu bền, có nhiều tiện ích thuận tiện cho sinh hoạt hàng ngày như nhà trẻ và trường học riêng cho con cái của các lập trình viên, khu tập luyện thể thao… Trong khi đó, cũng trong môi trường lập trình, Microsoft thu hút các kỹ sư trẻ bằng hình ảnh một môi trường làm việc sôi nổi, đầy nhiệt huyết, cạnh tranh và nhiều triển vọng cho thăng tiến và phát minh ra cái mới.  Hai hãng chuyển phát nhanh là UPS và Fedex cũng thu hút nhân tài với những hình ảnh rất khác nhau về môi trường làm việc.  Ông John Saunders, Phó giám đốc Nhân sự của UPS, phát biểu tại lớp “Tạo lợi thế cạnh tranh từ Nhân sự” thuộc Khoa Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh, Đại học Nam California, cho biết mặc dù hãng tuyển nhiều lao động tay chân cho các công việc vận tải và lưu chuyển hàng hóa, UPS cung cấp rất nhiều các lợi ích phụ trợ cho nhân viên của mình như đào tạo, bảo hiểm sức khỏe, quỹ lương hưu, quỹ đài thọ học phí một phần cho nhân viên nếu họ đi học trong thời gian làm việc cho công ty… Chính thân thế và sự nghiệp của ông John Saunders là một thông điệp marketing sống động cho UPS. Ông xuất thân từ nghề lái xe tải, bắt đầu làm việc cho UPS cách đây 17 năm, sau năm đầu tiên đã được chọn làm quản lý đội xe tải, và dần dần lên tới chức Phó Giám đốc phụ trách nhân sự cho toàn bộ công ty UPS với hơn 400 ngàn nhân viên trên toàn thế giới và doanh thu hàng năm là 46 tỷ đôla Mỹ. Với sức mạnh của mô hình quản trị nhân sự này, nhân viên UPS làm việc rất hiệu quả và nỗ lực, nên UPS chiếm thị phần lớn nhất trong ngành chuyển phát nhanh trên thế giới.  Trong khi đó, Fedex, mặc dù rất có tiếng trên toàn thế giới, lại hoạt động theo phương thức ký hợp đồng với đội ngũ nhân viên chuyển phát, biến mỗi một người thành một nhà doanh nghiệp. Đội ngũ này hoạt động với phương tiện vận tải của chính họ, do họ thuê hoặc mua, lỗ lãi tự từng người hạch toán. Nhân viên Fedex không có sự ổn định công việc và động lực thăng tiến như UPS, nhưng họ lại có tính linh hoạt và tinh thần tự chủ của một người quản lý việc kinh doanh của chính mình. Hoạt động của Fedex vẫn có lãi và giá trị thị trường của công ty đang tăng lên, chứng tỏ mô hình lao động của Fedex phù hợp với mức thị phần chi bằng 1/5 của UPS mà công ty này đang nắm giữ, khác với khả năng tận dụng tính kinh tế của quy mô mà UPS có được với thị phần lớn gấp 5 lần Fedex.  Có thể nói với sự hỗ trợ của các công cụ marketing như trang web, catalogue về công ty, cũng như sự hiện diện của các cán bộ tuyển dụng tại các hội chợ việc làm, các buổi thuyết trình và các đại diện trong ban quản lý cấp cao nhất tại chính các trường đại học nơi những nhân tài đang được bồi dưỡng và rèn luyện, các công ty trên thế giới nói chung và đặc biệt các tập đoàn lớn của Mỹ luôn tích cực chủ động tìm kiếm nguồn nhân lực phù hợp vói chính sách kinh doanh và thị trường của mình.  Vậy các nhà tuyển dụng khác thì sao? Với khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ và tích cực chủ động như vậy trong thu hút nhân tài, khu vực nhà nước với các tổ chức khác nhau từ cấp chính quyển trung ương như Cục Điều tra Liên bang FBI, hay Cơ quan Phản gián Trung ương CIA, cho tới cấp chính quyền thành phố như Phòng cảnh sát hình sự thành phố Los Angeles, Phòng Thương mại thành phố Houston… cũng không kém phần tích cực trong việc truyền bá thông điệp marketing của mình tới các ứng cử viên. Họ cũng có mặt tại các hội chợ việc làm, trình bày và diễn thuyết về môi trường làm việc và nhiệt huyết xây dựng một cơ quan nhà nước làm việc  nghiêm chỉnh và hiệu quả tại các trường học, thiết kế những tài liệu phổ biến thông tin và trang web hấp dẫn về hình ảnh người công chức nhà nước bền bỉ và ổn định, hay người cảnh sát nghiêm trang oai vệ…  Phải chăng với marketing trong tuyển dụng nhân sự là bề nổi của chính sách thu hút và sử dụng nhân tài ở các công ty cũng như cơ quan nhà nước, các tổ chức đó đang thực sự tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhờ nguồn nhân lực mà họ thu hút được không chỉ từ trong chính nước Mỹ mà còn từ nhiều quốc gia khác trên thế giới? Khi nào các nhà tuyển dụng nhà nước và tư nhân Việt Nam sẽ đi tới giai đoạn cạnh tranh với nhau để thu hút nhân tài tới mức marketing tuyển dụng nhân sự trở thành một ngành hoạt động riêng ở Việt Nam? Hy vọng các độc giả Tia Sáng có nhiều đáp án lạc quan cho câu hỏi này.  Thanh Phương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mát cắt cỏ ba trong một của Tư Xự      Khoảng bảy năm trở lại đây, bà con nông dân ở  khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã sử dụng rất nhiều loại máy móc do  ông Nguyễn Văn Xự (Tư Xự, ngụ xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang)  tự chế.    Theo lời kể của ông Tư Xự, ông phải mất tới một năm rưỡi mày mò nghiên cứu mới làm ra được máy chuyên xới đất và đào mương đất rẫy này. “Thường để đào mương cho một công đất thì phải cần đến sáu lao động và làm liên tục trong ngày với tổng số tiền thuê lên đến 900.000 đồng. Trong khi đó, nếu sử dụng máy của tôi thì nông dân chỉ tốn 300.000 đồng” – ông Tư Xự khoe.   Để có được chiếc máy này, ông đã phải lặn lội lên quận Thủ Đức, TP HCM tìm mua sườn máy xới loại nhỏ, nhông, hộp số… Sau đó, ông đến nhờ thợ rèn trong xóm đúc cho bộ răng mới theo ý mình rồi lắp đặt động cơ có công suất 6,5 mã lực vào và cho chạy thử. ông lắp đặt thành công hai bộ răng máy xới để phục vụ cho việc xới đất và đào mương đất rẫy hoặc đánh rãnh đất lúa. Chưa bằng lòng với sản phẩm này, ông đã tiếp tục chỉnh sửa thêm nhằm lắp đặt thêm bộ phận vun liếp.  Với chiếc máy mới “ba trong một” ra đời, ông Tư Xự đã giúp cho nhiều nông dân tiết kiệm được thời gian và tiền bạc so với việc thuê mướn nhân công. Bà con tín nhiệm, đến đặt hàng ông nhiều đến nỗi, máy làm ra không đủ để giao.    Từ đầu năm đến nay, nông dân vùng Đồng Tháp Mười đã mua hơn 200 chiếc máy của ông. Một cán bộ của UBND tỉnh Đồng Tháp nói rằng máy xới đất của ông Tư Xự cho năng suất cao, bền, dễ sử dụng. Lãnh đạo tỉnh rất mê nên mua về tặng cho mỗi hội làm vườn một chiếc…”   Ông cũng đã mày mò làm ra máy cắt cỏ “hai trong một”, vừa cắt cỏ vừa tưới nước, giá dưới hai triệu đồng/chiếc, chỉ bằng một nửa giá máy cắt cỏ thông thường. Chỉ cần một người đứng ở đầu mương nắm dây kéo là máy tự phun nước. Tưới xong liếp rau này thì nhấc nó lên đưa qua mương khác, tiếp tục kéo dây…” – ông Tư Xự mô tả.   Nông dân khắp nơi  thích máy cắt cỏ “hai trong một” và máy xới đất “ba trong một” tự chế của ông Tư Xự. Hiện nay, cơ quan chức năng đang giúp ông đăng ký sáng chế để tránh hiện tượng máy của ông bị nhiều cơ sở “ăn theo”, làm giả tràn lan trên thị trường.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mật mã sáng tạo      Khi nghe ông Lý Ngọc Minh giới thiệu sản phẩm bộ nồi nấu ăn dưỡng sinh bằng sứ, hay ông Nguyễn Thanh Mỹ “khoe” dòng phân bón thông minh tự hoà tan theo nhu cầu của cây trồng trong một thời gian dài, thì bất giác nhớ lại câu hỏi mà Simon Sinek – tác giả sách “Bắt đầu với câu hỏi tại sao” đưa ra ở lần nói chuyện trên TED: “Tại sao Apple lại quá sáng tạo? Năm này qua năm khác, họ sáng tạo nhiều hơn tất cả những đối thủ của mình. Và vâng, họ chỉ là một công ty máy tính. Họ cũng chỉ như những người khác. Họ cũng cùng khả năng tiếp cận với cùng những tài năng, cùng các nhà môi giới, cùng các cố vấn và cùng phương tiện truyền thông. Vậy tại sao họ có vẻ như có gì đó khác?”.         Chọn dấn thân  Nếu người sáng lập thương hiệu mỹ phẩm nổi đình nổi đám khắp thế giới l’occitane xây dựng câu chuyện truyền thông dựa trên hành trình đi khắp thế giới để tìm kiếm mùi hương của mình, thì ông Lý Ngọc Minh cũng có thể được xem là người đi khắp thế gian để tìm kiếm nguyên vật liệu cho gốm sứ. Không chỉ tìm kiếm nguồn đất sét tốt nhất, nguồn cao lanh mịn màng nhất, ông Minh còn khai quật những cách thức người xưa lẫn người nay tạo màu cho sản phẩm, sử dụng loại vàng gì, bạc gì để ốp lên gốm sứ cũng như các kỹ thuật tạo hình, kỹ thuật nung khác nhau.  Đi miệt mài, học hỏi và tham quan chính quy cũng có, xem “cọp” cách người ta làm cũng có, ông ghi đầy sổ tay những cảm nhận qua mỗi cuộc hành trình. Chỗ nào có cái hay thì học ngay. Chỗ nào thấy cái chưa hay cũng phải ghi lại. Về nhà, ông miệt mài trong xưởng, thử nghiệm hỏng, làm lại. Lại hỏng, thì làm tiếp, chừng nào được mới thôi.  Tới giờ, hỏi máy móc của Minh Long I là của nước nào, ai cũng lắc đầu, vì nó tập hợp nhiều thứ lắm. Nguyên cái nhà máy, chưa bao giờ trong tình trạng hoàn thành, vì lúc nào ông Minh cũng thấy chưa được, phải tiếp tục sáng tạo, phải tiếp tục cải tiến. Cái máy này là của Đức, nhưng công nghệ phải là của Nhật, thêm phần điều chế này là ông tự thử nghiệm ra… Sở hữu một nhà sáng tạo bên trong doanh nghiệp, đó chính là lý do Minh Long I yên tâm giong buồm ra biển lớn cạnh tranh với các công ty trên toàn thế giới.  “Mọi chuyện ngồi nghĩ thì dễ, tới lúc làm mới biết cái gì cũng có lúc vô cùng khó. Quan trọng là phải làm cho bằng đuợc, phải làm, phải làm…” – ông Minh nói.  Ở một vùng đất nghèo hơn, ông “chủ cũ” của Mỹ Lan Group – giờ là nhà sáng lập công ty nông nghiệp thông minh Rynan cũng tin vào điều tương tự. Ông Nguyễn Thanh Mỹ đưa ra bốn chữ làm cần nhớ trong khởi nghiệp: làm đúng lại cái đang bị làm sai; làm tốt hơn cái đang tốt; làm có cái chưa có; và xa hơn là làm một dấu ấn tốt để lại cho cuộc sống.  Và chọn làm người cung cấp giải pháp  “Cẩn tắc vô ưu” – một thành ngữ phổ biến của Việt Nam đã được giáo sư Mỹ là Philip C. Zerrillo và Paolo Castadi dùng làm lời mở đầu trong tiểu luận về Minh Long I khi được trường đại học SMU của Singapore đặt hàng thực hiện nghiên cứu này.      Định nghĩa rõ ràng công chuyện của mình đã là một tiền đề cho sự thành công. Đừng bao giờ làm mọi chuyện rối rắm, phức tạp tới lúc không biết rõ mình đang làm cái gì là không được. Ông Lý Ngọc Minh      Đó hình như cũng là một nguyên tắc vàng được ông Lý Ngọc Minh áp dụng xuyên suốt trong mấy mươi năm làm việc của mình: làm gì cũng nghĩ hai lần, kiểm tra hai lần và suy nghĩ nhiều lần.  “Tôi quan điểm mọi thứ phải đơn giản. Do đó, nguyên tắc đầu tiên là phải làm thế nào để tìm kiếm một con đường xây dựng sự nghiệp thật đơn giản và hiệu quả. Giống như tôi, ai hỏi làm cái gì, tôi bảo tôi sản xuất đồ gốm sứ, và làm đồ gốm sứ tốt nhất. Tôi cũng biết nhiều người thành đạt trên cả thế giới này, họ cũng làm mọi thứ đơn giản lắm: người thì làm cà phê ngon nhất, người thì nấu món ăn đặc sắc nhất, người thì chuyên tâm làm người dẫn chương trình truyền hình thu hút nhất. Chỉ cần như vậy, định nghĩa rõ ràng công chuyện của mình đã là một tiền đề cho sự thành công. Đừng bao giờ làm mọi chuyện rối rắm, phức tạp tới lúc không biết rõ mình đang làm cái gì là không được”.    Ông Nguyễn Thanh Mỹ.  Nhiều người hay gọi ông Minh và ông Mỹ là nhà sáng chế, người viết lại thấy họ gần hơn với định nghĩa người tạo ra giải pháp cho các vấn đề cuộc sống một cách sáng tạo nhất. Nó giống như tuyên bố bất hủ mà Steve Jobs đưa ra sau 12 năm quay lại điều hành Apple: “Việc chữa trị cho Apple không phải là cắt giảm chi phí; Chữa bệnh cho Apple là đổi mới cách thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện tại của nó”.  Ông Mỹ lụi cụi đi khắp nơi tìm giải pháp cho nông nghiệp thông minh, mặc dù vẫn biết “làm gì có giải pháp đúng y chang chuyện của nhà mình trên thế giới”. Nhưng tìm ra cái lý do để làm, tìm ra tình yêu với “vấn đề nông nghiệp”, thì sẽ có lúc tìm được giải pháp cho vấn đề mà mình đã yêu. Những lần ngồi cùng ông Mỹ trên sân khấu các cuộc tọa đàm bàn tròn, trong bữa cơm vội hay chỉ là những trao đổi rất ngắn qua điện thoại, lúc nào cũng thấy ông tràn đầy năng lượng, đam mê cho những điều nhỏ nhất mà mình đang làm. Dù là xếp những chiếc khăn sạch bên cạnh bồn rửa tay ở công ty mình, để ai cũng có thể vừa lau khô tay vừa lau khô bồn rửa sau khi dùng xong. Vậy là giải quyết được chuyện ý thức cộng đồng của mọi người một cách trực quan, gần gũi và đơn giản nhất. Hay là tính toán về việc phân bón thông minh sẽ giúp giảm tải hiệu ứng nhà kính như thế nào thông qua việc không thải thêm các khí “nóng” ra ngoài nhờ quá trình tan chậm, đều là những giải pháp mà chỉ có người làm bằng tất cả trái tim mới nghĩ ra được.  “Làm điều mình yêu. Đam mê là tất cả. Đổi mới sáng tạo không thể diễn ra nếu thiếu đam mê. Tôi không mê sản xuất máy tính, tôi mê chế tạo ra các công cụ đẹp, đơn giản để phục vụ con người tốt hơn, tình cờ nó là máy tính, điện thoại hay gì đi nữa” – Steve Jobs nói vậy.  Và mật mã của sáng tạo, chính là tìm ra câu trả lời của câu hỏi: “Điều gì làm tim ta vui đến cất tiếng hát”.          Author                Trần Nguyên        
__label__tiasang Mặt sau của thành công từ SAEMAUL UNDONG      Phong trào làng mới (Saemaul Undong) trong thập niên 1970 đã mang lại những thành công không thể phủ nhận trong cải thiện đời sống đa số nông dân Hàn Quốc. Tuy nhiên, đâu là những mặt hạn chế cần tránh của chương trình này nếu được cân nhắc áp dụng ở các nước đang phát triển khác?      Điều đáng lưu ý đầu tiên là thành công của Saemaul Undong có mối liên quan mật thiết đến bối cảnh Hàn Quốc hồi trước và đầu thập kỷ 1970. Khi hoàn cảnh này thay đổi thì ảnh hưởng của phong trào cũng giảm đáng kể. Cuối thập kỷ 1970, sau khi thành công trong việc đạt được những mục tiêu đề ra, Saemaul Undong đã bị chững lại do không kịp điều chỉnh, thích nghi theo yêu cầu của tình hình mới. Thành công của Saemaul Undong đòi hỏi cao ở tính tự giác và trách nhiệm với cộng đồng, nhờ vực dậy những phẩm chất này mà phong trào giúp người nông dân hợp tác với nhau cùng thoát khỏi đói nghèo. Tuy nhiên, sau khi đã sung túc họ lại thường rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không còn thấy tiếp tục phải nương tựa vào cộng đồng. Hơn nữa, hoạt động nông nghiệp trong bối cảnh mới ở Hàn Quốc đòi hỏi tiến bộ khoa học kỹ thuật hơn là tăng cường hợp tác hóa.       Về công tác điều hành của Chính phủ Hàn Quốc, phong trào không tránh khỏi nhuốm màu sắc chính trị hóa, phục vụ cho mục tiêu tuyên truyền với việc các địa phương ở gần đường cao tốc nhận được nguồn lực lớn hơn, trong khi các địa phương ở xa (ít hiện diện hơn) thường nhận được hỗ trợ thấp hơn. Mô hình điều hành chương trình cũng bị phê phán do thiên về tính chỉ đạo từ trên xuống, thậm chí một số ý kiến cho rằng nó chỉ khả thi với sự điều hành quyết liệt (nhiều khi mang tính ép buộc) từ Park Chung Hee trong việc ra quyết định huy động, điều phối các nguồn lực của chính phủ, và sẽ khó đạt được thành công tương tự nếu áp dụng với các mô hình lãnh đạo nhà nước mang tính dân chủ hơn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng bài học rút ra từ thành công của Saemaul Undong không phải là sự cổ súy cho chủ nghĩa độc tài, mà đơn thuần cho thấy tầm quan trọng của cam kết và nỗ lực từ phía nhà nước.  Gánh nặng nợ nần cho nông dân cũng là vấn đề thường được nhắc tới. Nếu như giai đoạn đầu của phong trào, người nông dân phải góp vốn lao động tình nguyện (tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng của địa phương), thì sau đó họ phải góp tiền, cùng mua thiết bị máy móc mà nếu không có thì phải vay mượn. Từ năm 1969 tới 1979, thu nhập bình quân năm của hộ gia đình tăng gấp 9-10 lần, nhưng nợ bình quân mỗi hộ cũng tăng tới 13 lần, tới năm 1979 tỷ lệ nợ trên thu nhập bình quân xấp xỉ 8%, tăng 2% so với 1969.   Về xóa đói giảm nghèo, Saemaul Undong đã giúp cải thiện đời sống vật chất của đại đa số nông dân Hàn Quốc, nhưng lại thất bại trong việc trợ giúp nhóm các hộ nghèo nhất, và không đưa ra được giải pháp giúp họ tránh trở nên tụt hậu hơn.   Saemaul Undong không phải là giải pháp thần kỳ giúp Hàn Quốc chống tình trạng di cư về thành thị. Bằng chứng là dân cư nông thôn tiếp tục giảm trong và sau Saemaul Undong, khiến các làng mạc chỉ còn đa số là người già và trẻ em. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Saemaul Undong chưa bao giờ nhằm thay thế cho chủ trương công nghiệp hóa đất nước, mà chỉ có ý nghĩa giảm nhẹ phần nào tác động từ công nghiệp hóa.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặt trời nhân tạo của Hàn Quốc lập kỷ lục thế giới mới về vận hành dài 20 giây tại 100 triệu độ      Nghiên cứu tiên tiến Tokamak siêu dẫn Hàn Quốc (KSTAR), một thiết bị nhiệt hạch siêu dẫn còn được gọi là mặt trời nhân tạo Hàn Quốc, đã lập một kỷ lục thế giới mới về việc giữ mức plasma nhiệt độ cao trong vòng 20 giây với một nhiệt độ ion ở mức 100 triệu độ C (Celsius).    Vào ngày 24/11, Trung tâm nghiên cứu KSTAR tại Viện nghiên cứu Năng lượng nhiệt hạch Hàn Quốc (KFE) loan báo rằng mọt nghiên cứu hợp tác với trường đại học quốc gia Seoul (SNU) và trường đại học Columbia của Mĩ đã thành công trong việc vận hành liên tục plasma trong 20 giây với một mức nhiệt độ ion cao hơn 100 triệu độ, vốn là một trong những điều kiện cốt lõi của nhiệt hạch hạt nhân trong  KSTAR Plasma Campaign 2020.    So với KSTAR Plasma Campaign 2019, đây là một thành công ở mức gấp đôi (năm 2019, họ chỉ vận hành vẻn vẹn trong tám giây), còn trong năm 2018, khi KSTAR lần đầu đạt tới mức 100 triệu độ (thời gian là 1,5 giây).  Để tái tạo các phản ứng nhiệt hạch xuất hiện ở trong mặt trời từ trái đất, các đồng vị phóng xạ hydro phải được đặt bên trong một thiết bị nhiệt hạch như KSTAR để tạo ra một trạng thái plasma, nơi các ion và electron được phân tách, và các ion phải được đốt nóng và tồn tại ở các mức nhiệt rất cao.  Cho đến nay, có những thiết bị nhiệt hạch đã đạt được trạng thái plasma tại mức nhiệt độ 100 triệu độ hoặc cao hơn. Không thiết bị nào trong đó vượt qua được mốc vận hành trong vòng hơn 10 giây hoặc lâu hơn. Đó là giới hạn vận hành của thiết bị siêu dẫn thông thường và thật khó để giữ được trạng thái plasma bền trong thiết bị nhiệt hạch ở mức nhiệt độ cao trong thời gian dài.  Trong thực nghiệm năm 2020, KSTAR đã cải thiện được hiệu suất của mode thanh chắn vận chuyển nội bộ (Internal Transport Barrier ITB), một trong những mode vận hành plasma thế hệ mới được phát triển vào năm ngoái và thành công trong việc duy trì được trạng thái the plasma trong một thời gian đủ dài, vươt qua được những giới hạn tồn tại của việc vận hành plasma ở các mức nhiệt siêu cao.  Giám đốc Trung tâm nghiên cứu KSTAR Si-Woo Yoon giải thích, “Các công nghệ đòi hỏi vận hành plasma ở mức 100 triệu độ trong thời gian dài là vấn đề chính để tạo ra năng lượng nhiệt hạch, và thành công của KSTAR trong việc duy trì plasma ở mức nhiệt siêu cao trong vòng 20 giây sẽ đóng vai trò quan trọng trong cuộc chạy đua công nghệ để vận hành plasma, một hợp phần tối cần thiết để thương mại hóa lò phản ứng năng lượng nhiệt hạch trong tương lai”.  “Thành công của thực nghiệm KSTAR đưa chúng tôi tiến gần hơn đến việc phát triển các công nghệ để đạt dược năng lượng nhiệt hạch hạt nhân”, Yong-Su Na, giáo sư Khoa Kỹ thuật hạt nhân SNU và tham gia thực hiện nghiên cứu, cho biết thêm.  TS. Young-Seok Park của trường đại học Columbia tham gia vào việc tạo ra plasma ở mức nhiệt cao cho rằng: “Chúng tôi vinh dự khi đươc tham gia vào thành công quan trọng ở KSTAR. Thành công ở mức nhiệt100 triệu độ là do việc gia nhiệt plasma lõi hiệu quả, nó thể hiện năng lực độc đáo của thiết bị siêu dẫn KSTAR và đem lại hiểu biết cơ bản về plasma nhiệt hạch bền”.  Trung tâm nghiên cứu KSTAR thực hiện nhiều thí nghiệm trên nhiều chủ để khác nhau, thiết kế để giải quyết những vấn đề phức tạp trong nghiên cứu nhiệt hạch. Họ sẽ chia sẻ những kết quả thực nghiệm chính năm 2020  với các đồng nghiệp trên thế giới, trong khuôn khổ hội nghị Năng lượng nhiệt hạch do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tổ chức vào tháng 5.  Mục tiêu tiếp theo của họ là vận hành trong vòng 300 giây với mức nhiệt cao hơn 100 triệu độ vào năm 2025.  Vào ngày 20/11/2020, KFE, tên gọi cũ là Viện nghiên cứu nhiệt hạch quốc gia, một tổ chức của Viện nghiên cứu khoa học cơ bản Hàn Quốc, đã được phân định lại thành một tổ chức độc lập.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-korean-artificial-sun-world-sec-long.html; https://www.nst.re.kr/nst_en/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mất từ 6 tháng đến 50 năm để nghiên cứu cơ bản thành ứng dụng có khả năng thay đổi thế giới      Mọi công nghệ và đổi mới sáng tạo đều dựa trên một cơ sở khoa học nhưng để có được điều đó, cần phải có sự kiên nhẫn, vì cuộc hành trình từ những nghiên cứu cơ bản do trí tò mò dẫn dắt đến một công nghệ làm thay đổi thế giới có thể cần mất từ sáu tháng đến 50 năm, một nhà nghiên cứu từng đoạt giải Nobel và Kavli cho biết như vậy.         Theo giáo sư Ben Feringa, khoa học tạo nên những điện thoại di động đã được hình thành từ những năm 1940, 1950. Nguồn: cursor.tue.nl  Theo giáo sư Ben Feringa, người giành giải Nobel Hóa học năm 2016 cho những nghiên cứu của ông về các động cơ phân tử, khoa học tạo nên những điện thoại di động đã được hình thành từ những năm 1940, 1950 với khám phá về các transistor và các vật liệu có thể tạo ra màn hình lỏng, nhưng không có bất kỳ phát minh nào để chuyển nó thành một dạng máy tính bỏ túi cả.  “Không ai biết rằng chúng ta có thể có một chiếc điện thoại thông minh. Từ đó không tồn tại. IBM đang thiết kế chiếc máy tính đầu tiên. Phải mất 50 nữa chúng ta mới có thể có một chiếc điện thoại thông minh và nó đã làm thay đổi thế giới hoàn toàn”.  Giáo sư Feringa, hiện làm việc tại trường đại học Groningen tại Hà Lan, cho biết, đang nghiên cứu phát triển loại động cơ nhỏ nhất thế giới từ một câu hỏi cơ bản – người ta có thể tác động như thế nào để có thể tạo ra chuyển động ở cấp độ phân tử? – “Tôi thường nhận được câu hỏi” ‘tại sao anh lại làm điều này?’”, ông kể. “Câu hỏi tương tự như người ta hỏi anh em Wright 100 năm trước đây”. Ông đề cập đến câu chuyện của anh em nhà Wright, người đầu tiên trên thế giới mạo hiểm bay trên chiếc máy bay hết sức thô sơ cách mặt đất có vài mét. Ở thời điểm đó không ai ngờ rằng một trăm năm sau con người lại làm ra những chiếc Airbus hay Boeing 747 với khoang hành khách chứa được 400 người có thể bay vượt đại dương.  Những ứng dụng về các cỗ máy phân tử đang bắt đầu xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau – các vật liệu tự phục hồi, cửa sổ tự làm sạch và thuốc thông minh chỉ phóng thích “hàng hóa” khi chúng đi đến điểm đặc biệt, ví dụ như vị trí của một khối u.  Giáo sư Helga Nowotny của trường ETH Zurich, cho rằng với nghiên cứu cơ bản, người ta không biết là mình sẽ tìm ra cái gì. “Đó chính là sự không chắc chắn cố hữu của nghiên cứu cơ bản. Nhưng tư nhiên đến như một đồng minh của nhà nghiên cứu dưới hình thức của một điều may mắn tình cờ. Người ta có thể khám phá ra điều mà mình không mong chờ nhưng họ hiểu rõ ý nghĩa của nó”.    Giáo sư Emmanuelle Charpentier từng giành giải Kavli cho công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR-Cas9. Nguồn: european-biotechnology.com  Khoảng cách giữa khám phá khoa học cơ bản và ứng dụng có thể rất ngắn, theo giáo sư Emmanuelle Charpentier, Bộ phận Khoa học nghiên cứu về các thể sinh bệnh Max Planck ở Berlin, Đức, người đã giành giải Kavli cho công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR-Cas9.  CRISPR-Cas9, được biết đến như một “kéo phân tử”, đã được ứng dụng trên một diện rộng, từ kỹ thuật cây trồng đến điều trị các loại bệnh di truyền.  Giáo sư Charpentier cho rằng, khám phá này đã vượt quá sự tò mò về cách các hệ miễn dịch của vi khuẩn hoạt động như thế nào. “Vào thời điểm bắt đầu, tôi còn không chắc chắn liệu loại nghiên cứu dẫn đến công nghệ có khả năng làm biến đổi lớn lao ở cấp độ gene này được coi là nghiên cứu mang tính sáng tạo hay không”, bà chia sẻ.  “Dẫu sao, điều vô cùng thú vị với khám phá này là nghiên cứu khoa học rất rất cơ bản đã dẫn đến một công nghệ có sức thay đổi lớn lao… và được thúc đẩy với một tốc độ chưa từng thấy trước đây. Chúng ta có thể khai thác cơ chế cơ bản này thành một công nghệ ứng dụng tốt trong vòng 6 tháng để nó chỉnh sửa gene trong mọi tế bào và cơ quan trong các cơ thể sống”.  Hai giáo sư Feringa và Charpentier đề cập đến khía cạnh của khoa học cơ bản và đổi mới sáng tạo này trong sự kiện Ngày Khoa học và đổi mới sáng tạo châu Âu, diễn ra tại Brussels, Bỉ từ ngày 24 đến 26/9/2019, vốn là một phần trong khuôn khổ cuộc họp bàn về việc định hình khung chương trình cho Horizon Europe 2021-2027, chương trình đầu tư cho khoa học của châu Âu. Cuộc họp thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, đại diện các ngành công nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, nha hoạch định chính sách.  Cả Feringa và Charpentier đều nhận được các khoản tài trợ từ Hội đồng nghiên cứu châu Âu, một cơ quan được thiết lập từ năm 2007 để thúc đẩy các nghiên cứu mang tính tiên phong, hay khoa học vị khoa học, một phần chính của khoa học do châu Âu tài trợ, vốn được tiếp tục với chương trình Horizon Europe.  Trong khi ngân sách tài trợ, dĩ nhiên, đóng vai trò quan trọng, nhưng các thành viên của Hội đồng khoa học châu Âu cho rằng, thời gian là một phần quan trọng cho các nhà khoa học ham hiểu biết. “Khoa học xuất sắc sẽ mang đến đổi mới sáng tạo xuất sắc”, giáo sư Feringa đánh giá. “Hãy trao cho chúng tôi không gian để suy nghĩ và hỏi những câu hỏi cơ bản… để thúc đẩy các biên giới hiểu biết và có được nhiều giải pháp cho tương lai”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-basic-world-changing-applications-months-years.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mẫu hình mới của sự phát triển      Trung Nguyên vừa phối hợp với các công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới để đề xuất một mô hình phát triển cụm ngành cà phê quốc gia Việt Nam kết hợp cả hai lý thuyết cụm ngành truyền thống (industrial cluster) và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh (business ecosystem).      Trong  diễn trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc gia đang diễn ra hết sức khốc  liệt. Mỗi quốc gia, nếu muốn tìm cho mình một chỗ đứng tự chủ và vững  chắc trong bối cảnh đó, cần phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh  tranh quốc gia, Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể xem là kết quả cộng  hưởng và tương tác của năng lực ngành và năng lực vùng lãnh thổ. Cũng  không thể có năng lực canh tranh quốc gia nếu không tính đầy đủ đến  những tư tưởng, cách thức phát triển mới: hiệu quả, công bằng, và bền  vững. Thể giới đang chứng kiến sự dịch chuyển, dù còn khó khăn, từ  “nền  kinh tế nâu” sang “nền kinh tế xanh”.  Với mong muốn đóng góp vào sự khẳng định và nâng cao vị thế Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn kinh doanh và nghiên cứu nhiều mô hình phát triển ngành trên thế giới, Trung Nguyên đã phối hợp với các công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới để đề xuất ra một mô hình phát triển cụm ngành cà phê quốc gia Việt Nam. Mô hình này là sự kết hợp của cả hai lý thuyết cụm ngành truyền thống (industrial cluster) và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh (business ecosystem).   Theo Micheal Porter, một cụm ngành được xác định nhờ 4 yếu tố: (i) giới hạn địa lý; (ii) mức độ có được các ngành, doanh nghiệp; (iii) các mối liên hệ; và (iv) lợi thế cạnh tranh. Bốn yếu tố này sẽ được đặt trong mối quan hệ với hệ sinh thái kinh doanh, hay nói cách khác là được tiếp cận theo nguyên lý của nền kinh tế xanh.     Trước hết bàn về yếu tố lợi thế cạnh tranh.    Sản xuất nông nghiệp nói chung và cà phê nói riêng là một lợi thế rất lớn, rất cơ bản của Việt Nam. Điều này lại càng cần đươc nhìn nhận đầy đủ trong bối cảnh khủng hoảng nhiều mặt trên thế giới về lương thực, tài chính, năng lượng, môi trường cũng như những biến đổi về văn hóa xã hội. Với Việt Nam, phát triển nông nghiệp cần phải vừa đóng vai trò nền tảng, vừa đóng vai trò đột phá. Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng kể trong phát triển ngành cà phê, là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về cà phê Robusta – một trong những loại cà phê hàng đầu của thế giới. Riêng  tỉnh Đắk Lắk đóng góp trên 50% giá trị xuất khẩu cà phê và chất lượng cà phê Buôn Ma Thuột được xem là thương hiệu quốc gia. Tổng giá trị xuất khẩu ngành cà phê năm 2010 là 1,7 tỉ USD; mức cao nhất là năm 2008 với con số 2,1 tỉ USD. Đắk Lắk – Buôn Ma Thuột luôn khẳng định vai trò trung tâm giao dịch cà phê, là thủ phủ cà phê của Việt Nam. Ước tính ban đầu cho thấy, nếu được phát triển thành cụm ngành cà phê hoàn chỉnh, như đã thấy ở Brazil hay Italy, nguồn thu của Việt Nam có thể tăng gấp 10 lần, đạt tới 20 tỷ USD và có tính có tính bền vững hơn rất nhiều so với thu từ khai thác dầu thô. Điều này còn giúp tạo ra 3,5 – 4 triệu việc làm trên toàn quốc cùng với các vùng chuyên canh cà phê tập trung ở Đắk Lắk và Buôn Ma Thuột.   Về mức độ có được và mối liên hệ giữa các ngành, doanh nghiệp trong cụm ngành cà phê Việt Nam sẽ lấy ngành cà phê làm trung tâm; ngành cà phê được hiểu bao gồm toàn bộ các phân đoạn trong chuỗi giá trị cà phê: từ giống, trồng, chế biến thô, chế biến sản phẩm, thương mại và phân phối, dịch vụ gia tăng. Hiện tại, ngành cà phê Việt Nam chỉ hoạt động được trên một số phân đoạn tạo ra giá trị gia tăng rất thấp. Thách thức đối với Việt Nam là dần leo lên chiếm giữ được những phân đoạn tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao. Liên kết cụm ngành cà phê không phải chỉ là liên kết theo chiều ngang, mà còn theo chiều dọc gồm các ngành, lĩnh vực hỗ trợ nền tảng và các ngành có liên quan, hưởng lợi cùng các phân đoạn của ngành cà phê như: tài chính, đầu tư, du lịch, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế,… Tất cả sẽ được gắn kết một cách chặt chẽ, tương hỗ trong một chỉnh thể của một hệ sinh thái bao gồm: cộng đồng nông dân bản địa trồng cà phê, các nhà sản xuất và chế biến cà phê, chính quyền, các nhà khoa học nghiên cứu và triển khai, các nhà đầu tư và thương mại, cộng đồng người tiêu dùng, các ngành phụ trợ và tương hỗ.     Về giới hạn địa lý, sẽ vừa là một giới hạn địa lý cứng như trong lý thuyết truyền thống với Đắk Lắk làm trung tâm với định vị “Thủ phủ cà phê toàn cầu” và các khu vực cà phê tại Việt Nam và/hoặc có đầu tư từ Việt Nam; vừa kết nối, quy tụ và tạo ra một cộng đồng cà phê toàn cầu thế giới trên cơ sở “triết lý cà phê Việt Nam” với sự hỗ trợ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin toàn cầu. Thành phố Buôn Ma Thuột gắn liền với lịch sử hơn 150 năm của cây cà phê Việt Nam, là thủ phủ chính trị – kinh tế – văn hóa của Đắk Lắk và cả khu vực Tây Nguyên, hiển nhiên đóng vai trò thủ phủ của cụm cà phê quốc gia. Buôn Ma Thuột là tâm điểm của cụm cà phê phải là một thành phố “độc nhất vô nhị” trong hàng ngàn thành phố đương đại trên thế giới. Ba đặc điểm mà Thành phố Buôn Ma Thuột cần sở hữu là: (i) tính duy nhất: thành phố cà phê hóa toàn diện đầu tiên và duy nhất với các đặc trưng văn hóa và kiến trúc bản địa rõ nét; (ii) tính kiểu mẫu: thành phố kiểu mẫu về quản trị cộng đồng và phát triển bền vững; và (iii) tính biểu tượng: thành phố tiêu điểm, qui tụ của cộng đồng người dùng cà phê trên toàn thế giới.   Việt Nam thực sự có lợi thế và cơ hội xây dựng cụm ngành cà phê quốc gia với tầm vóc toàn cầu, song thách thức phía trước cũng rất lớn. Chính vì vậy, để hiện thực hóa được mô hình cụm ngành cà phê quốc gia cần phải có sự chuản bị công phu, bao gồm 3 bước:    Xây dựng kế hoạch chiến lược với mục tiêu tham vọng, định hướng thị trường để phát triển cụm ngành cà phê quốc gia, trong đó Đắk Lắk trở thành trung tâm và một “thủ phủ cà phê toàn cầu”;   Hiện thực hóa kế hoạch chiến lược bằng một thể chế thực thi có đày dủ hiệu lực, thông qua tạo dựng một môi trường kinh doanh và pháp lý thuận lợi, khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao;   Nâng cao danh tiếng cụm ngành cà phê và có kế hoạch, chính sách thu hút đầu tư vào phát triển kết cáu hạ tầng, các lĩnh vực chủ chốt hỗ trợ phát triển cụm ngành cà phê.   Có thể xem việc xây dựng mô hình cụm ngành cà phê quốc gia như một chiến dịch lớn gồm 4 cấp độ hoạt động triển khai, gắn với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, tỉnh; chuyển đổi nông nghiệp; chiến lược sản phẩm; và qui hoạch không gian (Hình 1).                     Mô hình cụm ngành cà phê quốc gia, sẽ là mẫu hình mới của sự phát triển nông nghiệp và cả nền kinh tế. Đó là mẫu hình của kết nối tạo hiệu quả, thân thiện cộng đồng, hài hòa với thiên nhiên, và bảo tồn giá trị truyền thống. Nếu xây dựng thành công, mẫu hình này sẽ là điểm đến chiêm nghiệm, cả cà phê và cách làm Việt Nam. Cơ hội và lợi thế sẽ không trở thành hiện thực nếu thiếu quyết tâm, nỗ lực của các cấp chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tiên phong, và sự tham gia, hỗ trợ của đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách, cộng đồng dân cư, cũng như toàn bộ cộng đồng người tiêu dùng cà phê.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Màu sắc ẩn giấu của hoa hướng dương: “Chìa khóa” thu hút ong và thích ứng với hạn hán      Một nghiên cứu mới của Đại học British Columbia cho thấy, hóa ra màu cực tím (ultraviolet – UV) mà con người không thể nhìn thấy được của hoa hướng dương lại chính là yếu tố giúp loài hoa này thu hút côn trùng cũng như điều chỉnh lượng nước bay hơi của hoa trong các môi trường khác nhau.      Chúng ta đã quen với hình ảnh bông hoa hướng dương có những cánh hoa vàng dày đặc (hay còn gọi là “cụm hoa”, một tập hợp gồm rất nhiều bông hoa), tuy nhiên có một điều mà đôi mắt của chúng ta không nhìn thấy được, đó là: “họa tiết” có màu cực tím (UV) ở những bông hoa – một thứ vô hình đối với con người nhưng lại hữu hình với hầu hết các loài côn trùng, bao gồm các loài ong.  Từ lâu, chúng ta đã biết rằng những họa tiết “hồng tâm” (bullseye gồm nhiều vòng tròn tạo thành hình dạng giống như hồng tâm ở bia bắn cung tên) ở những bông hoa đã giúp cho chúng nổi bật hơn, từ đó tăng cường sức hấp dẫn đối với những con côn trùng thụ phấn. Tuy nhiên mới đây, bài báo công bố trên tạp chí eLife của các nhà nghiên cứu thuộc đại học British Colombia còn phát hiện ra, chính các phân tử tạo ra các hoa văn “hồng tâm” màu cực tím này ở hoa hướng dương cũng giúp cho chúng ứng phó tốt hơn với các đợt hạn hán và thời tiết cực đoan.  “Thật bất ngờ, chúng tôi phát hiện ra, những bông hoa hướng dương trồng trong điều kiện khí hậu khô hạn hơn thì có họa tiết “hồng tâm” UV lớn hơn, đồng thời có khả năng giữ nước hiệu quả hơn. Do đó theo phỏng đoán của chúng tôi, có thể những họa tiết UV lớn sẽ giúp thực vật thích nghi tốt hơn với thời tiết khô hạn”, tiến sỹ Marco Todesco, tác giả chính của bài báo, trợ lý nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Đa dạng Sinh học và Khoa Thực vật học của Đại học British Colombia, nói.  Để tiến hành nghiên cứu, tiến sỹ Todesco và các cộng sự đã trồng gần 2,000 cây hoa hướng dương dại thuộc hai loài khác nhau tại trường đại học British Colombia vào năm 2016 và 2019. Sau đó, họ đã đo đạc các họa tiết UV của hoa hướng dương và phân tích bộ gen của chúng. Kết quả cho thấy, các bông hoa hướng dương dại thuộc các vùng khác nhau của Bắc Mỹ sẽ có các kích thước hoạ tiết “hồng tâm” UV khác nhau: ở một số cây, họa tiết này trông giống như một vòng tròn mỏng, trong khi ở những cây khác, vòng tròn bao phủ toàn bộ bông hoa. Và những bông hoa nào có hoạ tiết UV lớn hơn thì được nhiều con ong ghé thăm hơn. Với phát hiện này, bài báo đã củng cố các kết quả nghiên cứu trước đây về một số loài thực vật khác của các nhà khoa học.  Không chỉ vậy, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra HaMYB111 là gene duy nhất “chịu trách nhiệm” tạo nên sự đa dạng cho các họa tiết UV ở hoa hướng dương. Theo đó, gen này sẽ kiểm soát việc sản xuất ra các hợp chất flavonol – hợp chất có khả năng hấp thụ tia cực tím và giúp thực vật sống sót trong các điều kiện stress từ môi trường như hạn hán hay nhiệt độ cực đoan. Những bông hoa hướng dương nào có nhiều hợp chất này sẽ có họa tiết UV lớn hơn, từ đó giảm được lượng nước bay hơi trong môi trường có độ ẩm thấp, ngăn ngừa hoa bị mất nước quá mức. Ngược lại, khi ở môi trường nóng ẩm, các họa tiết nhỏ hơn sẽ thúc đẩy quá trình bốc hơi nước ở cây, nhờ đó, cây được giữ mát và không bị nóng quá mức.  “Các họa tiết UV ở hoa dường như một vai trò kép trong việc thích nghi với môi trường. Và ngoài vai trò phổ biến của chúng trong việc tăng cường sự thụ phấn, họa tiết UV cũng giúp điều chỉnh lượng nước bị bay hơi ở hoa”, tiến sĩ Loren Rieseberg, tác giả chính, giáo sư tại Khoa Thực vật học và Trung tâm Nghiên cứu Đa dạng sinh học, cho biết. “Các bông hoa khác thường không làm được như vậy, thế nhưng chỉ với một đặc điểm của mình, hoa hướng dương lại có khả năng giải quyết đồng thời cả hai vấn đề”.  Cây hướng dương thường được trồng với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm việc làm nguyên liệu để sản xuất dầu hướng dương – một ngành công nghiệp có giá trị đến 20 tỷ USD trong năm 2020. Do đó, theo tiến sỹ Todesco, nghiên cứu này có thể là một gợi ý hữu ích để tìm ra cách thức thu hút côn trùng thụ phấn hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất cho cây trồng. “Nghiên cứu này cũng giúp chúng ta hiểu hơn về cách mà cây hướng dương, và có thể là những loại cây khác nữa, thích ứng với các khu vực và các điều kiện khí hậu khác nhau – một điều rất quan trọng trong thời kỳ biến đổi khí hậu”.  Trong thời gian tới, các nhà nghiên cứu cũng mong muốn có thể hiểu hơn về cách mà gene HaMYB111 thay đổi kích cỡ hoạ tiết “hồng tâm” UV, đồng thời đánh giá một cách chi tiết hơn những ảnh hưởng của họa tiết UV này đến sinh lý thực vật, cũng như tác động của hợp chất flavonol đến lượng nước mất đi của các bông hoa.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-sunflowers-invisible-bees-drought.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Màu xanh Ai Cập: Gợi ý về một công cụ mới cho nghiên cứu y sinh      Khám phá màu xanh lam Ai Cập, “biến mất” và được tái khám phá là một câu chuyện thu hút và minh họa một cách tuyệt đẹp về việc nghệ thuật có thể đóng vai trò là chất xúc tác cho sự phát triển của hóa học như thế nào.    Màu xanh lam sáng từng tô điểm cho bức chân dung nữ hoàng Ai Cập Nefertiti. Nguồn: news.artnet.com  Ai Cập, nơi khởi thủy của màu  Vào hai trăm năm trước, Sir Humphry Davy, nhà hóa học và nhà sáng chế người Anh, khi ngắm các tàn tích ở khu nhà tắm công cộng do hoàng đế La Mã Titus xây dựng tại thành Rome, đã phát hiện ra màu xanh lam Ai Cập. Ở đó, giữa các đống đổ nát, ông tìm thấy một số khối thủy tinh frit màu xanh sẫm. Không lâu sau, tìm thấy vật liệu tương tự trong một đống tàn tích khác ở Pompeii, Davy nhận ra là mình đã tái khám phá ra vật liệu “từ một nền sản xuất từng được cho là được thiết lập từ rất lâu ở Alexandria” và là màu tổng hợp đầu tiên trên thế giới – màu xanh lam Ai Cập.   Trong quan niệm của người Ai Cập, cổ đại, màu xanh lam đóng một vai trò hết sức quan trọng. Có một mối liên hệ khăng khít nào đó giữa nó với bầu trời, dòng sông Nile màu mỡ, và do đó tái hiện toàn bộ vũ trụ, sức sáng tạo và sự tái sinh của nó. Tuy vậy, trong thời cổ đại, chỉ có những màu sắc của đất (màu sắc từ lớp đất bề mặt Trái đất) được dùng – các nghệ sĩ Ai Cập không dễ dàng tạo ra màu xanh lam. Thậm chí, nguồn tự nhiên duy nhất đem lại màu lam là lapis lazuli (ngọc lưu ly) thì quá hiếm hoi và đắt đỏ bởi nó được khai thác từ các mỏ ở nơi mà ngày nay là Afghanistan.   Dẫu vậy vào khoảng năm 2600 trước Công nguyên, màu xanh lam Ai Cập đã có mặt trong lịch sử, vốn dùng để tô điểm cho các bức tranh tường, các lăng mộ và các quan tài chứa xác ướp cũng như các đồ gốm sứ Ai Cập. Kể từ đó, việc sử dụng màu sắc này đã phổ biến ở nhiều nơi trong thế giới cổ đại như Lưỡng Hà, Hy Lạp, rồi chạm đến cả đế chế La Mã. Khi đế chế La Mã sụp đổ vào năm 476 sau Công nguyên, việc sử dụng màu lam Ai Cập thưa dần đi. Từ năm 800 sau Công nguyên, dường như màu sắc này đã biến mất khỏi thế giới nghệ thuật nhưng trên thực tế thì không hoàn toàn vậy. Sau này, khi được trang bị thêm hiểu biết, các nhà nghiên cứu đã có thể xác nhận ra là màu xanh lam bí ẩn đã tiếp tục được tạo ra cũng như sử dụng một số lần trong thời kỳ Trung cổ và thậm chí trong các bức họa thời kỳ Phục hưng. Hai ví dụ nổi bật là hai nhà thờ Công giáo La Mã được nghiên cứu vào năm 2001 và 2009. Một là thánh đường Công giáo Latinh Saint Clement ở Rome, Ý, nơi màu xanh huyền thoại này xuất hiện trong The Ascension of Christ, một bức bích họa được sáng tác vào khoảng năm 850 sau Công nguyên theo phong cách pha trộn giữa phong cách La Mã, Gothic và Byzantine. Phẩm chất kém cỏi của màu khiến người ta cho rằng nó không thể bắt nguồn từ nguồn cung La Mã mà có vẻ như được sản xuất cùng thời gian làm bích họa.     Các thực nghiệm hiện đại cho thấy có thể làm ra màu xanh lam Ai Cập (calcium copper silicate, công thức hóa học CaCuSi4O10) khi gia nhiệt các hóa chất thành phần tới mức 800–900°C và bổ sung vôi, một vật liệu chứa can xi. Vào thời điểm khởi thủy của màu, ít ai nghĩ rằng màu xanh lam sáng từng tô điểm cho bức chân dung nữ hoàng Ai Cập Nefertiti hàng ngàn năm trước, giờ đây có thể hữu dụng trong nghiên cứu sinh học phân tử.    Nơi thứ hai là nhà thờ San Saba cũng ở thành Rome với một bức tranh tường thế kỷ thứ 8, sử dụng một màu pha trộn giữa xanh lam Ai Cập với đá lapis lazuli. Thậm chí đây có thể là lần xuất hiện đầu tiên của đá lapis lazuli trong hội họa châu Âu. Bức họa đặc biệt này đã tái hiện sự hòa quyện của kỹ thuật phương Đông (lapis từ Afghanistan) và truyền thống nghệ thuật địa phương, ngay ở thời điểm màu xanh Ai Cập hầu như đã hoàn toàn vắng bóng. Các nhà khoa học đề xuất nguyên nhân dẫn đến việc trộn màu này là đá lapis lazuli quá đắt đỏ, mặt khác có thể cho thấy sự đứt quãng của màu xanh lam Ai Cập và người ta đã dần dần tìm cách thay thế nó bằng đá lapis lazuli, và cả hai loại màu này có thể cùng tồn tại trong cùng một thời kỳ.  Sau những lần xuất hiện hiếm hoi này, dường như công nghệ sản xuất màu xanh lam Ai Cập đã mất hút (hoặc có lẽ chỉ lẩn quất đâu đó ở một vài địa phương) trong cả ngàn năm lịch sử nghệ thuật. Về cơ bản, nó đã bị quên lãng. Tại sao lại thế? Nguyên nhân chính có lẽ là sự suy tàn của đế chế La Mã, dẫn đến hậu quả là mất mát cả những hiểu biết cần thiết về màu và công nghệ sản xuất màu. May mắn là chuyên luận về kiến trúc De Architectura của kiến ​​trúc sư La Mã và kỹ sư quân sự Marcus Vitruvius Pollio vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên cho biết các thành phần nguyên liệu làm màu xanh lam Ai Cập là cát, đồng (từ một khoáng chất như azurite hay malachite) và natron (một hợp chất muối xuất hiện trong tự nhiên, bao gồm muối carbonate). Dường như trong công thức này đã có một chút nhầm lẫn về phương pháp chế tạo. Vitrivius không bình luận gì về sự cần thiết của calcium carbonate, có thể là do nguyên liệu cát trong các mẫu ông sử dụng đã có sẵn đá vôi nhưng ông không nắm được điều đó. Do vậy, phương pháp ông miêu tả không hiệu quả, và hiểu biết của người Ai Cập cổ đại đã mất mát thực sự.  Bức họa “Virgin and Child with Female Saints” của Gérard David, 1500. Nguồn: Wikimedia Commons  Theo dấu của màu  Tình trạng này chỉ được đảo chiều vào đầu thế kỷ 19, khi mối quan tâm của khoa học về Ai Cập được các khám phá khảo cổ dưới thời Napoleon khơi dậy trở lại, và trong năm 1814, nghiên cứu lại được thúc đẩy  bằng bí ẩn về “màu xanh lam nhạt” ở Pompeii với nỗ lực của nhà hóa học Anh Humphrey Davy. Cuối cùng vào những năm 1880, thành phần hóa học của màu này đã được tìm ra và qua đó, tìm lại được cách thức sản xuất.  Trong một sự phát triển đầy thú vị với các nhà hóa học và nghệ sĩ, vào năm 2009, màu xanh Ai Cập đã được chứng tỏ là có khả năng phát quang ở vùng cận hồng ngoại. Nhờ vậy có thể dễ dàng dò được nó ngay cả khi mắt thường không nhìn thấy. Do đặc tính này mà vào năm 2011, các nhà khoa học tìm thấy sự pha trộn màu xanh lam Ai Cập và đá lapis lazuli trong một bức họa St Margaret vào thế kỷ 16 do họa sĩ Ý Ortolano Ferrarese vẽ bởi sự phát quang của màu vô cùng mạnh. Bảo tàng Anh đã sử dụng ngay kỹ thuật này để tìm ra manh mối về việc The Elgin Marbles, bộ sưu tập các tác phẩm điêu khắc đá cẩm thạch Hy Lạp cổ đại được thực hiện dưới sự giám sát của kiến ​​trúc sư và nhà điêu khắc Phidias và các trợ lý của ông, từng được tô màu, trong đó có màu xanh huyền thoại này.  Mặt khác, kỹ thuật này còn giúp chúng ta nhìn thấy một sự thật khác, đó là màu xanh Ai cập đã được nhiều nghệ sĩ sử dụng ngay cả khi người ta nghĩ là năng lực tổng hợp nó đã bị mất mát theo thời gian. Rõ ràng, họa sĩ Ortolano Ferrarese hay các đồng nghiệp khác của mình bằng cách nào đó đã có màu xanh Ai cập trong tay. Giải được câu đố này không chỉ là vấn đề của các nhà sử học nghệ thuật mà còn là thách thức với các nhà hóa học.   Các thực nghiệm hiện đại cho thấy có thể làm ra màu xanh lam Ai Cập (calcium copper silicate, công thức hóa học CaCuSi4O10) khi gia nhiệt các hóa chất thành phần tới mức 800–900°C và bổ sung vôi, một vật liệu chứa can xi, có lẽ cuối cùng đã thể hiện được công thức cổ xưa. Có một số câu hỏi đặt ra là người Ai Cập cổ đại có được khám phá này là do họ mày mò tìm kiếm hay chỉ là sự tình cờ của số phận? Bởi nhìn cả chuỗi chế tạo thì việc kiểm soát được nhiệt độ là yếu tố dẫn đến một phản ứng thành công và là thách thức lớn nhất, vì nó cũng thực sự bổ sung oxy theo đúng cách.   Sau hơn ngàn năm thì màu xanh lam Ai Cập đã được tái hiện theo nhiều cách mà những nhà sáng chế cổ đại có thể chưa bao giờ mơ tới. Các nhà hóa học nhận ra màu xanh lam Ai Cập có thể có những ứng dụng quan trọng ngoài nghệ thuật, ví dụ tính chất phát quang trong thời gian dài và chiều sâu xâm nhập mạnh trong các mô người của bức xạ điện từ hơn cả tia cực tím hoặc ánh sáng khả kiến. Nếu được sử dụng như một tác nhân hình ảnh, màu này có thể làm tăng thêm khả năng có thể có được những hình ảnh y sinh có độ phân giải cao hơn và chi tiết hơn. Màu xanh lam Ai cập cũng có thể là một thay thế khả thi cho các hợp chất họ Lantan đắt đỏ mà hiện nay vẫn được dùng để giúp mực in bền hơn.   Tương lai công nghệ của màu xanh lam Ai Cập   Rõ ràng là tương lai của màu xanh lam Ai Cập có thể tươi sáng theo nhiều cách khác nhau. Vào thời điểm khởi thủy của màu, ít ai nghĩ rằng màu xanh lam sáng từng tô điểm cho bức chân dung nữ hoàng Ai Cập Nefertiti hàng ngàn năm trước, giờ đây có thể hữu dụng trong nghiên cứu sinh học phân tử.  Một nhóm nghiên cứu quốc tế do tiến sĩ Sebastian Kruss, Viện Nghiên cứu Hóa lý, trường Đại học Göttingen, đã xúc tiến điều này khi tạo ra một vật liệu kích thước nano mới dựa trên màu xanh lam Ai Cập có thể phù hợp với những ứng dụng trong hình ảnh sử dụng kính hiển vi điện tử và quang phổ học cận hồng ngoại. Kết quả được xuất bản trên Nature Communications “Exfoliated near infrared fluorescent silicate nanosheets for (bio)photonics”.  Tiến sĩ Sebastian Kruss, Viện Nghiên cứu Hóa lý, trường Đại học Göttingen, đã tạo ra màu xanh lam Ai Cập dưới dạng các phiến nano. Nguồn: uni-goettingen.de  Kính hiển vi điện tử và hình ảnh quang học là công cụ quan trọng trong nghiên cứu cơ bản và y sinh. Họ đã sử dụng các chất có thể tạo ra ánh sáng khi được kích thích. Với khả năng phát quang, các chất này đều được dùng để nhuộm các vi cấu trúc trong các mẫu thử, cho phép làm rõ độ phân giải trên kính hiển vi hiện đại. Các chất phát quang sáng nhất trong phạm vi ánh sáng khả kiến với mắt người. Khi sử dụng ánh sáng ở phổ cận hồng ngoại, với một bước sóng bắt đầu ở mức 800 nano mét, ánh sáng đâm xuyên sâu hơn vào mô và ít làm biến dạng hình ảnh. Tuy nhiên vẫn còn quá ít các chất phát quang như vậy trong vùng phổ cận hồng ngoại. “Chúng tôi sau đó bắt đầu làm cho màu xanh Ai cập trở nên nhỏ và nhỏ hơn nữa để tạo ra các tấm nhỏ hữu dụng cho hình ảnh y sinh”, tiến sĩ Sebastian Kruss giải thích một cách hình ảnh.  Anh và cộng sự đã tạo ra những lớp siêu mỏng từ màu xanh lam Ai Cập (bột calcium copper silicate). Các tấm nano này mỏng hơn 100.000 lần so với sợi tóc người và có thể phát quang ở phạm vi cận hồng ngoại. “Chúng tôi có thể chứng tỏ thậm chí các tấm nano nhỏ nhất cũng vô cùng bền, tỏa sáng rực rỡ và không hề bị phai màu”, tiến sĩ Sebastian Kruss giải thích thêm. “Những tính chất đó khiến chúng trở nên lý tưởng cho hình ảnh quang học”.  Các nhà khoa học đã thử nghiệm vật liệu trên các mô động vật và thực vật. Họ theo dõi sự chuyển động của các tấm nano theo trật tự để hình dung ra những quá trình và cấu trúc của mô quanh nhân tế bào ở ruồi giấm. Thêm vào đó, họ tích hợp các tấm nano này vào một số cây và sau đó có thể nhận biết được chúng mà không cần kính hiển vi điện tử, qua đó hứa hẹn về những ứng dụng trong tương lai của nền nông nghiệp. “Tiềm năng cho kính hiển vi hiện đại từ loại vật liệu này có nghĩa là chúng ta có thể chờ đợi vào những phát hiện mới về nghiên cứu y sinh trong tương lai”, Kruss nói với Artnet.   “Những hạt màu xanh lam Ai Cập nhỏ bé giờ lại có thể ‘dán nhãn’ các phần cần theo dõi”, Kruss nói và cho biết thêm là “chất phát quang này vô cùng đặc hiệu” và rất hiệu quả để giúp các nhà nghiên cứu “hiểu cách một phôi thai phát triển hoặc các tế bào phân chia như thế nào” trong “cuộc phẫu thuật do hình ảnh hướng dẫn” hoặc đánh dấu các tế bào ung thư”.  “Tôi chắc chắn là nó sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học vật liệu cũng như các nhà nghiên cứu y sinh”, Kruss nói, không hẳn không tự hào.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://www.chemistryworld.com/features/egyptian-blue-more-than-just-a-colour/9001.article  https://www.artinsociety.com/egyptian-blue-the-colour-of-technology.html  https://news.artnet.com/art-world/egyptian-blue-science-1819458    Author                .        
__label__tiasang Max Mullen và bài toán giao hàng nhanh      Chọn lựa hoa quả cũng là cả một nghệ thuật – đó là một  trong rất nhiều những bài học mà anh chàng Max Mullen 29 tuổi đã học  được trong quá trình ra mắt dịch vụ cung cấp thực phẩm trực tuyến  Instacart của mình.    Mullen kể lại: “Lúc đầu, ai cũng nói rằng làm như tôi chẳng ăn thua gì đâu.” Bản thân anh cũng biết một số công ty khởi nghiệp đã thử nhưng vẫn không đưa ra được những phương tiện hiệu quả để giao thực phẩm tới tay người tiêu dùng. “Nhưng ai cũng phải mua thực phẩm thường xuyên, vì thế đây là một vấn đề đáng để giải quyết.”  Và Mullen, người từng theo học chuyên ngành doanh nghiệp ở Trường Đại học Nam California, Los Angeles, bắt đầu suy nghĩ lại về những mô hình trước đó. Năm 2012, anh cùng với Brandon Leonardo, 29 tuổi, và Apoorva Mehta, 28 tuổi, ra mắt Instacart tại San Francisco.  Không như các dịch vụ khác, vốn tích trữ thực phẩm trong các nhà kho và sử dụng các đội xe để giao hàng, Instacart dựa vào sự cộng tác với các cửa hàng thực phẩm trong vùng và một đội ngũ cộng tác viên độc lập gồm khoảng 7.000 người – những người này sẽ đi mua thực phẩm và giao hàng trong chưa đầy 1 tiếng. Công ty này cho biết, có lần một khách hàng vừa đặt yêu cầu thì 12 phút sau hàng đã đến nơi. “Ngoài pizza thì chưa mặt hàng nào được giao với thời gian nhanh như vậy cả,” Mullen tự hào nói.  Vì không cần vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng nên Instacart phát triển nhanh chóng về quy mô: từ 3 khu vực nội thành ban đầu, tới năm 2014 họ đã mở rộng phạm vi hoạt động tới 15 khu vực nội thành lớn, bao gồm Chicago; Boston; Washington, D.C.; và Portland, Ore. Năm 2014, doanh thu của công ty là trên 100 triệu USD – tức tăng 10 lần so với năm 2013 – và Mullen cho biết dịch vụ này đang sinh lãi ở nhiều thị trường (anh không cho biết con số cụ thể). Anh nói: “Chúng tôi đã chứng minh được rằng khách hàng muốn có dịch vụ mà chúng tôi đang cung cấp.”  Sức phát triển ấn tượng này đã thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư. Tháng 1 năm nay, trong vòng gọi vốn Series C do hãng đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins Caufield & Byers dẫn đầu, Instacart thu được 220 triệu USD, nâng tổng số vốn đầu tư vào Instacart lên 275 triệu USD. Công ty khởi nghiệp này được định giá ở mức 2 tỉ USD.  “Vậy là chúng tôi đã chứng tỏ được với tất cả mọi người rằng họ đã sai,” Mullen nói.  Nhưng đây không phải là chuyện dễ dàng. Khi Instacart mới thành lập, phần mềm của họ không thể dự đoán được lượng cung và cầu, nên nhân viên toàn công ty thường xuyên phải đi tới các cửa hàng thực phẩm xung quanh San Francisco để thu gom, đóng gói và giao hàng. Mullen nhớ lại: “Chúng tôi bị “chìm” trong cácđơn đặt hàng và phải rất cố gắng mới có thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.”  Hiện nay Instacart đang sử dụng phần mềm độc quyền, có thể dự đoán khả năng thực hiện đơn hàng và ước lượng thời gian giao hàng dựa vào phương thức máy học (machine learning) và khoa học dữ liệu. Nhờ cách làm ứng dụng công nghệ cao để giải quyết một công việc thường nhật là mua sắm thực phẩm, công ty khởi nghiệp non trẻ này đã thiết lập được mối quan hệ với trên 65 nhà bán lẻ tại Mỹ – đa phần trong đó đều là những mối quan hệ độc quyền.  Ban đầu, các đại lý bán lẻ thực phẩm ngại ngần không muốn để bên thứ ba tham gia vào việc mua sắm và phân phát hàng; nhưng tới giờ họ đã bắt đầu nhận ra những lợi ích của nó. (Nghiên cứu của Instacart cho thấy người mua hàng dành thời gian mua sắm ở trên mạng nhiều gấp 2,5 lần so với thời gian họ bỏ ra ở các cửa hàng). Mullen nói: “Chúng tôi tập trung vào công nghệ để các nhà bán lẻ có thể tập trung vào mặt hàng.”  Trong mối quan hệ đối tác với các nhà bán lẻ, Instacart phụ trách việc bán hàng online và giao hàng; đổi lại, các nhà bán lẻ sẽ chiết khấu phần trăm cho Instacart trên tổng doanh số bán. Ngoài ra, Instacart cũng có thêm nguồn thu nhập từ các khoản phí giao hàng áp dụng với khách hàng.  Tháng 4 năm nay, Instacart bổ sung thêm chuỗi bán lẻ phụ kiện và thực phẩm cho vật nuôi Petco vào danh sách đối tác của mình. Vậy là giờ đây những người nuôi thú cưng có thể đặt mua các mặt hàng, từ đồ ăn cho chó, tới đồ chơi và dây xích qua Instacart. Mullen chưa chia sẻ thông tin chi tiết về những đối tác khác của mình ngoài lĩnh vực thực phẩm, song anh cho hay đây cũng là một chiến lược thúc đẩy sự phát triển tiếp theo của công ty.  Anh nói: “Lúc mới khởi nghiệp, chúng tôi biết rằng nếu có thể giao một que kem vốn dễ bị chảy nước trong vòng một giờ đồng hồ thì chúng tôi có thể giao được bất kỳ thứ gì. Chúng tôi đang dần dần chuyển sang các mặt hàng khác. Mọi người nghĩ rằng Instacart là một hãng dịch vụ chuyên giao đồ thực phẩm, nhưng chúng tôi thì lại có những ý nghĩ khác to lớn hơn về bản thân mình.”  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: https://www.entrepreneur.com/article/249330    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bắt sâu róm thông phục vụ lâm nghiệp      Nhằm tìm giải pháp công nghệ mới giúp phòng,  trừ sâu bệnh cho cây rừng và cây trồng, TS Lê Xuân Phúc và các cộng sự ở  Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu máy bắt sâu róm thông.     Trên cơ sở bướm sâu róm thông có tính xu quang, bị dẫn dụ bởi ánh sáng phát ra từ bóng đèn có bước sóng và cường độ sáng xác định, TS Lê Xuân Phúc đã sáng chế ra một loại đèn cải tiến, khi bướm sâu róm thông chạm phải hai bản cực cao áp của đèn, bướm sẽ bị chết vì bởi một dòng điện có cường độ nhỏ nhưng điện áp lại rất cao. So với các loại bẫy đèn nhập ngoại đang sử dụng thì máy của TS Phúc có nhiều cải tiến như dùng ắc quy thay cho việc dùng máy phát điện để mở rộng phạm vi sử dụng, chọn vật liệu có sẵn trong nước, dùng inox thay thế các chi tiết chế tạo bằng kim loại đen ở bản cực cao áp, lưới kim loại để tăng độ bền, thay đổi khoảng cách giữa hai thanh liên tiếp ở lưới chắn nhằm tạo khe hở dụ bướm sâu róm thông dễ bay vào nguồn sáng… Khi tiến hành nghiên cứu, TS Phúc đã tiến hành áp dụng máy bắt sâu róm thông ở cả phòng thí nghiệm lẫn khảo nghiệm tại hiện trường nhằm so sánh và tìm ra những cải tiến phù hợp nhất.   Khi khảo nghiệm máy bắt sâu róm thông ở hiện trường, TS Phúc đã đưa hai loại đèn chạy bằng ắc quy và điện lưới tới lâm trường Nam Đàn và Nghi Lộc. Sau đó, bảy lâm trường tham gia khảo nghiệm là các lâm trường Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc (Nghệ An), Hà Trung (Thanh Hóa), Lương Sơn (Hòa Bình), Hoành Bồ (Quảng Ninh)… Kết quả cho thấy, trị số bước sóng ánh sáng 438mmM và công suất 20watt của bóng đèn trong máy tương đương với bước sóng ánh sáng của những mẫu đèn nhập ngoại.  Theo đánh giá của BTC chương trình Sáng tạo Việt, hai mẫu máy sử dụng ắc quy và điện lưới đều an toàn và dễ sử dụng, phù hợp với nhu cầu của các hộ gia đình và lâm trường lâm nghiệp. Thiết bị sản xuất trong nước đem lại lợi thế về kinh tế khi giá thành bằng 2/3 máy nhập ngoại    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay không người lái của Facebook bay thử thành công      Facebook vừa công bố thực hiện thành công chuyến bay thử đầu tiên với hành trình dài 96 phút, nhiều gấp ba lần so với kế hoạch ban đầu, của Aquila, một chiếc máy bay không người lái dùng năng lượng mặt trời có thể bay đến những khu vực xa xôi trên thế giới.      Jay Parikh, trưởng ban kỹ thuật và hạ tầng của Facebook, chia sẻ trên blog cá nhân rằng: “Chúng tôi rất hào hứng với chuyến bay thử thành công này, nhưng trước mắt vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Trong các đợt kiểm tra tiếp theo, chúng tôi sẽ cho Aquila bay cao hơn, nhanh hơn, lâu hơn để đạt tới độ cao trên 18.000m.”   Aquila có sải cánh tương đương như một máy bay dân dụng thông thường nhưng trọng lượng chưa bằng một chiếc xe hơi. Khi di chuyển, máy bay này chỉ tiêu thụ 5.000 watt, tương đương lượng tiêu thụ năng lượng của ba chiếc máy sấy tóc hoặc một lò vi sóng. Aquila được thiết kế để có thể bay liên tục suốt ba tháng và dùng laser để đưa internet về những vùng sâu vùng xa không có mạng. Theo dự định của Facebook, Aquila sẽ thuộc “biên chế” của phi đội có nhiệm vụ cung cấp internet cho 4 tỉ người ở khu vực tiểu vùng sa mạc Sahara và những khu vực xa xôi khác.   Facebook hiện có một đội ngũ kỹ sư với nhiều chuyên môn khác nhau như hàng không vũ trụ, điện tử hàng không, và phần mềm hàng không, từng có kinh nghiệm làm việc tại các tổ chức lớn như NASA, Boeing và Royal Air Force.   Thu Trang dịch theo The Guardian        Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay lớn nhất thế giới bay thử thành công      Ngày 17/8/2016, trong tiếng hò reo của đám đông người tụ tập tại sân bay Cardington Airfield ở Bedfordshire cách London 73 km về phía Bắc, chiếc máy bay có tên Airlander 10 cất cánh, từ từ bay lên và sau khi lượn một vòng trên trời trong khoảng 30 phút đã hạ cánh an toàn.      Airlander  Đây là chuyến bay thử đầu tiên của khí cụ bay lớn nhất trong lịch sử loài người, sản phẩm do công ty Hybrid Air Vehicles (HAV, Anh Quốc) nghiên cứu, thiết kế, chế tạo.  Airlander 10 dài 92 m, tức dài hơn 18 m so với chiếc máy bay chở khách lớn nhất thế giới hiện nay A380, thế nhưng tiếng ồn nó phát ra khi cất cánh lại nhỏ hơn nhiều so với máy bay có cánh hoặc máy bay lên thẳng. Airlander có thể chở 80 tấn hàng, bay ở độ cao 4880 m và đạt vận tốc 148 km/h, có thể ở trên trời hơn hai tuần khi không có người lái và 5 ngày nếu có người lái.  Hybrid Air Vehicles có nghĩa là khí cụ bay hỗn hợp, tức khí cụ bay sử dụng ít nhất hai dạng năng lượng. Nói chính xác, Airlander không phải là máy bay theo nghĩa thông thường mà là một khí cụ bay kết hợp khí cầu với máy bay lên thẳng, thủy phi cơ và phi thuyền. Nó có thể cất-hạ cánh thẳng đứng, không cần đường băng để cất cánh hạ cánh, hơn nữa có thể hạ cánh xuống mọi bề mặt bằng phẳng như mặt nước, mặt băng, sa mạc. Nói cách khác, nó có thể hoạt động tại những nơi máy bay bình thường không thể hoạt động. Phần khí cầu của nó sử dụng khí helium chứ không dùng hydrogen như trước kia, loại khí từng gây ra tai nạn nổ khí cầu. Do có hình dạng độc đáo, Airlander còn được gọi là “Kẻ lang thang biết bay” (Flying bum)  Công ty HAV Airlander có thể phục vụ bay du lịch giải trí, dùng làm trạm quan sát hoặc nghiên cứu lâu dài trên trời, chở hàng đến các vùng không có đường giao thông. Trước khi phục vụ dân dụng, nó có thể dùng để chuyên chở vật tư cung cấp cho các vùng công nghiệp dầu khí, khai khoáng v.v…  Ông Stephen McGlennan, CEO công ty HAV nhận xét Airlander rẻ hơn và thân thiện với môi trường hơn máy bay lên thẳng. “Đây là một sáng tạo lớn của người Anh” – ông nói.  HAV là một công ty tư nhân có vốn 17,5 triệu Bảng (25,2 triệu USD) do 1000 cổ đông đóng góp, có nhận được tài trợ từ Chính phủ Anh và Liên minh châu Âu EU. Công ty HAV hy vọng có thể sản xuất được 12 chiếc Airlander vào năm 2018.  Chiếc Airlander đầu tiên được làm để bán cho quân đội Mỹ nhằm thực hiện nhiệm vụ giám sát trên không tại chiến trường Afghanistan. Nó từng nhiều lần bị đạn bắn thủng nhưng vẫn có thể tiếp tục bay. Do ngân sách quốc phòng Mỹ bị cắt giảm, tháng 11/2013, quân đội Mỹ phải bán lại chiếc Airlander này cho công ty HAV với giá 301.000 USD, chưa bằng 1% giá mua.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bơm trợ tim nhỏ nhất thế giới      Các nhà nghiên cứu Đức đã mất hơn 20 năm để phát triển và đã trình làng cỗ máy siêu nhỏ này. Đường kính cỗ máy này chỉ có 3 millimet, có thể đưa qua ống thông vào tim, đã thử nghiệm thành công trên người bệnh ở Hoa Kỳ.    Cho đến nay cỗ máy bơm tim có độ lớn là 4 mm và có thể bơm mỗi phút được 2,5 lít máu. Máy bơm càng lớn thì càng có thể hoạt động mạnh hơn, qua đó vận chuyển được một lượng máu lớn hơn trên một đơn vị thời gian. Về mặt y học lượng máu bơm trong một phút đạt trên 2,5 lít là đáp ứng yêu cầu nhưng với kích cỡ 4 mm thì máy vẫn còn quá lớn và không phải bác sỹ tim mạch nào cũng dám đưa nó qua ống thông vào tim.    Máy bơm tim trong tâm thất trái.  Máy bơm mới có tên ECP đủ nhỏ để có thể được đưa vào sử dụng tại bất cứ một bệnh viện nào. Mặc dù nhỏ như vậy nhưng máy bơm này có thể bơm bình quân tới 3,5 lít máu một phút. Làm thế nào để đạt được công suất đó?  Điều bí mật ở cỗ máy mới này là ở chỗ máy chỉ có kích cỡ 3 mm tuy nhiên khi đưa đến một vị trí mong muốn trong tim nó có thể tự bung và duỗi ra dài thêm sáu mm mà không cần phải nhấn nút điều khiển nào cả.  Khoảng một nửa máy bơm hình thành từ hợp kim – nickel-titan và phần còn lại là một chất liệu nhựa nhân tạo chuyên biệt. Phần nhựa chỉ giữ định hình trong nửa giờ đồng hồ đầu tiên, cho nên loại bơm 3mm này không thể lưu giữ sẵn trong kho mà trước khi đưa vào cơ thể người bệnh nó mới được định hình.  Trong máy bơm tim này có hai cánh quạt đối diện nhau trong một vỏ nhỏ và có vận tốc 32.000 vòng phút. Một trong những thách thức công nghệ là sau khi máy bơm phát huy hết công suất vẫn giữ được độ dung sai cực nhỏ, một phần triệu mét. Thêm đó là bề mặt phải cực nhẵn để bảo đảm hồng huyết cầu không bị tổn thương do các cấu trúc nhọn, sắc.  Một điểm quan trọng đối với loại máy bơm này là bảo đảm cung cấp năng lượng cho máy bơm mini. Không có chỗ cho điện và pin trong một hệ thống có thể gập lại. Bơm được vận hành nhờ một ống polymer dài 1,2m, bên trong là một cáp kim loại, chạy từ động mạch đùi tới tim và được vận hành nhờ động cơ điện một chiều đặc biệt đặt bên ngoài trong một bảng điều khiển.   Thách thức của công nghệ này rất rõ ràng: một mặt dây cáp gồm nhiều sợi kim loại rất nhỏ dẫn tới tim phải chịu được vòng quay cực nhanh. Mặt khác quá trình này không được rung lắc – điều đó thực sự nguy hiểm chết người. Ngoài ra hệ đống chuyển động cơ học này bao gồm cả cánh quạt ở trong tim không chịu được nhiệt độ cao. Do đó trục xoay phải được làm nguội bởi dung dịch glucose tương hợp sinh học.  Bệnh nhân có một máy bơm tim như vậy luôn kết nối với một bàn điều khiển do đó người bệnh phải hoàn toàn bất động. Vấn đề ở đây không liên quan gì đến sự di chuyển cả, thiết bị hoạt động tối đa không quá sáu tiếng đồng hồ. Vậy loại máy bơm nhỏ nhất thế giới này nhằm mục đích gì trong y học?  Nhóm phát triển máy bơm cho biết ví dụ: Có những bệnh nhân có nguy cơ cao, cho đến nay không thể điều trị vì tim của họ bị tổn thương nặng đến mức can thiệp mở mạch không mấy ai dám chịu trách nhiệm.Chỉ đến khi có máy bơm mini hoạt động tạm thời để tim không còn phải chịu tải một thời gian thì lúc đó các bác sỹ mới dám can thiệp bằng phẫu thuật, hoặc hoặc đặt ống thông.  Vậy sau khi sử dụng tạm thời kết thúc máy bơm mini này sẽ được đưa ra khỏi cơ thể bằng cách nào? Sau khi tắt để máy bơm ngừng quay nó sẽ được rút ra khỏi vòm động mạch chủ rồi đi lên ra khỏi động mạch  – kích thước bơm được giữ nguyên. Tại đây nó được kéo qua một đường ống có đường kính cố định, do đó bơm lại bị ép xuống để đường kính bên ngoài chỉ còn là 3 mm. Ở trạng thái này nó sẽ được kéo dọc theo ống thông ra khỏi cơ thể.  Hoài Trang lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus222567748/Hoffnung-fuer-Hochrisikopatienten-Kleinste-Herzpumpe-der-Welt.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy cắt kính ba lớp      Máy cắt kính bán tự động của kỹ sư Vũ Hoàng  Sơn, Công ty CP Cửa nhựa Trường Sơn (ảnh bên), có thể cắt cùng một lúc hai mặt của  kính dán an toàn ba lớp, trong khi các loại cắt kính phổ biến trong các  nhà máy chỉ có một dao cắt, nghĩa là chỉ cắt được một lớp kính.     Máy cắt kính ba lớp của kỹ sư Vũ Hoàng Sơn được cấu tạo với hai dao cắt để có thể cùng một lúc cắt mặt trên và dưới của tấm kính an toàn. Được gắn trên hai củ dao, trượt trên thanh ray dẫn hướng cố định, hai dao cắt hoạt động bởi một động cơ kết hợp với hệ thống dây cáp. Để đảm bảo an toàn, máy còn có hệ thống đỡ/lật để chuyển kính lên bàn máy, đặc biệt hữu dụng khi vận chuyển những tấm kính lớn, tránh xảy ra tình trạng làm gãy kính. Ngoài ra, máy cắt kính còn có hệ thống ống dẫn cung cấp dầu bôi trơn, hỗ trợ các bộ phận còn lại hoạt động trơn tru.  Với việc áp dụng máy cắt kính an toàn ba lớp, các nhà máy sẽ tiết kiệm được thời gian thi công, nâng cao năng suất lao động đồng thời đảm bảo được an toàn lao động cho công nhân.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng chế máy cắt kính an toàn      Từ các nguyên vật liệu sẵn có kết hợp với “những thay đổi nhỏ”, anh Trần Văn Quyết không ngờ rằng chiếc máy cắt kính giá rẻ mà mình chế tạo đã vượt xa mong muốn ban đầu là giảm bớt vất vả trong công đoạn cắt kính.    Chiếc máy này hiện đã trở thành thiết bị quen thuộc tại nhiều công ty nhôm kính lớn trong nước, thậm chí còn được xuất khẩu sang một số thị trường nước ngoài.    Mặc dù đều là những loại kính phổ biến trong các công trình xây dựng nhưng so với kính cường lực hay kính đơn (loại kính thông thường phẳng và trong suốt, dễ vỡ), kính dán an toàn có nét đặc biệt hơn rất nhiều. Dù không được gia công để tăng khả năng chịu lực song kính dán an toàn vẫn có độ bền tốt bởi cấu tạo gồm hai hoặc nhiều lớp kính đơn được ghép với nhau bằng lớp keo dán ở giữa. Nếu chẳng may bị vỡ, các mảnh vụn vẫn dính lại nhờ lớp keo nên đảm bảo an toàn cho mọi người xung quanh.        Nét đặc biệt này cũng đặt ra bài toán khó cho những người thợ nhôm kính trong quá trình cắt gọt – công đoạn cần thiết để đưa các tấm kính vào sử dụng. “Kính dán an toàn là một trong những loại kính khó cắt nhất”, anh Trần Văn Quyết, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại dịch vụ Linh Sơn Windows ở Thường Tín (Hà Nội) cho biết. Hầu hết các cơ sở sản xuất nhôm kính nhỏ ở Việt Nam thường cắt theo phương pháp thủ công – “cắt bằng tay như thế rất vất vả, vì muốn cắt kính dán thì phải cắt cả hai mặt, cắt xong mặt này rồi lật ngược trở lại mặt kia, cắt đúng vị trí cũ thì mới bẻ được, không phải như kính đơn cắt một mặt rồi bẻ là xong”, anh giải thích. Phương pháp này không chỉ tốn thời gian, công sức mà còn không đảm bảo an toàn trong quá trình cắt.    Một số doanh nghiệp sản xuất lớn đã áp dụng máy cắt kính dán có hai lớp dao cắt mặt trên và mặt dưới cùng lúc, không phải lật kính nên hiệu quả và an toàn hơn. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của những người trong ngành như anh Quyết, giải pháp này trên thực tế vẫn chưa hoàn toàn tối ưu: “Máy cắt có hai mũi dao theo phương thẳng đứng tì trực tiếp vào mặt kính, tạo ra áp lực lớn đối với mũi dao cắt, đặc biệt khi dao cắt di chuyển với tốc độ cao. Trong trường hợp gặp vật cản rất dễ dẫn đến gãy mũi dao. Ngoài ra, việc bố trí dao cắt theo phương thẳng đứng dễ dẫn đến tình trạng mạch cắt không ổn định, dễ thiên lệch do mũi dao có độ đàn hồi rất thấp, làm giảm tuổi thọ của đầu mũi dao và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm”.    Những băn khoăn trên đã dẫn đến sự ra đời của chiếc máy cắt kính của anh Trần Văn Quyết. Với cấu tạo đơn giản, dễ dàng vận hành, chiếc máy này giúp tăng năng suất cắt kính ba lần so với phương pháp truyền thống, đồng thời tuổi thọ của mũi dao được nâng cao, giảm các chi phí bảo trì, bảo dưỡng thiết bị. “Ý tưởng ban đầu của tôi là chế tạo ra thiết bị cắt để cho anh em đỡ vất vả, đảm bảo an toàn cũng như năng suất cắt kính”, anh nói.    Sáng chế bằng… tưởng tượng    Về bản chất, chiếc máy cắt kính của anh Quyết vẫn theo nguyên lý chung – cắt đồng thời cả hai mặt trên dưới của tấm kính dán an toàn. Thành phần quan trọng nhất trong chiếc máy này là bộ dao cắt. Nhưng lưỡi dao cắt kính vốn phổ biến, bản thân anh Quyết cũng như nhiều cơ sở sản xuất máy cắt kính khác cũng mua lưỡi dao sẵn có trên thị trường về chế tạo, lắp ráp. Vậy điểm sáng tạo ở đây là gì? “Nguyên lý hoạt động của thiết bị không phức tạp, điều đáng chú ý nằm ở cách bố trí, xác định lực cắt,…”, anh giải thích. “Đây là bí quyết riêng, tuy chiếm phần nhỏ song lại là yếu tố quyết định đến hiệu quả và thành công của chiếc máy này”.    Với một người chưa từng qua trường lớp đào tạo bài bản về kỹ thuật như anh Trần Văn Quyết, việc tìm ra bí quyết công nghệ của chiếc máy cắt kính này có lẽ là một bài toán không đơn giản? “Đúng là không đơn giản, nhưng nằm ở vấn đề triển khai chứ không phải là ý tưởng. Khi đặt ra bài toán, tôi đã hình dung trong đầu phải xử lý như như thế nào, phải tưởng tượng ra cái này cái kia, về phần cơ khí phải kết nối với nhau như thế nào, sau đó cứ thế làm theo ý tưởng của mình thôi”, anh Quyết cho biết.    Nhờ ý tưởng sáng tạo sẵn có, anh dễ dàng phác họa mô hình chung của chiếc máy: Phần dao cắt sẽ có kết cấu dạng đòn bẩy, gắn với trục tại vị trí chính giữa, mũi dao gắn vào một đầu của đòn bẩy với thiết kế vát chéo một góc 45o. Đầu còn lại của đòn bẩy gắn với lò xo. Lực kéo dãn lò xo tại đầu này sẽ tạo lực tác động đối xứng lên đầu còn lại của đòn bẩy và mũi dao sẽ được tì vào mặt kính. Anh Quyết cho biết với nguyên lý đòn bẩy, mũi dao sẽ hoạt động ổn định nhờ độ đàn hồi cao của lò xo, tăng hiệu quả cắt kính, chất lượng sản phẩm cũng như tăng tuổi thọ dao cắt.    Tuy nhiên, quá trình đi từ ý tưởng đến sản phẩm ứng dụng trong thực tế không hề đơn giản. Thách thức lớn nhất trong quá trình thử nghiệm máy cắt kính là chi phí tốn kém, nếu sơ suất là thành “máy phá kính ngay”, anh Quyết cho biết, “mỗi mét vuông kính vài trăm nghìn đồng, chỉ cần lỗi một lúc là mất hàng chục triệu đồng”. Xuất phát từ một doanh nghiệp nhỏ, thiếu cả nguồn vốn lẫn nhân lực, anh phải cố gắng tự xoay xở. “Khi đó chỉ có mỗi tôi và người cháu cùng làm, cả hai lọ mọ một năm trời mới làm ra cái máy, cũng tốn kém nhưng may mắn được gia đình, vợ con ủng hộ”. Quãng đường này gian nan tới mức dù bây giờ đã thành công, nhưng “nếu cho mình bắt đầu lại thì chắc mình không dám làm”, anh Quyết cười nói.    Những nỗ lực của anh đã mang lại kết quả xứng đáng: chiếc máy cắt kính dán an toàn có thể cắt được tấm kính với kích cỡ tối đa là 10m2 mà không phải lật lại, đảm bảo an toàn cho người dùng cũng như tăng năng suất cắt. “Công suất cắt phụ thuộc vào đơn hàng, nếu cắt theo hàng loạt, hàng trăm tấm giống nhau thì tốc độ rất nhanh, trung bình cắt được từ 300-500m/ngày”, anh cho biết. Quy trình vận hành cũng rất đơn giản, người dùng chỉ cần ấn công tác khí nén cấp cho xi lanh, dưới tác động của xi lanh, lò xo sẽ bị kéo dãn, từ đó mũi dao sẽ tì chặt vào mặt trên và mặt dưới của tấm kính. Lúc này công tắc hành trình sẽ tự động mở mạch điện cho động cơ để di chuyển cụm dao thực hiện chế độ cắt theo hướng đã định sẵn. Sau đó tới bước bẻ kính, mặt bàn bẻ được nâng lên để bẻ mặt kính phía dưới và bẻ xuống làm gãy mặt kính phía trên. Cuối cùng là nhấn công tắc để đưa hệ thống dao cắt trở về vị trí ban đầu.    Ngay khi bắt tay vào chế tạo, anh Quyết đã quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm của mình. “Nghiên cứu cần một thời gian dài, nếu không chú ý bảo hộ như nhiều nơi nghiên cứu xong đến khi ra thị trường chẳng còn gì cả. Điều quan trọng là mình phải bảo vệ được bí quyết của mình”, anh nhận xét. Với suy nghĩ này, anh đã sớm nộp đơn đăng ký và được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích về bộ dao dùng cho máy cắt kính vào năm 2021.    Chỉ vỏn vẹn vài năm kể từ khi hoàn thiện đến nay, chiếc máy cắt kính của anh Trần Văn Quyết đã được ứng dụng ở nhiều doanh nghiệp nhôm kính trên cả nước. “Hiện nay chúng tôi đã phát triển hơn 20 dòng sản phẩm để phục vụ cho các thị trường, đối tượng khách hàng khác nhau. Hầu hết các nhà máy kính ở Việt Nam, trong đó có những nhà máy thuộc hàng lớn nhất nhì trong nước cũng là khách hàng của chúng tôi, ngoài ra cũng xuất khẩu một số sản phẩm sang Sơn Đông (Trung Quốc)”, anh tự hào kể lại.    Có lẽ, điều quan trọng nhất giúp chiếc máy cắt kính của anh Trần Văn Quyết thuyết phục được khách hàng chính là chất lượng. Vậy chất lượng ở đây là gì? “Chính là khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng”, anh phân tích. “Chiếc máy của tôi phù hợp với thị hiếu của Việt Nam, chẳng hạn như giá rẻ, tốc độ nhanh. Các máy của nước ngoài thiên về tự động hóa, giảm bớt sức lao động của con người, chẳng hạn như công nhân chẳng cần làm gì, máy làm tự động hoàn toàn nhưng mất khoảng 10 phút mới ra một tấm kính. Máy của mình vẫn phải có con người hỗ trợ thêm một tí, nhưng chỉ khoảng 10 giây là ra được một tấm. Ngoài ra máy của nước ngoài không chú ý lượng kính thừa, kính thừa bao nhiêu họ bỏ đi nhưng máy của mình gọt được tối đa ở các điểm nhỏ nhất, hạn chế kính thừa. Chi phí bảo dưỡng máy của tôi cũng rất rẻ, vài năm có khi chỉ mất 2-3 triệu đồng bảo dưỡng, còn máy của nước ngoài khi xảy ra sự cố phải tốn nhiều thời gian, chi phí mới mời được chuyên gia sang sửa”.    Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, anh không ngừng tìm cách hoàn thiện sản phẩm và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ của mình. “Hiện nay chúng tôi đã tích hợp cánh tay robot trong máy cắt để tự động lấy tấm kính, tạo thuận tiện hơn cho quá trình cắt kính. Chúng tôi cũng yêu cầu các nhân viên không được phụ thuộc vào bản thiết kế, phải nắm rõ từng chi tiết, bất kể trường hợp nào khách hàng gọi báo hỏng là phải xử lý được vấn đề cho khách hàng ngay lập tức”, anh nói.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Máy chăm sóc cây trồng tự động      Nhằm hỗ trợ người nông dân trong canh tác  nông nghiệp, kỹ sư Vi Toàn Nghĩa đã sáng tạo ra máy chăm sóc cây trồng  tự động (ảnh bên). Hơn thế, thiết bị này còn có thể góp phần vào quá trình chống  biến đổi khí hậu.      Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa thiết kế máy chăm sóc cây trồng dựa trên việc tích hợp một cụm kỹ thuật vào bộ điều khiển, yếu tố quan trọng nhất của máy. Với bộ điều khiển mày được lập trình sẵn, máy có thể tự động thực hiện các bước chăm sóc cây trồng một cách hoàn hảo: xác định chu kỳ tưới nước theo thời gian, kiểm soát nhiệt độ, đảm bảo đủ độ sáng, thay đổi được bước sáng thích hợp cho các cây trồng có chu kỳ nhậy sáng, vòi phun có cấu tạo đặc biệt để có thể chuyển từ tưới nhỏ giọt sang phun sương và ngược lại, tạo độ ẩm bằng phun sương tiết kiệm nước, thích hợp khi dùng phân bón lá.   Nếu máy chăm sóc cây trồng tự động được đưa vào áp dụng, người nông dân có thể không tốn nhiều công sức trong việc tận dụng tối đa nguồn nước, đem lại cho cây nguồn dinh dưỡng, ánh sáng hợp lý, rút ngắn chu kỳ thời vụ. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận xét, bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn tồn tại một số vấn đề nhất định khi đưa vào sử dụng, trong đó đòi hỏi người nông dân phải làm đất thật kỹ, đồng thời đảm bảo việc gieo trồng đúng thời điểm đã định.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy chẩn đoán bệnh đục thủy tinh thể chính xác như người      Các nhà khoa học tại Đại học Tôn Dật Tiên, Trung Quốc, đang dùng một mạng nơ-ron nhân tạo mới được gọi là CC-Cruiser để nhận biết và chẩn đoán bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh một cách chính xác như các bác sĩ nhãn khoa.      Họ cũng tin rằng, công nghệ này có thể áp dụng với những bệnh khác, vốn được chẩn đoán dựa trên hình ảnh y học.  CC-Cruiser là một mạng nơ-ron tích chập, được “đào tạo” qua việc xử lý những hình ảnh lấy từ Chương trình Bệnh đục thủy tinh thể ở trẻ em của Bộ Y tế Trung Quốc. CC-Cruiser được cung cấp dữ liệu chưa gán nhãn từ 57 người, bao gồm 43 người có mắt bình thường và 14 người bị đục thủy tinh thể. Mạng này đã xác định những trường hợp bị đục thủy tinh thể bẩm sinh với độ chính xác 98,25%, ước lượng được vị trí đục thủy tinh thể với độ chính xác 100%, và đề xuất phương pháp điều trị thích hợp với độ chính xác 92,86%.   Trong một thí nghiệm sử dụng 13 hình ảnh mắt bình thường và 40 hình ảnh mắt bị đục thủy tinh thể lấy từ mạng Internet, CC-Cruiser có kém thành công hơn một chút. Những trường hợp tiềm ẩn đục thủy tinh thể bẩm sinh được xác định với độ chính xác 92,45%, vị trí được ước lượng với độ chính xác 94,87%, và phương pháp điều trị thích hợp được đề xuất với độ chính xác 89,74% – sự sụt giảm này có thể do những thay đổi của hình ảnh về ánh sáng, góc chụp và độ phân giải.  Trong một thí nghiệm so sánh với năng lực của các bác sĩ nhãn khoa, CC-Cruiser đã xác định được tất cả các trường hợp mắc đục thủy tinh thể bẩm sinh, trong khi cả ba vị bác sĩ đều để lọt một trường hợp. “Về độ chính xác nói chung, CC-Cruiser tương đương với một bác sĩ nhãn khoa có đủ trình độ chuyên môn. Đáng chú ý, CC-Cruiser chẩn đoán thành công tất cả những bệnh nhân nguy cơ trong số 50 trường hợp trong khi tất cả các bác sĩ nhãn khoa đều chẩn đoán sai một số trường hợp”.  “Đối với những gợi ý điều trị, CC-Cruiser đưa ra những gợi ý điều trị chính xác cho tất cả các bệnh nhân cần phẫu thuật (không có trường hợp nào bị bỏ sót), với năm trường hợp dương tính giả”, theo GS Lin Haotian, đồng tác giả của nghiên cứu. Việc chẩn đoán của CC- Cruiser có thể được cải thiện nhờ lượng dữ liệu lớn hơn, GS Lin nói thêm.  Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một nền tảng đám mây cộng tác (collaborative cloud) phục vụ việc tích hợp dữ liệu và thăm dò tính khả thi của việc ứng dụng CC-Cruiser tại nhiều bệnh viện đa khoa hơn. Những nền tảng dựa trên đám mây như vậy có thể thay thế hoặc bổ khuyết cho những phương pháp đòi hỏi tổng hợp nhiều nguồn lực trong điều trị những căn bệnh hiếm gặp. Hiện nay, những bệnh hiếm gặp thường được điều trị tại những trung tâm chuyên khoa, nơi đòi hỏi chi phí hoạt động tốn kém và thường nằm rải rác, khó mang đến cho bệnh nhân sự chăm sóc đầy đủ.  Mặc dù có những kết quả đáng khích lệ, nhưng GS Lin tin rằng trí tuệ nhân tạo như CC-Cruiser chỉ để hỗ trợ hơn là thay thế các bác sĩ. “Máy móc có những lợi thế về tự động hóa, sự khách quan và tính chính xác, nhưng khả năng giao tiếp và tương tác về mặt tình cảm của con người là không thể thiếu trong điều trị y khoa. Chúng tôi giữ quan điểm rằng những kết quả có được từ học sâu (deep learning) kết hợp với những phân tích của con người sẽ đem lại hiệu quả và chất lượng chăm sóc sức khỏe tốt hơn”, GS Lin nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:   http://cacm.acm.org/news/212914-computer-diagnoses-cataracts-as-well-as-eye-doctors-can/fulltext       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy chưng cất nước bằng ánh sáng mặt trời giá rẻ      Một phần mười dân số thế giới đang thiếu nước sạch. Giờ đây, các nhà nghiên cứu công bố đã phát triển một thiết bị dùng ánh sáng mặt trời để chưng cất nước sạch với tốc độ nhanh hơn bốn lần so với các phiên bản đang có trên thị trường.      Từ hàng nghìn năm nay, con người đã biết dùng năng lượng mặt trời để chưng cất nước sạch. Nguyên lý cơ bản là nước bẩn được đựng trong những chiếc bình có đáy màu đen và đậy ở trên bằng tấm nhựa hoặc kính trong suốt. Ánh sáng mặt trời được hấp thụ bởi vật liệu màu đen đẩy nhanh quá trình bốc hơi, hơi nước ngưng tụ trên tấm đậy bằng kính/nhựa trong suốt được dẫn vào vật chứa nước sạch. Hầu hết các chất ô nhiễm không bốc hơi, nhưng rất nhiều năng lượng mặt trời bị lãng phí trong quá trình làm nóng từ từ một bình đầy nước. Thậm chí những dụng cụ chưng cất tốt nhất cũng cần rộng đến 6m2 để tạo ra đủ nước cho một người dùng trong một ngày.  Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã cải tiến các thiết bị chưng cất theo hai hướng. Thứ nhất, họ thiết kế các dụng cụ chứa nước sao cho chỉ có lớp nước trên cùng mới được làm nóng và bốc hơi, nghĩa là sẽ ít năng lượng bị lãng phí hơn. Thứ hai, họ chuyển sang vật liệu nano để hấp thụ nhiều tia mặt trời hơn. Nhưng những vật liệu nano hấp thụ ánh sáng hiệu quả có giá hàng trăm USD/gram, khiến chúng không phù hợp với những nước đang phát triển, nơi cần công nghệ làm sạch nước này nhất.  Nhận thức được vấn đề này, Qiaoqiang Gan, kĩ sư điện tại Đại học Bang New York (SUNY), Buffalo, Mỹ, tìm cách nghiên cứu thiết cứu thiết bị chưng cất nước sạch từ các vật liệu có giá rẻ.  Thiết bị mới do nhóm của ông nghiên cứu gồm ba phần chính. Gan và các đồng nghiệp bắt đầu với loại giấy nhiều sợi – giống như loại giấy dùng để in tiền. Họ phủ giấy bằng một lớp carbon màu đen, một loại bột rẻ tiền còn lại sau khi đốt dầu hoặc nhựa đường. Tiếp đến, họ lấy một tấm xốp polystyrene hình vuông – loại được dùng để làm cốc cà phê – cắt nó thành 25 phần riêng rẽ nhưng được nối lại với nhau. Tấm xốp nổi trên mặt nước chưa qua xử lí và hoạt động như một tấm cách nhiệt, ngăn ánh sáng mặt trời làm nóng phần nước ở phía dưới. Sau đó, họ đặt các tấm giấy quanh bốn mặt của tấm xốp, với các mép gấp nằm dưới mặt nước. Cuối cùng, họ đặt một cái chóp làm bằng acrylic trong suốt lên trên. Toàn bộ khối thiết bị này nổi trên mặt nước, lớp giấy sẽ hút dần nước lên, còn lớp carbon màu đen sẽ hấp thụ ánh sáng mặt trời.  Trong quá trình hoạt động, nước bốc hơi từ tấm giấy phủ carbon đọng lại trên chóp acrylic và chảy xuống một bình đựng. Gan và các đồng nghiệp công bố trên Global Challenges rằng hệ thống này không chỉ hoạt động, mà hiệu suất dùng năng lượng mặt trời để làm bốc hơi nước đạt đến 88%. Điều này cho phép một thiết bị có kích thước 1m2 chưng cất được 1 lít nước mỗi giờ, nhanh gấp bốn lần so với các thiết bị chưng cất đang có mặt trên thị trường, theo Gan.  Ông ước tính, những vật liệu cần thiết để tạo ra nó chỉ vào khoảng 1,6 USD/m2, so với mức giá 200 USD/m2 cho những hệ thống sử dụng những thấu kính đắt đỏ để hội tụ ánh sáng mặt trời, làm tăng tốc độ bốc hơi nước. Một thiết bị cấp nước ở mức tối thiểu cho một gia đình bốn người do nhóm của ông thiết kế chỉ tốn khoảng 5USD cho vật liệu thô. Mức giá rẻ đó không những có lợi cho người nghèo mà còn rất phù hợp cho các hoạt động cứu trợ ở những vùng bị thiên tai làm mất hoàn toàn nguồn nước uống. “Chúng tôi tin rằng công nghệ này sẽ sớm được ứng dụng,” Gan bày tỏ.  Công trình của Gan là “một tiến bộ tốt đẹp”, Gang Chen, kĩ sư cơ khí tại MIT, Cambridge, người cũng phát triển một thiết bị chưng cất nước sạch từ những vật liệu nhẹ, bình luận. Bộ thiết mới này không chỉ sử dụng những vật liệu không thể rẻ hơn trên thị trường, mà còn tạo ra nước sạch nhanh hơn rất nhiều, ông nhấn mạnh. “Điều này thực sự quan trọng trong việc giải quyết những thách thức về nước”.  Các tác giả của nghiên cứu đã lập công ty Suny Clean Water để thương mại hóa công trình và thương thảo với một số công ty trên thế giới để đưa công nghệ mới này vào sử dụng rộng rãi.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:   http://www.sciencemag.org/news/2017/02/sunlight-powered-purifier-could-clean-water-impoverished       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy đánh bắt ngao vạng của nữ sinh trung học      Sáng tạo máy đánh bắt ngao vạng của cô bé  học sinh lớp 12 Trần Thị Lan Anh (Tiền Hải, Thái Bình) đã bất ngờ đem  lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong khi chi phí chỉ bằng gần 1/10 so với  thuê nhân công. Đây là lý do để tất cả các vùng nuôi ngao vạng ở Thái  Bình hiện nay đều sử dụng chiếc máy này.     Trần Lan Anh bắt đầu nghĩ đến chiếc máy đánh bắt ngao vạng từ đầu năm học lớp 11 bởi từng chứng kiến “gia đình và các hộ dân nơi em ở đều phải bỏ ra hàng chục triệu đồng để thuê nhân công đánh, bắt ngao, vạng. Thu nhập cuối mùa vụ vẫn hết sức bấp bênh, nếu gặp lúc giá ngao, vạng giảm mạnh thì chi phí thuê nhân công đôi khi còn lẹm cả vào vốn”. Khi thu hoạch, người ta thường dùng chiếc cào mà Lan Anh miêu tả “như chiếc cào Trư Bát Giới” để thu ngao, vạng về, không chỉ thường dễ bị nát ngao mà còn khó lọc được ngao to.  Chính vì vậy, Lan Anh đã tìm cách làm ra chiếc máy đánh bắt ngao vạng vừa có khả năng tăng năng suất đánh bắt mà còn chọn lọc được ngao đủ phẩm chất, tránh bắt ngao nhỏ, giảm thiểu hiện tượng nát ngao, gây tổn thất cho người nuôi.  Trong các giờ học, do từng được thầy giáo giải thích về nguyên lý hoạt động của   động cơ máy nổ, Lan Anh đã liên tưởng đến khả năng hình thành một chiếc máy đánh bắt ngao vạng đúng như em mong muốn. Từ đó, Lan Anh bắt đầu định hình những bộ phận của chiếc máy bao gồm máy nổ, ống nhựa có đục lỗ để làm ống sủi (khoảng cách lỗ sủi này phụ thuộc vào loại máy nổ sử dụng), một tấm xốp lớn bọc bạt để đặt máy nổ, rọ lưới thông hai đầu, khung sắt để sàng lọc ngao vạng, sắt uốn vòng cung đủ rộng để bọc miệng lưới… Trên nguyên lý động cơ máy nổ, Lan Anh nối ống hút và ống xả nước vài máy nổ để khi vận hành máy,  nước sẽ được hút từ ống hút và xả vào ống sủi. Khi đó, nước sẽ tạo ra lực lớn để xói cát, lộ con ngao, vạng được đưa vào lưới. Có khoảng từ bốn đến tám người (tùy thuộc vào loại máy) sẽ cầm dây kéo và kéo máy sủi đi khắp bãi nuôi ngao. Toàn bộ chi phí cho chiếc máy chỉ khoảng hai triệu đồng.   Theo ước tính của Lan Anh, nếu làm theo phương pháp thủ công, mỗi ha bãi nuôi ngao sẽ cần từ 60 đến 70 triệu đồng tiền thuê nhân công nhưng nếu sử dụng máy thì chỉ mất từ năm đến bảy triệu đồng nhân công và một triệu đồng xăng, dầu, thêm một ích lợi khác là thời gian cũng chỉ vỏn vẹn từ một đến hai ngày thu hoạch. Hơn nữa, khi thu hoạch bằng máy, số lượng ngao, vạng bị nát, mất phẩm chất như thu hoạch bằng cào cũng giảm xuống, với một tạ ngao chỉ hao hụt chừng vài con (làm thủ công thì tới bảy đến tám kg bị hỏng).   Qua quá trình sử dụng thử nghiệm trên bãi nuôi ngao của gia đình, Lan Anh còn nhận thấy, chiếc máy của mình chế tạo có thể thoải mái sử dụng, không quá phụ thuộc vào thời tiết, trong khi thu hoạch bằng phương pháp cũ, chủ hộ nuôi ngao phải “trông trời trông đất trông mây” vì chỉ có thể đáng bắt khi nước cạn, thậm chí một tháng chỉ có thể đánh bắt trong vòng bốn đến năm ngày điều kiện thời tiết thuận lợi.   Trước những hiệu quả quá rõ rệt mà chiếc máy đánh bắt ngao vạng của Lan Anh thực nghiệm trên chính bãi nuôi ngao gia đình, nhiều bà con nông dân đã háo hức tới tận gia đình Lan Anh hỏi mua máy. Khi đó, Lan Anh đều giải đáp tận tình và hướng dẫn cách lắp, vận hành máy mà không lấy của ai một đồng tiền công nào. Bên lề cuộc gặp gỡ các nhà sáng chế toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội vào ngày 13/5, Lan Anh giải thích, “bố em không cho em lấy tiền công vì tuổi nhỏ, sáng chế ra chiếc máy cũng chỉ để phục vụ sản xuất, giúp đỡ mọi người chứ không phải làm giàu”.  Với sáng chế máy đánh bắt ngao, vạng, Lan Anh đã đoạt giải nhất cuộc thi KHKT toàn quốc dành cho học sinh trung học năm 2014. Niềm vui lớn nhất của cô nữ sinh Tiền Hải đến nay vẫn là chiếc máy đã được sử dụng trên tất cả các vùng nuôi ngao Thái Bình.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy đánh suốt sợi tự động từ phụ tùng xe đạp và máy bơm nước      Gắn bó với nghề dệt vải truyền thống, anh  Trần Huy Quang (1985) ở xóm 10, xã Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam đã cho ra  đời sản phẩm máy đánh suốt sợi tự động được lắp ráp từ những vật liệu dễ  kiếm, giúp chấm dứt cảnh vất vả ngồi se sợi bằng tay, hao phí thời gian  và nguyên liệu. Hàng nghìn máy đánh suốt của anh đã xuất xưởng đến nhiều vùng trên cả nước.    Từng theo học nghề sửa chữa ô tô tại Trường Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, anh Trần Huy Quang đã mày mò nghiên cứu, lắp ráp thành công máy đánh suốt sợi chạy bằng động cơ từ máy bơm nước với sáu con suốt, tự động se sợi đạt năng suất 30 suốt/phút.  Như vậy, máy đánh suốt này giúp tăng năng suất lao động lên sáu lần mà chất lượng vải vẫn không thay đổi. Do cơ chế hoạt động đơn giản, một người có thể trông tới năm máy, khác hẳn cách làm truyền thống một người dệt vải cần một người đánh suốt với năng suất 2 phút mới được một suốt. “Làm công việc này [đánh suốt thủ công] thì việc chảy máu tay là chuyện thường gặp do sợi đánh vào tay. Mà mỗi người chỉ dệt được từ 30-35 m vải/ ngày”, anh Quang cho biết.  Thiết kế nhỏ gọn, máy đánh suốt này chỉ có giá thành 1,7 triệu đồng và rất dễ thay thế các bộ phận hỏng hóc do được lắp ráp từ những vật liệu dễ kiếm như phụ tùng xe đạp, máy bơm nước cũ. Trong khi đó, loại máy ngoại có năng suất cao chỉ thích hợp với mô hình công ty do kích thước lớn, giá cao từ 40 đến 50 triệu đồng/máy.  Để phục vụ bà con làng nghề về dệt vải, anh Quang đã mở hẳn xưởng chế tạo loại máy này và nhiều loại máy khác. Đến nay, khoảng 5.000 – 6.000 máy đánh suốt của anh đã xuất xưởng đến nhiều vùng trên cả nước.  Sáng chế của anh Trần Huy Quang đã được trao giải khuyến khích hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc 2011, bằng khen giải thưởng sáng tạo Khoa học kỹ thuật toàn quốc 2010 trước khi tham gia chương trình Sáng tạo Việt 2013.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy điện gió được World Bank để mắt      Từng thành công từ máy phát điện gió tự chế  bằng bốn cánh quạt phục vụ điện sinh hoạt gia đình, anh Trần Thanh Thành,  38 tuổi, ngụ ấp 3, xã Bình Thới, huyện Bình Đại (Bến Tre) tiếp tục  nghiên cứu làm máy phát điện gió hình trái bí.    Có ý tưởng về máy phát điện từ năm 2011, anh Trần Thanh Thành đã thực hiện ngay sáng chế này. Để đến được thành công, anh Thành đã trải qua nhiều thử nghiệm, trong đó nhiều lần thất bại. Ban đầu, anh thử nghiệm với xe đạp khi tận dụng lực bánh xe phát ra điện làm sáng bóng điện. Trên thử nghiệm ban đầu này, anh nghĩ tới nguồn gió biển quanh năm suốt tháng ở Bến Tre cũng có có khả năng làm ra điện với lực quay của những chiếc cánh quạt. Nghĩ là làm, anh tận dụng những nguyên liệu sẵn có quanh nhà như sắt vụn, nhôm để làm cánh quạt, đuôi lái gió và mua thêm tuốc bin xe đạp điện đá qua sử dụng.   Cuối cùng, chiếc máy của anh đã hoàn thành: máy phát điện có bốn cánh quạt, đuôi lái, mỗi cánh dài 80cm, bề rộng cánh quạt chừng 30cm, nối với tuốc bin, bình ắc quy, có lắp biến thế đổi điện một chiều thành điện xoay chiều, sau đó nối với bóng đèn điện thắp sáng. Ban ngày, điện thu được từ máy phát điện của anh Thành có thể chạy được tủ lạnh. Tính ra, công trình này tốn 10 triệu đồng và hàng trăm giờ công lao động của anh Thành. Bước đầu, công trình này đã được Trung ương Đoàn TNCSHCM trao giải thưởng Sáng tạo trẻ năm 2011. Đến năm 2013, VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam trao giải nhất do khán giả xem đài bình chọn cho anh Thành.  Tuy có thành công nhưng anh Thành vẫn luôn tìm tòi để tìm ra thiết kế phù hợp hơn để nâng cao công năng cho máy phát điện. Anh thấy máy có nhiều hạn chế do bốn cánh quạt có đuôi lái khá rườm rà, không chỉ thiếu tính thẩm mỹ mà còn bị lệch khi gió mạnh, khiến nguồn điện không ổn định. Mặt khác, bếu trời không có gió hay gió trở chiều sẽ làm trễ nhịp quay của cánh quạt, gây mất nguồn điện.   Sau nhiều lần làm đi làm lại, máy phát điện gió hình trái bí với 10 cánh quạt cũng hoàn thành. Mỗi cánh quạt có chiều dài khoảng 30cm xoắn theo hình bầu dục. Đây là loại máy phát điện nhận gió đa chiều, chỉ cần có làn gió nhẹ cũng đủ làm xoay chuyển mạnh cánh quạt, rất thích hợp ở những vùng, miền ít gió. Trục tâm đứng vững, không lệch về một phía, đảm bảo nguồn điện. Nguyên lý hoạt động vẫn giữ nguyên nhưng với 10 cánh quạt đa chiều, một lần quay cánh quạt sẽ kéo tăng bốn vòng tuốc-bin, nguồn điện phát ra có công suất lớn gấp đôi, gấp ba so với máy phát điện gió hình bốn cánh quạt có đuôi. Mẫu mã của máy phát điện gió hình trái bí lại rất gọn và hợp thẩm mỹ. Chi phí sáng chế chỉ cao hơn máy phát điện gió loại cũ khoảng năm triệu đồng.  Hiện sản phẩm này là một trong 30 sản phẩm thích ứng với biến đổi khí hậu trong toàn quốc đang được Ngân hàng Thế giới xem xét tài trợ. Sản phẩm này cũng được Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng phát triển thương hiệu Việt, thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam chấp nhận đủ điều kiện để cấp chứng nhận Thương hiệu quốc gia.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy đo Kinh lạc      Sau 20 năm nghiên cứu,  Lương Y Lê Văn Sửu đã ứng dụng thành công Phương pháp chẩn đoán bệnh  bằng độ kinh lạc, dùng đầu cảm biến nhiệt để đo nhiệt độ 24 điểm huyệt nằm trên 12  đường kinh lạc có trên 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân, gắn với 12  tạng phủ trên cơ thể.      Ưu điểm của phương pháp này là chỉ trong thời gian ngắn, thầy thuốc đã nắm được phần nào tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Tuy nhiên, lại mất khá nhiều thời gian để ghi lại số liệu trên giấy, sau đó tính toán số liệu theo những công thức khá phức tạp để đưa ra được kết luận về bệnh lý.  Để khắc phục, Lương y Lê Văn Sửu đã phối hợp với kỹ sư điện tử Đinh Lai Thịnh, Giám đốc Trung tâm Máy văn phòng, hoàn thiện phần mềm và máy Đo Kinh lạc sau bốn tháng nghiên cứu.  Chiếc máy đo độ kinh lạc thế hệ mới được tích hợp nhiều tính năng ưu việt bởi đầu đo, máy đo và máy vi tính được nằm trong cùng một máy rất gọn nhẹ, thao tác đơn giản.  Vẫn với nguyên lý đầu đo được kết nối với phần mềm chẩn đoán bệnh trên máy tính, ngay lập tức, các thông số về nhiệt độ của từng huyệt đạo sẽ được hiển thị trên màn hình. Phần mềm sẽ tự động xử lý các thông tin, dựa trên thông tin đó, cùng với kinh nghiệm chẩn đoán của bác sĩ, bệnh án sẽ được in ra chỉ trong vòng khoảng 7 phút.   Phần mềm còn bao gồm khoảng 450 bài thuốc, 700 bài châm cứu, chữa được tới hơn 100 bệnh. Tuy nhiên, để có được phần mềm chẩn đoán bệnh thông minh này, tác giả cùng nhóm nghiên cứu đã phải xây dựng một kho dữ liệu rất lớn dựa theo phương pháp sác xuất thống kê và cơ sở dữ liệu của hàng chục ngàn bệnh nhân mà thầy Lê Văn Sửu đã chẩn trị trước đó. Các kỹ sư đã phải nhập dữ liệu của hàng trăm, hàng ngàn bệnh nhân có cùng biểu hiện bệnh, dùng phương pháp đo này, và có kiểm nghiệm qua kết quả tây y để có thể có những kết luận cuối cùng.    Thiết bị đo nhiệt độ kinh lạc đã được một số bệnh viện tại Hà Nội, nhiều cở sở y học trên toàn quốc và một số nước trên thế giới ứng dụng, có biên bản nghiệm thu chất lượng.  Sản phẩm cũng được trao giải Ba trong cuộc thi Sáng tạo KH&CN Việt Nam năm 2011, cúp vàng hội chợ công nghệ quốc tế Việt Nam (Techmart) 2012…   Hiện kỹ sư điện tử Đinh Lai Thịnh đã hoàn thiện chiếc máy đo nhiệt độ 25 kênh cùng một lúc để thuận lợi và rút ngắn hơn nữa thời gian chẩn trị bệnh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy dò vật chất tối quan sát được sự phân rã hạt nhân ngoại lai      Một máy dò được thiết kế để tìm vật chất tối, khối lượng “bị mất” trong vũ trụ, đã nhìn thấy một sự phân rã hạt nhân hiếm có vẫn gọi là bắt electron kép giải phóng hai neutrino (two-neutrino double electron capture) – với những gợi ý về vật lý hạt nhân và vật lý hạt.      Máy dò vật chất tối XENON1T. Nguồn: phys.org  Bằng cách nào bạn có thể quan sát được một quá trình diễn ra trong khoảng thời gian dài hơn một tỷ lần so với tuổi vũ trụ? Nhóm nghiên cứu hợp tác XENON đã làm được việc đó với một thiết bị được thiết kế và chế tạo để tìm vật chất tối – loại vật chất bí hiểm nhất của vũ trụ. Trong một bài báo xuất bản trên Nature, họ đã loan báo rằng mình đã quan sát được sự phân rã phóng xạ của xenon124, vốn có chu kỳ bán rã là 1.8 X 1022 năm.  “Chúng tôi đã thấy sự diễn ra của phân rã này. Đây là quá trình dài nhất, chậm nhất được quan sát một cách trực tiếp, và máy dò vật chất tối của chúng tôi đủ độ nhạy để đo đạc được nó,” Ethan Brown, một nhà nghiên cứu vật lý tại Rensselaer và là đồng tác giả nghiên cứu nói. “Thật đáng kinh ngạc khi chứng kiến quá trình này, qua đó có thể thấy là máy dò của chúng tôi có thể đo đạc được sự kiện vũ trụ hiếm nhất từng được ghi nhận”.  Nhóm hợp tác XENON vận hành XENON1T, một thùng 1.300 kilogram chất xenon lỏng siêu tinh khiết được che chắn khỏi các tia vũ trụ trong một máy điều lạnh đặt ở dưới độ sâu 1.500 mét nước dưới chân núi Gran Sasso ở Italy. Các nhà nghiên cứu đã dùng nó để tìm vật chất tối (vốn nhiều hơn 5 lần so với vật chất thông thường nhưng hiếm khi tương tác với vật chất thông thường) bằng việc ghi nhận những tia sáng nhỏ bé được tạo ra khi các hạt tương tác với xenon bên trong máy dò. Và trong khi XENON1T được thiết kế để nắm bắt sự tương tác giữa một hạt vật chất tối và một hạt nhân của nguyên tử xenon, máy dò thường chọn lấy những tín hiệu từ bất cứ tương tác nào với xenon.  Bằng chứng về sự phân rã xenon là việc một proton bên trong hạt nhân nguyên tử xenon được biến đổi thành một neutron. Trong phần lớn các nguyên tố tuân theo sự phân rã, nó xảy ra khi một electron được hút vào trong hạt nhân. Nhưng một proton trong nguyên tử xenon phải hấp thụ hai electron để biến đổi thành một neutron, một sự kiện vẫn được gọi là “bắt  electron kép”.  Bắt electron kép chỉ xảy ra khi hai electron đều ở bên phải hạt nhân vào đúng thời điểm, Brown nói, vốn là “một điều hiếm gặp được nhân lên gấp bội bằng một điều hiếm gặp khác, nó tạo ra điều siêu hiếm”.  Khi hiện tượng siêu hiếm đó xảy ra, nghĩa là bắt electron kép xảy ra bên trong máy dò vật chất tối, các thiết bị bắt ngay lấy tín hiệu của các electron trong nguyên tử khi chúng tái sắp xếp để chiếm chỗ hai electron đã bị hấp thụ vào trong hạt nhân.  “Các electron trong bắt kép bị loại khỏi lớp vỏ trong cùng của nguyên tử xung quanh hạt nhân, và điều đó tạo ra chỗ trống trong chính lớp vỏ”, Brown nói. “Các electron còn lại suy sụp vào trạng thái nền này, và chúng tôi thấy tiến trình suy sụp này trong máy dò của chúng tôi”.  Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học đo đạc được sự bán rã của đồng vị xenon trong một quan sát trực tiếp phân rã phóng xạ của nó.    Bắt electron và bắt kép electron kép giải phóng hai neutrino. Nguồn: Nature  “Phát hiện hấp dẫn này làm mở rộng hơn các biên giới hiểu biết về những tính chất cơ bản nhất của vật chất”, Curt Breneman – người phụ trách The School of Science, nhận xét. Công trình của TS. Brown trong kiểm chuẩn máy dò và đảm bảo xenon được tinh chế để đạt tiêu chuẩn cao nhất có thể về độ tinh sạch, qua đó góp phần quan trọng vào sự thành công của quan sát”.  Nhóm hợp tác XENON Collaboration gồm hơn 160 nhà khoa học từ châu Âu, Mỹ, Trung Đông và kể từ năm 2002, đã vận hành ba máy dò xenon lỏng siêu nhạy ở Phòng thí nghiệm quốc gia Ý Gran Sasso. XENON1T, cỗ máy dò lớn nhất trong số những máy dò loại này được thiết kế và lắp đặt, cung cấp một lượng dữ liệu lớn từ năm 2016 đến tháng 12/2018, khi nó dừng hoạt động. Các nhà khoa học hiện đang nâng cấp thực nghiệm cho pha mới của XENONnT – một máy dò có khối lượng gấp ba lần XENON1T.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-04-dark-detector-rarest-event.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy ép cọc thủy lực thông minh      Có thể coi chiếc máy ép cọc thủy lực thông  minh, còn được tác giả của nó, ông Nguyễn Văn Sáu (1956), Giám đốc Công  ty trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi, gọi là “Robot ép  cọc”, là máy ép cọc thủy lực made in Việt Nam đầu tiên.    Từ trước đến nay, Việt Nam chưa chế tạo được máy ép cọc thủy lực mà vẫn phải nhập và sử dụng các máy của nước ngoài để ép cọc, thi công nền, móng các công trình nhà cao tầng.  Là người đã có nhiều năm nhận làm ép cọc bêtông thủ công, cung cấp cho các nhà thầu xây dựng ở địa bàn các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, ông Sáu ấp ủ ý tưởng chế tạo ra một loại máy ép được số lượng cọc bêtông lớn, phù hợp với mọi điều kiện địa tầng và giá rẻ, tiện dụng hơn, thay thế cho loại máy nhập ngoại. Sau nhiều ngày nghiên cứu, tìm tòi, ông Sáu đã chế tạo thành công chiếc máy ép cọc thủy lực thông minh đầu tiên ở Việt Nam.   Máy ép cọc thông minh – “Robot ép cọc” của ông Sáu được thiết kế gồm có chân đế, giá ép, hệ thống nâng hạ cần cẩu, hệ thống thủy lực, hệ thống điện…, có các tính năng cẩu cọc, ép cọc, di chuyển, đổi hướng cơ động. Chiếc máy nặng khoảng 400 tấn (có thể thiết kế tăng thêm trọng lượng tới 1.000 tấn, tùy theo yêu cầu thi công của các nhà thầu) và ép được 400 tấn lực động (tương đương 180 tấn lực tĩnh).  Máy được điều khiển có thể tự động quay 180 độ, đi bước tiến và lùi với khoảng cách 3,5m mỗi bước, đi ngang được khoảng cách 1m mỗi bước mà không làm lún đất. Máy có cẩu tự hành gắn liền, bộ nguồn chạy điện, bơm thủy lực…  Giá thành để chế tạo máy khoảng 5 tỷ đồng (chỉ bằng 70% giá thành máy nhập ngoại). Số lượng cọc và chiều sâu cọc ép được trung bình trong một ngày cao gấp khoảng 10 lần so với phương pháp ép thủ công; so với các máy nhập ngoại thì loại máy này cũng có trọng lượng và áp lực nén cao hơn.  Máy ép cọc thủy lực do ông Sáu thiết kế thích hợp với thi công ép các loại cọc tròn, cọc vuông, cọc chữ H ở mọi loại địa hình và độ dài của cọc không bị hạn chế. Khi thi công, máy ép cọc ít gây tiếng ồn, không gây ô nhiễm và chấn động môi trường xung quanh nên phù hợp cho thi công xây dựng các công trình ở khu vực thành thị, khu vực có quy định giới hạn về chấn động như gần các tòa nhà cũ, yếu, nền địa tầng yếu.  Trước khi đến với chương trình Sáng tạo Việt 2013, sản phẩm của ông Nguyễn Văn Sáu từng được giải nhất Hội thi Sáng tạo kỹ thuật lần thứ 4 của tỉnh Bắc Giang.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy gia tốc “lật giở” và “đọc” thư tịch cổ mục nát 2000 năm tuổi      Chuyên gia tạo tác cổ đại nổi tiếng – giáo sư Brent Seales, giám đốc của chương trình Sáng kiến Phục hồi Kỹ thuật số tại Đại học Kentucky (Hoa Kỳ) cùng các đồng sự sẽ sử dụng máy gia tốc synchrotron Diamond Light Source đặt tại trung tâm Oxfordshire để “đọc” một bộ sưu tập các cổ vật nổi tiếng thế giới thuộc sở hữu của Viện nghiên cứu Pháp, gồm các cuộn giấy Herculaneum cổ có niên đại 2000 năm tuổi.      Một đầu của một trong hai cuộn giấy Herculaneum do Viện nghiên cứu Pháp cung cấp, đang được quét tại từ L’Institut de France đang được quét bởi Diamond Light Source (Máy gia tốc synchrotron thế hệ thứ 3 đặt gần Oxford mang tên Nguồn sáng kim cương), tại Đại học Kentucky, nhóm Sáng kiến Phục hồi Kỹ thuật số. Nguồn: Diamond Light Source.  Chương trình mà giáo sư Seales phụ trách là một chương trình nghiên cứu dành riêng cho việc phát triển các công cụ phần mềm cho phép khôi phục các văn bản mỏng manh đến mức không thể đọc được. Các nội dung, chữ viết từ thế giới cổ đại rất hiếm và quý giá, không thể tiếp cận, đọc thông một cách bình thường bằng cách lật, giở được. Nhờ cơ hội nghiên cứu các cuộn giấy bằng cỗ máy Diamond Light Source, do Quỹ Quốc gia cho Nhân văn và Quỹ Andrew Mellon tài trợ, các nhà khoa học mới có thể chạm tới một bước tiến lớn về khả năng đọc và hình dung về tài liệu này. Bản quét hứa hẹn sẽ là một mốc quan trọng trong hành trình tìm ra cách đáng tin cậy và khả thi nhất để đọc được những thư tịch vô giá nhưng mong manh tới mức gần như “vô hình” này.   Trong suốt hai thập kỷ qua, giáo sư Seales và cộng sự đã dùng phương pháp kỹ thuật số để khôi phục và đọc một lượng lớn tài liệu trong “thư viện vô hình” của các bản thảo bị hư hỏng không thể khắc phục. Vào năm 2015, họ đã đạt được thành công khi mô phỏng được văn bản bên trong năm cuộn hoàn chỉnh của một cuốn sách bằng tiếng Do Thái cổ từ En Gedi. Lần đầu tiên, một văn bản hoàn chỉnh từ một cuộn sách bị hư hỏng nặng đến mức không bao giờ có thể mở được về mặt vật lý đã được lấy ra và tái tạo lại bằng kỹ thuật số, đây chính là một bước đột phá kỹ thuật thực sự. Và đó chính là công nghệ mà nhóm của Seales có kế hoạch triển khai trên dữ liệu được thu thập bằng máy Diamond.  Mục tiêu dài hạn mà giáo sư Seales tiết lộ chính là việc đọc được nội dung của các cuốn sách nổi tiếng nhất trong “thư viện vô hình”: các cuộn Herculaneum. Bị chôn vùi và carbon hóa bởi vụ phun trào chết người của núi Vesuvius vào năm 79 sau Công nguyên, những cuộn giấy này quá mỏng manh để mở ra. Đây chính là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của một loạt các văn tự cổ đại với đặc điểm chung: rất quan trọng nhưng lại chịu thiệt hại cực lớn, cực kỳ dễ vỡ và vết mực thì lại khó phát hiện.  Những bản giấy cói nổi tiếng này được phát hiện vào năm 1752 trong một biệt thự La Mã cổ đại gần vịnh Naples. Chúng được cho là thuộc về gia đình Julius Caesar. Như vậy, chúng đại diện cho thư viện duy nhất còn sót lại từ thời cổ đại. Phần lớn trong số 1.800 cuộn giấy được đặt tại Biblioteca Nazionale di Napoli, mặc dù một số ít được Quốc vương Naples dùng làm quà tặng cho các vị chức sắc và cuối cùng được đưa về thư viện Bodleian tại Đại học Oxford, Thư viện Anh và L’Institut de France (Học viện Pháp).  Tháng 5 năm ngoái, giáo sư Seales cùng với một nhóm nhỏ các sinh viên đại học ở Paris khảo sát bộ sưu tập Herculaneum của L’Institut de France. Họ đã nghiên cứu hai cuộn hoàn toàn nguyên vẹn, cùng với bốn mảnh nhỏ từ các cuộn đã được mở ra vào cuối những năm 1800, và tất cả được quét tại Diamond. Bởi vì bốn mảnh nhỏ chứa nhiều lớp và chữ viết có thể nhìn thấy ở trên cùng, chúng sẽ cung cấp dữ liệu cần thiết để phát triển lần phiên bản tiếp theo của phần mềm “gỡ sách ảo” của nhóm, hay một thuật toán để có thể mô phỏng mực carbon.   Việc sử dụng mực carbon chính là một trong những lý do chính khiến cho việc giải mã những cuộn giấy trở nên khó khăn. Không giống như các loại mực làm từ kim loại, chẳng hạn như sắt, được sử dụng để viết các tài liệu thời trung cổ, mực carbon có mật độ tương tự như loại giấy cói được carbon hóa trên đó. Do đó, nó gần như vô hình khi quét tia X.    Nhóm nghiên cứu phục hồi thư tịch cổ của GS Brent Seales.  Chúng ta không mong đợi sẽ thấy ngay các văn bản từ những lần quét đầu tiên, nhưng chúng sẽ cung cấp nền tảng quan trọng để cho phép chúng ta có thể mô phỏng chúng. Đầu tiên, chúng ta có thể thấy được cấu trúc bên trong của cuộn giấy với độ chi tiết chưa từng có, và chúng tôi cần điều đó để có thể phân tích được các lớp giấy được nén chặt. Ngoài ra, chúng tôi tin tưởng mạnh liệt rằng chụp cắt lớp thực sự có thể thu được những bằng chứng tinh vi, không hề dựa trên mật độ của mực, ngay cả khi nó không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Công cụ học máy mà chúng tôi đang phát triển sẽ khuếch đại tín hiệu mực bằng cách huấn luyện thuật toán máy tính để nhận ra từng pixel từ các bức ảnh chụp các mảnh rời rạc cho thấy chính xác vị trí của mực, trong dữ liệu chụp cắt lớp tương ứng của các mảnh. Công cụ sau đó có thể sử dụng cho dữ liệu từ các cuộn giấy không thể mở ra, xác định chữ viết bằng mực ẩn bên trong và làm cho nó hiển thị rõ hơn đối với bất kỳ người đọc nào”, giáo sư Seales nói.   Các nhà nghiên cứu từ Đại học Kentucky sẽ sử dụng Diamond Light Source và các kỹ thuật hình ảnh kỹ thuật số để gần như “mở ra” bằng phần mềm máy tính các cuộn giấy đến từ L’Institut de France. Việc quét các vật phẩm mỏng manh này thực sự là một nhiệm vụ “khủng khiếp” đối với tất cả những người liên quan. Do các cuộn giấy cực kỳ dễ vỡ, nhóm Seales đã chế tạo các hộp đựng phù hợp có thể tùy chỉnh, nhằm giữ cho các cuộn ít phải xử lý nhất có thể. Chỉ những người làm công tác bảo quản có trình độ cao mới được phép xử lý các mẫu vật. Đích thân giám đốc thư viện tại L’Institut de France, bà Françoise Bérard sẽ đóng gói các cuộn giấy vào các hộp đặc biệt để mang đến Vương quốc Anh, và sau khi đến, chúng sẽ được đưa vào chùm tia I12 Diamond. Chùm tia I12 hoặc tia sáng JEEP là một chùm tia X năng lượng cao dùng để chụp ảnh, nhiễu xạ và tán xạ, hoạt động ở mức năng lượng photon 53-150 keV.  Trong lịch sử, đã có những người cố gắng mở các cuộn giấy Herculaneum, nhưng cuối cùng thì không ai có thể tiết lộ các văn bản hoàn chỉnh từ hàng trăm cuộn giấy vẫn bị đóng chặt. Nhà khoa học nghiên cứu nguyên lý chùm tia trên Diamond I12 Beamline, tiến sĩ Thomas Conncar, cho biết: “Đây là lần đầu tiên một cuộn giấy nguyên vẹn được quét chi tiết đến vậy tại Diamond Light Source. Chúng tôi rất vui mừng được làm việc với nhóm nghiên cứu, góp phần vào điều mà chúng tôi hi vọng sẽ là một bước tiến lớn trong việc mở khóa những bí mật mà cuộn sách chứa đựng”. □  Minh Châu dịch  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2019-10-team-year-old-herculaneum-scrolls.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy in 3D cho nền y học tương lai      Da thay thế cho trẻ em bị thương từ DNA đặc trưng riêng của cơ thể chúng, mô phổi hay tai nhân tạo… – tất cả đều có thể được in ra từ máy in 3D trong một tương lai gần.    Khi tai nạn làm bỏng những vùng da rộng lớn trên cơ thể người thì chỉ có phương pháp ghép da mới giúp đóng kín các vết thương. Để làm việc đó, các nhà nghiên cứu cần có một diện tích da lớn mà họ có thể nuôi cấy từ các tế bào đặc trưng riêng của cơ thể người bệnh. Trước đây, để làm công việc cấy ghép, các nhà y học phải lấy những mẫu da trên các vị trí khác của cơ thể và ghép vào phần da bị thương giống như ghép các mảnh cắt rời thành một bức tranh. Trong tương lai, các nhà nghiên cứu muốn kéo từ trong các máy in 3D ra những mảng da với diện tích lớn.   Theo Nhật báo Zurich Mới (Neue Zürcher Zeitung – NZZ) của Thụy Sĩ, một nhóm nhà khoa học của Bệnh viên Nhi Zurich đang nghiên cứu một máy in 3D có thể chế tạo trong phòng thí nghiệm những mảng da mới cho trẻ em bị thương. Cơ sở của da mới sẽ là các tế bào đặc thù riêng của chính cơ thể bệnh nhi, bởi vậy sẽ không bị cơ thể bệnh nhi đào thải. Công ty regenHu của Thụy Sĩ đã chế tạo máy in 3D này cho Bệnh viện Nhi Zurich và một máy khác cho Trường Đại học Freiburg để sản suất các mô phổi. Tháng Hai năm tới, regenHu sẽ đưa ra thị trường một khúc xương được in dưới dạng một chi tiết cấy ghép trong lĩnh vực nha khoa.   Ở Trường Đại học Công nghệ Chemnitz (Đức), các nhà khoa học cũng nghiên cứu kỹ thuật in các chi tiết cấy ghép xương cho từng cá thể từ vật liệu tạo xương Cerasorb. Các lĩnh vực ứng dụng có thể sẽ là nha khoa, phẫu thuật hàm mặt, chỉnh hình cũng như y học thể thao. Đến nay, các nhà phẫu thuật vẫn cắt lấy các chi tiết cấy ghép. Tuy nhiên, máy in 3D có mặt ở các phòng thí nghiệm nha khoa sẽ cho phép sản xuất các chụp răng, răng giả; các mô hình thạch cao cứng cũng như các phụ kiện hỗ trợ cho kỹ thuật chỉnh hình hàm, răng.  Các nhà y học Mỹ còn tiến xa hơn. Gần đây, họ giới thiệu một phương pháp sản xuất thận nhân tạo. Mục đích là, dựa trên cơ sở các mẫu mô, tế bào và các ảnh chụp 3D của các quả thận bị bệnh, bằng loại “mực sinh học” đặc biệt đặc trưng riêng của mỗi cơ thể, người ta in từng lớp để được một tổ chức (quả thận) hoàn hảo mới và đem cấy ghép vào cơ thể ngay sau đó.   Cao hơn cả kỹ thuật này, các nhà y học của Trường Đại học Edinburgh (Scotland) đã trình bày một phương pháp mà nhờ đó họ có thể in được cụm các tế bào gốc. Từ các cụm tế bào gốc này, các cơ quan bị bệnh sẽ phát triển mà không cần thêm một sự hỗ trợ nào.   Còn Công ty Fasotec của Nhật Bản chế tạo mô hình các cơ quan, bộ phận cơ thể để chuẩn bị tốt hơn cho các cuộc phẫu thuật. Ngay tại thời điểm này, Fasotec cũng gia công các mẫu điêu khắc (tượng) 3D của thai nhi dựa trên các ảnh chụp bằng siêu âm. Mẫu đồ kỷ niệm này cao 9 cm, tính quy đổi có giá 930 Euro, được đặt trong một khối hình hộp trong suốt. Bên cạnh đó, còn có một phiên bản mini của món đồ kỷ niệm này được dùng làm dây treo điện thoại di động. Theo báo cáo của Công ty, các sản phẩm này được phụ nữ mang thai ở Nhật đón nhận nồng nhiệt.   Mô hình bào thai in 3D là một trong những ví dụ mới nhất cho sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp máy in 3D. Các máy in này làm việc giống như một máy in phun mực. Chúng được điều khiển bởi một phần mềm chia mẫu của vật thể cần được gia công thành các lát (đĩa) hai chiều.  Sau đó, trong máy in 3D, một vật liệu nào đó sẽ được đặt từng lớp từng lớp lên nhau mà qua đó, hình dạng không gian của vật thể hình thành.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy in 3D giá 4 triệu đồng của sinh viên ĐHBK Đà Nẵng      Mới đây, ba nam sinh viên Cao Đăng Khoa,  Phạm Xuân Phương, Trương Minh Vũ (lớp 10CDT1, Khoa Cơ khí,  ĐH Bách khoa Đà Nẵng) đã chế tạo thành công máy in chi  tiết nhựa 3D.     Công nghệ in 3D đã được nhiều nước trên thế giới ứng dụng thành công ở các lĩnh vực như y tế, giáo dục, thực phẩm, quân sự… nhưng “Ở trong nước, chỉ có nhập linh kiện, máy móc về lắp ráp để sản xuất, lại chưa áp dụng rộng rãi do giá thành quá cao. Với mục đích đem công nghệ in 3D gần hơn với người Việt Nam, và tạo nên sản phẩm in 3D giá rẻ trên thị trường nên tụi mình bắt tay vào nghiên cứu chế tạo máy in chi tiết nhựa 3D”,  Khoa cho biết.  Máy in 3D của ba bạn trẻ được phát triển từ đề  tài nghiên cứu khoa học cấp trường. Để hiện thực hóa đồ án này, từ tháng 12/2014 đến tháng 2/2015, ba người bạn đã phải dè xẻn, tiết kiệm để góp tiền mua linh kiện, chi tiết, trong đó đa số đều tận dụng từ sản phẩm phế thải đi mua khắp nơi, cái nào không có thì mua mới nhưng chỉ dám dùng loại bình thường.     Sản phẩm được hoàn thành sau ba tháng đã giành giải nhất cuộc thi nghiên cứu khoa học Khoa Cơ khí và sau đó là giải nhất tại Ngày hội Nghiên cứu khoa học của trường, được Hội đồng Khoa học của trường ĐH Bách khoa, Sở KH&CN Đà Nẵng đánh giá rất cao về tính ứng dụng.  Khoa cho biết, trong khi máy in 3D được bán trên thị trường với giá từ 15 đến 22 triệu một chiếc thì chi phí để làm ra chiếc máy in 3D của ba bạn trẻ chỉ mất chỉ 4 triệu đồng nhưng lại cho sản phẩm tương tự.      Sản phẩm nhựa được in ra từ máy in 3D của ba sinh viên ĐH Bách khoa Đà Nẵng.    Cấu tạo chính của máy gồm các bộ phận như: Thanh trượt, trục inox, bộ truyền, bộ vít đai ốc, bộ truyền đai răng (dây cua roa), bàn gia nhiệt, mạch điều khiển, màn hình LCD…  Quy trình làm ra sản phẩm như sau: người sử dụng thiết kế các sản phẩm 3D bằng các phần mềm chuyên dụng như Solidword, Pro-engineer, Sketchup… sau đó xuất file có định dạng .STL lưu vào thẻ nhớ SD card hoặc USB rồi cắm vào máy in thông qua bộ điều khiển LCD và biến trở để tiến hành in.  Hoạt động của máy phụ thuộc nhiều nhất vào nguyên liệu sản xuất và đầu đốt. Hiện tại, máy in chi tiết nhựa 3D của ba bạn chế tạo áp dụng với nguyên liệu là sợi nhựa cho ra sản phẩm là nhựa.   Được biết, hai bạn Phạm Xuân Phương, Trương Minh Vũ đã đi làm cho các  công ty trước khi nhận bằng đại học, còn Khoa đến tháng Tám này mới bắt  đầu đi làm.    Thúy Trang tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy in bảng mạch điện tử      Chiếc máy in mang tên Voltera V-One do nhóm  sinh viên Canada nghiên cứu có kích thước tương tự như kích thước của  một chiếc laptop và có thể ngay lập tức chuyển bản thiết kế thành bảng  mạch nguyên mẫu.      Bảng mạch vốn rất phổ biến trong lĩnh vực điện tử. Tuy vậy, việc chế tạo bảng mạch cho các thiết bị điện tử mới là một quá trình tốn thời gian và tiền bạc. Thông thường, nhà sáng chế phải gửi ý tưởng của mình tới nhà máy ở nước ngoài để sản xuất, và quá trình này có thể kéo dài hàng tuần. Nếu nhà sáng chế muốn thay đổi chi tiết nào đó trong bảng mạch, họ phải gửi lại toàn bộ ý tưởng cho nhà máy. Với những sản phẩm phải chỉnh sửa nhiều lần, việc trao đổi thông tin có thể kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm.    Nhưng máy in Voltera V-One do bốn sinh viên kỹ thuật tại trường Đại học Waterloo ở Ontario, Canada, nghiên cứu phát triển đã rút gọn quy trình phức tạp kể trên xuống chỉ còn vài phút. Nhờ phát minh này, nhóm đã được trao Giải James Dyson 2015 trị giá 45.000 USD.     Nhóm sinh viên đã dành hai năm để phát triển Voltera V-One. Họ đã có rất nhiều cuộc trao đổi với các nhà thiết kế phần cứng khác, tìm cách kết hợp hợp lý giữa mực và phần mềm, dựng vô số bản phác thảo cũng như các bản thiết kế mô hình với sự trợ giúp của máy tính. Sau đó, cả nhóm còn chuyển đến Thâm Quyến để có thể ở gần hơn với nhà máy chịu trách nhiệm sản xuất nguyên mẫu cho chiếc máy in của mình. Nhờ vậy, họ có thể thiết kế lại chiếc máy in khi cần và nhanh chóng đưa thiết kế mới tới nhà máy.    Chiếc máy in Voltera V-One có hai đầu in chứa hai loại mực khác nhau và có thể thay đổi vị trí cho nhau, trong đó mực dẫn điện giúp tạo ra những thành phần điện tử và đầu kia là mực cách điện. Máy in còn có thể phun chất hàn, cho phép bổ sung những thành phần mới vào bảng mạch.     Với giá chỉ khoảng 1.500 USD/chiếc, chi phí bỏ ra để mua Voltera V-One sẽ rẻ hơn chi phí để chuyển ý tưởng qua lại nhiều lần giữa nhà sáng chế với nhà máy sản xuất ở nước ngoài. Alroy Almeida, một thành viên trong nhóm, chia sẻ tại một buổi họp báo: “Khi mới khởi nghiệp, chúng tôi đã tìm gặp rất nhiều chuyên gia nhưng họ đều lắc đầu và nói rằng chúng tôi quá tham vọng, rằng không thể tạo ra được công cụ nào hữu hiệu để sản xuất các nguyên mẫu bảng mạch. Và chúng tôi đã coi đó là một thách thức!”    Ngoài Giải James Dyson, năm nay Voltera V-One còn giành chức vô địch tại TechCrunch Disrupt (Hardware Battlefield); chiến thắng tại giải Popular Science Greatest Inventions; đoạt giải do Tổng biên tập Tạp chí Make lựa chọn.    Trang Bùi lược dịch  Nguồn:   http://www.smithsonianmag.com/innovation/this-years-james-dyson-award-goes-to-circuit-board-printer-180957228/#xfmQLEBuyZggiq3h.99      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mây mất hiệu ứng làm mát do khí hậu nóng lên      Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển cao có thể dẫn đến sự phân tán của các đám mây lớn, vốn đang phản xạ khoảng 30% ánh sáng Mặt trời chiếu đến Trái đất.    Được xuất bản ngày 25/2/2019 trên tạp chí Nature Geoscience, công bố của Tapio Schneider, nhà nghiên cứu về động lực học của mây tại Viện Công nghệ California, Pasadena, và cộng sự nêu sự tương tác chưa được biết đến trước đây giữa các đám mây và khí nhà kính: nếu tăng gấp ba, nồng độ carbon dioxide trong khí quyển hiện nay có thể làm các đám mây phân tán một cách đột ngột. Theo kịch bản phát thải tiếp tục như hiện nay, hiện tượng này có thể xảy ra trong một thế kỷ. Các dự báo cho thấy, cộng thêm với sự nóng lên do khí nhà kính gây ra thì một thế giới có ít mây hơn có thể nóng lên tới 80 C. Khí hậu Trái đất sẽ tương tự như điều kiện 50 triệu năm trước, khi cá sấu sinh sống trong một vùng Bắc cực không có băng và những cây cọ có thể mọc về phía bắc, đến tận Alaska.  Các đám mây kết tụ lại thành các mảng lớn trên các đại dương được gọi là các mây tầng tích và chúng có thể phản xạ khoảng 30% năng lượng từ Mặt trời. Nhưng rất khó để các nhà mô hình hóa khí hậu tái tạo các đám mây tầng tích trong các chương trình máy tính. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều có xu hướng đơn giản hóa các hiện tượng xảy ra ở quy mô nhỏ, bao gồm mây, mưa, bão và băng tuyết, để tập trung mô phỏng các quá trình ở quy mô lớn càng chính xác càng tốt, chẳng hạn như thay đổi nhiệt độ mặt nước biển. Lí do là không có đủ năng lực tính toán để xử lý các kịch bản thực tế cho tất cả các hiện tượng thời tiết cùng một lúc.  Để có được bức tranh chân thực hơn về cách các đám mây có thể hoạt động theo các kịch bản khí hậu trong tương lai, Schneider và nhóm của ông đã đơn giản hóa các quy trình quy mô lớn và cố gắng mô hình hóa trạng thái của mây một cách chính xác nhất có thể.  Khi các nhà nghiên cứu điều chỉnh mức carbon dioxide hiện tại từ 400 phần triệu (p.p.m) đến hơn 1.200 p.p.m, bầu khí quyển ấm lên và các tầng mây dày đặc bắt đầu vỡ thành những đám mây nhỏ hơn, phồng hơn. Điều này xảy ra bởi vì các đám mây tầng tích cần phải tỏa nhiệt vào bầu khí quyển phía trên để tự duy trì – nếu bầu khí quyển quá ấm, các đám mây sẽ phân tán.  “Đây không phải điều gì vô lý”, Andrew Ackerman, một nhà nghiên cứu về mây tại Viện nghiên cứu vũ trụ Goddard, NASA, New York cho biết, “Cơ chế cơ bản là hoàn toàn hợp lý”.  Trong nhiều thập kỷ, các đám mây vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới sự không chắc chắn trong các dự đoán biến đổi khí hậu. Mà điều này tồn tại cả trong các mô hình được Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu sử dụng, theo Matthew Huber, nhà nghiên cứu về cổ khí hậu học tại Đại học Purdue, West Lafayette, Indiana. Điều này có nghĩa là nhiều mô hình có thể đang đánh giá thấp sự thay đổi khí hậu trong tương lai.  Mô hình do Schneider và các đồng nghiệp của ông đề xuất cũng gặp vấn đề tương tự, Huber nói. Mặc dù những phát hiện của nhóm Scheneider chỉ ra một viễn cảnh khí hậu nóng hơn, nhưng vẫn có một sự không chắc chắn nhất định trong những dự đoán đó. Một số tương tác quy mô lớn, bao gồm cả cách các đại dương trao đổi nhiệt và năng lượng với khí quyển, đã bị đơn giản hóa hoặc không được tính đến, ông nói. Vì những nguyên nhân này, khó có thể biết được mức độ carbon dioxide chính xác khiến các đám mây tầng tích trở nên thiếu ổn định.  Nhưng Schneider và các nhà khoa học khác đang cố gắng giải quyết các giới hạn của việc mô phỏng bầu khí quyển của Trái đất trong các chương trình máy tính. Có một cách tiếp cận sử dụng học máy để “dạy” các mô hình khí hậu toàn cầu thể hiện các đám mây chính xác hơn. Cách tiếp cận này huấn luyện mô hình dựa trên các quan sát thực và các mô phỏng chi tiết các quy trình quy mô nhỏ hơn. Phương pháp này có thể dẫn đến những cách dự báo khí hậu trong tương lai nhanh hơn và đáng tin cậy hơn.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00685-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy móc sẽ thay con người trong kinh doanh?      James Goodnight (1943), CEO của công ty sản  xuất phần mềm SAS trị giá hàng tỷ USD, nói về cơn lũ dữ liệu đang ngày  một tăng, và về việc các doanh nghiệp được lợi gì từ thực tế này.      Thưa ông, trong thời đại của Big Data, công nghệ thông tin có bị nghẹt thở bởi cơn lũ dữ liệu?  Đúng là như vậy, thực tế là lượng dữ liệu có sự tăng trưởng nhanh hơn là tốc độ của chíp. Tuy vậy về tổng thể sự tăng trưởng về năng lực của IT vẫn theo kịp lượng dữ liệu.    Vậy phải chăng đây là một mâu thuẫn?  Chỉ có vẻ như vậy thôi. IT đang có sự thay đổi về cơ bản: vấn đề không còn là ở chỗ từng con chip có thể tính toán nhanh như thế nào mà là sức mạnh của cả hệ thống ra sao.  Điều đó cụ thể nghĩa là gì?  Xu hướng quan trọng nhất hiện nay là song song hóa: điều khi đánh giá các dữ liệu kinh doanh thì chẻ nhỏ nhiệm vụ ra thành nhiều phần. Và chúng sẽ được cùng một lúc xử lý thông qua 100 hay 1.000 bộ xử lý lõi, nhờ đó tăng tốc độ của hệ số 100 hoặc hơn nữa. Tuy nhiên các phần mềm vốn dĩ không được phát triển cho hệ thống song song. Chúng tôi buộc phải thay đổi toàn bộ các chương trình của mình. Tốn khá nhiều công sức nhưng nay thì chúng tôi thực sự đã sẵn sàng đối phó với Big Data.  Vậy các doanh nghiệp được lợi gì về chuyện này?  Ngày nay là nhà quản lý – tùy theo chức năng – tôi có những câu hỏi rất khác nhau: tôi sẽ nói chuyện với ai về chiến dịch marketing? Tôi làm thế nào để có thể tiếp cận với mọi người? Khi làm việc ở một ngân hàng: tôi sẽ cho ai vay tín dụng? Ai đó định lừa tôi, ở đâu? Ngày nay, bạn chỉ có thể ra quyết định về những vấn đề như vậy nhờ sự hỗ trợ của IT. Nhờ phương pháp phân tích, thống kê và các quy tắc toán học mà chúng tôi đã đưa vào chương trình của mình…  Phải chăng máy móc sẽ thay con người trong thế giới kinh doanh?  Vấn đề không phải là thay thế cho những cái đầu thông minh mà là hỗ trợ cho những cái đầu đó. phần mềm chỉ cung cấp cho bạn một sự ước đoán, về xác suất mà bạn có thể bị một kẻ nào đó dùng thẻ tín dụng ăn cắp. Nhưng con người sẽ quyết định, từ xác xuất là bao nhiêu thì các ngân hàng sẽ phong toả các bút toán.   Thưa ông, mức độ thành công như thế nào?    Không có gì là hoàn hảo cả. Đối với các thuật toán cũng vậy, nhưng chúng tôi đang lao động cật lực cho công việc này. Ngoài ra xin nói thêm chúng tôi tận dụng công suất ngày càng tăng của máy tính để dùng computer cải thiện các thuật toán.  Có nghĩa là phần mềm tự lập trình?  Có phần như vậy: trong khi quét một khối lượng dữ liệu khổng lồ ngày nay máy tính phát hiện những mối liên quan về thống kê, mà người lập trình không nhận ra. Những thuật toán này ngay ở chỗ chúng tôi cũng không ai hiểu nổi – nhưng chúng làm việc với độ tin cậy rất ấn tượng đến mức chúng tôi dùng chúng.  Điều này có thể tiến xa đến đâu? Số liệu thống kê có thể thay thế cho vấn đề lý thuyết không?    Đây là một vấn đề có tính triết lý hơn là một vấn đề về kỹ thuật. Tôi không tin máy tính có thể đẩy lùi tính tò mò ở con người. Chúng ta muốn tìm hiểu thế giới này sẽ hoạt động như thế nào. Nhưng có một vài tình huống mà ở đó chúng ta có thể hài lòng với những gì mà máy móc tiết lộ cho chúng ta biết.  Xin nêu một ví dụ?  Quân đội Hoa Kỳ dùng phần mềm dự báo của chúng tôi, thí dụ để sơ bộ đánh giá về nguy cơ bị phục kích trong các cuộc tuần tiễu ở Afghanistan. Cuối cùng thì bất chấp vì sao chương trình lại khuyến cáo nên chọn một tuyến khác bởi vì nguy cơ tuyến hành quân ban đầu bị phục kích dường như quá lớn – nếu như dự báo đó là đúng. Và bạn hãy tin điều tôi nói: công nghệ này đã cứu được tính mạng một số người rồi đó.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy phân loại và xử lý rác thải cho nhà nông      Máy xử lý rác thải của tác giả Ngô Thái  Nguyên (xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa) không chỉ có khả  năng phân loại để xử lý rác một cách rốt ráo mà còn tận dụng phế thải để  phục vụ cuộc sống.     Cỗ máy này ra đời sau hai năm ông Nguyên mày mò nghiên cứu. Với mục đích dành cho đối tượng nông dân ở các vùng quê sử dụng, nguyên lý hoạt động và vận hành của cỗ máy hết sức đơn giản. Các loại rác tổng hợp được đưa vào bồn chứa khuấy trộn đều trong nước. Những loại rác nhẹ như ni-lông, túi giấy, vải, bao bì sẽ nổi lên trên và được đưa lên băng tải ra ngoài bồn, loại rác nặng vô cơ như đất, cát sỏi đá, xi măng, sắt, thép… sẽ lắng xuống đáy bồn và theo băng chuyền ra mặt sàng. Phần lớn rác hữu cơ như củ, quả, hoa lá… lắng xuống được chuyển vào hệ thống hầm biogas. Hệ thống rác thô còn lại được đưa về thùng máy và được băm, nghiền qua hệ thống dao cắt thô và buồng cắt tinh. Sau đó, rác được dùng ủ trộn làm phân vi sinh trồng cây. Thậm chí, phần rác đã qua xử lý còn được tận dụng làm vật liệu xây dựng khi trộn với xi măng làm gạch ép. Như vậy rác thải không chỉ được xử lý một cách rốt ráo khỏi ô nhiễm môi trường mà còn được tận dụng để phục vụ cuộc sống.   Sử dụng điện ba pha, máy xử lý rác thải của ông Nguyên có thể xử lý từ 8 đến 9m3 rác trong khoảng 6 đến 8 tiếng. Chi phí ban đầu cho cỗ máy này khoảng 72 triệu đồng. Nếu muốn nâng cao khả năng xử lý rác lên gấp ba thì sẽ phải cải tiến thêm một số chi tiết, nâng giá thành lên khoảng 250 đến 300 triệu đồng.  Với những tính năng hữu ích này của cỗ máy, nhiều nhà doanh nghiệp, tổ chức đã tới làm việc với ông Nguyên ký hợp đồng sản xuất máy xử lý rác. Nhà đầu tư đầu tiên của cỗ máy này, ông Duy Anh (Bình Định), đã đề nghị ông Nguyên đưa công suất của máy lên 35 m3 trong bảy giờ hoạt động với số vốn đầu tư 270 triệu đồng. Sau sự khởi đầu này, một số đối tác đã tiếp tục làm việc, phối hợp với ông Nguyên về vấn đề chuyển giao công nghệ nhằm tiến tới triển khai xây dựng nhà máy chế tạo máy xử lý rác, tung ra thị trường.  Máy xử lý rác của tác giả Ngô Thái Nguyên mới đây đã đoạt giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông 2013-2014.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy phát siêu cao tần đầu tiên ở Việt Nam      Với đề tài cấp nhà nước “Chế tạo máy phát  tín hiệu mã nhận biết chủ quyền quốc gia”, nhóm nghiên cứu của PGS.TS  Bạch Gia Dương, ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội), đã chế tạo thành công  máy phát 3KW ở dải siêu cao tần đầu tiên ở Việt Nam.     Làm chủ công nghệ lõi  Hẹn gặp PGS.TS Bạch Gia Dương trong căn phòng làm việc của ông với ngổn ngang các thiết bị điện tử. Đập vào mắt tôi là “cỗ máy” có kích thước bằng cái tủ lạnh đặt giữa gian phòng hẹp. Như đoán được tôi đang tò mò, ông cho biết ngay đó là máy phát siêu cao tần – sản phẩm của đề tài cấp nhà nước “Chế tạo máy phát tín hiệu mã nhận biết chủ quyền quốc gia”. PGS.TS Bạch Gia Dương giải thích, với thiết bị này, khi phát đi các thông tin trao đổi được mã hóa theo chuẩn không lưu sẽ giúp chúng ta nhận biết được các hoạt động của máy bay, từ đó xác định máy bay đó có vi phạm chủ quyền hay không.   Ngoài ứng dụng trong lĩnh vực quốc phòng, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương đang có ý định triển khai công nghệ này cho các tàu đánh cá. Lâu nay, tàu đánh cá được gắn mạng thông tin GPS để xác định vị trí của tàu, nhưng việc truyền thông tin từ tàu về các trung tâm cứu hộ có những lúc bị gián đoạn do tác động của mặt biển. “Nếu thiết bị này được ứng dụng vào việc truyền sóng ở khu vực biển thì có thể giải quyết được khó khăn trên, nâng cao hiệu quả việc quản lý các tàu đánh cá cũng như hoạt động trên biển khác”, PGS.TS Bạch Gia Dương khẳng định.          Khi phát đi các thông tin trao đổi được mã  hóa theo chuẩn không lưu, máy phát 3KW ở dải siêu cao tần đầu tiên ở  Việt Nam giúp nhận biết các hoạt động của máy bay, từ đó xác định máy  bay đó có vi phạm chủ quyền hay không.        Máy phát siêu cao tần, hiện đã được đăng ký sáng chế tại Cục Sở hữu trí tuệ, có chất lượng tương đương thiết bị nhập ngoại trong khi giá thành chỉ bằng một phần ba. Nhưng điều quan trọng hơn cả, theo PGS.TS Bạch Gia Dương, là chúng ta đã làm chủ được công nghệ lõi để từ đó tiếp tục phát triển chế tạo các thiết bị trong lĩnh vực siêu cao tần khác mà từ trước đến nay chúng ta đều phải phụ thuộc vào nước ngoài như: thiết bị chuyển tiếp truyền hình, chuyển tiếp các thông tin mang tính bảo mật cao; hoặc phát triển các hệ thống thu phát vệ tinh, chế tạo máy thu tìm kiếm, trinh sát vị trí của vệ tinh VINASAT đối với các trạm mặt đất. Đồng thời, chúng ta sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tự sửa chữa, bảo hành hoặc thay thế.   Một hướng nghiên cứu khác cũng được nhóm quan tâm là ứng dụng cho việc truyền năng lượng vũ trụ để giải quyết bài toán năng lượng sạch phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.   Nghiên cứu cơ bản gắn với định hướng sản phẩm   “Khởi nghiệp” từ trăm bề thiếu thốn, lại tự thân vận động nhưng dám nghĩ, dám làm, không sợ thất bại, đến nay, lĩnh vực nghiên cứu của nhóm đã khẳng định được danh tiếng của mình. “Được đầu tư chậm hơn nhưng chúng tôi đã kiên trì theo đuổi hướng nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, với việc đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản để phát triển công nghệ ứng dụng, chúng tôi đã trở thành đơn vị tiên phong ở Việt Nam chế tạo ra thiết bị phát sóng siêu cao tần với tiềm năng ứng dụng cao”, PGS.TS Bạch Gia Dương cho biết.  Một trong những điều quyết định thành công nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương, ngoài việc bằng mọi giá phải làm chủ được công nghệ lõi, là đầu tư mạnh cho nghiên cứu cơ bản – điều mà ít cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác, nhất là trong lĩnh vực siêu cao tần, làm được. Phương châm đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản gắn với định hướng tạo ra sản phẩm công nghệ cao, đã giúp nhóm có được thành công khác biệt so với các cơ sở nghiên cứu được đầu tư trọng điểm nhưng lại chỉ chuyên tâm nghiên cứu ứng dụng.          Một trong những điều quyết định thành công  nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương, ngoài việc bằng mọi giá phải  làm chủ được công nghệ lõi, là đầu tư mạnh cho nghiên cứu cơ bản – điều  mà ít cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác, nhất là trong lĩnh vực siêu cao  tần, làm được. Phương châm đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản gắn với định hướng  tạo ra sản phẩm công nghệ cao, đã giúp nhóm có được thành công khác  biệt so với các cơ sở nghiên cứu được đầu tư trọng điểm nhưng lại chỉ  chuyên tâm nghiên cứu ứng dụng.        Những sản phẩm công nghệ đỉnh cao chỉ là tức thời, điều kiến PGS.TS Bạch Gia Dương nghĩ đến nhiều chính là tạo sự phát triển bền vững, hình thành một đội ngũ nghiên cứu mạnh. Phát triển đào tạo, do đó, là điều ông đặc biệt chú trọng. Từ nền tảng công nghệ siêu cao tần, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển thiết kế những chip (IC) siêu cao tần – đây là hướng nghiên cứu đã góp phần đào tạo được nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên. Ban đầu chỉ có hai thành viên nhưng dần dần PGS.TS Bạch Gia Dương đã đào tạo được thế hệ kế cận để hình thành nên một nhóm nghiên cứu mạnh.  “Chúng tôi có được sản phẩm công nghệ cao, nhưng quan trọng hơn chính là hình thành được một nhóm nghiên cứu mạnh có kiến thức cơ bản vững chắc, giàu kinh nghiệm thực tế để từ đó làm chủ được những công nghệ mới khác”, PGS.TS Bạch Gia Dương nói.   Cũng như nhiều đồng nghiệp, tâm nguyện của nhà khoa học gắn bó cả đời mình cho lĩnh vực siêu cao tần này là nhìn thấy sản phẩm của mình “sống” được trên thị trường, và cũng để chứng tỏ một điều rằng, những sản phẩm công nghệ trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của nước ngoài. “Có đầu ra của sản phẩm, có thị trường để quay vòng vốn phát triển công nghệ sâu hơn, lấy sản phẩm nuôi nghiên cứu” là định hướng phát triển nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bạch Gia Dương.  Những thành công ban đầu của nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Công nghệ là minh chứng cho thấy, không chỉ có các viện nghiên cứu lớn, các trường đại học cũng đang gia nhập mạnh mẽ vào dòng chảy khoa học nước nhà.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy phun thuốc trừ sâu điều khiển từ xa      Máy phun thuốc trừ sâu tự động của anh Nguyễn Hoàng Phi (ấp Hòa Thạnh, xã Châu Phong, TX.Tân Châu, tỉnh An Giang) giúp cho người nông dân bớt cơ cực, giảm thời gian trộn thuốc, ít phải tiếp  xúc với hóa chất so với cách sử dụng bình phun kiểu cũ.    Đeo trên vai bình thuốc trừ sâu nặng đến 30 – 35kg, suốt cả một ngày trời phun thuốc sâu ngoài ruộng khiến người nông dân dễ xuống sức, năng suất không cao. Vì thế, khi chiếc máy phun thuốc trừ sâu tự động của anh Phi ra đời đã giúp cho người nông dân bớt cơ cực. Nếu trước đây công việc phải ba người làm, bây giờ chỉ cần một người làm với chiếc máy  phun thuốc điều khiển từ xa của Nguyễn Hoàng Phi (ấp Hòa Thạnh, xã Châu Phong, TX.Tân Châu, tỉnh An Giang).  Có trọng lượng tương đương với những chiếc bình phun thuốc trừ sâu bình thường, cái hay là chỉ cần mang máy đến ruộng, đặt bình trên bờ và nhờ có sẵn thiết bị bơm hút nước từ bờ ao vào bình pha thuốc 80 lít, lắp với máy. Trong khi bơm hút nước vào thùng chứa, máy có bộ phận trộn thuốc liên tục trong khi pha, khi nước rút đầy bình 80 lít , cũng là lúc dung dịch thuốc được trộn xong. Máy được điều khiển từ xa bằng hệ thống kết nối gồm các sợi dây đồng, thay vì phải dùng cây anten như thường thấy.  Việc dùng sợi dây đồng bắt tín hiệu thay anten để có thể dễ dàng điều khiển nhanh chóng, vừa không dễ bị gãy hư như anten nên rất tiết kiệm. Nông dân xịt thuốc chỉ cầm cần phun và sử dụng remote điều khiển từ xa, có thể tăng ga, cuộn dây, bơm hút, ngưng phun…chỉ cần bấm remote điều khiển từ xa, máy sẽ tự quấn dây phun gọn gàng từng lớp. Máy phun được bốn phía, đặt máy một chỗ ở vị trí thuận lợi thì có thể phun được đến một héc-ta.  Máy có uu điểm nổi trội là giảm thời gian trộn thuốc, nông dân ít tiếp xúc với hóa chất so với cách sử dụng bình phun, có thể phun được trên ruộng lúa, vườn cây ăn trái, rẫy rau màu, vườn hoa cây cảnh, chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm, phun thuốc tiêu độc khử trùng cho các trang trại hay phun diệt muỗi phòng chống sốt xuất huyết…  Đối với người làm dịch vụ, trung bình máy làm việc 8 giờ/ngày, một người có thể phun thuốc được 20 bình 80 lít. Giá thuê nhân công phun thuốc hiện nay với một bình 20 lít là 7.000đồng, nếu phun được 1.600 lít sẽ tốn 560.000 đồng. Nếu sử dụng máy phun này thì với lượng thuốc như trên, người ta chỉ tốn 2,5 lít xăng chạy máy, tức là khoảng 60.000 đồng.   Với sáng tạo máy phun thuốc điều khiển từ xa, anh Phi đã đoạt giải ba tại Hội thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật tỉnh An Giang năm 2012 và được mời tham gia chương trình “Nhà sáng chế” trên VTV2. Nhờ sự tin dùng, tín nhiệm của bà con, hiện nay anh Phi đã mở một cơ sở sản xuất nhỏ, nhận đặt hàng và thời gian bảo hành là một năm.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy quét cho cả thế giới      Chỉ cần chĩa Scio vào một vật gì đó, người  ta sẽ nhận được thông tin cần thiết về nó, chẳng hạn như thành phần hoá  học. Nhà phát minh người Israel hy vọng thiết bị này có thể thay đổi cơ  bản làm thay đổi cơ bản thói quen mua hàng của chúng ta.     Hiện nay mới có thể sử dụng Scio trong một số lĩnh vực ít ỏi. Tuy nhiên nhà phát minh Dror Scharon dự định xây dựng một bộ sưu tập dữ liệu thật phong phú để người sử dụng thiết bị có thể phân tích mọi chất liệu thường thấy ở chung quanh mình.   Scio là một quang phổ kế hồng ngoại có kích thước như một USB. Nó được sử dụng trong ba lĩnh vực: thực phẩm, dược phẩm và trồng trọt. Chỉ đơn giản nhắm đúng hướng và nhấn vào một cái nút ở máy quét, người dùng có thể biết miếng phô mai có bao nhiêu calorie hoặc biết khi nào thì quả cà chua sẽ chín. Cái tên Scio trong tiếng la-tinh có nghĩa là “nhận biết”.  Sanford Ruhman, giáo sư hoá học và chuyên viên về quang phổ thuộc ĐH Hebrew ở Jerusalem, nhận xét, tác động lớn nhất của Scio có lẽ là nâng cao nhận thức của mọi người đối với thế giới vật chất ở quanh, và khả năng nhận biết thành phần hoá chất của thiết bị này sẽ rất có ý nghĩa trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ hay an ninh. Mặc dù tự nhận mình là người “bản tính hoài nghi” nhưng ông vẫn ca ngợi Scio như “sự mở đầu của một cái gì đó có thể trở nên rất phong phú”.  Huy động vốn và trí tuệ từ đám đông  Scharon, từng theo học kỹ thuật tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và là người đồng sáng lập doanh nghiệp Consumer Physics. Ông nói, nếu với Google, người tìm kiếm thông tin phải suy nghĩ về câu hỏi, tìm một khái niệm thích hợp để tìm kiếm, đưa khái niệm đó vào công cụ tìm kiếm với hy vọng sẽ nhận được kết quả hữu ích thì trái lại, với quang phổ kế, người ta chỉ cần chĩa vào đối tượng mà không cần biết đó là cái gì. Thiết bị sẽ đo cấu trúc phân tử của đối tượng đó, so sánh các thông tin với bộ sưu tập dữ liệu không ngừng tăng và ngoài ra có thể chuyển các dữ liệu bổ sung sang Smartphone của người sử dụng.  “Tôi nghĩ rằng điều này có thể thay đổi thế giới theo nhiều cách”, Scharon nói. “Thiết bị có tiềm năng giám sát lốp ô tô, bình chứa xăng, mẫu đất hay cơ thể con người”.  Đến nay, Scharon đã huy động vốn đám đông thông qua platform Kickstarter được hơn 2 triệu USD của hơn 11.000 người.  Ông nói, khả năng của thiết bị tạm thời còn hạn chế vì bộ dữ liệu còn tương đối nhỏ. Nhưng ông tin rằng các nhà đầu tư đến cuối năm nay sẽ nhận được Scio để có thể cùng tham gia xây dựng “ngân hàng dữ liệu vật chất lớn nhất trên thế giới” online để những ai sử dụng Scio đều có thể truy cập. Ngoài ra, hàng trăm người trong số những người góp vốn này sẽ tham gia với tư cách những nhà phát triển để tối ưu hoá phần mềm của Scio.  “Tất nhiên có hai triệu USD là hay rồi”, Scharon nói, “nhưng vấn đề chủ yếu là tạo ra được một cộng đồng tham gia năng nổ”. Scharon dự kiến sẽ tung Scio ra thị trường trong năm tới với giá khoảng 299 USD.  Jossi Vardi, một trong những nhà đầu tư thành công nhất trong lĩnh vực công nghệ cao ở Israel nói, sự phát triển không chính thống là một trong những thế mạnh lớn nhất của Scio. “Nó chính là một dạng của cộng đồng sáng tạo mở”, Vardi nói, tuy nhiên ông hoàn toàn không đầu tư vào doanh nghiệp này. “Và người thắng cuộc là những người đã vận động được đông đảo nhất các nhà phát triển vì nhờ thế mà người ta có được một bộ não khổng lồ với vô vàn ý tưởng.”  Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy quét cơ thể thay đổi tế bào chúng ta như thế nào?      Máy quét sân bay được coi là vô hại về mặt sinh học. Máy sử dụng sóng terahertz không có tác dụng ion hóa. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu Nhật Bản vừa phát hiện tia terahertz có ảnh hưởng đến tế bào.      Cách đây vài năm, tại các sân bay còn phổ biến một thiết bị dò tìm có hình dạng như một khung cửa tại điểm kiểm tra an ninh, máy phát ra âm thanh báo động nếu đối tượng bị kiểm tra có kim loại ở đâu đó trên hoặc trong cơ thể. Mấy năm gần đây thiết bị này đã được thay thế bằng các máy quét cơ thể hiện đại hơn, đối tượng bị kiểm tra đứng trong vài giây giơ cánh tay lên ​​trong khi một thanh dọc di chuyển một lúc xung quanh người. Máy quét ở sân bay được coi là vô hại về sinh học.  Sóng terahertz không những có thể phát hiện đồ vật bằng kim loại ẩn dưới quần áo chúng còn phát hiện mọi vật kể cả chất lỏng. Trên màn hình hiện lên các sọc dọc với mầu sắc khác nhau tại các bộ phận trên cơ thể, khi có khả nghi nhân viên an ninh có thể dễ dàng xác định vị trí cần kiểm tra.  Sóng terahertz – giống như ánh sáng nhìn thấy hoặc sóng vô tuyến – là bức xạ điện từ. Ở tần số từ 30 đến 300 terahertz (THz = nghìn tỷ dao động mỗi giây) trong phổ điện từ, tần số của chúng nằm giữa tần số của ánh sáng hồng ngoại và vi sóng. Bước sóng của sóng terahertz nằm trong khoảng từ một milimet đến mười micromet.  Trong thế kỷ trước, sóng terahertz là một Terra incognita (vùng đất chưa được ai biết tới). Người ta không thể tạo ra cũng không phát hiện ra nó mà chỉ biết nó đang tồn tại. Hiện nay có một số quy trình kỹ thuật có thể  tạo ra sóng terahertz. Ngoài ra đã có các máy dò nhạy cảm đối với bức xạ này. Và do đó, kể từ khi chuyển giao thiên niên kỷ, nhiều ứng dụng cho các làn sóng mới lạ đã được phát triển – máy quét ở sân bay là một trong số đó.  Sóng Terahertz có thể xuyên qua giấy, nhựa và vải vóc nhưng không xuyên qua được kim loại. Sóng bị độ ẩm hấp thụ vì thế chúng chỉ có thể lan tỏa trong không khí vài trăm mét. Trong nghiên cứu sóng terahertz được sử dụng vào việc phân tích các loại nguyên liệu mới. Nguyên liệu hấp thụ và phản chiếu sóng này như thế nào, nói lên nhiều điều về đặc tính của nguyên liệu đó.  Ngược lại với tia Röntgen, năng lượng của sóng terahertz quá nhỏ khiến chúng không  có tác dụng ion hóa và làm hỏng bộ gene. Do đó, nó được coi là an toàn về mặt sinh học, đây cũng là điều kiện tiên quyết để terahertz được sử dụng trong kiểm tra an ninh.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Nhật Bản tại Trung tâm Nghiên cứu Quang tử Cao cấp Riken mới đây đã tiết lộ sóng terahertz trong tế bào sống có thể ảnh hưởng đến hoạt động của một số protein tuy nhiên không làm chết tế bào.  Các tác giả của nghiên cứu này, công bố trên tạp chí Scientific Reports, tỏ ra lạc quan, vì phát hiện này có thể mở ra khả năng mới trong việc điều trị có mục tiêu đối với một số chức năng của tế bào, bao gồm cả điều trị chống ung thư. Tuy nhiên các nhà khoa học Nhật Bản cũng ý thức được, với khám phá mới này cần xem xét lại về sự an toàn của sóng terahertz đối với con người.  Giáo sư Chiko Otani, phụ trách nhóm nghiên cứu – Riken khẳng định: “Ngày nay sóng Terahertz sẽ được ứng dụng dưới nhiều hình thức. Do đó điều quan trọng là phải hiểu đầy đủ về ảnh hưởng của nó đến mô sinh học – một mặt để đánh giá đúng về các rủi ro có thể có, mặt khác để tìm ra các khả năng mới trong việc sử dụng chúng”.  Một điều hết sức rõ ràng ngay từ đầu là: Do sóng Terahertz không thể xuyên sâu vào cơ thể con người đầy chất lỏng, cho nên nếu có tác động về sinh học trên tế bào thì cũng chỉ hạn chế ở tế bào da. Đây là vấn đề đáng để nghiên cứu kỹ hơn.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article209684171/Terahertzwellen-Wie-veraendern-Koerperscanner-unsere-Zellen.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy rang cà phê bằng phần mềm      Andrew Stordy, người chế tạo ra chiếc máy  Ikawa sử dụng phần mềm theo dõi nhiệt độ và thời gian để rang cà phê,  cho rằng máy này giúp pha chế một cốc cà phê tươi hơn và giúp người tiêu  dùng có một mối liên kết gần gũi hơn với nông dân trồng cà phê, bởi họ  có thể nhận cà phê chuyển trực tiếp từ nông trại và tự rang hạt cà phê  chưa qua xử lý công nghiệp.     “Ikawa” có nghĩa là “cà phê” trong tiếng Kirundi, ngôn ngữ của người Burundi ở Châu Phi. Ý tưởng này được nung nấu từ thời thơ ấu, khi Stordy theo cha mẹ là những người truyền giáo sống ở nhiều đất nước trồng cà phê khác nhau như Papua New Guinea, Vanuatu, và Burundi. Được tiếp xúc nhiều với đời sống người nông dân trồng cà phê nên Stordy hiểu những vẫn đề mà họ phải đối mặt.   Việc sản xuất cà phê cũng tương tự như sản xuất rượu vang, nhưng khác với rượu vang, đối với cà phê, người tiêu dùng thường quan tâm đến các thương hiệu trên kệ siêu thị hơn là xuất xứ của cà phê. Điều này đồng nghĩa với việc người nông dân có ít quyền lực và chỉ được chia một phần rất ít những gì khách hàng trả cho sản phẩm.   Stordy nói: “Ý tưởng của Ikawa là giúp bạn biến việc tự rang cà phê thành một thú vui có thể làm tại nhà, nhờ vậy đơn giản hóa chuỗi cung cấp, tiết kiệm chi phí sản xuất và người nông dân có thể nhận nhiều hơn số tiền người tiêu dùng trả cho sản phẩm.”  Đặc biệt là máy rang này được lập trình bởi một phần mềm trên điện thoại thông minh, giúp cung cấp thông tin về hạt cà phê và xác định cho máy công thức rang lý tưởng nhất đối với từng loại hạt.  Ban đầu, Stordy – người đã tốt nghiệp khoa Thiết kế công nghiệp tại Đại học Nghệ thuật Hoàng gia ở London – chế tạo ra một loại máy “tất cả- trong- một” có thể rang, xay và pha cà phê, nhưng sản phẩm cho ra lại có vị rất tệ. Sau đó anh cùng với bạn đồng môn Rombout Frieling phát triển một loại máy bàn có thể rang hạt cà phê xanh bằng hơi nóng trong vòng 3-15 phút. Hạt cà phê trong máy sẽ tự tách lớp vỏ và sau khi rang xong sẽ được đổ ra một lọ thủy tinh để xay.   Thời lượng và nhiệt độ chính xác để rang hạt cà phê được quy định bởi một phần mềm liên kết với máy rang qua cổng Bluetooth. Đây chính là đặc điểm nổi bật phân biệt Ikawa với các loại máy rang gia dụng khác. “Hương vị của cà phê được quyết định bởi hạt cà phê, nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào cách xử lý hạt cà phê. Cũng như rượu vang, có rất nhiều loại vị cà phê khác nhau,” Stordy cho biết.     Hiện tại đã có 30 kiểu máy rang chuyên nghiệp này được bán ra trong ngành công nghiệp cà phê với giá 2.200 bảng mỗi máy, được dùng để thử các hạt cà phê mẫu.   Tháng Mười này, Stordy sẽ bắt đầu chiến dịch tung ra thị trường loại máy thứ hai với giá 500 bảng/máy, nhắm tới những cá nhân sành cà phê, khuyến khích họ sáng tạo và chia sẻ với nhau các công thức pha cà phê qua công nghệ điện thoại thông minh.   Đến năm sau, Stordy hi vọng sẽ tung ra tiếp được loại máy gia dụng giá 350 bảng. Người sử dụng sẽ có thể mua hạt cà phê từ chính công ty với bao bì in thông tin về từng cách rang cụ thể và được gắn mã vạch mà máy rang có thể đọc được.   Hạt cà phê xanh mua trực tiếp từ nông dân có thể giữ hương vị trong vòng một năm, trong khi hạt cà phê đã rang rồi giảm chất lượng rất nhanh khi tiếp xúc với không khí, độ ẩm và độ nóng. Với Ikawa, người tiêu dùng được thưởng thức cà phê tươi hơn là cà phê mua ở siêu thị.   Stordy nói: “Chúng tôi đang cố gắng sáng tạo ra một trải nghiệm cà phê mới. Thực tế sẽ cho thấy không phải tất cả mọi người đều bị hấp dẫn bởi trải nghiệm mới này. Nhu cầu cho cà phê rang sẵn sẽ còn rất lớn. Nhưng cà phê nói chung là một thị trường rộng, bởi vậy rất có tiềm năng để tạo dựng một thị trường đặc biệt với trải nghiệm cà phê mới này.”  Hiện nay, công ty mới đang tập trung phát triển công nghệ máy rang cà phê. Họ ước tính phải một năm nữa mới có thể bắt đầu bán hạt cà phê trực tiếp từ người nông dân. Tuy vậy, họ đã thu hút được 400.000 bảng từ các nhà đầu tư tên tuổi và ước tính sẽ bắt đầu thu được lợi nhuận trong năm nay.   Khánh Minh theo theguardian.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy sàng phân loại vải đa năng      Với chiếc chiếc máy sàng phân loại vải đa năng của thầy giáo tiểu học Nguyễn Xuân Tình (xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang), chất lượng các mẻ vải sấy được nâng cao 10 đến 25%, thời gian sấy cũng giảm đáng kể.  &#160;      Anh Nguyễn Xuân Tình bắt đầu nghiên cứu máy sàng phân loại vải từ năm 2004, sau khi chứng kiến những người trồng vải vất vả phân loại quả nhưng không thể kiểm soát hết chất lượng vải sấy. Qua nhiều công đoạn thử nghiệm, anh Tình đã tìm ra được một kết cấu ưng ý của máy sàng phân loại vải với các phần chính là khung máy, bộ sàng gồm ba chiếc có kích cỡ khác nhau, phễu nhận quả đầu vào và hứng quả đầu ra, hệ thống chuyển động gồm một động cơ điện 1,5kW gắn với trục chuyển động cứng có khớp nối mềm.     Hoạt động trên nguyên tắc rung lắc, cỗ máy phân loại được bốn loại sản phẩm: quả vải to tròn đều loại 1, quả loại 2 nhỏ hơn, thứ ba là quả nhỏ nhất, cuối cùng là phế phẩm gồm cuống quả vải, lá và những quả vỡ.     Theo đánh giá của các chuyên gia, cỗ máy của anh Tình có nhiều tính mới như vận hành bằng động cơ điện vì vậy không tốn công sức, năng suất rất cao với độ liên hoàn tương tự như máy xát gạo liên hoàn, phân loại tốt sản phẩm, sau khi phân loại có khả năng hỗ trợ được tất cả các khâu khác như đưa vải vào lò, đảo vải khi sấy, ra lò, đóng gói… mà các loại sàng trước đây không thể làm được. Và nét đặc biệt của cỗ máy là có thể phân loại vải phế phẩm, yếu tố chưa có loại máy sàng nào trước đây làm được.     Kể từ ngày chế tạo thành công, cỗ máy sàng phân loại vải của anh Tình đã nhận được tới 30 đơn đặt hàng của bà con trồng vải. Qua sử dụng, nhiều phản hồi của bà con cho biết, cỗ máy giúp nâng cao chất lượng quả vải sấy rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng tiêu thụ do độ khô đồng đều đồng thời giúp họ có thể cất trữ lâu trong kho. Về hiệu quả kinh tế, sản phẩm vải khô qua máy sàng phân loại vải đã được nâng cao giá trị từ 10 đến 25%, trung bình mỗi một lượng vải sấy khoảng 2 tấn khô nếu chỉ mua cùng giá, bán cùng giá thì dùng hàng sấy đem lại lợi nhuận hơn khoảng 3,5 triệu đồng. Chỉ tính riêng tỉnh Bắc Giang, chỉ cần 70% đến 80% số hộ làm nghề sấy vải sử dụng loại sàng phân loại vải đa năng này mỗi năm có thể đem lại hàng trăm tỉ đồng.     Hơn nữa, cỗ máy của anh Tình còn đem lại hiệu quả môi trường rõ rệt khi rút ngắn thời gian sấy của từng lô hàng, giảm nhiên liệu đốt lò, thậm chí còn chế tạo máy còn tận dụng được các phế liệu trong quá trình sàng lọc làm vật liệu gia công.     Ngoài chức năng phân loại vải sấy, cỗ máy này có thể áp dụng với nhiều loại mặt hàng nông sản khác như phân loại nhãn sấy, thảo quả sấy và một số hạt khác bằng cách thay đổi mắt sàng phù hợp.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy sấy cà phê SRA: Máy nhỏ, hiệu quả lớn      Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Năng lượng  và Máy nông nghiệp (Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh) mới đây đã&#160; chế tạo thành công máy sấy cà phê SRA nhỏ gọn nhưng công suất có thể đạt từ 7 – 14 tấn cà phê nhân tươi/mẻ.      Máy được thiết kế, chế tạo dựa theo nguyên lý sấy đảo chiều không khí (quá trình sấy gồm hai giai đoạn: sấy theo chiều từ dưới lên và sấy từ trên xuống), không cần đảo trộn hạt bằng thủ công, với kết cấu bao gồm lò đốt vỏ cà phê, quạt sấy và bể sấy. Máy có kết cấu nhỏ gọn chỉ chiếm ½ diện tích mặt bằng lắp đặt so với các loại máy sấy tĩnh kiểu cũ có cùng năng suất.  Theo Ths Trần Văn Tuấn – Giảng viên Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh, ưu điểm của máy là không tốn công cào, đảo trong quá trình sấy; giảm được chi phí mặt bằng lắp đặt; hạn chế khói bụi trong quá trình sấy; và tạo ra sản phẩm cà phê sấy khô đồng đều, tiết kiệm nguyên liệu đốt và chi phí sấy.  Với mỗi mẻ sấy, người dân thu lời từ 3-3,5 triệu đồng ở máy sấy SRA-7 (công suất 7 tấn/mẻ) và 7-10 triệu đồng ở máy sấy RSA -14 (công suất 14 tấn/mẻ).    Đến tháng 7/2014, đã có khoảng 130 máy sấy cà phê quả với năng suất từ 2- 30 tấn/mẻ được lắp đặt và chuyển giao tại các tỉnh như: Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đắc Nông… Hai máy sấy công suất 14-15 tấn/mẻ cũng đã được Trung tâm lắp đặt cho Vinacafe Đà Lạt.   Ths Trần Văn Tuấn cho biết thêm: với các ưu điểm như đơn giản dễ vận hành, giá thành đầu tư và chi phí sấy thấp, sấy được các loại hạt ẩm độ cao, kết cấu nhỏ gọn, không tốn công lao động cào đảo cà phê, việc nhân rộng mô hình lò sấy cà phê theo công nghệ đảo chiều gió sấy SRA quy mô hộ sẽ là giải pháp tích cực góp phần giảm tổn thất và nâng cao chất lượng cà phê sau thu hoạch của tỉnh.   Được biết, thời gian phơi khô  quả cà phê bằng nắng tự nhiên phải mất từ 8 – 10 ngày.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy sấy chống tổn thất sau thu hoạch      Được Chủ tịch nước viết thư khen và nhận giải nhất cuộc thi Nhà sáng chế năm 2014 ( phần thưởng trị giá 400 triệu đồng), thành công của nông dân Dương Xuân Quả (Năm Nhã), quê ở xã Phú Hưng, Phú Tân, An Giang, được đánh giá cao bởi bài toán chống tổn thất sau thu hoạch là vấn đề cấp thiết lâu nay của bà con làm nông.  &#160;    Không được học hành nhiều nhưng bằng kinh nghiệm được đúc rút của một thợ hàn từng làm cho doanh nghiệp Đài Loan và chịu khó học hỏi về nghệ cơ khí, ông Năm Nhã đã ứng dụng vào thực tế. “Tôi chỉ mong góp sức tạo ra sản phẩm giúp bà con nông dân đỡ cơ cực khi thu hoạch lúa gặp mưa. Không ngờ, sản phẩm được các nhà khoa học đánh giá cao”, ông Năm thú thiệt  Năm 2011, ông đã xuất sang Campuchia được 30 bộ phận cánh quạt và lò sấy. Trong một thập niên, ông Năm Nhã đã lắp đặt gần 1.700 lò sấy cho bà con khắp vùng ĐBSCL và Campuchia. Các lò sấy của ông gồm nhiều loại lò 10 tấn, loại 20 tấn và loại 30 tấn, giá bán các loại lò sấy từ 110 đến 240 triệu đồng/lò. Khách hàng đến với Năm Nhã vì thương hiệu và chất lượng của sản phẩm bởi máy sấy  Năm Nhã tiện lợi, tiết kiệm được nhiên liệu, không những hiệu quả trên lúa mà còn sấy được cả bắp, đậu, khoai mì, mè, cà phê… Đặc biệt là khi sấy lúa không cần trở mẻ mà hạt lúa vẫn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu về độ ẩm, khi xay không gãy gạo… Sau quá trình sấy ở máy Năm Nhã, lúa giống có thể bảo quản trên 12 tháng mà không lo bị mọc mầm, mục nát.    Để có được uy tín này, ông Năm Nhã đã từng cầm cố 3/5 héc-ta đất ở Phú Tân lấy tiền nghiên cứu lò sấy. Nhưng do thiếu kinh nghiệm, lò sấy không đáp ứng nhu cầu của nông dân. Thất bại, cụt vốn, năm Nhã lại bôn ba khắp nơi làm thợ cửa sắt, hàn gió đá rồi tích vốn mở tiệm, lại quyết tâm nghiên cứu lò sấy cải tiến. Tinh thần “cải tiến” đã khiến ông tìm tòi, học hỏi để lò sấy có những khác biệt, lấy lại lòng tin bà con. Tháng 2-2011, dịp may hiếm có,  Hiệp hội Doanh nghiệp An Giang giới thiệu ông Năm Nhã tham dự hội thảo về Chương trình hỗ trợ cạnh tranh toàn cầu (GCF). Khi trình bày ý tưởng nghiên cứu “mô hình sấy lúa tĩnh vĩ ngang tự động”, ông đã thuyết phục được cố vấn GCF tài trợ cho kế hoạch làm máy sấy của mình.  Tháng 3-2012, ý tưởng của DNTN Năm Nhã là một trong năm dự án tại An Giang được Chính phủ Đan Mạch tài trợ và ông đã nhanh chóng hoàn thành hệ thống lò sấy tĩnh vĩ ngang tự động đầu tiên tại Việt Nam. Hệ thống có cầu trục tự động, giúp giảm 2/3 số nhân công vận hành, tiết kiệm thời gian vận chuyển, công suất sấy đạt đến 100 tấn/mẻ…  Tuy lò sấy tĩnh vĩ ngang tự động có giá thành cao nhưng tốc độ thu hồi vốn  chỉ khoảng một năm rưỡi, phù hợp với các vùng sản xuất tập trung nên đơn đặt hàng làm máy sấy lúa khá lớn.  Hiện tại, Doanh nghiệp tư nhân Năm Nhã đã dời  trụ sở hoạt động từ ấp Hưng Thạnh (xã Phú Hưng, Phú Tân) về phường Bình  Đức (TP. Long Xuyên) để thuận tiện cho việc sản xuất và phân phối sản  phẩm. Công ty đẩy mạnh nghiên cứu lò sấy theo hướng tiết kiệm nhiên  liệu, không lên tro đen, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, không gãy gạo,  tỷ lệ thu hồi có lợi khi xay chà và làm ra lò sấy công suất lớn, giảm  giá thành trên mỗi mẻ sấy.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy sấy nông sản bằng năng lượng mặt trời      Ngày 15/6, tại Hà Nội, Công ty TNHH Phát  triển Ứng dụng Kỹ nghệ mới (SAV) đã tổ chức hội thảo báo cáo kết quả  nghiên cứu và giới thiệu sản phẩm của Tiểu dự án “Nghiên cứu và chế tạo  máy sấy nông sản/lúa bằng năng lượng mặt trời hiệu suất cao, sử dụng ống  nhiệt thủy tinh chân không”.    Dự án do Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ cho Công ty TNHH Phát triển Ứng dụng Kỹ nghệ mới (SAV) thực hiện.  Mục tiêu của dự án nhằm chế tạo ra hai bộ thu năng lượng mặt trời kiểu ống nhiệt thủy tinh chân không có cánh, mỗi bộ có công suất nhiệt tạo ra Q1=5kW, tổng công suất Q=2Q1=10kW (tổng diện tích thu khoảng 10m2); chế tạo buồng sấy thóc cơ khí sấy kiểu đối lưu cưỡng bức với năng suất sấy khoảng 500 kg thóc/máy mỗi hộ gia đình (từ thóc ướt có độ ẩm khoảng 30 – 33%  xuống độ ẩm 13 – 14%) trong một ngày nắng (08 giờ).  Dự án nghiên cứu kết hợp hai tiến bộ khoa học kỹ thuật, hai công nghệ cao là ống thủy tinh chân không (nhận nhiệt bức xạ mặt trời tốt) và thiết bị ống nhiệt (truyền nhiệt nhanh và mạnh) vào một bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời dùng ống nhiệt thủy tinh chân không để cấp nhiệt cho máy sấy nông sản… Với việc triển khai ứng dụng các công nghệ cao này, qua tính toán và nhiều thực nghiệm cho thấy hiệu suất của bộ thu năng lượng mặt trời có thể đạt 55%- 65%.  Máy sấy nông sản/lúa bằng năng lượng mặt trời sử dụng ống nhiệt thủy tinh chân không  Ông Trần Công Lý – Giám đốc SAV cho biết, so với chi phí sấy lúa bằng máy sấy tĩnh vỉ ngang lò trấu cỡ 30 tấn/mẻ là 150.000 đồng/tấn lúa (gồm các phí bốc xếp, đốt lò, điện, trấu, khấu hao thiết bị, lãi ngân hàng) thì với loại máy sấy này vẫn có lợi hơn khoảng 27.000 đồng/ tấn, đó là chưa kể các ích lợi khác do sử dụng năng lượng sạch – năng lượng mặt trời mà có. Với tiền sấy thuê bằng máy sấy hiện nay khoảng 250.000 đồng/ tấn, như vậy lãi trên dưới 127.500 đồng/tấn. Do đó chỉ cần sấy 588 tấn lúa là có thể thu hồi vốn đầu tư, tương đương thời gian thu hồi vốn của 01 modul sấy khoảng 3,9 năm (nếu chỉ tính sấy 7 giờ/ ngày).  TS Nguyễn Thúy Anh – Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế Hợp tác thuộc Liên minh hợp tác xã Việt Nam, cho biết: Dự án đưa vào triển khai trong thực tế sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho các hộ nông dân, góp phần giảm chi phí sấy, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và xuất khẩu, giảm độc hại trực tiếp cho người lao động khi sử dụng các phương thức sấy tự nhiên, sấy thủ công.  Tại hội thảo, các ý kiến cho rằng trong giai đoạn tiếp theo SAV cần nghiên cứu chế tạo loại máy sấy có công suất sấy lớn hơn, đa năng nhằm phục vụ cho quy mô sấy của các hợp tác xã, các đơn vị dịch vụ sấy. Với thiết bị sấy này sẽ biến nguồn năng lượng tiềm năng rất lớn, siêu sạch “trời cho” vào công cuộc công nghiệp hóa nền nông nghiệp nước ta, nâng cao mức thu nhập cho bà con nông dân và góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho hạt gạo Việt trên thương trường thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy sơ chế thực phẩm đa năng      Với chiếc máy sơ chế thức ăn đa năng của anh  Chu Duy Ninh, công việc chuẩn bị một bữa ăn tập thể, hội nghị hay tiệc liên hoan trở nên rất đơn giản và tiện lợi.    Là một thầy giáo thuộc khoa cơ điện lại sẵn có kiến thức và tay nghề chế tạo máy, anh Chu Duy Ninh đã mày mò nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy sơ chế thực phẩm đa năng, rất tiện dụng cho các bếp ăn của các trường học,  nhà máy, xí nghiệp hay nhà hàng, khách sạn. Chiếc máy giúp tiết kiệm đáng kể công sức và thời gian cho người đầu bếp ở khâu sơ chế.  Máy được thiết kế tích hợp tất cả các tính năng từ băm nhỏ, xay mịn tất cả các loại thịt cá, củ quả nhờ hai lưỡi dao hoạt động theo nguyên lý chuyển động tròn, cho đến đánh trứng nhào bột nhờ cánh khuấy được lắp lệch tâm trên trục của động cơ. Đặc biệt chỉ cần xoay động cơ nằm ngang thì chiếc máy còn có thêm tính năng là thái lát, thái chỉ các loại rau củ quả. Tất cả những tính năng này đều được gắn với hộp điều khiển đa tốc độ, nhờ vậy người sử dụng có thể tùy chỉnh độ nhanh chậm của các lưỡi dao hay cánh khuấy, giúp linh hoạt trong quá trình chế biến. Đặc biệt, chất lượng thực phẩm sau sơ chế đạt yêu cầu.  Chiếc máy sơ chế thức ăn đa năng của anh Ninh không chỉ phát huy hiệu quả cho việc sơ chế thức ăn ở các bếp ăn mà còn được đưa vào phục vụ công tác giảng dạy của các thầy cô giáo ở những lớp thực hành chế biến món ăn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy thu hoạch cà phê tăng năng suất lao động bảy lần      Kết hợp máy cắt cỏ đeo lưng và máy thu hoạch  cà phê của Brazil để tạo ra máy thu hoạch cà phê “made in Vietnam”, tác  giả Đỗ Đức Quang, chủ cơ sở sản xuất Đức Quang Gia Lai đã tăng năng  suất thu hoạch cà phê lên gấp bảy lần.    Là thợ cơ khí có tay nghề cao, trong nhiều năm qua, ông Đỗ Đức Quang đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật với nhiều loại máy móc hỗ trợ người nông dân trồng cà phê, hồ tiêu như máy đào xới bồn cà phê, máy chăm sóc hồ tiêu, chăm sóc cây chè, máy cắt cỏ, máy cưa xích, máy phun thuốc trừ sâu… Gắn bó với cây cà phê và người trồng cà phê, ông đã từng bỏ tiền túi ra nhập tới 30 máy thu hoạch cà phê cầm tay của Brazil về Gia Lai. Tuy nhiên loại máy này lại không phù hợp với cây cà phê Robusta của Việt Nam, gây ra hiện tượng bong tróc cành, gãy cành và rụng lá.   Với kinh nghiệm trong nghề cơ khí, ông Quang đã kết hợp hai loại máy là máy cắt cỏ đeo lưng và máy thu hoạch cà phê của Brazil để tạo ra máy thu hoạch cà phê “made in Vietnam”. Tính năng “hai trong một” là thu hoạch cà phê và phát cỏ khiến cho người sử dụng có thể khai thác tối đa cỗ máy trong suốt mùa vụ.   Một ưu điểm khác của máy thu hoạch cà phê cải tiến là thay thế động cơ truyền động từ dạng cầm tay sang dạng đeo lưng, chuyển trọng tâm của động cơ khiến người sử dụng có thể thao tác máy dễ dàng và ổn định hơn. Bộ phận thu hoạch cà phê cũng được cải tiến tăng thêm từ năm ngón sang ba ngón giúp máy hoạt động linh hoạt hơn, phù hợp với đặc điểm của cây cà phê Robutsta.  Máy thu hoạch cà phê của ông Quang đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt với bài toán chi phí đầy thuyết phục: nếu thuê nhân công một ngày thì tổng lượng thu hái dao động từ 150 đến 200 kg cà phê tươi nhưng nếu dùng máy (do một người thao tác, hai người phụ kéo bạt và cho cà phê vào bao tải) thì số lượng đạt được là từ 1.200 đến 1.500 kg cà phê tươi. Nếu trừ chi phí tiêu hao nhiên liệu (tương đương chi phí thuê một công nhân) thì thu hái bằng máy sẽ đem lại tiền lãi là 3,8 triệu đồng/ha. Máy có trị giá 5 triệu đồng nên chỉ cần thu hái trên 1,5ha đã khấu hao được tiền đầu tư ban đầu và lãi 700.000 đồng.  Chính sự thuyết phục về tính năng sử dụng và hiệu quả kinh tế mà máy thu hoạch cà phê của ông Đỗ Đức Quang đã được trao giải nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc lần thứ năm (2013-2014).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy thu trực canh tự động hỗ trợ ngư dân      Sau 13 năm nghiên cứu, kỹ sư Đặng Quốc Thái  và các cộng sự ở Công ty Điện tử Hải Phòng đã cho ra mắt sản phẩm Hệ  thống thu phát trực canh tự động (ảnh bên) nhằm hỗ trợ hiệu quả việc cung cấp  thông tin cho các tàu thuyền trên biển.     Sản phẩm là một máy thu chuyên dụng có chức năng chính là thu trực canh tự động 24/24 trên băng sóng ngắn, với phương thức điều chế đơn biên SSB (sử dụng biên tần trên USB). Máy thu này có khả năng thu các thông tin dự báo thời tiết và thông tin chuyên ngành khác do công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam phát qua hệ thống phát sóng xây dọc bờ biển. Ngoài ra, máy cũng có thể bắt được sóng AM/FM của Đàì Tiếng nói Việt Nam.  Do hướng đến đối tượng ngư dân là chủ yếu nên máy thu trực canh được thiết kế sử dụng không quá phức tạp, nhưng chất lượng thu phát ổn định, không thua kém hàng ngoại nhập.   Giải pháp công nghệ này đã được kỹ sư Đặng Quốc Thái đem đến chương trình Sáng tạo Việt 2013 và theo đánh giá của BTC, đến nay vẫn là độc nhất vô nhị của Việt Nam và vô cùng hữu ích cho ngư dân trong mọi hoàn cảnh.   Sản phẩm cũng đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN cũng đã cấp bằng Sáng chế độc quyền.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính có thông minh hơn trẻ 6 tuổi?      Các nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học Thông tin (ISI), Trường Kỹ thuật Viterbi (ĐH Nam California) đang phát triển một thuật toán có thể dạy máy học mà không cần đến sự giám sát của con người.      “Bản chất của học máy là dạy chương trình máy tính học cách hành xử giống con người”, Mohammad Rostami, Trưởng nhóm nghiên cứu tại ISI cho biết. Trong Hội thảo về trí tuệ nhân tạo diễn ra tại Washington vào tháng hai vừa qua, ông đã trình bày công bố mới về việc đào tạo học máy không có sự giám sát của con người.  Rostami giải thích quy trình thực hiện học máy thông thường: “Chúng tôi thu thập dữ liệu đã được dán nhãn, sau đó dạy máy hành động giống con người khi tiếp xúc với dữ liệu đó. Vấn đề chúng tôi gặp phải là kiến thức máy thu được chỉ giới hạn ở tập dữ liệu sử dụng để đào tạo”.  Do vậy, nếu máy nhận được dữ liệu đầu vào khác với dữ liệu đào tạo, máy sẽ bị nhầm lẫn và không hành động giống con người.  Rostami đưa ra một ví dụ: “Có nhiều loại chó với hình dáng khác nhau. Nếu bạn huấn luyện một cỗ máy phân loại chó, kiến thức của nó chỉ giới hạn trong các mẫu bạn đã dùng để đào tạo. Nếu có một loại chó mới không nằm trong các mẫu huấn luyện, máy sẽ không biết được đó là một loại chó mới”.  Con người giỏi việc này hơn chương trình máy tính. Khi đưa một thứ gì đó cho con người để phân loại, nếu họ chỉ được cung cấp một vài mẫu trong một danh mục mới (chẳng hạn một loài chó mới), họ sẽ điều chỉnh và tìm hiểu danh mục mới đó là gì. “Một đứa trẻ sáu tuổi có thể học một danh mục mới bằng cách sử dụng hai, ba hoặc bốn mẫu, trái ngược với hầu hết các kỹ thuật học máy hiện đại yêu cầu ít nhất vài trăm mẫu”.  Vậy làm thế nào để máy tính có thể phân loại khi đối mặt với danh mục mới? Thông thường, đó không phải là việc học các danh mục hoàn toàn mới, mà là học cách điều chỉnh khi các danh mục hiện hành thay đổi.  Bản chất thay đổi của một danh mục được gọi là “sự thay đổi khái niệm”. Rosami lấy ví dụ về thư mục thư rác: “Dịch vụ email có một mô hình phân loại các email trong hộp thư đến thành email hợp lý và email spam. Người ta đã đào tạo nó để xác định thư rác thông qua một số đặc trưng nhất định. Chẳng hạn, nếu một email không được gửi đến cá nhân bạn, nhiều khả năng đó là thư rác”.  Thật không may, những kẻ gửi thư rác biết về các mô hình này, và liên tục bổ sung các tính năng mới để đánh lừa mô hình, nhằm ngăn chặn việc phân loại email của họ là thư rác. “Vẫn là khái niệm ‘thư rác’ nhưng theo thời gian, định nghĩa chi tiết về khái niệm này dần khác trước. Đó là sự thay đổi khái niệm”, Rostami cho biết.  Trong công bố mới, Rostami đã phát triển một phương pháp đào tạo mô hình máy học để giải quyết những vấn đề này.  Vì dữ liệu đào tạo ban đầu không phải lúc nào cũng có sẵn nên phương pháp của Rostami không dựa vào dữ liệu đó. Nhà khoa học Aram Galstyan ở ISI, đồng tác giả của nghiên cứu giải thích: “Mô hình của chúng tôi học cách phân loại dữ liệu cũ trong không gian ẩn, sau đó nó có thể tạo ra các biểu diễn ẩn (latent representation), gần giống tạo ra một tập dữ liệu tổng hợp bằng cách học cách biểu diễn của dữ liệu cũ”. Nhờ đó, mô hình có thể giữ lại những gì đã học được trong giai đoạn đào tạo ban đầu. Điều này giúp mô hình thích nghi, tìm hiểu các danh mục và danh mục phụ mới theo thời gian.  Quan trọng hơn, máy sẽ không quên dữ liệu đào tạo ban đầu hoặc những gì nó học được từ dữ liệu đó. Đây là một vấn đề lớn trong học máy. “Khi bạn đào tạo một mô hình mới, nó có thể quên một số mẫu hữu ích trước đây. Điều này gọi là vấn đề lãng quên (catastrophic forgetting)”, Galstyan nói.  Với cách tiếp cận mới, vấn đề lãng quên sẽ được giải quyết triệt để bởi vì nhóm nghiên cứu đã đưa ra một phương thức liên hệ tương ứng giữa phân loại dữ liệu cũ và dữ liệu mới. “Vì vậy, mô hình của chúng tôi sẽ không quên dữ liệu cũ”, Galstyan cho biết.  Rostami và Galstyan đang lên kế hoạch tiếp tục nghiên cứu về khái niệm này và áp dụng phương pháp mới cho các vấn đề trong thế giới thực. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2023-03-machines-smarter-year-old.html    Author                .        
__label__tiasang Máy tính lượng tử của Google đạt được cột mốc quan trọng nhờ giảm nhiễu      Các nhà nghiên cứu đã lần đầu tiên chứng minh là sử dụng nhiều bit lượng tử hơn có thể làm giảm tỉ lệ nhiễu của các tính toán lượng tử.    Các nhà vật lý tại Google đã đạt đến mốc mà họ miêu tả là cột mốc thứ hai trên con đường dẫn đến một máy tính lượng tử thực thụ. Tại một phòng thí nghiệm ở Santa Barbara, California, họ đã chứng tỏ mà mình có thể làm giảm nhiễu trong các phép tính nhiều hơn bằng việc sử dụng mã lượng tử lớn hơn.  Kết quả này đã được nêu trong một bài báo xuất bản trên Nature 1, nối tiếp một thực nghiệm được ca ngợi vào năm 2019, trong đó một máy tính lượng tử của Google đạt tới mức “tăng cường lượng tử” – bằng việc thực hiện một phép tính có thể mất hàng ngàn năm trên máy tính thông thường.  Việc chỉnh sửa nhiễu là một trong những yêu cầu không thể tránh nếu các máy tính lượng tử theo đuổi những hứa hẹn về khả năng giải quyết được những bài toán nằm ngoài phạm vi chạm đến của các máy tính cổ điển – như phân tích các số nguyên thành số nguyên tố hoặc hiểu một cách chi tiết hành xử của các xúc tác hóa học.  “Thành công của Google thật vô cùng ấn tượng vì vô cùng khó để có được mức thể hiện tốt hơn với quy mô mã lớn”, Barbara Terhal, một nhà vật lý lý thuyết là hcuyeen gia về sửa lỗi lượng tử tại ĐH Công nghệ Delft Hà Lan, nhận xét. Việc cải thiện này vẫn còn tương đối nhỏ, các nhà nghiên cứu ở Google thừa nhận, và tỉ lệ nhiễu vẫn cần được giảm xuống nhiều hơn. “Mới chỉ làm tốt được một chút, chugns tôi cần phải làm tốt hơn nữa”, Hartmut Neven – người giám sát bộ phận máy tính lượng tử ở trụ sở của Google tại Mountain View, California – cho biết trong một thông cáo báo chí.  Sửa lỗi  Tất cả các má tính đều có thể gặp lỗi. Con chip của một máy tính thông thường lưu trữ thông tin trong các bit (thông tin được mã hóa thành 0 hoặc 1) và sao chép một số thông tin thành các bit ‘sửa lỗi’ thừa. Khi một lỗi xuất hiện – như một kết quả của các electron rời rạc băng qua một thanh chắn barrier thiếu hoàn hảo hoặc một hạt tia vũ rụ làm biến dạng mạch – con chip có thể điểm một cách tự động lỗi này và tập trung vào nó.  “Trong thông tin lượng tử, chúng tôi không thể làm được điều đó”, Julian Kelly, giám đốc phần cứng của Google, nói. Các máy tính lượng tử đều dựa trên các trạng thái lượng tử mà người ta gọi là các qubit, có thể tồn tại một hỗn hợp của các trạng thái ‘0’ và ‘1’. Một qubit không thể được đọc mà không có được đầy đủ trạng thái lượng tử của nó, điều đó có nghĩa là thông tin của nó không thể được sao chép một cách đơn giản thành các qubit dư.  Nhưng các nhà lý thuyết đã phát triển những khung “sửa lỗi lượng tử” phức tạp để giải quyết vấn đề này. Nó phụ thuộc vào việc mã hóa một qubit thông tin – hay còn còn lại qubit logic – trong một bộ tập hợp qubit vật lý. Cỗ máy này sau đó có thể sử dụng một số qubit vật lý để kiểm tra độ “minh mẫn” của các qubit vật lý và sửa bất cứ lỗi nào. Các qubit vật lý là vậy, chúng có thể xử lý được lỗi. “Sự tiên tiến của việc sử dụng đa qubit cho sửa lỗi lượng tử là ở các cấp độ,” Terhal nói.  Nhưng việc có thêm nhiều qubit vật lý cũng làm tăng thêm các cơ hội hai trong số chúng bị ảnh hưởng song song bởi lỗi. Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu ở Google đã thực hiện hai phiên bản sửa lỗi lượng tử. Một gồm 17 qubit có thể phục hồi một lỗi tại một thời điểm. Một phiên bản lớn hon gồm 49 qubit có thể phục hồi hai lỗi song song, và với một hiệu suất tốt hơn một chút so với phiên bản trước. “Cải thiện hiện nay còn rất nhỏ, và cũng chưa rõ là việc sử dụng mã lớn hơn sẽ đạt được hiệu suất cao hơn không”, Terhal nói.  Joe Fitzsimons, một nhà vật lý tại Horizon Quantum ở Singapore, nói rằng vô số phòng thí nghiệm đang có những bước tiến lớn về việc sửa lỗi lượng tử và kết quả mới nhất của Google có thể có nhiều đặc điểm cần phải có. Nhưng các qubit cũng cần lưu trữ thông tin cho thời gian sử dụng trên máy tính để thực hiện tính toán, và nhóm của Google vẫn chưa đạt được kỳ tích. “Với một chứng minh thuyết phục của việc sửa lỗi theo quy mô, chúng tôi muốn thấy được sự cải thiện suốt vòng đời của nó cơ”, như một hệ được nâng cấp quy mô, Fitzsimons nói.  Google cũng đã lên một lộ trình tính toán lượng tử cho chính mình với sáu cột mốc quan trọng. Tiên tiến lượng tử là một, và thành tích mới nhất là cái mốc thứ hai. Cột mốc cuối cùng là một thiết bị gồm một triệu qubit vật lý, mã hóa 1.000 qubit logic. “Tại thời điểm đó, chúng tôi có thể cho thấy sự hứa hẹn về giá trị thương mại”, Neven nói.  Các qubit siêu dẫn là một trong số nhiều cách tiếp cận để xây dựng một máy tính lượng tử, và Google vẫn nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để dẫn đến thành công, Neven nói. “Chúng tôi có thể xoay chuyển rất nhanh nếu cách tiếp cận này đem lại cơ hội cho chúng tôi có được một máy tính lượng tử hữu dụng nhanh hơn các cách tiếp cận khác”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-023-00536-w  https://phys.org/news/2023-02-google-hails-key-milestone-quantum.html    Author                .        
__label__tiasang Máy tuốt lạc kiêm máy bơm      Khi được lắp thêm bộ phận bơm nước, máy tuốt  lạc của ông Nguyễn Đức Thành, thôn Cầu Thượng, xã Nhã Nam, huyện Tân  Yên, Bắc Giang, có thể tự chuyển đổi tính năng thành máy bơm.     Máy tuốt lạc của ông Nguyễn Đức Thành có ưu điểm đầu tiên là gọn nhẹ, dễ vận chuyển khi chỉ nặng 45kg, bao gồm cả máy nổ chạy xăng kèm theo, nên có thể tuốt ngay tại bờ ruộng. Khi vận hành máy, các thao tác hết sức đơn giản, ai cũng có thể sử dụng tốt. Nguồn nguyên liệu cũng hết sức đa dạng và phổ biến như điện lưới, xăng hoặc dầu diesel. Thậm chí, máy tuốt lạc cũng có thể được vận hành từ xe máy, nếu có một bộ phận trung gian truyền động từ xe sang máy tuốt lạc.   Trước khi tiến hành tuốt lạc, cây lạc được nhổ tại ruộng chỉ cần rũ sạch đất là có thể cho vào máy, phần cây lá được tách ra và có thể giữ lại làm phân bón ở ruộng. Với máy tuốt lạc này, năng suất lao động cao, tiết kiệm thời gian và nhân công. Trên một máy tuốt nhỏ, năng suất đã được tăng lên từ 12 đến 15 lần so với sử dụng bằng tay và gấp 8 đến 10 lần so với đập. Một ưu điểm của máy là tỷ lệ dập vỡ rất thấp, chỉ khoảng 3%.   Từng giành nhiều giải thưởng, trong đó có giải dành cho sản phẩm  công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực năm 2010, nhưng máy tuốt lạc của ông Nguyễn Đức Thành vẫn còn được tiếp tục cải tiến để nâng cao tính năng, chọn lọc củ lạc chính phẩm ra khỏi những củ lạc non, rác… Ngoài ra, nếu lắp thêm bộ phận bơm nước là máy cũng có thể tự chuyển đổi tính năng thành máy bơm, góp phần hỗ trợ bà con nông dân trong sản xuất nông nghiệp.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy vét bùn của lão nông Cao Văn Tám      Lão nông Cao Văn Tám, tại ấp Đông Hiển, xã Đông Thuận, huyện Thới Lai,&#160;TP Cần Thơ, đã chế tạo dàn máy xới&#160;tay chạy bằng máy Honda có những tính năng đặc biệt đã đoạt giải ba “Hội thi Sáng tạo kỹ thuật” năm 2011 do&#160;LĐLĐ TP Cần Thơ&#160;tổ chức.    Từ khi chiếc máy xuất hiện trên đồng, nông dân quanh vùng đòi mua, mua không được thì… xin thuê.  Là nông dân nghèo chưa qua trường lớp đào tạo về cơ khí nào nhưng ông Tám cũng có nhiều mày mò cải tiến máy móc, phục vụ bà con làm nông. Trước cảnh bà con vất vả làm ruộng, ông suy nghĩ: phận mình đã phải bỏ học đi làm thuê, tại sao không chế tạo một chiếc máy có thể thay thế sức lao động cho người làm thuê?”.   Từ suy nghĩ đó, dù chỉ có 15 triệu đồng làm vốn, ông Tám vẫn mày mò phác thảo bản vẽ máy vét bùn, tự mua sắt và thuê thợ về hàn các chi tiết. Để tiết giảm chi phí, ông học cách hàn và rồi tự tay thực hiện các công đoạn khó.   Hơn một năm ròng rã, ông Tám đã cải tiến giàn máy xới tay chạy bằng đầu máy Honda. Sau nhiều hàng trăm lần tháo ra, ráp vào, chỉnh sửa và thay đổi động cơ, ông đã cải thiện được đầu máy Honda khi loại bỏ toàn bộ hệ thống giàn xới phía sau hộp số, thay hệ thống ghế ngồi và ghép cố định hệ thống giàn khoan ở phía trước đầu động cơ. Dù 10 lần thất bại, khó khăn chất chồng nhưng ông vẫn kiên trì đến năm 2009, chiếc máy vét bùn lần đầu tiên chạy thử. Bao công sức ông bỏ ra cũng được đền đáp xứng đáng: Chiếc máy vét bùn rãnh nước giữa ruộng lúa chuyên dùng, chạy bằng đầu máy dầu ra đời.   Lúc đầu công suất máy chưa tương thích, ông lại phải đổi máy nổ tới lúc chọn đúng máy vét rãnh rất tốt trên đường nước rộng 2,5 đến ba tấc, khoang sâu đến năm tấc.   Tùy theo từng loại đất canh tác, máy có thể hoạt động với công suất từ 400-600 m tới/giờ/lít dầu, hiệu quả gấp 10 lần nhân công. Ưu điểm khác của máy là lực hút mạnh, hộp số cải tiến chạy được đến năm số nên chiếc máy của ông Tám vừa có thể gạt đất qua hai bên vừa có thể chạy tốt trên hầu hết địa hình.  Ban đầu chỉ mong chiếc máy này thay thế cho sức của bốn nhân công, ai dè nó lại cho năng suất vượt ngoài mong đợi”, ông Tám cho biết thêm: máy đã được nâng cấp, năng suất gấp ba lần so với trước. Theo phản hồi của bà con, máy vét bùn có nhiều ưu điểm như tiết kiệm nhiên liệu, chi phí rẻ, đồng thời đường nước đều, sâu hơn so với vét bằng tay.  Hiện nay, ông vừa lắp ráp, chế tạo máy theo đơn đặt hàng vừa làm dịch vụ cho thuê máy. Năm 2014, ông bán được 17 máy (trong bốn năm qua, 42 chiếc máy đã được xuất xưởng theo đơn đặt hàng), giá từ 25- 30 triệu đồng/ máy. Ông Tám mong được hỗ trợ mở một cửa hàng trưng bày máy tại TP Cần Thơ để bà con nông dân đến xem, đặt hàng, bảo trì, bảo hành máy.  Đề cập đến hiệu quả mà sáng kiến cải tạo máy vét bùn, ông Tám phấn khởi cho biết “Khi sử dụng máy làm gia công cho bà con, thu nhập của tôi được trung bình từ 50 đến 70 triệu đồng/năm”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy xúc lúa hạn chế thất thoát sau thu hoạch      Chứng kiến những thiệt hại do thất thoát lúa  khi thu hoạch của bà con nông dân, các “kỹ sư Hai Lúa” đã cùng sáng tạo  ra các chiếc máy xúc hạn chế tối đa những thiệt hại này.    Máy xúc lúa của ông Lê Văn Chính    Ông Lê Văn Chính, 46 tuổi, ngụ ấp Ninh Tân, xã Ninh Quới, H.Hồng Dân, Bạc Liêu) từng nhiều năm phải hứng chịu cảnh không thuê được người gặt. Hơn nữa, gặp cảnh trời mưa, lúa gặt về không phơi được, dễ bị mốc, lên mộng  nếu không phơi, sấy  khô (14,5 độ). Ông Chính canh tác 50 công đất, sản xuất từ hai đến ba vụ/năm, sản lượng lúa thu hoạch  trên 1.100 giạ, nghĩa là luôn đối mặt với khó khăn khi mùa thu hoạch về.  Chuyện của ông Lê Văn Chính cũng là câu chuyện chung của rất nhiều bà con nông dân khu vực ĐBSCL khác. Hiện tại, lao động ở nông thôn ngày càng thiếu do  thanh niên đi làm thuê ở các khu công nghiệp tại TP.HCM và Bình Dương nên nhiều nông dân không thuê được thợ gặt như trước. Cái khó không thể bó cái khôn, ông nghiên cứu cách sấy và tự chế ra máy xúc lúa để khắc phục tình trạng cào xúc lúa, thở không ra hơi.   Năm 2010, ông Chính đã sáng chế thành công máy xúc lúa với kỹ thuật đơn giản, gọn nhẹ và chi phí thấp. Toàn bộ thân máy làm bằng sắt và được chạy bằng xăng , tự cào lúa vào guồng xoáy rồi đưa lúa lên ống chảy vào bao. Chỉ cần một người di chuyển  máy trên sân phơi. Trong một giờ, tốn hơn một lít xăng có thể xúc được 100 bao lúa, tương đương năm tấn lúa (50 kg/bao) thay vì phải  bốn thanh niên làm cật lực trong suốt một buổi.  “Chi phí làm ra mỗi cái máy khoảng ba triệu đồng. Cái chính là làm gì để giảm bớt cực nhọc trong sản xuất vốn rất khó tìm nhân công”, ông Chính chia sẻ.  Máy xúc lúa nhãn hiệu “nông dân Hôm”  Tại thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, một chiếc máy xúc lúa khác cũng ra đời. Người sáng chế chiếc máy này là ông Quách Văn Hôm.   Sau sáu tháng mày mò nghiên cứu, ông Hôm đã chế tạo ra chiếc máy có thiết kế gọn nhẹ, sử dụng động cơ xăng 6,5 mã lực, trọng lượng khoảng 170 kg. Chiếc máy này có thể di chuyển dễ dàng trên nhiều địa hình như sân phơi xi măng, sân đất và trên cả lò sấy. Để bánh xe không cán lên lúa, phần trước bánh xe còn được gắn thêm bộ phận gạt lúa rất gọn. Máy có khả năng hốt đầy một bao lúa nặng 50 kg trong vỏn vẹn 10 giây.   Với những ưu điểm này, chiếc máy của ông Hôm được bà con nông dân hoan nghênh nhiệt liệt.   Được sự ủng hộ của mọi người, ông Hôm đã mạnh dạn đăng ký sáng kiến kỹ thuật máy xúc lúa tới Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN. Trước đó, máy sấy lúa hai chiều của ông đã được Cục Sở hữu trí tuệ, cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.   Máy xúc lúa băng chuyền Trần Văn Bê  Cũng như hai đồng nghiệp sáng tạo của mình, ông Trần Văn Bê (huyện Châu Phú, tỉnh An Giang) tìm tòi cách thiết kế máy xúc lúa thay thế nguồn nhân công thiếu hụt ở địa phương.   Trải qua nhiều thất bại và cải tiến, cuối cùng chiếc máy xúc lúa của ông Bê có khả năng đạt công suất vào bao từ bảy đến tám tấn/giờ. Tùy theo yêu cầu của khách hàng mà ông Bê thiết kế có quy mô lớn hoặc nhỏ. Nét chung của các loại máy này là được di chuyển bằng bánh xe và được tận dụng các thiết bị phế thải từ các máy móc hư cũ.   Với hệ thống gồm 19 chiếc gàu xúc gắn trên băng chuyền, khi máy chạy, lúa được xúc lên các gàu này và theo băng chuyền đưa ra phía sau rồi đổ vào bao tải. Ở hai bên máy có một bộ phận được thiết kế giống như hình mũi khoan, có tác dụng gom thóc từ hai bên vào đúng vị trí của gàu xúc. Tốc độ xúc từ 200 bao đến 300 bao/giờ.  Một nét đặc biệt của chiếc máy xúc này là ông Bê bổ sung thêm chức năng hút bụi bằng quạt hút khiến người điều khiển không phải hứng bụi trong lúc làm việc, đỡ ảnh hưởng đến sức khỏe.   Trước những ưu điểm này của sáng chế, Sở KH&CN An Giang đã cử cán bộ tới khảo sát, đánh giá máy xúc của ông Bê và khuyến khích ông tiếp tục nghiên cứu, cải tiến với những hướng dẫn về kỹ thuật hữu ích.  Đến nay, ông Bê đã cung cấp 25 máy cho nông dân An Giang và các tỉnh lân cận.        Author                Quản trị        
__label__tiasang MBA không còn được đánh giá cao bởi người tuyển dụng lao động      Có thể, trong một thế giới mà dường như ai cũng sở hữu một tấm bằng MBA, trờ thành một người duy nhất không có nó sẽ khiến bạn trở nên khác biệt và nổi bật trong thị trường công việc cạnh tranh gay gắt.    Đào tạo MBA đang trở nên bão hòa  Tìm kiếm một lợi thế cạnh tranh luôn là nỗi ám ảnh đối với những người đang học lấy bằng MBA. Những sinh viên dành nhiều thời gian để nỗ lực nghiên cứu về những chi tiết sẽ giúp họ dẫn đầu trong số đông, và nền tảng tri thức ở một trường đại học kinh tế sẽ đảm bảo cho những kết quả hấp dẫn trong tương lai. Nhưng điều đó liệu rằng có phải chỉ là một sự lãng phí thời gian?  MBA là viết tắt của Master of Business Administration – Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh. Chương trình này có nguồn gốc từ Mỹ, đưa ra những cách tiếp cận khoa học cho việc quản lý các công ty trong nhiểu lĩnh vực. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, hiện nay MBA là một trong những chương trình sau đại học thu hút được sự quan tâm và theo học của nhiều người nhất.  Những người phản đối việc đào tạo MBA tràn lan cho rằng một số lượng lớn những tổ chức trên toàn thế giới cung cấp bằng MBA, hoặc những điều tương tự như vậy, đã dẫn đến sự giảm sút của tiêu chuẩn giảng dạy. Theo một nghiên cứu, chỉ có 7% sinh viên tốt nghiệp từ 5500 trường đại học kinh tế của Ấn Độ tìm được việc làm sau khi ra trường. Một ý kiến không đồng tình khác cho rằng, không phải do việc có được bằng MBA là quá khắt khe. Mà ngược lại, việc dễ dàng đăng ký vào một chương trình đào tạo MBA đã thay đổi ý nghĩa của MBA đối với nhà tuyển dụng.  Debbie Goodman-Bhyat, chủ của hãng Jack Hammer, một headhunter người Nam Phi (headhunter là cụm từ chỉ những người làm trong nhóm ngành nhân sự chuyên đi săn chất xám, nhân tài theo đơn đặt hàng từ các công ty khách hoặc cho chính công ty mình. Những công ty headhunter lớn ở Việt Nam hiện nay là VIPdatabase Corp, Nhân Việt, First Alliances…) cho biết: các công ty không còn coi MBA như một yếu tố khác biệt, trừ phi nó được cấp bởi những trường kinh tế tốt nhất thế giới. Hiện nay không thật sự nhiều trường kinh tế cấp bằng MBA, nhưng có vô số cách để học. Học MBA trực tuyến đang ngày càng trở nên phổ biến, các chương trình học bán thời gian được tổ chức có thể giúp những ai không có đủ điều kiện để học toàn thời gian. Nói một cách đơn giản, MBA không còn là hiếm, và nó không còn là sự đảm bảo cho một việc làm.  Chương trình MBA được thương mại hóa như một lối tắt để có thu nhập cao hơn. Thường thì là như vậy. Theo số liệu của bản thống kê cuối cùng của The Economist, tỷ lệ sinh viên có bằng MBA mong chờ được tăng lương tăng đến 79%. Và mong muốn ưu tiên vẫn là tìm được một công việc. Nhưng ngày nay đặt thêm “MBA” vào đầu CV không còn đảm bảo cho cơ hội tìm việc. Ở Mỹ, số lượng bằng MBA được cấp bởi các trường kinh tế đã tăng gấp 7 lần kể từ năm 1970. Gần 200,000 sinh viên từ các tổ chức của Mỹ đã được cấp bằng Thạc sĩ kinh tế mỗi năm kể từ năm 2010.  “Bằng MBA không nên là một sự lựa chọn ưu tiên” cho những người tìm kiếm công việc kinh doanh, Bà Goodman-Bhyat nói, bởi vì cụm từ không còn giữ được uy tín mà các tổ chức đã tạo nên. Trình độ thạc sỹ ở lĩnh vực khác có thể phục vụ tốt hơn cho mọi người khi tìm kiếm một công việc ở mức điều hành, bà cho biết thêm. Thật vậy, theo một cuộc khảo sát của Jack Hammer, mặc dù 45% top 40 giám đốc điều hành ở Nam Phi có trình độ thạc sĩ, nhưng ít hơn một nữa trong số đó là bằng MBA. Bằng MBA hữu ích đối với những người tốt nghiệp ngành nghệ thuật muốn tìm kiếm một tấm bằng kinh doanh ở trình độ thạc sĩ, nhưng bà Goodman-Bhyat tin rằng học bất cứ một loại bằng chất lượng cao nào về kinh tế cũng có thể làm được những công việc như thế.  Điều này còn được chứng tỏ bởi nhiều báo cáo khác nữa. Hơn 20% sinh viên tốt nghiệp tại các trường kinh tế nói rằng các khóa học của hội đồng GMAT (đây là hội đồng cung cấp tài liệu ôn luyện và tổ chức kỳ thi đánh giá tiêu chuẩn trình độ và khả năng của sinh viên nộp đơn vào chương trình học cao cấp về kinh doanh và quản trị) không cải thiện khả năng kiếm thêm thu nhập của họ. Với một chương trình MBA tiêu tốn 100,000 đô la hoặc hơn tại các trường tốt nhất, cần cân nhắc kỹ càng liệu việc nhất thiết sở hữu một tấm bằng có thật sự khiến cho ứng cử viên trở nên nổi bật trong thị trường việc làm đang cạnh tranh gay gắt. Có thể, trong một thế giới mà dường như ai cũng sở hữu một tấm bằng MBA, trờ thành một người duy nhất không có bằng MBA sẽ khiến bạn trở nên khác biệt.  Phương Thảo dịch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang MegaNet – một Cisco của Việt Nam      Tại Việt Nam, khi internet trở thành nhu cầu thường nhật thì những bộ định tuyến và dịch vụ tại chỗ luôn là vấn đề cấp thiết. Nắm bắt thành công cơ hội này, công ty chuyên về thiết kế router và thiết lập các dịch vụ internet MegaNet được ví như một Cisco của Việt Nam.      Trong thời kỳ đầu của Thung lũng Silicon, Công ty Cisco đã gói ghém tất cả những bước thành công của giấc mơ Thung lũng Silicon: bắt đầu với đột phá, thành lập công ty và trở thành triệu phú.   Ở giai đoạn sơ khởi của internet (internet bắt đầu xuất hiện vào những năm 1970), các bộ định tuyến (router) đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nếu muốn kết nối, cần phải có router. Chớp lấy nhu cầu này của ngành công nghiệp internet, Cisco từ chỗ là công ty khởi nghiệp của một cặp uyên ương Stanford năm 1985 đã đạt trị giá 500 tỷ đô la vào năm 2000.  Tại Việt Nam, MegaNet đã có thâm niên bốn năm trong cộng đồng khởi nghiệp, chủ yếu tập trung vào việc xây dựng công nghệ router và đảm bảo dịch vụ internet trên khắp cả nước. Công ty xuất phát hoàn toàn từ vốn riêng của các nhà thành lập và từ những bản hợp đồng với khách hàng. Công ty đã âm thầm bảo mật cho khách hàng tại những sân bay lớn nhất Việt Nam, bao gồm Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Nha Trang, cũng như 15 sân ga lớn. Nhưng đó chỉ là bước đi đầu tiên của họ.   Đối với những ai quan tâm đến khía cạnh công nghệ của những dịch vụ từ MegaNet thì có thể hiểu, công ty cài đặt bộ router của mình trên một khu vực được thiết lập, qua đó những mạng lưới truyền tải thông tin qua một loạt nút. Nó tối ưu hóa thông tin chạy giữa các thiết bị router và là một trong những hệ thống được sử dụng nhiều nhất trên thế giới.   Nhà đồng sáng lập và giám đốc COO (Chief operating officer) của MegaNet, Ánh Dương, cho biết, ở Việt Nam hay bị cắt điện và điện thế không ổn định nên quy trình này thường bị phá vỡ. Do đó, MegaNet đã dùng một hệ thống trong đó mỗi router (cùng nhiều dây cáp) nối trực tiếp với nút chính. Với mạng lưới này, các nút đều được phân phối thông tin. Nói cách khác, khi mỗi nút (hoặc mỗi router) bị ngắt, hệ thống sẽ tự động chuyển hướng người sử dụng tới một router đang hoạt động khác để tiếp tục kết nối internet. Với Việt Nam, theo lời Dương, điều đó khiến cho hệ thống hoạt động hiệu quả hơn.  Về cơ bản, MegaNet muốn cung cấp dịch vụ chất lượng cao và dịch vụ wifi dễ sử dụng trên khắp đất nước với chi phí rẻ. Theo Dương, họ muốn tạo ra một sản phẩm “chất lượng cao hơn Mỹ và rẻ hơn Trung Quốc”. MegaNet lên kế hoạch thực hiện điều đó bằng cách lắp đặt cơ sở hạ tầng (hàng ngàn/hàng triệu router) trên khắp đất nước, cho phép cung cấp một mạng lưới wifi rộng lớn cho người Việt Nam.   Để nâng cao doanh thu từ khả năng kết nối internet vượt trội, MegaNet đang sử dụng ba mô hình sinh lợi:   ·    Dịch vụ thuê bao cho phép sử dụng các router của MegaNet ở bất cứ mọi nơi truy cập  ·    Dịch vụ wifi miễn phí tạo điều kiện cho các thương hiệu quảng cáo sản phẩm.  ·    Bộ phận R&D cho phép tạo ra công nghệ router và cung cấp nó cho các công ty viễn thông lớn ở Việt Nam.  Công ty MegaNet chờ đợi sẽ có đột phá vào tháng 6-2015 và vốn đầu tư có thể sẽ được tăng lên vào thời điểm đó. Ước tính công ty sẽ trị giá khoảng 1 tỷ đô la và có thể đạt tới bảy con số cho mỗi mô hình doanh thu.     Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.techinasia.com/meganet-cisco-of-vietnam/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mekong Connect Forum 2016: Thách thức và Cơ hội      Lâu nay tôi ít dự các hội thảo hay hội nghị, vì nội dung thường nhàm chán, nặng về hình thức (nhiều người gọi là “cờ đèn kèn trống”). Nhưng dự “Mekong Connect Forum 2016” là một trải nghiệm khác biệt về cách thức tổ chức và chất lượng nội dung, thiết thực góp phần đối phó và vượt qua những thách thức đang đe dọa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tôi cảm thấy dường như có một dòng chảy năng lượng tích cực làm hạt nhân kết nối mọi người với nhau.      Tác giả Nguyễn Quang Dy (phải) tại hội nghị Mekong Connect Forum 2016.    Thách thức của Mekong Connect 2016  Tôi may mắn vừa được dự “Mekong Connect Forum 2016” (Cần Thơ, 26/10/2016). Khẩu hiệu năm nay là “Tìm Cơ trong Nguy” để đối phó với “biến đổi khí hậu, vấn nạn môi trường, thách thức hội nhập”. Đó là một khẩu hiệu rất hay, với tầm nhìn và định hướng rất đúng. Đây là diễn đàn hằng năm (năm nay là năm thứ hai), chủ yếu dành cho các doanh nghiệp, do Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao (BSA), Câu lạc bộ Doanh nghiệp dẫn đầu LBC phối hợp với mạng lưới liên kết bốn tỉnh ABCD Mekong (liên kết giữa hai tổ chức doanh nghiệp và bốn tỉnh này,  tức bốn tỉnh An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, đã hình thành từ 2013) nay đang lan tỏa ra các tỉnh khác qua các chương trình kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp.    Về tổ chức, đội hình BSA làm việc chuyên nghiệp. Tuy ít người nhưng biết phối hợp nhóm hiệu quả, năng động, trách nhiệm. Sau phiên toàn thể, diễn đàn được chia làm ba nhóm thảo luận chuyên đề, người dẫn chương trình và điều hành các phiên thảo luận đều chuyên nghiệp. Chất lượng phiên dịch tốt hơn nhiều sự kiện khác. Chất lượng tài liệu từ in ấn đến phân phát cũng tốt. Song song với diễn đàn, còn có triển lãm giới thiệu sản phẩm khá sinh động và hấp dẫn.  Diễn đàn đã quy tụ được hơn 20 diễn giả chuyên nghiệp, cả Việt Nam lẫn nước ngoài, bao gồm quan chức, chuyên gia, doanh nhân tiêu biểu. Bài tham luận “đề dẫn” của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về “các giải pháp đổi mới nông nghiệp” là một tài liệu tham khảo rất quan trọng, không những cho diễn đàn này, mà còn cho các đối tượng khác. Các tham luận của các chuyên gia và doanh nhân trong và ngoài nước đều rất thiết thực. Ví dụ, GS Philip Zerillo (SMU, Singapore) có tham luận về “Biến đổi khí hậu và rủi ro trong kinh doanh”; hay tham luận của Julien Brun (CEO, CEL Consulting) về “chuỗi cung ứng”; Herb Cochran (Giám đốc điều hành AmCham VN) về “an toàn thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ”; Gal Yarden (CEO, Natafim, Israel) về “nông nghiệp sạch và thông minh”.  Về khách tham gia, diễn đàn đã quy tụ được hơn 600 người tới dự, trong đó có một số lượng lớn doanh nhân từ vùng ĐBSCL và các nơi khác. Điều gây ấn tượng nhất là hầu hết khách đã dự đến cuối cùng chứ không bỏ về sớm như nhiều hội thảo khác (vì nặng về hình thức, như “cưỡi ngựa xem hoa”). Thái độ nghiêm túc và sự quan tâm của khách đến dự càng chứng tỏ: một là nhu cầu thực sự của người dân, hai là bản tính chân thật của người miền Tây, ba là chất lượng tổ chức và nội dung thiết thực.  Trong khi ĐBSCL là “vựa lúa của cả nước” đang bị thiên tai và nhân họa đe dọa đến sự sống còn, thì sự vắng mặt của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại Mekong Connect Forum 2016 thực sự là điều đáng tiếc. Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Công Thương cũng không có mặt. Cũng trong mấy ngày này (24-26/10/2016), tại Hà Nội đang diễn ra Hội nghị ACMECS-7, Hội nghị CLMV-8 và Hội nghị WEF–Mekong. Cả ba hội nghị quan trọng này đều liên quan đến Tiểu vùng Mekong, đang đối mặt với hậu quả của biến đổi khí hậu và những bất cập giữa các quốc gia trong tiểu vùng. Nhưng diễn đàn Mekong Connect 2016 dường như vẫn là một ốc đảo, đang tự bươn chải trong một thể chế bất cập với những nút thắt và rào cản chưa được tháo gỡ.     Cơ hội đổi mới nông nghiệp  Như bài thuyết trình của chuyên gia Phạm Chi Lan đã đề cập, muốn đổi mới nông nghiệp tại ĐBSCL, cần hiện đại hóa và thương mại hóa nông nghiệp theo phương châm “nhiều hơn từ ít hơn” (more from less), và cải cách thể chế toàn diện (như “đổi mới vòng hai”) theo khuyến nghị của “Báo cáo Việt Nam 2035” (vừa xuất bản). Để tháo gỡ những bế tắc hiện nay tại ĐBSCL, cải cách thể chế về sở hữu ruộng đất là cơ bản. Muốn phát huy truyền thống “đổi mới vòng một” (1986), cần giương cao khẩu hiệu “hãy tự cởi trói” (của đồng chí NVL).  Tại ĐBSCL, cũng như trên thế giới, con người không thể chống lại biến đổi khí hậu, mà chỉ có thể tìm cách ứng phó với hệ lụy của nó để tồn tại và phát triển, trong môi trường thay đổi. Đó là câu chuyện toàn cầu, không phải chỉ Việt Nam. Nước nào năng động, chịu đổi mới tư duy, biết ứng dụng công nghệ mới và cách quản trị mới thì thoát hiểm. Nước nào bảo thủ, không chịu đổi mới tư duy và thể chế (hay “không chịu phát triển”) thì sẽ tụt hậu. Người ta hay nói, không ai có thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể sắp xếp lại tương lai.  Trong môi trường biến đổi khí hậu đầy thiên tai, con người càng phải khôn ngoan để giảm thiểu nhân họa (do mình gây ra). Không ai lại dại dột muốn đối phó với cả thiên tai và nhân họa cùng một lúc như “hiệu ứng kép”. Nhân họa có thể do chủ trương phát triển thủy điện tràn lan (trên thượng nguồn) làm cạn kiệt nguồn nước và nguồn phù sa (dưới hạ nguồn). Nhân họa cũng có thể do chủ trương tăng tối đa diện tích trồng lúa 2-3 vụ, đắp đê bao chống lũ và cống ngăn mặn, làm thay đổi hệ thống cân bằng sinh thái và thủy văn, xô đẩy người nông dân phải tăng sản lượng bằng mọi giá, nên sử dụng quá nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu khiến đất bạc màu, nguồn nước bị ô nhiễm, và lúa gạo khó đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ngày càng cao dẫn tới không có vị thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.  Việc FDA Mỹ vừa từ chối không nhận 94 container gạo của Việt Nam do dư lượng thuốc trừ sâu quá mức cho phép là một bài học. Chúng ta đã suýt mất thị trường Mỹ cho ngành thủy hải sản, nay có thể mất nốt thị trường Mỹ cho lúa gạo nếu không đảm bảo an toàn thực phẩm. Đây không phải lỗi của người nông dân, mà lỗi của người quản lý. Người nông dân thiếu thông tin, chỉ hành động theo thói quen. Do bị thúc đẩy phải tăng sản lượng lúa bằng mọi giá, phải trồng 2-3 vụ để đạt thành tích xuất khẩu, nông dân đã sử dụng quá nhiều phân bón và thuốc trừ sâu. Người ta hay nói, “quan tham, dân gian”, cũng không sai. Phải đổi mới tư duy và thể chế, theo hướng “phi truyền thống hóa” và hiện đại hóa nông nghiệp.  Muốn vậy, phải thay đổi cơ cấu nông nghiệp truyền thống lâu nay lấy lúa gạo làm chủ đạo (tương tự như một thời “lấy quốc doanh làm chủ đạo”). Từ lâu nay Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo phải tăng sản lượng lúa bằng mọi giá để xuất khẩu bằng cách trồng 2-3 vụ, bất chấp rủi ro và hệ lụy. Từ năm 1990, các tỉnh ĐBSCL, bắt đầu từ An Giang và Đồng Tháp, đã xây dựng hệ thống đê bao chống lũ rất tốn kém để trồng lúa vụ 3 (với diện tích lên đến 600.000ha). Tổng sản lượng lúa của ĐBSCL đã tăng từ 7 triệu tấn (năm 1986) lên 25 triệu tấn (năm 2015), chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Nhưng cái giá phải trả cho chủ trương đó là diện tích rừng tràm đã biến mất ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, vùng U Minh Thượng và Hạ. Theo GS Nguyễn Ngọc Trân, “Tăng trưởng được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong đê thì độ màu của đất giảm sút, môi trường bị suy thoái”.  Theo các chuyên gia, trong bối cảnh đó, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, các quy hoạch phát triển ngành, địa phương ở ĐBSCL theo hướng tiết kiệm nước ngọt, và chung sống với hạn hán và ngập mặn. Nhiều nước khác đã biết cách khai thác thành công nước mặn như một tài nguyên. Theo GS Võ Tòng Xuân, “Đối với các tỉnh có nước ngọt quanh năm như An Giang, Đồng Tháp và một phần Tiền Giang, Vĩnh Long, thì cần tập trung đầu tư cho cây lúa nhưng sử dụng nước tiết kiệm hơn. Còn vùng mặn thì linh hoạt theo hướng đầu tư cho cây lúa trong mùa mưa và nuôi tôm mùa khô…”.  Trong thị trường toàn cầu hóa ngày càng cao, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kinh doanh nông nghiệp sẽ quan trọng hơn cả sản xuất nông nghiệp thuần túy. Các địa phương và các doanh nghiệp cần linh hoạt chọn cho mình vị trí thích ứng trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, biết cách kết nối với thị trường toàn cầu để tham gia cuộc chơi có hiệu quả. Nói cách khác, phải hiện đại hóa và thương mại hóa nông nghiệp, như một quy luật phát triển.  Một thách thức rất lớn và nan giải do “nhân họa” là việc khai thác triệt để tài nguyên nước trên thượng nguồn, trong đó có việc chuyển dòng nước sang lưu vực sông khác và khai thác thủy điện tràn lan trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống. Theo Ủy ban sông Mekong, sáu đập thủy điện ở Trung Quốc cùng với 11 đập ở hạ lưu và 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi nhu cầu về nước tại hạ lưu tăng 50% so với năm 2000.  Khi nói đến thủy điện, người ta thường nói nhiều về số lượng nước mà ít nhấn mạnh đến chất lượng nước, thể hiện qua lượng phù sa có trong nước. Lượng phù sa này sẽ bị các đập thủy điện ngăn lại gần như vĩnh viễn. Không có phù sa, đồng bằng sẽ chết. Theo các chuyên gia sinh thái, quá trình kiến tạo ĐBSCL diễn ra từ hàng ngàn năm trước, nhưng sự mất cân bằng phù sa hiện nay sẽ làm đảo ngược quá trình kiến tạo đó và dẫn đến nguy cơ tan rã ĐBSCL. Hiện tượng nước sông Hậu bỗng trong xanh như nước biển là một hệ lụy nhãn tiền cho thấy lượng phù sa từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL ngày càng ít.  Theo một kết quả nghiên cứu của trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS) về tác động của đập thủy điện Mạn Loan (Trung Quốc) về lượng phù sa đổ về ĐBSCL cho thấy trước khi có con đập này, lượng phù sa vào khoảng 160 triệu tấn/năm. Nhưng sau khi con đập được đưa vào hoạt động, lượng phù sa chỉ còn 75 triệu tấn/năm. Như vậy, chỉ với một con đập, lượng phù sa đã giảm xuống một nửa. Theo TS Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ), “con số này sẽ tiếp tục giảm thêm 1/2 nữa, chỉ còn khoảng 42 triệu tấn/năm, một khi các đập trên dòng chính sông Mekong ở Lào và Campuchia đi vào hoạt động”.  Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các hồ chứa trên dòng chính của sông Mekong ở phía Trung Quốc có dung tích khoảng 23 tỉ m3, trong khi các hồ chứa trên những dòng nhánh khoảng 20 tỉ m3. Tổng dung tích này tác động rất lớn đến việc điều tiết nước và lưu lượng dòng chảy về hạ lưu. Hiện có 11 đập thủy điện trên sông Mekong bên ngoài Việt Nam (gồm chín đập ở Lào và hai đập ở Campuchia). Nhưng tác động của 11 đập này chỉ bằng 1/7 các đập ở Trung Quốc. GS Nguyễn Ngọc Trân nói, “Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực sông Mekong phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước. Trong đó, quyền và lợi ích mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác cùng phát triển”.    Tuy diễn đàn Mekong Connect 2016 liên kết bốn tỉnh ABCD là một mô hình kiểu mẫu, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc tháo gỡ những vấn nạn tại ĐBSCL, nhưng để kết nối 13 tỉnh thành của ĐBSCL lại với nhau thành một tiểu vùng là bài toán khó, đòi hỏi phải biết cách quản trị, nếu không có thể gây cản trở và làm suy yếu lẫn nhau. Những thách thức từ bên ngoài và từ bên trong không chỉ tác động riêng lẻ đến mỗi địa phương, mà còn tác động lẫn nhau, làm cho liên kết toàn vùng có thể khó hơn. Bên cạnh đó còn đầy rẫy những khó khăn khác: như sức cạnh tranh của nông nghiệp còn thấp, chi phí lớn, nguồn nhân lực chất lượng cao còn ít, hạ tầng tuy được đầu tư nhưng so với yêu cầu còn thấp kém, chưa có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Số phận ĐBSCL vẫn như một ẩn số đang làm đau đầu các nhà quản trị.  Thay lời kết  Sau một năm, Mekong Connect Forum đã đi được một quãng đường dài, trở thành một diễn đàn quan trọng hàng đầu của ĐBSCL. Về đối nội, diễn đàn đã: (1) giúp bốn tỉnh ABCD tăng cường liên kết dọc và ngang trong vùng để thúc đẩy hội nhập và phối hợp hành động vì sự phát triển bền vững của ĐBSCL, (2) biết cách thu hút và tối ưu hóa nguồn lực tri thức trong và ngoài cộng đồng để hỗ trợ cho quá trình đổi mới, (3) khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp có tiềm năng của thế hệ trẻ tại ĐBSCL.  Muốn trở thành diễn đàn có uy tín nhất Việt Nam và quốc tế về Tiểu vùng Mekong, về đối ngoại, Diễn đàn cần: (1) kết nối với các cơ quan chỉ đạo của Trung ương để vận động chính sách hỗ trợ cho ĐBSCL, (2) kết nối với các tỉnh thành khác trong cả nước để phối hợp hành động và hợp tác cùng phát triển, (3) kết nối với các chính phủ, nhà tài trợ, và các tổ chức quốc tế, ủng hộ hiệu quả cho chiến lược phát triển ĐBSCL và Tiểu vùng Mekong.  So với bài toán đố Formosa ở miền Trung, bài toán đố ĐBSCL cũng nan giải, nhưng còn có tính “khả thi” cao hơn. Sứ mạng của Mekong Connect Forum là “biến điều không thể thành có thể”, để giúp các tỉnh ABCD (và các tỉnh khác) giải bài toán đố ĐBSCL. Lịch sử đã chứng minh, khi bị dồn đến chân tường, hay đứng trước vực thẳm, người Việt nói chung và người miền Tây nói riêng có một sức sống mãnh liệt. Trong tương lai gần, Mekong Connect Forum không phải chỉ là sự kiện hằng năm, mà có thể hằng quý, không phải chỉ ở Cần Thơ, mà có thể ở các địa phương khác.    Mekong Connect Forum như một ngọn hải đăng mới đang tỏa sáng, đem lại niềm tin cho nhân dân và lãnh đạo các địa phương năng động của miền Tây, không chịu đầu hàng trước thiên tai và nhân họa. Như chuyên gia Phạm Chi Lan đã kết luận trong bài tham luận đề dẫn, ĐBSCL phải “RICH” (giàu có) bằng Resilient (bền bỉ) + Innovative (sáng tạo) + Connecting (liên kết) + Harmonious (hài hòa).       Author                Nguyễn Quang Dy        
__label__tiasang Mentor trong khởi nghiệp: Hơn cả một người bạn      Gần đây, cùng với trào lưu khởi nghiệp đang tạo ra sức hút mạnh mẽ với cộng đồng, những khái niệm như Mentor, Mentee, Coach cũng nổi lên. Nhiều người trong chúng ta hẳn biết rằng, mentor quan trọng đối với Mark Zuckerberg chính là Steve Jobs. Chính từ những lời khuyên và truyền cảm hứng của Steve Jobs, Mark đã “hướng đông” (go east) và thay đổi cả định hướng quan trọng của Facebook. Chúng ta tự hỏi tại sao Mentoring lại quan trọng như thế trong khởi nghiệp? Câu chuyện bắt đầu từ một sự thật dễ thấy nhưng khó vượt qua: Khởi nghiệp là một quá trình cô đơn và dễ mất phương hướng…      Mentor là ai?  Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Mentoring trong đời sống hằng ngày và trong khởi nghiệp, vì vậy, không thể phân biệt được Mentor với Consultant (tư vấn), hay Coach (huấn luyện viên) nếu chỉ dùng định nghĩa đơn thuần. Hiện nay Mentoring không tìm được từ tương đương trong tiếng Việt nên chúng tôi xin phép sử dụng từ nguyên gốc. Mentor là người đưa ra những định hướng, giới thiệu cơ hội, và hỗ trợ cho người khởi nghiệp thành công. Nhưng nếu chỉ định nghĩa như vậy mà không xem đến quá trình ra được những kết quả đó thì quả là thiếu sót. Hơn cả một người bạn, một cố vấn, Mentor lắng nghe những băn khoăn của bạn về những vấn đề của doanh nghiệp, cho bạn lời khuyên từ những kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn của họ.  Khác với Coach – người giám sát công việc của bạn, chỉ cho bạn kỹ năng, cung cấp những kiến thức cần thiết để giải quyết vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, gắn bó với bạn một cách kỹ thuật thì Mentoring là cả một quá trình tìm hiểu, vun đắp mối quan hệ và ý thức nghiêm túc về việc xây dựng mối quan hệ đó.    Khóa học Training for Trainers do IPP tổ chức năm 2015, kéo dài trong hai tháng đào tạo các mentor trong khởi nghiệp. Nguyễn Đặng Tuấn Minh (bìa trái) là một trong 12 người được lựa chọn tham dự khóa học này.    Tại sao khởi nghiệp cần Mentor?  Ở giai đoạn đầu của khởi nghiệp, câu hỏi bạn thường tự đặt ra là có nên bỏ công việc hiện tại để khởi nghiệp hay không? Làm thế nào để chắc chắn rằng con đường mình đang đi là đúng? Bạn cần một ai đó chia sẻ những suy nghĩ đang rối lên trong đầu. Bạn không cần người tư vấn cho bạn biết mình nên đi hướng nào mà cần ai đó đặt những câu hỏi giúp bạn tự nhận ra hướng đi nào là tốt, đó là khi bạn cần một Mentor.  Ở những bước đường khởi nghiệp tiếp theo, những vấn đề khó khăn của kinh doanh bắt đầu nảy sinh – từ khả năng bán hàng, giải quyết khiếu nại khi bán hàng, vốn, rồi xung đột nhóm… – cản trở sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp của bạn, đó cũng là khi bạn cần một Mentor  Ngay cả khi doanh nghiệp đã phát triển mạnh, câu hỏi thường trực trong bạn sẽ là đi tiếp như thế nào để phát triển mạnh hơn, bền vững hơn hoặc có ích hơn với cuộc sống. Những lúc mất phương hướng như vậy cũng là khi bạn cần một Mentor.  Khởi nghiệp cần Mentor vì bạn thực sự cần một ai đó cùng bạn định hướng, giữ được ngọn lửa nhiệt huyết, một người bạn không bao giờ phán xét khi bạn làm sai, một người chỉ nêu câu hỏi để bạn tự định hướng lại cuộc đời và sự nghiệp của mình.  Thế nào là một Mentor tốt?  Rõ ràng, giữa Mentor và Mentee (người được Mentor giúp đỡ) là mối quan hệ dựa trên niềm tin và kéo dài. Vì vậy, ở cả hai phía đều cần có sự hiểu biết để có những ứng xử phù hợp.  Với Mentee, đừng mong Mentor sẽ là người giải quyết toàn bộ vấn đề cho bạn và đáp ứng những nhu cầu phi lý của bạn. Mentorship không phải là quan hệ cha con, không hẳn là bạn bè, không phải là đồng nghiệp hay cấp trên cấp dưới. Mentor và Mentee là bình đẳng vì vậy không nên kỳ vọng Mentor sẽ nói cho bạn biết bạn phải làm gì, và làm thế nào.  Cho dù Mentor đúng hay sai, việc trở thành một Mentee cũng giúp bạn học được cách lắng nghe người khác nói. Hãy đặt nhiều câu hỏi sau khi đã suy nghĩ cẩn thận. Bạn càng đầu tư nhiều vào các câu hỏi, càng cho thấy bạn nghiêm túc trong mối quan hệ này.  Ý nghĩa của việc có Mentor còn nằm ở chỗ bạn sẽ có một người nghiêm túc theo dõi những cam kết của bạn. Trao đổi với  Ted Nuyen, người sáng lập mạng lưới SME Mentoring Network, chúng tôi được anh chia sẻ, theo quan sát của anh, sự lãng phí lớn nhất khi khởi nghiệp đó là thời gian. Khi không có ông chủ, không có người giám sát, những doanh nhân khởi nghiệp thường thiếu tính kỷ luật với bản thân mình, đi lệch hướng. Với việc có một Mentor, bạn hãy nghiêm túc thực hiện những gì mình cam kết.  Về phía Mentor, Zuckerberg có ba lời khuyên:  Hãy chia sẻ niềm hứng khởi học được một điều gì mới mẻ, niềm vui sẽ có tính chất lây lan.  Điều này dễ hiểu vì đây cũng là lúc bạn mang lại điều gì mới mẻ cho cuộc sống của người khác, và là một cách mà rất nhiều Mentor lựa chọn để tạo ra những động lực mới cho chính mình và mang giá trị đến cộng đồng.  Hãy tin rằng chỉ cần đầu tư chút ít thời gian của mình chia sẻ kinh nghiệm, nó có thể mở ra cả chân trời mới cho một người khác.  Trở thành Mentor là cách trả lại những gì cuộc sống đã mang lại cho ta. Rất nhiều người đã thay đổi cuộc đời bởi họ gặp được Mentor vào đúng thời điểm.  Cả Mentor và Mentee đều thu nhận được một điều gì đó trong quá trình trao đổi này.  Bạn có thể thấy rõ rằng, đây là quá trình trao đổi tự nguyện, vì vậy, theo nguyên tắc có đi có lại, không chỉ Mentee có lợi từ mối quan hệ này, mà Mentor cũng học được cách hoàn thiện kỹ năng lắng nghe và đặt câu hỏi có ích cho người nghe.  Không nhất thiết phải thành công mới trở thành Mentor  Cho đến nay ở Việt Nam, số lượng các doanh nhân thành công, những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng trở thành Mentor chưa nhiều. Quan niệm rằng phải thực sự thành công hoặc phải có thời gian mới trở thành Mentor là sai lầm. Cộng đồng khởi nghiệp chưa thực sự hiểu vai trò của của Mentorship cũng đang là một rào cản với sự phát triển của Mentoring ở Việt Nam.  Được sự bảo trợ của Đại sứ quán Mỹ, năm 2011, SME Mentoring Network ra đời và là dự án thành công nhất về Mentoring tính đến thời điểm hiện nay với cách tiếp cận theo hình thức tự nguyện và 1:1. Một Mentor có thể có nhiều Mentee và tối thiểu mỗi tháng hai bên gặp nhau một lần để đảm bảo sự trao đổi và cập nhật lẫn nhau. Gần năm năm trưởng thành và phát triển, SME Mentoring Network đã thực sự phát triển được một mạng lưới những Mentor đang mong muốn đóng góp vào sự thay đổi căn bản tư duy của giới khởi nghiệp. Mỗi người đến với SME Mentoring Network là một câu chuyện riêng, nhưng tất cả đều đang được xây dựng trên niềm tin, sự trân trọng và những giá trị bền vững. Tháng 11/2015, mạng lưới này đã bắt đầu mở rộng ra Hà Nội với hy vọng sẽ mang lại nhiều hiểu biết thiết thực cho doanh nghiệp khởi nghiệp.             Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Mentor Tuấn Minh ra mắt sách về tư duy và công cụ cho khởi nghiệp      Mentor Nguyễn Đặng Tuấn Minh vừa cho ra mắt cuốn “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo – Tư duy và công cụ”  mà nhiều nội dung quan trọng của nó đã được giới thiệu ở chuyên mục Khởi nghiệp/Đổi mới sáng tạo trên Tia Sáng dưới dạng các bài báo.    Tuấn Minh từng chia sẻ, làm cộng tác viên thường xuyên của Tia Sáng, chị “ép” mình phải viết liên tục, từ đó sinh ra động lực hoàn thành cuốn sách.   Có thể nói, cuốn sách đã được “bắt đầu” từ khóa học đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp (ToT) của Chương trình đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP2) mà nữ mentor này là một trong 12 học viên của khóa đầu tiên. Nội dung cuốn sách tập trung giới thiệu các khái niệm của khởi nghiệp tinh gọn – một phương pháp phát triển kinh doanh và sản phẩm đang phổ biến trên thế giới và các bước thực hành nó, dành cho không chỉ các nhà khởi nghiệp mà cả những người bắt đầu một dự án mới trong một tổ chức.     Tác giả Nguyễn Đặng Tuấn Minh (thứ hai từ trái sang) trong buổi ra mắt sách. Đối thoại cùng với chị là anh Nguyễn Hoàng Giang, cũng là học viên trong khóa ToT đầu tiên của IPP. Ảnh: Lê Hương.  Tại buổi ra mắt sách hôm 22/9 tại Hà Nội, chị kể lại, trong buổi học đầu tiên, các “thầy” đến từ Thung lũng Sillicon Valley đã đưa ra bài tập xây một cái tháp bằng giấy càng cao càng tốt và có thể di chuyển được. Trong khi nhiều nhóm “cắm đầu cắm cổ xây tháp càng cao càng tốt” và rồi thất bại ngay khi di chuyển nó thì có một nhóm xây một module bé tí, đủ vững chãi mới bắt đầu nhân thành một chiếc tháp lớn. Đó là bài học đầu tiên của Tuấn Minh về khởi nghiệp tinh gọn: phải bắt đầu từ những thứ nhỏ, và thử nghiệm với tốc độ càng nhanh càng tốt (để đi đến cái lớn hơn).   Tư duy quan trọng hơn công cụ  Từng khởi nghiệp với khoảng 10 công ty, mentor Tuấn Minh cho rằng, nếu biết về khái niệm khởi nghiệp tinh gọn sớm hơn, chị đã học được nhiều hơn từ những thất bại và thành công của mình. Theo chị, điều quan trọng nhất mà khởi nghiệp tinh gọn mang lại cho một doanh nhân hay bất cứ ai bắt đầu một dự án mới không phải là những công cụ của nó (được đúc kết từ kinh nghiệm kinh doanh của các CEOs hàng đầu thế giới) mà chính là tư duy, cách tiếp cận vấn đề của nó. Đó cũng là lý do mà trong tiêu đề cuốn sách, chữ tư duy được đặt lên trước chữ công cụ.   Theo Tuấn Minh, từ trước đến nay, tư duy phổ biến của số đông là “tư duy hướng đến nguyên nhân”, nghĩa là mỗi khi gặp vấn đề, người ta sẽ cố gắng đi tìm và giải quyết nguyên nhân cốt lõi của nó. Điều đó mất rất nhiều thời gian, công sức và không loại trừ trường hợp khi tìm ra nguyên nhân thì cũng là lúc nhận ra mình không đủ khả năng để giải quyết nó. “Tư duy hiệu quả” là một cách tiếp cận khác, nghiêng về làm thế nào để tối ưu hóa nguồn lực hạn chế đang có để có cách giải quyết tốt nhất với vấn đề mình gặp phải.   Tư duy hiệu quả có năm nguyên tắc, nhưng với Tuấn Minh, hai nguyên tắc quan trọng nhất là “con chim trong tay” – xuất phát từ thành ngữ “một con chim trong tay còn hơn hai con chim trong bụi rậm”, đề cao việc tối ưu nội lực và thế mạnh của bản thân trước khi nghĩ đến nguồn lực bên ngoài và nguyên tắc “cốc nước chanh” – xuất phát từ thành ngữ “nếu cuộc đời ném cho bạn một trái chanh, hãy biến nó thành cốc chanh vắt”, ngụ ý hãy luôn tìm ra cơ hội trong những thách thức.   Những tư duy và công cụ khởi nghiệp tinh gọn trong quyển sách không mới, có thể tìm đọc miễn phí trên blog của những nhà khởi nghiệp và chuyên gia đổi mới sáng tạo trên thế giới, chẳng hạn như blog của Steve Blank – người được mệnh danh là cha đẻ của khởi nghiệp tinh gọn. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của quyển sách nằm ở cách diễn giải và minh họa bằng các case study cũng như việc “Việt hóa” các công cụ khởi nghiệp dựa trên kinh nghiệm tiếp xúc và tư vấn cho khoảng 1.000 startup trên khắp Việt Nam của tác giả trong quá trình tham dự khóa ToT của IPP2 và xây dựng công ty tư vấn và hỗ trợ khởi nghiệp KisStartup sau này.  Tại buổi ra mắt sách, khi được hỏi, đã có một cuốn sách với những công cụ được mô tả rõ ràng và hướng dẫn từng bước một cho các doanh nghiệp áp dụng như vậy, thì liệu những nhà cố vấn khởi nghiệp – mentor có cần thiết, Tuấn Minh dẫn ra câu nói nổi tiếng của nhà triết học Friedrich Nietzche “nếu bạn không có một người cha tốt, hãy tìm cho mình một cố vấn tốt”, hàm ý rằng, mentoring là câu chuyện gặp gỡ giữa người với người, là sự chia sẻ kinh nghiệm làm việc và quan niệm sống mà không cuốn sách nào thay thế được. Cuốn sách chỉ hỗ trợ cho việc “tự đào tạo” của mỗi người, giúp cho họ có lộ trình tìm hiểu về khởi nghiệp tinh gọn một cách rõ ràng hơn mà thôi.   Cuốn sách “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo – Tư duy và công cụ” do NXB Phụ Nữ ấn hành, in màu, giá bìa 168.000 đồng  Nguyễn Đặng Tuấn Minh tốt nghiệp thạc sĩ về Quản trị doanh nghiệp số tại Đại học Westminster (Anh). Chị từng là giảng viên Đại học Quốc tế, ĐHQG HN về doanh nghiệp số, chính phủ điện tử, nghiên cứu thị trường…Hiện nay, chị là sáng lập viên của KisStartup, công ty hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp và cố vấn khởi nghiệp.          Author                Hảo Linh        
__label__tiasang MGB- JOKASO: Biến nước thải thành nước phục vụ trồng trọt và chăn nuôi      Thuộc nhóm sáng chế/giải pháp công nghệ lĩnh  vực môi trường của chương trình Sáng tạo Việt 2013, thiết bị xử lý nước  thải MGB – JOKASO của tác giả Trường Văn Đàn, công ty cổ phần Môi  trường Xanh và Xanh có khả năng biến nước thải thành nước đủ tiêu chuẩn  phục vụ trồng trọt và chăn nuôi.      Được truyền cảm hứng từ thiết bị JOHKASOU, một sản phẩm nổi tiếng trong lĩnh vực xử lý nước thải của Nhật Bản từ thập niên 1950, TS Trương Văn Đàn đã cải tiến và phát triển ra một thiết bị mới phù hợp với môi trường và điều kiện Việt Nam, MGB – JOKASO. Đây là thiết bị có thể xử lý được nước thải y tế, sinh hoạt, vốn phần lớn nhiễm chất thải hữu cơ, một cách triệt để và thể hiện được tính nổi trội trong phương án kinh tế, kỹ thuật .  Trước đây, khi đưa vào sử dụng JOHKASOU để xử lý nước thải thì thiết bị này bộc lộ một số vấn đề không phù hợp với điều kiện môi trường Việt Nam là nó chỉ tập trung vào giải quyết nhu cầu sinh hóa BOD (Biochemical oxygen Demand) sau đó mới xử lý amoni. Nguyên nhân là vào mùa đông tại Nhật Bản, nhiệt độ môi trường xuống thấp nên khả năng tiêu hủy BOD kém. Trong khi đó tại Việt Nam, trong suốt cả năm đều có nhiệt độ cao nên khả năng phân hủy BOD cao và yêu cầu quan trọng là xử lý amoni và giảm sinh khí metan.   Đây là lý do để TS Trương Văn Đàn tiếp tục mày mò nghiên cứu và đưa ra thiết bị MGB – JOKASO theo dạng kết cấu hoàn chỉnh, đáp ứng nhiều loại công suất cử lý khác nhau (dạng module). Thiết bị bao gồm nhiều đơn vị công nghệ của hệ xử lý (kỵ khí, hiếu khí, thiếu khí), lắng, khử trùng được tổ hợp trong một khối thống nhất để ở đầu ra của hệ thống, nước thải đã được xử lý đạt các tiêu chuẩn đã định. Đặc biệt nước thải sau khi qua hệ xử lý này có thể được tái sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi…   Do tính chất liền khối mà MGB– JOKASO có thể được lắp đặt nhanh chóng, tốn ít diện tích. Ngoài ra, để phù hợp với điều kiện thời tiết Việt Nam, thiết bị còn có thể chống chịu với triều cường, lũ lụt. MGB– JOKASO có tuổi thọ rất cao, có khả năng sử dụng trong khoảng 50 năm với chi phí vận hành thấp.   Công nghệ xử lý nước thải MGB – JOKASO của TS Trường Văn Đàn đã được đưa vào sử dụng trong nhiều bệnh viện, công trình xây dựng, nhiều dự án đô thị trong nước và quốc tế, đem lại nguồn doanh thu cao cho công ty Xanh và Xanh. Trong năm 2013, việc ứng dụng và thương mại hóa sáng chế MGB – JOKASO đã đem lại cho công ty 100 tỷ đồng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Microsoft giúp nhà nông Ấn tăng năng suất      Microsoft India vừa trưng bày nhiều dự án sử dụng AI dựa trên đám mây của công ty, các dịch vụ nhận thức và các công nghệ internet vạn vật có thể làm thay đổi cách thức mà công dân, doanh nghiệp và chính phủ xử lý các dịch vụ y tế, thực hành nông nghiệp, giáo dục và công việc hàng ngày.      Để tính toán giai đoạn gieo trồng, dữ liệu về lịch sử thời tiết được thu thập dài tới 30 năm, từ 1986 – 2015, đối với vùng Devanakonda ở bang Andhra Pradesh, rồi được AI phân tích.  Những công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Cloud Machine Leaning, hình ảnh vệ tinh và các công cụ phân tích tiên tiến, đang tạo điều kiện cho các nông gia quy mô nhỏ ở Ấn Độ tăng thu nhập nhờ đạt năng suất cây trồng cao hơn và kiểm soát giá cả tốt hơn, hãng Microsoft India cho biết.  Tại gần chục ngôi làng ở Telangana, Maharashtra và Madhya Pradesh, nông dân đang nhận được các cuộc gọi bằng giọng nói tự động báo cho họ biết cây bông của họ có đang gặp nguy cơ bị dịch bệnh tấn công hay không, dựa trên các điều kiện thời tiết và giai đoạn cây trồng.  Tại Karnataka, chính quyền bang có thể đưa ra các dự báo giá cả của một số hàng hoá chủ yếu như đậu triều (Cajanus cajan) (1) trước ba tháng để lên kế hoạch Giá hỗ trợ tối thiểu (Minimum Support Price – MSP).  “Ngày gieo trồng rất là quan trọng để bảo đảm rằng nông dân có một vụ mùa bội thu. Còn nếu thất bại, hậu quả là họ bị lỗ một số chi phí đã phải gánh chịu như hạt giống, cũng như phân bón”, Suhas P. Wani, giám đốc vùng châu Á, viện Nghiên cứu cây trồng quốc tế vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) (2), viết trong một bài trên blog của Microsoft.  Cơ quan phi lợi nhuận ICRISAT tiến hành nghiên cứu phát triển ở châu Á và vùng hạ Sahara châu Phi, với đông đảo các đối tác khắp thế giới. Cộng tác với ICRISAT, Microsoft đã phát triển một ứng dụng AI-Sowing chạy bởi bộ Microsoft Cortana Intelligence Suite, gồm Machine Learning và Power BI.  “Ứng dụng gởi các dự báo và tư vấn gieo trồng cho các nông dân tham gia về thời điểm tốt nhất để gieo trồng. Sướng nhất là các nông dân không cần phải cài đặt bất kỳ bộ cảm biến nào trên các cánh đồng của họ, hoặc gánh chịu bất kỳ phí tổn vốn nào. Tất cả cái họ cần là một điện thoại chức năng có thể nhận các tin nhắn bằng văn bản”, công ty cho biết.  Để tính toán giai đoạn gieo trồng, dữ liệu về lịch sử thời tiết được thu thập dài tới 30 năm, từ 1986 – 2015, đối với vùng Devanakonda ở bang Andhra Pradesh, rồi được AI phân tích. Để xác định thời đoạn gieo trồng tối ưu, Chỉ số ẩm độ phù hợp (Moisture Adequacy Index – MAI) được tính toán. MAI là bộ đo được chuẩn hoá dùng để đánh giá mức độ phù hợp của lượng mưa và độ ẩm của đất tương thích với yêu cầu về nước cần cho vụ mùa. Dữ liệu này sau đó được thu hẹp lại để xây dựng dự báo và hướng dẫn các nông dân chọn tuần lễ gieo hạt lý tưởng.  Năm nay, ICRISAT đã tính toán các dự báo chính xác cho 4.000 nông dân khắp bang Andhra Pradesh và Karnataka về chu kỳ mùa vụ Kharif (mùa mưa). Các phân tích dự báo về nông nghiệp không chỉ giới hạn ở việc gieo trồng. Chính quyền bang Karnataka sẽ bắt đầu sử dụng dự báo giá cả các loại hàng nông sản, ngoài các dự báo gieo trồng cho các nông dân trong bang. Giá cả nông sản các loại như đậu triều mà bang Karnataka là nơi sản xuất lớn thứ hai, sẽ được dự báo trước ba tháng ở những thị trường lớn trong bang, Microsoft cho biết. Microsoft đã phát triển một mô hình dự báo giá cả nông sản đa biến, để dự báo nông sản ra thị trường trong tương lai và giá cả tương ứng. Mô hình sử dụng các dữ liệu cảm nhận từ xa từ các hình ảnh vệ tinh địa tĩnh để dự báo năng suất cây trồng qua mỗi một giai đoạn trồng trọt.  Mô hình hiện nay được sử dụng để dự báo giá đậu triều, có thể đo được, và hiệu quả về tính thời điểm và có thể khái quát hoá đối với bất kỳ vùng nào và cây trồng gì.  Khởi Thức (Theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Microsoft mua lại Linkedin với giá 26.2 tỷ USD      Thứ Hai vừa qua, người khổng lồ phần mềm Microsoft cho biết sẽ mua lại LinkedIn với giá 26.2 tỷ USD. Thương vụ lớn nhất trong lịch sử Microsoft này sẽ liên kết hai công ty trên hai lĩnh vực khác nhau: một nhà sản xuất công cụ phần mềm lớn và một website định hướng kinh doanh lớn nhất với 433 triệu người dùng trên toàn cầu.    CEO Microsoft Satya Nadella (giữa) và các nhà sáng lập Linkedin: Jeff Weiner (bìa trái) và Reid Hoffman (bìa phải)Trong tuyên bố mua bán này, Microsoft và LinkedIn đã đưa ra những lợi ích mà 433 triệu thành viên của LinkedIn sẽ nhận được trong chiến dịch xây dựng tương lai cho Microsoft do CEO Microsoft, Satya Nadella đề xướng .Thương vụ này được đưa ra trong bối cảnh cổ phiếu của LinkedIn đang mất giá còn Microsoft đang tìm cách thu hút nhiều người sử dụng ứng dụng trên điện toán đám mây (cloud apps) như Office 365, Skype hay Cortana. Để đáp ứng mục tiêu trên, Nadella cho biết trong hội nghị với các nhà đầu tư: LinkedIn sẽ giúp đem lại một phần mạng lưới xã hội mà lâu nay Microsoft vẫn thiếu, còn Office và Outlock sẽ giúp cập nhật hồ sơ cá nhân Linkedin của người dùng dễ dàng hơn. Người dùng có thể vẽ, nói lên Newfeeds của LinkedIn, ứng dụng lịch trình Calendar sẽ được làm hấp dẫn hơn, hay phần mềm “trợ lý Cortana” sẽ quản lý LinkedIn của người dùng và nhanh chóng cập nhật những ai sẽ tham gia cuộc họp đang dự kiến.  Thỏa thuận lớn nhất này của Microsoft cũng có nghĩa là những phần mềm truyền thống sẽ phải thay đổi nhanh chóng để tương thích với các ứng dụng điện toán đám mây. Mô hình này giúp khách hàng hoặc các chuyên gia có thể sử dụng phần mềm và các công cụ khác của Microsoft thông qua Internet. “Từ quan điểm bán hàng, lần mua bán này thật sự mang lại lợi nhuận cho Microsoft, vì họ (Linkedln) nắm được những mối liên hệ của thương mại toàn cầu.”, Brian Blau, chuyên gia phân tích tại công ty nghiên cứu thị trường công nghệ Gartner cho biết.  Hơn nữa, mức giá khổng lồ của cuộc mua bán này đủ lớn để tạo ra những tác động khác. Nó sẽ gây ra những khó khăn cho Facebook trong việc định hướng mạng xã hội, khi hiện tại LinkedIn có được nguồn lực đáng kể do Microsoft hậu thuẫn. Và nó còn kích thích những cuộc mua bán sát nhập khác, nhất là đối với những startup mới nổi như Slack hay mạng xã hội đang chật vật Twitter. Cổ phiếu của Twitter đã tăng tới 9% sau thông tin LinkedIn được mua lại.  Tuy nhiên, đây cũng được đánh giá là quyết định mua lại lớn nhất và rủi ro nhất trong lịch sử công nghệ thế giới. Giá trị mua lại của Linkedin cao hơn con số 22 tỷ USD mà Facebook bỏ ra để mua lại WhatsApp và Instagram. Nhưng làm sao để tích hợp được hai tiềm năng độc lập với nhau chỉ trong một vài năm? Nhiều nhà đầu tư và khách hàng sẽ đối diện với các cung bậc cảm xúc căng thẳng, lo lắng và hi vọng dồn dập khi cuộc đại sáp nhập diễn ra. Đầu tiên là sự phấn khích trước cơ hội giúp hai công ty cùng phát triển sau đó sợ hãi trước nguy cơ cắt giảm nhân lực khi sự kết hợp này không đạt đến tiềm năng vốn có, và nỗi buồn khi nhớ lại trong lịch sử có đến 70% đến 90% các cuộc mua bán và sáp nhập không mang lại lợi ích như những gì được hứa hẹn ban đầu. Một phân tích còn chỉ ra rằng vụ thương lượng này có thể bị hủy bỏ nếu xuất hiện một đối thủ mua bán cạnh tranh hoặc nếu như doanh thu của LinkedIn sụt giảm một cách đáng thất vọng trước khi thỏa thuận kết thúc.  Một số nhà đầu tư nhắc nhở về kết quả nghèo nàn của Microsoft khi mua lại các công ty lớn như  aQuantive, Nokia và Skype. Vào năm 2014, công ty này đã trả 9,4 triệu USD cho hệ điều hành smartphone của Nokia, trước đó trả hơn 6 triệu USD cho aQuantive, một công ty quảng cáo trên Internet, nhưng sau cùng, hầu hết các giao dịch đó đều có kết quả đáng thất vọng.  http://www.nytimes.com/2016/06/14/business/dealbook/microsoft-to-buy-linkedin-for-26-2-billion.html?_r=0     Author                Quản trị        
__label__tiasang Miến Điện đình chỉ dự án thủy điện gây tranh cãi do Trung Quốc đầu tư      Giám đốc một công ty nhà nước của Trung Quốc, nhà đầu tư của dự án xây đập thủy điện Myitsone gây tranh cãi ở Miến Điện, nói rằng việc Chính phủ Miến Điện đình chỉ dự án tuần trước là một điều bất ngờ và “sẽ dẫn tới những vấn đề pháp lý”.     Trong một cuộc trả lời phỏng vấn do Xinhua thực hiện hôm 03/10, ông Lu Qizhou, Giám đốc tập đoàn Đầu tư Điện Trung Quốc, nói rằng ông chỉ biết về việc đình chỉ dự án xây dựng con đập Myitsone trị giá 3,6 tỷ USD “qua báo chí” và rằng ông đã “hoàn toàn sửng sốt”.     Không rõ trong trường hợp này tập đoàn của ông Lu sẽ đòi lại quyền lợi pháp lý như thế nào, khi mà hệ thống pháp lý của cả hai quốc gia còn tương đối hạn chế. Tuy nhiên, ý kiến của ông Lu phần nào cho thấy có sự không hoàn toàn đồng thuận giữa Trung Quốc và Miến Điện, dù Miến Điện được coi là một đồng minh có vai trò chiến lược, nơi Trung Quốc dự định đầu tư nhiều dự án.  Các quan chức chính phủ của cả hai quốc gia đều không có ý kiến gì về vụ việc này.  Vào Chủ nhật ngày 2/10 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Chính phủ Miến Điện nên bảo vệ quyền lợi của các công ty Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng mang tính chính trị của một dự án lớn như dự án xây đập Myitsone.   Con đập này sẽ ảnh hưởng tới sông Irrawaddy ở phía Bắc của Miến Điện, có khả năng gây ngập một vùng đất có diện tích tương đương Singapore. Dự án này không có được sự đồng thuận của dân chúng Miến Điện. Cư dân trong vùng ảnh hưởng nhìn nhận con đập Myitsone như một cách để Chính phủ di dời các nhóm sắc tộc địa phương.  Chủ tịch nước Thein Sein hôm 30/9 nói rằng việc xây dựng cần bị đình chỉ, và cho rằng dự án đi ngược lại ý chí của nhân dân. Quyết định này của ông gây ngạc nhiên cho nhiều nhà quan sát, do nhiều khả năng nó sẽ làm Trung Quốc phật ý.   Trung Quốc hiện nay cần quan hệ đồng minh với Miến Điện một phần vì nước này ở gần Ấn Độ, một quốc gia có tiềm năng cạnh tranh trong cùng khu vực với Trung Quốc. Đồng thời, Miến Điện cũng được coi là cửa ngõ thông ra Vịnh Bengal. Trung Quốc và Miến Điện hiện đang xây dựng một đường ống dẫn dầu và khí đốt xuyên qua Miến Điện và thông vào phía Tây Nam của Trung Quốc, một nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm đa dạng hóa các nguồn nhiên liệu.   Các dựa án hạ tầng lớn là cách thông thường để Trung Quốc dành được những lợi thế ngoại giao với các nước đang phát triển. Các công ty của Trung Quốc hiện đang xây các đập thủy điện ở Đông Nam Á, Châu Phi, và những nơi khác. Theo Xinhua, hôm 03/10, tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc đã quyên góp 1,32 tỷ USD để xây dựng các trường học tại các vùng đất nằm dọc theo đường ống dẫn đầu và khí đốt vào Trung Quốc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Miễn phí công cụ diệt virus cho máy tính Mac      Công cụ diệt virus Flashback, loại virus  đang lây lan trên toàn thế giới, nhắm vào các máy tính Mac của hãng  Apple đã được Công ty An ninh mạng Bkav phát hành miễn phí chính thức  ngày 18/4.    Đại diện Bkav cho biết, virus Flashback là một trojan giả mạo bản cập nhật của Adobe Flash Player. Hacker đã lừa người sử dụng Mac bằng cách khuyến khích họ tải về một “phiên bản mới của phần mềm Adobe Flash Player” nhưng thực chất là tải trojan. Khi lây nhiễm vào máy tính của người sử dụng, Flashback đánh cắp mật khẩu và thông tin các tài khoản trên máy như thẻ tín dụng, email… kết nối thành mạng botnet và nhận lệnh của hacker qua C&C server (máy chủ điều khiển).  Theo các thống kê, hiện đã có hơn 600.000 máy tính Mac trên toàn thế giới bị nhiễm trojan Flashback. Tại Việt Nam, hiện nay dòng máy tính Mac được nhiều người chuộng dùng, vì thế nguy cơ  bị nhiễm Flashback là rất cao.  Nhằm tránh nguy cơ  bị nhiễm Flashback,  Bkav khuyên người sử dụng có thể tải công cụ miễn phí diệt virus Flashback tại địa chỉ sau:  http://www.bkav.com.vn/FlashbackRemovalTool  Để virus không lây nhiễm trở lại, sau khi quét máy tính người sử dụng cần cập nhật bản vá lỗ hổng. Bản vá cho lỗ hổng này có thể tải về tại địa chỉ: http://support.apple.com/kb/HT1222.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Millicent Bryant: người phụ nữ Úc đầu tiên được cấp bằng phi công      Trước khi thế giới chào đón sự xuất hiện của những nữ phi công huyền thoại thập niên 1930 như Amelia Earhart, Miller “Mập” và Nancy Bird Walton, một người phụ nữ khác đã mở cánh cửa chinh phục bầu trời – và nếu không phải vì vòng xoáy nghiệt ngã của số phận, thì ắt hẳn tên tuổi của bà đã trở nên không kém phần quen thuộc với chúng ta.      Bryant sau khi hoàn thành chuyến bay với huấn luyện viên trưởng, Đại Úy Edward Leggatt (một phi công máy bay chiến đấu nổi tiếng trong thế chiến thứ nhất). Ảnh: James Vicars     Đó là Millicent Maude Bryant, người phụ nữ đầu tiên nhận được bằng phi công ở Úc, và hơn thế là ở toàn bộ Khối Thịnh vượng chung bên ngoài nước Anh vào đầu năm 1927.     Cái chết bất ngờ     Millicent sinh năm 1878 tại Oberon và lớn lên gần Trangie ở phía tây New South Wales. Gia đình cô, nhà Harveys, chuyển đến Manly một thời gian sau khi em trai cô là George mắc bệnh bại liệt (một trong những phương pháp điều trị thời bấy giờ là “tắm biển”). Millicent gặp gỡ và kết hôn với Edward Bryant, một công chức lớn hơn cô 15 tuổi, và có với nhau ba mụn con. Hai vợ chồng ly thân không lâu trước khi Edward qua đời vào năm 1926.     Cuối năm đó, Bryant bắt đầu tham gia đào tạo ở Câu lạc bộ Hàng không Úc tại Mascot, ngoại ô Sydney. Lúc bấy giờ, địa điểm hiện tại của sân bay quốc tế chỉ là nơi đồng không mông quạnh, lác đác vài tòa nhà và xưởng cất máy bay.     Bryant được nhận vào Câu lạc bộ Hàng không bởi huấn luyện viên trưởng, Đại Úy Edward Leggatt (một phi công máy bay chiến đấu nổi tiếng trong thế chiến thứ nhất), ngay sau khi câu lạc bộ mở cửa cho thành viên nữ. Mặc dù vậy, bà vẫn là một nhân vật khác thường: ở tuổi 49, người mẹ ba con quyết tâm bay lượn trên bầu trời, một thử thách không chỉ mang đến sự phấn khích và mê hoặc mà còn đầy rẫy hiểm nguy vào những năm 1920.     Bà tiến bộ nhanh chóng, vượt lên trên hai nữ học viên trẻ tuổi khác, và thực hiện chuyến bay một mình đầu tiên vào tháng 2/1927. Báo giới trên khắp nước Úc hồi hộp dõi theo câu chuyện của bà. Đến cuối tháng 3/1927, bà tham gia kỳ thi chứng chỉ loại “A” để lấy giấy phép lái máy bay hai tầng cánh De Havilland Moth một cách độc lập. Bryant đã đậu kỳ thi. Với chứng chỉ được cấp bởi Bộ Quốc phòng, Bryant là người phụ nữ đầu tiên có bằng phi công tại Úc.       Chân dung Millicent Maude Bryant (1919). Ảnh: James Vicars     Vậy thì vì sao tên tuổi của bà không được biết đến nhiều hơn trong thời đại chúng ta? Bryant ngay lập tức tham gia đào tạo để lấy giấy phép chuyên chở hành khách và thường xuyên thực hiện các chuyến bay trong những tháng kế tiếp. Nhưng bất hạnh của bà là đã bước lên chuyến phà Greycliffe rời Cảng Sydney lúc 4:14 chiều đến Vịnh Watson vào ngày mùng 3/11/1927.     Chưa đến một giờ sau, bà trở thành một trong 40 nạn nhân thiệt mạng sau khi chiếc phà vỡ đôi ngoài mũi đất Bradleys do va chạm với tàu hơi nước Tahiti. Đó là thảm họa hàng hải thời bình tồi tệ nhất trong lịch sử Sydney. Bryant lúc ấy vẫn chỉ 49 tuổi. Lễ tang của bà diễn ra hai ngày sau đó với hàng trăm người đưa tiễn và một màn tưởng niệm trên không đáng chú ý. Thời báo Wellington đưa tin:     “Năm chiếc máy bay từ phi trường Mascot đã hộ tống đoàn người trên đường đến nghĩa trang. Thời điểm Đức Cha A. R. Ebbs, mục sư của nhà thờ St. Matthews Manly chủ trì lễ mai táng, một trong số những chiếc máy bay đã hạ xuống cách ngôi mộ khoảng 150 feet, và người ta thả từ đó một vòng hoa cẩm chướng đỏ và phi yến xanh… Đính kèm với hoa tưởng niệm là một tấm thiệp có dòng chữ sau:     Mồng 5 tháng 11 năm 1927. Ủy ban và các thành viên Câu lạc bộ Hàng không – phân hiệu New South Wales gửi lời chia buồn sâu sắc.”     Người đi tiên phong     Câu chuyện của Bryant nhanh chóng chìm vào quên lãng. May mắn thay, sau khi gia đình bà tìm thấy một xấp thư và những ghi chép khác vào khoảng 80 năm sau, cuộc sống của Bryant bên ngoài buồng lái máy bay một lần nữa được khám phá. Những bức thư đã và đang được giữ nguyên trạng, cho đến khi chúng trở thành một phần của bộ sưu tập các ghi chép về Bryant tại Thư viện Quốc gia – thuộc quyền sở hữu của cháu gái Millicent Jones vùng Kendall, New South Wales, người đã phát hiện chúng trong kho lưu trữ tại nhà.     Bryant chủ yếu thư từ qua lại với đứa con trai thứ hai tên John ở Anh. Những lá thư giữa hai mẹ con nhắc đến khoảng thời gian Bryant làm phi công, tuy chỉ đề cập sơ đến những chuyến bay bà ghi lại trong nhật ký. Mặt khác, những lá thư và ghi chép hé lộ nhiều điều về bản thân Bryant, các mối quan hệ và cảm xúc của bà, cũng như các hoạt động giải trí, kinh doanh và chính trị. Chúng cho ta thấy rõ về một người đi tiên phong cả trên không trung và trong đời sống cá nhân.       Những dòng ghi chép của bà. Ảnh: James Vicars     Đầu tiên, bay không phải sở thích độc đáo duy nhất của Bryant. Bà cũng là một doanh nhân, sở hữu một công ty nhập khẩu hợp tác cùng John, người sau đó trở thành anh cả đầu ngành công nghiệp sữa của Úc. Bà mở một cửa hàng kinh doanh quần áo nam tên Chesterfield Men’s Mercery tại Quận Thương mại Trung tâm Sydney. Tuy nhiên, không may là một đám cháy ở tầng trên đã khiến cửa hàng ngập trong nước chỉ vài tuần sau khi mở cửa.     Bryant sau đó trở thành một nhà phát triển bất động sản quy mô nhỏ, chuyên mua và xây dựng trên đất đai vùng Vaucluse và Edgecliffe. Về mặt này, bà đã được chỉ dạy cẩn thận bởi cha mình là Edmund Harvey (một trong hai người ông của tỷ phú Gerry Harvey), một người chăn nuôi gia súc với số tài sản cuối đời bao gồm một phần lớn của Thung lũng Kanimbla phía tây Dãy núi Xanh.     Không chỉ là một nữ kỵ sĩ tuyệt vời, Bryant còn là biết lái xe hơi thời kỳ đầu – bà đã lái hơn 35.000 dặm vòng quanh New South Wales và có thể tự mình sửa xe. Bà cũng là một tay chơi golf cừ khôi, một người ham thích đọc sách, và thậm chí còn là sinh viên ngành văn hóa Nhật tại Đại học Sydney.     Trong số những ghi chép bà để lại có một vài mẩu chuyện nằm trong truyện kể gia đình mà bà đã lên kế hoạch sáng tác, dựa trên cuộc đời của chính mình. Chỉ một mảnh giấy gồm vài dòng đặt bút đơn giản, mang tựa đề “Một cuộc đời”, cũng đã nói lên được nhiều điều về thế giới nội tâm của bà hơn tất cả những gì bà có lẽ đã kể cho bất cứ ai: “Hôn nhân – sai lầm – con cái – thất vọng. Sức khỏe ốm yếu. Khát khao được “sống” và sáng tạo…”     Bà ghi chú về một chuyến đi nước ngoài, tuy thành công nhưng “nó đã khiến cho ngọn lửa rực cháy trong trái tim tôi trong mười bốn năm, cho đến khi hy vọng tắt ngúm vì một cuộc hôn nhân.” Mẩu ghi chú này cung cấp thông tin bối cảnh đằng sau quyết định bất thường của bà ở độ tuổi bốn mươi – rời bỏ tổ ấm gia đình và cuộc hôn nhân để bắt đầu cuộc sống mới cùng các con trai. Nó được viết không lâu trước khi bà thực hiện chuyến bay đầu tiên, có lẽ là đi cùng Edgar Percival, một người bạn của gia đình và sau này là một nhà thiết kế máy bay thành công với những chiếc tàu bay mang dáng vẻ thanh lịch đã giành được vô vàn giải thưởng.     Sức sống, giá trị và xung đột     Sinh ra và lớn lên ở nội địa tiểu bang New South Wales vào thế kỷ 19, Bryant đã được định sẵn sẽ trở thành một người vợ và người mẹ theo bước truyền thống. Tuy nhiên, thời trẻ của bà cũng rất “tự do” (như một tờ báo đã mô tả), và quyết tâm đưa ra quyết định và tự định hình cuộc sống của riêng mình đã khiến bà xung đột với những kỳ vọng giới phổ biến thời bấy giờ.     Học bay, đặc biệt khi đã bước vào tuổi tứ tuần, là một bước ngoặt mà bà đã nỗ lực theo đuổi, thậm chí còn nhiệt tình hơn sau khi bị tờ tạp chí Sydney Sun từ chối tuyển dụng chỉ bởi bà đã kết hôn. Bryant thể hiện quan điểm mạnh mẽ về những gì một người phụ nữ có thể và không thể làm. Bà đã dùng cả cuộc đời để thực hiện quyết tâm tự mở lối đi riêng, bất chấp việc phải đối mặt với những rào cản còn tồn tại cho đến ngày nay.     Bryant không đơn thuần là một nhân vật trong lịch sử hàng không. Cuộc đời của bà – trải dài từ thời kỳ thuộc địa cho đến sự ra đời của nhà nước liên bang và những bi kịch của Thế chiến thứ nhất – là minh chứng rõ nét cho sức sống mãnh liệt, cùng những giá trị và xung đột trong xã hội Úc vào đầu thế kỷ 20.     Hoàng Nhi dịch     Nguồn: Hidden women of history: Millicent Bryant, the first Australian woman to get a pilot’s licence       Author                Quản trị        
__label__tiasang MIMOSATEK – Giấc mơ về nông nghiệp chính xác      Từng dấn thân vào lĩnh vực nông nghiệp để làm người nông dân thực sự và cũng đã từng thất bại nhiều lần để biết được làm nông nghiệp khó như thế nào với những người không chuyên, chúng tôi nhận ra rằng, công nghệ mới là cách tốt nhất giúp chúng tôi dùng sở trường của mình để thỏa đam mê trong nông nghiệp.    Nông nghiệp chính xác     Nông nghiệp, có lẽ đã từ lâu nằm đâu đó trong tiềm thức của chúng tôi, nên chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về cách làm nông nghiệp truyền thống, nơi người nông dân chủ yếu dựa vào thói quen và kinh nghiệm truyền miệng trong việc chăm sóc vụ mùa mà không thực sự nắm bắt đúng nhu cầu đa dạng và biến động liên tục của cây trồng, vật nuôi của họ theo từng giai đoạn sinh trưởng hay theo từng điều kiện môi trường khác nhau. Hệ quả của phương pháp truyền thống này là sự lãng phí đáng kể về mặt sử dụng tài nguyên nước, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn,… cho vụ mùa nhưng vẫn không mang lại năng suất như mong đợi, thậm chí, cũng không kiểm soát được kịp thời những rủi ro của vụ mùa. Việc này khiến người nông dân càng đầu tư lâu càng không thấy hiệu quả, trong khi đó những sản phẩm đưa ra thị trường lại chưa đạt được năng suất tốt nhất như lẽ ra phải có để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.      Mày mò khắp Internet để học cách các nước tiên tiến giải quyết vấn đề này, chúng tôi mừng rỡ khi bắt gặp khái niệm Nông nghiệp chính xác (Precision Agriculture). Nông nghiệp chính xác đến với chúng tôi như một câu trả lời hơn cả mong đợi khi thấy rằng, mọi hành động ở trang trại – từ việc gieo hạt, tưới nước, chăm sóc,… của người nông dân – đều đến từ kết quả phân tích của quá trình giám sát liên tục và tỉ mỉ trên từng thông số của cây trồng, vật nuôi tương ứng với điều kiện hiện tại của trang trại. Một điều rất hay là toàn bộ việc giám sát, phân tích và ra quyết định này đều được thực hiện tức thời theo thời gian thực. Với nông nghiệp chính xác, mọi nhu cầu cho vụ mùa dường như được hiện lên rõ ràng và trở thành kim chỉ nam điều phối mọi hoạt động cho trang trại. Việc này khiến cho chi phí quản lý trang trại luôn nằm ở mức tối ưu, trong khi chỉ sử dụng tài nguyên vừa đủ cho nhu cầu của cây trồng, vật nuôi tại bất kỳ điều kiện nào. Với việc được đáp ứng theo đúng nhu cầu, không dư cũng không thiếu, nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra cây trồng, vật nuôi có điều kiện phát huy tối đa năng suất của mình.      Chúng tôi mê mẩn với những ứng dụng về nông nghiệp chính xác khi thấy sự tỉ mỉ đến cả những vấn đề rất cơ bản hay bị bỏ qua trong cách làm nông nghiệp truyền thống như việc tính toán chính xác đến từng hạt giống gieo xuống đồng hay từng giọt nước được tưới cho cây. Rõ ràng, đây là một đáp án hoàn hảo cho những gì chúng tôi đi tìm để bước đầu thực hiện cái gọi là nông nghiệp công nghệ cao cho người nông dân.       Cơ hội từ Internet of Things…     Tuy nhiên, rất sớm sau đó, chúng tôi nhận ra rằng, không thể áp dụng nông nghiệp chính xác tại Việt Nam khi mà ở các nước tiên tiến, nông nghiệp chính xác được vận hành trên nền tảng mà ở đó thông tin giám sát được cung cấp qua các vệ tinh và toàn bộ việc điều khiển tự động được thực hiện qua những cơ sở hạ tầng đã được cơ giới hóa ở mức độ cao. Điều này chỉ là một giấc mơ với điều kiện hiện có của Việt Nam và chưa lúc nào chúng tôi cảm thấy việc áp dụng nông nghiệp chính xác xa vời và vĩ mô như vậy.      Nhưng một khi đã thấy được mục tiêu, chúng tôi biết rằng, bằng cách này hay cách khác, chúng tôi sẽ phải thực hiện được mục tiêu của mình. Và rồi làn sóng của Internet of Things (IoT) đến, mở toang cơ hội cho những gì chúng tôi chờ đợi để làm nông nghiệp chính xác. Cảm giác đón đầu làn sóng IoT cũng mới mẻ và nhiều cảm xúc như cảm giác chúng tôi biết đến khái niệm Nông nghiệp chính xác. Ở thời điểm hiện tại, ngay cả với ngành công nghệ, IoT vẫn là một xu hướng mới và được biết đến nhiều qua ứng dụng nhà thông minh, thành phố thông minh, mạng lưới điện thông minh hay giao thông thông minh… Chưa dám gọi là Nông nghiệp thông minh nhưng chúng tôi tìm thấy ở IoT một tiềm năng rất lớn để làm Nông nghiệp chính xác, một công nghệ cho phép liên tục lắng nghe từng dữ liệu của trang trại qua các cảm biến không dây để từ đó xử lý, phân tích, ra quyết định và điều khiển ngược lại các thiết bị của trang trại ngay trên thiết bị di động của người nôn dân vào bất kỳ lúc nào tại bất cứ nơi đâu có kết nối Internet. Một trong những yếu tố chúng tôi nhận thấy có thể làm nông nghiệp chính xác với IoT tại Việt Nam là chi phí phù hợp và có thể làm từng bước một trên những trang trại từ nhỏ đến lớn.       Nhận định rõ cơ hội của mình, chúng tôi thành lập MimosaTEK, một startup của những người làm công nghệ đam mê nông nghiệp, tập trung vào giải quyết bài toán sản xuất của nông nghiệp theo hướng Nông nghiệp chính xác với tầm nhìn không để ngành nông nghèo mãi và những người nông dân phải thực sự giàu với đúng công sức và giá trị sản phẩm mình tạo ra. Chúng tôi bắt đầu gần như lập tức từ những thiết bị phần cứng để kết nối các cảm biến với Internet, những module phân tích dữ liệu theo thời gian thực để đưa ra lời khuyên cho đến phần mềm cho người dùng đầu cuối trên các thiết bị đi động theo đúng mô hình chuẩn của IoT.           … và những khó khăn     Tham vọng xây dựng cả nền tảng IoT cho nông nghiệp của chúng tôi gặp nhiều khó khăn vì IoT mới ngay cả với ngành công nghệ. Nhưng sau hết, có lẽ khó khăn đáng kể nhất là kiến thức trong lĩnh vực nông nghiệp của chúng tôi đều là qua sách vở, trong nhóm không có thành viên là chuyên gia thực thụ trong ngành. Nhiều hình thức hợp tác đã được xây dựng với các chuyên gia nông nghiệp nhưng không đi đến đâu, một số kỹ sư nông nghiệp đã được mời về làm với chúng tôi nhưng rồi chỉ trụ được chưa đầy hai tháng ở giai đoạn thử việc vì họ không thực sự hiểu chúng tôi đang làm gì khi mà khoảng cách giữa nông nghiệp và công nghệ còn quá lớn trong nhận thức của họ. Chúng tôi may mắn gặp được các bạn thực tập sinh từ chương trình hợp tác với Israel để lấp vào khoảng trống này, những cái đầu mở với các nhận thức mới mẻ được học hỏi tại nước có ngành nông nghiệp phát triển nhất nhì thế giới giúp chúng tôi tiếp tục hành trình của mình một cách tự tin và suôn sẻ hơn.     Tuy nhiên, càng dấn thân sâu, chúng tôi càng thấy những hạn chế của thực tại. Khi xây dựng các module phân tích dữ liệu nông nghiệp, chúng tôi phát hiện ra rằng, khoa học cơ bản cho nông nghiệp Việt Nam cũng còn nhiều việc cần được hoàn thiện. Những thông số đặc trưng cho cây trồng chúng tôi có thể tìm thấy trong các nghiên cứu của nước ngoài một cách công khai với quá trình nghiên cứu rất bài bản và tỉ mỉ trên đất của họ nhưng thực sự khó khăn cho các cây trồng của Việt Nam để có được các thông số này. Không có các thông số đặc trưng của từng loại cây trồng, những module phân tích dữ liệu của chúng tôi chỉ là những cỗ máy vô hồn. May mắn cho chúng tôi khi tiếp cận những tài liệu mở của FAO để tìm ra những nét tương đồng trong các kết quả nghiên cứu của họ cho các loại cây trồng trong khu vực, bao gồm Việt Nam. Những nguồn thông tin vô giá đó lại một lần nữa giúp chúng tôi tiến về phía trước.     Chúng tôi đã tập trung gần một năm xây dựng hệ thống tưới chính xác, nhằm đi tìm lời giải cho những thứ tưởng chừng rất đơn giản: khi nào cần tưới và tưới bao nhiêu nước mỗi lần để có thể đáp ứng vừa đủ nhu cầu của cây trồng trên những hệ thống tưới đa dạng, từ tưới phun đến tưới nhỏ giọt. Kết quả của một năm lao động là hệ thống quản lý tưới chính xác cho cây trồng với khả năng giám sát nhu cầu nước hằng ngày của cây qua hệ thống cảm biến đặt tại trang trại kết hợp với các module phân tích dữ liệu theo thời gian thực để đưa ra lời khuyên về thời điểm và lượng nước cần tưới cho từng loại cây trong mỗi lần tưới. Với hệ thống quản lý tưới chính xác, mọi hành động từ việc theo dõi nhu cầu nước, nhận lời khuyên đến việc ra lệnh tưới cho trang trại được nằm gọn trên thiết bị di động của người nông dân.      Việc bắt đầu từ những thứ rất bản chất của nông nghiệp, như hệ thống tưới chính xác, là một phép thử trước khi chúng tôi đi xa hơn với mong muốn thay Nông nghiệp truyền thống bằng Nông nghiệp chính xác với muôn vàn lợi điểm mang lại. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, chúng tôi gặp nhiều thách thức trong việc đưa sản phẩm đến tay người nông dân khi mà tâm lý ngại thay đổi và an phận đã theo họ từ rất lâu với cách làm nông nghiệp truyền thống. Đây là một rào cản không hề nhỏ và chúng tôi xác định sẽ cần nhiều thời gian hơn nữa cùng với sự giúp sức của cả cộng đồng để Nông nông nghiệp chính xác đến được với 70% dân số làm nông nghiệp. Với chúng tôi, giấc mơ Nông nghiệp chính xác cho toàn bộ người nông dân vẫn còn đâu đó trong tương lai, hy vọng là không quá xa và chúng tôi từng ngày vẫn đang tiến về phía trước với nhiều điều cần học hỏi trong nông nghiệp.   * Nguyễn Khắc Minh Trí – Giám đốc kỹ thuật Tập đoàn TDS; Giám đốc Công nghệ tập đoàn DTS; CEO Viện Công nghệ Kỹ thuật Sài Gòn (SaigonCTT); Sáng lập và CEO Mimosa Technology    Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh bạch trong cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước      Minh bạch hóa là mục tiêu, đồng thời cũng là phương thức hữu hiệu để cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.    Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước 2014 – 2015 được tổ chức tại Hà Nội ngày 18/2 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định kiên quyết thực hiện bài bản, có lộ trình việc cổ phần hóa 432 doanh nghiệp theo kế hoạch trong 2 năm 2014-2015, đồng thời tiếp tục rà soát, bổ sung thêm các doanh nghiệp Nhà nước cần phải cổ phần hóa theo hướng giảm mạnh hơn doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp mà nhà nước giữ cổ phần chi phối. Dư luận hoan nghênh những ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nhưng vẫn không tránh khỏi những lo ngại về các vấn đề phức tạp cần giải quyết để tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không chỉ đạt được mục tiêu về số lượng, mà cả những mục đích chính yếu hơn, đó là: rút bớt sự tham gia trực tiếp của nhà nước trong các hoạt động thuần túy kinh doanh ở các lĩnh vực không thiết yếu; chuyển một phần tài sản và nguồn lực do khu vực doanh nghiệp nhà nước nắm giữ ra thị trường để nâng cao hiệu quả sử dụng; thay đổi cơ cấu sở hữu để nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước thông qua quá trình này. Việc thực hiện những mục đích quan trọng này là không dễ dàng, chưa kể còn phải đáp ứng yêu cầu là hết sức hạn chế gây tổn thất cho Nhà nước và xáo động cho doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa.              Thủ tướng cho biết Chính phủ sẽ ban hành Nghị quyết về một số giải pháp đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2013-2015; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đến năm 2015 và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước.         Sẽ có rất nhiều việc phải làm và chắc hẳn trong thời gian tới Chính phủ sẽ ban hành những văn bản để cụ thể hóa và hướng dẫn tổ chức thực hiện chủ trương cổ phần hóa. Những chính sách cơ bản như nhà nước sẽ giữ lại doanh nghiệp nhà nước trong những lĩnh vực nào, phân loại các doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hóa, và tỉ lệ cổ phần hóa ra sao, danh mục và lộ trình thực hiện, v.v, là những vấn đề phải được làm rõ.      Những yêu cầu minh bạch hóa     Trước hết phải công bố công khai, minh bạch những thông tin tối thiểu cần thiết về doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hóa, cùng tất cả những tài sản các loại mà từng đơn vị đang nắm giữ, đã được kiểm toán và có thể kiểm chứng. Bên cạnh những thông tin cơ bản về doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, rất cần làm rõ cả cơ cấu sở hữu và quản trị vốn và tài sản ở doanh nghiệp hiện tại và hướng xử lý khi cổ phần hóa, đặc biệt trong những trường hợp cơ cấu đó chồng chéo, phức tạp. Người có ý định mua cổ phần của doanh nghiệp không thể yên tâm khi không biết doanh nghiệp mình định mua trên thực tế đang thuộc về những ai; doanh nghiệp có những khoản nợ đồng lần nào, ở đâu, có khả năng gỡ ra không.      Thứ hai, minh bạch về tỉ lệ cổ phần hóa ở từng doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tỉ lệ Nhà nước sẽ giữ lại, tỉ lệ dành cho người lao động, tỉ lệ dành cho đối tác chiến lược nếu có, tỉ lệ bán ra thị trường cho các nhà đầu tư khác. Ba loại tỉ lệ đầu chỉ nên hạn chế ở mức tối thiểu cần thiết, và phải có lý do chính đáng cùng những điều kiện rõ ràng cho chúng. Loại tỉ lệ bán ra thị trường cần đủ lớn và bảo đảm quyền được lưu thông để các nhà đầu tư an tâm mua. Người có ý định mua cổ phần rất cần biết trong tương lai theo cơ cấu vốn mới ai sẽ nắm quyền chi phối cao nhất ở doanh nghiệp, liệu mình có thể tin tưởng họ không, liệu mình có thể mua được lượng cổ phần mong muốn không, và liệu cổ phiếu của mình có được quyền tự do lưu thông như một thứ tài sản mà mình có thể bán ra mua vào khi cần không.             Đặc biệt cần làm rõ những đối tượng không được phép mua, các đối tượng bị hạn chế lượng cổ phần, các đối tượng có thể được ưu đãi hay khuyến khích mua, giúp các nhà đầu tư tương lai và xã hội có thể giám sát để ngăn chặn sự móc ngoặc, “đi đêm” giữa những nhóm nào đó gây phương hại lợi ích của cả các nhà đầu tư lẫn Nhà nước.         Thứ ba, minh bạch các khâu trong quá trình cổ phần hóa như qui trình đánh giá, thẩm định giá trị doanh nghiệp nhà nước, công bố thông tin, chào bán cổ phần ra thị trường, thương thảo và quyết định mua bán, v.v. Đặc biệt cần làm rõ những đối tượng không được phép mua (các doanh nghiệp nhà nước trong cùng tập đoàn/tổng công ty, các doanh nghiệp nhà nước khác), các đối tượng bị hạn chế lượng cổ phần (nhà đầu tư nước ngoài, trong những trường hợp cần hạn chế), các đối tượng có thể được ưu đãi hay khuyến khích mua (có công nghệ hoặc năng lực có thể giúp doanh nghiệp phát triển vượt trội) v.v. Công khai, minh bạch những qui trình này giúp các nhà đầu tư tương lai và xã hội có thể giám sát để ngăn chặn sự móc ngoặc, “đi đêm” giữa những nhóm nào đó gây phương hại lợi ích của cả các nhà đầu tư lẫn Nhà nước.     Thứ tư, minh bạch về quản trị doanh nghiệp và quản trị nhà nước đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Điều quan trọng nhất là cam kết doanh nghiệp sau cổ phần hóa sẽ nâng cấp hệ thống quản trị; Nhà nước chỉ có quyền tham gia quyết định ở doanh nghiệp tương ứng với tỉ lệ cổ phần mà Nhà nước nắm giữ; doanh nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chịu sự quản lý của Nhà nước theo luật pháp như mọi doanh nghiệp khác. Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp phải thực hiện hệ thống quản trị tốt theo chuẩn mực quốc tế thông dụng, đồng thời phải tuân thủ các nguyên tắc của thị trường- đặc biệt là nguyên tắc cạnh tranh và “lời ăn lỗ chịu”- cũng như kỷ cương phép nước như mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Cách thức của nhà nước “quản lý” doanh nghiệp cũng phải thay đổi hẳn, chấm dứt hoàn toàn những biệt đãi hay can thiệp hành chính vào doanh nghiệp.     Thứ năm, minh bạch những biện pháp Nhà nước sẽ áp dụng để thực hiện chương trình cổ phần hóa, trong đó quan trọng nhất là: sửa đổi các qui định pháp lý và chính sách đang gây trở ngại hoặc có thể làm sai lệch cổ phần hóa; ban hành các qui định mới cần thiết; tạo thị trường cho việc mua bán doanh nghiệp và cổ phần ở các doanh nghiệp; cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp phát triển trên cơ sở cạnh tranh, bình đẳng; thay đổi hệ thống chính sách khuyến khích của Nhà nước áp dụng chung đối với doanh nghiệp mọi loại hình sở hữu theo hướng khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả sử dụng các nguồn lực… Đây chính là những điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành cổ phần hóa và bước ra hoạt động trên thị trường như các doanh nghiệp khác một cách thuận lợi.     Lẽ dĩ nhiên muốn chương trình cổ phần hóa thành công thì phải có quyết tâm chính trị thực sự từ lãnh đạo cấp cao nhất thấm xuống các tầng nấc có trách nhiệm, và phải tổ chức thực hiện nghiêm túc, khoa học, kỷ cương, rất rõ ràng về phân công và trách nhiệm của tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan. Minh bạch là yêu cầu đầu tiên và cũng là phương cách hữu hiệu để triển khai quá trình này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh Long: Đất, tay người và công nghệ cao      Không ai ngạc nhiên khi Minh Long giới thiệu dòng sản phẩm sử dụng công  nghệ nano để chống vi khuẩn. Cũng không ai bất ngờ khi Minh Long nhận  giải thưởng lớn Chất lượng Quốc tế Châu Á -Thái Bình Dương (Global  Performance Excellence Award – GPEA). Đơn giản, người trong giới đều  biết Minh Long là đơn vị đeo đuổi chuyện đổi mới công nghệ bền bỉ nhất  trong suốt mấy mươi năm qua.    Từ triết lý về công nghệ  Anh Guy Trompeter, giám đốc chương trình MBA tour, chuyên dẫn những đoàn nghiên cứu sinh của Mỹ sang Việt Nam tham quan học tập bày tỏ sự kinh ngạc đối với Minh Long: “Suốt 4 năm nay, lần nào chúng tôi đến nhà máy Minh Long cũng đều được dẫn đi từ bất ngờ này đến bất ngớ khác. Nhà máy tưởng chừng đã rất hoàn hảo nhưng mỗi năm ghé lại đều có những sự thay đổi lớn. Và hình như chưa bao giờ những chủ nhân ở đây hài lòng về mức độ cải tiến của sản phẩm. Tôi nghĩ họ là điển hình của việc theo đuổi đỉnh cao của công nghệ, và của cả nghệ thuật nữa”.   Trao đổi về việc này, ông Lý Ngọc Minh, TGĐ công ty Minh Long 1 cho hay: “Thật ra đổi mới công nghệ không có gì quá lớn và tuyệt nhiên không nên hiểu là thay đổi hoàn toàn các thiết bị máy móc. Thực ra đó là thay đổi cách tổ chức sắp xếp công việc, thu xếp lại quy trình cũng là đổi mới công nghệ. Tôi cho rằng đầu tư cho công nghệ là đầu tư hiệu quả và thông minh nhất. Cái khó trong việc đổi mới sáng tạo đối với doanh nghiệp là phải thuyết phục để đạt được sự đồng thuận và chia sẻ tâm huyết của mình đối với tương lai của doanh nghiệp. Chỉ khi nào đội ngũ cộng sự của bạn toàn tâm toàn ý thì mới đạt được thành công. Thời điểm thành công cũng chính là lúc phải thưởng xứng đáng cho đội ngũ”.  Cùng một quan điểm này, ông Lý Huy Sáng, Phó TGĐ Minh Long chia sẻ thêm: “Khẩu hiệu hành động của Minh Long 1 là Tinh hoa từ đất – Tinh xảo từ người. Nhưng làm thế nào để biến cái tinh xảo của bàn tay con người là điểm chốt chặn, còn tất cả các công việc khác thì máy móc, công nghệ có thể thay thế được, vậy mới tạo ra được sản luợng cao cùng chất luợng đồng nhất. Vì sao nhà máy Minh Long 1 luôn trong tình trạng nâng cấp, cải cách liên tục: vì chúng tôi tin rằng doanh nghiệp mình cũng giống như một cơ thể sống, phải luôn luôn phát triển, luôn luôn tái tạo năng lượng, thay đổi từng ngày để tốt hơn lên. Ngoài ra, chúng tôi muốn tự phát triển bằng năng lực của mình chứ không muốn dựa nhiều vào ngân hàng, do đó chúng tôi có kinh phí đến đâu thì đầu tư đến đó, liên tục và bền bỉ chứ không vay tiền làm ồ ạt…”.    Đến những ứng dụng thực tế  Chia sẻ chung một định hướng như thế, Minh Long 1 không ngừng nghỉ trong việc đưa những ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Không chỉ là những sản phẩm sứ gia dụng hàng đầu, thỉnh thoảng, Minh Long cũng đưa ra những sản phẩm thể hiện niềm kiêu hãnh của gốm sứ Việt Nam. Chẳng hạn, gần đây nhất là chiếc cúp mang chủ đề Hồn Việt, chiếc cúp phá kỷ lục với chiều cao 1 mét và nặng 39kg miêu tả những danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam như Vịnh Hạ Long, Chùa Một Cột, Hồ Gươm… Trên chiếc cúp cũng có những cảnh sinh hoạt cộng đồng như thiếu nữ đi lễ chùa, những em bé nhảy dây, những hình ảnh xe ngựa …, giúp cho người xem tìm về cội nguồn dân tộc và thấy cả mình trong đó. Ngoài ra, những cánh hoa sen cách điệu, những cành dương xỉ tượng trưng cho lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam cũng sẽ được những họa sĩ tài năng của công ty Minh Long I thể hiện trên các sản phẩm của mình.  “Các sản phẩm có kích thước lớn phải được tạo ra từ những công nghệ mang tính tự động hóa cao như công nghệ máy dập bột, máy đúc áp lực cao… Trước khi sản xuất các chuyên gia của công ty phải nghiên cứu kỹ về nguyên vật liệu, cách tạo dáng sản phẩm, nhiệt độ nung để làm sao khi sản phẩm hoàn thành phải không bị nứt, không bị nghiêng ngả. Điều đặc biệt là khi nung ở nhiệt độ cao thân đất phải hóa sứ phải trở nên mềm và có độ co rút cỡ 20%, kế đến là màu sắc và họa tiết phải làm sao có màu trông tươi thắm, đẹp mắt. Nhờ sử dụng phục chế màu xanh cobal (xanh Huế) trên nền men ngọc nên trông rất đẹp. Sản phẩm lại được nung ở nhiệt độ cao, do vậy cảnh trí rất đẹp trông có chiều sâu” – ông Lý Ngọc Minh chia sẻ.  Rõ ràng, trong mức độ nổi tiếng và tin dùng đới với sản phẩm của Minh Long, thì công nghệ chiếm phần quan trọng trong việc sản xuất sản phẩm.   Trước đây, nhiều người đã biết Minh Long I ứng dụng thành công Công nghệ Nano – tạo ra chất phụ gia cực nhỏ cỡ nanomet để phủ kính bề mặt men trên sản phẩm làm cho sản phẩm trở nên láng bóng, ít trầy xước, khó bám bẩn nên cũng chống lại vi khuẩn xâm nhập. Giờ thì công ty đã tạo công nghệ mới với mặt men và thân đất sản phẩm siêu cứng. Khách hàng có thể cảm nhận độ cứng của sản phẩm qua việc đóng được đinh 4 phân lên miếng gỗ bằng miệng thành của sản phẩm mà không để lại vết trầy men dù miệng sản phẩm men rất mỏng, chỉ dầy cỡ 2 ly.  Thế nhưng, mấu chốt của sự đổi mới liên tục về công nghệ lại nằm ở việc cố gắng “bản địa hóa” những máy móc mới nhất. Minh Long 1 luôn luôn có mặt ở triển lãm gốm sứ lớn nhất thế giới tại Franfurt – Đức để đảm bảo cập nhật tất cả xu hướng phát triển của ngành trên phạm vi toàn cầu. “Trước đây để có được khuôn đúc áp lực thì công ty phải nhập từ nước ngoài với giá từ 8.000-10.000 euro và mất khoảng thời gian từ 3-4 tháng (nhập công nghệ, lắp đặt, chạy thử…), khuôn dập bột nếu nhập từ nước ngoài phải tốn chi phí khỏang 25.000 – 28.000 euro. Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã đầu tư nhiều tỉ đồng, thu hút một số chuyên gia giỏi từng bước hình thành một cơ sở nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ mới. Do vậy đến nay Công ty Minh Long I đã chế tạo được sản phẩm thay thế các máy móc nhập ngoại với chi phí và nguyên vật liệu trong nước, giá thành chỉ vào khoảng chưa tới một nửa, cỡ 3.000-5.000 euro cho khuôn đúc áp lực và 5.000-8.000 euro với khuôn dập bột. Bên cạnh đó rút ngắn được thời gian lắp ráp, vận hành và chất lượng của các sản phẩm này hoàn toàn tương đương với hàng ngoại nhập. Từ đó rút ngắn được thời gian sản xuất sản phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng” – ông Minh nói về “cái lõi” công nghệ của Minh Long.     Kiên Chinh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh Long I khai trương showroom ở Hà Nội      Ngày 13/11, Công ty Minh Long I chính thức khai trương showroom tại số 3 – 5 Nguyễn Văn Linh, quận Long Biên, thủ đô Hà Nội.      Đây là showroom mới nhất trong chuỗi hệ thống showroom trên toàn quốc. Showroom có diện tích 4.500 m2 với riêng phần trưng bày và giới thiệu sản phẩm chiếm 2.200 m2.  Showroom này trưng bày và giới thiệu hơn 15.000 mẫu sản phẩm gốm sứ các loại: chén, bát, dĩa, bình trà, bình hoa, đồ lưu niệm bằng sứ, nữ trang bằng sứ, các sản phẩm chén bát chuyên dùng cho nhà hàng khách sạn, và khu bán những sản phẩm “ngoại lệ” phục vụ cho những người có nhu cầu sử dụng sản phẩm Minh Long I hàng ngày với giá thấp…   Sản phẩm được bố trí ở từng khu riêng biệt, những bộ bàn ăn, bình trà theo từng chủ đề được trưng bày bắt mắt với nhiều phong cách Á, Âu. Những sản phẩm quà tặng: bình hoa vẽ tay, đồ lưu niệm bằng sứ, nữ trang bằng sứ cũng rất đặc sắc, có tính thẩm mỹ cao, rất đa dạng về mẫu mã và phong cách rất riêng. Chính phong cách rất riêng ấy mà sản phẩm Minh long I đã nhiều năm chinh phục được khách hàng khó tính trong và ngoài nước. Tại showroom còn có khu “Tinh hoa” trưng bày các sản phẩm làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia.    Khách hàng tham quan, mua sắm tại showroom có thể tìm thấy mọi sản phẩm bằng sứ rất đa dạng phong phú, được phục vụ tận tình chu đáo bởi đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp, sẵn sàng tư vấn và giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng về cách sử dụng sản phẩm Minh Long I. Showroom Minh Long I là không gian mở, tạo điều kiện cho khách hàng và công ty có thể giao lưu, trao đổi về: cách sử dụng sản phẩm gốm sứ theo phong cách truyền thống, hiện đại, Á Đông, châu Âu… ,sử dụng sản phẩm gốm sứ nào cho món ăn gì, sắp đặt ra sao cho phù hợp các bữa ăn hàng ngày, tiệc, sinh nhật, buffet…  Showroom Minh Long I còn là điểm đến tham quan mua sắm thú vị của du khách nước ngoài khi đến Hà Nội. Ngoài việc giới thiệu sản phẩm và bán hàng, showroom này còn là nơi trung chuyển hàng hóa của công ty đến các hệ thống phân phối, đại lý, chợ bán lẻ… giúp các nhà phân phối, đại lý chủ động hơn trong việc cung cấp hàng hóa cho khách hàng.    Phát biểu tại buổi lễ khai trương ông Lý Ngọc Minh – Tổng giám đốc Công ty Minh Long I, nói: “Việc ra đời showroom tại Hà Nội là để Minh Long I mở rộng và phát triển hệ thống phân phối tại thị trường phía Bắc. Sản phẩm của Minh Long I trong nhiều năm qua đã khẳng định vị thế trên thị trường gốm sứ về mẫu mã, chất lượng không thua kém hàng ngoại nhập, thậm chí còn vượt trội hơn cả một số hàng ngoại nhập về độ bền, chắc, khó vỡ hơn một số loại chén bát trên thị trường. Trong đó dòng sản phẩm Ly’s Horeca đã khẳng định được vị thế vượt trội trên thị trường gốm sứ Việt Nam. Công ty chúng tôi luôn tuân thủ một chính sách bán hàng quy chuẩn dành cho mọi khách hàng – bất kể ở miền Nam hay miền Bắc đều được hưởng quyền lợi như nhau. Hệ thống giá, chính sách bán hàng và những ưu đãi được thông báo công khai, rộng rãi trên website công ty và trên toàn chuỗi hệ thống showroom khắp cả nước.”          Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh Long I: Luôn đổi mới để phát triển      20 năm trở lại đây, Minh Long I luôn là được xem là người dẫn đầu ngành gốm sứ của Việt Nam và được quốc tế biết đến bởi sản phẩm vừa mang nét độc đáo từ triết lý mỹ thuật phương Đông lại vừa tổng hòa kỹ thuật hiện đại của phương Tây. Chìa khóa cho sự thành công ấy chính là tầm nhìn định vị mình ở vị trí ngang hàng với các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành từ các cường quốc như Đức, Nhật và liên tục đổi mới công nghệ nhằm nâng tầm chất lượng sản phẩm, điển hình là thành công trong việc tạo ra đột phá công nghệ sản xuất gốm sứ một lần nung.    Cải tiến để sinh tồn    Theo ông Lý Huy Sáng, Phó Tổng giám đốc Công ty Gốm sứ Minh Long I, trong ngành gốm sứ truyền thống, để cho ra lò một sản phẩm hoàn chỉnh, phôi sản phẩm phải được nung hai lần. Lần một được nung trong khoảng nhiệt độ từ 800 – 900 độ C nhằm làm cứng sản phẩm và đốt cháy các tạp chất hữu cơ sinh ra trong quá trình pha trộn các thành phần nguyên liệu, gồm cao lanh, thạch anh và tràng thạch. Nếu không loại các tạp chất hữu cơ ngay trong lần nung đầu tiên thì khi áo lớp men chuyển qua lần nung hai ở nhiệt độ cao hơn, các tạp chất hữu cơ sẽ bị đốt cháy, nóng chảy, phá hỏng hoàn toàn lớp men hoặc làm lốm đốm, loang lổ lớp áo men khiến sản phẩm mất đi tính thẩm mỹ. Sau đó, sản phẩm trung gian này sẽ được lấy ra để phủ men và đưa vào nung lần thứ hai ở nhiệt độ cao hơn. Tùy công nghệ sử dụng, nhiệt độ có thể dao động từ 1.050 – 1.200 độ C hoặc từ 1.380 – 1.400 độ C. Nhiệt độ nung càng cao thì sản phẩm càng cứng, độ cứng của sản phẩm là một trong số các tiêu chí để đánh giá đẳng cấp của nhà sản xuất gốm sứ.    Việc phải nung hai lần như vậy dĩ nhiên làm tăng nhiên liệu sử dụng, tăng chi phí vận hành, chưa kể khoảng thời gian chờ 27 tiếng giữa hai lần nung cũng khiến hiệu quả sản xuất bị giảm đáng kể. Đứng trước vấn đề này, ngay từ đầu những năm 2000, Minh Long I đã luôn trăn trở tìm giải pháp để thay vì phải nung hai lần thì chỉ cần nung một lần, ông Sáng cho biết.     Việc nghiên cứu giải pháp được Minh Long tiến hành trong nhiều năm nhưng cho đến đầu năm 2011, kết quả vẫn chưa được như mong muốn, trong khi giá xăng dầu và giá gas tăng liên tục. Điều kiện khách quan này đã đặt Minh Long I vào thế khó khăn bởi khi chi phí sản xuất tăng, muốn giữ chất lượng sản phẩm thì phải tăng giá bán, hoặc giữ giá bán thì giảm chất lượng sản phẩm.     Cả hai tình huống này đều không phải là lựa chọn mà Minh Long I mong muốn. Vì vậy để thoát khỏi cái khó khăn tưởng chừng bế tắc, Công ty tiếp tục đầu tư mọi nguồn lực và ý chí vào cuộc tìm kiếm giải pháp nung sản phẩm một lần. Quyết tâm và nỗ lực của họ đã được đền đáp: Minh Long I đã thành công với công nghệ sản xuất gốm sứ một lần nung ngay trong năm 2011.             “Đột phá về công nghệ sản xuất gốm sứ một lần nung giúp chúng tôi tiết kiệm đến 30% chi phí dành cho nhiên liệu phục vụ quá trình nung sản phẩm. Chưa kể, chúng tôi còn loại bỏ được khoảng thời gian chờ giữa hai lần nung và giảm hệ thống lò nung xuống hai lần”.   Ông Lý Huy Sáng, Phó Tổng giám đốc Công ty Gốm sứ Minh Long I         “Đột phá này giúp chúng tôi tiết kiệm đến 30% chi phí dành cho nhiên liệu phục vụ quá trình nung sản phẩm. Chưa kể, chúng tôi còn loại bỏ được khoảng thời gian chờ giữa hai lần nung và giảm hệ thống lò nung xuống hai lần,” ông Sáng chia sẻ và nói thêm chính nhờ chi phí sản xuất giảm đáng kể mà Minh Long I đã vượt qua khó khăn giá xăng dầu tăng trong năm 2011.    Vậy bí quyết trong câu chuyện này là gì? Theo ông Sáng, mấu chốt của câu chuyện nằm ở chỗ làm sao loại bỏ được tạp chất hữu cơ ngay từ khi hoàn thành phôi sản phẩm để có thể đưa phôi, với lớp men được phủ lên, vào nung một lần liên tục. Nhưng giải bài toán này không hề dễ bởi như ông Sáng cho biết, ngành gốm sứ là một ngành rất đặc thù, thông tin công ty nào thì công ty đó biết chứ không có công thức chung, không có chia sẻ về những kinh nghiệm đúc rút.     Do vậy, để thành công, Minh Long I gần như phải thử và sai, trả giá cho những thử nghiệm ròng rã trong suốt 10 năm bằng thời gian, tiền bạc và công sức của cả đội ngũ nghiên cứu. Nói như ông Sáng, cái thử rất đa dạng, bắt đầu từ kích thước hạt cao lanh, thạch anh, tràng thạch; rồi cái thử bắt đầu từ việc pha chế tỷ lệ giữa các thành phần…     Ai làm khoa học đều hiểu để giải một bài toán gồm rất nhiều biến số, đôi khi chỉ thử, sai và trông chờ ở may mắn. Nhưng chắc chắn trong nghiên cứu, may mắn sẽ không đến với những ai không cố gắng.    Đưa robot vào dây chuyền tạo dáng sản phẩm    Xưa nay, việc tạo dáng cho sản phẩm gốm sứ được những người thợ thủ công lành nghề làm trên các bàn quay. Tuy nhiên, đó đã là chuyện của ngày hôm qua. Khi sản xuất những sản phẩm cao cấp, khách hàng luôn chú trọng sự đồng nhất của sản phẩm. Hãy thử hình dung hai cái chén trong một bàn tiệc cao cấp khi úp vào nhau lại bị vênh, dù chỉ chưa đến 1 mm, nhưng vẫn là điều khó có thể chấp nhận.    Do vậy, mặc dù giá nhân công ở Việt Nam không đắt, cách đây sáu năm, Minh Long I đã đưa bảy robot, mỗi con được nhập về với giá tối thiểu 40.000 Euro, vào bảy dây chuyền tạo dáng sản phẩm trong chuỗi sản xuất của mình.     Trao đổi vui bên trong phòng khách của Công ty, ông Sáng chia sẻ, ngoài ưu điểm tạo ra sản phẩm có độ chính xác cao, các robot không bao giờ đòi tăng lương; có thể tăng ca vô tư mà không sợ mệt mỏi; không làm việc theo cảm xúc và không bị cảm xúc tác động đến chất lượng công việc; chỉ cần lập trình một lần mà không cần phải đào tạo lại; có thể hoạt động 24/24 thông qua hai nút tắt và mở. Đặc biệt, khi không có đơn hàng, công ty có thể cho robot nghỉ ngơi và đương nhiên không tốn chi phí.     Việc sử dụng robot rõ ràng đưa đến những hiệu quả thấy liền như trên. Nhưng nếu xét trên lợi ích kinh tế thì sao? Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi này nhưng ông Sáng cho biết, một con robot có khả năng làm việc bằng 20 nhân công bình thường. Ngoài ra, việc sử dụng robot cũng là một bước đệm để công ty chuyển mình theo hướng tự động hóa quy trình sản xuất.  Ứng dụng công nghệ nano    Vào tháng 10-2013, Công ty Minh Long I tung ra thị trường dòng sản phẩm cao cấp Ly’s Horeca dùng trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn với ứng dụng công nghệ nano giúp mặt ly trắng, bóng, mịn và dễ dàng tẩy rửa sau sử dụng. Đằng sau ánh hào quang này là tám năm mày mò của đội ngũ nghiên cứu và phát triển của Công ty. Ông Sáng cho biết, từ năm 2005, công nghệ nano đã được đề cập với những ứng dụng ưu việt trong ngành điện tử, y sinh và vật liệu nhưng chưa thấy ai nói đến ứng dụng nano trong ngành gốm sứ, vậy là chúng tôi quyết định nghiên cứu để tận dụng tính ưu việt của công nghệ này.    Về lý thuyết, có lẽ không khó để biết rằng khi kích thước vật liệu giảm xuống cỡ nano (1 nano mét = 10-9 mét) thì tính chất vật liệu thay đổi hoàn toàn. Tuy nhiên phải tận mắt chứng kiến các mẻ sản phẩm của mình khi ra lò bị hỏng liên tục khi ứng dụng công nghệ nano vào sản xuất, chúng tôi mới thật sự thấm lý thuyết này. Sản phẩm được làm từ ba nguyên liệu chính là thạch anh, tràng thạch và cao lanh theo tỷ lệ mà chúng tôi sử dụng bấy lâu nay nhưng khi đưa kích cỡ hạt xuống thước đo nano, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn. Do vậy, Minh Long I lại tiếp tục quá trình thử và sai, ông Sáng nhớ lại.    Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả những điều thú vị. Khi ở kích thước nano, hình dáng của hạt sẽ ảnh hưởng đến diện tích bề mặt của hạt, qua đó ảnh hưởng rất lớn đến tính chất của vật liệu. Từ chính những trải nghiệm trong quá trình nghiên cứu, Minh Long nhận ra, việc đưa hạt về kích thước nano vẫn chưa đủ. Quan trọng là dùng công nghệ nào, dùng sóng siêu âm, dùng va đập, hay dùng phương pháp mài mòn để tạo hạt nano phù hợp với tính chất mà mình mong muốn.     “Trong ngành gốm sứ, chẳng có thành quả nào đến một cách nhanh chóng cả. Nhưng những thành quả đạt được, ngoài lợi ích kinh tế mang lại, còn có giá trị tinh thần to lớn động viên Minh Long I tiếp tục quá trình nâng cấp, cải tiến liên tục để phát triển và thay đổi từng ngày”, ông Sáng chia sẻ kinh nghiệm của mình sau nhiều năm theo nghề.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Misfit Shine được đầu tư 15,2 triệu USD      Với thiết bị theo dõi hoạt động được gọi là  Misfit Shine, công ty khởi nghiệp Misfit Wearables đã nhận được 15.2  triệu USD từ Horizons Ventures của Li Ka-Shing. Với khoản tiền đầu tư  này, Misfit Wearables đã sẵn sàng bước vào giai đoạn tăng trưởng mới.    Jason Wong, giám đốc của Horizons Ventures tại Hồng Kông sẽ tham gia hội đồng quản trị cùng với các nhà đầu tư hiện tại của Misfit, trong đó có Founders Fund, Khosla Ventures, Norwest Venture Partners, O’Reilly AlphaTech Ventures, đồng sáng lập Paypal Max Levchin và incTANK cũng đã tham gia và đầu tư toàn bộ cho Misfit trong giai đoạn này.  Misfit đã giới thiệu thiết bị Shine đầu năm nay, đó là một thiết bị theo dõi hoạt động của cơ thể với kích cỡ nhỏ. Nó tính điểm cho người dùng khi chạy, đi bộ và bơi cùng các hoạt động khác. Khác với các thiết bị theo dõi hoạt động được đeo ở cổ tay, Shine có thể được đeo ở bất cứ đâu. Người dùng có thể sử dụng Shine như một cái cài trên áo hay giày, hoặc có thể đeo như vòng cổ. Thiết kế này đã tạo hiệu quả bất ngờ đối với các khách hàng nữ.     Như các sản phẩm khác trên thị trường như Jawbone, Shine sẽ gửi qua ứng dụng di động các thông số biểu đồ hoạt động hàng ngày. Bạn có thể đặt Shine lên trên smartphone và dữ liệu sẽ được đồng nhất với thiết bị này.     Misfit Wearable vẫn chưa chia sẻ những thống kê bán hàng chi tiết ngoại trừ việc tiết lộ họ đã  giao ‘trăm nghìn’ sản phẩm tới hơn 20 quốc gia trong những tháng trước. Misfit Shine cũng đã ghi điểm qua các giao dịch mua bán lớn với các nhà bán lẻ như Apple, Best Buy và Target, qua đó Shine cũng có thể tăng lượng sản phẩm được mua online qua website của các đối tác.  CEO Sonny Vu nói rằng Shine là sản phẩm đầu tiên được đưa ra thị trường, và trong tương lai, những thiết bị công nghệ có thể mặc được sẽ được Misfit Wearable đưa ra thị trường.  Theo Techcrunch      Author                Quản trị        
__label__tiasang MIT đầu tư 350 triệu USD cho khoa học máy tính      350 triệu USD do ngân hàng đầu tư Stephen Schwarzman trao tặng sẽ cho phép Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge “thiết kế lại” cách giảng dạy trong ngành khoa học máy tính.      Học viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge sẽ sớm có thêm một trường đại học khoa học máy tính mới. Nguồn ảnh: Sciencemag.  MIT sẽ dùng kinh phí này xây một trường máy tính mang tên nhà tài trợ, đồng thời chi trả tiền lương cho 50 giảng viên mới. “Khoảng 40% sinh viên hiện tại của chúng tôi theo học chuyên ngành khoa học máy tính hoặc khoa học máy tính kèm theo một chuyên ngành khác”, Provost Martin Schmidt, giáo sư tại MIT, nói. Hiện số lượng giảng viên ngành khoa học máy tính chỉ chiếm 10% trong số 1000 giảng viên của trường, do đó “việc họ phải dạy 40% sinh viên đã tạo ra sự mất cân bằng rất lớn,” Schmidt nói.  Ngành máy tính hiện là một phần của Khoa Kỹ thuật điện và Khoa học máy tính trong Trường Kỹ thuật của MIT. Đây là trường lớn nhất trong số năm trường của MIT, thu hút tới 70% sinh viên đại học và 45% sinh viên sau đại học.  “Việc để ngành Khoa học máy tính cùng chung với khoa với ngành Kỹ thuật điện đã không còn hợp lý”, Michael Stonebraker – một trong bảy giảng viên điện toán của MIT, cho biết. Năm ngoái ông đã viết một bức thư ngỏ yêu cầu MIT xem xét việc lập ra một trường về khoa học máy tính riêng biệt. Theo quan điểm của ông, chuyên ngành khoa học máy tính đã được dạy khắp nhiều khoa “một cách lộn xộn”, do đó đây là một “cách tiếp cận phân tán, không hiệu quả” và làm giảm sút chất lượng giảng dạy.  Trường mới không chỉ giải quyết những vấn đề đó mà còn góp phần tạo ra “mối liên kết với tất cả các ngành trong khuôn viên trường”, Schmidt nhận định. Điều này sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các kỹ năng của sinh viên trong các ngành khoa học xã hội. Ông cũng lưu ý thêm, ngay cả số sinh viên chuyên ngành khoa học máy tính và kinh tế cũng đã tăng gấp ba kể từ khi ngành này được MIT xây dựng cách đây 2 năm.  Một nửa số giảng viên mới sẽ đi giảng dạy tại trường mới, số còn lại sẽ được đưa vào các bộ phận khác của trường MIT. Những mối liên kết mới được bổ sung này sẽ giúp MIT thu hút và giữ chân những tài năng hàng đầu dễ dàng hơn. Schmidt nói: “Ngay bây giờ, nếu chúng ta muốn tuyển một nhà ngôn ngữ học tính toán thì cũng thật khó để biết được bộ phận nào của trường cần họ và khó xem xét đề cử họ vào các vị trí cố định hoặc cao hơn”.  Trong các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của Hoa Kỳ, tình trạng tổ chức của khoa Khoa học máy tính đều hết sức khác nhau. Hiện Viện Công nghệ Georgia ở Atlanta và trường Đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh, Pennsylvania, đã có trường Khoa học máy tính riêng còn với trường Đại học Stanford ở Palo Alto, California và trường Đại học California, Berkeley thì Khoa học máy tính được xếp vào Khoa Kỹ thuật điện – khoa học máy tính.  Để chuẩn bị cho trường học mới sẽ mở cửa vào mùa thu tới, MIT cũng sẽ tuyển một hiệu trưởng trường mới. Quá trình xây dựng trường vẫn chưa bắt đầu nhưng tòa nhà mới dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2022.  Sự đóng góp của ngân hàng đầu tư Stephen Schwarzman là một phần của cam kết trị giá 1 tỷ USD cho Khoa học máy tính và AI. Một khoản 300 triệu USD khác cho các hoạt động của Khoa học máy tính cũng được cam kết như một phần của một chiến dịch tài chính khởi động vào tháng 5/2016 mang tên “MIT Campaign for a Better World” nhằm huy động đóng góp của các cựu sinh viên, nhà tài trợ. Sau hai năm phát động, chiến dịch này đã đạt 4,3 trong mục tiêu 5 tỷ USD.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/10/mit-use-350-million-gift-bolster-computer-sciences       Author                Quản trị        
__label__tiasang MIT lập kỉ lục mới về áp suất plasma      Các nhà khoa học ở Viện công nghệ Massachussetts (MIT) vừa tạo ra áp suất plasma lớn nhất từng được ghi nhận với lò phản ứng Alcator C-Mod, mang lại bước đột phá cho công nghệ năng lượng sạch.      Bên trong lò phản ứng Alcator C-Mod của Viện công nghệ Massachussets (MIT), nơi phá vỡ kỉ lục áp suất plasma của thiết bị  tổng hợp hạt nhân từ tính. Ảnh: MIT.  Nhóm nghiên cứu tại Viện công nghệ Massachussetts (MIT) đã tạo ra áp suất plasma lớn nhất từng được ghi nhận, bằng cách sử dụng lò phản ứng nhiệt hạch hạt nhân tokamak Alcator C-Mod ở đây. Áp suất cao và nhiệt độ cực lớn là những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc tổng hợp các nguyên tử để giải phóng một lượng năng lượng lớn.  Năng lượng của Mặt trời được tạo ra bởi phản ứng nhiệt hạch hạt nhân và từ lâu, nhiệt hạch hạt nhân cũng được coi là giải pháp cuối cùng để cung cấp năng lượng cho thế giới đồng thời ngăn chặn được biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, như những người hồ nghi về nhiệt hạch hạt nhân thường nói từ nhiều năm nay, hiện thực này phải mất một-hai thập kỷ nữa mới đạt được.  Giờ đây, các nhà khoa học tại MIT đã tăng được áp suất plasma kỉ lục lên hơn hai đơn vị atmospheres, tức 16% so với kỉ lục được lập trước đó vào năm 2005, ở mức 35 triệu độ C và kéo dài trong hai giây. Bước đột phá này đã được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh về nhiệt hạch của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA tại Nhật Bản hôm thứ Hai, 17/10/2016.  Nhiệt hạch thành công có nghĩa là thu được nhiều năng lượng hơn năng lượng đầu vào, và điều này đòi hỏi sự kết hợp áp suất, nhiệt độ và thời gian để vượt qua một trị số tới hạn mà tại điểm đó phản ứng trở nên tự duy trì được. Điều này vẫn còn khá khó thực hiện nhưng kỉ lục của MIT cho thấy rằng việc sử dụng từ trường cao để giam giữ khối plasma có thể là hướng đi hứa hẹn nhất cho các lò phản ứng nhiệt hạch hạt nhân trên thực tế.  Theo ông Dale Meade, cựu phó giám đốc Phòng thí nghiệm Vật lí Plasma Princeton thì, “Đây là một thành tựu đáng ghi nhận. Áp suất plasma kỉ lục này xác nhận phương pháp từ tính cao là một con đường hấp dẫn đối với năng lượng nhiệt hạch trên thực tế.”  Theo Giáo sư Riccardo Betti tại Đại học Rochester, New York, thì “Kết quả này khẳng định rằng áp suất cao cần thiết cho việc nung nóng plasma có thể đạt được kết quả tốt nhất với lò tokamak có từ trường cao như Alcator C-Mod”.  Tuy nhiên, kỉ lục thế giới này đạt được vào ngày cuối cùng vận hành lò tokamak của MIT, do nguồn tài trợ từ Bộ Năng lượng Mĩ hiện đã kết thúc. Mĩ, cùng với Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga và Nhật Bản giờ đây đang chuyển hướng nguồn đầu tư cho nhiệt hạch của mình vào Dự án Lò phản ứng Thí nghiệm Nhiệt hạt nhân Quốc tế (ITER).  Lò tokamak khổng lồ cao bảy tầng này đang được xây ở miền nam nước Pháp, với các tấm nam châm nặng tương đương với máy bay Boeing 747. Thể tích thiết bị tokamak [thiết bị tạo ra từ trường hình xuyến để giam plasma bên trong] của dự án ITER sẽ lớn hơn 800 lần so với thùng lò phản ứng của MIT. ITER dự kiến được hoàn thành trong 15 đến 20 năm tới và đặt mục tiêu cung cấp 500 MW điện, tương đương với những lò phản ứng phân hạch lớn hiện nay. Nhưng dự án này đang bị chậm tiến độ.  Trong khi đó, có rất nhiều công ty tư nhân hi vọng phát triển những lò phản ứng nhiệt hạch quy mô nhỏ. Có thể kể đến Tokamak Energy, một sản phẩm của phòng thí nghiệm nhiệt hạch quốc gia của Anh, trong đó sử dụng những chất siêu dẫn chịu được nhiệt độ cao để tạo ra từ trường giam giữ plasma nhiệt hạch bên trong. Thiết bị tokamak của MIT thì sử dụng các tấm nam châm bằng đồng, tốn điện hơn.  Theo Tiến sĩ David Kingham, Giám đốc điều hành của Tokamak Energy, khía cạnh quan trọng của kỉ lục thế giới mà MIT thiết lập là nó cho thấy có thể tạo ra những điều kiện cực trị trong những thiết bị tokamak nhỏ; thể tích của thiết bị tokamak của MIT chỉ có một mét khối. “Quan điểm truyền thống thì cho rằng thiết bị tokamak phải lớn [như của ITER] thì mới mạnh. Những người ở MIT không đồng ý với quan điểm đó, chúng tôi cũng vậy”, ông nói. Mục tiêu của Kingham là những lò phản ứng nhỏ gọn của công ty ông sản xuất được dòng điện đầu tiên vào năm 2025.  Ngay cả những công ty đối thủ cũng ủng hộ lò phản ứng nhiệt hạch nhỏ, trong đó có nhóm Skunk Works nổi tiếng của Lockheed Martin. Năm 2014, họ nói sẽ xây một nhà máy nhiệt hạch có kích cỡ bằng một chiếc xe tải trong một thập niên tới, nhưng họ bị chỉ trích vì cung cấp quá ít chi tiết.  Những công ty khác trong lĩnh vực nhiệt hạch hạt nhân có Tri Alpha Energy, công ty khai thác công nghệ gia tốc hạt và được Paul Allen, nhà đồng sáng lập Microsoft, ủng hộ. General Fusion, công ty sử dụng một cuộn xoáy chì nóng chảy để giam khối plasma, thì được Jeff Bezos của Amazon ủng hộ. Helion Energy, First Light Fusion và  Dynomak của Đại học Washington cũng theo đuổi giấc mơ nhiệt hạch.  Theo Giáo sư Dennis Whyte, Giám đốc Trung tâm Nhiệt hạch và Khoa học Plasma của MIT, ngay cả những những tiếp cận hẹp hơn, không sử dụng thiết bị tokamak, dù kém phổ biến hơn vẫn có thể hứa hẹn. “Những thiết bị tokamak nhỏ gọn, từ tính cao đang mang lại cơ hội đầy hứng khởi cho việc thúc đẩy phát triển năng lượng nhiệt hạch, để có thể kịp thời tạo ra thay đổi đối với những vấn đề như biến đổi khí hậu và tương lai của năng lượng sạch, những mục tiêu mà tôi nghĩ tất cả chúng ta cùng hướng tới”, ông nói.  Vũ Thanh Nhàn lược dịch  Theo https://www.theguardian.com/environment/2016/oct/17/mit-nuclear-fusion-record-marks-latest-step-towards-unlimited-clean-energy    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang MIT tạo hệ thống mô phỏng huấn luyện xe không người lái      Một hệ thống do MIT phát triển có thể huấn luyện xe không người lái trong một thế giới mô phỏng với vô hạn các khả năng điều khiển xe, qua đó giúp những chiếc xe học cách điều hướng và xử lý các tình huống xấu trước khi chạy thật trên đường.      Một hệ thống mô phỏng được phát minh tại MIT tạo ra một thế giới mô phỏng với vô hạn khả năng điều khiển, giúp những chiếc xe học cách điều hướng trong một loạt các tình huống xấu.  Các hệ thống điều khiển, hay còn gọi là “bộ điều khiển”, cho các phương tiện tự động chủ yếu dựa vào các bộ dữ liệu trong thế giới thực về quỹ đạo lái xe từ người lái xe. Từ những dữ liệu này, chúng bắt chước cách điều khiển xe an toàn trong nhiều tình huống khác nhau. Nhưng có rất ít dữ liệu trong thế giới thực về các trường hợp cận kề nguy hiểm, chẳng hạn như xe suýt va chạm hoặc bị ép ra khỏi làn đường.  Các nhà nghiên cứu MIT tạo ra bộ mô phỏng ảnh thực tế có tên Tổng hợp và chuyển đổi hình ảnh ảo cho tự động hóa (VISTA). Hệ thống chỉ sử dụng một bộ dữ liệu nhỏ, như khung cảnh được ghi lại bởi những người lái xe trên đường, rồi từ đó tổng hợp ra vô hạn các góc nhìn trong khung cảnh đó từ các quỹ đạo mà xe có thể thực hiện trong thế giới thực.   Nhờ có rất nhiều các quỹ đạo và tình huống khác nhau, bộ điều khiển học cách điều hướng an toàn trong mọi tình huống mà nó gặp phải, bao gồm quay trở lại đúng làn sau khi phải di chuyển giữa các làn đường hoặc lấy lại quỹ đạo sau các tình huống “cận kề nguy hiểm”.  Trong các thử nghiệm thực, bộ điều khiển vận hành an toàn trong trình giả lập VISTA có thể vận hành an toàn một chiếc xe không người lái và tự đi qua các đường phố mà nó chưa từng thấy trước đây. Khi đặt xe ở những hướng ngoài làn đường, bắt chước nhiều tình huống suýt va chạm khác nhau, bộ điều khiển có thể đưa xe trở lại quỹ đạo an toàn trong vài giây. Một bài viết mô tả hệ thống này đã được xuất bản trong IEEE Robotics and Automation Letters và sẽ được trình bày tại hội nghị ICRA sắp diễn ra vào tháng 5.  Mô phỏng dựa trên dữ liệu  Các nhà nghiên cứu MIT đã tạo ra công cụ mô phỏng “dựa trên dữ liệu”. Dựa trên dữ liệu thực, hệ thống này tạo ra các quỹ đạo/ vị trí xe mới phù hợp với khung cảnh, cũng như khoảng cách và chuyển động của tất cả các vật thể trong cảnh.  Đầu tiên, họ thu thập dữ liệu video quay một vài con đường từ một người lái xe, và đưa dữ liệu đó vào hệ thống. Đối với mỗi khung hình, hệ thống sẽ chiếu mọi pixel thành một loại đám mây điểm 3 chiều (một tập hợp các điểm dữ liệu trong không gian). Sau đó, họ đặt một chiếc xe ảo bên trong thế giới đó. Khi xe ảo thực hiện lệnh lái, hệ thống sẽ tổng hợp ra một quỹ đạo mới thông qua đám mây điểm dựa trên đường cong lái, hướng và vận tốc của xe.  Hệ thống tạo ra một góc nhìn mới, như thật, trong khung cảnh. Để làm như vậy nó sử dụng một mạng nơ ron tích chập, thường được sử dụng cho các tác vụ xử lý ảnh, để ước tính bản đồ độ sâu, chứa thông tin liên quan đến khoảng cách của các đối tượng từ góc nhìn của bộ điều khiển. Tiếp theo, nó kết hợp bản đồ độ sâu với ước tính hướng của camera trong cảnh 3 chiều. Tất cả giúp xác định vị trí của xe và khoảng cách tương đối với mọi thứ trong trình giả lập ảo.  Dựa trên thông tin đó, nó định hướng lại các pixel gốc để tạo lại hình ảnh 3 chiều của khung cảnh theo góc nhìn mới của phương tiện. Nó cũng theo dõi chuyển động của các pixel để ghi lại chuyển động của ô tô và con người, và các vật thể chuyển động khác trong cảnh. “Điều này tương đương với việc cung cấp cho chiếc xe một số lượng vô hạn quỹ đạo”, Rus nói. “Khi thu thập dữ liệu, chỉ nhận được dữ liệu từ quỹ đạo cụ thể mà một lái xe đã đi. Nhưng chúng tôi có thể dựa trên quỹ đạo đó để tạo ra vô số các cách và môi trường lái xe tiềm năng. Điều này thực sự hiệu quả”. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-03-driverless-cars-simulation-road.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở cánh cửa bước vào tiệm ăn Pompeii cổ đại      Chúng ta có thể tưởng tượng ra khung cảnh và cách thức mà những người Pompeii thời La Mã cổ đại thưởng thức bữa ăn hằng ngày? Hãy để các nhà khảo cổ giúp chúng ta.      Một thermopolium – dạng quầy ăn cổ đại dưới thời La Mã hình chữ L. Nguồn: pompeiitaly  Một trong những nguồn tư liệu quan trọng để các học giả ngày nay nghiên cứu về Pompeii, vùng đất bị tro bụi núi lửa Vesuvius chôn vùi vào thế kỷ thứ hai, là các bức thư và ghi chép của nhà văn, thẩm phán Gaius Plinius Caecilius Secundus, hay còn gọi là Pliny Trẻ. Ông viết hàng trăm bức thư, trong số đó chỉ còn 247 bức còn tồn tại đến ngày nay và đều có giá trị vô giá về lịch sử. Trong thế kỷ thứ hai, Pliny đã viết hai bức thư gửi bạn mình là Publius Cornelius Tacitus, một sử gia, pháp quan La Mã nổi tiếng với các cuốn Annals (Annales), Histories (Historiae), trong đó miêu tả sự phun trào của núi lửa Vesuvius trong những giai đoạn đầu đúng 25 năm sau khi sự kiện đau thương này xảy ra. Tacitus muốn biết thêm nhiều thông tin hơn về cái chết của Pliny Già (Gaius Plinius Secundus), một nhà văn, nhà triết học La Mã, một vị tướng hải quân của Đế chế La Mã giai đoạn đầu và là bạn của hoàng đế Titus Flavius Vespasianus. Theo lời kể của Pliny Trẻ, thì Pliny Già đã bắt đầu chuẩn bị cứu những người dân Pompeii khỏi tình thế hiểm nguy bên vịnh Naples. Ông ra lệnh đưa những con thuyền chiến galley băng qua vịnh để tới Stabiae (nơi ngày nay gần thị trấn Castellammare di Stabia của thành phố Naples, vùng Campania). Pliny Trẻ cho rằng, cậu mình chết vì một cú ngã và hít phải khí độc phát ra từ núi lửa.    Vượt ra ngoài khuôn khổ trao đổi thông tin cá nhân, hai bức thư này mang giá trị vô giá với các miêu tả chính xác sự phun trào của núi lửa Vesuvius. Những chi tiết về Vesuvius do Pliny Trẻ cung cấp đã được các nhà núi lửa học hiện đại xếp vào danh mục các dạng phun trào núi lửa với tên gọi “những phun trào kiểu Pliny”. Vậy Pliny Trẻ cung cấp cho sử gia Tacitus những gì? Từ dinh thự của mình ở Misenum (ngày nay là Miseno) ở bên kia vịnh Naples, ông nhớ là nhìn thấy một đám mây màu đen có hình dạng như một tán cây thông, bao phủ cả bầu trời phía trên những ngọn núi nằm ở rìa phía Bắc đồng bằng sông Sarno. Những gì xảy ra tiếp theo là điều mà không cư dân nào ở vùng này chờ đợi…      Tuy có sự khác biệt đáng kể giữa món ăn của một dân thượng lưu và những người Pompeii nghèo khó nhưng rõ ràng, món vịt hầm phổ biến vào thời kỳ đó.      Một ngày sau khi Pliny quan sát đám mây đen, một hiệu ăn nhỏ ở phía Đông Bắc Pompeii, bên cạnh một quảng trường với đài phun nước, đã đổ sụp cùng với toàn bộ phần còn lại của thị trấn, dưới sức nặng của đá bọt núi lửa và tro bụi. Nó là hậu quả của sự phun trào khí nóng, các mảnh vụn, tro thành những lớp đá vụn núi lửa chuyển động  rất nhanh. Những người sống ở Pompeii và Herculaneum đã chết ngay lập tức bởi những cơn sóng nhiệt khủng khiếp, ước tính có nhiệt độ lên cao tới 9000 F. Chủ quán trọ ở độ tuổi 50 này là một trong những người khốn khổ của Pompeii. Ông ta còn không thể rời khỏi căn phòng và chết ngay trên chiếc giường nơi mình đặt lưng, cùng với một con chó và một người đàn ông khác (các nhà khảo cổ nghi ngờ nhân vật này là một kẻ trộm).    Những gì xảy ra ở quán ăn này là một lát cắt quan trọng để các nhà khảo cổ học và sử học bước vào đời sống thường nhật của người Pompeii bình dân cổ đại.     Khẩu vị người Pompeii bình dân     Vào tháng 12/2020, tại Công viên Khảo cổ Pompeii, các nhà khảo cổ loan báo là họ đã tìm thấy những gì còn lại của hai người đàn ông và một con chó khi họ khai quật một thermopolium – dạng quầy ăn cổ đại dưới thời La Mã hình chữ L theo kiểu giống hệt như các quầy bar hiện nay, với những cái hốc rộng đủ để đặt các bình gốm dolia sâu lòng, bên trong đựng các loại thức ăn nóng. Cái quầy này được bảo quản vô cùng tốt dưới lớp tro với các dolia và hình vẽ còn nguyên vẹn, trên đó là một trong số những bức tranh tường mới được khám phá trong những năm gần đây ở Pompeii.      Hoàng đế Claudius từng ra lệnh đóng cửa thermopolium, nơi người dân thường tụ tập và chè chén. Nguồn: pompeiitaly    Cái quầy hàng thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ bởi nó được trang hoàng bằng những bức bích họa miêu tả những cảnh sống hằng ngày của vùng này, những cái bình và những đồ làm bếp, hình ảnh người mang đồ ăn, xen lẫn chân dung một nàng nymph Hi Lạp (tiên cá) con của thần biển Nereid cưỡi một con ngựa biển, những con vịt trời, một con gà, một con chó. Khi làm sạch quầy bar một lần nữa, người ta tìm thấy amphorae – những chiếc bình gốm miệng nhỏ có quai xách, vốn được làm ở địa phương và chứa đầy rượu nho Hi Lạp nhập khẩu.    Quầy bar này được khai quật lần đầu vào năm 2019. Nó là một trong số 80 thermopolia được khai quật ở Pompeii nhưng “khả năng có thể dành cho nghiên cứu của nó là ngoại lệ bởi lần đầu tiên, một khu vực kiểu này được khai quật toàn bộ”, Massimo Osanna, Tổng giám đốc Công viên Khảo cổ Pompei, cho biết. “những di vật này đã được nghiên cứu từ mọi góc độ có thể của một nhóm nghiên cứu chuyên ngành với những chuyên gia ở nhiều lĩnh vực như nhân học hình thể, khảo cổ, cổ thực vật học, cổ sinh vật học, địa chất học và núi lửa học. Chúng đem lại những thông tin khác thường, giúp chúng ta hiểu về những gì được bán và những gì được ăn trong quầy bar”.    Farrell Monaco, một nhà khảo cổ chuyên nghiên cứu về những thực hành văn hóa, xã hội và kinh tế liên quan đến thực phẩm (foodways) cũng như những bức bích họa liên quan đến thực phẩm của người La Mã Địa Trung Hải, tham gia vào nhóm nghiên cứu liên ngành này. Chị nhận thấy những hiện vật còn lại trong quán trọ cũng như những thông tin trích xuất từ chúng tỏa rạng ánh sáng về cuộc sống thường ngày của phần đông xã hội Pompeii, vốn vẫn còn ít ỏi trong những nguồn tư liệu cổ: những người La Mã tầng lớp dưới, nô lệ. Chị viết trên atlasobscura.com “Các không gian như quầy bar này đem lại cho các nhà khảo cổ học như tôi một chân dung đích thực về văn hóa ẩm thực La Mã trong sự so sánh với những kiểu văn hóa ẩm thực La Mã khác trong những nguồn tư liệu mang tính châm biếm như ‘Trimalchio’s Banquet’ của Petronius hay được lưu tại trên những bức bích họa fresco được trang hoàng trên các bức tường phòng ăn ở dinh thự xa hoa Vettii, một domus giữ nguyên được vẻ tráng lệ theo thời gian” – các học giả cho rằng chủ nhân của nó là hai nô lệ được giải phóng Aulus Vettius Conviva và Aulus Vettius Restitutus.      Các nhà khảo cổ khám phá rằng nhiều gia đình quyền quý thường tổ chức những bữa tiệc linh đình kéo dài cả tuần để mời bạn bè hoặc mở rộng quan hệ công việc. Các bữa tiệc như thế thường được tổ chức trong những căn phòng ăn rộng lớn với những chiếc giường đủ rộng để bọn họ có thể đặt lưng trên đó cho thoải mái trong những bữa tiệc xa hoa kéo dài. Không như người giàu, người bình dân Pompeii thường ra ngoài ăn, ngay cả vào buổi tối, giống như cách nhiều người ở thành phố lớn ở khắp mọi nơi trên thế giới thường làm.      Chính quầy bar này mời các nhà nghiên cứu bước vào một môi trường khảo cổ với chỉ dấu về nơi những người Pompeii bình dân hằng ngày thưởng thức những miếng thịt được nấu nướng ngon lành. Để tái tạo một phần ăn gần với những gì từng được phục vụ tại đây, người ta chỉ có thể bắt đầu với việc nhìn vào những di vật tìm thấy ở quán trọ này, bao gồm những hình ảnh trong bích họa ở quầy phục vụ và trong các bình gốm và nồi đất nung. Các dolium được gắn vào quầy chứa xương vịt, lợn, dê, cá cũng như vỏ ốc cạn (land snails). Những mảnh xương vịt tương ứng với bức bích họa hai con vịt trời vẽ trên mặt trước của quầy, có lẽ như một dạng thực đơn bằng tranh dành cho những thực khách – phần lớn là mù chữ vào thời điểm đó. Chiara Corbino, một nhà cổ sinh vật học, nói với New York Times là hai cái nồi đất nung đựng cá và thịt lợn đặt cạnh một cái nồi khác chứa ốc cạn, cá và dê, có lẽ là những dạng xúp hoặc món hầm. Điều này cho thấy những người Pompeii vào thế kỷ thứ nhất thường ăn các món hầm, bên cạnh là một vài đĩa xúp rau loãng Apician patinae – món này thường được nấu bằng rau mùi, húng, nước mắm (liquamen) và dầu ăn.    Farrell Monaco cho rằng, các mẩu xương được tìm thấy có thể là được dùng để ninh lấy nước dùng chứ không đơn giản là phần xương thừa sau khi thực khách dùng bữa. Những suy luận của chị được rút ra từ nhiều văn bản cổ: Cicero – nhà hùng biện La Mã thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, từng phàn nàn về “mùi hôi và khói mù mịt” của những căn bếp hầm thịt trong phần phản biện In Pisonem (Against Piso) của mình; Athenaeus của thành phố Naucratis, nhà ngôn ngữ học Hi Lạp- Ai Cập thế kỷ thứ ba, coi món này là “thứ hổ lốn tầm thường”, “không có gì ngoài nước xương và những miếng thịt”; Dio Cassius, nhà sử học thế kỷ thứ hai, thậm chí còn kể lại chi tiết hoàng đế Claudius “đóng cửa các quán trọ nơi người dân thường tụ tập và chè chén, ra lệnh không được bán thịt hầm và nước nóng”. Điều này càng thêm khẳng định khi trong cuốn sách dạy nấu ăn De Re Coquinaria của mình, Marcus Gavius Apicius – một tay sành sỏi ăn uống và thích xa hoa sống vào thế kỷ thứ nhất, đã miêu tả món vịt hoặc ngỗng om trong nước dùng, ăn cùng bánh mì dẹt. Tuy có sự khác biệt đáng kể giữa món ăn của một dân thượng lưu và những người Pompeii nghèo khó nhưng rõ ràng, món vịt hầm phổ biến vào thời kỳ đó.     Khác biệt giàu nghèo     Trước đây, người ta có thể biết nhiều về các cuộc chiến, về các triết gia, về đời sống nghệ thuật và nghị trường của người La Mã nhưng ai biết về cuộc sống hằng ngày của người La Mã ở Pompeii? Thông qua những thermopolia còn gần như nguyên vẹn, Pompeii đã để lại vô số manh mối về cuộc sống đời thường của mình, nơi giờ đây các nhà khảo cổ có thể so sánh những nét tương đồng và khác biệt giữa kẻ thượng lưu và nghèo khó thông qua ẩm thực.  Những người tầng lớp thượng lưu ở Pompeii thường có một chế độ ăn phong phú, đa dạng và nhiều đồ ngoại. Các nhà khảo cổ khám phá ra nhiều gia đình quyền quý thường tổ chức những bữa tiệc linh đình kéo dài cả tuần để mời bạn bè hoặc mở rộng quan hệ công việc. Các món ăn nước ngoài là xu hướng thời thượng của họ và được chế biến thành các món hầm, xông khói, sấy khô, áp chảo kèm các loại gia vị theo mùa, rưới nước sốt rượu vang đỏ và dĩ nhiên là các gia vị phương Đông như hồ tiêu, nhục đậu khấu…      Những bữa tiệc xa hoa của giới thượng lưu. Nguồn: histotynotes  Các bữa tiệc như thế thường được tổ chức trong những căn phòng ăn rộng lớn với những chiếc giường đủ rộng để bọn họ có thể đặt lưng trên đó cho thoải mái trong những bữa tiệc xa hoa kéo dài. Ở Pompeii cổ đại, nếu là người giàu thì người ta sẽ ăn ở nhà, được bao bọc bởi những bàn ngồn ngộn đồ ăn thức uống và những nô lệ bưng đồ đến tận nơi.    Khác với tầng lớp trên, những người nghèo thường ăn bên ngoài.  Theo lời tiến sĩ Anna Maria Sodo, nhà khảo cổ và giám đốc của bảo tàng Antiquarium of Boscoreale, riêng tại khu vực Vesuvius, chỉ 40 % nhà ở của người lao động nghèo và 66 % nhà ở của tầng lớp trung lưu đô thị có bếp lò để nấu ăn. Vì sao họ không làm bếp? vì không đủ diện tích? Có lẽ để trả lời câu hỏi này một cách ngọn ngành thì phải chờ những nghiên cứu tiếp theo, chỉ biết rằng ngay cả với những domus tuyệt đẹp thì chỗ nấu nướng vẫn là nơi chật hẹp và nhếch nhác. Còn giờ đây, chúng ta chỉ biết rằng, không như người giàu, người bình dân Pompeii thường ra ngoài ăn, ngay cả vào buổi tối, giống như cách nhiều người ở thành phố lớn ở khắp mọi nơi trên thế giới thường làm.    Chính thói quen ẩm thực của họ khiến những con đường lát đá ở Pompeii thêm nhộn nhịp, nó nhanh chóng trở thành một trong những đặc điểm riêng có: người ta có thể ăn ngay trên đường một cách nhanh gọn, nếu chỉ ghé những thermopolium gọn nhẹ độc nhất chiếc quầy hàng, lịch sự hơn (và đắt tiền hơn?) là những thermopolium có cả phòng lớn kê bàn ghế. Nhưng dù ăn uống như thế nào thì có ít nhất 80 quầy thermopolium chuyên bán đồ ăn thức uống tại Pompeii (nơi này vẫn chưa được khai quật đầy đủ) đáp ứng nhu cầu của họ. Khác với các quầy chuyên bán đồ ăn nhanh hiện đại, các thermopolium cung cấp cho khách hàng những món đồ ăn bổ dưỡng, ngon miệng và lành mạnh với sức khỏe bởi thực chất, các nơi này có nguồn nguyên liệu rất dồi dào, phong phú, sẵn có và rẻ tiền từ những khu vườn xanh tốt ở chính Pompeii như các loại rau củ bắp cải, xúp lơ, đậu gà, đậu lăng, quả vả, ô liu, nho, cá biển, thịt lợn, trứng gà, vịt, ngỗng…      Chiếc bánh mì trở thành món ăn của tất cả mọi người ở thành phố cổ đại này, dẫu ở bất kỳ tầng lớp nào cũng thưởng thức hàng bữa: ăn sáng cùng trái cây, ăn trưa và tối bằng những mẩu bánh nhúng vào dầu ô liu hoặc thả vào nước sốt, xúp.      Dù ăn gì thì món ăn chính của người bình dân Pompeii chủ yếu là bánh mì, bởi nó ngon miệng, rẻ tiền, dễ kiếm hơn bất kỳ loại đồ ăn nào khác. Những ổ bánh mì tròn vàng ươm, rắc các loại hạt hồi, poppy, vừng và quét lòng trắng trứng chẳng khác chúng ta ngày nay. Dĩ nhiên, người giàu cũng thích nó. Chiếc bánh mì trở thành món ăn của tất cả mọi người ở thành phố cổ đại này, dẫu ở bất kỳ tầng lớp nào cũng thưởng thức hằng bữa: ăn sáng cùng trái cây, ăn trưa và tối bằng những mẩu bánh nhúng vào dầu ô liu hoặc thả vào nước sốt, xúp.    Người giàu và nghèo đều ăn bánh mì, dẫu người nghèo thì ăn bánh làm bằng bột thô hơn và bánh không được lên men, bánh mì dẹt pita mà nhiều người cho rằng có liên quan đến chiếc bánh pizza ra đời vào thế kỷ thứ 10. Từ 35 lò nướng khắp nơi, mọi người đều được hưởng những chiếc bánh hằng ngày. Đây có thể được coi là một trong những điểm kết nối giữa các tầng lớp xã hội ở Pompeii… Tuy nhiên, ở thời điểm diễn ra thảm họa núi lửa Vesuvius, ở Pompeii, tất cả đều trở nên bình đẳng. Bởi bọn họ đã cùng hòa tan thành tro bụi, dưới những lớp dung nham, đất đá và vĩnh viễn trở thành một phần không thể tách rời của Pompeii. □     Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.atlasobscura.com/articles/recreate-the-menu-of-pompeii-ancient-pub  http://pompeiisites.org/en/comunicati/the-ancient-snack-bar-of-regio-v-resurfaces-in-its-entirety-with-scenes-of-still-life-food-residues-animal-bones-and-victims-of-the-eruption/  https://museum-of-artifacts.blogspot.com/2015/11/what-did-romans-eat-food-from-pompeii.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở đường hướng đến máy tính lượng tử trong các điều kiện của thế giới thực      Thị trường máy tính lượng tử được dự đoán là đạt tới 65 tỉ USD vào năm 2030, một chủ đề nóng để cho các nhà đầu tư và nhà khoa học bởi tiềm năng của nó trong việc giải quyết những bài toán phức tạp.      Khám phá thuốc mới là một ví dụng về ứng dụng máy tính lượng tử. Để hiểu về những tương tác thuốc, một công ty dược phẩm có thể phải mô phỏng được các tương tác giữa hai phân tử. Lúc này thách thức là mỗi phân tử lại tạo ra vài trăm nguyên tử và nhà khoa học phải mô hình hóa tất cả tương tác đó theo các cách mà các nguyên tử phải sắp xếp chúng khi các phân tử tương ứng được tạo ra. Số lượng các tổ hợp có thể là vô hạn – nhiều hơn số lượng các nguyên tử trong toàn bộ vũ trụ này. Chỉ có một máy tính lượng tử mới có thể giải quyết được vấn đề.  Dù vẫn còn vài thập kỷ nữa mới có thể sử dụng máy tính lượng tử bởi hiện tại thì các nhóm nghiên cứu tại các trường đại học và các công ty tư nhân trên khắp toàn cầu vẫn nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau của công nghệ này.  Một nhóm nghiên cứu do Xu Yi, trợ lý giáo sư kỹ thuật điện và kỹ thuật máy tính tại trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng đại học Virginia (UVA) đã tập trung vào một khía cạnh của vật lý và ứng dụng các thiết bị photon dùng để dò và định hình ánh sáng cho một phạm vi sử dụng rộng, bao gồm truyền thông và máy tính. Nhóm nghiên cứu của anh đã tạo ra một nền tảng máy tính lượng tử có thể mở rộng về quy mô, có thể làm giảm bớt số lượng các thiết bị cần thiết để đạt được tốc độ lượng tử trên một chip photon với kích thước của một đồng xu.  Olivier Pfister, giáo sư quang lượng tử và thông tin lượng tử tại UVA, và Hansuek Lee, trợ lý giáo sư tại Viện KH&CN tiên tiến Hàn Quốc, đã cùng tạo ra thành công này.  Tạp chí Nature Communications gần đây đã xuất bản các kết quả thực nghiệm của nhóm nghiên cứu “A Squeezed Quantum Microcomb on a Chip” 1. Hai thành viên trong nhóm nghiên cứu của Yi, Zijiao Yang, một nghiên cứu sinh vật lý, và Mandana Jahanbozorgi, một nghiên cứu sinh về kỹ thuật điện và máy tính đều là đồng tác giả thứ nhất. Đề tài được Chương trình Các nền tảng tích hợp lượng tử cho truyền thông lượng tử của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ tài trợ.  Tính toán lượng tử hứa hẹn mở ra một cách hoàn toàn mới về xử lý thông tin. Máy tính xách tay của bạn hay máy tính bàn xử lý thông tin trải qua nhiều dây dài của các bit. Một bit có thể nắm một trong hai giá trị: 0 hoặc một. Các máy tính lượng tử xử lý thông tin song song, nghĩa là nó không cần mất thời gian chờ đợi một chuỗi thông tin được xử lý trước khi chúng được tính toán. Bit lượng tử – đơn vị thông tin của chúng, là một dạng lai có thể là một hoặc không cùng một lúc. Một phương thức lượng tử, hoặc qumode, mở rộng toàn bộ phổ của các biến giữa 0 và 1 – các giá trị đúng đến điểm thập phân.  Các nhà nghiên cứu đang thực hiện các lối tiếp cận khác nhau để tạo ra một cách hiệu quả số lượng các qumode cần thiết để đạt được các tốc độ lượng tử.  Cách tiếp cận dựa trên photon của Yi rất hấp dẫn bởi đây là một lĩnh vực của ánh sáng toàn phổ; mỗi sóng ánh sáng trong phổ đều có tiềm năng trở thành một đơn vị lượng tử. Yi đặt giả thuyết bằng rối trường ánh sáng, ánh sáng có thể đạt được một trạng thái lượng tử.  Người ta có thể đạt được điều tương tự với các dây quang học phân phối thông tin qua internet. Bên trong mỗi cáp quang, các tia laser với nhiều màu khác nhau sẽ được sử dụng song song, một hiện tượng gọi là đa hợp. Yi mang ý tưởng đa hợp vào thực tại lượng tử.    Bộ tứ lượng tử từ trái qua phải: Olivier Pfister, Andreas Beling, Xu Yi và Joe Campbell.   Vi mô là yếu tố chính trong thành công của nhóm nghiên cứu này. UVA là người đi tiên phong của việc sử dụng đa hợp quang học vào việc tạo ra một nền tảng tính toán lượng tử có khả năng mở rộng quy mô. Vào năm 2014, nhóm của Pfister đã kết thừa thành quả trong việc tạo ra hơn 3.000 qumode trong một hệ quang tử. Tuy nhiên việc sử dụng các qumode này đòi hỏi một vùng phủ sóng lớn để chứa hàng ngàn tấm gương, thấu kính và những hợp phần khác để chạy một thuật toán và các thức vận hành khác.  “Tương lai của lĩnh vực này là quang lượng tử tích hợp ”, Pfister nói. “Chỉ bằng việc chuyển giao các thực nghiệm quang học lượng tử từ các phòng thí nghiệm quang học để tạo ra các chip photon tương thích trường sẽ thực sự đem lại cơ hội cho công nghệ lượng tử. Chúng tôi may mắn khi có khả năng thu hút đến trường một chuyên gia đẳng cấp thế giới về photon lượng tử như Xu Yi, và tôi rất kích thích với những chiều kích mà các kết quả mới mở ra với chúng tôi”.  Nhóm nghiên cứu của Yi tạo ra một nguồn lượng tử trong một cộng hưởng quang vi mô, một cấu trúc dạng vòng tròn có kích thước cỡ mili mét bao bọc các photon và tạo ra microcomb – một thiết bị vi mô có thể chuyển đổi một cách hiệu quả các photon từ đơn bước sóng thành đa bước sóng. Ánh sáng bao bọc lấy vòng tròn này để tạo ra một lực quang. Lực quang này tăng cường các cơ hội cho photon tương tác, tạo ra các rối lượng tử giữa các trường ánh sáng trong microcomb.  Thông qua đa hợp, nhóm nghiên cứu của Yi đã kiểm tra việc tạo ra 40 qumode từ một vi cộng hưởng trên một con chip, chứng tỏ đa hợp qumode có thể hoạt động trên các nền tảng photon tích hợp. Đây chỉ là trường hợp mà họ có thể đo lường được. “Chúng tôi ước tính là khi tối ưu được hệ này, chúng tôi có thể tạo ra hàng trăm qumode từ một thiết bị đơn lẻ”, Yi nói.  Kỹ thuật đa hợp của Yi mở ra một cách tiến tới tính toán lượng tử trong các điều kiện của thế giới thực, khi các nhiễu chắc chắn sẽ xuất hiện. Điều này cũng xảy ra với cả các máy tính cổ điển, tuy nhiên các trạng thái lượng tử thì dễ bị nhiễu ảnh hưởng hơn các trạng thái cổ điển.  Số lượng các qubit cần đến việc hiệu chỉnh các nhiễu có thể vượt quá con số một triệu với sự gia tăng tương xứng trong số lượng các thiết bị. Kỹ thuật đa hợp giảm boét số thiết bị cần thiết đến hai hoặc ba bậc.  Hệ dựa trên photon của Yi có hai điểm tiên tiến thêm vào trong tính toán lượng tử. Các nền tảng tính toán lượng tử sử dụng các mạch electron siêu dẫn đòi hỏi việc làm mát đến nhiệt độ cryo. Bởi vì các photon không có khối lượng, máy tính lượng tử với các chip tích hợp photon có thể chạy hoặc tạm ngừng ở nhiệt độ phòng. Thêm vào đó, Lee làm vi cộng hưởng trên một chip silicon bằng việc sử dụng các kỹ thuật quang khắc tiêu chuẩn.  “Chúng tôi tự hào khi thúc đẩy các kỹ thuật tiên phong trong tính toán lượng tử và gia tốc cho quá trình chuyển đổi từ quang học sang các photon tích hợp”, Yi nói. “Chúng tôi sẽ tiếp tục khám phá các cách để tích hợp các thiết bị và mạch trong một nền tảng tính toán lượng tử chứa photon rồi tối ưu hiệu suất của nó”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-path-quantum-real-world-conditions.html  https://www.indiatimes.com/technology/quantum-computing-real-world-problem-applications-541400.html  ——————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-25054-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình “cà phê mới”      Tôi thấy vui khi được Tia Sáng đề nghị có một số nhận định về sự phát triển một chiến lược sản xuất cà phê của Việt Nam.  Tôi không phải là một chuyên gia cà phê. Chuyên môn của tôi là về phương pháp bình ổn giá gạo, là lịch sử của quá trình chuyển đổi cơ cấu và con đường thoát khỏi đói nghèo. Vì vậy, tôi đã tìm hiểu, học hỏi về cà phê theo 2 chiều kích rất khác nhau.      Trước tiên, về tầm nhìn cho một nền văn hóa cà phê toàn cầu, theo cảm hứng của Chủ tịch Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên, ông Đặng Lê Nguyên Vũ. Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến cá nhân ông Nguyên Vũ đã giúp tôi hiểu được tầm nhìn này. Ông là người vừa đầy cảm hứng vừa có sức thuyết phục cao.  Thứ hai, về những thách thức dành cho sự phát triển cà phê một cách thực sự bền vững. Tôi đã dành ra một ngày trong tháng Ba tại tỉnh Đắk Lắk và tại Làng cà phê Trung Nguyên tại thành phố Buôn Ma Thuột, để nghe những người nông dân và cán bộ khuyến nông chuyên ngành cà phê giải thích về những thách thức mà họ phải đối mặt trong sản xuất cà phê chất lượng cao cho thị trường thế giới (1 thị trường đòi hỏi rất cao), việc ứng dụng các kỹ thuật canh tác hài hòa với môi trường tự nhiên.          GS. C.Peter Timmer – Đại học Harvard, là chuyên gia hàng đầu thế giới về kinh tế nông nghiệp. Hiện ông là cố vấn chiến lược hoạt động cho Bill & Melinda Gates Foundation trong hai lĩnh vực: phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực toàn cầu.              Từ 2011, GS. Peter Timmer hỗ trợ các đồng nghiệp nghiên cứu Việt Nam thúc đẩy Sáng kiến Chính sách Nông nghiệp và Lương thực Việt Nam- VIFAP (www.vifap.org), và là Chủ tịch Danh dự của Sáng kiến này.        Tôi tiếp cận các chiều kích học tập như một nhà lịch sử – kinh tế học với mối quan tâm sâu sắc về vai trò của nông nghiệp trong việc chuyển đổi cơ cấu một nền kinh tế từ chủ yếu là nông thôn và nghèo khó, sang một nền kinh tế đô thị hóa và giàu có. Và thực sự là khá hữu ích với tôi trong việc tìm hiểu làm thế nào để kết hợp được tầm nhìn của một nền văn hóa cà phê toàn cầu với thực tế dựa vào sản xuất cà phê một cách bền vững.  Chẳng hạn như hãy suy nghĩ về một tiêu đề của một bài viết có thể là sẽ thú vị cho Tạp chí Lịch sử kinh tế: “Tiêu thụ cà phê là một chỉ báo hàng đầu dành cho vườn ươm doanh nghiệp”. Tôi nghĩ, tất nhiên, về các quán cà phê ở London thế kỷ 18, tại Boston trong thế kỷ 19, Tokyo vào thế kỷ 20, và thế kỷ 21 tại Seattle.  Nhưng tôi cũng nghĩ đến việc làm thế nào một mô hình “cà phê mới” được canh tác bền vững có thể trở thành một hình mẫu điển hình cho chuyển đổi nông nghiệp mà thế giới đang cần đến để giúp nguồn thực phẩm (không chỉ là cà phê) của chúng ta trong tương lai được đảm bảo an ninh, an toàn, và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.  Tôi biết chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng trong việc làm thế nào để làm cho cà phê trở thành một đóng góp quan trọng mới cho con đường thoát khỏi đói nghèo một cách bền vững ở nông thôn.  Trong lịch sử, sản xuất cà phê của Việt Nam đã không đóng góp lớn cho việc xóa đói giảm nghèo. Ở một mức độ nào đó, nguyên nhân bởi vì cà phê luôn luôn chỉ là một mặt hàng thương mại, và việc người ta cố gắng sản xuất một mặt hàng nông nghiệp với giá rẻ để bán với số lượng lớn trên thị trường thế giới.  Mô hình “cà phê Mới” cố gắng thay đổi lịch sử này. Để làm như vậy, nó cần phải giải quyết được hai vấn đề.   Thứ nhất, mô hình “cà phê mới” cần phải tìm ra kỹ thuật sản xuất bền vững – xét từ giác độ môi trường và kinh tế-văn hóa – giúp mang lại một sản phẩm chất lượng cao và bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất cà phê. Sau chuyến đi thực tế của tôi tại tỉnh Đắk Lắk, tôi tin rằng vấn đề này có thể được giải quyết, nhưng tôi không đánh giá thấp mức độ khó khăn và thời gian sẽ không thể nhanh chóng được. Chúng ta cần nghiên cứu nghiêm túc về chủ đề này, dưới cả khía cạnh nông nghiệp và kinh tế – xã hội.  Thứ hai, mô hình cần phải tìm ra một cách thức để người tiêu dùng nhận diện được sản phẩm chất lượng cao. Làm sao để những khách hàng này sẵn lòng trả tiền cao hơn cho sản phẩm, không chỉ vì mùi vị thơm ngon hơn, mà bởi ý thức rằng nó giúp người nông dân trồng cà phê thoát khỏi cảnh nghèo đói, và do đó duy trì được toàn bộ hệ thống cà phê. Những khách hàng này sẽ là một phần của nền văn hóa cà phê toàn cầu.  Đó cũng là hai thách thức to lớn mà chúng ta có thể vượt qua với một tầm nhìn về việc xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành một Thủ phủ cà phê toàn cầu đã được đặt ra trong Hội thảo Cà phê Quốc tế được tổ chức hồi tháng ba tại tỉnh ở Đắk Lắk, và tôi có thể nhận định  rằng có nhiều bằng chứng cho thấy với sự năng động và sáng tạo cùng quyết tâm của người Việt Nam, tầm nhìn đó hoàn toàn có tính khả thi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình dịch vụ ngân hàng cho phân khúc thị trường đại chúng      Một kinh nghiệm thành công điển hình trong  việc chiếm lĩnh thị trường đại chúng là trường hợp ngân hàng AFGB, hiện  nay nằm trong tốp 3-4 ngân hàng hàng đầu ở Malaysia, với hiệu suất bán  hàng của AFGB cao gấp 8 lần so với những ngân hàng thông thường, đạt mức  tăng trưởng rất cao trong vòng 3 năm, với khoảng 10.000 khách hàng mới  mỗi tháng.    Vậy họ đã làm như thế nào?  Khác với các mô hình tổ chức kinh doanh ngân hàng truyền thống, AFGB đổi mới triệt để ngay từ cách thiết kế không gian các chi nhánh, tận dụng diện tích nhỏ, môi trường làm việc rất thân thiện, cởi mở, sử dụng màu sơn rất nhẹ nhàng và rẻ tiền. Các chi nhánh có khoảng 8 – 9 sơ đồ tổ chức khác nhau, tất cả đều có chung một thiết kế và một hình thức bề ngoài. Bàn, ghế đều là những mô hình có thể tháo dỡ, có thể lắp thêm hoặc bỏ bớt đi. Thời gian để triển khai một chi nhánh của AFGB là 5 tuần, giảm đáng kể so với thời gian 3-4 tháng của các ngân hàng truyền thống. Năm đầu tiên AFGB thành lập được 100 chi nhánh trong chưa đầy 10 tháng, trung bình 2 ngày lại có một chi nhánh mới, điều chưa từng thấy trong lĩnh vực ngân hàng.  Các sản phẩm của AFGB dành cho khách hàng đại chúng có 45 loại, đều chung trong một thiết kế, không có các điều khoản, điều kiện rườm rà. Tất cả giao dịch đều được số hóa và thực hiện trên máy tính, chỉ mất 10 phút để thực hiện một khoản cho vay. Một trong những sản phẩm của AFGB mà khách hàng đại chúng tiếp cận dễ dàng là SAWI, hằng tháng khách hàng được nhận lương và chuyển tiền vào một tài khoản tiết kiệm. AFGB là ngân hàng đầu tiên trên thị trường sử dụng những thẻ trong đó có đầy đủ thông tin về khách hàng, cho phép xử lý các giao dịch chỉ trong 10 phút – ngày nay tất cả các ngân hàng Malaysia đều sao chép theo mô hình này. AFGB chỉ bán sản phẩm và sử dụng hệ thống ngân hàng điện tử để giao dịch, hầu như không giao dịch tiền mặt nên không phải lo lắng gì về an ninh, bảo vệ. Không giống như một chi nhánh của bất kỳ ngân hàng nào khác trên thế giới, các chi nhánh của AFGB chỉ có nhân viên kinh doanh, không hề có cách chuyên gia tài chính, nhân viên thu ngân, hay nhân viên trung gian, v.v.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình được sinh học gợi ý mở cánh cửa cho kiểm soát robot mềm      Các xúc tu bạch tuộc có năng lực điều phối tự do gần như vô hạn trong việc thực hiện các chuyển động phức tạp như với, nắm, cuộn, bò, bơi… Cách các sinh vật biển này có thể đạt được một phạm vi rộng các hành động phức tạp như thế nào vẫn còn là điều bí ẩn, đáng kinh ngạc và truyền cảm hứng cho con người. Một phần thách thức là do sự tổ chức các hoạt động phức tạp và cơ chế sinh học bên trong các sợi cơ.    Các xúc tu bạch tuộc có năng lực điều phối tự do gần như vô hạn trong việc thực hiện các chuyển động phức tạp như với, nắm, cuộn, bò, bơi… Cách các sinh vật biển này có thể đạt được một phạm vi rộng các hành động phức tạp như thế nào vẫn còn là điều bí ẩn, đáng kinh ngạc và truyền cảm hứng cho con người. Một phần thách thức là do sự tổ chức các hoạt động phức tạp và cơ chế sinh học bên trong các sợi cơ.  Vấn đề này mới được một dự án nghiên cứu liên ngành giải quyết, đặt dưới sự dẫn dắt của Prashant Mehta và Mattia Gazzola, các giáo sư khoa học và kỹ thuật cơ học của trường đại học Illinois Urbana-Champaign. Như được nêu trong bài báo ở tạp chí  Proceedings of the Royal Society A 1, hai nhà nghiên cứu và nhóm nghiên cứu của họ đã phát triển một mô hình chính xác về mặt sinh lý học của bạch tuộc và các sợi cơ của chúng. “Mô hình của chúng tôi là mô hình đầu tiên của dạng này, không chỉ đem lại những thông tin thấu suốt về vấn đề sinh học mà còn là một khung cho thiết kế và kiểm soát các robot mềm nữa”, Mehta nói.  Các năng lực đầy ấn tượng của xúc tu bạch tuộc từ lâu đã truyền cảm hứng cho việc thiết kế và kiểm soát của các robot mềm. Nhiều loại robot mềm đã có thể thực hiện các nhiệm vụ phức tạp trong môi trường phi cấu trúc trong khi vận hành an toàn cạnh con người, với những phạm vi ứng dụng từ lĩnh vực nông nghiệp đến phẫu thuật.  Nghiên cứu sinh Heng-Sheng Chang, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, giải thích là các hệ có cấu trúc mềm như các xúc tu bạch tuộc là một thách thức lớn trong mô hình hóa và kiểm soát. “Chúng được điều hướng bởi ba nhóm cơ bên trong chính – cơ dọc, cơ ngang và cơ xiên – trong hoạt động cắt, kéo dãn, uốn và xoắn”, anh nói. “Điều này cho phép các xúc tu được tạo thành từ các cơ mềm có được sự tự do đáng kể”.  Ý tưởng chính của nhóm nghiên cứu là biểu hiện của cơ xúc tu qua việc sử dụng chức năng năng lượng lưu trữ, một khái niệm mượn từ lý thuyết cơ học trong môi trường liên tục. Udit Halder, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ và là tác giả chính của bài báo, giải thích “Xúc tu thuộc về miền năng lượng tối thiểu. Hành xử của cơ làm chuyển đổi chức năng lưu trữ năng lượng, do đó chuyển vị trí cân bằng của xúc tu và hướng dẫn chuyển động”.  Việc thể hiện cơ sử dụng năng lượng trữ đã giúp đơn giản hóa thực sự việc thiết kế kiểm soát cánh tay robot. Cụ thể, nghiên cứu phác họa một phương pháp kiểm soát việc chia sẻ năng lượng để tính toán các hành xử sợi cơ cần thiết để giải quyết các thao tác như chạm, nắm. Khi cách tiếp cận này được thực hiện trên bản mô phỏng số trong môi trường phần mềm Elastica, mô hình này cho thấy chuyển động giống như thật một cách kinh ngạc khi một xúc tu bạch tuộc được mô phỏng ba chiều. Tuy nhiên theo Halder, “công trình của chúng tôi đề xuất một bảo đảm toán học cho việc thực hiện chuyển động này, vốn thường thiếu các cách tiếp cận thay thế, bao gồm học máy”.  “Công trình của chúng tôi là một phần của hệ sinh thái lớn hơn của việc hợp tác sẽ đến tại trường đại học Illinois”, Mehta nói. “Phía trên là các nhà sinh học thực hiện các thí nghiệm trên bạch tuộc, phía dưới là các nhà nghiên cứu robot, những người đang sử dụng những ý tưởng toán học và áp dụng nó để tạo ra những robot mềm thực sự”.  Các nhóm nghiên cứu của Mehta và Gazzola hợp tác với Rhanor Gillette, giáo sư hồi hưu của Illinois về sinh lý học phân tử và tích hợp, để kết hợp quan sát sinh lý học bạch tuộc vào mô hình toán học của họ trong nghiên cứu này. Công trình tiếp theo sẽ là thảo luận về những gợi ý sinh học của việc kiểm soát dựa trên năng lượng. Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu sẽ hợp tác với Girish Krishnan, một giáo sư khác của Illinois về các hệ thống công nghiệp và doanh nghiệp, để tích hợp các ý tưởng toán học của họ vào thiết kế và kiểm soát các robot mềm thực. Điều này không chỉ cho phép đem lại một cách có hệ thống trong kiểm soát các robot mềm mà còn đem đến hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế làm hoạt động của chúng.  Công trình này là một phần của dự án CyberOctopus 2, một sáng kiến nghiên cứu đa ngành ở Phòng thí nghiệm Khoa học Phối hợp của trường đại học Illinois với sự hỗ trợ của Văn phòng nghiên cứu Hải quân Mỹ.    Thanh Hương tổng hợp    Nguồn: https://techxplore.com/news/2023-02-octopus-biology-inspired-door-soft-robot.html  https://www.archyde.com/biology-inspired-model-opens-door-to-soft-robot-control/  —————————————-    1. https://royalsocietypublishing.org/doi/10.1098/rspa.2022.0593  2. https://cyberoctopus.csl.illinois.edu/    Author                .        
__label__tiasang Mô hình hóa tương tác người – vật để chứng tỏ khi nào vật tránh người      Một nhóm các nhà nghiên cứu từ trường đại học Exeter và Viện nghiên cứu Nhân học tiến hóa Max Planck đã xây dựng một mô hình để chứng tỏ khi nào các tương tác người – vật nằm được loài vật quan tâm nhất.      Cuộc đi săn trong rừng, họa sĩ Paolo di Don. Nguồn: ashmolean.org/  Trong công trình xuất bản trên tạp chí Royal Society Open Science, “Predator or provider? How wild animals respond to mixed messages from humans” (Kẻ săn mồi hay người cung cấp? Các động vật hoang dã phản hồi với những thông điệp hỗn tạp của con người như thế nào?), nhóm nghiên cứu miêu tả những yếu tố mà họ sử dụng để tạo ra mô hình của họ 1.  Băng chứng chính xác cho thấy động vật phải mất thời gian để xác định rõ người nào đáng tin và người nào phải tránh. Một số người, ví dụ như vậy, có thể mở rộng bàn tay đầy đồ ăn trong khi những người khác có thể mang súng và bắn chúng. Bởi vì thế, động vật đã có những cách tiếp cận khác trong quan hệ với con người. Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã phải xây dựng một môt hình để đánh giá mức độ nguy hiểm ở các kịch bản khác nhau mà những con vật khác nhau chạm trán con người  Mô hình này dựa trên cơ sở những thuật toán đánh giá những yếu tố rủi ro với những kịch bản khác nhau: việc săn hươu trong khu vực đô thị dường như khiến hươu ít có nguy cơ bị bắn so với hươu ở vùng thôn dã; gấu dường như dễ bị ăn đạn trong khu vực đô thị… Các nhà nghiên cứu đã xác định được các yếu tố trong các biến để xác định mức độ mà loài vật có thể phân biệt được những người tốt hay an toàn với những người có xu hướng làm chúng tổn thương. Các con bồ câu trong thành phố học được cách nhận diện được những người thường đến cho chúng ăn trong khi biết tránh những người không làm như vậy. Các nhà nghiên cứu cũng bổ sung năng lực đánh giá khả năng học tập trực tiếp của động vật so với học tập xã hội. Chim có xu hướng gia tăng học hỏi để tránh mèo nhà – chúng học được nhiều kỹ năng từ những con chim khác hoặc ngay cả những động vật khác. Chúng đã học một cách trực tiếp, khi tìm kiếm lũ giun trong một cái sân nơi bọn trẻ có thể cố tìm cách bắt chúng, ví dụ như vậy.  Mô hình cho thấy động vật học hỏi về hành xử của con người có xu hướng phản hồi đúng với tính chất hành xử của con người: có xu hướng hành động thân thiện hay ác ý. Và có thể hữu dụng – hươu di chuyển vào các khu vực an toàn ở đô thị và thoát khỏi cuộc săn bắn ở nông thôn. Nhưng nó cũng chứng tỏ là việc học hỏi nhanh cũng có những trở ngại của chúng – việc hươu học cách tin con người nói chung có thể dẫn đến hậu quả chúng ít cẩn thận hơn trong các kịch bản săn bắt. Mô hình này cũng cho thấy những kết quả lẫn lộn khi con vật học cách tin vào những người riêng lẻ. Trong một số trường hợp, có thể có lợi như khi chúng được cho ăn nhưng cũng có thể dẫn đến viejc mất nhiều thời gian để biết rõ hơn hành xử của con người có thể đơn giản là hành động tìm thực phẩm cho chính họ.   Vũ Anh tổng hợp  Nguồn: https://royalsocietypublishing.org/doi/10.1098/rsos.211742  ———————————–  1. https://royalsocietypublishing.org/doi/10.1098/rsos.211742       Author                .        
__label__tiasang Mô hình kinh doanh cho doanh nghiệp xã hội      Doanh nghiệp xã hội (DNXH), mặc dù vẫn là một khái niệm gây tranh cãi, không ai phủ nhận rằng DNXH là câu chuyện làm doanh nghiệp và hướng tới giải quyết vấn đề xã hội. Hai nội dung này hài hòa lẫn nhau và cùng mang lại giá trị cho doanh nghiệp và cộng đồng. Dù vậy, là doanh nghiệp thông thường khởi nghiệp vốn đã vất vả tồn tại, là DNXH còn khó khăn gấp trăm lần vì bạn phải dung hòa lợi ích giữa các bên, nỗ lực để sống sót và bền vững đồng thời không quên đi những cam kết với cộng đồng của mình.    Một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của nhiều DNXH là thiếu đi một mô hình kinh doanh bền vững cho dù khởi nguồn của đa số những doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này đều xuất phát từ những mục tiêu tốt đẹp, vì cộng đồng và vì những nhóm thiểu số, gặp nhiều bất lợi trong xã hội. Làm thế nào để có những bước đi vững chắc trước khi quyết định làm DNXH mà cụ thể là mình sẽ kiếm tiền như thế nào, tác động đến ai? Làm thế nào để có bức tranh toàn cảnh về chính DNXH bạn đang xây dựng? Làm thế nào để nói chuyện với các nhà tài trợ, các quỹ một cách tự tin?                   Một trong những câu trả lời chính là xây dựng một mô hình kinh doanh xã hội bền vững, điều cần thiết đầu tiên trước khi bắt đầu kinh doanh và vẽ lên giấy một cách rõ ràng thông qua mô hình kinh doanh canvas cho doanh nghiệp xã hội.  Phải bắt đầu từ mô hình kinh doanh thông thường  Ra đời cách đây tám năm, mô hình kinh doanh canvas truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp vì sự đơn giản và trực quan của nó. Mô hình này chỉ ra những vấn đề quan trọng, trực tiếp liên quan đến hoạt động kinh doanh và giá trị mà doanh nghiệp mang lại. Với một bản mô hình kinh doanh canvas, toàn bộ nhân viên của công ty và nhà đầu tư sẽ nắm được rất nhanh cách thức kinh doanh và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Một DNXH không thể sống hoàn toàn dựa vào tài trợ, DNXH cũng cần có câu chuyện kinh doanh rõ ràng của mình dựa trên chín cấu phần chính sau đây:  Tuyên bố giá trị: Có thể coi là phần quan trọng nhất vì nó giúp bạn trả lời câu hỏi: bạn khác biệt gì với đối thủ cạnh tranh và khách hàng cảm nhận được giá trị gì từ những sản phẩm, dịch vụ bạn mang lại? Để kiểm định giá trị của mình, bạn có thể lựa chọn một trong số 11 tiêu chí sau đây:Tính mới; Hiệu quả; Khả năng tùy biến; Giải quyết vấn đề; Thiết kế; Thương hiệu/ Địa vị; Giá cả; Tiết kiệm chi phí; Giảm thiểu rủi ro; Khả năng tiếp cận; Tiện ích/Khả dụng.  Phân khúc khách hàng: bạn cần xác định rõ loại phân khúc khách hàng nào mà bạn đang nhắm tới trong những loại phân khúc khách hàng này: Thị trường đại trà; Thị trường khe; Thị trường phân khúc; Nền tảng đa diện (ví dụ Google cung cấp dịch vụ tìm kiếm thông tin miễn phí cho mọi người dùng internet nhưng lại kiếm tiền từ các công ty, doanh nghiệp, tổ chức muốn quảng cáo để có thứ hạng tìm kiếm tốt trên Google). Đi kèm với việc xác định phân khúc, bạn nên trả lời câu hỏi mỗi phân khúc khách hàng đang có khoảng bao nhiêu khách hàng.     Kênh tiếp cận khách hàng: Có nhiều loại kênh khác nhau với chức năng khác nhau, vì vậy bạn cần chỉ rõ bạn đã, đang và sẽ dùng kênh nào để: Nâng cao nhận thức của khách hàng (ví dụ các kênh quảng cáo: facebook, qua nhóm khách hàng); Giúp khách hàng đánh giá giá trị (ví dụ: mời dùng thử trực tiếp); Cho phép khách hàng mua (trực tuyến hay tại cửa hàng v..v); Mang giá trị đến cho khách hàng (thông qua các dịch vụ cung cấp, dịch vụ bổ trợ v..v); Hỗ trợ sau bán hàng (dịch vụ hậu mãi). Khi xây dựng danh mục các kênh của mình bạn cần cân nhắc, đó là kênh bạn đang sở hữu hay đang hợp tác với người khác, đó là kênh bạn tiếp cận trực tiếp hay gián tiếp (thuê qua đối tác).    Nguồn doanh thu: là điều quan trọng tiếp theo bạn phải làm rõ để đảm bảo tính bền vững của mô hình kinh doanh. Với DNXH, ngoài nguồn doanh thu bán sản phẩm dịch vụ, doanh nghiệp còn có thể có nguồn tài trợ, hỗ trợ, đây cũng có thể là nguồn thu quan trọng của doanh nghiệp. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần chỉ rõ, các nguồn doanh thu đó đến từ đâu, là bao nhiêu và chiếm tỉ trọng như thế nào trong từng doanh thu.    Quan hệ khách hàng: Đây là lúc DNXH chỉ rõ mình duy trì quan hệ với khách hàng như thế nào? Thông qua hỗ trợ trực tiếp cá nhân, hay hỗ trợ đặc biệt, để khách hàng tự phục vụ, dịch vụ tự động hóa, duy trì cộng đồng hay cùng nhau tạo ra giá trị mới  Hoạt động chính: Bạn chỉ ra những hoạt động chính để vận hành mô hình kinh doanh của mình. Những tuyên bố giá trị của bạn, kênh để truyền tải giá trị, quan hệ khách hàng và những nhân tố thuộc dòng doanh thu đang tác động đến hoạt động chính của doanh nghiệp như thế nào.     Nguồn lực chính: Tài sản con người, giải pháp kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, tài chính v..v đều là những nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp.     Cấu trúc chi phí: Sẽ là sai lầm nếu doanh nghiệp không chỉ ra được mình đang tốn chi phí cho những hoạt động, đầu vào gì để cả mô hình vận hành được    Đối tác chính: Đây là lúc bạn chỉ ra đối tác chính cho mô hình kinh doanh của bạn, đó có thể là những cộng đồng, hiệp hội, nhà cung cấp v.v…    Sự khác biệt của Doanh nghiệp xã hội  Với một doanh nghiệp thông thường, việc dừng lại ở chín cấu phần là đủ để tạo một bức tranh đầy đủ về hoạt động kinh doanh của mình. Tuy vậy, để thuyết phục nhà tài trợ, nhà đầu tư và cộng đồng rằng bạn đang mang lại giá trị nhiều hơn giá trị vật chất, bạn cần phải đặc biệt lưu ý hai nội dung chính:    Phân khúc khách hàng: Bạn phải chỉ ra được: Bạn đang tạo ra giá trị cho ai? Ai là khách hàng quan trọng nhất của bạn. Đôi khi người mua hàng khác với người hưởng lợi trực tiếp từ sản phẩm dịch vụ của bạn, vì vậy, bạn cần chỉ rõ người mua hàng là ai? Có một số trường hợp người dùng, người mua là khác nhau.   Ví dụ: một đơn vị sản xuất cặp kiêm áo phao cứu nạn cho trẻ em nhằm giải quyết vấn đề trẻ em bị đuối nước trong mùa mưa lũ. Người hưởng lợi trực tiếp là trẻ em vùng lũ nhưng người trả tiền, người mua có thể là gia đình, có thể là các công ty, đơn vị tài trợ hoặc các tổ chức quốc tế cứu trợ trẻ em.  Ngoài ra bạn cũng cần chỉ ra ai là những bên liên quan đến những giá trị bạn mang lại.    Tác động: Chính là cấu phần thứ 10 trong mô hình kinh doanh. Bạn phải chỉ ra được, những khác biệt mà bạn tạo ra cho mọi người, cho xã hội, cho môi trường. Tác động bạn tạo ra trong nội bộ như thế nào, tác động hướng vào người dùng là gì, tác động mà người tài trợ mong đợi là gì và tác động mà các bên liên quan quan tâm là gì. Mặc dù tác động là khó đo lường, bạn cần suy nghĩ đến những chỉ số đo lường sự thay đổi, hãy đặt cho mình câu hỏi: tại sao bạn biết có sự thay đổi và bạn đo lường sự thay đổi đó như thế nào. Để làm được điều này bạn nên xuất phát từ mục tiêu ban đầu, bạn định thay đổi điều gì? Và ai là nhân vật trung tâm trong câu chuyện thay đổi của bạn.   Vì DNXH có nhiều đối tượng để hướng tới, việc có một mô hình kinh doanh tốt sẽ giúp bạn truyền thông nhanh chóng và hiệu quả đến những bên liên quan trong câu chuyện kinh doanh của bạn. Một nhà đầu tư hay nhà tài trợ, nhân viên trong chính công ty bạn và những đối tác đều có thể hình dung cụ thể bạn đang làm gì. Với một mô hình kinh doanh được vẽ ra, chính bạn sẽ nhìn thấy được những điểm yếu trong mô hình kinh doanh của mình. Với những doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này, bạn hãy nhớ ba nhân tố: Tuyên bố giá trị, Phân khúc khách hàng, Dòng doanh thu là những điều đầu tiên bạn nên nghĩ đến và hoàn thiện trước khi hiểu và viết lên các cấu phần còn lại.   Cuối cùng, để mô hình kinh doanh ra đời một cách hiệu quả, việc tham gia của lãnh đạo và quản lý cấp cao, cấp trung của doanh nghiệp là quan trọng nhất. Nó không nên là sản phẩm duy nhất của nhà quản lý vì như vậy nó sẽ mất đi tính toàn diện của một mô hình kinh doanh của cả một tổ chức và thiếu sự tham gia của các phòng ban có liên quan, mô hình kinh doanh khó có thể đi vào đời sống của doanh nghiệp như một tầm nhìn chung và khó có thể được thay đổi thường xuyên theo thực tế kinh doanh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình lúa – cá cho thu nhập cao gấp hai đến ba lần      Với mong muốn đem lại thu nhập cao cho người nông dân trồng lúa mà không phải mở rộng thêm diện tích gieo trồng, mô hình kết hợp trồng lúa – nuôi cá đã được Sở NN&amp;PTNT nhiều tỉnh thành trên cả nước phổ biến rộng rãi và đạt thành công bước đầu.    Những địa phương nhanh chóng triển khai mô hình trồng lúa – nuôi cá sớm nhất là các tỉnh khu vực ĐBSCL, như Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu… Riêng Cà Mau là tỉnh tiến hành triển khai sớm nhất, khi từ năm 2010 đã bắt đầu áp dụng thử nghiệm trên những vùng đất lầy úng đã được ngọt hóa qua quá trình thau chua, rửa mặn như ở các huyện Trần Văn Thời, Thới Bình và U Minh. Ngay trong năm sản xuất đầu tiên, mô hình này đã đem lại 150 triệu đồng tiền lãi, cao hơn gấp đôi, gấp ba lần so với trồng lúa nhưng không tiềm ẩn nhiều rủi ro như nuôi tôm. Đây là lý do thuyết phục nhiều hộ nông dân ở ba huyện này tiếp tục áp dụng mô hình lúa – cá. Sau năm năm, tổng diện tích sản xuất đã tăng lên gấp đôi. Dự kiến theo quy hoạch của Sở NN&PTNT Cà Mau giai đoạn 2016-2020, mô hình lúa – cá sẽ tăng lên 80.000 đến 100.000 ha.   Tiếp theo thành công của Cà Mau, Tiền Giang cũng thiết lập dự án “Nhân rộng mô hình kết hợp nuôi cá – lúa”, thực hiện thí điểm ở hai huyện Cai Lậy và Cái Bè vào năm 2014. Khi tham gia dự án, mỗi hộ nông dân được hỗ trợ cá giống, thức ăn cho cá và hỗ trợ kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh. Với sự hỗ trợ này, các hộ gia đình yên tâm sản xuất, nuôi trồng mà không phải băn khoăn về những vấn đề gặp phải khi lần đầu thử nghiệm mô hình. Kết quả ban đầu của dự án cũng hết sức khả quan khi lợi nhuận thu được từ hai sản phẩm lúa và cá đều cao gấp đôi so với độc canh trồng lúa.    Tương tự cách làm này nhưng các hộ nông dân ở Bạc Liêu còn có sáng kiến trồng xen canh thêm cây sen lấy củ. Trước khi áp dụng mô hình mới, quanh năm nông dân xã Thuận Hòa, huyện Châu Thành, Bạc Liêu vẫn trồng ba vụ lúa. Nhận thấy mô hình lúa – cá hiệu quả, cộng thêm với sức mua củ sen của thị trường tỉnh lớn, các hộ đã quyết định chuyển sang trồng lúa, nuôi cá mỗi năm hai vụ, dành vụ hè thu trồng sen nuôi cá. Vốn dĩ vụ hè thu hay gặp bão lũ, năng suất không cao nhưng lại hay gặp rủi ro, việc đổi trồng lúa thành trồng sen đã giúp người nông dân tránh được thất bát mùa vụ. Đổi lại, sau thu hoạch củ sen, nhiều chất hữu cơ đã được bổ sung, góp phần tăng thêm độ dinh dưỡng cho đất và đem lại thuận lợi cho việc canh tác lúa vụ sau. Hiện mô hình lúa – sen  – cá đã được nhân rộng tới hơn 20 hộ ở xã Thuận Hòa và trở thành điển hình cho nhiều nông dân xã khác tới học tập.   Ngoài khu vực ĐBSCL, nhiều tỉnh, thành khác cũng mạnh dạn thử nghiệm như Quqangr Bình, Nghệ Anh, Bắc Ninh, Hà Nội… Phần lớn diện tích dành cho lúa – cá đều ở trên những thửa ruộng chiêm trũng, thuận lợi cho canh tác lúa nước và nuôi cá. Lợi nhuận thu được từ hai loại sản phẩm này khiến nhiều nông dân đổi đời. Vì vậy sau thời gian đầu áp dụng, dự kiến tổng điện tích lúa – cá đều được mở rộng trên quy mô lớn hơn.   Qua năm năm triển khai mô hình lúa – cá, ngoài yếu tố kinh tế, mô hình này còn đem lại những hiệu quả về mặt môi trường như giảm hẳn lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, không ảnh hưởng đến môi trường như độc canh nuôi tôm, nuôi cá… Tuy nhiên để tận dụng được thế mạnh của mô hình, các hộ nông dân vẫn cần có sự hướng dẫn của các cán bộ kỹ thuật để hỗ trợ kỹ thuật nuôi cá kiểu mới, góp phần tăng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm lúa, cá cũng như áp dụng thêm những cái tiến mới cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện địa phương.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình mới có thể dẫn đến việc hiểu sâu hơn các quá trình sinh học      Thoạt nhìn thì một bầy sói chẳng có điểm chung nào với một ít dầu giấm. Tuy vậy, một nhóm nghiên cứu do Ramin Golestanian, giám đốc Viện nghiên cứu Động lực học và tự  tổ chức Max Planck dẫn dắt đã phát triển một mô hình có khả năng thiết lập sự liên hệ giữa hành động của những kẻ săn mồi với con mồi và sự phân biệt giữa giấm và dầu ăn.      Nhóm nghiên cứu của Ramin Golestanian (ó đỏ), giám đốc Viện nghiên cứu Động lực học và tự  tổ chức Max Planck.  Họ đã mở rộng một khung lý thuyết mà cho đến nay vẫn chỉ đúng với những vật chất không sống. Ngoài những kẻ săn mồi và con mồi, những cơ thể sống khác như các enzyme hay các tế bào tự tổ chức khác có thể được mô hình này miêu tả. Kết quả nghiên cứu đã được họ xuất bản trên Physical Review X “Scalar Active Mixtures: The Nonreciprocal Cahn-Hilliard Model”.  Trật tự không phải bao giờ cũng là thứ người ta phát hiện ra từ cái nhìn đầu tiên. Nếu anh chạy với một bầy chó sói săn hươu, các chuyển động có thể như rối loạn. Dẫu vậy nếu cuộc săn này được quan sát từ một cái nhìn của một con chim và diễn ra suốt một quãng thời gian đáng kể, các mẫu hình trở nên rõ ràng trong chuyển động của các con vật. Trong vật lý, hành xử nhiêu khi được coi là trật tự nhưng trật tự đó xuất hiện như thế nào? Khoa Vật lý của các vật chất sống trong viện của Ramin Golestanian là để tập trung tìm hiểu câu hỏi này và nghiên cứu các quy luật vật lý kiểm soát chuyển động của các hệ sống hoặc hệ hoạt động. Mục tiêu của Golestanian là để phát hiện những đặc tính phổ quát của vật chất sống và vật chất hoạt động. Điều này không chỉ phù hợp với những có thể sống lớn như kẻ săn mồi và con mồi mà còn đúng với cả vi khuẩn, các protein động cơ cũng như các hệ nhân tạo như vi robot. “Khi chúng tôi miêu tả một nhóm gồm các hệ hoạt động trên những khoảng cách vô cùng lớn và trong những quãng thời gian rất dài, các chi tiết cụ thể của các hệ đó mất đi tầm quan trọng. Sự phân bố tổng thể của chúng trong vũ trụ cuối cùng trở thành đặc điểm mang tính quyết định”, Golestanian giải thích.  Từ không sống đến hệ thống sống     Nhóm nghiên cứu do ông dẫn dắt tại Göttingen gần đây đã thực hiện một nghiên cứu mang tính đột phá trong việc miêu tả vật chất sống. Để đạt được điều này, Suropriya Saha, Jaime Agudo-Canalejo và Ramin Golestanian đã bắt đầu với việc miêu tả hành xử của vật chất không sống được biết đến rộng rãi và mở rộng nó. Điểm chính yếu là tìm hiểu sự khác biệt cơ bản giữa vật chất sống và không sống. Tương phản với vật chất thụ động, không sống, vật chất sống, hoạt động có thể tự chuyển động. Các nhà vật lý đã sử dụng phương trình Cahn-Hilliard để miêu tả cách các vật chất không sống hòa trộn như một nhũ tương của dầu ăn và nước riêng biệt.  Đặc điểm được phát triển trong những năm 1950 đó được coi là mô hình chuẩn của tách pha. Nó được dựa trên nguyên tắc “có đi có lại”, ăn miếng trả miếng. Dầu ăn đẩy nước theo cùng cách nước đẩy dầu. Tuy vậy, điều này không luôn luôn xảy ra trong tường hợp của vật chất sống hoặc các hệ sống. Một vật sẵn mồi theo đuổi con mồi của mình, trong khi con mồi cố gắng chạy trốn khỏi kẻ săn mồi. Chỉ thời gian gần đây, người ta mới chứng tỏ được là có tồn tại hành xử không có đi có lại ngay cả trong chuyển động của những hệ nhỏ nhất như các enzyme. Các enzyme có thể tập trung một cách đặc biệt vào các khu vực đơn tế bào – thi thoảng là điều cần thiết cho nhiều quá trình sinh học. Sau khám phá này, các nhà nghiên cứu Göttingen tìm hiểu việc tích lũy một lượng lớn các enzyme có hành xử khác nhau như thế nào. Chúng có thể trộn lẫn với nhau hay hình thành các nhóm? Các đặc tính mới và chưa từng thấy bao giờ sẽ có thể xuất hiện? Với mục tiêu trả lời những câu hỏi này, nhóm nghiên cứu sẽ phải thiết lập kế hoạch làm việc.  Các sóng xuất hiện một cách đột nhiên  Nhiệm vụ đầu tiên là thay đổi phương trình Cahn-Hilliard để đưa các tương tác không có đi có lại vào bởi vì phương trình này chỉ miêu tả các hệ không sống, sự có đi có lại của những tương tác thụ động nằm ẩn sâu đằng sau cấu trúc của nó. Do đó, từng quá trinh được phương trình miêu tả kết thúc ở trạng thái cân bằng nhiệt động lực học. Nói theo cách khác, cuối cùng mọi bên đều rơi vào trạng thái nghỉ ngơi. Sự sống, dẫu sao, ở bên ngoài trạng thái cân bằng nhiệt động lực học. Sở dĩ có điều này là bởi các hệ sống không còn giữ nguyên trạng thái nghỉ ngơi mà sử dụng năng lượng trong trật tự để đạt được điều gì đó (ví dụ tái sản xuất chính mình). Suropriya Saha và cộng sự của mình đã tính đến hành xử này bằng việc mở rộng phương trình Cahn-Hilliard bằng một tham số có thể đặc tính hóa các hành động không có đi có lại. Theo cách này, họ có thể miêu tả được các quá trình khác biệt với các quá trình thụ động ở bất kỳ mở rộng nào.  Saha và cộng sự đã sử dụng các mô phỏng máy tính để nghiên cứu các hiệu ứng của những biến đổi bước đầu. “Thật đáng ngạc nhiên, ngay cả những hành xử không có đi có lại tối thiểu cũng dẫn đến những sai khác cơ bản với hành xử của các hệ thụ động”, Saha nói. Ví dụ, các nhà nghiên cứu quan sát sự hình thành của các sóng di chuyển trong một dạng hỗn hợp của hai dạng khác nhau của các hạt. Trong hiện tượng này, các dải của một thành phần “theo đuổi” các dải của hợp phần khác, do đó dẫn đến một mẫu hình của những sọc chuyển động. Thêm vào đó, các lưới phức hợp có thể hình thành trong các hỗn hợp hạt, trong đó các cụm nhỏ của một hợp phần có thể theo đuổi các nhóm của hợp phần khác.  Với công trình nghiên cứu của mình, các nà nghiên cứu hi vọng sẽ đóng góp vào sự tiến triển khoa học trong cả hai lĩnh vực vật lý và sinh học. Ví dụ, mô hinh mới có thể miêu tả và dự đoán hành xử của các tế bào, vi khuẩn hay enzyme khác nhau. “Chúng tôi đã dạy một con chó trưởng thành những trò mới với mô hình này”, Golestanian nói. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vật lý có thể đem lại hiểu biết cho chúng ta về sinh học và những thách thức đặt ra khi nghiên cứu vật chất sống mở ra một con đường mới cho nghiên cứu cơ bản trong vật lý”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-biological.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình nuôi bò – trồng ngô giúp thoát nghèo      Tại nhiều huyện của An Giang, mô hình “bò bắp” kết hợp giữa trồng ngô và  nuôi bò đã góp phần giúp người nông dân thoát nghèo, vươn lên ổn định  kinh tế gia đình.    Dưới sự hướng dẫn của các bộ khuyến nông, nhiều  hộ gia đình nông dân xã Long Kiến  huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã  chuyển sang áp dụng mô hình kết hợp trồng ngô và nuôi bò. Thay vì phân  tán sức lực và đồng vốn ít ỏi vào những loại cây trồng khác, bà con nông  dân xã Long Kiến, trong đó nổi bật là ở các ấp Long Quới, Long An, Long  Hòa 2, đã quay sang trồng ngô bao tử. Song song với đó, họ được cho vay  vốn để mua thêm một vài cặp bò chăn thả ngoài đồng.   Với mô hình  này, việc chăm bón cho cây ngô không quá mất nhiều thời gian và công  sức. Chỉ sau chừng 45 ngày, những trái ngô non có thể thu hái và xuất ra  thị trường. Các phụ phẩm từ cây ngô như thân, lá, áo bắp… đều được tận  dụng làm thức ăn cho bò.   Theo tính toán của ông Bùi Công Khanh,  Chi hội trưởng Nông dân ấp Bình Tấn, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới,  công hái ngô non trung bình là 300kg/công, được bán với giá 13.000  đồng/kg, thu được 3,9 triệu đồng. Phụ phẩm từ cây ngô có thể nuôi thêm  hai con bò thịt, sau 8 tháng lãi từ 17 đến 19 triệu đồng, trung bình số  lãi từ 1 đến 1,2 triệu đồng/tháng/con.  Từ một vài hộ thành công,  những hiệu ứng tích cực từ mô hình trồng ngô non và nuôi bò đã thuyết  phục hơn 180 hộ dân huyện Chợ Mới áp dụng, qua đó góp phần thoát nghèo,  ổn định cuộc sống. Trong thời gian tới, các huyện khác trong tỉnh An  Giang như Tri Tôn, Tịnh Biên và An Phú sẽ theo bước Chợ Mới thực hiện mô  hình bò bắp. Các đơn vị chức năng sẽ cùng với một số doanh nghiệp trong  tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí về giống, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật canh  tác ngô thu trái non kết hợp nuôi bò…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình nuôi ghép tôm sú với cá rô phi cứu nghề tôm      Không những tận dụng được tối đa diện tích mặt nước nuôi trồng, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường, mô hình nuôi tôm sú kết hợp cá rô phi còn giúp người nông dân có thêm thu nhập và vực dậy nghề nuôi tôm qua cơn sóng gió của bệnh dịch, thị trường.    Xuất phát từ thành công của nông dân Thái Lan, Philippines, mô hình kết hợp nuôi tôm thẻ và cá rô phi được đưa về áp dụng thử nghiệm tại Việt Nam. Từ các tỉnh khu vực ĐBSCL như Trà Vinh, Cà Mau, Cần Thơ, Tiền Giang… đến những tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bình Định, Thừa Thiên Huế… cũng mạnh dạn học tập cách làm mới này. Cho đến nay, hiệu quả đạt được từ mô hình này được ghi nhận ở hai phương diện: giảm ô nhiễm môi trường và mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt.  Theo mô hình này, cá rô phi có thể sống trong môi trường nước mặn, đặc biệt là cá rô phi đơn tính có khả năng chịu mặn rất cao. Vì vậy khi nuôi chung với tôm thẻ hay tôm sú, cá rô phi sẽ không bị ảnh hưởng đến khả năng phát triển. Hơn nữa, với đặc tính sinh học của mình, cá rô phi sẽ không cạnh tranh về môi trường sống của tôm vì cá rô phi chủ yếu sống ở tầng nổi, trong khi tôm sống ở tầng đáy.  Bên cạnh đó, cá rô phi có thiên hướng ăn các loài động vật thủy sinh, phù du, tảo, mùn bã hữu cơ vốn chủ yếu là chất thải của tôm trong quá trình sinh trưởng, nên sẽ làm giảm sự tích tụ chất thải trong ao. Chính những “cỗ máy xử lý môi trường” tự nhiên này sẽ giúp người nông dân không phải mất quá nhiều công sức dọn ao, vét bùn cũng như các loại chất xử lý môi trường nước như trước.   Trong quá trình nuôi ghép, người ta còn nhận thấy thêm một ích lợi quan trọng khác là cá rô phi đã góp phần làm giảm dịch bệnh trên tôm, đặc biệt là bệnh đốm trắng trên tôm thẻ. Với bản tính ăn tạp của mình, cá rô phi có thể hạn chế được sự phát triển của tảo lục, tiêu diệt nhóm vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio, các vật chủ trung gian mang mầm bệnh, thậm chí xử lý cả tôm bệnh chết, qua đó tránh lây lan bệnh và giúp kiểm soát được dịch bệnh trong ao.      Những hiệu quả này từ mô hình nuôi ghép tôm và cá rô phi đã thuyết phục được người nông dân nuôi tôm mới kinh qua thất bát mùa vụ vì đối phó dịch bệnh, giá tôm xuống thấp trong khi chi phí đầu vào vẫn không ngừng tăng cao.   Tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, dưới sự hướng dân kỹ thuật của các cán bộ phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, các hộ nông dân đã mạnh dạn áp dụng. Điển hình là anh Nguyễn Anh Dũng ở ấp Tân Đức, xã Tân Đức đã thành công năm vụ. Anh cho biết kể từ khi làm theo mô hình nuôi ghép cá rô phi và tôm, lượng bùn thải trong ao đã giảm gấp hai lần, thời gian nuôi tôm giảm từ sáu tháng xuống năm tháng rưỡi, chi phí mua thuốc xử lý ao, khoáng chất trộn vào thức ăn giảm từ sáu đến 12 triệu đồng/vụ. Trên sáu ao nuôi theo mô hình này, anh thu được ba tỷ đồng tiền tôm mỗi vụ, trừ chi phí đầu tư lãi hai tỷ đồng. Bên cạnh đó lượng cá rô phi đạt 1,5 tấn, thu về trên 20 triệu đồng.  Tại Tiền Giang, trên diện tích 0,5 ha, ông Lê Công Dư, xã Tân Phú, huyện Tân Phú Đông đã đạt được mức thu lý tưởng. Với mức giá năm 2014, ông Dư thu về 1,2 tỷ đồng, trừ chi phí lãi gần một nửa.    Tại Sóc Trăng, xã Hòa Đông, huyện Vĩnh Châu, mô hình thí điểm nuôi ghép cá rô phi và tôm thẻ, tôm sú được hợp tác xã Hòa Nghĩa thực hiện từ năm 2012. Sau thành công loại bỏ được bệnh dịch đốm trắng và hoại tử dưới vỏ tôm nhờ sự “trợ giúp” của cá rô phi, hai năm tiếp theo, hợp tác xã Hòa Nghĩa mở rộng quy mô áp dụng trên 53,5 ha diện tích mặt nước. Để mô hình phát huy hiệu quả hơn, hợp tác xã đã sáng tạo bố trí khu vực nuôi cá rô phi và tôm riêng biệt, chờ thời điểm thuận lợi thả chung cá vào ao tôm. Kết quả năm 2014, dù giá tôm có giảm thì hợp tác xã vẫn thu được hơn 11 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí đầu tư đạt tiền lãi gần 5 tỉ đồng.  Những hiệu quả từ mô hình này tại các tỉnh khu vực ĐBSCL đã đem lại gợi ý cho nhiều tỉnh, thành khác trên cả nước tìm hướng đi cứu vãn nghề nuôi tôm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản, như Bà Rịa Vũng Tàu sẽ áp dụng thử nghiệm từ năm 2015. Tuy nhiên khi áp dụng mô hình này, các hộ nuôi tôm được khuyến cáo cần tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn từ cán bộ kỹ thuật để tránh những vấn đề xảy ra, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của mô hình.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình rau- thủy sản có mở rộng được không?      Aquaponic  (mô hình kết hợp giữa nuôi trồng thủy sản và trồng cây theo phương pháp  thủy canh) có khả năng sản xuất cả cá lẫn rau quả, như cá rô phi và cải  xoăn, quay vòng mỗi năm và cung cấp chúng cho các siêu thị ngay sau khi  đánh bắt. Nhưng liệu mô hình này có thể mở rộng được không?     Những tay nghiệp dư, các nhà nghiên cứu, những tổ chức phi lợi nhuận, các hiệu ăn và cả các tù nhân ở một nhà tù liên bang tại Indiana đang tăng cường sản xuất thực phẩm từ mô hình aquaponic, một kỹ thuật để nuôi cá và trồng rau trong cùng một hệ thống quay vòng. Tuy nhiên chưa ai có đủ khả năng để xây dựng một quy mô lớn hơn, một doanh nghiệp aquaponic có lãi thật sự.   Trong khuôn viên một nhà máy bia bị bỏ hoang ở St Paul, Minnesota, một công ty khởi nghiệp mang tên Urban Organics đang cố gắng thay đổi điều đó. Kể từ mùa xuân vừa qua, Organics đã nuôi cá rô phi, trồng húng basil và xà lách, với sự trợ giúp của một công ty láng giềng hùng mạnh – công ty công nghiệp Pentair trị giá 7 tỷ đô la – tin tưởng rằng aquaponic đang gần trở thành một hình thức nông nghiệp có thể gặt hái được thành công.   Với aquaponic, cá – trong trường hợp này là khoảng 3.200 con cá rô phi – được nuôi trong một bể lớn làm bằng nhựa dẻo PE chất lượng cao. Nước thải từ quá trình nuôi cá chảy ra ngoài bể, được làm sạch để tưới cho những cây rau trồng phía dưới. Sau khi cây đã hút hết dinh dưỡng từ nước, nước lại được bơm lên lần nữa và trở lại bể cá. Quá trình này cần nhiều năng lượng, như rau quả cần nhiều ánh sáng nhân tạo để có thể tăng trưởng trong nhà kính.   ‘Điều gì sẽ xảy ra khi bạn đặt một nhà máy sản xuất thực phẩm ở một nơi đang muốn đổi mới đô thị?”, Fred Haberman, nhà sáng lập và một trong những chủ sở hữu của Urban Organics, đặt câu hỏi.   Logic đằng sau mối quan tâm của Pentair đối với mô hình Aquaponic thật rõ ràng: công ty có trụ sở ở Manchester (Anh) và văn phòng đại diện tại Minneapolis (Mỹ) này sản xuất thiết bị tưới tiêu chính xác trong nông nghiệp, như máy bơm hiệu suất điện năng cao, công nghệ lọc nước tiên tiến và hệ thống xử lý nước thải trong nhiều giao dịch, bao gồm cả nuôi trồng thủy sản. Lĩnh vực này đem lại cho Pentair khoảng 75 triệu đô la doanh thu hàng năm, trong khi doanh thu từ aquaponic thì nhỏ hơn nhiều.   “Chúng tôi trông đợi sự thương mại hóa của mô hình aquaponic cao hơn nhiều so với những mô hình trước đây,” Todd Gleason, phó chủ tịch thường trực phụ trách phát triển toàn cầu của Pentair, cho biết. “Ý tưởng này vẫn còn quá mới mẻ. Chúng tôi vẫn còn đang trong quá trình học hỏi”.   Để rút ngắn quá trình đó, Pentair đã cung cấp kỹ thuật thiết kế và trao tặng hệ thống quản lý nước cho Urban Organics. Doanh nghiệp khởi nghiệp này cũng nhận được hỗ trợ từ thành phố St Paul khi mua lại nhà máy bia của Hamm với giá 35.000 đô la (trong khi giá trước đây là 1,2 triệu đô la) và tu bổ, nâng cấp thêm 1 triệu đô la.   Vẫn còn quá sớm để đánh giá thành công của Urban Organics – cá rô phi cần chín tháng để thành cá thương phẩm – và công ty đã chuyển hướng sang rau diếp và húng quế bởi vì các loại rau thơm đem lại lợi nhuận cao. Họ hy vọng sẽ mở rộng thêm quy mô, có lẽ để nuôi cá hồi, và tiết kiệm chi phí năng lượng bằng việc thay thế đèn LED siêu hiệu quả cho bóng đèn sợi đốt.  “Đây thực sự là một thử nghiệm”, Haberman cho biết. “Có thể chúng tôi sẽ mắc lỗi bởi vì đây là việc chưa từng có trước đây. Các nông dân cần trở nên thông minh và dễ thích ứng hơn,” ông nói thêm. “Nhưng việc kinh doanh bắt đầu có vẻ tốt lên”.   Ở nhiều nơi khác, những doanh nghiệp khởi nghiệp aquaponics cũng đang nắm lấy cơ hội. Một trong những doanh nghiệp lớn nhất là Farmed Here hoạt động ngay ngoại ô Chicago và bán các loại rau mầm hữu cơ và rau thơm qua 45 chuỗi siêu thị của Whole Foods và các siêu thị khác gần đó. Trang trại này đã hoạt động từ đầu năm 2013 và giám đốc điều hành Mark Thomman, cho biết doanh nghiệp đang phát đạt.  “Chúng tôi nhận được nhiều yêu cầu hơn cả khả năng sản xuất”, Thomman nói. “Chúng tôi đang mở rộng quy mô”.   Ở Winter Garden, Florida, cũng vào thời điểm này, Green Sky Growers điều hành một trang trại aquaponic trên nóc nhà, sản xuất xà lách, rau thơm và cá rô phi. Các cơ sở có quy mô nhỏ hơn nằm ở Florida và California. TS James Rakocy, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về aquaponic, đã ước tính rằng có 3.500 người yêu thích mô hình aquaponic và có khoảng 1000 hệ thống kiểu này trong các trường học.   Không có sự đảm bảo chắc chắn nào rằng aquaponics sẽ trở thành một thương vụ đích thực. Nhưng Todd Gleason của Pentair thì hết sức lạc quan. “Mọi thứ diễn ra nhanh hơn khi bạn có một mô hình thực sự. Bạn sẽ thất bại và mất ít tiền nhưng sau đó sẽ đạt được thành công”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/nov/25/aquaponics-startup-local-organic-urban-produce       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Technopark Hàn Quốc      Ra đời từ năm 1998, đến nay các khu công nghệ cao ở Hàn Quốc (Technopark) đã gặt hái rất nhiều thành công, trong khi Khu công nghệ cao Hòa Lạc của Việt Nam cũng ra đời cùng thời gian song tiến độ triển khai còn chậm so với kỳ vọng. Vậy kinh nghiệm nào từ Hàn Quốc mà chúng ta cần học hỏi để cải thiện hiệu quả việc triển khai các khu công nghệ cao của mình?       Những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phát triển các Technopark đã được GS Rhee Jae Hoon, Chủ tịch Hiệp hội Các khu CNC Hàn Quốc (KTA), chia sẻ cởi mở với lãnh đạo Bộ KH&CN trong một buổi tọa đàm ngày 11/11 vừa qua, nhân chuyến đi của giáo sư sang Việt Nam để ra mắt cuốn sách Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc mà ông làm chủ biên.   Qua đó cho thấy, mô hình Technopark dù có một số nét tương đồng với mô hình các khu công nghệ cao của Việt Nam, nhưng khác biệt rất rõ ngay trong chủ trương, quan điểm của những người làm chính sách.     Chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa  GS Rhee Jae Hoon cho biết, cuối thập niên 1990 trong bối cảnh Hàn Quốc đang chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế châu Á, Chính phủ Hàn Quốc nhận ra rằng, để phát triển bền vững một nền kinh tế, không chỉ dựa vào tập đoàn lớn mà còn rất cần cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhân tố hết sức năng động, linh hoạt trong việc chớp cơ hội đầu tư hay ứng phó kịp thời trước những biến động của thương trường. Vì vậy, một trong những lý do quan trọng cho sự ra đời các Technopark chính là nhằm hỗ trợ hiệu quả cho những doanh nghiệp nhỏ và vừa này.  Những thành công của sáu Technopark đầu tiên lập tại Songdo, Daegu, Chungnam, Gyounggi, Gwangju và Daedeok đã khẳng định tính đúng đắn của chủ trương trên đây, là cơ sở để Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục nhân rộng số lượng Technopark lên gấp ba, rải đều ở các thành phố và đô thị trung tâm trên phạm vi toàn quốc.   Thực tế cho thấy Technopark đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các dự án phát triển công nghiệp chính ở các vùng từ năm 2004 đến năm 2014, đạt tổng vốn đầu tư 1,38 nghìn tỷ won; vượt mục tiêu đề ra 115,9 % về doanh số, 149,1 % về xuất khẩu và 110,4 % về việc làm. “Theo điều tra trên 94 doanh nghiệp đóng tại 18 Technopark của chúng tôi, mỗi Technopark tuyển dụng 2.000 người, đạt tổng doanh thu 7.835 nghìn tỷ won, tương đương 7,1 tỷ USD [năm 2013]”, GS Rhee Jae Hoon cho biết.   Về nghiên cứu và phát triển, trong 10 năm trở lại đây các Technopark đóng góp tới 1.792 công trình nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tế, 519 công trình được cấp bằng sáng chế, xuất bản 1.116 bài báo (tỷ lệ bài báo SCI đạt 21,2%).    Doanh nghiệp được hỗ trợ gì từ các Technopark?  Theo GS Rhee Jae Hoon, trước khi Technopark ra đời, Hàn Quốc đã học hỏi tất cả những ưu điểm của các mô hình khu công nghệ cao trên thế giới như Science Park, Research Park, Technology Innovation Center ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. Từ đó họ xác định Technopark cần tập trung vào vấn đề tạo dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cùng những ưu đãi về chính sách để khuyến khích các ý tưởng kinh doanh mới, tiền đề để thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các khu Technopark.   Là một trong những người chứng kiến sự phát triển của Technopark ngay từ thời điểm đầu, GS Rhee Jae Hoon cho rằng, hai chức năng nổi bật mà mô hình này đem lại cho các doanh nghiệp Hàn Quốc là trở thành một tổ chức độc lập trung gian để kết nối các bên liên quan trong mối quan hệ cộng sinh giữa trường đại học, nhà sản xuất và chính phủ – mối quan hệ ba nhà là kinh nghiệm Việt Nam lâu nay đã học hỏi nhưng chưa thực hiện thành công – cũng như nơi tư vấn liên quan đến các chính sách, dịch vụ công của các bộ, ngành.   Cũng giống như ở Việt Nam, việc kết nối ba nhà ở Hàn Quốc diễn ra hết sức khó khăn. Trên lý thuyết, cơ chế vận hành của mối quan hệ ba nhà không có gì phức tạp (nhà nghiên cứu cung cấp kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp nhận và thương mại hóa, Nhà nước cung cấp các chính sách ưu đãi về vốn, thuế) nhưng trong thực tế, ba bên nhiều khi không tìm thấy tiếng nói chung để hợp tác. “Các trường đại học chỉ hoạt động dựa trên lợi ích của mình, còn doanh nghiệp lúc nào cũng nghĩ phải nhận được những khoản viện trợ, hỗ trợ từ chính phủ, trong khi chính phủ chỉ đưa ra những quy chế về chính sách mà không hướng dẫn/thực hiện đến nơi đến chốn”, GS Rhee Jae Hoon nói. Chính vì vậy, ở đây cần có vai trò của Technopark với tư cách là một cơ quan độc lập có chức năng điều phối thông tin, tạo cầu nối ý tưởng giữa ba bên, giúp họ kịp thời thấu hiểu lẫn nhau và đem lại cơ hội hợp tác các bên cùng có lợi.   Chức năng nổi bật thứ hai mà Technopark có được là thực hiện dịch vụ tư vấn, hỗ trợ một điểm dừng (one stop) cho doanh nghiệp. Thông qua đó, doanh nghiệp được nhanh chóng tư vấn hoặc hỗ trợ mọi điều kiện cần thiết, từ hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc phục vụ R&D, nơi hỗ trợ đào tạo, huấn luyện kiến thức kinh doanh, makerting…, cho tới các cơ chế, chính sách quy định của Nhà nước, đặc biệt là các gói hỗ trợ của Chính phủ mà doanh nghiệp cần biết.   “Ở Hàn Quốc, các bộ ban ngành như Bộ KH&CN, Bộ Công nghiệp và Thương mại… và các đơn vị hỗ trợ doanh nghiệp khác cũng có nhiều dịch vụ công và có chức năng tư vấn tương tự cho doanh nghiệp, nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp tư nhân hầu như biết rất ít đến các dịch vụ này”, theo GS Rhee Jae Hoon. Với cơ chế hỗ trợ một điểm dừng, Technopark đã đưa “tất cả các dịch vụ này tập trung lại trên một con đường”, và đóng vai trò như một “translator”, giúp nhiều doanh nghiệp từ chỗ còn là “tay mơ” sau khi bước chân ra khỏi Technopark đã trở thành những người đầy am hiểu và tự tin – những “iron man”, như cách ví von của GS Rhee Jae Hoon.    Technopark thụ hưởng những chính sách gì từ Chính phủ Hàn Quốc?  Chính phủ Hàn Quốc không can thiệp một cách trực tiếp vào quá trình hình thành, quản lý, điều hành của các Technopark mà chỉ hoạch định các vùng được chỉ định, sau đó mỗi vùng tự chủ động lựa chọn vị trí cụ thể cho khu của mình. Chính phủ chỉ tạo những điều kiện thuận lợi nhất để các Technopark tự phát huy năng lực, sức sáng tạo của mỗi khu, thậm chí còn khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các Technopark với nhau.   Thông qua các tổ chức phát triển vùng, Chính phủ đã đầu tư, hỗ trợ cho Technopark bằng các dự án, ngân sách đầu tư vùng. Trong kế hoạch năm năm đầu tiên (1999 – 2002), mỗi năm Chính phủ Hàn Quốc đều dành một khoản ngân sách để đầu tư trực tiếp vào các Technopark, theo đó mỗi khu nhận được 5 triệu USD. Số tiền này được các Technopark đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nâng cấp các dịch vụ và hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, luật bảo hộ dành riêng cho Technopark cũng được ban hành với nhiều ưu đãi về chính sách đất đai, thuế, v.v. Luật bảo hộ này có hiệu lực trong vòng 20 năm, từ năm 2007 đến năm 2027, đủ dài để có thể tạo tác động rõ rệt lên các ngành công nghiệp và nền kinh tế.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình tiên lượng mức độ nặng ở bệnh nhân chấn thương      Nhóm tác giả ở Bệnh viện Chợ Rẫy đã xây dựng mô hình giúp phân loại mức độ nặng, nguy cơ tử vong của bệnh nhân để tập trung nguồn lực cứu chữa hoặc chuyển viện kịp thời.    Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, mỗi năm ở nước ta có khoảng hơn 9.000 người chết và khoảng 30.000 người bị thương do tai nạn giao thông. Tỷ lệ tử vong trong các trường hợp sốc chấn thương, đa chấn thương rất cao, từ 10 – 54% tùy theo mức độ nặng. Trong khi đó, hệ thống cấp cứu trước bệnh viện tại Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh, năng lực cấp cứu chấn thương tại các tuyến y tế chưa đồng bộ. Do đó, cần có những công cụ đơn giản, khách quan giúp các nhân viên y tế phân loại mức độ nặng, nguy cơ tử vong của bệnh nhân để tập trung nguồn lực cứu chữa hoặc chuyển viện kịp thời.        Trong đề tài “Xây dựng mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương vào khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy”, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu 1.500 trường hợp chấn thương vào Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy ở độ tuổi từ 20 – 60,tỷ lệ nam/nữ là 2,8/1; tỷ lệ bị chấn thương sọ não là 53,1%. Kết quả cho thấy, tỷ lê ̣tử vong sớm (trong 24 giờ đầu) là 2,1%; tỷ lệ tử vong trong bệnh viện (30 ngày) là 6,3% chủ yếu tập trung vào tuần đầu nhập viện.    Dựa trên các biến số thu được ở bệnh nhân chấn thương tại thời điểm vào khoa Cấp cứu, nhóm tác giả dùng phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến tử vong sớm và tử vong trong bệnh viện. Từ đó, xây dựng mô hình tiên lượng tử vong sớm và tử vong trong bệnh viện. Mô hình này được mã hóa thành các công cụ sử dụng trên hệ thống máy vi tính và các thiết bị điện tử thông minh. Nhờ đó, các thấy thuốc lâm sàng có thể cá thể hóa nguy cơ tử vong cho từng bệnh nhân chấn thương tại thời điểm vào khoa Cấp cứu.    Ngoài ra, phần mềm còn giúp theo dõi, báo cáo kết quả điều trị và thống kê, so sánh kết quả điều trị theo thời gian và theo từng cơ sở y tế khác nhau. Phần mềm tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương có thể tích hợp vào phần mềm quản lý bệnh viện tại các cơ sở y tế. Kết nối dữ liệu này, sẽ có dữ liệu chấn thương ở từng khu vực và sau đó là toàn quốc.    Theo TS.BS Tôn Thanh Trà, Chủ nhiệm đề tài, kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy và mở rộng cho các cơ sở y tế khác.    Đề tài vừa nhận giải ba trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật của Giải thưởng sáng tạo TPHCM năm 2021.    Minh Minh      Author                phongvien        
__label__tiasang Mô hình tính toán hỗ trợ các dự án năng lượng bền vững tăng khả năng sinh lời      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình có thể thúc đẩy đầu tư vào các dự án năng lượng bền vững ở quy mô trang trại, bằng cách giúp các nhà đầu tư dự đoán chính xác liệu dự án có mang lại lợi nhuận hay không.      Với các kỹ thuật tính toán tiên tiến để tăng khả năng dự đoán, mô hình có phần cải tiến hơn so với phiên bản trước đó. Mahmoud Sharara, tác giả chính của bài báo và là giáo sư chuyên về kỹ thuật sinh học và nông nghiệp tại ĐH Bắc Carolina nói: “Việc chuyển đổi chất thải động vật thành điện năng có thể mang lại lợi nhuận cho người nông dân, đồng thời tác động tích cực đến môi trường, chẳng hạn như giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, nông dân không phải lúc nào cũng đủ kinh phí thực hiện những dự án như vậy và bản thân các dự án không phải lúc nào cũng sinh lời cho một trang trại.”  “Có một cách để giải quyết vấn đề này, đó là phát triển các hệ thống tiêu hóa kỵ khí, hợp tác sử dụng chất thải từ nhiều trang trại”, Sharara cho biết. “Hai trong số những bài toán liên quan đến dự án này là: nên xây dựng hệ thống hợp tác ở đâu? Và làm thế nào để biết được liệu nó có khả năng sinh lời hay không?”  Để giải quyết điều này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình tính toán hỗ trợ người dùng trong việc tối đa hóa lợi nhuận kinh tế trên các hệ thống tiêu hóa kỵ khí, có thể cho người dùng biết vị trí của một hệ thống, công suất của nó là bao nhiêu và diện tích khu vực mà nó sẽ phục vụ. Mô hình này cung cấp một loạt các thông tin có sẵn về một trang trại: chẳng hạn như loài động vật đang nuôi, quy mô và nơi được đặt.  Nhưng điều làm nên sự khác biệt của mô hình là cách nó cung cấp những thông tin về độ rủi ro của trang trại đó, trong đó, các nhà nghiên cứu đã xác định được 13 yếu tố rủi ro chính có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của hệ thống bể xử lý kỵ khí. Ví dụ, một trong những cách các hệ thống này kiếm tiền là bằng việc chuyển đổi chất thải động vật thành khí sinh học, sử dụng khí đó để sản xuất điện, sau đó bán lượng điện đó. Do vậy, một biến số quan trọng trong việc dự đoán lợi nhuận của hệ thống là giá bán điện trong tương lai. Và trong khi vẫn chưa chắc chắn về giá điện trong tương lai, bạn có thể dựa vào dữ liệu lịch sử hoặc dự báo thị trường để ước tính phạm vi giá bán.  Điều tương tự cũng đúng với các yếu tố rủi ro khác. Ví dụ, nồi nấu kỵ khí có hiệu suất không ổn định, nhưng bạn có thể dự đoán rằng hiệu suất của nồi nấu sẽ nằm trong một phạm vi nhất định.  Đây là lúc mô hình sẽ vào cuộc.  Các nhà nghiên cứu đã thiết kế mô hình để chạy các mô phỏng lặp đi lặp lại, tính đến sự thay đổi trong từng khía cạnh của sự rủi ro. Ví dụ, lợi nhuận sẽ như thế nào khi giá điện và hiệu suất của nồi nấu đều cao? Nếu cả hai đều thấp thì sao? Và cứ thế, cứ thế. Bằng cách chạy tất cả các mô phỏng này cho các vị trí, công suất và thiết bị khác nhau, mô hình có thể cho người dùng biết sự kết hợp của các yếu tố nào sẽ tạo ra lợi nhuận cao nhất.  Nhóm nghiên cứu đã chứng minh mô hình bằng nghiên cứu thực tế về hệ thống bể xử lý kỵ khí trong các trang trại bò sữa ở hai vùng thuộc Wisconsin.  “Các nghiên cứu thực tế này là phương án đúng đắn để kiểm chứng mô hình của chúng tôi, nó sẽ làm nổi bật tính khả thi và tiện ích của mô hình này”, Sharara nói. “Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng việc này sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư vào các dự án, người nông dân và môi trường đều sẽ được hưởng lợi từ đó”.  Mô hình này hiện đã được đưa vào sử dụng, và các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc nén nó theo một định dạng để dễ sử dụng và phân phối hơn.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-users-on-farm-sustainable-energy-profitable.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình tổ chức kinh doanh mới ở nông thôn      Trước hết có thể thấy, những quan điểm về nông nghiệp như một ngành mang tính truyền thống và có tốc độ tăng trưởng thấp (nhiều nhất cũng chỉ tầm khoảng 3%), nghĩa là tạo ra giá trị gia tăng thấp, đã lạc hậu.      Bây giờ mọi chuyện đã khác bởi sản xuất nông nghiệp có thể gắn kết với các loại hình kinh doanh, dịch vụ, và các ngành nghề khác nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới, những yêu cầu mới của người tiêu dùng về sản phẩm: không chỉ đạt đủ dinh dưỡng, mà còn phải đạt các tiêu chí khác như sạch, xanh, ngon và mang tính thẩm mỹ cao. Với cách nhìn đầy đủ như vậy, sản phẩm nông nghiệp có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều.  Tuy nhiên có một vấn đề gắn liền với sản xuất nông nghiệp và luôn mang tính thời sự. Đó là lợi ích của người nông dân. Thông thường, vị thế mặc cả của người nông dân trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như trên thị trường rất yếu. Có hai lý do chính dẫn đến hiện trạng này:  Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia đang phát triển khác, chủ yếu dựa vào hộ gia đình với đặc điểm là quy mô sản xuất nhỏ, số lượng các hộ tham gia vào bên cung rất lớn, nhưng năng lực sản xuất yếu và đầu tư rất thấp. Đây là lý do chính khiến vị thế mặc cả của người nông dân kém. Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lại có đặc điểm là mang tính thời vụ và chịu rủi ro về dịch bệnh, thiên tai rất cao, điều đó dẫn đến thu nhập chia sẻ cũng yếu.  Thứ hai, khả năng hấp thụ nguồn lực của nông dân cũng yếu. Nhiều nghiên cứu cho thấy, dù nhà nước có không ít chính sách hỗ trợ, nhưng thường với các khoản hỗ trợ gián tiếp thì đối tượng được hưởng lợi nhiều hơn lại là doanh nghiệp.  Vì vậy muốn đầu tư cho nông nghiệp, muốn tạo dựng được một sân chơi bình đẳng cho các thành phần tham gia, trong đó lợi ích của người nông dân được đảm bảo thì chúng ta cần phải hiểu đúng về nông nghiệp với những đặc điểm mới của nó. Đây sẽ là cơ sở để ta tìm ra cách thức giải quyết vấn đề tồn đọng của nông nghiệp, lợi ích của nông dân trong mối quan hệ với doanh nghiệp nông nghiệp. Ở đây tôi thấy có hai cách thức đang tồn tại:  Cách thứ nhất đã được nhiều quốc gia áp dụng, trong đó có Việt Nam, đó là tạo dựng một tổ chức xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi cho người nông dân, hoặc hỗ trợ họ vượt qua khó khăn trong quá trình sản xuất và kết nối với doanh nghiệp. Tổ chức này không chỉ có nhiệm vụ liên kết người nông dân với các tổ chức, đoàn thể xã hội… để tăng vị thế của họ trong chuỗi liên kết mà còn góp phần giám sát cách thức hỗ trợ của nhà nước để đảm bảo các hỗ trợ này thực sự đến với nông dân. Theo quan điểm của tôi, đây là một cách thức mà Việt Nam vẫn nên áp dụng nếu xét đến vấn đề nền nếp truyền thống, đặc điểm riêng biệt về văn hóa với nhiều nét tích cực trong cách thức đùm bọc, hỗ trợ. Tuy nhiên, để phát huy tốt hình thức này, cần chú ý giảm bớt thủ tục hành chính, nếp làm việc quan liêu… trong hoạt động điều hành của tổ chức xã hội này.  Cách thứ hai là những hình thức tổ chức kinh doanh mà cả nhà nước và bản thân sự vận động nội tại của thị trường nông nghiệp đang tìm kiếm và dần hình thành như hợp tác xã, trang trại, công ty cổ phần nông nghiệp, doanh nghiệp sản xuất ủy thác. Qua các hình thức tổ chức kinh doanh này, cả nhà nước và thị trường đều mong muốn xác lập một điểm cân bằng lợi ích của các bên tham gia, trong đó có lợi ích của nông dân, nhằm tạo động lực thúc đẩy sản xuất đạt hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo phân phối kết quả thu được một cách hợp lý hơn.  Loại hình hợp tác xã, Nhà nước đã có sự ủng hộ rất lớn về mặt pháp lý, đó là việc ban hành Luật hợp tác xã (được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 20/11/2012), nhằm đảm bảo cho sự ra đời của một tổ chức kinh tế tập thể đồng sở hữu, nơi các thành viên có thể hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Tinh thần của mô hình này là tạo ra sự liên kết giữa các thành viên để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và lợi ích hài hòa cho mọi thành viên tham gia.  Loại hình kinh doanh là công ty cổ phần nông nghiệp, người nông dân có thể đóng góp cổ phần như một cổ đông nhưng vẫn là một thành viên tham gia vào quá trình sản xuất. Do có cổ phần nên người nông dân không chỉ làm việc tích cực hơn mà còn ở một chừng mực nào đó còn có quyền tham gia vào quá trình hoạch định, đường hướng phát triển, nghĩa là vị thế của người nông dân ổn định hơn, có quyền giám sát quá trình kinh doanh, điều hành tốt hơn.  Loại hình kinh doanh ủy thác, người nông dân thực hiện sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp còn doanh nghiệp giữ vai trò chủ chốt trong việc triển khai kỹ thuật canh tác, trồng trọt, chăn nuôi… nhằm đảm bảo cho người nông dân có kỹ năng làm việc tốt hơn, sản phẩm thu được có chất lượng cao hơn, cũng như đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra ổn định như cam kết.  Loại hình kinh doanh trang trại, người nông dân phải có trong tay một lượng đất đai nhất định và tự thực hiện một/một phần chuỗi sản xuất kinh doanh.   Cả bốn hình thức này đang được tạo ra thông qua sự vận động của thị trường, xã hội, mỗi hình thức đều có những điểm tích cực và cả những điểm chưa hoàn hảo, ví dụ hình thức hợp tác xã chưa phát huy được vai trò hỗ trợ đáng kể cho các hộ nông dân; công ty cổ phần nông nghiệp chưa gắn với xây dựng nông thôn, vai trò và vị thế của nông dân còn hạn chế; sản xuất ủy thác thì tính gắn bó giữa doanh nghiệp và nông dân trong không ít trường hợp còn hạn chế, nguy cơ phá vỡ hợp đồng không nhỏ; trang trại chưa phát huy hiệu quả kinh tế trên qui mô sản xuất lớn, chưa gắn với sự phát triển ở nông thôn và việc gắn kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo. Trong bối cảnh Việt Nam, những rào cản cho sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để như chưa có lợi thế về quy mô đất đai, chưa gắn với tiến bộ KH&CN, kết cấu hạ tầng chưa theo kịp, thị trường nông nghiệp còn nhiều méo mó, thiếu tính minh bạch… Vì vậy, các mô hình không phát huy được những điểm tích cực của mình như kỳ vọng. Và ở trong một số chừng mực, sự hạn chế của các mô hình này còn bắt nguồn từ lòng tin giữa các doanh nghiệp và nông dân chưa cao nên cách thực hiện các cam kết không thật sự đảm bảo cho lợi ích của các bên.  Mô hình tổ chức kinh doanh mới ở nông thôn  Bên cạnh sự đa dạng của các mô hình sản xuất nông nghiệp cùng với những tìm tòi hạn chế khiếm khuyết của chúng, theo tôi cần xem xét một mô hình sản xuất kinh doanh mới, tạo ra được lợi thế về quy mô sản xuất, hấp thụ được vốn đầu tư và công nghệ và quan trọng là gắn kết được các bên thành chuỗi giá trị: bộ phận đảm trách nghiên cứu và phát triển như trường đại học, viện nghiên cứu; bộ phận tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, cung ứng vật tư như công ty công nghệ; bộ phận cung cấp vốn như quỹ đầu tư mạo hiểm, ngân hàng, nhà đầu tư trong và ngoài nước; bộ phận chế biến và cung ứng nguyên liệu như các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, vận tải, phân phối, bán lẻ; bộ phận tiêu thụ và thương mại: doanh nghiệp quảng cáo, người tiêu dùng trong và ngoài nước…  Mô hình này lấy người nông dân, tổ chức kinh doanh của họ làm một nòng cốt bởi với bối cảnh Việt Nam hiện nay, một vị trí trung tâm vẫn cần thuộc về họ và quyền sử dụng đất đai nên gắn với họ, qua đó có thể liên kết với doanh nghiệp thông qua các hình thức khác nhau để tạo lợi thế về quy mô và tạo ra chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Có thể tạm gọi mô hình này là mô hình tổ chức kinh doanh mới ở nông thôn.  Vậy cần những gì để mô hình này đạt được mục tiêu như mong muốn? Trước hết, nó cần quy tụ được người nông dân, mà muốn họ tham gia thật sự thì phải cho họ thấy vai trò, lợi ích của mình ở đó được thực hiện một cách nghiêm túc; thứ hai, mô hình này phải đạt hiệu quả trong kinh doanh thông qua các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Do mô hình này không thuần về kinh doanh, nên muốn nó phát huy được hiệu quả cần phải gắn nó với một tổ chức mang tính xã hội cao và cần một quy trình dân chủ và minh bạch, tạo được người giỏi trong quản lý, điều hành. Hơn nữa, do mô hình có phần mới mẻ và phức tạp hơn các mô hình hiện hành nên Nhà nước cần thực hiện thí điểm để qua đó có thể nhận được những phản biện, phản hồi từ xã hội nhằm kịp thời điều chỉnh những điểm chưa hợp lý. Điều quan trọng nữa là thông qua việc thực hiện mô hình này, chúng ta thể hiện sự tôn trọng thị trường và để thị trường điều tiết việc sản xuất kinh doanh vì bản chất của thị trường gắn liền với tính hiệu quả.  Với bối cảnh Việt Nam hiện nay, theo tôi, vấn đề lớn nhất để thực hiện được mô hình tổ chức kinh doanh mới ở nông thôn này là quá trình xây dựng và quản lý, điều hành nó phải  gắn với sự minh bạch, dân chủ, bởi chỉ minh bạch mới đạt được hiệu quả thật sự trong kinh doanh và chỉ dân chủ mới đảm bảo được quyền lợi của người nông dân.    Author                Võ Trí Thành        
__label__tiasang Mô hình toán học làm sáng tỏ cách tia chớp tạo ra tia X      Vào đầu những năm 2000, các nhà khoa học đã quan sát sự phóng điện của tia chớp tạo ra tia X, bao gồm các photon năng lượng cao – đồng dạng với tia X trong chụp ảnh y khoa. Các nhà nghiên cứu đã  có thể tái tạo hiện tượng này trong phòng thí nghiệm nhưng lại không thể giải thích một cách đầy đủ về việc vì sao và như thế nào mà tia chớp lại tạo ra được các tia X.    Postdoct Reza Janalizadeh (trái) và giáo sư Victor Pasko. Nguồn: PSU  Hiện tại, hai thập kỷ sau, một nhóm nghiên cứu ở Penn đã khám phá được cơ chế vật lý giải thích sự xuất hiện tự nhiên của các tia X liên quan đến hoạt động của các tia chớp trong bầu khí quyển trái đất.  Họ đã công bố các kết quả của mình trên tạp chí Geophysical Research Letters 1, “Conditions for Inception of Relativistic Runaway Discharges in Air”.  Phát hiện của nhóm nghiên cứu có thể rọi ánh sáng vào một hiện tượng khác: cú sốc nhỏ mà thi thoảng người ta cảm nhận được khi chạm vào một tay nắm cửa bằng kim loại. Được gọi là phóng tia lửa điện, hiện tượng này xuất hiện khi có sự chênh lệch về điện áp giữa một cơ thể và một vật dẫn. Trong một loạt thí nghiệm được thực hiện vào những năm 1960, các nhà khoa học đã khám phá ra sự phóng tia lửa điện tạo ra tia X – giống như tia chớp. Hơn 60 năm sau, các nhà khoa học vẫn còn thực hiện các thí nghiệm như vậy trong phòng thí nghiệm để hiểu rõ hơn về cơ chế nằm trong quá trình này.  Tia chớp bao gồm một phần của các electron có tương đối tính, phát ra những bùng phát tia X năng lượng cao một cách ngoạn mục với năng lượng hàng chục mega electron-volt mà người ta gọi là chớp tia gamma địa cầu (terrestrial gamma-ray flashes TGFs). Các nhà nghiên cứu đã tạo ra các mô phỏng và mô hình để giải thích những quan sát TGF này nhưng vẫn chưa đủ khớp giữa mô phỏng và thực tế, theo tác giả liên hệ Victor Pasko, giáo sư kỹ thuật điện trường Penn. Pasko và nhóm nghiên cứu của mình mô hình hóa về mặt toán học hiện tượngTGF để hiểu sâu hơn cách hiện tượng xuất hiện trong không gian compact được quan sát.  “Các mô phỏng này rất lớn – thông thường ở quy mô hàng ki lô mét – và cộng đồng vật lý giờ có thể không còn tranh cãi về sự khác biệt giữa mô phỏng và thực tế quan sát bởi vì khi tia chớp lan truyền trong không gian, nó được nén chặt”, Pasko nói và giải thích là kênh không gian của tia chớp cụ thể vài cm trong khi hoạt động phóng điện tạo ra tia X trải rộng các kênh đó tới 100 mét trong những trường hợp cực đoan. “Vì sao nguồn tại được nén chặt như vậy? Cho đến hiện nay thì nó vẫn là câu đố. Khi chúng tôi tìm hiểu vấn đề ở quy mô rất nhỏ, dường như nó cũng gợi ý cho những thực nghiệm được thực hiện từ những năm 1960”.  Pasko cho biết, họ phát triển lời giải về điện trường khuếch đại số electron, điều hướng hiện tượng. Các  electron tán xạ các nguyên tử trong không khí khi chúng được gia tốc. Khi các electron di chuyển, phần lớn chúng hướng về phía chúng nhận năng lượng và nhân lên, tương tự như một vụ lở tuyết, cho phép chúng tạo ra nhiều electron hơn. Khi các electron thành “thác lũ”, chúng tạo ra tia X-ray, phóng các photon ra phía sau và tạo ra các electron mới.  “Từ đó, câu hỏi mà chúng tôi muốn trả lời về mặt toán học là ‘cái gì là điện trường anh cần để đưa vào cho chúng sao chép, đủ để phóng các tia X về phía sau, cho phép khuếch đại những electron được lựa chọn đó?’’’, Pasko nói.  Mô hình toán học thiết lập một ngưỡng cho điện trường, theo Pasko, để xác nhận cơ chế phản hồi khuếch đại cơn ‘lở tuyết’ electron khi phát ra tia X bằng việc phóng các electron ra phía sau và tạo ra các electron mới. “Các kết quả của mô hình này phù hợp với bằng chứng quan sát và thực nghiệm, nó chỉ dấu là TGFs được sinh ra từ những vùng compact tương đối tính của không gian với sự mở rộng không gian của trật tự từ 10 đến 100 mét”, Pasko giải thích.  Thêm vào việc miêu tả hiện tượng năng lượng cao liên quan đến tia chớp, Pasko nói công trình này có thể cuối cùng giúp thiết kế được các nguồn tia X. Các nhà nghiên cứu nói họ lên kế hoạch để kiểm tra cơ chế này bằng việc sử dụng các vật liệu và khí khác nhau cũng như các ứng dụng khác cho phát hiện của mình.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-mathematical-lightning-produced-x-rays.html  https://news.engr.psu.edu/2023/pasko-victor-mathematical-model.aspx  ———————————————-  1. https://agupubs.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1029/2022GL102710    Author                .        
__label__tiasang Mô hình tôm – lúa ứng phó hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL      Một mô hình tôm – lúa có khả năng thích ứng với biến động của thời tiết và xâm nhập mặn sẽ được Bộ KH&CN và Bộ NN&PTNT thực hiện thí điểm tại hai huyện An Biên, An Minh (Kiên Giang) để xây dựng thành quy trình chuẩn trước khi chuyển giao cho các hộ nông dân triển khai trên diện rộng tại ĐBSCL.      Mô hình tôm lúa đã được áp dụng tại nhiều địa phương khu vực ĐBSCL nhưng chưa được chuẩn hóa và việc trồng lúa chủ mang tính chất cải tạo môi trường, chưa đem lại thu nhập cho người nông dân. Nguồn: Báo Nhân dân.  Chiều 22/3, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Việt Thanh và Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam đã cùng chủ trì phiên họp bàn báo cáo đề xuất nhiệm vụ KH&CN phục vụ ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn khu vực ĐBSCL.  Trước những biến đổi bất thường của thời tiết do biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tác động của con người tới nguồn nước trên thượng nguồn sông Mê kông, khu vực ĐBSCL đã phải hứng chịu nhiều ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống mà đỉnh điểm là đợt hạn hán hán và xâm nhập mặn đầu năm 2016 gây thiệt hại cho hơn 200.000 ha trồng lúa, 9.400 ha cây ăn trái, 2.000 ha nuôi tôm (số liệu công bố tại Hội nghị giao ban về công tác ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn ở Sóc Trăng ngày 28/4/2016 1).  Để có biện pháp KH&CN hữu hiệu ứng phó với tình trạng này, Bộ KH&CN và Bộ NN&PTNT đã đề xuất việc xây dựng mô hình sản xuất tôm – lúa, một mô hình đã được nhiều hộ nông dân khu vực ĐBSCL áp dụng, tuy nhiên do mô hình và các quy trình kỹ thuật đi kèm vẫn còn chưa được chuẩn hóa nên dẫn đến rủi ro mùa vụ rất cao, thậm chí lây lan dịch bệnh không kiểm soát. Thứ trưởng Trần Việt Thanh nhấn mạnh đến vai trò của mô hình sẽ thực hiện thí điểm tại hai huyện An Minh, Anh Biên để có thể xác định được giống lúa, giống tôm phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng như các quy trình kỹ thuật đi kèm được tối ưu bởi mục tiêu của mô hình tôm – lúa này là chuyển giao cho các hộ nông dân, tạo điều kiện sinh kế cho họ, góp phần giải quyết vấn đề nước sạch sinh hoạt, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp.    Trong cuộc họp, các đơn vị chức năng, viện nghiên cứu của hai bộ như Vụ KH&CN các ngành nghề kinh tế kỹ thuật (Bộ KH&CN), Vụ KH&CN, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 (Bộ NN&PTNT)… đã nêu thực trạng này. Đại diện Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, PGS. TS Tô Ngọc Thanh – Phó giám đốc Viện và GS. TS Tăng Đức Thắng, cho rằng, một trong những vấn đề mấu chốt của mô hình tôm – lúa là kiểm soát được nguồn nước, chủ động cung cấp các nguồn nước sạch cho các hộ nuôi tôm và thoát nước tốt, không để ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và tránh lây lan dịch bệnh, nếu xảy ra trường hợp này. Do đặc điểm của thời tiết khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn sớm hơn một đến hai tháng hiện nay mà nguồn nước ở khu vực ĐBSCL đang rơi vào trạng thái biến động, khó dự báo, dự báo trong tương lai, xu thế này sẽ còn khó lường hơn. Vì vậy, để có được sự thành công của mô hình tôm – lúa cần phải có những giải pháp về hạ tầng thủy lợi, giải pháp xử lý sự cố, đánh giá nguồn nước, xây dựng bản đồ xâm nhập mặn.  GS. TS Tăng Đức Thắng cho biết thêm, các nhà nghiên cứu sẽ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cụ thể để đưa ra những công cụ và quy trình kỹ thuật hữu hiệu như công cụ dự báo nguồn nước, quy trình xây dựng thông tin dự báo theo mùa, tháng, tuần, quy trình cảnh báo một số nguồn nhiễm mặn, dự báo lan truyền nước bẩn…, và đi kèm với nó là các giải pháp khắc phục mang tính tích hợp.  Là một trong những đơn vị quan trọng tham gia xây dựng mô hình tôm lúa, Viện Lúa ĐBSCL được giao nhiệm vụ lựa chọn các giống lúa thích hợp. TS. Nguyễn Thúy Kiều Tiên, Phó Viện trưởng, nêu hiện Viện đã lai tạo được một vài giống lúa có khả năng chịu mặn 40/00 như OM 2517, OM 5451 với đặc điểm là thời gian sinh trưởng ngắn nhưng chất lượng gạo chưa cao. Trước đây, Viện cũng cùng hợp tác với một số đơn vị như Sở KH&CN Bạc Liêu chọn thuần, phục tráng giống lúa một bụi đỏ cho vùng chuyển đổi tôm lúa Bạc Liêu, thời gian canh tác kéo dài tới 6 tháng và chất lượng ở mức trung bình. TS. Tiên cho biết, có thể lai tạo, nâng cao phẩm chất đáp ứng khả năng chịu mặn của giống OM 2517 lên tới 60/00.  Thứ trưởng Trần Thanh Nam đề nghị, Viện Lúa ĐBSCL cần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng gạo thương phẩm từ giống lúa OM 2517 nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con áp dụng mô hình tôm – lúa. Một trong những yếu tố quan trọng để sản phẩm gạo OM 2517 được giá cao trên thị trường là đạt tiêu chuẩn VietGAP, vì vậy Viện Lúa ĐBSCL cần hoàn thiện quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP để có thể áp dụng rộng rãi. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng đề nghị với Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 chọn giống tôm tốt để cùng kết hợp với giống lúa của Viện Lúa ĐBSCL đưa mô hình tôm – lúa này thành mô hình sản xuất tôm sinh thái – lúa hữu cơ, một hướng đi nhiều tiềm năng cho bà con nông dân khu vực ĐBSCL khi áp dụng trên diện rộng.  Mục tiêu Bộ KH&CN và Bộ NN&PTNT đặt ra là sớm thông qua các nhiệm vụ KH&CN về mô hình tôm – lúa trong tháng Tư để có thể triển khai thực hiện mô hình ngay trong năm 2017.  —————————————  1. https://www.soctrang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gLR1dvZ09LYwOL4GAnA08TRwsfvxBDRxNXA_2CbEdFAHq6-KI!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/web+content/soctrangsite/trangchu/tintucsukien/tainguyenmoitruong/cacdiaphuongganketungphohanman      Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Mô hình Trung Quốc không bền vững      Theo Giáo sư Daron Acemoglu, ứng viên giải thưởng Nobel người Hoa Kỳ,&#160; thì sự lạm dụng quyền lực của các chính khách tham nhũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến nghèo khổ. Những quốc gia thiếu một thể chế tốt về lâu dài nhất định sẽ thất bại.     WirtschaftsWoche (Tuần kinh tế): Thưa Giáo sư Acemoglu, cuộc cách mạng ở vùng Trung Cận Đông cách đây khoảng một năm đã làm dấy lên niềm hi vọng rằng tự do về chính trị sẽ đem lại  thịnh vượng về kinh tế ở khu vực này. Nhưng giờ đây chỉ còn là một sự vỡ mộng. Vậy các nước ở khu vực này đã mắc phải sai lầm gì?     Acemoglu: Những biến động về chính trị và kinh tế diễn ra ở Trung Cận Đông thực chất là một bước ngoặt và về lâu dài nó sẽ làm thay đổi một cách bền vững bộ mặt của những nước trong khu vực đó. Nhưng hiện tại tình hình còn nhiều yếu tố bất ổn và vẫn chưa biết sẽ đi về đâu. Yếu tố then chốt quyết định cho phát triển kinh tế không phải là người dân được bầu cử tự do, mà là họ có thành công hay không trong việc xây dựng một thể chế tốt đẹp.     Ý của giáo sư là?  Một thể chế tốt đẹp, ở đây tôi muốn đề cập tới cái gọi là “thể chế cởi mở” (Inclusive Institutions), là một thể chế giúp cho mọi người phát huy hết năng lực kinh tế tiềm tàng của mình để thúc đẩy sự thịnh vượng của quốc gia. Những vấn đề cơ bản ở đây là con người có quyền sở hữu chắc chắn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi nhóm người trong xã hội đều có quyền tham gia về chính trị, và những hoạt động chính trị này gắn liền với các quy tắc tiến bộ. Các tiêu chuẩn xã hội và hệ thống giá trị cũng hết sức quan trọng, thí dụ mọi công dân phải thượng tôn pháp luật. Một thể chế cởi mở sẽ giúp quyền lực chính trị được phân bổ cân bằng để không một nhóm người nào có thể bóc lột nhóm người khác về chính trị hoặc kinh tế.   Tại phần lớn các nước vùng Trung Cận Đông thường có một nhóm tinh hoa ít ỏi kiểm soát toàn bộ nguồn tài nguyên. Khả năng thành lập doanh nghiệp cũng dành riêng cho tầng lớp tinh hoa đó. Điều thách thức ở đây là phải thay đổi tận gốc cái cấu trúc này.     Vậy cơ hội thành công của việc thay đổi cấu trúc chính trị này là như thế nào?          Sự giàu có về dầu mỏ trở thành một bất lợi của Libya   Không nên đánh giá quá cao vai trò của tài nguyên thiên nhiên. Đa số  người dân Libya có cuộc sống rất nghèo khổ, mặc dù đất nước này có nguồn  dầu mỏ phong phú với chất lượng rất cao. Chỉ có thể chế mới thực sự là  yếu tố quyết định để biến nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào thành  phúc hay là họa cho một quốc gia. Nếu nền chính trị, hành chính và tư  pháp phục vụ sự duy trì quyền lực của những kẻ cầm quyền thì nguy cơ lớn  là ở chỗ, bọn này sẽ vơ vét nguồn tài nguyên phong phú này cho bản thân  mình. Đối với Libya thì sự giàu có về dầu mỏ lại là một điều bất lợi,  khi đất nước này không thành công trong việc thay đổi cơ cấu nội tại của  mình. Ngược lại một đất nước có nguồn tài nguyên phong phú và có một  thể chế hoàn hảo, thí dụ như Na Uy hay Botswana thì nguồn tài nguyên  phong phú là cái phúc với các quốc gia đó.         Xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử thì sẽ không dễ thành công. Khi những kẻ được coi là tầng lớp tinh hoa bị hất ra khỏi các vị trí của chúng, thì những nhà cầm quyền mới lại tiếp tục tìm cách khai thác cái cấu trúc đó vì lợi ích của mình.   Xin giáo sư cho một số ví dụ?  Hãy xem số phận nhiều quốc gia ở phía Nam sa mạc  Sahara hay các nước ở Nam Á. Sau khi giành được độc lập từ các ông chủ thực dân thì nền độc lập đó lại rơi vào tay thế lực cầm quyền ở trong nước, và thế lực này cũng bóc lột, vơ vét tài nguyên của đất nước như những tên thực dân trước đó. Thậm chí ngay như Mỹ cũng từng lâm vào sự phát triển tương tự. Sau cuộc nội chiến chế độ nô lệ bị cấm, người da màu có quyền bầu cử. Nhưng tầng lớp tinh hoa cũ ở phía Nam vẫn khư khư bám lấy cái cấu trúc quyền lực cũ. Đó chính là nguyên nhân vì sao nền kinh tế ở các bang phía Nam của Mỹ hầu như không phát triển lên  được.   Thưa giáo sư vậy yếu tố văn hóa có ý nghĩa như thế nào đối với phát triển?  Tôi hoàn toàn không cho rằng những khó khăn hiện nay ở khu vực Trung Cận Đông là do nền văn hóa Ả Rập gây ra.  Đúng là những quan niệm cực đoan về tôn giáo và sự phân mảnh quá lớn về dân tộc có thể gây khó khăn cho sự phát triển nền dân chủ và các tiêu chuẩn xã hội. Nhưng thường thì chất lượng của thể chế là do căn nguyên lịch sử. Hãy lấy nước Anh làm ví dụ. Thông qua tự do báo chí mọi công dân ở Anh đều có quyền tham gia một cách dân chủ vào việc kiểm soát tầng lớp tinh hoa của đất nước và điều đó được coi là nghiễm nhiên. Nhưng điều nghiễm nhiên này không phải từ trên trời rơi xuống mà là kết quả của cả một quá trình phát triển kéo dài tới 400 năm.     Phải chăng điều đó có nghĩa là các quốc gia Trung Cận Đông cần có 400 năm để đạt được một thể chế có chất lượng như ở nước Anh hiện nay?  Nước Anh từng đi tiên phong trong việc phát triển thể chế cởi mở. Giờ đây các quốc gia Trung Đông có thể trải qua giai đoạn này nhanh hơn vì đã có những tấm gương trong lịch sử để noi theo. Nhưng con đường đó đầy chông gai và gắn liền với nhiều bất ổn.   Những nước thuộc địa trước đây như Ấn Độ hay Nam Phi có lợi thế hay không?  Kinh nghiệm mà các nước thuộc địa trước đây đã trải qua rất khác nhau. Ấn Độ, Hoa Kỳ, Singapore và Hồng Kông được hưởng lợi từ quá khứ thuộc địa, nhưng nhiều quốc gia châu Phi ở phía Nam sa mạc Sahara và các nước ở Trung Mỹ thì lại bị nhiều thiệt hại. Sự khác nhau này là do chiến lược của chủ nghĩa thực dân, và chiến lược này còn tác động cả đến phong trào giành độc lập sau này. Một khi chế độ thuộc địa chủ yếu nhằm vơ vét, bóc lột nguồn tài nguyên thì thường diễn ra nạn cưỡng bức lao động cùng với sự đàn áp khốc liệt. Còn ở những nước mà người dân chính quốc kéo đến thuộc địa với số lượng đông đảo để làm ăn sinh sống hoặc coi thuộc địa là địa bàn hoạt động thương mại thì các thuộc địa này thường có điều kiện thuận lợi hơn hẳn. Và khi chấm dứt  chế độ thuộc địa thì các nước này có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển.   Sự phát triển mạnh mẽ từ nhiều năm nay của Trung Quốc liên quan thế nào tới thể chế của họ?   Trong quá trình vươn lên như chúng ta thấy, Trung Quốc có thể đạt được mức tăng trưởng cao trong nhiều thập niên mà không cần xây dựng một thể chế cởi mở. Nhưng mô hình này không bền vững.   Sự giàu có ngày càng tăng ở Trung quốc có tác động tích cực tới thể chế hay không?  Giả thiết hiện đại hóa này chưa được lịch sử chứng minh. Trong 100 năm qua có nhiều quốc gia đạt được sự tăng trưởng cao nhưng thể chế của các quốc gia đó không thay đổi nhiều. Nước Nga đạt mức tăng trưởng cao từ năm 1930 đến 1950, nhưng vẫn giữ nguyên một thể chế với mô hình phát triển thiếu bền vững, đó là phát triển theo xu hướng tận thu, khai thác triệt để các tài nguyên. Ả Rập Saudi cũng là một mô hình không bền vững, nhưng giả dụ giá dầu mỏ sẽ tăng gấp đôi thì quốc gia này vẫn tiếp tục ngày một giàu có, và điều đó sẽ làm giảm áp lực cần phải cải cách ở nước này.   Vậy thì, thưa giáo sư, điều gì sẽ thúc đẩy sự chuyển đổi?  Không có một câu trả lời chung cho vấn đề này. Các nước phải tự thúc đẩy quá trình phát triển của chính mình. Các nước khác chỉ có thể tham gia hỗ trợ mà thôi.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình trường học Mới      Trường học Mới là trào lưu sư phạm-văn hóa quan trọng nhất ở châu Âu và nước Mỹ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX. Nó đã đề ra những quan niệm và nguyên tắc giáo dục mang tính tiến bộ, trực tiếp đi vào bản chất của mục tiêu giáo dục hiện đại, thay thế lối mòn của giáo dục truyền thống thụ động.      Trào lưu trường học mới ở châu Âu và “ứng dụng” ở Colombia  Trào lưu đó được biết đến dưới nhiều tên khác nhau như: Trường học hiện đại, Trào lưu cải cách giáo dục, Trường học tiến bộ và trào lưu Giáo dục mới. Nó truyền tải ý tưởng đào tạo “Con người mới” cho thế giới đương đại. Mấu chốt “cải cách sư phạm” của nó nằm ở chỗ chuyển đổi loại hình giáo dục coi giáo viên (GV) là chủ thể trung tâm của quá trình giảng dạy sang loại hình giáo dục đặt học sinh (HS) vào trọng tâm của mọi hoạt động sư phạm. Xung quanh trào lưu giáo dục này, có một nhóm các nhà sư phạm và nhà tư tưởng giáo dục ở châu Âu và châu Mỹ quan tâm tới việc hình thành một loại trường phù hợp với tâm lý trẻ em, như Ovide Decroly (1871-1932) ở Bỉ, John Dewey (1859-1952) ở Mỹ, Jean Piaget (1896- 1980), Édouard Claparade (1873-1940) và Adolphe Ferriere (1879-1960) ở Thụy sĩ, Beatriz Ensor ở Anh, Maria Montessori (1870 -1952) ở Ý hay Agustin Nieto Caballero (1889-1975), Rafael Bernal Jiménez và Tomás Cadavid Restrepo ở Colombia, …   Trường học Mới triển khai tại Colombia (EN) là mô hình giáo dục dựa trên nền tảng các thành tựu chung về giáo dục của nhân loại, các nhà giáo dục đã đưa ra cách làm thực tiễn hiệu quả phù hợp với đất nước Colombia. Một số lý thuyết được áp dụng vào mô hình này như Thuyết tâm lý học phát triển của Piaget và lý luận về “vùng phát triển gần nhất” của Vưgotsky; Thuyết kiến tạo; Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner … Colombia triển khai Mô hình trường học Mới bắt đầu từ những vùng khó khăn, miền núi thành công rồi mới mở rộng ra vùng thuận lợi trên tinh thần tự nguyện. Đặc biệt mô hình luôn hướng vào hình thành các năng lực và phẩm chất của người công dân Colombia và năng lực công dân toàn cầu.  EN được “vận hành” dựa trên năm nguyên tắc: (i) Lấy HS làm trung tâm (HS được học theo khả năng của riêng mình; tự quản; hợp tác và tự giác cao trong học tập); (ii) Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của HS; (iii) “Xếp lớp linh hoạt”: HS được lên lớp trên nếu được GV đánh giá đạt được các mục tiêu giáo dục tối thiểu; (iv) Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với GV để giúp đỡ HS một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con em mình; (v) Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại cho HS.  Dựa trên các nguyên tắc đó, thực hành dạy và học được tổ chức theo hình thức: HS được tổ chức thành nhóm, lớp nhỏ; các em cũng có thể học theo cặp, cá nhân hoặc trực tiếp làm việc với GV; quan điểm của HS luôn được GV quan tâm; HS xây dựng các hoạt động dựa trên các hướng dẫn học tập của GV và các hoạt động này sau đó được các em tự mình hoàn thành; HS giải quyết các vấn đề được GV hoặc các bạn của các em đưa ra; có những lúc GV giảng bài nhưng theo cách thức có tính chất giao tiếp nhiều hơn; GV thường phải quan sát, hướng dẫn và thảo luận, đánh giá hoạt động của các nhóm HS.  Đánh giá EN của cộng đồng quốc tế  Mô hình EN được các chuyên gia giáo dục quốc tế đánh giá là thành công. Trong đó, UNESCO coi EN là mô hình có chất lượng tốt nhất về giáo dục tiểu học ở các vùng nông thôn của châu Mỹ La tinh. Liên Hiệp Quốc đã chọn mô hình EN là một trong ba thành tựu chính của Colombia trong Báo cáo phát triển con người năm 2000. Worldbank chọn EN là một trong ba cải cách đáng chú ý nhất ở các nước phát triển. Đầu năm 2012, Tạp chí Giáo dục toàn cầu đã xếp EN ở vị trí thứ 4 trong số 100 dự án giáo dục có nguồn kinh phí từ các tổ chức phi chính phủ mà hiệu quả đầu tư tốt nhất. Trên toàn thế giới, có 35 nước (trong đó có Việt Nam) đã tìm hiểu mô hình EN để làm cơ sở, động lực cho thay đổi nhà trường truyền thống và nâng cao chất lượng giáo dục của mình.  Đối với HS, mô hình này giúp rèn luyện các kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng phân tích – phê phán; tăng cường lòng tự trọng và khả năng tự định hình bản thân; khuynh hướng dân chủ, bình đẳng và đạo đức trong công việc; các kĩ năng học thuật và kĩ năng sống luôn luôn gắn liền với quyền công dân, sức khỏe, môi trường và di sản văn hóa; HS tự hướng dẫn và tự điều chỉnh tốc độ học tập của bản thân và HS có sự tham gia tích cực vào quá trình học tập. Đối với GV, mô hình này giúp GV tập trung vào đảm bảo tính hiệu quả và tính thực tiễn, thúc đẩy mạnh hoạt động giảng dạy có chất lượng cao; luôn có thái độ và các hành động tích cực đối với giáo dục; hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giữa các GV thông qua các tiểu trung tâm hoặc chu kỳ học tập, bồi dưỡng của GV; GV có nhiều cơ hội tương tác trong phạm vi nhà trường và cộng đồng xung quanh.  Đối với cộng đồng, EN tạo mối quan hệ hợp tác và hướng tới tinh thần xã hội giữa GV, HS và cộng đồng; tăng cường kết nối các chương trình học có liên quan và gắn kết với gia đình, địa phương; nâng cao giá trị và sự hiểu biết về các hoạt động thường nhật của nhà trường; xây dựng mạng lưới hỗ trợ toàn diện trong cộng đồng.  Đối với cơ quan quản lý, EN giúp xây dựng mối quan hệ mang tính hỗ trợ với GV thay vì mối quan hệ cứng nhắc mang tính chỉ huy; tạo lập khuynh hướng giáo dục tích cực theo phương pháp luận của EN; phát triển hệ thống đào tạo về năng lực quản lí có hiệu quả cho GV thông qua các chiến lược đào tạo GV tập trung mang tính thực tiễn; khả năng đánh giá thành tích của HS và GV chính xác và hiệu quả.  Mô hình trường học mới là mô hình giáo dục cụ thể được kiểm định qua thực tế, được tổng kết đánh giá và được công nhận hiệu quả bởi tính khả thi của nó, phù hợp với đổi mới giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học ở châu Mỹ la tinh và nhiều nước khác. Mô hình EN giải quyết trực tiếp và có hệ thống những thách thức của giáo dục ở những địa phương có cơ sở hạ tầng nghèo nàn, thiếu nguồn lực, trình độ GV thấp, tỷ lệ lưu ban, bỏ học cao và kết quả học tập thấp. Thực trạng của nhiều vùng khó khăn của Việt Nam cũng có những điểm giống với thực trạng của các vùng khó khăn ở Colombia. Vì vậy, nếu chúng ta áp dụng mô hình EN trên cơ sở kế thừa các thành tựu giáo dục của Việt Nam, dựa trên kế hoạch và cách làm đổi mới cùng với sự hỗ trợ thích hợp về các nguồn lực của Quốc tế và Chính phủ Việt Nam, sẽ làm thay đổi đời sống hằng ngày của nhà trường cũng như hoạt động dạy và học của GV và HS trong các trường tiểu học ở Việt Nam.  ——–  * TS, Đại học Giáo dục, ĐHQG HN.  ** Chuyên gia cao cấp về giáo dục, Worldbank Vietnam.    Author                Phạm Thị Thanh Hải - Trần Thị Mỹ An        
__label__tiasang Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái vào canh tác lúa      Sau Tiền Giang, An Giang, hiện nay mô hình áp dụng công nghệ sinh thái vào canh tác lúa giảm chi phí từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm phát thải khí nhà kính, tích cực bảo vệ môi trường đã và đang được triển khai tại Hậu Giang. Không còn nỗi lo cháy rầy, tăng lợi nhuận, giảm ô nhiễm môi trường… là những hiệu quả thực tế đã thu hút sự quan tâm áp dụng của nhiều hộ nông dân.  &#160;    Tuy mới thực hiện thí điểm nhưng kết quả thử nghiệm cho thấy, mật số các loài thiên địch chính của rầy nâu như nhện lớn bắt mồi, bọ xít mù xanh và ong ký sinh của rầy nâu ở khu mô hình luôn cao hơn so với khu ruộng đối chứng. Điều này đã làm cho rầy nâu không có điều kiện bộc phát thành dịch. Bằng chứng là cả vụ không ghi nhận trường hợp nào nhiễm rầy. Trong khi đó, số lần phun thuốc trừ sâu ở mô hình giảm từ 1-2 lần/vụ so với ruộng không áp dụng mô hình. Việc này đồng nghĩa với tiết giảm được ảnh hưởng xấu của thuốc bảo vệ thực vật thải ra môi trường sống.  Mô hình áp dụng công nghệ sinh thái vào canh tác lúa đã được triển khai áp dụng tại huyện Châu Thành A (Hậu Giang) từ ba năm qua. Thị trấn Bảy Ngàn, là một trong những địa phương tiên phong thực hiện mô hình công nghệ sinh thái. Đến nay, thị trấn đã nhân rộng áp dụng trên 30% diện tích trồng lúa, với tổng chiều dài ước khoảng 6km, gồm hơn 160 hộ nông dân tham gia.  Lúc mới triển khai, cán bộ ngành nông nghiệp phải xuống ruộng trực tiếp trồng hoa, chăm sóc. Sau vài vụ lúa, ở những ruộng có trồng hoa giảm được số lần phun thuốc trừ sâu nên nông dân thấy lợi ích và tự mình thực hiện” – anh Nguyễn Thanh Phong, Tổ trưởng Tổ kỹ thuật thị trấn Bảy Ngàn, cho biết.  Từ đợt thực hiện thí điểm mô hình công nghệ sinh thái vụ Hè thu 2014, ông Triệu Văn Trứ, ở khu vực 7, phường 4 cho biết sẽ tiếp tục duy trì cách làm này trên đồng ruộng của mình để đảm bảo lợi nhuận cũng như sức khỏe gia đình, cộng đồng nơi mình sinh sống.  Theo ông Nguyễn Văn Như (ấp 4a) đã trồng hoa bao bọc 1,3ha bờ ruộng lúa của gia đình, thì: “Áp dụng mấy vụ rồi, ruộng của tôi đã giảm được sâu bệnh rõ rệt. Mỗi vụ tiết kiệm được vài triệu đồng tiền phun thuốc trừ sâu, tình trạng cháy rầy trên lúa không còn nữa. Chưa bao giờ làm ruộng lại khỏe như năm nay”. Vì giảm sâu bệnh nên lúa của ông Như cho năng suất cao, nhờ đó mà lợi nhuận từ bán lúa của ông tăng thêm gần 5 triệu đồng từ việc tiết kiệm được chi phí thuốc, công xịt.  Từ đầu năm đến nay, Trạm Bảo vệ thực vật huyện Châu Thành A đã thực hiện mô hình với tổng chiều dài bờ ruộng hơn 29km. Hàng năm, trạm đều tổ chức tập huấn triển khai ít nhất 2 lần ở những nơi chưa áp dụng để nông dân biết. Mục tiêu của trạm là tiếp tục khép kín toàn bộ 8.800ha đất sản xuất lúa trên địa bàn, giúp nông dân giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận.  Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hậu Giang, hiện trên địa bàn đã triển khai thực hiện được 6 mô hình áp dựng công nghệ sinh thái vào canh tác lúa. Vụ Thu đông tới, Chi cục sẽ tiếp tục triển khai nhân rộng thêm 3 mô hình nữa tại huyện Vị Thủy, huyện Châu Thành A, TP.Vị Thanh. Năm nay, Chi cục cũng sẽ chi 80 triệu đồng để hỗ trợ, khuyến khích bà con nông dân ứng ụng thực hiện mô hình này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở rộng quy mô năng lượng hạt nhân toàn cầu: Không chỉ là chuyện riêng của ngành hạt nhân      Để góp phần giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu, chúng ta không thể bỏ qua năng lượng hạt nhân, một phần quan trọng của nguồn năng lượng hỗn hợp ít phát thải carbon, sạch và đáng tin cậy. Trong cuộc chạy đua biến đổi khí hậu này, ngành công nghiệp hạt nhân thế giới cần sự hỗ trợ của các chính phủ, trước mắt cũng như lâu dài.      Chương trình Harmony của Hiệp hội hạt nhân thế giới (World Nuclear Association) ước tính, năng lượng hạt nhân cần được mở rộng tương đương với mức  gia tăng của năng lượng tái tạo để có thể cung cấp ít nhất 25% nhu cầu điện năng thế giới vào năm 2050. Điều đó tương đương với việc cần gia tăng số lượng các nhà máy điện hạt nhân được xây mới hàng năm với công suất khoảng 1 gigawatt (Gwe) từ 7 nhà máy lên khoảng 30 nhà máy. Trong cuộc chạy đua với biến đổi khí hậu, việc xây dựng 30 nhà máy hạt nhân mới mỗi năm là một mục tiêu đầy tham vọng và ẩn chứa nhiều thách thức. Vậy, ngành hạt nhân thế giới phải đối đầu với những vấn đề gì để đạt được mục tiêu này, nhất là khi nó đang ở trong thế gắn bó chặt chẽ giữa các hệ thống nhà máy điện hạt nhân, công nghệ hạt nhân cũ và mới?  Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay còn phức tạp hơn thế. Theo một nghiên cứu gần đây của Sáng kiến Năng lượng MIT (MIT Energy Initiative), các bài học và vấn đề diễn ra trong các lĩnh vực công nghiệp khác cũng có thể liên quan tới việc cải thiện quy hoạch, cấp phép và xây dựng cơ sở hạt nhân, vốn là những yếu tố hiện đang gây khó khăn cho ngành công nghiệp hạt nhân. Từng trải qua thời kỳ hoàng kim vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 nhưng sau nhiều thập kỷ, ngành công nghiệp hạt nhân đã mất khả năng đó trong vài thập kỷ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Để hạn chế những điểm bất lợi đó và đưa năng lượng hạt nhân trở lại với tư cách là một giải pháp bền vững trong giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, chúng ta cần các hỗ trợ ngoài ngành hạt nhân để có thể triển khai từng giai đoạn nâng cấp nhà máy và xây dựng các nhà máy mới với công nghệ tiên tiến.  Cần xây dựng các nhà máy công nghệ hạt nhân thế hệ mới  Thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân thương mại thường dựa trên quy mô thế hệ bắt đầu từ các nhà máy thế hệ thứ nhất (Gen I) cho đến các nhà máy thế hệ thứ tư (Gen IV) tiên tiến nhất. Hiện tại, hầu hết các nhà máy hạt nhân trên thế giới đều thuộc thế hệ công nghệ thứ hai (Gen II). Ở một số quốc gia trên thế giới, lò phản ứng thế hệ thứ ba và tiên tiến (Gen III và III +) cũng được hoàn thành và kết nối với lưới điện. Diễn đàn quốc tế thế hệ IV (The Generation IV International Forum GIF), một tổ chức quốc tế thúc đẩy các công nghệ năng lượng hạt nhân mới, đã xác định sáu hệ thống năng lượng hạt nhân hứa hẹn nhất cho hiện thực hóa thương mại bao gồm các lò phản ứng nhanh khác nhau với chu trình nhiên liệu kín, lò phản ứng muối nóng chảy, lò phản ứng siêu tới hạn và lò phản ứng nhiệt độ rất cao. Ở đây, chu trình nhiên liệu khép kín là chúng ta có thể tái chế nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và trích xuất những yếu tố đã tham gia vào quá trình tạo năng lượng như uranium và plutonium tại cùng một vị trí của lò phản ứng. Điều này sẽ giúp chúng ta không phải vận chuyển nhiên liệu có chứa plutonium tới nơi chôn cất nhiên liệu như cách làm thông thường, vốn có khoảng cách xa với nhà máy điện hạt nhân, thậm chí xuyên biên giới.  Phần lớn, các công nghệ hạt nhân tiên tiến này đều sử dụng chu trình nhiên liệu kín. Dù đang thăm dò và nghiên cứu chu trình như vậy nhưng hiện tại, Hoa Kỳ vẫn đang sử dụng chu trình nhiên liệu mở, vốn không cần xử lý lại hoặc tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng (trước đây, Hoa Kỳ là nhà tiên phong của lò phản ứng neutron nhanh làm mát bằng natri cho đến khi quyết định từ bỏ công nghệ đầy hứa hẹn này do những lo ngại về sự phổ biến vũ khí hạt nhân). Mặt khác, Nga và Pháp sử dụng chu trình nhiên liệu kín cho thế hệ lò phản ứng hiện tại. Các công nghệ Gen IV tiên tiến với các ý tưởng tái xử lý nhiên liệu hạt nhân vẫn còn trong giai đoạn đầu của nghiên cứu và phát triển. Do đó, chúng ta vẫn cần nhiều năm thử nghiệm trước khi triển khai các lò phản ứng Gen IV một cách tin cậy, an toàn, không phát sinh chi phí đầu tư trên quy mô thương mại.  Chính sách hỗ trợ các công nghệ hạt nhân thế hệ cũ và mới    Chúng ta cần rất nhiều năm để tới khi công nghệ thế hệ Gen IV sẵn sàng được thương mại hóa. Do đó, để đáp ứng mục tiêu xây dựng 30 nhà máy hạt nhân mỗi năm, chúng ta nên áp dụng một cách làm phù hợp: gia hạn tuổi thọ và gia hạn giấy phép cho các lò phản ứng hiện hành trong thời gian tới; ra mắt các lò phản ứng thế hệ Gen III và III + nâng cấp trong thời kỳ trung hạn; xây dựng các lò phản ứng, chủ yếu theo công nghệ Gen IV trong dài hạn.  Khuyến nghị ngắn hạn (2020-2030). Ngày nay, có khoảng 450 lò phản ứng hạt nhân đang vận hành trên toàn thế giới với công suất khoảng 400.000 megawatt điện (Mwe). Nhiều lò phản ứng thế hệ II với độ tuổi từ 30 đến 40 năm đang phải đối mặt với khả năng ngừng hoạt động hoặc gia hạn giấy phép. Tại Hoa Kỳ, 86 trong số 99 nhà máy hạt nhân đã được gia hạn giấy phép để kéo dài thời gian hoạt động lên tới 60 năm, thậm chí có kế hoạch mở rộng thời gian lên tới 80 năm. Tuy nhiên, việc gia hạn thời gian vận hành sẽ phải vượt qua những đánh giá an toàn nghiêm ngặt, đồng thời chứng minh được tính kinh tế trong vận hành. Hiện tại, Pháp cũng đang theo đuổi việc kéo dài tuổi thọ cho nhóm lò phản ứng hiện tại của mình thêm 10 năm (theo quy định Grand Carénage của Cơ quan điện lực Pháp EDF).  Việc cấp giấy phép gia tăng thời gian vận hành cho 214 lò phản ứng có công suất 200.368 Mwe, vốn đã qua 30 đến 40 năm vận hành, thay vì đóng cửa chúng sẽ giúp năng lượng hạt nhân khả năng giữ vững vị trí trong cung cấp điện năng trên quy mô toàn cầu.  Ngoài việc mở rộng giấy phép hoạt động của các nhà máy này, cần thiết có thêm sự hỗ trợ của chính phủ thông qua cung cấp các khoản tín dụng để nâng cấp kỹ thuật như thay thế máy phát hơi nước, các biện pháp kiểm soát lũ lụt, tháp giải nhiệt hoặc tăng cường khả năng chống động đất. Những gì diễn ra trong hiện tại cho thấy, ở nhiều quốc gia, năng lượng hạt nhân không có được điều này. Ví dụ tại Hoa Kỳ, bất kỳ khoản hỗ trợ nào cho điện hạt nhân từ chính phủ tại Hoa Kỳ cũng bị phản đổi, mặt khác nó còn phải chịu cạnh tranh về chi phí với các nhà máy khí tự nhiên, góp phần dẫn đến việc đóng cửa sớm khoảng 20 nhà máy hạt nhân. Mặc dù trước mắt các nhà máy khí đốt tự nhiên thải ra ít carbon hơn các nhà máy nhiệt điện than về lâu dài nhưng chính phủ cần kéo dài tuổi thọ của các nhà máy hạt nhân hiện tại, dự kiến sẽ phải đóng cửa sớm vào năm 2025. Tuy nhiên ở Nga, với sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ, ngành công nghiệp hạt nhân đang phát triển mạnh và nhận được sự hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau.  Khuyến nghị trung hạn (2025-2040). Trong giai đoạn này, với nhu cầu ngày càng tăng về điện năng và sự cấp bách thay thế các nhà máy than hiện có, các nước đang phát triển cần xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới. Khó khăn mà họ phải đối mặt là phải mất từ 5 đến 8 năm để xây dựng một nhà máy điện hạt nhân mới, điều này khiến tăng chi phí đầu tư. Do vậy, cần giảm thời gian xây dựng để đáp ứng yêu cầu của 30 nhà máy mỗi năm và để có được điều này, các chính phủ có thể áp dụng một chiến lược tiêu chuẩn hóa có thể nhân rộng, giúp kiểm soát và giảm chi phí vốn đầu tư của các nhà máy hạt nhân.  Có thể trong giai đoạn này, những thay đổi đáng kể cần được thực hiện trong ngành công nghiệp hạt nhân của Hoa Kỳ để hỗ trợ sản xuất và xây dựng các nhà máy mới. So với Trung Quốc, Hoa Kỳ phải đối mặt với các vấn đề pháp lý, hậu cần và kinh tế phức tạp và rối rắm hơn. Ví dụ, việc xây dựng hai lò phản ứng nước nhẹ tiên tiến ở Nam Carolina đã bị bỏ xó vì chi phí tăng, sự chậm trễ trong xây dựng… Westinghouse, nhà cung cấp công nghệ cho nhà máy, đã tuyên bố phá sản trong khi hai dự án có thiết kế tương tự và quy mô lớn hơn ở Trung Quốc đã hoàn thành và kết nối với lưới điện quốc gia.  Rút những bài học kinh nghiệm này, các nước phát triển nên áp dụng cách quản lý dự án và triển khai xây dựng thành công như vậy. Để mọi việc được tiến hành thuận lợi, các chính phủ cần đầu tư kinh phí để chia sẻ chi phí cấp phép theo quy định, chi phí cho R&D cũng như chi phí dành cho lò phản ứng đầu tiên theo công nghệ mới để giúp ngành đạt được các mốc kỹ thuật cụ thể. Tương tự các khoản kinh phí đầu tư cho các nhà máy điện gió, hỗ trợ của chính phủ trong các khoản tín dụng chi phí sản xuất để thưởng cho hoạt động thành công của các thiết kế mới sẽ hữu ích, thúc đẩy sự ra đời các nhà máy điện hạt nhân công nghệ mới.  Chúng ta có thể nhìn thấy hiệu quả từ các hỗ trợ này, ví dụ việc thiết kế lò phản ứng một cách hiệu quả sẽ tránh được các yêu cầu làm lại tốn kém sau này khi tiến hành xây dựng. Điều này càng có ý nghĩa bởi sau tai nạn nhà máy hạt nhân Fukushima, một số tiến bộ về an toàn được bổ sung với những yêu cầu mới về các loại vật liệu ốp và nhiên liệu mới, bể chứa nước lớn trong trường hợp mất chất làm mát và xây hai lớp vỏ bảo vệ lò phản ứng cũng như các bơm, máy phát điện diesel phòng trường hợp khẩn cấp được chuyển lên khu vực cao hơn.  Về môi trường pháp lý, các chính phủ nên thiết lập các chương trình tài trợ xung quanh việc thử nghiệm nguyên mẫu và triển khai thương mại hóa các thiết kế lò phản ứng tiên tiến. Để tăng cường năng lực cho nguồn nhân lực, các chính phủ nên hỗ trợ việc đào tạo tại các trường đại học gần với các nhà máy điện hạt nhân; mở rộng các chương trình đào tạo quốc tế phối hợp dựa trên kinh nghiệm thành công đạt được từ những nơi khác nhau; khuyến khích tất cả các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân trở thành thành viên của các tổ chức an toàn hạt nhân để cải thiện năng lực an toàn của mình.  Khuyến nghị dài hạn (2040-2050). Theo Diễn đàn quốc tế Gen IV, trong các khung thời gian dài hơn, các lò phản ứng Gen IV sẽ chiếm ưu thế tại những nhà máy điện hạt nhân mới. Song song với đó, các lò phản ứng nhanh sẽ đem lại nhiều lợi ích tiềm năng như sử dụng tài nguyên uranium tốt hơn, ví dụ việc tạo ra mỗi Gwe điện trên lò phản ứng nước nhẹ thông thường cần tới khoảng 75 tấn nhiên liệu uranium với độ làm giàu thấp nhưng đối với các lò phản ứng tiên tiến như lò phản ứng nhanh BN-1200 mới của Nga chỉ cần 4 tấn.  Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, việc mở rộng quy mô các lò phản ứng nhanh chưa thực hiện được, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Pháp. May mắn là kinh nghiệm với các cơ sở trình diễn quy mô nhỏ ở Nga và Trung Quốc đang tạo điều kiện cho họ theo đuổi các lò phản ứng nhanh quy mô thương mại trong vòng từ 10 đến 20 năm tới. Nga có kế hoạch kết nối một lò phản ứng nhanh làm mát bằng natri tiên tiến, BN-1200 với công suất 1.200 Mwe, vào lưới điện quốc gia vào năm 2032. Trung Quốc dự đoán công nghệ CFR 1000 công suất 1.000 đến 1.200 Mwe, sẽ được xem xét vào năm 2020. Một số quốc gia châu Âu cũng đang trong quá trình nghiên cứu và nhiều tập đoàn nghiên cứu hạt nhân châu Âu đang trong quá trình thiết kế, phát triển và xây dựng bốn lò phản ứng trình diễn. Pháp đang có kế hoạch tái gia nhập thị trường lò phản ứng nhanh và Ấn Độ cũng đang phát triển các dự án thí điểm chu trình nhiên liệu và chu trình tương tự.  Tại Hoa Kỳ, các lò phản ứng mô-đun nhỏ có nhiều hứa hẹn nhất cho sự phát triển của Gen IV. NuScale, lò phản ứng mô-đun nhỏ, là loại lò đầu tiên trải qua quá trình đánh giá chứng nhận thiết kế của Ủy ban pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ. Một khi chứng chỉ thiết kế được cấp, người ta sẽ không được yêu cầu bất cứ thay đổi nào trong thiết kế và trong quá trình cấp phép, sẽ không lật lại các vấn đề an toàn kỹ thuật đã được giải quyết và phê duyệt, nhằm rút ngắn thời gian cấp phép trước khi bắt đầu xây dựng. Có thể tìm thấy thị trường cho các lò phản ứng mô-đun nhỏ ở các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa với lưới điện nhỏ hoặc khép kín. Các công ty khởi nghiệp Hoa Kỳ đang nghiên cứu các lò phản ứng muối nóng chảy, dẫu còn cách xa mốc thử nghiệm.  Do các nước đang phát triển có nhu cầu cần nhiều năng lượng hơn và thế giới phát triển sẽ làm tăng ô nhiễm với các nhà máy than, các chính phủ nên hợp tác với ngành công nghiệp hạt nhân để từng bước xây dựng các nhà máy điện hạt nhân thế hệ tiếp theo song song với việc nâng cấp các cơ sở hiện có. Mặc dù có vẻ táo bạo nhưng mục tiêu xây dựng 30 nhà máy mỗi năm sẽ là chìa khóa để giúp thế giới đáp ứng các mục tiêu phát thải carbon được đặt ra trong Thỏa thuận Paris.  Thu Hà dịch  Nguồn: https://thebulletin.org/2019/06/what-will-be-required-for-a-significant-expansion-of-global-nuclear-energy/#sf_form_salesforce_w2l_lead_1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở trong sở hữu trí tuệ      LTS: Quyền sở hữu trí tuệ từ xưa đến nay vốn được các cơ quan, tổ chức sử dụng để bảo vệ những bí mật thương mại hay độc quyền kinh doanh một sản phẩm nào đó. Tuy nhiên, bài viết dưới đây của Cơ quan Sở hữu trí tuệ của Anh giải thích tại sao những thông tin về sáng chế cần phải được truy cập mở và trong một số lĩnh vực công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không còn nhiều ý nghĩa.         Văn phòng thư viện sở hữu trí tuệ, một trong những bộ phận nền tảng của Thư viện Anh (British Library) là địa điểm “truy cập mở” thông tin của tất cả các bằng đã và đang đăng ký sáng chế.   Sự cần thiết của truy cập mở với dữ liệu sáng chế  Hệ thống cấp bằng sáng chế, về cơ bản là thỏa thuận giữa nhà sáng chế và cơ quan cấp bằng sáng chế. Cụ thể là cơ quan này đồng ý cho phép nhà phát minh được độc quyền khai thác sáng chế của họ để đổi lại việc nhà sáng chế phải công khai các chi tiết kỹ thuật của sáng chế đó (nó hoạt động như thế nào, cách thức sản xuất ra nó, v.v.) Sự độc quyền thường kéo dài 20 năm, với mục đích tạo động lực cho nhà sáng chế bằng cách dành cho họ một khoảng thời gian để phát triển và khai thác sáng chế của mình và từ đó có thể nhận được một khoản lợi ích tài chính. Mặt khác, sự công khai các thông tin kỹ thuật đồng nghĩa với việc công nhận sự đóng góp của nhà sáng chế cho kiến thức của nhân loại. Do đó, hồ sơ của các đơn xin cấp bằng sáng chế và các bằng sáng chế sẽ tạo thành một bộ tài liệu về sáng tạo và phát triển theo thời gian.  Những dữ liệu về sáng chế luôn phải được truy cập mở và theo truyền thống, các cơ quan sở hữu trí tuệ sẽ chịu trách nhiệm về điều này. Nhờ đó mà bất kì ai cũng có thể tham khảo kho kiến thức để xác định vấn đề họ gặp phải đã được giải quyết chưa và để tránh mất công lặp lại một điều đã cũ. Nguồn tài nguyên này cũng đem lại cảm hứng cho chính những nhà phát minh tiềm năng cải thiện những ý tưởng sẵn có hay xác định khoảng trống còn bị bỏ quên trên thị trường để phát triển những ý tưởng mới của riêng mình.  Cơ quan sở hữu trí tuệ của Anh, UKIPO thực hiện điều này bằng cách xuất bản một tạp chí hằng tuần về các đơn xin cấp bằng sáng chế và các sáng chế đã được cấp bằng ở Anh. Trong quá khứ, các tài liệu về sáng chế này được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Anh ở London. Mặc dù đây là địa điểm “truy cập mở” nhưng thực tế, chỉ có những người đặc biệt quan tâm mới đầu tư đáng kể thời gian và công sức để tìm kiếm và đọc về các sáng chế theo cách thủ công như vậy.  Khi việc sở hữu máy tính trở nên quá phổ biến, cùng sự phát triển của kỹ thuật số và internet đã mang đến những cách lưu trữ và chia sẻ thông tin tiện lợi hơn rất nhiều, thì việc tiếp cận với thông tin về bằng sáng chế nhờ thế cũng thay đổi. Thay vì phải lặn lội đến Thư viện Quốc gia Anh để tìm thông tin về bằng sáng chế, giờ đây mọi người chỉ cần truy cập vào các dịch vụ trên điện thoại di động, ví dụ như dịch vụ Ipsum của UKIPO hoặc Espacenet của của Cơ quan sáng chế châu Âu.  Giá trị của dữ liệu chứa trong hồ sơ sáng chế từ lâu đã được đánh giá cao nhưng chỉ khi những dữ liệu đó được số hóa, những giá trị của nó mới thực sự được khai thác.  Một phần của quá trình đăng ký sáng chế là việc cơ quan cấp bằng sáng chế sẽ phải tiến hành xác định tính hợp lệ hay nói cách khác là tính mới của ý tưởng. Việc dễ dàng tiếp cận dữ liệu về sáng chế trên toàn thế giới, bao gồm cả các sáng chế đã được cấp bằng hay chưa, sẽ giúp cải thiện công việc kiểm tra này, và giúp cho kết quả xác định có chất lượng cao hơn. Bằng sáng chế do đó cũng sẽ “mạnh hơn”, hay nói cách khác là giảm thiểu khả năng tranh chấp về mặt pháp lý trong tương lai.  Với các nhà phát minh và doanh nghiệp, việc có thể tiếp cận dữ liệu sáng chế cho phép họ tránh được nghiên cứu theo lối mòn, đồng thời tạo cảm hứng cho những ý tưởng mới, hoặc theo dõi đối thủ cạnh tranh. Trong khi các cơ quan sở hữu trí tuệ chỉ quan tâm đến thông tin kỹ thuật của hồ sơ sáng chế thì các tổ chức khác có thể chỉ hứng thú với những thông tin như ai đã đăng ký sáng chế? ai đang sở hữu sáng chế đó? sáng chế đó bao giờ hết hạn? Rất nhiều các doanh nghiệp hiện nay có riêng một bộ phận chuyên môn về sở hữu trí tuệ để khai thác dữ liệu sáng chế, tập trung vào việc phác thảo một cái nhìn toàn cảnh về sở hữu trí tuệ trong một lĩnh vực kinh doanh cụ thể, xác định tổ chức nào giữ bộ sáng chế lớn nhất hoặc có giá trị nhất, lập bản đồ các công nghệ mới nổi hoặc đang hoàn thiện dựa trên hồ sơ về đăng ký sáng chế, đánh giá danh mục các bằng sách chế của đối thủ cạnh tranh hoặc xác định xem những tài sản sáng chế nào có thể mua – bán.  Việc phân tích ngày càng nhiều những dữ liệu đó khiến người ta ngày càng hiểu giá trị kinh tế của sở hữu trí tuệ. Trước đây, việc bảo vệ các bằng sáng chế được xem như một cách để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh sao chép tài sản trí tuệ của mình. Ngày nay, các doanh nghiệp nhận thấy bằng sáng chế có thể có giá trị giao dịch, nhất là trong lĩnh vực phần mềm đã xuất hiện mô hình kinh doanh bao gồm tạo ra hoặc mua bằng sáng chế với mục đích bán lại chứ không phải là sử dụng.  Nguồn mở hay từ bỏ quyền sở hữu trí tuệ  Nền tảng cho hệ thống bằng sáng chế hiện đại đã được tạo dựng từ hơn một trăm năm trước, và mặc dù nó đã được cập nhật nhiều lần kể từ đó, các nguyên tắc cơ bản vẫn không hề thay đổi. Tuy nhiên, môi trường công nghệ, mà sở hữu trí tuệ được thành lập để khuyến khích, đã thay đổi đáng kể trong cùng thời kỳ. Nói cách khác, nền tảng này đã bị lung lay trước sự ra đời của máy tính cá nhân, cùng với đó là tốc độ phát triển không ngừng của đổi mới sáng tạo gắn liền với phần mềm máy tính kể từ cuối thế kỉ 20 đến bây giờ.      Trình duyệt nguồn mở Firefox đã “ăn dần” thị phần của trình duyệt từng có ngày thống trị thị trường Internet Explorer.    Phần mềm máy tính đầu tiên liên quan đến việc tự động hóa các tác vụ toán học hoặc văn thư, ví dụ: tính toán nhanh hơn các tài khoản của công ty hoặc thực hiện các quy trình mang tính lặp đi lặp lại – là những gì con người vốn đã có thể làm. Cùng với đó là việc phần mềm không có hình dạng vật lý như những phát minh khác (mà là các dòng mã lệnh, giống như viết sách, đi kèm với bản quyền), điều này dẫn đến quan niệm cho rằng các chương trình phần mềm máy tính không phù hợp để đăng ký sáng chế (Và điều này được thể hiện rõ trong Đạo luật sáng chế của Anh vào năm 1977).  Tuy nhiên, phần mềm đã thay đổi và phát triển thành các hệ thống phức tạp hơn bao giờ hết, thậm chí giờ đây có khả năng thực hiện các nhiệm vụ vượt xa phạm vi của những gì con người có thể làm. Kết quả là nhận thức về phần mềm đã thay đổi, chúng không còn được coi đơn giản chỉ là tự động hóa các công thức toán học hoặc phương pháp kinh doanh mà giờ đây, những phần mềm máy tính bản thân nó cũng chính là những ý tưởng phát minh. Do đó, luật sáng chế phân biệt rõ rằng mặc dù một phần mềm máy tính tự thân nó không thể được cấp bằng sáng chế, một ý tưởng sáng tạo hoàn toàn có thể được thể hiện như một chương trình máy tính và do vậy có thể được cấp bằng sáng chế. Hiện giờ, việc cấp và mua bán bằng sáng chế cho các chương trình máy tính thực sự trở thành một lĩnh vực đầy lợi nhuận.  Tuy nhiên, bản chất của cách các phần mềm được phát triển, phát hành và tiếp thị đã dẫn đến băn khoăn về việc liệu hệ thống quyền sở hữu trí tuệ hiện hành có phải là cách thích hợp để bảo vệ sự đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực này hay không. Đối với các phát minh trong công nghiệp truyền thống, bằng sáng chế là cách ghi nhận sự đầu tư đáng kể để phát triển và sản xuất sản phẩm, bao gồm cả thời gian và tiền bạc để tạo ra nguyên mẫu hoặc quy trình thử nghiệm, biến chúng thành các sản phẩm có thể sử dụng trong thực tế, và thiết lập các cơ sở sản xuất. Thời kỳ độc quyền chính là để phản ánh điều này, hay nói cách khác là tạo cơ hội để bù đắp chi phí cho những đối tượng sở hữu sáng chế.  Ngược lại, tùy thuộc vào quy mô và bản chất của phần mềm đang được phát triển, trên lý thuyết tất cả những gì cần thiết để tạo ra một sản phẩm phần mềm mới là truy cập vào một máy tính với một phần mềm biên soạn chương trình máy tính. Điều này có nghĩa là phần mềm có thể được phát triển trong thời gian ngắn với chi phí đầu tư thấp. Trong thời đại giao tiếp tức thời này, nó có thể được phân phối nhanh chóng và dễ dàng ở hầu hết mọi nơi trên thế giới thông qua internet; và để triển khai, nó không yêu cầu một nhà máy sản xuất hoặc bất kỳ cơ sở hạ tầng phân phối hoặc cài đặt nào ngoài phần cứng hiện có. Kết quả là ngành công nghiệp phần mềm có thể phát triển với nhịp độ nhanh, chu kỳ sản phẩm ngắn và nhiều cơ hội cho những phát minh đột phá xuất hiện nhanh chóng và thay đổi cảnh quan thương mại.      Việc cấp bằng độc quyền sáng chế để đổi lấy tiết lộ phát minh, đang dần được thay đổi bằng một sự dàn xếp khác, với việc các phát minh được cung cấp tự do và công khai hơn, nhưng ngược lại chủ sở hữu muốn biết ai đang sử dụng sáng chế của họ. Có thể bây giờ, chỗ của lợi nhuận không còn nằm trong chính bản thân sản phẩm, mà đã chuyển sang thông tin nó có thể thu thập từ người dùng.      Trong một lĩnh vực mà công nghệ thay đổi nhanh chóng, và vòng đời sản phẩm có thể chỉ trong một vài năm, một câu hỏi được đặt ra là có nên xin bảo hộ sở hữu trí tuệ đến 20 năm, và liệu nó có phù hợp khi làm chậm việc phát hành sản phẩm cho đến khi quyền sở hữu trí tuệ đã được cấp hay không. Một giải pháp thay thế là tận dụng tốc độ phát triển, phát hành phần mềm ra thị trường một cách nhanh chóng, đón đầu và thiết lập thị phần trước các đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Nếu nhìn theo khía cạnh này, sự bảo hộ quan trọng nhất đối với một phát minh không dựa vào việc đăng ký sở hữu trí tuệ mà là khả năng phát triển vượt trước các đối thủ (tuy nhiên việc đăng ký bản quyền vẫn có ý nghĩa trong một số trường hợp). Điều này, kết hợp với những khó khăn trong việc đăng ký sáng chế cho một phần mềm với thủ tục kéo dài hàng năm, đòi hỏi sự thay đổi trong cách thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở một số lĩnh vực công nghệ.    Một hình thức bảo vệ thay thế cho phần mềm chính là giấy phép “truy cập mở”. Theo các thỏa thuận truy cập mở, các nhà phát triển cho phép bất kì ai cũng có thể tiếp cận phần mềm của họ một cách tự do và miễn phí nhưng dưới các điều kiện thực thi khác nhau, và thay đổi tùy theo thỏa thuận. Có những trường hợp, nó cho phép bất cứ ai có nhu cầu có thể thực hiện công việc của tác giả gốc, và sử dụng nó theo ý muốn, bao gồm điều chỉnh hoặc sửa đổi theo yêu cầu. Ở thái cực còn lại, các thỏa thuận cấp phép hạn chế hơn: trong khi vẫn cho phép phần mềm được tiếp cận tự do, nó có thêm những hạn chế về người có thể sử dụng, mục đích và cách có thể được sửa đổi.  Có lợi ích gì trong việc từ bỏ quyền sở hữu trí tuệ hay không?  Một sản phẩm không có tem giá đính kèm đương nhiên sẽ hấp dẫn và có nghĩa là nó có thể được tiếp cận bởi rất nhiều người, nhất là trong thời đại điện thoại thông minh lên ngôi và mô hình kinh doanh của các ứng dụng đi kèm với nó thường xoay quanh việc cung cấp một phiên bản miễn phí (với thỏa thuận giấy phép liên quan) và sau đó tính phí với các phiên bản nâng cấp và những tiện ích mới so với gói dịch vụ cơ bản ban đầu.  Miễn phí quyền sở hữu trí tuệ cho các phát minh của mình, hay nói cách khác là phát hành phần mềm của mình dưới dạng nguồn mở cũng là một chiến lược để làm giảm thị phần của các đối thủ cạnh tranh đã có tiếng tăm trên thị trường. Ví dụ điển hình là việc vào đầu thế kỷ 21, Microsoft có thị phần gần như tuyệt đối với thị trường trình duyệt internet với Internet Explorer, nhưng 10 năm sau thị phần này đã bị xói mòn đáng kể bởi các đối thủ cạnh tranh như Firefox từ Mozilla. Những sản phẩm mới kiểu này có đặc điểm là cho phép mọi người sử dụng miễn phí và hào phóng với các quyền sở hữu trí tuệ của mình. Chúng cho phép người dùng truy cập vào mã nguồn, tích cực khuyến khích cộng đồng tiếp tục phát triển phần mềm và chia sẻ các phiên bản của họ (tùy thuộc vào hạn chế nhất định trong giấy phép). Điều này có nghĩa là người dùng có thể cá nhân hóa hoặc cải thiện trải nghiệm của họ. Cách tiếp cận mở này trở nên phổ biến, và tạo ra một lượng khách hàng trung thành lớn đủ sức để chiếm thị phần từ Internet Explorer.  Một số công ty nhận ra rằng giá trị tài chính của phần mềm của họ không thực sự nằm trong mã nguồn, mà chính là dữ liệu họ có thể khai thác từ người dùng mã. Dữ liệu là ngành kinh doanh lớn! Điều này có nghĩa là các nhà phát triển ít quan tâm đến việc tìm kiếm sự bảo vệ sở hữu trí tuệ cho một phần mềm cụ thể vì mô hình kinh doanh của họ phụ thuộc vào việc phát hành phần mềm càng nhanh càng tốt, và có càng nhiều người dùng nhằm thu thập dữ liệu. Một lần nữa, chiếm thị phần trước đối thủ cạnh tranh quan trọng hơn việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong tình huống này. Lợi nhuận tài chính sau đó sẽ được tạo ra từ việc phân tích dữ liệu và bán kết quả cho các bên quan tâm hoặc đóng gói dữ liệu để bán cho các bên khác để phân tích. Một khía cạnh khác là quảng cáo. Các công ty sẽ trả một món tiền lớn để thử và đảm bảo rằng quảng cáo của họ đang tiếp cận đúng đối tượng. Dữ liệu thu thập được về người dùng của một ứng dụng cụ thể có thể được phân tích để xác định đặc điểm điển hình của người dùng và sau đó được bán cho các công ty quảng cáo  để sử dụng chúng nhằm xác định đối tượng cho quảng cáo của họ.  Mặc dùng khung sở hữu trí tuệ đã được thiết lập vẫn tỏ ra hiệu quả trong việc bảo vệ sự đổi mới trong các ngành công nghiệp truyền thống, rõ ràng ngành công nghiệp phần mềm có một mối quan hệ phức tạp với quyền sáng chế hiện tại. Một số công ty trong lĩnh vực này vẫn dùng các quyền sở hữu trí tuệ truyền thống để bảo vệ những phát minh của họ, “cuộc chiến tranh” bằng sáng chế giữa những gã khổng lồ như Apple, Samsung và Microsoft là minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên, đa phần những công ty khác thích sử dụng các phương tiện thay thế như giấy phép ‘truy cập mở’ hoặc thậm chí chủ động tránh bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hoàn toàn. Trong tương lai, cách tiếp cận thay thế (như giấy phép mở) có thể len lỏi vào các lĩnh vực khác ngoài phần mềm. Điển hình như những cải tiến trong công nghệ in 3D có thể rút ngắn thời gian cần thiết để sản xuất và phát hành một số sản phẩm nhất định, thậm chí có thể cho phép người tiêu dùng in sản phẩm tại nhà thay vì phải đợi để chúng được làm ra và phân phối. Điều này có thể dẫn đến một tình huống tương tự như trong một số khía cạnh của phát triển phần mềm, dẫn đến việc muốn bảo vệ tốt nhất là đưa sản phẩm ra thị trường một cách nhanh chóng hơn là chờ đợi để đăng ký quyền sở hữu trí tuệ theo mô hình truyền thống.  Liệu các ví dụ trên có phản ánh sự thay đổi trong nhận thức về bảo vệ sở hữu trí tuệ, ít nhất là trong một số lĩnh vực công nghệ hay không? Có lẽ sự trao đổi truyền thống về quyền sở hữu trí tuệ, tức là việc cấp bằng độc quyền sáng chế để đổi lấy việc tiết lộ phát minh, đang dần được thay đổi bằng một sự dàn xếp khác, với việc các phát minh được cung cấp tự do và công khai hơn, nhưng ngược lại chủ sở hữu muốn biết ai đang sử dụng sáng chế của họ. Có thể bây giờ, chỗ của lợi nhuận không còn nằm trong chính bản thân sản phẩm, mà đã chuyển sang thông tin nó có thể thu thập từ người dùng.  Minh Châu dịch  * Chuyên viên Kiểm định sáng chế, cơ quan Sở hữu trí tuệ Anh (UKIPO)          Author                Stephen Otter*        
__label__tiasang Mỗi miền sẽ có một dòng sản phẩm riêng biệt      Ngày 13/11 vừa qua, Minh Long I đã khai trương showroom tại Hà Nội. Đây là showroom đầu tiên ở miền Bắc của công ty với diện tích 4500m2 trưng bày hơn 15.000 mẫu sản phẩm. Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn với ông Lý Huy Sáng, Phó giám đốc công ty Minh Long I, về những dự định, mong muốn của công ty đằng sau quyết định “Bắc tiến” này.&#160;     Tại sao sau hơn 40 năm kể từ khi thành lập, Minh Long mới mở showroom tại Hà Nội và mở rộng thị trường ra phía Bắc? Đâu là khó khăn lớn nhất của Minh Long I khi mở showroom ở đây?  Chủ trương phát triển của công ty là tự lực cánh sinh, không muốn vay vốn ngân hàng hay phụ thuộc vào nguồn đầu tư bên ngoài nên khi có nguồn lực tới đâu thì mình sẽ phát triển tới đó. Khởi nghiệp từ Bình Dương, đến bây giờ, chúng tôi mới thấy mình đầy đủ các điều kiện về tài chính để có thể mở showroom ở Hà Nội.   Khó khăn nhất khi mở showroom ở Hà Nội là tìm mặt bằng. Mặt bằng lớn rất khó tìm, hơn nữa, giá thuê ở đây cũng rất cao so với trong miền Nam.   Mục đích mở showroom của Minh Long I tại Hà Nội là gì?  Trước hết, việc mở showroom ở Hà Nội là để cung cấp điểm tham quan cho mọi người thuận tiện trong việc lựa chọn sản phẩm của Minh Long I vì hiện nay, những điểm phân phối hoặc đại lý ở Hà Nội có diện tích nhỏ, không đủ mặt bằng để trưng bày hết những sản phẩm của chúng tôi. Ngoài ra, việc mở showroom lần này còn hỗ trợ chúng tôi phát triển những dòng sản phẩm chuyên biệt phù hợp với văn hóa của hai vùng Nam, Bắc.  Vậy hiện nay, những sản phẩm được trưng bày ở showroom tại Hà Nội có gì khác biệt với những showroom khác để phù hợp với văn hóa tiêu dùng của người miền Bắc?  Chúng tôi cũng đã chuẩn bị một số dòng sản phẩm được cho là phù hợp với văn hóa của người miền Bắc. Thông qua kinh nghiệm và phản hồi từ các đại lý phân phối, chúng tôi cũng nắm được phần nào sự khác biệt trong gu thẩm mỹ giữa hai miền. Trong khi người miền Nam thích những thiết kế hiện đại thì người miền Bắc hướng tới những thiết kế truyền thống: Người miền Bắc thích uống trà trong những bộ ấm, tách nhỏ và thích ăn trong những chiếc bát vừa tay nhưng người miền Nam thích những bộ có kích thước lớn hơn. Một điểm khác biệt nữa rất dễ thấy đó là người miền Bắc thích những họa tiết trang trí mạ vàng trong khi người miền Nam thích những họa tiết trang trí mạ bạch kim.   Tuy nhiên, đó chỉ là những nhận định ban đầu chưa đầy đủ. Để có thể phát triển một dòng sản phẩm riêng với những thiết kế đặc trưng cho văn hóa và gu thẩm mỹ của người miền Bắc, chúng tôi cần một khoảng thời gian để thu thập ý kiến và phản hồi của khách hàng. Việc mở showroom ở Hà Nội sẽ tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi tổ chức những chương trình lấy ý kiến khách hàng nhiều hơn và lắng nghe phản hồi của họ một cách trực tiếp thay vì gián tiếp “tam sao thất bản” qua các đại lý phân phối.   Trong những sản phẩm trưng bày riêng ở showroom tại Hà Nội, có sự khác biệt về công nghệ so với các sản phẩm tại những showroom khác không?  Không, chúng tôi không có một công nghệ riêng cho các sản phẩm của showroom Hà Nội. Sự thay đổi giữa những sản phẩm được trưng bày ở đây và các showroom khác nằm ở sự thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa vùng. Tuy nhiên, về công nghệ nói chung thì chúng tôi đổi mới hằng ngày với những chất liệu mới, kỹ thuật mới… để các sản phẩm chính xác hơn, bền hơn, an toàn cho sức khỏe hơn, giá cả cạnh tranh hơn. Đó là điều mà không phải chỉ người miền Bắc mà ở tất cả mọi nơi đều mong muốn.  Showroom ở Hà Nội được đặt ở quận Long Biên, rất gần làng gốm sứ Bát Tràng. Điều này không tránh khỏi sự so sánh giữa gốm sứ Minh Long I và gốm sứ của làng nghề truyền thống này. Ông suy nghĩ như thế nào về điều đó?    Làm gốm sứ cho đến ngày hôm nay đã gần 100 năm, chúng tôi chưa bao giờ có cảm giác Bát Tràng là đối thủ cạnh tranh của mình cả. Chúng tôi hiểu rất rõ rằng đối tượng khách hàng thích dùng sản phẩm của Bát Tràng sẽ không dùng sản phẩm của Minh Long I và ngược lại, đối tượng thích dùng sản phẩm của Minh Long I sẽ không sử dụng sản phẩm của Bát Tràng. Vì thế, các công ty ở làng gốm Bát Tràng và Minh Long I chưa bao giờ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp.  Điều gì khiến Minh Long I tự tin rằng mình sẽ thuyết phục được khách hàng ở miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng?    Khi các công ty lớn nói về sức mạnh của mình, họ thường nói tới % thị phần mà họ chiếm trong thị trường. Ở Pháp, Minh Long I chiếm tới 90% thị phần những con giống sứ nhỏ để trưng bày sau 25 năm sản xuất. Đó là con số không nhỏ. Minh Long I đã có một vị thế nhất định trong thị trường thế giới và tin rằng mình có thể thuyết phục được thị trường trong nước. Hai thế mạnh của Minh Long I là hàm lượng văn hóa và chất lượng của sản phẩm. Chúng tôi luôn mong muốn khách hàng của mình nhận được nhiều giá trị hơn cho số tiền mà họ bỏ ra.  Khi nhìn vào sản phẩm Minh Long I, khách hàng sẽ cảm thấy thích, cảm mến ngay dù họ không biết tại sao. Thực chất, chúng tôi đã đầu tư rất nhiều cho việc thiết kế những mẫu mã riêng của mình. Không phải chỉ ở Việt Nam mà châu Á nói chung, rất hiếm công ty đầu tư vào việc thiết kế kiểu dáng, văn hóa của sản phẩm mà họ tạo dáng chúng chủ yếu theo phương thức sao chép. Minh Long I không làm theo lối đó, chúng tôi thuê những chuyên gia thiết kế hàng đầu trên thế giới và có đội ngũ thiết kế riêng trên 30 người nên những thiết kế của sản phẩm Minh Long I luôn tạo được độ hấp dẫn đối với khách hàng.   Một giá trị khác nữa ở sản phẩm của Minh Long I là sự bền, chắc. Có những sản phẩm giống hình thức của Minh Long I nhưng sau vài tháng sử dụng có thể trầy xước và cũ đi, trong khi sản phẩm Minh Long I dùng từ 3-5 năm vẫn còn mới. Minh Long I luôn đầu tư vào các thiết bị cao cấp, hiện đại nên các sản phẩm ra đời có độ chuẩn xác rất cao và nhìn vào người dùng có thể thấy ngay độ cao cấp của chúng.    Xin trân trọng cảm ơn ông!   PV thựchiện                                                                                                                                               Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỗi người dân gánh 800,7 USD nợ công      Ngày 11/3, tạp chí The Economist (Anh) công bố nợ công  tính trên đầu người VN vừa tăng thêm 38,5 USD lên 800,7 USD nhưng vẫn nằm ở ngưỡng an toàn.      Nợ công tăng  800,7 USD/người là con số nợ công mà mỗi người VN phải gánh, mức cao nhất từ trước đến nay. Đồng hồ nợ công của tạp chí kinh tế nổi tiếng thế giới này cũng cho biết tổng nợ công của VN đạt mức 71,749 tỉ USD, chiếm 49,4% GDP, tăng 12,7% so với năm ngoái.   Các nhà phân tích của tạp chí này sử dụng tổng dân số VN để tính nợ trên đầu người là 89,660 triệu.   The Economist dự báo năm 2013, nợ công của VN tăng lên 79,827 tỉ USD, bình quân nợ trên đầu người sẽ là 883,8 USD.  Tuy nhiên, theo tạp chí này, so với nhiều quốc gia khác, nợ công VN vẫn nằm ở ngưỡng an toàn khi được thể hiện dưới gam màu vàng nhạt. Các quốc gia bị đánh giá rủi ro cao được tô màu đỏ trên bản đồ.         The Economist dự báo năm 2013, nợ công của VN tăng lên 79,827 tỉ USD, bình quân nợ trên đầu người sẽ là 883,8 USD            Cũng theo đồng hồ này, nợ công của Trung Quốc là 1.372 tỉ USD, chiếm 16% GDP, bình quân đầu người hơn 1.000 USD, tăng 17,3% so với năm ngoái. Trung Quốc là quốc gia có nợ công lớn thứ hai ở châu Á, sau Nhật Bản và xếp trên Ấn Độ. Nợ công toàn cầu cũng tăng lên mức 50.160 tỉ USD.  Vào tháng 11.2012, báo cáo về tình hình nợ công của Chính phủ trình Quốc hội cho biết, tổng số dư nợ công đến ngày 31.12.2011 bằng 55,4% GDP (1,391 triệu tỉ đồng, tương đương 66,8 tỉ USD), giảm 1,9% so với năm 2010. Trong đó, tổng dư nợ của Chính phủ là 1,096 triệu tỉ đồng, bằng 43,2% GDP, bao gồm các khoản vay trong nước là 429.000 tỉ đồng từ các nguồn phát hành trái phiếu, tín phiếu, vay tồn ngân kho bạc, các khoản vay khác theo quy định của pháp luật và vay nước ngoài 667.000 tỉ đồng từ các nguồn vay ODA, vay ưu đãi và vay thương mại. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là 285.000 tỉ đồng, bằng 11,3% GDP.  Trong tổng nợ công, nợ chính quyền địa phương bao gồm: trái phiếu chính quyền địa phương, vay tồn ngân kho bạc, các khoản vay khác theo quy định của pháp luật là 107.000 tỉ đồng, bằng 0,4% GDP.  Thận trọng vay mượn  Đối với kế hoạch vay và sử dụng vốn vay đến năm 2015, Chính phủ đặt chỉ tiêu nợ công không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.  Mặc dù ở ngưỡng an toàn, nhưng các chuyên gia kinh tế cũng lên tiếng cảnh báo cần kiểm soát tốt hơn nữa vấn đề nợ công. Bà Phạm Chi Lan cho rằng, cần công bố rộng rãi những khoản chi tiêu cho đầu tư công và chi tiêu công để có thể kiểm soát nợ công hiệu quả. Bà Lan cũng cho rằng, hai năm gần đây, VN không còn là quốc gia có thu nhập thấp nữa, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình nên các khoản vay mượn trở nên khắt khe hơn, kể cả vốn ODA. Nguồn vay cũng giảm đi, như Anh không còn cho VN vay vốn ODA vào năm 2016. Nhiều quốc gia khác cũng dự tính như vậy.  “Vốn ODA giảm, trong khi Chính phủ lại hoạch định khả năng nợ công sẽ tăng lên 65% vào năm 2020. Nghĩa là chúng ta phải tìm các nguồn khác để vay thay thế, dù có thể lãi suất sẽ cao hơn và thời hạn trả nợ nhanh hơn. Đối với những quốc gia như VN, rất dễ bị áp đặt mức vay khó khăn hơn”, bà Lan nhấn mạnh. Theo đó, khả năng trả nợ các khoản vay của VN như thế nào phụ thuộc vào quá trình chuyển đổi điều hành vĩ mô tất cả các khoản chi tiêu công và đầu tư công, có tránh được thất thoát trong các khoản vay hay không.  Các chuyên gia đặt hy vọng, khi việc tái cơ cấu đầu tư công thành công thì nợ công của VN sẽ giảm. Ngoài ra, VN cần thận trọng hơn trong quá trình vay mượn vốn của nước ngoài. Bởi không chỉ trả vốn, mà còn phải trả lãi. Nguồn vốn trong dân vẫn còn rất dồi dào, vì thế, nhà nước cần thiết phải tìm cách gia tăng các khoản vay từ trong nước để thay thế một phần vay nước ngoài. “Vay vốn từ trong nước có các điều khoản không quá ngặt nghèo. VN có khả năng khai thác nguồn vốn này nhiều hơn, nhưng để làm được điều đó, nhà nước cần gia tăng niềm tin để người dân yên tâm đóng góp”, một chuyên gia khuyến nghị.        Lâu nay, theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế thì  ngưỡng an toàn để đánh giá nợ công là tỷ lệ nợ công so với GDP không quá  60%. Tuy nhiên, ngưỡng an toàn này chỉ mang tính tương đối. Các tổ chức  nghiên cứu, định chế tài chính còn đánh giá ngưỡng an toàn dựa trên  nhiều yếu tố khác nhau như: tỷ lệ dự trữ ngoại hối, cán cân xuất nhập  khẩu, mức tăng trưởng kinh tế… cấu trúc nợ công. Vì thế, một số nước có  tỷ lệ nợ công so với GDP lên đến 100% nhưng vẫn không bị xem là thiếu an  toàn, trong khi nhiều nước chưa đến 60% vẫn bị chú ý.              Ngoài ra,  ngay trong tính toán nợ công cũng có khác nhau. Khi thống kê nợ công,  một số quốc gia không tính đến những khoản nợ của các doanh nghiệp mà  chính phủ góp vốn hoặc sở hữu. Tuy nhiên, nhiều định chế tài chính như  Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế thì vẫn xét đến.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mọi người nói dối nhiều hơn khi dùng máy tính xách tay      Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí International Journal of Conflict Management, các thiết bị khác nhau – như máy tính xách tay hoặc điện thoại di động – có thể định vị hành vi của chúng ta khi mặc cả với người lạ.    Nhóm nghiên cứu đã thiết lập một thử nghiệm mà các nhà kinh tế gọi là “trò chơi tối hậu thư”. Trong trò chơi này, người chơi được thông báo rằng họ sẽ nhận được một khoản tiền nhất định và họ phải chia cho đối tác một phần trong đó. Nhưng họ có thể nói với đối tác của mình bất kì điều gì về tổng số tiền và số tiền họ sẵn sàng đưa ra – điều này cho phép người chơi nói dối và giữ lại nhiều tiền hơn cho riêng mình. Tuy nhiên, đối tác của người chơi đó phải đồng ý với số tiền được cho, nếu không thì cả hai người đều không nhận được bất kỳ khoản tiền nào.  Ở phiên bản thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã nói với 137 sinh viên rằng hãy tưởng tượng họ sẽ chia sẻ 125 USD với một sinh viên khác và xem nếu đối tác được chỉ định ngẫu nhiên của họ có đồng ý với thỏa thuận không. Một nửa số sinh viên sử dụng máy tính xách tay, số còn lại sử dụng điện thoại thông minh.    Trong khi hầu hết người chơi đều nói dối ít nhất một chút, thì người dùng máy tính xách tay nói dối nhiều hơn, với con số lớn hơn. Cụ thể, 82% người tham gia dùng máy tính xách tay đã nói dối so với 62% người dùng điện thoại, và trung bình những người dùng máy tính xách tay tuyên bố tổng số tiền ít hơn khoảng 20 USD.  Mặc dù việc “chia tiền” chỉ là giả thuyết và không liên quan đến tiền mặt nhưng nghiên cứu trước đây của nhóm và một số công trình của các học giả khác cho thấy những kịch bản này rất hiệu quả trong dự đoán hành vi thực tế.  Để xem phát hiện này có duy trì trong một kịch bản thực tế hơn không, nhóm nghiên cứu đã nghĩ ra một thí nghiệm đàm phán, trong đó hai người được yêu cầu trao đổi về giá mua của một nhà máy bán dẫn tưởng tượng mà một trong số họ sở hữu. Họ đã chia 222 sinh viên thành người mua và người bán. Người mua được bí mật thông báo rằng giá trị thị trường của bất động sản ước tính khoảng 21 triệu USD.  Sau đó, người mua được yêu cầu nói với người bán số tiền mà họ nghĩ là giá thị trường hợp lý của tài sản và đưa ra lời đề nghị ban đầu. Giống như thí nghiệm đầu tiên, một nửa sinh viên dùng điện thoại di động và một nửa dùng máy tính xách tay. Một lần nữa, người dùng laptop lại lừa dối nhiều hơn. Trung bình họ nói với người bán rằng giá trị hợp lý của tài sản là 16,7 triệu USD – giảm hơn 4 triệu USD so với mức 18.1 triệu USD trung bình của những người dùng điện thoại. Trong cả hai trường hợp, lời đề nghị mua thực tế của họ chỉ cao hơn một chút so với những gì họ nói là giá trị thị trường của tài sản.  Để tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã hỏi những người tham gia một nghiên cứu khác về mối liên hệ của họ với từng thiết bị và tìm ra một mô hình nhất quán. Điện thoại đã kích hoạt sự liên hệ đối với bạn bè và gia đình, trong khi máy tính xách tay dẫn đến những suy nghĩ về công việc, thành công và thành tích. Việc sử dụng công nghệ trong khi ra quyết định có thể làm thay đổi cơ bản hoạt động của não bộ một cách tinh tế. Trong nghiên cứu trước, các tác giả nhận thấy rằng mọi người nói dối thường xuyên hơn, ít hợp tác hơn và đánh giá người khác tiêu cực hơn khi họ thực hiện các nhiệm vụ trên nền tảng “ảo”, trái ngược với khi tương tác trực tiếp “mặt đối mặt” với những công cụ vật lý như bút giấy.  Mặc dù không thể dự đoán hoàn hảo hành vi của con người trong thế giới thực nhưng kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng về cách mà công nghệ có thể làm thay đổi hành vi con người. Họ cho biết cần có thêm những nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của công nghệ và những thay đổi vô thức mà các thiết bị công nghệ có thể tạo ra đối với các quyết định hàng ngày và tiêu chuẩn đạo đức của con người.  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-lies-common-laptops-devices-behavior.html    Author                .        
__label__tiasang Môi trường học thuật mở      Chưa có được một cơ sở vật chất lý tưởng phục vụ nghiên cứu và một chế độ thu nhập hấp dẫn để giữ chân người tài nhưng Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn vẫn luôn là đơn vị có công bố dẫn đầu Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) do đã tạo dựng và duy trì thành công một môi trường học thuật mở từ nhiều năm nay.      PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh (trái) và các thành viên phòng Vật liệu từ và siêu dẫn (Viện Khoa học vật liệu) bên thiết bị hiển vi điện tử quét phát xạ trường Hitachi S-4800.  Ngay từ những năm 1990, thế hệ những nhà nghiên cứu đi trước như GS. TSKH Nguyễn Xuân Phúc, PGS. TS Lê Văn Hồng đã có chủ trương hình thành tư duy mở trong nghiên cứu học thuật ở Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn bằng việc tạo dựng một môi trường nghiên cứu minh bạch, dân chủ. Đó là cơ sở để mỗi thành viên của phòng chủ động sáng tạo trong nghiên cứu và mở rộng liên kết quốc tế”, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh, trưởng phòng Vật liệu từ và siêu dẫn, lý giải về tính mở này với phóng viên Tia Sáng.  Một cộng tác viên lâu năm của Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn, PGS. TS Nguyễn Phúc Dương, Viện phó Viện ITIMS (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhận xét, tính mở đã “hút” nhiều nhà nghiên cứu ngoài Viện Khoa học vật liệu về trao đổi học thuật, dù không phải lúc nào hai bên cũng có thể tiến tới việc cùng nhau thực hiện một dự án nghiên cứu. Anh cho biết, “uy tín của các thầy và sự thông cảm, chia sẻ của họ đối với các nhà nghiên cứu trẻ trong đó tạo cho người ta cảm giác muốn đến để trao đổi, ví dụ ngay cả một tiến sỹ trẻ ở ITIMS cũng có thể mạnh dạn tới hỏi ý kiến các thầy về khả năng lựa chọn một hướng nghiên cứu nào đó”.  Tính mở được các thế hệ Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn duy trì và phát triển qua nhiều năm thông qua “sự hợp tác linh động với đồng nghiệp Việt Nam ở nước ngoài trong trao đổi ý tưởng khoa học, tài liệu nghiên cứu và có công bố chung”, GS. TSKH Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.  Nhờ làm tốt điều đó, Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn đã có những mối quan hệ hợp tác trong nước, quốc tế tốt với Viện ITIMS, Phòng thí nghiệm Nhiệt độ thấp (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN), ĐH Hanyang (Hàn Quốc), ĐH Tohoku (Nhật Bản), Thụy Điển, Mỹ, Anh, Bỉ… Kết quả là những hướng nghiên cứu về vật liệu perovskite từ tính, hạt nano từ, vật liệu hấp thụ tuyệt đối (metamaterials), vật liệu xúc tác nano từ, ôxít titan (TiO2), vật liệu màng từ đa lớp mà Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn theo đuổi đều thuộc mối quan tâm chung của đồng nghiệp trong nước và quốc tế cùng lĩnh vực. Hằng năm, số lượng công bố trên tạp chí ISI, SCI của Phòng đều ở con số trên dưới 20, riêng năm 2016, số lượng này tăng lên 30 bài.  Mở để thu hút nhân lực  Góp phần vào sự ổn định của lượng công bố quốc tế hằng năm là lực lượng các nhà nghiên cứu trẻ, “dù không về nhiều một lúc như ITIMS nhưng đều là những người chủ chốt, đủ khả năng triển khai các ý tưởng, và tạo dựng phương hướng nghiên cứu, có thể ở mức tương đương với đồng nghiệp ở nhiều trung tâm mạnh của Việt Nam”, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho biết.  Giữa lúc có rất nhiều trường đại học tư với mức lương hấp dẫn như Đại học Duy Tân (Đà Nẵng), Đại học Tôn Đức Thắng (TPHCM)… mở cửa đón nhân tài thì tại sao các nhà nghiên cứu trẻ lại lựa chọn làm việc ở Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn? PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho biết, tính mở là yếu tố quyết định, “khi chưa giúp nhau được gì nhiều thì chúng ta hỗ trợ nhau bằng cách tạo ra môi trường làm việc tốt, trao đổi học thuật thẳng thắn, chia sẻ sử dụng thiết bị để phục vụ nghiên cứu”. Có lẽ, đây cũng là cách làm chung mà các đơn vị nghiên cứu nhà nước không có lợi thế về thu nhập vẫn áp dụng. Trong một cuộc trao đổi với Tia Sáng, PGS. TS Nguyễn Sum (Khoa Toán, ĐH Quy Nhơn), người được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017, cũng tiết lộ, đến 90% người học ở nước ngoài đã về lại Khoa Toán làm việc vì cảm thấy thoải mái trong môi trường cởi mở, thân thiện và tôn trọng lẫn nhau.  Nhờ tính mở trong môi trường nghiên cứu mà nhiều thành viên trẻ đã bắt nhịp rất nhanh với công việc, điển hình như trường hợp của TS. Nguyễn Thanh Tùng, tuy mới chuyển về từ Viện KH&CN Quân sự (Bộ Quốc phòng) được hai năm nhưng đã là một trong những nhân vật chủ chốt của nhánh nghiên cứu về vật liệu siêu hấp thụ. PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh nhận xét, TS. Nguyễn Thanh Tùng có nền tảng chuyên môn vững, khả năng thích ứng với hoàn cảnh cao và giữ nhiều mối quan hệ quốc tế tốt sau quãng thời gian học tập tại Hàn Quốc, Bỉ và Nhật Bản. Anh đã sớm trở thành “người trong cuộc” từ khi còn ở nước ngoài, “kết nối và làm việc cùng các nhà khoa học của Viện sớm, đặc biệt là GS. TS.Nguyễn Quang Liêm và PGS. TS. Vũ Đình Lãm”, TS. Nguyễn Thanh Tùng cho biết. Là “người trong cuộc” với TS. Nguyễn Thanh Tùng còn là cùng với đồng nghiệp trong nước hướng dẫn sinh viên đại học, sau đại học từ xa.  Dù không gặp nhiều thuận lợi như TS. Nguyễn Thanh Tùng, thậm chí là phải đối mặt với khó khăn trong suốt thời gian dài như TS. Phạm Hoài Linh, một nhà nghiên cứu trẻ khác của Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn, cũng “không có ý định rời Viện, không muốn rời khỏi một nơi mà mọi người dễ dàng chia sẻ, hỗ trợ nhau trong học thuật” như lời tâm sự của chị với phóng viên Tia Sáng.  Sau hơn hai năm bảo vệ luận án tiến sĩ nhưng TS. Phạm Hoài Linh đến giờ vẫn còn khó khăn do thiếu kinh nghiệm, và nhất là “chưa đủ khả năng lựa chọn một hướng nghiên cứu khả thi từ 5 đến 10 năm, chưa đủ lực để lập nhóm nghiên cứu”. Trường hợp như chị không phải hiếm gặp với những người mới đạt trình độ tiến sĩ. Khi được hỏi cách nào giúp họ thoát khỏi khó khăn, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho biết, phòng thường hỗ trợ, hướng dẫn họ viết đề tài, dự án để có những nhiệm vụ trước mắt hoặc mời vào nhóm của các thành viên giàu kinh nghiệm. Theo quan điểm của anh, “họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi vì đã lỡ mất một thời gian dài trong nghiên cứu. Do đó, chúng ta không nên mất kiên nhẫn nếu trong vài ba năm, họ chưa có công bố. Chỉ khi thời gian này kéo dài hơn, từ 5 đến 7 năm thì mới thực sự là vấn đề”.  Khuyến khích sự chủ động ở mỗi nhà nghiên cứu  PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh ví von, vấn đề nhân sự của Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn “như dòng nước chảy, người mới đến và người cũ ra đi”, những ai còn bám trụ ở lại đều rất kiên trì, “biết cách đối mặt với hoàn cảnh và chủ động tìm đề tài nghiên cứu”. Với những thành viên từng chứng kiến sự phát triển của Phòng từ ngày thành lập thì việc “đối mặt và chủ động” được chia làm hai giai đoạn với cái mốc 2008, năm đánh dấu sự ra đời của Quỹ Nafosted.  Vào giai đoạn trước năm 2008, Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn tồn tại hai hạn chế lớn là thiếu thốn cơ sở vật chất và lực lượng nghiên cứu trong khi việc tiếp cận các đề tài hợp tác quốc tế như đề tài Nghị định thư, đề tài Viện Hàn lâm, quỹ tài trợ quốc tế… đều phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố này. Vì vậy, các thành viên chủ chốt của Phòng đã tự đào tạo nhân lực hoặc cử người đi nước ngoài, theo đuổi những hướng nghiên cứu mới của thế giới. Về trang thiết bị, bên cạnh sự đầu tư của nhà nước thì quan hệ hợp tác nhiều mặt của Phòng với một số đối tác như Thụy Điển, Pháp, Hàn Quốc…  đã đem lại sự hỗ trợ rất lớn, trong đó có những thiết bị đầu tay hết sức quan trọng cho nghiên cứu như cho chế tạo mẫu: thiết bị nghiền bi năng lượng cao, lò ống nhiệt độ cao, thiết bị phún xạ.. và các thiết bị đặc trưng tính chất từ: từ kế mẫu rung, hệ đo các tính chất vật lý…  Khi đã giải quyết phần nào hai yếu tố cơ bản, Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn đã mạnh dạn tiếp cận một số quỹ nước ngoài hoặc một số chương trình KH&CN cấp Viện Hàn lâm, cấp Bộ để kéo đề tài, dự án về làm, “tuy không quá dồi dào về số lượng nhưng đủ để chúng tôi thường xuyên có được những nhiệm vụ nghiên cứu và do đó, có công bố đều đặn, dẫu chưa nhiều như giai đoạn sau này”, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh nhận xét.  “Giai đoạn sau này” mà PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh nhắc đến gắn liền với sự ra đời của Quỹ Nafosted và việc thành lập Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Vật liệu và Linh kiện điện tử tại Viện Khoa học vật liệu: một bên là nguồn kinh phí dành riêng cho nghiên cứu cơ bản được quản lý theo cơ chế quỹ, một bên là sự sẵn sàng của những trang thiết bị lớn và hiện đại phục vụ việc chế tạo, đo đạc các tính chất đặc trưng của vật liệu. Các thành viên đều tận dụng tốt cơ hội này, thậm chí những người khi đã ở độ tuổi 60 như GS. TSKH Nguyễn Xuân Phúc, PGS. TS Lê Văn Hồng cũng đi đầu trong việc nộp hồ sơ và nhận tài trợ của Quỹ Nafosted ngay từ đợt đầu tiên, năm 2009. Theo “truyền thống mới” này, năm nào, Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn cũng đều có đề tài Nafosted, đặc biệt vài năm gần đây là từ 4 đến 6 đề tài.  Sự chủ động trong công việc của các thành viên chủ chốt đã tác động rất lớn đến suy nghĩ của các nhà nghiên cứu trẻ. Lên kế hoạch làm việc ở Việt Nam từ khi còn làm tiến sỹ ở Bỉ, TS Nguyễn Thanh Tùng không chỉ tham gia làm việc từ xa với Viện mà còn sớm chuẩn bị hồ sơ xin tài trợ lên Quỹ Nafosted. Đề tài của anh đã được Quỹ chấp thuận tài trợ vào năm 2015, thời kỳ anh bắt đầu làm postdoc tại Nhật Bản, “vì vậy khi về Việt Nam vào năm 2016, tôi đã có thể tiếp tục mạch thực hiện đề tài mà không để thời gian ‘chết’”, TS. Nguyễn Thanh Tùng kể.  Những tín hiệu lạc quan đã đến với TS. Phạm Hoài Linh khi có được tài trợ, bắt đầu là đề tài nho nhỏ cấp cơ sở hỗ trợ cho tiến sĩ mới bảo vệ rồi tiến tới đề tài dành cho nhà khoa học trẻ cấp Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam về ứng dụng hạt nano từ trong y sinh, nhiệm vụ nghiên cứu đáng kể đầu tiên do chị làm chủ nhiệm. Dẫu vậy chị vẫn cho rằng mình “cần tự tìm ra được hướng nghiên cứu riêng, hoặc tham gia vào hướng lớn của những người khác”.  Khuyến khích từng thành viên chủ động mở rộng hợp tác quốc tế và tìm tài trợ cho nghiên cứu nhưng Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn vẫn sẵn sàng tương trợ họ. “Đôi khi, chúng tôi phối hợp việc sử dụng kinh phí của các đề tài có cùng hướng nghiên cứu để hỗ trợ nhau cùng phát triển”, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh cho rằng điều đó cũng góp phần đem lại những công bố tốt.  Khi mọi việc đã vào nề nếp thì ở vị trí “đứng mũi, chịu sào”, PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh còn băn khoăn về việc một số máy móc mà Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn vẫn sử dụng đang có dấu hiệu xuống cấp vì không đủ kinh phí duy trì vận hành thường xuyên, “trước khi có cách giải quyết căn cơ thì cách làm trước mắt của chúng tôi là hợp tác với các đối tác nước ngoài để đo đạc, hoặc phải chấp nhận gửi bài đến những tạp chí không thuộc nhóm Q1 như yêu cầu của Quỹ Nafosted”.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Mở đến mức nào?      Theo Báo cáo Kinh doanh 2006 (Doing Business 2006) vừa được Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty tài chính quốc tế (IFC) công bố, nếu bạn muốn mở một doanh nghiệp ở Lào, bạn sẽ phải mất 198 ngày để hoàn thành được các thủ tục để khởi nghiệp. Còn ở Syria thì bạn phải chuẩn bị một khoản vốn tối thiểu là 270.000 đô la (số tiền này gấp 51 lần thu nhập bình quân hàng năm trên đầu người). Còn nếu bạn quản lý một doanh nghiệp ở Guatemala, bạn sẽ phải mất 1.459 ngày để giải quyết một vụ tranh chấp đơn giản tại tòa. Và nếu nghiêm túc trả hết các loại thuế kinh doanh ở Sierra Leone, bạn cần số tiền lớn gấp 164% lợi nhuận trước thuế của công ty bạn. Còn ở Việt Nam thì thế nào?    Đã mở những chưa thoáng Trong năm 2004, 185 cải cách đã được đưa ra tại 99 nước (tức là 2/3 số nước mà Báo cáo kinh doanh thực hiện) nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Những cải cách này đã đơn giản hóa một số mặt trong việc đăng ký kinh doanh, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí xuất nhập khẩu, giảm thuế, và tăng cơ hội tiếp cận tín dụng. Chúng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty phát triển và tạo nhiều công ăn việc làm hơn. Nhiều công ăn việc làm mới cũng đồng nghĩa với việc có nhiều người lao động được hưởng các chế độ hưu trí, được đảm bảo bởi các quy định an toàn lao động và các chế độ y tế.  Những cải cách tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn trong năm 2004 có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, Việt Nam tuy có cùng số lượng cải cách (5 hạng mục) trong năm 2004 nhưng vị trí chính thức thứ hai trong số các nước có nhiều cải cách nhất lại thuộc về Georgia. Nước có nhiều cải cách nhất là Serbia và Montenegro (8 cải cách trên 10 tiêu chí đánh giá). Và trong phần “Quốc gia nào đang cải cách mạnh nhất” của Báo cáo, tên của Việt Nam cũng không được nhắc đến. Tuy nhiên, một số cải cách này cũng được đề cập tới trong các phần sau của bản Báo cáo. Thí dụ như việc Việt Nam thông qua Luật Xây dựng nhằm đơn giản và giảm thiểu các thủ tục cấp phép, giúp thời gian cần thiết để có giấy phép xây dựng chỉ còn khoảng 5 tháng so với gần một năm trước kia. Luật phá sản mới được Quốc hội thông qua của Việt Nam cũng được coi là “rõ ràng” hơn so với bộ luật của năm 1993. Những điều kiện để một doanh nghiệp được coi là phá sản cũng đã rành mạch hơn.  Một điều rất thú vị là mặc dù có những cải cách đáng kể trong năm 2004, vị trí xếp hạng về mức độ thuận lợi trong kinh doanh của Việt Nam vẫn ở mức 99 trên tổng số 157 nước được xếp hạng. Trong khi đó vị trí xếp hạng của các nước láng giềng lần lượt là: Trung Quốc: 91; Thái Lan: 20; Malaysia: 21, Philipines: 113 và Indonesia: 115. Như vậy, Việt Nam ở vị trí gần như tương đương với nước láng giềng Trung Quốc nhưng lại kém xa Thái Lan và Malaysia. Những nước có vị trí xếp hạng khá cao như Hồng Kông (7) và Nhật Bản (10) vẫn có từ 1-2 hạng mục cải cách để tạo môi trường thông thoáng hơn cho doanh nghiệp.  Tất cả những điều nói trên chứng tỏ Việt Nam mặc dù đã có một môi trường kinh doanh “mở” hơn so với trước nhưng dường như vẫn chưa thực sự “thoáng”.  Những cải cách cần tiếp tục  Liên quan tới môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp, New Zealand đứng đầu danh sách, tiếp đến là Singapore và Mỹ đứng hàng thứ 3. Trong số các nước Đông Á, khu vực được coi là có nhiều cải cách nhất trong bản Báo cáo năm nay, có tới 5 nước nằm trong top 30 (Hong Kong, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc). Trong số top 30, đáng kể là có tên một số nước thuộc khu vực Baltic như Lithuania, Estonia và Latvia, những nước đã có rất nhiều những nỗ lực trong khoảng một thập kỷ cải cách vừa qua. Điều này cũng chứng tỏ các nước đang tiến hành cải cách còn một chặng đường dài trước mắt.  Cần nhớ là kể từ năm 2003, tốc độ trung bình hình thành doanh nghiệp ở các nước giàu nhanh hơn các nước nghèo tới 33%. Và thời gian cần thiết để một doanh nghiệp mới hình thành đã rút đi 10 ngày, tức là trung bình chỉ mất 19 ngày. Chi phí để thành lập một doanh nghiệp mới cũng giảm 26%, từ 9% thu nhập bình quân GDP/đầu người xuống còn 7%. Trong khi đó, thời gian giảm cho việc xin phép kinh doanh ở các nước nghèo chỉ là 10% (từ 62 xuống 56 ngày). Chi phí thành lập doanh nghiệp mới vẫn ở mức cao: 113% thu nhập bình quân GDP/đầu người. Và số vốn tối thiểu để doanh nghiệp hoạt động chiếm tới 299% thu nhập bình quân GDP/đầu người, tức là gấp 10 lần số vốn cần thiết ở các nước thuộc Tố chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế-OECD. Đơn giản những điều này đã cho thấy các nước nghèo (trong đó có Việt Nam) luôn cần tiếp tục những cải cách để môi trường kinh doanh ngày một thông thoáng hơn.  Theo Báo cáo, những cải cách cần tiến hành trước mắt đối với việc thành lập công ty là: doanh nghiệp không cần phải đăng thông báo trên báo chí, sử dụng các mẫu đăng ký thành lập doanh nghiệp chuẩn và bãi bỏ chế độ xin gia hạn kinh doanh hàng năm. Việc Việt Nam trong năm 2004 tiến hành hệ thống kiểm tra điện tử tên doanh nghiệp đăng ký mới được coi là một tiến bộ lớn trong việc cấp giấy phép, giúp giảm thời gian đăng ký xuống còn 1 tuần.  Nếu xét các tiêu chí mà Việt Nam chưa đạt được, những lĩnh vực trước mắt cần cải cách ở Việt Nam là khả năng tiếp cận tín dụng, chế độ thuế, điều kiện thương mại và các vấn đề liên quan tới tuyển và sa thải lao động. Những điểm cần cải cách mà Báo cáo khuyến cáo chung cho mọi nước trong việc tuyển và sa thải lao động là: kéo dài tuổi làm việc đối với người lao động tại các nước có nhân công trung bình già; tính thời điểm về hưu ngang bằng bình đẳng đối với cả đàn ông và đàn bà; trả bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và có hợp đồng đối với những người thử việc.  Một quốc gia được xếp ở một vị trí cao về mức độ thuận lợi trong kinh doanh không có nghĩa nước này không có luật lệ gì cả. Để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và nhà đầu tư, cũng như là để thành lập hay nâng cấp những trung tâm thông tin tín dụng thì cần có nhiều quy định hơn chứ không phải là ít quy định hơn để có thể lọt vào danh sách 30 quốc gia hàng đầu về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh.           Các công ty tư nhân ở Việt Nam vẫn khó tiếp cận các nguồn tín dụng nhà nước.    Ảnh: Quốc Tuấn        Tất cả các nước đứng đầu danh sách xếp hạng đều giám sát doanh nghiệp, thế nhưng họ thực hiện theo những cách thức tốn ít chi phí và ít phiền hà. Năm quốc gia vùng Bắc Âu đều đứng trong danh sách 30 nước đứng đầu: Na Uy (thứ 5), Đan Mạch (thứ 8), Iceland (thứ 12), Phần Lan (thứ 13) và Thụy Điển (thứ 14). Những nước này không phải là ít kiểm soát doanh nghiệp mà thực ra họ đưa ra các quy định đơn giản, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, và tập trung can thiệp vào những hoạt động cần thiết như bảo vệ quyền sở hữu và cung cấp các dịch vụ xã hội.  Thuế kinh doanh ở các nước vùng Bắc Âu thuộc loại trung bình và cao – 52% trên lãi trước thuế ở Phần Lan và Iceland, 53% ở Thụy Điển, và 60% ở Na Uy. Thế nhưng chỉ có 8% các hoạt động kinh tế diễn ra tại các doanh nghiệp không đăng ký (khu vực không chính thức). Lý do là vì các doanh nghiệp được sử dụng các dịch vụ công cộng rất tốt từ số tiền thuế mà họ trả. Ví dụ như Đan Mạch có cơ sơ hạ tầng tốt nhất thế giới. Na Uy đứng đầu về chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc công bố, và Thụy Điển đứng thứ hai. Ở những nước này, cũng như các nước khác trong danh sách 30 nước đứng đầu, các nhà cải cách không phải lựa chọn giữa hoặc là tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh, hoặc là bảo hộ những lợi ích xã hội; mà họ đã tìm ra cách để thực hiện tốt cả hai việc này cùng một lúc. Đây cũng là những bài học rất tốt cho các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam  Hạnh Nam        Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường kinh doanh Việt Nam vẫn kém hấp dẫn      Chỉ số môi trường kinh doanh Việt Nam đã ở dưới ngưỡng  trung bình sau bốn quý rớt điểm liên tiếp, xuống mức 45 điểm trong quý  4/2012 – theo khảo sát do phòng Thương mại và công nghiệp châu Âu  (EuroCham) thực hiện với các doanh nghiệp thành viên đang hoạt động tại  Việt Nam.    Chỉ số này đã giảm từ 48 điểm của quý trước và từ 56 điểm của quý 1/2012. Theo EuroCham, chỉ 26% doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh tại Việt Nam “tốt” hoặc “xuất sắc” so với mức 30% của quý trước.   Tương tự, chỉ 26% doanh nghiệp lạc quan về triển vọng kinh doanh, trong khi 35% doanh nghiệp nhận định “không tốt” hoặc “rất xấu”. 72% doanh nghiệp nhận định rằng, việc kinh doanh sẽ tiếp tục khó khăn do tình hình kinh tế vĩ mô, trong đó có 50% doanh nghiệp cho biết có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực từ lạm phát trong trung hạn dù hiện tại CPI đã được kiềm chế.   Điểm sáng nhất trong chỉ số quý 4 là 39% doanh nghiệp châu Âu cho biết sẽ tăng đầu tư, so với quý trước chỉ 32%.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường kinh doanh Việt Nam xếp hạng 99 thế giới      Ngày 29.10, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố  Báo cáo môi trường kinh doanh 2014, trong đó cho biết dù đã thực hiện  được 21 cải cách kể từ năm 2005, nhiều nhất trong khu vực Đông Á – Thái  Bình Dương, nhưng xếp hạng của Việt Nam vẫn không có nhiều cải thiện.     Báo cáo xếp môi trường kinh doanh Việt Nam thứ 99 trên tổng số 189 nền kinh tế, bằng với năm gần kề.  Báo cáo xếp hạng dựa trên 10 chỉ tiêu. 5/10 chỉ tiêu của Việt Nam bị xếp ở nhóm ngoài 100. Cụ thể, đối với việc thành lập doanh nghiệp, Việt Nam xếp thứ 109 do thủ tục rườm rà, tốn nhiều thời gian (34 ngày) và chi phí cao…; tiếp cận điện năng ở nhóm cuối là 156; khả năng bảo vệ nhà đầu tư rất thấp, vị trí 157; cạnh tranh về nộp thuế ở vị trí 149, cũng vì mất nhiều thời gian và số lần đóng thuế trong một năm (32 lần); xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán ở vị trí 149; xếp hạng thương mại quốc tế ở số 65, bởi chi phí xuất nhập khẩu đều cao (tương ứng với 610 và 600 USD/container), thời gian xuất nhập khẩu lâu (21 ngày/lần). Ngoài ra, xếp hạng đăng ký tài sản, vay vốn tín dụng, thực thi hợp đồng ở nhóm trên dưới 50. Chỉ có xếp hạng cấp phép xây dựng là tốt nhất, thứ 29.  Trên phạm vi toàn cầu, Singapore tiếp tục là nước có môi trường pháp lý thuận lợi nhất thế giới, tiếp đến là Hồng Kông (Trung Quốc), New Zealand, Mỹ, Đan Mạch, Malaysia, Hàn Quốc…     Author                Quản trị        
__label__tiasang MolMapNet: Mô hình học sâu dự đoán đặc tính dược phẩm      Trong vài thập kỷ qua, các nhà khoa học máy tính đã phát triển nhiều công cụ học sâu cho nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm cả phân tích dược phẩm. Gần đây nhất, họ đã đào tạo được các mô hình học sâu có khả năng  dự đoán những đặc tính của dược phẩm để phân tích và học cách biểu diễn phân tử.      Các nhà nghiên cứu tại ĐH Thanh Hoa, ĐH Quốc gia Singapore, Khoa Dược (ĐH Phúc Đán) và ĐH Chiết Giang gần đây đã phát triển một công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) mới có thể dự đoán các đặc tính dược phẩm của thuốc bằng cách phân tích cách biểu diễn phân tử dựa trên kiến ​​thức của con người.  Công cụ có tên gọi là MolMapNet, được đăng trong một bài báo trên tạp chí Nature Machine Intelligence. Theo đó, ngay cả những người không có hoặc có ít kiến thức về khoa học máy tính, sinh học hoặc các ngành khoa học khác cũng có thể sử dụng được công cụ này dễ dàng. “Chúng tôi hiểu rằng việc khảo sát đánh giá các loại dược phẩm đòi hỏi phải hiểu biết nhiều về đặc tính phân tử. Tri thức của con người đã tạo ra những bộ sưu tập phong phú về đặc tính của nhiều phân tử, nhưng để AI học hỏi những đặc tính này là rất khó”, Yu Zong Chen, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết.  Mặc dù các công cụ AI thường rất giỏi trong việc nhận dạng hình ảnh được sắp xếp theo trình tự không gian (ví dụ hình ảnh của các vật thể), nhưng chúng không hoạt động tốt trên những dữ liệu không có trình tự như đặc tính phân tử. Điều này đã làm giảm đáng kể hiệu suất của AI trong phân tích dược phẩm.   Chen và các cộng sự muốn khắc phục điều này. Ông cho biết, “Với  dữ liệu dược phẩm có giới hạn, thật khó để cải thiện các cấu ​​trúc AI. Chúng tôi tự hỏi liệu mình có thể cải thiện cách AI đọc thuộc tính phân tử hay không. Giải pháp đưa ra là lập bản đồ cho các thuộc tính phân tử không có trình tự thành các hình ảnh có trình tự để AI nhận ra đặc tính hiệu quả hơn.”  Công cụ AI sáng tạo “vượt ngoài khuôn khổ” này không đòi hỏi tinh chỉnh tham số, nghĩa là người dùng không chuyên cũng có thể sử dụng được. Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu nhận thấy nó hoạt động tốt hơn các công cụ AI hiện đại nhất trên hầu hết 26 bộ dữ liệu dược phẩm chuẩn.  “Phương pháp của chúng tôi tuân theo ba bước để cải thiện dự đoán học sâu về các đặc tính dược phẩm,” Chen nói. Bước đầu tiên là hiểu rộng mối quan hệ nội tại của các đặc tính phân tử từ hơn 8 triệu phân tử khác nhau. Những mối quan hệ này có thể liên quan với nhau, do đó có thể là chỉ thị của một loạt đặc tính dược phẩm khác nhau.  Bước thứ hai sử dụng một kỹ thuật chuyển đổi dữ liệu mới được phát triển để sắp xếp các đặc tính phân tử của dược phẩm thành hình ảnh 2D, nơi các lớp điểm ảnh (pixel layout) phản ánh mối quan hệ nội tại giữa các đặc tính này. Các lớp này chứa những chỉ thị quan trọng về đặc tính dược phẩm mà các mô hình học sâu được đào tạo thích hợp có thể ghi nhớ được.  Bước thứ ba, họ đào tạo ra một công cụ nhận dạng hình ảnh để học các hình ảnh 2D và sử dụng chúng nhằm dự đoán đặc tính dược phẩm. Công cụ AI này có thể nhận dạng các mẫu đặc trưng trong mỗi lớp điểm ảnh để mô tả những đặc tính dược phẩm cụ thể. “Có hai kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu của chúng tôi”, Chen nhận xét. “Thứ nhất là tạo ra phương pháp mới để sắp xếp các thuộc tính phân tử không có trình tự thành các hình ảnh có trình tự để thể hiện mối quan hệ nội tại của các thuộc tính phân tử. Thứ hai là phát triển một công cụ AI tiên tiến phục vụ cho việc dự đoán sâu về đặc tính dược phẩm với hiệu quả tốt nhất dùng cho những người không phải là chuyên gia”.  Trong tương lai, mô hình học sâu này có thể đẩy nhanh việc nghiên cứu dược phẩm một cách hiệu quả hơn. Trong các nghiên cứu tiếp theo, Chen và các cộng sự muốn tiếp tục phát triển mô hình này để có thể áp dụng cho các nghiên cứu về y sinh.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-03-molmapnet-out-of-the-box-deep-pharmaceutical-properties.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Món ăn từ phòng thí nghiệm      Với Modern Meadow, một công ty khởi nghiệp sản xuất thịt nhân tạo, thách  thức lớn nhất chính là thuyết phục khách hàng ăn loại thịt làm từ phòng  thí nghiệm thay vì từ trang trại chăn nuôi như trước.     Đây là chuyện có thể xảy ra trong thời đại này, khi công nghệ hiện đại không ngừng bủa vây chúng ta. Chúng ta liên tục “lên đời” điện thoại, kết nối với nhau qua mạng Facebook, chi trả mua sắm online, yêu cầu những biện pháp điều trị y tế hiện đại nhất khi ốm và lái những chiếc xe có tính năng điều khiển còn hơn hệ thống từng đưa các phi hành gia Apollo lên mặt trăng.   Nhưng với nhiều người thì thực phẩm lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Chúng ta muốn đồ ăn hoàn toàn tinh khiết, không chất phụ gia, hóa chất độc hại và thật sự tự nhiên – một thuật ngữ tưởng như chứa đựng nhiều điều nhưng thực chất lại chẳng có ý nghĩa gì. Thực phẩm biến đổi gien hiện đang gợi cho chúng ta nhiều lo lắng. Theo cách nói của nhà báo có nhiều ảnh hưởng Michael Pollan thì chúng ta tránh ăn bất cứ thứ gì mà “cụ kỵ ta không coi là đồ ăn.”   Và theo một điều tra của Pew Research, chỉ 20% người Mỹ muốn ăn thịt làm từ phòng thí nghiệm.  Đó là vấn đề của Andras Forgacs. Ông là đồng sáng lập và giám đốc điều hành của Modern Meadow, một công ty khởi nghiệp ở Brooklyn dựa trên kỹ thuật nuôi cấy mô – còn gọi là nuôi cấy tế bào hoặc sản xuất sinh học (biofabrication) – để tạo ra những sản phẩm ít đòi hỏi đầu tư vào chuồng trại, nước, năng lượng và hóa chất như việc chăn nuôi các loại gia súc theo phương pháp truyền thống.   Hơn nữa, Forgacs cho biết, để có được sản phẩm, công ty ông sẽ không cần đến việc giết mổ gia súc.   Chế ngự nỗi lo từ sản xuất   Những công ty khởi nghiệp khác lo lắng về phản ứng của khách hàng với thực phẩm kiểu như thế này. Một số công ty trong số này như Beyond Meat, Hampton Creek và Impossible Foods đang phát triển sản phẩm mà theo họ là những lựa chọn phù hợp với môi trường hơn thực phẩm từ động vật, vốn đang bị đe dọa ngày càng tăng về nguồn cung. Và trong tiến trình này, họ đang phải đối mặt với câu hỏi làm thế nào để đối phó với phản ứng của khách hàng.   Kế hoạch của Modern Meadow là khởi động việc nuôi cấy da. Như lời giải thích của Forgacs thì kỹ thuật chế tạo da trong phòng thí nghiệm dễ hơn nhiều so với việc làm ra thịt, ít phải đối mặt với những rào cản về mặt pháp lý – và quan trọng nhất – là dễ được người tiêu dùng chấp nhận hơn.   “Người ta thường có những quan điểm thâm căn cố đế về thực phẩm, đặc biệt với thực phẩm được làm từ những công nghệ mới,” Forgacs cho biết. “Họ lại ít làm như vậy với những loại vật liệu mới và thường say mê những thứ như Gore-Tex [sợi không thấm nước được đăng ký độc quyền của W. L. Gore and Associates vào năm 1969] và sợi carbon”.   Cũng như những nhà sản xuất vật liệu tiên tiến khác, Modern Meadow hy vọng sẽ góp phần cải thiện thiên nhiên. Gia súc vốn không tiến hóa để phù hợp với việc sản xuất giày, túi xách hoặc bánh mì kẹp thịt. “Chúng tôi đang thúc đẩy mọi khâu thiết kế và nâng cao năng suất”, Forgacs hé lộ.  Từ da đến bữa ăn   Sau khi tự sản xuất ra da, theo lời Forgacs, bước tiếp theo của công ty sẽ là chế tạo thịt. Dĩ nhiên ban đầu thì chỉ sản xuất với khối lượng nhỏ, quy mô nhỏ hoặc không vì mục đích thương mại.   Sản phẩm thịt đầu tiên này là một “khoanh mỏng thịt bò”, một miếng đồ ăn nhanh từ phòng thí nghiệm của Modern Meadow, được Forgacs miêu tả như một “cú đột nhập vào nhà bếp”. Vị của nó giống như bánh Tortilla từ bột ngô hơn là một miếng phi lê bò. “Chúng tôi đã mời 100 người thử nó và nay họ vẫn còn sống”, Forgacs hài hước.   Thực ra phần lớn những gì chúng ta ăn ngày nay đều là sản phẩm của công nghệ. Hạt giống đều được nuôi dưỡng trong phòng thí nghiệm, cho dù theo những phương pháp truyền thống hay biến đổi gien. Các cánh đồng được canh tác bằng máy kéo có thiết bị GPS hướng dẫn, nước và phân bón được tưới tiêu và đo đếm bằng các loại máy móc chính xác và thực phẩm được phân phối thông qua chuỗi cung ứng toàn cầu.   Một số công nghệ không thể kiểm soát được hết quy trình, khiến cho đồ ăn có nhiều muối, đường hoặc chất béo hơn sự cần thiết của con người. Còn một số công nghệ khác lại hỗ trợ người nghèo trên thế giới. Nhưng dù tốt hay xấu thì chúng ta không thể ăn mà thiếu đi yếu tố công nghệ. “Một nhà bếp ẩn chứa nhiều công nghệ, Forgacs nói “Lò vi sóng là công nghệ hay máy xay sinh tố cũng là công nghệ.”  Điều đó hé lộ rằng, Forgacs nhận thức được những điều thôi thúc Modern Meadow đưa đồ ăn vào một địa hạt mới – và trong suy nghĩ của mình, ông muốn tiến hành mọi việc thật cẩn thận. Doanh nghiệp khởi nghiệp này được thành lập vào năm 2011, hiện là hợp tác thứ hai của ông với cha mình, Gabor Forgacs, một nhà vật lý chuyển hướng sang làm kỹ sư sinh học đang giảng dạy ở ĐH Missouri. Công ty trước của họ, Organovo, thiết kế và sản xuất mô chủ yếu cho nghiên cứu y học.  Sau Organovo, Andras Forgacs tới Trung Quốc, nơi ông nhìn thấy sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu với nhu cầu về thịt. “Mức tiêu thụ thịt đã tăng lên đáng kể trong khi giá thành giảm xuống”, ông cho biết.  Forgacs nhận ra rằng, thật không may là cách sản xuất ra thịt kiểu Mỹ hiện nay không đủ khả năng cung cấp protein cho con người – và nỗ lực bắt chước nó của Trung Quốc không đem lại lợi lộc gì. “Môi trường trong lành ở các thành phố như Thượng Hải hay Bắc Kinh đang suy giảm. Con người có thể duy trì trái đất như thế nào để không làm nó tệ hơn?”   Giải pháp của Modern Meadow là thu hút sự đầu tư từ Quỹ Thiel Foundation, do người đồng sáng lập PayPal là Peter Thiel điều hành; Sequoia Capital, quỹ đã ủng hộ nhiều công ty về công nghệ lớn hàng đầu thế giới; Artis Venture; Iconiq Capital; và gần đây nhất là Horizons Ventures, quỹ đầu tư mạo hiểm của Li Ka-shing. Horizons đã đầu tư cho Hampton Creek và Impossible Foods. “Ông ấy thấu hiểu vấn đề từ góc nhìn châu Á, nơi có vấn đề thực sự về mất cân bằng cung cầu”, Forgacs nhận xét.  Hiện tại thi quy mô Modern Meadow vẫn còn nhỏ, chỉ với 15 nhân công và tất cả đều ở Brooklyn. Dẫu sao Forgacs vẫn hy vọng sẽ mời khách hàng tới “để mọi người có thể đến và xem xúc xích được làm ra như thế nào. Lò giết mổ thì không làm điều đó”.   “Chúng tôi đang cần có được nhiều sự tin tưởng từ khách hàng”, ông nói. “Để có được nó, các công ty cần càng nhiều minh mạch càng tốt. “Đối với tôi, càng có nhiều khách hàng hiểu cách thức và những gì chúng tôi làm… sẽ càng minh bạch hơn, việc nhận diện nhãn hàng cũng tốt hơn”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/nov/07/laboratory-beef-leather-modern-meadow-brooklyn-horizons       Author                Quản trị        
__label__tiasang Món ăn từ phòng thí nghiệm      Với Modern Meadow, một công ty khởi nghiệp  sản xuất thịt nhân tạo, thách thức lớn nhất chính là thuyết phục khách  hàng ăn loại thịt làm từ phòng thí nghiệm thay vì từ trang trại chăn  nuôi như trước.  &#160;    Đây là chuyện có thể xảy ra trong thời đại này, khi công nghệ hiện đại đang bủa vây chúng ta. Chúng ta liên tục “lên đời” điện thoại, kết nối với nhau qua mạng Facebook, chi trả mua sắm online, yêu cầu những biện pháp điều trị y tế hiện đại nhất khi ốm và lái những chiếc xe có tính năng điều khiển còn hơn hệ thống từng đưa các phi hành gia Apollo lên mặt trăng.   Nhưng với nhiều người thì thực phẩm lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Chúng ta muốn đồ ăn hoàn toàn tinh khiết, không chất phụ gia, hóa chất độc hại và thật sự tự nhiên – một thuật ngữ tưởng như chứa đựng nhiều điều nhưng thực chất lại chẳng có ý nghĩa gì. Thực phẩm biến đổi gien hiện đang gợi cho chúng ta nhiều lo lắng. Theo cách nói của nhà báo nhiều ảnh hưởng Michael Pollan thì chúng ta tránh ăn bất cứ thứ gì mà “cụ kỵ ta không coi là đồ ăn.”   Và theo một điều tra của Pew Research, chỉ 20% người Mỹ muốn ăn thịt làm từ phòng thí nghiệm.  Đó là vấn đề của Andras Forgacs. Ông là đồng sáng lập và giám đốc điều hành của Modern Meadow, một công ty khởi nghiệp ở Brooklyn dựa trên kỹ thuật nuôi cấy mô –còn gọi là nuôi cấy tế bào hoặc sản xuất sinh học (biofabrication) – để tạo ra những sản phẩm ít đòi hỏi đầu tư vào chuồng trại, nước, năng lượng và hóa chất như việc chăn nuôi các loại gia súc theo phương pháp truyền thống.   Hơn nữa, Forgacs cho biết, những sản phẩm của công ty ông sẽ không cần đến việc giết mổ gia súc.   Chế ngự nỗi lo từ sản xuất   Những công ty khởi nghiệp khác lo lắng về phản ứng của khách hàng với thực phẩm kiểu như thế này. Một số công ty trong số này như Beyond Meat, Hampton Creek và Impossible Foods đang phát triển sản phẩm mà theo họ là những lựa chọn phù hợp với môi trường hơn thực phẩm từ động vật, vốn đang bị đe dọa ngày càng tăng về nguồn cung. Và trong tiến trình này, họ đang phải đối mặt với câu hỏi làm thế nào để đối phó với phản ứng của khách hàng.   Kế hoạch của Modern Meadow là khởi động việc nuôi cấy da. Như lời giải thích của Forgacs thì kỹ thuật chế tạo da trong phòng thí nghiệm dễ hơn nhiều so với việc làm ra thịt, ít phải đối mặt với những rào cản về mặt pháp lý – và quan trọng nhất – là dễ được người tiêu dùng chấp nhận hơn.   “Người ta thường có những quan điểm thâm căn cố đế về thực phẩm, đặc biệt với thực phẩm được làm từ những công nghệ mới,” Forgacs cho biết. “Họ lại ít làm như vậy với những loại vật liệu mới và thường say mê những thứ như Gore-Tex [sợi không thấm nước được đăng ký độc quyền của W. L. Gore and Associates vào năm 1969] và sợi carbon”.   Cũng như những nhà sản xuất vật liệu tiên tiến khác, Modern Meadow hy vọng sẽ góp phần cải thiện thiên nhiên. Gia súc vốn không tiến hóa để phù hợp với việc sản xuất giày, túi xách hoặc bánh mì kẹp thịt. “Chúng tôi đang thúc đẩy mọi khâu thiết kế và nâng cao năng suất”, Forgacs hé lộ.  Từ da đến bữa ăn   Sau khi tự sản xuất ra da, theo lời Forgacs, bước tiếp theo của công ty sẽ là chế tạo thịt. Dĩ nhiên ban đầu thì chỉ sản xuất với khối lượng nhỏ, quy mô nhỏ hoặc không vì mục đích thương mại.   Sản phẩm thịt đầu tiên này là một “khoanh mỏng thịt bò”, một miếng đồ ăn nhanh từ phòng thí nghiệm của Modern Meadow, được Forgacs miêu tả như một “cú đột nhập vào nhà bếp”. Vị của nó giống như bánh Tortilla từ bột ngô hơn là một miếng phi lê bò. “Chúng tôi đã mời 100 người thử nó và nay họ vẫn còn sống”, Forgacs hài hước.   Thực ra phần lớn những gì chúng ta ăn ngày nay đều là sản phẩm của công nghệ. Hạt giống đều được nuôi dưỡng trong phòng thí nghiệm, cho dù theo những phương pháp truyền thống hay biến đổi gien. Các cánh đồng được canh tác bằng máy kéo có thiết bị GPS hướng dẫn, nước và phân bón được tưới tiêu và đo đếm bằng các loại máy móc chính xác và thực phẩm được phân phối thông qua chuỗi cung ứng toàn cầu.   Một số công nghệ không thể kiểm soát được hết quy trình, khiến cho đồ ăn có nhiều muối, đường hoặc chất béo hơn sự cần thiết của con người. Còn một số công nghệ khác lại hỗ trợ người nghèo trên thế giới. Nhưng dù tốt hay xấu thì chúng ra không thể ăn mà thiếu đi yếu tố công nghệ. “Một nhà bếp ẩn chứa nhiều công nghệ, Forgacs nói “Lò vi sóng là công nghệ hay máy xay sinh tố cũng là công nghệ.”  Điều đó hé lộ rằng, Forgacs nhận thức được những điều thôi thúc Modern Meadow đưa đồ ăn vào một địa hạt mới – và trong suy nghĩ của mình, ông muốn tiến hành mọi việc thật cẩn thận. Doanh nghiệp khởi nghiệp này được thành lập vào năm 2011, hiện là hợp tác thứ hai của ông với cha mình, Gabor Forgacs, một nhà vật lý chuyển hướng sang làm kỹ sư sinh học đang giảng dạy ở ĐH Missouri. Công ty trước của họ, Organoo, thiết kế và sản xuất mô chủ yếu cho nghiên cứu y học.  Sau Organovo, Andras Forgacs tới Trung Quốc, nơi ông nhìn thấy sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu với nhu cầu về thịt. “Mức tiêu thụ thịt đã tăng lên đáng kể trong khi giá thành giảm xuống”, ông cho biết.  Forgacs nhận ra rằng, thật không may là cách sản xuất ra thịt kiểu Mỹ hiện nay không đủ khả năng cung cấp protein cho con người – và nỗ lực bắt chước nó của Trung Quốc không đem lại lợi lộc gì. “Môi trường trong lành ở các thành phố như Thượng Hải hay Bắc Kinh đang suy giảm. Con người có thể duy trì trái đất như thế nào để không làm nó tệ hơn?”   Giải pháp của Modern Meadow là thu hút sự đầu tư từ Quỹ Thiel Foundation, do người đồng sáng lập PayPal là Peter Thiel điều hành; Sequoia Capital, quỹ đã ủng hộ nhiều công ty về công nghệ lớn hàng đầu thế giới; Artis Venture; Iconiq Capital; và gần đây nhất là Horizons Ventures, quỹ đầu tư mạo hiểm của Li Ka-shing. Horizons đã đầu tư cho Hampton Creek và Impossible Foods. “Ông ấy thấu hiểu vấn đề từ góc nhìn châu Á, nơi có vấn đề thực sự về mất cân bằng cung cầu”, Forgacs nhận xét.  Hiện tại thi quy mô Modern Meadow vẫn còn nhỏ, chỉ với 15 nhân công và tất cả đều ở Brooklyn. Dẫu sao Forgacs vẫn hy vọng sẽ mời khách hàng tới “để mọi người có thể đến và xem xúc xích được làm ra như thế nào. Lò giết mổ thì không làm điều đó”.   “Chúng tôi đang cần có được nhiều sự tin tưởng từ khách hàng”, ông nói. “Để có được nó, các công ty cần càng nhiều minh mạch càng tốt. “Đối với tôi, càng có nhiều khách hàng hiểu cách thức và những gì chúng tôi làm… sẽ càng minh bạch hơn, việc nhận diện nhãn hàng cũng tốt hơn”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/nov/07/laboratory-beef-leather-modern-meadow-brooklyn-horizons       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mông Cổ có thể là cái nôi của ngành thú y      Cái nôi của ngành thú y có thể ở nước Mông Cổ ngày nay. Bởi vì, mới đây các nhà nghiên cứu phát hiện một hàm răng ngựa 3000 năm tuổi, những chiếc răng này đều được phẫu thuật và nhổ từng cái một.      Đàn ngựa trên thảo nguyên Mông cổ  Từ bao đời nay con người đều biết hàm răng đối rất quan trọng đối với ngựa. Bất kỳ ai, khi chọn mua ngựa đều xem xét hàm răng của con vật. Ngày nay khi ngựa bị đau răng cũng được nha sĩ thú y chữa chạy. Cái nghề này dường như có từ lâu đời, lâu hơn chúng ta nghĩ. Mới đây các nhà khoa học đã phát hiện dấu vết về việc chữa trị răng cho ngựa đã có từ cách đây 3000 năm. Nhóm nghiên cứu viết trong kỷ yếu của Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ (Proceedings of the National Academy of Sciences), mẫu vật mà họ phát hiên được có lẽ thuộc diện lâu đời nhất thế giới về ngành thú y.  Các nhà nghiên cứu đã xem xét một bộ xương ngựa Mông cổ, và thấy hàm răng ngựa không có đầy đủ răng và những chiếc răng bị khuyết dường như đã được phẫu thuật nhổ bỏ.    Một bộ xương sọ ngựa được nghiên cứu  Những mẫu vật này có niên đại khoảng 1300 đến 700 năm trước Công nguyên. Các nhà khoa học cho rằng, thời kỳ này người Mông cố đều là dân du mục. Họ có phong tục chôn cất người chết cùng với con ngựa của mình dưới những ngôi mộ đá. Cũng chính vì vậy các nhà khoa học cho rằng thời đó con ngựa rất quan trọng trong cuộc sống du mục của người Mông Cổ.  Có lẽ người ta nhổ răng cho ngựa không phải chỉ vì nguyên nhân trực tiếp – có thể những chiếc răng bị sâu và gây đau đớn cho con vật khi ăn. Sự can thiệp đó cũng cho thấy mức độ quan tâm của con người trong việc chữa trị cho ngựa – vì nó còn là con vật phục vụ chiến đấu giữ gìn và mở mang bờ cõi.  Phát hiện này cũng cho thấy, cách đây khoảng 3000 năm người ta đã biết làm yên cương và hàm thiếc cho ngựa để trông nom chúng dễ dàng hơn. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán, khi làm hàm cho ngựa, người ta có thể phát hiện khuyết tật về răng, răng đau hoặc răng bị thiếu. Thí dụ ở ngựa có những cái răng được gọi là răng sói – những răng nhỏ, mọc không đều ở ngựa và cần phải nhổ. Ngày nay những cái răng loại này đều bị nhổ bỏ ngay từ khi con ngựa còn nhỏ.       Người chăn ngựa đang nhổ răng cho ngựa  Chưa rõ cách đây 3000 năm con người nhổ răng ngựa như thế nào và họ đã làm gì để cho ngựa chịu đứng yên để nhổ răng. Còn ngày nay người nuôi ngựa dùng tuốc nơ vít để nhổ bỏ răng sói và ngựa thường được gây mê.  “Thường người ta nghĩ thú y là một môn khoa học của phương tây”, nhà nghiên cứu William Taylor thuộc ở phân viện Max Planck về lịch sử nhân loại, thành viên của nhóm nghiên cứu này, cho biết. Và kết quả nghiên cứu cho thấy những hiểu biết về thú y ngày nay không xuất phát từ nền văn minh của người Trung quốc hay người ở vùng Địa Trung Hải như người ta đã từng nghĩ trước đây mà đã ra đời hàng trăm năm trước đó ở các dân tộc du mục mà cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào những con ngựa khoẻ mạnh, cường tráng.   Hoài Trang dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wissenschaft/mensch/mongolei-aelteste-hinweise-fuer-zahnbehandlung-bei-pferden-entdeckt-a-1216257.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Morocco lắp pin mặt trời trên nóc các nhà thờ Hồi giáo      Phát triển năng lượng tái tạo đang trở thành xu hướng trên thế giới. Nhưng các chính phủ có thể làm cách nào để truyền tải thông điệp này tới công chúng? Ở Morocco, chính quyền đang trông chờ câu trả lời từ tôn giáo.      Âm thanh từ đường phố đông đúc của Marrakesh bay lên tận mái nhà dãy pin mặt trời đặt trên mái Koutoubia, một trong những dãy pin mặt trời đặt trên mái thánh đường Hồi giáo lớn nhất thành phố này.  Chóp tháp đá khảm trang trí kiểu nghệ thuật mosaic của thánh đường Koutoubia vượt cao hơn hẳn so với phần mái phẳng, phần hứng được nhiều ánh nắng mặt trời và đủ chỗ để đặt một hàng pin mặt trời lớn. Jan-Christoph Kuntze, đại diện của GIZ, tổ chức Hợp tác phát triển Đức tại Morocco, tính toán rất kỹ việc lắp đặt này và nói rằng chỉ có thể lắp đặt tại vị trí này mới thu được kết quả như mong muốn. “Về cơ bản đó là chỗ có thể đảm bảo đáp ứng nhu cầu ánh sáng và một số nhu cầu năng lượng khác trong dãy pin mặt trời đặt trên mái”, anh nói.  Dẫu cho không thể nhìn thấy dãy pin mặt trời đặt trên mái từ dưới phố, một tấm bảng điện tử được đặt phía trước nhà thờ đã hiển thị những tấm pin mặt trời sản xuất ra bao nhiêu điện năng ở mọi thời điểm và tránh được bao nhiêu phát thải carbon.  Nâng cao nhận thức về năng lượng tái tạo   Việc lắp đặt pin mặt trời trên thánh đường Koutoubia là một phần của kế hoạch về năng lượng do Bộ Các vấn đề Hồi giáo của Morocco đi tiên phong. Trong số khoảng 50.000 nhà thờ nằm rải rác trên cả nước, Bộ Các vấn đề Hồi giáo có trách nhiệm cung cấp năng lượng và nước cho khoảng 15.000. Chính phủ lên kế hoạch lắp đặt các tấm pin mặt trời, đèn LED và thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời cho khoảng 600 thánh đường vào năm 2019 và sau đó sẽ tiếp tục trên các nhà thờ còn lại.  Thuộc số những nhà thờ đầu tiên của Morocco lắp đặt pin mặt trời, Koutoubia trở thành một trong những nơi thành công nhất, Kuntze cho biết.  “Đây là một trong những nhà thờ cổ nhất Morocco và có vai trò rất quan trọng với người dân nước này, vì vậy việc lắp đặt pin mặt trời ở đây sẽ đem lại cơ hội nâng cao nhận thức của người dân về năng lượng xanh.”  Những thay đổi diễn ra tại các nhà thờ Hồi giáo là một trong những biện pháp mà Morocco đang thực hiện để phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo. Trong vai trò tiên phong ở khu vực, Morocco đã đưa ra nhiều dự án về năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Vào năm 2015, Vua Morocco đã thông báo, đất nước đặt mục tiêu năng lượng tái tạo chiếm một nửa tổng sản lượng điện năng vào năm 2030.  Quen với năng lượng xanh  Dự án này đã được báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên hợp quốc ở Marrakesh vào năm 2016. Said Mouline, tổng giám đốc AMEE, Cơ quan Quốc gia về hiệu quả năng lượng của Morocco, nói, “Chúng tôi muốn cho thế giới thấy chúng tôi có thể có những chiếc đèn tiết kiệm điện năng, thiết bị nước nóng, tấm pin mặt trời trong nhà thờ như thế nào. Vấn đề ở đây là khiến cho mọi người quan tâm hơn về hiệu quả năng lượng – thấy công nghệ trong nhà thờ và sau đó hy vọng họ sẽ lắp đặt những công nghệ đó trong ngôi nhà của mình.”  Hiện thời, Morocco đang phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng nhập khẩu. AMEE ước tính là hơn 95% năng lượng của đất nước đến từ các nguồn cung bên ngoài, dẫn đến việc dễ bị tác động từ biến động giá cả năng lượng.  Chính phủ Morocco tin tưởng rằng việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả cùng với việc khai thác năng lượng tái tạo là yếu tố để giảm bớt sự phụ thuộc của đất nước vào năng lượng nhập khẩu và có thể cung cấp cho người dân nguồn năng lượng giá rẻ, ít nhất là trong một thời gian dài. Nhưng chi phí ban đầu để lắp đặt các tấm pin mặt trời hay biện pháp để sử dụng năng lượng hiệu quả hơn lại vượt quá khả năng tài chính của nhiều người dân Morocco.  “Chúng tôi đang tìm kiếm giải pháp về tài chính cho người dân, cho việc tăng cường hiệu quả năng lượng. Chúng tôi phải thuyết phục họ, cách làm này tiết kiệm điện năng hơn,” Mouline cho biết thêm.  Kêu gọi mọi người dân Maroco  Tiếng cầu nguyện vang lên khắp quảng trường bên ngoài nhà thờ Koutoubia. Mọi người hối hả hướng đến nhà thờ để tham dự buổi cầu nguyện vào ngày thứ Sáu, một trong những ngày quan trọng nhất trong tuần với người Hồi giáo.  Một vài người tới nhà thờ dường như đã được nâng cao hiểu biết về những tấm pin mặt trời ở nhà thờ. Họ cũng lạc quan về tương lai của năng lượng tái tạo.  “Điều tốt đẹp về năng lượng mặt trời là nó không giống điện năng [phải truyền tải qua dây diện] mà nó luôn luôn có sẵn. Đó là từ Thượng đế!”, một người đàn ông nói.  Một cô gái trẻ đứng ngoài nhà thờ nói cô có thể hình dung ra việc sử dụng các công nghệ năng lượng tái tạo ngay trong ngôi nhà mình. “Có thể là trong tương lai Marrakesh chỉ còn phụ thuộc vào năng lượng mặt trời”, cô dự đoán.  Để đạt được mục tiêu về năng lượng tái tạo, vẫn còn một con đường rất dài cho Morocco ở phía trước, nhưng ít nhất là tương lai các nhà thờ Morocco có vẻ xanh hơn.  Nguồn: http://www.dw.com/en/solar-panels-make-moroccos-mosques-a-model-for-green-energy/a-37583670    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Một bước mới tiến tới khống chế chứng loạn dưỡng cơ Duchenne      Theo tạp chí Science, các nhà khoa học đã sử dụng thành công phương pháp chỉnh sửa hệ gien CRISPR/Cas9 để sửa chữa một khiếm khuyết di truyền gây ra chứng loạn dưỡng cơ của Duchenne ở những con chó. Trước đây, công trình nghiên cứu tương tự chỉ được thực hiện ở chuột thí nghiệm và tế bào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.      Sau khi chỉnh sửa được khiếm khuyết di truyền ở chuột thí nghiệm và tế bào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, nay các nhà khoa học đã thành công ở 2 con chó – Ảnh: Pexels  Được biết, chứng teo cơ hay còn gọi là loạn dưỡng cơ Duchenne là một căn bệnh hiếm gặp nhưng nghiêm trọng gây ra sự suy yếu dần dần của các cơ. Thông thường, các bé trai hay bị bệnh và chết sớm vì bệnh này trước tuổi 20. Người ta ước tính rằng khoảng 300.000 người trên thế giới bị rối loạn di truyền này.  Lý do phát bệnh có thể là bất kỳ số đột biến nào trong gien dystrophin – một protein cấu trúc cần thiết để duy trì chức năng và hình dạng của các cơ. Thông thường, các đột biến nằm ở trong một đoạn của gien, điều này cho phép các phương pháp chỉnh sửa bộ gien hiện đại thực hiện những thay đổi cần thiết.  Trong công trình nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã tiêm một lượng virus khác nhau cho 2 con chó 2 tháng tuổi bị mắc căn bệnh này. Đó là các virus cung cấp các chất cần thiết để chỉnh sửa hệ gien vào tế bào. Sau 8 tuần, các bác sĩ đo lượng dystrophin ở chó thì thấy dystrophin tăng lên trong từng nhóm cơ, nhưng hiệu quả thì khác nhau. Đặc biệt, tim của một con chó được tiêm liều cao virus đã khôi phục được 92% lượng protein cần thiết, nhưng trong lưỡi, nồng độ protein chỉ bằng 5% mức chuẩn.  Trong các nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng việc phục hồi ít nhất 15% lượng dystrophin cần thiết sẽ loại bỏ được các triệu chứng nguy hiểm nhất của bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne. Trong công trình nghiên cứu mới, tất cả các cơ được nghiên cứu, ngoại trừ lưỡi, lượng dystrophin đã tăng ít nhất đến mức loại trừ được các triệu chứng nguy hiểm.  Vũ Trung Hương ( Motthegioi )    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một bước tiến gần hơn tới máy gia tốc hạt mạnh nhất thế giới      Các nhà khoa học đã thực hiện được một công nghệ then chốt để có thể tạo ra những cỗ máy gia tốc hạt năng lượng cao thế hệ mới.      Các máy gia tốc hạt thường được dùng để nghiên cứu các cấu trúc của vật chất trong các vành va chạm như LHC, và để đo đạc các cấu trúc hóa học của thuốc, điều trị các bệnh ung thư và tạo ra các vi chip silicon.  Từ trước đến nay, các hạt được gia tốc là các proton, electron và ion, trong những chùm tia được hội tụ. Dẫu vậy, một nhóm nghiên cứu quốc tế mang tên Thí nghiệm làm lạnh ion hóa muon (Muon Ionization Cooling Experiment MICE), trong đó có các nhà nghiên cứu Imperial College London, đang cố gắng tạo ra một chùm tia muon.  Các muon là những hạt như các electron nhưng có khối lượng lớn hơn. Điêu đó có nghĩa là chúng có thể được sử dụng để tạo ra các chùm tia với mức năng lượng lớn gấp 10 lần so với chùm tia trên LHC.  Các muon có thể được dùng để nghiên cứu về các cấu trúc nguyên tử của vật liệu, như một xúc tác cho nhiệt hạch hạt nhân và để nhìn xuyên qua các vật chất đậm đặc mà tia X cũng không thể thâm nhập.  Thành công ở một bước tiến quan trọng  MICE mới loan báo thành công trong một bước đi quan trọng trong việc tạo ra một chùm muon – tập hợp và giữ các hạt muon vào trong một khối lượng đủ nhỏ khiến các va chạm có thể diễn ra nhiều hơn. Kết quả này được xuất bản trên Nature.  Thí nghiệm đã được thực hiện với dòng tia muon MICE tại cơ sở ISIS Neutron&Muon Beam (STFC ) tại Harwell Campus ở Anh.  Giáo sư Ken Long, từ Khoa vật lý tại Imperial College London, là phát ngôn viên của thực nghiệm. Ông nói: “Công việc đầy khó khăn nhưng cũng vô cùng hứng thú, tận tụy của nhóm hợp tác quốc tế cũng như sự hỗ trợ của phòng thí nghiệm tại STFC và những viện nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới đã tạo ra đột phá có thể làm thay đổi cuộc chơi này”.  Các hạt muon được tạo ra từ việc gia tốc một chùm tia proton hướng vào một bia. Sau đó, các hạt muon đó có thể bị phân tách khỏi mảnh vụn tại bia và hướng thẳng đến một loạt các thấu kính từ. Các muon được tập hợp đã hình thành một đám mây khuếch tán, vì vậy khi va chạm, các khả năng chúng va chạm lẫn nhau và tạo ra những hiện tượng vật lý vô cùng thú vị là thực sự thấp.  Để khiến cho đám mây đó ít khuếch tán hơn, một quá trình gọi là làm lạnh chùm thia được sử dụng. Nó bao gồm việc đưa các hạt muon gần nhau hơn và chuyển động theo cùng hướng. Tuy nhiên, cho đến lúc đó, các thấu kính từ trường chỉ có thể đưa các hạt muon lại gần nhau hơn hoặc đưa chúng chuyển động theo cùng hướng mà không tạo ra cả hai trạng thái cùng lúc.  Làm lạnh các hạt muon  Nhóm hợp tác MICE đã kiểm tra một phương pháp mới hoàn toàn để có thể thực hiện được thách thức khác thường này, làm lạnh các hạt muon bằng việc đặt chúng vào những vật liệu hấp thụ năng lượng được thiết kế một cách đặc biệt. Nó được thực hiện trong khi chùm tia được hội tụ bằng những thấu kính từ siêu dẫn vô cùng chính xác.  Sau khi làm lạnh chùm tia vào một đám mây đậm đặc, các hạt muon có thể được gia tốc bằng một máy gia tốc hạt thông thường theo một hướng chính xác, khiến cho nó có nhiều hạt muon để va chạm. Như một sự lựa chọn, các hạt muon lạnh có thể chuyển động chậm hơn vì vậy các nhà nghiên cứu có thể nghiên cứu được những thứ phân rã của chúng.  TS. Chris Rogers, người làm việc tại ISIS (STFC) và nhà điều phối vật lý của nhóm hợp tác, giải thích: “MICE đã làm rõ một cách làm hoàn toàn mới của việc nén một chùm hạt vào một khối lượng nhỏ hơn. Kỹ thuật này là thiết yếu để tạo ra một vành va chạm muon thành công, có thể vượt trội cả LHC”.  “Demonstration of cooling by the Muon Ionization Cooling Experiment” của nhóm MICA đã được xuất bản trên Nature.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-world-powerful-particle-big-closer.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một bước tiến quan trọng hướng đến internet lượng tử      Vật liệu kim cương là một phần quan trọng của các công nghệ tương lai như internet lượng tử. Các tâm khiếm khuyết đặc biệt có thể sử dụng như các bit lượng tử và phát ra các hạt ánh sáng được coi như những photon đơn lẻ.    Để tăng cường việc truyền dữ liệu với các tốc độ truyền thông khả thi qua những khoảng cách xa trong một mạng lượng tử, tất cả các photon phải được thu thập trong các sợi quang và truyền đi không bị mất mát. Muốn được như vậy cần phải đảm bảo là các photon đó đều có cùng màu sắc, cùng tần số. Cho đến hiện tại thì chưa thể đảm bảo được những điều kiện cần thiết đó.  Các nhà nghiên cứu ở nhóm “Photon lượng tử tích hợp” do giáo sư  Tim Schröder tại ĐH Humboldt Berlin đã thành công trong việc lần đầu tiên trên thế giới tạo ra và dò các photon với các tần số photon bền được phát ra từ các nguồn ánh sáng lượng tử hoặc nhiều chính xác hơn, từ các trung tâm khuyết tật trống nitrogen ở các cấu trúc nano kim cương.  Có thể thực hiện được điều này bằng việc chọn vật liệu kim cương một cách cẩn trọng; các phương pháp chế tạo nano phức tạp ở Phòng thí nghiệm hợp tác Diamond Nanophotonics ở Viện nghiên cứu Ferdinand-Braun, Leibniz-Institut für Höchstfrequenztechnik; và các giao thức kiểm soát thực nghiệm đặc biệt. Bằng việc kết hợp các phương pháp, nhiễu của các electron, vốn từng làm nhiễu loạn việc truyền dữ liệu trước đây, có thể được giảm thiểu một cách đáng kể và các photon được tạo ra ở một tần số (truyền thông) bền vững.  Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu Berlin đã chứng tỏ là tốc độ truyền thông giữa các hệ lượng tử riêng rẽ về mặt không gian có thể được gia tăng đến hơn 1.000 lần với sự hỗ trợ của các phương pháp đã được họ phát triển này – một bước tiến quan trọng bước gần hơn với một mạng internet lượng tử trong tương lai.  Các nhà khoa học đã tích hợp các qubit vào các cấu trúc nano kim cương tối ưu. Những cấu trúc này mỏng hơn cả nghìn lần sợi tóc người và khiến việc truyền các photon được trực tiếp tạo ra vào vác sợi quang.  Tuy nhiên, trong quá trình pha tạp các cấu trúc nano này, bề mặt vật liệu bị phá hủy tại mức nguyên tử và các electron tự do tạo nhiễu không thể kiểm soát bởi các hạt ánh sáng được sinh ra. Nhiễu, so với một tần số radio không bền, có nguyên nhân là các thăng giáng trong tần số photon, ngăn các giao thức lượng tử, ví dụ như rối lượng tử, diễn ra thành công.  Một đặc trưng cụ thể của vật liệu kim cương được các nhà nghiên cứu tận dụng là mật độ cao của các nguyên tử pha tạp nitrogen trong mạng tinh thể. Chúng có thể che chắn nguồn sáng lượng tử khỏi nhiễu electron trên bề mặt của cấu trúc nano này. “Tuy nhiên, vẫn cần nghiên cứu các quá trình vật lý một cách chính xác để có thêm nhiều thông tin chi tiết trong tương lai”, Laura Orphal-Kobin, nguời tham gia nghiên cứu về các hệ lượng tử với giáo sư Tim Schröder, cho biết.  Việc rút ra được kết luận từ các quan sát thực nghiệm còn nhờ các mô hình và mô phỏng thống kê với sự hỗ trợ của tiến sĩ Gregor Pieplow trong nhóm nghiên cứu, vốn được phát triển và hoàn thiện cùng với các nhà vật lý thực nghiệm.  Bài báo “Optically Coherent Nitrogen-Vacancy Defect Centers in Diamond Nanostructures” được xuất bản trên tạp chí Physical Review X 1.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-important-quantum-internet-diamond-nanostructures.html  https://www.microwavejournal.com/articles/39921-researchers-at-hu-and-ferdinand-braun-institut-make-important-step-towards-quantum-internet  —————————————  1. https://journals.aps.org/prx/abstract/10.1103/PhysRevX.13.011042    Author                .        
__label__tiasang Một cách nhìn về cuộc đời và sự nghiệp GS Đặng Nghiêm Vạn      Bài viết này giới thiệu về hành trình đến với dân tộc học cũng như những đóng góp của GS. Đặng Nghiêm Vạn – một nhà dân tộc học có tầm ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển dân tộc học Việt Nam.      GS. Đặng Nghiêm Vạn  Đóng góp của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đối với nghiên cứu tộc người và tôn giáo ở Việt Nam  Đặng Nghiêm Vạn được tôn vinh như là một trong những nhà dân tộc học đầu tiên ở Việt Nam được đào tạo theo truyền thống Xô viết thời kỳ sau Giải phóng (1956)[1]. Những nghiên cứu ban đầu của ông tập trung vào nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam và được coi là nghiên cứu điển hình cho các nhà Thái học. Ông không chỉ là thế hệ khoa học đầu tiên nghiên cứu và trình bày những tri thức về người Thái một cách hệ thống mà còn đặt nền móng cho bộ môn Thái học ở Khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp, một trong những cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội quan trọng nhất của Việt Nam đầu những năm 60.  Mặc dù định hướng ban đầu là nghiên cứu về nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, song địa bàn nghiên cứu thực địa của giáo sư Vạn không giới hạn trong vùng ngôn ngữ Tày-Thái. Từ sau năm 1975 ông mở rộng địa bàn nghiên cứu sang Trường Sơn-Tây Nguyên. Có thể xem các nghiên cứu về vùng Trường Sơn-Tây Nguyên của ông là cẩm nang cho những người làm công tác dân tộc nói chung, bao gồm cả các nhà nghiên cứu, cán bộ công tác ở miền núi, bộ đội biên phòng, qua những tựa đề hết sức giản dị, chẳng hạn như “Những vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên” và “Tây Nguyên trên đường phát triển” (1986 và 1987) hay “Những ai lên Tây Nguyên cần biết (1988)…  Đáng chú ý là, những nghiên cứu làm nên tên tuổi của ông phần lớn lại liên quan đến vấn đề tôn giáo, trong thời kỳ ông công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo (ban đầu là Ban Khoa học về Tôn giáo), từ năm 1991. Nếu chúng ta biết rằng, ông là chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng ngành Tôn giáo học, “một ngành khoa học nhạy cảm, ở một thời điểm nhạy cảm, trong một đất nước nhạy cảm”[2], thì mới có thể hiểu hết tầm quan trọng của những đóng góp của ông đối với nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam. Không những thế, ông còn là một trong số không nhiều những nhà nghiên cứu tích cực tìm tòi một cách tiếp cận mang tính lý thuyết đối với nghiên cứu tôn giáo bản địa ở Việt Nam. Ông đã công bố nhiều bài báo, công trình trong đó chứng minh một cách thuyết phục tính phổ quát của Đạo thờ cúng tổ tiên trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Việt Nam từ các cấp độ khác nhau: gia đình-dòng họ-đất nước, tiêu biểu là các công trình “Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo Việt Nam” (năm 1998) và “Dân tộc-Tôn giáo-Văn hóa” (năm 2001)…    Những công trình đã ghi dấu ấn tên tuổi của GS. Đặng Nghiêm Vạn.  Vậy những yếu tố nào đã làm nên một nhà dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn với những tác phẩm tiêu biểu đó? Một cái nhìn khái quát về những thăng trầm trong cuộc đời và những dấu ấn lớn trong sự nghiệp của giáo sư Vạn dưới đây, hy vọng sẽ đem đến lời giải đáp cho câu hỏi trên.  Gia đình – cái nôi của truyền thống cách mạng  Một ngày tháng 9/2009, trong căn phòng chất đầy sách, báo, tư liệu và công trình nghiên cứu về dân tộc học[3], tôi được tiếp chuyện với giáo sư Đặng Nghiêm Vạn lần đầu tiên kể từ khi ông chuyển vào sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông bắt đầu câu chuyện với tôi bằng những ký ức về gia đình, về những ảnh hưởng từ người cha tới việc định hình con đường học vấn của mình ngay từ khi ông còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông kể,  “Cha tôi làm công chức ở bưu điện Quảng Ninh, vì vậy khi có sách mới xuất bản từ Pháp gửi sang, ông đều giữ một bản trong nhà, dần dần xây dựng thành một tủ sách gia đình. Cha tôi luôn khuyến khích các con đọc thêm sách vở và tài liệu bằng tiếng Pháp trong tủ sách đó”[4]. Đặc biệt, cha ông khuyên ông và các anh chị em, khi đọc sách thì “phải đọc Tổng tập, không nên đọc Tuyển tập”. Có lẽ, chính sự khích lệ của người cha cộng thêm nỗ lực rèn luyện của bản thân đã giúp cho giáo sư Vạn tích lũy được vốn tiếng Pháp khá dày dặn. Vì vậy, khi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu sau này, ông có nhiều thuận lợi trong việc khai thác và sử dụng các tài liệu tham khảo của các học giả Pháp về dân tộc học Việt Nam.  Ông cũng sớm được tiếp xúc với lý tưởng cách mạng, qua hai kênh chính là các cán bộ cách mạng được cha mẹ ông bí mật nuôi giấu trước khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1946) và sau này, qua hai người anh em tham gia cách mạng là hai cán bộ Ngoại giao cao cấp của Việt Nam. Ông trở thành Đảng viên khi chưa tròn 20 tuổi. Tinh thần cách mạng của một Đảng viên và ý thức chính trị cao là hai tác động của bối cảnh lịch sử khi đó và chi phối nhiều đến tính cách cá nhân và phong cách nghiên cứu của ông sau này.  Cuộc gặp gỡ với nền học thuật Xô Viết  Định hướng nghề nghiệp của giáo sư Vạn đã bắt đầu khi ông học ngành Đông phương học – ngành đã đem lại cho ông những kiến thức khá bài bản về chữ Hán cổ ở trường Bưởi, Hà Nội[5]. Sau này, khi chuyển về dạy học ở trường Sư phạm miền núi trung ương (1951 – 1957), ông càng có điều kiện để phát triển khuynh hướng nghề nghiệp tương lai. Những trải nghiệm với các dân tộc thiểu số trong thời gian đó, đã trang bị cho ông không chỉ những “kỹ năng” làm việc đơn thuần, như là ngôn ngữ và kiến thức về tộc người, mà quan trọng hơn là sự thấu hiểu, sự cảm thông đối với cộng đồng nghiên cứu và một sự nhạy cảm nghề nghiệp đặc biệt, những đức tính cần thiết của một nhà dân tộc học tương lai.  Nhờ những kinh nghiệm quý báu đó, nên khi được đặc cách tuyển đi học tại Liên Xô vào năm 1957, ông được công nhận là Thực tập sinh cao cấp, và được giáo sư X.A. Tocarev (tác giả của Những hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng[6], một trong những cuốn sách “gối đầu giường” của nhiều người làm dân tộc học và tôn giáo học ở Việt Nam) hướng dẫn. Những nguyên tắc làm việc của giáo sư Tocarev đã ảnh hưởng rất lớn đến ông. Sau này, khi ông đã trở thành Giáo sư hàng đầu về dân tộc Việt Nam, ông vẫn ghi nhớ và truyền đạt lại cho các sinh viên của mình.  Yêu cầu đầu tiên đối với thực tập sinh của giáo sư Tocarev là phải nắm vững những khái niệm cơ bản trong dân tộc học, đồng thời khi đọc sách là phải hiểu, và biết phê phán các luận điểm của các tác giả lớn. Giáo sư Tocarev đã giúp ông xác định hướng nghiên cứu ngay từ những buổi làm việc đầu tiên, để ông có được những chuẩn bị cần thiết, đặc biệt là việc hệ thống tư liệu. Khi ông bày tỏ nguyện vọng muốn theo đuổi nghiên cứu về tôn giáo, giáo sư đã nhắc ông luôn ghi nhớ sưu tầm tất cả các tài liệu có liên quan đến tôn giáo, và nhờ vậy, dù ông viết nhiều, viết rộng về các vấn đề dân tộc học Việt Nam, nhưng nghi lễ và tôn giáo vẫn là chủ đề mà ông cảm thấy chắc chắn nhất.  Khi phải lựa chọn một dân tộc để nghiên cứu, ông đề đạt với giáo sư Tocarev rằng ông muốn nghiên cứu về văn hóa người Việt vì đó là dân tộc của ông. Nhưng giáo sư Tocarev đã nhận xét rằng, “với trình độ hiện nay, anh chưa thể nói về sai lầm của người Việt, nếu nghiên cứu người Việt thì sẽ chỉ khen thôi” [7]. Vì vậy, giáo sư khuyên ông nên nghiên cứu một dân tộc nào gần với người Việt[8]. Cuối cùng, ông chọn nghiên cứu về nhóm Tày Nùng Thái, vì ba dân tộc này cùng một nhóm ngôn ngữ, trong đó ông đặc biệt chú ý đến người Thái vì “dân tộc này có nhiều cái hay hơn, vì từ trang phục đến con người” [9].  Ngoài ra, giáo sư Tocarev cũng lưu ý ông phải đi nghiên cứu cái chung nhất của nhóm ngôn ngữ-dân tộc này, và do đó, ông đã trở về Việt Nam để nghiên cứu ở Tây Bắc và Việt Bắc trong 6 tháng. Trong thời gian này, ông đã dành phần lớn thời gian thực địa ở vùng người Thái, người Nùng và người Phén (một nhóm địa phương của người Tày, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái) ở phía Bắc Việt Nam và một thời gian ngắn ở miền Trung để tìm hiểu một nhóm địa phương của người Thái ở đây. Thời gian trên thực địa đã mang đến cho ông những hiểu biết toàn diện về ba nhóm dân tộc này, đồng thời giúp ông lại có điều kiện so sánh, đối chiếu ba nhóm dân tộc vốn gần gũi về văn hóa, địa bàn cư trú và quá trình thiên di. Do đó, các nghiên cứu của ông sau này về dân tộc Thái đã giúp chúng ta nhìn nhận tộc người Thái, không phải với tư cách một dân tộc riêng biệt, cô lập, mà luôn luôn nằm trong mối liên hệ, giao lưu với các dân tộc khác trong quá trình phát triển tộc người.                                                                                   Tài liệu tham khảo và trích dẫn    Chu Thái Sơn, Người viết tiểu phẩm về Huyền thoại nạn hồng thủy, trong Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn-nhà giáo, nhà nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, H2000  Đỗ Lai Thúy, Đặng Nghiêm Vạn, nhà dân tộc học đầu ngành, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 12/2006  GS. Condominas: Dân tộc học là một lối sống, Theo Nhân dân, 12/2007, trích dẫn từ http://dantoc.com.vn (25/9/2009)  Phan Ngọc, Người bạn trong 50 năm trời, trong Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn-nhà giáo, nhà nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, H2000  Tạ Đức, Nghĩ về anh Vạn với anh Từ, trong Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn-nhà giáo, nhà nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, H2000  Tương Lai, Đặng Nghiêm Vạn và hành trình tộc người, Theo Tia sáng, tháng 6/2008, trích dẫn từ http://dantoc.com.vn (13/8/2009)          [1] Phan Ngọc, Người bạn trong 50 năm trời, trong Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn-nhà giáo, nhà nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội, 2000, trang 169.      [2] Đỗ Lai Thúy, Đặng Nghiêm Vạn-nhà dân tộc học đầu ngành, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 12/2006.      [3] Kể cả sau khi giáo sư Vạn đã hiến tặng cho Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam một số lượng tư liệu tương đối lớn, tủ sách về Dân tộc học trong phòng làm việc của ông vẫn còn rất đồ sộ.      [4] Phỏng vấn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, ngày 22/9/2009.      [5] Nay đã đổi tên thành trường chuyên Chu Văn An, Hà Nội.      [6] In năm 1994, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.      [7] Phỏng vấn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, ngày 22/9/2009.      [8] Đỗ Lai Thúy, Đặng Nghiêm Vạn, nhà dân tộc học đầu ngành, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 12/2006.      [9] Phỏng vấn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, ngày 22/9/2009.        Author                Phan Phương Hảo        
__label__tiasang Một cách tiêu đẹp      Bài này không phải nhằm phân tích và phê phán những quỹ tài trợ của các Mạnh Thường Quân mà chỉ muốn nhấn mạnh đến một điểm: Khi xã hội đã bắt đầu giàu có, một vấn đề bức thiết cần được đặt ra là xây dựng một cách tiêu tiền đẹp hay là xây dựng một nền văn hóa tiêu tiền cho những doanh nhân.    Thoạt kỳ thủy, đúng là con người không cần đẹp  Đẹp không phải là một nhu yếu phẩm.  Con người không có ăn thì chết đói.  Con người không có mặc thì chết rét.  Chưa ai chết vì không được đẹp cả  Chính vì thế mà trong thời gian bao cấp khi nhà nước tự nhận lấy trách nhiệm cung cấp những nhu yếu phẩm cho dân, chưa từng có tem phiếu mỹ phẩm cho cái đẹp  Trong văn chương, hình như chỉ có một lần tôi đọc thấy ở Max Jacob, một nhà thơ lớn người Pháp gốc Do Thái câu thơ mà tôi đánh giá là tuyệt vời sau đây              “ Anh ngã lăn đùng vì cái đẹp sét đánh “  Các nhà thơ sến thường nhai đi nhai lại hình ảnh cũ mèm “tiếng sét ái tình” nhưng hầu như chưa ai đi xa được như Max Jacob: Tiếng sét đẹp.  Đó là điểm phân biệt giữa những nhà thơ nhàng nhàng chỉ dám đi đến nửa chừng với các nhà thơ “nòi” dám đi đến tận cùng.  Hình như con người là loại động vật duy nhất không những đòi hỏi phải thỏa mãn cả những điều kiện cần lẫn những điều kiện đủ. Hơn nữa với đà phát triển của văn minh, các điều kiện đủ dần dần trở thành các điều kiện cần.  Việc không ngừng thỏa mãn những điều kiện đủ đánh dấu trình độ phát triển của một xã hội một quốc gia.  ***    Ta hãy lấy một ví dụ hết sức đơn giản để minh họa cho nhận định này   Pháp ngữ dùng một biểu thức nhiều hàm nghĩa để chỉ việc đi đại tiện :đi nhu cầu  (aller aux besoins). Việc đi nhu cầu theo lịch sử đã trải qua nhiều thăng trầm. Bắt đầu từ hình thức hết sức đơn giản nơi bụi cây bãi cỏ, đi bô, đào một cái hố và bắc một miếng ván ngang qua…        Tôi rất không thích và rất nghi ngờ những người sang trọng bẩm sinh. Hay nói một cách khác sang trọng vô học.        Câu ca dao đầy hương đồng gió nội của Đồng bằng Bắc bộ:  Thứ nhất là đỗ thủ khoa  Thứ nhì tiến sĩ thứ ba ỉa đồng  Dưới góc nhìn xây dựng nông thôn mới bỗng trở thành bất lịch sự và mất vệ sinh.   Ở miền Nam nước Việt Nam, nơi những sông rạch chằng chịt thì chỉ cần bắc một cây cầu thô sơ để dốc bầu tâm sự trôi theo dòng nước (có lẽ vì thế mà sinh ra từ đi cầu chăng?). Rồi đến những nhà vệ sinh sang trọng của thế kỷ 21, to đùng có nước thơm, có tấu nhạc, có màn hình kỹ thuật số hệt phòng ngủ một khách sạn năm sao. Đến mức một nhà kiến trúc A.Loos đã phải phát biểu: Cứ xem tình trạng những nhà vệ sinh sở tại thì biết trình độ phát triển văn hóa của một quốc gia, một xã hội như thế nào.  Vào thế kỷ mới có thể khẳng định rằng cái đẹp đã dần dần trở thành một nhu yếu phẩm. Điều kiện đủ của một thế hệ trước có thể trở thành điều kiện cần của một thế hệ sau theo quá trình tiến hóa của lịch sử.  Câu tục ngữ: “Phú quý sinh lễ nghĩa” đã một thời thường được sử dụng theo phương thức dè bỉu giờ đây đã lấy lại đầy đủ ý nghĩa sâu xa của nó.  ****  Lịch sử phát triển của loài người là những cố gắng không mỏi mệt thoát khỏi sự nghèo khó đến chỗ đầy đủ và dư thừa. Cái đẹp đã trở thành một nhu cầu bức thiết của một xã hội khá giả mà người ta thường gọi là xã hội tiêu dùng. Một xã hội tiêu dùng nhất thiết phải học tập cách tiêu dùng đẹp.  Tôi rất phục tài năng của Moliere, nhưng tôi rất không thích thái độ diễu cợt của ông khi viết vở hài kịch nổi tiếng “Trưởng giả học làm sang”. Từ “Trưởng giả” bản thân nó đã mang một hàm nghĩa lạc hậu của một lịch sử quá nhiều thế kỷ nghèo khổ. Nó cũng chẳng báu gì để ta cứ khư khư ôm lấy nó. Theo tôi đó là một truyền thống xấu chứ không phải một truyền thống đẹp.  Trong một xã hội văn minh mọi sự kì thị đều phải được coi là xấu chơi và cần phải thổi còi.  Nhà giàu nhất thiết phải học làm sang, hay nói một cách khác học một phương thức tiêu dùng đẹp để mau chóng ra thoát khỏi tình trạng trọc phú(?) mà giới quý tộc thường dùng để dè bỉu giới nhà giàu.                  Sang trọng không phải là đặc quyền của giới quí tộc. Mọi tầng lớp đều có quyền sang trọng như nhau. Nhưng muốn thế thì phải học.   Con người thật khổ. Cái gì cũng phải học.   Học ăn học gói học nói học mở.   Nhưng con người cũng thật lớn lao.  Cái gì cũng phải học. Và cái gì cũng có thể học được.  Kể cả học làm thánh hiền.  Tôi rất không thích và rất nghi ngờ những người sang trọng bẩm sinh. Hay nói một cách khác sang trọng vô học.  Không nên quên rằng con người bẩm sinh là một con hắc tinh tinh. Chính học thức đã biến nó từ một con thú leo cây thành một con người leo lên con tàu vũ trụ đánh bại sức hút trái đất bay cao tới những vùng thiên hà.  Các nhà vật lí có một nhận xét rất hay: Tư nhiên sợ khoảng trống.  Bộ óc con người cũng vậy nếu nó không được lấp đầy bởi học thức nó sẽ bị lấp đầy bởi sự dốt nát.  ***  Loài người trong nhiều thế kỷ đã quá quen với sự nghèo khổ và chưa thể gọi là từng trải với sự giàu có.  Không nói gì ở ta hay ở nhiều nước phương Đông. Bắt đầu thế kỷ 20, sự phát triển tốc độ cao của khoa học hiện đại đã tạo những tiền đề cho sự phát triển “nhãn tiền” của một nền kinh tế khá giả. Ngay tại một số nước phát triển, loài người hình như vẫn còn bỡ ngỡ trước hình ảnh một cuộc sống giàu có. Những khái niệm xã hội học phổ biến thời này như xã hội tiêu dùng (socie’te’ de consommation) và xã hội lãng phí (socie’te’ de gaspillage’), theo tôi đều xuất phát từ góc nhìn của sự nghèo khổ.  ***  Trong lịch sử nhân loại giàu có thường đi kèm với sự đồi bại, trụy lạc.  Khi đế chế La Mã phát triển tới tột cùng giàu sang của nó, người ta chứng kiến một thực tế thật rợn người.  Các nhà quý tộc của một nền văn minh rực rỡ bắt đầu chìm đắm trong một sinh hoạt hết sức xa hoa và thú vật. Nó còn đi xa hơn thơ Đỗ Phủ rất nhiều: “Trong nhà rượu thịt ôi / Đầy đường người chết đói”  Giới nhà giàu La Mã nằm ăn suốt ngày (Người La Mã có thói quen nằm ăn). Những ông lang thuốc tiêu hóa phất lên như diều, người ta đua nhau uống thuốc tiêu để giúp dạ dày thải nhanh đầu ra, giúp đầu vào tiếp nhận hàng mới. Thậm chí người ta còn sáng tạo ra những chiếc bô mỹ thuật hết ý hiện diện trong hầu hết các bữa tiệc để thực khách có thể móc cổ nôn một cách thoải mái(!) chuẩn bị cho một “tăng” khác. Và chính sử gọi đó là thời kỳ đồi trụy của nền văn minh La Mã.  Aniban là một vị tướng khét tiếng thành Cartagiơ từng làm rung chuyển cả đế chế La Mã. Việc trú quân hơi lâu ở Capu, nơi thừa mứa rượu ngon và gái đẹp đã đánh bại đoàn quân bách thắng này. Và trong ngôn ngữ văn học “Những khoái lạc thành Capu” đồng nghĩa với sự hư hỏng và đồi bại trong hưởng thụ.      ***  Không phải trong lịch sử, loài người không nghĩ đến một cách đẹp trong tiêu dùng, nói một cách lí luận hơn là một văn hóa tiêu dùng.                  Thời trung cổ, bên cạnh hình ảnh oai phong lẫm liệt của người Hiệp sĩ ‘thanh gươm, yên ngựa’ là hình ảnh hào hoa, và tao nhã của người Mạnh Thường Quân chiêu hiền đãi sĩ.  Ở thời đại công nghiệp của chúng ta, bên cạnh hình ảnh những ông vua tập đoàn dầu lửa, tài chính, bất động sản “giàu nứt đố đổ vách” mác bệnh cuồng đô la là hình ảnh văn minh sang trọng của những quỹ văn hóa lớn: Quỹ Nobel của ông vua thuốc nổ, quỹ Rockfeller, Carnegie…  Tôi rất ngạc nhiên và thán phục khi được đọc trong chương trình tài trợ của Quỹ Rockfeller có ghi khoản tài trợ cho một nhà khoa học nghiên cứu bướm Nam Mỹ trong ba năm, với số tiền hàng trăm vạn đồng đôla nặng.  Người ta không thể không nhắc tới ở đây quỹ Bill Gates- một quỹ từ thiện và tài trợ khoa học trên quy mô toàn thế giới. Mặc dầu vậy, nó vẫn không chứng tỏ rằng nền văn hóa tiêu tiền đã có một truyền thống vững chắc và phổ biến cần thiết.          Một nhà thơ già nói về văn hóa tiêu tiền thoạt nghe như một nghịch lý lố bịch. Túi anh chỉ toàn chữ, tiền nhiều lắm cũng chỉ dăm bảy trăm nghìn đồng còm, anh biết cái gì mà tiêu đẹp hay tiêu xấu. Đúng là nhà thơ không có tiền, nhưng ngược lại nhà thơ có một khả năng đặc biệt mà người ta thường gọi là hóa thân. Giới phê bình đã từng nức lời khen một nhà thơ đồng dao: “Ông ấy không phải là sâu bọ mà nói còn thật và hay hơn sâu bọ(!). Thì lẽ dĩ nhiên.      Người ta không nên quên rằng tác phẩm xuất sắc nhất của một nhà văn Việt Nam trứ danh là một truyện nói về loài Dế Mèn.            Lê Đạt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cách truyền thông khoa học mới mẻ và hấp dẫn      Facebook và website có tên khá kỳ quặc I fucking love science (IFLS) do Elise Andrew sáng lập có sức hút hàng chục triệu người theo dõi nhờ vào cách truyền thông khoa học mới mẻ.      Những hạt cát biển phóng đại 250 lần đăng trên facebook IFLS.  “Vượt mặt” nhiều tờ báo khoa học  Theo thống kê của tờ The Columbia Journalism review, lượt người theo dõi các nội dung khoa học trên facebook của IFLS còn lớn gấp nhiều lần các trang tin khoa học lâu đời nổi tiếng thế giới. Chỉ sau hai năm thành lập, vào năm 2014, Facebook của IFLS có 18 triệu lượt người theo dõi, lớn hơn tổng lượng người theo dõi của tất cả các trang Popular Science (2,7 triệu người), Discover (2,7 triệu người), Scientific American (1,9 triệu người) và New York Times (8 triệu) cộng lại. Những người làm truyền thông khoa học nổi tiếng như Neil deGrasse Tyson (1,8 triệu người theo dõi) và Bill Nye (3,2 triệu người theo dõi) cũng là fan của trang IFLS. Thậm chí, các buổi nói chuyện khoa học thường thức do Andrew làm diễn giả ở New York hay Sydney thường hết vé vào cửa chỉ sau vài chục phút hoặc… năm phút bán vé.  Không giống như bất kỳ một kênh truyền thông nào khác, Andrew xây dựng “đế chế IFLS” gồm một website riêng, một trang facebook với 25 triệu lượt người theo dõi mà không nhận được sự hỗ trợ của bất kỳ một phương tiện truyền thông chính thống nào, Andrew còn hiếm khi tiếp xúc với giới truyền thông. Vậy, điều gì đã đem lại sức hút mạnh mẽ như vậy ở một trang tin khoa học cho đại chúng?  “Quyến rũ” công chúng bằng phương pháp trực quan sinh động  Một tấm ảnh của IFLS chụp những hạt cát biển phóng đại lên 250 lần trông như các tác phẩm điêu khắc hay những bóng đèn bằng gốm đủ sắc màu rực rỡ như cam, be, đỏ mận… được gần 91.000 lượt chia sẻ trên facebook. Một bức ảnh khác chụp mặt trời chỉ như một dấu chấm trong thiên hà với dòng chú thích lấp lửng: “Chỉ … là một trong một tỉ” hoặc bức ảnh những chú rái cá ngủ và nắm tay nhau rất dễ thương với chú thích: “rái cá biển nắm tay nhau khi ngủ để không bị trôi dạt cách xa nhau” … được hàng chục nghìn lượt chia sẻ, hàng nghìn lượt bình luận bày tỏ sự thích thú. IFLS còn có những video hấp dẫn như học sinh hát bài về lý thuyết dây trên nền nhạc của bài Bohemian Rhapsody… Mặt khác, trong khi các báo đăng tin tức khoa học theo cách “truyền thống” thường có xu hướng tập trung vào những gì được coi là “quan trọng” và “đáng đưa tin”, thì IFLS lại tìm những điểm thú vị nhất về các nghiên cứu khoa học và đăng tải nó lên và thu hút người đọc, sau đó mới dẫn dắt họ khám phá tiếp các thông tin nền tảng của các nghiên cứu. Chính vì thế, ngay sau khi thành lập, lượng người theo dõi IFLS tăng lên khoảng 15.000 người mỗi ngày.  Một điều bất ngờ với tất cả những người hâm mộ IFLS là, Andrew, mới chỉ là một cô sinh viên 22 tuổi, đang học ngành sinh học ở Đại học Sheffield, Anh và có kinh nghiệm báo chí bằng không khi bắt đầu sáng lập IFLS vào năm 2012. Cô cũng chia sẻ mong muốn “được thấy các nhà khoa học tương tác trực tiếp với công chúng” hơn là phải nhận các thông tin khoa học thông qua những người đưa tin là giới truyền thông.  Mặc dù từng lên tiếng chỉ trích IFLS về việc sử dụng một số ảnh khoa học không dẫn nguồn, nhưng Alex Wild, nhà sinh vật học kiêm nhiếp ảnh gia đã viết trên trang Scientific American rằng Andrew xứng đáng là một “người hùng” trong tiếp cận và mang khoa học đến cộng đồng. “Các bài đăng [trên facebook IFLS] của cô thực sự chuyên nghiệp bởi luôn được kiểm tra chéo chứ không phải là những thông tin ngụy khoa học”, Wild nói.  Bảo Như tổng hợp  Theo Theguardian và The Columbia Journalism review.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một chiến lược mới dò trực tiếp hạt vật chất tối nhẹ      Trong gần một thế kỷ, các nhà thiên văn học đã nêu giả thuyết rằng vũ trụ của chúng ta chứa nhiều vật chất hơn những gì mắt thường có thể thấy được. Họ tin tưởng có xấp xỉ 80% khối lượng vũ trụ được tạo ra từ một dạng vật chất không phát xạ ánh sáng hoặc năng lượng mà các nhà khoa học vẫn còn chưa đủ khả năng quan sát được một cách trực tiếp, nên gọi đó là vật chất tối.      Trong khi hiện tại có vô số các nghiên cứu và lý thuyết được nêu ra về vật chất tối, vẫn chưa có bằng chứng thực nghiệm trực tiếp nào cho thấy sự tồn tại của chúng. Rất nhiều nhà vật lý đã cố gắng tìm ra nhiều phương pháp để dò vật chất tối trong vũ trụ, tuy nhiên vẫn chưa thành công.  Trong vài thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu dá bắt đầu tự hỏi vật chất tối có thể được dò như thế nào, đặc biệt coi nó chứa những hạt còn nhẹ hơn nhiều so với proton. Một mô hình thu được nhiều chú ý là một trong những mô hình coi vật chất tối như một hạt có điện tích vô cùng nhỏ, nhỏ hơn cả điện từ thường.  Bị mô hình này thu hút, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Mỹ SLAC tại California mới đây đã tìm ra một chiến lược mới hứa hẹn khả năng dò được hạt vật chất tối nhẹ một cách trực tiếp, những hạt có các tương tác trên diện rộng với vật chất thông thường. Chiến lược này được họ thực hiện và trình bày trong bài báo “Directly Deflecting Particle Dark Matter” xuất bản trên Physical Review Letters, khiến biến dạng dòng chảy cục bộ của vật chất tối với trường thời gian biến đổi và đo đạc những biến dạng đó bằng việc sử dụng các máy dò cộng hưởng được che chắn (shielded resonant detector).  “Cho đến nay, phần lớn các ý tưởng của việc dò các hạt vật chất tối đều phụ thuộc vào nỗ lực dò những tích tụ năng lượng nhỏ từ tán xạ vật chất tối trong một máy dò vô cùng nhạy”, Asher Berlin, một trong số các nhà khoa học tham gia nghiên cứu này, đã nói với Phys.org. “Các cộng sự và tôi gần đây đã nhận ra rằng một cơ chế dò có thể lựa chọn: thay vì chờ vật chất tối tích tụ một mức năng lượng nhỏ trong một máy dò qua tán xạ, có thể điều khiển một cách trực tiếp các quỹ đạo của từng hạt vật chất tối đơn lẻ, tạo ra những nhiễu loạn có thể được đo đạc với những máy dò cộng hưởng hết sức nhạy, tương tự như dò các sóng radio hàng ngày”.  Tương phản với nhiều chiến lược dò vật chất tối được giới thiệu trong nhiều nghiên cứu trước đây, chiến lược mới do Berlin và đồng nghiệp đề xuất đã đưa lợi thế của hiệu ứng “thu thập” mà nhiều hạt vật chất tối đơn lẻ có thể tạo ra, nhiều hơn hiệu ứng được suy ra từ một hạt vật chất tối duy nhất. Và kết quả là phương pháp dò của họ đã thu được lợi ích từ khối lượng nhỏ/mô men của vật chất tối nhẹ, đặc biệt nếu so sánh với các kỹ thuật đã cố gắng đo tán xạ vật chất tối bên trong một máy dò, vốn nhiều thách thức hơn nếu các hạt vật chất tối vô cùng nhẹ.  “Chúng tôi đã nhận diện được một giải pháp tiềm năng đầy hứa hẹn để dò vật chất tối dạng hạt sub-MeV mà không cần phụ thuộc vào sự tích lũy năng lượng từ tán xạ”, Berlin giải thích. “Từ điểm này, bất kỳ ý tưởng mới nào, bao gồm cả ý tưởng của chúng tôi, đều có thể mở ra khả năng hướng đến việc khám phá thành công các hạt vật chất tối”.  Trong bài báo của mình, Berlin và cộng sự đã ứng dụng về mặt lý thuyết kế hoach dò mới của mình để tìm các hạt vật chất tối sub-MeV mang điện tích rất nhỏ hoặc được kết cặp với một hạt trung gian (light vector mediator). Phân tích của họ cho thấy cách tiếp cận của họ có thể chứng minh được các khối lượng vật chất tối trải rộng giữa 10MeV và dưới 1 meV, vì vậy họ có tiềm năng vượt xa hơn những gì mà các lý thuyết và nỗ lực dò trước đây đã đạt được.  Chiến lược được các nhà nghiên cứu đặt ra này được coi là hứa hẹn, dẫu mới chỉ về mặt lý thuyết. Trong những năm tới, dẫu sao, công việc của họ có thể cung cấp thêm thông tin về việc phát triển các công cụ mới để dò các hạt vật chất tôi, vốn về cơ bản giúp xác định sự đúng đắn và những giới hạn có thể trong cách tiếp cận của họ.  “Trong tương lai đó, chúng tôi lên kế hoạch mời nhiều nhà thực nghiệm quan tâm đến việc xây dựng máy dò tham gia”, Berlin nói. “Chúng tôi cũng đang lập kế hoạch nghiên cứu về những ý tưởng dò tìm liên quan với các hạt vật chất tối có thể dò được và chúng có thể có những loại tương tác khác biệt với vật chất thông thường”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-strategy-particle-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một chiều mới để hiểu về vật chất tối      Như cái tên được đề xuất cho nó, vật chất tối – thứ vật chất  chiếm tới 85% khối lượng vật chất trong vũ trụ – không phát xạ ánh sáng và vô cùng khó dò. Các đặc tính của nó cũng còn quá khó hiểu.      Hiện tại, một nhà vật lý hạt lý thuyết ở trường đại học California, Riverside, và các đồng nghiệp mới xuất bản một công trình trên Journal of High Energy Physics cho thấy cách các lý thuyết định vị sự tồn tại của một dạng lực mới có thể giúp giải thích các đặc tính của vật chất tối.  “Chúng ta sống trong một đại dương vật chất tối nhưng chúng ta chỉ mới biết chút ít về nó”, Flip Tanedo, một trợ lý giáo sư vật lý và tác giả chính của công trình nói. “Đó là một trong những thứ mà chúng ta còn chưa biết về tự nhiên. Chúng ta biết nó tồn tại nhưng chúng ta không thể biết cách tìm kiếm nó hoặc tại sao nó lại không hiện ra ở nơi chúng ta chờ đợi “.  Các nhà vật lý đã sử dụng kính viễn vọng, các thực nghiệm dưới lòng đất và các vành va chạm để tìm hiểu về vật chất tối trong vòng 30 năm qua, dẫu vẫn chưa có được bằng chứng tích cực nào. Bằng chứng gián tiếp, dẫu sao, thúc đẩy cac nhà vật lý lý thuyết như Tanedo nghĩ một cách sáng tạo hơn về việc vật chất tối có thể là gì.  Nghiên cứu mới đề xuất sự tồn tại của một chiều dư trong không – thời gian để tìm vật chất tối. đây là một phần trong chương trình nghiên cứu đang tiến hành ở trường UC Riverside do Tanedo dẫn dắt. Theo lý thuyết này, một số hạt vật chất tối không hành xử như các hạt. Kết quả, các hạt vô hình này tương tác với các hạt thậm chí còn… vô hình hơn theo một cách mà hạt thứ hai dừng hành xử như các hạt đó.  “Mục tiêu của chương trình nghiên cứu của tôi trong hai năm qua là mở rộng ý tưởng về việc vật chất tối ‘trò chuyện’ với lực tối”, Tanedo nói. “Trong suốt thập kỷ qua, các nhà vật lý đã tập trung vào việc đánh giá là ngoài vật chất tối, những năng lượng tối còn bị dấu kín có thể chi phối các tương tác của vật chất tối. Hiểu biết về nguồn năng lượng này hoàn toàn có thể giúp viết lại những nguyên tắc mới về cách người ta tìm kiếm vật chất tối”.  Nếu hai hạt của vật chất tối bị thu hút hoặc đẩy lẫn nhau, sau đó các lực tối thể hiện quyền lực của mình. Tanedo giải thích, các lực tối được miêu tả sự liên tục của các hạt có thể giải quyết các câu hỏi khó hiểu vẫn được thấy trong các thiên hà nhỏ.  “Chương trình nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi tại UCR là một tổng quát hóa hơn nữa của đề xuất về lực tối này”, ông nói. “Vũ trụ có thể quan sát được của chúng ta có thể  có ba chiều không gian. Chúng tôi đề xuất có thể có một chiều thứ tư mà chỉ các lực tối mới có thể hiểu được. Chiều dư này có thể giải thích tại sao vật chất tối lại bị ẩn lâu như thế dù chúng tôi đã nỗ lực nghiên cứu trong phòng thí nghiệm”.  Tanedo  giải thích rằng dẫu các chiều dư có thể được xem như một ý tưởng lạ nhưng họ có trên thực tế một “trò khéo” toán học để miêu tả “các lý thuyết trường bảo giác” – các lý thuyết ba chiều thông là cơ học lượng tử. Các dạng lý thuyết đó phong phú về mặt toán học nhưng không gồm những hạt thông thường và do vậy không được coi là phù hợp để miêu tả tự nhiên. Sự tương đương về mặt toán học giữa các lý thuyết ba chiều thách thức đó và một lý thuyết chiều dư dễ hiểu hơn được biết như nguyên lý holography.    Flip Tanedo (trái), Sylvain Fichet (giữa) và Hai-Bo Yu. Nguồn: Flip Tanedo, UC Riverside.  “Do các lý thuyết trường bảo giác vừa khó hiểu vừa bất thường, chúng không thể ứng dụng một cách hệ thống với vật chất tối”, Tanedo cho biết thêm. “Thay vì sử dụng ngôn ngữ này, chúng tôi dùng lý thuyết chiều dư holography”.  Đặc điểm chính của lý thuyết chiều dư là lực giữa các hạt tối được miêu tả bằng một số vô hạn của các hạt khác nhau với khối lượng khác nhau được gọi là một continuum. Trái lại, các lực thông thường được miêu tả bằng một dạng hạt riêng biệt với một khối lượng có sẵn. Lớp của các lĩnh vực continuum -tối đó thu hút Tanedo bởi đó là cái gì đó “mới mẻ và khác biệt”.  Theo Tanedo, công việc ông nghiên cứu trước đây về các lĩnh vực tối chủ yếu về các lý thuyết bắt chước hành xử của các hạt hữu hình. Chương trình nghiên cứu của ông đang tìm tòi những dạng cực đoan nhất của các lý thuyết mà các nhà vật lý hạt ít thấy thú vị, có lẽ bởi không có sự tương tự tồn tại trong thế giới thật.  Trong lý thuyết của Tanedo, lực giữa các hạt vật chất tối khác biệt một cách đáng ngạc nhiên với các lực có thể cảm nhận được bằng vật chất thông thường.  Những hàm ý gì về lực tối chiều dư có thể có? Do vật chất thông thường có thể không tương tác với lực tối, Tanedo đưa vào ý tưởng vật chất tối tự tương tác, một ý tưởng tiên phong của Hai-Bo Yu, một phó giáo sư vật lý và thiên văn học tại UCR và không tham gia vào nghiên cứu này. Yu đã chứng tỏ ngay cả trong sự thiếu bất kỳ tương tác nào với vật chất thông thường, các hiệu ứng của lực tối có thể vẫn được quan sát một cách gián tiếp trong những thiên hà hình cầu lùn. Nhóm nghiên cứu của Tanedo đã tìm ra lực continuum có thể tái tạo các chuyển động sao có thể quan sát được.  “Mô hình của chúng tôi đi xa hơn và khiến nó trở nên dễ dàng hơn là mô hình vật chất tối tự tương tác để giải thích nguồn gốc của vật chất tối trong vũ trụ này”, Tanedo nói.  Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu của Tanedo sẽ khám phá một phiên bản liên tục của mô hinh ‘hạt photon tối’.  “Đó là một bức tranh hiện thực hơn cho một lực tối”, Tanedo nói. “Các hạt photon tối đã được nghiên cứu rất chi tiết nhưng khung chiều dư của chúng tôi có một chút điều mới. Chúng tôi sẽ nhìn vào vũ trụ của các lực tối và vật lý của các lỗ đen”.  Tanedo đã tập trung vào việc nhận điện “các điểm mù” trong cuộc tìm kiếm của nhóm nghiên cứu của mình về vật chất tối.  “Chương trình nghiên cứu của tôi hướng vào một trong những giả định chúng tôi đã làm về vật lý hạt: đó là tương tác của các hạt được miêu tả rất tốt bằng sự thay đổi của nhiều hạt hơn”, ông nói. “Trong khi đó sự thật về các hạt thông thường là, không có nguyên nhân nào để giả định về vật chất tối. Những tương tác của chúng có thể được miêu tả bằng sự liên tục của các hạt được hoán đổi hơn là sự hoán đổi của một dạng của hạt mang lực”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-dimension-quest-dark.html  https://scitechdaily.com/hidden-dark-forces-a-new-dimension-in-the-quest-to-understand-dark-matter/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một công cụ số giúp người sống sót sau điều trị ung thư vượt qua nỗi sợ hãi tái phát      Một can thiệp số hóa tự hướng dẫn đang chứng tỏ hứa hẹn hỗ trợ những người sống sót sau quá trình điều trị ung thư có thể tự kiểm soát sự bất định hậu điều trị.    Một trong những mối lo chung nhất của những người sống sót sau khi điều trị ung thư là căn bệnh quái ác của họ trở lại. Với nhiều người, nỗ sợ hãi này có thể làm suy nhược cơ thể và anh hưởng một cách đáng kể đến sức khỏe và khả năng hòa nhập trở lại với cuộc sống. Hiện thời, một nhóm nghiên cứu do các nhà nghiên cứu ở UNSW Sydney đã tìm hiểu các cách gia tăng khả năng đánh giá các điều trị cần thiết bởi nỗi sợ hãi tái mắc ung thư thông qua cách tiếp cận sức khỏe điện tử.  Tiến sĩ Ben Smith, người nhận học bổng làm việc tại Viện nghiên cứu ung thư NSW và tại trường Lâm sàng Tây Nam Sydney, Y tế và sức khỏe UNSW và tiến sĩ Adeola Bamgboje-Ayodele tại Viện nghuên cứu Y học ứng dụng Ingham dẫn dắt một nhóm nghiên cứu gồm các nhà lâm sàng, các nhà nghiên cứu và những người sống sót sau điều trị ung thư để phát triển một phương pháp can thiệp số có thể giúp những bệnh nhân đã hồi phục có thể tự kiểm soát nỗi sợ hãi hậu điều trị.  Chương trình này mang tên iConquerFear là một công cụ trực tuyến tự hướng dẫn để kiểm soát nỗi sợ hãi ung thư tái phát. Đó là một cách phỏng theo ConquerFear, một liệu pháp điều trị cho nỗi sợ hãi tái phát ung thư do nhà trị liệu cung cấp – ý tưởng ban đầu do nhóm nghiên cứu đồng vận hành Tâm lý – ung thư phát triển, một nhóm thử nghiệm lâm sàng ung thư quốc gia – đã từng chứng tỏ sự hiệu quả trong việc giảm bớt nỗi đau khổ về mặt tâm lý.  Mục tiêu của iConquerFear là trao quyền cho những người sống sót với những chiến lược và kỹ thuật khác nhau để kiểm soát nỗi sợ hãi tái phát và phát triển những hành động phù hợp với giá trị của mình. Thông qua năm mô đun có kích thước tương đương bit máy tính, những người tham gia hoàn thành các bài tập tương tác về thiết lập mục tiêu, tập trung vào tập luyện và chú tâm, đem lại cho họ một phạm vi các công cụ thực hiện để giảm những suy nghĩ vô ích về sự tái phát.  “Nỗi lo lắng về sự phát phát ung thư là hợp lý và bình thường, điều quan trọng là phải hiểu rằng chúng ta không thể loại bỏ hết chúng”, tiến sĩ Smith nói. “Cách tiếp cận iConquerFear thay đổi cách mọi người gắn kết với những suy nghĩ của họ về sự tái phát ung thư. Nó giúp họ không bị cuốn vào những suy nghĩ tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của mình”.  Giúp những người sống sót bớt sợ hãi    Hơn 50 triệu người đang sống với bệnh ung thư trên toàn thế giới. Xấp xỉ một nửa những người sống sót sau điều trị ung thư đều phải nếm trải nỗi sợ hãi bị tái phát về mặt lâm sàng, chủ yếu liên quan đến nỗi đau khổ tâm lý, chất lượng cuộc sống kém hơn và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhiều hơn.  “Có được sự giúp đỡ để đối phó với nỗi sợ tái phát ung thư là nhu cầu hàng đầu song chưa được đáp ứng của những người sống sót sau ung thư, nỗi sợ này còn hơn cả sự đau đớn, mệt mỏi và các triệu chứng thể chất khác”, tiến sĩ Smith nói. “Nỗi sợ hãi này gây ra đau khổ đáng kể và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, làm gián đoạn khả năng tham gia vào các hoạt động hàng ngày của họ, yêu thương những người khác và lên kế hoạch cho tương lai”.  Rất nhiều phương pháp can thiệp do nhà trị liệu đề xuất để chữa trị nỗi sợ hãi tái phát ung thư đã chứng tỏ được hiệu quả trong việc hỗ trợ những người sống sót kiểm soát nỗi sợ hãi của mình. Tuy nhiên, còn có nhiều rào cản trên đường đến với những dịch vụ đó, bao gồm khoảng cách đường xá xa xôi và nguồn lực.  “Những biện pháp hiện có, dù hiệu quả, nhưng nhiều người Úc sống sót sau ung thư không thể sử dụng được, cụ thể những người ở nông thôn hoặc vùng xa xôi hẻo lánh”, tiến sĩ Smith nói. “Hệ thống sức khỏe cũng đang phải chịu rất nhiều căng thẳng để giải quyết gánh nặng sức khỏe tâm thần với nguồn cung ứng không đủ”.  Thêm vào đó, mặt đối mặt không phải bao giờ cũng là một mô hình điều trị mà tất cả các bệnh nhân thích, hoặc có khả năng tham gia, tiến sĩ Bamgboje-Ayodele nói. “Vì vậy, nhu cầu ngày một tăng về các can thiệp số hóa với quy mô có thể mở rộng để giải quyết khoangrg trống lớn này”.  Theo lời tiến sĩ Smith, những can thiệp số hóa tự hướng dẫn đều có hứa hẹn đáng kể trong việc giải quyết nỗi sợ hãi chưa được đáp ứng về các nhu cầu liên quan đến tái phát ung thư và đem đến phương pháp điều trị kịp thời, dễ tiếp cận mà không bị giới hạn bởi nơi bệnh nhân sinh sống. Nhưng cho đến nay, nhiều can thiệp kỹ thuật số hiện tại đã cho thấy mức độ tương tác và hiệu quả còn hạn chế.  “Đây là lĩnh vực mới nổi nhưng các can thiệp số hiện thời để giảm thiểu nỗi sợ hãi tái phát bệnh tật hoặc không sử dụng những chiến lược hành xử nhận thức khác mà chúng tôi biết là đặc biệt hiệu quả trong việc giảm bớt nỗi sợ hãi hoặc không được thiết kế với nhiều thông tin đầu vào hoặc phản hồi từ những người sống sót sau ung thư”, ông nói.  Theo tiến sĩ Bamgboje-Ayodele, với việc tập trung vào các trải nghiệm của người sử dụng, các bài tập tương tác và phản hồi cá nhân hóa, iConquerFear có tiềm năng trong phục vụ các nhu cầu chăm sóc sức khỏe liên quan đến tái phát ung thư, dễ tiếp cận hơn và có thể mở rộng quy mô phục vụ hơn các phương pháp điều trị hiện hành.  “Những người tham gia cảm thấy họ kiểm soát được nỗi sợ hãi của mình và đang được hỗ trợ để làm theo khi họ trải qua các hoạt động này và đón nhận những phản hồi được hướng dẫn”, tiến sĩ Smith nói. “Chương trình này được thiết kế với những ví dụ liên quan gắn kết với những người sử dụng trong khi hỗ trợ những hành vi như tự kiểm tra và theo sát có thể giúp giảm thiểu rủi ro về khả năng căn bệnh ung thư quay trở lại”.  Nhóm nghiên cứu mới thực hiện một nghiên cứu, và xuất bản kết quả trên tạp chí Journal of Cancer Survivorship – để tìm hiểu về tiềm năng của can thiệp iConquerFear. Họ tìm ra là phần lớn trong số 54 người sống sót sau ung thư vú tham gia chương trình chứng tỏ sự giảm sút nỗi sợ hãi ngay sau khi tham gia chương trình và ba tháng sau khi sử dụng cách tiếp cận này. Khoảng một phần tư số người tham gia cũng báo cáo những cải thiện đáng kể về mặt lâm sàng trong việc giảm nỗi sợ tái phát ung thư.  Dẫu việc tham gia vào các mô đun tiếp theo của chương trình đã suy giảm phần nào nhưng tiến sĩ Smith cho rằng, sự tiếp nhận và tham gia ban đầu với iConquerFear đã chứng minh sự hứa hẹn của nó như một công cụ can thiệp hiệu quả cho nỗi sợ tái phát ung thư.  “Chúng tôi thấy sự tiếp thu ban đầu, sự gắn kết và sự hứa hẹn giảm thiểu nỗi sợ hãi sự tái phát ung thư – tương đương với quy mô mà chúng tôi đã thấy trong những cuộc gặp mặt trực tiếp” tiến sĩ Smith nói. “Nó cho thấy, các can thiệp kỹ thuật số thực sự có thể cải thiện khả năng tiếp cận hỗ trợ tâm lý xã hội và tạo điều kiện cho những người sống sót tự kiểm soát mình”.  Trong nghiên cứu tiếp theo của mình, nhóm nghiên cứu sẽ kết hợp với tổ chức Ovarian Cancer Australia để thực hiện một nghiên cứu quy mô thử nghiệm về lâm sàng kiểm soát ngẫu nhiên để tìm hiểu xem hiệu quả của iConquerFear đến đâu trước khi bắt tay vào thực hiện một thử nghiệm ở quy mô toàn diện.  Dự án này thu hút mối quan tâm quốc tế từ nhiều công ty phát triển liệu pháp điều trị khác nhau . Blue Note Therapeutics, một công ty chuyên về liệu pháp số có trụ sở ở Mĩ, gần đây đã xin li xăng iConquerFear và chương trình ConquerFear để phát triển một sản phẩmcho thị trường Bắc Mĩ.  “Chúng tôi sẵn sàng mở để khám phá các mô hình thương mại với các đối tác để có thể tối đa hóa khả năng sử dụng và tác động của iConquerFear ở Australia và ngoài biên giới quốc gia”, tiế sĩ Smith nói.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-08-digital-tool-cancer-survivors-cope.html  https://www.heraldsun.com.au/lifestyle/smart/unsw-digital-tool-helps-cancer-survivors-overcome-fear-of-recurrence/news-story/838e132d15f75f66047a419740df0a98    Author                .        
__label__tiasang Một cuộc đổ vỡ tài chính mới?      Thế giới liệu có xảy ra một cuộc đổ vỡ tài chính mới? Các nền kinh tế mới nổi có thể chống chọi được khủng hoảng? Đó là những câu hỏi đang được rất nhiều người quan tâm sau khi xuất hiện hàng loạt nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính Mỹ. Thậm chí, chính phủ Mỹ đã phải tổ chức một cuộc đàm phán để thông qua kế hoạch giải cứu thị trường trị giá 700 tỷ USD nhưng vẫn chưa thể vãn hồi tình thế.       Thị trường tài chính thế giới từ mấy ngày nay giống như một con thuyền say sóng không có người cầm lái. Chỉ trong vòng một tuần, Chính phủ Mỹ đã ra hai quyết định hết sức bất ngờ: quốc hữu hóa hai hãng cung cấp tín dụng thế chấp khổng lồ Fannie Mae, Freddie Mac, với số tiền lên tới 200 tỷ USD, sau đó bỏ rơi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, rồi lại quốc hữu hóa hãng bảo hiểm AIG.  Khủng hoảng tài chính đã nổ ra như thế nào?  Tất cả bắt đầu từ thị trường cho vay tín dụng dưới chuẩn (subprime), hay còn gọi là tín dụng thế chấp rủi ro cao tại Mỹ. Các ngân hàng đã cấp tín dụng ồ ạt để mua bất động sản cho các hộ gia đình có thu nhập thấp và khả năng trả nợ không cao, dựa trên giá trị tài sản của ngôi nhà định mua. Giá bất động sản tăng, hệ thống tín dụng này phát triển càng mạnh. Nhưng tới khi giá bất động sản của Mỹ bắt đầu giảm vào năm 2007, tác động ngược của cơ chế này bắt đầu xuất hiện. Các hộ gia đình không còn khả năng trả các nợ, các ngân hàng cho vay sụp đổ. Khủng hoảng bắt đầu lan truyền trong toàn bộ hệ thống tài chính do tác động của nghiệp vụ trái phiếu hóa giấy nợ (titrisation), một hình thức bắt đầu xuất hiện từ thập kỷ 1970, dựa trên việc biến các khoản vay ngân hàng thành trái phiếu.  Nói một cách tổng quát, khủng hoảng diễn ra do hậu quả của những hoạt động thái quá trên thị trường tín dụng Mỹ. Tín dụng cũng giống như một loại Doping kích thích tăng trưởng của Mỹ. Nhưng họ đã dùng quá liều. Nước Mỹ ngày nay đang cần được điều trị để giải độc”, nhà kinh tế học từng được giải thưởng Nobel năm 2001, Joseph Stiglitz giải thích.  Tại sao khủng hoảng không kết thúc  Khủng hoảng vẫn kéo dài bởi vì nó liên quan tới không chỉ lĩnh vực cho vay bất động sản rủi ro cao tại Mỹ. Tất cả các loại tín dụng (mua sắm ô tô, tiêu dùng…) đã được chuyển thành trái phiếu đều bị đụng chạm tới. Đây là thị trường có quy mô lên tới hàng chục nghìn tỷ USD, lớn hơn rất nhiều so với thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn (ước tính khoảng 1.300 tỷ USD). Do đó, nó không chỉ tác động tới các ngân hàng cho vay tín dụng bất động sản dưới chuẩn tại Mỹ, mà cả các thiết chế đầu tư, thông qua trung gian của nghiệp vụ trái phiếu hóa, vào thị trường tín dụng (ngân hàng, quỹ đầu tư mạo hiểm, bảo hiểm, quỹ  hưu trí…).  Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng còn được tiếp sức thêm bởi tâm lý mất tin tưởng và thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng không thể biết đối tác của mình đã đầu tư bao nhiêu vào các loại chứng khoán liên quan đến giấy ghi nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng từ chối cho nhau vay vì sợ không có khả năng thu hồi vốn. Chính điều đó làm tê liệt toàn bộ  hệ thống tài chính.  Có nên lo ngại tác động của hiệu ứng Domino?  Nếu Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư lớn thứ năm của Mỹ, đã bị phá sản, nếu như giá trị của thiết chế tài chính có hơn 150 năm tuổi tan thành mây khói chỉ sau vài tuần lễ, thì về lý thuyết không có ngân hàng nào niêm yết trên thị trường chứng khoán thế giới có thể tin chắc tránh được khủng hoảng. Bởi vì các ngân hàng mong manh nhất, dễ bị tác động nhất chính là các ngân hàng cách đây chưa lâu còn hoạt động hăng hái nhất và mạnh nhất trên thị trường tài chính. Đó là trường hợp của các ngân hàng đầu tư hàng đầu tại Wall Street như Morgan Stanley, Merrill Lynch, Goldman Sachs…  Tuy nhiên, các ngân hàng châu Âu, ngoại ttừ của Thụy Sĩ (UBS, Cr esdit Suisse) rất ít tập trung đầu tư vào các lĩnh vực chuyên biệt nên chính điều đó đã bảo vệ họ tránh được tác động từ rủi ro bên ngoài. Hay ít ra là phần nào tránh được. Họ chủ yếu kinh doanh trong các hoạt động bán lẻ, lĩnh vực có lợi nhuận cao, đồng thời cho phép giảm bớt thiệt hại có thể xảy ra khi đầu tư vào tín dụng thế chấp dưới chuẩn. Các ngân hàng Pháp hiện nay có tỷ suất thanh toán khá cao, về lý thuyết bảo đảm cho họ có khả năng chống lại các cú sốc tài chính.  Ngoài các ngân hàng đầu tư trên thị trường chứng khoán Wall Street, hiện còn có những nỗi quan ngại về khả năng đứng vững của các hãng bảo hiểm Mỹ, đặc biệt là AIG, hãng đã đầu tư ồ ạt vào các loại cổ phiếu từ giấy nợ.  Liệu có xảy ra một cuộc đổ vỡ chứng khoán thế giới?  Theo đánh giá của một số chuyên gia, cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra hiện nay là tồi tệ nhất kể từ năm 1929 – cuộc khủng hoảng đã làm cho thị trường chứng khoán Wall Street mất 46% trong vòng hai tháng. Thế nhưng cho tới nay các thị trường vẫn đứng vững. Về mặt kỹ thuật, chỉ có thể coi là xảy ra đổ vỡ tài chính nếu chỉ số chứng khoản giám 10% trong một phiên giao dịch. Nhưng trên các sàn giao dịch New York cũng như châu Âu, ngay cả trong giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng hiện tại, chỉ số chứng khoán giảm nhiều nhất cũng chưa tới 7%, chuyên gia phân tích Jean-Louis Mourir của hãng tư vấn Aurel nói: “Sau vụ đổ vỡ chứng khoán năm 1987 đã bắt đầu xuất hiện những nhân tố đóng vai trò như những tay vịn để ngăn chặn thị trường tụt giá quá nhanh, quá mạnh”. Bên cạnh đó, sự thừa thãi về tiền mặt, chủ yếu nhờ nguồn thu dầu mỏ dồi dào và các ngân hàng trung ương bơm ra nhiều, đã có tác dụng như các phanh hãm chống lại sự tụt giảm bất ngờ.  Hiện nay, các nhà đầu tư hay nói tới khái niệm “đổ nghiêng”, tức là thị trường giảm sút liên tục, không có phiên nào tăng điểm. Từ tháng 1/2008 tới nay, thị trường chứng khoán Paris đã giảm 25,74%, thị trường chứng khoán New York giảm 17,7%, Thị trường chứng khoán tại các nền kinh tế mới nổi bị tác động tương đối ít nhưng cũng không thể tránh khỏi phải điều chỉnh. Thị trường chứng khoán Thượng Hải và Bombay đã mất lần lượt 61,72% và 34,77% giá trị trong vòng 9 tháng. Phần lớn các nhà đầu tư cho rằng xu hướng này sẽ còn tiếp tục do sự xấu đi của nền kinh tế thực. Tăng trưởng giảm và lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng giảm theo.  Tại sao phần còn lại của thế giới cũng bị ảnh hưởng?  Trái với những gì người ta hy vọng ban đầu, cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn không chỉ giới hạn trong lãnh thổ Mỹ. “Mỹ đã thành công trong việc xuất khẩu các vấn đề của mình ra thế giới”, một nhà quản lý đánh giá. Nhà kinh tế học Stiglitz thì cho rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa hy vọng bóng mây khủng hoảng sẽ không vượt quá biên giới Mỹ chỉ là điều hão huyền.  Sự tăng tốc của toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính diễn ra trong mấy thập kỷ gần đây đã làm cho nguy cơ lây lan khủng hoảng là không thể tránh khỏi. Bất cứ cú sốc diễn ra ở một nước nào, đặc biệt là ở Mỹ, đều sẽ tạo ra âm hưởng trên toàn thế giới. Một kiểu hiệu ứng cánh bướm. Các nhà đầu tư trên toàn cầu nắm trái phiếu hình thành từ nợ của Mỹ. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc hiện nay giữ khoảng 300 tỷ USD giấy nợ từ hai ngân hàng Fannie Mae và Freddie Mac.  Liệu các nền kinh tế mới nổi có đủ sức kháng cự?  Cuộc khủng hoảng tài chính đã làm rung chuyển các nước công nghiệp phát triển nhưng cho tới nay vẫn tương đối ít đụng chạm tới các nền kinh tế mới nổi. Trong nhóm BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc), tỷ lệ tăng trưởng không có dấu hiệu giảm sút đáng kể mà vẫn ở mức tương đối cao, đặc biệt là Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng dự báo xấp xỉ 10%.  Khác với các cuộc khủng hoảng trước cho thấy sự phụ thuộc của các nước phương Nam  khả năng tự chủ ngày càng lớn của các cường quốc kinh tế mới. Điều đó có thể lý giải thông qua mức sống ngày càng được cải thiện và sự phát triển của tầng lớp trung lưu, đối tượng có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ đói nghèo ở Đông Á từ mức cao nhất thế giới năm 1981 (80%), đã giảm xuống còn 18% vào  năm 2005.   Tuy nhiên, nhận định cho rằng Trung Quốc và các cường quốc kinh tế mới nổi khác có thể chống đỡ được cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn không được tất cả các chuyên gia kinh tế chia sẻ. Nhà nghiên cứu Jacques Mistral, thành viên của Trung tâm phân tích kinh tế Pháp (CAE) cho rằng “Yếu kém của chủ nghĩa tư bản Mỹ là một thực tế, nhưng các nền kinh tế mới nổi còn mong manh hơn chúng ta nghĩ rất nhiều”. Theo ông, Trung Quốc rất dễ bị tác động bởi những dao động thất thường của các nền kinh tế phương Tây, vì Mỹ và châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của hàng hóa “Made in China”.    Giải pháp nào cho cuộc khủng hoảng?  Các chuyên gia đều nhất trí cho rằng không thể giải quyết một cuộc khủng hoảng có phạm vi lớn như vậy chỉ bằng cách duy nhất là bơm thêm tiền mặt để hỗ trợ các ngân  hàng đứng vững. Cần phải nghĩ tới tất cả các giải pháp đều điều tiết hệ thống tài chính thế giới. Cuộc thảo luận về giải pháp xoay quanh một số ý tưởng chính, đó là: bãi bỏ các khu vực không chịu sự điều tiết trong lĩnh vực tài chính (như các tổ chức phát hành tín dụng thế chấp của Mỹ), thắt chặt quản lý các công ty định giá rủi ro tín dụng doanh nghiệp (sự minh bạch, phương pháp…), hạ thấp tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế, thay thế nhóm G-7 bằng G-20, kết nạp thêm các nền kinh tế mới nổi để có thể đưa kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng nhờ sự dư thừa tiền mặt của họ…        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cuộc sát hạch không lường trước      Một công ty điện tử nổi tiếng thông báo mời thuê giám đốc điều hành, số người chọn chỉ có một, nhưng có tới đến mấy chục vị đến dự thi.    Trước khi vào cuộc thi, tôi lướt đọc sơ yếu lý lịch của các nhà ứng thí. Trong bọn họ có người là thạc sĩ, có người có hai bằng đại học, hơn nữa hầu như đều là các sinh viên tốt nghiệp ở mấy trường đại học nổi tiếng. Chỉ có mình tôi là có văn bằng tốt nghiệp tại chức tại một trường đại học bình thường, miễn cưỡng đáp ứng được yêu cầu thấp nhất về trình độ học lực.  Bước vào cuộc thi viết. Sau khi xem lướt đề bài, tô cảm thấy số lượng câu hỏi không nhiều nhưng độ khó tổng thể là khá lớn. Giống như một con kiến gặm xương, tôi bắt đầu làm câu dễ trước, câu khó sau, từ từ trả lời từng câu, từng câu một.  Có hai giám thị, một người cao gầy, một người béo lùn, trông nổi bật, thú vị. Không biết có phải vì duyên cớ tín nhiệm cao các thí sinh dự thi hay không mà cả hai vị giám thị đều không để ý đến việc coi thi. Giữa chừng vị cao gầy cầm chiếc cốc đi rót nước, rồi chuồn đi đâu mất, tiếp đến điện thoại di động của vị béo lùn vang lên, thế là vị này cũng bỏ ra ngoài nốt.  Không còn giám thị, trong chốc lát phòng thi như biến đổi hoàn toàn. Có người lấy sách tham khảo ra xem, có người lén sử dụng máy tính cầm tay, có người còn cả gan dùng điện thoại di động cầu cứu. Tôi không để tâm, quay lại phía sau nhìn một cái, không ngờ gặp phải ánh mắt của một thí sinh ngồi bên cửa sổ đang làm trò xấu. Anh ta nhíu môi với tôi, như có ý nói, mọi người đang làm trò xấu cả, sao cậu không làm đi? Tôi hướng về phía anh ta lắc đầu, nhún vai mấy cái.  Khoảng hơn nửa giờ sau, hai vị giám thị mới quay lại phòng thi. Khi kết thúc môn thi viết, tôi vẫn chưa làm xong câu hỏi cuối cùng, lòng nghĩ thầm, lần này nhất định trượt rồi.  Điều không ngờ là một tuần lễ sau, tôi nhận được thông báo trúng tuyển của công ty này.  Hôm sau, tôi gõ cửa rồi bước vào phòng làm việc của Tổng giám đốc. Chưa để cho tôi kịp mở miệng, Tổng giám đốc đã ngẩng đầu mỉm cười rồi nói: “Chúng ta đã gặp nhau, còn nhớ không?”. Thấy vẻ ngơ ngác của tôi, ông cười to rồi nói: “Tôi là thí sinh nhíu miệng với anh hôm thi viết, quên rồi à?” Lúc đó tôi mới tỉnh ra, ông lại nói: “Tôi họ Cao, là Tổng giám đốc công ty này. Chúng ta là một công ty kinh doanh, điều then chốt nhất là trung thực, nhất là đối với giám đốc điều hành quyền lực rất lớn, hơn nữa có rất nhiều công việc đòi hỏi phải độc lập hoàn thành mà không có sự giám sát đôn đốc của lãnh đạo. Vì vậy công ty đã dùng phương thức kiểm tra đặc biệt và chúng tôi cho rằng anh là người được chọn xứng đáng nhất.      D.Q.A (st)    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
0.34782608695652173
__label__tiasang   Tạ Thị Ngọc Thảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một góc nhìn về các doanh nghiệp khởi nghiệp từ thế mạnh địa phương      Những doanh nghiệp nông nghiệp, tận dụng thế mạnh của các địa phương gần đây xuất hiện khá nhiều trong các cuộc thi khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu đem định nghĩa startup của Steve Blank là “tổ chức được thành lập để đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh mở rộng ra được và lặp lại được”, thì có thể nói 99% số doanh nghiệp này không được gọi là startup. Họ là những doanh nghiệp hoàn toàn sản xuất sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường và kiếm tiền. Mô hình kinh doanh cũng hết sức truyền thống và khá đơn giản.      Cheer Farm, doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm hữu cơ từ dứa theo mô hình kết hợp giữa nhà đầu tư, nhà khoa học và người nông dân.  Nguồn ảnh: Cheer Farm.  Tuy nhiên, không phải startup không có nghĩa là không thể áp dụng những công cụ của khởi nghiệp tinh gọn để giúp những doanh nghiệp này phát huy được thế mạnh vốn có của mình và góp phần thúc đẩy nền kinh tế địa phương vốn có ít điều kiện hơn các thành phố lớn.   Nếu xuất phát từ mô hình tinh gọn (lean canvas) gồm 9 yếu tố (Vấn đề; Giải pháp; Giá trị độc đáo; Lợi thế cạnh tranh khó bắt chước; Phân khúc khách hàng; Kênh; Các chỉ số đo; Chi phí; Doanh thu) do Ash Maurya giới thiệu lấy cảm hứng từ mô hình kinh doanh canvas sẽ thấy rõ hơn những điểm mạnh và điểm yếu. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn nhấn mạnh vào những điểm mạnh và điểm yếu nhất.  Trong khi rất nhiều startup còn loay hoay với bài toán lợi thế cạnh tranh khó bắt chước, thì bản thân những câu chuyện đi từ thế mạnh địa phương lại có điểm mạnh này. Vĩ dụ như không có startup trong lĩnh vực rượu vang ở Bordeaux trở thành trăm triệu USD trong thời gian ngắn, nhưng dựa vào thế mạnh vùng miền, họ đã phát triển lên những sản phẩm dịch vụ mang tính địa phương đặc trưng mà không thể nơi nào bắt chước được.  Nhưng nếu chỉ có sản phẩm thô thôi thì không đủ. Chúng ta đã có bài học về nuôi ngọc trai ở Vân Đồn – nơi có nhiều điều kiện tốt nhất để nuôi ngọc trai, nhưng doanh nghiệp Nhật Bản sớm nhận ra lợi thế này và họ sang để nuôi trai với công nghệ riêng của họ và mang trở lại Nhật Bản để chế tác sản phẩm cũng như chế biến các phụ phẩm khác mà không để lại ở thị trường bản địa một chút nào. Cuối cùng, họ thậm chí còn có thể xuất khẩu ngọc trai đã qua chế tác ngược trở lại Việt Nam hoặc xuất đi rất nhiều thị trường trên thế giới. Giá trị gia tăng mang lại cho địa phương hầu như là con số 0. Hay trái thanh long của Malaysia có thể chế biến thành 11 loại sản phẩm khác nhau trong khi nông sản của chúng ta được mùa mất giá.  Do đó, có thể thấy, nếu thế mạnh tự nhiên ở địa phương không kết hợp với công nghệ và những bí quyết quan trọng, cũng như nỗ lực gia tăng giá trị cho sản phẩm thì không thể duy trì một lợi thế cạnh tranh không thể bắt chước được trong thời gian dài.  Nếu sử dụng mô hình tinh gọn kết hợp với Mô hình kinh doanh canvas, có thể thấy hai cách tiếp cận cho thúc đẩy khởi sự kinh doanh từ thế mạnh địa phương:  1. Khởi nghiệp dựa trên những vấn đề của địa phương (tiếp cận từ vấn đề – problem – oriented)  Năm 2017, trong chuyến tới thăm Việt Nam, tỷ phú Mỹ Jeff Hoffman đã có chia sẻ về việc xuất phát từ những vấn đề địa phương. Rõ ràng không địa phương nào không có những vấn đề của riêng mình. Một chàng trai Nam Phi trở thành một doanh nhân thành đạt trẻ, xuất khẩu sản phẩm sang các nước châu Phi khác nhờ ứng dụng công nghệ để giải quyết vấn đề của nước đang phát triển. Một cô gái trẻ sống ở chân núi đã xây dựng được một công ty cung cấp dịch vụ thuê ngoài lập trình viên (outsourcing), bắt đầu từ dự án nhỏ dạy lập trình cho các em gái sống trên núi, ngày đi bộ 2 tiếng xuống núi để học và đi bộ 2 tiếng lên núi để về nhà. Cơ hội nằm ngay trong những vấn đề của vùng. Nếu lấy cách tiếp cận này để sáng tạo giải pháp có lẽ trong tương lai không xa chúng ta sẽ giảm bớt những rủi ro của việc bán sản phẩm thô, sẽ không còn điệp khúc được mùa mất giá, hay sự rớt giá nông sản thê thảm như vẫn từng chứng kiến. Trên thực tế đã có những nhà máy sản xuất các sản phẩm hữu cơ ngay trên vùng nguyên liệu với mô hình nhiều bên hưởng lợi như Cheer Farm, kết hợp nhà khoa học, nhà đầu tư và người nông dân với đa số sản phẩm để xuất khẩu. Họ là một doanh nghiệp khởi nghiệp trẻ.  Cuối năm 2017, tại Vũng Tàu diễn ra một cuộc thi khởi nghiệp quy mô tỉnh. Điểm bất ngờ không nằm ở chỗ số lượng các nhóm tham gia mà chính những nhóm ngành tưởng chừng sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia thì dường như vắng bóng, trong khi đó, nổi lên những nhóm làm các sản phẩm thực tế, giải quyết những vấn đề của địa phương và vốn cũng là thế mạnh của địa phương đó là cơ khí tự động hóa trong hàng hải. Vốn là một địa phương có thế mạnh về ngành công nghiệp hỗ trợ dầu khí, chất xám và vốn máy móc tốt, cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp khởi nghiệp địa phương và những doanh nghiệp ở nơi khác đến chính là có khách hàng ngay tại chỗ và thị trường sẵn sàng tiếp nhận.  2. Khởi nghiệp dựa trên những thế mạnh và sản phẩm chủ lực của địa phương (tiếp cận dựa trên định hướng giá trị -value-proposition oriented)  Có nhất thiết lúc nào cũng phải bắt đầu từ vấn đề? Trên thực tế, không hẳn là như vậy. Mô hình tinh gọn bắt đầu nhìn nhận mô hình kinh doanh từ nỗ lực giải quyết một vấn đề nào đó nhưng tuyên bố giá trị (value proposition) mới là trái tim của mô hình kinh doanh. Điều đó có nghĩa là không nhất thiết bạn phải tìm ra một vấn đề ngay khi bắt đầu. Henry Ford từng nói: “thị trường không bao giờ bão hòa với những sản phẩm tốt nhưng nó sẽ bão hòa rất nhanh với những sản phẩm tồi”. Hãy nhìn vào những sản phẩm hàng chục hoặc hàng trăm tuổi đáp ứng những nhu cầu rất cơ bản, rõ ràng, đôi khi người sáng lập ra nó cũng không nghĩ quá nhiều vấn đề mà họ chỉ muốn làm ra những sản phẩm tốt nhất có thể, đó cũng chính là lúc họ giải quyết một vấn đề thực sự của người tiêu dùng: không tìm được sản phẩm tuyệt hảo. Bằng chứng trên thực tế có rất nhiều, đó là những thương hiệu bánh trung thu truyền thống, hay cửa hàng bánh Ozasa niêm yết trên sàn chứng khoán Nhật Bản, không bán gì có hàm lượng công nghệ cao, mà chỉ là hai loại bánh nhưng sản phẩm của họ ngon và giá trị khó có sản phẩm nào vượt qua được. Bí quyết làm ra bánh được tích lũy qua thời gian, trải nghiệm, công sức và cả công nghệ để chế biến nó một cách thủ công hoàn hảo nhất. Nếu đưa câu chuyện vào những sản phẩm xuất phát từ thế mạnh địa phương nào đó hãy biến nó thành sản phẩm xuất sắc từ mọi nguồn lực mà doanh nghiệp có, giống như thông điệp của Ozasa: “Nếu làm hãy làm ra sản phẩm hoàn hảo nhất, nếu không thì đừng làm nữa”.  Nói như vậy không có nghĩa là “vấn đề” không nên được tính đến trong phát triển mô hình kinh doanh.Vấn đề mà bạn cố gắng giải quyết luôn nằm trong mô hình kinh doanh dù nó không phải là điểm xuất phát. Một doanh nghiệp bán lá tắm từ bài thuốc của người Dao cổ cho phụ nữ sau sinh, một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoa quả sấy khô tự nhiên trên vùng nguyên liệu v..v mặc dù hướng đến một sản phẩm tốt vẫn không thể quên rằng, chỉ khi hiểu đúng về vấn đề của những khách hàng tiềm năng thì mới có thể đưa ra thông điệp mới đúng.  Điểm yếu lớn nhất của các doanh nghiệp đi ra từ thế mạnh địa phương chính là phần xác định và xây dựng các nhóm kênh tiếp cận khách hàng phù hợp đặc biệt là trong việc xuất khẩu, trên thực tế không một doanh nghiệp có thế mạnh địa phương nào có thể tự làm một mình và muốn xuất khẩu thì càng không thể tự làm.Trong 5 nhóm kênh (gồm: Kênh nâng cao nhận thức hoặc giới thiệu ra thị trường; Kênh kiểm chứng giá trị; Kênh giúp mua hàng; Kênh truyền tải giá trị; Kênh hậu mãi) có thể thấy rất nhiều phần cần sự hỗ trợ của các cấp cao hơn và cần phải có những vai trò của Hiệp hội. Để phát triển nhóm kênh cần rất nhiều nỗ lực của các phương tiện truyền thông của địa phương trong việc hỗ trợ xây dựng các giải pháp liên quan đến chỉ dẫn địa lý, thương hiệu vùng để từ đó có thể giúp các doanh nghiệp có cơ sở vững chắc và cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực marketing cho các doanh nghiệp khởi nghiệp địa phương, đặc biệt là marketing trực tuyến sẽ giúp mở rộng thị trường theo những hướng mới ngoài thị trường truyền thống và hướng tới xuất khẩu.      Nếu thế mạnh tự nhiên ở địa phương không kết hợp với công nghệ và những bí quyết quan trọng, cũng như nỗ lực gia tăng giá trị cho sản phẩm thì không thể duy trì một lợi thế cạnh tranh không thể bắt chước được trong thời gian dài.        Trên thực tế, sẽ không có một công thức chung cho thành công nào để trở thành những doanh nghiệp thành công vì ngay cả khi thành công, doanh nghiệp vẫn luôn phải duy trì và sáng tạo những giá trị mới. Đối với khởi nghiệp mang tính thế mạnh của địa phương điểm quan trọng hơn cả cũng chính là gọi tên, duy trì và sáng tạo ra những giá trị mới dựa trên những thế mạnh hoặc chính vấn đề của địa phương mình. Đó cũng là nguồn gốc của sáng tạo.       Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Một hệ sinh thái kỳ lạ ẩn dưới lòng đất      Trong một thế giới ngày càng thiếu thốn nguồn nước sạch, các nhà khoa học cảnh báo rằng những sinh vật quý hiếm sống trong mạch nước ngầm của chúng ta đang lâm vào nguy hiểm.    |  Những động vật sống dưới tầng nước ngầm thường bị mù, xanh xao và và có những đặc điểm riêng nhằm thích nghi với điều kiện sống nghèo nàn — chúng thường được gọi là stygofauna. Ảnh: David Schleser / Getty Images   Mùa thu năm 2021, tại San Antonio, Texas, Ruben Tovar chuẩn bị chui vào một cái lỗ trên mặt đất có kích thước bằng cửa lò nướng – lối vào một hang động đá vôi.  Được trang bị đầy đủ dụng cụ leo núi và đèn pin, Tovar và bạn đồng hành trong chuyến thám hiểm của mình chìm vào bóng tối, rơi dần xuống một đường hầm gần như thẳng đứng, vật lộn với đàn dế với cặp chân khẳng khiu trong hang. Trên đường đi, Tovar có thể nhìn thấy nước thấm qua các bức tường đá vôi. Nước từ những trận bão và mưa vào tuần trước đang dần ngấm vào Edwards Aquifer, một hồ chứa nước ngọt rộng lớn bên dưới.  Tovar đang tìm kiếm những con kỳ nhông. Chúng ta thường có thể dễ dàng hình dung ra hình ảnh một con kỳ nhông đang trốn dưới khúc gỗ, nhưng chẳng thể biết được chúng sẽ thế nào dưới lòng đất của Texas – nơi có hệ sinh thái dưới lòng đất với những loài lưỡng cư phong phú, cũng như những loài động vật không xương sống và cá, chúng đang lẩn khuất nơi con người hầu như không thể đặt chân đến.  Nước ngầm — được giữ lại trong các hang động, lỗ rỗng và khe nứt — thực sự là môi trường sống nước ngọt không đóng băng lớn nhất thế giới, chứa nhiều nước hơn tất cả các hồ và sông cộng lại. Và ở đâu có nước, ở đó có sự sống. Những động vật sống dưới tầng nước ngầm này thường bị mù, xanh xao và và có những đặc điểm riêng nhằm thích nghi với điều kiện sống nghèo nàn — thường được gọi là stygofauna. Các nhà khoa học không biết nhiều về những loài sinh vật này, bởi rất khó để tiếp cận và nghiên cứu chúng.  Nhưng gần đây, các nhà khoa học từ Pháp, Ấn Độ và Úc đang sử dụng các kỹ thuật di truyền và hóa học để hiểu rõ hơn về loài stygofauna, họ cảnh báo rằng các loài sinh vật kỳ lạ này – bao gồm cả kỳ nhông Texas – có thể sớm đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trước đây mọi người thường xem nước ngầm là một nguồn tài nguyên vô hạn để cung cấp nước uống và sinh hoạt. Trên thực tế, nước ngầm đã cạn kiệt ở nhiều khu vực. Và thế giới sẽ còn thiếu nước hơn trong thế kỷ tới: Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, vào năm 2050, 5 tỷ người có thể rơi vào tình trạng thiếu nước.  Liệu con người có sẵn lòng cứu lấy một hệ sinh thái mà phần lớn trong số đó không thể tham quan hay thậm chí không thể nhìn thấy? Và nếu hệ sinh thái này bị tổn hại thì điều gì sẽ xảy ra?  Bảo tồn kỳ nhông và cuộc sống dưới lòng đất “là một việc lớn lao”, Tovar nhận định, “bởi chúng cũng sống dựa vào nguồn nước mà chúng ta đang phụ thuộc vào”. Sức khoẻ của hệ sinh thái dưới nước sẽ là chiếc áp kế báo hiệu sức khoẻ của tất cả mọi thứ sống trên mặt đất, bao gồm cả con người. Đề cập đến việc nghiên cứu hệ sinh thái dưới nước, Tovar cho biết “chúng ta mới chỉ tiếp cận bề mặt của vấn đề”.  Khó tiếp cận để nghiên cứu  Các nhà khoa học lần đầu biết đến những con kỳ nhông dưới lòng đất Texas từ cách đây một thế kỷ. Vào năm 1895, khoảng hơn chục con đã xuất hiện trong một cái giếng mới khoan ở Sam Marcos. Những lần phát hiện sau đấy đều chỉ là tình cờ. Chẳng hạn, vào năm 1951, những người công nhân đã phát hiện ra bốn mẫu vật của một loài mà ngày nay được gọi là kỳ nhông mù Blanco. Tuy nhiên, vì không được giám sát kỹ lưỡng, hai mẫu vật đã nhanh chóng bị một con diệc ăn mất. Một mẫu khác thì bị mất, khiến chúng ta chỉ còn lại một mẫu vật duy nhất của loài này cho đến ngày nay.  Các nhà khoa học đã có thể tìm thấy kỳ nhông bằng cách mạo hiểm chui xuống dưới lòng đất, nhưng chuyến nghiên cứu thực địa như vậy rất tốn công sức và đôi khi còn nguy hiểm. Các hang động có thể chứa động vật có nọc độc, khí gây ngạt và những mối nguy hiểm khác. Bên cạnh đó, mật độ kỳ nhông trong hang rất thấp, do đó việc tìm kiếm chúng có thể ví như mò kim đáy bể, đã có nhiều cuộc thám hiểm mà các nhà khoa học phải trở về tay không. (Điều này cũng đúng với Tovar khi anh khảo sát hang động lần này: Giống như nhiều lần trước, anh không tìm thấy bất kỳ con kỳ nhông nào.)  Ruben Tovar cẩn thận xem xét một hang động ở trung tâm Texas. Ảnh: Ruben U. Tovar / Undark  Nhưng ngay cả khi không có mẫu vật sống, các nhà khoa học vẫn có thể thu được một thứ khác có giá trị. Bằng cách sử dụng một kỹ thuật gọi là DNA môi trường, hoặc eDNA, họ có thể xem xét các vật liệu di truyền từ tế bào da, chất thải hoặc các loại vật liệu sinh học khác để theo dõi và nhận dạng động vật.  Một trong những người sử dụng eDNA để tìm hệ động vật nước ngầm là Tom Devitt, một nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Texas ở Austin (Devitt và Tovar cùng làm việc trong phòng thí nghiệm của nhà sinh học tiến hóa David Hillis). Kể từ năm 2013, Devitt đã tham gia tìm kiếm và lập bản đồ các loài kỳ nhông Texas quý hiếm. Công trình của ông đã tiết lộ sự tồn tại của ba loài kỳ nhông chưa từng được ghi nhận trước đây, cũng như ranh giới của các loài động vật. Hóa ra các hang động bên dưới bang Texas bị ngăn cách với nhau bởi dòng nước và sự thiếu hụt chất dinh dưỡng, từ đó chia kỳ nhông thành nhiều loài khác nhau. Bằng cách biết nơi kỳ nhông được tìm thấy, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách có thể xác định khu vực nào cần nghiên cứu hoặc bảo vệ.  Trong khoảng một năm trở lại đây, Devitt đã dùng eDNA để lập bản đồ những con kỳ nhông này và phạm vi của chúng, đặc biệt là ở những nơi mà chúng chưa từng được tìm thấy trước đây. Công việc yêu cầu ông phải lấy vài lít nước ngầm từ sông, suối hoặc hang động, lọc để thu thập mẫu, sau đó chạy mẫu qua máy có thể phát hiện dấu vết DNA cụ thể.  “Bước đầu tiên chỉ là tìm ra đây là sinh vật nào, chúng sống ở đâu. Đó là những câu hỏi cơ bản nhất, nhưng cũng là những câu hỏi mà chúng tôi đang chật vật để tìm kiếm lời giải đáp,” Devitt nói. “Chúng ta đã nghiên cứu những con kỳ nhông này trong hơn một trăm năm.” Việc tìm ra sự phân bố có thể cung cấp manh mối về sự tiến hóa và hành vi của kỳ nhông.  Devitt không phải là nhà khoa học duy nhất sử dụng những kỹ thuật mới này. Các nhà nghiên cứu cũng đã dùng eDNA để tìm một con tôm càng hiếm trong hang động ở Alabama và xác định nơi có thể tìm thấy những con kỳ nhông thủy sinh dài, nhợt nhạt được gọi là olm, ở Croatia. Các nhà khoa học Australia đã sử dụng eDNA để khảo sát có những loại sinh vật nào sống trong các hang động dưới đảo Christmas, từ đó phát hiện một cộng đồng đa dạng bao gồm một loại cá gọi là snook, cua kềm vàng và sứa nước ngọt.  Mặc dù vậy, eDNA cũng có những hạn chế. Như các nhà sinh vật học Melania Cristescu và Paul Hebert đã nêu trong một đánh giá vào năm 2018 , eDNA có thể có cả âm tính giả và dương tính giả. Nếu một nhà khoa học không nhận được bất kỳ kết quả DNA nào từ một mẫu, điều đó không có nghĩa là loài đó đã tuyệt chủng, vì vật liệu di truyền có thể bị hỏng nhanh chóng trước khi được phát hiện. Và nếu họ nhận được kết quả dương, nó cũng không khẳng định sinh vật đó sống ở một vị trí cụ thể, vì một luồng không khí mạnh cũng có thể mang vật chất từ ​​rất xa đến.  DNA môi trường cũng hoạt động dựa trên cơ sở dữ liệu hiện có về vật chất di truyền, vì vậy nếu cơ sở dữ liệu sai, phương pháp tiếp cận này có thể đọc sai hoặc xác định sai một loài. (Tovar và Devitt đang cố gắng thu thập các mẫu DNA kỳ nhông hiếm để cải thiện độ tin cậy và độ nhạy của các xét nghiệm eDNA.)  Tuy nhiên, “không thể phủ nhận rằng công nghệ phân tử đã thay đổi cuộc chơi”, Grant Hose cho biết. Anh là nhà sinh thái học thủy sinh tại Đại học Macquarie ở Sydney, Úc, người đã sử dụng eDNA để chỉ ra rằng ô nhiễm kim loại từ các mỏ ở Úc có thể ảnh hưởng đến các sinh vật dưới lòng đất cách đó hơn 10 dặm.  ​​Cũng tại Úc, Mattia Saccò, một nhà nghiên cứu tại Đại học Curtin ở Perth, đang sử dụng một kỹ thuật khác để nghiên cứu các hệ sinh thái nước ngầm. Thay vì theo dõi các dấu vết nhỏ của DNA, Saccò đang xem xét tỷ lệ nguyên tử – được gọi là phân tích đồng vị. Từ phương pháp này, anh ấy có thể lập bản đồ lưới thức ăn của các loài động vật dưới lòng đất và sự thay đổi của nó theo thời gian, chẳng hạn như khi mưa xuất hiện vào cuối mùa khô ở Tây Úc.  “Tôi có thể theo dõi lượng mưa ảnh hưởng như thế nào. Vào mùa khô, thức ăn khan hiếm và sinh vật hấp thụ chất dinh dưỡng phần lớn từ rễ cây; những cơn mưa mang theo một lượng lớn chất dinh dưỡng từ mặt đất”, Saccò cho hay. Sự thay đổi này sau đó lan ra khắp mạng lưới thức ăn – thậm chí ảnh hưởng đến cả một số động vật ăn thịt, ấu trùng bọ cánh cứng.  Nghiên cứu đồng thời cũng hé lộ những gì có thể xảy đến nếu các hệ sinh thái dưới lòng đất và động vật biến mất, nhất là khi các sinh vật stygofauna có thể giúp làm sạch nước ngầm bằng cách loại bỏ các chất gây ô nhiễm hoặc mầm bệnh. “Những sinh vật này giữ cho nước ngầm sạch sẽ, và chúng ta được hưởng lợi từ điều đó”, Saccò nói.  Mattia Saccò thu thập stygofauna bằng một cái lưới được thả xuống lỗ khoan để tiếp cận tầng nước ngầm. Anh cũng thả một đầu dò xuống lỗ khoan để xác định các đặc tính vật lý và hóa học của nước. Ảnh: Mattia Saccò / Undark  Rơi vào tình trạng nguy cấp  Các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực tìm hiểu về stygofauna. Trên thực tế, những điểm nóng được nghiên cứu kỹ lưỡng chỉ chiếm một phần nhỏ trong số các hệ sinh thái nước ngầm trên thế giới. Saccò cho biết ở các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là châu Á và châu Phi, các nhà khoa học không mấy quan tâm đến vấn đề này. Nếu chúng ta không để tâm đến những sinh vật sống dưới lòng đất, chúng có thể sẽ tuyệt chủng.  Vì sao lại như vậy? Nguyên nhân chính nằm ở việc nhu cầu sử dụng nước đang tăng cao. Theo dữ liệu của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, Austin, thủ phủ của bang Texas, là một trong những thành phố lớn phát triển nhanh nhất trong cả nước, từ đó nảy sinh nhu cầu sử dụng nước để phục vụ cho đời sống của người dân.  Austin không phải là ngoại lệ. Thấu chi nước ngầm đang là một vấn đề nghiêm trọng mang tính toàn cầu. Ước tính nhu cầu sử dụng nước hiện tại nhiều hơn gấp ba lần khối lượng thực tế của các tầng chứa nước. Theo đánh giá năm 2019 của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, Úc và Ý, khoảng một phần ba hệ thống nước ngầm lớn nhất thế giới đang bị khai thác quá mức. Và theo tính toán vào năm 2016 của các nhà thủy văn học tại Đại học Urecht ở Hà Lan, những khu vực như Ý và một phần Cao nguyên ở Hoa Kỳ có thể sẽ đạt đến giới hạn vào những năm 2040 đến 2070; tầng chứa nước nơi Thung lũng Trung tâm của California có thể cạn kiệt ngay sau những năm 2030.  Ghat Tây của Ấn Độ – một dãy núi chạy dọc theo bờ biển phía Tây Nam của đất nước – cũng có thể rơi vào tình cảnh này. Ghat Tây là nơi trú ngụ của nhiều loài cá nước ngọt khác thường sống dưới lòng đất, bao gồm cả cá lóc rồng, trông giống như một con lươn bọc thép và có thể đại diện cho một quần thể đã tồn tại hàng trăm triệu năm. Tuy nhiên, khu vực này cũng có dân cư đông đúc, gây áp lực rất lớn lên các tầng chứa nước. Đến năm 2050, hơn 80 triệu người có thể lâm vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt.  Các loài xâm lấn cũng là một yếu tố rủi ro khác, chẳng hạn như cá da trơn hoặc cá rô phi ở Ghat Tây và tôm càng xanh đầm lầy đỏ ở châu u, chúng đã xâm chiếm giếng và hang động.  Hệ sinh thái nước ngầm còn phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm. Một số tình cờ bị ô nhiễm do tình trạng khai thác tài nguyên hoặc phân bón nông nghiệp. Và một số thì bị ô nhiễm có chủ đích, như ở Slovenia, nơi một nhà máy sản xuất tụ điện đã xử lý chất thải độc hại trong hai thập kỷ bằng cách đổ chúng vào các hố sụt, gây ô nhiễm môi trường sống của olm; hoặc như ở Ấn Độ, nơi người dân thường sử dụng hóa chất để khử trùng giếng.  Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, cơ quan quản lý đã kịp thời đưa ra những chính sách nhằm bảo tồn ít nhất một số loài stygofauna. Hồ bơi Barton Springs nằm gần trung tâm thành phố Austin là một địa điểm bơi lội nổi tiếng trong hơn một thế kỷ qua; trong một khoảng thời gian, chính quyền đã sử dụng các phương pháp làm sạch chuyên sâu để xử lý hồ như nước nóng, vòi cao áp và clo.  Nhưng con người không phải là sinh vật duy nhất ở đó – sâu trong những con suối cung cấp nước cho hồ, có hai loài kỳ nhông khác nhau: kỳ nhông Barton Springs, được đặt tên chính thức vào năm 1993 và kỳ nhông mù Austin, được phát hiện vào năm 2001.  Năm 1992, thành phố đã ngừng sử dụng clo để kiểm soát tảo tại hồ bơi. Sau khi chính phủ liên bang liệt kỳ nhông Barton Springs vào diện nguy cấp theo Đạo luật về các loài nguy cấp vào năm 1997, các cơ quan quản lý đã đưa ra những phương án khác nhau nhằm bảo vệ kỳ nhông. Ngày nay, theo thỏa thuận với Cơ quan Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ, thành phố vẫn có thể sử dụng hồ bơi để bơi lội và có thể làm sạch nó (mặc dù với các phương pháp ít phá hoại hơn); nhưng đổi lại, thành phố cũng phải giúp bảo vệ hệ sinh thái.  Vào năm 1998, Austin đã khởi động một chương trình nhân giống kỳ nhông. Hiện tại, họ đã phát triển được một quần thể nuôi nhốt khoảng 240 con kỳ nhông Barton Springs và khoảng 50 con kỳ nhông mù Austin trong một cơ sở nhỏ cách suối nước vài phút.  Ngoài việc cho phép nghiên cứu các loài động vật, chương trình cũng cung cấp một hệ thống dự phòng trong trường hợp thiên tai. Điều này vô cùng cần thiết, bởi một vụ tràn hóa chất gần đó cũng có thể gây ra thảm họa cho kỳ nhông. “Chất ô nhiễm có thể lan sang suối nước chỉ trong vỏn vẹn một ngày”, Dee Ann Chamberlain, một nhà khoa học môi trường và người đứng đầu chương trình cho hay.  Trong trường hợp đó, Chamberlain và các đồng nghiệp sẽ cứu lấy càng nhiều sinh vật quý hiếm từ tự nhiên càng tốt để mang về trung tâm trước khi chất ô nhiễm lan đến nơi. Một ngày nào đó, khi môi trường sống đã an toàn trở lại, các nhà khoa học sẽ đưa kỳ nhông trở lại suối.  Song, suy cho cùng, bảo vệ những khu vực này khỏi tình trạng ô nhiễm ngay từ đầu sẽ tốt hơn là cố gắng sửa chữa khi mọi chuyện đã rồi. Theo Scott Hiers, một nhà khoa học địa lý, chính quyền Austin đã mua đất ở các khu vực trọng yếu. Điều này sẽ hạn chế quá trình đô thị hoá ở những khu vực đó, giúp giảm nguy cơ ô nhiễm và đảm bảo nước bề mặt có thể chảy xuống tầng chứa nước.  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:  A Strange, Endangered Ecosystem Hides in Underground Waterways  Where is Earth’s Water?     Author                .        
__label__tiasang Một kg muối có thể khử trùng cả trăm m3 nước      Sau đợt mưa lũ đầu tháng 10 gây thiệt hại nặng nề cho một số tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ mới đây, vấn đề bảo đảm nước sạch cho người dân, vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Với giải pháp sản xuất anolit, Viện Công nghệ môi trường (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cho biết, chỉ cần chưa đến 3 kg muối đã có thể sản xuất được số dung dịch khử trùng cho 300-500 m3 nước đạt yêu cầu về vi sinh theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới, hoặc cho diện tích 10 – 20 nghìn m2 bề mặt sàn các phòng trong bệnh viện, trường học, nhà ở, trại chăn nuôi…      Một trang trại nuôi lợn ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, bị ngập sâu trong nước trong đợt mưa lũ hồi đầu tháng 10 mới đây.  Tại vùng lũ, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, nguy cơ xảy ra bệnh dịch cho người do thiếu nước sạch sinh hoạt trở thành vấn đề cấp bách hàng đầu trong số các nhu cầu căn bản của người dân. Theo “Sổ tay hướng dẫn xử lý nước và vệ sinh môi trường trong mùa bão lụt” và “Sổ tay hướng dẫn xử lý ổ dịch tả” do Bộ Y tế ban hành, chất khử trùng thông dụng nhất được hướng dẫn sử dụng là các hợp chất của clo như Cloramin B (dưới dạng bột hoặc viên), viên Aquatab67, ngoài ra ít được dùng hơn là bột Hypoclorit canxi và dung dịch Hypoclorit natri. Tuy vậy, các chất nêu trên đều là sản phẩm nhập khẩu, nhiều khi không thể có ngay khi có cần. Cũng theo các tài liệu trên, việc dùng Cloramin B có hàm lượng 0,5% để xử lý ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí rất cao, hơn nữa, Cloramin B có chứa gốc benzen – không nên dùng để khử trùng thực phẩm – do tồn dư hóa chất không có lợi cho sức khỏe con người.     Trong bối cảnh đó, dung dịch khử trùng anolit, được tạo ra bằng phương pháp điện phân nước muối ăn NaCl trong buồng phản ứng điện hóa có màng ngăn lần đầu tiên cách đây 45 năm, càng chứng tỏ được những điểm ưu việt của mình:  – Diệt được rất nhiều loài vi khuẩn, nấm, virus và bào tử gây bệnh cho người, kể cả những loài có sức đề kháng cao như vi trùng bệnh lao, vi khuẩn bệnh than, virus viêm gan B… mà không bị vi sinh vật kháng lại;  – Khử trùng nhanh và có hoạt tính khử trùng mạnh: để đạt được cùng hiệu quả khử trùng, lượng clo hoạt động cần sử dụng trong anolit thấp hơn nhiều lần so với các chất khử trùng có clo khác như cloramin B và các loại hypoclorit.  – Ít tác động đến sức khỏe của người và động vật vì có lượng clo hoạt động thấp và nhờ khả năng chống các chất oxi hóa của tế bào động vật cấp cao.  – Được tạo ra từ nước muối và dần trở về dưới dạng muối ăn (vô cơ) thông thường có trong thiên nhiên nên không là chất tồn lưu làm ô nhiễm môi trường.  – Có giá rẻ do được sản xuất chỉ từ điện và nước muối.  Tuy nhiên, do anolit có nhược điểm là không bảo quản được lâu (càng để lâu thì hàm lượng clo hoạt động càng suy giảm) nên không thuận tiện cho sản xuất lớn rồi để đấy mà phải dùng ngay thì mới tốt. Nói cách khác, anolit chỉ có thể phát huy vai trò là chất khử trùng trong các ngành cấp thoát nước, y tế, sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm nếu được sản xuất tại chỗ.    TS. Hà Quý Quỳnh, Trưởng Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ (phải) và TS. Nguyễn Trần Điện, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Môi trường  bên thiết bị sản xuất anolit tại xưởng thực nghiệm của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.  Từ năm 1998, Viện Khoa học Vật liệu và sau đó là Viện Công nghệ môi trường thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (nay là Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã nghiên cứu chế tạo thiết bị sản xuất anolit trên cơ sở các công nghệ được chuyển giao từ Liên bang Nga và các quy trình sử dụng anolit trong các bệnh viện, trại chăn nuôi, xí nghiệp giết mổ chăn nuôi, cơ sở nuôi tôm giống, nhà máy chế biến xuất khẩu thủy sản, trồng và bảo quản các loại trái cây có giá trị và khả năng xuất khẩu cao… Chỉ tính riêng trong 15 năm trở lại đây, đã có hơn 5 đề tài, dự án, nhiệm vụ cấp quốc gia và hàng chục đề tài, dự án cấp Bộ, cấp tỉnh… với hàng chục đơn vị nghiên cứu thực hiện và đã được nghiệm thu. Hiện nay đã có hơn 600 thiết bị sản xuất anolit – phần lớn do Viện Công nghệ môi trường chế tạo hoặc do các doanh nghiệp được Viện chuyển giao công nghệ chế tạo – đã đi vào hoạt động ở trong các bệnh viện và các cơ sở sản xuất trong các ngành chăn nuôi, thủy sản, chế biến thực phẩm, trồng trọt… Một số công ty nước ngoài cũng đã đưa thiết bị sản xuất anolit vào tiêu thụ ở nước ta. Một công ty của Nhật đã khởi công xây dựng một nhà máy sản xuất anolit tại tỉnh Nghệ An.  Gần đây, Viện Công nghệ môi trường đã có bước tiến mới trong nghiên cứu chế tạo thiết bị sản xuất anolit, với số muối ít hơn (nguyên liệu đầu vào) cung cấp được lượng clo hoạt hóa cao hơn (sản phẩm đầu ra), được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích năm 2015: Chỉ cần chưa đến 3 kg muối có thể sản xuất được 2.000 lít anolit, khử trùng được cho 300-500 m3 nước đạt yêu cầu nước sạch về vi sinh theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới và của Bộ Y tế hoặc khử trùng được cho diện tích 10 nghìn đến 20 nghìn m2 bề mặt sàn các phòng trong bệnh viện, trường học, nhà ở, trại chăn nuôi…  TS. Nguyễn Trần Điện – Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Môi trường cho rằng: “Dịch bệnh lan truyền do sử dụng nguồn nước kém vệ sinh là điều gây hoang mang và lo lắng lớn nhất cho người dân vùng lũ. Việc trang bị hệ thống sản xuất anolit đơn giản, gọn nhẹ, cơ động và có thể chủ động về công nghệ trong nước tại các địa phương thường xảy ra bão lũ có thể giúp giải quyết mối lo này.”  Chiều 13/10 vừa qua, nhận được đề nghị hỗ trợ dung dịch anolit để khử trùng, làm vệ sinh một số nhà lưới bị ngập trong mấy ngày đầu tuần của Công ty TNHH Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn (Thanh Hóa), Viện Công nghệ môi trường đã sử dụng các thiết bị thế hệ mới đang được chế tạo thử nghiệm để sản xuất anolit cung cấp cho Công ty này. Sau gần 6 giờ làm việc đã sản xuất được 1.200 lit anolit có hàm lượng các chất oxi hóa tính theo clo hoạt động trên 500 mg/lit với tổng các chất rắn hòa tan (chủ yếu là muối ăn) không quá 1,4 g/lit và trị số pH từ 7 đến 8. Sáng ngày 14/10, số anolit nói trên đã được chuyển về Thanh Hóa để sử dụng.    Author                Phạm Phượng        
__label__tiasang Một kỷ nguyên mới của sinh học: Cơ hội và thách thức của gene học vĩ mô      Lĩnh vực mới bùng nổ của gene học vĩ mô (macrogenetics) là nội dung chính của một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Nature Reviews Genetics, do một nhóm nghiên cứu đa ngành thực hiện. Họ muốn tìm ra một câu trả lời tốt hơn cho những câu hỏi cơ bản về đa dạng sinh học.      Do tiến sĩ Sean Hoban, nhà sinh học bảo tồn thực vật tại Morton Arboretum dẫn dắt, nhóm nghiên cứu đem lại cái nhìn thấu suốt vào gene học vĩ mô, với việc sử dụng dữ liệu lớn để nhận diện các định hướng mang tính toàn cầu của đa dạng gene bên trong các quần thể ở những quy mô không gian, thời gian và phân loại. “Mục tiêu của gene học vĩ mô là sử dụng hàng ngàn bộ dữ liệu để trả lời một câu hỏi cốt lõi về sự sống trên trái đất: tại sao một số vùng trên trái đất lại có sự đa dạng sinh học hơn những nơi khác?”, Hoban nói.  Cho đến tận bây giờ, các tác giả cho biết, những phân tích ở quy mô lớn về gene học quần thể, sinh học tiến hóa và sinh thái học phân tử rất hiếm khi thực hiện được do chi phí lớn và các phương pháp thực hiện hết sức phức tpaj. Tuy vậy những tiên tiến về công nghệ, sinh học phân tử, thống kê và sự hiện hữu của các bộ dữ liệu lớn cùng nhiều nhân tố khác, đã có thể giúp các nhà khoa học tiến từng bước vào lĩnh vực nghiên cứu mới, có thể giải quyết được những câu hỏi trên quy mô lớn chưa từng có.  “Khoa học đang tiến về hướng các mô hình hợp tác nhiều hơn trong công việc nghiên cứu, trong đó các nhà nghiên cứu xuất bản toàn bộ dữ liệu online trên những cơ sở dữ liệu có thể kiếm tìm một cách dễ dàng”, Hoban nhận xét. “Thật thú vị khi thấy các nhà khoa học đang khiến cho công trình nghiên cứu của họ có thể truy cập được, tái sử dụng được và dễ dàng hơn để mở mang chúng – một vài người gọi đây là ‘khoa học mở’”.  Hoban nêu ra là đa dạng gene là một yếu tố chính của sự phức hợp và sức chống chịu của các hệ sinh thái, cho phép các quần thể chống chịu và đáp ứng nhưng việc bảo tồn nó thường xuyên không được giới làm chính sách công quan tâm. “Các nghiên cứu gene học vĩ mô đánh giá sự đa dạng gene qua không gian và thời gian sẽ cung cấp những cơ hội hữu ích ở quy mô lớn về việc dõi theo những thay đổi môi trường, bao gồm như các tín hiệu di truyền sớm của các hệ quả biến đổi khí hậu có thể khó dò được”, ông nói.  Cuối cùng, theo các tác giả, những quan sát mẫu hình ở diện rộng phải được gắn liền với luật pháp ở từng quốc gia và những sáng kiến toàn cầu như Bảo tồn đa dạng sinh học hay Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Với việc tập trung này, gene học vĩ mô phải được mở rộng để truyền đạt các kết quả nghiên cứu khoa học của mình với công chúng, giới công nghiệp và các nhà hoạch định chính sách. “chúng tôi hi vọng là chúng tôi có thể trả lời được những câu hỏi cơ bản về đa dạng sinh học: không chỉ liệu con người có tác động hay không mà còn ở quy mô nào, và ngưỡng của nó là gì”, Hoban nói. “Chúng ta có thể dung những phát hiện đó để truyền đạt thông tin thành các chính sách có tác động thật sự và bền vững thật sự”.    Hoban cũng lưu ý là nghiên cứu về gene học vĩ mô có thể tạo ra một cuộc tranh cãi dài hạn giữa các nhà khoa học: liệu các nhân tố môi trường có ảnh hưởng đến đa dạng loài trong một khu vực có đa dạng di truyền không.  Theo bài báo mới, việc truy cập ngày một gia tăng vào dữ liệu đã góp phần mở nhiều cánh cửa cho các nhà nghiên cứu di truyền nhưng vẫn còn có nhiều thách thức về mặt thống kê. “Số lượng dữ liệu mà chúng tôi có thể truy cập hiện tại đang gia tăng. Thách thức lớn nhất là việc xác định các kỹ thuật thống kê đúng”, Hoban nói. Các tác giả viết, phần lớn các công cụ thống kê và phân tích sử dụng trong gene học vĩ mô đều được tái sử dụng từ công cụ của các lĩnh vực khác, và họ chờ đợi cũng như khuyến khích các nhà nghiên cứu khám phá những công cụ phù hợp nhất để phân tích các bộ dữ liệu gene học vĩ mô được nâng cấp.  Ông cũng lưu ý là việc phân tích dữ liệu quy mô lớn đang là xu hướng đang phát triển giữa các nhà sinh thái học và bảo tồn. Các nhà khoa học tại Morton Arboretum hiện đang sử dụng những bộ dữ liệu lớn để xử lý những phân tích về khoảng trống bảo tồn trên toàn cầu, xác định các mẫu hình của vết tiến hóa ở những loài thực vật thân gỗ, khám phá cách các hệ sinh thái tiến hóa qua hàng giai đoạn lớn và ghi lại những thay đổi trong các khu rừng dưới sự tác động của nhiệt độ cao, giữa các dự án khác nhau. Các dự án này cũng đang tạo ra những bộ dữ liệu, bao gồm cả những tập mẫu cây của chính Morton Arboretum.  “Đây là một thời điểm vô cùng thú vị – lĩnh vực này đang tăng trưởng từ một số nghiên cứu lên tới hàng trăm nghiên cứu ở phía đường chân trời phía trước”, Hoban nói. “Tôi có cảm giác như chúng ta đang đứng trước một chương mới của những tiên tiến khoa học vậy”.  Anh Vũ  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-era-biology-opportunities-macrogenetics.html  https://newsbeezer.com/ethiopia/new-insights-into-the-opportunities-and-challenges-of-macrogenetics/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một lát cắt trong lịch sử về giống: Dưa hấu có nguồn gốc từ đông bắc châu Phi      Một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí “Proceedings of the National Academy of Sciences” đã viết lại nguồn gốc của việc thuần hóa dưa hấu.      Sử dụng DNA từ cây được trồng trong nhà kính biểu thị tất cả các loài và hàng trăm giống dưa dấu khác nhau, các nhà khoa học đã phát hiện ra dưa hấu mà chúng ta vẫn ăn ngày nay được thuần hóa từ những tổ tiên hoang dại ở đông bắc châu Phi.  Nghiên cứu này đã hiệu chỉnh một lỗi tồn tại 90 năm la gộp dưa hấu vào cùng lớp như citron melon Nam Phi – một loài cây có họ hàng gần với dưa hấu. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu, bao gồm cả tác giả thứ nhất hiện ở trường ĐH Washington tại St. Louis, tìm ra dưa Kordofan  (C. lanatus) ruột trắng ở Sudan có mối liên hệ gần gũi với dưa hấu được thuần hóa.  Nghiên cứu di truyền này cũng phù hợp với một bức vẽ ở lăng mộ Ai cập mới được diễn giải gần đây. Nó cho thấy dưa hấu có thể đã được ăn ở vùng thung lũng sông Nile, nơi như một sa mạc vào thời điểm 4.000 năm trước.  “Trên cơ sở nghiên cứu DNA, chúng tôi tìm thấy dưa hấu mà chúng ta biết đến ngày nay, với vị ngọt, thông thường có ruột đỏ có thể từng được ăn sống – gần gũi về mặt di truyền với các loại dưa hoang dại từ Tây Phi và đông bắc châu Phi”, Susanne S. Renner, giáo sư danh dự về sinh học tại trường Khoa học và nghệ thuật tại trường ĐH Washington.  Renner là một nhà sinh học tiến hóa, mới đến trường đại học Washington University sau 17 năm làm việc tại trường ĐH Ludwig Maximilian ở Munich, Đức, nơi cô đảm trách giám đốc Vườn thực vật Munich và Phòng Mẫu cây Munich.    Một bức vẽ ở lăng mộ Ai cập cho thấy dưa hấu có thể đã được ăn ở vùng thung lũng sông Nile, nơi như một sa mạc vào thời điểm 4.000 năm trước.  Phòng thí nghiệm của bà đã dành nhiều thời gian tập trung vào dưa bở ruột xanh (honey melon) và dưa chuột nhưng trong 10 năm qua, bà đã chuyển qua dưa hấu và mướp đắng.  Thông tin di truyền xuất bản trong nghiên cứu mới – thực hiện cùng các đồng nghiệp từ Bộ Nông nghiệp Mĩ ở Ithaca, New York, Vườn thực  vật hoàng gia Kew ở London; và trường đại học Sheffield – có thể hữu dugj để phát triển một giống dưa hấu kháng bệnh, bà Renner nói.  “Dưa hấu ngày nay đến từ những kho di truyền rất nhỏ và dễ bị nhiễm bệnh hoặc côn trùng, vật nuôi tấn công, bao gồm nấm mốc, những loài nấm khác, virus và giun tròn”, Renner cho biết. “Cho đến nay chúng tôi đã tìm thấy có sự biến đổi của ba gene kháng bệnh giữa dưa Kordofan và dưa hấu đã thuần hóa. Các nhà làm giống có thể sử dụng các gene này và các thông tin khác từ hệ gene này”.  Nhưng một số cái hay ho rút ra được từ nghiên cứu này, Renner nói, là sự liên quan của dưa hấu với sự di chuyển của con người và những kết nối văn hóa của họ. “Chính các bức vẽ về lăng mộ Ai Cập đã thuyết phục tôi là người Ai cập đã từng ăn ruột dưa hấu mát lạnh”, Renner nói. “Nếu không, tại sao những chiếc đĩa mỏng lại chất đầy những lát dưa hấu bên cạnh nho và những loài quả có vị ngọt khác?”.  “Dưa, dưa chuột, dưa hấu đã được thuần hóa rất nhiều lần” trong lịch sử loài người, bà nhận xét. “nhưng nơi những thuần hóa cây trái trong không gian và tên vẫn còn nhiều điểm phức tạp hơn tôi từng nghĩ 10 hay 15 năm trước đây. Và DNA từ những hạt giống cổ xưa luôn luôn là điểm bẳt đầu để giúp chúng ta lý giải”.  Anh Vũ  tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2021-05-seedy-slice-history-watermelons-northeast.html  https://www.pnas.org/content/118/23/e2101486118    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một loại cây có thể khử độc trong nước thải      Thierry Jacquet, 49 tuổi, đã quen với những  ánh mắt nghi ngờ. Ông bảo, “Quả thật nghe cũng là lạ khi ai đó nói rằng,  anh ta có thể dùng thực vật để xử lý nước thải thành nước tắm.”    Doanh nhân này tự xưng là người làm nghề “cải tạo môi trường”. Ông thành lập hãng Phytorestore cách đây đúng mười năm. “Phyto” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “thực vật” và “restore” có nghĩa là “tái tạo”. Jacquet nói, “50 năm nữa, điều này sẽ hết sức bình thường. Nhưng giờ thì cần có ai đó đứng ra khởi xướng để thuyết phục mọi người.”  Jacquet, vốn dĩ là một nhà quy hoạch đô thị và kiến trúc sư cảnh quan. Ông quảng bá cho một kỹ thuật có nhiều tiềm năng nhưng đến nay chủ yếu mới được áp dụng ở các hồ bơi thiên nhiên. Tuy nhiên, người đi tiên phong về sinh thái không chỉ dừng ở đây. Ông muốn chứng minh rằng, có những loại cây thậm chí có khả năng hấp thụ nước thải công nghiệp bị ô nhiễm nặng, kể cả nước thải của ngành công nghiệp mỹ phẩm và chất tẩy rửa, trừ một số chất cực độc. Ngay cả những nơi đất bị ô nhiễm nặng, như ở các khu vực có cây xăng, những loại cây này cũng tỏ ra đắc dụng.  Để chứng minh tính năng của những loài thực vật này, Jacquet mời những ai quan tâm tới La Brosse-Montceaux, cách thủ đô Paris về phía nam khoảng một giờ xe ô tô, nơi bạt ngàn cỏ lác, tiếng ếch nhái inh tai và chim hót líu lo. Nhìn bên ngoài, đây dường như là một vùng đất có sinh cảnh tuyệt vời, tuy nhiên dưới lớp thảm thực vật lại là thứ nước có mầu nâu xám.  Jacquet đi ủng, lội bùn, ông nhổ một bụi cây, kể cả rễ, và giải thích về cơ chế xử lý sinh học: “Thực ra cây chỉ là vật trung gian. Vi khuẩn sinh sống nhờ bộ rễ của cây và chúng ăn các chất bẩn trong nước thải.”  Nguyên tắc dùng vi khuẩn để khử các hóa chất không có gì mới. Hiện nay ở nhiều cơ sở xử lý nước thải hiện đại, người ta đã áp dụng biện pháp này. Tại đây, vi sinh vật được thả vào nước thải để chúng phá vỡ chuỗi hydrocarbon.  Tuy nhiên giải pháp mà Jacquet áp dụng thông qua thực vật có thể được coi là có một không hai trên thế giới: ở dự án này, cây dương xỉ ăn Cyanide và thạch tín (Arsenic), những loại cây lá rộng như cây hương bồ (cat-tail) và liễu dầu ăn muối khoáng. Cây trân châu (loosestrife) thì ưa ăn đường và tinh bột trong khi cây lau lại ngốn kim loại nặng. Cây lách thì hấp thụ mầm bệnh truyền nhiễm, còn cây mía hấp thụ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học. Thậm chí đất bị ô nhiễm phóng xạ cũng có thể được hóa giải bởi cây cỏ ba lá.  Dường như vẫn chưa thoả mãn với những điều đã đạt được, Jacquet muốn xây dựng những “vườn lọc” để xử lý nước thải ở gần các khu vui chơi giải trí. “Công nghệ này đầy triển vọng,” Jean-Louis Ducreux, giám đốc hãng tư vấn Atelier d’Ecologie Urbaine (AEU) chuyên về sinh thái đô thị ở Paris đánh giá.   Tại trang trại sinh học của mình ở La Brosse-Montceaux, chuyên gia Jacquet cho đào 24 bể chứa. Những bể này đều được lót một tấm màng địa kỹ thuật (Geomembrane), để ngăn nước thải ngấm xuống tầng nước ngầm. Sau đó ông rải các lớp xỉ, đá vôi và phân hữu cơ lên rồi trồng các loài thực vật. Cuối cùng là dẫn nước thải vào các bể này.   Kết quả các loài thực vật có thể phân huỷ tới 99% các chất độc hại trong nước thải hoặc đất bị nhiễm độc. Nhà doanh nghiệp người Pháp khẳng định “các khảo nghiệm trong phòng thí nghiệm của doanh nghiệp SGS, Wessling, Eurofins và SAS Laboratoire đã chứng minh điều này.” Jacquet không khẳng định ông có một “công thức kỳ diệu để xử lý mọi chất độc hại”. “Có những chất mà cây cối không thể phân huỷ được.” Vì vậy những chất độc hại mà vi khuẩn chừa lại, thí dụ các kim loại nặng, thủy ngân hay Cadmium, sẽ được tích trong một bể riêng. Hàm lượng các chất này lớn đến mức có những hãng chuyên dụng tuyển lại chúng để tiếp tục sử dụng, nhà tư vấn Ducreux của AEU giải thích.   “Các giải pháp sinh thái tốt cũng phải có sức hấp dẫn về mặt tài chính,” doanh nhân Jacquet nói. Ngay từ khi còn là nhà tư vấn độc lập về môi trường, ông từng phát triển những phương án xử lý môi trường ở một số địa phương, và ông cho biết, giải pháp này còn rẻ hơn cách đốt hay chôn lấp thông thường. “Nhưng khi đó lại thiếu những doanh nghiệp sẵn sàng đảm nhận việc thực hiện giải pháp.” Đó là lý do Jacquet đứng ra thành lập doanh nghiệp.   Một thời gian dài, công việc quảng bá đối với Jacquet đầy khó khăn, lý do một phần là vì thời gian cần để xử lý quá dài trong khi các chủ công trình xây dựng lại luôn ở trong tình trạng gấp gáp. Nhưng lý do mấu chốt cản trở việc sử dụng thực vật để làm sạch môi trường là do mâu thuẫn về lợi ích. Ở Pháp hiện có hai doanh nghiệp cỡ lớn chia nhau thị trường xử lý rác thải, đó là Veolia và Suez Environnement. Trong bối cảnh đó, để đưa những giải pháp mới vào lĩnh vực này thực sự là rất khó khăn.   Việc thâm nhập vào thị trường ở các nước mới nổi có phần dễ dàng hơn. Các chi nhánh của Jacquet hoạt động tại Brazil và Trung Quốc khá thành công, từ đó gây tiếng vang và tạo được sự quan tâm của các chủ dự án ở trong nước, thí dụ tập đoàn mỹ phẩm khổng lồ L’Oréal hay doanh nghiệp Louis Vuitton trong lĩnh vực đồ da. Cơ sở nghỉ dưỡng thuộc Club Med ở Mauritius cũng là khách hàng của Jacquet. Hiện tại doanh nghiệp khử độc nước của Jacquet cộng tác với một loạt doanh nghiệp lớn thuộc chỉ số chứng khoán CAC40 của Pháp. Các doanh nghiệp này chuyển nước bị ô nhiễm tới La Brosse-Montceaux để xử lý hoặc phối hợp với khoảng 40 chuyên gia của Phytorestore để xử lý tại chỗ.  Jacquet cũng thường xuyên làm việc với các nhà quy hoạch đô thị. Khi một khu dân cư mới sắp được xây, ông yêu cầu dành 20% diện tích đất để làm “vườn lọc”, với diện tích đó, bảo đảm xử lý 100% nước thải. “Chi phí cho phương pháp xử lý bằng thực vật rẻ hơn nhiều so với việc xây dựng các nhà máy xử lý nước thải thông thường hiện nay và cảnh quan cũng đẹp hơn,” ông nhấn mạnh.  Xuân Hoài dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một loài côn trùng cần nhiều gene thực vật để tồn tại      Bọ phấn thuốc lá là loài côn trùng phá hoại vụ mùa ở vùng nhiệt đới và hạ nhiệt đới. Sau khi thực hiện nghiên cứu về hệ gene của nó, một nhà nghiên cứu ở INRAE và một nhà nghiên cứu ở CNRS đã nhận diện được 49 gene thực vật đã được truyền sang hệ gene của loài côn trùng này.    Có một số lượng lớn các gene đã được truyền đi giữa các loài thực vật và một loại côn trùng nhưng chưa từng được phát hiện trước đây. Những phát hiện này đã mở ra cánh cửa cho những nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa các loài thực vật và côn trùng, qua đó có thể dẫn đến những đổi mới về phương pháp kiểm soát côn trùng và giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu.  Cuộc chiến giữa thực vật và các động vật ăn chúng đã diễn ra hàng triệu năm và đưa cả hai nhân vật chính này vào một cuộc :chạy đua vũ trang”. Khi loài vật đón nhận được tín hiệu và dựng lên những hàng rào hóa học và vật lý để ngăn cản thì những con côn trùng phát triển các chiến lược khéo léo để tránh những chướng ngại vật này. Nhưng những gene liên quan đến sự thích nghi của côn trùng thi thoảng lại có nguồn gốc đáng ngạc nhiên.  Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy tồn tại sự chuyển hai gene của thực vật vào hệ gene của bọ phấn thuốc lá (Bemisia tabaci), với một gene đã trao cho bọ phấn thuốc lá năng lực trung hòa độc dược do thực vật tạo ra như một cơ chế phòng thủ 1, 2. Bị cuốn hút bởi những nghiên cứu như vậy, hai nhà nghiên cứu – một từ INRAE và một từ CNRS – đã tìm hiểu có bao nhiêu gene thừa hưởng từ thực vật trong hệ gene bọ phấn thuốc lá, vốn đã được giải trình tự đầy đủ vào năm 2016. Nghiên cứu hiện tại của họ đã được xuất bản trên Genome Biology and Evolutio 2.  49 gene thừa hưởng từ thực vật trong hệ gene bọ phấn thuốc lá  Bằng việc thực hiện một phân tích tin sinh học, các nhà nghiên cứu đã nhận diện được nguồn gốc 49 gene thực vật trong bọ phấn thuốc lá từ 24 sự kiện chuyển gene ngang độc lập –  sự di chuyển của vật chất di truyền giữa các tế bào hoặc cơ thể sống cùng thế hệ, còn được gọi là truyền gene theo hàng ngang. Phần lớn các gene này đều chứng tỏ các đặc điểm chức năng, điều đó có nghĩa chúng đều được biểu hiện trong côn trình và có các trình tự với dấu hiệu của áp lực tiến hóa, và vì vây đóng một vai trò tiềm năng trong côn trùng.  Các kết quả nghiên cứu của hai nhà khoa học cũng chứng tỏ là phần lớn các gene được nhận diện, như những gene tham gia vào quá trình tạo các enzyme phá vỡ các thành tế bào, đóng một vai trò mà người ta đã biết trong những mối quan hệ giữa thực vật và các động vật ký sinh của chúng. Điều này dường như phản chiếu kết quả của một quá trình chọn lọc tự nhiên trong các gene thực vật ở côn trùng, có thể cho phép bọ phấn thuốc lá thích ứng với một phạm vi rộng các loại cây cối. Nguồn gốc và cơ chế đằng sau những cuộc chuyển gene đó vẫn còn chưa được rõ nhưng chúng đã diễn ra ở hàng triệu năm trước đây.  Đây là lần đầu tiên người ta nhận diện được nhiều cuộc chuyển gene giữa thực vật và côn trùng. Nghiên cứu này do đó đã mở ra cánh cửa cho nghiên cứu mới về mối liên hệ giữa thực vật – côn trùng cũng như các phương pháp kiểm soát sâu gại. Việc hiểu biết về vai trò của các gene được vận chuyển giữa thực vật và côn trùng có thể còn dẫn đến những giải pháp kiểm soát côn trùng mới dựa trên chọn giống cây trồng, và nhờ vậy giảm thiểu được việc sử dụng thuốc trừ sâu.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-insect-pest-multiple-genes.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/967424  —————————    https://www.cell.com/cell/fulltext/S0092-8674(21)00164-1?_returnURL=https%3A%2F%2Flinkinghub.elsevier.com%2Fretrieve%2Fpii%2FS0092867421001641%3Fshowall%3Dtrue  https://www.nature.com/articles/s41598-020-72267-1  https://academic.oup.com/gbe/advance-article/doi/10.1093/gbe/evac141/6717574?login=false      Author                .        
__label__tiasang Một loại peptide có tiềm năng điều trị Alzheimer      Các nhà khoa học thần kinh MIT mới tìm thấy một cách để đảo ngược quá trình suy giảm thần kinh và các triệu chứng khác của bệnh Alzheimer bằng việc gây ảnh hưởng với một enzyme bị kích hoạt quá mức trong não của các bệnh nhân Alzheimer.    Khi các nhà nghiên cứu nghiên cứu trên chuột với một peptide có khả năng ngăn một phiên bản kích hoạt quá mức của một enzyme tên là CDK5, họ phát hiện ra sự suy giảm đáng kể của thần kinh và phá hủy DNA trong não bộ. Những con chuột này cũng chứng tỏ những cải thiện về năng lực trong thực hiện các nhiệm vụ như học định vị trong mê cung nước.  “Chúng tôi tìm thấy hiệu ứng của peptide thật khác thường”, Li-Huei Tsai, giám đốc của Viện Nghiên cứu và Trí nhớ Picower MIT và là tác giả chính của nghiên cứu nói. “Chúng tôi thấy các hiệu ứng tuyệt vời theo nghĩa giảm được sự suy giảm thần kinh và các phản hồi viêm thần kinh, và thậm chí là cả những thiếu hụt trong hành xử cứu nguy khỏi tình huống nguy hiểm”.  Với những thử nghiệm tiếp theo, các nhà khoa học hy vọng là loại peptide cuối cùng có thể được coi như một phương thức điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer và các dạng bệnh khác của sa sút trí tuệ mà có sự kích hoạt quá mức của CDK5. Loại peptide này không hề gây trở ngại cho CDK1, một enzyme thiết yếu có cấu trúc tương tự CDK5, và nó tương đồng về kích thước với các loại thuốc peptide khác vẫn được sử dụng cho các ứng dụng lâm sàng.  Nhà nghiên cứu Ping-Chieh Pao của Viện Picower là tác giả thứ nhất của bài báo, xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Sciences.  Hướng đích CDK5    Tsai từng nghiên cứu về vai trò của CDK5 trong bệnh Alzheimer và những bệnh suy giảm thần kinh khác từ khi bắt đầu sự nghiệp. Khi làm postdoc, cô phân lập và sao chép gene CDK5, vốn mã hóa một dạng enzyme có vai trò như một kinase phụ thuộc cyclin. Phần lớn những kinase phụ thuộc cyclin cũng tham gia kiểm soát sự phân chia tế bào nhưng CDK5 thì không. Thậm chí, nó đóng vai trò quan trọng sự phát triển của hệ thần kinh trung ương và cũng giúp điều hành chức năng của synap.    CDK5 hoạt động qua tương tác với một protein nhỏ hơn là P35. Khi P35 liên kết với CDK5, cấu trúc của enzyme này thay đổi, cho phép nó hướng phosphorylate – thêm một phân tử phosphate – đến đích của chúng. Tuy nhiên với các bệnh Alzheimer và những bệnh suy giảm thần kinh khác, P35 tách thành một protein nhỏ hơn là P25, vốn có thể liên kết với CDK5 nhưng có thời gian sống dài hơn P35.    Khi liên kết với P25, CDK5 hoạt động tích cực hơn trong các tế bào. P25 cũng cho phép CDK5 đến các phân tử phosphorylate hơn các đích đến thông thường khác, bao gồm protein Tau. Các protein Tau liên kết hyperphosphorylate hình thành các dạng rối loạn thần kinh, một trong những đặc trưng của bệnh Alzheimer.    Trong công trình trước, phòng thí nghiệm của Tsai đã cho thấy chuột chuyển gene được chỉnh sửa để biểu hiện P25 phát triển sự sa sút thần kinh. Ở người, P25 liên kết với nhiều chứng bện khác, bao gồm không chỉ Alzheimer mà còn Parkinson và sa sút trí tuệ tiền đình thái dương (frontotemporal dementia).    Các công ty dược phẩm đã cố gắng hướng đích P25 với thuốc phân tử nhỏ nhưng các loại thuốc này có xu hướng dẫn đến những tác dụng phụ bởi vì chúng liên quan đến các một kinase phụ thuộc cyclin khác, vì vậy không loại thuốc nào được thử nghiệm lâm sàng trên người bệnh cả.    Nhóm nghiên cứu MIT quyết định lựa chọn một cách tiếp cận khác biệt để hướng đích P25 bằng việc dụng một peptide thay vì một phân tử nhỏ. Họ thiết kế peptide của mình với một chuỗi được nhận diện là một đoạn CDK5 mà người ta gọi là vòng T, một tới hạn cấu trúc để gắn CDK5 vào P25. Toàn bộ peptide này chỉ có độ dài 12 amino acids – chỉ suýt soát dài hơn các loại thuốc peptide có độ dài từ 5 đến 10 amino acids.    “Từ góc độ bản chất của thuốc peptide, thông thường nhỏ hơn thì tốt hơn”, Tsai nói. “Peptide của chúng tôi hầu như nằm trong kích thước phân tử lý tưởng”.    Những hiệu ứng đáng kinh ngạc    Trong các thử nghiệm về sự tăng trưởng neuron trên đĩa Petri ở phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu phát hiện ra việc điều trị bằng peptide sẽ dẫn đến một sự suy giảm điều độ trong hoạt động của CDK5. Những thử nghiệm đó cũng chứng tỏ là loại peptide không ức chế phức hợp CDK5-P35 thông thường, hay ảnh hưởng đến các kinase phụ thuộc cyclin.    Khi các nhà nghiên cứu thử nghiệm peptide này trong một mô hình chuột mắc bệnh Alzheimer có CDK5 siêu hoạt động, họ thấy vô số những hiệu ứng có lợi, bao gồm việc giảm thiểu sự hủy hoại DNA, viêm nhiễm thần kinh và sự mất mát neuron. Những hiệu ứng này  cũng thể hiện tốt trong các nghiên cứu trên chuột hơn thí nghiệm trên các tế bào nuôi cấy.    Điều trị bằng loại peptide này cũng đem lại những cải thiện đáng kinh ngạc trong một mô hình chuột mắc Alzheimer khác biệt, vốn có một hình thức đột biến của protein Tau có thể dẫn đến các rối thần kinh. Sau điều trị, những con chuột chứng tỏ sự suy giảm trong các phương pháp Tau và mất mát neuron. Cùng với những hiệu ứng đó trong não bộ, các nhà nghiên cứu cũng quan sát các cải thiện hành vi. Chuột được điều trị bằng peptide này thể hiện tốt hơn nhiều trong một nhiệm vụ đòi hỏi nghiên cứu để định vị trong một mê lộ nước, vốn đòi hỏi trí nhớ về không gian, hơn là chuột được điều trị bằng một peptide kiểm soát (một phiên bản khác của peptide này nhưng có chức năng ức chế CDK5-P25).    Trong các nghiên cứu về chuột, các nhà nghiên cứu tiêm peptide này và phát hiện ra nó có thể vượt qua các rào cản máu não, chạm đến các neuron hồi hải mã cũng như các phần khác của não bộ.    Các nhà nghiên cứu cũng phân tích sự thay đổi trong biểu hiện gene xuất hiện trong neuron chuột tiếp theo điều trị với peptide. Cùng với những thay đổi này, họ quan sát đã làm gia tăng biểu hiện của 20 gene hoạt động trong một nhóm điều chỉnh gene gọi là MEF2. Phòng thí nghiệm của Tsai trước đây đã từng chứng tỏ là việc kích hoạt MEF2 của các gene này có thể mang lại khả năng phục hồi nhận thức trong não bộ của những người bị rối loạn protein Tau, và cô đặt giả thuyết là việc điều trị bằng peptide này có thể có hiệu quả tương tự.    “Việc phát triển thêm nhiều loại ức chế peptide sẽ tạo ra những phương pháp điều trị mới, nếu chứng tỏ được khả năng lựa chọn đích và không có hiệu ứng phụ liên quan, có thể cuối cùng đem lại một phạm vi khả năng điều trị các bệnh suy giảm thần kinh như từ bệnh Alzheimer đến sa sút trí tuệ tiền đình thái dương, Parkinson”, Stuart Lipton, một giáo sư khoa học thần kinh tại Viện Scripps, người không làm nghiên cứu.    Tsai hiện tại lên kế hoạch thực hiện các nghiên cứu tiếp theo trên các mô hình chuột mắc bệnh suy giảm thần kinh liên quan đến P25, như sa sút trí tuệ tiền đình thái dương, sa sút trí tuệ liên quan đến HIV, và sự kết hợp suy giảm nhận thức liên quan đến tiểu đường.    “Thật khó để nói chính xác những nghiên cứu đó sẽ đem lại lợi ích cho loại bệnh nào, vì vậy tôi nghĩ cần rất nhiều việc phải làm”, cô nói.    Thanh Đức tổng hợp    Nguồn: https://news.mit.edu/2023/new-peptide-may-hold-potential-alzheimers-treatment-0413#:~:text=The%20peptide%20blocks%20a%20hyperactive,in%20Alzheimer’s%20and%20other%20diseases.    https://medicalxpress.com/news/2023-04-peptide-potential-alzheimer-treatment.html    Author                .        
__label__tiasang Một loại thuốc mới chống béo phì, có thể làm giảm 24 kg      Trong bối cảnh ngày càng nhiều người muốn giảm cân, trên thị trường liên tục xuất hiện các chất hữu hiệu mới. Theo các chuyên gia một kỷ nguyên mới về điều trị bệnh quá cân đã xuất hiện.     Tiêm thuốc Tirzepatid một tuần một lần chống béo phì. Ảnh: Getty Images/Guido Mieth  Nhà sản xuất dược phẩm Hoa Kỳ Lilly mới đây đã công bố một kết quả nghiên cứu, nhưng mãi gần đây công chúng mới hiểu về tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu này. Hơn 2.500 người, nặng trung bình trên dưới 100 kg, đã dùng hoạt chất mới phát triển tirzepatid mỗi tuần một lần trong 72 tuần. Họ được tiêm thuốc giống như các bệnh nhân tiểu đường. Tất cả những người tham gia đều được giám sát chặt chẽ, tư vấn về chế độ ăn uống và tập thể dục. Cuối cùng, những người tiêm giả dược giảm bình quân 2 kg, những người tiêm tirzepatid giảm trung bình 24 kg.  Kết quả này gây ngạc nhiên với giới bác sỹ và các nhà nghiên cứu về bệnh béo phì. Họ coi đây là “tiến bộ y học quan trọng” và chắc chắn sẽ dẫn đến sự thay đổi cách điều trị bệnh béo phì.  Cứ 4 người trưởng thành ở Đức thì có 1 người bị coi là béo phì, tức là chỉ số khối cơ thể (BMI) của họ trên 30. Tỷ lệ này trên toàn thế giới là 13% và xu hướng này đang tăng lên. Béo phì liên quan đến nhiều loại bệnh, bao gồm tiểu đường, rối loạn lipid máu, huyết áp cao, bệnh tim mạch, tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ, gan nhiễm mỡ, tổn thương khớp gối và vô sinh. Người ta ước tính có khoảng năm triệu người chết sớm mỗi năm vì thừa cân.  Cho đến nay để giảm cân người ta thường phải thay đổi chế độ ăn uống và tăng cường vận động, tập thể dục nhiều hơn. Tuy nhiên dù tập luyện đến mấy, mọi người thường chỉ giảm được tối đa 10 kg, nhưng sau ít năm cơ thể hay bị béo phì trở lại. Do đó bác sỹ Blüher, chuyên gia về bệnh béo phì, khuyên những người quá béo nên có can thiệp về phẫu thuật, chẳng hạn như thu nhỏ dạ dày. Lựa chọn thứ ba, nhẹ nhàng hơn là liệu pháp điều trị bằng thuốc, hầu như ít được sử dụng. Trong những thập niên vừa qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.  Điều này gần đây có thay đổi. Đầu tháng 11 năm ngoái, nhà sản xuất dược phẩm Đan Mạch Novo Nordisk đã công bố một nghiên cứu, theo đó những đối tượng thử nghiệm thừa cân nghiêm trọng sử dụng hoạt chất semaglutide đã giảm trung bình 15 kg. Đầu năm nay, semaglutide đã được phê duyệt ở châu Âu để điều trị bệnh béo phì, nhưng loại thuốc tương ứng vẫn chưa có sẵn. Với tirzepatid, kết quả hiện đã được thông qua và dự kiến sẽ được phê duyệt vào cuối năm 2022.  Cả hai hoạt chất này đều bắt chước cấu trúc hóa học và tác dụng của các hormone tự nhiên được thải ra từ ruột sau khi ăn. Các hormone đường ruột này, được gọi là “incretins”, liên kết với các thụ thể phù hợp chính xác ở nhiều nơi trong cơ thể và gây ra nhiều hiệu ứng khác nhau. Trong não, chúng ngăn chặn sự thèm ăn, trong dạ dày, chúng làm chậm quá trình rỗng, và trong tuyến tụy, chúng thúc đẩy việc giải phóng insulin.  Cả semaglutide và tirzepatide đều thực sự là những loại thuốc điều trị tiểu đường mạnh. Tuy nhiên, ngay từ đầu, chúng đã tiết lộ một tác dụng thứ hai rất được nhiều người hoan nghênh: bệnh nhân tiểu đường giảm được vài kg ngay cả khi dùng liều thấp. Cả hai thành phần hoạt tính cũng có thể được sử dụng bởi những người không mắc bệnh tiểu đường, vì chúng không làm giảm thêm lượng đường trong máu bình thường.  Hơn 50 tuyến tín hiệu điều chỉnh sự thèm ăn  Ý tưởng về một phân tử có chức năng kép như vậy ban đầu đến từ nhà nội tiết học người Đức Matthias Tschöp, hiện là giám đốc của Trung tâm Helmholtz ở Munich. Một kinh nghiệm quan trọng đối với Tschöp là việc phát hiện ra hormone leptin vào năm 1994: “Điều đó đã thay đổi mọi thứ.” Các tế bào mỡ trong cơ thể giải phóng Leptin, báo hiệu lên não cảm giác no.  Tschöp sau đó đã giải mã tầm quan trọng của ghrelin, một loại hormone gây đói khác. Đây là lần đầu tiên người ta xác định được phân tử truyền tín hiệu trong cơ thể thôi thúc con người ăn nhiều. Tuy nhiên việc hấp thụ thực phẩm trong cơ thể con người được điều chỉnh bằng vô số tuyến tín hiệu phức tạp, cho đến nay đã xác định được trên 50 tuyến tín hiệu như vậy.  Tschöp cộng tác với chuyên gia về hóa học Richard DiMarchi thuộc Indiana University, một nhà nghiên cứu hàng đầu về các phân tử nhân tạo giống hormon. Thách thức đầu tiên là các hoạt chất mới này không được có tác dụng phụ xấu và phải có độ bền vững cao hơn hormon có trong tự nhiên. Bởi vì trong khi các hormone được cơ thể tiết ra liên tục thì các biến thể đã được sửa đổi, chỉ cần tiêm chúng vào máu mỗi tuần một lần là đủ.  Năm 2009, thời điểm đã đến: Tschöp và DiMarchi lần đầu tiên giới thiệu một phân tử có tác dụng kép làm giảm đáng kể tình trạng béo phì ở động vật và giảm đáng kể lượng đường trong máu. Bốn năm sau, họ công bố một khám phá mang tính đột phá, một phân tử tương tự. Nó bắt chước tác động của các chất inkretin GIP và GLP-1 của cơ thể.  Hoạt chất GIP / GLP-1 đầu tiên có tên tirzepatid hiện đã mang lại cho Lilly một bước đột phá đáng kinh ngạc. Quá trình phát triển vẫn chưa kết thúc. Các biến thể phân tử từ các công ty dược phẩm khác, cũng được phát hiện bởi Tschöp và DiMarchi, hiện đang được thử nghiệm lâm sàng. Chúng bao gồm các thành phần hoạt tính thậm chí bắt chước ba loại hormone đường ruột cùng một lúc và dường như còn mang lại hiệu quả cao hơn.  Tuy nhiên, các loại thuốc điều trị béo phì mới có một số tác dụng phụ khó chịu. Nhiều bệnh nhân thời gian đầu có cảm giác buồn nôn, một số nôn mửa. Có cảm giác đầy bụng và tiêu chảy. Ở hầu hết người bệnh sau vài ba tuần các cảm giác này mất đi, tuy nhiên khoảng 6% người bệnh phải ngừng điều trị bằng tirzepatide vì các tác dụng phụ.  Bên cạnh đó, hiện tại chi phí điều trị quá tốn kém, mỗi tháng hết trên 1000 euro.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: 24 Kilo weniger – so gut wirkt das neue Medikament gegen Übergewicht    Author                .        
__label__tiasang Một lược sử về dầu cọ      Dù liên quan đến nạn bóc lột lao động, nạn phá rừng ở Đông Nam Á, nhưng dầu cọ vẫn là nguồn chất béo được sử dụng nhiều nhất trên thế giới.        Quả cọ dầu ở Bắc Aceh, Indonesia. Ảnh: Fachrul Reza / Barcroft Media via Getty Images    Ngày nay, dầu cọ hiện hữu ở khắp mọi nơi: trong thực phẩm, xà phòng, son môi, thậm chí cả mực báo in. Nó được mệnh danh là loại cây trồng bị ghét nhất thế giới vì liên quan đến nạn phá rừng ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, bất chấp các chiến dịch tẩy chay, thế giới vẫn sử dụng dầu cọ nhiều hơn bất kỳ loại dầu thực vật nào khác – hơn 73 triệu tấn vào năm 2020. Đó là vì dầu cọ rẻ. Loại cây tạo ra thứ dầu này là cây cọ dầu châu Phi – có thể sản xuất lượng dầu trên một hecta nhiều gấp 10 lần so với đậu nành.      Nhưng như những gì tôi* đã trình bày trong cuốn sách mới về lịch sử dầu cọ của mình, mặt hàng gây tranh cãi này không phải lúc nào cũng rẻ. Nó trở nên rẻ như vậy là nhờ vào di sản của chủ nghĩa thực dân và nạn bóc lột – những thứ vẫn còn định hình ngành công nghiệp ngày nay, và điều đó đã khiến con đường biến dầu cọ trở thành mặt hàng bền vững trở nên khó khăn hơn.       Trên những chuyến thuyền buôn bán nô lệ     Dầu cọ từ lâu đã trở thành loại thực phẩm chính ở khu vực trải dài từ Senegal đến Angola dọc theo bờ biển phía tây châu Phi. Nó tham gia vào nền kinh tế toàn cầu những năm 1500, trên những con tàu buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Trên hành trình chết chóc băng qua Đại Tây Dương, dầu cọ là loại thực phẩm quý giá giúp giữ cho những người bị giam cầm sống sót. Như một cuốn sách vào năm 1711 đã lưu ý, các thương nhân cũng bôi dầu cọ lên da của những người bị bắt để khiến họ “trông mịn màng, bóng khỏe và trẻ trung” trước khi gửi họ đến phiên đấu giá.      Vào giữa những năm 1600, người châu Âu cũng thoa dầu cọ lên da của mình. Các nhà văn châu Âu lúc bấy giờ đã học hỏi các phương pháp y học châu Phi, và tuyên bố rằng dầu cọ “có tác dụng chữa bệnh hiệu quả, chẳng hạn như các vết bầm tím hoặc biến dạng trên cơ thể”. Vào những năm 1790, các doanh nghiệp ở Anh đã thêm dầu cọ vào xà phòng để nó có màu cam đỏ và hương thơm như hoa violet.      Năm 1807, nước Anh bãi bỏ nạn buôn bán nô lệ. Trong những thập kỷ tiếp theo, Anh đã cắt giảm thuế đối với dầu cọ và khuyến khích các quốc gia châu Phi tập trung vào sản xuất dầu cọ. Đến năm 1840, dầu cọ đã đủ rẻ để thay thế hoàn toàn mỡ động vật hoặc dầu cá voi trong các sản phẩm như xà phòng và nền.       Khi dầu cọ ngày càng phổ biến, nó đã đánh mất danh tiếng là một mặt hàng xa xỉ. Các nhà xuất khẩu đã khiến nó thậm chí còn rẻ hơn bằng cách áp dụng phương pháp tiết kiệm lao động – để trái cọ lên men và mềm đi, mặc dù kết quả là khiến nó có mùi ôi. Lúc này, những người mua hàng từ châu Âu đã áp dụng các quy trình hóa học mới nhằm loại bỏ mùi hôi và màu sắc. Kết quả là dầu cọ đã có thể hoàn toàn thay thế các loại dầu và mỡ đắt tiền hơn.       Chủ nghĩa thực dân     Đến năm 1900, một ngành công nghiệp mới đã khai thác tất cả các loại dầu: Bơ thực vật (margarine). Nhà hóa học người Pháp Hippolyte Mège-Mouriès đã phát minh ra bơ thực vật vào năm 1869 như một chất thay thế rẻ tiền cho bơ sữa (butter). Nó nhanh chóng trở thành một nguyên liệu chính trong khẩu phần ăn của tầng lớp lao động ở châu Âu và Bắc Mỹ.      Đầu tiên, dầu cọ được sử dụng để nhuộm vàng bơ thực vật, nhưng rồi nhà sản xuất nhận ra nó có thể trở thành một thành phần chính hoàn hảo, vì nó giúp bơ giữ được độ cứng ở nhiệt độ phòng và tan chảy khi đưa vào miệng, hệt như bơ sữa.      Các ông trùm trong ngành công nghiệp bơ thực vật và xà phòng như William Lever của Anh đã nhắm đến các thuộc địa của châu Âu ở châu Phi để sản xuất một lượng lớn dầu cọ tươi hơn, ăn được. Tuy nhiên, những cộng đồng ở châu Phi thường từ chối cho thuê hoặc bán đất canh tác cho các công ty nước ngoài vì làm dầu thủ công vẫn mang lại lợi nhuận cho họ. Những nhà sản xuất dầu thuộc địa đã nhờ đến chính phủ ‘ra tay’ nhằm giải quyết việc này.           Hãng Lever ra mắt xà phòng Sunlight có màu từ dầu cọ vào những năm 1880. Ảnh: SSPL vis Getty Images    Ở Đông Nam Á, mọi việc có phần dễ dàng hơn, họ đã tạo ra một ngành công nghiệp trồng cọ dầu mới. Những nhà cai trị ở đó đã cho phép các công ty sử dụng đất đai gần như không giới hạn. Các công ty đã thuê “cu li” (coolies) – một từ miệt thị của người châu Âu nhằm ám chỉ người lao động nhập cư từ miền nam Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc. Những người lao động này làm việc dưới các điều kiện phân biệt đối xử, tiền lương rẻ mạt và hợp đồng cưỡng bức.   Bản thân cây cọ dầu cũng thích nghi với xứ sở mới của nó. Trong khi những cây cọ ở các trang trại châu Phi mọc rải rác và cao ngất ngưởng, thì ở châu Á, chúng sinh trưởng trong các đồn điền, mọc có trật tự, dễ thu hoạch hơn. Đến năm 1940, các đồn điền ở Indonesia và Malaysia đã xuất khẩu nhiều dầu cọ hơn toàn bộ châu Phi.       Bức tranh “Sản xuất dầu cọ” (1844) của Édouard Auguste Nousveaux. Nguồn: Metropolitan Museum of Art     Tặng vật quý như vàng?     Sau Thế chiến Thứ Hai, khi Indonesia và Malaysia giành được độc lập, các công ty vẫn sử dụng đất đai với giá rẻ. Các nhà chức trách Indonesia gọi dầu cọ – ngành trồng trọt đang phát triển nhanh chóng của họ – là “tăng vật quý như vàng cho nhân loại”.       Tiêu thụ dầu cọ tăng lên và khi những loại dầu cạnh tranh khác bị loại bỏ dần: đầu tiên là dầu cá voi vào những năm 1960, sau đó là các chất béo như mỡ động vật và mỡ lợn. Trong những năm 1970 và 1980, những lo ngại về sức khỏe khi sử dụng các loại dầu nhiệt đới như dầu dừa và dầu cọ đã khiến nhu cầu ở châu Âu và Bắc Mỹ giảm hẳn. Nhưng các nước đang phát triển vẫn sử dụng dầu cọ thường xuyên để chiên và nướng.      Các nhà sản xuất đã mở rộng những đồn điền để đáp ứng nhu cầu. Họ giảm chi phí bằng cách tuyển dụng lao động nhập cư giá rẻ và thường không có giấy tờ từ Indonesia, Philippines, Bangladesh, Myanmar và Nepal – chẳng khác gì nạn bóc lột đã diễn ra từ thời thuộc địa.        Hai người làm đang gánh một chùm quả cọ dầu lớn ở một đồn điền tại Sumatra vào khoảng năm 1922. Ảnh:  J.W. Meijster, Royal Netherlands Institute of Southeast Asian and Caribbean Studies     Trong những năm 1990, các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ và EU đã cấm sử dụng chất béo trans (trans fat) không lành mạnh trong thực phẩm. Các nhà sản xuất đã chuyển sang sử dụng dầu cọ như một chất thay thế rẻ mà hiệu quả. Từ năm 2000 đến năm 2020, nhập khẩu dầu cọ của EU đã tăng hơn gấp đôi, trong khi lượng nhập khẩu của Mỹ tăng gần gấp 10 lần. Nhiều người tiêu dùng thậm chí không nhận thấy bước chuyển thay thế này.       Vì dầu cọ quá rẻ nên các nhà sản xuất đã tìm kiếm những công dụng mới cho nó, chẳng hạn như thay thế các hóa chất gốc dầu mỏ có trong xà phòng và mỹ phẩm. Nó cũng trở thành nguyên liệu cơ bản cho dầu diesel sinh học ở châu Á, mặc dù nghiên cứu cho thấy việc sản xuất diesel sinh học từ cây cọ sinh trưởng trên khu vực đất mới khai hoang sẽ làm tăng lượng khí thải nhà kính thay vì giảm chúng.      EU đang loại bỏ dần nhiên liệu sinh học từ dầu cọ vì lo ngại về nạn phá rừng. Ngược lại, Indonesia vẫn đang nỗ lực tăng thành phần cọ trong dầu diesel sinh học của mình – sản phẩm mà nước này quảng cáo là “Green Diesel”, cũng như phát triển các loại nhiên liệu sinh học khác từ cọ.      Tẩy chay hay cải thiện?     Ngày nay, có đủ đồn điền trồng dầu cọ trên toàn thế giới mà tổng diện tích thậm chí còn lớn hơn bang Kansas, và ngành công nghiệp này vẫn đang tiếp tục phát triển. Nó tập trung chủ yếu ở châu Á, nhưng các đồn điền cũng đang mở rộng ở châu Phi và Mỹ Latinh. Một cuộc điều tra năm 2019 với một công ty ở Cộng hòa Dân chủ Congo đã cho thấy các dấu hiệu về điều kiện làm việc nguy hiểm cũng như hành vi lạm dụng lao động – hệt như những ngành công nghiệp dầu cọ thời thuộc địa.        Điều này còn ảnh hưởng đến đời sống của động vật. Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), việc chặt phá rừng nhiệt đới để trồng cọ dầu đang đe dọa gần 200 loài có nguy cơ tuyệt chủng, bao gồm đười ươi, hổ và voi rừng châu Phi.      Tuy nhiên, IUCN và nhiều nhà vận động khác cho rằng việc chuyển sang dùng dầu khác thay thế dầu cọ không phải là câu trả lời. Vì cây cọ dầu có năng suất cao nên việc chuyển sang các cây có cầu khác thậm chí có thể gây hại nhiều hơn, vì việc này đòi hỏi nhiều đất đai hơn để trồng các loại cây thay thế.      Có nhiều phương pháp bền vững hơn để trồng dầu cọ. Các nghiên cứu cho thấy rằng những kỹ thuật nông lâm kết hợp quy mô nhỏ, giống như những kỹ thuật từng được áp dụng trước đây ở châu Phi và trong các cộng đồng hậu duệ Afro ở Nam Mỹ, mang lại hiệu quả về chi phí trong sản xuất đồng thời bảo vệ môi trường.      Câu hỏi đặt ra là, liệu người tiêu dùng có quan tâm đến điều này? Hội nghị bàn tròn về Dầu cọ Bền vững – một tổ chức phi lợi nhuận bao gồm các nhà sản xuất và chế biến cọ dầu, nhà sản xuất hàng tiêu dùng, nhà bán lẻ, ngân hàng và các nhóm vận động – đã cấp chứng nhận cho hơn 20% dầu cọ được sản xuất vào năm 2020. Nhưng chỉ một nửa trong số dầu cọ đó bán được – điều này cho thấy số người mua sẵn sàng trả một khoản phí bảo đảm sự bền vững vẫn còn rất ít. Chừng nào điều này chưa thay đổi, các cộng đồng và hệ sinh thái dễ bị tổn thương sẽ còn gánh chịu cái giá để thu được dầu cọ giá rẻ.       (*) Tác giả bài viết là Jonathan E. Robins, Phó Giáo sư Lịch sử Toàn cầu, Đại học Công nghệ Michigan     Hà Trang dịch     Nguồn: How palm oil became the world’s most hated, most used fat source    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một lý thuyết mới về siêu dẫn có thể thúc đẩy máy tính lượng tử      Một nhà khoa học tại Phòng vật lý chất rắn lượng tử, trường đại học Tsukuba đã hình thành một lý thuyết mới về siêu dẫn. Trên cơ sở tính toán “kết nối Berry”, mô hinh này giúp giải thích những kết quả thực nghiệm mới tốt hơn lý thuyết hiện hành.    Công trình này có thể cho phép các lưới điện tương lai truyền điện mà không mất mát điện năng.  Siêu dẫn là thứ vật liệu vô cùng hấp dẫn nhưng nó khó thể thể hiện được đặc tính khác thường của mình ở điều kiện thông thường. Ở mức nhiệt độ thấp, nó mới cho phép dòng điện truyền qua với mức điện trở bằng không. Có rất hiều ứng dụng của siêu dẫn như truyền năng lượng không bị tiêu hao nhưng những vấn đề vật lý ẩn dấu sau quá trình này vẫn còn chưa được hiểu rõ ràng. Cách nghĩ về việc chuyển từ trạng thái bình thường sang siêu dẫn được gọi là lý thuyết Bardeen-Cooper-Schrieffer (BCS). Trong mô hình này, miễn là các kích thích nhiệt được giữ ở mức đủ nhỏ, các hạt có thể hình thành “các cặp Cooper” vận chuyển cùng nhau và giữ cho không bị tán xạ. Tuy nhiên, mô hình BCS lại chưa giải thích được một cách đầy đủ về mọi dạng siêu dẫn, vốn giới hạn năng lực của chúng ta trong việc tạo ra các vật liệu siêu dẫn có hiệu lực hoạt động tại nhiệt độ phòng.    Hiện tại, một nhà khoa học tại trường đại học Tsukuba đã đưa ra một mô hình cho siêu dẫn, giúp hiểu tốt hơn về các nguyên tắc vật lý của nó. Thay vì tập trung vào cặp tích điện, lý thuyết mới này sử dụng công cụ toán học là ‘kết nối Berry’. Giá trị này tính toán một không gian xoắn nơi các điện tích di chuyển. “Trong lý thuyết BCS tiêu chuẩn, nguồn gốc của siêu dẫn là các cặp điện tích. Còn trong lý thuyết này, siêu dòng điện được nhận diện như dòng chảy không tiêu tán của các điện tích kết cặp trong khi các điện tích đơn lẻ vẫn còn ‘nếm mùi’ điện trở”, giáo sư Hiroyasu Koizumi nói. Ông là tác giả chính của công bố “Superconductivity by Berry Connection from Many-body Wave Functions: Revisit to Andreev−Saint-James Reflection and Josephson Effect” (Siêu dẫn bởi kết nối Berry từ các hàm sóng hệ nhiều hạt: trở lại với phản xạ Andreev−Saint-James và hiệu ứng Josephson) xuất bản trên tạp chí Journal of Superconductivity and Novel Magnetism 1.  Như một bản đồ họa, các khớp nối Josephson được hình thành khi hai lớp siêu dẫn bị phân tách bởi một vật cản mỏng làm từ kim loại thông thường hoặc một cái cách điện. Dẫu được sử dụng rộng rãi trong các máy dò từ trường siêu chính xác và máy tính lượng tử, các khớp nối Josephson lại không phù hợp với lý thuyết BCS. “Trong lí thuyết mới, vai trò của cặp điện tích bền so với kết nối Berry, trái với việc tự nó là nguyên nhân dẫn đến siêu dẫn, và siêu dòng điện là dòng chảy của các điện tích đơn và điện tích kết cặp sinh ra tùy thuộc vào việc xoắn không gian nơi các điện tích di chuyển là nguyên nhân dẫn đến kết nối Berry”, giáo sư Koizumi nói. Do đó, nghiên cứu này có thể dẫn đến việc thúc đẩy sự ra đời của các máy tính lượng tử cũng như bảo tồn năng lượng.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-theory-superconductivity.html  https://middleeast.in-24.com/technology/66701.html  ——–  1. https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs10948-021-05905-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một máy dò cho cả ngàn màu sắc      Các quang phổ kế được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp và nghiên cứu để dò và phân tích ánh sáng. Chúng đo đạc phổ ánh sáng – cường độ và các bước sóng khác nhau, giống như màu sắc trong một cái cầu vồng – và là một công cụ thiết yếu cho nhận diện và phân tích các màu và vật liệu.     Các quang phổ kế nhỏ gọn tích hợp trên con chip có thể đem lại lợi ích to lớn với nhiều công nghệ khác nhau, bao gồm các nền tảng kiểm tra chất lượng, cảm biến an ninh, các thiết bị phân tích y sinh, các hệ thống chăm sóc sức khỏe, các công cụ giám sát môi trường và kính viễn vọng không gian.  Một nhóm nghiên cứu quốc tế do các nhà nghiên cứu tại trường đại học Aalto dẫn dắt đã phát triển các quang phổ kế siêu nhạy với độ chính xác bước sóng cao, độ phân giải phổ cao và chiều rộng dải tần vận hành trên phạm vi rộng bằng việc sử dụng duy nhất một máy dò có kích thước vi chip.  Nghiên cứu đằn sau máy quang phổ siêu nhỏ mới này đã được xuất bản trên tạp chí Science.  “Quang phổ kế máy dò của chúng tôi là một thiết bị ‘nhiều trong một’. Chúng tôi thiết kế ‘phòng thí nghiệm quang điện tử trên con chip’ này với trí tuệ nhân tạo thay thế phần cứng thông thường, như các thành phần cơ và quang. Do đó, quang phổ kế tính toán của chúng tôi không cần đến các thành phần có kích thước lớn riêng biệt hay các thiết kế dãy để tán sắc và lọc ánh sáng nữa. Nó có thể đạt tới độ phân giải cao có thể so với các hệ có kích thước lớn và không thể thu nhỏ hơn”, Hoon Hahn Yoon, một postdoc cho biết.  “Với quang phổ kế của mình, chúng tôi có thể đo đạc cường độ ánh sáng tại từng bước sóng vượt quá cả phổ khả kiến bằng việc sử dụng một thiết bị có thể đặt gọn trên đầu ngón tay. Thiết bị này có thể kiểm soát về điện năng, vì vậy có tiềm năng vô cùng lớn cho việc tích hợp và thay đổi kích cỡ. Sự tích hợp nó vào một thiết bị mang theo người như điện thoại thông minh và hay xách tay như các drone có thể đem lại nhiều lợi ích cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Hãy tương tượng là thế hệ tiếp theo của các camera điện thoại của chúng ta có thể là các camera siêu phổ vượt trội camera thông thường về màu sắc”, anh cho biết thêm.  Thu nhỏ kích cỡ của các quang phổ kế tính toán là điều thiết yếu để sử dụng chúng trong những con chip và các ứng dụng cấy ghép. Giáo sư Zhipei Sun, người dẫn dắt nhóm nghiên cứu, nói, “Các quang phổ kế thông thường hiện có kích thước lớn bởi vì chúng cần các thành phần cơ và quang, vì vậy các ứng dụng trên con chip vô cùng giới hạn. Có một nhu cầu đang xuất hiện trong lĩnh vực này là cải thiện các quang phổ kế về hiệu suất và tính khả dụng. Từ quan điểm này, các quang phổ kế tối giản hết sức quan trọng để đem đến hiệu suất cao và những chức năng mới trong tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghiệp”.  Giáo sư Pertti Hakonen, một thành viên chính của nhóm nghiên cứu này, cho biết thêm “Phần Lan và chính Aalto đã đầu tư vào nghiên cứu quang tử trong những năm gần đây, ví dụ như có những hỗ trợ rất lớn từ Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về công nghệ lượng tử của Viện Hàn lâm Khoa học Phần Lan, sáng kiến Nghiên cứu và đổi mới quang tử, InstituteQ, và Cơ sở hạ tầng Otanano. Quang phổ kế của chúng tôi là một bằng chứng rõ ràng về thành công của những nỗ lực hợp tác đó. Tôi tin là với những cái thiện hơn nữa về độ phân giải và hiệu quả, các quang phổ kế này có thể là những công cụ mới cho các bộ xử lý thông tin lượng tử trong tương lai”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-hidden-visual-all-in-one-detector-thousands.html  https://www.miragenews.com/all-in-one-detector-for-thousands-of-colors-879090/    Author                .        
__label__tiasang Một máy in cho cả thế giới      Chuck Hull là người đầu tiên đưa ra ý tưởng  kỳ diệu về công nghệ in 3D nhưng phát minh của ông đã không tìm được nhà  đầu tư. Tự mình đứng ra thành lập doanh nghiệp, 3D Systems của ông đã  trải qua biết bao thăng trầm trước khi luôn đứng hàng đầu trên thị  trường thế giới về in 3D.     Bạn muốn có một pho tượng bán thân nhỏ của người vợ yêu mến ở dạng 3D? Bạn định dùng chất liệu nhựa với nhiều mầu sắc hay là làm bằng kim loại sáng bóng để dùng pho tượng làm cái chặn giấy? Hay làm tượng đức lang quân bằng sô-cô-la để có thể nhấm nháp?   Nhờ thành quả lao động của nhà sáng chế người Mỹ Charles W. Hull, thường gọi là Chuck, những mong muốn này giờ đây có thể dễ dàng thực hiện. Chuck là người đặt nền móng cho công nghệ sản xuất máy in 3D có tính cách mạng. Cho đến nay, ông là người có trên 30 bằng sáng chế liên quan đến công nghệ in 3D và cũng nhờ thành tích này mà ông được đề cử cho giải thưởng “Nhà sáng chế châu Âu”.  Một buổi tối năm 1983 khi Chuck Hull gọi điện thoại cho vợ, lúc đó đã khá muộn, bà đã chuẩn bị đi ngủ, đề nghị bà đến ngay phòng thí nghiệm của doanh nghiệp. Đã nhiều lần trong năm qua ông vời bà như vậy khi ông suốt ngày cặm cụi với cái máy mới của mình. Và bà đã in sản phẩm đầu tiên của mình: một cái khay bằng nhựa mầu nâu đậm với những cái gờ uốn lượn và nhiều lỗ trang trí. Không thật là hấp dẫn nhưng được cái tiện lợi, và đây chính là điều mà kỹ sư Hull quan tâm nhất.   Trong thâm tâm, ông muốn thông qua phát minh của mình hoàn thành nhanh chóng những chi tiết nhỏ bằng nhựa mà chúng thường được sử dụng như những nguyên mẫu trong các ngành công nghiệp khác nhau. Việc chế tạo những bộ phận đó có khi kéo dài nhiều ngày. Để làm cái khay nhựa, ông Hull chỉ mất 45 phút. Khi ông tự hào khoe với vợ về thành công của mình nhưng ông không thể lường hết ý nghĩa của chiếc máy in mới này.   Trong những năm 1970, Hull là kỹ sư vật lý và hoạt động trong lĩnh vực quang học. Ông là giám đốc kỹ thuật ở hãng Ultraviolet Products (UVP) ở California, chuyên dùng ánh sáng cực tím để gia cố lớp nhựa cảm quang cực mỏng để làm lớp che phủ, thí dụ để che phủ bảo vệ mặt bàn. Từ việc này, ông trăn trở với ý tưởng tại sao không sản xuất toàn bộ sản phẩm từ những lớp màng cực mỏng.  Tuy ông không thuyết phục được cấp trên cho phép tiến hành một dự án về vấn đề này nhưng dù sao lãnh đạo cũng để ông được làm việc ngoài giờ trong phòng thí nghiệm nhỏ của hãng.   Và Hull tha hồ mày mò nghiên cứu về việc có thể dùng vật liệu nào, nên xử lý như thế nào tốt nhất đối với Polymer và làm thế nào để thiết kế cả một cỗ máy. Ông viết một chương trình cho computer về điều khiển tia laser, đưa ánh sáng vào chỗ cần làm cho lớp nhựa cứng lại, nghĩa là tạo ra một chất liệu rắn, cứng mới.  Ông Hull nói “Suy nghĩ có tính quyết định ở đây là tạo ra những vật dụng được tích tụ từ nhiều lớp với nhau.” Tương tự như con người hiện nay đo CT, đo từng lớp, từng lớp, như vậy có nghĩa là những vật dụng có thể đã hình thành từ sự kết nối hết lớp này đến lớp khác.   Máy in nguyên mẫu đầu tiên của Hull là một bàn máy. Một tấm phẳng hạ xuống bể nhựa quang lỏng. Một tia laser-UV hoạt động như đầu một cái máy in phun mực quét đi quét lại vào vị trí sẽ trở thành một phần của một sản phẩm mới. Tại đây, chất nhựa sẽ đông cứng lại. Sau đó, mặt bàn lại hạ thấp xuống và chất nhựa lỏng sẽ lại bao phủ toàn bộ. Tia Laser lại quét đi quét lại để tạo ra một lớp phủ mới, lớp phủ này sẽ đông cứng lại và phủ lên lớp nhựa đã hình thành trước đó.  Cứ như vậy tạo thành một khối ba chiều ở sâu trong bể và cuối cùng chỉ cần phun rửa sạch là ra sản phẩm. Mẫu cho sản phẩm có thể là một bản vẽ 3D – CAD, nhưng cũng có thể – một khi chỉ cần chú ý đến hình dáng bên ngoài – thì có thể quét vòng quanh thí dụ một nhân vật nào đó, rồi tính toán qua computer để tạo ra một mẫu 3D.  Ông Hull không đặt tên cho công nghệ mới của mình là máy in 3D mà là in thành bản lập thể (Stereolithography). “Gọi như vậy nghe có vẻ vật lý hơn và cũng thể hiện được chất không gian ở cái tên đó”, nhà vật lý lý giải. Nhờ sự hỗ trợ của hãng, năm 1984, ông đã đăng ký bản quyền phát minh này, năm 1986 thì nhận được bằng sáng chế mang tên: EP0171069 “Method and apparatus for production of three-dimensional objects by stereolithography”.  Ông Hull kể, “Tiếc rằng doanh nghiệp không có khả năng đầu tư cho công nghệ mới này”. Nhưng do bản thân ông nhìn thấy tiềm năng và tin vào sự thành công, vả lại là người từ lâu đã quan tâm đến những vấn đề kinh doanh nên ông quyết định cùng với một đồng nghiệp thành lập doanh nghiệp của mình.   “Chúng tôi đã viết bản kế hoạch kinh doanh và trao đổi với các nhà đầu tư tiềm năng, nhưng vào giữa những năm tám mươi hầu như không có ai quan tâm đến hùn vốn liên doanh vào một công nghệ sản xuất mới, trào lưu thời đó là IT.” Cuối cùng công ty 3D Systems được thành lập ở Vancouver từ đó đến nay, Chuck Hull làm việc tại đây và 3D Systems cho đến nay luôn đứng hàng đầu trên thị trường thế giới về in 3D, với khoảng 1.000 công nhân và niêm yết trên thị trường chứng khoán công nghệ NASDAQ.  “Chúng tôi nhận được sự hưởng ứng như nhau từ ngành công nghiệp ô tô và ngành kỹ thuật y tế, những lĩnh vực mà việc sản xuất nguyên mẫu đóng một vai trò quan trọng, và chúng tôi đã thuyết phục được những hãng lớn làm khách hàng thử nghiệm cho model đầu tiên của mình, đó là Model SLA-1”, Hull kể lại. Đến năm 1988 thì cỗ máy đầu tiên đã chín muồi để có thể chào bán trên thị trường và từ năm 1993 thì thu được những khoản lợi nhuận đầu tiên.  Ý tưởng của Hull về thâm nhập chiều thứ ba bằng một máy in đã được nhiều người bắt chước. Ngày nay trên thị trường in 3D có tới hàng nghìn hãng tham gia, chào bán thiết bị, phụ tùng và dịch vụ in na ná nhau. Doanh nghiệp tư vấn Wohlers Associates ước đoán doanh thu của toàn ngành trên thị trường thế giới năm 2012 đạt khoảng 2 tỷ đôla Mỹ, sẽ tăng lên 3 tỷ trong năm 2016, và đạt 5 tỷ vào năm 2020. Với doanh thu năm gần đây nhất đạt nửa tỷ đôla, tăng trưởng hàng năm từ 40 đến 50% doanh nghiệp, 3D Systems vẫn luôn chiếm một thị phần đáng kể.  Trước khi công nghệ in 3D đạt được sự bùng nổ khôn lường thì doanh nghiệp của Chuck Hull cũng trải qua biết bao thăng trầm. Tuy nhiên công nghệ ngày càng phát triển nhanh hơn và với độ chính xác ngày càng lớn hơn, một phần cũng nhờ các công nghệ Laser mới. Ngày nay độ dày của các lớp có thể đạt ở mức 5 phần trăm của một milimet. Điều này cho phép tạo ra được những bộ phận ngày càng phức tạp hơn. Các nhà kỹ thuật tiến thành thử nghiệm đối với các nguyên liệu mới, trong đó có cả nguyên liệu sô-cô-la.   Giờ đây doanh nghiệp tung ra thị trường bảy loại máy in khác nhau, dùng cho những loại nguyên liệu có sự pha trộn khác nhau. Đối với loại Lasersintern (SLS) có chọn lọc thì các loại bột kim loại, bột gốm sứ hay bột thuỷ tinh sẽ được phun từng lớp mỏng và sẽ nung chảy bằng thiết bị laser công suất lớn. Thiết bị Fused-deposition Modelling (FDM) phun một loại Thermoplast-Paste được nung chảy qua một vòi phun. Với một Power-bed Inkjet tương tự như ở máy in phun có thể tạo ra bột khô một cách nhanh chóng.  Hull cho rằng ở đây còn có một số hạn chế về tốc độ cũng như số lượng, ngoài ra còn có vấn đề về tính chất nguyên liệu. Thí dụ thông qua hoàn thiện theo từng lớp nên nguyên liệu có thể dãn nở khác nhau và với thời gian sẽ xẩy ra tình trạng biến dạng nho nhỏ hoặc sự không ổn định về cơ học. Hull nhấn mạnh, tuy nhiên người ta sẽ nhanh chóng rút ra những bài học ở những lĩnh vực này và nhanh chóng tìm ra biện pháp khắc phục.  Trước sau thì công nghệ in 3D vẫn đặc biệt quan trọng trong việc sản xuất các nguyên mẫu trong ngành công nghiệp ô tô, và cả ở các lĩnh vực khác, việc sản xuất chế tạo cũng đang đi vào ổn định. Kể từ khi các loại máy in có giá phải chăng mà ai cũng có thể mua được thì có những thông tin gây lo lắng trong xã hội, như người ta có thể tự in súng ống theo hướng dẫn trên internet. “Mỗi loại công nghệ đều có mặt trái của nó và có thể bị lạm dụng”, Hull đã bình luận về sự phát triển này.  Điều ấn tượng nhất với ông là khả năng sử dụng rất đa dạng công nghệ này trong ngành kỹ thuật y tế. Trong đó có các nguyên mẫu như những mẫu xương để thay thế khi phẫu thuật chỉnh hình phức tạp đối với khuôn mặt. Hoặc chế tạo những khuôn mẫu đúng kích cỡ 1:1 của các bộ phận ở người bệnh để cho nhà phẫu thuật luyện tập, thí dụ phẫu thuật tách những trẻ song sinh bị dính vào nhau. Có thể nói ở đây sự sáng tạo hầu như không hạn chế. Ngay cả với những vật thể lớn cũng vậy. Hiện tại có thể in vật có chiều cao 2 mét. Tuy nhiên đã có người thử in cả một ngôi nhà.  Chuck Hull đã nhận được nhiều bằng khen và danh hiệu khác nhau trong hai chục năm qua về vai trò đi tiên phong của mình trong lĩnh vực này. Gần đây nhất, ông được trao bằng tiến sỹ danh dự của ĐH Loughborough (Anh) và giải thưởng sáng tạo (Innovationsaward) 2013 của The Economist. Năm 2014, ông được thu nhận vào “National Inventors Hall of Fame”của Mỹ.  Tuy đã ở tuổi 75, Hull không nghĩ tới nghỉ ngơi vì theo ông, giờ đây mọi sự mới thực sự bắt đầu. Và người ta cảm nhận ông muốn được trẻ lại ba chục tuổi.   Xuân Hoài dịch theo “Tuần Kinh tế” (Đức) dựa trên nguồn Handelsblatt Online    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một mô hình phát triển cho Việt Nam:  THỦ PHỦ CÀ PHÊ TOÀN CẦU      LTS. C&#225;ch đ&#226;y 5 năm, Trung Nguy&#234;n đ&#227; h&#236;nh th&#224;nh &#253; tưởng về một m&#244; h&#236;nh ph&#225;t triển mới cho v&#249;ng đất T&#226;y Nguy&#234;n v&#224; Việt Nam. V&#224; từ &#253; tưởng c&#243; t&#237;nh đột ph&#225; đ&#243; đ&#227; dần h&#236;nh th&#224;nh Dự &#225;n Thủ phủ c&#224; ph&#234; to&#224;n cầu. Dự &#225;n n&#224;y đ&#227; nhận được nhiều &#253; kiến đ&#243;ng g&#243;p s&#226;u sắc từ nhiều nh&#224; khoa&nbsp; học, kinh tế, văn h&#243;a,… ở trong nước v&#224; nước ngo&#224;i qua một số cuộc hội thảo tổ chức ở H&#224; Nội v&#224; Bu&#244;n M&#234; Thuột. Dự &#225;n đ&#227; được l&#227;nh đạo Đảng v&#224; ch&#237;nh quyền tỉnh Đắk Lắk coi l&#224; một dự &#225;n trọng điểm trong chương tr&#236;nh ph&#225;t triển c&#224; ph&#234; bền vững của tỉnh, v&#224; nhận được sự kh&#237;ch lệ, quan t&#226;m của một số l&#227;nh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Ch&#237;nh phủ.        Biến động kinh tế toàn cầu, cạnh tranh gay gắt và sự tranh giành chiếm lĩnh các nguồn lực trên quy mô rộng khắp nhiều thập kỷ nay đã đặt Việt Nam trước những thách thức, và cả cơ hội. Trong bối cảnh đó, nhiều chính sách và chủ trương mới ra đời, với mục tiêu phát triển dân sinh, tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển bền vững… Tuy vậy, có không ít khó khăn và thách thức của thực tiễn trong quá trình đưa những chính sách đó vào đời sống kinh tế xã hội.   Bài viết này đưa ra một mô hình phát triển bền vững, của Việt Nam, do Việt Nam và vì Việt Nam, với kỳ vọng tạo ra hiệu ứng đan xen lợi ích to lớn và sâu sắc, tính liên thông đa diện kinh tế-văn hóa-xã hội-an ninh, dựa trên và phát huy ưu thế đặc sản cà phê và tinh thần cà phê toàn cầu, hệ sinh thái, thổ nhưỡng, khí hậu, văn hóa và lịch sử quốc gia… của vùng Tây Nguyên.   Sự kỳ vọng ấy được xây trên những nguyên liệu vững vàng, như thị trường sản phẩm dịch vụ cà phê tới 100 tỷ USD/năm, và sự gia tăng các không gian văn hóa cà phê toàn cầu, mà với lợi thế của một cường quốc cà phê, Việt Nam hẳn phải tìm được chỗ đứng có thứ hạng cao!  Toàn cầu hóa và thách thức tìm kiếm mô hình phát triển bền vững  Từ nhiều thập kỷ nay, câu hỏi nguyên lý “Làm sao để toàn cầu hóa đóng góp tích cực vào quá trình phát triển bền vững?” vẫn tiếp tục thách đố các mô hình kinh tế cho tương lai. Và chúng ta cần tái khẳng định nội hàm của những tư tưởng này.  Phát triển bền vững: Được sử dụng lần đầu vào năm 1987 trong tài liệu nghiên cứu Tương lai chung của chúng ta, của Liên Hợp Quốc (LHQ), phát triển bền vững có nội dung chính là quá trình đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hiện tại của cộng đồng mà không phải hy sinh nhu cầu trong tương lai của các thế hệ tiếp theo.                   Toàn cầu hóa: Phổ biến đầu thập niên 90, mang ý nghĩa là các quá trình tích hợp và tương tác mạnh mẽ giữa các hệ thống kinh tế thế giới; thông qua các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ, vốn, công nghệ và thông tin vượt qua biên địa lý, gia tăng tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Đó là một tiến trình tiếp diễn theo chiều dài lịch sử nhân loại.  Cả hai quá trình này đều không giới hạn trong các nội dung kinh tế, mà còn bao hàm nhiều vấn đề vượt ngoài phạm vi địa lý một quốc gia như tri thức, cấu trúc xã hội, tương tác chính trị, văn hóa, nhân chủng, môi trường và đa dạng sinh học…  Thách thức và cơ hội. Ẩn chứa trong toàn cầu hóa có cả thách thức lẫn cơ hội. Ngoài những cơ hội giao thương, tăng cường động lực cải thiện mức sống và thịnh vượng kinh tế chung, mà Diễn đàn WEF 2000 đưa ra, toàn cầu hóa đặt ra nhiều thách thức.   Quá trình thu hút và khai thác tài nguyên tràn lan, vì lợi ích thương mại, có thể trực tiếp dẫn đến ô nhiễm môi trường và triệt thoái đa dạng sinh học. Nó còn làm tăng bất công, nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia công nghiệp và đang phát triển. Tiến trình xâm thực văn hóa có lợi ích một chiều, thúc đẩy khai thác tới cạn kiệt tài nguyên, khống chế thị trường tiêu dùng và cả ý thức hệ văn hóa, một cách có chủ đích.  Sự mất cân bằng trong quá trình này, có nguyên nhân từ chênh lệch tương quan lực lượng vật chất và tinh thần giữa thế giới phát triển với các nước nghèo, còn có thể đóng vai trò nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, làm phát sinh xung đột sắc tộc – tôn giáo, và chiến tranh khốc liệt giành quyền kiểm soát các nguồn lực tài nguyên của thế giới, đặc biệt các nguồn tài nguyên không có khả năng tự tái sinh, như dầu mỏ, khoáng chất…        Một nhà ngoại giao Liên Xô (cũ) kể lại về kỷ niệm một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi chiến tranh nổ ra trên miền Bắc (Sách “Cách đường xích đạo hai bước” của Rut Bersatki, Thúy Toàn dịch 1967). Chuyện kể rằng, lần ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị khách quốc tế trong đó có các nhà ngoại giao, nhà báo, văn nghệ sĩ.              Để tỏ thịnh tình, vị Chủ tịch ngỏ ý: “Tôi xin được mời các đồng chí uống càphê… Tôi tin các đồng chí không từ chối càphê này, đây là càphê Việt Nam mà trên thế giới không càphê nào ngon hơn. Tôi nói điều này không phải vì tôi là người yêu nước. Nhưng trong đời, tôi đã làm phụ bếp khá lâu và vì vậy, nay xin lấy nghề nghiệp ra mà đảm bảo càphê Việt Nam ngon nhất thế giới!”.              Rồi vị Chủ tịch tự tay pha càphê mời khách. Khách đề nghị Chủ tịch khỏi bận tâm để họ tự pha. Vị Chủ tịch nói rằng phải biết cách pha bằng phin thì càphê mới ngon. Khi các vị khách đã thưởng thức, Chủ tịch hỏi: “Thế nào? Đồng chí thấy chứ, đã bao giờ đồng chí được uống thứ càphê tuyệt vời này chưa?”. Rồi Chủ tịch đột nhiên chuyển sang chuyện càphê Việt Nam chưa được thế giới biết đến và khẳng định rằng nếu phát triển thị trường thì càphê Việt Nam sẽ xuất khẩu được rất nhiều…           Lợi thế và bất lợi so sánh. Những diễn biến hai thập kỷ qua từ khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, tới hủy hoại môi trường,… cho thấy rõ nền công nghiệp không bền vững, đẩy chính các quốc gia công nghiệp bước sang giai đoạn thoái trào. Họ đối mặt với vấn đề tìm kiếm mô hình phát triển bền vững theo cách gay gắt không kém gì các quốc gia đang phát triển. Sự “mò mẫm” trong bóng đêm các mô hình công nghiệp cũ, để tìm kiếm mô hình mới, phần nào đưa các nền kinh tế có thực lực khác nhau trở về vạch xuất phát tương đương trước mục tiêu chiến lược là nền kinh tế thịnh vượng tương lai.  Tuy vậy, cho dù ở vạch xuất phát mới, lợi thế của các nền kinh tế phát triển – cũng là bất lợi tương đối của các nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam – vẫn rất đáng quan tâm. Đó là nguồn lực con người, hệ thống giáo dục, cơ sở hạ tầng vật chất và của cải tích lũy. Các thị trường quan trọng nhất như hàng hóa vật tư, tài chính – tiền tệ, v.v… đang nằm trong sự khống chế của các quốc gia phát triển, nhờ đó giành lấy các lợi ích kinh tế quan trọng nhất trong trò chơi toàn cầu hóa.  Nói như thế, không có nghĩa là Việt Nam không có lợi thế so sánh. Bản thân sự mất phương hướng trong nhận dạng mô hình tiếp theo là nhân tố “ủng hộ” sự đổi mới và sáng kiến định dạng nền kinh tế xanh-nhân văn cho Việt Nam, lý do ra đời của bài nghiên cứu này. Nhận thức đầy đủ về phát triển bền vững và toàn cầu hóa từ góc tiếp cận Việt Nam rõ ràng cần được thống nhất với ý chí chính trị mạnh mẽ, để có thể chuyển hóa thành chiến lược chủ động, tích cực. Sự mạnh dạn thử nghiệm những mô hình phát triển mang định hướng bền vững, với tính toán chu đáo tới các yếu tố quốc tế, có khả năng giúp nền kinh tế chúng ta tạo được “hấp lực” đối với cộng đồng quốc tế, các nguồn lực đa dạng và một sự dẫn dắt thương hiệu kinh tế thân thiện sinh thái, đậm chất nhân văn.  Hoa Kỳ vấp phải những vấn nạn “hậu công nghiệp” và cũng chưa có lối ra cho hầu hết các vấn đề. Lời giải không hoàn toàn phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế – tài chính, mà ở mô hình, hướng chuyển động và vị thế xuất phát. Khi lời giải xuất phát từ một mô hình Việt Nam, thì lợi thế của vị thế xuất phát thuộc về Việt Nam, đúng nghĩa của cơ hội lớn lao! Hơn nữa, khả năng thích nghi trong điều kiện khó khăn, thách thức và sự khao khát vươn lên cũng là lợi thế của Việt Nam.   Sự trớ trêu nằm ở chỗ, trong khi các quốc gia công nghiệp mò mẫm để từ bỏ mô hình kém bền vững, thì những nước đang muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn nghèo – phá hủy môi trường – cạn kiệt tài nguyên, lại dễ dàng giẫm lên con đường cũ của họ. Vì vậy, sự kiên quyết trong kiến tạo mô hình mới, đột phá, được trình bày trong phần tiếp theo là lựa chọn đúng đắn và phù hợp, trong bối cảnh và với nhu cầu Việt Nam. Điều kiện và sự thuận lợi đã có, đã sẵn sàng. Đáp án cho viễn cảnh thịnh vượng chỉ còn nằm trong những quyết sách đúng lúc, ý chí và quyết tâm chính trị đủ lớn dành cho một mô hình như thế.  Đắk Lắk – Cần và đủ cho một nền kinh tế bền vững, thân thiện sinh thái  Nếu như Peter Watson (2006) giúp củng cố lập luận rằng sự ra đời và sinh tồn của con người là từ môi trường “màu xanh”, thì Đắk Lắk có thể đóng vai trò môi trường nguồn gốc của cả sự sống lẫn quá trình đi tới tư tưởng sáng tạo, phát triển, tiến bộ.1 Một vùng đất sinh thái đa dạng của Tây Nguyên hùng vĩ, ngay trên cao nguyên đất đỏ Bazan 160 triệu năm bền vững với thời gian, với sự hòa hợp con người – thiên nhiên, chính là điều kiện cần cho thiết kế và tạo dựng nền kinh tế sinh thái bền vững như mong muốn.   Đắk Lắk hoàn toàn có thể hội đủ điều kiện thỏa mãn “Sáng kiến phát triển các khu vực bền vững sinh thái” với 10 nguyên lý trọng yếu trong phát triển vùng kinh tế sinh thái bền vững: (a) Phát triển tầm nhìn bền vững; (b) Gắn kết kinh tế với cộng đồng; (c) Bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học; (d) Giảm thiểu “dấu tích xâm hại sinh thái” của con người; (e) Hệ sinh thái phù hợp với đặc điểm tự nhiên-văn hóa-lịch sử-kinh tế-xã hội của cộng đồng; (f) Cảm xúc văn hóa nghệ thuật và sự tồn tại các giá trị phi vật chất; (g) Gắn kết của con người trong bối cảnh sinh thái; (h) Quan hệ đối tác – hợp tác; (i) Thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững qua sử dụng hợp lý kỹ thuật, công nghệ thân thiện môi trường; và, (k) Cơ chế quản lý trách nhiệm và minh bạch.2  Với vị thế khu vực trung tâm sản xuất cà phê của cường quốc thứ 2 toàn cầu, những giá trị văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên, sự giàu có “nguồn vốn thiên nhiên – sinh thái”, và những cộng đồng con người gắn bó với giá trị văn hóa có sức thu hút, Đắk Lắk đã có điều kiện cần để tham gia vào quá trình tái xác định chuỗi giá trị toàn cầu của một ngành kinh tế giá trị xấp xỉ 100 tỷ USD, mà hiện các nước xuất xứ của sản phẩm cà phê quý giá chỉ được hưởng xấp xỉ 15% giá trị. Chỉ riêng nền kinh tế Trung Quốc láng giềng đang trỗi dậy mạnh mẽ, với mức tăng trưởng tiêu thụ cà phê xấp xỉ 30%/năm đã đủ làm rõ mục tiêu xác quyết phải theo đuổi.                          Việc Trung Nguyên khởi công xây dựng nhà máy chế biến cà phê với công nghệ hiện đại nhất thế giới – một bước đi tiên phong trong đổi mới công nghệ chế biến – là một sự kiện quan trọng, không chỉ của riêng tỉnh Đắk Lắk mà của cả Việt Nam, vì hiện nay cà phê đã trở thành mặt hàng xuất khẩu thứ hai thế giới của Việt Nam.              Tôi đánh giá rất cao những nỗ lực và khát vọng mãnh liệt của Trung Nguyên trong việc hiện thực hóa Dự án Thủ phủ cà phê toàn cầu tại Buôn Mê Thuột. Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, Trung Nguyên đã có tư duy rất đúng khi gắn sản xuất kinh doanh với tinh thần quốc gia dân tộc, đưa thương hiệu cà phê Buôn Mê Thuột, đặc biệt là cà phê Trung Nguyên, trở thành một thương hiệu có tầm cỡ hàng đầu trên thế giới.              Chúng ta đã biết đến cà phê như là nguồn năng lượng của nền kinh tế tri thức, kích thích sự hứng khởi trong sáng tạo của văn nghệ sĩ, nhà khoa học, nhà kinh doanh… Riêng từ góc độ của người làm ngoại giao, tôi thấy cà phê còn là chất kết nối mọi người, mọi dân tộc với nhau, để cùng hướng tới một cuộc sống an bình, thịnh vượng hơn.  Lược ghi ý kiến phát biểu của Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao               Phạm Gia Khiêm tại lễ khởi công xây dựng nhà máy chế biến cà phê               của Trung Nguyên tại Buôn Mê Thuột  ngày 9/6/2009.              Tính đại diện. Hơn nữa, trước tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, mô hình Đắk Lắk còn đại diện cho một chiến lược thích ứng của đất nước, và là một nhu cầu cấp thiết. Đây là những tiền đề quan trọng để đi tới một hình mẫu phát triển kinh tế thân thiện môi sinh, tái tạo năng lượng, hòa hợp cộng đồng và thu hút, liên kết các lực lượng kinh tế quốc tế trong tâm điểm kinh tế Tây Nguyên Việt Nam.   Đắk Lắk có đủ điều kiện đóng gói được những tập giá trị đa dạng, chuyển hóa thành năng lực kinh tế bền vững. Sự liên thông lợi ích đa phương, sử dụng vũ khí ngoại giao kinh tế, sức hút mô hình trong bối cảnh thiếu vắng thực tiễn phát triển bền vững môi sinh, và xuất phát địa kinh tế của Đắk Lắk, sẽ mang lại sức tập hợp nguồn lực lớn lao phục vụ cho sứ mệnh kiến tạo “nền kinh tế mới – xanh” đang nói. Về phương pháp, thu hoạch kinh nghiệm và hệ thống quy hoạch – triển khai từ Đắk Lắk sẽ tạo ra tiền đề lý thuyết phát triển cho nhiều chu trình đóng gói giá trị bền vững, hiệu quả cho tổng thể kinh tế Việt Nam, ở nhiều vùng miền, với các đặc trưng khác nhau.  Bên cạnh đó, còn một lợi ích chiến lược đặc trưng có tầm trọng yếu quốc gia. Đắk Lắk nói riêng, và Tây Nguyên nói chung, có những yếu tố lịch sử – văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử đất nước. Mối quan tâm tới sự hài hòa con người – môi trường, các cộng đồng, và sự chia sẻ lợi ích kinh tế công bằng chưa bao giờ có ý nghĩa với sự ổn định an ninh và an sinh xã hội của Tây Nguyên hơn ngày nay. Sự kết nối nguồn lực, định hướng phát triển vì con người và tạo thịnh vượng trong hòa bình bền vững là một phần không tách rời của mô hình nền kinh tế sinh thái vùng Đắk Lắk.  Tư duy đột phá và mô hình Thủ phủ Cà phê Toàn cầu              Tôi mong ước có nhiều người tâm huyết, có trình độ, thực sự ủng hộ,               giúp cho Dự án này   Sau khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, khát vọng của chúng ta là phát triển đất nước, đem hết tài năng của con người, tận dụng và phát huy tài nguyên sẵn có của đất nước, để cuối cùng đem lại cuộc sống no ấm, hạnh phúc, cho nhân dân,. Một số anh em còn trẻ đang có khát vọng nóng bỏng đó. Thay vì chạy theo cuộc sống giàu sang, họ lại dấn thân vào những công việc không dễ dàng vì đất nước, quê hương. Trong bối cảnh của đất nước còn nhiều vấn đề về cơ chế, quản lý chưa thật hoàn chỉnh và còn không ít tư tưởng bảo thủ định kiến hẹp hòi trong xã hội, anh em gặp không biết bao nhiêu khó khăn, trở ngại. Anh Vũ – Trung Nguyên là một người như vậy.              Tôi nghĩ những người đi trước, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần hết sức giúp đỡ anh em để họ có thể phấn đấu hoàn thành sự nghiệp của mình, mà cũng là sự nghiệp chung của đất nước.              Tôi được biết đến Dự án cà phê Buôn Mê Thuột mà anh Đặng Lê Nguyên Vũ đóng vai trò nòng cốt. Dự án này nhằm không những đẩy mạnh việc trồng và chế biến cà phê để không chỉ nâng cao chất lượng và giá trị cà phê Việt Nam mà còn để đưa cà phê Việt Nam ra thế giới với mục đích kinh tế – văn hóa và đóng góp vào vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.              Bao nhiêu hoài bão thể hiện trong một kế hoạch cụ thể được vạch ra với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia. Có người cho đây là những suy nghĩ quá táo bạo, quá lãng mạn. Rất có thể! Nhưng chúng ta hãy suy nghĩ. Nếu không có nhiều người gan dạ, dám chấp nhận sự hy sinh gian khổ trong chiến đấu trước kia thì làm sao chúng ta có được Việt Nam như ngày nay? Nếu chúng ta không có người táo bạo, dám đi về phía trước ngày hôm nay thì làm sao chúng ta dám mơ “sánh vai cùng các nước” trong tương lai?              Điều tôi mong ước là có nhiều người tâm huyết, có trình độ, thực sự ủng hộ, giúp cho dự án này, cũng như nhiều dự án khác như thế này, được thực hiện có kết quả, để cho đất nước ta thoát khỏi tình trạng đói kém, sớm trở nên phồn vinh, vững mạnh, xã hội ta văn minh và hạnh phúc.                         Bà Nguyễn Thị Bình –                          Nguyên Phó Chủ tịch nước         Mô hình kinh tế bền vững và thân thiện sinh thái, đề xuất cho Đắk Lắk – Tây Nguyên, có tính mẫu mực để một quốc gia đang phát triển tạo chiến lược lợi thế trong bối cảnh toàn cầu hóa ấy có tên là “Thủ phủ Cà phê Toàn cầu”.  Tinh thần cà phê – năng lượng xanh. Qua hơn 2.000 năm đi cùng lịch sử xã hội loài người và những tiến bộ tư tưởng – sáng tạo – thành tựu kinh tế kỹ thuật, cà phê trong cuộc sống hiện đại đã trở thành đồ uống kết nối vô hình hơn 2 tỷ con người. Điều đặc biệt làm nên tính phổ biến của loại đồ uống này chính là khả năng kích thích tư duy sáng tạo và năng lực hài hòa, kết nối rộng khắp. Yếu tố văn hóa và tinh thần trong cà phê đã vượt xa giới hạn sơ khai về thực phẩm, đồ uống hay giải trí. Giá trị này ngày càng có vị trí đặc biệt trong xã hội loài người, bởi lẽ hệ thống kinh tế toàn cầu đã và đang dịch chuyển tới giai đoạn của hình thái kinh tế sáng tạo. Cà phê trong tiến trình này đóng vai trò nguồn năng lượng xanh, với khả năng tái tạo – gìn giữ môi trường và duy trì đa dạng sinh học.   Đồ uống cà phê không từ chối hay phân biệt bất kỳ ai. Từ nhà khoa học tới người lao động phổ thông, người dân châu Phi hay châu Âu, từ nhà lãnh đạo tới công dân, người Hồi giáo hay Phật giáo, v.v.. đều cùng nhau chia sẻ hương vị và “năng lượng” cà phê – một sự kết nối xã hội – văn hóa diệu kỳ, giúp dẫn tới sự kết nối kinh tế, năng lượng, sáng tạo và kỷ nguyên phát triển hòa hợp – hòa bình, giữa con người với nhau và con người với môi trường sinh dưỡng cộng đồng.  Cốt lõi của “tinh thần cà phê toàn cầu” là đáp ứng sự kết nối sợi dây liên kết chung “cà phê”, sự sáng tạo, thịnh vượng trong hòa bình, đồng thời là biểu tượng của định hướng nhu cầu phát triển bền vững, lấy kinh tế xanh làm nền tảng – sự trường tồn của con người và Trái đất. Với tính chất có thể nhân rộng của mô hình, tính tổng quát được đảm bảo mà vẫn duy trì đặc tính sinh thái, địa kinh tế của những nơi triển khai tiếp theo.  Thông qua hình mẫu phát triển sinh thái và tinh thần cà phê, Việt Nam gửi thông điệp bền vững tới cộng đồng thế giới; tín hiệu thành công thể hiện năng lực dẫn dắt mô hình kinh tế ở một tầm nhìn chiến lược, xuất phát từ một quốc gia đang phát triển, với khát khao vươn tới tương lai thịnh vượng và cống hiến lớn lao. Đó cũng là sự kết nối đến hàng tỷ người trên thế giới, thu hút nguồn lực, củng cố và duy trì sự quan tâm của cộng đồng thế giới vào vị trí đặc biệt, quan điểm sáng rõ của Việt Nam trong giải quyết những thách thức kinh tế-xã hội-môi trường-văn hóa… và xây dựng nền kinh tế xanh, theo hướng phát triển bền vững, đóng góp vào nỗ lực và trách nhiệm chung của cộng đồng thế giới. Mô hình như thế rõ ràng đóng góp lớn cho chiến lược định vị thương hiệu Việt Nam trong hệ thống kinh tế toàn cầu của thiên niên kỷ mới.  Đô thị – tổng thể các hệ sinh thái bền vững. Trong mô hình đưa ra, hệ đô thị sinh thái cà phê sẽ cung cấp các cơ hội khai thác kinh tế đa dạng hơn. Mô hình xanh được thiết kế giảm thiểu tác động tiêu cực của bối cảnh toàn cầu hóa, mà thường thấy là đô thị “kiểu cũ” tăng tốc bòn rút tài nguyên thiên nhiên Trái đất, và “xuất khẩu” một lượng lớn rác thải, chất độc hại vào hệ sinh thái. Như vậy, mô hình Thủ phủ Cà phê đưa ra có ý nghĩa quan trọng sống còn với phát triển bền vững của Việt Nam, với mục tiêu tiến tới việc lặp lại cân bằng, phục hồi sự bền vững của môi trường sống, là chuyển biến chính bản chất và hình thái tổ chức của các vùng đô thị.  Phát triển cần đáp ứng nhu cầu tương hợp của hiện tại lẫn tương lai. Những nhân tố của một tầm nhìn dài hạn như được phản ánh trong thiết kế của Thủ phủ Cà phê Toàn cầu chứa đựng: (i) Mơ ước; (ii) Mở rộng sức tưởng tượng; (iii) Khát vọng; và (iv) Sự sáng tạo. Đây là những yếu tố được cộng đồng nghiên cứu sinh thái và kinh tế bền vững công nhận có thể hợp lực, truyền cảm hứng cho quá trình xây dựng hệ thống kinh tế – xã hội bền vững, cũng như định hướng cho các quá trình quyết định tương lai.3  Thiết kế của Thủ phủ Cà phê Toàn cầu vừa cung cấp mẫu mực và kích thích các cơ chế kinh tế đổi mới, đột phá theo hướng tiến bộ của dịch chuyển chuỗi giá trị. Các yếu tố đặc trưng với sự dịch chuyển này, dựa trên nền tảng bền vững sinh thái với trọng tâm đặt vào: (i) Tái xác định giá trị hàng hóa theo chuẩn mực môi trường; (ii) Tác nhân kích thích kinh tế sáng tạo, đổi mới; (iii) Doanh nghiệp “xanh” – thân thiện môi sinh; (iv) Liên kết bộ ba: Vốn kinh tế – Vốn xã hội – Vốn môi trường.  Cơ chế “trao đổi chất”. Mô hình xác lập đặc trưng tăng trưởng hướng tới bền vững nhờ quá trình hấp thụ, tiêu dùng tài nguyên và trả lại các điều kiện sống cho con người, cũng như sản sinh ra các yếu tố bảo vệ sự cân bằng của hệ sinh thái. Nền kinh tế vùng sinh thái như vậy là một khái niệm đầy đủ, và ngày càng được hoàn thiện theo trình độ nhận thức của xã hội. Thủ phủ Cà phê Toàn cầu phát triển vùng kinh tế sinh thái với sáu cấu phần cốt lõi: (i) Sản xuất xanh và sạch; (ii) Du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp; (iii) Văn hóa, nghệ thuật và tinh thần; (iv) Sản xuất và chế biến sản vật đặc trưng; (v) Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng; và (vi) Phát triển cộng đồng.  Nguồn lực hiện thực hóa khả thi. Mặc dù đây là một mô hình lớn, cần huy động nhiều công sức, đầu tư và trí não, nhưng không khó để nhận thấy tính khả thi của dự án lớn lao này. Với phương pháp tiếp cận đi từ thực tiễn để khái quát thành lý luận, hình mẫu phát triển được xây dựng và từng bước hiện thực hóa có những đặc trưng sau.  Một là, phát triển mô hình dựa trên triết lý và tập hợp khái niệm kết nối lôgic, có tính bền vững và hài hòa. Hình ảnh của vùng kinh tế sinh thái mới được trình bày rõ nét bằng các khái niệm cụ thể, được kết nối hợp lý và chặt chẽ. Các kích thước của hình mẫu được xác định chuẩn xác bằng những tiêu chí chi tiết và mạch lạc.   Hai là, đối tượng trọng tâm của mô hình là cộng đồng con người, thiên nhiên và các nguồn tài nguyên kinh tế. Các yếu tố sinh thái cà phê đều hướng tới nâng cao nhận thức cộng đồng, thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích hoạt nguồn nội lực của cộng đồng, thực sự khởi động cỗ máy tăng trưởng cho một hành trình dài – tận dụng, thu hút và gắn kết hàng trăm thị trường hàng hóa liên quan tới cà phê, có giá trị hơn 100 tỷ USD hằng năm, với hàng tỷ con người vốn dĩ đã có sự gắn kết qua sợi dây tinh thần cà phê.              Đắk Lắk là một Tỉnh trọng điểm về cây cà phê và góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới. Với sự ưu đãi về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu của vùng đất đỏ Bazan có lịch sử 160 triệu năm và tiềm năng sản lượng và chất lượng hạt cà phê Robusta nổi tiếng hàng đầu thế giới, diện tích cà phê tại Đắk Lắk đạt con số 178 ngàn hecta, thu hút hàng ngàn hộ lao động chuyên trồng, kinh doanh và sinh sống bằng cây cà phê cùng các dịch vụ kinh doanh phụ trợ quanh cây cà phê. Tuy nhiên, cà phê Đắk Lắk, hay rộng ra là cà phê Việt Nam,  vẫn luẩn quẩn ở những con số xuất thô với giá trị thấp, vị thế cà phê của Việt Nam còn quá nhỏ, không tương xứng với vị thế xuất khẩu sản lượng cà phê đứng nhất nhì trên thế giới cũng như không thật sự đem lại lợi ích kinh tế lâu dài cho người nông dân trồng cà phê. Lượng cà phê tiêu thụ bình quân trên đầu người chỉ ước đạt khoảng 0,7 kg/người/ năm, còn kém xa với mức tiêu thụ bình quân trên đầu người ở các nước phát triển trên thế giới.               Chính vì những lý do nêu trên cùng với sự chỉ đạo và chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê của tỉnh mà đại diện tiên phong là Trung Nguyên, UBND Tỉnh Đắk Lắk đã quyết định đưa ra Nghị quyết số 08 về phát triển cà phê bền vững trong thời kỳ mới với định hướng sản xuất cà phê phải theo tiêu chí của thương hiệu “Cà phê Buôn Mê Thuột”, ổn định về năng suất, chất lượng; phát triển cà phê phải gắn chặt với phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, du lịch, bảo vệ môi trường.                  Lữ Ngọc Cư                  Chủ tịch UBND Tỉnh – Đắk Lắk         Ba là, mô hình vận hành dựa trên các điều kiện đảm bảo tính khả thi thương mại và hiệu quả kinh tế. Các giải pháp khai thác lợi thế cạnh tranh, tiềm năng của địa phương, của cộng đồng được xây dựng để hình thành hệ thống kinh tế cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường tại chỗ, cho các vùng lân cận, cho quốc gia và rộng lớn hơn cả là cho người tiêu dùng toàn cầu.   Bốn là, huy động nguồn lực xã hội và phát triển cộng đồng. Phát triển và đổi thay bộ mặt đời sống nông thôn là một khối lượng công việc rất lớn, triển khai trong suốt quá trình dài, và sử dụng nhiều nguồn lực nhưng thường không tạo ra các lợi ích vật chất trong ngắn hạn. Bởi vậy, tập hợp và huy động nguồn lực có vai trò quan trọng. Nguồn lực cần thiết để đưa giấc mơ thành hiện thực là kết nối chặt chẽ và phối hợp hiệu quả bộ ba tài nguyên quan trọng Vốn kinh tế – Vốn xã hội – Vốn môi trường.  Một số kiến nghị trọng tâm  Mô hình nền kinh tế sinh thái Đắk Lắk nói chung, và đề án bộ phận Thủ phủ Cà phê Toàn cầu nói riêng, có tính đại diện cao cho hành trình đột phá tới kinh tế bền vững. Lợi ích tổng thể vượt xa tính toán kinh tế-thương mại thuần túy, trong đó phải kể đến đảm bảo an ninh, kiến tạo chiến lược phát triển vùng mới, sức thu hút và tập hợp nguồn lực vật chất-trí tuệ mà Việt Nam nói riêng, và các nước nghèo nói chung, còn đang thiếu thốn. Cà phê không giới hạn trong sản phẩm cà phê mà mang ý nghĩa tinh thần, văn hóa, tính đại diện sự kết nối-liên thông các lực lượng quốc tế. Đắk Lắk không giới hạn trong một phạm vi vùng địa kinh tế đặc thù, mà là đại diện của thế giới đang phát triển– trong nỗ lực tìm kiếm đường thoát khỏi sự luẩn quẩn của phát triển công nghiệp không bền vững kiểu cũ.  Các điều kiện sinh thái, văn hóa, kết nối, sản phẩm của Đắk Lắk… và đặc biệt là mô hình phát triển sáng rõ, khả thi đã đầy đủ. Nói cách khác, mô hình giờ đây sẵn sàng đi vào thực tế, để đem lại những lợi ích quốc gia, từ kinh tế tới vị thế ngoại giao và hình ảnh thương hiệu cho Việt Nam.  Để có thể triển khai, đẩy nhanh quá trình hiện thực hóa ý tưởng, những kiến nghị sau đây với lãnh đạo Đảng, Chính phủ và các Bộ, Ngành, sẽ cụ thể hóa và là điều kiện tiên quyết cho sự khởi động tới tương lai:  Thứ nhất, lãnh đạo Đảng và Chính phủ đưa ra chủ trương phát triển và hiện thực hóa các ý tưởng dự án, với chính sách riêng cho “nền kinh tế vùng sinh thái Đắk Lắk”. Ở tầm cỡ và quy mô của lợi ích quốc gia, dự án tổng thể cần được sự quản lý và điều hành trực tiếp từ Chính phủ để có thể đem lại những lợi ích tối đa và vững bền.  Thứ hai, tạo cơ chế và chính sách hỗ trợ các nguồn lực, nhằm thúc đẩy khởi động đầu tư – hợp tác triển khai trên phạm vi hình mẫu dự án ngay từ giai đoạn đóng gói ý tưởng và chuẩn bị nghiên cứu khả thi.   Thứ ba, đưa ra quyết sách với ý chí chính trị vì sự phát triển kinh tế vùng, với tư cách bộ phận quan trọng của quốc gia, khẳng định trọng tâm phát triển kinh tế xanh Đắk Lắk, nhất quán định hướng phát triển, và tiến tới giai đoạn Quy hoạch tổng thể vùng, đặt ra tầm nhìn kinh tế bền vững, tập hợp các giá trị cốt lõi cũng như chiến lược tập hợp, khai thác nguồn lực trong nước quốc tế cho quy hoạch này.  Đây là những điều kiện quan trọng thúc đẩy nhiệt huyết và tạo môi trường để doanh nhân, trí thức, người lao động đưa mô hình vào thực tế cuộc sống và chứng minh những lợi ích to lớn mang lại cho Việt Nam, cũng là đóng góp cho sự vững bền của Hành tinh xanh Trái đất.  ————–  1 P. Watson. Ideas: A History of Thought and Invention, from Fire to Freud. Harper Perennial (2006)  2 P. Newman and I. Jennings. Cities as Sustainable Ecosystems. Island Press, 2008.  3 Our Common Future, WCED 1987    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một mô hình toán học miêu tả khả năng xoắn của mì spaghetti khi nấu      Hai kỹ sư cơ học tại trường đại học California, Berkeley đã phát triển một mô hình toán học miêu tả được hành động xoắn của mì spaghetti khi được thả trong nước sôi. Trong công trình xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, Nathaniel Goldberg và Oliver O’Reilly đã miêu tả nghiên cứu của mình về loại pasta phổ biến và những gì họ học được về trạng thái của chúng khi được nấu lên.    Bất cứ ai đã từng đun sôi nước luộc các sợi mì spaghetti đều biết đến việc chuyển trạng thái các sợi mì này từ trạng thái rắn sang mềm và có khả năng uốn được. Khi nấu, các sợi mì có xu hướng cuộn lại. Goldberg và O’Reilly lưu ý nghiên cứu trước đó đã chứng tỏ các sợi mì spaghetti có xu hướng uốn theo một cách có thể dự đoán được khi được đặt vào trong một nồi nước sôi. Chúng bắt đầu duỗi ra như những cái gậy thẳng  và sau đó khi bắt đầu ngấm nước, chúng dãn ra. Khi tiếp tục giãn nở, chúng cũng dần uốn được, và cuối cùng là phần trên cùng của sợi mì sẽ uốn theo hướng nội với mỗi sợi mì hình thành một hình chữ U.    Các nhà nghiên cứu tự hỏi những gì đằng sau khả năng uốn cong thêm nữa của sợi mì. Họ giả định lực hấp dẫn đóng vai trò quan trọng – và dường như tính đàn hồi của sợi mì cũng đóng vai trò quan trọng. Để tìm hiểu nhiều hơn, họ đã thực hiện nhiều thí nghiệm, bao gồm cả việc làm ướt các sợi mì trong nước có nhiệt độ tương đương nhiệt độ phòng trong nhiều giờ để xem liệu chúng có thể uốn được theo cùng cách này không. Họ đã chụp những bức ảnh cách nhau chừng 15 giây để dẫn chứng hành động bằng tư liệu thực tế. Họ đã sử dụng những gì họ học hỏi được để tạo ra một mô hình toán học có thể miêu tả được hành xử của một sợi mì khi uốn cong lại và đưa ra sự đoán cách các sợi mì hình gậy ở bất kỳ kích thước nào có thể uốn cong như thế nào khi thả vào trong nước sôi.  Để tạo ra mô hình của mình, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu với nhiều giả thuyết cơ bản, như các sợi mì không dính vào chảo khi chúng được nấu lên. Họ cũng đưa thêm các tham số để tính toán các yếu tố như lực hấp dẫn, mật độ và những thay đổi trong sự đàn hồi khi các sợi mì ngấm nước. Mô hình mà họ phát triển có thể dùng để dự đoán sự biến dạng của các sợi mì spaghetti và nó cũng chứng tỏ những thay đổi về độ cứng do tác động của sự biến dạng vĩnh viễn và hình dạng mới của sợi mì khi chúng sẵn sàng được thưởng thức như một món ăn được yêu thích.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-mathematical-spaghetti-noodle-cooked.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngọn nến nhỏ cho Steve Jobs      Trên đời này có biết bao thiên tài mà tôi kính phục và ngưỡng mộ, chứ đâu phải có mình ông – Steve Jobs? Ngay cả trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình, “người khổng lồ” Bill Gates còn nhiều “duyên nợ” hơn với dân IT, lại từng đến VN, vậy mà không hiểu sao Steve Jobs lại làm cho tôi ấn tượng đến mức cảm thấy cần phải viết ra để chia sẻ.&#160;    Từ những cảm nhận đầu tiên về sản phẩm  Lần đầu tiên tôi biết đến cái tên Apple và logo “quả táo khuyết” độc đáo của nó vào những năm đầu của thập kỷ 80, khi chiếc máy tính Apple II có mặt ở Viện Khoa học VN (nay là Viện Khoa học và Công nghệ VN). Không có gì ấn tượng nhiều, bởi lúc đó IBM đã công bố máy tính cá nhân (PC) đầu tiên của họ vào ngày 12/8/1981, đó là chiếc máy IBM Personal Computer 5150, mở ra một bước ngoặt mới trong công nghiệp máy tính. Những người đã lăn lộn cùng các máy tính lớn (mainframe) từng có mặt ở VN như Minsk-22, Minsk-32, IBM/360,… thời kỳ đó đều coi IBM là “người khổng lồ” duy nhất của thế giới điện toán, bởi vậy việc Apple II bị IBM PC “át bóng” cũng là điều dễ hiểu. Mãi sau này tôi mới biết rằng chính Apple II ra đời năm 1977 mới là thiết bị được xem là mở đầu cho cuộc cách mạng máy tính cá nhân.                Apple II (1977)                  Apple Lisa (1983)     Apple Macintosh (Mac)thế hệ đầu tiên (1984)          Tôi thực sự làm quen với máy tính Apple từ năm 1983 khi sang Pháp học. Lúc đó trong labo của tôi ở Đại học Paris 6 vẫn chủ yếu dùng các máy lớn và máy mini theo chế độ multiuser, chỉ có một vài cái máy mới có hình dạng khá đặc biệt với cái tên của một cô gái: Lisa (mãi sau này tôi mới biết đó là tên cô con gái của Steve Jobs với cô bạn học cũ). Đã quen thuộc với giao diện lệnh của các máy tính truyền thống, kể cả các máy PC mới của IBM, tôi thật sự ngỡ ngàng và thú vị với giao diện đồ hoạ (GUI – Graphic User Interface) và con chuột mà Lisa cung cấp cho người dùng.   Thực ra, ngay từ những năm 1960, Douglas Engelbart, một kỹ sư người Mỹ làm việc tại Đại học Stanford, đã có ý tưởng về một giao diện đồ họa người dùng được điều khiển bởi con chuột. Ý tưởng độc đáo này đã được các chuyên gia của Công ty Xerox ở Palo Alto thực hiện trên một thiết bị có tên gọi Alto vào năm 1973 và sau đó được phát triển thành Xerox Star 8010 Document Processor và thương mại hoá vào năm 1981 với giá lên tới 17.000 USD. Khi đến thăm phòng thí nghiệm Xerox vào năm 1979, Steve Jobs đã cảm thấy cực kỳ ấn tượng với chiếc máy Alto và trong suốt nhiều năm sau đó, ông đã thuê mướn khá nhiều kỹ sư của Xerox và đầu tư hàng triệu đô la để tạo ra một chiếc máy tính dựa trên GUI có khả năng thương mại hóa. Đến năm 1983 thì chiếc máy tính 10.000 USD Lisa ra đời. Cho dù hoàn toàn thất bại vì mức giá quá cao, Lisa vẫn là tiền đề để Apple chế tạo chiếc máy tiếp theo rẻ hơn và cũng thành công hơn rất nhiều. Hơn nữa, tuy Apple “đạo” ý tưởng về chuột vào GUI của Xerox nhưng không ai có thể phủ nhận công lao của nhóm phát triển tại Apple với những thành tựu mà chúng ta vẫn còn sử dụng đến hiện nay.   Một năm sau (1984), Apple đã tung ra loạt máy Macintosh (Mac) thế hệ đầu tiên cũng dùng GUI và chuột như Lisa nhưng giá rẻ hơn nhiều và vì thế chúng được phổ biến rất nhanh. Labo của tôi được trang bị hàng loạt máy Mac và các nghiên cứu sinh như tôi cũng được “xài” thoải mái. Lúc đó tôi mới có thời gian để “thấm” hiệu quả của GUI và chuột mang lại. Tôi vẫn còn nhớ mãi là mình đã “khoái chí” thế nào khi thấy icon “thùng rác” (trash) phình to ra khi một file được tống vào đó và trở lại nguyên dạng khi file đó đã bị delete vĩnh viễn. Trước khi GUI xuất hiện, người sử dụng máy tính buộc phải biết những cụm phím kết hợp phức tạp và điều khiển thông qua các dòng lệnh. Steve Jobs tập trung vào việc mang máy tính đến với mọi người bằng cách làm cho chúng thân thiện, dễ dùng và ông đã thành công. Sau này, chính Microsoft đã “đạo” lại ý tưởng GUI của Apple và phát triển chúng cho các thế hệ Windows (Apple đã kiện Microsft về chuyện này nhưng thua cuộc vì Bill Gates đã “tố” lại Apple cũng đã từng “đạo” của Xerox).              Giao diện lệnh trên PC với MS-DOS          Giao diện GUI trên Macintosh                     Ngoài giao diện đồ hoạ và con chuột, lúc đó tôi cũng hết sức ấn tượng kỹ thuật kết nối giữa các máy Mac để truyền dữ liệu. Tất cả gần như là “cắm và chạy” (plug-and-play), hết sức đơn giản và thân thiện với người dùng, đặc biệt là dân văn phòng không chuyên IT.   Đơn giản, thân thiện và quan tâm đặc biệt đến nhu cầu của người dùng – đó chính là triết lý xuyên suốt đã tạo nên sự thành công đáng kinh ngạc trong hàng loạt các sản phẩm sau này của Steve Jobs và Apple như iMac, MacBook, iPod, iPhone, iPad mà vì khuôn khổ bài viết nên tôi không đề cập đến.  Đến những cảm nhận về con người…  Mặc dù được tiếp xúc với sản phẩm của Apple từ năm 1983 nhưng trên thực tế đến 2 năm sau tôi mới chú ý đến con người Steve Jobs qua sự kiện mà nhiều người (kể cả bản thân Steve Jobs sau này ngậm ngùi cũng thừa nhận) là một trong những “sai lầm ngớ ngẩn nhất” của ông: Steve Jobs bị “đá” ra khỏi Apple bởi chính John Sculley – con người mà ông đã tìm cách để mời về làm CEO cho Apple bằng lời “mồi chài” nổi tiếng: “Do you want to spend the rest of your life selling sugared water or do you want a chance to change the world?” (Ông muốn dành phần còn lại của cuộc đời để đi bán nước ngọt hay là muốn có cơ hôi để làm thay đổi thế giới?). (Lúc đó J. Sculley là CEO của hãng nước ngọt Pepsi đang thời kỳ ăn nên làm ra). Quan hệ đầy kịch tính của 2 con người tài ba này đã làm cho tôi bắt đầu quan tâm đến con người và sự nghiệp của Steve Jobs.            Steve Jobs và John Sculley thời “mặn nồng”        Steve Jobs lập Công ty NeXT sau khi bị J.Sculley“sa thải”          Sau khi rời khỏi Apple, Steve Jobs lập Công ty NeXT Computer sản xuất các workstation cao cấp cho đến khi Apple dưới trướng J. Sculley tiến dần đến bờ vực phá sản mới được mời quay lại với vị trí cũ. Mặc dù về phương diện kinh doanh, giai đoạn này không mang lại mấy thành công cho Steve Jobs nhưng ảnh hưởng của nó đến các sản phẩm về sau của Apple là rất quan trọng xuất phát từ hệ điều hành NeXTstep được ông phát triển cho các máy NeXT. Đây là hệ điều hành kiểu Unix (Unix-like) hướng đối tượng dựa trên nhân hệ điều hành Mach do các chuyên gia của Đại học Carnegie-Mellon phát triển. Các hệ điều hành MacOS và iOS cho các dòng sản phẩm nổi tiếng sau này của Apple đều được phát triển trên nền NeXTstep. Đối với tôi, Mach và NeXTstep đã trở thành ví dụ kinh điển – mà tôi luôn đề cập đến trong các bài giảng cho sinh viên của mình, về một hệ điều hành phân tán là kết quả nghiên cứu trong môi trường hàn lâm nhưng lại được phát triển và thương mại hoá thành công nhờ sự “tiếp tay” tích cực và sáng tạo của doanh nghiệp.  Theo sát hành trình của Steve Jobs từ đó cho đến cái ngày định mệnh 5/10/2011 khi ông từ giã cõi đời và giờ đây, sau khi đã “tua” đi, “tua” lại không biết bao lần những “thước phim tư liệu’ về cuộc đời đầy ắp các sự kiện kịch tính của Steve Jobs, tôi muốn chia sẻ một vài cảm nhận của mình về con người vĩ đại này.           Slogan đầu tiên của Apple                  và slogan được thay đổi từ khi Steve Jobs quay lại Apple (1997)          Khi thành lập Apple, Steve Jobs đã chọn slogan cho hãng là Think (Nghĩ), nhưng sau khi quay trở lại vị trí CEO của Apple thì ông đã đổi thành Think different (Nghĩ khác). Chỉ thêm 1 chữ “khác” thôi nhưng đó chính là kết quả của những bài học đắt giá mà Steve Jobs nhận được qua chặng đường hơn 20 năm (1976-1997) “lên bờ, xuống ruộng” trong thương trường khốc liệt. Ông hiểu rằng, Apple (lúc đó đang bên bờ vực phá sản) không thể tồn tại và đi lên nếu không có sự khác biệt trong tư duy quản trị và phát triển sản phẩm. Sự “khác biệt” mà Steve Jobs muốn có phải mang tính đột phá và có thể làm thay đổi thế giới như ông đã diễn đạt cụ thể trong clip quảng cáo nổi tiếng của Apple, trong đó sau khi nhắc đến những cái tên như Albert Einstein, Bob Dylan, Martin Luther King, Thomas Edison, John Lennon, Pablo Picasso… với lời nhận xét: “Họ điên khùng. Lập dị. Nổi loạn. Chuyên gây rắc rối. Họ giống như nồi tròn vung méo. Họ nhìn mọi thứ khác lẽ thông thường. Họ ghét nguyên tắc và làm đảo lộn hiện trạng. Bạn có thể thừa nhận hay bất đồng với họ, vinh danh hay căm thù họ. Nhưng bạn không thể không chú ý đến họ. Bởi họ thay đổi mọi thứ và đưa nhân loại tiến lên phía trước”, thông điệp mà Steve Jobs muốn chuyển tải đến mọi người được “chốt” lại: “Trong khi họ bị coi là những kẻ điên, chúng tôi lại thấy đó là những thiên tài. Bởi họ đủ điên để nghĩ mình có thể thay đổi thế giới” (While some may see them as the crazy ones, we see genius. Because the people who are crazy enough to think they can change the world, are the ones who do). Điều đáng nói ở đây là Steve Jobs đã thực hiện được tuyên ngôn “động trời” đó của mình và cũng xứng đáng được xếp vào hàng ngũ những “kẻ điên khùng làm thay đổi thế giới” như Einstein, Edison,… Viết đến đây tôi không thể không liên tưởng đến các slogan dài dòng, sáo rỗng theo kiểu “hô khẩu hiệu” của các doanh nghiệp Việt.  Ai đã từng sử dụng các sản phẩm của Apple, đặc biệt là các sản phẩm gần đây như iPhone, iPad, MacBook Air đều cảm nhận được sự hoàn hảo của chúng không những về chất lượng công nghệ mà cả về thẩm mỹ. Đây chính là điểm nổi trội của các sản phẩm Apple làm cho các đối thủ trầy trật trong cuộc chiến giành giật thị phần. Tuy nhiên, muốn sản phẩm của mình hoàn hảo nhưng Steve Jobs lại không chấp nhận sự phức tạp mà luôn luôn hướng đến sự đơn giản như ông đã chia sẻ khi trả lời phỏng vấn của tờ BusinessWeek (5/1998): “Một trong những câu thần chú của tôi là: Trọng tâm và Đơn giản. Hãy biến những khái niệm phức tạp thành những thứ dễ hiểu. Tạo ra cái gì đó đơn giản còn khó hơn nhiều so với việc làm nó trở nên phức tạp. Nhưng khi làm được, bạn có thể dời non lấp bể”. Và đó cũng chính là nét độc đáo của con người Steve Jobs mà các CEO công nghệ đương thời ít ai có được.   Trong khi không mấy ấn tượng về sự liên quan giữa việc Steve Jobs theo học một lớp luyện viết chữ đẹp sau khi bỏ trường đại học với tính thẩm mỹ độc đáo của các font chữ trên các sản phẩm Apple thì tôi lại rất tâm đắc với lý giải của ông về sự thành công của dòng máy Macintosh (và cũng đúng với các sản phẩm khác của Apple): “Một phần khiến Macintosh tuyệt vời là những người làm ra nó từng là nhạc sĩ, nhà thơ, nghệ sĩ, nhà động vật học và cả nhà sử học nhưng giờ lại trở thành những chuyên gia máy tính hàng đầu thế giới”. Và chính Steve Jobs là kiến trúc sư trưởng cho các sản phẩm được tạo ra bởi sự cộng tác hiệu quả của những con người đa tài đó.   Masayoshi Son, Giám đốc điều hành mạng di động Softbank của Nhật đã đánh giá: “Steve là một thiên tài đích thực của thời đại chúng ta, người có khả năng hiếm hoi trong việc pha trộn nghệ thuật với công nghệ, giống như Da Vinci”. Steve Jobs là một con người cầu toàn đến mức cực đoan, nhưng đó là sự cầu toàn hướng tới sự hoàn thiện của sản phẩm đã và đang góp phần thay đổi thế giới. Đã có các lý giải khác nhau về lý do vì sao quả táo trong logo của Apple lại bị khuyết một góc, nhưng tôi vẫn luôn tin vào giả thiết: đó là do Steve Jobs cho rằng Apple chưa thực sự hoàn hảo, và ông luôn muốn đi tìm kiếm sự hoàn hảo, coi như là một thông điệp để nhắc nhở các nhân viên phải luôn sáng tạo. Bởi đó mới chính là Steve Jobs! Và cũng chỉ có Steve Jobs mới bù đắp được cho phần đang khuyết của Apple, như thông điệp mà tôi tự giải mã qua bản thiết kế logo độc đáo của Jonathan Mak, 19 tuổi, sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hong Kong.                 Thiết kế logo ghép mặt Steve Jobs của Jonathan Mak      Steve Jobs là đệ tử Phật Giáo Thiền Tông                      Steve Jobs mang trong mình 2 dòng máu: bố đẻ là người Ảrập Hồi giáo Syria, mẹ đẻ là người Mỹ (có thể bà theo đạo Thiên Chúa giáo nên thân phụ mới không cho lấy người Hồi giáo chăng?). Còn bản thân Steve Jobs sau khi bỏ học đại học đã có chuyến du lịch khám phá Ấn Độ và từ lúc trở về Mỹ thì ông đã là đệ tử của Phật giáo Thiền tông. Một nguồn gốc và số phận kỳ lạ. Khi vào một số trang Web của Phật giáo tôi đọc được một số bài viết phân tích ảnh hưởng của giáo lý Nhà Phật đối với sự nghiệp của Steve Jobs nhưng do kiến thức hạn hẹp về tôn giáo nên tôi cũng không thể đánh giá được logic của vấn đề. Đã có lúc tôi tự đặt ra một giả thiết hết sức phi lý: nếu như cuộc hôn nhân của bố, mẹ đẻ Steve Jobs không bị cản trở và ông trở thành một người Hồi giáo, thậm chí Hồi giáo cực đoan, thì nhân loại có mất đi một thiên tài không nhỉ? Và nếu Steve Jobs vẫn là một thiên tài như Steve Jobs của Apple ngày nay thì dấu ấn của Hồi giáo sẽ như thế nào trong các thành công của ông? Dĩ nhiên bài toán với giả thiết phi lý sẽ không bao giờ có lời giải đúng đắn!   Không thể nói hết những cảm nhận về một con người độc đáo và vĩ đại như Steve Jobs trong một bài viết như thế này, nhất là đối với những ai may mắn hoạt động trong cùng lĩnh vực nghề nghiệp với ông. Tôi muốn kết thúc bài viết bằng những lời ông đã nhắn nhủ các sinh viên tại Đại học Stanford khi đến nói chuyện với họ vào năm 2005: “Thời gian của bạn không nhiều, đừng lãng phí bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng nghe lời giáo điều, vì đó là suy nghĩ của người khác. Đừng để những quan điểm ồn ào lấn át tiếng nói bên trong bạn. Hãy biết bạn muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu”.   Theo tôi, đó là những lời khuyên quý báu đối với tất cả mọi người, cho dù họ đang sở hữu quỹ thời gian nhiều hay ít.  Tôi coi bài viết này như một ngọn nến nhỏ tri ân Steve Jobs gửi đến Lễ tưởng niệm chính thức mà Apple dành cho ông vào 10h ngày 19/10/2011 tại trụ sở chính của Công ty ở Cupertino, California.  18/10/2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một người hỗ trợ có tâm      Trong hồ sơ bảo vệ trước hội đồng xét chọn danh hiệu Forbes Under 30 – những người trẻ nổi bật nhất năm 2018 của tạp chí Forbes – tôi trình bày rằng: “Chị Phan Hoàng Lan, Phó Giám đốc – Văn phòng Đề án Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia – là một công chức nhà nước hiếm hoi hội tụ đủ các tiêu chí để trở thành bạn thân của startups”.      Phan Hoàng Lan hiện nay là Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ  – Bộ Khoa học và Công nghệ.  Xin chào, nghe nói chị đang làm luận văn tiến sĩ về… hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam? Các tổ chức quốc tế đã nghiên cứu nhiều về việc này rồi, sao lại phải dành mấy năm trời “tuổi thanh xuân” của mình cho nó ạ?  Đúng như anh nói, nghiên cứu về doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung hay về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đã có khá nhiều đơn vị làm, kể cả những nghiên cứu lý thuyết lẫn những nghiên cứu thực tiễn. Thế nhưng vẫn có rất nhiều câu hỏi chưa được giải quyết. Ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm, đối với từng loại doanh nghiệp các yếu tố này lại khác nhau. Ở Việt Nam, vì hệ sinh thái khởi nghiệp mới hình thành chưa lâu nên các nghiên cứu về vấn đề này càng hiếm. Đặc biệt, các yếu tố thường không đứng độc lập mà yếu tố này lại có thể kết hợp với các yếu tố khác để ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp.Ví dụ như không phải cứ nhận được hỗ trợ tài chính của nhà nước là doanh nghiệp sẽ phát triển, có thể hỗ trợ này phải đến ở một giai đoạn phát triển nhất định của doanh nghiệp, hoặc doanh nghiệp phải có một quy trình quản trị nhất định hoặc phải có kết hợp giữa hỗ trợ tài chính giữa nhà nước và tư nhân thì mới thành công được.  Nói chung, việc học tiến sĩ đối với tôi là cách tôi chọn để có thời gian chiêm nghiệm, nghiên cứu sâu hơn, hiểu kỹ hơn về doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam, điều mà nếu tôi bị cuốn đi trong các công việc cơ quan thường ngày thì khó có điều kiện để làm. Một chính sách đưa ra có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người và rất khó để sửa, nên theo tôi cần có sự chuẩn bị một cách kỹ càng về kiến thức và hiểu biết về doanh nghiệp thì mới có thể xây dựng các chính sách phù hợp nhất với đối tượng này.  Chị có định nghĩa của riêng mình về hệ sinh thái khởi nghiệp không?  Tôi không có định nghĩa gì mới về hệ sinh thái khởi nghiệp cả, chỉ đơn giản tôi hiểu đó là tập hợp các nguồn lực để thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp đưa ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ mới ra thị trường và giải quyết các vấn đề của xã hội. Nguồn lực này bao gồm các nguồn lực về con người, tài chính, vật chất cũng như các nguồn lực về tinh thần.  Vì sao chị quyết định chọn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là con đường của mình?  Cũng tình cờ thôi. Cách đây 4 năm, tôi được giao nhiệm vụ hỗ trợ một phần Đề án Thương mại công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon tại Việt Nam, là đề án đưa chương trình tổ chức thúc đẩy kinh doanh theo mô hình của Hoa Kỳ vào Việt Nam, hỗ trợ đào tạo, tập huấn và cung cấp tư vấn nhằm thu hút đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng. Sau đó, tôi lại được tham gia vào một chuyến đi học tập kinh nghiệm hỗ trợ khởi nghiệp từ Israel cùng với 4 doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng của Việt Nam.  Tôi nhanh chóng bị cuốn hút vào ý nghĩa công việc và năng lượng sáng tạo của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Tôi cũng nhận ra tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp này là rất lớn, có thể thay đổi toàn bộ nền kinh tế nếu như họ có đủ môi trường hoạt động tốt nhất, đặc biệt là môi trường chính sách mà chúng ta lại chưa có những chính sách phù hợp. Vậy là tôi bắt tay vào làm thôi. Vừa là nhiệm vụ được lãnh đạo Bộ và lãnh đạo cơ quan giao, vừa là công việc mà mình cảm thấy có ý nghĩa thì còn gì bằng.  Chị tìm động lực và năng lượng ở đâu để lúc nào cũng “high” hết trơn khi làm việc vậy?  Thực ra không phải lúc nào năng lượng cũng nhiều đâu vì công việc xây dựng chính sách cần nhiều thời gian lắm và có khi mình đề xuất cả 10 chính sách thì chỉ 1 được thông qua chẳng hạn. Nhưng mà mỗi lần tiếp xúc với doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc làm được việc gì đó cho họ và cảm thấy họ thực sự được hưởng lợi ích từ việc mà chúng tôi làm thì chúng tôi lại được tiếp thêm năng lượng để tiếp tục công việc của mình.  Lúc “down” nhất của chị khi làm việc là lúc nào?  Nói chung cũng nhiều lúc bị “down” lắm. Nhất là những khi do thiếu hiểu biết, kinh nghiệm, hoặc do không có đội ngũ thực hiện tốt mà một phần chính sách đề xuất không được triển khai, không đến được doanh nghiệp. Ngoài ra thì khi các bạn làm việc chung với mình phải từ bỏ công việc vì công việc không đảm bảo được thu nhập như ở bên ngoài hoặc do công việc quá nặng nhọc thì cũng là những lúc tôi cảm thấy khá buồn.  Cho tới giờ, vẫn còn nhiều hoài nghi về phong trào khởi nghiệp. Điều gì làm chị vững tin đến vậy?  Có một tinh thần mà hầu hết ai làm khởi nghiệp cũng có, đó là cứ làm thôi, sai thì làm lại. Khởi nghiệp đến 90% là thất bại mà người ta vẫn làm cơ mà. Điều này cũng đúng với cả chính sách nữa. Các nước như Singapore có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển như vậy mà họ còn chấp nhận rằng những năm đầu chính sách khởi nghiệp có nhiều sai lầm, sau đó dần dần họ mới học được những bài học quý giá và làm tốt hơn.  Nói tóm lại, tôi không thể khẳng định rằng 5 năm nữa hay 10 năm nữa, khởi nghiệp Việt Nam sẽ ngang tầm với các nước như Singapore hay xa hơn là Hoa Kỳ, tôi chỉ nghĩ rằng việc khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là công việc thực sự có ý nghĩa khi giải quyết các vấn đề xã hội, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, đưa công nghệ mới, sản phẩm và dịch vụ mới ra thị trường và đồng thời có ý nghĩa với chính bản thân những người người khởi nghiệp vì họ được tự do sáng tạo, đam mê và làm chủ cuộc sống của mình. Như vậy, có càng nhiều người dám khởi nghiệp thì càng tốt và chúng tôi là những người đi hỗ trợ cũng cần làm hết sức mình để đồng hành cùng họ.  Chị hình dung 5 năm sau thì hệ sinh thái khởi nghiệp của mình sẽ như thế nào?  Với tốc độ phát triển như hiện nay thì 5 năm nữa số lượng và chất lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ tăng lên rất nhiều. Các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp cũng trở nên chuyên nghiệp hơn, các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp dần được hoàn thiện. Thời gian 5 năm nữa cũng đủ để một số doanh nghiệp thực hiện thoái vốn. Tôi hy vọng lúc đó sẽ có nhiều doanh nghiệp thoái vốn với trị giá hàng chục, hàng trăm triệu USD, từ đó trở thành các câu chuyện thành công, và các doanh nhân thành công quay trở lại làm nhà đầu tư thiên thần, người hướng dẫn và kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam với thế giới. Có lẽ lúc đó chúng ta sẽ gần giống Malaysia bây giờ.  Theo chị, thế nào là cân bằng giữa công việc và cuộc sống?  Theo tôi, cân bằng giữa công việc và cuộc sống là khi mình vừa cảm thấy hào hứng khi đến nơi làm việc và phấn chấn khi về nhà gặp gỡ những người mà mình yêu quý. Và đồng nghiệp, người thân của mình cũng thấy như vậy.  Nói chung làm việc này không dễ chút nào. Tôi cũng thường bị người thân phàn nàn nhiều vì chưa dành đủ thời gian cho họ. Trước tôi cũng hay có thói quen email, điện thoại về công việc cho đồng nghiệp vào cuối tuần hay vào buổi tối. Nhưng dần dần tôi nhận ra việc này chẳng tốt chút nào. Mọi người cần có thời gian cho bản thân và cho gia đình nữa. Như vậy họ mới đủ năng lượng để quay trở lại công việc một cách hào hứng vào ngày hôm sau.  Đâu là danh sách những điều cần biết nhất về khởi nghiệp?  Như tôi đã nói, điều cần biết nhất theo tôi đó là hiểu được vấn đề tồn tại của thị trường và xem các ý tưởng của mình có thực sự giải quyết vấn đề của thị trường hay không. Sau đó thì tìm hiểu xem thị trường đó có đủ lớn để bắt đầu khởi nghiệp không.  Những điều còn lại cũng rất quan trọng như các bước khởi nghiệp là gì, nguồn lực dành cho khởi nghiệp phải tìm ở đâu, làm thế nào để tìm người cùng chí hướng để khởi nghiệp.  Cuối cùng, tôi nghĩ một người muốn khởi nghiệp phải chuẩn bị tinh thần để thất bại, họ cần biết những người đi trước đã thất bại như thế nào, có cách nào để tránh mắc lại các sai lầm của người đi trước, nếu thất bại thì họ sẽ mất những gì, và họ có sẵn sàng để mất những thứ đó hay không.  Chị nghĩ là Việt Nam nên phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp theo mô hình nước nào?  Tôi nghĩ là mỗi quốc gia có những đặc điểm nhất định và ở một giai đoạn nhất định nên khó mà học theo mô hình của nước nào cụ thể cả. Mỗi vùng, miền, tỉnh, thành phố lại có những điểm rất riêng, nên sẽ có những cách thức khác nhau để phát triển hệ sinh thái của mình. Ngoài ra, hệ sinh thái bao gồm rất nhiều thành phần, tổ chức và con người khác nhau, mỗi đơn vị đó sẽ tự tìm thấy một con đường cho mình và tự phát triển theo nhu cầu của thị trường, nên khó mà định hướng được cho một hệ sinh thái quốc gia.  Về mặt chính sách, tôi chỉ nghĩ rằng có một số tư duy trong việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của một số nước mà có lẽ Việt Nam nên học hỏi. Ví dụ, nên coi việc phát triển khởi nghiệp là khái niệm không biên giới, như Malaysia, Singapore là những nước xung quanh ta luôn mong muốn thu hút doanh nhân khởi nghiệp, nhà đầu tư, nhà hỗ trợ khởi nghiệp từ khắp nơi trên thế giới đến nước của họ, bằng việc hỗ trợ thủ tục visa dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho dòng tiền đầu tư lưu thông một cách dễ dàng, cho họ được đối xử công bằng với các đơn vị trong nước khi tiếp nhận các chính sách hỗ trợ của nhà nước, không quan trọng là con người đó, tổ chức đó đến từ đâu, chỉ cần họ tạo ra công ăn việc làm, giá trị cho đất nước của mình là được. Ngược lại, có những điều kiện mà các nước này không có thì họ cũng rất thoải mái khi doanh nghiệp phát triển trong nước đi ra nước ngoài, đăng ký doanh nghiệp tại Hoa Kỳ hay bất kỳ đâu để thu hút đầu tư tốt hơn. Việt Nam, với thị trường rất lớn tại Đông Nam Á, lại càng nên mở rộng cửa đối với hoạt động trao đổi, hỗ trợ khởi nghiệp mang tính quốc tế.  Ngoài ra, một hệ sinh thái khởi nghiệp ổn định và phát triển nên tạo điều kiện để sử dụng tốt nhất các nguồn lực và thế mạnh sẵn có của mình, đồng thời hướng doanh nghiệp khởi nghiệp đến việc giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống. Ví dụ, ở Israel có thể thấy công nghệ quốc phòng rất phát triển và họ đã đưa các công nghệ này vào các doanh nghiệp khởi nghiệp. Ở nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, họ cố gắng đưa các nghiên cứu, công nghệ chuyên sâu vào hoạt động khởi nghiệp để giải quyết các vấn đề về sức khỏe, môi trường, xây dựng thành phố thông minh. Ở Việt Nam, chúng ta có rất nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết nhưng lại chưa có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp giải quyết những vấn đề đó như về an toàn thực phẩm, phát triển giá trị các sản phẩm nông nghiệp, giải quyết các vấn đề về môi trường, xóa đói giảm nghèo, y tế cộng đồng… Những chính sách mà các nước (cấp quốc gia hay địa phương) hay sử dụng trong trường hợp này là việc nhà nước mua lại các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để giải quyết vấn đề của quốc gia, địa phương. Theo tôi, Việt Nam cũng nên học hỏi các chính sách này.  Doanh nghiệp khởi nghiệp nào mà chị hâm mộ nhất? Vì sao?  Tôi hâm mộ tất cả các doanh nhân khởi nghiệp. Họ thực sự rất dũng cảm khi dám chịu những rủi ro rất lớn về mặt tài chính, tinh thần để bắt đầu khởi nghiệp. Nhất là những người đã có gia đình, con cái thì trách nhiệm với gia đình càng lớn mà họ vẫn dấn thân vào con đường khởi nghiệp thì rất đáng quý. Tôi còn hâm mộ hơn những người đã từng thất bại, không chỉ một mà nhiều lần, có khi phá sản mà vẫn quay trở lại với con đường của mình. Điều đó đâu phải ai cũng làm được.  Tuy nhiên, có một doanh nghiệp mà tôi khá ấn tượng với một đặc tính của họ mà không phải doanh nghiệp khởi nghiệp nào cũng có: đó là sự quy củ và kỷ luật. Doanh nghiệp mà tôi muốn nhắc tới ở đây là Beeketing, một trong những doanh nghiệp khởi nghiệp được coi là đang khá thành công khi đưa dịch vụ của mình ra thế giới và được nhận đầu tư từ nhiều nhà đầu tư quốc tế, trong đó có quỹ 500 Startup từ Hoa Kỳ.  Tôi chắc chắn rằng nhiều doanh nhân khởi nghiệp tại Việt Nam đã đọc cuốn LeanStartup (khởi nghiệp tinh gọn) và về mặt lý thuyết họ hiểu rằng cần phải tìm hiểu khách hàng trước và đưa sản phẩm ra thị trường, nhưng không phải founder (người sáng lập) nào cũng thực hiện được điều này. Họ thường hay bị cuốn vào sự hấp dẫn của việc tìm tòi, nghiên cứu, tập trung vào công nghệ mà cho rằng sản phẩm của họ tốt như vậy, nghiễm nhiên khách hàng phải thích, phải mua mà không thực sự để ý đến khách hàng thực sự cần gì nên khi có sản phẩm đưa ra thị trường thì lại chẳng ai mua.  Từ khi được làm việc với Beeketing, tôi nhận ra các bạn luôn có hệ thống theo dõi hành vi khách hàng (metrics) và mỗi lần ra sản phẩm mới đều có thời gian thử nghiệm phản ứng của khách hàng, chỉnh sửa, rồi mới tung ra sản phẩm chính thức. Các bạn ấy đã bỏ qua cái tôi trong việc chứng minh công nghệ, sản phẩm của mình là nhất mà thay vào đó là lắng nghe khách hàng để làm tốt hơn công việc của mình. Tôi nghĩ đây là một đặc điểm đáng quý mà nhiều startup nên học hỏi.  Xin cảm ơn chị!  Trần Vũ Nguyên thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một sáng kiến đáng chờ mong      Gần đây tôi được nghe nói về một sáng kiến của Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh nhằm thu hút các nhà khoa học và kỹ sư đẳng cấp quốc tế tham gia cùng cộng đồng khoa học để nâng cao trình độ khoa học công nghệ nơi đây. Điều này tất nhiên đáng hoan nghênh, mọi nỗ lực nhằm đảo ngược xu thế chảy máu chất xám vốn chưa từng giảm bớt trong vòng ba thập kỷ qua đều cần được khuyến khích và ủng hộ. Sự chuyển dịch cần thiết này từng diễn ra ở Trung Quốc từ lâu, và chúng ta vô cùng mong nó cũng diễn ra ở Việt Nam.      Ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành Ủy TP. Hồ Chí Minh tới thăm Đại học Quốc tế, Đại học QGTPHCM năm 2017. Nguồn ảnh: Đại học Quốc tế, ĐH QG TPHCM.   Do không được biết chi tiết nội dung bản đề xuất nên tôi không thể đưa ra đánh giá; tôi chỉ có thể bày tỏ những suy nghĩ thẳng thắn về các điều kiện cần thiết để một sáng kiến như vậy đạt được thành công.   Một điều quan trọng, theo tôi, là sự cần thiết có ai đó thực sự được giao trách nhiệm đứng đầu. Nhiều dự án ở Việt Nam thất bại đơn giản vì chẳng ai là người đứng đầu thực sự, ví dụ điển hình nhất là với chương trình phát triển năng lượng hạt nhân; và còn nhiều ví dụ khác: tôi chỉ nêu lại trường hợp tôi được biết rõ, là chương trình Vũ trụ, lẽ ra sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn nếu có ai đó thực sự dẫn dắt để có được sự phối hợp mạch lạc, nhịp nhàng giữa các đơn vị cùng các dự án. Tất nhiên người đứng đầu cần có đủ năng lực, nhưng điều quan trọng hơn nữa là phẩm chất liêm chính và sự đảm bảo rằng người đó sẽ không đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích quốc gia. Điều tệ nhất là giao những chương trình, dự án như vậy vào tay các ủy ban bởi sẽ chỉ mang lại sự vô trách nhiệm, làm hại lợi ích chung, và tạo cơ hội cho những cá nhân tìm cách giành lấy miếng bánh về phần mình.  Việc lựa chọn các nhà khoa học tham gia dự án phải hoàn toàn không thỏa hiệp và không chấp nhận sai sót. Ở một đất nước như Việt Nam nơi trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh và khó khăn, việc lựa chọn người phù hợp tốt nhất nên dựa trên tiếng nói chuyên môn của một hội đồng tư vấn gồm các nhà khoa học quốc tế, trong đó những người được mời phải dựa trên cơ sở năng lực và phẩm chất liêm chính. Đáng tiếc là môi trường hoạt động khoa học ở Việt Nam chưa khuyến khích cách làm như vậy. Khi tham gia và hình thành Phòng Vật lý thiên văn và Vũ trụ của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, đề nghị đầu tiên của chúng tôi là được có một hội đồng nhỏ các nhà khoa học quốc tế, gặp gỡ định kỳ một lần hằng năm để đánh giá chất lượng công việc và góp ý nhằm tối ưu hóa định hướng phát triển. Đề nghị đó bị từ chối. Thật đáng tiếc bởi một nhà quản lý tốt nên hoan nghênh một hội đồng tư vấn như vậy hỗ trợ mình làm tốt hơn nhiệm vụ được giao. Chỉ những nhà quản lý tồi mới sợ bị phơi bày yếu kém và mất đi cương vị, mà tất nhiên những trường hợp như vậy là vô cùng hiếm hoi.  Tôi biết có nhiều báo cáo được viết bởi các ủy ban tư vấn quốc tế về thực trạng ở Việt Nam, không phải do phía trong nước thúc đẩy, mà do các cơ quan quốc tế như Ngân hàng Thế giới hay Liên Hợp Quốc. Các báo cáo đó thường có nhiều thông tin hữu ích và đất nước sẽ hưởng nhiều lợi ích nếu thực hiện theo các khuyến nghị của họ, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng bị bỏ qua. Sau hai mươi năm sống ở Việt Nam, tôi vẫn không hiểu được nghịch lý này: trong khi người Việt thường đánh giá cao (thậm chí quá cao) các nước đã phát triển và khuyến khích con em mình xuất ngoại tới những đất nước này, nhưng họ lại chẳng muốn lắng nghe những lời khuyên của các chuyên gia đến từ chính những đất nước ấy.      Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp những nhà khoa học Việt kiều được đối đãi không phù hợp, khi chúng ta dành sự coi trọng quá cao hoặc quá thấp đối với trình độ chuyên môn và kỹ năng của họ. Pierre Darriulat      Việc chọn người [tư vấn] là vô cùng quan trọng, tiếp theo không kém phần quan trọng là chọn các chương trình, dự án. Những người được mời tư vấn cần có năng lực chuyên môn tốt, nhưng họ cũng cần am hiểu hiện tình Việt Nam: đâu là các nhu cầu và mục tiêu ưu tiên, đâu là ưu điểm và nhược điểm trong đội ngũ nhân lực. Hiển nhiên những ngành khoa học và công nghệ phục vụ tốt nhất nhu cầu của quốc gia phải được ưu tiên, nhưng chúng ta cần nhìn xa hơn để chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai phía trước, cụ thể là dành một nguồn lực nhất định cho nghiên cứu cơ bản. Một lần nữa, ở đây tốt nhất nên thành lập một hội đồng tư vấn vấn quốc tế.   Vấn đề là trong thế hệ các nhà khoa học kỳ cựu trong nước không có đủ các chuyên gia giỏi, điều ấy không có gì đáng xấu hổ bởi đó là hệ quả tất yếu của lịch sử trước đây, khi đất nước còn đói nghèo thì tri thức không được quan tâm phát triển đúng mức. Chúng ta có trách nhiệm tạo điều kiện cho thế hệ trẻ đạt tới trình độ chuyên môn và sự chuyên nghiệp mà thế hệ cha anh không có cơ hội được hưởng. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể hi vọng Việt Nam chuyển mình từ một nền kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và đầu tư nước ngoài để trở thành một nền kinh tế tri thức.  Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trọng dụng các nhà khoa học Việt kiều trở về xây dựng đất nước một cách khách quan tối đa. Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp họ được đối đãi không phù hợp, khi chúng ta dành sự coi trọng quá cao hoặc quá thấp đối với trình độ chuyên môn và kỹ năng của họ.  Từ những thông tin hạn chế được biết, tôi khó có thể nói gì thêm; nhưng tôi hi vọng rằng những sáng kiến tương tự sẽ nảy nở ở cả những nơi khác, đặc biệt như ở Hà Nội, và chúng sẽ tạo cơ hội để thay đổi phong cách quản lý khoa học và công nghệ, theo những nguyên tắc cơ bản và thông thường mà tôi vừa vắn tắt đề cập.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Một số giải pháp công nghệ mới tại hội chợ Hannover      Tại Hội chợ Hannover 2011 (Đức), nhiều doanh nghiệp trên khắp thế giới trưng bầy những sáng chế, phát minh mới nhất của mình. Không ít phát minh trong số này&#160;có thể&#160;sẽ làm thay đổi cuộc sống hàng ngày của chúng ta.&#160;    Thường thì các hội chợ công nghiệp thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới chuyên gia. Tuy nhiên những máy móc, robot và màn hình giới thiệu các giải pháp công nghệ mới  tại hội chợ Hanover thu hút đặc biệt sự chú ý của giới hâm mộ và cả khách tham quan thông thường. Bên cạnh các loại máy chuyên dụng ở hội chợ này người ta còn thấy những sản phẩm sẽ đóng vai trò nhất định trong cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng trong thời gian tới đây hoặc trong tương lai không xa. Thí dụ tại Hội chợ năm nay người ta đặc biệt chú ý đến một phát minh đầy ý nghĩa: nhờ chất chiếu sáng có thể phân biệt rõ ràng hàng giả, hàng nhái với hàng chính hãng. Phát minh này cùng với bốn sáng chế phát minh khác được đề cử tranh giải thưởng Hermes của Hội chợ Hannover, đây là một giải thưởng rất sáng giá. Một trong những điều kiện để trúng giải  này là sản phẩm đã trải qua giai đoạn thử thách công nghiệp, có giá trị kinh tế cao và phải có tính độc đáo.   Chất phát sáng chống hàng nhái, hàng giả  Đối với nhiều doanh nghiệp thì cuộc chiến chống hàng nhái, hàng giả  đang là một thách thức lớn. Một số kẻ làm hàng giả, hàng nhái điêu luyện đến mức bản thân các chuyên gia cũng có lúc bị thật giả lẫn lộn. Hãng Tailorlux  nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực chống hàng giả thực hiện việc gắn chất phát sáng vào sản phẩm chính hiệu nhờ đó người tiêu dùng dễ dàng phân biệt giữa hàng thật và hàng giả.                 Những mầu sắc này không những đẹp mà còn giúp phát hiện hàng giả, hàng nhái. Hãng Tailorlux chuyên môn hóa vào việc chống hàng nhái. Hàng hóa chính hiệu đều được đánh dấu bằng chất phát sáng để  dễ dàng nhận dạng. Chất phát sáng là hóa chất điều chế từ đất hiếm.    Chất phát sáng này được làm từ các loại hóa chất có trong đất hiếm. Ông Alex Deitermann  giám đốc marketing của hãng cho hay người ta có thể phát triển khoảng 300 tỷ các loại chất phát sáng khác nhau tương tự như các vì sao. Mỗi chất có một nguồn sáng quang phổ riêng biệt của mình. Chất đánh dấu này có thể dấu kín trong  sản phẩm như trộn với mực in hoặc sơn, chất này không độc cho nên có thể gắn trong đồ chơi trẻ em. Nhờ một máy đọc, Spektroskop, có thể xác định được chất đánh dấu và so sánh với cấu trúc của nó được lưu trong ngân hàng dữ liệu. Chất này có thể dùng để đánh dấu với các sản phẩm bằng nhựa, chất lỏng, chất bột, thủy tinh và nhiều loại nguyên liệu khác nhau. Người ta cũng có thể đánh dấu cả dược phẩm. Tuy nhiên, không thể dùng chất này để đánh dấu các sản phẩm bằng kim loại vì kim loại có khả năng nuốt nguồn phát sáng.    Ông Deitermann cho biết, các doanh nghiệp, các hãng dược phẩm, ngành hải quan và người tiêu dùng có thể dùng loại thiết bị đọc này để kiểm tra độ xác thực của sản phẩm. Hãng Tailorlux  còn dự định sẽ gắn  thiết bị Spektroskope vào Smartphon. Khi đó người bệnh chỉ sau vài giây đồng hồ là có thể biết loại thuốc mà họ dùng có phải là thuốc chính hãng hay không. Ngay cả khi đi mua hàng chất đánh dấu cũng có thể phát huy vai trò của mình. Thí dụ người nào định mua một cái túi xách chỉ cần chụp sản phẩm đó rồi gửi kết quả đi, chỉ giây lát sau nhận được câu trả lời sản phẩm này là thật hay nhái. Hiện hãng đang thương thảo kế hoạch hợp tác với hãng sản xuất điện thoại di động  Nokia.   Robot có cảm giác  Hãng FerRobotics giới thiệu tại hội chợ  Hannover  Robot  có gắn một loại bích cảm giác giúp nó có cảm giác như con người. Nhờ cái bích này, Robot làm các động tác lau chùi, đánh bóng đặc biệt nhẹ nhàng. Khi cánh tay Robot làm việc trên một mặt phẳng cứng người ta đặt cái bích này vào giữa máy và công cụ. Bích ghi nhận mức độ đề kháng và thông báo kịp thời tới bộ phận điều khiển của máy từ đó áp lực khi đánh bóng hoặc mài được điều tiết thích hợp. Với thiết bị này, hãng FerRobotics của Áo cho rằng có thể tự động hóa những khâu mà cho đến nay vẫn phải sử dụng bàn tay con người khi cần phải thao tác một cách hết sức nhẹ nhàng. Theo hãng này, có thể gắn bích tiếp xúc vào mọi Robot tiêu chuẩn. Người ta có thể dùng thiết bị này để kiểm tra chất lượng bàn phím. Thiết bị bắt chước ngón tay ấn trên bàn phím để điều chỉnh bàn phím cho phù hợp. Theo nhà sáng chế, thiết bị này còn có thể thay thế bàn tay con người để làm những loại công việc có độ nhạy cảm cao như đóng gói, dán và  mài.   Sensor, “mắt điện tử”  Một thí nghiệm được trình diễn tại hội chợ Hannover thu hút đông đảo công chúng. Trên một cái kệ nhỏ người ta đặt nhiều hộp kem xoa da và  một số bình xịt, phía trước là ba cái lọ nhỏ đựng nước hoa. Hai Sensor di chuyển liên tục từ trái sang phải. Loại Sensor chạy theo nguồn sáng này do hãng Wenglor phát triển dùng để đo khoảng cách. Sensor mới này hoạt động theo nguyên tắc xác định thời gian chạy của ánh sáng  (Lichtlaufzeitmessung), có nghĩa là, sensor phát ra sung ánh sáng và đo thời gian khi sung ánh sáng quay trở lại. Khoảng thời gian này giúp xác định khoảng cách đối với những vật cần theo giõi. Theo thông tin của nhà sáng chế, phát minh này giúp thực hiện các nhiệm vụ nhận biết mà cho đến nay được coi là không thể thực hiện được.                Bộ phận cảm biến ( Sensor) mầu xanh (bên trái) trong một thí nghiệm nhỏ, đã được áp dụng trong thực tiễn sản xuất: Loại cảm biến này được sử dụng như một  “con mắt điện tử” và có khả năng  nhận biết mầu sắc, hình dáng của hàng hóa cũng như xác định  chúng được làm từ chất liệu gì, sensor này được gắn  trong nhà  kho, trên các băng chuyền hoặc trên những robot làm công việc lắp ráp.  Thiết bị này chủ yếu dùng trong kho tàng, trên hệ thống băng chuyền hoặc lắp vào robot lắp ráp. Thiết bị này có khả năng nhận biết mầu sắc, chất liệu và hình dạng hàng hóa để trên kệ. Loại  Sensor này có thể lắp trên xe nâng hạ tự động  như một  “con mắt điện tử” làm việc trong nhà kho.   Thiết bị đo áp lực không khí tiết kiệm năng lượng    Tại gian trưng bầy của hãng  Omega Air (Slovenia) có nhiều bộ phận hình ống nhiều mầu nằm cạnh nhau. Trong đó có một cái ống trồi hẳn lên: một thiết bị điện tử đo khí nén nằm trong  trong một hộp kính để trình diễn. Thiết bị này được sử dụng trong các cơ sở khí nén  nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng. Thiết bị được lắp đặt để giám sát các bộ lọc khí nén. Một  Sensor có nhiệm vụ phát hiện chính xác sự giảm áp nhưng tiêu hao rất ít năng lượng đến mức có thể vận hành bằng hệ thống pin lắp trong thiết bị.    Khâu then chốt của  Sensor này là một loại dung dung dịch điện từ. Thông thường những thay đổi về áp lực sẽ được phát hiện nhờ một màng mỏng với sự xê dịch của thanh nam châm. Cái mới ở đây là  giọt dung dịch đã được từ hóa xê dịch thay cho sự xê dịch của thanh nam châm. Phương pháp này có ưu điểm là chính xác và tiêu hao ít năng lượng. Do đó không cần nối với mạng lưới điện mà có thể chỉ dùng pin.   Phun bằng hơi nước thay vì khí nén  Hãng Krautzberger giới thiệu quy trình phun bằng hơi nước mà hãng đã được trao giải thưởng sáng chế phát minh Hermes năm nay.    Thay vì dùng khí nén  hãng Krautzberger  dùng hơi  để phun sơn, keo dán  hoặc  men. Ưu thế của quy trình này là chất liệu phun mềm mại hơn và giảm mức độ tạo sương. Một nhân viên giới thiệu quy trình phun sơn ngay tại khu vực triển lãm. Nhân viên này phun sơn xanh lên một tờ giấy, cạnh đó ông ta cầm một tờ giấy trắng và tờ giấy này hầu như không bị vấy bẩn.    Phương pháp phun hơi này giúp tiết kiệm nguyên liệu, hạn chế công sức lau chùi và bản thân người lao động ít bị ảnh hưởng của hơi phun độc hại. Hơn nữa thời gian hong khô cũng ngắn hơn.  Ý tưởng đầu tiên về phun hơi đã hình thành cách đây 20 năm và đến bây giờ quy trình này đã chín muồi. Tuy nhiên quy trình phun hơi này này không thích hợp để  áp dụng trong gia đình mà chỉ thích hợp với các giây chuyền sản xuất tự động hóa, thí dụ như để phun men mầu lên các sản phẩm gốm,  sứ…  Loại thiết bị phun hơi này khá đắt, giá thành lắp hệ thống phun hơi này lên tới  17.000 Euro.   Xuân Hoài (Theo Spiegel 3.2011)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số loài cá có thể “tự nhận ra mình” trong gương      Công bố “Nếu một con cá có thể vượt qua thí nghiệm đánh dấu, gợi ý cho việc kiểm tra hiểu biết và tự nhận thức trong loài vật là gì?” (If a fish can pass the mark test, what are the implications for consciousness and self-awareness testing in animals?) trên tạp chí PLOS Biology cho thấy cá dọn vệ sinh sọc lam đã vượt qua bài kiểm tra trí thông minh. Cho tới nay mới chỉ có một số động vật vượt qua ngưỡng này là các loài khỉ dạng người loại lớn (Hominidae), cá heo mũi chai, cá voi sát thủ, chim ác là Á Âu và một cá thể voi châu Á.      Một con cá dọn vệ sinh sọc lam tương tác với hình ảnh phản chiếu của nó trong gương đặt ngoài bể kính. Nguồn: Alex Jordan/Max Plant Institute/PLOS Biology  Sức mạnh não bộ của loài cá đã bị đánh giá thấp khi loài cá thường được coi là chỉ nhớ được trong vòng 3 giây. Tuy nhiên cá dọn vệ sinh sọc lam cùng một vài loài cá khác đã vượt qua “bài kiểm tra soi gương”, vốn được dùng trong nhiều thập kỷ như một thước đo tiêu chuẩn vàng về trí thông minh của động vật. Alex Jordan, một nhà sinh học tiến hóa tại Viện nghiên cứu các loài chim Max Planck ở Đức và là đồng tác giả nghiên cứu cho biết: “Khả năng tự nhận thức của các loài vật rất hấp dẫn, tuy không được đánh giá cao”. Ông và đồng nghiệp đang kêu gọi đánh giá lại xếp hạng trí thông minh của động vật bởi mặc dù nổi tiếng là “não rỗng”, loài cá thể hiện rất tốt trong một số nhiệm vụ nhất định.   Loài cá dọn vệ sinh sọc lam (Labroides dimidiatus) dài khoảng 10cm, có vết sọc trên thân, sống trong các rạn san hô. Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy loài cá này có đời sống xã hội phức tạp, hình thành cả đồng minh lẫn kẻ thù, tạo ra những suy luận logic về việc liệu chúng có thể sẽ đánh bại được con cá khác trong các cuộc chiến hay không và chứng tỏ được khả năng lừa dối. Chúng cũng có những mối quan hệ hợp tác cùng có lợi với những loài cá khác lớn hơn, thông qua việc ăn da chết và ký sinh trùng trên đó.  Trong suốt bài kiểm tra soi gương, các nhà nghiên cứu đã đánh dấu lên cơ thể con cá ở một vị trí chỉ có thể nhìn thấy khi soi gương. Ban đầu, con cá đã phản ứng mạnh mẽ và liên tục cố gắng cắn lại hình ảnh phản chiếu trong gương. Nhưng trong vài ngày tiếp theo, chúng ngừng cắn và bắt đầu “hành xử kỳ lạ” trước gương, bơi lộn ngược hoặc thực hiện những đợt tăng tốc đột ngột lặp đi lặp lại trước gương.  Những con cá này đã được “kiểm tra ngẫu nhiên” – làm những điều kỳ lạ để xem liệu hình ảnh phản chiếu có như vậy hay không. Theo quan sát, sau khi nhìn thấy hình ảnh trong gương, chúng đã cố gắng xóa bỏ vết đánh dấu trên cơ thể bằng cách cọ xát lên các bề mặt cứng. Điều này không diễn ra khi những con cá không được soi gương hoặc khi chúng tương tác với những con cá được đánh dấu qua một tấm ngăn trong suốt.   Jordan cho rằng, dù không chắc chắn cá có khả năng tự nhận thức, nhưng kết quả nghiên cứu đã thách thức quan niệm rằng trí thông minh của động vật đi theo một tiến trình liên tục, trong đó tinh tinh xếp hạng cao nhất và cá, côn trùng, bò sát ở phía dưới cùng. Tuy nhiên, viễn cảnh loài cá tăng bậc về mức độ nhận thức vẫn chưa được công nhận, và bài báo này đã gây tranh cãi tới mức các tác giả phải mất 5 năm để xuất bản.   Tranh luận về công bố này, Giáo sư Gordon Gallup, một nhà tâm lý học ở Đại học Albany, New York, người tiên phong về bài kiểm tra soi gương năm 1970, cho rằng hành vi trên có thể là do cá được lập trình về mặt tiến hóa để chúng quan tâm đến những dấu hiệu trên da. “Một khả năng khác là những kết quả này có thể là một kỹ xảo nhờ sử dụng những dấu hiệu mô phỏng sinh vật ký sinh”, ông cho biết.  Các tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu đã đặt ra vấn đề bảo vệ loài cá. Jordan cho biết: “Chúng tôi phải hết sức cẩn trọng để các nhà khoa học và mọi người không mất đi sự đồng cảm với các loài động vật khác chúng ta, gây ảnh hưởng tới quan điểm của họ về nghiên cứu. Nói cách khác, chúng ta dễ dàng bỏ qua hoặc quên đi sự thật rằng cá và những loài động vật khác đều có tri giác, chẳng hạn như toàn bộ hoạt động đánh bắt của chúng ta khiến những con cá này bị chết trong căng thẳng và đau đớn trên boong thuyền”. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2019/feb/07/scientists-find-some-fish-can-recognise-themselves-in-mirror    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số nguồn năng lượng bổ sung độc đáo      Chúng ta đều đã nghe đến điện mặt trời, điện gió, thủy điện, địa nhiệt. Nhưng trong lĩnh vực công nghệ năng lượng sạch trên thế giới hiện nay, chúng ta đã có thêm nhiều loại năng lượng độc đáo và hết sức gần gũi với đời sống con người.    Năng lượng từ đậu phụ  Năng lượng từ nước tiểu  Trong một dự án hợp tác với tổ chức Oxfam, các sinh viên tại trường Đại học West of England vừa lắp đặt thành công một nhà vệ sinh sử dụng các loại vi sinh vật tiêu thụ nước tiểu để cung cấp năng lượng cho một cục pin năng lượng vi sinh vật, từ đó cấp điện trong phòng. Tính tổng cộng, mỗi ngày con người trên trái đất thải ra gần ba tỉ gallon nước tiểu nên đây có thể là một nguồn năng lượng sạch có tiềm năng rất lớn.  Năng lượng từ đậu phụ  Tại các thị trấn nhỏ trên đảo Java, Indonesia, nhiều gia đình làm đậu phụ để bán. Quá trình này đòi hỏi gần 15 lít nước mới tạo ra được 0,5kg đậu phụ, hơn nữa người ta còn phải hòa axit acetic vào nước để đậu phụ rắn chắc hơn. Lượng nước thải ra có hòa lẫn axit này sau đó thường bị đổ đi. Nhưng hiện nay, một sáng kiến mới đã giúp xử lý số nước thải đó bằng vi khuẩn để tạo ra biogas, từ đó tạo ra điện năng để quay lại vận hành các lò làm đậu. Chu kỳ khép kín này sạch hơn và tiết kiệm hơn so với khi sử dụng nhiên liệu đốt lò truyền thống. Hiện Indonesia đang triển khai thí điểm mô hình này và dự kiến sẽ sớm đưa vào áp dụng đại trà trên cả nước.  Năng lượng từ bước chân  Hiện nay, một số startup đang nghiên cứu cách tận dụng nguồn động năng từ bước chân của con người (trung bình, một người bước khoảng 3.000-4.000 bước chân mỗi ngày) để thắp sáng đường phố và các văn phòng. Tại Anh, công ty Pavegen đang sản xuất một loại gạch lát nền đặc biệt có gắn mạch điện để hỗ trợ quá trình sản sinh năng lượng này. Loại gạch này vừa được lát tại sân bay Heathrow và hệ thống tàu điện ngầm tại London. Trong kỳ World Cup 2014, chính phủ Brazil cũng triển khai lát loại gạch này để thắp sáng các sân bóng tại các địa phương, giúp trẻ em có thể chơi được vào buổi tối.  Năng lượng từ rắm bò  Trong rắm và tiếng ợ của bò có chứa một lượng lớn khí methane, một loại khí thải nhà kính. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, lượng phát thải khí methane của bò chiếm tới 37% trong tổng lượng phát thải khí methane có liên quan tới các hoạt động của con người. Điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng ta có thể khai thác được các loại khí bốc mùi này? Các nhà khoa học tại Argentina, một trong những quốc gia sản xuất thịt bò lớn nhất thế giới, đã thiết kế ra loại “ba lô rắm bò”. Thực chất, những chiếc ba lô này chỉ đơn giản là những quả bóng bay bằng nhựa được buộc vào lưng bò và có ống nối tới hệ tiêu hóa của bò để hút khí methane rồi truyền khí này trở lại chiếc “ba lô”. Trung bình mỗi con bò thải ra khoảng 300 lít methane mỗi ngày, đủ để vận hành một chiếc ô tô suốt 24 giờ. Hiện nay các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu cách chuyển nguồn năng lượng đó từ rắm bò sang ô tô hoặc các thiết bị cần nhiên liệu khác.  Năng lượng từ tảo  Bộ Năng lượng Mỹ coi tảo là một nguồn năng lượng hứa hẹn đến nỗi mới đây họ vừa quyết định đầu tư 18 triệu USD vào các dự án khai thác nhiên liệu tảo, trong đó có một nguồn ngân sách lớn dành cho dự án nghiên cứu “cách củng cố sự bền vững của các nhiên liệu sinh học từ tảo nói chung bằng cách tối đa hóa lượng carbon dioxide, dưỡng chất, quy trình tái chế và phục hồi nước cũng như quy trình đồng sản sinh năng lượng sinh học.” Bộ Năng lượng Mỹ hy vọng sẽ có thể làm giảm giá thành năng lượng sinh học từ tảo xuống còn 5USD/gallon vào năm 2019, và 3USD/gallon vào năm 2030.  Năng lượng từ thân nhiệt  Cơ thể con người sản sinh ra một khối lượng lớn năng lượng, một phần trong đó được sử dụng để vận hành các chức năng trong cơ thể, nhưng phần lớn đều bị thất thoát dưới hình thức tỏa nhiệt. Gần đây đã xuất hiện nhiều dự án với mục tiêu biến nguồn nhiệt điện bị phung thí đó thành năng lượng xanh, người ta đã thiết kế được một chiếc đèn pin chạy bằng thân nhiệt con người chứ không dùng pin; một thiết bị đeo tay biến thân nhiệt thành nhiệt độ; một loại vải năng lượng (power felt) có thể chuyển thân nhiệt thành điện năng. Có lẽ chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ có thể ung dung ra khỏi nhà mà không cần mang theo xạc pin điện thoại bởi chỉ cần dựa vào nguồn năng lượng tự nhiên của chính cơ thể mình.  Chi Nhân dịch theo Smithsonian    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số vi khuẩn có thể kháng kháng sinh tốt hơn nhờ thay đổi hinh dạng      Nghiên cứu mới do trợ lý giáo sư vật lý Shiladitya Banerjee của trường đại học Carnegie Mellon đã cho thấy cách các dạng xác thực của vi khuẩn có thể đáp dứng với phơi nhiễm kháng sinh dài hạn bằng cách thay đổi hình dạng.      So sánh sự tăng trưởng của vi khuẩn Caulobacter crescentus khi bị phơi nhiễm một loại kháng sinh (dưới) và không bị phơi nhiễm kháng sinh (trên). Nguòn: Carnegie Mellon University  Công trình nghiên cứu “Mechanical feedback promotes bacterial adaptation to antibiotics” (Sự phản hồi về mang tính cơ chế thúc đẩy sự đáp ứng của vi khuẩn với kháng sinh) đã được xuất bản trên tạp chí Nature Physics.  Sự đáp ứng là một quá trình sinh học cơ bản điều khiển các sinh vật, các cơ thể sống thay đổi các đặc điểm và hành xử của chúng để phù hợp hơn với môi trường chúng sống, cho dù nó là sự đa dạng được nhiều người biết đến của chim họ sẻ được nhà sinh vật học tiên phong Charles Darwin quan sát hay nhiều loại vi khuẩn cùng tồn tại với con người. Dù nhờ việc uống hoặc tiêm nhiều loại kháng sinh mà con người có thể được ngăn ngừa hoặc điều trị các bệnh lây nhiễm nhưng vẫn có nhiều loài vi khuẩn không ngừng ngày một tăng cường khả năng đáp ứng tới mức kháng việc điều trị bằng kháng sinh.  Nghiên cứu tại trường Carnegie Mellon và trước là trường University College London (UCL) của Banerjee tập trung vào các cơ chế và tính chất vật lý bên trong những quá trình diễn ra ở tế bào, và một chủ đề chung trong công việc của ông là hình dạng của một tế bào có ảnh hưởng lớn đến việc tái tạo và khả năng tồn tại của chúng như thế nao. Cùng với các nhà nghiên cứu trường đại học Chicago, ông quyết định tìm hiểu sâu vào phơi nhiễm kháng sinh ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và các hình thái của vi khuẩn Caulobacter crescentus, một mô hình sinh vật thường được sử dụng.  “Với việc sử dụng các thực nghiệm trên đơn tế bào và mô hình hóa về mặt lý thuyết, chúng tôi có thể chứng minh những thay đổi trong hình dạng tế bào có thể đóng vai trò như một chiến lược phản hồi để khiến vi khuẩn thêm đáp ứng hoặc sống sót trước sự tấn công của kháng sinh”, Banerjee nói về những gì ông và cộng sự tìm thấy.  Khi cho sử dụng các liều kháng sinh chloramphenicol thấp hơn mức có thể làm nhiều thế hệ vi khuẩn chết đi, các nhà nghiên cứu phát hiện ra vi khuẩn thay đổi một cách đáng kể hình dạng của chúng bằng việc trở nên lớn hơn và có độ cong hơn.  “Những thay đổi hình dạng này cho phép vi khuẩn vượt qua sức ép của kháng sinh và tiếp tục tăng trưởng nhanh”, Banerjee nói. Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận bằng việc phát triển một mô hình lý thuyết để chứng tỏ cách những thay đổi hữu hình về mặt vật lý cho phép vi khuẩn đạt được độ cong cao hơn và tỉ lệ từ khu vực bề mặt đến khối lượng thấp hơn, vốn có thể cho phép ít hạt kháng sinh hơn băng qua được các bề mặt trên tế bào khi chúng tăng trưởng.  “Thông tin này là một kết quả vô cùng đáng kể với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và sẽ khuyến khích nhiều nghiên cứu sinh học phân tử hơn tìm hiểu về vai trò của hình dạng tế bào trong quá trình sinh trưởng của vi khuẩn và kháng kháng sinh”, Banerjee nói.  Những tác giả khác tham gia nghiên cứu là Aaron R. Dinner, Klevin Lo và Norbert F. Scherer của trường đại học Chicago; Nikola Ojkic và Roisin Stephens, những thanh viên trước đây của nhóm nghiên cứu do Banerjee dẫn dắt tại UCL.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-bacteria-resilient-antibiotics.html  https://www.nature.com/articles/s41567-020-01079-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tham vọng nghệ thuật đáng được ghi nhận      Tôi muốn được dùng từ tham vọng để nói về Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), khai trương hôm 6/6 mới đây.      Một không gian trưng bày tại VCCA. Ảnh: VCCA  Tham vọng có thể thấy được từ những điều nhỏ nhất như đèn rọi tranh, máy kiểm tra độ ẩm trong các phòng trưng bày và kho lưu trữ tác phẩm nghệ thuật cho đến việc thuê giám đốc nghệ thuật có uy tín quốc tế. Nhưng khoan hãy bàn tới tất cả những câu chuyện ấy. Thời điểm mà VCCA ra đời là lúc mà hầu hết các tập đoàn kinh tế lớn tại Việt Nam đang tập trung làm thương hiệu thông qua đầu tư cho các chương trình ca nhạc chất lượng thị trường có tính giải trí dễ xem dễ nghe. Nói như chuyên gia marketing Phạm Vũ Tùng: “Đặc trưng của các thương hiệu làm marketing văn hóa ngắn hạn này là các chương trình chắp vá, lắp ghép, không liên tục. Một số các thương hiệu có ngân sách lớn cho marketing nhưng không có chiến lược marketing văn hóa cụ thể. Điều này có thể mang tới sự chú ý nhất thời cho thương hiệu nhưng không có hiệu quả lâu dài.” Ngược lại, chương trình hòa nhạc Toyota Classic là một cách tiếp thị và xây dựng thương hiệu qua các hoạt động văn hóa xã hội bài bản. Họ tài trợ cho Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam với ba mục đích: có tiền để mua nhạc cụ và các phụ kiện thay thế, sửa chữa định kỳ như dây đàn, mặt trống; tổ chức những buổi hòa nhạc cổ điển thường niên; trao học bổng cho các sinh viên của nhạc viện Hà Nội. Concept này họ làm bền bỉ đã nhiều năm rồi. Hoặc một ví dụ nữa là chương trình hòa nhạc cổ điển Hennessy: năm nay đã là năm thứ hai mươi mốt họ mời những nghệ sĩ xuất sắc nhất đến Việt Nam biểu diễn. Đó là một chiến lược có hoạch định chi tiết chính xác.  Trở lại câu chuyện VCCA, vạn sự khởi đầu nan nhưng ít nhất họ có tầm nhìn “mở ra những cơ hội thưởng thức cái đẹp và trải nghiệm nghệ thuật cho tất cả mọi người, mang tới cộng đồng những sản phẩm và hoạt động nghệ thuật chất lượng, góp phần xây dựng nền nghệ thuật trong nước phát triển bền vững, trở thành một trung tâm sáng tạo và kết nối với mỹ thuật đương đại thế giới”. Mô hình hoạt động của VCCA bao quát toàn bộ những gì liên quan tới lĩnh vực mỹ thuật. Phòng trưng bày ở Royal City với diện tích bốn nghìn mét vuông có gallery, có thư viện, bên cạnh đó là khu đấu giá và phòng trưng bày bộ sưu tập tác phẩm của các bậc thầy hội họa Việt Nam. Ngoài ra còn có phòng hội thảo, câu lạc bộ giáo dục mỹ thuật cho trẻ em, khu vực lưu trú – sáng tác, có kho tranh cho thuê với chế độ bảo hiểm, bảo vệ, ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ… đạt chuẩn quốc tế; cũng như kế hoạch kết nối và tiếp thị với các trung tâm nghệ thuật, bảo tàng nghệ thuật toàn cầu.  Cộng đồng yêu nghệ thuật Việt Nam hãy đón xem những gì mà VCCA sẽ làm. Làm được đến đâu và có làm được hay không sẽ là một câu chuyện khác nhưng rõ ràng tham vọng ấy đã là một điều đáng ghi nhận. VCCA ra đời đã làm thay đổi mô hình hoạt động cũng như định nghĩa về trung tâm mỹ thuật.  Vẫn biết đầu tư cho văn hóa nghệ thuật thì tốn kém, thì lâu dài mà hiệu quả không thể nhìn thấy ngay và chưa chắc đã tính được bằng vật chất. Nếu doanh nghiệp Việt Nam, người hưởng thụ nghệ thuật Việt Nam không quyết tâm tự thân mà chỉ trông chờ vào bên ngoài thì ai sẽ là người bắt đầu? Nếu người Việt không tôn vinh thì ai sẽ tôn vinh? Nếu ai cũng chỉ làm ca nhạc thị trường  thì ai sẽ làm nghệ thuật?       Author                Lê Thiết Cương        
__label__tiasang Một thuật toán AI có thể “học” cơ học lượng tử      Trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để dự đoán các hàm sóng của phân tử và các đặc tính điện tử của phân tử. Phương pháp AI mang tính đổi mới sáng tạo này do một nhóm các nhà nghiên cứu ở trường đại học Warwick, đại học Kỹ thuật Berlin và trường đại học Luxembourg phát triển. Nó có thể được dùng để tăng tốc độ thiết kế các phân tử thuốc hoặc các vật liệu mới.      Trí tuệ nhân tạo và các thuật toán học máy đều được sử dụng để dự đoán các hành vi mua bán của chúng ta và ghi nhận các khuôn mặt hoặc chữ viết tay. Trong nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo như một công cụ thiết yếu cho khám phá khoa học.  Ví dụ với hóa học, AI đã trở thành một công cụ hữu ích trong dự đoán kết quả của các thí nghiệm hoặc các mô phỏng của các hệ lượng tử. Để đạt được điều này, AI cần được trao khả năng tích hợp một cách hệ thống với những quy luật cơ bản của vật lý.  Nhóm nghiên cứu liên ngành hóa học, vật lý và khoa học máy tính do các nhà nghiên cứu trường đại học Warwick dẫn dắt đã phát triển một thuật toán học sâu có thể dự đoán các trạng thái lượng tử của các phân tử, vẫn được gọi là các hàm sóng, vốn có thể xác định được tất cả các đặc tính của phân tử.  AI này đạt được mục tiêu đó bằng việc học cách giải các phương trình cơ bản của cơ học lượng tử, được nhóm nghiên cứu này miêu tả trong công bố “Unifying machine learning and quantum chemistry with a deep neural network for molecular wavefunctions” (Hợp nhất học máy và hóa lượng tử với một mạng thần kinh sâu cho các hàm sóng phân tử), được xuất bản trên tạp chí Nature Communications.  Giải các phương trình này theo cách thông thường đòi hỏi những máy tính hiệu năng cao (có thể giải quyết vấn đề mà máy tính thông thường mất vài tháng), vốn là các “nút thắt cổ chai” đối với thiết kế về mặt tính toán của những phân tử được xây dựng cho mục tiêu mới đề ra cho các ứng dụng y học và công nghiệp. Thuật toán AI mới phát triển này có thể đem lại những dự đoán chính xác trong vòng vài giây ngay trên máy tính xách tay hoặc điện thoại di động.  TS. Reinhard Maurer của Khoa Hóa trường đại học Warwick nói, “Đây là nỗ lực hợp tác cùng giải quyết vấn đề trong vòng ba năm, vốn đòi hỏi phải nắm được know-how trong ngành khoa học máy tính để phát triển thuật toán AI đủ khả năng nắm bắt hình thù và hành xử của các hàm sóng cũng như know-how trong hóa học và vật lý để tái hiện dữ liệu hóa lượng tử trong một hình thức mà thuật toán đó có thể quản lý được”.  Nhóm nghiên cứu này hình thành trong một chương trình học bổng kéo dài ba tháng về chủ đề học máy trong vật lý lượng tử tại IPAM (UCLA).  Giáo sư Klaus Robert-Muller của Viện nghiên cứu Kỹ thuật phần mềm và Khoa học máy tính lý thuyết của trường đại học Berlin nói, “công việc nghiên cứu liên ngành này là một quá trình quan trọng để chứng tỏ rằng các phương pháp AI có thể hoạt động hiệu quả ở những khía cạnh phức tạp nhất của mô phỏng phân tử lượng tử. Trong vài năm tới, các phương pháp AI sẽ hình thành cho chính nó như một phần thiết yếu của quá trình khám phá trong lĩnh vực hóa tính toán và vật lý phân tử”.  Giáo sư Alexandre Tkatchenko của Khoa Vật lý và nghiên cứu vật liệu trường đại học Luxembourg cho rằng, “công trình này đưa đến một đẳng cấp mới về thiết kế hợp chất, nơi các đặc tính cấu trúc và điện tử của một phân tử có thể được mô phỏng để tạo ra những vật liệu ứng dụng như mong muốn”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2019-11-artificial-intelligence-algorithm-laws-quantum.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tích tắc tiến gần tới đồng hồ hạt nhân      Các đồng hồ được thiết kế và chế tạo trên cơ sở hạt nhân của một nguyên tử thorium có thể trở nên chính xác hơn những đồng hồ hiện nay. Tuy những đồng hồ như thế vẫn chưa có mặt trên thực tế nhưng hai thí nghiệm mới được thực hiện đã đem lại những bước quan trọng tới gần mục tiêu này.      Các đồng hồ nguyên tử hiện là tiêu chuẩn vàng cho việc định giờ. Các thiết bị đo đạc thời gian trên cơ sở chuyển giao giữa hai trạng thái của một nguyên tử. Trong hai bài báo trên Nature của Masuda và cộng sự “X-ray pumping of the 229Th nuclear clock isomer” và Seiferle và cộng sự “Energy of the 229Th nuclear clock transition” đã đề cập đến quá trình hướng tới một đồng hồ sử dụng các chuyển giao giữa hai trạng thái của một hạt nhân nguyên tử. Đồng hồ hạt nhân có thể chính xác hơn các đồng hồ nguyên tử đang tồn tại và các nhiều ứng dụng cho cả vật lý cơ bản và vật lý ứng dụng.  Hàng ngàn năm nay, con người đã cố gắng đo sự chảy trôi của thời gian. Từ đồng hồ mặt trời, đồng hồ cát đến đồng hồ bỏ túi, chúng ta đã liên tục cố gắng cải thiện khả năng định lượng và tiêu chuẩn hóa thời gian của mình. Vào đầu những năm 1900, các nhà khoa học đã nỗ lực để có thể xác định được thời gian một cách nhất quán và đặt ra nhiều tiêu chuẩn để giúp đồng bộ hóa con người. Những gì còn khuyết thiếu là sử dụng một điểm tham chiếu tự nhiên, bất kể ở vị trí nào trên trái đất. Chúng ta cần xác định lại một giây thực sự là gì: là cái gì đó cơ bản tồn tại một cách chính xác ở mọi không gian và trong mọi thiên niên kỷ.  Các nhà khoa học nhận ra rằng các tính năng của những chuyển pha nguyên tử là độc lập với vị trí của nó trong không gian hoặc thời gian. Việc ghi nhận này dẫn đến ý tưởng sử dụng một chuyển pha đã biết giữa hai trạng thái nguyên tử như một cách thức để xác định thời gian. Nếu một giây tiêu chuẩn có thể được định nghĩa như một số cụ thể và thống nhất của các chuyển pha nguyên tử, thời gian có thể được định lượng. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện ý tưởng đó vào những năm 1930 và đến cuối những năm 1940, thế giới đã có chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên.  Hơn 70 năm qua, các đồng hồ nguyên tử đã tiếp tục được cải tiến và hiện có độ chính xác khoảng 1/1018. Nhưng liệu điều gì xảy ra nếu chúng ta có thể cải tiến hơn nữa các thiết bị này? Nếu chúng ta có thể làm ra một chiếc đồng hồ nhỏ hơn cả 100.000 lần, ít nhạy cảm hơn với môi trường chứa nó và có độ chính xác tới 1/1019? Một hạt nhân nguyên tử, vốn nhỏ hơn 100.000 lần một nguyên tử, có thể đem lại cho chúng ta một thiết bị như vậy.  Kể từ năm 2003, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã cố gắng làm một đồng hồ hạt nhân với việc sử dụng hạt nhân của một nguyên tử thorium-229. Hạt nhân này, không giống như tất cả những hạt nhân mà chúng ta đã biết, có một trạng thái kích thích (trạng thái đồng phân) chỉ có một vài electronvolts (eV) trong năng lượng trên trạng thái cơ bản của nó. Kết quả là chuyển pha giữa hai trạng thái đó được  có thể đạt tới bằng việc sử dụng những laser đặc biệt. Vấn đề là người ta vẫn chưa biết năng lượng chính xác của trạng thái đồng phân này. Nhóm nghiên cứu của Masuda  và nhóm nghiên cứu của Seiferle đã thực hiện quá trình hướng tới hiểu biết về tính chất của chuyển pha đồng phân thorium-229 thông qua các thí nghiệm dựa trên công trình nghiên cứu trước đó.    Các trạng thái năng lượng thấp và các chuyển pha của hạt nhân thorium-229. Masuda và cộng sự đã nêu một kỹ thuật có khả năng tạo ra hạt nhân của nguyên tử thorium-229 trong một trạng thái kích thích, trạng thái đồng phân. Họ tán xạ một hạt nhân thorium-229 trên trạng thái cơ bản với các tia X, vốn là nguyên nhân dẫn đến hạt nhân chuyển pha sang trạng thái kích thích thứ hai có mức năng lượng 29,19 keV (eV; electronvolts). Hạt nhân này sau đó phân rã thành trạng thái đồng phân. Seiferle và cộng sự quan sát mọt quá trình là trung hòa bên trong, trong đó một hạt nhân thorium-229 trong trạng thái đồng phân bị phân rã thành trạng thái cơ bản và nguyên tử trung hòa tán xạ thành một electron. Bằng việc nghiên cứu mức năng lượng của các electron tán xạ, các tác giả đã ước tính năng lượng của trạng thái đồng phân vào khoảng 8,28 eV. Hai nghiên cứu này đều dẫn đến gia tăng độ chính xác của các đồng hồ trên cơ sở các hạt nhân thorium-229.  Trong thí nhiệm của Masuda và cộng sự, một chùm tia X cường độ cao truyền qua một cặp tinh thể silic để thu hẹp phạm vi năng lượng của các tia X xuống còn 0,1 eV. Các tia X này sau đó được sử dụng để chiếu xạ một hạt nhân thorium-229 ở trạng thái cơ bản. Hạt nhân đó chuyển pha tới một trạng thái kích thích thứ hai với một năng lượng cao hơn rất nhiều so với trạng thái đồng phân. Phạm vi năng lượng tia X bị thu hẹp đó cho phép họ xác định năng lượng chính xác của trạng thái kích thích thứ hai là 29,19 keV. Cuối cùng, hạt nhân này bị phân rã một cách trực tiếp thành trạng thái đồng phân. Cách tiếp cận đó của Masuda có thể cho phép tạo ra trạng thái này hiệu quả hơn so với những gì người ta làm trước đây.  Còn trong thí nghiệm của Seiferle và cộng sự, một chùm tia ion thorium-229 được tạo ra từ sự phân rã tự nhiên của ion uranium-233. Có khoảng 2% ion thorium ở trạng thái đồng phân. Các ion sau đó được trung hòa để cho phép chúng phân rã thành trạng thái cơ bản thông qua một quá trình gọi là chuyển hóa bên trong. Trong quá trình này, một phân rã hạt nhân có thể tạo ra một tia γ thay vì làm cho nguyên tử trung hòa này phát xạ một electron. Dẫu sao, chuyển hóa bên trong rất phức tạp, bởi vì electron này có thể bắt nguồn từ nhiều mức năng lượng khác biệt trong nguyên tử trung hòa đó.  Để quan sát các eletron bị loại ra từ sự chuyển hóa bên trong, Seiferle và đồng nghiệp đã dùng một từ trường để đưa quỹ đạo các hạt đó hướng về phía một bộ dò electron. Họ áp một điện trường tới các electron này cho đến khi điện áp liên kết với trường này trở nên đủ lớn để chặn các electron đó. Điện áp cuối cùng này tương đương với mức năng lượng ban đầu của các electron. Sau đó, Seiferle và cộng sự sử dụng một mô hình lý thuyết để giải thích đươc phổ năng lượng của electron, vốn là phổ năng lượng đầu tiên quan sát được sự quá trình phân rã tạo ra trạng thái đồng phân. Phân tích của họ đã chỉ ra, năng lượng của trạng thái đồng phân là 8,28 ± 0<17 eV.  Dẫu mục tiêu cuối cùng và mang tính đột phá của việc quan sát trực tiếp chuyển pha đồng phân của thorium-229 vẫn còn khó nắm bắt nhưng vẫn tiếp tục có tiến triển. Các kết quả của Masuda và Seiferle đều là những bước quan trọng tiến về phía trước. Hy vọng là, việc quan sát vẫn được tiến hành vì các nhóm nghiên cứu đang chạy đua đẻ tạo ra đồng hồ hạt nhân đầu tiên của thế giới, vốn được cho là sẽ đạt tới độ chính xác chưa từng có. Phát hiện này có thể dẫn đến một loạt các thí nghiệm và khám phá tiếp theo trong vài thập kỷ tới, ví dụ một đồng hồ hạt nhân có thể có nhiều ứng dụng trong nghiên cứu vật chất tối và quan sát vô vàn những hằng số cơ bản của vật lý.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02664-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tiêu chuẩn cho trí tuệ nhân tạo trong y sinh      Một nhóm nghiên cứu quốc tế mới đây đã đề xuất thành lập một sổ đăng ký tiêu chuẩn cho hoạt động của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y sinh học. Một sổ đăng ký với các quy định đã được tiêu chuẩn hóa sẽ giúp cải thiện khả năng tái lập những kết quả và gia tăng độ tin cậy đối với các thuật toán AI trong nghiên cứu y sinh, và tương lai là trong thực hành lâm sàng hằng ngày.      Trong những thập kỷ qua, các công nghệ mới đã giúp phát triển nhiều hệ thống có thể tạo ra một lượng lớn dữ liệu y sinh, chẳng hạn như trong nghiên cứu ung thư. Đồng thời, các nhà khoa học đã tìm ra những phương pháp AI mới nhằm kiểm tra và đánh giá dữ liệu này. Ví dụ, thuât toán AI trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt có thể dự đoán mức độ suy tuần hoàn ở giai đoạn đầu dựa trên lượng lớn dữ liệu từ một số hệ thống giám sát, chúng xử lý cùng lúc nhiều thông tin phức tạp từ những nguồn khác nhau, điều này vượt xa khả năng của con người. Bên cạnh đó, AI còn được sử dụng để xác định các hạt trong hình ảnh chiếu kính hiển vi điện tử nghiệm lạnh, để suy ra protein từ dữ liệu khối phổ, tiến hành phân tích thăm dò dữ liệu đơn bào.  Tuy nhiên, nhà khoa học hiện nay đang gặp khó khăn trong việc quản lý số lượng ứng dụng AI y sinh được phát triển. Thật không may, các báo cáo và công bố về chủ đề này không phải lúc nào cũng tuân thủ những phương pháp hợp lý nhất, và đôi khi cũng không cung cấp thông tin đầy đủ về những thuật toán được sử dụng hoặc nguồn gốc của dữ liệu. Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá và so sánh toàn diện các mô hình AI hiện có. Không phải lúc nào con người cũng hiểu được các quyết định của AI, và cũng hiếm khi chúng ta có thể tái lập đầy đủ những kết quả đó. Tình huống này khó có thể tránh khỏi, đặc biệt là trong nghiên cứu lâm sàng, lĩnh vực mà sự tin tưởng vào các mô hình AI và những báo cáo nghiên cứu minh bạch là vô cùng quan trọng, nó giúp tăng tỷ lệ chấp nhận thuật toán AI và giúp cải tiến các phương pháp AI cho nghiên cứu y sinh cơ bản.  Để giải quyết vấn đề này, một nhóm nghiên cứu quốc tế – với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc Đại học Erlangen-Nuremberg (Đức) – đã tạo ra AIMe, một sổ đăng ký hướng tới cộng đồng, cho phép người dùng AI y sinh tạo ra những báo cáo mở, dễ dàng truy cập, tìm kiếm và chỉnh sửa. Cộng đồng khoa học sẽ là những người nghiên cứu và xem xét phương pháp AI mới đó.  Người dùng có thể truy cập miễn phí sổ đăng ký thông qua dịch vụ website, trong đó hướng dẫn những tiêu chuẩn của AIMe và cho phép người dùng tạo báo cáo – dựa trên bản mẫu đã được chuẩn hóa – về các mô hình AI đang được sử dụng. Những báo cáo này sẽ được duy trì và có thể dùng trong công bố. Do đó, các tác giả không cần phải tốn thời gian mô tả về tất cả các khía cạnh của AI được sử dụng trong bài báo, mà chỉ cần tham khảo báo cáo trong sổ đăng ký AIMe.  Vì sổ đăng ký có giao diện như một nền tảng website với sự tham gia của cộng đồng khoa học, nên tất cả mọi người dùng có thể đặt câu hỏi về các báo cáo hiện có, đưa ra nhận xét hoặc đề xuất cải tiến. Nhóm phát triển sẽ xem xét những phản hồi này và đưa vào bộ tiêu chuẩn cập nhật hằng năm của AIMe. Các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham gia Ban Chỉ đạo AIMe để cùng phát triển những tiêu chuẩn trong AI y sinh học.  “Sổ đăng ký AIMe không chỉ giúp các nhà khoa học dễ dàng báo cáo những phương pháp AI với cách thức phù hợp, mà nó còn chứa cơ sở dữ liệu cho phép tìm kiếm những hệ thống AI hiện có có liên quan. Điều này giúp các nhà nghiên cứu không phát minh lại một phương pháp đã có và giúp họ xem xét liệu một phương pháp AI đã được đánh giá đúng hay chưa”. GS. TS David B. Blumenthal, Phòng Thí nghiệm Khoa học Mạng Y sinh thuộc Phòng Trí tuệ Nhân tạo trong Kỹ thuật Y sinh của Đại học Erlangen-Nuremberg, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-08-standard-artificial-intelligence-biomedicine.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Một trăm năm nữa bay lên sao Hỏa là chuyện bình thường”      Nhà địa vật lý Christiane Heinicke ở Bremen nghiên cứu về môi trường sinh sống của con người trên mặt Trăng và sao Hỏa. Chị cho rằng, không lâu nữa con người có thể di cư lên các vệ tinh của trái đất để sinh sống, đồng thời bày tỏ quan điểm rõ ràng đối với kế hoạch lên sao Hỏa của Elon Musk.      Một thành viên trong nhóm của Christiane Heinicke thực hiện nghiên cứu thử nghiệm một năm trong không gian mô phỏng sao Hỏa ở Mauna Loa, Hawaii. Nguồn: Christiane Heinicke / HI SEAS  Có thể nói đây là một cấu trúc đầu tiên sẽ xuất hiện trên mặt trăng và sau này trên sao Hỏa: Từ năm 2017, Christiane Heinicke nghiên cứu về một môi trường, tức một khu dân cư,  để con người sinh có thể sinh sống, gồm nhiều modul – trong đó có bếp, buồng ngủ gồm sáu khoang, một nhà kính và một phòng thí nghiệm. Christiane Heinicke phụ trách dự án MaMBA (Moon and Mars Base Analog), tại Trung tâm ứng dụng công nghệ không gian và Trọng lực vi mô (Zarm) của đại học Bremen.  Modul đầu tiên trên “cơ ngơi” của mình, nhóm nghiên cứu của chị đã hoàn thiện một phòng thí nghiệm. Nhiều nhà khoa học đã phải thử nghiệm  sống và làm việc trong môi trường này trong một thời gian dài. Xin hỏi sự khác nhau giữa modul này với một phòng thí nghiệm của một trường đại học như thế nào?  Trước hết mọi thứ đều nhỏ và gọn hơn rất nhiều. Phòng thí nghiệm khi hoàn thiện sẽ có một hệ thống tuần hoàn không khí và nước khép kín, trên mặt trăng người ta không thể mở cửa sổ cho khí trời tràn vào. Tạm thời modul của chúng tôi mới chỉ là một sự trình diễn về một trạm khoa học và mới là bước đi đầu tiên: tuy được lắp đặt với kích cỡ như thật nhưng nguyên liệu chỉ làm bằng gỗ và chưa có hệ thống cung cấp oxy và thải khí carbonic ra ngoài. Mục tiêu tiếp theo của chúng tôi là bố trí modul thế nào đó để nó hoạt động được khi ở trên mặt trăng.  Vậy còn thiếu những gì?   Các điểm quan trọng nhất là vỏ bên ngoài phải chịu được sự chênh lệch về áp suất trên mặt trăng, bên trong cần có một cái thùng đủ lớn để lưu giữ không khí trong modul. Tất nhiên điều quan trọng là cần có một hệ thống để duy trì sự sống và xử lý nước. Và còn một vấn đề nữa đó là những cái cửa sổ.  Những cái cửa sổ ư?  Đúng vậy, chỉ có một trong sáu modul sẽ có cửa sổ. Bao bọc quanh trạm là một lớp vỏ ngoài vững chắc để ngăn chặn các tia vũ trụ ở bên ngoài bầu khí quyển trái đất vì những tia này cực kỳ nguy hiểm. Trong hầu hết các modul các nhà du hành vũ trụ chỉ trông thấy một bức tường, cửa sổ thực ra không có ý nghĩa gì nhiều, vả lại chúng cũng dễ bị hư nứt. Tuy nhiên trong khu vực sinh hoạt chung, người ta bố trí một cửa sổ và ở vỏ ngoài cũng có một chỗ trống để phi hành đoàn ít ra cũng được chiêm ngưỡng mặt trăng.    Christiane Heinicke và nhóm nghiên cứu. Nguồn: up2date.uni-bremen.de  Chu kỳ ngày – đêm trên mặt trăng và trái đất rất khác nhau. Điều đó tác động như thế nào đến những người sống trên mặt trăng và trên “căn nhà”của chị?  Khi người ta xây dựng một môi trường sống trên mặt trăng và ở gần đường xích đạo thì một ngày của mặt trăng tương đương bốn tuần lễ trên trái đất – 14 ngày tràn trề ánh sáng, và đương nhiên cũng có 14 ngày là đêm. Vị trí đẹp nhất trên mặt trăng là một khu vực bằng phẳng ở Nam cực, ở nơi đó mỗi ngày đón nhận 80 đến 90% ánh sáng trời.  Với chị cái gì là khó khăn lớn nhất và chưa được hóa giải để con người có thể sinh sống được trên mặt trăng?  Về phương diện kỹ thuật thì hầu như không còn có cản trở lớn, ngay từ bây giờ người ta có thể sao chép một hệ thống duy trì sự sống trên trạm vũ trụ. Nội trong mười năm nữa con người có thể sống trên mặt trăng. Tuy nhiên chúng tôi còn phải khảo sát xem công nghệ của mình có vượt qua được thử thách của thực tế hay không và mọi hoạt động có ổn định không, nhất là khi tính đến chuyện ở đó lâu dài thì có một loạt vấn đề cần phải hoàn thiện hơn nữa. Nên lấy mặt trăng làm mục tiêu hàng đầu. Tại đây, đến một lúc nào đó, chúng tôi phải tính đến chuyện cải tiến kỹ thuật để từ đây bay tới sao Hỏa. Người ta không thể từ sao Hỏa yêu cầu trái đất gửi thiết bị, phụ tùng thay thế, thời gian bay tới tới đó mất từ 6 đến 8 tháng.  Bản thân chị đã có một số kinh nghiệm đối với sao Hỏa. Cùng với năm thành viên khác mùa hè 2015, chị đã sống trong một trạm sao hỏa mô phỏng của Nasa trên đảo Hawai, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Chị chỉ được phép giao lưu với bên ngoài qua email nhưng thư luôn đến chậm 20 phút, tại sao lại như thế?  Khoảng cách từ Sao Hỏa tới Trái đất khoảng từ 50 triệu đến 400 triệu kilomet. Mặc dù với tốc độ ánh sáng thòi gian một tín hiệu, ánh sáng từ ngọn đèn pin, chạy tối đa cũng mất khoảng 20 phút. Tôi có thể gửi skype từ sao Hỏa nhưng vẫn phải chờ 40 phút mới nhận được phản hồi. Điều này làm thay đổi sự giao tiếp, người ta độc thoại và rất khó để có được một cuộc trao đổi thực sự với nhau.  Sự thay đổi giao tiếp mới chỉ là một sự thách thức, ngay cả sự chung sống với nhau cũng thay đổi. Trong cuốn sách “Terranauten” của tác giả người Mỹ T. C. Boyle mô tả 16 người tá túc hai năm liền trong một quả cầu thủy tinh “Ecosphere 2”, không ai được ra khỏi nơi này. Một phụ nữ mang thai và từ đó đã xẩy ra nhiều chuyện rắc rối. Đó  chỉ là chuyện hư cấu – trong dự án của chị có cho phép yêu đương không ?  Nasa rất bảo thủ, trong các cuốn số tay hướng dẫn của mình Nasa hầu như không đề cập đến những nhu cầu của con người. Nhưng với tư cách là thành viên phi hành đoàn, chúng tôi có thảo luận về đề tài này: xử lý quan hệ tình ái như thế nào đây? Ý kiến chung là chuyện “yêu đương” không thật sự là một giải pháp tối ưu, nhưng nếu đặt ra cấm đoán thì có thể sẽ dẫn đến nỗi thất vọng, chán nản. Nguy cơ là ở chỗ cặp đôi đó tách ra khỏi tập thể hoặc sau khi tan vỡ sẽ không trao đổi, mặt nặng mày nhẹ với nhau. Trên sao Hỏa, người ta không thoát được “người cũ”! Trong môi trường sinh sống thử nghiệm của chúng tôi cũng đã nảy sinh quan hệ yêu đương này nọ, tuy nhiên mọi chuyển đều ổn, không xảy ra các bi kịch lớn.  Với rất nhiều người thì sao Hỏa có những đặc tính và khoảng cách rất rất xa so với thực tế cuộc sống của chúng ta. Vậy chị có thể tiết lộ cho chúng tôi một số điều kiện sống ở đó như thế nào, và  nó sẽ phải như thế nào để con người có thể tồn tại được ở đó?  Trên sao Hỏa bầu khí quyển rất loãng, thành phần chủ yếu là carbondioxid, nhiệt độ khoảng âm 60 độ. Nếu đi ra ngoài phải mặc quần áo vũ trụ, có hệ thống lò sưởi và một hệ thống lọc. Một ngày sáng sủa trên sao hỏa tựa như một ngày mùa đông mù sương ở miền bắc nước Đức, bầu trời ban ngày có mầu hồng do khí quyển bị nhuốm bụi đỏ và vào lúc hoàng hôn thì bầu trời trở nên xanh biếc.  Elon Musk, ông chủ của Tesla và  SpaceX, đã nói cách đây không lâu là con người đầu tiên sẽ có mặt trên sao Hỏa sáu năm, thậm chí bốn năm nữa. Ý chị thế nào?  Ông ấy nổi tiếng là người có tầm nhìn xa, các chỉ tiêu về thời gian của ông ấy thường đầy tham vọng. Tôi thấy có điều hay là ông Musk  dám mạnh dạn làm đảo lộn tình hình, phá vỡ lớp vỏ bọc đã bị đông cứng lại, giờ đây ông ấy đã có tên lửa hoạt động hoàn hảo. Nhưng mà bốn hay sáu năm ? Người ta có thể thử xem sao.  Trong chừng mực nào?  Elon Musk chế tạo tên lửa nhưng không có hạ tầng cơ sở để bảo đảm con người có thể sống được ở đó. Không có hệ thống để hạ cánh để đưa con người và vật tư lên sao Hỏa được an toàn. Chỉ riêng máy tự hành hiện đại nhất là Trí tò mò (Curiosity) đã nặng tới một tấn. Để con người có thể sống ở đó, chúng ta cần có hạ tầng nặng tới 100 tấn, nhiên liệu để quay về trái đất, rồi còn chuyện nước và rất nhiều thứ khác. Nhưng nếu như ông ấy chỉ muốn bay vòng quanh sao Hỏa, chụp những bức ảnh tuyệt đẹp rồi quay về thì ông ấy chỉ còn cần có một hệ thống chống bức xạ hoạt động hoàn hảo. Điều đó thì có thể thực hiện được trong vòng năm năm nữa  Theo chị thì con người khi nào có thể đổ bộ lên sao Hỏa?  Để hạ cánh trên mặt trăng, tôi nghĩ, cần thời gian 10 đến 15 năm nữa, sau đó phải mất mười năm nữa để người đầu tiên có thể đổ bộ lên sao Hỏa, tức là khoảng vào năm  2040. Thường thì khoảng thời gian này sẽ lâu hơn mong muốn của chúng ta nhưng tôi tin rằng một trăm năm nữa thì việc lên sao Hỏa sẽ trở thành bình thường như ngày nay chúng ta làm một chuyến bay đến nước Úc để du lịch và làm việc.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/regionales/hamburg/plus224433194/Mars-Mission-von-Elon-Musk-In-100-Jahren-ist-ein-Marsflug-so-normal-wie-ein-Auslandsjahr-in-Australien.html  https://up2date.uni-bremen.de/en/research/the-workplace-of-the-future-mars    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tư duy mới cho viện trợ và nhận viện trợ phát triển?      Trong những năm gần đây, các cuộc tranh luận về viện trợ phát triển quốc tế đã hoàn toàn thay đổi. Trong khi những năm 1990 được đánh dấu bằng sự sụt giảm ngân sách cho viện trợ, thì nay các nước công nghiệp lớn lại tuyên bố tăng viện trợ để thực hiện Mục đích Thiên niên kỷ. Họ đua nhau đưa ra các đề xuất để đổi mới phương thức tài trợ. Phải chăng đó là tín hiệu của một chính sách đoàn kết thực sự cho các nước nghèo? Phỏng vấn của tạp chí Alternatives Économiques đối với Jean-Michel Severino, Tổng giám đốc Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Bernard Pinaud, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và tin học hóa vì sự phát triển (Crid).    Sự cần thiết phải gia tăng ngân sách cho viện trợ phát triển đã đạt được một sự đồng thuận quốc tế. Số tiền thường được nhắc đến là 50 tỷ USD, theo các ông có đủ không?             Bernad Pinaud        Jean-Michel Severino: Trên thực tế có nhiều đánh giá rất khác nhau, từ 100-200 tỷ, thậm chí 300 tỷ USD. Con số 50 tỷ USD là kết quả của những tính toán kỹ thuật và những thỏa hiệp giữa những người mong muốn viện trợ nhiều hơn và những người muốn viện trợ ít hơn. Đó là một con số rất mang tính huy động xét trên góc độ chính trị, cho phép nhấn mạnh rằng cần phải có nhiều tiền hơn để đạt được các Mục đích Thiên niên kỷ so với mức độ viện trợ như hiện nay.  Bernar Pinaud: Số tiền này thấp hơn rất nhiều so với mức cần thiết. Nếu so với báo cáo Camdessus về các mục đích được cộng đồng quốc tế ấn định về vấn đề nước sạch – giảm một nửa từ nay đến năm 2015 phần dân cư không được tiếp cận bền vững nước sạch – thì chỉ riêng mục đích này cũng đã đòi hỏi 100 tỷ USD. Nếu cộng tất cả các nhu cầu về xóa đói giảm nghèo thì số tiền cần thiết sẽ lớn hơn 50 tỷ USD rất nhiều. Số 50 tỷ USD hiện nay chưa đủ và chưa chắc đã đạt được.  Cố gắng viện trợ này dựa trên ý tưởng rằng một sự gia tăng ồ ạt các tài trợ dành cho các nước nghèo có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Các ông nghĩ thế nào?  J. Severino: Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa công bố một bài báo (*) cho thấy rằng người ta vẫn chưa chứng tỏ được hiệu quả tích cực của viện trợ lên tăng trưởng. Tại sao? Bởi vì ngoài một nỗ lực ngắn hạn, khi các nguồn vốn được rót ào ạt vào một đất nước, chúng sẽ gây ra lạm phát và làm tăng tỷ giá hối đoái, giảm khả năng cạnh tranh. Như vậy, các khía cạnh tích cực bị các tác động tiêu cực về kinh tế vĩ mô triệt tiêu.            Biểu tình ở Bamako (Mali). Giảm nợ không được đồng nghĩa với cắt ngân sách viện trợ phát triển cho các nước nghèo.        Một lập luận khác, không được đề cập trong bài báo nhưng từ lâu đã lan truyền trong giới tài chính về hiệu quả của viện trợ, giải thích rằng một sự gia tăng ồ ạt vốn từ bên ngoài có xu hướng làm nản chí các cố gắng về thuế trong nước.  Cuối cùng là vấn đề về khả năng hấp thụ vốn của các nước nhận viện trợ. Khả năng giải ngân chậm, sử dụng viện trợ thiếu hợp lý…là những yếu tố làm cho hiệu quả của dự án không cao, đặc biệt nếu các dòng vốn này được đầu tư vào y tế hay giáo dục, vốn là những hệ thống công với các thủ tục hành chính rườm rà. Như vậy, một sự gia tăng ồ ạt các viện trợ đặt ra nhiều vấn đề: quản lý kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng lên hệ thống thuế và khả năng hấp thụ. Nếu các ngân sách đoàn kết quốc tế được tăng cường, thì đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ đến các cách sử dụng nguồn viện trợ khác với các chính sách truyền thống.  B. Pinaud: Vấn đề hấp thụ vốn của các nước phương Nam là một cái gì đó rất bí mật. Đó là một lập luận mà các nhà tài trợ luôn luôn đưa ra, kể cả các tổ chức phi chính phủ. Vấn đề có thể nằm ở chỗ các chính sách hợp tác với phương Bắc quá nặng nề. Một dòng vốn lớn hơn đòi hỏi phải có các cơ chế mềm mỏng hơn và nhanh chóng hơn trong việc quản lý vốn, cũng như quản lý các nguồn tài nguyên ổn định hơn và phải có khả năng dự báo cao.  Theo báo cáo mới nhất của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), năm 2002 Sénégal đã tiếp nhận hơn 50 đoàn công tác, và Zambia tiếp nhận 120 đoàn chuyên gia của các nước tài trợ, đấy là chưa kể đến các đoàn công tác của WB và IMF. Chúng ta đang sống trong một nghịch lý: con nhà nghèo lại phải mua đắt. Lương cho một nhà tư vấn quốc tế dao động từ 18.000-27.000 USD/tháng, đấy là chưa kể chi phí đi lại, ăn ở; trong khi nước nhận viện trợ gần như bắt buộc phải lựa chọn nhà thầu của nước tài trợ với chi phí xây dựng và chuyển giao cao hơn bình thường. Các nước phương Bắc phải dành nhiều tự chủ hơn cho các chính phủ phương Nam. Chính các chính phủ phương Nam chịu trách nhiệm chính trong công tác kết hợp viện trợ và điều phối chứ không phải là IMF hay WB.                  Các chính phủ hiện đang thảo luận về hai nguồn tài chính khả dĩ để tăng viện trợ. Một đề xuất của Anh về các khoản vay quốc tế lớn mang tên International Financial Facillity (IFF), và một đề xuất của Pháp về đánh thuế các giao dịch thương mại quốc tế. Theo các ông, giải pháp nào thích hợp hơn?  J. Severino: Tôi thấy đánh thuế các giao dịch thương mại quốc tế đơn giản hơn và trực tiếp hơn để thu được các nguồn tài chính cần thiết. Nó có thể được áp dụng mà không cần tất cả các nước lớn đồng ý. Tháng 9 vừa rồi, Pháp và Chili đã cam kết áp dụng loại thuế này từ năm 2006. Mỗi nước có thể làm tương tự trên lãnh thổ quốc gia của mình, điều này cho phép tập hợp một lượng tài chính khổng lồ, khởi đầu của một sự áp thuế trên quy mô toàn thế giới. Chẳng hạn, thuế đánh lên vé máy bay mà người ta đang nói hiện nay có thể mang lại khoảng 400 triệu euro mỗi năm, một số tiền không nhỏ.  Một phần lớn của khoản tiền này sẽ được dành cho các quỹ đa phương trong các chương trình chống SIDA, lao và sốt rét. Nếu khoảng chục nước theo con đường này, ngay cả khi họ không giàu như Pháp, thì người ta cũng có thể tập hợp được 3 – 4 tỷ euro mà không gây xáo trộn lớn. Dĩ nhiên, khoản tiền này phải mang tính bổ trợ chứ không phải thay thế, nghĩa là các chính phủ không được cắt giảm các cố gắng tài chính khác.  B. Pineau: Điều đầu tiên mà các nước giàu phải làm, đó là tăng các ngân sách cho viện trợ phát triển. Họ đã cam kết cách đây 35 năm tăng mức viện trợ lên 0,7% GDP, và họ phải giữ lời hứa trước khi nói đến các cơ chế tài trợ mới. Tôi thấy dự án đánh thuế các giao dịch thương mại quốc tế có vẻ phù hợp hơn. Chúng ta đang sống trong một không gian trao đổi thương mại và tài chính toàn cầu, vì vậy thật bình thường khi đoàn kết được thực hiện trên quy mô toàn cầu. Liên minh Châu Âu trước hết được xây dựng như một thị trường chung, nhưng người ta cũng đã biết giúp đỡ Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phát triển bằng một cố gắng tái phân phối. Logic tương tự phải được áp dụng trên quy mô thế giới.    Chính sách viện trợ chỉ là một trong các chính sách công của các nước phương Bắc dành cho các nước phương Nam. Tuy nhiên, đôi khi người ta có cảm giác rằng nó chẳng qua chỉ là để bít những lỗ hổng do các chính sách thương mại, quyền sở hữu trí tuệ…gây ra  J. Severino: Rất tiếc, nó thậm chí còn không hoàn thành chức năng hàn gắn! Trong lĩnh vực quan hệ Bắc-Nam, các hiệp định thương mại lớn là các nhân tố chủ yếu có tác dụng cải thiện cơ cấu kinh tế. Nhưng như thế không có nghĩa là người ta có thể xem nhẹ chính sách viện trợ. Các nước tài trợ cũng nên tính đến cách thức hòa nhập với khung cảnh của các nước nghèo, hiểu các thuận lợi và thách thức để cải thiện tình hình chung, chứ không phải làm người “thợ hàn”.  B. Pinaud: Hoàn toàn đúng. Có một sự rời rạc giữa các lựa chọn chính sách hợp tác và các lựa chọn chính sách thương mại. Buộc các nước chậm phát triển mở cửa thị trường của họ sẽ làm cho bộ phận nông dân của các nước này vốn đã khó sống càng trở nên bất ổn. Một mặt, người ta viện trợ cho Sénégal và Cameroun, mặt khác, người ta lại bán cho họ cổ cánh gà với giá thách thức mọi cạnh tranh, bóp chết các cơ sở giết mổ địa phương và đặt nhiều người vào trong vòng nghèo khổ. Các nước nghèo phải có khả năng bảo vệ thị trường của mình. Chúng ta đã trở nên phát triển nhờ có chủ nghĩa bảo hộ, tại sao chúng ta lại ngăn cản các nước phương Nam làm điều tương tự?  Về nội dung của các chính sách Bắc-Nam, một báo cáo mới đây của WB (3) chỉ trích niềm tin vào “sự thần diệu của thị trường”. Đây phải chăng là khởi đầu của một sự thay đổi tư tưởng?  J. Severino: Ngân hàng thế giới đã luôn là một thể chế rất hay thay đổi. Các lựa chọn của Thỏa thuận Washington đã không bao giờ đạt được sự đồng thuận của chính những người làm trong WB và giới nghiên cứu. Giám đốc mới của WB Paul Wolfowitz còn chưa để lộ hết các ý định của mình. Chúng ta hãy chờ xem ông ta sẽ dẫn ngân hàng thế giới đi đâu. Lúc đó chúng ta sẽ biết các đổi mới này sẽ chỉ tức thời hay đánh dấu một sự thay đổi bền vững.  B. Pinaud: Chỉ trích chủ nghĩa tự do đã tăng lên ngay chính trong các thể chế này. Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á năm 1997, các “học sinh giỏi” của IMF là những người chịu nhiều đau đớn nhất. Điều tương tự cũng xảy ra với Achentina, một đất nước có các chính sách từng được IFM ca tụng. Liên minh Châu Âu (EU) có trách nhiệm trong việc này: EU có một cái nhìn cân bằng hơn về các nguyên tắc viện trợ so với cách nhìn của tự do hóa rộng rãi, nhưng không chịu làm gì để ảnh hưởng lên IMF và WB. Và, các nước phương Nam, những nước đầu tiên có liên quan, cần phải có nhiều quyền lực hơn trong WB. Về việc này, các thay đổi mới chỉ xảy ra trong sách báo…  Phước Vĩnh  Nguồn tin: Alternatives Economiqué      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tương lai khi côn trùng biến mất?      Khi ấy, liệu robot và máy bay không người lái có thể thay thế vai trò của côn trùng đối với hệ sinh thái hay không      Côn trùng là một phần thiết yếu trong hệ sinh thái. Ảnh: Flickr / Christian Guthier   Sẽ ra sao nếu chúng ta không hành động kịp thời? Nếu thế giới nhỏ bé của côn trùng sụp đổ, kéo theo đó là toàn bộ hệ sinh thái bị phá vỡ, thế giới của chúng ta sẽ vận hành như thế nào?  Không khó để chúng ta hình dung ra viễn cảnh nguồn cung thực phẩm khan hiếm, quần thể động vật hoang dã suy giảm sẽ tác động nặng nề lên nền kinh tế thế giới. Và như một lẽ tất yếu, con người sẽ lập tức nảy ra một phương án công nghệ nhằm “sửa lỗi” cho mớ hỗn độn mà chúng ta đã gây ra.  Trên thực tế, ngay cả khi cơn ác mộng về sự tuyệt chủng của côn trùng còn chưa diễn ra, các nhà khoa học đã bắt đầu những dự án – vẫn còn đang trong giai đoạn sơ khởi – nhằm tạo ra các loài sinh vật thụ phấn biến đổi gen, có khả năng chống lại bệnh tật lẫn hoá chất, hoặc các cỗ máy đẹp đẽ được trang bị vòi phun nhỏ để bắn phấn hoa vào thực vật. Một số nhà khoa học khác thì dùng sự khéo léo của mình để tái tạo hình dạng và chức năng của côn trùng có cánh. Cụ thể, nhóm nghiên cứu tại Đại học Harvard đã phát minh ra những con robot nhỏ bé có thể bơi, sau đó đạp tung mặt nước để bay lên, sử dụng các cơ nhân tạo mềm để đập vào tường và các chướng ngại vật khác rồi bật trở lại một cách an toàn.  Lấy cảm hứng từ loài ruồi giấm nhỏ bé, các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Phương tiện bay siêu nhỏ thuộc Đại học Công nghệ Delft và Đại học Wageningen (Hà Lan) đã cùng nhau tái tạo chuyển động đập cánh nhanh của chúng thông qua một robot có cánh làm bằng mylar, vật liệu được sử dụng để làm chăn không gian (space blanket). Vật liệu này có độ bám dính, khả năng chống ẩm, chịu nhiệt tốt. Matej Karásek, nhà nghiên cứu làm việc trong dự án, cho biết từ lâu mình đã bị mê hoặc bởi sự nhanh nhẹn và khả năng nhận thức không gian của côn trùng – trước cả khi anh ấy bắt đầu tham gia dự án. “Bất cứ khi nào tôi đi dạo và nhìn thấy một con côn trùng, tôi cũng thầm nghĩ: Làm thế nào mà chúng có thể nhanh nhẹn và có khả năng điều hướng tốt đến nhường vậy?” anh kể.  Robot mang tên DelFly của Karásek không phải là sự thay thế hoàn hảo cho ruồi hay ong – vì trên thực tế, chúng có sải cánh dài 33 cm (13 inch), điều này khiến chúng có kích thước lớn gấp 55 lần ruồi giấm. Làm thế nào để chúng vừa có thể mang một khối lượng phấn hoa lớn, vừa giữ được sự linh hoạt trong chuyển động? Dù chưa thể tìm ra lời giải cho bài toán này, nhưng các nhà khoa học tin rằng một ngày nào đó họ cũng sẽ tìm ra phương thức hoàn thiện DelFly, khi ấy công nghệ cuối cùng sẽ giải quyết được khó khăn của xã hội.    Robot mang tên DelFly không phải là sự thay thế hoàn hảo cho ruồi hay ong – vì trên thực tế, chúng có sải cánh dài 33 cm (13 inch), điều này khiến chúng có kích thước lớn gấp 55 lần ruồi giấm.   Trong hiện tại, câu trả lời có thể đến từ một “đội quân” gồm những chiếc máy bay không người lái (drone) do công ty Dropcopter của Mỹ phát triển. Chúng đã thụ phấn cho một vườn táo ở New York lần đầu tiên vào năm 2018. Hoặc câu trả lời cũng có thể là một cánh tay robot tinh xảo, sử dụng máy ảnh, bánh xe và trí tuệ nhân tạo để xác định vị trí và thụ phấn bằng tay cho cây trồng mà không bị mệt mỏi hay rơi vào cảm giác buồn chán như người công nhân. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đang tài trợ cho dự án cánh tay robot với hy vọng chúng sẽ là “sự thay thế phù hợp cho quá trình thụ phấn tự nhiên” và thậm chí “sẽ mang lại hiệu quả tương tự, hoặc thậm chí hiệu quả hơn các loài thụ phấn tự nhiên như ong”, ông Manoj Karkee thuộc Đại học Bang Washington, chuyên gia trong dự án, cho hay.  Bất chấp những tiến bộ kể trên, các nhà côn trùng học không đánh giá cao bất cứ ý tưởng nào hướng đến việc dùng công nghệ thay thế côn trùng – ngay cả là những chức năng cơ bản. Nhà sinh vật học Dave Goulson chỉ ra rằng loài ong thụ phấn cho hoa một cách thành thạo nhờ việc chúng đã mài giũa kỹ năng của mình trong khoảng 120 triệu năm, và bên cạnh đó, có khoảng 80 triệu tổ ong mật trên thế giới, mỗi tổ có hàng chục nghìn con ong sinh sống. “Tốn bao nhiêu tiền để tạo ra số robot đủ để thay thế toàn bộ loài ong?” Goulson đặt câu hỏi. “Thật vô lý khi nghĩ rằng chúng ta có thể làm được điều đó”.  Song nói một cách công bằng, những công nghệ thay thế côn trùng vẫn có tác dụng trong một số hoàn cảnh. Nếu chúng ta phải canh tác tại các khu vực diện tích nhỏ để bảo tồn không gian thiên nhiên hoang dã, thì các doanh nghiệp sẽ phát triển quy trình canh tác thẳng đứng với các loại cây trồng quanh năm được xếp trong nhà kho và thùng vận chuyển, sinh trưởng dưới ánh đèn LED và phương pháp thủy canh thay vì đất và thuốc trừ sâu. Khi đó, robot sẽ thụ phấn trong môi trường nhà kính tốt hơn côn trùng.  Cứu lấy côn trùng  Dẫu chúng ta có nỗ lực tìm kiếm những công nghệ phức tạp đến nhường nào đi nữa, cách hữu hiệu nhất vẫn là cứu lấy côn trùng trước khi quá muộn. Bên cạnh những cách thức bảo vệ môi trường thông thường, có một giải pháp thoạt nghe có vẻ kỳ lạ: Chúng ta có thể cứu lấy côn trùng bằng cách… ăn côn trùng.  Giun và dế, hai nguồn protein tuyệt vời có thể sinh sôi với số lượng lớn trong không gian chật hẹp, có thể trở thành một nguồn thực phẩm thay thế cho chế độ ăn thường nhật của con người. Điều này sẽ giúp giảm bớt hoạt động canh tác, chăn nuôi gia súc, lượng phát thải, sử dụng hoá chất và tình trạng xói mòn đất, từ đó hạn chế được những tác động tiêu cực lên đời sống của côn trùng. Hiện tại, công ty khởi nghiệp Cricket One của Việt Nam đã phát triển một hệ thống nuôi dế có thể chế biến dế thành các nguyên liệu giàu protein cho các nhà sản xuất thực phẩm. Công ty khởi nghiệp Malaysia Ento thì trực tiếp chế biến dế và ấu trùng thành đồ ăn nhẹ và bánh quy, đồng thời phát triển thêm món bánh kẹp thịt làm từ côn trùng.  So với các vật nuôi thông thường, côn trùng ăn ít thức ăn hơn, phát triển và sinh sản nhanh. Quá trình nuôi côn trùng cũng tạo ra ít chất thải hơn và thải ra lượng khí nhà kính nhỏ hơn, dẫn đến lượng khí carbon phát thải ít hơn nhiều so với chăn nuôi gia súc.  Một ngày nào đó, có lẽ robot ong trong nhà kính có thể cải thiện nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta, và một cuộc cách mạng trong cách chúng ta ăn có thể giúp làm chậm quá trình tàn phá thế giới côn trùng. Dẫu vậy, như thế là chưa đủ, chúng ta nên tích cực hơn nữa trong việc ngăn chặn cuộc khủng hoảng côn trùng. Nếu không, chúng ta rồi sẽ phải chứng kiến ​​con côn trùng cuối cùng lìa đời, như cách chúng ta sẽ phải chứng kiến với con tê giác trắng phương bắc hoặc hổ Bengal cuối cùng. Khó mà hình dung được điều này, vì chúng ta luôn nghĩ rằng côn trùng có khắp mọi nơi; và dù chúng ta có phá hoại môi trường đến mức nào đi nữa, thì sẽ luôn có côn trùng ở đâu đó, bò trên chậu cây nơi bệ cửa sổ ở Chicago, bay trên cánh đồng lúa ở Việt Nam, chạy trốn khỏi ngọn lửa hừng hực nơi cánh rừng ở Úc.    Trên khắp thế giới, nhiều quần thể côn trùng đang giảm từ 1 đến 2 phần trăm mỗi năm. Ảnh: Getty Images / Michael Xiao  Nếu côn trùng biến mất, thiên nhiên sẽ héo úa, con người sẽ nghèo nàn về mặt tinh thần. Các nhà khoa học phát hiện ra rằng ong vò vẽ có thể chơi bóng đá nếu được dạy, chúng sẽ bỏ cả ngủ để chăm sóc tổ ong non của mình, và có thể ghi nhớ những trải nghiệm tốt và xấu – những điều này gợi ý cho ta rằng chúng cũng có ý thức theo một cách nào đó. Con bọ violin (violin beetle) thì có hình dáng đặc biệt như tên gọi của chúng – một cây đàn violin. Bướm vua (monarch butterfly) đẹp rực rỡ, ta có thể nếm mật hoa từ cặp chân của nó. Chúng ta có thể sẽ không đánh mất tất cả những tuyệt tác tự nhiên đó, nhưng rõ ràng sự sống đang bị xé làm nhiều mảnh. “Hệ sinh vật toàn cầu trong tương lai có thể sẽ không còn phong phú như hiện tại”, nhà côn trùng học David Wagner nói. “Chúng ta sẽ gặp phải một số trục trặc – như nguồn cung thực phẩm bị gián đoạn, nhưng thực chất ta còn đánh mất những thứ lớn lao hơn nhiều. Con cháu chúng ta sẽ sống trong một cái lồng thu nhỏ. Thiên nhiên đã mất đi vẻ đẹp ban đầu – đó là những gì chúng ta đang trao cho thế hệ sau.”  Một cuộc sống với những con robot vô tri, vùng đồng cỏ được cắt tỉa với những cỗ máy tinh xảo, đó là một trong những kịch bản có thể xảy đến với con người khi côn trùng biến mất. Một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng số lượng ong suy giảm đã bắt đầu ảnh hưởng đến các loài cây như táo, việt quất và anh đào. Các loài chim ăn côn trùng hiện đang giảm không chỉ ở những cánh đồng bạt ngàn tại Pháp, mà kể cả ở những vùng xa xôi nơi cánh rừng nhiệt đới Amazon. Trên khắp thế giới, nhiều quần thể côn trùng đang giảm từ 1 đến 2 phần trăm mỗi năm. Mọi thứ đang trở nên tồi tệ hơn, nếu chúng ta không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  What Will Replace Insects When They’re Gone?   DelFly Nimble: Insect-like flying drone from Delft University could monitor stock in warehouses    Author                .        
__label__tiasang Một tuyên ngôn cà phê của Việt Nam      Có lẽ nhiều người sẽ bất ngờ với những kết luận về quyền năng to lớn của cà phê đối với quá khứ, hiện tại, tương lai của nhân loại. Và sẽ càng bất ngờ hơn khi nhận ra rằng Việt Nam chúng ta có đầy đủ các điều kiện để trở thành trung tâm cà phê của thế giới, như một điều kiện căn bản và chiến lược để xác lập “quyền lực mềm Việt Nam” trong thế giới toàn cầu hóa đang chứa đựng nhiều khủng hoảng, là thời điểm quyết định để hướng nhân loại cùng đi theo chiến lược phát triển bền vững.    Cục diện của ngành cà phê trong nước…  Ngành cà phê Việt Nam mặc dù có những bước phát triển thần kỳ trong thời gian qua, đóng góp một cách đáng kể vào sự ổn định và phát triển chung của Đăk Lăk, Tây Nguyên, và của cả Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn còn chứa đựng đầy những yếu tố kém bền vững: chủ yếu là xuất cà phê nhân, cà phê chế biến và thương hiệu còn vô cùng thấp; bản thân giá trị của cà phê nhân xuất khẩu cũng rất thấp, càng xuất càng thiệt do không chú trọng đến chất lượng và tính lâu dài của sản phẩm, tỷ lệ tiêu dùng cà phê trong nước vẫn ở mức rất thấp (0,5kg/người/ năm so với các nước trồng cà phê khác có mức trung bình là 3kg/người/năm) không đủ để tạo ra sự tự chủ của sản lượng tiêu dùng nội địa so với xuất khẩu; cà phê vẫn chỉ là cà phê, chúng ta chưa biết khai thác các giá trị về văn hóa, du lịch, đầu tư, tài chính, kho vận, khoa học kỹ thuật, kinh tế tri thức… là những ngành, những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến ngành cà phê.                 Trong khi đó, Đăk Lăk nói riêng và Việt Nam nói chung có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành cà phê thành ngành mũi nhọn, làm đầu tàu cho các ngành kinh tế khác phát triển khi mà chúng ta có lợi thế về vùng đất đắc địa cho cà phê, một vị thế tương đối của cà phê Việt Nam khi là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 về sản lượng, có vị trí địa-chính trị thuận lợi, có tài nguyên thiên nhiên còn tương đối nguyên sơ và phong phú (rừng, nước, không gian), có tài nguyên con người bao gồm tài nguyên trí tuệ, có sự đa dạng và nguyên sơ của văn hóa bản địa (đặc biệt là vùng đất Tây Nguyên). Sau khi thực hiện đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển tương đối mạnh mẽ của thị trường tiêu dùng cà phê trong nước, xuất hiện những doanh nghiệp có những bước phát triển được coi là thần kỳ, có khát vọng lớn và những ý tưởng đột phá. Tất cả những điều đó chính là những tiền đề để chúng ta có thể hoạch định và phát triển ngành cà phê như một ngành mũi nhọn của quốc gia.  … và triết lý mới về cà phê.  Hiện nay, khái niệm và chiến lược phát triển bền vững đang được coi như là cứu cánh của nhân loại, và được rất nhiều học giả hàng đầu, được cộng đồng đông đảo những nhà hành động coi đó như là một tôn giáo mới.  Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, những hoạt động tuyên truyền, cổ vũ và minh chứng cho chiến lược phát triển bền vững lại có một số điểm chưa hợp lý như: vẫn còn thiên về tính cảnh báo đến những điều tiêu cực sẽ xảy ra cho tương lai nhân loại, vẫn ít có các giải pháp tổng thể hoặc đặt trọng tâm cốt lõi vào việc phát triển khả năng sáng tạo như là một cấu thành quan trọng và là phương pháp để con người tìm ra giải pháp phát triển bền vững, vẫn chưa có một hình tượng thống nhất. Vậy, cà phê, với những đặc tính kích thích sự sáng tạo và có chứa đựng những yếu tố hài hòa, đặc biệt là sự hài hòa giữa hai nhóm tài nguyên chính của con người, hoàn toàn có thể trở thành phương tiện và phương pháp chuyên chở khái niệm phát triển bền vững trở thành hiện thực.  Một điều tưởng chừng như rất ngẫu nhiên nhưng lại vô cùng có ý nghĩa, có sức thuyết phục: Xét về khả năng biểu tượng, bản thân cà phê cũng là đại diện cho hai thuộc tính sáng tạo và hài hòa. Nhân cà phê có hình dáng giống hai bán cầu não, và đó cũng là biểu tượng của sự hài hòa âm dương của vũ trụ. Điều đó làm tăng thêm niềm tin và bổ sung thêm tính biểu tượng cho triết lý cà phê tôn vinh sáng tạo, hướng đến hài hòa.    Một tuyên ngôn cà phê của Việt Nam  – Từ những phân tích nêu trên chúng ta thấy Việt Nam sẽ tập trung mọi nguồn lực hiện có, thực hiện mọi ưu đãi để có thể hình thành các tổ chức từ cà phê và thông qua cà phê trở thành một tập đoàn kinh tế đa ngành hàng đầu khu vực và thế giới; để đạt được sự ngưỡng mộ của cộng đồng thế giới, là một trong những niềm tự hào và điển hình cho sự phát triển của Việt Nam thông qua việc phát triển khả năng sáng tạo phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững của nhân loại.  Để minh chứng cho quan điểm nêu trên chúng ta có thể thực hiện các hành động sau:  -Giới thiệu đến cộng đồng một Triết lý sống mới của cà phê: tôn vinh sáng tạo, hướng đến hài hòa và bền vững.                  -Thu hút, tập hợp điều phối các ngồn lực của cả nhân loại để hiện thực hóa triết lý sống cà phê. Trong đó, tập trung cho các nguồn lực, các đầu mối có khả năng kích hoạt và lan tỏa lớn cho triết lý sống cà phê; là những chuyên gia, những nhân vật nổi tiếng hàng đầu thế giới.  -Đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành một liên minh mạnh của các  nước xuất khẩu cà phê. Đây sẽ là một OPEC của nguồn năng lượng cho nền kinh tế tri thức là cà phê.  -Đầu tư và thu hút thế giới về một Thánh địa cà phê toàn cầu tại Việt Nam, là nơi phát xuất của Triết lý sống mới của cà phê; để quy tụ những người yêu và đam mê trên toàn thế giới cùng hướng về.   -Thực hiện các chương trình hành động thực tế để nâng cao giá trị của ngành cà phê Việt Nam một cách tổng thể và toàn diện.  – Giới thiệu với thế giới các tập đoàn, doanh nghiệp, và thương hiệu cà phê hàng đầu, có khả năng dẫn dắt ngành cà phê thế giới đi theo triết lý sống của cà phê được phát xuất tại Việt Nam.      Một tuyên ngôn để hành động.  Từ những nhận định trên sẽ là kế hoạch và hành động cho một chiến lược, một dự án tổng thể nhằm xây dựng thương hiệu quốc gia, thương hiệu lãnh thổ, chỉ dẫn địa lý ngành cà phê cho Việt Nam. Điều đó có thể bước đầu biến Tây Nguyên thành một địa bàn hấp dẫn toàn thế giới, giống như Dubai, Silicon Valley, v.v và có thể còn vượt xa hơn nữa: một điển hình cho phát triển bền vững của Việt Nam và thế giới.        “Năng lượng cho não bộ”    Nhìn lại lịch sử phát triển của loài người, sẽ là không quá khi chúng ta cho rằng “cà phê – xét trên một khía cạnh nào đó cũng có vai trò như lửa đối với sự phát triển của con người. Nếu lửa giúp biến con người từ một động vật bình thường thành động vật tinh khôn; thì cà phê kích thích các sáng tạo để biến con người tinh khôn thành con người văn minh, hiện đại”. Quả thực, từ khi cà phê được phát hiện và sử dụng rộng rãi, bóng dáng của cà phê âm thầm, nhưng mạnh mẽ và không thể thiếu được trong hầu hết các phát minh và sáng tạo của loài người, giúp tạo ra những năng suất lao động chưa từng có và đang ngày một gia tăng cao hơn nữa. Có người có thể nghi ngờ liệu cà phê thật sự có phải là chất xúc tác để tạo ra hầu hết các sáng tạo; nhưng việc hầu hết các nhà phát minh, các vĩ nhân trong mọi lĩnh vực đều là những tín đồ của cà phê là điều hiển nhiên và không thể chối bỏ.    Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo; thì cà phê được người ta ví là  “năng lượng cho bộ não”, “máu của nền kinh tế tri thức”. Cà phê, với những đặc điểm thần kỳ của mình, chính là cầu nối giữa tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên trí tuệ loài người, là cầu nối giữa kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp, hậu công nghiệp. Bởi đó là một sản phẩm nông sản, nhưng lại không thể thiếu cho quá trình sáng tạo và phát triển của nhân loại.                  Dự án Thánh địa cà phê toàn cầu:   Gồm 3 khu vực chính.    Vùng đệm: tạo ra các cộng đồng sống thấu hiểu, tạo nền cho sự thân thiện của địa bàn thánh địa cà phê. Vùng đệm này sẽ bao gồm các nội dung chính sau:   – Quy hoạch Buôn Ma Thuột thành một thành phố đặc trưng về cà phê, trong đó có các khu dân cư điển hình theo mô hình phát triển bền vững.   -Nâng cấp đại học Tây Nguyên thành một đại học đa ngành đạt đẳng cấp quốc tế. Đây vừa là cơ chế huy động đầu tư, thu hút du học – du lịch, vừa là cơ chế để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tương xứng cho nhu cầu phát triển ngày càng cao.   -Dự án chính phủ điện tử cho các tỉnh Tây Nguyên.   -Hình thành và vận hành Thánh địa cà phê ảo trên mạng toàn cầu.   -Kết nối với Đà Lạt, Nha Trang để trở thành tam giác phát triền bền vững, hoặc các đặc khu phát triển bền vững của quốc gia.   Khu vực vành đai: là những cấu thành tạo nên sức cạnh tranh và sự độc đáo của cà phê Việt Nam trong ngành cà phê thế giới:   -Một Viện bảo tàng cà phê thế giới tại Việt Nam.   -Một Viện nghiên cứu cà phê tầm cỡ thế giới.   -Một Viện nghiên cứu dân tộc học và văn hóa cho bản địa và các vấn đề toàn cầu.    -Một Sàn giao dịch nông sản được kết nối với các định chế tài chính trung lập và các quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, đặc biệt là với Brazin và Indonesia.   -Những dãy phố đặc trưng cà phê, các doanh nghiệp, đồn điền thực hành cà phê sạch, thực hành cà phê theo các tiêu chuẩn khắt khe nhất về kỹ thuật và môi trường.   Khu trung tâm: là nơi để thể hiện triết lý sống mới từ cà phê; một triết lý tôn vinh sự sáng tạo, hướng đến sự hài hòa. Dự kiến khu này sẽ được thực hiện tại cụm thác sinh thái Draysap bao gồm:   – Một quần thể tích hợp của du lịch văn hóa – sinh thái – cà phê theo hướng thám hiểm, thực tế với những dịch vụ đạt đẳng cấp cao và độc đáo nhất thế giới.   – Một khu vườn thiên đường cà phê, nơi trồng và thực hành cà phê đặc biệt nhất thế giới: nuôi các loại thú tự chọn hạt cho con người như khỉ, két (vẹt), chồn…, những người dân bản địa trong đó cũng trồng và chăm sóc cà phê theo đúng quy trình khoa học nhưng bên cạnh đó là các nghi thức văn hóa để cầu nguyện, gửi gắm tinh thần sáng tạo, và sự mong mỏi hài hòa, bền vững vào từng hạt cà phê.          Đặng Lê Nguyên Vũ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vài nhận xét từ TECHFEST 2017      Cách đây khoảng hai năm, trong một bài viết, tôi có chia sẻ một vài điểm yếu dễ thấy của startup Việt Nam. Không ít người chia sẻ rằng đó là những thứ biết rồi, khổ lắm nói mãi. Thiết nghĩ việc nói mà chưa có kết quả vẫn phải nói, nhất là khi qua một sự kiện lớn như Techfest, chúng ta có dịp nhìn lại để thấy rõ hơn những hạn chế của mình để thực sự có những thay đổi thực tế và hiêu quả.      Sự kiện kết nối đầu tư diễn ra trước Techfest 2017.  1. Tiếng Anh  Trong hơn 200 hồ sơ startup chúng tôi nhận tại Techfest, không nhiều hơn 30% con số này có hồ sơ bằng tiếng Anh. Một nhà đầu tư khi gặp một startup tiềm năng đi cùng một phiên dịch đã chia sẻ thẳng thắn rằng, hãy cố giao tiếp với tôi dù chỉ bằng thứ tiếng Anh đơn giản thôi cũng được, nhưng phải là tự bạn nói chuyện với tôi, hãy giải thích cho tôi hiểu bạn đang làm gì, nếu không, tôi không thể bỏ tiền cho bạn vì chúng ta sẽ phải đi cùng nhau trên một chặng đường dài. Khi sẵn sàng bước chân vào một cuộc chơi lớn, gặp gỡ nhà đầu tư trong và ngoài nước, việc chuẩn bị tiếng Anh như một công cụ nhằm nói lên được mình đang làm gì là một cơ hội không thể bỏ qua.  2. Tầm nhìn  Trong Techfest, một diễn giả xây dựng hệ sinh thái đến từ Israel chia sẻ, thị trường ở Israel rất nhỏ nên startup nào cũng phải có tầm nhìn vượt ra khỏi quốc gia mình hoặc chí ít là đáp ứng nhu cầu của nhiều hơn 8.5 triệu người dân Israel. Ở Việt Nam, với một thị trường 90 triệu dân, chúng ta vừa có cơ hội, vừa đối mặt với những thách thức. 90 triệu khách hàng tiềm năng cho một thị trường tiêu dùng có thể là một con số hấp dẫn. Song nhìn ở một câu chuyện khác, con số này có thể là một cái bẫy khiến nhiều startup tạm hài lòng. Nhiều bạn giới hạn tầm nhìn của mình ở thị trường Việt Nam khiến nhà đầu tư và các đối tác tiềm năng chia sẻ rằng, đó thực sự là lãng phí. Người ta thường nói tầm nhìn là thứ không dạy được, nhưng thực tế, nó có thể dần hình thành qua việc cọ xát và nỗ lực hoàn thiện giá trị của công ty và của bản thân để vươn xa hơn. Chúng tôi nhận thấy rằng, startup có đồng sáng lập có yếu tố nước ngoài luôn nhìn ra những cơ hội từ thị trường mà họ đã trải nghiệm đến thị trường khu vực và đó là một yếu tố không nhỏ góp phần vào sự hấp dẫn với nhà đầu tư.  3. Sự mơ hồ  Mơ hồ về quy mô thị trường, về vai trò của nhà đầu tư, về nhóm khách hàng mà mình đang phục vụ thể hiện rõ nhất trên hồ sơ startup tham gia. Thông tin về dự án sơ sài, chung chung và rất đại khái, thiếu những con số để chứng minh những tiềm năng dự án mà mình nói. Điều này không quá khó hiểu khi đến 80% số startup đang ở giai đoạn thử nghiệm thị trường và chưa thực sự nghiêm túc đánh giá tiềm năng thị trường một cách thực tế. Những con số tăng trưởng doanh thu 100 lần sau ba năm đôi khi khiến nhà đầu tư nghi ngờ vì startup không thể chỉ ra được làm thế nào mình có thể đạt được con số đó một cách khả thi và đâu là kịch bản nếu không có đầu tư.  Một trong những nỗ lực năm nay là chúng tôi cho startup gặp nhà đầu tư trong nước trước sự kiện và hoạt động này diễn ra trong khoảng một tháng. Đây là một trải nghiệm cần thiết để các startup nhận ra những điểm yếu và thiếu của mình. Song trên thực tế, tôi nhận thấy cái các bạn cần chính là một cố vấn trước khi đến gặp nhà đầu tư. Cần một sự thay đổi nhận thức rằng: không phải cứ thiếu tiền để phát triển sản phẩm là đi tìm nhà đầu tư, vì sẽ rất ít nhà đầu tư thực sự quan tâm đến bạn ở giai đoạn phát triển sản phẩm mẫu thử trừ khi bạn chứng minh một năng lực tạo ra sản phẩm vượt trội. Ở giai đoạn này, tôi tin rằng, việc tiếp xúc với một cố vấn khởi nghiệp với những câu hỏi giúp bạn “tỉnh người” để tập trung vào cốt lõi kinh doanh quan trọng hơn rất nhiều so với gặp nhà đầu tư để cọ xát, tránh tình trạng mất thời gian cho cả hai bên.  Mặt khác, sự mơ hồ về năng lực công nghệ của chính bản thân và thiếu nghiên cứu về thực trạng thị trường khiến các startup tự tin thái quá về “năng lực cạnh tranh” khó bắt chước được của mình.  Startup còn mơ hồ trong đề nghị với nhà đầu tư. Đáng lẽ gặp nhà đầu tư đồng nghĩa với việc phải “làm bài tập về nhà” về những thứ mình cần từ họ và họ hưởng lợi từ mình. Tuy nhiên, rất ít startup chỉ ra được mình nhắm đến phân khúc thị trường nào, cần đầu tư bao nhiêu và tiền đó để làm gì. Phần lớn vẫn coi việc gặp nhà đầu tư như để giới thiệu dự án, giới thiệu tiềm năng và giống như một cuộc bán hàng. Trong khảo sát của chúng tôi đối với hơn 50 nhà đầu tư và quỹ gặp gỡ với các startup, đến 70% cho rằng các startup cần xác định rõ ràng hơn nữa mô hình kinh doanh, phân khúc thị trường và thực sự kỳ vọng gì ở nhà đầu tư.  4. Bỏ ngỏ thị trường B2B (Bán hàng cho doanh nghiệp)  Trong khuôn khổ Techfest 2017, trước sự kiện chúng tôi có một tháng để chạy thử nghiệm chương trình Hi-Tech Konec kết nối startup với các doanh nghiệp lớn với kỳ vọng mở ra những cơ hội thương mại hóa sản phẩm tốt hơn cho các startup. Trước đó, một chương trình có tên Switch Pitch từng giúp startup giới thiệu giải pháp công nghệ của mình cho doanh nghiệp, tạo ra cơ hội cho những hợp đồng hàng triệu USD. Nhưng chúng tôi làm theo hướng ngược lại: doanh nghiệp nói về vấn đề của mình và startup lắng nghe để đặt câu hỏi như một quá trình khám phá khách hàng. Bước tiếp theo, hai bên sẽ ngồi xuống làm việc và trong rất nhiều trường hợp, startup sẽ được mua lại hoặc trở thành đối tác cho các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, khi thực hiện chương trình, chúng tôi nhận thấy sự e dè từ cả hai phía. Doanh nghiệp còn mơ hồ về những gì công nghệ cao có thể làm cho doanh nghiệp của mình. Họ nghe nói đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhưng chưa thực sự hình dung nó sẽ tác động tới doanh nghiệp như thế nào và bắt đầu từ đâu. Từ phía startup, có thể thấy đa số không thực sự sở hữu công nghệ mang tính vượt trội và e dè khi đặt câu hỏi sâu hơn vào vấn đề của doanh nghiệp. Tâm lý e ngại của startup còn xuất phát từ mặc định trong đầu rằng bán hàng cho doanh nghiệp cần phải có quan hệ. Vì vậy, họ nghĩ việc tiếp cận thị trường B2C (bán hàng cho người dùng cuối) có vẻ sẽ dễ dàng hơn. Mặt khác, không ít startup dành tình yêu quá lớn cho sản phẩm dịch vụ mình đang phát triển và khó thuyết phục họ về việc đổi hướng ngay cả khi có những doanh nghiệp/tổ chức lớn đã ra đề bài một cách rõ ràng. Thị trường B2B, nơi có những doanh nghiệp loay hoay với bài toán công nghệ, nơi có sẵn nguồn tài nguyên để hỗ trợ startup, lại đang thiếu sự quan tâm chính đáng từ phía những người đang nắm trong tay công nghệ. Bài toán thị trường vốn là điểm yếu chết người của startup. Khi có tiềm năng để giải quyết nó, tại sao lại bỏ lỡ chỉ vì thiếu một sự dũng cảm cần thiết mà doanh nhân nào cũng nên có?  5. Startup ngoại trên thị trường Việt  Có những dấu hiệu xuất hiện những startup mà người sáng lập mang quốc tịch khác đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Không khó để nhận ra sự khác biệt trong cách giới thiệu sản phẩm và tiềm năng của dự án. Một số không nhỏ đang tiếp cận và được đánh giá tốt trong con mắt nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến sự kiện. Họ chuyên nghiệp hơn trong cách tiếp cận, thực tế hơn trong cách đặt vấn đề và những bước tiến hành tiếp theo hiệu quả hơn các nhóm startup trong nước.  Mặc dù còn nhiều bất cập, song khi đã nhìn ra bất cập là lúc chúng ta có thể khắc phục. Sự thay đổi nào cũng cần thời gian, có điều các startup cho mình bao nhiêu thời gian để thực sự có những thay đổi với mục đích rõ ràng, để nâng mình lên một tầm cao mới.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp      Tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo có thể làm được những điều không tưởng hiện đang thách thức chủ nghĩa tư bản hiện đại: làm cách nào để tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và kéo dài trên nền tảng những công việc lương cao và đem lại giá trị lớn. Đây là cốt lõi của xã hội lập nghiệp (entrepreneurial society) và là một mục tiêu tốt. Vấn đề là làm sao đạt được mục tiêu đó.      Tinh thần đổi mới sáng tạo góp phần tạo dựng xã hội lập nghiệp. Nguồn: ssir.org  Dù nhiều nước đã đề ra mục tiêu này, nhưng con số những nơi thực hiện được vẫn còn khiêm tốn. Lý do của khó khăn này nằm ở những hiểu lầm phổ biến về cách thức đạt được tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo (innovation) trước đây. Cách hiểu sai này khiến việc đề ra chính sách bị đưa theo những lối lập luận sai vốn cho rằng các nhà lập nghiệp và công ty cá nhân là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Nếu không bị thách thức, những lập luận này sẽ đưa đến những chính sách gây cản trở và lối phân phối thành quả không phản ánh sự phân bố rủi ro trên thực tế.    Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp (entrepreneurial state), một nhà nước mà thông qua tầm nhìn cùng những đầu tư công chiến lược phân bố khắp chuỗi đổi mới sáng tạo có thể tạo ra cái tinh thần động vật (animal spirit)1 ở các doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nhân lập nghiệp (entrepreneur) từ đó sẽ nhìn thấy các cơ hội tăng trưởng, rồi đầu tư sẽ diễn ra.    Những công nghệ đột phá như Internet và công nghệ sinh học không xuất hiện vì các chính phủ lo lắng về vấn đề “thương mại hóa”, mà chúng xuất hiện từ hệ quả của đầu tư tập trung vào những sứ mệnh công dài hạn. Những sứ mệnh trong quá khứ chẳng hạn như đưa người lên Mặt trăng đã được diễn dịch thành nhiều bài tập nhỏ cần nhiều thành phần khác nhau cùng làm việc trong những quan hệ đối tác năng động, kích thích đổi mới sáng tạo. Những thách thức xã hội ngày nay, từ dân số lão hóa cho đến biến đổi khí hậu, có thể tạo ra những điểm tập trung và động lực thúc đẩy tương tự. Chúng có thể kích thích đổi mới sáng tạo, và đưa ra định hướng cho đầu tư tư nhân và hoạt động kinh doanh lập nghiệp mới khi các cơ hội tạo ra lợi nhuận dần trở nên rõ ràng. Tư duy theo sứ mệnh cũng có thể được sử dụng để phát triển các lộ trình công nghệ cho 17 mục tiêu phát triển bền vững2.       Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp (entrepreneurial state), một nhà nước mà thông qua tầm nhìn cùng những đầu tư công chiến lược phân bố khắp chuỗi đổi mới sáng tạo có thể tạo ra cái tinh thần động vật (animal spirit)1 ở các doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nhân lập nghiệp (entrepreneur) từ đó sẽ nhìn thấy các cơ hội tăng trưởng, rồi đầu tư sẽ diễn ra.      Mấu chốt là việc này cần vai trò lãnh đạo công, thách thức hệ tư tưởng đang thịnh hành đang giới hạn khu vực công vào những vai trò đơn giản là giảm rủi ro hay trợ giúp những người hùng thực sự – những người tạo ra của cải và doanh nhân lập nghiệp yêu thích rủi ro của khu vực tư nhân – trong khi chờ đợi thị trường tự tìm ra các giải pháp. Trong một số ít những nước đã đạt được tăng trưởng thông minh do đổi mới sáng tạo dẫn dắt – như Hoa Kỳ, Israel, Đan Mạch và thậm chí Trung Quốc ngày nay – khu vực công không chỉ tạo điều kiện cho khu vực tư. Khu vực công đã chủ động nhận lấy rủi ro như nhà đầu tư trong phương án đầu tiên chứ không phải kẻ cho vay trong phương án cuối cùng. Ở thung lũng Silicon, cái cực kỳ quan trọng là mạng lưới phân quyền gồm các tổ chức công thông minh đóng vai trò trợ giúp các phản hồi tích cực xuyên suốt toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo. Mạng lưới này gồm có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng cùng nguồn tài chính hạ nguồn bền bỉ và có tính chiến lược dài hạn cho các công ty. Nó còn có cả những chính sách trực tiếp và gián tiếp định hình mức cầu cho những sản phẩm và dịch vụ mới.    Trái với quan điểm đang chiếm ưu thế rằng chính sách có tác dụng đơn giản là “sửa chữa” những thất bại của thị trường, những cơ quan công như DAPRA (Cục quản lý dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến) và SBIR (Chương trình nghiên cứu đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp nhỏ) ở Hoa Kỳ, Yozma (“Sáng kiến”: chương trình đầu tư mạo hiểm) của Israel, Sitra (Quỹ đổi mới sáng tạo) và Tekes (chương trình đầu tư nghiên cứu công nghệ và đổi mới sáng tạo) của Phần Lan đều chủ động định hình và kiến tạo thị trường. Những dạng đầu tư trực tiếp này thành công hơn trong việc tạo ra đầu tư tư nhân mới so với việc dùng tiền thông qua những biện pháp gián tiếp như miễn giảm thuế.    Cách tiếp cận này có nghĩa là phải vượt lên trên việc tạo sân chơi bằng phẳng, mà thay vào đó là chủ động làm sân chơi nghiêng về một phía cụ thể. Điều đó không có nghĩa là chỉ đặt cược vào những công nghệ đơn nhất (bỏ hết trứng vào một rổ) mà phải hỗ trợ một tập hợp các công nghệ khác nhau (theo các vấn đề cần giải quyết) có chung một sứ mệnh (vấn đề lớn). Những người thường chỉ trích rằng chính phủ không thể lựa chọn kẻ thắng người thua đã bỏ qua thực tế là Internet đã được lựa chọn thông qua những đầu tư hướng theo sứ mệnh như vậy; và gần như tất cả các công nghệ trong chiếc điện thoại iPhone (bao gồm hệ thống định vị toàn cầu GPS, Siri, và màn hình cảm ứng) cũng đều như thế. Còn trong lĩnh vực năng lượng thì năng lượng Mặt trời, năng lượng gió, năng lượng hạt nhân và thậm chí năng lượng từ khí đá phiến (shale gas) cũng do tài chính công tạo mồi cho phát triển. Ba công ty của Elon Musk là Solar City, Tesla, và Space X đã nhận hơn 4,9 tỷ USD tiền hỗ trợ từ nguồn công. Có lúc những đầu tư này thành công (như Tesla), có lúc chúng thất bại (như Solyndra) – nhưng bất kỳ nhà đầu tư mạo hiểm nào cũng sẽ nói đây là chuyện bình thường.    Thách thức đặt ra là chúng ta phải vượt qua những lối lập luận sai lầm và những cuộc tranh cãi ý thức hệ mệt mỏi về chuyện nhà nước phải tiến hay thoái. Câu hỏi thực sự là làm sao áp dụng những bài học của chính sách hướng theo sứ mệnh thành công trong quá khứ cho những thách thức xã hội ngày nay – với vai trò vừa là nền tảng để giải quyết những thách thức quan trọng này vừa là động lực thúc đẩy và định hướng cho tăng trưởng bao trùm (inclusive), bền vững (sustainable), và do đổi mới sáng tạo dẫn dắt (innovation-led). Điều này có nghĩa là phát triển các khung khái niệm, công cụ phân tích, và năng lực tổ chức có thể lập luận hỗ trợ, đánh giá, và nuôi dưỡng cách tiếp cận này.     Trong một bài gần đây trên tạp chí Industry and Innovation (Công nghiệp và đổi mới sáng tạo)3, tôi (Mazzucato) đã mô tả những thách thức này dưới dạng bốn vấn đề sau.    Một là con đường và định hướng. Nếu “cứ để thị trường quyết định” là phản ứng không đầy đủ và không hiệu quả trước những thách thức ta đang đối mặt, thì làm cách nào ta có thể tìm ra những cách bền vững một cách dân chủ để chọn ra những sứ mệnh cụ thể rồi đặt ra con đường và định hướng thay đổi?    Hai là tổ chức. Làm cách nào ta có thể tạo ra những tổ chức học tập trong khu vực công có thể đón nhận rủi ro, học từ thất bại, khám phá, tìm hiểu, và hiểu được đâu là điểm dừng? Điều này có nghĩa là hiểu chính sách như một tiến trình mà học tập từ thất bại là thứ được đón nhận. Nói về các tổ chức công như những tác nhân hoạt động theo sứ mệnh, chứ không đơn thuần là hỗ trợ các tác nhân khác, cũng giúp thu hút nhân tài mà những tổ chức công có viễn kiến cần.    Ba là đánh giá. Phân tích chi phí – lợi ích ở trạng thái tĩnh không thể nắm bắt được ảnh hưởng chuyển đổi của đầu tư công chiến lược, có tác dụng kiến tạo thị trường. Ta cần có các công cụ đánh giá năng động mới dựa trên hiểu biết sâu rộng hơn về kiến tạo giá trị công.    Bốn là rủi ro và thành quả. Lập luận sai về ai là người chịu rủi ro đã đưa một cách phân phối thành quả không phản ánh cách phân phối thật của rủi ro. Nếu người đóng thuế chịu rủi ro lớn nhất trong những giai đoạn không chắc chắn ban đầu của tiến trình đổi mới sáng tạo thì họ phải được hưởng thành quả. Câu hỏi là làm thế nào mới tốt nhất. Có nhiều lựa chọn, như thỏa thuận tái đầu tư lợi nhuận (chính là loại thỏa thuận đưa đến việc thành lập Bell Labs)4, đặt mức giá trần cho các sản phẩm từ đầu tư công (ví dụ như thuốc), giữ lại cổ phần vàng (golden share) các quyền sở hữu trí tuệ, giữ lại tài sản hay bản quyền khi có thể, hay tín dụng theo thu nhập (income-contingent loan). Không có giải pháp nào là duy nhất, nhưng việc xem xét các cách khác nhau nhằm chia sẻ tốt hơn thành quả đổi mới sáng tạo phải giữ vai trò trung tâm trong chiến lược không chỉ nhắm tới tăng trưởng thông minh mà còn cả tăng trưởng bao trùm.     Hiển nhiên là kẻ thắng cuộc viết nên lịch sử. Những người thắng cuộc ở thung lũng Silicon – các nhà đầu tư mạo hiểm và các doanh nhân lập nghiệp – viết nên những câu chuyện biện hộ cho những thành quả mà họ được hưởng. Nhưng câu chuyện của họ không phải là chỉ dẫn có ích cho việc làm chính sách ở những chỗ khác. Để làm điều đó, ta cần phải nhìn xuống phía dưới, nhìn vào những đôi vai mà họ đứng trên đó, để tạo ra những hệ sinh thái cộng sinh giữa khu vực công và khu vực tư cùng nhìn nhận việc kiến tạo của cải là một hành trình chung. Vì một xã hội lập nghiệp trước hết cần một nhà nước lập nghiệp.□     Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: “An entrepreneurial society needs an entrepreneurial state”. Harvard Business Review, 25/10/2016    TS Mariana Mazzucato hiện là giáo sư kinh tế đổi mới sáng tạo và giá trị công tại Đại học London. Khi viết bài này, bà là giáo sư kinh tế tại Đại học Sussex (Anh). Nghiên cứu của bà tập trung vào những mối quan hệ cộng sinh kinh tế đóng góp vào tăng trưởng bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo. Ngoài nghiên cứu và giảng dạy, TS Mazzucato là thành viên Hội đồng cố vấn kinh tế cho Chính phủ Scotland, cố vấn khoa học cho Phòng ngân sách Nghị viện Italia, và ủy viên Ủy ban chính sách phát triển của Liên Hiệp uốc. Một trong những quyển sách đáng chú ý của TS Mazzucato là “Nhà nước lập nghiệp: bác bỏ những định kiến sai lầm về công–tư” (The entrepreneurial state: Debunking public vs private sector myths) xuất bản lần đầu năm 2013, có nội dung phần nào được phản ánh trong bài viết này.     Ghi chú:  [1] “Tinh thần động vật” (“animal spirit”) là cụm từ nhà kinh tế học John Maynard Keynes dùng để chỉ một dạng lạc quan, tự tin của giới doanh nghiệp, cũng như tâm lý mong muốn tham gia nhiều hơn vào hoạt động kinh tế của cả người đầu tư lẫn người tiêu dùng. Trong quyển “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The general theory of employment, interest, and money) năm 1936, Keynes nói “tinh thần động vật” phản ánh qua “suy nghĩ về mất mát lớn nhất vốn thường xảy ra cho những người tiên phong … bị đặt qua một bên cũng như một người khỏe mạnh bỏ qua một bên cái chết trong tương lai”.  [2] Năm 2015, Đại hội đồng Liên Hiệp uốc thông qua 17 mục tiêu phát triển bền vững mà thế giới hướng đến vào năm 2030. Các mục tiêu này bao gồm xóa bỏ đói nghèo, phát triển kinh tế bền vững, bình đẳng giới, giữ gìn hòa bình và bảo vệ môi trường, v.v…   [3] From market fixing to market creating: a new framework for innovation policy (2016). Industry and Innovation 23:140–156. https://doi.org/10.1080/13662716.2016.1146124  [4] Bell Labs là một trong những công ty nghiên cứu và phát triển lớn nhất thế giới. Nhiều công nghệ mà Bell Labs phát triển có tầm ảnh hưởng lớn đến khoa học và kinh tế như transistor, tia laser, hệ điều hành Unix, ngôn ngữ lập trình C, pin Mặt trời, các hệ thống viễn thông, v.v… Hệ thống Bell Labs ra đời do chính quyền Hoa Kỳ yêu cầu AT&T, một tập đoàn viễn thông độc quyền, phải đầu tư lợi nhuận ngoài phần mà tập đoàn này cần trở lại cho việc sản xuất và đổi mới sáng tạo [K. Hamilton & C. Hepburn. National wealth: what is missing, why it matters. Oxford University Press, 2017].     Author                Mariana Mazzucato        
__label__tiasang Một ý tưởng hay, giàu tính lãng mạn      &#221; tưởng x&#226;y dựng Thủ phủ c&#224; ph&#234; Bu&#244;n M&#234; Thuột của anh Đặng L&#234; Nguy&#234;n Vũ l&#224; một &#253; tưởng hay v&#224; gi&#224;u t&#237;nh l&#227;ng mạn. Nhưng c&#243; th&#224;nh c&#244;ng vượt trội n&#224;o m&#224; kh&#244;ng c&#243; t&#237;nh l&#227;ng mạn?  Tr&#234;n tinh thần đ&#243;, t&#244;i hoan ngh&#234;nh v&#224; đ&#225;nh gi&#225; cao s&#225;ng kiến của anh Đặng L&#234; Nguy&#234;n Vũ. Vấn đề l&#224; Thủ phủ c&#224; ph&#234; sẽ được x&#226;y dựng theo m&#244; h&#236;nh như thế n&#224;o?    Tôi cho rằng, khi nói đến Thủ phủ cà phê thì phải lấy cà phê làm trung tâm. Nhưng xoay quanh cà phê còn phải có nhiều hoạt động khác. Người ta đến với cà phê để rồi đến với những hoạt động gắn với vùng đất cà phê, và ngược lại, đến với những hoạt động đó để rồi bị lôi cuốn bởi “hương vị” cà phê.  Khi nói lấy cà phê làm trung tâm nghĩa là cà phê phải tạo ra trung tâm cuốn hút mọi người. Mặc dù chúng ta đứng thứ hai trong rất nhiều nước trồng cà phê như Brazil, Colombia, Indonesia…, và là nước đứng đầu về cà phê Robusta, nhưng nếu chất lượng cà phê không tốt, không có nhiều sản phẩm độc đáo có hương vị đặc sắc, không tạo được thương hiệu riêng thì làm sao thu hút được các nhà kinh doanh cà phê, các “công dân cà phê”? Nhất là khi có nhiều nước trồng cà phê đã đi vào cơ chế thị trường sớm hơn ta. Mặt khác, nếu chỉ tạo ra những sản phẩm cà phê độc đáo không thôi cũng không đủ, bởi có thể nhiều nước cũng làm được điều đó. Hơn nữa, thậm chí người ta có thể ngồi ở Paris ngắm tháp Effel mà vẫn thưởng thức được hương vị độc đáo của cà phê Tây Nguyên.  Từ những phân tích nói trên, mô hình Thủ phủ Cà phê có thể được xây dựng đáp ứng các yêu cầu sau:  1. Phát triển bền vững cà phê; tăng tính hấp dẫn của cà phê Tây Nguyên trên cơ sở tạo ra nhiều sản phẩm cà phê sạch và chất lượng cao, có hương vị độc đáo; xây dựng thương hiệu cà phê Buôn Mê Thuột.  2. Biến Buôn Mê Thuột thành một trung tâm giao dịch cà phê tầm cỡ.  3. Xây dựng các tụ điểm thưởng thức cà phê với phong cách kiến trúc độc đáo để khách du lịch khắp nơi có thể nhâm nhi cốc cà phê thơm lựng trong âm hưởng của đàn Đá và âm nhạc cồng chiêng.  4. Xây dựng bảo tàng cà phê, không chỉ có cà phê Việt Nam mà còn cả cà phê thế giới, tái hiện lịch sử phát triển cây cà phê Việt Nam với bao mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu nữa. Không phải lo ngại rằng việc giới thiệu về cà phê thế giới sẽ tạo ra sự cạnh tranh với cà phê Việt Nam. Mục đích của điều này là để những người yêu cà phê chỉ cần đến Buôn Mê Thuột là có thể tìm hiểu cả thế giới cà phê…  5. Phát triển các hoạt động du lịch gắn với bản sắc văn hoá độc đáo và phát triển du lịch sinh thái trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.  6. Hoàn thiện lễ hội Hoa Cà phê sao cho phong phú hơn, đặc sắc hơn, gắn kết chương trình thưởng thức cà phê với các chương trình du lịch khác.  7. Xây dựng chiến lược quảng bá Thủ phủ cà phê ra nước ngoài.  Trên đây là phác thảo sơ lược những ý tưởng của tôi về mô hình Thủ phủ cà phê toàn cầu. Tất nhiên những hoạt động nói trên phải đảm bảo yêu cầu về an ninh chính trị trên vùng đất khá nhạy cảm này. Mong rằng, các nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa sẽ phản biện và bổ sung sâu sắc hơn để ý tưởng về Thủ phủ cà phê toàn cầu có thể trở thành hiện thực    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Một ý tưởng phát triển kinh tế xã hội lớn và táo bạo”      Sau nhiều năm ưu tư trăn trở về một “đất nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới mà thu về giá trị quá thấp”, người “thủ lĩnh” Công ty Cổ phần cà phê Trung Nguyên đã hình thành dự án “Thiên đường cà phê toàn cầu”.  “Một ý tưởng phát triển kinh tế xã hội lớn và táo bạo”, là nhận xét chung của không ít người trong giới kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và những nhà quản lý về dự án này.  Ý kiến này lại một lần nữa được nhắc tới tại cuộc tọa đàm do Tạp chí Tia Sáng phối hợp với Công ty Cổ phần cà phê Trung Nguyên tổ chức ngày 28.2 tại Hà Nội.    Cuộc tọa đàm nhằm thu nhận những ý kiến đóng góp về những giải pháp trong tổ chức thực hiện dự án qui mô quốc gia đã quy tụ được nhiều nhà khoa học, kinh tế, văn hóa hàng đầu cùng với các kiến trúc sư, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ: Việt Phương, Hữu Ngọc, Lê Đạt, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trực Luyện, Thái Kim Lan, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Khắc Phục, Trần Đình Thiên, Đặng Nhật Minh, Lý Trực Dũng, Trọng Đài…  Trong bài viết đăng Tia Sáng số Tết Mậu Tý 2008 vừa qua, Tổng giám đốc Công ty cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ (nay là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Trung Nguyên) đã trình bày toàn bộ ý tưởng về một Thiên đường cà phê toàn cầu, nêu lên một “tuyên ngôn cà phê” khá độc đáo nên chúng tôi không lặp lại ở đây. Điểm nhấn đặc biệt của Đặng Lê Nguyên Vũ là muốn dự án của mình không chỉ loanh quanh ở cây cà phê, trồng nó, làm ra hàng hóa cao cấp từ nó mà còn mong muốn dựng lên một “văn hóa cà phê” của Đắk Lắk, của Tây Nguyên, của Việt Nam – nghĩa là một không gian rộng lớn của vùng Tây Nguyên hùng vĩ, có các công trình văn hóa lớn đi cùng, hòa điệu vào phong cách sống, thưởng thức cà phê có thương hiệu quốc tế. Đây là điểm khác biệt và cũng là điểm gây tranh luận tại cuộc tọa đàm.  Một điểm mà Đặng Lê Nguyên Vũ rất muốn cử tọa lưu ý về một đặc tính của người Việt mình trong lịch sử là ít thấy biểu hiện “những ao ước lớn, những khát vọng lớn”. Thời hội nhập này lại vô cùng cần đến một khát vọng như vậy, vẫn lời ông Vũ, cho nên ước vọng chỉ giới hạn ở một vùng cà phê, nhưng dự án của Trung Nguyên muốn “định vị” nó ở quy mô quốc gia, vươn ra toàn cầu.  Nhà thơ Lê Đạt đồng tình với ý kiến ở ta khuyết điểm là ít dám nghĩ lớn, nhưng đúng là cũng hay nói lớn, mà nói lớn dễ giảm độ tin cậy của lời phát ngôn, dễ say chữ mà ít chú ý làm được những chữ mình nói. Ông ý nhị rằng, làm việc lớn phải như nấu một con cá nhỏ, tức phải thật tinh tế, cẩn thận. Tuy nhiên ông thấy được khích lệ khi tiếp xúc với dự án và người làm ra dự án, cho rằng việc này đáng trọng, vì đây “vừa là văn hóa, vừa là kinh tế”.  Chia sẻ ý tưởng, nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc bày tỏ hoan nghênh những ý tưởng lớn, có tính chất chiến lược của dự án. Ông chỉ băn khoăn “nghề nghiệp” là có nên đặt tên dự án là thánh địa, bởi khi chuyển ngữ ra tiếng nước ngoài từ ngữ này khơi gợi một ý lo lắng, bất an từ nghĩa của nó đang xảy ra trên thế giới. Mặt khác, bằng kinh nghiệm gần 60 năm nay tiếp xúc với người nước ngoài, phục vụ bạn đọc nước ngoài, ông Hữu Ngọc rất muốn tác giả dự án chú ý tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, vì những nền văn hóa ở Pháp ở Anh, đều có gắn bó với một thứ văn hóa cà phê, cung cách kinh doanh và thưởng thức cà phê để nâng tầm dự án.      Nhà kinh tế Trần Đình Thiên còn đi xa hơn khi nói ý tưởng của Trung Nguyên là rất tuyệt, cần phải có sự táo bạo quyết liệt như thế nếu không thì cứ ỳ mãi. Phải thấy thời hội nhập cần xác định thế mạnh cho mình vì có cơ hội huy động sức mạnh quốc tế cùng làm. Vì thế không thể để ý tưởng tốt “chết” đi, vấn đề là bàn về một lộ trình, bước đi, sự yểm trợ. Ông Thiên so sánh với sự đột phá của Thâm Quyến thì thấy chúng ta thật lãng phí mất những khu vực như Hạ Long, nhiều vùng ở Quảng Ninh… Ông còn nhắc là Thâm Quyến ban đầu chỉ là một làng chài nghèo mấy chục năm trước, nay GDP hơn tổng GDP Việt Nam.  Từ một góc nhìn khác, nhà thơ Việt Phương, cũng là một nhà kinh tế, nói như tâm sự, từng là người lính chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên từ những ngày đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bạn ông người Hà Nội (nhà cách nơi tọa đàm không xa) đã nằm xuống ở Đắk Lắk, ông muốn cà phê cần nâng cao nữa chất lượng, phấn đấu nhiều để có tách cà phê ngon hơn, thuận lợi đến với người tiêu dùng thế giới. Và ông cho rằng muốn làm “văn hóa cà phê” thì trong mọi việc làm, kinh doanh phải làm sao cho “thật là văn hóa”. Cụ thể là “hết sức chú trọng đến đồng bào bản địa ở Tây Nguyên, vì họ là vốn quý văn hóa, họ xứng đáng được hưởng thành quả kinh doanh thành đạt của dự án, cũng chính là “phát triển bền vững” cho vùng đất này.  Chính từ nhận xét “ý tưởng lớn” nên cũng khá nhiều ý kiến nhắc nhở sự tỉnh táo cho dự án. Đừng có ham làm lớn ngay, phải đi từng bước, từ việc có thể là nhỏ, dễ làm và nhân được rộng ngay, rồi dần dần định thương hiệu. Trước hết là phải chiếm lĩnh thị trường trong nước, biến những người Việt Nam thành khách sành điệu cà phê, chọn uống cà phê ngon nhất của ta làm ra. Ở đời hữu xạ tự nhiên hương, càng làm tốt càng tạo sức hút của xã hội, của thị trường quốc tế.  Dự án nhắc tới những công trình văn hóa quy mô lớn (bảo tàng cà phê, bãi đá lớn mà chất liệu là đá Tây Nguyên…) và có ý nhắc đến nhiều công trình kiến trúc đỉnh cao của thế giới đã khơi nguồn một loạt ý kiến đóng góp.  Ở khía cạnh này, họa sĩ Nguyễn Quân cảnh báo chớ quá vội vàng với những công trình xây dựng lớn. Ý ông là muốn có một không gian văn hóa cà phê thì dự án phải có tính đến quy hoạch kiến trúc tổng thể, rồi chi tiết với sự nghiên cứu cặn kẽ văn hóa và sinh hoạt mỹ thuật hiện đại, mời được người xứng đáng tham gia, đó là những thẩm định viên giỏi nhất và vô tư nhất.  Ngoài ý kiến về một số giải pháp khoa học để nâng cao chất lượng cà phê của Đắk Lắk, theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng, khi dự án chưa triển khai được bảo tàng lớn về cà phê thì cũng nên lập một phòng bảo tàng cà phê ở ngay Bảo tàng dân tộc học, vì hầu hết các nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam đều được mời đến bảo tàng này.  Những ý kiến của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, Kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Nguyễn Khắc Phục đều tập trung vào ý, một Tây Nguyên – cụ thể hơn là Đắk Lắk – là vùng đất đặc biệt, bản thân dân tộc ít người Tây Nguyên đã là di sản quý của văn hóa thế giới. Đưa cà phê của Tây Nguyên thành thương hiệu quốc tế, thì trước hết hãy đưa người bản địa sống ngày sung túc hơn, chính là xây thiên đường cho những con người rất xứng đáng được hưởng này. Mức sống của họ được nâng cao qua việc tham gia trồng cây cà phê một cách có kỹ thuật cao nhất là điều cần làm, bởi không thể gìn giữ văn hóa truyền thống của họ bằng cách làm từ thiện. Hãy tạo cho họ làm giàu bằng chính cây cà phê trồng trọt trên đất đai, xứ sở của họ.  Nguyễn Văn tổng thuật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mũ hơi bảo vệ người đi xe đạp      Mũ bảo hiểm hơi VI-THY cho người đi xe đạp do ông Võ Văn Bé nghiên cứu và sản xuất thành công có tác dụng phân tán lực  hiệu quả, khi bị va chạm lực sẽ được phân tán đều ra khắp mũ thay vì  phải tập trung vào một chỗ giúp nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ phần đầu của người tham gia giao thông.&#160;       Ngoài ra do mũ được tạo bới các múi hơi liên thông với nhau nên rất thông thoáng, tác dụng tỏa nhiệt cao.   Đặc tính nổi trội của mũ bảo hiểm hơi là siêu nhẹ, mũ chỉ nặng từ 200 – 240 gr và có bốn lớp.   Ngoài cùng là lớp vỏ trang trí không thấm nước, chịu được lực ma sát, lực kéo căng và va đập.   Kế tiếp là lớp nhựa đặc biệt EVA dùng để chứa hơi. Lớp nhựa này có ưu điểm giữ hơi lâu. Tiếp theo là lớp bố chịu lực.  Trong cùng là lớp lót. Tất cả các chất liệu vải sử dụng làm mũ đều là vải tiệt trùng, không gây mùi hôi, ngứa da đầu cho người đội.  Phía sau mũ có van dùng để bơm hơi, khi sử dụng người dùng có thể bơm hơi vào mũ, dùng xong có thể xả hơi để cất vào túi xách. Chỉ mất khoảng một phút bơm tay là đủ lượng hơi cho mũ căng phồng. Van bơm hơi của mũ được cấu tạo để cho khí vào nhưng không thể thoát ngược trở lại. Trên mũ có những lỗ thông khí nhỏ để thoát mồ hôi, chống bí hơi cho người đội.  Bên cạnh những ưu điểm về tính thuận tiện và  khả năng bảo vệ cho người sử dụng, Giải pháp mũ bảo hiểm hơi của tác giả Võ Văn Bé được thiết kế với nhiều mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc đa dạng, phù hợp cho nhiều đối tượng người dùng.   Với sản phẩm này, tác giả Võ Văn Bé, 50 tuổi, hiện sống ở quận Bình Tân, TP HCM, đã được Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc đã trao tặng giải ba chung cuộc .  Hiện nay, tác giả Võ Văn Bé đang tiếp tục nỗ lực cải tiến và hoàn thiện sản phẩm.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mua bán phát thải carbon có lợi cho môi trường      Phân tích và đánh giá chương trình cho phép mua bán phát thải carbon của bang California, Đại học Stanford chỉ ra cách làm này đem lại những lợi ích to lớn đối với môi trường.    Tiểu bang California (Mỹ) đang đi tiên phong trong một chương trình cho phép những người chủ rừng có thể bán “tín chỉ CO2” (carbon dioxide credit) cho những doanh nghiệp phải cắt giảm lượng khí thải theo yêu cầu của chính quyền.  Nghiên cứu của Đại học Stanford, công bố trên Frontiers in Ecology and the Environment, đã phân tích và đánh giá để cho thấy chương trình này đem lại những lợi ích to lớn đối với môi trường.  California đặt ra mục tiêu phải đưa lượng khí thải CO2 trở về mức của năm 1990, và tới năm 2030 thấp hơn mức đó 40%. Kết quả là, một thị trường mua bán phát thải (cap and trade market) ra đời, mà ở đó các công ty xả thải nhiều có thể mua thêm “quyền phát thải” để đáp ứng tiêu chuẩn của chính quyền.  Khoản tiền do rừng mang lại nhờ bán “sức chứa” carbon còn dư của mình, vốn chiếm phần lớn thị phần mua bán phát thải carbon ở California, khiến người trồng rừng thay đổi phương thức quản lý đất để tăng “sức chứa” CO2 như hạn chế chặt cây, tái trồng và cải tạo rừng.  Với “sức chứa” mỗi tấn CO2 tích trữ được, người chủ rừng sẽ kiếm được 1 tín chỉ (credit) – trị giá khoảng 10 USD – để bán cho những công ty có nhu cầu. Kể từ năm 2013, thông qua chương trình này, các chủ rừng đã kiếm được 250 triệu USD khi bán “sức chứa” 25 tấn khí CO2 cho các cơ sở gây ô nhiễm, tương đương 5% lượng phát thải CO2 từ các phương tiện giao thông đường bộ của bang này mỗi năm.  Tuy nhiên một số ý kiến phản đối cho rằng, việc mua bán “tín chỉ CO2” tạo cơ hội cho một số công ty né tránh việc cắt giảm khí thải.  Mặc dù chương trình của California cho phép mỗi cơ sở gây ô nhiễm được mua tối đa 8% tổng lượng phát thải carbon, song tỷ lệ tích lũy “sức chứa” CO2 hiện mới chỉ đạt 2%. Vì khả năng bù đắp rất hạn chế, những cơ sở gây ô nhiễm nặng vẫn cần phải trực tiếp giảm phát thải của họ, như chuyển sang sử dụng năng lượng sạch thay thế, thay vì chỉ dựa vào việc mua quyền phát thải. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Đại học Stanford, chương trình này nhìn chung vẫn giúp giảm phát thải, điều có thể đã không xảy ra nếu chương trình này không được khởi xướng.  Christa Anderson, tác giả chính của nghiên cứu cho biết, “Nhiều quốc gia đang phát triển, có diện tích rừng đáng kể, cũng đang quan tâm tới những chính sách tương tự nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng.” Tuy nhiên bà cũng cảnh báo, việc mua bán phát thải với khối lượng lớn có thể làm người ta sao lãng khỏi những biện pháp giảm phát thải ưu tiên khác. Chẳng hạn, các nhà lập pháp của California mới đây đã trình một đạo luật nhằm biến lĩnh vực năng lượng của bang nay thành 100% năng lượng tái tạo vào năm 2045.  Hải Đăng lược dịch  Nguồn:  https://phys.org/news/2017-08-carbon-offsets-wide-ranging-environmental-benefits.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mua điện mặt trời qua điện thoại di động      Doanh nghiệp M-Kopa Solar đang triển khai  cung cấp công nghệ năng lượng mặt trời cho các hộ dân trên khắp Kenya  với cách trả phí qua điện thoại di động theo khoản nhỏ.    Nhà của John Kibet ở một vùng nông thôn Kenya không nằm trong mạng lưới cung cấp điện của nước này. Cách duy nhất để ông có được năng lượng là dùng máy phát điện từ dầu hỏa, tuy nhiên cách này rất nguy hiểm, không vệ sinh và gây mùi khó chịu.  Nhưng bây giờ, ông Kibet đã có thể chuyển sang sử dụng điện từ năng lượng mặt trời cho 15 hecta đất canh tác của mình, và trả tiền điện qua điện thoại di động. Kibet nói giờ đây ông có nhiều ánh sáng hơn và cũng tiết kiệm được rất nhiều tiền từ dịch vụ này.    Cơ cấu một bộ phát điện gia dụng điển hình bao gồm một panel quang điện mặt trời 4W hoặc 5W, các bóng đèn, điểm sạc pin điện thoại di động, và cả một radio, nếu cần.  Mỗi hệ thống đều được cài thẻ SIM để kết nối với trung tâm điều khiển của M-Kopa. Qua đó, công ty có thể giúp khách hàng điều chỉnh và bảo trì hệ thống.   Các hộ dân có thể mua bộ phát điện này bằng cách nhắn tin qua hệ thống trả tiền di động M-Pesa do Vodafone và Safaricom cung cấp.   Sau khi đặt cọc 2.999Ksh – khoảng 20 bảng Anh – các hộ sẽ trả 50Ksh mỗi ngày trong vòng một năm để hoàn toàn sở hữu hệ thống. So với việc trả 17.000Ksh hàng năm để mua dầu hỏa, phương pháp này tiết kiệm hơn rất nhiều.  Công ty cho biết, đã có 70.000 hộ dân đăng ký dịch vụ, và hàng tuần lại có thêm 1.000 hộ nữa tham gia. Hình thức này cũng đã lan sang cả nước láng giềng Uganda.  M-Kopa hy vọng sẽ đạt tới con số một triệu hộ dân vào năm 2018.   Khánh Minh lược dịch   Nguồn: http://www.bbc.com/news/business-27516418    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mùa xuân ấm áp sẽ gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng trong mùa hè      Một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Science Advances đã chỉ ra, một trong những nguyên nhân gây ra hậu quả nặng nề trong đợt hạn hán mùa hè 2018 tại châu Âu chính là do sự xuất hiện của một đợt sóng nhiệt vào mùa xuân trước đó.      Hạn hán năm 2018 gây ra thiệt hại đáng kể trong các vụ thu hoạch mùa màng ở Đức. Nguồn: courthousenews.com  Dẫn dắt một nhóm nghiên cứu quốc tế, Ana Bastos và Julia Pongratz thuộc Đại học Ludwig-Maximilians (LMU) ở Munich đã tìm thấy, những đợt sóng nhiệt mùa xuân đã khuếch đại ảnh hưởng của đợt hạn hán diễn ra sau đó vào mùa hè. Tác động của hạn hán mùa hè lên hiệu suất và sự cân bằng carbon của hệ sinh thái thay đổi tùy vào quy mô khu vực và phụ thuộc vào tính chất của kiểu thảm thực vật chủ đạo ở nơi đó. Bên cạnh đó, do tình trạng nóng lên toàn cầu, tỷ lệ các đợt sóng nhiệt mùa hè và hạn hán theo chu kỳ được dự đoán sẽ gia tăng.   Các nghiên cứu về hạn hán mùa hè 2003 và 2010 đã cho thấy sự khan hiếm nước, nhiệt độ cao và những thiệt hại gây ra bởi hỏa hoạn đã khiến hệ sinh thái hấp thụ ít carbon dioxide hơn thông thường. “Chúng ta hầu như chưa biết gì về việc liệu các thông số thời tiết xảy ra trước đó có ảnh hưởng gì không và ảnh hưởng như thế nào đến phản ứng của hệ sinh thái đối với các điều kiện khắc nghiệt trong mùa hè”, Ana Bastos – hiện nay đang dẫn dắt một nhóm nghiên cứu tại Viện hóa sinh Max Planck ở Jena, cho biết. “Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi đã sử dụng năm 2018 ở châu Âu như một trường hợp điển hình và thực hiện các mô phỏng khí hậu kết hợp với 11 mô hình thảm thực vật khác nhau”.  Kết quả cho thấy, những điều kiện ấm áp và nhiều nắng xuất hiện phổ biến trong mùa xuân đã dẫn đến sự tăng trưởng sớm hơn bình thường của thảm thực vật. Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng ở mỗi khu vực lại khác nhau. Bà Bastos cho biết: “Khi thực vật tiếp tục sự sinh trưởng vào đầu năm, chúng sẽ ‘uống’ nhiều nước hơn. Ở Trung Âu, sự tăng trưởng nhanh chóng của thực vật trong mùa xuân đã làm giảm đáng kể hàm lượng nước ở trong đất. Vào hè, độ ẩm của đất đã không còn đủ để duy trì sinh khối tích lũy, từ đó khiến cho hệ sinh thái trở nên dễ tổn thương hơn trước những tác động của hạn hán”.   Mặt khác, tại Scandinavia, hoạt động của hệ sinh thái cũng như sự cân bằng carbon thường niên của khu vực này đều ở mức trung tính hoặc có hơi hướng tích cực. Sự khác biệt này là do các thảm thực vật cụ thể ở hai khu vực. Ở Trung Âu, đất canh tác và các đồng cỏ chiếm đa số cảnh quan, trong khi đó, tại Scandinavia, các khu rừng che phủ hầu hết bán đảo này. Bà Bastos cho biết:  “Nếu lớn nhanh hơn trong mùa hè, cây cối sẽ tiêu thụ nhiều nước hơn. Tuy nhiên chúng có thể kiểm soát lượng nước mất đi từ sự thoát hơi nước của cây bằng cách điều chỉnh các khe hở của lỗ khí khổng trong lá”. Hơn nữa, các cây này có rễ sâu hơn cỏ hoặc các cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, do đó, chúng có thể rút được nước ở khoảng cách sâu hơn trong thời gian hạn hán. Với những lý do đó, những khu rừng phương Bắc của Bắc Âu đã duy trì được hầu hết các mức cố định carbon bình thường, thậm chí ngay cả trong thời kỳ hạn hán nặng.  Các mô phỏng mới đã chỉ ra rằng mùa xuân ấm áp của năm 2018 đã góp phần gia tăng tính dễ tổn thương của hệ sinh thái đối với hạn hán mùa hè ở Trung Âu, hoặc giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của mùa hè nóng và khô tại Scandinavia. Điều này liên quan đến những khác biệt trong sự che phủ đất và việc sử dụng nước của thảm thực vật.   Bà Julia Pongratz nhận định, để hệ sinh thái có thể phục hồi dễ dàng hơn, chúng ta có thể thay đổi thảm thực vật che phủ khu rừng, ví dụ như trồng các nhóm cây cao trong khu vực lân cận của các vùng đất trồng trọt. Tuy nhiên, nếu các vụ hỏa hoạn do hạn hán xảy ra quá thường xuyên, hệ sinh thái sẽ dần biến đổi. Vì vậy, rất khó để có thể xác định được rằng liệu hệ sinh thái của châu Âu có tiếp tục trở thành ‘bể chứa’ carbon dioxide được nữa hay không”. □  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-climate-early-rapid-growth-severe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mùa Xuân Cải cách và Hội nhập      Để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải có một cuộc cải cách với khâu then chốt là chuyển từ nhà nước hành chính can thiệp sang nhà nước kiến tạo sự phát triển.       Một Mùa Xuân Đổi mới II  Đất nước ta đã có bước phát triển và tiến bộ trên nhiều mặt sau 30 năm Đổi mới, được thế giới thừa nhận, đã có thế và lực mới. Đồng thời, đất nước đang phải đôi mặt với những thách thức nghiêm trọng:   Nước ta chưa trở thành một nước công nghiệp hóa, với GDP/người năm 2015 đạt 2109 USD, kinh tế nước ta đã vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp (<1000 USD/người) nhưng vẫn thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp, công nghiệp và xuất khẩu dựa quá nhiều vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp dân tộc còn quá nhỏ bé. Trong khi khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão thì Chỉ số Tri thức (Knowledge Index KI) và Chỉ số Kinh tế tri thức (Knowledge Economy Index KEI) của chúng ta còn quá thấp.         Kinh tế nước ta tăng trưởng dưới tiềm năng và có nguy cơ rơi vào “bãy thu nhập trung bình”, tức là sẽ mất rất nhiều thời gian để đạt mức 11.000 USD/người để trở thành một nền kinh tế phát triển.  Chúng ta đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại, giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0%, gỡ bỏ hầu hết các rào cản hành chính để bảo vệ cho nền công nghiệp còn non trẻ và câu hỏi lớn là nước ta sẽ công nghiệp hóa ra sao khi phải cạnh tranh không cân sức với các nền công nghiệp phát triển nhất thế giới? Liệu kinh tế nước ta có rơi vào “bẫy tự do hóa thương mại” trước khi xây dựng được một nền công nghiệp dân tộc với doanh nghiệp và thương hiệu đại diện cho dân tộc và đất nước ta?  Trước những thách thức nghiêm trọng như vậy, đòi hỏi cần một cuộc đổi mới lần thứ hai một cách cơ bản và toàn diện với khâu then chốt là cải cách thể chế, chuyển từ mô hình nhà nước hành chính can thiệp sang mô hình nhà nước kiến tạo sự phát triển.   Thế giới đánh giá cao sự thông minh, khéo tay của người Việt Nam nhưng chất lượng lao động Việt Nam được xếp hạng rất thấp. Về chất lượng nguồn nhân lực, nếu lấy thang điểm 10 thì Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB). Trong khi đó, Thái Lan, Malaysia lần lượt là 4,94 và 5,59. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã có hiệu lực từ 31.12.2015 với lao động có chứng chỉ thuộc 8 ngành nghề được 10 nước thành viên thừa nhận có thể di chuyển trong khối, liệu lao động giỏi của Việt Nam có sang các nước khác làm việc để có đồng lương cao hơn trong khi lao động của Philippines, Thái Lan sẽ tràn vào nước ta và lấy đi công ăn việc làm của người lao động trong nước? Kinh nghiệm cho thấy sau khi gia nhập Liên minh châu Âu, lao động chất lượng cao của các nước Hungary, Tiệp và Ba Lan đã chạy ra khỏi nước đến mức dân số Hungary đã bị giảm sút cơ học. Cải cách hệ thống giáo dục-đào tạo đã trở nên không thể trì hoãn được nữa và mỗi người lao động phải tự mình học tập, rèn luyện về kỹ năng sống, hợp tác tập thể, học ngoại ngữ để có thể tìm được việc làm và có thu nhập.  Bộ máy cồng kềnh, trùng lặp từ Đảng, Quốc hội, Chính quyền đến các đoàn thể, chi tiêu rất lãng phí đã quá sức chịu đựng của ngân sách, bội chi ngân sách ngày càng tăng lên, nợ Chính phủ quá lớn, gây lo ngại cho ổn định kinh tế vĩ mô. Bộ máy ấy lại được thiết kế theo mô hình “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, vừa là đại diện chủ sở hữu tài sản nhà nước, vừa bổ nhiệm cán bộ lại nắm cả pháp luật, tổ chức thực hiện vừa tự mình giám sát mình đã tỏ ra kém hiệu lực. Tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ là những căn bệnh trầm kha lâu nay lên án nhiều bằng những lời lẽ gay gắt nhất nhưng chưa dẹp được bao nhiêu, trong thực tế cho thấy có những vấn đề liên quan đến bản chất của hệ thống thể chế chưa được chỉnh sửa, nay chắc chắn phải sửa trong quá trình hội nhập nếu không muốn “thua ngay trên sân nhà”.  Xuân Bính Thân này là mùa xuân đầu tiên trên nước ta hơn một tháng sau khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) có hiệu lực. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống trong nước đã xuất hiện ngày càng nhiều hàng Thái Lan, Indonesia, Malaysia từ trái cây, kẹo bánh đến đồ chơi trẻ em v.v. Người tiêu dùng được lợi nhưng nếu chúng ta chỉ mua hàng của nước ngoài thì chúng ta trả lương cho công nhân nước ngoài, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp họ và nộp thuế cho ngân sách nước họ còn công nhân Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam thì sao?   Hy vọng mùa xuân hội nhập sẽ là mùa xuân của cải cách, Đổi Mới mạnh mẽ, và Đại hội XII sẽ lập được kỳ tích như Đại hội VI trước đây.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mức độ can thiệp nào của Nhà nước vào thị trường là tối ưu ?      Cách đây không lâu xảy ra hai sự kiện kinh tế gây bão trong dư luận. Thứ nhất là việc Volkswagen thú nhận đã gian dối trong việc kiểm định khí thải (NOx) của các dòng xe diesel của mình. Sự kiện thứ hai là một hedge fund manager trẻ bất ngờ tăng giá một loại thuốc đặc hiệu (Daraprim) từ 13.5 USD lên 750 USD sau khi bỏ ra 55 triệu USD mua lại quyền kinh doanh loại thuốc này.      Nhìn từ góc độ kinh tế học, hai sự kiện này có nhiều điểm thú vị. Hiển nhiên những nhà kinh tế cánh tả (Paul Krugman) đã nhanh chóng chỉ ra đây là hậu quả do yếu kém của thị trường (market failure), khi mà cơ chế thị trường không kiểm soát được động cơ tham lam thái quá của những người đứng đằng sau quyết định lừa dối ở Volkswagen hay việc “làm giá cắt cổ” (price gouging) của Turing Pharmaceuticals. Volkswagen lợi dụng sự bất đối xứng thông tin (information asymmetry) – tình trạng giao dịch khi một bên lợi dụng sự thiếu thông tin của bên còn lại – còn Turing sử dụng sức mạnh độc quyền. Tất nhiên bài học rút ra là cần phải có thêm sự can thiệp điều tiết của Nhà nước để ngăn ngừa những yếu kém như vậy của thị trường. Trên thực tế Hillary Clinton đã tuyên bố sẽ đặt trần giá thuốc nếu trở thành tổng thống.  Ngược lại, cánh hữu (Tyler Cowen) phản biện lại rằng thực ra cả hai sự kiện đều là hậu quả của việc Nhà nước can thiệp điều tiết quá mức vào thị trường. Volkswagen chạy đua chế tạo xe động cơ diesel vì những chính sách khuyến khích loại động cơ này ở châu Âu và Mỹ. Không chỉ Volkswagen mà nhiều công ty sản xuất xe hơi khác cũng chạy đua và có bằng chứng cho thấy họ cũng lừa dối về khả năng kiểm soát NOx để được hưởng lợi từ chính sách “diesel sạch“ (“green diesel). Sự chạy đua này đối với các công ty sản xuất xe hơi là không bền vững về mặt kinh tế-kỹ thuật, nên sớm muộn gì họ cũng phải lừa dối hoặc ngừng sản xuất xe diesel có đặc tính như yêu cầu của chính phủ.  Trường hợp thuốc Daraprim cũng là hậu quả của những qui định rất ngặt nghèo của FDA trong việc cấp phép sản xuất thuốc generic trên thị trường Mỹ. Lưu ý là Daraprim đã tồn tại hơn 60 năm và đã hết hiệu lực bằng sáng chế nên bất kỳ công ty Mỹ nào cũng có thể sao chép công thức nếu FDA cho phép. Hơn nữa các công ty dược Ấn Độ đã sản xuất thuốc này với giá rất rẻ nhưng không thể bán vào thị trường Mỹ. Khi phát hiện ra loại thuốc này chưa có thuốc generic và hiểu rõ quá trình xin FDA cấp phép sản xuất hoặc nhập khẩu sẽ rất tốn thời gian và tiền bạc, Turing mua lại quyền kinh doanh nó vì biết sẽ có lợi thế độc quyền với sự hậu thuẫn gián tiếp của FDA. Trên thực tế việc làm giá cắt cổ các loại thuốc đặc hiệu như trường hợp Daraprim  đã từng xảy ra nhiều lần ở Mỹ với mức giá tăng còn khủng hơn. Vấn đề là sức ỳ của FDA quá lớn.  Vậy phe nào đúng? Cần phải tăng hay giảm sự điều tiết của Nhà nước vào thị trường? Liệu có nên vứt bỏ nguyên tắc quản trị “tối đa hóa quyền lợi cổ đông” thay bằng “các mục tiêu trách nhiệm với xã hội” không? Chắc chắn các nhà kinh tế sẽ còn cãi nhau chán chê, trong khi đó khoa học, công nghệ và xã hội không ngừng thay đổi.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mức độ nguy hại của thuốc trừ cỏ Glyphosat không đáng kể      Thuốc trừ cỏ Glyphosat bị nghi là nguyên nhân gây ung thư. Tuy vậy giáo sư Günter Neumann vẫn kiến nghị nên cho phép tiếp tục sử dụng thuốc trừ cỏ này trong nông nghiệp.    Máy phun phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đang hoạt động trên đồng ruộng.   Giáo sư Günter Neumann, trường đại học Tổng hợp  Hohenheim, cho biết: “Trong những năm qua ngày càng có nhiều ý kiến hoài nghi về tính vô hại của thuốc trừ cỏ Glyphosat và các chất phụ trợ dùng trong nông nghiệp.” Nhiều doanh nghiệp hóa chất, đặc biệt ở Trung quốc, sản xuất loại hóa chất này. Có ý kiến cho rằng khi hóa chất này thâm nhập vào chuỗi thực phẩm thì có thể gây ung thư. Tuy nhiên Neumann phản bác rằng Glyphosat là một công cụ quan trọng, quý hiếm đối với ngành trồng trọt vì thế cần có sự ứng xử thích hợp với loại hóa chất này. “Thuốc trừ cỏ Glyphosat có hiệu quả đặc biệt trong việc tiêu diệt các loại cỏ dại có sức đề kháng cao, có thể tiêu diệt cả bộ rễ của cỏ dai,” ông nói.  Tuy nhiên vị giáo sư này cũng thừa nhận Glyphosat tác động tiêu cực đến sự đa dạng sinh học. Song dù sao cũng không nên cấm sử dụng loại thuốc diệt cỏ này trong nông nghiệp.  Neumann lập luận, nếu cấm dùng thuốc trừ cỏ này, người nông dân buộc phải dùng các loại thuốc trừ cỏ khác, những hóa chất này còn độc hại hơn đối với quần thể động vật và môi trường sống nói chung.   Hơn nữa nếu bỏ thuốc trừ cỏ thì phải thay đổi phương pháp canh tác, có nghĩa là lại phải cầy bừa kỹ loại bỏ triệt để cỏ dại, kể cả bộ rễ của chúng, do đó tốn nhiều năng lượng hơn, dễ gây xói mòn và làm tổn hại môi trường. Nếu không trừ cỏ bằng biện pháp cơ giới thì sau khi gieo hạt cây trồng không thể cạnh tranh nổi với cỏ dại. Diệt cỏ dại bằng thuốc trừ cỏ hạn chế đất bị rửa trôi.  Nhà khoa học Neumann còn cho rằng nếu cấm triệt để  Glyphosat cũng không thể thay đổi một cách cơ bản lượng tàn dư trong chuỗi thực phẩm. “Ngành công nghiệp thực phẩm và thức ăn gia súc nhập một khối lượng lớn đậu nành từ các giống đậu tương có sức đề kháng với Glyphosat,” ông cho biết.  Đậu tương được trồng chủ yếu ở Hoa kỳ và châu Á, giống đậu tương ở đây là giống biến đổi gien và có sức đề kháng với Glyphosat. Điều này không có ở châu Âu.  Tuy nhiên, vẫn cần thận trọng khi sử dụng thuốc trừ cỏ này. Chỉ có những người được hướng dẫn chu đáo mới được tiếp cận với Glyphosat. Nên cấm dùng thuốc trừ cỏ này đối với các nơi công cộng cũng như trong vườn của các gia đình. Nông dân tránh lạm dụng thuốc trừ cỏ, cần áp dụng biện pháp luân canh để hạn chế sự phát triển của cỏ dại.  Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế Đức”        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mức độ sẵn sàng tiếp nhận đầu tư      Để giúp các doanh nghiệp/dự án khởi nghiệp biết chính xác hiện nay mình đang ở giai đoạn phát triển nào và đã đến lúc nên gặp gỡ nhà đầu tư hay chưa, Steve Blank đưa ra chín mức độ sẵn sàng tiếp nhận đầu tư tương ứng với mức độ phát triển của dự án khởi nghiệp.    Mặc dù không phải doanh nghiệp nào cũng tuần tự trải qua những bước như trên, mà có nhiều doanh nghiệp cùng một lúc ở hai mức độ phát triển khác nhau, nhưng để biết mình đã sẵn sàng tiếp nhận đầu tư chưa, đây là một công cụ bạn hoàn toàn có thể tham chiếu và phân tích thực tế phát triển của doanh nghiệp mình. Công cụ đồng hành với thang đo mức độ sẵn sàng tiếp nhận đầu tư chính là Mô hình kinh doanh Canvas1. Mức độ sẵn sàng tiếp nhận đầu tư chia làm chín mức độ, từ thấp (chưa sẵn sàng) tới cao (sẵn sàng).  1. Hoàn thành mô hình kinh doanh canvas ở mức độ cơ bản chấp nhận được  Để bạn thuyết phục được chính mình về dự án kinh doanh mình đã chọn cũng như bắt đầu câu chuyện với ai đó về khả năng phát triển của dự án của bạn, bạn cần vẽ ra câu chuyện bạn sẽ kiếm tiền bằng cách nào. Đó là lúc việc xây dựng một mô hình kinh doanh ở giai đoạn đầu là rất quan trọng. Ở giai đoạn này, bạn cần nhấn mạnh đặc biệt năm nội dung quan trọng đầu tiên trong mô hình kinh doanh (phần khoanh đỏ trên hình vẽ):    – Phân khúc thị trường bạn nhắm tới.  – Giá trị bạn mang lại cho phân khúc thị trường đó.  – Kênh bạn sẽ truyền tải những giá trị đó đến cho khách hàng.  – Quan hệ với khách hàng.  – Dòng doanh thu.  Lời khuyên cho bạn dù nhìn trên tổng thể chín thang đo đã nêu, bạn có thể đã phát triển đến bước số 9, bạn vẫn nên xem lại mô hình kinh doanh với chín nội dung chính. Việc vẽ mô hình kinh doanh sẽ cho bạn cái nhìn tổng thể về những điểm mạnh, điểm yếu và cả những thiếu sót, lỗ hổng trong mô hình kinh doanh hiện tại của bạn. Đây là công cụ mà các nhà đầu tư sẽ nhìn để hiểu làm thế nào để bạn kiếm được tiền từ sản phẩm, dịch vụ và giá trị bạn mang lại.  2. Đo lường quy mô thị trường và phân tích năng lực cạnh tranh  Đo lường quy mô thị trường là một cách chỉ cho nhà đầu tư tiềm năng của bạn, tiềm năng thị trường, bạn ở đâu trong thị trường đó và thị phần bạn đang/sẽ nắm giữ.  Sai lầm lớn nhất của các startup khi tiếp cận nhà đầu tư là thiếu hiểu biết về quy mô thị trường cho sản phẩm dịch vụ của mình. Ở giai đoạn này, bạn cũng không thể bỏ qua việc xem ai đang làm gì trên thị trường và làm như thế nào ngay cả khi bạn không có một đối thủ cạnh tranh trực tiếp.  3. Kiểm chứng vấn đề/thị trường  Hãy chỉ ra bạn đã tiến hành bao nhiêu thử nghiệm thị trường, phỏng vấn, quan sát hoặc cách thức mà bạn phát hiện ra vấn đề để có thể đi đến bước khẳng định có tồn tại vấn đề cần giải quyết trên thị trường. Đừng quên gắn vấn đề đó với chính trải nghiệm của bạn.  4. Xây dựng sản phẩm mẫu với tính năng tối thiểu (độ tin cậy thấp)  Bước đầu xây dựng sản phẩm mẫu với tính năng tối thiểu với độ tin cậy thấp. Đó là những sản phẩm không thể thương mại hóa ngay được nhưng lại giúp khách hàng tiềm năng tưởng tượng ra những giá trị cơ bản/giải pháp của bạn.  5. Kiểm chứng sự phù hợp giữa sản phẩm và thị trường  Để khẳng định có sự phù hợp giữa sản phẩm và thị trường, bạn phải chứng minh được có những khách hàng sẽ mua sản phẩm đầu tiên (thông qua việc chấp nhận giá trị mà bạn mang lại và rút tiền ra để trả cho giá trị đó). Việc kiểm chứng này chính là bước đệm quan trọng để chứng minh một mô hình kinh doanh cho nhà đầu tư.  6. Kiểm chứng phần bên phải của mô hình kinh doanh canvas (vùng khoanh bên phải trên hình vẽ)  Đến bước này, bạn đã kiểm chứng phân khúc khách hàng mình nhắm tới một cách cụ thể, giá trị mà bạn mang lại cho họ, các kênh bạn sẽ truyền tải giá trị và bán hàng, cách thức xây dựng quan hệ với khách hàng và quan trọng hơn cả là dòng doanh thu ở mức độ cơ bản. Khi có mô hình kinh doanh tương đối phù hợp, bạn tự tin để phát triển những bước tiếp theo của hoàn thiện giá trị mình mang lại.    7. Xây dựng sản phẩm mẫu với tính năng tối thiểu (độ tin cậy cao)  Hoàn thiện giá trị bạn mang lại đồng nghĩa với cải tiến sản phẩm. Hãy chứng minh bằng con số với nhà đầu tư về tốc độ học hỏi và thay đổi của bạn để sản phẩm hoàn thiện (ví dụ số lượng thử nghiệm tiến hành, số lần thay đổi điều chỉnh sản phẩm dựa trên phản hồi của khách hàng)  8. Kiểm chứng phần bên trái của mô hình kinh doanh canvas  Bước chân vào sản xuất, phân phối, marketing, bán hàng đòi hỏi bạn tiến hành kiểm chứng để tìm ra lựa chọn tốt nhất cho mình. Kiểm chứng bên trái của mô hình kinh doanh canvas bao gồm: Hoạt động chính, Nguồn lực chính, Đối tác chính, Cấu trúc chi phí.  Nếu phần hoạt động chính, nguồn lực chính và đối tác chính là những thông tin mang tính định tính thì riêng phần Cấu trúc chi phí, bạn phải định lượng một cách tương đối chính xác những thông số liên quan. Dựa vào những thông tin từ các nội dung khác của mô hình kinh doanh, bạn có thể xây dựng cấu trúc chi phí một cách chính xác.  9. Kiểm chứng các thang đo quan trọng  Tùy thuộc vào đặc thù của doanh nghiệp, bạn có thể có những thang đo quan trọng để chứng minh với nhà đầu tư. Bạn có thể xem kỹ hơn Đo lường, Thống kê và Lộ trình bán hàng chúng tôi đã từng giới thiệu để lựa chọn các thang đo cho doanh nghiệp mình. Việc tính toán cụ thể cấu trúc chi phí ở bước trước sẽ giúp việc chi tiết hóa các chi phí để có một khách hàng (CAC), và Giá trị vòng đời khách hàng (CLTV) (những thông số nhà đầu tư quan tâm) ở giai đoạn cuối cùng chính xác và thuyết phục hơn.  ———  1 http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/mo-hinh-kinh-doanh-cho-doanh-nghiep-xa-hoi-9474    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Mục tiêu ô tô chạy nhiên liệu sạch của Obama gặp trở ngại      Chính quyền của Tổng thống Barack Obama sẽ giảm mua các xe hybrid và ô tô điện, nhưng sẽ tăng mua những xe dùng loại công nghệ ít tiên tiến hơn chạy bằng cả ethanol lẫn xăng, nhằm đạt chỉ tiêu môi trường năm 2015      Năm ngoái, Obama từng diễn thuyết nhiều nơi ở nước Mỹ, bày tỏ tham vọng mục tiêu kép là tới năm 2015, Chính phủ Mỹ sẽ chỉ mua những xe chạy nhiên liệu thay thế, và trên đường phố sẽ có tới 1 triệu ô tô điện.   Viễn cảnh này đang trở nên khó khăn hơn, khi chính quyền liên bang nhận ra được điều mà người tiêu dùng Mỹ đã biết từ lâu: thân thiện với môi trường là điều không dễ dàng. Thay vì hăm hở đóng vai trò cấp tiến tiên phong, Chính phủ Mỹ giờ đây đã nhận ra chi phí đắt đỏ của những chiếc xe hybrid và ô tô điện. Do nguồn cung cấp hạn chế của chúng nên sẽ hợp lý hơn nếu chọn mua những chiếc ô tô với công nghệ tiết kiệm nhiên liệu thông thường.    Lượng xe hybrid và ô tô điện mà Vụ Quản lý Dịch vụ thông dụng (GSA, viết tắt của General Service Adminstration) của chính quyền Mỹ mua vào trong năm tài khóa 2011 đã giảm 59%, còn 2645 chiếc, trong khi mua thêm vào 32 nghìn xe hơi và xe tải dùng nhiên liệu E85, tức là chạy xăng pha 85% ethanol.  Suy giảm sâu hơn   Chính quyền Obama đã xếp những chiếc xe có thể chạy bằng nhiên liệu E85 bên cạnh xăng thông thường vào phạm trù các loại xe chạy nhiên liệu thay thế.  “Các cơ quan đều dự kiến sẽ hoàn thành đúng kế hoạch theo chỉ thị của Tổng thống”, theo lời Taryn Tuss, phát ngôn viên của Hội đồng Nhà Trắng về Chất lượng môi trường.  Nhưng vấn đề là việc mua sắm và lái xe chạy nhiên liệu ethanol không giúp được gì nhiều trong bối cảnh hiện nay.     GSA sở hữu một phần ba lượng xe này của chính quyền liên bang, cho biết rằng năm ngoái 88% xe của họ là loại có khả năng chạy nhiên liệu ethanol. Tuy nhiên, số lượng các trạm xăng cung cấp ethanol không phổ biến, và các chủ xe, bao gồm cả chính quyền liên bang, vẫn thường xuyên phải chạy bằng xăng.     Các trạm bơm, sạc nhiên liệu   Chỉ có 2512 trạm cung cấp ethanol trong số 162.000 trạm nhiên liệu cung cấp xăng. Còn số lượng trạm sạc điện trên toàn nước Mỹ là 6033, theo số liệu của Bộ Năng lượng Mỹ.  Chính phủ Mỹ đã có chính sách cấp kinh phí cho các nhà sản xuất và cung ứng ô tô để họ phát triển các công nghệ cho ô tô điện. Năm ngoái, chính quyền cũng mua vào 2645 xe, tức là ít hơn 5% tổng số phương tiện được mua vào năm ngoái.    Đây là sự xuống dốc so với mức 9,5% của các năm tài khóa 2010 và 2009, khi các gói kích cầu được trích ra 300 triệu USD để mua các loại xe tiết kiệm nhiên liệu, trong tổng số xe các loại mua vào là 600.000 chiếc.   “Điều quan trọng là Chính phủ mua vào những phương tiện có công nghệ tiên tiến”, như xe hybrid và ô tô điện, nhận xét từ Dan Becker, giám đốc Chiến dịch An toàn Khí hậu, chiến dịch ủng hộ các tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu. “Đáng thất vọng là thay vì mua vào những xe công nghệ tiên tiến”, họ lại đi mua vào những xe vẫn chạy bằng xăng và ethanol.  Cần tiếp tục nỗ lực   Khoảng hai phần ba xe của Chính phủ Mỹ được mua hoặc sở hữu bởi GSA. Một phần ba còn lại là Bưu điện Mỹ, cơ quan có hoạt động mua sắm riêng.   “Hằng năm, chúng tôi mua hàng nghìn xe tiết kiệm nhiên liệu để thay thế những xe cũ, ít tiết kiệm hơn”, theo lời Adam Elkington, người phát ngôn của GSA. “Hơn ba năm qua, GSA mua những xe trung bình tiết kiệm nhiên liệu 23% hơn những xe cũ mà chúng thay thế”.    Dù thị trường gặp nhiều khó khăn, chính quyền Obama vẫn cần tiếp tục nỗ lực mua xe hybrid và ô tô điện cho đội xe của chính quyền liên bang, nhận định từ Lindand, một nhà phân tích công nghiệp của tổ chức IHS Automotive ở Norwalk, Connecticut.   Năm 2010 (số liệu gần nhất hiện có), mức tiêu thụ xăng của Chính phủ Mỹ đạt mức đỉnh trong vòng 25 năm, tăng 3,3% đạt 50,3 nghìn tỷ đơn vị nhiên liệu Anh, theo số liệu sơ bộ của Cục Thông tin Năng lượng Mỹ. Obama từng nói ông muốn giảm lượng nhập khẩu dầu của Mỹ, khẳng định rằng mục tiêu xe chạy nhiên liệu sạch hơn là một phần trong chiến lược của ông.   “Họ sẽ không muốn bị kết tội là ‘nói mà không làm’”, Lindland nói. “Họ sẽ đánh mất uy tín nếu Chính phủ không nêu gương cho xã hội”.  Lược dịch theo bài của Angela Greiling Keane and Jeff Green từ Bloomberg:http://www.bloomberg.com/news/2012-02-24/obama-s-green-car-plan-runs-into-alternative-fuel-limits-cars.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu phát triển của TOSY: Robot công nghiệp giá rẻ      Những con robot nhanh nhẹn gắp sản phẩm vào nơi quy định với tốc độ 180 sản phẩm/phút. Đó là một trong những hình ảnh robot công nghiệp của Công ty cổ phần Robot TOSY mang tới trình diễn tại triển lãm Tự động hóa Automatica 2010 Munich, Đức với giá bán chỉ bằng ¼ sản phẩm cùng loại do các công ty khác sản xuất. TOSY hy vọng giá cạnh tranh và chất lượng tốt sẽ là những yếu tố then chốt giúp công ty thâm nhập thành công vào thị trường robot công nghiệp thế giới, đặc biệt ở phân khúc robot công nghiệp giá rẻ.        Thị  trường robot công nghiệp giá  rẻ  Từ hơn một thập kỷ trở lại đây, tại nhiều quốc gia công nghiệp, robot đã được sử dụng trong các nhà máy hiện đại thay thế cho công nhân tại các dây chuyền sản xuất giúp giảm chi phí, tạo ra sản phẩm chất lượng cao và ổn định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng robot đã được đưa vào sử dụng rất hạn chế, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Ví dụ như Trung Quốc – công xưởng của thế giới với 1,3 tỷ dân, mỗi năm cũng chỉ dùng vài nghìn con robot công nghiệp. Con số này ở Ấn Độ vào khoảng 1.000.   Theo phân tích của Tổng giám đốc TOSY Hồ Vĩnh Hoàng, nguyên nhân là do chi phí đầu tư robot công nghiệp cao, dao động từ 30.000 – 300.000 USD/con. Với mức giá như vậy mà mỗi con robot chỉ có thể thay thế một vài lao động thì với vài phép tính đơn giản có thể thấy đầu tư cho robot kém hiệu quả ở những nước có nhân công giá thấp. Đây chính là cơ sở để TOSY đưa ra quyết định: sản xuất robot công nghiệp giá rẻ cung cấp cho thị trường trong nước và thế giới.           Robot công nghiệp   Ở nhóm robot công nghiệp, TOSY góp mặt với 3 dòng sản phẩm: Parallel Robot, Scara Robot và Arm Robot.   Parallel robot và Scara robot của TOSY được tích hợp camera để nhận dạng sản phẩm, gắp, và cho vào hộp. Đây là những dòng robot chuyên dùng để gắp sản phẩm trên dây chuyền đóng gói. Đặc biệt parallel robot, dạng robot có kết cấu song song có tốc độ rất cao, có thể gắp được 180 sản phẩm và cho vào chính xác vị trí yêu cầu trong 1 phút.  Arm Robot là dòng sản phẩm arm robot của TOSY là một tay máy 6 bậc tự do đa năng có tầm với 1.4m đến 2.0m ứng dụng sơn, hàn, cắt, dịch chuyển vật liệu,…            TOSY cho biết, khó khăn lớn nhất ở đây là công ty tiên phong trong lĩnh vực sản xuất robot trong bối cảnh Việt Nam chưa có ngành công nghiệp robot và các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan cũng chưa phát triển. TOSY xác định phải tự chế tạo hầu hết các bộ phận của robot như động cơ, bộ điều khiển, cảm biến, bộ truyền động chính xác, phần mềm… với tham vọng tạo ra “cách mạng về robot công nghiệp giá rẻ”. Công ty đã lên kế hoạch xây dựng một chuỗi các nhà máy sản xuất các bộ phận của robot như nhà máy đúc và luyện kim, nhà máy động cơ và phanh, nhà máy vi mạch điện tử, nhà máy gia công cơ khí chính xác, nhà máy in bao bì, Nhà máy lắp ráp và thử nghiệm robot, Trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới…                Ba phiên bản của Topio               TOPIO phiên bản 1.0 chạy bằng thuỷ lực, cao 1.8m, nặng 500kg, có 6 chân và không di chuyển được.              TOPIO phiên bản 2.0 cao 2.1m nhưng chỉ nặng có 60kg, có 2 chân sẵn sàng cho đi lại và nhảy múa mềm mại hơn. TOPIO 2.0 là bước tiến công nghệ nhảy vọt so với phiên bản trước đó về nhiều mặt. TOPIO 2.0 có 40 bậc tự do chạy bằng động cơ điện. (Số bậc tự do là khái niệm đặc trưng cho độ linh hoạt và phức tạp của robot, có thể hiểu đơn giản mỗi bậc tự do là một khớp).              TOPIO được nâng cấp lên phiên bản 3.0 ngày càng giống con người hơn. TOPIO 3.0 có 39 bậc tự do, cao 1.88m, nặng 120kg.            Sau triển lãm Automatica 2010, robot công nghiệp TOSY đang được ứng dụng trong nhà máy sản xuất đồ chơi của TOSY và từng bước đưa vào các nhà máy sản xuất Việt Nam. Bên cạnh đó, một số đối tác nước ngoài, sau khi xem các robot công nghiệp của TOSY tại triển lãm Automatica 2010, bị chinh phục bởi giá thành sản phẩm, cũng ngỏ ý muốn trở thành nhà phân phối của TOSY ở nước ngoài, trong đó có công ty Motoman chuyên về sản xuất robot công nghiệp của Nhật  muốn hợp tác với TOSY cung cấp robot giá rẻ cho thị trường Nhật Bản, Mỹ.    Từ robot đồ chơi tới robot dịch vụ   Công ty Robot TOSY bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2002 sản phẩm đầu tay là đĩa bay TOSY. Đến năm 2005, TOSY tập trung nghiên cứu lĩnh vực robot với robot dáng người chơi bóng bàn TOPIO 1.0 và mang đi tham dự  IREX 2007- triển lãm robot lớn nhất thế giới tại Tokyo, Nhật Bản. Từ đó đến nay TOPIO liên tục được nghiên cứu, nâng cấp lên các phiên bản mới để ngày càng giống người hơn. Nghiên cứu TOPIO đã mang lại cho TOSY nhiều công nghệ của riêng mình về cơ khí, vật liệu, điện tử, phần mềm, điều khiển…. Những công nghệ này được áp dụng trên các sản phẩm robot công nghiệp của TOSY và nhiều sản phẩm robot khác mà TOSY đang nghiên cứu, chế tạo. Mới đây nhất, TOSY đã chế tạo thành công robot dịch vụ dáng người TOPIO Dio được mang đi giới thiệu thăm dò nhu cầu người tiêu dùng tại triển lãm Automatica 2010.           Robot dịch vụ              Ở nhóm Robot dịch vụ, bên cạnh chú robot đánh bóng bàn quen thuộc TOPIO, TOSY cũng lần đầu tiên công bố robot dịch vụ dáng người TOPIO Dio tại Automatica.               TOPIO Dio khác hẳn những robot dịch vụ khác bởi dáng người thân thiện, có thể phục vụ trong các nhà hàng, quán café…              Kế thừa sự phát triển không ngừng về công nghệ điều khiển của TOPIO Ping Pong, Dio có 3 bánh xe di chuyển, 28 bậc tự do và có thể được vận hành từ bất cứ nơi nào nhờ một camera tích hợp và cảm ứng chướng ngại vật. TOPIO Dio với kích thước nhỏ gọn (125cm, 45kg) là robot dịch vụ linh động rất hữu dụng trong ngành dịch vụ.          Hiện nay, công ty có khoảng 800 người, trong đó 100 người làm nghiên cứu phát triển, nhiều người từng tham gia các cuộc thi Robocon. Trả lời câu hỏi, điều gì khiến TOSY thu hút được nhiều tài năng, Trọng Trường, cán bộ nghiên cứu của TOSY, nói, “Có lẽ bởi ở TOSY, chúng tôi được chủ động trong công việc. Ngoài ra, chúng tôi còn có chung niềm đam mê. Những nhà dân quanh đây không khỏi ngạc nhiên vì đôi lúc TOSY sáng đèn, chạy máy cả vào 30, mùng 1 Tết. Khi có dự án phải gấp rút hoàn thành hay cận kề ngày triển lãm, anh em chúng tôi thường làm việc quên giờ giấc như vậy.”  Là một công ty gồm nhiều người trẻ (phần lớn kỹ sư ở đây, trong đó bao gồm cả Tổng giám đốc Vĩnh Hoàng, đều thuộc thế hệ 8X), với chuyên môn khác nhau, vậy họ có khó làm việc cùng nhau không? Giải thích về quá trình các nhóm nghiên cứu hợp tác để cho ra sản phẩm cuối cùng, Trọng Trường nói, khi có ý tưởng, các nhóm nghiên cứu sẽ cùng nhau bàn bạc để hiểu rõ yêu cầu của sản phẩm, từ đó bắt đầu tiến hành nghiên cứu chuyên sâu từng công nghệ. Thường nhóm cơ khí bao giờ cũng hoàn thành phần “xác” của robot trước tiên để nhóm điện tử lắp vi mạch và nhóm CNTT lắp phần mềm điều khiển. Sau khi chạy thử, nếu có vấn đề thì các nhóm liên quan lại tiếp tục nghiên cứu khắc phục. Theo Trọng Trường, các nhóm nghiên cứu được gắn kết chặt chẽ bởi công việc chung và mong muốn hướng đến sự hoàn thiện của sản phẩm.  Bước chân vào lĩnh vực chế tạo robot, TOSY đã phải đương đầu với nhiều khó khăn về vốn, thị trường, nhân sự… Tuy nhiên, robot là lĩnh vực công nghệ cao nên các bài toán công nghệ luôn là vấn đề phức tạp nhất. Vĩnh Hoàng cho biết, để giải quyết bài toán này, TOSY luôn xác định phải chú trọng vào đầu tư cho nghiên cứu phát triển, bởi đó chính là đầu tư cho nền móng vững chắc tạo nên sức mạnh cạnh tranh và là chìa khóa then chốt đảm bảo TOSY có thể tự mình chế tạo thành công robot chất lượng cao giá thành thấp.          TS Phạm Đăng Phước, Trường Đại học Phạm Văn Đồng:              Tôi chưa biết nhiều về công ty TOSY, chỉ có được thông tin trên báo, mạng. Tuy nhiên những robot mà TOSY tham dự triển lãm tại Đức cũng đã thể hiện khả năng và sự tiến bộ lớn trong lĩnh vực chế tạo robot của Việt Nam những năm gần đây. Robot công nghiệp là một sản phẩm công nghệ cao, đòi hỏi sự kết hợp những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ của các lĩnh vực cơ khí, điện tử, điều khiển, CNTT… vì vậy đòi hỏi phải có đội ngũ giỏi thuộc nhiều lĩnh vực và cần có đủ năng lực về cơ sở sản xuất, nhất là phần chế tạo cơ khí chính xác. Những robot công nghiệp 2, 3 hoặc 4 bậc tự do là loại robot mà Việt Nam có thể tham gia thị trường robot thế giới, vì không quá tinh vi và phức tạp về công nghệ. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể phát triển các loại robot phục vụ đời sống, robot trò chơi… Tất nhiên “vạn sự khởi đầu nan”, TOSY muốn thành công phải vượt qua rất nhiều khó khăn ở giai đoạn ban đầu.               Hiện nay, sản xuất robot công nghiệp để cạnh tranh trên thị trường thế giới vẫn còn đang là việc khó đối với các công ty Việt Nam. Thường ở các nước công nghiệp phát triển, một sản phẩm phức tạp có các bộ phận được chế tạo từ nhiều nhà máy vệ tinh, các nhà máy được chuyên môn hóa cao, nhờ vậy chất lượng sản phẩm dễ đảm bảo, khả năng cạnh tranh cao. Nền công nghiệp cơ khí của Việt Nam hiện nay chưa phát triển, nhất là lĩnh vực cơ khí chế tạo chính xác. Làm thế nào để có robot 100% “Made in Vietnam”? Đây là khó khăn lớn để Việt Nam có được những sản phẩm cạnh tranh. Có thể chúng ta dễ thành công khi chế tạo một vài robot để tham gia triển lãm, nhưng khi sản xuất hàng loạt lại là vấn đề khác. Ngoài ra, thương hiệu uy tín cũng là mối quan tâm của người sử dụng, nhất là đối với các sản phẩm công nghệ cao.               Giai đoạn hiện nay, vấn đề tự động hóa có ứng dụng robot trong sản xuất ở nước ta còn thấp. Nhân công ở Việt Nam nhiều và rẻ, vì vậy ít nhà máy sử dụng robot để giảm chi phí đâu tư. Đa số các dây chuyền sản xuất được nhập ngoại, nền sản xuất cơ khí trong nước chưa phát triển; do đó nhu cầu sử dụng robot công nghiệp trong nước không nhiều. Nhưng để chuẩn bị cho Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, việc chế tạo, sản xuất robot công nghiệp trong nước là hết sức cần thiết và cần có những bước đi thích hợp để có thể làm chủ lĩnh vực này.               Vì những lẽ trên, theo tôi, các công ty Việt Nam có năng lực chế tạo robot công nghiệp, nên bắt đầu bằng việc liên doanh với các công ty lớn, đã có thương hiệu thì khả năng thành công và tính khả thi sẽ cao hơn.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Muhammad Yunus: Con người không phải là cỗ máy làm ra tiền      Nhà kinh tế Muhammad Yunus (sinh năm 1940 tại Bangladesh) là người khởi xướng về một nền kinh tế thị trường xã hội mới. Năm 1976, ông cùng với các sinh viên tới một làng nhỏ ở Bangladesh, trò chuyện với 42 phụ nữ làm nghề đan lát và nghe họ cầu ước có được 27 USD để có thể thoát khỏi cảnh lệ thuộc. Tín dụng nhỏ đã ra đời trong bối cảnh này. Năm 1983, ông sáng lập Grameen Bank (“Ngân hàng nông thôn”). Grameen Bank tuy không hoạt động theo nguyên tắc khai thác lợi nhuận tối đa nhưng định hướng làm ăn có lãi. 97% khách hàng của Ngân hàng Nông thôn là phụ nữ. Được giải thưởng Nobel Hòa bình, Muhammad Yunus được gọi là “nhà tài phiệt” bảo trợ người nghèo. Dưới đây là cuộc trò chuyện của ông Muhammad Yunus với tạp chí Spiegel.    Kể từ khi được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 vì mô hình tín dụng nhỏ, ông được coi là người bảo vệ quyền lợi  cho người nghèo. Theo Giáo sư thì một nhà quản lý hàng đầu có thể được trả công tối đa là bao nhiêu?  (Cười) khoản tiền đó cao đến mức mà thị trường cho phép. Cơ sở mà một người có thể kiếm được nhiều tiền thực chất không phải vì  doanh nghiệp hào phóng mà là vì người đó có một giá trị nhất định đối với doanh nghiệp. Nếu như nhà nước quy định nhà quản lý chỉ được trả công tối đa là bao nhiêu tiền thì một số doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn để có thể  có được những người quản lý giỏi ở các vị trí quan trọng. Vì thế hãy để thị trường tự quyết định về tiền công.  Ông còn là người tuyên truyền thị trường là phương tiện tốt nhất để chống  nghèo khổ.           Nhân viên Grameen Bank với “khách hàng” của mình        Không thể nói đơn giản như vậy. Cơ sở của thị trường tự do ở cái dạng như hiện nay là nguy hại. Cần phải đưa ra những giá trị khác chứ không phải chỉ có mục đích duy nhất là tăng cường lợi nhuận tối đa thì thị trường mới hoạt động tốt. Thí dụ các ngân hàng thường không cho người nghèo vay tín dụng. Nhưng các ngân hàng hiểu rằng: Người nghèo cũng có quyền được vay tín dụng để họ có thể tự lập được nhằm  tạo cơ sở để tồn tại.  Những nền kinh tế thị trường mới như Trung Quốc và Ấn Độ đang đi theo hướng mà ông cho là sai. Khoảng cách giữa những người siêu giàu và những người quá nghèo ngày càng lớn.  Thực tế là các nước này xây dựng thị trường không đúng. Thị trường không tự động phát triển vì lợi ích của xã hội. Người ta phải uốn nắn nó, tạo ra luật lệ, các quy định và nhất là phải thực hiện được các giá trị.    Ý ông muốn nói là có một thứ chủ nghĩa tư bản tốt và chủ nghĩa tư bản xấu?  Chủ nghĩa tư bản tự nó mới chỉ là một nửa. Cần phải bỏ công sức để bắt nó thực sự làm lợi cho mọi người. Hãy lấy Ngân hàng Grameen với những khoản tín dụng nhỏ làm ví dụ: Ngân hàng cho người nghèo vay tiền, khoản tiền cho vay dù chỉ vài USD để người nghèo có thể tự giúp mình tự lực. Ngân hàng đòi đến hạn phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi – tất nhiên cái đó chính là chủ nghĩa tư bản, nhưng việc làm này thực tế giúp được người nghèo.  Đấy là một chủ nghĩa tư bản tốt, vậy còn chủ nghĩa tư bản xấu thì thế nào?  Tìm kiếm tối đa lợi nhuận là triết lý cơ bản của chủ nghĩa Tư bản. Nhưng con người đâu phải là những cỗ máy làm ra tiền. Ai làm ăn cũng nhằm kiếm lời. Thế còn mục tiêu xã hội? Tại sao các hãng dược phẩm bán những loại thuốc mà giá thành sản xuất chỉ đáng 10 Cent nhưng cố đóng gói bao bì thật đẹp để bán với giá 10 USD? Mục tiêu hàng đầu đáng ra là cứu người nhưng lại trở thành khai thác lợi nhuận tối đa.    Hiện nhiều doanh nghiệp các nước phương Tây quảng cáo về ý thức trách nhiệm của họ đối với vấn đề xã hội và sinh thái. Thí dụ hãy uống bia để ủng hộ bảo vệ rừng nhiệt đới, hoặc hãy ăn để giúp đỡ ngành giáo dục ở châu Phi – đây là những ý tưởng  marketing nhất thời, đánh bóng tên tuổi. Tại một cuộc họp ở Hamburg, ông có đề cập đến cái gọi là “nghiệp chướng  tư bản chủ nghĩa”…  Vấn đề mà các hãng quan tâm là khai thác lợi nhuận tối đa. Giờ đây họ phát hiện trách nhiệm xã hội và muốn qua đó cải thiện hình ảnh của mình trước thiên hạ và cuối cùng cũng vẫn chỉ nhằm tăng lợi nhuận cho hãng. Tóm lại là muốn tăng tỷ giá chứng khoán, tăng lợi nhuận thật  nhiều.  Tuy nhiên hệ thống tín dụng nhỏ của ông cũng không thực sự giúp đỡ con người được bao nhiêu. Hệ thống đó cũng chỉ bảo đảm cho người được vay tín dụng có thể tồn tại với trình độ thấp.  Tôi phân biệt giữa người nghèo và không nghèo. Đây là một sự khác biệt rất lớn. Mục tiêu đề ra không phải nhằm cho họ trở nên giàu có mà chỉ để người ta thoát nghèo như: có một mái nhà che thân, được ngủ trên giường. Đấy là những sự khác biệt giữa nghèo và không nghèo. Nếu người nghèo vay tiền để tự lập họ có thể thoát nghèo, không còn bị lệ thuộc và bị chủ bóc lột và mình làm việc cho mình. Đây là một bước tiến lớn.  Nhưng người đó lại lệ thuộc vào người cho vay tiền như: Người đạp xe xích lô, làm nghề đánh giày, buôn vặt và thợ thủ công phàn nàn về việc lệ thuộc suốt đời vào người cho vay tiền. Tại Ấn Độ mỗi năm có hàng trăm nông dân tự vẫn vì họ không có cơ hội để có thể hoàn trả khoản tiền nợ lên đến trên 500 USD.  Nhưng cái đó đâu phải là tín dụng nhỏ. Trong mô hình của chúng tôi thì không có ai phải tự tử vì không trả được nợ.  Người ta có thể xin hoãn trả nợ hay xin trả thành nhiều khoản, điều này không có gì khó vì người vay tín dụng có trả lãi. Và khi hoàn toàn không còn tiền thì người cho vay lãi sẽ phải chấm dứt không tính lãi bởi tổng số tiền lãi sẽ phải tính sao cho không được nhiều hơn khoản tiền nợ.    …Điều đó trở nên vô nghiã vì người cho vay  lại tiếp tục lâm vào tình trạng làm ăn không kinh tế.  Xét về khía cạnh kinh tế thì điều đó có thể không có ý nghĩa nhưng chúng ta đang trao đổi với nhau về người nghèo. Vì thế chúng ta phải xây dựng Luật làm sao để Luật lệ đó hỗ trợ người nghèo. Cốt lõi của vấn đề là lợi ích kinh tế không chỉ có nghĩa là khai thác lợi nhuận tối đa, mà còn phải phục vụ lợi ích của con người.  Mô hình tín dụng nhỏ của ông liệu có thể hỗ trợ cho những người nghèo ở các nước công nghiệp không?  Điều này đã phát huy tác dụng ở nước Anh, ở Mỹ, không có  lý gì nó lại không phát huy tác dụng ở Đức? Nếu chỉ tặng tiền cho người nghèo, hay chia bôi tiền thuế, thực sự không giúp ích gì cho họ.  Ông có tin rằng những người có vị trí thấp trong xã hội có sẵn sàng lao động không? Phải chăng những con người đó không thích làm hay về mặt thể lực hoặc vì một lý do nào đó họ không thể làm việc?  Khi người giàu nói về sự lười biếng của những người có địa vị thấp kém trong xã hội thì họ thường đơn giản hóa vấn đề này. Họ thường nghĩ: loại người này nghèo là do bản thân họ gây nên, còn ta chẳng liên quan gì đến việc đó. Các vị hãy xem ai là người sẵn sàng làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt ở trên thế giới này: đó là những người nghèo. Tôi không đòi nhất thiết không phân phát tiền bạc mà không đòi lại. Nhưng chỉ cho đến khi người ta đã có khả năng tự vươn lên. Mục tiêu lớn nhất là phải tạo cho người nghèo có chút vốn để tự lực lo cho mình. Ai là người nghèo đều sẵn sàng làm cật lực để thoát nghèo…    …Hoặc bị đưa đẩy chạy theo các thế lực cực đoan.  Đúng. Hãy xem các phần tử Hồi giáo: bọn họ cho người nghèo miếng cơm manh áo, nhét vào tay họ vũ khí và nhồi nhét vào đầu họ tư tưởng của chúng. Nghèo khó là hang ổ của chủ nghĩa khủng bố.    Vậy thì tốt nhất nên thực hiện cứu trợ xã hội?  Khi con người được phân phối tiền bạc họ sẽ bị mất đi sự sáng tạo và ý thức tự lực, phấn đấu vươn lên.    Vì sao ông không tập trung sức lực của mình với tư cách là một chính khách ngay tại quê cha đất tổ của mình – Bangladesh, một đất nước hỗn loạn, đói khổ với một chính phủ không có khả năng điều hành, quản lý ? Vì sao ông lại huỷ bỏ ý định tham gia tranh cử với một chính đảng của mình?  Tôi đã trao đổi bàn bạc với nhiều người ở Bangladesh. Phần lớn nói với tôi, bác cứ việc làm, nhưng chúng tôi không thể giúp gì cho bác được đâu. Tôi không đủ sức động viên thuyết phục được nhiều người sát cánh với mình tạo ra một lực lượng đủ mạnh để thực hiện được nhiệm vụ to lớn này.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mũi điện tử có thể phân biệt nhiều mùi bạc hà      Trong tự nhiên, các mùi phát ra từ cây cối có thể thu hút các loài động vật như côn trùng. Tuy nhiên, các loại mùi được sử dụng trong công nghiệp như sản xuất nước hoa hoặc các loại hương thơm. Để đạt được việc phân biệt các mùi bạc hà một cách chính xác, nhanh chóng và khách quan, các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Karlsruhe (KIT) đã thực hiện một nghiên cứu hợp tác liên ngành và phát triển một mũi điện tử với một khứu giác nhân tạo.      Mũi điện tử này đã được độ chính xác cao trong ghi nhận những loài bạc hà khác nhau, cơ sở để tạo ra một công cụ phù hợp cho một phạm vi những ứng dụng rộng lớn, từ kiểm soát chất lượng dược phẩm đến giám sát dầu bạc bà như một loại thuốc diệt cỏ sinh học thân thiện với môi trường.  “Từ trước đến nay, các nhà khoa học đã có thể nhận diện được khoảng 100.000 hợp chất sinh học khác hau thông qua việc những cây gần nhau tương tác với nhau hoặc kiểm soát các loài sinh vật khác như côn trùng”, giáo sư Peter Nick của Viện Thực vật KIT nói. “Các hợp chất đó rất tương đồng trong những cây cùng chi”. Một ví dụ cổ điển từ thực vật trên thế giới là bạc hà, nơi các giống khác nhau tạo ra những mùi hương vô cùng đặc trưng cho loài.  Việc kiểm soát chất lượng dầu bạc hà trong ngành công nghiệp phải tuân theo những quy định pháp luật nghiêm ngặt để ngăn ngừa việc pha trộn rất tốn thời gian và đòi hỏi chuyên gia giàu kinh nghiệm, ông giải thích. Một “mũi điện tử” được trang bị với các cảm biến được làm từ những vật liệu kết hợp để hỗ trợ quá trình này. Các nhà nghiên cứu từ Viện Thực vật, Viện Các mặt liên kết chức năng (IFG), Viện Công nghệ Vi cấu trúc (IMT), và Viện Công nghệ ánh sáng (LTI) của KIT hợp tác phát triển và thử nghiệm các cảm biến đó với sáu loài bạc hà khác nhau.  Mũi điện tử hình thành trên cơ sở mô hình sinh học  Trong sự phát triển của mũi điện tử, toàn bộ nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình sinh học này: các tế bào khứu giác, vốn tham gia vào quá trình vận chuyển thông tin của con người lên não thông qua các xung điện, được thay thế bằng 12 cảm biến QCM đặc biệt (vi cân tinh thể thạch anh). Những cảm biến này bao gồm hai điện cực được trang bị bằng một tinh thể thạch anh. Các hợp phần này có thể được tìm thấy trong các điện thoại di động vì nhờ chúng mà điện thoại di động có được các tần số với độ chính xác cao với mức chi phí thấp.  “Các mùi hương bạc hà được ‘ghim’ lại trên bề mặt các cảm biến. Điều này làm thay đổi tần số cộng hưởng của chúng và chúng ta có thể có một tương tác tương ứng với từng mùi”, giáo sư Christof Wöll của IFG giải thích. Các mùi hương bao gồm các phân tử hữu cơ trong các hợp chất khác nhau. Để các cảm biến mới có thể hấp thụ được các phân tử đó, các nhà nghiên cứu IFG sử dụng các vật liệu tạo ra 12 cảm biến đặc biệt, bao gồm các vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs) do chính IFG phát triển. “Các vật liệu này có nhiều lỗ và phù hợp một cách hoàn hảo với các ứng dụng làm cảm biến bởi chúng ta có thể hấp thụ nhiều loại như một lỗ xốp”, Wöll nói. “Bằng việc kết hợp các cảm biến với những vật liệu khác, chúng tôi đã tạo ra những gì có thể gọi là một mạng thần kinh”.    Sử dụng học máy để huấn luyện mũi điện tử với sáu loài bạc hà  Các nhà khoa học thử nghiệm mũi điện tử với sáu loài bạc hà khác nhau – bao gồm cây bạc hà cay cổ điển (peppermint), bạc hà lá dài (horsemint), bạc hà mèo (catnip). “Chúng tôi dùng các phương pháp học máy khác nhau để huấn luyện các cảm biến, vì vậy họ có thể tạo ra ‘vân tay’ của mùi tương ứng từ dữ liệu đã được thu thập và do đó phân biệt được các mùi”, Wöll nói. Sau từng ví dụ về mỗi mùi hương, mũi điện tử được ‘làm sạch’ bằng carbon dioxide (CO2) trong vòng một tiếng rưỡi để cho phép các cảm biến được tái sinh, cảm nhận mùi mới.  Với việc triển khai nghiên cứu của một nhóm khoa học liên ngành, các kết quả này chứng tỏ mũi điện tử với các cảm biến QCM có thể ‘hình dung” ra các mùi hương bạc hà với nét đặc trưng rõ rệt. Thêm vào đó, đây là một giải pháp hiệu quả về chi phí, tin cậy, thân thiện với người sử dụng hơn các phương pháp thông thường như sắc ký khối phổ, các nhà khoa học cho biết. Việc phá triển thêm giải pháp này sẽ tập trung vào các cảm biến tái sinh nhah hơn để lựa chọn các mùi hương nhanh hơn nữa. Các nhà nghiên cứu IFG sẽ tiếp tục tập trung vào các vật liệu MOF để phù hợp với các ứng dụng khác như cảm nhận khứu giác nhân tạo cho chẩn đoán y khoa.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-e-nose-discriminate-mint-scents.html  https://www.kit.edu/english/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mũi điện tử và thị giác máy tính giúp nướng hoàn hảo thịt gà      Các nhà nghiên cứu Skoltech đã tìm ra một cách để sử dụng các cảm biến hóa học và thị giác máy tính để xác đinh liệu thịt gà nướng đã chín đúng độ chưa. Các công cụ này có thể giúp các nhà hàng giám sát và theo dõi các quá trình nấu nướng tư động trong gian bếp của mình và có kẽ một ngày nào đó thậm chí sẽ có mặt trong lò nướng “thông minh” của bạn.      Nhóm nghiên cứu của giáo sư Albert Nasibulin của Viện Công nghệ Skoltech. Nguồn: Skoltech   Bài báo nêu rõ chi tiết về những kết quả nghiên cứu này, do Quỹ Khoa học Nga tài trợ, đã được xuất bản trên tạp chí Food Chemistry “Detecting cooking state of grilled chicken by electronic nose and computer vision techniques” (Dò trạng thái của gà nướng bằng mũi điện tử và các kỹ thuật thị giác máy tính).  Bạn có thể nói như thế nào về miếng thịt ức gà trên vỉ nướng đã sẵn sàng được xếp lên đĩa? Bạn có lẽ nhìn vào miếng thịt thật gần và hít hà mùi thơm để chắc chắc là mọi công đoạn nướng đã hoàn tất theo cách mình thích. Tuy nhiên, nếu như bạn là một đầu bếp hoặc người phụ trách gian bếp tại một cơ sở chế biến thịt gà lớn, bạn không thể phụ thuộc vào đôi mắt hoặc cái mũi để chắc chắn các kết quả đồng bộ đã đạt tiêu chuẩn mà khách hàng của bạn chờ đợi. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao ngành công nghiệp khách sạn lại đang luôn tìm kiếm những công cụ thực tế, giá rẻ và đủ nhạy để thay thế đánh giá chủ quan của con người trong việc kiểm soát chất lượng tự động.  Giáo sư Albert Nasibulin của Viện Công nghệ Skoltech và trường đại học Aalto, nhà nghiên cứu ở Skoltech Fedor Fedorov và đồng nghiệp của họ đã quyết định nghiên cứu theo hướng này: làm một cái “mũi điện tử” – một dãy các cảm biến dò các hợp phần cụ thể của một mùi – để “ngửi” gà được chế biến và một thuật toán thị giác máy tính để “nhìn” vào đó. “Mũi điện tử” đơn giản hơn và ít đắt đỏ hơn là việc vận hành một máy sắc kí khí hoặc một máy khối phổ, và chúng có thể chứng tỏ có khả năng dò được rất nhiều loại phô mai hoặc chọn ra được những quả táo hoặc chuối đã bị hỏng. Nói cách khác, thị giác máy tính có thể ghi nhận các mẫu hình ảnh, ví dụ dò được những chiếc bánh quy vỡ.  Phòng thí nghiệm Công nghệ nano của Skoltech do giáo sư Nasibulin dẫn dắt đã phát triển những vật liệu mới cho nhiều loại cảm biến hóa học; một trong những ứng dụng cho các cảm biến đó là bộ phận HoReCa, vốn được dùng để kiểm soát chất lượng lọc khí trong thiết bị thông gió của các hiệu ăn. Một sinh viên của phòng thí nghiệm và là đồng tác giả của nghiên cứu mới là Ainul Yaqin khi đến Novosibirsk để thực hiện dự án nghiên cứu Industrial Immersion đã sử dụng các cảm biến của phòng thí nghiệm để kiểm tra hiệu quả của các tấm lọc công nghiệp do một công ty lớn của Nga chế tạo. Chính dự án đó dã dẫn đến những thực nghiệm với hồ sơ mùi của gà nướng.  “Cùng thời điểm, để xác định được trạng thái thích hợp thì người ta không chỉ phụ thuộc vào ‘mũi điện tử’ mà còn cần đến cả thị giác máy tính nữa – những công cụ đó sẽ trao cho anh một cái mà người ta vẫn gọi là ‘ban chuyên gia điện tử’. Xây dựng dựa trên những kinh nghiệm về các kĩ thuật thị giác máy tính của các đồng nghiệp CDISE Skoltech, chúng tôi đã cùng nhau kiểm tra giả thiết là khi kết hợp cả thị giác máy tính và mũi điện tử thì sẽ đạt được độ kiểm soát chính xác quá trình nấu nướng”, Nasibulin nói.  Nhóm nghiên cứu đã chọn kết hợp hai kỹ thuật này lại để giám sát độ vừa vặn của thực phẩm một cách chính xác và trong điều kiện không có sự thao tác của con người. Họ chọn thịt gà, loại thực phẩm phổ biến hàng đầu thế giới, và nướng một lượng rất nhiều ức gà (dược mua tại một siêu thị ở Moscow) để ‘huấn luyện” các công cụ của mình và đánh giá, dự đoán độ vừa vặn của việc nướng thịt tốt như thế nào.    Kết quả của nghiên cứu sẽ đem lại những thiế bị có khả năng nhận biết được độ chín vừa vặn với những miếng thịt trong gian bếp nhà hàng. Nguồn: www.skinnytaste.com  Các nhà nghiên cứu đã thiết kế “mũi điện tử” của mình với tám cảm biến dò khói, cồn, CO, và các hợp phần khác, nhiệt độ, độ ẩm rồi đặt nó vào trong hệ thống thông khí. Họ cũng có nhiều bức ảnh gà rán và cung cấp thông tin cho một thuật toán để nó “nhìn” vào các mẫu hình dữ liệu. Để xác định những thay đổi về mùi vị có trong những giai đoạn khác nhau của quá trình nướng gà, các nhà khoa học đã sử dụng phân tích nhiệt lượng (để giám sát số lượng các hạt bay hơi cho mũi điện tử dò được), phân tích phần tử di động khác nhau để đo đạc kích thước của các hạt sol khí, và kỹ thuật khối phổ.  Nhưng có lẽ phần quan trọng nhất của thực nghiệm này là sự tham gia của 16 nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu, những người kiểm tra mùi vị của rất nhiều miếng ức gà nướng để xem độ mềm, độ thơm ngon và đậm đà của hương vị, hình thức bắt mắt và về tổng thể độ hoàn thiện của miếng thị trên thang điểm 10. Dữ liệu này đã khớp với các kết quả phân tích và sau đó là so sánh với nhận định của những người thích ăn thịt gà.  Các nhà nghiên cứu đã nướng thịt bên ngoài phòng thí nghiệm và sử dụng căng tin của Skoltech để sắp đặt địa điểm kiểm nghiệm. “Do diễn ra trong đại dịch COVID-19, chúng tôi phải đeo khẩu trang và thực hiện các kiểm thử trên các nhóm nhỏ, vì vậy đây là một thí nghiệm khá bất thường. Tất cả những người tham gia đều được hướng dẫn và trao các quy trình đánh giá về giác quan để thực hiện công việc đúng cách. Chúng tôi đã nướng nhiều mẫu, mã hóa chúng và sử dụng chúng trong các kiểm tra ‘mù’. Đó là một trải nghiệm thú vị đối với các nhà khoa học vật liệu, vốn công việc chủ yếu dựa vào dữ liệu từ các công cụ phân tích phức tạp. Tuy nhiên, các mô gà cũng là một loại vật liệu mà”, Fedorov lưu ý.  Nhóm nghiên cứu cho biết, hệ thống của họ đã có khả năng nhận diện được miếng thịt gà nướng chưa chín, vừa tới hoặc quá lửa, vì vậy rất có tiềm năng kiểm soát chất lượng tự động trong một gian bếp. Họ cũng lưu ý là việc sử dụng các kỹ thuật này trên những phần thịt gà khác, ví dụ như cánh hoặc đùi – hoặc cho những phương pháp chế biến khác, thì “mũi điện tử” và “mắt điện tử” có thể phải được huấn luyện trên dữ liệu mới.  Các nhà nghiên cứu mới lập kế hoạch kiểm tra các cảm biến của mình trong các môi trường bếp nhà hàng. Một ứng dụng tiềm năng của nó có thể là “đánh hơi” mùi thịt hỏng ngay ở giai đoạn đầu khi những thay đổi về mùi vị của nó vẫn còn quá khó nắm bắt với mũi người. “Chúng tôi tin tưởng là các hệ thống này có thể tích hợp với các bếp công nghiệp và thậm chí là bếp thông thường như một công cụ có thể hỗ trọ và tư vấn về độ vừa vặn của thịt trong gian bếp, khi không thể đo đạc nhiệt độ một cách trực tiêp hoặc việc đó không còn hiệu quả”, Fedorov nói.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-e-nose-vision-cook-chicken.html  https://www.skoltech.ru/en/2015/03/a-match-made-in-a-reactor-skoltech-and-aalto-researchers-collaborate-on-carbon-nanotube-synthesis/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười thành phố đáng sống nhất trên thế giới năm 2016      Mới đây, tạp chí kinh tế “The Economist” đã khảo sát và bình chọn ra mười thành phố đáng sống nhất thế giới năm 2016.      Melburne, thành phố đáng sống nhất 2016  Trong cuộc khảo sát này, cơ quan phân tích kinh tế Economist Intelligence Unit (EIU) của The Economist đã đánh giá chất lượng sống ở 140 thành phố trên thế giới và bình chọn ra 10 thành phố đáng sống nhất. Nghiên cứu này xem xét, đánh giá 30 tiêu chí dựa trên các yếu tố như sự ổn định/an ninh đối nội, chăm sóc y tế, văn hoá và môi trường, giáo dục và hạ tầng cơ sở. Thành phố lý tưởng có số điểm là 100.  Vị trí thứ 10: Hamburg, Đức  Thành phố cảng biển Hamburg là thành phố duy nhất của Đức có tên trong 10 thành phố đáng sống nhất thế giới. Ba thành phố khác của Đức là Frankfurt, Munchen và Düsseldorf cũng có tên trong bảng xếp hạng và đạt vị trí  20, 25 và 32.  Người phát ngôn của EIU nhận xét, Hamburg không bị tấn công khủng bố hay mất ổn định xã hội, tội phạm hình sự gia tăng không đáng kể. Tuy nhiên, việc tiếp nhận người tị nạn có thể làm cho thứ hạng của Hamburrg và các thành phố khác của Đức bị sụt giảm trong các cuộc nghiên cứu xếp hạng sau này.  Vị trí thứ 9: Helsinki, Phần lan  Ổn định và chăm sóc y tế là hai yếu tố rất được coi trọng ở Helsinki. Nền công nghiệp tại đây rất phong phú: Helsinki có ngành chế biến thực phẩm, gia công kim loại và công nghiệp hoá chất. Thủ đô Phần lan cũng có ngành công nghiệp dệt và may mặc phát triển.  Vị trí thứ  8: Auckland, Newzealand  Auckland đã tăng hai bậc so với lần xếp hạng từ hai năm trước đây ách đây. Thành phố này có một phần ba dân số Newzealand sinh sống và có các ngành kinh tế chủ lực là du lịch, ngoại thương và tài chính.  Vị trí thứ  7: Perth, Australia  Perth là thủ phủ đồng thời là thành phố lớn nhất ở phía tây Australia. Ngành kinh tế chủ đạo của thành phố này là khai khoáng. Perth đạt  95,9 điểm trong bảng đánh giá.  Vị trí thứ 5: Calgary, Canada và Adelaide, Australia  Có hai thành phố xếp hạng thứ năm: là Calgary, Canada và Adelaide, Australia với mức điểm bằng nhau – 96,6 điểm. Calgary là nơi đặt trụ sở của các doanh nghiệp năng lượng quan trọng nhất cũng như phần lớn các công ty tài chính của Canada. Sản xuất phim và truyền hình cũng là một mảng kinh tế quan trọng của thành phố này.  Adelaide, Australia vẫn giành vị trí thứ 5 với tổng số điểm bằng mức năm ngoái thành phố này đạt được. Một thành phố khác của Australia là Sydney đã tụt hạng và ra khỏi top 10 (năm ngoái Sydney xếp thứ 7) với nguyên nhân do sự đe doạ của chủ nghĩa khủng bố, khi năm 2014 một vụ bắt con tin đẫm máu đã diễn ra tại đây.  Vị trí thứ  4: Toronto, Canada  Toronto được 97,2 điểm và vẫn giữ vị trí thứ tư như lần xếp hạng gần đây nhất.  Vị trí thứ  3: Vancouver, Canada  Thành phố này vẫn tiếp tục duy trì vị trí thứ ba từ lần xếp hạng năm ngoái. Theo đánh giá trong báo cáo Hệ sinh thái khởi nghiệp 2012, Vancouver cũng được biểu dương là thành phố thân thiện nhất thế giới đối với các Start up.  Ví trí thứ  2: Viên, Áo  Năm 2015 thủ đô của Áo đạt  97,4 điểm và xếp vị trí thứ hai trong những thành phố đáng sống nhất thế giới.  Vị thí thứ nhất : Melbourne, Australia  Melbourne là thành phố đáng sống nhất thế giới với 97,5 điểm, và đây là một trong ba thành phố của Australia trong top 10. Dịch vụ y tế chất lượng cao là lĩnh vực kinh tế hàng đầu của  Melbourne.    Author                Quản trị        
__label__tiasang MuZero có khả năng chơi game thành thạo mà không cần biết luật chơi      Albert Einstein từng nói rằng, “bạn phải học luật chơi, và sau đó bạn phải chơi giỏi hơn bất kỳ ai khác”. Đây có thể cũng chính là khẩu hiệu ở công ty DeepMind, khi một báo cáo mới cho thấy họ đã phát triển được một phần mềm có khả năng chơi thành thạo các trò chơi phức tạp mà thậm chí không cần biết luật chơi của các trò đó.      Là một công ty con của Alphabet, trước đó DeepMind đã đạt được những bước tiến đột phá khi sử dụng phương pháp học tăng cường (reinforcement learning) để huấn luyện các chương trình máy tính thành thạo trò chơi cờ vây của Trung Quốc, cờ Shogi của Nhật Bản, cũng như cờ vua và trò chơi điện tử đầy thách thức Atari. Trong những lần này, máy tính được cho biết trước luật chơi của các trò chơi.  Tuy nhiên, một công bố trên tạp chí Nature gần đây cho biết chương trình máy tính MuZero của công ty DeepMind đã đạt được thành tựu tương tự – và trong một số trường hợp còn thắng thế so với các chương trình trước đó – chương trình này không cần phải học luật chơi từ trước.  Để đạt được điều này, các lập trình viên tại DeepMind đã dựa vào nguyên tắc “tìm kiếm trước”. Theo cách tiếp cận này, MuZero sẽ đánh giá một số nước đi tiềm năng dựa trên cách phản công của đối thủ. Mặc dù số lượng nước đi tiềm năng có thể rất lớn trong các trò chơi phức tạp như cờ vua, MuZero vẫn sẽ ưu tiên các nước đi phù hợp và có khả năng xảy ra nhất, thông qua việc học hỏi những nước đi thành công và tránh những nước đi thất bại.  Theo các nhà nghiên cứu, khi đối đầu với nhân vật Ms. Pac-Man trong chơi điện tử Atari, MuZero chỉ nghiên cứu được sáu hoặc bảy bước đi tiềm năng, tuy nhiên vẫn có một màn thi đấu hết sức đáng ngưỡng mộ.  “Đây là lần đầu tiên chúng tôi thực sự có một hệ thống có khả năng xây dựng những hiểu biết riêng về cách thế giới vận hành và sử dụng những hiểu biết ấy để thực hiện việc lập kế hoạch trước một cách tinh vi như chúng ta đã thấy trước đây trong các trò chơi như cờ vua”, David Silver, nghiên cứu viên cao cấp của DeepMind cho biết. MuZero có thể “bắt đầu từ con số không, và chỉ bằng cách thử và sai, sẽ khám phá ra luật chơi và sử dụng luật chơi đó để thi đấu một cách phi thường”.  Silver còn hình dung ra những khả năng ứng dụng tuyệt vời hơn nữa của MuZero trong cuộc sống chứ không chỉ đơn thuần trong các trò chơi. Chẳng hạn như việc nén video, một công việc đầy khó khăn do video có vô vàn các định dạng và các cách thức nén khác nhau, tuy nhiên, cũng đã có một số tiến bộ. Cho đến nay, khả năng nén này đã được cải thiện thêm khoảng 5%. Đây là thành tích không tồi đối với một công ty thuộc Google – cũng đang xử lý bộ nhớ cache khổng lồ của các video trên trang web phổ biến thứ hai thế giới là YouTube, nơi có hàng tỷ giờ nội dung được xem hằng ngày (trang web phổ biến nhất là Google).  Silver cũng cho biết, phòng thí nghiệm cũng đang xem xét việc lập trình robot và thiết kế cấu trúc protein, từ đó hứa hẹn việc có thể sản xuất ra các loại thuốc được cá thể hóa cho từng người.  Theo Wendy Hall, giáo sư khoa học máy tính tại đại học Southampton và là thành viên của hội đồng AI của Anh, đây là một “bước tiến quan trọng”. “Kết quả nghiên cứu của DeepMind hoàn toàn đáng kinh ngạc và tôi tự hỏi họ sẽ có thể làm được những gì trong tương lai với những nguồn lực mà họ sẵn có”, bà nói.  Tuy nhiên, bà cũng bày tỏ mối lo ngại về khả năng công nghệ này sẽ bị lạm dụng. “Điều tôi lo lắng là trong khi không ngừng cải tiến các thuật toán và ứng dụng các kết quả của nó vì lợi ích của xã hội thì các nhóm ở DeepMind lại không nỗ lực suy nghĩ nhiều như vậy về những hậu quả không mong muốn mà những nghiên cứu của họ có thể đem lại”, bà nói.  Trên thực tế, Không quân Hoa Kỳ đã sử dụng các tài liệu nghiên cứu ban đầu về MuZero được công bố vào năm ngoái để thiết kế ra một hệ thống AI có khả năng phóng tên lửa từ máy bay do thám U-2 đến các mục tiêu cụ thể.  Khi được hỏi về suy nghĩ của mình đối với những ứng dụng như vậy trong quân sự, Silver cũng bày tỏ lo lắng.  “Tôi phản đối việc sử dụng AI trong bất kỳ loại vũ khí giết người nào, và tôi ước rằng chúng ta đã nỗ lực hơn trong việc cấm các loại vũ khí đó”, ông nói và cho biết thêm, DeepMind và những người đồng sáng lập đều đã ký vào Cam kết về vũ khí giết người tự động – khẳng định rằng các công nghệ như vậy sẽ luôn luôn phải nằm dưới sự kiểm soát của con người chứ không phải các thuật toán dựa trên AI.  Theo Silver, những thách thức trước mắt là làm sao để hiểu được và triển khai được các thuật toán một cách hiệu quả như bộ não của con người. “Chúng ta nên đặt mục tiêu thực hiện được điều này. Và bước đầu tiên trong hành trình đó là cố gắng để hiểu được ý nghĩa của việc đạt được trí tuệ là gì”, ông nói. “Chúng tôi nghĩ rằng điều này thực sự cần thiết trong việc đa dạng hóa những gì AI có thể làm được. Bởi không ai đưa cho chúng ta những cuốn sách về luật chơi và nói rằng ‘ồ, đây chính là cách thế giới vận hành'”, Silver nói. “Nếu chúng ta muốn AI có thể đi vào cuộc sống và có khả năng lập kế hoạch cũng như nhìn thấy các vấn đề mà không ai cho chúng ta biết trước, chúng ta thực sự rất cần điều này”.  Mỹ Hạnh tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-12-deepmind-muzero-conquers.html  https://deepmind.com/blog/article/muzero-mastering-go-chess-shogi-and-atari-without-rules    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ cần một kế hoạch Marshall      Nhà chính trị học và tư vấn chính trị Ian  Bremmer đến từ New York nói về những vấn đề tăng trưởng ở Mỹ, về một thế  giới đa cực và vai trò của nước Đức trong cuộc khủng hoảng đồng Euro.     WirtschaftsWoche (Wiwo – Tuần kinh tế): Thưa ông Bremmer, Châu Âu và Mỹ đang lún sâu trong cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị – phải chăng phương Tây đã đến thời mạt vận?  Ian Bremmer: Đây là sự cáo chung đối với sự thống trị toàn cầu của phương Tây, sự chấm dứt kỷ nguyên Mỹ. Mỹ không còn đảm đương vai trò thủ lĩnh toàn cầu vì điều đó không mang lại lợi lộc gì cho nước Mỹ.  Phải chăng vì thế lực toàn cầu và trung tâm quyền lực từ lâu đã dịch chuyển sang châu Á?    Trong những thập niên qua, nước Mỹ đã thúc đẩy toàn cầu hóa – và hệ quả là châu Á ngày càng đảm nhận nhiều vai trò hơn. Trước đây người Mỹ từng đảm nhiệm vai trò sen đầm quốc tế, là người cứu trợ khi có tai họa xảy ra ở mọi nơi trên thế giới. Nhưng các cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq mang lại cái gì cho người Mỹ? Các cuộc chiến tranh đó làm cho ngân sách Mỹ bị thâm hụt hàng tỷ USD. Và cũng đã đến lúc phải chấm dứt.   Phải chăng siêu cường Mỹ cáo lui vì không thể theo kịp đà phát triển mạnh mẽ của các nước mới nổi?  Trung tâm kinh tế thế giới đang chuyển sang châu Á là điều không ai còn nghi ngờ. Dù sự thăng tiến của Trung Quốc (TQ) là lý do vì sao Mỹ không còn tiếp tục vai trò lãnh đạo thế giới của mình nhưng tôi không thấy có sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu sang TQ.    Thưa ông, vì sao không?  Trong thời gian tới TQ không thể thực thi vai trò trung tâm quyền lực toàn cầu của Mỹ vì TQ quá bất ổn về chính trị và đang phải vượt qua nhiều thách thức to lớn về kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng, hệ thống pháp lý, hệ thống y tế – xã hội đều cần phải cải cách. Điều đó sẽ là những thay đổi có sức công phá to lớn về nội chính. Tôi hi vọng TQ sẽ thành công nhưng đây cũng là điều chưa thể đoán chắc.    Giờ đây Mỹ phải dựa dẫm vào nền kinh tế TQ?  Mỹ được coi là “bến đỗ an toàn”. Mỹ có thể vay tiền của các nước khác vì các nước này vẫn tin đây bến cảng an toàn, khi đó sẽ không xảy ra việc “lật kèo tài chinh” khiến toàn bộ nền kinh tế Mỹ bị rơi xuống vực thẳm. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phát hành vẫn tiếp tục in tiền và giữ lãi suất ở mức thấp. Vì thế Mỹ không bức thiết đến nỗi phải xúc tiến cải cách chính trị và kinh tế. Hơn nữa, nước Mỹ được coi là bến cảng an toàn còn là vì tình hình ở châu Âu và Nhật Bản tệ hại hơn nhiều.  Thưa ông, tình hình còn kéo dài ổn thỏa được bao lâu nữa? So với các nước mới nổi, phương Tây hiện có những lợi thế cạnh tranh gì?    Sẽ không thể diễn ra sự xuống dốc hoàn toàn của kinh tế phương Tây. Phương Tây vẫn có địa vị thống trị ở nhiều lĩnh vực như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ nano. Mỹ có nguồn tài nguyên to lớn về năng lượng và nông nghiệp. Về giáo dục, Mỹ có những trường đại học hàng đầu, nếu không thì tại sao sinh viên TQ ồ ạt xin học ở đây? Tuy vậy nước Mỹ đang có vấn đề về cơ cấu, những tập doàn lớn phát triển mạnh nhưng đại đa số người dân Mỹ lại không được hưởng lợi từ các tập đoàn ấy.  Đó là những vấn đề gì, thưa ông?  Sự thật của chủ nghĩa tư bản là nhiều doanh nghiệp không muốn thị trường tự do mà lại muốn độc quyền. Nhà nước phải làm sao để tạo ra được khả năng cạnh tranh tuy nhiên nhiều nhà nước phương tây không thực hiện được điều đó. Hãy nhìn xem, các ngân hàng hay ngành công nghiệp xe ô tô đã trở thành vật cản đối với cải cách cơ cấu ở Mỹ. Sau đó xẩy ra cuộc khủng hoảng tài chính. Những doanh nghiệp như BMW (Đức) đã vượt qua khủng hoảng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp của Mỹ. Chúng tôi đã ngủ quên không tiến hành cải cách, chỉ biết thụ hưởng những ưu ái do nhà nước đem lại. Nếu không có sự trợ giúp của chính phủ thì ngành công nghiệp ô tô của Mỹ đã xuống dốc từ lâu rồi.  Thưa ông hệ thống tư bản nhà nước như ở TQ có hơn hẳn hệ thống kinh tế của chúng ta?  Không, nhà nước không nên làm thay các doanh nghiệp tư nhân mà nhà nước phải tạo ra các điều kiện như nhau cho tất cả những ai tham gia thị trường. Trong thế giới mới này, các doanh nghiệp phải tự đổi mới mình để tồn tại và thích ứng với những điều kiện toàn cầu mới.  Kinh tế quốc doanh như ở TQ có lẽ đã phản ứng để tự đổi mới nhanh hơn so với chúng ta?  Đúng là trong ba thập niên vừa qua, ở TQ, chủ nghĩa tư bản nhà nước đã đưa đất nước này tiến một bước thật dài. Tuy vậy không thể nói hệ thống đó hơn hệ thống của phương Tây. Vì họ dựa vào lợi thế hữu hạn là lao động giá rẻ. Chừng nào TQ còn có lực lượng lao động giá rẻ thì sẽ còn hơn chúng ta nhưng việc mất lợi thế đó chỉ là vấn đề thời gian, khi đó tư bản nhà nước sẽ tan vỡ. Chính phủ TQ quá hiểu điều đó. Do đó, họ phải đẩy mạnh tiêu dùng trong nước và thúc đẩy cải cách để bảo đảm thắng lợi lâu dài.  Vậy ai sẽ lấp khoảng trống quyền lực khi nước Mỹ không còn là trung tâm toàn cầu và TQ chưa có khả năng đảm nhận vai trò ấy?  Đây đúng là tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà chúng ta đang phải đối đầu: không ai đảm nhận vai trò này. Hiện không có sự lãnh đạo toàn cầu. Tôi gọi đó là thế giới G-Zero – một thế giới mà không có nước nào là lãnh đạo toàn cầu. Nước nào cũng tập trung cho bản thân và láng giềng của mình.   Thưa ông, vậy hệ quả là gì?  Thế giới sẽ nhạy cảm, đa cực và có nhiều rủi ro hơn, chủ nghĩa bảo hộ sẽ phát triển và sẽ có nhiều xung đột vũ trang hơn. Các vị hãy xem tình hình Trung đông hay Syria: người Mỹ đứng ngoài cuộc, người TQ càng không không muốn dính líu.  Các chính phủ phản ứng như thế nào trước tình trạng không có sự lãnh đạo toàn diện này?  Câu trả lời rất khác nhau: tùy theo lợi ích chính trị hoặc kinh tế mà các nước, các khu vực sẽ liên kết với nhau. Nhật Bản, Đài Loan hay Myanmar lo ngại trước thế lực quá lớn của TQ ở châu Á nên liên minh với phương tây. Người TQ làm ăn tốt với nhiều nước nhưng hầu như không có đồng minh sẵn sàng chia sẻ các giá trị chung cùng TQ. Đó cũng là lý do vì sao TQ không thể đảm nhiệm vai trò của một siêu cường toàn cầu mới.   Sự vươn lên của các nước mới nổi ảnh hưởng như thế nào đến sự giàu có, thịnh vượng của chúng ta?  Khoảng cách giầu nghèo ở phương Tây sẽ ngày càng tăng. Một số ít người dân Mỹ sẽ giàu lên nhưng số đông sẽ mất đi cuộc sống phong lưu của mình. Tình trạng ở Mỹ hiện nay chưa đến mức như ở Tunisia, đến nỗi người dân đã tự thiêu để phản đối chính quyền. Nhưng tầng lớp dưới ở Mỹ không có các điều kiện cần thiết để phát triển theo kịp đà của thế giới toàn cầu hóa.  Phải chăng Mỹ cần có một vị tổng thống khác để làm lại từ đầu?  Không! Cả Tổng thống Barack Obama lẫn đối thủ của ông là Mitt Romney đều không có ảnh hưởng thực sự đến chính sách ở Mỹ. Hạ viện và các nhóm lợi ích mới thực sự có tiếng nói quyết định ở đất nước này.   Nước Mỹ phải làm gì để giải quyết những vấn đề về cơ cấu của mình?  Nước Mỹ cần khẩn cấp một kế hoạch Marshall, nhưng tiếc rằng tầng lớp chính khách của nước Mỹ lại không sẵn sàng. Hệ thống trường công chưa tốt. Cũng chưa tiến hành cải cách cơ cấu về kinh tế và giáo dục. Trong tương lai, ai không có ít nhất bằng tốt nghiệp cao đẳng thì không thể cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế.  Thưa ông liệu đã quá muộn với việc cứu đồng Euro?  Chưa. Tôi coi liên minh tiền tệ là một giải pháp tốt, để xử lý được những vấn đề liên quan đến khu vực đồng Euro – không có con đường nào khác ngoài một liên minh tài chính và chính trị. Chỉ có điều người Đức không muốn chấp nhận điều đó vì họ sợ mất chủ quyền. Người Đức nhất thiết muốn Hy lạp có mặt trong Euro-Zone và cho Hy lạp vay tiền với những điều kiện không phù hợp với thực tiễn kinh tế. Lí do tại sao? Vì họ cũng tham lam như tất cả những người khác. Cũng như Hy Lạp, người Đức phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng đồng Euro.    Thưa ông khu vực đồng Euro liệu có còn ý nghĩa toàn cầu trong tương lai?  Khu vực đồng Euro sẽ tồn tại, vì đây là một liên minh tự nguyện với những giá trị và lợi ích chung. Nhiều nước trong khu vực đồng Euro được hưởng lợi từ liên minh này. Khu vực đồng Euro là một sức mạnh về chính trị và kinh tế vì thế sẽ có ý nghĩa toàn cầu trong trật tự thế giới đa cực này – dù có hay không có Hy Lạp.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Đầu tư 5,2 triệu đô la cho bản sao kĩ thuật số của lò phản ứng      Theo hãng tin từ ANN ARBOR (Michigan, Mỹ), nguồn năng lượng hạt nhân an toàn với giá cả phải chăng đang là mục tiêu nghiên cứu trong dự án mới của Đại học Michigan, thu hút sự tham gia của các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ năng lượng hạt nhân và khoa học máy tính.      Giáo sư kỹ thuật hạt nhân và khoa học phóng xạ của U-M, nhà nghiên cứu chính của dự án, Annalisa Manera giới thiệu về một số kết quả nghiên cứu.  Cơ quan Nghiên cứu Dự án Tiên tiến (the Advanced Research Projects Agency) sẽ đầu tư gói hỗ trợ trị giá 5,2 triệu đô la trong vòng ba năm dành cho nghiên cứu và phát triển các bản sao kỹ thuật số của lò phản ứng (digital twins reactor) sử dụng trí thông minh nhân tạo (AI).  Dự án có sự tham gia của đối tác đến từ Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và các công ty kỹ thuật như Kairos Power, Curtiss Wright nhằm cải thiện ba nhược điểm hiện nay của năng lượng hạt nhân.  Nghiên cứu được kì vọng sẽ làm giảm chi phí bảo trì cho các nhà máy điện bằng cách dự báo chính xác thời gian thay thế các bộ phận thay vì dựa trên lịch bảo trì cố định như trước kia. Thêm nữa, nhà máy điện hạt nhân tiên tiến được thiết kế nhằm giảm thiểu chi phí trong quá trình xây dựng và vận hành với mục tiêu cuối cùng là cho phép năng lượng hạt nhân có thể điều chỉnh theo nhu cầu, trở thành nguồn bổ sung hiệu quả cho năng lượng gió và năng lượng mặt trời.    Vòng lặp lưu lượng thử nghiệm được sử dụng để mô phỏng vòng làm mát trong lò phản ứng muối nóng chảy. Ảnh: Xiaodong Sun, Cơ sở thử nghiệm muối Fluoride nhiệt độ cao, Đại học Michigan  Lò phản ứng ảo là “bản sao” gần như chính xác của các lò phản ứng thực được sử dụng trong tất cả các thử nghiệm. Các bản sao số dựa trên các nguyên lý vật lý áp dụng trong thiết kế lò phản ứng, kết hợp với dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực bằng các cảm biến trên lò và được  AI giám sát.  Giáo sư kỹ thuật hạt nhân và khoa học phóng xạ của U-M, nhà nghiên cứu chính của dự án Annalisa Manera, và cộng sự là nghiên cứu viên Thomas Downar, giáo sư kỹ thuật hạt nhân và khoa học phóng xạ đã có kinh nghiệm trong việc mô phỏng thành công lò phản ứng hạt nhân hoàn chỉnh nhờ phát triển các mã vật lý có độ chính xác cao. Nhóm dự án sẽ sử dụng kết hợp các bản sao có độ chính xác và dữ liệu thử nghiệm để xây dựng các phiên bản hoàn chỉnh hơn của mô hình lò phản ứng, có thể vận hành theo thời gian thực tế.  Nhà phát triển chính của hệ thống, giáo sư kỹ thuật hàng không vũ trụ Karthik Duraisamy cũng đồng thời là nghiên cứu viên của dự án, cho rằng sự kết hợp giữa mô phỏng vật lý và mô hình có chứa dữ liệu lớn (big data) sẽ thúc đẩy phát triển hệ thống máy tính ConFlux, vốn được biết đến với thiết kế tích hợp giữa hai phương pháp này.  Ngoài việc thiết lập lịch bảo trì phù hợp, mô phỏng còn có thể tự động hóa các hoạt động. Mỗi quyết định được đưa ra bởi AI có thể sử dụng trình giả lập để xác định vấn đề và kết quả đầu ra tương ứng với từng tác động, cho phép thực hiện các hoạt động thông thường một cách tự động và hơn hết là ứng phó với các tình huống tai nạn.  Năng lượng hạt nhân không được sử dụng phổ biến để tăng hoặc giảm sản lượng điện năng bởi các lò phản ứng có xu hướng vận hành liên tục. Tuy nhiên, nhu cầu về một nguồn năng lượng phát thải ít carbon và có khả năng phụ trợ cho các dạng năng lượng tái tạo khác như năng lượng mặt trời, năng lượng gió giúp cho nguồn năng lượng với tính năng “điều chỉnh công suất để đáp ứng với thay đổi của tải trong hệ thống điện” giành được nhiều quan tâm hơn cả. Hệ thống AI có khả năng phát huy hết những ưu điểm này của năng lượng hạt nhân này trong các nhà máy.  Nhóm nghiên cứu sẽ chứng minh phần mềm bằng cách sử dụng vòng lặp thử nghiệm trong phòng thí nghiệm của Xiaodong Sun dưới sự giám sát của các giáo sư kỹ thuật hạt nhân và khoa học phóng xạ. Vòng lặp sử dụng muối nóng chảy tương tự chất làm mát mô phỏng quy trình làm mát bên trong lò phản ứng muối nóng chảy (molten salt reactor).  Sau đó, phần mềm được sử dụng để tối ưu hóa thiết kế của lò phản ứng nhiệt độ cao và lò phản ứng làm mát bằng muối fluoride Kairos Power. Một phần vì muối không thể sôi và lò phản ứng luôn hoạt động ở áp suất thấp nên thiết kế của lò phản ứng Kairos được đánh giá an toàn hơn so với lò phản ứng làm mát bằng nước đang được sử dụng ngày nay.  Dự án có tiêu đề là SAFARI (Secure Automation for Advanced Reactor Innovation) – Tự động hóa an toàn cho lò phản ứng tiên tiến mới.  Trần Thiện Phương Anh/VINATOM dịch  Nguồn: https://news.umich.edu/5-2m-for-digital-twins-of-nuclear-reactors-could-bring-down-nuclear-energy-costs/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ đề cử chuyên gia y tế gốc Hàn làm lãnh đạo WB      Đây sẽ là lần đầu tiên lãnh đạo của Ngân hàng Thế giới (WB) không phải là một chuyên gia tài chính, kinh tế, hay chính trị gia.    Bác sĩ, nhà nhân chủng học, đồng thời là cựu lãnh đạo ban HIV/AIDS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Jim Yong Kim đã được Tổng thống Mỹ Barack Obama đề cử làm người lãnh đạo mới của WB.  Kim là chủ tịch của trường Dartmouth College. Trong thập kỷ 1990, ông làm việc cho tổ chức sức khỏe và quyền con người Partners in Health, giúp điều trị bệnh lao kháng nhiều loại thuốc (multidrug-resistant tuberculosis) ở Peru. Khi lãnh đạo ban HIV/AIDS của WHO, ông đã khởi xướng chương trình “3-by-5”, với mục tiêu cung cấp thuốc antiretroviral cho 3 triệu người bệnh vào năm 2005. Mục tiêu này phải tới năm 2007 mới đạt được, nhưng Kim từng khẳng định với tạp chí Dược của tờ Nature vào năm 2008 rằng nỗ lực dành cho chương trình là xứng đáng, và việc chậm kế hoạch 2 năm đã là thành công tốt nhất mà WHO từng đạt được cho một mục tiêu mang tầm toàn cầu.  Tờ New York Times cho rằng lý lịch từng tham gia trợ giúp cho các nước nghèo trong lĩnh vực ý tế toàn cầu có thể đã giúp ông Kim “phần nào cách ly” khỏi những chỉ trích đối với thỏa thuận ngầm, trong đó cho phép nước Mỹ được lựa chọn người lãnh đạo của WB.   Phát biểu tại lễ công bố hôm 23/3, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói rằng “đã đến lúc cơ quan phục vụ phát triển lớn nhất trên thế giới được lãnh đạo bởi một chuyên gia về phát triển”.  Đa số giới quan sát đánh giá tốt về việc đề cử ông Kim. Nhưng một số chuyên gia về phát triển đặt nghi vấn về kinh nghiệm và tầm nhìn của ông cho công việc mới.   “Từ ngoài nhìn vào, có thể thấy việc đề cử này khiến tầm nhìn của WB trở nên hẹp hơn so với mong muốn”, nhận định từ Nancy Birdsall, chủ tịch Trung tâm Phát triển Toàn cầu, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở ở Washington.  TS. Kim rõ ràng có kinh nghiệm hoàn thiện hóa những chương trình cụ thể, và làm việc ở những nước rất nghèo, bà Birdsall nói. Tuy nhiên, bà cũng cho rằng còn chưa rõ liệu TS. Kim sẽ làm thế nào để giải quyết các vấn đề liên quốc gia gây ảnh hưởng tới người nghèo, ví dụ như biến đổi khí hậu và nạn tham nhũm. Bà cũng đặt câu hỏi về cách TS. Kim nhìn nhận vai trò của WB đối với các nền kinh tế đang nổi lên nhanh chóng, như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ, và Thổ Nhĩ Kỳ.   TS. Kim sẽ phải trả lời một số những câu hỏi này, và vận động sự ủng hộ trong một chuyến đi qua nhiều nước trên thế giới, dự kiến sắp được diễn ra. Đây cũng từng là cách để bà Lagarde, giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế vận động ủng hộ cho chiếc ghế của mình vào năm ngoái.   Tổng hợp từ Nature và New York Times       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Được phép xét nghiệm DNA để dự đoán nguy cơ mắc bệnh      Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) mới đây đã chấp thuận cho công ty 23andMe cung cấp dịch vụ xét nghiệm di truyền học để dự đoán nguy cơ mắc một số bệnh. Đây là công ty đầu tiên của Hoa Kỳ được phép cung cấp dịch vụ này.      23andMe tiếp thị dịch vụ xét nghiệm DNA của mình trực tiếp đến khách hàng.  Sau quyết định được chờ đợi từ lâu của FDA, 23andMe cho biết, trong vài tháng tới sẽ đưa ra thị trường dịch vụ xét nghiệm đối với 10 tình trạng sức khỏe liên quan đến gene, bao gồm Alzheimer và Parkinson.  Kathy Hibbs, giám đốc pháp chế và điều hành tại 23andMe, Mountain View, California, nói: “Đây là thời điểm bước ngoặt đối với chúng tôi và FDA. Chúng tôi thực sự mệt mỏi nhưng cũng thực sự hạnh phúc.”  Từ năm 2006, người dân đã gửi mẫu nước bọt đến để 23andMe làm xét nghiệm DNA và cung cấp những phân tích di truyền học về tổ tiên của họ cùng các đặc điểm như màu tóc. 23andMe từng có lần cung cấp dịch vụ xét nghiệm DNA để biết nguy cơ của một người đối với 240 tình trạng sức khỏe nhưng FDA đã yêu cầu công ty ngừng dịch vụ này vào năm 2013 do lo ngại khách hàng sẽ dựa vào thông tin do công ty cung cấp để đưa ra các quyết định về điều trị, bất chấp sự thiếu chắc chắn về độ chính xác của nó.  Hai năm sau, vào năm 2015, FDA đã nới lỏng những hạn chế này, cho phép 23andMe cung cấp cho khách hàng thông tin liệu họ có sở hữu những bất thường về gene, dẫn đến bất cứ bệnh nào trong số 36 căn bệnh ở con họ hay không. Tuy nhiên, các xét nghiệm này không cung cấp thông tin về nguy cơ mắc bệnh của bản thân họ.  Quyết định mới đây của FDA cho phép 23andMe cung cấp cho khách hàng thông tin liệu họ có sở hữu những đột biến di truyền liên quan chặt chẽ đến một nhóm nhỏ các căn bệnh y khoa, trong đó có bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer bộc phát trễ, bệnh celiac [bệnh lí về đường ruột xảy ra do tình trạng nhạy cảm với gluten] và rối loạn huyết khối di truyền, hay còn gọi là chứng huyết khối. Nhưng xét nghiệm này không tương đương với chẩn đoán y khoa bởi lối sống, lịch sử gia đình và môi trường cũng ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh phát triển một số căn bệnh ở con người.  Hank Greely, nhà nghiên cứu sinh học ở Đại học Stanford, California, lo lắng rằng thiếu sự giúp đỡ của người tư vấn về di truyền học hoặc bác sĩ, khách hàng có thể không hiểu hết những hạn chế của kết quả xét nghiệm – đặc biệt khi 23andMe mở rộng danh sách các tình trạng sức khỏe mà nó cung cấp dịch vụ xét nghiệm và các công ty khác cũng bắt đầu cung cấp các dịch vụ tương tự. Greely nói: “Tôi không ủng hộ việc loại bỏ người trung gian khi người trung gian là chuyên gia được đào tạo và khi hầu hết người dân không hiểu biết nhiều về y tế.”  Tuy nhiên, ông vẫn tỏ ra vui mừng với quyết định của FDA bởi nó có thể giúp ngăn chặn việc tìm kiếm lỗ hổng trong các quy định về xét nghiệm di truyền học của chính phủ. Từ năm 2010, FDA đã phải gửi thư tới hơn 20 công ty đề xuất sản phẩm của họ nên được quản lý như thiết bị y tế.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/news/23andme-given-green-light-to-sell-dna-tests-for-10-diseases-1.21802       Author                Quản trị        
0.16393442622950818
__label__tiasang Mỹ giải quyết vấn đề người nghèo?      Mỹ là một trong số ít quốc gia giàu có trên thế giới, nhưng tại Mỹ tôi vẫn thấy những người ăn xin, người lang thang và người vô gia cư, cũng có những người ở nhà lụp xụp. Dĩ nhiên nước nào cũng có người giàu kẻ nghèo, quan trọng là chính quyền và xã hội đối xử với người nghèo như thế nào.    Nước Mỹ thường gọi người nghèo là “người thu nhập thấp”, nhưng định nghĩa về “thu nhập thấp” tại các bang lại khác nhau. Bang Missouri nơi tôi ở xác định người có thu nhập hằng tháng dưới mức sau đây là hộ nghèo: hộ độc thân – 1064 USD; hộ 2 người – 1427; hộ 3 người – 1789; hộ 4 người – 2152; hộ 5 người – 2514; hộ 6 người – 2877; hộ 7 người – 3239; hộ 8 người – 3602; hộ 9 người – 3964; hộ 10 người – 4327 USD; hộ có trên 10 người : cứ thêm 1 người thì thêm 363 USD.  Thống kê điều tra số dân Mỹ cho thấy có hơn 10% dân Mỹ sống dưới mức nghèo. Ăn và mặc là vấn đề cần giải quyết trước tiên với người nghèo. Công dân Mỹ hoặc cư dân vĩnh cửu (có thẻ xanh) hợp tiêu chuẩn thu nhập thấp có thể xin chính quyền cấp Phiếu thực phẩm (Food Stams). Mỗi hộ hằng tháng có thể được cấp mức phiếu cao nhất như sau: hộ 1 người – 155 USD; 2 người – 284; 3 người – 408; 4 người – 518; 5 người – 615; 6 người – 738; 7 người – 816; 8 người – 932; hộ trên 8 người: cứ thêm 1 người thì cấp thêm 117 USD. Loại phiếu này như một loại thẻ tín dụng không thể chi tiêu quá mức của nó; mỗi tháng chính quyền nạp số tiền nói trên vào thẻ; người giữ thẻ chỉ được dùng nó để mua các thứ thực phẩm như bánh mì, rau quả, thịt cá, sữa … chứ không được mua thuốc lá hoặc đồ dùng sinh hoạt khác.  Một chị bạn người Trung Quốc tôi quen kể lại hồi mới nhập cư Mỹ, chị sống khá vất vả. Hai vợ chồng chị chưa tìm được việc làm, chồng lại ốm phải nằm nhà, hộ 3 người ấy tạm thời không có thu nhập. “Nhưng chính quyền và cộng đồng rất quan tâm chúng tôi; họ gửi đến chúng tôi nhiều thư tín hướng dẫn cách xin các loại trợ cấp, làm như chúng tôi chết đói đến nơi rồi ấy !” Chị bảo, về sau nhà chị mỗi tháng được lĩnh tiền cứu tế hơn 1000 USD và phiếu thực phẩm khoảng 300 USD, rốt cuộc qua được cảnh khó khăn.  Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, bình quân mỗi bữa ăn của người có phiếu thực phẩm được trợ cấp 1,05 USD; mà ở hiệu MacDonald thì 1 USD chỉ mua được 1 bánh hamburger loại rẻ nhất. Nếu không có nguồn thu nhập khác mà chỉ dựa vào phiếu thực phẩm Nhà nước cấp thì chắc chắn không được ăn no. Nhưng ở Mỹ các tổ chức phi Chính phủ (NGO) rất phát triển, họ cố gắng giúp người nghèo trong khả năng cho phép.            Chọn thực phẩm miến phí        Thành phố Columbia nơi tôi ở có một tổ chức dân lập chuyên cung cấp thực phẩm miễn phí cho người nghèo – “Ngân hàng thực phẩm” (Food Bank). Họ có 145 địa điểm dựa vào nhà thờ để tiện cho người nghèo có thể lĩnh thực phẩm tại nơi gần nhất. Hôm trước tôi có đến quan sát một địa điểm ấy, thấy nhiều người nghèo đánh xe tới đây. Họ dùng một thẻ màu đỏ trên có in các thông tin như họ tên chủ hộ, mã số an sinh xã hội, số người trong hộ … để vào chọn thực phẩm. Trên kệ hàng thấy bày bánh mì, bột yến mạch, khoai tây chiên, hạt hướng dương, bánh quy, bánh ngọt… ; trong quầy lạnh có hoa quả, rau xanh, ngô … trông như một siêu thị nhỏ (xem ảnh). Ngoài bánh mì là thứ muốn lấy bao nhiêu cũng được, ngoài ra, các thứ khác đều cung cấp theo số người trong hộ. Thí dụ bánh ngọt, hạt hướng dương mỗi người 2 túi, thực phẩm tươi như rau quả, ngô mỗi hộ 2 túi. Tôi thấy có người lấy nhiều quá suýt làm rách túi ni lông đựng đồ. Nhưng mỗi gia đình chỉ được lĩnh một lần. Dĩ nhiên bánh mì thì có thể lấy thêm. Tôi nghĩ bụng: lúc nào cũng có thể lấy được bánh mì như thế này thì ít nhất cũng bảo đảm không thể chết đói được.  Những thứ thực phẩm miễn phí ấy lấy từ đâu ? Một nhân viên tên là Randy cho tôi biết: phần lớn do các cửa hàng thực phẩm hoặc nhà máy chế biến thực phẩm quyên tặng, cũng có thứ do cá nhân quyên góp. Tại các siêu thị, những loại rau quả sắp hết hạn khó mà bán được, chủ siêu thị bèn chủ động gọi điện thoại cho Food Bank mời họ đánh xe đến lấy. Tôi thấy một số dưa hấu đã bắt đầu đổi màu. Randy nói: “Các loại thực phẩm tươi sống này để trong túi chỉ được 1-2 ngày; nếu còn thừa mà quá hạn, chúng tôi phải bỏ đi hoặc cho nông trại nuôi gia súc.”  “Những người thực sự nghèo đói, dù họ ở Mỹ hợp pháp hay bất hợp pháp, đều có thể đến đây nhận thực phẩm.” Randy nói, “Ngay cả những người vượt biên trái phép sang Mỹ, chúng tôi biết cũng không báo cáo lên Cục Nhập cư Mỹ. Bởi lẽ mục tiêu tối thiểu của chúng tôi là phải bảo đảm vùng này không có người chết đói.”  Tôi để ý thấy bên ngoài trạm cung cấp thực phẩm này có một cái sọt đựng quần áo cũ, một bà già da đen đang bới đống quần áo, sau đấy bà ta đem chỗ quần áo chọn được xếp lên chiếc ô tô màu xanh của mình. Randy bảo tôi, dân chúng mang quần áo cũ đến đây quyên góp, chúng tôi để cả vào sọt bên ngoài cửa, ai cần cứ việc lấy.  Vấn đề “ăn mặc” đã giải quyết xong, tiếp theo là “ở”. Báo chí cho biết 46% gia đình nghèo ở Mỹ có nhà riêng; 76% hộ nghèo có máy điều hòa nhiệt độ; 75% hộ nghèo có một ô tô. Tuy sống khá hơn nhiều so với người nghèo ở các nước đang phát triển, nhưng một số người nghèo ở Mỹ vẫn chưa có nhà riêng, thậm chí không có chỗ để qua đêm.  Chính quyền Mỹ đã bỏ kinh phí lớn để xây dựng nhà cho thuê giá rẻ cho số người đó. Người thu nhập thấp có thể làm đơn xin nhà, nếu được duyệt thì không những giá thuê nhà rẻ hơn rất nhiều so với mặt bằng giá chung mà họ lại chỉ phải nộp tiền thuê không quá 30% thu nhập của gia đình; phần chênh lệch có thể dựa vào Phiếu thuê nhà đem đến chính quyền đổi lấy tiền mặt. Tại khu đất “vàng” ở New York có một tòa chung cư mang tên “Nhà Khổng Tử”, chính là nhà cho thuê giá rẻ do chính quyền địa phương cung cấp cho người Hoa thu nhập thấp.             Nhà lánh nạn        Người nghèo nào vì thấy ở chung cư cho thuê không thoải mái mà muốn có nhà riêng thì có thể được chính quyền cho hưởng các ưu đãi về mua nhà. Thí dụ xin chứng chỉ vay có thế chấp, trong vòng 10 năm được hưởng ưu đãi miễn thuế thu nhập cá nhân. Theo “Luật trợ cấp mua nhà cho người không nhà” được Tổng thống Bush ký cách đây dăm năm, bất kỳ hộ nào có thể trả tiền vay hằng tháng nhưng không đủ tiền chi khoản tiền ban đầu thì đều có thể làm đơn xin trợ cấp đặc biệt cho hộ thu nhập thấp, Nhà nước sẽ trả thay họ khoản chi ban đầu và các chi phí liên quan .  Việc xin thuê nhà giá rẻ thường có một quá trình, không tránh khỏi phải xếp hàng, chứ không thể có ngay nhà. Như vậy các hộ mất nhà do thiên tai hoặc do nguyên nhân khác không thể chi trả nổi tiền thuê nhà thì sao ? Lúc này các NGO bắt đầu phát huy tác dụng. Tôi đã tới phỏng vấn “Nhà lánh nạn” do một đoàn thể Ki Tô giáo có tên “Cứu thế quân” (Salvation Army) ở vùng này xây dựng. Đây là một tòa nhà hai tầng, có tất cả 61 giường. Những người vô gia cư có thể đến đây ăn ngủ miễn phí. Ông James phụ trách nhà này dẫn tôi đi thăm một vòng. Tại đây có căn hộ gia đình (kê hai giường tầng song song, nhà vệ sinh riêng), căn hộ cho đàn ông độc thân (16 giường, nhà vệ sinh chung, xem), căn hộ nữ độc thân (12 giường, nhà vệ sinh chung); còn có nhà ăn, phòng đọc sách báo và xem truyền hình (chia 3 gian: gia đình, nam, nữ); nhà tập thể dục, phòng học, phòng máy tính, phòng giặt quần áo, nơi vui chơi của trẻ em …    James nói, nhà này thường là hết chỗ; những người tạm trú ở đây ngắn hạn là 1-2 ngày, dài hạn là 2 năm. Ai không có tư trang thì chúng tôi còn cung cấp cho họ quần áo và đồ dùng vệ sinh. Nhưng ở đây họ phải tuân theo nội quy, không được dùng ma túy, uống rượu, tối 10h30 tắt đèn, sáng 6h30 dậy, ban ngày không được ở nhà mà phải đi tìm việc làm hoặc dự các lớp dạy nghề miễn phí của phường sở tại mở. Nếu kiếm được việc làm thì phải nộp 10% thu nhập dùng làm tiền trọ, 65% do Nhà lánh nạn bảo quản, bao giờ họ kiếm đủ 2500 USD thì có thể rời đi thuê nhà trọ sống độc lập.  Nhà lánh nạn còn cung cấp bữa trưa miễn phí cho những người lang thang, bất cứ ai chỉ cần ký tên vào sổ của nhà này là được ăn. Đến giờ ăn. James mời tôi vào nhà ăn. Tôi là người ký tên sau cùng; trước tôi đã có 31 người. Bữa trưa miễn phí rất đơn giản, gồm một chiếc bánh kẹp pho mát, một muôi đậu nấu nhừ, một muôi sa lát và một cốc sữa bò. Tôi hỏi James, có phải người đến đây ăn đều là người quen cả phải không, ông gật đầu đáp “Nói chung đều là họ cả.”  Tại New York và bang Missouri tôi thấy có người ngủ bên đường hoặc trong thùng xe bỏ đi. Nếu các nơi đều có “Nhà lánh nạn” thì tại sao vẫn còn người lang thang đầu đường xó chợ ? James nói, phần lớn họ là loại nát rượu hoặc nghiện ma túy, không kiếm được việc làm, cũng không muốn bị gò bó, thích cuộc sống phiêu bạt nay đây mai đó, chẳng ai có thể giúp họ được.              Ô tô của người nghèo        Nhà lánh nạn mỗi năm nhận khoảng 500 người, chi phí hết nửa triệu USD. Tôi hỏi số tiền ấy lấy từ đâu ? James nói Chính phủ liên bang cấp 35 nghìn, chính quyền bang cấp 7 nghìn USD, phần lớn tiền do các công ty và cá nhân quyên góp. Đã có một bà cụ khi chết tặng tài sản để lại tới 1 triệu USD cho chúng tôi.  Sau khi giải quyết xong ăn mặc ở thì khám bệnh trở thành vấn đề lớn. Chi phí khám bệnh ở Mỹ đắt nhất, tiền nằm bệnh viện một ngày có thể bằng thu nhập cả tháng của một công nhân bình thường. Nhưng với người nghèo thì chẳng có gì đáng lo lắm, vì họ có thể xin Nhà nước cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Cho dù không có bảo hiểm y tế, ai ốm đau thì cứ đi bệnh viện khám bệnh. Khám xong, bệnh viện mới viết giấy thanh toán. Nếu không đủ sức trả tiền thì có thể mặc cả với bệnh viện hoặc xin hoãn nộp.  Tôi cũng có mấy lần ốm vặt phải đi khám bệnh, dù đã mua bảo hiểm y tế nhưng mỗi lần khám vẫn phải móc ví trả trên trăm USD. Khi thanh toán, tôi bảo mình là người thu nhập thấp, thông thường được bệnh viện giảm 70-80%. Tôi hỏi cô thu ngân, nếu người ta thực sự không có tiền thanh toán thì làm thế nào, cô bảo chỉ cần mỗi tháng trả từ 50 USD trở lên là được, cho tới khi trả hết. Cô cho biết người hay dây dưa thanh toán tiền khám chữa bệnh không phải là người nghèo mà là người thu nhập trung bình thấp, bởi lẽ người nghèo được nhà nước thanh toán tiền khám chữa bệnh.  Theo thống kê, chi phúc lợi xã hội chiếm gần một nửa chi không lợi tức của Chính phủ liên bang Mỹ, tương đương 9% GDP Mỹ. Từ tiền thuế do người giàu nộp cho Nhà nước, người nghèo Mỹ có dịp hưởng thành quả phát triển kinh tế, vì thế nói chung họ không phải chịu sức ép sống còn, do đó họ không có tinh thần phản kháng xã hội, nhất là chống đối người giàu. Dĩ nhiên ở nước Mỹ cũng thường xuyên xảy ra một số vụ bạo lực phản kháng xã hội, nhưng về cơ bản chỉ là lẻ tẻ, cục bộ. Tôi nghĩ, chỉ có giữ khoảng cách giàu nghèo trong trạng thái bình thường, đời sống của người nghèo có được các bảo đảm cơ bản thì sự ổn định và phát triển của xã hội mới được bảo đảm./.  —–  * Phóng viên báo Thanh niên Trung Quốc tại Mỹ  Lược dịch:  Nguyễn Hải Hoành    Trần Cường *       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ muốn dẫn đầu về xuất khẩu khí đốt      Đặt mục tiêu trở thành nhà sản xuất và xuất  khẩu khí đốt lớn nhất thế giới, mới đây Chính phủ Mỹ đã phê duyệt  một dự án  xây dựng hạ tầng cơ sở trị giá hàng tỷ USD.     Chính phủ Mỹ đã cấp phép cho dự án bến bãi ở TP Freeport thuộc bang Texas, theo đó, bến bãi này sẽ được cải tạo để từ năm 2017 trở thành “bệ phóng” xuất khẩu khí đốt do Mỹ sản xuất chứ không còn là nơi tiếp nhận khí đốt của nước ngoài nữa. 2% sản lượng khí đốt hiện nay của Mỹ sẽ được làm lạnh ở nhiệt độ âm 1640C để cho xuống tàu ở Freeport và xuất khẩu đi khắp thế giới.   Việc cấp phép cho các bến phục vụ xuất khẩu khí đốt đông lạnh (LNG Export Terminal) đã được trông đợi từ lâu, tuy nhiên dư luận bất ngờ vì nó được ban hành khá sớm và nếu nhìn vào chính sách năng lượng của Mỹ cho đến nay thì đây là một bước ngoặt.   Trước Freeport, một dự án hạ tầng xuất khẩu khí đốt khác đã được thông qua, đó là việc cải tạo cơ sở Sabine-Pass ở bang Nam Louisiana, từ nhập khẩu thành xuất khẩu khí đốt. Sự kiện này diễn ra hồi tháng 05/2011 nhưng sau đó Mỹ lại quyết định trì hoãn việc tăng cường xuất khẩu khí đốt.   Giờ đây, lần đầu tiên kể từ hai năm qua, Chính phủ Mỹ lại ra tay và ngay lập tức gây chú ý đối với nhiều nhà đại công nghiệp. Họ hy vọng việc đẩy mạnh xuất khẩu khí đốt sẽ đem lại các khoản lợi nhuận hàng tỷ USD.   Công nghệ khai thác gây tranh cãi  Hiện đang có tranh luận, đối với Mỹ xuất khẩu bao nhiêu khí đốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế lớn nhất.   Những người ủng hộ cho rằng, qua xuất khẩu sẽ chấn chỉnh được cán cân thương mại của Mỹ. Hơn nữa, so với sử dụng than thì công nghệ này gây ít tổn hại hơn hẳn đối với khí hậu; đó là chưa kể những đồng minh lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng sẽ gắn bó chặt chẽ hơn với Mỹ về chính trị.   Những người chỉ trích lại cho rằng, việc xuất khẩu sẽ làm tăng giá năng lượng ở thị trường nội địa, gây tổn hại đến nền công nghiệp cũng như người tiêu dùng trong nước. Ngoài ra, sẽ có cạnh tranh trên thị trường thế giới về khí đốt đang trong giai đoạn hình thành với một số nước như Australia và Qatar có lợi thế cao hơn tại các khu vực nhập khẩu quan trọng.   Một điều không gây tranh cãi là công nghệ khai thác khí đốt Fracking đang được áp dụng rộng rãi bị người dân Mỹ kịch liệt phản đối và nhiều nhà khoa học cho rằng gây tổn hại đến môi trường.  Theo công nghệ Fracking, lượng khí nằm rải rác trong lòng đất sẽ được bơm với áp lực lớn rồi thu gom. Công nghệ này tiêu hao một lượng nước rất lớn và nhiều hóa chất độc hại bị nén vào lòng đất, khiến giới hữu trách lo ngại về nguy cơ ô nhiễm không khí và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống của người dân trong vùng.   Thêm dự án chờ được thông qua   Trong khi công nghệ Fracking bị chỉ trích  mạnh mẽ ở Đức thì ở Mỹ, nó đã được áp dụng rộng rãi. Hiện tại, Mỹ đã có  khả năng thỏa mãn 83% nhu cầu về khí đốt. Tới đây, khi Mỹ tăng cường  xuất khẩu khí đốt thì công nghệ Fracking sẽ có dịp bùng nổ mạnh mẽ.  Với dự án Freeport, Chính phủ Obama đã tiến một bước theo hướng này và từ đó gợi lên sự thèm khát. Bộ Năng lượng Mỹ đã tiếp nhận 26 đơn xin xây dựng LNG Export Terminal, và nếu tất cả các dự án được chấp thuận thì Mỹ có khả năng xuất khẩu 50% sản lượng khí đốt của mình hiện nay. Các tập đoàn cũng như các nhà đầu tư hy vọng, những dự án tiếp theo sẽ được phê duyệt trong nay mai và họ không phải không có cơ sở bởi về phía Chính phủ Mỹ, gần đây có nhiều tín hiệu ủng hộ. Cuối năm 2012, Bộ Năng lượng Mỹ công bố một nghiên cứu cho thấy việc xuất khẩu năng lượng sẽ mang lại nhiều lợi ích về kinh tế. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ cũng không muốn tạo ra quá nhiều hy vọng bằng cách nhấn mạnh cần theo dõi chặt chẽ sự phát triển của thị trường khí đốt và mọi quyết định về việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu khí đốt sẽ phụ thuộc vào sự phát triển thực tế của thị trường này.   Giới chuyên gia cho rằng, Mỹ sẽ thận trọng mở rộng năng lực xuất khẩu và trong thời gian tới, Chính quyền Obama sẽ không ào ạt xuất khẩu khí đốt ra thị trường thế giới. Bà Mihoko Manabe, chủ nhiệm một công trình nghiên cứu của Rating-Agentur Moody’s nói về tương lai thị trường khí đốt Mỹ, cũng có quan điểm như trên. Tuy nhiên, trong tương lai gần, hai dự án bến bãi cho xuất khẩu khí đốt sẽ được thông qua – một ở Richmond thuộc bang Virginia, một ở San Diego thuộc bang California.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ muốn từ bỏ bảo hộ bằng sáng chế cho vaccine Covid      Mỹ muốn cho cả thế giới được tiếp cận với các công thức sản xuất vaccine Covid. Nhưng bước đi này cũng ảnh hưởng tới điều luật cơ bản của ngành công nghiệp dược phẩm – nó có thể làm các doanh nghiệp mất hàng tỷ đôla. Giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp này bắt đầu giảm.      Bạn có thể tiêm vaccine  hầu như ở khắp mọi nơi ở Mỹ: trong các hiệu thuốc, trong siêu thị, tại các trạm đỗ xe – lái xe chỉ cần hạ cửa kính ô tô, xắn tay áo lên, chích nhanh, thế là xong. Ở New York, thậm chí các y tá đi từ quán bar này sang quán bar khác vào buổi tối để tiêm chủng nốt. Một phần ba dân số Mỹ đã được tiêm chủng đầy đủ, tương đương với hơn 100 triệu công dân.  Có lẽ chỉ không lâu nữa như nước Mỹ sẽ kiểm soát được con virus này. Việc phân bổ vaccine tiến hành trôi chảy, giờ là lúc chính phủ nước này có thể để mắt tới các địa bàn khác trên thế giới – thí dụ lo giúp cho Ấn độ và Nam Phi, những nơi mà tình hình dịch bệnh còn rất bi đát. Và tuần qua Washington thông báo về một động thái mới: Nhà Trắng muốn tạm thời đình chỉ luật bảo vệ bản quyền đối với vaccine corona.  Katherine Tai, đại diện cơ quan thương mại Mỹ cho biết: “Chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu. Và trước những trường hợp bất thường đòi hỏi phải có những quyết định phi thường”. Nhà Trắng tin tưởng chắc chắn vào việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng việc cung cấp vaccine cho thế giới là một ưu tiên hàng đầu. Do đó, chính phủ sẽ vận động Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) coi đây là một trường hợp ngoại lệ. Bà Tai nói: “Các loại vaccine cho người dân Mỹ đã được đảm bảo,“bây giờ chúng ta sẽ nỗ lực để cải thiện khả năng tiếp cận với vaccine ở những nơi khác”.   Với việc làm này chính phủ Mỹ có thể đáp ứng yêu cầu của nhiều nước đang phát triển và mới nổi. Đặc biệt từ lâu Ấn độ và Nam Phi đã khẩn thiết yêu cầu ngưng bảo vệ bản quyền. Nhiều tổ chức phi chính phủ, nhiều nhà khoa học được giải thưởng Nobel và các chính khách Mỹ thuộc đảng Dân chủ tán thành vấn đề này. Họ cho rằng, chỉ khi nào công khai các công thức thì việc sản xuất vaccine trên thế giới mới có thể triển khai nhanh chóng hơn.  Cho đến nay các quốc gia công nghiệp, nơi có trụ sở của các tập đoàn dược phẩm lớn, từ chối việc tạm dừng luật bảo vệ bản quyền. Trong số này có nước Mỹ, EU, Anh, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Brazil và Na Uy. Các công ty như Pfizer và Moderna, đã viết thư cho hàng chục nghị sĩ trong một bức thư gửi cho Tai, đe dọa về “thiệt hại kinh tế to lớn”.  Các công ty lo sợ rằng lợi nhuận sẽ sụt giảm một khi vaccine của họ được phép sản xuất ở mọi nơi trên thế giới. Ngoài ra, các nhà quản lý cảnh báo rằng một bước đi như vậy sẽ làm chậm những đổi mới trong tương lai. Họ nói không ai sẵn sàng đầu tư hàng trăm triệu đô la vào việc phát triển vaccine  mới để rồi các bằng sáng chế đó cuối cùng vô giá trị?  Việc xóa bỏ bảo hộ bằng sáng chế sẽ làm mất hiệu lực của các luật cơ bản của ngành dược phẩm toàn cầu. Thiệt hại của ngành lên đến tiền tỷ. Do đó, cổ phiếu của các tập đoàn đã giảm đáng kể trong ngày thứ tư. Moderna giảm hơn 9,5% – mức sụt giảm lớn nhất trong một ngày trong hai tháng. Giá của CureVac giảm hơn 8%, so với Pfizer, công ty phát triển vaccine cùng với BioNTech, giảm hơn 2,5%.  Lập trường mới của Mỹ làm cho việc dừng bảo vệ bản quyền có nhiều khả năng thực hiện hơn. Bà Tai, đại diện Thương mại đề cập đến vấn đề  “nghĩa vụ đạo đức”. Nhưng thực ra không vấn đề không chỉ là tình thương, mà chính phủ Mỹ hiểu rằng chỉ có thể phục hồi hoàn toàn nền kinh tế thế giới nếu virus corona ở các khu vực khác trên thế giới cũng bị khống chế. Tuy nhiên, có thể mất một thời gian nữa trước khi việc bảo hộ bằng sáng chế thực sự bị được hủy. [Vì bảo hộ bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực trong phạm vi từng quốc gia nên nếu muốn hủy bỏ bảo hộ bằng sáng chế trên phạm vi toàn cầu thì – người dịch ghi chú] quyết định này đòi hỏi phải có sự đồng thuận của các quốc gia thành viên WTO.    Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/politik/ausland/article230908347/US-Regierung-will-Patentschutz-fuer-Corona-Impfstoffe-aufheben.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ tạo ra vật liệu nhẹ nhất thế giới      Một nhóm kĩ sư Mỹ cho biết họ vừa tạo ra được vật liệu nhẹ nhất thế giới.    Vật liệu này được làm từ các ống kim loại rỗng được sắp xếp thành một vi mạng – một mô hình đan chéo vào nhau với những không gian nhỏ, mở giữa các ống.  Các nhà nghiên cứu cho biết vật liệu này nhẹ hơn Styrofoam 100 lần và có đặc tính “hấp thu năng lượng cực cao”.  Nghiên cứu được tiến hành tại Đại học California – TP Irvine, phòng thí nghiệm HRL, và Viện Công nghệ California, và được công bố trong ấn bản mới nhất của tạp chí Science.  “Bí quyết là chế tạo một mạng ống rỗng thông với nhau với một vách ngăn mỏng hơn một sợi tóc 1.000 lần” – tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ Tobias Schaedler, cho hay.  Trọng lượng riêng thấp  Vật liệu này có trọng lượng riêng 0,9 miligram trên một centimetre khối.  Trong khi đó silica aerogels – vật liệu rắn nhẹ nhất thế giới, có trọng lượng riêng 1,0mg/cm3.  Vật liệu mới có lợi thế quan trọng vì chúng bao gồm 99,99% không khí và 0,01% chất rắn.  Các kĩ sư cho biết sức mạnh của vật liệu này có nguồn gốc từ bản chất sắp xếp cấu trúc có trật tự của của nó.  Ngược lại, các chất liệu siêu nhẹ khác như aerogels và bọt kim loại có cấu trúc hình mạng ngẫu nhiên. Điều này có nghĩa là chúng có độ cứng, chắc, và khả năng hấp thụ năng lượng hoặc dẫn điện kém hơn so với khối vật liệu thô làm nên chúng ban đầu.   Ông William Carter thuộc Phòng thí nghiệm HRL, đã so sánh vật liệu mới này với những cấu trúc kiến trúc lớn có trọng lượng riêng thấp.  “Các kiến trúc hiện đại như Tháp Eiffel và Cầu Cổng vàng nhẹ đến khó tin nhờ kết cấu của chúng” – ông nói.  “Chúng tôi đang làm một cuộc cách mạng những vật liệu nhẹ bằng cách đưa khái niệm này tới quy mô nano và micro”.  Độ chắc chắn  Để nghiên cứu độ chắc chắn của vi mạch kim loại, nhóm nghiên cứu đã nén chúng xuống chỉ còn một nửa độ dày.  Sau khi loại bỏ lực nén, chất này phục hồi 98% độ dày ban đâu và hồi phục lại hình dạng ban đầu của nó.  Sau lần nén thử nghiệm đầu tiên và lặp lại thêm lần nữa, vật liệu này trở nên ít cứng chắc hơn, tuy nhiên nhóm nghiên cứu cho biết việc tiếp tục nén hơn nữa không tạo thêm thay đổi đáng kể đối với vật liệu này.  “Các vật liệu thực sự chắc hơn khi kích thước giảm xuống tới cấp độ nano” – ông Lorenzo Valdevit, một thành viên của nhóm nghiên cứu cho hay.   “Kết hợp điều này với khả năng thiết kế cấu trúc của vi mạng, bạn sẽ có một vật liệu nano độc đáo”.  Các kĩ sư cho giá trị thực tiễn của chất liệu này là cách nhiệt, làm điện cực pin và các sản phẩm cần giảm âm thanh, độ rung và sốc năng lượng.  Nguyễn Thảo dịch từ:  http://www.bbc.co.uk/news/technology-15788735        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ thông qua Luật Đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa năng lượng hạt nhân      Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký ban hành đạo luật Đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa năng lượng hạt nhân nhằm mục tiêu khuyến khích đổi mới sáng tạo trong việc thiết kế các lò phản ứng năng lượng.      Lò phản ứng tiên tiến thử nghiệm tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Idaho. Nguồn: inl.gov  Những thay đổi căn bản về quá trình cấp phép  Đạo luật này đòi hỏi rất nhiều thay đổi trong quá trình cấp phép lò phản ứng hạt nhân. Cơ quan Pháp quy hạt nhân (NRC) sẽ có 270 ngày để phát triển và bổ sung một quá trình cấp phép cho các lò phản ứng hạt nhân thương mại tiên tiến. NRC sẽ có hai năm để phát triển và bổ sung các chiến lược để tăng cường việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá cấp phép trên cơ sở hiểu biết về rủi ro và hướng dẫn cho các lò phản ứng thương mại tiên tiến. Trong vòng hai năm, NRC phải phát triển và bổ sung các chiến lược về cấp phép lò phản ứng nghiên cứu và thực nghiệm.  Để hoàn thành công việc này, từ năm 2020 đến năm 2014, mỗi năm NRC sẽ được chính phủ đầu tư 14,42 triệu USD. Khi xác định mức phí mà mình sẽ tính cho những người được cấp phép và nộp đơn, NRC sẽ không tính thêm chi phí liên quan đến việc phát triển cơ sở hạ tầng của các công nghệ lò phản ứng hạt nhân tiên tiến.  Đạo luật này đòi hỏi NRC đệ trình các báo cáo tiến trình của những cập nhật mới nhiều lần tới ủy ban phụ trách lĩnh vực tương ứng của quốc hội Mỹ. NRC sẽ phải đệ trình một báo cáo tới Quốc hội về tất cả các hoạt động được thực hiện hoặc kế hoạch liên quan đến những bài học và sự kiện đã xảy ra trong quá khứ như bão Sandy, Fukushima.  Đánh giá tác động của đạo luật mới   Cùng với việc chỉ đạo NRC trong việc thay đổi quá trình cấp phép các cơ sở hạt nhân thương mại tiên tiến, đạo luật này còn góp phần đem lại những thước đo về sự minh bạch và trách nhiệm giải trình tới ngân sách và chương trình thu phí của cơ quan điều hành pháp quy này. Nó cũng hướng NRC tới các cách cải thiện hiệu quả của việc cấp phép về nhiên liệu uranium, bao gồm về việc điều tra tính an toàn và tính khả thi của việc gia hạn giấy phép thu hồi uranium trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm, và hướng Bộ Năng lượng Mỹ cứ 10 năm có kế hoạch chi tiết về việc quản lý công tác kiểm kê uranium.  Maria Korsnick, chủ tịch và CEO của Viện nghiên cứu Năng lượng hạt nhân Mỹ, coi đạo luật này như “một bước tích cực và đáng kể” hướng về việc cải cách công việc cấp phép và tính phí của NRC. “Điều luật này đem lại nhiều minh bạch và công bằng trong cấu trúc tài trợ, điều đó sẽ có lợi cho mọi công việc vận hành lò phản ứng và những người được cấp phép trong tương lai.  Nó cũng sẽ tái xác nhận sự ủng hộ của Quốc hội với đổi mới sáng tạo của ngành hạt nhân nhằm góp phần tạo ra một cấu trúc điều hành bền vững và hiệu quả, qua đó chuẩn bị cho việc cấp phép các lò phản ứng tiên tiến trong tương lai”, bà nhận xét.  Marilyn Kray, chủ tịch của Hội hạt nhân Mỹ, cho rằng việc thông qua đạo luật này là “một thắng lợi lớn” với quốc gia và cộng đồng hạt nhân. Bà nhận định với “Bằng việc sửa đổi những luật đã lạc hậu, NRC giờ sẽ có khả năng đầu tư một cách tự do vào việc R&D và các hoạt động cấp phép lò phản ứng tiên tiến mới. Điều này sẽ thúc đẩy việc triển khai hệ thống hạt nhân Mỹ tiên tiến và chuẩn bị tốt hơn cho thế hệ tới của công nghệ hạt nhân”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.jurist.org/news/2019/01/nuclear-energy-innovation-and-modernization-act-signed-into-law/  http://www.world-nuclear-news.org/Articles/US-nuclear-innovation-act-becomes-law    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ và Anh đầu tư cho công nghệ tăng cường quyền riêng tư      Là một phần của kế hoạch thúc đẩy bảo vệ an toàn dữ liệu của chính quyền ông Biden, các nhà nghiên cứu sẽ cố gắng dò theo các kế hoạch rửa tiền và rủi ro đại dịch từ các bộ dữ liệu mà không làm ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người dùng.      Các mô hình trí tuệ nhân tạo đã thành công có thể hữu dụng trong việc chống lại tội phạm tài chính và dự đoán nguy cơ rủi ro cho cá nhân khỏi nhiễm bệnh trong một làn sóng đại dịch nhưng không dẫn đến nguy cơ rủi ro ảnh hưởng đến việc nhận diện thông tin cá nhân.  Kế hoạch tài trợ này là kế hoạch đầu tiên trong sáng kiến đầu tư của chính quyền Biden thiết lập vào năm ngoái mà người ta gọi là “công nghệ xác nhận dân chủ”, vốn cho phép các xã hội vẫn nhận được lợi ích từ những đột phá công nghệ, ví dụ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo mà không ảnh hưởng đến những giá trị cốt lõi của nó.  “Chúng ta đều ở trên vòng giải quyết một số vấn đề khó bậc nhất của thế giới và cải thiện chất lượng cuộc sống của chúng ta với quyền lực của trí tuệ nhân tạo. Chúng ta phải làm điều đó để phản hồi bằng việc gìn giữ những giá trị chia sẻ về quyền riêng tư”, bà Gina Raimondo, Bộ trưởng Bộ Thương mại nói nhân buổi lễ loan báo tài trợ.  Đợt tài trợ cho nghiên cứu này sẽ tập trung vào hai lĩnh vực, nơi có rất nhiều dữ liệu và những lo ngại về quyền riêng tư dấy lên khiến rất khó để sử dụng đầy đủ thông tin mà không làm phơi lộ các chi tiết cá nhân.  Lĩnh vực đầu tiên là rửa tiền quốc tế. tại đây, khung quy định pháp luật và lo ngại về quyền riêng tư khiến vô cùng khó khăn để dò theo những cuộc kinh doanh bị đặt đấu hỏi. Tài trợ mới này sẽ thách thức các nhà nghiên cứu trong việc tạo ra một hệ AI có thể dò được tội phạm trong khi vẫn tôn trọng quyền cá nhân. Hệ thống Thanh toán liên ngân hàng SWIFT sẽ cung cấp một bộ dữ liệu tổng hợp để công việc vẫn có thể diễn ra.  Thách thức thứ hai là để dự doán một rủi ro của một cá nhân trong việc bị nhiễm trong một làn sóng lây nhiễm đại dịch vì vậy họ có thể rung chuông cảnh báo để dùng khẩu trang để tránh tiếp xúc gần, ví dụ như vậy. Thách thức này là dùng đồ họa và thông tin di chuyển mà không cần kết hợp những bộ dữ liệu và tạo ra nguy cơ rủi ro bị nhận diện cho cá nhân. Trong thách thức này, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng bộ dữ liệu dân số nhân tạo do Viện Sinh học phức hợp trường đại học Virginia tạo ra.  Anh và Mỹ mở những tài trợ khác nhau nhưng cùng tập trung vào vấn đề tương tự. Tổng thể, cuộc tài trợ này trị giá 1,6 triệu USD và kinh phí tài trợ sẽ được rót xuống theo hình thức cạnh tranh giữa các đề xuất. Các nhà nghiên cứu sẽ được tăng thêm kinh phí tài trợ nếu họ tìm được một cách tiếp cận có thể ứng dụng giải quyết được cả hai thách thức này.  Kinh phí tài trợ sẽ sẵn sàng rót vào “đội đỏ” – họ sẽ cố gắng tấn công và phá vỡ các giải pháp phòng vệ tiềm năng, kiểm tra khả năng chịu đựng của nó.  Về tổng thể, những nhóm châu Âu sẽ có thể tham gia vào các thách thức này, miễn là có một nhóm Mỹ hoặc Anh dẫn dắt, một nguồn tin từ Văn phòng Chính sách KH&CN Nhà Trắng cho hay.  Cuộc tài trợ này xuất phát từ lo ngại của chính quyền Mỹ từ năm ngoái. Một trong những lo ngại đó là các kỹ thuật dữ liệu hiện đại thích sử dụng các dữ liệu xã hội bởi vì lượng dữ liệu khổng lồ cho phép dò theo hành xử chưa có tiền lệ của số đông người.  Thách thức đối với việc bảo vệ quyền cá nhân là tạo ra các kỹ thuật dữ liệu có thể khai thác lợi ích của công nghệ, chẳng hạn như giám sát bộ gene để cảnh báo về các vấn đề sức khỏe với chính quyền mà không xâm phạm quyền riêng tư của các công dân.  Các kết quả của các kỹ thuật tăng cường quyền riêng tư từ kế hoạch này sẽ được loan báo vào nửa cuối năm 2023.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://sciencebusiness.net/news/us-and-uk-launch-research-prize-privacy-enhancing-technology  https://www.gov.uk/government/news/uk-and-us-launch-innovation-prize-challenges-in-privacy-enhancing-technologies-to-tackle-financial-crime-and-public-health-emergencies    Author                .        
__label__tiasang Mỹ: Vùng hoang vu cũng chịu 1000 tấn bụi nhựa mỗi năm      Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Science, các công viên quốc gia và vùng hoang vu ở phía tây nước Mỹ đang phải hứng chịu một lượng lớn bụi nhựa, ước tính hơn 1000 tấn mỗi năm. Trong số đó, ¼ các mảnh vi nhựa có khả năng đến từ những cơn bão quét qua các thành phố lân cận, hoặc những vùng xa hơn. Đây là những phát hiện “truy ngược” nguồn gốc vi nhựa đầu tiên để bổ sung thêm thêm bằng chứng rõ ràng cho thấy ô nhiễm vi nhựa đang phổ biến trên toàn thế giới.      Những cơn gió bụi này cuốn theo hàng nghìn tấn bụi vi nhựa từ các thành phố đến những vùng hoang vu nhất.   “Chúng ta đã tạo ra những thứ không thể biến mất. Giờ chúng đang lưu chuyển khắp thế giới”, người đứng đầu nghiên cứu, nhà sinh địa hóa học Janice Brahney ở ĐH bang Utah (Hoa Kỳ), chia sẻ.  Khi quan sát 11 mẫu bụi lấy từ những trạm khí tượng ở vùng xa xôi phía tây nước Mỹ, bao gồm cả hẻm Grand Canyon và công viên quốc gia Joshua Tree, Brahney thấy những mảnh nhỏ có màu sắc rực rỡ dưới kính hiển vi. “Tôi thực sự sốc khi nhận ra đó là những mảnh nhựa”. Brahney cho biết. Bà đã xem xét gần 15.000 mảnh vi nhựa. Phần lớn trong số chúng có kích cỡ nhỏ hơn ⅓ lần so với sợi tóc con người.  Brahney đã thấy nhiều sợi nhỏ, có vẻ đến từ quần áo, thảm và các sản phẩm dệt may khác. Bà cũng tìm thấy các hạt siêu nhỏ, khoảng 30% trong số đó có màu sắc rực rỡ, nhỏ hơn các hạt vi nhựa có trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân khác. Bà cho biết những hạt này có thể là thành phần có trong các loại sơn, thoát ra ngoài không khí trong quá trình phun sơn.   70% các hạt còn lại khó phân loại hơn. Brahney và cộng sự đã sử dụng kỹ thuật quang phổ chuyển đổi hồng ngoại Fourier để phân tích. Kết quả cho thấy trung bình các mẫu chứa 4% nhựa. “Con số này khiến chúng tôi rất kinh ngạc”, Brahney cho biết, trước đó họ dự đoán chúng có thể chỉ ít hơn 1%.      Sau khi tính toán, Brahney và đồng nghiệp ước tính trên mỗi mét vuông đất, có khoảng 132 mảnh vi nhựa đậu xuống mỗi ngày. Trung bình mỗi năm sẽ tích tụ lại hơn 1000 tấn nhựa trong các công viên quốc gia và các khu bảo tồn khác ở phía tây nước Mỹ – tương đương với 300 triệu chai nhựa. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trên tạp chí Science vào ngày 11/6. Mặc dù những nghiên cứu khác cũng đã tìm thấy số lượng vi nhựa tương tự ở các vùng xa xôi như dãy núi Pyrenees ở châu Âu và Bắc Cực, tuy nhiên nghiên cứu mới này cung cấp dữ liệu chi tiết hơn nhiều, khiến Brahney có thể thực hiện bước tiếp theo là tìm ra nguồn gốc hạt vi nhựa.  Bà đã sử dụng một mô hình thời tiết để xác định đường đi của những cơn bão trong khoảng 48 giờ trước khi tới các vùng lấy mẫu. Nhà nghiên cứu này nhận thấy những cơn bão đi qua hoặc ở gần các thành phố lớn lân cận sẽ mang theo nhiều vi nhựa hơn các cơn bão khác. Theo mẫu bụi ở trạm công viên quốc gia Rocky Mountain, bão đi qua Denver mang theo số lượng vi nhựa lớn nhất, gấp 14 lần so với các cơn bão đến từ hướng khác. Các mảnh vi nhựa này cũng có kích cỡ lớn hơn so với các mảnh nhựa lắng đọng trong thời tiết khô ráo, cho thấy gió bão mang đến những mảnh nhựa lớn hơn.            Brahney cho biết phần lớn các mảnh nhựa có thể đến từ những vùng xa hơn, mang đến nhờ các luồng gió trên cao chứ không phải các mưa dông trong khu vực.   Khoảng 75% vi nhựa lắng đọng trong thời tiết khô ráo hơn là thời tiết mưa. Những mảnh nhựa này thường nhỏ hơn, thậm chí đạt kích cỡ bụi mịn, do đó có thể di chuyển hàng ngàn km. Ngoài ra, các mô hình lắng đọng cho thấy chúng bị ảnh hưởng của các luồng khí quyển hẹp (jet stream). Những vùng cao so với mực nước biển thường có nhiều vi nhựa hơn, tức là các hạt vi nhựa ở cao trên bầu khí quyển và có thể lưu thông toàn cầu.  Hiện nay Brahney đang hợp tác với các nhà khoa học khí quyển chuyên về vận chuyển bụi để nghiên cứu các vấn đề như hạt vi nhựa di chuyển trong khí quyển như thế nào, đến từ đâu, số lượng là bao nhiêu trong không khí. Bà cho biết phần lớn vi nhựa có thể tuần hoàn nhiều năm, nếu không muốn nói là nhiều thập kỷ. Các hạt này ban đầu có thể đã đọng lại trên những cánh đồng, sa mạc hoặc đại dương, sau đó bị gió cuốn đi và tham gia vào “chu trình nhựa” toàn cầu.  Thanh Bình dịch         Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/06/plastic-dust-blowing-us-national-parks-more-1000-tons-each-year    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Xuất khẩu than và… khí thải      Theo hai nhà hoạt động môi trường thuộc CO2  Scorecard, từ năm 2007 đến 2012, Mỹ giảm được 86 triệu tấn CO2 do giảm  tiêu thụ than đá; nhưng cũng trong thời gian này, lượng CO2 thải ra từ  các nhà máy nhiệt điện của nhiều nước khác chạy bằng than đá nhập khẩu  từ Mỹ lại là 149 triệu tấn CO2.    Cách đây chưa lâu, khi nói đến nguồn năng lượng số một của mình, người Mỹ thường dùng cụm từ “King Coal” –  Vua Than. Hơn một trăm năm qua, than đá là nguồn năng lượng chính, không thể thay thế, để sản xuất điện ở nước này. Nước Mỹ có nhiều mỏ than, chi phí khai thác lại rẻ.  Nhưng tám năm nay, khi công nghệ Fracking [kỹ thuật bơm nước áp lực cao trộn với cát và hóa chất để cắt phá đất đá, qua đó giải phóng dầu và khí đốt bị kẹt lại trong lớp đất đá] giành thế đột phá, mỗi năm Mỹ khai thác 265 tỷ mét khối khí đốt từ đá phiến ở trong lòng đất thì tình hình có sự thay đổi triệt để. Từ đó người ta nói “King Coal is dead” (Vua Than chết rồi).     Từ 2007 đến 2012, việc dùng than đá để sản xuất điện ở Mỹ giảm tới 25%. Cũng trong thời gian đó, khí đốt ngày càng khẳng định thế thượng phong của mình. Sản lượng điện từ các nhà máy điện chạy bằng khí đốt tăng 36%, lượng khí thải độc hại trong lĩnh vực sản xuất năng lượng ở Mỹ giảm đáng kể vì so với than đá, khí thải trong quá trình sử dụng khí đốt giảm trên 50%.     Fracking để chống biến đổi khí hậu – đây là lập luận chủ đạo của ngành công nghiệp Fracking khi tuyên truyền cho các mũi khoan khai thác khí đốt. Tiếc rằng sự đời lại không đơn giản như vậy.    Xuất khẩu khí thải    Thực tế thì ngành khai thác than đá không hề chết mà vẫn sống khỏe, theo lập luận của Shakeb Afsah và Kendyl Salcito thuộc CO2 Scorecard, một sáng kiến bảo vệ môi trường của Mỹ. Hai ông cho rằng, thay vì để nguồn tài nguyên này nằm yên trong lòng đất thì các mỏ than vẫn không ngừng hoạt động. Trong bối cảnh tiêu thụ than ở Mỹ giảm, do đó giá than trên thị trường liên tục xuống, người ta chuyển hướng sang xuất khẩu than đá vì nhu cầu đối với than đá của thị trường thế giới vẫn tăng. Và xuất khẩu than đá thì đồng nghĩa với xuất khẩu khí thải. Hai tác giả này viết:    “Khi xem xét lượng khí thải do xuất khẩu than đá gây nên chúng ta sẽ thấy chẳng có lý do gì để reo hò tán thưởng vì khí đốt đã đẩy lùi được than đá. Lượng khí thải độc hại từ than đá xuất khẩu cao hơn tới 60 triệu tấn trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2012 so với lượng hạn chế CO2 nhờ dùng khí đốt thay than đá.”    Để có kết luận này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành ba bước:    – Đầu tiên, họ tính xem từ năm 2007 đến 2012, ngành điện của Mỹ giảm được bao nhiêu lượng khí thải nhờ tăng cường dùng khí đốt – con số tính ra được là 86 triệu tấn CO2.    – Bước thứ hai, họ xem xét sự bùng nổ Fracking đã làm tăng mạnh xuất khẩu than đá. Đầu tiên là tám nước sản xuất điện thuộc EU và các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Chile đã nhập khẩu nhiền than của Mỹ vì giá cả thuận lợi. Lượng than xuất khẩu của Mỹ đã tăng thêm 91 triệu tấn.  – Cuối cùng, họ tính toán lượng CO2 thải ra từ các nhà máy nhiệt điện của các nước khác trong thời gian từ 2007 đến 2012 khi chạy bằng lượng than nhập khẩu từ Mỹ là 149 triệu tấn. Như vậy, Mỹ đã tạo thêm ra 63 triệu tấn lượng khí thải CO2.    Qua phân tích đơn giản của CO2 Scorecard thì than đá và khí thải đã trở thành hai mặt hàng xuất khẩu mới của ngành công nghiệp nguyên liệu Mỹ.  Điều này làm chúng ta nhớ đến một trong những sự thật cay đắng về biến đổi khí hậu trong thời đại toàn cầu hoá: Vấn đề không phải là lượng khí thải tương đối hay lượng khí thải của từng quốc gia mà vấn đề là lượng khí thải tuyệt đối của cả thế giới. Và lượng khí thải tuyệt đối này của thế giới sẽ còn tiếp tục tăng vì nhu cầu về năng lượng của thế giới đang không ngừng tăng lên.    Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Myanmar cải cách toàn diện thị trường tài chính      Sau khi đã thay đổi cơ chế tỷ giá hồi đầu tháng 4 vừa qua, Chính phủ Myanmar nay đang nghiên cứu tiếp tục đổi mới hệ thống tài chính trên quy mô trộng hơn trong vòng ít tháng tới, với những kế hoạch xây dựng thị trường chứng khoán, bắt đầu sử dụng thẻ debit, và đặc biệt là gia tăng vai trò độc lập của Ngân hàng Trung ương.    Nhiệm vụ lớn nhất trước mắt đối với Ngân hàng Trung ương là thực hiện thành công cơ chế tỷ giá hối đoái mới. Cơ chế này thay thế cho cơ chế hai tỷ giá trước đây của Myanmar – trong đó một tỷ giá dành cho ngân sách Nhà nước, khoảng 6 Kyat ăn một dollar, và một tỷ giá chợ đen khoảng 800 Kyat một dollar. Việc thống nhất hai tỷ giá được các nhà đầu tư nước ngoài cho là vô cùng quan trọng, giúp thúc đẩy đầu tư, kinh doanh vào Myanmar, và giảm bớt rủi ro tỷ giá cho nhà đầu tư.  Theo cơ chế mới, khoảng hơn một chục ngân hàng thương mại ở Myanmar sẽ chào giá tới Ngân hàng Trung ương vào mỗi buổi sáng, qua đó Ngân hàng Trung ương tính toán mức tỷ giá phù hợp và công bố hằng ngày, theo lời ông Maung Maung Win, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương, trả lời tờ Wall Street Journal. Các tổ chức tài chính sau đó sẽ được mua và bán ngoại tệ theo biên độ hẹp so với tỷ giá chính thức.   Một số nhà kinh tế đặt câu hỏi liệu Myanmar đã đủ năng lực kỹ thuật và đủ dự trữ ngoại hối để quản lý một hệ thống như vậy, đồng thời loại trừ được nạn đầu cơ. Nếu theo cơ chế trước đây, việc đầu cơ ngoại hối là khó khăn, do những quy định ngặt nghèo trong việc đưa ngoại tệ ra vào đất nước. Còn ngày nay, ông Maung Maung Win thừa nhận rằng những tác động từ bên ngoài tới tỷ giá ngoại hối sẽ là một vấn đề cho Myanmar, do quốc gia này có đường biên giới dài, gây khó khăn cho việc kiểm soát dòng vốn.  Ông cho biết ngân hàng Nhà nước đang hợp tác chặt chẽ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Trung ương Thái Lan, và các tổ chức khác nhằm cải thiện năng lực kỹ thuật và khả năng theo dõi các dòng vốn, trong đó nhà chức trách thu thập báo cáo hằng ngày từ tất cả mọi ngân hàng địa phương.  “Chúng tôi sẽ can thiệp ngay nếu biến động về tỷ giá” trở nên quá lớn, ông nói, nhưng cũng thừa nhận rằng nhà chức trách vẫn chưa xác định mức biến động như thế nào được coi là quá lớn.  Ông cũng cho biết dự trữ ngoại hối của Myanmar tương đương với 9 tháng rưỡi nhập khẩu, tuy không cho con số chính xác theo USD, và nói rằng Chính phủ vẫn đang cân nhắc liệu có công khai thông tin này cho công chúng. Các nhà kinh tế độc lập đã ước tính dự trữ ngoại hối của Myanmar vào khoảng 2 tỷ tới 7 tỷ USD.   Bất chấp các thách thức từ cải cách chính sách tỷ giá, “chúng tôi tin mình có thể quản lý được”, ông Maung Maung Win khẳng định.   Ông khẳng định Myanmar nhiều khả năng sẽ tăng mua vào USD sau khi các chính sách cấm vận từ phương Tây được gỡ bỏ. Ông cũng cho biết quốc gia này từng giữ chủ yếu là USD trong dự trữ ngoại hối, nhưng nay đang giữ Euro nhiều hơn USD, với tỷ lệ là 60 – 40.    Cải thiện hệ thống ngân hàng  Chính phủ Myanmar đang cân nhắc các kế hoạch cho phép ngân hàng nước ngoài được hoạt động tích cực hơn ở trong nước, tuy ông Maung Maung Win cho biết chính sách này sẽ cần thời gian. Hiện nay 16 ngân hàng nước ngoài đã có đại diện ở Myanmar, nhưng hoạt động tương đối hạn chế.  Các lựa chọn mới cho ngân hàng nước ngoài sẽ là lập liên doanh với các ngân hàng trong nước, hoặc mở chi nhánh đại diện với hoạt động không còn bị hạn chế như trước đây.  “Chúng tôi cần các ngân hàng nước ngoài để tiếp thu năng lực kỹ thuật của họ, sức mạnh đầu tư, và những kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế” ông nói. Nhưng “chúng tôi mới đang ở giai đoạn đầu của mở cửa kinh tế – chúng tôi cần cải thiện năng lực các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng thương mại trong nước. Sau đó chúng tôi mới cho các ngân hàng nước ngoài vào”. Khi được hỏi quá trình này sẽ kéo dài bao lâu, ông cho biết là “sẽ không tới nhiều năm”.  Nhà chức trách đang làm việc với các ngân hàng trong nước để thiết lập mạng lưới Swift, sẽ cho phép họ có thể giao dịch với các ngân hàng quốc tế và tăng cường năng lực. Các ngân hàng trong nước đang hiện đại hóa hệ thống thanh toán để giúp Myanmar không còn hoàn toàn phụ thuộc vào tiền mặt. Các nhà chức trách sẽ sớm hoàn thiện thiết lập một trung tâm dữ liệu quốc gia, cho phép sử dụng thẻ tín dụng. Chính phủ đang giúp các ngân hàng phát hành thẻ debit trong vòng ít tháng tới, và các nhà chức trách gần đây đã thảo luận với Visa và MasterCard về việc mở cửa cho thẻ tín dụng quốc tế sau khi các cấm vận được dỡ bỏ.   Tăng vai trò độc lập của Ngân hàng Nhà nước  Nội các Myanmar đang xem xét các dự thảo quy định cho phép Ngân hàng Trung ương giữ vai trò độc lập hơn, do cơ cấu hiện tại “chưa đủ để có thể làm được nhiều hơn đối với  chính sách tiền tệ”. Ví dụ, hiện nay để thay đổi tỷ giá, Ngân hàng Trung ương vẫn phải thông qua Bộ Tài chính. Ngân hàng Nhà nước cũng cần tăng số nhân viên từ 1200 như hiện nay lên 2000 người, ông Maung Maung Win cho biết.    Bước tiếp theo để cải thiện vai trò độc lập của Ngân hàng Trung ương là mở rộng thị trường trái phiếu để các tổ chức của Nhà nước và chính quyền địa phương có thể tự phát hành trái phiếu ra công chúng thay vì dựa vào nguồn tiền từ Ngân hàng Trung ương. Trong quá khứ, Chính phủ phải phát hành hàng lượng trái phiếu trị giá hàng tỷ USD để cấp kinh phí cho các hoạt động của mình, thông qua Ngân hàng Trung ương. Mục tiêu sắp tới là làm sao để các công ty quốc doanh có thể “tự đứng trên đôi chân của mình” bằng cách tự phát hành trái phiếu, ông Maung Maung Win nhận định, và để thực hiện điều này Myanmar sẽ cần thị trường trái phiếu đi vào ổn định từ năm 2015.    Những cải cách này cũng song hành với kế hoạch xây dựng xong thị trường chứng khoán vào “khoảng 2015”. Theo lời ông Maung Maung Win, Myanmar hiện đã có một lượng nhỏ những giao dịch chứng khoán OTC.  Ông cho rằng lạm phát – dao động từ 5-10% trong những năm gần đây, theo Ngân hàng Phát triển châu Á – sẽ “tăng một chút”, sau khi cấm vận được dỡ bỏ và dòng vốn đầu tư nước ngoài gia tăng. Nhưng ông tin là chính phủ sẽ kiểm soát cẩn trọng để lạm phát không trở thành vấn đề lớn.     IMF lạc quan  Bà Christine Lagarde, Tổng Giám đốc IMF, hôm 21/4 đã ca ngợi chính sách cải cách toàn diện cơ chế tỷ giá của Myanmar. Bà cũng cho biết trong một cuộc họp báo là IMF đã và đang hợp tác với các cơ quan quản lý tiền tệ của Myanmar trong vấn đề cải cách cơ chế quản lý ngoại hối. “Chúng tôi đang hợp tác với Ngân hàng Trung ương Myanmar một cách rất tích cực”, bà cho biết.  “Đây là sự đền đáp cho những nỗ lực cải cách của họ … và họ đang làm rất thành công”. Tuy nhiên, bà Lagarde cũng cho rằng quá trình cải cách sẽ không thể thành công ngay lập tức. “Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật bất kỳ khi nào họ cần đến”, bà nói. “Bạn biết đấy, đây là một quá trình [phức tạp] diễn ra hằng ngày”.  Thanh Xuân lược dịch, tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Myanmar sắp chuyển sang thả nổi tỷ giá      Myanmar đang sắp chuẩn bị dỡ bỏ cơ chế cố  định tỷ giá, yếu tố làm hạn chế thương mại và đầu tư trong bối cảnh quốc  gia sau năm thập kỷ cầm quyền bởi giới quân sự, nay đang tìm cách tăng  cường quan hệ kinh tế với các nước phương Tây.&#160;&#160;     Nhà chức trách sẽ sớm công bố chuyển dịch chính sách sang thả nổi đồng kyat, và sẽ cố gắng duy trì tỷ giá không vượt quá mức tỷ giá không chính thức hiện nay là 800 kyat/dollar, theo ý kiến một chuyên gia ẩn danh trong một cuộc trao đổi riêng với phóng viên của Bloomberg. Cũng theo chuyên gia này, các nhà quản lý sau đó sẽ kích hoạt thị trường ngoại hối liên ngân hàng, trong đó ngân hàng trung ương sẽ có những biện pháp can thiệp để ảnh hưởng tới giá trị đồng kyat.    Động thái mới này là chuyển dịch lớn nhất trong chính sách kinh tế của Tổng thống Thein Sein kể từ khi ông bắt đầu nhiệm kỳ vào năm ngoái, cũng là lúc ông bắt đầu loại bỏ dần những tàn tích còn lại của cơ chế quản lý một thời từng bị chi phối chủ yếu bởi quân đội. Cùng với việc Mỹ và các quốc gia Châu Âu cam kết sẽ xem lại chính sách cấm vận với Myanmar sau ngày 1 tháng 4 tới khi diễn ra cuộc tuyển cử có sự tham gia của lãnh đạo đối lập, bà Aung San Suu Kyi, chính sách tiền tệ mới sẽ đặt nền móng để kết nối Myanmar với thị trường thương mại toàn cầu.   “Đây sẽ là chiến thắng đáng kể của các nhà cải cách”, nhận định từ Sean Turnell, một giáo sư của Đại học Macquarie tại Sydney, cũng là một nhà nghiên cứu về kinh tế Myanmar. “Những người bị mất quyền lợi do chính sách mới sẽ là giới chóp bu trong quân đội, những người từng khai thác tỷ giá cố định kiểu cũ để gom vào nguồn dự trữ ngoại tệ, dùng vào các mục đích chi tiêu của quân đội”.   Hệ thống hiện hành   Chính sách thả nổi có kiểm soát sẽ làm chấm dứt giai đoạn đã kéo dài 35 năm của chính sách cố định của nhà nước Myanmar, theo quyền mua đặc biệt được quy định bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế, trong đó mỗi dollar đổi được 6,4 kyat, khiến đồng kyat có giá cao gấp 125 lần so với tỷ giá không chính thức của thị trường. Những kiềm chế về dòng vốn đẻ ra một cơ chế áp dụng đồng thời bảy tỷ giá riêng biệt ở Myanmar.   Việc bỏ đi cơ chế phức tạp với nhiều tỷ giá khác nhau này sẽ giúp gỡ bỏ bớt rào cản thương mại cho một quốc gia có tiềm năng trở thành “tiền tuyến kinh tế tiếp theo của Châu Á”, theo nhận định của văn phòng IMF tại Washington – cơ quan tư vấn cho Myanmar – hôm 25 tháng 1 vừa qua.   Nguồn tài nguyên giàu có  Myamar có dân số 64 triệu người, biên giới với cả Ấn Độ lẫn Trung Quốc, có nguồn tài nguyên chủ đạo là cao su, khí tự nhiên, nhưng lâu nay đa phần bị cô lập khỏi nền kinh tế toàn cầu sau khi chế độ dân chủ chấm dứt vào đầu thập niên 1960.  Chính phủ Myanmar đang chuẩn bị kích hoạt các giấy phép được cấp vào năm ngoái, cho phép 11 ngân hàng địa phương đóng vai trò giao dịch mua bán các ngoại tệ như dollar Mỹ, euro, và dollar Singapore, trên thị trường bán buôn ngoại tệ liên ngân hàng. Các ngân hàng này đang tìm cách kết nối với các nhà cho vay nước ngoài ở những nước là đối tác thương mại quan trọng, như Thái Lan, Singapore, và Trung Quốc, theo ý kiến vị chuyên gia ẩn danh.     Ngân hàng trung ương Myanmar cũng sẽ đấu giá ngoại tệ theo hệ thống mới. Việc giảm kiểm soát các dòng ngoại tệ, trong đó có quy định yêu cầu mọi khoản nhập khẩu phải được thanh toán bằng thu nhập xuất khẩu, sẽ cần có thời gian nhất định, vì chính phủ muốn ngăn chặn kịch bản nhập khẩu ồ ạt những hàng hóa rẻ, đặc biệt là từ Trung Quốc, vị chuyên gia cho biết.   Người được kẻ mất  Một hệ thống thả nổi được kiểm soát sẽ có lợi các nhà xuất khẩu, giúp họ tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh tỷ giá không chính thức của đồng kyat tăng từ 1300 kyat/USD năm 2006 lên còn 800 kyat/USD như hiện nay, mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, theo một công bố hồi tháng 1 của Koji Kubo, một nhà nghiên cứu cộng tác với tổ chức nghiên cứu chính sách của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản.  Đối tượng mất nhiều quyền lợi nhất do chuyển dịch sang chính sách thả nổi có kiểm soát là các tập đoàn nhà nước, những đối tượng lâu nay tận dụng tỷ giá chính thức của nhà nước. Nếu không được quản lý một cách phù hợp, Kubo cho rằng chuyển dịch chính sách cũng sẽ làm tăng nguy cơ phá sản các doanh nghiệp, nợ xấu, và chính phủ phải đưa ra các gói giải cứu.   Luật pháp hiện hành của Myanmar không cho các ngân hàng nước ngoài tiến hành các giao dịch trong nước, một điều khoản sẽ phải thay đổi vào năm 2015 theo thỏa ước giữa 10 nước thành viên ASEAN. Theo thông tin từ ngân hàng trung ương, tới tháng 11 năm 2010, 13 ngân hàng nước ngoài đã lập văn phòng đại diện tại Myanmar, trong đó có 10 ngân hàng từ các nước ASEAN.    Tuy các ngân hàng nhà nước như Ngân hàng Ngoại thương Myanmar, Ngân hàng Đầu tư và Thương mại Myanmar, và Ngân hàng Kinh tế Myanmar được phép hoạt động ở nước ngoài, nhưng đến nay vẫn bị Mỹ duy trì cấm vận tài chính.   Lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2012-03-04/myanmar-nearing-currency-float-in-policy-shift.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nacentech: Hơn 40 tỷ đồng cho ươm tạo DN KH&CN      Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp KH&amp;CN Nacentech (Viện Ứng dụng công nghệ) đặt kỳ vọng đến năm 2019 sẽ cho ra lò tám đến mười doanh nghiệp KH&amp;CN đủ sức cạnh tranh trên thị trường.     Dự án “Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” (BIPP) đã chọn hỗ trợ Trung tâm Nacentech làm mô hình thí điểm chính sách phát triển vườn ươm tại Việt Nam.  Đặt địa điểm tại Hà Nội và Hưng Yên, Trung tâm ươm tạo Nacentech được đầu tư trên cơ sở kết hợp ngân sách nhà nước (30 tỷ đồng) và vốn tài trợ nước ngoài (từ dự án BIPP – 550.000 EURO) trong khoảng thời gian từ 2014 đến 2019. Trung tâm Nacentech sẽ sử dụng chủ yếu nguồn vốn ngân sách cho các nội dung cơ sở hạ tầng và thiết bị còn tài trợ của BIPP cho các nội dung đào tạo, chuyển giao công nghệ, thiết bị vận hành.  Ngoài vốn tài trợ dành cho kinh phí hoạt động thường xuyên và mua sắm trang thiết bị văn phòng thiết yếu, dự án BIPP còn hỗ trợ Trung tâm ươm tạo Nacentech trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, cung cấp dịch vụ tư vấn.   Trung tâm ươm tạo Nacentech hướng đến mục tiêu tạo cơ hội đưa các ý tưởng khoa học công nghệ trong và ngoài nước ra thị trường; tạo điều kiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu qua hoạt động ươm tạo; cung cấp dịch vụ hỗ trợ quản lý phát triển cho các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng; hỗ trợ tích hợp liên kết các công nghệ và ý tưởng tới doanh nghiệp.   Trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, Trung tâm Nacentech chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực chính: 1. Sinh học môi trường với việc sản xuất các chế phẩm sinh học, các loại dược phẩm và thực phẩm chức năng, sản phẩm xử lý phế thải nông nghiệp, nuôi cấy ươm tạo mô và nguồn giống; 2. Công nghệ Quang – điện tử – Laser với việc sản xuất các thiết bị phục vụ chẩn đoán quang học, các thiết bị biển báo điện tử, các thiết bị tự động hóa, công vụ hỗ trợ trong ngành xây dựng, giao thông vận tải; 3. Thiết bị y học với việc sản xuất các thiết bị y tế, đề xuất các giải pháp và thiết bị khám chữa bệnh.   Khi đón nhận các doanh nghiệp KH&CN tới hoạt động tại vườn ươm, Trung tâm Nacentech sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp về cơ sở hạ tầng ban đầu, định hướng và hỗ trợ kết nối với những nguồn tài chính để tạo nguồn lực đầu tư cho sản xuất, phát triển sản phẩm. Bên cạnh đó, Trung tâm Nacentech còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận hệ thống chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước với doanh nghiệp KH&CN cùng những hoạt động khác để thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh như hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp cận thị trường, giám sát đánh giá để kịp thời điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tế.   Ngoài các doanh nghiệp ươm tạo, Trung tâm Nacentech còn hỗ trợ cho các tổ chức, đơn vị nghiên cứu trong nước và tổ chức nghiên cứu công nghệ nước ngoài. Với các đơn vị nghiên cứu trong nước, Trung tâm sẽ hỗ trợ về tài chính để phát triển, hiện thực hóa sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường, kết nối công nghệ, sản phẩm với mạng lưới thị trường chung. Với các tổ chức nghiên cứu công nghệ nước ngoài, Trung tâm sẽ tạo điều kiện kết nối với nhu cầu thị trường Việt Nam và các tổ chức công nghệ Việt Nam, hỗ trợ về thủ tục, thể chế trong quá trình thâm nhập thị trường, chuyển giao công nghệ.  Hiện nay Trung tâm Nacentech đã vạch ra quy trình ươm tạo doanh nghiệp KH&CN với ba giai đoạn là xác định kiến lập (tiền ươm tạo), ươm tạo phát triển và hậu ươm tạo. Dự kiến, sau khi trải qua nhiều công đoạn nghiên cứu dự án, viết kế hoạch thành lập, lựa chọn hạt giống tiềm năng, giai đoạn tiền ươm tạo doanh nghiệp kéo dài tối đa tám tháng, giai đoạn ươm tạo kéo dài khoảng hai đến ba năm. Quá trình ươm tạo doanh nghiệp của Trung tâm sẽ kéo dài không quá bốn năm.  Để tham gia vườn ươm và nhận hỗ trợ của Trung tâm Nacentech, các doanh nghiệp KH&CN cần phải đáp ứng một số điều kiện đặt ra như hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, ưu tiên một trong bốn lĩnh vực công nghệ ưu tiên, phải thành lập công ty về mặt pháp lý, đủ vốn đầu tư ban đầu từ một nhà đầu tư bên ngoài, ký kết văn bản chấp nhận hoặc cam kết sử dụng không gian làm việc của Trung tâm, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ, phát triển kinh doanh và tiếp cận tài chính.   Dự kiến doanh thu của Trung tâm Nacentech sẽ đến từ các nguồn: cho thuê mặt bằng nhà xưởng thiết bị, tổ chức sự kiện xúc tiến thương mại, đào tạo và chuyển giao công nghệ, các dịch vụ xúc tiến và hỗ trợ đầu tư, các chi phí bản quyền công nghệ và cổ tức hỗ trợ và các nguồn tài trợ khác…    Kỳ vọng của Trung tâm Nacentech là thông qua hoạt động ươm tạo sẽ có được tám đến 10 doanh nghiệp KH&CN đủ sức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời tạo cầu nối cho các doanh nghiệp KH&CN Việt Nam đến với các đơn vị tổ chức và doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bỉ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang NAISCORP: Tối ưu công cụ tìm kiếm cho người Việt Nam      Mặc dù thừa nhận, tại Việt Nam, những công cụ tìm kiếm trên mạng như Google, Yahoo! đang chiếm thị phần lớn, Tổng giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ Công nghệ thông tin Naiscorp Nguyễn Xuân Tài cho rằng, các dịch vụ của Naiscorp vẫn có “đất” để phát triển vì công ty luôn quan tâm chú trọng tới những nghiên cứu về xử lý tiếng Việt nhằm tối ưu công cụ tìm kiếm cho người Việt sử dụng.      Hai cú “hích”   Năm 2002, khi còn là sinh viên, Nguyễn Xuân Tài tham gia đề tài nghiên cứu về công cụ tìm kiếm tiếng Việt và xử lý tiếng Việt của trường đại học Bách Khoa Hà Nội. Đề tài nghiên cứu được giải thưởng của trường và Bộ KH&CN. Cùng với bốn người bạn học cấp 3 đều say mê nghiên cứu công nghệ thông tin, Tài tiếp tục nghiên cứu sâu về công cụ tìm kiếm tiếng Việt.  Năm 2006, khi vừa mới tốt nghiệp, nhóm của Nguyễn Xuân Tài được gặp gỡ với lãnh đạo tập đoàn IDG để trình bày dự án kinh doanh của mình. Tài kể lại, ông Partrick Mc. Gorven – Chủ tịch tập đoàn IDG Việt Nam đã dành hai tiếng lắng nghe và nhận xét dự án của nhóm sinh viên mới ra trường, sau đó quyết định đầu tư cho họ. Thời điểm đó IDG mới chỉ đầu tư cho năm công ty, trong đó dự án của Tài là dự án duy nhất của nhóm chưa thành lập công ty. Và Naiscorp ra đời.        Trang tìm kiếm Socbay.com              Được bắt đầu nghiên cứu từ năm 2002, Socbay.com là hệ thống tìm kiếm tiếng Việt trực tuyến duy nhất tại Việt Nam được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ tìm kiếm của Naiscorp. Socbay đang cung cấp 6 dịch vụ tìm kiếm: Tin tức; MP3; Video; Rao vặt; Từ điển; Hình ảnh. Sự ra đời của Socbay là thành quả của một quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài, bền bỉ trong đó yếu tố cốt lõi: công nghệ xử lý tiếng Việt.               Một vài thông số:              Tốc độ xử lý kết quả tìm kiếm: < 1 giây              Thời gian cập nhật dữ liệu:10 phút              Khả năng đáp ứng truy vấn mỗi ngày: 80 triệu truy vấn              Số loại văn bản có thể xử lý: 20        Giai đoạn đầu, công ty chỉ tập trung phát triển công cụ tìm kiếm. Năm 2008, viết phần mềm Mobile Search (tìm kiếm trên điện thoại di động) đi tham dự cuộc thi Viết trò chơi và ứng dụng thiết bị di động Mobile Labs do FPT tổ chức. Sau khi tham dự, được đánh giá cao và đoạt giải, ban giám đốc quyết định đầu tư vào phần mềm Socbay Mobile Search vì nhận thấy tiềm năng của thị trường dành cho các phần mềm giải trí trên Mobile, bên cạnh đó, công cụ lõi tìm kiếm của người Việt viết còn ít, phần lớn phải vay mượn công nghệ của nước ngoài. Phần mềm này sau đó được phát triển lên thành Socbay iMedia với nhiều chức năng hơn. Tháng 2/2009, Naiscorp ký kết hợp tác đầu tư với tập đoàn tin học Nhật Bản Soft Bank. “Hai lần đầu tư của IDG và Soft Bank là hai cú hích lớn làm công ty tăng trưởng về mọi mặt vì mỗi nhà đầu tư lại có những yêu cầu riêng: kinh doanh, nghiên cứu, nhân sự… Công ty buộc phải xoay mình, mở rộng quy mô để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư”, Đỗ Tuấn Anh, Giám đốc Marketing của công ty cho biết.   Trưởng thành  Sản phẩm công nghệ cần thời gian để phát triển theo chiều sâu, triển khai theo quy mô nhỏ cho phép chăm sóc và nâng cấp tốt hơn. Vì vậy, theo Nguyễn Xuân Tài, Naiscorp chủ yếu quảng bá hình ảnh của mình thông qua đối tác, làm công cụ tìm kiếm trên các trang web của đối tác. Sau một thời gian phát triển, so sánh với sản phẩm nước ngoài không quá thua kém thì mới đưa ra thị trường. Năm ngoái quyết định đầu tư cho marketing vì muốn cho mọi người biết đến sản phẩm của mình nhiều hơn. Naiscorp cũng chủ động hơn trong hợp tác phát triển phần mềm ứng dụng trên điện thoại di động tại thị trường Việt Nam với các đối tác lớn như HTC, Nokia, Samsung…  Nếu giai đoạn đầu, bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm được xem là bộ phận “xương sống” của công ty thì hiện nay, bộ phận nội dung (content) và bộ phận Marketing giúp đẩy nhanh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của công ty.   Với đội ngũ nhân viên phần lớn còn rất trẻ, chỉ sau bốn năm thành lập, Naiscorp đã tạo dựng được niềm tin với các đối tác. Tuy nhiên, Nguyễn Xuân Tài cho rằng những công ty CNTT như Naiscorp vẫn chưa phát huy hết thế mạnh do sự phát triển không đồng bộ của các ngành dịch vụ hỗ trợ ví dụ như công cụ thanh toán trực tuyến cho tới thời điểm hiện tại vẫn yếu, không bao phủ được hết dẫn tới người sử dụng và cả các công ty kinh doanh trên mạng cũng không biết tới đã cản trở đến sự phát triển công ty hoạt động chủ yếu dựa vào kinh doanh trực tuyến (e-commerce) như Naiscorp.   Đầu tư cho R&D nghiêm túc, dài hơi  Bộ phận nghiên cứu của công ty Naiscorp được chia làm hai phần: nghiên cứu công nghệ và nghiên cứu sản phẩm. Tài giải thích, “nghiên cứu công nghệ nhiều khi hàng năm trời không ra kết quả gì, nhiều khi cần tới may mắn. Ngay cả với công cụ tìm kiếm của các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, họ cũng chỉ có thể giải các bài toán công nghệ đến một mức nào đấy. Bản thân công cụ tìm kiếm Socbay cũng cần phải được đầu tư thêm thời gian, tiền bạc để giải quyết. Trong khi đó, nghiên cứu sản phẩm cần phải có thời gian hạn định để không bỏ lỡ thời cơ cho các đối thủ khác”.         Phần mềm đa phương tiện ứng dụng cho điện thoại di động Socbay iMedia                             Socbay iMedia là ứng dụng dành cho điện thoại di động được phát triển trên nền tảng công nghệ tìm kiếm và xử lý dữ liệu của Socbay.               Naiscorp hợp tác với các hãng di động lớn trên thế giới như hợp tác với Nokia để đưa ứng dụng Socbay iMedia lên “Ovi Store” của hãng, với HTC để phát triển phiên bản riêng của Socbay iMedia cho các dòng điện thoại cảm ứng HTC. Gần đây nhất, Naiscorp và Samsung đã kí kết hợp tác chiến lược về phát triển ứng dụng trên di động cho hệ điều hành mới Samsung Bada. Naiscorp là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên phát triển thành công ứng dụng Socbay iMedia cho điện thoại Samsung Wave. Ngoài ra, công nghệ của Naiscorp trên điện thoại di động đã được triển khai thành công trên sản phẩm của các đối tác lớn trong nước như Msearch của Mobifone,Vinasearch của Vinaphone, VTC iMedia của VTC…               Một số ưu điểm của Socbay iMedia: ứng dụng duy nhất cung cấp chức năng tìm kiếm thuần Việt trên điện thoại di động tại Việt Nam hiện nay; tích hợp dịch vụ tiện ích đa dạng trên cùng một ứng dụng ; tốc độ dịch vụ nhanh, được áp dụng các kĩ thuật xử lý cao cấp trong việc tải nhạc, tải video…; tương thích với hầu hết các dòng máy phổ biến trên thị trường từ các dòng máy phổ thông cho đến các dòng cao cấp như iPhone, Samsung Wave…          Nói về việc hợp tác nghiên cứu với bên ngoài, Tổng giám đốc Naiscorp cho biết, “công ty có hợp tác nghiên cứu với trường đại học bằng cách đưa ra một số đề tài cho sinh viên ở khoa công nghệ thông tin, đại học Quốc gia làm nghiên cứu khoa học. Naiscorp cũng có những “đặt hàng” cho trường Bách Khoa Hà Nội tuy nhiên việc hợp tác cũng chưa được như ý muốn của cả hai bên. Naiscorp vẫn đang giải các bài toán công nghệ bằng nguồn lực hiện có và thuê thêm chuyên gia tư vấn ở những giai đoạn phức tạp”.   Những đầu tư cho nghiên cứu đã tạo ra ưu điểm nổi trội cho các sản phẩm, dịch vụ của Naiscorp. “Công ty bắt đầu từ nghiên cứu khoa học, đi lên cũng nhờ đầu tư cho nghiên cứu công nghệ. Do vậy, chúng tôi luôn chú trọng đầu tư cho R&D nghiêm túc, dài hơi. Socbay iMedia nổi trội hơn các sản phẩm khác cũng nhờ có các nghiên cứu về công cụ tìm kiếm trước đó hỗ trợ”, Tài chia sẻ.   Trong vòng 5-10 năm tới, Naiscorp mong muốn những công cụ tìm kiếm tiếng Việt do người Việt thiết kế sẽ chiếm thị phần tìm kiếm trực tuyến lớn hơn tại Việt Nam. Trang tìm kiếm Socbay và dịch vụ đa phương tiện ứng dụng trên điện thoại di động của Naiscorp sẽ được phát triển thành những sản phẩm “nhanh nhất, rẻ nhất, tiện lợi nhất đáp ứng nhu cầu của người sử dụng luôn thay đổi”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2015: kim ngạch xuất khẩu đạt 160 tỉ đô la Mỹ      Bộ Công Thương vừa đưa ra mục tiêu tổng kim  ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào năm 2014 sẽ đạt 154,4 tỉ đô la Mỹ và  sang năm 2015 sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 160,3 tỉ đô la Mỹ, kim ngạch  xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 10% mỗi năm so với năm 2013.    Đây là thông tin trong báo cáo về kế hoạch phát triển công nghiệp và thương mại cả nước năm 2014-2015 do Bộ Công Thương ban hành ngày 10-1 vừa qua.  Trong 3 năm gần đây (2011-2013), bình quân tăng trưởng xuất khẩu cả nước đạt 22,3% mỗi năm. Năm 2011 đạt kim ngạch xuất khẩu 96,9 tỉ đô la Mỹ, năm 2012 đạt 114,5 tỉ đô la Mỹ, năm 2013 đạt 132,1 tỉ đô la Mỹ.  Mặc dù kim ngạch tăng dần từng năm, Bộ Công Thương vẫn cho rằng xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế như hàng xuất khẩu chủ yếu do nhóm doanh nghiệp FDI sản xuất và phần nhiều là những mặt hàng dựa vào nguồn lao động rẻ và gia công hơn là những mặt hàng có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.  Trong khi đó, tỉ lệ nhập khẩu còn lớn về nguyên, nhiên liệu, nhất là nguyên, nhiên liệu các ngành như dệt may, giày dép, linh kiện điện tử… phụ thuộc nhiều vào thị trường cung cấp nước ngoài, làm tăng chi phí sản xuất trong nước, giảm khả năng cạnh tranh.  Báo cáo này cũng cho biết mục tiêu trong 2 năm tới Việt Nam tiếp tục duy trì nhập siêu ở mức dưới 6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu.  Bộ Công Thương sẽ tiếp tục kiểm soát chặt các mặt hàng không khuyến khích và các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Tổng kim ngạch nhập khẩu dự kiến năm 2014 sẽ đạt 154 tỉ đô la Mỹ, tăng 17,3% so với năm 2013.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2015: Năm thực hiện những cam kết      Năm 2015, Việt Nam nỗ lực thực hiện những cam kết chính trị và chính sách về hội nhập, cải cách, tái cấu trúc, cải thiện môi trường kinh doanh, giữ vững các thành quả ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó củng cố lòng tin của các nhà đầu tư và doanh nghiệp, giúp nền kinh tế nắm bắt các cơ hội và vượt qua thách thức từ tình hình mới. Đó là quan điểm của TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) trong cuộc trao đổi với nhóm phóng viên Tia Sáng.    – Những năm gần đây, tái cơ cấu nền kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu mà Nhà nước ta đặt ra nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Về cơ bản chúng ta đã làm được những gì?   – Từ năm 2011, Việt Nam bắt đầu có những chuyển hướng chính sách rất cơ bản nhằm nâng cao ổn định kinh tế vĩ mô, tăng tính bền vững và hiệu quả trong cách thức tăng trưởng và phát triển kinh tế bằng cách phân bổ lại các nguồn lực cơ bản như vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, v.v. trong đó tập trung vào ba vấn đề lớn là doanh nghiệp nhà nước, hệ thống tài chính ngân hàng và đầu tư công. Đến nay, chúng ta đã tái cơ cấu ngân hàng gắn liền với quá trình ổn định kinh tế vĩ mô, bước đầu lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân hàng như xử lý một số ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu qua VAMC (công ty quản lý tài sản có chức năng tái cơ cấu nợ xấu ngân hàng, mua lại nợ xấu của các ngân hàng thương mại), hạn chế dần vấn đề sở hữu chéo gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp, v.v. Bên cạnh đó, lộ trình thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước đã rõ hơn và gắn lộ trình này với một cơ chế thưởng phạt mạnh mẽ, ít nhiều đã cải thiện được tính minh bạch của nó. Đối với đầu tư công thì bên cạnh Chỉ thị 1792/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ, Việt Nam đã thông qua được Luật Đầu tư công, bắt tay xây dựng đầu tư công gắn liền với kế hoạch trung hạn chứ không phải từng năm, nâng cao hiệu quả, tính khả thi, minh bạch trong phân bổ, sử dụng nguồn vốn, và trách nhiệm của các bên liên quan.   – Theo ông tiến độ thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế như vậy liệu đã đạt yêu cầu?  – Nhìn chung quá trình tái cấu trúc nền kinh tế diễn ra chậm. Khi thực hiện mới thấy đây là những vấn đề phức tạp và khó khăn đan xen lẫn nhau, đòi hỏi một phí tổn không nhỏ cả về tài chính và xã hội để xử lý, và đặc biệt cần sự đổi mới sâu sắc về tư duy. Ví dụ như vấn đề vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong nền kinh tế vẫn đang vướng mắc vì khuôn khổ pháp lý của Việt Nam chưa hoàn thiện, chúng ta chưa giải quyết được những phức tạp lịch sử để lại về định giá đất, rồi vấn đề tìm đối tác chiến lược, thay đổi cung cách quản trị, thay đổi công nghệ, thu hẹp lực lượng lao động, v.v. Những chậm trễ này nếu để kéo dài sẽ làm giảm lòng tin từ các nhà đầu tư. Liên quan đến cải cách khu vực DNNN, không ít nhà đầu tư, nghiên cứu nước ngoài khi gặp tôi vẫn hỏi dò ‘các ông có chơi thật không?’, ‘có thật sự muốn làm không” và ‘có làm được hay không?’  – Sự chuyển đổi trọng tâm chính sách kể từ năm 2011 đã đem lại kết quả tích cực gì trong năm 2014, tạo đà thuận lợi cho nền kinh tế năm 2015?   – Sau ba năm đi vào ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu nền kinh tế và chú trọng ổn định vĩ mô, đã có những dấu hiệu cải thiện đáng kể như lạm phát thấp (năm 2014 chỉ hơn 1,8 %), cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh hơn, dự trữ ngoại tệ tăng, đồng tiền Việt Nam ít nhiều ổn định, đem lại niềm tin cho nhà đầu tư, doanh nghiệp. Đặc biệt  đánh giá nhìn nhận này còn thể hiện qua các chỉ số định mức tín nhiệm của các tổ chức quốc tế. Liên quan đến sản xuất kinh doanh, có thể thấy mức độ phục hồi của nền kinh tế khá lên ít nhiều, đặc biệt ở hai chỉ số: chỉ số PMI (purchasing manufacturing index) từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2014 đều trên 50, thể hiện nền sản xuất công nghiệp chế biến đang có chuyển biến tích cực; chỉ số sản xuất công nghiệp IIP (index industry products) theo báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng có xu hướng tăng dần so với cùng kỳ năm ngoái. Tăng trưởng kinh tế còn thể hiện ở mức tăng xuất khẩu- năm 2012-2013 tăng 14-15%, năm 2014 tăng khoảng 13,6%. Đáng lưu ý là tăng xuất khẩu năm 2012 -2013 chủ yếu dựa vào khu vực FDI, nhất là xuất khẩu mặt hàng điện thoại di động của Samsung, còn xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước tăng dưới 3%. Nhưng năm 2014, xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước đã tăng khoảng 10%.   – Các dấu hiệu nào cho thấy những tồn tại và thách thức cho kinh tế Việt Nam năm 2015?  – Đó là cơ hội kinh doanh chưa cải thiện nhiều do tổng cầu vẫn khó “hứng khởi” mạnh trở lại. Chỉ số tiêu dùng dù vẫn tăng nhưng chỉ bằng một nửa so với những năm sau gia nhập WTO – trước đây tăng trưởng tiêu dùng sau khi trừ yếu tố giá cả trên 10%, hai-ba năm trở lại đây chỉ còn 5 hoặc 6%, năm 2014 vào khoảng 6,5 hoặc 6,6 %. Kinh tế thế giới phục hồi yếu và năng lực cạnh tranh, uy tín doanh nghiệp Việt Nam chưa cải thiện. Một số mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu giảm cả về giá cả và số lượng (tuy trong năm 2014, tổng xuất khẩu nông nghiệp đã có tiến bộ, nhất là hàng thủy sản). Việc tiếp cận nguồn vốn, tín dụng của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, dù ngân hàng nỗ lực tung ra nhiều gói tín dụng hỗ trợ khá lớn. Nguyên nhân khó tiếp cận vốn là do bên cạnh cơ hội kinh doanh hạn chế, nhiều dự án có tính khả thi chưa cao, và đặc biệt là vấn đề nợ xấu vẫn nhức nhối.             Lòng tin của doanh nghiệp là yếu tố quyết định đầu tiên ảnh hưởng đến dòng tiền đổ vào sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân. Nếu có lòng tin thì nhà đầu tư sẽ bớt đầu cơ, bớt găm giữ tài sản để tập trung vào sản xuất kinh doanh, vào nền kinh tế thực. Lòng tin này phụ thuộc nhiều vào cam kết chính trị và thực thi chính sách trên thực tế của Nhà nước. Việt Nam có nhiều cam kết chính trị mạnh mẽ, ví dụ về ổn định kinh tế vĩ mô, tái cấu trúc nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hội nhập, trong đó đặt các mục tiêu khá rõ ràng cho năm nay. Vì vậy, năm 2015 là năm Nhà nước cần hiện thực hóa những cam kết này để củng cố lòng tin của doanh nghiệp và các nhà đầu tư.             – Những xu hướng biến động hiện nay của tình hình thế giới và khu vực sẽ tác động ra sao tới kinh tế Việt Nam?  – Chủ trương hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nếu chúng ta biết nắm bắt, tuy nhiên việc hội nhập cũng khiến bất kỳ chuyển động nào của thế giới đều ít nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Đáng chú ý nhất là tình hình địa chính trị một số khu vực trên thế giới hiện đang trong giai đoạn bất ổn và rủi ro cao, như ở Ukraina, khu vực Trung Đông, biển Hoa Đông, và đặc biệt là biển Đông, nơi tác động trực tiếp nhất đến Việt Nam. Bên cạnh đó, cú sốc về giá dầu với tác động đa chiều đối với mỗi nền kinh tế, tùy thuộc là nước xuất hay nhập (ròng) dầu và sự phụ thuộc ngân sách vào nguồn tài nguyên này. Đối với Việt Nam, tác động của giá dầu giảm khiến ngân sách nhà nước gặp khó khăn nhưng lại có lợi cho đa số các doanh nghiệp và người tiêu dùng, nhìn chung là mặt tích cực nhiều hơn mặt tiêu cực. Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua nguy cơ rủi ro tài chính, trong bối cảnh các nước phát triển như EU và Nhật Bản vẫn đang vật lộn với khó khăn, và việc Mỹ thay đổi chính sách tiền tệ, dừng gói QE3 (quantitative easing) đẩy đồng USD lên giá (cùng với tăng trưởng phục hồi khá mạnh của kinh tế Mỹ) có thể dẫn đến sự dịch chuyển khó lường của các dòng vốn, ảnh hưởng đến quản lý kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đang phát triển.  – Chính sách kinh tế vĩ mô nào cần được chú trọng để giúp kinh tế Việt Nam tận dụng được cơ hội và vượt qua thách thức trong năm nay?  – Trong bối cảnh lạm phát thấp, chính sách kinh tế vĩ mô có thể được linh hoạt hóa để hỗ trợ quá trình phục hồi hoạt động của các doanh nghiệp, vì vậy đối với chính sách tiền tệ, có thể để mức tăng tín dụng cao hơn những năm trước. Nhưng cần kiên trì quan điểm nhất quán là giữ cho được thành quả mà chúng ta đã đạt được về ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trình phân bổ nguồn lực hiệu quả, bởi kinh tế vĩ mô bất ổn thì hoạt động đầu cơ sẽ được khuyến khích hơn là đầu tư sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, về hệ thống ngân hàng, cần xử lý hai vấn đề nợ xấu và tương quan lãi suất với tỷ giá; về chính sách tài khóa, cần giải quyết vấn đề khó khăn về ngân sách. Và điều luôn cần chú trọng là nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.  – Xin ông làm rõ hơn hai vấn đề về nợ xấu và tương quan lãi suất với tỷ giá?  – Việc xử lý nợ xấu đã được bắt đầu thông qua việc thành lập VAMC và hiện đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp lý cho xử lý tài sản đảm bảo, vận hành thị trường mua bán nợ để các giao dịch diễn ra suôn sẻ, tạo điều kiện cho nhiều nhà đầu tư tham gia. Ứng xử lãi suất và tỷ giá năm 2015 phức tạp hơn. Trong bối cảnh đồng USD lên giá, tỷ giá cũng cần độ linh hoạt nhất định, thì việc xử lý không khéo chính sách lãi suất và tỷ giá sẽ xảy ra hiện tượng tái đô la hóa, hoặc có sự chuyển dịch quá mức tiền đầu tư vào các tài sản tài chính khác hơn là gửi tiết kiệm. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng có thông điệp giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn xuống dưới 10% song đây là nhiệm vụ không đơn giản, rất cần sự phối hợp giữa hai chính sách tiền tệ và tài khóa, nhất là khi Bộ Tài chính cần phát hành giá trị trái phiếu năm 2015 lớn hơn năm 2014.  – Thâm hụt ngân sách nhà nước là vấn đề tồn tại từ vài năm nay và năm 2015 sẽ càng thêm khó khăn do xu hướng giảm giá dầu, vậy đâu là giải pháp khả thi?   – Trong ngắn hạn thì xu hướng giảm mạnh giá dầu ảnh hưởng lớn đến ngân sách nhà nước nhưng đồng thời nó giúp giảm chi phí đầu tư sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, góp phần tích cực vào đà phục hồi kinh tế. Vì vậy chúng ta phải có cách ứng xử phù hợp với tầm nhìn chung đối với nền kinh tế, bên cạnh cách xử lý tác động tiêu cực ngắn hạn đối với ngân sách. Không nên giải quyết vấn đề ngân sách bằng cách tăng sản lượng sản xuất và xuất khẩu dầu bởi nó vắt kiệt thêm tài nguyên, vả lại đây là cách không căn cơ. Cũng không nên lạm dụng việc tăng thuế (vào mặt hàng xăng) bởi chính sách này không làm giảm chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh một cách tương ứng, và do vậy làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, giải pháp tốt hơn cả là cải thiện môi trường kinh doanh, tận dụng lợi thế giá xăng dầu giảm và thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp để nền kinh tế phục hồi tốt hơn, hoạt động sản xuất kinh doanh sôi động hơn, qua đó tăng khả năng đóng thuế của doanh nghiệp.   – Như đã nói, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân trong nước phát triển là điều rất quan trọng. Vậy cụ thể hơn Nhà nước cần làm gì?  – Để thực sự có bước đột phá tiếp về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, năm 2015 rất cần làm ba việc. Một là hiện thực hóa nhanh các luật như Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua năm 2014. Cùng với đó là tạo điều kiện pháp lý đủ để góp phần xử lý nhanh hơn vấn đề nợ xấu. Hai là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Cùng với đó là gắn trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch cho doanh nghiệp. Ba là tăng cường sự minh bạch, khả năng giải trình cao của chính sách cũng như sự tương tác có trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Năm 2015 cũng là năm chuẩn bị Đại hội Đảng. Quyết tâm, nguồn lực cũng có thể bị sẻ chia. Hy vọng, nỗ lực cải cách và phát triển sẽ đồng hành cùng quá trình này để đem lại những tín hiệu tích cực hơn nữa cho nền kinh tế Việt Nam.  – Xin cảm ơn ông!                  Nhóm PV thực hiện            Ba mặt hạn chế có thể ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam   1. Tình trạng thâm thụt ngân sách vẫn còn ở mức rất lớn. Việt Nam từng mong muốn sẽ giảm dần tình trạng thâm thụt ngân sách nhưng trên thực tế, hai năm gần đây vẫn phải chấp nhận mức thâm thụt cao. Năm 2014, con số thâm thụt ngân sách là 5,3% GDP còn năm 2015 sẽ cố gắng duy trì ở mức 5% GDP.  Thâm hụt ngân sách càng trở nên khó khăn hơn trong bối cảnh áp lực chi (cả chi thường xuyên và chi đầu tư) rất lớn, sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn, và nguồn thu vẫn lệ thuộc không ít vào khai thác và xuất khẩu dầu, dù mức độ phụ thuộc đã giảm nhiều – như trong những năm 1990, dầu mỏ có thể chiếm tới 25% thu ngân sách, nay còn trên dưới 10%. Tính trung bình, giá dầu giảm 1 USD thì hụt thu ngân sách giảm khoảng 1.000 tỷ đồng. Lưu ý là ngân sách gần đây gần như không còn tiết kiệm, nghĩa là thu cơ bản chỉ đủ bù chi thường xuyên (lương, trả nợ), trong đó chi thường xuyên không thể giảm nhanh, cho dù chúng ta có nhiều nỗ lực cắt giảm một số khoản liên quan đến chi đảm bảo hoạt động hành chính. Gắn liền với thâm hụt ngân sách là vấn đề an toàn nợ công: mặc dù nợ công vẫn dưới ngưỡng Quốc hội cho phép, vào quãng 65% GDP năm 2014, nhưng tốc độ tăng của nợ công trong những năm gần đây là cao, dòng tiền chi trả nợ nước ngoài gặp nhiều khó khăn.   2. Hệ thống tài chính ngân hàng tuy đã trải qua quá trình cải cách và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tránh được sự đổ vỡ của hệ thống nhưng vẫn chưa thực sự lành mạnh. Vấn đề nợ xấu còn nhức nhối, sở hữu chéo vẫn tương đối nghiêm trọng, hệ thống ngân hàng chưa đáp ứng được những yêu cầu, thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro, hệ thống giám sát tài chính hữu hiệu hơn.   3. Sau nhiều giai đoạn bất ổn, lòng tin vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa vững chắc, dễ bị biến động. Điều này thể hiện qua một số thời điểm của năm 2014, như khi Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực biển chủ quyền của Việt Nam, chúng ta thấy sự rung lắc đáng kể của thị trường chứng khoán, thị trường ngoại tệ, tuy diễn ra trong thời gian ngắn nhưng có sức dư chấn rất mạnh.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2018: 7 chuyển động tiêu dùng lớn      2018 lại là một năm bất định khi mọi xu hướng tiêu dùng trên thế giới đều thay đổi. Tất cả bắt đầu từ sự hình thành của một thế hệ tiêu dùng hoàn toàn mới, thế hệ tiêu dùng số. Và họ có trong tay một chiếc đũa thần quyền lực, đó là sự phổ cập của những ngành công nghệ mới nổi như AI – trí tuệ nhân tạo, VR – thực tế ảo, AR – thực tế ảo tăng cường, biotech – công nghệ sinh học, vv.      Sống xanh & sống sạch  Thế hệ nằm trong độ tuổi 20-29 trên thế giới nói chung là thế hệ toàn cầu. Họ đọc, hiểu, và có quan điểm mang tính quốc tế hơn. Cũng vì vậy, thế hệ này sống theo phong cách xanh và sạch theo trào lưu thế giới, và họ nói không với những gì có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân. Đối với họ, sở hữu là chuyện thời xưa. Trải nghiệm mới thật sự hợp thời. Do đó, họ sẵn sàng chi tiền cho trải nghiệm chứ không màng đến việc mua sắm các sản phẩm mang tính tài sản mà thế hệ bố mẹ của họ rất ư là xem trọng.  60% số người trẻ trong độ tuổi này nghĩ rằng điều quan trọng nhất đối với họ là tham gia và ảnh hưởng vào sự thay đổi của thế giới. Đó là lý do mà tập đoàn Diageo mua Seedlip, công ty sản xuất rượu không cồn đầu tiên trên thế giới. Đó cũng là lý do vì sao mà Heineken tung ra dòng bia không cồn. Thế hệ này kết nối quốc tế, và vì thế họ cập nhật cực nhanh mọi xu hướng trên toàn thế giới.  Kẻ vay mượn  Do ảnh hưởng của sức mạnh kết nối, con người giờ đây có thể ở bất cứ nơi đâu, du mục rày đây mai đó mà vẫn có thể làm việc và sống đầy trải nghiệm. Thế giới công nghệ bỗng sản sinh ra một thế hệ chẳng giống ai, thế hệ cộng đồng, chia sẻ, thuê mướn, chỉ sử dụng khi thật sự có nhu cầu. Nhóm tiêu dùng này lại cũng chỉ chăm chăm vào cách sống và trải nghiệm của bản thân, bằng kinh tế chia sẻ. Họ là đối tượng của Uber, Rent, Runway, Airbnb…. Và hàng loạt các startup mới trên thế giới đang xây dựng giải pháp và dịch vụ cho nhóm khách hàng này. Vì họ chỉ cần tiếp cận sử dụng, thuê mướn khi cần chứ chẳng cần sở hữu. Còn những gì họ sở hữu thì khi không cần họ cũng muốn cho thuê. Nhiều dịch vụ cho thuê mướn, chia sẻ tài sản hiện hữu vì vậy mà nở rộ trong thời gian vừa qua. Thuê kiểu gì cũng có, từ thuê người đi mua đồ giùm (TaskRabbit), đến cho thuê quần áo, đồ chơi, dụng cụ gia dụng, dụng cụ thể thao, và cho thuê cả chó (BorrowMyDoggy).    TaskRabbit, một công ty ở Sillicon Valley cho phép mọi người thuê bất kì ai giúp mình từ những việc nhỏ nhặt nhất. Ảnh: The Telegraph.  Kinh tế chia sẻ vẫn sẽ là xu hướng tăng trưởng mạnh trong năm 2018 để phục vụ cho thế hệ người tiêu dùng du mục, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam. Những nền tảng chia sẻ như thuê thiết bị gia dụng Rentomojo tại Ấn độ, cho thuê xe đạp Mobike hay Ofo tại Trung quốc, hay đi chung xe hơi như GoMyWay tại Nigeria là những giải pháp kinh tế chia sẻ rất thịnh hành. Đặc biệt trong lĩnh vực này, số lượng startup nhiều vô kể. Do đó, các doanh nghiệp đang vận hành cũng nên suy nghĩ cách tiếp cận mới từ chính sản phẩm và dịch vụ sẵn có để có thể sáng tạo ra giải pháp hợp lý cho đối tượng khách hàng này. Westfield năm 2017 tung ra dịch vụ cho thuê quần áo thời trang. Các tập đoàn lớn đều nhảy vào thị trườn này bằng cách mua lại các startup sử dụng công nghệ để kết nối và tạo ra giá trị bằng kinh tế chia sẻ.  Nhà hoạt động xã hội  Công nghệ tái định nghĩa lại không gian và thời gian. Giờ đây, sức mạnh của một cá nhân có thể nhân lên gấp nhiều lần nhờ khả năng kết nối ảo, tức thì và theo diện rộng. Vì vậy, một người cũng có thể bắt đầu một phong trào, trở thành một nhà hoạt động xã hội đứng ra kêu gọi cộng đồng mạng lên tiếng ủng hộ hay chống lại một vấn đề xã hội nào. 2017 là năm bắt đầu của nhiều hashtag. Năm 2018 sẽ là năm bùng nổ. Theo thống kê, có 125 triệu hashtag mỗi ngày được sử dụng trên Twitter, Instagram, Tumblr, Facebook và một số mạng xã hội khác.  Khi người tiêu dùng nắm trong tay sức mạnh xuống đường như thế, doanh nghiệp rõ ràng cần phải thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận của mình. Theo nghiên cứu tiêu dùng 2017, 57% người tiêu dùng cho biết họ chọn mua hay tẩy chay một thương hiệu hoàn toàn dựa vào giá trị xã hội và cộng đồng của doanh nghiệp đó. Khi niềm tin cạn kiệt, người tiêu dùng nghĩ rằng doanh nghiệp cần có trách nhiệm đối với xã hội, với cộng đồng và với thế giới này. Cho nên, doanh nghiệp không còn cách nào khác là quay về với nền tảng giá trị cơ bản nhất, hỗ trợ cộng đồng, và chung tay xây dựng những điều tốt đẹp cùng với khách hàng, bắt đầu từ việc luôn phản hồi, luôn đưa ra giải pháp, luôn tức thời, và lưu ý đến những điều nhỏ nhặt nhất. Dịch vụ khách hàng chính là marketing trong thế kỷ mới này. Trí tuệ nhân tạo và ứng dụng chatbot vào dịch vụ khách hàng là công nghệ mà doanh nghiệp cần lưu ý.  DNA của tôi  Cũng nhờ công nghệ sinh học, giờ đây kiến thức và sự hiểu biết về DNA của mỗi cá nhân trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn. Thị trường thử DNA dù còn trong trứng nước với tổng doanh thu 70 triệu USD mỗi năm sẽ tăng đột biến trong năm 2018 và dự đoán đến năm 2022 sẽ đạt ở mức 340 triệu USD.  Một trong những doanh nghiệp chuyên ngành công nghệ gien, 23andme dù đã có mặt trên thị trường gần một thập kỷ, nhưng gần đây mới bắt đầu phổ biến. Đến nay, doanh nghiệp này đã cung cấp thông tin DNA cá nhân cho gần 1 triệu khách hàng. Một loạt các startup khác đang nổi lên với các dịch vụ cá nhân hoá dựa vào kết cấu gien của mỗi cá nhân như FitnessGenes, DNAFit, Origzn. Giờ đây, mọi chuyện ăn uống, ngủ nghỉ, thể thao, sử dụng mỹ phẩm, chăm sóc sức khoẻ đều cứ phải dựa vào yêu cầu của mỗi cá nhân, vì mỗi người đều có kết cấu gien rất khác nhau. Thời của cá nhân hoá sẽ được đẩy lên một tầm cao mới. Năm 2017, Helix bắt đầu đưa ra thị trường chợ gien online. Người tiêu dùng có thể tìm trên đó những sản phẩm liên quan đến DNA như SlumberType, EmbodyDNA là sản phẩm và app giúp giảm cân, Vinome là giải pháp chọn rượu cho cá nhân dựa vào nhóm gien của từng người.  Ngồi nhà mà chọn  Năm 2018 là năm lên ngôi của VR – Virtual Reality – thực tế ảo, và AR – Augmented Reality – thực tế tăng cường. Người tiêu dùng giờ chỉ cần đứng ở cửa hàng hay ngồi nhà là có thể thử và biết trước sản phẩm khi sử dụng có hợp không, có kết hợp tốt với hiện trạng không, có đúng ý mình không. Với AR, người tiêu dùng giờ đây có thể thử mỹ phẩm hay xem cách sử dụng tại mỹ phẩm của Urban Decay hay Sephora mà không cần đến cửa hàng. IKEA Place, ứng dụng sử dụng AR của Ikea cho phép khách hàng xem mẫu bàn ghế 3D để trong nhà thế nào. Dulux Visualizer cho phép khách hàng xem tường sẽ ra sao sau khi sơn màu vừa chọn.  Năm 2018, thật và ảo sẽ hoà quyện vào nhau. Nhu cầu thử ảo trước rồi mới mua thật sẽ ngày càng tăng lên nhờ vào sự phổ cập của công nghệ. Thương hiệu thời tang Gap đã tung ra phòng thử đồ ảo Gap’s Dressing Room trên ứng dụng, cho phép người dùng chọn và thử đồ trên mannequin. Amazon vừa tung ra ứng dụng AR cho phép chọn sản phẩm và đặt để thử vào không gian nhà xem có hợp không. Khi AR trở nên phổ cập, đây sẽ là công nghệ được sử dụng nhiều nhất trong việc xây dựng trải nghiệm người dùng.  Người tiêu dùng soi  Thế giới càng bất định, người tiêu dung càng mất niềm tin. Và khi mất niềm tin, người ta soi rất dữ. Doanh nghiệp giờ đây không thể cứ nói suông và hô hào về giá trị vĩ đại nữa. Người tiêu dùng không tin. Họ cần bằng chứng. Họ cần chi tiết. Và họ soi vào từng đoạn trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp để tìm hiểu xem điều doanh nghiệp hô hào có đúng không. Ngày xưa, soi làm sao được khi thông tin vô cùng thiếu thốn. Giờ đây, mọi thông tin đều phơi bày trên mạng. Công nghệ tái định nghĩa sức mạnh của mỗi cá nhân. Và doanh nghiệp đành phải mở cửa ra, trưng bày ra, một cách cực kỳ minh bạch.  Thương hiệu thời trang Phannatiq của Anh chẳng hạn, công khai toàn bộ qui trình sản xuất từ lúc mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất và đưa sản phẩn đến tay khách hàng. Dự án mang tên “This is how we do it – đây là cách chúng tôi tạo ra sản phẩm”. Chuỗi siêu thị Super U tại Pháp cho phép khách hàng scan mã Snapchat để xem toàn bộ qui trình từ lúc đánh bắt, sơ chế, đóng gói, vận chuyển đến siêu thị của các sản phẩm cá tươi. Và vì Snapchat chỉ cho phép giữ video và hình ảnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ, chuỗi siêu thị này khẳng định toàn bộ sản phẩm cá tươi của họ từ lúc đánh bắt đến lúc đến tay khách hàng chỉ trong vòng 24 tiếng.  Nhà thiết kế  Giờ đây, nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, cá nhân có nhiều quyền quyết định cách lựa chọn sản phẩm hợp với bản thân, bao gồm việc có quyền tham gia thiết kế sản phẩm theo ý muốn. Thế hệ này muốn tự mình pha ghép, chọn lựa màu sắc, chất liệu, kiểu mẫu…. Họ muốn dấu ấn riêng, muốn đưa lên mạng xã hội để tạo ấn tượng về khả năng nghệ thuật của mình, muốn chia sẻ cái gu của cá nhân. Tuy nhiên, những nhà thiết kế này luôn đòi hỏi việc thiết kế phải hết sức dễ dàng, nhấp chuột vài cái là xong. Do đó, doanh nghiệp phải sử dụng các công cụ công nghệ để tạo ra trải nghiệm tiện lợi và dễ dàng này. Lego Ideas là nền tảng của thương hiệu Lego cho phép người tiêu dùng tạo ra mẫu mới. Hãng thời trang Phannatiq cũng cho phép người tiêu dùng tự chọn màu, chất liệu, kiểu dáng kết hợp từ nhiều lựa chọn để cá nhân hoá quần áo và túi xách trước khi đặt hàng online. Từ năm 2018, ảnh hưởng của xu hướng thời trang cá nhân này sẽ ngày càng cao và tạo ra nhu cầu cá nhân hoá ngày càng rộng trong dịch vụ doanh nghiệp.  Công nghệ đã làm nên điều kỳ diệu, mang đến sức mạnh cho mỗi cá nhân. Giờ đây, mọi quyết định về chọn sử dụng thương hiệu tiêu dùng đã hoàn toàn là ván cờ lật ngược. Nếu trước đây doanh nghiệp có thể định hướng cách suy nghĩ và nhận thức thương hiệu bằng truyền thông. Ngày nay, khách hàng trở thành người định hướng. Đây là tư duy mà doanh nghiệp Việt Nam cần làm quen và thay đổi. Dù ngành nghề nào, rủi ro bị lạc hậu, bị loại trừ, bị phá sản có thể ập đến một cách tức thì khi có ai đó định nghĩa lại cách tiếp cận, cách xây dựng giá trị mới, phù hợp hơn cho thế hệ khách hàng số kể trên. Áp dụng công nghệ để sáng tạo và đưa ra dịch vụ mới, giải pháp mới phù hợp với xu hướng tiêu dùng, đó là điều mà doanh nghiệp Việt Nam nhất thiết phải tư duy và thực hiện trong năm 2018.        Author                Nguyễn Phi Vân        
__label__tiasang Năm 2018: Việt Nam tăng hai bậc về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu      Theo Báo cáo về xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2018 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam tăng 2 bậc và xếp hạng 45/126 quốc gia và nền kinh tế về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII).      Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào R&D và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Các kỹ sư làm việc tại Trung tâm R&D chiếu sáng Rạng Đông. Nguồn: Rạng Đông  Theo tính toán của các chuyên gia, Việt Nam đạt điểm số cao và gia tăng thứ hạng trong nhiều hạng mục của 7 trụ cột của GII, gồm 5 trụ cột đầu vào Thể chế vĩ mô, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Thị trường và Môi trường kinh doanh, 2 trụ cột đầu ra Sản phẩm tri thức và công nghệ, Sản phẩm sáng tạo, ví dụ chỉ số về Nâng cao hiệu quả Thực thi pháp luật tăng 17 bậc, chỉ số về Môi trường kinh doanh tăng 10 bậc, chỉ số Tín dụng tăng 2 bậc, chỉ số Trình độ kinh doanh tăng 7 bậc…  Một điểm sáng trong Chỉ số GII của Việt Nam năm nay là sự thăng tiến trên một số hạng mục liên quan đến sự hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học, viện nghiên cứu để tăng cường R&D và đổi mới sáng tạo, thể hiện ở các chỉ số Chi cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tăng 23 bậc, xếp hạng 13; chỉ số Chi cho nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp tăng 4 bậc, xếp hạng 48, chỉ số Hợp tác đại học và doanh nghiệp tăng 17 bậc, xếp hạng 59…  Báo cáo cũng chỉ ra, Việt Nam đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số, báo hiệu khả năng sẵn sàng chuẩn bị cho kinh tế số với việc có được nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực này thông qua chỉ số Tạo ứng dụng di động – chỉ số liên quan đến phát triển kinh tế số: Việt Nam xếp hạng 16, thay cho vị trí thứ 52 về tải video lên youtube của năm 2017.  Kết quả chỉ số GII năm 2018 cho thấy Việt Nam đã đạt được hoặc gần đạt được các chỉ tiêu Chính phủ đặt ra đến năm 2020 tại Nghị quyết 19-2017/NQ-CP.  Đánh giá về sự thăng hạng của Việt Nam về Chỉ số GII 2018 với TTXVN, ông Sacha Wunsch Wincent – chuyên gia cao cấp của WIPO, cho biết, Việt Nam là quốc gia liên tục thăng hạng trong bảng xếp hạng ĐMST toàn cầu với những hoạt động nổi bật trong nhiều phương diện, đồng thời  Việt Nam là quốc gia duy nhất có sự chỉ đạo từ cấp chính phủ với một Nghị quyết thành lập nhóm chuyên viên đặc biệt từ Bộ, Ban, ngành khác nhau để cùng thúc đẩy chính sách ĐMST.  Để tiếp tục cải thiện thứ hạng trong chỉ số ĐMST một cách bền vững, Bộ KH&CN đã đề xuất một số giải pháp tập trung cải thiện những chỉ số mà Việt Nam đang được xếp vào nhóm yếu, hoặc có xu hướng giảm trong những năm gần đây, cụ thể:  1. Tiếp tục thực thi hiệu quả các chỉ đạo của Đảng và Chính phủ về cải thiện thế chế, đặc biệt là Nghị quyết 01, Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 của Chính phủ, trong đó, tập trung khắc phục những hạn chế về Tạo thuận lợi giải quyết phá sản doanh nghiệp, Tạo điều kiện thuận lợi cho khởi sự kinh doanh  và Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật.  2. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, đồng thời với nâng cao chất lượng giảng dạy thông qua nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong các trường đại học.  3. Tái cơ cấu các ngành sản xuất, kinh doanh với định hướng tăng cường R&D và đổi mới sáng tạo.  4. Nâng cao năng lực ĐMST và hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, góp phần đưa doanh nghiệp lên vị trí dẫn đầu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin.  5. Tăng cường các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường công nghiệp văn hóa toàn cầu.  Nguồn: PV Trung tâm Truyền thông Bộ KH&CN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm bài học cho các mentor      Đầu tiên, tôi phải thú nhận rằng, hơn một thập kỷ trước, khi bắt đầu thiết kế các chương trình kinh doanh cho các doanh nghiệp, tôi đã tự hình dung ra cách để giúp các nhà khởi nghiệp rồi dựng ra một nội dung na ná với những gì người khác đã làm. Một chương trình như vậy thường có kế hoạch đào tạo kinh doanh, tư vấn từ các chuyên gia như kế toán và luật, và… những sự kiện vô bổ. Rồi đơn giản nghĩ rằng “đấy, vậy là ta đã có một chương trình khởi nghiệp”. Thật xấu hổ! Tôi đã sai. Sau đây là những bài học để trở thành một mentor (người cố vấn và huấn luyện cho các doanh nhân khởi nghiệp) hiệu quả mà tôi nhận ra từ thực tế.      Mentor các doanh nghiệp thay vì đề cao cái tôi cá nhân  Bốn năm về trước, khi dự Startup Weekend1, lần đầu tiên tôi được thấy thế nào là mentor một cách thực sự chuyên nghiệp. Đó là khi tôi có thể cảm nhận được năng lượng truyền từ những doanh nhân thành đạt khi họ tương tác với các nhà khởi nghiệp trẻ. Vai trò của tôi là hỗ trợ các doanh nghiệp trẻ trong giải quyết các vấn đề chiến lược thông qua việc phát hiện ra những vấn đề của họ và đưa ra lời khuyên hợp lý cho các bước tiếp theo. Trước đây, tại những sự kiện lớn, chẳng hạn như Startup Weekend, tôi thường “đóng vai” một siêu anh hùng và ba hoa về khả năng của mình trong việc giải quyết vấn đề của các doanh nghiệp. Nhưng rồi, tôi đã nhận ra động cơ thực sự đằng sau những “tư vấn” ấy, đó là khoe kiến thức của mình chứ không thực sự giúp đỡ các doanh nghiệp vừa chớm hình thành.  “Thiên tài chỉ có 1% từ cảm hứng còn 99% từ sự kiên trì” 2  Không may thay, các vấn đề của doanh nhân khởi nghiệp là vô tận. Trước kia, thường mỗi khi tôi tưởng rằng sự tư vấn của mình đã giúp doanh nghiệp giải quyết được vấn đề nào đó của họ thì ngay lập tức một vấn đề khác lại nảy sinh. Sau đó, tôi nhận ra mình có thể tạo ra tác động hiệu quả hơn nếu gặp từng cá nhân khởi nghiệp một cách định kỳ. Thay vì tập trung mổ xẻ các chiến lược, các mô hình kinh doanh, bài thuyết trình với các nhà đầu tư, tôi chuyển sang tập trung vào việc đảm bảo rằng họ đang thực hiện nhiệm vụ và theo sát kế hoạch hành động đã đặt ra. Tôi đặt những câu hỏi như: “Sản phẩm sắp tới thế nào?”, “Việc tiếp cận thị trường Mỹ ra sao?”, “Tìm được người đồng sáng lập chưa?” Tôi vẫn thường thấy các doanh nghiệp trẻ không thực hiện theo những chiến lược và kế hoạch mà họ đã đề ra. Vì vậy, bằng việc đặt ra các câu hỏi trên tiến trình phát triển của doanh nghiệp, tôi buộc họ phải có trách nhiệm với bản thân, và qua đó tôi bắt đầu nhìn thấy những kết quả tích cực. Các thảo luận định kỳ như vậy giúp các nhà khởi nghiệp tập trung hơn, hoặc tự nhận ra mình còn chưa đủ đáp ứng để khởi nghiệp thành công. Thay vì khuyên các doanh nghiệp đi theo một chiến lược cụ thể mà tôi cho là đúng, tôi thấy rằng cách tiếp cận mới này tác động mạnh mẽ hơn đến họ, giúp khuyến khích và thúc đẩy họ học hỏi và hành động.  Mentor cho những startup còn đang chập chững là điều có ích nhất cho cộng đồng [khởi nghiệp]  Theo thời gian, tôi nhận ra rằng, mentor là chìa khóa để tạo ra một chương trình khởi nghiệp thành công. Trong ba năm gần đây, tôi đã phân tích chương trình tư vấn phát triển Infodev, một công cụ được World Bank giới thiệu và thấy rằng mentor có tác động rất tích cực đến các doanh nghiệp non trẻ, giúp họ tăng khả năng phát triển và thu hút đầu tư.3  Nhưng không phải ai cũng là mentor tốt  Việc mentor thường đem lại nhiều lợi ích, tuy nhiên tôi học được rằng không phải lúc nào nó cũng hiệu quả. Ví dụ, hiện nay nhiều người đưa ra lời khuyên về khởi nghiệp tinh gọn và đó là lời khuyên tốt. Nhưng với tư cách là mentor, chúng ta phải nhận ra rằng thật dễ dãi nếu chỉ nói với startup rằng họ phải thử nghiệm giải pháp của mình trên thị trường trước khi đầu tư công sức vào việc phát triển sản phẩm và marketing. Giảng dạy và đưa ra lời khuyên thì đơn giản, nhưng thực hiện chúng mới thực sự khó khăn. Vì vậy, điều các nhà khởi nghiệp mong muốn là được trao đổi với những người đã thực sự trải nghiệm việc thực hiện chính những điều mà họ khuyên startup, kể chuyện về những thất bại đau đớn, đồng cảm với những vất vả và giải thích cách họ đưa ra những lựa chọn khó khăn như thế nào. Các nhà khởi nghiệp cần phải được học cách làm thế nào để trở nên bền bỉ và đương đầu với cảm giác bị liên tục thất bại. Ngày càng nhiều các chuyên gia về khởi nghiệp nhưng không phải tất cả bọn họ đều trải qua những gian khổ cần thiết để tạo ra sự khác biệt.  Những nhà khởi nghiệp trẻ thường ít muốn lắng nghe những người chưa từng được thử thách. Tôi cũng từng chứng kiến một vài doanh nhân cực kỳ thành công làm mentor, những người vô cùng tiêu cực và khó tính, [không những chẳng mang lại sự động viên mà còn] làm tan vỡ những giấc mơ của các doanh nhân khởi nghiệp trước khi họ có cơ hội để bước tiếp. Ở đây, các doanh nhân thành đạt cần thấy được lý do đúng đắn khi làm công việc mentor, đó là không phải vì bản thân mình mà nhằm tạo ra những doanh nghiệp trong cộng đồng của họ, tạo ra sự đa dạng trong nền kinh tế địa phương và tạo ra công ăn việc làm.   Cuối cùng, để công việc mentor hiệu quả, bạn cần những nhà khởi nghiệp nghiêm túc, những người sẵn sàng nỗ lực vượt qua trở ngại. Không gì dập tắt mong muốn làm mentor hơn là làm việc với những “đứa trẻ” có ý tưởng hay ho nhưng chẳng hề có ý chí hiện thực hóa nó.   Năng lực chuyên môn và lời khuyên là rất quan trọng:   Mặc dù những nghiên cứu hiện tại về công việc của mentor chưa chỉ ra sự liên hệ chặt chẽ giữa năng lực chuyên môn của người làm mentor và thành quả người đó mang lại, nhưng quan sát của tôi lại khác một chút. Tôi từng chứng kiến những điều tuyệt vời diễn ra khi tôi mang những doanh nhân thành đạt tới một quốc gia khác để mentor cho những nhà khởi nghiệp ở đó. Những kiến thức sâu sắc của họ về các thị trường, các lĩnh vực, các phương thức thực hành kinh doanh và những xu hướng công nghệ giúp cho những doanh nhân khởi nghiệp nâng cao kiến thức nền của họ lên rất nhiều.  Cần nói thêm rằng, để hỗ trợ những doanh nhân khởi nghiệp, các mentor cần đưa ra các tình huống cụ thể cùng với mỗi lời khuyên, bởi mỗi ý kiến chuyên môn hay quan điểm có thể mang những ý nghĩa rất khác biệt trong các tình huống khác nhau. Chẳng hạn, thay vì nói rằng bạn không thích một ý tưởng hay sản phẩm, hãy đưa ra lí do sâu xa đằng sau quan điểm của bạn. Mô tả hiểu biết của bạn về thị trường mà họ đang phát triển các giải pháp và tại sao bạn không nghĩ rằng sản phẩm hay ý tưởng của họ khả thi. Đưa ra các ví dụ về những sản phẩm tương tự mà bạn thấy là thất bại. Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực hay công nghệ của họ, hãy cứ nói rằng đây là quan điểm riêng của bạn và bạn thực sự không có nhiều hiểu biết về nó. Những dữ kiện này sẽ giúp các doanh nhân khởi nghiệp hiểu họ nên làm gì trong những bước tiếp theo.   Mike Ducker là chuyên gia được SECO EP (một chương trình hỗ trợ khởi nghiệp toàn cầu của Thuỵ Sỹ) mời sang Việt Nam. Những hoạt động của Mike Ducker trong việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ở các nước trên thế giới được Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton và Thủ tướng Armenia đánh giá cao. Ông là người sáng lập Ecosystem Forum, một nền tảng chia sẻ những kinh nghiệm xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp ở các thị trường mới nổi. Ông hiện đang hỗ trợ 13 nước phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của mình. Mike Ducker cũng là người triển khai Chương trình khởi nghiệp toàn cầu (Global Entrepreneurship Program – GEP) ở Ai Cập. Thông qua chương trình này, ông đã hỗ trợ thành lập 149 công ty.    Thu Quỳnh dịch  ——-  * Để đọc thêm về vai trò của mentor, độc giả có thể tham khảo bài viết “Mentor trong khởi nghiệp: hơn cả một người bạn” của tác giả Nguyễn Đặng Tuấn Minh đăng trên số ra ngày 20/10/2015 của Tia Sáng.  1 Một sự kiện vào cuối tuần quy tụ các nhà khởi khiệp và những đối tác liên quan để chia nhóm, hình thành ý tưởng và tạo ra sản phẩm thử nghiệm (prototype, demo) trong vòng 54 tiếng.  2 Câu nói nổi tiếng của Thomas Edison  3 Có thể tìm thấy một số nghiên cứu ở: https://s3.amazonaws.com/startupcompass-public/StartupGenomeReport1_Why_Startups_Succeed_v2.pdf  The Journal in International Entrepreneurship and Management  https://www.researchgate.net/publication/225629671_The_role_of_mentoring_in_the_learning_development_of_the_novice_entrepreneur?enrichId=rgreq-a1142dd5-3250-44ce-9881-  http://www.endeavor.org/content/uploads/2015/03/nycTechReport.pdf  http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.467.7316&rep=rep1&type=pdf    Author                Mike Ducker        
__label__tiasang Nam Bộ: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải gắn với công nghệ chế biến      Tại hội nghị ngày 11/7 ở tỉnh Đồng Tháp về  chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Nam Bộ, Cục trồng trọt (Bộ NN-PTNT) đã  khẳng định sự cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với tốc  độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến.    Những người trồng lúa từng chạy đua tăng 3-4 vụ ở ĐBSCL nay đã thấm thía những rủi ro, hệ lụy khi cứ trồng, cứ tăng năng suất sản lượng mà không cần biết đến hệ thống tồn trữ, bảo quản và hoạt động xúc tiến thương mại ra sao. Trong khi đó, Bộ NN-PTNT thừa nhận, vấn đề của nông nghiệp hiện nay là chưa có những nghiên cứu sâu, rộng về giống, kỹ thuật và quy trình thâm canh cho từng loại cây ở từng tiểu vùng sinh thái, chưa biết nông sản làm ra bán cho ai, thị trường nào…  Giám đốc ADC Pharma, ông Trần Văn Cảnh, nơi tiên phong trong lĩnh vực chiết suất tinh dầu (dược tính) từ rau quả trong 24 giờ nói rằng “nông dân là nhà cung cấp nguyên liệu, nếu họ canh tác đúng quy trình, đáp ứng được yêu cầu của nhà máy, thì thu nhập của họ sẽ cải thiện gấp mấy chục lần so với lúa”.   Còn Phó Tổng giám đốc Antesco, doanh nghiệp đầu tiên tiên sử dụng tài liệu huấn luyện “sáng kiến an toàn thực phẩm (GFSI)” từ Dự án Macbeth do WTO tài trợ để huấn luyện những nhà cung cấp rau quả tham gia chế biến xuất khẩu nói “Nhờ hệ thống nhận diện GFSI từ các nước có dự án, việc kiểm tra, nhận hàng thuận lợi hơn rất nhiều”.  Từng doanh nghiệp có thể giúp cho từng nhóm nhỏ những người nông dân hiểu biết về quy trình, về tương tác giữa hiểu biết sản xuất nguyên liệu với công nghệ chế biến. Và do nông dân ĐBSCL còn sản xuất nhỏ nên việc thiếu quy hoạch định hướng sẽ hạn chế nhiều việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng sức cạnh tranh của nông sản chuyển đổi. Bà Nguyễn Mỹ Thuận, Tổng thư ký Hội Doanh nghiệp TPCT, cho biết ngày 18/7 các doanh nghiệp hội viên ở Cần Thơ, nơi có cụm công nghiệp sẽ thảo luận một vấn đề “Đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp”. TS Thái Thành Lượm, Giám đốc sở Thông tin – Truyền thông Kiên Giang cho biết tỉnh này cũng đăng cai tổ chức hội thảo về “Nông nghiệp sáng tạo” để tiếp tục thúc đẩy nông nghiệp về hướng những triển vọng thực sự bền vững.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm cuốn sách gối đầu giường về “khởi nghiệp tinh gọn”      Khởi nghiệp tinh gọn đã thay đổi toàn bộ cách chúng ta thử nghiệm thị trường và khởi nghiệp.      Thay vì tư duy theo kiểu truyền thống là tập trung đưa ra một kế hoạch kinh doanh với các tính toán tài chính mang tính cảm tính, các mục tiêu kinh doanh thiếu căn cứ cơ sở thực tế, các startup phải kiểm định thị trường, nắm bắt nhu cầu và hiểu cách tạo ra dòng doanh thu để từ đó xây dựng bước đầu mô hình kinh doanh, đặt nền móng cho khởi nghiệp bền vững. Các bạn có thể đặt câu hỏi khởi nghiệp tinh gọn là gì, tại sao nên đọc những cuốn sách này trước khi bạn bắt đầu và sử dụng chúng trong suốt quá trình kinh doanh khởi nghiệp? Đơn giản là vì, có những thất bại rõ ràng bạn sẽ tránh được khi đọc những cuốn sách này. Với cách tiếp cận thực tế, thiên về hướng dẫn, thực hành và thay đổi tư duy, những cuốn sách được chúng tôi giới thiệu dưới đây sẽ thực sự là người bạn đồng hành với bạn trong mọi bước đường khởi nghiệp.  The Startup Owner’s Manual: The Step-By-Step Guide for Building a Great Company. (Sổ tay của các nhà khởi sự kinh doanh: Hướng dẫn từng bước để xây dựng một công ty vĩ đại). Tác giả: Steve Blank & Bob Dorf  Kinh điển với triết lý: “Hãy bước chân ra khỏi văn phòng” để hiểu về thực tế nhu cầu, những khó khăn của khách hàng xung quanh và cả những gì đối thủ cạnh tranh đang làm được, Steve Blank đã làm thay đổi cách vận hành của nhiều startup – vốn cắm cúi ngồi phát triển sản phẩm rồi rơi vào cái bẫy hơn 60% thất bại do thị trường không có nhu cầu. Với việc triển khai mô hình phát triển khách hàng gồm bốn bước: khám phá khách hàng, thẩm định khách hàng, sáng tạo khách hàng và phát triển công ty, tác giả đã chỉ ra những bước hướng dẫn hết sức cụ thể để một startup có thể phát triển khách hàng ngay từ bước đầu tiến đến xây dựng một công ty bền vững. Cuốn sách này có lẽ nên là cuốn sách đầu tiên mọi khởi nghiệp nên đọc để bắt đầu hành trình khởi nghiệp của mình.  The LEAN STARTUP (Khởi nghiệp tinh gọn). Tác giả: Eric Ries. Đã được dịch sang tiếng Việt.  Không phải ngẫu nhiên, phương pháp của khởi nghiệp tinh gọn đã tạo ra một làn sóng hấp dẫn không chỉ với giới khởi nghiệp công nghệ mà còn cả với các công ty lớn. Khái niệm tinh gọn vốn xuất hiện trong sản xuất, giờ được áp dụng trong rất nhiều công ty, tập đoàn lớn. Không thể phủ nhận, cách tiếp cận theo vòng lặp build-measure-learn (xây dựng – đo lường- học hỏi) đã giúp các công ty tiết kiệm rất nhiều cho các dự án phát triển sản phẩm mới và hoạt động nghiên cứu phát triển. Đó cũng chính là lý do, khởi nghiệp tinh gọn với vòng lặp liên tục xây dựng – đo lường- học hỏi đang giúp các khởi nghiệp tiến gần hơn đến nhu cầu thực tế của thị trường, có thể xây những giá trị vượt trội đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức. Cuốn sách thực tiễn với cách giải thích dễ hiểu sẽ thực sự hữu ích cho các công ty khởi nghiệp, các doanh nghiệp đang phát triển sản phẩm dịch vụ mới.   LEAN ANALYTICS- Use data to build a better startup faster. (Phân tích trong khởi nghiệp tinh gọn- sử dụng dữ liệu để xây dựng một khởi nghiệp tốt hơn và nhanh hơn). Tác giả: Alistair Croll; Benjamin Yoskovitz.   Cuốn sách thú vị này lấy cảm hứng từ khởi nghiệp tinh gọn. Thay vì khen ngợi những gì bạn đang nỗ lực làm với chiến lược và kế hoạch kinh doanh, cuốn sách “phủ đầu” bằng tuyên bố “chúng ta đều giả dối”. Hãy ngừng dối trá và nhìn thẳng vào sự thật từ những con số, dùng con số để ra quyết định và hơn thế nữa, dự đoán và lập chiến lược. Bằng cách chỉ ra các chỉ số, con số bạn cần theo dõi trong suốt quá trình khởi nghiệp theo các bước của khởi nghiệp tinh gọn, tác giả đã biến cuốn sách thành một cuốn cẩm nang chỉ dẫn rất chi tiết từ bước hình thành các chỉ số cần đo lường đến sự thay đổi tư duy quyết định dựa trên dữ liệu thu thập được. Cuốn sách góp phần thay đổi những nhận định mang tính cảm tính trong kinh doanh, buộc các nhà sáng lập thường xuyên phải quan sát, thu thập và phân tích những dữ liệu, xây dựng những chỉ số để khởi nghiệp thành công không còn là cuộc chơi may rủi. Với những ví dụ sinh động thực tế, cuốn sách là một phần không thể thiếu cho các bạn khởi nghiệp muốn xây dựng công ty bền vững và liên tục đổi mới. Lean Analytics cùng những cuốn sách về dữ liệu lớn thực sự sẽ mở ra những hướng đi mới giúp không chỉ các công ty khởi nghiệp mà cả các công ty lớn nắm bắt được những cơ hội và xu hướng từ dữ liệu đang nắm trong tay.     Business Model Generation (Tạo lập mô hình kinh doanh. Tác giả: Alexander Osterwalder, Yves Pigneur. Đã được dịch sang tiếng Việt.   Một cuốn sách thực thi đúng chức năng của nó là hỗ trợ bạn từ đầu đến cuối xây dựng mô hình kinh doanh của mình, tạo lập nó một cách bền vững qua từng bước phát triển cấu phần trong mô hình kinh doanh theo thứ tự phân khúc khách hàng, giá trị mang lại, kênh truyền tải thông tin, giá trị đến khách hàng, quan hệ với khách hàng, dòng doanh thu, chi phí, các hoạt động chính, nguồn lực chính. Cuốn sách không chỉ giúp các bạn khởi nghiệp nhìn rõ bức tranh khởi nghiệp của chính mình mà còn là một gợi ý quan trọng cho những doanh nghiệp đang vận hành tạo ra hiểu biết chung cho toàn công ty về mô hình kinh doanh, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo cho cả công ty.   Value proposition Design – How to Create Products and Services Customers Want (Thiết kế tuyên bố giá trị). 2014. Tác giả: Alexander Osterwalder, Yves Pigneur, Gregory Bernarda, Alan Smith.  Một cuốn sách đẹp được viết để bất kỳ ai khởi nghiệp cần hiểu rằng việc mang lại giá trị cho khách hàng là một sứ mệnh thiêng liêng nhưng không hề cảm tính. Các doanh nghiệp cần đi từ việc hiểu về khách hàng, xây dựng canvas về hồ sơ khách hàng, giá trị và sự tương thích giữa hai nhân tố này; tiến đến thiết kế, kiểm định và phát triển những giá trị bạn mang lại cho khách hàng. Cuốn sách không thể không thành công nếu thiếu sự minh họa tài hoa của Trish Papadakos. Những khái niệm đơn giản trở nên dễ hiểu hơn rất nhiều nhờ những hình vẽ sống động mô tả một cách hiệu quả các thức tiến hành việc kiểm định và thiết kế tuyên bố giá trị. Cùng với Business Model Canvas và những cuốn sách khác của khởi nghiệp tinh gọn, bạn sẽ nhận ra rằng, bạn cần phải trải qua các bước rất chi tiết, tỉ mỉ nhưng không kém phần thách thức và hấp dẫn để thực sự khiến khách hàng yêu thích sản phẩm, giá trị mà bạn mang lại để công ty khởi nghiệp bền vững.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm dự án khởi nghiệp vào chung kết VSEED      Năm dự án khởi nghiệp kinh doanh sẽ tranh  tài tại vòng chung kết cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp doanh nghiệp xã hội  do Dự án Hỗ trợ và Phát triển Doanh nghiệp xã hội (VSEED) tổ chức vào  sáng 15/6 tại Đại học Hà Nội.     Năm dự án đó là: Dự án New Soul (Tư vấn tâm lý, giáo dục cho học sinh, sinh viên nhằm giảm thiểu tình trạng bất ổn tâm lý, tự tử, bạo lực học đường, tội phạm vị thành niên); Dự án Bé Mầm (Đào tạo, bồi đắp tay nghề và nâng cao đời sống cho những người khuyết tật, nhiễm chất độc màu da cam có khả năng vẽ thông qua việc sản xuất, tiêu thụ các sản phâm sản phẩm truyền thông, đồ lưu niệm); Dự án Dr Da (Nuôi dưỡng, đào tạo và phát triển môi trường làm việc lành mạnh, tích cực cho đối tượng trẻ em lang thang, cơ nhỡ thông qua nghề chăm sóc da giày); Dự án Rau hữu cơ (Cung cấp những giỏ Rau hữu cơ với tỷ lệ dinh dưỡng khoa học đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng, xây dựng một cộng đồng tiêu dùng bền vững nhằm giúp người sản xuất và người tiêu dùng xích lại gần nhau hơn); Dự án Vườn Rau Babilon (Sản xuất rau sạch bằng phương pháp thủy canh và xử lý phế phẩm nông nghiệp).   Các đội sẽ tranh tài qua hai vòng thi: Vòng 1, mỗi đội có 2 phút trình bày những vấn đề xã hội mà họ nhận thấy và mong muốn giải quyết bằng mô hình Doanh nghiệp Xã hội; Vòng 2, mỗi đội có 5 phút thuyết trình về dự án của mình và 10 phút để lắng nghe cũng như phản biện những câu hỏi từ phía Ban giám khảo.  Vòng chung kết mang tên “Cập Bến” là hoạt động cuối cùng của “Hành trình Những người trẻ Phi lý” – chuỗi hoạt động nâng cao năng lực cho sinh viên về phát triển doanh nghiệp xã hội do VSEED thực hiện từ tháng 3/2013 và được sự hỗ trợ của Đại sứ quán Hoa Kỳ và trường Đại học Hà Nội  Chương trình với mục tiêu thay đổi quan niệm kinh doanh vì lợi nhuận truyền thống sang hướng kinh doanh cân bằng giữa các lợi ích “Kinh tế – Xã hội – Môi trường” của mô hình Doanh nghiệp xã hội, đã thu hút hơn 250 đơn đăng ký của bạn trẻ trên cả nước.   Giải thưởng vòng chung kết bao gồm một giải Nhất (6 triệu đồng); một giải Nhì (4 triệu đồng); và một giải Ba (3 triệu đồng).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nấm là thành viên chính trong phần lớn các hệ sinh thái      Một nhóm các nhà nấm học Western đã dành hai mùa hè ở khu vực ẩm ướt và bẩn thỉu bậc nhất ở Newfoundland để tìm hiểu về các loại nấm và tìm thấy sự thật đằng sau những mũ nấm: chúng đích thị là “nhân vật chính” trong phần lớn các hệ sinh thái trên mặt đất.    Các loại nấm nói chung, trong đó có cả nấm ăn, đóng vai trò quan trọng một cách mật thiết trong mọi hệ sinh thái trên trái đất vì chúng cung cấp các nguồn dưỡng chất và khoáng chất một cách bền vững để duy trì sự sống của cây trồng khi phân giải cành cây, lá khô…, và phân giải cả các sản phẩm hữu cơ, vô cơ trong các quần xã sinh vật khi chúng phát triển và sinh sản.  “Có rất nhiều nhà sinh thái đang bắt đầu nhận ra rằng nấm có thể thực sự vận hành cả thế giới theo cách của mình. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian trong suốt cuộc đời mình chỉ để tập trung vào những thứ diễn ra trên mặt đất, những thứ chúng tôi thấy như cây cối, động vật, chim chóc”, giáo sư sinh học trường Western Greg Thorn nói. “Nhưng trên thực tế, cây cối lại có mối quan hệ mật thiết với nấm và về cơ bản không thể ở đó (trên mặt đất) mà lại thiếu chúng được”.  Nấm khiến cho chất dinh dưỡng lúc nào cũng sẵn có cho cây cối theo nghĩa phân giải và tái sử dụng dinh dưỡng, hoặc vận chuyển một cách trực tiếp chất dinh dưỡng đến thực vật hoặc trong một số trường hợp là xảy ra cả hai.  “Sự đa dạng và thành phần của cộng đồng nấm tại một nơi thực sự tác động đến những gì diễn ra về mặt sinh thái cả về thành phần thực vật và năng suất”, Thorn nói. “Nếu cây cối tăng trưởng nhiều hơn, ở đó có sẵn thức ăn cho động vật hơn. Vì vậy thực sự là toàn bộ mọi điều trên thực tế chúng ta quan tâm đều bắt đầu trong lòng đất với việc nấm đóng vai trò thúc đẩy những thứ đó”.  Nấm là máy hút bụi của tự nhiên  Katarina Kukolj, một học viên cao học trong phòng thí nghiệm của Thorn, thực hiện một nghiên cứu tìm hiểu về những ảnh hưởng của nấm gỗ thổi (Lepista nuda), một loại nấm ăn được có trong môi trường đất ven biển Newfoundland, cụ thể là trong cộng đồng Lumsden.  Trên cơ sở nghiên cứu của Thorn, Kukolj muốn biết tại sao và cách nào khiến nấm gỗ thổi về cơ bản ‘tấn công’ các vi động vật (gồm cả động vật và sinh vật nguyên sinh) sống trong đất và đóng vai trò như một loại máy làm sạch tự nhiên khi ăn các vi khuẩn, phân giải chất dinh dưỡng dư thừa và tạo ra những cái mới.  Những nghiên cứu trước đây về nấm thổi đã cho thấy các đặc tính và sức mạnh chống vi sinh vật của chúng trong phòng thí nghiệm nhưng chưa óc nghiên cứu ở hiện trường nào quan sát được sự tăng trưởng của nấm gỗ thổi trong môi trường tự nhiên. Nghiên cứu của Kukolj bao gồm việc lấy các mẫu thử trong đất tại nhiều thời điểm khác nhau để biết về sự xuất hiện một cách tự nhiên nhất các phần của nấm thổi (tương tự như những vân vòng cây lấy gỗ), các phần đất gần đó có cấy nấm Blewit mycelium (cấu trúc giống rễ của một loại nấm) do một đối tác công nghiệp là Nuspora Life Sciences Inc. tạo ra, và các vùng đất khác về mặt địa lý không có nấm thổi.  Pha nghiên cứu này của cô vẫn còn đang được thực hiện, Kukolj không có đầy đủ mọi câu trả lời cho vấn đề của mình nhưng có một điều có thể chắc chắn: những loài nấm đó đều rất lớn.  “Những cây nấm thổi mà chúng tôi đang nghiên cứu đều rất lớn và rất nặng”, Kukolj nói. “Nơi chúng lớn, không có nhiều đất lắm đâu, vì vậy chúng không có nhiều vật liệu để phân rã. Và chúng tôi cho rằng có vi khuẩn trong đó. Vậy câu hỏi là trong đất có gì? Đó chính là điều tôi đang nghiên cứu”.  Hiện ở trong phòng thí nghiệm, Kukolj đang phân loại các loài chân đốt (côn trùng, nhện và giáp xác), giun tròn (các loài giun không phân đoạn, cụ thể là dài khoảng 0,05 millimeters), vi khuẩn, nấm trong các cộng đồng đất và phân biệt độ phong phú của chúng bằng việc sử dụng kỹ thuật tách chiết DNA, nhận diện và giải trình tự.  Kukolj tin là nghiên cứu của mình có thể giúp có thêm dữ liệu cho việc sử dụng nấm gỗ thổi như một phân bón sinh học cho việc trồng trọt hữu cơ. Nấm gỗ thổi có thể là một giải pháp thân thiện với môi trường thay thế cho các phân bón hóa học tổng hợp. Chúng không độc hại và có thể không bị phân hủy vào các dòng chảy.  “Tôi luôn luôn quan tâm đến tự nhiên và nấm, và quan tâm đến môi trường. Nông nghiệp là một trong những điều thực sự chúng ta có thể làm được tốt hơn, theo nghĩa giảm thiểu các phân bón vô cơ độc hại. Nó đang làm hủy hoại các hệ sinh thái”, Kukolj nói. “Với việc nông nghiệp hữu cơ ngày một trở nên phổ biến hơn, và con người cũng biết rằng phân bón vô cơ độc hại với môi trường. Nếu nấm gỗ thổi có thể thay thế một trong những loại phân bón độc hại đó thì nó sẽ đem lại kết quả tốt đẹp biết bao”.  Vì là một loài nấm ăn được nên Kukolj đề xuất là nấm gỗ thổi có thể trở thành một giải pháp thu hoạch tiềm năng cho nông dân, ngoài việc là thuốc trừ sâu sinh học nhưng điều này vẫn cần có những nghiên cứu tiếp theo.  Gốc rễ của vấn đề  Alicia Banwell, cũng là một học viên cao học trong phòng thí nghiệm của giáo sư Thorn, đang tập trung vào việc tái sinh rừng và vai trò của nấm trong trong việc tái sinh các cánh rừng của Canada.  Khi một khu rừng, giống như một nghiên cứu của Banwell ở vịnh Gander, Newfoundland, bị phá thù thường cây non được trồng trong khu vực bị phá để thay thế cho thế hệ tiếp theo. Trong khi cây non được ươm một vài năm trong vườn ươm, chúng phát triển một lớp thảm xoắn nấm kết nối với rễ của mình, gọi là nấm cộng sinh (ectomycorrhizal fungi).  Các khu rừng cũng có những thảm nấm cộng sinh của chính mình, người ta có thể thấy chúng nằm dưới lớp rêu và đất. Những hình thức nấm như thế này hình thành một mạng lưới ngầm trong rừng, cho phép cây kết nối với mạng lưới chuyên chở các nguồn carbon, nitrogen, và cả những dưỡng chất khác với nhau, góp thêm vào việc tạo ra nhiều loại nấm ăn như nấm mồng  gà (chanterelles). Trong nghiên cứu của mình, Banwell lấy mẫu rễ của các loại cây có trong rừng và cây non cô trồng tại đó, vốn là cây công nghiệp điển hình trồng tại địa phương. Chỉ có một vài loài nấm sống trong vườn ươm nhưng trong rừng, có một mạng lưới đa dạng các loài nấm, ví dụ như các loại nấm mồng gà (Cantharellus enelensis) và các loại cây được dành để tái trồng ở các khu rừng ở Newfoundland. Một lần nữa, bất chấp sự nghèo nàn của đất.  “Các bào tử nấm có mặt ở khắp nơi. Mọi cây non trong vườn ươm đều có một số loại bám trên hệ rễ của chúng”, Banwell nói. “Tôi muốn biết cách chúng hoạt động khi được đưa vào môi trường tự nhiên. Vậy loài nấm cộng sinh trên cây non được ươm trong vườn ươm ảnh hưởng như thế nào đến nấm cộng sinh trong rừng, bao gồm cả nấm mồng gà ăn được? Liệu chúng có thể thay thế được nấm cộng sinh ở trong rừng không? Hay nấm cộng sinh ở trong rừng có thể thay thế chúng?”.  Vẫn chưa có đủ dữ liệu để cho biết thông tin về bất kỳ phát hiện nào mới nhưng các câu trả lời sẽ nói với Banwell những gì đang diễn ra đối với nấm cộng sinh trong rừng và rừng tái sinh, và có thể có tiềm năng dẫn đến nghiên cứu xa hơn về cách thực hành tái sinh rừng có thể được cải thiện để bảo vệ sự đa dạng sinh học của nấm như thế nào.  Tương lai là nấm  Cả Kukolj và Banwell đều thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo sư Thorn, tương lai tươi sáng đang hé lộ với những nhà nấm học tương lai. Giống như tự bản thân nấm, giáo sư Thorn nói, công nghệ sinh học về nấm là ngành công nghiệp đang ngày một phát triển với những ứng dụng mới về nấm, như nấm gỗ thổi và nấm mồng gà, đang được khám phá và phát triển mỗi ngày.  “Con người đang sử dụng nấm theo rất nhiều cách chưa từng biết đến trước đây. Nấm đàn được sử dụng để tạo ra các chất thay thế stiron bọt, thịt nhân tạo cho đồ chay, và cả những loại thuốc mới. Có rất nhiều loại kháng sinh mới được phát triển từ nấm. Thật thú vị và hào hứng khi được nghiên cứu về nấm!”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-mushrooms-main-character-ecosystems.html  https://topteknews.net/mushrooms-serve-as-main-character-in-most-ecosystems-s183936.html    Author                .        
__label__tiasang Năm lời khuyên để công ty khởi nghiệp vươn ra toàn cầu      Dù còn nhiều tranh cãi thì ở Việt Nam có thể nói tồn tại hai kiểu khởi nghiệp: những khởi nghiệp thuộc phạm vi trong nước và phạm vi toàn cầu.       Ở bình diện đầu tiên rõ ràng nhận thấy ba “ông lớn” là VNG, VC Corp và Vật Giá, còn ở bình diện thứ hai cũng có một số gương mặt nổi tiếng, trong đó xuất sắc nhất là DotGears, công ty có lập trình viên Nguyễn Hà Đông sáng tạo ra trò chơi Flappy Bird, cùng với những công ty khác như Not A Basement, TOSY, Misfit Wearables, INKredible, Adatao, KMS… Nhiều công ty trong số này thậm chí còn không muốn kết nối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước bởi họ chỉ muốn tập trung tối đa vào khởi nghiệp và sản phẩm của mình mà bỏ qua việc xác định thị trường trong nước hay quốc tế.      Ngay cả ba “ông lớn” đang cố thủ trong thị trường nội địa cũng tỏ ra ghen tị với các công ty khởi nghiệp nhỏ này bởi bản thân họ rất khó chuyển hướng sang một thị trường khác. Một khi đã bắt rễ sâu trong thị trường Việt Nam thì các nhà lãnh đạo công ty có thể bắt đầu suy nghĩ như thế nào về thị trường toàn cầu? Chắc chắn sẽ rất khó khăn bởi họ phải tuyển dụng đội ngũ mới và thiết kế lại chiến lược kinh doanh.     Hai công ty khởi nghiệp có trụ sở ở Việt Nam nhưng vẫn duy trì mục tiêu toàn cầu nói rằng “Tôi không quan tâm đến thị trường Việt Nam. Đơn giản là tôi bỏ qua nó”. Mặc dù nghe có vẻ cực đoan nhưng đó chính là nhuệ khí để một công ty vươn ra toàn cầu, thị trường Việt Nam chỉ khiến họ phân tâm hơn. Đây chính là một phần trong lời khuyên dành cho những ai muốn bước ra khỏi thị trường nội địa.      1. Bỏ qua môi trường xung quanh     Có nhiều điều người ta vẫn cảm thấy chưa hài lòng với môi trường Việt Nam, chủ yếu ở cách tư duy, cách quản lý, cách làm ra tiền, vấn đề giáo dục… Nhưng nếu muốn thành công, bạn cần phải vượt khỏi những điều đó. Và nếu muốn giành thắng lợi bên ngoài phạm vi Việt Nam, bạn không thể thuộc về Việt Nam mà chỉ ở trong Việt Nam. Cách tư duy và phương pháp luận phải xuất phát từ nơi khác, không nên để môi trường xung quanh cản trở suy nghĩ của bạn.     2. Đón nhận những người bạn, nhà cố vấn và đầu tư nước ngoài.      Cách tốt nhất để vươn khỏi môi trường Việt Nam là xây dựng mạng lưới và kết bạn với những người nước ngoài, qua đó nhận thấy rõ những gì xảy ra trên thế giới. Ví dụ như Nguyễn Hà Đông, tác giả của Flappy Bird, đã làm việc suốt một năm với các nhà thiết kế game Nhật Bản. Đó cũng là quãng thời gian Hà Đông khám phá chính mình và tìm được phong cách riêng. Việc tiếp xúc với những người nước ngoài đem lại cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn và giúp bạn suy nghĩ độc đáo.      3. Mời người nước ngoài hoặc người học ở nước ngoài về công ty của bạn     Nếu muốn bạn thật sự muốn tham khảo một cái nhìn từ bên ngoài, bạn cần có “con ngựa thành Troy” ở ngay chính công ty của mình. Điều đó có nghĩa là hãy thuê một người nước ngoài hoặc một người Việt Nam từng học ở nước ngoài về công ty của bạn. Không còn nghi ngờ gì nữa, bạn sẽ đụng độ với người này. Ý tưởng và và văn hóa của hai bên khác nhau nhưng đó chính là những gì bạn cần. Bạn cần tầm nhìn rộng. Nếu không bạn sẽ bị mắc kẹt trong chính lối suy nghĩ của mình.      4. Hãy xuất sắc ở khâu thiết kế và sáng tạo sản phẩm     Tại Việt Nam, hai khâu còn yếu chính là thiết kế và sáng tạo sản phẩm. Nguyên do là lĩnh vực công nghệ còn non trẻ và các nhà thiết kế vẫn chưa được đề cao đúng mức trong cộng đồng. Nếu quan sát phần lớn các sản phẩm Việt Nam, bạn sẽ thấy chúng đầy rẫy những chi tiết mà người sử dụng hay nhà quản lý sản phẩm không cảm thấy nhất thiết phải có. Điều đó cản trở sản phẩm của bạn đến với thị trường toàn cầu. Các sản phẩm mang tính toàn cầu cần có tính năng nổi trội và một tính năng nổi trội còn quan trọng hơn hàng đống chi tiết vụn vặt.       5. Tuyển dụng những người không cần phải đào tạo thêm     Như vậy là kỳ vọng quá nhiều. Nhưng phải tuyển những mà bạn chỉ phải đào tạo thêm ở mức tối thiểu. Họ phải chủ động và đủ thông minh để xây dựng được những sản phẩm trên sân chơi toàn cầu. Nếu công ty của bạn chưa ở trình độ toàn cầu mà bạn lại còn mất thời gian đào tạo nhân viên trẻ thiếu động lực, bạn sẽ lãng phí thời gian của chính mình. Đặc biệt là ở Việt Nam, con người không được chủ động cho lắm. Người ta sợ mắc sai lầm và những người mới thường xuyên cần được nhắc nhở những nhiệm vụ họ phải hoàn thành. Không nên tuyển những người như vậy. Hãy tuyển những người có thể bám trụ cả đêm để làm sản phẩm chỉ vì họ muốn như vậy. Đây chính là những người sẵn sàng cùng bạn lên chuyến máy bay cất cánh rời Viêt Nam.    T.N dịch               Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm mới nói chuyện đồ cũ – Góc nhìn về kinh tế tuần hoàn      Năm 2018-2019 chúng ta chứng kiến một loạt các startup “secondhand” kinh doanh các sản phẩm cũ đã qua sử dụng huy động vốn lớn, trong đó có những kỳ lân công nghệ. Điều này đặt ra câu hỏi liệu đã đến thời của kinh tế tuần hoàn? Có thách thức nào cho những mô hình này? Bài viết xin giới thiệu một số mô hình kinh doanh sáng tạo mang bóng dáng của kinh tế tuần hoàn, và chia sẻ một vài góc nhìn cá nhân về vấn đề này.      Vinted – một chợ quần áo, phụ kiện đã qua sử dụng đã trở thành kỳ lân công nghệ khi được định giá 1 tỉ USD.  Ngành thời trang: Có thể nói chưa bao giờ ngành thời trang lại xuất hiện nhiều startup theo hướng “kinh tế tuần hoàn” như vậy. Trên thế giới, ModaCruz (2014), và gần đây là Vinted – một chợ quần áo, phụ kiện đã qua sử dụng –  kỳ lân công nghệ đầu tiên của quốc gia nhỏ bé Lithuania- gọi thành công vốn 128 triệu euro (tương đương khoảng 141 triệu USD) từ Silicon Valley – Lightspeed Venture Partners và được định giá 1 tỷ USD. Vinted trở thành một trong những “chợ điện tử” về đồ secondhand lớn nhất thế giới. Khởi nguồn của Vinted cũng đi ra từ chính nhu cầu bức thiết của người đồng sáng lập Milda Mitkute, muốn thoát khỏi đám quần áo thừa khi chuyển sang một căn hộ mới.   Worn Again là một startup từ Vương quốc Anh đã chuyển đổi ngành dệt và thời trang bằng công nghệ tái chế polymer. Sau hơn sáu năm nghiên cứu không mệt mỏi, họ đã phát triển được quá trình hóa học để ngăn cách, khử nhiễm và tách các polymer polyester và cellulose từ những sản phẩm dệt không thể tái sử dụng được cũng như các chai nhựa, đóng gói và chuyển sang vật liệu thô. Startup này được nhà đầu tư, doanh nhân số của Nga Miroslave Duma, người đầu tư các startup công nghệ thời trang thông qua Future Tech Lab. Gọi vốn từ H&M 5 triệu USD, công ty đang tăng tốc để thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn.   Cùng với hai tên tuổi trên, người ta còn bắt gặp hàng loạt các nền tảng khác từ suốt giai đoạn 2012-2019, như StockX, enjoei, Dabchy, Renova Tu Vestidor v.v.   Đồ gia dụng, nội thất: Letgo là một ứng dụng tiêu biểu cho phép người dùng mua bán đồ đã nhận cam kết đầu tư 500 triệu USD từ Naspers để bước vào vòng tăng trưởng. Với một startup ba năm tuổi, với hơn 100 triệu lượt tải, 400 triệu món đồ và 6 tỷ tin nhắn giữa những người dùng (đa số là ở thị trường Mỹ) và đạt mức tăng trưởng 65% số giao dịch đăng tải so từ đầu 2018. Điểm khác biệt của letgo khiến ứng dụng này trở nên phổ biến một cách nhanh chóng là khả năng kết hợp công nghệ như nhận diện hình ảnh, thiết kế trực giác (intuitive design) giúp việc mua bán dễ dàng hơn rất nhiều. Nhấn mạnh vào sự đơn giản, đỡ tốn công sức, chỉ cần hình ảnh là công nghệ của letgo đã có thể tự động gợi ý tên, giá và phân loại. Letgo đã trở thành một ứng dụng thành công nhất nước Mỹ trong mảng secondhand và được ghi nhận bởi những tên tuổi lớn như Google.   Nông nghiệp và thực phẩm: Startup Đan Mạch – Too Good To Go tập trung vào giải quyết vấn đề lãng phí thực phẩm. Loài người đang lãng phí và bỏ đi 1/3 số thực phẩm được sản xuất ra trong khi đó rất nhiều người đang chết đói và môi trường thì phải gánh chịu hậu quả. Thành lập tại Copenhagen năm 2015, Too Good To Go cho phép mọi người mua đồ ăn thừa, thức ăn chưa bán được từ các nhà hàng, quán café, siêu thị, các cửa hàng bánh thay vì những nơi này phải đổ bỏ. Công ty đã mở rộng mô hình của mình ra 12 quốc gia trên thế giới và mong muốn tiết kiệm được 20 triệu bữa ăn /năm.   Ngoài ba ngành kể trên, ngành xây dựng, ô tô, logistics cũng là những ngành đang có nhiều mô hình đi theo xu hướng này.   Qua một số ví dụ, có thể thấy startup thuộc nhóm hướng đến kinh tế tuần hoàn này bước đầu thành công là do sự xuất hiện “đúng thời điểm”, yếu tố quan trọng nhất trong năm nhân tố dẫn đến thành công của một startup theo Bill Gross (1. Thời điểm; 2. Đội nhóm; 3. Ý tưởng khác biệt; 4. Mô hình kinh doanh; 5. Vốn). Ví dụ, vào thời điểm mà nhiều sự quan tâm bắt đầu đổ dồn vào giảm rác thải nhựa, giảm lãng phí, tái sử dụng v.v. cùng với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ và sự ra đời các nền tảng thì mô hình của Vinted trong ngành thời trang phụ kiện được chú ý. Trong khi, thời trang tiêu dùng nhanh đang tạo ra những áp lực tiêu cực cho môi trường do quá trình sản xuất cũng như chất liệu không thân thiện với môi trường thì sự thành công của Vinted, Letgo hay sự tăng trưởng chậm lại của ngành thời trang “ăn liền” là điều dễ hiểu.   Tuy nhiên, trong khi kinh tế tuần hoàn còn là một khái niệm mới mẻ và gây tranh cãi về hiệu quả thực sự, thì cũng còn quá sớm để nói đến sự thành công triệt để của những mô hình kinh doanh theo hướng này. Các nền tảng bán đồ secondhand đang mọc lên như nấm trên khắp thế giới không đảm bảo sự thành công và trở thành một xu hướng có tác động đột phá. Không mô hình nào giải quyết trọn vẹn các bước của mô hình kinh tế tuần hoàn trên lý thuyết để giảm hoặc loại bỏ hẳn việc gây ra ô nhiễm môi trường. Làm sao để nó thực sự giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường về gốc rễ chứ không chỉ là cách kiếm tiền mới từ những thứ đồ cũ bởi sau khi những thứ cũ được sử dụng tới lần thứ 2, 3 v..v đến bước tiếp theo sẽ là gì? Rất nhiều mô hình trong số này không thể trả lời câu hỏi đó. Chưa kể đến, thách thức lớn nhất đôi khi không nằm ở mô hình mà lại nằm ở yếu tố tư duy và hành vi người dùng. Từ ý thức bảo vệ môi trường cho đến hành động và chuyển hóa thành thói quen hằng ngày là cả một nỗ lực rất lớn. 30 năm trước, túi nilon hầu như không hiện diện trong đời sống của người dân Việt Nam, các thứ gói bọc về cơ bản vẫn có nguồn gốc tự nhiên như lá chuối. 30 năm sau, người ta vẫn không thể thay thế nó ngay lập tức dù hiểu nó có tác động đến môi trường v..v. đơn giản vì nó quá rẻ và quá tiện. Sự ra đời của túi nilon vốn cũng vì mục tiêu bảo vệ môi trường, giúp con người tái sử dụng thay vì dùng một lần thì chính hành vi của chúng ta đang biến một sản phẩm ra đời với mục đích bảo vệ môi trường thành kẻ thù của môi trường. Chúng ta chuyển từ hành vi tái sử dụng sang dùng một lần và vứt bỏ.     Sơ đồ: So sánh sự khác biệt giữa mô hình kinh doanh truyền thống và mô hình kinh tế tuần hoàn.  Hình ảnh được vẽ lại dựa trên nguồn của Catherine  Mọi mô hình công nghệ cũng sẽ chỉ là công cụ nên sẽ không thể mong những mô hình này tạo tác động ngay lập tức một sớm một chiều giống như kiểu người ta đổ xô đi mua các sản phẩm theo xu hướng. Trên thực tế, những mô hình này thường bắt đầu được ủng hộ từ những nhóm cá nhân, người dùng có cùng nhận thức, rồi thay đổi nhận thức của những người mới thực thi hành vi lần đầu, dần dần thành lập thói quen để hướng con người tới lối sống bền vững hơn. Cũng chính vì vậy, nó cần thời gian.   Có một điều không thể phủ nhận là những mô hình này đang nỗ lực thay đổi nhận thức của nhiều người và rằng những mô hình theo hướng kinh tế tuần hoàn đang thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, của chính các thương hiệu lớn như H&M, Zara v.v. Nó cũng chứng minh cho một thực tế, chúng ta không thể giải quyết vấn đề theo cách cũ, cách chúng ta đã dùng để tạo ra nó như Einstein từng nói, chúng ta cần những giải pháp mới, công nghệ mới và cách tiếp cận mới. Do đó, nếu quan sát chúng ta sẽ thấy song song với những mô hình mới, công nghệ mới vẫn đang phát triển hằng ngày hằng giờ, có một xu hướng đang thu hút được không ít sự chú ý, đó là ngày càng xuất hiện nhiều những startup tập trung vào sử dụng công nghệ để thay đổi thói quen và lối sống. □  ——  Nguồn tham khảo:  https://www.dw.com/en/secondhand-clothing-retailer-is-lithuanias-first-tech-unicorn/a-51608870  http://vneconomy.vn/tieu-dung/dep/lua-chon-trang-phuc-co-tac-dong-toi-trai-dat-20190625105912572.htm  https://www.eu-startups.com/2019/08/10-promising-circular-economy-startups-that-set-out-to-make-our-world-a-better-place/  https://tracxn.com/d/trending-themes/Startups-in-Second-Hand-Fashion-Marketplaces  Theo tính toán của nền tảng thredUp và công ty phân tích bán lẻ Global Data, thị trường đồ đã qua sử dụng bao gồm cả cho thuê quần áo được định giá 24 tỷ USD năm 2018 và sẽ tăng lên mức 68 tỷ USD vào năm 2028. Trong khi đó thị trường thời trang nhanh từng được định giá 35 tỷ USD năm 2018 sẽ chỉ đạt con số 44 tỷ USD sau 10 năm. Theo Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA), 84% quần áo bị bỏ đi đã đi đến bãi rác hoặc lò thiêu rác. Khi các sợi vải tự nhiên như cotton, linen và lụa hay sợi bán tổng hợp được tạo ra từ cellulose thực vật, được vùi lấp ở bãi rác, chúng sẽ tạo ra khí thải nhà kính khi phân hủy. Nguồn: VnEconomy    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Năm nguyên lý cho một nền kinh tế khỏe      Tiến sĩ kinh tế Alan Phan tổng kết năm nguyên lý mà ông cho là bất diệt của một nền kinh tế thực.    Vài chục năm trước tôi mất khá nhiều thì giờ  nghiền ngẫm những bài nghiên cứu phân tích rất công phu của các tiền  bối trong giới hàn lâm về kinh tế. Dĩ nhiên, mỗi người một kiểu, mỗi vị  một góc nhìn, tên tuổi càng cao thì bài viết càng khô khan, phức tạp. Ai  cũng cố gắng thể hiện đẳng cấp, trong một sân chơi đầy thiên tài và  những luật lệ khắt khe.  Sau khi sống sót trong môi trường đó một cách chật vật, tôi từ giã học đường, ra ngoài kinh doanh và nhận thấy các “người dân thường” cũng có đầy những khôn ngoan hiểu biết không kém gì các đại trí giả trong tháp ngà. Họ lại có thêm cái dũng khí là dám làm dám thua, nên ít hoang tưởng về những giả thuyết chỉ đẹp trên giấy tờ.  Họ không có những ngôn từ hoa mỹ khó hiểu để “làm dáng trí thức”, do đó, cái mộc mạc của tư duy họ thấm đậm vào tri thức dễ dàng hơn, sống động hơn. Thêm vào đó, những khôn ngoan này đã được truyền lại từ cha ông và được minh chứng qua bao thời đại lich sử. Tôi gọi chúng là các nguyên lý bất diệt của một nền kinh tế thực.  1. Dân có giàu, nước mới mạnh  Gần đây, trong cuốn sách “Why nations fail?” hai tác giả Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết là khi cơ chế của cấu trúc kinh tế dồn quyền lực vào tay một thiểu số nhóm người hay nhóm lợi ích thay vì phân tán ra cho đại đa sồ người dân, thì cái sân chơi không bình đẳng này sẽ không giải phóng hay bảo vệ tiềm năng của mỗi công dân trong việc sáng tạo, đầu tư và phát triển.  Nói nôm na là nếu tiền và quyền cứ tập trung vào tay các đại ca thì dân vẫn nghèo vẫn ngu và kinh tế sẽ không phát triển được. Kinh tế lụn bại thì quốc gia sẽ yếu kém, dễ bị bắt nạt. Quốc gia yếu kém nghèo khổ thì khó mà tự hào dân tộc để tạo sức bật cho đột phá, đặc thù. Muốn yêu nước hay cứu nước, hãy làm đủ cách để dân giàu lên.  2. Phải có hủy diệt mới có sáng tạo  Hai ông Acemoglu và Robinson cũng nói thêm là phát triển kinh tế bền vững cần sự sáng tạo và sáng tạo phải đi kèm với hủy diệt. Hủy diệt cái cũ đã hư thối mục nát để thay chúng bằng cái mới năng động hiện đại. Trong thiên nhiên, cây già phải chết đi thì mới có chỗ cho những mầm xanh nẩy lộc; hoa trái mới sung mãn tươi tốt.  Tóm lại, nhà nước không chấp nhận hủy diệt thì sẽ mở hầu bao dài dài để “cứu” các nhóm lợi ích và tạo nên những doanh nghiệp zombie (xác chết biết đi) khắp nơi. Zombies không thể sáng tạo hay cạnh tranh trên sân chơi tự do. Kinh tế sẽ phải khép kín và kinh nghiệm qua lịch sử gần đây đã cho thấy những hệ quả gì khi bế quan tỏa cảng.  3. Giá thị trường luôn luôn chiến thắng  Một kinh tế gia khác, cô Alice Amsden, nghiên cứu về hiện tượng “định giá sai” (getting the wrong price) của các nền kinh tế gặp khủng hoảng như Hàn Quốc, Nhật vào các thập niên trước. Cô nhận xét là các chính phủ này thường hổ trợ và ban phát ân huệ cho các lĩnh vực ngành nghề mà họ nghĩ là cần thiết. Điều này làm giá cả méo mó như giá bất động sản, giá điện nước xăng dầu, tỷ giá để cạnh tranh xuất khẩu…Ngân hàng thì đổ tiền dân theo chính sách chính phủ thay vì nhu cầu thị trường. Vì sự lệch lạc này, tiền công và tư đổ vào những nơi mà giá tài sản có lợi nhất cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, giá không thể cứ “sai” hoài, và khi giá quay về với định luật cung cầu của thị trường, các đầu tư sai lầm này sẽ gây nợ xấu cho ngân hàng, phá vỡ bong bóng tài sản và tạo những lỗ lã cho các doanh nghiệp, lớn và nhỏ.  Trên thế giới, vì mị dân và cũng vì quyền lợi của phe ta, các chính phủ thường áp dụng chánh sách kiểm soát giá cả, kể cả tỷ giá và lãi suất. Điều này tạo hiệu quả một thời gian, nhưng giá sẽ luôn luôn điều chỉnh lại theo thị trường thế giới vì không một nền kinh tế nào có thể tồn tại lâu dài trong cô lập.  4. Giấy tờ hay lời nói không thể sản xuất được giá trị  Có thể có một giáo sư đại học nào đã nghiên cứu về hiện tượng này. Nhưng tôi hơi lười google, nên nghe theo lời bình luận của ông thợ hớt tóc già của tôi trong xóm Malibu (California) vậy. Tích tụ 40 năm kinh nghiệm qua những chuyến du lịch khắp 26 nước (các tấm ảnh treo đầy trên tường của tiệm), ông nhận xét rằng xứ nào càng trưng nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ… của chánh phủ đầy đường phố thì xứ đó càng nghèo.  Các quan chức rất ngây thơ khi nghĩ rằng khi đặt ra một vài câu nói khéo léo để thúc đẩy sản xuất hay làm sạch hè phố hay không lừa bịp du khách là dân sẽ răm rắp thi hành. Chỉ một vài biện pháp hành chánh là nền kinh tế quay đầu tự tái cấu trúc và thế giới sẽ yên đẹp như mong ước. Đôi khi, tôi yêu cái ngây thơ hoang tưởng này như nhìn một đứa bé vừa lớn, tập tễnh học đi theo quán tính rồi ngã khóc, bắt đền cha mẹ.  Ở một mặt khác, chính phủ nào cũng có những luật chơi và chánh sách chế tài để ngăn chận người dân đầu cơ tích trữ hay thao túng thị trường. Chẳng hạn, sở chứng khoán nào cũng phạt nặng các lạm dụng như thông tin nội gián, thổi phồng hay bóp méo sự việc có lợi cho cổ phiếu phe mình. Trong khi đó, chính phủ không ngần ngại đầu cơ tích trữ hay dùng bộ máy tuyên truyền của mình để lái giá cả theo chiều hướng quy định trong cái gọi là “quốc sách” như chỉ số lạm phát hay tăng trưởng GDP. Các chánh phủ hết sức nhậy cảm khi giá bất động sản hay chứng khoán giảm sâu, vì đây là nguồn thu thuế; và ở Trung Quốc, là nguồn thu nhập chính của quan chức. Nếu cần, chính phủ sẽ làm y như các đội lái tàu mà theo luật, đây là phạm tội.  5. Cha chung không ai khóc  Một tay lừa đảo khá nổi danh vào thập niên 1960’s của Mỹ tên Bernie Cornfeld. Anh ta lập một công ty gọi là OPM International. Sau khi vào tù, anh tiết lộ OPM là chữ tắt của Other People’s Money (tiền người khác). Hiện tượng xài hay đầu tư tiền người khác thoải mái vẫn rất thông dụng trong các ngân hàng, các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp nhà nước, ngay cả các công ty đa quốc. Quốc hội Mỹ có lần làm tôi bật cười khi ngài Thương Nghị Sĩ ngây thơ hỏi một anh nhân viên kinh doanh mới 27 tuổi sao anh chấp nhận quá nhiều rủi ro khi đánh cược cả tỷ đô la về các chứng chỉ bảo lãnh nợ (CDO) của bất động sản? Anh ta trả lời,” Khi tôi thắng, tôi sẽ được nhiều tiền thưởng. Nếu tôi thua, thì đây là OPM.”  Tôi có thuê một ông CEO cách đây 15 năm. Kỹ năng làm tôi thán phục nhất là ông chuyên ăn nhậu đãi khách ở những nhà hàng nổi tiếng và đắt nhất tại bất kỳ thành phố nào, Tokyo, New York, Hong Kong hay London. Chi phí tiếp khách của ông nhiều gấp 3 lần lương lậu ông ta. Trong những lúc mà ông phải ăn nhậu bằng tiền của cá nhân thì ông chỉ chọn McDonald.  Các mạng truyền thông đã tốn bao nhiêu thì giờ giấy mực cho những phân tích tại sao các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả hay ngân sách luôn luôn bội chi. Bà osin nhà tôi cũng biết rất rõ câu trả lời. OPM muôn năm.  Nói tóm lại, tôi cho rằng chỉ học thuộc lòng 5 nguyên lý trên là kiến thức căn bản của một sinh viên đại học về vận hành kinh tế của một quốc gia hay một doanh nghiệp hay một cá nhân đủ để giải thích mọi hiện tượng dù nghịch lý và khó hiểu đến đâu.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam Phi: Bước nhảy vọt về năng lượng tái tạo      Thị trường điện của Nam Phi có những đặc điểm rất giống Việt Nam: Eskom – một tổng công ty nhà nước độc quyền thị trường năng lượng suốt hơn 90 năm qua (đây cũng là một trong bảy nhà sản xuất điện lớn nhất thế giới với tổng sản lượng điện chiếm 40% toàn châu Phi); chính phủ muốn giữ giá điện phải thật rẻ và quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt điện (94% sản lượng điện của Nam Phi là điện than, thậm chí nước này còn dùng than để vận hành máy bay và ô tô). Nam Phi cũng là nước có tiềm năng dồi dào cho điện gió với đường bờ biển dài và điện mặt trời với 2500 giờ chiếu sáng mỗi năm.      Nhà máy điện gió Cookhouse, lớn nhất Nam Phi. Nguồn: aurecongroup.com.  Bước vào lĩnh vực năng lượng tái tạo với kinh nghiệm gần như bằng 0, Nam Phi ngay lập tức thất bại, không thể đạt được mục tiêu đặt ra rất khiêm tốn là năng lượng tái tạo trong mười năm (bao gồm điện gió và điện sinh khối) chiếm 2% tổng sản lượng điện quốc gia trong 10 năm từ 2003 – 2013.  Tuy nhiên, chỉ từ 2011 đến nay, Nam Phi đã có một cuộc chuyển mình ngoạn mục để trở thành một trong những thị trường điện tái tạo nóng nhất thế giới, các nhà đầu tư tư nhân tranh nhau nhảy vào lĩnh vực này ở Nam Phi mà có người đã ví đây giống như “cơn sốt vàng” ở California, Mỹ vào đầu những năm 1950.  Ác mộng năm 2008  Động lực nào đã làm lay chuyển Chính phủ Nam Phi và cơ chế độc quyền thị trường điện dành cho Eskom chỉ trong một thời gian ngắn đến vậy? Không ngạc nhiên khi với tổng sản lượng điện chủ yếu là điện than, Nam Phi luôn đứng vào “hàng ngũ” top 10 những nước phát thải CO2 nhiều nhất thế giới. Từng đăng cai COP 17 vào năm 2011, Chính phủ Nam Phi cam kết sẽ giảm 42% lượng phát thải vào năm 2025 và đó là lí do mà điện gió và điện mặt trời phải được chú trọng. Một nguyên nhân khác, quan trọng hơn là Nam Phi đã “trải nghiệm” cảm giác thiếu điện trầm trọng: vào năm 2008, nước này đã trải qua việc mất điện hàng loạt, làm tê liệt các nhà máy và hầm mỏ trong vòng nhiều ngày, do cầu vượt cung, giá điện đã tăng vọt lên 300% trong vòng 10 năm từ 2007 đến nay.  Eskom một mình không thể gánh nổi trọng trách sản xuất và phân phối điện đủ nhiều và nhanh cho toàn bộ Nam Phi. Thực tế cho thấy rằng, có ba triệu hộ dân nước này không có điện để sử dụng. Để không lặp lại kịch bản năm 2008, Eskom đã vội vàng đầu tư hàng chục tỉ USD cho những nhà máy nhiệt điện mới nhưng không kịp vì phải mất 10 năm mới hoàn thành một nhà máy. Trong khi đó, việc xây dựng nhà máy điện mặt trời và điện gió chỉ mất 1-2 năm và Eskom cũng tính đến điều này nhưng đây là lĩnh vực quá mới mẻ đối với họ. Tổng giám đốc Eskom e sợ nếu tự phát triển năng lượng tái tạo, giá điện sẽ vượt quá khả năng chi trả của người dân.  Chỉ cần minh bạch và chuyên nghiệp  Dự án làm thay đổi diện mạo thị trường năng lượng của Nam Phi là Chương trình mua điện của các nhà sản xuất độc lập (Renewable Energy Independent Power Producer Procurement Programme – REIPPPP) ra đời năm 2011. Theo đó, chính phủ cho phép các nhà phát triển điện năng trong nước và nước ngoài đấu thầu công khai để triển khai các dự án điện gió. Giá của các gói thầu bao gồm 70% là chi phí xây dựng nhà máy và 30% dành cho việc phát triển năng lực, tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế của địa phương. Sản lượng điện sản xuất ra sẽ được nối lưới và được Eskom mua lại với giá thỏa thuận (họ phải có hợp đồng thỏa thuận với Eskom trước khi tham gia đấu thầu). Tiền đầu tư cho các dự án được lựa chọn đến từ vốn vay của các ngân hàng thương mại các quỹ đầu tư và từ Ngân khố quốc gia (National Treasury). Trước khi tham gia đấu thầu, các nhà phát triển phải tự chi trả cho chi phí tìm kiếm, xác định, đo đạc địa điểm triển khai và đánh giá tác động môi trường của dự án của mình.  Hiện nay, Nam Phi đã trải qua bốn vòng đấu thầu với 64 dự án, 100 nhà phát triển tham dự, trong đó 46 nhà phát triển đầu tư nhiều hơn một dự án. Cơ chế này về cơ bản vẫn để Eskom độc quyền cung cấp điện nhưng quá trình sản xuất đã “chia sẻ” nhiều cho khu vực tư nhân. Theo lời của Bộ trưởng Bộ Năng lượng Nam Phi, Tina Joemat Pettersson, quốc gia này đã thêm 4.322 GW cho công suất lắp đặt của năng lượng tái tạo gần bốn năm, chỉ bằng chưa đầy một nửa thời gian thi công nhà máy điện than lớn nhất Nam Phi là Medupi cũng với công suất lắp đặt tương đương đến nay vẫn chưa hoàn thiện để đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, do các nhà đầu tư đã có kinh nghiệm và nhiều nhà phát triển nước ngoài tham gia, trong những vòng đấu thầu gần đây, giá bán điện gió của các nhà phát triển đưa ra thấp hơn cả điện than. (khoảng 7.5 US cent/kWh).  Trả lời tờ The Financial Times, Alessandro Albrighi, người sáng lập một quỹ đầu tư của Thụy Sỹ đang tư vấn cho một loạt các dự án điện mặt trời tại Nam Phi, cho biết: “Tôi thấy đầu tư vào năng lượng tái tạo tại Nam Phi còn an tâm hơn cả một vài nước châu Âu”. Chương trình REIPPPP phải đảm bảo tất cả quy trình và tài liệu đấu thầu diễn ra minh bạch để tạo lòng tin cho khối tư nhân. World Bank đã có một báo cáo chi tiết lý giải về sự thành công của chương trình này, trong đó đội ngũ và cách thức quản lý dự án là hai yếu tố quan trọng nhất.  REIPPPP được quản lý bởi một cơ quan thuộc Bộ Năng lượng, chuyên phụ trách các nhà máy sản xuất điện tư nhân ở Nam Phi. Các thành viên của nhóm quản lý dự án rất giàu kinh nghiệm trong làm việc với khối tư nhân, họ không chỉ có uy tín với những nhà sản xuất điện mà còn với các chủ ngân hàng, luật sư và các công ty tư vấn tài chính – kỹ thuật. Họ thường xuyên túc trực và giải đáp các thắc mắc của những người dự thầu suốt quá trình diễn ra dự án và được phép linh hoạt, không cần tuân thủmột cách khắt khe các quy định của chính phủ trong việc giải quyết vướng mắc diễn ra. Các tài liệu dự thầu được thiết kế rất rõ ràng, sẵn có trên website riêng của chương trình. Đội ngũ này cũng chưa bao giờ sai lệch bất kì một thời hạn nào họ đặt ra trong quá trình gọi thầu. Bên cạnh đó, trong suốt các vòng đấu thầu đều có sự tham gia của các chuyên gia tư vấn độc lập ngoài nhà nước, phần lớn đến từ các công ty giàu kinh nghiệm của nước ngoài như Erst &Young, PwC… trong việc thiết kế chương trình, rà soát các gói thầu.  Tiến độ giải ngân các dự án cũng kịp thời do khối ngân hàng ở Nam Phi hiểu đặc điểm của dự án, chấp nhận việc cho vay dài hạn (15-17 năm) và có kinh nghiệm làm việc với những dự án công – tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây là một điểm rất tiến bộ bởi ngân hàng nhà nước ở châu Phi nói chung được đánh giá là rất bảo thủ và quan liêu.  REIPPPP cũng có nhiều mặt giới hạn, tuy nhiên, nó để lại những bài học quan trọng để triển khai năng lượng tái tạo trong những thị trường đang phát triển. Nó cho thấy, chi phí sản xuất điện tái tạo đang giảm dần và khối tư nhân sẵn sàng đầu tư vào năng lượng tái tạo nếu quy trình xây dựng dự án và mua bán điện được chính phủ thiết kế rõ ràng và minh bạch.  Hảo Linh tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam Phi ngừng tiêm vaccine COVID-19 của AstraZeneca vì kém hiệu quả với biến thể virus      Ở Nam Phi, vaccine này cho thấy khả năng bảo vệ kém hơn ở những nơi khác vì một biến thể SARS-CoV-2 dường như có thể né tránh các kháng thể quan trọng, và biến thể này đang ngày càng phổ biến. Nước này đã phải tạm dừng kế hoạch khởi động chiến dịch tiêm chủng lần đầu tiên với vaccine này vào tuần tới và có thể sẽ chuyển sang một loại vaccine khác.    Vaccine này đã nhận được sự quan tâm rất lớn trên toàn cầu. Các nhà sản xuất vaccine là AstraZeneca và Đại học Oxford hy vọng sản phẩm của mình sẽ được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển. Họ dự đoán có thể sản xuất 3 tỷ liều trong năm nay với giá khoảng 3 đô la mỗi liều, nhiều sản phẩm hơn và có giá thấp hơn nhiều so với bất kỳ loại vaccine nào khác đã được chứng minh là hiệu quả.    Một người Nam Phi tham gia thử nghiệm vaccine COVID-19 của AstraZeneca – Oxford được lấy máu trước khi tiêm liều thứ hai. Ảnh: AP / JEROME DELAY  Tuy nhiên, thử nghiệm ở Nam Phi đối với vaccine, được tiến hành trên khoảng 2000 người, cho thấy hiệu quả chống lại bệnh ở mức độ nhẹ và trung bình là rất thấp, dưới 25%. Đây là mức mà nó sẽ không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng các nhà khoa học hy vọng nó vẫn có thể ngăn ngừa bệnh ở mức nặng và dễ tử vong – được cho là công dụng quan trọng nhất của bất kỳ loại vaccine COVID-19 nào. Không thể kết luận được điều đó từ thử nghiệm đối chứng với giả dược này, vì nó nhỏ và những người thử nghiệm đều trẻ tương đối khỏe mạnh — tuổi trung bình của họ là 31. Không đối tượng nào trong cả hai nhánh của nghiên cứu phát triển bệnh đến mức nặng hoặc phải nhập viện.  Vaccine COVID-19 do Johnson & Johnson (J&J) và Novavax sản xuất cũng đã được chứng minh là có khả năng chống lại B.1.351 (còn được gọi là 501.V2), là biến thể SARS-CoV-2 hiện gây ra phần lớn các ca nhiễm ở Nam Phi, yếu hơn. Hiệu quả của vaccine chống lại bệnh mức nhẹ ở Nam Phi là 57% đối với vaccine J&J và 49% đối với Novavax – thấp hơn bất kỳ quốc gia nào khác từng được thử nghiệm.  Nhưng vaccine J&J được đưa vào thử nghiệm ở quy mô lớn nhất trong số các nghiên cứu, đã được chứng minh chống lại bệnh ở mức nặng và tỉ lệ tử vong một cách thuyết phục, thậm chí chống lại biến thể B.1.351, và giờ đây người ta cũng kỳ vọng rằng vaccine AstraZeneca-Oxford cũng sẽ có kết quả tương tự.  Các kháng thể nhắm mục tiêu SARS-CoV-2 được vaccine J&J kích hoạt “rất giống” với những kháng thể do vaccine của AstraZeneca-Oxford tạo ra, và hai vaccine này đều dựa trên một công nghệ tương tự: Cả hai đều khiến cơ thể tạo ra protein gai bề mặt của SARS-CoV-2 bằng cách phân phối các gen của nó trong một loại adenovirus vô hại. Trong một thử nghiệm với 44.000 người, vaccine J&J đã ngăn ngừa 85% các trường hợp nghiêm trọng và bảo vệ hoàn toàn họ không phải nhập viện và tử vong, trong đó có 15% người tham gia đến từ Nam Phi.  Vaccine AstraZeneca-Oxford đã tạo ra những kết quả khó hiểu ngay từ đầu. Các kết quả sơ bộ trước đó từ các thử nghiệm ở các quốc gia khác nhau cho thấy tỷ lệ thành công đa dạng đối với bệnh mức nhẹ và trung bình, nhưng các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc giải thích dữ liệu vì sự khác biệt về liều lượng, khoảng cách giữa các liều và các biến thể đang lưu hành. Chỉ vài ngày trước, một nghiên cứu cho thấy loại vaccine này có khả năng bảo vệ mạnh trong việc chống lại một biến thể dễ lây truyền hơn là B.1.1.7, đã bùng nổ ở Anh và hiện đang lan nhanh khắp châu Âu.  Ở Nam Phi, vaccine này được tiêm hai liều cách nhau từ 21 đến 35 ngày. Các kháng thể của người được tiêm vaccine tạo ra thường có thể “vô hiệu hóa” SARS-CoV-2, nghĩa là vaccine có thể ngăn không cho virus lây nhiễm vào các tế bào trong các thí nghiệm nuôi cấy. Nhưng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy chúng có tác dụng kém hơn nhiều khi chống lại biến thể B.1.351.  Thử nghiệm vaccine AstraZeneca-Oxford, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2020, cho thấy bắt đầu từ 2 tuần sau liều thứ hai – khi những người tham gia có lẽ đã được chủng ngừa đầy đủ – 19 trường hợp bệnh mức nhẹ hoặc trung bình phát triển trong số những người được tiêm chủng, so với 23 trường hợp ở nhóm giả dược, dẫn đến hiệu quả là 21,9%. Con số này thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 50% cần thiết để cấp phép sử dụng khẩn cấp ở nhiều quốc gia.  Các nhà nghiên cứu đã xác định trình tự gen các virus đã lây nhiễm cho những người tham gia thử nghiệm, và họ tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sự thất bại của vaccine và sự bùng nổ của B.1.351 ở Nam Phi. Ở những người được tiêm một liều vaccine trước khi biến thể bắt đầu lan truyền rộng rãi, hiệu quả chống lại bệnh nhẹ và trung bình vẫn là 75%.  Nam Phi tuần trước đã nhận được 1 triệu liều vaccine AstraZeneca-Oxford và đã lên kế hoạch bắt đầu cung cấp cho các nhân viên y tế vào tuần tới. Điều này sẽ khiến vaccine AstraZeneca-Oxford trở thành vaccine COVID-19 đầu tiên có sẵn ở nước này ngoài các thử nghiệm lâm sàng. Nhà dịch tễ học Salim Abdool Karim, đồng chủ tịch Ủy ban Cố vấn Bộ trưởng Nam Phi về COVID-19, cho biết tại cuộc họp báo hôm Chủ nhật rằng việc triển khai vaccine ở Nam Phi “cần phải tạm dừng” do kết quả đáng thất vọng. Karim giải thích với tạp chí Science rằng vaccine J&J sẽ có sẵn ở Nam Phi trong khoảng thời gian gần như tương đương, vì vậy không nên chậm trễ trong việc bắt đầu bảo vệ nhân viên y tế.  Barry Schoub, người đứng đầu tiểu ban tư vấn của chính phủ về vaccine COVID-19, cho biết, “Chúng ta có thể cần xem xét kết hợp vaccine [AstraZeneca-Oxford] với các vaccine khác”.  Tại cuộc họp báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hôm nay để thảo luận về những phát hiện mới, một nhóm các nhà khoa học và chuyên gia y tế cộng đồng đã nhấn mạnh rằng vaccine AstraZeneca-Oxford có thể vẫn đóng một vai trò quan trọng ở Nam Phi và các nơi khác. Katherine O’Brien, người đứng đầu Bộ phận Tiêm phòng, Vaccine và Sinh phẩm của WHO cho biết: “Việc duy trì tác động có ý nghĩa đối với bệnh ở mức nặng là một kịch bản rất hợp lý đối với sản phẩm chống lại biến thể B.1.351.”  Khoảng thời gian vaccine được sử dụng trong thử nghiệm không đủ dài để tạo ra phản ứng miễn dịch mạnh mẽ nhất, theo Seth Berkley, người đứng đầu Gavi, Liên minh vaccine và cũng giúp điều hành Liên minh Tiếp cận Vaccine COVID-19 Toàn cầu (COVAX). Và Richard Hatchett, một đồng lãnh đạo khác của COVAX và điều hành Liên minh Đổi mới Phòng ngừa Dịch bệnh, cũng nhấn mạnh: “Rõ ràng là thế giới đầy rẫy virus từ tự nhiên mà vaccine AstraZeneca có tác dụng chống lại, vì vậy vẫn còn quá sớm để loại bỏ vaccine này. Đây là một phần rất quan trọng trong phản ứng toàn cầu đối với đại dịch hiện nay và chúng ta cần tìm ra loại vaccine tốt hơn, có thể chống lại các biến thể đang xuất hiện.”  Karim, người cũng phát biểu trong cuộc họp báo của WHO, cho biết Nam Phi hiện đang đánh giá đề xuất triển khai vaccine AstraZeneca-Oxford theo cách từng bước, trước tiên đánh giá xem liệu nó có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhập viện trong 100.000 người đầu tiên được tiêm hay không. “Chúng tôi không muốn kết thúc với tình huống mà chúng tôi đã tiêm vaccine cho một triệu người hoặc 2 triệu người một loại vaccine có thể không hiệu quả, trong việc ngăn ngừa nhập viện và bệnh nặng,” Karim nói.  Nhóm nghiên cứu của Oxford ban đầu thiết kế vaccine này cho biết: họ đã bắt đầu nghiên cứu một ứng cử viên thế hệ thứ hai nhắm vào protein gai đột biến của biến thể B.1.351. Sarah Gilbert ở ĐH Oxford, người dẫn đầu nỗ lực đó, đã đề xuất trong một thông cáo báo chí rằng một loại vaccine đã được cải tiến có thể được tiêm như một mũi tiêm nhắc lại cho loại hiện có. Gilbert lưu ý: “Đây cũng là vấn đề mà tất cả các nhà phát triển vaccine phải đối mặt và chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự xuất hiện của các biến thể mới, để sẵn sàng cho một sự thay đổi về di truyền trong tương lai.”  Đức Phát lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/02/south-africa-suspends-use-astrazenecas-covid-19-vaccine-after-it-fails-clearly-sto       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm robot giúp việc sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn      Dù bạn muốn nấu ăn, lau dọn, trông giữ trẻ hoặc thậm chí là hẹn hò… sẽ có những trợ lý robot đắc lực giúp đỡ bạn làm những việc này.    Robot Pepper  Asus Zenbo  Zenbo, robot mới nhất có thể đi trong nhà của Asus chỉ có giá 599USD, bằng một chiếc smartphone, được thiết kết để hỗ trợ chương trình “nhà thông minh” (smarthome), có thể tự nó đi xung quanh nhà, sử dụng camera để nhìn đường và tránh va vào tường. Phần mặt trước của robot là một giao diện cảm ứng biểu lộ cảm xúc khi nói qua một microphone nhỏ để phản ứng lại trước các lệnh mà nó nhận được và hội thoại với người ra lệnh. Robot này sẽ điều khiển được các đồ dùng trong nhà bạn, quan sát người già và đưa ra cảnh báo khi có sự cố. Nó thậm chí còn có thể giúp trẻ em giải trí bằng một số bài hát hoặc điệu nhảy.  Pepper  Pepper là một loại robot hình người đứng trên những bánh xe, có một camera và cái đầu có cảm biến, một màn hình cảm ứng ở ngực và hai cánh tay riêng rẽ, có khớp nối và trông rất đáng yêu. Có giá 1,200 bảng Anh, Pepper có thể duy trì cuộc hội thoại, “đọc” cảm xúc của bạn và giúp bạn giải trí nhưng chỉ mới được bán ở Nhật Bản. Không chỉ có khả năng ứng dụng trong nhà, robot này còn có thể được sử dụng để hỗ trợ bạn mua bán tại các cửa hàng trong tương lai.  Jibo  Jibo, “robot xã hội” đầu tiên trên thế giới có kích thước nhỏ chỉ bằng đồ chơi trẻ em, có thể đặt lên mặt bàn làm việc, có giá 749 USD. Không giống như Zenbo và Pepper, Jibo được đặt cố định ở một điểm, đầu và cơ thể có thể xoay một cách độc lập với nhau, có thể trò chuyện và biểu hiện cảm xúc thông qua màn hình, và có các camera cũng như microphone để giúp trẻ em giải trí, chụp lại chân dung các thành viên trong gia đình và nhắc nhở người già đi đúng đường.  Amazon Echo  Có vẻ không giống với robot lắm và mang nhiều tính năng phục vụ “internet của vạn vật”, robot Echo Amazon có giá 180 USD có thể chơi nhạc, có khả năng điều khiển rất nhiều vật dụng trong nhà – từ đèn chiếu sáng cho tới máy giặt – đồng thời cung cấp cả các thông tin về thời tiết hoặc những trận cầu sắp tới.  Dyson 360 Eye  Một trong những công việc lặt vặt mà robot có thể làm là lau dọn, irobot Roomba đã lau dọn từ nhiều năm nay nhưng thường va vào chướng ngại vật trong quá trình định hướng đường đi. Giờ đây, một loại robot lau dọn nhà có gắn chức năng “Đôi mắt Dyson 360” có thể quét và vẽ bản đồ căn phòng của bạn bằng các camera và tia laser, lên lịch trình tuyến đường tối ưu để sau đó lau dọn sạch sẽ.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm sản phẩm công nghệ mới nổi bật      Năm sản phẩm công nghệ dưới đây được đánh giá là nổi bật nhất trong nửa đầu năm nay:    1.    Samsung Galaxy S III  Từ năm 2007 khi Apple lên ngôi thì Nokia sa sút, Blackberry lâm nguy, Motorola bán rẻ dường như chỉ có mình Samsung là đối trọng. Series Galaxy được coi là quân át chủ bài của Samsung. Đến nay, iPhone 5 vẫn chưa được tung ra, điện thoại của Apple vẫn nằm trong giai đoạn chờ đợi sản phẩm mới, Galaxy S III càng trở nên lộng lẫy. Quý hai trong năm nay các sản phẩm Smartphone của Samsung bán được nhiều hơn iPhone nhiều lần. Với những thiết kế đường nét mềm mại, màn hình 4,8-inch, mỏng 0,34-inch, công nghệ màn hình hiển thị được nâng cấp lên Super AMOLED HD, độ phân giải HD (1280 x 720), hệ điều hành Android 4.0 (Ice Cream Sandwich), vi xử lý 1.4GHz Exynos 4 Quad (lõi tứ, quad-core) – Galaxy S III đã sở hữu những thông số cực đỉnh.   2.    The new iPad  Dù đang sở hữu iPad 2 thì chắc chắn người ta vẫn sẽ muốn sở hữu The new iPad. Từ bề ngoài thì cả hai không có sự khác biệt nào hết. Thay đổi chỉ ở bên trong. The new iPad sử dụng màn hình Retina Display, độ phân giải lên tới 2048×1536, gấp 4 lần iPad 2. The new iPad còn tăng tính năng CPU và dung lượng của pin. Có thể cho rằng tăng độ rõ nét màn hình hoàn toàn chẳng có gì đặc biệt. Nhưng Apple thì hoàn toàn không nghĩ như thế. Tính năng hiển thị và tính toán của iPad vượt xa các sản phẩm Tablet khác, cũng vượt xa đại đa số các máy PC. Đương nhiên điều này không chỉ nhằm giữ vững vị trí hàng đầu của iPad mà còn để xóa bỏ thị trường PC trong tương lai. Tim Cook nói rằng chúng ta đã bước vào thời đại “Hậu PC” và The new iPad chính là bước tiên phong.  3.    Windows 8  Khác biệt với sự đề xướng thời đại “hậu PC” – thời đại của Apple, Microsoft đề xướng chủ trương “PC+” và hy vọng các thiết bị điện tử đều cài đặt Windows. Windows 8 được ra đời và không chỉ sử dụng ở trên PC, mà còn có thể sử dụng trên Tablet thậm chí trên cả smartphone… Đây có thể coi là bước tiến mạnh mẽ của Microsoft.  4.    Siri  Năm ngoái Apple đưa ra ứng dụng tương tác giọng nói Siri. Năm nay, Siri đã được nâng cấp, kết hợp cả trí thông minh nhân tạo lẫn sự hiểu biết ngày một nhiều hơn về người dùng để đưa ra những câu trả lời rất cập nhật và phong phú. Tạp chí Forbes nhận định sự ảnh hưởng của Siri bắt đầu “phủ bóng” lên toàn ngành công nghiệp di động và nếu nó được tích hợp tốt trong thiết bị (như người ta vẫn mong đợi ở Apple), nó sẽ là ứng dụng thay đổi cuộc chơi mới cho hãng này.  5. Kính mắt Google  Google là một công ty mạng thích làm những việc “linh tinh”. Sản phẩm “ngoài lề” mới đây thu hút nhiều chú ý của họ là cặp kính mắt tích hợp máy quay, internet và tương tác giọng nói. Trong lễ ra giới thiệu sản phẩm, chính tác giả thiết kế đã đeo cặp kính Google nhảy dù trước sự sửng sốt của hàng ngàn người.   Kính Google kết nối thế giới thực và thế giới ảo thông qua đôi mắt. Hãy thử tưởng tượng bạn đang nhảy dù, đua xe, thưởng thức những phong cảnh đẹp đẽ, và người khác cũng có thể thưởng thức những phong cảnh đó, cùng cảm nhận những vẻ đẹp đó, thông qua cặp kính của bạn.   Trên thực tế, kính Google tuyệt đối không phải là việc làm “linh tinh” của google mà nó có tác dụng rất lớn đối với công cuộc tìm kiếm hình ảnh, video, mạng xã hội. Đây có thể sẽ trở thành một thị trường rộng lớn mà Apple hay Microsoft sẽ hướng tới trong tương lai.  Nhị Giang tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm tiên đoán về kinh tế Việt Nam      Như thông lệ mỗi đầu năm, chúng ta đã được  đọc rất nhiều bài viết về những dự đoán cho nền kinh tế Việt Nam trong  2012. Từ các chuyên gia có giấy phép và ăn lương chính phủ (trực tiếp  hay gián tiếp) đến những định chế tài chính nước ngoài có hoạt động tại  Việt Nam, tất cả đều đưa ra những chỉ số hay bối cảnh tương đối giống  nhau.     Hai lý do chính: một là mọi người đều dựa vào các số liệu thống kê cung cấp bởi chính phủ và vì tương lai làm ăn của họ cũng tùy thuộc vào chính phủ.  Kết quả của các tiên đoán trong quá khứ  Hôm nọ, có chút thì giờ rảnh rỗi, tôi hỏi anh sinh viên trợ lý, lục soát lại các dự đoán kinh tế về Việt Nam trong 5 năm vừa qua, nhất là vào thời điểm Quý 1. Tôi nhờ anh chia ra 3 kết quả: các dự đoán đúng trên dưới 10%, trên dưới 50% và sai bét. Tỷ lệ cho thấy số sai bét chiếm 46% và số sai trên dưới 50% là 39%. Con số đúng chỉ được 15%. Tuy nhiên, thầy bói vẫn là một nghề đông khách dù có nói trúng hay trật. Và ít người biết được một xảo thuật kiếm tiền của nghề thầy bói là phải “coi mặt mà bắt hình dong”. Tiên đoán một tương lai sáng ngời cho mọi ông bà chi tiền sộp là có kỹ năng tiếp thị cao.  Tôi thường không tham dự vào các cuộc tiên đoán hàng năm. Dựa trên thống kê (phải trừ bớt những thổi phồng) hay các trải nghiệm quá khứ (con người luôn luôn tái diễn lịch sử qua các hành động ngu xuẩn về lâu dài) và dựa trên trực giác (rất giống các bà có chồng ngoại tình), tôi hay đưa ra những khuynh hướng (trend) của nền kinh tế vĩ mô hơn là những dự đoán ngắn hạn và không ổn định. Tuy nhiên, hôm nay, nghe lời khích bác của vài anh bạn, tôi thử dùng 3 nguyên tắc nói trên coi các tiên đoán của mình có chính xác hơn không. Nó cũng sẽ định hướng tương lai nghề làm thầy bói của tôi.  Trong các dự đoán thịnh hành, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6% trong 2012, lạm phát xuống còn 9%, tỷ giá đứng yên, cán cân mậu dịch cải thiện 23%, dự trữ ngoại hối tăng 18% v.v… Tóm lại, một nền kinh tế vĩ mô khá ổn định và ấn tượng so với sự suy thoái chậm chạp của toàn cầu.  Những thực tế  Tuy nhiên, nếu các vị quan và các chuyên gia này sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn. Chẳng hạn, nhập siêu giảm mạnh không phải vì xuất khầu tăng vượt tốc, mà vì nhu cầu tiêu dùng cũng như các hoạt động sản xuất đã ngừng trệ. Đây cũng là lý do tỷ giá USD đã không tăng như dự đoán vì người dân đã hết tiền để trữ đô la hay xài hàng nhập khẩu. Khi nền kinh tế suy thoái trầm trọng, lượng cầu tiêu dùng giảm mạnh và lạm phát cũng như lãi suất sẽ giảm theo. Đây không phải là những dấu hiệu tích cực để lạc quan.  Từ góc nhìn này, tôi sẽ đánh liều và tiên đoán các sự kiện nổi bật sau đây của 2012 và vài năm tới:  1.        Nhà nước sẽ can thiệp mạnh hơn vào vận hành kinh tế:  Thay vì tiến về nền kinh tế thị trường và để mặc cho mọi thành phần tự điều chỉnh theo khả năng, chính phủ sẽ sử dụng mọi biện pháp hành chính để lèo lái con tàu kinh tế như việc ra quyết nghị cứu thị trường chứng khoán bằng “tái cấu trúc” toàn diện cơ chế. Việc đổ tiền để vực dậy giá trị bất động sản đang được nghiên cứu, cũng như phương thức thu góp hết vàng trong dân để chuyền thành ngoại hối hay tiền đồng.  Để tránh những bất ổn xã hội, khuynh hướng kiểm soát giá cả sẽ gia tăng và xăng dầu cũng như điện nước sẽ được tiếp tục hỗ trợ (subsidy).  Ngân sách nhà nước sẽ tăng thay vì giảm, nợ công tiếp tục tăng vì đầu tư công vào các dự án khủng hay cơ sở hạ tầng cần được duy trì để tạo bộ mặt bền vững.  Đây cũng là tin khá tốt cho nền kinh tế dựa vào chi tiêu công và quan hệ thân hữu. Doanh nghiệp nhà nước sẽ dồi dào nguồn vốn và tha hồ lợi dụng lợi thế của mình. Doanh nhiệp tư nhân làm ăn nhiều với chính phủ có thể hưởng tăng trưởng tốt trong những năm suy thoái tới.  2.        Vàng và dầu sẽ gây lao đao cho tỷ giá và lạm phát  Tuy nhiên, các động thái can thiệp nói trên sẽ không có ảnh hưởng lâu dài vì hai yếu tố toàn cầu: giá vàng và dầu hỏa. Việc in tiền của Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB) để cứu các ngân hàng lớn trong khối Euro và gói kích cầu số 3 (QE 3) của Cơ quan Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục đẩy giá vàng và dầu hỏa lên và giá trị các bản vị USD hay Euro sẽ từ từ hạ giá, dù suy thoái toàn cầu sẽ làm quá trình này chậm lại. Một biến cố lớn ở Trung Đông hay Trung Quốc sẽ thay đổi hoàn toàn mọi dự đoán.  Tương tự, nền kinh tế suy thoái của Việt Nam sẽ giúp lạm phát và tỷ giá không gia tăng nhiều. Tuy nhiên, khi dòng tiền nhàn rỗi chạy theo cơn sốt vàng và dầu hỏa, các biến động và ảnh hưởng trên mọi hoạt động kinh tế tài chính sẽ khó cân bằng. Những chính sách nghị quyết sẽ bay theo mộng tưởng. Tất cả mọi chỉ tiêu về vĩ mô cũng như cán cân thương mại và các gói kích cầu hỗ trợ ngân hàng, chứng khoán và bất động sản sẽ trở nên bất khả thi và tương lai tùy thuộc vào “may rủi” nhiều hơn là hoạch định.  3.        Các phi vụ M&A sẽ gia tăng mạnh  Một điều chắc chắn là trong tình trạng bất ổn, lĩnh vực thu tóm và sát nhập công ty sẽ tăng trưởng tốt. Thị trường tài chính thế giới luôn luôn có những dòng tiền mặt khá lớn để mua tài sản bán tháo. Phần lớn các nhà đầu tư nội địa, từng đổ tiền vào chứng khoán và bất động sản các năm trước, sẽ tham gia hăng hái vào cuộc săn đuổi này. Do đó mà tại sao tôi nói là trong 10 năm tới, rất nhiều tài sản sẽ đổi chủ và sẽ có những đại gia mới của Việt Nam lợi dụng cơ hội để kiếm tiền siêu tốc. Và ngược lại, nhiều siêu sao đang cháy sáng lúc này sẽ đi vào quên lãng.  Dù họ rất sẵn tiền, nhưng tôi nghĩ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham dự các phi vụ M&A một cách giới hạn. Các rào cản về thủ tục pháp lý, về lối thoát (exit), về quản trị địa phương và về bất ổn vĩ mô vẫn còn nhiều và sự thiếu minh bạch của các đối tác điều hành vẫn gây nhiều lo ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài.  4.        Hàng Trung Quốc sẽ tràn ngập gây khó khăn cho hàng nội địa  Trung Quốc hy vọng sẽ chỉ giảm tăng trưởng GDP xuống 7.5% so với 9.2% năm 2011. Sản xuất công nghiệp sẽ chịu nhiều tác động nhất vì sự đầu tư vào các nhà máy gần đây luôn vượt quá nhu cầu của thế giới, nhất là các hàng tiêu dùng và điện tử. Trong khi đó, với suy thoái tại Âu Châu và Nhật Bản và “dậm chân tại chỗ” của kinh tế Mỹ, những nơi còn lại để Trung Quốc bán tháo hàng rẻ tiền là các quốc gia mới nổi, nhất là các láng giềng.  Ba lợi thế cạnh tranh đáng kể của hàng Trung Quốc: (a) tỷ giá RMB dưới giá trị thực khoảng 26% (trong khi VND trên giá trị thực gần 14%) tạo một khác biệt chừng 40% trên giá thành; (b) hệ thống tiếp liệu các linh kiện và hiệu năng sản xuất cùng công nghệ hiện đại tạo một thành phẩm có giá trị cao; và (c) thị trường nội địa Tàu rộng lớn tạo lợi điểm chuyển giá theo nhu cầu và đặc điểm của thị trường xuất khẩu.  Mặc cho khẩu hiệu “người Việt dùng hàng Việt”, khách hàng trong thời buổi kiệm ước sẽ lựa chọn túi tiền và các nhà sản xuất Việt có sản phẩm tương tự như Trung Quốc sẽ gặp khốn khó.    5.        Thị trường bất động sản có thể thoát hiểm với luật đất đai mới  Việc không áp đặt luật về hộ khẩu và những cải tổ sâu rộng về luật bất động sản bên Trung Quốc khiến nhiều đại gia Việt hưng phấn chờ đợi. Tôi nghĩ đây là một cú hích quan trọng có thể gây một cơn sốt mới cho giá trị bất động sản ở Việt Nam vì lý do đơn giản là người có tiền ở Việt Nam không có nhiều lựa chọn về đầu tư. Hai yếu tố quan trọng khác là sự thu hút đầu tư mới của Việt kiều và các quỹ nước ngoài.  Thêm vào đó, hiện các nhóm lợi ích trong ngân hàng, quỹ đầu tư, tập đoàn kinh tế, tổng công ty… đang nắm giữ một số lượng tài sản rất lớn liên quan đến địa ốc. Việc tăng giá trị bất động sản xuyên qua việc thay đổi luật nhà đất là một việc mọi người mọi nhóm đều nhất trí đoàn kết để đạt mục tiêu. Chuyện oái oăm là nếu không nhờ cái luật nhà đất bất công ngày xưa, các nhóm này đã không giàu và quyền lực như ngày nay. Dù sao, qua sông rồi thì phải đắm đò, Tôn Tử dạy thế.  Tuy nhiên theo nhận xét cá nhân về quy trình để thay đổi luật lệ tại Việt Nam, tôi thấy thủ tục cũng nhiêu khê và đòi hỏi rất nhiều quyết đoán từ các cấp lãnh đạo. Tôi không lạc quan như các đại gia bất động sản, nhưng dù là cơ hội thay đổi có ít hơn 50%, đây cũng có thể là một cú ngoặt đáng kể trong sự phát triển kinh tế.  Tóm lại, đó là 5 sự kiện tôi cho là sẽ đánh dấu ấn trên nền kinh tế tài chính của Việt nam trong 2012.  —-  * TS Alan Phan là một doanh nhân có kinh nghiệm hơn 43 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh ngữ và Việt ngữ về kinh tế tài chính của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm tiêu chí vùng nông nghiệp ứng dụng CNC      Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng nông  nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Theo đó, vùng nông nghiệp ứng dụng công  nghệ cao phải đáp ứng năm tiêu chí.      Quyết định quy định vùng nông nghiệp ứng dụng CNC là vùng sản xuất tập trung, ứng dụng CNC trong nông nghiệp để sản xuất một hoặc một số sản phẩm nông sản hàng hóa có lợi thế của vùng bảo đảm đạt năng suất, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật.  Vùng nông nghiệp ứng dụng CNC phải đáp ứng 5 tiêu chí sau:  1- Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm liên kết theo chuỗi giá trị; có tổ chức đầu mối của vùng là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong vùng ký hợp đồng thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp của vùng.  2- Sản phẩm sản xuất trong vùng là sản phẩm hàng hóa có lợi thế của vùng, tập trung vào các nhóm sản phẩm sau:  a- Giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu vượt trội;  b- Sản phẩm nông lâm thủy sản có giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế cao; chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, khu vực hoặc quốc gia (Viet GAP).  3- Công nghệ ứng dụng là các công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; công nghệ thâm canh, siêu thâm canh, chế biến sâu nâng cao giá trị gia tăng; công nghệ tự động hóa, bán tự động; công nghệ thông tin, viễn thám, thân thiện môi trường. Công nghệ ứng dụng trên quy mô công nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị của sản phẩm và tăng năng suất lao động.  4- Vùng nông nghiệp ứng dụng CNC là vùng chuyên canh, diện tích liền vùng, liền thửa trong địa giới hành chính một tỉnh, có điều kiện tự nhiên thích hợp, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh về giao thông, thuỷ lợi, điện, thuận lợi cho sản xuất hàng hóa, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp của ngành và địa phương.  5- Đối tượng sản xuất và quy mô của vùng:  a) Sản xuất hoa diện tích tối thiểu là 50 ha;  b) Sản xuất rau an toàn diện tích tối thiểu là 100 ha;  c) Sản xuất giống lúa diện tích tối thiểu là 100 ha;  d) Nhân giống và sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu diện tích tối thiểu là 5 ha;  đ) Cây ăn quả lâu năm diện tích tối thiểu là 300 ha;  e) Cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, hồ tiêu) diện tích tối thiểu là 300 ha;  g) Thủy sản: Sản xuất giống diện tích tối thiểu là 20 ha; nuôi thương phẩm diện tích tối thiểu là 200 ha;  h) Chăn nuôi bò sữa số lượng tối thiểu là 10.000 con/năm; bò thịt tối thiểu 20.000 con/năm;  i) Chăn nuôi lợn thịt số lượng tối thiểu là 40.000 con/năm; lợn giống (lợn nái) tối thiểu 2.000 con/năm;  k) Chăn nuôi gia cầm số lượng tối thiểu là 50.000 con/lứa.  UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng CNC.   Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Tieu-chi-xac-dinh-vung-nong-nghiep-ung-dung-cong-nghe-cao/244691.vgp        Author                Quản trị        
__label__tiasang NaMilux hợp tác để sáng tạo      Là một trong những doanh nghiệp có tuổi đời còn khá trẻ, từ khi thành lập năm 1999, công ty NaMilux đã hợp tác với công ty Asahi Seisakusho – Nhật Bản, để sản xuất bếp gas. Để có được vị thế như ngày hôm nay, NaMilux đã không ngừng đổi mới về công nghệ và quản trị để vươn lên thành một trong những đơn vị hàng đầu trong ngành.    R&D – đầu não sáng tạo của doanh nghiệp     Sự hợp tác giữa phòng R&D của NaMilux và các chuyên gia, kỹ sư đến từ Nhật Bản đã mang lại kết quả tích cực. Năm 2004 Namilux đã sản xuất thành công cụm van an toàn inlinecut, giúp ngắt gas trực tiếp từ bên trong khi áp suất lon gas vượt ngưỡng cho phép. Đây được coi là cụm van tiên tiến nhất hiện nay và đang được sử dụng rộng rãi tại các thị trường như Nhật Bản, Châu Âu… Chính điều đó đã tạo sự khác biệt cho bếp gas NaMilux so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường.     Hiện nay, Namilux đã tự chủ động về mặt công nghệ và thiết kế chứ không lệ thuộc nhiều vào đối tác đến từ Nhật như trước kia. Khi chưa có phòng R&D, sản phẩm của NaMilux bị coi là ít mẫu mã, phòng R&D ra đời đã làm thay đổi diện mạo của công ty. Phòng R&D của NaMilux chỉ với 10 người nhưng được xem như là “đầu não” sáng tạo của công ty. Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Giám đốc NaMilux cho hay, số nhân sự R&D của công ty xuất phát từ hai nguồn: một là người có trình độ, hai là người có kinh nghiệm. Việc xây dựng bộ phận này là cả một quá trình lâu dài chứ không phải một sớm một chiều.     Về đầu tư cho công cuộc đổi mới sáng tạo, ông Dũng nhận xét, “đầu tư cho R&D là không xác định, ví như năm 2013 là 5 triệu USD nhưng có năm lại không được như thế”. Xuất phát từ những điều kiện về yêu cầu cạnh tranh mà phòng R&D sẽ đưa ra những ý tưởng sáng tạo sao cho phù hợp. Mỗi khi có ý tưởng hay, khả thi, NaMilux sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích, khảo sát và đầu tư để tạo ra những sản phẩm có nhiều mẫu mã cũng như tính năng hữu dụng hơn cho người tiêu dùng. Ông Nguyễn Mạnh Dũng cho biết, doanh thu của công ty hầu hết dựa vào đổi mới sáng tạo, trong đó yếu tố sáng tạo chiếm khoảng 60%.     Để tạo sự nhất quán trong sản phẩm, NaMilux đã nghiên cứu và tập trung phát triển quy trình sản xuất khép kín: Từ khâu thiết kế, chế tạo khuôn mẫu, đúc, ép nhựa, gia công bán thành phẩm… cho đến lắp ráp thành phẩm. Tất cả các chi tiết cấu thành một chiếc bếp gas đều do chính công ty sản xuất và lắp ráp. Tâm sự với chúng tôi, ông Dũng khẳng định: “Đổi mới công nghệ đã làm cho mọi người thấy rõ hiệu quả của sự thay đổi. Khi áp dụng những thay đổi này, anh em công nhân và cán bộ công ty đã thấy công việc nhẹ nhàng và an toàn hơn. Từ đó, NaMilux quyết định đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới sáng tạo, hướng đến các sản phẩm tiện dụng, thông minh, chất lượng, an toàn với thị hiếu người tiêu dùng.”     Mỗi năm Namilux đã đưa ra thị trường không ít dòng sản phẩm mới với nhiều tính năng độc đáo, vượt trội, như bếp du lịch Cyclone – dùng ngọn lửa đốt trong giúp tăng hiệu suất đốt và tiết kiệm gas, bếp gas du lịch dã ngoại Namilux NA_240, bếp du lịch gas bình – cho phép bếp vừa sử dụng lon gas mini và bình gas dân dụng lớn 12kg…                Lãnh đạo tỉnh Tiền Giang tìm hiểu sản phẩm mới của Namilux           Đầu tư phân phối ở thị trường nông thôn     Bên cạnh đầu tư máy móc công nghệ, NaMilux cũng đẩy mạnh việc phát triển hệ thống phân phối. Trong đó, đưa hàng về thị trường nông thôn là một trong những chiến lược quan trọng được NaMilux chọn lựa. Trong rất nhiều phiên chợ “Hàng Việt về nông thôn” do trung tâm BSA tổ chức ở các địa phương, công ty NaMilux là một trong những đơn vị xung phong đi đầu.     Tại các địa phương mà chương trình Hàng Việt về nông thôn đi qua, NaMilux đã hình thành những đầu mối, đại lý cung cấp hàng nhằm quảng bá, mở rộng thị trường tiềm năng ở nông thôn. Theo lãnh đạo công ty, nếu không đầu tư cho thị trường nông thôn sẽ tạo ra khoảng trống thị trường. Đây là cơ hội cho hàng giả, hàng kém chất lượng và doanh nghiệp sẽ tốn thời gian, công sức, tiền của để ổn định thị trường này.     Gian hàng của NaMilux ở các phiên chợ Hàng Việt về nông thôn luôn thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng. Khi chương trình hàng Việt về nông thôn về huyện Đăk Mil tỉnh Đăk Nông, nhiều đồng bào dân tộc nơi đây đã chọn sản phẩm bếp gas của NaMilux vì gọn nhẹ, dễ dùng và thuận tiện để bà con mang đi vào rẫy nấu ăn.     Ngoài chương trình Hàng Việt về nông thôn, công ty NaMilux cũng tích cực tham gia các hội chợ HVNCLC để quảng bá và giới thiệu sản phẩm.     Các sản phẩm bếp gas NaMilux hiện chiếm 70% thị phần trong nước với hệ thống phân phối tiêu thụ trên 600 cửa hàng, đại lý và các hệ thống siêu thị, trung tâm điện máy. Riêng sản lượng xuất khẩu chiếm 50% sản lượng sản xuất, thị trường chủ lực là Nhật Bản. Ngoài ra, NaMilux cũng xuất khẩu sản phẩm đến các nước Châu Âu, Mỹ, Đài loan, và các nước trong khu vực Châu Á,…      Trần Quỳnh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nạn “chảy máu” tầng lớp tinh hoa Trung Quốc      Đề cương Quy hoạch phát triển nhân tài trung dài hạn 2010-2020 của Trung Quốc, đề xuất mục tiêu đến năm 2020 phải tiến vào hàng ngũ các cường quốc nhân tài, dường như khó thành công, bởi lẽ hiện nay ở nước này đang có tình trạng ra đi ngày một nhiều của quần thể tinh hoa với đại diện là tầng lớp người mới giàu lên sau 30 năm cải cách mở cửa.     Quốc gia xuất khẩu người di cư lớn nhất thế giới   Báo cáo Chính trị và An ninh toàn cầu do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc công bố năm 2007 cho biết, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu người di cư lớn nhất thế giới.   Tháng 6/2010, Văn phòng Kiều vụ thuộc Hội đồng Nhà nước Trung Quốc tuyên bố lượng kiều bào hải ngoại của nước này là trên 45 triệu người, nhất thế giới về số lượng tuyệt đối.          Số người ra đi đều là những người  làm nên sự nghiệp, nhưng bây giờ họ chọn một thân  phận khác để sống, – không còn giữ địa vị nhà giàu, người có máu mặt ở  quê nhà nữa mà chấp nhận địa vị công dân loại thường trong xã hội phương  Tây.         Hiện tượng dân Trung Quốc di cư ra nước ngoài bắt đầu xảy ra từ sau ngày thi hành chính sách cải cách mở cửa. Thập niên 80 thế kỷ XX có phong trào xuất khẩu lao động rồi ở lại nước ngoài; thập niên 90 – du học rồi ở lại; thập niên đầu thế kỷ XXI – sự ra đi của tầng lớp tinh hoa, mà mấy năm gần đây chủ yếu là những người mới giàu lên.   Sách Chiến tranh nhân tài xuất bản năm 2009 cho rằng Trung Quốc “tuyệt đối là quốc gia thất thoát nhân tài số lượng nhiều nhất, thiệt hại lớn nhất”. Tuy chưa có số liệu chính thức, nhưng một số thống kê ngành nghề cho thấy riêng tỉnh Triết Giang là nơi tập trung nhiều nhà giàu Trung Quốc, hàng năm có ít nhất 1.500 người hoàn tất thủ tục ra nước ngoài định cư, và con số này tăng 10-20% hàng năm, phần lớn là thương nhân. Số người muốn ra đi còn nhiều hơn thế. Đây là dịp các công ty môi giới xuất cảnh đua nhau thành lập và hái ra tiền.  Số người ra đi nói trên đều là những người làm nên sự nghiệp trong thời đại lớn này, nhưng bây giờ họ chọn một thân phận khác để sống, – không còn giữ địa vị nhà giàu, người có máu mặt ở quê nhà nữa mà chấp nhận địa vị công dân loại thường trong xã hội phương Tây. Rất nhiều người giàu không thừa nhận họ ra đi vì để hưởng thụ cuộc sống sung sướng. Suy nghĩ chính khiến họ muốn di cư là vì công việc của mình và vì tương lai của con cái.  Còn có những chuyện đáng tranh cãi hơn: từ năm 1978 tới nay đã có 1,06 triệu học sinh Trung Quốc du học nước ngoài, trong đó chỉ có 275 nghìn người về nước. Nghĩa là có 785 nghìn thanh niên tuấn tú chạy ra ngoài nước, tương đương 30 lần số sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa.  Tầng lớp tinh hoa ra đi mang theo chất xám, công nghệ, tài sản, và cả niềm tin mà một quốc gia đang trưởng thành không thể thiếu được.  Tình trạng người dân bỏ đất nước mình ra nước ngoài sinh sống là một trong các chỉ tiêu đánh giá quốc gia thất bại (Failed States Index) – một khái niệm do tạp chí chính trị học nổi tiếng Foreign Policy và một think tank ở Mỹ là Fund of Peace đưa ra năm 2005. Từ đó tới nay năm nào họ cũng công bố bảng xếp hạng các quốc gia thất bại [1].   Có một sự thật đáng buồn là tuy mấy chục năm nay Trung Quốc liên tục dẫn đầu thế giới về tốc độ trưởng kinh tế và sức mạnh tổng hợp quốc gia, nhưng hai năm 2009, 2010 lại bị rơi vào hàng ngũ các quốc gia thất bại nhất trên thế giới, tức thuộc vào khối 60 quốc gia có chỉ số thất bại cao nhất (Trung Quốc xếp thứ 57 trong số 177 quốc gia được khảo sát).   Một điều đáng chú ý: dân Trung Quốc di cư không phải là dân tỵ nạn như các quốc gia đói nghèo loạn lạc ở châu Phi, mà là tầng lớp tinh hoa rất cần cho một xã hội mới trưởng thành.  Làn sóng di cư mới  Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh, tầng lớp người giàu nhanh chóng tăng lên, nhưng các tệ nạn sinh ra trong quá trình chuyển đổi xã hội cũng làm tăng thêm số người không chịu nổi sức ép của giá nhà đất và sự ngột ngạt khi bị kẹp giữa các mâu thuẫn. Khi ấy nước ngoài trở thành nơi tốt nhất để họ tìm đến. Đây là một quá trình lựa chọn có suy nghĩ lý trí của họ.  Một bình luận viên của mạng Reuters tổng kết, đợt dân di cư tinh hoa mới này có 3 đặc điểm: – thành phần chính không chỉ còn là trí thức hoặc cán bộ chuyên môn bậc cao như trước kia, mà là người giàu; – họ mang đi một lượng tài sản lớn kiếm được tại Trung Quốc; – sau khi chuyển xong quốc tịch và thu xếp để con cái ở lại nước ngoài ổn thỏa rồi, họ lại về Trung Quốc tiếp tục làm ăn kiếm tiền trên chiến trường chính này.  Cho dù trước mắt số lượng nhân tài và tài sản thất thoát ra nước ngoài còn chưa quá lớn, song tình trạng ngày một nhiều nhân vật tinh hoa xã hội bỏ đất nước ra đi và trở thành tầng lớp nòng cốt làm ra của cải cho nước ngoài đã gióng lên hồi chuông báo động khiến Trung Quốc phải cảnh giác khi tiến sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI.           Đợt di dân thập niên 80 thế kỷ XX có tính mù  quáng rất lớn, đợt di dân thập niên 90 có tính lý trí nhất định, còn  đợt di dân này thì có tính lý trí tổng hợp.        Vì lẽ đó, tờ Quốc tế Tiên khu Đạo báo (xuất bản tại Bắc Kinh) đã cử phóng viên đi khắp nơi phỏng vấn những người Trung Quốc bỏ tổ quốc ra đi.  Bà Lỗ Vạn Manh mới đây định cư tại Canada và kiếm được việc làm trong một công ty ô tô địa phương cho biết, câu chuyện ra đi của bà có nhiều tình tiết đau buồn. Vốn dĩ có gia cảnh khá giả, 6 năm trước, bà bỏ việc làm trong một xí nghiệp quốc doanh ăn nên làm ra ở quê nhà, theo chồng lên Bắc Kinh kiếm việc làm, nhưng khi thấy Bắc Kinh chẳng hơn gì chỗ cũ nên hai vợ chồng bàn nhau sang Canada định cư. Chi phí hết một nửa tiền tiết kiệm, bà mới xin được giấy phép mang con sang Toronto định cư, nhưng ông chồng lại không đi được, vì thế rất có thể cuộc hôn nhân của họ sẽ tan vỡ, điều đó làm bà rất buồn lòng. Sang đây bà chỉ còn là một người dân bình thường nhất chứ không “có máu mặt” như hồi còn ở quê nhà. Nhưng bây giờ bà không hề ân hận về quyết định ra đi. “Tiền thì có thể tiếp tục kiếm, song cảm giác sung sướng và tâm trạng yên tĩnh mới là thứ vô giá, chỉ ở đây mới có,” bà nói.   Lỗ Vạn Manh chỉ là trường hợp bình thường nhất trong làn sóng định cư nước ngoài gần đây. Số liệu của Hội các tổ chức môi giới xuất cảnh vì việc riêng ở Bắc Kinh cho thấy: năm 2009 số người Trung Quốc khai báo có visa loại EB-5 [2] sang Mỹ làm dân di cư đầu tư tăng gấp 2 năm trước, từ 500 người năm 2008 tăng lên tới hơn 1000 người. Đồng thời số chuyên gia kỹ thuật xin ra nước ngoài trong 10 năm qua thì nhiều gấp 20 lần số dân di cư đầu tư. Số liệu chính phủ Mỹ công bố cho thấy, lượng người Trung Quốc được duyệt cấp visa EB-5 tăng mạnh trong năm 2010, chiếm khoảng 70% tổng số visa loại này đã cấp.  Canada là nơi người Trung Quốc đến nhiều thứ hai. Cục Xuất nhập cảnh Canada cho biết: năm 2009 có 2.055 người nhập cư vào Canada , trong đó 1.000 là người Trung Quốc; riêng số người Trung Quốc nhập cư tỉnh Quebec tăng 70%.   Australia luôn có cơn sốt nhập cư. Số liệu của Cục Thống kê nước này cho biết: từ 7/2009 tới 1/2010, đã có 7.800 người Trung Quốc đại lục nhập cư Australia, tỷ lệ người Trung Quốc đã vượt tỷ lệ người nhập cư truyền thống từ Anh và New Zealand, và cả Ấn Độ.  Singapore nhỏ bé đông dân cũng là điểm đến của nhiều người Trung Quốc muốn con cái họ được đồng thời hưởng hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây.  Những số liệu nói trên cho thấy tình trạng di dân Trung Quốc cực kỳ nghiêm trọng. Ông Hồ Vĩ Lược, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu dân số và kinh tế lao động thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng có lẽ đúng là đã xuất hiện cái gọi là Đợt sóng di dân thứ ba, nhưng không phải chỉ vì số lượng dân di cư tăng lên mà chủ yếu là các đặc điểm của số dân di cư mới này, như học vấn cao, tay nghề cao, giá thành cao, tức tính tinh hoa của quần thể dân di cư. “Đợt di dân thập niên 80 thế kỷ XX có tính mù quáng rất lớn, đợt di dân thập niên 90 có tính lý trí nhất định, còn đợt di dân này thì có tính lý trí tổng hợp” – Hồ Vĩ Lược nhận định. “Tính lý trí tổng hợp” là điều được dư luận quan tâm hơn cả khi nói về đợt di cư này.  Lỗ Vạn Manh là thí dụ tiêu biểu của “Tính lý trí tổng hợp”. Trước ngày ra nước ngoài, bà có một gia đình hạnh phúc, công việc làm ăn rất tốt, đang trở thành tầng lớp trụ cột của xã hội Trung Quốc, vì thế bà không ham mê ra nước ngoài. Nhưng bà đã bỏ ra 6 năm phấn đấu gian khổ để được ra nước ngoài định cư, mục tiêu của bà không phải vì danh lợi hoặc vì để kiếm tiền, mà chỉ vì muốn nâng cao chất lượng cuộc sống, muốn được hưởng sự giáo dục tốt hơn và một xã hội tốt lành hơn. Đó là logic điển hình của tầng lớp tinh hoa mới ở Trung Quốc.  Có điều đáng chú ý: tại Trung Quốc, “tinh hoa” là một khái niệm mù mờ; khi gắn với nhân tài thì nó có nghĩa là trách nhiệm, khi gắn với tài sản thì nó đại diện cho những người đã được hưởng lợi trong mấy chục năm cải cách mở cửa của Trung Quốc, khi gắn với quyền thế thì nó biến thành từ ngữ nói lên sự bất công trong xã hội. Khi tinh hoa và dân di cư tổ hợp thành một phức từ thì nó báo trước một vấn đề lớn không cho phép bỏ qua trong quá trình trưởng thành của một quốc gia.  Mất cả người lẫn của?  Học giả Tăng Tỉnh Tồn ở Viện Nghiên cứu sinh thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng kết luận “mất cả người lẫn của” có lẽ còn quá sớm. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, việc xuất hiện làn sóng di cư là có tính tất nhiên và tính hợp lý. Trên thực tế, trước đại lục Trung Quốc thì Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc thậm chí một số nước phát triển cũng từng xuất hiện làn sóng di cư ra nước ngoài của giới tinh hoa. Dư luận hồi ấy phổ biến cho rằng hiện tượng đó gây thiệt hại cho Đài Loan, nhưng về sau qua việc “lưu chuyển nhân tài” thì lại thấy là rất hữu ích. Làn sóng di cư từ đại lục Trung Quốc gần như diễn lại cảnh từng xảy ra tại Đài Loan năm xưa.   Dưới thời hai cha con họ Tưởng cai trị, các gia đình bình thường ở Đài Loan coi du học nước ngoài là ước muốn cao nhất đối với con cái mình. Trong thời kỳ cao trào du học hồi thập niên 70-80 thế kỷ XX chỉ có 20% số du học sinh về Đài Loan làm việc. Trong 10 năm qua, Đài Loan lại đóng góp cho Australia 90 nghìn dân di cư, trong đó số người có trí thức tăng dần. Thế nhưng xét tình hình hiện nay, Đài Loan, Singapore và Ấn Độ chưa thấy xảy ra thiệt hại không thể bù đắp do dân di cư ra nước ngoài. Đó là do bản thân việc lưu chuyển nhân tài có tính tuần hoàn, ngoài ra còn một lý do quan trọng hơn là hồi ấy 3 nước và lãnh thổ nói trên đều áp dụng các biện pháp đúng đắn để thu hút nhân tài và mở đường cho họ về nước.  Đại lục Trung Quốc cũng thể hiện quyết tâm rất lớn về mặt đào tạo và thu hút nhân tài trong 10 năm tới bằng việc vừa mới công bố Đề cương quy hoạch phát triển nhân tài trung dài hạn nhà nước.  Vì sao ra đi?   Có khá nhiều cách giải thích lý do xuất ngoại, tuy không phải ai cũng thật lòng nói ra. Dĩ nhiên người ra đi chỉ vì muốn tìm kiếm lợi ích cho bản thân và cho con cái; chủ yếu là muốn cải thiện chất lượng cuộc sống. Họ cho rằng phương Tây có đời sống yên bình, thanh thản, trật tự, ổn định hơn Trung Quốc, các dịch vụ và phúc lợi công cộng hoàn hảo. Giáo dục ở phương Tây thích hợp hơn, khác hẳn nền giáo dục Trung Quốc trọng thi cử, hành hạ lũ trẻ đến mức làm chúng sợ đi học. Còn có các lý do khác như giữ quốc tịch Trung Quốc thì đi đâu cũng phải xin visa, rất phiền phức mất thời giờ, trong khi nếu có quốc tịch Mỹ, Nhật, Singapore … thì có thể đi trên 130 nước mà không cần xin visa, rất tiện cho những ngôi sao điện ảnh-truyền hình luôn phải ra nước ngoài đóng phim hoặc hội họp. Cũng có người nói họ muốn sinh con thứ hai, thứ ba (ở Trung Quốc chỉ được sinh một con)….          Tại Trung Quốc, các doanh nhân phải bỏ nhiều công sức lo dàn xếp “quan hệ”  với chính quyền. Nhất là các doanh nghiệp giàu có thì chẳng khác gì  miếng thịt béo ai cũng muốn xà xẻo kiếm chút lợi ích.         Giới nhà giàu Trung Quốc xuất ngoại với những lý do có chút khác. Họ rất nhạy cảm với sự an toàn tài sản của mình. Tuy từ lâu Trung Quốc đã ban hành điều luật bảo đảm tài sản cá nhân, nhưng trên thực tế những người giàu đều chưa yên tâm.   Tại Trung Quốc, các doanh nhân không thể yên tâm chỉ làm kinh doanh, mà phải bỏ nhiều công sức lo dàn xếp “quan hệ” với chính quyền. Các doanh nghiệp có quá nhiều “mẹ chồng” để mắt trông coi, quản lý họ. Nhất là các doanh nghiệp giàu có thì chẳng khác gì miếng thịt béo ai cũng muốn xà xẻo kiếm chút lợi ích. “Làm kinh doanh ở Trung Quốc mệt lắm,” ông Chu Tân Lễ, Chủ tịch công ty Hội Nguyên có lần bộc bạch trên Đài Truyền hình trung ương.   Ngô Giai Xuyên 42 tuổi, nhà kinh doanh bất động sản có tài sản cỡ chục triệu Nhân Dân Tệ thổ lộ: tôi không có cảm giác an toàn khi kinh doanh ở Trung Quốc, luôn nơm nớp lo sợ chẳng biết một ngày nào đó sẽ có một ban ngành nào đấy lấy một lý do nào đó làm tan tành toàn bộ sự nghiệp tôi gây dựng được. “Tôi làm nghề bất động sản, ai cũng nghĩ đây là một ngành mà chính quyền và doanh nghiệp xỏ chung một chiếc quần. Thực ra đâu phải thế. Mỗi lần bàn bạc với chính quyền một dự án nào, bao giờ tôi cũng tức đầy bụng,” ông Ngô nói.   Ông kể: Cách đây vài năm, tôi làm một dự án ở huyện, nhà xây xong chưa bán hết, vì quá thiếu tiền mặt nên đành ký với cơ quan thuế huyện ấy một thỏa thuận “Dùng nhà nộp thuế”. Về sau cơ quan ấy không báo chúng tôi biết mà tổ chức bán đấu giá, đem bán nhà chúng tôi xây cho cán bộ cơ quan họ với giá bằng nửa giá ấn định trong thỏa thuận. Nhà bán hết nhưng thuế thì chưa nộp, thế là chúng tôi nhận được thông báo “trốn thuế”. Rắc rối ấy kéo dài 1 năm rưỡi mới giải quyết xong, công ty tôi chịu thiệt hại rất lớn. Lẽ ra tôi có quyền kiện vụ này ra tòa, nhưng dân kiện quan thì giá thành rất cao, tôi sao lo được tiền, đành chịu thua.  Từ lần đó trở đi tôi thực sự cảm thấy không còn chút cảm giác an toàn nào nữa. Có quá nhiều cơ quan nhà nước có thể “hành” doanh nghiệp. Khiếp nhất là khi cán bộ giải quyết sai một vụ việc nào đấy thì họ thà dùng một cái sai khác để che giấu cái sai kia, và cũng chẳng nhận họ sai, chỉ doanh nghiệp là chịu thiệt. Nếu tôi đãi đằng họ không chu đáo thì công ty lập tức gặp khó khăn. Mỗi ngày tôi làm việc 18 tiếng đồng hồ, phải dốc sức đối phó sự quấy nhiễu của các cơ quan giám quản, ngày nào cũng lu bù mời họ nhậu nhẹt khiến tôi mệt muốn chết.  Nghe bạn bè nói ra nước ngoài làm ăn thoải mái hơn nhiều, không cần quan hệ với chính quyền, thuế má cũng nhẹ, làm được hay không là do mình thôi. Môi trường như thế thật quá thu hút tôi. Rất nhiều doanh nhân bạn tôi đều muốn di cư. Tôi cho rằng nhà nước nên có chút cảm giác về nguy cơ này, Ngô Giai Xuyên kết thúc trả lời phỏng vấn.  Sự chán ghét cơ chế giáo dục xơ cứng thiếu tính nhân văn ở Trung Quốc là một nguyên nhân khác khiến các người ta muốn di cư. Nhìn chung các nhà giàu Trung Quốc thường để con họ học xong cấp III rồi đưa cả gia đình ra nước ngoài để chúng học đại học. Họ cho rằng giáo dục cơ sở ở Trung Quốc rất có ích cho việc trau dồi kiến thức phổ thông, nhưng giáo dục đại học thì chất lượng còn thấp, khâu thi cử gây nhiều phiền hà.  Phần lớn các nhà giàu Trung Quốc mới đây di cư ra nước ngoài đều chia sẻ quan điểm nói trên của ông Ngô. Đúng là chính quyền chưa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nhân, khiến họ luôn có cảm giác không an toàn; lại thêm cơ chế giáo dục lạc hậu khiến họ lo lắng cho tương lai của con cái mình – đây là hai lý do chính khiến nhiều doanh nhân mới giàu lên nảy sinh ý định ra nước ngoài.   Ghi chú:  [1] Xem http://www.fundforpeace.org/web/index.php?option=com_content&task=view&id=452&Itemid=900 và Foreign Policy số 7-8/2010.  [2] Là loại visa do chính phủ Mỹ đặt ra nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Mỗi năm Mỹ cho phép nhận 10.000 người nhập cư theo diện visa EB-5. Muốn có visa này, người nhập cư phải đầu tư vào Mỹ ít nhất 1 triệu USD (hoặc 0,5 triệu nếu đầu tư vào khu vực tạo việc làm); phải lập công ty mới; phải tạo ra việc làm cho ít nhất 10 người Mỹ trong ít nhất hai năm…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao chất lượng chè xuất khẩu bằng công nghệ chế biến mới      Chè, sản phẩm truyền thống của Việt Nam,  đang có nhiều cơ hội nâng cao giá trị xuất khẩu thông qua việc áp dụng  công nghệ sản xuất mới của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền  núi phía Bắc, Bộ NN&amp;PTNT.    Qua nghiên cứu, các cán bộ khoa học Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tìm ra phương pháp chế biến mới cho sản phẩm chè. Theo phương pháp chế biến truyền thống từ nguyên liệu thô là búp chè xanh được hái về tới sản phẩm trà khô, các búp chè phải trải qua chín công đoạn như thu hái, bảo quản, diệt men, vò (hai lần), làm tơi (hai lần), sấy, hồi ẩm (hai lần), sao (hai lần) và đóng gói thành phẩm.   Tuy có nhiều ưu điểm với nhiều kinh nghiệm đúc kết rtong dân gian nhưng công nghệ truyền thống còn tiềm ẩn nhiều nhược điểm và rủi ro như chất lượng không đồng đêu, nước trà thường có mầu nâu đỏ, bay hương theo thời gian, thậm chí có mùi khét do không điều chỉnh được nhiệt độ trong quá trình sao, gồm sao đầu và sao khô. Quá trình chế biến theo cách truyền thống trên quy mô nhỏ với thiết bị thô sơ như chỉ dùng hai loại máy như máy sao đốt bằng củi và máy vò nhỏ nên sản phẩm chỉ có một dạng chè duỗi, xoăn không chặt. Đây cũng là yếu tố khiến cho chất lượng chè không ổn định.  Hơn nữa, trải qua nhiều thế hệ, nhiều giống chè đang được trồng hái hiện nay ở khu vực miền núi phía Bắc đã bị thoái hóa, nên búp chè thu được đạt chất lượng thấp. Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị thành phẩm ở thị trường nội dịa và xuất khẩu.   Vì vậy, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã nghiên cứu, tìm ra một quy trình sản xuất chè mới trên cơ sở chín công đoạn chế biến chè truyền thống. Các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm hai công đoạn làm héo nhẹ và làm lạnh đột ngột. TS. Nguyễn Văn Toàn (Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) cho biết, héo nhẹ là kỹ thuật mới nhất được áp dụng vào sản xuất chè xanh chất lượng cao.   Việc thực hiện kỹ thuật héo nhẹ không quá khó. Búp chè được rải mỏng trên giàn héo và được đặt ở nơi thoáng khí. Lượng chè rải đều trên khay dày từ 2 đến 3 cm, mỗi m2 khay chè chứa từ 1,5 đến 2 kg. Sau khoảng 30 phút đến 1 giờ, người ta đảo rũ chè để chè héo đều, thời gian cho công đoạn này từ 3 đến 6 giờ tùy theo từng loại nguyên liệu và điều kiện môi trường như độ ẩm không khí, nhiệt độ phòng. Quá trình héo nhẹ khi búp chè có mùi hương nhẹ và độ ẩm còn lại từ 74 đến 75%, sau đó búp chè được chuyển sang công đoạn diệt men.  Mục đích của công đoạn làm héo nhẹ là giảm lượng nước trong búp chè từ 2 đến 3%, tạo điều kiện cho các phản ứng sinh hóa có lợi xảy ra. Sau cônn đoạn này, búp chè trở nên mềm dẻo, qua đó tạo điều kiện cho quá trình diệt men triệt để, búp chè tươi loại được mùi hăng để xuất hiện hương trà. Hàm lượng axitamin, đường, cafein, hợp chất thơm trong búp trà còn được tăng từ 2 đến 10% sau khi áp dụng công đoạn làm mát và làm lạnh đột ngột. Sản phầm trà khô thu được sau những công đoạn chế biến mới này có vị dịu ngọt, hương thanh mát.  Sự gia công nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc hứa hẹn sẽ đem lại những đổi mới trong công đoạn sản xuất, chế biến trà khô, quá góp phần gia tăng giá trị kinh tế của cây chè Việt Nam.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng địa nhiệt có thể giúp cứu trái đất      Không giống như gió hay mặt trời, năng lượng địa nhiệt luôn luôn sẵn có, dù nắng hay mưa, đêm hay ngày.      Hãy tưởng tượng, nếu có một hình thức năng lượng phi phát thải carbon nằm ẩn trong lòng đất, thứ có thể cung cấp năng lượng bất cứ thời điểm nào, dù trời đầy hay hoặc ít gió, thì đó là địa nhiệt. Các nghiên cứu chỉ ra, năng lượng địa nhiệt có thể là yếu tố quan trọng để cung cấp năng lượng cho một quốc gia phụ thuộc vào năng lượng sạch. Một bản ghi nhớ gần đây từ ClearPath, một thinktank về năng lượng sạch, đã ước tính, năng lượng địa nhiệt có thể cung cấp tới 20% năng lượng cho Mỹ. Điều này có thể đặt Mỹ vào gần hơn vị trí của Iceland, nơi gần 1/4 điện năng dất nước từ nguồn này. Nhưng để đạt được mục tiêu này thì Mỹ cần có một số nới lỏng về quy định và việc sử dụng các kỹ thuật thăm dò và khoan của các công ty gas và dầu mỏ.  “Đây là một nguồn năng lượng lớn nhưng không được nhiều người quan tâm”, Spencer Nelson, người đang thực hiện một dự án đổi mới sáng tạo về năng lượng tại ClearPath và soạn bảo bản ghi nhớ.  Các thành viên của Quốc hội có thể thông qua việc cải cách cơ chế hỗ trợ và quy định về địa nhiệt để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này, nếu họ nhận ra những tiềm năng của chúng, Nelson nói.Đây là vấn đề khác xa với những thứ vẫn gây tranh cãi giữa các đảng, vì thế có thể sẽ được cả hai đảng ủng hộ.  Tại thời điểm này, năng lượng địa nhiệt bị giới hạn tại một vài điểm ở miền Tây Mỹ— tại California, Nevada, và Utah, nơi dòng nhiệt ngầm từ những dòng suối nước nóng được chuyển thành viện qua các turbine. Nó cung cấp tổng số 0.4% điện năng cho Mỹ, một phần vì các chính trị gia thường “bỏ quên” nó, Nelson nói.  Khi Quốc hội thông qua các ưu đãi khuyến khích năng lượng sạch, các nhà lập pháp có xu hướng ít chú ý đến điện địa nhiệt. Năng lượng gió và mặt trời nhận được 30% tín dụng thuế nhưng tín dụng thuế cho địa nhiệt chỉ được 10%. “Đây thực sự là lỗi”, Nelson nói. Quốc hội không nghĩ đến việc đưa địa nhiệt trở lại khi thông qua những quy định mới về môi trường cho dầu mỏ và khí đốt năm 2005. Do đó, việc thực hiện các mũi khoan năng lượng địa nhiệt đòi hỏi quá trình chấp thuận về môi trường dài hơn là khoan dầu mỏ.  Những quy định ngặt nghèo là nguyên nhân chính khiến chúng ta không có nhiều năng lượng địa nhiệt, theo một nghiên cứu của Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ. Nhìn chung, phải mất tới 8 năm để thực hiện đủ yêu cầu về môi trường, cơ sở để khởi động một dự án địa nhiệt, vốn có thể khiến chi phí gia tăng và ngăn cản các nhà đầu tư rót vốn cho các dự án xây dựng nhà máy dịa nhiệt. Nghiên cứu này ước tính, nếu cắt giảm quá trình chấp thuận xuống còn 4 năm thì nó sẽ khuyến khích việc có những dự án mới, có lẽ sẽ góp phần tăng gấp đôi các nhà máy địa nhiệt vào năm 2050, nếu so sánh  với những nhà máy hiện nay.  Để địa nhiệt đóng góp 20% lượng điện của cả nước Mỹ, cần có những kỹ thuật mới. Bằng việc khoan sâu hơn, khoan theo chiều ngang và kỹ thuật fracking (kỹ thuật bơm nước áp lực cao trộn với cát và hóa chất để cắt phá đất đá) để tạo ra những dòng suối khoáng nhân tạo, năng lượng địa nhiệt có thể được khai thác trên diện rộng hơn. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, địa nhiệt có thể cung cấp 100 gigawatt điện năng ở giá cạnh tranh. Cùng với lượng điện từ tất cả các nhà máy điện hạt nhân trên khắp nước Mỹ, địa nhiệt có thể cung cấp được điện cho 100 triệu ngôi nhà.  Thật khó có nhiều năng lượng hơn mà không có đổi mới sáng tạo. Nhưng mọi việc có thể trở nên đơn giản hơn với việc “vay mượn” kỹ thuật từ một ngành công nghiệp đã phát triển các kỹ thuật khoan để thu được nhiều khí thiên nhiên. Theo cách khác, năng lượng sạch có thể được thúc đẩy từ truyền thống của ngành khác. “Thật khó tưởng tượng là lĩnh vực khoan đã đạt được bước tiến như thế nào trong 15 năm qua”, Tim Latimer, đồng sáng lập Fervo Energy, một doanh nghiệp khởi nghiệp đang nỗ lực tìm ra những đổi mới sáng tạo để thúc đẩy năng lượng địa nhiệt.  Hiện tại, dù đã đổi mới nhưng một số kỹ thuật như kỹ thuật fracking vẫn tiềm ẩn một số rủi ro như dẫn đến động đất. Chính phủ Hàn Quốc mới đây đã cho biết một nhà máy địa nhiệt đã là nguyên nhân gây ra một trận động đất 5.4 độ Richter vào năm 2017 và làm bị thương 135 người. Áp suất cao sử dụng để bơm chất lỏng từ lòng đất để cắt đá đã giải phóng nhiệt đủ sức gây ra những trân động đất nhỏ.  Một công bố quốc tế gần đây đưa ra một số bài học: việc theo dõi các trận động đất để xem liệu chúng có quá lớn hoặc được khoan quá gần với những tòa nhà không. Không có nguồn năng lượng nào mà không có vấn đề, vì vậy cần phải giảm thiểu rủi ro càng nhiều càng tốt. “Chúng ta cần đặt các biện pháp an toàn thích hợp khi chúng ta thực hiện các dự án địa nhiệt”, John White, giám đốc điều hành Trung tâm Hiệu quả năng lượng và Công nghệ tái tạo, nói.  Latimer chỉ ra những thách thức khác. Công nghệ Fracking thường được áp dụng trên đá phiến mềm nhưng đá nóng mà công ty Fervo hướng đến thường là đá granite cứng. Hiện công ty của Latimer đã mô hình hóa các giải pháp tiềm năng để giải quyết các vấn đề và lập kế hoạch để kiểm tra thử chúng tại một số điểm khoan càng nhanh càng tốt.  Tựu chung lại thì cả năng lượng gió và mặt trời đều không đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng của chúng ta. Tại California, thi thoảng năng lượng tái tạo cung cấp tới 60% nhu cầu năng lượng khi mặt trời chiếu sáng ở mức cao nhưng khi mặt trời xuống dưới đường chân trời thì các nhà máy khí gas trên khắp nước Mỹ và nhà máy nhiệt điện than tại Utah lại hoạt động ở mức cao, phát thải hơn 4.000 tấn carbon dioxide mỗi giờ. Do đó cần có một nguồn năng lượng sạch có thể vận hành xuyên đêm, và cả khi gió không thổi.  White cho biết, đây là thời điểm để định hình các hình thức năng lượng khác nhau để đạt được nhu cầu của con người. Nghiên cứu gần đây đề xuất địa nhiệt có thể là mọt trong những “miếng bánh” bị mất cần thiết để giải được bài toán năng lượng. “Chúng ta không chỉ cần điện gió hay mặt trời, cần pin lưu trữ hay điện hạt nhân mà còn cần cả địa nhiệt. Chúng ta cần tất cả các loại hình năng lượng để đảm bảo an ninh năng lượng.”  Nhiều chuyên gia đều đồng ý với điện gió và điện mặt trời và cả thủy điện cung cấp 80% nhu cầu năng lượng Mỹ. Nếu chuyển tất cả các nguồn phát năng lượng sạch lên tới 100% tổng lượng điện theo cách hiện nay thì về cơ bản, chúng ta có lẽ cần thò tay vào ví sâu hơn, nghĩa là tốn nhiều tiền hơn.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/geothermal-energy-could-save-the-climateor-trigger-lots-of-quakes/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hóa thạch đã hết thời?      75% các nhà máy điện mới được xây dựng là điện gió và mặt trời, nhưng tỷ trọng của chúng trong sản xuất điện toàn cầu vẫn còn nhỏ. Trong khi đó than đá đang có sự trở lại đầy bất ngờ.    Tháng 8 năm ngoái, 165 tua bin gió lần đầu tiên đi vào hoạt động ở Biển Bắc, cách bờ biển Yorkshire của Anh 89 km. Tại đây trang trại điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới Hornsea 2 đã đi vào hoạt động. Các tua bin gió tạo ra 1,4 gigawatt điện, đáp ứng nhu cầu điện của 1,6 triệu hộ gia đình. Không dừng lại ở đó, Hornsea 3 đã được xây dựng ngay gần khu vực này. Ước tính đến năm 2027, nơi đây sẽ có các tua bin gió với tổng công suất 2,852 gigawatt.  Trong cùng năm, nhà máy điện mặt trời Francisco Pizarro nằm cách đó khoảng 1000 km về phía tây nam, đã được kết nối với lưới điện. Đây là nhà máy điện mặt trời lớn nhất ở châu Âu với công suất 590 megawatt nằm ở trung tâm Tây Ban Nha. Năm ngoái hai nhà máy điện mặt trời lớn hơn đã được xây dựng ở Qatar và Ấn Độ. Kể từ năm 2020, Ấn Độ đã là quê hương của nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới Bhadla – với công suất 2,7 gigawatt.    Các ví dụ này cho thấy một xu hướng rõ nét: Ngày càng nhiều nhà máy điện gió và mặt trời quy mô lớn đang được xây dựng trên khắp thế giới. Hãng phân tích Bloomberg NEF của Mỹ (BNEF) đã tính toán, chỉ riêng các hệ thống điện mặt trời mới đã chiếm 50% công suất nhà máy điện được xây dựng trên toàn thế giới vào năm 2020. Năng lượng gió ở vị trí thứ hai với 25%. Nếu tính cả thủy điện và sinh khối, 86% tổng số nhà máy điện mới hiện nay đều dựa trên năng lượng tái tạo.  Năng lượng hóa thạch đang trên đà cáo chung: than và khí đốt hầu như không có vai trò gì đáng kể ở các quốc gia công nghiệp. Trong khi đó, tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch tiếp tục giảm. Năm 2015 lần đầu tiên năng lượng tái tạo đã vượt qua than đá và khí đốt, kể từ đó, sự khác biệt ngày càng tăng. Chỉ có 14% tổng công suất của các nhà máy điện mới hoàn thành vào năm 2021 có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch. Có sự khác biệt rõ ràng giữa các nước mới nổi và đang phát triển với các nước công nghiệp phát triển. Ở các nước mới nổi và đang phát triển, 26% tổng công suất của các nhà máy điện mới vẫn chạy bằng nhiên liệu hóa thạch, trong khi tỷ lệ này ở các nước công nghiệp chỉ là 3%.  Vấn đề này rất quan trọng vì cơn khát năng lượng của thế giới đang gia tăng nhanh chóng. Kể từ năm 2006, công suất phát điện toàn cầu đã tăng gần gấp đôi từ 4 lên 7,9 terawatt. Nhìn chung, nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm ưu thế. Than đá chiếm 35% sản lượng điện toàn cầu vào năm 2021, khí đốt tự nhiên chiếm 23%. Thủy điện chiếm tỷ trọng lớn thứ ba ở mức 16%, điện hạt nhân ở mức 10%. Năng lượng gió và năng lượng mặt trời đang phát triển mạnh mẽ nhưng cho đến nay chỉ chiếm 11%. Tuy nhiên, thị phần của chúng đang tăng lên hàng năm, trong khi các nguồn năng lượng liệt kể ở trên đang giảm.  Ngoại lệ duy nhất là than đá. Nguồn năng lượng cổ điển này đã trở lại đáng kể vào năm 2021, có lẽ cả vào năm 2022. Trên thế giới, tổng công suất điện được tạo ra từ than đá là hơn 750 terawatt giờ – so với năm trước đó, không có nhà máy điện mới chạy than nào được xây dựng, tuy nhiên những nhà máy cũ đang được kích hoạt trở lại. Trung Quốc đứng đầu danh sách với 395 terawatt giờ trước Ấn Độ (153 TWh) và Mỹ (110 TWh). Đức đứng ở vị trí thứ tư với 30 terawatt giờ. Nguyên nhân là do đại dịch COVID-19 lắng xuống khiến cơn đói năng lượng toàn cầu đột ngột tăng, kèm theo giá khí đốt tăng mạnh vào nửa cuối năm 2021. Ngoài ra, thủy điện – nguồn năng lượng tái tạo hàng đầu, đang phải hứng chịu tình trạng hạn hán ngày càng tăng do của biến đổi khí hậu.  Số liệu thống kê cũng cho thấy, nhiệt điện than chỉ có ở một số quốc gia. 87% nhà máy điện than nằm ở 10 nước. Riêng Trung Quốc đã sản xuất 52%, Australia là 11% và Nam Phi với 9%. Điện mặt trời cũng bị hạn chế theo khu vực: 7 quốc gia chiếm 71% tổng sản lượng toàn cầu. Trung Quốc lại đứng số một với 33% thị phần, Mỹ với 11% và Nhật Bản với 9%, Đức đứng ở vị trí thứ 5 với 5%. Điều đáng ngạc nhiên là các nhà sản xuất điện trời lớn nhất cũng bao gồm các nước mới nổi và đang phát triển như Brazil, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico. Năm 2021 các nhà máy điện mặt trời được xây dựng ở 112 nước. Trong khi đó, 53 nước xây dựng trang trại gió, 47 nước xây dựng nhà máy thủy điện, 42 nước xây dựng nhà máy điện khí mới, 24 nước xây dựng nhà máy điện chạy dầu và chỉ 15 nước xây dựng nhà máy điện than mới. Như vậy, 78% các quốc gia trên thế giới phụ thuộc nhiều vào năng lượng tái tạo hơn là nhiên liệu hóa thạch.   Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.focus.de/finanzen/news/kohle-trotzdem-mit-comeback-fossile-energien-vor-dem-aus-die-welt-baut-fast-nur-noch-windraeder-und-solaranlagen_id_185340548.html       Author                .        
__label__tiasang Năng lượng tái tạo: Một kịch bản mới cho tương lai ngành điện Việt Nam 2030.      Nếu muốn phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam cần có mức giá bán điện năng (Feed-in tariffs) ở mức khả thi và cơ chế phê duyệt dự án minh bạch – hãng tư vấn quản lý toàn cầu McKinsey & Company đề xuất trong buổi công bố sách trắng “Tìm kiếm một con đường khác cho tương lai năng lượng Việt Nam” ngày 23/1.    Các lựa chọn về kế hoạch năng lượng  Sự tiến bộ của công nghệ vật liệu và những đột phá trong thiết kế, lắp đặt các nguồn tái tạo đã khiến chi phí sản xuất năng lượng tái tạo ngày càng rẻ hơn.  Theo tính toán của McKinsey & Company, tại Việt Nam, trong vòng 5 năm (2012-2017), giá vốn của điện mặt trời giảm 75% và điện gió giảm 30%. Năng lượng tái tạo đã trở thành nguồn sản xuất điện mới rẻ nhất ở Việt Nam nếu tính dựa trên chi phí sản xuất điện quy dẫn (LCOE) (1).  Tính toán chỉ ra rằng năm 2017, giá trung bình của 1 đơn vị điện gió và điện mặt trời đã cân bằng với giá điện khí gas trong nước không được trợ giá ở mức 50 USD/Mwh và thấp hơn mức điện than khi không được trợ giá. Xu hướng đó sẽ còn tiếp tục giảm, đến năm 2023 sẽ cân bằng với chi phí giá trung bình ước tính của thủy điện, và giảm sâu hơn đến năm 2030.    Năng lượng tái tạo trở thành nguồn sản xuất điện rẻ nhất Việt Nam| Nguồn: McKinsey & Company  Báo cáo đề xuất một phương án mới về năng lượng của Việt Nam đến năm 2030 với tên gọi Renewables-Led Pathway, trong đó nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió sẽ được mở rộng gấp 5 lần so với Quy hoạch VII (điều chỉnh) để đạt công suất lần lượt là 61GW và 39GW. Để đảm bảo khả năng phát điện ổn định, chúng sẽ được bổ trợ bằng các thiết bị pin lưu trữ điện và khí thiên nhiên; các nguồn thủy điện vẫn sẽ tăng lên nhưng điện than duy trì như mức hiện tại.  So với mức tổng công suất Quy hoạch là 130GW, phương án đẩy mạnh phát triển năng lượng thay thế này có tổng công suất gấp 1.58 lần.  McKinsey & Company cho rằng, trong vòng 15 năm, phương án này có thể sẽ hiệu quả hơn so với Quy hoạch VII, nếu nhìn từ ba khía cạnh quan trọng là chi phí, môi trường sạch và an ninh năng lượng..    Hai phương án cho ngành điện và những tác động của chúng |Nguồn: McKinsey&Company  McKinsey & Company cho rằng, trong vòng 15 năm, phương án này có thể sẽ hiệu quả hơn so với Quy hoạch VII, nếu nhìn từ ba khía cạnh quan trọng là chi phí, môi trường sạch và an ninh năng lượng.  Theo kịch bản ước tính, tổng chi phí sản xuất điện từ năm 2017 đến 2030 sẽ giảm 10%, chủ yếu nhờ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu. Phát thải khí nhà kính và chất hạt sẽ giảm lần lượt 32% và 33%, nhờ đó sẽ giảm ô nhiễm không khí và có lợi cho sức khỏe người dân hơn.  Đồng thời cũng sẽ đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam hơn khi giảm 60% nhiên liệu nhập khẩu (từ Trung Quốc,…) so với con đường truyền thống, cũng như giảm được rủi ro từ việc biến động giá nhiên liệu. Đầu tư vào năng lượng tái tạo cũng hứa hẹn tạo ra hơn 465,000 việc làm mới so với cùng mức đầu tư.     Cần có chính sách thúc đẩy của chính phủ  Có một thực tế là năng lượng tái tạo ở Việt Nam vẫn còn phát triển rất chật vật. Theo đánh giá của hãng tư vấn, thị trường năng lượng mặt trời và điện gió ở Việt Nam hiện vẫn ở mức sơ khai, với khoảng 0.2GW trên lưới điện là điện gió và điện mặt trời.  PGS. TS. Nguyễn Cảnh Nam – Hội đồng phản biện tạp chí Năng lượng Việt Nam trong một bài báo đầu năm 2019 nhận xét rằng trước giai đoạn 2017, hầu như không có Quy hoạch quốc gia rõ ràng về điện gió và mặt trời, cho thấy định hướng phát triển hai nguồn điện này của nhà nước còn khá “sơ sài, chiếu lệ” nên không đủ vai trò là căn cứ pháp lý để triển khai thực hiện đầu tư các dự án, nhưng khi chính phủ thêm cơ chế hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo (2) thì hàng loạt các dự án lại “bùng phát”.  “Không có phép màu nào để giải quyết các khó khăn của Việt Nam về năng lượng”, ông Antonio Castellano – Giám đốc Hợp danh kiêm Trưởng ban Điện năng – Khí tự nhiên khu vực Đông Nam Á của McKinsey & Company đánh giá, “Khả năng đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh trong khi vẫn duy trì được mức giá thành thấp sẽ phụ thuộc vào việc tạo lập cơ sở hạ tầng tài chính để khiến thị trường thu hút được các nhà đầu tư có năng lực phát triển năng lượng tái tạo hơn”.    Ông Antonio Castellano – Giám đốc Hợp danh kiêm Trưởng ban Điện năng – Khí tự nhiên khu vực Đông Nam Á của McKinsey & Company tại buổi họp báo 23/1/2019.  Theo tính toán của EVN, việc đầu tư và nâng cấp hệ thống năng lượng điện ở Việt Nam sẽ cần khoảng 150 tỷ USD đến năm 2030, nhưng theo tính toán của McKinsey & Co, con số đó còn có thể cao hơn ở mức 207 tỷ USD cho định hướng năng lượng tái tạo.  Sách trắng của McKinsey & Company cho rằng, “Việt Nam cần tìm một đối tác có thể cam kết vốn cho khoản 50 tỷ USD tăng thêm so với dự kiến 150 tỷ USD” bằng cách khiến “đầu tư tư nhân trở thành vai trò trung tâm cho việc cung cấp tài chính cho việc phát triển thêm các hạ tầng sản xuất điện”.  Để thực thi được vấn đề này, theo McKinsey & Company, chính phủ cần tạo được thị trường có giá bán điện năng sản xuất vào lưới điện (Feed-in tariffs) ở mức khả thi, quy định những hợp đồng mua bán điện (PPA) theo hướng giảm rủi ro cho nhà đầu tư hơn nữa, và xác lập cơ chế phê duyệt dự án minh bạch và dễ tiếp cận hơn để thu hút nhà đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài.  Theo quan sát, thị trường năng lượng tái tạo tại Việt Nam đã bắt đầu có một số tín hiệu tích cực.  Tính đến hết tháng 9/2018, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã ký được thêm 35 hợp đồng mua bán điện (PPA) với các nhà đầu tư điện mặt trời bên ngoài EVN, với tổng công suất dự tính là 2.27 GW. Dường như gần đây, chính sách phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đang có những chuyển mình, mặc dù vậy vẫn đang chỉ ở tầm ngắn hạn.  Trong khi đó, các nhà đầu tư điện gió vẫn phải chờ các văn bản hướng dẫn bán điện theo giá mới, các nhà đầu tư điện mặt trời lại đặc biệt quan tâm đến sự thay đổi về chính sách điện mặt trời sẽ thế nào sau 30/6/2019, khi Quyết định 11/2017 hết hiệu lực.  Hiện tại, quy hoạch điện của Việt Nam (2016) vẫn đang lệ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng nhiệt điện than. Tuy nhiên trong vòng 2 năm đây, nhiều báo cáo quốc tế và những diễn đàn lớn về năng lượng đều chỉ ra rằng đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo là một lựa chọn khả thi cho Việt Nam. Rất có thể, dưới những thay đổi của bối cảnh, chính sách năng lượng trong dài hạn của quốc gia sẽ có những điều chỉnh mang tính bước ngoặt.     Ngô Hà  Nguồn: Báo cáo năng lượng của McKinsey&Co: https://www.mckinsey.com/featured-insights/asia-pacific/exploring-an-alternative-pathway-for-vietnams-energy-future  (1) Chi phí sản xuất điện quy dẫn (Levelized Cost of Energy, LCOE) là giá trị hiện tại ròng cho mỗi đơn vị điện được tạo ra trong suốt vòng đời của tài sản tạo ra điện, được tính bằng tổng chi phí trọn đời chia cho tổng sản lượng năng lượng tạo ra trong khoảng thời gian đó. Tổng chi phí bao gồm vốn đầu tư ban đầu, chi phí hoạt động và bảo trì, chi phí nhiên liệu và chi phí sử dụng vốn. LCOE không tính thiệt hại xã hội, ngoại ứng và các tác động môi trường. Cần thận trọng khi so sánh các nghiên cứu LCOE khác nhau do kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các giả định (đặc biệt là công suất), điều khoản tài chính và công nghệ triển khai được xem xét. )  (2) Năm 2011 mới có Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió và giá điện gió là 7,8 cent/kWh còn quá thấp nên đến năm 2018 nâng lên 8,5 cent/kWh đối với điện gió trên đất liền và 9,8 cent/kWh đối với điện gió trên biển theo Quyết định số 39/2018/TTg. Còn điện mặt trời mãi tới năm 2017 mới có Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ban hành cơ chế khuyến khích, trong đó giá điện mặt trời là 9,35 cent/kWh).    Author                Ngô Hà        
__label__tiasang Năng lượng tái tạo: Một thế giới đảo ngược      Wildpoldsried thuộc quận Oberallgäu, bang Bayern là một xã điển hình về thành công trong sản xuất năng lượng tái tạo của Đức. Việc triển khai áp dụng các loại hình năng lượng như điện gió, điện mặt trời, khí biogas… đem lại cho Wildpoldsried tổng số điện năng gấp năm lần nhu cầu tiêu dùng. Riêng năm 2016, xã đã thu về tới 6 triệu Euro (tương đương 7 triệu USD) từ tiền trợ giá điện và bán điện dư thừa.      Wildpoldsried phát triển nhiều loại hình năng lượng tái tạo: điện gió, điện mặt trời, sinh khối…  Thành công của Wildpoldsried khiến nhiều nhà hoạt động môi trường mong muốn hệ thống năng lượng thế giới cũng vận hành theo cách này. Để có được thành công, cần phải dựa vào những yếu tố như trợ giá đầu tư và chi phí nhiên liệu cực thấp. Đặc biệt, việc đưa nguồn phát năng lượng tái tạo hòa vào lưới điện sẽ ảnh hưởng đến thị trường điện và các mô hình kinh doanh nhiều năm “ăn nên làm ra” từ năng lượng hóa thạch. Theo số liệu năm 2015, năng lượng tái tạo mới chiếm 7% tổng số điện năng toàn thế giới, điện từ nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 80% điện năng thế giới khiến mục tiêu hạn chế rủi ro vì biến đổi khí hậu vẫn còn cách rất xa.  Trong vài thập kỷ trở lại đây, cuộc chiến chống biến đổi khí hậu đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của những loại hình năng lượng mới như năng lượng gió và mặt trời. Năm 2015, các chính phủ đã rót 150 nghìn tỷ USD hỗ trợ đầu tư cho năng lượng tái tạo, đi đầu là Mỹ, Trung Quốc và Đức. Những nỗ lực từ việc phát triển năng lượng tái tạo trên cơ sở trợ giá của các chính phủ đã làm giảm chi phí sản xuất. Năng lượng tái tạo đã rẻ dần, ở một số quốc gia, điện gió đã ở mức giá cạnh tranh. Điều đó cho thấy, có thể trong tương lai gần, mức trợ giá cho điện gió sẽ không còn cao như trước nữa.  Việc các chính phủ thúc đẩy năng lượng tái tạo gia nhập thị trường điện đã đem lại hiệu quả trên nhiều khía cạnh, không chỉ ở vấn đề giá cả. Đầu tư vào cung vượt cầu làm dư thừa điện năng và đẩy giá điện xuống từ khoảng 85 USD một MWh năm 2008 xuống còn từ 32 đến 53 USD như ngày nay.    Bên cạnh đó, việc các chính phủ trợ giá khiến chi phí sản xuất điện gió và điện mặt trời trên khắp thế giới giảm mạnh. Cuộc cạnh tranh về giá cả diễn ra quyết liệt hơn. Các phiên đấu giá gần đây về điện gió từ biển Bắc và điện mặt trời từ Mexico và Abu Dhabi đã cho thấy các nhà sản xuất đang cắt giảm giá để giành các hợp đồng cung cấp điện ổn định cho vài thập kỷ tới. Giá điện bình quân quy dẫn (levellised cost of electricity) – bao gồm cả chi phí xây dựng và vận hành trong suốt vòng đời một nhà máy điện – đang làm tăng sự cạnh tranh giữa năng lượng tái tạo với năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.  Kết quả của việc đầu tư vào năng lượng tái tạo là các loại năng lượng truyền thống bị ảnh hưởng. “Trong lịch sử gần đây, chưa bao giờ ngành công nghiệp năng lượng lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút vốn như bây giờ”, Matt Rennie, nhà phân tích thị trường năng lượng toàn cầu của EY – công ty chuyên tư vấn tài chính và cung cấp dịch vụ kiểm toán, thuế – cho biết.  Các thị trường điện thường hoạt động theo nguyên tắc “thứ tự ưu tiên” (merit order): họ ưu tiên lấy điện từ nhà cung cấp rẻ nhất, sau đó đến nhà cung cấp giá điện rẻ thứ nhì… cho đến khi đủ nhu cầu; giá trả cho tất cả các nhà cung cấp bằng giá từ nguồn đắt nhất. Do không có chi phí nhiên liệu nên chi phí biên của điện gió và điện mặt trời thấp. Vì vậy các nhà sản xuất có chi phí lớn hơn bị đẩy ra khỏi lưới điện, dẫn đến giá bán buôn thấp.  Nếu quá trình sản xuất điện diễn ra liên tục thì năng lượng tái tạo thực sự là vấn đề lớn đối với các nguồn năng lượng khác. Nhưng về bản chất, năng lượng tái tạo không liên tục, nên vẫn cần các nguồn năng lượng đó tham gia lưới điện. Nếu đóng cửa các nhà máy sản xuất điện truyền thống thì vào lúc thiếu điện gió hay điện mặt trời (do gió không thổi và mặt trời không chiếu sáng), chúng ta sẽ không có nguồn cung cần thiết.  Hơn nữa, khi còn là một phần rất nhỏ trong hệ thống điện năng, năng lượng tái tạo được trợ giá, chỉ cần có các nguồn điện truyền thống thì giá điện bán buôn sẽ ở mức hợp lý, nhờ vậy người ta có thể mua điện tái tạo với mức giá cố định. Tuy nhiên, theo lý thuyết, càng tăng nhiều nguồn phát năng lượng tái tạo thì giá điện càng giảm. Có những thời điểm, các nguồn năng lượng tái tạo có thể đáp ứng nhu cầu điện năng của một vùng, một quốc gia, dẫn đến sự mất giá của năng lượng truyền thống – hoặc đôi khi dẫn đến việc các nguồn phát truyền thống phải được trả tiền để được hòa lưới điện. Do đó càng nhiều năng lượng tái tạo trong hệ thống điện càng có nhiều nguy cơ dẫn đến hiện tượng này. Vì vậy, việc áp dụng mô hình phát triển năng lượng tái tạo thành công như Wildpoldsried ở tầm quốc gia là điều khó thực hiện, thậm chí còn ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.  Ông Rolando Fuentes từ Kapsarc, một tổ chức tư vấn chính sách về năng lượng, cho rằng thế giới bị sa vào vòng luẩn quẩn: trợ giá thúc đẩy năng lượng tái tạo; năng lượng tái tạo làm giảm giá điện, tăng sự hỗ trợ về tài chính. Theo lý thuyết thì nếu năng lượng tái tạo đạt tới mức 100% trên thị trường, giá điện bán buôn có thể rơi xuống mức 0 đồng, do đó nếu không được trợ giá sẽ dẫn đến việc ngày càng ít nhà đầu tư mới đầu tư vào lĩnh vực này như cách nói của Malcolm Keay (Viện nghiên cứu Năng lượng Oxford), “cơ chế đầu tư năng lượng bị phá vỡ, thị trường cũng vậy”.  Hiện tại, việc đầu tư vào năng lượng tái tạo cần đi kèm với việc thiết kế lại các lưới điện để đấu nối các nguồn điện tái tạo; xây dựng các lưới điện có khả năng lưu trữ lớn hơn; lưới điện đủ lớn để tích hợp các nguồn điện tái tạo ở xa; lưới điện thông minh có khả năng hỗ trợ khách hàng về việc cung cấp điện năng… Một giải pháp khác là những quốc gia phát triển năng lượng tái tạo vẫn cần duy trì nguồn điện từ nhiên liệu hóa thạch để sẵn sàng cung cấp vào giờ cao điểm.  Cách thế giới đang tiến hành mua, bán, định giá và điều chỉnh điện năng đã đưa đến một định nghĩa mới về điện. “Nghĩ về điện gió, điện mặt trời như một giải pháp cho chính nó vẫn là không đủ. Cần phải nghĩ đến những yếu tố khác trong một gói hợp đồng”, Simon Müller của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết. Các yếu tố tạo thành một gói hợp đồng như vậy đang xuất hiện. Thay vì khách hàng phải trả tiền cho các số điện như trước thì giờ đây sẽ trả tiền theo các gói dịch vụ kỹ thuật. Nhiều thiết bị lưu trữ điện gia dụng như các thiết bị của Sonnen ở xã Wildpoldsried và Powerwall của Tesla đã bán rộng rãi trên thị trường. Và lưới điện thông minh với sự hỗ trợ của dữ liệu lớn ngày càng có khả năng giữ được cân bằng cung cầu.  Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: http://www.economist.com/news/briefing/21717365-wind-and-solar-energy-are-disrupting-century-old-model-providing-electricity-what-will    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng tái tạo ở Việt Nam: Tiềm năng nhiều, ứng dụng ít      Được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo sạch khá dồi dào, nhưng ứng dụng công nghệ năng lượng tái tạo vẫn ở bước đầu chập chững và còn nhiều hạn chế ở Việt Nam. Theo “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 2007, mục tiêu hướng tới của các nguồn năng lượng mới và tái tạo vẫn còn ở mức khiêm tốn (đạt tỉ lệ khoảng 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp đến năm 2010 và 11% vào năm 2050). Trong khi đó, nhu cầu sử dụng năng lượng đang gia tăng ở mức chóng mặt ở Việt Nam.      Theo số liệu của Bộ Công thương, tỉ lệ tăng trưởng nhu cầu năng lượng ở Việt Nam hiện tăng ở mức gấp đôi so với tỉ lệ tăng trưởng GDP. Trong khi đó, ở các nước phát triển, tỉ lệ này chỉ ở mức dưới 1. Tiêu thụ năng lượng của Việt Nam ngày càng gia tăng, gấp gần 5 lần trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 (từ mức 4,21 triệu tấn dầu qui đổi lên 19,55 triệu tấn theo thứ tự), với một mức tăng trung bình hằng năm trong giai đoạn này là 11,7%/năm. Dự kiến, Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng từ năm 2015.  Trong bối cảnh ngày càng cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch nội địa, giá dầu thế giới tăng cao và sự phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào giá năng lượng thế giới, khả năng đáp ứng năng lượng đủ cho nhu cầu trong nước ngày càng khó khăn và trở thành một thách thức lớn. Như vậy, “việc xem xét khai thác nguồn năng lượng tái tạo sạch có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh lượng thực và phát triển bền vững”, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Nam Hải phát biểu trong một buổi hội thảo về các nguồn năng lượng mới, vừa được tổ chức tại Hà Nội. Ông cũng cho rằng “Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên tái tạo sạch khá dồi dào, có khả năng thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch, giảm thiểu tác động tới môi trường”.  Tiềm năng lớn  Theo Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công thương) Lê Tuấn Phong, mỗi năm Việt Nam có khoảng 2.000-2.500 giờ nắng với mức chiếu nắng trung bình khoảng 150kCal/cm2, tương đương với tiềm năng khoảng 43,9 triệu tấn dầu qui đổi/năm. Trong khi đó năng lượng gió cũng khá hấp dẫn, có thể đạt công suất phát điện khoảng 800-1.400 kwh/m2/năm trên đất liền, từ 500-1.000 kwh/m2/năm tại các khu vực bờ biển, Tây Nguyên và phía Nam và dưới 500 kwh/m2/năm ở các khu vực khác. Năng lượng sinh khối qui đổi cũng vào khoảng 43-46 triệu tấn dầu trong đó 60% đến từ các phế phẩm gỗ và 4% đến từ phế phẩm nông nghiệp.           Hệ thống đèn chiếu sáng sử dụng năng lượng tái tạo tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (ảnh: Tiến Dũng/VnExpress)          Riêng vùng Đồng bằng sông Hồng, nơi vốn bị hạn chế về nguồn năng lượng gió và năng lượng Mặt trời bởi yếu tố khí hậu thì các nghiên cứu cho thấy năng lượng địa nhiệt lại tương đối ấn tượng. Nhóm nghiên cứu gồm các Tiến sĩ Đoàn Văn Tuyến, Đinh Văn Toàn và Nguyễn Đức Lợi thuộc Viện Địa chất (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết các dấu hiệu địa nhiệt khá phong phú, gồm bồn địa nhiệt vùng Đông Nam-Tây Bắc với nhiệt độ đạt tới 160oC tại độ sâu 4km (có khả năng sinh điện vào khoảng 1,16% tổng sản lượng điện của Việt Nam sản xuất năm 2006), đới địa nhiệt đứt gãy Sông Lô-Vĩnh Ninh có nhiệt độ trung bình khoảng 114oC, các nguồn nước địa nhiệt 40-50oC ở các điểm Hưng Hà, Phù Cừ, Hải Dương, Ba Vì (Hà Nội)…  Theo tính toán của các nhà khoa học, chỉ riêng sử dụng bơm địa nhiệt dùng cho điều hòa không khí ở Hà Nội cũng sẽ tiết kiệm được khoảng 800 tỉ đồng/năm về mặt kinh tế và hơn thế nữa là giảm mức phát thải CO2 ở mức tương đương với 252.000 tấn do sử dụng khí thiên nhiên. Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng nước nóng ở vùng đồng bằng sông Hồng với nhiệt độ 40-50oC là hoàn toàn khả thi trong các qui hoạch xây dựng đô thị mới, công viên du lịch và khu vui chơi, nghỉ dưỡng…  Những nghiên cứu ban đầu  Mặc dù chưa được đầu tư đúng mức nhưng năng lượng tái tạo hiện cũng đã thu hút sự chú ý của một số cơ quan nghiên cứu trong nước.  Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê thuộc Trung tâm nghiên cứu và triển khai (SHTP Laps) cho biết hiện đã có một số hoạt động nghiên cứu tại Đại học Khoa học Tự nhiên TP. HCM về pin Mặt trời Gratzel ở mức hiệu suất 6%, trong khi loại pin này trên thị trường hiện đã có ở mức 11%. “Hiện tại các chip pin Mặt trời chủ yếu nhập từ Đức và Pháp và hiện chúng ta mới thực hiện việc đóng gói các sản phẩm này”, Tiến sĩ Khê nói.  Thách thức chung của các nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay là giá thành vật liệu cao, do đó, các sản phẩm làm ra khó có thể cạnh tranh với hàng ngoại nhập.   Trong khi đó, các nhà khoa học Nguyễn Tiến Khiêm, Ngô Quý Thêm (Viện Cơ học) cùng Đỗ Đình Khang (Công ty phát triển công nghệ) và Vũ Anh Tuấn (Công ty Yên Đông) đưa ra báo cáo về “Công nghệ pin Mặt trời vô định hình Silic và khả năng ứng dụng vào Việt Nam”. Theo nghiên cứu này, Việt Nam là một trong những nước nằm trong giải phân bố ánh sáng nhiều nhất trong năm theo bản đồ bức xạ Mặt trời của thế giới nhờ bờ biển dài tới hơn 3.000 km. Trong khi đó có hàng nghìn đảo hiện có cư dân sinh sống mà nhiều nơi không thể đưa điện lưới tới được, vì vậy sử dụng năng lượng Mặt trời tại chỗ để thay thế cho năng lượng truyền thống là một kế sách vô cùng có ý nghĩa về mặt kinh tế, văn hóa giáo dục và an ninh quốc phòng.  Việc ứng dụng năng lượng Mặt trời ở Việt Nam hiện chưa phát triển, theo nhóm nghiên cứu này là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do giá cả của điện Mặt trời hiện còn quá cao so với thủy điện và nhiệt điện. Nhiều quốc gia tiên tiến như Mỹ và Thụy Sĩ đang đi tiên phong trong việc cải tiến công nghệ chế tạo pin Mặt trời để có chi phí thấp, nhằm giảm giá thành sản phẩm. Một trong những hướng nghiên cứu đó là nghiên cứu phát triển pin Mặt trời vô định hình Silic (a-Silic). Đối với Việt Nam, vẫn theo nhóm nghiên cứu, việc phát triển công nghệ a-Silic có thể coi là bài toán tối ưu, thích hợp cho điều kiện địa hình dài và nhiều bờ biển.          Hệ thống đèn chiếu sáng sử dụng năng lượng tái tạo tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (ảnh: Tiến Dũng/VnExpress)        “Giá thành của pin a-Silic trên thế giới hiện chỉ còn vào khoảng 1 USD/wp trong khi giá thành của công nghệ Silic tinh thể vẫn còn cao hơn 5-6 lần”, nghiên cứu cho biết.  Một trong những ưu việt khác của công nghệ pin a-Silic là có thể làm việc hiệu quả trong các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sương mù hoặc điều kiện ẩm ướt chứ không chỉ ở môi trường nắng nóng, nhiệt độ cao. “Chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi trong nhiều ngày liền thấy pin a-Silic vẫn làm việc tốt trong điều kiện mây mù”, báo cáo của nhóm nghiên cứu viết. Như vậy, nếu khai thác pin a-Silic làm đèn chiếu sáng thì chỉ cần một ngày nắng khoảng 10 giờ thì có thể thắp sáng cho 6-7 ngày mưa tiếp theo, nghiên cứu kết luận. Tất nhiên, tồn tại của công nghệ a-Silic là hiệu suất làm điện còn thấp, chỉ khoảng 10%.  Một hướng nghiên cứu khác cũng được Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa, Chủ nhiệm bộ môn Công nghệ hóa học nano (Đại học Công nghệ) phối hợp với Phòng hóa học Nano (Viện Hóa học) tiến hành: đó là chế tạo pin Mặt trời hữu cơ.  “Những kết quả bước đầu mở ra triển vọng cho việc làm chủ công nghệ chế tạo pin Mặt trời hữu cơ trong tương lai”, báo cáo của Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa cho biết.  Pin Mặt trời hữu cơ có nhiều đặc tính hấp dẫn như có giá thành thấp, mềm dẻo, phù hợp với diện tích lắp đặt lớn và có màu sắc tự nhiên. Nhưng pin Mặt trời hữu cơ cũng có một nhược điểm quan trọng, đó là hiệu suất hoạt động kém, chỉ bằng khoảng 1/3 hiệu suất của pin Mặt trời Silic tinh thể.  Sự tham gia của các doanh nghiệp  Không chỉ có các nhà khoa học và cho tới giờ, đã có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài tiên phong trong việc khai thác thị trường năng lượng tái tạo tại Việt Nam.  Liên doanh giữa Công ty Năng lượng Gió Fuhrlaender AG của Đức và Công ty cổ phần Năng lượng Tái tạo Việt Nam (REVN) hiện đang đầu tư xây dựng những tuabin gió đầu tiên tại Bình Thuận, mỗi tuabin có công suất phát điện là 1,5 MW và đây là những tuabin gió hiện đại nhất ở Việt Nam.  Trước đó, Trang trại Gió Phương Mai 3 cũng đã được khai trương và đặt tại Bình Định nhằm khai thác năng lượng gió tại Việt Nam. Dự kiến trong năm 2010, một số trại gió khác cũng sẽ được đưa vào hoạt động tại thành phố Đà Lạt và Côn Đảo. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng về phần lớn công nghệ năng lượng gió ở Việt Nam vẫn là một tiềm năng chưa thực sự được khai thác.  Vào tháng 4/2009, nhà máy sản xuất pin Mặt trời đầu tiên tại Việt Nam đã được khánh thành với mức đầu tư 10 triệu USD, do Công ty cổ phần năng lượng Mặt trời Đỏ TP HCM kết hợp với hai đối tác là Trung tâm tiết kiệm năng lượng TP. HCM (thuộc Sở Khoa học Công nghệ TP. HCM) và Công ty TNHH Tân Kỷ Nguyên xây dựng.   Sự kiện này được kỳ vọng là một cú hích mạnh cho thị trường năng lượng tái tạo sạch tại Việt Nam. Với sản lượng công nghiệp, nhà máy dự kiến dành 40% sản phẩm cho thị trường nội địa và 60% xuất khẩu sang các nước châu Âu và châu Mỹ. Theo đánh giá của các chuyên gia, đây chính là công trình tiên phong trong công nghệ năng lượng, đặt nền tảng cho công nghệ pin Mặt trời ở Việt Nam.  Giai đoạn 1, nhà máy đặt tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, có thể cung cấp các tấm pin năng lượng Mặt trời, mỗi tấm công suất 80-165 Wp điện với hiệu suất 16%. Nhà máy có thể cung cấp lượng sản phẩm lên đến 5 MWp điện một năm. Đặc biệt, giá bán sản phẩm này sẽ thấp hơn 30% đến 40% giá bán lẻ trên thị trường hiện tại.  Giai đoạn 2, nhà máy sẽ sản xuất luôn linh kiện để lắp ráp pin từ nguyên liệu trong nước. Bên cạnh đó, nhà máy cũng thiết kế, lắp ráp và chế tạo các sản phẩm tiết kiệm năng lượng như hệ thống máy nước nóng Mặt trời, bóng đèn tiết kiệm năng lượng và những thiết bị tiết kiệm năng lượng khác.  Công ty Cenergy Power của Hoa Kỳ cũng đang có kế hoạch tiếp cận thị trường Việt Nam. Theo thông tin từ công ty này, Cenergy Power hiện đang hoàn tất hồ sơ để hoạt động tại Việt Nam. Kế hoạch tiếp theo là sẽ mở văn phòng và trung tâm đào tạo vào quí I/2010. 30 kỹ thuật viên và kỹ sư về năng lượng Mặt trời người Việt sẽ được công ty này đào tạo trong quí II/2010 và đến hết năm, số kỹ thuật viên và kỹ sư được đào tạo sẽ tăng lên 100 người. Ý định của Cenergy Power là chuyển giao công nghệ về năng lượng Mặt trời, nâng cao khả năng và nguồn lực trong các dự án năng lượng Mặt trời và biến Việt Nam thành nước dẫn đầu ASEAN trong lĩnh vực năng lượng Mặt trời, cả về số lượng dự án lẫn nguồn lực được đào tạo.  Một công ty khác là Công ty cổ phần tập đoàn quốc tế Kim Đỉnh, có trụ sở tại Hà Nội lại hướng mục tiêu hoạt động của mình không chỉ trong việc nghiên cứu, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo mà còn cung cấp các sản phẩm và thực hiện các dự án trong lĩnh vực này. Thí dụ như các thiết bị năng lượng gió, năng lượng Mặt trời và các hệ thống kết hợp cả năng lượng gió và Mặt trời, các hệ thống viễn thông điều khiển tự động, các giải pháp năng lượng cho vùng sâu, vùng xa, phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp và chiếu sáng công cộng… Một dự án đã được thực hiện thành công là hệ thống đèn chiếu sáng sử dụng sức gió và năng lượng Mặt trời tại Khu Công nghệ cao Láng-Hòa Lạc.  Như vậy, trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, người ta mới thấy có sự nỗ lực của các doanh nghiệp tư nhân và các nhà khoa học. Theo một chuyên gia năng lượng đến từ châu Âu, tại các nước phát triển mạnh năng lượng tái tạo trên thế giới hiện nay đều có sự tài trợ và tham gia của Nhà nước vào các dự án lớn, kể cả nghiên cứu hay ứng dụng. Tuy nhiên, ngân sách hạn chế của Nhà nước đối với năng lượng tái tạo sạch có lẽ là cản trở lớn nhất để loại hình năng lượng này có thể đi vào cuộc sống và phát triển mạnh tại Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng – trung tâm một trật tự thế giới mới      Giá dầu lên tới trên 110 USD/thùng (hiện đã xấp xỉ 120 USD/thùng), giá xăng đã ở mức 3,35 USD hoặc hơn/gallon. Giá dầu sưởi ấm gia đình đắt tới mức phi lý. Xăng máy ba phản lực đắt tới mức 3 hãng hàng không giá rẻ buộc phải ngừng hoạt động trong mấy tuần qua. Đó mới chỉ là những thông tin mới nhất về năng lượng, báo hiệu một sự thay đổi sâu sắc về một trật tự thế giới mới với năng lượng là trung tâm    Đặc trưng của trật tự thế giới mới này là cuộc cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng quyết liệt đề giành giật các nguồn dầu mỏ, khí đốt, than và urani đang cạn dần và quyền lực cùng của cải chuyển dần từ các nước thiếu năng lượng như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ sang các nước dư thừa năng lượng như Nga, Saudi Arabia và Venezuela. Trong quá trình này, sự sống của mọi người sẽ bị tác động dưới dạng này hay dạng khác, trong đó những người nghèo và trung lưu ở các nước thiếu năng lượng sẽ bị tác động mạnh nhất.  – Trong trật tự thế giới mới này có 5 lực lượng then chốt làm thay đổi hành tinh chúng ta:        Theo Bộ Năng lượng Mỹ, các nguồn năng lượng mới như gió, mặt trời, thủy điện cùng với các nguồn năng lượng “truyền thống” như củi gỗ, phân gia súc mới chỉ giải quyết được 7,4% nhu cầu năng lượng toàn cầu năm 2004; năng lượng sinh khối cung cấp được khoảng 0,3%, trong khi năng lượng hóa thạch gồm dầu mỏ, khí đốt và than cung cấp tới 86% và năng lượng hạt nhân cung cấp phần còn lại khoảng 6%. Dựa trên tình hình phát triển và đầu tư hiện nay, Bộ Năng lượng Mỹ dự đoán vào năm 2030, nhiên liệu hóa thạch sẽ tiếp tục giữ tỷ trọng như năm 2004, nhiên liệu mới và sinh khối tăng lên chút ít, chiếm khoảng 8,1%, như vậy, thực tế là không đáng kể.        Cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các cường quốc kinh tế cũ và mới đề giành giật các nguồn năng lượng hiện có. Cho đến gần đây, các cường quốc công nghiệp lâu đời ở châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ vẫn tiêu thụ phần lớn năng lượng của thế giới. Năm 1990, các nước OECD giàu có tiêu thụ 57% năng lượng của thế giới, Liên Xô và khối Vác-xa-va trước đây tiêu thụ 14%, còn các nước đang phát triển tiêu thụ 29%. Tỷ trọng này giờ đây đang thay đổi, trong đó các nước đang phát triển, do kinh tế tăng trưởng mạnh, đang tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng. Đến năm 2010, thế giới đang phát triển dự đoán sẽ tiêu thụ 40% năng lượng của thế giới và có thể lên tới 47% vào năm 2030 nếu tiếp tục đà tăng như hiện nay.  Các cường quốc kinh tế mới nổi sẽ cạnh tranh với các cường quốc kinh tế lâu đời để giành giật các trữ lượng năng lượng xuất khẩu chưa khai thác, trong đó có nhiều trường hợp tranh mua trữ lượng với các tập đoàn năng lượng tư nhân phương Tây như Exxon Mobil, Chevron, BP, Total và Royal Dutch Shell. Các nước này, điển hình là Trung Quốc, đã phát triển chiến lược cạnh với các tập đoàn trên của phương Tây, lập ra các công ty nhà nước để liên minh với các công ty dầu mỏ quốc gia hiện đang kiểm soát các trữ lượng dầu-khí ở nhiều nước sản xuất nhiều năng lượng.  – Không có đủ nguồn năng lượng cơ bản. Khả năng đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp nặng đang giảm xuống. Xét về mọi mặt, nguồn cung dầu mỏ của thế giới sẽ chỉ tăng thêm trong nửa thập kỷ nữa trước khi đạt đỉnh cao nhất rồi bắt đầu giảm xuống, trong khi các nguồn cung khí đốt tự nhiên, than và urani có thể tiếp tục tăng trong chừng 1-2 thập kỷ trước khi đạt mức cao nhất để bắt đầu bước vào quá trình giảm tất yếu. Còn các nguồn cung nhiên liệu hiện nay của thế giới sẽ không đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu đang tăng lên mạnh mẽ.        Về dầu khí, các nước dư thừa có thể đếm trên đầu ngón tay. Khoảng một chục nước giàu dầu mỏ sở hữu tới 82,2% trữ lượng đã chứng minh của thế giới. Đứng đầu là Saudi Arabia, tiếp đến là Iran, Iraq, Kuwait, Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất, Venezuela, Nga, Libya, Kazakstan và Nigeria. Còn khí đốt nằm tập trung hơn, chủ yếu ở 3 nước Nga, Iran và Qatar, chiếm tổng cộng 55,8% nguồn cung của thế giới.         Ví dụ về dầu mỏ, Bộ Năng lượng Mỹ dự đoán nhu cầu dầu mỏ thế giới sẽ lên tới 117,6 triệu thùng/ngày vào năm 2030, xấp xỉ với mức cung là 117,7 triệu thùng/ngày. Hầu hết các chuyên gia năng lượng cho rằng dự báo đó rất phi thực tế và dự báo lạc quan nhất cũng chỉ khoảng 100 triệu thùng/ngày. Trong báo cáo thị trường dầu mỏ trung hạn công bố vào tháng 7/2007, Cơ quan Năng lượng Quốc tế của OECD kết luận rằng sản lượng dầu mỏ thế giới có thể đạt khoảng 96 triệu thùng/ngày vào năm 2012, nhưng không thể vượt xa mức đó vì tiến độ phát hiện mới khicó thể tạo được mức tăng sản lượng trong tương lai. Còn báo chí hằng ngày thì nêu ra những xu thế trái chiều nhau. Nhu cầu dầu mỏ thế giới sẽ tiếp tục tăng lên vì hàng trăm triệu người tiêu dùng mới giàu có ở Trung Quốc và Ấn Độ đang xếp hàng mua những chiếc xe ô tô đầu tiên trong đời họ (có chiếc chỉ với giá 2.500 USD); “những con voi dầu mỏ” cũ như mỏ Ghawar ở Saudi Arabia và Canterella ở Mexico đã hoặc sắp giảm dần sản lượng; tốc độ phát hiện các mỏ dầu mới giảm từ năm này qua năm khác. Như vậy, người ta có thể cho rằng thiếu năng lượng và giá năng lượng cao sẽ luôn là vấn đề gây khó khăn cho thế giới trong thời gian tới.  – Tốc độ phát triển các nguồn năng lượng thay thế quá chậm chạp. Từ lâu các nhà lập chính sách đã nhận thấy các nguồn năng lượng mới là hết sức cần thiết để bù đắp cho các nguồn năng lượng hiện có đang ngày càng cạn kiệt và để giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính làm thay đổi khí hậu toàn cầu. Thực tế năng lượng gió và mặt trời đã giành được vị trí quan trọng ở một số nơi trên thế giới. Một số giải pháp năng lượng mới khác cũng được phát triển và đang được thử nghiệm ở các phòng thí nghiệm của công ty hay trường đại học. Nhưng những nguồn năng lượng thay thế hiện mới chỉ đóng góp một phần không đáng kể vào nguồn cung năng lượng thế giới, tiến độ phát triển hoàn toàn không đủ nhanh để giúp tránh được thảm họa năng lượng toàn diện đang chờ đón chúng ta ở phía trước.  Về mặt cung còn có một khía cạnh nữa khiến người ta gần như tuyệt vọng là thiếu vốn đầu tư. Để đáp ứng nhu cầu ngày đang tăng lên, chúng ta cần phát triển nhanh các nguồn năng lượng thay thế, nghĩa là cần đầu tư ào ạt tới hàng nghìn tỷ USD mới đảm bảo đưa nhanh các kết quả nghiên cứu mới nhất của các phòng thí nghiệm ứng dụng vào sản xuất với quy mô thương mại. Nhưng đáng buồn là thay vào đó, các công ty năng lượng lớn được chính phủ trợ cấp và giảm thuế đều đang dùng những khoản lợi nhuận khổng lồ nhờ giá năng lượng tăng cao vào các kế hoạch hết sức tốn kém để khai thác các nguồn dầu khí ở Alaska và Bắc Cực, hoặc khoan sâu xuống các vùng nước khó khăn ở Vịnh Mexico hay Đại Tây Dương. Kết quả chỉ thu về được ít dầu-khí không đáng kể với giá quá đắt kèm theo việc hủy hoại môi trường, trong khi tiến trình tìm kiếm năng lượng thay thế diễn ra chậm chạp tới mức thảm hại.  Còn khí hậu toàn cầu nóng lên sẽ gây ra vô vàn thảm họa. Sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào than (đặc biệt là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ) sẽ làm cho lượng khí điôxit cácbon thải ra tăng thêm 59% trong 25 năm tiếp theo, từ 26,9 tỷ tấn tăng lên 42,9 tỷ tấn. Nếu tình hình tiếp tục như hiện nay, chúng ta không còn hy vọng tránh được những hiểm họa ghê gớm nhất của tình trạng thay đổi khí hậu.  – Sự dịch chuyển dần quyền lực và của cải từ các nước thiếu năng lượng sang các nước thừa năng lượng dẫn đến việc tích tụ hàng núi đôla dầu mỏ ở các nước sản xuất dầu chủ chốt và giành được những nhượng bộ chính trị và quân sự.  Các nước xuất khẩu dầu thu được khoảng 970 tỷ USD từ các nước nhập khẩu trong năm 2006, và có thể nhiều hơn trong năm 2007. Một phần rất lớn số vốn bằng USD, Yên Nhật hay Euro này đã được gửi vào các quỹ tài sản quốc gia (SWF), các nước dầu mỏ sở hữu những khoản đầu tư khổng lồ và tiến hành mua lại những tài sản có giá trị trên khắp thế giới.  Những tháng gần đây, các SWF ở vùng Vịnh Persia đã tranh thủ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ để mua những tài sản lớn trong các khu vực chiến lược của nền kinh tế Mỹ. Ví dụ, tháng 11/2007, Cục Đầu tư Abu Dhabi (ADIA) đã mua lại 7,5 tỷ USD cổ phần trong Citigroup, tập đoàn ngân hàng cổ đông lớn nhất của Mỹ; tháng 1/08, Citigroup đã bán một phần cổ phần thậm chí còn lớn hơn, khoảng 12,5 tỷ USD, cho Cơ quan Đầu tư Kuwait (KIA) và môt số nhà dầu tư khác ở Trung Đông, trong đó có Hoàng tử Walid Bin Talal của Saudi Arabia. Các nhà quản lý ADIA và KIA đều nhấn mạnh họ không có ý định dùng những tài sản vừa mua được trong Citigroup hay các ngân hàng, công ty khác của Mỹ để gây ảnh hưởng về chính sách kinh tế hay ngoại giao của Mỹ, nhưng khó có thể tưởng tượng sự chuyển tài chính trên quy mô lớn, thậm chí còn mạnh hơn nữa trong những thập kỷ tới, như vậy lại không trở thành những đòn bẩy chính trị dưới dạng nào đó.  – Nguy cơ xung đột tăng lên: trong lịch sử, các kỳ chuyển dịch lớn về quyền lực thường kéo theo bạo lực, trong một số trường hợp gây rối loạn bạo lực triền miên. Hoặc những nước ở vị trí quyền lực chi phối phải chiến đấu để bảo vệ vị thế đặc quyền của họ hoặc các bên thách thức phải chiến đấu để lật đổ kẻ nắm giữ đặc quyền. Hiện nay điều đó có xảy ra không? Liệu các nước thiếu năng lượng có mở chiến dịch giành giật các trữ lượng dầu-khí của các nước dư thừa hay không? Phải chăng cuộc chiến tranh của chính quyền George W. Bush ở Irắc là một trong những mưu toan đó hoặc để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trong hàng ngũ những nước thiếu năng lượng?  Điều rất rõ là mức độ tốn kém và nguy hiểm của cuộc chiến tranh hiện đại sẽ rất lớn và kinh tế chứ không phải quân sự là giải pháp tốt nhất cho các vấn đề năng lượng. Nhưng các cường quốc lớn vẫn đang dùng các biện pháp quân sự trong các nỗ lực giành lợi thế trong cuộc chiến toàn cầu về năng lượng, và không ai mắc lừa về chuyện nay. Những nỗ lực đó có thể dễ dàng leo thang và dẫn đến cuộc xung đột ngoài ý muốn.  Một hình thức lạm dụng phương tiện quân sự để theo đuổi các mục đích năng lượng là các nước nhập khẩu nhiều năng lượng chuyển giao thường xuyên vũ khí và các dịch vụ hỗ trợ quân sự cho các nước cung cấp năng lượng chủ yếu. Ví dụ, cả Mỹ và Trung Quốc đã tăng cường cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự cho những nước có nhiều dầu như Angola, Nigeria, Sudan ở châu Phi và Azerbaijan, Kazakstan và Kirgizistan ở biển Caspi. Mỹ đã đặt biệt chú trọng đến việc trấn áp các lực lượng nổi dậy có vũ trang ở vùng châu thổ sông Niger có nhiều dầu của Nigeria; còn Trung Quốc tăng cường viện trợ vũ khí cho Sudan, nơi các hoạt động khai thác dầu của Trung Quốc đang bị các lực lượng nổi dậy ở miền Nam và Darfur đe dọa.  Nga cũng đang cung cấp vũ khí để gây ảnh hưởng với những vùng sản xuất dầu-khí quan trọng ở ven biển Caspi và vịnh Persia. Nga không giành giật năng lượng để sử dụng cho mình mà để kiểm soát các luồng cung cấp năng lượng cho các nước khác. Đặc biệt, Nga tìm cách giành độc quyền về vận chuyển khí đốt ở Trung Á sang châu Âu qua mạng lưới đường ống dẫn rộng lớn của tập đoàn Gazprom; đồng thời Nga còn muốn tham gia khai thác các mỏ khí đốt khổng lồ của Iran để củng cố quyền soát buôn bán khí đốt.  Đương nhiên, những toan tính đó ngày càng trở nên nguy hiểm ở chỗ nó làm dấy lên các cuộc chạy đua vũ trang khu vực, gây thêm căng thẳng cho khu vực và làm tăng nguy cơ bùng nổ xung đột khu vực kéo theo sự tham gia của các cường quốc lớn. Trong lịch sử có rất nhiều ví dụ về những tính toán sai lầm dẫn đến chiến tranh vượt khỏi tầm kiểm soát, chẳng hạn như Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Thực tế Trung Á và Caspi hiện nay với vô số những vụ lộn xộn về chủng tộc và các hoạt động cạnh tranh giữa các cường quốc chẳng khác mấy tình hình Bancăng trong những năm dẫn đến Chiến tranh Thế giới năm 1914.  Trong thế giới mà năng lượng là trung tâm, năng lượng sẽ quản lý cuộc sống chúng ta theo cách mới và trên cơ sở hàng ngày. Nó sẽ quyết định chúng ta sử dụng xe vào lúc nào và với mục đích gì? Vặn máy điều hòa ở mức nào? Đi đâu, khi nào, ăn thực phẩm gì? Đối với một số người thì sống ở đâu còn người khác thì làm nghề gì? Và chúng ta khi nào và trong điều kiện này sẽ rơi vào chiến tranh hay tránh những rắc rối ở nước có thể dẫn đến chiến tranh?  Điều này dẫn đến vấn đề cấp bách nhất là đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ sử dụng năng lượng hóa thạch sang năng lượng thay thế thân thiện với môi trường.  Asia Times      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng từ lõi trái đất      Các nhà khoa học đã phát hiện thêm nguồn hydro tự nhiên dưới lòng đất. Điều này sẽ sớm mang lại một nguồn năng lượng sạch vô tận?    Doanh nghiệp Natural Hydrogen Energy LLC của Mỹ đã tiến hành những giếng khoan hydro đầu tiên  Hydro (H2) được nhiều người hoan nghênh vì không tạo ra CO2 khi được đốt cháy. Tuy nhiên, việc sản xuất nó lại rất phức tạp và tốn kém. Điều gì sẽ xảy ra nếu hydro hoàn toàn không phải được sản xuất mà đơn giản là có sẵn? Nó có thể được khai thác tựa như người ta khai thác nước khoáng?  Điều này đã xảy ra tại một ngôi làng nhỏ ở Mali, một phát hiện tình cờ trong quá trình tìm nguồn nước sạch năm 2012. Một máy phát điện đã được kết nối với nguồn hydro này và cư dân Bourakébougo lần đầu tiên trong đời đã có điện. Điều thú vị là quá trình này không phát sinh khí thải.  Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng một lượng lớn hydro tự nhiên có trong lòng đất. Các chuyên gia vẫn đang tranh cãi về mức độ thực sự của nguồn của cải vô giá này. Số lượng các nghiên cứu về vấn đề này ngày một nhiều. Liệu tới đây con người có thể khoan hydro tự nhiên như chúng ta đang khoan dầu mỏ hiện nay? Ông Eric Gaucher, nhà địa hóa học tại Đại học Bern, tin vào điều này. Ông so sánh tình hình hiện tại với sự khởi đầu của kỷ nguyên dầu mỏ vào giữa thế kỷ 19 “Trước khi bắt đầu sản xuất công nghiệp, dầu và khí tự nhiên chủ yếu được biết đến do rò rỉ khí tự nhiên, giống như nguồn hydro ở Mali ngày nay hoặc những nguồn vĩnh cửu được biết đến từ thời cổ đại lửa Chimaera gần Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ”.  Gaucher đã dành nhiều năm tìm kiếm hydro tự nhiên theo yêu cầu của Tập đoàn Total Energies và giờ tiếp tục nghiên cứu của mình tại Đại học Bern.  Theo lý thuyết, hydro tự nhiên liên tục được tạo ra. Nó được hình thành bởi quá trình serpentin hóa: khi đá chứa sắt tiếp xúc với nước ở độ sâu lớn dưới áp suất và nhiệt độ cao, quá trình này tạo ra hydro. Hydro hình thành ở  độ sâu khoảng ba km. Các vành đai Greenstone phân bố khá phổ biến  trên khắp các lục địa. Theo  Gaucher, nó đang diễn ra ở Nam Phi, Namibia, Brazil, Philippines, Canada và Hoa Kỳ. Ở châu Âu, người ta đã phát hiện thấy ở Ý, Iceland, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Romania, Hy Lạp, Thụy Sĩ và Bavaria.  Hydro tự nhiên có thể được khoan như dầu mỏ. Gaucher cho rằng, hiện đã có phương pháp, đã có các công cụ, vấn đề hiện nay là xác định được các vị trí có nguồn hydro tự nhiên này. Ông và nhóm của ông có một ý tưởng khác. Họ đề xuất sản xuất “hydro cam”: Các mỏ hydro dưới lòng đất có thể được sử dụng bền vững bằng cách bơm nước vào đá chứa sắt, giúp thúc đẩy sự hình thành hydro mới. Đồng thời, CO2 vẫn có thể được lưu trữ tại chỗ.  Ở dãy núi Pyrenees của Pháp, gần Lourdes, lần đầu tiên có thể khai thác hydro tự nhiên trên đất châu Âu. Tại vùng này ở độ sâu 4 km trữ lượng hydro khá lớn. Vào tháng 4 năm 2022, Pháp là quốc gia châu Âu đầu tiên có cơ sở pháp lý để cấp phép khai thác khí hydro. Vấn đề hiện nay là chưa tìm được nhà đầu tư bởi điều khó là cần có từ 25 đến 40 triệu euro để có thể sản xuất hydro tự nhiên ở đây trong vòng 3 đến 5 năm.  Các chuyên gia Hoa Kỳ cho rằng, giá hydro tự nhiên có thể sớm ở mức  khoảng 1 USD/kg, so với hydro xanh được sản xuất công nghiệp hiện có giá khoảng 5 USD/kg ở Mỹ. Người ta cho rằng trong lõi trái đất có thể có rất nhiều hydro.  Hoài Nam tổng hợp  Nguồn: https://taz.de/Natuerlicher-Wasserstoff-unter-der-Erde/!5921085/  https://www.fr.de/wissen/kern-erde-erdkern-heiss-inneres-erdkernheiss-sonne-woher-waerme-hitze-temperatur-weltall-zr-92064893.html    Author                .        
__label__tiasang Năng lượng và Cách mạng Công nghiệp 4.0      Khi bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhiều chuyên gia cho rằng loài người sẽ chuyển từ nguồn năng lượng hóa thạch sang nguồn năng lượng “tái tạo mới”. Tuy nhiên, việc chuyển từ “hóa thạch” sang “tái tạo mới” lần này không hề đơn giản bởi ba lý do: “tái tạo mới” không thể có quy mô lớn, không rẻ, và cũng không hẳn là sạch. Hiện nay, khi nền kinh tế còn đang ở 2.0, và ngành năng lượng đang ở 3.0, Việt Nam càng không nên “chạy đua” theo Cách mạng Công nghiệp 4.0.      Việt Nam cần bổ sung vào Tổng sơ đồ điện nhiều hơn nữa các nhà máy nhiệt điện chạy khí hóa lỏng. Trong ảnh: Kho chứa khí hóa lỏng lạnh Thị Vải của PetroVietnam.  Năng lượng: “tái tạo” và “hóa thạch”  Triết gia Aristotle là người đầu tiên đưa ra khái niệm “năng lượng” để diễn tả những hoạt động biến đổi thế giới một cách tích cực của con người. Trong thời đại ngày nay, mức độ phát triển của mọi nền văn minh (mức độ phát triển của các tiến bộ kỹ thuật) đều được đo bằng khối lượng năng lượng mà con người tiêu dùng và khối lượng thông tin mà con người có được.  Cả hai thước đo của sự phát triển nêu trên (năng lượng và thông tin) có thuộc tính rất đa dạng. Ngay trước khi có cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất (CMCN 1.0), nguồn năng lượng đầu tiên loài người biết sử dụng là nguồn năng lượng tái tạo, gồm: năng lượng của nước (thủy điện, cối xay nước), năng lượng sinh khối (gỗ, củi), năng lượng gió (cối xay gió, thuyền buồm), năng lượng mặt trời (phơi khô các sản vật).  Cuộc CMCN 1.0 bắt đầu từ khi xuất hiện động cơ hơi nước. Từ đó, loài người cũng bắt đầu sử dụng cả nguồn năng lượng hóa thạch là than đá. Trong suốt thời kỳ phát triển từ CMCN 1.0 đến CMCN 3.0, xét về mặt “công nghiệp”, nguồn năng lượng hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, uranium) luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (65-70%), còn các nguồn năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng nhỏ hơn (30-35%). Lý do chủ yếu là các nguồn năng lượng hóa thạch vừa rẻ, vừa có qui mô lớn và có khả năng phát triển tập trung (thành các trung tâm năng lượng gắn với các trung tâm công nghiệp và các hộ tiêu dùng, đô thị lớn), đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, các nguồn thủy điện (tái tạo) tuy cũng có thể phát triển với quy mô lớn, giá rẻ nhưng phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên, không gắn được với các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn.  Khi bước vào cuộc CMCN 4.0, nhiều chuyên gia cho rằng loài người sẽ chuyển từ nguồn năng lượng hóa thạch sang nguồn năng lượng “tái tạo mới” (ở mức độ cao hơn, nhưng vẫn chủ yếu là mặt trời và gió). Tuy nhiên, việc chuyển từ “hóa thạch” sang “tái tạo mới” lần này không hề đơn giản bởi ba lý do: “tái tạo mới” không thể có quy mô lớn, không rẻ, và cũng không hẳn là sạch.  Năng lượng tăng nhanh hơn dân số  Thực tế từ CMCN 1.0 đến CMCN 4.0, nhu cầu về năng lượng luôn tăng nhanh hơn mức tăng trưởng của dân số và, kể từ đầu thế kỷ 19, khi động cơ hơi nước xuất hiện, nhu cầu về năng lượng đã tỷ lệ với dân số theo hàm bậc hai. Chỉ riêng trong thế kỷ 20, loài người đã sử dụng một khối lượng năng lượng lớn hơn tổng khối lượng đã sử dụng trong tất cả các thời kỳ (19 thế kỷ) trước đó.  Kể từ khi xuất hiện con người đầu tiên (homo sapiens) đến nay, đã có khoảng 105-110 tỷ người được sinh ra trên hành tinh chúng ta. Đến nay, nhu cầu năng lượng chỉ có tăng, kể cả trong thời đại tin học. Theo số liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), năm 2015, loài người đã sử dụng 20,76 nghìn tỷ kWh điện (khoảng 3.000 kWh/người/năm), đến năm 2030 dự báo sẽ sử dụng 33,4 nghìn tỷ kWh (tăng 60%), đến năm 2050 – 41,3 nghìn tỷ kWh (gấp hai lần hiện nay). Mức tiêu dùng dầu mỏ của thế giới năm 2015 đạt khoảng 4,8 tỷ tấn và đến năm 2030 sẽ tăng lên 6,2 tỷ tấn, chủ yếu được dùng trong lĩnh vực giao thông vận tải. Trong thời gian 15-20 năm tới, trên thế giới, tỷ trọng năng lượng được sản xuất từ dầu mỏ sẽ chiếm tới 30%, từ khí – 26%.  Tất nhiên, theo logic của học thuyết Mác-Lê nin, chúng ta có quyền hy vọng vào qui luật biến “lượng” thành “chất”. Nhưng các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực năng lượng trên thế giới cũng không dự đoán được “lượng” sẽ biến thành “chất” theo xu hướng nào? Thực tế, trong 150 năm qua, ngành năng lượng của thế giới đã tăng trưởng về “lượng” tới hơn 35 lần. Tuy vậy, cơ cấu (“chất”) của ngành năng lượng vẫn chưa có gì thay đổi. Đó là 65-70% năng lượng phải dựa trên các nguồn năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí, uranium). Trong đó, tỷ trọng của nguồn nhiệt điện than vẫn chiếm trên 40% (ở Việt Nam là trên 50%), còn các nguồn năng lượng tái tạo chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 5%. Riêng nguồn điện hạt nhân đang giảm hai lần trong 25 năm qua, hiện tỷ trọng của điện hạt nhân chỉ chiếm khoảng 10%.  Hiện nay chỉ có các “nhà môi trường” là to mồm về nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường của sự bùng nổ về tiêu dùng năng lượng. Họ không hiểu rằng, nếu không có bùng nổ về tiêu dùng năng lượng thì ngay cả cơ hội để đi dự các hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu của họ cũng không có, chứ chưa nói đến việc tuyên bố một cách không có cơ sở là Việt Nam sẽ cắt giảm 20% lượng phát thải vào năm 2030.  Càng kém phát triển càng cần năng lượng giá rẻ  Trong thời gian tới, mức độ tăng trưởng về tiêu dùng năng lượng chủ yếu phụ thuộc vào các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ. Các nước kinh tế kém phát triển đang bị rơi vào vòng luẩn quẩn “cái khó bó cái khôn”. Cũng như ở Việt Nam, ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, hiệu quả sử dụng năng lượng còn thấp, mức độ nghèo đói gia tăng đang kìm hãm sự phát triển của các nguồn năng lượng “sạch”. Ngay cả khi loài người đã qua thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, vào năm 2015, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, gần 1,5 tỷ người trên trái đất vẫn không hề biết điện là gì, và khoảng 3 tỷ người vẫn phải nấu ăn và sưởi ấm bằng gỗ, củi.  Nếu tính trên đầu người, hiện nay các nước phát triển đang sử dụng năng lượng lớn hơn bảy lần so với các nước đang phát triển (con số này cách đây 50 năm là 20 lần). Chính sự chênh lệch về tiêu dùng năng lượng này đã dẫn đến sự chênh lệch về giàu/nghèo. Rất tiếc, loài người không bao giờ xóa bỏ được sự chênh lệch này. Thực tế cho thấy, so với nguồn năng lượng hóa thạch (được coi là “bẩn”), thì các nguồn năng lượng tái tạo (được coi là “sạch”) có suất đầu tư và giá thành rất cao. Trong công cuộc săn tìm lợi nhuận, không ai (kể cả nhà nước hay tư nhân) muốn đánh đổi tiền thật để lấy một thứ vô hình.  Liên quan đến vấn đề này, chính Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhận ra cách giải quyết sự chênh lệch giàu-nghèo ở Mỹ trước hết là bằng cách đáp ứng công ăn việc làm và cung cấp nguồn năng lượng giá rẻ cho người nghèo. Theo đó, việc phát triển nguồn năng lượng từ than sẽ được khôi phục ở Mỹ.  Việt Nam đang nghèo và sẽ còn nghèo. Chúng ta đã “lùi tiến độ” điện hạt nhân, thì chỉ còn cách đẩy nhanh tiến độ các dự án khác để bù vào. Nếu lấy chi phí biên dài hạn làm chuẩn, thứ tự ưu tiên các nguồn điện ở Việt Nam hiện nay sẽ là: thủy điện (lớn, vừa, nhỏ); nhiệt điện than (lớn, vừa); nhiệt điện khí (hóa lỏng), nhiệt điện dầu.  Ô tô chạy điện còn bẩn hơn chạy xăng/diesel  Các nguồn năng lượng hóa thạch đóng góp tới 75% khối lượng phát thải khí CO2. Tuy nhiên, các giải pháp giảm thiểu phát thải mà chúng ta đang hy vọng như ô tô chạy điện, năng lượng mặt trời, năng lượng gió v.v. cũng không hề “sạch”. Hãy tưởng tượng, trên thế giới nếu tất cả các ô tô đều chạy bằng điện, và các sa mạc sẽ được phủ kín bằng các tấm pin quang điện (PV) thì kịch bản khác về sinh thái của trái đất sẽ xảy ra còn nguy hiểm hơn kịch bản “hiệu ứng nhà kính” hiện nay.  Trên trái đất, hằng ngày đang có hơn 1 tỷ chiếc ô tô các loại lăn bánh. Con số này sẽ tăng lên đến 1,5 tỷ chiếc trong vòng 15 năm tới. Lượng phát thải của các phương tiện vận tải này hiện nay cao hơn 2,5 lần so với lượng phát thải của các nhà máy nhiệt điện. Còn khi các phương tiện vận tải này chuyển sang chạy điện, thì 2/3 lượng điện cần có để cung cấp cho chúng là từ các nhà máy nhiệt điện. Nếu, các ô tô chạy điện tiêu hao khoảng 350-400W/km không có khí thải, thì để cấp được 350-400W điện năng, các nhà máy nhiệt điện sẽ phải thải ra không khí 200 gram CO2 (chưa tính tổn thất điện trong quá trình truyền tải, phân phối, nạp, tích trữ điện năng v.v). Trong khi đó, một ô tô chạy xăng hiện nay đang thải ra CO2 khoảng 130 gram/km. Dự kiến đến năm 2020, mức độ phát thải khí CO2 này sẽ giảm xuống còn 95 gram/km. Như vậy, rõ ràng việc chuyển ô tô sang chạy bằng điện suy cho cùng cũng là chạy bằng than, dầu, khí nhưng lại bẩn hơn và nguy hại hơn cho sinh thái gấp hai lần.  Đó là chưa tính đến sự nguy hại của các bình ắc-quy (dùng để nạp điện từ lưới điện trước khi lắp vào ô tô hay xe máy). Khi hết thời gian sử dụng, ắc-quy sẽ là nguồn rác thải vô cùng lớn (chì, a-xít, kiềm đã qua sử dụng) mà chưa có công nghệ nào xử lý được. Nên nhớ rằng, việc sản xuất và sử dụng các bình ắc-quy từ xưa đến nay vẫn là một quy trình xâm hại đến môi trường một cách không thể đảo ngược (không thể khắc phục được). Ở Việt Nam, người dân nghèo ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, nơi xử lý bình ắc-quy bằng thủ công, đã phải gánh hậu quả nặng nề là hàng trăm trẻ nhỏ bị phơi nhiễm/ngộ độc bụi chì.  Như vậy, nếu ta có chuyển được tất cả các phương tiện vận tải từ chạy bằng xăng dầu sang chạy bằng điện thì chỉ giải quyết được vấn đề môi trường của các thành phố lớn, nhưng lại làm trầm trọng hơn vấn đề sinh thái toàn cầu.  Điện mặt trời cũng không phải là sạch  Bình quân, mỗi mét vuông diện tích trái đất đang thu nhận được từ mặt trời một nguồn năng lượng nhiệt tương đương với 0,7-1,3 kW/m2. Trên thế giới có rất nhiều sa mạc, nơi có thể lắp đặt được các tấm PV với diện tích vô cùng lớn. Về mặt lý thuyết, loài người hoàn toàn có thể giải quyết được vấn đề cung cấp điện năng bằng nguồn điện mặt trời (quang năng).  Nhưng công nghệ sản xuất điện năng từ quang năng bằng phương pháp trực tiếp (PV) hay gián tiếp (các nhà máy nhiệt điện mặt trời – CSP) đều có giá thành cao và hiệu quả thấp. Trước hết, cường độ năng lượng có thể thu được từ mặt trời rất thấp. Vì vậy, các chi phí có liên quan như: chuyển đổi (từ quang năng sang điện năng), lưu trữ, tăng hạ áp, làm mát, chuyển tải, phân phối sẽ rất lớn. Thứ hai, vấn đề liên quan đến chính mặt trời. Sự chuyển đổi của mặt trời từ ngày sang đêm và từ mùa hè sang mùa đông làm cho các nguồn điện từ mặt trời rất không ổn định. Thứ ba, hiệu suất của các tấm PV thường giảm rất nhanh ngay cả khi bị chiếu sáng mạnh. Khoảng 80% bức xạ mặt trời được tiêu hao cho khâu nung nóng các tấm PV. Khi nhiệt độ bề mặt các tấm PV tăng lên 10oC thì hiệu suất chuyển đổi quang năng thành điện năng của tấm PV giảm hai lần.  Việc vận hành nhà máy điện mặt trời (PV/CSP) không hề dễ và đắt hơn nhiều so với vận hành một nhà máy điện chạy khí hay chạy dầu cùng công suất. Để xây dựng được một nhà máy nhiệt điện mặt trời lớn đòi hỏi phải chế tạo hàng triệu mét vuông các tấm PV. Việc này sẽ kéo theo nhu cầu phải sử dụng hàng loạt các nguyên liệu và nhiên liệu khác, gồm: hàng triệu tấn khoáng sản các loại như than coke (để sản xuất ra các pin silicon từ khoáng vật silica); các khoáng vật chứa asen, chì và cadmium; nhiên liệu động cơ; thép; nhựa; nhiều triệu kWh điện năng (chủ yếu lại được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch) v.v. Tất cả các quá trình sản xuất ra các tấm PV cũng thải vào không khí một lượng khí CO2 khổng lồ và còn làm ô nhiễm môi trường đất và nước. Nếu tính toán đầy đủ, điện mặt trời cũng không sạch hơn các nhà máy nhiệt điện truyền thống (dùng than, dầu, khí).  Xét về mặt hệ thống, nguồn năng lượng tái tạo chỉ trở thành giải pháp thực tế ở những nơi không thể xây dựng được một cách có hiệu quả các nhà máy điện truyền thống có công suất lớn.  Thay cho lời kết  Nền kinh tế của thế giới (và của Việt Nam) đã được hình thành và đang phát triển theo mô hình vừa dựa trên nguồn năng lượng tái tạo (thủy điện) và vừa dựa trên nguồn năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí, uranium). Mô hình “truyền thống” này đang vận hành hàng trăm năm nay và nó có hiệu quả về kinh tế đến mức không thể có một nguồn năng lượng “không truyền thống” nào có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh về năng lượng.  Trong tương lai, nếu điện hạt nhân (nguyên tử, nhiệt hạch) được phát triển ở mức độ cao (bảo đảm an toàn và xử lý chất thải phóng xạ hiệu quả) và nếu loài người sẽ chuyển hẳn sang một thế giới, mà trong đó tất cả các phương tiện giao thông vận tải chỉ chạy bằng điện (từ các bộ ắc-quy “sạch” được nạp điện từ các tấm PV cũng “sạch”) thì khi đó chúng ta mới có giải pháp đáp ứng nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh mà không làm cho trái đất bị nóng lên, hay bị ô nhiễm. Rất tiếc, đó không phải là một tương lai gần vì để đạt được những cái “sạch” nêu trên còn cần rất nhiều thời gian và tiền.  Trong 20-30 năm tới, để giải quyết vấn đề năng lượng như một nền tảng của CMCN 4.0, thế giới vẫn phải dựa chủ yếu vào các nguồn năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí). Trong đó, để giải quyết vấn đề môi trường như hậu quả của việc phát triển năng lượng thì loài người chỉ còn cách vẫn phải dựa nhiều hơn vào khí thiên nhiên (sạch hơn than và dầu). Theo đó, ngoài việc duy trì các nhà máy nhiệt điện chạy than, Việt Nam cần bổ sung vào Tổng sơ đồ điện nhiều hơn nữa các nhà máy nhiệt điện chạy khí hóa lỏng.  Việc không đánh đổi môi trường để phát triển là đúng, nhưng chúng ta phải hiểu thực chất của vấn đề môi trường và phát triển. Hiện nay, ở Việt Nam dân còn nghèo, nền kinh tế còn kém phát triển.Vì vậy, ưu tiên hàng đầu là phát triển các nguồn năng lượng giá rẻ. Khi nền kinh tế còn đang ở 2.0, và ngành năng lượng đang ở 3.0, Việt Nam càng không nên “chạy đua” theo CMCN 4.0.  ————-  *Tiến sĩ, nguyên Tổng giám đốc Nhiệt điện Cẩm Phả  Hiện nay 10% năng lượng điện đang được sử dụng trong “nền kinh tế số”. Nhưng, tốc độ và xu hướng phát triển của nền kinh tế số này thì không ai có thể dự đoán được. Một chiếc điện thoại iphone trong túi nếu tính tất cả nhu cầu năng lượng tiêu hao từ A-Z (chuông, tin nhắn, nghe nhạc, chụp ảnh, quay video, chuyển tải hình ảnh, âm thanh, thuật toán đám mây, máy chủ, trung tâm lưu trữ dữ liệu, hệ thống mạng lưới, cơ sở chế tạo, hệ thống phân phối/bảo hành bán lẻ v.v.) sẽ có mức tiêu hao điện lớn hơn cả chiếc tủ lạnh trong bếp.    Author                Nguyễn Thành Sơn        
__label__tiasang Nanochip có thể chữa lành vết thương hoặc tái phát triển các bộ phận      Một thiết bị nhỏ bằng đầu ngón tay dựa trên kỹ thuật mô chuyển nạp nano (tissue nanotransfection) để tái lập trình tế bào được dự báo có thể tạo ra đột phá trong việc điều trị chấn thương hoặc mô bị lão hóa.      Một điện trường cao, tập trung được truyền vào thiết bị cho phép vận chuyển các gene đến các tế bào da ở bên dưới thiết bị và biến chúng thành những dạng khác nhau của tế bào.  Theo các nhà nghiên cứu, kỹ thuật này mang lại khả năng biến mô của chính người bệnh thành một “lò phản ứng sinh học” để sản xuất ra các tế bào giúp phục hồi các mô xung quanh hoặc cho các mô ở những vị trí khác.      “Bằng cách sử dụng công nghệ nanochip mới mẻ của chúng tôi, các bộ phận bị tổn thương có thể được thay thế”, TS. Chandan Sen (Đại học bang Ohio), đồng tác giả chính của nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Nanotechnology, cho biết. “Chúng tôi đã chứng tỏ rằng da là một vùng đất màu mỡ để có thể ‘trồng’ các tế bào của bất kỳ bộ phận nào đang bị suy giảm”.  Khả năng tái lập trình tế bào thành các dạng tế bào khác không phải là điều gì mới:  John Gurdon và Shinya Yamanaka, giải Nobel sinh học 2012 đã khởi xướng hướng nghiên cứu này và hiện nó đang được mở rộng nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có nghiên cứu về bệnh Parkinson.  TS. Axel Behrens, một chuyên gia về nghiên cứu tế bào gốc từ Viện nghiên cứu Francis Crick ở London, Anh, nhận xét: “Người ta có thể thay đổi ‘số phận’ của tế bào bằng việc kết hợp nó với một số gene mới. Về cơ bản, có thể đưa một số gene vào trong một tế bào da và chúng sẽ trở thành một loại tế bào khác, ví dụ như tế bào thần kinh, tế bào mạch máu, hay tế bào gốc”.  Nhưng cách tiếp cận mới này, theo Chandan Sen, tránh được bước trung gian, khi các tế bào biến thành thứ mà chúng ta gọi là tế bào gốc vạn năng; thay vào đó, nó biến tế bào da trực tiếp thành các loại tế bào chức năng khác nhau. “Đây là tiến trình một bước [về thay thế tế bào] trong cơ thể con người”, ông nói.  Hơn nữa, cách tiếp cận mới này không đòi hỏi áp điện trường lên một bề mặt lớn hay sử dụng virus để vận chuyển các gene. “Chúng tôi là những người đầu tiên có khả năng tái lập trình [tế bào] trong cơ thể mà không cần phải dùng đến bất cứ một véc-tơ virus nào”, Sen cho biết thêm.  Nghiên cứu mới này miêu tả nhóm nghiên cứu phát triển kỹ thuật mới và các gene mới, cho phép họ tái lập trình các tế bào da trên bề mặt của một loài vật ngay tại chỗ như thế nào.  “Họ có thể đặt thiết bị nhỏ tí xíu này lên một khoảng da và các gene sẽ được vận chuyển đến bất cứ nơi nào thiết bị được đặt”, Behrens giải thích.  Nhóm nghiên cứu tiết lộ, họ đã áp dụng kỹ thuật này trên chuột bị cắt động mạch chi, ngăn không cho máu chuyển đến các chi. Khi đó thiết bị được gắn lên da chuột, và một điện trường được áp vào nhằm kích hoạt những thay đổi trong màng tế bào, cho phép các gene xâm nhập vào trong tế bào ở dưới. Kết quả là nhóm nghiên cứu thấy họ có thể biến đổi các tế bào da thành các tế bào mạch máu – với hiệu ứng rất mạnh vào chi khi tạo ra một mạng lưới các mạch máu mới.  “Bảy ngày sau chúng tôi đã thấy xuất hiện những mạch máu mới và 14 ngày sau thấy máu chảy vào toàn bộ chi”, Sen kể lại.     Nhóm nghiên cứu cũng dùng thiết bị này để chuyển đổi tế bào da thành tế bào thần kinh ở chuột, sau đó họ tiêm các tế bào này vào não những con chuột bị đột quỵ và giúp chúng phục hồi.  “Với công nghệ này, chúng tôi có thể biến đổi các tế bào da thành các yếu tố của bất kỳ bộ phận nào chỉ bằng một cú chạm. Quá trình này chỉ cần thực hiện trong vòng chưa đầy một giây và không xâm lấn, sau đó bạn ra có thể ra về”, Sen cho biết thêm.  Behrens nhận xét, công nghệ mới là một bước đi thú vị, ít nhất là do nó “tránh được tất cả các vấn đề liên quan đến đào thải”.  “Đây là cách sử dụng thông minh một kỹ thuật sẵn có có những ứng dụng tiềm năng – nhưng cần được hoàn thiện nhiều hơn nữa”, ông nói và cũng chỉ ra rằng, có những kỹ thuật phẫu thuật thông thường để giải quyết tình trạng tắc nghẽn mạch máu ở chân, tay.  Thêm nữa, kỹ thuật mới chỉ có khả năng ứng dụng trên da, do đòi hỏi phải có một dòng điện và thiết bị ở gần mô cũng có nghĩa là nếu ứng dụng đối với các cơ quan nội tạng thì phải có một quy trình xâm lấn.  “Phải thêm rất nhiều bước phát triển mới cps thể ứng dụng kỹ thuật này ở các bộ phận khác, chứ không chỉ trên da,”, ông nhận xét.  Sen và cộng sự cho biết họ đang hy vọng phát triển kỹ thuật này cao hơn nữa với các kế hoạch thử nghiệm lâm sàng trên người vào năm tới  Hoàng An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/aug/07/nanochip-could-heal-injuries-or-regrow-organs-with-one-touch-say-researchers    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nanorobot tổng hợp hướng sáng đầu tiên trên thế giới      Trước đây, các nanorobot chỉ được điều khiển bằng từ trường, nhưng nay Đại học Hồng Kông đã chế tạo thành công nanorobot đầu tiên được điều khiển bằng ánh sáng. Nghiên cứu này đã giúp mở rộng khả năng ứng dụng của nanorobot trong chữa trị bệnh tật ở cấp độ tế bào.      Minh họa nanorobot  Một nhóm nghiên cứu do TS. Jinyao Tang ở Khoa Hóa, Đại học Hồng Kông đứng đầu đã nghiên cứu và phát triển một nanorobot tổng hợp hướng sáng đầu tiên trên thế giới. Với kích thước chỉ tương đương một tế bào máu, robot rất nhỏ này sẽ được tiêm vào cơ thể người bệnh và giúp các thiết bị kỹ thuật nhắm đích vào các mục tiêu để phẫu thuật, từ đó giúp bác sĩ thực hiện các ca phẫu thuật loại bỏ khối u một cách chính xác. Nghiên cứu này đã được công bố trên Nature vào tháng Mười vừa qua.  Trước đây, việc đưa những robot nhỏ xíu vào cơ thể bệnh nhân chỉ có trong khoa học viễn tưởng. Ví dụ như trong bộ phim “Fantastic Voyage”, một nhóm các nhà khoa học điều khiển một tàu ngầm nano đưa vào cơ thể người bệnh để chữa lành các tổn thương trong não bộ. Hay trong bộ phim “Terminator 2”, hàng tỉ nanorobot được lắp ráp tạo thành người máy T1000. Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để có thể nghiên cứu và chế tạo một nanorobot với các chức năng tiên tiến, tinh vi.  Năm 2016, giải Nobel Hóa học được trao cho các nhà khoa học có công trình thiết kế ra các cỗ máy phân tử. Họ đã phát triển một tổ hợp thiết bị với kích thước phân tử, có thể lắp ráp vào các cỗ máy nano phức hợp để thao tác trên các ADN và protein trong tương lai. Nghiên cứu phát triển các máy có kích thước nano để áp dụng trong y sinh học là một xu hướng chính trong nghiên cứu khoa học từ vài năm gần đây. Bất kỳ một đột phá nào cũng sẽ tạo ra những tiềm năng quan trọng cho việc phát triển những kiến thức khoa học mới và phương pháp điều trị bệnh tật cũng như phát triển các loại thuốc mới. Tuy nhiên, một khó khăn trong nghiên cứu và chế tạo các nanorobot là phải làm sao cho các cấu trúc nano đó đáp ứng lại với môi trường bên ngoài. Mỗi nanorobot có kích thước nhỏ hơn đường kính một sợi tóc tới 50 lần, do đó, rất khó để lắp đặt các cảm biến điện tử bình thường và các mạch vào nanorobot. Hiện nay, phương pháp duy nhất để kiểm soát nanorobot từ xa là sử dụng từ tính bên trong các nanorobot và hướng dẫn chuyển động thông qua từ trường bên ngoài.  Nghiên cứu nanorobot do TS. Tang và đồng sự phát triển là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về những nanorobot được điều khiển bằng ánh sáng và chứng minh được tính khả thi của nghiên cứu này. Với cấu trúc nano, các nanorobot có thể phản ứng với ánh sáng chiếu vào nó như một con sâu bướm bị hút vào phía ánh sáng. TS. Tang mô tả, những nanorobot này như “nhìn thấy” và “chuyển động hướng về phía ánh sáng”.  Việc chế tạo nanorobot hướng sáng này được lấy cảm hứng từ loài tảo xanh. Trong tự nhiên, một số loài tảo xanh có khả năng “cảm biến ánh sáng” trong môi trường sống của mình. Tảo xanh có thể cảm nhận được cường độ của ánh sáng và bơi về phía ánh sáng để quang hợp.  TS. Tang và cộng sự đã dành hơn ba năm để nghiên cứu phát triển thành công nanorobot này. Nanorobot có cấu trúc mới này được cấu thành từ hai loại vật liệu bán dẫn thông dụng có giá thấp: silicon và oxit titan. Trong quá trình tổng hợp, silicon và oxit titan được định hình thành một dây nano và sau đó được sắp xếp thành một cấu trúc cây nano dị thể.  Giải thích về tính ứng dụng của nanorobot này, TS. Tang nói: “hiện tại nanorobot này chưa thể chữa trị một loại bệnh cụ thể nào, nhưng chúng tôi đang tiếp tục cải thiện để các thế hệ nanorobot sau này có thể hữu dụng hơn và mang tính tương thích sinh học”.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: http://phys.org/news/2016-11-chemists-world-light-seeking-synthetic-nanorobot.html    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Nanorobot tổng hợp hướng sáng đầu tiên trên thế giới      Trước đây, các nanorobot chỉ được điều khiển bằng từ trường, nhưng nay Đại học Hồng Kông đã chế tạo thành công nanorobot đầu tiên được điều khiển bằng ánh sáng. Nghiên cứu này đã giúp mở rộng khả năng ứng dụng của nanorobot trong chữa trị bệnh tật ở cấp độ tế bào.      Minh họa nanorobot.    Một nhóm nghiên cứu do TS. Jinyao Tang ở Khoa Hóa, Đại học Hồng Kông đứng đầu đã nghiên cứu và phát triển một nanorobot tổng hợp hướng sáng đầu tiên trên thế giới. Với kích thước chỉ tương đương một tế bào máu, robot rất nhỏ này sẽ được tiêm vào cơ thể người bệnh và giúp các thiết bị kỹ thuật nhắm đích vào các mục tiêu để phẫu thuật, từ đó giúp bác sĩ thực hiện các ca phẫu thuật loại bỏ khối u một cách chính xác. Nghiên cứu này đã được công bố trên Nature vào tháng Mười vừa qua.  Trước đây, việc đưa những robot nhỏ xíu vào cơ thể bệnh nhân chỉ có trong khoa học viễn tưởng. Ví dụ như trong bộ phim “Fantastic Voyage”, một nhóm các nhà khoa học điều khiển một tàu ngầm nano đưa vào cơ thể người bệnh để chữa lành các tổn thương trong não bộ. Hay trong bộ phim “Terminator 2”, hàng tỉ nanorobot được lắp ráp tạo thành người máy T1000. Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để có thể nghiên cứu và chế tạo một nanorobot với các chức năng tiên tiến, tinh vi.  Năm 2016, giải Nobel Hóa học được trao cho các nhà khoa học có công trình thiết kế ra các cỗ máy phân tử. Họ đã phát triển một tổ hợp thiết bị với kích thước phân tử, có thể lắp ráp vào các cỗ máy nano phức hợp để thao tác trên các ADN và protein trong tương lai. Nghiên cứu phát triển các máy có kích thước nano để áp dụng trong y sinh học là một xu hướng chính trong nghiên cứu khoa học từ vài năm gần đây.  Bất kỳ một đột phá nào cũng sẽ tạo ra những tiềm năng quan trọng cho việc phát triển những kiến thức khoa học mới và phương pháp điều trị bệnh tật cũng như phát triển các loại thuốc mới. Tuy nhiên, một khó khăn trong nghiên cứu và chế tạo các nanorobot là phải làm sao cho các cấu trúc nano đó đáp ứng lại với môi trường bên ngoài. Mỗi nanorobot có kích thước nhỏ hơn đường kính một sợi tóc tới 50 lần, do đó, rất khó để lắp đặt các cảm biến điện tử bình thường và các mạch vào nanorobot. Hiện nay, phương pháp duy nhất để kiểm soát nanorobot từ xa là sử dụng từ tính bên trong các nanorobot và hướng dẫn chuyển động thông qua từ trường bên ngoài.  Nghiên cứu nanorobot do TS. Tang và đồng sự phát triển là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về những nanorobot được điều khiển bằng ánh sáng và chứng minh được tính khả thi của nghiên cứu này. Với cấu trúc nano, các nanorobot có thể phản ứng với ánh sáng chiếu vào nó như một con sâu bướm bị hút vào phía ánh sáng. TS. Tang mô tả, những nanorobot này như “nhìn thấy” và “chuyển động hướng về phía ánh sáng”.  Việc chế tạo nanorobot hướng sáng này được lấy cảm hứng từ loài tảo xanh. Trong tự nhiên, một số loài tảo xanh có khả năng “cảm biến ánh sáng” trong môi trường sống của mình. Tảo xanh có thể cảm nhận được cường độ của ánh sáng và bơi về phía ánh sáng để quang hợp.  TS. Tang và cộng sự đã dành hơn ba năm để nghiên cứu phát triển thành công nanorobot này. Nanorobot có cấu trúc mới này được cấu thành từ hai loại vật liệu bán dẫn thông dụng có giá thấp: silicon và oxit titan. Trong quá trình tổng hợp, silicon và oxit titan được định hình thành một dây nano và sau đó được sắp xếp thành một cấu trúc cây nano dị thể.  Giải thích về tính ứng dụng của nanorobot này, TS. Tang nói: “hiện tại nanorobot này chưa thể chữa trị một loại bệnh cụ thể nào, nhưng chúng tôi đang tiếp tục cải thiện để các thế hệ nanorobot sau này có thể hữu dụng hơn và mang tính tương thích sinh học”.  Bảo Như lược dịch theo Sciencedaily    Author                Quản trị        
__label__tiasang Não bộ tạo ra “khẩu vị” nghệ thuật như thế nào?      Bằng việc sử dụng học máy và dữ liệu hình ảnh thần kinh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra cơ sở thần kinh của việc thưởng thức nghệ thuật.    Người ta đã từng nói là không thể cân đong đo đếm được sở thích nghệ thuật. Nhưng điều gì sẽ xảy ra trên thực tế nếu sở thích nghệ thuật có thể đo đếm được và điều gì sẽ xảy ra nếu những thứ đó do các mạng thần kinh trong bộ não bạn đem lại?  Trong một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Nature Communications, một nhóm các nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ Caltech cho biết, họ đã tìm thấy cơ sở thần kinh của những sở thích nghệ thuật, tức là của việc thích cái này hơn cái kia, bằng việc áp dụng sự kết hợp của học máy và thiết bị quét não 1.  Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm của John O’Doherty, giáo sư Khoa học thần kinh ra quyết định Fletcher Jones của Caltech, và dựa trên kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong phòng thí nghiệm này vào năm 2021. Trong nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học huấn luyện một máy tính dự đoán khẩu vị nghệ thuật của người tình nguyện tham gia nghiên cứu bằng việc tạo dữ liệu để huấn luyện cho nó. Dữ liệu này là những lựa chọn thích và không thích các bức họa của các tình nguyện viên. Khi được huấn luyện đủ, máy tính trở nên thông thạo đến mức đoán đúng là ai sẽ thích một bức của Monet hay một bức của Rothko.  Sự lựa chọn thích hay không thích một tác phẩm nghệ thuật dường như xuất hiện ngay tức thì và liền mạch trong bộ não chúng ta đến mức chỉ một số người trong chúng ta chắc hẳn sẽ mất thời gian để tự hỏi tại sao nó xảy ra hay nó xảy ra như thế nào trong khi đây là một chủ đề rất nhiều thảo luận triết học trong hàng trăm năm qua. “Khi thấy một bức ảnh hay một bức tranh, bạn ngay lập tức quyết định ngay được là mình thích nó hay không nhưng nếu nghĩ về nó thì đây thực sự là một vấn đề phức tạp bởi vì thông tin đầu vào rất phức tạp”, tác giả đầu Kiyohito Iigaya, từng làm việc ở Caltech và hiện làm việc ở Columbia. “Trên thực tế đây là một câu hỏi rất mở và chúng tôi không thể biết được là bộ não kiểm soát quá trình này như thế nào. Vì vậy chúng tôi đã tự hỏi là liệu mình có hiểu nó bằng phương pháp mô hình hóa tính toán”.  Phương pháp này bao gồm cả việc tình nguyện viên xếp hạng các bức họa (lên tới hàng ngàn) trong vòng bốn ngày trong khi bộ não của họ được máy cộng hưởng từ hình ảnh chức năng (fMRI) quét. Những bức ảnh quét bộ não và xếp hạng bức họa của tình nguyện viên được đưa vào “nuôi” thuật toán học máy, cùng với kết quả của một mạng thần kinh huấn luyện để kiểm tra các bức họa dựa trên các phẩm chất như sự tương phản, màu sắc, rõ ràng, sinh động (cho dù bức họa đó là trừu tượng hay hiện thực).  Dữ liệu mà nhóm nghiên cứu thu thập được chứng tỏ là các khu vực nằm trong vỏ đại não, phần của bộ não xử lý thông tin hình ảnh, có trách nhiệm phản hồi với phân tích chất lượng. Một khu vực nằm ở phía trước bộ não được biết đến với tên gọi phần vỏ não trung gian trước trán (mPFC) phản hồi việc ấn định giá trị của một vật thể với họ.  Về cơ bản, bộ não chia một tác phẩm nghệ thuật thành các chất lượng cốt lõi, và sau đó quyết định là liệu các chất lượng đó có khiến con người hài lòng hay không. Điều này ít hay nhiều tương tự như cách bộ não quyết định có thích món ăn này hay không, theo một nghiên cứu khác cũng do phòng thí nghiệm của O’Doherty thực hiện. Khi thực hiện nghiên cứu đó, họ đã phát hiện ra là bộ não phân tích một món ăn dựa theo protein, chất béo, carbohydrate, vitamin của nó và sau đó quyết định là liệu các chất lượng đó có khiến người ta hài lòng không. “Những gì họ tìm thấy là bộ não tích hợp những đặc điểm dinh dưỡng khác nhau đó để dẫn đến quyết định thích thú đồ ăn”, Iigaya nói. “Nó truyền cảm hứng cho công trình của chúng tôi”.  Trong công trình của họ, các nhà nghiên cứu cho biết phát hiện của họ cho thấy, hệ thống “xây dựng giá trị” này có thể xuất hiện trong toàn bộ bộ não và có thể giải thích rất nhiều loại sở thích khác nhau. “Tôi nghĩ là thật thú vị là mô hình tính toán rất đơn giản này lại có thể giải thích các biến lớn trong sở thích của chúng ta”, Iigaya nói.  Bài báo miêu tả nghiên cứu của họ “Neural mechanisms underlying the hierarchical construction of perceived aesthetic value” (Các cơ chế thần kinh nằm dưới cấu trúc thức bậc của giá trị nghệ thuật được cảm nhận) xuất bản trên tạp chí Nature Communications.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.caltech.edu/about/news/how-the-brain-creates-your-taste-in-art  https://ec.europa.eu/research-and-innovation/en/projects/success-stories/all/how-does-brain-generate-our-perception-art  —————————————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41467-022-35654-y    Author                .        
__label__tiasang Não bộ thích nghi với những lời nói dối      Một nghiên cứu mới của Đại học London cho thấy sự thích ứng của não bộ trong quá trình con người nói dối với mức độ tăng dần. Kết quả nghiên cứu này có khả năng ứng dụng cao trong các phân tích về hành vi gian lận hoặc phạm tội.      Các nhà nghiên cứu ở đại học London (University College London – ULC) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và chứng minh rằng não bộ sẽ dễ dàng thích ứng với việc nói dối liên tiếp như thế nào. “Nghiên cứu này là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên chỉ ra rằng hành vi nói dối sẽ leo thang khi được lặp lại”, Neil Garret, nhà nghiên cứu ở Khoa Tâm lý học thực nghiệm của ULC, tác giả chính của nghiên cứu này cho biết.  Để thực nghiệm, các nhà thần kinh học tại ULC đã thiết lập một tình huống, trong đó, tình nguyện viên tham gia nghiên cứu được khuyến khích để nói dối nhiều lần và được trao thưởng bằng tiền dựa trên mức độ nói dối đó. Nhóm nghiên cứu đã bố trí để cho 80 tình nguyện viên nhìn vào các bức ảnh của những chiếc lọ thủy tinh có chứa đầy các đồng xu với mệnh giá khác nhau. Sau đó, các tình nguyện viên này sẽ tương tác với một người khác (mà họ chưa từng gặp bao giờ) thông qua một chiếc máy tính và khuyên họ nhìn vào những bức hình về những chiếc bình chứa đồng xu đó và cùng đoán có bao nhiêu xu ở trong chiếc bình.  Trong bài kiểm chứng đầu tiên, các tình nguyện viên được khuyến khích là hãy đưa ra các dự đoán thật. Garret cho biết “Những tình nguyện viên được hướng dẫn là nếu cả họ và đối tác đưa ra các dự đoán càng chính xác thì hai bên càng nhận được nhiều tiền hơn”. Còn trong bài kiểm chứng thứ hai, các tình nguyện viên lại được khuyến khích nói quá lên số lượng tiền trong chiếc bình đó bằng cách tăng tiền thưởng theo mức mà mọi người nói quá về số tiền xu trong bình. “Mọi người nói dối nhiều nhất khi điều đó tốt cho họ và cho cả chính người bị nói dối nữa. Còn khi biết rằng nói đối có thể tốt cho mình nhưng lại làm tổn thương người khác, họ sẽ nói dối ít hơn”, TS. Tali Sharot, đồng tác giả của nghiên cứu này cho biết. Trong suốt bài kiểm chứng nói dối, những tình nguyện viên này có cách nói dối khác nhau, và cũng tăng dần cường độ nói dối lên theo thời gian.  Trong toàn bộ quá trình tham gia thí nghiệm, những người tham gia thử nghiệm được quét cộng hưởng từ (MRI). Các nhà nghiên cứu nhận thấy, các hạch hạnh nhân – phần não bộ dùng để xử lý cảm xúc có phản ứng mạnh (ở trạng thái sáng nhất) khi người ta nói dối lần đầu tiên. Và khi người ta nói dối nhiều hơn, cấp độ nói dối cao hơn thì hạch hạnh nhân đó có phản ứng giảm giần (dần dần ít sáng hơn). Quá trình này được các nhà nghiên cứu gọi là “thích ứng xúc cảm”.  “Ví dụ, lần đầu tiên bạn nói dối về thuế, bạn sẽ cảm thấy xấu hổ về điều đó. Nhưng lần sau, khi bạn tiếp tục dối trá về thuế thì bạn sẽ dần thích ứng với nó và bạn bớt dần cảm xúc xấu hổ đi”, Sharot nói. Sharot cũng cho biết, cho dù đó là sự phản bội, sử dụng doping trong thể thao hay làm dữ liệu khoa học, gian lận tài chính… khi một người nói dối tăng dần theo thời gian thì não bộ cũng “thích ứng xúc cảm”.  Bảo Như tổng hợp.  http://www.biosciencetechnology.com/news/2016/10/brain-adapts-dishonesty-leading-bigger-lies-study-suggests  http://www.dw.com/en/dont-you-ever-lie-study-shows-brain-adapts-to-dishonesty/a-36153051    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Não bộ “xoay chiều” ký ức để bảo vệ nó khỏi thông tin cảm giác mới      Một số quần thể tế bào thần kinh xử lý cảm giác và ký ức cùng một lúc. Nghiên cứu mới cho thấy cách bộ não xoay chiều các biểu diễn thần kinh, tránh cho chúng bị ghi đè lên bởi dữ liệu mới.      Nghiên cứu trên chuột cho thấy rằng các biểu diễn thần kinh của thông tin cảm giác được xoay 90 độ để biến chúng thành ký ức. Trong sự sắp xếp này, ký ức và cảm giác không giao thoa với nhau. Ảnh: Samuel Velasco/Quanta Magazine.     Cả con người và các loài động vật khác đều luôn phải cân bằng giữa nhận thức về quá khứ và hiện tại trong mọi lúc. Chúng ta phải tiếp nhận thông tin cảm giác mới về thế giới xung quanh, trong khi vẫn lưu giữ những ký ức ngắn hạn về những quan sát hay sự kiện trước đó. Khả năng lý giải môi trường xung quanh, cũng như khả năng học tập, hành động và suy tư của chúng ta đều phụ thuộc vào những tương tác liên tục và khéo léo giữa tri giác và ký ức.     Nhưng muốn thực hiện được điều này, bộ não phải tách riêng hai quá trình trên; nếu không, các luồng dữ liệu mới có thể can thiệp vào quá trình biểu diễn các kích thích trước đó và ghi đè lên hoặc khiến ta hiểu sai thông tin theo ngữ cảnh quan trọng. Thách thức trên chưa phải là tất cả: một số công trình nghiên cứu gợi ý rằng não bộ không phân chia chức năng ghi nhớ ngắn hạn thành các vùng phụ trách nhận thức cao cấp thuần túy như vỏ não trước trán. Thay vào đó, các vùng phụ trách cảm giác và các trung tâm vỏ não dưới có nhiệm vụ phát hiện và biểu diễn trải nghiệm cũng có thể mã hóa và lưu trữ ký ức về trải nghiệm đó. Tuy vậy, những ký ức này không được phép xâm phạm nhận thức của chúng ta về hiện tại, hay bị những trải nghiệm mới ghi đè lên một cách ngẫu nhiên.     Một bài báo đăng trên tờ Nature Neuroscience gần đây cuối cùng cũng có thể lý giải cơ chế hoạt động của bộ đệm bảo vệ của não bộ. Bộ đôi nghiên cứu chỉ ra rằng, để biểu diễn đồng thời các kích thích hiện tại và trước đó mà vẫn ngăn không cho chúng can thiệp lẫn nhau, về cơ bản, bộ não sẽ “xoay chiều” thông tin cảm giác để mã hóa nó vào bộ nhớ. Hai trục biểu diễn vuông góc này sau đó có thể trích xuất dữ liệu từ các hoạt động thần kinh chồng chéo mà không xâm phạm lẫn nhau. Các chi tiết cụ thể về cơ chế này có lẽ sẽ giúp giải quyết một số tranh cãi muôn thuở về xử lý ký ức.     Não bộ sử dụng mã hóa theo chiều vuông góc     Để tìm ra cách não bộ ngăn thông tin mới và ký ức ngắn hạn xóa mờ lẫn nhau, Timothy Buschman, một nhà thần kinh học tại Đại học Princeton, và Alexandra Libby, sinh viên cao học làm việc tại phòng thí nghiệm của ông, quyết định tập trung vào sự tri nhận thính giác ở chuột. Họ cho chuột nghe đi nghe lại một cách thụ động các chuỗi bốn hợp âm, thứ âm thanh mà Buschman gọi là “buổi hòa nhạc tệ hại nhất từ trước đến nay.”     Những chuỗi này cho phép các con chuột thiết lập mối liên hệ giữa các hợp âm nhất định, khiến chúng có thể dự đoán được các âm thanh kế tiếp khi mới nghe được hợp âm đầu tiên. Cùng lúc đó, nhóm nghiên cứu đào tạo các thuật toán phân loại máy học để phân tích hoạt động thần kinh được ghi lại từ vỏ não thính giác của chuột trong thí nghiệm, nhằm xác định cách các tập hợp tế bào thần kinh biểu diễn từng kích thích trong chuỗi.     Buschman và Libby quan sát sự thay đổi của các mẫu hình trên trong quá trình các con chuột hình thành liên kết. Họ phát hiện các biểu diễn thần kinh của các hợp âm liên quan đến nhau bắt đầu trở nên giống nhau theo thời gian. Nhưng họ cũng quan sát được rằng các thông tin cảm giác đầu vào mới và không báo trước, chẳng hạn như các chuỗi hợp âm lạ tai, có thể gây trở ngại đến quá trình biểu diễn âm thanh mà chuột đang nghe – bằng cách ghi đè lên biểu diễn về thông tin đầu vào trước đó. Các tế bào thần kinh thay đổi bản mã của kích thích thần kinh trong quá khứ để tương thích với liên tưởng của loài vật ở hiện tại – kể cả khi điều đó không chính xác.     Nhóm nghiên cứu muốn xác định xem não bộ phải điều chỉnh theo sự can thiệp này như thế nào để lưu giữ những ký ức chính xác. Vì vậy, họ đào tạo một thuật toán phân loại khác để nhận dạng và phân biệt các mẫu hình thần kinh đại diện cho ký ức về các hợp âm trong chuỗi – ví dụ, cách mà tế bào thần kinh được kích hoạt khi một hợp âm bất ngờ gợi lên sự so sánh với một chuỗi âm thanh quen thuộc. Đúng là thuật toán phân loại đã tìm thấy các mẫu hình hoạt động nguyên vẹn của ký ức về các hợp âm mà chuột đã được nghe trong thực tế – chứ không phải là bản ký ức “sửa lại” ghi đè lên bản mã trước đó để duy trì các liên kết cũ hơn. Tuy vậy, những bản mã ký ức này trông rất khác so với các biểu diễn cảm giác.     Các biểu diễn ký ức được sắp xếp theo cái mà các nhà thần kinh học gọi là chiều “vuông góc” với các biểu diễn cảm giác, tất cả đều nằm trong cùng một quần thể tế bào thần kinh. Buschman ví nó như việc đang hí hoáy ghi chép bằng tay thì hết giấy. Trong tình huống này, “bạn sẽ xoay tờ giấy 90 độ và bắt đầu viết tràn ra lề,” ông nói. “Về cơ bản đó là những gì bộ não đang làm. Nó tiếp nhận thông tin cảm giác đầu vào đầu tiên và viết ra một tờ giấy, xong xuôi nó xoay tờ giấy 90 độ để có thể viết thêm một thông tin mới mà không động đến hoặc ghi đè lên phần ghi chép cũ.”     Nói cách khác, dữ liệu cảm giác được chuyển thành ký ức thông qua sự biến đổi của các mẫu hình kích hoạt tế bào thần kinh. Anastasia Kiyonaga, một nhà thần kinh học nhận thức tại Đại học California phân hiệu San Diego không tham gia nghiên cứu, cho biết: “Thông tin thay đổi bởi nó cần được bảo vệ.”       Bức thư vào năm 1837 này là một ví dụ về “lối viết chéo”. Các dòng thư được viết theo cả chiều ngang và chiều dọc để tiết kiệm giấy mà vẫn dễ đọc. (Những người viết thư đôi khi đã làm điều này để giảm thiểu chi phí bưu chính). Ảnh: Boston Public Library       Đây không phải là lần đầu tiên các nhà khoa học quan sát được hiện tượng não bộ sử dụng mã hóa theo chiều vuông góc để phân tách và bảo vệ thông tin. Chẳng hạn, khi loài khỉ chuẩn bị di chuyển, hoạt động thần kinh trong vỏ não vận động của chúng sẽ biểu diễn chuyển động tiềm năng này theo chiều vuông góc để tránh can thiệp vào tín hiệu truyền lệnh đến các cơ.     Tuy thế, các nghiên cứu xưa nay thường không chỉ rõ cơ chế biến đổi của hoạt động thần kinh theo hướng này. Buschman và Libby muốn trả lời câu hỏi đó bằng những gì họ quan sát thấy trong vỏ não thính giác ở chuột. Libby nói, “Khi mới bắt tay vào làm thí nghiệm, thật khó để tôi hình dung làm thế nào mà một biến chuyển như thế lại xảy ra với hoạt động thần kinh.” Bà muốn “giải mã bí ẩn về những gì mạng lưới thần kinh đang thực hiện để mã hóa dữ liệu theo chiều vuông góc.”     Bằng cách sàng lọc thực nghiệm qua mọi khả năng, nhóm nghiên cứu loại trừ khả năng các tập hợp con của tế bào thần kinh trong vỏ não thính giác xử lý độc lập các biểu diễn cảm giác và ký ức. Ngược lại, họ chỉ ra rằng hai nhóm biểu diễn này được xử lý bởi cùng một quần thể tế bào thần kinh, và hoạt động của tế bào thần kinh có thể được chia thành hai loại. Một số tế bào thần kinh có hành vi “ổn định” khi biểu diễn cả dữ liệu cảm giác và ký ức, trong khi các tế bào thần kinh “thất thường” thì phản ứng với hai nhóm dữ liệu theo các kiểu khác nhau.     Ngạc nhiên thay, sự kết hợp giữa các tế bào thần kinh ổn định và thất thường này đã đủ để xoay chiều thông tin cảm giác và biến nó thành ký ức. Buschman nói, “Đó là toàn bộ phép màu.”     Trên thực tế, ông và Libby sử dụng các phương pháp tiếp cận mô hình tính toán để cho thấy cơ chế này là cách hiệu quả nhất để xây dựng các biểu diễn cảm giác và ký ức vuông góc: Nó tốn ít tế bào thần kinh và ít năng lượng hơn so với các giả thiết khác.     Khám phá của Buschman và Libby góp phần tạo nên một xu hướng mới nổi trong khoa học thần kinh: các quần thể tế bào thần kinh, kể cả ở các vùng phụ trách cảm giác bên dưới, đều tham gia vào quá trình mã hóa động với vai trò quan trọng hơn những gì ta tưởng. Theo Miguel Maravall, một nhà thần kinh học tại Đại học Sussex không tham gia nghiên cứu, “Những vùng vỏ não nằm ở bậc thấp hơn trong chuỗi thức ăn này cũng ẩn chứa nhiều tiềm năng thú vị mà có lẽ chúng ta chưa thật sự để ý tới, cho đến bây giờ.”     Công trình này có thể giúp hòa giải hai phía của cuộc tranh luận chưa đến hồi kết: rằng ký ức ngắn hạn rốt cuộc được duy trì thông qua các biểu diễn liên tục, bền bỉ hay qua các bản mã thần kinh động thay đổi theo thời gian. Thay vì nghiêng hẳn về một bên, Buschman cho biết “những phát hiện của chúng tôi cho thấy về cơ bản cả hai bên đều đúng,” với các tế bào thần kinh ổn định hoàn thành nhiệm vụ thứ nhất và các tế bào thần kinh thất thường hoàn thành nhiệm vụ thứ hai. Sự kết hợp hai quá trình này rất hữu ích bởi “nó thực sự giúp cản lại sự can thiệp và thực hiện việc xoay chiều vuông góc.”     Nghiên cứu của Buschman và Libby có thể còn được ứng dụng trong các bối cảnh xa hơn sự biểu diễn cảm giác. Họ và các nhà nghiên cứu khác hy vọng tìm được cơ chế xoay chiều vuông góc này ở các quá trình thần kinh khác: trong cách bộ não theo dõi nhiều suy nghĩ hoặc mục tiêu cùng một lúc; thực hiện một hành động trong khi đối phó với sự xao nhãng; biểu diễn các trạng thái bên trong cơ thể; hay kiểm soát nhận thức, bao gồm các quá trình chú ý.     “Tôi thực sự háo hức,” Buschman cho hay. Khi nhìn vào công trình của các nhà nghiên cứu khác, “tôi chỉ nhớ mình đã thấy, chỗ này là tế bào thần kinh ổn định, chỗ kia là tế bào thần kinh thất thường! Giờ thì ta thấy chúng mọi lúc mọi nơi.”     Libby quan tâm đến tác động của kết quả nghiên cứu của họ đối với nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trong việc thiết kế những cấu trúc dữ liệu hữu ích cho các mạng lưới trí tuệ nhân tạo đa nhiệm. Bà nói: “Tôi muốn xem liệu việc phân bổ các tế bào thần kinh trong mạng thần kinh nhân tạo để chúng có sẵn thuộc tính ổn định hoặc thất thường, thay vì mang các thuộc tính ngẫu nhiên, có giúp ích gì cho mạng lưới hay không.”     Theo Maravall, nhìn chung “hệ quả của kiểu mã hóa thông tin này sẽ rất quan trọng và cũng cực kỳ thú vị để tìm hiểu.”     Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:   The Brain ‘Rotates’ Memories to Save Them From New Sensations  Rotational dynamics reduce interference between sensory and memory representations       Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA đối diện với  tương lai không sáng sủa      Tương lai của ngành khoa học thiên văn đang không mấy sáng sủa. Nguyên nhân đơn giản vì các chương trình thiên văn, đặc biệt là các chương trình ngoài không gian, quá đắt đỏ. Trong bối cảnh ngân sách liên bang Mỹ bị xiết chặt, chính phủ Mỹ sẽ ngày càng ít có những khoản đầu tư hào phóng cho các dự án khoa học lớn.      Trong vòng một thập kỷ tới, chúng ta có thể phải ngưng tìm hiểu về các định luật tự nhiên, và có thể thế hệ chúng ta sẽ không được thấy những cuộc thám hiểm này tái khởi động, cảnh báo từ Steven Weinberg, nhà vật lý đoạt giải Nobel, hồi tháng 1 tại một cuộc họp của Hội Thiên văn Mỹ ở Austin, Texas.  Kinh phí bị cắt giảm  Dự kiến NASA sẽ có ít kinh phí hoạt động hơn trong năm tài khóa 2013. Nguồn kinh phí eo hẹp và sự hạn chế số lượng các dự án thám hiểm đã gây chia rẽ và xung đột công khai giữa các nhóm nhà khoa học. Ngày nay, nếu các nhà thiên văn muốn chế tạo những chiếc kính thiên văn mới để phục vụ tốt hơn cho khoa học, NASA sẽ yêu cầu họ phải ngồi lại với nhau, và thống nhất ra một số rất ít các dự án trọng điểm được phép đệ trình.    “Mọi người đều phải kiên nhẫn, thay vì đặt câu hỏi rằng “làm sao để dự án của tôi được làm”, người ta phải hỏi “làm sao để dự án của chúng tôi được làm”, nhận xét từ Matt Mountain, giám đốc Viện Khoa học Kính Thiên văn, nơi phụ trách hoạt động của kính thiên văn Hubble và các kính thiên văn khác.  Nhưng một số nhà thiên văn cho rằng điều này gây cản trở công tác nghiên cứu. Việc phải phối hợp nhiều dụng cụ khoa học trong một dự án chung gây gia tăng chi phí và làm giảm hiệu quả nghiên cứu khoa học. Hệ quả là người ta có một nhiệm vụ chung với nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng việc thực hiện từng mục tiêu bị trở ngại hơn.   “Thoạt nghe thì ai cũng thích khái niệm nghe rất kêu là dự án trọng điểm”, nhận định từ nhà thiên văn Nahum Arav của Viện Tổng hợp Virgina, trường Virginia State University. “Quốc hội và công chúng dễ chấp nhận những dự án như vậy. Nhưng qua đó chúng ta không hành xử vì lợi ích của khoa học, mà vì động cơ chính trị ở nhiều cấp khác nhau”.           Kính thiên văn James Webb Space đang được chế tạo, dự kiến sẽ có đường kính gương lớn chưa từng có. Dự án tốn kém này gây cắt giảm nguồn kinh phí cho các dự án khác của NASA.          Các nhà thiên văn như Arav cho rằng đã đến lúc NASA xem lại cách hoạt động của mình để tìm ra cách điều chỉnh cải thiện. Thay vì tập trung vào những dự án khổng lồ tốn kém, có lẽ cộng đồng khoa học có thể được đáp ứng tốt hơn với những dự án nhỏ hơn, rẻ hơn, mục tiêu giới hạn tập trung hơn, và tính cạnh tranh cao hơn.  Nếu cộng đồng các nhà thiên văn không thể tìm được tiếng nói đồng thuận trong việc lựa chọn dự án được triển khai, khoa học sẽ bị tổn thất, và nước Mỹ có thể mất đi vị thế thống lĩnh trong khoa học và công nghệ không gian. Nếu một dự án lớn và tốn kém nào đó được cấp kinh phí, nhưng không được sự ủng hộ của một số nhóm thiên văn học, thì dự án đó sẽ rất dễ bị ảnh hưởng mỗi khi Quốc hội tìm cách cắt giảm ngân sách Nhà nước. Và điều này sẽ khiến các dự án của châu Âu – thường có quy mô nhỏ hơn, được cam kết cấp kinh phí dài hạn hơn – chiếm được thế thượng phong trong khoa học thiên văn.  Những dự án bị hủy bỏ  Các nhà khoa học hạt đã phải nếm kinh nghiệm cay đắng khi chính phủ Mỹ sẵn sàng hủy một dự án dù trước đấy đã bỏ ra chi phí vài tỷ USD. Tương tự như vậy là trường hợp dự án cỗ máy Superconducting super collider. Khi dự án này bị hủy bỏ, máy gia tốc hạt lớn LHC (Large Hadron Collider) trở thành máy gia tốc lớn nhất phục vụ ngành vật lý hạt thế giới.   Trong những năm gần đây, các nguồn kinh phí của liên bang cho thiên văn học, qua NASA và Tổ chức Khoa học Quốc gia (NSF), bị hạn chế đáng kể, nếu có tăng thì rất khiêm tốn. Năm 2012 kinh phí của NASA bị cắt giảm xấp xỉ 650 triệu USD.   Ngân sách sụt giảm phủ bóng đen lên đa số mọi lĩnh vực của thiên văn học. Những dự án ngoài không gian trọng điểm, như kính thiên văn Hubble hay kính thiên văn James Webb Space, có xu hướng sẽ chỉ được cấp kinh phí từ 20-30 năm một lần. Tình trạng đội chi của dự án kính thiên văn khổng lồ James Webb Space, từ 1 tỷ lên 8,7 tỷ  USD, nhiều khả năng sẽ làm nhiều dự án nhỏ khác bị cắt giảm.  NSF công bố hồi tháng 1 rằng họ không còn khả năng hỗ trợ hai dự án kính thiên văn mặt đất cỡ lớn đang được xây dựng, kính thiên văn Thirty Meter và kính thiên văn Giant Magellan. Điều này đặt dấu hỏi cho tương lai cả hai dự án và có thể đẩy các nhà đầu tư nước ngoài tham gia dự án này chuyển sang đầu tư cho dự án kính thiên văn European Extremely Large của châu Âu.          Xưởng lắp ráp Kính thiên văn James Webb Space của NASA          Lĩnh vực khoa học hành tinh của NASA dường như cũng bị ảnh hưởng nặng nề, có thể bị cắt giảm tới 20% ngân sách năm nay, và sẽ tiếp tục bị cắt giảm tới năm 2017. Cơ quan Không gian châu Âu hé lộ rằng NASA có thể sẽ rút lui khỏi hai dự án hợp tác khám phá Sao Hỏa – một vệ tinh được phóng vào năm 2016 và một xe tự hành thế hệ mới trong một nhiệm vụ được thực thi vào năm 2018 với mục tiêu là mang mẫu vật Sao Hỏa trở về trái đất.  Mâu thuẫn và thỏa hiệp  Trong vòng 20 năm qua, nguồn kinh phí tương đối dồi dào đã cho phép các nhóm thiên văn thực hiện những dự án quy mô lớn nhưng chuyên biệt vào các mục tiêu có tính tập trung cao. Ví dụ chương trình Great Observatories đã phóng lên không gian tới bốn kính thiên văn, mỗi kính chuyên biệt vào một dạng ánh sáng có độ dài sóng riêng: kính Hubble cho dạng ánh sáng thông thường và UV, Compton cho bức xạ gamma, Chandra cho tia X-quang, và Spitzer cho tia hồng ngoại.   “Cộng đồng của chúng tôi đã được nuông chiều trong những thập kỷ qua do nguồn kinh phí liên bang hào phóng dành cho khoa học không gian”, Mountain cho biết.  Nhưng nay đa số các nhà thiên văn sẽ phải trông cậy vào một dự án lớn duy nhất là kính thiên văn James Webb Space (JWST). Và mọi dự án lớn sau dự án JWST đều được đòi hỏi những nỗ lực lớn hơn, như công nghệ tốn kém hơn, kiểm định ngặt nghèo hơn, nhằm đảm bảo thiết bị hoạt động tốt ở ngoài không gian.  Một phần giải pháp là những khám phá công nghệ mới đây, khẳng định từ nhà vật lý Paul Goldsmith, trưởng chuyên gia công nghệ tại phòng thí nghiệm Jet Propulsion Laboratory của NASA, người chủ trì một mảng trong hội thảo AAS dành cho những ý tưởng giúp cắt giảm chi phí các dự án không gian. Ví dụ, các công nghệ như vật liệu tráng gương mới, giúp làm giảm độ nhòe, hoặc công nghệ giúp gia tăng sức mạnh máy tính của hệ thống điều khiển.    Nhưng những tiến bộ khoa học đáng kể nhất cuối cùng vẫn phải đòi hỏi kính thiên văn lớn hơn, và điều này sẽ vấp phải thách thức là làm sao tìm được sự đồng thuận của xã hội. “Vấn đề thực tế không phải là làm sao chế ra kính thiên văn rẻ hơn trong thời buổi khó khăn hiện nay”, Mountain nói. “Vấn đề là làm sao tạo được sự đồng thuận cho một số ít các dự án trọng điểm để chúng được triển khai”.  Dự án trọng điểm hiện nay của cộng đồng thiên văn, JWST, phù hợp nhất cho việc nhìn xa hơn vào không gian, khám phá ra những kỷ nguyên xưa nhất trong thời kỳ hình thành các thiên hà, và khám phá bản chất của vật liệu tối, năng lượng tối.  Như vậy, các nhà khoa học ở một số lĩnh vực thiên văn khác sẽ có cảm giác bị gạt ra rìa. Cộng đồng nghiên cứu exoplanet tuy còn nhỏ nhưng đang dần lớn mạnh, từ lâu đã vận động để được duyệt một dự án kính thiên văn ngoài không gian tối tân có chức năng phát hiện ra ánh sáng từ các hành tinh xung quanh những ngôi sao, và có tiềm năng phát hiện được sự sống ở những thế giới xa xôi. Nhưng từ lâu NASA đã dồn hết tiền cho JWST, và những dự án khác ít có khả năng được cấp kinh phí.          Mars Pathfinder, thiết bị đổ bộ xuống sao Hỏa năm 1997. Đây là dự ánh thành công của NASA theo phương châm nhanh hơn, tốt hơn, rẻ hơn.          “Cộng đồng nghiên cứu exoplanet và giới nghiên cứu không gian sâu mong muốn những điều rất khác nhau, và đang co kéo NASA theo những hướng đối lập”, nhận xét từ Goldsmith.   Các nhà khoa học hành tinh và các nhà vật lý Mặt trời cũng không hài lòng với chi phí bị đội lên của JWST. Hồi tháng 9 năm ngoái họ đã công khai phản đối với số tiền mà NASA tiếp tục đổ vào dự án này.  Sự bất mãn này đã buộc dự án JWST phải có tính thỏa hiệp hơn, thay đổi một chút về thiết kế để có thể hữu ích hơn trong việc phát hiện ra các exoplanet. Tuy đây không phải là chiếc kính thiên văn tối tân cho ngành exoplanet như cộng đồng này mong muốn, nhưng nó vẫn có giá trị, nhận định từ nhà thiên văn David Charbonneau, thành viên của nhóm vận hành kính thiên văn Kepler của NASA chuyên tìm kiếm các exoplanet mới.   Bài học rút ra ở đây là mọi dự án kính thiên văn sau JWST sẽ phải được đa số các nhà thiên văn ở mọi giới đồng tình mới có thể thành công.  Giải pháp là chuyên biệt hóa?  NASA có nhiều kinh nghiệm với các dự án lớn, nhưng cũng không thiếu những khiếm khuyết. Ví dụ như dự án kính thiên văn Hubble là một thành công, nhưng vì phải chiều lòng nhiều giới thiên văn khác nhau, chất lượng của thiết bị cũng chịu ảnh hưởng.  “Người ta phải chế tạo chiếc kính với 5 thiết bị khác nhau để phục vụ được cho nhiều chức năng. Điều này khiến thiết kế của nó quá phức tạp, giảm hiệu quả của từng thiết bị, và khiến dự án tốn kém hơn rất nhiều”, Arav cho biết.  Quá nhiều tầng lớp quan liêu ở NASA và các cơ quan chính phủ khác đã dẫn tới sự kém hiệu quả và càng làm tăng chi phí, Arav nói. Và bởi vì NASA không chấp nhận thất bại nên cơ quan này phải tiến hành các cuộc thử nghiệm rất nhiều lần trong mỗi dự án, khiến chi phí tiếp tục đội thêm nữa.   “Nếu chúng ta thực sự muốn phụng sự khoa học thì nên chế tạo 10 thiết bị quy mô nhỏ hơn, rẻ hơn, trong đó 5 thiết bị có thể thất bại, nhưng không sao cả, vì chúng ta sẽ có 5 thiết bị hoạt động thành công”, Arav nói.  NASA từng thử tiến hành theo phương châm này trong thập kỷ 1990 dưới quyền điều hành của Dan Goldin, với những dự án “nhanh hơn, tốt hơn, rẻ hơn”. Nhưng sau hai dự án khám phá Sao Hỏa thành công là Mars Pathfinder và Mars Global Surveyer, cơ quan này gặp phải hai thất bại là các dự án Mars Climate Orbiter và Mars Polar Lander (người ta biết nhiều tới thất bại này vì sai sót cơ bản hi hữu khi các kỹ sư nhầm giữa hệ đơn vị met với hệ đơn vị của Anh).    Tuy nhiên, dù chương trình của NASA có tỷ lệ thất bại là 50%, họ vẫn thành công với hai dự án, và tổng chi phí các dự án chỉ là 1,7 tỷ USD. Chi phí này dù sao vẫn ít hơn rất nhiều so với dự án lớn hiện nay dành cho sao Hỏa là dự án Mars Science Laboratory, có chi phí 2,5 tỷ USD sau những lần bị đội chi và trì hoãn.  Hay tư nhân hóa?  Arav cho rằng các nhiệm vụ ngoài không gian có lẽ tốt hơn nên dành cho ngành công nghiệp tư nhân hơn là các cơ quan chính phủ. Đây là điều mà giới thiên văn còn đang tranh cãi. Liệu ngành khoa học này có thể trông cậy vào những công ty tư nhân, như SpaceX, hay Blue Origin, từng tuyên bố có khả năng giảm bớt chi phí bay vào không gian? Liệu cách làm này có khả thi cho nghiên cứu thiên văn?  “Đây là cách nghĩ rất ngây thơ”. Goldsmith phản biện lại. “Các ngành công nghiệp có ưu thế cho một số lĩnh vực, nhưng tôi không nghĩ họ là chìa khóa vạn năng”.  Khả năng cắt giảm chi phí của các doanh nghiệp chủ yếu do quy mô sản xuất lớn, Goldsmith nói. “Nhưng sẽ chẳng có ai chế tạo kính thiên văn với quy mô sản xuất hàng loạt”.   Arav cũng công nhận rằng những chiếc kính thiên văn sẽ luôn đắt đỏ, dù nhà sản xuất là nhà nước hay tư nhân. Nhưng ông cho rằng sẽ có nhiều đổi mới hơn nếu có sự cạnh tranh lành mạnh, như trường hợp giải thưởng DARPA Grand Challenge của Bộ Quốc phòng – một cuộc thi chế tạo xe hơi tự lái. Cuộc thi này đã thu hút sự tham gia của nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ từ cả ngành công nghiệp lẫn giới học thuật, và sản phẩm đạt được là một công nghệ mới. Một tổ chức phi lợi nhuận, X Prize Foundation, từng tổ chức những cuộc thi chế tạo những thiết bị đưa người lái vào không gian nhiều lần, và thiết bị thả robot xuống Mặt trăng.    NASA có thể tổ chức giải thưởng trị giá 100 triệu USD cho nhóm nghiên cứu đầu tiên đưa được một chiếc kính thiên văn nhỏ vào không gian, Arav gợi ý. Nếu không ai thành công thì không ai được trả tiền. Nhưng nếu ai đó thành công thì chi phí bỏ ra vẫn rẻ gấp 10 lần một dự án trọng điểm.   “Nếu chúng ta tạo cơ hội cho đổi mới, cho phép người ta thất bại, loại bỏ bộ máy quan liêu cồng kềnh, và tập trung vào khoa học, chúng ta sẽ có một mô hình hoạt động tối ưu”, Arav khẳng định.   Thanh Xuân Lược dịch theo bài U.S. Space Science Confronts New Economic Reality  của Adam Mann, Wired Science. http://www.wired.com/wiredscience/2012/02/astronomy-budget/    Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA: Năm 2030 đưa người lên sao Hỏa      Ngày 7/6 mới đây, NASA đã công bố danh sách và làm lễ ra mắt 12 nhà du hành vũ trụ được chọn để thực hiện sứ mệnh thám hiểm không gian xa, trong đó có sao Hỏa. Họ được lựa chọn từ 18.300 ứng viên với những tiêu chuẩn rất cao. Sự kiện này cho thấy NASA đang đẩy mạnh thực hiện mục tiêu đổ bộ sao Hỏa.      12 nhà du hành vũ trụ được NASA chọn để thực hiện sứ mệnh thám hiểm không gian xa, trong đó có sao Hỏa.  Trước đó, tại hội thảo The Humans to Mars Summit (Washington 9-11/5/2017), Greg Williams, Phó Giám đốc NASA, đã công bố một số chi tiết của Dự án đổ bộ sao Hỏa, chia hai giai đoạn:  – Giai đoạn một (2018-2026) thực hiện 4 chuyến bay có người lái lên không gian Trái đất-Mặt trăng (không gian Cislunar), sử dụng tàu vũ trụ Orion chở các trang bị lên đây và dùng cánh tay máy Canadarm2 lắp ráp các trang bị đó thành một trạm vũ trụ bay quanh Mặt trăng, gọi là Deep Space Gateway (DSG). Trạm DSG hoạt động bằng điện Mặt trời, gồm module sinh sống của các nhà du hành vũ trụ, module nghiên cứu khoa học, module bọc kín (airlock) để kết nối với các tàu đến thăm và để thử các hệ thống đưa người đi sao Hỏa. DSG tạo môi trường sống cho nhà du hành vũ trụ tại không gian Cislunar, và dùng làm nơi nghiên cứu khoa học hoặc điều hành các tàu vũ trụ khác, kể cả các chuyến thăm dò Mặt trăng. Như vậy DSG có vai trò căn cứ địa trên vũ trụ trong chương trình thăm dò vũ trụ của NASA.    Giai đoạn  hai trong kế hoạch đưa người lên sao Hỏa của NASA có sự tham gia của  tàu vận tải không gian sâu (Deep Space Transport, DST). Nguồn: NASA/The Humans to Mars Summit  – Giai đoạn hai, từ năm 2027: phóng các tàu vận tải không gian sâu (Deep Space Transport, DST) lên Cislunar. DST chở các nhà du hành vũ trụ đến trạm DSG làm việc. NASA đã yêu cầu sáu công ty tư nhân thiết kế tàu vũ trụ cho dự án, riêng Boeing sẽ thiết kế tàu vận tải và khoang nghỉ ngơi cho các nhà du hành vũ trụ.  Khoảng năm 2030, tàu DST sẽ bắt đầu chở các nhà du hành vũ trụ xuất phát từ DSG bay lên sao Hỏa.  Muốn đưa người lên sao Hỏa phải chế tạo được loại tên lửa vận tải công suất lớn gọi là Hệ thống phóng không gian (Space Launch System, SLS). Tên lửa SLS có thể đưa tải trọng 80-130 tấn lên sao Hỏa. Nó dùng nhiên liệu rắn có sức đẩy 3.800 – 4.200 tấn, mạnh hơn tên lửa Saturn V (nhiên liệu dầu hỏa, sức đẩy 3.400 tấn) đã dùng trong Dự án Apollo.  NASA mong muốn hợp tác với các công ty tư nhân và các nước khác và hiện đã chọn được sáu công ty tư nhân hợp tác làm hệ thống môi trường sống cho nhà du hành vũ trụ.  Viện Sao Hỏa (Mars Institute), một tổ chức phi chính phủ quốc tế, có trụ sở ở Mỹ và Canada, ước tính trong 25 năm tới dự án nói trên sẽ cần ít nhất 1.000 tỷ USD, đây là một con số hợp lý, bởi lẽ Dự án Apollo trong 10 năm chi hết 24 tỷ USD, tương đương 197 tỷ USD ngày nay, mà đổ bộ sao Hỏa phức tạp nhiều.  Hôm 24/4, Tổng thống Trump nói ông không hài lòng với kế hoạch đưa người lên sao Hỏa trong thập niên 2030, và yêu cầu NASA làm việc đó trước khi ông kết thúc nhiệm kỳ đầu (2021), hoặc chậm nhất là trong nhiệm kỳ hai (2025). Ngày 21/3, Trump đã duyệt cấp cho NASA 19,5 tỷ USD trong năm tài chính 2017 nhằm thực hiện kế hoạch nói trên, hơn ngân sách cũ 200 triệu USD.  Hai công ty tư nhân SpaceX của nhà phát minh, doanh nhân người Mỹ gốc Nam Phi Elon Musk và Mars One của nhà phát minh, doanh nhân người Hà Lan Bas Lansdorp cũng đang ráo riết thực thi dự án đưa người lên sao Hỏa. Năm 2011, Musk khẳng định mục đích cá nhân của ông là đưa người ra khai phá và định cư ở Sao Hỏa, trong khoảng 10-20 năm nữa. Còn trước mắt, ông cho biết, năm 2018 sẽ đưa hai du khách lên quỹ đạo Mặt trăng và trở về (có trả tiền 250.000 USD/người).  Nguyên Hải dịch  Nguồn:  – https://www.space.com/36781-nasa-yearlong-crew-moon-mission-ahead-of-mars.html  – https://h2m.exploremars.org/       Author                Quản trị        
__label__tiasang NATIF: cần đổi mới quy trình tài trợ      Ngày 26/10 vừa qua tại Hà Nội, Quỹ Đổi mới Khoa học Quốc gia (NATIF) đã tổ chức hội thảo “Đổi mới công nghệ: Vai trò của doanh nghiệp, tổ chức KH&CN và cơ quan quản lý” với mục đích lắng nghe ý kiến đóng góp của doanh nghiệp về quy trình xét duyệt tài trợ của Quỹ.      Sản phẩm Sơn Chugoku của công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng được sơn cho tàu YN YEOSU của Công ty đóng tàu Phà Rừng.  Những doanh nghiệp đến tham dự hội thảo đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước, phần lớn đều đã tiếp cận quỹ và đang ở giai đoạn khác nhau trong quá trình quỹ xét duyệt và thẩm định hồ sơ. Cho đến nay,với hàng trăm hồ sơ được gửi đến, đã có 10 doanh nghiệp nhận được tài trợ của quỹ với tổng số tiền khoảng 50 tỷ đồng.Tuy nhiên, ở thời điểm 7/2017, mới có hai doanh nghiệp được nhận tài trợ của Quỹ là Công ty Cổ phần Xây dựng và Thiết bị Công nghiệp (CIE) với khoảng 25 tỷ đồng (chiếm gần 50% số tiền thực hiện dự án) và Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng với 4 tỷ đồng (chiếm khoảng 1/3 số tiền thực hiện dự án).  Phần lớn các doanh nghiệp dự hội thảo đều cho rằng không biết làm sao để đề xuất của mình phù hợp với ý tưởng và tiêu chí của NATIF. Anh Hoàng Trung Dũng, thành viên HĐQT Công ty cổ phần Phụ gia và sản phẩm dầu mỏ APP, chia sẻ, công ty đã từng làm hàng chục đề tài cấp Bộ, được rất nhiều giải thưởng sáng tạo khoa học VIFOTEC nhưng “để gọt chân cho vừa giày” những ý tưởng của doanh nghiệp với yêu cầu của NATIF vẫn là “một trở ngại”. Trường hợp khác, chị Nguyễn Thị Tuyết Mai, Công ty TNHH Một thành viên Sinh học Minh Hoàng – Gia Lai, nơi đang kết hợp với Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam để sản xuất nhiên liệu sinh học, kể, đã hai năm nộp hồ sơ vào NATIF nhưng đến bây giờ công ty mới qua “vòng” đánh giá năng lực và bây giờ là “vòng” thẩm định hồ sơ. Trước đây, công ty đã tổ chức rất nhiều hội thảo giữa viện và doanh nghiệp nhưng vẫn chưa có được đề xuất phù hợp với yêu cầu của quỹ. Đến nay, doanh nghiệp đã tự đầu tư và phát triển dự án, công nghệ cũng có nhiều đổi mới không còn giống với đề xuất trước đây nên “nếu bây giờ lại thuyết minh thì lại khó” – chị Mai cho biết.  Ngoài ra, với quy trình xét chọn như hiện giờ, thay vì chỉ xem xét tính khả thi, tính mới trong đề xuất của doanh nghiệp, quỹ lại can thiệp vào đề xuất, “đặt lại đầu bài” cho họ. Vì thế, có thể đề xuất cuối cùng không phải là những gì doanh nghiệp mong muốn. Ngay cả khi đề xuất của doanh nghiệp đã được phê duyệt, trải qua những đánh giá về nội dung và tài chính cũng không đơn giản. Lần lượt trải qua xét duyệt ở hai hội đồng về khoa học và tài chính với những quan điểm khác biệt, doanh nghiệp phải mất thời gian cho nhiều lần giải thích, báo cáo không cần thiết. Do quy trình thủ tục xét duyệt liên quan đến nhiều văn bản tài chính phức tạp, doanh nghiệp không thể lường hết nhưng Quỹ cũng không có nhân viên tư vấn, hỗ trợ họ. Bên cạnh đó, sau hơn hai năm hoạt động, NATIF vẫn chưa xác định được lĩnh vực và những sản phẩm ưu tiên tài trợ, “cái gì đưa lên cũng xét” nên vừa mất thời gian xét duyệt, vừa sử dụng kinh phí không hiệu quả.  Giải pháp trước mắt được đưa ra đối với quỹ đó là làm sổ tay hướng dẫn viết đề xuất, hướng dẫn giải ngân và công khai để các doanh nghiệp có thể làm việc với Quỹ dễ dàng hơn. Quỹ cũng nên thành lập một tổ tư vấn, chủ động hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những khúc mắc trong quá trình nộp và xét duyệt đề xuất. Ngoài ra, Quỹ cần thay đổi quy trình xét duyệt tài trợ thân thiện hơn với doanh nghiệp thay vì vẫn mang nặng cơ chế xin-cho như hiện nay. Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng đặt ra “mục tiêu phấn đấu” cho Quỹ trong thời gian tới rút ngắn quá trình từ lúc nhận đề xuất đến lúc ký hợp đồng với doanh nghiệp chỉ còn 9 tháng (con số này với các quỹ trên thế giới là 6 tháng).     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang NEC – một môi trường học thuật nghiêm túc      Giữa lúc nhiều viện nghiên cứu vẫn loay hoay tìm kiếm giải pháp chống chảy máu chất xám thì Trung tâm Công nghệ Nano và Năng lượng, một đơn vị mới thành lập của ĐH Quốc gia Hà Nội, đã gây dựng được một đội ngũ các nhà khoa học trẻ tâm huyết từ nước ngoài trở về bằng việc trao quyền quản lý hệ thống cơ sở vật chất hiện đại và duy trì một môi trường học thuật nghiêm túc để họ yên tâm làm việc.      Các nhà nghiên cứu hội ý trước buổi làm việc trong phòng sạch. Ảnh: NEC.  Thiết lập phòng sạch theo chuẩn quốc tế  Hầu như ai tới làm việc tại Trung tâm Nano và Năng lượng (NEC) cũng được giới thiệu về phòng sạch1 của Trung tâm. “Ở đây, điều kiện làm việc của các nhà nghiên cứu Việt Nam không kém gì so với đồng nghiệp quốc tế”, TS Nguyễn Trần Thuật, một trong những thành viên đầu tiên của NEC, cho biết.  Hiện Việt Nam có khá nhiều đơn vị nghiên cứu về công nghệ và vật liệu nano nhưng không phải đơn vị nào cũng có phòng sạch theo tiêu chuẩn quốc tế do chưa thể kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ bụi trong không khí. Cùng với ĐH Quốc gia TP.HCM và Khu CNC TP.HCM, NEC là một trong ba nơi sở hữu phòng thí nghiệm đặc biệt này. Ra đời muộn hơn hai phòng sạch ở TP.HCM (lần lượt thành lập năm 2006 và năm 2008), phòng sạch của NEC đi vào hoạt động hết công suất vào năm 2015, sau hai năm lắp đặt thiết bị.  Đầu tư cho phòng sạch đòi hỏi kinh phí lớn, một nhà nghiên cứu không thuộc biên chế NEC cho biết. Tuy nhiên làm thế nào để tránh xảy ra việc lãng phí nguồn lực đầu tư do mua sắm “những thiết bị đắt tiền phục vụ nghiên cứu khoa học nhưng lại không được sử dụng đúng mức” như vấn đề GS Pierre Dariulat đã nêu trong một bài viết trên Tia Sáng năm 20152? Thật bất ngờ, cách làm của NEC cũng có phần tương đồng với điều mà GS Pierre Darriulat từng khuyến nghị: mua sắm trang thiết bị dựa trên đề xuất của các nhà nghiên cứu. TS. Thuật cho biết, anh may mắn được GS. TSKH Nguyễn Hoàng Lương, giám đốc NEC, tin tưởng giao nhiệm vụ thiết kế phòng sạch, cơ hội mà không phải nhà nghiên cứu trẻ nào cũng có được. Ngay từ khi bắt tay vào lên khung kế hoạch phòng sạch, anh và các cộng sự “luôn nghĩ đến những hướng nghiên cứu của NEC và tự đặt cho mình câu hỏi: sẽ nghiên cứu linh kiện và vật liệu gì, cần thiết bị gì để làm ra vật liệu đó? Trả lời được các câu hỏi ấy là có đáp án đúng”. Anh là người tham gia dự án phòng sạch cùng các thầy từ đầu năm 2012, khi tầng 5 nhà T2 trong khuôn viên Đại học Khoa học tự nhiên, nơi đặt Trung tâm, vẫn trong giai đoạn xây dựng cơ bản, “chỗ nào cũng ngổn ngang các loại gạch đá, sắt thép”.  Tuổi đời mới ngoài 35 nhưng đến nay, TS. Nguyễn Trần Thuật đã có khá nhiều kinh nghiệm làm việc tại các cơ sở nghiên cứu có phòng sạch tại Pháp và Phòng thí nghiệm công nghệ Nano, ĐH Quốc gia TP.HCM, nơi làm việc đầu tiên của anh sau khi về nước theo lời mời của PGS.TS Đặng Mậu Chiến. Ba năm làm việc tại TP.HCM rất quý giá bởi đây là thời gian anh học hỏi rất nhiều về cung cách quản lý phòng sạch. Tất cả những điều đó được anh tổng hợp thành “bản thử nghiệm” cho phòng sạch ở Hà Nội và cho phép anh loại bỏ sớm những gì mình thấy không phù hợp ngay từ khâu thiết kế.  Thói quen quan sát và kinh nghiệm làm việc trên những vật liệu siêu nhỏ đã giúp TS. Thuật cẩn trọng trong mọi công đoạn lắp đặt thiết bị nhằm sắp xếp, bố trí thiết bị một cách tối ưu và thuận lợi cho nghiên cứu. Anh cũng phải tự mày mò vận hành máy móc, chuẩn hóa lại hoạt động để tìm ra quy trình vận hành tối ưu trước khi áp dụng chính thức trên từng loại máy móc để chế tạo vật liệu và linh kiện. So với khi nghiên cứu tại Pháp thì công việc phức tạp hơn nhiều bởi theo anh, “ở bên đó, mọi công việc đã được chuẩn hóa và mỗi người chỉ chuyên làm trên một loại máy, nếu máy trục trặc thì cũng có đội ngũ kỹ thuật riêng xử lý”.  Thu hút nhà nghiên cứu trẻ  Nỗ lực trong vòng ba năm của TS. Thuật đã được đền đáp bằng một phòng thí nghiệm mà các thành viên NEC vẫn nói vui là “hiện đại nhất vịnh Bắc Bộ”. Có đủ cơ sở vật chất hiện đại, cái thiếu còn lại của NEC chính là con người, những nhà khoa học có khả năng triển khai các hướng nghiên cứu dựa trên những máy móc đó. Với suy nghĩ này, ngay trong giai đoạn lắp đặt phòng sạch, TS. Thuật đã báo cáo với GS Lương ý định mời các tiến sỹ trẻ đang làm việc ở nước ngoài về Trung tâm.  Cả mấy gương mặt anh nhắm tới đều là những bạn bè quen biết và từng theo học ĐH Khoa học tự nhiên, nghĩa là đều có chút gì đó gắn bó với trường. Tuy nhiên để thực sự thuyết phục họ trở về, TS. Thuật phải chân thành chia sẻ với họ những suy nghĩ của mình: trước sau rồi ai cũng nên về, tại sao không về đúng thời điểm này, khi có sự ủng hộ gần như tuyệt đối của ĐH Quốc gia Hà Nội và có được điều kiện làm việc rất tốt. Vẽ lên bức tranh tươi sáng như vậy nhưng TS. Thuật vẫn không quên “nhắc nhở”, ĐH Quốc gia Hà Nội chỉ tạo ra môi trường nghiên cứu nhưng sẽ không có ưu đãi về tài chính, vì vậy ai cũng cần lên kế hoạch tìm nguồn tài trợ kinh phí để thực hiện nghiên cứu.  Không ngờ, những phân tích rất thực tế của TS. Thuật đã đánh trúng tâm lý ba tiến sỹ trẻ và thuyết phục họ đầu quân cho NEC: Hoàng Ngọc Lam Hương từ Nhật Bản về năm 2013, Nguyễn Quốc Hưng từ Phần Lan – năm 2014 và Đặng Văn Sơn ở Anh – năm 2015. Khi phòng sạch chính thức hoạt động vào năm 2015, NEC đã có tới bốn nhân vật trẻ chủ chốt: TS. Thuật phụ trách nhánh nghiên cứu về năng lượng mặt trời và cảm biến, TS. Sơn – thiết bị khai thác năng lượng vi mô, TS. Hưng – chế tạo vi thiết bị làm lạnh và TS. Hương – chế tạo màng mỏng phản xạ hồng ngoại.  Bốn nhà nghiên cứu trẻ đã đem lại sức sống cho NEC. Phòng sạch được họ sử dụng một cách tối đa cho nghiên cứu. Để phân bổ thời gian làm việc một cách hợp lý, TS. Thuật đã thiết lập một hệ thống đặt lịch online “được chuẩn hóa dần theo thời gian”, anh ví dụ, “với máy phún xạ, thiết bị quan trọng mà gần như mọi đề tài của Trung tâm đều phải làm trên đó, mỗi nhóm chỉ được dùng tối đa không quá ba ngày trong hai tuần liên tiếp”. Dù phải tuân thủ theo lịch trình nhưng không ai cảm thấy bó buộc bởi đây cũng là cách giúp họ tối ưu hóa quỹ thời gian cũng như kế hoạch nghiên cứu của mình.  Sự gắn bó với công việc và niềm tự hào về cơ sở nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ đã lan sang các học viên cao học và sinh viên học việc ở NEC. Ngô Văn Lập, sinh viên Đại học KH&CN, Hà Nội (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) sang NEC một thời gian ngắn đã từ chối chuyến thực tập ba tháng tại Pháp theo tiêu chuẩn của trường vì không muốn gián đoạn nghiên cứu về cảm ứng hồng ngoại mà Lập đang thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Thuật. Nguyễn Văn Bình, một sinh viên ĐH KH&CN Hà Nội khác do TS. Trần Đình Phong gửi sang nhóm của TS. Sơn, cũng tự hào nói khi bạn cùng trường kể về việc đi thực tập ở nước ngoài: “chẳng phải đi đâu xa, tớ cứ ở Việt Nam mà thực tập tại một nơi có thầy và phòng thí nghiệm ‘xịn’ chẳng kém nước ngoài”.  Gây dựng uy tín học thuật  Điểm mạnh của NEC là tạo điều kiện tối đa cho các nhà nghiên cứu làm việc trong một môi trường “cạnh tranh” bình đẳng và thẳng thắn nêu quan điểm mà không phải “rào trước đón sau”, nhờ vậy họ có thể sớm nhập cuộc mà không phải mất thời gian tự mò mẫm tìm đường đi. Không hiếm tiến sỹ trẻ sau khi về nước phải loay hoay vài năm trời, đơn cử trường hợp GS.TS Nguyễn Văn Hiếu (Viện ITIMS, ĐH Bách khoa Hà Nội), giải thưởng Tạ Quang Bửu 2016, về nước năm 2004 nhưng tới bốn năm sau mới có công bố quốc tế và năm năm sau mới có cơ hội chủ trì đề tài Quỹ Nafosted. Trong khi đó, cả bốn tiến sỹ trẻ của NEC có công bố ISI và được xét duyệt đề tài Quỹ Nafosted sau một thời gian ngắn về nước. Lần đầu chủ trì đề tài Nafosted, họ được Quỹ ưu tiên tăng thời gian thực hiện từ hai năm lên ba năm, tuy vậy TS. Thuật và TS. Hưng đều xuất sắc hoàn tất đề tài trước thời hạn một năm, thậm chí TS. Thuật còn có bốn công bố ISI thay vì hai như yêu cầu chung của Quỹ.  Sau hai năm phòng thí nghiệm chính thức hoạt động, các tiến sỹ trẻ cũng đạt được số công bố ISI ở mức khả quan (năm 2016 có 13 công bố, tăng gần gấp ba lần so với năm 2015), đồng thời có kinh phí duy trì hoạt động và trả lương cho nghiên cứu viên, sinh viên. Giới nghiên cứu đã biết đến NEC, nhiều sinh viên trong nước và quốc tế bắt đầu đăng ký thực tập tại đây. Để giữ được chất lượng nghiên cứu và đào tạo, hiện cả bốn trưởng nhóm đều thống nhất nhận một con số vừa phải là 15 sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh từ nhiều trường trong và ngoài ĐH Quốc gia Hà Nội – tạm thời nhóm chưa có “chính sách” nhận nghiên cứu sinh nước ngoài.  Thoạt nhìn bên ngoài, mọi thứ như được xếp đặt sẵn cho các nhà nghiên cứu trẻ nhưng trên thực tế họ cũng phải trải qua những trở ngại và cú “sốc” nho nhỏ. Theo lời kể của TS. Thuật, sau khi hoàn tất đề tài Nafosted, anh gửi công bố “Phát xạ huỳnh quang dựa trên hấp thụ ba photon của vật liệu perovskites” (Three-photon absorption induced photoluminescence in organo-lead mixed halide perovskites) tới tạp chí Applied Physics Letters, nơi đã xuất bản bài báo đầu tiên của anh năm 2005 khi theo học ĐH Bách khoa Paris. Bài báo tốt, vật liệu do nhóm của PGS.TS Lại Ngọc Điệp tại phòng thí nghiệm trường Sư phạm Cachan (Pháp) đo đạc, nhưng công trình vẫn bị loại mà không cần phản biện. Nguyên nhân chủ yếu là tạp chí này vẫn chưa thật tin tưởng vào một công trình thực nghiệm được thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam. Dù sau đó bài báo đã được gửi xuất bản tại một tạp chí khác nhưng với TS. Thuật, đây chỉ là biện pháp tình thế, “về lâu dài, chúng tôi tiếp tục làm tốt từ những khâu nhỏ nhất để góp phần xây dựng uy tín cho NEC và đưa Trung tâm trở thành một trong những điểm nghiên cứu về công nghệ nano ở tầm quốc tế”.  ————  1. Một phòng sạch hay một không gian sạch là một hoặc nhiều căn phòng hay một khu vực được kiểm soát về bụi, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ ồn, độ rung, trong đó mật độ các hạt bụi trong không khí được kiểm soát một cách nghiêm ngặt theo các thông số cần thiết đã được xác định giới hạn để phục vụ cho một nhu cầu cụ thể. Phòng sạch được dùng để thực hiện các nghiên cứu trong lĩnh vực y dược, sinh học, bán dẫn, vi điện tử, công nghệ nano và công nghệ vũ trụ.  2. http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/dau-tu-cho-nhung-gi-that-su-thiet-thuc-8924       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nền kinh tế ĐMST: Không vội trông chờ đổi mới cấp tiến      Việt Nam cần những đổi mới dần dần chứ không thể ngay lập tức có các đột phá công nghệ như những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đây là nhận định chung của các diễn giả tại hội thảo “Hướng tới nền kinh tế dựa vào ĐMST: Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế” do Dự án “Đẩy mạnh ĐMST thông qua Nghiên cứu, KH&CN – FIRST” phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (NISTPASS) tổ chức ngày 14/3 vừa qua.      Ca sĩ Justin Bieber giới thiệu mROBO của Tosy ở Hội chợ công nghệ điện tử quốc tế CES 2012  Trong thời kỳ chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, quốc gia nào có năng lực ĐMST cao sẽ có nhiều cơ hội vươn lên phát triển bền vững, do đó, nền kinh tế dựa vào hiệu suất của Việt Nam dù đã tăng trưởng tốt trong quá khứ nhưng không còn phát huy được ưu thế vào thời điểm hiện tại. Việt Nam đã bắt đầu rơi vào bẫy thu nhập trung bình và chỉ có thể thoát khỏi điều đó bằng việc thúc đẩy các hoạt động ĐMST và nâng cao giá trị sản phẩm. Hiện Việt Nam đã có một số sản phẩm bắt đầu có sức cạnh tranh toàn cầu như thiết bị dược Tiến Tuấn – xuất khẩu đi Đức, Tây Ban Nha, Anh, Thụy Điển, Úc, Brazil và một số nước châu Á, sản phẩm đồ chơi Tosy – thường xuyên tham gia các triển lãm toàn cầu và nhận các giải thưởng quốc tế như Best of CES (Washington Post 2012), Best of CES (Huffington Post 2012)…  Tuy nhiên những sản phẩm này vẫn còn quá đơn lẻ, nguyên nhân là do Việt Nam mới chỉ trong giai đoạn công nghiệp hóa – hấp thụ công nghệ, kỹ thuật tiến bộ của nước ngoài nên không thể ngay lập tức tạo ra được các sản phẩm đột phá, có sức cạnh tranh toàn cầu như các nước OECD. Vì thế, Việt Nam cần định hướng các sản phẩm ứng dụng, tập trung vào các đổi mới trên thị trường nội địa, dần thay thế việc nhập khẩu ở một số ngành tiêu dùng và công nghiệp như sản xuất nước mắm, dược hóa chất, xe máy, máy biến áp… và để thành công, việc đổi mới phải thực hiện từng bước nhỏ nhưng liên tục. TS. Michael Braun (Công ty tư vấn Proneos) gợi ý, áp dụng việc đổi mới theo cách này phải để xây dựng các hệ thống ĐMST vùng, thực hiện thí điểm sau đó nhân rộng ra. Ông giải thích, việc tương tác, trao đổi thông tin thường xuyên giữa các bên tham gia rất quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm, ý tưởng mới. Vì vậy, cần tập trung các công ty trong cùng ngành hoặc ngành liên quan kết nối với nhau trong một khu vực địa lý nhỏ như mô hình “Pôle de Compétivité” (Nhóm cạnh tranh) ở Pháp hay cụm liên kết ở Đức.  Khi thúc đẩy hoạt động ĐMST thì một trong những vấn đề nảy sinh là cần đánh giá chất lượng của các hoạt động này? Theo ông Nguyễn Võ Hưng (NISTPASS), việc đánh giá hoạt động ĐMST tại Việt Nam còn một số hạn chế, trong đó có việc chỉ dựa vào các mô hình của nước ngoài trong khi hầu hết các mô hình và chỉ số đánh giá ĐMST trên thế giới là do các nước thuộc khối OECD xây dựng, nên nó chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở các quốc gia này. Vì vậy khi áp dụng cách đánh giá của quốc tế tại Việt Nam, cần tính tới những đặc thù của các nước đang phát triển như chất lượng thể chế còn yếu, năng lực của doanh nghiệp còn giới hạn… Bổ sung thêm vào ý kiến này, giáo sư Stefan Kuhlmann (trường đại học Twente, Hà Lan) cho rằng, thất bại về mặt lý thuyết – gồm cả việc bỏ qua các yếu tố quan trọng của bối cảnh kinh tế – xã hội là một trong những nguyên nhân giải thích vì sao ở các nước đang phát triển, các tri thức, KH&CN và đổi mới chưa góp phần đáng kể vào tốc độ phát triển kinh tế như kỳ vọng. Việc áp dụng mô hình không phù hợp sẽ dẫn đến những nhận định sai lầm, hậu quả là không chỉ không giải quyết được các vấn đề hiện có ở các quốc gia đang phát triển mà còn tạo ra các vấn đề mới.     Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Nền kinh tế nhìn từ những động lực      Cả hai mục tiêu Chính phủ đặt ra cho năm 2013 là tăng trưởng cao hơn, lạm phát thấp hơn đều đạt được. Tăng trưởng năm 2013 đạt 5,4%, xấp xỉ năm 2012. Lạm phát năm 2013 cũng thấp hơn năm 2012. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng vẫn dựa vào đầu tư. Đầu tư năm 2012 là 30,5% và năm 2013 cũng trên dưới 30%. Tổng cầu tiêu dùng cũng tương đương năm 2012, khoảng 5% nếu loại trừ yếu tố giá.     Kinh tế đối ngoại năm 2013 vẫn theo xu thế xuất khẩu vẫn tăng mạnh, nhập khẩu tăng chậm. Nửa đầu năm nhập khẩu tăng nhưng đến nửa cuối năm lại tăng chậm lại. Tình hình lặp lại như năm 2012, cân đối về đối ngoại gần như cân bằng về cán cân thương mại, kéo theo đó là có thặng dư về cán cân thanh toán, bổ sung dự trữ ngoại hối khá mạnh cho năm 2013.  Một điểm nữa của năm 2013 là trong khi khu vực nhà nước và khu vực tư nhân khó khăn thì động lực tăng trưởng và xuất khẩu chủ yếu rơi vào tay các DN có vốn đầu tu trực tiếp nước ngoài (FDI).  Tỷ lệ đầu tư dịch chuyển theo hướng cao hơn so với các năm trước khoảng 25% trong tổng đầu tư. FDI tốt hơn cả ở cam kết và giải ngân, tăng gấp đôi so với năm trước. Xuất khẩu cũng tương tự, khu vực trong nước chỉ tăng 3,6% trong khi khu vực FDI tăng gần 20%.  Việt Nam vẫn đặt vấn đề phải tăng trưởng nhưng do phải xử lý bất ổn kinh tế vĩ mô nên buộc phải chấp nhận tăng trưởng thấp. Các biện pháp hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô và trong một chừng mực nhất định không muốn ảnh hưởng quá mạnh, quá nhiều đến tăng trưởng kinh tế.  Tuy nhiên, do tăng trưởng kinh tế vẫn dựa vào hai đầu tàu là đầu tư và xuất khẩu, nên khi đầu tư rơi từ mức trên 40% xuống còn hơn 30% GDP như hiện nay, cộng với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.  Khu vực tư nhân bên cạnh khu vực FDI bắt đầu trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, nhưng suốt từ năm 2011 khi xảy ra bất ổn kinh tế vĩ mô, khu vực tư nhân bị co hẹp rất nhanh. Mỗi một năm khoảng 50.000 doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động là có báo cáo, chưa tính số doanh nghiệp không báo cáo.  Như vậy, trong phần động lực tăng trưởng của giai đoạn tới, nếu không đặt lại vai trò của kinh tế tư nhân, sẽ xảy ra tình trạng khu vực FDI lấn át khu vực kinh tế trong nước. Khi đó, khu vực kinh tế nhà nước dù có muốn hay không thì cũng rất khó khẳng định được vai trò trong tương quan so sánh với đầu tư nước ngoài.  Kinh tế vĩ mô ổn định cần dựa trên nhiều tiêu chí. Thứ nhất, liên quan đến lạm phát, từ cuối năm 2012 đã đánh giá được là năm 2013 lạm phát chỉ dưới 7% và trên đà đó, đặt cho cả mục tiêu năm 2014 – 2015 cũng dưới 7%. Như vậy, về cơ bản tốc độ lạm phát đó so với thời gian trồi sụt và lên rất cao mà đỉnh là 2008 – 2011 xấp xỉ 20% một năm, thì mức 7% là chấp nhận được. Nếu ổn định kéo dài một vài năm, có thể khẳng định kiểm soát lạm phát của Việt Nam là tốt.  Thứ hai, liên quan đến các cán cân, rõ ràng với một nước định hướng xuất khẩu như Việt Nam, trước đây thâm hụt thương mại rất lớn, năm 2009 – 2010 thâm hụt thương mại lên tới gần 20 tỷ USD, bây giờ thâm hụt thương mại không những giảm mà còn có thặng dư trong một số tháng. Như thế là tốt, có cân đối bên ngoài, có thặng dư của tài sản vốn, có thặng dư cán cân thanh toán và một yếu tố lớn nữa là đã có cân bằng đối ngoại.  Thứ ba, liên quan tới tài khóa chủ yếu liên quan đến thâm hụt ngân sách. Năm 2012, theo báo cáo, thâm hụt vẫn giữ được ở mức 4,8 và năm 2013 tăng lên mức 5,3 và dự định kéo dài đến 2014 – 2015. Thực ra, tăng mức thâm hụt ngân sách 4,8-5,3% không phải là lớn, nên tạm thời có thể yên tâm về cân đối ngân sách nhà nước.  Thứ tư, liên quan đến hệ thống ngân hàng, sau giai đoạn bùng nổ tín dụng, khi quy mô tín dụng tăng nhanh hơn quy mô huy động vốn, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào hai trạng thái, đối đầu với hai chuyện thanh khoản và nợ xấu. Năm 2013 bước đầu tiến hành xử lý nợ xấu và cơ bản xử lý được thanh khoản của các ngân hàng, tạo ra cân đối tiền tệ tốt hơn. Đặc biệt, tốc độ tăng của khối huy động cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khối tín dụng, tái lập lại tính ổn định của tính thanh khoản, kiểm soát tốt hơn nợ xấu của hệ thống ngân hàng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế sinh học      Ngay từ những năm 1920-1930 Henry Ford đã có ý tưởng dùng ethanol để chạy ô tô thay cho xăng và trong thực tế đã có ô tô chạy bằng nhiên liệu từ củi gỗ. Thế nhưng chỉ trong khoảng 10-20 năm gần đây người ta đã suy nghĩ về một nền kinh tế vận hành dựa trên việc áp dụng các thành tựu sinh học ở cấp độ cao.    Từ điển Wikipedia đưa ra định nghĩa như sau: Thuật ngữ “biobased economy” “Kinh tế nền tảng sinh học” dùng để nói mọi hoạt động kinh tế bắt nguồn từ hoạt động nghiên cứu khoa học tập trung vào công nghệ sinh học, tức là dựa trên hiểu biết về các cơ chế và các quá trình ở cấp phân tử và di truyền và các ứng dụng của chúng trong sản xuất công nghiệp.  Như vậy, về cơ bản, kinh tế nền tảng sinh học là bước tiến triển tiếp theo của nền công nghiệp dựa trên công nghệ sinh học, trong đó đã có được các hiểu biết và thao tác vật liệu di truyền nhờ các bước đột phá trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Trong bước tiến triển này các thành tựu trong công nghệ sinh học sẽ mở rộng tác động của mình trong/sang các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, công nghiệp hóa chất và công nghiệp năng lượng.   Cấu trúc Kinh tế nền tảng sinh học  Theo Ralph W.F. Hardy, trong Thế kỷ XXI nền kinh tế nền tảng sinh học sẽ đóng vai trò tương tự như nền kinh tế dựa vào nguyên/nhiên liệu hóa thạch trong Thế kỷ XX. Thay cho nguyên/nhiên liệu hóa thạch sẽ là các nguyên liệu có nguồn gốc nông nghiệp. Chúng sẽ tạo ra nhiên liệu và các sản phẩm hóa chất và các vật liệu khác.    Ralph W.F. Hardy thể hiện ý tưởng về nền kinh tế nền tảng sinh học như hình bên, theo đó:    – Nền kinh tế nền tảng sinh vật sẽ bao hàm an ninh quốc gia, kinh tế, môi trường và sức khỏe.  – Những điều này đạt được nhờ bảo đảm lương thực/thực phẩm, hóa chất, nguyên vật liệu.  – Các yếu tố này được bảo đảm nhờ các thành tựu khoa học – công nghệ, hệ thống chính sách và hoạt động đầu tư.  – Đầu vào cho các yếu tố này là nông sản bao gồm các nông sản truyền thống và mới.  Xuất phát từ sinh khối có nguồn gốc nông sản: khí sinh học, đường, dầu, chất sợi và các nguyên liệu bổ sung người ta có thể sản xuất ra nhiên liệu (năng lượng), thực phẩm chăn nuôi và các nguyên liệu sinh học khác.  Các kỹ thuật chuyển hóa cũng là truyền thống, bao gồm:  – Phân hủy kị khí là các quá trình trong đó vi sinh vật tách hủy các vật phẩm trong điều kiện thiếu oxy.  – Nhiệt phân là quá trình phân tách nhiệt hóa các thành phần hữu cơ dưới nhiệt độ cao trong môi trường có oxy.  – Hầm nướng là quá trình được tiến hành ở môi trường có nhiệt độ trong khoảng 200-320°C trong đó sinh khối sẽ được làm khô kiệt, không còn hoạt tính sinh học và do đó có được nhiệt lượng tốt hơn.  – Lên men là quá trình thường áp dụng để chuyển hóa hydro cacbon thành cồn rượu, dioxit cacbon và các axit hữu cơ.  – Tinh chế sinh học là quá trình (hiện được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu) cho phép chuyển hóa sinh khối để sản xuất nhiệt, nhiên liệu và các loại hóa chất.   Các tính toán sơ bộ cho thấy sinh khối từ nông phẩm trên 1 ha sẽ cho khoảng 16.800 lít ethanol và nếu chuyển sang làm nhiên liệu thì hoàn toàn không nhỏ.   Các sản phẩm có giá trị cao được sản xuất theo các kỹ thuật này bao gồm: hóa chất và dược phẩm chất lượng cao; thực phẩm; nhiên liệu dùng cho các phương tiện giao thông; sản xuất nhiệt và điện.  Như vậy có thể thấy rằng sử dụng sinh khối trên cơ sở áp dụng các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến cho phép thay thế rất nhiều sản phẩm có nguồn gốc hóa thạch.    Chuyển hướng sang Kinh tế nền tảng sinh học  Điều đáng chú ý là ở hầu hết các nước phát triển, đặc biệt là ở Bắc Âu, người ta đã chú ý tới vấn đề này từ lâu. Họ có nền công nghệ sinh học phát triển và nhiều ngành công nghệ phụ trợ khác hỗ trợ tốt cho quá trình này. Tuy thuận lợi nhưng sự phát triển này cũng đi từng bước chắc chắn. Họ có các thành tựu then chốt trong công nghệ sinh học áp dụng cho công nghiệp và môi trường.   Theo cấu trúc trên Figure 1 thấy rõ rằng sau khi xác định sinh khối là nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế nền tảng sinh học thì bước tiếp theo là sự kết hợp của ba yếu tố: i) khoa học – công nghệ, ii) chính sách, và iii) đầu tư.  Các nước trong OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development – Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển) đã có các chương trình quan trọng tiến tới nền kinh tế này.  Cụ thể Báo cáo về Kinh tế nền tảng sinh học – Tầm nhìn 2030 (The Report on Bioeconomy 2030) đã thúc đẩy quá trình thiết kế khung chính sách tập trung vào các ứng dụng công nghệ sinh học cho các lĩnh vực sản xuất chính yếu, chăm sóc sức khỏe và công nghiệp. Trọng tâm cho các hoạt động sẽ là phát triển và áp dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực lương thực – thực phẩm, nông – lâm nghiệp, thủy – hải sản.  Các nước quan tâm đã xác định cho mình một quá trình chuyển tiếp có tên là Sáng kiến BE-BASIC  (viết tắt của Bio-based Ecologically Balanced Sustainable Industrial Chemistry – Công nghiệp hóa học bền vững, cân đối về mặt sinh thái và dựa trên nền tảng sinh học). Mục tiêu hàng đầu của chương trình này là tìm kiếm, phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo và nhiên liệu sinh học và giải quyết một lượng lớn phế thải trong nông ngiệp.  Ngoài ra các yếu tố vĩ mô cũng thúc đẩy (có tính bắt buộc) sự chuyển hướng này. Thế giới sẽ có khoảng 9 tỷ người vào năm 2050. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là nhiên liệu hóa thạch, ngày càng cạn kiệt. Sự phát triển vượt bậc của kinh tế thế giới trong Thế kỷ XX hoàn toàn dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ, về thực chất, thúc đẩy mạnh quá trình khai thác thiên nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.   Hiện nay có thể nhận thấy rằng Loài người càng làm thì càng lạm vào Thiên nhiên. Có thể Kinh tế nền tảng sinh học sẽ dẫn đến một cách thức khác Loài người ứng xử với Thiên nhiên: Không khai thác Thiên nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình mà tồn tại và phát triển hài hòa với Thiên nhiên. Loài người chỉ là một mắt xích trong Tự nhiên.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc      Bài viết của John A. Mathew và Hao Tan đăng trên Tạp chí Nature cho thấy mặc dù Trung Quốc là nơi tiêu tốn tài nguyên và tạo ra nhiều rác thải nhất thế giới, nhưng đây cũng là một trong những quốc gia có những giải pháp tiến bộ nhất.    Trung Quốc là một trong những quốc gia thải ra nhiều rác nhất thế giới.  Trung Quốc là một nước tiêu tốn tài nguyên của thế giới ở mức độ đáng quan ngại. Để sản xuất ra 46% lượng nhôm toàn cầu, 50% lượng sắt và 60% lượng xi măng của thế giới vào năm 2011, Trung Quốc đã tiêu thụ một số lượng nguyên vật liệu thô nhiều hơn so với 34 quốc gia trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gộp lại: 25,2 tỉ tấn. Nhưng tính hiệu quả trong sử dụng tài nguyên của quốc gia này lại rất thấp khi cần đến 2,5 kg nguyên vật liệu để tạo ra 1 USD trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), so với mức 0,54 kg trong các quốc gia OECD. Trung Quốc cũng là quốc gia rất hoang phí tài nguyên khi năm 2014 tạo ra 3,2 tỉ tấn rác thải rắn công nghiệp, trong đó chỉ có 2 tỉ tấn được khôi phục lại bằng tái chế, chế thành phân trộn, thiêu hủy hoặc tái sử dụng. Trong khi đó, các doanh nghiệp và các hộ gia đình ở 28 quốc gia thuộc Liên minh châu Âu tạo ra 2,5 tỉ tấn rác thải trong năm 2012, trong đó 1 tỉ tấn được tái chế hoặc sử dụng làm năng lượng. Dự đoán tới năm 2025, Trung Quốc sẽ sản sinh ra gần 1/4 lượng rác thải rắn trong khu vực đô thị trên thế giới.  Mức độ rác thải như trên gây ra rất nhiều hậu quả cả về môi trường tự nhiên cũng như xã hội. Tháng 12/2015, một vụ lở đất ở một bãi rác ở Thâm Quyến đã làm thiệt mạng 73 người. Trong những năm qua, số lượng các cuộc biểu tình của người dân các địa phương về các dự án thiêu hủy rác thải ở Trung Quốc cũng gia tăng. Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó, trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã có những giải pháp tái tuần hoàn các nguyên vật liệu phế thải với cái đích hướng đến cuối cùng là xây dựng một “nền kinh tế tuần hoàn” – lấp đầy các lỗ hổng về công nghiệp để biến sản phẩm đầu ra từ một nhà sản xuất thành sản phẩm đầu vào cho nhà sản xuất khác, qua đó làm giảm lượng tiêu thụ nguyên vật liệu ban đầu cũng như lượng rác thải.  Những kế hoạch tham vọng  Từ thập kỷ 1990 khi Đức và Nhật Bản có các luật về tái chế thì Trung Quốc cũng bắt đầu quan tâm tới việc phát triển kinh tế tuần hoàn. Năm 2005, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ra một văn bản chính sách thừa nhận những rủi ro về kinh tế và môi trường trong việc khai thác tài nguyên quá mức ở quốc gia này, đồng thời cho rằng nền kinh tế tuần hoàn là phương tiện chủ đạo để đối phó với những rủi ro đó. Sau đó, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC), đơn vị lên kế hoạch của Trung Quốc, và các cơ quan khác như Bộ Bảo vệ Môi trường đã xây dựng nên các nguyên tắc của nền kinh tế tuần toàn và thúc đẩy các mô hình cộng sinh công nghiệp. Kèm theo đó, Trung Quốc cũng đã có các chính sách về thuế, tài chính và hình thành một quỹ hỗ trợ để khuyến khích phát triển kinh tế tuần hoàn.  Bản Kế hoạch Năm năm lần thứ 11 của Trung Quốc (giai đoạn 2006 – 2010) dành hẳn một chương để bàn về nền kinh tế tuần hoàn. Năm 2008, một luật bảo vệ nền kinh tế tuần hoàn ra đời trong đó yêu cầu các cơ quan ban ngành nhà nước ở cấp địa phương phải cân nhắc đến những vấn đề liên quan trong các chiến lược đầu tư và phát triển, với các ngành được nhắm đến là than, sắt, điện tử, hóa chất và xăng dầu. Tiếp theo, nền kinh tế tuần hoàn được nâng lên thành một chiến lược phát triển quốc gia trong Kế hoạch Năm năm lần thứ 12 (giai đoạn 2011 – 2015), với những mục tiêu cụ thể như tới năm 2015 đạt mức tái sử dụng 72% chất thải rắn công nghiệp và gia tăng 15% hiệu suất nguồn lực (đầu ra kinh tế trên đơn vị nguồn lực sử dụng).  Năm 2013, Hội đồng Nhà nước ra một chiến lược quốc gia để xây dựng nền kinh tế tuần hoàn – một chiến lược đầu tiên trên thế giới – với những mục tiêu cụ thể, như đến 2015 tăng hiệu suất sử dụng năng lượng (GDP trên đơn vị năng lượng) 18,5% so với năm 2010; nâng cao hiệu suất sử dụng nước 43%; đầu ra của ngành công nghiệp tái chế đạt 1,8 vạn nhân dân tệ (276 tỉ USD) so với 1 vạn nhân dân tệ năm 2010, v.v.  Năm ngoái, Tổng cục Thống kê Trung Quốc đã phân tích tiến độ thực hiện của quốc gia này kể từ năm 2005 trên bốn phương diện: mật độ nguồn lực (nguồn lực sử dụng trên đơn vị GDO), mật độ rác thải (rác thải trên đơn vị GDP), tỉ suất tái chế rác thải và tỉ suất xử lý chất ô nhiễm. Kết quả cho thấy, tới năm 2013, mật độ sử dụng tài nguyên và mật độ rác thải đã cải thiện lần lượt là 34,7% và 46,5%. Tỉ suất xử lý chất ô nhiễm, bao gồm nước thải, khử độc chất thải khu dân cư đô thị và giảm các chất gây ô nhiễm chính, cũng gia tăng tới 74,6%. Các số liệu thống kê của OECD cho thấy mật độ sử dụng tài nguyên của Trung Quốc đã giảm: từ 4,3kg nguyên vật liệu trên đơn vị GDP năm 1990 xuống còn 2,5kg năm 2011. Tuy nhiên, tổng mức tiêu thụ tài nguyên của Trung Quốc đã tăng năm lần trong hai thập kỷ qua, từ 5,4 tỉ tấn lên 25,2 tỉ tấn do sự bùng nổ về kinh tế của quốc gia này.  Thách thức chủ yếu trong việc xây dựng nền kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc là làm sao gắn kết các doanh nghiệp có mối liên hệ trong các chuỗi cung ứng tham gia hợp tác chuyển sản phẩm đầu ra thành vật liệu đầu vào. Với truyền thống quản lý các khu công nghiệp thông qua các cơ quan chính phủ và địa phương, giải pháp của Trung Quốc là nhà nước đưa ra các chính sách thưởng cho các doanh nghiệp tham gia hợp tác – mặc dù vẫn có những quan điểm không hoàn toàn đồng tình với xu hướng chính sách mang tính quản lý tập trung từ trên xuống (top down) như vậy. Lợi ích kinh tế đạt được cho các bên là khá rõ ràng. Các nguyên vật liệu thô tái chế, tái sản xuất, và có nguồn gốc địa phương thường rẻ hơn, do đó giúp gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ở tầm nhìn quốc gia, việc ngày càng tận dụng các nguyên vật liệu “cây nhà lá vườn” để thay thế các nguồn nhập khẩu đã giúp an ninh tài nguyên của Trung Quốc cũng được nâng cao.  Ngọc Khánh lược dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/circular-economy-lessons-from-china-1.19593    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế xanh đã bắt đầu      Thế kỷ qua đã diễn ra ba quá trình chuyển đổi kinh tế to lớn. Sau cuộc cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng công nghệ và cuối cùng là giai đoạn toàn cầu hóa hiện đại mà chúng ta đang trải qua. Giờ đây chúng ta đang đứng trước cái ngưỡng của một cuộc cách mạng mới đó là kỷ nguyên của nền kinh tế xanh.    Chúng ta đã đọc và khoa học cũng  đã nói với chúng ta: Sự thật là trái đất đang nóng lên ở khắp mọi nơi và con người là một trong những tác nhân chính gây nên tình trạng đó.  Chúng ta cũng đã nghe về những lời cảnh báo: Nếu ngay bây giờ chúng ta không ra tay hành động, thì chúng ta phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng. Băng tan có thể diễn ra ở Bắc cực. Mặt nước biển có thể dâng cao. Một phần ba các loại động, thực vật có khả năng bị biến mất. Thế giới, đặc biệt châu Phi và vùng Trung Á có khả năng bị nạn đói đe dọa. Những thông tin tốt lành thường bị lắng xuống trong các cuộc thảo luận, tranh cãi sôi nổi: chúng ta có thể làm một số việc – những việc làm này thường dễ thực hiện và cũng không tốn kém lắm như phần lớn chúng ta thường nghĩ.  Những điều trên là đánh giá trong báo cáo gần đây nhất của nhóm chuyên gia thuộc nhiều nước về biến đổi khí hậu, chính tập thể các nhà khoa học này mới đây đã được trao giải thưởng Nobel Hòa bình. Bản báo cáo này tuy rất đáng lo ngại nhưng mặt khác người ta cần nhận thấy, suy cho cùng thì kết luận của báo cáo vẫn toát lên sự lạc quan. Tôi xin nhắc lại kết luận của bản báo cáo đó: chúng ta có thể khắc phục được, và chúng ta có thể khắc phục theo cách không những không quá tốt kém  mà còn góp phần nâng cao sự phồn vinh.  Trong tuần này các chính khách hàng đầu thế giới sẽ có cuộc gặp gỡ tại Bali.  Chúng ta nhất định phải đạt được một sự đột phá: có một sự thoả thuận toàn diện về biến đổi khí hậu với sự tham gia của mọi quốc gia. Chúng ta cần phải  đặt ra một chương trình, phải có một kế hoạch nhiều bước cho con đường tiến đến một tương lai tốt đẹp hơn, từ nay đến năm 2009 cần phải đạt được một sự nhất trí về chương trình này.  Câu trả lời nằm trong sự  đa dạng của các giải pháp   Chúng ta chưa biết loại thoả thuận này sẽ có  hình hài như thế nào. Sẽ đánh thuế đối với khí thải gây hiệu ứng nhà kính hay sẽ tạo nên một hệ thống thương mại quốc tế về  khí  thải? Phải chăng cần xây dựng các cơ chế để ngăn cản việc chặt phá rừng, điều này là nguyên nhân gây 20%  lượng khí thải CO2, hay cần có sự hỗ trợ đối với những nước đang phát triển yếu kém trong việc thích nghi với những biến đổi không thể tránh khi trái đất nóng lên và những nước này lại bị ảnh hưởng nặng nề nhất? Cần phải tiết kiệm năng lượng và đặc biệt chú trọng đến nhiên liệu tái sinh như sinh khối hay năng lượng hạt nhân và có cần điều chỉnh sự chuyển giao công nghệ “xanh” mới đối với tất cả các nước. Tất nhiên câu trả lời  lại phụ thuộc vào sự đa dạng của các giải pháp đã nêu ở trên hoặc của nhiều giải pháp khác nữa. Nhưng một khi cuộc thương lượng về các vấn đề này sa vào tình trạng bế tắc  thì chúng ta sẽ bị mất cái quý giá nhất, đó là thời gian. Sự việc sẽ có lợi hơn, nếu chúng ta suy nghĩ tương lai sẽ ra sao, một khi  cuộc thương lượng của chúng ta sớm đi đến thành công. Thế giới sẽ không những sạch sẽ hơn, lành mạnh hơn  mà còn an toàn hơn đối với tất cả chúng ta. Nếu chúng ta tiến hành một cuộc đấu tranh đúng đắn chống lại sự nóng lên trên toàn cầu, chúng ta có thể chuẩn bị đặt nền tảng cho một sự chuyển hóa nền kinh tế thế giới theo hướng thân thiện với môi trường hơn, điều đó kích thích tăng trưởng và phát triển chứ không gây cản trở, ách tắc như nhiều chính khách thường lo lắng.  Trung Quốc –  một quốc gia đi đầu về năng lượng mặt trời và  năng lượng gió            Kỷ nguyên kinh tế xanh thực sự đã bắt đầu ở nơi này, nơi khác: tại Trung tâm  Rockefeller ở  New York  mới đây người ta đã lắp đặt hệ thống pin  mặt trời để thắp sáng cây thông Noel tryền thống với tinh thần bảo vệ sinh thái.          Những dấu hiệu về sự thay đổi  đang diễn ra ở khắp mọi nơi và thường ở những địa điểm bất ngờ.  Mới đây tôi viếng thăm Nam Mỹ và đã chứng kiến tận mắt Brazil đang trở thành một đất nước  trọng yếu của nền kinh tế xanh. Hiện nay Brazil thỏa mãn 44% nhu cầu năng lượng của mình bằng nguồn năng lượng tái sinh.  Trong khi đó bình quân của thế giới là 13% và bình quân của châu Âu là  6,1 %.  Cả thế giới đều cho rằng tới đây Trung Quốc sẽ vượt Mỹ và sẽ trở thành nước tạo nên nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính nhất thế giới. Ít ai biết rằng gần đây Trung Quốc có những nỗ lực to lớn để sử lý vấn đề ô nhiễm nặng nề ở nước này. Trong năm nay TQ đầu tư 10  tỷ USD vào lĩnh vực năng lượng tái sinh và điều đó có nghĩa là TQ chỉ đứng sau nước Đức.  TQ đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Tại cuộc gặp Thượng đỉnh các nước Đông Á ở Singapore, Thủ tướng TQ  Ôn Gia Bảo đã nói TQ sẽ giảm tiêu thụ năng lượng 20% trong vòng năm năm tới  (tính theo đơn vị trên BIP) –  điều này cũng không thua kém cam kết của Châu Âu đến năm 2020 giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính là 20%.  Đó chính là con đường dẫn đến tương lai. Theo ước đoán thì nhu cầu năng lượng  trong vòng 15 năm tới thông qua sử dụng các công nghệ hiện có, có thể giảm một nửa hoặc trên một nửa trong khi lợi suất đầu tư đạt 10% hoặc cao hơn. Báo cáo mới đây của  nhóm chuyên gia về khí hậu có đề cập đến các biện pháp áp dụng trong thực tiễn như  cần có các chỉ tiêu chặt chẽ đối với máy điều hòa không khí hoặc tủ lạnh và tăng hiệu suất sử dụng năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp, trong nhà ở và trong giao thông. Theo báo cáo thì trong vòng ba mươi năm tới có thể khắc phục được tác động của thay đổi khí hậu nếu hằng năm sử dụng 0,1 % BIP toàn cầu cho vấn đề này.    Giờ là lúc phải có các chính sách  Sự tăng trưởng sẽ không bị giảm sút; ngược lại tăng trưởng  có thể được thúc đẩy nhanh hơn.  Các nhà nghiên cứu đại học California ở Berkeley đi đến kết luận, nước Mỹ sẽ tạo được thêm 300.000 việc làm, nếu 20% nhu cầu về năng lượng của Mỹ được đáp ứng bằng năng lượng tái sinh. Một hãng tư vấn hàng đầu của Đức ở Muenchen dự  báo đến cuối những năm hai mươi này số lao động ở Đức làm việc trong ngành công nghệ môi trường sẽ đông hơn so với lực lượng lao động trong ngành công nghiệp sản xuất xe ô tô. Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc dự tính  đến năm 2020 đầu tư của toàn thế giới trong lĩnh vực năng lượng không có khí thải gây hiệu ứng nhà kính lên tới 1,9 nghìn tỷ USD. Đây là vốn khởi điểm đối với một cấu hình mới toàn diện của nền công nghiệp toàn cầu.  Hiện nay nhiều doanh nghiệp ở các nước đã lên tiếng yêu cầu nhà nước phải có chính sách rõ ràng đối với biến đổi khí hậu, có thể ở dạng các quy định, hạn chế khí thải  hay các định hướng  về sử dụng hiệu quả năng lượng. Lý do của các đòi hỏi này thật dễ hiểu, các doanh nghiệp cần có quy định về luật chơi cho hoạt động của mình. Liên hiệp quốc có thể có vai trò hỗ trợ trong vấn đề này.  Nhiệm vụ của chúng ta ở Bali và sau này là tham gia xây dựng quá trình chuyển đổi đang hình thành trên toàn cầu và mở rộng cánh cửa đối với  kỷ nguyên kinh tế xanh và phát triển xanh.   Điều còn thiếu là một khuôn khổ toàn cầu để chúng ta, các dân tộc trên thế giới, phối hợp các nỗ lực của mình trong cuộc đấu tranh chung chống lại sự biến đổi khí hậu trong cái khuôn khổ đó. Khoa học đã hoàn thành công việc của mình. Giờ đến lượt các chính khách. Khả năng lãnh đạo của  các chính phủ được thử thách ở Bali. Vậy chúng ta còn chờ đợi điều gì nữa đây?  Xuân Hoài dịch (Spiegel 3.12)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền nông nghiệp gia công: Thực trạng và giải pháp      Qua gần 30 năm đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc; nhưng hiện cũng còn tồn tại nhiều yếu kém, những động lực của ‘khoán 10’, ‘khoán 100’ không còn mấy tác dụng. Trước năm 1986, nông dân bỏ ruộng, và bây giờ, nông dân lại ‘chán ruộng’. Tăng trưởng GDP nông nghiệp có xu hướng giảm dần: GDP nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2000: 4,01%/năm, 2001 – 2005: 3,83%, 2006 – 2010: 3,03%, 2009 – 2013: 2,9%.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Đức Viên – Học viện Nông nghiệp Việt Nam về nguyên nhân và giải pháp của thực trạng trên.    Có người cho rằng nông nghiệp Việt Nam hiện thời mới là một “nền nông nghiệp gia công”. Ông có đồng tình với nhận định đó không?     Có lẽ cũng cần thống nhất cách hiểu về khái niệm “gia công” và “nông nghiệp gia công”.       Gia công được hiểu chỉ là bán mồ hôi với giá rẻ, công đoạn gia công là công đoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất trong chuỗi giá trị, và vì thế cần chấm dứt chuyện này càng sớm càng tốt. Nhưng không phải vì làm gia công nên Việt Nam nghèo, thu nhập của người lao động thấp, mà trái lại, chính vì chúng ta còn nghèo, thu nhập của người lao động thấp nên mới phải gia công. Mặt khác, còn phải thấy rằng kinh tế gia công là xu hướng của kinh tế toàn cầu, của phân công lao động toàn cầu, nước này làm gia công cho nước kia. Rất khó tìm ra một nước nào đó tự mình làm hết mọi công đoạn sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh. Vì thế không nên đổ oan rằng gia công chính là nguyên nhân gây ra những yếu kém mà kinh tế Việt Nam nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, đang mắc phải và chúng ta phải thoát ra càng sớm càng tốt.             Theo Bộ NN&PTNT, trong tổng giá trị nhập khẩu toàn ngành nông nghiệp năm 2013 là 18,84 tỷ USD, thì nhập khẩu vật tư nông nghiệp tiêu tốn tới 12,4 tỷ USD, tăng 13.1% so với năm 2012. Lượng thuốc BVTV nhập khẩu gia tăng khủng khiếp, nếu năm 2005 ta nhập khoảng 20 ngàn tấn, thì đến năm 2012 ta đã nhập tới 55 ngàn tấn, tiêu tốn 704 triệu USD và năm 2013 lên tới 778 triệu USD, tăng 11,2% so với năm 2012… Đại thể, ta phải nhập gần như 100% thuốc và nguyên liệu sản xuất thuốc BVTV, trong đó khoảng 90% nhập từ Trung Quốc. Tình trạng thức ăn chăn nuôi còn thê thảm hơn, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi năm 2013 đã tiêu tốn 3,08 tỷ USD, lớn hơn tiền ta thu về từ xuất khẩu gạo, tăng 22,3% so vơi năm 2012. Có người cho rằng, ngoài mảnh đất, chuồng trại và lao động sống, tuyệt đại đa số đầu vào của sản xuất nông nghiệp là của nước ngoài, dành dụm được đồng nào lại đi mua vật tư nông nghiệp của nước ngoài để tái sản xuất, vì thế nền nông nghiệp của ta về cơ bản vẫn là nền nông nghiệp gia công.          Trở lại với câu chuyện “nông nghiệp gia công”, nền nông nghiệp ấy không bao hàm ý nghĩa là một phần trong chuỗi giá trị toàn cầu, trong sự phân công lao động toàn cầu, mà thuật ngữ “gia công” ở đây được hiểu là nền nông nghiệp có các đặc trưng: Lao động thủ công là chính, năng suất lao động thấp và phụ thuộc vào thiên nhiên; Khai thác và bóc lột tài nguyên; Chất lượng sản phẩm không quy chuẩn, không lấy cầu thị trường làm mục tiêu và tiêu chuẩn sản xuất; Sản phẩm đưa ra thị trường có cấp độ thấp (thô) (ý nói đến chuỗi giá trị ngắn, không phải là phẩm cấp chất lượng); Không được chế biến theo định hướng bảo toàn chất lượng nên gây lãng phí lớn về khả năng lưu giữ các phẩm chất quý giá của nông sản; Không có tiếng nói trên thị trường đến với tiêu dùng cuối cùng (người tiêu dùng không biết sản phẩm được xuất xứ từ đâu, chứng cớ sản xuất như thế nào…), và kết quả là có không ít những trường hợp vợ chồng người nông dân ngồi ôm đống lúa sau mùa thu hoạch mà… khóc.      Sau gần 6 năm gia nhập WTO và thực hiện hàng loạt các hiệp định thương mại đã đem lại hiệu quả tích cực cho nông nghiệp Việt Nam khi nhiều mặt hàng nông sản chủ lực đã có vị thế cao trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, các lợi ích do quá trình hội nhập đem lại cho nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng. Tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu nhờ vào tăng khối lượng chứ không phải tăng giá. Năm 2012, giá trị gạo xuất khẩu chỉ tăng 0,4% nhưng khối lượng tăng tới 12,7% so với năm trước đó. Khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng thấp, nhiều ngành nông nghiệp đang mất dần lợi thế cạnh tranh.      Ông có thể khái quát một số biểu hiện và hệ lụy của nền nông nghiệp gia công?      Tính chất của nền nông nghiệp gia công tệ hại ở mấy điểm: Lao động kém hiểu biết từ việc tạo ra sản phẩm cho đến ý thức khai thác tài nguyên, càng thương mại hóa càng làm xấu hình ảnh của đất nước; Bị các thế lực thị trường mạnh “quét hết” giá trị trung gian nên để duy trì sản xuất, người sản xuất chỉ còn biết tìm giá trị duy nhất là hủy diệt tài nguyên; Là nạn nhân muôn đời của “thương mại không công bằng” khi tham gia hội nhập quốc tế. Còn trên thị trường nền nông nghiệp gia công luôn được coi là người bán phá giá trên thị trường quốc tế vì phí tài nguyên gần như bằng 0; Chất lượng sản phẩm luôn bị hàng rào kỹ thuật phát hiện sai phạm; Sự thiếu tổ chức sản xuất trong nước (quy hoạch và tổ chức thị trường) nên luôn gây sự bất ổn thị trường để hình thành xu hướng dư thừa sản phẩm là chủ yếu.      Người ta đã nói về nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện trạng “gia công” của nông nghiệp Việt Nam, và không phải ai cũng đồng thuận ngay với những nguyên nhân ấy. Theo ông, đâu là nguyên nhân chủ yếu ?     Theo tôi, nhìn trực diện có thể thấy nguyên nhân bản chất là do tác động của kinh tế thị trường vào nền kinh tế có trình độ xuất phát thấp (“kinh tế tiểu nông”). “Kinh tế tiểu nông” bị lực quét của thị trường nên bị hút hết giá trị vào tay kẻ mạnh, không có khả năng lưu giữ giá trị vào bên trong nền kinh tế. Nguyên nhân chính trị: hậu quả của nhiều năm tư duy về kinh tế tập thể (HTX), thiếu quyết tâm chính trị thực sự và sự đầu tư các nguồn lực đủ mạnh cho nông nghiệp. Người ta nói nhiều đến công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp phù trợ, công nghệ phần mềm, v.v… và coi nông nghiệp chỉ như bệ đỡ của nền kinh tế, không nhận ra nông nghiệp mới thực sự là thế mạnh của Việt Nam. Nguyên nhân nhà nước: chính sách Nhà nước chưa bảo vệ (bảo hộ) được nông dân, thậm chí còn làm gay gắt hơn sức chống lại tác hại thị trường của nông dân (chính sách mua thóc tạm trữ, chính sách hỗ trợ đất trồng lúa, chính sách cánh đồng lớn…). Nguyên nhân bên ngoài: tính chất độc quyền tự nhiên trong thương mại quốc tế, v.v…     Có thể dẫn ra nhiều thực tiễn trong sản xuất nông nghiệp minh họa cho những nguyên nhân trên. Chẳng hạn như:             Gần đây xuất hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết, đây là kết quả của nông dân trồng lúa Nam Bộ, của doanh nghiệp thu mua lúa gạo sau một chặng đường dài tìm lối đi, không phải là kết quả của nghiên cứu chính sách. Có vẻ như, còn nhiều “câu chuyện” của sản xuất nông nghiệp  những người nghiên cứu về chính sách vẫn chưa… tiếp cận được. Ai đó có thể nói rất hay về ngành hàng, về chuỗi giá trị, về chỉ số ICOR, v.v… nhưng nông dân khó “học” và nhà quản lý cũng thấy khó “học” nốt…          Tăng trưởng nông nghiệp thời gian qua vẫn chủ yếu theo chiều rộng bằng việc mở rộng diện tích, quy mô, áp dụng nhiều hơn đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu) trong khi chưa thực sự hình thành được nền nông nghiệp cao, nông nghiệp hàng hóa. Xu hưóng phát triển theo chiều rộng còn đậm nét ngay cả trong các chương trình KHCN, ví dụ như chương trình giống cây trồng. Nhờ chương trình giống mà chúng ta đã tạo ra hàng trăm giống lúa (con số được công bố chính thức là 102), trăm hoa đua nở, hầu như ai cũng làm giống, nhưng không giống nào tạo ra được sự cạnh tranh hay có thương hiệu trên thị trường gạo thế giới, trong khi Thái Lan trong nhiều năm chỉ tập trung vào việc cải tiến các giống tiềm năng là Khao Dawk Mali,  Khao Hom Klong Luang và Khao Hom Suphanburi và Jasmine (giống nhập nội từ Hoa Kỳ); còn Ấn Độ thì nhiều năm liên tục tập trung cải tiến các tính trạng của giống Basmati 370; ngay như “ông nhà giàu” Hoa Kỳ trong nhiều năm cũng chỉ tập trung nghiên cứu trên 3 giống lúa thơm đặc sản là Dellrose, Della và Jasmine 85. Nhờ thế mà Mỹ, Thái Lan và Ấn Độ đã có mặt hàng gạo xuất khẩu có sức cạnh tranh cao, giá cao, nhờ mang thương hiệu nổi trội. Chúng ta có nhiều giống cây, con bản địa quý, mang hương vị Việt Nam, nhưng đã bị lãng quên nhiều năm, và nhiều giống đã vĩnh viễn biến mất. Và cũng không kém ngạc nhiên là khi chúng ta đã là thành viên của WTO rồi, nhưng đi đâu cũng thấy người ta nói “đất nào cây ấy”, “nuôi con gì? trồng cây gì?”, chưa nhiều người nói “thị trường nào thì cây ấy, con ấy”, “trồng cây ấy, nuôi con ấy”, thì bán ở đâu, bán cho ai và bán như thế nào?      Sự đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, cho cả sản xuất lẫn nghiên cứu KHCN, từ đào tạo đến lo đầu ra cho nông sản, còn chưa tương xứng, dường như người nông dân phải tự bơi, có lẽ vì thế mới có câu chuyên dưa hấu vừa qua ở cửa khẩu Tân Thanh. Dự báo thị trường, định hướng thị trường, quy hoạch sản xuất, tổ chức sản xuất, tổ chức nông dân, thể chế nông thôn, thông tin thị trường… là những “câu chuyện” thuộc về trách nhiệm của Nhà nước, những nông dân riêng lẻ với 3 sào ruộng khoán ở miền Bắc hay vài ba công ruộng ở ĐBSCL không thể làm được những việc ấy.     Quản lý lỏng lẻo, chồng chéo, nên kém hiệu quả và khó quy trách nhiệm. Nhiều người bảo ông Bộ trưởng Bộ NN&PTNT “to” lắm, ta thử xem ông ấy “to” đến đâu nhé: mảnh đất của người nông dân do Bộ TN&MT quản, người lao động do Bộ LĐTB&XH quản, mua bán, nhập khẩu vật tư nông nghiệp và xuất khẩu nông sản do Bộ Công thương quản, vệ sinh ATTP do Bộ Y tế quản…; như vậy thực ra ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp chỉ quản trực tiếp mỗi quá trình làm ra hạt lúa củ khoai thôi! Còn các vấn đề khác do nhiều Bộ, ngành cùng quản, tất nhiên là trong đó có “phần” của ‘ông nông nghiệp’. Tình trạng bát nháo trong quản lý phân bón và thuốc BVTV làm nông dân thua thiệt, làm sản xuất đình đốn, làm giá vật tư nông nghiệp tăng cao, v.v… không phải “tội” của mỗi “ông nông nghiệp”.    … v.v…      Qua những nguyên nhân ông vừa nêu trên có thể thấy cần có quyết tâm chính trị trong thực thi những giải pháp cấp bách để ngăn chặn tình trạng suy thoái và từng bước đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.      Đúng vậy. Nguyên nhân nào thì có giải pháp ấy. Nhưng theo tôi, tựu chung các giải pháp đó phải giải quyết được 3 nhóm vấn đề: 1. Cải tạo triệt để (căn bản và toàn diện) các giới hạn trong nền nông nghiệp, trong nông thôn và lao động nông thôn; 2. Khi đã giải phóng được các giới hạn trói buộc về giải pháp, cần kiên trì giải pháp chính sách giải quyết vấn đề nông dân qua chính sách công (đầu tư công, dịch vụ công, bảo trợ xã hội…); và 3. Tổ chức thị trường nông nghiệp theo các quy trình học thuật (từ trại sản xuất đến mâm cơm trong thương mại nội địa, từ trại sản xuất đến tiêu dùng cuối cùng trong thương mại quốc tế).       Xin ông nói cụ thể hơn một số điều về 3 nhóm vấn đề đó.     Trước hết là phải có quyết tâm chính trị trong việc ban hành những chính sách cụ thể và đầu tư đủ mạnh và có trọng điểm cho nông nghiệp để nông nghiệp có khả năng nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, nhanh chóng phát triển thành một nền nông nghiệp tiên tiến, có giá trị gia tăng cao, giá trị ngày công lớn, trong đó doanh nghiệp là “nhạc trưởng” trong việc tổ chức lại nông dân, làm thế nào để họ sống chết với nông dân.      Những kinh nghiệm trong 6 năm qua cho thấy, Việt Nam cần phải có những điều chỉnh cả về mặt thể chế và chính sách để hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp phát huy nội lực. Bởi cơ hội của WTO chỉ thực sự mở đường cho Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản khi các ngành sản xuất của chúng ta đủ năng lực cạnh tranh. Muốn có sản xuất hàng hóa thì phải lấy doanh nghiệp làm trung tâm với vùng nguyên liệu của họ, nông sản của doanh nghiệp phải có chỉ dẫn địa lý để có thương hiệu. Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp cùng sản xuất nông sản hàng hóa, doanh nghiệp còn thì nông dân còn, nông dân chết thì doanh nghiệp cũng chết. Hiện nay thì không phải như vậy, phần lớn doanh nghiệp thu mua nông sản là cai đầu dài, sống trên lưng nông dân, nông dân chết nhưng họ vẫn sống khỏe, họ cũng chẳng cần chỉ dẫn địa lý hay thương hiệu, họ cũng chẳng cần vùng nguyên liệu rõ ràng. “Vietnam Rice” thế thôi, không cần biết gạo sản xuất ở đâu, giống gì, sản xuất ra sao. Tuy nhiên cung cách chụp giật này không thể tồn tại lâu dài, đã xuất hiện một số doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng, sống chết cùng nông dân, nông sản của họ có thương hiệu rõ ràng, ban đầu nhỏ thôi nhưng tôi tin chắc là các doanh nghiệp này sẽ phát triển mạnh, nhưng họ sẽ mạnh hơn, nhanh hơn nếu có sự trợ giúp của nhà nước về vốn, về thị trường, về công nghệ. doanh nghiệp tư nhân Hồ Quang ở Sóc Trăng là 1 doanh nghiệp như vậy, với 2 loại gạo mang thương hiệu ST5 và ST20 đã xuất ra nước ngoài với giá từ 850 – 945 USD/tấn. Ở miền Bắc có công ty An Đình đã tự xây dựng vùng nguyên liệu của mình để bán gạo đủ phẩm cấp cho người Nhật sống ngoài nước Nhật, không có sự trợ giúp nào của Nhà nước, cả Trung ương và địa phương. Đấy là còn chưa nói đến một ông chủ tịch xã trên vùng nguyên liệu của An Đình có lần đã phàn nàn với tôi “cái công ty này làm ăn đến lạ, nó trồng lúa trên cánh đồng của dân em mà em chưa được đồng nào?!’     Nhà nước cần tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn (đường xá, bến bãi, kho chứa, cơ sở chế biến,…), có chính sách tín dụng để nông dân sẵn lòng áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mua máy móc thiết bị (ví dụ giảm 50% tiền mua máy mới, hoặc thậm chí tặng luôn nông dân tiền mua máy nếu người nông dân ấy sử dụng hiệu quả thiết bị, máy móc mới như người nông dân Nga đang được hưởng).             Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, rút bớt lao động nông nghiệp khỏi khu vực nông thôn là giải pháp có tính then chốt, đột phá để tăng năng suất lao động, tăng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Những bài học thành công của nông nghiệp Úc, Hà Lan… cho ta thấy rõ lao động nông  nghiệp được đào tạo có vai trò như thế nào trong xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp có giá trị gia tăng lớn.         Vai trò của nghiên cứu chính sách trong nông nghiệp và phát triển nông thôn trong nhiều năm qua khá mờ nhạt. Vì vậy cần đầu tư mạnh cho nghiên cứu về thị trường, về thể chế nông thôn và chính sách nông nghiệp. Quy hoạch sản xuất hiện nay ở nông thôn như thế nào? Làm thế nào để tổ chức lại nông dân trong chuỗi cung ứng hàng hóa? Làm thế nào để doanh nghiệp thực sự trở thành trụ cột trong phát triển nông nghiệp?      Đầu tư nghiên cứu khoa học có định hướng để tăng cường năng lực về khoa học công nghệ, từ khâu chọn tạo giống đến kỹ thuật canh tác, bón phân, thu hoạch, chế biến; từ bảo quản, lưu kho đến thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt cần đẩy nhanh tốc độ ứng dụng KHCN và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp (ta hay gọi là tái cơ cấu), đào tạo nông dân, xác định các vùng chuyên canh hàng hóa gắn với doanh nghiệp, chuyển mạnh đất lúa sang các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.      Phát triển mạnh mẽ ngành nghề nông thôn dựa trên lợi thế so sánh và thực lực của từng vùng miền, từng thôn xã, giảm nhanh dân số có sinh kế phụ thuộc vào nghề nông. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn (theo báo cáo gần đây nhất của trường ĐH Kinh tế quốc dân, thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn; Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam), mà còn hạn chế dòng di cư từ nông thôn ra thanh thị và các khu công nghiệp. Trong giai đoạn hiện nay, nên áp dụng các máy móc, thiết bị, công nghệ cần nhiều lao động, cần ít vốn đầu tư, dễ sửa chữa, dễ lắp lẫn. Nếu ta muốn “tiến nhanh” mà áp dung các công nghệ cần ít lao động của các nước tiên tiến thì sẽ làm cho vấn đề thất nghiệp ở nông thôn thêm căng thẳng.      Xin cảm ơn ông.                  PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền tảng dạy những người không chuyên sử dụng học máy      Học máy (machine learning) dùng để tìm ra các khuôn mẫu trong dữ liệu mà con người không nhận thấy. Nó đang được dùng để cung cấp thông tin cho nhiều quyết định lớn nhỏ – từ phát triển vaccine COVID-19 đến đề xuất phim trên Netflix.      Nghiên cứu mới đoạt giải thưởng “bài nghiên cứu tốt nhất” tại hội nghị quốc tế thường niên về yếu tố con người trong hệ thống máy tính ACM CHI tổ chức vào tháng 5 vừa qua của Trường cao đẳng Máy tính và Khoa học Thông tin thuộc Đại học Cornell đã tìm cách hỗ trợ những người người không chuyên sử dụng các thuật toán học máy một cách hiệu quả, năng suất và đúng đắn để giúp các ngành công nghiệp không thuộc lĩnh vực điện toán cũng có thể khai thác sức mạnh của AI.  “Chúng tôi không biết nhiều về cách những không chuyên về học máy học các công cụ thuật toán như thế nào. Lý do là nhiều người cường điệu rằng học máy chỉ dành cho những người có chuyên môn”, Swati Mishra, nghiên cứu sinh tiến sĩ về khoa học thông tin và là tác giả chính của nghiên cứu đoạt giải “Designing Interactive Transfer Learning Tools for ML Non-Experts” chia sẻ. Khi học máy đi vào những lĩnh vực và ngành công nghiệp truyền thống không liên quan đến điện toán thì nhu cầu nghiên cứu và có những công cụ hiệu quả, dễ tiếp cận để người dùng mới có thể tận dụng sức mạnh của AI sẽ tăng đến mức chưa từng có, Mishra nói.  Các nghiên cứu trước đó về các hệ thống tương tác học máy chủ yếu tập trung vào việc hiểu người dùng và những thách thức mà họ phải đối mặt khi điều hướng các công cụ. Nghiên cứu mới nhất của Mishra đã đặt chân vào một địa hạt mới bằng cách làm điều ngược lại: Làm sao để thiết kế được một hệ thống tốt hơn giúp những người dùng chỉ có hiểu biết hạn chế về thuật toán nhưng lại nhiều chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau có thể học tập và tích hợp những mô hình đã có vào công việc của họ. Mishra đã phát triển một nền tảng tương tác học máy của riêng mình.  Mishra đã sử dụng một quá trình phức tạp gọi là “học chuyển giao” (transfer learning) làm điểm khởi đầu để những người không chuyên làm quen với học máy. Đây là một kỹ thuật học máy cao cấp thường dành riêng cho chuyên gia, trong đó người dùng sẽ tinh chỉnh và tái sử dụng những mô hình học máy hiện có theo các mục đích khác nhau để phục vụ cho những tác vụ mới.  Kỹ thuật này giúp người dùng không phải xây dựng mô hình từ đầu vốn đòi hỏi nhiều dữ liệu đào tạo. Ví dụ, nó cho phép người dùng có thể tái sử dụng một mô hình đã được đào tạo để nhận diện hình ảnh chó thành một mô hình nhận diện hình ảnh mèo, hoặc thậm chí nếu đưa chuyên môn phù hợp vào trong đó, nó có thể biến thành mô hình nhận diện ung thư da. PGS. Jeff Rzeszotarski ở Khoa khoa học thông tin và là đồng tác giả của bài báo cho biết: “Bằng cách tập trung đưa các mô hình hiện có vào các tác vụ mới, nền tảng của Swati không chỉ giúp những người mới dùng được học máy để giải quyết những vấn đề phức tạp mà còn tận dụng được sự phát triển liên tục của các chuyên gia học máy.”  Mishra và Rzeszotarski nhận thấy rằng người những người không chuyên tham gia có thể sử dụng thành công việc học chuyển giao và thay đổi các mô hình hiện có cho mục đích riêng của mình. Nhưng họ cũng phát triển rằng những nhận thức không xác đáng về trí thông minh của máy móc thường làm chậm tiến độ học của những người không chuyên này.  Máy móc không học như con người, Mishra nói. “Chúng ta đã quen với phong cách học tập như con người và về mặt trực quan, chúng ta có xu hướng sử dụng các chiến lược quen thuộc với mình. Nếu các công cụ không truyền đạt rõ ràng sự khác biệt này, máy móc có thể sẽ không bao giờ thực sự học được. Với tư cách là nhà nghiên cứu và nhà thiết kế nền tảng, chúng tôi phải tìm cách giảm thiểu góc nhìn nhận thức của người dùng về việc rốt cuộc học máy là gì. Bất kỳ công cụ tương tác nào cũng phải giúp người ta kiểm soát được kỳ vọng của mình”  Trang Linh lược dịch   Nguồn: https://news.cornell.edu/stories/2021/07/platform-teaches-nonexperts-use-machine-learning  https://dl.acm.org/doi/10.1145/3411764.3445096    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nêu bằng chứng về cách tạo ra các bắc cực quang      Các cực quang, hay còn gọi là ánh sáng phương Bắc, tràn ngập trên bầu trời ở những vùng vĩ độ cao đã thu hút sự chú ý của con người hàng trăm năm qua. Nhưng việc chúng được tạo ra như thế nào vẫn chưa chưa được chứng minh một cách thuyết phục vì mới chỉ đề cập đến ở khía cạnh lý thuyết.      Các nhà vật lý ở trường ĐH Iowa và cộng sự đã nêu bằng chứng dứt khoát về bắc cực quang tỏa sáng trên bầu trời ở các vùng vĩ độ cao do các điện tích được gia tốc bằng một lực điện trường cực lớn gọi là sóng Alfven. Nguồn: Alex Gerst, NASA; Experimental Data Visualization: Steve Vincena, University of California, Los Angeles  Trong một nghiên cứu mới, một nhóm do các nhà vật lý ở trường đại học Iowa cho biết bằng chứng xác thực về bắc cực quang sáng nhất được tạo ra từ sóng điện từ năng lượng cực cao trong các cơn bão địa từ. Hiện tượng này được gọi là sóng Alfvén – một loại sóng từ thủy động lực, được gọi theo tên của nhà vật lý plasma Hannes Alfvén – gia tốc các electron về phía trái đất, dẫn đến việc các hạt tạo ra màn trình diễn ánh sáng trong bầu khí quyển mà chúng ta vẫn quen thuộc từ hàng trăm năm qua.  Nghiên cứu này xuất bản trên tạp chí Nature Communications “Laboratory measurements of the physics of auroral electron acceleration by Alfvén waves”, đã giải quyết một vấn đề tồn tại hàng thập kỷ để chứng minh về mặt thực nghiệm cơ chế vật lý về sự gia tốc các electrons của sóng Alfven trong những điều kiện tương ứng với phản hồi từ quyển cực quang của trái đất 1.  “Các đo đạc tiết lộ tập hợp nhỏ các electron này trải qua “sự gia tốc cộng hưởng” của điện trường của sóng Alfven, tương tự với việc một người lướt sóng bắt được một con sóng và được gia tốc một cách liên tục như những chuyển động dọc theo sóng”, Greg Howes, phó giáo sư Khoa Vật lý và Thiên văn tại Iowa và là đồng tác giả nghiên cứu.  Các nhà nghiên cứu đã biết là các hạt mang điện tích được phát ra từ mặt trời – như các điện tích di chuyển với tốc độ xấp xỉ 45 triệu dặm mỗi giờ – lan truyền theo hướng từ trường của trái đất ở tầng trên của bầu khí quyển, nơi chúng va chạm với các phân tử oxy và nitrogen, đưa chúng vào một trạng thái bị kích thích – trạng thái này được các tia sáng làm dịu đi, tạo ra những sắc thái rực rỡ của bắc cực quang.    Trong thí nghiệm, các nhà vật lý chứng tỏ cơ chế vật lý của sự gia tốc của các điện tích bằng sóng Alfven dưới các điều kiện phản hồi của từ quyển bắc cực quang của trái đất. Nguồn: Austin Montelius.  Lý thuyết này được các nhiệm vụ phóng tàu vũ trụ vào không gian ủng hộ bởi thường xuyên tìm thấy các sóng Alfven lan truyền về phía trái đất, bên trên các bắc cực quang, có lẽ gia tốc các electron theo hướng này. Dẫu các đo đạc không gian ủng hộ lý thuyết này, những giới hạn cố hữu của tàu vũ trụ và đo đạc bằng tên lửa đã ngăn để người ta thực hiện một kiểm tra xác thực.  Các nhà vật lý đã có thể tìm ra bằng chứng xác nhận trong một loạt thực nghiệm ở Thiết bị Plasma lớn (LPD) ở Cơ sở khoa học Plasma cơ bản của UCLA, một cơ sở nghiên cứu hợp tác quốc gia với sự tham gia tài trợ của Bộ Năng lượng Mĩ và Quỹ Khoa học Mỹ.  “Ý tưởng các con sóng có thể truyền năng lượng cho các electron để tạo ra bắc cực quang đã tồn tại sau bốn thập kỷ nhưng đây là lần đầu tiên, chúng tôi đã có thể xác nhận rằng nó phù hợp để giải thích cho hiện tượng này”, Craig Kletzing, giáo sư Khoa vật lý và thiên văn học tại Iowa và là đồng tác giả của nghiên cứu. “Những thực nghiệm đó đưa cho chúng tôi những phép đo đạc chính giúp chứng tỏ các phép đo đạc không gian và lý thuyết đúng, thậm chí giải thích một cách đúng đắn về việc bắc cực quang đã được tạo ra như thế nào”.  Hiện tượng các điện tích ‘lướt sóng’ trên điện trường của một sóng là một quá trình lý thuyết được người ta gọi là sự tắt dần Landau, do nhà vật lý Nga Lev Landau lần đầu đề xuất vào năm 1946. Thông qua các mô phỏng số và mô hình toán học, các nhà nghiên cứu đã chứng minh các kết quả rút ra từ thực nghiệm của họ phù hợp với dấu hiệu dự đoán của sự tắt dần Landau.  Sự phù hợp của thực nghiệm, mô phỏng và mô hinh hóa cung cấp bằng chứng trực tiếp đầu tiên là các sóng Alfven có thể tạo ra các hạt điện tích được gia tốc, nguyên nhân dẫn đến bắc cực quang, Troy Carter, giáo sư vật lý tại UCLA và giám đốc của Viện nghiên cứu KH&CN Plasma UCLA, nói.  “Thực nghiệm thách thức này đòi hỏi một phép đo đạc một lượng vô cùng nhỏ các hạt điện tích chuyển động xuống buồng LPD tại tốc độ tương tự như khi được sóng Alfven tác động, con số nhỏ hơn một phần nghìn điện tích trong plasma”, ông nói.  Tô Vân  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-physicists-definitive-evidence-auroras.html  https://www.techexplorist.com/definitive-evidence-auroras-formed/39543/#:~:text=Physicists%20led%20by%20the%20University,corresponding%20to%20Earth’s%20auroral%20magnetosphere.  ———-  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-23377-5       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu không chịu thay đổi, họ sẽ có kết cuộc như Kodak      Bà Ulrika Brandt, chuyên gia về thị trường thực phẩm thực vật tại NGO ProVeg, cho rằng, ngành sản xuất thực phẩm từ nguyên liệu khác ngoài thịt sẽ được hưởng lợi từ xu thế tiêu dùng mới sau đại dịch Covid-19và có thể đây sẽ là xu thế hầu như không thể đảo chiều.      Theo điều tra gần đây nhất của Forsa thì có tới 55 % dân Đức giảm tiêu thụ thịt –  để sống khoẻ hơn, thân thiện với môi trường hơn và bền vững hơn. Bild: REUTERS  Ngành công nghiệp thực phẩm với các sản phẩm từ thịt đang bị dư luận chỉ trích nặng nề bởi mối lo ngại về quy trình xử lý cẩu thả ở các lò mổ, sự bùng phát virus corona, mầm bệnh trong thịt cốt lết… Vậy tình hình này có thể hiện rõ trên các quầy hàng không thưa bà?   Có đấy, thị trường về các sản phẩm đơn thuần thực vật đang tăng nhanh. Theo hãng nghiên cứu thị trường Nielsen thì tháng ba và tháng tư vừa qua trên thị trường Hoa Kỳ nhu cầu đối với  các sản phẩm có nguồn gốc thực vật tăng vọt  tới 268% , thậm chí đối với sữa yến mạch tăng tới trên 400 %, trong khi đó nhu cầu đối với thịt gia súc chỉ tăng 40%. Tình hình ở Đức cũng như vậy.  Tất cả chỉ vì virus corona ư?  Trước đại dịch corona, nhu cầu đối với các sản phẩm được làm từ thực vật đã vượt qua các loại sản phẩm có nguồn gốc động vật. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này: ai cũng nhận thấy khí hậu thay đổi rất rõ rệt, nhiều báo cáo về lượng tiêu thụ tài nguyên nước và chiếm dụng ruộng đất quá lớn đối với sản xuất thịt và sữa, chăn nuôi gia súc, gia cầm phi đạo đức, thêm vào đó là ý thức bảo vệ sức khỏe của con người được cải thiện. Đại dịch này lần đầu tiên làm cho đông đảo người dân thấy tồn tại mối quan hệ giữa chăn nuôi theo kiểu công nghiệp và tình trạng truyền nhiễm bệnh từ con vật sang người, như trong vụ Covid-19 này.  Điều này thường diễn ra tại các khu chợ ở châu Á, nơi người ta giết mổ con vật tại chỗ?   Không, điều này không phải chỉ diễn ra ở những khu chợ xa xôi nào mà nó xẩy ra tại tất cả những nơi tiến hành chăn nuôi theo kiểu công nghiệp, nơi con vật phải sinh sống trong môi trường vô cùng chật hẹp. Ở Đức cũng vậy, thí dụ đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 làm chết hơn 50 triệu người trên toàn thế giới là do lây nhiễm từ động vật. 75% các bệnh tuyền nhiễm mới đều có cội nguồn từ động vật.    Ulrika Brandt là chuyên gia về thị trường thực phẩm thực vật thuộc Tổ chức quốc  tế về dinh dưỡng  ProVeg có trụ sở tại Berlin, chuyên đề cao thực phẩm có nguồn gốc thực vật. Ảnh:  WirtschaftsWoche (M)  Vậy với sản phẩm thực vật điều này sẽ không xảy ra?   Việc sản xuất sản phẩm thay thế thịt từ thực vật hay do nuôi cấy là an toàn. Công thức đơn giản là không dùng thịt động vật – không có nguy cơ bị tình trạng truyền nhiễm bệnh từ con vật sang người.  Từ nhận thức này cho đến khi cự tuyệt thịt tuy vậy vẫn là một đoạn đường dài.  Theo một cuộc điều tra gần đây của Forsa thì 55 % dân Đức muốn hạn chế tiêu dùng thịt để sống khỏe mạnh hơn, thân thiện với môi trường hơn và bền vững hơn. Nhiều người cũng thật sự quan tâm đến đời sống của con vật. Để thực sự thay đổi hành vi trong cuộc sống nhiều khi phải đoạn tuyệt với những thói quen tồn tại từ lâu, điều này về cơ bản không hề dễ dàng.  Tất nhiên tiền đề phải là người tiêu dùng hưởng ứng tích cực xu thế dùng những thực phẩm thay thế.   Hoàn toàn đúng, trong đó hương vị là điều then chốt, sau đó là cấu trúc, điều này có nghĩa là thực phẩm đó có vừa miệng người ta hay không. Hai yếu tố quan trọng nữa là các phụ gia tự nhiên và vấn đề giá cả. Những điều này đều có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại lâu dài của sản phẩm. Ngày nay trên thị trường đã có những loại sản phẩm thay thế thịt có hương vị thơm ngon nhưng cạnh đó trên các kệ hàng ở siêu thị không thiếu những sản phẩm thiếu hấp dẫn về hương vị và cấu trúc.   Liệu các sản phẩm thay thế thịt có thật sự bước ra khỏi các siêu thị chuyên về sản phẩm “sinh học” để trở thành sản phẩm đại chúng?  Trong năm năm tới, thị trường đối với các sản phẩm thay thế thịt sẽ tăng hơn gấp đôi. Năm 2019 khối lượng thị trường trên toàn thế giới đã lên đến 12,1tỷ đôla Mỹ, năm 2025 sẽ lên tới gần  28 tỷ. Một ví dụ nổi bật về sức hấp dẫn của thức ăn chay hiện nay là tiệc trao giải thưởng Oscar năm ngoái chủ yếu sử dụng thức ăn chay và điều này rất được ngợi khen.  Không biết các thực khách quen các món thịt có tức giận?  Tôi nghĩ rằng không. Thức ăn rất đa dạng và phong phú và đều thực sự ngon lành.  Nhưng vấn đề là các loại thức ăn thay thế thịt này có  thực sự tốt cho sức khoẻ, có hơn burger hay thịt bò bít tết?  Gần đây chúng tôi nghe nói, theo Cục Môi trường thì trong các thức ăn chay đó chứa một số phụ gia có thể có vấn đề đối với sức khỏe?  Rất tiếc đó chỉ là những tin đồn hoặc ý kiến mang tính cá nhân và không có cơ sở. Hiện chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này. Chúng tôi luôn khuyên các nhà sản xuất ngành công nghiệp thực phẩm chú ý tới Nhãn hiệu sạch (Clean Label). Điều này có nghĩa là hạn chế tối đa việc sử dụng các chất phụ gia và phụ gia từ thiên nhiên. Nói chung các sản phẩm này có nhiều ưu điểm hơn thịt động vật.  Thí dụ?  Những sản phẩm này chứa nhiều protein thực vật quý hiếm, phần lớn ít chất béo và chứa rất ít axit béo bão hoà. Cholesterol, có trong thịt, thì ở đây hoàn toàn không. Khác với thức ăn bằng thịt, thức ăn chay có nhiều chất độn cực kỳ quan trọng có ích cho sức khỏe của ruột. Và, nhất là chúng không gây ung thư.  Đáng ra con người cần xuất phát từ điều này.  Ngay từ năm 2015 Tổ chức Y tế thế giới đã xác định, thịt chế biến có thể gây ung thư và thuộc nhóm 1. Điều này có nghĩa là, người ta có đủ bằng chứng từ các nghiên cứu về dịch tễ học là các loại thực phẩm như thịt xông khói, xúc xích, và giăm bông gây ung thư. Thịt đỏ như thịt bò, thịt bê, thịt cừu và thịt lợn thuộc nhóm 2A, nghĩa là các loại thực phẩm này có khả năng gây ung thư.  Vậy mà xưa nay luôn nói, thịt tăng cường cơ bắp, làm cho con người khỏe mạnh hơn.  Đây là một định kiến lâu đời. Cho rằng đạm động vật như thịt, sữa có ý nghĩa quyết định đến thành tích về thể thao hoặc là nền tảng cho sức mạnh. Thực ra ngược lại mới đúng. Chúng gây chua hóa và tăng cường nguy cơ viêm nhiễm. Liệu các bạn có biết các võ sỹ cổ La Mã là những người chuyên ăn chay? Cần có một sự quảng bá rộng rãi cho các sản phẩm thực vật như người ta đã tiến hành nhiều chục năm qua cho ngành công nghiệp chế biến thịt và công nghiệp sữa, tiện đây xin nói thêm, các chiến dịch này được tiến hành bằng kinh phí đầu tư của EU.  Bà định đề cập đến chiến dịch như “Sữa làm nên điều đó!“?  Đúng thế, và đó chỉ là slogan cho chiến dịch tiến hành trong những năm 1980. Từ lâu trước đó, từ những năm 1950 cho đến bây giờ ngành kinh tế sữa đã đầu tư  nhiều triệu euro, để phục vụ cho tiêu thụ sữa. Người ta luôn cho rằng, sữa bổ, có lợi cho sức khoẻ và cần uống hàng ngày.   Và điều đó là sai?  Bên cạnh chất béo động vật sữa bò còn chứa đường và các gien gây dị ứng chất hooc môn tăng trưởng IGF1. Nếu tiêu thụ nhiều và thường xuyên chất này làm tăng nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Nhiều nhà khoa học dinh dưỡng nói hết sức rõ ràng rằng sữa bò không nhất thiết phải có trong chế độ dinh dưỡng của chúng ta. Nếu đúng là như vậy thì hai phần ba nhân loại không thể tồn tại. Họ không thể uống sữa bò mà không bị khó chịu, vì cơ thể họ thiếu loại enzyme để tiêu hóa\ đường sữa.  Liệu có khôn ngoan hơn không khi các nhà sản xuất thực phẩm thực vật cố tình phân biệt rạch ròi với các sản phẩm làm từ thịt thay vì tiếp tục nói về thịt bò bít tết hay burger?  Không, các khái niệm như thịt, phômai, cá đều đã được học. Bất kỳ ai cũng hiểu, đó là cái gì. Và nếu trên bao bì chỉ ghi “hoàn toàn bằng thực vật“… có nghĩa là sản phẩm chay hoặc thuần chay, điều đó sẽ rõ ràng với người tiêu dùng.  Tuy nhiên dường như còn nhiều người chưa thật hiểu rõ bởi theo khảo sát của Viện Hàn lâm Khoa học Đức và Quỹ Körber có tới một phần tư số người được hỏi không coi thịt trong phòng thí nghiệm là sản phẩm thay thế.  Đây là vấn đề liên quan đến thịt được nuôi cấy. Đại đa số người tiêu dùng chưa am hiểu thực chất về vấn đề này. Và khi thịt được phát triển từ nuôi cấy tế bào, tương tự như sản xuất bia trong các thùng bia khổng lồ, nếu gọi đây là thịt trong phòng thí nghiệm, điều này tất nhiên tạo nên một sự phản cảm. Các nhà sản xuất hiểu rõ điều đó vì thế trước đó phải giới thiệu rõ về các ưu điểm của loại thịt này. Vấn đề này cũng đòi hỏi phải có thời gian cho đến khi được thị trường chấp nhận. Tuy nhiên sự phát triển hiện nay có nhiều hứa hẹn.  Nhưng liệu có xẩy ra tình trạng người tiêu dùng sau vụ đại dịch Corona này lại trở về với thói quen cũ  và lại tái diễn mua thịt giá rẻ?  Không, bởi vì những vấn đề lớn vẫn tồn tại trong ngành công nghiệp: cuộc khủng hoảng khí hậu ngày một nghiêm trọng hơn đã gây áp lực trên thị trường vốn, qua đó buộc các doanh nghiệp phải xác định về phát triển bền vững. Dân số thế giới tiếp tục tăng và người ta ý thức được rằng với kiểu sản xuất thịt, sữa như hiện nay thì không thể đủ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu. Theo tính toán của công ty tư vấn doanh nghiệp Kearney, đến năm 2030 sản phẩm thịt thay thế bằng thực vật và nuôi cấy tế bào sẽ chiếm xấp xỉ 30 % thị trường thịt toàn cầu.  Vậy các doanh nghiệp sản xuất thịt sẽ như thế nào?   Các nhà sản xuất thịt và các doanh nghiệp khác trong ngành công nghiệp thực phẩm nếu không chịu thay đổi, không thâm nhập thị trường protein thay thế, sẽ kết thúc như tập đoàn ảnh Kodak, tập đoàn này đã ngủ quên trên thành công và tuột tay khỏi công nghệ máy ảnh kỹ thuật số. Do đó, nếu để điều này xảy ra thì sớm muộn gì họ cũng phải biến mất khỏi thị trường.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/umwelt/fleisch-wenn-sich-fleischhersteller-nicht-aendern-enden-sie-wie-kodak/25970676.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga sụm lưng với 785 tỷ USD nợ trái phiếu 1982      Những người đang giữ trái phiếu bán trong năm cuối cầm quyền của Tổng bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev, nay đang tìm cách đòi lại qua kênh tòa án Châu Âu thứ mà họ không đòi được từ Tổng thống Nga Vladimir Putin: tiền.    Tòa án Nhân quyền Châu Âu tại Strasborg tháng trước vừa yêu cầu nước Nga phải trả cho Yuriy Lobanov, một người đàn ông tầm 70 tuổi, sống tại vùng Ivanovo gần Moscow, số tiền 37.150 Euros (tương đương 46.497 USD) để đền bù cho số trái phiếu ông mua từ năm 1982, tức là khoảng 140 lần tiền lương hưu tháng của ông. Mariya Andreyeva, một người phụ nữ 95 tuổi, từng sống sót qua thời Đức Quốc xã bao vây thành phố Leningrad, cũng được phán quyết hưởng 4300 euros tiền trái phiếu.   Những trái phiếu này là một phần của tổng số 25 nghìn tỷ ruble (785 tỷ USD), bằng gần một nửa tổng giá trị sản phẩm quốc nội của Nga, mà chính phủ khẳng định là vẫn đang nợ công chúng. Tổng thống Putin đang phải tìm cách trì hoãn, gần đây nhất hồi tháng 4 ông đã ký một quyết định dừng thanh toán tiền nợ trái phiếu cho tới ít nhất năm 2015. Nhưng nay được ủng hộ bởi phán quyết tòa án Châu Âu, những người chủ trái phiếu đang đòi hỏi được trả tiền.    “Lẽ ra tất cả những khoản nợ này phải được trả hết từ hồi thập kỷ 1990”, nhận xét từ Boris Kheyfets, một chuyên gia quản lý nợ của Liên Xô trước đây, nay làm việc tại Viện Kinh tế thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. “Làm sao chúng ta lại để nợ tích tụ khổng lồ đến thế? Mọi thứ sẽ sụp đổ tức thì.”   Nhà nước Liên Xô bắt đầu phát hành trái phiếu kỳ hạn 20 năm từ năm 1982, cho các trái phiếu mệnh giá 25, 50, và 100 ruble, một phần để trả những khoản nợ trái phiếu trước đây, và một phần khác nhằm rút bớt tiền mặt ra khỏi nền kinh tế chỉ huy tập trung nghèo nàn hàng hóa của thời kỳ ấy.    Không giống như chính quyền Liên Xô trước đây thường tìm cách dàn xếp những khoản nợ tương tự với những khoản hoàn trả chỉ bằng một phần giá trị khoản nợ, chính quyền Nga đã cam kết sẽ thanh toán đầy đủ. Tổng thống Boris Yeltsin thời kỳ ấy đã ký một đạo luật vào năm 1995, trong đó buộc chính phủ phải khôi phục lại những khoản tiết kiệm cho người dân qua các tài khoản ngân hàng, và bảo đảm giá trị trái phiếu Liên Xô tương đương với giá trị hàng hóa mua được vào năm 1990. Những khoản thanh toán đã được trả rất đúng hạn trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Putin, khi giá dầu tăng cao đẩy cán cân ngân sách lên thặng dư. Nhưng nay khi Putin trở lại điện Kremlin với nhiệm kỳ thứ ba, cán cân ngân sách đã trở về mức cân bằng.     “Rõ ràng là việc thực hiện theo kế hoạch khôi phục các khoản tiền tiết kiệm trước đây của công chúng sẽ tạo nên những gánh nặng kinh khủng lên ngân sách liên bang”, nhận định từ Bộ Tài chính Nga trong báo cáo chiến lược nợ gần nhất được công bố cách đây 1 năm. “Nếu điều này xảy ra, nhà nước sẽ mất khả năng thanh toán các chi phí khác trong một giai đoạn kéo dài”.     ‘Không còn gì hết’   Trong thập kỷ 1990, nước Nga đã thông qua những đạo luật mà không hề suy tính làm cách nào để có nguồn kinh phí thực thi, Putin nói trong một cuộc họp về nhân quyền giữa các lãnh đạo tầm khu vực hôm 16/8. Trả lại tiền cho những khoản tiết kiệm bị mất trước đây sẽ ngay lập tức đồng nghĩa với việc ‘không còn gì hết để trả lương cho quân đội, bác sĩ, và giáo viên’, Putin nói. Nước Nga chỉ nên tiếp tục thanh toán trong phạm vi khả năng có thể, đối với những người giá nhất từng bị mất tiền tiết kiệm, ông nói.   Kế hoạch của Bộ Tài chính với mục tiêu bồi thường cho những “nạn nhân” già nhất có thể coi là giải pháp tốt nhất, và những khoản thanh toán ít một cần được tiếp tục, Putin khẳng định. “Đây là một vấn đề mang tính di sản của quá khứ, nhưng chúng ta cần làm điều gì đó để giải quyết nó.”   Chính phủ dự định dành 50 tỷ ruble trong ngân sách năm nay để trả cho những khoản tiết kiệm bị mất trước đây, và dành những khoản ngân sách tương đương cho việc này vào các năm 2013, 2014. Những người tiết kiệm bị chết cũng sẽ được trợ cấp tang lễ 6000 ruble, tức là gần 200 USD.   “Chúng ta tiến hành thanh toán hằng năm, nhưng với số tiền rất ít”, Kheyfet nhận xét. “Có lẽ đây nó sẽ tiếp tục như vậy cho tới khi những người được thanh toán qua đời”.   Chiến lược câu giờ này có lẽ chưa hẳn đã là khôn ngoan dưới góc nhìn luật pháp quốc tế. Trong phán quyết cho trường hợp của Lobanov, các thẩm phán ở Strasbourg đã chỉ ra rằng việc nước Nga từ chối cho biết có bao nhiêu trái phiếu năm 1982 là nợ phải trả, và sự lặp đi lặp lại hành động treo các khoản thanh toán, “là không có lý do rõ ràng đối với tòa án”.     Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện cho nước Nga tại tòa án Strasbourg, khẳng định trong một bản fax rằng cơ quan này thừa nhận tất cả những phán quyết từ Tòa án Nhân quyền Châu Âu, với bổ sung rằng phán quyết vụ Lobanov chỉ áp dụng cho trái phiếu 1982. Bộ Tài chính Nga từ chối đưa ra ý kiến về việc này.   Khoản dư nợ ước tính tới 25 nghìn tỷ ruble, nếu được thừa nhận đầy đủ, sẽ làm tăng dư nợ của Nga lên gần gấp 10 lần, nhận định từ Vladimir Osakovskiy, kinh tế trưởng tại ngân hàng Bank of America Merrill Lynch ở Moscow. Những vụ dàn xếp trước đây cho thấy Nga sẽ tìm ra cách giảm trừ tổn hại đối với xếp hạng tín nhiệm tài chính quốc gia của mình, ông nói.   “Hồi năm 1997, Nga đã dàn xếp trả nợ những trái phiếu từ thời Sa Hoàng và chỉ phải thanh toán 400 triệu USD, tức là ít hơn 1% giá trị thực chất của lãi vay sau 100 năm”, ông nói. “Chúng tôi dự đoán rằng một phương án dàn xếp tương tự cũng sẽ được thực hiện trong vụ này”.     Nhưng theo Saleh Daher, giám đốc điều hành công ty Turan chuyên đầu tư kinh doanh các khoản nợ thương mại của Liên Xô, thì nước Nga có lẽ sẽ chỉ tiếp tục việc thanh toán sau khi một nhóm lợi ích có mối quan hệ chính trị đủ mạnh thâu tóm được những trái phiếu này.   “Sẽ có người kiếm được tiền từ vụ này”, Daher nói qua điện thoại từ Boston, nơi công ty Turan đặt trụ sở. “Và tôi cho rằng ít có khả năng số tiền nợ sẽ đến được tay những người bị nợ tiền hưu trí, hay những người chủ ban đầu của những trái phiếu này”.   Một trong những người chủ trái phiếu ban đầu như vậy là Boris Andreyev, một người thợ điện 65 tuổi không hề có bằng cấp.   Trong gần 2 thập kỷ, Andreyev và mẹ của ông, bà Mariya Andreyeva, đã gửi đơn viết tay lên các tòa án và các bộ ngành đề nghị được thanh toán tiền. Số tiền 4300 euro mà tòa án Strasbourg phán quyết cho họ, vẫn còn quá ít ỏi, ông nói.   Trái phiếu của họ, được mua lại bởi một chương trình của nhà nước vào năm 1993, đem lại cho họ số tiền 3000 ruble trong một tài khoản tiết kiệm, nhưng số tiền này bị teo lại còn đúng 3 ruble sau khi nhà nước đổi tiền năm 1998. Tài khoản này vẫn được giữ nguyên không rút ra, và tích lũy tiền lãi, thành 5 ruble tổng cộng.   Andreyev, ngày nay sống với số tiền hưu trí hằng tháng là 6000 ruble, vẫn đang tiếp tục theo đuổi vụ kiện của minh lên các tòa án của Nga.   “Nếu theo đúng giá trị tiền ruble thời Liên Xô, trái phiếu của chúng tôi có giá trị tương đương với một căn hộ chung cư một phòng”, Andreyev nói. “Nhưng số tiền 5 ruble mà chúng tôi được nhận lại chỉ đáng giá một cuộn giấy vệ sinh”.  Thanh Xuân lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2012-08-27/brezhnev-bonds-haunt-putin-as-investors-hunt-for-785-billion.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga tăng mạnh lãi suất cơ bản lên 17% để cứu nền kinh tế      Nền kinh tế Nga có nhiều biến động ở cả hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán.    Lãi suất ngân hàng tăng 17%  Cuối ngày làm việc 15/12, Ngân hàng Trung ương Nga đã tăng mạnh lãi suất cơ bản thêm 6,5 điểm phần trăm – từ 10,5% lên 17%/năm.  Quyết định trên được đưa ra trong một cuộc họp bất thường về chính sách tiền tệ-tín dụng nhằm “hạn chế các rủi ro phá giá và lạm phát đang gia tăng gần đây.”  Gần đây, Ngân hàng Trung ương Nga đã phải nhiều lần tăng lãi suất cơ bản, tuy chưa từng ở mức đột ngột như ngày 15/12, trong bối cảnh nền kinh tế Nga đang phải đối mặt với ba vấn đề “đau đầu” gồm lạm phát tăng phi mã, đồng nội tệ phá giá mạnh và giá dầu giảm, phá đáy liên tục. Đặc biệt là mức giảm giá đồng ruble gần đây đã không còn song hành với mức giảm giá dầu mỏ thế giới.  Ngày 15/12, khi giá dầu Brent giao tháng 1/2015 đã tăng 1,3%, đạt 63,13 USD/thùng thì đồng ruble đã không “phản ứng” cộng hưởng, mà giảm xuống 63,4 ruble/USD và 78,81 ruble/euro, lập kỷ lục về mức đáy mới trong 15 năm qua.  Cùng với việc tăng lãi suất để giữ chân các nhà đầu tư, Ngân hàng Trung ương Nga còn thi hành những biện pháp khác nhằm ổn định lại tình hình. Trong đó, ngoài quyết định thả nổi đồng ruble hồi cuối tháng 10 vừa qua, Ngân hàng Trung ương cũng nâng mức trần và tần suất đấu giá repo (mua lại), giữ nguyên các ưu đãi cho các công cụ chuyên dụng để hỗ trợ tính thanh khoản. Tất cả các biện pháp trên nằm trong Gói giải pháp 2.0 để chống lại nguy cơ lạm phát và phá giá.  Biến động trong nền kinh tế Nga có thể dự báo được trước, khi ngoài các yếu tố thị trường, Moskva còn bị Mỹ và phương Tây áp dụng các biện pháp trừng phạt liên quan đến khủng hoảng Ukraine. Trong phát biểu ngày 15/12, phát ngôn viên Điện Kremli Dmitry Peskov khẳng định Nga có thể vượt qua khó khăn do tác động của các lệnh trừng phạt kinh tế, thậm chí thoát khỏi sự phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ.  Trong thông điệp liên bang mới đây, Tổng thống Vladimir Putin nhấn mạnh các biện pháp trừng phạt từ bên ngoài là động lực để Nga đạt mục tiêu đề ra, trong đó vào năm tới cần thoát khỏi mức tăng trưởng 0%, đuổi kịp và vượt mức tăng trưởng của thế giới, hạ mức lạm phát xuống dưới 4%.  Thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh    Không chỉ dừng ở đây, kết thúc phiên giao dịch ngày 16/12, thị trường chứng khoán Nga đã sụt điểm mạnh, xuống dưới 600 điểm lần đầu tiên kể từ tháng 3/2009.  Trong khi đó, đồng nội tệ ruble có nhích lên so với đồng USD và euro nhưng nhìn chung chưa thoát khỏi đà mất giá.  Tính đến 18 giờ 50 giờ Moskva, thị trường chứng khoán Nga mất 12%, còn 629,15 điểm. Chỉ số MICEX của 50 cổ phiếu hàng đầu của Nga cũng giảm còn 1309,82 điểm, mức thấp nhất kể từ tháng 8/2013.  Bên cạnh đó, quyết định tăng đột ngột lãi suất cơ bản lên 17% của Ngân hàng trung ương Nga đã không đủ để vực dậy đồng ruble. Tỷ giá đồng ruble đang có biên độ dao động rất lớn, từ mức thấp nhất 58 đến mức đỉnh điểm 80,1 ruble/USD và chốt phiên vào lúc 23 giờ (giờ Moskva) ở mức 67,7 ruble/USD.  Trong lúc này, quyết định tăng lãi suất vốn nhằm củng cố đồng ruble của Ngân hàng trung ương Nga đã bị chỉ trích. Cố vấn Tổng thống Nga Sergey Glaziov đánh giá biện pháp này đã cắt nguồn “sinh khí” cho khu vực sản xuất và có lợi cho giới đầu cơ.  Cũng theo ông Glaziev, khi vay Ngân hàng trung ương với lãi suất mới 17%, giới đầu cơ có thể thu về mức lãi 1000%. Cố vấn của Tổng thống Nga cho rằng hành động của Ngân hàng trung ương Nga cho thấy định chế này không xử lý được mối liên hệ tương tác giữa lãi suất, tỷ giá và lạm phát.  Trước biến động đáng ngại của đồng ruble, ngày 16/12, Bộ trưởng Kinh tế Nga Aleksey Uliukaiev đánh giá tỷ giá đồng nội tệ hiện không phản ánh được bối cảnh kinh tế vĩ mô của Nga.  Ông Uliukaiev cho biết Chính phủ Nga đã họp và đề ra các biện pháp ổn định tình hình, bao gồm tăng khả năng đảm bảo tính thanh khoản của Ngân hàng trung ương Nga, chuyển trọng tâm cấp vốn từ đồng ruble sang đồng ngoại tệ, bằng cách đó tăng nguồn cung và giảm lượng cầu trên thị trường ngoại tệ trong nước.  Tổng hợp từ   http://www.vietnamplus.vn/nga-tang-manh-lai-suat-co-ban-len-17-de-cuu-nen-kinh-te/296870.vnp  http://www.vietnamplus.vn/thi-truong-chung-khoan-nga-chao-dao-dong-ruble-bien-dong/297090.vnp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga xây dựng trung tâm công nghệ kiểu Silicon Valley      Nước Nga đang hoàn thiện các bước cuối cùng để khai trương một Silicon Valley, một dạng “trung tâm sáng tạo” (innovation center) gần Matxcơva. Nhà vật lý người Nga từng được giải thưởng Nobel Zhores Alferov vừa được lựa chọn làm nhà tư vấn khoa học cho dự án.                        Khó khăn lớn nhất đối với Nga, đó là việc quyết định trung tâm này sẽ hoạt động theo cách nào, với hình thức tài trợ ra sao để đảm bảo vừa phù hợp với cấu trúc pháp lý và tài chính của nước Nga, vừa hỗ trợ tinh thần đổi mới của loại hình doanh nghiệp này.  Nhiều ý kiến cho rằng, mặc dầu nước Nga có một đội ngũ kỹ sư tài năng nhưng họ vẫn cần nhiều hơn thế nữa để đảm bảo thành công của trung tâm công nghệ này khi đi vào hoạt động. Mục tiêu của dự án là tạo ra một trung tâm nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao đủ mạnh để có thể đưa ra các sản phẩm trong vòng từ 5 đến 7 năm tới.  Vào tháng trước, nhà tài phiệt Viktor Vekselberg cũng đã được Tổng thống Dmitry Medvedev bổ nhiệm làm giám đốc dự án khu nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao này. Vekselberg, nhà tài phiệt 52 tuổi gốc Ukraina hiện là Chủ tịch Hội đồng giám đốc của Renova Group of Companies, hoạt động trong các lĩnh vực dầu khí, thép, năng lượng và công nghệ nano. Ông cũng được đánh giá là người giàu thứ 23 hiện nay ở Nga. Vekselberg tin tưởng rằng dự án đầy tham vọng này sẽ gặt hái kết quả bằng việc thu hút sự tham gia của các công ty đa quốc gia.  “Chắc chắn nước Nga không thiếu tài năng trong lĩnh vực kỹ thuật, với các ý tưởng lớn về công nghệ nhưng vấn đề lớn nhất sẽ là làm thế nào để vượt qua các rào cản về mặt kinh doanh”, Josh Lerner, một giáo sư về đầu tư ngân hàng của Trường Kinh doanh Harvard nói. Ông lo ngại rằng môi trường kinh doanh ở Nga sẽ là những trở ngại thực sự cho hoạt động của trung tâm này.  Đặc biệt, nước Nga bằng hệ thống pháp luật và các tòa án của mình, cần chứng tỏ họ có thể đảm bảo được vấn đề sở hữu trí tuệ cho các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đưa các công nghệ mới vào nước này. Thêm vào đó, các nhà đầu tư cũng rất ngại phải đối mặt với hệ thống thuế khóa lằng nhằng, phức tạp và các hạn chế về tài chính đối với các dự án kinh doanh mạo hiểm. Và chính quyền Nga cần phải tháo gỡ các hạn chế này.  Dự án này được Tổng thống Nga Dmitry Medvedev công bố vào tháng 2 vừa qua và sẽ được đầu tư một phần từ nguồn vốn hiện đại hóa của Chính phủ, cỡ 340 triệu đô USD. Silicon Valley của Nga sẽ nằm tại làng Skolkovo, phía Tây của Maxcơva, ngay cạnh một trường đại học kinh doanh tư thục. Tổng thống Nga cũng nhấn mạnh rằng dự án này là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa nước Nga và ông hy vọng Skolkovo sẽ thu hút được các gương mặt lỗi lạc của nước Nga cũng như các nhà khoa học và doanh nhân nước ngoài đến làm việc.  Mới đây, Vladislav Surkov, Phó văn phòng Tổng thống Nga, người giám sát dự án đã cho tổ chức một cuộc họp ở Maxcơva, với sự tham gia của 200 nhà khoa học nhằm thảo luận, tìm ra cách thức tốt nhất để đạt được hai mục tiêu của dự án. Theo đó, mục tiêu thứ nhất là tạo ra một phòng thí nghiệm với sự tài trợ của nhà nước và một tổ hợp kinh doanh, từ đó tạo ra các công ty start-up, dựa trên các công nghệ có sẵn của nước Nga cũng như của các công ty đa quốc gia. Mục tiêu thứ hai của dự án là hình thành một trường đại học nghiên cứu, nơi mà các tiến sĩ khoa học làm việc được đảm bảo có một đồng lương xứng đáng, có các phương tiện nghiên cứu hiện đại và được tiếp cận các siêu máy tính để phát triển ra các công nghệ kinh doanh được trên thị trường.  Mục tiêu chung của Silicon Valley kiểu Nga là hướng đến mục tiêu thương mại hóa các công nghệ đang được ưa chuộng trong các lĩnh vực năng lượng, y sinh, công nghệ thông tin, viễn thông và kỹ thuật hạt nhân, từ đó có thể đa dạng hóa nền kinh tế của Nga, giúp nền kinh tế này khỏi lệ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt. “Các công nghệ mới mà chúng tôi tạo ra sẽ không phải là các đồ chơi của giới trí thức, mà sẽ là những thứ hoàn toàn khác”, Tổng thống Nga Medvedev trả lời tờ Thời báo Maxcơva (Moscow Times) vào cuối tháng 3 vừa rồi. “Những công nghệ này sẽ giúp giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, cải thiện các điều kiện cho người lao động cũng như môi trường lao động”, ông nói tiếp.  Một điều thú vị là trong bước đầu của dự án, người ta không thấy có việc lập ra một trang web để quảng bá cho trung tâm công nghệ này. Tuy nhiên, Ivan Zassoursky, một giáo sư về truyền thông mới của Đại học Liên bang Maxcơva cho biết ông và các cộng sự đã lập ra một nhóm quảng bá trên Facebook. Việc không đặt nhiều nỗ lực cho quảng bá trung tâm, theo ông cũng là điều bình thường bởi “Kremlin đang cố gắng trước hết làm đúng công việc của mình, chứ không đẩy mạnh quảng bá hoặc khuyếch trương những công việc đang làm tới công chúng”. Đây quả thật là một lĩnh vực mà họ thực sự chưa phải là những chuyên gia và họ sẽ tìm cách của mình để thông tin tới cộng đồng khoa học trong nước, ông Zassoursky nói.  Tuy nhiên, cũng đã có những lời chỉ trích “những ước muốn kỳ cục” của Tổng thống Nga Medvedev trong việc hình thành một “nền kinh tế tri thức” ở nước Nga, nơi đang ngập chìm trong nạn tham nhũng, nơi còn có điều kiện sinh hoạt khó khăn và thiếu các đảm bảo pháp lý để bắt chước được hình mẫu thành công của trung tâm khoa học và công nghệ nổi tiếng Silicon Valley.  Hàng ngàn các nhà khoa học, kỹ thuật viên và trí thức Nga đã rời bỏ nước Nga trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế vào những năm 1990. Mặc dầu tình trạng chảy máu chất xám ở Nga thời gian gần đây đã giảm những những mất mát trước đó cũng đã khiến cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu khoa học ở Nga thiệt hại khá trầm trọng.  H. A tổng hợp từ Technology Review, Russia Today và Reuters    Author                Quản trị        
0.09047619047619047
__label__tiasang Ngẫm nghĩ về Thái Lan      Có nhiều giả thiết trái ngược nhau chung quanh sự kiện các vụ đánh bom đầu năm 2007 tại Bangkok, song vẫn chỉ là giả thiết chừng nào chưa có thêm những chi tiết đủ tin cậy lý giải. Tuy vậy, điều không ai nghi ngờ là những vụ đánh bom này dù nhìn từ góc độ nào cũng đang cho thấy quá trình vãn hồi ổn định sau đảo chính ngày 19-9-2006 không diễn ra xuôn xẻ như người dân Thái Lan mong muốn.    Đối với tôi, Thái Lan là một phần của ngôi nhà chung ASEAN của chúng ta. Một khi một thành phần kiến tạo của ngôi nhà chung này “có vấn đề” nan giải, làm sao cả ngôi nhà chung này vô tâm vô tư được? Ở đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, mà còn là câu chuyện cùng hội cùng thuyền: một ASEAN hưng thịnh là tốt cho mọi quốc gia thành viên, một thành viên ASEAN gặp khó là cả ngôi nhà chung chịu ảnh hưởng. Kể từ khi tôi được tiếp xúc Thái Lan với tính cách là “nước tuyến đầu” chống Việt Nam trong vấn đề Campuchia ngày nào, cho đến hôm nay – khi tôi có thể viết những dòng chữ đầy tình cảm chia sẻ này với Thái Lan là cả một chặng đường muôn vàn gian khó trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan cũng như trong quá trình phát triển từ ASEAN 6 trở thành ASEAN 10 1 như hôm nay. Vì vậy sự quan tâm của tôi đối với những diễn biến đầy lo âu ở nước bạn là tự nhiên và tôi hy vọng được nhiều người chia sẻ.                     Tôi đã có dịp được chứng kiến đảo chính ở Thái Lan ngay tại trung tâm nổ ra đảo chính, được nhìn tận mắt đảo chính là đảo chính, không có chuyện nhung lụa nào ở đây, và được chứng kiến Thái Lan sau đó phải bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian công sức để vãn hồi ổn định, khôi phục nhà nước pháp quyền bằng Hiến pháp mới, rồi lại tốn kém bao nhiêu thời gian công sức nữa để phục hồi kinh tế, để làm rất nhiều việc phải làm khác ngõ hầu có thể bù đắp lại “cú thụt lùi” của nước Thái do đảo chính gây nên.  Thế rồi… đảo chính lại xảy ra – như ngày 19-09-2006 vừa qua, đầu năm nay bom lại nổ tiếp nữa, rồi đến những tin đồn về sự rạn nứt giữa hai lực lượng của đảo chính là quân đội và cảnh sát, về khả năng “đảo chính bên trong đảo chính”… Báo chí nước ngoài còn nói về nỗi lo xoáy ốc đảo chính… Giới nghiên cứu nước ngoài còn nhận định cuộc đảo chính 19-09-2006 chấm dứt ảo tưởng cho rằng sự vắng mặt của chiến tranh lạnh và sự phát triển kinh tế có thể tự nó dẫn tới dân chủ!..  Tôi không tránh khỏi ưu tư: Tại sao lại như vậy?  Năm 1932, kinh qua một cuộc đảo chính quân sự, Thái Lan chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến và bắt đầu manh nha những xu hướng xây dựng chế độ dân chủ. Từ đó đến nay (năm 2007), nghĩa là 75 năm trôi qua, có không ít những nỗ lực của các xu thế dân chủ ở nước Thái.  Đặc biệt là cuộc nổi dậy tháng 10-1973 của tầng lớp trung lưu thành phố do phong trào sinh viên làm nòng cốt đã tạo ra một bước ngoặt, xoá bỏ thể chế của giai cấp cầm quyền đương thời liên minh với quân đội, dẫn Thái Lan tới nền dân chủ của một nhà nước pháp quyền, thể hiện tập trung trong Hiến pháp năm 1974. Tuy nhiên cuộc bầu cử đầu tiên theo đúng thể chế dân chủ tháng 1-1975 thất bại, cuộc bầu cử tiếp theo tháng 4-1976 cùng chung một số phận, nguyên nhân chủ yếu là tầng lớp trung lưu của Thái Lan còn quá yếu và chưa trở thành một lực lượng có ảnh hưởng chi phối đất nước. Hệ quả nổi bật nhất là giới quân sự xuất hiện trở lại trên chính trường với tất cả sức nặng của nó với cuộc đảo chính tháng 10-1976.  Bàn thêm về tình hình Thái Lan thời gian 1973 – 1976, điều đáng chú ý là trong bối cảnh tình hình khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ đang nổi lên những vấn đề “phong trào cánh tả cực đoan” ở một vài nước chung quanh với mọi dây mơ rễ má của nó từ ngoại bang mà ai cũng  biết, cộng với tác động của những nỗi lo về thuyết “domino” có liên quan đến cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam… Những hiện tượng này ít nhiều tác động vào nội trị Thái Lan, một mặt gây nên những lo ngại nhất định trong nhiều tầng lớp nhân dân Thái Lan đối với những nỗ lực tiến bộ có xu hướng cải cách, mặt khác được thế lực quân sự khai thác nhằm tăng cường ảnh hưởng của mình. Thực tế này góp phần giải thích vì sao những cuộc nổi dậy tiếp theo những năm sau này của sinh viên sôi nổi không kém, nhưng đều bị chấm hết trong đàn áp và thất bại. Tuy nhiên, sự chuyển biến của Thái Lan trước hết và chủ yếu vẫn do so sánh lực lượng bên trong xã hội Thái Lan quyết định, bây giờ cũng vậy.  Từ năm 1932 đến năm 2007 Thái Lan đã trải qua 14 cuộc đảo chính quân sự2, (riêng từ cuộc nổi dậy năm 1973 của phong trào dân chủ cho đến nay có 9 cuộc đảo chính), không kể 14 cuộc chính biến giải tán quốc hội, giải tán chính phủ ít nhiều đều có sự tham gia của giới quân sự nhưng không kinh qua đảo chính.  75 năm xây dựng chế độ dân chủ, nhưng vì sao quốc gia này vẫn quá nhiều đảo chính và chính biến?  Đáng chú ý hơn nữa – ít nhất là đối với tôi – vì sao 75 năm xây dựng và phát triển trong hoà bình mà Thái Lan vẫn chưa trở thành “con hổ” như Hàn Quốc, như Đài Loan, mặc dù quốc gia này đã mở cửa ra thế giới bên ngoài từ năm 1826 – có quan hệ chính thức với Anh, và từ năm 1833 đã đặt quan hệ ngoại giao với Mỹ? Xin lưu ý, với chính sách ngoại giao cây tre tôi đã có dịp đề cập đôi lần trên báo chí, Thái Lan là nước duy nhất ở Đông Nam Á chưa hề bị một nước ngoài nào chiếm làm thuộc địa, là nước duy nhất trong khu vực không phải nếm trải một cuộc chiến tranh nào của thế kỷ trước, chưa nói đến việc Thái Lan được lợi trong một vài cuộc chiến tranh ở vùng này.  Có lẽ chỉ có người Thái mới tìm ra được những câu trả lời xác đáng cho những vấn đề của chính họ.  Tuy nhiên, từ ngoài quan sát, tôi thường xuyên vấp phải 2 câu hỏi nói trên khi ngẫm nghĩ về nước Thái.  Có nhiều cách nhận định khác nhau về tình hình Thái Lan. Tuy nhiên nhiều bài phân tích của nước ngoài thống nhất với nhau tại một điểm: Sự phát triển không đồng đều ở Thái Lan về kinh tế cũng như về các giai tầng trong xã hội chi phối sâu sắc toàn bộ tình hình Thái Lan hiện nay.  Về kinh tế, sự phát triển chủ yếu chỉ tập trung vào Bangkok và một số vùng phụ cận, tạo ra khoảng cách phát triển rất lớn so với khu vực nông thôn – nơi còn tới 50% dân số sinh sống – và những khu vực còn lại. Đời sống chính trị tại Thái Lan chủ yếu tập trung ở Bangkok và một số trường đại học. Trong khi đó, do trình độ phát triển của quốc gia này, công nhân và nông dân – hai thành phần dân cư đông nhất – hầu như chỉ là lực lượng nếu không tùy lúc lệ thuộc nhóm này nhóm kia thì lại đứng ngoài mọi hoạt động chính trị. Đáng chú ý là tầng lớp trung lưu nói chung chưa bao giờ trở thành một lực lượng chính trị có ý nghĩa quyết định ở Thái Lan, trước sau quyền lực chủ yếu vẫn tập trung trong tay các thế lực kinh tế, quân sự và một số chính khách cũng xuất thân từ giới quân sự. Sự liên kết giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị với sự tham gia của các thế lực quân sự luôn luôn chi phối chính trường Thái Lan và thường vượt qua khung khổ của Hiến pháp. Sự liên kết này luôn luôn thay đổi tùy theo thay đổi của so sánh lực lượng giữa các thành phần tham gia liên kết, và thường kéo theo sự thay đổi trên chính trường. Thực tiễn từ 1973 đến nay cũng cho thấy một khi sự liên kết giữa các loại quyền lực này phát sinh mâu thuẫn và đi tới sự mất cân bằng nào đấy, đảo chính lại xảy ra – toàn bộ quá trình phát sinh mâu thuẫn và xử lý mâu thuẫn đều vượt ra ngoài khung khổ của Hiến pháp. Sau mỗi cuộc đảo chính thường lại phải xây dựng và thông qua Hiến pháp mới.  Xem xét các mặt của thể chế, có thể nói chí ít từ 1973 Thái Lan đã thiết lập được cho mình nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Tuy nhiên, những cuộc đảo chính đã diễn ra luôn luôn làm cho sự tồn tại của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự bị gián đoạn, thậm chí từng lúc tạm thời chấm dứt. Quá trình xây dựng, phá đi, làm lại rồi lại phá đi… như vậy tái diễn không ngớt trong những thập kỷ vừa qua khiến cho nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Thái Lan không phát triển được. Đương nhiên một số truyền thống mang tính văn hoá và lịch sử cũng tham gia ở mức độ nào đó vào sự đình trệ này, song chỉ là những yếu tố phụ và không có ý nghĩa quyết định, xin được miễn bàn trong khuôn khổ bài viết này.  Đáng chú ý, trong mấy thập kỷ vừa qua ở Thái Lan, trong những lời của người làm đảo chính buộc tội chính phủ bị lật đổ hầu như có một điểm giống nhau: Thủ tướng đương nhiệm lạm dụng quyền lực và tham nhũng.., (lúc này lúc khác còn có thêm điểm tố cáo tội khinh xuất nhà vua – song không phải là điểm tôi muốn bàn luận ở đây). Lời cáo buộc này không đơn thuần là một alibi hay lời biện minh cho đảo chính; câu nói “không có lửa làm sao có khói!?” ít nhiều hàm chứa sự thật. Trường hợp của thủ tướng bị lật đổ Thaksin cũng không phải là ngoại lệ: ông ta bị cáo buộc về một loạt hành động gian lận, trong đó có việc bán trốn thuế tập đoàn viễn thông Shin Corporation của ông ta trị giá 7,3 tỷ Bath cho Singapore. Lịch sử chính trường Thái Lan từ 1973 đến nay có 18 vị thủ tướng chấp chính, song chỉ có 3 người là Prem Tinsulanonda, Anand Panyarachun và Chuan Leekpai nổi tiếng trong dư luận nhân dân Thái là người liêm khiết. Không biết có phải ngẫu nhiên không, cả 3 vị này thôi chức đều không phải do đảo chính.  Nhìn lại những cuộc đảo chính trước đây, cũng thấy lạm dụng quyền lực và tham nhũng luôn luôn là những yếu tố khởi thuỷ phá vỡ khung khổ pháp quyền, cản trở sự phát triển của xã hội dân sự. Những hiện tượng này tất yếu tích tụ mâu thuẫn giữa các thế lực khác nhau trong giới cầm quyền, và khi tình hình diễn tiến tới đỉnh điểm thì xảy ra đảo chính.   Cũng có thể nói một cách giản lược nhất: Cái ngưỡng mà sự phát triển nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Thái Lan không thể vượt qua được, cái trớn mà cứ sau một thời gian tạm thời ổn định lại làm nổ ra đảo chính, không là cái gì khác ngoài sự lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Thì ra quy luật thép của phát triển là không thừa nhận một sự thiếu hụt nào trong xây dựng và thực thi nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự? Nói một cách triệt để hơn nữa:  Phải chăng để xảy ra một sự thiếu hụt nào thì việc xây dựng được nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự có cũng như không?  Tại sao cái ngưỡng này là không thể vượt qua được? Tại sao cái trớn này cứ tái đi tái lại? Ở đâu và vì sao đã khắc phục được cái ngưỡng hay cái trớn này?.. Đây là những câu hỏi rất đáng ngẫm nghĩ.  Có ý kiến cho rằng đảo chính lên đảo chính xuống như vậy là do đa nguyên đa đảng.  Những điều vừa trình bên trên của bài viết này hiển nhiên không chấp nhận lập luận như vậy. Hơn nữa, nếu lập luận trên là đúng, thì tại các nước phát triển ắt phải diễn ra đảo chính quanh năm ngày tháng – đây là điều chúng ta không thấy.  Có ý kiến cho rằng để tránh đảo chính thì chế độ chính trị một đảng là tốt nhất.  Nếu lập luận như vậy là đúng thì tất cả các nước đang phát triển – để  giữ vững ổn định – sẽ không có cửa xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Mà câu chuyện của Thái Lan lại cho thấy không có thể chế này thì không phát triển được – vì đã mở cửa ra thế giới bên ngoài trước thiên hạ mấy chục năm, đã qua mấy chục năm xây dựng rồi mà Thái Lan vẫn chỉ là một nước đang phát triển; có thể chế này mà thiếu hụt thì vẫn cứ xây lại phá, lại xây lại phá.., cuối cùng là phát triển rất chậm. Như vậy, chẳng lẽ các nước đang phát triển chỉ có một định mệnh mãi mãi là nước đang phát triển?  Chỉ có người Thái Lan mới tìm ra được câu trả lời chuẩn xác cho những vấn đề của nước họ. Không ai có thể và không ai có quyền dạy khôn ai trong việc này. Tuy nhiên bài học hay kinh nghiệm nào của người đời bao giờ cũng có ích nếu ta biết học nó./.    1 ASEAN 10 = gồm 4 nước thành viên mới được kết nạp sau: Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanma.  2 Có tài liệu nói là 18 cuộc đảo chính, nhưng tôi chưa kiểm tra lại được.  Nguyễn Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngăn chặn ung thư não theo chiến lược của virus bệnh dại      Các nhà khoa học đang tìm cách bắt chước chiến lược “khôn ngoan” của virus bệnh dại để thâm nhập vào các tế bào trong khối u não.      Hạt nano (trái) đã thâm nhập được vào tế bào não theo cùng cách của virus bệnh dại (phải).  Virus bệnh dại, đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, xâm nhập vào cơ thể qua vết thương (do bị cắn, cào, liếm), nhân lên tại các tế bào cơ rồi theo đường dây thần kinh ngoại vi lên não gây tổn thương các tế bào thần kinh trung ương. Chiến lược này cho phép nó vượt qua một hàng rào quan trọng: hàng rào máu não – lớp màng ngăn chặn hầu hết các mầm bệnh đi từ máu vào hệ thần kinh trung ương. Nhưng hàng rào này cũng ngăn cản thuốc chữa ung thư đến được các tế bào bị nhiễm bệnh.  Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đang xem virus bệnh dại như một gợi ý. Họ đã nạp các loại thuốc trị ung thư vào hạt nano được bọc bằng một phần protein bề mặt của virus bệnh dại – loại protein cho phép virus này len lỏi vào hệ thần kinh trung ương. Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Sungkyunkwan, Suwon, Hàn Quốc, còn tiến thêm một bước nữa. Chuyên gia về hạt nano Yu Seok Youn và nhóm của ông đã thiết kế các hạt bằng vàng có cùng dạng hình que và kích cỡ như virus bệnh dại. Hình dạng như vậy cho các hạt nhiều diện tích tiếp xúc hơn so với các hạt hình cầu, tăng khả năng của protein bề mặt trong việc liên kết với các cơ quan thụ cảm trên các tế bào thần kinh, vốn giữ vai trò như cửa ngõ vào hệ thần kinh. Các hạt này không mang theo bất kì thuốc gì, nhưng chúng dễ dàng hấp thụ tia laser, để được làm nóng lên và nhờ thế tiêu diệt các mô ở xung quanh.  Youn và nhóm của ông đã tiêm các hạt nano vàng vào tĩnh mạch đuôi của bốn con chuột bị u não. Các hạt nano nhanh chóng di chuyển đến não và tụ lại gần vị trí các khối u. Sau đó, nhóm đã bắn một tia laser cận hồng ngoại vào các hạt nano, làm chúng nóng lên gần 50oC. Ánh sáng này đi xuyên qua da và xương một cách vô hại, nhưng sức nóng từ các hạt vàng tỏa ra xung quanh, nung nóng hiệu quả các tế bào ung thư gần đó. Phương pháp điều trị này đã làm giảm đáng kể kích thước của khối u, Youn và đồng nghiệp đã công bố kết quả của mình trên Advanced Materials. Trong một thí nghiệm khác, nhóm nghiên cứu đã sử dụng cùng một phương pháp điều trị trên chuột bị u não, tiêm vào hai bên sườn của chúng. Các khối u não trên hai con trong số các con chuột đã biến mất sau bảy ngày, trong khi khối u ở những con chuột khác thu nhỏ kích thước xuống khoảng một nửa.  Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với phương pháp này. Rachael Sirianni, nhà khoa học về dẫn truyền thuốc tại Viện Thần kinh Barrow, Phoenix, Mỹ, lo ngại các hạt nano của Youn có thể dẫn đến những phản ứng phụ không mong muốn. Trên thực tế, các hạt bị rò ra bên ngoài tế bào khối u có thể thiêu đốt những tế bào khỏe mạnh.  Còn Feng Chen, nhà khoa học vật liệu tại Trung tâm Ung thư mang tên Sloan Kettering, New York, thì lo ngại những hạt nano có kích thước như vậy thường nằm lại trong gan và phải mất một thời gian dài mới thải loại hết được. Điều này có thể khiến phương pháp của nhóm sẽ khó được chấp thuận thử nghiệm lâm sàng trên người cũng như được chấp thuận bởi Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.sciencemag.org/news/2017/02/how-stop-brain-cancer-rabies    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân hàng đầu tư châu Âu sẽ không cấp vốn cho các dự án điện nhiên liệu hoá thạch      Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB), ngân hàng đầu tư liên quốc gia quan trọng nhất ở châu Âu dự kiến sẽ không cho các dự án điện sử dụng nhiên liệu hoá thạch vay vốn từ năm 2021.      Trụ sở EIB ở Luxemburg. Cho đến nay, đây là nhà tài trợ công lớn nhất cho các dự án về khí đốt của EU.  28 quốc gia thành viên của EU mới đây đã có cuộc họp tại Luxemburg và ra quyết định: từ 2021 EIB sẽ không cấp tín dụng cho các dự án năng lượng hoá thạch.   Vào mùa hè vừa rồi, chủ tịch EIB, ông Werner Hoyer đã tuyên bố, ngân hàng của ông sẽ trở thành “Ngân hàng bảo vệ khí hậu” nhằm giúp EU thực hiện được mục tiêu đề ra trong việc chống biến đổi khí hậu. Trước đó, ngay từ năm 2013 EIB đã ngừng hỗ trợ vốn cho các nhà máy điện chạy bằng than. Và trong hai năm tới ngân hàng này cũng ngừng hỗ trợ các nhà máy điện chạy bằng khí đốt – qua đó ngân hàng này sẽ không còn liên quan đến nhiên liệu hoá thạch.  Trong số các thành viên EU lúc đầu cũng có một số nước phản đối như Ba lan,  Rumani và Hungari. Ngay cả chính phủ Đức cho đến những tuần vừa rồi cũng không tán thành, nhưng sau đó đồng ý, khi các bên đưa được vào dự thảo thời gian quá độ là 2 năm: có nghĩa là các dự án dùng khí đốt và các năng lượng gây hại cho khí hậu khác sẽ được tiếp tục tài trợ cho đến năm 2021. Cho đến nay EIB là nhà tài trợ công lớn nhất cho các dự án về khí đốt của EU. Ngân hàng này nhận được vốn từ các nước thành viên, khoản tiền đóng góp lệ thuộc vào sức mạnh kinh tế mỗi nước. Các cổ đông chính là Pháp, Đức, Anh quốc và Italia, mỗi nước khoảng 16 %.   Tuy nhiên việc chấm dứt khoản tín dụng của EIB không có nghĩa là dấu chấm hết đối với với các dự án khí đốt ở châu Âu, bởi lẽ Uỷ ban  EU vẫn tiếp tục hỗ trợ cho nguồn năng lượng hóa thạch. Thí dụ thông qua quỹ Kết nối châu Âu CEF, các dự án khí đốt vẫn vay được tiền.   Trong những năm qua, EIB cho vay khoảng 13 tỷ Euro cho các dự án khí đốt. Riêng trong năm qua đã cung cấp cho hành lang khí đốt ở phía nam, tuyến đường ống từ Aserbaidschan đến Italia 700 triệu Euro, để châu Âu đỡ bị lệ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga.   Bước đi của EIB lúc này có thể là tín hiệu tác động vào các ngân hàng khác, vì cho đến nay chỉ có rất ít ngân hàng rút lui không hỗ trợ đối với lĩnh vực hoá thạch. Theo một báo cáo gần đây của tổ chức phi chính phủ Banktracker thì kể từ khi Hiệp định bảo vệ khí hậu Paris được thông qua, 33 ngân hàng lớn nhất của thế giới đã cung cấp khoản tín dụng lên đến 1,9 nghìn tỷ đôla cho các dự án về than, dầu và khí đốt. Từ 2015, khoản tín dụng dành cho khai thác các nguồn tài nguyên hóa thạch không ngừng tăng, riêng năm 2018 là vào khoảng 650 tỷ đôla. Dù sao thì Ngân hàng thế giới cách đây hai năm đã tuyên bố không hỗ trợ cho các dự án dầu mỏ và khí đốt.  Hiện tại các tập đoàn khí đốt châu Âu luôn truyền thông rằng khí đốt là nguồn năng lượng thân thiện với khí hậu hơn so với các nhiên liệu hoá thạch khác. Một chiến dịch tuyên truyền đã được phát động, coi khí đốt là một dạng công nghệ quá độ sẽ tiếp tục được vận dụng cho đến khi phát triển được các năng lượng tái sinh có thể thay thế bền vững và đầy đủ.  Tuy nhiên khí đốt cũng như các loại nhiên liệu hoá thạch khác đều khai thác từ trong lòng đất, được vận chuyển và sau đó được đốt để làm ra điện hoặc để sinh nhiệt. Nếu chỉ xem xét về khí thải CO2 trong quá trình đốt than đá hoặc than nâu  và khí đốt thì khí đốt thuộc diện thân thiện với khí hậu nhất. Tuy nhiên trong quá trình khai thác và vận chuyển phát sinh khí methan có hại đối với khí hậu. Theo Hội đồng khí hậu thế giới thì khí đốt sản sinh một phần tư nhiệt lượng do con người tạo ra và làm trái đất nóng lên, và sự nguy hại của nó cao gấp một trăm lần so với khí CO2. Các nhà khoa học đã tính toán, để đạt được mục tiêu khí hậu theo thoả thuận Paris thì khoảng 50% trữ lượng khí đốt đã được phát hiện phải nằm lại trong lòng đất chứ không thể khai thác.  Hoài Trang lược dịch, theo Tuần báo Spiegel  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/mensch/eib-europas-wichtigste-zwischenstaatliche-bank-wird-nachhaltig-a-1296600.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân hàng Thế giới đổ hàng trăm triệu vào khoa học châu Phi      Phong trào cơ sở khổng lồ đã thành lập hàng chục trung tâm nghiên cứu trên khắp lục địa – nhưng các trung tâm đối mặt với một tương lai không chắc chắn.      Một Trung tâm Xuất sắc tại Đại học Gaston Berger ở Senegal, chuyên về toán học và khoa học máy tính.  Một kế hoạch của Ngân hàng Thế giới nhằm xây dựng năng lực nghiên cứu cơ sở ở châu Phi sẽ tăng gần gấp đôi ngân sách của mình với lần đầu tư thứ ba, và có lẽ là lần đầu tư cuối cùng trị giá ít nhất 280 triệu USD. Kế hoạch này đã thành lập 46 trung tâm giáo dục và nghiên cứu tại 17 quốc gia châu Phi, tạo việc làm cho hàng trăm nhà khoa học và đào tạo hàng nghìn sinh viên – nhưng cả những nhà phê bình và những người ủng hộ chương trình đều lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi ngân hàng hết tiền đầu tư.  “Tôi thấy một thách thức lớn khi tài trợ kết thúc,” Patrick Ogwang, người đứng đầu một trung tâm nghiên cứu y học cổ truyền được tài trợ bởi kế hoạch này, tại Đại học Mbarara ở Uganda, nói. Ông đang chú ý đến quan hệ đối tác trong công nghiệp như một nguồn tiền cho tương lai, nhưng ông nói rằng sự cạnh tranh cho tiền nghiên cứu trong nước là rất khốc liệt.  Ngân hàng Thế giới đã phát động kế hoạch Những trung tâm Xuất sắc Châu Phi (African Centres of Exellence – ACE) vào năm 2014 với khoản vay 165 triệu đô la. Số tiền này được sử dụng để tạo ra 22 trung tâm ở phía tây và các quốc gia Trung Phi bao gồm Nigeria, Benin và Togo; các trung tâm được được lựa chọn một cách cạnh tranh trong quan hệ đối tác với các chính phủ nhận khoản vay.  Hai năm sau, ngân hàng đã phê duyệt 148 triệu đô la cho các khoản vay để tạo ra 24 trung tâm ở các nước Đông Phi và Nam Phi bao gồm Zambia, Mozambique và Rwanda. Vòng thứ ba, được công bố vào ngày 31 tháng 8, đẩy tổng mức đầu tư của Ngân hàng Thế giới qua 500 triệu đô la, làm cho dự án trở thành một trong những chương trình hỗ trợ khoa học lớn nhất trên lục địa này. Dự án một lần nữa nhắm vào Tây và Trung Phi và cuối cùng có thể bao gồm thêm 50 triệu đô la từ Cơ quan phát triển Pháp AFD.  Đầu tư cơ sở hạ tầng  Các chính phủ nhận được khoản vay đưa ra các kỳ giải ngân 5 năm, cho phép các trung tâm, được liên kết với các trường đại học được thành lập, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhân viên và hỗ trợ tài chính cho sinh viên. Tất cả đều tập trung vào những thách thức nghiên cứu địa phương như sức khỏe bà mẹ, nhân giống cây trồng, vệ sinh và các bệnh truyền nhiễm. Các trung tâm phương Tây và trung tâm châu Phi đã nhập học khoảng 6.500 thạc sĩ và 1.600 nghiên cứu sinh cho đến nay; các trung tâm phía Đông và Nam có thêm khoảng 1.800.  Về lâu dài, các trung tâm được kỳ vọng sẽ có thể tự chủ tài chính, dựa trên nguồn vốn từ chính phủ, các tổ chức từ thiện và công nghiệp. Điều quan trọng là các trung tâm phát triển theo hướng bền vững, theo Andreas Blom, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới, người đã dẫn đầu chương trình kể từ khi thành lập.  Blom cho biết vòng thứ ba của khoản vay sẽ cung cấp nguồn tài trợ “cai sữa” cho các trung tâm hiện có ở Tây và Trung Phi, cũng như trả tiền cho những trung tâm mới. Nhưng, ông nói thêm, nó có lẽ sẽ là vòng đầu tư cuối cùng của chương trình.  Tìm quỹ  Một số trung tâm từ vòng đầu tiên giành được tài trợ nghiên cứu quốc tế có uy tín từ các quỹ như Wellcome Trust, một tổ chức từ thiện nghiên cứu y sinh tại London, và Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ. Nhưng những nguồn từ các chính phủ châu Phi quốc gia đang mất nhiều thời gian hơn hiện thực hóa.  Một số chính phủ châu Phi đang trong quá trình tạo ra các cơ chế tài trợ nghiên cứu quốc gia – một điều hiếm thấy ở các nước châu Phi. Kenya đã tạo ra một cơ chế trong năm 2015, và Uganda dự kiến sẽ khởi động chương trình của mình vào cuối năm nay. Chính phủ Ghana đã nói rằng nó đang dành 50 triệu đô la cho một quỹ nghiên cứu, nhưng đề xuất vẫn cần được sự phê chuẩn của nghị viện.  Tuy nhiên, việc tạo ra một quỹ là một chuyện – duy trì nó lại là một vấn đề khác. Chương trình Kenya có 30 triệu đô la để chi tiêu trong năm 2017, nhưng ngân sách của nó đã bị cắt giảm xuống 27 triệu đô la cho năm 2018, do doanh thu thuế thấp hơn dự kiến và chi phí cho bầu cử liên tiếp vào năm ngoái. Ngân sách năm tới có thể thậm chí còn nhỏ hơn nữa, các quan chức cho biết.  Các chương trình tài trợ trước đây đã dần biến mất: Sáng kiến Khoa học Thiên niên kỷ của Uganda diễn ra từ năm 2007 đến năm 2013, được Ngân hàng Thế giới tài trợ 30 triệu đô la. Chương trình đã tạo ra một số chương trình khoa học ở Uganda, nhưng một đánh giá cho thấy chính phủ của đất nước đã không tạo ra đủ “tài nguyên liên tục và có thể dự đoán được” để giữ cho chương trình tiếp tục.  Kế hoạch quốc gia  Các nhà phê bình của chương trình ACE nói rằng nó đã cho phép các chính phủ trì hoãn việc đầu tư quốc gia vào nghiên cứu. Chính phủ có 40 năm, bao gồm 10 năm thuộc giai đoạn không hoàn trả, để trả lại tiền với lãi suất thấp hoặc không.  John Mugabe, một chuyên gia về chính sách khoa học ở châu Phi tại Đại học Pretoria, Nam Phi cho biết: “Nhiều chính phủ châu Phi, có vòng đời chính trị ngắn, không thực sự quan tâm đến việc ai sẽ trả tiền và các khoản vay sẽ được thanh toán như thế nào”. Ông cho rằng ngân hàng đáng nhẽ nên yêu cầu chính phủ đồng tài trợ cho các trung tâm.  Đại diện của chính phủ Ghana và Nigeria nói với Nature rằng các khoản vay ACE bổ trợ cho các kế hoạch tài trợ quốc gia của họ. Tại Ghana, các đề xuất nghiên cứu chất lượng cao hơn sẽ được nhận quỹ nghiên cứu quốc gia nhờ các phòng thí nghiệm được thành lập và các nhà khoa học được đào tạo theo chương trình ACE, Mohammed Salifu, thư ký điều hành của Hội đồng Quốc gia về Giáo dục đại học của Ghana cho biết.  “Chương trình ACE buộc các chính phủ châu Phi tài trợ cho khoa học và đào tạo ở mức mà họ sẽ không bao giờ tự nguyện làm,” Gordon Awandare, một nhà hóa sinh từ Đại học Ghana ở Legon nói. Trung tâm của ông, Trung tâm Sinh học tế bào của Các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở Tây Phi, là một trong những chương trình thành công nhất: các nhà nghiên cứu ở đây mô tả một mục tiêu vắc xin sốt rét mới và xây dựng trung tâm tính toán hệ gen hiệu năng cao đầu tiên của Ghana.  Tuy nhiên, ông nói: “Cuối cùng, trách nhiệm duy trì được các ACE hiệu quả trong 10 năm tới thuộc về chính phủ địa phương, để tác động của các trung tâm có thể tạo ra một sự khác biệt đáng kể.”  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06094-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân hàng Thế giới đứng đầu trong liên minh bảo tồn các đại dương      Một liên minh do Ngân hàng Thế giới đứng đầu đã đặt ra những mục tiêu tham vọng nhằm cải thiện các đại dương trên thế giới với nguồn kinh phí hi vọng có thể có được là 1,5 tỷ USD. Nhiều trong số các mục tiêu này là sự lặp lại những mục tiêu trước đây từng được đặt ra, nhưng động thái mới này vẫn được hoan nghênh bởi các nhóm bảo tồn môi trường.      Với việc khai trương Liên minh Toàn cầu vì các Đại dương (Global Partnership for Ocean) tại Singapore, chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick nói rằng các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, và các cơ quan Liên Hợp Quốc đã đồng lòng nhất trí cho một phương thức hợp tác toàn diện hơn trong các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu, và kinh doanh liên quan đến các đại dương.   “Để giúp các đại dương của chúng ta trở nên lành mạnh và giàu có trở lại, chúng ta cần tăng cường hợp tác và kết nối khắp toàn cầu để tạo ra sức mạnh tương trợ lẫn nhau”, Zoellick nói.  Ông hi vọng sẽ vận động được 1,5 tỷ USD từ các chính phủ, khu vực tư nhân, và các tổ chức khác, để có thể vận hành và giám sát những vùng biển được bảo vệ, cải cách các hoạt động quản lý đánh bắt cá cùng những hoạt động trên biển khác trong vòng 5 năm tới.  Trong số các mục tiêu cụ thể của liên minh mà Zoellick kể ra, có một số mục tiêu cụ thể như tái tạo ít nhất một nửa những nguồn cá mà các nhà nghiên cứu hiện đã xác định là đang suy giảm, làm gia tăng và làm sạch các vùng nuôi trồng thủy hải sản để giúp ngành này cung cấp được hai phần ba nhu cầu tiêu thụ cá của thế giới.  Hiện nay đã nhiều quốc gia cam kết nỗ lực duy trì hoặc hồi phục các nguồn cá, tuân thủ theo Quy định Hành xử Đánh bắt cá có trách nhiệm của Tổ chức Thực phẩm và Nông nghiệp của UN.  Một mục tiêu khác của liên minh là tăng diện tích bảo tồn biển lên thành 5% từ mức ít hơn 2% hiện nay, dù chưa rõ thời hạn cụ thể là khi nào. Hiệp ước Đa dạng Sinh học năm 2002 vốn đã kêu gọi bảo tồn 10% vùng biển thế giới vào năm 2020.   Trong một thông điệp, nhóm vận động vì môi trường mang tên Conservation International có trụ sở tại Washington DC đã gọi động thái mới là một “bước đi thiết yếu” giúp xây dựng nguồn kinh phí cho việc bảo tồn đại dương.  “Không tổ chức nào có khả năng tự mình giải quyết những thách thức về các đại dương trên thế giới. Hợp tác với Ngân hàng Thế giới trong Liên minh sẽ giúp chúng ta thu được sự tham gia của các chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, và những cộng đồng địa phương để giúp bảo tồn những đại dương lành mạnh, giàu có, theo một cách tốt hơn so với khi chúng ta tự lực một cách riêng rẽ”, khẳng định từ Sebastian Troëng, phó chủ tịch Conservation International.  Nguồn: Nature News Blog  http://blogs.nature.com/news/2012/02/global-partnership-aims-to-save-the-oceans.html#wpn-more-15607    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân khố “mỉm cười”      Bộ Tài chính đã yên tâm hơn về lượng tiền  nằm trong ngân khố quốc gia. Theo báo cáo về tình hình thực hiện các  nhiệm vụ tài chính, ngân sách do&#160; Bộ Tài chính công bố hôm nay 12-3,  trong hai tháng đầu năm ngân sách đã thu khoảng 1.800 tỉ đồng cổ tức từ  nhóm doanh nghiệp nhà nước, chưa kể các nguồn thu khác.    Số tiền 1.800 tỉ đồng là cổ tức được chia năm 2013 của phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước do các bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu và phần lợi nhuận còn lại năm 2013 của các tập đoàn, tổng công ty do nhà nước nắm 100% vốn điều lệ sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật.  Việc thu ngân sách từ nguồn này được tiếp tục thực hiện theo chủ trương của Chính phủ từ cuối năm 2013 thể hiện qua Nghị định 204/2013/NĐ-CP. Chỉ chưa đầy 2 tháng cuối năm 2013, Bộ Tài chính đã thu cho ngân khố quốc gia trên 20.000 tỉ đồng cổ tức của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ 100% vốn.  Cũng theo Bộ Tài chính, trong hai tháng đầu năm nay, cơ quan này đã thu được khoảng 2.100 tỉ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong quý 3-2013 của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử… Số thuế này trước đó đã được gia hạn 3 tháng theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ, nay đến hạn phải nộp.  Ngân sách nhà nước còn được bổ sung một nguồn rất lớn từ trái phiếu chính phủ. Tính đến ngày 26-2-2014, Chính phủ đã phát hành được 51.889 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ để bù đắp bội chi ngân sách và chi cho đầu tư phát triển, bằng 17,5% nhiệm vụ huy động vốn trong nước năm 2014. Đây cũng là một con số kỷ lục tiếp theo của thị trường trái phiếu Việt Nam.  Tổng thu ngân sách nhà nước qua 2 tháng đạt 129.870 tỉ đồng, bằng 16,6% dự toán, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, thu nội địa ước đạt 93.465 tỉ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2013 (không kể tiền sử dụng đất thì tăng 17,8%); thu từ kinh tế quốc doanh đạt 15,5% dự toán, tăng 16%; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 20,4% dự toán, tăng 24,3%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 19,9% dự toán, tăng 25,6%. Riêng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân đạt 17,7% dự toán, giảm 2,2% so với cùng kỳ.  Bộ Tài chính lý giải nguyên nhân khiến thu ngân sách cải thiện là do kinh tế các tháng cuối năm 2013 và đầu năm 2014 tiếp tục có những chuyển biến tích cực, làm tăng nguồn thu ngân sách. Ước tính có 45/63 địa phương có số thu nội địa đạt tiến độ dự toán (trên 16% kế hoạch thu).  Trong khi đó, tổng chi của ngân sách nhà nước qua 2 tháng ước đạt 150.070 tỉ đồng, bằng 14,9% dự toán, chỉ tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2013.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân sách nhà nước: Cần cuộc đại phẫu      Tại buổi họp báo hôm 10-10-2013, Thứ trưởng  Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết mọi năm, thu ngân sách chín tháng  thường đạt 80% dự toán, năm nay chỉ đạt 66,6%. Dự báo khả năng thu ngân  sách năm 2013 không đạt được như dự toán. Trong khi đó, theo bà Mai, chi ngân sách  vẫn không ngừng tăng, đặc biệt là chi phát triển sự nghiệp, chi quản lý  hành chính.       Có lẽ đã đến lúc cần một cuộc đại phẫu với ngân sách nhà  nước.  Thu ngân sách quá cao so với GDP và không bền vững  Là một nước nghèo mới vượt qua ngưỡng “nước thu nhập thấp”, nhưng từ lâu Việt Nam đã có tỷ lệ thu ngân sách trên GDP cao nhất khu vực, cao hơn rõ rệt so với những nước giàu có hơn nước ta.  Theo bảng dưới, mặc dù là nước có GDP tính theo đầu người thấp nhất nhưng Việt Nam có tỷ lệ thu ngân sách/GDP cao nhất và tỷ lệ bội chi ngân sách cao nhất so với các nước trong khu vực. Nếu cộng khoản thu với khoản bội chi ngân sách thì tỷ lệ chi ngân sách của Việt Nam lên đến 32,6% GDP, hơn gần gấp đôi Philippines là nước có GDP/đầu người cao hơn hẳn nước ta.  Tỷ lệ thu ngân sách của nước ta cao bằng tỷ lệ thu ngân sách của các nước có thu nhập trung bình, có thu nhập bình quân đầu người cao gấp đôi so với nước ta.          Tính công khai minh bạch về ngân sách của Việt Nam được quốc tế đánh giá thuộc loại thấp nhất trên thế giới, chỉ được 19/100 điểm.        Thu ngân sách quá cao gây sức ép nặng nề lên khu vực doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp dân doanh. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khoản thu này chiếm đến 34,5% thu nhập của doanh nghiệp. Thời gian nộp thuế của các doanh nghiệp Việt Nam lên đến 872 giờ/năm, xếp hạng 138/185 nền kinh tế (theo WB, 2013), làm cho chi phí về thời gian của doanh nghiệp cũng rất cao (1).   Nghị quyết của Quốc hội (68/2006/QH11 ngày 31-10-2006) cho phép không đưa thu xổ số vào cân đối ngân sách địa phương nhưng được quản lý qua ngân sách nhà nước. Khoản thu này chiếm từ 30-50% nguồn thu tại chỗ của địa phương, song không được hội đồng nhân dân quyết định trong cân đối ngân sách. Tương tự như vậy, nguồn thu từ trái phiếu chính phủ do không chắc chắn sẽ huy động được bao nhiêu nên cũng không được đưa vào cân đối ngân sách do Quốc hội duyệt.  Trong 10 năm qua, Quốc hội đã cho phép lập 70 quỹ tài chính nhà nước các loại (quỹ bình ổn giá, quỹ cổ phần hóa…), trong đó có khoảng 40 quỹ đang hoạt động. Hiện có khoảng 30 quỹ đang còn tồn một số vốn không nhỏ chưa chi hết trong khi ngân sách vẫn tiếp tục bội chi mà ngân sách chưa điều hòa được.  Tính công khai minh bạch về ngân sách của Việt Nam được quốc tế đánh giá thuộc loại thấp nhất trên thế giới, chỉ được 19/100 điểm.  Ngoài nguồn thu chính thức vào ngân sách nhà nước, theo báo cáo về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012, khoảng 65% doanh nghiệp cho biết họ phải tốn chi phí không chính thức khá lớn để “bôi trơn” các thủ tục hành chính trong kinh doanh. Cộng tất cả khoản thu chính thức và phi chính thức thì bộ máy nhà nước của nước ta có tỷ lệ chi rất lớn so với GDP.          Chi hành chính quá lỏng lẻo với chế độ sử dụng xe công, đi công tác nước ngoài, chiêu đãi… quá lãng phí trong khi ngân sách địa phương vẫn xin trung ương trợ giúp là những nghịch lý đáng buồn.        Trong khi có tình trạng thu phi chính thức và thuế suất cao hơn mức trung bình của khu vực thì tỷ lệ thu từ khai thác tài nguyên thiên nhiên (khai mỏ, khai thác gỗ…), thu để ngăn chặn đầu cơ bất động sản, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và ngăn chặn các hiện tượng chuyển giá, thu từ các thu nhập chưa được kê khai còn bị thất thu rất lớn. Tình trạng đó góp phần dẫn đến bất bình đẳng về thu nhập tăng mạnh, dẫn đến bất công xã hội tăng lên.  Điều đáng chú ý là chênh lệch giữa dự toán ngân sách và thực thu ngân sách chênh lệch quá lớn, có năm thực thu ngân sách vượt dự toán đến trên 60%, làm cho quyết định của Quốc hội về dự toán ngân sách cách biệt rất xa so với thực tế.  Trong khi quốc hội các nước kiểm soát chi tiêu của chính phủ rất chặt chẽ đến từng khoản mục, gắn liền với hiệu quả phải đem lại khi chi tiền của dân thì trong thực tế vai trò của Quốc hội nước ta về giám sát ngân sách nhà nước còn thiếu cụ thể, thậm chí mang tính hình thức.  Trong thực tế, các đại biểu Quốc hội cho biết Chính phủ thường ứng trước ngân sách cho năm sau, phân bổ ngân sách cho các địa phương trước khi trình Quốc hội phê duyệt.  Trong các nguồn thu ngân sách, khoản thu từ đất và dầu thô hiện đã giảm sút rõ rệt, một số tỉnh như Đà Nẵng đã gặp khó khăn lớn về cân đối ngân sách do dựa quá nhiều vào nguồn thu không bền vững này. Với số doanh nghiệp tư nhân phá sản, đình chỉ hoạt động lên đến khoảng 150.000 doanh nghiệp, nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm sút nghiêm trọng. Đến hết tháng 9-2013, thu ngân sách chỉ đạt 66,6% dự toán.  Không nên chỉ coi việc hụt thu này là hiện tượng nhất thời mà cần xem xét tình hình kinh tế một cách nghiêm túc do nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên không thể bền vững, để điều chỉnh tỷ lệ thu ngân sách/GDP về mức hợp lý hơn. Nền kinh tế đang ở trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, thu ngân sách cũng cần được điều chỉnh thích ứng cho phù hợp với tình hình kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.  Chi ngân sách và quản lý ngân sách  Trong những năm gần đây, tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách tăng liên tục từ 65,4% (năm 2005) lên đến 77,1% (2012) trong khi chi cho đầu tư từ ngân sách lại giảm từ 34,6% (2005) xuống chỉ còn 22,9% (2012).  Chi quản lý hành chính đã tăng từ 8,2% (2005) lên đến 10,2% (2012), cao hơn hẳn so với chi y tế 6,4% (2012). Chi hành chính quá lỏng lẻo với chế độ sử dụng xe công, đi công tác nước ngoài, chiêu đãi… quá lãng phí trong khi ngân sách địa phương vẫn xin trung ương trợ giúp là những nghịch lý đáng buồn.  Đáng lo ngại là tỷ lệ chi trả lãi nợ tăng rất nhanh từ 2,9% (2005) lên 5,1% tổng chi ngân sách (2012) và xu thế này sẽ tiếp tục tăng lên trong tương lai do nợ công của Chính phủ tăng nhanh. Nhà nước thu thuế của dân thì phải mang lại lợi ích cho dân nhưng dịch vụ công như y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội đều thấp về chất lượng và bị quá tải nặng nề.  Căn bệnh kinh niên của chi ngân sách là bội chi và thâm hụt ngân sách với tỷ lệ cao nhất khu vực.   Kỷ luật ngân sách rất lỏng lẻo và chậm được nâng cao thể hiện rõ rệt qua mức bội chi ngân sách rất cao và khoảng chênh lệch giữa thực chi và dự toán rất cao. Các địa phương đều báo cáo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng của cả nước nhưng chỉ có 13/63 tỉnh, thành phố tự túc được ngân sách và có đóng góp với ngân sách trung ương.  TPHCM có tỷ lệ huy động cho ngân sách trung ương khoảng 39% tổng thu trong khi bản thân thành phố rất cần đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, giáo dục, y tế tương ứng với trình độ phát triển của thành phố. Mặt khác, không ít tỉnh nghèo, nguồn thu chủ yếu dựa vào khoản điều tiết do ngân sách trung ương chuyển cho, vẫn xây trụ sở rất sang, chi tiêu thường xuyên khá lãng phí.  Nghịch lý lớn nhất là hệ thống này gây ra cơ chế xin-cho thiếu minh bạch và tâm lý ỷ lại của một số địa phương, không phát huy tính tự chịu trách nhiệm, năng động khai thác các tiềm năng phát triển của địa phương.  Tỷ lệ chi ngân sách địa phương trên tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng nhanh từ 37,9% (giai đoạn 1996-2000) lên đến trên 50% (giai đoạn 2009-2010) làm cho Việt Nam có tỷ lệ phân cấp ngân sách cho địa phương rất cao so với các nước trong khu vực.  Việc chấp hành kỷ luật thu – chi của các đơn vị rất thấp từ khâu lập dự toán đến quyết toán ngân sách. Tình trạng chi lãng phí, lạm dụng ngân sách diễn ra phổ biến, lâu dài và chậm được cải thiện (như chi đầu tư, chi đoàn ra – đoàn vào…) mà không có ràng buộc về hiệu quả đạt được.  Đã đến lúc Quốc hội cần tiến hành một cuộc “đại phẫu thuật” về ngân sách nhà nước từ khâu dự toán đến xét duyệt, quyết định, phân cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương, bảo đảm vai trò giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử, nâng cao hiệu quả của đồng tiền do người dân đóng góp.  ___    (1) Ngân hàng Thế giới, IFC, Báo cáo môi trường kinh doanh 2013.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngân sách thu thấp nhất trong vòng nhiều năm      Nguồn vốn cho Ngân sách quốc gia sau 10  tháng đầu năm chỉ đạt kết quả thu nhấp nhất trong vòng nhiều năm trở lại  đây, theo Bộ Tài chính.    Báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách 10 tháng đầu năm của Bộ Tài chính cho biết, tình hình thu ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn.  Tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng ước đạt 618.290 tỉ đồng, chỉ bằng 75,8% dự toán, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2012.  Trong đó, thu nội địa ước đạt 406.050 tỉ đồng, bằng 74,4% dự toán, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2012; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 115.160 tỉ đồng, bằng 69,2% dự toán, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2012.  Tuy nhiên, riêng việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước qua kênh trái phiếu vẫn là điểm nhấn tích cực, hỗ trợ nhiều cho ngân sách. Kho bạc Nhà nước cho biết, tính đến hết tháng 10, cơ quan này đã phát hành được 162.208 tỉ đồng, bằng 84% kế hoạch được giao (193.000 tỉ đồng) của năm nay.  Dù trái phiếu chính phủ đã giảm bớt độ hấp dẫn nhưng trong tháng 10, Kho bạc Nhà nước đã tổ chức 4 phiên đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước và 4 phiên đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội. Kết quả phát hành được 17.396 tỉ đồng, bằng 176,2% so với tháng 9-2013 (9.872 tỉ đồng).  Theo Bộ Tài chính, từ nay đến cuối năm tối đa có thể tổ chức được 17 phiên đấu thầu tín phiếu, trái phiếu, tuy nhiên việc huy động vốn sẽ không thuận lợi. Lý do bởi thanh khoản của hệ thống ngân hàng không còn dồi dào, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã tăng nhẹ. Lãi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường sơ cấp có xu hướng tăng.  Bộ Tài chính cho biết đang tiếp tục tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng cường quản lý thu ngân sách, khai thác tăng thu cho ngân sách nhà nước, tăng cường công tác quản lý thu ngân sách, tập trung chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, phấn đấu đảm bảo tỷ lệ nợ đọng đến cuối năm không quá 5% số thực hiện thu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ      Phù hợp với những công trình ngăn sông lớn,  lòng sông rộng và sâu, đất nền mềm và yếu, công nghệ đập trụ đỡ của nhóm  nghiên cứu tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam do GS.TS Trương Đình Dụ đứng đầu đã được áp dụng thử nghiệm ở nhiều công trình thủy của Việt  Nam.       Việt Nam là quốc gia nhiều sông ngòi nhưng trong thời gian gần đây, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đã khiến cho tình trạng cung cấp nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất bị ảnh hưởng lớn, đồng thời xảy ra hiện tượng nước mặn xâm nhập ở nhiều hệ thống cửa sông… Công nghệ đập trụ đỡ được GS.TS Trương Đình Dụ ấp ủ nghiên cứu từ năm 1995 nhằm giải quyết vấn đề này.   Công nghệ đập trụ đỡ phù hợp với những công trình ngăn sông lớn, lòng sông rộng và sâu, đất nền mềm và yếu. Nguyên lý của đập trụ đỡ là đưa toàn bộ lực tác dụng vào công trình về các trụ riêng biệt, sau đó truyền xuống nền thông qua đầu cọc và hệ cọc đóng sâu vào nền. Đập trụ đỡ có ưu điểm là giảm chi phí đầu tư xây dựng và đặc biệt hiệu quả khi ngăn sông lớn. Do không phải làm khô hố móng và đào kênh dẫn dòng nên khi áp dụng giải pháp công nghệ đập trụ đỡ không mất nhiều đất xây dựng so với công nghệ truyền thống, không làm ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường. Ưu điểm này khiến cho các nhà xây dựng có thể kết hợp làm cầu giao thông hiện đại theo hình thức trên cầu, dưới cống.   Trên thực tế, công nghệ ngăn sông này đã được áp dụng thử nghiệm ở nhiều công trình thủy lợi lớn nhỏ của Việt Nam như công trình thuộc dự án Ô Môn – Xà No (2006), Cống Sông Cui (năm 2000), Cống Ba Thôn, Đá Hàn (năm 2008), Cống Biện Nhị, Cống Hà Giang, công trình sông Dinh Ninh Thuận (năm 2009)… Gần đây nhất, công nghệ đã có mặt trong kế hoạch xây dựng đập Thảo Long – Huế, công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Nhờ ứng dụng công nghệ đập trụ đỡ, kinh phi đầu tư vào công trình đã tiết kiệm tới 35% so với công nghệ cũ.  Nhóm nghiên cứu của GS.TS Trương Đình Dụ với hai công trình công nghệ đập trụ đỡ và công nghệ cống đập kiểu xà lan đã được Hội đồng Điều phối Xây dựng châu Á (ACECC) trao giải thưởng công nghệ năm 2007.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành cà phê Việt Nam vùng dậy      Hầu hết mọi người khi nghĩ đến cà phê thường  không nghĩ đến Việt Nam. Nhưng, năm nay, quốc gia Đông Nam Á này đã  vượt qua Brazil trong tư thế một nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế  giới.     Hiện nay, ngành cà phê của Việt Nam đang cố gắng rũ bỏ tai tiếng là một nước xuất khẩu cà phê chất lượng thấp.   Lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam tăng vọt đến mức cao nhất thế giới trong năm nay, tiếp sau thời tiết xấu tại Brazil. Nhưng gần như tất cả số cà phê đó đều là cà phê robusta – chất lượng thấp, nồng độ caffeine cao dùng để làm loại cà phê espresso và cà phê hòa tan.  Trung Nguyên, công ty cà phê lớn nhất Việt Nam, muốn thay đổi tiếng tăm của Việt Nam là một nước xuất khẩu cà phê giá rẻ. Chủ tịch công ty Đặng Lê Nguyên Vũ uống 10 cốc cà phê một ngày và muốn những người khác cũng làm như vậy để nâng cao mức tiêu thụ cà phê thấp trong nước và văn hóa cà phê. Ông Vũ nói:  “Chúng tôi có cà phê robusta đủ số lượng và chất lượng, đứng số một trên thế giới. Nhưng chúng tôi thiếu một điều là công nghiệp đóng gói, công nghiệp trình bày, và công nghiệp quảng cáo, làm cho thế giới hiểu được chính xác những gì thế giới cần đến. Việt Nam phải là một quốc gia lớn, không chỉ về số lượng.”  Cách pha chế cà phê của Việt Nam chịu ảnh hưởng của người Pháp, nước đã du nhập cà phê vào cựu thuộc địa của họ. Nhưng ngành công nghiệp này chỉ vươn lên trong vài thập niên qua và văn hóa cà phê của Việt Nam tương đối không được biết tại nước ngoài.  Ông John Owens, người Mỹ và là giáo sư Anh văn, đến Việt Nam để thưởng thức hương vị mạnh của cà phê pha theo kiểu nhỏ giọt của địa phương:  “Trước khi đến đây, tôi chưa bao giờ nghe nói đến cách phà cà phê theo kiểu này. Tôi không nghĩ họ quảng cáo trên thị trường hay đưa ra thương hiệu. Tôi nghĩ họ pha mọi loại cà phê theo cách này.”  Công ty Trung Nguyên đang cố thay đổi điều này bằng cách quảng cáo trên thị trường những sản phẩm cà phê độc đáo và cũng đang hợp tác với những người trồng cà phê để tìm cách cải tiến chất lượng và hiệu quả.  Ông Ma Chương đã trồng cà phê hơn 30 năm. Ông nói hệ thống thủy lợi tưới tiêu do công ty tài trợ giúp tiết kiệm nước và lao động và cho năng suất cao hơn.  “Trong năm đầu tiên trước khi lắp hệ thống này, năng suất của chúng tôi chỉ có 8 tạ một hécta thôi. Nhưng, trong năm thứ hai, sản lượng là một tấn tư một hécta. Còn thu hoạch năm vừa rồi qua quá trình ghi chép thì từ khi hái cho đến kết thúc rẫy này là hai tấn bốn chục ký.”  Nhưng, theo ông Lê Ngọc Báu, Giám đốc Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông-Lâm Tây Nguyên, mức sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam có thể sắp đi đến chỗ tột đỉnh. Ông  nói vị thế nước xuất khẩu cà phê số một trên thế giới của Việt Nam sẽ không kéo dài. Ông giải thích:  “Nhà nước Việt Nam không có chủ trương mở rộng diện tích cà phê, và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trong tháng 8 năm 2012 cũng đã có quyết định phê duyệt qui hoạch phát triển ngành cà phê đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và theo qui hoạch này thì tới năm 2020 thì diện tích cà phê Việt Nam sẽ giảm xuống còn 500.000 hécta.“  Trong khi đó, những người trong ngành cà phê nói dù mức xuất khẩu có thể chững lại, nhưng họ có thể làm việc để tăng tiến chất lượng cà phê.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành công nghiệp ô tô trước áp lực đổi mới      Từ năm 2005, hằng năm Trung tâm quản lý ô tô  (Center of Automotive Management) đều tiến hành một cuộc điều tra về  đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp ô tô để xác định trong số 18  tập đoàn ô tô hoạt động toàn cầu thì tập đoàn nào có hoạt động đổi mới  sáng tạo mạnh mẽ nhất.       Theo điều tra, năm 2012 đã có 800 công trình đổi mới sáng tạo – ít hơn 150 công trình so với năm 2011. Điều tra không chỉ đánh giá sự đổi mới sáng tạo về số lượng mà cả về chất lượng.   Những quy định của nhà nước, thí dụ như lượng tiêu thụ nhiên liệu bình quân của xe ô tô hay mức tối đa về chất thải độc hại cản trở hay kích thích ngành công nghiệp ô tô đổi mới, sáng tạo? California là minh chứng cho vế sau, chí ít là sự bùng nổ ô tô-hybrid và ô tô chạy điện, nếu đó được coi là thước đo.   Đến năm 2024, California sẽ có ít nhất 100 cây xăng có cả trạm tiếp khí hydro. Ngay từ năm 2004 đã có kế hoạch về Hydro-Highway. Nhưng các tập đoàn dầu khí có nhiều trạm xăng nhất ở đây dọa sẽ khiếu kiện nếu như họ bị bắt buộc phải hiện đại hóa. Nay nhà nước hứa trợ cấp cho mỗi cây xăng đã cải tạo hai triệu đôla. Khoản tiền này lấy từ nguồn phí cấp giấy phép lưu hành ô tô.   Một sự kích thích bổ sung nữa là, nhiều tập đoàn dầu khí nay bắt đầu sản xuất khí hydro. Các hãng sản xuất ô tô như Toyota hay Honda cho hay, kể từ 2015 sẽ bán ra thị trường California xe ô tô-tế bào nhiên liệu.   Điều này làm cho hãng sản xuất ô tô duy nhất ở California là Tesla Motors chịu áp lực lớn. Ông Elon Musk, giám đốc của hãng này, tin rằng, loại ô tô chạy điện bằng bình ắc-quy có hiệu quả kinh tế hơn so với loại ô tô tế bào chất đốt. Đấy là chưa nói đến việc giá bình ắc-quy sẽ giảm khi được sản xuất với số lượng lớn.  Dù cuộc chạy đua này kết thúc như thế nào đi nữa thì California vẫn là người đi tiên phong. Tiểu bang đông dân nhất nước Mỹ từ những năm 1960 đến nay luôn đứng đầu về không khí trong lành – và do mật độ xe ô tô rất cao nên bang này có các quy định rất chặt chẽ về lượng khí thải đối với xe ô tô. Người dân ở California phải trả giá xăng cao thứ nhì ở Mỹ, chỉ sau Hawaii, song họ lại hoàn toàn ủng hộ quy chế chặt chẽ về lượng khí thải nhằm bảo vệ không khí trong lành.  Tuy vậy ô tô-Hybrid, nhất là loại xe Toyota Prius, sẽ không bao giờ có sự phát triển bùng nổ như vậy, nếu chúng không nhận được hỗ trợ mạnh mẽ về thuế. Nhưng không phải việc ô tô hybrid được hỗ trợ thuế hay tiêu thụ ít xăng hơn kích thích người mua. Điều kích thích mạnh mẽ nhất là tấm giấy mầu vàng mà người mua xe từ tháng 8.2005 có thể dán lên thanh ba-đờ-sốc ở đằng sau phía bên phải. Với dấu hiệu này, người lái xe được “độc diễn” trên làn đường chuyên chỉ dành cho xe buýt phục vụ người đi làm.   Liệu hai chục năm nữa, người lái ô tô có buộc phải thi lấy bằng lái nữa hay không? Google, Audi, Toyota và nhiều hãng khác đang đẩy mạnh nghiên cứu để người lái xe không còn phải điều khiển xe chạy nữa. Xu hướng hưởng ứng trong dân chúng về vấn đề này ngày càng tăng.  Từ cuối năm 2011 xuất hiện loại huy hiệu rất được ưa chuộng, nhờ nó thời gian đi lại đối với người đi làm ở thung lũng Silicon có thể rút ngắn đáng kể nếu họ xử dụng các loại xe ô tô chạy bằng khí lỏng, Hybrid với động cơ điện cũng như xe chỉ chạy hoàn tòn bằng động cơ điện. Tesla Motors không chỉ được hưởng lợi nhờ hỗ trợ thuế, mỗi model là 10.000 đôla mà còn nhờ tấm huy hiệu.   Liệu xe ô tô chạy điện hay chạy bằng tế bào nhiên liệu có thực sự hiệu quả kinh tế hay không? Liệu chúng có thực sự cứu được môi trường hay không? Có nghĩa là liệu sự đầu tư tiền thuế vào đây có trúng hay không, đây là những câu hỏi còn cần phải thảo luận. Nhưng có một sự thật không phải bàn cãi, đó là tất cả những hãng sản xuất ô tô danh tiếng giờ đây không chỉ có các phòng nghiên cứu về thiết kế mẫu mã mà đều có các ban nghiên cứu tại California, để theo kịp với xu hướng của thời đại. Và điều này diễn ra ở các các khâu nghiên cứu không liên quan gì đến động cơ điện. Thí dụ trong khâu nghiên cứu về xe ô tô thông minh, có thể thông qua Internet nạp các loại thông tin để từ năm 2020 xe có thể chạy tự động mà không cần sự hỗ trợ của người lái.   Điều này sẽ đến, dường như chắc chắn như vậy. Liệu xe đó sẽ nạp khí hydro hay nạp điện, điều này còn chưa chắc chắn. Nhưng nếu như ở đâu đó mà có sự lựa chọn, thì chắc chắn nơi đó là California.  Xuân Hoài dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành công nghiệp quốc phòng kiếm bộn tiền      Chiến tranh và các cuộc xung đột trên thế giới đang làm cho cổ phiếu ngành công nghiệp quốc phòng tăng nhanh.    Chiến tranh ở Afghanistan, Syria, cuộc khủng hoảng ở Crimea và các cuộc xung đột khác, như ở Mali đang diễn ra ngày càng nhiều hơn trên thế giới – trong bối cảnh đó, có nhiều dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư sẽ kiếm bộn lời nếu đầu tư vào xe tăng, máy bay do thám không người lái…  Biểu đồ chỉ số chứng khoán Nyse-Index những tháng qua gần như liên tục tăng. Nyse-Index phản ánh tài sản có được từ các cuộc chiến tranh và xung đột chính trị. Từ đầu năm đến nay, giá trị chỉ số chứng khoán về vũ trang tăng 64%. So với khi bắt đầu đưa chỉ số này vào tính toán từ năm 1996, giá trị của nó đã tăng gần 18 lần. Trong khi các nhà đầu tư vào Dax chỉ hưởng lợi khoảng 7,5%/năm thì các nhà đầu tư vào chỉ số vũ trang – Nyse – hưởng lợi 18 %/năm.  Theo Viện Nghiên cứu về hoà bình Stockholm (Phần Lan) SIPRI, năm 2012 giao dịch mua bán vũ khí và trang thiết bị quân sự trên toàn thế giới là 395 tỷ USD. So với năm 2003 tăng 29%. Ba phần tư các hãng sản xuất vũ khí, khí tài quân sự lớn nhất thế giới tập trung ở Mỹ và Tâu Âu.          Ba tập đoàn sản xuất và kinh doanh vũ  trang lớn nhất thế giới hiện nay là Lockheed Martin (Mỹ), Boeing (Mỹ) và  BAE Systems (Anh). Các tập đoàn này đều kinh doanh vũ khí và khí tài  bên cạnh các sản phẩm phục vụ ngành hàng không dân dụng và vũ trụ với  doanh thu hàng chục tỷ USD mỗi năm.         Một trong những yếu tố làm tăng mạnh mẽ trao đổi buôn bán vũ khí, khí tài là việc Trung Quốc tăng mạnh chi phí quốc phòng. Mới đây, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tuyên bố ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng 12% lên tương đương 95,7 tỷ Euro. “Cần tăng cường phát triển vũ khí công nghệ cao,” ông nhấn mạnh. Trong những năm qua, Trung Quốc liên tục tăng ngân sách quốc phòng của mình ở mức hai con số, cao hơn nhiều so với ngân sách dành cho giáo dục hoặc các vấn đề xã hội cũng như ngân sách an ninh trong nước. Hiện tại ngân sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ (460 tỷ Euro) và cao hơn nhiều so với Nga (50 tỷ Euro). SIPRI ước đoán, ngân sách quốc phòng của Mỹ năm 2012 là 612 tỷ USD.   Theo các chuyên gia thuộc hãng nghiên cứu HIS, ngân sách quốc phòng của các nước châu Á đến năm 2020 sẽ vượt ngân sách quốc phòng của Mỹ. Đến năm 2015, riêng Trung Quốc sẽ vượt ngân sách quốc phòng của Anh, Đức và Pháp cộng lại.  Lầu Năm Góc đã rung chuông báo động trước năng lực sử dụng công nghệ hiện đại của Trung Quốc, một vấn đề không có thể chối cãi. Tháng giêng vừa qua, quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ Frank Kendall đã báo cáo trước một Uỷ ban của Quốc hội Mỹ: “Chương trình hiện đại hoá của Trung Quốc đang đe doạ nghiêm trọng sự hơn hẳn của quân đội chúng ta”.  Hiện tại trong lĩnh vực này, Trung Quốc đang gây ấn tượng mạnh mẽ: mỗi năm Trung Quốc sản xuất khoảng 10.000 tên lửa đạn đạo và trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất tên lửa. Theo giới quan sát, khoảng 1.000 đầu đạn tên lửa hướng về thủ đô Tokyo của Nhật Bản.  Trung Quốc cũng đang phát triển một tầu sân bay và tự chế tạo máy bay không người lái. Việc thử nghiệm vũ khí siêu thanh có thể tránh lá chắn tên lửa của Mỹ được ghi nhận là đã thành công mĩ mãn. Còn việc thử nghiệm máy bay ném bom tàng hình đang ở giai đoạn chót.  Xuân Hoài tổng hợp từ Tuần kinh tế và báo Thương mại online     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành giấy: Vàng mã là sản phẩm xuất khẩu chính      Ngày 17.12, TS Vũ Ngọc Bảo, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam (VPPA) cho biết, mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu 70.000 – 80.000 tấn giấy vàng mã, chủ yếu sang thị trường Đài Loan.    Theo TS Bảo, Đài Loan cũng là thị trường tiêu thụ giấy vàng mã lớn nhất thế giới, được cung cấp chính từ hai quốc gia Việt Nam và Indonesia.   “Xuất khẩu giấy của Việt Nam hiện chủ yếu là giấy vàng mã, sản phẩm vừa có giá rẻ nhất, chất lượng kém nhất và gây ô nhiễm khủng khiếp nhất”, ông Bảo cho biết.  Tuy nhiên, theo một số doanh nghiệp (DN) giấy nội địa, đây là giải pháp tình thế mà DN bắt buộc phải làm, bởi trong tình hình khó khăn, làm vàng mã giúp DN giải quyết việc làm cho công nhân và duy trì hoạt động công ty.  Song theo quan điểm của ông Bảo, giải pháp tình thế này chỉ tổ làm tụt hậu ngành công nghiệp giấy. Đó là chưa tính tới khi thị trường này giảm nhu cầu, việc trở tay làm hàng cao cấp hơn cũng gây khó khăn cho DN.  Ông Bảo nhấn mạnh, DN nội địa cần có cái nhìn dài hạn hơn, đặc biệt sắp tới, Việt Nam chuẩn bị gia nhập Hiệp định Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).   “Chúng ta không thể ủng hộ một sản phẩm gây ô nhiễm môi trường và đi ngược xu hướng phát triển của thế giới được”, ông Bảo nói.  Thống kê từ VPPA cho thấy, nhu cầu tiêu thụ giấy của người Việt mới bằng một nửa so với nhu cầu trung bình của thế giới và bằng 1/10 so với người Mỹ.  VPPA cho biết, một người Việt hiện đang tiêu thụ trung bình 32 ký giấy/năm, thấp hơn một nửa so với nhu cầu thế giới. Thế nên, nếu giảm hoặc bỏ hẳn sản xuất vàng mã, theo ông Bảo, DN vẫn có thể làm hàng phục vụ nhu cầu đang tăng của người dân trong nước.  Vấn đề là tìm hiểu để làm đúng sản phẩm phục vụ nhu cầu trước áp lực cạnh tranh với đối thủ ngoại, đây cũng là thách thức không nhỏ cho DN nội địa trong ngành.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành trọng điểm lựa chọn như thế nào      Bất kỳ một quốc gia nào muốn trở nên giàu có và thịnh vượng luôn cần có những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, những ngành mà với một lượng đầu vào sẵn có hoặc có thể huy động được của đất nước mình có thể tạo ra giá trị đầu ra cao nhất trong dài hạn. Vì là dài hạn, nên các ngành lựa chọn phải đảm bảo sự hài hòa giữa bốn yếu tố: hiệu quả, cân bằng, công bằng và sự tiến triển (cân bằng 4E).    Việc lựa chọn để phát triển những ngành như vậy là công việc khó khăn của bất cứ chính phủ nào, nhất là các nước đang phát triển có quy mô thị trường không lớn. Trong điều kiện không có đủ nguồn lực để tìm hiểu, nghiên cứu kỹ càng tất cả các ngành và chịu sức ép của việc buộc phải có những ngành kinh tế mũi nhọn, các nước này thường theo chiến lược lựa chọn những ngành đã thành công của các nước đi trước. Đây liệu có phải là chiến lược lựa chọn khôn ngoan và hợp lý?  Lợi thế so sánh: chìa khóa của thành công  Ai cũng biết rằng, ở những nước nghèo, nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính, các ngành công nghiệp thường non trẻ hoặc chưa có và các ngành dịch vụ ở giai đoạn rất sơ khai. Từ đó thường dẫn tới hai tâm lý: Thứ nhất là mặc cảm, tự ti với cái nghèo và cho rằng nguyên nhân nghèo là do chỉ quanh quẩn ở những cây trồng, vật nuôi hiện có. Như vậy, cách thoát nghèo tốt nhất là không được phụ thuộc quá nhiều, thậm chí đoạn tuyệt luôn với  vào những gì mình đang có. Thứ hai, muốn có được sự giàu như “nhà hàng xóm” thì nên tìm hiểu xem “láng giềng” có gì tốt, có gì thành công để làm theo. Như vậy cái thường hay thấy nhất khi nhìn ra ngoài chính là những ngành đang “mốt” của thời đại. Thêm vào đó, người ta sẽ tự hào khi có những ngành sản xuất tầm cỡ như: máy bay, ô tô, điện tử, đóng tàu lớn, chứ ít ai tự hào là mình đã có những nhà máy có khả năng sản xuất qui mô lớn những thứ “nhỏ nhặt” như giấy vệ sinh, chổi quét nhà… Xu hướng lựa chọn của nhiều nước đang phát triển như vậy dĩ nhiên phụ thuộc vào thành công của các nước đi trước. Tuy nhiên, điều gì đã xảy ra trong thực tế sau đó?  Đã có rất nhiều nước thành công và đi trước thời đại khi lựa chọn được những ngành đúng “mốt” hay như Nhật Bản, Hàn Quốc (công nghiệp, công nghệ cao…), Đài Loan, Singapore (công nghệ cao, dịch vụ…), nhưng cũng không ít nước đã từng thất bại như Malaysia (ngành ô tô) hay Indonesia (ngành sản xuất máy bay)… Nguyên nhân của thành công và thất bại thì có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là nằm ở vấn đề lợi thế so sánh. Nước nào chọn được ngành hay chọn các công đoạn sản xuất có lợi thế so sánh thì nước đó thành công. Ngược lại, thất bại là điều khó tránh khỏi. Bây giờ, nhìn vào Hàn Quốc hay Đài Loan, ai cũng thấy họ đang chiếm lĩnh những ngành “mốt” như điện tử, tin học… Nhưng ít ai biết rằng, trong giai đoạn ban đầu, các nước này chỉ xuất khẩu đồ chơi hay các hàng gia dụng rẻ tiền. Thành công của họ có được ngày hôm nay, chỉ một phần nhỏ là nhờ định hướng và đầu tư trực tiếp của nhà nước vào cơ sở hạ tầng cứng, nguyên nhân sâu xa của sự thành công là nhờ các nước này đã thực hiện một chiến lược giáo dục đúng đắn đã tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng có kỹ năng cao là điều kiện quan trọng để phát triển các ngành công nghệ cao. Còn trường hợp thất bại của Indonesia hay Malaysia là do quy mô các ngành này không đủ lớn, không có sự tập trung và không có chiến lược phát triển các ngành phụ trợ. Nói chung là không phát huy được lợi thế so sánh.  Những ví dụ cụ thể                Ở một thái cực khác, có những nước đã rất thành công ở những ngành rất bình thường. Nếu có câu hỏi đặt ra là hiện nay trên thế giới, nước nào có đời sống xã hội sung túc nhất trên thế giới, chắc ai cũng trả lời là Thụy Điển. Nhưng nếu nói ra điều gì làm cho Thụy Điển trở lên giàu có chắc nhiều người sẽ bất ngờ. Đó là xuất khẩu giấy mà chủ yếu là giấy vệ sinh. Kim ngạch xuất khẩu ngành này lớn hơn kim ngạch của tất cả các ngành khác cộng lại. Thụy Điển sẽ gặp rắc rối nếu một lúc nào đó trên thế giới không có nhu cầu về giấy vệ sinh nữa, nhưng chẳng sao đối với họ nếu một ngày nào đó thương hiệu xe hơi Volkswagen hay điện thoại Ericsson biến mất. Sở dĩ có được điều này là Thụy Điển đã biết tận dụng lợi thế so sánh. Lợi thế của những cánh rừng tự nhiên bạt ngàn. Trên cơ sở phát huy lợi thế này, ngày nay Thụy Điển đã có được công nghệ trồng rừng và chế biến giấy tiên tiến nhất thế giới chính là nhờ phát triển ngành giấy mà họ đã đem lại sự giàu có, thịnh vượng cho rất nhiều người, làm cho tầng lớp trung lưu phát triển, trong xã hội chủ yếu là tầng lớp này. Những người rất giàu và rất nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng cách giàu nghèo không cao. Đây là tiền đề cơ bản  để họ xây dựng một xã hội dân chủ phúc lợi, một mô hình xã hội là ước mơ của rất nhiều quốc gia. Tôi chưa có dịp gặp nhiều người Thụy Điển khác, nhưng giáo sư Ari Kokko của Trường Kinh tế Stockhom thì rất tự hào rằng nhờ phát triển ngành giấy mà Thụy Điển  đã trở thành một quốc gia giàu có như ngày hôm nay.  Một thành công khác của việc biết phát huy lợi thế vốn có là Thái Lan. Họ đã tận dụng rất tốt lợi thế của mình để trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới không chỉ về khối lượng mà còn nổi tiếng về chất lượng, điều mà rất nhiều người Việt Nam, nhất là những người đã có dịp tham quan những cánh đồng trồng lúa, những nhà máy chế biến gạo của Thái Lan mơ ước. Một số thành công khác như Trung Quốc đã phát huy được lợi thế của quy mô nền kinh tế, lao động rẻ đã trở thành phân xưởng sản xuất của thế giới. Đối với Ấn Độ, một nước có quy mô về dân số và diện tích không kém gì Trung Quốc, nhưng họ không chọn cách tập trung vào sản xuất hàng hóa vật chất mà họ đã chọn ngành có lợi thế rất lớn là ngành công nghệ thông tin. Chính vì vậy, sau Hoa Kỳ, nước được nhắc đến nhiều nhất về sản xuất phần mền chắc chắn là Ấn Độ.    Thế mạnh của Việt Nam đang… bị lợi dụng  Lựa chọn phát triển các ngành trọng điểm là điều khó khăn của bất kỳ một quốc gia nào. Cần phải cân nhắc rất kỹ khi quyết định lựa chọn. Tiêu chí không thể thiếu là phải dựa vào lợi thế so sánh vốn có hoặc có khả năng sẽ có cho việc phát triển ngành đó.  Thái Lan có lợi thế về ngành gạo, chế biến thủy hải sản, nhưng họ vẫn lợi dụng thương hiệu gạo Nàng Thơm Chợ Đào, nước mắm Phú Quốc của Việt Nam, chứng tỏ rằng, chúng ta rất có lợi thế về hai ngành này. Mặt khác, Thụy Điển lập luận rằng, nhu cầu những thứ khác có thể biến mất, nhưng giấy vệ sinh rất khó biến mất, chỉ có điều là người ta yêu cầu chất lượng của nó ngày càng cao hơn thôi. Tại sao chúng ta không lập luận rằng, dù có phát triển đến đâu, người ta vẫn phải ăn gạo, dùng thủy hải sản, do đó Việt Nam nên chọn ngành lúa gạo và nuôi trồng, chế biến thủy hải sản làm ngành mũi nhọn và tập trung đầu tư nhiều cho nó. Nếu xây dựng chúng trở thành ngành trọng điểm thì hơn 70% dân số có cơ hội có được mức thu nhập cao và có đời sống sung túc. Như vậy, ước mơ có một nền kinh tế như Thụy Điển rất có thể trở thành hiện thực và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh sẽ là điều xảy ra nhanh hơn trong tương lai  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành vận tải biển Thụy Sĩ: Niềm kiêu hãnh của  một quốc gia không có biển      Nằm ở Trung Âu, tiếp giáp Đức, Italia, Pháp, Áo và Lichtenstein, Thụy Sĩ là một quốc gia nhỏ, tài nguyên thiên nhiên hầu như không có gì và đường bờ biển là 0 km. Trong điều kiện ấy, thật khó tin rằng vận tải đường biển là một trong những ngành kinh tế phát triển mạnh và có khả năng cạnh tranh cao của Thụy Sĩ trên thế giới.     Thụy Sĩ có lẽ là một minh chứng rõ nét cho mô hình phát triển dựa vào sức mạnh của xã hội dân sự, nhường nhiều không gian cho khối tư nhân. Trong ngành vận tải đường biển cũng vậy. Họ có một đội tàu buôn rất mạnh, chuyên chở hàng hóa thuê cho nước khác. Đội tàu này neo đậu ở cảng Basel trên bờ sông Rhine – con sông được mệnh danh là “dây rốn” nối Thụy Sĩ với đại dương ở rất xa.    Năm 2003, tàu Alinghi của Thụy Sĩ là con tàu đầu tiên của một nước không có biển giành Cup America. Ngay trong dân chúng Thụy Sĩ cũng có nhiều người ngạc nhiên khi biết rằng có ít nhất 35 con tàu đăng ký ở Basel và treo cờ Thụy Sĩ. Những Lausanne, Silvaplana, Appenzell, Lugano, Curia, Turicum, San Bernardino, Matterhorn… bồng bềnh trên biển, đi vòng quanh thế giới với lá cờ chữ thập kiêu hãnh. Lịch sử của đội tàu buôn này không dài. Điều đó càng cho thấy trong nhiều trường hợp, kẻ “đi sau” có thể vươn lên mạnh mẽ để “về trước”, nếu đi đúng hướng.   Chiến tranh – nơi khởi đầu câu chuyện  Từ thế kỷ 19, chính phủ Thụy Sĩ đã nhận được nhiều lời đề nghị hỗ trợ thành lập đội tàu buôn để kinh doanh vận tải. Đề nghị đến từ giới thương nhân hoặc những công ty thương mại Thụy Sĩ có chi nhánh ở nước ngoài. Cũng đã có những công ty Thụy Sĩ tự mua tàu và tự vận hành, đăng ký ở cảng của các nước khác.           Hiện tượng một quốc gia không có biển như  Thụy Sĩ đứng thứ năm trên thế giới về kinh doanh vận tải biển khiến  chúng ta không khỏi phải suy nghĩ. Trong khi các con tàu của họ treo cờ  quốc gia một cách kiêu hãnh, chưa kể các chủ tàu nước ngoài cũng mong  muốn treo cờ Thụy Sĩ lên tàu của họ, thì thực trạng ở Việt Nam là nhiều  chủ tàu ngại treo cờ trong nước. Báo Giao thông Vận tải từng có bài viết  phản ánh rằng trong nhiều năm qua, đội tàu biển Việt Nam luôn nằm trong  “danh sách đen” và đương nhiên được “ưu tiên” kiểm tra tại các cảng  biển nước ngoài. Trung bình mỗi năm, có khoảng trên 30 tàu biển Việt Nam  bị lưu giữ” (do không đáp ứng được các tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật,  khai thác, bảo dưỡng…).        Tuy nhiên, tình hình chỉ thực sự đổi khác nhờ một hoàn cảnh đặc biệt: chiến tranh. Trong Thế chiến II, Thụy Sĩ bị các nước thù địch bao vây và bị cô lập hoàn toàn trên mọi phương diện. Sông Rhine bị phong tỏa. Đất nước này lại không có tài nguyên thiên nhiên, nên nguồn lực sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu. Dân số 4 triệu vào thời điểm đó đã là quá đông và không đủ lương thực cung ứng. Chế độ phân phối lương thực-thực phẩm thời chiến quy định mỗi người chỉ được một quả trứng một tháng. Khẩu phần xuống tới mức thấp kỷ lục khi mỗi người không hấp thụ nổi 2.000 calorie một ngày.   Chính phủ Thụy Sĩ nhận thấy yêu cầu khẩn cấp lúc đó là thuê một đội tàu buôn làm nhiệm vụ chuyên chở lương thực-thực phẩm và nguyên vật liệu thô chỉ riêng cho Thụy Sĩ. Thủy thủ đoàn bắt buộc phải là công dân các nước trung lập. Con tàu đầu tiên do Chính phủ đứng ra mua và vận hành nhằm đảm bảo lượng cung ứng hàng hóa thiết yếu. Chính những con tàu trong giai đoạn này của Thụy Sĩ đã trở thành nền tảng của một ngành công nghiệp hoàn toàn mới.  Tư nhân sở hữu và quản lý   Sau Thế chiến, một đội tàu buôn tư nhân xuất hiện. Họ được Nhà nước trợ giúp một phần hoạt động cho tới năm 1953, khi Thụy Sĩ ban hành luật hàng hải, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của đội tàu buôn và việc thành lập Văn phòng Hàng hải Thụy Sĩ. Văn phòng này làm chức năng cấp giấy phép cho những tàu đã đăng ký, và giám sát việc các công ty tàu biển thực thi quy định về an toàn, thiết bị, bảo vệ môi trường v.v. Việc thanh kiểm tra do các tổ chức xếp hạng độc lập và có uy tín thực hiện.   Kể từ đó, đội tàu của Thụy Sĩ hoạt động mạnh và cứ “liên tục phát triển”. Năm 2006, đội có 26 con tàu với tổng tải trọng gần 500.000 tấn, do 5 công ty điều hành và treo cờ Thụy Sĩ. Năm 2010, con số lên tới 37 tàu, tổng tải trọng lên tới 1 triệu tấn và do 6 công ty tàu biển quản lý. Ngày nay, những con tàu của Thụy Sĩ rất hiện đại: chỉ một vài tàu được đóng trước năm 2000 và không có tàu nào đóng trước 1995. Thủy thủ là người nước ngoài, hoặc công dân Thụy Sĩ được đào tạo ở nước ngoài (Anh, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…).    Phát triển cùng toàn cầu hóa  Ông Michael Deslarzes, CEO tập đoàn Massoel, nhận xét: “Đội tàu Thụy Sĩ tuy nhỏ nhưng hiện đại và hoạt động hiệu quả. Tất cả tàu đều được đóng theo tiêu chuẩn kỹ thuật cao và vì thế tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế (IMO) trong lĩnh vực an toàn, an ninh và môi trường”. Gần đây Văn phòng Hàng hải Thụy Sĩ bắt đầu nhận được những đơn đề nghị của các chủ tàu nước ngoài mong muốn được treo cờ Thụy Sĩ lên tàu của họ. Điều này phản ánh uy tín cao mà đội tàu Thụy Sĩ đã tạo dựng được.   Hoạt động kinh doanh vận tải đường biển của Thụy Sĩ ngày càng phát triển mạnh cùng với quá trình toàn cầu hóa và với sự xuất hiện của các thị trường đang nổi lên như Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác. Các nền kinh tế mới nổi này cần nhiều nhiên liệu và nguyên vật liệu thô để sản xuất, rồi lại cần tiêu thụ sản phẩm ra khắp thế giới, nên nhu cầu trao đổi mậu dịch và vận tải rất lớn.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày Demo Day của IPP2      Ngày 23/1, tại Tp. Hồ Chí Minh, Chương trình Đối tác Đổi  mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan Giai đoạn 2 (IPP2) sẽ tổ chức sự kiện  Final Demo Day nhằm tổng kết các hoạt động của năm 2015 và công bố hai  dự án mới.       Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh và Đại sự Phần Lan tại Việt Nam Ilkka-Pekka Similä sẽ tới dự sự kiện, gặp gỡ và trả lời phỏng vấn báo chí cùng Thành viên Ban chỉ đạo IPP2 và những đại diện của các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp khác.  Chương trình gồm 04 nội dung chính (1) Triển lãm sản phẩm, dịch vụ của 22 doanh nghiệp khởi nghiệp và dự án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp được IPP2 tài trợ và đào tạo; (2) Tổng kết Khoá Đào tạo Chuyên gia Tư vấn Đổi mới Sáng tạo lần 1 (ToT1) và Chương trình Đào tạo Tăng tốc Đổi mới sáng tạo (IAP); (3) Kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp với các nhà đầu tư và (4) Công bố chính thức các chương trình tài trợ và hỗ trợ mới của IPP.   Trong năm qua, đối tượng tài trợ của chương trình IPP2 là các startup và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. 22 nhóm dự án tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng – Huế đã được chọn để nhận hỗ trợ trong tối đa 09 tháng. Bên cạnh tài trợ về tài chính, các nhóm dự án được còn được đào tạo, tư vấn trực tiếp, hỗ trợ tìm kiếm và kết nối với các nguồn tài trợ khác trong Chương trình Đào tạo Tăng tốc Đổi mới Sáng tạo (IAP) kéo dài 06 tháng. IAP cũng sẽ chính thức kết thúc và báo cáo kết quả và gặp gỡ các nhà đầu tư tại Final Demo Day.   Trong năm 2015, IPP2 cũng tổ chức Khoá Đào tạo Chuyên gia Tư vấn Đổi mới Sáng tạo lần thứ nhất (Trainer of Trainee 1 – ToT1) cho 12 chuyên gia để xây dựng mạng lưới chuyên gia hỗ trợ cho các dự án, công ty trong Chương trình Đào tạo Tăng tốc Đổi mới Sáng tạo (IAP) và trong dài hạn là tạo nguồn lực phục vụ quá trình phát triển các hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Khoá ToT1 kéo dài trong 8 tháng, bao gồm 2 tháng đào tạo chuyên sâu về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp theo Chương trình Giảng dạy do IPP2 thiết kế và tiếp theo là 6 tháng thực hành huấn luyện cho 22 công ty, dự án được IPP2 tài trợ. Các chuyên gia đổi mới sáng tạo này sẽ trở thành các mentor trong khởi nghiệp, là một phần thiết yếu trong đội ngũ chuyên gia tư vấn về đổi mới sáng tạo phục vụ cho các công ty, các trường đại học, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ và các cơ quan hoạch định chính sách của chính phủ.   Trong năm 2016, IPP2 sẽ chính thức công bố 02 chương trình mới bao gồm Chương trình Tài trợ cho các Dự án Phát triển Hệ sinh thái Khởi nghiệp và Chương trình Hỗ trợ Phát triển Đào tạo về Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp hợp tác với các trường đại học và các tổ chức giáo dục tại Việt Nam.         Cập nhật sau ngày 23/1: Với sự trợ giúp của IPP2, tính đến hết tháng 12/2015, các dự án đã tạo hơn 480 việc làm, tính cả toàn thời gian và bán thời gian; tổng doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ đạt hơn 432 nghìn USD (11 dự án doanh nghiệp và 3 dự án hệ thống); tổng doanh thu ngoài lãnh thổ Việt Nam đạt hơn 215 nghìn USD từ các thị trường Hoa Kỳ, Đức, Hàn Quốc (5 dự án doanh nghiệp); 3 dự án đã thành công trong gọi vốn bổ sung với hơn 150 nghìn USD từ các nhà đầu tư khác. Đến nay, đã có khoảng 40% dự án vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, 60% dự án ở giai đoạn thử nghiệm thị trường, không còn dự án nào dừng ở giai đoạn ý tưởng. Tất cả các dự án đều rất chủ động trong việc phát triển mạng lưới kinh doanh, cũng như các hoạt động kết nối đối tác và tìm kiếm nhà đầu tư. (Theo báo cáo của chị Trần Thị Thu Hương, giám đốc dự án IPP2 trong Final Demo Day)          * Nguồn: Theo thông cáo báo chí của IPP2        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày hội đầu tư – Demo Day      Chín doanh nghiệp khởi nghiệp trong dự án  Vietnam Silicon Valley sẽ có cơ hội thuyết trình về sản phẩm của mình  trước các nhà đầu tư trong nước và quốc tế trong sự kiện “Ngày hội đầu  tư – Demo Day Summer 2014” tại trụ sở Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội,  chiều 4/10.    Demo Day Summer 2014 do Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp khoa học và công nghệ tổ chức với sự góp mặt của Bộ trưởng Nguyễn Quân. Đây là chương trình chỉ dành cho khách mời, dự kiến sẽ diễn ra vào 2h chiều và kết thúc vào lúc 8h tối.   Chín doanh nghiệp tham gia thuyết trình bao gồm: Astro Telligent (cung cấp phần mềm quản lý tuyển dụng cho các doanh nghiệp), CSK.Ltd (cung cấp giải pháp quảng cáo qua email), Chomp (cung cấp giải pháp quảng cáo dựa trên mạng xã hội), Tech Elite (với sản phẩm sự kiện 360 – nền tảng hỗ trợ tổ chức sự kiện), VnPlay (cung cấp nền tảng phân phối nội dung truyền hình trên internet và thiết bị di động), Lozi (mạng xã hội chia sẻ địa điểm ăn uống), LoanVi và Viet Creative. Trong số này, chỉ có ba công ty có sản phẩm đang hoạt động trên thị trường là VnPlay, Lozi và Tech Elite.  Mỗi doanh nghiệp sẽ có 15 phút trình bày trước các nhà đầu tư về sản phẩm mẫu (prototype) của mình. Cuối buổi thuyết trình, từ 5h15 đến 8h, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội gặp gỡ và giao lưu trực tiếp với các nhà đầu tư tiềm năng.   Dự án Vietnam Silicon Valley của Bộ Khoa học và Công nghệ khởi động vào tháng 6/2014 là một khóa tăng tốc khởi nghiệp tập trung kéo dài bốn tháng. Khóa học đầu tiên có 10 doanh nghiệp được lựa chọn từ hàng trăm hồ sơ gửi về. Mỗi doanh nghiệp được đầu tư ít nhất 10.000 USD, đồng thời được sự hỗ trợ về nơi làm việc tại 35 Điện Biên Phủ, Hà Nội và được tư vấn bởi những chuyên gia về các lĩnh vực như: quản trị, marketing, luật… trong suốt khóa học. Demo Day là sự kiện tổ chức cuối mỗi khóa tăng tốc khởi nghiệp để các doanh nghiệp có thể tiếp cận với các nhà đầu tư và tiếp tục phát triển sau khi khóa tăng tốc khởi nghiệp kết thúc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày hội STEM 2017: Tham vọng hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục STEM ở Việt Nam      Ngày hội STEM 2017 sẽ hứa hẹn nhiều hoạt động đa dạng hơn cả về nội dung và đối tượng tham gia, từ học sinh tiểu học cho đến THPT. Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu trong việc tạo ra một hệ sinh thái giáo dục STEM ở Việt Nam.    Ngày 10/5, tại Hà Nội đã diễn ra buổi họp báo Ngày Hội STEM 2017 với sự góp mặt của nhiều nhà giáo dục, nhà vận động xã hội trong lĩnh vực giáo dục STEM ở Việt Nam. Ngày hội STEM năm nay được tổ chức bởi tạp chí Tia Sáng, Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (hay Đại học Việt – Pháp, USTH), Học viện Sáng tạo S3 và Học viện STEM.  Đa dạng hơn, nhiều đối tượng học sinh hơn  Năm nay là lần đầu tiên có một trường đại học tham gia ban tổ chức ngày hội, không chỉ với tư cách là nhà cung cấp địa điểm mà còn đóng góp đáng kể về nội dung. Nhờ USTH, ngày hội STEM 2017 đã mở rộng cho cả đối tượng học sinh khối THPT và lần đầu tiên có hoạt động labtour. Trong đó, các học sinh được tham quan và thực hành một số thí nghiệm ứng dụng những công nghệ ở trình độ tiên tiến, hàng đầu thế giới dưới sự hướng dẫn của những nhà khoa học nhiều kinh nghiệm trong tất cả sáu phòng lab của trường thuộc Khoa Công nghệ Nano, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Sinh học, Khoa Nước – Môi trường – Hải dương học, Khoa Vũ trụ và Hàng không, Khoa Năng lượng.    Các em học sinh sẽ được tương tác với Robot NAO (Pháp) trong ngày hội STEM 2017  Theo bật mí của Th.S. Nguyễn Ngọc Văn Thành, giám đốc Trung tâm Quản lý vòng đời sản phẩm (PLMCC) tại USTH, trung tâm là một trong địa điểm mở cửa cho học sinh tham quan trong ngày hội. Các em sẽ biết được rằng, nhờ công nghệ thông tin, một sản phẩm đi từ khâu thiết kế cho đến thương mại hóa có thể được rút ngắn lại và tiết kiệm chi phí như thế nào. Trước kia, chẳng hạn với một chiếc ô tô, người ta phải áp dụng thật những tình huống va đập, làm hỏng chiếc xe để tối ưu thiết kế thì bây giờ có thể sử dụng phần mềm ảo ra sao. Các em cũng được lắng nghe và chứng kiến câu chuyện về một sản phẩm thật của USTH, là chiếc xe tự hành trên Sao Hỏa do chính các anh chị sinh viên thiết kế và chế tạo đã đi từ bản vẽ, kiểm nghiệm trên phần mềm và hoàn thiện ra sao và dĩ nhiên, sau đó, các em sẽ được điều khiển chiếc xe thông qua smartphone.       Ban tổ chức Ngày hội STEM 2017 trân trọng cảm ơn Vinschool, Viettel, Hanel, PhuThai Group đã tài trợ cho sự kiện này.      Một điểm mới khác, đó là năm nay sẽ có sự góp mặt của nhiều trường THCS đã triển khai giáo dục STEM thành công bằng cách lồng ghép vào chương trình chính khóa hoặc tổ chức các câu lạc bộ ngoại khóa, bao gồm: THCS Trưng Vương, THCS Olympia, THCS Tạ Quang Bửu. Mỗi trường sẽ có một gian hàng không chỉ trưng bày các sản phẩm khoa học và công nghệ do chính các học sinh tự nghiên cứu, chế tạo mà chính các em sẽ trình diễn và hướng dẫn cho người tham quan thực hiện những thí nghiệm, hiện tượng khoa học thú vị.   Được tổ chức lần đầu từ năm 2015, đây là lần thứ ba Ngày hội STEM diễn ra tại Hà Nội. Các ngày hội STEM đã góp phần đưa từ khóa STEM trở nên phổ biến và thay đổi cách dạy và học trong các trường phổ thông. Anh Đỗ Hoàng Sơn, giám đốc công ty Sách Long Minh chia sẻ trong buổi họp báo rằng, trong năm 2016 và ba tháng đầu năm 2017, anh cùng với những người tâm huyết về giáo dục STEM đã huấn luyện cho gần 2.000 giáo viên tiểu học và THCS trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Những sự kiện tương tự như Ngày hội STEM đã được tổ chức ở Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh, TP. Hồ Chí Minh và sắp tới là Huế, trong đó nhiều sự kiện hoàn toàn dựa vào nguồn vốn xã hội hóa.        Đại diện một số đơn vị đóng góp nội dung của Ngày hội STEM 2017 (lần lượt từ người đứng thứ 3 từ trái sang): anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc DTT; anh Đỗ Hoàng Sơn, Tổng giám đốc công ty Sách Long Minh, PGS.TS Chu Cẩm Thơ, người sáng lập Trung tâm Toán PoMath trong buổi họp báo.   Cơ hội hoàn thiện hệ sinh thái STEM đang sơ khai  Tuy nhiên, giáo viên và học sinh mới là một phần của hệ sinh thái giáo dục STEM của Việt Nam mà hiện nay vẫn còn rất sơ khai. Anh Đặng Văn Sơn, Trưởng ban tổ chức Ngày hội STEM 2017, sáng lập Học viện Sáng tạo S3 trong buổi họp báo có đưa ra các thành phần cơ bản của hệ sinh thái này bao gồm nhà trường là trung tâm và các tổ chức hỗ trợ xung quanh bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, các công ty, tập đoàn công nghệ và các tổ chức khoa học – giáo dục. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có nhiều công ty lớn sẵn lòng hỗ trợ về giáo dục STEM còn các viện nghiên cứu và trường đại học thì đa phần đều “đóng cửa” đối với công chúng. Đại sứ STEM (các nhà khoa học, nhà công nghệ sẵn sàng tới các trường phổ thông định kỳ để truyền thông về STEM) thì vẫn vắng bóng.  Sự xuất hiện của chương trình giáo dục tổng thể và mối quan tâm của chính phủ về Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ tạo điều kiện để giáo dục STEM có thể phát triển bài bản và đi sâu vào chương trình giáo dục chính khóa. PGS.TS Chu Cẩm Thơ, người sáng lập Trung tâm Toán PoMath đồng thời là nghiên cứu viên tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, cho biết, thành viên của hội đồng quốc gia giáo dục và những người tham gia biên soạn chương trình tổng thể cũng đã xác nhận rằng giáo dục STEM phải là một trong những hướng giúp cho giáo dục Việt Nam có thể thay đổi và hướng tới tạo nên chân dung giáo dục định hướng năng lực. Chị cho rằng, những gì mà các tổ chức dân sự về STEM đã làm được là rất nhiều nhưng mới chỉ là bắt đầu. Theo PGS Thơ, để có thể đưa giáo dục STEM vào chương trình tổng thể, cần phải làm nhiều nữa vì nó sẽ liên quan đến việc thiết kế chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và đo lường học sinh. Và điều này còn phải đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ và lâu dài của nhiều bên, đặc biệt là Bộ Giáo dục và các nhà nghiên cứu về giáo dục.  Giáo dục STEM không chỉ có vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực cho những ngành nghề mới sẽ nảy sinh trong tương lai cùng với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ. Đầu tháng 5, Thủ tướng Chính phủ có ban hành chỉ thị 60 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc công ty công nghệ DTT, người tham gia xây dựng chỉ thị của Thủ tướng chia sẻ rằng, giáo dục STEM là một trong những cách “tăng cường năng lực tiếp cận” này. Cách mạng 4.0, thực chất là sự kết hợp của số hóa, vật lý và sinh học – “thì nó không khác gì chúng ta nói về tích hợp của STEM cả”, anh Trung cho biết.   Các hoạt động diễn ra trong ngày hội STEM 2017 – Future Planet/ Hành tinh tương lai:  – Lớp học STEM khối Tiểu học và THCS: các em sẽ được làm thí nghiệm tạo ra điện từ thức ăn, lắp mô hình xe ô tô sử dụng năng lượng mặt trời, lắp mạch điện thông minh; lập trình cho robot; sử dụng Toán học để vẽ tranh, xếp gỗ (Tangram, Kapla, Tessellation).   – Trải nghiệm STEM cho khối Tiểu học và THCS: tương tác với robot và lập trình robot.  – Labtour dành cho khối THPT – STEM Show ngắn vài phút trong đó có trình diễn những thí nghiệm “ảo thuật” như dùng chuối đóng đinh.  – Khu trưng bày sản phẩm STEM của các trường THCS như Tạ Quang Bửu, Trưng Vương, Olympia và trình diễn các thí nghiệm vui: Vòi rồng, Đĩa nhựa bay, Bong bóng xà phòng khổng lồ, Pháo dây cháy trong cốc nước, xem trình diễn robot xếp rubic…        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ngày hội STEM 2017: Thành công mới chỉ là bắt đầu      Ngày 14/5 vừa qua đã diễn ra Ngày hội STEM 2017 với số người tham dự đông gần gấp đôi năm ngoái, thành công vượt mong đợi của ban tổ chức. Tuy nhiên, sau những dư âm rộn rã của ngày hội, vấn đề cần quan tâm là làm sao đưa STEM vào giáo dục phổ thông một cách sâu rộng hơn.      Phụ huynh chăm chú quan sát mô hình sử dụng năng lượng mặt trời cho việc chiếu sáng trong các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa.   Sự tham gia của đại học, sự chủ động của người học  Trong phòng thí nghiệm PLMCC (Trung tâm đào tạo công nghệ quản lý vòng đời sản phẩm), các em học sinh thích thú trò chuyện với robot NAO với những cử động chớp mắt, xua tay, lắng nghe, đi lại như người thật. Ở phòng thí nghiệm của khoa Năng lượng, có một nhóm học sinh quan sát một pin nhiên liệu “vĩnh cửu” tích trữ năng lượng Mặt trời để vận hành một động cơ – rất có thể là mô hình trong tương lai 30 năm nữa của một chiếc xe ô tô điện. Đó là những hình ảnh của hoạt động Labtour diễn ra trong Ngày hội STEM 2017 tổ chức tại Đại học KH&CN Hà Nội (USTH), nơi đánh dấu lần đầu tiên một sự kiện STEM tại Việt Nam có sự tham gia đúng nghĩa của một trường đại học. Khác với những Ngày hội STEM trước, các trường đại học thường chỉ đóng vai trò là nơi cho thuê địa điểm, lần này USTH vừa tích cực tham gia vào hoạt động giảng dạy STEM, vừa cho tiến hành Labtour – theo đó toàn bộ các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế được mở cửa để mọi người có thể tới tham quan, làm thí nghiệm và hỏi về mọi vấn đề từ hoạt động của các thiết bị, máy móc thí nghiệm cho đến công việc thường ngày của các nhà khoa học. Trước khi ngày hội diễn ra, ngay cả ban tổ chức cũng không hình dung rằng những thí nghiệm được thiết kế với độ khó tương đương cho học sinh cấp THPT lại có thể hấp dẫn và thu hút các đối tượng ngoài dự kiến như trẻ em tiểu học và phụ huynh học sinh. Nguyễn Khánh Linh, sinh viên Đại học USTH, phụ trách hướng dẫn phòng Lab của khoa Công nghệ Nano và vật liệu chia sẻ trên trang cá nhân của mình rằng em “sướng tỉnh cả người” khi nghe phản hồi của một bậc phụ huynh, là “lâu lắm rồi mới được nghe kiến thức mới thế này”.      Ban tổ chức Ngày hội STEM 2017 trân trọng cảm ơn Vinschool, Viettel, Hanel, PhuThai Group đã tài trợ cho sự kiện này.        Một khác biệt nữa của ngày hội STEM năm nay là các em học sinh, sinh viên không chỉ còn đóng vai trò thụ hưởng một cách thụ động, mà còn tích cực tham gia vào vai trò tổ chức. Các em học sinh trong CLB STEM tại các trường THCS như Trưng Vương, Tạ Quang Bửu, Olympia và các trường thuộc phòng giáo dục Hạ Long, Quảng Ninh tự thiết kế, biểu diễn và hướng dẫn người tham gia thực hiện các thí nghiệm khoa học. Số người đến thăm gian hàng của THCS Trưng Vương với những thí nghiệm giản đơn như đổi màu nước, làm núi lửa phun trào, nến bay…đông không kém gì gian hàng đối diện của những nhà khoa học chuyên nghiệp thuộc Trung tâm Vệ tinh Quốc gia với thí nghiệm làm tên lửa bay từ que tăm và hộp diêm. Science show với các tiết mục nhảy hiện đại của robot NAO (Pháp) và giới thiệu chiếc xe tự hành trên Sao Hỏa mô phỏng chiếc Curiousity của NASA dành cho khối THPT là do sinh viên Đại học USTH tự chuẩn bị, trình diễn. Họ cũng là người thiết kế thí nghiệm và thuyết trình cho những người tham quan Labtour.  Phụ huynh học sinh cũng học hỏi được nhiều từ những buổi trò chuyện với các nhà khoa học. Họ ngạc nhiên thú vị, “ồ lên” trước những ví dụ của TS. Trần Đình Phong (Đại học USTH) khi anh kể về những ứng dụng công nghệ nano trong cuộc sống, lấy cảm hứng từ tự nhiên như sơn chống hà lấy ý tưởng từ cấu tạo của da cá mập, vải áo tự làm sạch lấy ý tưởng từ cấu tạo của mặt lá sen… Trước bài nói chuyện về giáo dục STEM với Công nghệ 4.0 của anh Nguyễn Thế Trung (Tổng giám đốc công ty DTT), PGS. Chu Cẩm Thơ (người sáng lập PoMath), TS. Đặng Văn Sơn (giám đốc Học viện Sáng tạo S3) và anh Đỗ Hoàng Sơn (Tổng giám đốc công ty cổ phần văn hóa – giáo dục Long Minh), mọi người cũng trăn trở và đặt ra nhiều câu hỏi về việc dạy con phương pháp giáo dục STEM như thế nào trước một viễn cảnh tương lai 30 năm nữa với những công việc giản đơn bị biến mất và thay vào đó là những công việc mới có những yêu cầu kỹ năng cao hơn.  Đưa STEM vào chương trình chính khóa?  Ngày hội STEM được Tia Sáng phối hợp với Liên minh STEM (bao gồm những cá nhân, đơn vị tâm huyết với phương thức giáo dục STEM) tổ chức lần đầu từ năm 2015, diễn ra tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, đến nay là lần thứ tư đã góp phần quan trọng trong việc thu hút sự chú ý của công chúng tới phương thức giáo dục mới mẻ này.  Cách đây năm năm, nhờ sự vận động của một số thành viên trong Liên Minh STEM, giáo dục STEM đã được đưa vào các trường phổ thông với những chương trình theo chuẩn của Hoa Kỳ. Sau khi diễn ra ngày hội STEM lần thứ nhất vào năm 2015, Liên minh STEM đã vận động tổ chức các ngày hội STEM tại các trường phổ thông ở Thái Bình, Nam Định Quảng Ninh, Huế…theo hướng xã hội hóa. Các thành viên của Liên minh cũng tình nguyện đến các trường tiểu học và THCS trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận để huấn luyện cho gần 2000 giáo viên về giáo dục STEM. Tuy nhiên, đến nay, giáo dục STEM vẫn chỉ được coi là hoạt động ngoại khóa, được triển khai dưới dạng CLB Khoa học, sinh hoạt vài ba buổi/tuần, chưa thể tạo ra ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc.  Giáo dục STEM gần đây đã được chính phủ công nhận. Từ khóa này được nhắc đến trong Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mới được ban hành ngày 4/5/2017 và Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. PGS. TS. Chu Cẩm Thơ cho biết, thành viên của Hội đồng quốc gia giáo dục và những người tham gia biên soạn chương trình tổng thể cũng đã công nhận rằng giáo dục STEM phải là một trong những hướng giúp thay đổi giáo dục Việt Nam, tạo ra chân dung của một nền giáo dục định hướng năng lực.  Tuy nhiên, giáo dục STEM còn cần sự cam kết của Bộ GD&ĐT và những nhà nghiên cứu giáo dục để có thể được giảng dạy chính thức. Theo PGS.TS. Chu Cẩm Thơ, để có thể đưa giáo dục STEM vào chương trình tổng thể, ngoài những việc Liên minh STEM đã làm còn phải thiết kế nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và đo lường năng lực học sinh về giáo dục STEM sao cho phù hợp với điều kiện và bối cảnh của Việt Nam.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ngày hội STEM nơi địa đầu tổ quốc      Sáng 03/11, UBND thành phố Hà Giang đã phối hợp cùng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức Ngày hội STEM tại trường THCS Yên Biên.      Tập điều khiển robot. Ảnh do BTC cung cấp.  Đây là lần đầu Ngày hội STEM được tổ chức tại thành phố địa đầu tổ quốc với mục đích tạo cơ hội cho các giáo viên nơi đây được tiếp cận một phương pháp dạy học thực nghiệm mới trên thế giới, có tính ứng dụng cao; và khơi dậy trí tò mò, niềm đam mê khám phá khoa học của học sinh, để trên cơ sở đó tạo động lực hình thànhCâu lạc bộ STEM trong các trường học ở địa phương.  Khoảng 600 học sinh đã được xem trình diễn các mô hình STEM (bao gồm mô hình toán học, robot…) và quan sát các thí nghiệm đơn giản liên quan tới chủ đề năng lượng tái tạo… của các đơn vị giảng dạy, thực hành STEM như Học viện Sáng tạo S3, Kidscode, IvyPrep và một số trường học đến từ Hà Nội, Nam Định, Quảng Ninh, Nghệ An. Bên cạnh đó, các em còn được tham gia các tiết học thực hành với các thí nghiệm vật lý, hóa học vui, lập trình game, lập trình điều khiển và lắp ráp robot, làm các mô hình toán, làm đồ chơi khoa học từ vật liệu tái chế, cũng như đọc sách khoa học và học tiếng Anh qua các chủ đề khoa học.  Ban tổ chức cho biết, ấn tượng của các em học sinh đối với Ngày hội là “ngạc nhiên xen lẫn thú vị”.  Ngay sau khi kết thúc Ngày hội STEM tại trường THCS Yên Biên, nhóm cán bộ của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tiếp tục di chuyển về huyện Bắc Quang để tổ chức Ngày hội STEM tại trường Phổ thông dân tộc Nội trú THCS và THPT Bắc Quang vào buổi chiều cùng ngày, với sự phối hợp của Trung tâm Giáo dục Cộng đồng Thành phố Hà Giang.  Được biết, Trung tâm Giáo dục Cộng đồng Thành phố Hà Giang hiện là đơn vị đầu tiên ở thành phố này bắt đầu triển khai chương trình giáo dục STEM với sự hợp tác của chuyên gia Nguyễn Thành Hải từ Viện Nghiên cứu giáo dục STEM (Đại học Missouri, Mỹ).                   Author                T.T        
__label__tiasang Ngày khủng long lìa đời (Kỳ 1)      Nếu vào một buổi tối nhất định cách đây khoảng 66 triệu năm, bạn đứng từ lục địa Bắc Mỹ và nhìn lên trời, bạn sẽ nhanh chóng nhận thấy một thứ hao hao giống một ngôi sao. Ngắm thêm một hoặc hai tiếng nữa, bạn sẽ thấy ngôi sao tưởng chừng như đã tăng độ sáng, dù nó gần như không dịch chuyển. Lý do là bởi đây không phải một ngôi sao mà là một tiểu hành tinh đang hướng thẳng về phía Trái đất với vận tốc khoảng 72,420 km/h. 60 tiếng sau, tiểu hành tinh đâm vào Trái đất. Phần không khí phía trước nó bị nén lại và đốt nóng một cách dữ dội; vụ nổ để lại một cái hố rộng hoác trong bầu khí quyển, sinh ra một cơn sóng xung kích siêu thanh. Vị trí vụ va chạm là một vùng biển nông nơi bán đảo Yucatán (Mexico) tọa lạc ngày nay. Tại thời khắc ấy, kỷ Phấn trắng kết thúc, kỷ Cổ cận bắt đầu.      Một trong các bộ xương Tyrannosaurus rex được tìm thấy tại thành hệ Hell Creek, Montana, Mỹ. Ảnh: James St. John/Flickr  Cách đây vài năm, các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos đã sử dụng “Cỗ máy Q” –  một trong những máy tính mạnh nhất thế giới vào thời điểm đó – để mô phỏng tác động của vụ va chạm. Kết quả là một video sử dụng màu giả và hiệu ứng quay chậm để lật lại từng giây của sự kiện này. Chỉ trong vòng hai phút sau khi đâm sầm vào Trái đất, tiểu hành tinh vốn dĩ có đường kính tối thiểu là 9.6km đã đào ra một cái hố va chạm sâu khoảng 29km và bắn tung tóe vào bầu khí quyển các mảnh vụn có tổng khối lượng 25 nghìn tỷ tấn. Hãy thử hình dung nước trong ao bắn tóe lên khi một hòn sỏi rơi xuống, song ở cấp độ hành tinh. Khi vỏ Trái đất bật nảy trở lại, đã có một đỉnh núi cao hơn đỉnh Everest nhô lên. Phần năng lượng được giải phóng còn nhiều hơn cả một tỷ quả bom nguyên tử bị ném xuống Hiroshima, nhưng vụ nổ chẳng hề giống một vụ nổ nguyên tử với đám mây hình nấm quen thuộc. Thay vào đó, thứ phụt lên ban đầu có hình đuôi gà trống – một luồng phun vật chất nóng chảy khổng lồ thoát ra khỏi bầu khí quyển, rồi một phần tủa ra khắp bầu trời Bắc Mỹ. Phần nhiều vật chất này nóng gấp bội so với bề mặt của Mặt trời, và đốt cháy mọi thứ trong phạm vi 1.600km. Ngoài ra, một khối nón ngược làm từ đá nung quá nhiệt cho nóng chảy cũng đã bay lên, phát tán ra ngoài dưới dạng vô số hạt kính nóng đỏ gọi là tectit, rồi che phủ cả bán cầu Tây.  Tiểu hành tinh đã hóa hơi ngay khi va chạm. Vật chất của nó, trộn lẫn với đất đá Trái đất đã hóa hơi, sinh ra một cột khói lửa cao đến nửa đường tới Mặt trăng, trước khi sụp xuống thành một cột bụi nóng sáng. Các mô hình máy tính gợi ý rằng khu vực khí quyển trong phạm vi 2.400km từ vị trí va chạm đã trở nên nóng đỏ do cơn bão mảnh vụn, gây ra các vụ cháy rừng khủng khiếp. Khi Trái đất quay, phần vật chất trên không gặp nhau ở đầu bên kia hành tinh, nơi chúng rơi xuống và thiêu cháy toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ. Các phép đo đạc lượng tro muội che phủ Trái đất sau đó cũng cho thấy rằng gần 70% rừng Trái đất đã chìm trong biển lửa. Cùng lúc đó, các trận sóng thần khổng lồ do vụ va chạm gây ra đã hoành hành khắp vịnh Mexico, phá nát các đường bờ biển, đôi khi bóc đi hàng trăm mét đất đá, đẩy các mảnh vụn vào sâu trong đất liền rồi lại hút chúng trở lại  biển sâu, để lại các lớp chất lắng rối rắm mà người ta đôi khi chạm trán trong khi khoan dầu dưới biển sâu.    Một hố sụt cenote ở bán đảo Yucatán, sinh ra sau khi tiểu hành tinh Chicxulub làm sụp lớp đá vôi trên bề mặt bán đảo 66 triệu năm trước. Ảnh: BBC.  Thiệt hại mới chỉ bắt đầu. Các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi về nhiều chi tiết dựa trên các mô hình máy tính, bên cạnh các nghiên cứu thực địa về lớp mảnh vụn, về tốc độ tuyệt chủng, hóa thạch và vi hóa thạch, cùng nhiều manh mối khác. Nhưng nhìn chung, mọi thứ tăm tối một cách đồng nhất. Lượng tro muội từ vụ va chạm và các đám cháy đã ngăn trở nắng chạm tới bề mặt hành tinh trong nhiều tháng. Quá trình quang hợp dừng lại, giết chết gần hết thực vật, tận diệt các sinh vật phù du dưới biển, khiến lượng ôxy trong bầu khí quyển giảm mạnh. Lửa tàn, Trái đất rơi vào một thời kỳ lạnh, thậm chí có thể là đông lạnh sâu (deep freeze). Hai chuỗi thức ăn cốt yếu của Trái đất – dưới biển và trên cạn – sụp đổ hoàn toàn. Khoảng 75% các loài sinh vật bị tuyệt chủng. Hơn 99.9999% sinh vật trên Trái đất chết, và chu kỳ carbon khựng lại.  Chính Trái đất trở nên độc hại. Khi tiểu hành tinh đâm xuống, nó hóa hơi các lớp đá vôi, giải phóng vào bầu khí quyển một nghìn tỷ tấn CO2, mười tỷ tấn mêtan và một tỷ tấn CO – đều là các loại khí nhà kính mạnh. Vụ va chạm cũng hóa hơi đá anhydrit, bắn xối 10 nghìn tỷ tấn hợp chất lưu huỳnh lên không trung. Lưu huỳnh kết hợp với nước thành axit sulfuric, rơi xuống thành các trận mưa axit có thể đã mạnh đến nỗi tuốt hết lá của bất kỳ loài thực vật nào còn sống sót, đồng thời chiết sạch các chất dinh dưỡng từ đất.      Bị khóa kín trong ranh giới K-T chính là câu trả lời cho các nghi vấn của chúng ta về một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử sự sống trên hành tinh này.      Ngày nay, lớp mảnh vụn và tro muội từ vụ va chạm được bảo quản trong trầm tích Trái đất dưới dạng một vạch đen dày bằng một quyển sổ. Đây được gọi là ranh giới K-T, chia kỷ Phấn trắng khỏi kỷ Cổ cận. Vẫn còn đầy rẫy các bí ẩn trên và dưới lớp K-T. Cuối kỷ Phấn trắng, các núi lửa khắp mọi nơi đã phun những lượng khí và bụi lớn vào bầu khí quyển, và nồng độ CO2 trong không khí lớn hơn nhiều ngày nay. Khí hậu lúc đó thuộc vào loại nhiệt đới, và cả hành tinh gần như không có băng. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn còn biết rất ít về các loại động thực vật sinh sống vào lúc đó; chính vì vậy, họ phải tìm các lớp hóa thạch càng gần ranh giới K-T càng tốt.  Một trong các bí ẩn trọng yếu của cổ sinh vật học là “bài toán ba mét”. Sau gần 150 năm chuyên cần tìm kiếm, chúng ta vẫn chưa tìm thấy một tử thi khủng long nào trong các lớp đất đá 3m bên dưới ranh giới K-T, trong đó 3m ứng với hàng nghìn năm. Do đó, nhiều nhà cổ sinh vật học đã lý luận rằng khủng long đã trên đà tuyệt chủng tận từ trước khi tiểu hành tinh lao xuống, có lẽ là do núi lửa phun trào và biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học khác đã phản biện rằng bài toán ba mét chỉ đơn thuần thể hiện khó khăn trong việc kiếm tìm hóa thạch. Theo họ, sớm muộn cũng sẽ có nhà khoa học tìm ra xương khủng long gần ngày diệt vong hơn.  Bị khóa kín trong ranh giới K-T chính là câu trả lời cho các nghi vấn của chúng ta về một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử sự sống trên hành tinh này. Nỗ lực giải mã điều đã xảy ra vào ngày diệt vong đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc giải bài toán ba mét mà còn trong việc lí giải cái căn nguyên của loài người chúng ta.    Ranh giới K-T lộ ra trên một vách đá ở đèo Ratón, bang Colorado, Mỹ. Ảnh: NSF/Kirk Johnson, Denver Museum of Nature & Science  Ngày 5/8/2013, tôi nhận được một email từ một học viên cao học tên là Robert DePalma. Tôi chưa từng gặp DePalma, nhưng chúng tôi đã trao đổi với nhau về các chủ đề trong cổ sinh vật học được nhiều năm, kể từ khi anh đọc một cuốn tiểu thuyết tôi viết xoay quanh viễn cảnh phát hiện ra một hóa thạch khủng long Tyrannosaurus rex bị giết bởi vụ va chạm K-T. “Tôi đã có một phát hiện khó tin và chưa từng có tiền lệ,” anh viết cho tôi từ một trạm nghỉ cho xe tải ở Bowman, North Dakota. “Đây là một vấn đề tuyệt mật mà chỉ mới có ba người khác biết. Tất cả đều là đồng nghiệp thân cận của tôi.” Anh nói tiếp: “Nó độc đáo và hiếm gặp hơn một phát hiện khủng long thông thường. Nếu có thể, cho phép tôi không nói sơ qua các chi tiết bằng đường email.” Anh cho tôi số điện thoại và hẹn thời gian gọi.  Tôi gọi, và anh bảo tôi rằng anh đã phát hiện ra một di chỉ như chỗ tôi đã tưởng tượng ra trong tiểu thuyết của mình, với các nạn nhân trực tiếp của thảm kịch và nhiều thứ nữa. Thoạt đầu, tôi còn hoài nghi. DePalma là một kẻ vô danh trong khoa học, một ứng viên tiến sĩ tại Đại học Kansas, và anh bảo tôi rằng anh đã tìm ra di chỉ này mà không có sự hỗ trợ của cơ quan, không có một cộng tác viên nào. Tôi nghĩ chắc là anh ta đang nói quá, hoặc thậm chí là anh ta bị điên. (Ngành cổ sinh vật học cũng có khá nhiều người bất thường.) Nhưng tôi cũng bị hấp dẫn đủ để bay một chuyến tới North Dakota xem sao.      Nếu di chỉ này giống như DePalma mong đợi, anh đã có phát hiện cổ sinh vật học quan trọng nhất của thế kỷ mới.      Phát hiện của DePalma nằm trong thành hệ địa chất Hell Creek, đoạn trồi lên ở các bang North Dakota, South Dakota, Montana và Wyoming, và chứa đựng những lớp đất đá với nhiều hóa thạch khủng long nhất thế giới. Ở thời điểm của vụ va chạm, cảnh quan Hell Creek là các vùng đất trũng và bãi bồi cận nhiệt đới ẩm thấp bên bờ của một biển nội địa. Vùng đất này vốn phong phú sự sống và có điều kiện tốt cho quá trình hóa thạch, với các trận lũ theo mùa và những con sông khúc khuỷu nhanh chóng chôn vùi động thực vật đã chết.  Các thợ săn khủng long lần đầu phát hiện các lớp hóa thạch phong phú này vào cuối thế kỷ XIX. Năm 1902, Barnum Brown – một thợ săn khủng long có tính khoa trương làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ ở New York – đã tìm thấy con Tyrannosaurus rex đầu tiên tại đây, gây náo động cả thế giới. Một nhà cổ sinh vật học đã ước tính rằng vào kỷ Phấn trắng, Hell Creek nhan nhản khủng long bạo chúa như là linh cẩu ở Serengeti. Đây cũng là nhà của các loài khủng long ba sừng và mỏ vịt.  Thành hệ Hell Creek bao hàm các kỷ Phấn trắng và Cổ cận, và các nhà cổ sinh vật học đã biết được ít nhất là 50 năm nay rằng một sự kiện tuyệt chủng đã xảy ra vào lúc đó, bởi khủng long được tìm thấy ở bên dưới, nhưng không bao giờ ở bên trên lớp K-T. Đây là hiện thực không chỉ tại Hell Creek mà trên cả thế giới. Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã tin rằng vụ tuyệt chủng K-T không phải là một bí ẩn: trong hàng triệu năm, các hoạt động núi lửa, biến đổi khí hậu và những sự kiện khác dần dần tận diệt nhiều dạng sự sống. Nhưng cuối những năm 1970, một nhà địa chất trẻ tên là Walter Alvarez cùng cha là nhà vật lý hạt nhân Luis Alvarez đã phát hiện ra rằng lớp K-T có các lượng iridi – một kim loại hiếm – cao bất thường, và họ đưa ra giả thuyết rằng chúng đến từ phần bụi còn sót lại của một vụ va chạm tiểu hành tinh. Trong một bài viết xuất bản trên báo Science năm 1980, họ gợi ý rằng vụ va chạm này lớn đến nỗi gây tuyệt chủng hàng loạt, và lớp K-T chính là tàn tích từ sự kiện ấy. Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đã phủ nhận ý tưởng rằng một cuộc chạm trán bất ngờ và ngẫu nhiên với phế phẩm vũ trụ đã làm thay đổi chóng vánh quá trình tiến hóa của sự sống trên Trái đất. Nhưng trong các năm sau đó, bằng chứng cứ tiếp tục chất chồng cho đến khi một bài viết năm 1991 công bố bằng chứng không thể chối cãi: một hố va chạm bị chôn vùi dưới hàng nghìn mét trầm tích ở bán đảo Yucatán, với niên đại, kích thước và đặc điểm địa hóa học phù hợp với một tai biến toàn cầu. Hố va chạm và tiểu hành tinh đã được đặt tên là Chicxulub, theo một thị trấn nhỏ của người Maya nằm gần tâm chấn.  Năm 2010, trong một bài viết mang tính bước ngoặc trên báo Science, 41 nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau đã thông báo rằng mọi chuyện đã ngã ngũ: một vụ va chạm của một tiểu hành tinh khổng lồ đã gây ra sự kiện tuyệt chủng. Nhưng sự phản đối hãy còn sôi nổi. Giả thuyết chính chống lại ý tưởng này cho rằng các vụ phun trào núi lửa khổng lồ ở vùng Deccan, Ấn Độ ngày nay đã phun đủ lưu huỳnh và CO2 vào bầu khí quyển để gây ra một sự chuyển dịch khí hậu. Bắt đầu từ trước vụ va chạm K-T và còn tiếp diễn sau đó, các vụ phun trào này thuộc vào hàng lớn nhất trong lịch sử Trái đất, kéo dài hàng trăm ngàn năm, chôn vùi hàng triệu kilômét bề mặt Trái đất dưới hơn 1km nham thạch. Theo những người ủng hộ ý tưởng này, lỗ hổng ba mét bên dưới lớp K-T là bằng chứng rằng sự tuyệt chủng hàng loạt đã bắt đầu tận từ trước khi tiểu hành tinh đâm xuống.  Năm 2004, DePalma, bấy giờ là một sinh viên 22 tuổi học cử nhân ngành Cổ sinh vật học, đã bắt đầu khai quật tại một di chỉ nhỏ thuộc thành hệ Hell Creek. Di chỉ này từng là một ao nước, và phần đất lắng chứa các lớp trầm tích rất mỏng. Thông thường, một lớp địa chất có thể biểu hiện hàng nghìn hoặc hàng triệu năm. Nhưng DePalma đã cho thấy rằng mỗi một lớp trầm tích đã được đặt xuống chỗ đất lắng này trong một trận giông tố lớn. Anh nói: “Chúng tôi đã thấy được lúc cây mới ra lộc, và cả lúc các cây bách rụng lá kim vào mùa thu”. Quan sát các lớp đất giống như lần giở một cuốn cổ sử ghi lại nhiều thập kỷ sinh thái trên những trang sách nghẽn bùn. Thầy hướng dẫn của DePalma, nhà cổ sinh vật học Larry Martin quá cố, đã thôi thúc anh đi tìm một di chỉ tương tự, với các lớp đất gần ranh giới K-T hơn.  Giờ đây, DePalma đã 37 tuổi, nhưng vẫn tiếp tục làm việc để lấy bằng Tiến sĩ. Anh giữ chức nhân viên phụ trách không lương về mảng cổ sinh vật không xương sống tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Palm Beach, một bảo tàng hãy còn non trẻ, túng thiếu và không có không gian trưng bày. Năm 2012, trong khi kiếm tìm một chỗ đất lắng từng là một ao nước khác, anh nghe nói một nhà sưu tập tư nhân đã tình cờ tìm ra một di chỉ bất thường ở một nông trại gần Bowman, North Dakota. (Phần nhiều đất Hell Creek là của các chủ tư nhân, và các chủ trại gia súc sẽ bán quyền đào xới cho bất kỳ ai trả hậu hĩnh, bất kể là nhà cổ sinh vật học hay kẻ thu gom hóa thạch vì mục đích thương mại.) Nhà sưu tập nói trên cảm thấy rằng di chỉ này – một lớp dày 0.9m lộ ra trên bề mặt – là một điều to tát: nó đầy rẫy các hóa thạch cá, nhưng chúng mỏng manh đến nỗi vừa gặp không khí đã nát vụn. Những xác cá được bọc trong các lớp bùn cát ẩm, rạn nứt và chưa từng rắn lại; chúng nhẹ đến độ có thể dùng xẻng đào lên hoặc xé ra bằng tay. Tháng 7/2012, nhà sưu tập cho DePalma xem di chỉ và bảo rằng anh được chào đón tại đây.  “Tôi bị thất vọng ngay lập tức”, DePalma nói. Anh đã mong chờ một di chỉ như chỗ anh đã khai quật hồi trước: một ao nước cổ với các lớp có hạt mịn, chứa các hóa thạch trải dài nhiều mùa, nhiều năm. Thay vào đó, mọi thứ đã được đổ xuống trong một trận lũ duy nhất. Nhưng trong lúc mò mẫm, DePalma nhận thấy tiềm năng. Trận lũ đã chôn vùi mọi thứ ngay lập tức, nên các mẫu vật được bảo tồn đẹp đẽ. Anh tìm thấy nhiều xác cá nguyên vẹn – điều hiếm gặp ở thành hệ Hell Creek – và đồ rằng mình có thể lôi chúng ra một cách toàn vẹn nếu làm việc cực kỳ cẩn thận. Anh đồng ý trả tiền cho chủ nông trại theo từng mùa anh làm việc tại đó. (Các điều khoản chi tiết, theo thông lệ tiêu chuẩn trong cổ sinh vật học, đều được giữ bí mật. Di chỉ hiện đang được cho thuê lâu dài).  Tháng bảy năm sau, DePalma trở lại di chỉ cho một cuộc khai quật sơ bộ. “Gần như ngay lập tức, tôi nhận ra sự bất thường,” anh kể cho tôi. Anh bắt đầu đào xới các lớp đất đá bên trên chỗ anh tìm thấy lũ cá. Phần đất này thường là vật chất lắng xuống một thời gian dài sau khi các mẫu vật đã chết; chúng không khiến các nhà cổ sinh vật học hứng thú và thường bị quẳng đi. Nhưng vừa mới đào, DePalma đã thấy các hạt trắng xám trong các lớp đất đá giống như các hạt cát, và dưới thấu kính cầm tay, chúng hiện ra là các quả cầu tí hon và các khối hình giọt bị kéo dài. DePalma kể: “Tôi đã nghĩ: ôi cha mẹ ơi, chúng giống y như microtectit!” Microtectit là các giọt kính được tạo ra khi đá nóng chảy bị bắn vào không khí bởi một vụ va chạm tiểu hành tinh rồi rơi trở lại Trái đất thành một trận mưa rào bị làm rắn lại. Di chỉ dường như chứa hàng triệu mẫu vật như vậy.  Tiếp tục khai quật các lớp phía trên, DePalma bắt đầu tìm thấy một tập hợp hóa thạch phi thường, vô cùng mỏng manh nhưng được bảo quản tốt đến mức đáng kinh ngạc. “Có những vật chất thực vật tuyệt vời trong đó, đan xen hết vào với nhau”, anh kể lại. “Có các khúc gỗ chất chồng, có cá bị ép vào rễ cây bách, có thân cây dính đầy hổ phách.” Hầu hết các hóa thạch bị san phẳng bởi áp lực từ tầng đá phía trên, nhưng tại đây mọi thứ đều ba chiều, kể cả những con cá, bởi chúng đã bị chôn vùi cùng một lúc vào lớp trầm tích – thứ đóng vai trò chống đỡ áp lực bên trên. DePalma kể: “Có thể thấy da, thấy vây lưng nhô ra từ các trầm tích. Thấy cả những loài mà khoa học chưa từng biết đến”. Càng đào, anh càng nhận thức được sự quan trọng của thứ anh đã tìm ra. Nếu di chỉ này giống như DePalma mong đợi, anh đã có phát hiện cổ sinh vật học quan trọng nhất của thế kỷ mới.□  (còn nữa)  Nguyễn Bình dịch  Nguồn: “The Day The Dinosaurs Died”, The New Yorker. newyorker.com/magazine/2019/04/08/the-day-the-dinosaurs-died    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày mai, nông thôn Trung Quốc càng buồn bã?      Hôm nay, không ít người đã kêu trời rằng nông thôn Trung Quốc đang quá bần cùng, thê thảm và cả tàn khốc nữa. Nhưng theo tôi, hầu bao của nông thôn Trung Quốc lúc này còn rủng rỉnh hơn tương lai rất nhiều. Nông thôn Trung Quốc 20 năm nữa còn nghèo hơn hôm nay vài lần, thậm chí, vài chục lần. Nông dân không chỉ nghèo, mà còn suy thoái về trí lực. Sở dĩ có nhận định này, là dựa trên 4 căn cứ:    Căn cứ 1: Những người giàu ở nông thôn đã đi đâu sau hai thập kỷ qua? Vào thành phố! Các công ty kinh doanh địa ốc trong thành phố có thể chứng thực điều này. Tại sao giá nhà ở thành phố, đặc biệt là các thành phố trung tâm, lại cao đến vậy? Chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu của những nông dân giàu có. Trên một tạp chí thủ đô, từ 2002 đến 2003, 38% thị trường nhà đất ở Bắc Kinh thuộc về nông dân. Theo một tờ báo của Trùng Khánh, từ 2001 đến 2003, 40% mặt hàng địa ốc của thành phố được bán cho các “thượng đế” đến từ nông thôn. Quan chức của thành phố Nam Ninh, Quảng Tây công bố: từ 2002 đến 2003, 36% nhà đất Nam Ninh về tay nông dân. Con số này ở Thanh Đảo, Sơn Đông là 39%. Những nông dân tinh anh di cư vào thành phố là một xu thế lớn. Người chủ nhà 74 tuổi của tôi là nông dân Đại Thạch Sơn, thời kỳ đầu cải cách mở cửa, ông cùng 5 đứa con mở một cửa hàng đậu phụ và miến ở quê, nuôi mấy chục con lợn, thành lập được đội vận tải rồi dần dần giàu có. Sau khi phát tài, việc đầu tiên ông làm là vào thành phố mua ngay một vila 12 phòng, ở 6 phòng, cho thuê 6 phòng. Ông nói với tôi: “Những năm 50, 60 thế kỷ trước, tôi đã muốn ra thành phố rồi, chỉ có điều muốn mà không biết làm thế nào. Ai ngờ sau cải cách mở cửa thì ước mơ thành sự thật, mang được con cháu vào thành phố ở, tôi có chết cũng an lòng”.  Căn cứ 2: Trong 20 năm qua, con em nông dân thi đỗ đại học nhiều hơn, song tốt nghiệp rồi chẳng mấy người trở về. Bọn trẻ được rời khỏi làng quê vất vả, như chim xổ lồng, không muốn quay về nữa! Đi đâu? Ở lại thành phố, ra nước ngoài! Những người thực sự muốn trở về xây dựng quê hương đếm trên đầu ngón tay! Tôi có hai người họ hàng ở nông thôn Nội Mông, một trai, một gái. Giữa những năm 90 thế kỷ trước, cả hai người đều thi đỗ đại học và ở lại thành phố sau khi tốt nghiệp. Một người làm việc cho công ty nước ngoài, một người thành lập công ty riêng kinh doanh mạng và đón cả cha mẹ lên thành phố ở. Tôi hỏi cô em họ tôi vì sao không về quê giúp cho hương thân cùng giàu có? Cô em tôi cười câu hỏi dớ dẩn. Nó nói: “Thế hệ các anh chị quen suy nghĩ đơn thuần, cứ coi khẩu hiệu chính trị là chân lý”. Nhân tài bối xuất, giang sơn y cựu (Nhân tài lớp lớp xuất hiện, [nhưng] giang sơn vẫn như xưa) – đó là hiện tượng phổ biến của nông thôn Trung Quốc ngày nay.  Căn cứ 3: Thanh niên trai tráng ở nông thôn có chút kiến thức văn hóa, lại năng động thì có ai không tìm mọi cách về thành phố? Để kiếm tiền! Để có tương lai! Để có vợ! Để phụng dưỡng cha mẹ! Để “củng cố đời con”! Các chàng trai vừa nhạy bén vừa linh hoạt, lại giương mắt ngẩn ngơ nhìn đám đất đỏ ở quê mà không kiếm đường đến miền đất hứa thì mới là lạ! Từng người, từng tốp, từng đợt, từng lượt lực điền ùn ùn tiến vào thành phố. Năm này qua năm khác, đại bộ phận các căn hộ cho thuê ở thành thị đều dành cho đối tượng này. Trấn Long Tu, thành phố Trùng Khánh có hơn 3000 người như thế. Ở Ma Thôn, thành phố Nam Ninh, hơn 1000 hộ cho thuê có khách là những thanh niên nông thôn.  Căn cứ 4: Ngày nay, các thôn nữ thông minh hơn xưa nhiều. Khai sáng rồi! Họ má thắm môi tươi, cơ thể tràn trề sức sống. Họ đã biết lợi dụng cái vốn tự có ấy mà nhanh chóng hành động, tìm cách nhập cư thành thị. Các cô gái đem cái xinh đẹp của mình đi đến các thành phố lớn. Vào thành phố tìm việc chỉ là một cái cớ, tìm được “ông chồng tốt” mới là mục đích. Tốt ở đây nghĩa là phải có tiền, có quyền. Hình dáng thế nào, tính cách ra sao… không quan trọng, không cần thiết phải cầu toàn. Miễn người là được. Các cô cũng chẳng ngại làm vợ lẽ, vợ bé… làm bà ba, bà tư cũng cam tâm tình nguyện. Có cô đã đằng thằng: “nhất cử tam tứ tiện”, giải tỏa được cái âu lo của cả mấy thế hệ (bản thân, anh chị em, bố mẹ, con cái). Có người thống kê: Tỉ lệ nữ và nam ở thành phố trở nên mất cân bằng đáng báo động: Thâm Quyến 36:1; Quảng Châu 32:1; Hải Khẩu: 39:1; Thanh Đảo: 33:1; Đại Liên: 34:1. Như vậy, ở các thành phố lớn, phụ nữ áp đảo nam giới về số lượng. Nhưng ở nông thôn thì tỉ lệ đó đảo ngược. Hiện nay, lưu manh thất nghiệp ở nông thôn không ít. Nơi càng nghèo thì nạn càng nặng. Nguy cơ loạn hôn cũng đã xuất hiện. Anh em lấy cùng một vợ, chú cháu lấy cùng một vợ… Họ sẽ sinh ra con cháu thế nào đây? Vùng Đông Bắc quê tôi, một vùng nông thôn hẻo lánh, người trong thôn gặp nhau chỉ nói một chủ đề duy nhất: lấy vợ. Một người đàn bà ngoài 50 tuổi dắt theo 3 đứa con, trong một năm cũng cưới 2 lần chồng, không phải trai tân không lấy. Cứ  vậy, phải chăng “chậm chạp về thể xác, ngờ nghệch về trí tuệ” sẽ là những đặc trưng của thế hệ nông dân tương lai? Điều này khiến chúng ta không khỏi rùng mình.  Có tiền, rời xa nông thôn! Có văn hóa, rời xa nông thôn! Có đầu óc, rời xa nông thôn! Có sắc đẹp, rời xa nông thôn!  Ngày mai, nông thôn càng buồn bã. Bạn tin không?  Nhuệ Anh    Nguồn tin: zawen.net      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày Tận Thế      Từ năm 1947 đến nay, kim phút trên chiếc đồng hồ ẩn dụ báo Ngày Tận Thế lúc 12 giờ khuya của các nhà khoa học Mỹ đã qua 18 lần điều chỉnh. Gần đây nhất, vào ngày 18/01/2007, nó được nhích lên thêm hai vạch, và chỉ còn năm vạch nữa là đến… giờ định mệnh.    Như một khối đá khổng lồ xuất hiện trong vũ trụ trước đây 4,6 tỷ năm, nhờ được tắm ánh nắng Mặt Trời cùng một chút ân huệ của Tạo hóa, Trái Đất đã dần dà thay da đổi thịt, từ một nữ đồng trinh khô khốc hóa thân thành một nhan sắc tuyệt trần và cuối thành Người Mẹ của muôn loài. Những tế bào sống eucaryotic bắt đầu xuất hiện dưới ánh nắng chói chang cách đây chừng 2 tỷ năm. Hàng tỷ năm sau, nước và ô xy nứt ra từ những kẽ đá ly ty ngày một nhiều, tạo nên khí quyển và đại dương, cây cối rồi đến các loài động vật lần lượt xuất hiện. Trong cái thế giới hồng hoang đó, những chú vượn  lom khom bỗng vươn vai thành những homo sapiens nhận lấy sứ mạng cai quản muôn loài, cách đây một trăm nghìn năm. Tổ tiên loài người còn phải lang thang săn bắn hái lượm triền miên, chỉ mới rất gần đây mới biết định cư, phá rừng trồng trọt, thuần dưỡng cầm thú, đốt gỗ lấy than, rèn đúc khí cụ, chẳng những để mưu sinh mà còn chinh phục cả đồng loại. Cọc mốc văn minh đầu tiên ấy chỉ mới xuất hiện trước đây mười nghìn năm. 10.000 trên chiều dài 4.600.000.000, nghĩa là chưa được hai phần mười cái tích tắc, nếu toàn bộ lịch sử Trái Đất thu gọn lại thành một ngày 24 giờ cho dễ hình dung.                     Thế mà thánh kinh và các đấng tiên tri đã vội phán truyền về Ngày Tận Thế!  Nói cho cùng, họ không sai. Sinh tử là lẽ Trời, Trái Đất không thể là ngoại lệ. Rồi nó cũng sẽ lụi tàn, có điều là sau hàng tỷ năm nữa, khi Mặt Trời ngày càng già nua không đủ chói sáng như hiện nay. Mà lúc đó con người sẽ chế tác ra những mặt trời khác. Cho nên cái “Ngày Tận Thế” vẫn mãi là chuyện hoang đường, trừ phi con người quá khôn ngoan mà trở thành điên loạn và tự hủy diệt mình. Tiếc thay, nguy cơ này là có thật!  Năm 1947, những đỉnh cao trí tuệ ở Mỹ, trong số này có nhiều người từng thai nghén ra hai quả bom hạt nhân đầu tiên như Einstein, Oppenheimer, Bethe, Szilard… đã chế tác ra chiếc đồng hồ ẩn dụ báo trước cái Ngày Tận Thế đó. Chiếc kim phút càng gần vạch 12 giờ, mối hiểm họa hủy diệt thế giới càng lớn. Từ chỗ cách 7 vạch lần đầu tiên  vào năm 1947, thỉnh thoảng nó lại được điều chỉnh, lúc tới lúc lui. Lúc gần nhất chỉ còn cách 2-3 vạch vào năm 1949-1953 khi Liên xô cho thử quả bom nguyên tử và khinh khí đầu tiên, khởi đầu cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Liên xô và Mỹ. Hàng nghìn đầu đạn hạt nhân nằm trên bệ phóng sẵn sàng chờ lệnh ấn nút. Hàng vạn quả khác chất đầy kho. Gần 500 quả đủ kích cỡ được cho thử nghiệm, gieo rắc chất phóng xạ khắp toàn cầu. Thấm mệt, cả hai phải hòa hoãn. Hiệp định ngừng thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển được ký kết vào năm 1963, kéo chiếc kim phút ra xa đến 12 vạch.                   Nhưng phải tận ba mươi năm sau, các nhà khoa học mới được thở phào khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1991. Chiếc kim phút được kéo ra xa nhất, đến 17 vạch. Nhưng trái với mọi mong đợi, thế giới vẫn tiếp tục bất ổn, kim phút lại ngày càng nhích dần lên, và sau bốn lần điều chỉnh, ngày 18/1/2007 mới đây nó chỉ còn cách 5 vạch nữa là đến con số 12 định mệnh.  Chiếc đồng hồ báo Ngày Tận Thế là chế tác của những người thích đùa chăng? Không! Phải có trí tuệ siêu việt lắm mới đùa hay như thế! Vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi cuộc đối đầu giữa hai siêu cường lên đến cực điểm, Trái Đất đã từng tàng trữ bốn vạn đầu đạn hạt nhân với sức công phá tổng cộng trên 13 tỷ tấn TNT, ngót một triệu lần mạnh hơn quả bom rơi xuống Hiroshima (15 nghìn tấn TNT). Quả thật, lúc này trên thế giới có không ít người thích đùa. Đó là các chiến lược gia vẽ ra những kịch bản sử dụng kho vũ khí này. Sản phẩm của họ chất đầy các tủ hồ sơ tuyệt mật của hai bên. Họ không thèm đếm xỉa đến hậu quả của các kịch bản đó đối với số phận của loài người mà các khoa học gia cảnh báo: “Mùa Đông Hạt Nhân” sẽ là đoạn kết trong cái kịch bản  Ngày TậnThế.                     Loài người đã chứng kiến thảm họa Hiroshima, Nagasaki và sau này là Chernobyl. Nhưng chắc ít ai nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra khi chỉ cần 5 trong số 13 tỷ tấn TNT được hai bên ấn nút nhằm vào 1000 thành phố trong dải vĩ độ 30-60o Bắc bán cầu. Chưa kể đổ nát, chết chóc và bụi phóng xạ khủng khiếp, người và sinh vật có cơ may sống sót sau thảm họa đó sẽ chết dần trong mùa đông hạt nhân do 200 triệu tấn khói đen bao phủ bầu trời khiến cho nhiệt độ khí quyển giảm đi từ 10 đến 20oC và 50% tầng ozone bị thủng. Chảy mãi theo dòng xiết Tây-Đông, chất phóng xạ và khói đen được tung lên tầng bình lưu sẽ kéo dài mùa đông hạt nhân trong nhiều năm liền.  Tỉnh táo mà suy xét, hai vị Tổng thống ở tòa Bạch ốc và điện Kremlin không muốn nhìn thấy Ngày Tận Thế đó bằng cách mó vào chiếc hộp mật mã để ấn nút các dàn phóng. Nhưng hiểm họa về một cuộc chiến tranh hạt nhân leo thang ở quy mô vùng dường như không nhỏ. Chỉ cần 50 quả bom loại Hiroshima nổ tung trong một cuộc chiến hạt nhân ở vùng Vịnh sẽ giết chết từ 3 đến 16 triệu người và để lại mùa đông trên một vùng rộng lớn ở hai lục địa Âu-Á. Nhớ lại, trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, 526 giếng dầu ở Kuwait bị cháy trong nhiều ngày liền tung lên trời một lượng khói đen làm cho nhiệt độ ban ngày trong phạm vi bán kính 200 km giảm đi 10oC. Mà lúc đó chưa có vũ khí hạt nhân.  Không yếu bóng vía, nhưng những tuyên bố và tin đồn gần đây từ Iran, Israel và cả Wasinghton khiến nhiều người lo ngại nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân ở vùng Vịnh. Nhất là khi những toan tính lại được các tín điều dẫn dắt.    ảnh 4: H. G. Well cho rằng ngày tận thế sẽ là Kỷ băng hà  Phạm Duy Hiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghệ thuật hại não của Robert Lang      Suốt một cuối tuần tháng sáu oi bức, hơn 600 người đam mê gấp giấy từ khắp thế giới tập hợp ở New York để dự hội thảo thường niên của nước Mỹ về origami.      Trước những năm 1980, người ta nghĩ rằng không gấp được các loài chân đốt bằng origami. Nhưng nhờ kỹ thuật thiết kế mô hình toán học do Lang phát triển, giờ đây người ta có thể gấp những mô hình chi tiết thật chưa từng thấy: côn trùng sáu chân, tám chân, rồi xòe cánh, có cả cánh trước và cánh sau…Ảnh: langorigami.com  Các phòng học theo lối cuối thập niên 1950 tại Viện Công nghệ Thời trang ở khu Chelsea, nơi hội thảo diễn ra, toàn màu be: từ vải sơn lót sàn, tới các bức tường, rồi các ma-nơ-canh được dẹp vào một góc của các nhà tạo mẫu. Trong một phòng học như thế, hai mươi học viên tuổi từ 9 tới khoảng 65 háo hức chờ đợi, những tập giấy màu sặc sỡ đã trải sẵn ra trên những cái bàn dài và hẹp trước mặt. Giáo viên của lớp này, Robert Lang, nhận xét rằng số lượng học viên thật ấn tượng, mặc dù họ không hề được cho biết mẫu gấp từ trước. Dĩ nhiên, họ đến đây chỉ để gặp Lang.   Hấp dẫn như một ngôi sao nhạc rock  Những người cho rằng origami là trò chơi gấp giấy đơn giản của trẻ con hẳn sẽ ngạc nhiên nếu biết sự tồn tại của những nghệ sỹ origami chuyên nghiệp, và không những thế, một nghệ sỹ origami chuyên nghiệp có bằng thạc sỹ Stanford và kỹ sư, tiến sỹ vật lý Caltech. Một thập kỷ trước, Lang từ bỏ một sự nghiệp thành công trong lĩnh vực laser và điện tử quang học để gấp giấy toàn thời gian.    Robert Lang.   Khoảnh khắc ông cầm lên một tờ giấy vuông màu tím và bắt đầu gấp nó giữa không trung, những ngón tay thuôn dài di chuyển với sự chính xác của một kỹ sư kết hợp với sự uyển chuyển của một nghệ sỹ, rõ ràng ông đã nghe thấy tiếng gọi của trái tim mình. Lang, người hiện được công nhận rộng rãi là một trong những nhà tiên phong của môn nghệ thuật hiện đại này, đã công bố hơn 500 nguyên mẫu origami. Tác phẩm của ông được trưng bày ở Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại ở New York, ở khu phố ngầm Carrousel du Louvre ở Paris, ở Bảo tàng Origami ở Kaga, Nhật Bản, và nhiều nơi khác. Ông cũng khởi xướng việc dùng toán học và khoa học máy tính để thiết kế những mô hình origami phức tạp đến nỗi khó mà tin nổi chúng từng chỉ là một tờ giấy hình vuông.      “Một con chim có đôi cánh, cái đầu, cái đuôi, và, nếu thích, cả đôi chân, tất cả chỉ có thế. Nhưng cái rung động cảm xúc của tôi khi nhìn thấy một con chim ưng đuôi đỏ thật đang bay liệng mới là cái tôi muốn tóm được trong nếp gấp. Và tôi liên tục làm việc, và tôi nghĩ rằng mỗi lần làm một con chim săn mồi mới, tôi lại tóm được cái cảm xúc đó một cách tốt hơn.” – Robert Lang      Tài gấp giấy của Lang đã mang lại cho ông những đơn đặt hàng cao cấp – như một lá cờ Mỹ cho trang bìa của tạp chí Thời báo New York, hay những chữ cái và phong cảnh bằng origami cho những quảng cáo trên truyền hình của Mitsubishi và McDonald – và công việc tư vấn giúp giải các vấn đề công nghệ cao bằng các kỹ thuật gấp giấy. Các nhà sưu tầm nghệ thuật có thể mua các tác phẩm làm sẵn của ông với giá trong khoảng từ 200 đến 1500 USD; còn giá tác phẩm đặt hàng thường từ 500 đến 3000 USD.  Khi hết giờ học và các lớp ùa ra ngoài hành lang, người ta chào đón Lang như một ngôi sao nhạc rock. Họ xin chụp ảnh cùng ông, nhờ ông ký tặng sách và mô hình, ông dũng cảm nhận lời. Với một người đam mê origami bình thường, hội thảo là một dịp để gặp gỡ và gấp giấy bên cạnh các thần tượng. Với Lang, đó là một cơ hội để cho lại những gì mình đã nhận.  Trong lúc đi bộ xuống bảy tầng cầu thang, ông kể về niềm yêu thích gấp giấy khi còn là một đứa bé lớn lên ở bang Georgia trong những năm 1960. Thời đó “chưa có cộng đồng hay hội thảo origami.” Bắt đầu tuổi thiếu niên, Lang có được địa chỉ của Neal Elias, một người gấp giấy biệt lập nhưng sáng tạo, tác giả của một số kỹ thuật trong đó có kỹ thuật gấp hộp. Ông viết thư cho Elias và họ bắt đầu trao đổi thư từ thường xuyên. Lang nói việc đó khiến ông cảm thấy được kết nối, và nó truyền cho ông cảm hứng để tạo ra những mẫu của riêng mình.  Gấp giấy có một lịch sử lâu đời ở Nhật Bản, nó vốn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo và xã giao truyền thống. (Nghĩa gốc của từ origami gần với từ diploma trong tiếng Hy Lạp.) Những ghi nhận đầu tiên về việc gấp giấy “giải trí” ở Nhật Bản có từ cuối thế kỷ 18. Những thiết kế khi đó là những hình đơn giản, mang tính tượng trưng khái quát, như hình con hạc quen thuộc. Một số người gấp giấy sáng tạo đã tạo ra các hình mới từ việc mày mò với những hình cơ sở – chim, cá, ếch, diều – và cho ra đời vài trăm thiết kế khác nhau.  “Chắc anh nghĩ rằng trong hai trăm năm, cái gì làm được thì người ta đã làm ra hết cả,” Lang nói. Nhưng rồi Akira Yoshizawa (1911 – 2005), “cha đẻ của origami hiện đại”, xuất hiện. Yoshizawa, một người tự học phi thường, tạo ra hàng chục nghìn thiết kế mới. Cách hiểu chặt chẽ về các quy tắc của “sosaku origami,” hay gấp giấy sáng tạo – chỉ một tờ giấy, không cắt – cùng với phong cách tự nhiên của ông đã nâng tầm trò chơi thủ công dân gian này thành một môn nghệ thuật.     Lá cờ Mỹ do Lang gấp chỉ bằng một tờ giấy, xuất hiện trên trang nhất của New York Times.  Có lẽ quan trọng hơn cả là việc Yoshizawa đã phát triển một ngôn ngữ hình ảnh gồm những đường nét đứt và mũi tên để diễn đạt hướng và thứ tự các nếp gấp của các mô hình của ông. Hệ thống ký hiệu này (với một chút thay đổi) đã trở thành tiêu chuẩn trên toàn thế giới, nó cho phép trao đổi các ý tưởng vượt qua rào cản ngôn ngữ, và mở toang cánh cửa cho origami lan tỏa sang phương Tây.  Năm mươi năm trở lại đây chứng kiến một sự tăng trưởng mạnh mẽ không chỉ về số lượng các nguyên mẫu origami, mà cả về độ phức tạp của chúng. Trước thập kỷ 1950, các mô hình có tối đa khoảng 30 bước, và có thể được gấp trong vài phút, thậm chí bởi một người không chuyên. Giờ đây, việc một mô hình có hàng trăm bước và phải mất hàng giờ để gấp, bởi một chuyên gia, không có gì là lạ.  Lang cho biết sự thay đổi nằm ở việc phát hiện ra bản chất toán học ẩn đằng sau, và việc áp dụng một cách tiếp cận thuật toán đối với gấp giấy. Nếu gỡ một mô hình origami ra, bạn thu được một hình tạo bởi các nếp gấp trên giấy. Người ta bắt đầu nhận thấy sự tồn tại của những quy luật toán học về mối liên hệ giữa các hình nếp gấp [khi trải phẳng] với hình đã gấp hoàn chỉnh.  Lang là một trong những người đầu tiên hệ thống hóa những ý tưởng này và viết chúng ra thành một phương pháp để người khác có thể làm theo. “Trong những năm 1960 và 1970, người ta sáng tạo bằng cách làm theo những thuật toán trong đầu mà họ biết là sẽ ra kết quả,” ông nói. “Họ chỉ không biết giải thích tại sao.” Sức mạnh của những kỹ thuật này đã thay đổi cách tiếp cận của mọi người để tạo ra những nguyên mẫu origami, từ “thực nghiệm theo trực giác” sang, theo cách nói có phần ngạo mạn của Lang, “kỷ nguyên thiết kế thông minh.”  Kết nối những nếp gấp  Lang cũng thích toán từ nhỏ, và khi vào đại học, ông quyết định theo học toán. Thế nhưng những môn “toán lý thuyết” ông học ở Caltech không giống như ông mong đợi. Thay vào đó, ông ngả sang kỹ thuật điện tử vì “thích xây lắp các thứ”. Sau một buổi học ở phòng thí nghiệm với một trong những người phát minh ra laser argon, ông bắt đầu hứng thú với quang học. Đồng thời, ông vẫn tiếp tục “thách thức giới hạn” với origami, “cố làm những thứ chưa bao giờ được làm, hoặc thậm chí có vẻ bất khả thi”.  Ông bắt đầu thấy những liên kết giữa origami và toán. “Một trong những điều anh học được trong một môi trường đào tạo kỹ thuật – vật lý hay kỹ thuật – là khi bước chân vào một lĩnh vực, anh cố gắng xây dựng một mô hình toán học cho những hiện tượng trong đó. Và một khi có được một mô hình toán học, anh có thể sử dụng các công cụ toán học để vận hành mô hình đó và nói một cách nào đó là được học miễn phí,” ông nói. “Origami cũng thế. Rõ ràng ẩn sau nó có những quy luật tự nhiên giới hạn những gì anh làm được hay không làm được. Và nếu tôi có thể xác định được chính xác các quy luật đó là gì, tôi có thể dùng các công cụ toán học để tạo ra những thứ tôi thực sự muốn tạo ra.”  Đầu những năm 1980, ở Stanford, Lang tiếp tục học một chương trình kỹ thuật điện “nặng về quang học”, trong khi làm việc một ngày rưỡi mỗi tuần ở IBM ở San Jose. Ông cũng bắt đầu viết và vẽ các sơ đồ cho cuốn sách đầu tay sẽ được xuất bản năm 1988 với tiêu đề “Cuốn sách đầy đủ về Origami.” “Đó là một tiêu đề kinh khủng”, ông thừa nhận, bởi “nó còn xa mới đầy đủ”. Kể từ đó, ông đã xuất bản hơn một chục cuốn sách chứa hướng dẫn gấp hơn 170 hình.  Sau Stanford, ông quay lại Caltech để làm tiến sỹ vật lý ứng dụng rồi sang Đức để làm post doc về laser bán dẫn. Cuộc sống ở Ludwigsburg, gần dãy núi Rừng Đen nổi tiếng, truyền cảm hứng cho tác phẩm nổi bật nhất của Lang: một chiếc đồng hồ cúc cu theo tỷ lệ thật với một cái đầu hươu có cả cặp sừng, một con chim đậu trên một cái bệ dài, một mặt đồng hồ có kim giờ và kim phút, những quả nặng trang trí hình quả thông, và một quả lắc. Nó được thiết kế trong ba tháng, và được gấp trong sáu giờ, từ một tờ giấy cỡ khoảng 30 cm x 3 m. [Khi đó] nó là thứ phức tạp nhất từng được gấp từ chỉ một tờ giấy, và nó khẳng định danh tiếng của Lang trong các cộng đồng origami kỹ thuật.  Xung quanh khoảng thời gian này, Lang kể, ông bắt đầu muốn viết một kiểu sách origami khác. Nó sẽ không chỉ trình bày các “công thức” gấp vài ba chục mô hình; nó sẽ dạy người ta cách thiết kế mọi mô hình họ muốn gấp. “Tôi làm thế nào để gấp sáu chân chứ không phải tám hay bốn?” ông nói. “Khi đó tôi đã phát triển nhiều cách để có được đúng sáu chân. Và nếu anh muốn một số dài thế này, một số dài thế khác, anh cũng gấp được”.  Cuốn sách này ông ấp ủ hơn 14 năm. Bí mật thiết kế origami: Phương pháp toán học cho một nghệ thuật cổ xưa được viết xong trong một năm rưỡi và ra mắt năm 2003. Trong đó, Lang mô tả cách mỗi cái “cánh” – sẽ trở thành một cái cánh hoặc một cái chân trong mô hình hoàn chỉnh – cần một vòng tròn hoặc một phần vòng tròn. (Bán kính của vòng tròn xác định độ dài của cái “cánh”). Sự sắp xếp, hay sự “đóng gói”, của các phần hình tròn này trong tờ giấy vuông tạo thành cơ sở cho hình nếp gấp.  “Một người có thể vẽ các hình tròn trên một tờ giấy, nhìn xem chúng sắp xếp như thế nào, rồi vẽ các đường thẳng giữa chúng. Việc đó cho biết hình nếp gấp và từ đó có thể bắt đầu gấp,” Lang nói. “Cách tiếp cận tôi chọn khi viết Bí mật thiết kế nhấn mạnh sơ đồ đó, vì đó là những thứ gần như ai cũng sẵn có: bút chì, giấy và các ý tưởng”.    Thấu kính thiên văn vũ trụ Eyeglass của phòng thí nghiệm Livermore, Mỹ dựa trên mẫu gấp origami của Lang. Ảnh: Bảo tàng quốc gia Mỹ.   Đó là một cuốn sách đột phá. Những đồng nghiệp của ông không tiếc lời ca ngợi. “Những cuốn sách của ông ấy có ảnh hưởng cực kỳ to lớn,” Tom Hull, giáo sư tại Đại học Western New England, chuyên gia về toán học của gấp giấy, nói. “Khi người ta nghĩ về thứ origami có kỹ thuật thực sự phức tạp, họ nghĩ đến Robert Lang.” Ngay cả trong giới làm toán, Hull nói thêm, Lang nổi tiếng là “một người biết làm toán.”  Những kỹ thuật thiết kế của Lang đã thúc đẩy những người gấp giấy trẻ tuổi tài năng, như Brian Chan, sinh viên Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), đạt tới những đỉnh cao mới của sự phức tạp. “Trước cuốn sách của ông ấy”, Chan nói, “đã có nhiều cuộc thảo luận ở Nhật về nhiều khía cạnh kỹ thuật khác nhau của thiết kế origami, nhưng không có tài liệu sẵn có nào để giúp cho những người thiết kế origami triển vọng. Các lý thuyết origami ‘đóng gói hình tròn’ và ‘phân tử’ của Lang đã giúp tôi cũng như nhiều người gấp giấy phức tạp khác bắt đầu thiết kế những thứ có thể trở thành những origami phức tạp nhất trên thế giới”.  Dĩ nhiên, phẩm chất kỹ thuật trong gấp giấy chỉ mình nó thì không tạo nên nghệ thuật. “Với các công cụ thiết kế,” Lang nói, “anh không phải tốn năng lượng cho phần đó, vì thế anh được giải phóng để dành hầu hết năng lượng của mình cho việc tạo ra cuộc sống”. John Montroll, một đại tiên sinh origami và là một tác giả sung sức, đã cộng tác với Lang viết một số cuốn sách, nói rằng ảnh hưởng lớn nhất của công trình của Lang đối với mình là nó “đưa ông tới một hiểu biết sâu sắc hơn về những cách thức hoạt động nội tại” của các mô hình origami. “Robert mang đến một tầm cao chưa từng có trước đó cả về khía cạnh kỹ thuật lẫn về tính nghệ thuật”.      “Khi người ta nghĩ về thứ origami có kỹ thuật thực sự phức tạp, họ nghĩ đến Robert Lang.” – Tom Hull, giáo sư tại Đại học Western New England, chuyên gia về toán học của gấp giấy.      Điều này đặc biệt dễ nhận thấy ở các mô hình lấy cảm hứng từ thế giới tự nhiên của Lang. “Những nếp gấp lấy của tôi nhiều thời gian và công sức nhất là những cái làm tôi rung động nhất khi nhìn thấy hình mẫu thật,” ông nói. “Một con chim có đôi cánh, cái đầu, cái đuôi, và, nếu thích, cả đôi chân, tất cả chỉ có thế. Nhưng cái rung động cảm xúc của tôi khi nhìn thấy một con chim ưng đuôi đỏ thật đang bay liệng mới là cái tôi muốn tóm được trong nếp gấp. Và tôi liên tục làm việc, và tôi nghĩ rằng mỗi lần làm một con chim săn mồi mới, tôi lại tóm được cái cảm xúc đó một cách tốt hơn.”  Phương pháp thiết kế này khác hẳn cách tuần tự mà người ta dùng trước đó để phát triển những mô hình origami mới. Khi gấp từ một hình nếp gấp, không có gì bảo đảm rằng có một thứ tự gấp sẽ đưa từ tờ giấy phẳng đến mô hình hoàn chỉnh. Trong hầu hết các trường hợp, toàn bộ hoặc một số lớn các nếp gấp phải được làm cùng một lúc. Trong origami, nó được gọi là “sự sụp đổ”, và có thể mất hàng giờ để thực hiện.  Sự may mắn tình cờ  Tương tự, trong cuộc sống, có khi nhiều sự kiện rời rạc, rải trên nhiều năm, hội tụ để mở ra con đường phía trước. Nó có một tên gọi mỹ miều hơn: sự may mắn tình cờ.  Khoảng một năm trước khi Lang quyết định bỏ thế giới laser để làm origami toàn thời gian, ông nhận được một cuộc gọi từ một nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence ở Livermore. Người này đang tìm cách gấp gọn một thấu kính to cỡ một sân bóng bầu dục để phóng lên vũ trụ. Ông ta tìm thấy một bài báo Lang viết năm 1996 cho một hội nghị hình học tính toán, và không biết rằng tác giả của bài báo sống cách mình có năm dặm, ở Pleasanton, California. Hơn nữa, hội nghị mà Lang gửi bài – bài đầu tiên của ông trong lĩnh vực khoa học máy tính – có tính cạnh tranh rất cao. Lang tin rằng mình đã may mắn khi một trong các thành viên của ban tổ chức hội nghị khi còn là nghiên cứu sinh đã xuất bản một tạp chí về origami và tác phẩm của Lang có xuất hiện trong đó.  Lang đưa ra một thiết kế đối xứng tròn để gấp một bản mẫu lớn năm mét của thấu kính của kính thiên văn vũ trụ Eyeglass thành một hình trụ đường kính 1,2 m và cao 0,6 m (không khác mấy cách một cái ô cụp lại). Mặc dù kính thiên văn không bao giờ được phóng lên vũ trụ, công việc Lang làm với Phòng thí nghiệm Livermore dẫn tới những công việc tư vấn khác: với NASA về một tấm vải mặt trời; với một công ty sản xuất thiết bị y tế về một thiết bị cấy trợ tim; với một công ty kỹ thuật xe hơi về chương trình máy tính mô phỏng túi khí; với một công ty sản xuất điện thoại di động muốn giấu ăng-ten vừa vặn trong thân máy.  Nhiều nếp gấp tình cờ khác đưa Lang và vợ đến ngôi nhà hiện tại ở Alamo, California, nằm giữa Khu bảo tồn vùng Los Trampas và Khu bảo tồn bang Mount Diablo, với một studio nghệ sỹ tách rời. “Trước đây tôi còn không dám mơ về cái gì như thế. Tôi nghĩ mình sẽ thuê một văn phòng trong một con hẻm dơ dáy ở đâu đó”, ông nói.  Giữa hệ động vật sau vườn, Lang làm việc để tinh chỉnh những con chim săn mồi và tạo ra một con bọ tuyệt vời hơn. Trong những tác phẩm mới nhất ông đang làm có một con bọ bổ củi có râu tua rua, “một trong những thứ khó nhất tôi từng gấp”. Sát thủ, quả đúng như vậy. □  Nguyễn Hoàng Thạch lược dịch  Nguồn: https://stanfordmag.org/contents/the-mind-bending-artistry-of-robert-lang    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ lại cách tính GDP      18 th&#225;ng trước, Tổng thống Ph&#225;p Nicolas Sarcozy th&#224;nh lập một Ủy ban quốc tế về Đo lường c&#225;c tiến bộ kinh tế v&#224; x&#227; hội (Commission on the Measurement of Economic Performance and Social Progress). Điều n&#224;y chứng tỏ &#244;ng kh&#244;ng h&#224;i l&#242;ng, v&#224; cả nhiều người kh&#225;c nữa, về t&#236;nh trạng thống k&#234; về kinh tế của Nh&#224; nước Ph&#225;p. V&#224;o 14/9 vừa qua, Ủy ban đưa ra bản b&#225;o c&#225;o d&#224;i đầu ti&#234;n m&#224; nhiều người đang mong đợi.    Vấn đề lớn nhất trong chuyện này liên quan tới việc liệu GDP có phải là phương tiện tốt nhất để “đong đếm” được các tiêu chuẩn sống? Trong nhiều trường hợp, các dữ liệu thống kê GDP dường như chỉ đưa ra gợi ý rằng nền kinh tế đã làm được nhiều điều tốt hơn cái cảm nhận của phần lớn các công dân. Hơn nữa, việc tập trung vào GDP lại tạo ra các xung đột: Các lãnh đạo chính trị nói rằng cần phải luôn đẩy nhanh mức tăng trưởng GDP lên nhưng các công dân lại đòi hỏi là cần phải chú ý nhiều hơn tới vấn đề an ninh, giảm ô nhiễm môi trường, và đại loại những vấn đề như thế-những thứ có thể khiến tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống.Thực tế là GDP không phải là phương tiện tốt nhất để đánh giá mức độ phúc lợi có được của con người (công dân), thậm chí chưa phải thứ tốt nhất để đánh giá hoạt động của thị trường. Nhưng nó lại là phương tiện được thừa nhận từ rất lâu nay. Nhưng những thay đổi trong xã hội và kinh tế đang khiến những vấn đề này nổi lên rõ hơn…Thí dụ, ở một trong những khu vực quan trọng như Chính phủ, chúng ta (người Mỹ) thường đo lường hiệu quả công việc cuối cùng (output) bằng các con số đầu vào (inputs). Nếu Chính phủ tiêu nhiều tiền hơn, ngay cả khi hiệu quả thu được kém hơn, thì các con số thu được vẫn cứ đi lên. Trong vòng 60 năm qua, phần thu được của Chính phủ trong GDP đã tăng lên (về căn bản). Như vậy, liệu có liên quan gì từ một vấn đề nho nhỏ trước kia, giờ đã trở thành một vấn đề khá lớn?Cũng vậy, đối với chất lượng các tiến bộ thu được từ việc tăng trưởng GDP hiện nay. Nhưng đánh giá chất lượng tăng trưởng quả là một điều khó…Một thay đổi đáng chú ý trong hầu hết các xã hội là việc tăng trưởng không đồng đều. Nếu như một số chủ ngân hàng giàu lên, thu nhập trung bình của họ tăng lên trong khi thu phần của phần lớn các cá nhân khác lại giảm xuống. Như vậy, cách tính GDP bình quân không phản ánh được điều đang xảy ra đối với mọi công dân.Chúng ta sử dụng giá cả thị trường để đánh giá hàng hóa và dịch vụ. Nhưng… hãy nhìn vào lợi nhuận trước khủng hoảng của các ngân hàng-thường chiếm 1/3 lợi nhuận của toàn bộ các tổ chức tài chính, chúng thường xuất hiện như một điều kỳ diệu.Nhận thức này gợi ra những hướng mới, không chỉ cho lĩnh vực đo lường tiến bộ, mà cả trong những suy luận khác mà chúng ta có thể có. Trước khủng hoảng, khi tăng trưởng của nước Mỹ được coi là mạnh mẽ hơn ở châu Âu, rất nhiều người châu Âu cho rằng châu Âu nên theo hình mẫu của nước Mỹ.Nhưng tất nhiên, bất cứ người này muốn điều này khi nhìn thấy thực tế các gia đình người Mỹ “tăng trưởng” trong nợ nần thì chắc cũng muốn rời xa cái ý định nhìn thành công từ bề ngoài, được tạo ra bởi các con số thống kê liên quan tới GDP.Những tiến bộ trong lĩnh vực phương pháp học gần đây cho phép chúng ta tiếp cận dễ dàng hơn đến những điều thực chất đem lại phúc lợi cho các công dân. Những nghiên cứu này, thí dụ như kiểm tra và định lượng rõ ràng nhất những gì có thể: việc thất nghiệp rõ ràng có ảnh hưởng nhiều hơn bản thân việc người ta bị mất nguồn thu nhập. Chúng cũng chứng tỏ tầm quan trọng của quan hệ xã hội. Bất cứ phương tiện đo lường nào về mức độ phúc lợi mà chúng ta đang có đều phải tính đến tầm quan trọng của sự bền vững… Các tính toán ở tầm quốc gia cũng cần phản ánh sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên và sự hủy hoại của môi trường. Công việc thống kê có mục đích là tóm tắt lại những gì đang diễn ra trong thế giới phức tạp của chúng ta thành một số con số có thể dễ dàng diễn dịch được. Nhưng cũng có điều rõ ràng là không thể giản lược mọi thứ trở thành một con số đơn giản: GDP. Nghiên cứu của Ủy ban Đo lường tiến bộ kinh tế và xã hội nói trên chắc chắn phải đưa ra được cách để tạo ra một loạt các chỉ số có khả năng biểu đạt đồng thời cả yếu tố phúc lợi (xã hội) và (phát triển) bền vững… H.A dịch (nguồn: Economist’ s View)———————–* Nhà kinh tế Mỹ, Giáo sư Đại học Columbia (Mỹ), người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm 2001      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghị viện Đức tán thành mở rộng quĩ giải cứu Châu Âu      Nghị viện Đức đã bỏ phiếu với đa số tán thành việc ủng hộ một quĩ với qui mô lớn hơn để giải cứu các nền kinh tế Châu Âu đang gặp khó khăn.    Thủ tướng Angela Merkel nhận được ủng hộ mạnh mẽ dù một số đảng liên minh cầm quyền chỉ trích kế hoạch này.  Nhiều người Đức phản đối việc cam kết nhiều tiền hơn để trợ giúp những quốc gia thành viên khu vực đang vật lộn như Hi Lạp.  Biện pháp này được kì vọng sẽ được thông qua khi đệ trình lên thượng viện Đức cho cuộc bỏ phiếu vào thứ sáu ngày 30/09/2011.  Tại Hạ viện, 523 nghị sĩ đã tán thành dự luật ủng hộ việc mở rộng Quĩ ổn định tài chính Châu Âu (EFSF) – 85 phiếu chống và 3 phiếu trắng trong tổng số 620 ghế. 9 thành viên không có mặt.  Những người bất đồng  Một số thành viên trong liên minh của Thủ tướng Merkel đã tuyên bố sẽ bỏ phiếu chống lại dự luật này.  Nhưng cuối cùng, 315 nghị sĩ đã bỏ phiếu tán thành, nghĩa là Thủ tướng Merkel không cần phải dựa vào các đảng đối lập để biện pháp được thông qua.  Kết quả của cuộc bỏ phiếu không cần phải bàn cãi, tuy nhiên, đảng SPD và đảng Xanh với tư cách là các đảng đối lập chính, đã ngụ ý sẽ ủng hộ kế hoạch mở rộng quĩ.  Trước cuộc bỏ phiếu, Đảng Dân chủ Thiên chúa của bà Merkel và các đảng liên minh đã tiến hành chiến dịch vận động hành lang mạnh mẽ gây sức ép để những người bất đồng thuận theo kế hoạch.  Thủ tướng Merkel nhận được sự ủng hộ từ đa số dễ dàng hơn kì vọng. 15 thành viên từ các đảng trong chính phủ liên minh bỏ phiếu chống, không đủ để buộc Thủ tướng phải dựa vào các đảng đối lập.  Đảng đối lập chính là Dân chủ xã hội, đứng về phía chính phủ. Một thành viên của Đảng nói: “Chúng tôi bỏ phiếu tán thành bởi vì Châu Âu cần cuộc bỏ phiếu này. Nhưng sẽ không có lần sau”.  Cuối cùng, 523 nghị sĩ đã bỏ phiếu thuận, 85  phiếu chống, bao gồm cả các đảng phái tả.   Việc phải dựa vào sự ủng hộ này đã phủ bóng nghi ngờ khả năng của bà Merkel sẽ giành được những lá phiếu sắp tới tại Nghị viện Đức cho kế hoạch giải cứu tiếp theo cho Hi Lạp hoặc một kế hoạch dài hạn sau EFSF.    “Đại đa số trong nghị viện thể hiện rõ ràng sự cam kết của Đức đối với đồng euro và bảo vệ đồng tiền của chúng ta”, nhận định từ Hermann Groehe, thành viên quyền lực thứ hai trong Đảng Dân chủ Thiên chúa của bà Merkel.   Nhưng Frank Schaeffler thuộc Đảng Dân chủ tự do – một thành viên liên minh thiểu số, nhận định các biện pháp giải cứu đã khiến tình hình kinh tế của Hi Lạp xấu đi: “Cuộc giải cứu đầu tiên đã không khiến tình hình tốt hơn lên mà còn tệ đi. Việc mở rộng quĩ thậm chí sẽ khiến tình hình tồi tệ hơn nữa”.  Đóng góp của Đức trong EFSF  Tất cả 17 quốc gia sử dụng đồng euro phải thông qua cam kết hồi tháng 7 để mở rộng sức mạnh của EFSF và nâng cam kết giải cứu từ 440 tỉ euro lên 780 tỉ. Đến nay, 10 quốc gia đã chấp thuận biện pháp này.  Với tư cách là nền kinh tế lớn nhất Châu Âu, Đức cam kết khoản đóng góp của mình vào quĩ sẽ nâng từ mức 123 tỉ euro lên 211 tỉ.  Tuy nhiên, dù đã tăng quy mô nhưng gói giải cứu vẫn bị coi là chưa đủ khi tình hình khủng hoảng Hi Lạp đang tồi tệ hơn và mối đe dọa đang lan ra tới các nền kinh tế khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghịch cảnh là “liều thuốc” kích thích thành công      Bỏ qua hàng loạt câu chuyện ca thán về sức  trì néo của quá khứ, về xuất phát điểm cũng như điều kiện khác nhau giữa  quốc gia kém phát triển với quốc gia đang và đã phát triển, Nimrod  Bar-Levin – một doanh nhân trẻ thành đạt của Israel, gây bất ngờ cho các  bạn trẻ tham gia Hành trình vì Khát vọng Việt khu vực miền Nam khi đặc  biệt biết ơn những khó khăn về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cuộc  sống mà Israel từng gánh chịu.     Israel là một vùng đất sa mạc khô cằn, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán kéo dài,… gần như là vùng đất “chết”. Đặc biệt, việc di cư của người dân nơi đây cũng không hề dễ dàng gì. “Chính trong nghịch cảnh đó, chúng tôi không còn một con đường nào khác để đi. Chúng tôi phải nỗ lực và tìm mọi cách để có thể tồn tại và phát triển. Chính những khó khăn đó đã giúp hình thành nên Israel như hiện nay”, Nimrod đặc biệt nhấn mạnh và chia sẻ với thanh niên Việt Nam.  Vươn lên khởi nghiệp thành công từ chính nghịch cảnh, doanh nhân trẻ Nimrod, đồng Sáng lập kiêm Giám đốc Phát triển Kinh doanh Ono Apps, đặc biệt coi trọng yếu tố con người và giá trị mà họ mang lại cho cuộc sống. Anh khẳng định, để thành công trước hết phải chọn được đúng người, cần xây dựng một team mạnh, số lượng hai, ba hay mấy trăm thành viên không quan trọng mà quan trọng phải là một team thật sự. Từ một công ty chỉ có 25 thành viên, trong vòng 5 năm, công ty của Nimrod đã giới thiệu 160 phần mềm cho 110 khách hàng trên toàn cầu. Chỉ với một lý do nòng cốt đó chính là anh có một team thật sự. “Chúng tôi có các thành viên “siêu sao” không chỉ giỏi, có chỉ số IQ cao, mà còn có đam mê rất lớn với công nghệ. Đã có rất nhiều người đến với công ty chúng tôi phỏng vấn, các bạn rất giỏi về chuyên môn, nhưng chỉ say sưa khẳng định Tôi rất giỏi về coding, anh chỉ cần yêu cầu tôi có thể làm được ngay, nhưng không hề chia sẻ họ đam mê công nghệ thế nào. Tôi đã kg lựa chọn họ. Nhưng có những bạn trẻ tìm đến tôi với không một bằng cấp gì, không có kiến thức, không có kinh nghiệm,… họ chỉ có duy nhất sự đam mê vô tận với công nghệ, và đó là lựa chọn của tôi. Chúng tôi làm việc cùng nhau, tập trung cao độ và làm rất nhanh. Tất nhiên không quên chăm sóc gia đình, tôi vẫn thường đạp xe đưa con đến trường, nhưng một khi đã làm việc thì chúng tôi tập trung 100% tâm trí vào đó”, Nimrod hào hứng chia sẻ. Bên cạnh đó, Nimrod cũng cho biết cần phải biết lý tưởng kinh doanh của mình là gì, vì sao mình thành lập công ty, nó mang lại giá trị gì cho đất nước. Bản thân Nimrod quyết định khởi nghiệp về mảng công nghệ thông tin vì anh nhận thấy rằng đây sẽ là con đường có khả năng đưa sản phẩm Israel ra thế giới nhanh chóng nhất, góp phần không nhỏ vào thu nhập của quốc gia.   Tinh thần mà Nimrod chia sẻ đến các bạn trẻ Việt Nam là phải luôn hướng đến tương lai, tuy nhiên không được quay lưng hay gạt bỏ quá khứ vì quá khứ và lịch sử sẽ giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Ngoài ra, đừng bao giờ thỏa mãn với hiện tại, không nên có tâm thế: “Ok. Xong rồi. Tôi đã hoàn thành mục tiêu” mà phải không ngừng cải thiện và nâng cao mục tiêu để phát triển sự nghiệp, bản  thân, gia đình và đất nước. Và điều quan trọng là phải có niềm tin vào bản thân, phải tin rằng mình có thể làm được. Người khác làm được thì mình làm được.Nước khác làm được thì Việt Nam cũng làm được.Theo đó, thanh niên Việt Nam cũng cần biết rằng không ai luôn giúp bạn ngoài chính bạn. “Đó cũng là cách tôi dạy con tôi. Khi bé 7 tháng tuổi, vừa tập đứng và ngã, tôi không chạy lại đỡ vội vì tôi muốn dạy bé điều đó: Hãy đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, vì không ai luôn ở đó để giúp con trên đường đời”, Nimrod chia sẻ.   Từng khởi nghiệp và thất bại với một mô hình kinh doanh duy trì được 6 tháng, nhưng với tinh thần dám đương đầu với thất bại, không ngừng học hỏi và quyết tâm cao độ, Nimrod đã đạt được thành công như hiện nay và thông điệp kết mà anh gửi gắm đến các bạn trẻ Việt Nam là phải dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng đương đầu với thất bại và quyết tâm làm lại bởi thành công không bao giờ là muộn.  Những giây phút trải lòng và chia sẻ thẳng thắn của doanh nhân trẻ người Israel – Nimrod Bar-Levin thực sự để lại nhiều ấn tượng lắng đọng trong tâm trí của các bạn trẻ Việt Nam tham gia Hành trình vì Khát vọng Việt đêm 17/11. Ngay từ những ngày đầu ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta đã được học và tự hào được sinh ra và lớn lên trong một đất nước “Rừng vàng biển bạc”, với rất nhiều ưu đãi từ tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,… Thế nhưng đã bao giờ chúng ta tự hỏi vì sao đất nước chúng ta với đầy đủ những ưu thế đó lại không phát triển như những quốc gia không may mắn như thế, điển hình là Israel? Họ sống và lớn lên trong một đất nước không chỉ xuất phát từ số 0 mà có thể nói là con số âm về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện sống. Mặc dù thế, thanh niên Israel không hề oán trách và ca thán điều gì về nghịch cảnh ấy mà ngược lại còn cảm thấy biết ơn điều đó, xem đó như bệ phóng trong chặng đường lập nghiệp và phát triển của bản thân, gia đình và đất nước. Điều đó một lần nữa cho thấy, nghịch cảnh không phải là nguyên nhân kiềm hãm sự thành công của mỗi cá nhân mà còn có thể là bước đệm tiếp bước đáng kể cho thành công của bạn sau này. Thanh niên Israel làm được thì thanh niên Việt Nam làm được. Người khác làm được thì ta làm được. “Nước khác làm được thì Việt Nam làm được và làm tốt hơn”.        Ngày hội Sáng tạo vì khát vọng Việt lần 2 quy tụ những đại diện trí thức, tinh hoa, đã đồng hành suốt thời gian qua với Hành trình vì Khát  vọng Việt, và các học giả quốc tế tới từ Nhật Bản, Đức, Thuỵ Sĩ,  Hoa Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả rập,… Sự kiện sẽ diễn ra từ 7.00-22.00 ngày 23/11 tại  Dinh Thống Nhất, TP HCM. Thư mời, vé tham gia có tại hệ thống các quán  cà phê Trung Nguyên  hoặc gửi thư về vikhatvongviet@gmail.com để có  thông tin về chương trình.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghịch lý ngành gạo: Càng làm càng lỗ!      Theo GS Võ Tòng Xuân, ngôi vị cao trong xuất khẩu gạo không quan trọng bằng vấn đề làm sao cho người trồng lúa nói riêng và  người nông dân nói chung có thu nhập cao.  &#160;    Thưa giáo sư, năm 2012, kết quả chung của SXNN nước ta đạt giá trị rất lớn, nhất là xuất khẩu. Song ngôi vị xuất khẩu gạo số 1 thế giới năm trước của Việt Nam đã rơi vào tay Ấn Độ. Giáo sư có quan tâm tới điều này không?  GS Võ Tòng Xuân: Ngôi vị số 1 hay số 2 không phải là vấn đề gì lớn cả đâu. Vấn đề lớn là làm sao cho người trồng lúa nói riêng và người nông dân có thu nhập cao.  Thái Lan là cường quốc xuất khẩu gạo số 1 trước ta từ lâu. Nhưng họ đâu cần quan tâm ngôi vị này làm gì. Năm ngoái họ nâng giá lúa cho nông dân lên 50%. Nông dân Thái được lợi nhuận cao, rất vui mừng. Tôi theo dõi kết quả thăm dò tín nhiệm bà Thủ tướng Thái hồi sáng nay trên báo của họ công bố, thấy tỷ lệ ủng hộ của người dân Thái rất cao. Cử tri Thái đánh giá cao chính sách nâng giá lúa gạo dù có nhiều tổ chức, doanh nghiệp phản đối. Tất nhiên Chính phủ Thái phải “nghiêng” về nhân dân hơn chứ!  Lúc chính phủ Thái công bố nâng giá lúc gạo 50%, tôi đã đề nghị Việt Nam cần nâng theo họ vì 2 quốc gia Việt Nam và Thái Lan chiếm thị phần rất lớn. Cả 2 cùng đồng lòng sẽ có lợi cho nông dân 2 nước. Năm ngoái, ta giành được ngôi vị xuất khẩu số 1 trong tình thế người Thái nâng giá bán để bảo vệ lợi ích cho nông dân của họ.  Nhưng ngoài Việt Nam và Thái Lan, thị trường cung ứng gạo thế giới có thêm đối thủ Ấn Độ với giá gạo rẻ hơn. Họ sẽ giành mất thị trường nếu ta nâng giá gạo? Thực tế Thái Lan đã mất một số thị trường vào tay Việt Nam vì ta không nâng giá?  Ấn Độ có trên 1 tỷ dân, gấp hơn 10 lần dân số nước ta. Sức chứa lượng gạo dự trữ của họ rất lớn. Hàng năm họ phải đưa gạo mới vào cất trữ, bán gạo cũ ra. Gạo này ăn không ngon, giá rất rẻ.  Còn gạo của Việt Nam chất lượng cao hơn, ăn ngon hơn nhiều. Đó là ưu thế lớn của ta.  Khi Thái Lan nâng giá gạo, ta ham bán rẻ, được thị trường nhưng lợi nhuận không cao. Với người nông dân trồng lúa thì bị lỗ.  Thưa giáo sư, ý tưởng thành lập liên minh lúa gạo Việt – Thái đã có từ lâu song tại sao 2 bên không “gặp nhau” để cùng bảo vệ lợi ích cho 2 quốc gia cũng như người trồng lúa của 2 nước? Trên thế giới đã có nhiều liên minh như thế này với các hình thức khác nhau, chẳng hạn như OPEC, tổ chức dầu hỏa?  Do chưa có niềm tin và quyết tâm cao. Người ta hay lấy các lý do này lý do kia để giữ lợi ích cục bộ. Chứ nếu xác định lợi ích tối thượng là lợi ích quốc gia và lợi ích của nông dân, lực lượng chiếm gần 70% dân số của nước ta thì sẽ làm được.  Người Thái vì lợi ích của nông dân, đã “đơn thương độc mã” quyết tâm thực hiện đấy. Nếu Việt Nam cùng tham gia, tình hình sẽ khác. Quan trọng nhất là bảo vệ được quyền lợi cho nông dân và đất nước!  “Nội soi” từ nội tại của nền SXNN  Thưa giáo sư, từng là quốc giá xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới từ đầu thế kỷ 20, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Việt Nam lộn ngược lại thành quốc gia nhập khẩu gạo.  Mãi đến tận năm 1989, ta mới trở lại xuất khẩu gạo với vị trí thứ 2 thường xuyên trên thế giới. Suốt gần ¼ thế kỷ “trở lại” này, giáo sư có đánh giá như thế nào về ưu, nhược của nền SX lúa gạo nói riêng và SXNN nói chung ở nước ta?  Nông dân ta vô cùng năng động, nhạy bén và sáng tạo. Đây là một lợi thế lớn song chưa được tổ chức tốt nên có lúc thành bất lợi.  Về quản lý Nhà nước, theo tôi cần xem lại việc cư xử với người trồng lúa như thế nào để cuộc sống của họ khấm khá lên tương ứng với đóng góp của họ. Trong khâu tổ chức, vẫn còn lỏng lẻo lắm, Nhà nước mới chỉ làm được một nửa, “theo đuôi” các doanh nghiệp nhiều hơn là vì lợi ích của nông dân.  Đã gần 30 năm thành “cường quốc” xuất khẩu gạo mà gạo Việt Nam chưa có thương hiệu thì không thể chấp nhận được. Thiệt thòi cho đất nước rất lớn, thiệt hại cho nông dân rất nhiều.  Giáo sư có thể nói rõ hơn từng phần?  Rõ ràng nhất là nông dân ta hưởng ứng rất tích cực chủ trương Đổi mới của Đảng và Nhà nước, làm ra sản lượng lương thực lớn hơn rất nhiều, đưa đất nước từ nhập khẩu gạo lớn, có năm tới 1,5 triệu tấn thành xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Nhưng nghịch lý là thu nhập của người nông dân thấp nhất trong xã hội. Khoảng cách giữa thành thị với nông thôn ngày càng xa.  Về tổ chức sản xuất và kinh doanh gạo, ta thấy Nhà nước “nặng” về doanh nghiệp hơn. Bao năm qua chúng ta từng chứng kiến nhiều thời điểm nhu cầu gạo thế giới đang cao, giá thị trường thế giới rất tốt, bỗng dưng Nhà nước “tạm dừng xuất khẩu” để hạ giá gạo trong nước xuống với lý do rất mơ hồ là “an ninh lương thực”! Điều này chỉ có lợi cho doanh nghiệp nhưng “giết” nông dân.  Hàng năm vào vụ thu hoạch chính, giá lúa rớt vì tập trung thu hoạch rộ, doanh nghiệp nhà nước kiến nghị mua tạm trữ, Chính phủ duyệt, cho vay vốn không lãi suất mua theo giá sàn Nhà nước quy định. Thực tế, nông dân bán không thể được giá sàn vì phải qua trung gian là thương lái. Doanh nghiệp mua lúa được giá thấp vì thời điểm thu hoạch rộ, chế biến và xuất khẩu có lời, nông dân chẳng được hưởng gì cả.  Cơ chế “mua tạm trữ” cứ “đến hẹn lại lên” hàng chục năm qua chưa thay đổi gì có lợi cho nông dân.  Nhiều người nước ngoài than phiền, trong một bao gạo Việt Nam có mấy loại giống!  Còn việc gạo Việt Nam chưa có thương hiệu, tôi cho rằng với kiểu tổ chức kinh doanh gạo như hiện nay thì không thể nào có thương hiệu được. Doanh nghiệp không tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu, không mua lúa trực tiếp từ nông dân mà mua qua thương lái thì không thể có gạo rặt, mà “năm cha ba mẹ”, làm sao có gạo đúng tiêu chuẩn?  Thái Lan là nước xuất khẩu hàng đầu, sản lượng lớn. Cả nước Thái sản xuất ra nhiều như vậy mà chỉ có 3 giống lúa. Còn ta, hàng mấy chục giống lúa. Thương lái mua gom của nhiều nông dân về trộn lại, xay, đánh bóng, giao cho công ty xuất khẩu. Vì lợi nhuận, họ phải trộn lúa giá rẻ phẩm chất kém vào lúa giá cao nên công ty xuất khẩu chẳng kiếm đâu ra gạo rặt là vậy!  Tôi đã nghe nhiều khách hàng mua gạo người nước ngoài than phiền hàng chục năm qua rằng, trong một bao gạo của Việt Nam có mấy loại giống!    (Còn tiếp)        GS-TS, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân  Võ Tòng Xuân là nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới.  Ông sinh năm 1940 tại xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh  An Giang.   Hồi  trẻ, ông được học bổng đi du học tại đại học Los Banos (Philippin)  chuyên về cây lúa. Tháng 2/1975, ông bảo vệ thành công luận án nghiên  cứu về cây lúa tại Nhật.   Ông  từng là Hiệu phó trường Đại học Cần Thơ, Hiệu trưởng Đại học An Giang và  nay là Hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo. Ông là nhà giáo, nhà khoa  học nổi tiếng được nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới tặng thưởng  nhiều phần thưởng cao quý: Giải thưởng Derek Tribe về khoa học kỹ thuật  2005; Giải thưởng Nikkei Châu Á 2002 về Tăng trưởng vùng; Giải thưởng  Ramon Magsaysay 1993 về Phục vụ nhà nước; Bằng tưởng lệ của Thủ tướng  Canada (1995) về “Phụng sự và đóng góp vào khoa học thế giới; Huy chương  “Kỵ mã Nông nghiệp của Bộ Nông-Lâm-Thuỷ sản Pháp (1996); Giải “Cựu sinh  viên xuất sắc nhất” của Đại học Philippines tại Los Banos (2001), giải  thưởng Derek Tribe-Australia (2005).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu bào chế sản phẩm giảm đau chứa nano cao ớt      Nhóm tác giả ở Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng đã điều chế ra sản phẩm giảm đau từ trái ớt; đồng thời xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở của nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, và làm chủ được quy trình công nghệ bào chế ở quy mô 1.000 đơn vị sản phẩm/mẻ.    Ớt là một loại gia vị phổ biển, có chứa capsaicin được sử dụng như thuốc giảm đau (bắp, khớp, lưng, bong gân,….) dưới dạng mỡ bôi, xịt. Ngoài ra, capsaicin còn được sử dụng để làm giảm các triệu chứng bệnh lý thần kinh do herpes (bệnh zona thần kinh). Tuy nhiên, capsaicin kém tan, khó thẩm thấu nên gây các dụng phụ nóng rát trên da. Theo các nghiên cứu trên thế giới, capsaicin dưới dạng nano sẽ làm tăng khả năng thẩu thấu vào da, từ đó làm giảm tác dụng phụ (đỏ, nóng) và tăng hiệu quả.        Trong đề tài “Nghiên cứu bào chế sản phẩm giảm đau chứa nano cao ớt”, nhóm tác giả Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng đã thu hái ớt hiểm ở TPHCM và Đà Lạt, sơ chế rửa sạch, xay nhỏ thành bột. Sau đó, tiếp tục bào chế (gia nhiệt bằng dầu thực vật, thêm nước cất, chất hoạt động bề mặt) để thu nano cao ớt. Ngoài capsaicin, nano cao ớt còn chứa một số thành phần hóa học khác như chất béo, carotenoid, triterpenoid tự do, saponin, các hợp chất khử, acid hữu cơ,…    Cuối cùng, nhóm phát triển sản phẩm gel giảm đau với một số thành phần như nano cao ớt (0,15% capsaicin), tá dược tạo gel, Propylene glycol (5%), Glycerin (1%), Menthol (0,5%) , Camphor (0,5%), nước cất,… Trong đó, hỗn hợp menthol – camphor được nhóm thêm vào công thức với tỷ lệ nhỏ, nhằm mục đích tăng hiệu quả trị liệu của sản phẩm, giúp làm dịu cảm giác nóng rát, mùi hăng cay gây ra bởi capsaicin, tạo cảm giác dễ chịu cho sản phẩm khi thoa lên da.    Về mặt cảm quan, gel nano cao ớt mềm, mịn, đồng nhất, không vón cục, có màu đỏ cam và mùi đặc trưng, bắt dính được trên da hay niêm mạc khi bôi, không tách lớp, không chảy lỏng. Thời gian sử dụng của sản phẩm ít nhất là 12 tháng. Các chỉ tiêu an toàn gel thuốc đạt TCVN 6972-2001.    Thử nghiệm trên thỏ cho thấy, gel nano cao ớt không gây kích ứng da. Ngoài ra, khi thử nghiệm trên chuột cho kết quả, gel nano cao ớt có khả năng giảm đau tương đương thuốc thương mại paracetamol/codein và kem bôi capzacin. Khả năng kháng viêm của sản phẩm tương đương thuốc thương mại diclofenac, và cao hơn so với kem bôi capzacin.    Theo TS Võ Đỗ Minh Hoàng, Chủ nhiệm đề tài, hiện nay trên thị trường có rất nhiều nhóm thuốc giảm đau – kháng viêm và được sử dụng rộng rãi ở nhiều dạng khác nhau như uống, dán, bôi ngoài da, xịt, tiêm. Tuy nhiên, do việc sử dụng quá nhiều thuốc giảm đau có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc, gây ra nhiều phản ứng phụ như tiêu chảy, nôn, rối loạn tiêu hóa và mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, dị ứng, suy gan, suy thận, sốc phản vệ… đặc biết đối với các thuốc uống hay tiêm. Trong khi đó, thuốc giảm đau, kháng viêm được điều chế từ các loại gia vị có sẵn trong nước còn khá ít.    Qua việc thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở của nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Đồng thời, làm chủ được quy trình công nghệ bào chế gel chứa nano cao ớt ở quy mô 1.000 đơn vị sản phẩm/mẻ (5kg nguyên liệu), có thể nâng quy mô, phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.    Đề tài nghiên cứu của nhóm đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm qua. Nhóm mong muốn tiếp tục được thử nghiệm lâm sàng sản phẩm trên người để có thể chuyển giao công nghệ cho những đơn vị có nhu cầu.    Ngô Thành    Author                phongvien        
__label__tiasang Nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của các từ biểu thị số đếm      Một nghiên cứu mới từ MIT và Đại học California ở Berkeley đã tìm thấy mối liên hệ giữa khả năng đếm của người Tsimane’ và mức độ thành công của họ trong các nhiệm vụ liên quan đến đối sánh số lượng. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng hầu hết người tham gia có thể thực hiện chính xác các nhiệm vụ yêu cầu đối sánh số lượng đồ vật, nhưng chỉ lên đến con số cao nhất mà họ có thể đếm được.      Edward Gibson, giáo sư về khoa học nhận thức và não bộ của MIT, cho biết kết quả cho thấy để biểu thị một đại lượng chính xác lớn hơn bốn, chúng ta cần phải có một từ biểu thị cho con số đó.  “Phát hiện này cung cấp bằng chứng rõ ràng nhất từ trước đến nay, rằng các từ biểu thị số đếm đóng một vai trò chức năng trong khả năng mô tả số lượng chính xác lớn hơn 4 của con người, và nó đồng thời củng cố một điều rằng ngôn ngữ có thể tạo ra các khả năng  thức mới”, Gibson, một trong những tác giả của nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Psychological Science1 cho hay.   Đối sánh trực giao  Tộc Tsimane’ là một tộc người da đỏ bản địa với hơn 13.000 người, chuyên trồng trọt, săn bắt và sinh sống trong rừng nhiệt đới Amazon. Hầu hết trẻ em của Tsimane’ bắt đầu đi học khi chúng lên 5, nhưng trình độ học vấn và khả năng đếm của chúng rất khác nhau. Ngôn ngữ của người Tsimane’ có các từ cho các số lên đến 100 và các từ mượn từ tiếng Tây Ban Nha cho các số lớn hơn nữa.  Trong một nghiên cứu vào năm 2014, nhóm tác giả đã phát hiện ra rằng trẻ em ở Tsimane’ học ý nghĩa của các số đếm theo cùng một cách thức như hầu hết trẻ em trên thế giới. Tức là, đầu tiên chúng hiểu “một”, sau đó chúng lần lượt thêm “hai,” ba “và” bốn”. Tuy nhiên, lúc này, sự khác biệt giữa những đứa trẻ sẽ bắt đầu từ các số tiếp theo.   Trẻ em trong các xã hội hiện đại, nơi đề cao việc tính toán, bắt đầu học đếm vào khoảng 2 tuổi và  bắt đầu đếm số thành thạo ở độ tuổi 4 hoặc 5. Tuy nhiên, với những người Tsimane’, hành trình này xảy ra muộn hơn, bắt đầu khoảng 5 tuổi và kết thúc vào khoảng 8 tuổi.  Đối với nghiên cứu mới, Gibson và các đồng nghiệp đã xác định được 15 người thuộc tộc Tsimane’ có thể đếm đến đâu đó từ 6 đến 20, và 15 người có thể đếm đến ít nhất 40. Điều này giúp nhóm nghiên cứu có thể so sánh khả năng đếm  mọi người và kiểm tra giả thuyết rằng nếu không có các từ biểu thị số đếm, mọi người sẽ gặp khó khăn trong các nhiệm vụ đòi hỏi họ phải hình dung các số lớn hơn 4.   Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một nhiệm vụ mang tên “đối sánh trực giao”. Đầu tiên, nhóm nghiên cứu sẽ bày các đồ vật thành hàng ngang, chẳng hạn như pin, và sau đó yêu cầu những người tham gia xếp các đồ vật khác – chẳng hạn như cuộn chỉ – với cùng một số lượng tương đương. Điểm thú vị ở đây là, với đối sánh trực giao, các đồ vật được sắp xếp theo hàng ngang nhưng những người tham gia phải xếp số đồ vật khác tương ứng theo chiều dọc, vì vậy họ không thể cứ thế đối chiếu 1-1.  Nhóm nghiên cứu của MIT phát hiện ra rằng những người Tsimane’ có thể thực hiện nhiệm vụ này, nhưng chỉ ở mức thấp hơn con số mà họ có thể đếm được. Có nghĩa là, ai có thể đếm đến 10 sẽ bắt đầu mắc lỗi khi được yêu cầu ghép 8 hoặc 9 đồ vật, trong khi người có thể đếm đến 15 sẽ bắt đầu mắc lỗi ở khoảng 13 hay 14.  Các phát hiện cho thấy rằng người tham gia chỉ làm tốt nhiệm vụ yêu cầu thao tác với các con số nếu họ sử dụng được các từ biểu thị số đếm hoặc những hệ thống rõ ràng khác để biểu diễn các con số, Gibson nhận định.  “Lên đến những con số lớn hơn, dù chỉ là 5 và 6, chúng ta cần một số cách để thể hiện nó nếu muốn biểu thị nó một cách chính xác. “Đó không nhất thiết phải là lời nói — bạn có thể sử dụng ngón tay hoặc thứ gì đó tương tự — nhưng bạn cần một số loại hình biểu diễn khác độc lập với các con số.”  Hà Trang dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-02-words.html  ——————————–  1. https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/09567976211034502    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu di truyền học giải mã bí ẩn về di truyền chiều cao      Việc phân tích 20 000 hệ gene cho thấy những biến thể gene hiếm có thể giải thích tính trạng chiều cao được di truyền như thế nào.      Chỉ cần nhìn vào các gia đình, người ta có thể thấy chiều cao mang tính di truyền – nghiên cứu về các gia đình và những cặp sinh đôi giống hệt nhau từ lâu đã xác định điều này. Kết quả cho thấy khoảng 80% sự thay đổi chiều cao là do di truyền. Kể từ khi hệ gene của con người được giải mã gần hai thập kỷ trước, các nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định toàn bộ các nhân tố di truyền ảnh hưởng tới chiều cao.  Những nghiên cứu tìm kiếm các gene ảnh hưởng tới chiều cao đã xác định được hàng trăm biến thể gene phổ biến liên quan đến đặc điểm này. Nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề khó khăn: mỗi biến thể có ảnh hưởng rất nhỏ đến chiều cao, không giống như dự đoán của các nghiên cứu gia đình. Hiện tượng này, xảy ra đối với nhiều đặc điểm và bệnh tật khác – được gọi là “khuyết thiếu khả năng di truyền” (missing heritability), và thậm chí đã khiến một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng đã có những sai lầm cơ bản trong hiểu biết về di truyền học của chúng ta.  Hiện nay, một nghiên cứu do Peter Visscher và nhóm nghiên cứu tại Viện Não Queensland ở Brisbane, Úc công bố trước dưới dạng sơ bộ trên máy chủ bioRxiv vào ngày 25/3/2019, cho thấy hầu hết các khuyết thiếu khả năng di truyền về chiều cao và chỉ số khối cơ thể (BMI), có thể được tìm thấy trong các biến thể gene hiếm hơn chưa được phát hiện trước đó – như nghi ngờ của một số nhà nghiên cứu.  “Bài báo này có tác dụng ‘trấn an’ mọi người vì đã chứng minh không có sai lầm nghiêm trọng nào về di truyền học”. Tim Spector, nhà nghiên cứu dịch tễ học di truyền tại Đại học King, London, cho biết. “Chỉ là việc giải quyết vấn đề này phức tạp hơn những gì chúng ta nghĩ.”  Kiểm tra toàn bộ hệ gene  Để tìm ra các nhân tố di truyền là nền tảng cho các loại bệnh và tính trạng, các nhà di truyền học chuyển sang các tìm kiếm trên quy mô lớn – nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể (GWAS). Phương pháp này đã kiểm tra hệ gene của hàng chục ngàn người – hoặc dần tăng lên hơn một triệu – đối với những thay đổi từng chữ cái, hoặc SNP (đa hình đơn nucleotide – những biến dạng của chuỗi DNA được tìm thấy với tần suất cao trong hệ gene), trong các gene thường xuất hiện ở những người mắc một bệnh đặc biệt hoặc có thể giải thích một tính trạng thông thường như chiều cao.  Nhưng GWAS có những hạn chế nhất định. Bởi vì việc giải mã toàn bộ hệ gene của hàng ngàn người rất tốn kém nên phương pháp GWAS chỉ kiểm tra một bộ đa hình nucleotide đơn (SNP) được lựa chọn trước, chứa khoảng 500.000 SNP, trong mỗi hệ gene của một người. Đó chỉ là một hình ảnh chụp nhanh khoảng sáu tỷ nucleotide – các chuỗi DNA – kết hợp với nhau trong hệ gene của chúng ta. Timothy Frayling, nhà di truyền học người ở Đại học Exeter, Anh, cho biết, 500.000 biến thể phổ biến này đã được tìm thấy từ kết quả giải trình tự hệ gene của vài trăm người.  Một nhóm nghiên cứu do Peter Visscher đứng đầu tại Viện Não bộ Queensland ở Brisbane, Úc, đã quyết định điều tra xem liệu SNP hiếm hơn những những loại thường được quét trong GWAS liệu có thể giải thích được những khuyết thiếu khả năng di truyền về chiều cao và BMI. Họ chuyển sang giải trình tự toàn bộ hệ gene – đọc hoàn chỉnh tất cả 6 tỷ base – của 21.620 người. (Các tác giả đã từ chối bình luận về bản sơ bộ của bài báo, bởi vì nó đang được phê duyệt để đăng trên một tạp chí.) Họ dựa trên nguyên tắc đơn giản nhưng hiệu quả là tất cả mọi người đều có liên quan đến nhau ở một mức độ nào đó – mặc dù rất ít – và DNA có thể được sử dụng để tính toán mức độ này. Sau đó, thông tin về chiều cao và chỉ số BMI của mọi người có thể được kết hợp để xác định các SNP hiếm và phổ biến có khả năng ảnh hưởng tới các tính trạng này.  Chẳng hạn, giả sử rằng một cặp anh em họ đời thứ tư có chiều cao giống nhau hơn so với một cặp anh em họ thứ ba thuộc một gia đình khác: đó là một dấu hiệu cho thấy chiều cao của anh em họ đời thứ tư chủ yếu là do di truyền, và mức độ tương quan đó sẽ cho biết tỉ lệ, Frayling giải thích. “Họ đã sử dụng tất cả các thông tin di truyền để tìm ra mức độ liên quan được quy định bởi những biến thể hiếm hơn cũng như các biến thể phổ biến.”  Kết quả là, các nhà nghiên cứu đã nắm bắt được sự khác biệt di truyền xảy ra chỉ trong 1 trên 500, hoặc thậm chí 1 trên 5.000 người. Bằng cách sử dụng thông tin về các biến thể phổ biến và hiếm, họ đã đưa ra kết quả ước tính về khả năng di truyền tương tự với kết quả trong các nghiên cứu sinh đôi. Với tính trạng chiều cao, Visscher và các đồng nghiệp ước tính khả năng di truyền là 79% và BMI là 40%. Đồng nghĩa với việc về mặt đa số, 79% sự khác biệt về chiều cao sẽ là do gene quyết định chứ không phải do yếu tố môi trường, chẳng hạn như dinh dưỡng.  Các quy trình phức tạp  Các nhà nghiên cứu cũng dự đoán ảnh hưởng của các biến thể chưa được khám phá trước đây tới các tính trạng thể chất. Họ cho rằng những biến thể hiếm này được làm giàu với mức độ thấp ở vùng mã hóa protein của hệ gene, và chúng đã tăng khả năng rối loạn ở các khu vực này, Terence Capellini, một nhà nhà sinh học tiến hóa ở Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts nhấn mạnh. Điều này chỉ ra rằng các biến thể hiếm có thể ảnh hưởng một phần đến chiều cao thông qua việc ảnh hưởng đến các vùng mã hóa protein thay vì phần còn lại của hệ gene – phần lớn trong số đó không tạo ra protein, nhưng có thể ảnh hưởng đến biểu hiện của chúng. Sự hiếm có của các biến thể cũng cho thấy chọn lọc tự nhiên có thể loại bỏ chúng, có lẽ do chúng gây hại trong một số trường hợp.  Sự phức tạp của khả năng di truyền đồng nghĩa với việc hiểu được gốc rễ của nhiều loại bệnh phổ biến – cần thiết để phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả – sẽ mất nhiều thời gian và tiền bạc hơn và có thể liên quan đến việc giải trình tự hàng trăm, hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu hệ gene để xác định các biến thể hiếm giải thích một một phần đáng kể mức độ di truyền trong các loại bệnh.  Nghiên cứu chỉ tiết lộ tổng số lượng các biến thể hiếm ảnh hưởng tới những tính trạng này – chứ không chỉ ra đâu là biến thể quan trọng, Spector cho biết. “Các giai đoạn tiếp theo sẽ tiến hành tìm ra những biến thể hiếm có vai trò quan trọng đối với các tính trạng hoặc các loại bệnh đang cần phương pháp điều trị”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01157-y       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu di truyền tiết lộ những gì khiến hoa nho trở nên hoàn hảo      Nho để làm rượu nho và để ăn tươi tồn lại là nhờ sự thay đổi di truyền vô cùng hiếm chỉ xảy ra với xác suất hai lần trong tự nhiên trong vòng sáu triệu năm gần đây. Và kể từ lúc diễn ra việc thuần hóa nho vào 8.000 năm trước, việc nhân giống đã tiếp tục như một canh bạc may rủi.      Tính dục của hoa nho là một yếu tố quan trọng khi nhân giống để tạo ra các cây trồng chất lượng cao. Nguồn: news.cornell.edu  Khi những người trồng trọt ngày nay nuôi trồng thêm nhiều giống mới – cố gắng tạo ra các loại nho ngon hơn và có khả năng kháng bệnh cao hơn – phải mất từ hai đến bốn năm để người làm giống học hỏi được liệu họ có những thành phần di truyền cho những bông hoa hoàn chỉnh không.  Hoa cái đậu quả nhưng tạo ra phấn hoa bất dục. Hoa đực có nhị hoa để thụ phấn nhưng lại không tạo quả. Bông hoa hoàn chỉnh mang cả hai gene này và có thể tự thụ phấn. Những giống nho cho hoa lưỡng tính này về cơ bản cho sản lượng lớn hơn và các chùm quả ngon hơn. Chúng là những giống mà các nhà khoa học dùng để gia tăng khả năng lai chéo.  Hiện tại, các nhà khoa học trường đại học Cornell đã hợp tác với trường đại học California, Davis, để xác định các chỉ thị DNA giúp xác định giới tính của hoa nho. Trong quá trình này, họ đã chỉ ra nguồn gốc di truyền của bông hoa hoàn chỉnh. Kết quả được họ công bố trong bài báo ”Multiple Independent Recombinations Led to Hermaphroditism in Grapevine” (Những tái tổ hợp độc lập, khác nhau dẫn đến sự lưỡng tính trong nho), xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Science.  “Đây là bằng chứng hệ gene đầu tiên chứng minh là giới tính của hoa nho có nguồn gốc khác nhau”, Jason Londo, tác giả chính của công trình và là nhà nghiên cứu di truyền học tại Bộ phận nghiên cứu nho thuộc Cơ quan Dịch vụ nghiên cứu nông nghiệp USDA (USDA-ARS) ở  Cơ quan Công nghệ nông nghiệp Cornell, nói.  “Nghiên cứu này rất quan trọng với việc nhân giống và sản xuất giống bởi vì chúng tôi đã thiết kế các chỉ thị di truyền để có thể cho mọi người biết đặc điểm chính xác tính dục của hoa ở từng loại nho”, Londo nói, “nhờ thế, những người nhân giống có thể chọn để giữ việc tái tổ hợp những hì họ muốn cho cây nho tương lai”.  Ngày nay, phần lớn các giống nho được trồng trọt đều là lưỡng tính, trong khi tất cả các thành viên của chi Vitis lại chỉ có hoa đực hoặc hoa cái. Khi các nhà nhân giống cố gắng kết hợp các gene kháng sâu bệnh từ những loài tự nhiên vào những dòng cây mới, khả năng sàng lọc cây trồng từ hạt của tính dục hoa lại càng hết sức quan trọng. Do khó có thể phân biệt được tính dục của hoa bằng hạt nên các nhà nhân giống phải mất rất nhiều thời gian và nguồn lực chỉ để loại bỏ chúng sau nhiều năm.  Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã xác định được trình tự  DNA của hàng trăm hệ gene loài nho dại và nho được thuần chủng để nhận diện được các vùng xác định tính dục độc nhất vô nhị cho cây đực, cây cái và lưỡng tính. Họ truy dấu sự tồn tại của yếu tố lưỡng tính trong DNA ở cả hai hiện tượng tái tổ hợp riêng biệt, xuất hiện đâu đó vào khoảng 6 triệu năm và 8.000 năm trước.    Giống nho trắng chardonnay được trồng ở Burgundy, Pháp. Nguồn: winemag.com/  Londo đã nắm được về lý thuyết thì những người trồng nho cổ đại thường tình cờ gặp những mùa nho bội thu và thu thập các hạt giống hoặc những hom dây nho cho nhu cầu của chính họ – kết tinh nét tiêu biểu của hoa lưỡng tính trong những giống nho đã được thuần hóa mà ngày nay chúng ta thường trồng trọt.  Nhiều loài nho trồng để làm rượu nho có thể được truy dấu là ở vốn gene (tập hợp tất cả các gene và những alen của chúng trong một quần thể sinh vật) thứ nhất hay thứ hai. Các giống nho đen không hạt như cabernet franc, cabernet sauvignon, merlot và Thompson đều từ vốn gene thứ nhất. Họ pinot, sauvignon blanc và gamay noir đều bắt nguồn từ vốn gene thứ hai.  Những gì khiến cho giống nho trắng chardonnay và riesling trở nên độc nhất vô nhị là chúng mang các gene có được từ hai nguồn này. Londo nói những chỉ dấu đó là những người trồng nho cổ đại đã lai giống nho giữa hai vốn gene đó, bằng cách đó đã tạo ra những loại nho quan trọng nhất ngày nay.  Tài liệu về các chỉ thị di truyền để phân biệt các dạng hoa đực, hoa cái và bông hoa hoàn chỉnh cuối cùng sẽ giúp thúc đẩy cây trồng phát triển và giảm các chi phí cho những chương trình nhân giống.  “Việc càng có nhiều chỉ thị DNA được nhận diện thì càng có nhiều nhà tạo giống có thể đóng góp vào ngành công nghiệp sản xuất nho làm rượu và ăn quả”, Bruce Reisch, đồng tác giả cho biết. “Các công nghệ giải trình tự gene hiện đại và những hợp tác nghiên cứu giữa nhiều viện  là yếu tố quan trọng để có thể làm ra nhiều giống nho tốt hơn”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-grape-genetics-reveals.html;   https://news.cornell.edu/stories/2021/05       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu gì về IoT ?      Trong bối cảnh IoT – một viễn cảnh đề ra vào năm 1999 bởi nhà tiên phong người Anh Kevin Ashton về khả năng gia tăng năng suất và sự thoải mái của con người trong đời sống – ngày càng được nhắc đến nhiều hơn trong các nghiên cứu hay thảo luận của giới khoa học, chuyên gia, hay người tiêu dùng công nghệ cao trên khắp thế giới, câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứu Việt Nam là: chúng ta cần nghiên cứu gì về IoT? Để trả lời câu hỏi này, bước khởi đầu là hãy xem thế giới đã và đang nghiên cứu gì về IoT.      IoT bắt nguồn từ ý tưởng táo bạo của Ashton là kết nối tất cả mọi vật tồn tại trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người vào mạng Internet – biến tất cả các vật vô tri xung quanh ta, từ chiếc ghế, cái bàn, bàn chải đánh răng, hay máy tưới tiêu, thành những chiếc máy vi tính siêu vi có khả năng thu thập thông tin một cách toàn diện, đầy đủ, và tức thời (Ashton 2009). Ý tưởng này xuất phát từ hai quan sát của Ashton: 1/ xã hội ngày càng chú trọng đến những khái niệm trừu tượng như ý tưởng, thông tin, và kiến thức khi nói đến Internet; 2/ những vật chất trừu tượng này bắt nguồn từ dữ liệu, mà việc thu thập dữ liệu nhìn chung lâu nay vẫn bị hạn chế, bởi chúng được thực hiện từ ý định và khả năng bị giới hạn của con người, cho dù sự xuất hiện của Internet đã cho phép thu thập và lưu trữ một lượng dữ liệu khổng lồ.      Lĩnh vực nghiên cứu quan trọng đầu tiên liên quan đến IoT là vấn đề đạo đức thông tin (ethics of information). Các doanh nghiệp của thời đại công nghệ thông tin hưởng lợi trực tiếp từ việc sở hữu và thu thập thông tin từ người dùng, kể cả những thông tin riêng tư mà người dùng có thể không biết mình đang sở hữu, hoặc không biết đang bị thu thập cho mục đích phân tích nhằm giúp doanh nghiệp đạt doanh thu cao hơn. Khi những thông tin nhạy cảm như dáng đứng, dáng ngồi, lịch trình đi vệ sinh, hay thói quen ăn uống đều được thu thập, mã hóa và mang đi phân tích vì những mục đích mà người tiêu dùng không hề được biết đến, việc nghiên cứu ứng dụng IoT không chỉ thay đổi cách con người sống cuộc sống hiện đại, mà còn thay đổi cách con người hiểu về bản thân, về xã hội, về quan hệ chính trị và triết lý giữa họ và thế giới quan của họ.      Thứ hai là nghiên cứu kỹ thuật. Nghiên cứu kỹ thuật cho IoT rất phức tạp và mang tính chuyên môn cao, đơn cử như nghiên cứu xác định tần số vô tuyến (radio frequency identification), nghiên cứu khắc phục va chạm và nhiễu các nút thông tin (collisions and interferences among nodes), kỹ thuật địa phương hóa (localisation), an ninh mạng (security), và đặc biệt là IPv6 – giao thức liên mạng thế hệ 6 – nhằm tăng số lượng địa chỉ Internet toàn cầu lên 2128 địa chỉ, với chuỗi địa chỉ 128 bit thay cho 32 bit như phiên bản IPv4 (Xia et al 2012).      Thứ ba là nghiên cứu ứng dụng. Có thể chia lĩnh vực ứng dụng của IoT có thể được chia làm bốn nhóm chính: nhóm giao thông vận tải và hậu cần, nhóm chăm sóc sức khỏe, nhóm môi trường thông minh (nhà ở, văn phòng, nhà máy), và nhóm cá nhân – xã hội (Atzori, Iera & Morabito 2010). Về mặt khả thi, ứng dụng của IoT còn có thể được chia theo hai nhóm chính: nhóm hiện hữu và nhóm tương lai. Các ứng dụng hiện hữu là những ứng dụng phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật sẵn có, và các ứng dụng tương lai là những ứng dụng mang tính viễn cảnh mà khoa học kỹ thuật hiện tại chưa đủ khả năng thực hiện.      Trong giao thông vận tải và hậu cần, tiềm năng của IoT nằm ở công nghệ cảm ứng trang bị ở mặt đường hoặc phương tiện xe máy, ô tô, tàu điện, xe buýt; tất cả các vật thể này đều có thể đóng vai trò máy thu nhận và truyền dữ liệu nhằm giúp cung cấp thông tin kịp thời và chính xác nhất về tình hình giao thông cho người tham gia giao thông. Đối với công tác hậu cần và chuyển giao hàng, điều này mang lại ý nghĩa kinh tế rất lớn. Ngoài ra, việc tiến hành xe không người lái với hệ thống IoT mang tính chính xác và an toàn cao hơn khi từng thông tin nhỏ nhất về những chuyển động trên mặt đường và chuyển động của các phương tiện di chuyển lân cận được thu thập và phân tích theo thời gian thực. Việc xử phạt vi phạm giao thông, do đó, cũng có thể được thực hiện một cách hiệu quả, công bằng, và chính xác.      Trong chăm sóc sức khỏe, việc biến bác sĩ và bệnh nhân thành những điểm thu thập dữ liệu với công nghệ theo dõi (tracking), kết hợp với công nghệ xác định (identification) và nhận dạng (authentication), có thể giảm thiểu nguy cơ sai sót trong quá trình khám chữa bệnh, như cho/uống nhầm thuốc, nhầm liều, sai thời gian, sai quy cách. Khi từng hành vi của bác sĩ, y tá cũng như bệnh nhân đều được theo dõi và số hóa thành dữ liệu để phân tích, công việc khám chữa bệnh sẽ mang tính chính xác cao hơn.      Trong việc xây dựng môi trường thông minh, nhiều tiềm năng của IoT đã được phát triển mạnh mẽ với mục đích thương mại. Các sản phẩm thông minh trong gia đình có thể tự thay đổi nhiệt độ phòng tùy theo cảm ứng nhiệt độ ngoài trời hoặc theo ý thích của người dùng, thay đổi độ sáng của phòng theo thời gian trong ngày, điều chỉnh lượng tiêu thụ điện của các thiết bị trong gia đình một cách phù hợp theo hệ thống vi tính theo dõi giá điện lên xuống trong ngày nhằm giảm chi phí điện.      Trong phạm trù cá nhân và xã hội, IoT có thể giúp thúc đẩy việc kết nối con người với con người ngày càng mạnh mẽ hơn nữa. Tiềm năng của lĩnh vực công nghệ nhận dạng tần số vô tuyến trong ngày có thể bao gồm việc tự động cập nhật các hoạt động sinh hoạt lên mạng xã hội Twitter. Như đã nói ở trên, những khả năng này mang đến nhiều lo ngại và nguy cơ tiềm ẩn đến đạo đức thông tin trong môi trường dữ liệu ngày càng nhiều lên, và ngày càng nhanh hơn. Một tiềm năng khác cho công nghệ này là việc người dùng có thể tìm lại và sống lại một cách chính xác lịch sử sinh hoạt của mình vào một thời điểm bất kì trong quá khứ, cũng như có thể giúp người dùng tìm lại được chính xác những vật thể họ đã đánh mất, hoặc đặt nhầm ở đâu đó.      Khi tất cả các đồ vật mà con người tương tác đều có thể thu thập dữ liệu và kể một câu chuyện, đầy đủ hoặc khiếm khuyết, về con người đó, các hệ thống pháp lý, chính trị, triết lý, kinh tế, xã hội đều cần phải thay đổi cho phù hợp với những thay đổi công nghệ mang tính vĩ mô này. Tuy nhiên, đây không phải là lý do để ngừng hoặc né tránh việc tham gia phát triển IoT.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu làm ra máy “mần” thốt nốt giúp dân đỡ vất vả      Việc nghiên cứu chế tạo máy bóc, tách trái thốt nốt không những giúp người dân tiết kiệm thời gian, sức lao động mà còn có thể tạo nên diện mạo hoàn toàn mới cho ngành sản xuất các sản phẩm liên quan đến đặc sản từ trái thốt nốt.    Mong mỏi sớm có máy gọt, tách trái thốt nốt  Ở vùng biên giới tỉnh An Giang – nơi tiếp giáp với Campuchia, cách sống và nét sinh hoạt của người dân nơi đây ít nhiều chịu ảnh hưởng từ văn hóa Khơme. Những nơi văn hóa giao thoa với nhau, mọi người dễ dàng bắt gặp nhiều nét đặc trưng làm nên những di sản thiên nhiên vô cùng phong phú, độc đáo, và thu hút hơn hết là văn hóa ẩm thực.  Dọc các tỉnh lộ vùng ven biên giới thuộc TP.Châu Đốc, H.Tịnh Biên và H.Tri Tôn đa phần là ruộng lúa, điểm thêm nhiều hàng cây thốt nốt chạy dọc bên đường. Cây thốt nốt (có người gọi là thốt lốt – PV) thoạt nhìn giống cây cọ, tán lá xòe như cánh quạt, thân cây lại giống thân dừa nhưng ít xù xì hơn. Trái của nó cũng mọc thành quầy giống dừa, màu tím sẫm, đội thêm chiếc mũ màu xanh. Tuy nhiên, trái thốt nốt không có nước bên trong như dừa, khi muốn ăn phải bổ ra lấy phần thịt mềm mịn bên trong.  Tại tiệm bán trái thốt nốt của cô Nga (xã Châu Lăng, H.Tri Tôn) bày bán nhiều quả thốt nốt có đường kính từ 10 – 17cm, vỏ đen, chia thành nhiều múi. Mỗi múi to gấp 2-3 lần múi mít, trắng ngần, mềm, ngọt mát và thơm hơn cùi dừa. Phần cùi này được bao bọc trong một lớp vỏ lụa màu nâu vàng. Cô Nga thoăn thoắt dùng tay chặt, tách, gọt lớp vỏ cứng trái thốt nốt bằng loại dao yếm, chỉ trong vài phút hàng chục múi thốt nốt tươi màu trắng đục nằm gọn trong thau. Cô Nga cho biết trung bình mỗi ngày, gia đình cô chặt khoảng 500 trái thốt nốt tươi bán lẻ và gửi hàng đi các tỉnh.  “Do làm thủ công nên mọi người rất tốn sức. Lúc trước chưa quen công việc này mấy người trong gia đình thường kêu đau nhức tay vào mỗi buổi tối. Hiện nay số lượng đặt hàng thốt nốt tươi gấp đôi. Vì vậy, cả gia đình xúm lại giúp sức, chỉ sợ số lượng nhiều và trong quá trình tách gọt, sơ ý bị thương ở tay là điều khó tránh khỏi. Tôi chỉ mong ai sáng chế ra cái máy nào gọt, tách trái thốt nốt để mọi người đỡ tốn công sức, thời gian mà số lượng tách, gọt nhanh hiệu quả là tôi mua liền”, cô Nga mong mỏi.  Cũng theo cô Nga, không riêng bản thân cô đang gặp khó khăn trong công việc này vì thiếu máy gọt tách mà đó cũng là bài toán rất nan giải của hàng trăm hộ dân buôn bán loại đặc sản này tại nơi đây.  Sẽ giải bài toán khó  Ông Lê Trung Hiếu – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư tỉnh An Giang cho biết, cách đây vài tháng, ông cùng thầy cô Trường cao đẳng nghề An Giang dắt díu nhau lên vùng Bảy Núi quan sát cách dùng tay chặt hàng ngàn trái thốt nốt bán lẻ và gửi hàng đi các tỉnh.  “Tuy nhiên, do làm thủ công nên người dân nơi đây rất tốn sức cũng như thời gian để tách trái thốt nốt. Vì vậy, chỉ sơ suất nhỏ trong quá trình gọt, tách có thể bị thương. Ý tưởng nghiên cứu chế máy bóc, tách trái thốt nốt không những giúp bà con tiết kiệm thời gian, sức lao động mà còn có thể tạo nên diện mạo hoàn toàn mới cho ngành sản xuất các sản phẩm liên quan đến đặc sản từ trái thốt nốt đã làm mọi người lên kế hoạch trong những ngày qua”, ông Hiếu nói.  Ông Hiếu cho biết thêm, khi ghi nhận những khó khăn trong quá trình sản xuất của bà con, Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư tỉnh An Giang đã phối hợp Trường cao đẳng nghề An Giang nghiên cứu chiếc máy này để giúp bà con tiết kiệm thời gian, sức lao động, đảm bảo an toàn.  “Hiện trung tâm tiến hành mời các thêm các doanh nghiệp đồng hành, hỗ trợ vốn trong việc nghiên cứu chế tạo chiếc máy. Khi thành công chúng tôi sẽ chuyển giao công nghệ, rồi từ đó chiếc máy đến được tay bà con. Khi sử dụng chiếc máy này bà con sẽ không tốn sức lại mang tính hiệu quả cao, an toàn tốt hơn”, ông Hiếu nhận định.  Ông Nguyễn Đức Tài – giảng viên cơ điện tử, Trường cao đẳng nghề tỉnh An Giang, thông tin hiện nhà trường đã lên kế hoạch và có đề xuất với Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư tỉnh An Giang theo 2 định hướng nghiên cứu chế tạo máy gọt, tách thốt nốt. “Đối với hộ kinh doanh nhỏ lẻ có thể dùng máy gọt, tách cơ trợ lực nhằm tiết kiệm chi phí cũng như dễ dàng di chuyển, không phụ thuộc vào nguồn điện. Đối với các hộ kinh doanh quy mô lớn nên dùng hệ thống máy bóc, tách lớn sử dụng điện để rút ngắn thời gian sản xuất, gia tăng số lượng sản phẩm”, ông cho biết.  Theo 1thegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu lên men tỏi đen từ tỏi Lý Sơn      Nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Quân Y mới  đây đã nghiên cứu lên men tỏi đen – loại tỏi được sử dụng phổ biến như  thực phẩm bổ dưỡng ở Hàn Quốc và Nhật Bản, tuy nhiên giá cả khá đắt – từ  tỏi Lý Sơn.     Tỏi vừa là gia vị vừa là vị thuốc quý có tác dụng chữa cảm cúm, kháng virus, hạ cholesterol… nhưng có một nhược điểm là mùi khó chịu. Vì vậy, việc nghiên cứu đưa ra những sản phẩm khắc phục nhược điểm này được nhiều nhà khoa học quan tâm. Ở Hàn Quốc và Nhật Bản, tỏi đen đã được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến như một thực phẩm bổ dưỡng tuy nhiên giá cả khá đắt.   Ở Việt Nam, tỏi cũng được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong đó đáng chú ý là tỏi Lý Sơn – Quảng Ngãi. Tuy nhiên giống như các loại tỏi khác, tỏi Lý Sơn cũng chỉ được sử dụng ở dạng nguyên liệu tươi, chưa có nghiên cứu về chế biến lên men thành các dạng sản phẩm đặc biệt. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Quân Y, do TS. Vũ Bình Dương đứng đầu, đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu lên men tỏi đen từ tỏi Lý Sơn và đánh giá tác động sinh học của sản phẩm tạo ra” nhằm tạo thêm các sản phẩm có tác dụng sinh học tốt mà giá cả hợp lý, có giá trị cao để chăm sóc sức khỏe cộng đồng góp phần nâng cao đời sống của người dân trồng tỏi.  Sau một thời gian triển khai, nhóm nghiên cứu đã đạt được một số kết quả đó là: xây dựng quy trình lên men tỏi Lý Sơn quy mô 10 kg/mẻ, sản phẩm thu được có vị ngọt, không có mùi hăng cay của tỏi thường; xác định thành phần hóa học của tỏi Lý Sơn với các nhóm hợp chất: flavonoid, polyphenol, thiosulfinat, đường tổng. Kết quả cũng cho thấy các nhóm hợp chất này tăng đáng kể sau khi lên men trong đó hàm lượng đường tổng tăng khoảng 13 lần, fructose tăng 52 lần. Đặc biệt là SAC (Sallyl Lcystein) – chất đã được chứng minh tác dụng mạnh của tỏi đen – tăng sáu lần so với tỏi tươi. Điều này giải thích vì sao sản phẩm có vị ngọt và tác dụng sinh học của sản phẩm cải thiện rõ rệt so với tỏi thường.   Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá được tác dụng sinh học của sản phẩm. Trên mô hình chuột chiếu xạ sinh gốc tự do, khi uống dịch chiết tỏi đen làm cải thiện các hoạt tính chống oxy hóa trong gan, máu gồm: chỉ số MDA, GSH, GPx, SOD và TAS. So sánh với tỏi tươi tác dụng chống oxy hóa tăng từ 2-4 lần. Dịch chiết tỏi đen khi sử dụng dài ngày không ảnh hưởng chức năng sinh lý và sinh hóa của chủ thể động vật thí nghiệm. Điều này chứng tỏ dịch chiết tỏi đen an toàn khi sử dụng. Ngoài ra, dịch chiết tỏi đen cũng có tác dụng bảo vệ các cơ quan miễn dịch như lách, tuyến ức, hạch tốt hơn nhiều so với tỏi tươi.     Sau những thành công trên, nhóm nghiên cứu đã đề xuất  hình thành dự án sản xuất thử nghiệm, bào chế và sản xuất các sản phẩm từ tỏi đen, trước mắt là viên nang mềm tỏi đen, nước uống tỏi đen… để đưa ra thị trường. Nếu thành công, có thể nâng quy mô sản xuất và chuyển giao công nghệ cho các nhà máy hoặc doanh nghiệp ngay tại vùng trồng tỏi Lý Sơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mạch máu não giúp khám phá loại thuốc tiềm năng điều trị đột quỵ      Đột quỵ là nguyên nhân gây ra vô số thay đổi trong kích hoạt gene trong các mao mạch bị ảnh hưởng trong não bộ, và những thay đổi đó có tiềm năng hướng đích với những loại thuốc hiện tại hoặc trong tương lai để giảm đi tổn thương não hoặc cải thiện khả năng phục hồi sau đột quỵ, theo một kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học ở Weill Cornell Medicine dẫn dắt.    Trong nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, các nhà nghiên cứu đã thực hiện một khảo sát toàn diện, trong một mô hình tiền lâm sàng, về những thay đổi kích hoạt gene trong các mao mạch ở não bộ sau khi bệnh nhân bị đột quỵ 1. So sánh những thay đổi đó với chính mao mạch ở các bệnh nhân đột quỵ đã được ghi nhận, họ đã lập ra hàng trăm gene với những thay đổi đáng kể do đột quỵ và sự liên quan với đột quỵ.  “Phát hiện của chúng tôi đem lại hiểu biết cơ bản để cải thiện hiểu biết về đột quỵ và chỉ ra những phân tử và con đường cụ thể mà giờ được coi như những đích tiềm năng cho điều trị đột quỵ trong tương lai”, tiến sĩ Teresa Sanchez, trợ lý giáo sư bệnh lý học tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Phân tử và Mạch máu Weill Cornell Medicine, cho biết. “Nó cũng ghi nhận là các bệnh về mạch máu có liên quan và đóng góp vào hoạt động khác thường trong nhận thức và sa sút trí tuệ. Nghiên cứu này cũng nhận diện được các đặc điểm phân tử liên kết với các hoạt động khác thường của mạch máu trong não bộ sau đột quỵ, một nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ”.  Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của tử vong và khuyết tật dài hạn trên toàn thế giới. Phần lớn các cơn đột quỵ đều là đột quỵ thiếu máu cục bộ, bao gồm một cục máu đông trong một mạch máu trong não. Sự ngăn chặn vận chuyển hoặc giảm thiểu lưu thông máu sẽ làm giảm khả năng hấp thụ oxy và phân phối dưỡng chất tới các tế bào não cuối, làm triệt tiêu hoặc tổn thương chúng và kích hoạt các quá trình viêm có thể là nguyên nhân dẫn đến những tổn thương nặng hơn.  Các mao mạch – hoặc “các tiểu động mạch não” – phía dưới phần bị tắc nghẽn cũng bị ảnh hưởng, và những thay đổi ở chúng được cho là góp phần nhiều hơn vào tổn thương não sau đột quỵ. Những thay đổi các tiểu động mạch não là thách thức để ghi nhận một cách chính xác về mặt kỹ thuật, và do đó không được nghiên cứu sâu như những khía cạnh khác của đột quỵ – hoặc các điều trị cụ thể khác.  Tiến sĩ Teresa Sanchez. Ảnh: weill.cornell.ed  Trong nghiên cứu mới, tiến sĩ Sanchez và nhóm nghiên cứu của cô, bao gồm đồng tác giả thứ nhất là các tiến sĩ Keri Callegari, Sabyasachi Dash và Hiroki Uchida, đã sử dụng các phương pháp tối ưu tiên tiến nhất, mới được chính họ xuất bản gần đây trên Nature Protocols 2, để nghiên cứu về các mạch máu liên quan đến đột quỵ để giải quyết những thách thức đó. Họ đã ghi nhận một cách toàn diện những thay đổi hậu đột quỵ trong kích hoạt gene trong các tiểu động mạch não ở chuột và nhận diện những thay đổi đó.  Về tổng thể, nhóm nghiên cứu tìm ra 541 gene kích hoạt đã được biến đổi tương tự ở các tiểu động mạch não người và chuột sau đột quỵ. Phân chia các gene này vào các nhóm dựa trên vai trò chức năng của chúng và các bệnh liên quan, họ đã nhận diện được nhiều nhóm chính. Đó là các nhóm có liên quan đến viêm, viêm não, các bệnh về mạch máu và dạng hoạt động khác thường của mạch máu có thể là nguyên ngân khiến các tiểu động mạch não trở nên yếu ớt. Tình trang này ngụ ý đến tình trạng thiếu sức sống của “barrier máu não”, tuyến tế bào của các tiểu động mạch não bảo vệ bộ não bằng cách giữ cho hầu hết các thành phần lưu thông ra ngoài.  “Chúng tôi phát hiện ra, sau đột quỵ, một số phân tử trở nên yếu hơn, barrier máu não không thể điều phối được nữa trong khi các thành phần khác phải bảo vệ chính barrier máu não cũng yếu đi”, tiến sĩ Sanchez, hiện cũng là trợ lý giáo sư khoa học thần kinh tại Viện nghiên cứu Não và Tâm thần Feil Family, nói. “Điều này phù hiwpj với các quan sát lâm sàng về sự đứt gãy các tiểu động mạch não sau đột quỵ”.  Phân tích này cũng nhận diện sự đứt gãy của sự kích hoạt thông tường trong các kiểm soát gene ở cấp độ sphingolipids – một loại lipid có chứa xương sống của các bazơ sphingoid, một tập hợp các rượu amin béo bao gồm sphingosine. Các phân tử liên quan đến chất béo này quá nặng để tham gia vào điều phối các mạch máu và người ta đã thấy được sự đứt gãy trong hoạt động thông thường của chúng ở người bị đột quỵ, xơ vữa động mạch và sa sút trí tuệ mạch máu. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra một số dạng sphingolipids được làm giàu trong các mạch máu não so với mô não. Thêm vào đó, chúng nhận diện được những thay đổi trong các sphingolipid ở mao mạch não do đột quỵ cũng như những thay đổi trong các phân tử chính kiểm soát mức độ lipid đó. Những phát hiện mới này sẽ cho phép thực hiện việc hướng đích trong thuốc để tìm ra cách điều trị đột quỵ.  Nghiên cứu này bao gồm những đánh giá xác nhận “tiềm năng thiết kế thuốc” hoặc sự phù hợp cho hướng đích với thuốc phân tử nhỏ, của nhiều phân tử với việc tạo ra sự thay đổi sau đột quỵ. Thậm chí, một số phân tử được nhận diện đã lập tức được hướng đích cho nhiều loại thuốc để có thể điều trị các điều kiện bệnh lý khác, qua đó góp phần tái định vị các thuốc cho điều trị đột quỵ và sa sút trí tuệ.  Tiến sĩ Sanchez và nhóm nghiên cứu của cô đang theo dõi các thực nghiệm tiền lâm sàng sử dụng các thuốc dự tuyển khác hoặc các phương pháp gene để đảo ngược một số thay đổi mao mạch cụ thể được nhận diện trong nghiên cứu của họ, để tìm hiểu xem chúng có đem lại lợi ích nào cho các bệnh nhân đột quỵ không.  “Chúng tôi đã đem lại một nền tảng hiểu viết và giờ thì sử dụng nó nhưng chúng tôi hi vọng các nhà khoa học khác sẽ tham gia cùng chúng tôi cho những nỗ lực phát triển những liệu pháp hướng đích đầu tiên tới các mao mạch trong đột quỵ”, cô nói.  Thanh Đức  tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-04-cerebral-blood-vessels-uncovers-potential.html  https://news.weill.cornell.edu/news/2023/04/study-of-cerebral-blood-vessels-uncovers-potential-new-drug-targets-for-treating-stroke#:~:text=Study%20of%20Cerebral%20Blood%20Vessels%20Uncovers%20Potential%20New%20Drug%20Targets%20for%20Treating%20Stroke,-April%2014%2C%202023&text=A%20section%20of%20the%20brain,brain%20barrier%20(white%20signal).  ————————————  1. https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2205786120  2. https://www.nature.com/articles/s41596-019-0212-0    Author                .        
__label__tiasang Nghiên cứu mới bác bỏ kiến thức chuẩn về quá trình xử lý trong tế bào      Nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Science  đã xác định và mô tả một quá trình xử lý diễn ra trong tế bào mà đến giờ các nhà khoa học vẫn còn chưa rõ. Đó là cách việc sao chép vật liệu di truyền dừng lại như thế nào.    Phát hiện của các nhà nghiên cứu trường ĐH Bang Ohio, Mỹ này liên quan đến một quá trình xử lý quan trọng trong sự sống: pha phiên mã của biểu hiện gene. Trong pha phiên mã, RNA polymerase – một loại enzyme, sẽ tự quấn quanh chuỗi xoắn kép của DNA và dùng một sợi để khớp với các nucleotide nhằm tạo ra một bản sao vật liệu di truyền, kết quả là một sợi tổng hợp RNA mới sẽ được giải phóng khi pha này kết thúc. RNA đó sẽ giúp tạo ra protein – nhân tố cần thiết cho sự sống và thực hiện hầu hết các công việc bên trong tế bào.  Cũng như bất cứ thông điệp mạch lạc nào, RNA cần bắt đầu và dừng đúng chỗ để tạo ra sản phẩm ý nghĩa. Cách đây hơn 50 năm, người ta đã phát hiện ra Rho – một loại protein trong vi khuẩn có khả năng dừng quá trình phiên mã. Trong mọi cuốn sách giáo khoa, Rho được coi là yếu tố kết thúc phiên mã kiểu mẫu, sử dụng lực tác động mạnh để liên kết với RNA và kéo nó ra khỏi enzyme RNA polymerase. Tuy nhiên khi xem xét kĩ càng, các nhà khoa học thấy Rho sẽ không thể tìm thấy các RNA mà nó cần giải phóng bằng cơ chế đã được viết trong sách giáo khoa. “Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu về Rho, và nhận thấy nó không thể hoạt động theo cách mà người ta thường nói”, GS. Irina Artsimovitch, đồng tác giả nghiên cứu và là giảng viên vi sinh vật học tại Đại học Bang Ohio cho biết.  Kết quả nghiên cứu cho thấy thay vì gắn vào một đoạn RNA cụ thể ở gần cuối phiên mã và giúp nó thoát ra khỏi DNA, trên thực tế, Rho “đi nhờ” trên RNA polymerase trong suốt thời gian phiên mã. Rho kết hợp với nhiều protein khác để dẫn dụ RNA polymerase thông qua một loạt thay đổi cấu trúc, kết thúc bằng một trạng thái bất động cho phép giải phóng sợi RNA.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng những kính hiển vi hiện đại để khám phá cơ chế hoạt động của Rho trên một tổ hợp phiên mã hoàn chỉnh, bao gồm RNA polymerase và hai protein phụ đi cùng với nó trong suốt quá trình phiên mã. “Đây là cấu trúc đầu tiên về giai đoạn kết thúc phiên mã trong bất kì hệ thống nào. Nó từng bị coi là bất khả thi bởi [các thành phần] bị tan rã quá nhanh” Artsimovitch nhận xét.   “Nó giúp trả lời một câu hỏi gốc rễ – phiên mã là cơ sở của sự sống, nhưng nếu quá trình phiên mã không được kiểm soát thì sẽ không có gì xảy ra được. Bản thân RNA polymerase phải hoàn toàn trung tính. Nó phải có khả năng tạo ra mọi loại RNA, kể cả những RNA bị hư hỏng hoặc có thể gây hại cho tế bào. Khi Rho di chuyển cùng RNA polymerase, nó có thể nhặt ra sợi RNA tổng hợp có giá trị sử dụng hay không, nếu không thì Rho sẽ bỏ đoạn RNA đó đi”.   Trước đây, Artsimovitch không nghi ngờ những kiến thức đã có về vai trò của Rho trong việc chấm dứt quá trình phiên mã cho đến khi một sinh viên tìm được những đột biến đáng ngạc nhiên ở Rho khi thực hiện một dự án về gene tại phòng thí nghiệm của bà.  Rho được biết có khả năng ngăn chặn biểu hiện của các gene độc lực trong vi khuẩn. Về cơ bản, Rho sẽ giữ những gene này ở trạng thái bất hoạt đến khi cần khởi động. Nhưng các gene này không chứa bất kỳ trình tự RNA đã biết nào mà Rho ưu tiên liên kết. Do đó, Artsimovitch cho biết, việc Rho chỉ tìm những trình tự RNA cụ thể mà không hề biết liệu chúng có còn gắn với RNA polymerase hay không là điều vô lý. Trên thực tế, những hiểu biết khoa học về cơ chế hoạt động của Rho dựa trên những thí nghiệm sinh hóa đơn giản thường bỏ sót RNA polymerase. Về bản chất, chúng ta đã xác định cách kết thúc của một quá trình mà bỏ qua các yếu tố trong chính quá trình đó.  Mặc dù nghiên cứu được thực hiện trên vi khuẩn, Artsimovitch cho biết quá trình kết thúc này có thể xảy ra ở các dạng sống khác. “Quá trình này có vẻ phổ biến. Về tổng thể, các tế bào sử dụng những cơ chế hoạt động tương tự từ một tổ tiên chung. Chúng đều học được thủ thuật giống nhau miễn là chúng đều hữu ích.” Bà nói.□  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-revealing-secret-key-cellular-refutes.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới giải quyết vấn đề hiệu suất thấp ở pin Mặt trời hữu cơ      Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã xác định được một dạng tiêu hao năng lượng khiến cho pin mặt trời hữu cơ có hiệu suất thấp hơn so với pin làm từ silicon trong việc chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng và tìm ra được cách ngăn chặn thông qua việc kiểm soát các phân tử bên trong pin mặt trời.      Nguồn ảnh: Stock.  Kết quả, công bố trên tạp chí Nature, cho thấy, hiệu suất của pin mặt trời hữu cơ có thể có khả năng cạnh tranh với pin silicon.  Là các tế bào bán trong suốt, giá rẻ và có độ linh hoạt cao, pin mặt trời hữu cơ có rất nhiều triển vọng trong lĩnh vực năng lượng mặt trời. Chúng có thể được lắp ở phía bên ngoài – xung quanh các tòa nhà cũng như có thể dùng để tái sử dụng hiệu quả năng lượng chiếu sáng bên trong nhà. Đây là những ưu điểm mà các tấm silicon thông thường không thể làm được. Việc sản xuất loại pin này cũng thân thiện với môi trường hơn rất nhiều.  Theo tiến sĩ Alexander Gillett, tác giả thứ nhất của bài báo và là nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm Cavendish thuộc Cambridge, “việc sản xuất thương mại loại pin này đã bị đình trệ trong những năm gần đây do chúng có hiệu suất thấp. Một pin mặt trời làm từ silicon thông thường có thể đạt hiệu suất từ 20 đến 25%, trong khi pin mặt trời hữu cơ chỉ đạt 19% trong điều kiện phòng thí nghiệm, và khi dùng trong thực tế thì chỉ còn khoảng 10 đến 12%”.   Pin mặt trời hữu cơ tạo ra điện năng bằng cách mô phỏng lại quá trình quang hợp tự nhiên của thực vật, ngoại trừ một việc là chúng sẽ không chuyển carbon dioxide và nước thành glucose. Khi một photon “chạm” vào pin mặt trời, nó sẽ kích thích hoạt động của một electron và để lại một “lỗ trống” trong cấu trúc điện tử của vật liệu. Sự kết hợp của electron và lỗ trống này được gọi là exciton – một trạng thái liên kết giữa điện tử và lỗ trống. Nếu vượt qua được lực hút giữa electron mang điện tích âm và lỗ trống mang điện dương trong exciton thì các electron và lỗ trống này sẽ có thể tạo ra được dòng điện.  Các electron trong pin mặt trời có thể bị mất mát trong quá trình tái hợp – khi các electron mất đi năng lượng của mình và trở lại trạng thái “lỗ trống”. Do các vật liệu từ nguồn gốc carbon có lực hút giữa electron và lỗ trống mạnh hơn so với các vật liệu làm từ silicon nên pin mặt trời hữu cơ thường hay xảy ra quá trình tái hợp hơn và do đó ảnh hưởng đến hiệu suất của chúng. Điều này đòi hỏi phải có hai thành phần để ngăn chặn sự tái hợp quá nhanh của electron và lỗ trống, đó là vật liệu “cho” electron và vật liệu “nhận” electron.  Kết hợp máy quang phổ và các mô hình máy tính, họ đã theo dõi được các cơ chế hoạt động, từ quá trình hấp thụ của các photon cho đến quá trình tái hợp, trong các tế bào năng lượng mặt trời hữu cơ. Từ đó, họ phát hiện ra cơ chế gây tiêu hao năng lượng ở pin mặt trời hữu cơ chủ yếu là do quá trình tái hợp với một dạng exciton được gọi là exciton bộ ba (triplet exciton) gây ra.  Ở pin mặt trời hữu cơ, các exciton bộ ba vốn là một vấn đề rất khó giải quyết. Tuy nhiên, trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã phát hiện ra, nếu tạo ra được các tương tác phân tử giữa vật liệu “cho” electron và vật liệu “nhận” electron thì sẽ có thể tách được electron và các lỗ trống ra xa nhau, và nhờ đó có thể ngăn chặn sự xuất hiện của trạng thái exciton bộ ba này.  Mô hình tính toán của các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy, nếu điều chỉnh các thành phần của pin mặt trời hữu cơ theo cách này sẽ giảm được cường độ tái hợp và xuất hiện các trạng thái exciton bộ ba, từ đó giúp pin mặt trời hoạt động hiệu quả hơn.  Các tác giả đã vạch ra quy tắc thiết kế vật liệu cho electron và vật liệu nhận electron để có thể đạt được mục tiêu hiệu suất 20% cho pin mặt trời hữu cơ. “Giờ đây, các nhà hóa học tổng hợp sẽ có thể tạo ra các vật liệu ‘cho’ và ‘nhận’ thế hệ mới có tương tác phân tử mạnh hơn và giải quyết vấn đề suy giảm hiệu suất ở pin mặt trời hữu cơ”, giáo sư Nguyễn Thục Quyên thuộc ĐH California, Santa Barbara, cho biết. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-09-efficiency-hurdle-solar-cells.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới tiết lộ bí mật kỳ diệu của các mạng lưới con người      Một nhóm các nhà nghiên cứu Israel đã mời 16 nghệ sĩ violin tới cùng làm việc để nghiên cứu về hành vi của mạng lưới con người và tìm hiểu những gì thiết lập từ những mạng lưới khác như loài vật, máy tính…      Sự đồng bộ hóa trong thế giới tự nhiên. Nguồn: The Telegragh  Sự đồng bộ hóa, trong đó một hệ phức hợp vận hành như một cơ thể con người, là một hiện tượng quan trọng diễn ra trong phạm vi những phạm vi quy mô khác nhau – từ các hạt hạ nguyên tử đến vũ trụ. Trong sinh học, cá, chim và thậm chí các tế bào cũng đồng bộ theo trật tự để sống sót. Sự đồng bộ hóa theo nhóm là điều thiết yếu với con người, và quan trọng với sức khỏe của chúng ta, kể cả sức khỏe tâm thần. Những ví dụ về sự đồng bộ hóa có thể được nhìn thấy trong việc những tài xế trên đường hoặc một đông cùng nhau vỗ tay. Ngày nay, một nhóm người có trật tự có thể cùng ra một quyết định mà không cần phải gặp nhau. Hơn thế, có một mạng phức hợp của những kết nối có khả năng cho phép họ tạo ra quyết định. Hiện tượng đồng bộ hóa giữa con người trong một mạng phức hợp là cần thiết để hiểu được việc ra quyết sách, hiểu sự lan truyền của tin giả, khoa học chính trị và sự lan truyền của dịch bệnh…  Để có thêm những hiểu biết về sự đồng bộ hóa của con người, và tìm hiểu về nó để lần đầu tiên có thể có cách đo đạc được nó và chính xác hóa nó, tiến sĩ Moti Fridman của Khoa Kỹ thuật Kofkin tại trường đại học Bar-Ilan, giáo sư Nir Davidson của Viện nghiên cứu Weizmann và Elad Shniderman của trường đại học Stony Brook ở New York đã tạo ra một dàn nhạc dây hành động như một mạng lưới. Dàn nhạc dây này bao gồm 16 nghệ sĩ violin đeo các tai nghe. Mỗi người chơi một đoạn nhạc ngắn đã được biết trước và được nghe chính màn biểu diễn của mình, cùng với màn biểu diễn của hai hoặc nhiều nhạc công khác qua tai nghe. Thông tin về mặt thị giác đã bị vô hiệu hóa bằng việc chia tách các nhạc công vào các vách ngăn. Tất cả các nhạc công đều được yêu cầu là đồng bộ hóa với nhau hoặc nói theo cách khác, là chơi với những gì họ nghe trong tai nghe.  Việc thiết lập thí nghiệm của các nhà nghiên cứu cho phép họ kiểm soát sự kết nối của mạng lưới này, cũng như cách các thành viên của dàn nhạc dây kết nối và cường độ tập trung của mỗi nhạc công để nghe “đồng đội”. Những gì các nhạc công nghe được trong tai nghe là một hoặc hai nhạc công khác hoặc thậm chí nhiều hơn để có thể chơi với họ theo thời gian thực trong khi một độ trễ gia tăng đang được đặt vào hệ thống. “Tại đây chúng tôi có một hiện tượng khác so với việc trình diễn âm nhạc theo cách thông thường. Đó là việc nhiều người trong một mạng giao tiế p nhất định  phản hồi một cách độc lập. Trên thực tế, đây là một vật thể mang tính thẩm mĩ tiết lộ hành vi của con người trong một nhóm mang tính cá nhân, hoặc như một tâp thể biểu diễn”, Fridman nói.  “Bằng việc giới thiệu một độ trễ giữa các nghệ sĩ violin theo cặp mà mỗi nghệ sĩ nghe người cạnh mình chơi cách nhau chừng vài giây, chúng tôi ngăn cho mạng lưới này khỏi chạm đến một trạng thái đồng bộ”, Fridman nói. Điều này vẫn được gọi là một tình trạng bối rối (frustrated situation) đã được nghiên cứu trong nhiều dạng mạng lưới. Theo các mô hình lý thuyết mạng lưới hiện hành, trong trạng thái này, mỗi điểm nút sẽ cố gắng dàn xếp với tất cả thông tin đầu vào của chúng.  “Con người hành xử một cách khác biệt”, tiến sĩ Fridman giải thích. “Trong một  trạng thái của bối rối, họ không tìm kiếm một điểm ‘trung gian” mà loại bỏ một điểm đầu vào. Đây là một hiện tượng tới hạn thay đổi động lực của mạng lưới. Những nghiên cứu trước đây chưa giải quyết được vấn đề này vì những đo đạc không chính xác hoặc không thể thấy được”.  Nghiên cứu do tiến sĩ Fridman và cộng sự thực hiện với việc bắt đầu như một dự án kết hợp khoa học và nghệ thuật của Bảo tàng Khoa học Nano và nghệ thuật Fetter tại trường đại học Bar-Ilan, đã đưa ra hai nét đổi mới sáng tạo chính: đầu tiên là về mặt phương pháp học – một nền tảng đo đạc động lực mạng lưới người một cách chính xác và rõ ràng; thứ hai là bằng chứng là một mạng lưới người  có hai đặc điểm: sự thoải mái để thay đổi từng bước và năng lực để lọc, và ngay cả loại bỏ, các thông tin đầu vào vốn có thể tạo độ rối. Những năng lực đó về cơ bản thay đổi độc lực của các mạng lưới người có liên quan đến những mạng lưới khác và cần thiết cho việc sử dụng một mô hình mới để dự đoán hành vi của con người.    “Nếu anh đưa đến những con người và nghiên cứu cách họ vỗ tay cùng nhau, anh không kiểm soát được việc họ nghe thấy những gì. Trong khi thực hiện dự án này, chúng tôi đã khám phá ra các mạng lưới con người hành xử khác biệt với bất kỳ mạng khác mà chúng tôi đã từng đo lường. Các mạng lưới con người có thể thay đổi cấu trúc nội tại của chúng theo trật tự để đạt được giải pháp tốt hơn những gì mà những mô hình đang tồn tại có thể làm được. Ý niệm này là điều cốt lõi trong khám phá khoa học và nghệ thuật của chúng tôi”, Fridman nói.  Kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên Nature Communications với tiêu đề “Synchronization of complex human network” (Sự đồng bộ hóa của mạng lưới phức hợp của con người).   Nghiên cứu này đã dẫn đến một mô hình mới để mô phỏng các mạng lưới con người, vốn quan trọng để cho nhiều ứng dụng. Động lực của các mạng lưới người là điều cần thiết để hiểu về việc ra quyết định trong các nhóm với chủ đề rộng liên quan tới kinh tế, chính trị, khoa học nhân văn… Thực nghiệm này là thực nghiệm đầu tiên đo lường được động lực của các mạng lưới phức hợp, nó có ích để hiểu về cách thức và thời điểm một nhóm người trong một mạng lưới xã hội, vốn phải tiếp xúc với tin sai lệch đến với những kết luận sai lầm. Nó có thể ngăn ngừa những gì mà chúng ta biết về “tin giả” khỏi lan truyền không kiểm soát. Nghiên cứu này cũng liên quan đến việc kiểm soát bệnh tật và việc hiểu về cách thức những kết nối mà chúng ta có thể bảo vệ và vẫn ngăn ngừa bệnh dịch lan tràn.  Nghiên cứu này liên quan đến bất kỳ mạng lưới nào có mỗi điểm nút trong mạng có năng lực ra quyết định như xe tự lái hoặc đưa AI vào thế giới siêu kết nối của chúng ta. Mô hình này có thể dự đoán với độ chính xác cao về động lực của nhiều hệ, vượt quá những gì có thể trước đây.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-network-reveals-magic-secret-human.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu phế tích Pompeii: Người La Mã là bậc thầy tái chế rác      Các cuộc khai quật mới đây đã cho thấy những gò rác nằm ngoài tường thành Pompeii không chỉ là rác thải – mà ngược lại, chúng được thu thập, phân loại và tái sử dụng có chủ đích.      Tái hiện một phiên chợ ở quảng trường, từ cuốn “The Houses and Monuments of Pompeii” (Fausto và Felice Niccolini). Nguồn: DEA/G Dagli Orti/De Agostini via Gett  Nền văn minh La Mã cổ đại nổi tiếng với những kỹ sư tài năng, những người phát minh ra hệ thống sưởi dưới sàn, đường cầu dẫn nước và sử dụng bê-tông làm vật liệu xây dựng – từ trước khi những kỹ thuật này trở nên phổ biến. Giờ đây, chúng ta còn biết thêm rằng người La Mã còn là bậc thầy trong việc tái chế rác thải.   Phát hiện đó bắt đầu ở Pompeii, thành phố La Mã nổi tiếng bị chôn vùi dưới lớp thảm tro dày đặc của núi lửa Vesuvius. Cho tới trước khi bị vùi lấp, Pompeii là một thành phố nhộn nhịp với những biệt thự trang nhã và những tòa nhà công cộng bề thế, các quảng trường mở, các cửa hàng bán đồ thủ công, quán rượu, nhà thổ và nhà tắm. Nó còn bao gồm một nhà hát ngoài trời được tổ chức thành đấu trường biểu diễn cho 20.000 khán giả.  Vào mùa thu năm 79, tro bụi núi lửa từ đỉnh Vesuvius “ào ào dốc xuống khắp mặt đất” – như một nhân chứng đã tả lại – đã bao phủ Pompeii trong bóng tối, ít nhất 2.000 người xấu số đã chết. Phải đến năm 1748 thì thành phố mới được một nhóm các nhà thám hiểm phát hiện trong tình trạng bảo tồn gần như hoàn hảo, ngay cả một ổ bánh mì hóa than cũng được các nhà khảo cổ phát hiện.   Rác thải không vô dụng     Porta Ercolano là một khu ngoại ô nằm bên ngoài tường thành phía Bắc Pompeii. Khi khu vực này được khai quật, dấu vết rác thải chất đống được tìm thấy trong và xung quanh các ngôi mộ, nhà cửa và cửa hàng. Ảnh: Allison Emmerson/ The Guardian.  Vào thời điểm tiến hành cuộc khai quật đầu tiên tại Pompeii, các nhà khảo cổ đã bắt gặp đống phế thải cổ xưa của đô thị này. Nhưng lúc bấy giờ, họ cho rằng đống rác thải ở ngoại ô thành phố chỉ đơn thuần là một bãi rác và thậm chí có thể những gò đống này hình thành sau một trận động đất xảy ra ở thành phố khoảng 17 năm trước khi sự kiện Vesuvius phun trào.   Việc nghiên cứu về rác thải của một đô thị cũng nói lên nhiều điều. Vì thế, dù đây chỉ là phế thải đơn thuần như cách hiểu phổ biến thì nó cũng cần được nghiên cứu để hiểu hơn về đời sống Pompeii. Do đó, bên cạnh phần lớn số gò đã được khai quật trong khoảng giữa thế kỷ 20, số còn lại vẫn được tiếp tục nghiên cứu cho đến nay.  Một nhóm chuyên gia quốc tế cùng tham gia nghiên cứu về rác thải Pompeii, trong đó có giáo sư Mỹ Allison Emmerson, người phản đối quan điểm phổ biến này. Theo quan sát của cô, rác thải được chất thành đống suốt chiều dài bờ tường phía Bắc thành phố, cùng với một số vị trí khác. Một số gò đống cao đến vài mét và bao gồm các mảnh gốm và thạch cao, vốn có thể được tái chế làm vật liệu xây dựng.   Cùng với các đồng nghiệp là nhà khảo cổ Steven Ellis và Kevin Dicus từ ĐH Cincinnati (Hoa Kỳ), giáo sư Emmerson cố gắng nghiên cứu phương thức xây dựng của thành phố cổ. “Chúng tôi nhận thấy rằng một phần thành phố đã được xây dựng từ rác thải. Các gò đống chất ngoài tường thành không phải là phế thải vô giá trị, chúng được thu thập và phân loại có chủ đích để được bán lại vào nội thành.”  Họ đã phát hiện, những ụ rác thải khổng lồ chất đống bên ngoài các bức tường thành hóa ra là “khu phân loại cho vòng tuần hoàn sử dụng và tái sử dụng.”  Thông qua phân tích mẫu vật, các chuyên gia hiện đã tái lập được hành trình của rác đi từ trong thành phố đến các điểm tập kết ở ngoại thành, giống như cách làm của chúng ta ngày nay, và quay trở lại thành phố – khi chúng trở thành vật liệu được kết hợp trong các công trình xây dựng, như móng nền nhà chẳng hạn. Gỗ và xương có thể được sử dụng vào việc chạm khắc, ngoài ra gỗ còn có thể tái sử dụng làm nhiên liệu. Thủy tinh và kim loại có thể nung chảy, còn mảnh gốm vỡ thì nghiền nát thành bột làm thạch cao, vữa hoặc đồ gốm mới. Bình vò amphorae, dùng để ủ rượu vang, có thể được tái sử dụng theo nhiều cách, bao gồm làm vật liệu cho hệ thống thoát nước.  “Người La Mã tái sử dụng và tái chế mọi thứ”, Emmerson chia sẻ với tờ Artnet News trong một email. “Tái chế và tái sử dụng là những hành vi tự nhiên của con người. Chừng nào con người còn sử dụng các loại công cụ, thì chúng ta còn tiếp tục tái chế và tái sử dụng chúng.”  Vòng tuần hoàn của rác  Để xác định được vòng tuần hoàn của rác, Emmerson và đồng nghiệp đã phân tích các mẫu đất để theo dõi con đường di chuyển của rác phế liệu trong thành phố. “Mẫu đất mà chúng tôi khai quật sẽ khác nhau tùy theo vị trí rác được tập trung lúc đầu,” cô nói: “Rác được vứt tại những nơi như nhà xí hoặc các hố chất thải sẽ để lại địa tầng hữu cơ màu mỡ. Và ngược lại, chất thải tích tụ theo thời gian trên đường phố hoặc các gò đống bên ngoài tường thành sẽ tạo ra địa tầng có nhiều cát hơn.”  “Sự khác biệt về mẫu địa tầng cho phép chúng ta xem xét xem liệu rác thải có được tạo ra ở nơi ta tìm thấy chúng hay chúng được thu gom từ nơi khác về để tái sử dụng và tái chế.”  Một ví dụ là việc một số bức tường được phát hiện có bao gồm các mảnh vật liệu như ngói hay bình vò amphorae vỡ, lẫn cùng các cục vữa và thạch cao. “Hầu như tất cả các bức tường như vậy được trát thêm một lớp thạch cao cuối cùng ra ngoài để che giấu sự lộn xộn của các vật liệu bên trong,” cô giải thích thêm.  Mặt khác: “Có quan điểm cho rằng số phế liệu này là đống đổ nát sinh ra sau trận động đất đầu tiên [diễn ra năm 62 SCN] và chúng được thu thập và đổ bỏ ra ngoài tường thành. Tuy nhiên, khi bắt đầu khai quật ra ngoài tường thành Pompeii, tôi nhận ra rằng ở cùng thời điểm này các khu dân cư hoàn thiện đã được mở rộng ra bên ngoài tường thành… Bởi thế tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng người La Mã tập kết rác tại những khu ngoại ô này.”  Có thể rút ra một kết luận sơ bộ, theo giáo sư Emmerson, đó là so với phương thức hiện đại trong quản lý rác thải, vốn nhằm đến việc loại bỏ rác khỏi đời sống hằng ngày, thì người La Mã đã có một cách tiếp cận khác: “Đa phần chúng ta không quan tâm đến những gì xảy ra với rác thải của mình, miễn là nó biến khỏi tầm mắt. Nhưng những gì tôi tìm được ở Pompeii cho thấy một ưu tiên hoàn toàn khác, đó là việc rác thải đã được thu gom và phân loại để tái chế.”  “Cư dân Pompeii cổ đại sống gần với rác thải của họ hơn mức hầu hết chúng ta chịu chấp nhận không phải vì thành phố của họ thiếu cơ sở hạ tầng hay họ không bận tâm đến việc xử lý rác. Mà đó là vì hệ thống quản lý đô thị khi đó được tổ chức theo các nguyên tắc rất khác biệt.”  Các nhà khảo cổ còn phát hiện ra cư dân Pompeii đã tái chế rác ngay tại nhà bằng cách kiểm tra thành phần của đống đất đá vụn. Phân người hoặc chất thải thực phẩm gia đình sẽ được ủ trong hố để làm thành đất hữu cơ. Rác thải ngoài đường thì sẽ chất đống ven những bờ tường, trộn lẫn đất cát, dần mủn ra và biến thành chất đất tương tự.  Nhưng ngay cả như vậy, chúng ta không nên hình dung về Pompeii và các thành phố La Mã khác như những đô thị bẩn thỉu đầy rác, “người La Mã không có nhận thức đầy đủ về các mối nguy hại nghiêm trọng có thể phát sinh từ chất thải đối với sức khỏe cộng đồng”, cô nói thêm. “Tôi nghĩ rằng cư dân Pompeii thoải mái với sự hiện diện của rác thải hơn chúng ta là vì họ đã quen với nó.”  Các cư dân Pompeii đã thấy, khi được thu gom với số lượng đủ lớn, chất thải sẽ trở thành một loại hàng hóa có giá trị. Và điều này sẽ có ý nghĩa tham khảo đối với cuộc khủng hoảng rác thải ở thế giới hiện đại. Thế giới hiện đang thải ra hơn hai tỷ tấn chất thải rắn đô thị mỗi năm – đủ để lấp đầy hơn 800.000 bể bơi thi đấu tiêu chuẩn Olympic. Do đó, Emmerson tin rằng nếu muốn giải quyết tình trạng này, chúng ta phải bắt đầu từ việc suy ngẫm về giá trị của những thứ mà lâu nay chúng ta vẫn coi là phế thải, làm thế nào để tái sử dụng chúng theo những cách khác nhau và kéo dài tuổi thọ của chúng hết mức có thể.   “Những quốc gia quản lý chất thải của họ một cách hiệu quả nhất áp dụng phiên bản của mô hình cổ đại trong việc ưu tiên coi rác là một loại hàng hóa hơn là phế thải.” – Emmerson chia sẻ.  Emmerson sẽ trình bày những phát hiện của mình vào trong cuốn sách sẽ xuất bản vào tháng tới – Life and Death in the Roman Suburb (Sự sống và Cái chết ở Vùng ngoại ô La Mã).□  Tuấn Quang – Anh Thư tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/apr/26/pompeii-ruins-show-that-the-romans-invented-recycling  https://news.artnet.com/art-world/pompeii-recycled-1848195  https://www.greenqueen.com.hk/did-romans-invent-recycling-research-unearthed-from-pompeii-ruins/  https://www.mnn.com/lifestyle/recycling/blogs/ancient-romans-recycled-according-new-research    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu polyme giúp tái chế nhựa nhiệt dẻo tốt hơn      Để tổng hợp nhựa, các phân tử monome nhỏ cần phải được xâu chuỗi lại với nhau giống như các hạt trên vòng cổ để tạo thành chuỗi polyme dài. Tuy nhiên, không phải tất cả nhựa hoặc tất cả các polyme của chúng đều được tạo ra như nhau. Loại polyme nào càng dài và càng khỏe thì vật liệu mà nó tạo ra sẽ càng bền.      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell (Mỹ) đã lấy một monome có kích cỡ trung bình và sử dụng một chất xúc tác đặc biệt để tạo ra một loại polyme cứng hơn có thể hình thành nên các chuỗi dài. Polyme này sau đó có thể dễ dàng khử trùng hợp bằng một chất xúc tác axit để trở lại trạng thái monome. Đây chính là một loại nhựa nhiệt dẻo có thể tái chế hóa học và có khả năng cạnh tranh với những loại nhựa phổ biến nhất hiện nay như polyetylen (PE) và polypropylen (PP).  Bài báo mang tên “Chemically Recyclable Thermoplastics from Reversible-Deactivation Polymerization of Cyclic Acetals” của nhóm nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Science vào giữa tháng 8/2021. Hai đồng tác giả thứ nhất là Brooks Abel, cựu nghiên cứu sinh sau tiến sĩ và tiến sĩ Rachel Snyder tốt nghiệp năm 2021.  “Về mặt lý tưởng, một loại polyme hoàn hảo là loại có ứng suất ban đầu cao và sau đó được kéo dãn ra thật dài”, GS. Geoffrey Coates tại Trường cao đẳng giáo dục khai phóng và khoa học của ĐH Cornell, đồng thời là tác giả liên hệ của bài báo, cho biết.  “Các polyme mà ta hay nghe nói đến như PE và PP có đặc tính tuyệt vời. Rất nhiều polyme mới không thể so sánh được với những loại polyme đã kinh qua thử thách này. Polyme của chúng tôi thuộc loại này. Nó đã tồn tại khoảng 60-70 năm rồi nhưng không ai có thể tạo ra chuỗi polyme thực sự dài và có đặc tính tốt”  Trong một bước ngoặt bất ngờ, kết quả khám phá polyme này không phải đến từ một nghiên cứu nhựa thông thường mà bắt nguồn từ sự hợp tác giữa nhóm nghiên cứu của Coates với Trung tâm nghiên cứu lưu trữ năng lượng JCESR, một đơn vị hợp tác liên ngành của Bộ Năng lượng Mỹ có nhiệm vụ phát triển pin thế hệ mới.     Nhóm nghiên cứu của Coates đã phát triển các loại polyme bền vững có thể dùng để lưu trữ năng lượng và làm vật liệu chuyển đổi năng lượng. Khi đó, họ nhận ra rằng loại polyme của mình, poly (1,3-dioxolane) hay còn gọi là PDXL, rất phù hợp để tạo ra một loại nhựa nhiệt dẻo. Nhựa nhiệt dẻo là loại vật liệu có thể nấu chảy, tái chế và định hình lại khi nguội.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra polyme của mình từ một loại monome acetal dạng vòng gọi là dioxolane, vốn được tổng hợp từ những vật liệu thô formaldehyde and ethylene glycol có khả năng tái tạo về mặt sinh học.  Polyacetal là ứng cử viên để tạo ra nhựa nhiệt dẻo có thể tái chế vì chúng có thể bền vững ở mức 3000C nhưng lại có thể giải trùng hợp ở mức nhiệt tương đối thấp, dưới 150oC bằng chất xúc tác axit. Chúng ít tốn kém và có thể lấy từ nguồn năng lượng sinh học. Tuy nhiên, trước đây người ta ít sử dụng polyacetal vì các chuỗi polyme của nó quá ngắn, không đủ độ bền cơ học cho các ứng dụng thương mại.  “Chúng tôi muốn tìm phương pháp mới để tạo ra polyacetal và có thể kiểm soát chiều dài của chuỗi polyme. Giờ đây, chúng tôi đã tạo ra được các polyacetal cao phân tử, dễ uốn nắn và dẻo dai một cách đáng ngạc nhiên so với loại ban đầu dễ gãy và có trong lượng phân tử thấp”, Abel nói.  Bằng cách sử dụng quá trình khử trùng hợp mở vòng cationic khử hoạt tính đảo ngược, các nhà nghiên cứu đã liên kết được các monome thành chuỗi PDXL dài có khối lượng phân tử cao và sức bền cao. Kết quả là họ đã tạo ra một loại nhựa nhiệt dẻo đủ bền và linh hoạt để sử dụng cho các ứng dụng quy mô lớn như đóng gói sản phẩm. Nhóm nghiên cứu đã chứng minh bằng việc tạo ra một số mặt hàng nguyên mẫu, bao gồm các loại túi bảo vệ, hộp đựng đúc dẻo và túi khí chèn lót giống kiểu mà Amazon thường dùng để đệm trong các gói bưu kiện của mình.  “Hiện nay, gần 40% nhựa được dùng để sản xuất những sản phẩm đóng gói vốn sử dụng trong một thời gian ngắn rồi bị vứt bỏ”, Snyder cho biết “PDXL đủ bền để dùng làm đóng gói, nhưng thay vì vứt đi, người ta có thể thu thập chúng và tái sử dụng bằng quy trình tái chế hóa học rất hiệu quả. Điều này khiến nó trở thành một ứng viên hoàn hảo cho nền kinh tế polyme.  Quá trình tái chế hiệu quả đến mức có thể khử trùng hợp (polyme hóa) PDXL từ hỗn hợp nhựa thải phức tạp. Nhóm nghiên cứu đã trộn PDXL với các loại nhựa thương mại khác như PET, PE và Polystyrene. Sau khi dùng chất xúc tác axit và nhiệt độ, họ đã thu hồi được tới 96% monome dioxolane tinh khiết. Điều này chứng minh rằng có thể dễ dàng tách chúng từ các chất ô nhiễm phổ biến như thuốc nhuộm và chất hóa dẻo. Các monome thu hồi sau đó sẽ được tái tạo thành PDXL. Điều này chỉ ra thuộc tính quan trọng nhất của polyme: sự bền vững.  “Phải mất rất nhiều nhiên liệu hóa thạch để tạo ra các loại nhựa và dấu chân carbon của những loại nhựa phổ biến như PE hoặc PP rất lớn. VÌ vậy, chúng tôi phải tìm ra cách sản xuất tốt hơn”, Coates nói. “Nếu ta có thể tái chế hóa học polyme, thì nhựa đó sẽ không đi vào trong đại dương, đúng không? Và thay vì dùng tất cả năng lượng để hút dầu ra khỏi mặt đất và phá vỡ chúng thành những mảnh nhỏ và sử dụng hết những năm lượng đó, tất cả những gì chúng ta phải làm chỉ là làm nóng polyme và, bùm, chúng ta lại có lại monome”  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://news.cornell.edu/stories/2021/08/polymer-enables-tougher-recyclable-thermoplastics    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pin thân thiện với cơ thể con người, có thể kéo giãn      Khi các nghiên cứu về quần áo thông minh ngày càng được quan tâm trên thế giới thì nhu cầu về một loại pin thân thiện với cơ thể con người, có thể kéo giãn và giặt được trong máy giặt lại càng lớn.    Mới đây, TS. Nguyễn Ngọc Tân (Đại học British Colombia) và các cộng sự đã lần đầu tiên chế tạo thành công một loại pin như vậy, góp phần giúp cho những bộ quần áo thông minh không còn quá xa xôi.    Đánh dấu mốc đầu tiên    Có lẽ đến nay, chúng ta đã không còn quá xa lạ với những chiếc đồng hồ thông minh giúp đo nhịp tim, huyết áp hay những dấu hiệu sinh tồn khác của cơ thể. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một trong những ứng dụng nhỏ của cảm biến thông minh – lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt là hướng nghiên cứu về cảm biến điện tử nhạy và bền, có khả năng co giãn và mang được trên người như quần áo (wearable devices).        Song, xu hướng này dẫn đến một yêu cầu mới: phải có một loại pin cũng mềm dẻo tương tự để cung cấp năng lượng cho những cảm biến này. “Chẳng hạn trong lĩnh vực y sinh, có những ứng dụng đòi hỏi người bệnh phải mặc áo thông minh trong khoảng 10-12 tiếng/ngày, kể cả khi đi ngủ. Nếu dùng một viên pin bình thường thì chắc chắn nó sẽ gây cộm và rất khó chịu cho người mặc”, TS. Nguyễn Ngọc Tân, tác giả thứ nhất của bài báo “Washable and Stretchable Zn–MnO2 Rechargeable Cell” trên tạp chí Advanced Energy Materials, cho biết. “Nếu không có những viên pin mềm mại và an toàn khi tiếp xúc với cơ thể người thì sẽ khó có thể tiếp tục phát triển được các loại quần áo có cảm biến”, TS. Tân nói.    Làm việc tại Phòng Thí nghiệm Thiết kế Quy trình và Vật liệu Tiên tiến, TS. Tân đã bị bài toán này thu hút. Từ năm 2019, anh bắt đầu khảo sát và nhận thấy lĩnh vực pin dẻo cũng đã có nhiều nghiên cứu, tuy nhiên sản phẩm thực tế thì gần như chưa có. Quan trọng hơn, “làm sao để pin tồn tại được lâu (ví dụ khoảng vài năm) và đủ an toàn để mặc trên người, hay thậm chí là giặt được trong máy giặt, thì chưa thấy ai làm được”, TS. Tân cho biết.    Đào sâu hơn vấn đề này, anh và nhóm nghiên cứu nhận ra một “mảnh ghép” còn bị thiếu từ trước đến nay, đó là chưa có “bao bì” bọc pin phù hợp. “Vật liệu bao bọc phù hợp có nghĩa là nó phải đáp ứng được năm yêu cầu: (1) ngăn sự trao đổi khí và chất lỏng để giảm thiểu sự vận chuyển phân tử từ trong ra và từ ngoài vào của pin; (2) có mô đun đàn hồi nhỏ (low modulus) để phù hợp với việc tích hợp vào các thiết bị điện tử co giãn; (3) có khả năng tương thích với các thành phần của pin cũng như có tính tương thích sinh học (không gây hại cho cơ thể), đặc biệt là trong các ứng dụng tích hợp liền mạch giữa thiết bị và cơ thể con người; (4) dễ chế tạo, đặc biệt là có thể sử dụng các quy trình sản xuất có sẵn; và (5) có độ bền cơ học và hóa học trong suốt thời gian sử dụng, ngay cả khi bị biến dạng trong quá trình giặt”, nhóm nghiên cứu giải thích trong bài báo.    Để giải quyết vấn đề về độ tương thích với cơ thể, nhóm nghiên cứu của TS. Tân đã lựa chọn kẽm và mangan dioxide – chất an toàn hơn so với thành phần của pin lithium-ion thông thường – để làm vật liệu tham gia phản ứng hóa học tạo ra dòng điện. “Pin co giãn trong quần áo thông minh thường sẽ có thể tiếp xúc trực tiếp với da người, do đó chúng tôi đã chọn hợp chất này để đảm bảo nếu có bị vỡ hoặc rò rỉ, chúng cũng không tiết ra chất độc hại”, nhóm nghiên cứu nói.    Nhưng vấn đề mấu chốt và cũng là điểm khó khăn nhất trong nghiên cứu này là làm sao để vật liệu có khả năng ngăn nước thẩm thấu vào pin, đồng thời lại kết dính được các lớp (layer) vốn khác nhau của pin. “Một viên pin bao gồm rất nhiều lớp riêng biệt. Trong các viên pin truyền thống như pin ‘con thỏ’, các lớp của pin thường làm bằng một vài loại kim loại khác nhau và không có tính liên kết, do đó, khi bị gập hoặc kéo giãn, các lớp này sẽ vỡ hết. Ngược lại, nếu pin của mình có độ kết dính rất tốt giữa các lớp thì khi co kéo hoặc giặt với nhiệt độ nóng lạnh trong máy giặt, các lớp này sẽ dịch chuyển cùng nhau và chống chịu được những tác động đó”, TS. Tân giải thích.    Khi tìm phương án giải quyết vấn đề này, anh và các đồng nghiệp chú ý đến polymer – một loại vật liệu có sẵn, đã được dùng trong lĩnh vực y học nhưng chưa từng được dùng trong nghiên cứu pin trước đây. “Cho đến giờ, các thử nghiệm về pin đàn hồi thường sử dụng polydimethylsiloxane (PDMS), Ecoflex, polyurethane (PU) hay cao su butyl làm vật liệu bao bọc, song những loại này đều có những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, PDMS có độ tương thích sinh học và độ đàn hồi cao nhưng khả năng căng cơ học (mechanical strain) lại kém. Ecoflex và PU thì lại rất dễ bị thấm nước, từ đó ảnh hưởng đến vòng đời của pin và gây rò rỉ các chất nguy hiểm cho da hoặc cơ thể con người”, nhóm nghiên cứu giải thích. Trong khi đó, khi thử nghiệm với polymer, nhóm nghiên cứu của TS. Tân nhận ra, vật liệu này không chỉ có độ ổn định hóa học và khả năng tương thích sinh học cao mà còn ít bị thẩm thấu nước nhất so với bất cứ vật liệu đàn hồi nào.    Sau hơn một năm trời mày mò thử nghiệm cũng như xây dựng quy trình sản xuất mới (do loại pin này hoàn toàn khác với pin thông thường), nhóm nghiên cứu của TS. Tân đã phát triển được một loại pin mới gồm nhiều lớp siêu mỏng, có chứa hỗn hợp kẽm và mangan dioxide nghiền nhỏ (để có thể kéo giãn), và được kết dính bằng cùng một loại polymer. Khi thử nghiệm trong máy giặt, kết quả cho thấy pin do nhóm của TS. Tân phát triển có thể “sống sót” qua 39 lần giặt mà vẫn hoạt động tốt. “Có thể thấy, với cấu trúc này, pin không bị thấm nước và vẫn đảm bảo được tính toàn vẹn qua nhiều lần sử dụng”, nhóm nghiên cứu chia sẻ.    Những tiềm năng lớn    Để kiểm tra kỹ hơn khả năng chịu đựng của pin, nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Tân đã thử nghiệm với cả chế độ giặt lạnh và giặt nóng (lên đến 80°C), mỗi lần giặt kéo dài khoảng 1,5 tiếng đồng hồ. “Tất nhiên chúng tôi không khuyến khích giặt ở mức nhiệt này”, TS. Tân cười và nói, “tuy nhiên kết quả thử nghiệm cho thấy pin vẫn chịu được và hoạt động ổn sau khi giặt”.    Với những ưu điểm nổi trội như vậy, dù mới ở giai đoạn mô hình, loại pin này đã sớm thu hút sự quan tâm không nhỏ của một số công ty trong lĩnh vực quần áo thông minh. TS. Tân cho hay, nhóm nghiên cứu của anh đã liên kết chặt chẽ với một số công ty đang theo đuổi các sản phẩm quần áo thông minh để thử nghiệm pin nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế. Hiện nay, pin do nhóm của TS. Tân nghiên cứu đang có điện áp khoảng 1,5V – thấp hơn so với điện áp 3V của pin lithium-ion do phải cân bằng giữa vấn đề dung lượng và độ an toàn. “Ở bước tiếp theo, chúng tôi sẽ tìm cách cải thiện hiệu suất của pin, đánh giá các tính năng an toàn trong các điều kiện khác nhau, cũng như tiếp tục nghiên cứu để tăng độ bền của pin khi giặt”, TS. Tân nói. Ngoài ra, “do khác với pin AAA thông thường, hiện nay loại pin này chưa có một kích cỡ chuẩn, mỗi công ty lại có sản phẩm đòi hỏi kích cỡ và thời gian hoạt động khác nhau, chẳng hạn như có công ty cần pin mỏng và có thể hoạt động được trong 20 tiếng, có công ty lại muốn pin dày và chỉ cần hoạt động trong 10 phút thôi. Do đó để sản phẩm có thể được bán ra thị trường, chúng tôi sẽ cần phải khảo sát xem đâu là nhu cầu chiếm đa số để từ đó tập trung phát triển pin theo kích cỡ ấy”, TS. Tân chia sẻ thêm.    Điều đáng nói là “các bước nghiên cứu ấy đã đang được tiến hành” và quan trọng hơn, loại pin này có cả một dư địa phát triển rộng lớn trong rất nhiều lĩnh vực từ y học đến thể thao,…“Có rất nhiều công ty ở Anh, Mỹ và Canada hiện đang phát triển các bộ áo quần gắn cảm biến cho người chơi thể thao để theo dõi các thông tin như huyết áp, nhiệt độ, nhịp tim hay phân tích mồ hôi để kiểm tra hàm lượng đường,… Những ứng dụng như vậy đang ngày càng phát triển rất mạnh và cái nào cũng đòi hỏi phải có một loại pin nhỏ gọn, có thể giặt được và tiếp xúc được với cơ thể mà vẫn an toàn – tương tự như loại pin mà chúng tôi đang phát triển”, TS. Tân nói. “Dù hiện nay chúng ta có thể chưa thấy, nhưng chỉ trong vòng 1-2 năm nữa thôi, các công ty này sẽ tung các sản phẩm quần áo thông minh ra thị trường. Trong 5-7 năm tới, tiềm năng phát triển của nó sẽ cực kỳ lớn”, anh đánh giá.    Nhưng với một loại pin đặc biệt như vậy, giá thành của nó hẳn cũng phải đắt đỏ vô cùng? Ngược lại, nhóm nghiên cứu cho hay: khi pin sẵn sàng để bán ra thị trường, giá của nó có thể chỉ tương đương với pin sạc truyền thống. “Thực tế, các vật liệu mà chúng tôi lựa chọn làm pin có dung lượng tương đối lớn, không thua kém nhiều so với pin lithium nhưng lại có giá thành chỉ bằng 1/10. Nếu sản xuất ở quy mô lớn, loại pin này chắc chắn sẽ cực kỳ rẻ mà lại vẫn bảo đảm an toàn”, TS. Tân khẳng định.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Nghiên cứu, sản xuất thành công sản phẩm chức năng từ con hàu      Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định vừa nghiệm thu Dự án nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm chức năng từ hàu với kết quả xuất sắc.      Dự án này do bà Phạm Thị Thanh Hương, Phó Tổng giám đốc Công ty Dược và Trang thiết bị y tế tỉnh Bình Định (BIDI PHAR) làm Chủ nhiệm.  Sau 36 tháng triển khai, Dự án đã xây dựng và hoàn thiện các mô hình sản xuất giống nhân tạo và ương giống hàu cấp 1 với số lượng trên 4 triệu con và ươm giống hàu theo mô hình cấp 2 đạt tỷ lệ hàu sống trên 57,2 %.  Mô hình hàu thương phẩm có tỷ lệ hàu sống trên 58,7 % và sản lượng hàu thu hoạch đạt hơn 100 tấn.  Nhờ kết quả này, Dự án đã xây dựng quy trình sản xuất thực phẩm chức năng được 125kg bột hàu đông khô và hơn 333.000 viên nang hàu. Đây là sản phẩm đạt chất lượng tốt và có tác dụng bổ sung ngăn ngừa, chữa được nhiều loại bệnh nguy hiểm, trong đó có cả bệnh ung thư.  Vì vậy, sản phẩm này đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và được Cục quản lý Dược thuộc Bộ Y tế cấp giấy phép lưu hành.  Bà Phạm Thị Thanh Hương, Chủ nhiệm Dự án cho biết thêm, Dự án mô hình sản xuất giống, nuôi hàu thương phẩm và chế biến thực phẩm chức năng tại Bình Định thuộc Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, giai đoạn 2011-2015” do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý và cũng đã được công nhận và xếp loại xuất sắc.  Sự thành công của Dự án nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm chức năng từ hàu đã mở ra hướng đi mới không chỉ cho Công ty Dược và Trang thiết bị y tế Bình Định mà còn tạo điều kiện phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bình Định, nhất là đối với nghề nuôi hàu thương phẩm.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu Phạm Tuấn Huy được Viện Toán Clay tài trợ nghiên cứu      Trên trang web của Viện Toán học Clay mới có thông báo: nhà nghiên cứu Phạm Tuấn Huy của trường đại học Stanford đã nhận được tài trợ nghiên cứu trong thời gian năm năm. Bắt đầu từ ngày 1/7/2023, anh sẽ là một nhà nghiên cứu của viện (Clay Research Fellow).      Phạm Tuấn Huy và Jinyoung Park được Viện nghiên cứu Tiên tiến Pricenton chúc mừng nhân dịp giải được giả thuyết Kahn-Kalai,  Hiện Phạm Tuấn Huy đang làm nghiên cứu sinh tại ĐH Stanford dưới sự hướng dẫn của giáo sư Jacob Fox, một nhà toán học quan tâm đến toán tổ hợp kiểu Hungary, đặc biệt là lý thuyết Ramsey, lý thuyết đồ thị cực trị, lý thuyết số tổ hợp và các phương pháp xác suất trong toán tổ hợp.  Giải nhiều bài toán khó  Trong bài giới thiệu về Phạm Tuấn Huy 1, Viện Clay cho rằng anh là một một nhà nghiên cứu năng suất và sáng tạo cao, đã có những đóng góp căn bản cho toán tổ hợp, xác suất, lý thuyết số và khoa học máy tính lý thuyết. Khi còn chưa bảo vệ luận án tiến sĩ, anh đã cùng với Jacob Fox và Yufei Zhao – một nhà toán học ở MIT chuyên nghiên cứu về toán tổ hợp (cực trị, xác suất, cộng tính, lý thuyết đồ thị, hình học rời rạc…) chứng tỏ định lý sai phân nổi tiếng của Green, một sự mở rộng của định lý Roth về các cấp số số học trong các tập hợp số nguyên đặc, đòi hỏi các chặn dạng tháp – ứng dụng nổi tiếng đầu tiên của phương pháp chính quy của Szemerédi thực sự đòi hỏi các chặn dạng tháp.  Đây không phải là lần đầu tiên Phạm Tuấn Huy được ngành Toán ghi nhận. Ngay đầu năm 2022, cùng với Jinyoung Park, một trợ lý giáo sư Szegö của ĐH Stanford, anh đã chứng minh được giả thuyết Kahn-Kalai, một bài toán quan trọng trong toán tổ hợp xác xuất có từ năm 2006 còn được gọi là giả thuyết ngưỡng kỳ vọng, về định xứ của các chuyển pha và giả thuyết Talagrand về các quá trình chọn lọc. Chứng minh của anh và Jinyoung Park đã khiến nhà toán học Gil Kalai phải thốt lên trên blog của mình “Bằng chứng thật tuyệt vời!”. Ông cũng cho biết thêm là “Việc chứng minh giả thuyết ngưỡng kỳ vọng đầy đủ là một nhiệm vụ rất khó” và nhận xét Phạm Tuấn Huy là “một người gây ngạc nhiên” tham gia cùng Jinyoung Park tìm được một đối số trực tiếp đơn giản để giải một trong những bài toán chính trong lĩnh vực này – giả thuyết Talagrand 2.  Trước đó, cùng với Fox và nhà toán tổ hợp và lý thuyết số David Conlon của Caltech, Phạm Tuấn Huy đã giải được các gia thuyết tồn tại nhiều năm của Erdős trong toán tổ hợp cộng tính và các dãy đầy đủ Ramsey; với Nicholas Cook (ĐH Duke) và Amir Dembo (ĐH Stanford), anh đã phát triển một lý thuyết các độ lệch lớn phi tuyến định lượng cho các siêu đồ thị ngẫu nhiên.  Chọn toán học sau khi giành HCV Olympic toán   Những thành tích xuất sắc mà Phạm Tuấn Huy có được bắt nguồn từ tình yêu toán học khi còn học phổ thông. Theo lời kể của ông Phạm Châu Tuấn, giáo viên trường THPT Trần Hữu Trang (TP.HCM) và là ba của Huy, với Tuổi trẻ vào năm 2015 thì vào năm học lớp 6, Huy đã ham giải các bài toán trên các trang quốc tế. Thi đỗ vào lớp chuyên toán của hai trường là trường phổ thông Năng khiếu (ĐH Quốc gia TP.HCM), trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và Trường trung học Thực hành (ĐH Sư phạm TP.HCM) nhưng Huy chọn trường thứ nhất vì hâm mộ TS Trần Nam Dũng 3.  Dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Nam Dũng, Phạm Tuấn Huy đã lọt vào đội tuyển Việt Nam tham dự hai kỳ Olympic toán học. Thật bất ngờ là Huy đã giành liên tiếp huy chương vàng ở hai năm 2013 và 2014. Trong lịch sử tham dự của Việt Nam, đến nay chỉ có 8 thành viên giành hai huy chương vàng liên tiếp, mở màn là Ngô Bảo Châu vào năm 1988 và 1989 4.  Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Huy nhận được học bổng toàn phần ngành toán bậc đại học và cao học ở trường ĐH Stanford. Bốn năm trước, anh giành được học bổng nghiên cứu sinh Two Sigma Fellowship.  Có lẽ, con đường toán học đã thẳng bước với một người yêu toán. Người ta hoàn toàn có thể chờ đợi vào những thành công trong tương lai của Phạm Tuấn Huy.  —————————————————-  1. https://www.claymath.org/people/huy-tuan-pham  2. https://gilkalai.wordpress.com/2022/04/02/amazing-jinyoung-park-and-huy-tuan-pham-settled-the-expectation-threshold-conjecture/  3. https://tuoitre.vn/cha-con-va-2-huy-chuong-vang-toan-quoc-te-789837.htm  4. https://www.imo-official.org/participant_r.aspx?id=23421 và https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_t%E1%BA%A1i_Olympic_To%C3%A1n_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Nghiên cứu sợi tơ cao cấp như tơ nhện      Trong phòng thí nghiệm, người ta đã chế tạo được tơ tằm siêu cấp, và thực tế đã chứng minh rằng chỉ cần điều  chỉnh các thiết bị công nghệ thì có thể chế tạo ra các sợi tơ tằm cao  cấp có đầy đủ tính năng, thậm chí còn hơn cả tơ nhện, với một giá thành  hợp lý.     Tơ nhện có độ mềm và dai cao hơn tất cả những sản phẩm sợi tổng hợp, nên còn được gọi là “thép động vật” và được coi là một sự lựa chọn lý tưởng của vật liệu mới. Có thể sử dụng sợi tơ tằm để biến thành sợi siêu cấp như tơ nhện hay không là một hướng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Các nhà nghiên cứu khoa học của Đại học Phúc Đán, Trung Quốc đã tổ chức một phòng thực nghiệm và chuyên nghiên cứu về vấn đề này. Họ chứng minh rằng sợi tơ tằm không hề thua kém tơ nhện về kết cấu lực học và tính năng. Thông qua việc hoàn thiện chế biến tơ tằm, họ đã dệt được sợi tơ có độ bền cao gấp đôi tơ tằm bình thuờng.   Nghiên cứu “Vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu chế tạo tơ động vật” do Giáo sư Tiêu Chính Trung đứng đầu đã cho thấy tơ tằm và tơ nhện gần như tương đồng với nhau về mặt kết cấu và các lớp. Trên lý thuyết, hai loại tơ này tính năng lực học tương đương nhau, nhưng do tằm trong quá trình kéo kén thì thường xoay thành vòng tròn hay số 8 nên những chỗ góc cạnh thường dễ đứt gẫy hơn. Trong quá trình thay đổi phương thức chế tạo, các nghiên cứu viên sử dụng hình thức giữ đầu tằm và kéo tơ tằm đang nhả theo một đường thẳng với cùng một tốc độ thì kết quả cho thấy tơ tằm đuợc kéo ra không hề kém tơ nhện.   Nhị Giang dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu sự sống trong vũ trụ: liệu có quá sớm?      Trong sự đối sánh với vũ trụ, sự sống ngày nay của chúng ta mới chỉ đang ở dạng sơ khai.      Sự sống trên Trái đất là sơ khai so với vũ trụ?  Vũ trụ 13,8 tỉ năm tuổi, trong khi hành tinh của chúng ta chỉ mới hình thành cách đây 4,5 tỉ năm. Căn cứ vào khoảng cách này, một số nhà khoa học cho rằng sự sống trên các hành tinh khác có thể còn lâu đời hơn chúng ta tới hàng tỉ năm. Tuy nhiên, theo một công bố mới do nhà khoa học Avi Loeb tại Trung tâm Vật lý học Thiên thể Harvard-Smithsonian đứng đầu thực hiện và được đăng tải trên tạp chí Journal of Cosmology and Astroparticle Physics thì trong sự đối sánh với vũ trụ, sự sống ngày nay của chúng ta mới chỉ đang ở dạng sơ khai và sự sống trong vũ trụ có khả năng còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai xa.  Như những gì chúng ta đã biết, cuộc sống bắt đầu hình thành khoảng 30 triệu năm sau vụ nổ lớn Big Bang, khi các ngôi sao đầu tiên gieo vào vũ trụ những hạt giống cần thiết của cuộc sống như khí carbon và oxy. Cuộc sống sẽ kết thúc sau 10 tỷ tỷ năm nữa, khi những ngôi sao cuối cùng tắt đi và chết. Nhóm nghiên cứu trên đã tìm hiểu tính khả thi của sự sống trong khoảng thời gian giữa hai mốc đó. Kết quả cho thấy, yếu tố chính ở đây là tuổi đời của các ngôi sao. Ngôi sao nào có khối lượng càng lớn thì tuổi đời càng ngắn. Những ngôi sao có khối lượng lớn hơn khối lượng mặt trời gấp ba lần sẽ tắt trước khi cuộc sống kịp có cơ hội tiến hóa.  Ngược lại, những ngôi sao nhỏ nhất có khối lượng ít hơn mặt trời dưới 10%. Những ngôi sao này sẽ còn tiếp tục tỏa sáng trong 10 tỷ tỷ năm, và như vậy, sự sống có đủ thời gian để xuất hiện tại bất kỳ hành tinh nào xung quanh những ngôi sao này. Kết quả là, khả năng tồn tại sự sống sẽ phát triển dần theo thời gian. Trên thực tế, cơ hội xuất hiện cuộc sống trong tương lai còn cao hơn hiện nay tới 1.000 lần.  Ở đây đặt ra câu hỏi: tại sao sự sống lại xuất hiện vào thời điểm này trên Trái đất mà không phải là trong tương lai, bên cạnh một ngôi sao có khối lượng thấp? Nhóm nghiên cứu chỉ ra hai khả năng: một là chúng ta đang ở giai đoạn sơ khai; hai là môi trường xung quanh một ngôi sao có khối lượng thấp thường lại nguy hiểm cho sự sống. Nguyên nhân là vào giai đoạn mới hình thành, những ngôi sao này phát ra những ngọn lửa và bức xạ tia cực tím rất mạnh, có thể phá hủy bầu khí quyển xung quanh bất kỳ hành tinh nào khả dĩ sinh sống được.  Để xác định xem khả năng nào là chính xác, nhóm nghiên cứu đề xuất thực hiện những nghiên cứu các ngôi sao lùn đỏ xung quanh Trái đất và các hành tinh của chúng để tìm kiếm dấu hiệu của sự sống.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu tác dụng chống đái tháo đường của lá cây quả nổ      Nghiên cứu nhóm tác giả ở Viện Khoa học vật liệu ứng dụng (TPHCM) cho thấy, lá cây quả nổ có các hợp chất có khả năng ức chế α-glucosidase, mở ra tiềm năng ứng dụng cây dược liệu này vào sản xuất điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2.    Trong điều trị đái tháo đường, cần kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường, đặc biệt là hạn chế tăng glucose máu sau ăn. Để kiểm soát glucose máu, ngoài các biện pháp giảm cân, luyện tập và thay đổi chế độ ăn uống, người ta còn sử dụng các thuốc điều trị, bao gồm thuốc ức chế α-glucosidase có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu.  Những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất ức chế α-glucosidase từ nhiều nguồn khác nhau như vi sinh vật, thực vật hoặc tổng hợp. Có hơn 1.000 loài cây được xác định có khả năng kiểm soát glucose máu và ít tác dụng phụ, trong đó có nhiều cây đã được nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, như lá ổi, trà xanh, khổ qua, lá vối, cây quả nổ, lá sen, quế,…  Cây quả nổ thuộc họ Acanthaceae (Ruellia tuberosa L.), có nguồn gốc từ Nam Mỹ, là dược liệu mọc hoang khá phổ biến tại Việt Nam. Trong y học dân gian, cây quả nổ được sử dụng để điều trị bệnh thận, hạ sốt, giảm đau, chống tăng huyết áp, trị đái tháo đường, chống oxy hóa, chống ung thư, kháng viêm, kháng khuẩn,… Tuy nhiên, còn rất ít nghiên cứu trong nước về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của loài này.  Nhóm nghiên cứu ở Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng đã thực hiện nghiên cứu “Khảo sát thành phần hóa học và nghiên cứu định hướng ứng dụng chống đái tháo đường của lá cây quả nổ”, để đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu sau ăn, ức chế α-glucosidase của lá cây quả nổ.    Cây quả nổ. Ảnh: NNC  Lá tươi sau khi thu hái, được làm sạch, phơi khô và xay nhỏ 3 – 4mm. Mẫu khô được đem chiết xuất để thu cao tổng hợp ethanol bằng phương pháp chiết lỏng – rắn với ethanol 70% trong 3 ngày. Sau đó, nhóm chiết xuất, phân lập, xác định cấu trúc các hợp chất và đánh giá tác dụng ức chế α-glucosidase của cao chiết thô và các phân đoạn của lá cây quả nổ.  Nhóm đã phân lập và xác định được 4 hợp chất từ cao chiết lá quả nồ: Lupeol, Siryngaresinol, Apigenin, Verbascoside. Thử nghiệm cho thấy, các hợp chất này có khả năng ức chế α-glucosidase mạnh hơn chứng dương acarbose (một loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường). Trong đó, hợp chất Siryngaresinol là chất ức chế α-glucosidase mạnh nhất. Đặc biệt đối với dịch chiết lá quả nổ nếu sử dụng dung môi ethyl acetate, thì các hoạt chất mạnh hơn khoảng 19 lần so với chứng dương acarbose.  Kết quả nghiên cứu đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm qua, là cơ sở khoa học cho việc ứng dụng cây quả nổ để sản xuất thuốc trong điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2.  KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu từ nhu cầu doanh nghiệp      Từ nhiều năm nay, TPHCM khẳng định là địa phương tiên phong trong gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với nhu cầu của thị trường. Nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc được triển khai. Trong đó, thành công nhất có thể kể đến chương trình chế tạo thiết bị thay thế nhập khẩu và robot công nghiệp. Theo Sở KH&amp;CN TPHCM, các đề tài sau nghiệm thu được ứng dụng giúp doanh nghiệp tiết kiệm tiền tỷ mỗi năm.       100% nghiên cứu có hiệu quả   Giống như nhiều công ty chuyên sản xuất mặt hàng xúc xích, Công ty TNHH Việt Nam Kỹ nghệ súc sản – VISSAN gặp không ít khó khăn khi tìm giải pháp công nghệ có khả năng tự động hóa trong việc cấp liệu cho máy đóng gói xúc xích.   Theo tính toán, mỗi năm chi phí lương cho số công nhân vận hành công việc này lên đến 672 triệu đồng/máy. VISSAN đã chủ động tìm kiếm công nghệ từ nước ngoài nhưng cuối cùng phải bỏ qua bởi giá thành quá cao hoặc không tương thích được với các dây chuyền đóng gói hiện tại. Bởi thế, khi được PGS-TS Nguyễn Hồng Ngân (Công ty Sao Việt) đề xuất nghiên cứu một dây chuyền nhập liệu có khả năng tương thích và giá thành rẻ, VISSAN đã đồng ý.  Sau 1 năm nghiên cứu, theo cơ chế đồng hỗ trợ từ Sở KH&CN TPHCM thông qua chương trình chế tạo thiết bị thay thế nhập khẩu, dây chuyền tự động nạp xúc xích cho máy đóng góp đã ra đời.   Ứng dụng thử nghiệm gần 3 tháng, hoạt động sản xuất tại VISSAN đã thay đổi rõ rệt, năng suất cao hơn, hàng lỗi ít hơn. Đặc biệt, mỗi máy chỉ cần 2 công nhân đứng máy thay cho 7 công nhân như trước đây. Chi phí lương dự tính chi cho công nhân đứng một máy cũng giảm chỉ còn 192 triệu đồng/năm.  Một dự án khác cũng hiệu quả không kém là máy đóng gói tự động định lượng bằng cân điện tử của Công ty A.K.B, xuất phát từ nhu cầu thị trường về định lượng chính xác cho máy đóng gói tự động. Nhóm kỹ sư Công ty A.K.B đã tìm hiểu, giải mã công nghệ và kết quả là dòng máy đóng gói có năng suất và độ chính xác cao, đáp ứng được yêu cầu khắt khe đối với việc đóng gói sản phẩm tại Công ty cổ phần Thuốc sát trùng Việt Nam. Cùng với đó, giá mỗi máy chỉ bằng khoảng 20% (600 triệu đồng) so với máy nhập từ Mỹ…  Theo Sở KH&CN TPHCM, từ năm 2008 đến 2013, chương trình chế tạo thiết bị sản phẩm thay thế nhập khẩu đã có sức lan tỏa rất lớn. Có 13 doanh nghiệp tham gia đầu tư 64,9 tỷ đồng cho chương trình; 100% đề tài, dự án của chương trình đều có địa chỉ ứng dụng tại doanh nghiệp; trong đó 82,7% các dự án thực hiện thuộc các ngành ưu tiên của thành phố, như cơ khí, điện tử – công nghệ thông tin, hóa dược, nhựa – cao su… Đặc biệt hơn, các sản phẩm từ các dự án chuyển giao cho doanh nghiệp với giá bán trung bình rẻ hơn 20% – 60% so với giá nhập khẩu.  Băn khoăn nguồn vốn  Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KH&CN TPHCM, nhận định, chương trình chế tạo thiết bị thay thế nhập khẩu và robot công nghiệp là một trong những chương trình đặc thù nhất của thành phố. Cho đến nay, chưa có chương trình nào trên cả nước đạt được, đó là sự gắn kết giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nước theo hướng doanh nghiệp làm trung tâm.   Trong suốt quá trình triển khai, Sở KH&CN đã từng bước thay đổi nội dung và mục tiêu của chương trình cho phù hợp với thực tế đòi hỏi của doanh nghiệp. Đặc biệt, chương trình tập trung vào các lĩnh vực thành phố ưu tiên như cơ khí, điện tử – công nghệ thông tin, hóa dược, nhựa – cao su, năng lượng mới, năng lượng tái tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ phát triển công nghệ cao.  Tuy nhiên, vấn đề băn khoăn nhất hiện nay chính là nguồn kinh phí cấp cho mỗi dự án. Đại diện một doanh nghiệp từng tham gia chương trình cho biết, mức kinh phí cao nhất mà Sở KH&CN được phép duyệt hỗ trợ ngay khi có đề nghị của doanh nghiệp đến nay chỉ dừng lại ở con số 600 triệu đồng. Nếu cao hơn, doanh nghiệp phải có sự chấp thuận của UBND TPHCM.   Đối với các đề tài, dự án nghiên cứu thì hợp lý, tuy nhiên với chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thì quá ít ỏi. Chưa kể, nếu phải qua nhiều cửa, nhiều con dấu, thời gian chờ đợi sẽ kéo dài. Đến khi nhận được hỗ trợ, đã mất đi tính thời điểm trong đầu tư cải tiến công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp.   Vì vậy, để hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp trong thời gian tới, UBND TPHCM cần có cơ chế mở rộng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp được tốt hơn để thúc đẩy nền công nghiệp của thành phố xứng đáng là nền công nghiệp đầu tàu của cả nước.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu ứng dụng chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ nông sản      Suy nghĩ về vấn đề bức bách nhất mà ngành nông nghiệp chưa làm được là ổn định đầu ra của sản phẩm, GS Võ Tòng Xuân có bài viết đề cập các tình huống dẫn đến những thất  bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích  những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để  tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ.    Trong hơn 2 thập kỷ rồi, mặc dù có nhiều thiên tai, dịch bệnh, nhưng  nông dân sản xuất thường trúng mùa, nhưng giá bán nông sản thường là  không trúng, hàng hoá bán cho thương lái quá rẻ, nhiều khi vẫn khó tìm  người mua. Lợi tức nông dân ngày càng giảm khi sản lượng ngày càng tăng.  Cả nông dân và Nhà nước đều thấy rõ làm tăng sản lượng thì dễ nhưng làm  tăng lợi tức thì rất lúng túng. Một trong các nguyên nhân chính là thị  trường.  Trong bài này tác giả đề cập đến các tình huống dẫn đến những thất bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ; việc triển khai một chương trình nghiên cứu ứng dụng để tìm ra khung chính sách đồng bộ về chiến lược phát triển thị trường, bắt đầu từ xác định các mặt hàng có lợi thế tương đối vùng nhiệt đới, tổ chức nghiên cứu toàn diện về sản xuất, chế biến và bảo quản mặt hàng, chính sách thuế hấp dẫn các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất mặt hàng, tổ chức tìm thị trường và giữ thị trường, cung cấp thông tin thị trường, tổ chức sản xuất qui mô lớn bằng các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) hoặc trang trại, sửa đổi thêm nữa các luật đầu tư và luật hợp đồng để các nhà đầu tư yên tâm; tầm quan trọng các công tác chuẩn bị hội nhập toàn cầu như đẩy mạnh giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành, đặc biệt ngành quản lý, kinh doanh nông nghiệp và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn.    Đặt vấn đề  Là một nước có trên 70% dân số sống về nghề nông, chúng ta đã thấy rõ rằng nếu ta không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước – nhất là thị trường quốc nội – nông, ngư dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp nước nhà không thể tiến xa hơn nữa. Các nước chung quanh ta đã thấy vấn đề trước ta từ lâu, và đang tiếp tục cải tiến phẩm chất và sản lượng nông thuỷ sản của họ. Thậm chí một số nước không làm nông nghiệp, như Singapore hoặc Hồng Kông, đã nhập nguyên liệu nông thủy sản của nước khác về chế biến lại theo tiêu chuẩn cao để tái xuất. Như vậy một quốc gia sản xuất nông thủy sản với khối lượng lớn như Việt Nam phải làm gì để có thị trường ổn định cho nông dân được nhờ?  Một chiến lược chắc thắng nào cũng phải bắt đầu từ nguyên lý cơ bản “biết người biết ta”. Chúng tôi tin rằng đến giờ này các cấp lãnh đạo đều đã thấy hiện trạng phân phối, xuất khẩu nông sản của nước ta còn quá kém, chưa làm cho nông dân giàu, do đó Đảng đã có NQ26 từ Hội nghị TW7 (Khóa X) hy vọng nông dân sẽ được làm giàu, nông thôn khang trang trong một nền nông nghiệp hiện đại. Mà muốn làm được cho thành công thực sự thì cần phải thực hiện trước tiên một số nghiên cứu ứng dụng những phương pháp/kinh nghiệm thành công của những quốc gia đi trước ta. Trong bài này tôi xin nêu một kinh nghiệm rất thành công của Malaysia và Nhật Bản mà chúng ta có thể vận dụng trong hoàn cảnh Việt Nam.  Phát triển thị trường  Trong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt, người ta càng thấy vai trò của việc phát triển thị trường càng trở nên bức thiết.  Nông dân chúng ta có thể trồng hầu hết mọi nông sản nhưng không thể tiêu thụ hết các sản phẩm vì không có thị trường. Một nông dân cá thể chỉ có thể sản xuất theo kiểu tự cấp thì được, nhưng muốn sản xuất hàng hoá thì phải kết hợp nhau lại để có thể sản xuất khối lượng lớn, chất lượng cao, cung cấp đúng thời điểm, và giá phải cạnh tranh. Việc xác định mặt hàng nào cần sản xuất phải được điều nghiên thị trường một cách khoa học và chu đáo, không thể dựa vào mắt thấy láng giềng bán được rồi mình cũng bắt chước sản xuất theo. Đối với một nước kém phát triển như ta, nông dân còn nghèo, phần lớn các công ty tư nhân chưa phát triển, và phần lớn các công ty quốc doanh lại kém năng động, Nhà nước cần phải có chính sách đồng bộ để tạo thị trường, kể cả việc các nguyên thủ quốc gia đi công du các nước bạn cũng là để mở thị trường như chính sách đồng bộ của Chính phủ Malaysia trong chiến lược đưa cây cọ dầu thành mũi nhọn xuất khẩu.                Nhìn chung, nông dân ta, nhất là nông dân trồng lúa, hễ vừa thu hoạch là lo bán tháo bán đổ vì phải lo trả nợ phân bón, nông dược quá cao, nếu trễ sẽ chịu lãi suất cao hơn. Hiện tượng đó chứng tỏ nông dân ta còn nghèo quá. Làm ra nông sản chỉ để cho ai làm giàu mà mình thì tiếp tục nghèo muôn thuở. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa. Hoàn cảnh này đáng lý không thể tồn tại trong một nước xã hội chủ nghĩa.          Một cuộc gặp gỡ tuy đã 43 năm rồi mà vẫn còn một dấu ấn rất sâu trong tâm trí tôi đó là lần tôi tham gia đoàn thanh niên Á châu sang thăm nước Malaysia năm 1968 và vinh dự được Thủ tướng Tungku Abdul Raman tiếp. Thủ tướng Tungku cho chúng tôi biết trong vòng 20 năm sau Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ. Nhóm thanh niên chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó, nhất là khi chúng tôi không hiểu rõ cây cọ dầu là thứ gì mà được chú ý hơn cây lúa như vậy. Qua buổi nói chuyện, chúng tôi thấy hiện ra cả một chiến thuật mà vị Chỉ huy trưởng Tungku đã phác họa lên:    Tại sao chọn cây cọ dầu làm cây chiến lược? Đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, chắc chắn mọi người – nhất là những người giàu – sẽ là khách hàng thường xuyên. Thứ nữa là cây cọ dầu rất thích hợp điều kiện ẩm ướt quanh năm, mà Malaysia nằm gần ngay xích đạo nên lượng mưa phân bố đều suốt 12 tháng trong năm thật là lý tưởng.    Làm sao cho dân hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu?  – Trước tiên Chính phủ đầu tư cho ngành nông nghiệp nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, và nghiên cứu phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được đưa cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn cho nông dân.    – Đồng thời Chính phủ công bố chính sách ưu đãi về thuế: miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn 5 năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu.    – Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.    – Đồng thời Nhà nước lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (NHTG) để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi FELDA). Vốn NHTG được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường xá giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện, và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một cái nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo qui định của NHTG bắt đầu khi cây cọ có trái và chủ hợp đồng bắt đầu giao cọ dầu cho nhà máy sơ chế.    Làm sao tiêu thụ cọ dầu?    – Chính phủ lập ra Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu.    – Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu các mặt hàng từ dầu cọ. Nhờ vậy mà khách hàng khắp nơi đã đặt mua dầu cọ.    Tôi có nhiều dịp đi Malaysia sau đó và đã thăm nhiều vùng trồng dầu cọ trong các FELDA và trang trại của dân, và được biết rằng dân hợp đồng trong FELDA thường đã trả hết nợ sau 15 năm và họ làm chủ căn nhà và lô đất đã hợp đồng. Và dĩ nhiên ngày nay Malaysia thật sự là bá chủ thế giới về xuất khẩu cọ dầu.   Như thế, các điều kiện do Nhà nước tạo ra như trên đã đóng vai trò quyết định cho sự thành công của Malaysia trong lãnh vực phát triển cọ dầu.  Thông Tin Thị trường  Nông dân và các nhà sản xuất của chúng ta thường không nắm đủ các thông tin thị trường, vì nhiều lý do khách quan và một lý do chủ quan dễ nhận ra nhất: ít chịu bỏ công và bỏ của để điều nghiên thị trường, mà chỉ bắt chước láng giềng là chính (trồng dừa, cà phê, tiêu, điều, bạch đàn,  cây ăn trái, nấm rơm…; nuôi tôm, cua…).  Và trồng một thời gian rồi chặt. Những nhà sản xuất thành công thường để nhiều công sức để nghiên cứu thị hiếu của khách hàng (để biết chất lượng cỡ nào, bao bì đóng gói thế nào, v.v.) để tổ chức sản xuất theo thị trường đó.                  Các nhà sản xuất cần có tai mắt tại các vùng trọng điểm tiêu thụ hàng và vùng sản xuất hàng để nắm càng chính xác càng tốt khối lượng mặt hàng đang và sắp sản xuất, thời điểm thu hoạch, chiều hướng giá cả lên xuống… để liệu định sản xuất của mình. Nếu không nắm được thì rất dễ bị hố.  Về lâu dài, Nhà nước cần có dự báo chiến lược sản xuất các sản phẩm nào để có biện pháp đồng bộ từ tổ chức nông dân sản xuất đến việc tạo thị trường. Nhà nước không nên để mặc cho dân tự phát sản xuất, dẫn đến sự ứ đọng hàng hoá như hiện nay.        Nông dân các nước giàu đã thấy rõ phải gia nhập hợp tác xã hoặc nông hội mới làm ăn hiệu quả được. Ở Hà Lan, một quốc gia châu Âu có diện tích chỉ tương đương với diện tích đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết nông dân đều có cổ phần làm chủ một hệ thống hợp tác xã nông nghiệp giàu nhất châu Âu, đầu tư xây dựng nhiều công ty xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, và hợp tác xã của họ cũng làm cả dịch vụ ngân hàng để tài trợ cho các đầu tư của Hà Lan ra nước ngoài. Hoặc ở Nhật Bản, tầng lớp nông dân cũng rất giàu, họ là chủ nhân của hàng nghìn công ty xí nghiệp lớn nhỏ sản xuất và chế biến hàng hoá bán khắp nước Nhật và xuất khẩu. Họ mướn hàng trăm ngàn nhân viên tốt nghiệp đại học các ngành để làm việc cho họ trong các văn phòng giao dịch, ngân hàng tín dụng, công ty xí nghiệp chế biến, cung cấp nông sản, xuất khẩu, v.v.   Người tốt nghiệp các trường đại học, hoặc trường chuyên nghiệp, có nơi thu dụng, xã hội nông thôn ngày càng văn minh hơn không khác gì thành thị.            Đã đến lúc nông dân chúng ta phải họp nhau lại để chuẩn bị đối đầu với cạnh tranh quốc tế, không thể tiếp tục cuộc đời cá thể lạc hậu như ngàn năm Ông Bà để lại. Vấn đề cần thiết ở đây là Nhà nước phải có một khung chính sách đồng bộ để tạo điều kiện cho nông dân tự giác tham gia làm chủ các HTX hoặc Nông hội.    Sau khi Nhật thua trận vì hai quả bom nguyên tử hủy hại nhiều thành phố Nhật vào năm 1945, nông dân Nhật trở nên rất nghèo, Chính phủ Nhật tham khảo các mô  hình phát triển của các nước áp dụng trong phát triển nông thôn và đến năm 1948 mới quyết định chọn mô hình Nông hội phỏng theo kiểu Đan Mạch để áp dụng cho toàn nước Nhật. Qua nhiều điều chỉnh cho phù hợp thêm với xã hội Nhật, Nông hội Nhật hiện nay là tổ chức kinh tế mạnh nhất và giàu nhất của nông dân nhờ chính sách nâng đỡ của Nhà nước. Nguyên tắc cơ bản nhất của Nông hội, và của các HTX tại các nước tiến bộ, làm chủ thật sự của nông dân; Nhà nước chỉ nhúng tay vào bằng các biện pháp và chính sách.  Một nông dân chỉ làm chủ Nông hội (NH) khi nào có số vốn góp vào quỹ của Nông hội và được quyền thật sự chọn người quản lý và thực hiện các hoạt động tín dụng, kỹ thuật, và kinh doanh cho mình. Thí dụ, để cho từng nông dân góp vốn vào quỹ NH để NH có thể cho nông dân vay lại, Nhà nước Nhật bảo đảm lãi suất vốn bỏ vào đó tương đương với lãi suất của ngân hàng thương mại. Đồng thời Nhà nước nâng đỡ nông dân bằng cách ấn định lãi suất cố định đối với vốn nông dân vay. Nếu lãi suất ngân hàng thương mại tăng thì Nhà nước bù vào chênh lệch lãi suất cho Nông hội. Vì vậy mọi người nông dân Nhật đều bỏ tiền vào quỹ tín dụng của Nông hội, không dại gì gửi tiền vào ngân hàng thương mại.  Nhưng trong giai đoạn đầu nông dân quá nghèo chưa thể có tiền gửi vào quỹ Nông hội, Nhà nước ứng trước để vào quỹ của Nông hội để các nông dân vay để sản xuất theo hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khuyến nông, vài mùa sau là họ có dư vốn để góp vào quỹ Nông hội. Nhờ chính sách nâng đỡ của Nhà nước (chủ yếu qua chênh lệch lãi suất) mà nông dân ngày càng đóng góp cổ phần vào NH. Nông hội từng huyện phát triển lo cho mọi mặt sản xuất của nông dân. Ngày nay họ có những cửa hàng vật tư, những công ty xí nghiệp chế biến nông sản bảo đảm tối đa chất lượng và khối lượng sản phẩm đúng yêu cầu thời gian đặt hàng của các khách hàng (gồm hệ thống các siêu thị tại khắp nước Nhật và nước ngoài). Xí nghiệp cơ bản quan trọng nhất của Nông hội đối với tất cả nông dân Nhật là xí  nghiệp chế biến gạo (country grain elevators). Sau khi gặt lúa nông dân giao toàn bộ số lúa đó cho xí nghiệp chở về nhà máy sấy khô ngay để giữ phẩm chất gạo, xay xát và bảo quản. Chủ lúa yên tâm là tiền lúa của mình đã được gởi vào ngân hàng của Nông hội.  Nông hội mua vào 2,6 USD/kg ; chế biến đóng gói bán lẻ 5-6USD/kg gạo. Tiền lời được chia trở lại cho các hội viên. Chính phủ bảo vệ mậu dịch cho nông dân trồng lúa có lợi. (ở đây tác giả muốn nhấn mạnh là chỉ mô tả nguyên xi cách làm của Nhật Bản mà không có ý muốn đề nghị chính sách bù lỗ tương tự cho Việt Nam do hoàn cảnh ngân sách eo hẹp của xứ nhà). Các nông sản khác cũng được xử lý theo qui trình tương tự. Nói cách khác, Nông hội lo cho nông dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với mức lời tối đa, giảm bớt hầu hết các trung gian.    Nước ta có điều kiện làm cho nông dân giàu như Nhật không?   Căn cứ vào những thành tích đạt được mấy năm qua, tôi nghĩ nếu chúng ta muốn, thì ta dư sức làm được. Những năm vừa qua, nông dân thuộc Nông trường Sông Hậu và Nông trường Cờ Đỏ của tỉnh Cần Thơ rất phấn khởi sau khi thu hoạch lúa. Họ không còn lo bán lúa có được hay không, vì đã có nông trường tiêu thụ toàn bộ sản phẩm.  Một số chính sách khác  Khả năng xuất khẩu nông thủy sản của chúng ta càng lớn hơn nữa nếu có các công ty nước ngoài đầu tư sản xuất trên đất Việt Nam, đầu tư bằng vốn nước ngoài 100% hoặc hợp tác với công ty trong nước. Đã có nhiều công ty đầu tư vào rồi, nhưng với cung cách làm ăn của chúng ta, từ năm 1998 đến 2000, liên tiếp các công ty phải rút lui, doanh số đầu tư nước ngoài ngày càng giảm. Những nguyên nhân chính khiến họ ra đi vì luật pháp về hợp đồng của chúng ta còn lỏng lẻo, luật đầu tư còn nhiều điểm khắt khe, đe dọa của quốc doanh luôn luôn còn đó, khiến họ thấy đầu tư vào Việt Nam, một nước tuy có điều kiện an ninh lý tưởng, nhưng có rất nhiều rủi ro.  Nhìn ra thế giới, các nước Thái Lan, Malaysia, Philippines khôi phục lại rất nhanh sau đợt khủng hoảng kinh tế vừa qua nhờ họ tái thu hút đầu tư nước ngoài. Thậm chí như nước Nhật đã giàu như thế mà lượng tiền nước ngoài đầu tư vào Nhật cũng vẫn cứ tăng đều. Các nhà làm chính sách của chúng ta cần nhanh chóng thay đổi.  Đề xuất nghiên cứu ứng dụng mô hình kinh doanh NN theo chuỗi giá trị  Một hướng đi mới để thực hiện NQ26 là, một số nhà đầu tư khác đang xây dựng Công ty Cổ phần Nông nghiệp (CPNN) Đồng bằng sông Cửu Long trụ sở đặt tại An Giang. Hạt nhân của công ty là cụm công nghiệp sẽ được xây dựng tại huyện Phú Tân gồm hệ thống kho chứa lúa gạo, máy sấy lúa, nhà máy xay xát, đánh bóng gạo, đóng gói theo đơn đặt hàng, máy phát điện bằng gas trấu, nhà máy thức ăn gia súc. Bộ phận nông nghiệp của công ty sẽ tổ chức nông dân sản xuất thành các hợp tác xã, được huấn luyện tay nghề trồng lúa theo tiêu chuẩn VietGAP, được ứng trước vốn chuẩn bị đất, hạt giống, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh. Lúa ướt mới gặt được đưa về cụm nhà máy để chế biến theo chuỗi giá trị gia tăng. Xã viên không lo bị rớt giá nữa. Tiến tới, các xã viên sẽ được quyền mua cổ phần của công ty (dùng lúa đổi lấy cổ phiếu) để cuối năm được chia lời.                   Tuy nhiên mô hình trên đây chưa được nghiên cứu một cách khoa học để có thể kết luận một cách chắc chắn cho Đảng và Nhà nước có thể có cơ sở khoa học mà xây dựng chính sách mới cho nông nghiệp. Chúng ta cần nghiên cứu các mô hình ứng dụng này theo các nội dung sau đây:  Nòng cốt của Công ty CPNN là cụm nhà máy chế biến tổng hợp kể cả sử dụng các phụ phẩm từ hạt lúa. Hình thức đầu tư thế nào (Malaysia vay tiền của NHTG, ta thì Nhà nước có giúp vay vốn không? Hay cứ để mặc cho các tư nhân hùn vốn vào cổ phần?);  Nông dân mua cổ phần thế nào? (mỗi kỳ thu hoạch sản phẩm sẽ trích một phần sản phẩm để đổi lấy cổ phiếu được không?);  Chính sách bảo đảm giá nông sản cho các cổ đông nông dân: Nông dân bán lúa/nông sản nguyên liệu cho nhà máy vào thời điểm giá nông sản là xxxx đồng. 10 ngày sau công ty thanh toán tiền cho nông dân mà giá thị trường là xxxx-200 đồng, thì công ty vẫn trả cho cổ đông nông dân xxxx đồng; ngược lại nếu giá thị trường là xxxx+500 đồng, thì công ty vẫn trả cho nông dân xxxx+500 đồng. Nói cách khác, cổ đông nông dân không bị mất mát như lúc làm ăn với thương lái. Trường hợp công ty lỗ 200 đồng nói trên, xin Nhà nước có chính sách bù lỗ cho nông dân, như các cường quốc Mỹ, EU, Nhật Bản đang làm hằng năm cho nông dân họ.  Chia lời cuối năm của công ty cổ phần: ngoài chia lãi cổ tức, có nên thưởng theo tỷ lệ cho nông dân bán lúa cho công ty?  So sánh thu nhập của cổ đông nông dân và nông dân không tham gia công ty.  KẾT LUẬN  Việt Nam quyết tâm đuổi theo hướng của các con rồng châu Á. Nhưng mọi người chúng ta đều biết ta càng đuổi, họ càng bay cao, chớ không ai dừng lại chờ ta. Hàng nông thủy sản Việt Nam trong thời gian tới có thắng được hàng nước khác hay không còn do ta có sản xuất theo chất lượng mà khách hàng mong muốn, với giá thành thấp nhất hay không. Vì thế việc sống còn của nông thủy sản Việt Nam chính là “chất lượng và giá rẻ”. Phải có hợp tác giữa lực lượng sản xuất nguyên liệu và các doanh nghiệp đầu ra. Từng người nông dân và ngư dân phải có ý thức về “chất lượng và giá rẻ” trong khi sản xuất tại đồng ruộng, đồn điền, rẫy báy; hay trên thuyền đánh cá, vuông tôm, v.v. theo đúng tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP theo hướng dẫn của chuyên môn. Các công ty, xí nghiệp sản xuất/chế biến hàng xuất khẩu càng cần phải quan tâm đầu tư bảo quản chất lượng của sản phẩm ngay từ lúc nông, ngư dân thu hoạch, và tổ chức sản xuất sao cho giá thành thấp nhất. Trên hết Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý nêu trên đây để kích thích nông dân và các công ty, xí nghiệp hăng say sản xuất, bảo đảm cho sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu và đào tạo nông nghiệp 4.0 (Kỳ 2)      Giáo dục – nghiên cứu nông nghiệp 4.0 là một cuộc cách mạng để xây dựng các cơ sở đào tạo – nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân hợp tác chặt chẽ tạo ra hệ thống nghiên cứu – đổi mới sáng tạo vận hành liên tục, biến các mảnh ruộng và người nông dân trở thành các cơ sở và nhà nghiên cứu cung cấp số liệu để các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp tạo ra sản phẩm nông nghiệp 4.0. Xây dựng được hệ thống thu thập số liệu lớn (big data) một cách đồng bộ và đa chiều, phân tích số liệu và tạo ra các gói giải pháp để người dân sử dụng dễ dàng là yếu tố cốt lõi. Để làm được điều này, chính sách giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng. Đồng thời mỗi quốc gia có định hướng phát triển nông nghiệp khác nhau, cũng sẽ có các chiến lược giáo dục đào tạo nông nghiệp riêng. Hiện chưa có nhiều thông tin và bài học về giáo dục nông nghiệp 4.0 nhưng để thích ứng và hướng tới một nền nông nghiệp 4.0 nhất thiết phải nâng cao trình độ nhận thức và hướng tới một nền giáo dục đổi mới sáng tạo liên tục.      Hình 3. Hệ thống hàng trăm trường đại học và cao đẳng Land-grant được tạo ra chủ yếu vào năm 1862 (hình tròn), năm 1890 (hình sao) và năm 1994 (hình vuông) trên khắp các vùng nông nghiệp trọng điểm của nước Mỹ với nhiệm vụ chuyển giao kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển nông nghiệp.  Bài học kinh nghiệm của các nước  Tại Mỹ:  Đạo luật Morill Act (luật cấp đất – Land Grant- xây dựng trường nông nghiệp) từ những năm 1862, được đánh giá là đạo luật quan trọng nhất tạo ra một nền tảng giáo dục nông nghiệp gắn nghiên cứu của hàng trăm trường đại học Land Grant (hiện nay đều là các trường ĐH hàng đầu thế giới như UC Davis, Cornell, Florida, ĐH Bang Kansas trên toàn bộ nước Mỹ….) với các vùng sản xuất nông nghiệp trọng yếu (Hình 3). Ngay từ những năm 1918 Whitman H. Jordan đã phân tích về tương lai của giáo dục nông nghiệp của Mỹ và đăng trên tạp chí uy tín nhất thế giới, Science. Trong đó nhấn mạnh vai trò của nền giáo dục nông nghiệp đại chúng tạo ra từ luật Cấp đất mà mỗi đại học tạo ra là một trung tâm khuyến nông xuất sắc.  Ngoài việc nghiên cứu các lĩnh vực cơ bản, nghiên cứu phát triển trong các cuộc cách mạng nông nghiệp trước đây. Hiện nay các nhóm nghiên cứu mới đã hình thành để đáp ứng nền nông nghiệp 4.0 như đã trình bày ở Phần 1. Trong giai đoạn phát triển nông nghiệp 4.0 với việc số hoá nông nghiệp trên chính các trang trại của người dân, vai trò nghiên cứu và khuyến nông của các trường đại học Land- grant tiếp tục là then chốt tạo ra một nền giáo dục nông nghiệp đổi mới sáng tạo (innovation).  Tại Hà Lan:  Khác với mô hình phát triển nông nghiệp của Mỹ dựa trên diện tích lớn, Hà Lan phát triển của một nền nông nghiệp – thực phẩm phức hợp (food – agri complex). Chiến lược của Hà Lan là nhập khẩu các loại sản phẩm thông dụng thô như hạt lương thực, đậu tương…. và xuất khẩu các sản phẩm giá trị cao và các sản phẩm chế biến (từ sản xuất rau, hoa và sản phẩm chăn nuôi). Vì vậy, tại Hà Lan kiến thức chuyên sâu và công nghệ cao (Hình 4) rất cần ở tất cả các thành phần và khâu trong chuỗi sản xuất để các chuỗi sản xuất này cạnh tranh toàn cầu. Xuất khẩu nông sản của Hà Lan đạt khoảng 100 tỷ USD, đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Mỹ (Hà Lan có diện tích đất đứng thứ 133 thế giới, chỉ bằng khoảng 1/10 của Bang Kansas Mỹ). Trong nhiều năm chính phủ Hà Lan hướng tới một nền giáo dục nông nghiệp để đào tạo kiến thức cho đến từng người nông dân và mỗi hộ nông dân hoạt động như những doanh nghiệp, có khả năng sản xuất và đủ trình độ quyết định đầu ra cho sản phẩm của mình.     Hình 4. Một biển nhà kính (chiếm đến 80% diện tích đất canh tác của vùng) sử dụng công nghệ ánh sáng nhân tạo và điều khiển khí hậu để trồng cây tại vùng Westland, Hà Lan-được xem là thủ đô nhà kính của thế giới. Có diện tích nhỏ bé, Hà lan đã trở thành một trong những nước đi đầu về đổi mới công nghệ như là tạo ra một thế giới nông nghiệp thứ hai (a tiny country feeds the world, Nationalgeographic.com, 2018).  Hệ thống giáo dục nông nghiệp của Hà Lan rất khác với Mỹ và các nước khác nơi mà giáo dục nông nghiệp ở phổ thông là môn lựa chọn. Ở Hà Lan học sinh phổ thông có thể lựa chọn môn học nông nghiệp, nhưng dành cho tuổi 15 – 18 Hà Lan có hệ thống trường đào tạo thực hành nông nghiệp, ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo giáo viên nông nghiệp và các trường đào tạo bậc đại học hướng nghiệp về nông nghiệp. Ở bậc cao đẳng và đại học (higher education), hệ thống giáo dục của Hà Lan tồn tại rất rõ hai hình thức đào tạo đại học nông nghiệp hàn lâm (university) và đào tạo hướng nghiệp/ nghề (vocational training).  Để duy trì sự phát triển một nền nông nghiệp – thực phẩm phức hợp với giá trị rất cao về kiến thức và công nghệ. Chính phủ Hà Lan đã tập trung phát triển hệ thống giáo dục nông nghiệp đổi mới sáng tạo, gắn giáo dục đào tạo trong nông nghiệp với các ngành nghề khác. Trong nghiên cứu về tương lai giáo dục nông nghiệp của Hà Lan, Mulder và Kupper 2006 chỉ ra rằng Chính phủ cần tiếp tục duy trì hệ thống nghiên cứu – đào tạo – khuyến nông, tăng cường trang thiết bị để hệ thống này tiếp tục gắn kết nhằm tạo ra hệ thống giáo dục đổi mới sáng tạo liên tục.  Mô hình thực tiễn:  Hiệp hội cây trồng: cầu nối đào tạo-nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh tại Mỹ  Tại ĐH Bang Kansas, Mỹ, PGS. TS Ignacio Ciampitty vừa là Trưởng phòng thí nghiệm nghiên cứu về sinh lý, dinh dưỡng cây trồng (tập trung vào cây ngô, đậu tương là hai cây trồng chính tại đây), đồng thời phụ trách mảng khuyến nông cây trồng của Trường. Mỗi tuần TS. Ignacio sẽ làm việc tại trụ sở chính và giành thời gian 1-2 ngày/tuần làm công tác khuyến nông tại cơ sở khuyến nông của Trường được bố trí tại chính các vùng sản xuất quan trọng trong toàn Bang Kansas (Bang Kansas có diện tích gần bằng Việt Nam). Ngoài các nghiên cứu cơ bản về sinh lý, dinh dưỡng đã được thiết lập trước đây, từ năm 2013 nhóm nghiên cứu của TS. Ignacio bổ sung thêm hướng nghiên cứu khai thác ảnh vệ tinh và máy bay không người lái, thu thập số liệu từ các hiệp hội cây trồng, cuộc thi năng suất cây trồng do Hiệp hội ngô, đậu tương tổ chức để nghiên cứu mô hình nhằm đưa ra các số liệu và khuyến nông cập nhật phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hoạt động khuyến nông của Mỹ không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp của các hiệp hội. Hiệp hội Ngô của Bang Kansas là tổ chức trung gian cầu nối giữa cơ sở nghiên cứu – người dân và doanh nghiệp. Hiệp hội Ngô có vai trò quan trọng trong hỗ trợ đào tạo nông nghiệp thông qua tổ chức các ngày trình diễn công nghệ, ngày STEM cho học sinh phổ thông, ngày hướng nghiệp cho sinh viên đại học theo tháng hay quý, tại đó trường đại học trình bày kết quả nghiên cứu mới và doanh nghiệp trình bày các gói giải pháp nông học, công nghệ nông nghiệp. Kinh phí cho hoạt động của Hiệp hội thu từ nhiều nguồn nhưng phần lớn là do đóng góp của người dân tình nguyện (theo TS. Ciampitty ít nhất 95% nông dân tình nguyện) đóng góp dựa trên sản lượng cây trồng thu được mỗi vụ. Từ các nguồn thu, Hiệp hội tài trợ trở lại cho nghiên cứu của Trường đại học.             a       b       c       d        Hình 5. Các nhóm nghiên cứu của ĐH Bang Kansas trình bày kết quả sử dụng ảnh vệ tinh và máy bay không người lái để hỗ trợ quản lý ngô, đậu tương trong ngày hoạt động thường niên của Hiệp hội Ngô tổ chức (Hình 5a, b, c); sử dụng công nghệ hiện đại cho phép Hiệp hội Ngô của Bang Kansas ước tính nhanh, chính xác với chi phí thấp tình trạng gieo trồng và nảy mầm của ngô theo thời gian của các vùng khí hậu trong Bang (Hình 5d).     Đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển nền nông nghiệp 4.0 tại Việt Nam  Vai trò của giáo dục và đào tạo là cung cấp nguồn nhân lực cho đất nước và từng bước đáp ứng nguồn nhân lực của khu vực và thế giới. Dựa trên một số thông tin và phân tích ở trên, trong bối cảnh nền nông nghiệp 4.0, giải pháp đào tạo để phát triển nguồn nhân lực trong nông nghiệp, tác giả xin đưa ra một số đề xuất như sau:  (1)    Về cơ cấu phát triển: Trước hết cần xác định được nhu cầu nguồn nhân lực của ngành nông nghiệp. Điều này cần dựa vào mục tiêu chiến lược và cấu trúc phát triển của Ngành.  –    Đối với các vùng sản xuất lớn tập trung đã sử dụng cơ giới hoá, gắn hoạt động sản xuất với hệ thống dự tính, dự báo năng suất và công tác nghiên cứu, khuyến nông của trường đại học; Cần xây dựng hệ thống khuyến nông đại học tại các vùng sản xuất lớn và trọng điểm – mô hình của Mỹ;  –    Nghiên cứu xây dựng hệ thống nông nghiệp – thực phẩm phức hợp của Hà (food – agro complex) hướng tới xuất khẩu giá trị cao và sản phẩm chế biến và sản phẩm mang giá trị bản địa. Xây dựng một hệ thống giáo dục nông nghiệp để tạo các thành phần trong chuỗi giá trị cao đó (kể cả người dân) có kiến thức và trình độ cao. Xây dựng thế hệ thống nông dân, hợp tác xã có trình độ, có khả năng xây dựng kế hoạch kinh doanh nông nghiệp của trang trại. Việc này sẽ giúp nâng cao giá trị cạnh tranh của chuỗi sản xuất nông nghiệp.  –    Phối hợp với trường đại học, xây dựng các chương trình hướng nghiệp đào tạo nông nghiệp ở cấp 3 để đào tạo đội ngũ nhân lực nông nghiệp chuyên nghiệp (mô hình của Hà Lan).  (2)    Các chương trình đào tạo: hướng đến việc hình thành một hệ thống giáo dục toàn diện tránh quá chuyên sâu. Tăng cường xây dựng chương trình đào tạo tổng hợp, khai phóng, đổi mới sáng tạo và nông nghiệp thông minh để phát triển nông nghiệp giá trị cao, bền vững và khai thác giá trị nông nghiệp bản địa.  (3)    Mô hình và đối tượng đào tạo:  –    Mô hình đào tạo: Xây dựng mô hình công viên công nghệ nông nghiệp hay thung lũng công nghệ nông nghiệp liền kề với trường đại học phục vụ tăng cường liên kết công tư trong đào tạo đổi mới sáng tạo nông nghiệp; nâng cao giá trị cạnh tranh của chuỗi sản xuất nông nghiệp (Mô hình của Hà Lan);  –    Đối tượng đào tạo: Hợp tác xã đã và sẽ chiếm vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp do có tiềm năng tổ chức sản xuất chuyên nghiệp, có khả năng nhân rộng các chuỗi sản xuất giá trị cao. Phát triển đào tạo ở Hợp tác xã đồng thời hỗ trợ công nghệ, đưa tri thức trẻ và thúc đẩy hợp tác quốc tế sẽ góp phần nâng cao nhận thức của thành viên hợp tác xã, nhanh chóng phát triển nền nông nghiệp tiên tiến.    Lời cảm ơn: Tác giả xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp đã trao đổi và chia sẻ thông tin tài liệu (PGS. TS. Ignacio ĐH Bang Kansas, Mỹ; Ông Josh Leeters, Công ty Leeters Bereau, Hà Lan, TS. Nguyễn Hồng Mạnh, Phụ trách KH&CN Đại sứ quán Việt Nam tại Đài Loan; TS. Trần Bình Đà và TS. Nguyễn Văn Lộc, Học viện NNVN, chị Hảo Linh, Tạp chí Tia Sáng; NCS Vũ Duy Hoàng, ĐH Hohenheim, CHLB Đức; NCS Nguyễn Hoàng Hân, ĐH New South Wales, Úc; Nguyễn Hương Quỳnh, cựu sinh viên tiên tiến KHCN, Học viện NNVN.  Các mô hình đào tạo đổi mới sáng tạo nông nghiệp đẳng cấp thế giới tại Hà Lan  Với định hướng là phát triển một nền nông nghiệp xuất khẩu sản phẩm cây trồng và chế biến giá trị cao, Hà Lan đã phát triển hệ thống giáo dục cho thế hệ trẻ và hệ thống giáo dục hướng nghiệp, giáo dục đại học hàn lâm có đặc thù riêng. Ngoài ra, để tạo ra một nền nông nghiệp dựa vào tri thức và có tính lan toả toàn cầu, Hà Lan đã xây dựng các thung lũng hạt giống (seed valley), thung lũng thực phẩm (food valley), trung tâm làm vườn toàn cầu, trung tâm thực phẩm toàn cầu (World horticulture Center)… phục vụ đào tạo đổi mới sáng tạo. Đầu mối để xây dựng các trung tâm này là Đại học Wageningen (www.wur.nl)- trường đại học được xếp hạng số 1 thế giới về nông nghiệp. Tại Wageningen, chương trình nghiên cứu và đào tạo được phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp. Các hướng nghiên cứu và chương trình đạo tạo mới hình thành được xây dựng theo 3 trục gắn kết và tương tác (kỹ thuật, xã hội và theo đặt hàng của doanh nghiệp). Ngoài các nhóm nghiên cứu chuyên sâu thì đa số các nhóm nghiên cứu có sự phối hợp với doanh nghiệp và các thung lũng công nghệ. Trưởng nhóm nghiên cứu trong trường đại học có thể đồng thời phụ trách các bộ phận kinh doanh thuộc trường hoặc đồng thời có thể tham gia các doanh nghiệp công nghệ tại thung lũng Thực phẩm đặt trong thành phố liền kề khuôn viên của Trường. Tổ hợp hợp tác công tư này tạo nên một Công viên Nông nghiệp và là bệ đỡ của nền nông nghiệp giá trị cao của Hà Lan (a tiny country feeds the World, National Geographic, 2018).  Tài liệu tham khảo:  1.    Ciasnocha, M., 2018. Agriculture 4.0? Insights on the Next Revolution. https://www.centerforindustrialdev.com/single-post/2018/03/05/Agriculture-40-Insights-on-the-Next-Revolution  2.    Fobes, tech, 2016. Monsanto CIO Jim Swanson Leads A Digital Revolution Of The World’s Oldest Industry.  3.    Fobes, 2016. The Next Phase For Agriculture Technology  4.    Soria, J.V 2017. AGRICULTURE 4.0: INDUSTRY 4.0 TECHNOLOGIES IN FARMING CONTEXT. Coordinator of the Advanced Information Systems Laboratory (IAAA). Universidad Zaragoza  5.    Mehta, A., 2018. Reports on how technology is revolutionising agriculture as Silicon Valley comes to the farm gate. http://www.ethicalcorp.com/future-farming-pastures-new-big-data;  6.    Nguyễn Việt Long. 2016. Hướng tới nông nghiệp công nghệ cao. Tia sáng. 2016  7.    World Economic Forum, 2016. What role will education play in the Fourth Industrial Revolution?  8.    World Economic Forum, 2016.The Fourth Industrial Revolution: what it means, how to respond?       Author                Nguyễn Việt Long        
__label__tiasang Nghiên cứu về các hạt “ma”: Cuộc tìm kiếm về nguồn gốc loài người      Trong Đài quan sát nhiệt độ thấp dưới mặt đất cho các sự kiện hiếm (CUORE), các nhà vật lý đang dùng các tinh thể ở mức nhiệt độ còn thấp hơn nhiệt độ cryo để nghiên cứu về các hạt “ma”, với hi vọng tìm được những bí mật từ điểm bắt đầu của vũ trụ. Họ mới loan báo là đã đặt được một vài giới hạn nghiêm ngặt nhất lên khả năng hạt neutrino có thể là các phản hạt của chính nó.     Các nhà khoa học CUORE là TS. Paolo Gorla (LNGS, trái) và TS. Lucia Canonica (MIT) kiểm tra các hệ thống cryo của CUORE. Nguồn: Yury Suvorov và CUORE Collaboration  Các hạt neutrino đều là những hạt khác thường, nó quá nhẹ và quá nhiều. Chúng đâm xuyên qua cơ thể chúng ta nhưng chúng ta không thể cảm nhận được nó. CUORE đã mất tới ba năm để kiên nhẫn xem xét bằng chứng về một quá trình phân rã hạt nhân đặc biệt, chỉ có thể xảy ra nếu các hạt neutrino và phản neutrino đều cùng là một hạt. Dữ liệu mới của CUORE cho thấy, sự phân rã này không xảy ra trong hàng tỉ tỉ năm. Các giới hạn của CUORE về hành xử của những hạt “ma” tí hon này đang là tâm điểm tìm kiếm cho đột phá tiếp theo của vật lý hạt và vật lý hạt nhân – và cũng là cuộc tìm kiếm về nguồn gốc của chúng ta.  “Sau rốt, chúng tôi đang cố gắng hiểu sự tạo thành của vật chất”, Carlo Bucci, nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia del Gran Sasso (LNGS) ở Italy và là người phát ngôn của CUORE, nói. “Chúng tôi đang tìm kiếm một quá trình vi phạm đối xứng cơ bản của tự nhiên”, Roger Huang, một postdoct tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Berkeley Lab) của Bộ Năng lượng Mỹ và là một trong số những người tham gia, cho biết.  CUORE – tiếng Ý là “tâm điểm” – là một trong số những thí nghiệm neutrino nhạy nhất trên thế giới. Các kết quả mới từ CUORE là dựa vào một bộ dữ liệu lớn có độ phân giải cao gấp chục lần so với các dữ liệu khác, được thu thập trong ba năm gần đây. CUORE được đặt dưới sự điều hành của một nhóm hợp tác nghiên cứu quốc tế do các nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân quốc gia Ý (INFN) và Berkeley Lab dẫn dắt. Máy dò CUORE được đặt sâu dưới lòng đất, phía dưới một dãy núi đá của LNGS, một cơ sở của INFN. Các nhà vật lý hạt nhân do Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ đóng vai trò dẫn dắt khoa học và kỹ thuật trong thực nghiệm này. Các kết quả mới của CUORE được xuất bản trên Nature.    Các hạt neutrino có mặt ở khắp mọi nơi – có hàng tỉ tỉ hạt neutrino xuyên qua người khi bạn đọc những dòng này. Chúng vô hình với cả hai lực mạnh nhất của vũ trụ là lực điện từ và lực tương tác hạt nhân mạnh, vốn cho phép chúng đâm xuyên qua con người, đâm xuyên qua trái đất và gần như không hề tương tác với bất kỳ vật chất nào.    Các hạt kỳ lạ  Các hạt neutrino có mặt ở khắp mọi nơi – có hàng tỉ tỉ hạt neutrino xuyên qua người khi bạn đọc những dòng này. Chúng vô hình với cả hai lực mạnh nhất của vũ trụ là lực điện từ và lực tương tác hạt nhân mạnh, vốn cho phép chúng đâm xuyên qua con người, đâm xuyên qua trái đất và gần như không hề tương tác với bất kỳ vật chất nào. Bất chấp số lượng vô cùng lớn, bản chất bí ẩn khiến việc nghiên cứu về chúng vô cùng thách thức và hơn 90 năm qua, khiến cho các nhà vật lý phải căng não. Tất cả vẫn còn chưa rõ là liệu các hạt neutrino có khối lượng hay không, kể từ những năm 1990 – nhưng những gì các nhà vật lý tìm được lại chưa nhiều lắm.  Một trong số rất nhiều câu hỏi mở về hạt neutrino là liệu chúng có phản hạt không. Tất cả các hạt đều có phản hạt, các bản sao phản vật chất của chúng: các electron có phản electron (các positron), quark có phản quark, neutron và proton (các thành phần cấu tạo nên hạt nhân của các nguyên tử) cũng có phản neutron và phản proton. Nhưng khác với những hạt đó, về mặt lý thuyết thì có thể các hạt neutrino là phản hạt của chính nó. Vào năm 1937, nhà vật lý Ettore Majorana từng đề xuất có nhiều hạt chính là những phản vật chất của chúng, và một trong số đó là các fermion Majorana.  Nếu các hạt neutrino là các fermion Majorana, có thể lý giải được một câu hỏi sâu sắc về căn nguyên cho sự tồn tại của chúng ta: tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất trong vũ trụ. Các hạt neutrino và các electron đều là những hạt lepton, một dạng hạt cơ bản. Một trong số những quy luật cơ bản của tự nhiên xuất hiện là số các hạt lepton luôn luôn được bảo toàn – nếu một quá trình tạo ra một hạt lepton thì phải tạo ra đồng thời một phản lepton để giữ sự cân bằng. Tương tự, các hạt như proton và neutron hay là những baryon, và số hạt baryon xuất hiện cũng được bảo toàn. Vậy nếu số baryon và lepton luôn luôn được bảo toàn, có thể chính xác là vật chất trong vũ trụ nhiều như phản vật chất – và trong vũ trụ sớm, vật chất và phản vật chất có thể đã va chạm nhau và hủy nhau, chúng ta có thể sẽ không tồn tại. Có điều gì đó vi phạm sự bảo toàn chính xác của các baryon và lepton. Chuyển sang hạt neutrino: nếu các neutrino là phản hạt của chúng, số lượng lepton không thể được bảo toàn, và sự tồn tại của chúng ta trở nên ít bí ẩn hơn.  Máy dò CUORE được lắp đặt bên trong một khối cryostat. Nguồn: NewsTown  “Vẫn chưa thể giải thích được sự phi đối xứng vật chất – phản vật chất trong vũ trụ này”, Huang nói. “Nếu các hạt neutrino chính là các phản hạt của nó thì còn giải thích được”.  Đó không chỉ là câu hỏi duy nhất sẽ nhận được câu trả lời từ hạt neutrino Majorana. Khối lượng cực nhẹ của các hạt neutrino, nhẹ hơn electron cả triệu lần, từ lâu đã là câu đố với các nhà vật lý hạt. Nhưng nếu các hạt neutrino chính là phản hạt của chúng thì có một giải pháp tồn tại là “cơ chế bập bênh” này có thể giải thích được khối lượng vô cùng nhẹ của các hạt neutrino theo một cách vô cùng tự nhiên và đẹp đẽ.  Một thiết bị hiếm cho các phân rã hiếm  Nhưng vô cùng khó để xác quyết liệu các hạt neutrino có là phản hạt của chúng hay không, bởi chúng không tương tác với mọi thứ xung quanh. Công cụ tốt nhất của các nhà vật lý để tìm kiếm hạt neutrino Majorana là một phân rã phóng xạ ở dạng giả thuyết, còn được gọi là phân rã beta kép không sinh neutrino. Phân rã beta là một hình thức chung của một số nguyên tử, biến đổi một neutron trong hạt nhân nguyên tử thành một proton, thay đổi nguyên tố hóa học của hạt nhân này và phát xạ một electron và một phản neutrino trong quá trình đó. Phân rã beta kép vô cùng hiếm: thay vì biến đổi một neutron thành một proton, chúng biến đổi cả hai, phát xạ hai electron và hai phản neutrino. Nhưng nếu neutrino là fermion Majorana, về mặt lý thuyết có thể cho phép một hạt neutrino hành xử như một phản hạt của chúng, để đặt vào vị trí của cả hai phản neutrino trong phân rã beta kép. Chỉ hai electron cũng có thể bị loại ra khỏi hạt nhân nguyên tử. Phân rã beta kép không sinh neutrino mới chỉ tồn tại về mặt lý thuyết nhưng chưa từng được quan sát, dẫu đã được nghiên cứu trong hàng thập kỷ.  Thực nghiệm CUORE đã được thực hiện để bắt các hạt nhân tellurium trong phân rã này. Thực nghiệm sử dụng hàng ngàn tinh thể tellurium oxide siêu tinh khiết, có khối lượng tổng cộng 700 kg. Người ta cần một số lượng lớn tellurium bởi trung bình, phải mất một quãng thời gian gấp hàng tỉ lần so với tuổi hiện tại của vũ trụ chúng ta để một nguyên tử tellurium không bền trải qua quá trình phân rã beta kép thông thường. Nhưng có cả nghìn tỉ tỉ nguyên tử tellurium trong các tinh thể mà CUORE sử dụng, điều đó nghĩa là phân rã beta kép thông thường diễn ra trong máy dò, khoảng vài lần mỗi ngày ở mỗi tinh thể. Phân rã beta kép không neutrino thậm chí còn hiếm hơn, do đó, nhóm CUORE phải làm việc vất vả để có thể loại đi nhiều nguồn bức xạ nền nhằm tránh bị nhiễu tín hiệu. Để che chắn máy dò khỏi tia vũ trụ, toàn bộ hệ thống này được đặt dưới chân núi Gran Sasso, ngọn núi lớn nhất của bán đảo Ý. Cẩn thận hơn, người ta che chắn nó bằng hàng tấn chì. Tuy nhiên, chì mới khai thác cũng có một chút phóng xạ do nhiễm uranium và các nguyên tố khác, và độ phóng xạ chỉ giảm dần theo thời gian – vì vậy chì được sử dụng bao quanh phần nhạy nhất của CUORE chủ yếu là được lấy từ một con thuyền La Mã cổ đại bị đắm gần 2000 năm tuổi.  Đài quan sát nhiệt độ thấp dưới mặt đất cho các sự kiện hiếm (CUORE) đặt dưới Gran Sasso, ngọn núi lớn nhất của bán đảo Ý. Nguồn: NewsTown  Có lẽ, phần ấn tượng nhất của máy dò ở CUORE là bộ phận cryostat, dùng để giữ cho nó luôn được lạnh. Để dò được phân rã beta kép không sinh neutrino, nhiệt độ của mỗi tinh thể trong máy dò CUORE được giám sát cẩn thận với các cảm biến có năng lực dò được cả sự thay đổi nhiệt độ nhỏ bằng một phần nghìn độ C. Phân rã beta kép không sinh neutrino có một mức năng lượng cụ thể, có thể làm tăng nhiệt độ của một đơn tinh thể và có thể được ghi lại. Nhưng để duy trì được độ nhạy, máy dò này phải được giữ ở mức rất lạnh, khoảng 10 mK, một phần trăm một độ trên nhiệt độ không tuyệt đối. “Đó là khối lập phương lạnh nhất được biết đến trong vũ trụ”, Laura Marini, một nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Gran Sasso và là người điều phối CUORE, nói. Độ nhạy của máy dò thực sự phi thường. “Khi có các trận động đất lớn ở Chile và New Zealand, chúng ta trên thực tế thấy bóng dáng của nó trong máy dò”, Marini cho biết. “Chúng ta có thể thấy sự xáo trộn của các sóng ở bờ biển Adriatic (Ý) cách 60 km. Tín hiệu này rõ hơn vào mùa đông, khi có bão”.  Một hạt neutrino xuyên tâm  Bất chấp độ nhạy phi thường này, CUORE vẫn chưa tìm thấy bằng chứng về phân rã beta kép không sinh neutrino. Do vậy, CUORE đã nghĩ đến việc tạo phân rã này trong một nguyên tử stellurium – một hiện tượng hiếm trong 22 nghìn tỉ tỉ năm mới xảy ra một lần. “Phân rã beta kép không sinh neutrino, nếu được quan sát, sẽ là một quá trình hiếm nhất từng được quan sát trong tự nhiên, với một thời gian bán rã lâu hơn một triệu tỉ lần so với độ tuổi của vũ trụ này”, Danielle Speller, phó giáo sư tại ĐH Johns Hopkins và là một thành viên của Ban vật lý CUORE, nói. “CUORE có thể không đủ nhạy để dò được phân rã này nếu nó xảy ra nhưng việc kiểm tra nó cũng rất quan trọng. Một số vật lý đã gặt hái được những kết quả đáng ngạc nhiên và khi đó, chúng ta học hỏi được nhiều nhất. Ngay cả khi CUORE không tìm thấy bằng chứng về phân rã beta không sinh neutrino, đó là bước tiến trên con đường đến các thực nghiệm thế hệ mới. Thiết bị kế tục của CUORE, CUORE nâng cấp với sự nhận diện hạt (CUPID) đang được thực hiện. CUPID sẽ nhạy gấp CUORE cả chục lần, có tiềm nang cho phép có được bằng chứng về hạt neutrino Majorana.  Nhưng cho dù thế nào đi chăng nữa, CUORE vẫn là một thắng lợi về KH&CN – không chỉ ở những liên kết mới với tỉ lệ phân rã kép beta không sinh neutrino mà còn ở công nghệ cryostat nhiệt độ thấp của nó. “Đó là cái tủ lạnh lớn nhất thuộc dạng này trên thế giới, Paolo Gorla, một thành viên tại LNGS và Điều phối kỹ thuật của CUORE, nói. “Nó có thể giữ cho mức nhiệt độ 10 mK liên tục trong vòng ba năm qua”. Rất nhiều ứng dụng vượt qua vật lý hạt cơ bản ở đó, cụ thể nó có thể tìm thấy sự hữu dụng trong tính toán lượng tử bởi cần phải giữ cho cỗ máy này đủ lạnh và che chắn khỏi bức xạ môi trường để điểu khiển ở mức lượng tử – một trong những thách thức lớn về mặt kỹ thuật trong lĩnh vực này.  Dĩ nhiên, CUORE không chỉ làm được vậy. “Chúng tôi sẽ vận hành cho đến năm 2024”, Bucci nói. “Tôi rất hào hứng được thấy những gì chúng tôi sẽ tìm ra”. □  Anh Vũ dịch   Nguồn: https://phys.org/news/2022-04-limits-bizarre-behavior-neutrinos.html    Author                .        
__label__tiasang Nghiên cứu về chim hót: Suy nghĩ về sự đa dạng của khoa học      Trong hơn 150 năm, các nhà khoa học cho rằng chỉ có ở chim trống mới có tiếng hót nhưng hai thập kỷ vừa qua lại cho thấy ở nhiều loài chim, cả trống lẫn mái đều hót, nhất là ở vùng nhiệt đới. Những kết quả đột phá này được cho là nhờ phụ nữ tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu này.      Hình: Cây phát sinh loài của chim biết hót (bộ phụ Passeri thuộc bộ sẻ) cho thấy chim mái hót (màu đỏ) là hiện tượng phổ biến. (Nguồn: Nature 10.1038/ncomms4379).  Người Mỹ thường lý tưởng hoá hình tượng các nhà khoa học là những người quan sát khách quan, không thiên lệch. Nhưng cũng như trong những lĩnh vực khác, người làm khoa học đều bị những thành kiến chủ ý hoặc vô thức tác động. Lĩnh vực nghiên cứu hành vi cất tiếng kêu ở chim cho thấy rõ ràng phương thức làm việc chịu tác động của người thực hiện đến mức nào.  Trong hơn 150 năm, ít nhất là kể từ lúc Charles Darwin viết các công trình về chọn lọc giới tính, các nhà khoa học nhìn chung đều cho rằng tiếng chim hót là tính trạng trống. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi là: tiếng chim hót là tiếng kêu phức tạp, kéo dài do chim trống tạo ra trong suốt mùa sinh sản, còn chim mái hót là chuyện hiếm có hoặc bất thường.  Nhưng trong 20 năm vừa qua, nghiên cứu đã cho thấy cả chim trống lẫn chim mái ở nhiều loài đều hót, đặc biệt là ở những khu vực nhiệt đới. Ví dụ, nhóm nghiên cứu của chúng tôi (tác giả K. Omland, E. Rose, và K. Odom) đã nghiên cứu tiếng hót của chim mái và hiện tượng song ca trống–mái ở loài chim Icterus icterus – đây là loài chim biểu tượng quốc gia của Venezuela, có tập tính hót quanh năm để bảo vệ lãnh thổ. Chúng tôi cũng nghiên cứu hành vi hót ở chim mái thuộc loài ôn đới Sialia sialis – chim mái hót để giao tiếp với đối tượng giao phối của mình trong mùa sinh sản.  Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy chim mái hót là một hiện tượng phổ biến, và có khả năng là tổ tiên của mọi loài chim có tiếng hót đều có con mái biết hót. Hiện nay, thay vì đặt ra câu hỏi vì sao chim trống ban đầu tiến hoá có được tiếng hót, ta phải hỏi vì sao cả hai giống đều ban đầu tiến hoá có tiếng hót rồi chim mái ở một số loài bị mất đi tính trạng này.  Trong một công bố gần đây, chúng tôi tổng kết 20 năm nghiên cứu hiện tượng chim mái hót và nhận thấy rằng những người đóng vai trò chủ chốt trong những nghiên cứu đột phá này là phụ nữ. Nếu số phụ nữ tham gia vào lĩnh vực này mà ít hơn trong thực tế vừa qua thì chúng tôi tin rằng sẽ phải mất nhiều thời gian hơn nữa ta mới có được mức độ hiểu biết như hiện nay về cách thức tiếng chim hót tiến hoá. Chúng tôi coi đây là minh chứng xác đáng nhất cho việc vì sao cần tăng cường sự đa dạng trong mọi lĩnh vực nghiên cứu.  Những tiếng nói mới đưa đến những góc nhìn mới  Từ lâu rồi, phần lớn nghiên cứu về chim biết hót là do nam da trắng ở những nước bắc bán cầu thực hiện. Người làm nghiên cứu ở những nước như Hoa Kỳ, Canada, Anh, và Đức đã tập trung phần lớn công việc của họ vào các loài chim di trú sinh sản ở những vùng ôn đới phía bắc.      Tình hình nghiên cứu chim biết hót đưa ra chứng cứ mạnh mẽ cho việc người làm nghiên cứu là ai, từ đâu đến, và những trải nghiệm của họ có ảnh hưởng như thế nào đến công việc khoa học mà họ làm. Các nhóm nghiên cứu đa dạng hơn sẽ có thể đặt ra những câu hỏi cũng đa dạng hơn, tận dụng những phương pháp khác lạ hơn, và tìm cách xử lý vấn đề từ những góc độ rộng lớn hơn.      Nhưng kể từ thập niên 1990, các nghiên cứu mới xuất hiện đã bắt đầu đi ngược lại những quan điểm cũ. Nghiên cứu mới chỉ ra rằng những nghiên cứu trước chỉ chủ yếu tập trung vào những khu vực ôn đới, còn thực ra thì con mái ở nhiều loài chim nhiệt đới hót rất cừ khôi. Các nhà nghiên cứu từ đó mới bắt đầu nghiên cứu chim mái dùng tiếng hót của mình ra sao, học hót như thế nào, và vì sao ở một số loài thì chúng lại hoà giọng với đối tác phối ngẫu để tạo ra những bản song ca hoà điệu rất nhịp nhàng.  Chúng tôi lưu ý thấy tác giả viết ra những công trình chủ chốt về hiện tượng chim mái hót này trong những năm gần đây là phụ nữ, và từ đó đặt ra câu hỏi không biết có sự liên quan nào không. Để xem có phải đúng là phụ nữ có xu hướng công bố nhiều hơn về hiện tượng chim mái hót so với đồng nghiệp nam, chúng tôi tìm tất cả những bài báo khoa học đã công bố trong 20 năm qua có cụm từ “tiếng hót chim mái” (“female song”) trong tựa đề hay tóm tắt. Chúng tôi cũng tập hợp các bài báo của các tạp chí đó trong cùng năm nhưng chỉ công bố về “tiếng chim hót” (“bird song”) nói chung.  Đối với mỗi bài báo, chúng tôi đều xác định giới của mọi tác giả cho dù họ đứng tên đầu, giữa, hay cuối cùng. Người đứng tên cuối thường là tác giả chính, chẳng hạn như trưởng nhóm nghiên cứu.  Khi tập trung vào tác giả đứng tên đầu, chúng tôi thấy rằng 68% số bài báo về hiện tượng chim mái hót là do phụ nữ viết, tỷ lệ này trong các bài báo về chim biết hót nói chung chỉ là 44%. Do đó, xác suất nam nghiên cứu chim mái hót là ít hơn nữ 24%, hay nói ngược lại thì khả năng nữ tiến hành nghiên cứu chim mái hót là cao hơn nam 24%.  Các tác giả đứng tên giữa trong các bài báo về chim mái hót cũng có tỷ lệ nữ nhỉnh hơn nam một chút. Tuy nhiên, các tác giả đứng tên cuối vẫn có tỷ lệ nam cao hơn nhiều ở cả các bài báo về chim mái hót lẫn chim biết hót nói chung. Nói cách khác, trưởng nhóm nghiên cứu của những công trình này vẫn có khả năng cao là đàn ông.  Trong các nghiên cứu về chim mái hót, 58% số tác giả đứng tên cuối là nam. Theo quan điểm của chúng tôi, mặc dù lĩnh vực điểu học hiện nay đã khá cân bằng về giới tính, chúng ta vẫn cần có nhiều phụ nữ tham gia hơn ở vai trò lãnh đạo để họ có thể đưa ra những quyết dịnh chủ chốt về hướng nghiên cứu, kinh phí và đề tài cụ thể cho sinh viên.  Các góc nhìn đa dạng giúp thúc đẩy khoa học tiến bộ  Một trong những mục tiêu chính trong nghiên cứu của chúng tôi là nhìn nhận và thúc đẩy các quan điểm đa dạng của những người làm nghiên cứu có xuất thân và bản sắc khác nhau. Tuy vậy, chúng tôi thấy rằng cần phải nhìn lại ít nhất là 20 năm qua, vì đó là quãng thời gian mà thay đổi cơ bản này diễn ra. Vì nhiều lý do, nhiều tác giả từ thời đó khó có thể liên hệ được trực tiếp.  Trong tương lai, cho phép tác giả tự xác định cho nghiên cứu giới và quyền tác giả trong hàng loạt các lĩnh vực khác có thể sẽ giúp ta có được số liệu về giới chính xác hơn, và cho phép cả những người xác định mình có giới tính không theo những định nghĩa giới nam–nữ thông thường.  Nghiên cứu của chúng tôi về tình hình nghiên cứu chim biết hót đưa ra chứng cứ mạnh mẽ cho việc người làm nghiên cứu là ai, từ đâu đến, và những trải nghiệm của họ có ảnh hưởng như thế nào đến công việc khoa học mà họ làm. Các nhóm nghiên cứu đa dạng hơn sẽ có thể đặt ra những câu hỏi cũng đa dạng hơn, tận dụng những phương pháp khác lạ hơn, và tìm cách xử lý vấn đề từ những góc độ rộng lớn hơn.  Giới tính chỉ là một trong nhiều khía cạnh bản sắc con người có thể ảnh hưởng đến chủ đề, quan điểm tiếp cận, và phương pháp luận cụ thể trong hàng loạt nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau. Nhiều yếu tố khác như màu da, sắc tộc, vị trí địa lý, và vị thế kinh tế xã hội cũng có thể có tác động quan trọng đối với nghiên cứu khoa học.  Những sự việc gần đây đã chứng minh rõ ảnh hưởng của thành kiến chủng tộc trong nhiều lĩnh vực, từ tư pháp hình sự cho đến các hoạt động giải trí ngoài trời. Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng tỏ vì sao việc giải quyết những thành kiến chủng tộc, giới và những kiểu thành kiến khác đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kết quả nghiên cứu, giảng dạy và tiếp xúc với công chúng tại các trường đại học khắp thế giới. □  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: https://www.weforum.org/agenda/2020/09/women-biology-sex-gender-birds-stem-female?fbclid=IwAR28jUJKL5wXF1YHYXLcSJSuR-lcBsbK1NwoveY7fmkNLYd5UHjA-P6Mmrk  —  Ghi chú tác giả:  Kevin Omland là giáo sư sinh học và Evangeline Rose là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Maryland (Mỹ). Karan Odom là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Cornell (Mỹ).  Bài viết này dựa trên công trình vừa công bố trên tạp chí Tập tính động vật (Animal Behavior) do Casey Haines, sinh viên Đại học Maryland, làm tác giả đứng tên đầu. Bài viết cũng có sự trợ giúp của Michelle Moyer, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Maryland.    Author                Kevin Omland, Evangeline Rose, Karan Odom        
__label__tiasang Nghiên cứu về sinh vật ngoại lai cổ đại giúp cải thiện các chiến lược bảo tồn      Lâu nay, các nhà nghiên cứu đã trực tiếp quan sát được tác động của các sinh vật ngoại lai theo mốc thời gian hằng năm và hằng thập kỷ. Song, nếu muốn hiểu được ảnh hưởng của các chúng đến hệ sinh thái trong thời gian dài hơn, họ sẽ buộc phải nghiên cứu về các “cuộc xâm lấn” đã diễn ra từ thời cổ đại thông qua các hồ sơ hóa thạch (fossil record). Mới đây, một nghiên cứu được trình bày tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ đã cho thấy, nghiên cứu như vậy hoàn toàn có thể thực hiện được, thậm chí là ở quy mô thời gian vài nghìn năm – một mức độ chi tiết chưa từng có.     Hóa thạch của sinh vật ngoại lai. Ảnh: Ian Forsythe/phys.org  Sinh vật từ nơi khác đến có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế và hệ sinh thái bản địa. Các nghiên cứu gần đây ước tính, chỉ riêng ở Mỹ, các sinh vật ngoại lai đã gây thiệt hại 120 tỷ USD mỗi năm và góp phần vào 70% sự tuyệt chủng của các loài thủy sinh bản địa trong thế kỷ này, cũng như gây ra nhiều tác động tiêu cực khác.  Lâu nay, các nhà nghiên cứu đã trực tiếp quan sát được tác động của các sinh vật ngoại lai theo mốc thời gian hằng năm và hằng thập kỷ. Song, nếu muốn hiểu được ảnh hưởng của các chúng đến hệ sinh thái trong thời gian dài hơn, họ sẽ buộc phải nghiên cứu về các “cuộc xâm lấn” đã diễn ra từ thời cổ đại thông qua các hồ sơ hóa thạch (fossil record). Mới đây, một nghiên cứu được trình bày tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ đã cho thấy, nghiên cứu như vậy hoàn toàn có thể thực hiện được, thậm chí là ở quy mô thời gian vài nghìn năm – một mức độ chi tiết chưa từng có.  “Việc kết nối được dữ liệu ngắn hạn về sinh vật ngoại lai hiện đại với các thông tin dài hạn về sinh vật trong hồ sơ hóa thạch sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn tác động lâu dài của các sinh vật ngoại lại ngày nay đến hệ sinh thái”, Ian Forsythe – thành viên của dự án và hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Cincinnati – cho biết.  Cụ thể, nghiên cứu của Forsythe tập trung vào các hóa thạch động vật không xương thuộc hệ động vật lớn địa phương trong cuộc xâm lấn Richmondian của sinh vật ngoại lai. Richmondian là một giai đoạn địa chất của Bắc Mỹ, xảy ra vào khoảng 450 triệu năm trước, trong thế Ordovic muộn (Late Ordovician). Vào thời điểm đó, một số chi ngoại lai đã xâm nhập vào vùng biển nông bao phủ khu vực mà ngày nay là bắc Kentucky, tây nam Ohio và đông nam Indiana.  “Đây là một trong những sự kiện xâm lấn có hóa thạch được nghiên cứu nhiều nhất để tìm hiểu tác động của sinh vật ngoại lai đối với loài và hệ sinh thái”, Stigall nói. “Tuy nhiên, công trình của Ian thực sự mang tính đột phá bởi ông đã đánh giá được những thay đổi ở cấp độ cộng đồng trong khoảng thời lên đến vài nghìn năm và đã kết nối được một cách trực tiếp thông tin này với sự thay đổi của mực nước biển và thời điểm xuất hiện của những sinh vật ngoại lai”.  Để thu thập dữ liệu, Forsythe đã sử dụng phương pháp lấy mẫu ô tiêu chuẩn (quadrat), trong đó một lưới ô vuông được đặt trên một bề mặt và ghi lại số lượng của từng đơn vị phân loại trong ô lưới. Sau đó, ông tiến hành một loạt các phân tích để đánh giá toàn diện các tác động sinh thái.  Kết quả nghiên cứu bao gồm: khoảng thời gian trước khi sinh vật ngoại lai xuất hiện, trong quá trình chúng xâm lấn và sau khi  các sinh vật này đã xâm lấn trên một loạt các môi trường trầm tích. Những môi trường này trải từ vùng biển nông nơi đáy biển bị tác động bởi hoạt động của sóng đến khu vực xa bờ gần đó với độ sâu tối đa 100 mét.  Do nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu trong phạm vi đặc điểm địa tầng chi tiết, Forsythe có thể kết nối được sự xuất hiện của các sinh vật ngoại lai và những biến đổi của sinh vật với sự thay đổi của mực nước biển. “Nghiên cứu này là kết quả phân tích chi tiết nhất cho tới nay về sự du nhập của sinh vật ở các mốc thời gian gần giống với các hệ sinh thái hiện đại”, Stigall đánh giá.  Kết quả chỉ ra rằng những cuộc xâm lấn như vậy – nơi những sinh vật ngoại lai thuộc bậc dinh dưỡng thấp và hầu hết các quần thể sinh vật bản địa không đòi hỏi hệ sinh thái riêng – sẽ ít có khả năng khiến cho sinh vật bản địa tuyệt chủng. Dữ liệu từ nghiên cứu cũng cho thấy, các sinh vật bản địa sẽ thay đổi “sở thích” về môi trường sống của mình để thích ứng với các đối thủ cạnh tranh ngoại lai mới.  Theo Forsythe, những phát hiện này có thể giúp ích cho quá trình ra quyết định sử dụng quỹ bảo tồn. “Các hệ sinh thái như trong nghiên cứu này có thể cần ít khoản đầu tư hơn những hệ sinh thái có nhiều loài chuyên biệt hoặc những hệ đang phải chống lại các sinh vật ngoại lai ở bậc dinh dưỡng cao, chẳng hạn như động vật ăn thịt,” ông nói.  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: Study of ancient invasive species can improve modern conservation strategies    Author                .        
__label__tiasang Nghiện smartphone ảnh hưởng tiêu cực đến giấc ngủ      Nghiên cứu vừa được công bố hôm thứ Ba trên tạp chí Frontiers in Psychiatry, trong đó các tác giả xem xét việc sử dụng smartphone của 1.043 sinh viên trong độ tuổi từ 18 đến 30 tại trường King’s College London.      Nếu nghiện smartphone trở thành trọng tâm trong vấn đề lâm sàng, thì những người sử dụng smartphone sau nửa đêm hoặc sử dụng điện thoại từ 4 tiếng trở lên mỗi ngày sẽ có nguy cơ cao về mặt sức khỏe. Ảnh: diygenius.com     Các nhà khoa học đã yêu cầu sinh viên hoàn thành hai bảng câu hỏi về chất lượng giấc ngủ và việc sử dụng smartphone của họ. Thông qua 10 câu hỏi để xác thực, đánh giá tình trạng nghiện smartphone, nghiên cứu cho thấy gần 40% sinh viên đại học đủ tiêu chuẩn trở thành “con nghiện” smartphone.      “Tỷ lệ ước tính này phù hợp với các nghiên cứu tương tự khác ở cấp độ toàn cầu, nằm trong khoảng 30-45%”, Sei Yon Sohn , tác giả chính và là sinh viên y khoa của King’s College London, cùng với một đồng tác giả khác, viết trong nghiên cứu.      “Thời gian sử dụng cũng liên quan đáng kể đến chứng nghiện smartphone, chẳng hạn sử dụng điện thoại sau 1 giờ sáng làm tăng nguy cơ gấp ba lần”, các tác giả viết.      Theo nghiên cứu, những sinh viên sử dụng smartphone trong thời gian dài chia sẻ rằng chất lượng giấc ngủ của họ kém hơn. Điều đó phù hợp với các nghiên cứu trước đây, rằng việc lạm dụng smartphone vào ban đêm có liên quan đến việc khó đi vào giấc ngủ, giảm thời gian ngủ và cảm thấy uể oải vào ban ngày. Việc sử dụng smartphone sát giờ đi ngủ sẽ gây trì hoãn nhịp sinh học, đồng hồ ngủ-và-thức của cơ thể.      Trên thực tế, quy tắc số 1 là “nói không với máy tính, điện thoại di động và thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (PDA) trong vòng ít nhất một tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ”, TS Vsevolod Polotsky, người chỉ đạo nghiên cứu cơ bản về giấc ngủ tại trường Y khoa thuộc Đại học Johns Hopkins, trả lời CNN trong một cuộc phỏng vấn gần đây.      Đó là bởi “bất kỳ nguồn ánh sáng quang phổ LED nào cũng có thể ‘triệt tiêu’ nồng độ melatonin”, Polotsky nói. Melatonin, được tiết ra theo nhịp sinh học 24 giờ hằng ngày, còn được gọi là “hormone giấc ngủ”, vì chúng ta sẽ ngủ ngon hơn vào ban đêm khi nồng độ melatonin đạt mức cao nhất.      Phản ứng trái chiều      “Đây là một nghiên cứu liên ngành, và vì vậy không thể đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào về việc sử dụng điện thoại là nguyên nhân gây suy giảm chất lượng giấc ngủ”, Bob Patton, giảng viên tâm lý học lâm sàng tại Đại học Surrey, cho biết qua email.      “Tuy nhiên, nó cung cấp một số bằng chứng thuyết phục rằng bản chất của việc sử dụng smartphone và những hậu quả liên quan có thể là những yếu tố quan trọng để giải quyết hiện tượng ‘nghiện’ smartphone đang nổi lên”, Patton, người đứng đầu Nhóm Nghiên cứu về Ma túy, Rượu và Hành vi gây nghiệm tại trường đại học, cho hay.        Andrew Przybylski, một nhà nghiên cứu lâu năm và là phó giáo sư tại Đại học Oxford, không đồng ý rằng khoa học đã chứng thực bất kỳ cái gì “gọi là ‘nghiện smartphone’”, vì “không có bất kỳ cơ quan y tế toàn cầu nào công nhận khái niệm này, cũng như đây không phải là một dạng rối loạn tâm thần”.      “Độc giả nên thận trọng khi đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào về tác động của sử dụng smartphone trong cộng đồng nói chung, hay nay ra ý tưởng rằng chúng gây nghiện theo bất kỳ nghĩa nào, nếu chỉ dựa trên cơ sở của nghiên cứu này”, Przybylski, ông còn là giám đốc nghiên cứu tại Viện Internet Oxford, nhận định qua email.      Các tác giả thừa nhận những mặt hạn chế trong nghiên cứu của mình, nhưng vẫn tuyên bố: “Nếu nghiện smartphone trở thành trọng tâm trong vấn đề lâm sàng, thì những người sử dụng smartphone sau nửa đêm hoặc sử dụng điện thoại từ 4 tiếng trở lên mỗi ngày sẽ có nguy cơ cao về mặt sức khỏe”.      Làm sao để có giấc ngủ ngon?     Nghiện điện thoại di động còn được gọi là “nomophobia”, viết tắt của NO Mobile PHOne phobia – một thuật ngữ của thế kỷ 21 để chỉ nỗi sợ hãi khi không được sử dụng điện thoại di động hay những thiết bị thông minh khác. Các chuyên gia đưa ra một số đề xuất nếu bạn hay người thân dường như có các triệu chứng của việc nghiện thiết bị thông minh hoặc Internet.        Trước tiên, hãy tắt điện thoại của bạn vào những thời điểm nhất định trong ngày, chẳng hạn như lúc bạn đang tham dự các cuộc họp, đi ăn tối, chơi với con và tất nhiên, khi lái xe.   Xóa các ứng dụng mạng xã hội, như Facebook và Twitter, khỏi điện thoại của bạn, và chỉ kiểm tra thông báo từ laptop. Cố gắng cai trong khoảng 15 phút vào những thời điểm đã định trong ngày để không ảnh hưởng đến công việc hoặc cuộc sống gia đình.   Chuyển điện thoại sang thang màu xám. Màu sắc rực rỡ giúp thu hút, trong khi màu xám sẽ gây nhàm chán.   Cố gắng thay thế thời gian sử dụng thiết bị thông minh thành các hoạt động lành mạnh hơn như thiền hay tương tác với mọi người trực tiếp.   Không mang điện thoại di động và ánh sáng xanh có hại của nó lên giường. Sử dụng báo thức kiểu truyền thống để thức dậy.         Hà Trang dịch     Nguồn: Smartphone addiction ruins sleep, study says, but you can fight back    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngói pin mặt trời rẻ hơn ngói thường      Hơn một chục nhân viên của hãng Tesla, trong đó có Elon Musk và giám đốc kỹ thuật (CTO) JB Straubel, đã sở hữu mái ngói pin mặt trời trên căn nhà của họ hồi năm ngoái, như là một phần của một chương trình thí điểm sơ bộ.      Một ngôi nhà đã được lập các tấm ngói pin mặt trời quảng cáo trên website của Tesla.  Tuần trước, Tesla bắt đầu sản xuất ngói pin mặt trời tại nhà máy ở TP Buffalo, bang New York, hồi tháng trước và bắt đầu khảo sát các căn nhà của những khách hàng đã đặt cọc 1.000 USD để giữ sản phẩm.  Không giống như vụ đặt cược lắp bộ trữ điện lớn nhất thế giới trong vòng 100 ngày tại Úc, lần này Tesla công bố bắt đầu  sản xuất sản phẩm.  Mái nhà pin mặt trời sẽ sản sinh điện mà không cần đến các tấm pin truyền thống đặt trên mái nhà, là một cột mốc trong chiến lược của nhà sản xuất xe điện, để bán “một lối sống không lệ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch” dưới thương hiệu Tesla. Tesla công bố sản phẩm  này vào tháng 10.2016, khi mua lại hãng lắp đặt năng lượng mặt trời SolarCity.  Vào lúc đó, Tesla cho rằng sản phẩm được đưa ra vào mùa hè năm 2017. Hồi tháng 11, sáng lập viên Tesla Elon Musk cho biết sản phẩm đang trải qua quy trình sáu tháng trắc nghiệm, khi nói “phải mất ít lâu để con “quái vật” này hoạt động”.  Tesla bắt đầu nhận các đơn đặt hàng ngói pin mặt trời hồi tháng 5/2017, khi yêu cầu các chủ sở hữu nhà đặt cọc 1.000 USD qua website. Sản phẩm sẽ được lắp đặt trên một số mái nhà của khách hàng trong vài tháng tới đây. Công ty cho biết, mái nhà pin mặt trời sẽ rẻ hơn mái nhà mới thông thường cộng với tấm pin mặt trời truyền thống khoảng từ 10 – 15%. Vị chi là khoảng 233,8 USD/1m2. Miếng ngói trông giống như những tấm ngói thông thường, nhưng trong thực tế, không phải tấm ngói nào cũng đều là pin mặt trời. Người dùng có thể tuỳ biến tỷ lệ ngói mặt trời trên mái nhà của họ qua công cụ trực tuyến; tỷ lệ tối đa là 70%. Đương nhiên, càng nhiều ngói mặt trời, mái nhà của người dùng càng tốn nhiều tiền hơn. Công ty vẫn còn nhận “đặt cục gạch” 1.000 USD ở website của hãng.  Theo một nguồn tin, Tesla sẽ hoàn thành hơn 1 gigawatt viên ngói và sản xuất mô đun tại nhà máy ở Buffalo, và có thể tăng gấp đôi sản lượng, nhưng không cho biết thời gian thực hiện. Còn có một nguồn tin khác cho hay, công việc tại Buffalo được thực hiện với sự hợp tác của Panasonic, hãng có rất nhiều kinh nghiệm chế tạo các sản phẩm quang điện. Một phần nguyên do  sản xuất chậm các tấm ngói mặt trời, là trong những tháng gần đây, Tesla tập trung vào giải quyết việc nghẽn cổ chai trong sản xuất xe hơi Model 3.          Có ba kịch bản khi chọn lựa ngói pin mặt trời của Tesla  Giả định là một ngôi nhà rộng 1.000m2 ở Nam California với hoá đơn tiền điện hàng tháng là 200 USD.  Kịch bản 1: Bạn đang quan tâm đến quang điện, nhưng không cần thay ngói. Đây là kịch bản phổ biến nhất đối với đa số chủ nhà ở Mỹ hiện nay. Quan trọng hơn hết là bạn không cần thay ngói trong vòng ba đến năm năm. Nếu quả vậy, mái nhà pin mặt trời của Tesla là gánh nặng. Trong khi chủ nhà ở California chỉ cần lắp đặt một hệ thống pin 8,5kW với giá 26.030 USD. Mái nhà của Tesla theo tính toán, loại 6,25kW giá đã lên đến 50.900 USD. Và hệ thống cũng chỉ cho ra được 77% quang điện (vì kích cỡ hệ thống nhỏ hơn).  Kịch bản 2: Bạn đang quan tâm đến quang điện, và bạn cũng cần thay mái nhà, Tesla mới là giải pháp.  Kịch bản 3: Bạn có tiền và một công nghệ mới, Tesla càng là giải pháp.          Đặng Kính (Theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngọt – cuốn hút từ sự chân thật      Sự ra đời của Ngọt thổi một làn gió tươi mới vào đời sống âm nhạc Việt Nam, và nó chứng minh rằng vẫn có những nghệ sỹ trẻ hoàn toàn tự tin vào sự cuốn hút của mình mà không cần tới sự hậu thuẫn của bất kỳ “ông lớn” showbiz nào.      Vì “đã xuất hiện quá nhiều” nên sắp tới, Ngọt sẽ “nghỉ” một thời gian và tập trung sản xuất album thứ hai, theo Vũ Đinh Trọng Thắng. Trong ảnh: Các thành viên của Ngọt hiện nay (từ trái qua): Nguyễn Hùng Nam Anh, Nguyễn Chí Hùng* (guitar lead mới), Vũ Đinh Trọng Thắng, Phan Việt Hoàng – tác giả: Maika Elan.   Người nghe cảm thấy gần gũi với Ngọt dù ban nhạc này chưa bao giờ tổ chức gặp mặt người hâm mộ. Ra đời từ cuối năm 2013, Ngọt chủ yếu được biết đến qua mạng xã hội: Facebook và Soundcloud (dịch vụ upload nhạc và các file audio miễn phí rất thịnh hành trong giới sáng tác nhạc độc lập). Ngọt không có người phụ trách truyền thông chuyên nghiệp, thậm chí thoạt đầu không có người quản lý, các bài hát của họ đều là “sleeper hit”1. Trung bình mỗi bản thu mà Ngọt tải lên – phần lớn là những bản thu trực tiếp từ những buổi biểu diễn ở các tụ điểm âm nhạc – có hơn 56 nghìn lượt người nghe, trong đó có bài gần 200 nghìn lượt người nghe2. Họ cũng có hơn 46 nghìn người “thích” và “theo dõi” trên Facebook. Album đầu tay của họ – “Ngọt” – đã bán hết 1.000 bản đầu tiên chỉ trong vòng bốn ngày.  Ngọt được thành lập bởi ba người sinh năm 1995: Vũ Đinh Trọng Thắng (sáng tác và hát chính, guitar đệm), Nguyễn Hùng Nam Anh (trống, hát bè) và Trần Bình Tuấn (guitar lead). Biết nhau từ khi học cấp Một, đến cuối cấp Hai, họ cùng lập ra một ban nhạc chuyên chơi cover những bài hát nước ngoài, “chỉ là để hiểu hai người chơi tương tác với nhau khác gì so với việc chơi nhạc cụ một mình”, Vũ Đinh Trọng Thắng nói. Một “chị bạn” của Thắng lập ra một sân khấu nhỏ ở quán cà phê của mình cho ban nhạc biểu diễn. Ban nhạc tồn tại không lâu; cho đến khi vào đại học, các thành viên mới tập hợp lại và thành lập Ngọt, tự sáng tác và biểu diễn những bài hát của mình. Cả ba thành viên đều không được đào tạo bài bản về mặt âm nhạc (nhưng mày mò học chơi nhạc cụ từ tiểu học), không xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật và trước khi thành lập Ngọt, họ cũng không tham gia vào các sinh hoạt âm nhạc ở Hà Nội, ngoại trừ Thắng. Hai tay chơi bass của Ngọt đều đến sau khi ban nhạc đã ra đời, trong đó tay bass hiện nay là Phan Việt Hoàng (sinh năm 1991, làm trong lĩnh vực truyền thông).     Nhạc là nhạc thôi  Ngọt không nổi tiếng một cách ngẫu nhiên. Họ có tuyên ngôn âm nhạc riêng. Trước Ngọt, hầu hết các ban nhạc đều hài lòng với việc lặp lại một phong cách rock nào đó và thể hiện sự khác biệt ở cách làm các bài hát phức tạp trong cấu trúc và phô diễn các kỹ thuật chơi nhạc khó. Vũ Đinh Trọng Thắng nhận thức được điều đó rất rõ. Trong quá trình “lê la” làm thành viên của hết ban nhạc này đến ban nhạc khác hồi cấp Ba, “để xem nếu mình làm thủ lĩnh của ban nhạc thì mình cần cái gì, concept như thế nào”, anh cảm thấy “các ban nhạc sáng tác ngày càng ít dần ít dần đi” và rằng ban nhạc rock không nhất thiết phải “giật tóc móc mắt” cũng như rocker hoàn toàn có thể là người bình thường. Mặc dù Ngọt chơi indie rock nhưng Thắng từ chối việc phân định cụ thể dòng nhạc mình theo đuổi. “Tôi muốn xóa bỏ rào cản giữa pop, rock và các nhạc khác bởi vì nhạc là nhạc thôi. Tôi cũng mong mọi người chuẩn bị tinh thần cho sự giao hòa giữa tất cả các thể loại nhạc với nhau vì nhạc hiện đại sẽ là như thế”, anh nói.  Các thành viên của Ngọt nghe và dung nạp nhiều thể loại nhạc, trong đó ảnh hưởng đáng kể đến từ alternative, indie pop/rock, bên cạnh những âm hưởng new wave, dream pop, J-rock. Các đoạn solo guitar chỉn chu và rất “mượt” cho thấy các anh chàng này cũng có nghe blues. Thậm chí những ca khúc như “Xanh” còn cho thấy cả ảnh hưởng của jazz/ bossa nova. Đó là chưa kể đến chất indie folk trong Những chuyến phiêu lưu hay nhạc ska trong Vì Ai, Be Cool, Khắp xung quanh. Trong một buổi diễn live, có khán giả tinh ý nhận ra Thắng có một đoạn solo guitar lấy cảm hứng từ bản psychedelic rock kinh điển Comfortably Numb của Pink Floyd. Ngọt không cần kỹ thuật cao siêu mà vẫn dung hòa được những chất nhạc đa dạng thành một thứ âm nhạc riêng. Họ thoải mái tự tin làm chủ âm nhạc, không cần gồng mình thể hiện bất kì điều gì. Âm nhạc của Ngọt vì thế thật quen, thật dễ chịu mà cũng hết sức mới.  “Ca từ luôn là những bài thơ”  Vũ Đinh Trọng Thắng chia sẻ, “Đúng ra là bọn tôi không biết những kỹ thuật khó để mà phô diễn”. Chất liệu âm nhạc của Ngọt không quá phức tạp, tất cả chỉ dừng lại ở mức vừa đủ. Cấu trúc các bài hát không phá cách, không quá xa rời kết cấu truyền thống verse – chorus – verse. Kỹ thuật trình diễn nhạc cụ không cao siêu. Album của Ngọt thu âm khá “mộc”, không lạm dụng các kỹ thuật của phòng thu. Cách hát tự nhiên, bỏ qua nhiều quy tắc thông thường của thanh nhạc, thậm chí cả quy tắc bỏ dấu khi hát tiếng Việt. Sự tối giản về kỹ thuật là phông nền để phô diễn một sự hấp dẫn khác không thể chối cãi của ban nhạc này: lời ca.  Ngoại trừ bài “Một ngày không mưa” do tay trống và hát bè Nam Anh viết, còn lại ca từ của Ngọt đều do Vũ Đinh Trọng Thắng sáng tác. Cảm hứng của Ngọt đến từ bất kì điều gì mà họ quan tâm: tình yêu mơ mộng hão huyền (Vì ai, Xanh), ký ức tuổi thơ và những chuyến đi (À ơi, Những chuyến phiêu lưu); cảm giác ham chơi, muốn khám phá (Cho tôi đi theo); phản kháng việc bị áp đặt, chụp khuôn (Không làm gì); triết lý về sự lựa chọn trong cuộc sống (Cá hồi); và trên hết, các vấn đề “đau đầu” của tuổi trẻ đều có thể tan biến trong phút chốc khi chơi nhạc (Be Cool). “Bạn chỉ cần một ý tưởng, một gợi ý, một câu khơi mào rồi nuôi dưỡng và phát triển nó thành một bài hát”, Thắng nói trong một buổi phỏng vấn với and of other things – trang web độc lập viết về nghệ sĩ và nghệ thuật ở Hà Nội.  Trao đổi với Tia Sáng, nhà thơ Nguyễn Thế Hoàng Linh không ngần ngại tặng ban nhạc những lời tán dương đầy hào phóng: “Ca từ của Ngọt là hàng đầu vì Just Thắng [Vũ Đinh Trọng Thắng] xuất sắc ở cả thơ vần và thơ tự do.”  “Xanh, mơ một giấc mơ màu xanh, âm nhạc lướt đi thật nhanh, như một thói quen của anh. Con đường màu xanh, xanh màu lá, xanh đại dương, em là nắng anh là sương, không còn nhớ, không còn thương, thiên đường.  …  Chỉ khi con mắt kéo anh vào đêm tối, không có thời gian cho anh từ chối, anh mới nhận ra những gì mình quên lãng, nơi ta gặp nhau đó đây cùng năm tháng, nhiều khi anh đã cố đi tìm vội vã, để có một giây viết nên tình ca, em lặng lẽ đi rất nhanh vượt qua anh, giờ anh nhìn thấy bóng em bên trong màu xanh” – Xanh (trích)  Thắng nắm bắt những cảm xúc lãng đãng và mênh mang của con người và diễn đạt bằng ngôn ngữ hết sức giản đơn, mang tính tự sự cao, như một cuộc trò chuyện với người nghe. “Bước một, đeo tai nghe. Bước hai, bật nhạc của Ngọt lên. Bước ba, nghe. Không có bước bốn”, Thắng trả lời câu hỏi “Làm thế nào để nghe được nhạc của Ngọt?” của một người trên ask.fm. Câu trả lời hiển nhiên nhưng ẩn dưới đó là “lời dặn”: nghe nhạc của Ngọt không cần suy nghĩ. “Các giá trị khác người nghe cứ nghe nhiều là tự thấm qua nhạc và lời hòa quyện một cách xuất sắc”, Nguyễn Thế Hoàng Linh bình luận. Anh cho rằng, người sáng tác trẻ thường bị ảnh hưởng bởi giáo điều của người đi trước nhưng đó không phải là trường hợp của Ngọt.  Sức hấp dẫn của Just Thắng  Trong ban nhạc, Thắng là một thành viên đặc biệt đáng chú ý. Theo Nguyễn Thế Hoàng Linh, chàng trai này “có sẵn bản năng nhạc và thơ nên dễ dàng bơi lội giữa các thể loại”. Thắng luôn cố gắng không lặp lại những gì đã có và càng không lặp lại chính mình. “Thỉnh thoảng tôi vô tình tạo ra một thứ nghe khá giống với những giai điệu đã có sẵn, tôi đành bỏ đi, dù biết có thể tạo ra một bản nhạc hay với nó nhưng tôi không muốn sự lặp lại. Có lẽ nếu một ngày nào đó ngẫu nhiên tạo ra được những giai điệu tương tự như Canon [của Pachelbel], tôi cũng phải bỏ qua nó” – Thắng trả lời phỏng vấn and of other things.  Không chỉ có sức sáng tác tốt (nhiều lần trao đổi với báo chí, Thắng cho biết số bài hát chưa tung ra của anh dư sức lấp đầy hai album nữa), Thắng còn là “bộ mặt” của ban nhạc trên sân khấu. Theo lời kể của phóng viên tự do người Anh ở Hà Nội, Eliza Lomas, trong lần biểu diễn cách đây ba năm tại tụ điểm âm nhạc CAMA ATK do cô quản lý, các thành viên của Ngọt cực kì lúng túng trên sân khấu, Thắng là người duy nhất không nhìn vào nhạc cụ của mình mà nhìn vào khán giả.  Khi biểu diễn, Thắng có vẻ lãng tử, phóng túng (rất hút các fan nữ) nhưng quan trọng là sự tự nhiên sống với âm nhạc giúp cho Thắng làm chủ sân khấu và kết nối với khán giả rất dễ dàng. Thắng kiệm lời nhưng cũng đủ để khán giả vui bằng sự hóm hỉnh và hài hước của mình. Không chỉ vì thứ âm nhạc của Ngọt là âm nhạc chia sẻ, đối thoại, truyện trò mà còn bởi cách biểu diễn ngẫu hứng và khoáng đạt của Thắng khiến cho Ngọt diễn live hay hơn so với bản thu.  Tương lai của ban nhạc dường như phụ thuộc nhiều vào Thắng. Sau khi ra album đầu tiên, Trần Bình Tuấn đã rời Ngọt để chuẩn bị đi du học và vị trí guitar lead được dành cho một người mới là Nguyễn Chí Hùng. Việc người đến rồi đi, với Thắng là chuyện hết sức bình thường mặc dù “tôi sợ nhất là không có ban nhạc”. “Nhưng ngay cả khi không có ban nhạc, tôi vẫn hát và sáng tác”, anh nói.  Thắng coi đàn ca là sự nghiệp của mình, mặc dù với rất nhiều người, kể cả những ban nhạc rock đã và đang nổi tiếng, việc kiếm sống từ nghề này là một điều mơ hồ. Từng ở trong nhiều ban nhạc được lập ra để chơi cho vui, song giờ đây với Thắng, tư tưởng đó quá nguy hiểm vì nó luôn đi đôi với nguy cơ giải thể ban nhạc. Nhiều người hỏi về nguồn gốc cái tên Ngọt, nhưng với Thắng, nó không có nhiều ý nghĩa. “Họ [nhiều ban nhạc] cố nghĩ ra cái tên như thể nó là quan trọng nhất. Nhưng tôi nghĩ ra tên của ban nhạc rất nhanh, quan trọng là giữ ban nhạc được lâu. Một cái tên ý nghĩa nhưng không giữ ban nhạc được lâu thì cũng chẳng để làm gì”.  Bài viết được thực hiện với sự đóng góp nội dung của Nguyên Hải (Chủ biên tạp chí Rock Vision, 2003 – 2005) và đạo diễn điện ảnh Hữu Tuấn.  ————  1 Thuật ngữ chỉ những sản phẩm nghệ thuật được đón nhận nồng nhiệt trong một thời gian dài mặc dù nhà sản xuất truyền thông rất ít hoặc không truyền thông.  2 Ca sĩ Trung Quân, vốn nổi tiếng trên soundcloud, cũng chỉ có lượng người nghe trung bình là hơn 42 nghìn lượt/bản thu âm.  * Sửa lại phiên bản báo in là Nguyễn Chí Hiếu     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang “Người bán rau quả” có tuổi đời lớn hơn chúng ta nghĩ trước đây      Việc phục chế một bức tranh cổ vô danh đã làm “bay” nụ cười trên gương mặt một người phụ nữ trẻ – và trao cho các nhà lịch sử nghệ thuật nhiều manh mối hơn về nguồn gốc của nó.      Bức họa Bỉ thế kỷ 16 vẫn được biết đến với tên gọi “The Vegetable Seller” (Người bán rau quả” đã được mang đến Audley End House ở miền đông nam nước Anh vào thế kỷ 18.  Trong năm 2019, một nhóm các nhà bảo tồn của tổ chức English Heritage đã phục chế bức tranh này sau khi một cuộc kiểm tra về điều kiện bảo quản cho thấy nó cần được phục chế để tránh những hủy hoại của những tác nhân bên ngoài.  Một thử nghiệm làm sạch bức họa, ban đầu được giả định là một tác phẩm vẽ vào thế kỷ 18, đã tiết lộ một số điều khác thông tin ban đầu. “Chúng tôi nhận thấy lớp màu sáng đẹp đẽ ở bên dưới lớp véc ni đã bay màu”, Alice Tate-Harte, nhà bảo tồn phụ trách các bộ sưu tập nghệ thuật tại English Heritage, nói với CNN.  “Chúng tôi đã loại bỏ lớp phủ ngoài đi, sau đó đến lượt lớp véc ni. Điều này cho phép chúng tôi thấy được chất lượng của lớp màu vẽ bên dưới: không chỉ có màu sắc mà còn là cái nhìn về cả bức họa. Anh có thể bắt đầu thấy cả tuổi tác, những vết nứt và cả mẫu hình bị mài mòn mà anh vẫn thấy trong những bức họa Hà Lan thời kỳ đầu”, bà giải thích.    Khi bị loại bỏ nụ cười, cô gái có vẻ có xu hướng “dám đương đầu”, chuyên gia phục chế của English Heritage Alice Tate-Harte nói. Nguồn: Christopher Ison/English Heritage  Điều này khiến cho mọi người tin tưởng là bức họa này trên thực tế còn được vẽ ở mốc thời gian xa hơn so với trước đây và cho phép họ phân biệt giữa màu sơn gốc và màu sơn phủ bên trên, vốn được phủ lên trên khi bức họa trải qua lần phục chế trước đó.  Các nhà bảo tồn đã làm việc này trên gương mặt của nhân vật trong tranh – người mà đến giờ vẫn mang một nụ cười thanh thản.  “Có nhiều lớp sơn vẽ phủ lên trên gương mặt của cô ấy, và trên cả cái áo sơ mi trắng của cô, cái tạp dề phủ ngoài và cả cái góc cô ngồi nữa”, Tate-Harte nói và cho biết thêm là một người phục chế trước đây có lẽ đã sửa lại bức tranh này bởi vì nó bị nước hủy hoại hoặc vết nứt trên bề mặt.  “Việc phục chế theo cách như vậy không tuân theo những đạo đức bảo tồn như những gì chúng ta tuân theo ngày nay”, bà giải thích.  “Nhiều nét trên khuôn mặt cô ấy đã được tiết lộ – chúng ta nhận ra là cô ấy không cười. Cô ấy trên thực tế có một biểu cảm nghiêm trọng hơn nhiều”, bà cho biết. Điều này là phong cách của họa sĩ Antwerp Joachim Beukelaer.    Nhiều chuyên gia cho rằng “The Vegetable Seller” có thể là tác phẩm của họa sĩ người Bỉ thế kỷ 16 Joachim Beuckelaer. Nguồn: Christopher Ison/English Heritage  Các nhà phục chế từ English Heritage hiện tại nghĩ là họ đã tái khám phá “bằng chứng quan trọng” liên kết tác phẩm này với Beuckelaer, người sống vào khoảng năm 1535 và 1575, và tin rằng có thể bức họa được chính họa sĩ vẽ.  Tate-Harte nói việc biểu cảm thay đổi của nhân vật trong bức họa là một “cải thiện về hiểu biết”. “Tôi nghĩ nó hữu hiệu bởi nó cho thấy đây là bức vẽ thế kỷ 16”, bà nói.  “Cô ấy ‘đối đầu’ với người xem nhiều hơn – cô ấy hiện tại mang dáng dấp của một người phụ nữ mạnh mẽ hơn, với việc ít thụ động hơn”, bà cho biết thêm.  Theo English Heritage, việc phục chế này cũng tiết lộ một phổ màu sắc lớn hơn trên các loại rau quả của bức họa.  “Nhiều loại quả và rau xanh được miêu tả giờ đây được coi là các giống di sản, và một số đã hoàn toàn không còn được gieo trồng nữa”, English Heritage lưu ý trong một thông cáo báo chí.  Bức họa đang được trưng bày ở Audley End House, cách London 50 dặm về hướng Đông bắc.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/why-vegetable-seller-450-year-old-painting-isnt-smiling-anymore-180978202/  https://edition.cnn.com/style/article/vegetable-seller-smile-intl-scli-gbr/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người châu Âu đã thưởng thức pho mát xanh và bia từ cách đây 2.700 năm      Phân cổ đại từ các mỏ muối trên dãy Alps chứa cùng loại nấm mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để sản xuất bia và làm pho mát.         Phân của thợ thời kỳ đồ đồng và đồ sắt chứa Penicillium roqueforti – loại nấm vẫn được sử dụng để làm pho mát xanh ngày nay. Ảnh: Getty Images     Những người thợ làm việc tại các mỏ muối trên dãy Alps cách đây 2.700 năm hẳn đã có những bữa ăn ngon miệng. Một nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Current Biology cho thấy những người thợ mỏ này đã thỏa mãn cơn đói của họ bằng pho mát và bia – thông qua việc nghiên cứu cẩn thận các loại phân cổ.  Tác giả chính Frank Maixner, một nhà vi sinh vật học tại Viện Nghiên cứu Eurac ở Bolzano, Ý, chia sẻ với Agence-France Presse (AFP) rằng ông rất ngạc nhiên khi người cổ đại dường như đã chủ động lên men thực phẩm.  “Theo quan điểm của tôi, đây là một hành vi phức tạp”, ông nói. “Tôi không ngờ vào thời điểm đó người cổ đại đã làm được việc này.”      Phân người thường phân hủy rất nhanh chóng, vì vậy chúng ta thường chỉ có thể tìm thấy phân cổ – hoặc phân hóa thạch – ở những địa điểm hiếm hoi có các đặc tính như cực kỳ khô ráo, đóng băng hoặc sũng nước. Trong trường hợp này, điều kiện khô ráo, mát mẻ với nồng độ muối cao của Di sản văn hóa thế giới Hallstatt-Dachstein vùng Salzkammergut của nước Áo là môi trường lý tưởng để bảo quản các loại phân.      Phân người 2.600 năm tuổi từ các mỏ muối Hallstatt. Chúng ta có thể nhìn thấy đậu, kê và đại mạch rõ ràng bằng mắt thường. Ảnh: Anwora / NHMW   Các nhà khoa học đã kiểm tra những phân tử cổ bằng cách sử dụng phương pháp phân tích phân tử và DNA. Họ phát hiện ra rằng trong phân thường xuất hiện cám và nguyên liệu từ các loại cây ngũ cốc khác nhau. Bên cạnh đó, còn có protein từ đậu tằm, trái cây, các loại hạt và thịt. Kiểm tra sự tồn tại của nấm, nhóm nghiên cứu phát hiện ra lượng DNA dồi dào của Penicillium roqueforti — được sử dụng trong sản xuất pho mát xanh ngày nay — và Saccharomyces cerevisiae — được sử dụng trong sản xuất bia và bánh mì nướng. Bộ gen của nấm cho thấy chúng đã trải qua một quá trình chọn lọc để trở thành một loại nguyên liệu phù hợp làm thực phẩm.     “Những người thợ mỏ muối thời kỳ đồ sắt ở núi muối Hallstatt dường như đã cố tình áp dụng công nghệ lên men thực phẩm với vi sinh vật – mà ngày nay chúng ta vẫn sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm”, đồng tác giả nghiên cứu Kerstin Kowarik , nhà khảo cổ học tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Vienna, chia sẻ với CNN.     “Rõ ràng không chỉ tập quán ẩm thực phức tạp, mà cả thực phẩm chế biến cũng như kỹ thuật lên men đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử ẩm thực trong buổi bình minh của loài người”, Kowarik cho biết thêm.      Những phát hiện này là bằng chứng phân tử đầu tiên về việc uống bia của con người ở châu Âu thời kỳ đồ sắt. Kết quả cũng là bằng chứng sớm nhất về việc lên men pho mát trên lục địa này.   Theo UNESCO, con người đã khai thác các mỏ muối tại khu vực Hallstatt-Dachstein vào nhiều thời điểm khác nhau từ cuối thời kỳ đồ đồng đến giữa thế kỷ 20. Ngay từ thế kỷ thứ tám trước Công nguyên, các tuyến đường thương mại của Hallstatt đã kết nối với các khu vực trên khắp châu Âu.      Các nhà nghiên cứu đã phân tích bốn mẫu phân – mẫu thời kỳ đồ đồng chứa hai loại nấm lên men thực phẩm, hai mẫu khác từ thời kỳ đồ sắt và một mẫu từ thế kỷ 18. Ba mẫu đầu tiên cho thấy cháo làm từ ngũ cốc nguyên hạt là món chính trong khẩu phần ăn của thợ mỏ. Tuy nhiên, đến thế kỷ 18, ngũ cốc thường được xay nhiều hơn, cho thấy chế độ ăn có thể đã chuyển sang bánh mì hoặc bánh quy.     Tất cả bốn mẫu đều chứa vi khuẩn tương tự như vi khuẩn được tìm thấy trong ruột của những người hiện đại có lối sống “không phương Tây hóa” (non-Westernized lifestyles) – nghĩa là chủ nhân của chúng chủ yếu ăn thực phẩm truyền thống, ít chế biến và ít sử dụng dược phẩm hiện đại. Thực tế là ngay cả mẫu thế kỷ 18 cũng cho thấy vi sinh vật của con người trong các xã hội công nghiệp hóa chỉ mới thay đổi gần đây, “có thể là do lối sống hiện đại, chế độ ăn uống hoặc tiến bộ y tế”, nghiên cứu chỉ ra.      Những nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng vi khuẩn đường ruột của con người ngày nay kém đa dạng hơn nhiều so với 2.000 năm trước. Theo số liệu trên Science Alert, gần 40% vi khuẩn trong các mẫu phân khảo cổ được tìm thấy trên khắp Bắc Mỹ không tồn tại ở bất kỳ người hiện đại nào.      “Trong nền văn hóa cổ đại, các loại thực phẩm bạn đang ăn rất đa dạng và có thể tạo ra một bộ sưu tập vi khuẩn phong phú”, tác giả cấp cao Aleksandar Kostic thuộc Trung tâm Tiểu đường Joslin của Harvard, nhận định. “Nhưng khi bạn tiến vào thời đại công nghiệp hóa, bạn ăn uống ở cửa hàng tạp hóa thường xuyên, bạn sẽ mất đi rất nhiều chất dinh dưỡng giúp hỗ trợ một hệ vi sinh vật đa dạng hơn”.      Hà Trang tổng hợp      Nguồn: Europeans Enjoyed Blue Cheese and Beer 2,700 Years Ago, Study Suggests  Ancient poop shows people in present-day Austria drank beer and ate blue cheese up to 2,700 years ago       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người “cởi trói” thông tin trong học thuật      Nếu như Napster đã từng tạo ra một sự thức tỉnh trong ngành âm nhạc thì Sci Hub cũng làm điều tương tự với ngành xuất bản.      Alexandra Elbakyan.  Tất cả các công bố quốc tế của tôi đều nhờ đến nó – chủ nhân của giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2016, GS. Nguyễn Văn Hiếu, Viện trưởng Viện ITIMS, Đại học Bách khoa Hà Nội, nói về Sci Hub, trang web cho phép tất cả mọi người có thể tiếp cận miễn phí hầu hết các bài báo khoa học của các nhà xuất bản hàng đầu trên thế giới. Trước đây, khi chưa có Sci Hub, anh phải nhờ bạn bè khắp nơi ở nước ngoài, ai đó có quyền truy cập vào kho dữ liệu của các nhà xuất bản trên thế giới, download về và gửi cho anh.  “Đi đến hội thảo, hội nghị nào tôi cũng giới thiệu [Sci-Hub] cho mọi người” – GS. TS. Hiếu nói. Ngay cả khi nhiều người nói với anh rằng Sci Hub tồn tại một cách phi pháp, anh cũng không để tâm, anh coi người lập ra Sci Hub là anh hùng hơn là tội phạm. Hơn thế, anh còn đóng góp một khoản tiền nhỏ để tri ân website này: “Đối với một nước nghèo như mình, đó [sự tồn tại của Sci Hub] là điều đáng quý”.  Người phá bỏ rào cản trong khoa học    Sci Hub dễ sử dụng một cách đáng kinh ngạc: chỉ cần đăng link, mã số (DOI) hoặc tên bài báo vào ô tìm kiếm trên Sci Hub website là đọc được ngay bài báo sau vài giây  Người đứng sau Sci Hub là Alexandra Elbakyan (sinh năm 1988), người Kazakhstan. Cô được tạp chí Nature bình chọn là một trong 10 nhân vật có ảnh hưởng nhất trong giới khoa học năm 2016. Mặc dù Sci Hub được lập ra từ tháng Chín năm 2011 nhưng đến đầu năm 2016, Alexandra mới được biết đến rộng rãi khi nhà báo khoa học Simon Oxenham đăng bài báo của anh về Alexandra lên trang blog bigthink.com, sau khi nó bị một loạt các tờ báo lớn, bao gồm The New York Times và The Guardian, từ chối. Không ai ngờ được rằng, ngay sau đó, câu chuyện về Alexandra đã làm dấy lên mạnh mẽ phong trào đấu tranh của các sinh viên, nghiên cứu viên, nhà khoa học, nhân viên ở các thư viện, các biên tập viên khoa học chống lại “bá quyền” của các nhà xuất bản và cổ vũ cho tự do thông tin qua truy cập mở (open access).    Alexandra sinh ra và lớn lên ở Kazakhstan, một nơi mà việc tiếp cận internet rất hạn chế (73% người dân vẫn sử dụng internet theo phương thức truy cập quay số – dial up) và giá cả của báo chí, sách vở, phim và nhạc có bản quyền rất đắt đỏ. Cô tốt nghiệp ngành khoa học máy tính, chuyên ngành bảo mật thông tin tại Đại học Công nghệ Quốc gia Kazakh, nơi cô trở nên hứng thú với việc hack máy tính. Sau đó, Alexandra thực tập và nghiên cứu về khoa học thần kinh và nhận thức tại Phòng thí nghiệm Viện Công nghệ Georgia, Mỹ và Đại học Albert – Ludwigs tại Freiburg, Đức để phục vụ cho mối quan tâm mới của cô là triết học siêu nhân học. Các trường nơi cô học đều không mua các gói tạp chí và trao quyền truy cập cho nghiên cứu sinh. Một bài báo có bản quyền có giá khoảng 30 USD và quá trình nghiên cứu đòi hỏi người ta phải đọc hàng trăm, có lúc là hàng nghìn bài báo nên số tiền mà một nhà khoa học sẽ phải trả là “khủng khiếp”.  Nhiều nhà khoa học nói rằng Sci Hub là phao cứu sinh của họ. Khi Tia Sáng đăng bản dịch bài báo của Nature về Alexandra lên Fanpage của mình, một loạt các comment đều tỏ ý biết ơn và ca ngợi cô là anh hùng, khiến công việc nghiên cứu của họ bước sang một trang mới. Sci Hub dễ sử dụng một cách đáng kinh ngạc: chỉ cần đăng link, mã số (DOI) hoặc tên bài báo vào ô tìm kiếm trên Sci Hub website là đọc được ngay bài báo sau vài giây. Mặc dù không tiết lộ chi tiết nhưng Alexandra công nhận hai cách thức Sci Hub sử dụng để phá tường phí (paywall) của các tạp chí: truy cập vào các kho tài liệu lậu có sẵn và sử dụng một loạt khóa truy cập vào hệ thống dữ liệu của các nhà xuất bản lớn mà các giáo sư hào phóng tại các trường đại học lớn tình nguyện đóng góp. Trong hơn năm năm, Sci Hub đã “cho đi” 58 triệu bài báo, tương đương hơn 150 nghìn bài báo mỗi ngày, cho khoảng 10 triệu người dùng.  Khoảnh khắc “Napster”  Việc truy cập các tài liệu có bản quyền vốn là “đặc quyền” của một số rất ít người đến từ các viện nghiên cứu và trường đại học giàu có bậc nhất thế giới. Chính vì vậy, với đa số người trong giới học thuật trên thế giới, Sci Hub là một giấc mơ có thực. Triết lý đằng sau Sci Hub của Alexandra được rất nhiều người chia sẻ, và đó cũng là lí do khởi nguồn cho cuộc đấu tranh vì truy cập mở diễn ra hàng thập kỉ nay lại bùng lên: “Tri thức phải được chia sẻ miễn phí cho tất cả mọi người”.  Càng ngày, người ta càng nhận ra rằng, các nhà xuất bản đang đi quá giới hạn của mình trong việc can thiệp vào nền học thuật. Bên cạnh làm chậm lại tiến độ phát triển của khoa học thế giới bằng cách giới hạn việc tiếp cận các bài báo cho một số ít người trả tiền, họ còn góp phần “thao túng” các nhà khoa học, đánh giá một cách thiên lệch về hiệu quả làm việc của các nhà khoa học bằng cách đưa ra chỉ số ảnh hưởng. Giá tạp chí hiện nay được cho là tăng nhanh hơn cả mức lạm phát kinh tế và các nhà xuất bản luôn tìm cách ép buộc thư viện của các trường đại học phải tung ra hàng triệu USD để trả cho các gói tạp chí gồm cả những ấn phẩm vô thưởng vô phạt. Mặc dù các nhà xuất bản đều có các hoạt động hỗ trợ những nước đang phát triển nhưng chẳng thấm tháp gì. Theo Financial Times, doanh thu của Elsevier1 là 2 tỉ USD mỗi năm và lợi nhuận đạt 30%. Cách đây bốn năm, Đại học Harvard đã phải thừa nhận rằng họ không đủ điều kiện chi trả cho các gói tạp chí với giá tăng vùn vụt nữa và kêu gọi các nhà khoa học chuyển sang sử dụng truy cập mở. Đại học Cornell cũng phải ngừng mua nhiều tạp chí của nhà xuất bản Elsevier.  Alexandra Elbakyan bị Elsevier kiện ra tòa án Mỹ vì tội xâm phạm bản quyền. Sự kiện này nhắc lại những phong trào phản đối Elsevier mạnh mẽ. Năm 2012, Tim Gowers (nhà toán học người Anh, Huy chương Fields năm 1998) đã viết trên blog của mình kêu gọi tẩy chay Elsevier bao gồm: không xuất bản, không tham gia hội đồng biên tập, không phản biện trên bất kì ấn phẩm nào của Elsevier vì thấy rằng nhà xuất bản này cản trở quyền tự do tiếp cận thông tin của công chúng. Lời kêu gọi của ông đã dẫn đến sự hình thành của phong trào mang tên The cost of knowledge (Cái giá của tri thức) với sự tham gia của hơn 16 nghìn nhà khoa học trên tất cả các lĩnh vực ở khắp thế giới. Ngoài ra, năm 2015, 31 biên tập viên của tạp chí ngôn ngữ Lingua thuộc Elsevier đã đồng loạt từ chức và lập ra tạp chí truy cập mở mới – Glossa.  Tờ Financial Times coi cuộc chiến giữa giới học thuật và các nhà xuất bản là không cân sức. Họ khẳng định điều đó bằng bài báo với tít: “Elsevier dẫn đầu một ngành kinh doanh không bị lụi tàn bởi internet”. Bài báo chỉ ra rằng, chừng nào các trường đại học, viện nghiên cứu không thay đổi cách đánh giá các nhà khoa học thì sự nghiệp của họ luôn phụ thuộc vào các nhà xuất bản này. Và như vậy, những nhà xuất bản như Elsevier vẫn đòi giá tạp chí ngất ngưởng trong khi không trả một đồng nào cho tác giả bài báo, người phản biện cũng như ban biên tập.  Tuy nhiên, nếu điều Financial Times nói là đúng thì cũng không ai có thể ngăn cản được sự sinh sôi của những trang web lậu. Trường hợp của Napster trong ngành âm nhạc là một ví dụ. Với việc cung cấp miễn phí những sản phẩm âm nhạc lậu, Napster đã làm những hãng sản xuất đĩa “kinh hoàng”. Nhưng đóng cửa Napster thì lại có những trang tương tự mọc lên, cho đến khi iTunes của Apple ra đời, đưa ra một dịch vụ với giá cả mà cả người nghe và các nghệ sĩ đều thỏa mãn. Nhiều người ví Alexandra Elbakyan đã tạo ra khoảnh khắc “Napster” như thế với ngành xuất bản.   ——  1 Nhà xuất bản Hà Lan chiếm hơn 40% thị phần ngành xuất bản các tạp chí khoa học với 2.500 tạp chí.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Người dân đang nhìn Vinamilk, Sabeco      Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trông đợi vào một Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, người dân đang nhìn vào quá trình bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Sabeco, Habeco.      Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã kết luận về chủ trương tiếp tục bán vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Sabeco, Habeco, với tinh thần phải công khai minh bạch, kiên quyết chống tiêu cực, lợi ích nhóm, với những giải pháp cụ thể như phải niêm yết trên sàn chứng khoán trước khi bán…  Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định ngay đây là những chỉ đạo rất trúng, rất đúng và rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bà nhận định: Chủ trương cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước đã có từ lâu, nhưng tiến độ thực hiện chậm. Về mặt số lượng doanh nghiệp, cổ phần hóa gần như đạt chỉ tiêu nhưng phần vốn nhà nước nắm giữ vẫn còn quá lớn. Mặt khác, việc cổ phần hóa, bán vốn trong nhiều trường hợp vẫn tiến hành theo quy trình khép kín, kém minh bạch, nên thực chất không đạt kết quả.  Do đó, cần phải thúc đẩy quá trình này mạnh mẽ hơn và minh bạch hơn. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là một trong ba lĩnh vực trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế, nếu không thực hiện được tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thì việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu đầu tư công cũng khó khăn, bởi doanh nghiệp nhà nước chính là đối tượng có thể tiếp cận tín dụng nhiều nhất, tiếp cận nhiều dự án đầu tư công nhất, và “đóng góp” nhiều nhất vào nợ xấu và sở hữu chéo trong các ngân hàng cũng như sự dàn trải và hiệu quả thấp trong đầu tư công.  Chỉ đạo của Thủ tướng không chỉ tác động tới khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn tác động mạnh mẽ tới cả nền kinh tế, cần nhận được sự ủng hộ, vào cuộc quyết liệt và đồng bộ của cả hệ thống, đặc biệt các cơ quan bên Đảng và Quốc hội.  Tất cả vì mục tiêu công khai, minh bạch  Mục tiêu đã rõ ràng, đó là phải công khai, minh bạch. Liệu những giải pháp mà Thủ tướng đã kết luận có đủ để bảo đảm quá trình này diễn ra công khai, minh bạch, chống “lợi ích nhóm”?  Tôi nghĩ việc bán vốn nhà nước không khó, nhưng khó hơn là làm sao bán được một cách công khai, minh bạch, đảm bảo lợi ích chung cao nhất, và những chỉ đạo của Thủ tướng đều hướng tới mục tiêu đó. Việc Thủ tướng yêu cầu các doanh nghiệp phải niêm yết trên sàn chứng khoán trước khi bán vốn nhà nước là giải pháp trúng. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa cố tình lờ niêm yết, bởi niêm yết là kênh buộc họ phải minh bạch hóa cao, với những tiêu chí và trách nhiệm rõ ràng, thêm sức ép để họ phải minh bạch, giúp các nhà đầu tư và xã hội dễ giám sát hơn.  Nhiều chuyên gia vẫn đề nghị nhà nước cần buộc các doanh nghiệp nhà nước ít nhất phải minh bạch như các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nhiều doanh nghiệp vẫn nói họ minh bạch, nhưng thông tin do họ công bố rất mù  mờ, tiến độ cung cấp thông tin tùy tiện, không đủ để nhà nước và xã hội giám sát. Họ có động lực để trì hoãn việc niêm yết, vì những lợi ích riêng.  Mặt khác, việc niêm yết cũng sẽ giúp định giá cổ phiếu chính xác hơn, tránh thất thoát tài sản nhà nước khi bán vốn.  Việc mở rộng đối tượng được tham gia mua cổ phần cũng rất tốt. Lâu nay nhiều trường hợp cổ phần hóa mang tính chất khép kín, thậm chí có tình trạng “hôn nhân cùng huyết thống” khi doanh nghiệp nhà nước này mua của doanh nghiệp nhà nước kia, biểu hiện lợi ích nhóm rất rõ. Muốn phá vỡ lợi ích nhóm thì phải mở rộng đấu thầu cho các nhà đầu tư cạnh tranh lành mạnh. Đấu giá công khai là biện pháp tốt nhất để tránh tình trạng “người nhà” thâu tóm cổ phiếu với giá rẻ.  Việc yêu cầu tính riêng giá trị quyền sử dụng đất cũng gửi đi thông điệp về minh bạch cao hơn, bởi trước đây đã có tình trạng định giá đất không chính xác trong cổ phần hóa, có những mảnh đất vàng nhưng lại được định giá thấp hoặc thậm chí không tính đến đất khi định giá doanh nghiệp, nhưng khi bán lại chuyển nhượng luôn cả quyền sử dụng đất. Nếu định giá đất đúng, có thể đem lại nguồn thu rất lớn cho nhà nước. Mặt khác, qua định giá riêng về đất, nhà nước cũng có thể chủ động sắp xếp lại cách phân bổ, sử dụng phần đất đó sao cho hiệu quả nhất.  Nếu thực hiện nghiêm túc những yêu cầu trên, tôi tin chúng ta có thể loại bỏ “lợi ích nhóm” trong quá trình bán vốn nhà nước.  Đang lãi lớn, có nên bán?  Có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhà nước như Vinamilk, Sabeco đang làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách rất lớn, thì chưa nên bán. Bà nghĩ sao về quan điểm này?  Tôi không tán thành quan điểm này. Nếu để Vinamilk ra thị trường hoàn toàn, doanh nghiệp đó chắc chắn sẽ hoạt động hiệu quả hơn, thì tổng thể đất nước này sẽ có lợi hơn, người tiêu dùng có lợi hơn, nhà nước cũng thu thuế nhiều hơn. Và khi bán hết vốn nhà nước, Nhà nước cũng sẽ rảnh tay hơn để làm những việc khác. Ví dụ vừa qua khi bà Mai Kiều Liên đến tuổi về hưu theo quy định với cán bộ, công chức, nhà nước muốn bà nghỉ, nhưng các cổ đông Vinamilk vẫn quyết định giữ lại bà làm Tổng Giám đốc. Nhà nước không còn cần can thiệp và cũng chẳng phải ôm trách nhiệm về những việc như vậy nữa. Doanh nghiệp sẽ tự chịu trách nhiệm, và trong vấn đề này, họ “khôn” hơn các cơ quan nhà nước nhiều!  Với Sabeco, DN này đang làm trong một lĩnh vực có thể gọi là siêu lợi nhuận. Bán đi, họ có hệ thống quản trị đàng hoàng, minh bạch hơn, có động lực làm lãi nhiều hơn, nhà nước sẽ thu thuế nhiều hơn từ họ. Đồng thời lại tránh được những vụ lùm xùm gây tai tiếng như chuyện nhân sự ở DN đó thời gian qua.  Tôi cũng biết có những doanh nghiệp chỉ còn chưa đến 20% cổ phần của nhà nước, nhưng họ khổ sở với số phần trăm đó, vì nhiều khi người đại diện vốn nhà nước lại cản trở việc đổi mới công nghệ, do sợ đầu tư bị thua lỗ, chỉ muốn an toàn. Nhưng trên thương trường, không chấp nhận rủi ro, không dám đổi mới thì không thể thành công. Vấn đề là, công chức nhà nước không thể giỏi chuyện kinh doanh bằng DN, nên Nhà nước không nên thành người gây trở ngại cho sự phát triển của DN theo kiểu như vậy.  Chính phủ không bán bia, bán sữa  Bà đánh giá như thế nào về chỉ đạo trên của Thủ tướng, trong bối cảnh Thủ tướng đã khẳng định quyết tâm xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, nói đi đôi với làm?  Thủ tướng đã tuyên bố xây dựng Chính phủ liêm chính, trong sạch, nói không với tiêu cực, tham nhũng. Tôi cho rằng việc bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp lớn chính là phép thử quan trọng, bởi các doanh nghiệp nhà nước lớn chính là nơi tập trung tài sản nhà nước rất nhiều, nguy cơ tham nhũng rất cao.  Ngoài mục tiêu thu số tiền lớn về cho ngân sách, thì điều vô cùng quan trọng khi bán vốn là thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước, giảm mạnh số doanh nghiệp nhà nước, như Thủ tướng nói là Chính phủ không đi bán bia bán sữa. Có thế Chính phủ mới giảm được vai trò nhà đầu tư, nhà kinh doanh, tránh tình trạng nhà nước đi cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân, để tập trung làm chức năng kiến tạo sự phát triển của mình.  Tôi nghĩ còn rất nhiều lĩnh vực thuần túy hoặc chủ yếu là kinh doanh thương mại khác mà Nhà nước không nên tham gia nữa, như dệt may, giày dép, thủy sản, nông sản, gạo, sắt thép, du lịch… Nhà nước chỉ nên tập trung tham gia trong một số lĩnh vực như liên quan đến quốc phòng-an ninh, hoặc vài ngành thiết yếu cho cả nền kinh tế như năng lượng, viễn thông, vận tải hàng không, đường sắt, mặc dù ngay chính trong các ngành này nhà nước cũng chỉ cần nắm đa số 51% chứ không cần nắm 100%. Nhiều dịch vụ công ích cũng vậy, nên để xã hội làm là chính. Báo cáo Việt Nam 2035 có khuyến nghị rằng đến năm 2035, số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ nên còn dưới 100.  Trong quá trình đó, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ là chìa khóa. Tôi rất kỳ vọng Thủ tướng sẽ có thêm những quyết định mạnh mẽ, tạo niềm tin cho người dân và xã hội. Việc thực hiện bán vốn nhà nước một cách dứt khoát và bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, sẽ gửi đi thông điệp mạnh mẽ về một Chính phủ liêm chính, trong sạch, một Chính phủ kiến tạo và một Chính phủ hành động, nói đi đôi với làm.  Hà Chính (thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người dẫn đầu “cách mạng wavelet” đoạt giải Abel      Nhà toán học người Pháp Yves Meyer vừa giành Giải Abel 2017 với những đóng góp then chốt trong việc xây dựng một lí thuyết phân tích dữ liệu, một công cụ được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, từ việc xác định sóng hấp dẫn cho đến nén các phim kĩ thuật số.    Giải thưởng trị giá 710.000USD, được ví như giải Nobel Toán học, được Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương Na Uy công bố hôm 21/3, và Meyer chỉ biết tin mình thắng giải qua cuộc điện thoại gọi đến vào sáng hôm đó.  Jean-Michel Morel, nhà toán học ứng dụng và là đồng nghiệp của Meyer tại trường École Normale Supérieure Paris-Saclay, nói, “Không có nhiều ví dụ về những khám phá toán học ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội lớn như vậy”.  Những thuật toán máy tính dựa trên wavelet nằm trong số những công cụ chuẩn được các nhà nghiên cứu sử dụng để xử lí, phân tích và lưu trữ thông tin. Chúng cũng có những ứng dụng trong chẩn đoán y tế, chẳng hạn như giúp đẩy nhanh tốc độ chụp cộng hưởng từ; và trong giải trí, chúng được dùng để mã hóa những bộ phim có độ phân giải cao thành những tệp có dung lượng vừa phải.  Sau công trình đột phá – được gọi là cuộc cách mạng wavelet – do Meyer dẫn đầu vào những năm 1980, các sách giáo khoa ở nhiều lĩnh vực đã phải viết lại hoàn toàn, theo Morel.  Wavelet là sự mở rộng của bộ công cụ toán học Giải tích Fourier do nhà toán học Joseph Fourier khởi xướng vào những năm 1800. Ông phát hiện ra rằng có thể chia một dạng sóng tín hiệu phức tạp thành những thành phần sóng hình sin đơn giản hơn. Tức là, một mẩu thông tin, chẳng hạn như một nốt nhạc hoặc một tín hiệu địa chấn, có thể được thể hiện một cách súc tích bằng cách sử các dụng kỹ thuật Fourier.  Mặc dù tao nhã về mặt toán học  nhưng công thức ban đầu của Fourier không dễ dàng áp dụng cho nhiều loại dữ liệu thực tế, John Rognes, nhà toán học tại Đại học Oslo, người đứng đầu Ủy ban Giải Abel, giải thích.  Những năm 1900, các nhà nghiên cứu đã phát triển những thuật toán giúp cho Giải tích Fourier dễ ứng dụng hơn, như trong lĩnh vực địa chấn học. Trong số đó có những dạng sóng tín hiệu có thể thay thế sóng hình sin do nhà địa vật lí Jean Morlet tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), Marseilles, phát minh ra vào năm 1981. Ông gọi chúng là ondelettes – hay wavelets trong tiếng Anh (tạm dịch sóng nhỏ).  Meyer đã tình cờ “chạm trán” với wavelet của Morlet vào năm 1982 khi đứng đợi bên chiếc máy photocopy ở Trường Bách khoa (École Polytechnique), Paris, nơi ông làm việc lúc bấy giờ. Một đồng nghiệp của ông đang chụp bài báo về wavelet của Morlet và cả hai liền bập vào chủ đề này. Meyer, vốn là một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tích phân hàm, đã say mê đến nỗi ông bắt ngay chuyến tàu đầu tiên tới Marseilles để nói chuyện với Morlet và các đồng nghiệp của ông. “Nó giống như một câu chuyện cổ tích”, Meyer kể trong một cuộc phỏng vấn năm 2011. “Tôi cảm thấy cuối cùng đã tìm được nhà của mình.”  Năm 1986, Meyer đã tạo ra loạt wavelet đầu tiên và trong những năm tiếp theo, khi làm việc ở Đại học Paris Dauphine, ông trở thành tâm điểm của một mạng lưới các nhà toán học, các kĩ sư, nhà vật lí và nhà khoa học máy tính, và dường như cứ mỗi tuần họ lại có một phát minh mới, Morel nhớ lại.  “Ông trao đổi với những người thậm chí không nói cùng ngôn ngữ toán học,” Morel kể. “Tất cả những người này đều có những mảnh ghép của bức tranh.”  Một lý thuyết đẹp đẽ, rõ ràng, phổ quát đã xuất hiện, vừa bao hàm vừa cải thiện những công cụ giúp cho Giải tích Fourier trở nên thực tiễn hơn. Thí dụ, công trình của Meyer cho thấy các công cụ được phát minh để phục vụ việc xử lý tín hiệu cũng có thể dùng để nén dữ liệu, Morel nói thêm.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/wavelet-revolution-pioneer-scoops-top-maths-award-1.21691    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người dùng Việt mất gần 8.000 tỷ đồng do virus máy tính      Nghiên cứu mới nhất của Công ty An ninh mạng Bkav thực hiện vào  tháng 4/2013 cho thấy, trong vòng 12 tháng qua, người dùng Việt đã phải  chịu tổn thất lên đến gần 8 nghìn tỷ đồng do virus máy tính.    Con số này tuy thấp hơn nhiều so với mức thiệt hại do tội phạm mạng tại các nước phát triển, nhưng là một thiệt hại rất lớn đối với người sử dụng tại Việt Nam.   Số liệu tại Việt Nam được tính dựa trên mức thu nhập của người sử dụng máy tính và thời gian công việc của họ bị gián đoạn do các trục trặc gây ra bởi virus máy tính. Theo đó, bình quân mỗi người sử dụng máy tính tại Việt Nam đã bị thiệt hại 1.354.000 VNĐ. Với ít nhất 5,9 triệu máy tính (theo Sách Trắng về Công nghệ Thông tin – Truyền thông 2012) đang được sử dụng trên cả nước thì mức thiệt hại do virus gây ra mỗi năm lên tới gần 8 nghìn tỷ VNĐ.  Cũng trong nghiên cứu này, các chuyên gia Bkav đưa ra các nhận định về tình hình an ninh mạng tại Việt Nam:  Nguy cơ nhiễm mã độc từ USB có xu hướng tăng trở lại  Với 93% người dùng thừa nhận ổ đĩa USB của mình đã bị nhiễm virus ít nhất một lần trong 12 tháng qua, tăng 5% so với năm ngoái, USB tiếp tục là phương tiện phát tán ưa thích của virus. Nguy cơ này sẽ còn tiếp tục tăng cao vì sự xuất hiện của mã độc W32.UsbFakeDrive mà hệ thống giám sát virus của Bkav đã phát hiện hồi cuối tháng 3/2013. Đây là loại virus có khả năng lây lan bùng phát chỉ với thao tác đơn giản là mở ổ đĩa của người dùng.  Trước đây, các dòng virus AutoRun phát tán với tốc độ chóng mặt khiến Microsoft buộc phải cắt bỏ tính năng AutoRun đối với USB từ Windows 7 và trên cả Windows XP phiên bản cập nhật. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của W32.UsbFakeDrive, các chuyên gia nhận định đây sẽ là mã độc thay thế các dòng AutoRun này.  Gần 70% người dùng di động bị làm phiền bởi tin nhắn rác  Gần 70% người dùng tham gia khảo sát của Bkav thường xuyên bị làm phiền bởi tin nhắn rác. Đặc biệt, 26% trong số này nhận được tin nhắn rác mỗi ngày. Kết quả này cho thấy tin nhắn rác tiếp tục là vấn nạn gây bức xúc trong xã hội, khi mà tại Việt Nam, cứ 100 người dân thì có 144 thuê bao di động được sử dụng (theo Sách Trắng về Công nghệ Thông tin – Truyền thông 2012).  Theo khảo sát của Bkav vào cuối năm 2012, trung bình mỗi ngày các nhà mạng thu về khoảng 3 tỷ đồng, tức gần 100 tỷ mỗi tháng từ các hoạt động liên quan đến tin nhắn rác. Số liệu mới nhất của Bkav cho tới thời điểm hiện tại cho thấy con số này vẫn không giảm.  Tín hiệu khả quan về an ninh cho smartphone  Trong hơn một năm qua, mảng an ninh trên điện thoại có nhiều biến động, rất may người dùng tại Việt Nam đã có được nhận thức đúng đắn. Gần 80% người dùng cho biết sẽ tìm hiểu về thương hiệu của nhà sản xuất và uy tín của phần mềm trước khi quyết định tải về từ các kho ứng dụng như Google Play, Apple Store hay Windows Market.  Đây là một tín hiệu khả quan, khi mà mỗi tháng có hơn 19.000 ứng dụng mới được đưa lên Apple Store, con số này của Google Play là 25.000, chưa kể đến các chợ ứng dụng cả chính thống lẫn không chính thống khác. Trong mê trận những ứng dụng mới này, con số những phần mềm giả mạo, núp bóng các ứng dụng nổi tiếng để lừa người sử dụng không phải là ít.  Người dùng đã nhận thức được nguy cơ lây nhiễm virus từ file văn bản  Có lẽ nhờ sống trong môi trường Internet đầy những nguy cơ đe dọa an ninh an toàn thông tin, người sử dụng Việt Nam đã rèn luyện được cho mình thói quen cẩn trọng với các file đính kèm trong email. Theo khảo sát của Bkav, chỉ 11% người dùng thừa nhận sẽ mở ngay các file văn bản từ email để xem nội dung. Trong khi, có tới hơn 60% người được hỏi sẽ chỉ mở file khi đã xác nhận lại với người gửi, hoặc sử dụng chế độ an toàn để mở (Safe Run). Số còn lại cũng tỏ ra thận trọng, chỉ đọc những file họ thực sự quan tâm.  Cuối năm 2012, hệ thống máy tính tại hàng loạt các cơ quan, doanh nghiệp của Việt Nam đã bị lây nhiễm phần mềm gián điệp (spyware) sau khi người sử dụng mở các file văn bản .doc, .xls, .ppt đính kèm trong email.  Để phòng ngừa bị lây nhiễm spyware từ các file văn bản, các chuyên gia khuyến cáo người sử dụng cần cài đặt phần diệt virus có khả năng ngăn chặn và chống phần mềm gián điệp, keylogger. Bên cạnh đó, người dùng cần tăng cường sử dụng công nghệ Safe Run của phần mềm diệt virus để mở những file văn bản đáng ngờ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người lao động cần cù mà vẫn nghèo  – lỗi tại các doanh nghiệp nhà nước độc quyền      Những năm gần đây giới trí thức Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo về hiểm họa nghiêm trọng của sự phát triển chủ nghĩa tư bản thân quen ở nước này: một số ít người lợi dụng quan hệ thân quen với chính quyền để độc quyền thao túng nền kinh tế, làm thiệt hại quyền lợi của đa số nhân dân; các doanh nghiệp nhà nước độc quyền là công cụ để thực hiện sự thao túng đó. Dưới đây là bài viết của nhà kinh tế nổi tiếng Vương Tắc Kha đăng trên “Đông phương Tảo báo” Trung Quốc số ra ngày 28/10/2010.     Là một nhà kinh tế học, tôi đặc biệt tán thưởng câu nói của Giáo sư Trương Duy Nghênh “Bảo vệ kinh tế thị trường là trách nhiệm cơ bản của các nhà kinh tế” .   Vương Tắc Kha    Giáo sư (GS) Trương Duy Nghênh [1] là người kiên định bảo vệ kinh tế thị trường. Cá nhân ông đã thực sự có những cống hiến cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế định hướng thị trường của Trung Quốc. Tác phẩm mới của GS “Lô-gic của thị trường” tập hợp 16 bài viết của ông từng đăng trên báo chí Trung Quốc và nước ngoài trong một phần tư thế kỷ qua. Theo tôi nghĩ, tư tưởng trung tâm của cuốn sách này chính là câu nói của ông: Bảo vệ kinh tế thị trường.  Tư Mã Thiên và Adam Smith  Ngay từ đầu GS Trương đã nêu rõ: “Kinh tế thị trường là sáng tạo vĩ đại nhất của loài người, là Luật chơi tốt nhất trong các tiến bộ của loài người!” “Lô-gic cơ bản của kinh tế thị trường là: Nếu ai muốn được hạnh phúc thì người ấy trước hết phải làm cho người khác được hạnh phúc.”   Cơ chế của kinh tế thị trường hiện đại là để “đồng tiền-phiếu bầu” [2] lên tiếng, giỏi thắng kém thua, nâng cao mức độ phúc lợi toàn xã hội.  Nếu bạn muốn giành được nhiều đồng tiền-phiếu bầu thì bạn phải cung cấp cho thị trường các mặt hàng được người ta thích mua, kể cả các mặt hàng có tính dịch vụ như cắt tóc, du lịch. Trước tiên người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn, dưới tiền đề món hàng ấy đem lại cái tốt cho người ta, tốt hơn so với việc người ta giữ lại trong túi mình số tiền họ cần trả cho việc mua món hàng ấy của bạn. Thứ hai, người ta bằng lòng bỏ tiền mua hàng của bạn chứ không mua hàng của người khác, nguyên nhân là bỏ ra cùng một số tiền như nhau, hàng của bạn đem lại nhiều cái tốt hơn so với hàng của người khác.   So sánh cái tốt tức là so sánh giá trị. Bởi vậy, GS Trương Duy Nghênh nói: “Bản chất của cạnh tranh thị trường là sự cạnh tranh giá trị tạo ra cho người khác.”  Đó chính là ý tưởng “Bàn tay vô hình” mà Adam Smith [3], ông tổ kinh tế học hiện đại khái quát lại trong danh tác Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc.   Theo giải thích của GS Trương, Adam Smith nói “Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều theo đuổi lợi ích của mình – ở đây là lợi ích theo nghĩa rộng, kể cả mưu cầu tài sản, cũng có thể mưu cầu thanh danh cho mình – nhưng có một bàn tay vô hình làm cho bạn, trong khi theo đuổi lợi ích của mình thì lại tạo ra một giá trị cho người khác, cái giá trị ấy lớn hơn giá trị mà ý định chủ quan của bạn muốn đóng góp cho xã hội.” GS Trương cho rằng đây chính là điều kỳ diệu của kinh tế thị trường.  GS Trương Duy Nghênh nói một cách quy nạp: “Thị trường là gì? Thị trường là chế độ trong đó xấu hay tốt là do người khác đánh giá chứ không phải do bạn tự đánh giá. Trên thị trường, bất cứ ai không tạo ra giá trị cho người khác thì sẽ không thể có thu nhập. Cho nên bạn phải cố gắng tạo ra giá trị cho người khác.” “Cái nào có giá trị, cái nào không có giá trị, điều đó phải được thử nghiệm trên thị trường, phải do người mua đánh giá.”  Những kẻ phản đối kinh tế thị trường không những hạ thấp ý tưởng “Bàn tay vô hình” của Adam Smith là “chủ nghĩa độc tôn thị trường” mà còn, trên độ cao ý thức hệ, quy nó vào ảnh hưởng của kinh tế học dung tục của giai cấp tư sản phương Tây – nghe thật là sởn tóc gáy.  Thực ra, trong cuốn Sử Ký của mình, Tư Mã Thiên, nhà văn và nhà tư tưởng nổi tiếng Trung Quốc thời Tây Hán đã thể hiện rõ ràng ý tưởng sau này Adam Smith khái quát lại thành “bàn tay vô hình”.   Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đã viết một đoạn văn ngắn, đại ý có nghĩa là: Nhờ vào sự trồng trọt của nông dân mà người ta có cái ăn, nhờ thợ sơn tràng mà người ta có gỗ ván để làm đồ đạc, nhờ thợ thủ công làm ra đồ dùng mà người ta được thỏa mãn nhu cầu; nhờ các nhà buôn chở và bán mọi thứ vật dụng đó mà người ta có dịp chọn mua. Lẽ nào lại còn phải cần tới nhà nước ra lệnh dạy bảo dân chúng định kỳ họp chợ để thực hiện những việc nói trên hay sao? Mọi người ai nấy làm việc theo khả năng của mình, gắng sức mình làm, qua đó thỏa mãn nhu cầu của mình. Bởi thế, khi vật giá rẻ thì họ tìm cách mua hàng, khi vật giá đắt họ tìm cách bán hàng. Ai nấy cần cù, vui vẻ làm nghề của mình, ví như nước chảy chỗ trũng, ngày đêm chảy mãi không thôi, chẳng cần ai kêu gọi họ cũng làm, chẳng cần ai tuyển mộ thì dân chúng cũng tự sản xuất ra mọi thứ. Điều ấy hợp quy luật và tự nhiên được chứng minh là đúng.   Đoạn văn nói trên của Tư Mã Thiên thể hiện ý tương hầu như hoàn toàn ăn nhập với cách trình bày “Bàn tay vô hình” nổi tiếng của Adam Smith, ông tổ của kinh tế học hiện đại. Nhưng Tư Mã Thiên của Trung Quốc có trước Adam Smith của Anh Quốc hơn 1800 năm!  Đáng tiếc là từ khi “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” [4] trở đi, chủ trương dùng đạo đức thay cho pháp trị trong việc cai trị quốc gia đã trở thành giấc mộng của giai cấp đại sĩ phu Trung Quốc. Đây là căn nguyên của bao nhiêu vấn đề tồn tại trong xã hội phong kiến, cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Trung Quốc từ sau đời Đường Tống trở nên lạc hậu. Trên ý nghĩa đó, chúng ta cần “trở lại Tư Mã Thiên”, tôn thờ kinh tế thị trường.    Thị trường bị biến dạng cho nên không hoàn mỹ   GS Trương Duy Nghênh chỉ rõ: “Dĩ nhiên, trong thực tế, thị trường bao giờ cũng không hoàn mỹ mà luôn tồn tại vấn đề này vấn đề nọ. Nguyên nhân chính là ở chỗ môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện, hiểu biết của con người có giới hạn, thị trường sẽ chịu sự can nhiễu của các lực lượng chống thị trường, nhất là sự can nhiễu từ các nhóm lợi ích và từ chính quyền.”   Nhân tố “môi trường pháp lý mà thị trường dựa vào đó để vận hành thường là không hoàn thiện” có ảnh hưởng rất rõ ràng đối sự vận hành của kinh tế thị trường. Thí dụ, nếu hiện tượng cân thiếu, hàng sai chủng loại mà không bị trừng phạt thì giao dịch thị trường sẽ không thể bảo đảm tạo ra giá trị cho đối phương. “Môi trường pháp lý thường xuyên không hoàn thiện” còn bao gồm mua tranh bán cướp, vơ vét hàng hóa… đều là hậu quả của sự phá hoại điều kiện tiền đề: giao dịch thị trường phải đem lại lợi ích cho cả hai bên giao dịch.  Chính quyền quấy nhiễu thị trường là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất. Trên thực tế, sự can nhiễu của “môi trường pháp lý không hoàn thiện” và của các nhóm lợi ích đều có thể bao hàm trong sự can nhiễu của chính quyền, bởi lẽ “môi trường pháp lý không hoàn thiện” chính là kết quả công việc của chính quyền; nếu chính quyền hoàn thiện được môi trường pháp lý kinh tế thị trường thì các nhóm lợi ích không thể quấy nhiễu được.  Sau khi khẳng định “Không có chính quyền thì kinh tế không thể phát triển; bản thân chính quyền là một nhu cầu của thị trường”, GS Trương chỉ rõ “Nhưng vấn đề là ở chỗ biện pháp mà chính quyền kiếm được thu nhập thì khác với biện pháp của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không tạo ra giá trị thì không thể có thu nhập, còn chính quyền thì dù không tạo ra giá trị nhưng vẫn có thu nhập qua biện pháp thu thuế.”  Đây là mấu chốt của vấn đề. GS Trương viết “Cái gọi là cạnh tranh không phải là nói một ngành nghề có nhiều doanh nghiệp, mà là nói chính quyền cho phép tự do làm ngành nghề đó.” Đúng vậy, khi một địa phương nào đấy chỉ có một cửa hàng mằn thắn, xem ra là không có cạnh tranh, nhưng ý nghĩ “người khác cũng có thể mở hiệu mằn thắn” lại là một sức ép cạnh tranh vô hình, nó khiến cho cửa hiệu kia khi nghĩ tới khả năng ấy phải ra sức làm cho cửa hiệu mình có thức ăn ngon, giá rẻ, chứ không được tùy tiện nâng giá vì lý do mình là cửa hiệu duy nhất. Lúc này, nếu chính quyền đặt ra trở ngại bên ngoài tiêu chuẩn mở cửa hiệu mằn thắn mới, thì sẽ xuất hiện không gian để tham nhũng.  Vụ sữa bẩn Tam Lộc là một bài học đau xót. Có người phê phán đó là do kinh tế thị trường để cho các doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận. Nhưng vì sao ở nhiều nước có cạnh tranh thị trường mạnh hơn Trung Quốc lại không có hiện tượng như vậy? Tam Lộc gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng, họ dựa vào cái gì để thành công trên thị trường? Đó chủ yếu là do thị trường Trung Quốc chưa chuẩn hóa.  Đặc biệt, một năm trước khi xảy ra vụ Tam Lộc, dưới sự dàn dựng của Bộ Khoa học kỹ thuật, sữa bột Tam Lộc được tặng “Giải tiến bộ KHKT nhà nước hạng nhì”, một giải thưởng rất cao. Với hào quang như thế, sữa Tam Lộc giành được thành công thị trường ở Trung Quốc.    Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường   GS Trương vạch ra: chính quyền can thiệp thị trường làm cho thị trường không phát triển tốt; lẽ ra việc chính quyền nên làm là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, đẩy mạnh cạnh tranh. GS viết: bất cứ biện pháp nào hạn chế cạnh tranh đều chỉ có lợi cho một số ít người. Việc điều động bố trí tài nguyên chỉ có hai cách: hoặc theo thị trường, hoặc theo đặc quyền. Nếu không theo thị trường thì nhất định là theo đặc quyền. Bất cứ biện pháp nào cố ý hạn định giá cả, hạn chế cạnh tranh, cuối cùng chỉ có lợi cho một số ít người có đặc quyền.  Doanh nghiệp nhà nước là hình thức quan trọng để nhà nước can thiệp thị trường, kể cả nhiều đặc quyền miễn phí chiếm dùng tài nguyên nhà nước.   Mới đây Ủy ban Phát triển Cải cách Nhà nước nói: “Mùa đông năm nay việc cung ứng khí đốt chịu nhiều sức ép, Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc bị lỗ nặng.” Loại tiếng nói tạo dư luận cho một đợt tăng giá mới này lập tức bị quần chúng nhân dân phê bình. Họ nói: Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc rõ ràng là tập đoàn kiếm tiền nhiều nhất trên thế giới, nắm độc quyền vững chắc nhất, thế mà ngày nào cũng kêu lỗ, đó chẳng qua là họ muốn kiếm thêm lợi nhuận lấy từ nhân dân cả nước mà thôi.   Vài năm gần đây, một quan chức nhà nước tự khoe là “trung thần” gọi tập đoàn độc quyền ấy là “Con cả của nước Cộng hòa”. Vị này nói nếu không có “Ba Thùng Dầu” như Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc thì chẳng biết nền kinh tế quốc dân nước ta sẽ ra sao đây.    Chúng ta không thể không hỏi: Những mỏ dầu và nhà máy lọc dầu được xây dựng bằng vốn đầu tư lấy từ mấy chục năm tiền thuế của hơn 1 tỷ dân ta đã trở thành tài sản riêng của vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy; mấy chục triệu km2 đất đai và vùng biển tài nguyên thiên nhiên của toàn dân hầu như được miễn phí giao cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên, khai thác với hiệu suất cực thấp… vì sao họ không kiểm điểm trách nhiệm mà ngược lại còn huênh hoang không biết xấu hổ?  Tại các nước lớn trên thế giới, thuế suất đánh vào ngành khai thác dầu đều bằng khoảng mười mấy phần trăm giá dầu. Chỉ có ở Trung Quốc thuế suất loại thuế tài nguyên này chưa tới 1%. Như vậy chẳng phải là hầu như miễn phí giao tài nguyên thiên nhiên cho vị “Con cả nước Cộng hòa” ấy bới tung lên đó sao? Trong tình hình đó tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp dầu khí độc quyền Trung Quốc xếp thứ nhất toàn cầu, lợi nhuận ngày một tăng, điều này có gì mà huênh hoang? Họ chẳng đem lại bao nhiêu lợi ích lớn cho đời sống nhân dân, sau này khi tài nguyên khô kiệt sẽ chỉ để lại sự bần cùng và ô nhiễm.  Chính là cái doanh nghiệp độc quyền hiệu suất cực thấp mà lợi nhuận cực cao ấy lại dăm ngày ba bận gây ra sự căng thẳng trong cung cấp dầu khí, không ngại gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác và thúc ép Bộ Tài chính thỉnh thoảng cấp cho họ những khoản “trợ cấp” khổng lồ.   Than ôi! Những vị “Con cả của nước Cộng hòa” có “giá trị thị trường đứng đầu toàn cầu” ấy có hiếu kính cha mẹ của mình – nhà nước – hay không? Có yêu mến hơn một tỷ “em trai em gái” của mình hay không?  Doanh nghiệp quốc doanh là hình thức quan trọng để chính quyền can thiệp thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền. Nhân dân nước ta cần cù lao động mà không giàu lên được, tài nguyên nước ta bị khai thác với hiệu suất thấp như vậy – trong việc này các doanh nghiệp quốc doanh độc quyền phải chịu trách nhiệm chủ yếu.   Trong một bài báo của mình, ông Hứa Tiểu Niên [5] viết: Trải qua 30 năm cải cách mở cửa, chính quyền trở thành tập đoàn lợi ích đặc biệt trong thị trường. Quyền thế chuyển hóa thành lợi ích kinh tế; một thị trường như vậy nếu phát triển tiếp sẽ rất nguy hiểm – đây là con đường của Suharto ở Indonesia, của Marcos ở Philippines, con đường áp chế quyền lợi của dân chúng và quyền lợi của các doanh nghiệp, đi ngược lại phương hướng cải cách thị trường hóa của Đặng Tiểu Bình.  Đúng như GS Ngô Kính Liên [6] từng chỉ rõ: đặc điểm bản chất nhất của kinh tế thị trường là sự trao đổi tự do, tự chủ; nếu ở bên trên luôn luôn có sự khống chế của lực lượng hành chính, nếu chính phủ có thế mạnh lại hoạt động mạnh tới mức chủ đạo trình độ điều phối nguồn tài nguyên kinh tế, thế thì không gọi là kinh tế thị trường nữa mà gọi là chủ nghĩa tư bản thân quen [7] mất rồi!  Cần kiên quyết bảo vệ kinh tế thị trường  GS Trương Duy Nghênh viết tiếp: Vì sao phải bảo vệ kinh tế thị trường? Trước hết, kinh tế thị trường không được những kẻ đã giành được quyền lợi và tầng lớp đặc quyền ưa thích lắm. Kinh tế thị trường là chế độ bình đẳng nhất kể từ khi loài người có sử, nó tạo ra cơ hội cho mỗi người, nó từ chối đặc quyền. Nó có thể làm cho người nghèo trở thành giàu và làm cho người giàu trở thành nghèo. Cho nên kẻ có đặc quyền, hoặc kẻ thích đặc quyền, hoặc kẻ muốn qua đặc quyền mà thu được lợi ích đều không muốn chấp nhận sự thách thức của kinh tế thị trường, vì nền kinh tế đó xung đột với lợi ích của họ. Lịch sử cho thấy, lực lượng lớn nhất chống đối kinh tế thị trường chính là tầng lớp đặc quyền và những kẻ đã giành được quyền lợi.   GS Trương viết, kinh tế thị trường có một nhược điểm: khi bạn được hưởng mặt tốt của nó thì bạn có thể thấy nó toàn là khuyết điểm; khi bạn không có dịp hưởng mặt tốt của nó thì bạn lại chẳng thấy đâu là ưu điểm của nó. Nhất là khi do sự can thiệp không thích đáng của chính quyền hoặc của một cường quyền nào đó làm cho sự vận hành bình thường của kinh tế thị trường bị phá hoại, khiến cho nó thể hiện thành một loại kinh tế thị trường bệnh hoạn, khi ấy người ta thường hay tưởng rằng đó là khiếm khuyết bản thân của nó.  Như vậy, cảm giác sai lầm nói trên của mọi người sẽ rất dễ bị bọn theo chủ nghĩa cơ hội lợi dụng.   “Vì rất nhiều người chưa thể nhìn nhận một cách có lý trí các vấn đề xuất hiện trong xã hội, do đó đã tạo cơ hội cho những kẻ quen phỉnh phờ lấy lòng quần chúng. Bọn họ phê bình kinh tế thị trường, không phải vì họ nhất định cho rằng kinh tế thị trường không tốt mà là do họ biết rằng phê bình như thế sẽ được công chúng khen ngợi và ủng hộ. Số người ấy có thể là học giả, cũng có thể là các nhân vật chính trị.   Do nhu cầu chính trị, từ xưa tới nay bao giờ cũng có một số nhà chính trị nói xấu kinh tế thị trường, bởi lẽ họ biết rằng nếu đưa ra các khẩu hiệu và chính sách chống kinh tế thị trường thì họ sẽ được ca ngợi, giành được nhiều phiếu bầu. Các nhà chính trị thích hứa cho mọi người được ăn bữa trưa miễn phí, vì mọi người thích được ăn như thế, nhưng các nhà kinh tế thì lại bảo mọi người là trên thế giới này không bao giờ có bữa trưa miễn phí. Cho nên dù xưa hoặc nay, dù ở Trung Quốc hoặc nước ngoài bao giờ cũng có rất nhiều người phản đối lô-gic của kinh tế học, coi các nhà kinh tế là kẻ thù.”   Đúng vậy, việc các quan chức chính quyền tự giác hoặc không tự giác đổ lỗi cho kinh tế thị trường đã trở thành một hiện tượng phổ biến.  Vì thế chúng ta phải bảo vệ kinh tế thị trường!   Nguyễn Hải Hoành lược dịch    Ghi chú của người dịch:  * Wang Ze-ke, GS kinh tế Đại học Trung Sơn, Quảng Châu  [1] Zhang Wei-ying, GS kinh tế ĐH Bắc Kinh  [2] Currency votes: Khi người tiêu dùng chọn mua một sản phẩm trong vô số sản phẩm cùng loại, số tiền họ bỏ ra mua tựa như số phiếu bầu cho sản phẩm đó, giúp nâng cao địa vị của nó (và doanh nghiệp sản xuất nó). Khi ấy đồng tiền được coi là phiếu bầu. Thể hiện rõ nhất trên thị trường chứng khoán: cổ phiếu công ty nào được nhiều người mua tức là công ty đó nhận được nhiều phiếu bầu.  [3] Adam Smith (1723-1790), triết gia, nhà kinh tế người Scotland, một trong những nhà sáng lập kinh tế học cổ điển. Tác phẩm lớn: An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations, 1776.   [4] Gạt bỏ trăm nhà, độc tôn Nho giáo. Thực chất là dựng Nho giáo làm hệ tư tưởng chuyên chế phong kiến phản động, tiêu diệt mọi tư tưởng dân chủ tự do bình đẳng.  [5] Xu Shao-nian, GS kinh tế Học viện Công thương quốc tế Trung Âu, nguyên cố vấn Ngân hàng Thế giới.  [6] Wu Jing-lian, Nghiên cứu viên Trung tâm Phát triển Quốc vụ viện TQ, Ủy viên thường vụ Chính Hiệp TQ  [7] Cronycapitalism, TQ gọi là chủ nghĩa tư bản quyền quý: tình trạng kết hợp tư bản với quyền lực, độc chiếm và độc quyền sử dụng tài sản xã hội, nó ngăn chặn lối thoát (qua sự công bằng về lao động và trí tuệ) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ này nhằm vào hành vi tham nhũng của tầng lớp quyền quý nắm chính quyền, do quan hệ thân thích, hôn nhân và bạn bè mà giành được lợi ích chính trị, kinh tế; cũng nhằm vào hành vi bao che bênh vực, đề bạt và tưởng thưởng của nhà lãnh đạo chính trị đối với những kẻ trung thành và bám theo mình.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người nghệ sĩ đằng sau mật mã không thể phá vỡ      Hơn một thế kỉ đã trôi qua, nhưng những gì nhà soạn nhạc Edward Elgar để lại vẫn khiến các nhà mật mã phải đau đầu.    Đó là năm sẽ diễn ra đại lễ kim cương của nữ hoàng Victoria (đánh dấu 60 năm trị vì của bà), năm 1897 với viễn cảnh nước Anh đầy hi vọng và vinh quang. Mùa hè năm ấy, Edward Elgar, người được coi như nhà soạn nhạc hàng đầu đất nước, tròn 40 tuổi. Để chuẩn bị cho lễ kỉ niệm, ông đã viết The Imperial March (hành khúc đế vương), tiền thân cho bản Pomp and Circumtance (hành khúc uy phong và lộng lẫy” mà rồi sẽ khiến ông trở nên nổi tiếng. Trước đó, ông đã trình bày bản King Olaf, khởi đầu cho một loạt bản hợp xướng và giao hưởng sẽ đưa ông trở thành một tên tuổi xuất sắc như The Dream of Gerontius (Giấc mơ của Gerontius) và Variations on an Original Theme (Enigma), được biết đến dưới cái tên Enigma Variations (Biến tấu Enigma).     Thư gửi Dorabella     Tháng 7 năm ấy, Elgar đang viết một bản nhạc dành cho lễ hội, Te Deum và Benedictus. Ông làm việc trong một chiếc lều lớn đặt giữa khu vườn nhà ông ở Malvern, miền Nam nước Anh, nơi ông sống cùng với vợ và con gái. Một ngọn cờ được cắm trên nóc lều ám chỉ nhà soạn nhạc đang làm việc. Bên trong, giữa ngổn ngang các bản nhạc, Elgar làm việc điên cuồng, chỉ thỉnh thoảng ngừng lại để phóng tầm mắt nhìn ra những ngọn đồi và tàn tích của người Celt thời kì Trung cổ cách đó 40 dặm, mà vẫn luôn là niềm cảm hứng cho ông.  Elgar có vẻ ngoài là một người hiền lành với vóc dáng cao, gầy và bộ ria độc đáo. Ông là con trai của một người lên dây cho đàn piano, hoàn toàn tự học âm nhạc “từ hòa âm đến fugue”. Ông là một người luôn vội vã và đầy mâu thuẫn, say mê nhưng cũng liên tục chán nản âm nhạc, luôn bị giằng xé giữa sự phấn kích và tuyệt vọng, và có một nỗi ám ảnh khôn nguôi với mật mã, câu đố và những “chuyện thần thoại dân gian”, theo như nhà phê bình âm nhạc và người bạn lâu năm Ernest Newman của ông viết.  Vào ngày 14 tháng 7, sau chuyến viếng thăm vào cuối tuần trước tới nhà vài người bạn của gia đình, Elgar đã đưa cho vợ mình, Alice, một tờ giấy trông giống như một bức vẽ hoặc một bức thư nguệch ngoạc để đính kèm vào lá thư cảm ơn. Nó được dành cho Dora Penny, một người hâm mộ ông cuồng nhiệt, 23 tuổi, thành viên của nhóm hợp xướng địa phương và thích nhảy đầm. Họ đã biết nhau khoảng một năm rưỡi nhưng cô không phải là tình nhân của ông. Đúng hơn, cô chỉ là người giải khuây, giống như một nàng bướm Aquarian sặc sỡ bay cùng khi ông đạp xe, thả diều, dạo qua những bụi cỏ xanh mướt và hoa chuông tím ở Malvern. Cô là một người không chỉ đọc nhạc đủ tốt để có thể giúp ông lật trang của bản nhạc trên đàn piano khi biểu diễn mà còn là người ông có thể nói về bản đồ, về thời trang cũng như đội bóng Wolverhampton Wanderers yêu thích của ông. Ông đặt biệt danh cho cô là Dorabella.  Những dòng chữ viết nguệch ngoạc của Elgar thực ra là một mật mã. Nó bao gồm 87 kí tự, trải đều trên ba dòng. Nó chứa 24 biểu tượng khác nhau, mỗi biểu tượng có một, hai, ba nét móc hoặc đường cong. Các kí tự có thể có tám góc nghiêng khác nhau. Dora thoạt nhìn không hiểu chúng có ý nghĩa gì, cô cất vào ngăn tủ và không hề nhìn tới nó trong 40 năm sau.       Những dòng chữ nguệch ngoạc đó gọi là mật mã Dorabella, một trong những bí ẩn vẫn chưa có lời giải đáp, bên cạnh những câu đố nổi tiếng khác như Bản thảo Voynich (một bản mã 240 trang có từ thế kỷ 15), Đĩa Phaistos (một mảnh đất sét có vẻ như bằng đồng được tìm thấy ở Belarus năm 1908) và mật mã Zodiac Killer của thập niên 1960 và 1970. Vô số nhà mật mã học đã cố gắng dùng các công cụ toán học hoặc phân tích để bẻ khóa Mật mã Dorabella và một vài trong số họ tự nhận mình đã giải quyết được nó.  Tuy nhiên, Hiệp hội Elgar (một tổ chức thiện nguyện thành lập từ năm 1951 nhằm quảng bá cho âm nhạc của Elgar) không cảm thấy thuyết phục. Họ muốn một lời giải hiển nhiên và rõ ràng đến mức bất kì một người hâm mộ Elgar nào cũng phải nhìn nhau gật gù: “Ồ đúng rồi, tại sao trước đó mình không nhìn ra nhỉ?”  Thế nhưng dường như Mật mã Dorabella lại mang tính chủ quan, mỗi người có thể diễn giải theo một kiểu, đi ngược lại hoàn toàn quan niệm truyền thống cho rằng việc giải mã thuần túy chỉ là vấn đề toán học, chỉ có một đáp án duy nhất đúng. Chính vì vậy, là một mật mã nhưng Dorabella lại mang bản chất của một câu đố tuyệt vời.   Marcel Danesi, giáo sư nhân chủng học tại Đại học Toronto và là tác giả của quyển sách “Bản năng giải đố: Ý nghĩa của những câu đố trong đời sống con người” (The Puzzle Instinct: The meaning of Puzzles in Human Life”) cho rằng việc giải mã những câu đố như mật mã Dorabella cũng giống như tìm câu trả lời cho những vấn đề lớn trong triết học hay khoa học, đó là một quá trình “dẫn đến sự sáng tạo và một sự hiểu sâu sắc hơn về thế giới.”  Nghệ sĩ bản chất đã là những người tạo ra câu đố. Trong các tác phẩm của họ luôn có các yếu tố khiến chúng ta phải đau đầu ghép chúng lại, tìm ra các hình mẫu và các ý nghĩa, khuấy động trí tưởng tượng của chúng ta. Elgar, một nghệ sĩ hoàn hảo, thích giải đố và gây tò mò cho bạn bè cũng như khán giả của mình. Dù đáp án của nó là gì đi chăng nữa, một điều chắc chắn về Mật mã Dorabella là nó sẽ được mở theo “tinh thần Elgar”.     Elgar và sở thích với mật mã     Minh chứng rõ ràng nhất cho nỗi ám ảnh của Elgar với việc tạo ra và duy trì những bí ẩn chính là bản nhạc Biến tấu Enigma, ra mắt vào năm 1899. Tác phẩm dài 32 phút, dành cho organ và dàn nhạc, là một loạt các phác thảo âm nhạc, có chứa mật mã ám chỉ những người ông quen, trong đó có cả chú chó bull của một người bạn và Dora. Sau này trong cuốn sách hồi kí của mình, Dora nói cô cảm thấy một cơn lốc của niềm vui, niềm tự hào và gần như xấu hổ khi biết ông có thể viết một bản nhạc đáng yêu như vậy về cô… Dù ban đầu Dora không hiểu ý nghĩa của bạn nhạc đó, nhưng sau này chúng ta đều biết cô cũng là nạn nhân của sự “hài hước thâm sâu” của Elgar, bởi vì ông ghi lại cả kiểu dậm chân khi lo lắng của cô trong bản nhạc.   Mật mã Dorabella đã đi vào biên niên sử của ngành mật mã học dù ban đầu nó chỉ xuất hiện trong phần phụ lục của cuốn hồi kí của Dora với lời chú thích rằng, cô không có, dù chỉ một chút ý niệm về ý nghĩa của lời nhắn đó.   Trong thực tế, mật mã Dorabella là một tin nhắn mã hóa cổ điển. Có vẻ như, mà mỗi kí tự trong tin nhắn tượng trưng cho một hoặc vài chữ trong một bảng chữ cái nào đó. Ngay từ đầu, các nhà giải mã đã phải đối mặt với hai trở ngại cơ bản. Một là vấn đề về tần suất: trong bất cứ ngôn ngữ nào, một vài chữ cái hoặc kí tự được sử dụng phổ biến hơn, và dựa vào đó chúng ta có thể bắt đầu quá trình phân tích mã. Tuy nhiên với Dorabella, chúng ta không có đủ chữ cái để mà phân tích.   Thứ hai chính là mối quan hệ giữa người gửi và người nhận: Elgar quen biết Dora được 20 tháng và đã từng gửi cho cô hai bức thư khác trong thời gian đó. Không có dấu hiệu nào cho thấy ông từng gửi cho cô bất kỳ mật mã nào khác, trước hoặc sau tháng 7 năm 1897. Hơn nữa, Elgar không cố gắng che giấu mật mã (thể hiện bằng việc ông đưa nó cho vợ mình để nhờ giao cho Dora). Tại sao ông lại gửi một câu đố như vậy cho một người quen biết bình thường, người mà chẳng hề có hứng thú giải mã nó? Chẳng lẽ ông đang cố gắng giấu Dora điều gì?   “Lời giải” đầu tiên được đưa ra vào năm 1970 bởi Eric Sams, một thần đồng đã theo học ở Cambridge vào năm 16 tuổi, sau đó làm việc trong ngành tình báo Anh trong Thế chiến II và rồi trở thành một học giả Shakespeare, một nhà âm nhạc học nổi tiếng. Ông đặc biệt chú ý đến cách các nhà soạn nhạc như Schumann và Brahms dùng mật mã trong âm nhạc của họ. Sams đã đề xuất một giải pháp cho Mật mã Dorabella dựa trên bảng chữ cái Hy Lạp. Sams đã nghĩ ra một chìa khóa để liên kết các biểu tượng trong mật mã của Elgar với các nguyên âm và phụ âm (dựa vào tần số của chúng, hình dáng và góc quay). Với chiếc khóa đó, ông đề xuất một đáp án cho mật mã như sau:   Mở đầu: Chim sơn ca! Nơi đây nhưng một chiếc áo choàng đã che khuất những chữ cái mới của tôi, A, B (alpha, beta – chữ cái Hy Lạp hay alphabet)   Phía dưới: Tôi làm chủ bóng tối khiến E.E thở dài khi em rời xa tôi.  STARTS: LARKS! IT’S CHAOTIC, BUT A CLOAK OBSCURES MY NEW LETTERS,  A, B (alpha, beta, i.e., Greek letters or alphabet)  BELOW: I OWN THE DARK MAKES E.E.  SIGH WHEN ARE YOU ARE TOO LONG GONE.  Trong một chú thích, Sams viết “dòng suy nghĩ” dẫn đến lời giải của ông – “hỗn loạn, áo choàng, che đi, chữ cái, alphabet, bóng tối” cùng với biệt danh mà Dora đặt cho Edvard Elgar “E.E”, khiến cho lời giải của ông thật sự mang phong cách Elgar.      Những nỗ lực vô vọng     Dù đáp án của Sam vẫn được coi là rất tốt, nếu không nói là đúng nếu đặt trong tương quan với nhiều lời giải cho mật mã Dorabella khác thì vẫn có thêm nhiều nỗ lực đi tìm câu trả lời hoàn hảo cho câu đố của Elgar. Vào năm 2007, các anh tài giải mã Dorabella lại hội tụ khi Hiệp hội Elgar đã tổ chức một cuộc thi để tìm ra ý nghĩa đằng sau bức mật mã nổi tiếng, hứa hẹn 1.500 bảng Anh cho người chiến thắng. Kevin Jones, giáo sư hồi hưu của Đại học Âm nhạc Kingston, London, chủ tịch hội đồng giám khảo, tuyên bố rằng lời giải phải “có phương pháp” và “thật hiển nhiên”  Có bảy đáp án với nỗ lực nghiêm túc, chúng đi theo một trong hai chiến lược sau. Một là cách giải mã truyền thống, sử dụng một bảng thay thế (để biết cách đối chiếu từ ký tự trong bức thư của Elgar với các chữ cái trong bảng alphabet) và một danh sách các chữ cái tùy ý (mà Elgar thích dùng) để dịch thành văn bản vừa đọc được, vừa gần với ngụ ý của Elgar. Cách tiếp cận khác là xây dựng trước một quá trình giải mã khả dĩ, rồi dò ngược lại xem quá trình đó có đúng không.  Một giải pháp tương đối hấp dẫn đến từ Tim S. Roberts, một giảng viên tại Đại học Central Queensland ở Úc, và là một người giải đố kỳ cựu. “Tôi có chỉ số IQ đạt hơn 170”, Roberts nói với Nautilus qua một email, “nhưng thật không may, ngoài việc giải đố ra, tôi lại vô dụng trong hầu hết các việc khác”. Roberts tiếp cận mật mã Dorabella một cách khá thực dụng. Ông cho rằng thông điệp này không mấy quan trọng; nó được viết bằng tiếng Anh; và, xem xét xu hướng viết nhạc rất nhanh của Elgar, bức mật mã có thể có lỗi. Ông cũng cho rằng đây phải là một thông điệp đơn giản do Dora thiếu kiến thức về mật mã. Từ đó, ông đã áp dụng cách tiếp cận dùng bảng thay thế, nhưng với một điểm khác biệt so với chiến lược truyền thống. Nếu thông thường một ký tự chỉ tượng trưng cho một chữ cái, Roberts quyết định rằng hai ký tự có thể đại diện cho cùng một chữ cái – một kỹ thuật đã được sử dụng để giải mã các biểu tượng của người Maya. Cuối cùng, Roberts tìm ra tên “Penny” trong một nhóm các ký tự và đưa ra chìa khóa để giải mã “Bà Penny, viết mật mã thật là một công việc bận rộn.”  Ông áp dụng vào bảng chữ cái của mình và đưa ra đáp án như sau:       Tái bút: Bây giờ, nhặt hết những hạt giống màu be trong đó – hoàn toàn ngu ngốc – trên khắp cả một cái giường ! Luigi Ccibunud trìu mến lên dây hai lần cho studio của Liuto.  P.S. Now droop beige weeds set in it—pure idiocy—one entire bed! Luigi Ccibunud lovingly tuned Liuto studio two.  Theo Roberts, đáp án chỉ đơn giản là đặt hai dòng suy nghĩ lại gần nhau, một ý nghĩ liên quan đến làm vườn, vì điều đó đã được nhắc đến trong cuốn hồi ký của Dora chỉ vài ngày trước đó, và ý nghĩ thứ hai là theo một bản nhạc được viết bởi một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất đến Elgar thời điểm đó (Luigi Cherubini). Có lẽ ba sở thích lớn nhất của Elgar vào thời điểm này là, theo thứ tự, âm nhạc, câu đố và làm vườn, thật thú vị khi thông điệp đặc biệt này có liên quan đến cả ba!  Một đáp án đáng chú ý khác đến từ Tony Gaffney, một nhà mật mã nghiệp dư, người đã giải được một số mật mã rất khó. Ông khẳng định Elgar đã tạo ra một khóa chữ cái cho các ký hiệu của mình dựa trên sơ đồ giống như đồng hồ trong một trong những cuốn sổ tay của ông. Với khóa đó, theo Gaffney , các ký hiệu sẽ được đọc như sau:  BLTACEIARWUNISNFNNELLHSYWYDUO  INIEYARQATNNTEDMINUNEHOMSYRRYUO  TOEHO’TSHGDOTNEHMOSALDOEADYA  Gaffney lưu ý rằng Elgar yêu thích và thường sử dụng cách phát âm  (Ví dụ như Dorabellllla yêu dấu của tôi, bao nhiêu chữ llll cho đủ), và nói ngược, ví dụ như từ “cipher” (mật mã) trở thành “crehpi”. Áp dụng cách nói ngược, và có tính đến cách phát âm, Gaffney chắc chắn với đáp án của mình:   B (Bella) mèo mun là thứ chiến tranh sử dụng? Những vỏ trứng của gà mái là lí do tại sao  nhà sưu tầm cổ vật kéo gấu áo em, xin lỗi em  Ôi chúa ơi, tôi tạm biệt E (Elgar)  B (Bella) hellcat i.e. war using ?? hens shells is why your  antiquarian net diminishes hem sorry you  theo oh ‘tis God then me so la do E (Elgar) Adieu  Trong lời giải thích của mình, Gaffney viết: “Câu đầu tiên chẳng có ý nghĩa gì với tôi cho đến khi tôi nhớ mình đã đọc một câu trong lá thư Elgar gửi Dora Penny ngày 24/9/1898: “… và Chủ nhật nào đó tại Wolverhampton, em có thể đãi chúng tôi trà và trứng rán như dạo trước”.  Sau khi phân tích các đáp án, Giáo sư Johns và ban giám khảo không tìm ra câu trả lời nào thắng cuộc, dù John có đánh giá cao một số người tham gia có “tham vọng đầy ấn tượng và những phân tích sâu sắc”. Nhưng ông không ấn tượng với cách diễn giải dựa trên cách phát âm của các chữ cái hay các từ. Những đáp án đó, ông viết, “đọc lên giống như một chuỗi âm thanh kì quặc, cứ như một đầu óc ảo tưởng tự gộp đại những chữ cái ngẫu nhiên với nhau, và không có ý nghĩa gì mấy”.  (Gaffney dĩ nhiên không dễ gì thừa nhận mình bị hạ gục. “Hiệp hội Elgar là cái thá gì mà dám nói lời giải của tôi là sai? – Anh viết cho Nautilus qua email).  Nick Pelling, một lập trình viên người Anh, người có hẳn một trang web nổi tiểng và một cuốn sách tự xuất bản về mật mã, đã đưa ra lý do tại sao giải pháp do Roberts và Gaffney đề xuất khó có thể thành công. Họ đưa ra “một nỗ lực rất phức tạp để giải mã, nhưng đó không phải là lời giải trọn vẹn tí nào cho bí ẩn lịch sử này. Và chúng ta cần phải giải quyết cả hai cùng một lúc.”       Pelling đã tin rằng mật mã Dorabella thực sự là một hiệu ứng văn bản giấu tin (stegotext) phi toán học, một mật mã đồ họa, một hình ảnh. Ông chú ý đến việc Elgar gọi ngôi nhà ở Malvern của mình (và dùng nó trong địa chỉ) là Forli theo tên của một họa sĩ người Ý thời Phục hưng đầu tiên vẽ tranh thiên thần. Sử dụng từ đó, Pelling đã đưa ra phương án cho phần đầu của bức thư:  Pelling đã không tiếp tục giải mã nhưng ông cho rằng mật mã thật ra là một câu đố hình ảnh của Elgar hơn là một mật mã truyền thống. Có thể nó đơn giản chỉ ám chỉ đến một địa điểm nơi Elgar và Dora gặp nhau mấy ngày trước đó, nhưng Dora đơn giản là không nhìn sự việc theo hướng đó.   ***  Thật lạ lùng khi Dora Penny không hề quan tâm đến bức thư mà Elgar gửi cho cô, mà hai năm sau sau đó, cô có phản ứng hoàn toàn ngược lại với những bí ẩn âm nhạc có liên quan đến biến tấu Enigma. Cô viết trong hồi ký: “Tôi gần như thức dậy vào ban đêm để suy nghĩ và bối rối, và tất cả đều không vì mục đích gì cả”. Thật vậy, đã có lúc cô trở nên khó chịu và đi gặp Elgar, yêu cầu được biết bí mật. Có phải chủ đề là bản nhạc Auld Ang Syne? Hay bản nhạc nhắc đến Mozart ? Ông nhìn cô theo kiểu nửa nóng nảy, nửa bực tức và búng tay, nhưng rồi sau đó lại chỉ nói đơn giản: “Cô phải tự mình tìm ra.”   Julian Lloyd Webber, một nghệ sĩ cello nổi tiếng và là em trai của nhà soạn nhạc Andrew Lloyd Webber, là chủ tịch của Hiệp hội Elgar. Ông coi mật mã, và tất cả các khía cạnh khác của những bí ẩn xung quanh Elgar, là bản chất của nhà soạn nhạc. “Tôi nghĩ ông luôn muốn kích thích trí tò mò và đánh đố mọi người, biết trước rằng họ sẽ nhắc đến ông – thời điểm các tác phẩm ra đời và rất lâu sau này nữa”, Lloyd Webber nói. “Ông cũng là một người tinh quái. Ông thích chơi khăm mọi người, và một trong những trò đó là gửi cho cô gái tội nghiệp một mật mã mà ông thừa biết rằng cô hoàn toàn không thể giải nổi”.□    Hạnh Duyên dịch  Nguồn: http://nautil.us/issue/6/secret-codes/the-artist-of-the-unbreakable-code    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người nghèo là một động lực tăng trưởng      “Nến kinh tế toàn cầu hóa đang phớt lờ 5 tỷ người tiêu dùng. Các tập đoàn phương Tây đang bỏ qua thị trường cỡ bạc tỷ. Họ chỉ quan tâm đến tầng lớp giầu có ở Trung Quốc và Ấn Độ – đáng ra họ phải tìm cách thu hút người nghèo và coi họ là khách hàng của mình. Nếu biết làm ăn với người nghèo, các bên đều có lợi…”. Đó là ý kiến của Giáo sư ĐH Michigan Coimbatore Krishnan Prahalad, người Ấn Độ, từng là cố vấn cho nhiều tập đoàn như AT&amp;T, Cargill, Citicorp, Oracle, Unilever, và được coi là một trong những nhà quản trị kinh doanh hàng đầu. Ông vừa trả lời phỏng vấn tạp chí Spiegel nhân dịp cuốn sách “Sự giàu có của thế giới thứ ba” của ông xuất bản bằng tiếng Đức.    Thưa giáo sư hàng triệu người Trung Quốc và Ấn Độ đang sống trong hoàn cảnh nghèo khổ – những người giàu có ở nước này vui mừng trước sự tăng trưởng mạnh mẽ của đất nước. Vậy điều có gì  ngăn trở không cho số đông được thụ hưởng sự thăng tiến này?  Đây không phải là vấn đề của Ấn Độ hay Trung Quốc mà là một vấn đề diễn ra rộng khắp trên thế giới. Nền kinh tế toàn cầu đang phớt lờ 5 tỷ người, những con người này không xuất hiện trên màn hình radar của các tập đoàn kinh tế thế giới. 80% dân số thế giới không được coi là khách hàng của họ. Ngay cả những doanh nghiệp mệnh danh là doanh nghiệp toàn cầu cũng mắc phải sai lầm này.  Người nghèo cũng muốn được tiêu dùng, được thụ hưởng kết quả của toàn cầu hóa và tăng trưởng. Họ cũng muốn vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Thật là sai lầm nếu cho rằng người nghèo không thể mua sắm gì cả.  Giáo sư từng nói, nền kinh tế tư nhân có thể giải quyết tình trạng này thậm chí còn kiếm được lợi lộc nữa. Vậy tại sao thị trường lâu nay lại không có những hoạt động theo nhận định này?  Cũng đã có những dấu hiệu. Tôi tin rằng điều này sẽ được giải quyết ổn thỏa. Nếu như 5 tỷ người sẵn sàng mua những vật dụng thường ngày với mức giá phải chăng thì đây là những khả năng không tưởng đối với các nhà doanh nghiệp. Vấn đề là ở chỗ các doanh nghiệp phải biết tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp. Qua đó sẽ mở ra những thị trường mới và từ đó sẽ tạo ra một sự tăng trưởng mạnh mẽ  đối với nền kinh tế thế giới…  Trong cuốn sách “Sự giàu có của Thế giới thứ ba”,  giáo sư thậm chí còn yêu cầu, phải nhận thức được rằng, những người nghèo nhất trong số những người nghèo – nghĩa là những người không kiếm nổi quá 2 đôla một ngày – là động cơ tăng trưởng.  Những người chỉ trích giáo sư cho rằng, với sự thay đổi quan niệm như trên, người nghèo dễ trở thành con mồi cho các tập đoàn.  Ai khẳng định như vậy thì thật vô cùng sai lầm. Vấn đề ở đây không phải là bóc lột hay bị lợi dụng. Vấn đề ở đây là liệu người nghèo có thể mua và tiêu thụ các sản phẩm như  các loại  shampoo (dầu gội đầu), xà phòng, thực phẩm và quần áo hay không. Liệu họ có thể kham nổi các hàng hóa có chất lượng tốt? Họ có quyền tự quyết định mua hay không mua mặt hàng nào đó – điều này đối với chúng ta cũng vậy thôi. Một số doanh nghiệp đã nhận ra điều đó. 70% sản phẩm dầu gội đầu bán tại thị trường Ấn Độ là loại đóng gói trong túi nhỏ chỉ sử dụng một lần. Những sản phẩm như thế thì người ít tiền cũng có thể mua được. Đối với các loại như chè, cà phê và cả thuốc aspirin cũng phải làm như vậy. Người nghèo có kiểu tiêu dùng của họ. Họ chỉ mua đủ để dùng, họ không dư giả để dự trữ. Các nhà sản suất hàng tiêu dùng dần dần đã nhận thức được điều này.    Những người nghèo nhất trong số người nghèo là khách hàng của các tập đoàn lớn giàu có – những người phê phán GS không thể chấp nhận quan điểm trên.  Tôi biết các ý kiến đó, nhưng giải pháp thay thế là gì? Phải chăng là người nghèo hãy tiếp tục ở trong những căn lều rách nát của họ, không được sử dụng shampoo, không được uống cà phê, không mua nổi thuốc chữa bệnh cho mình? Họ muốn nói như thế chứ gì? Họ sử sự như vậy là không công bằng và không thể giải quyết được vấn đề này.  Sự lo lắng ở các nước công nghiệp ngày càng lớn hơn một khi nhu cầu đối với những sản phẩm rẻ tiền tăng lên thì công ăn việc làm sẽ lại càng bị đưa sang các nước như Ấn Độ và Trung Quốc.  Chúng ta đang chứng kiến sự dịch chuyển này và không phải chỉ có sự dịch chuyển lao động- xu hướng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ngày càng phát triển. Người Mỹ, người Châu Âu bay sang Ấn Độ để thực hiện các ca phẫu thuật, tại đây họ được điều trị hết sức hoàn hảo và được lưu trú dăm ba ngày trong những khách sạn sang trọng. Chi phí điều trị lại chỉ bằng hai phần ba so với trong nước. Ở Mỹ các hãng bảo hiểm y tế còn trả thêm tiền thưởng cho các bệnh nhân sang Ấn Độ phẫu thuật vì mỗi ca như vậy họ có thể tiết kiệm được 60.000 đôla. Hơn nữa tại sao người ta lại phải chi 200 đôla để mua một cái DVD trong khi cũng chất lượng ấy, mua máy của Trung Quốc sản xuất chỉ hết 30 đôla? Thế giới ngày nay đang đổi thay.  Nhờ ông Muhammad Yunus, một người vừa được giải thưởng Nobel Hòa bình, quan niệm kinh tế phục vụ người nghèo được nhiều người trên thế giới biết đến…  Đây là một ví dụ điển hình. Yunus đã thành lập Ngân hàng Grameen ở Bangladesh để giúp người nghèo, nhất là phụ nữ , để họ có thể vay những khoản tín dụng nhỏ làm vốn sản xuất kinh doanh.  Các vị đã nghe về những kết quả đạt được! Ngay cả chị em phụ nữ  Hồi giáo ở Bangladesh cũng có thể tự mình đứng ra lo cho cuộc sống của mình. Trong khi đó ngân hàng này lại kinh doanh có lãi và cho dù lãi suất có cao tuy vậy  dù sao cũng thấp hơn nhiều so với vay của tư nhân với lãi suất cắt cổ.  Phải chăng đây là một trường hợp thành công cá biệt?  Một ví dụ khác là thị trường điện thoại di động. Đến năm 2010 sẽ có 3 tỷ người có điện thoại di động. Riêng ở Ấn Độ cứ mỗi tháng lại có thêm 5 triệu người sử dụng điện thoại di động! Tại Nam Phi, Mỹ La tinh và ở Châu A, số người sử dụng điện thoại di động ngày càng tăng.  Họ đâu phải chỉ toàn những người giàu có. Ngành Viễn thông đã nhận thức được tiềm năng tăng trưởng của ngành này thực sự khổng lồ  nếu như thu hút được đông đảo người nghèo. Họ chào bán thẻ trả trước với mức giá thuận lợi và nhiều nước còn có cả dịch vụ cho thuê điện thoại di động.  Điều này có thể áp dụng đối với tất cả các ngành không?  Chúng ta phải chấp nhận người nghèo cũng là khách hàng  có nhu cầu hàng hóa chất lượng cao, cho dù đó chỉ là tài khoản ngân hàng với vài đôla hoặc một thiết bị điện tử  hiện đại. Chúng ta phải nhận thức được thị trường to lớn này và chúng ta sẽ kiếm được tiền từ thị trường đó. Người nghèo thường rất có ý thức trách nhiệm – có điều người ta không cho họ cơ hội để họ chứng minh ý thức trách nhiệm đó.    Điều đó có thể diễn ra ở Ấn Độ hay Trung Quốc – nhưng ở những nơi khác thì sao?  Điều này cũng sẽ diễn ra ở Brazin, Nga, Nam Phi và nhiều quốc gia khác. Có lẽ điều này chỉ không thể diễn ra ở Darfur, một tỉnh đang bị khủng hoảng nghiêm trọng ở Sudan. Điều này không thể diễn ra ở Darfur vì ở đó thiếu hạ tầng cơ sở một cách nghiêm trọng. Nhưng trên thế giới có tới 3 tỷ người sinh sống ở những vùng có hạ tầng cơ sở hơn nữa còn có cả luật lệ và các quy định. Tại sao người ta lại không tìm những giải pháp mới để chống nghèo đói?    Vậy các doanh nghiệp cần chú ý điều gì?  Bất cứ ngành nào, các doanh nghiệp không được xem người nghèo là những người không có tài sản gì cả mà phải coi họ là người tiêu dùng –  người tiêu dùng cỡ nhỏ. Tất nhiên đối với mức sống của phương Tây thì  2 đôla là ít.  Nhưng người Ấn Độ sống theo hình thức đại gia đình. 5 người, mỗi người mỗi ngày tiêu 2 đôla vị chi là 300 đôla một tháng, 3600 đôla một năm. Đối với Ấn Độ đây là một khoản tiền lớn. Với khoản tiền đó người ta có thể mua tủ lạnh, tivi và nhiều hàng tiêu dùng thông thường.  Nhưng chẳng may bị ốm đau hay giá lương thực thực phẩm tăng đột biến thì số tiền đó quá ít để có thể tồn tại.  Tuy vậy người ta vẫn cứ phải bắt đầu có cái gì đó để bán và thu được tiền của họ. Các vị hãy tưởng tượng 2 đôla hiện nay sẽ biến thành 4 đôla mỗi ngày. Đối với điều kiện của Tây phương thì khoản tiền này vẫn quá nhỏ nhoi – nhưng thực chất đây lại là một sự tăng trưởng một trăm phần trăm.  Mức tăng này là một sự tiến bộ vượt bậc với những người nghèo khổ này, và đây sẽ là một sự tăng trưởng mà thế giới chưa từng được chứng kiến.  Nhưng cho dù mỗi ngày có được 4 đôla thì người ta cũng còn lâu mới dành dụm đủ để mua được một chiếc ô tô.   Đây là suy nghĩ sai lầm của nhiều người. Chúng ta chỉ nghĩ về chiếc ô tô – chứ không nghĩ về sự cơ động. Không phải mọi người đều cần có một chiếc ô tô riêng. Nhưng ai cũng muốn có điều kiện cơ động. Chúng ta cần có hệ thống giao thông công cộng và dịch vụ tắc xi tư nhân. Ai là người còn đi ô tô tại các thành phố lớn ở phương Tây như  London và  New York ?     Giáo sư nhận định về viện trợ phát triển kiểu kinh điển như thế nào?  Ông Yunus, người được giải thưởng Nobel Hòa bình nhìn nhận vấn đề này với con mắt phê phán.  Kinh nghiệm 50 năm qua cho thấy, viện trợ phát triển cần thiết đối với những nơi vô cùng  thiếu thốn: tại các vùng có trại tỵ nạn hay đối với các nước bị khủng hoảng như Ruanda, Somalia, Malawi và Angola. Viện trợ phát triển giúp các nước đó trong một thời gian ngắn để tạo  được một nền tảng cho cuộc sống và tạo dựng được hạ tầng cơ sở. Nhưng về lâu dài viện trợ phát triển không tạo dựng được một nền kinh tế lành mạnh, nơi mà người ta kiếm được những đồng tiền và biết đầu tư  những đồng tiền đó.  Xuân Hoài (Theo Spiegel 1.12.06)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Nhật đầu tiên được ghép tế bào gốc vạn năng cảm ứng lấy từ người khác      Ngày 28/3, một người đàn ông Nhật Bản ở độ tuổi 60 đã trở thành người đầu tiên được ghép tế bào có nguồn gốc từ tế bào gốc vạn năng cảm ứng (iPS) do người khác hiến tặng.      Tế bào iPS của người hiến tặng được biệt hóa thành tế bào võng mạc để cấy ghép cho bệnh nhân.  Ca phẫu thuật này được kỳ vọng sẽ mở đường cho nhiều ứng dụng của công nghệ tế bào iPS, vốn có khả năng mang lại tính thích ứng linh hoạt như của tế bào gốc phôi mà không gây ra các vấn đề về đạo đức. Các ngân hàng tế bào iPS từ những người hiến tặng khác nhau sẽ giúp cho việc cấy ghép tế bào gốc thuận tiện hơn và với chi phí thấp hơn.  Tế bào iPS chính là tế bào trưởng thành ở người (chẳng hạn từ da), được lập trình cho trở lại trạng thái phôi thai, và biệt hóa thành loại tế bào hữu ích để điều trị một căn bệnh nào đó.  Trong cuộc phẫu thuật nói trên, các tế bào da từ một người hiến tặng khuyết danh đã được lập trình lại và sau đó biệt hóa thành tế bào võng mạc để cấy vào võng mạc của bệnh nhân bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác. Các bác sĩ hi vọng các tế bào này sẽ ngăn chặn bệnh tiến triển, có thể dẫn tới mù lòa.  Trong một cuộc phẫu thuật vào tháng 9/2014 tại Trung tâm Y tế Bệnh viện Đa khoa Thành phố Kobe, một phụ nữ Nhật Bản đã được ghép tế bào võng mạc có nguồn gốc từ tế bào iPS. Có điều, chúng được tạo ra từ chính da của cô, và sau đó được lập trình lại. Tuy nhiên, những tế bào tương tự được chuẩn bị cho bệnh nhân thứ hai đã bị phát hiện có chứa các bất thường về di truyền và không bao giờ được cấy ghép.  Nhóm đã quyết định điều chỉnh lại nghiên cứu và không tuyển thêm người phục vụ cho nghiên cứu lâm sàng. Tháng 2/2017, nhóm cho biết, một bệnh nhân đã có tiến triển tốt. Các tế bào được cấy ghép vẫn nguyên vẹn và thị lực người bệnh không bị giảm như thường được dự đoán ở các trường hợp thoái hóa điểm vàng.  Trong ca phẫu thuật mới đây, được thực hiện ở cùng một bệnh viện và cùng bởi bác sĩ phẫu thuật Yasuo Kurimoto, các bác sĩ đã sử dụng tế bào iPS lấy từ tế bào da của người hiến tặng, tái lập trình chúng và lưu trữ. Ngày 1/2, Bộ Y tế Nhật Bản đã chấp thuận nghiên cứu này. Theo kế hoạch, có năm ứng viên được tuyển cho ca mổ.  Sử dụng tế bào iPS của người hiến tặng không đem lại sự tương thích gene chính xác, khả năng đào thải của hệ miễn dịch cũng tăng. Tuy nhiên, Shinya Yamanaka, nhà khoa học tế bào gốc đoạt giải Nobel, người đi tiên phong trong lĩnh vực tế bào iPS, cho rằng các tế bào được lưu trữ đủ tương thích cho hầu hết các ứng dụng.  Yamanaka đang thành lập một ngân hàng tế bào iPS dựa trên sự tương thích giữa người hiến và người nhận thông qua ba gene mã hóa các kháng nguyên bạch cầu ở người (HLA, là các protein trên bề mặt tế bào tham gia vào việc kích hoạt phản ứng miễn dịch). Kho Tế bào iPS cho Y học Tái sinh của ông hiện có những dòng tế bào từ từ chỉ một người hiến tặng. Nhưng đến tháng 3/2018, họ hi vọng tạo ra 5-10 dòng tế bào iPS với đặc trưng HLA, tương thích với 30% -50% dân số Nhật Bản.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.nature.com/news/japanese-man-is-first-to-receive-reprogrammed-stem-cells-from-another-person-1.21730       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người nổi tiếng nói về khởi nghiệp      Ba khách mời nổi tiếng – TS Trần Lương Sơn, sáng lập VietSoftware; Hoa hậu Việt Nam 2010 Ngọc Hân, sáng lập thương hiệu Áo dài Ngọc Hân; và doanh nhân Nguyễn Thị Hương – Tổng Giám đốc Công ty Stevia Ventures – vừa có buổi giao lưu về chủ đề “Khởi nghiệp cho một Quốc gia khởi nghiệp” tại Không gian Trung Nguyên Legend, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội hôm 25/9.    Hoa hậu Ngọc Hân: Khởi nghiệp cần có bản sắc riêng    Hoa hậu Ngọc Hân ký tặng sách cho các bạn trẻ. Ảnh: Trung Nguyên.  Từ sau khi đăng quang ngôi vị hoa hậu Việt Nam năm 2010, công chúng luôn nhớ đến Ngọc Hân cùng bộ áo dài nền nã. Bản thân từng là sinh viên trường ĐH Mỹ Thuật Công nghiệp, Ngọc Hân đã lựa chọn cho mình một hướng đi khác biệt so với mọi người là thiết kế áo dài truyền thống. Thay vì cố gắng cách tân kiểu dáng, họa tiết mới là điểm độc đáo trong những thiết kế của Ngọc Hân. Hoa văn được lựa chọn trên tà áo dài đều là những họa tiết thân thuộc trong đời sống văn hóa Việt Nam, nhưng mang một bản sắc riêng của Hoa hậu. Ngọc Hân hy vọng rằng, những sáng tạo này của mình sẽ trở thành một cách tiếp cận mới đối với lịch sử, văn hóa Việt Nam, góp phần giữ gìn giá trị truyền thống Việt.  Đối với Hoa hậu Việt Nam 2010, “Khi khởi nghiệp bằng niềm đam mê và tất cả tình yêu, sự nhiệt thành, thì thành công sẽ đến với bạn” là tôn chỉ giúp cô khởi nghiệp thành công với thương hiệu áo dài Ngọc Hân.   TS Trần Lương Sơn: Khởi nghiệp phải dám thách thức thất bại    TS Trần Lương Sơn chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp. Ảnh: Trung Nguyên.  Là nhà sáng lập của công ty VietSoftware hàng đầu trong ngành phần mềm Việt Nam, TS Trần Lương Sơn đã phải đối mặt nhiều thất bại trước khi đi đến thành công hôm nay. Mong muốn xây dựng công ty tư vấn để giúp đỡ các doanh nghiệp phát triển nhưng không thành, anh lựa chọn bắt đầu với việc thành lập công ty phần mềm, dùng thành công của mình để thuyết phục người khác. TS Trần Lương Sơn đã nêu rõ: “Khởi nghiệp cần thiết phải có tinh thần kinh doanh. Tinh thần kinh doanh không chỉ đơn giản là tạo ra của cải vật chất mà còn tạo ra những giá trị từ những điều nhỏ nhất”. TS Trần Lương Sơn cũng đã mạnh dạn chỉ ra điểm yếu của thanh niên Việt Nam đó là sự sợ thất bại. Do đó, điều các bạn trẻ Việt Nam cần chính là “tinh thần dám thách thức thất bại”. Tiến sỹ cũng kết luận rằng khởi nghiệp không phải là trào lưu mà là văn hóa, không những làm giàu cho bản thân mà còn mang lại giá trị cho cộng đồng và xã hội.  Doanh nhân Nguyễn Thị Hương: Khởi nghiệp cần phải biết mình là ai và muốn gì    Toàn cảnh buổi giao lưu. Ảnh: Trung Nguyên  Khởi nghiệp với dự án kinh doanh khai thác, chế biến đường Stevia từ cây Cỏ ngọt, cho đến nay, TGĐ Nguyễn Thị Hương đã đưa công ty Stevia Ventures trở thành một công ty tiên phong trong thay đổi cơ cấu cây trồng tại Việt Nam. Công ty hiện đang phối hợp với các Trung tâm nghiên cứu hàng đầu Mỹ, Malaysia, Canada nhằm triển khai mô hình nghiên cứu đồng thời gọi vốn từ các tổ chức phi chính phủ (NGOs); Ngân hàng Thế giới ( WB)… để triển khai dự án Nhà máy chiết xuất đường Steviol. Kinh nghiệm của chị Nguyễn Thị Hương khi hợp tác với nhà đầu tư là “Các bạn phải có bản kế hoạch kinh doanh tốt, thực tế. Ở đó, bạn phải biết mình là ai, bạn muốn làm điều gì và làm bằng cách nào,…?Và một điều nữa, các bạn trẻ cần đó là sự tự tin trình bày kế hoạch và thuyết phục các nhà đầu tư”  Buổi giao lưu  là một hoạt động trong Hành trình Lập chí Vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho Thanh niên Việt do Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên triển khai từ năm 2012, nhằm trao tặng hàng triệu cuốn sách đổi đời đến các tầng lớp thanh niên trên khắp cả nước và hỗ trợ nhiều chương trình khởi nghiệp cũng như kết nối nhiều nhân vật truyền cảm hứng, với mong muốn lớn nhất là chia sẻ Hệ thức thành công: Khát vọng lớn – Xác định năng lực lõi – Lập kế hoạch thực thi – Kết nối nguồn lực – Dám thách thức thất bại.  Trong thời gian  tới, Trung Nguyên  sẽ tiếp tục tổ chức các hoạt động trong khuôn khổ Hành trình tại các trường Đại học, Cao đẳng và hệ thống không gian Trung Nguyên khu vực TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Cụ thể, chương trình tọa đàm với chủ đề Trí thông minh Do Thái và sự ra đời của Quốc gia Khởi nghiệp với sự tham gia của Á hậu Việt Nam 2010 Vũ Hoàng My, chuyên gia kinh tế Bùi Văn cùng các diễn giả khác sẽ diễn ra tại Trường Đại học HUTECH ngày 28/09, và tại Không gian Trung Nguyên Legend vào ngày 30/09.       Author                P.V        
__label__tiasang Người phát minh vaccine đầu tiên của thế giới      Cách đây gần ba trăm năm, hai bác sĩ người Anh Thomas Dimsdale và Edward Jenner chứng minh được hiệu quả rõ ràng của một ý tưởng điên rồ, nguy hiểm mà gần như tất cả vaccine sau này đều dựa vào: chủ động lây bệnh cho một người khỏe mạnh bằng mầm bệnh bị suy yếu để tạo khả năng miễn dịch. Đó là một trong những ý tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử y học. Nhưng tài liệu sớm nhất cho thấy nó khởi đầu từ Trung Quốc, có thể từ Tây Nam tỉnh An Huy hoặc Giang Tây, trước khi lan rộng dần ra toàn cầu theo dòng giao thương quốc tế.      Nữ hoàng Nga Catherine Đại đế được chủng đậu thành công. Nguồn: greatbritishlife.co.uk  Một ý tưởng điên rồ     Bác sĩ người Anh Thomas Dimsdale rất lo lắng. Đó là buổi tối ngày 12/10/1768 khi Dimsdale chuẩn bị chủng ngừa cho Nữ hoàng Nga Catherine Đại đế. Từ góc độ kỹ thuật, những gì ông tiến hành rất đơn giản, hợp lý về y học và xâm lấn tối thiểu. Chỉ cần rạch 2-3 vết nhỏ trên cánh tay của nữ hoàng. Tuy nhiên, Dimsdale có lý do để lo lắng, bởi ông sẽ phải mài một ít mụn mủ đóng vảy chứa đầy variola – loại virus gây ra bệnh đậu mùa và khiến 1/3 người mắc tử vong. Mặc dù thực hiện theo yêu cầu của nữ hoàng, nhưng Dimsdale rất lo lắng về kết quả đến mức bí mật sắp xếp một cỗ xe ngựa để có thể rời khỏi kinh thành Saint Petersburg nếu có điều gì trục trặc xảy ra.    Phương pháp của Dimsdale được gọi là chủng ngừa hoặc là chủng đậu (variolation), và tuy rằng nguy hiểm nhưng nó là đại diện cho thành tựu y học đỉnh cao thời bấy giờ. Khi bác sĩ chuyển mụn mủ đậu mùa từ người bệnh sang người lành – vì những lý do không ai hiểu khi đó – thì người lành mắc bệnh nhưng chỉ với triệu chứng nhẹ trong khi vẫn đạt khả năng miễn dịch suốt đời.    Edward Jenner đã cải tiến dạng tiền vaccine này sau đó 28 năm bằng cách dùng một loại virus “chị em” với đậu mùa là đậu bò để chủng ngừa an toàn hơn. Nhiều năm nay lịch sử y học phương Tây vẫn cho rằng hai bác sĩ là những người đầu tiên thực hiện phương pháp chủng đậu nhưng tài liệu sớm nhất cho thấy chính các thương nhân Trung Quốc đã giới thiệu phương pháp chủng đậu đến Ấn Độ, rồi từ đó truyền đến châu Phi: Năm 1721, một người đàn ông châu Phi bị bắt làm nô lệ tên là Onesimus đã được chủng đậu hồi bé trước khi bị bán đến Boston. Ở đây, Onesimus dạy cho người nô lệ Cotton Mather cách thực hiện, và Mather đã thuyết phục thành công các bác sĩ Mỹ về hiệu quả của nó.      Chúng ta không bao giờ biết chính xác điều gì đã thúc đẩy hoặc truyền cảm hứng cho những người tiến hành chủng ngừa đầu tiên. Nhưng ta có thể biết X là tổng hòa các hiểu biết của con người thời bấy giờ về bệnh đậu mùa và y học: có thể lây từ người sang người, một người chỉ mắc một lần trong đời, trẻ em gần như chắc chắn sẽ mắc bệnh tự nhiên, niềm tin lấy độc trị độc, và nguyên lý phòng bệnh hơn chữa bệnh.      Các thương nhân Trung Quốc cũng mang phương pháp chủng đậu đến Thổ Nhĩ Kỳ theo con đường Tơ Lụa, rồi từ đây các đại sứ châu Âu đã học được và đem kỹ thuật này về quê hương. Lần theo manh mối để quay ngược dòng thời gian…    Theo một huyền thoại, được kể lại trong cuốn Sưu tập các bình luận về bệnh đậu mùa của Yü Thien-chhih, viết năm 1727, về người thực hành chủng đậu đầu tiên là một dị nhân X, người rất rành các thuật giả kim.     Danh tính dị nhân X     Danh tính người đó có thể không bao giờ được hậu thế biết đến. Tuy vậy, dựa vào các huyền thoại và phương pháp chữa trị của Trung Quốc cổ đại, chúng ta có thể tạo được một tiểu sử hợp lý cho con người phi thường đó, tức nhân vật X, theo lời kể của Thien-chhih.    X có thể là một thầy lang, một người ngao du, và ai đó tin vào các phương pháp thực hành khác với y học Trung Quốc chính tông đương đại, theo nhà hóa sinh và lịch sử Joseph Needham. Vào thời đại của ông ấy (nếu đúng như huyền thoại của Thien-chhih), y học Trung Quốc dựa vào các bài thuốc, vật lý trị liệu và các kỹ thuật hợp lý. Nhưng X tồn tại ngoài lề, trộn lẫn các phương pháp y thuật chính thống với ma thuật.    Ông ta có thể là một pháp sư, theo như Chia-Feng Chang viết trong cuốn Các khía cạnh của bệnh đậu mùa và tầm quan trọng của nó trong lịch sử Trung Quốc. Một người chuyên trừ tà ma hoặc tìm long mạch nước nghe có vẻ hơi bất chính so với những gì ông ta đã thực hiện. Hay có thể ông là một thầy lang thích ngao du, vừa tin vào phép thuật, nhưng cũng rao giảng về vệ sinh và chế độ ăn uống lành mạnh.    X có thể không được đào tạo chính thức về y học. Có thể ông đã học hỏi bí quyết và cách thực hành từ người thân hoặc các bậc thầy. Ông ấy có thể mù chữ hoặc biết chút ít, do đó học và dạy lại các kỹ thuật của mình qua truyền miệng. Điều này giải thích phần nào về việc ông không có tài liệu gì truyền cho hậu thế, và ngay cả khi ông ta có thể chép lại những khám phá của mình, thì cũng chưa chắc gì chúng được lưu lại. Bởi truyền thống của các pháp sư như X là họ giữ bí mật về phương pháp và thực hành của mình, ngoại trừ với một số ít môn đệ. Needham viết trong cuốn Khoa học và văn minh Trung Quốc rằng chủng đậu có thể là một “cầm phương” – phương thuốc cấm, chỉ được truyền từ thầy sang môn đệ, đôi khi với lời huyết thệ.    Trên một khía cạnh nào đó, X cũng không khác gì các pháp sư phương Tây hiện đại. Bí thuật là kế sinh nhai, nên ông không thể tiết lộ nó, vì chắc chắn sẽ phá hỏng công việc kinh doanh trong tương lai.    Truyền thống giữ bí mật của các pháp sư – cùng với vô số huyền thoại xung quanh việc chủng đậu – đã gây ra cuộc tranh luận học thuật sôi nổi về thời điểm xuất hiện chính xác của phương pháp chủng đậu.    Bằng chứng sớm nhất là từ một văn bản giữa thế kỷ 16. Đó là một chuyên khảo về y học được viết năm 1549 với tựa đề Về bệnh sởi và đậu mùa bởi lang y Wan Chhüan mô tả “cách cấy truyền đậu mùa” vào người khỏe mạnh. Nhưng sự chủng đậu có thể đã bắt đầu cách đó ít nhất một thế hệ, bởi tác giả đã lưu ý rằng việc này có thể dẫn đến sự hành kinh ở phụ nữ. Kiến thức về tác dụng phụ khá cụ thể này cho thấy những thầy lang đã thực hiện thủ thuật này được một thời gian.      Lấy virus để chủng đậu đã có từ thời Đường. Nguồn ảnh: book.sina.com.cn  Nhưng chính xác là sớm đến đâu vẫn còn là vấn đề còn tranh luận. Nếu chúng ta chú ý đến các huyền thoại xoay quanh sự chủng đậu, thì nó có thể bắt đầu sớm nhất vào thế kỷ 11. Theo cuốn Tấm gương vàng của y học chính tông, được viết năm 1749, một ẩn sĩ sống trên ngọn núi thiêng của tỉnh Tứ Xuyên đã phát minh ra phương pháp chủng đậu ở thời điểm giao thời của thiên niên kỷ thứ nhất. Theo đó, lang y thể theo lời khẩn cầu của tể tướng Vương Đán để xuống núi cứu gia đình họ Vương khỏi bệnh đậu mùa.    Tuy nhiên, nhiều học giả nghi ngờ về những câu chuyện thế này. Tại sao không có tài liệu đương thời nào nói về một sự kiện đáng chú ý như vậy? Đó là một tể tướng kia mà? Tại sao suốt 500 năm không có một bằng chứng nào về phương pháp mang tính cách mạng này và hiệu quả của nó trong khi có rất nhiều tài liệu cổ liên quan đến điều trị bệnh đậu mùa.    Các bằng chứng khả tín và phong phú cho thấy phương pháp này lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ 15 hoặc đầu thế kỷ 16, ngay trước khi xuất hiện trong y văn. Và khả năng rất cao là X đã chủng đậu cho người đầu tiên cùng khoảng thời gian Christopher Columbus đặt chân đến Tân Thế giới.     Tại sao người xưa chủng đậu?     Điều gì đã khiến người xưa thử một phương pháp kỳ lạ như chủng đậu? “Thật không may, chúng ta không có một câu chuyện rõ ràng như câu chuyện của Jenner”, theo Hilary Smith, tác giả cuốn Căn bệnh bị lãng quên: Sự chuyển hóa bệnh tật trong y học Trung Quốc.       Ba thập kỷ sau khi Nữ hoàng Catherine được chủng đậu, Jenner đã phát hiện và phổ biến mụn mủ đậu bò là một giải pháp thay thế. Quy trình của ông dẫn đến kết quả chủng đậu an toàn hơn, và Jenner được đặt tên cho phương pháp chủng ngừa của mình.      Nhưng chúng ta biết có nhiều loại thuốc cổ truyền mà một thầy lang như X có thể sử dụng, khi kết hợp với những hiểu biết về đậu mùa, có thể dẫn ông ta đến kết luận quan trọng.    Đậu mùa xâm nhập vào Trung Quốc sau khi tướng Mã Viện xâm lược Việt Nam năm 42 trước Công nguyên, theo nhà đạo giáo Cát Hồng thế kỷ 3. Theo văn bản năm 340 sau Công nguyên, ông kể rằng đội quân của Mã Viện gặp phải căn bệnh này khi đang tấn công vào “quân cướp” và bắt về – và đó là lý do người Trung Quốc gọi bệnh đậu mùa là “mụn cướp” (trong hầu hết các ngôn ngữ, nguồn gốc của thuật ngữ đậu mùa đều mang ý nghĩa là căn bệnh ngoại lai).    Trận dịch sau đó bao trùm Trung Quốc. Nó giết chết hoặc tạo miễn dịch cho dân số khiến cho nhiều thế kỷ sau đó, độ tuổi trung bình mắc bệnh bắt đầu giảm xuống. Vào năm 1000, đậu mùa hoành hành khắp cả nước đến nỗi trẻ em là đối tượng tấn công duy nhất vì trẻ chưa tạo được miễn dịch. Tất cả người còn lại đều đã chết hoặc đã có miễn dịch.    Căn bệnh này phổ biến đến mức các lang y Trung Quốc cho rằng đối mặt với nó là điều rất yếu. Họ tin rằng căn bệnh là thứ mà mọi trẻ em phải trải qua, như bước qua cánh cổng sinh tử. Với tỷ lệ tử vong ít nhất 30%, các đợt bùng phát đã tạo ra kết cục bi thảm. Chỉ trong mùa hè năm 1762, đậu mùa đã giết chết 17.000 trẻ em tại Bắc Kinh.    Tính bất khả kháng cùng với sự phát bệnh ở trẻ em khiến người ta tin căn bệnh này là một tội ác nguyên thủy. Buổi giao thời giữa hai thiên niên kỷ, các thầy lang đã tin rằng đậu mùa do một dạng “độc tố bào thai” gây ra, giống như hiện tượng dậy thì, sẽ bùng phát vào một số thời điểm không xác định trong những năm đầu đời của trẻ. Để nỗ lực khử độc, các lang y đã tiến hành “làm sạch miệng và vết bẩn” ở trẻ sơ sinh trên diện rộng.    Đồng thời, những người chữa bệnh như X cũng rút ra được rằng căn bệnh này có thể lây từ người sang người và không thể bị mắc lại lần hai. Những ai chưa mắc bệnh (“những cơ thể tươi nguyên”, theo cách nói của người Mãn Châu) đã chạy trốn khi dịch bùng phát, còn những người sống sót (“những cơ thể đã nấu chín”) chăm sóc người ốm. Từ đầu những năm 320 sau Công nguyên, Cát Hồng đã viết về đậu mùa.“Ông ấy biết mình có thể an toàn vượt qua đại dịch tồi tệ nhất, thậm chí ngủ chung giường với người ốm mà không sợ bị nhiễm bệnh”.    Hiểu được hai khái niệm này là nền tảng cho nguyên tắc chủng đậu, nhưng không chỉ người Trung Quốc mới nắm được điều đó. Sự khác biệt đã khiến X chủng đậu chính là niềm tin đặc trưng của y học cổ truyền Trung Quốc.    Một kỹ thuật y học Trung Quốc cổ đại là “lấy độc trị độc”. Trong nhiều thế kỷ, các lang y đã pha chế các loại trà chứa chất độc từ hỷ thụ và dừa cạn để chữa ung thư, nên ý tưởng này không phải mới lạ gì với X như ở các nền văn minh khác.    Tất nhiên, có sự khác biệt giữa trà độc được kê cho người ốm với truyền mầm bệnh cho người khỏe mạnh. Điều này cũng phù hợp với nguyên lý của y học cổ truyền Trung Quốc, xem trọng phòng bệnh hơn chữa bệnh, rất khác so với các bác sĩ phương Tây đương thời chỉ ứng phó khi bệnh tật xảy ra.    Có thể X đã quan sát được các anh chị em trải qua một ca đậu mùa nhẹ và đề nghị với cặp vợ chồng đang lo lắng tuyệt vọng rằng thay vì chạy trốn một điều không thể tránh khỏi, chi bằng hãy đối chọi với chất độc bằng chất độc để đưa con mình vượt qua cánh cổng sinh tử với trải nghiệm nhẹ nhàng hơn.  Hoặc ít nhất, X cũng đã hình dung về nó. Nhưng giống như bất kỳ thầy pháp lưu động tài giỏi nào, ông bắt đầu kể các câu chuyện để thuyết phục những bậc cha mẹ cò hoài nghi. Theo Needham, kỹ thuật chủng đậu sớm nhất chỉ đơn giản là mặc lại y phục của bệnh nhân mắc đậu mùa. Nhưng X không chỉ thế, có thể đã thực hiện nghi thức vào một ngày hoàng đạo. Họ thắp hương, đốt vàng mã, làm bùa phép mời các vị thần cai quản bệnh đậu mùa đến bảo vệ đứa trẻ. Sau đó, họ trao y phục và chờ đợi.    Nếu bệnh nhân của X trải qua chủng đậu điển hình, thì đến ngày thứ năm đứa trẻ sẽ sốt và nổi những nốt đậu có mủ. Nhưng thay vì những mụn mủ đen gây chết người, bệnh nhân của X chỉ mọc rải rác những nốt đậu nhỏ và nhạt màu hơn. Ngay khi X ghi nhận điều này, ông biết đứa trẻ sẽ tiến triển thành một ca bệnh nhẹ. Và kinh ngạc thay, thí nghiệm liều lĩnh này đã thành công.    Tất nhiên, câu hỏi tại sao luôn được thắc mắc: Tại sao đứa trẻ trải qua những biểu hiện nhẹ chứ không chết? Tại sao chủng đậu là phương pháp an toàn hơn để mắc bệnh đậu mùa? X chắc chắn đưa ra lời giải thích, mặc dù nó không hẳn đã đúng.      Thật là ngạc nhiên khi một trong những nguồn cảm hứng tài tình nhất của y học lại nảy sinh từ một người có niềm tin xa cách với khoa học y học.      Đường cong đáp ứng liều lượng     Câu trả lời thực tế là một điều mà các nhà dịch tễ gọi là đường cong đáp ứng liều lượng.    Nó biểu hiện mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng của bệnh và liều lượng phơi nhiễm ban đầu. Thuật ngữ này khác với “liều lây nhiễm tối thiểu” để đo lường số lượng hạt virus ít nhất có thể khiến bạn nhiễm bệnh. Đối với đậu mùa, liều lây nhiễm tối thiểu là 50 hạt virus – nghe có vẻ nhiều – nhưng thật ra một đầu kim có thể chứa đến 3 triệu hạt virus như thế. Theo giáo sư về khoa học và sức khỏe Rachael Jones từ Đại học Utah, một hạt virus đơn lẻ về mặt lý thuyết cũng có thể khiến bạn mắc bệnh, nhưng điều đó rất khó xảy ra. Theo bà, đó là một trò thách đấu bắn súng lục may rủi kiểu Nga: nhiều hạt virus hơn nghĩa là có nhiều đạn hơn trong ổ xoay.    Nhưng mọi hạt virus đều bình đẳng, càng nhiều hạt nghĩa là mức độ bệnh càng nghiêm trọng hơn. Và nó được biểu hiện bằng đường cong đáp ứng liều lượng. Thật không may, biểu đồ này rất khó thiết lập bên ngoài các cơ sở lâm sàng. Gần như không thể tái tạo một liều lây nhiễm tự nhiên, nên người ta định lượng bằng cách tiến hành lây nhiễm có chủ ý cho một nhóm bệnh nhân với liều lây nhiễm khác nhau. Vấn đề là đậu mùa là một căn bệnh quá nguy hiểm để thí nghiệm trên người.    Thay vào đó, một nghiên cứu trên chuột cũng có thể thể hiện tương quan giữa liều lượng lây nhiễm và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Cụ thể, một liều lượng nhỏ virus đậu mùa được tiêm vào chuột khiến chúng ốm nhẹ hoặc không có triệu chứng, trong khi liều lượng lớn nhất có thể gây tử vong.    Điều đó gián tiếp gợi ý rằng bị nhiễm càng nhiều virus đậu mùa thì tiên lượng bệnh càng xấu. Mark Nicas, giáo sư danh dự từ Đại học UC Berkeley, người chuyên nghiên cứu phơi nhiễm mầm bệnh và quản trị rủi ro, nói rằng mối liên hệ đáp ứng liều có thể đúng với tất cả các mầm bệnh.    Đường cong đáp ứng liều lượng của đậu mùa có thể giải thích tại sao bệnh nhân của X chỉ có biểu hiện bệnh nhẹ và tại sao chủng đậu lại hiệu quả. Bằng cách dùng lại quần áo của người đã mắc bệnh, X đã vô tình lợi dụng hai đặc tính cơ bản của đậu mùa. Thứ nhất, những ca bệnh nhẹ sẽ thải ra ít hạt virus trong mụn mủ; thứ nhì, phần nhiều các hạt virus bám trên quần áo đã chết. Kết quả là bệnh nhân của X bị phơi nhiễm liều lượng nhỏ hơn so với trường hợp mắc bệnh tự nhiên. Liều lượng này vẫn đủ để gây bệnh và tạo kháng thể nhưng đủ thấp để giảm đáng kể nguy cơ tử vong.    Chủng đậu là một hành động đu dây: liều quá mạnh sẽ khiến bệnh nhân gặp phải tình huống nguy hiểm, còn liều quá ít sẽ không tạo đủ kháng thể. Khi những thầy lang đạt được kinh nghiệm, họ tinh chỉnh quy trình để khiến các bệnh nhân mắc bệnh nhẹ hơn. Nhưng ngay cả những người tiến hành chủng đậu đầu tiên cũng báo cáo tỷ lệ rủi ro 2-3% tử vong, so với 30% nếu mắc bệnh tự nhiên. Các hướng dẫn chủng đậu cổ nhất gợi ý nên chọn các mụn mủ từ người bệnh thủy đậu nhẹ và lưu trữ, già hóa các vảy mụn. Bằng cách đơn giản này, người thực hiện chủng đậu đã vô tình là những người đầu tiên giảm độc lực virus. Tại thời kỳ của Dimsdale, tỷ lệ tử vong của những người được chủng đậu chỉ còn ít hơn 1/600.    Cuối cùng, Dimsdale đã không còn phải lo lắng. Nữ hoàng Catherine chỉ phát bệnh nhẹ. Sau đó, Dimsdale cho biết phải dùng kính hiển vi mới có thể nhìn thấy các mụn mủ hình thành xung quanh vết rạch của bà. Trong một bức thư gửi Voltaire, Nữ hoàng Catherine viết rằng các kẻ chống vaccine trong thời đại của bà là “đầu đất, ngu dốt hoặc gây hại”.    Ba thập kỷ sau khi Nữ hoàng Catherine được chủng đậu, Jenner đã phát hiện và phổ biến mụn mủ đậu bò là một giải pháp thay thế. Quy trình của ông dẫn đến kết quả chủng đậu an toàn hơn, và Jenner được đặt tên cho phương pháp chủng ngừa của mình. Khi Louis Pasteur phát hiện rằng ông có thể làm suy yếu và cấy các mầm bệnh khác nhau như bệnh than và bệnh dại – thì Jenner vẫn là tượng đài sừng sững không suy suyển.    Ngay cả khi các nhà miễn dịch phát triển thành công kỹ thuật của họ, nguyên lý đằng sau vaccine phần lớn vẫn là bí ẩn kể từ thời của X – người tin vào ma thuật – phát triển sự chủng đậu đầu tiên.    Thật là ngạc nhiên khi một trong những nguồn cảm hứng tài tình nhất của y học lại nảy sinh từ một người có niềm tin xa cách với khoa học y học. Như nhà sử học Needham viết: “Nghịch lý thay, chủng ngừa được phát triển bởi các thầy trừ tà ma”.    Có lẽ ý tưởng lây nhiễm cho ai đó một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất cho loài người chỉ có thể hình thành và phổ biến bởi một người không thuộc môn phái y học chính tông. Phải chăng chỉ người tín đồ tinh ý mới biết kể ra những câu chuyện tuyệt diệu. □     Cam Ly lược dịch   Nguồn: https://www.wired.com/story/who-discovered-first-vaccine/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người phụ nữ đầu tiên thắng giải Abel      Karen Keskulla Uhlenbeck – người phụ nữ đầu tiên giành giải Abel toán học, đã xây lên những cây cầu nối giữa các lĩnh vực giải tích, hình học và vật lý.         Nhà toán học Mỹ Karen Keskulla Uhlenbeck đã giành giải Abel 2019 – một trong những giải thưởng danh giá nhất lĩnh vực này – cho những nghiên cứu trên diện rộng trong giải tích, hình học và vật lý toán. Bà là người phụ nữ đầu tiên giành giải thưởng trị giá 6 triệu kroner (tương đương 702.500 triệu USD) của Viện hàn lâm Khoa học Nauy, giải thưởng được bắt đầu trao từ năm 2003.  Uhlenbeck biết mình thắng giải vào ngày 17/3/2019, sau khi một người bạn của bà gọi điện và cho biết là Viện hàn lâm Khoa học Nauy đã cố gắng liên lạc với bà. “Tôi hoàn toàn kinh ngạc”, bà nói với Nature. “Thực sự là vô cùng bất ngờ.” Rút cục, Viện Hàn lâm Khoa học Nauy đã loan báo thông tin ngày vào ngày 19/3/2019.  Nổi tiếng với các phương trình vi phân riêng phần, vốn nối kết với các đại lượng biến thiên với các mức thay đổi của chúng và là tâm điểm của phần lớn các định luật vật lý, nhưng sự nghiệp nghiên cứu của Uhlenbeck trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Bà thường dùng các phương trình để giải quyết các bài toán trong hình học và tô pô.  Một trong những kết quả có nhiều ảnh hưởng nhất của bà – và là một thứ mà bà vẫn cho là tự hào nhất – là khám phá ra hiện tượng bong bóng, là một phần của công trình mà bà đã thực hiện cùng nhà toán học Jonathan Sacks. Sacks và Uhlenbeck đã cùng nghiên cứu về “những mặt phẳng tối giản”, một lý thuyết toán học về cách các màng xà phòng tự bố trí theo các hình dạng để tối ưu năng lượng của chúng. Nhưng lý thuyết này đã không lý giải được sự xuất hiện của những điểm mà tại đó, năng lượng dường như tập trung một cách vô hạn. Cách giải quyết của Uhlenbeck là đã “phóng đại” những điểm đó, vốn là nguyên nhân của một bong bóng mới tách ra khỏi bề mặt.  Bà đã ứng dụng các kỹ thuật tương tự để thực hiện công trình nền tảng trong lý thuyết toán học của các trường gauge, một lý thuyết phát sinh của điện từ trường cổ điển, vốn là vấn đề cơ bản của mô hình chuẩn trong vật lý hạt.  Uhlenbeck đã thực hiện nghiên cứu vào đầu những năm 1980, khi các cộng đồng nghiên cứu đã lớn mạnh để có thể trao đổi với nhau. “Đây thực sự là mối ‘lương duyên’ giữa toán học và vật lý,” bà nói. Các nhà toán học đã chứng minh là họ có thông tin hữu dụng cho các nhà vật lý, những người “có những ý tưởng tuyệt vời về những chủ đề mà các nhà toán học không thể tự mình giải quyết”.  Công trình của nhiều nhà toán học được vinh danh khác đã bắt rễ từ các kỹ thuật do Uhlenbeck giới thiệu, Mark Haskins – một nhà toán học tại trường đại học Bath, Anh và là một trong những nghiên cứu sinh của bà, đánh giá. Họ bao gồm nhà toán học giải Fields 1986 Simon Donaldson – người ứng dụng lý thuyết gauge vào topo của các không gian bốn chiều, giải Abel 2009 Mikhail Gromov – nghiên cứu một mô hình toán học của ‘các dây’ trong lý thuyết dây, trong đó ông tìm thấy ý tưởng bong bóng là vấn đề cốt lõi.  Haskins cho rằng Uhlenbeck là một trong những nhà toán học có “một cảm giác bẩm sinh về những gì có thể là sự thật”, ngay cả khi chúng còn chưa được lý giải. Khi còn là sinh viên của bà, anh kể lại thi thoảng bế tắc bởi câu trả lời của bà cho câu hỏi mình đặt ra. “Phản ứng ngay tức thì của bạn là Karen đã hiểu lầm bạn, bởi bà thường trả lời một câu hỏi khác hẳn,” Haskins nói. Nhưng “có thể vài tuần sau đó, bạn mới nhận ra là bạn đã không đưa ra một câu hỏi đúng”.  ‘Cuộc nổi loạn chính đáng’  Karen Keskulla sinh tại Cleveland, Ohio năm 1942 và lớn lên tại New Jersey trong sự tập trung vào học hành. “Tôi đọc tất cả các cuốn sách khoa học trong thư viện và sau đó không đến đó vì không còn cuốn nào để đọc,” bà từng viết như vậy trong một bài viết về cuộc đời mình năm 1996.  Sau mối quan tâm ban đầu về vật lý, bà trở thành tiến sỹ toán vào năm 1968 ỏ trường đại học Brandeis ở Waltham, Massachusetts. Bà là một trong số ít phụ nữ trong khoa của mình; thi thoảng một vài nhà nghiên cứu cũng nhận ra tài năng của bà và khuyến khích bà nhưng không phải ai cũng vậy. “Người ta đã nói với chúng tôi là chúng tôi không thể nghiên cứu về toán vì chúng tôi là phụ nữ. Tôi thích làm những gì mà không không được khuyến khích để làm, đó là một kiểu nổi loạn chính đáng,” bà đã viết như vậy trong bài viết của mình.  Uhlenbeck làm việc tại nhiều trường đại học – ban đầu bị nhiều đồng nghiệp nam từ chối hoặc cách ly, bà nói – trước khi được bổ nhiệm tại trường đại học Texas ở Austin vào năm 1987, nơi bà làm việc cho đến khi về hưu vào năm 2014.  Uhlenbeck đã là nguồn cảm hứng vô tận cho phụ nữ trong lĩnh vực toán học, và thành lập chương trình Phụ nữ và toán tại Viện nghiên cứu tiên tiến ở Princeton, New Jersey. “Bà đã đóng một vai trò vô cùng to lớn và là người cố vấn cho nhiều thế hệ nhà toàn học nữ,” Caroline Series, một nhà toán học tại trường đại học Warwick ở Coventry Anh và chủ tịch Hội toán học Anh, nhận xét.  Năm 1990, bà có một buổi thuyết trình tại Hội nghị toán học quốc tế – người phụ nữ duy nhất đã từng có vinh dự như vậy là Emmy Noether, người lập nền tảng cho số học hiện đại, vào năm 1932. Uhlenbeck đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải Khoa học quốc gia Mỹ năm 2000.  Uhlenbeck đầu tiên còn miễn cưỡng đón nhận vai trò của mình nhưng sau khi nhận thấy chỉ có số ít thành công trong thế hệ mình, bà nhận thấy rằng con đường tới công bằng còn khó khăn hơn dự kiến. “Tất cả chúng ta đều nghĩ rằng một khi các rào cản được hạ xuống thì phụ nữ và các nhóm thiểu số trong xã hội đều có thể bước qua cánh cửa để vào giới hàn lâm và nhận được chỗ của mình” nhưng điều chỉnh trong các trường đại học còn dễ dàng hơn trong môi trường văn hóa mà mọi người lớn lên, Uhlenbeck nói. Bà hi vọng giải thưởng bà nhận được sẽ truyền cảm hứng cho các thế hệ sau đến với toán học như Noether và những người đã truyền cảm hứng cho bà.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00932-1       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người rung chuyển cây sự sống của Darwin      Nhà vi trùng học Carl Woese đã thay đổi căn bản cách chúng ta suy nghĩ về sự tiến hóa và nguồn gốc của sự sống.      Archaea, một dạng sinh vật nguyên thủy, cổ xưa. Là sinh vật đơn bào có cấu trúc đơn giản, không có nhân tế bào.  Ngày 3 tháng 11 năm 1977, cả thế giới sững sờ trước một thông tin mang tính cách mạng trong khoa học. Trên trang nhất của tờ Thời báo New York ngày hôm đó có tiêu đề: “Các nhà khoa học đã khám phá ra một dạng sự sống tồn tại trước các sinh vật bậc cao”. Đi kèm là bức ảnh của một người đàn ông tên là Carl R. Woese, một nhà vi trùng học tại Đại học Illinois ở Urbana. Bài báo do phóng viên kỳ cựu Richard D. Lyons viết:   “Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu sự tiến hóa của các sinh vật nguyên thủy đã báo cáo sự tồn tại của một dạng sống riêng biệt khó tìm thấy trong tự nhiên. Họ mô tả nó như một “thế giới thứ ba” của sinh vật sống, bao gồm những tế bào tổ tiên không cần oxy, hấp thụ carbonic và tạo ra mê-tan.  Dạng sự sống tách biệt nói trên được biết đến dưới cái tên “archaea”, phản ánh việc những sinh vật này rất nguyên thủy, rất cổ xưa. Chúng là những sinh vật đơn bào có cấu trúc đơn giản, không có nhân tế bào. Thông qua kính hiển vi, chúng trông giống như vi khuẩn và có thể đã bị nhầm lẫn với vi khuẩn bởi tất cả các nhà vi trùng học trước đó. Chúng sống trong môi trường khắc nghiệt, ví dụ như suối nước nóng, hồ nước mặn, nước thải – và một số có thói quen trao đổi chất bất thường: chúng có thể chuyển hóa mà không cần oxy và tạo ra khí mê-tan.   Nhưng những sinh vật cổ này (hay còn gọi là archaea) hoàn toàn không hề giống vi khuẩn, nếu bạn nhìn vào DNA của chúng (và đó chính là những gì Woese đã làm dù một cách gián tiếp). Chúng nằm trong một “vương quốc thứ ba” bởi chúng không hề phù hợp với cả hai vương quốc còn lại: “vương quốc” của vi khuẩn và “vương quốc” của các cá thể sống còn lại (eukarya), bao gồm động vật, thực vật, amip và nấm, và con người.       “Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu sự tiến hóa của các sinh vật nguyên thủy đã báo cáo sự tồn tại của một dạng sống riêng biệt khó tìm thấy trong tự nhiên. Họ mô tả nó như một “thế giới thứ ba” của sinh vật sống, bao gồm những tế bào tổ tiên không cần oxy, hấp thụ carbonic và tạo ra mê-tan.      Chính Charles Darwin đã đề xuất (đầu tiên là trong một cuốn sổ tay, và sau đó là ở cuốn “Nguồn gốc của muôn loài”), lịch sử của sự sống có thể được vẽ dưới dạng cây – với tất cả các sinh vật bắt nguồn từ một thân cây, sau đó rẽ nhánh, đi theo các dòng khác nhau giống như các cành cây chĩa ra theo nhiều hướng, và những chiếc lá thể hiện sự đa dạng của sinh vật sống. Nhưng nếu điều này là hợp lý thì cây sự sống được đưa ra vào năm 1977 có một lỗi sai: nó chỉ thể hiện hai nhánh chính mọc ra từ thân (tượng trưng cho hai vương quốc kể trên), trong khi thực ra phải có đến ba nhóm.   Woese chỉ xuất hiện trang bìa của tờ báo Times đúng trong dịp công bố phát hiện chấn động của ông, và sau đó lại chìm vào công việc trong phòng thí nghiệm ở Urbana, tránh xa sự tò mò của công chúng trong suốt 35 năm còn lại. Tuy vậy, ông vẫn được coi nhà sinh vật học quan trọng nhất của thế kỷ 20 (mà có thể bạn chưa từng biết đến). Ông đưa ra những câu hỏi sâu sắc mà các nhà khoa học khác ít khi nghĩ tới. Ông sáng tạo ra một phương pháp, mặc dù vụng về mà nguy hiểm nhưng rất hiệu quả trong việc trả lời những câu hỏi này. Và trong quá trình đó, ông đã tạo ra cả một nhánh mới của khoa học.   Tất cả bắt đầu với một gợi ý của Francis Crick, người đồng phát hiện ra cấu trúc DNA. Ông đã đề cập một cách tình cờ trong một bài báo khoa học rằng một số phân tử dài trong các sinh vật sống, bởi vì chúng được xây dựng từ nhiều đơn vị nhỏ và được mã hóa theo trình tự thay đổi dần dần theo thời gian nên rất có thể là dấu hiệu cho sự liên hệ giữa một dạng sống này và một dạng khác. Trình tự càng giống nhau, chúng càng tương đối gần hơn. Nói cách khác, so sánh các phân tử như vậy có thể tiết lộ sự phát sinh chủng loại học. Thật vậy, đây chính là nhánh mới của khoa học được gọi là phát sinh chủng loại học phân tử (một từ khá dài nhưng ý nghĩa lại đơn giản: đọc lịch sử cổ xưa của sự sống từ các chuỗi khác nhau được xây dựng trong các phân tử như vậy. Các phân tử chủ yếu trong câu hỏi là DNA, RNA và một số protein chọn lọc. Những phân tử được nghiên cứu chủ yếu là DNA, RNA và một số loại protein. Woese và phòng thí nghiệm của mình tiếp tục nghiên cứu xa hơn, và nỗ lực này đã mang đến những khám phá bất ngờ không ai có thể ngờ tới, cơ bản giúp định hình lại những gì chúng ta nghĩ về lịch sử cuộc sống, quá trình tiến hóa và các bộ phận chức năng của chúng sinh, bao gồm cả chính chúng ta.    Francis Crick, người đồng phát hiện ra DNA đã khởi xướng cho những phát hiện chấn động của Woese.    Woese với mô hình RNA tại Đại học Illinois ở Urbana. Ảnh AP  Woese đã biến mất đằng sau cánh cửa phòng thí nghiệm của ông, nhưng những hiểu biết và những phương pháp mà ông xây dựng, cũng như việc áp dụng chúng của những người kế cận ông, đã mang lại một trong những phát hiện đáng kinh ngạc nhất: Cây của sự sống về thực chất không phải là một cái cây: Phép ẩn dụ đó đã hoàn toàn lỗi thời, lịch sự của sự sống có những kết nối với nhau phức tạp hơn nhiều.   Từ cây sự sống trong Sách Khải Huyền đến Darwin  Ý tưởng về một cây sự sống đã xuất hiện từ lâu trong suy nghĩ của phương Tây – ví dụ như trong Sách Khải Huyền có hình ảnh của cây sự sống dường như đại diện cho Chúa Kitô, với đầy lá và trái cây như những phước lành ban cho thế giới. Năm 1801, nhà thực vật học người Pháp Augustin Augier đã sử dụng cây như một loại biểu đồ để mang lại trật tự cho sự đa dạng của thực vật. Ông tập hợp các nhóm lớn lại với nhau trên các nhánh chính và mô tả các nhóm nhỏ như những chiếc lá ở đầu các nhánh nhỏ hơn. Đây không phải là tư duy tiến hóa; nó chỉ đơn giản là một phương pháp để quản lý dữ liệu.  Tuy nhiên cách sử dụng đơn giản mà thực dụng ấy đã thay đổi sâu sắc vào năm 1837, khi chàng trai Charles Darwin trẻ tuổi đã phác thảo cây tiến hóa đầu tiên trong một cuốn sổ tay sau khi trở về từ chuyến đi Beagle. Cái cây này chính là một giả thuyết, các nhánh của nó được dán nhãn với chữ cái, hoàn toàn không phải là các sinh vật thực sự, nhưng đối với Darwin, nó có nghĩa là: tất cả các sinh vật đã phát sinh từ một nguồn duy nhất, rồi chuyển hướng và thay đổi theo thời gian. Thời điểm đó ông chưa hề có một lý thuyết về quá trình tiến hóa – phải mãi về sau Darwin mới phát triển khái niệm về chọn lọc tự nhiên – nhưng bản phác thảo về cái cây của ông ít nhất đã cho thấy một hình ảnh về lịch sử tiến hóa và kết quả của nó. Từ đó ông có thể suy đoán ngược lại để tìm ra cơ chế hoạt động của nó.   Chính hình ảnh cái cây đó đã định hình tư duy về tiến hóa suốt thì thời kì của Darwin cho đến tận những năm cuối của thế kỉ 20, khi những phát hiện mới nối tiếp cuộc cách mạng mà Woese đã khởi xướng khiến thế giới khoa học nhận ra rằng hình dung về cây sự sống vẫn chưa đầy đủ. Một trong những ý tưởng cốt lõi của cây chính là sự phân ra thành nhánh nhỏ liên tục và nhất quán theo thời gian và tính kế thừa thẳng hàng của các loài sinh vật. Các nhánh cây không bao giờ hội tụ, không bao giờ hợp lại với nhau. Điều này phù hợp với niềm tin từ lâu rằng các gene di truyền theo chiều dọc, từ bố mẹ sang con cái, chứ không thể theo bất cứ đường nào khác. Từ khoa học của quá trình này là sự truyền gene theo chiều dọc (HGT). DINA, trái lại, có thể di chuyển theo chiều ngang giữa các “nhánh” của cây tiến hóa, vượt khỏi các rào cản và đi từ sinh vật này sang sinh vật khác.       Các thế bào cấu thành cơ thể người dường như giống với các tế bào của một nhóm vi khuẩn cổ với tên gọi là Lokiarcheota, được phát hiện gần đây ở vùng biển sâu gần 11.000 ft (3.35 km) giữa Na Uy và Greenland. Khám phá đó cũng sốc không kém gì việc phát hiện ra ông cố nội của bạn không phải đến từ một tỉnh nào đó ở đất nước bạn, mà chính là từ… sao Hỏa.      Đó mới chỉ là hai trong số những kết quả bất ngờ nảy sinh từ công trình của Woese – sự tồn tại của archaea và sự phổ biến của di truyền ngang. Điều ngạc nhiên lớn thứ ba chính là sự tiết lộ, hay đúng hơn là một khả năng lớn, về tổ tiên cổ xưa nhất của chúng ta. Chúng ta – loài người có lẽ chính là hậu duệ của những sinh vật chỉ mới hơn 40 năm trước chúng ta còn không hề biết chúng tồn tại. Tại sao lại như vậy? Bởi vì những gì chúng ta mới biết về archaea (vi khuẩn cổ) chính là việc tất cả các loài động vật, thực vật, nấm và các sinh vật phức tạp khác được cấu tạo từ tế bào mang DNA trong nhân đều có thể là hậu duệ của chúng, và con người cũng không phải ngoại lệ. Nhánh của chúng ta (eukarya) dường như xuất phát từ nhánh vi khuẩn cổ (archaea). Các thế bào cấu thành cơ thể người dường như giống với các tế bào của một nhóm vi khuẩn cổ với tên gọi là Lokiarcheota, được phát hiện gần đây ở vùng biển sâu gần 11.000 ft (3.35 km) giữa Na Uy và Grin-len. Khám phá đó cũng sốc không kém gì việc phát hiện ra ông cố nội của bạn không phải đến từ một tỉnh nào đó ở đất nước bạn, mà chính là từ… sao Hỏa.   Vậy là chúng ta có lẽ còn nhiều điều chưa biết về nguồn gốc của chính chúng ta. Loài người là một sinh vật “tổng hợp”, là hậu duệ của một sinh vật mà cách đây không lâu các nhà khoa học còn ít hiểu biết về chúng. Có lẽ sự tiến hóa phức tạp và nhiều uẩn khúc hơn nhiều những gì chúng ta vẫn tưởng, cây sự sống rắc rối hơn, đan xen nhiều hơn là những nhánh thẳng băng tủa ra xung quanh mà chúng ta vẫn hình dung. Gene không chỉ được truyền từ đời này qua đời khác theo chiều dọc, chúng cũng có thể vượt qua các ranh giới loài, vượt qua khoảng cách rộng lớn, thậm chí giữa các “vương quốc” sinh vật khác nhau. Một số đã tạo nên chính chúng ta – dòng linh trưởng – từ các nguồn tưởng như không hề liên quan. Điều đó tương tự như di truyền thông qua truyền máu, hay một phép ẩn dụ khác được một số nhà khoa học ưa thích – sự nhiễm trùng làm thay đổi hoàn toàn danh tính của sinh vật. Họ gọi đó là di truyền truyền nhiễm (infective heredity). Những khám phá trên được công bố bắt đầu từ năm 1977, và sau đó tiếp tục gây tiếng vang trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới, đáng tiếc là chúng hiếm khi đưa ra lời giải thích dành người đọc bình thường. Dù sao, chúng đã thách thức chúng ta, khiến chúng ta phải điều chỉnh những gì chúng ta biết về nguồn gốc loài người.   Từ giáo sư không tên tuổi đến ý tưởng táo bạo làm thay đổi thế giới sinh học  Carl Woese cũng là một con người không hề dễ hiểu. Ông có một tâm hồn độc lập đầy kiêu hãnh, chú trọng sự riêng tư, ông đã bỏ qua một vài các nghi thức trong khoa học, phớt lờ sự lịch thiệp, thoải mái thể hiện ý tưởng, tập trung toàn bộ đến mức gần như ám ảnh với những dự án của ông và đưa ra những khám phá làm rung chuyển thế giới.   Vào năm 1969, ở tuổi 41, Woese chỉ là một giáo sư không có tên tuổi ở Đại học Illinois ở Urbana. Vào ngày 24 tháng 6 năm đó, ông đã viết một bức thư cho Francis Crick ở Cambridge, Anh và tiết lộ điều mà sau này sẽ làm chấn động thế giới. Ông đã gặp Crick tám năm trước trong khi đang làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu điện ở Schenectady, New York.  Francis Crick là một nhà khoa học được biết đến như người đồng khám phá cấu trúc DNA với James Watson. Sự tương tác giữa Woese và Crick ban đầu chỉ như những trao đổi bình thường qua thư, nhưng đến năm 1989 họ đã đủ thân thiết để Woese có thể nói về những vấn đề cá nhân hơn và thậm chí kêu gọi sự ủng hộ (cho quyết định công bố điều ông khám phá ra). “Francis thân mến, ôi sắp đưa ra một quyết định quan trọng và gần như không thể đảo ngược”, Woese viết trong một bức thư, đồng thời hỏi ý kiến và đề nghị sự động viên tinh thần của Crick.     Cây sự sống của Darwin từ thân cây chĩa ra hai nhánh chính, nhưng phát hiện của Woese cho thấy đáng ra phải là ba nhánh. Ảnh: Behance  Điều Woese muốn chính là việc làm sáng tỏ quá trình dẫn đến nguồn gốc của những tế bào đơn giản nhất – những tế bào mà các nhà vi sinh vật học gọi là prokaryote (nghĩa là vi khuẩn theo hàm ý của họ). Eukaryote bao gồm nhóm sinh vật lớn còn lại, và tất cả các dạng sự sống tế bào (tức là không bao gồm virus. Mặc dù vi khuẩn vẫn hiện diện phổ biến và thống trị nhiều nơi trên thế giới, tới tận năm 1969 chúng vẫn được coi như dạng vật thể sống gần nhất với những sinh vật cổ xưa nhất. Tìm ra nguồn gốc của chúng có nghĩa là sự ám hiểu về tiến hóa của chúng ta phải mở rộng cho đến hàng tỷ năm trước… từ lúc tế bào sống mới chỉ bắt đầu hình thành từ một cái gì đó mà đến chính chúng ta cũng không chắc.   Để tìm hiểu những gì đã xảy ra một tỷ năm về trước quả là không đơn giản, nhưng Woese là một con người đầy tham vọng. Có một khả năng, dù không chắc chắn, rằng chúng ta có thể đạt được điều đó thông qua việc nhìn vào “hồ sơ hóa thạch bên trong tế bào”, hay nói cách khác thông qua việc đi tìm bằng chứng của những phân tử dài, trình tự theo chiều dọc của cấu trúc DNA, RNA và protein.  Việc so sánh các trình tự như vậy, hay còn gọi là các biến thể trên cùng một phần tử được quan sát thấy ở các sinh vật khác nhau, cho phép Woese suy ra “trình tự cổ xưa” của các phân tử. Và chính từ những suy luận đó, ông hy vọng sẽ có được một số hiểu biết sâu sắc về cách các sinh vật tiến hóa trong quá khứ. Đó chính là “phát sinh chủng học phân tử”, dù rằng vẫn chưa sử dụng cụm từ đó, và ông hi vọng kỹ thuật này sẽ giúp ông tiếp cận với ít nhất ba tỷ năm về trước.  Tuy nhiên phần tử nào sẽ nói lên nhiều nhất về “quá khứ” của các sinh vật? Phần tử nào sẽ là đại diện cho “bản hóa thạch bên trong” tốt nhất của các tế bào sống?   Ribosome – nơi cất giữ câu trả lời  Woese đã luôn nghĩ đến một bộ máy phần tử nhỏ xíu và quen thuộc với tất cả các dạng sống tế bào: Ribosome. Gần như tất cả các tế bào đều chứa ribosome, kể cả các hạt tiêu trong món súp của bạn, và chúng luôn bận rộn với việc tổng hợp protein. Huyết sắc tố (Hemoglobin) là một ví dụ điển hình. Protein này có một nhiệm vụ quan trọng là vận chuyển oxy bằng đường máu của các động vật có xương sống. Các chỉ dẫn về mặt kiến trúc để xây dựng huyết sắc tố đã được mã hóa trong DNA của động vật, nhưng huyết sắc tố thật sự được sinh ra ở đâu? Trong ribosome. Ribosome chính là thành tố trung tâm của thứ mà Woese gọi là “bộ máy dịch thuật”. Hay nói một cách đơn giản hơn: Ribosome chuyển gene thành các cơ thể sống.   Những hạt này mới chỉ được phát hiện ra gần đây, và lúc đầu không ai biết chúng làm gì. Thế rồi các nhà khoa học nhận ra đó chính là nơi sản xuất protein, tuy nhiên một câu hỏi lớn vẫn tồn tại: “Làm thế nào?”. Một vài nhà nghiên cứu cho rằng ribosome thực sự chứa các công thức cho protein và tạo ra chúng với một quá trình gần như tự động.       Chúng ta – loài người có lẽ chính là hậu duệ của những sinh vật chỉ mới hơn 40 năm trước chúng ta còn không hề biết chúng tồn tại.      Ý tưởng này đã sụp đổ vào năm 1960 khi một động nghiệp xuất sắc khác của Crick tên là Sydney Brenner, trong một cuộc họp sôi nổi tại Đại học Cambridge, đã nảy ra một ý tưởng tốt hơn.   Matt Ridley đã mô tả khoảnh khắc đó trong cuốn tiểu sử về Crick:   Rồi đột nhiên Brenner kêu lên. Ông bắt đầu nói rất nhanh. Crick cũng bắt đầu đáp lại nhanh như vậy. Mọi người khác trong phòng nhìn theo kinh ngạc. Brenner đã thấy câu trả lời, và Crick đã thấy ngay được điều đó. Ribosome không chứa công thức cho protein; nó chỉ là một “máy đọc”, và nó có thể tạo ra bất cứ một loại protein nào chừng nào mà chúng ta cung cấp cho nó đúng “băng ghi” – hay một phân tử RNA phù hợp.   Trước thời đại âm thanh kỹ thuật số, âm thanh vẫn được ghi trên băng cát sét có từ tính. Do đó Brenner đã chọn hình ảnh băng cát sét để nói về chuỗi RNA thông tin bởi vì nó mang thông điệp từ bộ gene DNA của tế bào đến các ribosome, cho chúng biết các axit amin nào sẽ lắp ráp thành một protein cụ thể. Các protein mà chúng tạo ra là các phân tử ba chiều nên có lẽ chúng ta có thể sử dụng một phép ẩn dụ tốt hơn: Ribosome là một máy in 3D. Ribosome là một trong những cấu trúc nhỏ nhất trong một tế bào, tuy nhiên chúng lại rất đông về số lương và có ảnh hưởng rất lớn. Một tế bào động vật có vú có thể chứa tới 10 triệu ribosome; tế bào duy nhất của vi khuẩn Escherichia coli, hoặc E. coli có thể tồn tại chỉ với với vài chục ngàn. Mỗi ribosome có thể tạo ra protein với tốc độ khoảng 20 axit amin (đơn vị cấu thành của tất cả các protein) mỗi giây, khiến cho hoạt động xây dựng trong tế bào trở nên nhộn nhịp. Và bởi vì nó rất cơ bản đối với cuộc sống, có lẽ quá trình này đã diễn ra trong gần bốn tỷ năm. Hiếm có ai, vào năm 1969, nhận ra ý nghĩa của vai trò phổ biến và cổ xưa đó của ribosome một cách sâu sắc như Carl Woese. Ông nghĩ rằng những ribosome nhỏ bé này – hoặc một số phân tử bên trong chúng – có thể chứa bằng chứng về cách sự sống nảy sinh, và trở nên đa dạng ngày từ thời kì sơ khai.   “Những gì tôi đề xuất không phải là cách làm khoa học tao nhã theo định nghĩa của tôi”, Ông nói với Crick. Sự tao nhã của khoa học nằm ở việc tốn ít dữ liệu nhất có thể để trả lời cho một câu hỏi. Sự tiếp cận của ông khá là tốn công sức: ông cần một phòng lab rộng, được thiết lập để ít nhất có thể đọc được các phần của RNA ribosome. Đó thực sự là một thử thách ít nhất vào thời điểm đó. Việc đọc chuỗi dài như DNA, RNA hoặc protein khá là đơn giản vào thời điểm này và hoàn toàn tự động nên khiến chúng ta hiếm khi đánh giá đúng mức thách thức mà Woese phải đối mặt.   Vào năm 1969, việc xác định trình tự của cả một phần tử dài là không thể, chứ chưa nói gì đến toàn bộ bộ gene. Woese chỉ có thể mong đợi những trích đoạn ngắn, đọc từ các mảnh phân tử RNA ribosome, và thậm chỉ điều đó chỉ có thể đạt được với rất nhiều chi phí về thời gian và công sức. Woese dự định sẽ xác định trình tự của các sinh vật khác nhau và sau đó so sánh chúng, suy ngược lại để hiểu về những dạng đầu tiên của sự sống. RNA ribosome sẽ chính là chìa khóa giúp chúng ta hiểu về sự bắt đầu của sự tiến hóa.   Woese sau đó đã phát triển một phương pháp độc đáo cho nhiệm vụ này: nghiên cứu “hóa thạch bên trong” của các tế bào sống. Cơ chế hoạt động của nó khá phức tạp, tốn nhiều công sức và có chút gì bí ẩn. Nó dùng đến chất lỏng nổ, điện áp cao, phốt pho phóng xạ, ít nhất một dạng vi khuẩn gây bệnh và quy trình an toàn đã bị cắt giảm. Tham gia vào dự án là các sinh viên tốt nghiệp trẻ và đầy can đảm,  các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, các trợ lý kỹ thuật… tất cả dưới sự chỉ huy của một nhà lãnh đạo đầy nhiệt huyết trong nỗ lực đẩy khoa học tới giới hạn mà chưa ai từng vượt qua.   Woese đã xác định rằng chính ribosome là nơi lưu giữ hồ sơ hóa thạch bên trong của tế bào. Nhưng nhiều câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ: phân tử ribosome nào đáng được nghiên cứu? Ông chọn một phân tử dài với vai trò như thành phần cấu tạo của một trong hai tiểu đơn vị ribosome: 16S rRNA.   Những thước phim RNA đầu tiên và công bố làm rung chuyển thế giới  Mitchell Sogin làm việc trong phòng thí nghiệm Woese. Chàng sinh viên trẻ đến Đại học Illinois dự định làm tiền y khoa, nhưng sau đó lại quyết định đi theo Woese vì chính anh cũng bị những câu hỏi sâu sắc thu hút. Đối với Woese, Sogin không chỉ thông minh mà còn khéo léo sử dụng các thiết bị. ở Sogin có sự kết hợp của sự khéo léo, năng khiếu cơ học, sự chính xác, kiên nhẫn, và một chút tài năng của thợ điện lẫn thợ sửa ống nước: những khả năng khiến anh không chỉ phù hợp trong việc thực hiện thí nghiệm mà còn tạo ra các công cụ cho việc đó.   Đó là một điều vô cùng may mắn bởi vì dù trong phòng thí nghiệm có một bộ sưu tập các thiết bị được dùng để giải trình tự RNA, người giáo sư mua các thiết bị đó đã chuyển tới Đại học Columbia và không ai trong số còn lại biết cách sử dụng. Tuy nhiên, chính Sogin đã học nhiều nhất có thể về cách vận hành các công cụ này, và Woese cùng với nghiên cứu sinh siêng năng của mình đã lắp ráp và sử dụng một loạt các thiết bị cho phép giải trình tự RNA ribosome.  Bản thân Woese không phải là một nhà thực nghiệm. Ông là một nhà lý luận, một nhà tư tưởng, giống như Francis Crick. Ông không bao giờ sử dụng bất kỳ thiết bị nào trong phòng thí nghiệm của riêng mình, Sogin nói. Không có gì – trừ khi bạn tính đến các hộp đèn đèn để đọc phim ảnh của các đoạn RNA, các mẩu nhỏ của phân tử mà Sogin đã sử dụng enzyme để cắt. Chính Sogin đã chế tạo những hộp đèn huỳnh quang này nhằm kiểm tra tra hình ảnh của các mảnh vỡ do phốt pho phóng xạ chiếu lên phim X quang.  Anh đã chuyển toàn bộ một bức tường với giá sách thành một hộp đèn thẳng đứng lớn như một bảng thông báo, sử dụng ống nhựa mờ và ống huỳnh quang. Họ gọi nó là “bảng ánh sáng”, và dùng nó để chiếu các “bộ phim” dấu vết mà phân tử RNA để lại.   Woese hàng ngày nhìn chăm chú vào các “dấu vết đó”. Đây là một công việc nhàm chán nhưng đòi hỏi sự tập trung cao độ. Mỗi “dấu vết”, hay vị trí, đại diện cho một chuỗi RNA – cũng giống như A, C, G, T, của DNA nhưng với chữ U thay thế chữ T.   Các đoạn ngắn nhất thu được gồm 4 chữ cái và nhiều nhất không quá 20 chữ cái. Mỗi bộ phim đại diện cho RNA ribosome từ một sinh vật khác nhau. Và tất cả các bộ phim đó dần kết nối trước mắt Woese, hình thành nên một bản thảo mới của cây sự sống.   Đó là một công việc không kém phần nguy hiểm. Sogin nhắc lại cứ mỗi thứ hai cách tuần phốt pho phóng xạ với một số lượng khá lớn lại được chuyển đến (một đồng vị được xác định là P32, với chu kỳ bán rã là 14 ngày). Sogin sẽ lấy ra một lượng P32 lỏng và thêm nó vào bất kỳ môi trường nuôi cấy vi khuẩn nào mà anh dự định xử lý tiếp theo. Thật điên rồ, Sogin nhớ lại. “Tôi vẫn không hiểu tại sao tôi có thể sống tới ngày hôm nay”.   Đến năm 1973, phòng thí nghiệm của Woese đã trở thành một trong những nơi tiên phong sử dụng công nghệ giải trình tự RNA như vậy trên thế giới. Trong khi các sinh viên và kỹ thuật viên ghi lại dấu vết của RNA, Woese dành thời gian nhìn chằm chằm vào các điểm đó.   George Fox, một thanh niên bình thường từ Syracuse đã đến Urbana vào năm 1973 để làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ trong phòng thí nghiệm Woese. Fox vốn không phải là một nhà thực nghiệm và có khát khao làm việc với các công cụ lý thuyết, dùng dữ liệu phân tử để phân tích tiến hóa cùng với Woese. Tuy nhiên ban đầu tài năng của anh không được trọng dụng và anh phải làm việc trong phòng thí nghiệm, phát triển các tế bào phóng xạ và  trích xuất RNA ribosome từ chúng. Nhưng anh vẫn tiếp tục và rồi thành công trong việc chứng tỏ với Woese anh có thể trở thành người cộng tác đáng tin cậy. Nỗ lực đó đã được đền đáp: anh là đồng tác giả duy nhất của bài báo danh tiếng xuất bản vào năm 1977 để công bố cho cả thế giới biết về sự tồn tại của một “vương quốc thứ ba” của sinh vật.   Bài báo đó chính là một trong những một trong những tác phẩm quan trọng nhất từng được xuất bản về vi sinh học, được biết đến với tên là Wo Woese và Fox (1977). Tuy nhiên vào thời điểm đó vẫn còn những ý kiến trái chiều. Phát hiện của Woese đã được công bố trong một tờ báo do NASA phát hành, một trong những nguồn tài trợ của ông, đồng thời điều đó đã gây phản cảm với một số nhà khoa học. Một yếu tố khác là Woese không phải là một người thuyết trình tốt, ông không có các kỹ năng để có một bài giải thích thuyết phục hoặc truyền cảm hứng.   Rồi đột nhiên chỉ trong một vài ngày của tháng 11 năm ấy, ông đã thu hút sự chú ý của thế giới. Khi các nhà báo cố gắng tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra, ông không thể giải thích cho họ hiểu vì đơn giản họ không hiểu được ngôn từ của ông. Ralph Wolfe, một nhà vi trùng học và đồng nghiệp của ông cho biết: “Cuối cùng ông ta thốt lên: “đó là một dạng sự sống thứ ba”.” Các nhà báo bám vào đó, viết theo các cách phi khoa học nhất có thể. Ví dụ như tờ Chicago Tribune giật tít: “Bọ Sao Hỏa có thể là sinh vật sống lâu đời nhất”. Tất cả những điều đó đã làm giảm sự chú ý đối với bài báo chính thống và rất nhiều nhà khoa học không biết Woese đã coi ông là một kẻ điên khùng. □ (còn tiếp)   Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.nytimes.com/2018/08/13/magazine/evolution-gene-microbiology.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người tạo ra bộ não cho các cỗ máy      Nvidia đã đi trước một bước so với các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Trong khi Intel dự kiến sang năm mới có thể trình làng một bộ vi xử lý máy tính dành cho AI, Nvidia đã bán ra một số sản phẩm này ngay từ 2015. Sáu năm nay, những con chip thông thường của Nvidia đã được các nhà nghiên cứu coi như nền tảng để dạy cho robot học nhìn, nghe và hiểu. Và Jen-Hsun Huang, người đồng sáng lập Nvidia chính là người thúc đẩy Nvidia bước vào kỷ nguyên mới của máy tính.      Jen-Hsun Huang, nhà sáng lập hãng Nvividia  Cuối tháng chín năm 2016, tại Hội nghị công nghệ ở Amsterdam, Hà Lan đã xuất hiện những cỗ siêu máy (super machine) của tương lai: trước Trung tâm Hội nghị, gần nhà ga chính của Amsterdam có một xe minibus tự hành đi theo vòng tròn. Bên trong xe, một robot lăn có cánh tay bằng thép, cạnh đó là một vật thể bay không người lái có thể nhận biết mọi thứ nằm trên sàn xe, không khác gì chim ó bay lượn trên không và có thể nhìn thấy con mồi trên mặt đất. Nhà sản xuất chip Nvidia ở California, Mỹ được mời tham dự hội nghị này và đương nhiên cũng đã mang tới các loại robot thông minh để trình diễn. Hội thảo cũng hội tụ các nhà nghiên cứu, các start up công nghệ và các nhà chiến lược về IT ở khắp nơi trên thế giới. Các khách mời tại hội thảo đều muốn được gặp gỡ Jen-Hsun Huang, người đồng sáng lập Nvidia từ cách đây 23 năm và hiện tại vẫn là một trong những nhà lãnh đạo của doanh nghiệp này. Ông chính là người thúc đẩy Nvidia bước vào kỷ nguyên mới của máy tính.  Khi Jen-Hsun Huang rảo bước lên khán đài, mọi người vỗ tay reo hò chào đón. Ông nói: “Chúng ta đang ở thời kỳ đầu của một cuộc cách mạng – kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Microsoft  bắt đầu làm cho máy tính gần như hiểu được ngôn ngữ như con người. Máy tính cũng có thể dịch khá chuẩn. Còn các phần mềm mới nhận biết hình ảnh tốt hơn con người”. Ông tiên đoán: “Không lâu nữa máy tính có thể làm cho chúng ta những việc mà hôm nay chúng ta chưa thể tưởng tượng ra. Và trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực kinh doanh có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất”.  Đi trước một bước so với các đối thủ trong lĩnh vực AI  Ông hoàn toàn không đơn độc với dự báo này. Theo dự đoán của các nhà nghiên cứu thị trường tại Tractica (một công ty phân tích thông tin thị trường công nghệ) thì doanh thu trên thế giới đối với phần mềm thông minh đến năm 2025 sẽ đạt 36,8 tỷ đôla. Theo các chuyên gia, những cỗ máy thông minh này sẽ làm được những nhiệm vụ như đơn giản như trả lời email cho tới chăm sóc người già hoặc phức tạp như chẩn đoán bệnh tật.  Và ông Huang lại muốn làm các bộ não cho những siêu người máy thế hệ kế tiếp. Ông cũng đã đi được một đoạn khá dài trên con đường đó. Trong khi Intel, đối thủ cạnh tranh của Nvidia dự kiến sang năm mới có thể trình làng một bộ vi xử lý máy tính dành cho trí tuệ nhân tạo, còn Nvidia đã bán ra thị trường một số sản phẩm này ngay từ năm 2015. Từ sáu năm nay những con chip thông thường của Nvidia đã được các chuyên gia phát triển và các nhà nghiên cứu coi như nền tảng để dạy cho robot học nhìn, nghe và hiểu.  Alex Linden, chuyên gia về học máy (Machine Learning) thuộc hãng tư vấn công nghệ thông tin Gartner nói “Nvidia là tập đoàn lớn đầu tiên về phần cứng đã phát hiện xu hướng học sâu (Deep Learning) còn non trẻ và đã dựa trên xu hướng này. Do đó so với các đối thủ cạnh tranh, Nvidia đã đi trước một bước khá xa”. Điều này nói lên sự nhạy bén của Huang.  Những người thấu hiểu Huang đều cho rằng, ông là một trong số ít người có khả năng suy nghĩ hết sức thấu đáo. Nhân viên dưới quyền nhận xét Huang là người chú ý đến mọi tiểu tiết, ưa sự hoàn hảo, rất năng nổ – và là người dễ gần.  Sinh năm 1963 ở Đài loan, khi còn là một đứa trẻ, Huang đã cùng bố mẹ định cư ở Thái lan. Nhưng khi tình hình chính trị ở nước này trở nên căng thẳng, năm 1973 bố mẹ ông buộc phải gửi cậu con trai mới 9 tuổi và người anh 10 tuổi sang ở với người dì tại Mỹ. Do nhầm lẫn khi đăng ký hồ sơ, nên Huang phải vào học ở một trường vốn dành cho “học sinh cá biệt” ở vùng nông thôn thuộc bang Kentucky. Ở trường này, Huang phải lau chùi nhà vệ sinh mỗi chiều, học chung với những người bạn ngỗ ngược, hung bạo và tự học cách tự đứng lên sau mỗi lần bị vấp ngã.  Sau này bố mẹ Huang cũng chuyển tới Mỹ và đón con trai về bang Oregon. Tại đây Huang theo học ngành kỹ thuật điện và đã gặt hái thành tích cao – lấy bằng thạc sỹ tại trường đại học danh tiếng Stanford. Học xong, ông phát triển microchip tại hãng AMD – một ông lớn công nghệ chuyên sản xuất linh kiện bán dẫn tích hợp. Ở tuổi 30, Huang cùng với hai cộng sự là Chris Malachowsky và Curtis Priem đã bắt đầu thực hiện một ý tưởng công nghệ hoàn toàn riêng. Hồi đó, máy tính còn chạy với hệ điều hành Windows 3.1, hầu như chưa mấy ai biết về Internet và video game hình thành từ những bức ảnh hai chiều. Huang nhớ lại: “khi đó bộ vi xử lý có tốc độ nhanh nhất cũng chỉ đạt 66 Megahertz”, nhưng Huang đã nghĩ tới việc tạo dựng một vũ trụ mới, một thế giới trong máy tính. Năm 1993 ông cùng hai chiến hữu của mình thành lập Nvidia. Năm 1995, Nvidia tung ra thị trường GPU (Graphics Processing Unit – là một bộ vi xử lý chuyên dụng nhận nhiệm vụ tăng tốc, xử lý đồ họa cho bộ vi xử lý trung tâm CPU) đầu tiên của mình. Microsoft đã sớm quyết định lắp đặt Nvidia-Chips vào game console Xbox của mình, và chỉ ít lâu sau Sony cũng đến gõ cửa và đề nghị Huang cộng tác để làm game Playstation 3 – console.  Cuối những năm 2000, Nvidia trở thành “ông vua” trên thị trường tiền tỷ về card đồ hoạ dành cho các video game. Đây là mảng kinh doanh rất có lãi: cổ phiếu của Nvidia tăng gấp 27 lần trong giai đoạn 1999 – 2007, có nghĩa là tăng nhanh hơn cổ phiếu của Apple trong cùng thời gian.  Thường xuyên “tái phát hiện bản thân”  Tuy nhiên Huang không phải típ người sau khi gặt hái thành công thì nghỉ xả hơi. Ông đã từng phát biểu trước sinh viên đại học Stanford: “Nếu bạn không thường xuyên tái phát hiện bản thân,  thì thực chất bạn đang nằm chờ một cái chết từ từ”. Từ năm 2012, có một số nhà nghiên cứu liên hệ với ông, họ phát hiện ra rằng, các tấm card đồ hoạ của ông hứa hẹn mang lại những tiến bộ to lớn trong việc phát triển trí tuệ nhân tạo. Thông thường, các bộ vi xử lý hoạt động với bốn hoặc tám lõi tính toán và các bước tính toán diễn ra tuần tự – và chúng trở thành điểm nghẽn nút cổ chai đối với học sâu. Trong khi đó, các card đồ hoạ của Nvidia có tới hàng nghìn lõi hoạt động cùng một lúc. Ông Zuiderveld, giám đốc khu vực của Nvidia ở châu Âu nói: “Nó tương tự như một đường cao tốc có tới 8000 làn xe” – điều rất lý tưởng cho công nghệ AI mới.  Và Huang đã không do dự: ông thành lập một đội ngũ chuyên gia phát triển các vi xử lý mới chỉ để phục vụ trí tuệ nhân tạo. Kể từ năm 2015, máy tính Nvidia Deep-Learning đã khẩn trương  tung ra thị trường một con chip dành cho Robot, biết học nhìn; một loại siêu máy tính nhanh như 150 laptop – máy tính này có thể lắp trong xe ô tô tự lái và có thể xử lý, đánh giá dữ liệu do 12 camera ghi lại đồng thời. Các start-ups và các tập đoàn đua nhau giành giật sản phẩm này. Facebook và Google sử dụng nó trong các trung tâm dữ liệu của họ. Đã có 55000 chuyên gia phát triển phần mềm đăng ký với Nvidia để lập trình dựa trên cơ sở phần ứng ứng dụng học sâu của Nvidia. Tập đoàn Internet Baidu của Trung quốc sử dụng các ứng dụng này để tích hợp vào xe ô tô tự lái.  Huang, là người đi đầu và nắm vững lĩnh vực này hơn rất nhiều chuyên gia khác. Ông nói vo hơn hai tiếng đồng liền trong hội thảo ở Amsterdam về tương lai của những cỗ máy thông minh. Trong các cuộc trao đổi cá nhân, ông cũng luôn diễn đạt rất tập trung và đưa ra nhiều bằng chứng phong phú. Giọng nói của ông đôi khi có âm hưởng  như một lời tiên tri: “Học sâu như là một cây búa từ trên trời rơi xuống”. Và điều ông muốn là làm sao để công nghệ này “tới được với tất cả mọi người“. Theo ông Huang, hiện nay trên thế giới đã có 1500 Startup làm việc về học sâu. Và trong số đó có nhiều người sử dụng chip của Nvidia. Tập đoàn phần mềm SAP của Đức gần đây cũng đã hợp tác với Nvidia để đưa trí tuệ nhân tạo vào phần mềm của mình. Các nhà nghiên cứu rất thán phục khi công việc của họ tiến triển cực nhanh nhờ những con chip mới của Nvidia. Ngay cả Trung tâm nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo của Đức cũng sử dụng máy tính của Nvidia để giao tiếp với các robot của mình, nhờ đó chúng học tốt hơn, vận động nhanh nhẹn hơn và dễ dàng tương tác với các đối tượng khác. Trong tháng tám, Huang đã bàn giao cho Elon Musk – nhà sáng lập Tesla một siêu máy tính. Nhờ đó, phòng nghiên cứu OpenAI của Musk sẽ phát triển các chương trình mới.  Cuộc chạy đua trong lĩnh vực AI diễn ra vô cùng khốc liệt. Riêng Intel, trong 13 tháng qua đã mua đứt ba start-up chuyên phát triển trí tuệ nhân tạo, Google cũng có con chip riêng phục vụ nền tảng AI. Không ai được phép ngơi nghỉ trên mặt trận này. Huang cũng không nghĩ đến chuyện nghỉ xả hơi, trái lại, ông lại một lần nữa đi trước thiên hạ một bước: mới đây ông đã tạo một hệ điều hành dành cho ô tô tự lái. Bản thân ông cũng đã thử nghiệm một xe tự lái của phòng thí nghiệm Nvidia. Ông kể cho biết, “xe đã chạy thử trên đường cao tốc và đường bình thường”, hiện tại chưa phải là thời điểm chín muồi để có thể tung ra thị trường, tuy nhiên “chiếc xe đáp ứng về cơ bản các yêu cầu về kỹ thuật”. Hiện tại Nvidia hợp tác với trên 70 doanh nghiệp trên thế giới về giao thông. Trong hội thảo công nghệ ở Amsterdam, các chuyên gia phát triển thuộc các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Audi, Volkswagen, Porsche, Volvo cũng đều có mặt. Và trên khán đài hội nghị, Huang say sưa nói về việc, không lâu nữa trí tuệ nhân tạo sẽ giải quyết những khó khăn mà con người bấy lâu hằng mơ ước giải quyết được.  Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế Đức”.  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/forschung/serie-kuenstliche-intelligenz-teil-ii-der-mann-der-maschinen-ein-gehirn-gibt/14949490.html    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Người tạo ra hàng ngàn hình ảnh khoa học đẹp rực rỡ      Bằng cách tô màu một trong những hình ảnh đầu tiên được vệ tinh Hubble ghi lại, họa sĩ minh họa Dana Berry đã mở ra một kỷ nguyên mới với những tấm ảnh vũ trụ đẹp tuyệt vời.        Bức ảnh đầy nghệ thuật này thể hiện một hành tinh bị nứt vỡ đang trôi qua lỗ đen siêu lớn. Tác phẩm này được chọn làm bìa báo cáo của Hội đồng Khoa học và Công nghệ quốc gia từ năm 2004 mặc dù không được dùng trong nội dung của báo cáo (Dana Berry/Skyworks).  Vào năm 1990, nhà minh họa khoa học Dana Berry đã sử dụng một chương trình tiền thân của Photoshop để xử lý các bức ảnh về vũ trụ tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian  (Viện) của NASA. Kính thiên văn Hubble đã ra mắt một năm trước đó và các nhà khoa học của Viện đang bận rộn phân tích và phát hành một nửa tá hình ảnh về không gian. Nhưng tất cả đều đầy sạn và đơn sắc, do đó khó có thể truyền tải hết sự bí ẩn đáng kinh ngạc của vũ trụ.   Thế rồi một ngày, nhà vật lý thiên văn Eric Chaisson đi đến văn phòng của Berry, cầm một bức ảnh về một siêu tân tinh mới nổ tung. Đó là một sự kiện rất đáng chú ý đã được ghi trên máy ảnh, nhưng do hình ảnh chỉ có hai màu đen trắng nên khó lột tả hết sự hoành tráng của nó. Chaisson gợi ý Berry nên tô màu cho bức ảnh dù chỉ để gây ấn tượng. Ông cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy màu sắc từ sự kiện đó vì sao tân tinh (một vụ nổ khổng lồ đánh dấu sự hủy diệt của ngôi sao, một sao mới hình thành và sẽ lụi tàn dần trong vài tháng) đã được khoa học công nhận là có tạo ra ánh sáng màu. Nhưng camera của Hubble chỉ bắt được ánh sáng có bước sóng 5007 angstrom (1 angstrom = 0.1 nm) và đã bỏ lỡ mất điều đó.   Thế rồi Berry ngồi xuống với chiếc máy tính Silicon Graphics Iris 3130 của mình – một chiếc máy tính lớn hơn một tủ lạnh nhỏ nhưng sức mạnh tính toán lại ít hơn một chiếc iPhone nguyên bản — và bắt đầu công việc “tô màu”. “Tôi thật lòng không thể tin nổi vào vận may nào đã cho tôi làm điều này”, Berry hồi tưởng lại.  Để phù hợp với yêu cầu của Chaisson, ông đã nhuộm các đốm ở trung tâm màu hồng để thể hiện khí hydro (hydro phát ra màu đỏ magenta khi cháy trong phòng thí nghiệm). Quầng sáng xung quanh (có hình như chiếc nhẫn) được tô màu vàng vì nó phát ra lưu huỳnh (khí này cháy tạo màu vàng trong phòng lab). Ông tô hai ngôi sao mỗi bên màu xanh như nước bể bơi, bởi những ngôi sao nóng cháy thường tạo ra màu xanh hoặc xanh trắng. Berry rất muốn thêm những ngôi sao nhỏ nhỏ đằng xa làm nền, giống như những gì chúng ta có thể thấy khi máy ảnh không thể lấy nét tất cả các điểm, nhưng rồi lại từ bỏ ý tưởng đó vì “Tôi xử lý hình ảnh đó một cách thận trọng nhất có thể, như thể dữ liệu khoa học đáng được tôn thờ theo một nghĩa nào đó”, ông nói.  Sự ngưỡng mộ của Berry về những cuộc thăm dò của NASA đã bắt đầu từ rất lâu. Khi còn nhỏ, ông thường say sưa theo dõi những nhiệm vụ của Apolo với một niềm hứng thú mãnh liệt. Ông đã từng cùng bố lái xe đến bờ biển và chờ đợi hàng giờ liền khi biết rằng một trong các phi thuyền viên nang của Apollo sẽ rơi xuống đâu đó giữa quê ông, bãi biển Myrtle, và Puerto Rico. Vào đại học, ông theo nghệ thuật nhưng tham gia nhiều lớp học thiên văn hết mức có thể. Ông cho biết, trong thiên văn học “tôi như nhìn thấy trước mắt những điều tôi từng đọc”  Năm 1987, ông đọc được quảng cáo về một công việc tại Viện Khoa học quản lý Kính viễn vọng Không gian. Tuy đã tốt nghiệp và đang làm đồ họa kỹ thuật số cho các doanh nghiệp, ông quyết định tham gia phỏng vấn và dù vị trí đăng tuyển là kĩ sư máy tính, ông vẫn tìm được cách thuyết phục nhà tuyển dụng. Khi những bức ảnh đầu tiên được chụp bởi kính viễn vọng, ông và đồng  nghiệp đã bắt đầu suy ngẫm về cách sử dụng chúng.  Vào thời điểm đó, chương trình nghiên cứu không gian đang phải đối mặt với những thách thức lớn. Vào thời điểm mà Hubble ra mắt, chi phí của nó đã là hơn 2 tỷ đô la và thật không may, nó là dự án lớn ngay sau chiếc tàu vũ trụ Challenger đã không may bị nổ tung ở Florida dẫn đến cái chết thảm khốc cho toàn bộ phi hành đoàn, trước sự chứng kiến của nhiều người dân. Tất cả công chúng đều dõi theo từng bước tiến của Hubble, và thêm vào sự căng thẳng vốn có, các nhà khoa học còn phát hiện ra lỗi sản xuất ở chiếc gương chính của Hubble sau khi nó được phóng lên vũ trụ.       Berry chụp Vũ trụ kinh ngạc của Hubble cho tạp chí National Geographic vào năm 2008 (Dana Berry).  Truyền thông chế giễu NASA, và Hubble đã trở thành tâm điểm châm biếm trong chương trình truyền hình buổi tối ăn khách nhất của Mỹ: “Con gà tây trong vũ trụ kêu như thế nào? Hubble, Hubble, Huble”, Jay Leno, người dẫn chương trình vào đầu những năm 1990 nói.  Do đó, hình ảnh màu đầu tiên của Hubble chụp Siêu Tân Tinh (Supernova) 1987A do Berry tô có ý nghĩa thật sự quan trọng. Chúng đã mê hoặc những người yêu thích thiên văn học và khơi dậy sự quan tâm của công chúng ngay sau khi được phát hành cho các phương tiện truyền thông vào ngày 29 tháng 8 năm 1990. Tuy nhiên, không phải phản ứng của tất cả các nhà khoa học đều tích cực, Berry nhớ lại. Một số cho biết bức ảnh đã chỉnh sửa không được chính xác lắm, và nghệ thuật, cụ thể là việc thêm màu sắc, đã làm ảnh hưởng đến tính chân thực của nó.  Nhưng hơn cả việc minh họa khoa học, Supernova 1987A và những hình ảnh khác cũng phục vụ một mục đích quan trọng khác. Chúng đã cho thấy những gì Hubble có thể làm – chụp được những hình ảnh tuyệt vời mà kính thiên văn mặt đất không thể làm được – và thu hút sự quan tâm của công chúng tới việc thăm dò vũ trụ. “Giá trị của việc truyền thông khoa học không được  cộng đồng khoa học nói chung thấu hiểu”, Berry nói, “nhưng điều đó đã thay đổi và tôi nghĩ Hubble chính là chất xúc tác cho sự thay đổi đó.”  Các tổ chức khác cũng chú ý đến điều này. Sau nhiều năm tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian, Berry nhận công việc tại Đại học Tufts và sau đó tại Đài quan sát Tia X Chandra của NASA, trụ sở đặt tại Đài thiên văn Smithsonian, nơi ông đã sử dụng các kỹ thuật tương tự để tô màu hình ảnh của siêu tân tinh, tinh vân và hành tinh. Đôi khi các bức ảnh được xử lý theo nhiều cách khác nhau – thông qua các bộ lọc màu hoặc điều chỉnh nó qua nhiều bước sóng – nhưng Berry hầu hết dựa vào người bạn tin cậy Photoshop của ông để làm chúng nổi bật. Đôi khi nhiều hình ảnh cần được ghép lại hoặc xếp chồng lên nhau để loại bỏ ánh sáng quá chói. Ở Chandra, Berry cũng là tác giả của hình ảnh động của các lỗ đen và của tàu vũ trụ Chandra, mà vẫn được sử dụng đến ngày hôm nay.Đến thời điểm này, hầu như các cơ quan đều có một đội ngũ các nhà minh họa khoa học. Kimberly Arcand, bây giờ là giám đốc hình ảnh tại Chandra, nhớ lại khi làm việc với Berry cho một hình ảnh động của Cassiopeia A (một tàn dư siêu tân tinh). “Tôi chắc chắn đã lấy Dana (Berry) làm tấm gương cho sự nghiệp của mình”, cô nói. Arcand cũng đang sử dụng dữ liệu cũ từ nhiều thập niên trước để tạo ra các hình ảnh động hiện đại hơn của Cassiopeia A trong môi trường thực tế ảo.  Sau khi rời Chandra, Berry trở thành người dẫn đầu về đồ họa tại Nhóm nghiên cứu Tàu Thăm dò Bất đẳng hướng Vi sóng Wilkinson (Wilkinson Microwave Anisotropy Probe WMAP), các nhà khoa học thuộc nhóm này đã nhận được giải thưởng đột phá 2018 vì đã chụp được hình ảnh các nhiệt bức xạ còn sót lại sau vụ nổ Big Bang. Trong khi đó, các hình ảnh của Hubble, giờ đây được tô màu bởi người kế vị Berry Zolt Levay và nhóm của ông, bắt đầu trông ngày càng giống như những bức tranh. Những trụ cột của tạo hóa (Pillars of Creation), một hình ảnh ghép bởi 32 hình ảnh khác nhau được chụp năm 1995 bởi bốn camera Hubble khác nhau, sử dụng kỹ thuật tương tự như những gì Berry đã sử dụng trong công việc đầu tiên của mình: xanh lá cây cho Hydrogen, đỏ cho lưu huỳnh ion hóa, xanh dương cho ôxy ion hóa (Ionized Oxygen).  “Những trụ cột của tạo hóa” trở thành những bức ảnh dễ nhận biết nhất trong tất cả các hình ảnh của Hubble. Những kỹ thuật để xử lý ảnh trong minh họa khoa học cũng được sử dụng nhiều hơn, không chỉ có hình ảnh tĩnh mà còn ở hình ảnh động như trên kênh Discovery, National Geographic và Smithsonian để tạo ra nhiều tài liệu không gian hấp dẫn hơn. Berry cũng quan tâm đến hướng đó. Vào những năm 2000, Berry nhận được một cuộc gọi từ Steve Burns tại Discovery Channel nhằm tìm người giúp sản xuất phiên bản kỷ niệm 25 năm tác phẩm Những thiên hà của Carl Sagan, bộ phim tài liệu mang tính biểu tượng mà ông vẫn ngưỡng mộ khi còn nhỏ.  Berry choáng ngợp: “Về cơ bản, nó giống như là tôi được yêu cầu tân trang bức “Mona Lisa”.  Berry làm sạch bộ phim, cắt các cảnh lỗi thời và cập nhật một vài hình động. Ann Druyan lập luận rằng một số hình ảnh động không có vấn đề gì và nên được giữ lại, giống như bản vẽ đường tiến hóa qua mọi thời đại. “Bắt đầu công việc sửa lại phim tài liệu không phải hoành tráng như một công việc tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian, nhưng tôi vẫn cảm thấy rất hạnh phúc,” ông nói. Bản sửa lại của bộ phim tài liệu được hoàn thành chỉ trong 3 tháng.  Sau Những thiên hà, Berry làm việc cho một tập phim của series Vũ Trụ (The Universe) cho kênh truyền hình The History vào năm 2008 và xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn đầy đủ về vũ trụ của Smithsonian” (Smithsonian Intimate Guide to the Cosmos). Trong cùng năm đó, ông đã viết và sản xuất phim tài liệu “Vũ trụ tuyệt vời của Hubble” cho chương trình truyền hình Naked Science, và trong năm 2009 đã viết và đạo diễn “Những Trái Đất xa xôi” (Alien Earths) cho National Geographic, và giành được một đề cử giải Emmy (có vai trò như giải Oscar dành cho các chương trình, phim, series truyền hình).  Ngày nay, có nhiều nhà khoa học vẫn không hài lòng với các khái niệm như thế giới đa chiều, du hành thời gian và các tình huống tận thế của vũ trụ được thể hiện qua các bộ phim khoa học. Nhưng giá trị của việc sử dụng nghệ thuật để tiếp cận khoa học là không thể chối cãi. “Hubble đã tạo ra một tiền lệ, và rõ ràng giúp công chúng tiếp cận với thiên văn học là một điều đáng làm”, Arcand nói. Một trong đồng nghiệp đầu tiên của Berry tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian, Ray Villard, hiện là Giám đốc Tin tức cũng có cùng ý kiến “Sự thành công của hình ảnh của Hubble chính là ở chỗ chúng thể hiện được sự kinh ngạc và kỳ diệu của vũ trụ mà không hề khiến mọi người chán nản bởi thuật ngữ khoa học”, ông nói.  Berry cảm thấy rất may mắn vì đã chứng kiến sự phát triển của khoa học trực quan như một nghề được yêu thích. “Một trong những di sản của Hubble chính là việc nghệ thuật đã được đưa vào phục vụ khoa học,” ông nói. “Sẽ không bao giờ có một dự án khoa học lớn nào mà không được hưởng lợi từ các công cụ thiết kế hình ảnh nữa”.□  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/supernova-launched-thousand-gorgeous-space-images-180969611/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người thợ rèn của các vị quân vương      Khách hàng của ông là thợ săn, những nhà sưu  tầm và các vị quân vương, vua chúa. Họ có thể trả cho ông tới 50.000  Euro để mua một sản phẩm như gươm, giáo hay đại đao. Thế giới Ả rập rất  hâm mộ những sản phẩm của người thợ thủ công này.     Jürgen Schanz (42 tuổi), chuyên nghề rèn dao kéo cao cấp ở bang Baden-Württemberg (Đức), nhận được một thư điện tử của nhà vua Bahrain, thoạt đầu ông tưởng đây là trò đùa của ai đó, với nội dung: “Ông Schanz, Đức vua Hamad Bin Issa Al Chalifa quan tâm đến những sản phẩm của ông, mời ông sang Anh Quốc, vé máy bay dành cho ông hiện gửi ở quầy vé”. Ông Schanz không tin vào mắt mình. Bức thư điện tử này không phải là thư giả.   Ít ngày sau, ông thợ rèn có mặt tại London và ngồi đối diện với một vị hoàng thân, ông này tự giới thiệu là cánh tay phải của nhà vua. Vị hoàng thân hỏi, “Ông có dám nhận lời cung cấp cho hoàng gia đơn hàng đó không?” Schanz gật đầu và cuộc trò chuyện chất dứt. Bốn tháng sau, ông nhận lời mời tới Bahrain. Tại đây, ông đã diện kiến nhà vua. Sau chuyến viếng thăm, ông nhận được một đơn đặt hàng lớn. Nhà vua đã đặt làm 20 cây kiếm và dao găm. Những sản phẩm đó sẽ là quà tặng của nhà nước dành cho các vị quốc khách.   Nghề chính thức của ông Schanz là thợ cắt gọt kim loại. Thời học nghề, ông từng học về rèn và cách mài dao kéo. Thường sau khi hết giờ làm việc, ông ở lại xưởng để mày mò biến những thỏi sắt thép thành những sản phẩm theo ý tưởng của mình. Khi thi tốt nghiệp trường nghề, ông đã rèn một sản phẩm có tên là Flammendolch (thanh kiếm lửa), sau này bài thi thợ cả của ông là rèn một thanh kiếm Nhật Bản. Khi đó ông 24 tuổi.   Ông Schanz kể, “Khi học nghề xong, tôi nhận thấy có thị trường cho những sản phẩm loại này. người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm sản xuất bằng phương pháp thủ công và có chất lượng cao.” Khách hàng của ông thường là dân săn bắn và những nhà sưu tầm. Họ sẵn sàng chi tới 2.000 Euro cho một con dao dành cho thợ săn, 12.000 Euro cho một thanh kiếm. Giá kỷ lục mà ông thu được là 50.000 Euro cho một thanh đao nạm bạc và ngọc. Thanh đao đó đẹp tới mức ông làm thêm một cây thứ hai dành cho mình làm kỷ niệm, thay cho nạm ngọc, ông nạm đá Sapphire. Cây đao đó được cất giữ trong két sắt.   Bình quân mỗi năm ông làm khoảng 200 con dao và ba thanh kiếm. Ông có thể nhận thêm một thợ học nghề hoặc gọi thêm một thợ nữa để cùng làm bởi ông có đủ hợp đồng. Tuy nhiên ông Schanz lại thuộc diện thích cặm cụi một mình với công việc.   Xưởng sản xuất của ông cũng giống như nhiều xưởng truyền thống khác ở địa phương, nghĩa là khá rộng rãi. Ông chứa các dụng cụ, đồ nghề ngăn nắp trong những cái tủ đủ để sản xuất trong ba tháng. Ông Schanz rất tự hào là mọi công đoạn sản xuất ông đều làm thủ công, trừ khâu mài. Ông nói, “Tuy vậy, khi sử dụng máy, tôi vẫn dùng tay để điều chỉnh sản phẩm”. Ông nói, ở Nhật Bản, một số thợ làm dao, gươm, kiếm làm việc như cách đây dăm trăm năm, có nghĩa là riêng mài xong lưỡi gươnm có khi mất cả tháng trời.  Để làm một con dao, trung bình ông Schanz mất khoảng tám tiếng, một con dao gấp hết 30 đến 40 tiếng, làm một thanh gươm mất 50 tiếng. Hình dáng lưỡi gươm và chuôi hoàn toàn theo yêu cầu của khách. Việc nạm vàng, bạc hoặc ngọc, đá quý, ông thuê thợ kim hoàn. Ông Schanz khoe, thường ông nhận được đơn đặt hàng trước cả năm trời.   Để làm lưỡi gươm, ông dùng loại thép công nghiệp, nếu chơi sang hơn thì dùng thép Damast. Toàn bộ sản phẩm của ông khi xuất xưởng đều được mài rất kỹ nên lưỡi kiếm của ông sắc không kém gì dao cạo râu. Vậy phải chăng những sản phẩm đó là vũ khí giết người? Ông Schanz không thể trả lời những cáo buộc đó, ông chỉ nói: “Kẻ nào muốn dùng dao làm vũ khí thì không tội gì đi mua một con dao của tôi vì quá đắt, họ chỉ cần vào siêu thị là khắc có ngay.” Ông cho rằng những thanh kiếm của ông là vật trang trí, được để trong tủ kính để giới thiệu với bạn bè, khách quý.   Cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush có thể cũng trưng một thanh kiếm như vậy. Vua Bahrain đã tặng ông thanh bảo kiếm do ông Schanz chế tác.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người “thuyền trưởng” khát khao đổi mới      Trong lĩnh vực giáo dục đại học, GS. TS Trần Đức Viên (nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam) thực sự là một trong những nhà quản lý luôn tiên phong trên nhiều phương diện: thúc đẩy công bố quốc tế, kết hợp liên ngành giữa khoa học nông nghiệp và khoa học xã hội, khởi xướng đổi mới quy trình đào tạo – nghiên cứu gắn với nhu cầu doanh nghiệp, và luôn đặt niềm tin, tạo mọi điều kiện để khuyến khích các nhà khoa học trẻ dấn thân.         GS.TS Trần Đức Viên  Đưa KHXH vào giảng dạy  Từ cuối những năm 1980, nhà khoa học trẻ Trần Đức Viên đã nhận ra sự thiếu hụt kiến thức xã hội của các nhà khoa học nông nghiệp. Khi chuyển giao các thành quả của khoa học nông nghiệp vào thực tiễn sản xuất, điều đó có thể dẫn tới hệ quả: cùng một tiến bộ kĩ thuật, áp dụng thành công ở hộ nông dân A, xã A nhưng lại thất bại khi áp dụng ở hộ nông dân B, xã B. Ông nói: “Người nông dân có lý riêng của mình khi không chấp nhận tiến bộ kĩ thuật và công nghệ mới, nhưng các nhà khoa học lại không hiểu căn nguyên, và cách dễ nhất để lý giải cho sự thất bại của mình là họ cho rằng do người nông dân lạc hậu”. Vì thế, ông cho rằng, cần phải phân tích các vấn đề xã hội trong phát triển nông nghiệp thay vì thuần tuý nghiên cứu kỹ thuật – nói ngắn gọn là phải “hiểu dân” trên tinh thần trọng dân, thân dân, coi người nông dân là người thầy trước khi “dạy” họ một cái gì đó.  Trong quá trình nghiên cứu để “hiểu dân”, ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng của những nhà khoa học xã hội, hai trong số những cuốn sách gối đầu giường của ông là Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre Gourou và Chúng tôi ăn rừng của Georges Condominas. Ông là một trong số hiếm hoi những nhà khoa học nông nghiệp có nhiều công trình nghiên cứu và công bố quốc tế về vấn đề phát triển cộng đồng dựa trên cơ sở tôn trọng đa dạng bản sắc văn hoá. Do vậy, năm 2001, ông được mời đi thỉnh giảng ở Đại học Kyoto, và sau đó là Đại học Keio (Nhật Bản), để thuyết trình về mối quan hệ giữa văn hoá tộc người và các hệ canh tác ở Việt Nam (quan điểm này được phản ánh trong bài viết Culture, Environment and Farming Systems in Vietnam’s Northern Mountain Region, đăng trên tạp chí Southeast Asian Studies, Vol 41. No2. September 2003).  Hiện nay, quan điểm phát triển cộng đồng trên cơ sở tôn trọng đa dạng văn hoá và quyền của các chủ thể văn hoá đã trở nên phổ biến trong giới học thuật và được giới làm chính sách, công chúng Việt Nam thừa nhận. Nhưng cách đây 20 năm, khi GS Viên đưa quan điểm này ra để thảo luận và khuyến nghị chính sách là rất mới mẻ, thậm chí còn khiến không ít người làm chính sách cho là “có tư tưởng phản động”. Ví dụ, khi chính quyền địa phương ở Nghệ An và Ban Quản lý rừng quốc gia Pù Mát có chủ trương đưa người Đan Lai1 ra khỏi vùng lõi rừng quốc gia với lập luận rằng lối canh tác thô sơ, ‘lạc hậu’ của các tộc người thiểu số là nguyên nhân làm suy thoái rừng, thì GS Viên đã chứng minh, lối canh tác của họ không gây tổn hại cho rừng quốc gia và cần “phân quyền” cho họ bằng cách giữ họ lại, giao rừng để họ giám sát, bảo vệ vùng lõi rừng quốc gia.  Với mục tiêu giản dị “trước hết là để học và học dân là để hiểu dân”, ngay từ những năm 1993, 1994, GS. Viên đã hình thành ý tưởng đưa một số chuyên ngành thuộc khoa học xã hội như xã hội học, dân tộc học, tâm lý học… vào giảng dạy trong Trường ĐH Nông nghiệp I, tiền thân của Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Học viện). Ông cho rằng “người làm khoa học nông nghiệp có thể học công nghệ, kỹ thuật của Tây, Tàu trong vài tháng, vài năm nhưng đều cần được lấp khoảng trống về kiến thức xã hội học và ứng dụng nó trong thực tiễn suốt đời, bởi khoa học nông nghiệp luôn cần sự gắn bó chặt chẽ giữa phòng thí nghiệm với mảnh ruộng của người nông dân”. Trên cơ sở bộ môn xã hội học, cùng các bộ môn Pháp luật, Lý luận chính trị, ông đã cho thành lập Khoa Lý luận, Chính trị và Xã hội để giảng dạy và nghiên cứu về xã hội học và pháp luật trong tất cả các khoa của Học viện. Có thể nói, ĐH Nông nghiệp I là trường đại học đầu tiên trong khối kỹ thuật đưa khoa học xã hội vào giảng dạy.  Kết nối với doanh nghiệp  Từ trước những năm 2000, GS. Viên đã thấy một bất cập chính của hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo ở ĐH Nông nghiệp I cũng như nhiều trường đại học khác là chưa dựa trên nhu cầu của đối tượng sử dụng lao động – doanh nghiệp, chưa gắn với thị trường. Các trường đại học cứ giảng dạy và nghiên cứu những gì mình có và thấy cần; doanh nghiệp cứ sản xuất và kinh doanh theo nhu cầu của thị trường, rất hiếm khi họ ngồi lại cùng nhau. Hậu quả tất yếu là “tôi đào tạo cái mà anh không cần”, điều này vừa làm nhà trường xa rời cuộc sống, vừa lãng phí nguồn lực (sinh viên không tìm được việc làm, doanh nghiệp phải đào tạo lại). Để khắc phục, ông đề xuất “phải học doanh nghiệp để biết trong thực tiễn, các doanh nghiệp cần gì, tại sao họ làm thế mà không làm khác, tại sao doanh nghiệp không tìm đến các trường đại học như ở nước ngoài?”. Từ đó, ông và lãnh đạo Học viện bắt đầu tổ chức lại việc đào tạo gắn với khảo sát nhu cầu doanh nghiệp (xây dựng chương trình đào tạo sau khi có điều tra doanh nghiệp), với khởi đầu từ ngành Công nghệ rau, hoa quả và cảnh quan.  Nhưng việc “lôi kéo” các doanh nghiệp tham gia đào tạo hoặc nghiên cứu khoa học với nhà trường không hề dễ dàng, vì “doanh nghiệp Việt không tin vào sản phẩm khoa học của các trường, viện. Thậm chí có những năm, đưa sinh viên xuống cơ sở nhưng họ không cho thực tập, chỉ cho ‘kiến tập’ – tức là đứng nhìn, vì không tin sinh viên, sợ sinh viên làm hỏng việc”, GS. Viên nói. Còn các trường cũng không tin doanh nghiệp, cho rằng doanh nghiệp chỉ “ăn sẵn” chứ không giúp gì cho quá trình đào tạo và nghiên cứu. Trong cái khó như vậy, “cái khôn” buộc phải xuất hiện. Ông và lãnh đạo nhà trường kêu gọi cựu sinh viên đang làm doanh nghiệp quay trở lại giúp đỡ nhà trường bằng cách: góp ý cho quá trình đào tạo, tham gia chấm luận văn, luận án, nói chuyện chuyên đề ngoại khóa cho sinh viên, nhận người đi thực tập, sau đó dần dần kêu gọi họ tham gia các ngày hội việc làm để tuyển dụng sinh viên. Hiện nay nhiều sinh viên của Học viện đã có việc làm từ khi chưa làm khóa luận tốt nghiệp. GS. Viên luôn tâm đắc với châm ngôn: “Cựu sinh viên là niềm tự hào của Học viện, là người làm nên vóc dáng, hình hài và vị thế của trường đại học”. Do vậy, theo ông, trường đại học cũng phải “cố gắng không ngừng để luôn là niềm tự hào của các thế hệ sinh viên”. Với cách làm như vậy, tới nay, Học viện có 20 ngành đào tạo theo định hướng gắn với doanh nghiệp, và đã “thành nếp”, cứ sáu tháng hoặc một năm, các khoa lại lấy ý kiến doanh nghiệp để liên tục đổi mới chương trình đào tạo.  Sau khi cùng tổ chức những hoạt động đào tạo chung với các doanh nghiệp thành công – đã có “niềm tin”, Học viện mời doanh nghiệp cùng tham gia góp ý cho các nghiên cứu và mua sản phẩm khoa học. “Tôi mời các doanh nghiệp tới tận phòng thí nghiệm và nói với họ: ‘ở đây chúng tôi có phòng thí nghiệm, cán bộ học ở nước ngoài về, có thể làm được các sản phẩm công nghệ với chất lượng bằng 7 – 8 phần 10 so với nước ngoài, nếu các ông cùng làm với chúng tôi thì chúng ta có thể tạo ra những sản phẩm chất lượng bằng của nước ngoài’. Mình phải hiểu được và khởi dậy lòng tự hào, tự cường dân tộc ở doanh nghiệp để họ cùng mình hoàn thiện các nghiên cứu khoa học”, GS Viên cho biết. Nhờ những nỗ lực đó, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trở thành địa chỉ tin cậy mà rất nhiều doanh nghiệp lớn như Công ty giống cây trồng Hải Phòng, tập đoàn Thuốc thú y Marphavet, Tổng Công ty giống cây trồng Thái Bình (Thaibinhseeds), Công ty TNHH Cường Tân (Nam Định)… tìm tới mua sản phẩm công nghệ để thương mại hoá và đồng hành cùng Học viện trong việc tổ chức ngày hội việc làm, tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp.  Khuyến khích và bảo vệ những người trẻ dấn thân  Song song với thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường, một dấu ấn quan trọng mà GS Viên để lại là khuyến khích thế hệ trẻ ươm mầm khát vọng, dám nghĩ dám làm. Từ năm 2007, GS. Viên đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương khuyến khích công bố quốc tế tại Học viện với quy định: hằng năm các tiến sĩ phải có công nghệ mới phục vụ sản xuất hoặc một công bố quốc tế, mỗi tác giả bài báo trong danh mục ISI sẽ được tăng lương trước hạn và thưởng 25 triệu… Chủ trương này thực sự gây áp lực cho cán bộ Học viện và khuyến khích những người trẻ nỗ lực phấn đấu, phần nào loại trừ được “tư tưởng cây đa cây đề” trong “làng” khoa học. Nhưng ít ai biết rằng, ngay tại thời điểm đầu tiên áp dụng chính sách khuyến khích và yêu cầu công bố quốc tế nói trên, GS Viên trong cương vị người đứng đầu Học viện đã chịu những áp lực như thế nào từ những người có tư tưởng thủ cựu trong và ngoài Học viện. Nhưng “không vì thế mà được phép chùn chân, mà càng cần phải dấn bước tiến về phía trước”, bởi ông luôn tâm niệm: “để xây dựng được một cơ quan nghiên cứu, giảng dạy tốt, ngoài việc tạo ra nguồn lực, động lực thì cũng cần phải tạo ra cả áp lực để cán bộ làm việc. Khi đó mới có thể nuôi dưỡng khát vọng, đam mê của tuổi trẻ. Điều đó là quan trọng nhất, bởi người trẻ có khát vọng, đam mê thì có thể đạp bằng mọi khó khăn để tiến bước thành công”.      Năm 2014, theo công bố của Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia, Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong 13 trường đại học, viện nghiên cứu có công bố quốc tế nhiều nhất Việt Nam, hai lần liên tiếp gần đây (tháng 7/2016 và tháng 01/2017) được Webomeotrics xếp hạng là một trong top 3, top 4 trường đại học tốt nhất Việt Nam, top 50 trường đại học tốt nhất Đông Nam Á.      Một mặt, GS Viên khuyến khích cán bộ trẻ nghiên cứu, “hướng ngoại” bằng công bố quốc tế, mặt khác, ông thường xuyên đến các khoa, các phòng thí nghiệm “tìm tòi” nhân tố mới, những con người luôn “tiến về phía trước”. Vì thế, nhiều đơn vị trực thuộc Học viện có lãnh đạo là những nhà khoa học rất trẻ. Ông chia sẻ: “trong những lần gặp anh em, mình luôn để ý và thấy, những người có năng lực và khát vọng luôn làm việc rất hăng say và hừng hực khí thế, họ không đòi quyền, không đòi tiền mà chỉ cần môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Khi đó, mình biết rằng nếu giao việc và tin ở họ, ắt sẽ thành công”.  PGS.TS Nguyễn Việt Long, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển và Dịch vụ của Học viện, cho biết: “Thầy Viên rất lắng nghe đề xuất của các cán bộ trẻ. Sau khi đi học ở Hà Lan về, tôi đề xuất thành lập công ty của tôi như một dạng spin off của các trường đại học danh tiếng nước ngoài nhằm thúc đẩy thương mại hoá các sản phẩm công nghệ của Học viện thì thầy rất quan tâm, yêu cầu tôi trình bày rõ ràng cơ sở thực tiễn của đề xuất và ủng hộ, mặc dù ý tưởng còn rất mới mẻ và chưa có nhiều thành công ở Việt Nam”.  GS Viên tự nhận xét những nghiên cứu và công việc mà mình đã từng làm ở Học viện giống như việc lái tàu, “có thể gặp sóng dữ, có thể va phải đá ngầm. Nhưng người đứng đầu phải dấn thân lao về phía trước với tinh thần trong sáng, không vụ lợi, thì mọi người mới lao theo anh ta. Bởi vì trong xã hội, không phải người nào dám dấn thân vì sự nghiệp chung cũng được nâng đỡ và bảo vệ. Vì thế, ngoài việc truyền cảm hứng, khuyến khích, thì thế hệ đi trước cũng rất cần dũng cảm bảo vệ những người trẻ dám dấn thân vì sự nghiệp chung, vì cộng đồng”.  ————  1 Một nhóm nhỏ được xếp vào tộc người Thổ, cư trú chủ yếu ở miền núi Nghệ An.     GS. TS Trần Đức Viên có trên 70 công bố quốc tế trong danh mục ISI/ Scopus về lĩnh vực khoa học nông nghiệp. Trong đó, những đóng góp nổi bật của ông là các quan điểm về sinh thái học nông nghiệp ở Việt Nam và góp phần thảo luận về việc nghiên cứu ứng dụng sinh thái học nông nghiệp ở môi trường học thuật quốc tế từ rất sớm. Đầu những năm 1990, ông cùng một nhóm các nhà khoa học liên ngành gồm nông nghiệp, sinh thái, xã hội, nhân chủng, môi trường như Lê Trọng Cúc, Terry Rambo, Jefferson Fox, Alan Ziegler, Masayuki Ishine, Kjeld Rasmussen, Georg Cadisch… nghiên cứu và công bố nhiều công trình ở trong nước và quốc tế về sự ảnh hưởng của văn hóa canh tác truyền thống và điều kiện môi trường tới canh tác nông nghiệp trong bối cảnh hiện đại ở miền núi phía Bắc. Ngoài hàng chục công bố quốc tế được các nhà xuất bản danh tiếng như Springer, Elsevier, NUS Press, United Nations University Press… công bố, còn phải kể đến một số chuyên khảo tiêu biểu: Tiếp cận sinh thái nhân văn trong phát triển lâu bền vùng núi Tây nam Nghệ An, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1996; Farming with Fire and Water: The Human Ecology of a Composite Swiddening Community in Vietnam’s Northern Mountains, Kyoto University Press, 2009. Từ những phát hiện trong nghiên cứu về canh tác nông nghiệp ở nông thôn miền núi, ông tiếp tục phát triển quan điểm của mình sang một “lãnh địa” rộng lớn hơn – phát triển bền vững. Ông đưa ra quan điểm: để một cộng đồng phát triển bền vững, cần quản lý trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng văn hóa tộc người và trao quyền cho họ (Nông thôn miền núi- Những nghiên cứu hướng tới phát triển lâu bền, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001, Decentralization of Forest management and Impacts on Livelihoods of Ethnic Minority Groups in Vietnam’s Uplands, Agricultural Publishing House, 2005). Cho tới nay, ông vẫn tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này, điều đó được thể hiện gần đây nhất với chuyên khảo có tựa đề Upland Natural Resources and Social Ecological Systems in Northern Vietnam (volume two), Elservier, 2016. Với những quan điểm về sinh thái học nhân văn và phát triển bền vững đó, ông được mời giảng dạy ở một số trường đại học trên thế giới như Kyoto, Keio (Nhật Bản), Hawaii (Hoa Kỳ)… và tham gia phản biện trong nhiều hội đồng luận án tiến sĩ ở một số đại học danh tiếng như AgroParisTech (Pháp), Waginingen (Hà Lan), Liege (Bỉ)…       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Người trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long      Từ góc độ lịch sử môi trường và quan điểm lịch sử kinh tế, hai giáo sư Mỹ trình bày những vấn đề của người trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long, kèm theo những tham khảo trích dẫn kết hợp với khảo sát thực tế, nhắm tới đối tượng độc giả cũng là học giả không-phải-người-Việt-Nam như họ.    Quan sát người khác đi thực tế rồi đọc bài viết của họ là một thú vui, đôi khi cũng học hỏi được ít nhiều. Hai năm trước tôi tháp tùng hai học giả Mỹ trong một chuyến đi về vùng châu thổ sông Cửu Long để tìm hiểu về việc canh tác lúa và những vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu. Một người là Mart A. Stewart, giáo sư ĐH Western Washington, chuyên về lịch sử môi trường, và một người là Peter A. Coclanis, giáo sư lịch sử và Giám đốc Viện Nghiên cứu toàn cầu trường ĐH Tiểu bang North Carolina.   Năm sau, một hội thảo quốc tế được tổ chức ở ĐH Cần Thơ và những tham luận có giá trị được NXB Springer tập hợp và xuất bản thành sách dưới tên “Biến đổi môi trường và sự bền vững canh nông ở châu thổ sông Cửu Long”(*) vào tháng 5/2011. Tôi gặp trong quyển sách này một bài viết của giáo sư Mart A. Stewart và Peter A. Coclanis: “Ruộng đồng bấp bênh: Cuộc sống không an toàn, không ổn định, không chắc chắn của người trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long.” Phản ứng đầu tiên khi tôi đọc tựa này là phì cười: Giáo sư đặt nhan đề vậy đó, trong một câu chứa cả định nghĩa lẫn tóm tắt nội dung cả bài: nội dung của bài viết là cuộc sống của những người trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long, và khái niệm “bấp bênh” được giải thích là “không an toàn, không ổn định, không chắc chắn” (Nếu diễn dịch theo phong thái và ngôn ngữ miền Tây Nam bộ thì không an toàn: liều mạng, không ổn định: rày đây mai đó, và không chắc chắn: được bữa nào hay bữa nấy.)  Người Việt Nam có cần ai bảo cho biết là nông dân mình khổ lắm? Cuộc sống gian khổ của người trồng lúa vùng châu thổ sông Cửu Long đã được viết thành sách, dựng thành tuồng cải lương, hát lên qua lời ru điệu hò… Ai muốn biết gian khổ như thế nào cứ tham khảo những nguồn đó. Chẳng hạn, bài viết có một số trích dẫn từ David Biggs, mà Biggs thì trích dẫn Sơn Nam. Stewart và Coclanis cũng trích dẫn trực tiếp từ ca dao ngay ở đầu bài viết của hai ông: Cày đồng đang buổi ban trưa / Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày / Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.   Chỉ khác là học giả nước ngoài dùng ngôn ngữ khác và văn phong khác. Chúng ta hình dung về nông dân của mình bằng những cụm từ “chân lấm tay bùn”, “dầm mưa dãi nắng”, “mặt bám đất lưng bám trời”, “lênh đênh sông nước”, “nghèo rớt mồng tơi” … Nhưng Stewart từ góc độ lịch sử môi trường và Coclanis từ quan điểm lịch sử kinh tế, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ bác học (chẳng hạn người ta “bươn chải kiếm sống”, thì họ coi đó là “chiến lược mưu sinh” ) kèm theo những tham khảo trích dẫn kết hợp với khảo sát thực tế, nhắm tới đối tượng độc giả cũng là học giả không-phải-người-Việt-Nam như họ. Người Việt mà đọc thì thế nào cũng thỉnh thoảng kêu lên: Chuyện này mình biết rồi, chuyện đó ai mà không biết. Tuy nhiên cũng có những điều để suy nghĩ.   Chẳng hạn, hai sử gia này viết: “Người trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long cũng giống như nhà nông ở nhiều vùng khác trong thế giới đang phát triển phải chịu đựng một loạt những vấn đề “tàn dư” lịch sử (chế độ thuộc địa, địa chủ bóc lột, chiến tranh, chính sách có lúc không hiệu quả không thích hợp của nhà cầm quyền.) Hậu quả là những sai lầm hay/và thiếu sót không tránh được trong hổ trợ cơ bản và quản lý cơ chế cần thiết cho sự phát triển điều hòa và bền vững, chẳng hạn thiếu hệ thống thông tin và vận chuyển hiện đại, việc xay xát, phận loại, kiểm tra gạo không đồng đều phẩm chất, kho trữ không đúng qui cách, cơ chế tài chánh nông nghiệp không hiệu quả và tốn kém, không có những biện pháp “điều tiết thu nhập” như bảo hiểm mùa màng và hợp đồng tương lai, thị trường đất biến động, giá thuê cao, chất lượng giáo dục ở nông thôn kém tính cạnh tranh, cơ sở nghiên cứu nông nghiệp không được tài trợ đầy đủ, lại còn nạn tham nhũng khắp nơi.” Điều để suy nghĩ trong đoạn này là “không có những biện pháp điều tiết thu nhập như bảo hiểm mùa màng” . Mấy năm nay chúng ta đã cố tiến gần đến xã hội phát triển, như có bảo hiểm y tế, một hình thức tương trợ của người (lúc) khỏe mạnh đối với người (lúc) bệnh tật. Trồng lúa ở xứ ta như đánh bạc với thiên nhiên, thời tiết thuận lợi thì “trúng” mùa bội thu, rủi gặp một cơn lũ sớm thì trắng tay, có khi nợ đìa ra rồi mất luôn nhà đất. Nếu có bảo hiểm mùa màng thì gặp lúc “xui” như vậy, nông dân nghèo không đến nỗi bán vợ đợ con.   Trong đoạn tiếp theo: “… một số vấn đề khác liên quan đến việc trồng lúa ở vùng châu thổ thực tiễn hơn những vấn đề đã nêu trên: đó là đất của mỗi hộ trồng lúa còn rất nhỏ, trung bình một hai mẫu, khiến việc cơ khí hóa không đạt hiệu quả cao, những máy móc đang được sử dụng còn thô sơ, gây thất thoát nhiều trong thu hoạch, và con người lao động vất vả với năng suất không tương xứng.” Hai ông giáo sư Mỹ so sánh: 56% dân số Việt Nam sống bằng nghề nông, tạo ra 21,4% GDP, so với Mỹ: 0.5% dân số làm nông nghiệp, tạo ra 1,2% GDP. Tôi nhớ có lần đi thăm một trang trại ở bang North Carolina, Mỹ, người chủ cho biết ông có nhận được hỗ trợ của nhà nước đối với các trang trại nhỏ, đất của ông chỉ có 300 acres (khoảng trên 100 hecta), nên hai vợ chồng ông làm tất cả mọi việc, từ cày bừa thu hoạch ngoài đồng đến vắt sữa bò. Trên 100 hecta mà được kể là hộ nông nghiệp nhỏ, thì một hai mẫu đúng là quá nhỏ. Nhưng so sánh diện tích đất đai với nước Mỹ làm gì? Trong điều kiện châu thổ sông Cửu Long đất chật người đông, văn hóa của người Việt phát triển những ưu điểm mà nền nông nghiệp đã công nghiệp hóa của Mỹ không có. Một hai mẫu đất mỗi hộ thì nông dân còn gieo trồng trên đất của mình. Những người hiện nay tập hợp được trăm mẫu lúa ở miền Tây là những người mướn nông dân mất đất cày cấy cho mình. Quá trình tập trung vốn đất, khiến nông dân mất đất rồi trở thành người làm mướn (tại chỗ hay tha hương), có lẽ đang diễn ra ở miền Tây, nhưng đó là điều khiến người làm văn hóa như tôi đau lòng.   Hai ông giáo sư cũng ghi nhận: “Nhiều chuyên gia đã cho rằng những vấn đề chính cản trở sự phát triển của châu thổ sông Cửu Long xuất phát từ thực tế là một bộ phận lớn của lực lượng lao động loay hoay trong ngành nông nghiệp không hiệu quả của nền kinh tế. Nhiều nông dân đã hành động theo những giả định này, bỏ hẳn nghề nông hay vừa làm nghề nông vừa xoay sở nghề khác, để tham gia đội ngũ người lao động ngày càng đông ở những khu công nghiệp. Nhưng nếu không có đủ công việc phi nông nghiệp và cơ hội làm việc bền vững thì cuộc sống của những người vốn là nông dân càng thêm bấp bênh.”   Điều khiến ông sử gia môi trường quan tâm là “Thế kỷ 21 đem lại những thay đổi đáng kể cho người trồng lúa ở vùng châu thổ: Họ được hổ trợ của các nhà khoa học và các viện nghiên cứu về kỷ thuật và giống lai thích nghi với môi trường thay đổi, cho phép họ tăng mùa vụ và đạt năng suất cao. Đồng thời việc thâm canh khiến phân bón được dùng rộng rãi, cùng với hóa chất trừ sâu diệt cỏ, tác hại đến môi trường. Cảnh báo của những tác hại ấy đã khiến cho những nông dân tiến bộ thử nghiệm luân canh và dùng những giống lúa cũ tuy năng suất không cao nhưng tránh được những vấn đề của độc canh gây ra.”  Theo các tác giả thì nông dân miền Tây cũng nhận được hổ trợ của các viện nghiên cứu trong nước và quốc tế về các giống lúa khác nhau và kỷ thuật canh tác bền vững, nhưng hiệu quả không đơn giản vì nông dân hoặc thiếu ý thức bảo về môi trường hoặc còn ngờ vực mà không chịu thay đổi thói quen sử dụng phân bón hóa học và hóa chất độc hại dưới những thương hiệu “thuốc bảo vệ thực vật” đã thực tế giúp họ “trúng mùa”.   Tránh dùng nhiều phân bón và hóa chất độc hại, dùng phân bón hữu cơ, luân canh, phục hồi những kỷ thuật canh tác phù hợp tự nhiên, thân thiện môi trường là một phong trào đang lan ra ở nhiều nơi trên thế giới, vì xu hướng ưa chuộng thực phẩm sạch “organic” của những người quan tâm đến sức khỏe và môi trường. Gạo “organic”  có phẩm chất và giá bán cao, nhưng những người tiêu thụ giàu có không tin tưởng nguồn sản xuất từ Việt Nam, thị trường xuất khẩu của gao Việt Nam hiện vẫn là những nước đang phát triển, giá gạo thấp. Việc xây dựng một thương hiệu gạo Việt Nam cần nhiều thời gian và ý chí, như thương hiệu “gạo thơm Sóc Trăng”  phải mất 20 năm bền bĩ khôi phục danh tiếng có từ trăm năm trước.   Ông sử gia kinh tế thì chú ý đến vai trò của những “trung gian”  trong hệ thống thu mua và phân phối lúa gạo ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Từ cánh đồng của người trồng lúa đến người tiêu dùng ở trong và ngoài nước, hạt gạo Việt Nam phải qua tay nhiều tầng nhiều lớp trung gian khiến cho chênh lệch giữa giá bán trên quầy và giá nông dân nhận được rất lớn. Người trồng lúa nghèo có khi phải bán lúa non, hoặc không có phương tiện trữ lúa, thiếu thông tin thị trường, hoặc do nợ nần, ép giá, thiếu một chính sách giá cả hiệu quả, họ luôn là kẻ thiệt thòi nhứt.   Hai tác giả cho rằng: “Mặc dù có vài thành công nhỏ, công bằng mà nói thì những người cải cách còn phải nổ lực nhiều nữa mới khiến cho nông nghiệp châu thổ sông Cửu Long “cất cánh” và đạt tới tiềm năng lớn lao của vùng này. Những tiểu nông trong vùng, nhứt là nông dân nghèo ít học ở những vùng xa xôi hẻo lánh tiếp tục vất vả tranh đấu cho những nỗ lực nông nghiệp của họ hợp với những dàn xếp thị trường trong những hệ thống kinh tế lớn hơn, kiểu này hay kiểu khác. Vấn đề dân số đông đúc, tỷ lệ tăng dân cao, và những vấn đề môi trường đang lan rộng càng làm phức tạp thêm nổ lực cải cách nông nghiệp ở mọi cấp độ trong vùng châu thổ. Hiển nhiên hệ lụy của cuộc tranh giành môi trường trong quá khứ là một vấn đề quan trọng, nhưng chẳng đáng kể nếu so với những thảm họa tiềm tàng có thể xảy ra vì biến đổi khí hậu và những dự án xây đập (chủ yếu của Trung Quốc) phía thượng nguồn sông Mekong, điều này sẽ làm phức tạp thêm và rất có triển vọng làm bấp bênh thêm cuộc sống của nông dân và những người chọn vùng châu thổ sông Cửu Long này làm quê nhà.”   Biến đổi khí hậu không là khái niệm mới lạ đối với dân miền Tây: nắng mưa giông bão thất thường, nước biển dâng xâm nhập sâu hơn vào đất liền… dù cho là “chuyện ông trời” hay chuyện “toàn cầu”, thì nói cho cùng là chuyện ở ngoài tầm tay của nông dân. Nhiều vấn đề “địa phương” họ cũng không làm gì được, dù họ là kẻ nhận chịu hậu quả, chẳng hạn cát dười lòng sông bị khai thác với khối lượng khổng lồ để xuất sang những nơi như Singapore, khiến cho đất gần bờ sông trở nên bấp bênh, sụt lở. Rừng và đầm lầy ngày càng thu hẹp, sinh thái đặc thù cho nhiều động thực vật địa phương biến mất, môi trường vùng châu thổ ngày càng nghèo nàn. Chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp cũng như nông nghiệp không được xử lý gây ô nhiễm trầm trọng, đến nỗi một giáo sư về môi trường ở đại học Cần Thơ đùa là: trước khi nước biển dâng ngập thì mình đã chết vì nước sông ô nhiễm rồi. Một mối đe dọa lớn nữa đối với vùng hạ lưu sông Cửu Long là những đập đã đang và sẽ xây dựng ở thương nguồn, ban đầu ở Trung quốc, rồi đến Thái Lan, Lào, Campuchia. Nông dân vùng châu thổ, kể cả ngư dân, không chỉ cần nước sông để tưới tiêu mà còn nhờ phu sa màu mỡ mà kiếm sống, hiển nhiên là những kẻ thua thiệt. Họ bị kẹt ở giữa cảnh khốn khó, một đằng là những vấn đề do mực nước biển dâng lên, nước mặn xâm lấn, một đằng là những thay đổi trên thượng nguồn do việc xây đập, phá rừng và chất thải độc hại từ những vùng công nghiệp hóa và đô thị hóa.   Sau khi khảo sát ba trường hợp cụ thể mà họ đã tiếp xúc với các hộ nông dân ở những địa phương khác nhau trong vùng châu thổ, hai ông giáo sư thấy là rất khó khái quát hóa những vấn đề canh nông và những quan hệ làm ăn phức tạp ở vùng châu thổ này. Dù vậy họ cũng kết luận:  “Trồng lúa ở châu thổ sông Cửu Long luôn luôn là một hành động cân bằng (như đi trên dây) với môi trường – và khi mật độ dân số tương đối thấp, nông dân sản xuất chủ yếu đủ nuôi gia đình trên mảnh đất phì nhiêu ngập nước theo chu kỳ đều đặn, thì hành động cân bằng này có hiệu quả tốt. Nhưng khi việc thương mại hóa gia tăng, cường độ sản xuất ngày càng căng thẳng – biểu hiện qua việc xây đê bao để trồng thêm vụ lúa thứ ba hoặc vụ rau hay bắp cho chăn nuôi – và tập trung cho xuất khẩu, thì trò đi dây này không còn an toàn đối với nhiều người. Những gian khổ thâm niên mà nông dân cần trải qua để đối phó với môi trường thay đổi hằng năm trong một hệ sinh thái cực kỳ năng động và tràn trề sinh lực giờ đây trở thành những vấn đề phức tạp và nhập nhằng vì biến đổi khí hậu và xây đập, vì biến động kinh tế và chính trị xã hội. Những nỗi lo mới về kỷ thuật và môi trườngcùng với nền kinh tế gánh nhiệm vụ chính trị về sản xuất lúa gạo ở vùng châu thổ sông Cửu Long càng chất thêm những gánh nặng lên vai những nông dân vốn đã có quá đủ lo toan về đất và nước.”   —  (*) Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta, Mart A. Stewart và Peter A. Coclanis chủ biên, NXB Springer, 2011. Những đoạn in nghiêng được trích dịch từ chương 6 của sách này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Việt Nam đang tự trói mình      Sáng tạo là một động lực quan trọng trong sự  phát triển của mỗi quốc gia. Đó cũng là một nguồn lực mang tính quyết  định cho một đất nước khi tiến vào nền kinh tế tri thức. TS Nguyễn Hữu Thái Hòa – người có hơn 20 năm  làm việc trong môi trường sáng tạo ở các tập đoàn kinh tế lớn trên thế  giới, hiện là Phó Giám đốc phụ trách Ban Sáng tạo của Trung tâm Khoa  học Tư duy, Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam, trả lời phỏng vấn về sáng tạo và tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện nay.    Phóng viên: Hiện nay, tư duy sáng tạo giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển. Muốn phát triển thì đòi hỏi con người phải có tư duy sáng tạo. Vậy theo ông, tư duy sáng tạo là gì? Và nó thể hiện như thế nào?    TS Nguyễn Hữu Thái Hóa: Nói thực ra, làm trong môi trường sáng tạo hơn 20 năm nhưng tôi không phải là một nhà lý luận về sáng tạo học. Tôi không biết nhiều về lý luận sáng tạo như các Giáo sư, Tiến sĩ về sáng tạo học. Chính vì vậy nên tôi đứng về phía những người sử dụng các sản phẩm sáng tạo để đánh giá sáng tạo đó có giá trị hay không. Giá trị của một sáng tạo phải do người sử dụng sáng tạo đó đánh giá chứ không phải theo chủ quan của người sáng tạo ra nó.  Định nghĩa về sáng tạo hiện nay rất mơ hồ, khô cứng và trên thế giới vẫn còn nhiều tranh luận. Một trong những mục tiêu của Trung tâm Khoa học Tư duy (do GS.TS Tô Duy Hợp làm Giám đốc) là xem xét lại và làm rõ một số khái niệm liên quan đến khoa học tư duy, trong đó có khái niệm sáng tạo. Khái niệm sáng tạo còn đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Tôi không thể đưa ra một khái niệm mà chỉ trao đổi thêm về những quan điểm về sáng tạo và con đường để tiến tới hiểu về khái niệm này.  Ở Việt Nam, rất dễ nhầm lẫn giữa các khái niệm: sáng tạo, phát minh, sáng chế, cải tiến. Phát minh và sáng chế đã khó phân biệt rạch ròi, gần đây, những người theo trường phái của Nhật Bản lại vận dụng khái niệm cải tiến và xem nó như là “sáng tạo” do nó rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Điều này tạo ra một sự hỗn độn, nhập nhèm trong cách hiểu về sáng tạo. Đó là lý do cần đưa ra một khái niệm nghiêm túc về “sáng tạo” từ những người có trách nhiệm.  Nhìn vào gốc độ lịch sử, chúng ta chịu nhiều ảnh hưởng về quan điểm khoa học của Liên Xô. Phổ biến nhất là khái niệm “sáng tạo” của trường phái Alt Shuller -một bậc thầy có nhiều ảnh hưởng đến các nhà khoa học Việt Nam từng đi nghiên cứu, học tập ở Liên Xô: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì vừa mới, vừa có lợi ích”. Theo định nghĩa này, hai tính chất quan trọng nhất của sáng tạo là tạo ra tính mới và cái mới đó phải có lợi ích. Định nghĩa này ảnh hưởng nhiều đến các nhà khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, bất cập của nó là tính mới và tính lợi ích rất khó để đo được. Tôi nghĩ rằng tính mới và tính lợi ích có tính tương đối ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, chúng ta có thể chấp nhận tính mới ở phương diện “cũ người mới ta”, vì để sáng tạo ra một cái mới hoàn toàn rất khó mà chỉ những nhà nghiên cứu lỗi lạc trên thế giới có thể đạt đến. Nếu lấy hai thước đo này làm chuẩn để soi xét thì các dự án nghiên cứu, đề tài nghiên cứu sinh ở Việt Nam hiện nay sẽ bị loại bỏ hết do không đáp ứng được hai tính chất quan trọng đó. Vậy nên nếu đưa ra được một định nghĩa đúng đắn thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền của nhân dân khi không làm những thứ không có lợi ích gì.  Để đáp ứng nhu cầu nhận thức khoa học và vận dụng, Ban Sáng tạo của Trung tâm Khoa học Tư duy đang cố gắng trao đổi với các chuyên gia trong và ngoài nước để đưa ra được một định nghĩa có chất lượng về “sáng tạo”.  Nhiều người đánh giá người Việt Nam rất thông minh nhưng lại ít có sự sáng tạo. Ông có bình luận gì về ý kiến này?  Chúng ta hiểu như thế nào là thông minh? Học được điểm cao trong nhà trường là thông minh hay đi thi đạt giải cao thì thông minh? Trong hơn hai mươi năm làm việc ở nước ngoài, học tập ở phương Tây, tôi nhận thấy rằng, khi người Việt Nam học với người nước ngoài, từ dưới bậc đại học thì người Việt Nam học rất giỏi. Đến khi học đại học thì đuối dần và lên cao hơn thì ít và bắt đầu thua kém các bạn bè. Điều đó, tôi nghĩ rằng do người Việt Nam cần cù, chịu khó và nhanh nhẹn nên khi học tập thì khá nhưng khi nghiên cứu, yêu cầu sáng tạo thì không có điều kiện cơ bản để tiến hành nghiên cứu, sáng tạo. Có thể nói rằng người Việt Nam rất tinh xảo, nhạy bén, hiểu nhanh nhưng thiếu quy chuẩn để sáng tạo khoa học, thiếu nền tảng triết học nên năng lực biến cảm nhận xã hội thành sức mạnh cũng hạn chế. Một ví dụ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa qua đời là một mất mát lớn của dân tộc. Rất nhiều người dân đã thể hiện sự thương tiếc đối với Đại tướng qua việc xếp hàng cả ngày để vào viếng. Nhưng sự thương tiếc đó chưa thể biến thành sức mạnh tinh thần dân tộc để đưa vào phát triển đất nước. Hay nói cách khác là người Việt Nam chưa thể hiện được năng lực để biến nỗi đau thương thành sức mạnh phát triển dân tộc, chỉ biết bày tỏ sự thương tiếc qua hành động cúi đầu tưởng niệm.  Theo ông, tư duy sáng tạo hình thành như thế nào? Yếu tố nào quyết định đến tư duy sáng tạo của con người?  Theo tôi, sáng tạo là sự kết hợp phát minh và sáng chế. Trên thế giới, phát minh được hiểu là những phát hiện của con người về môi trường tự nhiên có sẵn và từ đó tìm ra các quy luật vận động của nó. Sáng chế là những thứ hoàn toàn do con người tạo ra và chỉ có thế giới con người mới có. Các sáng chế khoa học, văn học, nghệ thuật, phim ảnh… thì chỉ con người mới có và con người mới đủ sức cảm nhận được nó cũng như sáng chế ra nó.  Có nhiều yếu tố quyết định đến tư duy sáng tạo của con người. Nhưng tôi nghĩ, yếu tố quan trọng nhất là sức ép từ môi trường tự nhiên và xã hội loài người. Chính những khó khăn tạo ra sức ép đòi hỏi phải tìm ra các giải pháp khắc phục là động lực để con người sáng tạo. Khi đối diện với sức ép phải tìm ra các giải pháp để khắc phục môi trường tự nhiên và xã hội thì con người sẽ động não để sáng tạo. Về mặt này, chúng ta có thể nói rằng nước ta không có môi trường xã hội tạo ra sức ép làm động lực cho sự sáng tạo mà ngược lại còn tạo ra môi trường cực kỳ xấu để làm ra những thứ giả dối về sáng tạo. Các nhà khoa học phải viết hàng trăm đề tài nghiên cứu vô bổ để giải ngân cho nhà nước và nuôi cả một hệ thống. Vấn đề quan trọng của Việt Nam bây giờ là phải tạo ra được môi trường có đủ sức ép lành mạnh để phát triển sự sáng tạo.  Từng học tập và nhiều năm làm việc ở nước ngoài, ông thấy hệ thống sáng tạo và tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện tại như thế nào so với các nước khác trên thế giới?  Ở các nước phát triển, khoa học gắn liền với thực tế cuộc sống và hiệu quả kinh tế. Vậy nên đầu ra của kinh tế sẽ quyết định đến sự sáng tạo khoa học. Một cường quốc như Nhật Bản nhưng vẫn hướng khoa học nghiên cứu để phục vụ cuộc sống hàng ngày, từ cái bát, đũa, bồn cầu… đều được nghiên cứu. Ví như một cái kẹp ghim mà hiện nay ở Việt Nam vẫn phổ biến loại kẹp ghim kim loại, trong khi ở Nhật sản xuất ra một kép ghim chỉ sử dụng lực cơ học ém các tờ giấy với nhau tạo thành một tập và tiết kiệm hàng ngàn tấn sắt hàng năm cũng như bảo vệ tài liệu, môi trường. Trong khi đó, ở Việt Nam, đầu ra của sự sáng tạo không có, hay không thực tế. Chúng ta tập trung cho lý thuyết, cho vấn đề tuyên truyền mà không đi vào nghiên cứu ứng dụng cho cuộc sống hàng ngày. Do vậy, giá trị sáng tạo của Việt Nam ít đưa vào cuộc sống.  Tư duy sáng tạo có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của một đất nước? Hiện nay trên thế giới có những mô hình về tư duy sáng tạo nào? Theo ông, mô hình nào phù hợp với Việt Nam?  Sáng tạo đẩy mạnh chỉ số năng suất lao động, đó là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Chỉ số năng suất lao động thể hiện sự đóng góp của mỗi người lao động vào nền kinh tế. Hiện nay, chỉ số năng suất lao động của người Việt Nam đóng góp vào nền kinh tế thua xa thời kỳ thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước – là thời kỳ đói khổ nhất sau giải phóng. Từ người nông dân trở lên đang có tâm lý hưởng thụ cao do hiệu ứng từ bong bóng ảo của nền kinh tế (như bất động sản bị đẩy lên cao, chạy một giấy phép bán một lô đất thu lại rất nhiều tiền so với những lao động thực chất khác). Chỉ số sáng tạo cũng là một yếu tố quan trọng đánh giá môi trường phát triển của một quốc gia theo mô hình đánh giá 12 chỉ số.  Có nhiều cách phân chia các trường phái sáng tạo. Có hai trường phái lớn về sáng tạo học là trường phái phương Tây và trường phái phương Đông. Trường phái phương Tây tập trung đi sâu vào nghiên cứu, sáng tạo khoa học thuần túy, phục vụ đời sống vật chất. Trường phái phương Đông lại đi sâu nghiên cứu, sáng tạo về tâm linh, phục vụ đời sống tinh thần nhiều hơn. Hiện nay, tôi cho rằng về chiều sâu, phương Đông đang thắng thế chứ không phải thua kém như nhiều người nghĩ. Chính những nhà sáng tạo đẳng cấp của phương Tây cũng đang nghiên cứu và tìm đường đi mới theo mô hình phương Đông như việc tìm đến Phật giáo để thúc đẩy sự phát triển.  Việt Nam nằm ở ngã tư đường, nơi giao lưu của cả hai trường phái Đông – Tây nên không thể sao chụp y nguyên một mô hình nào. Phải căn cứ vào nhu cầu thực tế từ cuộc sống hàng ngày để xây dựng mô hình sáng tạo cho hợp lý. Tạo môi trường xã hội có sức ép đòi hỏi sáng tạo phục vụ phát triển đất nước.    Ông từng nói nhiều đến “sáng tạo đẳng cấp” trong giấc mơ Việt Nam – vươn tới đỉnh cao (Best In Class). Vậy sáng tạo đẳng cấp là gì? Làm sao để nhận diện ra những sáng tạo đẳng cấp?  Best In Class là một chương trình khoa học công nghệ của Bộ Khoa học Công nghệ mà tôi được mời về làm chuyên gia tư vấn. Chuyện là từ năm 2007, khi tôi trả lời trên chương trình “Người đương thời” về các vấn đề tại sao một số doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO mà sản phẩm vẫn có vấn đề, đồng thời đưa ra các giải pháp đi sâu vào vấn đề này. Sau đó, Bộ Khoa học Công nghệ đã liên hệ và mời tôi về hỗ trợ cho FPT trong dự án Best In Class. Đó cũng là khởi đầu cho con đường đến với FPT của tôi.  Best In Class bắt đầu từ năm 2008, thực chất là đóng gói lại những tinh hoa của phương thức quản trị ở phương Tây, trong đó tập trung vào quản trị chất lượng. Best In Class đặt ra cho Bộ Khoa học Công nghệ bài toán là với những công cụ tinh hoa của thế giới, chúng ta ứng dụng vào Việt Nam thì phải linh động, sáng tạo như thế nào để phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển của đất nước, và các doanh nghiệp phải sử dụng được. Lúc đầu ứng dụng cho hai doanh nghiệp là FPT và Đồng tâm Long An.  Giá trị lớn nhất của chương trình này là làm đòn bẩy đưa doanh nghiệp Việt đạt đến trình độ trưởng thành cao hơn về đẳng cấp quản trị. Đỉnh cao của độ quản trị là phòng ngừa và thấu trí được độ rủi ro của quản trị chứ không phải lao đao đâm đầu vào đến khi có vấn đề mới phát hiện ra và đi sửa chữa.  Sáng tạo đẳng cấp là phải tạo ra được những sản phẩm thuần Việt nhưng chất lượng đạt trình độ quốc tế bởi chúng ta không thể là một dân tộc cứ mãi đi làm gia công nô dịch cho người khác. Đó cũng là nội dung chính của chương trình giấc mơ Việt Nam vươn tới đỉnh cao với phương thức “kỹ Tây, hồn ta” (Western Technology, Viet soul) và triết lý “bám lấy truyền thống, tiến lên hiện đại” (Cling to Tradition, moving on Modern) để hướng đến xây dựng thương hiệu toàn cầu.  Nền giáo dục quốc gia đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng và phát triển tư duy sáng tạo? Theo ông, nền giáo dục hiện tại của Việt Nam giải quyết vấn đề này có hợp lý không?  Giáo dục tạo môi trường cho sự sáng tạo. Trước hết, đó là cơ sở để hình thành tư duy con người, và khi nền giáo dục phát triển thì sẽ tạo điều kiện để hình thành và phát triển môi trường của tư duy sáng tạo. Ngược lại, nền giáo dục không tạo được môi trường để phát triển tư duy sáng tạo thì sẽ là một hạn chế rất lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp và của đất nước.  Nền giáo dục Việt Nam đang có nhiều vấn đề bất cập. Một trong số đó là sự lão hóa của phương pháp luận về mặt truyền thụ tri thức, bê nguyên những thứ đã có sẵn từ hàng chục năm trước vào giảng dạy làm cho học trò thêm tính máy móc và thụ động, không khuyến khích được sự phát triển của tư duy sáng tạo. Điều đó làm cho người học không cập nhật được sự thay đổi của cuộc sống, không biết cuộc sống đang đi đến đâu và mình đang ở đâu. Phải quan tâm đến sự phát triển bền vững trong giáo dục con người. Hiện tại chúng ta đang quá tập trung nhiều đến con số để báo cáo thành tích mà không quan tâm đến sản phẩm đầu ra của giáo dục. Muốn phát triển bền vững phải phát triển bền vững từ con người, vậy nên cần phải đo được trạng thái, đánh giá được môi trường phát triển mà giáo dục là một môi trường của sự phát triển con người.  Sáng tạo và hệ thống sáng tạo là một nguồn lực quan trọng, một vấn đề cơ bản cho sự phát triển của mọi quốc gia. Vậy theo ông, làm thế nào để khơi dậy sự sáng tạo của con người?   Trước hết, phải chú trọng đến vấn đề phát triển tư duy sáng tạo. Phải đưa một sáng tạo học thành một môn học trong nhà trường để học trò làm quen sớm và cao hơn là được đào tạo cơ bản và có hệ thống về sáng tạo học. Sáng tạo vừa là một môn học, vừa là phương pháp để đi sâu vào các môn khác. Đưa sáng tạo học trở thành một phương pháp trong nền giáo dục và là một thước đo về hiệu quả và chất lượng của nền giáo dục.  Về việc đưa sáng tạo học vào nhà trường hiện tại cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có người cho rằng sáng tạo là năng lực bẩm sinh, tự có của con người và không thể học tập được. Người khác lại cho rằng sáng tạo là kết quả của phương pháp khoa học, là một ngành khoa học nên có thể học tập được qua hệ thống giáo dục và tự giáo dục. Tôi thiên về quan điểm cho rằng sáng tạo học là ngành khoa học và có thể học tập được. Và nền giáo dục là cơ sở để phát triển tư duy sáng tạo của con người thông qua tạo môi trường cho sự sáng tạo. Bên cạnh đó, như đã nói trước, để phát triển năng lực sáng tạo của con người thì xã hội cần tạo ra được sức ép để làm động lực phát triển sáng tạo.  Đối với người Việt Nam, tôi nghĩ hai vấn đề quan trọng để có thể phát triển tư duy sáng tạo là niềm tin và sự tự cởi trói cho mình. Trong lúc các vấn đề khác cho sự sáng tạo còn nhiều hạn chế, chưa tạo điều kiện cho sự phát triển của tư duy sáng tạo thì chính mỗi chúng ta phải tự tạo cho mình môi trường để sáng tạo. Và sự tự tạo đó cần có một niềm tin: tin vào sự phát triển của nhân loại, xu thế của thời đại và sức mạnh của dân tộc ta. Cùng với niềm tin và phải tự biết cởi trói cho mình để sáng tạo. Ngoài những ràng buộc khác, người Việt Nam cũng đang tự trói mình vào nhiều khuôn khổ, nguyên tắc làm giảm sự năng động và khả năng sáng tạo của chính mình. Vậy nên tự cởi trói cho mình là một vấn đề quan trọng để đi lên sáng tạo và phát triển.  Để phát triển tư duy sáng tạo và vận dụng tư duy sáng tạo vào sự phát triển của đất nước, chúng ta cần phải bắt đầu từ đâu? Yếu tố quan trọng nhất quyết định vấn đề này là gì?  Để đưa sáng tạo vào làm động lực cho sự phát triển đất nước, trước hết phải bắt đầu từ khách hàng của những giá trị sáng tạo ra. Trước khi nói đến sáng tạo, cần phải xác định sáng tạo này hướng đến ai và tạo ra giá trị gì? Nói cách khác, phải xem khách hàng là thước đo giá trị của sự sáng tạo. Thực trạng của đất nước ta hiện nay là các sáng tạo không theo kịp nhu cầu của khách hàng, chưa hướng đến khách hàng hay lấy khách hàng làm trung tâm của sự sáng tạo. Có nhiều sáng tạo của chính những người nông dân xuất phát từ nhu cầu công việc lại có hiệu quả sản xuất trong khi rất nhiều đề tài nghiên cứu của các cơ quan khoa học không hướng đến khách hàng nên không đưa vào cuộc sống và tạo được giá trị cho sự phát triển.  Cần xem xét lại việc phân bổ các quỹ nghiên cứu khoa học từ các bộ ngành cho hợp lý. Xã hội hóa các quỹ để đạt hiệu quả cao hơn trong nghiên cứu sáng tạo. Tạo dựng các doanh nghiệp khoa học, lấy khách hàng làm cầu nối giữa các cơ quan nghiên cứu và các doanh nghiệp kinh tế. Muốn vậy phải phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại để tạo môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh làm động lực phát triển sáng tạo và phát triển kinh tế.    Xin cảm ơn ông về những chia sẻ thú vị này!  Bùi Minh Hào thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Việt thiếu tư duy biển      Có phải là nghịch lý không khi một đất nước có tới 1 triệu km2 diện tích vùng biển, rộng gần gấp ba đất liền, mà suốt bao thế kỷ không có nổi một đội thương thuyền, một nhà hàng hải, hay nói nhẹ nhàng hơn, không khai thác được kho vàng quý báu trải dài 3.444 km ngay trước mặt ấy? Nghịch lý của người Việt là thế: một dân tộc thừa biển nhưng lại thiếu tư duy biển.    Tư duy biển hiểu đơn giản là tinh thần hướng ra biển với tâm lý chủ động khai thác, sẵn sàng mạo hiểm chinh phục, khám phá. Thông thường những dân tộc có tư duy biển là người ở những vùng đất ven biển hoặc trên đảo, chẳng hạn Anh, Bồ Đào Nha, Thụy Điển. Châu Á thì có Nhật Bản, Indonesia, và gần Việt Nam nhất là người Champa.   Một số học giả cho rằng, như đã thành quy luật, những xứ sở phát triển nhất trong mỗi thời kỳ văn minh đều là những quốc gia ven biển hoặc quốc đảo, nói cách khác đều là nơi cư ngụ của những dân tộc có “tư duy biển”. Từ thời cổ đại ở Âu châu (bắt đầu vào thế kỷ thứ 8, thứ 7 trước CN), thế giới đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của văn minh Hy Lạp – La Mã, gắn với những chiến thuyền, thương thuyền buôn bán xuyên Địa Trung Hải. Thời phong kiến, những chiếc tàu khởi hành từ bán đảo Iberia đã mang về cho lục địa già cỗi bao nhiêu châu báu, hương liệu quý, và cuối cùng mở ra cả một tân thế giới: châu Mỹ. Rồi xứ Anh Cát Lợi thế kỷ 17-18, với giấc mơ “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”, quốc đảo Nhật Bản vươn mình thành cường quốc thế kỷ 19-20. Gần đây nhất trong thế kỷ 20 là sự bùng nổ về thương mại và thịnh vượng của các hải cảng lớn trên thế giới: Hong Kong, Singapore…  Nước phát triển thường là nước có biển. Vậy ngược lại, xứ sở có biển có phát triển không? Điều này không được khẳng định, vì chúng ta vẫn thấy một số dân tộc được hưởng ưu đãi trời phú đó mà chưa vươn lên hàng ngũ “nước giàu”, như người Champa, Indonesia hay Malaysia. Tuy nhiên, chắc chắn là tư duy biển có ảnh hưởng rất tốt đến năng lực làm giàu của một dân tộc. Giáo sư sử học Cao Xuân Phổ giải thích: “Biển rộng bát ngát, mênh mông không ranh giới, cho nên tâm hồn con người đi biển cũng phóng khoáng, cởi mở, không có ý thức giữ đất, bám chặt lấy đất”. Ông nói thêm, người Champa vốn gốc Nam Đảo (Indonesia) nên đi biển giỏi, và nhờ tiếp nhận văn hóa Champa nên văn hóa Việt mới mềm đi, bớt cứng nhắc mà uyển chuyển và đa dạng hơn. “Như ở nước mình bây giờ, về văn hóa, cái gì cũng có. Tính đa dạng cao như vậy là do có sự du nhập từ bên ngoài, chủ yếu là theo đường biển; và còn do người Việt dễ tiếp nhận, mà cái đó cũng là nhờ yếu tố biển”.   Sự cởi mở đưa đến tinh thần sẵn sàng mạo hiểm khám phá và tới khát vọng làm giàu. Ngược lại, tác phong nông nghiệp là bám đất, đủng đỉnh, cầu an, “đủ ăn là được”. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà văn hóa nông nghiệp ít có đóng góp gì cho phát triển, trong khi tư duy biển là một tâm lý rất có lợi cho sự giàu mạnh của dân tộc.   Nhưng người Việt từ xưa đến nay đã không có được tâm lý đó.  “Quay lưng ra biển”  Tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển TP. HCM, cho rằng từ sâu xa trong cõi vô thức của dân tộc, người Việt đã sợ biển, “né” biển:  “Nghề đánh bắt cá hay cư dân sống trên sông nước chỉ có trong cổ tích với những nhân vật như Trương Chi, Chử Đồng Tử… luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn người, nghề khác; biểu hiện bằng những mối tình với tầng lớp trên là tiểu thư con quan, công chúa con vua. Người Việt cũng hay nói “tấc đất tấc vàng”, “rừng vàng biển bạc”, với hàm ý đất đai có giá trị cao nhất, cần giữ chặt không xa rời.   Thời hiện đại, những câu nói thể hiện nỗi ngại biển từ trong tiềm thức vẫn chưa hết hẳn: “Vững tay chèo ra biển lớn”. Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu nhận xét: “Đã ra biển thì phải đi tàu, mà tàu thì chạy bằng máy chứ ai dùng chèo, dùng sức người? Ngay từ cách sử dụng ngôn ngữ trở đi, chúng ta đã chứng tỏ rằng mình không có tư duy biển”.  Đó là nỗi sợ tiềm ẩn trong lớp vỏ bọc ngôn ngữ. Còn trong lịch sử, cũng có rất nhiều câu chuyện cho thấy tâm lý quay lưng ra biển của người Việt. Cha ông ta, đã đành không phải là những “con sói biển” như dân Viking hay người bán đảo Iberia, nhưng thực sự chỉ tận dụng biển để đánh bắt cá, và do hạn chế về phương tiện nên cũng chỉ đánh bắt ven bờ. Nhà nghiên cứu cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, ông Phạm Hoàng Quân, cho hay: “Dân mình xưa ỷ vào đất liền để làm ăn, ít nghĩ tới đi biển, càng không có sự đầu tư, nghiên cứu về kỹ thuật đóng tàu thuyền. Cho tới thời nhà Nguyễn, tuyến đường hàng hải chủ yếu của ta vẫn là dọc theo bờ biển Việt Nam – Trung Quốc, không đi xa hơn được”.   Nói về hoạt động buôn bán qua đường biển, ông Quân bảo: “Việt Nam không có truyền thống đi buôn đường xa, chủ động dùng tàu thuyền đưa hàng ra nước ngoài giao dịch. Chỉ có thương nhân nước ngoài đến xứ ta thôi, như ở cảng Phố Hiến, Hội An… Chủ yếu người Việt buôn bán nội địa, sử dụng đường sông”. Nhưng ngay cả đi trên sông thì tàu thuyền của Việt Nam cũng nhỏ bé (có thể do các sông của Việt Nam nhỏ và ít hiểm trở) và không đổi mới gì về kỹ thuật, trải suốt hàng trăm năm.           Thuyền chiến, thuyền buồm, thuyền chỉ huy thời Vua Tự Đức (1847- 1883)        Tâm lý ngại biển của người Việt có thể xuất phát từ một số nguyên nhân. Thoạt kỳ thủy, Việt Nam thuộc nền “văn minh lúa nước”, cư dân sinh sống trên vùng châu thổ sông Hồng nên gắn với đất, trọng đất từ đó. Thế rồi, trong quá trình phát triển của cộng đồng, biển lại giống như một mối đe dọa hơn là kho tài nguyên khổng lồ cần khai thác: thiên tai, giặc giã, tất cả đều từ phía ấy. Giặc Chà Và kéo sang cướp bóc, rồi cuối cùng đến thực dân Pháp bắn vào Việt Nam, cũng đều từ ngoài biển.   Kể từ khi Nguyễn Hoàng tiến hành công cuộc “mang gươm đi mở cõi”, vì sinh kế, người Việt mới có ý thức khai thác biển hơn. Theo Giáo sư Cao Xuân Phổ, cũng từ đó, Việt Nam mới bắt tay xây dựng những đội hải thuyền. Song nghề nông trồng lúa nước vẫn cứ là ngành sản xuất chính ở vùng đất mới. Kỹ thuật đóng tàu thuyền vẫn không có bước cải tiến nào. (Nếu đi sâu hơn nữa thì vấn đề này còn liên quan tới sự yếu kém trong hoạt động nghiên cứu và lưu trữ tài liệu của người đi trước để người đi sau học hỏi. Học giả Phạm Hoàng Quân cho biết những ghi chép mà sử sách để lại về nghề đóng tàu rất sơ sài, gần như toàn là mô tả bằng lời, không tranh vẽ, không mô hình, không thông số…).  Mãi tới thế kỷ 19, triều đình Minh Mạng mới mua được một chiếc tàu của Bồ Đào Nha và mày mò học cách chế tàu chạy hơi nước. Nhưng đã muộn: Năm 1858, tiếng súng giặc Pháp vang lên trên bán đảo Sơn Trà…     Xóa bỏ nghịch lý “thừa biển, sợ biển”  Thế kỷ 21 được gọi là “thế kỷ của đại dương”. Không chỉ riêng Việt Nam mà có lẽ tất cả các quốc gia có biển đều đã ý thức được về giá trị vô tận của kho vàng trước mặt họ. Không nước nào sợ biển nữa. Nhưng vấn đề bây giờ không còn là việc cử những đội thuyền lớn đi thám hiểm vùng đất mới, hay ra sức khai thác biển được chừng nào tốt chừng ấy. Thay vì thế, tư duy biển, văn hóa biển giờ đây là sự kết hợp hài hòa giữa khai thác với phát triển tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống của người dân trong đó có ngư dân và những người mà cuộc mưu sinh gắn liền với biển. Và tất nhiên, không thể thiếu nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền đất nước đối với biển, đảo.   Tất cả những điều trên đều đòi hỏi trước tiên là hoạt động nghiên cứu khoa học bài bản để đánh giá tổng thể tiềm năng của biển, những việc cần phải làm, ai làm và làm như thế nào, để xây dựng kinh tế biển (gồm đa ngành: thủy hải sản, vận tải, hải quan, dầu khí, an ninh quốc phòng, môi trường…). Từ đó có một tầm nhìn lớn, thể hiện qua chiến lược phát triển tổng thể kinh tế biển. Cuối cùng là triển khai chiến lược, hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu.   Một điều đáng để suy nghĩ là: Từ năm 1985 đến nay, nước ta đã có ít nhất 4 chương trình nghiên cứu biển đảo, mỗi chương trình có khoảng 20-25 đề tài riêng biệt. Tuy thế, kết quả của những công trình này được công bố và hiện thực hóa cụ thể như thế nào thì ít người hay biết…  Xây dựng “tư duy biển”, “văn hóa biển” giờ đây là việc đòi hỏi phải được gắn chặt với hoạt động đầu tư, nghiên cứu khoa học có hiệu quả, chứ không thể chỉ hô khẩu hiệu suông “tiến ra biển lớn!”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn gốc sự sống có thể bắt đầu với các phân tử giống DNA      Các nhà nghiên cứu trường đại học Nagoya ở Nhật Bản đã chứng minh cách các phân tử giống DNA có thể kết hợp cùng nhau như một tiền thân của nguồn gốc sự sống.      Một số nhà khoa học nghĩ là XNA tiến hóa thành RNA, sau đó tiếp tục tiến hóa thành DNA để hình thành dạng khởi đầu của sự sống. Nguồn: Keiji Murayama  Phát hiện này, xuất bản trên Nature Communications “Nonenzymatic polymerase-like template-directed synthesis of acyclic l-threoninol nucleic acid”, không chỉ đề xuất cách sự sống có thể bắt đầu mà còn có gợi ý cho sự phát triển của sự sống nhân tạo và các ứng dụng công nghệ sinh học.  “Thế giới RNA vẫn được nghĩ một cách phổ biến là sân khấu bắt nguồn sự sống”, nhà kỹ thuật sinh học phân tử ở trường đại học Nagoya Keiji Murayama nói. “Trước giai đoạn này, thế giới tiền RNA có thể chứa các phân tử vẫn được gọi là các axit nucleic xeno (XNAs). Dẫu sao không giống RNA, sự tái tạo XNA có thể không cần đến các enzym. Chúng tôi đã có thể tổng hợp một XNA mà không cần đến enzym, qua đó ủng hộ một giả thuyết là thế giới XNA có thể tồn tại trước thế giới RNA”.  Các XNA được hình thành trên các chuỗi liên kết nucleotide, tương tự như DNA và RNA nhưng với một phân tử đường khác biệt. Các XNA có thể mang mã di truyền rất bền vững bởi cơ thể con người không thể phá hủy chúng. Một số nhà nghiên cứu đã cho biết các XNA chứa những trình tự cụ thể có thể đóng vai trò như các enzym và liên kết với các protein. Điều này khiến cho trong lĩnh vực di truyền tổng hợp thì việc nghiên cứu về XNA vô cùng hứng thú, với tiềm năng về công nghệ sinh học và các ứng dụng dược phân tử.  Murayama, Hiroyuki Asanuma và các đồng nghiệp muốn tìm được các điều kiện trong thời kỳ sớm của trái đất có thể dẫn đến việc hình thành chuỗi XNA. Họ tổng hợp các mảnh acyclic (non-circular) L-threoninol nucleic acid (L-aTNA), một phân tử được cho là đã tồn tại trước khi có RNA. Họ cũng tạo ra một L-aTNA dài hơn với một trình tự nucleobase đầy đủ các trình tự của phần đó, tương tự như cách các sợi DNA khớp với nhau.       Murayama và đồng nghiệp chứng tỏ là các mảnh L-aTNA có thể nối với L-aTNA,trên các khuôn mẫu RNA và DNA mà không cần đến các enzym. Nguồn: Keiji Murayama  Khi đặt chúng vào một ống nghiệm trong điều kiện nhiệt độ được kiểm soát, các mảnh L-aTNA ngắn hơn liên kết với nhau trên khuôn mẫu L-aTNA dài hơn. Đáng chú ý, điều này xảy ra trong một hợp chất gọi là N-cyanoimidazole và một kim loại ở dạng ion như mangan, vốn đều có ở thời kỳ sớm của trái đất. Các mảnh này nối với nhau khi một phốt phát ở điểm cuối của một liên kết về mặt hóa học với một nhóm hydroxyl không có sự hỗ trợ của một enzyme.  “Đây là thực nghiệm đầu tiên trên một khuôn mẫu có định hướng, sự tồn tại của acyclic XNA phi enzym từ một bể khuôn mẫu ngẫu nhiên, sinh ra liên kết phosphodiester”, Murayama nói.  Nhóm nghiên cứu đã chứng minh là các mảnh L-aTNA có thể nối trên khuôn mẫu DNA và RNA. Điều này đề xuất là mã di truyền có thể được truyền từ DNA và RNA vào L-aTNA và ngược lại.  “Chiến lược của chúng tôi là tạo một hệ thu hút cho thí nghiệm với việc xây dựng của một dạng sự sống nhân tạo và phát triển các công cụ sinh học có chức năng cao bao gồm acyclic XNA”, Murayama nói. “Bộ dữ liệu này chỉ dấu là L-aTNA có thể từng là một tiền thân của RNA”.  Nhóm nghiên cứu lập kế hoạch tiếp tục tìm hiểu để phân loại xem là liệu L-aTNA có thể đã được tổng hợp trong những điều kiện “tiền sự sống” ở thời kỳ sớm của trái đất không và để xem xét tiềm năng của chúng trong việc phát triển những công cụ sinh học tiên tiến.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-life-dna-like-xnas.html  https://www.nature.com/articles/s41467-021-21128-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn lợi từ cát dầu và vấn đề môi trường      Cát dầu mang tới nguồn dầu mỏ lớn nhưng đang gây nhiều tranh cãi vì lý do sinh thái.    Tỉnh Alberta ở phía Tây Canada có trữ lượng Hydrocarbon đứng đầu thế giới. Nếu dưới lòng đất Ả Rập Saudi có khoảng 265 tỷ thùng dầu có thể khai thác được từ dạng dầu mỏ hoặc khí đốt (1 thùng = 159 lít) thì Alberta có thể khai thác được từ 172 – 315 tỷ thùng dầu từ cát dầu.  Trên thế giới có ít nhất 70 nước có trữ lượng cát dầu hay cát – hắc ín (teer), tuy nhiên không nơi nào trên thế giới lại có trữ lượng cát dầu lớn như ở tỉnh Alberta của Canada. Tỉnh Alberta có diện tích khoảng 660.000 km2  nhưng chiếm tới 60% trữ lượng cát dầu toàn thế giới.  Cát dầu được khai thác lộ thiên và phải xử lý qua nhiều bước tốn kém mới thu được dầu thô. Hoa Kỳ coi cát dầu ở Canada là một sự giải thoát khỏi cái xiềng năng lượng của các nước OPEC. Tuy nhiên với các nhà khoa học, ví dụ như nhà khí hậu học James Hansen tại Nasa, thì cát dầu là một dạng năng lượng hóa thạch bẩn thỉu nhất và được coi như những cái đinh đóng vào nắp quan tài trong cuộc chiến về giảm khí thải Carbondioxide.  Cát dầu ở Canada có bình quân từ 9 đến 13% bitum, khoảng 5% nước, còn lại phần lớn là các loại khoáng chất có kích cỡ rất khác nhau, từ dạng to như hạt cát cho tới dạng bột mịn chỉ khoảng 40 micromet. Với các phương pháp tách chiết khác nhau có thể thu được nhiều nhất 90% lượng bitum có trong cát dầu. Tuy nhiên, việc vận chuyển để tiếp tục tinh chế dầu thô sau khi xử lý cát dầu lại phải tiêu thụ quá nhiều năng lượng.  Trong khi đó, xử lý rác thải sau khai thác mới là thách thức lớn nhất. Lượng cát bùn lỏng thải ra sau khai thác không thể dùng để phục vụ nông nghiệp do còn dư bitum. Thêm nữa, quá trình khai thác và chế biến cát dầu tiêu tốn rất nhiều nước. Hiện nay nguồn nước ngầm và nước trong các hồ lớn của Canada không đủ để đáp ứng nhu cầu khai thác và chế biết cát dầu.  Với điều kiện giá dầu mỏ như hiện nay thì việc khai thác và chế biến cát dầu tuy mất nhiều công đoạn và rất tốn kém nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế. Vì thế Chính phủ Canada và nhiều tập đoàn dầu mỏ vẫn đầu tư hàng chục tỷ dollar để khai thác cát dầu ở Alberta và cung cấp cho Hoa Kỳ.  Nhưng trước những nguy cơ về năng lượng và môi trường sinh thái, nhiều nhà bảo vệ môi trường của cả hai nước lại tiếp tục đấu tranh nhằm thu hẹp và chấm dứt khai thác cát dầu.                 Xuân Hoài dịch                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ mất mát đa dạng ngôn ngữ trên thế giới      Trên thế giới có hơn 7000 ngôn ngữ, ngữ pháp của chúng rất khác nhau. Các nhà ngôn ngữ học quan tâm tới những khác biệt này vì chúng cho biết về lịch sử, khả năng nhận thức và thế nào là con người.     Bản đồ ngôn ngữ thế giới trong bộ dữ liệu Grambank. Màu sắc đại diện cho tính tương đồng về ngữ pháp, màu càng giống thì ngữ pháp càng tương đồng.  Song sự đa dạng này đang bị đe dọa khi ngày càng nhiều ngôn ngữ không còn được dạy cho trẻ em.  Ngữ pháp là bộ quy tắc xác định câu cú trong một ngôn ngữ. Chẳng hạn, thì/ thời là yếu tố bắt buộc trong tiếng Anh. Nhưng không phải ngôn ngữ nào cũng vậy. Trong ngôn ngữ bản địa của người Ainu Hokkaido ở Nhật Bản, người nói không cần lúc nào cũng đề cập tới thời gian. Họ có thể thêm những từ như “đã” hay “ngày mai”, nhưng không có thì câu vẫn đúng.  Các nhà ngôn ngữ không quan tâm tới ngữ pháp “đúng”, bởi ngữ pháp thay đổi qua thời gian và theo địa phương. Nhờ nghiên cứu quy tắc ngữ pháp trong ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về cách thức tâm trí hoạt động và cách truyền đạt ý niệm của bản thân cho đối phương.  Trong bài báo mới công bố trên Science Advances, một nhóm các nhà ngôn ngữ học quốc tế đã ra mắt một bộ dữ liệu quy mô lớn về ngữ pháp có tên là Grambank. Với cơ sở dữ liệu này, chúng ta có thể biết bao nhiêu sự đa dạng ngữ pháp sẽ mất đi nếu cuộc khủng hoảng không dừng lại.  Để đạt được mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu đã nỗ lực trong nhiều năm. Họ đọc rất nhiều cuốn sách về quy tắc ngôn ngữ, nói chuyện với các chuyên gia và thành viên thuộc các cộng đồng ngôn ngữ cụ thể. Các ngôn ngữ khác nhau có thể có những điểm khác biệt lớn về ngữ pháp. Hơn nữa, mỗi người lại có cách mô tả quy tắc hoạt động khác nhau. Việc tìm hiểu biệt ngữ – chủ đề yêu thích của các nhà ngôn ngữ học, cũng là một nhiệm vụ đầy thách thức.  Trong Grambank, các nhà ngôn ngữ sử dụng 195 câu hỏi để so sánh hơn 2400 ngôn ngữ – gồm hai ngôn ngữ ký hiệu. Họ đã lập bản đồ thể hiện những kết quả thu được bằng cách sử dụng dùng kỹ thuật “phân tích thành phần chính”: chia 195 câu hỏi thành ba phương diện và đánh dấu trên bản đồ bằng màu đỏ, xanh lá và xanh dương.  Mỗi chấm tròn trong bản đồ đại diện cho một ngôn ngữ, màu sắc càng giống thì ngôn ngữ càng tương đồng. Khu vực nào có màu sắc tương tự nhau thì ngôn ngữ có sự liên quan, hoặc chúng vay mượn nhiều từ ngôn ngữ khác.  Thế nhưng, các ngôn ngữ bản địa trên thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nguy cấp do quá trình thuộc địa hóa và toàn cầu hóa. Mỗi ngôn ngữ mất đi sẽ ảnh hưởng nặng nề tới tình trạng sức khỏe của từng cá nhân và các cộng đồng bản địa do cắt đứt những mối ràng buộc với tổ tiên và tri thức truyền thống.  Bên cạnh sự mất mát của từng ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ còn muốn tìm hiểu về sự suy giảm tính đa dạng của ngữ pháp. Họ đã sử dụng thước đo đa dạng sinh thái để đánh giá tổn thất dự kiến khi các ngôn ngữ đứng trước nguy cơ biến mất. Họ phát hiện một số khu vực sẽ chịu thiệt hại nặng nề hơn các nơi khác.  Một số khu vực như Nam Mỹ và Úc có khả năng đánh mất toàn bộ sự đa dạng về ngôn ngữ, do tất cả ngôn ngữ bản địa nơi đây đều bị đe dọa. Ngay cả những khu vực tương đối an toàn như Thái Bình Dương, Đông Nam Á và châu Âu, tình trạng suy giảm vẫn lên tới 25%.  Nếu không có sự hỗ trợ hồi phục ngôn ngữ bền vững, nhiều người sẽ gặp nguy hiểm và cửa sổ ngôn ngữ chung để chúng ta nhìn vào lịch sử loài người, nhận thức và văn hóa sẽ trở nên vô cùng rời rạc.  Liên Hợp Quốc đã tuyên bố giai đoạn 2022–2032 là Thập niên ngôn ngữ bản địa. Trên toàn thế giới, các tổ chức cấp cơ sở bao gồm Trung tâm ngôn ngữ Ngukurr, Trung tâm ngôn ngữ Noongar Boodjar và Trung tâm giáo dục văn hóa Heiltsuk Canada đang hợp tác để giữ gìn và phục hồi ngôn ngữ.□  Phương Anh lược dịch  Nguồn: https://theconversation.com/research-on-2-400-languages-shows-nearly-half-the-worlds-language-diversity-is-at-risk-204014    Author                .        
__label__tiasang Nguy cơ sụp đổ của nền kinh tế thế giới      Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng đồng Euro  ngày càng đe dọa nền kinh tế thế giới, các ngân hàng phát hành đang đua  nhau in tiền và hậu quả sẽ vô cùng nguy hiểm.     Là một nhà kinh tế có đầu óc tính toán khá lạnh lùng nhưng vào thời điểm trước cuộc bầu cử ở Hy Lạp, Mervyn King, vị thống đốc Ngân hàng trung ương Anh đã để cho tình cảm chi phối. Trong bài phát biểu trước các quan chức ngân hàng tại London, ông King đã chỉ trích sự thúc thủ của các chính phủ ở châu Âu về cuộc khủng hoảng đồng Euro, và vẽ lên một bức tranh về ngày tận thế. “Vì cuộc khủng hoảng này mà một đám mây đen về sự mất ổn định đang bao phủ lên chúng ta”, ông nói. “Nó không chỉ bao phủ liên minh tiền tệ mà cả nền kinh tế của chúng ta, và toàn bộ nền kinh tế thế giới”. Sau cuộc bầu cử ở Hy Lạp, đám mây đen mà nhà quản lý tiền tệ hàng đầu nước Anh đề cập đã không mất đi, tuy sau đó tình hình thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu có phần bớt căng thẳng, sau khi các đảng ở Hy lạp đã nhất trí được với nhau về việc thành lập một liên minh do đảng bảo thủ lãnh đạo.   Các đối thủ trên thị trường tài chính vẫn tỏ ra ngờ vực, trong khi chính phủ mới ở Hy Lạp yêu cầu kéo dài thời gian thêm hai năm để ép mức thâm hụt xuống dưới mức 3%. Điều này có nghĩa là chi phí để trợ giúp cho Athen sẽ tăng lên từ 16 đến 20 tỷ Euro. “Thắng lợi của các đảng ủng hộ đồng Euro ở Hy lạp hoàn toàn không làm thay đổi những vấn đề cơ bản của khu vực đồng Euro”, theo bình luận thị trường của Ngân hàng HSBC Anh. Các nhà kinh tế thuộc Ngân hàng Đức (Deutsche Bank) cũng có suy nghĩ tương tự. Nhiều chuyên gia ngân hàng dự đoán ngay trong năm nay Hy lạp sẽ rời khỏi khu vực đồng Euro. Không ít người cho rằng việc tan vỡ khu vực đồng Euro là một kịch bản rất có thể diễn ra.  Áp lực lớn  Các tờ báo khu vực đồng Euro lâu nay vẫn không ngừng đăng những dòng tít tiêu cực, liên quan tới những vấn đề như đồn đoán về việc ra đi của Hy Lạp, khủng hoảng ngân hàng ở Tây Ban Nha, cứu trợ cả gói cho Zypern và tới đây có thể cho cả Italia. Từ lâu cựu lục địa đã trở thành nguy cơ số một đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới. Nếu như cộng đồng sử dụng đồng Euro bị tan vỡ, điều mà các nhà kinh tế đang lo ngại, thì cú sốc đối với nền kinh tế toàn cầu còn mạnh mẽ hơn nhiều so với vụ phá sản Lehman năm 2008.  Người châu Âu đang chịu một áp lực lớn trong việc dập tắt đám cháy âm ỉ hiện nay trước khi nó bùng lên thành một đám cháy lan ra khắp toàn cầu. Lời cảnh báo này đặc biệt dành cho nước Đức. Các nhà lãnh đạo các chính phủ, các quan chức ngân hàng và những người làm nhiệm vụ bảo vệ tiền tệ đang gây sức ép ngày càng mạnh mẽ đòi bà thủ tướng Đức Angela Merkel ngừng chống lại cộng đồng hóa nợ nần. Giọng điệu chung là nước Đức phải tán thành một liên minh ngân hàng, liên minh tài chính và trái phiếu Euro hay chí ít cũng phải ủng hộ việc thành lập một quỹ thanh toán nợ. Chỉ khi nào quốc gia lớn nhất châu Âu chịu mở hầu bao của mình để trả nợ cho các nước khác thì mới có thể nói đến chuyện dẹp được khủng hoảng.   Tuy nhiên cho đến thời điểm này bà thủ tướng tỏ ra rất kiên định. Bà thừa biết đa số công dân Đức không sẵn sàng bảo lãnh các khoản nợ do các chính phủ vô trách nhiệm của các nước khác gây ra. Hơn nữa việc chuyển giao tín nhiệm sẽ khuyến khích các nước tiếp tục vay nợ nhiều hơn nữa. Vì khó hy vọng vào việc thay đổi chính sách để giải quyết vấn đề này một cách nhanh chóng nên áp lực đè nặng lên các Ngân hàng trung ương là phải in tiền để tránh sự sụp đổ của nền kinh tế thế giới.   Sự yếu ớt của nền kinh tế Mỹ  Nỗi lo lắng về sự phục hồi ì ạch nền kinh tế toàn cầu là có cơ sở. Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, vẫn chưa thể lấy lại đà phát triển. Sự phục hồi đầy hy vọng của thị trường lao động hồi đầu năm đã nhanh chóng tan biến. Việc làm hầu như không tăng, tỷ lệ thất nghiệp luôn ở mức trên 8%. Điều này gây hạn chế tiêu dùng của người dân, doanh thu thương mại bán lẻ lại tiếp tục giảm một lần nữa trong tháng Năm vừa qua.   Trong khi đó, người Mỹ lâu nay lại sa đà vào thói quen cũ là đi vay để mua sắm, do tiền lương và thu nhập hầu như không tăng. Trong năm tháng qua vay tín dụng của người Mỹ tăng mạnh nhất trong khoảng 10 năm gần đây, còn tỷ lệ tiết kiệm sụt giảm tới mức thấp nhất kể từ cuối năm 2007. Theo các nhà kinh tế, tình hình này khó có thể duy trì được lâu.   Thị trường bất động sản giờ đây đã xuống đến đáy. Lượng giấy phép xây dựng trong tháng 5 đã tăng 8%. Tiền thuê nhà cao và lãi suất cầm cố bất động sản thấp đến mức kỷ lục đã kích thích người Mỹ tậu nhà cửa. Điều đó không có nghĩa là tình hình thị trường bất động sản đã trở nên lành mạnh. Thông thường mỗi năm nước Mỹ có thêm ít nhất 1,6 triệu ngôi nhà mới nhưng hiện nay mới đạt 700.000. Vì thế không thể hy vọng tình hình sẽ trở nên bình thường trước 2016. Nền kinh tế Mỹ nói chung sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng từ 2,0 đến 2,5 %.    Tăng trưởng ở các nước mới nổi chậm lại   Các nước mới nổi đóng góp khoảng một nửa sự tăng trưởng toàn cầu nhưng do xu hướng suy giảm kinh tế nên mức tăng trưởng của những nước này bị giảm xuống. Các nước mới nổi áp dụng lãi suất chỉ đạo cao trong năm 2011 để chống lạm phát và điều này hiện đang kìm hãm nền kinh tể. Tăng trưởng ở Trung Quốc giảm rõ rệt, các nhà kinh tế dự đoán năm nay chỉ đạt 8%, giảm một điểm phần trăm so với năm ngoái.   Ấn Độ, nền kinh tế lớn hàng thứ ba ở châu Á, trong quý I năm nay tăng trưởng chỉ đạt dưới 6 %, thấp nhất trong vòng 3 năm qua. Giấc mơ bay bổng của chính phủ New-Delhi về mức tăng trưởng hai con số đã bị chôn vùi từ lâu. Chính phủ Ấn Độ đang phải phấn đấu để duy trì mức tín nhiệm tín dụng. Hãng đánh giá Standard & Poor’s dự báo triển vọng tín nhiệm tín dụng Ấn Độ sẽ bị giảm một bậc từ ổn định xuống tiêu cực.   Nền kinh tế Brazil cũng bị khựng lại, đầu tư giảm từ hồi đầu năm. Theo dự báo của chuyên gia Allianz thì năm nay tăng trưởng chỉ đạt 2,4 %, thấp ở mức tồi tệ đối với một nước mới nổi trong quá trình rượt đuổi.   Nền kinh tế thế giới dễ bị tổn thương  Tình trạng bất ổn đang làm cho nền kinh tế thế giới dễ bị lây nhiễm siêu vi trùng khủng hoảng của Châu Âu. Khu vực – đồng Euro đóng góp 18% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu chỉ đứng sau Mỹ và là khu vực kinh tế có tầm quan trọng thứ hai thế giới. Nếu châu Âu bị suy thoái như hiện nay thì sẽ có hậu quả với phần còn lại của thế giới. Và sự lây lan này có thể diễn ra qua nhiều kênh khác nhau cùng một lúc:   1.    Vì suy thoái nên nhu cầu của Châu Âu đối với các sản phẩm của nước ngoài giảm. Đối với Mỹ thì châu Âu là đối tác thương mại quan trọng hàng thứ hai sau Canada. Khoảng 18 % xuất khẩu của Mỹ là qua Đại Tây Dương. Đối với Trung quốc, Châu Âu là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, hơn cả Mỹ. Hiện xuất khẩu của Trung Quốc sang khu vực đồng Euro đang bị chững lại.  2.    Hệ thống ngân hàng toàn cầu của EU đang truyền virus khủng hoảng sang các nước mới nổi. Tại đây các ngân hàng Châu Âu hoạt động mạnh hơn so với các đối thủ cạnh tranh từ Mỹ hay Châu Á. Tại Đông Âu 90% tín dụng nước ngoài là từ các ngân hàng Tây Âu, còn ở châu Á là trên 40%. Khấu hao cao đối với chứng từ có giá và tín dụng bất động sản đã làm cho vốn tự có của các ngân hàng bị tan chảy. Từ năm 2013 các ngân hàng sẽ phải thực hiện những yêu cầu chặt chẽ hơn đối với tỷ lệ vốn cốt lõi (tức vốn gốc và lợi nhuận được giữ lại trong tỷ lệ với lượng nợ được cân đối lại theo mức rủi ro). Nhiều ngân hàng phản ứng trước vấn đề này bằng cách giảm hoạt động cho vay tín dụng tại các nước mới nổi.   3.    Khủng hoảng tại khu vực đồng Euro làm cho thị trường chứng khoán thế giới lao đao, lòng tin sụt giảm. Mỗi thông tin từ trung tâm điều hành của các chính phủ và ngân hàng phát hành đều làm cho các cố phiểu, trái phiếu và tỷ giá hối đoái biến động đi xuống. Do khó có thể dự báo về các quyết định của các chính khách nên thị trường tài chính rất mất ổn định. Đối với kế hoạch đầu tư của các doanh nghiệp thì đây chính là những độc tố nguy hại.   Một tính toán mô phỏng của Ngân hàng thế giới đã cho thấy mức độ nguy hiểm của cuộc khủng hoảng đồng Euro đối với nền kinh tế thế giới. Các nhà kinh tế ở Washington đã tìm hiểu xem điều gì sẽ xẩy ra, khi các nước lớn thuộc khu vực sử dụng đồng Euro bị phá sản và không tiếp tục nhận được tín dụng. Kết quả: Nền kinh tế khu vực Liên minh tiền tệ sẽ giảm 8,5%.   Các nước mới nổi cũng bị sa vào tình trạng xuống dốc. Do chính phủ các nước này trong những năm qua không hề tiết kiệm khi tiến hành các chương trình chi tiêu trên cơ sở vay tín dụng, nên giờ đây họ gặp nhiều khó khăn hơn về chính sách tài chính so với khi nổ ra cuộc cuộc khủng hoảng năm 2007, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Thâm hụt ngân sách tăng bình quân 2 điểm phần trăm so với thời đó. Các nước mới nổi khó có thể chống cự được một cơn bão mạnh xuất phát từ khu vực đồng Euro. Năng lực nền kinh tế của các nước này sẽ bị giảm 4%.  Vòng luẩn quẩn nguy hiểm  Vòng xoáy lãi suất nợ có thể là nguyên nhân gây nên một cơn lốc xoáy, trong đó hai quốc gia mà các nhà kinh tế thường nhắc tới nhiều nhất là Italia và Tây Ban Nha. Do nợ công liên tục tăng nên thị trường vốn đòi phải trả phí rủi ro cao hơn đối với hai nước này. Lãi suất cao lại gây áp lực dìm đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội (BIP), gây tăng tỷ lệ nợ, và lại khiến các thị trường vốn đòi tăng lãi suất hơn nữa. “Nhà nước phải nhanh chóng phá vỡ vòng xoáy luẩn quẩn này”, nhà kinh tế Stefan Schilbe của HSBC cảnh báo.   Một giải pháp được cân nhắc là đặt các ngân hàng dưới sự giám sát của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB), trong đó một phương án được thảo luận nhiều là tập trung giám sát 25 ngân hàng châu Âu lớn nhất. Tuy nhiên, theo Ủy ban EU thì “chính các ngân hàng nhỏ mới thường gặp phải vấn đề”.  Một giải pháp khác là cùng nhau chấp nhận rủi ro, như thành lập một quỹ giải cứu chung cho các ngân hàng. Nhưng chính phủ Liên bang Đức chỉ tán thành điều này khi tồn tại một liên minh tài chính (Fiskalunion), và phương án này vẫn còn rất mờ nhạt, đến nay mới chỉ có một vài ý tưởng cụ thể và chưa rõ một liên minh tài chính phải được trang bị như thế nào.  Ủy viên trưởng EU của Tây ban nha, ông Joaquín Almunia cho rằng, trong tình hình hiện nay, khi mà các chính phủ thiếu sự tin tưởng lẫn nhau thì trái phiếu EU (Euro-Bonds) không phải là một giải pháp để lựa chọn: “Khi mà các nước trong Euro-Zone thiếu sự tin cậy chính trị với nhau thì khó có thể có chuyện những nước có điểm tín nhiệm tín dụng cao hơn chấp nhận chia sẻ khó khăn với các nước không có điểm tín nhiệm tương đương.“   Italia lâm vào cảnh khốn khó   Đối với chính phủ Đức thì trái phiếu chung chỉ có thể hình thành sau một quá trình nhất thể hóa lâu dài. Nước Đức lo ngại một cách chính đáng rằng lãi suất thấp đối với trái phiếu Euro sẽ làm cho các nước ngoại vi coi đây là một chiếc phao cứu sinh miễn phí, và các nước đó sẽ tiếp tục vay nợ nhiều hơn nữa. Mới đây thủ tướng Italia Mario Monti đã gợi ý về một chế độ tự động theo đó cái ô cứu trợ EFSF và sau đó là ESM sẽ mua trái phiếu nhà nước khi lãi suất trái phiếu này tăng ở một mức nhất định so với trái phiếu Liên bang. Ủy ban EU coi đây chỉ thuần túy là một loại thuốc giảm đau, và thủ tướng Đức Merkel đã gạt bỏ đề nghị này, cho rằng nó quá lý thuyết.  Tuy nhiên chỉ riêng việc thủ tướng Italia phải đệ trình phương án này đã cho thấy ông ta đang chịu một sức ép lớn đến như thế nào. Nếu chính phủ hiện nay không sớm đạt được những kết quả sáng sủa thì Italia sẽ lại đứng trước một cuộc bầu cử mới. Cựu thủ tướng Silvio Berlusconi đã dọa đảng của ông ta sẽ rút lại sự ủng hộ đối với ông Monti, và điều này có thể làm cho chính phủ kỹ trị của Monti bị sụp đổ.   Các ngân hàng phát hành in tiền    Vì các chính phủ dậm chân tại chỗ nên các ngân hàng phát hành buộc phải ra tay. Giữa tuần trước thống đốc ngân hàng phát hành Mỹ Ben Bernanke đã tuyên bố, Fed sẽ gia hạn “operation twist” đến cuối năm nay. Ông Bernanke muốn bán trái phiếu nhà nước với thời hạn ngắn trị giá 267 tỷ đôla và dùng tiền này để mua chứng khoán dài hạn. Điều này cuối cùng sẽ làm giảm lãi suất và thúc đẩy đầu tư. Theo các nhà kinh tế của Goldman Sachs thì chậm nhất đến đầu năm 2013 Fed sẽ bồi thêm một đợt nữa. Sau đó sẽ thúc đẩy chương trình lần thứ ba để tiếp tục mua trái phiếu nhà nước (QE3) và tiếp tục in thêm tiền.   ECB cũng đã khởi động các cỗ máy in tiền. Đã có rò rỉ thông tin về việc ECB tiếp tục giảm những yêu cầu về an toàn đối với việc hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy các nhà quản lý tiền tệ đặc biệt chú ý đến tình trạng các ngân hàng Tây Ban Nha đang bị điêu đứng vì khủng hoảng. Những ngân hàng này có thể đổi trái phiếu EZB bảo lãnh bằng tín dụng thế chấp ốm yếu của mình lấy tiền tươi của ECB. Điều này có nghĩa là rủi ro tổn thất trong cân đối của ECB sẽ tăng lên. Ngoài ra các ngân hàng ở các nước ngoại vi vay được thêm tiền của các ngân hàng trung ương, và dùng khoản tiền này thông qua hệ thống target của các ngân hàng phát hành chi trả cho những khoản thâm hụt của thanh toán vãng lai và tình trạng đào thoát vốn ở các nước này. Như vậy, động cơ cải cách nền kinh tế ở khu vực này đang bị triệt tiêu.   Ngoài ra các ngân hàng phát hành lớn giờ đây không còn quan tâm đến điểm tín nhiệm xếp bởi các hãng đánh giá lớn khi đánh giá về trái phiếu nhà nước. Họ sử dụng người của bản thân ngân hàng để đánh giá về độ tin cậy tín dụng của các nước này, nghĩa là cho phép bơm tiền vô tội vạ.   Liệu điều này có giúp ích gì cho sự phát triển không? Đây là điều rất đáng ngờ. Tại Mỹ và Anh lãi suất trái phiếu nhà nước đang ở mức thấp kỷ lục. Hiện không có một công trình đầu tư nghiêm chỉnh nào gặp thất bại vì chi phí tài chính quá lớn. Nguy cơ lớn là ở chỗ lãi suất thấp kích thích các nhà doanh nghiệp đầu tư vào các dự án mà thực ra không đem lại lợi lộc gì. Hậu quả là đầu tư sai lầm và lãng phí nguồn vốn.   Ngoài ra còn có tình trạng: Các ngân hàng phát hành tung tiền nhiều bao nhiêu vào hệ thống ngân hàng, thì về sau càng khó thu hồi khoản tiền này, khi nền kinh tế lấy lại được vị thế của mình. Nguyên nhân: khi các ngân hàng trung ương lật ngược chính sách đòn bẩy tiền tệ, thì lãi suất tăng lên – và cùng với nó là sự tăng phí tổn tín dụng đối với những nước bị ngập trong nợ nần. “Các ngân hàng trung ương sẽ không thu hút kịp thời các thanh khoản dư thừa”, nhà kinh tế trưởng Thorsten Polleit của Degussa Goldhandel cảnh báo. Theo Polleit, “kết quả sẽ là xảy ra lạm phát và trong trường hợp xấu nhất thậm chí là siêu lạm phát.”  Xuân Hoài lược dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ ‘vỡ’ quỹ hưu trí      Quỹ lương hưu của  Việt Nam sẽ bắt đầu thâm hụt từ năm 2020 và sẽ hoàn toàn cạn kiệt, không  có khả năng chi trả vào năm 2029.    Dự báo trên được công bố tại hội thảo Đánh giá tài chính quỹ hưu trí ở Việt Nam do Bộ LĐ-TB-XH phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), diễn ra ngày 2/8.  Theo quy định, mỗi người lao động nếu đóng bảo hiểm trong vòng 28 năm đóng với tỷ lệ 22% tiền lương thì sẽ được hưởng lương hưu từ 20 – 25 năm với số tiền bằng khoảng 70 – 75% tiền lương. Ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH nhận định, với mức đóng bảo hiểm để hưởng lương hưu như hiện nay thì quỹ hưu trí chắc chắn sẽ bị “vỡ” nếu không có một khoản tài chính nào thay thế.  Theo báo cáo, chỉ khoảng 20% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Tỷ lệ này có thể tăng trong thời gian trước mắt khi Việt Nam đang bước vào “thời kỳ dân số vàng” với số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) chiếm tới 58,5% cơ cấu dân số. Tuy nhiên, theo các chuyên gia ILO, quá trình lão hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra rất nhanh và một tỷ trọng lớn dân số sẽ không còn được hưởng trợ cấp xã hội trong tương lai. Chuyện gia Carlos Galian cho biết: “Quỹ lương hưu sẽ bắt đầu thâm hụt từ năm 2020 và sẽ hoàn toàn cạn kiệt vào năm 2029. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam”.  Đánh giá của ILO cho thấy chế độ hưu trí hiện tại của Việt Nam còn nhiều bất cập, thể hiện ở tuổi về hưu tương đối sớm, đặc biệt là đối với nữ giới, và một  bộ phận người lao động được phép về hưu trước tuổi qui định, trong bối cảnh tuổi thọ trung bình được nâng cao và tỷ lệ sinh giảm rõ rệt. Mặt khác, sự mất cân đối về lợi ích dành cho nhóm công chức nhà nước và người làm công ở các doanh nghiệp tư nhân đang tồn tại do khác biệt trong cách tính lương hưu. Chuyên gia Junichi Skamoto nói: “Thực tế, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước đang kê khai mức lương đóng bảo hiểm thấp hơn mức lương thực tế người lao động được trả”.  Để cân đối nguồn thu và chi cho quỹ hưu trí, ILO đưa ra khuyến nghị Việt Nam cần kết hợp giữa tăng tuổi về hưu lên 65 tuổi và thay đổi cách tính lương hưu nhằm giảm tỷ lệ chi trả. Nếu thực hiện giải pháp kép này, dự tính quỹ hưu trí sẽ có thể tồn tại tới năm 2052.  Cho rằng những khuyến nghị của ILO là rất cần thiết, tuy nhiên theo ông Phạm Trường Giang, Vụ phó Vụ Bảo hiểm Xã hội, Bộ LĐ-TB-XH, để áp dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam thì còn gặp rất nhiều vấn đề. “Đơn cử chỉ riêng tăng tuổi nghỉ hưu như thế nào cũng cần bàn bạc. Tăng như thế nào để vừa không làm ảnh hưởng tới vấn đề giải quyết việc làm lại không gây cú sốc trong xã hội…”, ông Giang nói.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ xuống dốc của Australia?      Australia bầu quốc hội mới. Không khí trong  dân chúng nước này khá phấn khởi vì kinh tế Australia đã vượt qua cuộc  khủng hoảng tài chính thế giới khá êm xuôi. Tuy nhiên sự chấm dứt bùng  nổ tài nguyên và sự lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc có nguy cơ trở  thành dấu chấm hết cho những thành công của quốc gia này.     Không như phần lớn các nước công nghiệp, Australia đã vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính thế giới một cách diệu kỳ. Ở đây có hai nguyên nhân: sự giàu có về nguồn tài nguyên của Australia và vị trí địa lý của đất nước này. Australia nằm gần các nền kinh tế phát triển năng động ở Đông Á. Nhưng giờ đây sự tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ của Trung Quốc dường như đã chấm dứt và nhu cầu cao của thế giới đối với các nguồn tài nguyên dường như cũng đã kết thúc. Ngành khai mỏ của Australia đang chiếm 10% năng lực kinh tế và chiếm 30% xuất khẩu của nước này, nay điều này nay đang bị đe dọa.  Có thể nói trong tương lai người Australia sẽ bị thua thiệt, mất mát khá nhiều. Mới tháng năm vừa qua, tổ chức OECD trong một nghiên cứu về “Better-Living” còn cho Australia điểm cao nhất. Trong số 35 quốc gia công nghiệp không nơi nào người dân có mức sống tốt hơn, an toàn hơn và hạnh phúc hơn so với người Australia. Trong 21 quý gần đây, nền kinh tế Australia liên tục phát triển, Australia được tất cả các hãng đánh giá cho điểm tốt nhất, tỷ lệ thất nghiệp ở đây cũng chỉ ở mức 5,7 %.         Cơn đói tài nguyên của Trung Quốc   •    Nhôm: Trung Quốc tiêu thụ trên 39,8 % nhôm của toàn thế giới  •    Chì: Trung Quốc tiêu thụ 45,6% chì trên thị trường thế giới,   •    Dầu mỏ: Trung Quốc đứng hàng thứ hai thế giới sau Mỹ về tiêu thụ dầu mỏ  •    Đồng: Trung Quốc tiêu thụ 38% đồng của thế giới, bỏ xa Mỹ ở vị trí thứ hai.  •    Nicken, Trung Quốc tiêu thụ 39,3% nicken trên thị trường, bỏ xa Mỹ và Nhật Bản  •    Sắt: Trung Quốc nhập khẩu sắt nhiều nhất thế giới, khoảng một nửa số sắt trên thị trường thế giới  •    Than đá: Trung Quốc tiêu thụ than đá nhiều nhất thế giới, bỏ xa Mỹ và Ấn Độ ở vị trí thứ hai và ba  •    Lẽm: Trung Quốc mua 42,5% lượng kẽm trên thị trường, bỏ xa Mỹ và Hàn Quốc  •    Thiếc: Trung Quốc mua 42,5% thị phần thế giới, bỏ xa Mỹ và Nhật Bản          Nhưng trên thực tế, tương lai của Australia lại phụ thuộc vào những đối tác thương mại quan trọng. Gần 30% xuất khẩu của Australia – chủ yếu là các nguyên liệu quặng sắt, than, vàng và dầu mỏ – xuất sang Trung Quốc. Nếu trong những năm tới, theo dự báo, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ đạt 5% chứ không phải là 8 hay 10% như thời gian qua, thì theo các phân tích của Standard & Poor’s, Australia sẽ lâm vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng.   Trong khi đó, từ giữa 2011 giá quặng sắt và than đá lại giảm, từ đó đầu tư vào khai mỏ ở Australia cũng giảm theo. Theo Bureau of Resources and Energy Economics ở Canberra, đến năm 2017, tổng số tiền đầu tư vào Australia chỉ còn khoảng 70 tỷ AUD, trong khi đó năm 2012 khoản đầu tư này lên tới 268,4 tỷ.   Cùng với việc kết thúc bùng nổ về tài nguyên của ngành công nghiệp khai khoáng Australia, bản thân Australia trở nên đắt đỏ đến mức khó lòng kham nổi. Theo ông Peter Coleman, Chủ tịch tập đoàn dầu khoáng Woodside Petroleum, lương của một kỹ sư ở bang Tây Australia, địa bàn tập trung phần lớn các mỏ, cao hơn từ 30 đến 50% so với các đồng nghiệp Mỹ làm việc tại Houston, thủ phủ ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ. Andrew MacKenzie, CEO của doanh nghiệp mỏ lớn nhất thế giới, công ty BHP Australia và Anh Quốc, than phiền về gánh nặng thuế má ở Australia, lên đến 45%.   Hệ quả của nguy cơ suy thoái đã hiển hiện tại các thị trường ngoại hối. Cách đây không lâu, một AUD tương đương 1,05 USD, hiện nay chỉ còn dưới 0,90 USD, và theo các chuyên gia của St. George Bank ở Sydney thì đến năm 2014 chỉ còn 0,83 USD. Thực ra điều này cũng có mặt tốt: nếu đồng AUD về lâu dài giảm giá thì khả năng cạnh tranh của nước này sẽ tăng không chỉ trong ngành công nghiệp khai khoáng như cho đến nay.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên liệu sinh học bền và dẻo dai hơn cả thép      Nhẹ, thân thiện với môi trường và siêu bền: các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại sợi từ nguyên liệu sinh học, ngay cả những tính năng nổi trội của thép giờ cũng bị lu mờ trước nguyên liệu này.      Ảnh chụp bằng kính hiển vi điện tử quét cho thấy cấu trúc của sợi nguyên liệu sinh học này.  Một loại nguyên liệu sinh học nhẹ, có khả năng phân huỷ sinh học nhưng vô cùng bền và dẻo dai. Có thể là tơ nhện? Vì cho đến nay tơ nhện vẫn được tôn vinh là ”đũa thần của khoa học vật liệu” khi nói đến nguyên liệu có tính đàn hồi cao trong tự nhiên. Tuy nhiên, vật liệu mà giờ đây các nhà nghiên cứu đã phát triển được lại là một nguyên liệu sinh học còn có độ bền hơn cả tơ nhện.  Tại Trung tâm nghiên cứu ở Hamburg Desy, Daniel Söderberg và các nhà khoa học thuộc Trường Cao đẳng kỹ thuật Hoàng gia Stockholm (KTH) đã điều chế được một loại sợi từ sợi cellulose nano, chất liệu cơ bản tạo thành gỗ cho các loại cây cối. Theo mô tả của các nhà khoa học trong tạp chí Fachblatt ACS Nano thì nguyên liệu này mạnh hơn cả thép  – và còn hơn cả tơ nhện. “Loại sợi nguyên liệu sinh học mà chúng tôi điều chế được có độ cứng gấp tám lần và chịu lực kéo gấp vài lần so với sợi lấy từ tơ nhện trong tự nhiên”, Söderberg nói.  Các nhà nghiên cứu đã tạo được nguyên liệu thần kỳ này bằng cách đưa sợi cellulose nano cực mỏng qua một cái khe rộng chừng 1 mm trong một khối thép. Từ hai bên, nước khử ion hoá cũng như nước có độ pH thấp tràn vào. Do áp lực của nước sợi nano bị ép cực mạnh.  Qua đó hình thành sợi từ nhiều sợi cellulose gắn kết với nhau mà không có chất kết dính mà chỉ nhờ lực kết dính phân tử. Phương pháp này bắt chước những gì diễn ra trong tự nhiên, tạo ra sợi cellulose nano gần như hoàn chỉnh và có độ chịu lực rất cao.  Các nhà nghiên cứu đã phân tích được các chi tiết của loại sợi công nghệ cao “Chúng tôi đã tạo ra được sợi có độ dày tới 15 Micromet (một phần nghìn Millimet) và độ dài tới nhiều mét“, theo Stephan Roth, phụ trách đo đạc. Nghiên cứu cho thấy độ uốn của nguyên liệu này là 86 Gigapascal và độ bền kéo là 1,57 Gigapascal.  “Nếu bạn cần tìm một nguyên liệu sinh học, thì thực sự không có gì có thể sánh nổi nguyên liệu này“, Daniel Söderberg nói. “Nguyên liệu này mạnh hơn thép và hơn tất cả các kim loại hoặc hợp kim khác cũng như sợi thuỷ tinh và hơn phần lớn các loại nguyên liệu tổng hợp khác.“  Từ sợi cellulose đàn hồi này có thể tạo ra nguyên liệu phục vụ rất nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Thí dụ nguyên liệu thân thiện với môi trường này có thể dùng để thay nhựa tổng hợp trong ô tô, để làm đồ nội thất hoặc để dùng trong máy bay. Nguyên liệu này có thể ứng dụng trong lĩnh vực y học, theo Sörderberg: “Nguyên liệu mới này của chúng tôi có tiềm năng sử dụng trong y sinh học vì Cellulo không bị cơ thể đào thải.”  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.handelsblatt.com/technik/forschung-innovation/belastbarer-als-stahl-forscher-entwickeln-staerkstes-biomaterial-der-welt/22577044.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên nhân tiền tệ của lạm phát      Qua theo dõi diễn biến kinh tế và một số động thái chính sách của Việt Nam trong những năm gần đây, có đối chiếu trên những khía cạnh tương tự với một số nước trong khu vực, chúng tôi đi đến nhận định rằng tình trạng lạm phát hiện nay ở Việt Nam là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.    Từ những tháng giữa năm nay, khi mức tăng giá chung trở thành một mối quan tâm rộng rãi của xã hội, đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề lạm phát, chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu của lạm phát, tác động của lạm phát và chính sách chống lạm phát. Vào cuối tháng 8/2007, một chuyên gia cao cấp có uy tín của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thừa nhận nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là do tăng cung tiền(1). Điều này có lẽ không gây ngạc nhiên trong giới quan sát, nhưng dường như nó giúp những cuộc thảo luận bớt lan man hơn.  Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn thảo luận thêm đôi chút về nguyên nhân tiền tệ của tình trạng lạm phát hiện nay. Nội dung chủ yếu trong lập luận của chúng tôi là tình hình lạm phát hiện nay là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.  Hiện tượng kinh tế đặc thù được lưu ý ở đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của kiều hối (bao gồm một phần rất lớn và ngày càng tăng tiền gửi của người đi xuất khẩu lao động), kết hợp với sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Một sự kết hợp nữa là trong năm 2006, quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường chứng khoán đã đạt những bước phát triển lớn, khiến Việt Nam trở thành một địa điểm hấp dẫn và dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy mạnh vào nước ta. Theo ước lượng không chính thức, có khoảng hơn 5 tỷ USD kiều hối đã được gửi về, và khoảng 1 đến 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đã được chuyển vào trong nước trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007.  Các chính sách kết hợp không đồng bộ, theo chúng tôi, bao gồm hai chính sách lớn sau: (1) chính sách tăng trưởng cung tiền và tín dụng theo đà của các năm trước, (2) chính sách neo tỷ giá ổn định theo đồng USD thông qua can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối.    Ảnh hưởng của sự gia tăng ồ ạt dòng ngoại hối dưới chế độ tỷ giá (tương đối) cố định  Một đặc điểm vĩ mô quan trọng bậc nhất của Việt Nam gần đây có lẽ là sự gia tăng nhanh chóng của dòng tiền gửi về từ nước ngoài, trong đó một phần rất lớn từ người đi lao động (tạm gọi tất cả các khoản tiền gửi kiểu này là kiều hối). Xét trên phương diện quy mô to lớn tương đối của dòng kiều hối, thì Việt Nam chỉ đứng sau Philippines là nước trong khu vực đã có truyền thống xuất khẩu lao động từ lâu, và có những đặc điểm kinh tế khá tương đồng. Philippines hàng năm nhận một lượng kiều hối nhiều hơn Việt Nam rất nhiều kể cả tương đối (so với GDP) lẫn tuyệt đối (vì GDP của Philippines lớn hơn của Việt Nam khoảng 1.5 lần). Tuy nhiên, xét trên mối tương quan với GDP, thâm hụt thương mại của Philippines khá trầm trọng, cộng với các khoản trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn, nên có thể nói dòng kiều hối chủ yếu được dùng để tài trợ cho khoản thâm hụt này trong tài khoản vãng lai. Kết quả là bất chấp lượng kiều hối khổng lồ chuyển về mỗi năm, cán cân vãng lai chỉ thặng dư khoảng từ 2% đến dưới 3% GDP.                     Trong khi đó, ở Việt Nam, tuy tỷ trọng kiều hối không lớn như ở Philippines, nhưng thâm hụt thương mại, mặc dù đang trở nên rất đáng lưu ý, vẫn chưa trầm trọng như ở nước này, nên cán cân vãng lai được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, và kể từ năm 2005 có khuynh hướng thặng dư (nhưng còn ở mức thấp hơn nhiều so với Philippines). Tuy nhiên, một đặc điểm của Việt Nam mà Philippines không có là cán cân tư bản gần đây luôn thặng dư rất đáng kể, đã dẫn tới khả năng dư thừa ngoại hối thậm chí lớn hơn ở Philippines. Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào đồng USD, cơ quan tiền tệ Việt Nam đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường. Kết quả là dự trữ ngoại tệ mỗi năm đã tăng lên rất mạnh, chẳng hạn như năm 2005 tăng thêm 4% GDP, còn năm 2006 gần 5% GDP.  Như vậy, có thể nói một đặc điểm quan trọng của Việt Nam gần đây là sự tăng trưởng nhanh chóng của cả hai dòng tiền từ bên ngoài là kiều hối và đầu tư nước ngoài.  Kết quả là, để giữ cho đồng Việt Nam không lên giá quá nhanh, cơ quan tiền tệ Việt Nam (theo các tuyên bố trên báo chí) đã mua vào trong sáu tháng đầu năm 2007 khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP). Chính sách này đã làm tăng mạnh lượng tiền Việt được đưa vào lưu thông. Điều này đuợc coi là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát hiện nay. (Về nguyên nhân gây phản ứng chính sách, xem thêm Hình 1)                     Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đồng bộ  Tuy nhiên, một câu hỏi lập tức được đặt ra là: Vì sao, ở một số nền kinh tế khác, cụ thể là Trung Quốc, cơ quan tiền tệ cũng phải đối mặt với lượng thặng dự ngoại tệ hằng năm rất lớn (chủ yếu từ thặng dư thương mại), trong khi vẫn giữ vững quyết tâm can thiệp để neo đồng nội tệ ổn định vào USD, lại không xuất hiện tình trạng lạm phát cao như ở Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem xét chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc và đối chiếu nó với tình hình Việt Nam.  Mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất “lý tưởng,” chỉ từ 0,7% (2001) đến 3,9% (2004) và năm 2006 chỉ là 1,5% – trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn hầu như ở mức hai con số. Cần lưu ý ngay rằng, nước này cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến “chi phí đẩy,” như là giá cả các mặt hàng thiết yếu và năng lượng trên thế giới tăng không khác gì, thậm chí có thể lớn hơn, so với Việt Nam.  Việc đối chiếu chính sách tiền tệ gần đây cùng xem xét những hậu quả tương ứng của nó ở Trung Quốc và Việt Nam sẽ đem lại một minh hoạ thú vị, cho thấy vì sao lạm phát (dai dẳng) luôn là một hiện tượng tiền tệ. Điều có ý nghĩa quan trọng bậc nhất có lẽ nằm trong tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Theo các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Trung Quốc đã rất thận trọng trong tăng trưởng tín dụng và tiền tệ, chỉ vào khoảng 15% mỗi năm, kể từ 2004. Trước đó, sự tăng trưởng này cũng chỉ ở dưới mức 20%. Trong khi đó, tăng trưởng tiền tệ của Việt Nam vốn đã ở mức cao (trên 20%) từ năm 2001, lại có xu hướng tăng ngày càng tăng nhanh hơn, đạt mức 30% trong hai năm 2004 và 2005. Thêm vào đó, tín dụng còn được mở rộng nhanh và vững chắc hơn rất nhiều: tăng trưởng hơn 20% vào năm 2001, rồi liên tục được gia tốc, lên đến đỉnh cao năm 2004 ở mức 40%, và năm 2005 vẫn ở mức 30%.  Thực tiễn cho thấy một kết quả thú vị là, mặc dù cả hai nước đều có tăng trưởng rất mạnh trong dự trữ ngoại hối, nhưng Trung Quốc vẫn duy trì một mức lạm phát nhẹ, trong khi Việt Nam luôn phải gánh chịu lạm phát cao (trên 8%) liên tiếp kể từ năm 2004. Thêm vào đó, tăng trưởng ở Trung Quốc vẫn được giữ ở mức cao (hơn Việt Nam), thặng dư thương mại lớn (dự trữ ngoại hối đã tăng ngoạn mục từ mức 16.5% năm 2001 lên 36.6% GDP vào năm 2005), và giá trị đồng nội tệ ổn định (tỷ giá danh nghĩa chỉ giảm khoảng 2.5% trong giai đoạn 2001-2005). Như vậy, có cơ sở để nhận định rằng Việt Nam đã thực hiện chính sách can thiệp tăng dự trữ ngoại tệ nhưng không đồng thời thắt chặt tiền tệ, nên đã dẫn tới lạm phát cao. Trong khi đó, Trung Quốc đã thực hiện thắt chặt tiền tệ rất có chủ ý để kết hợp hài hoà với chính sách giữ ổn định đồng Nhân dân tệ, và đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát.  Trường hợp Trung Quốc cho thấy bài học đáng giá rằng kiểm soát tăng trưởng tiền tệ và tín dụng vẫn là phương tiện căn bản, quan trọng và hữu hiệu hàng đầu giúp kiểm soát lạm phát. Một bài học nữa có thể được rút ra, là sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô có ý nghĩa quan trọng. Cụ thể trong trường hợp này, khi cơ quan tiền tệ đã xác định có kế hoạch mua vào một lượng ngoại tệ lớn, thì nó cũng đồng thời phải dự trù một kế hoạch thắt chặt cung tiền một cách hài hoà từ trước đó.    Một số gợi ý chính sách  Tóm lại, có thể hình dung “con đường lạm phát” những năm qua như sau:  – Một hiện tượng kinh tế đặc thù trong những năm gần đây của Việt Nam là sự tăng trưởng mạnh của các dòng tiền từ nước ngoài (bên cạnh những dòng tiền truyền thống như dòng vốn đầu tư trực tiếp và tiền của Việt kiều, còn có tiền gửi về của người Việt lao động ở nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp).  – Để giữ đồng tiền Việt ổn định (nhằm giữ lợi thế cho xuất khẩu), cơ quan tiền tệ Việt Nam đã phải mua vào ngoại tệ với lượng ngày càng lớn. Do đó, hằng năm một lượng lớn tiền đã được đẩy vào lưu thông. Lượng tiền này có thể lên tới 15% GDP hoặc hơn.  – Một chính sách nên được tiến hành đồng bộ với chính sách trên là thắt chặt hợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Nhưng trong thời gian vừa qua, nó đã không được thực hiện.  – Kết quả là lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh niên (ở mức cao, trên 8%) kể từ năm 2004.  Trên cơ sở những luận điểm như vậy, chúng tôi khuyến nghị những giải pháp như sau:  1. Lạm phát hiện nay ở nước ta nên được xem xét nghiêm túc và thẳng thắn là có căn nguyên từ chính sách tiền tệ. Trên cơ sở đó, các chính sách chống lạm phát nên mang tính tiền tệ. Điều ấy đồng nghĩa với việc nên hạn chế sử dụng chính sách tài khóa (như giảm thuế một số mặt hàng được quan sát thấy là tăng nhanh nhất), hay chính sách hành chính (đốc thúc doanh nghiệp, kêu gọi sự hỗ trợ của người dân). Chúng tôi cho rằng các biện pháp tài khoá và hành chính đều mang tính thoả hiệp, tạm thời và có khuynh hướng che đậy bản chất thực sự của lạm phát. Đi kèm với nó là chi phí cao, hiệu quả thấp.  2. Các biện pháp tiền tệ mang tính gốc rễ là giảm tốc độ tăng tiền và tín dụng. Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nên coi là tức thời và cục bộ mà thôi. Ví dụ, chính sách tăng dự trữ bắt buộc khiến khối ngân hàng gánh nhiều chi phí hơn các khu vực khác trong công cuộc chống lạm phát. Ngược lại, việc cắt giảm tín dụng và cung tiền trên toàn nền kinh tế, áp dụng cho toàn bộ các thành phần kinh tế, sẽ san sẻ chi phí chống lạm phát một cách bình đẳng hơn.  3. Bên cạnh cam kết chống lạm phát đã được thể hiện rõ ràng của chính phủ, cần công khai các biện pháp cụ thể để thể hiện cam kết là đáng tin cậy, đồng thời ràng buộc chính phủ vào cam kết đó. Điều này sẽ giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (nếu họ biết và tin các chính sách là đúng đắn và cứng rắn), dẫn đến khả năng thành công dễ dàng hơn của chính sách chống lạm phát. (Một chính sách chỉ có hiệu lực khi người ta tin là nó có hiệu lực).  4. Không nên duy trì quan điểm cho rằng lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng GDP là tốt, mà có lẽ chỉ nên coi đây như một kinh nghiệm để phấn đấu khi lạm phát đã thành một sự đã rồi. Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó, chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi (khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện nay. (Xin cảm ơn TS Vũ Quang Việt, nhóm Vietnam Economic Society về những góp ý và thảo luận hữu ích cho bài báo này).  ——–  1. TS. Lê Xuân Nghĩa trả lời phỏng vấn Báo Lao Động:  http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/8/51372.laodong  ———-  Nguyễn Đức Thành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyễn Tiến Đông* – Nhà khoa học có tư duy “hình chóp ngược”      Tiễn sĩ Nguyễn Tiến Đông đại diện cho các nhà khoa học thế hệ mới: năng động, luôn tìm cách “vượt khó” trong cả việc nghiên cứu lẫn thương mại hóa sản phẩm.      Tham gia chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam Phần Lan – IPP.  Làm  khoa học theo tư duy Kaizen  Có một sự trùng hợp thú vị. Thời điểm gặp TS Nguyễn Tiến Đông cũng là lúc bộ sách Nghệ thuật Kaizen tuyệt vời của Toyota (tác giả Yoshihito Wakamatsu) do nhóm của anh biên soạn ra mắt độc giả Việt Nam. “Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua. Ngày mai phải tốt hơn ngày hôm nay”. Suốt chặng đường nghiên cứu khoa học 15 năm qua, triết lý cốt lõi ấy của tư tưởng Kaizen vẫn luôn là “kim chỉ nam” cho TS Nguyễn Tiến Đông. Năm 2000, lần đầu được tiếp cận với phương pháp làm việc của Toyota qua chương trình triển khai mô hình 5S1 và Kaizen cho các doanh nghiệp sản xuất cơ khí Việt Nam, cậu sinh viên năm thứ ba chuyển từ trạng thái thích thú sang thực sự say mê cơ khí. Trước đó, khi lựa chọn chuyên ngành đem đến cho mình niềm hứng khởi cùng cảm giác kết nối mạnh mẽ, Nguyễn Tiến Đông từng bị nói là “dở hơi” vì “đâm đầu” vào một lĩnh vực “không hợp thời” và đang trong giai đoạn “xuống đáy” cuối thập kỷ chín mươi. Lĩnh hội tư tưởng Kaizen, nhà khoa học tương lai đã hoàn toàn gạt bỏ thoáng băn khoăn về nghề nghiệp; đồng thời, “ngộ” ra hai điều: Một, mình chắc chắn làm được một điều gì đó cho cơ khí. Hai, “một điều gì đó” không nhất thiết phải là những phát minh mang tính đột phá tầm Einstein hay Thomas Edison, mà hãy tích lũy từ việc cải tiến công nghệ sẵn có, từ những nghiên cứu ứng dụng Việt Nam đang rất thiếu.  Hai năm sau, vẫn với sự dứt khoát như thế, Nguyễn Tiến Đông chọn đề tài nghiên cứu phương pháp gia công tiên tiến làm luận án thạc sĩ. Thêm một quyết định “gàn dở” nữa bởi thời điểm ấy, các tài liệu tham khảo gần như “trống”. Một vài cuốn sách do các thầy trong khoa biên soạn mới chỉ dừng lại ở mức giới thiệu tổng quan, đưa ra một số khái niệm, mô tả. Nhưng, chính sự mơ hồ và chưa sáng rõ ấy lại khiến anh cảm thấy tò mò, muốn tìm hiểu thấu đáo các phương pháp gia công vật liệu tiên tiến. Năm 2004, Nguyễn Tiến Đông sang Nhật làm nghiên cứu sinh tại Đại học Nagaoka và nghiên cứu chuyên sâu phương pháp gia công tinh lần cuối bằng hạt mài, công đoạn quan trọng giúp bề mặt chi tiết có độ nhám và độ chính xác hình học cần thiết.  Tại Nhật khi đó, nhu cầu giải quyết bài toán năng suất và chất lượng trong gia công rất bức thiết bởi càng lúc càng xuất hiện nhiều loại vật liệu mới có đặc tính khó gia công, các vật liệu siêu cứng như ceramic, silicon wafer, thép hợp kim cường độ cao…  Bài toán khó với các nhà khoa học là phải cải tiến công nghệ gia công (thiết bị, dụng cụ…), giúp giảm thiểu khả năng gãy, vỡ trong quá trình gia công các loại vật liệu tiên tiến này. Đáp án của Nguyễn Tiến Đông là đá mài, nhưng không phải đá mài thông thường mà có cấu trúc khác biệt. “Ở đá mài thông thường, toàn bộ hạt mài được phủ khắp bề mặt của đá. Tuy nhiên, không phải tất cả hạt mài đều tham gia gia công. Những hạt mài trượt trên bề mặt chi tiết gia công chính là nguyên nhân gây ra lớp ‘khuyết tật’ dưới bề mặt chi tiết”. Từ suy nghĩ ấy, anh tìm cách loại bỏ bớt hạt mài “vô dụng” và sắp xếp lại vị trí các hạt mài “hữu ích”. Cấu trúc hạt mài đầu tiên Nguyễn Tiến Đông đưa ra có hình lục lăng và đã được đăng ký bản quyền sáng chế tại Nhật. Toàn bộ hạt mài được phân bố theo cạnh của hình lục lăng, xung quanh đá không có hạt mài. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy, đá mài lục lăng có hiệu quả hoạt động vượt trội so với đá mài thông thường nhờ các hạt mài trực tiếp tham gia cắt vào bề mặt chi tiết cần gia công, giúp giảm lực gia công và rút ngắn thời gian gia công vật liệu.      Các nhà kỹ thuật mong muốn trở thành chuyên gia đầu ngành, họ có tư duy “hình chóp nhọn”, đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu. Còn tôi thì có tư duy “hình chóp ngược”: dựa trên nền tảng kỹ thuật, tôi luôn muốn mở rộng việc ứng dụng công nghệ, giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau đang cần.        Hiện tại, TS Nguyễn Tiến Đông vẫn tiếp tục nghiên cứu gia công tinh, tập trung nâng cao tuổi bền và khả năng gia công của hạt mài. Đây là thử thách không nhỏ bởi trong gia công tinh lần cuối bằng đá mài, đặc biệt với các vật liệu mềm như magie nhôm, magie hợp kim, thường xảy ra hiện tượng “bết” đá (phoi mài bám vào bề mặt đá, khiến cho đá bị “mòn”), không thể gia công được, ảnh hưởng đến chất lượng chi tiết gia công. Lần cải tiến gần đây nhất, anh đã cấu trúc lại hình dáng đá mài từ tròn như thông thường thành các đoạn xẻ rãnh (hay còn gọi là đá mài gián đoạn). Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, đá mài xẻ rãnh có thể nâng cao năng suất lên tới 20%, khi tăng lượng chạy dao từ 12m/ph lên 15m/ph mà vẫn giữ được độ nhám tương đương trên bề mặt chi tiết. Đây là một nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, bởi 70% các công đoạn gia công sản phẩm cơ khí đều phải trải qua gia công tinh lần cuối bằng mài. Với định hướng kết quả nghiên cứu này, riêng việc giảm thiểu thời gian sửa đá đã giúp doanh nghiệp vừa tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo tiêu chí kỹ thuật, cũng tức là nâng cao năng lực cạnh tranh.  Hỗ trợ doanh nghiệp trên toàn chuỗi  Đang quen với môi trường nghiên cứu lý tưởng bên Nhật, với việc các doanh nghiệp chủ động “đặt hàng” các nhà khoa học cải tiến, nâng cấp một công nghệ nào đó, về nước năm 2009, TS Nguyễn Tiến Đông “vấp” phải một thực tế: gia công tinh bằng hạt mài khó xếp vào các định hướng nghiên cứu theo chương trình nghiên cứu trọng điểm của nhà nước (tập trung vào các nghiên cứu công nghệ cao như máy cnc, robot…). Vì vậy, khó xin kinh phí hỗ trợ, dẫn đến thiếu phòng thí nghiệm, thiếu thiết bị “đo” để kiểm chứng kết quả. Để tiếp nối giấc mơ khoa học, anh buộc phải “xông xáo”  trong mọi việc, từ đi mượn phòng thí nghiệm, thực nghiệm tại cơ sở sản xuất đến kết hợp với công ty cổ phần đá mài Hải Dương, đơn vị đồng ý chế tạo đá theo yêu cầu mẫu. Tiếc là, do thời gian chờ công bố bản quyền sáng chế cho đá mài xẻ rãnh quá lâu nên anh chưa thể đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm mang tính ứng dụng cao và rất có tiềm năng này. Nhưng đường “ra” thị trường đã được anh “thiết kế” bài bản, bắt đầu bằng việc chủ động liên kết với gần 20 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, cùng giải quyết bài toán đặc biệt “nóng” trong bối cảnh cạnh tranh hiện tại, là: năng suất, chất lượng, chi phí.  Cụ thể, TS Nguyễn Tiến Đông tiếp cận và đồng hành cùng doanh nghiệp trên cả một quá trình, theo góc độ hệ thống, nhằm tối ưu hóa cả chuỗi hoạt động. “Nếu như mình chỉ hỗ trợ công đoạn gia công tinh lần cuối bằng hạt mài thì chỉ có công đoạn ấy tốt lên còn các công đoạn trước và sau đấy không thay đổi. Như thế, chất lượng của cả chuỗi sản xuất không được cải tiến là bao. Do đó, bắt buộc phải hiểu rõ mọi công đoạn và phải hỗ trợ doanh nghiệp trên cả chuỗi hoạt động”, anh chia sẻ. Tất nhiên, công việc không phải lúc nào cũng thuận lợi. Như TS Nguyễn Tiến Đông tâm sự, làm một nhà khoa học thuần túy đã khó, “đi” vào thực tế lại càng khó hơn. Khi hợp tác cùng doanh nghiệp, ngoài tri thức chuyên ngành, nhà khoa học cần có sự đồng cảm lớn để có thể thấu hiểu toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của họ, rồi từ đó, tác động toàn diện giúp doanh nghiệp thay đổi. Nhìn lại hành trình của TS Nguyễn Tiến Đông, thấy rõ, anh rất khác với các nhà khoa học ưa làm “con ong” trong không gian học thuật quen thuộc, khép kín và ngại “mở cửa”, “xông ra” thị trường.  “Hãy nối dài nghiên cứu bằng cảm xúc”  Ở vị trí một người thầy, TS Nguyễn Tiến Đông thường nhắc nhở sinh viên như vậy. Anh tâm niệm, đam mê và cảm xúc với đề tài mới là động lực để nhà khoa học đi đến cùng mỗi một nghiên cứu. Đó là lý do thầy Đông thường “đẩy” sinh viên ra thực tế, bắt các nhà khoa học tương lai phải tự mình trải nghiệm bằng cách vào bệnh viện để có cảm xúc như một bệnh nhân, về các vùng quê để làm nông nghiệp, cảm nhận đời sống muôn màu và còn nhiều khó khăn, vất vả. Rất nhiều sáng chế của TS Nguyễn Tiến Đông hình thành từ cảm xúc, từ những chuyến đi thực tế và trải nghiệm như vậy, chẳng hạn, các thiết bị y tế: Cánh tay robot trị liệu giúp phục hồi chức năng vận động của khớp khuỷu tay, khớp vai; Máy sưởi ấm dịch truyền dùng trong y tế… Anh vẫn chờ thời cơ thích hợp để thương mại hóa các sản phẩm tiềm năng, có tính ứng dụng cao này vào các bệnh viện “bình dân” với mong muốn những thành quả nghiên cứu của mình có thể phục vụ rộng rãi cộng đồng. Hiện tại, anh đang là mentor trong chương trình tăng tốc khởi nghiệp iAA2 cho một nhóm các nhà nghiên cứu bình lọc khí biogas. Cũng là một hướng nghiên cứu xuất phát từ thực tế và cảm xúc, bởi không ít thành viên của nhóm đã “nếm trải” mùi khí biogas trong nhiều năm trời và thấm thía nó khủng khiếp cỡ nào!  Nói về công việc dạy học, trên facebook cá nhân, nhiều lần, thấy TS Nguyễn Tiến Đông dùng chữ “Enjoy teaching” để bộc lộ trạng thái phấn khích. Đó là khi anh giới thiệu về những dự án tư vấn, những câu lạc bộ khoa học đang hoặc sắp thực hiện. TS Nguyễn Tiến Đông chia sẻ, khi mới sang Nhật, phải mất một vài tháng anh mới bắt kịp các bạn. Lý do, học sinh Nhật từ cấp hai, cấp ba đã được làm quen với việc nghiên cứu khoa học và đến khi lên đại học thì hoàn toàn tự tin triển khai một đề tài nghiên cứu, nhưng sinh viên Việt Nam không được như vậy. Anh muốn giúp học trò tránh được những bỡ ngỡ và ngay từ khi còn trên giảng đường, đã có cơ hội tích lũy kiến thức, có đủ năng lực để sẵn sàng làm việc ngay, đáp ứng ngay nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tháng 2-2016, TS Nguyễn Tiến Đông thành lập câu lạc bộ TIG (Technology – Innovation – Globalization) với tiêu chí: đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng công nghệ; tiến tới toàn cầu hóa cả về sản phẩm và con người, đồng thời, đặt mục tiêu xa: đến năm 2020, là “cái nôi” cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ sư R&D cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến nay, TIG đã có những “trái ngọt” đầu tiên: đề tài “Xe đạp gấp” (nhóm TIG – Forbike) lọt vào chung kết cuộc thi Khởi nghiệp Sáng tạo Việt – Đức 2016 và “Máy gieo hạt hút chân không” (nhóm TIG – Lise) cũng bước vào chung kết cuộc thi Hack-A-Farm Innovation Camp Vietnam 2016 (Áp dụng sáng tạo công nghệ vào các vấn đề về nông nghiệp).  ——-  * Phó Viện trưởng Viện Cơ khí (Đại học Bách khoa Hà Nội).  1 Mô hình 5S (Phương pháp quản lý giúp cải tiến môi trường làm việc và nâng cao hiệu quả sản xuất), bao gồm 5 nguyên tắc: Sàng lọc – Sắp xếp – Sạch sẽ – Săn sóc – Sẵn sàng.  2 iAA: Chương trình tăng tốc khởi nghiệp do Mạng lưới Nhà đấu tư thiên thần Việt Nam tổ chức.       Author                Hương Lan        
__label__tiasang Nhà chọc trời – điềm báo khủng hoảng      Kinh nghiệm cho thấy, trong quá trình xây  dựng hoặc vào thời điểm khánh thành tòa nhà cao kỷ lục thường xảy ra  khủng hoảng tài chính và thị trường chứng khoán bị lao đao.    “Điềm gở” đối với các nhà đầu tư?  Năm 1908, ngay khi tòa nhà Singer cao 187m ở New York xây xong thì xảy ra hỗn loạn ngân hàng làm chỉ số Dow Jones tụt xuống tận đáy. Hai mươi năm sau, trong cuộc đua xây nhà chọc trời, từ năm 1928 đến 1931, người ta xây ở Manhattan ba tòa tháp cao lừng lững: Chrysler, Trump và Empire State. Cuộc chạy đua giành kỷ lục này cuối cùng lại báo hiệu cho “ngày thứ năm đen tối”, một đòn trời giáng vào phố Wall ngày 24/10/1929.  Mãi đến năm 1972, kỷ lục về chiều cao của tòa nhà Empire State mới bị Trung tâm thương mại thế giới (World Trade Center) ở New York vượt qua, và hai năm sau Sears Tower ở Chicago cũng vượt qua Empire State. Hai tòa nhà chọc trời này báo hiệu sự trì trệ tăng trưởng và lạm phát cao trong những năm 1970. Cũng vào thời điểm đó động lực kinh tế dịch chuyển ngày càng mạnh mẽ sang khu vực Viễn Đông.  Nhưng ngay cả ở khu vực Viễn Đông thì những tòa tháp cao cũng thường là những biểu tượng hai mặt: gần như mọi kỷ lục về độ cao đều đánh dấu một thấp điểm của nền kinh tế. Khi tòa tháp đôi Petronas ở Malaysia đang xây dựng thì năm 1997 xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á. Tháp Đài Bắc (Taipei) 101 ở Đài Loan ra đời cùng thời gian với vụ nổ bong bóng Dotcom vào năm 2000. Tòa nhà chọc trời Burj Khalifa ở Dubai cũng là hiện thân của đầu cơ bất động sản thái quá dẫn đến nợ nần mà cho đến nay tiểu vương quốc này vẫn chưa khắc phục nổi.  Không lâu nữa, thành phố Changsha (ở tỉnh Hồ Nam) của Trung Quốc sẽ có một tòa tháp khổng lồ mang tên “thành phố trên trời”. Tòa nhà đang được hoàn thiện để đưa vào sử dụng vào đầu năm 2013 này có 220 tầng, đủ chỗ chứa hơn 17 nghìn người và cao 838m, hơn 10m so với tòa nhà Burj Khalifa. Giá của tòa “thành phố trên trời” này ước tính lên tới 1 tỷ USD. Liệu nó có phải là dấu hiệu cho thành công mới của các kiến trúc sư hay đây là biểu hiện của sự phiêu lưu cuồng vọng – báo trước quả bóng trên thị trường bất động sản ở Trung Quốc sắp nổ tung?  Giáo sư kinh tế tài chính Gunter Löffler của Đại học Ulm (Đức) cảnh báo: “Các nhà đầu tư nên coi dự án Thành phố trên trời là một dấu hiệu xấu”. Vì kinh nghiệm cho thấy, trong quá trình xây dựng hoặc vào thời điểm khánh thành tòa nhà cao kỷ lục thường xảy ra khủng hoảng tài chính và thị trường chứng khoán bị lao đao.  Chỉ có một ngoại lệ  Phải chăng những sự kiện trên chỉ là ngẫu nhiên? GS Löffler lần đầu tiên dùng phương pháp thống kê để nghiên cứu về mối liên hệ giữa xây dựng nhà chọc trời với thị trường tài chính ở Mỹ và thấy: so với các chỉ báo khác, các kỷ lục về nhà chọc trời là chỉ báo khá chính xác cho sự giảm sút sắp diễn ra như lợi tức lãi cổ phiếu. GS Löffler nói: “Trong ba năm đầu tiên sau khi tiến hành xây nhà chọc trời hứa hẹn kỷ lục mới về độ cao, thì lợi tức trên thị trường cổ phiếu giảm bình quân 7 điểm phần trăm so với các thời kỳ khác”. Tuy nhiên có một ngoại lệ, tòa nhà chọc trời Woolworth (New York) hoàn thành năm 1913 nhưng sau đó khủng hoảng tài chính không xảy ra.  Vậy tại sao những ngôi nhà chọc trời khổng lồ lại là một điềm báo khá chính xác về những cuộc khủng hoảng sắp diễn ra? Những công trình xây dựng này đòi hỏi khoản đầu tư khổng lồ. Ví dụ, tòa nhà Burj Khalifa ngốn khoảng 1,5 tỷ USD và ngay từ khi khởi công xây dựng đã có những lo ngại về khả năng thu hồi vốn. Những dự án liều lĩnh này thường được xúc tiến khi chủ dự án và các ngân hàng quá lạc quan về tương lai. Một thời gian ngắn trước khi kết thúc giai đoạn tăng trưởng thì các nhà đầu tư thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà đầu tư Angel: bà đỡ cho doanh nghiệp khởi nghiệp      Ngày 22/3 tại Hà Nội, Bộ KH&amp;CN đã tổ chức Tọa đàm “Vai trò của đầu tư mạo hiểm đối với chương trình Thương mại hóa công nghệ Việt Nam – Angel Investor Workshop” nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về mô hình hoạt động của các nhà đầu tư angel, một nhân tố quan trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.  &#160;    Các nhà đầu tư angel và các quỹ đầu tư mạo hiểm là những thực thể tồn tại song hành, bổ sung hiệu quả cho nhau trên thị trường đầu tư mạo hiểm. Nhưng khác với các quỹ đầu tư mạo hiểm thường quản lý nguồn vốn  tương đối lớn từ nhiều nhà đầu tư khác nhau để đầu tư vào  những doanh nghiệp khởi nghiệp đã trưởng thành, nhà đầu angel  là những người tự bỏ tiền túi của mình đầu tư vào các doanh  nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn ban đầu. Có thể coi các nhà đầu tư angel là những bà đỡ đầu tiên, cùng đồng hành với các doanh nghiệp khởi nghiệp để giúp họ vượt qua những chặng đường khó khăn đầu tiên, nhưng khi các doanh nghiệp này đủ lông đủ cánh thì sẽ cần đến các quỹ đầu tư mạo hiểm để huy động nguồn vốn lớn cần thiết phục vụ mục đích nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh.  Trong cuộc tọa đàm lần này, Bora Kizil một chuyên gia giàu kinh nghiệm về hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp – bản thân ông là người từng mở ra 6 doanh nghiệp khởi nghiệp và trở thành nhà  quản lý một quỹ đầu tư vào khoảng 30 doanh nghiệp khác nhau – đã cung cấp những thông tin phong phú, bổ ích về hoạt động của các nhà đầu tư angel. Trong đó có những vấn đề quan trọng cơ bản như quy trình thẩm định của nhà đầu tư angel, cách quản lý danh mục đầu tư, và các loại hình đầu tư đặc thù của nhà đầu tư angel.  Ngoài ra, tọa đàm cũng là nơi các chuyên gia quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Vietnam trình bày một số kinh nghiệm và những đánh giá về thực tế hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam. Chuyên gia Nguyễn Lân Trung Anh cũng từ IDG Ventures Vietnam chỉ ra những xu hướng phát triển thị trường đầu tư mạo hiểm Việt Nam gần đây – như xu hướng các nhà đầu tư mạo hiểm quốc tế tìm chọn những doanh nghiệp công nghệ đủ sức vươn ra thị trường ASEAN  – và một số điểm hạn chế, như cần nhiều thời gian để doanh nghiệp khởi nghiệp đạt được thành công (trung bình ở Việt Nam cần 6,6 năm, trong khi ở Mỹ chỉ cần 3-4 năm) và lãnh đạo doanh nghiệp khởi nghiệp thường thành công ở độ tuổi muộn (trung bình ở Việt Nam là 28,5 tuổi, trong khi ở Mỹ độ tuổi trung bình là 23). Theo ông Trung Anh, nguyên nhân của tình trạng này là các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam thường bị cô lập, thiếu các đối thủ cạnh tranh làm chất xúc tác cho phát triển.     Bên cạnh đó, dưới góc độ nhà quản lý đầu tư, ông Nguyễn Hồng Trường, Phó Chủ tịch IDG Ventures Vietnam chia sẻ những bí quyết về thẩm định và hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá tố chất người lãnh đạo doanh nghiệp khởi nghiệp, yếu tố cốt lõi làm nên thành công cho doanh nghiệp. “Chúng tôi quan tâm tới những người vận hành doanh nghiệp hơn là các ý tưởng khởi nghiệp”, ông nhấn mạnh.  Cuộc tọa đàm “Vai trò của đầu tư mạo hiểm đối với chương trình Thương mại hóa công nghệ Việt Nam – Angel Investor Workshop” có sự tham dự của Thứ trưởng Trần Văn Tùng – Bộ KH&CN, Thứ trưởng Đặng Huy Đông – Bộ KH&ĐT, cùng lãnh đạo nhiều ban, ngành có liên quan tới hoạt động quản lý đầu tư và phát triển thị trường KH&CN. Ông Phạm Hồng Quất, Phó Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) cho biết hiện nay các nhà hoạch định chính sách đang nghiên cứu một khung chính sách phù hợp giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường đầu tư mạo hiểm, trong đó sẽ tìm hiểu, tham khảo những mô hình chính sách thành công quốc tế. Theo chuyên gia Bora Kizil, hiện nay trên thế giới nhiều nước đã có những chính sách khuyến khích hình thức đầu tư angel mà Việt Nam có thể tham khảo, đơn cử như chính sách giảm và miễn thuế cho nhà đầu tư – ví dụ như ở Anh các nhà đầu tư được hoàn thuế tương đương 50% khoản đầu tư angel, và hoàn thuế 100% trong trường hợp khoản đầu tư bị thất bại.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà đầu tư quan tâm giải nhất “Dự án Khởi nghiệp 2016”      Ngay khi sau kết thúc cuộc thi “Dự án Khởi nghiệp 2016”, một nhà đầu tư đã lập tức “đánh tiếng” muốn được rót vốn vào dự án đoạt giải nhất, “Mô hình trồng lúa sạch của nông trại Tâm Việt” của anh Võ Văn Tiếng (Đồng Tháp).      Khu trưng bày sản phẩm Gạo sạch của Võ Văn Tiếng. Nguồn: BSA  Vòng chung kết cuộc thi “Dự án Khởi nghiệp 2016” diễn ra vào ngày 2/10 tại Dinh Thống Nhất, TPHCM, với sự tham gia của 22 nhà khởi nghiệp. Đây đều là những dự án đã xuất sắc vượt qua hai cuộc thi vòng loại và bán kết khu vực vào tháng 9. Trước khi đến với vòng chung kết, ban tổ chức “Dự án khởi nghiệp” đã tạo điều kiện cho các thí sinh hoàn thiện dự án của mình thông qua ba buổi huấn luyện tại Đồng Tháp và TP HCM về phương án tài chính, phương án đưa sản phẩm ra thị trường hiệu quả cũng như những kỹ năng về thuyết trình dự án…, đồng thời giới thiệu những các chuyên gia, nhà đầu tư thiên thần cho các nhà khởi nghiệp hai bên có thể trao đổi thông tin, “chào hàng” dự án, qua đó mở ra những cơ hội hợp tác trong tương lai.  Tại cuộc thi chung kết, dự án “Mô hình trồng lúa sạch của nông trại Tâm Việt” của anh Võ Văn Tiếng nhận được sự chú ý đặc biệt của ban giám khảo không chỉ vì đón đúng xu hướng ưa chuộng sản phẩm hữu cơ của thị trường tiêu dùng mà còn tạo ra một mô hình sản xuất hiệu quả với nhiều công đoạn có thể hỗ trợ, liên kết lẫn nhau, sản phẩm đầu ra của công đoạn này là nguyên liệu sản xuất của công đoạn tiếp theo: nuôi gia súc, gia cầm, đào ao thả cá, nuôi trùn quế, trồng rau màu, trồng lúa…  Nhận xét về dự án của Võ Văn Tiếng, thành viên ban giám khảo cuộc thi, ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty Vinamit, Phó chủ tịch BSA, đã bất ngờ khi cho rằng trong một cuộc thi khởi nghiệp ở Việt Nam lại xuất hiện một dự án nắm bắt trúng xu hướng của nông nghiệp  tiên tiến trên thế giới: “Chúng ta biết rằng xu hướng của thị trường hiện nay chúng ta phải có một nền nông nghiệp hữu cơ, nhưng nhiều người hiểu không đúng và đi sai, và chúng ta phải sửa sai điều này. Tôi không ngờ rằng trong cuộc thi này lại có người trẻ như Tiếng hiểu điều đó và kiểm soát được sự cân bằng này và đang làm rất đúng.”  Những ưu điểm đã được chứng thực của dự án “Mô hình trồng lúa sạch của nông trại Tâm Việt” đã giúp anh Võ Văn Tiếng vượt qua nhiều đối thủ đáng gờm như dự án “Sản xuất và kinh doanh hoa sen sấy khô: Ecolotus” của ThS Ngô Chí Công, “S&E máng ăn cho heo tự động” của Phạm Minh Công, “Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm handmade ứng dụng từ chất liệu vải dệt của làng Dệt choàng Long Khánh” của Huỳnh Ngọc Như, “Mô hình nuôi heo rừng” của Đoàn Phan Dinh… để thuyết phục ban giám khảo trao giải nhất cuộc thi. Không chỉ nhận được 40 triệu đồng giải thưởng, anh Tiếng còn được ông Nguyễn Lâm Viên “đánh tiếng” sẵn sàng rót vốn 100% để có thể hợp tác gắn bó lâu dài trong tương lai thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, đưa sản phẩm từ dự án ra đến thị trường tiêu dùng.  Tuy không đoạt giải nhưng một số dự án khởi nghiệp cũng được doanh nghiệp quan tâm như dự án xây dựng vườn nguyên liệu “Hương Đồng Tháp” của Đoàn Ngọc Minh Thùy được công ty Mỹ thuật Trà Quế trao giải thưởng trị giá 40 triệu đồng…  Bên lề vòng chung kết cuộc thi, ban giám khảo đã lựa chọn một số sản phẩm tiêu biểu tham gia Phiên chợ Xanh – Tử tế 13 tại TPHCM vào ngày 1/10: như tinh dầu chiết xuất từ lá cây rừng của HTX H’Mong Cát Cát, hạt rừng kết xâu của SKC Ninh Thuận, nước thanh long lên men Talo, Long Pepper, gạo Tâm Việt, khăn choàng Long Khánh, trà khổ qua rừng Lộc Thuận…      Kết quả chung kết cuộc thi “Dự án khởi nghiệp lần 2 – năm 2016”: 1 giải nhất: dự án “Mô hình trồng lúa sạch của nông trại Tâm Việt” (Võ Văn Tiếng); 2 giải nhì: dự án “Mô hình nuôi heo rừng” (Đoàn Phan Dinh); Dự án S&E máng ăn cho heo tự động (Phạm Minh Công); 2 giải ba: dự án “Kinh doanh với người giữ rừng” (Trịnh Thị Ngọc Hiện), “Sản xuất và kinh doanh hoa sen sấy khô: Ecolotus” (Ngô Chí Công), 3 giải khuyến khích: dự án sản xuất và chiết xuất dược liệu đa năng tại HTX H’Mông Cát Cát (Má A Nủ), dự án sản xuất các sản phẩm handmade từ vải dệt của làng nghề truyền thống (Huỳnh Ngọc Như, mô hình trồng hoa kim châm kết hợp với trồng dâu nuôi tằm (Đặng Đình Quý).       Author                T. H        
__label__tiasang Nhà đầu tư thiên thần – mắt xích thiết yếu của  thị trường đầu tư mạo hiểm      Các nhà đầu tư thiên thần (ANGEL INVESTOR) đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn và cùng đồng hành hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trước khi chúng đủ trưởng thành để có thể tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên ở Việt Nam hoạt động đầu tư thiên thần còn rất mới mẻ.    Các nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm cùng là những thực thể không thể thiếu, mang lại nguồn vốn đầu tư mạo hiểm rất cần thiết để các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển. Năm 2013, tổng số vốn đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm trên thế giới lên tới 28,8 tỷ USD, nhưng tổng số vốn đầu tư của các nhà đầu tư thiên thần cũng không kém phần ấn tượng, lên tới 24,2 tỷ USD. Hằng năm trên thế giới có hàng nghìn doanh nghiệp được nhận tiền đầu tư từ các nhà đầu tư thiên thần. Nhiều thương hiệu hùng mạnh trên thế giới như Facebook, Google, Apple, Amazon.com, Yahoo!, Starbucks, v.v trong quá khứ khi còn là doanh nghiệp khởi nghiệp đều đã từng đi lên nhờ được các nhà đầu tư thiên thần đầu tư và dìu dắt, nâng đỡ. Đổi lại, không ít nhà đầu tư thiên thần đã thành công, trong đó một số người thành công vượt bậc mà trường hợp điển hình nhất là Ram Shriram, nhà đầu tư thiên thần của Google, người khổng lồ trong lĩnh vực công nghệ tìm kiếm qua internet – ngày nay công ty có giá trị hàng trăm tỷ USD, và khoản vốn góp ban đầu trị giá 200 nghìn USD của Ram đã trở nên có giá 1,8 tỷ USD.   Khác biệt giữa nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm          Nhà đầu tư thiên thần là một hoặc một số cá nhân đầu tư bằng tiền túi của mình vào các doanh nghiệp khởi nghiệp đang ở giai đoạn đầu. Họ là những người có nhiều kinh nghiệm về đầu tư, kinh doanh, có thể tham gia hỗ trợ, hướng dẫn cho doanh nghiệp khởi nghiệp được đầu tư, nhưng không phải là người sáng lập, lãnh đạo, hay nhân viên của các doanh nghiệp này. Các dự án đầu tư thiên thần thường có tính rủi ro cao, đòi hỏi thời gian chờ đợi dài (có thể tới 8 năm), và lợi nhuận chủ yếu chỉ đến sau khi doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, được định giá cao khi bán lại hoặc đưa lên sàn chứng khoán.           Các nhà đầu tư thiên thần chính là bệ phóng đầu tiên của các doanh nghiệp khởi nghiệp trước khi những doanh nghiệp này đủ lông đủ cánh để chuyển sang nhận đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Các quỹ này thường quản lý nguồn vốn tương đối lớn từ nhiều nhà đầu tư khác nhau để đầu tư vào những doanh nghiệp khởi nghiệp đã đủ trưởng thành để chinh phục thị trường, trong khi nhà đầu tư thiên thần là những người tự bỏ tiền túi của mình đi đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp còn đang ở giai đoạn trứng nước ban đầu. Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường kiếm tiền bằng cách thu phí quản lý và phần trăm lợi nhuận đầu tư, họ thường chỉ tìm cách tối đa hóa lợi nhuận từ khoản đầu tư trong khoảng thời gian 5 – 10 năm trước khi thoái vốn khỏi doanh nghiệp được đầu tư. Nhưng với các nhà đầu tư thiên thần thì nguồn thu duy nhất là lợi nhuận từ khoản đầu tư, vì vậy phải kiên trì chờ đợi cho đến khi doanh nghiệp mà họ đầu tư trưởng thành và bán được giá.  Theo chuyên gia Bora Kizil1#, hầu hết nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp còn đang ở giai đoạn hạt giống (seed) đến từ các nhà đầu tư thiên thần thay vì từ các quỹ đầu tư mạo hiểm – năm 2013 tổng lượng tiền đầu tư từ các nhà đầu tư thiên thần cho các doanh nghiệp hạt giống là 8,1 tỷ USD, trong khi các quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ đầu tư khoảng 740 triệu USD cho đối tượng doanh nghiệp này. Về cơ bản, các nhà đầu tư thiên thần thường nhắm tới các doanh nghiệp khởi nghiệp có giá trị từ 100 nghìn USD tới 2 triệu USD, trong khi các doanh nghiệp có giá trị trên 2 triệu USD mới là đối tượng để các quỹ đầu tư mạo hiểm ngắm nghía.  Khác biệt cơ bản nữa là các quỹ đầu tư mạo hiểm thường chỉ tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động trong một vài ngành nghề mà họ quen thuộc và am hiểu – ví dụ quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Vietnam ở Việt Nam thường chỉ tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp CNTT, ít quan tâm tới các đối tượng doanh nghiệp công nghệ khác – trong khi các nhà đầu tư thiên thần có thể lựa chọn ngành nghề doanh nghiệp được đầu tư một cách linh hoạt, không nhất thiết chỉ đầu tư vào lĩnh vực họ am hiểu chuyên môn.   Ai có thể là nhà đầu tư thiên thần?   Bất kỳ cá nhân nào bỏ tiền túi đầu tư vào một doanh nghiệp khởi nghiệp cũng có thể coi là một nhà đầu tư thiên thần, nhưng nhìn chung đó thường là những người có học vấn, kinh nghiệm về đầu tư – kinh doanh, và có một nguồn thu nhập và tài sản nhất định để có thể trích một khoản tiền dành cho hoạt động đầu tư thiên thần – ví dụ ở Mỹ, các nhà đầu tư thiên thần thông thường có học vị thạc sỹ, tuổi đời trung bình là 56, với ít nhất 8 năm kinh nghiệm về đầu tư, và 14 năm kinh nghiệm làm kinh doanh.           Mục tiêu để các nhà đầu tư thiên thần hướng tới là những doanh nghiệp mà giá trị sẽ tăng gấp 30 lần trong vòng 8 năm.        Với bề dày kinh nghiệm về hoạt động đầu tư và kinh doanh như vậy, các nhà đầu tư thiên thần không chỉ đóng vai trò là cổ đông, mà có thể đồng thời đóng vai trò người hướng dẫn, huấn luyện cho doanh nghiệp khởi nghiệp, giúp họ tháo gỡ những vướng mắc, hoặc góp ý giúp doanh nghiệp phát triển theo đúng định hướng hơn. Thường thì các nhà đầu tư thiên thần chuyên nghiệp sẽ đầu tư đồng thời vào vài doanh nghiệp khởi nghiệp và kiên trì cùng đồng hành với các doanh nghiệp này – thời gian chờ đợi có thể lên tới 7-8 năm, trên chặng đường khó khăn này không ít doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại, làm tiêu tán theo số vốn của nhà đầu tư – với hi vọng một trong số các doanh nghiệp khởi nghiệp được đầu tư sau này sẽ thành công, có thể bán lại cho các nhà đầu tư khác hoặc được đưa lên sàn chứng khoán với giá cao.   Do tính rủi ro của hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp và đặc thù tự bỏ tiền túi ra đầu tư nên các nhà đầu tư thiên thần không thể đầu tư quá lớn (ở Mỹ trung bình mỗi nhà đầu tư thiên thần chỉ dành dưới 10% tài sản của mình, mặc dù họ thường đầu tư vào hàng chục doanh nghiệp khởi nghiệp cùng một lúc), và chỉ nhắm tới những doanh nghiệp mà họ đánh giá có tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Theo chuyên gia Bora Kizil, tỉ suất thu nhập nội bộ (IRR) được các nhà đầu tư thiên thần kỳ vọng trung bình tối thiểu phải đạt 25%. Nói theo cách khác, mục tiêu để các nhà đầu tư thiên thần hướng tới là những doanh nghiệp mà giá trị sẽ tăng gấp 30 lần trong vòng 8 năm.       Lợi thế của nhóm đầu tư thiên thần  Việc tham gia hình thành các nhóm đầu tư mang lại nhiều lợi ích lớn cho nhà đầu tư thiên thần hơn là tiến hành đầu tư một cách riêng lẻ, không chỉ giúp các nhà đầu tư tập trung được nguồn vốn lớn hơn cho các giao dịch mà còn giúp họ san sẻ chi phí, tiết kiệm thời gian và các nguồn lực, ví dụ khi cần thẩm tra, kiểm toán một doanh nghiệp nào đó thì nhiều người cùng làm sẽ nhanh chóng, khách quan,  hơn so với một người.  Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất của việc cộng tác giữa các thành viên trong nhóm đầu tư thiên thần là ở sự tổng hợp trí tuệ, kinh nghiệm, và chuyên môn phong phú của các cá nhân, đặc biệt là nguồn thông tin về các mối đầu tư mà họ chia sẻ, giới thiệu cho nhau. Với các nhà đầu tư, nguồn thông tin có giá trị nhất về các doanh nghiệp khởi nghiệp không đến từ các nhà tư vấn, các vườn ươm tạo, hay các trang web, mà chính là từ những cuộc trao đổi, trò chuyện giữa các nhà đầu tư với nhau.      Doanh nghiệp khởi nghiệp như thế nào sẽ lọt mắt xanh nhà đầu tư?  Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định thành công của một doanh nghiệp khởi nghiệp, như lời nhận xét của ông Nguyễn Hồng Trường, Phó Chủ tịch IDG Ventures Vietnam: “Chúng tôi quan tâm đến tố chất của các doanh nhân hơn là những ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp của họ”. Các nhà đầu tư mạo hiểm (các nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm) thường đặc biệt coi trọng những doanh nhân có kinh nghiệm khởi nghiệp trong quá khứ, có tầm nhìn chiến lược, luôn quyết tâm và tận tụy theo đuổi mục tiêu, say mê bám đuổi các cơ hội nhưng không xa rời thực tế, có khả năng lãnh đạo và ảnh hưởng tích cực tới những người xung quanh, biết tự lập và luôn đòi hỏi cao về chất lượng, tính hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp, và nhạy bén để thích nghi linh hoạt với những rủi ro, biến động.           Đối tượng nhà đầu tư thay đổi khi nhu cầu phát triển và giá trị doanh nghiệp khởi nghiệp gia tăng : những doanh nghiệp khởi nghiệp có nhu cầu vốn dưới 100 nghìn USD có thể tự huy động từ bản thân, gia đình, bạn bè, nhưng khi cần từ 100 nghìn USD tới 2 triệu USD họ có thể tìm kiếm các nhà đầu tư thiên thần, và khi cần trên 2 triệu USD họ nên tìm các quỹ đầu tư mạo hiểm.         Yếu tố thứ hai được các nhà đầu tư quan tâm là khả năng tăng trưởng của thị trường và áp lực cạnh tranh. Các yếu tố công nghệ và ý tưởng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp cũng được chú trọng nhưng chủ yếu vẫn được nhìn nhận dưới góc độ khả năng chinh phục thị trường và tiềm năng sinh lợi. Vì vậy, nhà đầu tư không chỉ nhìn vào mức độ độc đáo và ưu điểm vượt trội của sản phẩm, mà còn phải xem xét tính hợp lý của thời điểm đưa sản phẩm ra thị trường, phán đoán về mức độ ổn định của nhu cầu khách hàng. Ngoài ra các nhà đầu tư cũng thường để ý xem xét bộ máy tổ chức của doanh nghiệp, các vấn đề tài chính (nợ, dòng tiền), và cơ sở khách hàng hiện tại (mặc dù không bắt buộc nhất thiết doanh nghiệp khởi nghiệp phải có khách hàng).  Dưới con mắt thẩm định của nhà đầu tư, điều tối kỵ ở các doanh nghiệp khởi nghiệp là: người lãnh đạo doanh nghiệp không hiểu thấu đáo về sản phẩm, dịch vụ của mình; không đánh giá hợp lý khả năng thương mại hóa trên thị trường, đưa ra những dự đoán thị phần thiếu thực tế; lập ra mô hình kinh doanh không khả thi, đưa vào kế hoạch dự kiến những nguồn thu tăng trưởng vượt bậc mà không có đủ căn cứ chứng minh thuyết phục; dự định sử dụng nguồn vốn của nhà đầu tư vào việc trả các khoản nợ thay vì dành cho đầu tư phát triển để đem lại lợi nhuận và sự tăng trưởng cho doanh nghiệp; đồng thời, các nhà đầu tư sẽ không tin tưởng ở những doanh nghiệp cho rằng mình sẽ không có đối thủ cạnh tranh, vì dưới con mắt của nhà đầu tư mọi sản phẩm, dịch vụ đều tiềm ẩn khả năng bị cạnh tranh, vấn đề là người lãnh đạo doanh nghiệp có nhận diện đầy đủ về đối thủ của mình hay không.       Thị trường đầu tư mạo hiểm Việt Nam: chợ đã họp nhưng chưa sôi động  Theo đánh giá của các chuyên gia, đã có nhiều nhà đầu tư mạo hiểm trong nước và quốc tế thường xuyên tìm hiểu cơ hội hợp tác làm ăn với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam, nhưng số lượng giao dịch đạt được vẫn hạn chế, do số lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp còn chưa nhiều. Việt Nam đã có một số vườn ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp, nhưng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp được ươm tạo thực sự có tiềm năng còn khá ít ỏi. Ông Nguyễn Hồng Trường cho biết, quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Vietnam chủ yếu phải dựa vào các kênh thông tin cá nhân để tìm kiếm các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng, thay vì từ các vườn ươm tạo.            Nhược điểm cơ bản của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam là thiếu kinh nghiệm và những kỹ năng cơ bản để chuyển hóa một cách hiệu quả các ý tưởng đổi mới sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường.        Ngoài vấn đề số lượng ít ỏi, chất lượng các dự án đầu tư khởi nghiệp cũng chưa cao, đòi hỏi vòng đầu tư dài hơi. Theo ông Nguyễn Lân Trung Anh của IDG Ventures Vietnam, thời gian trung bình để doanh nghiệp khởi nghiệp đạt được thành công ở Việt Nam là 6,6 năm, trong khi ở Mỹ trung bình các doanh nghiệp chỉ cần 3-4 năm. Nguyên nhân của tình trạng này là các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam thường trong tình trạng cô lập, thiếu đối thủ lành mạnh, do đó thiếu chất xúc tác để có thể khai phá thị trường và phát triển mạnh mẽ, ông lý giải.   Tuy nhiên, theo nhận định của TS. Trần Quang Vinh, Giám đốc điều hành Quỹ Pinehill kiêm cố vấn cho Chính phủ Mỹ về đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, nhược điểm cơ bản của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam là thiếu kinh nghiệm và những kỹ năng cơ bản để chuyển hóa một cách hiệu quả các ý tưởng đổi mới sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường. Ở các nước phát triển, các doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm hơn về đầu tư, nên vòng đầu tư – từ ý tưởng đến khởi nghiệp, gọi vốn đầu tư mạo hiểm, rồi chuyển sang các giai đoạn tiếp theo trong đầu tư mạo hiểm trước khi làm IPO – có thể được tăng tốc rút ngắn. Còn ở Việt Nam, các doanh nghiệp khởi nghiệp cần có thêm những bước đệm để được huấn luyện, bồi dưỡng kinh nghiệm và các kỹ năng tối thiểu về kinh doanh, quản trị, tiếp thị, v.v.  Do những hạn chế trên đây nên các doanh nhân khởi nghiệp Việt Nam đạt được thành công lần đầu ở tuổi đời khá muộn, trung bình là 28,5 tuổi (tuổi đời trung bình của doanh nhân khởi nghiệp thành công lần đầu ở Mỹ là 23), ông Nguyễn Lân Trung Anh cho biết. Những trường hợp thành công ở lứa tuổi 20-22 như Nguyễn Xuân Tài (Naiscorp) hay Nguyễn Hòa Bình (PeaceSoft) là vô cùng hiếm hoi.   Chính sách khuyến khích đầu tư thiên thần  Để có thêm nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đủ độ chín được các quỹ đầu tư mạo hiểm cân nhắc đầu tư, rõ ràng Việt Nam cần có thêm nhiều tổ chức ươm tạo doanh nghiệp và các nhà đầu tư thiên thần, là những đối tượng có khả năng huấn luyện, cung cấp kinh nghiệm, hoặc hỗ trợ về tài chính cho những doanh nghiệp khởi nghiệp mới đang trong giai đoạn hạt giống. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ mới có một số vườn ươm doanh nghiệp, còn mô hình nhà đầu tư thiên thần thì vẫn còn khá mới mẻ – tại cuộc tọa đàm “Vai trò của đầu tư mạo hiểm đối với chương trình Thương mại hóa công nghệ Việt Nam – Angel Investor Workshop” được tổ chức vừa qua tại Hà Nội có sự tham gia của hàng trăm người, trong đó không ít người làm việc trong lĩnh vực liên quan đầu tư mạo hiểm, khi được hỏi nhà đầu tư nào đã từng hoặc đang là một nhà đầu tư thiên thần, cả hội trường chỉ có một vài cánh tay giơ lên.          Dù còn nhiều mặt hạn chế, thị trường đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam đang dần hình thành và bắt nhịp với xu hướng chung của thế giới, thể hiện qua thành công của một số nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, điển hình như các doanh nghiệp VNG (Vinagame), Vatgia, VMG Media, v.v được định giá vài chục, thậm chí hàng trăm triệu USD.               Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp mang lại thành công cho nhà đầu tư mạo hiểm chủ yếu vẫn liên quan tới CNTT, do đặc thù số vốn bỏ ra ban đầu không cần nhiều trong khi tiềm năng gia tăng giá trị doanh nghiệp trong tương lai nếu thành công là rất cao. Còn với những doanh nghiệp khởi nghiệp thuộc các ngành công nghệ quan trọng khác, ví dụ như công nghệ sinh học hay dược liệu, việc thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư mạo hiểm là một thách thức không nhỏ, do số vốn phải đầu tư ban đầu tương đối cao (để mua sắm nhà xưởng, phòng thí nghiệm, thiết bị, v.v.), và tiềm năng lợi nhuận không đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư.          Sự thiếu vắng các nhà đầu tư thiên thần trên thị trường đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam khiến các doanh nghiệp khởi nghiệp của chúng ta bị thiệt thòi đáng kể, do các quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ nhắm tới những doanh nghiệp đã phát triển tới một độ chín nhất định, còn các doanh nghiệp khởi nghiệp mới trong giai đoạn trứng nước ban đầu sẽ phải tự lực cánh sinh. Các vườn ươm và hiệp hội cũng chỉ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong một chừng mực nhất định, vì họ không phải là những nhà đầu tư trực tiếp góp vốn vào doanh nghiệp để có thể tham gia sâu sát kề vai sát cánh với doanh nghiệp trên một chặng đường dài.  Để thúc đẩy sự phát triển của thị trường đầu tư mạo hiểm trong nước, hiện nay Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN của Bộ KH&CN đang tìm hiểu nghiên cứu nhằm điều chỉnh, bổ sung những chính sách thích hợp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và sự phát triển của thị trường đầu tư mạo hiểm– một trong những giải pháp quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách cần sớm đề xuất, xây dựng là những cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các nhà đầu tư thiên thần, trong đó rất nên tham khảo, học tập những kinh nghiệm quốc tế thành công. Theo chuyên gia Bora Kizil, Việt Nam có thể tham khảo chính sách giảm và miễn thuế cho nhà đầu tư ở một số nước châu Âu, ví dụ như chính sách ở Anh cho phép các nhà đầu tư được hoàn thuế tương đương 30-50% khoản đầu tư thiên thần, và hoàn thuế 100% trong trường hợp khoản đầu tư bị thất bại. Đây là chính sách có tính hấp dẫn đáng kể đối với các nhà đầu tư, nếu được triển khai áp dụng tại Việt Nam, chắc chắn sẽ giúp tăng cường nguồn đầu tư của xã hội cho KH&CN.   Các số liệu trong bài viết được tổng hợp từ báo cáo của chuyên gia Bora Kizil tại tọa đàm “Vai trò của đầu tư mạo hiểm đối với chương trình Thương mại hóa công nghệ Việt Nam – Angel Investor Workshop”, tổ chức tại trụ sở Bộ KH&CN ở Hà Nội ngày 22/3/2014.  —    1 Bora Kizil là một chuyên gia giàu kinh nghiệm về hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp trong các vai trò là doanh nhân, nhà đầu tư, và người huấn luyện, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và tiếp thị điện tử; hiện là người điều hành trang NazilliSepeti.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà đồng sáng lập Microsoft tài trợ 125 triệu USD cho viện nghiên cứu về hệ thống miễn dịch      Trước khi qua đời vào tháng 10/2018 vừa qua do biến chứng của bệnh ung thư hạch phi Hodgkin Paul Allen – nhà đồng sáng lập Microsoft, đã đầu tư 125 triệu USD để thành lập viện nghiên cứu về miễn dịch học, tập trung vào nghiên cứu để làm rõ hơn về hệ miễn dịch và tìm hiểu lý do tại sao nó lại bị rối loạn trong các bệnh tự miễn dịch và ung thư.      Paul Allen nhà đồng sáng lập Microsoft. Nguồn: Science.  Ra mắt tại một buổi họp báo ngày 12/12/2018, Viện Miễn dịch học Allen cho biết dự kiến sẽ tuyển dụng 70 nhà nghiên cứu để làm việc tại thành phố Seattle, Washington – nơi cũng tập trung các đơn vị trực thuộc Viện Allen về não bộ và sinh học tế bào. Viện nghiên cứu miễn dịch mới sẽ khác với các đơn vị còn lại trong Viện Allen ở chỗ “chúng tôi sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về các cơ chế gây bệnh và các cơ hội lan truyền bệnh”, Giám đốc điều hành Thomas Bumol, cựu phó chủ tịch của Phòng thí nghiệm Lilly, cho biết. Ngoài khoản tài trợ 125 triệu USD, đơn vị thành viên mới này sẽ còn nhận được những khoản khác từ tài sản của Allen.  Với sự bùng nổ các liệu pháp miễn dịch gần đây như chất ức chế điểm kiểm soát trong điều trị ung thư, có vẻ như các nhà khoa học đã hiểu rõ về hệ miễn dịch. Nhưng các loại thuốc này chưa phải là hoàn hảo, Bumol cho biết: “Mặc dù thành công này có ý nghĩa rất lớn, nhưng chúng ta vẫn phải nhớ rằng đa số các nghiên cứu về thuốc đều là thất bại” do “sự thiếu hiểu biết của chúng ta về sự phức tạp của hệ miễn dịch”.  Để thay đổi tình hình này, “chúng tôi muốn nghiên cứu chi tiết về hệ thống miễn dịch theo thời gian”, Bumol cho biết. Các nhà nghiên cứu sẽ theo dõi chức năng của hệ miễn dịch của ba nhóm người trong khoảng thời gian 5 năm. Nhóm đầu tiên gồm những đứa trẻ 4 tuổi, mới được tiêm vaccine và có hệ miễn dịch có thể bị những mầm bệnh từ trường học tấn công. Hai nhóm còn lại là những người trưởng thành khỏe mạnh ở độ tuổi 20-30 và người cao tuổi từ 55-65 tuổi. Các nhà khoa học sẽ sử dụng các kỹ thuật mới như phương pháp khối phổ xác định chức năng của tế bào (mass cytometry), sẽ mang lại nhiều thông tin chi tiết hơn về đặc điểm và hoạt động của tế bào so với các phương pháp cũ, từ đó xác định một cơ sở cho hệ thống miễn dịch.  Bằng việc so sánh các nhóm này, các nhà khoa học sẽ nghiên cứu sự khác biệt về hệ miễn dịch của người mắc bệnh đa u tủy xương hoặc ung thư hắc tố với những người mắc các bệnh tự miễn như thấp khớp, viêm loét đại tràng và bệnh viêm ruột Crohn. Bumol cho biết. Các nhà nghiên cứu sẽ tìm hiểu nguyên nhân, quá trình dẫn tới nguy cơ mắc bệnh thấp khớp. Ở viện nghiên cứu mới, các nhà miễn dịch học có cơ hội được tiếp cận với các dữ liệu lâm sàng thông qua quan hệ hợp tác với một số trung tâm y tế.   Trong ban lãnh đạo của viện nghiên cứu mới, một số người đã từng hoạt động trong các doanh nghiệp, am hiểu về nghiên cứu triển khai thuốc, cũng như có mối quan hệ hợp tác với nhiều nhà nghiên cứu lâm sàng. Nhờ vậy, viện nghiên cứu mới có khả năng tạo ra nhiều khám phá – làm cơ sở cho những phương pháp điều trị mới, Eric Skaar, nhà sinh học về nhiễm trùng, người đứng đầu Viện Nhiễm trùng, Miễn dịch và Viêm nhiễm Vanderbilt ở Nashville, Mỹ, cho biết. Khoản đầu tư 125 triệu USD sẽ mang lại lợi ích bởi “khoản đầu tư lớn [như vậy] tương xứng với ý nghĩa, mục tiêu đặt ra”. Holden Maeker, nhà miễn dịch học tế bào ở Đại học Stanford ở Palo Alto, California, Mỹ, cũng cho rằng dự án “được chuẩn bị tốt để thành công”.  Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng cách tiếp cận của viện nghiên cứu mới không mang tính đột phá – hiện cũng có các dự án hoặc các nhà nghiên cứu khác đang sử dụng dữ liệu lớn để khám phá hệ miễn dịch của con người, Clark Kronenberg, nhà miễn dịch học, chủ tịch và giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu miễn dịch La Jolla ở San Diego, California, cho biết. ¨  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2018/12/125-million-gift-microsoft-co-founder-launches-new-institute-probe-immune-system    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học cung cấp chứng cứ về việc khẩu trang có thể ngăn giọt bắn      Là một trong những người đầu tiên nhận định khẩu trang là phương tiện hạn chế lây lan của coronavirus, nhà vật lý Eric Westman trường đại học Duke đã hợp tác với một tổ chức NGO địa phương để cung cấp khấu trang miễn phí cho những người dễ có nguy cơ rủi ro và không được bảo vệ trong cộng đồng Durham.      Khẩu trang được trang bị cho thành viên Khoa Y sinh trường đại học Duke.   Tuy vậy ông cần hiểu rõ tại sao các nhà cung cấp khẩu trang, vốn tuyên bố khẩu trang có khả năng ngăn chặn virus, nói đúng hay không, qua đó đảm bảo là ông không cung cấp các khẩu trang không có khả năng ngăn chặn sự lan truyền của virus. Vì vậy ông hỏi các đồng nghiệp trong khoa Vật lý trường Duke: ai có thể kiểm nghiệm với ông hiệu quả của một số loại khẩu trang khác nhau không?  Tiến sĩ Martin Fischer, một nhà vật lý và hóa học, nhận lời. Là giám đốc Cơ sở Hình ảnh ánh sáng và quang phổ học tiên tiến, anh thường tập trung  vào khám phá các cơ chế tương phản quang học mới  cho hình ảnh phân tử nhưng với nhiệm vụ này, những công cụ giá thành rẻ từ phòng thí nghiệm có thể dễ dàng hỗ trợ họ: việc thiết lập thí nghiệm gồm một cái hộp, tia laser, những thấu kính và một camera điện thoại.  Trong một nghiên cứu theo dạng chứng minh khái niệm xuất bản vào ngày 7/8/2020 trê Science Advances mang tên “Low-cost measurement of facemask efficacy for filtering expelled droplets during speech”,  Fischer, Westman và đồng nghiệp cho biết kỹ thuật đơn giản và giá thành thấp này có thể đem lại minh chứng cho thấy khẩu trang hiệu quả trong việc giảm thiểu giọt bắn so với bình thường.  “Chúng tôi xác nhận khi mọi người nói, những giọt nhỏ đã bị bắn ra, vì vậy mầm bệnh có thể lan truyền qua đường nói mà không cần ho hoặc hắt hơi”, Fischer nói. “Chúng tôi có thể thấy một số khẩu trang bảo hộ tốt hơn những cái khác trong việc ngăn các hạt bắn li ti”.  Đáng chú ý nhất là các nhà nghiên cứu cho thấy, khẩu trang tốt nhất là N95 không van – loại được các nhân viên y tế ở tuyến đầu các bệnh viện dùng. Loại khẩu trang phẫu thuật hoặc bằng polypropylene cũng có hiệu quả tốt trong ngăn chặn việc truyền virus.    Việc thiết lập thí nghiệm được thực hiện với các công cụ đơn giản.  Nhưng loại khẩu trang bằng vải cotton tự làm cũng có khả năng che phủ tốt, loại được một lượng lớn đáng kể việc bắn giọt trong quá trình trao đổi thông thường.  Nói cách khác, các loại khăn mùi soa hay mũ balaclava không ngăn được hết các giọt bắn.  “Đây chỉ là một dạng chứng minh thôi – còn phải làm nhiều việc hơn để tìm hiểu về những loại khẩu trang khác nhau và cách mọi người đeo chúng như thế nào – nhưng việc chứng minh cho dạng thử nghiệm này phải được thực hiện với sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức khác, vốn đang  cung cấp khẩu trang cho nhân viên của họ”, Fischer nói.  “Đeo khẩu tranh là cách làm đơn giản và dễ thực hiện để giảm thiểu nguy cơ lan truyền COVID-19”, Westman nói. “Một nửa các ca nhiễm là từ những người không mắc triệu chứng và thường không biết là mình nhiễm bệnh. Họ có thể không làm lây lan virus một cách rõ rệt khi ho, hắt hơi hay thậm chí là trò chuyện.  “Nếu ai cũng đeo khẩu trang, chúng ta có thể làm hạn chế tới 99% giọt bắn trước khi chúng chạm đến ai đó”, Westman nói. “Trong khi chưa có một loại vaccine hay thuốc đặc trị, đây là một cách bảo vệ người khác tốt như bảo vệ chính mình”.  Westman và Fischer cho biết điều quan trọng là các doanh nghiệp cung cấp khẩu trang cho cộng đồng và người làm với những thông tin tốt về sản phẩm mà họ đang cung cấp để đảm bảo khả năng bảo vệ tốt nhất có thể.  “Chúng tôi muốn phát triển một phương pháp đơn giản, giá thành thấp để chúng tôi có thể chia sẻ với cộng đồng và khuyến khích việc thử nghiệm các loại vật liệu, các kiểu khẩu trang và những điều chỉnh”, Fischer nói. “Các phần của những công cụ thí nghiệm đều sẵn sàng và dễ dàng tập hợp, và chúng tôi chứng tỏ là chúng có thể đem lại thông tin hữu ích về tính hiệu quả của khẩu trang”.  Westman cho biết, ông mở thông tin này để cho mọi người có thể sử dụng “chúng tôi đang cố gắng đem lại một quyết định về kiểu khẩu trang và thông tin về những vật liệu mới đã được sử dụng”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-inexpensive-accessible-device-visual-proof.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học di cư được trích dẫn nhiều nhất      Một bài phân tích công bố trên Nature gần đây cho thấy, tính trung bình, những nhà nghiên cứu “dịch chuyển” nhiều được trích dẫn nhiều hơn 40% so với những đồng nghiệp không dịch chuyển.    Phân tích dữ liệu từ 14 triệu bài báo khoa học được công bố trong giai đoạn từ 2008 đến 2015 của 16 triệu tác giả, nhóm nghiên cứu phát hiện thấy 4% trong số đó (khoảng 595.000 tác giả) là những người “cơ động”, có hợp tác với các cơ sở nghiên cứu ở nhiều hơn một quốc gia. Khoảng 73% trong số họ, được nhóm nghiên cứu gọi là “người hay đi”, vẫn giữ chân trong cơ sở nghiên cứu ở trong nước; 27% còn lại được nhóm nghiên cứu gọi là “người di cư”, không còn gắn với cơ sở nghiên cứu ở quê hương nữa.  Những học giả di cư được trích dẫn nhiều nhất, nghiên cứu chỉ ra, kể cả khi tính đến yếu tố năng suất, hay lượng công bố của mỗi nhà nghiên cứu. Còn nhìn chung, tỷ lệ các học giả “dịch chuyển” nhiều được trích dẫn nhiều hơn so với các đồng nghiệp không dịch chuyển, nhưng mức độ khác nhau thế nào tùy thuộc vào khu vực địa lý nơi họ “xuất phát”. Cụ thể, các học giả Đông Âu có tỷ lệ trích dẫn của tăng tới 173% khi họ “dịch chuyển”, trong khi các đồng nghiệp Bắc Mỹ chỉ vào khoảng 11%.  Kết quả trên không đồng nghĩa với việc các nhà khoa học luôn được trích dẫn nhiều hơn nếu họ “dịch chuyển”, mà đúng hơn sự “dịch chuyển” góp phần làm tăng cơ hội được trích dẫn cho những người vốn đã sẵn có thành tích về trích dẫn hoặc có tiềm năng được trích dẫn trong tương lai.  Nghiên cứu “được thực hiện rất xuất sắc”, Henk Moed – người trước đây từng nghiên cứu về các phương pháp đánh giá trong khoa học tại ĐH Leiden (Hà Lan) và đã có báo cáo toàn diện về tình hình di cư trong khoa học, nhận xét. Tuy nhiên, GS Cassidy Sugimoto thuộc ĐH Indiana – tác giả chính của nghiên cứu, thừa nhận: một trong những hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ xem xét sự dịch chuyển của nhà khoa học từ nước này sang nước khác mà chưa tính đến sự dịch chuyển ở trong nước. Ngoài ra, 7 năm là khoảng thời gian ngắn để có thể nắm bắt được gì nhiều về sự dịch chuyển, bà nhấn mạnh.  Giới hoạch định chính sách nhập cư có thể tham khảo nghiên cứu này. Chẳng hạn, mặc dù những chính sách chống nhập cư như lệnh đình chỉ nhập cảnh đối với công dân những nước thiên về Hồi giáo nhằm vào những người muốn đi hẳn đến một nước khác nhưng chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều đến những học giả cần được cấp visa ngắn hạn, Sugitomo lưu ý. Cản trở những chuyến đi ngắn hạn đó có thể ảnh hưởng đến việc hợp tác trong khoa học, bởi vậy “tính đến những chuyến lưu trú ngắn hạn khi hoạch định chính sách [nhập cư] thật sự là quan trọng,” theo GS Sumitomo.  Những thông điệp rút ra được từ nghiên cứu là: “Khoa học là một hoạt động mang tính toàn cầu,” và khi nhà khoa học dịch chuyển, họ làm việc tốt hơn”.  Hải Đăng dịch  Nguồn:  http://www.sciencemag.org/news/2017/10/migrating-researchers-are-cited-most-study-finds    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học giúp bảo quản hoa quả tươi đến tám tuần      Màng bao gói khí quyển biến đổi (MAP) của TS  Đinh Gia Thành (Viện Hóa học – Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam) giúp bảo quản  hoa quả tươi sau thu hoạch từ bốn đến tám tuần mà không làm thay đổi  đáng kể chỉ tiêu chất lượng, cảm quan, đồng thời không ảnh hưởng đến sức  khỏe người sử dụng.    Công trình Công nghệ chế tạo màng bao gói khí quyển biến đổi (MAP) của TS Đinh Gia Thành là một trong những thành quả của đề tài “Nghiên cứu chế tạo vật liệu sử dụng trong lĩnh vực bảo quản quả (vải, nhãn mận)” thuộc chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà nước KC02.20/06-10 do chính ông làm chủ nhiệm đề tài.   Màng MAP được biến đổi từ nhựa polyetylen tỷ trọng thấp (LDPE) kết hợp với một số chất phụ gia vô cơ như silica, zeolit, bentonit. Kết quả nghiên cứu bảo quản thử nghiệm với ba loại quả (vải, nhãn, mận) ở nhiệt độ từ 2 đến 4 độ C cho thấy, có thể bảo quản từ bốn đến tám tuần lễ mà không làm thay đổi đáng kể chỉ tiêu chất lượng, cảm quan. Màng MAP cũng được ghi nhận không ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng.  Công trình Màng MAP đã tham gia và được đánh giá cao tại Chương trình Sáng tạo Việt 2013, cùng với một giải pháp công nghệ bảo quản trái cây, nông sản khác của TS Nguyễn Duy Lâm và Phạm Cao Thăng (Viện Cơ điện và công nghệ sau thu hoạch).  Trong công trình Màng bảo quản sau thu hoạch của TS Nguyễn Duy Lâm và Phạm Cao Thăng, một chế phẩm sinh học được pha chế từ nhiều nguyên liệu khác nhau gồm nhựa cây, lipid, protein và nhiều polymer tổng hợp khác, tạo màng dưới dạng nhũ tương được phun xịt lên bề mặt nông sản, khi dịch lỏng khô đi tạo thành lớp màng trong suốt. Lớp màng này sẽ làm giảm khả năng trao đổi khí, giảm tổn thất khối lượng và biến dạng hình thức do mất nước, giảm tổn thương cơ học khi vận chuyển. Chế phẩm đã được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng.  Cả hai giải pháp công nghệ bảo quản hoa quả sau thu hoạch này đã mở ra một những cách làm hiệu quả và an toàn trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học phát hiện cấu trúc một protein quan trọng của coronavirus      Các nhà hóa học MIT đã xác định được cấu trúc phân tử của một protein tìm thấy trên virus SARS-CoV-2. Protein này vẫn được gọi là protein vỏ E, hình thành một kênh cation có chọn lọc và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng tự sao chép của virus và mô phỏng đáp ứng với tổn thương của tế bào vật chủ.      Nếu các nhà nghiên cứu có thể tìm ra những cách cô lập kênh này, họ có khả năng làm giảm khả năng gây bệnh của virus này và góp phần vô hiệu hóa sự sao chép của virus, Mei Hong, giáo sư hóa học ở MIT, nói. Trong nghiên cứu này, họ đã tìm hiểu các vị trí  liên kết của hai loại thuốc ngăn chặn kênh cation nhưng sự liên kết của thuốc vẫn còn khá yếu ớt, vì thế chúng vẫn chưa phát huy được hiệu quả ngăn chặn protein E.  “Phát hiện của chúng tôi có thể hữu dụng cho  các nhà hóa được để thiết kế những phân tử nhỏ luân phiên hướng đích đến kênh này với ái lực cao”, Hong – tác giả chính của nghiên cứu mới này, cho biết.  Công bố mới được xuất bản trên Nature Structural and Molecular Biology với tiêu đề “Structure and drug binding of the SARS-CoV-2 envelope protein transmembrane domain in lipid bilayers”.  Những thách thức về cấu trúc  Phòng thí nghiệm của Hong chuyên về nghiên cứu các cấu trúc của protein tham gia vào hình thành các lớp màng tế bào, vốn đem lại thách thức trong phân tích bởi sự rối loạn của màng lipid. Sử dụng quang phổ học cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), bà đã từng phát triển rất nhiều kỹ thuật cho phép bà thu được một cách chính xác thông tin cấu trúc ở mức độ nguyên tử về các protein liên quan đến màng tế bào.  Khi dịch SARS-CoV-2 bùng phát vào đầu năm nay, Hong và học trò quyết định tập trung vào một trong những protein của coronavirus. Bà đã xem xét tỉ mỉ protein E bởi vì nó tương tự như một protein cúm tên là kênh proton M2 mà trước đây bà đã nghiên cứu. Cả hai protein của virus này đều được làm từ các bó protein xoắn.    Mei Hong, giáo sư hóa học ở MIT.  “Chúng tôi đã xác định được cấu trúc B M2 của virus cúm sau khoảng năm rưỡi làm việc cật lực. Nó giúp chúng tôi hiểu về sao chép, biểu hiện và tinh sạch của một protein màng tế bào từ các mảnh vậtliệu và những gì mà một chiến lược thực nghiệm NMR cần làm để tìm hiểu được cấu trúc của một bó xoắn homo-oligomeric”, Hong nói. “Trải nghiệm đó đã giúp chúng tôi có được một nền tảng hiểu biết hoàn hảo để mghieen cứu về protein E của SARS-CoV-2”.  Các nhà nghiên cứu đã có thể sao chép và làm tinh sạch protein E trong vòng hai tháng rưỡi. Để xác định cấu trúc của nó, họ đã đưa nó vào trong một lớp kép lipid, tương tự như màng tế bào và sau đó phân tích bằng NMR, thiết bị sử dụng các tính năng từ của hạt nhân nguyên tử để phát hiện các cấu trúc của những phân tử chứa các hạt nhân đó. Họ đã đo đạc phổ của NMR trong vòng hai tháng liên tục với thiết bị NMR từ trường cao của MIT, một quang phổ kế 900 megahertz và các quang phổ kế 800 và 600 megahertz khác.  Hong và cộng sự đã tìm thấy phần của protein E tham gia vào việc hình thành lớp lipid kép, được biết đến như lĩnh giới xuyên màng, tập hợp thành một bó gồm năm vòng xoắn. Các xoắn còn lại chủ yếu bất động trong bó này, tạo ra một kênh nhỏ hẹp hơn cả kênh M2 của virus cúm.  Các nhà nghiên cứu đã nhận diện được hầu hết các axít amin tại một điểm cuối trong kênh này có thể thu hút các ion mang điện tích dương như các calcium lọt vào kênh. Họ tin là cấu trúc mà họ thấy là ở trạng thái gần nhất của kênh này, và qua đó hi vọng xác định được cấu trúc của trạng thái mở, vốn có khả năng rọi ánh sáng vào cách kênh đóng và mở.  Nghiên cứu cơ bản  Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra hai loại thuốc – amantadine được dùng để điều trị cúm và hexamethylene amiloride được dùng để điều trị bệnh huyết áp cao – đều có thể ngăn được cổng vào của kênh protein E. Tuy nhiên, các loại thuốc này chỉ liên kết một cách yếu ớt với protein E. Nếu phát triển được các chất ức chế mạnh hơn, chúng có thể trở thành những ứng cử viên thuốc tiềm năng để điều trị COVID-19, Hong cho biết.  Nghiên cứu này cho thấy nghiên cứu cơ bản có thể có những đóng góp quan trọng để hướng tới giải quyết những vấn đề y học lớn, bà cho biết thêm. “Ngay cả khi đại dịch kết thúc thì nó vẫn quan trọng bởi nó giúp xã hội nhận ra và ghi nhớ rằng nghiên cứu khoa học cơ bản về các protein của virus hay protein của vi khuẩn phải được tiếp tục thực hiện một cách đúng đắn. Nhờ đó, chúng ta có thể chuẩn bị cho các đại dịch khác”, Hong nói. “Chi phí nhân lực và kinh tế của việc không làm gì cả sẽ ở mức rất cao”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-chemists-key-coronavirus-protein.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy điện của tương lai: Các tế bào nhân tạo      Việc tạo ra năng lượng trong tự nhiên là sự phản hồi của các lục lạp và ti thể. Đó là điều cốt lõi cho việc chế tạo các tế bào nhân tạo bền vững trong phòng thí nghiệm. Ti thể không chỉ là “một nhà máy điện của tế bào” mà còn là một trong những hợp phần ngoại tế bào phức tạp nhất cho việc tái tạo nhân tạo.    Các nhà nghiên cứu ở trường đại học Sogang Hàn Quốc và Viện Công nghệ Cáp Nhĩ Tân Trung Quốc China mới phát hiện ra một tiên tiến hứa hẹn nhất nhưng cũng thách thức bậc nhất của ti thể và lục lạp nhân tạo. Bài báo “Artificial organelles for sustainable chemical energy conversion and production: Artificial mitochondria and chloroplasts” được xuất bản trên tạp chí Biophysics Reviews 1.  “Nếu các nhà khoa học có thể tạo ra các ti thể và lục lạp nhân tạo, chúng tôi có thể có tiềm năng phát triển các tế bào tổng hợp có thể tạo ra năng lượng và tổng hợp các phân tử một cách tự động. Điều này có thể dẫn đến việc tạo ra toàn bộ các cơ quan mới hoặc vật liệu mới”, Kwanwoo Shin, tác giả của nghiên cứu nói.  Ở cây trồng, lục nạp sử dụng ánh sáng để chuyển đổi nước và carbon dioxide thành đường. Ti thể, có trong thực vật và động vật, tạo ra năng lượng bằng việc phá vỡ đường. Khi một tế bào tạo ra năng lượng, nó thường sử dụng một phân tử gọi là adenosine triphosphate (ATP) để lưu trữ và vận chuyển năng lượng đó. Khi tế bào này phá vỡ ATP, nó phát năng lượng để cung cấp nó cho các chức năng của tế bào. “Nói cách khác, ATP đóng vai trò như dòng điện chính của tế bào và nó là sự sống còn để tế bào thực hiện các chức năng của mình”, Shin nói.  Nhóm nghiên cứu đã miêu tả các hợp phần cần thiết để cấu trúc nên ti thể và lục lạp tổng hợp, nhận diện các protein như những khía cạnh quan trọng nhất cho cỗ máy phân tử vận chuyển proton, sản xuất ATP.  Những nghiên cứu trước đã sao chép các hợp phần tạo ra các cơ quan sản xuất năng lượng này. Một số công trình hứa hẹn tìm hiểu về các vận hành trung gian trong quá trình tạo năng lượng. Bằng việc kết nối chuỗi protein và enzyme, các nhà nghiên cứu đã cải thiện được mức độ hiệu quả năng lượng.  Một trong những thách thức đáng kể nhất vẫn tồn tại là cố gắng tái cấu trúc việc sản xuất năng lượng của các hạt cơ quan là cho phép tự thích ứng trong những thay đổi môi trường để duy trì chuỗi cung cấp APT bền vững. Các nghiên cứu tương lai cần phải tìm hiểu về cách cái thiện những giới hạn đặc trưng trước khi các tế bào tổng hợp có thể tự duy trì.  Các nhà nghiên cứu tin, đây là điều quan trọng để tạo ra các tế bào nhân tạo với các phương pháp bắt chước được các quá trình tự nhiên để tạo năng lượng thực về mặt sinh học. Việc tái tạo toàn bộ tế bào có thể dẫn đến việc tạo ra các vật liệu sinh học trong tương lai và dẫn đến khả năng nhìn vào quá khứ.  “Điều này có thể là một cột mốc quan trọng để hiểu nguồn gốc của sự sống và nguồn gốc của tế bào”, Shin nói.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-powerhouse-future-artificial-cells.html  https://www.lifetechnology.com/blogs/life-technology-science-news/the-powerhouse-of-the-future-artificial-cells  ———————————  1. https://aip.scitation.org/doi/10.1063/5.0131071    Author                .        
__label__tiasang Nhà máy ngập trong lũ, uy tín của Thái Lan bị đe dọa      Hana Microelectronics Pcl là một trong hàng nghìn công ty của Thái Lan có nhà máy bị ngập chìm trong cơn lũ kỉ lục đang cầu cứu chính phủ giúp đỡ trong khi nước đang rút đi chậm chạp ở phía Bắc Bangkok.    “Uy tín của Thái Lan đang bị thử thách”, nhận xét từ Richard Han, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Hana, công ty sản xuất linh kiện cho ngành nhạc số và điện thoại di động đặt ở Bangkok. “Cần phải đánh giá toàn diện lại việc bảo vệ các khu công nghiệp, và để thực hiện được điều đó cần hỗ trợ từ Chính phủ”.  Trong tháng này, hơn 9 triệu khối nước từ các đập thủy điện quá tải sức chứa đã đổ về khu vực châu thổ có diện tích tương đương Florida, làm ngập bảy khu công nghiệp (khu vực được bắt đầu xây dựng từ 4 thập kỷ trước, từng đánh dấu bước chuyển mình của Thái lan từ nền kinh tế dựa vào nông nghiệp thành trung tâm sản xuất công nghiệp. Theo con số thống kê của chính phủ, những cơn lũ này là tồi tệ nhất kể từ năm 1942 tới nay, có nguy cơ làm ngừng hoạt động 10.000 nhà máy, 660.000 công nhân mất việc và có thể làm thiệt hại 140 tỉ Baht (khoảng 4,6 triệu USD).  Các chủ nhà máy đang lo lắng thảm hoạ có thể lặp lại, khi mà các hệ thống chống lũ không phát triển kịp theo đà xây dựng đường sá, nhà cửa, các tổ hợp thương mại ở Bangkok và khu vực lân cận, nơi chiếm tới hơn nửa tổng sản phẩm công nghiệp của Thái Lan. Hiện nay, thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra phải thuyết phục các công ty như Honda Motor, Canon… rằng sau khi lũ lụt đi qua, khu vực này vẫn có thể là nơi phù hợp cho sản xuất.  Thách thức chính  “Một trong những thách thức chính để Thái Lan có thể phát triển trở thành một nước có thu nhập cao là làm sao chúng ta có thể làm giảm tránh tác động của các thảm hoạ tự nhiên lên nền kinh tế, khi mà chúng sẽ tiếp tục xuất hiện thường xuyên hơn với cường độ mạnh hơn trong vài năm tới”, Korn Chatikavanij, nguyên bộ trưởng tài chính của đảng Cộng hoà trả lời phỏng vấn. “Nếu chúng ta không học được các bài học và không tìm ra giải pháp kiểm soát tác động (của thảm hoạ) thì chúng ta sẽ vẫn chỉ là nước nghèo”.  Chỉ số xuất khẩu tăng chậm và chi phí cho chống lũ được Công ty Moody’s Investors Service ước đoán lên tới 200 tỉ Baht, tương đương 2% tổng sản phẩm quốc nội, có thể khiến Thái Lan giảm chỉ số thu hút đầu tư. Thảm hoạ này còn có thể làm mất tới 3% tăng trưởng GDP năm nay, theo nhận định của nhà chiến lược Frances Cheung ở Credit Agricole CIB.   Thu Quỳnh lược dịch theo http://www.bloomberg.com/news/2011-10-30/thai-credibility-at-stake-as-factories-soak-in-flood-plain.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy sản xuất túi nhựa phân hủy đầu tiên ở Việt Nam      Công ty Nhà Nhựa Việt Nam và Công ty Nhựa phân hủy sinh học Quảng Châu (Trung Quốc) vừa hợp tác triển khai dự án nhà máy đầu tiên sản xuất túi nhựa phân hủy sinh  học tại Việt Nam với tổng giá trị hơn 10 triệu USD.    Dự án được tiến hành nhằm chuyển giao công nghệ hiện đại, giúp Việt Nam sản xuất những sản phẩm thân thiện với môi trường và hạn chế việc nhập nguyên liệu từ nước ngoài.   Dự kiến, nhà máy sản xuất túi nhựa phân hủy sinh  học đặt tại Khu công nghiệp nhựa thuộc tỉnh Long An, khởi công vào năm nay sẽ đi vào hoạt động vào năm 2016. Nhà máy có khả năng đạt công suất khoảng 3.000 tấn/năm, cung cấp sản phẩm hạt nhựa sinh học để dần thay thế hạt nhựa truyền thống.   Theo công nghệ được chuyển giao, hạt nhựa sinh học là kết quả của sự kết hợp giữa xenlulo, bột khoai mì và chất phụ gia. Sau từ 1,5 đến hai năm, bao bì làm từ hạt nhựa sinh học sẽ tự động phân hủy hoàn toàn.   Hệ thống dây chuyền máy móc để sản xuất hạt nhựa phân hủy sẽ được Công ty Nhựa phân hủy sinh học Quảng Châu chuyển tới Long An. Đối tác Công ty Nhà Nhựa Việt Nam, sẽ đón nhận và nghiên cứu phương pháp thực hiện, làm chủ công nghệ mới và vận hành dây chuyền sản xuất.   Với việc chuyển giao công nghệ sản  xuất túi nhựa phân hủy sinh  học, dự án hướng đến mục tiêu đến năm  2020, góp phần làm giảm 65% lượng túi nilon khó phân hủy sử dụng tại  siêu thị, trung tâm thương mại so với năm 2010, giảm 50% lượng túi nilon  khó phân hủy sử dụng tại chợ, thu gom và tái sử dụng 50% số lượng túi  nilon khó phân hủy trong rác thải sinh hoạt.   Về lâu dài, nhà máy sản xuất túi nhựa phân hủy sinh  học tại Long An được kỳ vọng sẽ góp phần đem lại xu hướng sản xuất và tiêu dùng xanh, hướng đến bảo vệ môi trường vốn đang là vấn nạn ở nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt là các đô thị lớn.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm      Do khủng hoảng tài chính toàn cầu thúc giục, một số nhà hoạch định chính sách phương Tây bây giờ coi là lúc để nước họ quay lại chế tạo sản phẩm nhằm tạo việc làm và ngăn các kỹ năng chế tác khỏi bị xuất khẩu. Điều đó giả thiết hai thứ: rằng chế tác là quan trọng đối với một quốc gia và nền kinh tế của nó, và rằng các dạng mới này của chế tác sẽ tạo ra việc làm mới.    Hơn 100 năm Mỹ đã là nhà chế tác dẫn đầu thế giới, nhưng bây giờ nó ngang hàng với Trung Quốc (xem hình 1). Trong thập niên đến 2010 số việc làm chế tác ở Mỹ đã giảm khoảng một phần ba. Sự tăng lên của outsourcing (thuê ngoài gia công) và offshoring (chuyển sản xuất ra nước ngoài) và sự tăng trưởng của các chuỗi cung tinh vi đã cho phép các công ty trên khắp thế giới sử dụng Trung Quốc, Ấn Độ và các nước lương thấp khác như các xưởng sản xuất. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu thúc giục, một số nhà hoạch định chính sách phương Tây bây giờ coi là lúc để nước họ quay lại chế tạo sản phẩm nhằm tạo việc làm và ngăn các kỹ năng chế tác khỏi bị xuất khẩu. Điều đó giả thiết hai thứ: rằng chế tác là quan trọng đối với một quốc gia và nền kinh tế của nó, và rằng các dạng mới này của chế tác sẽ tạo ra việc làm mới.       Hình 1  Có rất nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng chế tác là tốt cho các nền kinh tế, nhưng trong các năm gần đây một số kinh tế gia đã cho rằng chẳng có gì đặc biệt về chế tạo các thứ và rằng các ngành dịch vụ có thể có năng suất và đổi mới sáng tạo đúng như thế. Chính là người dân và các công ty, chứ không phải các nước thiết kế, chế tạo và bán các sản phẩm, và có các việc làm tốt và tồi trong cả ngành chế tác và dịch vụ. Nhưng xét trung bình các công nhân chế tạo có thu nhập cao hơn, theo một báo cáo của Susan Helper thuộc Đại học Case Western Reserve, Cleveland, cho Brookings Institution, một think-tank ở Washington, DC (xem hình 2).              Hình 2          Các hãng chế tạo cũng có khả năng hơn các công ty khác để đưa ra các sản phẩm mới và cách tân. Ngành chế tác tạo ra chỉ khoảng 11% GDP của Mỹ, nhưng nó chịu trách nhiệm về 68% chi phí nội địa cho nghiên cứu và phát triển. Theo bà Helper, nó cung cấp các việc làm được trả lương, xét trung bình, cao hơn các ngành dịch vụ, nó là một nguồn lớn của đổi mới sáng tạo, giúp giảm thâm hụt thương mại và tạo ra các cơ hội trong nuôi dưỡng nền kinh tế “sạch”, như tái chế và năng lượng xanh. Đấy là các lý do chính đáng cho một nước để phát triển chế tác.  Bất chấp sự trỗi dậy nhanh của Trung Quốc, Mỹ vẫn là một cường quốc sản xuất ghê gớm. Sản lượng chế tác của nó, tính bằng dollar, bây giờ là cùng như sản lượng của Trung Quốc, nhưng nó đạt điều này chỉ với 10% của lực lượng lao động được Trung Quốc triển khai, Susan Hockfield, hiệu trưởng MIT và đồng chủ tịch của Advanced Manufacturing Partnership (Nhóm Đối tác Chế tác Tiên tiến) của Tổng thống Barack Obama, một sáng kiến mới được thiết lập với các doanh nghiệp và các đại học để tạo việc làm và tăng cường tính cạnh tranh.  “Người quai Búa” chộp được nỗi luyến tiếc về loại việc làm chế tác mà trong thế giới phát triển hầu như không còn tồn tại nữa. Các sàn nhà máy ngày nay thường có vẻ hiu quạnh, trong khi khối văn phòng ở bên lại đầy các nhà thiết kế, các chuyên viên IT, các kế toán, các chuyên gia logistics, nhân viên marketing, các nhà quản lý quan hệ khách hàng, những người nấu ăn và quét dọn, tất cả họ theo những cách khác nhau đều đóng góp cho nhà máy. Và bên ngoài cổng nhiều người hơn nhiều dính líu đến các nghề khác nhau giúp cung ứng cho nó. Định nghĩa một việc làm chế tác đang ngày càng bị mờ đi.     Thế nhưng những tiến bộ năng suất của Mỹ nêu ra những câu hỏi về bao nhiêu việc làm chế tác, đặc biệt loại việc làm cổ trắng, sẽ được tạo ra. Và một số đột phá chế tác đang trong quá trình sẽ làm giảm hơn nữa số người cần đến. “Đúng là nếu bạn ngó vào dãy các công nghệ đang ra lò từ MIT, nhiều trong số đó không tạo việc làm, hay nhẹ-việc làm,” bà Hockfield nói. “Nhưng đó không phải là lý do để không muốn thực hiện loại chế tác đó ở Mỹ, bởi vì nuôi các quá trình nhẹ-việc làm là một chuỗi cung khổng lồ trong đó có rất nhiều việc làm và các lợi ích kinh tế lớn.”  Các công ty cũng lạc quan về sự hồi sinh chế tác. “Chúng ta đang đứng trước một cuộc cách mạng tiềm tàng trong chế tác,” Michael Idelchik, người phụ trách công nghệ tiên tiến tại GE Global Research, bộ phận R&D của một trong những nhà chế tạo lớn nhất thế giới, nói. Các ý tưởng làm cho điều này xảy ra có thể đến từ bất kỳ đâu, mà đó là lý do phòng thí nghiệm của ông, đóng tại Niskayuna thôn dã thuộc bang New York, cũng có các trung tâm nghiên cứu ở Bangalore, Munich, Rio de Janeiro và Thượng Hải. Về các việc làm có khả năng được tạo ra, Idelchik nghĩ người ta có cái nhìn thiển cận về việc làm chế tác: “Nếu bạn ngó đến tất cả những người có đóng góp, số việc làm là rất lớn.”  Ma trong máy  Nhiều việc làm, mà vẫn còn trên sàn nhà máy, sẽ đòi hỏi kỹ năng cao, Smith, trưởng chế tác của Rolls-Royce, nói. “Nếu chế tác là quan trọng, thì chúng ta cần bảo đảm chắc chắn có các khối xây dựng cần thiết trong hệ thống giáo dục.” Mối quan tâm của ông mở ra đến các nhà cung cấp của hãng, bởi vì các công ty trong nhiều nước đã cắt giảm việc đào tạo khi suy giảm kinh tế. Để có những người nó cần, Rolls-Royce đã mở một Viện Học nghề mới để tăng gấp đôi số người nó có thể đào tạo mỗi năm, lên 400.  Ở Mỹ các hãng đã cắt giảm đào tạo hết sức tàn bạo đến mức “việc học nghề rất có thể đã chết,” Suzanne Berger đánh giá, bà là một trong các lãnh đạo của một dự án nghiên cứu mới của MIT, dự án Sản xuất trong Nền kinh tế Đổi mới, xem xét các công ty cạnh tranh nhau thế nào. Nhiều hãng cảm thấy rằng không bõ công đào tạo những người nếu họ có khả năng bỏ đi làm cho ai đó khác. Bà Berger và các cộng sự của bà nghĩ một lựa chọn khả dĩ hứa hẹn khác cho học nghề là sự cộng tác giữa cộng đồng trường chuyên nghiệp và các hãng địa phương để phát triển các chương trình đào tạo. Đôi khi các hãng tặng thiết bị chế tạo cho các trường chuyên nghiệp.  Việc số hóa chế tác sẽ khiến cho việc đào tạo dễ hơn. Các công ty không thể biện hộ việc ngừng thiết bị sản xuất, mà có thể đang chạy 24 giờ một ngày, sao cho các học viên có thể thử nghiệm với nó. Nhưng các máy tính có thể mô phỏng hệ thống sản xuất trong một môi trường ảo, và các sản phẩm ảo nữa. Tại Đại học Warwick ở Vương quốc Anh, một phòng với các màn hình khổng lồ có độ phân giải cao được dùng như phòng thực tế ảo để mô phỏng các sản phẩm đang được phát triển, như các ô tô, theo ba chiều.  Ngày nay một chiếc xe mới chắc có khả năng được dựng lên như một “nguyên mẫu số” ba chiều trước lâu khi nó thực sự được tạo ra. Có thể đi vòng quanh nó, ngồi vào, và thử lái trong một bộ mô phỏng (simulator), tháo rời và lắp lại trong một nhà máy ảo để xem cách tạo ra nó thế nào. Đồng thời phần mềm có thể để cho những người khác trong công ty dùng, kể cả nhân viên quảng cáo người muốn tiếp thị chiếc xe. Grant Rochelle, một giám đốc của Autodesk, một công ty phần mềm ở Thung lũng Silicon, nói, các hình ảnh được tạo ra từ nguyên mẫu bây giờ tốt đến mức chúng thường được dùng để tạo ra các tập sách giới thiệu và các quảng cáo trên TV trước khi xe mới được tạo ra.  Nhiều người làm việc trong các nhà máy đang cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho việc chế tác. Kumar Bhattacharyya, chủ tịch của Nhóm Chế tác Warwick tại Đại học Warwick, nói “trong tương lai nhiều sản phẩm hơn sẽ được bán trên cơ sở dịch vụ”. “Nếu bạn bán một chiếc xe với bảo hành mười năm bạn cần chắc chắn nó sẽ bền cho mười năm và bạn có các dịch vụ đúng chỗ để chăm sóc nó.” Bất chấp thất nghiệp cao, một số nhà chế tạo nói rằng quá ít người chọn sự nghiệp kỹ thuật và chế tạo, nhưng các công nghệ như in 3D sẽ giúp, Lord Bhattacharyya tiên đoán. “Nếu bạn có thể xây dựng cái gì đó, người dân được kích thích về chế tạo các thứ. Rồi họ đi và lập ra các công ty.”  Đến gần hơn  Một trong những vườn ươm thành công nhất cho các hãng mới là các cụm (cluster) công nghiệp, trong số đó Thung lũng Silicon là tấm dương nổi tiếng nhất và được bắt chước nhiều nhất. Các hãng cụm lại cùng nhau vì các lý do đa dạng: các kỹ năng sẵn có trong một lĩnh vực cá biệt, sự tập trung của các dịch vụ chuyên gia và vốn mạo hiểm từ các nhà đầu tư với một sự hiểu biết kỹ về thị trường của họ. Thường có các trường đại học và các phòng thí nghiệm nghiên cứu ở gần, cho nên quá trình nảy ra các ý tưởng mới và các phương tiện để biến các ý tưởng đó thành các sản phẩm được liên kết mật thiết với nhau. Mối quan hệ này trở nên thậm chí thân mật hơn với các công nghệ chế tác mới. “Bây giờ chúng tôi có những công nghệ mà chúng tôi chỉ có khả năng khai thác nếu chúng tôi có các năng lực chế tạo ở gần các đổi mới sáng tạo này,” bà Berger nói. Bạn không cần đi xa từ văn phòng của bà để tìm thấy các thí dụ.  Cụm công nghệ sinh học ở Boston bao gồm các công ty dược lớn và nhỏ, được thu hút phần lớn bởi những nghiên cứu được tiến hành trong các bệnh viện và các đại học của vùng này. Trong các khoa học sinh học sự phát triển các năng lực chế tạo được gắn kết mật thiết với sự phát triển sản phẩm, Phillip Sharp, người được giải Nobel và đồng sáng lập của cái bây giờ được gọi là Biogen Idec, một hãng công nghệ sinh học có trụ sở ở Massachusetts với doanh thu hàng năm 5 tỷ USD, nói. Cái hiện tại kích thích công nghiệp, Sharp nói, là công nghệ nano. Công nghệ này lấy tên từ nano có nghĩa là một phần tỷ mét. Khi vật liệu ở quy mô nano chúng thường có các tính chất độc nhất, một số tính chất đó có thể được dùng theo những cách có lợi.  Công nghệ nano làm cho có khả năng để chế tạo, ở kích thước rất nhỏ, các chất điều trị mới mang thông tin trên bề mặt chúng mà có thể sử dụng chúng trực tiếp cho các tế bào cá biệt trong cơ thể. Các thuốc được truyền bởi các chất liệu như vậy có thể có giá trị trong điều trị các bệnh như ung thư. Bây giờ chúng được chế tạo với số lượng nhỏ, Sharp nói; thách thức sẽ là nâng quy mô các quá trình này một khi các thử nghiệm lâm sàng được hoàn tất. Và việc đó nữa, ông nói thêm, sẽ phụ thuộc vào cả sản phẩm và đổi mới chế tác hoạt động cùng nhau.  Chế tạo dược phẩm phần lớn vẫn là quy trình chế tạo theo lô kiểu cũ. Quy trình này gồm việc tập hợp các hợp thành, thường là từ các nước khác nhau, xử lý chúng trong một nhà máy hóa chất thành một lô vật liệu dược phẩm, sau đó biến được liệu đó thành viên, chất lỏng hay kem ở một nhà máy khác, mà lại có thể ở một nước khác. Tất cả việc này kéo theo nhiều vận chuyển các thùng và các container, và rất nhiều hàng tồn trữ nằm không. Nó tốn thời gian và đắt.     Nhưng trong một phòng thí nghiệm ở Cambridge, Massachusetts, một cách khác để chế tạo dược phẩm đang được phát triển. Nguyên liệu được đưa vào ở một đầu của một máy đầy các ống, bánh răng, dây đai và điện tử, và các viên thuốc lăn ra từ đầu kia. Dây chuyển sản xuất pilot này, một liên doanh giữa MIT và Novartis, công ty dược phẩm khổng lồ có trụ sở ở Thụy Sỹ, đang đi tiên phong khai phá một quy trình chế tạo liên tục cho ngành dược. Nó tạo ra bản sao của một dược phẩm chuẩn của Novartis, mặc dù vẫn chưa phải để dùng bởi vì hệ thống vẫn còn cách hoạt động thương mại năm hay mười năm. Nó dựa vào sự kết hợp của hóa học và kỹ thuật, đẩy nhanh một số quá trình và làm chậm một số quá trình khác để khiến chúng hoạt động cùng nhau.  Những kết quả đáng khích lệ, Stephen Sofen, giám đốc dự án, nói. Số các hoạt động rời rạc dính líu đến chế tạo dược phẩm này đã được cắt giảm từ 22 xuống 13; thời gian xử lý (ngay cả loại trừ tất cả việc chuyển vật liệu qua lại) đã giảm từ 300 giờ xuống 40. Và thay cho kiểm định từng lô vật liệu, từng viên được sản xuất đều được theo dõi để bảo đảm nó thỏa mãn tiêu chuẩn đòi hỏi.  Chế tạo liên tục có thể biến đổi công nghiệp dược. “Thay cho nhà máy khổng lồ, được xây dựng có chủ đích, để cung cấp cho thị trường toàn cầu, bạn có thể mường tượng các nhà máy nhỏ hơn, được khu vực hóa,” Sofen nói. Các nhà máy như vậy có thể đáp ứng nhanh hơn với cầu địa phương, đặc biệt nếu một dịch lớn nổ ra. Dây chuyền pilot ở Cambridge sẽ vừa một container, cho nên nó có thể được triển khai ở bất cứ đâu. Nó có thể sản xuất 10 triệu viên thuốc một năm, hoạt động liên tục. Nó cũng có thể được dùng để làm ra các thuốc được tùy chỉnh cho các bệnh nhân cá biệt. Chế tạo liên tục có thể làm cho nhiều điều trị hơn có thể được tiến hành về mặt thương mại.  Nguyễn Quang A dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu bắt đầu khoa học mở thế nào ?      Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ – NASA đã xuất bản một hướng dẫn ngắn gọn để các nhà nghiên cứu ở bất kì trình độ nào cũng có thể thực hành khoa học mở ngay lập tức.     Ảnh: https://nasa.github.io/  2023 – Năm khoa học mở tại Mỹ  Ngày 11/01/2023, tại Mỹ, Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ của Nhà Trắng – OSTP (Office of Science and Technology Policy) đã khởi xướng Năm Khoa học Mở, “đặc trưng với các hành động khắp chính quyền liên bang suốt năm 2023 để cải thiện chính sách khoa học mở quốc gia, cung cấp quyền truy cập tới các kết quả nghiên cứu được người đóng thuế của quốc gia hỗ trợ, tăng tốc phát hiện và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy lòng tin của công chúng, và thúc đẩy các kết quả đầu ra công bằng hơn”1.  Một trong những hành động quan trọng của Năm Khoa học Mở là việc OSTP và Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia – NSTC (National Science and Technology Council) đưa ra định nghĩa chính thức về khoa học mở để sử dụng khắp Chính phủ Mỹ:  “Khoa học Mở là nguyên tắc và thực hành tạo ra các sản phẩm và quy trình nghiên cứu sẵn sàng cho tất cả mọi người, trong khi tôn trọng sự đa dạng văn hóa, duy trì bảo mật và quyền riêng tư, và thúc đẩy cộng tác, khả năng tái sáng tạo và công bằng”.  Ngay sau khi được phát động, hàng loạt các cơ quan liên bang Mỹ đã hưởng ứng Năm Khoa học Mở2, gồm: (1) Các trung tâm kiểm soát dịch bệnh; (2) Bộ Nông nghiệp; (3) Bộ Thương mại; (4) Bộ Năng lượng; (5) Cơ quan Hàng không Vũ trụ – NASA; (6) Quỹ Nhân văn Quốc gia; (7) Viện Y học Quốc gia; (8) Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia; (8) Cơ quan Đại dương và Khí quyển Quốc gia; (9) Quỹ Khoa học Quốc gia; (10) Khảo sát Địa lý Mỹ; (11) Cơ quan Dịch vụ chung của Mỹ. Ngoài các cơ quan liên bang, còn có 85 trường đại học và các tổ chức khác cũng đã hưởng ứng sự kiện này.    Người làm khoa học mở sẽ không chỉ mở kết quả cuối cùng mà là toàn bộ quá trình nghiên cứu, từ ý tưởng cho đến dữ liệu và công cụ phân tích các dữ liệu đó. Hơn nữa, họ cần phải tìm cách chia sẻ như thế nào để cộng đồng không chỉ dễ tiếp cận mà còn có thể tái sử dụng và tiếp tục đóng góp cho những thông tin đó.    Nổi bật trong các hoạt động đó là sáng kiến Chuyển đổi sang Khoa học Mở – TOPS3 (Transform to Open Science) của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ – NASA (National Aeronautics and Space Administration), và chính sáng kiến này là khởi nguồn để OSTP tuyên bố năm 2023 là Năm Khoa học Mở.  NASA có trang web dành riêng cho TOPS để hướng dẫn chuyển đổi sang Khoa học Mở với nhiều nội dung rất thiết thực cho cả cá nhân cũng như tổ chức để chuyển đổi sang Khoa học Mở, nổi bật như: ‘Hướng dẫn lộ trình Khoa học Mở cho bạn’.  Hướng dẫn lộ trình Khoa học Mở cho bạn  TOPS đưa ra những hướng dẫn ngắn gọn cho bất kì nhà nghiên cứu nào muốn bước chân vào con đường khoa học mở, muốn công chúng và cộng đồng học thuật có thể tiếp cận và hưởng lợi nhiều hơn, dễ dàng hơn từ các công trình của mình.4  Hướng dẫn này bao gồm bốn phần, trong đó ba phần đầu là những gì mà tất cả các nhà khoa học trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều có thể thấy có ích và học hỏi. Ba phần này được trình bày ngắn gọn, có tính thực hành cao bao gồm (1) Các kĩ năng khoa học mở cốt lõi (2) Tham gia khoa học mở (3) Gắn kết khoa học mở vào công việc  Các kĩ năng khoa học mở cốt lõi  Các kĩ năng này chủ yếu nằm ở việc biết cách sử dụng thành thạo các công cụ lưu trữ, xuất bản, sử dụng phổ biến nhất của khoa học mở và biết cách tổ chức các hội thảo mở.  Tạo cho mình một ORCID (https://orcid.org/) là một mã nhận diện số của từng nhà khoa học. Mỗi nhà khoa học có một ORCID khác nhau. Mã này giúp cho họ có thể chia sẻ dữ liệu, trích dẫn dữ liệu, nghiên cứu, mã nguồn, bài trình bày của người khác một cách chính xác.  Hơn 10 cơ quan liên bang Mỹ đã hưởng ứng năm khoa học mở.  Bắt đầu với GitHub (https://github.com/) là website quản lý mã nguồn phần mềm và giúp quản lý các phiên bản của một tài liệu trên trực tuyến. Cộng đồng lập trình viên sử dụng và đóng góp cho GitHub đang ngày càng lớn mạnh. Khi một mã nguồn được đăng tải trên GitHub, nó cho phép mọi người có thể cùng cộng tác trên dự án đó mà không bị “dẫm chân lên nhau” và dễ phát hiện ra các lỗi sai.  Thiết lập tài khoản Zenodo (https://zenodo.org/) là kho lưu trữ đa ngành miễn phí sử dụng và truy cập. Bất kì công trình khoa học dưới dạng nào cũng được chia sẻ miễn phí trên nền tảng này. Zenodo do Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu – CERN (European Organization for Nuclear Research) quản lý và là một sản phẩm của OpenAire (https://www.openaire.eu/) – tổ chức chuyên sáng tạo và duy trì các công cụ cho khoa học mở và học thuật mở.  Biết cách tạo một mã nhận diện đối tượng số – DOI. DOI (Digital Object Identifier), https://www.doi.org/, là một mã độc nhất gồm chữ và số gắn với bài báo khoa học và đường link dẫn đến vị trí của nó trên internet. DOI thường do nhà xuất bản cấp nhưng giờ đây, ai cũng có thể tự tạo ra DOI cho sản phẩm khoa học của mình trên Zenodo.  Biết cách áp dụng một giấy phép đúng. Chỉ khi bạn cấp giấy phép cho sản phẩm của mình, cộng đồng mới biết họ có thể sử dụng và chia sẻ công trình và dữ liệu khoa học của bạn khi nào và như thế nào. Thông thường, các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu và tài nguyên giáo dục mở sử dụng các giấy phép Creative Commons (https://creativecommons.org/about/cclicenses/), trong khi mã nguồn phần mềm sử dụng các giấy phép của Sáng kiến Nguồn Mở – OSI (Open Source Initiative), được liệt kê tại: https://opensource.org/licenses/.  Logo của sáng kiến Chuyển đổi sang Khoa học Mở – TOPS của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA).  Biết lập kế hoạch quản lý dữ liệu và phần mềm. Các nhà nghiên cứu cần có kế hoạch xác định dữ liệu và phần mềm của mình sẽ được đặt ở đâu trong quá trình nghiên cứu, làm thế nào để duy trì nó và người khác có thể truy cập một cách an toàn và khi dự án kết thúc, dữ liệu đó sẽ được lưu trữ ở đâu.  Biết cách tìm ra các kho phần mềm cộng đồng. Một kho phần mềm cộng đồng là một nền tảng mà trên đó có một nhóm nhà khoa học (cùng một lĩnh vực) thường xuyên chia sẻ mã nguồn của mình. Các kho này thường diễn ra các hoạt động chia sẻ, đóng góp, cải tiến các phần mềm nghiên cứu rất sôi nổi. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu cần biết rằng kho nào hợp với lĩnh vực, trình độ và công việc hiện tại của mình.  Biết cách tổ chức các cuộc họp mở. Tổ chức các cuộc họp mở ra với công chúng – hoặc ít nhất là mở với toàn bộ các thành viên trong nhóm nghiên cứu – có thể khá thách thức, nhưng chúng cũng cung cấp một cơ hội vô giá để thu thập những ý kiến về các chiến lược, kế hoạch và rào cản. Thực ra, khi lắng nghe những người vốn không có “vai vế” trong các quyết định quan trọng, cũng là khi chúng ta có thêm cơ hội để tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo để giải quyết những vấn đề đang gặp phải. Cần nhớ rằng, một cuộc họp chỉ thực sự mở khi chúng ta đã cân nhắc thấu đáo đến sự an toàn và thoải mái của tất cả những người tham dự.  Tham gia vào khoa học mở  Sau khi nắm được các kĩ năng cốt lõi của khoa học mở, các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu “đứng trên vai người khổng lồ” bằng cách tham gia và đóng góp cho cộng đồng. Theo đó, các nhà khoa học cần đọc kĩ hơn các nguồn học liệu về khoa học mở, bắt đầu thử làm quen với các mã nguồn mở và đặc biệt là hãy tập tư duy như một “nhà khoa học dữ liệu”. Rất nhiều nhà khoa học không cho rằng đó là điều cần thiết nhưng có lẽ điều đó phải thay đổi khi họ bước vào thế giới của khoa học mở. Người làm khoa học mở sẽ không chỉ mở kết quả cuối cùng mà là toàn bộ quá trình nghiên cứu, từ ý tưởng cho đến dữ liệu và công cụ phân tích các dữ liệu đó. Hơn nữa, họ cần phải tìm cách chia sẻ như thế nào để cộng đồng không chỉ dễ tiếp cận mà còn có thể tái sử dụng và tiếp tục đóng góp cho những thông tin đó.  Khoa học mở trong tổ chức  Sau khi đã có kĩ năng và hoạt động như một cá nhân sôi nổi trong cộng đồng khoa học mở, có thể nhà khoa học đã bắt đầu nghĩ đến việc đưa văn hóa khoa học mở vào cơ quan, tổ chức, đội nhóm của mình.  Những giá trị thúc đẩy việc thực hiện khoa học mở  Trước khi bắt tay vào việc thay đổi văn hóa của tổ chức mình, nhà khoa học cần xác định mối tương quan giữa những giá trị khoa học mở và các chính sách nội bộ hiện tại. Liệu hai giá trị có xung đột nhau không? Liệu những giá trị cũ có thể được củng cố vững chắc hơn nhờ khoa học mở? Có giới hạn nào trong việc kết hợp những giá trị mới vào chính sách cũ?  Sử dụng dữ liệu mở  Đây là một quá trình hai chiều: Một mặt, các thành viên trong một tổ chức nghiên cứu sẽ sử dụng các dữ liệu mở (dĩ nhiên theo cách phù hợp với giấy phép đi kèm) và ghi nhận đóng góp của tác giả các nghiên cứu đó. Mặt khác, họ cũng phải đảm bảo dữ liệu của mình mở bằng nhiều cách: lựa chọn giấy phép cho người sử dụng nhiều quyền nhất và ít giới hạn nhất có thể, bảo vệ tính riêng tư của dữ liệu. Tải dữ liệu lên các kho lưu trữ hợp lí (ví dụ như Zenodo) và ghi nhận công của những người đã thu thập và sản xuất dữ liệu.  Phần mềm mã nguồn mở:   Nếu tổ chức nghiên cứu đồng thuận, các mã nguồn của phần mềm sẽ được tải lên GitHub hoặc các nền tảng chia sẻ mã nguồn tương tự. Giống như chia sẻ dữ liệu mở, giấy phép chia sẻ mã nguồn cũng nên trao quyền tối đa cho những người sử dụng. Mã nguồn phải đi kèm với tài liệu giải thích mục đích và cách sử dụng nó và tài liệu ghi nhận những người đã viết nó và những tài nguyên, mô hình mà mã nguồn đó dựa trên hay sử dụng.  Kết quả mở:   Mọi người cần sử dụng ORCID để định danh tác giả trong bài báo. Nếu được, cố gắng xuất bản trên một tạp chí truy cập mở. Nếu tạp chí đó cho phép, trong khi chờ đợi công trình đó được bình duyệt, chia sẻ công trình đó trên các trang tiền xuất bản. Tiến thêm một bước, công bố cả phiên bản cuối cùng (sau khi đã được bình duyệt và đăng tải) lên Zenodo và các trang chia sẻ công bố tương tự. Đi kèm theo công trình của mình, nhà khoa học có thể công bố cả file thuyết trình, ghi âm, gỡ băng phỏng vấn liên quan đến nội dung nghiên cứu lên Zenodo.  Công cụ khoa học mở:   Các công cụ dành cho khoa học mở rất đa dạng với nhiều mục đích khác nhau. Không phải công cụ nào cũng chỉ do cộng đồng sáng lập và đóng góp, sử dụng (chẳng hạn như ngôn ngữ lập trình Julia) mà còn có những công cụ do các công ty tư nhân tạo ra và ai cũng có thể sử dụng được như GitHub. Ngoài những công cụ đã trình bày ở phía trên, còn có một số phần mềm thú vị khác chẳng hạn như: RDMO – một công cụ phục vụ cho việc lập kế hoạch quản lý dữ liệu; Unpaywall – một công cụ cho phép đọc  miễn phí các bài báo khoa học mà đáng lẽ phải trả phí; Matrix on Riot – phần mềm để chat riêng tư và bảo mật để các nhà khoa học có thể trao đổi và hợp tác công việc trên đó; Zotero – một công cụ để quản lý các trích dẫn khi viết một bài báo khoa học. □  —–  Các chú giải  [1] The White House: FACT SHEET: Biden-Harris Administration Announces New Actions to Advance Open and Equitable Research: https://www.whitehouse.gov/ostp/news-updates/2023/01/11/fact-sheet-biden-harris-administration-announces-new-actions-to-advance-open-and-equitable-research/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/to-tin-chinh-quyen-biden-harris-cong-bo-cac-hanh-dong-moi-de-cai-thien-nghien-cuu-mo-va-cong-bang-883.html  [2] Science.gov: Open Science Announcements from Federal Agencies: https://open.science.gov/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/thong-bao-khoa-hoc-mo-tu-cac-co-quan-lien-bang-885.html  [3] NASA: Transform to Open Science (TOPS): https://science.nasa.gov/open-science/transform-to-open-science. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/chuyen-doi-sang-khoa-hoc-mo-tops-cua-nasa-884.html  [4] NASA: NASA’s Transform to Open Science Mission – Guide for Your Open Science Journey: https://nasa.github.io/Transform-to-Open-Science-Book/Open_Science_Cookbook/Your_Open_Science_Journey.html. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/huong-dan-lo-trinh-khoa-hoc-mo-cho-ban-888.html  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Nhà nổi vượt lũ từ nhựa trấu      Hơn 20 năm ấp ủ ý tưởng và 10 năm mày mò  nghiên cứu, ông Phan Trọng Hoàn, giám đốc doanh nghiệp tư nhân Trọng  Danh ở TPHCM đã sáng chế ra “Nhà nổi chống lũ” cho người dân ĐBSCL từ  vật liệu nhẹ, có độ bền cao cả trong môi trường khô ráo cũng như ngập  nước, và chịu được phèn, mặn.    Ngôi nhà nổi được lắp ghép đa năng với các vật liệu nhẹ do chính công ty Trọng Danh sản xuất từ trấu, như ngói nhựa trấu, ván sàn nhựa trấu, gạch block nhựa trấu siêu nhẹ cùng khung thép đặc chủng. Ngôi nhà này không phải xây móng mà có hệ thống phao nổi phía dưới nền nhà. Toàn bộ tường che bên ngoài và tường ngăn giữa các phòng được xây bằng gạch block nhựa trấu không cần vữa trát. Thời gian lắp ghép chỉ trong ba-năm ngày.  Kết cấu khung thép chịu lực và toàn bộ chi tiết bằng nhựa trấu khiến cho ngôi nhà có khối lượng tối thiểu. Ngoài ra, căn nhà còn bố trí một bồn chứa nước 500 lít và kho chứa lương thực dự trữ có thể sử dụng ít nhất 7 ngày. Ngôi nhà sẽ tự nổi lên với hệ thống phao nổi khi nước lên còn khi nước rút, nhà sẽ tự động trở lại vị trí cũ.   Theo ông Hoàn, một ngôi nhà có diện giá một mét vuông nhà nổi vào khoảng 8 triệu đồng.      Sản phẩm nhà nổi của ông Hoàn đã được chọn là một trong năm sáng chế xuất sắc nhất lọt vào Gala chung kết Nhà sáng chế 2013.    Ngoài việc dùng những vật liệu nhẹ để lắp ghép thành nhà nổi, thì các vật liệu này còn được ông dùng vào việc lắp những ngôi nhà bình thường với thời gian lắp ghép từ 7-10 ngày/nhà.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà sản xuất dược phẩm Ấn Độ tuyên bố 3 USD một mũi vaccine COVID-19      Adar Poonawalla, một chủ doanh nghiệp dược phẩm người Ấn Độ muốn cứu cả thế giới khỏi virus corona, và sau đó thay đổi triệt để cục diện dược phẩm quốc tế.      Doanh nhân Adar Poonawalla trên con đường tiến tới việc ký hợp đồng một cách tốt nhất với các nhà phát triển vaccine chống Covid-19 triển vọng.  Doanh nghiệp người Ấn này dự kiến sẽ tung ra thị trường loại vaccine với giá cực kỳ cạnh tranh.   Cách đây 54 năm, thân phụ ông, một tỷ phú Ấn Độ đã biến một trại nuôi ngựa thành nơi sản xuất dược phẩm có tên “Viện Huyết thanh Ấn Độ”. Hiện nay, hàng năm doanh nghiệp này sản xuất ra khoảng 1,5 tỷ liều vaccine dành cho các nước đang phát triển.  Theo số lượng liều vaccine bán ra thị trường, Viện Huyết thanh Ấn Độ là nhà sản xuất vaccine lớn nhất thế giới với các loại vaccine phòng chống viêm màng não, sởi và bệnh dại. Mặc dù vậy, doanh nghiệp của Poonawalla hầu như không được truyền thông phương Tây biết đến. Nhưng nay điều này sẽ có thể thay đổi, bởi lẽ doanh nhân người Ấn Độ này đang trong quá trình chuẩn bị ký kết hợp đồng với các nhà phát triển vaccine chống Covid-19 triển vọng nhất. Mục tiêu của ông là sản xuất đại trà vaccine phòng chống Covid-19.  Poonawalla muốn sản xuất ra một tỷ liều vaccine Covid-19 cho các nước đang phát triển với giá mỗi liều chỉ khoảng 3 USD. Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh như hãng dược phẩm Moderna của Hoa Kỳ dự định bán mỗi liều với giá 35 USD. Viện Huyết thanh Ấn Độ dự định sẽ sản xuất 5 loại vaccine Covid-19 khác nhau trên thế giới, trong đó ba doanh nghiệp liên doanh với các hãng khác còn lại hai doanh nghiệp hoàn toàn của Ấn Độ.  Cho đến nay, Doanh nghiệp Ấn Độ này bán ra được một lượng lớn thuốc tiêm chủng như hiện nay là nhờ có Liên minh tiêm chủng quốc tế Gavi, một Tổ chức đối tác công-tư do Bill Gates thành lập cách đây 20 năm. Gavi đã dùng tiền quyên góp được mua một lượng lớn vaccine cung cấp cho các nước nghèo, nếu không, các nước này sẽ không thể kham nổi.   Khi Gavi xuất hiện lần đầu tiên, giới công nghiệp dược lập tức rút khỏi lĩnh vực kinh doanh vaccine. Dominic Hein, người phụ trách mảng thiết kế thị trường của Gavi nói: “Việc kinh doanh vaccine trở nên không có lời vì chỉ có thị trường các nước phương Tây giàu có mới mua nổi vaccine với cái giá thật của nó”.  Ngày nay, Liên minh này đã giúp các nước nghèo thanh toán tiền mua thuốc tiêm chủng đạt tiêu chuẩn chất lượng của WHO. Giờ đây, Viện Huyết thanh Ấn Độ là nhà cung cấp vaccine đáng tin cậy của Gavi: Doanh nghiệp này sản xuất 4 trong số 10 loại vaccine được Gavi chi trả. Theo Hein, Viện Huyết thanh Ấn Độ này “đi tiên phong trong lĩnh vực sản xuất các vaccine quý giá, giá cả hợp lý và có chất lượng cao”.  Bản thân Viện Huyết thanh Ấn Độ chưa hề tìm ra bất kỳ một loại vaccine nào. Toàn bộ mô hình kinh doanh của Viện này là sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản của các doanh nghiệp khác để từ đó tiến hành sản xuất vaccine với số lượng lớn một cách nhanh nhất và có giá cả hợp lý. Cho đến nay, hình thức này phát huy được hiệu quả tại các nước đang phát triển. Trong khi đó, ngành công nghiệp dược phẩm với những quy chế ngặt nghèo gây khó cho Viện Huyết thanh của Ấn Độ khi hoạt động trên thị trường các nước giàu có.   Viện Huyết thanh ước tính khoảng 65% trẻ em trên thế giới được chủng ngừa  ít nhất bằng một loại vaccine của nhà sản xuất Ấn Độ. Một số sản phẩm của  Poonawalla được phát triển chỉ để phục vụ nhu cầu của các nước nghèo, ví dụ như vaccine Rotavirus dạng thuốc uống. Loại vaccine này có khả năng chịu nhiệt, không phải bảo quản lạnh, phù hợp với những nước không có mạng lưới cung cấp điện ổn định.  Một số loại thuốc khác là những sản phẩm đã được gia giảm từ sản phẩm chính hãng của các ông lớn trong ngành công nghiệp dược thế giới như Sanofi hay GlaxoSmithKline. Poonawalla cho hay, do chi phí sản xuất ở Ấn Độ thấp nên viện Huyết thanh Ấn Độ có thể cung cấp thuốc với giá cả rẻ hơn rõ rệt.  Đòi hỏi cải cách quy định về bằng sáng chế phát minh  Tuy nhiên, Poonawalla còn muốn đi xa hơn, ông muốn cải cách các quy định về bằng độc quyền sáng chế. Trong một thời gian dài, ngành công nghiệp dược đã kiên quyết giữ các quyền này. Thế nhưng, Poonawalla cho rằng, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng Corona, việc bảo hộ bằng sáng chế cần phải được xem xét lại.  Đồng thời, Poonawalla cũng gây áp lực đối với các doanh nghiệp và chính phủ. Ông cho rằng hệ thống hiện nay đã cản trở người dân ở các nước đang phát triển được tiếp cận với việc tiêm chủng vốn có ý nghĩa sống còn với họ. Và ngay cả ở các nước giàu, giá thuốc cũng có thể được giảm đáng kể nếu hệ thống này được thay đổi.   Tuy nhiên cho đến nay, giới công nghiệp vẫn chống đỡ thành công trước phần lớn các nỗ lực đòi nới lỏng các quy định về bằng sáng chế và về nhập khẩu. Ngay Bill Gate, một nhà tài trợ lớn cho Viện Huyết thanh Ấn Độ cũng là một người kiên quyết ủng hộ quyền sở hữu trí tuệ, cho rằng giá thuốc cao ở thế giới phương Tây là chìa khóa cho vaccine giá rẻ ở các nước đang phát triển. “Chúng tôi chi tiền cho nghiên cứu, cho các đối tác của mình hoặc bản thân chúng tôi để tạo ra sở hữu trí tuệ”. Gate từng nói vào năm 2011, “qua đó chúng tôi thu được lợi nhuận từ tiền Quỹ mà chúng tôi tạo ra và chảy sang các nước giàu có. Bằng cách này chúng tôi có nhiều tiền hơn để nghiên cứu về các loại bệnh đã bị lãng quên hay các loại bệnh của người nghèo”.  Các hãng chế tạo dược phẩm Hoa Kỳ cũng chống lại những đòi hỏi sửa đổi luật bản quyền của Poonawalla. Dù sao thì đối với một số trường hợp, bản quyền vẫn do các tập đoàn dược phẩm độc quyền kiểm soát hàng chục năm nay đối với các sản phẩm do bản thân họ phát triển.  Hiệp hội các nhà sản xuất dược phẩm Hoa kỳ PhRMA cũng có lập luận tương tự: “Quyền sở hữu trí tuệ – bao gồm cả bằng sáng chế – khuyến khích sự cạnh tranh và là cơ sở cho việc phát triển các phương pháp điều trị, các loại vaccine và thuốc chữa bệnh mới”, phát ngôn viên Hiệp hội này nói. “Nhiều loại thuốc thử nghiệm để điều trị Covid-19 được triển khai là nhờ có sở hữu trí tuệ và các biện pháp kích thích khác thúc đẩy sự hình thành và phát triển.”  Những lời khẳng định của Poonawalla đã làm nổ ra các cuộc tranh cãi về cấu thành giá thuốc chữa bệnh – cả ở Hoa kỳ cũng như ở EU. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu bằng sáng chế và các ưu đãi hợp pháp khác có bị lạm dụng để săn lợi nhuận hay không.  Mục đích của bằng sáng chế y học là nhằm để bù đắp cho doanh nghiệp về những  rủi ro và chi phí trong nghiên cứu và phát triển. Theo ước đoán của Liên minh nghiên cứu “Coalition for Epidemic Preparedness Innovations”, các doanh nghiệp dược phải chi tới 1,1 tỷ USD để một loại vaccine đi được tới giai đoạn cuối trong nghiên cứu lâm sàng.  Do chi phí ban đầu cao nên các cơ quan làm luật của Châu Âu và Hoa Kỳ đã cho phép những nhà phát triển các loại thuốc chữa bệnh mới được độc quyền kinh doanh các sản phẩm của mình trong một thời gian nhất định.  Đối với vaccine được sản xuất từ tế bào sống, có tên là dược phẩm sinh học, thì thậm chí còn có thể có nhiều cấp sáng chế khác nhau, ví dụ như: cấp sáng chế đối với thành phần hoạt tính, đối với chất phụ trợ để tăng hiệu lực, đối với các chất để nuôi dưỡng tế bào và những chất phục vụ cho quá trình sản xuất vaccine.   Điều này làm cho các đối tượng tiềm năng muốn nhập cuộc khó nắm bắt được tất cả các thành phần đăng ký sáng chế để hạ giá bán các sản phẩm nhái. Ngay cả các doanh nghiệp dược phẩm lớn của Mỹ cũng thường xuyên kiện cáo lẫn nhau vì vi phạm bản quyền đối với dược phẩm sinh học.  Poonawalla vẫnquyết tìm bằng được con đường để thâm nhập thị trường phương Tây. Để đạt được điều đó, ông kêu gọi các chính phủ mở cửa thị trường của họ thông qua việc nới lỏng các tiêu chuẩn về bằng sáng chế và quy định bảo hộ sở hữu trí tuệ.  Xuân Trang lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wirtschaft/plus212973820/Impfstoff-fuer-Entwicklungslaender-Dieser-Inder-will-die-Welt-vor-Corona-retten.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà sản xuất ô tô “kết bạn” với ứng dụng dùng xe chung      Ngày 24/5 vừa qua, hai hãng sản xuất ô tô lớn cùng ra thông báo về việc hợp tác và đầu tư vào các công ty cung cấp dịch vụ dùng xe chung, theo đó hãng Volkswagen sẽ bắt tay với Gett, một startup Israel, còn Toyota với Uber.      Trong thỏa thuận giữa hai bên, Volkswagen cam kết khoản đầu tư trị giá 300 triệu USD vào Gett, ứng dụng này hiện đang có mặt tại 60 thành phố trên thế giới. Với Toyota và Uber, sự liên kết này sẽ mang đến một lựa chọn cho thuê xe mới, theo đó các tài xế của hãng Uber có thể thuê xe của Toyota Financial Services với các điều kiện linh hoạt và dùng nguồn thu nhập từ việc lái xe để trả tiền thuê. Toyota và Uber cùng tuyên bố họ sẽ “chia sẻ kiến thức và đẩy nhanh các hoạt động nghiên cứu liên quan”. Hiện nay, cả hai hãng đều đang tập trung nghiên cứu xe tự lái và các công nghệ giúp kết nối hành khách với nhiều hình thức di chuyển khác nhau.  Trào lưu hợp tác giữa các nhà sản xuất ô tô và các công ty cung cấp dịch vụ dùng xe chung đang ngày càng phổ biến. Hồi tháng một năm nay, hãng General Motors cũng đầu tư 500 triệu USD vào Lyft, công ty dịch vụ dùng xe chung lớn thứ hai tại Mỹ, nhằm mục đích cho các tài xế của Lyft ở bang Chicago được thuê dùng xe của hãng. Các hãng sản xuất ô tô khác hiện cũng đang ráo riết thiết lập liên minh với các công ty cung cấp dịch vụ dùng xe chung để theo kịp sự phát triển của thị trường khi một lượng lớn người tiêu dùng trên thế giới đang ngả theo xu hướng không sở hữu xe riêng mà trả tiền theo dặm hoặc số giờ sử dụng.  Chi Nhân tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà tiên phong về vaccine mRNA giành giải Breakthrough      Trong số những người giành giải thưởng Breakthrough năm 2021 có nhà tiên phong về vaccine mRNA và các kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới.      Các kỹ thuật làm tăng cường sức mạnh cho các nhà khoa học trong cuộc chiến chống lại COVID-19 đã giúp đem về hai trong số năm giải thưởng Breakthrough trị giá ba triệu USD – giải thưởng thu hút bậc nhất trong khoa học và toán học. Một giải thưởng được trao cho nhà hóa sinh đã khám phá ra cách mang vật liệu di truyền RNA thông tin vào các tế bào, dẫn đến việc phát triển một loại vaccine mới. Một giải thưởng khác thuộc về các nhà hóa học phát triển kỹ thuật trình tự gene thế hệ mới được sử dụng để dò theo các biến thể SARS-CoV-2 một cách nhanh chóng. Giải thưởng đã được loan báo vào ngày 9/9.  “Hai trong số các giải thưởng là những nghiên cứu có tác động lớn lên thế giới đến mức chúng đã nâng tầm của giải thưởng lên”, Yamuna Krishnan, một nhà hóa sinh tại trường đại học Chicago in Illinois, nhận xét. “Các nghiên cứu này đã góp phần cứu sống hàng triệu người trên thế giới.”  Các vaccine của Pfizer–BioNTech và Moderna, vốn đã được phân phố đến toàn thế giới, đã dùng mRNA để hướng dẫn các tế bào tạo ra protein gai của SARS-CoV-2, do đó, kích thích cơ thể tạo ra kháng thể. Nhưng trong nhiều thập kỷ, các vaccine mRNA vẫn được coi như điều không khả thi bởi vì việc tiêm mRNA làm kích hoạt phản hồi miễn dịch không mong muốn có thể làm phá hủy mRNA này ngay lập tức. Những người giành giải thưởng – Katalin Karikó tại trường đại học Pennsylvania (UPenn) ở Philadelphia và BioNTech ở Mainz, Đức, và Drew Weissman, cũng tại Upenn – đã chứng tỏ vào giữa những năm 2000 khả năng hoán đổi một dạng phân tử ở mRNA là uridine với một thành phần tương tự là pseudouridine sẽ vượt qua phản ứng miễn dịch này.  “Đây là một giải thưởng kỳ diệu và được trao đúng lúc cho một công trình nghiên cứu khởi đầu cho những thành công phía sau”, nhà hóa sinh từng đoạt giải Nobel Jack Szostak tại trường Harvard ở Cambridge, Massachusetts, và một cố vấn khoa học của Moderna, đánh giá. “Đây là một công trình truyền cảm hứng bởi vì ngay từ lúc bắt đầu thì không ai tin là vào một ngày nào đó, nó sẽ trở nên hữu dụng”.   Vô số từ chối   Karikó kể lại sự nghi ngờ vây quanh công trình của mình vào những năm 1990 khiến cho nhiều công trình và nhiều đề xuất xin tài trợ đã bị từ chối (bao gồm cả bài báo năm 2005 mà giờ đây bà được ghi nhận) cũng như bản thân bà bị giáng chức, cắt lương. Karikó hi vọng sẽ dành tiền từ giải thưởng để quay lại đầu tư cho nghiên cứu các vaccine mRNA và liệu pháp điều trị ung thư cho tương lai. “Tôi hạnh phúc khi trở thành một trong những người đóng góp vào vaccine này nhưng nhìn lại thì thật đáng kinh ngạc về việc cần phải có bao nhiêu tiến bộ đạt được trong nhiều thập kỷ, trong nhiều lĩnh vực để đạt được điều đó”, Karikó nói. “Niềm tự hào của tôi là được cùng với hàng trăm người khác tham gia vào quá trình này”.  Shankar Balasubramanian và David Klenerman của trường đại học Cambridge, Anh, và Pascal Mayer tại công ty Alphanosos ở Riom, Pháp cùng nhau chia sẻ giải thưởng  bởi đã phát minh ra một kỹ thuật vào giữa những năm 2000 cho phép hàng tỉ mảnh DNA được chụp lại và đọc một cách đồng thời, qua đó tăng tốc giải trình tự lên 10 triệu lần. “Tôi đã sốc và cảm thấy vô cùng vinh dự khi biết chúng tôi đã giành giải”, Balasubramanian nói.  Ông kể lại sự hào hứng của mình vào giữa những năm 1990 về dự án giải mã hệ gene người, vốn phụ thuộc vào giải trình tự gene Sanger – phương pháp giải trình tự gene ban đầu để xây dựng trình tự một mảnh DNA tại một thời điểm. Sau đó ông nhận ra là trình tự gene cần một “chuyển đổi lớn để gia tăng quy mô và làm cho quá trình đó trở nên nhanh hơn, rẻ hơn, đem lại lợi ích lớn hơn cho quá trình chăm sóc sức khỏe con người”.  Krishnan so sánh bước nhảy vọt từ giải trình tự Sanger đến giải trình tự thế hệ mới với bước nhảy từ máy bay của anh em nhà Wright đến chiếc Boeing hiện đại. Bà lưu ý giải trình tự nhanh và hiệu quả cũng là điều thiết yếu với dược phẩm gốc và tạo dựng những tiên tiến mang tính nền tảng về cấu trúc và động lực học của protein phát sáng trong các kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR và trong sinh học RNA.  Giải thưởng thứ ba dành cho khoa học sự sống được trao cho nhà sinh hóa Jeffrey Kelly tại Scripps Research ở La Jolla, California, cho việc nghiên cứu ra sự xoắn không chính xác của protein đóng vai trò như thế nào với việc phát bệnh amyloidosis, một chứng bệnh có thể ảnh hưởng đến các cơ quan, bao gồm tim và có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh thoái hóa thần kinh – và cho việc phát triển là một phương pháp điều trị hiệu quả căn bệnh này.  Thời gian hoàn hảo    Hidetoshi Katori (trái) và Jun Ye phát minh ra đồng hồ mạng tinh thể quang. Nguồn: The University of Tokyo/Jun Ye  Giải Breakthrough trong vật lý cơ bản thuộc về nhà vật lý quang Hidetoshi Katori tại trường đại học Tokyo, và Jun Ye tại Viện nghiên cứu Tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mĩ ở Boulder, Colorado, cho việc phát minh ra đồng hồ tinh thể quang – một thiết bị có thể chỉ sai một giây trong suốt 15 tỉ năm, cải thiện độ chính xác của những đo đạc thời gian lên tới 10.000 lần.  Giải tưởng này “vô cùng xứng đáng”, Helen Margolis, một nhà vật lý quang tại Phòng thí nghiệm Vật lý quốc gia ở Teddington, Anh, nói.  Nhiều đồng hồ caesium tiên tiến trước đây được thiết kế dựa trên việc đo đạc các sóng vi mô phát xạ khi các nguyên tử chuyển pha giữa hai trạng thái năng lượng – một quá trình được kích hoạt bằng việc để ‘rơi’ các đám mây nguyên tử và bắn phá chúng với các vi sóng. Các đồng hồ tinh thể quang thay vào đó tấn công các nguyên tử strontium với ánh sáng quang và đo đạc sự phát xạ của ánh sáng quang với một tần suất cao hơn 100.000 lần so với vi sóng. “Điều đó nghĩa là anh có thể đo đạc được các tích tắc nhanh hơn,” Ye nói.  Các đồng hồ này sử dụng tia laser để giữ hàng ngàn nguyên tử trong một mạng tinh thể đứng yên, nhằm đạt được độ chính xác lớn hơn. “Nhưng việc bẫy các nguyên tử cũng làm chúng thay đổi”, Ye giải thích. Mỗi trạng thái năng lượng của nguyên tử thông thường sẽ bị nhiễu khác nhau. Một thủ thuật quan trọng là tìm ra hai trạng thái năng lượng có cùng độ nhiễu, và khi lấy hiệu giữa chúng thì nhiễu sẽ bị triệt tiêu.  Nhờ có độ chính xác của kỹ thuật họ áp dụng mà “các đồng hồ tinh thể quang có thể được sử dụng để tìm hiểu các hiệu ứng chưa bao giờ được thấy trước đây”, Margolis nói. Vào năm 2020, Katori và đồng nghiệp xuất bản một công trình sử dụng hai đồng hồ, một đặt tại chân tháp Skytree Tokyo và một tại đỉnh tháp cao 450 m để thực hiện một thử nghiệm chính xác về thuyết tương đối. Trong khi nhóm của Ye đang tìm kiếm hiệu ứng của sự hiện diện một hạt ứng cử viên cho vật chất tối – vật chất bí ẩn được cho là chiếm khối lượng lớn trong vật chất của vũ trụ – lên đồng đồ tinh thể. Rất nhiều đồng hồ có thể giúp cải thiện việc dò sớm động đất và hoạt động núi lửa, cũng như phép đo chính xác mực nước biển dâng.  Giải Breakthrough trong toán học thuộc về Takuro Mochizuki ở trường ĐH Kyoto, cho việc mở rộng hiểu về về cấu trúc đại số của “các modul ‘D holonomic’ – vốn liên quan đến các dạng nhất định của các phương trình vi phân – để xử lý các điểm mà tại đó vẫn có thể được nghiên cứu các phương trình này mà không cần phải xác định rõ.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-02449-y  https://www.forbes.com/sites/alexknapp/2021/09/09/2022-breakthrough-prizes-announced-mrna-vaccine-pioneers-awarded-3-million/?sh=46a8de83a2e8           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà toán học bậc thầy tái định hình tôpô giành giải Abel      Không chỉ có công trình thúc đẩy nghiên cứu về các hình dạng, Dennis Sullivan còn phát triển các công cụ giúp giải được nhiều bài toán.      Nhà toán học Dennis Sullivan. Nguồn: ews.stonybrook.edu  Nhà toán học Mĩ Dennis Sullivan đã giành một trong những giải thưởng danh giá nhất về toán học, do những đóng góp của ông cho tô pô – nghiên cứu về các tính chất định tính của các hình dạng – và những lĩnh vực liên quan.  “Sullivan đã nhiều lần làm thay đổi lĩnh vực tôpô bằng việc đưa vào những khái niệm mới, chứng minh được những định lý mang tính bước ngoặt, trả lời nhiều giả thuyết cũ và thiết lập được những bài toán mới, qua đó thúc đẩy lĩnh vực này phát triển”, theo thông cáo báo chí về giải thưởng Abel 2022 từ Viện hàn lâm Khoa học Nauy có trụ sở ở Oslo vào ngày 23 tháng 3. Trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình, Sullivan đã chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác của toán học và giải các bài toán bằng cách áp dụng những công cụ khác nhau trên một phạm vi rộng, “giống như một bậc thầy đích thực”, thông cáo nhận xét. Giải thưởng trị giá 7,5 triệu kroner Nauy (tương đương 854.000 USD).  Kể từ khi trao giải lần đầu tiên vào năm 2003 đến nay, giải Abel đã góp phần tái hiện một giải thưởng trọn đời, theo Hans Munthe-Kaas, chủ tịch ủy ban giải thưởng và là một nhà toán học tại trường đại học Bergen, Nauy. Những người được trao giải Abel trước Sullivan đều là các nhà toán học nổi tiếng; nhiều người có những công trình nổi tiếng bậc nhất vào khoảng giữa đến cuối thế kỷ 20. “Thật vui khi có mặt trong danh sách vinh quang này”, đó là lời của Sullivan, người được bổ nhiệm tại trường đại học Stony Brook ở Long Island, New York, và đại học Thành phố New York. Trong số này, ngoại trừ trường hợp của Karen Uhlenbeck, nhà toán học của trường đại học Texas tại Austin được trao giải thưởng vào năm 2019, tất cả đều là nhà toán học nam.  Sullivan sinh ra tại Port Huron, Michigan, vào năm 1941 và lớn lên ở Texas. Ông bắt đầu sự nghiệp toán học vào những năm 1960. Vào thời điểm đó, lĩnh vực tôpô đang phát triển mà trọng tâm là bài toán phân loại tất cả các đa tạp. Các đa tạp là những đối tượng mà tại mỗi “địa phương” nó có cấu trúc tương đồng với mặt phẳng hoặc không gian nhiều chiều được mô tả trong hình học Euclid. Nhưng về hình dạng tổng thể của một đa tạp lại có thể khác xa với các không gian phẳng này, giống như bề mặt của một hình cầu khác biệt với một lá 2D: các đối tượng này được gọi là khác nhau “về mặt tô pô”.  Vào giữa những năm 1990, các nhà toán học đã nhận ra rằng tính chất tôpô có sự khác biệt rất lớn giữa các đa tạp, phụ thuộc vào số chiều của đa tạp, Sullivan nói. Nghiên cứu về các đa tạp không quá bốn chiều rất thú vị về mặt hình học và các kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu các đa tạp bằng cách cắt chúng ra và ghép chúng lại với nhau đã được các nhà khoa học sử dụng cho đến nay. Nhưng nếu các đa tạp này có số chiều cao hơn – từ năm trở lên – những kỹ thuật này cho phép các nhà nghiên cứu làm được nhiều hơn nữa.  Sullivan và những người khác đã có thể đạt tới việc phân loại gần như hoàn toàn các đa tạp bằng cách chia bài toán thành các phần mà có thể giải quyết bằng các phép tính đại số, theo Nils Baas, một nhà toán học ở trường đại học KH&CN Nauy ở Trondheim. Sullivan cho biết, kết quả mà ông tự hào nhất là kết quả mà ông đạt được vào năm 1977, trong đó rút ra được những tính chất quan trọng của một không gian bằng cách sử dụng một công cụ gọi là phép đồng luân hữu tỉ. Đây là một trong những công trình của ông được trích dẫn nhiều nhất và áp dụng nhiều kỹ thuật nhất.  Vào những năm 1980, mối quan tâm của Sullivan chuyển sang các hệ động lực. Đó là những hệ thống tiến hóa theo thời gian – chẳng hạn như sự tương tác qua lại của những quỹ đạo các hành tinh hay chu trình tiến hóa của dân số – nhưng chúng có thể trừu tượng hơn. Cũng tại đây, Sullivan đã tạo ra những đóng góp “mang đẳng cấp giải Abel”, Munthe-Kaas nói. Nói riêng, Sullivan đã đưa ra một phép chứng minh chặt chẽ cho một sự kiện đã được nhà vật lý toán người Mỹ Mitchell Feigenbaum khám phá thông qua các tính toán mô phỏng trên máy tính. Đó là các số – được gọi là các hằng số Feigenbaum – thường xuất hiện trên rất nhiều loại hệ động lực, và công trình của Sullivan đã giải thích tại sao. “Đó là điều được biết từ thực nghiệm trên máy tính và đó là điều khác được biết từ một định lý toán học chính xác,” Sullivan nói. Những nhà toán học khác đã nỗ lực chứng minh bằng các công cụ có sẵn và không ai làm được. “Tôi phải đi tìm những ý tưởng mới,” Sullivan nói.  Nhưng kể từ những thập kỷ đó, Sullivan lại bắt đầu chuyển mối quan tâm sang sự chuyển động tương tác của các chất lỏng, chẳng hạn như dòng chảy trong một con suối. Ông ấy nói rằng ước mơ của mình là khám phá ra các phương thức mà có thể đưa ra dự đoán chuyển động như thế trên quy mô lớn.  Anh Vũ tổng hợp  PGS. TS Nguyễn Sum (ĐH Sài Gòn) hiệu đính   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-00841-w  https://www.newscientist.com/article/2313215-mathematician-wins-abel-prize-for-research-on-transforming-shapes/    Author                .        
__label__tiasang Nhà Trường Mới như chúng tôi đã có      LTS – Tia Sáng hỏi nhà giáo Phạm Toàn có ý kiến gì về việc xã hội đang xôn xao chuyện nhà trường mới nhà trường cũ. Nhà giáo đã trả lời bằng bài viết sau, và giải thích qua điện thoại: mình không góp ý này nọ về chuyện đó. Mình gửi vài điều đã làm xong và đang làm nốt để gợi ý xây dựng một mô hình nhà trường mới như thế nào…      Cô giáo Tạ phương Anh và Minh Hạnh giúp  học sinh lớp 1 Út Tịch 1 hoàn thiện “Từ điển  chính tả theo nghĩa”.  Từ mấy bài văn học sinh Lớp 1  Các cô giáo Đinh Phương Thảo và Vũ Thị Loan, hai người cùng đến thông báo tình hình học sinh Lớp 1 cuối năm học 2015-2016 trường “Út Tịch” của Nhóm Cánh Buồm. Điển tích Út Tịch, sau đây sẽ được giải thích. Chỉ biết lần này, đọc xong mấy bài văn của học sinh Lớp 1 mình thực sự cảm động. Mình có hơi bị cay cay mắt nhưng khe khẽ thôi. Thật à? Thật sự cuối Lớp 1 các em viết văn như vậy à? Bẵng đi ba tháng mình không đến dự giờ, mà đã thế này à?  Xin trình làng tạm hai bài văn của các em Lớp 1 trường Út Tịch số 2 của Nhóm – bài ký tên hai tác giả vì sau khi hai bạn đóng vai với nhau thì cùng viết ra:  Ông trăng và con trâu  – Chào cháu trâu.  – Cháu chào ông trăng.  – Sao tối rồi mà cháu còn ăn cỏ ngoài đồng?  – Vì bạn chăn trâu chưa làm xong chuồng cho cháu ạ.  – Sao cháu không bảo bạn ấy nhanh lên?  – Tại bạn ấy ngủ quên ông ạ.  – Cháu ở ngoài thế này có lạnh không?  – Cháu có lớp da cứng lắm, không bị lạnh đâu ạ.  (Trần Chí Kiên, Đỗ Khôi Nguyên)  Truyện về Hai Bà Trưng  Trưng Trắc và Trưng Nhị đi gặp dân làng.  Trưng Trắc: Mọi người ơi, có ai muốn làm quân sĩ của chúng tôi không?  Trưng Nhị: Đúng thế! Hãy giúp chúng tôi với! Có ai muốn giúp chúng tôi không? Chúng ta hãy cùng nhau đánh giặc.  Cả hai: Hãy giúp chúng tôi! Hãy giúp!  Dân làng: Đồng ý! Đồng ý! Đồng ý!  Tất cả mọi người: Giúp đỡ! Xung kích! Tấn công quân giặc Hán thôi mọi người!  Cuối cùng quân giặc tan vỡ. Cả hai bà lên làm vua. Nhân dân rất vui mừng.  Nhân dân: Trưng Vương muôn năm! Muôn năm!  (Nguyễn Thanh Mai)  Các em viết văn và còn tự trình bày bài văn của mình, nâng niu bản thảo chẳng kém gì các nhà văn chuyên nghiệp! Làm cách gì để những trẻ 7 tuổi 8 tuổi viết ra những bài văn không theo mẫu nào, chỉ theo cảm hứng của mình và nâng niu bài văn của mình như vậy?  Hệ thống kỹ thuật  Câu trả lời có thể nằm trong ý này: trong cuộc sống nói chung, và trong sự nghiệp Giáo dục nói riêng, cần những ý tưởng quy tụ xung quanh một tư tưởng đổi mới; nhưng kèm theo một ý tưởng  hay, rất hay, thậm chí vô cùng hay, còn cần đến một hệ thống kỹ thuật thực thi.  Tư tưởng Giáo dục của nhóm Cánh Buồm là tạo ra những con người có năng lực sống hòa hợp trong nền văn minh đương thời. Con người đó phải biết cách học chứ không chỉ là con người nhặt nhạnh kiến thức. Mà cách học quan trọng nhất là làm ra điều mình cần học.  Tư tưởng này (làm ra điều mình cần học) được “kỹ thuật hóa” như thế nào?  Hệ thống việc làm mang tính “kỹ thuật” đó gói gọn trong phương thức sau: làm lại những thao tác chắt lọc nhất của người đi trước khi họ làm ra sản phẩm. Ở đây, muốn cho trẻ em làm ra sản phẩm nghệ thuật để có tư duy nghệ thuật – là mục đích của việc học môn Văn – đó là làm lại những cảm xúc để biết thương yêu con người (như người nghệ sĩ hoặc nhà thơ, nhà văn, người diễn viên… đã từng “tự làm ra” cho họ). Dễ hiểu vì sao sách Văn Lớp 1 Cánh Buồm lại có chủ đề suốt năm học là ĐỒNG CẢM và học thông qua việc làm là những trò chơi đóng vai. Tiếp theo, trẻ em ngay từ bậc tiểu học phải học các thao tác làm ra tác phẩm, đó là TƯỞNG TƯỢNG, LIÊN TƯỞNG và SẮP XẾP (BỐ CỤC) tác phẩm. Sách Văn Lớp 2, Lớp 3 và Lớp 4 Cánh Buồm đều có chủ đề suốt năm học là từng thao tác đó.  Tất cả các điều mông lung như những “tư tưởng” hoặc “ý tưởng” đó đều được soạn ra cụ thể trong từng cuốn sách, chi tiết đến từng tiết học. Những điều đó không do các tác giả trong giây phút “thông minh đột xuất” nghĩ ra. Tất cả đều được làm thử, làm đi làm lại nhiều chục năm ròng, và làm ra trên mảnh đất Việt Nam mang cốt cách dân tộc Việt Nam, để có một hoặc vài ba kết quả “giản dị”, “dễ như bỡn”, dùng được một cách tự nhiên thoải mái như công việc hằng ngày của Nhà trường trong ngày hôm nay.  Thay đổi một công cuộc Giáo dục không được cóp nhặt và càng không thông qua những hình thức bề ngoài. Chẳng hạn như thay đổi số học sinh một lớp, học theo “nhóm”, giơ cái mặt nạ màu đỏ để hỏi thay cho giơ tay xin nói… những thay đổi vặt vãnh đó không thay thế được sự nung nấu thực thi một tư tưởng Giáo dục không còn mang tính chất giáo điều, cổ lỗ, cục mịch.  Vai trò giáo viên hay Công việc của giáo viên?  Đừng bao giờ nghĩ đã “lấy học sinh làm trung tâm” thì nhà giáo không còn vai trò gì nữa. Không thể có “lớp học ngược” cho trẻ em tự học hoàn toàn, thậm chí trẻ em hướng dẫn lẫn nhau. Quan niệm đó là buông xuôi vai trò giáo viên, và cũng chỉ là đi theo lối “cải cách hình thức bên ngoài”.  Vai trò giáo viên thể hiện trước hết và tập trung ở cách tổ chức việc học của học sinh. Không nên nói chung chung và hào nhoáng về “vai trò” đó. Tốt nhất là nên quy định người giáo viên làm những việc gì khi tổ chức việc học của nhiều chục học sinh trong một lớp học bất kỳ.  Công việc đó có thể bao gồm trong mấy điều sau:  (1) Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh. Năm nay, tuần này, và nhất là trong tiết học này, các bạn sẽ học điều gì. Khác hoàn toàn với việc “học” không cần có ý thức học trước đó, từ tiết học đầu tiên của em học s inh Lớp 1 đã là tiết học có ý thức về việc mình sẽ học gì và sẽ học theo cách học như thế nào.  (2) Làm mẫu cho học sinh thấy, tiết này học điều gì thì học bằng cách gì. Làm mẫu không phải là giảng giải và hoàn toàn khác với giảng giải. Làm mẫu là cho học sinh nhìn thấy bằng mắt và nghe thấy bằng tai cái thao tác học được diễn ra như thế nào.  Liên quan đến học tiếng Việt ở bậc Tiểu học, thì giáo viên làm mẫu cách phân tích ngôn ngữ. Liên quan đến học Văn ở bậc Tiểu học, thì làm mẫu cách kể chuyện ở ngôi thứ ba (người kể đứng bên ngoài) hoặc cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất (người kể thâm nhập vào một nhân vật trong câu chuyện) và làm mẫu cách đóng vai sau khi thâm nhập vào nhân vật “ngôi thứ nhất” đó.  (3) Sau khi làm mẫu thao tác, thì theo dõi cách học sinh thực hiện ở các trình độ khác nhau. Trình độ học sinh ở lớp nào với số lượng bao nhiêu thì cũng có ba loại để biết cách đối xử riêng:  Các em trung bình là đông đảo học sinh có thể làm lại được thao tác đã học với những vật liệu khác nhau. Các em này sẽ được “lặp lại” mẫu cho cả lớp xem, rồi để các em tự động làm việc với nhau theo nhóm. Bây giờ thì tha hồ làm việc theo nhóm mà không mang tính “hình thức”.  Các em học sinh trung bình khi đó sẽ hòa với nhóm học sinh giỏi và giáo viên có thể “thả nổi” để những em này tự luyện tập với nhau (dĩ nhiên là có sự kiểm soát khéo léo từ xa của giáo viên). Nhưng sự kiểm soát khôn ngoan nhất là xem các sản phẩm – mà sản phẩm đọng lại rõ nhất là các “vở diễn” và bài viết của từng em. Không có cái “tinh thần thi đua” siêu hình nào nằm ngoài sản phẩm hết! Sau này, lớn lên, các em sẽ quen với lối sống mới đó, một lối sống thực sự được rèn luyện qua việc làm ở một nhà trường muốn tự thay đổi để mang tính chất Nhà Trường Mới.  Với học sinh chậm, yếu kém, thì giáo viên phải đến giúp đỡ tới từng em. Giúp đỡ không phải là giảng giải, mà là giúp em đó làm lại thao tác như giáo viên đã làm mẫu mà em đó theo không kịp hoặc vụng về khi áp dụng. Như vậy là một giáo viên vẫn làm việc được với ba nhóm trình độ học sinh khác nhau để vẫn có kết quả gần như “đồng loạt”.     Chương trình học, sách giáo khoa, huấn luyện giáo viên  Làm cách gì để giáo viên biết và làm theo đúng một cách dạy học khác dựa trên tổ chức việc làm của học sinh, thay thế cho cách dạy học cũ? Trả lời câu hỏi này liên quan đến ba điều:  (1) Một chương trình học là một lý tưởng đào tạo kèm theo một hệ thống giải pháp kỹ thuật bảo đảm thực hiện lý tưởng đào tạo đó. Một chương trình không do những viên chức ngồi sắp đặt với nhau bao nhiêu tiết Toán, bao nhiêu tiết Lý, bao nhiêu tiết Sử Địa…  Một chương trình Giáo dục phổ thông – theo quan điểm và lấy thí dụ từ chương trình của Nhóm Cánh Buồm – sẽ được hiểu như sau: đó là con đường thực hiện lý tưởng đào tạo thanh niên thiếu niên cả dân tộc thành những con người có năng lực sống hòa hợp với nền văn minh hiện đại. Năng lực trung tâm của con người lý tưởng đó – ngay từ tiết thứ nhất của cuộc đời đi học ở Lớp 1 – là biết cách tự học.  Một chương trình như thế liên quan đến các bậc học, trong đó bậc Tiểu học là bậc học phương pháp học (học cách học ngay từ tiết thứ nhất vào Lớp 1) – bậc Trung học cơ sở là bậc dùng phương pháp học để tự trang bị kiến thức phổ thông cơ bản để vào đời theo ba hướng: tự kiếm sống, học nghề, học lên đại học thông qua giai đoạn chuyển tiếp (Trung học phổ thông hiện thời) là bậc Dự bị đại học do từng trường đại học tổ chức cho tiết kiệm thời giờ và có chất lượng cao. Tiết kiệm, chẳng hạn như: vào trường Âm nhạc, trường Văn khoa và trường Xiếc… có cần học tính đạo hàm như vào mọi trường khác không? Chất lượng cao hơn thì rất dễ thấy: tất cả các phòng thí nghiệm thô sơ ở tất cả các trường phổ thông cấp III cộng lại (số lượng rất lớn) chắc gì bằng một góc chất lượng phòng thí nghiệm một trường đại học nghiên cứu?  (2) Sau chương trình, sách giáo khoa sẽ không là “pháp lệnh” với giáo viên, mà là người bạn đường tin cậy. Nó giúp giáo viên cách giao việc cho học sinh thực hiện, nó bày cho giáo viên cách làm mẫu thao tác học để giáo viên tự tin là mình hướng dẫn cách học đúng (chứ không phải cách giảng giải đúng) cho học sinh, và sau nữa nó gợi cho giáo viên những cách kiểm soát kết quả việc làm của học sinh – cả những kết quả bày ra bên ngoài để ai cũng nhìn thấy được, và cả những kết quả trong tư duy của học sinh khó thấy bày ra bên ngoài.  Điều đặc biệt là ngay trong sách giáo khoa đã phải có những yếu tố kỹ thuật cụ thể để đánh giá kết quả học tập của học sinh – cả cách tự đánh giá lẫn cách theo dõi kết quả tự đánh giá. Thay đổi công việc đánh giá không đơn giản là thay điểm số bằng lời hoặc bằng chữ viết cái lời vẫn thường được nói ra ngoài bằng con số hoặc chữ A chữ B. Người Nga cho điểm từ 1 đến 5 và người Đức cho điểm từ 5 đến 1 có khác gì nhau, và cũng có gì khác đâu với những lời nhận xét từ trên dội xuống?  Thay đổi cách đánh giá không hề dễ đối với cái hệ thống vẫn chỉ quen coi bất kỳ ai không là học sinh thì đều được coi là cao hơn, giỏi hơn, có đạo đức hơn những em học sinh tội nghiệp muôn đời thấp cổ bé họng. Việc đánh giá lý tưởng nhất ở trường học (và cả ở ngoài đời) phải là tự đánh giá. Công việc đó phải được tập thực hành ngay từ bộ sách giáo khoa bậc thấp nhất. Và kể từ Lớp 6, thì việc tự học và tự đánh giá sẽ phải trở thành niềm vui, thành thói quen, thành nếp sống của con người. Xã hội sẽ ổn định nhờ những con người tự giác thật sự nhờ thấy chính bản thân mình có những năng lực thực sự gì – và cảnh 220 nghìn cử nhân và thạc sĩ thất nghiệp phải đi học nghề lại sẽ chấm dứt. Chấm dứt luôn cả cái cảnh “đồng chí này là con đồng chí nào” như ta đang thấy!  (3) Việc thứ ba là huấn luyện giáo viên.  Trường Sư phạm là trường học nghề. Nghề dùng một hệ thống nghiệp vụ gửi cụ thể trong bộ sách giáo khoa đã được nghiên cứu và thực nghiệm đủ kỹ. Đó không là một trường thuần túy “thực hành”. Giáo sinh cần học để biết chắc về lý thuyết vì sao lại có sách mới này? Giáo sinh cần làm lại những thực nghiệm Tâm lý Giáo dục chỉ được nghe mô tả. Giáo sinh cần thực hành tất cả các mẫu việc làm và mẫu thao tác học đủ để tự tin mình ra trường thì làm việc có kết quả ngay với trẻ em, không thua, thậm chí có thể và phải hơn tay nghề những giáo viên lâu năm đã quá kiêu hãnh với “nghề” giảng giải nhai đi nhai lại mỗi năm – mặc dù chưa hề biết đến “nghề” mới của nhà giáo là tổ chức hệ thống việc làm mà mục đích là giúp học sinh tập tự học và thực sự tự học.  Vậy sẽ cư xử thế nào với những giáo viên đã quen với phong cách dạy học giảng giải cũ? Không khó nếu có một bộ sách giáo khoa lý tưởng như đã được mô tả bên trên. Xin tự giới thiệu: người viết bài này đã từng đi tiên phong mở trường lớp mang tên “Thực nghiệm Hồ Ngọc Đại” từ năm 1984 tại 13 tỉnh và thành phố, đến những năm 1990 (đã mở rộng tại 43 tỉnh và thành phố). Trong khi làm công việc huấn luyện lại các giáo viên có trình độ 7 cộng 1, cộng vài ba, cho đến những giáo sinh đang đào tạo bài bản, người viết bài này đã chiêm nghiệm một điều: bộ sách giáo khoa mới phải chứa đựng trong nó cả một tư tưởng mới và những kỹ thuật mới để thực thi có kết quả cao của giáo viên. Vì vậy, thật dễ hiểu vì sao nhóm Cánh Buồm đã bắt tay chữa lại sách cho đúng hơn, hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn. Và chính vì thế, từ năm 2013 tới nay, nhóm Cánh Buồm đã “tay không bắt giặc” và chẳng có xu nào vẫn có hẳn 5 Út Tịch, 3 ở Hà Nội, 1 ở Bắc Giang, và 1 ở Sài Gòn.          Cô Đinh Phương Thảo ra đề thơ cho các em học sinh lớp Út Tịch 4 nhân chuyện cá chết ở miền Trung. Cô Thảo trêu các em, giả vờ rằng “thôi, thây kệ chuyện cá chết…” và bị các em nhao nhao phản đối. Rồi Thảo giả vờ xuống nước: “Mình không ăn cá nữa thì sao…”, và học sinh của Thảo trả lời cô bằng thơ:     NHỊN ĐÓI     (Lời của một em bé vùng biển)     Cá biển đang chết rất nhiều     Mẹ đừng ra biển buổi chiều mẹ ơi     Nhà mình đành ăn bó xôi     Ngay mai thì phải nhịn thôi mẹ à!     (Hạo Nhiên – Lớp 4)                          BUỒN     Cá biển đang chết rất nhiều     Có thể do biển nhiễm nhiều thủy ngân     Biển đang thêm nhiều tủi thân     Khiến cá chết hết, người cần cá thêm.     (Khôi Nguyên – lớp 3)  CÁ CHẾT     Cá biển đang chết rất nhiều     Mọi người thôi việc buổi chiều ra khơi     Ngư dân đáng thương mẹ ơi     Họ đang trong cảnh cuộc đời đắng cay     Hôm nào cũng bị trắng tay     Họ buồn biết kể chuyện này với ai?     (Đặng Chí Kiên – lớp 4)             Ngày đáng nhớ  Tình cờ hôm nay ngồi viết bài này lại vào ngày 19 tháng 8. Với thế hệ những U90 sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, đó là một ngày đầy kỷ niệm. Ngày 17 tháng 8, tôi đứng như một quan sát viên ở phố Tràng Tiền nhìn đoàn người vạm vỡ hơn thân hình mảnh dẻ của mình, tay nắm đấm giơ ngang tai hô “Việt Nam độc lập”, “Đả đảo phát xít”, “Ủng hộ Việt Minh”… Mắt tôi dõi theo những thanh niên kiệu nhau trên vai mang lá cờ đỏ khác lạ trong khi một lá cờ lớn thả xuống từ gác Nhà hát lớn…  Bao nhiêu năm qua đi, tôi vẫn nguyên vẹn con người mơ mộng như xưa, và xin hứa sẽ mơ mộng cho đến chết. Điều khác biệt đôi chút là con người mơ mộng giờ đây có pha thêm chút cảnh giác, và không còn sự hoài nghi nữa mà đã có những kết luận riêng dứt khoát. Không có những kết luận riêng, tôi không thể sống mười năm trên miền núi Hà Tuyên chỉ để soạn lại cách dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Không có kết luận riêng, chắc chắn tôi không thể cúc cung tận tụy làm Giáo dục thực nghiệm trên ba mươi năm với giáo sư Hồ Ngọc Đại, nhất là không thể có cuộc tập hợp được những em trong nhóm Cánh Buồm bây giờ vào năm 2009. Từ thuở ban đầu có dăm bảy em, nay đã có thêm cả các Cụ, nhóm Cánh Buồm đã có 4 Thê đội. Thê đội 1 là những bạn trẻ từ thuở ban đầu. Thê đội 2 gồm các giáo viên cũng trẻ ở 5 Út Tịch. Thê đội 3 gồm mấy ông già chuyên dịch sách để làm bộ Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm sắp ra đầu sách thứ 4. Thê đội 4 gồm vài chục thành viên cả trẻ cả già, trên 90 tuổi có nhà giáo Kiều học Nguyễn Thế Anh và người biên soạn kiêm biên tập viên Mạc Văn Trang, có nhiều giáo sư cả ở Việt Nam lẫn ở nước ngoài làm việc qua Internet…  Những ai hay nói “sinh bất phùng thời” là vì thất vọng không kiếm chác được ở “Thời”. Tôi lại thấy mình lúc nào cũng gặp Thời – tôi đang gặp Thời Internet, thời của những tâm hồn Tự do, Trách nhiệm, và có Sức để sống tự do và trách nhiệm.          Một số bài thơ dịch từ các học sinh lớp 5 của cô Hải Hà, trường Út Tịch 1 Hà Nội, theo lời thách của nhà thơ Hoàng Hưng:     Night in the garden     Moonlight drops softly     From small flowers. Night wind sings     Like a lost lover     Gele Mehlam 17 tuổi, lớp 11 (Ohio)  Ánh trăng mơn man     Gió cất lời từ những nụ hoa     Như người tình xưa     (Anh Kiệt dịch)  Ánh trăng nhẹ rơi     Từ nhành hoa nhỏ. Gió và đêm cùng hát     Như chuyện tình đã qua     (Gia Kiên dịch)  Ánh trăng từng giọt nhẹ rơi     Từ bông hoa nhỏ, gió cất lời     Nó hát về người yêu đã mất.     (Ngô Minh Hà dịch)  Ánh trăng rớt xuống nhẹ nhàng     Từ bông hoa nhỏ. Đêm về gió hát     Như người tình lạc mất nhau.     (Thùy Trang dịch)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh thử nghiệm đánh giá ngang hàng mở      Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh (IOP Publishing in England) đã trở thành nhà xuất bản vật lý đầu tiên đưa ra việc đánh giá ngang hàng “mở” (“transparent” peer review) đối với các bản thảo.         Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh sẽ thực hiện một thử nghiệm kéo dài một năm về việc đánh giá ngang hàng mở trên ba tạp chí của mình.    Với cách làm này, các báo cáo của phản biện đối với các bản thảo đã được chấp nhận đăng sẽ được in ra cùng với bài báo để cộng đồng có thể cùng đọc được. Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh, nơi xuất bản Physics World, đã thông báo là sẽ thực Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh (IOP Publishing in England) đã trở thành nhà xuất bản vật lý đầu tiên đưa ra việc đánh giá ngang hàng “mở” (“transparent” peer review) đối với các bản thảo. Với cách làm này, các báo cáo của phản biện đối với các bản thảo đã được chấp nhận đăng sẽ được in ra cùng với bài báo để cộng đồng có thể cùng đọc được. Nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh, nơi xuất bản Physics World, đã thông báo là sẽ thực hiện một thử nghiệm kéo dài một năm về việc đánh giá ngang hàng mở trên ba tạp chí của mình, đó là tạp chí  JPhys Materials, tạp chí Environmental Research Letters và tạp chí Journal of Neural Engineering. Kết quả của cuộc thử nghiệm này – và khả năng có thể được mở rộng sang các tạp chí khác hay không – dự kiến sẽ được công bố vào cuối năm tới.  Trong thời gian thử nghiệm, bắt đầu từ ngày 22/10/2019, các tác giả gửi bản thảo của họ tới ba tạp chí nói trên (hai trong số đó là các tạp chí truy cập mở hoàn toàn) sẽ được hỏi xem họ có đồng ý báo cáo của phản biện sẽ được xuất bản đồng thời cùng với bài báo đã được nhận đăng của họ hay không. Nếu các tác giả đồng ý thì các phản biện ngang hàng cũng sẽ được hỏi xem họ có muốn báo cáo của họ cũng như tên thật của họ sẽ được công bố công khai hay không. Để việc đánh giá ngang hàng mở có thể được triển khai một cách suôn sẻ, cả tác giả và phản biện đều phải nhất trí về việc đó, nhưng người phản biện có thể duy trì sự ẩn danh nếu họ muốn.     Mở hộp đen     Cùng với việc thống kê xem có bao nhiêu tác giả lựa chọn đồng ý việc đánh giá ngang hàng mở, nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh cũng sẽ theo dõi xem liệu điều này có ngăn cản các nhà khoa học trong việc nhận làm phản biện hay không và liệu nó có thể gây ra những ảnh hưởng gì đến chất lượng của các báo cáo phản biện. Một cuộc thử nghiệm từ năm 2015 đến năm 2018 đối với 5 tạp chí của nhà xuất bản Elsevier đã cho thấy, đánh giá ngang hàng mở không gây ra ảnh hưởng đáng kể nào đến việc sẵn sàng nhận làm phản biện của các nhà khoa học cũng như không làm tăng lên hay giảm bớt thời gian cần thiết để thực hiện việc đánh giá ngang hàng mở. Mặc dù cuộc thử nghiệm cũng không cho thấy một sự khác biệt nào trong việc một bản thảo sẽ được chấp nhận hay bị từ chối đăng, nhưng theo thống kê chỉ có 10% số người đánh giá ngang hàng mở đồng ý công khai danh tính của họ [xem Nature Communications 10, 322 (2019)].  Tuy nhiên, ngay cả khi các phản biện thích ẩn danh hơn, thì vẫn có hy vọng rằng việc công khai các báo cáo phản biện sẽ tạo ra một bước tiến đối với tính cởi mở trong nghiên cứu  Theo lời của Simon Harris, một biên tập viên quản lý của nhà xuất bản của Hội Vật lý Anh: “Ngay cả khi các phản biện ở trạng thái ẩn danh thì việc công khai các báo cáo của họ sẽ có thể làm tăng đáng kể tính minh bạch của quy chuẩn đánh giá mà trước đây chỉ là một hộp đen. Sự minh bạch như vậy sẽ làm tăng trách nhiệm và có thể cả chất lượng báo cáo của các phản biện và đồng thời cũng làm giảm sự thiên vị trong quá trình đánh giá ngang hàng.” □    Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physicsworld.com/a/transparent-peer-review-trialled-by-iop-publishing/?utm_medium=email&utm_source=iop&utm_term=&utm_campaign=14290-44323&utm_content=Title%3A%20Transparent%20peer%20review%20trialled%20by%20IOP%20Publishing%20-%20News&Campaign+Owner=     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhạc cổ điển và cuộc cách mạng số hóa      Cách đây hơn 100 năm, sự xuất hiện của kỹ thuật thu âm đã làm thay đổi diện mạo âm nhạc cổ điển tại châu Âu và Bắc Mỹ và đem đến sự ra đời của một ngành công nghiệp. Ngày nay, chậm chạp nhưng chắc chắn, công nghệ số hóa đang hứa hẹn mở ra một chương mới cho âm nhạc cổ điển trên toàn thế giới.    Dàn nhạc Berlin Philharmonic là một trong những dàn nhạc nắm bắt cơ hội số hóa đem lại nhanh nhất  Nếu cho rằng các nghệ sỹ cổ điển lỗi thời và xa lạ với công nghệ thì bạn đã nhầm, ví dụ với trường hợp của Kirill Gerstein. Dù mới làm quen với iPad được vài tháng nhưng nghệ sỹ piano Mỹ gốc Nga từng giành giải ECHO Klassik 2015 cho hạng mục “Bản thu âm concerto của năm” này đã cảm thấy tiện ích của nó. Anh đã dùng chiếc iPad mới sắm để lưu giữ các bản nhạc tải từ trên mạng xuống. Các tổng phổ số hóa này làm anh cảm thấy thoải mái hơn khi tập luyện và biểu diễn, đặc biệt với bản piano concerto của Schoenberg “không phải lật giở từng trang, để hiểu giá trị của nó, bạn hãy tưởng tượng việc lật 140 trang tổng phổ trong vòng 19 phút”.  Một đồng nghiệp của anh, nghệ sỹ piano Wu Han – một trong số các giám đốc nghệ thuật của Hội âm nhạc thính phòng (Trung tâm Lincoln, Mỹ), trả lời phỏng vấn của New York Times từ Seoul qua skype, cho rằng cô là một trong những người sớm nhận ra lợi ích từ chiếc iPad. Ví dụ mùa hè năm 2016, cô có 42 tác phẩm cần nghiên cứu. Trước đây, các bản tổng phổ của 42 tác phẩm cũng có thể chiếm tới 3/4 va li của cô nhưng giờ cô có toàn bộ cả thư viện âm nhạc trong một máy tính bảng. Việc lật trang cũng trở nên duyên dáng hơn và không phát ra tiếng động. Cô cũng không cần lo về việc mất tổng phổ hay thấy nó bất chợt nhăn nhúm sau một chuyến đi dài. Trong các lớp nâng cao (master class), cô có thể miêu tả các nốt nhạc cho học viên trên máy tính bảng, gửi file cho từng người.  Một điều kỳ diệu khác là công nghệ hỗ trợ tạo nên một nền tảng âm nhạc thông qua việc kết hợp những bản nhạc đã qua chỉnh sửa, biên tập và bản thảo viết tay của các nhà soạn nhạc. “Ngày trước, tôi phải tới tận thư viện để tìm kiếm chúng”, Wu Han kể. Hiện tại thì các tổ chức âm nhạc như Beethoven-Haus ở Bonn, Đức đang số hóa các bản thảo của nhà soạn nhạc một cách tỉ mỉ và thận trọng rồi đưa lên mạng internet. Với việc cho tải miễn phí thay thế các bản in photo đắt đỏ, các nghệ sỹ ngày càng có điều kiện đọc thẳng các bản tổng phổ viết tay của các nhà soạn nhạc.  Số hóa các kho dữ liệu nhạc cổ điển  Theo thống kê của Wikipedia, hiện tại trên thế giới có 63 kho dữ liệu âm nhạc, phần lớn là âm nhạc cổ điển, đang được số hóa và truy cập mở di sản của các nhà soạn nhạc, phần lớn do các trường đại học, viện nghiên cứu và thư viện thực hiện. Một trong những dự án số hóa đình đám nhất là Bach Digital với sự tham gia của Bach Archiv Leipzig, Thư viện liên bang Berlin, Quỹ Di sản văn hóa Phổ, SLUB Dresden và trường đại học Leipzig. Triển khai từ năm 2011, Bach Digital tập trung vào di sản âm nhạc của Johann Sebastian Bach và các thành viên trong dòng họ Bach, số hóa các bút tích, các bản nhạc viết tay của Bach để tạo ra các dữ liệu được quét với độ phân giải cao, lập các thư mục gồm thông tin về các tác phẩm của Bach và những lần xuất bản chúng, qua đó cho phép người truy cập có thể thực hiện tìm kiếm thông tin theo nhiều cách khác nhau. Tính đến tháng 11/2014, kho dữ liệu này có 7.700 đơn vị dữ liệu và mới số hóa được 1/7.  Hiện tại, dự án Bach Digital đang đứng trước một khối lượng công việc khổng lồ khi số lượng các văn bản được số hóa đang không ngừng được mở rộng và việc xử lý, chuẩn hóa chúng để phục vụ cho các tìm kiếm cơ bản và nâng cao trên MyCoRe – một phần mềm mã nguồn mở được các trường đại học và các trung tâm máy tính của Đức phát triển dành cho các kho lưu trữ, các thư viện số hóa. Các văn bản từ Bach Digital đều được tải xuống trong định dạng PDF.  Tương tự, dự án truy cập mở Chopin do Viện nghiên cứu Chopin bắt đầu thực hiện đầu năm 2018 với mục tiêu “số hóa toàn bộ bản thảo và tạo điều kiện cho mọi người truy cập miễn phí” như giới thiệu của ông Maciej Janicki – phó giám đốc Viện nghiên cứu Chopin. Điều đó có nghĩa là gần 40.000 tài liệu về Chopin có trong bộ sưu tập di sản thế giới của UNESCO, bao gồm các bức ảnh, bức vẽ nhà soạn nhạc, các tài liệu nghiên cứu của các học giả về Chopin ở các viện nghiên cứu, xuất bản trên tạp chí chuyên ngành cũng như các bản nhạc viết tay của ông sẽ được đưa lên internet. Theo giải thích của ông Maciej Janicki, phần lớn nét đổi mới sáng tạo trong dự án này chính để người truy cập không chỉ tìm kiếm và tải xuống những trang tổng phổ của từng tác phẩm riêng biệt hoặc trích đoạn nổi tiếng mà còn có thể thực hiện nhiều cách phân tích về giai điệu, hòa âm, nhịp điệu và tìm hiểu những khía cạnh khác trong âm nhạc Chopin.      Công nghệ góp phần kết nối các dàn nhạc với công chúng và tạo điều kiện cho những khán giả trẻ đến với âm nhạc cổ điển, đem lại cho họ cảm giác tươi mới ở chính loại hình âm nhạc đã tồn tại nhiều thế kỷ này.      Không đơn giản để làm được điều này. TS. Marcin Konik, người phụ trách thư viện Viện nghiên cứu Chopin, cũng nhận xét, “nó không đơn thuần chỉ là sao chụp các bản nhạc hoặc đưa các tệp thông tin dưới dạng PDF”. Đó là phần việc của những nhà khoa học dữ liệu khi xử lý, chuẩn hóa dữ liệu được số hóa thành những đơn vị thông tin, đưa vào một nền tảng công nghệ được xây dựng với các thuật toán thu thập (crawl), đánh chỉ số (index) và xếp hạng (ranking) nhằm phục vụ việc tìm kiếm, lựa chọn thông tin phù hợp và xếp hạng dữ liệu khi có truy vấn, trong đó việc bóc tách, chuẩn hóa dữ liệu vẫn là khó khăn nhất vì phải xử lý nhiều loại dữ liệu có định dạng khác nhau, ví dụ như dữ liệu văn bản, dữ liệu âm thanh, dữ liệu hình ảnh…  Thách thức với các phòng hòa nhạc số   Vào năm 2008, ngay khi khái niệm số hóa vẫn còn ở mức mơ hồ và ít người quan tâm thì Berlin Philharmonic đã bắt tay thực hiện một dự án tiên phong: lập Digital Concert Hall, một trang web cho phép truyền trực tiếp các buổi hòa nhạc của Berlin Philharmonic cho những khán giả đã đăng ký. Trong lịch sử của mình, Berlin Philharmonic luôn đi đầu về đổi mới sáng tạo, ví dụ dưới cây đũa chỉ huy của nhạc trưởng Herbert von Karajan huyền thoại, họ đã có bản thu âm đĩa CD vào năm 1980 – thời kỳ sơ khai của ngành công nghiệp thu âm.  Ngay trong năm đầu tiên, họ đã có 800.000 người đăng ký xem miễn phí các nội dung – các cuộc phỏng vấn, các buổi hòa nhạc – mua vé và 30.000 người trả tiền để xem toàn bộ các buổi hòa nhạc số. Không ngạc nhiên là mọi người háo hức đăng ký bởi Digital Concert Hall có nhiều “gói” hòa nhạc, được lựa chọn tùy thuộc vào chất lượng hình ảnh. Mỗi năm, người ta có thể xem 40 buổi hòa nhạc truyền trực tiếp hoặc có sẵn trong “kho lưu trữ” qua tivi, máy tính bàn, máy tính xách tay, điện thoại thông minh. Để phục vụ khán giả, Berlin Philhamonic cung cấp một bản giới thiệu chương trình riêng cho mỗi buổi hòa nhạc như đối với khán giả trực tiếp đến phòng hòa nhạc, trong đó có nêu bối cảnh ra đời và những đánh giá hiện tại về tác phẩm của các nhà phê bình, các nhạc trưởng hiện thời. Đi kèm với nó là các clip cuộc phỏng vấn bên lề các nghệ sỹ, qua đó đem đến cho khán giả cái nhìn xuyên suốt về công việc của các nhạc trưởng, nhạc công và suy nghĩ của họ về tác phẩm của các nhà soạn nhạc trong quá khứ.  Thành công của Berlin Philharmonic khuyến khích nhiều dàn nhạc như  Vienna State Opera, Bavarian State Opera, London Symphony Orchestra, Boston Symphony Orchestra, Detroit Symphony Orchestra… bắt đầu lựa chọn phát trực tuyến một số buổi hòa nhạc chọn lọc trên các nền tảng công nghệ Medici, Spotify, Deezer hay Google Play… Dù còn nhiều bỡ ngỡ thì họ nhận thấy rằng, đây là một kênh kết nối với công chúng và quan trọng là tạo điều kiện cho những khán giả trẻ đến với âm nhạc cổ điển, đem lại cho họ cảm giác tươi mới ở chính loại hình âm nhạc đã tồn tại nhiều thế kỷ này. Ngay cả với một dàn nhạc nhỏ như Detroit Symphony Orchestra cũng cho rằng, mục tiêu này của họ còn lớn hơn cả việc tìm thêm khoản thu.  Anne Parsons – CEO của Detroit Symphony Orchestra trả lời Time: “Nhà bảo trợ tương lai là số hóa và nhà trải nghiệm biểu diễn âm nhạc trực tiếp.”  Giữa dòng chảy của các loại hình âm nhạc khác, việc các dàn nhạc cũng “lên sóng” trực tuyến có vẻ gì đó lạ lẫm và lạc lõng. Tờ Teleghraph từng nhận xét, “trong thế giới nhạc trực tuyến, âm nhạc cổ điển giống như ông chú già được mời đến bữa tiệc của những người thời thượng tuổi 30”. Thực tế cho thấy rõ điều này, âm nhạc cổ điển chỉ chiếm 3,2 % trên thị trường âm nhạc trực  tuyến, vốn là nơi ngự trị của các bản nhạc pop kéo dài vẻn vẹn 3 phút.  Việc thiếu sức hút trên thị trường âm nhạc trực tuyến của nhạc cổ điển cũng nằm ở chính công nghệ. Không giống nhạc pop hay các thể loại âm nhạc phổ biến khác, nhạc cổ điển không thể được “đóng gói” trong những tiêu chuẩn của các phần mềm số hóa thông thường, ví dụ như iTunes. Nhà phát triển phần mềm Stan Brown từng giải thích: iTunes và iPod được thiết kế để tải và nghe nhạc pop chứ không phải nhạc cổ điển, do đó nó dẫn đến một số vướng mắc: iTunes và iPod mới chỉ biết đến thể loại “bài hát” (song) chứ không hiểu được các chương (movement) trong một bản giao hưởng hoặc hồi, màn (act), cảnh (scene) trong một vở opera – những thứ cần được kết nối thứ tự với nhau thành một chỉnh thể; mới nêu tên nghệ sỹ biểu diễn (artist) chứ không phải nhà soạn nhạc (composer); thanh lựa chọn (menu) không có các thể loại tác phẩm như tứ tấu đàn dây (string quartet), tam tấu piano (trio piano), sonata,…; các thẻ gắn (tag) để người sử dụng tiện tìm kiếm thông tin, tác phẩm thì cẩu thả và thiếu nhất quán…  Mặt khác, không giống như nhạc pop, một tác phẩm cổ điển có thể được thu âm nhiều lần qua sự trình tấu của nhiều nghệ sỹ, nhiều dàn nhạc, dưới sự chỉ huy của nhiều nhạc trưởng, đôi khi một nghệ sỹ có thể thu âm nó nhiều lần.  Các nền tảng công nghệ đôi khi không hiểu hết sự phức tạp này. Trên Spotify, nhiều nhà soạn nhạc như Beethoven thường được đưa vào danh sách “nghệ sỹ” (artist) và khi người truy cập tìm kiếm một tác phẩm giao hưởng cụ thể thường rối bời giữa các bản thu âm khác nhau, không thể phân biệt nổi giữa các kết quả tìm kiếm. Do đó, mọi người cảm thấy là không có sự hỗ trợ thông minh nào đằng sau những lựa chọn đó, chỉ có những thuật toán máy tính được lập trình và cài đặt sẵn, nó không thể phân biệt nghệ sỹ Ý hiện đại Bruno Mantovani và nhạc trưởng Annunzio Paolo Mantovani, đơn giản vì cả hai cùng họ.  Về bản chất, dữ liệu về nhạc cổ điển là siêu dữ liệu (metadata) – thông tin đồng thời tồn tại trong từng tệp âm thanh số. Thông tin liên quan và quan trọng của nhạc cổ điển bao gồm tên tác phẩm, tên nhà soạn nhạc, tên album có chúng, tên người trình diễn, tên hãng thu âm và năm thực hiện thu âm. Theo cách này, việc tìm kiếm thông tin trong siêu dữ liệu được ví như “mò kim đáy bể”. Do đó, các phiên bản của iTunes không thể xử lý được các lệnh tìm kiếm, không thấy được các tác phẩm cần tìm dù có sẵn trong kho lưu trữ. “Ví dụ trường hợp tác phẩm Te Deum của Benjamin Britten, khi gõ ‘Britten’ và ‘Te Deum’ thì không kết quả nào hiển thị,” nhà soạn nhạc Nico Muhly nói. Trên thực tế, có hơn 2.000 tệp, tương đương 11.9 gigabytes, âm nhạc của Benjamin Britten, 7 tệp trong đó liên quan đến Britten Te Deum, và 97 tác phẩm do các nhà soạn nhạc phổ nhạc trên phần thơ Te Deum.  ***  Thế giới đã thay đổi nhiều kể từ khi Beethoven ứng tác bên cây đàn piano hay Stravinsky đưa ra những cách tân ở thế kỷ 20, do đó âm nhạc cổ điển cần có những cách tiếp cận mới để có thể đáp ứng những mong đợi của người yêu nhạc với sự hỗ trợ của công nghệ. Tại Digital Concert Hall năm 2009, nhạc trưởng Simon  Rattle đã cảm thấy sự chuyển hướng của nhạc cổ điển theo sự phát triển của thời đại số hóa, “rõ ràng đây sẽ là tương lai của nhạc cổ điển… Mọi người đang chờ đợi điều đó diễn ra ngay từ phòng hòa nhạc này”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: mercurynews.com; theatlantic.com; telegraph.co.uk; nytimes.com       Author                .        
__label__tiasang Nhạc sĩ Nguyên Lê: Tìm tâm hồn ở những chốn thâm sâu      Tối 23 và 24/2, nghệ sĩ nhạc Jazz người Pháp gốc Việt Nguyên Lê sẽ cùng đồng nghiệp Ngô Hồng Quang biểu diễn ra mắt album mới nhất của ông tại Hà Nội, trước khi giới thiệu album này ở châu Âu.      Trong “Hanoi Duo”, những bản nhạc do Nguyên Lê sáng tác được thể hiện trên nền những nhạc cụ truyền thống Việt Nam và những sáng tác mang âm hưởng dân ca Tày của Ngô Hồng Quang được kết hợp cùng chiếc guitar điện của Nguyên Lê.  Đây không phải là lần đầu tiên Nguyên Lê đưa âm nhạc truyền thống vào các sáng tác nhạc jazz của mình. Từ năm 1996, ông đã thực hiện năm album dùng giai điệu dân ca Việt với sự phối khí giữa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam (tranh, cò, bầu, kìm, sinh tiền, bộ gõ) và các nhạc cụ Jazz. Có thể lấy gốc gác Việt Nam của ông để lý giải cho sự kết hợp này, nhưng nếu nhìn rộng ra thì sẽ thấy, việc đưa âm nhạc truyền thống của nhiều vùng đất trên thế giới vào sáng tác nhạc jazz đã trở thành bản sắc của Nguyên Lê – âm hưởng Bắc Phi, Ấn Độ, Nhật Bản … đều đã xuất hiện trong các tác phẩm của ông, “chỉ còn thiếu mỗi khu vực Mỹ Latin,” như ông nói.  “Muốn tìm hiểu tâm hồn một dân tộc thì ta phải tìm đến những chốn thâm sâu, âm nhạc truyền thống là một trong những chốn đó,” ông lý giải sự lựa chọn phong cách của mình.  Trước đây, ông thường phối khí lại các bản nhạc truyền thống của Việt Nam, nhưng gần đây, ông chuyển sang sáng tác những bản nhạc jazz mà thoạt nghe người ta cũng có thể nhận ngay ra bóng dáng âm nhạc truyền thống Việt Nam ở trong đó. Để sự kết hợp đương đại-truyền thống không trở nên gượng ép, ông cho biết thường chọn chất liệu âm nhạc của người dân tộc miền núi vì có những nét tương đồng nhất định, “chứ như cải lương thì rất khó hòa âm”.  Kể từ năm 2011, khi có những dự án âm nhạc sâu tại Việt Nam, ông thật sự thấy mình là người Việt Nam, là một phần của đời sống âm nhạc Việt Nam.  Trong “Hanoi Duo”, cây guitar của Nguyên Lê sẽ hòa điệu cùng giọng hát và các ngón đàn tính, đàn bầu, đàn nhị, đàn cò, k’ny, đàn goong của nghệ sĩ Ngô Hồng Quang, một người trẻ mà ông hết sức quý mến bởi “tài năng và trí tò mò âm nhạc”.  Sinh năm 1959, là nhạc sĩ tự học, Nguyên Lê cho rằng điều thú vị nhất là được tự mình khám phá mọi điều về âm nhạc, như một nhà thám hiểm. “Trong khi các sinh viên trường nhạc có thể chia sẻ việc chơi nhạc của mình với bạn bè thì nhiều lúc tôi cảm thấy khá đơn độc. Tôi đã phải mất nhiều năm trước khi có thể chia sẻ âm nhạc của mình với mọi người, và điều đó thật tuyệt vời,” ông kể.  Khi được hỏi, mỗi ngày ông dành bao nhiêu thời gian cho âm nhạc, ông nói, “tôi dành 90% cuộc đời mình cho âm nhạc, dù có lúc mệt mỏi, nhưng những khi không chơi đàn thì tôi sáng tác hoặc vẫn suy nghĩ về âm nhạc”.                   Author                T.T        
__label__tiasang Nhận dạng các ‘siêu thực vật’ làm sạch không khí ven đường      Các nhà khoa học cho biết, nhiều loài cây bụi rậm rạp giúp làm sạch không khí ở những khu vực giao thông đông đúc, trong khi một số loài cây khác có thể làm mát những tòa nhà hoặc hạn chế lũ lụt.      Cây cotoneasteri chống ô nhiễm hiệu quả hơn ít nhất 20% so với những loài cây bụi khác.  Theo các chuyên gia làm vườn, cây cotoneaster là một loài cây bụi, lá có lông, được biết đến như một “siêu thực vật” giúp chống lại ô nhiễm ở những con phố sầm uất.   Các nhà khoa học thuộc Hiệp hội Làm vườn Hoàng gia Anh (RHS) đã xem xét hiệu quả của những bờ giậu cây xanh trong việc chống ô nhiễm không khí. Cụ thể, họ so sánh các loại cây bụi khác nhau bao gồm cotoneaster, táo gai và tuyết tùng đỏ phương Tây. Nghiên cứu này là một phần hoạt động của dự án nhằm giảm bớt các vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí, lũ lụt và sóng nhiệt, thúc đẩy lợi ích của các khu vườn và không gian xanh.   Các nhà nghiên cứu cho biết, trên những con đường đông đúc xe cộ, loài cây bụi Cotoneaster franchetii chống ô nhiễm hiệu quả hơn ít nhất 20% so với những loài cây bụi khác. Tuy nhiên, ở những con phố yên tĩnh hơn, giữa các loài cây này không có sự khác biệt.      Lượng bụi mà cây cotoneasteri hút vào.    Lượng bụi mà cây thông đỏ hút vào.   TS Tijana Blanusa, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Trên những con đường lớn của thành phố, nơi giao thông đông đúc, chúng tôi nhận thấy những loài có tán phức tạp, dày đặc, lá xù xì và nhiều lông như cotoneaster mang lại hiệu quả nhất.”   “Chỉ trong vòng 7 ngày, một hàng rào rậm rạp với chiều dài 1 mét, được chăm sóc cẩn thận, sẽ quét sạch lượng ô nhiễm mà một chiếc ô tô thải ra trong suốt quãng đường 500 dặm”. Cô cho rằng cotoneaster sẽ là loài cây lý tưởng để trồng ven theo những con đường đông đúc tại các điểm nóng về ô nhiễm, trong khi ở những khu vực khác – nơi hòa hợp với thiên nhiên – thì nên kết hợp trồng nhiều loài.   Một cuộc khảo sát với 2.056 người tham gia của RHS cho thấy ô nhiễm không khí đã tác động tiêu cực đến cuộc sống của một phần ba (33%) những người tham gia, nhưng chỉ 6% trong số đó đang thực hiện các bước tích cực bên trong khu vườn của mình để khắc phục điều đó.   Trong số những người mà YouGov khảo sát, 86% cho biết họ quan tâm đến các vấn đề môi trường, trong khi 78% lo lắng về biến đổi khí hậu. RHS hy vọng họ có thể khai thác sự quan tâm đó, khuyến khích mọi người nghĩ đến việc cải thiện môi trường sông thông qua khu vườn của mình.   GS Alistair Griffiths, giám đốc khoa học của RHS, chia sẻ: “Chúng tôi vẫn đang liên tục xác định các ‘siêu thực vật’ mới với những đặc tính độc đáo, mà khi kết hợp với các thảm thực vật khác, chúng sẽ mang lại lợi ích cao hơn nữa. Đồng thời chúng cũng sẽ cung cấp môi trường sống cần thiết cho động vật hoang dã.”   “Chẳng hạn, chúng tôi nhận thấy rằng lớp thường xuyên phủ kín bức tường có tác dụng làm mát các tòa nhà, táo gai và thủy lạp giúp giảm bớt sự dữ dội của các cơn mưa mùa hè cũng như giảm lũ lụt cục bộ. Nếu trồng chúng trong các khu vườn và không gian xanh, nơi các vấn đề môi trường đang là vấn đề nhức nhối, chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.”    Anh Thư dịch  Nguồn: Experts identify ‘super-plant’ that absorbs roadside air pollution    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận diện cấu trúc trong các biến thể SARS-CoV-2 Alpha và Beta      Các biến thể mới SARS-CoV-2 đang lan truyền rất nhanh chóng, và người ta sợ hãi về khả năng các vaccine COVID-19 hiện hành không thể bảo vệ được chúng ta chống lại chúng. Những nghiên cứu mới nhất về cấu trúc của protein gai của các biến thể SARS-CoV-2 do tiến sĩ Bing Chen tại bệnh viện Nhi đồng Boston tiết lộ những đặc tính của biến thể Alpha (ban đầu ở Anh) và Beta (ban đầu ở Nam Phi). Nó đề xuất các vaccine hiện hành có thể ít hiệu quả chống lại biến thể Beta.      Đột biến trong các biến thể SARS-CoV-2 thay đổi trong khả năng tĩnh điện trên bề mặt gai. Tại đây, các khu vực tích điện dương được hiển thị màu xanh và khu vực tích điện âm hiển thị màu đỏ. Trong biến thể Beta, miền liên kết thụ thể (RBD) và miền điểm mút N (NTD) đã thay đổi một cách cơ bản, ảnh hưởng lên năng lực của các kháng thể để liên kết và trung hòa virus. Nguồn: Bing Chen, PhD, Boston Children’s Hospital  Các protein gai, nằm trên bề mặt của SARS CoV-2, nhằm để tăng cường khả năng của virus bám  và nhảy vào các tế bào của chúng ta, và tất cả các vaccine hiện hành đều nhắm thẳng vào chúng. Nghiên cứu mới, xuất bản trên Science “Structural basis for enhanced infectivity and immune evasion of SARS-CoV-2 variants”, sử dụng kính hiển vi điện tử cryo-EM để so sánh protein gai từ virus nguyên bản với protein gai ở biến thể Alpha và Beta 1.  Những phát hiện về cấu trúc chỉ dấu là những đột biến trong biến thể Beta (được biến đến với tên gọi B.1.351) thay đổi hình dạng của bề mặt gai tại những điểm nhất định. Kết quả là, các kháng thể trung hòa do cảm ứng với các vaccine hiện hành đã ít có khả năng gắn kết với virus Beta, vốn có thể cho phép nó tránh được hệ miễn dịch thậm chí khi con người đã được tiêm vaccine.  “Các đột biến khiến các kháng thể được vaccine hiện hành kích thích ít hiệu quả đi”, Chen nói. Nhà nghiên cứu này là thành viên của ban Y học phân tử của bệnh viện Nhi đồng Boston. “Biến thể Beta có phần kháng lại các vaccine hiện hành, và chúng tôi nghĩ là một chất phụ trợ với trình tự di truyền mới có thể có lợi ích bảo vệ chống lại biến thể này”.  Dẫu sao, nghiên cứu này đã tìm ra các đột biến trong biến thể Beta khiến cho gai ít hiệu lực liên kết với ACE2 – nó đề xuất biến thể này ít có khả năng lây truyền hơn biến thể Alpha.  Tạm an tâm với biến thể Alpha; đang thực hiện nhiều nghiên cứu về biến thể hơn  Về biến thể Alpha variant (B.1.1.7), nghiên cứu xác nhận một thay đổi di truyền trên gai (một phép thế amino acid) giúp virus liên kết tốt hơn với các thụ thể ACE2, khiến cho nó lây nhiễm nhiều hơn. Tuy nhiên, xét nghiệm chỉ dấu là các kháng thể được các vaccine hiện có đưa ra có thể vẫn làm trung hòa được biến thể này.  Các nhà nghiên cứu cho biết, một biến thể SARS-CoV-2 có thể cần phải làm được ba điều để trở thành một mối nguy: lan truyền một cách dễ dàng hơn, lẩn tránh được hệ miễn dịch ở những người đã được tiêm vaccine hoặc từng bị phơi nhiễm COVID-19 trước đây, và là nguyên nhân khiến bệnh dịch nặng hơn. May mắn là cả hai biến thể Alpha và Beta không đạt được tất cả các tiêu chí này.  “Dữ liệu của chúng tôi đề xuất là sự kết hợp khủng khiếp nhất của nhiều đột biến không hiện diện trong những biến thể đang tồn tại và được chúng tôi xem xét”, các nhà nghiên cứu viết.  Nhóm nghiên cứu của Chen đang lên kế hoạch báo cáo về các cấu trúc của những biến thể đáng lo ngại khác, bao gồm biến thể Delta (B.1.617.2), trong tương lai gần. Những nghiên cứu như vậy đang được tiến hành.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-sars-cov-alpha-beta-variants.html  ——————-  1. https://science.sciencemag.org/content/early/2021/06/23/science.abi9745    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận diện cơ chế lưu trữ năng lượng của cực dương pin sodium-ion      Các nhà khoa học của Viện Skoltech và trường đại học Moscow (MSU) đã nhận diện được một dạng phản ứng điện hóa liên quan tới việc lưu trữ điện năng được nạp trong vật liệu cực dương  của pin nhiên liệu sodium-ion (SIB), một lớp mới đầy hứa hẹn cho các nguồn điện điện hóa. Phát hiện của họ cùng với phương pháp chế tạo cực dương được phát triển cùng nhóm nghiên cứu sẽ góp phần tiến gần hơn tới việc thương mại hóa SIB ở Nga và hơn thế nữa.      Công trình của họ “Unveiling pseudocapacitive behavior of hard carbon anode materials for sodium-ion batteries” đã được xuất bản trên Electrochimica Acta.  Ngày nay các loại pin lithium-ion (LIB) là nguồn điện điện hóa được sử dụng phổ biến bậc nhất với những ứng dụng khác nhau từ điện thoại thông minh (vài watt giờ) đến các hệ tại các nhà máy điện (hàng triệu watt giờ). Nhu cầu về LIB và  kích thước trung bình của các thiết bị lưu giữ đang ngày một gia tăng, xu hướng này đang gặp phải nhiều rào cản như giá cao với muối lithium, sự giới hạn của nguồn lithium trên toàn cầu và sự phân bố không đồng đều của các mỏ chứa lithium ở nhiều quốc gia. Để vượt qua những rào cản này, các nhà khoa học trên toàn thế giới, trong đó có Nga, đang nghiên cứu về SIB, một công nghệ mang tính giải pháp có tiềm năng thách thức cả LIB và các loại pin chứa a xít than chì.  Sodium là một trong sáu nguyên tố phổ biến bậc nhất trong vỏ trái đất. Muối của nó rẻ gấp cả trăm lần so với lithium. Dẫu tương tự với lithium về các đặc tính hóa học nhưng sodium có những điểm đặc biệt khác và đòi hỏi những cách tiếp cận mới trong thiết kế SIB. Một chiếc pin được làm từ ba hợp phần chính: cực dương, cực âm và chất điện phân. Có một dải rộng của những hợp chất và cấu trúc có thể phù hợp với các cực âm hoặc các chất điện phân SIB song ngược lại, cực dương vẫn còn ẩn chứa nhiều chướng ngại. Than chì, vốn được sử dụng thành công trong LIB, không hoạt động trên SIB bởi vì các kích thước của các carbon sáu cạnh và các ion dương sodium khác nhau quá nhiều để có thể xen vào. Carbon cứng dường như là vật liệu duy nhất có thể được sử dụng cho cực dương. Nó được hình thành bằng một sắp xếp bất thường của các lớp như than chì bị biến dạng, điều này cho thấy rõ các đặc tính lưu trữ của sodium-ion có thể so sánh với than chì trong LIB. Dẫu vậy thì điều này vẫn còn có những điều chưa rõ như vì sao điều đó lại xảy ra và xảy ra như thế nào.    Oleg Drozhzhin, người phụ trách dự án và nhà nghiên cứu chính tại Trung tâm KH&CN Năng lượng Skoltech   “Có nhiều giả thiết như cách sodium có thể được đưa vào carbon cứng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đánh giá và mở rộng một cách chặt chẽ một trong số đó. Chúng tôi đã tìm thấy carbon cứng thể hiện hành xử kiểu như lớp kẹp để thu hút phần lớn điện tích được nạp, vốn là tin cực mới. Lớp kẹp chính xác là những gì pin cần, trong khi các quá trình diễn ra trên bề mặt liên kết với sự lưu trữ điện hóa trong một tụ điện hóa (pseudocapacitance), đó là phản hồi của các siêu tụ điện hình thành một cái hốc cực nhỏ giữa các nguồn điện hóa. Đồng nghiệp Nhật Bản và cố vấn khoa học cho nghiên cứu này của chúng tôi cùng nghiên cứu sinh Zoya Bobyleva của MSU đã có một cái nhìn toàn toàn khác nhau ngay lúc khởi đầu. Ông ấy là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về SIB và carbon cứng. Chúng tôi đã phải thuyết phục ấy một thời gian và chúng tôi đã đúng, chúng tôi đã làm được!”, Oleg Drozhzhin, người phụ trách dự án và nhà nghiên cứu chính tại Trung tâm KH&CN Năng lượng Skoltech (CEST) và MSU.  Năm ngoái, giải Nobel hóa học đã được trao cho ba nhà khoa học “đã phát triển của các pin lithium-ion”. Một trong những người thắng giải với carbon cứng, một vật liệu cực âm đem lại sự sống cho công nghệ LIB ba thập kỷ trước và sau đó được thay thế bằng than chì. Giờ đây carbon cứng một lần nữa góp phần tạo ra một công nghệ mới.  “Công trình này rất đáng chú ý không chỉ vì cho thấy carbon cứng hoạt dộng được trong hệ sodium-ion mà còn đưa ra một cách để tạo ra carbon cứng với khả năng trên 300 mAh/g so với than chì trong LIB. Việc tạo ra và tối ưu một phương pháp mới cần rất nhiều nỗ lực trong phong thí nghiệm và rất khó kể được hết trong một bài báo khoa học, vì thế điều quan trọng là chúng tôi đã nêu được kết quả cuối cùng: chúng tôi đã tạo ra những vật liệu cực dương tốt cho SIB và chúng tôi biết cách chúng hoạt động như thế nào”, Evgeny Antipov, một giáo sư ở Skoltech và trưởng môn Điện hóa tại Khoa Hóa trường MSU, bình luận.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-07-scientists-energy-storage-mechanism-sodium-ion.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận diện hậu duệ của Leonardo da Vinci      Nỗ lực truy tìm những hậu duệ nam trực hệ của danh họa  Leonardo da Vinci có thể giúp các nhà khoa học giải trình tự hệ gene của con người kiệt xuất này.      Danh họa Leonardo da Vinci  Như chúng ta đều biết, danh họa Leonardo da Vinci sinh ra vào tháng 4/1452 tại thị trấn Vinci vùng Tuscan, cách Florence 20 dặm, con của công chứng viên Ser Piero da Vinci và cô gái nông dân trẻ Caterina. Sau một cuộc đời lẫy lừng, ông qua đời ở tuổi 67 tại vùng thung lũng sông Loire, Amboise, miền trung nước Pháp vào tháng 5/1519, nơi ông sống và làm việc theo lời mời của vua Francis I. Ông không kết hôn và không có con cái.   Có lẽ do đó, không có gì thu hút và hấp dẫn hơn để nghiên cứu về hệ gene của Leonardo da Vinci và truy tìm những manh mối về nguồn gốc sự xuất chúng của ông. Dĩ nhiên, di truyền không thể nói với chúng ta mọi thứ nhưng bất kỳ manh mối nào về da Vinci, dù ông đã qua đời gần 500 năm nhưng vẫn hết sức có giá trị. Hãy thử nghĩ xem, người ta có thể giải trình tự hệ gene của một vài cá nhân đã mất cách đây hàng thế kỷ? Một nhóm các nhà khoa học nghĩ rằng họ có thể làm được điều này.  Đó là câu chuyện của Alessandro Vezzosi và Agnese Sabato – hai nhà khoa học ở Tổ chức Di sản Leonardo Da Vinci và Bảo tàng Leonardo da Vinci ở Florence, Ý. Sau một thập kỷ đi tìm những manh mối về DNA của Leonardo da Vinci, họ đã tìm ra 14 người có mối liên hệ di truyền trực hệ với nhà danh họa Phục Hưng này. Qua công trình mới xuất bản của họ trên tạp chí Human Evolution (Pontecorboli Editore, Florence), họ đã kể cho mọi người biết một phần hành trình lần theo manh mối liên tục của dòng nam gia tộc da Vinci (sau là Vinci), từ cụ tổ Michele (sinh năm 1331) đến cháu trai Leonardo (thế hệ thứ sáu, sinh năm 1452) và cho đến ngày nay để cuối cùng phát hiện ra 14 hậu duệ còn sống ở ngày nay. Nói cách khác, Alessandro Vezzosi và Agnese Sabato đã tái cấu trúc cây phả hệ của gia đình da Vinci.      Từ những thông tin thu thập về hậu duệ còn sống của Leonardo da Vinci, các nhà nghiên cứu hi vọng lập được bản đồ phả hệ mở rộng về những người họ hàng của da Vinci để tái tạo lại bộ gene của ông. Nếu thành công, nó sẽ trao cho các học giả cơ hội “khám phá về nguồn gốc của thiên tài”.      Những phát hiện này là nền tảng quan trọng để đóng góp vào dự án DNA Leonardo da Vinci, qua đó có thể hiểu về những khía cạnh còn chưa biết về con người đời thực và con người nghệ sĩ của danh họa, tìm ra một số điểm đặc biệt trong vô số tài năng của ông bằng những công nghệ mới trong lĩnh vực sinh học và di truyền học.   Tái cấu trúc phả hệ da Vinci  Dù không kết hôn và không có con nối dõi nhưng ước tính Leonardo da Vinci có 22 người họ hàng cùng dòng máu, 17 người trong số này là từ phía cha. Năm 2016, chính Alessandro Vezzosi và cộng sự đã nhận diện được 35 người còn sống liên quan đến danh họa, trong đó có đạo diễn phim đạo diễn opera Franco Zeffirelli.   Vào lúc đó, Vezzosi đã trao đổi với hãng thông tấn Ý ANSA là các hậu duệ này chủ yếu không phải trực hệ với danh họa vì đều từ dòng nữ. “Họ không phải là người có thể đem lại thông tin hữu ích về DNA của Leonardo và nói riêng về nhiễm sắc thể Y”, vốn được truyền trong dòng nam và hầu như không thay đổi trong vòng 25 đời.  Do đó trong nghiên cứu này, Vezzosi tập trung vào nghiên cứu dòng nam gia tộc da Vinci hoặc những người có nhiều đặc điểm đặc biệt hơn, chia sẻ nhiễm sắc thể Y với danh họa.     Alessandro Vezzosi và Agnese Sabato cầm cây phả hệ của danh họa.   Việc đi tìm một danh sách cụ thể những người có liên quan đến Leonardo theo tiêu chí này là một công việc phức tạp và tốn thời gian. Có lẽ, một trong những nguyên nhân khiến các nhà nghiên cứu phải “đi đường vòng” là họ không có nhiều manh mối về mặt di truyền của ông. Nơi chôn cất Leonardo ban đầu là  nhà nguyện Saint-Florentin tại lâu đài d’Amboise ở thung lũng sông Loire nhưng nơi này đã bị phá hủy trong cuộc cách mạng Pháp. Nắm xương tàn của Leonardo đã được đào khỏi mộ và dời đến chôn tại một nhà nguyện nhỏ hơn của lâu đài này là Saint-Hubert nhưng những gì chôn dưới đó cũng chỉ được giả định là thuộc về ông – cho đến nay thì người ta cũng không chắc chắn về điều này.   Trong một nghiên cứu về hệ vi khuẩn trên các bức họa của Leonardo da Vinci của các nhà khoa học Ý công bố vào đầu năm nay thì người ta phát hiện ra cả DNA của người trên các tác phẩm đó. Chúng có thực sự thuộc về danh họa khi ông vẽ các kiệt tác này? Thật đáng tiếc là kể từ khi họa sĩ bậc thầy phác thảo chúng, đã rất nhiều bàn tay chạm vào những bức họa đó, có quá nhiều người làm như vậy trong vòng năm thế kỷ. Cho dù về mặt kỹ thuật thì một trong những người chạm vào bức họa chính là bản thân họa sĩ, người ta cũng không thể xác quyết vì không có đối chứng về DNA của ông trong bất kỳ cơ sở dữ liệu sinh học nào.  Để tiến hành nghiên cứu này, các nhà khoa học đã khai thác tài liệu ở nhiều khía cạnh, chủ yếu là từ các tài liệu lịch sử tin cậy trong các kho lưu trữ công và tư – không chỉ ở Tuscany, Ý mà còn ở Pháp và Tây Ban Nha – để tìm kiếm những hậu duệ sống sót của dòng nam trực hệ từ Ser Piero (thế hệ thứ năm) và con trai của ông là Domenico, anh trai của Leonardo (thế hệ thứ sáu), cho đến thế hệ thứ 21.       Về mặt lý thuyết thì dữ liệu sinh học của Da Vinci cũng có thể giúp xác minh tính xác thực của các tác phẩm nghệ thuật của ông. Đây là một điều rất quan trọng bởi hiện có khá nhiều bức họa được hồ nghi là của danh họa.      “Giống như họ, tính di truyền của nam giới kết nối lịch sử của hồ sơ lưu trữ với lịch sử sinh học theo từng dòng họ riêng biệt”, các nhà nghiên cứu cho biết. Nhờ vậy, họ đã vẽ ra 37 hồ sơ với sự lựa chọn các dữ liệu về tiểu sử phù hợp nhất liên quan đến từng cá nhân – gồm các mốc thời gian quan trọng như ngày sinh, hôn nhân, con cái, nơi ở, ngày chết… Do châu Âu có một đặc điểm quan trọng là có những bộ hồ sơ ghi chép khá tỉ mỉ về việc thừa kế, chuyển giao tài sản của dòng họ nên các nhà nghiên cứu có cơ hội chạm vào những tư liệu với các thông tin chính xác, tỉ mỉ. Trong trường hợp này, họ có trong tay hồ sơ lập năm 1659 về Piero di Lorenzo di Domenico, thuộc thế hệ thứ tám, và các con trai của ông là Bartolomeo và Lorenzo, thuộc thế hệ thứ chín. Đó là cơ sở để họ lập ra một cơ sở dữ liệu mang tên “GeniaDaVinci”.  Các nhà nghiên cứu đã tìm ra ông cụ tổ của danh họa là Michele da Vinci, sinh vào cuối thế kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14, không rõ nghề nghiệp (danh họa là đời thứ sáu). Đến nay, dòng họ đã tồn tại qua 690 năm, 21 thế hệ với năm chi. Cho đến đời thứ 16, dòng họ da Vinci đã có nhiều thành viên đóng vai trò quan trọng trong đời sống dân sự với các mối quan hệ xã hội vươn xa khỏi nước Ý. Sự mở rộng gia đình đã làm tài sản của công chứng viên Ser Piero – cha của danh họa, bị phân tán đáng kể (chủ yếu là bất động sản) do phân chia cho chín người con còn sống của ông. Theo thời gian, họ của danh họa da Vinci đã rơi mất chữ ‘da’ và hậu duệ của ông chỉ còn đơn giản mang họ Vinci.   Hiện tại có tới 14 hậu duệ của danh họa còn sống. “Họ có độ tuổi từ 1 đến 85, họ không sống ở nơi phát tích của tổ tiên nhưng ở các khu vực lân cận như Versilia (bên cạnh bờ biển Tuscan) với đa dạng ngành nghề như tu sĩ, thanh tra, thợ thủ công”, Vezzosi nói với ANSA. Trong số những người này, một số vẫn mang họ Vinci và chỉ có duy nhất một người biết về mối liên hệ họ hàng của mình với danh họa.   Một người trong số họ là Geovanni Vinci, một nghệ sĩ 62 tuổi thậm chí còn không nghĩ mình “có điểm chung nào với Leonardo”, hài hước cho biết ‘tôi hi vọng là ông ấy có thể tự hào về một số tác phẩm của tôi”. Một hậu duệ khác là Milko Vinci, 44 tuổi, cảm thấy “vinh dự và vô cùng tự hào” khi biết tin nhưng sau đó cảm thấy choáng ngợp. Anh nói, “Đơn giản là không ai có thể so sánh với Leonardo về tài năng, sự khéo léo, trực giác và nghệ thuật”. Trước câu hỏi muốn biết gì thêm về con người thiên tài này, anh cho biết “tôi chỉ muốn tìm hiểu điều gì đã khơi mào cho sự khao khát vô bờ của ông ấy đối với kiến thức, sự tìm kiếm hiểu biết không ngừng nghỉ thông qua nghệ thuật và kỹ thuật, và hơn hết là muốn biết ông ấy nghĩ gì khi đặt con người vào trung tâm của vũ trụ”.   Đi tìm những câu hỏi mới   Những thông tin thu thập về hậu duệ còn sống của Leonardo da Vinci được các nhà nghiên cứu hi vọng lập được bản đồ phả hệ mở rộng về những người họ hàng của da Vinci để tái tạo lại bộ gene của ông. Nếu thành công, nó sẽ trao cho các học giả cơ hội “khám phá về nguồn gốc của thiên tài” và xem liệu một số điểm riêng biệt về thể chất của ông như thuận tay trái và cảm giác kèm (synesthesia) – một loại điều kiện thần kinh trong đó điều kích thích một giác quan ở một cá nhân sẽ đồng thời kích thích hầu hết các giác quan khác của người đó, có bắt nguồn từ mã di truyền không. Mặt khác, bằng chứng di truyền cũng có thể giúp họ xác định là liệu hài cốt được chôn cất ở Amboise, Pháp, có thực sự thuộc về Leonardo hay không.  Điều thú vị là việc khôi phục và xác nhận nhiễm sắc thể Y của Leonardo có thể tiết lộ những hiểu biết mới về nguồn gốc địa lý, sức khỏe di truyền của gia đình ông và thậm chí có thể là sự hiện diện của cảm giác kèm. Về mặt lý thuyết thì dữ liệu sinh học của Da Vinci cũng có thể giúp xác minh tính xác thực của các tác phẩm nghệ thuật của ông. Đây là một điều rất quan trọng bởi hiện có khá nhiều bức họa được hồ nghi là của danh họa. “Hoàn toàn có thể sử dụng bằng chứng DNA để xác thực quyền tác giả. Chúng tôi cảm thấy thú vị với việc hình thức bằng chứng mới có thể được sử dụng để tạo những mối liên hệ giữa các tác phẩm vẫn còn vô danh hoặc gây tranh cãi với các chỉ thị nhận diện thực sự”, Jesse Ausubel, phó chủ tịch của Quỹ Richard Lounsbery, nơi tài trợ cho sáng kiến dự án DNA của Leonardo da Vinci, nói.  Cùng thời điểm mà các nhà sử học công bố việc nhận diện các hậu duệ còn sống của Leonardo, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã công bố một kế hoạch đầy tham vọng về giải trình tự hệ gene của danh họa. Do các nhà khoa học của Viện J. Craig Venter, California, dẫn dắt, dự án DNA của Leonardo da Vinci đã tiến hành tìm hiểu lại các bức tranh, sổ ghi chép và bản vẽ để tìm dấu vết của DNA. “Nếu giải trình tự DNA được lấy từ công trình của Leonardo thì chúng ta có thể so sánh vật liệu di truyền này với thông tin di truyền từ hầm mộ”, Jesse Ausubel trả lời Telegraph.   Việc tái cấu trúc DNA của da Vinci có thể đem lại những manh mối mới về tầm nhìn và thị lực của ông. “Leonardo có một sự sắc sảo lạ thường trong tầm nhìn, cả về không gian và thời gian. Nếu khuếch đại các bức vẽ của ông lên 10 lần, 20 lần, thậm chí 50 lần, kể cả những bức cực nhỏ cũng vậy, anh vẫn thấy   chúng hoàn hảo. Vì độ phân giải không gian của chúng mà ông đã sắp đặt bằng thị lực mình thật dị thường. Ông ấy còn thấy cả chim đang bay trên trời, nhìn thấy những con chuồn chuồn liệng cánh, thấy cả chuyển động của nước… Phần lớn chúng ta không thể có được năng lực ấy”, Ausubel nói với cbc.ca và hi vọng sẽ tìm thấy phần nào câu trả lời từ việc tìm hiểu DNA của 14 hậu duệ danh họa.   “Dưới ánh sáng của những câu chuyện cá nhân đầy phong phú mà chúng tôi có được từ nhiều nguồn, ví dụ như Quỹ Di sản Leonardo Da Vinci, chúng tôi đã quyết định xếp chúng vào một dự án tương lai, nơi các vi lịch sử của những hạt nhân khác nhau có thể ghép lại thành những mảnh ghép lớn hơn về bảng phả hệ của Vincis. Một mục tiêu quan trọng khác là có thể bảo vệ những di sản mà danh họa để lại trước khi chúng tiêu tan vào quên lãng”, hai nhà sử học Alessandro Vezzosi và Agnese Sabato viết như vậy trong công bố của mình.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://gizmodo.com/revised-family-tree-identifies-14-living-relatives-of-l-1847237676  https://www.theguardian.com/artanddesign/2021/jul/06/leonardo-da-vinci-project-finds-14-living-male-descendants  https://www.standard.co.uk/news/world/leornardo-da-vinci-relatives-italy-trace-study-b944424.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân giống cá tra chịu mặn thành công      Mới đây, các nhà khoa học ở Đại học Cần Thơ, Đại học Liège và Đại học Namur (Bỉ) đã phát triển thành công giống cá tra chịu mặn để thích ứng với xâm nhập mặn ở ĐBSCL.     Xâm nhập mặn ảnh hưởng lớn đến việc nuôi cá tra. Ảnh: angiang.dcs.vn  Kết quả nghiên cứu này đã được công bố trong bài báo “Selective breeding of saline-tolerant striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) for sustainable catfish farming in climate vulnerable Mekong Delta, Vietnam” (Nhân giống chọn lọc cá tra chịu mặn để nuôi cá tra bền vững ở ĐBSCL) trên tạp chí Aquaculture Reports.  Là một trong những giống cá nước ngọt bản địa quan trọng nhất ở vùng ĐBSCL, tính đến năm 2018, cá tra Việt Nam đã đạt sản lượng gần 1,42 triệu tấn (trong tổng diện tích sản xuất khoảng 5400 ha) và được xuất khẩu sang hơn 140 quốc gia và các vùng lãnh thổ với giá trị xuất khẩu khoảng 2,26 tỷ USD, đóng góp khoảng 1% GDP của Việt Nam. Song, hiện nay cá tra đang phải đối mặt với mối đe dọa lớn khi biến đổi khí hậu đã và đang gây ra tình trạng xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Một minh chứng điển hình là trong các năm 2016 và 2020, ĐBSCL đã trải qua các đợt hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở những khu vực cách bờ biển lên đến 55 – 100 km, dẫn đến thiệt hại lớn cho việc sản xuất lúa và nuôi trồng thủy hải sản.  Trước thực tế này, từ năm 2017, các nhà khoa học ở Đại học Cần Thơ, Đại học Liège và Đại học Namur đã tiến hành nghiên cứu lai tạo chọn lọc giống cá tra chịu mặn để hướng tới việc duy trì nghề nuôi cá tra bền vững trong bối cảnh môi trường biến đổi liên tục như hiện nay. Mục tiêu mà nhóm nghiên cứu hướng đến là đánh giá hiệu quả của việc chọn lọc khả năng chịu mặn của cá tra thông quả các chỉ số về tăng trưởng và tỷ lệ sống sau một thế hệ trong môi trường nước có độ mặn 10 ‰. Bên cạnh đó, để hiểu hơn về cơ chế di truyền, nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu sự khác biệt về các thông số sinh lý giữa những con cá được chọn lọc và nhóm đối chứng.  Để tiến hành nghiên cứu, các nhà khoa học đã tập hợp cá giống từ ba trang trại ở vùng nước ngọt tại các tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ, trong đó mỗi trang trại lấy 10 con đực và 10 con cái khỏe mạnh để sinh sản chéo và tạo ra 900 gia đình cá tra (thế hệ G1). Tiếp đó, những con cá con chất lượng tốt được chọn để ương ở các ao nước ngọt. Sau 47 ngày, 21.550 con cá bột được chọn ngẫu nhiên để tiến hành thuần hóa trong điều kiện nước nhiễm mặn 10‰ ở hệ thống bể tuần hoàn. Đồng thời, 550 con cá còn lại cũng được chuyển sang nuôi ở một hệ thống bể nước ngọt khác để làm “nhóm nước ngọt” đối chứng.  Trong quá trình nuôi kéo dài một năm, đàn cá tra ở bể nhiễm mặn được trải qua ba lần chọn lọc, trong đó các nhà khoa học sẽ giữ lại 50% những con cá lớn nhất trong đàn, song song với đó, lựa ra một nhóm ngẫu nhiên để làm đối chứng với đàn cá chọn lọc và đàn cá nước ngọt. Hết một năm, những con cá này tiếp tục được chuyển sang nuôi ở môi trường nước có độ mặn 5‰ cho đến khi trưởng thành để làm cá bố mẹ cho thế hệ tiếp theo (thế hệ G2). Nhằm đánh giá khả năng chịu mặn của những con cá sau chọn lọc, đàn cá G2 cũng được so sánh với cá tra nước ngọt khi cùng ương nuôi ở các độ mặn khác nhau (5, 10, 15 và 20‰).  Kết quả cho thấy, nhóm cá tra được chọn lọc và thuần hóa ở bể nhiễm mặn phát triển tốt hơn cá tra nước ngọt. Khi ở môi trường có độ mặn 5 và 10‰, cá tra chịu mặn cũng tăng trưởng tốt. Thêm vào đó, khi cùng được nuôi trong nước ngọt, nhóm cá tra chịu mặn có tỷ lệ sống và tăng trưởng bằng hoặc tốt hơn nhóm cá tra vốn được nuôi trong nước ngọt ngay từ ban đầu.  “Các kết quả từ nghiên cứu này đã chứng minh rằng việc nhân giống chọn lọc để tăng khả năng chịu mặn của cá tra có thể có hiệu quả ngay sau một thế hệ chọn lọc trong môi trường mặn”, nhóm nghiên cứu viết trong bài báo. Đàn cá được chọn lọc từ dự án cũng trở thành một nguồn gene có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo để hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh lý và bộ gene, cũng như các cơ chế thích nghi với nước mặn của cá tra.      Author                Mỹ Hạnh        
__label__tiasang Nhận hướng trong “thế giới phẳng”      Với “siêu lộ thông tin”, “chuỗi cung ứng toàn cầu”… các nước đang phát triển có thêm nhiều cơ hội do “thế giới phẳng” mang lại. Vấn đề chỉ là nhận biết cơ hội và quyết định có tận dụng các cơ hội này hay không.    Hội nhập là để tồn tại  Đã vào WTO, hội nhập không phải để có lợi mà để tồn tại. Trong thế giới “phẳng”, các quốc gia phụ thuộc vào nhau về kinh tế và không thể theo định hướng tự cung tự cấp. Singapore là điển  hình về hội nhập sâu vào các chuỗi cung cứng (supply chain) thế giới. Họ nhập khẩu vật tư, thậm chí nhân lực để sản xuất vài công đoạn (không toàn bộ) của chuỗi giá trị (value chain) để xuất khẩu. Vì vậy, Singapore giàu nhưng không có thương hiệu hay tập đoàn toàn cầu.  Nhà nước (đặc biệt với nước đang phát triển) có vai trò chủ đạo trong hội nhập bằng việc tạo ra hạ tầng cơ sở “cứng” (vật thể) và “mềm” (như pháp lý, giáo dục) cho hội nhập. Nhà nước xác định những ngành, sản phẩm (sản phẩm) ta nhất định phải có, giúp “giải mã” các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của thế giới để hội nhập.                     Chủ động hội nhập có lợi hơn bị động – thụ động chờ họ “vào”. Chủ động thầu làm một công đoạn của một sản phẩm thì được trả công bằng giá trị của công đoạn đó, nhưng “trải thảm đỏ mời nhà đầu tư” thì chỉ được trả theo giá cơ hội của hiện trạng, hoặc giá đất nông nghiệp.  Quan niệm lại về sản phẩm  Trước kia, đầu ra (output) của sản xuất vật chất khi xuất xưởng là sản phẩm (công đoạn “cứng”). Nay, sản phẩm cần bao gồm cả lưu thông, tiếp thị, thương mại hóa sản phẩm (công đoạn ”mềm”). Khi phạm vi bán càng rộng, chuỗi cung ứng càng lớn, chi phí cho công đoạn “mềm” càng tăng và cho “cứng” càng giảm. Thực tế rất ít nước đang phát triển có thể bán được sản phẩm trên quy mô toàn cầu.  Để quyết định xem có “làm” một sản phẩm không, cần xác định xem có bán được không? bán ở quy mô nào? cần đầu tư bao nhiêu cho công đoạn “mềm”? Nhất quyết không sản xuất sản phẩm khi chưa rõ tính khả thi của công đoạn mềm. Khi các liên kết công nghiệp- thương mại không phải do thị trường tạo ra hoặc còn dựa vào mệnh lệnh hành chính, việc “cắt đoạn” chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng cho các ngành, DN khác nhau quản lý là rất mạo hiểm. Tình hình thép, xi măng, đường, công nghiệp ô tô, thuốc tây… gần đây là những ví dụ. Đây là một thách thức lớn đối với nhiều DN, ví dụ: trước đây, DN nông nghiệp, DN công nghiệp đều thông qua DN thương mại để bán sản phẩm. Nay, họ phải tự bán sản phẩm của mình.     Phát triển ngang lợi hơn phát triển dọc                  Phát triển dọc (vertical) là thực hiện hoàn chỉnh chuỗi giá trị cho một sản phẩm, ví dụ: từ sản xuất thép, lốp… cho đến bán xong ô tô. Phát triển dọc đòi hỏi đầu tư lớn, đặc biệt về công nghệ. Đầu tư cho phát triển dọc sẽ mạo hiểm hơn vì phải làm nhiều công việc, phải mua công nghệ mới. Để phát triển dọc, tất cả các công đoạn đều phải cạnh tranh được với bên ngoài. Vì vậy, cần nghĩ kỹ khi phát triển dọc. Lưu ý là FDI không phát triển “dọc” cho ta (như ta vẫn mong đợi) vì họ chỉ làm công đoạn có lợi nhất chứ không làm toàn bộ chuỗi.  Phát triển dọc trong phạm vi một nước (tối ưu hóa từ tập hợp nhỏ) sẽ không thể cạnh tranh với phát triển dọc trên phạm vi toàn cầu (tối ưu hóa từ tập hợp lớn).     Phát triển ngang (horizontal) không làm toàn bộ chuỗi mà chỉ làm tốt (một số) công đoạn trong chuỗi giá trị, ví dụ: qua nâng cấp, tăng ứng dụng công nghệ, mở xưởng ở địa phương mới…phát triển ngang được UNIDO, Ngân hàng Thế giới… khuyến cáo cho các nước đang phát triển, đặc biệt các DN nhỏ và vừa thực hiện. Đây là cách kinh doanh hiệu quả và để nâng cấp công nghệ ít mạo hiểm nhất.  Từ giữa thế kỷ 20 và kéo dài đến ngày nay, làn sóng công nghiệp hóa ở một số nước đang phát triển thực chất là quá trình phát triển dọc trong các ngành, nhằm đi lại con đường các nước phát triển đã đi từ vài thế kỷ trước. Song thế giới phẳng làm chương trình công nghiệp hóa, “đầu tư chiều sâu” của các nước đang phát triển trở nên khó khả thi vì lợi nhuận do phát triển ngang (như thông qua FDI) lớn hơn phát triển dọc.  Chỉ làm “công đoạn” thay vì làm cả “sản phẩm”  Ngày nay, không một sản phẩm công nghiệp nào được làm trọn vẹn ở một nước. Những sản phẩm của nước ngoài thường rẻ hơn các sản phẩm nội địa vì có chuỗi cung ứng với nhiều tối ưu hơn. Như vậy, ta chỉ cạnh tranh được trong một số công đoạn nhất định, thường là các công đoạn cứng. Thường ta làm kém các công đoạn “mềm” như lập thương hiệu, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp thị, hậu cần… Ta không thể làm toàn bộ một chuỗi giá trị của sản phẩm để bán trên quy mô toàn cầu, song có thể bán một vài công đoạn trong chuỗi giá trị. May 10 khó bán áo sơ mi trên thế giới nhưng đã may gia công (tức là bán công đoạn gia công) cho khá nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu.  Lợi thế của bán kỹ năng (công đoạn) là có thể bán cho nhiều chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của các sản phẩm khác nhau. Ta cần chọn công đoạn có giá trị gia tăng (value added) lớn nhất để bán. Khéo tay thì không nên chỉ thêu thùa, nặn tò he… mà nên gia công linh kiện công nghệ cao; vẽ “đẹp” thì không nên làm tranh Đông Hồ… mà nên làm đồ họa vi tính. Ta cũng có thể làm tốt out-sourcing trong kế toán, tài chính, mô phỏng, đồ họa trên máy tính, gia công tinh xảo, sửa chữa thiết bị điện tử, v.v.  Mô hình các ngành công nghiệp, tập đoàn, tổng công ty dựa trên phát triển dọc sẽ không hiệu quả trong thế giới phẳng. Nên phát triển nhiều “Kỹ năng tiêu biểu” thay vì “Sản phẩm tiêu biểu” của quốc gia. Xây dựng thương hiệu sản phẩm không phải là giải pháp hay đối với mọi doanh nghiệp.    Thuê khoán ngoài trong các ngành sử dụng tri thức  Trong thế giới phẳng, tri thức và nhân tài trở thành một ngành kinh tế. Các công ty lớn đầu tư R&D vào Trung Quốc, Ấn Độ không phải vì thị trường lớn (như cách đây 10 năm) mà vì nguồn nhân công tri thức dồi dào. Làn sóng thuê khoán ngoài trong các ngành sử dụng tri thức (knowledge process outsourcing-KPO) là không thể ngăn cản. Mỹ ngày càng phụ thuộc vào KPO. Nếu hợp đồng KPO về IT giữa Boeing với các công ty Ấn Độ bị phá vỡ, Boeing sẽ  bị thiệt hại hơn nhiều so với đối tác.  Việt Nam có thể khai thác khả năng làm KPO, làm R&D cho thế giới. Việc Singapore cho du học sinh Việt Nam vay tiền học đại học ở nước họ, rồi thu lãi bằng cách giữ họ lại làm việc cho thấy: người Việt có thể làm được R&D trong khu vực nếu được đào tạo phù hợp!  Quan điểm cho rằng Việt Nam “thừa thầy thiếu thợ” đúng khi ta “đóng”, vì ta đào tạo chỉ cho ta dùng; nhưng sai khi ta “mở” (nếu “thầy” có khả năng làm KPO cho nước ngoài).  Lưu ý công nghệ “mềm”, công nghệ quản lý chuỗi cung ứng  Đầu tư công nghệ đem lại giá trị gia tăng lớn nhất. DN Việt ít đầu tư công nghệ một phần vì họ ít biết về Công-Nghệ. Vì vậy, cần phổ cập công nghệ cho DN, đặc biệt là các DN mới thành lập (start-up) và DN nhỏ và vừa. Các DN đều có thể khai thác Internet cho sản xuất – kinh doanh, giải mã chuỗi cung ứng của sản phẩm mình quan tâm, tìm hiểu công nghệ cần có để cạnh tranh…  Cần nghiên cứu công nghệ trong một chuỗi nhất địng. Không chỉ mua một nhà máy giấy, mà phải “mua” cả mạng lưới cung cấp nguyên liệu, các công nghiệp hỗ trợ, các kết nối của nhà máy đó trong chuỗi cung ứng.  Hiện nay, ngay cả đối với các nước phát triển, ứng dụng công nghệ hiệu quả hơn phát minh công nghệ. Năng suất lao động không tăng ngay sau khi phát minh ra điện mà cần một thời gian dài để tìm ra các ứng dụng.  Phát minh công nghệ không hiệu quả bằng phổ cập ứng dụng công nghệ cho các doanh nghiệp tư nhân.  Cần lưu ý đến công nghệ của các công đoạn “mềm”, các công nghệ quản lý, các liên kết phi vật thể của quá trình công nghiệp. Cái khó là không dễ dàng “mua” các liên kết này và cũng không thể dùng biện pháp hành chính để “đẻ” ra nó. Nhà nước cần phát động doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ (innovation), tái kiến trúc toàn bộ quá trình sản xuất – kinh doanh trong khuôn khổ của Hệ thống Sáng tạo quốc gia (National Innovation System – NIS).  Không giới hạn ở các nguyên liệu, sản phẩm truyền thống  Số sản phẩm của Việt Nam vô cùng nhỏ so với số sản phẩm của thế giới. Nếu ta  chỉ sử dụng các nguyên liệu địa phương để sản xuất cho ta dùng là đã bỏ qua rất nhiều cơ hội. Trên thực tế, làm cái rẻ để dùng không lợi bằng làm cái đắt để bán. Các chương trình sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, hay cái gọi là lợi thế nhân công giá rẻ… chính là những cái bẫy. Quảng Đông mua than của Việt Nam, sản xuất điện rồi bán điện lại cho Việt Nam là vì họ biết mua cái rẻ nhất và làm cái bán đắt nhất. Phở “Thìn”, cà phê “Giảng” đầu ngõ ngon hơn Phở 24, cà phê Trung Nguyên song không bao giờ lãi bằng. Sự khác biệt ở đây là ở đây là: phở “Thìn”, cà phê “Giảng” chỉ bán cho khoảng dăm chục khách quen; còn Phở 24, cà phê Trung Nguyên thì bán cho hàng triệu người ở nhiều nước.      Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân rộng OCOP để giải “nút thắt” trong phát triển nông thôn      Chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) ở Quảng Ninh là một cách phát triển hiệu quả chuỗi giá trị hàng hoá ở nông thôn, cần được tham khảo nhân rộng ở các tỉnh khác trên cả nước.      Quang cảnh Hội nghị  Đó là một trong những kết luận quan trọng được đưa ra tại Hội nghị “Phát triển mỗi xã một sản phẩm trong xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp” (Hội nghị) vào ngày 2/3 tại Quảng Ninh do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành và 63 tỉnh trong cả nước.  Kinh nghiệm OCOP giải “nút thắt” phát triển nông thôn  Quảng Ninh là một trong những tỉnh có nền kinh tế mạnh, mức sống người dân cao, tuy nhiên chênh lệch giàu nghèo vẫn rất lớn. “Nếu như cư dân vùng công nghiệp có thu nhập bình quân đầu người vào khoảng hơn 4.000 USD/ năm thì người dân vùng làm nông nghiệp chỉ thu nhập bằng khoảng hơn 1/3 số đó; chưa kể các vùng có tập quán làm nông nghiệp nhỏ lẻ, tự cung tự cấp thì bức tranh nghèo đói vẫn còn rất nặng nề”, theo chia sẻ của ông Đặng Huy Hậu, phó chủ tịch UBND Quảng Ninh tại Hội nghị. Vì vậy, tỉnh Quảng Ninh đã mời một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp trên quy mô lớn, nhưng cho đến vài năm trước, “bài toán” phát triển nông nghiệp ở những vùng sâu, vùng xa vẫn còn chưa có “lời giải”, ông Hậu cho biết.  Đó không chỉ là tình trạng riêng của tỉnh Quảng Ninh mà còn là “nỗi lo” chung trong phát triển nông nghiệp, nông thôn trong cả nước, theo nhận định của PGS.TS Trần Văn Ơn, từ công ty Dkpharma, trưởng nhóm tư vấn cho chương trình OCOP Quảng Ninh. Luồng di dân từ nông thôn vào thành thị ngày càng phổ biến, một mặt làm suy giảm lực lượng lao động cần thiết để phát triển nông nghiệp hàng hoá, mặt khác lại gây áp lực lên cơ sở hạ tầng, quản lý đô thị. Mặt khác, nếu chỉ “trông chờ” vào các doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp, thì người nông dân mãi mãi chỉ là người làm thuê trên chính quê hương mình mà không thể phát huy sức sáng tạo cá nhân. Trong khi đó, mỗi địa phương trong cả nước có rất nhiều sản vật độc đáo nhưng hầu như vẫn chưa được thúc đẩy trên quy mô hàng hoá, “vươn ra” thị trường toàn quốc và quốc tế. Vấn đề là làm sao thúc đẩy tinh thần “làm chủ” và sáng tạo của người nông dân để phát huy được những sản vật độc đáo vốn là thế mạnh của nhiều địa phương, PGS. TS Trần Văn Ơn trăn trở.  Trước thực trạng trên, từ năm 2008, trong cả nước đã có một số địa phương thí điểm phát triển chương trình “mỗi làng một sản phẩm” hoặc “mỗi làng một nghề” nhưng mang tính “lẻ tẻ”, chưa đồng bộ. Riêng Quảng Ninh đã tiên phong tham quan mô hình của nước ngoài (Thái Lan, Nhật Bản) mời đơn vị tư vấn độc lập (DKpharma) để lập Đề án phát triển Chương trình Mỗi xã phường một sản phẩm (Đề án) từ năm 2013, trở thành tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai thực hiện chương trình này một cách bài bản, có hệ thống, từ việc hình thành bộ máy chỉ đạo tổ chức thực hiện, ban hành cơ chế, chính sách, đến hướng dẫn qui trình triển khai… Trong Đề án, tỉnh Quảng Ninh đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai là: Xây dựng quy trình thực hiện từ đăng ký ý tưởng sản phẩm; lập các dự án sản xuất; phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng cộng đồng; xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ sản xuất, phân cấp quản lý quyết định đầu tư cho cấp huyện, cấp xã; xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá và thi xếp hạng sản phẩm; tổ chức thi thiết kế logo, kiểu dáng công nghiệp, bao bì sản phẩm; quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống trung tâm và điểm bán hàng sản phẩm trên địa bàn tỉnh; tổ chức xúc tiến thương mại và Hội chợ “Mỗi xã, phường một sản phẩm” thường niên,… Sau ba năm thực hiện, chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” đã thu được những kết quả tốt, tổng giá trị hàng hóa bán ra trong chương trình này tại Quảng Ninh là trên 670 tỷ đồng (gấp 3 lần kế hoạch), thu hút tổng số hơn 2100 lao động, số hộ, nhóm hộ đăng ký tham gia ngày càng nhiều.    Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tham quan ruốc hàu – sản phẩm OCOP được xếp hạng 5 sao của Quảng Ninh.  Nhân rộng mô hình OCOP  Kết quả trên cho thấy OCOP là hướng đi đúng, sáng tạo của Quảng Ninh trong phát triển sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị, gắn các tổ chức sản xuất với sản phẩm, phát huy những thế mạnh của địa phương, theo đánh giá của ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Do vậy, ông Cường yêu cầu các sở nông nghiệp trong cả nước tham khảo quá trình xây dựng Đề án và kinh nghiệm thực hiện trong thực tiễn ở Quảng Ninh, từ đó xây dựng kế hoạch ở mỗi địa phương một cách “sáng tạo”, phù hợp với điều kiện đặc thù ở từng tỉnh (có tiến hành thí điểm). Về phía Bộ Nông Nghiệp, thứ trưởng Trần Thanh Nam sẽ làm trưởng nhóm thu thập tài liệu từ trường hợp OCOP Quảng Ninh và biên soạn bộ quy trình hướng dẫn thực hiện để các Sở nông nghiệp tham chiếu.  Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đánh giá cao những kinh nghiệm quý báu của OCOP Quảng Ninh và đề nghị “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan hữu quan tham mưu cho Chính phủ xây dựng Đề án ‘Chương trình mỗi xã một sản phẩm’ trong xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp”. Ông nhấn mạnh trong quá trình tái cơ cấu sản xuất phải “lấy người dân làm chủ thể, lấy doanh nghiệp, hợp tác xã làm động lực trong việc tổ chức sản xuất, tìm kiếm thị trường và xây dựng thương hiệu. Chỉ khi các doanh nghiệp vào cuộc, thì họ mới tự vận động tìm kiếm thị trường, xây dựng thương hiệu, tổ chức cho người dân tham gia sản xuất, đồng thời phân phối lợi ích”.  Về phía các địa phương, ông yêu cầu: “căn cứ trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ và định hướng một số nội dung, giải pháp phát triển làng nghề và chương trình “Mỗi xã nông thôn mới một sản phẩm chủ lực”, chủ động xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với từng địa phương để tổ chức thực hiện”.  Chương trình OCOP Quảng Ninh nằm trong khuôn khổ chương trình Nông thôn mới của tỉnh, có mục tiêu giúp người dân phát triển chuỗi sản phẩm đặc sản (gồm sáu nhóm: thảo dược, đồ uống, dịch vụ, thực phẩm ẩm thực, vải & may mặc, nội thất – trang trí) của từng vùng trong tỉnh. Đến năm 2016, chương trình OCOP đã đánh giá tiêu chuẩn cho 121 sản phẩm (kết quả có 99 sản phẩm đạt tiêu chuẩn 3 – 5 sao), hỗ trợ xúc tiến thương mại thông qua các hội chợ, triển lãm, gian hàng OCOP và quảng bá trên truyền thông đại chúng. Đến nay, tổng số vốn thực tế toàn bộ các cơ sở kinh tế tham gia OCOP đã huy động vào khoảng 368 tỉ đồng (trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ các cơ sở vào khoảng 58 tỉ đồng). Doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất OCOP trong ba năm đạt khoảng 672 tỉ đồng. Mời độc giả tham khảo thêm thông tin cụ thể trong chuyên đề “Mỗi xã phường một sản phẩm” do Tia Sáng thực hiện vào tháng 11/ 2016.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Nhân tài Trung Quốc rời bỏ Thung lũng Silicon để hồi hương lập nghiệp      Làn sóng kỹ sư Trung Quốc rời bỏ Thung lũng Silicon, bang California (Mỹ) để trở về đất nước làm việc đang gia tăng khi ngành công nghệ Trung Quốc ngày càng phát triển, thu hút được nguồn tiền đầu tư dồi dào và tạo ra nhiều cơ hội nghề nghiệp.      Wang Yi từ bỏ công việc quản lý sản phẩm ở Google để về nước lập nghiệp. Ảnh: Bloomberg  Cách đây một vài năm, Wang Yi đang sống với giấc mơ Mỹ. Anh tốt nghiệp đại học danh tiếng Princeton, kiếm được một công việc với mức lương hậu hĩnh ở Google và mua được một căn hộ cao cấp ở Thung lũng Silicon.  Nhưng rồi đến một ngày vào năm 2011, anh tâm sự với vợ rằng anh muốn trở về Trung Quốc vì đã chán với công việc quản lý sản phẩm ở Google và khát khao lập một công ty riêng ở quê nhà.  Tuy nhiên, phải mất nhiều tuần, anh mới thuyết phục vợ từ bỏ cuộc sống ổn định ở California để về Thượng Hải, một thành phố đầy bụi mù.  Năm 2012, anh sáng lập Công ty Liulishuo sở hữu ứng dụng học tiếng Anh dựa vào công nghệ trí tuệ nhân tạo. Trong vòng gọi vốn mới nhất vào tháng 7-2017, Liulishuo huy động được 100 triệu đô la Mỹ. Điều này đưa Wang Yi lọt vào hàng ngũ những cựu kỹ sư công nghệ thành công sau khi trở về từ Thung lũng Silicon.  Trước đây, nhiều du học sinh Trung Quốc sau khi tốt nghiệp đại học ở nước ngoài khao khát một công việc danh giá ở các nước phát triển và nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng hiện nay, nhiều người trong số họ đang có xu hướng tìm các cơ hội nghề nghiệp ở quê nhà, nơi nguồn vốn đầu tư mạo hiểm đang ngày càng dồi dào và chính phủ đang dành nhiều hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nghiên cứu các công nghệ tân tiến.  Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ khoa học và toán ở Đại học bang Miami (Mỹ), Yang Shuishi, một người gốc ở thành phố Trùng Khánh, kiếm được một công việc kỹ sư phần mềm đáng mơ ước ở trụ sở của Microsoft ở Redmond, gần thành phố Seattle, bang Washington. Dù anh được ngồi vào các vị trí công việc cao hơn sau khi nhảy việc qua Google và Facebook nhưng cuộc sống ở Mỹ vẫn là một trải nghiệm đơn độc. Cuối cùng, anh đã trở về Trung Quốc và làm việc cho Công ty Kuaishou chuyên về ứng dụng chia sẻ hình ảnh thay vì ở lại.  “Ngày càng có nhiều nhân tài trở về vì Trung Quốc thực sự tạo được động lực trong lĩnh vực sáng tạo. Xu hướng này chỉ mới bắt đầu”, Ken Qi, một chuyên gia săn đầu người từ Công ty Spencer Stuart (Mỹ), cho biết .  Từ lâu, những người Trung Quốc học tập và làm việc nước ngoài rồi sau đó trở về nước lập nghiệp được gọi là “hải quy” (rùa biển).  Cuộc khảo sát do trang web tuyển dụng việc làm Zhaopin.com và Trung tâm toàn cầu hóa Trung Quốc thực hiện cho thấy 15,5% “hải quy” trong năm 2016 làm việc trong lĩnh vực công nghệ. Con số này tăng so với con số 10% trong cuộc khảo sát vào năm 2015.  Cuộc khảo sát cũng cho thấy số du học sinh Trung Quốc tốt nghiệp các trường đại học nước ngoài, chủ yếu là Mỹ, trở về Trung Quốc tăng vọt lên 432.500 người trong năm 2016, tăng hơn 22% so với năm 2013.  Đối với các kỹ sư Trung Quốc không muốn từ bỏ các điều kiện tiện nghi của cuộc sống Mỹ, các công ty Trung Quốc đang “câu” họ bằng các cách khác. Điển hình như Alibaba, Tencent, Didi Chuxing và Baidu là một trong số các tập đoàn công nghệ hàng đầu của Trung Quốc đang xây dựng hoặc mở rộng các phòng thí nghiệm ở Thung lũng Silicon để tận dụng nguồn lực nhân tài ở đây, đặc biệt là các kỹ sư Trung Quốc.  Tuy nhiên, nếu chấp nhận trở về, cơ hội nghề nghiệp của các “hải quy” sẽ phong phú hơn. Trong lúc, các kỹ sư gốc Hoa hiện diện đông đảo ở Thung lũng Silicon nhưng rất ít người trong số họ leo lên đến các chức vụ lãnh đạo cao cấp.  Theo TBKTSG – Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận thức về tự chủ đại học: Tự chủ khác với tự lo      Tự chủ đại học đã được thừa nhận và thúc đẩy hơn 20 năm nay nhưng chưa thực sự tạo ra những chuyển biến đáng kể. Tác giả Trần Đức Viên lý giải nguyên nhân của thực trạng này và đề xuất một số khuyến nghị, nội dung cụ thể sẽ được chia sẻ lần lượt trên Tia Sáng. Dưới đây là kỳ 1: “Nhận thức về tự chủ đại học: Tự chủ khác với tự lo”.      Sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng, một trong những đơn vị tự chủ tài chính. Nguồn ảnh: Báo Lao động.    Tự chủ đại học đã được bắt đầu ở nước ta từ đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, và sau đó đã được luật hóa [1]. Để thúc đẩy quá trình tự chủ các trường đại học công lập, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP (NQ77) ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017. Thời gian thực hiện NQ77 đã sắp kết thúc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành thực hiện tổ chức tổng kết thí điểm [2] đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Chúng tôi xin lạm bàn đôi chút về vấn đề tự chủ đại học.  Chuyển đổi từ kiểm soát “đầu vào” sang giám sát “đầu ra”  Tự chủ trong giáo dục đại học là nhà nước giao các hoạt động của giáo dục đại học cho chủ thể của quá trình đào tạo, đó là các cơ sở giáo dục đại học (CSGD), giống như Khoán 10 đã giao ruộng đất cho chủ thể của đồng ruộng là người nông dân, tạo ra xung lực phát triển nông nghiệp trong những năm đầu đổi mới. Chỉ có tự chủ mới giúp các CSGD phát huy tối đa các lợi thế, các nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của xã hội và lợi ích của chính CSGD với hiệu quả cao nhất. Chỉ có tự chủ đại học mới tạo cơ hội và nguồn lực cho phép các trường đại học phát huy giá trị cốt lõi của giáo dục đại học là tự do học thuật và tự do sáng tạo. Các CSGD có quyền tổ chức và vận hành theo những cách riêng, nhưng đều có một mẫu số chung, đó là tạo dựng và phát triển một nền giáo dục đại học dân tộc, nhân bản và khai sáng, trường đại học thực sự là các nôi của những sáng tạo và đổi mới, theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.  Tự chủ là quyền của các trường đại học được tự quyết định các vấn đề liên quan đến phát triển đại học mà không bị ràng buộc bởi các quy định bên ngoài, điều này khác hoàn toàn với tự lo. Nhưng tự chủ cũng không có nghĩa là tự do. Để tự chủ đại học thành công, ngoài việc xây dựng và thực hành các quy chế quản trị nội bộ, trách nhiệm giải trình của các CSGD, thì vấn đề mang tính quyết định là cơ quan quản lý nhà nước phải hình thành khung pháp lý phù hợp, thiết kế qui tắc giám sát, hình thành cơ chế giám sát chặt chẽ và nghiêm khắc của xã hội và của nhà nước theo các chỉ số ‘đầu ra cơ bản’ (Key Performence Indicators – KPIs) mà CSGD cam kết. Thay vì kiểm soát ‘đầu vào’ như cách chúng ta đang làm, nhà nước chỉ giám sát kết quả ‘đầu ra’ KPIs mà CSGD đã cam kết, và qua đó đánh giá, phân loại và xếp hạng các trường đại học.  Giao quyền tự chủ cho các CSGD không có nghĩa là Nhà nước trao quyền quản trị và quản lý CSGD cho một cá nhân, mà phải trao cho một tập thể, đó là Hội đồng trường (HĐT). HĐT là một thực thể đại diện cho chủ sở hữu cộng đồng, ở đó gồm các thành viên đại diện cho các nhóm lợi ích có liên quan, nên về thiết chế nó là tổ chức có quyền lực cao nhất, đại diện cho nhà nước quản trị trực tiếp CSGD; vì vậy HĐT có nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường, làm việc theo nguyên tắc đưa ra các nghị quyết tập thể.  Tự chủ đại học được phân thành một số hình thức khác nhau, tựu chung lại có 2 hình thức chủ yếu là (1) Tự chủ thủ tục (procedural autonomy), trường đại học có thẩm quyền trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhưng không có quyền đưa ra quyết định của riêng mình, hoặc chỉ có quyền đưa ra các quyết định từng phần (nên còn được hiểu là tự chủ từng phần); và mức cao hơn là (2) Tự chủ thực chất/Tự chủ toàn diện (substantive autonomy), trường đại học có thẩm quyền đầy đủ để đưa ra các quyết định để vận hành nhà trường hướng tới mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi đã được xác định. Trong đó, tự chủ toàn diện với mô hình quyền hạn quản trị tối cao thuộc về Hội đồng trường và bộ máy quản lý đứng đầu là Hiệu trưởng (HT – Chief Executive Officer – thực chất là giám đốc điều hành) là mô hình quản trị đại học hoạt động linh hoạt ‘như’ (chứ không phải ‘là’) một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn mang đậm hương vị ‘cận thị trường’ (quasi market) nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước, đang được cho là mô hình tối ưu và phù hợp nhất với các trường đại học của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi hiện nay.  Sự khác biệt chính giữa tự chủ từng phần và tự chủ hoàn toàn là một đại học tự chủ từng phần chỉ có khả năng xác định được mục tiêu phát triển và việc triển khai phụ thuộc vào bên ngoài; còn đại học tự chủ hoàn toàn do thoát ra khỏi các thủ tục quản lý hành chính rườm rà, quan liêu và các rào cản lợi ích và quyền lực, nên có khả năng xác định phương thức và lộ trình để thực hiện sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi của trường đại học; và do đó, các trường đại học chịu trách nhiệm về uy tín và sự phát triển của đại học với xã hội để thực hiện các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể mà đại học theo đuổi. Qua đó có thể thấy tự chịu trách nhiệm gắn liền với tự chủ hoàn toàn, khi không có tự chủ hoàn toàn thì sẽ không có và không thể tự chịu trách nhiệm.      Phải hình thành khung pháp lý phù hợp, thiết kế qui tắc giám sát, hình thành cơ chế giám sát chặt chẽ và nghiêm khắc của xã hội và của nhà nước theo các chỉ số ‘đầu ra cơ bản’ (Key Performence Indicators – KPIs) mà CSGD cam kết. Thay vì kiểm soát ‘đầu vào’ như cách chúng ta đang làm, nhà nước chỉ giám sát kết quả ‘đầu ra’ KPIs mà CSGD đã cam kết, và qua đó đánh giá, phân loại và xếp hạng các trường đại học.      Tự chủ đại học đồng nghĩa với việc không còn khái niệm ‘cơ quan chủ quản’, ở đó lao động sáng tạo và tự do học thuật được tôn trọng và vinh danh, ở đó CSGD – trên cơ sở các nguồn lực và lợi thế so sánh – được tự quyết định ‘thân phận’ của mình, được tự khẳng định vị thế và tầm vóc của mình, thích ứng với cơ chế thị trường. Nhà nước kiến tạo thể hiện ngay trong việc Nhà nước ‘nhường’ bớt việc cho các CSGD, nghĩa là rút khỏi những công việc cụ thể, sự vụ, chuyên môn, học thuật… giao những lĩnh vực, những việc Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ cho CSGD và cho xã hội.  Tự chủ được thể hiện ở hai cấp độ: cấp độ giữa trường đại học với nhà nước và cấp độ trong nội bộ trường. Về cấp độ giữa trường đại học với nhà nước, mức độ tự chủ của các CSGD phụ thuộc vào các chỉ số KPIs mà họ đã cam kết với xã hội; nhà nước không quyết định mức độ tự chủ, mà chính (năng lực) của từng trường quyết định mức độ tự chủ của họ theo các chỉ số KPIs. Điều này tương tự như cách bố mẹ chăm lo cho con cái lúc lọt lòng cho đến khi đủ khôn lớn để ra ở riêng (tự chủ). Vì vậy, tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, điều kiện kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia, đặc thù đào tạo và NCKH của từng CSGD mà các CSGD có thể phát triển thành đại học tự chủ từng phần hay hoàn toàn, không thể áp dụng một mức độ tự chủ chung cho các đại học. Về cách giao quyền tự chủ, cũng có thể cho các CSGD đăng ký các mức, các quyền mà họ muốn được tự chủ, cơ quan quản lý nhà nước dựa vào mong muốn và thực lực (thể hiện qua các chỉ số KPIs) của họ để cùng CSGD quyết định mức độ tự chủ.  Tại sao quá trình tự chủ đại học “chậm chạp”?  Tự chủ đại học có nhiều ưu điểm đã được khẳng định, và trở thành xu thế mang tính toàn cầu của giáo dục đại học. Nhưng ở nước ta, quá trình tự chủ đã diễn ra hết sức chậm chạp, ngay cả khi có NQ77. Cho đến nay mới có một số rất nhỏ trường đại học công lập (20/169 CSGD, chưa đầy 12%) dám bước đi những bước chập chững đầu tiên trên con đường tự chủ, số đông còn lại vẫn đang tiếp tục nghe ngóng với những âu lo, chưa đủ dũng khí bước vào con đường tự chủ. Phải chăng ‘tấm áo’ tự chủ đã bị chật chội ngay từ khi thiết kế? Phải chăng cơ quản quản lý nhà nước về GD&ĐT còn chưa sẵn sàng về tâm và thế cho tiến trình tự chủ giáo dục đại học? Hay tại CSGD vẫn chưa thích ứng kịp với có chế tự chủ, vẫn còn chưa thoát ra được tư duy bao cấp dựa trên cơ chế xin cho, và vì thế, HĐT vẫn chưa thể trở thành một thiết chế có quyền lực cao nhất của các CSGD như luật định?  Người ta cho rằng, nếu như ba ‘điểm nghẽn’ (khung pháp lý, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT, HĐT) được tháo gỡ thì chắc chắn tự chủ đại học sẽ tạo ra những đột phá cho toàn hệ thống GDĐH, tương tự như ‘Khoán 10’ trong nông nghiệp 30 năm trước.  Chúng tôi xin đưa ra ý kiến về 3 ‘điểm nghẽn’ này như sau:  – Nhà nước chưa ban hành quy định cụ thể nào về quyền của các trường đại học trong việc xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của họ, đọc Luật GDĐH 2012 và các văn bản pháp lý liên quan tuyệt nhiên không thấy điều khoản nào như thế (quyền của các trường đại học trong việc xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm); nhưng lại quy định hàng loạt các quyền tự chủ của các CSGD đều phải ‘theo qui định’. Dường như các điều khoản cụ thể hóa quyền tự chủ đại học trong Luật GDĐH 2012, như tự chủ về chuyên môn, học thuật, về kiểm định và đảm bảo chất lượng, về quản trị và tổ chức nhân sự, về tài chính, v.v… cho thấy trong quan niệm của những người làm luật thì tự chủ đại học chỉ có thể ở mức độ tự chủ thủ tục, và ngay cả ở mức độ này thì quyền tự chủ của các trường vẫn còn khá hạn chế, bị nhà nước, ở đây là Bộ GD&ĐT, kiểm soát và can thiệp sâu, làm cho quyền tự chủ của các trường đại học bị lu mờ.  –  Trong suốt tiến trình thực thi tự chủ đại học, chưa thấy Bộ GD&DT có một văn bản (thông tư, công văn hay chỉ thị) nào để hỗ trợ, hướng dẫn các CSGD đang ‘thí điểm đổi mới’ thực hiện các quyền tự chủ đã được Thủ tướng CP giao; mà chỉ thấy các văn bản duy trì cơ chế tập quyền, hạn chế quyền tự chủ của các CSGD. Mặt khác, khi các CSGD cần được hướng dẫn thực thi một quyền tự chủ nào đó đã được Thủ tướng cho phép ‘thí điểm’ thì đều nhận được câu trả lời trơn tuột ‘các đồng chí thực hiện theo qui định’. Lạ thật, nếu các qui định hiện hành đều đúng, đều tốt cả, thì việc gì chúng ta phải ‘thí điểm đổi mới’ nữa!  – HĐT, trên thực tế, là một thiết chế ‘hữu danh vô thực’, mọi việc to nhỏ của CSGD đã được đảng ủy và Ban Giám hiệu ‘giúp’ làm hết; tổ chức này không quyền không tiền, nói chẳng ai nghe, thân phận ‘vâng vâng dạ dạ’. Quyền lực của một cá nhân, một tổ chức phụ thuộc vào mức độ ai là người có thực quyền đưa ra quyết định cuối cùng về tổ chức, nhân sự và tài chính. HĐT chỉ có thực quyền khi có quyền ra quyết định cuối cùng về các lĩnh vực này. Các qui định pháp luật của ta đều không có chỗ cho sự hiện diện quyền lực của HĐT với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, trong trái tim, khối óc của CBVC, người học và đối tác; và vì thế, HĐT không có vai trò gì trong việc đưa ra quyết định về công tác tổ chức, nhân sự và tài chính. Ví dụ, trên các loại bằng cấp của người học, nếu ta thử nhìn vào bằng Thạc sĩ, bằng Tiến sĩ của một đại học nào đó ở Hoa kỳ, chẳng hạn như đại học Purdue hay đại học Bắc Carolina, ở đó đều có chữ ký ở vị trí trang trọng nhất của chủ tịch HĐT; thậm chí bằng cấp là do HĐT quyết định, nên trên các bằng cấp này đều có dòng chữ ‘Be it Known that the Trustees of X Universiy…” hay ‘the Trustees of the University have conferred upon Lê Văn A the degree upon PhD…’, v.v… Ở ta, không có chỗ nào cho vị trí ‘quan trọng’ của HĐT trên tấm bằng hay chứng chỉ ngề nghiệp của người học.  (Đón đọc kỳ 2: Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Tổ chức và cơ chế giám sát)  ——-  Chú thích:  [1] Bằng Luật giáo dục 2005, Luật giáo dục đại học 2012 và cụ thể hóa hơn trong Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ.  [2] Điểm b Mục 1 Điều 4 của Nghị quyết 77/NQ-CP.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Nhân viên phải đi làm. Vì sao?      Hai giáo sư kiêm doanh nhân Sally Blount và Paul Leinwand vừa công bố nghiên cứu mới nhất của mình từ thực tiễn quản trị doanh nghiệp và tiếp cận khoa học trên tạp chí Havard Business Review với một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhất thế giới: “Tại sao nhân viên phải đi làm”.    Trong vòng một thập kỷ qua, “mục đích” và câu hỏi “tại sao” đã trở thành khẩu hiệu trong việc quản lý. Từ 2010, chúng xuất hiện trong tiêu đề của hơn 400 tựa sách về kinh doanh và lãnh đạo và trên hàng ngàn bài báo. Vậy nên không ngạc nhiên khi nhiều người, không chỉ người trẻ hiện nay, muốn làm việc cho các tổ chức, nơi họ có thể cảm được sứ mệnh và triết lý kinh doanh từ cả cảm xúc và lý trí.  Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác địch mục đích. Rất dễ để thấy được nhiều tuyên bố mục tiêu của doanh nghiệp nghe rất chung chung như “trở thành công ty lớn” hay “tối đa hóa giá trị cổ phiếu.” Những tuyên bố như vậy thiếu đi cái lõi thực sự để tạo ra thành công, không thể hiện được thứ mà doanh nghiệp làm và khách hàng của họ là ai. Những tuyên bố khách nghe có vẻ tham vọng nhưng lại vô cùng mơ hồ, như “truyền cảm hứng cho mọi người để hoàn thiện bản thân mỗi ngày” hay “lan tỏa sức mạnh tích cực.” Chúng, cũng vậy, không trả lời được Lý do tồn tại của bạn là gì? Giá trị bạn mang đến cho khách hàng là gì? tại sao chỉ có duy nhất công ty của bạn có khả năng cung cấp giá trị đó?       Mục đích chính là chìa khoá để thúc đẩy tinh thần – và những nhân viên có động lực là chìa khoá để thực hiện hoá mục tiêu. Hiểu được mối quan hệ cộng sinh này thì doanh nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ.      Một tuyên bố mục đích thật sự phải có hai điểm: nêu rõ được mục tiêu chiến lược và tạo động lực cho nhân viên. Những điểm này vô cùng quan trọng cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Khi nhân viên hiểu và nắm được mục tiêu của tổ chức, họ có thêm cảm hứng để làm việc không chỉ tốt mà còn thực hiện theo các mục tiêu đã đề ra.   Làm sao nhân viên có thể làm việc nếu họ không hiểu mục tiêu của công ty? Làm sao họ có thể đến cơ quan mỗi ngày khi họ không biết tổ chức của bạn đang cố gắng thực hiện điều gì và công việc của họ góp phần gì trong đó? Trong một cuộc khảo sát của PwC và Strategy và hơn 540 nhân viên trên toàn thế giới, chỉ có 28% phản hồi cho rằng họ cảm thấy hoàn toàn kết nối với mục tiêu của công ty 39% nói họ có thể thấy rõ giá trị họ tạo ra, chỉ 22% đồng ý công việc cho phép họ tận dụng tối đa thế mạnh của mình, và chỉ 34% nghĩ rằng họ có đóng góp vào sự thành công của công ty. Hơn nữa thậm chỉ không có khái việc động lực, đam mê hay hứng thú với công việc của họ.  Tất cả gây nên một cuộc khủng hoảng mục đích: Nhân viên cảm thấy lạc lõng. Và theo thời gian, thiếu động lực thúc đẩy, họ bắt đầu lùi lại trước những thách thức để đạt được mục tiêu của công ty.  Tin tốt là mục tiêu có khả năng truyền cảm hứng mạnh mẽ. Cũng trong cuộc khảo sát trên, trung bình nhân viên coi trọng việc có mục đích gấp đôi so với các hình thức tăng lương, thăng tiến trong sự nghiệp. Tại các công ty xác định và truyền đạt rõ cách họ tạo ra giá trị, 63% nhân viên cảm thấy được truyền động lực, so với 31% tại các công ty khác;. 65% nói rằng họ đam mê với công việc của mình, so với 32% tại công ty khác. Và việc có mục tiêu cũng đem lại lợi ích đáng kể cho doanh nghiệp khi hơn 90% các doanh nghiệp này có tăng trưởng và doanh thu ở mức hoặc trên mức trung bình của ngành.  Để chắc rằng mục tiêu công ty có thể nói lên sự rõ ràng trong chiến lược và thúc đẩy nhân viên, các doanh nghiệp phải trả lời câu hỏi cơ bản: Nó có nêu được giá trị độc nhất của doanh nghiệp không? Từ đó, bạn cần đảm bảo cấu trúc, hệ thống và nguồn lực để đưa điều đó thành hiện thực.  Mục đích chính: lời hứa của doanh nghiệp với khách hàng  Trong một thế giới lý tưởng, mọi tổ chức sẽ tạo ra, truyền đạt và gieo vào trong mỗi khách hàng một mục tiêu. Các doanh nghiệp sinh ra và tồn tại bởi vì duy nhất họ đáp ứng được một nhóm nhu cầu của khách hàng. Họ trở nên thành công và phát triển khi mục tiêu của họ vẫn còn rõ rệt và khi họ kết nối được nó với công việc của nhân viên.  Một trong những thách thức là nhiều công ty đối mặt trong việc kết nối mục tiêu với nhân viên bởi họ có quá nhiều tuyên ngôn. Càng ít các tuyên bố, càng tốt. Người lãnh đạo cần truyền đạt rõ ràng lý do tại sao công ty tồn tại (giá trị mà nó tạo ra và cho ai) theo cách dễ dàng cho nhân viên tìm kiếm, hiểu và tham khảo trong công việc.    Những câu hỏi dưới đây có thể giúp doanh nghiệp đánh giá liệu họ đã rõ lý do tồn tại của mình chưa.  • Liệu mục tiêu đã nêu của họ có liên quan đến một nhóm khách hàng hoặc người dùng có tiềm năng mua sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp? Liệu họ đã hình dung rõ chân dung khách hàng của mình?  • Liệu mục tiêu của họ là duy nhất? Lỗ hổng nào sẽ còn lại trên thị trường nếu họ biến mất?  • Họ có thật sự làm chủ mục tiêu mà họ đề ra không? Họ có hoặc có thể xây dựng khả năng để nổi bật hơn không? Họ có thể thực hiện nó hiệu quả và tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh không?  Hãy lấy ví dụ về IKEA, nhà sản xuất và bán lẻ đồ nội thất lớn nhất thế giới. Họ có thông điệp rõ ràng về giá trị mà họ mang lại. IKEA hứa rằng “tạo ra mỗi ngày mới tốt hơn cho mọi người bằng việc cung cấp các sản phẩm đa dạng và thiết kế tử tế cùng với mức giá rẻ đến mức ai cũng có thể mua được.” Công ty đang thực hiện rất tốt lời hứa của mình từ việc phát triển những hiểu biết sâu sắc về lối sống của khách hàng, chuyển hóa nó thành sản phẩm là đồ nội thất thiết kế bắt mắt, đựng trong hộp phẳng, sử dụng chuỗi sản xuất cung ứng vô cùng hiệu quả và có thể mở rộng.  Mục tiêu của IKEA từ lâu đã được minh chứng. Nhà sáng lập Ingvar Kamprad tham gia đồ nội thất gia đình với mong muốn phục vụ những người có điều kiện hạn chế mà cách duy nhất để họ có đồ nội thất là tự làm hoặc sử dụng lại. Ông vẫn trung thành với mục tiêu đó ngay cả khi những đối thủ đầu tiên, khó chịu về giá thấp của IKEA, đã tổ chức một cuộc tẩy chay các nhà cung cấp của IKEA. Thay vì tăng giá cho khách hàng của mình, Kamprad đã thêm vào nguồn lực, tuyển dụng nhân viên thiết kế riêng và sử dụng nguồn cung mới – các nước Đông Âu – để sản xuất.  Xây dựng tổ chức truyền tải được mục tiêu của bạn  Rõ ràng làm rõ mục đích chỉ là khởi đầu, tất nhiên. Tuyên bố mục đích sẽ vô dụng, có khi phản tác dụng, nếu doanh nghiệp không thể thực hiện được nó. Nhân viên khi nghe mục tiêu rất mạnh mẽ nhưng phải đối mặt với các rào cản tổ chức sẽ không thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Khi đó, tuyên bố của doanh nghiệp sẽ chỉ tạo ra sự thất vọng và hoài nghi và giảm động lực trong nhân viên. Và khách hàng chính là người cuối cùng nhận ra.  Để đảm bảo thực hiện được mục đích đề ra, doanh nghiệp cần:  1. Thu hút đúng nhân tài  Các công ty sẽ cần đúng người, đúng vai trò, để đạt được mục tiêu của tổ chức và tạo nên sự khác biệt cạnh tranh. Đừng mong chờ có thể có được những người giỏi nhất. Bởi, nếu được, có thể doanh nghiệp đang bỏ thời gian để thu hút và giữ chân những cá nhân có kỹ năng không phù hợp với mục đích của công ty. Và vì vậy, những nhân viên đó cũng không cảm thấy được thúc đẩy để làm tốt công việc.   Doanh nghiệp nên làm rõ họ có thể đẩy mạnh nguồn lực nào để đạt mục tiêu và quyết định đâu là công việc cần nhân tài hàng đầu. Hãy quan tâm đến công nghệ mà công ty đang sử dụng và hãy nhớ rằng bạn có thể sử dụng nhà thầu bên ngoài thay vì nuôi nhân viên nội bộ.  Ví dụ Apple, công ty lớn mạnh nhờ sự nổi bật trong thiết kế thân thiện với người dùng. Để đạt được điều đó, Steve Jobs đã tập trung vào đội ngũ thiết kế, kêu gọi nhân tài để định hình một loạt sản phẩm và dịch vụ, bao gồm các thiết bị, giao diện người dùng và cửa hàng. Apple còn tạo ra vị trí giám đốc thiết kế trong ban quản trị, điều khá khác so với các công ty công nghệ. Khi làm như vậy, Apple nhấn mạnh cho tất cả nhân viên giá trị và sự kết nối của các hoạt động của nhóm thiết kế. Công ty đã thu hút và giữ lại không chỉ các nhà thiết kế sản phẩm đẳng cấp thế giới mà cả các nhà thiết kế hàng đầu từ thời trang và bán lẻ vì Jobs hiểu và cho thấy vai trò thiết kế quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của Apple.  2. Kết nối vượt qua giới hạn  Khi doanh nghiệp có đúng người với đúng kỹ năng, họ cần định hình doanh nghiệp sao cho phát huy hết nhân lực để đạt được mục đích. Gần như mọi sáng kiến quan trọng, cho dù là tăng doanh thu, giảm chi phí, hay sản phẩm mới đều đòi hỏi hiểu biết và hành động của cả tổ chức. Vậy nên, việc cần làm là phá bỏ bức tường cô lập.  IKEA là một trường hợp điển hình. Ở nhiều công ty, sản phẩm được thiết kế một nhóm riêng, không có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý chi phí. Sau khi được tạo, các thiết kế sẽ chuyển đến nhóm chuỗi cung ứng hoặc nhóm tài chính hoặc cả hai để ước tính chi phí, và sau đó một nhóm tiếp thị hoặc bán hàng sẽ xác định giá. Quá trình này thường bao gồm nhiều vòng lặp để xem xét lại các giả định thiết kế. IKEA lại khác: Nhân viên từ thiết kế, tài chính, sản xuất và chuỗi cung ứng sẽ làm việc cùng nhau để tạo ra các sản phẩm được tối ưu hóa cho chi phí ngay từ đầu. Ví dụ, các nhà thiết kế liên tục làm việc trên bao bì tối đa hóa các mảnh có thể vừa trong một thùng chứa và giữ các gói hàng có trọng lượng và kích thước hợp lý để khách hàng có thể mang về nhà. Sự tích hợp đa chức năng này mang lại cho công ty khả năng thiết kế tối ưu với chi phí cạnh tranh cao, yếu tố quan trọng trong chiến lược của IKEA và cho phép công ty đạt được mục đích của mình.  3. Đầu tư đằng sau mục đích   Không có gì làm mất lòng tin đối với nhân viên hơn là làm việc trên một thứ quan trọng nhưng không nhận được đủ thời gian, sự quan tâm hoặc tài trợ. Mục tiêu của công ty để đạt được mục đích không phải là cung cấp sản phẩm tốt nhất , hay thậm chí là đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường như nhân sự hay chi tiêu thị trường, mà là dầu tư nhiều hơn đối thủ của họ để có thể cung cấp những giá trị mà họ đã hứa.   CEMEX, công ty xi măng và bê tông có trụ sở tại Mexico, đặt mục tiêu trở thành đối tác khách hàng cốt lõi trong các dự án xây dựng từ đầu đến cuối, cung cấp các hỗ trợ và tư vấn về mọi thứ, từ việc lựa chọn địa điểm tối ưu, mua giấy phép đến quản lý công việc xây dựng lớn. Cuối cùng, họ đã đầu tư rất nhiều vào đội ngũ bán hàng của mình, nơi các thành viên chịu trách nhiệm phát triển mối quan hệ thân thiết với các quan lý cấp cao của những khách hàng thành phố. Công ty cũng bắt đầu tuyển dụng một vị trí nhân sự mới, tuyển dụng các cá nhân chuyên gặp gỡ với các nhà lãnh đạo cộng đồng. Đồng thời, trong suốt quá trình xây dựng, đội ngũ này chia sẻ thông tin khách hàng với các nhân viên trong tổ chức, để công ty chuẩn bị các giải pháp khác biệt cho khách hàng.   Ngay cả khi doanh nghiệp cố gắng thúc đẩy nhân viên làm việc bằng các câu slogan và phần thưởng, họ cũng sẽ không thể đạt được sự xuất sắc nếu nhân sự không biết tại sao họ lại phải đi làm mỗi ngày. Công ty càng làm rõ giá trị của họ tạo ra cho ai, khả năng truyền cảm hứng của tổ chức với nhân viên càng lớn đến đó. Và nếu phân bổ đúng tài năng, mô hình hoạt động và nguồn lực tài chính để hỗ trợ mục đích, nhân viên của họ sẽ dễ dàng hoàn thành công việc dựa trên mục tiêu của công ty.□  Đỗ Quốc Phong tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản đào tạo công nghệ Minimal Fab cho Việt Nam      Ngày 15/9, tại trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu giữa Ban Quản lý Khu CNC TP. Hồ Chí Minh  (SHTP) và Tổ hợp nghiên cứu phát triển công nghệ Xưởng cực tiểu (Minimal Fab Development Association-MINIMAL) về chương trình hợp tác nghiên cứu và cải thiện liên quan đến xưởng cực tiểu.     Đây là công nghệ chế tạo vi mạch mới mà các nhà khoa học và doanh nghiệp Nhật Bản đang phát triển và lần đầu tiên đồng ý hợp tác để hỗ trợ đào tạo và tiến tới chuyển giao công nghệ này đến SHTP.  Theo nội dung biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu giữa SHTP và đối tác Nhật Bản, Tổ hợp nghiên cứu phát triển công nghệ xưởng cực tiểu đồng ý tiếp nhận đào tạo 2 nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu CNC TP. Hồ Chí Minh trong vòng từ một đến hai năm tại Nhật Bản cũng như chuyển giao các công nghệ về Minimal Fab cho SHTP.  Thạc sĩ Ngô Đức Hoàng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch (ICDREC) – ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh cho biết, Minimal Fab là công nghệ chế tạo vi mạch mới mà các nhà khoa học và doanh nghiệp Nhật Bản đang phát triển và lần đầu tiên đồng ý hợp tác để hỗ trợ đào tạo và tiến tới chuyển giao công nghệ này đến SHTP.  Đây cũng là đề tài “Nghiên cứu mô hình Xưởng cực tiểu phù hợp vói tình hình phát triển khoa học và công nghệ thế giới hướng tới ứng dụng tại Việt Nam” thuộc Trung tâm Nghiên cứu triển khai SHTP thực hiện do UBND TP. Hồ Chí Minh đặt hàng trong Chương trình phát triển Công nghiệp vi mạch TP. H​ồ Chí Minh giai đoạn 2013-2020.   Cũng theo Ths Ngô Đức Hoàng, đây là một cơ hội rất lớn cho sự phát triển ngành công nghiệp vi mạch của TP. Hồ Chí Minh qua việc tiếp xúc với công nghệ chế tạo vi mạch bán dẫn mới dựa trên nền tảng công nghệ Minimal Fab mà Chính phủ và các nhà khoa học, tập đoàn vi mạch hàng đầu của Nhật Bản đang đầu tư nghiên cứu. Việc tiếp nhận công nghệ này cũng nhằm bổ sung các chương trình, dự án nhánh và một số nội dung của Chương trình Phát triển Công nghiệp vi mạch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2020 mà Đề án phát triển vi cơ điện tử (MEMS) do UBND TP. Hồ Chí Minh giao cho.  Về lộ trình triển khai hợp tác, Ths Ngô Đức Hoàng cho biết năm 2016, Việt Nam sẽ gửi hai cán bộ đến tổ hợp MINIMAL FAB  học tập và làm việc và năm 2017 phối hợp xây dựng một dự án chung xây dựng chế tạo một sản phẩm mẫu linh kiện vi mạch điện tử.  Tổng giám đốc đại diện MINIMAL Yasuyuki Harada cho biết thêm, mục tiêu phát triển Xưởng cực tiểu là xây dựng một hệ thống sản xuất vi mạch bán dẫn mới và nhỏ chỉ cần 1/1.000 số tiền đầu tư cho một nhà máy thông thường, thì đã có dây chuyền sản xuất sử dụng phiến bán dẫn (wafer) có đường kính chỉ bằng một nửa inch (tức là khoảng 12,5 mm) để sau khi hoàn thành, con chip được sản xuất ra có thể đem ráp ngay trên các thiết bị điện tử.   Đồng thời, vận dụng công nghệ làm sạch cục bộ (Localized Clean Technology), Xưởng cực tiểu không cần đến Phòng sạch nữa. Hoạt động chế tạo vi mạch bán dẫn thậm chí có thể thực hiện ngay trong văn phòng. “Đây chính là một công nghệ mới lần đầu tiên tiên thế giới có thể giúp cho những doanh nghiệp nhỏ có thể trực tiếp tham gia vào sản xuất công nghiệp CNC. Đây chính lả đặc điểm nổi trội nhất của Xưởng cực tiểu” – ông Yasuyuki Harada cho biết.   Ông Yasuyuki Harada còn cho biết, dây chuyền Xưởng cực tiểu này, kể cả về kích thước nhỏ gọn, cũng như về khoản tiền đầu tư thấp, đều rất thích hợp đối với Vỉệt Nam trong giai đoạn xúc tiến phát triển nền công nghiệp bán dẫn vi mạch. Để có thể xuất ra nước ngoàỉ thì cần thời gian thêm khoảng ba năm nữa. Vì vậy, việc đầu tiên là phải đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực này.   Phát biểu tại buổi lễ, Tổng lãnh sự Nhật Bản tại TP. Hồ Chí Minh Nakajima Satoshi bày tỏ hy vọng việc ký kết hợp tác sẽ giúp TP. Hồ Chí Minh có đội ngũ nhân lực trở thành những chuyên viên thành thạo không những về công nghệ Xưởng cực tiểu, mà còn có cơ hội thiết lập quan hệ tốt với hàng trăm công ty sản xuất dây chuyền Xưởng cực tiểu tại Nhật Bản đồng thời sẽ làm cầu nối liên kết với Nhật Bản để mang về Việt Nam công nghệ Xưởng cực tiểu này.   Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Tất Thành Cang đánh giá cao sự ký kết hợp tác giũa SHTP và Tổ hợp nghiên cứu phát triển công nghệ xưởng cực tiểu Nhật Bản cho chương trình phát triển công nghệ Xưởng cực tiểu, đóng góp xứng đáng cho nền công nghiệp bán dẫn vi mạch của Việt Nam.   Ông khẳng định, trong phát triển kinh tế xã hội, TP. Hồ Chí Minh ưu tiên phát triển bốn ngành công nghiệp mũi nhọn, trong đó có lĩnh vực vi mạch, điện tử được ưu tiên phát triển. Ông cũng mong muốn việc hợp tác sẽ hoàn thành trước năm 2017; đồng thời yêu cầu Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, SHTP và ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn được bảy đến tám người tham gia chương trình để học tập và phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp rất mới này.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/nhat-ban-ky-thoa-thuan-dao-tao-cong-nghe-minimal-fab-cho-viet-nam/343781.vnp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện năng lực nghiên cứu ở Nhật Bản      Được cảnh báo về vị thế đang trên đà suy giảm của các trường đại học Nhật Bản, chính phủ nước này đang lên kế hoạch đầu tư 2,3 tỉ USD/năm cho một số trường có hy vọng thúc đẩy năng lực của mình lên.    Trở lại vị trí dẫn đầu?    Kế hoạch mới này đã được chấp thuận vào ngày 18/5 vừa qua, “hướng tới mục tiêu đem lại cho các nhà nghiên cứu trẻ nhiều triển vọng môi trường nghiên cứu của các trường đại học hàng đầu thế giới, để tăng cường một cách cao nhất các hợp tác quốc tế, và thúc đẩy tuần hoàn chất xám giữa trong nước và quốc tế”, theo Takahiro Ueyama, một chuyên gia về chính sách khoa học tại Hội đồng KHCN và ĐMST (CSTI) – cơ quan cố vấn cao nhất về khoa học ở Nhật Bản – và là một trong những người xây dựng chương trình này.    Hiện tại, Nhật Bản đang theo đuổi mục tiêu lập chương trình trường đại học quốc tế xuất sắc, kinh phí vào khoảng 10 nghìn tỉ yên (78 tỉ SD), có thể sẽ được rót hằng năm cho bảy trường đại học hàng đầu là 2,3 tỉ USD. Bắt đầu từ cuối năm nay, các trường sẽ được mời trình bày các kế hoạch cải cách và các đề án nghiên cứu để chính phủ lựa chọn.    Tuy vậy chương trình này đã làm dấy lên tranh cãi giữa giới học thuật về khả năng đảo ngược tình thế của nghiên cứu khoa học trong các trường đại học Nhật Bản.    Theo Guojun Sheng, nhà sinh học phát triển người Trung Quốc đang làm việc tại trường Đại học Kumamoto Nhật Bản cho rằng, với kinh nghiệm từng làm nghiên cứu ở Trung Quốc, Mỹ và Anh, ông cho rằng kế hoạch mới không thể giải quyết được những vấn đề cơ bản ở các cơ sở nghiên cứu: quá ít nhà khoa học nữ và nhà khoa học nước ngoài tại các cơ sở này. Để có được những kết quả tốt nhất, Nhật Bản phải thay đổi văn hóa nghiên cứu.    Vào tháng 8/2021, phân tích của Viện Nghiên cứu chính sách KH&CN Nhật Bản (NISTEP) cho thấy, Nhật Bản xếp hạng tư trong top các quốc gia được trích dẫn nhiều nhất từ năm 1997 đến 1999 nhưng từ năm 2007 đến năm 2009, rơi xuống vị trí thứ năm và năm 2017 – 2019 là hạng mười. Một phần của nguyên nhân là sự vươn lên ngoạn mục của Trung Quốc. Thậm chí, Canada, Pháp, Italy, Australia và Ấn Độ đều vượt qua Nhật Bản.    Điều thực sự thu hút các nhà chính trị là sự giảm sút trong bảng xếp hạng đại học, ĐH Tokyo là trường duy nhất của Nhật Bản có trong bảng xếp hạng của Times Higher Education nhưng bản thân nó cũng thụt lùi khi rơi từ vị trí 23 trong năm 2015 xuống 35 vào năm nay.    Cần đa dạng môi trường học thuật    Trong quá khứ, Nhật Bản từng có nhiều chính sách khôi phục sức mạnh của khoa học Nhật Bản. Vào năm 2007, Bộ Giáo dục, Thể thao, KH&CN (MEXT) đã thiết lập Sáng kiến Trung tâm nghiên cứu (WPI) “để thu hút các nhà khoa học xuất sắc tới Nhật Bản” đi kèm với những cải cách khác. Ý tưởng này là để tạo ra “một cơ sở nghiên cứu quản lý khoa học theo một cách hoàn toàn khác biệt trong trường đại học”, theo Harayama, một thành viên trong CSTI khi lập chương trình WPI. Theo kế hoạch này, 14 viện nghiên cứu WPI đã được ưu tiên tuyển dụng nhà khoa học quốc tế hơn là tuyển dụng nhà khoa học sẵn có ở trường đại học đặt các viện này, và có hai giám đốc WPI không phải là người Nhật Bản. Nhưng rút cục các tổ chức này đều không tạo ra ảnh hưởng với các trường đó như hy vọng của MEXT, Harayama nói.  Vào năm 2015, Nhật Bản hình thành Cơ quan nghiên cứu và phát triển Y khoa để tạo ra sự đột phá trong nghiên cứu y sinh, với ngân sách hằng năm là 980 triệu USD. Và một chương trình cỡ lớn, được lập vào năm 2019, với ngân sách phân bổ trong vòng 5 năm là 780 triệu USD để “tài trợ cho những R&D có tác động lớn và rủi ro cao”, tập trung vào bảy mục tiêu, bao gồm “chẩn đoán và can thiệp bệnh tật siêu sớm” và “trở thành một nhà cung cấp toàn cầu bền vững” các công nghệ này.    Dẫu vậy thì quy mô và tính chất của các chương trình được thiết kế từ trên xuống như vậy dẫn đến sự phản hồi chính sách chồng chéo và đánh giá hiệu quả vô cùng phức tạp, Toshio Suda, một nhà khoa học về tế bào gốc Nhật Bản tại ĐH Quốc gia Singapore, nhận xét. Mặt khác, chúng tại nhấn mạnh vào các ứng dụng hơn là nghiên cứu cơ bản, ông lưu ý.    Trong khi đó, kinh phí dành cho các nhà nghiên cứu trẻ thông qua chương trình Grants-in-Aid của MEXT dù rất quan trọng nhưng lại được phân bổ hết sức chậm chạp và dưới mức 2 tỉ USD một năm, Suda nói. Tệ nhất là các trường đại học Nhật Bản do kinh phí đã được ấn định sẵn nên “dừng việc trao các vị trí biên chế cho nhà khoa học trẻ”, Hitoshi Murayama, một nhà vật lý lý thuyết ở trường Đại học California, Berkeley, nói. Hiếm khi có nhà khoa học trẻ nào đủ may mắn để được bổ nhiệm và trao tài trợ để bắt đầu nghiên cứu, khiến họ phải trông chờ vào “sự tử tế của các giáo sư”, ông cho biết thêm, “việc thiếu độc lập khiến họ khó khăn trong việc khởi động nghiên cứu của chính mình”.    Rất nhiều dự báo tăm tối về nghề nghiệp đang dần lái con người rời khỏi khoa học. Số lượng sinh viên làm nghiên cứu sinh sau khi có bằng thạc sĩ đã sụt giảm 25% trong vòng 20 năm, theo dữ liệu của MEXT. Và một số người có được bằng tiến sĩ đang tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp ngoài nước. Nhà sinh học phát triển Kinya Ota, một trong số đó, đã tìm được một vị trí tại Viện Hàn lâm Khoa học ở Đài Loan khi gần kết thúc một giai đoạn được bổ nhiệm trong một phòng thí nghiệm trong mạng lưới phòng thí nghiệm quốc gia ở RIKEN. Ở Đài Loan, Ota được hỗ trợ thành lập phòng thí nghiệm của riêng mình từ lúc bắt đầu và quan trọng nhất là “tôi có thể quyết định hướng nghiên cứu của riêng mình”.    Thay vì thiết lập những siêu chương trình nghiên cứu từ trên xuống, Sheng nghĩ Nhật Bản có thể khuyến khích các sáng kiến từ các trường đại học và viện nghiên cứu để tạo ra những nguồn lực lớn hơn trong các phòng thí nghiệm, ở cấp quốc gia và giới. Phụ nữ hiện chỉ chiếm 17% nguồn lực lao động của Nhật Bản, thấp hơn so với mức trung bình 40% của các quốc gia OECD.    MEXT đang nghiên cứu các đề xuất để gia tăng quy mô hỗ trợ các trường đại học vùng, đem lại học bổng cho sinh viên, mở rộng các cơ hội cho phụ nữ, Takuya Saito, giám đốc chính sách nguồn nhân lực của bộ này, nói. Chính phủ cũng nhận thức được kế hoạch mới không thể chạm đến tất cả các vấn đề trong nghiên cứu ở Nhật Bản được. Saito nói: “Việc cải thiện năng lực nghiên cứu ở Nhật Bản theo cách hỗ trợ một số trường đại học sẽ không bao giờ đủ cả”.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Nhật Bản phát hiện mỏ đất hiếm dưới đáy Thái Bình Dương      Ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản sẽ không còn lo thiếu đất hiếm khi họ đã tìm được loại tài nguyên vô cùng quý giá này.     Nhật Bản phát hiện trữ lượng đất hiếm lớn vào khoảng 6,8 triệu tấn dưới đáy biển Thái Bình Dương, thuộc khu vực phía Đông đảo Minamitorishima.   Theo giáo sư Yasuhiro Kato thuộc Đại học Tổng hợp Tokyo, khối lượng đất hiếm này gấp 220 lần lượng tiêu thụ đất hiếm hằng năm của Nhật Bản hiện nay.   Đất hiếm gồm 17 nguyên tố hóa học đặc biệt có ý nghĩa quyết định đối với công nghiệp điện tử, là một trong những nguyên liệu không thể thiếu để sản xuất linh kiện máy tính, điện thoại di động hay màn hình mỏng. Chúng cũng có mặt trong những linh kiện điện tử ở các nhà máy điện gió, trong tên lửa, ô tô chạy điện và rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác.  Hiện tại Trung Quốc khai thác khoảng 90% đất hiếm trên toàn thế giới và chiếm vị trí độc quyền trên thị trường. Việc cung cấp nguồn đất hiếm ổn định không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về chiến lược.  Tuy nhiên, Nhật Bản còn phải xử lý một vấn đề hóc búa: trữ lượng đất hiếm này ở độ sâu tới 5.600m dưới đáy biển. Theo giáo sư Kato thì phải sau năm năm nữa mới có thể khoan đất hiếm đưa lên mặt đất và hiện tại chưa thể hạch toán hiệu quả kinh tế của hoạt động này. Các nhà khoa học lưu ý rằng khả năng tái phục hồi hệ thống sinh thái ở độ sâu lớn là rất hạn chế và cũng chưa có một nghiên cứu kỹ lưỡng nào về tác động môi trường được đưa ra.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản trên đường hồi phục kinh tế      Trong quý IV của năm 2005, Tổng nản lượng nội địa (GDP) Nhật Bản đã tăng vọt theo tỷ lệ 4,2%, giúp cho mức tăng trưởng cả năm 2005 lên 2,8%. Đây là một tin mừng. Vì tuy kinh tế Nhật vẫn đứng hàng thứ nhì trên thế giới, nhưng trong khoảng 10 năm qua không phát triển được như các nước tiền tiến về kinh tế khác, có khi sản lượng lại sụt giảm. Năm 2001, kinh tế Nhật đã giảm liên tiếp, đến quý tư xuống thấp nhất, GDP giảm 3%, đến giữa năm 2002 mới bắt đầu lên. Kể từ đó tới nay, trong 5 năm kinh tế Nhật chỉ tăng được gần 10%.    Cảnh trì trệ của kinh tế Nhật Bản bắt đầu với cơn khủng hoảng giá tài sản, trong cả thị trường chứng khoán lẫn thị trường địa ốc, vào năm 1990. Giá cả giảm sụt, nhất là về địa ốc, đã khiến nhiều người và nhiều công ty vỡ nợ. Khi họ không trả được nợ, các ngân hàng cũng gặp khó khăn; một mặt vì các món nợ không đòi được, mặt khác vì số người vay tiền cũng bớt đi; mà các ngân hàng thì cần phải cho vay mới có lời. Khi các ngân hàng bị bế tắc thì cả nền kinh tế trì trệ theo vì tiền bạc khó lưu thông. Để kích thích cho mọi xí nghiệp và người dân vay tiền trong thời gian qua, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã chủ trương giữ lãi suất rất thấp, với lãi suất căn bản ở mức gần sát số không. Lãi suất đó ảnh hưởng đến lãi suất trên các loại nợ khác, ngắn hạn cũng như dài hạn. Như vào đầu tháng 3 năm 2006 này, trái phiếu cho các món nợ 10 năm của chính phủ Nhật đã tăng lên mà vẫn chỉ trả 1,65% một năm; trong khi đó công trái tương tự của chính phủ Mỹ trả tới 4,75%.  Mãi tới những năm giữa thập niên 1990, sau khi một số ngân hàng lớn phải tuyên bố phá sản, chính phủ Nhật mới bắt đầu cải tổ hệ thống tài chính để bắt buộc các ngân hàng thương mại tuân thủ đúng quy luật của thị trường hơn. Nhưng quá trình cải tổ ở Nhật Bản rất chậm chạp, vì các xí nghiệp cũng như ngân hàng vẫn quen cách làm việc cũ, trong khi các nhà chính trị thuộc đảng Tự Dân cũng ràng buộc với hệ thống cũ. Bước cải tổ lớn nhất mới diễn ra trong năm qua là quyết định tách Bưu điện Nhật Bản ra làm bốn bộ phận; trong đó Quỹ Tiết kiệm của Bưu điện là một thứ “ngân hàng” được gửi nhiều tiền nhất thế giới với lãi suất thấp nhất thế giới, sẽ đứng ra độc lập để tách khỏi các ảnh hưởng chính trị. Thủ tướng Junichiro Koizumi đã thất bại lần đầu khi đưa dự án cải tổ Bưu điện ra Quốc hội. Ông đã từ chức đồng thời giải tán quốc hội để tổ chức bầu lại. Ông Koizumi đánh cá và thắng lớn, đa số dân chúng Nhật đã ủng hộ ông và chương trình cải tổ Bưu điện của ông.  Kinh tế Nhật cải tổ chậm nhưng đà tiến bộ xây dựng từ sau chiến tranh Thứ hai vẫn có sức đẩy; tuy nhiên vì chưa cải tổ kịp cho nên sự gia tăng trong mấy năm qua vẫn phụ thuộc quá nhiều vào việc xuất khẩu. GDP tăng được một trăm đồng thì 30 đồng là do hàng xuất khẩu. Một nền kinh tế dựa trên xuất khẩu sẽ tùy thuộc nhiều may rủi, vì có các yếu tố ngoại lai khó tiên đoán và không thể làm chủ được. Có hai yếu tố giúp hàng hóa Nhật Bản bán được nhiều hơn trong năm qua. Thứ nhất là đồng Yên của Nhật đã xuống giá đối với đô la Mỹ. Giá hàng hóa Nhật khi đổi sang Mỹ kim đã thấp hơn nhờ đồng Yên giá thấp hơn, mà phần lớn các giao dịch thương mại quốc tế đều tính bằng đô la. Yếu tố thứ hai là sự phát triển của kinh tế Trung Quốc khiến nước láng giềng này mua các sản phẩm kỹ thuật cao của Nhật Bản nhiều hơn trước. Trong 5 năm từ 2001 đến 2005, cứ một đồng tăng thêm nhờ xuất khẩu thì có 30% là do bán hàng cho Trung Quốc. Chính các công ty Nhật sang đầu tư trực tiếp bên Trung Quốc cũng tạo nên nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và phụ tùng từ Nhật Bản sang Trung Quốc.  Một đặc điểm khác trong sự phát triển kinh tế Nhật là vai trò của người tiêu thụ rất thấp, so với các nước tiền tiến về kinh tế. Ở Mỹ, kinh tế phát triển chủ yếu là do người tiêu thụ chi tiêu, cứ 100 đô la trong GDP thì có gần 70 đô la là do người tiêu thụ mua; phần còn lại do các xí nghiệp đầu tư và các cấp chính phủ tiêu dùng chỉ chiếm 30%. Ở Nhật Bản thì khác, người tiêu thụ chỉ giúp tạo nên 57% vào Tổng sản lượng nội địa, trong khi phần đầu tư của các xí nghiệp là 18%. Một nước giầu thứ nhì trên thế giới mà người dân tiêu thụ với tỷ lệ thấp như vậy là một điều bất thường. Vì cơ cấu kinh tế Nhật thiên trọng về sản xuất hơn tiêu thụ, có thể nói là giới tiêu thụ đã bị hy sinh.  Để bù lại cho mức tiêu thụ thấp đó, Chính phủ Nhật phải chi tiêu nhiều hơn, do đó vay nợ cũng nhiều hơn. Số nợ của Chính phủ lớn bằng 80% Tổng sản lượng nội địa. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là một chủ nợ chính, vì mỗi tháng Ngân hàng Trung ương mua tới 40% số công trái mà chính phủ phát hành, coi như mỗi tháng cho chính phủ vay 1.200 tỷ Yên. Nhưng chính phủ không thể tiếp tục vay nợ mãi như vậy, vì hiện giờ mặc dù lãi suất rất thấp, tới gần số không, số tiền lãi chính phủ phải trả cũng chiếm đến 22% ngân sách quốc gia. Sẽ đến lúc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng phải tăng lãi suất, và chuyện này sắp xảy ra.  Khi kinh tế phát triển, người ta phải tăng lãi suất để giảm bớt việc vay nợ, giảm bớt số tiền trong túi người dân cũng như các xí nghiệp, nếu không thì lạm phát sẽ lên cao vì nhiều đồng tiền chạy đuổi theo cùng một số hàng hóa, hoặc số tiền tiêu tăng nhanh hơn số hàng hóa làm ra. Nhiều người tiên đoán trong năm nay, chậm lắm là năm tới, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản sẽ tăng lãi suất. Vì cùng lúc với con số tỷ lệ tăng trưởng trên 2.8% cho cả năm ngoái, còn một hiện tượng được chú ý nữa là giá sinh hoạt ở Nhật Bản đã tăng lên trong ba tháng liền, kể từ cuối năm ngoái tới tháng Giêng năm nay. Tuy số gia tăng rất khiêm tốn, từ một phần mười đến một nửa phần trăm mỗi tháng, nhưng đây cũng là một “tin mừng!” Vì trong mấy năm qua nhiều lần nước Nhật lo sợ cảnh giảm phát. Giảm phát, tức là giá sinh hoạt tụt xuống, còn nguy hiểm hơn lạm phát, vì nó sẽ khiến người ta ngưng tiêu thụ để chờ giá xuống thấp hơn, việc sản xuất sẽ đình đốn. Khi có số thống kê cho thấy giá sinh hoạt lên trong ba tháng liên tiếp, ngày 9 tháng 3 ông Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật đã tuyên bố rằng ông sẽ ngưng chính sách “bơm tiền” vào để kích thích nền kinh tế, trừ việc mua công trái của nhà nước thì vẫn chưa thể ngưng, dù đó cũng là một cách bơm tiền cho chính phủ tiêu dùng.  Một lý do khiến Ngân hàng Trung ương Nhật Bản không thể thay đổi chính sách quá nhanh, là vì kinh nghiệm trong quá khứ. Năm 2000, kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu hồi phục. Khi đó, Ngân hàng Trung ương đã vội vàng tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát. Sau đó, kinh tế Nhật lại tụt xuống, mà nhiều người cho là lỗi ở Ngân hàng Trung ương đã tăng lãi suất sớm quá, khiến người dân và các xí nghiệp khó vay tiền. Cho nên phải chờ cảnh phục hồi của nền kinh tế Nhật kéo dài trên hai, ba quý nữa người ta mới biết chắc nước Nhật đã thoát ra khỏi cảnh trì trệ trong hơn mười năm qua một cách chắc chắn hay chưa.  Nhưng chỉ cần ông Toshhiko tuyên bố thay đổi chính sách tiền tệ là cả thị trường thế giới cũng bị ảnh hưởng. Trước đây, rất nhiều người đi vay bằng đồng Yên ở Nhật, đổi sang Mỹ kim để cho vay hoặc đầu tư ở nước khác. Khi vay ở Nhật chỉ phải trả 1% lãi, nếu đem cho vay ở Mỹ mà được trả 4% cũng lời nhiều lắm, bù lại với mối rủi ro nếu hối suất thay đổi. Nhưng nếu lãi suất ở Nhật tăng lên thì cái nghề gọi là “carry trade” này không lời nhiều như cũ, các nhà đầu cơ sẽ phải nghĩ lại!  Quý Đỗ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật ký nghiên cứu Bắc Cực: Theo dấu biến đổi khí hậu từ loài giáp xác chân chèo (kỳ 1)      LTS: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày càng rõ rệt hơn với những biểu hiện dễ thấy là kỷ lục băng tan hàng năm liên tục bị phá vỡ, tình trạng thời tiết cực đoan, các nước vùng nhiệt đới xa xôi cũng đứng trước nguy cơ nước biển dâng…, nhiều quốc gia đã đầu tư các khoản kinh phí khổng lồ để tổ chức những chuyến nghiên cứu dài ngày ở Bắc Cực. Do đó, Bắc cực đã trở thành một trong những điểm đến quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như cổ sinh vật học, sinh thái học, địa chất, khí tượng/khí hậu, khoa học trái đất, hải dương học… thu thập bằng chứng khoa học, qua đó có thể tìm hiểu về bản chất của những hiện tượng và những tác động của nó tới Trái đất và con người.    Không giống như một bộ phim mang màu sắc hào nhoáng của Holywood hay những tập phim thám hiểm li kỳ của kênh truyền hình nổi tiếng National Geographic, ba chuyến nghiên cứu với những trải nghiệm cá nhân của chúng tôi tại vùng đất Bắc Cực lạnh giá đơn giản là đi tìm câu trả lời: các sinh vật nơi này đối phó với biến đổi khí hậu và sự ấm lên toàn cầu như thế nào và điều đó gợi ý gì cho chúng ta.      Đi thu mẫu đi trên mặt biển đóng băng. Ảnh: Tác giả cung cấp.  Ngày nay, câu chuyện biến đổi khí hậu và sự tác động của nó lên đời sống của các loài sinh vật không còn quá mới mẻ với khoa học nhưng việc tìm ra câu trả lời trên vẫn còn là thách thức. Đây là lý do vì sao mà Quỹ Khoa học Marie Curie và Hội đồng nghiên cứu Nauy đã tài trợ cho chúng tôi cũng như nhiều nhà khoa học khác thực hiện các dự án nghiên cứu với những tiếp cận khác nhau. Ý tưởng lên khung dự án của chúng tôi là thế giới các sinh vật đã trải qua những cuộc ”trường chinh” vĩ đại về phương Nam để tìm hơi ấm trong kỷ Băng hà lạnh giá. Thời đại @, thế giới sinh vật cũng đang có cuộc di cư vĩ đại không kém, vội vã không kém nhưng hướng về phương Bắc để tránh cái nóng thiêu đốt ở phương Nam của Kỷ Ấm lên toàn cầu. Bắc Cực được coi là chốn trú ẩn cuối cùng, là tiền tuyến của sự sống còn cho nhiều sinh vật trong Kỷ Ấm lên toàn cầu này. Tuy nhiên nơi này cũng là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất của biến đổi khí hậu với tốc độ tăng nhiệt độ trung bình ở Bắc Cực nhanh gấp đôi so với mức trung bình của Trái đất. Chúng tôi muốn đánh giá xem hiện tượng ấm lên toàn cầu và ô nhiễm từ khai thác dầu mỏ trên Bắc Cực sẽ ảnh hưởng tới các loài giáp xác chân chèo ở đây như thế nào. Vùng Bắc Cực có ba loài giáp xác chân chèo. Loài Calanus hyperboreus là loài giáp xác chân chèo lớn nhất trên Trái đất, chúng phân bố ở hầu hết các vùng biển Bắc Cực. Kích thước trưởng thành của chúng khoảng 5-8 mm. Calanus glacialis là loài nhỏ bằng nửa so với C. hyperboreus. Chúng có mặt ở hầu hết các vùng nước nông trên biển Bắc Cực. Calanus finmarchicus là loài có nguồn gốc Bắc Đại Tây Dương, nhỏ nhất trong 3 loài copepods có trên Bắc Cực. Vùng phân bố của loài này giảm mạnh nhất bởi tác động từ việc gia tăng nhiệt độ nước biển. Và trước tác động này, chúng di cư dần lên vùng Bắc Cực.       Bắc Cực được coi là chốn trú ẩn cuối cùng, là tiền tuyến của sự sống còn cho nhiều sinh vật trong Kỷ Ấm lên toàn cầu.      Tại sao chúng tôi lại chọn giáp xác chân chèo, loài vật nhỏ bé cỡ vài mm? Chúng là nguồn thức ăn quan trọng của loài cá thu (mackarels) và cá thu cũng theo loài copepods này lên vùng Bắc Cực. Đến lượt cá thu lại là nguồn thức ăn quan trọng của cá ngừ đại dương. Lần đầu tiên người ta thấy cá ngừ đại dương di cư lên vùng nước của Greenland. Sự thay đổi của khí hậu tác động đến một loài sinh vật có kích thước vài mm mà kéo theo một loạt hiệu ứng domino lên chuỗi thức ăn đại dương.     Hành trình đầu tiên: Lấy mẫu dưới băng biển      Để theo dõi dấu vết của chúng, một ngày giữa đông, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã lên đường đến Bắc Cực. Chuyến bay buổi sớm rẽ từng khoảng không lạnh lẽo tiến dần vào trung tâm Greenland. Kangerlussuaq là một sân bay nằm giữa mênh mông băng giá, không bóng dáng cây cỏ và chỉ có một chuyến bay quốc tế duy nhất mỗi ngày từ Copenhagen lên rồi về lại. Máy bay hạ cánh trong cái lạnh âm 28°C, GS T*, Đại học Kỹ thuật Đan Mạch (DTU) – một nhà nghiên cứu Bắc Cực giàu kinh nghiệm, quay sang hỏi tôi: “Mày thấy thế nào?” Tuyệt, tôi trả lời đầy tự tin. Chúng tôi cùng bước ra khỏi máy bay rồi đi nhanh vào phòng chờ để đón chuyến bay tiếp theo. Vẫn còn hơn hai tiếng trước khi nối chuyến, chúng tôi quyết định leo núi quanh sân bay trong cái lạnh -28°C, nước mắt, nước mũi và hơi thở đóng băng lại dính ngay trên chiếc mũ lông nhân tạo rất khó chịu. Từ trên đỉnh núi, tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy chỉ là những dấu chân nhỏ xinh của những chú thỏ Bắc Cực (Arctic hares) trên nền tuyết trắng. Còn cách chúng tôi hai chuyến bay nữa nhưng Bắc Cực đã chào đón chúng tôi bằng những dấu hiệu ban đầu này.      Hình ảnh một mẫu giáp xác chân chèo cái đang mang trứng dưới ống kính hiển vi. Ảnh: ĐVK    Trung tâm nghiên cứu Bắc Cực nằm trên đảo Qeqertarsuaq. Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay nhỏ nhất thế giới – chỉ đủ cho duy nhất một chiếc trực thăng cất cánh và hạ cánh, giám đốc kỹ thuật của trung tâm đã chờ sẵn để đưa chúng tôi về, dù trung tâm chỉ cách đó khoảng 800m. Đó là một ngôi nhà nhỏ bên ngoài ngôi làng Qeqertarsuaq, một ngôi làng nhỏ gần 700 dân địa phương, chủ yếu là người Inuit, khoảng gần 2 km, do nhà thực vật học người Đan Mạch Morten Pedersen Porsild thành lập năm 1906. Ông và con trai là những huyền thoại ở nơi này với nhiều thập kỷ lãnh đạo và nghiên cứu khu hệ thực vật Bắc Cực. Thiết kế và màu sắc của trung tâm mang âm hưởng của những thập niên 1960-1970. Trong trung tâm luôn có cảm giác ấm cúng với một vài phòng ngủ dành cho các nhà khoa học và khoảng chục ngăn nhỏ dành cho các sinh viên thực tập. Tôi tự nhủ: mình sẽ có một khoảng thời gian nghiên cứu thú vị tại đây chăng?  Nhóm các nhà khoa học từ Na Uy đến vào ngày hôm sau. Trưởng nhóm này là TS. IB, SINTEF, một cô Na Uy khá điển hình: cao, to và rất khỏe. Cô này từng vào rừng một mình và hạ con nai sừng tấm nặng khoảng 400 kg, rồi một mình làm thịt trước khi mang về nhà (cô có giấy phép săn 1 con nai sừng tấm và 2 tuần lộc tự nhiên/năm). Đi cùng IB là TS. IS, Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy, một người gốc Basque mắt sâu, trán rộng, bộ râu đen dài đến giữa ngực, giọng nói chậm, nhưng cảm giác đầy sức nặng ẩn bên trong đó. Còn lại là hai sinh viên thực tập Ka và In. Hai nhóm nhập đội chung và bắt đầu khảo sát để xem khả năng thực hiện các kế hoạch nghiên cứu trước đó.    Đây là chuyến thu mẫu khó khăn nhất trong hơn 14 năm làm nghiên cứu về sinh thái và đa dạng sinh học của tôi. Đối tượng chúng tôi cần thu mẫu lần này là loài copepod Calanus hyperboreus đặc trưng cho vùng Bắc Cực. Vào thời điểm cuối đông này, chúng vẫn đang ngủ đông ở dưới mặt nước biển khoảng 300 m. Chúng là nguồn thức ăn quan trọng của cá voi như cá voi xanh. Nghe đâu tháng trước ở nơi này, khi người dân mổ bụng một con cá voi xanh, trong bụng nó chứa đến 4m3 toàn Calanus. Lúc này trong quần thể Calanus gồm toàn những con cái chứa đầy lipid, có sắc tố màu cam rất đẹp, đầy trứng sẵn sàng cho mùa sinh sản.  Đoàn thu mẫu gồm 6 người: 1 GS T, 3 TS (tôi,  TS. IS và TS. IB) và 2 sinh viên thực tập (Ka & In). Kế hoạch thu mẫu và thí nghiệm đã được chuẩn bị kỹ gần hai tháng, tính toán tới từng chi tiết và hy vọng vào một kết quả thuận lợi. Tuy nhiên, sau rất nhiều chuẩn bị, việc thu mẫu vẫn liên tục bị thay đổi. Lý do chính là con tàu chuyên dụng Porsild của Trung tâm nghiên cứu Bắc Cực bị đóng băng nằm yên trong vịnh. Sau mấy ngày chờ đợi, cả nhóm quyết định đi bộ ra khơi thu mẫu trên mặt biển đóng băng với lớp băng dầy khoảng 25 cm và thuê 2 người dân địa phương (J & A) khảo sát độ an toàn, dẫn đường, vận chuyển thiết bị và giúp dự báo các tình huống xấu hoặc xử lý sự cố. Rồi cuối cùng cả đoàn cũng đã lên đường ra khơi bằng đi bộ và một chiếc xe 6 cẩu lực (a dog sledge with 6 dogs) chở thiết bị.  Sau quãng đường đi bộ trên lớp tuyết dày cứng như đá vì nhiệt độ thấp, vừa bước xuống mặt băng trên biển liên nghe tiếng “rắc”, tóc gáy tôi dựng lên, vã mồ hôi hột sau lưng mặc dù nhiệt độ không khí lúc đó khoảng -15°C và có gió thổi làm cho cảm giác vào khoảng -24 đến -23°C. Mất vài giây trấn tĩnh lại rồi tôi bước tiếp vì thấy GS T đang bon bon đi đằng trước có vẻ an toàn. Bước được vài bước, Ka nói nhỏ, ‘tao hy vọng không bị rơi xuống biển’. Bạn ấy đang sợ. ‘Tao hy vọng cả đoàn này không ai rơi xuống biển’, tôi trả lời. Đương nhiên tôi cũng sợ và có chút căng thẳng nhưng vẫn phải tỏ ra là mọi việc ổn. Dù sao trong hơn 20 năm làm việc của GS T ở đây, chưa từng xảy ra một sự cố nào. Nếu vì lý do gì đó lớp băng kia vỡ ra và rơi xuống biển, hải lưu sẽ đưa qua Canada mà không cần phải xin visa và mua vé máy bay. Lớp băng bề mặt có 25 cm kia vỡ thì có gì khó. Chỉ cần một cơn gió làm những tảng băng trôi kia “rắc” một cái hoặc một con cá voi xanh cựa mình và nhảy lên khỏi mặt biển là lớp băng kia vỡ ra thôi.  Nhưng sự hiện diện của hai người địa phương dẫn đường, những người có kinh nghiệm nhất nhì trong làng, làm chúng tôi yên tâm. J đi trước với một cây giáo để kiểm tra độ an toàn của mặt băng trước khi mọi người có thể đi. Cứ thế, cả đoàn lần lượt đi bộ khoảng 4km trên mặt biển, qua rất nhiều các kiểu bề mặt đóng băng khác nhau. Lúc thì trơn và trượt, lúc thì nhám, lúc thì nhẵn như tấm kính, có lúc có cảm giác lớp băng rất mỏng, có lúc có những đoạn lớp băng bị vỡ ra rồi được gắn lại do nước tiếp tục đóng băng những chỗ bị hở ra. Cuối cùng cũng đến chỗ có khả năng thu được mẫu.      Các nhà nghiên cứu lên tàu đi khảo sát Bắc Cực. Ảnh: Viện Nghiên cứu tài nguyên thiên thiên Greenland.    J & A đục một lỗ nhỏ và kiểm tra độ sâu. Khoảng 200m, vậy cũng có khả năng có Calanus ở gần đáy. Cả nhóm quyết định mở rộng miệng lỗ cho vừa chiếc lưới và từ từ thả xuống. Sau khi lưới gần tới đáy, 4 người lần lượt kéo dây từ từ để kéo lưới lên. Mặt băng thì trơn, lưới thì nặng nên mỗi người ì ạch bước từng bước kéo lưới lên bề mặt băng biển. Tất cả hồi hộp xem có Calanus hay không. Nếu không có chắc phải quay về rồi mai đi tiếp ra nơi khác vì khu vực này không thể đi xa hơn được, không an toàn. Khi lưới lên đến bề mặt biển, cả nhóm xúm lại xem và thấy màu hồng đậm trong hộp ở đáy lưới, nhưng đó là tôm. Khi đổ hộp mẫu ở đáy lưới ra, tất cả ồ lên vui mừng khi thấy khoảng 30 con Calanus hyperboreus mang trứng, vậy là có mẫu rồi. GS T bắt ngay con tôm ăn sống và bảo đặc sản biển Bắc ngon lắm. Cả nhóm quyết định kéo tiếp thêm 9 mẻ nữa. Gió càng ngày càng thổi mạnh, hơi lạnh bắt đầu ngấm dần và mỗi lần kéo lưới xong mọi người lại phải chạy lại ngồi trú vào chiếc xe 6 cẩu lực. Trên xe có trải một bộ da tuần lộc (reindeer) nên rất ấm. Trời bắt đầu tối dần, chuyến thu thập mẫu đầu tiên phải kết thúc vì đi trong điều kiện trời tối này quá nguy hiểm.  Cả nhóm bắt đầu quay về, lúc ấy ai cũng thấy chân tay và người đau ê ẩm vì kéo lưới. Những bước cuối cùng gần tới Trung tâm không thể nhấc chân lên được nữa, bộ quần áo và giày bảo hộ chuyên dụng (survival suit) đã trở nên quá nặng.   Thế nhưng về đến trung tâm, cả nhóm pha gấp một bình cafe nóng và nghỉ ngơi khoảng 20 phút rồi qua bên phòng thí nghiệm lọc và đếm mẫu cho đến khi ăn tối. Bữa tối Bắc Cực dưới ánh đèn màu vàng đậm, những âm thanh nhẹ nhàng xoay quanh những câu chuyện không đầu không cuối tạo không khí thật ấm cúng. Mọi người kể lan man từ việc tại sao người cổ đại ở Greenland lại biến mất không để lại dấu tích gì vào khoảng 1300 sau Công nguyên đến chuyện đạo Hồi và Ramadan và cả những chuyện như ăn thịt vịt, có cả đầu và lưỡi vịt tại Bắc Kinh, những thứ mà người Phương Tây không hiểu và kinh hãi.  Thời gian ở Bắc Cực không có quá nhiều nên ai cũng cố gắng tranh thủ để làm việc. Sau bữa tối, cả nhóm quay lại làm tiếp, tôi kiểm tra mẫu công đoạn cuối và kết quả ngày làm việc thu được 242 cá thể cái mang trứng, tạm ổn. Cũng có thể coi kết quả này là một thành công. Bước chân ra khỏi phòng thí nghiệm cũng là 11:05 giờ đêm, lạnh đến rùng mình. Trên trời, Bắc cực quang (aurora) vẫn đang lượn lờ với màu xanh rất ảo. Người Inuit nói rằng đó là linh hồn của tổ tiên đang dõi theo họ và mỉm cười. Đó là thứ màu sắc tự nhiên huyền ảo nhất mà tôi từng được thấy. Trời càng lạnh, độ ẩm trong không khí càng thấp, trời càng trong vào buổi tối thì Bắc cực quang càng sáng và huyền ảo. Đôi lúc  có ảo giác như thể những màu xanh lấp lánh này sà xuống tận nơi mình đứng, gần đến nỗi có thể chạm vào được.  Còn tiếp: Hành trình thứ 2: Mùa xuân trên biển Bắc  ——  Ghi chú:   TS Đinh Văn Khương, Đại học Nha Trang, Học giả nghiên cứu thuộc chương trình Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF) tài trợ cho Đại học Washinton State và Đại học Standford.  * Tác giả viết tắt tên của các nhà nghiên cứu trong bài viết này theo đề nghị của các thành viên trong nhóm nghiên cứu.     Author                Đinh Văn Khương        
__label__tiasang Nhật ký nghiên cứu Bắc Cực: Theo dấu biến đổi khí hậu từ loài giáp xác chân chèo (kỳ 2)      Trong hai chuyến tới Bắc Cực tiếp theo, đầu óc tôi luôn lởn vởn một số câu hỏi: điều gì xảy ra khi quá trình tràn dầu/hoặc ô nhiễm khác xảy ra dưới lớp nước sâu kia, trùng với nơi gần như toàn bộ các sinh vật biển Bắc Cực đang ngủ đông? Nếu điều đó xảy ra hẳn là một thảm họa bởi chuỗi thức ăn trên biển Bắc cực rất ngắn và một mắt xích bị mất sẽ kéo theo những phản ứng rất nhanh lên toàn bộ lưới thức ăn.      Chúng tôi leo lên đỉnh núi, nơi có thể phóng tầm mắt xa tận chân trời để nhìn nơi từng tảng băng hà vỡ ra khỏi khối băng vĩnh cửu, rơi xuống biển rồi nổi lên ánh màu xanh ngọc bích. Ảnh: Đinh Văn Khương  Hành trình thứ 2: Mùa xuân trên biển Bắc  Tháng 5. Tuyết bắt đầu tan dần. Lớp băng biển bao phủ trên bề mặt biển bắc cực cùng tan để lộ ra khoảng không gian xanh lục màu tảo ”nở hoa”. Mùa xuân ở đây không có những rừng hoa rực rỡ hay một sự thay đổi lớn về quang cảnh. Chỉ có những bông hoa nở xíu, khép nép ngoi lên giữa mùa tuyết tan. Những dòng suối nhỏ nước trong vắt róc rách chảy bên dưới những lớp băng màu trắng. Những chú chim sẻ tuyết như những cục bông trắng điểm đen bắt đầu nhảy nhót ca hát trên những vách đá, tảng băng, chỗ này chỗ kia xem chừng rất huyên náo. Chúng đang cố gắng tìm kiếm nguồn thức ăn là những con côn trùng mới thức dậy sau kỳ ngủ đông để chuẩn bị cho mùa sinh sản.  GS T, hai sinh viên thực tập KK, MO và tôi đi dạo một chút trong hành trình quay lại Qeqertasuaq. Lần này chúng tôi có một buổi nghỉ qua đêm tại thành phố Illulisaat, nơi có dòng sông băng hà lớn nhất trên Bắc Cực. 80% những tảng băng trôi trên biển Bắc Cực sinh ra từ dòng sông này. Chúng tôi leo lên đỉnh núi, nơi có thể phóng tầm mắt xa tận chân trời để nhìn nơi từng tảng băng hà vỡ ra khỏi khối băng vĩnh cửu, rơi xuống biển rồi nổi lên ánh màu xanh ngọc bích. Những khối băng có tuổi thọ vài ngàn năm tuổi đang tan dần và gần như vĩnh viễn không thể được bù đắp lại do hiện tượng ấm lên toàn cầu. Diện tích băng bao phủ trên Bắc Cực năm 2012 thấp nhất trong lịch sử và xu thế này còn đang tiếp tục diễn ra với tốc độ ngày một nhanh hơn, tác động của nó với sự thay đổi thời tiết của Bắc Cực và của toàn cầu sẽ còn ngày một mạnh hơn. Nơi trú ẩn và hy vọng cuối cùng cho nhiều sinh vật đang bị tổn thương. Nhìn từng tảng băng ánh màu ngọc bích kia, KD tự hỏi, bao giờ chúng sẽ quay lại với Bắc Cực. Có lẽ là không bởi chúng sẽ tan dần trong hành trình của mình trên đại dương để hòa mình vào màu xanh lục của đại dương mênh mông làm nước biển dâng ngập dần các vùng dân cư đông đúc ở những vùng đất thấp.  Chuyến nghiên cứu này, chúng tôi muốn đánh giá hiện tượng ấm lên toàn cầu và ô nhiễm từ khai thác dầu mỏ trên Bắc Cực sẽ ảnh hưởng tới các hai loài giáp xác ở đây như thế nào. Do đó, chúng tôi lên tàu chuyên dụng Porsild của trung tâm nghiên cứu để ra khơi thu mẫu. Thuyền trưởng F là người rất thân thiện và giải thích với mọi người về hành trình. Trên tàu còn có hai người phụ tàu là S và J. Tôi thường hay chú ý đến S vì ông ấy khá nhỏ con, ít nói và cặm cụi làm việc. Ông ấy cũng hút thuốc khá nhiều.  Chúng tôi lần lượt đến các điểm thu mẫu trong những con sóng liên hồi. Những thiết bị đo đạc môi trường biển và lưới với sinh vật được thao tác khá thành thục bởi các thành viên đoàn có kinh nghiệm. Tuy nhiên những con sóng biển Bắc khá khó chịu, chúng không thân thiện như khi quan sát từ trực thăng. Những khối nước xanh dương rất đậm ấy chứa đầy tảo nở hoa vào mùa xuân rất lạnh. Có lần KD (75 kg) đang ôm thùng nước mẫu 20lít (20 kg) bước sau boong tàu thì một con sóng giật mạnh, cả tôi và thùng mẫu bay lên rồi rơi xuống boong đến bịch. Nước mẫu bắn tung tóe, tôi có chút hoảng hốt nhưng chợt thấy S, chỉ thoáng qua chút thay đổi trên nét mặt ông ấy rồi trở lại trạng thái cũ như không hề có chuyện gì, và vẫn nheo đôi mắt nhìn xa hút nốt điếu thuốc còn lại. Một chút thoáng qua rồi tan biến. Sau đó tôi mới biết rằng, S đã làm thủy thủ trên các chuyến tàu viễn dương đi khắp thế giới 2 lần, từng đến hầu hết các vùng biển trên thế giới và gần như hiểu trọn nơi chúng tôi đang thu mẫu. Không có gì có thể làm cho ông giật mình hoảng hốt như cảm giác tôi vừa trải qua. Cuối tuần đó, S kỷ niệm 50 năm phục vụ cho chính phủ Đan Mạch, một niềm tự hào lớn cho bất cứ công dân nào của đất nước này.  Chúng tôi dành 3 ngày thu mẫu liên tục trước khi tiến thành các thí nghiệm ở trong phòng thí nghiệm. Tổng quĩ thời gian tôi có cho chuyến đi này là 1 tháng với 2 đợt thí nghiệm lớn, mỗi đợt kéo dài 10 ngày và rất nhiều các thí nghiệm nhỏ. Tôi cùng bạn sinh viên thường bắt đầu một ngày làm việc từ 9h sáng đến 12-1h đêm. Đêm Bắc Cực mùa này không có bóng tối nên chúng tôi không có nhiều cảm giác về thời gian. Thông thường, đến lúc mệt quá thì hiểu rằng đâu đó nửa đêm rồi. Mỗi ngày ngồi trong phòng thí nghiệm với nhiệt độ phòng 2°C, nước mắt nước mũi chảy liên tục mà không thể dừng lại được. Có lúc lạnh quá sau mấy tiếng tiền ngồi trong đó, đẩy cửa chạy ra ngoài như một bản năng thì nhiệt độ ngoài trời vẫn đang ở đâu đó khoảng -5°C, còn lạnh hơn trong phòng thí nghiệm, tôi lại mở cửa quay vào hoặc đi bộ về trung tâm nghỉ chút cho ấm người trở lại. Thời gian này, mỗi ngày chúng tôi uống 4-6 ly cà phê nóng đặc. Nó là thứ doping mạnh để duy trì nguồn năng lượng tốt cho những công việc ở nơi lạnh lẽo này.  Bác thuyền trưởng người Đan Mạch thường rất để ý đến các thành viên trong đoàn. Có lần, khi từ phòng thí nghiệm trở về trung tâm gần 12h đêm, tôi thấy trên bàn nhỏ trong phòng khách có một chai Tuborg beer lạnh với dòng chữ dưới chai ”For Khương” (dành cho Khương). Cảm giác thật gần gũi và chân thành. Tôi chọn chiếc ghế yêu thích nhất của mình trong phòng nhìn qua khung cửa ra vịnh ngắm những tảng băng đang tan dần và đàn chim di cư mới bay từ phương Nam tới. Một chút bia mang lại cảm giác thư giãn cho cơ thể căng cứng cả ngày vì lạnh và trong cơn buồn ngủ từ từ kéo đến.  Thí nghiệm kết thúc theo dự kiến, không hoàn hảo và có chút tiếc nuối nhưng những phần quan trọng nhất đã được thực hiện theo kế hoạch. Chúng tôi dọn hành lý và chuẩn bị về. Tôi và bạn sinh viên tập sự có một buổi tranh luận gay gắt về việc xử lý phần Lugol (thành phần chính là Iot) mà chúng tôi dùng để cố định mẫu hàng ngày. Tôi hỏi ý kiến GS T thì GS bảo mày có thể bỏ ra vùng đất sau đồi vì với lượng Lugol còn lại và Iot trong đó sẽ không lo ảnh hưởng tới môi trường, có khi còn có tác dụng tích cực. Bạn sinh viên thì nhất định không đồng ý để xả bất cứ sản phẩm nào vào môi trường tự nhiên, tôi cố gắng giải thích hơn nửa giờ đồng hồ rằng với lượng này ở Greenland thì không thể nào có ảnh hưởng gì. Bạn ấy thì kiên quyết: không và không. Tôi thua và phải gói lại toàn bộ mang theo về.  Hành trình thứ ba: Hoàn tất xử lý mẫu    Trung tâm nghiên cứu Bắc Cực nằm trên đảo Qeqertarsuaq. ảnh: Đinh Văn Khương  Chuyến nghiên cứu lần này mang theo dự định để thực hiện những thí nghiệm chưa ai từng làm với các sinh vật biển Bắc Cực. Chúng tôi lên đây vào giữa tháng 9 khi các loài copepods Bắc Cực bắt đầu lặn sâu xuống dưới lớp nước biển để chuẩn bị cho kỳ ngủ đông.  Trên cạn, những bụi liễu Bắc cực (Salix arctica) đã ngả lá màu vàng đậm hoặc đỏ mận. Chúng chỉ có chiều cao cỡ khoảng một gang tay cho đến lưng hông nhưng tuổi thọ của chúng có thể đã từ 10-50 năm. Lúc đầu, tôi còn tưởng chúng là những bụi cỏ nhưng sau đó mới được giải thích rằng, chúng là cây, thân gỗ chứ không phải cỏ, thân thảo. Mỗi năm loài cây này chỉ có thể cao thêm được một vài cm trong mùa xuân hè ngắn ngủi trước khi phần lớn cơ thể chúng lại ngập trong tuyết hàng nửa năm trời.  Chiếc phà cập bến Qequertasuaq, giám đốc kỹ thuật trung tâm ra bến đón. Câu đầu tiên ông ấy nói khi gặp tôi là ”Chào mừng trở về nhà – Welcome home”. Ồ, về nhà à, sao mà cảm giác dễ chịu thế. Tôi đi ra ngoài đường mấy đứa trẻ con địa phương còn bắt chuyện bằng tiếng Inuit. Lũ trẻ thấy tôi không trả lời được mới quay sang hỏi bằng tiếng Đan Mạch. Hvor kommer du fra? (Chú đến từ đâu thế). Tôi cũng chỉ trả lời bằng thứ tiếng Đan Mạch lơ lớ. Jeg kommer fra Vietnam (chú đến từ Việt Nam). Tất cả những đứa trẻ ồ lên và hỏi Việt Nam ở đâu vậy, ở đâu vậy? Đó là một xứ sở nhiệt đới ở rất xa nơi này.  OL, một sinh viên thực tập, một người đàn ông Viking điển hình từ vóc dáng cho đến tính cách, và KD thực hiện quá trình thu mẫu và lựa mẫu cho thí nghiệm. Chúng tôi lựa được khoảng gần 200 cá thể cho mỗi loài C. hyperboreus và C. glacialis. Quá trình thu mẫu lần này nhanh gọn, tất cả được tiến hành bài bản và mọi thứ chuyển về Đan Mạch an toàn.  Từ tháng 2, trong lúc tôi đang è cổ kéo lưới thu mẫu trên mặt biển đóng băng trong cái lạnh trên dưới âm 20 độ và gió thổi ù ù của những ngày giữa mùa đông, đầu óc tôi  lởn vởn điều gì xảy ra khi quá trình tràn dầu (Ví dụ Deepwater Horizon)/hoặc ô nhiễm khác xảy ra dưới lớp nước sâu kia, trùng với nơi gần như toàn bộ các sinh vật biển Bắc Cực đang ngủ đông? Nếu điều đó xảy ra hẳn là một thảm họa bởi chuỗi thức ăn trên biển Bắc cực rất ngắn và một mắt xích bị mất sẽ kéo theo những phản ứng rất nhanh lên toàn bộ lưới thức ăn. Tôi trao đổi ý tưởng với GS T và cùng thống nhất rằng đó là một ý tưởng lớn.  Tháng 11, tôi và bạn nghiên cứu sinh  đi dự hội thảo của Hiệp hội Độc học môi trường và Hóa học (SETAC)  ở Orlando, Mỹ. Buổi tối mỗi đứa uống sang đến ly bia thứ 2 thì bạn bảo, tao thấy mày quá tâm huyết với khoa học, trong khi tao muốn chỉ làm tư vấn, nếu mày nghĩ kết quả thí nghiệm này rất quan trọng với mày thì mày làm tác giả đầu tiên nhé, tao đứng sau mày cũng được. Tôi trả lời rất thật thà, nếu kết quả thí nghiệm mà có khả năng lên (PNS) PNAS, Nature, Science thì tao sẽ viết và sẽ đồng tác giả với mày, nếu tạp chí thấp hơn thì mày đứng first. Hai đứa đồng ý với nhau phương án đó.  Khi thí nghiệm kết thúc, ko rõ lúc đó bận gì nên tôi vắng vài hôm. Khi lên đến văn phòng thấy vẻ mặt bạn và GS T có vẻ nghiêm trọng. Bạn nghiên cứu sinh không dám nói trực tiếp với tôi mà thông qua GS T dể ướm thử trước xem thế nào. Một lỗi lớn trong quá trình thực hiện thí nghiệm được phát hiện khi bạn nghiên cứu sinh kiểm tra số liệu từ thiết bị đo tự động mà cả bạn và GS T chưa biết xử lý thế nào? Tôi nghe GS nói xong thì bảo vẫn khắc phục được nhưng lắc đầu khi nói tới khả năng nộp bài lên Nature hay Science (lỗi thí nghiệm này chỉ làm hỏng các giả thiết ban đầu và phải thay bằng một giả thiết khác kém hấp dẫn hơn rất nhiều nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng số liệu thu được).    Nụ cười đáng yêu của trẻ em Inuit. Nguồn: Flickr  ***              Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên 2 loài copepods đặc trưng cho Bắc Cực. Calanus hyperboreus, loài copepod lớn nhất thế giới với chiều dài của nó gấp khoảng 7 – 10 lần chiều dài trung bình của các loài copepods khác (khối lượng của nó có thể nặng hơn hàng trăm lần loài copepods khác). Cơ thể chứa đầy lipid nên chúng là nguồn lipid quan trọng nhất để duy trì gần như mọi sự sống của các loài động vật biển Bắc. Trong suốt quá trình ngủ đông, loài này không ăn và sử dụng hoàn toàn lipid dự trữ trong cơ thể cho quá trình sinh sản vào mùa xuân. Khi sinh sản xong thì nguồn lipid này cũng cạn kiệt, chúng nổi lên mặt biển để “ăn” đúng vào dịp tảo nở giữa mùa xuân. Calanus glacialis nhỏ bằng một nửa C. hyperboreus, cũng chứa rất nhiều lipid và quan trọng với vùng nước nông Bắc Cực. Chúng cũng dựa vào nguồn lipid dự trữ để ngủ đông. Tuy nhiên loài này sẽ nổi lên mặt biển, ăn tảo để kích hoạt quá trình sinh sản đến tận tháng 5 (cuối xuân).  Tôi gợi ý kết hợp cả hai loài này vào một bài và gửi PNAS. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng nên tách ra vì dữ liệu của loài C. hyperboreus là đủ cho PNAS (một tạp chí khoa học đa ngành danh tiếng của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ). C. glacialis có thể nộp tạp chí chuyên ngành. KD đề nghị nộp bài PNAS trước vì kinh nghiệm của KD khi xuất bản hồi còn làm nghiên cứu sinh là kết quả tốt nhất gửi đi tạp chí cao nhất trước tiên, rồi thấp dần. Ngày đó KD xong 4 bài và kinh nghiệm cho thấy, càng về sau xuất bản càng khó vì tính mới giảm dần. Tuy nhiên, các thành viên khác lại nghĩ, bài thấp xuất bản trước làm cơ sở cho bài cao hơn. Vì số đông có ý như vậy nên KD đồng ý theo. Số liệu C. glacialis gửi đến tạp chí chuyên ngành Environmental Science &Technology (ES&T – IF 7.149) và rất nhanh chóng được chấp nhận.  Giờ đến loài quan trọng nhất, C. Hyperboreus con bài tẩy của toàn bộ hướng nghiên cứu độc nhất vô nhị này. Bản thảo (manuscript) được gửi tới PNAS, rất nhanh chóng bị từ chối vì lý do chính là mất tính mới.  Mọi người gợi ý quay lại Environmental Science &Technology để cho cả cặp cùng xuất bản một chỗ luôn. Lần này, ý kiến của tôi cũng không thuận với những người còn lại bởi cho rằng, nếu tôi là ban biên tập hay bình duyệt của ES&T thì sẽ loại bài này vì chúng gần như là song sinh. Do đó tôi đề nghị hãy cho tôi thời gian để sửa lại câu chuyện theo hướng khác. Tuy nhiên, khi mà khí thế đang lên cao thì mọi giải thích đều trở nên rất ít có ý nghĩa với nhóm nghiên cứu và bản thảo được gửi ngay đến ES&T. Tổng biên tập của ES & T từ chối ngay bản thảo và có trao đổi với GS T về hướng giải quyết. Tôi mất gần 2 tuần để sửa theo gợi ý của ban biên tập, tuy nhiên vẫn phải giữ gần như trọn vẹn câu chuyên cũ (theo yêu cầu) trong đó có rất nhiều phần tôi không thấy thoải mái. Editor gửi gửi bản thảo đi phản biện, có phản biện đã từng phản biện bài báo cũ, có phản biện mới chỉ phản biện bản thảo này lần đầu. Phản biện đã từng phản biện bài báo cũ phản đối kịch liệt nhất, phản biện mới thì phản đối gì tính mới giảm. Mục đích đăng ký khai sinh cho cặp sinh đôi này ở cùng một tạp chí không thành.  Bản thảo lại quay lại với tôi. Tôi để nguyên đó mấy tháng trời không đụng tới để thoát ra khỏi bài báo và tránh bị những suy nghĩ cũ tiếp tục ảnh hưởng khi sửa lại bài. Sau mấy tháng làm lab và viết một loạt các bài báo khác, tôi quay lại bài này với “fresh mind” và chậm rãi sửa từng phần. GS T bảo, thôi lần này tùy mày, mày quyết định thế nào thì làm như vậy.  Tôi sửa xong gợi ý bảo nộp tạp chí Aquatic Toxicology.  GS T hỏi lại, có giảm giá quá không?  Tôi cười nhẹ lắc đầu.  ———————  Ghi chú:  * Tác giả viết tắt tên của các nhà nghiên cứu trong bài viết này theo đề nghị của các thành viên trong nhóm nghiên cứu.    Author                Đinh Văn Khương        
__label__tiasang Nhiễm COVID dù đã tiêm chủng: Vaccine vẫn giúp không tăng nặng và không tử vong      Chile, Bahrain hay Mông Cổ có tốc độ tiêm chủng nhanh hơn nhiều nước tuy nhiên vẫn bị lây nhiễm trở lại. Điều đó đáng lo ngại tới mức nào?      Thực ra các nước như  Seychell, Chile, Bahrain và Mông Cổ đã thực hiện chiến dịch hết sức đúng đắn. So với một số nước công nghiệp giàu có, họ đã tổ chức tiêm chủng thành công ngoài mong đợi, tỷ lệ tiêm chủng ít nhất 1 liều đạt từ 62% ở Bahrain và 72 % ở Seychell.  Số người đã tiêm đủ hai mũi cũng khá cao so với thế giới, vi dụ  52% ở (Chile) cho tới  68% (ở Seychell). Tuy nhiên tình hình đại dịch ở cả bốn nước này đều không tốt.  Các nước này vẫn có số ca lây nhiễm mới cao bất thường: Tại Seychell có bình quân 1438 trên 1 triệu người, tại Mông Cổ là 735, tại Chile 275 và tại Bahrain 264 người. Để so sánh, tỉ lệ này ở Đức tỷ lệ khoảng 10 người trên 1 triệu, còn Israel có tỷ lệ tiêm chủng cao tương đương bốn nước kia tuy nhiên cũng chỉ có khoảng 10 người trong 1 triệu dân bị lây nhiễm. Câu hỏi đặt ra là tại sao bốn nước nói trên lại không thành công? Tại sao tỷ lệ tiêm chủng cao mà không giảm đáng kể số ca lây nhiễm?  Cả bốn nước sử dụng chủ yếu vaccine của Trung Quốc vì tiếp cận các loại vaccine của Trung Quốc dễ dàng hơn so với các loại vaccine do Châu Âu hoặc Hoa Kỳ phát triển như vaccine của Biontech, Moderna, AstraZeneca và Johnson & Johnson. Trung Quốc đã xuất khẩu 760 triệu lọ triệu vaccine của hãng Sinovac và Sinopharm, trong đó đã giao được 300 triệu lọ. 80% số bán ra chủ yếu cho thị trường Nam Mỹ cũng như cho một số nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.  WHO đã đưa hai loại vaccine của Trung Quốc vào danh sách sử dụng khẩn cấp. Trong đó vaccine của Sinovac đạt hiệu quả tương đối thấp, giúp bảo vệ chống lây lan vào khoảng 51% trong một thí nghiệm ở Brazil; còn Sinopharm đạt mức cao hơn rõ rệt, khoảng 79%. Ngay hồi tháng tư người phụ trách chống đại dịch corona của Trung Quốc là Gao Fu đã gây xôn sao dư luận khi thừa nhận hiệu lực bảo vệ của vaccine Trung Quốc không đặc biệt cao.   Tuy vaccine của Trung Quốc hiệu lực không cao nhưng không có nghĩa là vô dụng. Vì trong trường hợp bị lây nhiễm và có tiêm chủng bằng vaccine của Trung Quốc thì tiến triển bệnh nhẹ hơn nhiều so với người không tiêm chủng. Tuy nhiên với các loại vaccine hiệu lực thấp thì khó đạt được miễn dịch cộng đồng như mong muốn.    Đây có thể là nguyên nhân của một số vụ bùng phát  lây nhiễm mới ở Nam Mỹ, Beate Kampmann, người phụ trách Trung tâm tiêm chủng của Trường Vệ sinh dịch tễ và Y học nhiệt đới London cho biết. Vaccine Trung Quốc có thể không thích hợp với việc ngăn ngừa lây lan, ít nhất cho đến khi tất cả mọi người tiêm phòng đầy đủ.   Còn một yếu tố nữa dẫn đến tỷ lệ người bị lây nhiễm bệnh cao ở Chile, Bahrain, Mông Cổ và Seychell. Người dân và các cơ quan quản lý ở đây quá lạc quan, vui mừng vì đã tiêm chủng sớm và nhanh chóng với tỷ lệ tiêm chủng cao, từ đó chủ quan sao nhãng các biện pháp phòng chống dịch.   Batbayar Ochirbat, nhà khoa học thuộc Ban tư vấn khẩn cấp trong Bộ Y tế Mông Cổ đã trả lời tờ New York Times: “Tôi cho rằng người dân Mông Cổ đã ăn mừng quá sớm, đây là điều mà người dân các nước khác có thể rút ra bài học từ Mông Cổ. Lời khuyên của tôi là, chỉ ăn mừng khi đã kết thúc hoàn toàn chiến dịch tiêm chủng. Đó là bài học mà chúng tôi đã rút ra được. Đúng là đã có sự tự tin thái quá”.    Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/politik/ausland/plus232082511/Infektionen-trotz-Impfung-Es-gab-zu-viel-Zuversicht.html?source=k309_controlTest_autocurated     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều câu hỏi về Sáng kiến AI của Mỹ      Ngày 11/2, Tổng thống Donald Trump đã ký sắc lệnh khởi động Sáng kiến AI của Mỹ và chỉ đạo các cơ quan liên bang tập trung vào lĩnh vực công nghệ này.  Tuy chưa đưa ra nhiều chi tiết về Sáng kiến, nhưng chính quyền Mỹ cho rằng sẽ chỉ định những mốc thời gian cụ thể để buộc các cơ quan liên bang phải tạo ra các “sản phẩm” có thể chuyển giao được và các chuyên gia sẽ tiết lộ thêm thông tin trong vòng 6 tháng tới.    Tính đến nay đã có ít nhất 18 quốc gia công bố chiến lược AI quốc gia. Theo lời một quan chức cấp cao của Nhà Trắng qua điện đàm với các phóng viên, sáng kiến của Mỹ sẽ có năm “trụ cột” quan trọng, bao gồm:  1) R&D. Chính quyền sẽ yêu cầu các cơ quan “ưu tiên đầu tư vào AI” trong việc chi tiêu ngân sách, nhưng chưa đưa ra chi tiết số tiền Nhà Trắng yêu cầu cho sáng kiến này (cuối cùng Quốc hội sẽ xác định mức chi tiêu). Sáng kiến cũng kêu gọi các cơ quan báo cáo về cách thức sử dụng tiền cho R&D về AI để có được một cái nhìn tổng quan về đầu tư của chính phủ vào AI.  2) Cơ sở hạ tầng. Các cơ quan được kỳ vọng sẽ giúp các nhà nghiên cứu truy cập các dữ liệu liên bang, các thuật toán và quá trình xử lý máy tính.  3) Quản trị. Văn phòng chính sách KH&CN của Nhà Trắng và một số nhóm khác sẽ cùng nhau soạn thảo các hướng dẫn chung về quản lý AI để đảm bảo việc sử dụng AI an toàn và có đạo đức.   Tuy không cho biết những vấn đề cụ thể nào sẽ được nhắc đến trong dự thảo, nhưng vị quan chức cấp cao của Nhà Trắng lưu ý, chúng sẽ liên quan đến các chuyên gia từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, Bộ Quốc phòng và một số cơ quan khác. Và một trong những mối quan tâm là bảo vệ sự riêng tư dữ liệu.  4) Nguồn nhân lực. Ủy ban cố vấn về AI của Nhà Trắng và hội đồng về đào tạo việc làm sẽ tìm cách để duy trì các chương trình giáo dục cho người lao động. Ngoài ra, chính phủ yêu cầu các cơ quan thiết lập những chương trình học bổng, lương bổng và đào tạo về khoa học máy tính.  5) Tham gia hợp tác quốc tế. Chính quyền hy vọng sẽ thể hiện được sự cân bằng trong hợp tác với các quốc gia khác về AI nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ hoặc nhượng lại bất kỳ lợi thế công nghệ tiên tiến nào. Vị phát ngôn viên này lảng tránh những câu hỏi về việc liệu những nỗ lực tham gia quốc tế có giải quyết những thách thức của Trung Quốc đối với lợi ích của Mỹ, và cũng không đề cập đến việc liệu sáng kiến AI của Mỹ có đề cập đến vấn đề nhập cư và thị thực cho các nhà khoa học, kỹ sư và sinh viên hay không.  Sáng kiến này tiếp nối một số bước đi của chính quyền Trump đã thực hiện đối với AI. Trong tháng 5/2018, Mỹ đã tổ chức một hội nghị cấp cao về vai trò của AI trong công nghiệp. Tháng 9/2018, Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) tuyên bố cam kết tài trợ 2 tỷ USD cho nghiên cứu về AI (con số này đã bao gồm cả kinh phí đầu tư cho một số dự án đang tiến hành). Cũng trong tháng đó, Nhà Trắng kêu gọi công chúng đóng góp ý kiến để hoàn thiện kế hoạch chiến lược quốc gia về R&D trong ngành AI đã có.  Các phản ứng bước đầu về sáng kiến này của mọi người khá đa chiều. Kate Crawford, đồng giám đốc của Viện nghiên cứu AI Now thuộc Đại học New York cho biết: “Sắc lệnh mới nhất này của Mỹ là một bước đi đúng hướng nhấn mạnh AI sẽ là ưu tiên chính cho hoạch định chính sách của quốc gia”. Tuy nhiên, Crawford lo ngại về việc nó tập trung vào ngành công nghiệp và rõ ràng thiếu ý kiến đầu vào từ các đại diện dân sự và giới học thuật.  Bà cũng nói rằng việc lảng tránh khi đề cập đến quyền riêng tư và tự do dân sự lần này không làm xua tan nỗi lo về động thái rắc rối trước đây của chính truyền Trump về vấn đề này.□     Ngô Hà dịch.  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2019/02/trump-launch-artificial-intelligence-initiative-many-details-lacking    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều loại nông sản tăng giá      Giá cả nhiều loại nguyên liệu nông sản tăng vọt. Tại sao về lâu dài giá các loại nông sản như ngô, sợi bông và một số loại nông sản khác sẽ ở mức cao&#160; – và tại sao các nước mới nổi có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này.      El Niño là nguyên nhân gây nên biến động thời tiết dẫn đến mùa màng thất bát trong những năm qua. Ấn Độ đã trải qua hai năm hạn hán nghiêm trọng do đó làm sản lượng mía đường giảm sút trong khi nước này đứng hàng thứ hai về ngành sản xuất mía đường trên thế giới. Theo dự báo thì năm 2011 sản lượng đường tăng 30% tuy nhiên hai quốc gia trồng mía lớn nhất thế giới là Brazil và Australia thông báo đang gặp khó khăn trong vụ thu hoạch này. Rất có thể giá đường trên thị trường thế giới sẽ lâm vào tình trạng chao đảo, lên xuống thất thường.  Có thể nói trong các loại nông sản nguyên liệu thì giá đường lên xuống nhiều nhất, trong 12 tháng qua bên cạnh mía đường thì giá bông và các loại kim loại như chì, kẽm và palladium có mức tăng lớn nhất.    Trong khi giá đường thậm chí có thể giảm trong năm  2011 thì hầu hết giá các loại nông sản khác có xu hướng tăng lên. Từ tháng 11 năm ngoái giá ngô và lúa mì tăng trên 30%, giá bông hiện nay đã ở mức cao nhất trong 150 năm gần đây. Eugen Weinberg, chuyên gia phân tích về các loại nguyên liệu của Commerzbank nói “rõ ràng là giá các loại nguyên liệu nông sản sẽ tăng trong thời gian tới. Chúng ta phải lường trước về lâu dài sẽ có nhiều biến động về giá cả và xu hướng là sẽ tăng lên”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có yếu tố khôn lường về thời tiết và giá thành sản xuất tăng. Thí dụ chi phí về phân bón, vận tải và chi phí lương tăng. Cầu không ngừng tăng cũng là yếu tố quyết định gây tăng giá nông sản nguyên liệu. Trên thị trường thế giới đang diễn ra sự tranh giành nguyên liệu nông sản giữa các nhà sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc và sản xuất nhiên liệu sinh học. Hoa Kỳ hiện đã sử dụng một phần ba sản lượng ngô để chế biến thành Ethanol. Giá ngô tăng làm cho nhiều nhà nông chuyển từ trồng lúa mì sang trồng ngô – từ đó gây khan hiếm ngũ cốc và đẩy giá ngũ cốc lên.  Cạnh đó phải kể đến nhu cầu tăng nhanh ở các quốc gia mới nổi. Thí dụ cách đây vài ba năm Trung Quốc còn là nước có khả năng tự túc về nông sản và hầu như không xuất hiện trên thị trường nông sản thế giới. Nhưng theo chuyên gia Weinberg thì “ngày nay TQ đã trở thành một khách hàng lớn, nhập khẩu một khối lượng ngày càng lớn hơn đối với một số loại nông sản quan trọng như đường, ngô, đậu tương và sợi bông”.  Lý do: Đời sống ngày càng được cải thiện dẫn đến sự thay đổi về thói quen ăn uống của người TQ. Tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy chú ý đến kiểu cách trang phục đẹp và tốt hơn, người ta ngày càng xa lánh việc sử dụng sản phẩm tổng hợp rẻ tiền – từ đó làm cho nhu cầu đối với bông vải tăng nhanh.  Đời sống được nâng cao cũng thể hiện qua các bữa ăn. Trên mâm cơm thịt ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Vì vậy TQ tiêu thụ ngày càng nhiều ngũ cốc, ngô và đậu tương để làm thức ăn gia súc. Thí dụ năm vừa qua TQ đã nhập  1,6 triệu tấn ngô. Năm 2011 các chuyên gia dự đoán mức nhập sẽ tăng lên gần tám triệu tấn. Cũng cần khẳng định yếu tố đầu cơ cũng làm cho thị trường nông sản thế giới bị biến động. Thí dụ mới đây khi Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ điều chỉnh lượng dự trữ ngô xuống mức thấp thì chỉ trong một tuần giá ngô tăng 15%. Chuyên gia Weinberg cho rằng “Điều này hoàn toàn không liên quan gì tới quan hệ cung cầu mà chủ yếu do yếu tố đầu cơ”.  Trong thời gian tới đầu tư vào khâu nguyên liệu vẫn là khâu đầu tư có tính hấp dẫn cao: Kết quả thăm dò của Barclays Capital đối với 100 nhà đầu tư châu Âu thì 83% ngỏ ý trong ba năm tới vẫn tiếp tục duy trì, thậm chí mở rộng đầu tư vào khâu nguyên liệu..                      XUÂN HOÀI  Wiwo 4.2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhịn ăn có thể chữa bệnh cao huyết áp và tiểu đường      Thông thường, chỉ có bệnh nhân nặng mới tìm đến Andreas Michalsen, bác sĩ trưởng tại một phòng khám chữa bệnh tự nhiên dựa vào việc nhịn ăn. Nhưng phương pháp này không chỉ được khuyến khích cho những người bị bệnh.    Tại bệnh viện Immanuel ở Berlin, bác sĩ Andreas Michalsen đang điều trị cho những người gặp vấn đề về trao đổi chất như tiểu đường, béo phì, gan nhiễm mỡ và huyết áp cao hoặc các bệnh viêm nhiễm như thấp khớp, bệnh chất tạo keo (collagenosis) và bệnh đa xơ cứng. Đây là những bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc thông thường và thử nghiệm nhiều phương pháp song không hiệu quả.  Sau đây là cuộc trao đổi giữa phóng viên của tờ WELT với bác sĩ Andreas Michalsen về tác dụng của nhịn ăn đối với các bệnh nhân này.  WELT: Nhịn ăn tác động như thế nào đến các bệnh nhân, thưa bác sỹ?  Andreas Michalsen: Sự cải thiện thường diễn ra nhanh chóng đến bất ngờ. Ví dụ, phá vỡ vòng luẩn quẩn của việc sử dụng insulin và tăng cân ở bệnh nhân tiểu đường. Gan nhiễm mỡ thường cải thiện chỉ sau vài ngày. Gần đây tôi đã gặp một bệnh nhân tiểu đường bị rối loạn dây thần kinh gây đau đớn nghiêm trọng ở chân khiến bệnh nhân đi lại rất khó khăn. Chỉ sau một tuần nhịn ăn, bệnh nhân có thể đi lại tốt hơn nhiều. Mới hôm qua tôi có một bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp nặng. Người bệnh phản ứng với những tác dụng phụ nghiêm trọng nhất đối với cả thuốc cơ bản và sinh học mới, vì vậy chỉ có thể điều trị bằng cortisone và thuốc giảm đau. Khi nhập viện, đầu gối của bệnh nhân sưng tấy và phải chống gậy. Nhưng hôm qua, vào ngày nhịn ăn thứ sáu, mọi thứ đã ổn thỏa, cô ấy có thể đi lại mà không còn đau, điều đó gần giống như một phép màu. Nhưng sau đó tôi đã nói chuyện nghiêm túc với bệnh nhân về chế độ ăn uống trong tương lai. Tất nhiên, nhịn ăn không phải là giải pháp lâu dài.  Andreas Michalsen cho biết nhịn ăn có thể cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cao huyết áp và tiểu đường một cách nhanh chóng đầy bất ngờ.  WELT: Hiệu quả kéo dài được bao lâu?  Michalsen: Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào những gì họ ăn uống sau đó. Bạn có thể tăng cường hiệu quả nhịn ăn trong sáu đến mười hai tháng nếu giảm đáng kể tiêu thụ protein động vật và đường. Ai nhịn ăn trong hai tuần nhưng sau đó lại ăn món xúc xích cà ri hai tuần liền thì tất nhiên sẽ không có bất kỳ tác động lâu dài nào.  WELT: Có trường hợp nào không như ý muốn không?  Michalsen: Tất nhiên tỷ lệ thành công không phải là 100%. Kết quả tốt nhất thường thấy ở những người bị cao huyết áp và bệnh tiểu đường, thậm chí nhịn ăn có thể chữa lành các bệnh này. Khoảng 2/3 số bệnh nhân đáp ứng với bệnh thấp khớp. Với bệnh đa xơ cứng thì có phần khó khăn hơn. Trong một số trường hợp hiếm hoi, người bệnh không thể nhịn ăn nổi thì bên cạnh bệnh tình, họ còn cảm thấy thất vọng. Với một số người, thường là những người rất gầy gò, nhịn ăn không phát huy tác dụng. Nếu đến ngày thứ 4 hoặc thứ 5, bệnh nhân thấy ngày càng mệt mỏi, kiệt sức và cảm thấy đói thì tốt hơn là nên dừng lại.  WELT: Tác động phụ không mong muốn phổ biến nhất khi nhịn ăn là gì?  Michalsen: Tất nhiên có hiện tượng cảm thấy đói cồn cào, một số người bị đau đầu. Thường thì sau một vài ngày hiện tượng đau đầu sẽ biến mất.  WELT: Hiện đã có ý kiến cho rằng có thể nhịn ăn để hỗ trợ chữa trị ung thư hiệu quả hơn. Bác sĩ nghĩ như thế nào về điều này?  Michalsen: Khả năng này hiện đang được khám phá. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy nhịn ăn có thể giúp hóa trị dung nạp tốt hơn và nhịn ăn thậm chí còn có tác dụng đối với bệnh ung thư. Nhưng phải rất cẩn thận, kết quả từ các thí nghiệm trên động vật không phải lúc nào cũng ngoại suy được. Trong một nghiên cứu thí điểm nhỏ, chúng tôi đã chứng minh nếu bệnh nhân nhịn ăn trong 36 hoặc 24 giờ trước và sau hóa trị, tình trạng kiệt sức do hóa trị đã giảm và chất lượng cuộc sống được cải thiện. Nhưng vẫn còn quá sớm để áp dụng rộng rãi biện pháp điều trị này.  WELT: Bản thân ông cũng thường xuyên nhịn ăn. Tại sao một người khỏe mạnh lại cần làm điều đó?  Michalsen: Ngoài khía cạnh tích cực đối với sức khỏe, nhịn ăn có thể là một sự điều chỉnh trong xã hội tiêu dùng của chúng ta. Qua đó, người ta có thể cảm nhận cảm giác đói là như thế nào. Nhịn ăn đang bùng nổ ở bất cứ nơi nào có sự dư thừa, ví dụ như ở Trung Quốc.  WELT: Người ta có phải đến phòng khám để nhịn ăn hay có thể tự nhịn ăn ở nhà một mình?  Michalsen: Ai bị bệnh và dùng thuốc thì nên nhịn ăn dưới sự giám sát y tế. Nhiều loại thuốc như thuốc hạ huyết áp, thuốc chống đông máu hay thuốc trị tiểu đường có thể thay đổi tác dụng khi nhịn ăn. Ai khỏe mạnh có thể tự mình thử. Nhưng nên nhịn ăn theo một nhóm nhất định, kết quả sẽ tốt hơn do sự động viên, khích lệ lẫn nhau. Tiện đây xin nói, nhịn ăn cũng giống như thể thao: Người ta có thể luyện tập nhịn ăn.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus189574507/Fasten-kann-Bluthochdruck-und-Diabetes-sogar-heilen.html?source=puerto-reco-2_ABC-V20.1.B_test    Author                .        
__label__tiasang Nhịn ăn gián đoạn có thể giúp chữa lành tổn thương thần kinh      Nhịn ăn gián đoạn làm thay đổi hoạt động của vi khuẩn đường ruột trong chuột và giúp chúng tăng khả năng phục hồi những tổn thương thần kinh.    Đây là kết quả mới được các nhà nghiên cứu ở Đại học Hoàng gia London công bố trên Nature. Làm thế nào mà nhịn ăn có thể giúp sửa chữa các tổn thương thần kinh? Tất cả bắt nguồn từ một chất chuyển hóa trong ruột là 3-Indolepropionic acid (IPA) – đây là một chất chống oxy hóa mạnh có tiềm năng rất lớn trong điều trị các bệnh nhiễm trùng, bảo vệ chúng ta khỏi bệnh tiểu đường, các vấn đề về ruột và gan. Hơn hết, IPA cũng là yếu tố cần thiết để tái tạo các sợi thần kinh gọi là sợi trục (axon), là phần kéo dài của tế bào thần kinh, có chức năng gửi tín hiệu điện hóa đến các tế bào khác trong cơ thể. IPA được tạo ra nhờ vi khuẩn Clostridium sporogenesis có sẵn trong ruột người và chuột.    Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu việc nhịn ăn gián đoạn khiến vi khuẩn đường ruột gia tăng sản xuất IPA như thế nào. Họ đã phát hiện ra cơ chế này trên chuột và hy vọng nó cũng trở thành sự thật với những thử nghiệm trên người trong tương lai.  “Hiện nay, phương pháp điều trị duy nhất cho những người bị tổn thương dây thần kinh là tái tạo bằng phẫu thuật, nhưng tỉ lệ thành công rất thấp. Do vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu liệu thay đổi lối sống có thể hỗ trợ việc phục hồi hay không”, Giáo sư Simone Di Giovanni ở Khoa Khoa học não bộ, Đại học Hoàng gia London, tác giả nghiên cứu cho biết.  “Những nghiên cứu trước đây đã chứng minh nhịn ăn gián đoạn có liên quan đến việc sửa chữa tổn thương và phát triển các tế bào thần kinh mới. Tuy nhiên, công trình của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên giải thích chính xác nhịn ăn gián đoạn có thể chữa lành các tế bào thần kinh như thế nào”.  Nhịn ăn có thể trở thành phương pháp điều trị tiềm năng  Nghiên cứu đã đánh giá khả năng tái tạo thần kinh của những con chuột bị cắt đứt dây thần kinh tọa – dây thần kinh dài nhất chạy từ cột sống xuống chân. Một nửa trong số chúng phải nhịn ăn gián đoạn (xen kẽ giữa các ngày được ăn thỏa thích, rồi phải nhịn ăn), trong khi nửa còn lại được ăn tự do. Các chế độ ăn này được duy trì trong khoảng thời gian 10 ngày hoặc 30 ngày trước phẫu thuật. Các nhà nghiên cứu đã quan sát quá trình phục hồi của lũ chuột từ 24 đến 72 giờ sau khi cắt đứt dây thần kinh của chúng. Họ thấy rằng sợi trục ở những con chuột đã nhịn ăn đã mọc lại nhiều hơn khoảng 50% so với số còn lại. Đồng thời, mức độ các chất chuyển hóa, bao gồm IPA trong máu của những con chuột này cũng cao hơn đáng kể.  Để xác định liệu IPA có giúp sửa chữa dây thần kinh hay không, các nhà nghiên cứu đã sử dụng thuốc kháng sinh để làm sạch các vi khuẩn trong ruột của những con chuột. Sau đó, họ đưa chủng vi khuẩn Clostridium sporogenesis biến đổi gene (có thể có hoặc không có khả năng sản xuất IPA) vào số chuột này.  “Khi những vi khuẩn này không thể tạo ra IPA – gần như không tồn tại trong huyết thanh, sự tái tạo sẽ bị suy giảm. Điều này cho thấy IPA từ vi khuẩn có khả năng chữa lành và tái tạo các dây thần kinh bị tổn thương”, Giáo sư Di Giovanni nói.  Một điều quan trọng là khi bổ sung IPA cho chuột bị chấn thương dây thần kinh tọa theo đường uống, các nhà nghiên cứu nhận thấy khả năng tái tạo và phục hồi đã tăng lên trong khoảng từ 2-3 tuần tiếp theo.  Về định hướng trong giai đoạn tới, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra cơ chế này đối với chấn thương tủy sống ở chuột, đồng thời xem xét việc sử dụng IPA thường xuyên hơn có tối đa hóa hiệu quả hay không.  “Một trong những mục tiêu của chúng tôi hiện nay là điều tra vai trò của liệu pháp chuyển hóa vi khuẩn một cách có hệ thống”, Giáo sư Di Giovanni nói. Sẽ cần nhiều nghiên cứu để tìm hiểu liệu IPA có tăng lên sau khi nhịn ăn ở người hay không, và hiệu quả của chúng như một phương pháp điều trị tiềm năng trên người.  Ông nói: “Một trong những câu hỏi mà chúng tôi chưa trả lời được đầy đủ là, do IPA tồn tại trong máu từ bốn đến sáu giờ ở nồng độ cao, liệu việc sử dụng nhiều lần trong ngày hoặc bổ sung vào chế độ ăn thông thường có thể giúp tối đa hóa hiệu quả điều trị?”  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-06-intermittent-fasting-nerve.html  https://www.iflscience.com/does-intermittent-fasting-hold-the-key-to-nerve-regeneration-64267    Author                .        
__label__tiasang Nhìn Đổi mới sáng tạo từ Hàn Quốc và Singapore      Ngày 16/5 tới đây sẽ diễn ra diễn đàn quốc tế về đổi mới sáng tạo tại TP.HCM. Là một trong những diễn giả của diễn đàn, TS Giáp Văn Dương đã có những chia sẻ về đổi mới sáng tạo mà chúng tôi xin tóm lược dưới đây.     Theo TS Giáp Văn Dương, hiện nay thuật ngữ “Đổi mới – Sáng tạo” gần như là câu cửa miệng của nhiều doanh nhân và nhà làm chính sách. Kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản buộc họ phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững dựa trên sự đổi mới công nghệ và quản trị.  Một trong những cách này là tìm trong kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt ở những nước tương đồng về văn hóa và xuất phát điểm với Việt Nam, như Hàn Quốc và Singapore, để học hỏi kinh nghiệm.  Ba bài học từ Hàn Quốc  Hàn Quốc có một sự tương đồng khá lớn với Việt Nam khoảng 50 năm về trước, thậm chí nhiều mặt kém Việt Nam. Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc cách mạng công nghệ và quản trị để chấn hưng đất nước. Trọng tâm của cuộc cách mạng này là đổi mới sáng tạo ở mọi cấp bậc.  Điển hình là sự thành lập viện Nghiên cứu khoa học và Công nghệ (KIST) năm 1966. Các nghiên cứu của KIST được triển khai theo hướng hợp đồng, để kết quả nghiên cứu có thể ngay lập tức được ứng dụng vào sản xuất kinh doanh. Các nhà nghiên cứu của KIST đã chủ động đi tìm khách hàng thay vì ngồi chờ doanh nghiệp tìm đến.  KIST được miễn kiểm toán và hoạt động hàng năm của KIST không cần chính phủ phê duyệt. Một dự luật đặc biệt dành cho KIST cũng được thông qua, nhằm bảo đảm cho các nhà nghiên cứu tránh khỏi những rắc rối không cần thiết. Ngân sách của viện KIST cũng được đảm bảo trực tiếp từ tổng thống Park Chung-hee. Hệ thống hành chính được xây dựng theo hướng hỗ trợ mọi mặt cho nghiên cứu, thay vì can thiệp trực tiếp vào nghiên cứu.  Các học viên sau đại học hoặc nghiên cứu sinh thường ra công ty để thực tập. Mối liên kết tự nhiên giữa trường viện và doanh nghiệp được hình thành và củng cố, trước hết phục vụ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, sau đó là phục vụ việc đào tạo của nhà trường.  Ở Hàn Quốc, theo TS Dương cần học ba bài học lớn. Thứ nhất là chọn người có đức có tài, tin tưởng họ và giao cho họ toàn quyền tự chủ trong các hoạt động khoa học công nghệ, hướng đến mục tiêu lớn là chấn hưng đất nước. Thứ hai là bắt tay với cộng đồng doanh nghiệp ngay từ khi khởi động các nghiên cứu. Tốt nhất là nghiên cứu theo các đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Bài học thứ ba là các nhà nghiên cứu cần chủ động đi tìm các doanh nghiệp để giải các bài toán thực tế mà doanh nghiệp đang gặp phải.  Ngày nay, hệ thống xây dựng và đánh giá chính sách khoa học công nghệ (KHCN) của Hàn Quốc đã phát triển rất nhiều so với thời KIST mới được thành lập. Chẳng hạn, Viện đánh giá và quy hoạch KH&CN Hàn Quốc (KISTEP) đang đóng vai trò Think-Tank đối trong việc xây dựng các chính sách KH&CN của Hàn Quốc, đặc biệt trong việc hoạch định, dự báo, đánh giá và điều phối các chính sách.  Mô hình hồ chứa nước tại đập Marina của Singapore. Singapore còn chủ trương thu giữ nước mưa để phục vụ nhu cầu nước cho người dân. Ảnh: Tuổi Trẻ  Kinh nghiệm từ Singapore  Một trong những ấn tượng lớn nhất của tôi khi đến làm việc ở đây mấy năm về trước, là người Singapore, từ trên xuống dưới, ý thực một điều rất rõ: Singapore là nước nhỏ, không có tài nguyên, nên chỉ có thể phát triển nhờ nguồn lực con người. Vì thế, họ đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục và phát triển khoa học, công nghệ. Chẳng hạn, chiến lược KH-CN hiện thời của Singapore (2015) nêu rõ: Cùng với tri thức, đối mới sáng tạo là hai động lực đảm bảo cho Singapore phát triển bền vững.  Còn nhớ khi mới đến Đại học Quốc gia Singapore (NUS), khẩu hiệu làm tôi giật mình là “NUS: Doanh nghiệp tri thức “(NUS: Knowledge Enterprise). Tức là trường đại học đã tự nâng mình lên trở thành một doanh nghiệp với mặt hàng chủ đạo là tri thức để bán cho cộng đồng.  Chẳng hạn, trong khuôn viên của Đại học Quốc gia Singapore, có một viện chuyên sâu về lưu trữ dữ liệu nhằm phục vụ ngành công nghiệp sản xuất ổ cứng máy tính. Những viện như thế là cầu nối trực tiếp để triển khai các nghiên cứu công nghiệp. Các trường đại học và viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về đổi mới sáng tạo, để truyền thông, gợi mở và nuôi dưỡng tinh thần đổi mới sáng tạo đến từng nhân viên của mình.  Singapore có hệ thống viện nghiên cứu trực thuộc cơ quan phát triển Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu của Singapore. Cơ quan này được thành lập năm 1991 để thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ, đồng thời thu hút tài năng nước ngoài đến làm việc tại Singapore, với ưu đãi về thu nhập, nhằm phát triển nền kinh tế tri thức của Singapore.  Ở Singapore doanh nghiệp được tham gia vào các nghiên cứu từ khâu đầu tiên và theo sát trong quá trình nghiên cứu, nhất là phần đánh giá, nghiệm thu kết quả. Có như thế, họ mới đủ tin tưởng để triển khai các kết quả này ra thực tiễn kinh doanh. Nổi bật nhất là phát triển các nghiên cứu về xử lý nước. Ngày nay, công  nghệ xử lý nước của Singapore được coi là dẫn đầu thế giới.  Cũng vì thế, năng lực đổi mới sáng tạo của Singapore đạt mức rất cao trong bảng xếp hạng toàn cầu. Theo Blooomberg, Singapre hiện đứng thứ 7 trong bảng xếp hạng toàn cầu về chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2014, đạt mức 86,07/100 điểm.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997: Trông người, nghĩ đến ta      Mười năm đã trôi qua, những hậu quả nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ vào năm 1997-1998 đem lại cho các nước Đông Á đã được giải quyết phần nào, nhưng những bài học rút ra dường như vẫn còn mới nguyên giá trị cho nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Hơn thế, đối với Việt Nam, nước tiến hành cải cách kinh tế sau và hiện đang phải trải qua những gì mà các nước Đông Á đã đi qua cách đây một vài thập kỷ, việc nhìn nhận đúng bản chất những gì đã xảy ra là một cách thức tốt để có thể tránh được những vết xe đổ.    Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và những vấn đề liên quan đến Việt Nam bạn đọc có thể tham khảo trong bài viết “Hệ thống tài chính Việt Nam: Những vấn đề tiềm ẩn nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997-1998” trên Tạp chí Tia Sáng số 05/07/2005, ở đây tác giả chỉ xin đề cập thêm hai vấn đề mà nó đang nổi lên trong thời gian gần đây, đó chính là dòng vốn nước ngoài đổ vào và các khoản vay bằng ngoại tệ.  Dòng vốn nước ngoài, những điều cần chú ý  Cách đây hai năm những quan ngại về dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam quá lớn gây ra sự lo lắng hay những bất ổn cho nền kinh tế là điều chưa xảy ra, nhưng chỉ trong sáu tháng đầu năm 2007 này khi mà có một lượng vốn gián tiếp rất lớn chảy vào trong khi nền kinh tế chưa kịp chuẩn bị để hấp thu hết đã gây ra những rắc rối nhất thời như việc Ngân hàng Nhà nước phải tung ra một lượng lớn tiền VND để mua vào ngoại tệ tạo sức ép không nhỏ lên lạm phát gây bất lợi cho nền kinh tế.  Câu chuyện của dòng vốn gián tiếp không đơn thuần nằm ở vấn đề nêu trên mà nếu các dòng vốn chảy vào không được đưa vào nền kinh tế một cách kíp thời để tạo ra giá trị gia thực sự thì trong dài hạn sẽ gây tác động không tốt cho Việt Nam vì điều hiển nhiên là khi các nhà đầu tư bỏ tiền vào Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển nói chung sẽ suất sinh lợi yêu cầu tối thiểu cũng phải là 15% vì nếu đầu tư vào cổ phiếu ở các thị trường đã ổn định nếu tính bình quân theo chỉ số chứng khoán thì suất sinh lợi bình quân cũng trên 10% một năm.  Nếu tiền chỉ được bỏ vào các dự án bất động sản hay những nơi không tạo ra giá trị gia tăng thực sự thì về lâu về dài sẽ không có tiền để “trả nợ”. Nếu không đảm bảo được suất sinh lợi mong muốn thì khả năng dòng vốn sẽ chảy ngược là điều khó tránh khỏi. Đây chính là điều đã xảy ra ở nước láng giềng, nhất là Thái Lan vào năm 1997. Với những diễn biến gần đây, không loại trừ khả năng tương tự sẽ xảy ra đối với Việt Nam.  Các khoản vay bằng ngoại tệ, nguy cơ tiềm ẩn  Trong một thời gian dài, tỷ trọng huy động vốn bằng ngoại tệ của các ngân hàng Việt Nam luôn chiếm khoảng 30% tổng vốn huy động, nhưng nhu cầu vay của các doanh nghiệp không cao nên có sự thặng dư và phần này chủ yếu là đem gửi nước ngoài. Tuy nhiên, sau một thời gian dài quan sát thấy việc vay vốn bằng ngoại tệ có vẻ rẻ hơn vay bằng tiền đồng, nên nhu cầu vay theo hình thức này đã gia tăng với bằng chứng là hầu hết các ngân hàng phải đồng loạt tăng lãi suất huy động bằng đồng USD để thu hút tiền gửi trong khi FED vẫn giữ lãi suất ổn định trong mấy tháng qua.  Dưới góc độ doanh nghiệp, việc vay bằng đồng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hay doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ thì dường như không có vấn đề gì, nhưng nếu các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nước không có nguồn thu bằng ngoại tệ thì rủi ro sẽ rất lớn.  Ở thời điểm hiện nay khi số dư nợ bằng ngoại tệ còn thấp, áp lực chưa cao cộng với việc tỷ giá ổn định, thậm chí là có xu hướng tăng làm cho hầu hết mọi người đều nghĩ rằng chẳng có điều gì xảy ra trong vòng 3 đến 6 tháng tới, thậm chí là một năm nên vay ngoại tệ sẽ có lợi hơn. Tuy nhiên, câu chuyện sẽ hoàn toàn khác nếu số vốn vay bằng ngoại tệ lớn đến một ngưỡng nào đó và khi đó một lượng lớn vốn vay bằng ngoại tệ đến hạn thì câu chuyện sẽ hoàn toàn khác. Cầu ngoại tệ lớn trong khi cung không đủ. Đây chính là câu chuyện đã xảy ra ở một số nước Đông Á.  Một nguy cơ nữa đang rình rập đối với Việt Nam là tuy dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam đang đợi để mua cổ phiếu, nhưng không loại trừ khả năng trong thời gian “chờ đợi” các quỹ đầu tư sẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam vay theo nhiều hình thức khác nhau. Nếu điều này xảy ra thì về cơ bản dòng nợ này không khác lắm dòng nợ nước ngoài đã gây ra khủng hoảng ở Thái Lan.  Tóm lại, hai trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997 -1998 là do việc tự do hóa dòng vốn đi vào – đi ra quá nhanh và do đồng tiền ở các nước này được cố định tỷ giá (giữ ổn định) trong một thời gian quá dài làm cho các doanh nghiệp vay quá nhiều ngoại tệ đã gây ra rắc rối. Mặc dù hiện tại chưa có dấu hiệu gì đáng phải chú ý, nhưng đây là câu chuyện rất có thể xảy ra đối với Việt Nam. Nếu các cơ quan xây dựng và điều hành chính sách không lường đón trước những gì có thể xảy ra thì rất có thể, chỉ trong một thời gian ngắn các khoản nợ vay này sẽ gây rắc rối cho nền kinh tế Việt Nam. Khi đó, khó mà lường được hậu quả sẽ như thế nào vì giờ đây, cho dù các nước quanh ta đã hứng chịu hậu quả tồi tệ của cuộc khủng hoảng nhưng đã đi trước Việt Nam một chặng đường khá xa.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia      GS. Goran Roos, một trong 13 nhà tư tưởng ảnh hưởng nhất thế kỉ 21 do tạp chí kinh doanh Direction y Progreso của Tây Ban Nha bình chọn tại Việt Nam, trong một phát biểu tại Bộ KH&CN vào tháng 8 năm ngoái, có đặt câu hỏi: Tại sao một đất nước có năng lực nghiên cứu xuất sắc với nhiều trường đại học hàng đầu thế giới như Australia, lại không phải là một quốc gia đổi mới sáng tạo? Đó là vấn đề thuộc về cả hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (National Innovation System – NIS) của nước này.      Nokia đã khiến cho lĩnh vực công nghệ thông tin và điện tử trở thành thế mạnh của Phần Lan.  Biên giới của NIS  Hiện nay, vẫn còn có sự tranh cãi về định nghĩa của NIS. Tuy nhiên, khác với quan điểm của nhiều người, hệ thống này không chỉ bó hẹp trong những gì thuộc về hoạt động khoa học và công nghệ. Biên giới của một hệ thống đổi mới sáng tạo phải rộng hơn hệ thống nghiên cứu phát triển và hệ thống lan tỏa công nghệ (quá trình đưa những sản phẩm mới, quy trình mới,..đến với cộng đồng), nhưng đồng thời cũng nhỏ hơn hệ thống kinh tế của một quốc gia. Theo quan điểm của Christopher Freeman và Bengt-Åke Lundvall, hai nhà kinh tế học hàng đầu thế giới nghiên cứu về đổi mới sáng tạo, họ lựa chọn một cách tiếp cận rộng nhất đối với NIS, cho rằng hệ thống đổi mới sáng tạo bao gồm tất cả các thành phần và khía cạnh của một cấu trúc kinh tế và các định chế trong đó, có tác động đến quá trình học hỏi thông qua hoạt động sản xuất (bao gồm học qua hành, học qua sử dụng thiết bị mới, học bằng cách tương tác lẫn nhau) và quá trình học hỏi thông qua những hoạt động mang tính chất đào tạo, nghiên cứu.   Với biên giới này của NIS, thay vì xem xét hệ thống này như sự cộng gộp của các thành phần riêng lẻ (viện, trường doanh nghiệp…), họ nhấn mạnh tính tương tác giữa bên cung (các phòng thí nghiệm R&D, viện, trường) và bên cầu (những người sử dụng công nghệ, những tổ chức quảng bá công nghệ) trong quá trình biến đổi và phát triển công nghệ. Theo đó, mỗi thành phần trong NIS cũng là một hệ thống nhỏ thực hiện một mắt xích trong chuỗi sản xuất: 1) Hệ thống sản xuất (mối liên kết giữa các ngành công nghiệp); 2) Hệ thống marketing (bao gồm bộ phận quảng bá trong doanh nghiệp và các tổ chức marketing chuyên nghiệp); 3) Những người thụ hưởng các đổi mới sáng tạo (công ty, người dân, chính phủ); 4) Hệ thống tài chính (ngân hàng, quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, thị trường chứng khoán); 5) Thị trường lao động; 6) Những tổ chức ban hành và triển khai các chính sách thương mại và chống độc quyền; 7) Những tổ chức luật hóa việc sử dụng các đổi mới sáng tạo (chẳng hạn như các quy định về dược phẩm) và ảnh hưởng của của chúng tới môi trường và tài nguyên thiên nhiên; 8) Những thiết chế không chính thức (như văn hóa, quy tắc xã hội); 9) Những tổ chức quốc tế khác.   Chính vì vậy, để có một cách tiếp cận hệ thống về đổi mới sáng tạo, nếu chỉ liệt kê các tổ chức đơn lẻ cấu thành NIS là một sự thiếu sót mà luôn phải tính đến mối liên kết giữa các thành tố. Vì vậy, nhà kinh tế Lundvall cho rằng yếu tố lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa tạo nên bản sắc của một quốc gia có ảnh hưởng đến tính liên kết trong hệ thống R&D, đến vai trò của khu vực công, mối quan hệ giữa các công ty với nhau, hệ thống tài chính, hệ thống giáo dục và đào tạo. Quay trở lại câu chuyện của nước Úc, vấn đề của quốc gia này được GS. Goran Roos chỉ ra, là sự thiếu tương thích giữa khối viện trường và doanh nghiệp (sáng chế của khu vực công không liên quan đến lĩnh vực của khối tư nhân). Khả năng R&D của các doanh nghiệp nội địa nước này cũng hạn chế trong khi các tập đoàn nước ngoài cũng không đặt cơ quan R&D tại đây. Hơn nữa, các sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật và công nghệ phần mềm của Úc ít hơn nhiều so với các nước đổi mới sáng tạo khác (sinh viên khoa học của họ chủ yếu ở ngành sinh học).   Vị trí của nhà nước  Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia là vai trò của nhà nước trong việc tương tác với xu hướng thay đổi công nghệ. Khu vực công được biết đến rõ ràng với vai trò của nhà sản xuất các nghiên cứu và phát triển (thông qua khối viện trường), đào tạo nhân lực, ban hành các quy định và cũng là người sử dụng đổi mới sáng tạo. Cũng nên nói thêm rằng, vai trò của nhà nước không dừng lại ở những chính sách liên quan trực tiếp đến khoa học công nghệ thông qua tài trợ nghiên cứu, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn và đưa ra các “đề bài” cho đổi mới sáng tạo; mà còn được thể hiện rộng hơn, trong tất cả các chính sách của quốc gia đều liên quan đến những hệ thống thành phần của NIS, từ hệ thống tài chính, giáo dục đến thị trường lao động.   Phần Lan là một trong các quốc gia thấu hiểu và tiếp cận đổi mới sáng tạo một cách hệ thống. Sự ra đời của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ (SPTC), nơi quyết định chiến lược, chính sách và điều phối nguồn tài trợ, đầu tư cho tất cả các hoạt động KH&CN là một ví dụ. Đứng đầu bởi thủ tướng, thành viên của tổ chức này gồm bộ trưởng của các bộ, CEO của Nokia, các quan chức cao cấp khác. Thực ra từ trước khi ra đời SPTC, Chính phủ Phần Lan cũng luôn có cách tiếp cận đa ngành, hợp tác chặt chẽ giữa khối tư nhân và doanh nghiệp khi đưa ra những quyết sách quan trọng. Nhờ vậy, mà đất nước này đã hồi phục sau khủng hoảng dầu mỏ đầu những năm 1980 một cách nhanh chóng do lựa chọn tập trung đầu tư vào công nghệ cao, đặc biệt là điện tử viễn thông và IT, vượt ra ngoài ngành truyền thống là sản xuất giấy và kim loại vốn là thế mạnh của họ trên thế giới. Đó cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của tập đoàn Nokia, khiến ngành điện tử của quốc gia này đóng góp hẳn 1% tăng trưởng GDP của Phần Lan và 5% việc làm của quốc gia này. Quan điểm của Chính phủ Phần Lan là không hỗ trợ những cá nhân, công ty riêng lẻ mà hướng đến tài trợ cho những dự án mang tính chất kết nối. Khi quỹ Tekes của Phần Lan ra đời, quỹ này tập trung cho các chương trình công nghệ kết hợp giữa các trường, các viện, giữa các công ty, giữa viện trường và các công ty với nhau và với các tổ chức và chuyên gia nước ngoài. Điều đó cũng giải thích phần nào, khi nhìn vào tổ hợp công nghệ thông tin của Phần Lan, có thể thấy mặc dù đứng ở vị trí trung tâm, với doanh thu và nguồn nhân lực khổng lồ, Nokia có mối liên kết chặt chẽ với các công ty công nghệ nhỏ hơn và các tổ chức nghiên cứu khác thông qua đồng nghiên cứu hoặc chia sẻ hợp đồng.  Như ở trên đã đề cập, mọi chính sách của nhà nước đều ít nhiều ảnh hưởng đến hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Tuy nhiên, có một vai trò của nhà nước mà ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ, mãi gần đây mới đề cập một cách thoáng qua trên các diễn đàn. Đó là “người sử dụng đổi mới sáng tạo” thông qua việc mua sắm công. Khác với khu vực tư nhân khi mua các giải pháp công nghệ, khu vực công ưu tiên các mục tiêu xã hội, chính trị, quân sự hơn là chi phí. Chính vì vậy, với những công nghệ mới mẻ, chưa từng có trên thị trường, nếu nhà nước chấp nhận làm “khách hàng thử nghiệm” thì đó sẽ là tác nhân khuyến khích khu vực tư nhân mạo hiểm. Một ví dụ điển hình là chương trình mua sắm công của Mỹ (SBIR) khi tạo ra số lượng công ty công nghệ nhiều hơn tất cả các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước này cộng lại. Quan điểm của SBIR là “tài trợ cho những ý tưởng tốt nhất ở giai đoạn đầu – những ý tưởng mà, mặc dù hứa hẹn nhưng vẫn quá rủi ro cho những nhà đầu tư tư nhân, kể cả các quỹ đầu tư mạo hiểm”. Tạo ra một thành công như SBIR của Mỹ đòi hỏi chương trình phải được đặt dưới các bộ ngành thực sự có nhu cầu đổi mới sáng tạo (đặc biệt là Y tế, quân sự) và cho phép các cơ quan nhà nước này mạo hiểm ở mức độ nhất định.   ***  Thực tế, một hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia là kết quả của nhiều năm phát triển trong lịch sử và văn hóa của một nước một cách tự nhiên mà không thể thiết kế hay điều khiển một cách nhân tạo. Tuy nhiên, những nhận định nói trên, được trích từ báo cáo “Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia: So sánh kinh nghiệm từ Phần Lan, Thụy Điển và Úc” của GS. Goran Roos và O.Gupta có thể gợi ý cho Việt Nam cách thức thúc đẩy NIS hiệu quả hơn thông qua việc nhìn nhận đây là vấn đề liên ngành, cần sự tham gia của nhiều bộ ngành, kết hợp cả khối tư nhân và nhà nước, từ đó mới có thể đầu tư vào những kết nối và dám mạo hiểm qua chương trình mua sắm công. ¨  Hảo Linh tổng hợp    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Nhìn lại toàn diện cuộc chiến giữa thương hiệu Việt và nước ngoài      Hội thảo Sáng tạo trong cuộc chiến thương trường, nơi lần đầu tiên các chuyên gia kinh tế và doanh nhân cùng nhìn lại toàn diện cuộc chiến trên mặt trận kinh tế giữa thương hiệu Việt Nam và nước ngoài, sẽ diễn ra tại Dinh Thống Nhất (TP.HCM) ngày 23/11 tới.    Hội thảo, do Trung Nguyên và Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao (BSA) tổ chức, cũng sẽ thử  tìm lời giải cho các câu hỏi như liệu châu chấu có thể thắng voi trong  trận chiến thường trực và khốc liệt đó không và nguyên lý nào để chiến  thắng.  Hội thảo có sự tham dự của hơn 20 diễn giả là các học giả, chuyên gia, doanh nhân uy tín như Trần Đình Thiên, Vĩ Trí Thành, Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Đặng Lê Nguyên Vũ, Nguyễn Hữu Thái Hòa,…và kỳ vọng sẽ thu hút 30 nghìn sinh viên đến giao lưu, học hỏi, chia sẻ những bài học về xây dựng thương hiệu Việt và công cuộc khởi nghiệp, kiến quốc.  Nhân sự kiện này, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch HĐQT của Trung Nguyên, có thư ngỏ gửi những người tham gia, nội dung có đoạn:  “Có lẽ ai trong chúng ta cũng đều thấy bức tranh kinh tế đang ở giai đoạn không khả quan mà một trong những biểu hiện sắc nét của nó là thách thức chưa từng có kể từ thập niên 90 đối với doanh nghiệp Việt – thương hiệu Việt. Hàng chục ngàn doanh nghiệp đã phải thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động, nhiều thương hiệu Việt tiêu biểu một thời nay buộc phải mất quyền tự quyết. Thương hiệu là giá trị tài sản vô giá của doanh nghiệp, thương hiệu mạnh là biểu tượng cho sự hùng mạnh của đất nước. Thế nhưng hầu hết thương hiệu Việt của chúng ta đang đối diện thách thức rất cam go vượt trên cạnh tranh thông thường.   Hình thái cạnh tranh hiện nay không còn chỉ dừng lại trên thị trường tiêu thụ mà đã bộc lộ bản chất toàn cầu, toàn chuỗi giá trị và toàn diện trên tất cả lĩnh vực. Cạnh tranh toàn cầu đã hiện diện rộng khắp thị trường nội địa, diễn ra trên từng cửa hiệu tạp hóa, từng quầy hàng siêu thị, từng quyết định của người tiêu dùng. Các tập đoàn quốc tế đang ra sức chế ngự tất cả các phân đoạn trong chuỗi giá trị từ nguyên liệu đầu vào đến công nghệ, tổ chức sản xuất đến đầu ra tại thị trường tiêu thụ. Trong khi đó, thương hiệu Việt vốn đa số hoạt động đơn lẻ ở những phân đoạn cắt khúc, thiếu liên kết đang phải chống trả gian nan để tồn tại, phát triển. Các tập đoàn quốc tế sử dụng đòn bẩy tiếp trợ có tính toàn diện của quốc gia, liên quốc gia sau lưng họ về thuế quan, ngân hàng, tài chính, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, chính trị cộng với vận dụng hữu hiệu các thiết chế toàn cầu như WB, WTO … với các thủ thuật thâu tóm, sáp nhập để tạo nên thế trận liên hoàn khiến thương hiệu Việt đứng trước tình thế khó khăn chồng khó khăn.  Thực sự chúng ta ở trong cuộc chiến tổng lực của thời bình, cuộc đấu không khói súng nhưng mức độ khốc liệt không hề kém chiến tranh thực sự. Đây là cuộc chiến toàn dân của khát vọng tự chủ tự cường phát triển về kinh tế với sự phụ thuộc. Vậy nên, trước hết chúng ta cần có tinh thần quả cảm dám tranh đua để chiến thắng.”  Sự kiện này nằm trong khuôn khổ Ngày hội Sáng tạo vì Khát vọng Việt do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Tập đoàn Trung Nguyên cùng tổ chức, mở đầu cho sự hợp tác lâu dài giữa hai bên trong Chương trình Xây dựng thế hệ trẻ Sáng tạo vì Khát vọng Việt, trong đó bao gồm chương trình tặng 100 triệu cuốn sách khởi nghiệp sáng tạo cho 23 triệu thanh niên.  Được biết, Trung Nguyên sẽ dành khoảng từ 50 – 60 tỉ đồng để cùng với Trung ương Đoàn thành lập Quỹ Sáng tạo vì Khát vọng Việt, xây dựng cẩm nang giúp các bạn trẻ xác định được năng lực lõi, hệ giá trị đang theo đuổi, nghệ thuật kết nối và thuyết phục để tạo nguồn lực, phương cách chuyển đổi tâm thế… nhằm có thể gặt hái thành công trong quá trình lập thân, lập nghiệp.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn nhận lại các chương trình công nghiệp hóa      &#160;Cách đây chỉ hai thập kỷ, “tự lực tự cường” là mong muốn của nhiều quốc gia. Nay, cố gắng để “không bị phụ thuộc vào thị trường thế giới” chỉ báo hiệu sự cô lập dẫn đến tất yếu phá sản.    Có nên đi theo thành công của người khác?  Là những nước đi sau hàng mấy thế kỷ, các nước đang phát triển và DN của họ thường học tập kinh nghiệm, làm lại cái các nước phát triển và DN của họ đã làm. Trong TGP, các nước, DN nhỏ cần làm cái khác các nước phát triển, các DN lớn làm. “Cái khác” này nên hỗ trợ, bổ sung cho cái mà DN lớn đang làm hoặc hòa vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của họ hoặc nối dài thêm vào chuỗi giá trị của sản phẩm của họ. Cạnh một hàng phở phát đạt, mở thêm một hàng phở chưa chắc lãi bằng mở hàng cà phê, hay trở thành nhà cung cấp bánh phở, thịt bò… cho họ. Cạnh Trung Quốc, người ta không nên phát triển những ngành công nghiệp hay sản xuất các sản phẩm mà họ đã rất thành công, mà nên tích hợp vào chuỗi của sản phẩm của họ. Ngành công nghiệp ô tô, thép, xi măng, điện tử… của ta đang làm theo đúng những cái họ đang làm tốt. Cần nhìn nhận lại các chương trình công nhiệp hóa vì đó thực chất là cố gắng sản xuất – kinh doanh nhiều sản phẩm tương tự như những sản phẩm người khác đã làm và bán rất tốt ngay ở nước mình.    Phụ thuộc lẫn nhau  Thế giới phẳng đem lại sự bất định sâu sắc (profound uncertainty), mọi thứ xảy ra nhanh hơn, tính bất khả tiên lượng (unpredictability) cao hơn, các quy luật có giá trị trong thời hạn ngắn hơn. Các chiến lược, masterplan, dự báo… không thể làm cho thời gian dài như trước. Các “định hướng”, “tầm nhìn” xa đến cả 20-30 năm chỉ mang tính hình thức và không thể là căn cứ để hành động.  Thế giới phẳng đặt mọi tổ chức, quốc gia vào một giao diện với vô số yếu tố tác động từ mọi phía. Các dự án, sự kiện không còn thuộc một lĩnh vực cụ thể. Để giải quyết công việc, các phòng ban cứng nhắc theo lĩnh vực như ở thế kỷ 20 cần được thay bởi các tổ công tác (taskforce), tổ dự án (project team) mang tính đa lĩnh vực (inter-disciplinary). Các tổ chức quốc tế, công ty toàn cầu có nhiều tổ công tác, tổ dự án, cán bộ chương trình hơn các phòng ban cố định và biến các phòng ban này thành các đơn vị hỗ trợ. Ứng phó với tác động từ ngoài và yêu cầu phải hiểu rõ mình bắt các DN phải “nhìn người” và “nhìn mình” kỹ hơn (thay vì chỉ nhìn  “mình” hoặc dập khuôn theo “người”như hiện nay).  Cách đây chỉ hai thập kỷ, “tự lực tự cường” là mong muốn của nhiều quốc gia. Nay, cố gắng để “không bị phụ thuộc vào thị trường thế giới” (theo như nghiên cứu khả thi của một ngành công nghiệp quan trọng ở ta) chỉ báo hiệu sự cô lập dẫn đến tất yếu phá sản.  Xúc tiến đầu tư trong thế giới phẳng  Xúc tiến đầu tư trong công nghiệp khác với xúc tiến đầu tư thông thường. Các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của khu vực và thế giới không nhiều. Vì vậy, ta có thể nhằm rõ đối tượng để xúc tiến đầu tư. Qua Internet và các thông tin chuyên ngành, có thể biết được các nhà đầu tư tiềm năng. Có thể đặt quan hệ với họ và xúc tiến đầu tư ban đầu qua web, Email mà chưa cần ra nước ngoài để xúc tiến đầu tư. Nếu muốn làm gia công (“bán” công đoạn) thì không đem sản phẩm đi trưng bày mà đem kỹ năng, công đoạn đi để thể hiện.  Để “vào” các chuỗi cung ứng, cần làm việc với các công ty khống chế của chuỗi cung ứng đó. Xúc tiến đầu tư với các DN thành viên của chuỗi không có tác dụng.  Xúc tiến đầu tư có hiệu quả là ta phải tìm đến nhà đầu tư, chứ không phải họ tìm đến ta như hiện nay. Kinh doanh trong thế giới phẳng là không chờ đầu tư vào (in-vestment) mà phải chủ động đầu tư “ra” (out-vestment).  Mỹ đã nghiên cứu rất kỹ những ngành nghề nào dễ out-sourced nhất. Có thể xem các nghiên cứu đó để tìm ra khả năng cho outsourcing. Rất nhiều thông tin về cơ hội sản xuất – kinh doanh có rất sẵn trên internet.  Các phòng hợp tác quốc tế (HTQT) của các Bộ, ngành, doanh nghiệp chưa chắc đã là công cụ tốt cho hội nhập. Thực ra, điều đó lại chứng tỏ nơi đó chưa thực sự “hội nhập”, vì cán bộ các phòng nghiệp vụ chưa có những cân nhắc toàn cầu ngay từ khâu đầu tiên của công việc (và phải cần phòng HTQT để “nắn” công việc cho phù hợp với thế giới). Các công ty toàn cầu, các tổ chức quốc tế không có phòng HTQT!  Quan niệm lại về “Nền kinh tế quốc dân”  Với sự hợp tác đan xen của thế giới phẳng, nền kinh tế quốc dân không chỉ giới hạn trong biên giới quốc gia. Ấn Độ thừa người lập trình khi “đóng”, nhưng lại thiếu khi “mở”, Singapore không có nông nghiệp nhưng vẫn “thừa” rau quả… Sự “mất cân đối” khi “đóng” có thể là “cân đối” khi “mở” và ngược lại. Các “cân đối quốc gia” truyền thống (giữa các ngành của nền kinh tế) không còn mang ý nghĩa.  Các tỉnh, ngành ở ta vẫn đưa ra chiến lược dựa trên cân đối theo kiểu “đóng”. Sản lượng thép, xi măng, đường, số lượng kỹ sư, v.v… được tạo ra tính theo dân số như thể dân ta phải dùng đồ ta và đồ ngoại không được bán ở ta. Trong thế giới phẳng, chuỗi “ngoại” tác động lớn. Vì vậy, không sản xuất – kinh doanh sản phẩm gì khi chưa biết về các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sản phẩm đó ở khu vực và thế giới. Cần lưu ý rằng: chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị có thể phát triển ngoài ý định của bất kỳ quốc gia nào. Đi trái với các chuỗi toàn cầu là điều các nước cần tránh. Ta đã đi từ cân đối theo làng, theo tỉnh, theo vùng, rồi theo nước. Vậy khi nào cân đối theo khu vực, theo thế giới là phù hợp?      Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Nhìn thấy” từng tế bào bằng âm thanh      Ngay cả khi bạn là một nhà nghiên cứu thì việc nhìn cách một vài tế bào trong một nội quan hành xử như thế nào cũng không phải là điều đơn giản. Cơ thể con người chứa xấp xỉ 37 nghìn tỉ tế bào; một con ruồi giấm thường bay lượn quanh những quả chuối chín nẫu trên kệ bếp của bạn cũng có khoảng 50.000 tế bào. Thậm chí Caenorhabditis elegans, một con sâu bé tí thường dùng trong nghiên cứu về sinh học cũng có thể có 3.000 tế bào. Vậy bằng cách nào bạn có thể theo dõi một vài điểm nhỏ trên toàn bộ chỗ tế bào đó?      Các nhà khoa học đang làm việc tại Phòng thí nghiệm Caltech của Mikhail G. Shapiro, giáo sư kỹ thuật hóa học của Viện nghiên cứu y khoa, đã tìm ra một cách.  Kỹ thuật mới có thể sử dụng để nghiên cứu về các gene báo âm (acoustic reporter genes) mà chính Shapiro là người phát triển tiên phong. Để hiểu về các gene báo âm, đầu tiên phải biết các loại gene báo là một mảnh DNA đặc biệt mà các nhà nghiên cứu có thể gắn vào hệ gene của một nội quan để giúp chúng hiểu điều gì đang diễn ra. Về mặt lịch sử thì các gene báo đã được mã hóa các protein phát xạ huỳnh quang. Ví dụ, nếu các nhà nghiên cứu gắn một trong số các gene báo đó vào một gene mà họ muốn nghiên cứu như muốn gene đó phản hồi với sự phát triển của các neuron thần kinh – hoạt động của các gene neuron sẽ tạo ra các phân tử protein phát huỳnh quang. Khi các loại ánh sáng phù hợp chiếu vào các tế bào này, chúng sẽ phát sáng, giống như cách một cái bút đánh dấu có thể điểm vào một đoạn cụ thể trong một cuốn sách.  Những gene báo huỳnh quang này có một bất lợi lớn: ánh sáng không xuyên qua được các mô sống.    Mikhail G. Shapiro, giáo sư kỹ thuật hóa học.  Vì vậy, Shapiro đã phát triển các gene báo sử dụng âm thanh thay vì ánh sáng. Các gene đó, khi được gắn vào một hệ gene của tế bào, tạo ra những cấu trúc protein rỗng cực nhỏ mà người ta vẫn gọi là các túi khí. Thông thường chúng vẫn có ở nhiều loài vi khuẩn và được sử dụng để trôi nổi trên mặt nước, tuy nhiên chúng phải có đặc tính hữu dụng của “tiếng chuông reo” khi va đập với sóng hạ âm.  Khi các túi khí do một một tế bào tạo ra phản xạ với hạ âm, nó sẽ gửi đi một tín hiệu âm thanh loan báo sự hiện diện của nó, cho phép các nhà nghiên cứu thấy ‘sự kiện’ diễn ra ở nơi nào. Kỹ thuật này đã được sử dụng để tìm họat động của các enzyme trong tế bào trong nghiên cứu trước ở phòng thí nghiệm của Shapiro.  Trong nghiên cứu mới, nhóm nghiên cứu đã miêu tả cách gia tăng độ nhạy của kỹ thuật lên rất nhiều và giờ có thể chụp được ảnh một tế bào nằm ở bên trong các mô của cơ thể, mang gene báo âm thanh. “Khi so sánh với công trình trước về túi khí, bài báo này cho phép chúng tôi thấy các đại lượng nhỏ hơn của các túi khí đó”, Daniel Sawyer, một nghiên cứu sinh, tác giả thứ nhất của nghiên cứu và là cựu học trò về kỹ thuật sinh học trong phòng thí nghiệm của Shapiro, nói. “Nó giống như kiểu đi từ việc một vệ tinh có thể nhìn thấy ánh sáng của một ngôi làng nhỏ đến việc từ một vệ tinh có thể thấy ánh sáng từ một ngọn đèn bưu điện”.  Những cái thiện về kỹ thuật mà họ nêu trong công bố đem lại sự gia tăng về độ nhạy hơn 1000 lần so với kỹ thuật trước đây mà họ dùng để chụp ảnh tế bào mang các gene báo âm. Sự khác biệt này nằm ở hạ âm mà họ sử dụng và cách các túi khí phản hồi.  Những kỹ thuật trước đây phản hồi lên các tiếng phát của túi khí giống như một cái chuông bị gõ, kỹ thuật mới sử dụng hạ âm mạnh hơn làm “nổ” các túi khí như một quả cầu. “Các túi khí này tạo ra tín hiệu cực mạnh vào khoảnh khắc đó”, Shapiro nói. “Sau đó các túi khí vỡ ra và dừng đánh dấu một tín hiệu. Chúng tôi đang trông chờ một tiếng bíp nhỏ, một điểm nhạy quang”.  Rõ ràng là các nhà nghiên cứu có thể dò được tác động này, ngay cả khi nó được tạo ra giữa mọi nhiễu nền tạo ra bằng việc hạ âm xuyên qua các mô. Shapiro cho rằng công trình nghiên cứu về các chủng của vi khuẩn có khả năng tấn công tế bào ung thư, hoặc các vi khuẩn làm tổ trong các khối u, đem lại một cách tốt hơn để dò theo các tế bào và xem nó làm tổ nơi nào trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu cho thấy khi các vi khuẩn được điều chỉnh để mang các gene chứa túi khí sẽ có thể phản hồi đường đi của các vi khuẩn trong tế bào khi chúng xâm nhập từ đường máu và di chuyển trong gan.  Sawyer nói độ nhạy này là cần thiết nếu các nhà nghiên cứu sử dụng hạ âm để tìm hiểu về thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột bởi khi bị đứt vỡ, nó có thể ảnh hưởng đến những điều kiện dẫn đến bệnh như bệnh Alzheimer và tự kỷ. “Có nhiều loài vi khuẩn trong ruột của bạn, một số rất hiếm đến mức bạn cần một công cụ đủ nhạy chỉ để nhìn sâu vào chúng”, ông nói.  Vậy tiếng phát ra từ các túi khí bên trong tế bào có ảnh hưởng đến tế bào không? Ồ, không hề.  “Câu trả lời ngắn gọn là không, còn câu trả lời dài là không trong phần lớn trường hợp”, Sawyer trả lời. “Có một số trường hợp nơi các tế bào đơn lẻ của vi khuẩn rất nhỏ và có một lượng rất lớn túi khí thì có ảnh hưởng thật, nhưng nó không làm nên khác biệt với cả quần thể vi khuẩn. Và trong tế bào của động vật có vú thì chúng tôi không thấy có ảnh hưởng tiêu cực nào”.  Shapiro và Sawyer đang theo đuổi hai nhánh khác trong nghiên cứu tiếp theo: một nhánh sẽ thực hiện trên những gì mà các nhà nghiên cứu mới phát triển để tạo ra nhiều kỹ thuật hình ảnh tiên tiến, nó sẽ bao gồm kỹ thuật và thử nghiệm những những dạng mới của túi khí và có những đặc tính khác biệt như các túi có thể ‘nổ’ dễ dàng hơn hoặc túi khí mạnh hơn, hoặc túi khí nhỏ hơn có thể vừa vặn với mọi chỗ mà túi khí lớn hơn không thể. Nhánh còn lại là tìm những ứng dụng cụ thể cho công nghệ mà họ đã phát triển, Sawyer nói.  “Trong lĩnh vực kính hiển vi, đó là sự đồng tiến hóa của quang học và phương pháp trên kính hiển vi với những kỹ thuật như kính hiển vi hai photon và kính hiển vi ánh sáng phẳng [cả hai đều là các dạng kính hiển vi huỳnh quang]”, Shapiro nói. “Bài báo của Danny là một phần trong sự phát triển của tương tự hạ âm của các kỹ thuật hình ảnh”.  Chi tiết của quá trình này đã được xuất bản trên Nature Methods “Ultrasensitive ultrasound imaging of gene expression with signal unmixing” (Hình ảnh hạ âm siêu nhạy của biểu hiện gene với phân lớp tín hiệu) 1.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-cells.html  https://topmostpopular.com/seeing-single-cells-with-sound/  ———————  1. https://www.nature.com/articles/s41592-021-01229-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn trước công nghệ để thiết lập kế hoạch KH&CN dài hạn      Những kinh nghiệm xây dựng kế hoạch dài hạn về KH&CN của Hàn Quốc đã được chia sẻ tại hội thảo về Chiến lược phát triển quốc gia về KH, CN và Đổi mới sáng tạo (STI) và nhìn trước công nghệ (Technology Foresight) vào ngày 18/4 tại Hà Nội.      Mô hình xây dựng các kế hoạch phát triển KH&CN dài hạn.   Trong bối cảnh KH&CN đang góp phần định hình lại thế giới và trở thành một vấn đề sống còn thay vì chỉ là một tùy chọn như vài chục năm trước đây thì việc nắm bắt được xu hướng công nghệ và những ảnh hưởng cốt lõi của nó là điều quan trọng. Nhưng thực hiện điều này lại không dễ dàng trong một thế giới đầy những điều bất định, ví dụ cách đây 5 năm không ai có thể tiên đoán được sự kiện bất ngờ gây ảnh hưởng toàn cầu như Brexit, Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hay sự nổi lên mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo AI.   Mặt khác, hiện những người ra quyết định ở nhiều cấp – từ chính phủ, tổ chức đến doanh nghiệp, người dân – đều gặp khó khăn do các vấn đề càng ngày càng phức tạp bởi đứng trước nhiều mối quan hệ đa phương, đa chiều, hoặc do thói quen ưa phần thưởng ngay lập tức hơn là kiên trì cho các lợi ích lâu dài. Bởi vậy, nhiều tổ chức và các quốc gia trong đó có Hàn Quốc đã nhanh chóng phát triển và sử dụng phương pháp Tầm nhìn chiến lược (Strategic Foresight), trong đó bao gồm cả Nhìn trước Công nghệ (Technology Foresight – TF) để có thể đưa ra những kết quả hữu ích hơn. “Nó cho chúng ta những hướng đi, những kịch bản, những khả năng có thể xảy ra”.   Trên cơ sở đó, việc xây dựng kế hoạch dài hạn về KH&CN đã được Hàn Quốc thực hiện một cách bài bản. GS. Park Young Il – nguyên là Thứ trưởng Bộ KH&CN Hàn Quốc và hiện là giảng viên ĐH Ewha, nhấn mạnh ba nguyên tắc quan trọng mà Hàn Quốc đã áp dụng: “Khi xây dựng bất kỳ một kế hoạch tổng thể quốc gia nào, chúng tôi luôn phải có sẵn khoảng 30 kế hoạch bổ sung cho nó, do vậy kế hoạch về STI là một cấu phần quan trọng nhưng điều tiên quyết là phải cùng lúc liên kết với các kế hoạch kinh tế, xã hội khác, bởi vậy trong giai đoạn chuẩn bị cần khuôn khổ pháp lý và cơ chế phối hợp rất chặt chẽ. Bên cạnh đó, nó phải dẫn dắt việc lập kế hoạch của các ngành khác nhau bằng việc đưa ra những kết quả nhìn trước (foresight) và tiêu chí (criteria) hữu ích. Và đồng thời, nó phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của quốc gia để có thể nhanh chóng điều chỉnh, không nhất thiết phải chờ 5-10 năm mới lập lại”.    Không chỉ ở tầm quốc gia mà ở các cơ quan khác của chính phủ, nguyên tắc này cũng được áp dụng. Đó cũng là câu chuyện ở KIST, một viện nghiên cứu hàng đầu Hàn Quốc, khi những hoạt động của Viện gắn với mục tiêu chiến lược STI ở mỗi giai đoạn khác nhau. Những năm 1960-7190, KIST được coi là trung tâm cố vấn về công nghiệp, giai đoạn 1980-1990 trở thành nơi nghiên cứu theo dõi các công nghệ tiên tiến trong bối cảnh quốc gia này đặt mục tiêu vào nhóm 7 nước dẫn đầu STI thế giới; kể từ năm 2000, khi Hàn Quốc bắt đầu xây dựng Hệ sinh thái và Xã hội dựa trên công nghệ, Viện đã đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ cơ bản, với hai hướng chính là nghiên cứu giải quyết các vấn đề lớn của đất nước (chẩn đoán y học, năng lượng tái tạo, vật liệu tiên tiến …) và nghiên cứu tiên phong để chạy đua dẫn đầu xu hướng công nghệ thế giới (máy tính lượng tử, AI, Robot, thực tại ảo…).   Tuy nhiên, việc áp dụng những nguyên tắc trên vào xây dựng các kế hoạch phát triển KH&CN dài hạn không phải là điều dễ dàng. TS. Park Byeongwon (Viện Chính sách KH&CN Hàn Quốc STEPI), lưu ý trên thực tế, có không ít quốc gia dùng Foresight một cách nửa vời hoặc chỉ đơn giản là kiểu chạy theo mốt, do đó Việt Nam nếu muốn thực sự đổi mới thì cần tránh lặp lại bài học này.   Đồng tình với nhận định này, TS. Trần Ngọc Ca, Học viện KH, CN và Đổi mới sáng tạo (VISTI) cho rằng, “việc tổ chức thực hiện phương thức Foresight này thực sự rất khó”. Ông lý giải, có hai khó khăn đối với Việt Nam: Thứ nhất, Việt Nam thiếu đội ngũ chuyên gia có tầm nhìn về KH&CN trong khi việc xây dựng nhìn trước đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia ở nhiều lĩnh vực. Thứ hai, Việt Nam hầu như chưa có văn hóa ‘Foresight’. Phần lớn hoạt động Foresight ở Việt Nam đều xuất phát từ các chương trình hợp tác quốc tế với sự tham gia hỗ trợ của những tổ chức nước ngoài như CSIRO, APEC Center, UNIDO… mà chưa phải là nhu cầu nội tại của các tổ chức, cơ quan. Do đó, tất cả mới chỉ dừng lại ở việc bàn thảo về Foresight trên lý thuyết mà chưa có khả năng mở rộng áp dụng trong thực tế.         Author                Ngô Hà        
__label__tiasang Nhìn về quá khứ để hiểu về tương lai của bão      Mùa bão lịch sử 2020 với kỷ lục 30 cơn bão nhiệt đới khiến hàng trăm người chết ở Mỹ và làm thiệt hại hàng tỉ USD. Một câu hỏi quan trọng đặt ra là: những cơn bão nhiệt đới trong tương lai sẽ như thế nào?      Trong khi phần lớn các nhà khoa học khí hậu đồng ý với nhau là mức độ nghiêm trọng của bão, ít nhất là lượng mưa, sẽ dường như gia tăng khi hành tinh ngày một ấm lên, vẫn còn những điểm bất định về tần suất của các cơn bão nhiệt đới trong tương lai. Các mô hình khí hậu ngày nay thường đặt ra cho chúng ta thấy một pham vi có thể của khí hậu tương lai, một số dự đoán về mức gia tăng của tần suất bão nhiệt đới Bắc Đại Tây dương, còn ở những nơi khác lại suy giảm. Những kết quả đối lập đó dẫn đến câu hỏi: các mô hình đó có khả năng dự đoán tần suất bão nhiệt đới hay chúng đã để lọt lưới một vài tiến trình của tự nhiên?  “Để có thể hiểu được những mô hình này có đáng tin cậy không, chúng ta cần xem xem là chúng có khả năng tái hiện quá khứ hay không”, Peter Huybers, giáo sư các ngành khoa học trái đất – hành tinh và Khoa Khoa học và kỹ thuật môi trường tại trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng Harvard John A. Paulson (SEAS), nhận xét. “Dù các mô hình hiện nay đã thực hiện được mô phỏng tốt quá khứ 40 năm của các cơn bão nhiệt đới nhưng có vấn đề là khi chúng ta trở lại thời điểm đó, các mô hình và dữ liệu lại khác nhau đáng kể. Điều này làm dấy lên một câu hỏi quan trọng: nếu các mô hình đó không tái tạo được lịch sử dài hạn của bão, liệu chúng ta có nên tin vào dự báo dài hạn của chúng không?”.  Trong một bài báo mới xuất bản trên Science Advances “Improved simulation of 19th- and 20th-century North Atlantic hurricane frequency after correcting historical sea surface temperatures” (Mô phỏng cải thiện tần suất bão nhiệt đới Bắc Đại Tây dương thế kỷ 19 và 20 sau khi hiệu chỉnh các nhiệt độ bề mặt biển trong lịch sử), Huybers và một nhóm nghiên cứu đã tìm thấy các mô hình này, trên thực tế, có năng lực tái tạo lịch sử dài hạn của bão nhiệt đới  – nhưng chỉ khi các nhiệt độ bề mặt biển được hiệu chỉnh. Nghiên cứu này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc hiểu biết các mẫu hình các nhiệt độ bề mặt biển và đề xuất rằng một hiểu biết sâu sắc hơn về các mẫu hình đó có thể làm hài hòa sự xung đột trong nhưng dự tính của mô hình và cải thiện hiểu biết của chúng ta về cách biến đổi khí hậu sẽ tác động đến tần suất bão trong tương lai 1.    Peter Huybers, giáo sư các ngành khoa học trái đất – hành tinh và Khoa Khoa học và kỹ thuật môi trường tại trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng Harvard John A. Paulson (SEAS). Nguồn: news.harvard.edu  Bài báo này dựa trên nghiên cứu trước đây của Huybers và nhóm nghiên cứu của mình, trong đó họ nhận thấy có sự thiên kiến trong các đo đạc nhệt độ bề mặt biển trong lịch sử và phát triển một cách tiếp cận phù hợp để hiệu chỉnh dữ liệu đó. Được xuất bản vào năm 2019, bài báo đó đem lại cái hiểu tốt hơn về cách các đại dương ấm lên theo thời gian. Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu đã áp dụng một phép hiệu chuẩn tương tự để giúp mô hình hóa tần suất bão trong lịch sử.  Nhiệt độ bề mặt biển đóng một vai trò tối quan trọng trong việc hình thành bão nhiệt đới. “Tần suất của các cơn bão nhiệt đới trên Đại tây dương phụ thuộc vào mẫu hình các nhiệt độ bề mặt biển, cụ thể là độ ấm của vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương, một khu vực mở rộng từ đỉnh Florida đến Cape Verde, về toàn thể thì liên quan với các đại dương nhiệt đới”, Duo Chan, một cựu thành viên của SEAS và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết.  Khi vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương ấm lên theo, nó dẫn đến sự đối lưu trong khí quyển nhiều lên và nhiều cơn bão nhiệt đới Đại tây dương hơn. Khi vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương lạnh hơn, tỉ lệ hình thành các cơn bão nhiệt đới suy giảm, bởi gió bị tách khỏi các hệ tạo bão nguyên thủy.  Khi các mô hình khí hậu ngày nay cố gắng tái tạo những mùa bão trong quá khứ, chúng về cơ bản dữ đoán quá ít những điều diễn ra trong các giai đoạn 1885-1900 và quá nhiều trong giai đoạn 1930-1960. Các mô hình đó, dẫu sao, phụ thuộc vào nhiệt độ bề mặt biển trong lịch sử, vốn chỉ dấu có một vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương lạnh khi bước sang thế kỷ 20 và một Bắc Đại Tây dương ấm vào giữa thế kỷ 20.  Nhưng theo nhưng gì Huybers và Chan trình bày trong nghiên cứu trước đây, những nhiệt độ bề mặt biển trong lịch sử có các lỗi hệ thống. Nhiệt độ bề mặt biển được hiệu chỉnh của họ chứng tỏ một vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương ấm hơn từ năm 1885 đến năm 1920 và vùng cận nhiệt đới Bắc Đại Tây dương  lạnh hơn giữa các năm 1930 và 1960. Những điều chỉnh đó đã mang tần suất bão trở lại với các quan trắc.  “Các hiệu chỉnh của chúng tôi về các mẫu hình nhiệt độ bề mặt biển đã được phát triển một cach độc lập, và cải thiện một cách đáng kể kỹ năng với các mô hình tái tạo các thay đổi về bão trong lịch sử”, Huybers, nói. “Những kết quả này làm tăng thêm sự tự tin của chúng tôi về cả  nhiệt độ bề mặt biển lịch sử và các mô hình của chúng tôi, đem đến một nền tảng vững chắc hơn để từ đó khám phá ra cách biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến tần xuất bão trong tương lai như thế nào”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-future-hurricanes.html  https://fuentitech.com/look-to-the-past-to-understand-the-future-of-hurricanes/103586/  ——–  1. https://advances.sciencemag.org/content/7/26/eabg6931    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhờ Sagi Bio, rác cũng trở nên có ích      PGS.TS. Tăng Thị Chính cùng các cộng sự  của Viện công nghệ môi trường – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt  Nam nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm Sagi-Bio giúp biến chất  thải hữu cơ thành phân bón.     Đây chính là kết quả của Đề tài cấp nhà nước của tác giả, được triển khai thực hiện từ năm 2012.    Chế phẩm sử dụng tổ hợp các chủng vi sinh vật chịu nhiệt và ưa nhiệt được tuyển chọn và được đánh giá có mức độ an toàn sinh học cao, gồm hai nhóm với sáu chủng vi khuẩn và 12 chủng xạ khuẩn có khả năng tổng hợp các enzyme ngoại bào… giúp thúc đẩy nhanh quá trình phân huỷ chất thải hữu cơ như: chất thải sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp: rơm rạ, phân gia súc, gia cầm… ở nhiệt độ cao từ 55 đến 60 độ C, rút ngắn thời gian ủ từ hai tháng xuống còn một  tháng, biến chất thải hữu cơ thành nguồn phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp và cải tạo đất.     Chế phẩm có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng và ức chế các vi sinh vật gây bệnh trong chất thải và giảm phát sinh mùi hôi thối và làm sạch môi trường.  Sagia – Bio được phối trộn theo tỷ lệ 1 kg hoặc 1 lít chế phẩm để xử lý từ 2-3 tấn chất thải hữu cơ. Phân hữu cơ được tạo thành đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định, hàm lượng hữu cơ cao từ 20 đến 22%, không có vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng.  Hiện chế phẩm Sagi Bio đã được chuyển giao  công nghệ sản xuất và ứng dụng tại Nhà máy sản xuất phân bón từ rác thải  của Công ty Quản lý Công trình Đô thị Hà Tĩnh, góp phần giảm chi phí,  tăng hiệu suất xử lý rác và nâng cao hiệu quả sản xuất phân hữu cơ vi  sinh.   Ngoài ra, chế phẩm cũng đang được ứng dụng  tại Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Việt Trì, Phú Thọ, Nhà máy xử lý  rác thải Đồng Xoài, Bình Phước… và nhiều cơ sở xử lý rác thải khác, đem  lại những hiệu quả rất tích cực về kinh tế xã hội và môi trường.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm Nano.1 với chiếc xe năng lượng mặt trời      Năm 2011, Nhóm Nano.1 gồm 5 thành viên của Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM đã tham gia cuộc thi thiết kế “xe chạy bằng năng lượng mặt trời” do Sở khoa học và Công nghệ TPHCM tổ chức và đạt được giải nhất cuộc thi.      Không chỉ dừng lại ở mô hình dự thi, các thành viên trong nhóm Nano.1 đã tiếp tục nghiên cứu, và sau 6 tháng với bao mồ hôi, công sức, tiền bạc và thời gian, chiếc xe có trong lượng 200kg, được sử dụng tối đa nguồn năng lượng tự nhiên là nhiệt năng mặt trời để hoạt động và có thể chở được từ 6 đến 8 người trong các khu công nghệ, trường học, khu du lịch… đã được đưa vào sử dụng trong Khu Công nghiệp cao TPHCM.   Năng lượng để duy trì hoạt động của xe này là tấm pin sử dụng năng lượng mặt trời có kích thước 750mm – 1.200mm, công suất mỗi tấm khoảng 110W. Xe được thiết kế có kiểu dáng giống như các các mẫu xe điện thường được sử dụng trong những khu du lịch hay sân golf. Để có thể sử dụng tối đa nguồn năng lượng mặt trời, xe được lắp đặt  4 tấm pin thu năng lượng đặt trên mui, mỗi tấm có công suất 110W để chuyển hóa năng lượng mặt trời thành nguồn điện cung cấp cho xe.  Khung xe được tạo nên từ các ống thép kết hợp với các vật liệu nhôm giúp xe có trọng lượng khá nhẹ nhằm tiết giảm năng lượng điện tiêu hao. Các bộ phận khung xe đều do hai nhân vật chính của nhóm là Bùi Như Nỉ (sinh viên năm 3, khoa Cơ khí ô tô) và Cao Trọng Nghĩa (sinh viên năm 4, khoa Chế tạo máy) dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Đoàn Tất Linh (giảng viên khoa Cơ khí – Chế tạo máy, trường ĐH Sư phạm Kỹ Thuật TPHCM) tự thiết kế, gia công, lắp ráp.          Bùi Như Nỉ đang lái chiếc xe chạy bằng năng lượng mặt trời.          Với mong muốn tạo ra sự khác biệt so với các mẫu xe điện khác, Như Nỉ và Trọng Nghĩa đã tìm đến các cửa hàng bán thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời ở trung tâm thành phố để tìm hiểu thành phần, công suất, nguyên lý hoạt động của pin để thiết kế khung xe. Bên cạnh đó, tận dụng lại các động cơ trên xe máy điện nhỏ và chỉnh sửa nhiều thứ để lắp đặt trên chiếc xe điện.   Điểm khác biệt của mẫu xe điện này chính là hệ thống thu hồi năng lượng khi hãm phanh được lắp đặt trên động cơ bánh sau, phương án này giúp thu hồi năng lượng khoảng 7% cho mỗi lần phanh. Hai động cơ điện được đặt ở phía sau và dẫn động hai bánh sau.   Xe còn có bộ ắc quy gồm 4 bình loại 70A-12V, được đặt bên dưới ghế ngồi cuối cùng để phòng trong trường hợp nguy cấp hết điện năng tự nhiên khi đang di chuyển khi trời không nắng hoặc mưa. Còn trong điều kiện trời nắng, xe có thể chạy liên tục cả ngày mà không cần sạc vì nguồn năng lượng được nạp vào liên tục trong quá trình di chuyển ngoài trời.   Để có được một chiếc xe được coi là tạm ổn như thế này, Trọng Nghĩa bộc bạch: “Bọn em đã phải sửa đi sửa lại rất nhiều. Bởi trong quá trình thiết kế trên bản vẽ cho đến khi thực hành lắp ráp có rất nhiều sự khác nhau và không phù hợp. Và khi đó, bọn em lại phải quay trở về cái bước có “vấn đề” ấy để đưa ra giải pháp phù hợp để xe có thể hoạt động được.”  Trọng Nghĩa và Như Nỉ cho biết, chi phí để nghiên cứu, chế tạo chiếc xe ô tô chạy bằng năng lượng mặt trời này gần 100 triệu. Một phần được thầy hướng dẫn tài trợ, còn lại nhóm phải tự đi xin nguồn tài trợ và tự bỏ tiền túi để mua các thiết bị. Theo thầy Nguyễn Tất Linh, nếu có sẵn nguồn tài trợ thì việc hoàn thành chiếc xe này chỉ trong khoảng 2 tháng chứ không kéo dài đến 6 tháng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm nghiên cứu quốc tế giải mã hệ gene lúa mì cứng      Chuỗi hệ gene mới sẽ đóng góp rất nhiều vào vấn đề đảm bảo an toàn và an ninh lương thực toàn cầu.      Nhóm nghiên cứu của Pozniak ở Usask cùng với nhà nghiên cứu Gregory Taylor và Neil Harris của trường đại học Alberta, đã xác định loại gene của lúa mì cứng có khả năng tích lũy cadmium  Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm 60 nhà khoa học thuộc 7 quốc gia đã giải trình tự toàn bộ hệ gene loài lúa mì cứng – nguồn bột để làm các loại pasta, một thứ đồ ăn khá phổ biến trên thế giới – và xuất bản công bố trên tạp chí Nature Genetics.  Họ đã khám phá ra cách giảm bớt các mức cadmium trong hạt lúa mì cứng nhằm đảm bảo an toàn và giá trị dinh dưỡng của hạt lúa mì cứng thông qua nhân giống chọn lọc.  Công trình mang tính nền tảng về lúa mì cứng  “Công việc mang tính nền tảng này sẽ đem lại những tiêu chuẩn mới cho giống lúa mì cứng và an toàn trong các sản phẩm từ lúa mì cứng, đem lại những cách thức trồng trọt mới để đáp ứng với biến đổi khí hậu mà vẫn có sản lượng thu hoạch cao, tăng cường chất lượng dinh dưỡng và cải thiện tính bền vững”, Luigi Cattivelli của Hội đồng nghiên cứu nông nghiệp và kinh tế Italy (CREA) cho biết.  Lúa mì cứng, chủ yếu là được dùng như nguyên liệu thô để làm pasta và món couscous vùng Bắc Phi, được tiến hóa từ lúa mì emmer hoang và được gieo trồng ở vùng Địa Trung Hải khoảng 1.500 năm đến 2.000 năm trước.  Hệ gene lúa mì cứng lớn gấp bốn lần hệ gene của người. Lần đầu tiên nhóm nghiên cứu lắp ráp được toàn bộ hệ gene của biến thể Svevo chất lượng cao. “Chúng tôi có thể kiểm tra các gene, bộ Lúa, cấu trúc của chúng để tập hợp thành một bản chi tiết về lúa mì cứng, qua đó đem lại cách hiểu về các gene hoạt động và liên kết với nhau như thế nào”, Curtis Pozniak của trường đại học Saskatchewan (USask) – một nhà nghiên cứu về giống lúa mì, nói. “Với bản đồ gene chi tiết này, chúng tôi có thể thực hiện nghiên cứu về việc nhận diện các gene liên quan đến đặc diểm mà chúng tôi muốn lựa chọn cho các công trình về giống như sản lượng, kháng bệnh hay các đặc tính dinh dưỡng một cách nhanh hơn”.  Công trình do nhóm nghiên cứu này thực hiện dưới sự hướng dẫn của Cattivelli và một số nhà nghiên cứu khác như Pozniak, Klaus Mayer (Trung tâm Helmholtz ở München, Đức) cũng như Aldo Ceriotti, Luciano Milanesi của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Italy (CNR), Roberto Tuberosa (trường đại học Bologna, Italy).  “Bây giờ chúng ta đã có thể thấy được các ký tự DNA khác biệt đóng vai trò quan trọng với quá trình tiến hóa và nhân giống lúa mì cứng, nó cho phép chúng ta hiểu được sự kết hợp của các gene đang tạo ra một ký tự nucleaobase riêng lẻ một cách đặc hiệu và duy trì các vùng đích của hệ gene để cải thiện giống trong tương lai”, Marco Maccaferri – tác giả thứ nhất của công trình, cho biết.  Nhóm nghiên cứu đã so sánh chuỗi gene lúa mì cứng với lúa mì hoang để tìm hiểu các gene mà con người đã chọn lọc trong nhiều thế kỷ, qua đó khám phá ra tính đa dạng về hệ gene đã bị mất đi trong lúa mì cứng. Họ đã có khả năng vẽ bản đồ các khu vực bị mất gene và tái hiện những gene có ích một cách chính xác đã bị mất đi trong suốt quá trình nhân giống ở nhiều thế kỷ. “Không giống như con người, lúa mì cứng ở dạng đa bội và chứa hai hệ gene. Cách các hệ gene này tương tác và liên kết trong các hoạt động như thế nào là một câu hỏi cơ bản có thể có tác động đến chất lượng và sản lượng lương thực”, Mayer nhận xét.  Những tác động đến tương lai sức khỏe con người  Trong một khám phá về gene đáng chú ý khác, nhóm nghiên cứu của Pozniak ở Usask cùng với nhà nghiên cứu Gregory Taylor và Neil Harris của trường đại học Alberta, đã xác định loại gene của lúa mì cứng có khả năng tích lũy cadmium – một kim loại nặng trong có khả năng gây độc cho con người.  “Hiện giờ chúng ta đã xác định được gene này nên có thể lựa chọn được những biến thể một cách hiệu quả mà không tích tụ cadmium trong hạt – hoặc có ở mức độ thấp hơn tiêu chuẩn của tổ chức WHO, điều đó sẽ đảm bảo là các giống lúa mì cứng của chúng ta sẽ đem lại những nguồn dinh dưỡng an toàn”, Pozniak nói.  Lúa mì cứng được trồng chủ yếu ở Canada, châu Âu, Mỹ, Nam Á, và là nguồn mùa vụ quan trọng cho các trang trại nhỏ ở Bắc và Nam Phi cũng như Trung Đông. Pasta mà món ăn phổ biến trên thế giới và các ngành công nghiệp chế biến đang đòi hỏi phải được cung cấp nguồn lúa mì cứng chất lượng cao hơn và an toàn hơn.  “Chuỗi giải trình tự hệ gene lúa mì cứng tốt này sẽ đem lại cho chúng ta hiểu biết tốt hơn về đặc tính di truyền của các gluten protein và các yếu tố kiểm soát các tình chất dinh dưỡng của bột lúa mì cứng. Điều này sẽ giúp chúng ta cải thiện được chất lượng của pasta”, Ceriotti nói.  “Việc lựa chọn các giống lúa mì mới với tiềm năng năng suất cao hơn cũng như tăng cường chất lượng và các tính chất dinh dưỡng, là yếu tố quan trọng cho sức khỏe của chúng ta trong tương lai, đặc biệt là về khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc có sẵn giải trình tự gene lúa mì cứng sẽ là công cụ thiết yếu để đạt tới các mục tiêu đó và thiết lập được cây cầu nối chiến lược giữa sự đa dạng sinh học của lúa mì hoang với lúa mì thuần hóa”, Tuberosa cho biết.  Anh Vũ  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2019-04/uos-itd040419.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhu cầu nhập khẩu đùi ếch của EU có thể ảnh hưởng tới quần thể ếch ở Việt Nam      Giai đoạn 2010–2019, Việt Nam đã cung cấp cho EU hơn 8400 tấn đùi ếch, trở thành nhà cung cấp đùi ếch lớn thứ hai vào EU. Tuy nhiên, hiện tại chưa thể xác định được trong số đùi ếch này, có bao nhiêu đùi được lấy từ ếch trong môi trường tự nhiên.     Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) là một trong những loài đang được săn lùng để phục vụ giới sành ăn ở châu Âu. Ảnh: Adobe Stock  Từ năm 2010 đến 2019, tổng sản lượng đùi ếch nhập khẩu vào EU đã lên tới 40,7 triệu kg, tương đương với khoảng 2 tỷ con ếch. Bỉ là nhà nhập khẩu chính, Pháp là nước tiêu thụ chính. Những thông tin này là một phần trong một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí Nature Conversation, cho thấy “sự biến động không thể lý giải được” trong việc buôn bán đùi ếch và sự phụ thuộc quá mức của EU vào các quốc gia khác để đáp ứng nhu cầu của mình.  Các nhà khoa học nhấn mạnh, hoạt động buôn bán này đang làm tăng nguy cơ tuyệt chủng ếch địa phương và khu vực ở các quốc gia như Indonesia, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ và Albania, những quốc gia cung cấp chính cho thị trường EU. Tác giả thứ nhất của nghiên cứu, Tiến sĩ Auliya thuộc Viện Phân tích Thay đổi Đa dạng sinh học Leibniz ở Bon, Đức, ví việc buôn bán quốc tế đùi ếch như một “hộp đen”, bởi tình trạng thiếu thông tin cụ thể về loài, dữ liệu thương mại cần thiết để đảm bảo tính bền vững hoặc việc dán nhãn [loài] sai khi buôn bán ở quy mô lớn và rất khó để xác định loài nếu đùi ếch đã qua chế biến, lột da và đông lạnh.  Ếch giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái với tư cách là loài săn côn trùng. Khi những con ếch biến mất, tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu độc hại sẽ tăng lên. Do đó, việc buôn bán đùi ếch gây hậu quả trực tiếp không chỉ đối với bản thân loài ếch mà còn đối với đa dạng sinh học và sức khỏe hệ sinh thái nói chung. Ngoài ra, dư lượng thuốc trừ sâu trong đùi ếch được xuất khẩu ra quốc tế vẫn chưa rõ ràng.  Trong những năm 1970 và 1980, Ấn Độ và Bangladesh là hai nhà cung cấp đùi ếch chính cho châu Âu, nhưng khi quần thể ếch hoang dã tại hai nước này bắt đầu suy giảm, chính phủ lập tức đưa ra quyết định cấm xuất khẩu. Cho đến năm 1987, quần thể ếch tại Ấn Độ cạn kiệt nghiêm trọng và nông dân phụ thuộc vào một lượng lớn thuốc trừ sâu để kiểm soát sâu bệnh và muỗi.  Kể từ đó, Indonesia đã “thế chân” và trở thành nhà cung cấp lớn nhất. Hậu quả là, tại Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ và Albania, các loài ếch đùi lớn đang lần lượt bị suy giảm trong tự nhiên, gây ra hiệu ứng domino nguy hiểm cho việc bảo tồn loài. Điều này ngày càng đe dọa quần thể ếch ở các nước cung cấp đùi ếch. Các nhà sinh thái học lo ngại rằng Indonesia, hiện là nguồn cung cấp hơn 2/3 đùi ếch trong các siêu thị trên toàn thế giới, đang đi theo con đường tương tự với Ấn Độ ngày trước.  “Cho đến nay, EU là nhà nhập khẩu đùi ếch lớn nhất thế giới và các loài đùi lớn như ếch cua (Fejervarya cancrivora), ếch khổng lồ Java (Limnonectes macrodon) và ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus) là những loài đang được săn lùng để phục vụ giới sành ăn ở châu Âu”, đồng tác giả Tiến sĩ Sandra Altherr, một nhà sinh vật học và cũng là chuyên gia về buôn bán động vật hoang dã của tổ chức Pro Wildlife có trụ sở tại Đức, chỉ ra.  Các trang trại nuôi ếch công nghiệp – như những trang trại đang hoạt động ở Việt Nam – thoạt nhìn có vẻ là một giải pháp thay thế có thể giảm bớt áp lực đến quần thể ếch tự nhiên, tuy nhiên, theo các nhà khoa học, rất khó để xác định nguồn đùi ếch hiện nay từ Việt Nam là nuôi hay bắt từ tự nhiên. Quy định của chính phủ đối với các hoạt động nuôi ếch ở Việt Nam còn chưa rõ ràng. Dù qua phân tích sinh học, có thể xác nhận đùi ếch đồng có nguồn gốc từ các trang trại, nhưng các nhà khoa học cho rằng vẫn chưa thể loại trừ khả năng người nông dân đã bắt ếch ngoài tự nhiên để bổ sung vào sản lượng ếch.  Nghi ngờ này hoàn toàn có cơ sở khi một nghiên cứu vào năm 2000 đã cho thấy nhiều hộ gia đình ở Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương đã mở trang trại nuôi ếch giống nhưng không đáp ứng kịp nhu cầu trong nước và phần lớn ếch cung cấp cho thị trường trong nước là từ môi trường tự nhiên.  Song song với đó, trong luận án “Khả năng tồn tại trong tương lai của ngành nuôi ếch ở tỉnh Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam” tại Đại học Central Queensland (Úc), nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Quang đã nhấn mạnh nhiều rủi ro liên quan đến hoạt động nuôi ếch ở miền Nam Việt Nam, cụ thể là tỉnh Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, các trang trại tư nhân chưa bám sát những tiêu chuẩn chất lượng và quản lý rủi ro. Các cuộc phỏng vấn với đại diện của các nhóm khác nhau cho thấy rằng họ chưa có phương pháp chăn nuôi cần thiết để nhân giống ếch thành công – từ việc lựa chọn địa điểm nuôi, con giống và thành phần loài phù hợp, cũng như kiến ​​thức về chăn nuôi, bệnh tật, vệ sinh cho ếch và người nuôi, ô nhiễm môi trường v.v.  Điều này đặc biệt trở nên quan trọng khi Indonesia và Việt Nam là hai nước xuất khẩu đùi ếch lớn nhất trong giai đoạn 2003–2007. Riêng năm 2006, Việt Nam đã xuất khẩu 573 tấn đùi ếch. Đến giai đoạn 2010–2019, Việt Nam đã cung cấp cho EU hơn 8400 tấn đùi ếch, trở thành nhà cung cấp đùi ếch lớn thứ hai vào EU.  Một khảo sát vào năm 2020 do hai nhà khoa học Nguyễn Quốc Thịnh và Trần Minh Phú thực hiện nhằm điều tra việc sử dụng hóa chất, thuốc và diễn biến dịch bệnh trong quá trình nuôi ếch tại tỉnh Đồng Tháp cho thấy ếch được nuôi tại các trang trại thường bị bệnh mủ gan (66,7%), xuất huyết (66,7%) và các vấn đề về đường tiêu hóa (đầy hơi, chướng bụng), ruột (40%). Nông dân sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh và hóa chất để điều trị nhiễm ký sinh trùng dù không có kiến ​​thức về tác nhân gây bệnh. Đáng chú ý, họ không xét nghiệm tồn dư kháng sinh trước khi bán cho thương lái. Do đó, “cần hỗ trợ nông dân kiến ​​thức về dịch bệnh, sử dụng thuốc/hóa chất và an toàn để điều trị và phòng ngừa”, nhóm tác giả kết luận.  Ếch được đóng gói để bán (trái) và đùi ếch tươi được bày bán trong một siêu thị ở Pháp (phải). Mỗi năm Liên minh châu Âu nhập khẩu khoảng 4.000 tấn chân đùi, hầu hết là từ Indonesia. Ảnh:Pro Wildlife.  Cần giám sát chặt chẽ  Có thể thấy quá trình bắt các quần thể ếch hoang dã lẫn nuôi công nghiệp tại trang trại ếch cho mục đích thương mại đã bỏ qua các biện pháp vệ sinh và kiểm soát dịch bệnh. Ngoài ra, việc buôn bán xuyên biên giới các loài ếch đã dẫn đến tình trạng xáo trộn gen di truyền và lai tạo hỗn tạp giữa các loài. Chưa kể, họ có thể để “xổng” các loài ếch ngoại lai như ễnh ương Mỹ (Lithobates catesbeianus), chúng có thể xâm nhập và tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh.  Vậy chính quyền các nước EU có thể làm gì để ngăn chặn điều này? Thực chất xuyên suốt quá trình tìm hiểu, nhóm nghiên cứu tại Viện Phân tích Thay đổi Đa dạng sinh học Leibniz không thể tìm thấy bất kỳ dữ liệu nào được công bố về việc liệu dư lượng thuốc trừ sâu và các chất độc hại tiềm ẩn khác trong ếch (đã qua chế biến) hoặc đùi của chúng nhập khẩu vào EU có được giám sát hay không. “Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, [chúng tôi] nhận ra quá trình thu thập dữ liệu cụ thể về hoạt động buôn bán đùi ếch quốc tế hiện nay vô cùng khó khăn. Cụ thể, dữ liệu liên quan nằm rải rác trên các cơ sở dữ liệu không được kết nối với nhau,” các nhà nghiên cứu viết trong bài báo của họ.  “Xét đến tình hình ở các nước xuất khẩu cũng như sự thiếu minh bạch về quản lý trong việc áp dụng các hóa chất nông nghiệp và thuốc trong các trang trại, chúng tôi thực sự khuyến nghị rằng việc giám sát nên trở thành một nhiệm vụ cấp bách trong tương lai gần,” họ kết luận.  Tuy nhiên, vấn đề phức tạp liên quan đến buôn bán đùi ếch hiện chưa phải là một mục chính sách ưu tiên của EU. Nhóm nghiên cứu hiện đang kêu gọi EU bổ sung các loài ếch bị ảnh hưởng nhiều nhất vào CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật và thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng) để nâng cao khả năng giám sát và đảm bảo tính bền vững của hoạt động buôn bán đùi ếch.          Đây không phải là lần đầu tiên các nhà khoa học tại EU quan tâm đến vấn đề tiêu thụ ếch. Một cuộc điều tra vào năm 2020 của tổ chức phúc lợi động vật Moving Animals và tờ The Independent tại chợ Đầu mối Nông sản thực phẩm Bình Điền (TP.HCM) đã cho thấy quá trình xử lý ếch tại Việt Nam không tuân theo bất kỳ tiêu chuẩn nào.  Do ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nấm chytrid và ranavirus lây lan qua ếch sống, nên vào năm 2009, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) đã quy định các điều kiện để xử lý ếch sống và đã qua chế biến (chẳng hạn như giấy chứng nhận sức khỏe và biện pháp giảm thiểu rủi ro). Tuy nhiên, quan sát của các nhà vận động cho thấy ếch ở chợ “thường bị lột da và bị cắt bằng kéo hoặc lưỡi dao khi còn sống. Phần thân của chúng sau đó bị ném sang một bên giữa một đống bầy nhầy ếch và chúng phải chịu đựng cái chết từ từ, đau đớn,” theo Moving Animals.            Author                Anh Thư        
__label__tiasang Nhựa lai thủy tinh, vật liệu cho tương lai      Các nhà khoa học Pháp vừa tạo ra được một  vật liệu mới, mang tính chất đặc trưng của thủy tinh, nhưng lại có thể  cứng hoặc mềm theo ý muốn.     Vật liệu này vừa có thể co giãn vừa có khả năng tạo hình, chỉnh sửa hình dạng, đặc biệt còn có thể hàn lại với nhau. Nhờ những tính chất phong phú trên, người ta kỳ vọng loại vật liệu chưa được đặt tên này có thể tạo ra những ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực: từ điện gia dụng đến hàng không vũ trụ, từ công nghệ ô tô đến cơ khí hàng hải…  Tưởng tượng chúng ta có một thanh nhựa trên tay, nung nóng nó và kéo dài để tạo ra một hình dạng mới. Điều này hoàn toàn không thể đối với một vật liệu polymer truyền thống, nhưng lại rất phổ biến đối với thủy tinh, vật liệu có khả năng tạo hình thành bất cứ vật thể nào. Tính chất trên là nhờ vào thủy tinh có thể dễ dàng chuyển từ trạng thái rắn sang lỏng dưới tác dụng của nhiệt và quay trở lại dạng rắn khi làm nguội. Vì vậy để một vật liệu nhựa cấu tạo từ các polymer hữu cơ có thể làm được điều trên, nó cần sỡ hữu những tính chất đặc trưng của thủy tinh vô cơ. Tại phòng thí nghiệm vật chất mềm và hóa học của Đại học Vật lý và Hóa học Paris (ESPCI, Ecole supérieure de physique et de chimie de la ville de Paris/CNRS), Ludwik Leibler và đội ngũ của ông đã chế tạo thành công một loại nhựa lai thủy tinh hội tụ những tính chất như thế.  Tổng hợp nhựa lai thủy tinh  Từ lâu, phòng thí nghiệm này đã nghiên cứu trên những hợp chất dẻo hữu cơ có tính chất đặc biệt. Năm 2008, Ludwik Leibler cùng với Pierre-Gilles de Gennes, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực vật chất mềm, đã lần đầu tiên giới thiệu một vật liệu có thể tự bản thân hàn gắn lại, còn gọi là vật liệu tự phục hồi. Dựa trên nền tảng đó, Ludwik Leibler và các cộng sự đã tạo ra một vật liệu mới có tính chất như nhựa lai thủy tinh.  Vật liệu này có thể được xem như là một hỗn hợp nhựa epoxy, loại polymer có độ cứng gần như vĩnh viễn, được hình thành thông qua phản ứng với các acid béo dưới sự hỗ trợ của một chất xúc tác hoặc nhiệt độ. Các acid béo và xúc tác sử dụng trong tổng hợp nhựa lai thủy tinh cũng đã từng được Ludwik Leibler sử dụng để điều chế vật liệu tự phục hồi. Sau khi tổng hợp, nhựa lai thủy tinh, đúng như tên gọi, có đầy đủ các tính chất đặc trưng của cả chất dẻo và thủy tinh. Nó có độ dẻo, có thể co giãn, vì vậy có thể trở lại hình dạng ban đầu sau khi bị xoắn, một đặc trưng điển hình của cao su và chất dẻo. Tuy nhiên khi đặt vật liệu này trong một nguồn nhiệt, giống như thủy tinh, ta có thể tạo hình cho vật liệu này một cách dễ dàng theo ý muốn. Sau khi làm nguội, vật liệu này sẽ mang hình dạng mới vĩnh viễn và trở nên gần như không thể phá vỡ. Ngoài ra, hai mảnh vật liệu khi được nung nóng có thể được hàn vào nhau, vốn là tính chất đặc trưng của thủy tinh.   Ludwik Leibler cũng phát hiện, tùy vào thành phần cấu tạo, nhựa lai thủy tinh có thể trở nên mềm hơn, hoặc cứng hơn. Theo ông, bí quyết tạo ra vật liệu dạng này, cũng như vật liệu tự phục hồi trước đó, nằm ở cách thức hoạt động của các liên kết cộng hóa trị thuận nghịch. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng quá trình ester hóa chuyển dịch, một phản ứng trao đổi gốc hữu cơ của ester với gốc hữu cơ khác của rượu, cho phép thay đổi cấu trúc thù hình ở nhiệt độ cao.  Khả năng ứng dụng không giới hạn  Khám phá trên mở ra một hy vọng mới, cho phép sản xuất những vật dụng, thiết bị có những tính chất hoàn toàn mới. Chẳng hạn người ta đã nghĩ đến khả năng sử dụng vật liệu này để chế tạo các thân tàu hay các thiết bị bằng nhựa, cho phép sửa chữa, kiến tạo lại dễ dàng thông qua một nguồn nhiệt. Nhất là hiện nay, khi mà các vật liệu làm từ nhựa gần như chinh phục tất cả các lĩnh vực công nghiệp nhờ vào tính chất bền và nhẹ, một vật liệu mới trên cơ sở nhựa, lại có thể được đúc khuôn nhiều lần cho nhiều giai đoạn sử dụng khác nhau tỏ ra vô cùng lý thú.  Bên cạnh khía cạnh ứng dụng, khám phá của Ludwik Leibler còn mang lại một bước đột phá lớn trong lĩnh vực khoa học, đặt ra nhiều góc nhìn mới đối với quá trình thủy tinh hóa. Bài báo đăng trong tạp chí Khoa học (Science) của ông về nhựa lai thủy tinh ngay lập tức thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, các chuyên gia công nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực, từ công nghệ ô tô, vận tải biển, hàng không cho đến điện gia dụng và các thiết bị phục vụ thể thao.    Lê Tiến Khoa dịch từ  http://www.futura-sciences.com/fr/news/t/physique-1/d/un-plastique-revolutionnaire-entre-le-caoutchouc-et-le-verre_34717/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bài học đau đớn từ Hy Lạp      “Trông người lại nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần”, Hy Lạp tuy xa cách về địa lý nhưng bài học khủng hoảng Hy Lạp lại rất gần đối với Việt Nam.           Với kết quả trên 61% cử tri bỏ phiếu chống lại các biện pháp khắc khổ của các chủ nợ ngày 5/7/2015, cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp bước sang giai đoạn quyết liệt. Chính phủ Hy Lạp đã đóng cửa các ngân hàng để ngăn cản người dân ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng, mỗi người dân mỗi ngày chỉ được rút ở các máy ATM 60 Euro để sống qua ngày, nền kinh tế Hy Lạp ngưng trệ, xuất-nhập khẩu không thanh toán được. Một bi kịch kinh tế-xã hội đang diễn ra trên đời sống thực.  Tại sao một nền kinh tế phát triển, có GDP bình quân đầu người lên đến 21.653$, thành viên Liên minh Châu Âu, sử dụng đồng tiền chung Euro lại lâm vào tình trạng khốn quẫn, không thể trả được khoản nợ 1,6 tỷ Euro tới hạn đối với Quỹ Tiền tệ Quốc tế và khốn đốn với tổng số nợ lên đến  280 tỷ Euro?  Để tham gia vào khu vực đồng tiền chung Châu Âu Eurozone năm 2000 với tư cách là thành viên sáng lập, Hy Lạp đã báo cáo thâm hụt ngân sách của họ chỉ là 1,5% để đáp ứng yêu cầu gia nhập đồng tiền khu vực này là bội chi ngân sách phải dưới 3% GDP. Khi Chính phủ mới lên cầm quyền tháng 3/2004, Hy Lạp đã gây choáng khi công bố thâm hụt ngân sách thực của họ là 8,3% và năm 2009 thâm hụt ngân sách lên đến 13%, xếp hạng tín dụng của Hy Lạp đã nhanh chóng bị Fitch cho tụt từ A- xuống BBB+ chỉ sau hai tháng khi số liệu này được công bố.  Việc Hy Lạp xào nấu số liệu và gian lận sổ sách “một cách sáng tạo” đã được các chuyên gia báo động nhưng những người cầm quyền của Liên minh Châu Âu đã cố ý phớt lờ những cảnh báo này để đạt được thành tích về số nước tham gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu. Cũng phải nói, một số tập đoàn tài chính đã giúp Chính phủ Hy Lạp che giấu số nợ thực của họ bằng công cụ “swap”- hoán đổi- tức tạm thời chuyển nợ sang một công ty tài chính khác để giảm số nợ thực trên sổ sách của mình 1. (Tập đoàn Goldman-Sachs có thể phải ra toàn án vì đã giúp Hy Lạp che giấu nợ khi gia nhập đồng tiền chung Châu Âu).  Không dừng lại trước nguy cơ được cảnh báo, Chính phủ Hy Lạp đã cam kết đăng cai Olympic 2004, nhằm đưa cuộc thi thể thao này trở về với quê hương đích thực của nó, khơi dậy niềm tự hào về nền văn minh cổ đại của dân tộc mình. Đầu tư vào các công trình Olympic lại là miếng mồi béo bở cho các quan tham và các nhà thầu, Chính phủ Hy Lạp dự toán lên đến 11 tỷ USD không ngần ngại vay thêm, chi phí thực tế cho Olympic Athens được coi là tốn kém nhất trong lịch sử Olympic cho đến bấy giờ. Chỉ vài ngày sau lễ bế mạc, chính quyền Athens đã báo cáo nợ công đã lên tới 168 tỉ Euro, trong đó chi phí tổ chức Thế vận hội chiếm đến 5,3% con số thâm hụt này. Nhiều công trình được đầu tư tốn kém đã trở thành phế tích hoang tàn, gây lãng phí rất lớn cho nền kinh tế đã ốm yếu này. Cuộc khủng hoàng tài chính toàn cầu 2008 đã đẩy kinh tế Hy Lạp tiếp tục xuống dốc, du lịch giảm sút mạnh, công nghiệp đóng tàu sa sút, xuất khẩu nông sản tụt dốc, nhập siêu tăng, chính phủ tiếp tục vay nợ để bù bội chi ngân sách. Nợ công của Hy Lạp đã lên đến 355 tỷ Euro năm 2011, bằng 170% GDP.      Trên: Tỉ lệ nợ công/GDP của Hy Lạp và Châu Âu. Dưới: Tỉ lệ thâm hụt ngân sách/GDP của Hy Lạp và Châu Âu  Không khó khăn để chẩn bệnh nền kinh tế Hy Lạp, một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh thấp, năng suất lao động kém với chi phí tiền lương quá cao, trong khi bộ máy quá cồng kềnh, nhiều người chỉ ghi tên để nhận lương, tham nhũng và chủ nghĩa tư bản thân hữu tràn lan, doanh nghiệp và người dân Hy Lạp nổi tiếng về trốn và lậu thuế trong Liên Minh Châu Âu. Ngay trong Chính phủ hiện nay của Hy Lạp do Đảng Xã hội Dân chủ cầm quyền còn đầy rẫy những ví dụ không thể biện bạch được như ông em họ của Thủ tướng Alexis Tsipras là Giorgos Tsipras được bổ nhiệm làm Tổng Vụ trưởng về kinh tế quốc tế trong Bộ Ngoại giao, bà Bộ trưởng Bộ Du lịch đã bổ nhiệm em ruột mình làm cố vấn trong bộ của chính bà v.v. Bà Chủ tịch Nghị viện Zoe Konstantinpoulou, 39 tuổi, thừa nhận rằng mẹ bà vẫn nhận tiền chăm nuôi bà ta cho đến năm 2013 v.v 2. Hy Lạp xếp thứ 69 trên 175 nền kinh tế trong xếp hạng về Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) do tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố năm 2014. Tổ chức này đánh giá khoảng 120 tỷ Euro đã được chi ra cho đút lót và trốn thuế ở Hy Lạp từ 2000 đến 2010. Hy Lạp xếp thứ 90 trong xếp hạng về Năng lực Cạnh tranh toàn cầu năm 2014-2015 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố 3. Đó là những xếp hạng thấp kỳ lạ cho một nền kinh tế được xếp vào nền kinh tế phát triển. Với sự lao dốc của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp ở Hy Lạp đã lên đến trên 25%, tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên lến đến 49,7%. Chi tiêu để nuôi bộ máy của Chính phủ tăng nhanh trong khi nguồn thu ngày càng cạn kiệt, từ 2001 đến 2007, chi tiêu chính phủ đã tăng 87% trong khi thu ngân sách chỉ tăng 31%, dẫn đến Chính phủ Hy Lạp phải vay để chi trả nuôi bộ máy quá cồng kềnh, một kịch bản không có lối thoát.  Cũng dễ hiểu, với một bộ máy chỉ đem lại lợi ích cho những người thân quen như vậy thì người dân Hy Lạp không sẵn sàng nộp thuế chút nào.  Để duy trì mức sống và phúc lợi cao hơn thực lực nền kinh tế Hy Lạp đã không ngừng vay nợ để trang trải nhập siêu. Kết cục cuối cùng của kịch bản này là Hy Lạp không thể trả được nợ và phải xin Cộng đồng Châu Âu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cứu trợ khẩn cấp từ năm 2010.  Chính phủ Hy Lạp chịu trách nhiệm chính nhưng các nước Liên minh Châu Âu cũng có phần trách nhiệm dẫn đến bi kịch này. Họ đã nhắm mắt trước những yếu kém của Hy Lạp, đưa Hy Lạp vào thành viên sử dụng đồng tiền Euro mạnh, lãi suất thấp và sẵn sàng đổ tiền cho vay rất nhiều lần mà không đạt được tiến bộ thực chất nào. Chính phủ Hy Lạp vào Liên minh Châu Âu bị bó tay, không còn đồng tiền riêng Drachme để phá giá, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trước khi lấn sâu vào nợ nần. Liên minh Châu Âu có đồng tiền chung nhưng không kiểm soát được chi tiêu ngân sách của Hy Lạp tiếp tục bội chi, tham nhũng, lãng phí.  Bài học nào cho Việt Nam  “Trông người lại nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần”, Hy Lạp tuy xa cách về địa lý nhưng bài học khủng hoảng Hy Lạp lại rất gần đối với Việt Nam. Việt Nam cũng đang lâm vào bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh, chi thường xuyên của Chính phủ đã lên đến 71% tổng chi ngân sách, chi trả nợ công lên đến 32% tổng chi ngân sách, toàn bộ vốn đầu tư phải trông cậy vào vay nợ trong nước và ngoài nước. Bộ máy quá cồng kềnh, trùng lắp, thiếu trách nhiệm giải trình, không công khai minh bạch, chi tiêu lãng phí, đầu tư công kém hiệu quả đã được Quốc hội mổ xẻ nhiều lần nhưng chưa có chuyển biến rõ rệt. Đầu tư công tràn lan, kém hiệu quả là miếng đất màu mỡ cho tham nhũng và lãng phí. Lợi ích nhóm tràn lan, chi phối cả hoạch định chính sách lẫn quyết định đầu tư 4. Tình trạng bổ nhiệm con cháu vào các chức vụ béo bở trong bộ máy dưới quyền của mình diễn ra phổ biến làm giảm chất lượng bộ máy. Bệnh thành tích, thổi phồng tốc độ tăng trưởng, che giấu yếu kém đã được đề cập nhiều lần. Năm 2016 bắt đầu thực hiện những cam kết quốc tế mới, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã ký kết sẽ có hiệu lực, nền kinh tế đứng trước những cơ hội mới và nhiều thách thức gay gắt. Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần “nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật, nói đúng sự thật”, cải cách thể chế, ngăn chặn tham nhũng, lợi ích nhóm tiêu cực để tránh vết xe đổ của Hy Lạp là hết sức cần thiết.     Chính phủ Hy Lạp chịu trách nhiệm chính nhưng các nước Liên minh Châu Âu cũng có phần trách nhiệm dẫn đến bi kịch này. Họ đã nhắm mắt trước những yếu kém của Hy Lạp, đưa Hy Lạp vào thành viên sử dụng đồng tiền Euro mạnh, lãi suất thấp và sẵn sàng đổ tiền cho vay rất nhiều lần mà không đạt được tiến bộ thực chất nào… Liên minh Châu Âu có đồng tiền chung nhưng không kiểm soát được chi tiêu ngân sách của Hy Lạp tiếp tục bội chi, tham nhũng, lãng phí.    Chú thích:  1. Goldman-Sachs bị quy kết là đã giúp Chính phủ Hy Lạp hoán đổi các khoản vay từ đồng USD và Yen sang đồng Euro với mức tỷ giá lịch sử (historical exchange rate) thấp, khiến giá trị khoản vay trên sổ sách thấp hơn giá trị thực, theo đó dư nợ trên sổ sách của Hy Lạp giảm đi 2%, nhưng đổi lại Hy Lạp phải trả cho họ mức phí hậu hĩnh – Goldman cũng bị coi là đã thuyết phục Chính phủ Hy Lạp không khảo giá các tập đoàn tài chính của đối thủ khác. Thủ thuật giảm dư nợ trên sổ sách này trước đây khá phổ biến với các quốc gia nhỏ tìm cách gia nhập EU, nhưng bị Cơ quan thống kê kinh tế EU (Eurostat) nghiêm cấm từ 2008. Eurostat khẳng định Hy Lạp đã không báo cáo về các giao dịch nêu trên năm 2008, khi các quốc gia trong EU bị yêu cầu báo cáo lại số liệu sổ sách.  http://www.independent.co.uk/news/world/europe/greek-debt-crisis-goldman-sachs-could-be-sued-for-helping-country-hide-debts-when-it-joined-euro-10381926.html  2.http://www.spiegel.de/politik/ausland/griechenland-tsipras-ist-nicht-links-kommentar-a-1042561.html   3.http://www3.weforum.org/docs/WEF_GCR_Report_2011-12.pdf, Việt Nam xếp thứ 65 trên 142 nền kinh tế, cao hơn Hy Lạp (WEF, GCI 20014-2015).  4.http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150602/nhan-dien-va-ngan-chan-loi-ich-nhom-ky-1-dang-bao-dong/755463.html         Author                Lê Đăng Doanh        
__label__tiasang Những bảo tàng của tương lai      Các bảo tàng được gắn với những gì thuộc về quá khứ cũng không thể cưỡng lại làn sóng công nghệ của hiện tại và tương lai.      Một em nhỏ xem bản chụp cắt lớp của xác ướp Ai Cập trong một triển lãm tại bảo tàng Powerhouse, Sydney, Úc (trước đó, một triển lãm tương tự đã được tổ chức tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Los Angeles, Mỹ vào tháng 9 năm ngoái). Nguồn ảnh: CGTN.  Làm “sống” lại quá khứ  Pokemon Go, trò chơi từng làm mưa làm gió trên thế giới vào năm 2016, cho phép người chơi thu phục vật hoạt hình ảo Pokemon trong thế giới thực đã khiến bảo tàng Tưởng niệm Holocaust “đau đầu”, buộc khách tham quan phải ngừng chơi khi bước vào đây. Tuy nhiên, trò chơi này nói riêng và công nghệ thực tại ảo nói chung lại đưa ra gợi ý quan trọng cho những bảo tàng để họ “thổi sức sống” vào những hiện vật và không gian trưng bày. Bảo tàng Anh (The British Museum) đã tái hiện lại không gian sinh hoạt của con người thời kỳ đồ Đồng ở châu Âu trong một video thực tại ảo, trong đó có hình ảnh 3D của những hiện vật trong bộ sưu tập của bảo tàng. Khách tham quan cảm giác như mình đang ở trong không gian của video này, trải nghiệm cảm giác nâng lên đặt xuống các công cụ được trưng bày bằng ba cách: xem trên điện thoại di động bằng kính thực tại ảo (VR headset), xem trong phòng chiếu 360o hình bán cầu (immersive fulldome) và màn hình tương tác của máy tính bảng.  Sự kết hợp công nghệ trong trưng bày bảo tàng đã cộng thêm vố số lớp thông tin cho những hiện vật được trưng bày. Trước đây, tất cả những gì chúng ta biết về các hiện vật trong bảo tàng là  bằng việc đứng ngắm chúng từ xa qua một lớp kính bảo vệ, đọc các tấm bảng chú thích và catalogue chuẩn bị sẵn. Bây giờ, mọi chuyện đã khác, bảo tàng có thể cho người đọc tiếp cận với khối lượng thông tin đồ sộ đã số hóa liên quan đến các hiện vật trong bảo tàng. Trong triển lãm “Xác ướp: Những bí ẩn mới từ hầm mộ” do Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ tổ chức vào tháng chín năm ngoái, người xem được tiếp cận với toàn bộ các bản chụp cắt lớp của các xác ướp, được lưu trữ trong một máy tính bảng đặt bên cạnh mỗi hiện vật. Nhờ vậy, lần đầu tiên, công chúng được tận mắt chứng kiến tư thế nằm, kiểu tóc, trang sức, quần áo, những vật chôn cùng người Peru và Ai Cập được cách đây vài nghìn năm. Hay một dự án của Đại học Nam California (USC) quay phim và thu âm những người sống sót sau vụ thảm sát Holocaust rồi chiếu dưới dạng hình ảnh 3D (holograms) và sử dụng trí tuệ nhân tạo để nhân chứng này có thể trích rút các thông tin thu âm sẵn để trả lời đa dạng các câu hỏi khiến cho những người đến bảo tàng có cảm giác mình đang đối thoại trực tiếp và được nhân chứng lịch sử này dẫn đi tham quan khắp bảo tàng.  Thay đổi khái niệm bảo tàng  Với công nghệ internet của vạn vật cho phép thu thập, lưu trữ và phân tích các hành vi của con người, các bảo tàng có thể tạo ra những trải nghiệm và cách tiếp cận không gian và hiện vật của bảo tàng của khách tham quan hoàn toàn khác so với truyền thống. Gallery One của bảo tàng Nghệ thuật Cleveland, Mỹ là một ví dụ. Không gian chỉ chiếm một phần rất nhỏ diện tích của bảo tàng nghệ thuật đông khách nhất nước Mỹ này là tâm điểm để tất cả các bảo tàng khác học hỏi về sự kết hợp công nghệ trong trưng bày bảo tàng. Trong hơn 1000 m2 và chỉ với sáu màn hình cảm ứng, Gallery One tạo ra trải nghiệm riêng tư giữa mỗi khách tham quan với những tác phẩm được trưng bày. Màn hình cảm ứng gần 500 inch được đặt ở ngay lối vào, hiển thị 4000 tác phẩm nghệ thuật của bảo tàng. Người xem chạm vào hình ảnh của tác phẩm nào, tác phẩm ấy sẽ được phóng to, thông tin về tác phẩm và vị trí của nó trong phòng trưng bày sẽ hiện ra và các tác phẩm có nội dung liên quan sẽ “trôi” đến. Bằng cách bấm vào biểu tượng trái tim ở dưới tác phẩm họ xem, hình ảnh của nó sẽ “nhảy” vào ipad của họ. Bằng cách này, họ có thể tự tạo ra kế hoạch thăm thú toàn bộ bảo tàng hoặc có một bộ sưu tập ảnh mang về. Người xem có thể “làm trò” trước một camera và màn hình ở gần đó gợi ý một tác phẩm nghệ thuật vẻ mặt tương tự với họ. Một màn hình khác cho trẻ em vẽ một đường bất kì lên màn hình và các tác phẩm nghệ thuật chứa đường nét tương tự sẽ hiện ra, khớp vào đường các em vừa vẽ. Màn hình khác nữa là những chi tiết trong bức tranh Tĩnh vật với bánh quy của Picasso, cho phép người xem sắp xếp lại và tạo ra một bức họa mới…  Công nghệ có thể sẽ thay đổi hình dung của công chúng về bảo tàng. Bảo tàng không chỉ là một công trình để người ta đến thăm mà có thể là thứ người ta…bỏ túi. Một vài bảo tàng hiện nay đã đưa các bộ sưu tập của mình lên internet. Dự án nghệ thuật Google (Google’s Art Projects) còn cung cấp nguồn lực miễn phí cho các bảo tàng, scan các tác phẩm nghệ thuật với độ phân giải rất cao lên internet cho công chúng chiêm ngưỡng. Oculus Riff, một trong những công ty nổi tiếng nhất với kính thực tại đã tạo ra các tour 3D cho phép bất cứ ai, dù ở đâu, chỉ cần một chiếc điện thoại với kính thực tại ảo cũng có thể trải nghiệm tham quan những bảo tàng nổi tiếng trên thế giới. Thậm chí, hiện nay với công nghệ in 3D, các bảo tàng chia sẻ file quét 3D các hiện vật của mình miễn phí để công chúng tự in và sở hữu bản sao của các hiện vật cho riêng mình.  ***  Tuy nhiên, những ví dụ ở trên mới xảy ra với những bảo tàng hàng đầu trên thế giới, đa số những nơi khác không có nhiều niềm tin vào công nghệ hiện đại. Nhiều giám tuyển (curator) cho rằng, bảo tàng là nơi những người khách đến để đối thoại, tìm sự đồng cảm trực tiếp với tác phẩm chứ không phải thông qua một màn hình cảm ứng. Họ cảm thấy khó chịu khi mọi người “dán mặt” vào màn hình nhiều hơn là hiện vật. Họ cảm thấy đặt các thiết bị vào bất cứ chỗ nào gần tác phẩm cũng ảnh hưởng đến tầm quan sát của người xem.  “Bảo tàng không phải là tổ chức cởi mở. Họ có tiếng là nơi quá khép kín, quá nghi thức, quá nhiều quy định. [Trong khi đó] công nghệ là một thứ dễ tiếp cận và quen thuộc hơn. Nó là một cách thức thú vị để các bảo tàng đạt được mục đích quan trọng nhất của mình, nghĩa là giúp mọi người coi trọng và học hỏi về những gì họ trưng bày”. – Susana Smith Bautista, giám đốc truyền thông tại Bảo tàng Châu Á Thái Bình Dương của USC, tác giả của cuốn sách: “Bảo tàng trong kỷ nguyên số: Thay đổi khái niệm về nơi chốn, cộng đồng và văn hóa”, cho biết.    Thực tế rút ra từ những trường hợp thành công, các bảo tàng không bắt đầu bằng việc có thể áp dụng những công nghệ gì mà là công chúng của họ cần gì? Dù ở trong thời kì nào, bảo tàng vẫn là nơi mở ra cho công chúng một thế giới khác, những câu chuyện và trải nghiệm mới mẻ và bảo tàng phải thật hiểu “khách hàng” của mình, hiểu mục đích và động cơ của họ khi tìm đến những nội dung về văn hóa trước khi thiết kế các trải nghiệm mới. Bên cạnh đó, tìm kiếm vị thế của mình trong thời đại số không phải là thách thức mà các bảo tàng có thể tự mình giải quyết mà cần phải hợp tác với các công ty công nghệ. Google, Wikipedia, Oculus Rift, Samsung… vẫn tài trợ việc số hóa bộ sưu tập, tạo trải nghiệm mới trong các bảo tàng để công chúng toàn thế giới có thể tiếp cận miễn phí.  Bích Hảo tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những cái nhìn mới vào quá trình in 3D kim loại      In 3D đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu thú vị cho các kỹ sư và các nhà thiết kế sản phẩm để tái mường tượng ra những gì có thể làm được với công nghệ này. Năng lực để in các phần kim loại phức tạp bằng việc sử dụng các hợp kim tiên tiến có ở khắp nơi trên thế giới không còn nghi ngờ gì nữa đã đem lại nhiều ấn tượng song trong công nghệ này vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự hoàn hảo.    Hiện tại các nhà khoa học tại trường đại học Heriot-Watt, trong hợp tác với đồng nghiệp tại trường đại học Carnegie-Mellon và Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Argonne, đã rọi ánh sáng mới vào quá trình này, vốn hứa hẹn gia tăng khả năng in 3D kim loại ngày một khả thi với các nhà sản xuất với lựa chọn ngày một bền vững hơn.  Quá trình sản xuất đắp bồi, kỹ thuật in 3D, bao gồm nhiều kỹ thuật xử lý vật liệu, trong đó được áp dụng rộng rãi nhất là nấu chảy bằng laser có chọn lọc (LPBF). Nó hoạt động bằng việc dàn các lớp mỏng các hạt bột kim loại vốn được liên kết với nhau thông qua việc tăng cường nhiệt được phân phối bằng các tia laser năng lượng cao. Nhưng quá trình này có thể đến đến sự hình thành của các lỗ rỗng khiến cấu trúc toàn thể bị yếu đi.  Đây là nhược điểm lớn cho ngành công nghiệp, cụ thể khi các hợp phần có độ tin cậy cao được đòi hỏi trên một cơ sở nhất quán. Trong ba năm qua, các nhà khoa học Viện nghiên cứu Quang và Lượng tử tại trường đại học Heriot-Watt, Edinburgh, đã dẫn dắt một dự án nghiên cứu kiểm tra thứ vật lý cơ bản đằng sau quá trình LPBF và cách hiểu biết này có thể hữu dụng để loại bỏ  khuyết tật trong các thành phần in.  Tiến sĩ Ioannis Bitharas, một nhà nghiên cứu liên kết với Viện Quang và Lượng tử tại Heriot-Watt, giải thích: “Nghiên cứu của chúng tôi hình dung sự tác động lẫn nhau giữa các trạng thái của vật chất hiện diện khi một tia laser tương tác với các hạt kim loại”.  “Trong quá trình chế tạo đắp bồi, việc đưa vào một xung laser hiệu suất cao vào kim loại sẽ dẫn đến một lỗ nhỏ kim loại lỏng khi các hạt hợp nhất với nhau. Trong suốt quá trình này, một phút lượng kim loại hóa hơi và nén lại thành chất lỏng, tạo ra một hốc tại trung tâm của lỗ nóng chảy. Lỗ này có thể trở nên không bền vững và dễ bị suy sụp, dẫn đến các lỗ rỗng trong vật liệu. Cùng thời điểm, hơi bắn lên tạo thành một chùm tương tác với các hạt và có thể có khả năng làm xáo trộn lớp trải.  “Rất nhiều sự kiện như vậy tạo ra những phần không hoàn hảo nhỏ xíu tán xạ khắp thành phần này và do đó tạo ra mức độ xốp của vật liệu mà nhiều nhà sản xuất không thể chất nhận được.  “Các hình ảnh mà chúng tôi bắt được cho thấy, lần đầu tiên, một bức tranh hoàn thiện về những tương tác và chúng tôi giờ có thể nói một cách xác định về những gì đang xảy ra”.  Bằng việc sử dụng song song tia X và hình ảnh schlieren – những bức ảnh dòng chảy của các chất lỏng có mật độ khác nhau, nhóm nghiên cứu đã phân tích sự ảnh hưởng lẫn nhau của các pha khí, hơi, chất lỏng và rắn hiện diện trong suốt quá trình in. Họ tìm thấy một mối liên hệ trực tiếp giữa hành xử của chùm hơi thoát ra do quá trình bay hơi của kim loại và sự ổn định tổng thể của vật liệu nóng chảy. Chùm hơi  càng gia tăng động lực, vật liệu càng không ổn định và xốp hơn. Nhưng bằng việc tinh chỉnh các thông số laser, chẳng hạn như điều chỉnh công suất, kích thước điểm tập trung và tốc độ quét, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra họ có thể kiểm soát độ ổn định của chùm và làm tan chảy bể, khiến cho cấu trúc in trở nên nhất quán hơn nhiều.  Việc sử dụng chùm như một “tín hiệu xử lý” có thể trực quan hóa và được giám sát đã đem đến tiềm năng mới cho nhiều ngành công nghiệp phụ thuộc vào các thành phần hiệu suất cao như hàng không vũ trụ, tự động hóa, chăm sóc sức khỏe và quân sự.  Giáo sư Andrew Moore dẫn dắt nhóm Chẩn đoán quang tại Viện Quang học và lượng tử trường đại học Heriot-Watt đã tham gia vào nghiên cứu này ngay từ đầu. Ông cho biết: “Bất chấp việc chứng tỏ hứa hẹn rất lớn thì những khuyết tật trong các phần in vẫn ngăn cho việc chế tạo kim loại đắp bồi đạt được kết quả như kỳ vọng. Nghiên cứu đã tập trung vào sự khuyết tật và dự đoán khuyết tật trên cơ sở hoạt động của kim loại lỏng hay các hạt, thông thường bị bỏ qua hiệu ứng của tia và chùm hơi được tạo ra bên trên bể kim loại.  “Những gì chúng tôi tìm thấy có triển vọng mới thú vị cho in 3D: chúng tôi có thể giảm đáng kể những điểm không hoàn hảo này và sản xuất các thành phần ít có khả năng bị lỗi hơn nhiều. Do đó, chúng tôi tin là công trình này sẽ cho phép tạo ra các công cụ phân tích và giám sát quy trình được cải tiến để xác định và ngăn ngừa các khuyết tật trong quá trình sản xuất đắp bồi của kim loại. Ngoài ra, nó sẽ củng cố một lớp mô hình đa vật lý có khả năng dự đoán nhiều hơn, bao gồm các hiệu ứng khí quyển và chuyển động của bột, qua đó cho phép tính toán trước các bản đồ quy trình chế tạo trước một cách chính xác”.  Công trình này được sự hỗ trợ của Renishaw, nhà sản xuất của Anh các hệ LPBF, trong khuôn khổ liên minh chiến lược với trường đại học Heriot-Watt. Nhóm nghiên cứu còn tiếp tục hợp tác với Renishaw để dùng kiến thức mới cải thiện các thiết bị in 3D cho tương lai.  Bài báo của nhóm nghiên cứu ở Heriot-Watt là “The interplay between vapor, liquid, and solid phases in laser powder bed fusion”, được xuất bản trên tạp chí Nature Communications.  Vũ Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.hw.ac.uk/news/articles/2022/scientists-present-new-insights-into-the-3d.htm  https://techxplore.com/news/2022-05-insights-3d-metals.html    Author                .        
__label__tiasang Những câu chuyện được kể lại      Thành công của Công ty gốm sứ Minh Long I, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Tập đoàn Mỹ Lan và Misfit tuy xuất phát từ những bí quyết và bài học kinh nghiệm riêng nhưng đều có công thức chung là sử dụng chất xám Việt vào hoạt động R&amp;D và phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo.&#160;    Họ đã chia sẻ câu chuyện thành công này tại  buổi tọa đàm “Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang  báo Tia Sáng” do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp  (BSA) tổ chức.  Thành công nhờ tin tưởng vào chất xám Việt   Trái ngược với xu hướng chung của các công ty công nghệ Mỹ thường tập trung bộ phận R&D tại Silicon Valley và đưa các công việc đơn giản về các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ…, bí quyết làm nên thành công của Misfit, như CEO Lê Diệp Kiều Trang của công ty, chia sẻ, là xây dựng bộ phận R&D ngay tại Việt Nam. Nhận thấy “tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam, đặc biệt là các bạn trẻ được học về công nghệ một cách bài bản ở nước ngoài, rất lớn nhưng ít có công ty tận dụng được một cách hiệu quả để có được những sản phẩm thương mại mang tầm quốc tế”, Misfit đã thành lập bộ phận R&D tại TP. HCM, bao gồm những thành viên tuổi đời còn rất trẻ nhưng đam mê sáng tạo sản phẩm mới, tập trung vào nghiên cứu những thuật toán cao cấp chuyên biệt, cơ sở để phát triển và thiết kế phần mềm của các dòng sản phẩm như Misfit Shine, Misfit Flash, Misfit Home… Chính năng lực và sự sáng tạo của họ đã giúp sản phẩm của Misfit có được sự khác biệt và được đánh giá cao dù không phải là sản phẩm đi tiên phong. Đến nay, đội ngũ làm R&D của Misfit đã lên tới khoảng 200 người, trong đó chủ yếu là các nhà nghiên cứu trẻ tuổi người Việt, trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng nở rộ, sản xuất ra hàng triệu sản phẩm và đến nay thu hút được tới 60 triệu USD vốn đầu tư, kết quả không tồi cho một startup.  Thực tế cho thấy, không ít doanh nghiệp Việt Nam thành công nhờ tin tưởng giao phó trách nhiệm làm R&D cho các nhà nghiên cứu, sáng chế trong nước, trong đó không chỉ có những startup trẻ trung năng động, mới ra đời vài năm như Misfit, mà còn có cả những doanh nghiệp của Nhà nước, với bộ máy quản lý cũ kỹ, rệu rã, thậm chí từng có nguy cơ phá sản như Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông trước đây. Tổng giám đốc Rạng Đông, ông Đoàn Thăng cho biết, đã có lúc phải đóng cửa nhà máy trong vòng sáu tháng vì bế tắc đầu ra, sản phẩm không cạnh tranh nổi trên thị trường nội địa. Vì vậy, ban lãnh đạo Rạng Đông quyết định thành lập Trung tâm R&D vào năm 2011 nhằm nghiên cứu các công nghệ hiện đại để tiến tới giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất thay vì chỉ phụ thuộc vào kinh nghiệm tích lũy như trước đây. Một trong những thành quả đầu tiên mà Rạng Đông có được trong hợp tác với nhà khoa học là phương pháp thu hồi bột huỳnh quang từ ống thủy tinh chì tráng lớp phát quang phế phẩm của PGS. TS Phạm Thành Huy (Viện Tiên tiến KH&CN, ĐH Bách khoa) đem lại hai sản phẩm bột huỳnh quang tinh sạch và thủy tinh nguyên liệu. Kết quả này giúp Rạng Đông tiết kiệm hàng chục tỷ đồng, và đó chỉ là một trong nhiều ví dụ về thành công trong ứng dụng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, mà theo bộc bạch của ông Đoàn Thăng “nếu không có sự hỗ trợ của họ thì doanh nghiệp không thể ‘sống’ được”.  Tuy nhiên, bài toán R&D không phải dễ áp dụng với các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là khi họ chưa có nhiều thông tin và kinh nghiệm. Chia sẻ cách giải quyết vấn đề, Tổng giám đốc Tập đoàn Mỹ Lan, ông Thanh Mỹ, cho rằng, trong nhiều lĩnh vực như điện tử, công nghệ thông tin, tự động hóa…, Việt Nam có khả năng tiếp cận trình độ quốc tế nhưng vẫn bộc lộ điểm yếu là không biết cần tập trung đầu tư vào hướng nào để tạo ra sản phẩm đặc trưng. Vì vậy, doanh nghiệp phải “biết được mình cần làm gì”, lấy đó làm cơ sở chọn công nghệ phù hợp với năng lực của mình và phát triển nó thành sản phẩm riêng biệt.   Cơ chế hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà khoa học  Để làm R&D ở doanh nghiệp thành công thì cả doanh nghiệp và nhà nghiên cứu đều phải vượt qua rào cản từ chính mình: doanh nghiệp vẫn còn băn khoăn, lo ngại về chi phí đầu tư, độ rủi ro trong nghiên cứu và khoảng cách lớn từ nghiên cứu đến ứng dụng… trong khi nhà khoa học mới quen giải các bài toán khoa học mà thiếu hiểu biết về những vấn đề trong thực tiễn sản xuất. Theo các diễn giả tại tọa đàm, việc hợp tác thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc “nhà khoa học có tinh thần doanh nhân và doanh nhân có tinh thần khoa học”.   Để phát huy tinh thần doanh nhân trong các nhà khoa học, trước hết họ phải biết cách trở thành nhà công nghệ, đưa ý tưởng và kết quả nghiên cứu thành sản phẩm được thị trường đón nhận. Bà Kiều Trang đưa ra ví dụ, khi viết phần mềm cho sản phẩm, có nhà nghiên cứu trong nhóm R&D của Misfit đã áp dụng một thuật toán chuyên biệt “rất cao siêu” nhưng khiến chương trình điều hành của sản phẩm mỗi lần tích hợp với điện thoại của người sử dụng phải chạy tới… 15 phút. Rõ ràng, khi viết phần mềm cho sản phẩm, nhà nghiên cứu đó chưa đặt mình vào vị trí của người tiêu dùng.   Cũng đồng tình với nhận định của bà Kiều Trang, ông Thanh Mỹ cho rằng, các nhà khoa học Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm đến khả năng ứng dụng của sản phẩm trong thực tế. Các nhà khoa học Việt Nam có thể thực hiện tốt nhiều đề tài nghiên cứu nhưng còn vướng mắc ở khâu định hình khả năng ứng dụng. Họ thường không biết mình cần làm gì, chọn hướng nào để phát triển công nghệ mà mình đã nghiên cứu. Vì vậy, nhà khoa học Việt Nam vẫn bị động trong định hướng nghiên cứu, dễ bị “hùa theo” xu hướng đám đông, dẫn đến việc các đề tài nghiên cứu chỉ ở thế lưng chừng, khó có khả năng thương mại hóa sản phẩm thành công.   Để phát huy tinh thần khoa học trong các doanh nhân, theo ông Đoàn Thăng, doanh nhân cần phải mạnh dạn đầu tư kinh phí cho R&D, hiểu về khả năng rủi ro trong nghiên cứu khoa học, “nếu từ 10 nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đem lại được hai, ba kết quả thành công đã là quý”. Tuy độ rủi ro lớn nhưng khi áp dụng vào thực tế nếu thành công sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn như với trường hợp bóng đèn led của Rạng Đông, “dù là sản phẩm mới nhưng trong vòng ba năm, sức tiêu thụ đèn led năm sau gấp ba năm trước. Năm 2013, Rạng Đông bán trên 1,2 triệu chiếc, năm 2014 trên 2,7 triệu, và riêng chín tháng đầu năm năm 2015 đạt 3,2 triệu, ông Đoàn Thăng cho biết.  Theo kinh nghiệm của ông Đoàn Thăng, hơn hết, doanh nghiệp cần có cơ chế đặt hàng nhà khoa học và trao cơ hội cho họ tự do thực hiện những ý tưởng của mình, và chỉ có như vậy nhà khoa học mới thực sự tâm huyết và phát huy hết năng lực của mình. Ông lấy dẫn chứng về các nhà khoa học làm việc tại Trung tâm R&D của Rạng Đông, để tập trung tìm phương án giải quyết đề xuất mà công ty đặt ra, các nhà nghiên cứu đã có mặt ở Trung tâm từ thứ hai đến thứ bảy, thậm chí chủ nhật, dù trước đó từng đặt vấn đề chỉ làm việc hai ngày mỗi tuần.   Tạo môi trường làm việc phát huy đổi mới sáng tạo  Hiện nay, doanh nghiệp trong nước còn phải dựa nhiều vào công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài, nhưng để thành công trong lâu dài thì tất yếu họ phải tìm cách phát huy hiệu quả nguồn chất xám Việt, mà muốn vậy thì trước hết doanh nghiệp phải tìm cách xây dựng một môi trường làm việc kích thích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo ngay trong những người nhân viên bình thường nhất.  Đây là bài học kinh nghiệm rất rõ rút ra từ Minh Long I, công ty gốm sứ hàng đầu ở Việt Nam hiện nay. Theo quan niệm thông thường, gốm sứ là ngành thủ công truyền thống, không cần đến công nghệ hiện đại nên Minh Long khó thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao. Về lâu dài nếu không có biến chuyển về nguồn nhân lực, Minh Long sẽ khó duy trì được thế mạnh. Để khắc phục điều này, Minh Long đã nhập các dây chuyền sản xuất theo công nghệ hiện đại của nước ngoài vào các xưởng sản xuất nhằm tạo ra một hình ảnh mới cho ngành gốm sứ. Song song với đó, Minh Long yêu cầu mọi thành viên của công ty tìm ra những sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong từng công đoạn sản xuất, bởi “những thay đổi dù nhỏ nhất cũng đều mang đến biến chuyển lớn”, theo quan điểm của ông Sáng. Vì vậy, công nhân cũng có cơ hội đóng góp những sáng kiến có giá trị không kém các kỹ sư và việc tận dụng được sức đổi mới sáng tạo của đội ngũ công nhân cũng đem lại cho Minh Long nhiều cải tiến kỹ thuật đáng kể. Bài học mà Minh Long rút ra là “dụng nhân như dụng mộc”, cần tìm ra ưu điểm trong từng con người và tạo động lực để họ đem đến những cải tiến trong công việc.   Cùng quan điểm này với Minh Long, ông Nguyễn Thanh Mỹ cho biết, việc thành lập Tập đoàn Mỹ Lan của ông ở Trà Vinh gắn liền với việc tạo dựng một môi trường làm việc văn minh, minh bạch và hình thành một lối suy nghĩ mới mẻ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên Tập đoàn với khoảng 500 người, độ tuổi trung bình 27. Ông đem lại cho họ cơ hội nghĩ khác, làm khác và dám đưa ra những ý tưởng mới, dám đổi mới sáng tạo không ngừng. Tất cả các thành viên đều được tạo điều kiện phát huy khả năng của mình để có thể làm nên sự thay đổi. Đây chính là bí quyết để Mỹ Lan có được nguồn nhân lực chất lượng cao, ngay cả khi người giỏi đã tập trung về các thành phố lớn. Trong quá trình phát triển tập đoàn, ông Thanh Mỹ còn tính đến những giải pháp lâu dài như liên kết với trường Đại học Trà Vinh mở Khoa Hóa học ứng dụng và đích thân giảng dạy. Hằng năm sau mỗi khóa học, Mỹ Lan có thêm cơ hội tuyển dụng sinh viên xuất sắc ngay tại địa phương để bổ sung vào các công ty thành viên của Tập đoàn.             “Để tồn tại, doanh nghiệp cần  có hai yếu tố, tinh thần doanh nhân và tinh thần công nghệ. Chính sự  đóng góp của các doanh nghiệp đã góp phần mở rộng ứng dụng KH&CN vào  thực tiễn. Vì vậy để KH&CN Việt Nam giữ được vị trí thứ ba trong  khối ASEAN, không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng khoa học mà còn vào cả  cộng đồng doanh nghiệp, với những doanh nhân có tinh thần công nghệ. Bộ  KH&CN sẽ cố gắng tạo ra cơ chế thông thoáng nhất để doanh nghiệp  phát huy được tinh thần này.”   (Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân)                Author                Quản trị        
__label__tiasang Những câu hỏi từ một vụ cổ phần hóa bất thành      Trong những ngày vừa qua, một trong những tiêu điểm quan tâm của công luận là việc thí điểm CPH (CPH) bệnh viện (BV) Bình Dân của Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh. Ngay từ chủ trương, đề án này đã vấp phải những băn khoăn chính đáng. Liệu có cần thiết hay không việc thực hiện CPH tại một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm đụng chạm đến nguyên tắc tồn tại của chế độ – chăm sóc sức khỏe nhân dân? Liệu CPH có phải là biện pháp duy nhất và tối ưu để cải thiện hiện trạng còn nhiều bất cập của lĩnh vực này? Và cùng với thời gian, những bước hiện thực hóa đề án này càng ngày càng phải đối đầu với những ý kiến phản đối mà đỉnh điểm là cuộc họp lấy ý kiến về đề án do Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh tổ chức hôm 5.6 với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực quản lí kinh tế và trước sức ép của dư luận, Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã có quyết định tạm ngưng đề án này và sẽ chọn một đơn vị khác để tiến hành thí điểm.    Việc UBND TP Hồ Chí Minh quyết định tạm ngưng đề án CPH BV Bình Dân một mặt thể hiện thái độ cầu thị nghiêm túc của các cấp lãnh đạo thành phố đồng thời cũng thể hiện bản chất dân chủ của xã hội Việt Nam hiện nay. Dẫu vậy, đây dù sao cũng chỉ là một ứng xử có tính chất “vụ việc”. Đề án CPH này chỉ là một trong số rất nhiều dự án CPH đã và đang được thực hiện trên cả nước nhưng những bất ổn và thất bại của nó lại là một “cơ hội vàng” để xem xét lại một cách nghiêm túc, từ đó tìm ra một lời giải thích hợp cho việc thực hiện một trong những chủ trương lớn có tác động đến nhiều mặt đời sống của nhân dân và sự tồn tại của chế độ.  Trước hết, đó là câu hỏi về bản chất của quá trình CPH. Không cần phải bàn cãi, chủ trương CPH là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ nhằm giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào quá trình vận hành của nền kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội và cải thiện nhiều lĩnh vực còn yếu kém trong đời sống kinh tế xã hội. Tuy vậy, liệu CPH có đồng nghĩa với tư nhân hóa? Hệ quả của nó sẽ là liệu chúng ta có chấp nhận hay không tư nhân hóa nền kinh tế, chấp nhận đến đâu, trong những lĩnh vực nào và với một tỉ lệ ra sao để không làm đe dọa định triệt tiêu định hướng Xã hội chủ nghĩa với một trong những lí tưởng cao đẹp và thiêng liêng nhất là vì lợi ích của đại bộ phận nhân dân. Y tế không phải là lĩnh vực duy nhất. Cùng với y tế, còn có hàng loạt lĩnh vực quan trọng khác như giáo dục, năng lượng, bưu chính viễn thông. Cần phải nhắc lại là trong những ngày gần đây, một trong những tiêu điểm khác thu hút sự chú ý của công luận là đề án thành lập Công ty mua bán điện của Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN).  Khi CPH và đi cùng với nó là tư nhân hóa một phần nền kinh tế đã được chấp nhận như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường thì vấn đề tiếp tục cần phải được đặt ra đó là quy trình thực hiện CPH. Hơn lúc nào hết, đã đến lúc cần phải gióng lên tiếng chuông báo động về việc CPH đang trở thành “lỗ hổng” làm thất thoát tài sản của Nhân dân. Làm thế nào để CPH đừng trở thành cơ hội để khối lượng tài sản đó tập trung vào một số cá nhân một cách bất chính? Qua vụ CPH BV Bình Dân, một vấn đề nổi cộm cần sớm được giải quyết chính là khâu định giá doanh nghiệp cả tài sản hữu hình và vô hình như thế nào để đừng diễn ra cảnh tài sản quốc gia được “cho không” một số cá nhân bằng một số cách thức không bình thường. Bài học đau đớn của quá trình cải cách nền kinh tế của nước Nga trong giai đoạn Hậu Xô Viết buộc chúng ta không thể làm ngơ trước thực trạng này.  Một vấn đề cũng cần được nghiêm túc đặt ra là tính minh bạch của những nguồn tài chính tham gia tiến trình CPH. Liệu cơ chế pháp luật của chúng ta đã đủ mạnh để nhận diện được tất cả những thành viên tham gia quá trình CPH và kiểm soát được tính hợp pháp của nguồn tài chính mà họ huy động? Và liệu có bình thường hay không việc ở nhiều doanh nghiệp nhà nước, khi mà người lao động bắt buộc phải “bán lúa non” quyền được mua cổ phiếu ưu đãi của mình vì không đủ khả năng tài chính (điều này thực tế đã xảy ra ở BV Bình Dân dù quá trình CPH doanh nghiệp này mới chỉ ở dạng đề án) thì những vị lãnh đạo doanh nghiệp, một số quan chức nhà nước hoặc họ hàng thân thích của họ lại trở thành những cổ đông chính của doanh nghiệp sau khi đã CPH? Và liệu tình trạng làm ăn thua lỗ của nhiều doanh nghiệp nhà nước dù nhận được rất nhiều ưu đãi có phải là toan tính của một số cá nhân nào đó trong việc nhanh chóng biến tài sản của Nhân dân thành tài sản cá nhân thông qua con đường CPH? Đó là những câu hỏi mà cả xã hội cần phải ý thức và trả lời rốt ráo để quá trình tăng trưởng nền kinh tế đừng diễn ra theo con đường một vài cá nhân thu lợi bằng cách làm nghèo đi đại bộ phận còn lại của cộng đồng.  Rộng hơn, từ vụ CPH bất thành BV Bình Dân, đi ra ngoài phạm vi của một chính sách kinh tế, người ta bắt buộc phải nghĩ đến thực trạng của những chính sách an sinh xã hội và giáo dục ở Việt Nam. Liệu ở tình trạng hiện nay, bệnh viện, trường học có phải là một nơi mà người nghèo có thể dễ dàng tiếp cận? Có bao nhiêu người nghèo không được chữa bệnh vì lí do kinh tế? Có bao nhiêu con em của các gia đình nghèo không được tiếp cận với giáo dục đào tạo. Chỉ mấy tháng trước đây, dư luận đã phải bàng hoàng trước những trục trặc của Quỹ Bảo hiểm y tế. Đó liệu có phải là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Trước chủ trương CPH BV Bình Dân, nhiều người băn khoăn rằng với chính sách này, bệnh viện sẽ trở thành nơi chăm sóc sức khỏe cho người có tiền. Băn khoăn đó là hợp lí và có giá trị về đạo đức. Nhưng ngay cả khi không CPH, liệu BV Bình Dân đã thực sự là Bệnh viện của người Bình Dân hay chưa? Đó thực sự là câu hỏi vẫn còn treo lơ lửng trước tất cả chúng ta, đặc biệt những nhà hoạch định chính sách kinh tế, xã hội.      Lương Xuân Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chính sách thiếu hiệu quả trong ngành lúa gạo      Trong những năm vừa qua, các chính sách của  Chính phủ đối với ngành lúa gạo nhằm nâng cao vị thế của người nông dân  và sức cạnh tranh của ngành chưa tác động toàn diện lên chuỗi giá trị mà  chỉ tập trung vào một vài tác nhân cụ thể khiến tính hiệu quả rất hạn  chế, tạo ra cơ cấu thị trường với nhiều bất cập.    Theo đánh giá mới đây của Liên minh vì quyền nông dân và hiệu quả của nền nông nghiệp Việt nam (với sự tham gia của, PHANO, VERP, IPSARD, CIEM, OXFAM và ISEE), các chính sách cho ngành lúa gạo chỉ hướng đến giải quyết một khía cạnh cụ thể hoặc xem xét lợi ích trực tiếp của một chủ thể mà ít tính toán đến lợi ích toàn cục và đặc biệt là lợi ích của nông dân. Việc tồn tại quá nhiều tác nhân trung gian thiếu hợp tác trong chuỗi giá trị gạo  tại ĐBSCL dẫn đến hiệu quả kinh tế của chuỗi thấp,  chi phí cao và giá trị gia tăng phân chia  bất hợp lý, làm giá gạo mua của nông dân thấp trong thị trường nội địa cao, làm giảm năng lực cạnh tranh của lúa gạo trên thị trường.   Chính sách bảo vệ quĩ đất lúa để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia    Theo nghiên cứu của World Bank và Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) gần đây, thì ngay cả với kịch bản xấu nhất với tỷ lệ tổn thất trong và sau thu hoạch không thay đổi (10%), biến đổi khí hậu vượt mức dự đoán, năng suất bình quân thấp (chỉ đạt 5,8 tấn/ha), tiêu dùng gạo không giảm nhanh (vẫn ở mức 120kg/người/năm vào năm 2030), thì với diện tích lúa 3,0 triệu ha Việt Nam vẫn đảm bảo an ninh lương thực trong nước và có dư thừa cho xuất khẩu. Trước xu hướng gia tăng cạnh tranh xuất khẩu gạo trên thế giới, nếu không xuất khẩu được gạo, Việt Nam sẽ bị rơi vào tình trạng dư thừa nguồn cung trong nước. Với cấu trúc thị trường lúa gạo mà giá thu mua xuất khẩu sẽ quyết định giá thu mua lúa của nông dân trong nước, thì giá lúa trong những năm tới sẽ tiếp tục bị sụt giảm.   Khi đó áp lực với chính sách mua dự trữ lúa gạo của Chính phủ (hoặc bất cứ một hình thức hỗ trợ giảm giá nào) để giúp đỡ người nông dân sẽ gia tăng, đòi hỏi sự can thiệp về ngân sách ngày càng lớn hơn, dẫn tới những méo mó trên thị trường. Kinh nghiệm của nhiều nước mà mới đây nhất là trường hợp Thái Lan minh chứng cho kinh nghiệm chính sách này.   Vì vậy, cần áp dụng chính sách sử dụng linh hoạt quĩ đất trồng lúa. Thay vì qui định cứng 3,8 triệu ha quĩ đất trồng lúa, Chính phủ nên quy hoạch đất thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là đất chuyên dụng trồng lúa do có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn các loại cây trồng hằng năm khác, đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt kèm theo (chính sách hỗ trợ cào bằng trên diện tích đất lúa lâu nay rất kém hiệu quả); nhóm thứ hai là đất có khả năng dễ dàng chuyển đổi sang các loại cây trồng hằng năm khác trong trường hợp trồng lúa không cạnh tranh bằng, và ngược lại. Việc quyết định trồng loại cây gì hằng năm là lựa chọn riêng của mỗi hộ nông dân theo nhu cầu của thị trường.  Điều chỉnh này sẽ giúp người nông dân Việt Nam có thêm quyền chọn lựa loại cây trồng, qua đó sẽ có thêm năng lực mặc cả trong việc định giá lúa gạo với các công ty thu mua. Đây sẽ là chính sách giúp Việt Nam có thể điều tiết được nguồn cung trồng lúa một cách linh hoạt theo biến động của nhu cầu tiêu thụ gạo trên thị trường thế giới.  Chính sách quy định giá sàn thu mua lúa, đảm bảo nông dân lãi ít nhất 30%  Chính sách này có mục tiêu tốt đối với người nông dân nhưng trên thực tế lại tác động ngược gây hại cho người nông dân. Việc xác định giá thành sản xuất lúa khá phức tạp về thống kê và phí tổn thời gian để đảm bảo tính chính xác, và mang tính đại diện cho sản xuất lúa phổ biến của một vùng. Sự biến động nhanh của thị trường các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu, hay giá lao động, … sẽ làm cho việc xác định chi phí tại mỗi thời điểm liên tục biến đổi.   Hơn nữa ở ĐBSCL, doanh nghiệp chủ yếu thu mua lúa gạo qua thương lái, nên mức giá mà người nông dân được hưởng luôn thấp hơn mức giá thu mua của công ty. Nếu căn cứ vào con số công bố mức giá thành sản xuất lúa tại các tỉnh ĐBSCL nằm trong một khoảng rất rộng, chẳng hạn từ 3.742 – 4.908 đồng/kg như đã áp dụng đối với vụ hè thu năm 2014,1 thì các doanh nghiệp gần như cầm chắc thu mua lúa của người nông dân ở trên mức giá thành mang tính kỹ thuật này cộng với 30% “lãi” như kỳ vọng của chính sách. Với mức giá thành kỳ vọng thu mua được như vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo có xu hướng đàm phán bán gạo với giá thấp cho nước ngoài và quay trở lại định giá mua thấp với nông dân. Người nông dân vì thế luôn chỉ được hưởng mức lãi thấp do bị doanh nghiệp thu mua ép giá. Hơn nữa, người nông dân sẽ không mặn mà với việc trồng các loại lúa gạo có chất lượng cao do giá thành trồng các loại giống lúa này cao hơn. Mức giá sàn này vô hình trung tạo ra một “chuẩn” thu mua thóc bất lợi cho những người nông dân trồng các loại lúa có chất lượng cao theo hợp đồng nông sản với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo.  Như vậy, chính sách này không những không đem lại phần lợi nhuận nhiều hơn cho nông dân mà còn vô tình phá hoại chính sách khuyến khích nông dân chuyển dịch sang trồng các loại giống lúa gạo có chất lượng cao. Để thay đổi tình trạng này, việc ấn định giá lúa gạo phải có nhiều hơn tiếng nói của đại diện người trồng lúa. Thành viên của “Ủy ban Giá Lúa Gạo” gồm có đại diện Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, đại diện Hội nông dân sản xuất lúa.  Chính sách trợ cấp tín dụng thu mua tạm trữ  Chính sách trợ cấp tín dụng cho doanh nghiệp thu mua tạm trữ được thực hiện song hành với chính sách đảm bảo người nông dân có lãi ít nhất 30%. Theo nhiều phân tích, hiệu quả của chính sách này không thực sự rõ ràng và người nông dân Việt Nam không được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách này.   Khác với các chính sách thu mua tạm trữ của Thái Lan và Ấn Độ, nơi các doanh nghiệp nhà nước thu mua lúa ở mức giá tối thiểu trực tiếp từ nông dân, thì ở Việt Nam, các doanh nghiệp thu mua lúa gạo tạm trữ thông qua thương lái. Vì vậy, chính sách hỗ trợ này chỉ mang lại lợi ích gián tiếp cho người nông dân nếu như giá lúa gạo tăng trở lại. Mặt khác, chính sách cũng chưa tính đến việc hỗ trợ khắc phục thiếu hụt năng lực sấy và tạm trữ lúa.  Vì vậy, tác động từ chính sách chưa làm tăng đáng kể lượng lúa thu mua. Giá thu mua vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng ký được hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp. Và đó chính là lý do tại sao trong bốn lần thu mua tạm trữ từ năm 2009 đến 2012 (vụ hè thu vào các năm 2009, 2010; vụ đông xuân vào các năm 2011 và 2012) thì có đến hai lần thất bại, giá lúa thu mua tiếp tục giảm thay vì tăng trở lại.   Chính phủ nên sửa đổi chính sách này như sau: khi giá lúa trên thị trường  xuống thấp hơn giá lúa do Ủy ban Giá Lúa Gạo công bố, Nhà nước cho phép các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) vay tiền để đầu tư vào máy sấy và kho trữ lúa và theo khối lượng lúa của các xã viên đang tạm trữ lúa. Họ cũng cần được ứng trước một số tiền để đáp ứng cho các nhu cầu cấp bách của nông hộ. Đến khi giá lúa tăng trở lại thì họ sẽ bán lúa và trả lại tiền tạm ứng của Nhà nước. Số lượng lúa tạm trữ sẽ được hỗ trợ tối đa 100% lãi suất cho HTXNN. Như thế người nông dân sẽ hưởng trực tiếp chính sách hỗ trợ của nhà nước.                Cần áp dụng chính sách sử dụng linh hoạt quĩ đất trồng lúa. Thay vì qui định cứng 3,8 triệu ha quĩ đất trồng lúa, Chính phủ nên quy hoạch đất thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là đất chuyên dụng trồng lúa do có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn các loại cây trồng hằng năm khác, đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt kèm theo (chính sách hỗ trợ cào bằng trên diện tích đất lúa lâu nay rất kém hiệu quả); nhóm thứ hai là đất có khả năng dễ dàng chuyển đổi sang các loại cây trồng hằng năm khác trong trường hợp trồng lúa không cạnh tranh bằng, và ngược lại. Việc quyết định trồng loại cây hằng năm gì là lựa chọn riêng của mỗi hộ nông dân theo nhu cầu của thị trường.                   Chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo   Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định 109/NĐ-CP/2010 đặt ra những điều kiện có tính siết chặt hơn2 đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo nhằm giảm bớt các đầu mối xuất khẩu, tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán. Hệ quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên. Tuy nhiên, chính sách này không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân, thay vào đó vô hình trung tăng cường thêm tầng lớp thương lái giữa nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu.   Việc tập trung xuất khẩu vào một số ít doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp lớn này có xu hướng tìm các thị trường xuất khẩu các lô lớn các loại gạo chất lượng thấp với giá rẻ thay vì tìm kiếm xuất khẩu tại các thị trường ngách các loại gạo có chất lượng cao, với giá bán cao hơn. Chính sách này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ có liên kết với nông dân để sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, đặc sản địa phương, có thị trường đầu ra ổn định, lợi nhuận cao và tính cạnh tranh cao, nhưng lại không thể trực tiếp xuất khẩu do không đủ điều kiện về kho chứa, hệ thống xay xát (chủ yếu vì quy mô không cho phép sở hữu các công đoạn đó). Chính sách này đang tăng độc quyền và hạn chế sự năng động của khu vực tư nhân, đồng nghĩa với giảm cạnh tranh theo hướng chất lượng. Cùng với đó, trong nghị định này không hề đề cập đến lợi ích của người nông dân, giá xuất khẩu không được niêm yết dẫn tới việc tăng giá xuất khẩu chỉ có lợi cho các nhà xuất khẩu vì nông dân không có nguồn thông tin nào để tiếp cận.  Theo các điều tra mới đây thì các doanh nghiệp xuất khẩu lớn hiện đầu tư rất ít vào tăng cường năng lực tiếp thị và tìm kiếm thị trường mới, nguyên nhân cũng do chính sách tập trung đầu mối xuất khẩu hiện không tạo động lực cho họ.   Chính sách hỗ trợ sản xuất tại khu vực ĐBSCL hiện nay chủ yếu tập trung vào khuyến cáo người nông dân tập trung sản xuất các loại giống nhằm nâng cao chất lượng lúa gạo. Tuy nhiên, khi nông dân sản xuất các giống lúa chất lượng cao hơn thì thị trường (thương lái, nhà máy) vẫn chỉ tìm mua các giống lúa chất lượng thường phục vụ cho xuất khẩu khiến người nông dân không bán được lúa.   Mặt khác hiện nay, các dịch vụ khuyến nông không đủ mạnh để thuyết phục nông dân sản xuất tối ưu hóa đầu vào nhằm giảm giá thành sản xuất và giảm phát thải khí nhà kính. Vẫn tồn tại tình trạng nông dân rơi vào tình trạng nợ các doanh nghiệp cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và xu hướng sử dụng cao hơn nhu cầu ngày càng tăng. Các dịch vụ làm đất và dịch sau thu hoạch (máy gặt đập, máy sấy) trong khu vực không đáp ứng đủ nhu cầu dẫn đến việc tăng chi phí trong sử dụng dịch vụ và giảm lợi ích của nông dân, đặc biệt là trong khâu phơi sấy và lưu trữ yếu dẫn đến nông dân giảm lợi nhuận, bị ép giá do phải bán lúa tươi trong khi chính sách hỗ trợ chưa đúng trọng tâm.  Một số chính sách khác  Sản phẩm gạo Việt Nam có giá thành được trợ cấp trong một số khâu đầu vào thiết yếu (nghiên cứu, thủy lợi, hạ tầng…)  tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu lại bị xuất với giá thấp, vô hình trung tạo thành sự trợ cấp cho người tiêu dùng nước nhập khẩu gạo trong khi nông dân sản xuất trong nước lại không được hưởng thông qua tăng thu nhập. Để tránh tình trạng này cần đồng bộ các chính sách để tăng xuất khẩu chất lượng cao, giảm triệt để xuất khẩu chất lượng thấp và xuất tiểu ngạch như trường hợp với Trung Quốc trong vài năm gần đây. Đối với lúa gạo xuất khẩu cũng cần tính đầy đủ giá thành bao gồm cả chi phí môi trường, khấu hao cho nghiên cứu chứ không nên chỉ tính các chi phí tiền mặt như hiện nay.  Bên cạnh đó, Chính phủ lâu nay có một số các chính sách khác như hỗ trợ trực tiếp cho nông dân trồng lúa, chính sách bình ổn giá gạo thông qua trợ cấp bán lẻ, miễn thuế VAT tạm thời cho kinh doanh gạo trong nước, chính sách hỗ trợ trực tiếp lương thực cho các hộ nghèo đói v.v. nhưng với những mức hỗ trợ tương đối thấp thì những chính sách này chủ yếu mang tính xã hội và không đủ lớn để thay đổi hành vi kinh tế của các tác nhân trên thị trường lúa gạo.   ——————————————–  * Phó chủ tịch Hội khoa học phát triển nông thôn – Phano  1. Theo Công văn số 6239/BTC-QLG, công bố giá mua thóc định hướng vụ hè thu năm 2014, của Bộ Tài chính ngày 14.05.2014.  2 Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện cần đó là: (i) Có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ tối thiểu 5.000 tấn lúa; (ii) Sở hữu ít nhất một cơ sở xay xát thóc với công suất tối thiểu là 10 tấn thóc/giờ tại tỉnh, thành phố có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển xuất khẩu thóc, gạo.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chuyên viên đầu tiên về công nghệ đóng gói bằng kỹ thuật in 3D      Sáng nay, 7/2/2018, trung tâm nghiên cứu triển khai (trực thuộc khu công nghệ cao TP.HCM) và Đại học TuDeft (Hà Lan) đã trao chứng nhận tốt nghiệp cho 15 chuyên viên đầu tiên đến từ các trường đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp trong khu công nghệ cao TP.HCM đã tham dự khóa đào tạo về công nghệ đóng gói bằng kỹ thuật in 3D và chế tạo thử nghiệm cảm biến lưu lượng (flow sensor) tại phòng sạch của trung tâm nghiên cứu triển khai.      15 chuyên viên đầu tiên về công nghệ in 3D  Theo ông Ngô Võ Kế Thành, giám đốc trung tâm nghiên cứu triển khai, khóa đào tạo này đã giúp các chuyên viên hiểu kiến thức cơ bản về lý thuyết bán dẫn MEMS, thực hành trong phòng sạch về các quy trình công nghệ chế tạo linh kiện MEMS, phân tích thị trường, phương án thương mại hóa và lựa chọn linh kiện MEMS để sản xuất thử nghiệm.  Cũng theo ông Thành, đây là khóa đào tạo theo chương trình hợp tác giữa trung tâm nghiên cứu triển khai, Đại học TuDeft và công ty Fabmax (Hà Lan). Phía Chính phủ Hà Lan đã tài trợ nguồn tiền cho chương trình hợp tác đào tạo này là 300.000 euro.  Cũng trong dịp này, trung tâm nghiên cứu triển khai đã tiếp tục ký kết với Đại học TuDeft với các nội dung: hai bên tiếp tục hợp tác trong việc nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm các linh kiện MEMS và hệ thống ứng dụng trong lĩnh vục môi trường, Đại học Tudeft tiếp tục hỗ trợ đội ngũ cán bộ khoa học cập nhật các kiến thức mới nhất trên thế giới về lĩnh vực vi cơ điện tử và cùng tổ chức các hội thảo quốc tế về lĩnh vực MEMS giai đoạn 2017-2020.  Tin, ảnh: Hoàng Triều  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những con số không bình thường*      Chưa bao giờ thị trường chứng khoán Việt Nam lại nóng như hiện nay. Nhiều người đã đưa những cảnh báo về độ nóng thị trường với những thuật ngữ và cách giải thích hết sức đa dạng. Nhằm giúp bạn đọc có thêm thông tin tham khảo, bài viết xin nêu ra hai chỉ số cơ bản nhất là P/E và M/B dùng để đo lường sức nóng này.    Giá cổ phiếu và sự biến động của nó  Giá của cổ phiếu hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả hoạt động kinh doanh hay sức khỏe của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp hoạt động ổn định mà không gặp phải những biến cố bất ngờ dẫn đến phải thanh lý hay phá sản thì dòng tiền mà người nắm giữ cổ phiếu nhận được là cổ tức được chia hàng năm. Con số này có sự dao động và đôi khi cũng có những khoản bất thường nào đó, nhưng nhìn chung bình quân trong dài hạn nó chính là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về bản chất, giá cổ phiếu do dòng tiền này và sự biến động của nó quyết định và sự nóng lên của thị trường là do sự tăng giá của các cổ phiếu gây ra.  Giá trị sổ sách, giá trị thị trường và tỷ số M/B  Giả sử một doanh nghiệp mới thành lập phát hành 1 triệu cổ phiếu lần đầu để huy động 10 tỷ đồng thực hiện một dự án đem lại suất sinh lợi 20% một năm mãi mãi, đây cũng là suất sinh lợi yêu cầu (lãi suất) đối với hoạt động kinh doanh mới và rủi ro này. Giá một cổ phiếu lúc này sẽ là 10 nghìn đồng và bằng đúng mệnh giá của nó. Doanh nghiệp nhận được 10 tỷ đồng ghi vào mục vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán của mình. Con số này được gọi là giá trị số sách ban đầu của cổ phiếu hay vốn chủ sở hữu.  Thêm vào đó, sau một số năm hoạt động có lợi nhuận, doanh nghiệp không chia hết cho các cổ đông mà giữ lại một phần (giả sử là 10 tỷ) thì lúc này giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu sẽ là 20 tỷ đồng. Như vậy giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu hay cổ phiếu chính là số tiền thu được từ việc bán cổ phiếu cộng với các khoản thặng dư cũng như lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp. Đây chính là số tiền thực tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp nói riêng, giá trị gia tăng cho nền kinh tế nói chung.  Sau khi hoàn tất dự án nêu trên, người ta mới biết rằng, tỷ suất lợi nhuận sau thuế bình quân của doanh nghiệp đạt được lên đến 40% một năm mãi mãi chứ không phải chỉ 20% như ước tính ban đầu. Lúc này, giá cổ phiếu sẽ tăng lên 20 nghìn đồng, giá trị vốn hóa thị trường (số cổ phiếu nhân với giá thị trường của cổ phiếu) sẽ là 20 tỷ đồng, và tỷ số M/B giữa giá thị trường (Market value) và giá trị sổ sách (Book value) của cổ phiếu sẽ là 2 thay vì 1 như ban đầu. Sau một thời gian, hoạt động ổn định, rủi ro của doanh nghiệp giảm đi nên suất sinh lợi yêu cầu của cổ phiếu này giảm dần xuống còn 10%, thay vì 20% như trước thì giá cổ phiếu trên thị trường sẽ là 40 nghìn và tỷ số M/B sẽ bằng 4.  Ý nghĩa của giá trị sổ sách chính là số tiền thực sự được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp và giá trị gia tăng cho nền kinh tế; ý nghĩa của giá thị trường là mức độ kỳ vọng của công chúng vào khả năng tạo ra tiền trong tương lai của doanh nghiệp; và tỷ số M/B thể hiện lợi nhuận mà một đồng tiền thực tạo sẽ phải gánh cho M/B đồng kỳ vọng. Hơn thế nữa, khi nhìn vào tỷ số này và số vốn hóa thị trường sẽ biết thực tế có bao nhiều tiền thực sự đang được đưa vào nền kinh tế (đương nhiên là ở nhiều thời điểm khác nhau).  Nhìn chung, tỷ số M/B thường lớn hơn 1, nhưng câu hỏi đặt ra là lớn bao nhiều thì hợp lý? Bằng chứng thực nghiệm cho thấy, tỷ số này thường dao động từ 2 đến 3 là hợp lý. Ở các nước đang phát triển, trong những thời điểm thị trường đang nóng, chỉ số này cũng chỉ dao động quanh 4 là cùng. Nhìn chung, việc doanh nghiệp có tỷ số M/B lớn hơn 4 phải là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh rất tốt có rất nhiều triển vọng và khó có thể thất bại như Google, IBM, Microsoft…, nếu không con số như vậy sẽ là rất bất thường.  P/E và ý nghĩa của nó  P/E là tỷ số giữa giá cổ phiếu (Price) và thu nhập trên một cổ phiếu (EPS- Earning Per Share) trong một niên độ kế toán. Con số này có thể hiểu rằng để có thể nhận được một đồng từ cổ tức trong tương lai, người ta sẽ phải bỏ P/E đồng hiện tại. Nói một cách đơn giản, nếu công ty đã đi vào hoạt động ổn định, lợi nhuận các năm là như nhau (thực tế là có thay đổi, nhưng bình quân các năm dao động quanh một con số nào đó) thì lật ngược tỷ số này lại có thể thấy được suất sinh lợi bình quân hàng năm là bao nhiêu. Ví dụ, nếu P/E luôn ổn định bằng 15 – 20 thì suất sinh lợi bình quân của nhà đầu tư nhận được hàng năm sẽ vào khoảng 5%-7%. Nếu lợi nhuận của công ty có sự tăng trưởng đều đặn (giả sử bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế) thì suất sinh lợi sẽ cao hơn con số nêu trên.  Với suất sinh lợi của việc đầu tư vào cổ phiếu đạt được từ 5-7% ở các doanh nghiệp ổn định và 10-15% ở các doanh nghiệp đang phát triển là mức phải chăng. Đây là chính là lý do được đưa ra để cho rằng tỷ số P/E dưới 20 là hợp lý. Đối với các nước đang phát triển, trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, người ta lạc quan về bức tranh kinh tế trong tương lai thì tỷ số P/E cũng chỉ dưới 30. Khi mà chỉ số P/E càng vượt xa những con số nêu trên thì sức nóng của thị trường càng gia tăng.  Câu chuyện thị trường cổ phiếu Việt Nam  Không có điều kiện phân tích toàn thị trường, bài viết chỉ xem xét 14 cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường vào ngày 09/03 với tổng giá trị lên đến 202 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn ½ tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường thì thấy rằng, tỷ số M/B bình quân của chúng lên đến 11,7 lần và tỷ số P/E là 58 lần (IMF tính trước đó ít ngày cho toàn thị trường lên đến 73,3).   Nếu hai con số này là đại diện cho thị trường chứng khoán Việt Nam thì có nghĩa là với tổng giá trị vốn hóa trên 300 nghìn tỷ đồng của toàn thị trường hiện nay, thực tế chỉ có trên dưới 30 nghìn tỷ đồng là thực sự được đưa vào nền kinh tế, một tỷ lệ hết sức khiêm tốn. Những con số còn lại chẳng qua chỉ là sự mua qua bán lại giữa các nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp. Với tỷ số P/E bằng 58 lần có thể hiểu rằng người mua sẵn sàng bỏ ra 58 đồng để nhận về một đồng và suất sinh lợi lúc này chỉ là 1,72% một năm mà thôi.  So sánh hai con số nêu trên với 4 và 20 thì thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đang rất nóng và khi mà quả bong bóng đã quá căng thì nguy cơ bị vỡ sẽ không nhỏ chút nào. Khi đó, phần thiệt sẽ thuộc những người không rút kịp ra khỏi thị trường trước khi quả bong bóng này nổ.  ———-  * Với mục đích để cho vấn đề đơn giản nên bài viết muốn giải thích những vấn đề liên quan đến các lý thuyết tài chính một cách đơn giản nhất và sử dụng những thuật ngữ bình dân do vậy, một số lập luận sẽ không thực sự chặt chẽ dưới con mắt của những người am hiểu về lĩnh vực này.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những công nghệ chăm sóc sức khỏe hứa hẹn trong năm 2017      Kính áp tròng đo được nồng độ đường huyết, bữa ăn được chuẩn bị dựa trên dữ liệu về gene, thưởng tiền hằng ngày cho những khách hàng bảo hiểm y tế giữ sức khỏe tốt, thay thế chân tay giả chỉ trong một buổi khám… là những công nghệ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe hứa hẹn sẽ bùng nổ trong năm nay.      Đo đường huyết bằng kính áp tròng  Năm 2016, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho bộ phận tụy nhân tạo đầu tiên trên thế giới. Thiết bị này có thể điều tiết lượng đường máu và cung cấp Insulin một cách tự động với chức năng như một tuyến tụy tự nhiên khỏe mạnh. Đột phá này mang lại cho bệnh nhân tiểu đường một cuộc sống khỏe mạnh lâu dài và đây cũng là bước tiến xa nhất trong việc kiểm soát tiểu đường trong những năm gần đây.  Sản phẩm này ra đời sau cuộc vận động #wearenotwaiting để bắt đầu chiến dịch đưa các thiết bị như tuyến tụy nhân tạo vào thị trường.  Sự phát triển của các liệu pháp chăm sóc bệnh nhân tiểu đường không dừng lại ở đó. Mới đây, tập đoàn Google đã đăng kí sáng chế cho kính áp tròng kĩ thuật số có khả năng đánh giá nồng độ đường huyết trong nước mắt, một sản phẩm có sự hợp tác của tập đoàn dược phẩm Novartis. Trái ngược với sự im lặng ở giai đoạn nghiên cứu và phát triển, hiện có tin đồn rằng sản phẩm đã sẵn sàng cho những thử nghiệm trong năm 2017.  Dược phẩm “súng bắn tỉa”  Công nghệ kỹ thuật số sẽ bắt đầu thay đổi các phương pháp chăm sóc và điều trị ung thư trên thị trường trong những năm tới đây. Phác đồ điều trị được cá nhân hóa sẽ ngày càng trở nên phổ biến với sự xuất hiện của các dự án, công ty khởi nghiệp như Foundation Medicine hay SmartPatients. Foundation Medicine mong muốn cung cấp thông tin cho quá trình điều trị từng bệnh nhân ung thư cụ thể dựa trên những phép thử DNA. Trong khi đó, SmartPatients lại cố gắng thay đổi những liệu pháp chống ung thư bằng việc xây dựng cộng đồng trực tuyến, nơi những người bệnh có thể chia sẻ hiểu biết, giúp hoàn thiện các dịch vụ đang chăm sóc họ.  Bên cạnh đó, những tiến bộ nổi bật trong liệu pháp miễn dịch cũng mở ra một kỉ nguyên mới trong cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác này. Sinh thiết lỏng (Liquid Biopsy) – công nghệ cho phép xác định các tế bào ung thư hay các mảnh DNA vỡ ra từ tế bào ung thư lưu thông trong máu – là một dấu mốc quan trọng trong năm 2016 và nó đang trở lên dễ tiếp cận hơn đối với bệnh nhân trên toàn thế giới. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng công nghệ này đang từng bước được cải tiến. Dược phẩm khu trú cũng đang thay đổi cuộc chơi của phác đồ điều trị ung thư với việc sử dụng “thần công” sang sử dụng những tay “súng bắn tỉa” cừ khôi.  Thực tế tăng cường và thực tế ảo trong điều trị và đào tạo y dược   Nói về thực tế tăng cường (augmented reality), và người anh của nó là thực tế ảo (virtual reality), những năm gần đây, hai công nghệ này đã đủ trưởng thành để có thể ứng dụng trong điều trị lâm sàng, đào tạo y dược, và nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân. Tháng 4/2016, ca mổ bóc tách khối u bằng công nghệ thực tế ảo đầu tiên trên thế giới đã được thực hiện tại London. Những ai mang Google Cardboard hay thiết bị thực tế ảo tương tự đều có thể theo dõi ca mổ này hay các ca mổ khác trong tương lai.    Hệ thống thực tế tăng cường Hololens của Microsoft đã được Cleverland Clinic và Đại học Case Western Reserve sử dụng để tạo ra phần mềm HoloAnatomy hỗ trợ giảng dạy và học tập môn sinh lí học cơ thể người.  Trong thực tế ứng dụng, các thiết bị thực tế ảo đã được sử dụng thành công nhằm làm xao lãng trẻ nhỏ khi tiến hành tiêm hay truyền dịch, giúp giảm nhẹ những tác động lâu dài đến tâm lí trẻ nhỏ trong quá trình thực hành y tế.  Nổi bật nhất trong lĩnh vực này phải kể đến sự kết hợp giữa công nghệ thực tế ảo và điện não đồ đã giúp những bệnh nhân bị tổn thương hệ thống thần kinh cột sống phục hồi khả năng vận động ở những đôi chân tưởng như đã bị liệt vĩnh viễn. Sự kì diệu này đạt được mà không cần đến những can thiệp kiểu cấy ghép hay phẫu thuật.  Bữa ăn dựa trên thông tin về di truyền  Năm 2017, ngành công nghiệp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng sẽ cung cấp cho người dùng những dịch vụ còn hết sức mới mẻ và lạ lẫm. Trong số đó, dinh dưỡng di truyền, kết hợp giữa khoa học di truyền và dinh dưỡng, nổi lên một cách tiềm năng, xuất phát từ ý tưởng bộ gene sẽ tiết lộ những thông tin quan trọng về nhu cầu của cơ thể. Sau khi bộ gene của bạn đã được giải mã, một phần mềm thông minh sẽ cho bạn biết thực phẩm nào bạn nên hoặc tuyệt đối không nên ăn. Habit – một start-up ở California, đã lên kế hoạch sử dụng những thông tin di truyền để xây dựng bữa ăn lý tưởng cho từng khách hàng và gửi nó đến tận nhà cho họ mỗi ngày.  Hiệu chỉnh gene để chống ung thư  Trong năm qua, kỹ thuật hiệu chỉnh gene CRISPR đã tiến những bước hết sức quan trọng trong công cuộc nghiên cứu ra các liệu pháp hỗ trợ sức khỏe. Các nhà khoa học đã tạo ra loài muỗi có khả năng kháng lại ký sinh trùng sốt rét bằng công nghệ này. Một số nhà khoa học khác thì đang nỗ lực hiệu chỉnh tế bào miễn dịch của con người nhằm nâng cao khả năng tìm, diệt của chúng đối với các tế bào ung thư. Cũng trong năm vừa qua, các nhà khoa học đã điều trị thành công bệnh nhược cơ Duchenne trên chuột. Với những thành công ban đầu này, cơ hội mới cho việc ứng dụng công nghệ CRISPR vào điều trị lâm sàng tiếp tục được mở ra.  Thưởng tiền khách hàng giữ sức khỏe tốt  Năm 2017, việc tiếp nhận dữ liệu từ khách hàng sẽ làm nên sự chuyển dịch trong mảng dịch vụ bảo hiểm y tế. Oscar Health (Mỹ) đã có những bước đi đầu tiên trong việc xây dựng ý tưởng này với vấn đề nêu ra đậm chất kinh doanh: không lượng hóa được sức khỏe, ngành bảo hiểm sẽ là ngành kinh doanh mạo hiểm nhất. Với sự hỗ trợ của Oscar Health, những người được bảo hiểm có thể cung cấp thông tin đánh giá sức khỏe qua hệ thống dữ liệu Fitbit, và nếu họ đạt được các mục tiêu về sức khỏe, họ sẽ nhận được 1$ mỗi ngày. Đây là cách có thể giúp mọi người có động lực giữ gìn sức khỏe chỉ với một phần thưởng nhỏ.  Bên cạnh đó, việc ăn uống những thực phẩm không lành mạnh, uống rượu, hút thuốc quá nhiều, và không tập thể thao không chỉ có nguy cơ lấy đi của con người sức khỏe và tiền bạc về lâu dài mà còn là gánh nặng lớn cho bảo hiểm của họ với những chi phí phát sinh.  Dự đoán 245 triệu thiết bị tầm soát nhỏ gọn có thể mang theo người sẽ được bán vào năm 2019. Với việc ngày càng có nhiều dữ liệu về lối sống của con người được ghi nhận qua các thiết bị này, hiển nhiên các công ty bảo hiểm sẽ tận dụng chúng. Năm nay, một công ty bảo hiểm lớn (không phải một start-up!) sẽ tung ra một gói sản phẩm bao gồm thiết bị cảm biến mang theo cùng một hướng dẫn về lối sống lành mạnh.  Robot phẫu thuật của Google và Johnson&Johnson sẽ cạnh tranh với daVinci  Robot phẫu thuật sẽ thay đổi cách tiến hành các ca phẫu thuật trong tương lai. Ngành công nghiệp này đang bùng nổ: đến năm 2020, doanh thu từ việc bán các robot phẫu thuật dự kiến sẽ tăng gấp đôi, đạt 6,4 tỷ USD.  Một ví dụ điển hình là hệ thống phẫu thuật daVinci do Intuitive Surgical (Mỹ) nghiên cứu chế tạo, nổi bật bởi tính năng cung cấp hình ảnh 3D phóng đại và trang bị cánh tay robot tinh xảo để hỗ trợ các bác sĩ phẫu thuật thao tác chuẩn xác hơn thông thường. Thiết bị được kiểm soát hoàn toàn bằng hệ thống robot ở mọi thời điểm sẽ giúp vết mổ nhỏ hơn rất nhiều so với trước đây, đồng thời cải thiện độ chính xác một cách đáng kể. Với tham vọng tương tự, Google đã bắt tay cùng với Johnson&Johnson để tạo ra sản phẩm cạnh tranh với daVinci.  Chẩn đoán bệnh qua giọng nói  Cách đây không lâu, các nhà khoa học khám phá ra những đặc trưng không dễ nhận biết của giọng nói mỗi người. Những đặc trưng này, mà các nhà khoa học gọi là “dấu ấn sinh học” của giọng nói, có thể được sử dụng để chẩn đoán, phát hiện các bệnh lý từ căng thẳng, trầm cảm đến tim mạch. Beyond Verbal – một công ty của Israel – đã chào hàng hệ thống chẩn đoán, phân tích cảm xúc thông qua thu nhận ngữ điệu giọng nói. Thay vì tập trung vào các chất đánh dấu sinh học đo được trong máu hay gene, dấu ấn sinh học của giọng nói – do dễ phát hiện, ghi lại và phân tích – sẽ được sử dụng nhiều hơn để giúp chẩn đoán và ngăn ngừa bệnh tật.  Thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu thuốc bằng công nghệ AI  Thông thường, việc tiến hành các thử nghiệm lâm sàng mất đến hàng thập kỷ và tốn kém lên đến hàng tỷ USD. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI), quá trình này có thể được rút ngắn lại với chi phí rẻ hơn. Mới đây, Atomwise đã sử dụng siêu máy tính để mô phỏng các tương tác với thuốc để đề xuất loại thuốc điều trị phù hợp. Năm ngoái, Atomwise đã bắt tay tìm kiếm những thuốc an toàn, sẵn có để thiết kế lại chúng nhằm mang tới liệu pháp điều trị virus Ebola. Với sự hỗ trợ của công nghệ AI, công ty này đã tìm ra hai loại thuốc có thể làm giảm khả năng lây lan của virus Ebola. Phân tích này, thông thường phải mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để hoàn thành, đã được làm chỉ trong vòng chưa đến 24 giờ.  Các công ty dược phẩm đã thấy hơi nóng phả ra từ AI và đòi hỏi tất yếu là họ phải sớm thay đổi mô hình kinh doanh.  Thay thế chân, tay giả chỉ trong một buổi khám    Trước đây, nếu bạn bị gãy chân, gãy tay, bác sĩ phải tiến hành một quá trình kéo dài hết sức phức tạp và đau đớn để giúp bạn thay thế bộ phận đó an toàn, tránh những phản ứng viêm hay đào thải.  Giờ đây, một hệ thống liên hoàn sẽ quét cánh tay của bạn trong vòng 5 phút, rồi in ra bộ phận thay thế có khả năng chống thấm và nhẹ chưa đến 350 gr, cuối cùng là cố định nó luôn trên cơ thể bạn. Bạn có thể ra về ngay sau một buổi khám để bắt đầu giai đoạn phục hồi. Rẻ hơn, nhanh hơn, thuận tiện hơn cho cả bệnh nhân và bác sĩ, công nghệ này đang được thử nghiệm tại Exovite – một công ty in 3D Tây Ban Nha. Việc quét và thiết kế những bộ phận chân tay giả thay thế tùy biến không phải là quá khó. Rào cản chính đối với việc áp dụng phương pháp nói trên là sự chấp thuận từ giới bác sĩ chấn thương chỉnh hình. Tuy vậy công nghệ này hứa hẹn sẽ sớm ra mắt trong năm 2017.  Trần Tuấn Hiệp tổng hợp  Nguồn:  http://medicalfuturist.com/the-most-exciting-medical-technologies-of-2017/?utm_source=Newsletter+list&utm_campaign=66699feb05-Newsletter_2014_07_177_17_2014&utm_medium=email&utm_term=0_efd6a3cd08-66699feb05-420519741  http://www.medgadget.com/2016/12/medgadgets-best-medical-technologies-2016.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những công nghệ hiện đại từ năng lượng mặt trời      Với giá thành ngày càng giảm, pin quang điện hóa (hay pin mặt trời- photovoltaic cell) đang được ứng dụng rộng rãi để tạo ra nhiều công nghệ mới, từ những hộp sạc điện thoại thông minh cho đến loại sơn hấp thụ ánh sáng mặt trời.  &#160;    Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo lớn nhất trên trái đất và con người đã tìm ra nhiều cách để tận dụng nguồn tài nguyên này trong việc khai thác lương thực, sưởi ấm và điện năng. Một báo cáo gần đây của Tổ chức Năng lượng Quốc tế ( International Energy Agency) cho biết, dự đoán vào năm 2050, mặt trời có thể sẽ trở thành nguồn điện năng lớn nhất, xếp trên cả nhiên liệu hóa thạch, năng lượng gió, thủy năng và năng lượng hạt nhân.   Việc giảm giá thành của pin quang điện hóa cũng khiến điện mặt trời có khả năng trở thành nguồn năng lượng chính trong tương lai. Những hoạt động đổi mới sáng tạo gần đây đã tập trung tinh chỉnh các công nghệ điện mặt trời, tiến tới những công nghệ hiệu quả hơn, rẻ hơn và cũng thân thiện với môi trường hơn. Ví dụ một nhóm nghiên cứu ở Úc đã phát triển loại tế bào mực năng lượng mặt trời có thể in lên cả nhựa; Mercedes-Benz cũng đã công bố một loại xe được sơn bằng sơn mặt trời. Dưới đây là bảy ví dụ khác về những ứng dụng khác nhau của nguồn năng lượng này.   Bộ tiêu chuẩn cho tấm năng lượng mặt trời  Những tấm năng lượng mặt trời thường được coi là cách sản xuất điện “sạch” nhất. Giờ đây chứng chỉ Cradle to Cradle (C2C) do Viện Sáng tạo Sản Phẩm Cradle to Cradle (trụ sở chính ở California, Mỹ) cấp sẽ khiến cho tấm năng lượng mặt trời trở nên bền vững hơn nữa. C2C là một tập hợp các tiêu chuẩn, nguyên tắc đo lường chất lượng sản phẩm về tính an toàn của vật liệu, khả năng tái sử dụng của vật liệu, khả năng tái tạo năng lượng, quản lý nước và công bằng xã hội.  Tấm năng lượng mặt trời của công ty SunPower (Mỹ), đã được chứng chỉ Bạc của C2C và mới được tung ra thị trường vào tháng 11, là những tấm năng lượng mặt trời đầu tiên và duy nhất hiện nay trên thế giới có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về qui trình sản xuất bền vững. Tất cả các tấm pin đều được sản xuất ở Mexicalia (Mexico), không sử dụng hoạt chất tổng hợp cadmium chloride hay cadmium, vốn có hại với sức khỏe con người và môi trường như trong một vài loại pin mặt trời khác. Công ty này có hẳn một chương trình về tái sử dụng và tái chế để đảm bảo cho các tấm pin này vẫn hữu dụng đến tận giai đoạn cuối, khi những bộ phận không thể tái sử dụng sẽ được xử lý bởi các nhà tái chế đã được cấp giấy chứng nhận.   Hội tụ năng lượng mặt trời  Một nhóm nghiên cứu của ĐH California, San Diego, đã phát triển một loại sơn hạt nano có thể giúp cho các nhà máy điện hội tụ năng lượng mặt trời (Concentrated Solar Power-CSP) hoạt động hiệu quả hơn.   Các nhà máy CSP sử dụng những tấm gương và nhiệt để sản xuất điện ở những vùng có nắng. Hàng trăm ngàn tấm gương hắt ánh sáng mặt trời vào một cái tháp, nơi muối nóng chảy bốc hơi đủ mạnh để quay turbine và tạo ra điện. Không giống như công nghệ quang điện, CSP có thể hoạt động ngay cả lúc trời nhiều mây hoặc tối.  Sơn hạt nano có khả năng hấp thụ và biến hơn 90% ánh sáng mặt trời nó thu được thành nhiệt, và nó chịu được nhiệt tới trên 700 độ C. Điều này đã giúp giải quyết được một trong những hạn chế chính của công nghệ CSP là tuổi đời ngắn ngủi của bộ phận thu ánh sáng mặt trời trong tháp do ảnh hưởng của nhiệt.   Lá điện mặt trời  Một tòa nhà ở Hamburg là nơi đầu tiên trên thế giới sử dụng ánh sáng mặt trời để tạo ra nhiệt và nhiên liệu từ tảo. Căn hộ BIQ có một lò phản ứng quang sinh học mang tên Lá Điện Mặt Trời (SolarLeaf) do công ty Colt International & SSC Ltd phát triển trên thiết kế của các kỹ sư của công ty Arup và kiến trúc sư của công ty Splitterwerk. Lò phản ứng quang sinh học này bao gồm một loạt những tấm pin thủy tinh chứa vi tảo, được cung cấp chất dinh dưỡng và khí CO2 tạo ra ngay ở đó. Loại tảo này hấp thụ ánh sáng ban ngày và khí CO2, quang hợp và tạo ra nhiệt tới 40 độ C sưởi ấm tòa nhà. Loại tảo này sau đó được thu hoạch và lên men để tạo ra nhiên liệu khí đốt từ chất thải sinh học để cung cấp điện và nhiệt. Thêm một ích lợi nữa là khi phát triển, tảo cũng có khả năng che phủ tòa nhà trong những thời kỳ nắng gắt.   TS Jan Wurm, phụ trách nghiên cứu khu vực châu Âu của công ty Arup, giải thích: “Các bề mặt của SolarLeaf là một cách lưu trữ năng lượng mặt trời để thành nhiên liệu sử dụng sau này. Đây là một dự án thử nghiệm với các dữ liệu về sản xuất và sử dụng năng lượng được thu thập cho đến giữa năm 2015”. Phản hồi từ cư dân 15 hộ trong tòa nhà này đều rất tích cực.   Nhà hàng điện mặt trời  Một chiếc bếp điện mặt trời hoạt động bằng cách tập trung tia nắng vào một thanh parabol kim loại lớn, tạo ra một điểm tỏa nhiệt đủ nóng để làm chín thức ăn. Tuy không phải là ý tưởng mới nhưng đầu bếp Phần Lan Antto Melasniemi và nhà thiết kế Tây Ban Nha Marti Guixe đã đưa ý tưởng lên một cấp độ mới với một nhà hàng hoạt động hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời. Trong bốn năm qua, họ đã đưa căn bếp điện mặt trời ngoài trời của mình (với 12 chiếc bếp năng lượng mặt trời) đi khắp châu Âu, tạo ra những nhà hàng pop-up. Dự án này đã kết thúc tại Leeds vào tháng 9-2014, nơi Melasniemi nhận được giải thưởng Ẩm thực Đường phố Anh.   Nấu ăn bằng điện mặt trời không chỉ dành cho những quốc gia nhiệt đới trong mùa hè; Melasniemi đã nấu được những bữa ăn dưới trời Helsinki lạnh âm 15 độ và có tuyết rơi. Guixe cho biết, họ thực hiện dự án này như một thử nghiệm và nó đã cho thấy việc có một nhà hàng sử dụng hoàn toàn năng lượng mặt trời là điều có thể xảy ra.  Bốt sạc điện thoại mặt trời  Hai doanh nghiệp xã hội có trụ sở tại London đã biến bốt điện thoại đỏ- hình ảnh biểu trưng của thành phố London- thành những điểm sạc điện thoại di động. Bốt điện thoại màu xanh đầu tiên của thành phố mang tên Solarbox đã xuất hiện vào tháng 11 vừa qua tại khu Tottenham Court Road sầm uất, và sẽ có thêm 10 chiếc nữa vào tháng 4-2015. Các nhà sáng lập dự án là Harold Craston và Kirsty Kenney, mới tốt nghiệp trường Kinh tế & Chính trị London năm nay, vừa giành giải thưởng “Doanh nghiệp ít phát thải khí carbon của năm” do Thị trưởng London trao tặng.   Bốt sạc điện thoại mặt trời sử dụng một tấm năng lượng mặt trời uốn được của hãng Solbian có công suất 150W, gắn trên mái và kết nối với bộ sạc điện thoại USB ở bên trong. Người dân có thể sạc điện thoại miễn phí; chi phí được tài trợ bởi các quảng cáo được chiếu trong lúc mọi người chờ sạc pin. Một tháng sau khi áp dụng, Solarbox đã ghi nhận có trung bình 80 người sử dụng dịch vụ này mỗi ngày. Craston cho biết: “Việc những tấm pin mặt trời có giá thành ngày càng giảm đã giúp cho một dự án như thế này thành hiện thực. Đây cũng là cách tốt để làm tái sinh không gian công cộng”.  Bảng thông dụng điện mặt trời   Nhà thiết kế Marjan van Aubel, tốt nghiệp trường Nghệ thuật Hoàng gia London, đã sáng tạo ra Current Table. một chiếc bàn trang nhã có thể sạc điện thoại.  Ban ngày, tấm kính màu cam của Current Table có thể biến ánh sáng trong nhà thành điện năng, lưu trữ nó trong những pin ẩn. Khi những pin này đầy, điện thoại có thể được cắm vào cổng USB và sạc với tốc độ thông thường.   Thiết kế này sử dụng loại pin quang điện hóa nhạy cảm với màu sắc, được phát triển và sản xuất bởi công ty Solaronix. Chúng hoạt động bằng cách bắt chước quá trình quang hợp của thực vật: dùng màu sắc để khai thác ánh sáng mặt trời. Ưu điểm là nó có thể đặt ở trong nhà, không như những loại pin mặt trời cổ điển đòi hỏi phải được tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời.   Bề mặt tiếp xúc với ánh sáng càng lớn thì hiệu quả càng cao, bởi vậy mà người sử dụng Current Table cần tránh bày bừa trên mặt bàn khi pin còn đang nạp điện. Van Aubel cho rằng như vậy nó còn có lợi ích là khuyến khích người sử dụng trở nên gọn gàng hơn. Dự án này đang ở giai đoạn tiền sản xuất – bàn Current Table sẽ sớm xuất hiện trong phòng họp, nhà hàng hay thư viện trong tương lai gần.   Năng lượng mặt trời tẩy uế nước uống  Dù không hẳn là một sự đổi mới công nghệ nhưng đây là một cách làm tuyệt vời để cứu sống con người. Ánh nắng mặt trời đã được phát hiện là có khả năng diệt vi khuẩn từ 30 năm nay. Phương pháp dùng năng lượng mặt trời để tẩy uế nước (SODIS) chỉ đơn giản là đổ nước vào chai nhựa trong suốt và đặt dưới ánh nắng mặt trời trong vòng 48 giờ. Sự kết hợp giữa nhiệt và tia cực tím từ mặt trời sẽ diệt vi khuẩn, vì vậy dẫu cho nước có sẫm màu thì vẫn đủ an toàn để uống.  Một nhóm nghiên cứu do GS McGuigan của trường Phẫu thuật Hoàng gia Ireland (Royal College of Surgeons of Ireland), trong đó có TS Jacent Asiimwe và Rosemary Nalwanga, đã phố biến kiến thức về quá trình sử dụng phương pháp SODIS tại quận Lwengo ở tây nam Uganda trong suốt bốn năm qua. Họ đã nghiên cứu cách sử dụng phương pháp SODIS trong trường học, nhà ở và cộng đồng.   “SODIS đã thực sự chứng tỏ là một phương pháp có hiệu quả kinh tế cao, đem lại nước uống an toàn cho các cộng đồng cư dân ở nhiều quốc gia châu Phi,” GS Mcguigan cho biết. “Bước tiếp theo sẽ là mở rộng hơn nữa quy mô tới nhiều khu vực khác của Uganda và nhiều quốc gia châu Phi khác, nơi còn nhiều người vẫn chưa được dùng nước sạch.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/dec/09/we-want-the-black-hole-of-sunlight-solar-power-breaks-new-frontiers       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những cuốn sách chứa độc chất: Một phần lịch sử của giới xuất bản      Khi lật giở lại những trang sách cũ theo nhiều cách, người ta có thể tình cờ phát hiện ra những điều thú vị mà ngày nay ít người biết đến.       Trong tiểu thuyết Il nome della rosa (đã được dịch ra tiếng Việt với tựa đề Tên của đóa hồng) do Umberto Eco viết năm 1980, cuốn Poetics (Thi pháp học) của Aristotle đóng một vai trò quan trọng bởi liên quan đến những cái chết bất đắc kỳ tử với những vết đen trên lưỡi và ngón tay của những người đọc nó. Vậy những gì mà Umberto Eco miêu tả trong một cuốn sách hư cấu gần với sự thật không? Có phải những người không may này đều bị nhiễm độc?  Trên thực tế là có.  Điều này được phát hiện một cách hết sức tình cờ. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa và Trắc lượng khảo cổ (Archaeometric Research Team CHART) trường Đại học Nam Đan Mạch tìm hiểu về ba cuốn sách thế kỷ 16 và 17 trong bộ sưu tập đặc biệt Herlufsholm của thư viện trường. Họ mang ba cuốn sách này đến phòng thí nghiệm tia X bởi vì họ phát hiện ra là thứ da dùng để bọc chúng có thể nguyên thủy là các trang bản thảo các cuốn Luật La Mã xuất bản thời Trung cổ. Điều này không có gì lạ bởi người ta thường tái sử dụng các trang giấy cổ bằng da cừu bằng cách làm sạch các nội dung cũ đi để tạo ra một trang mới (palimpsest) hoặc dùng để gói hàng, làm giày… Nguyên nhân là các tác phẩm bằng chất liệu da thường rất đắt đỏ (ví dụ để có được một cuốn Kinh thánh hoàn chỉnh, cần da của khoảng 200 con cừu).  Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu cố gắng nhận diện phần chữ Latin ở trang sách cũ hay ít nhất là nắm bắt một số nội dung của chúng. Tuy nhiên, họ sớm phát hiện ra là phần chữ Latin trên đó rất khó đọc bởi vì chúng bị chìm lấp dưới một lớp màu màu xanh lá cây. Do đó, họ mang đến phòng thí nghiệm với mục đích là sử dụng kính hiển vi điện tử XRF và quang phổ Raman để xem các nguyên tố hóa học của mực in phía dưới, thường là sắt và calcium, với hy vọng là có thể đọc được thông điệp trên những trang sách đặc biệt này.  Họ không nhầm bởi dường như không gì có thể giấu được dưới “con mắt lọc lõi” của kính hiển vi điện tử. Kết quả phân tích cho thấy, lớp màu xanh lá ấy chứa arsen, một trong những nguyên tố hóa học độc bậc nhất thế giới. Việc phơi nhiễm nó có thể dẫn đến một số triệu chứng nhiễm độc, rủi ro phát triển bệnh ung thư và thậm chí là cái chết. Phát hiện mới sau đó đã trở thành nội dung của bài báo “Poisonous books: analyses of four sixteenth and seventeenth century book bindings covered with arsenic rich green paint” (Những cuốn sách nhiễm độc: phân tích bốn bìa sách thế kỷ 16 và 19 nhuộm màu xanh lá cây chứa arsen), được xuất bản trên Heritage Science. “Vấn đề bản chất tự nhiên của màu xanh lá, mục tiêu ban đầu của nó, bản chất hóa học của nó, lịch sử cụ thể của chúng cũng như các vấn đề liên quan đến việc xử lý và bảo tồn các cuốn sách này – và những cuốn tương tự – có vai trò quan trọng với các viện nghiên cứu và các thư viện, các kho lưu trữ, bảo tàng, các nhà sưu tập cũng như lịch sử hóa học và vật lý”, giáo sư Kaare Lund Rasmussen viết như vậy trong công bố.  Màu sắc thời thượng  Màu sắc thường rất thu hút, bởi nó gợi lên rất nhiều cảm xúc phong phú của con người. Là một trong những màu như thế, màu xanh lá cây thường được cho là giúp cân bằng cảm xúc và đem lại cảm giác về sự êm ả, bình thản và trong trẻo. Năm 1598, nó được gọi là màu lục ngọc bảo bởi những sắc thái sáng rỡ, tươi tắn của nó làm người ta gợi nhớ đến những tia phát ra từ loài đá quý này. Trong lịch sử, nó còn mang tên xanh Paris, xanh Verona hay xanh hoàng gia do toát ra sự tinh tế, sang chảnh và kiêu kỳ. Tuy nhiên, những cái tên này đã mất đi theo thời gian.  Màu xanh lục ngọc bảo trở nên phổ biến vào những năm 1800, chủ yếu là trong giới hội họa, dệt nhuộm và sơn tường. Những họa sĩ nổi tiếng của trường phái Ấn tượng như Monet, Cezanne và Vincent van Gogh, cũng thích màu xanh này, ví dụ như van Gogh chủ yếu tô màu cho bức vẽ năm 1889 Madame Roulin Rocking the Cradle. Thật không may vào thời điểm đó, điều góp phần làm cho màu sắc này trở nên đẹp đẽ là do chứa arsen, dẫn đến nguy cơ rủi ro khi nhiễm độc. Người ta có thể rúng động về tình trạng nhiễm độc trong dân chúng châu Âu nước Anh thời kỳ nữ hoàng Victoria dường như ngập trong màu xanh lục ngọc bảo: chỉ trong năm 1860, quốc gia này chế tạo ra hơn 700 tấn bột màu.  Màu xanh lục ngọc bảo (chứa arsen) có nhiều sắc thái thu hút mắt người. Những khác biệt trong sắc thái ấy phần lớn phụ thuộc vào kích thước của các hạt arsen (ở dạng bột): các hạt thô hơn, có kích thước lớn hơn đem lại cho màu xanh lục ngọc bảo sắc sẫm hơn còn những hạt mịn hơn tạo ra sắc sáng hơn. Cũng như những màu sắc khác, xanh lục ngọc bảo cũng có xu hướng bị rạn nứt, rơi rụng và phai màu theo thời gian và dưới tác động của môi trường. Đây là một nguy cơ tiềm ẩn với sức khỏe con người.  Màu xanh lục ngọc bảo chứa arsen đã được dùng phổ biến ở châu Âu thế kỷ 19. Nguồn: TheConversation.  Nhưng vào thời kỳ bình minh của sản xuất màu xanh lục ngọc bảo, người ta chưa biết đầy đủ về tác hại lâu dài của nó. Nhiều vùng ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ 10 đến 16 đã áp dụng cách này còn ở châu Âu, người ta tìm thấy nhiều bức vẽ thời kỳ đế quốc Byzantine đến đầu Trung cổ. Người ta đã sớm biết cách tạo ra màu xanh này bằng việc hòa trộn thư hoàng và chàm: ở đây thư hoàng (As2S3) là một khoáng vật sulfur của arsen có màu vàng cam sẫm và chàm (indigo) được lấy từ cây chàm. Công thức của nó đã được ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng Libro dell’arte (Sách về nghệ thuật) của họa sĩ Ý Cennino Cennini viết vào nửa đầu thế kỷ 15: “Có thể thu được màu xanh lá cây từ việc trộn lẫn hai phần thư hoàng và một phần chàm (indigo). Màu này tốt cho việc vẽ lên khiên và giáo cũng như vẽ trên tường”. Có bằng chứng cho thấy vào trước Công nguyên, người Ai Cập đã dùng thư hoàng để tô màu và việc nó xuất hiện trong cuốn sách của Cennini cho thấy màu này vẫn luôn được sử dụng từ đó đến thời kỳ của họa sĩ Ý này. Chương sách mà Cennini nhắc đến thư hoàng cũng lưu ý về cách chuẩn bị làm màu và lưu ý là nên hòa thêm với một ít bột thủy tinh để làm gia tăng độ nhuyễn của hỗn hợp khi quyện thêm với chàm.  Việc tìm thấy màu xanh lục ngọc bảo trên bìa các cuốn sách của nhóm nghiên cứu di sản văn hóa là một phát hiện mới. Dựa trên kết quả phân tích, họ không chỉ thấy hỗn hợp được hòa trộn từ thư hoàng và chàm mà còn có cả thạch anh, có thể được dùng để thư hoàng thêm mịn hơn. Dẫu vậy thì người ta vẫn chưa chắc chắn về mục đích chính của thạch anh: liệu nó được thêm vào hay nó có sẵn trong thành phần thư hoàng lúc ban đầu? Việc xác định nó cũng khá quan trọng vì nó liên quan đến nguồn gốc của thư hoàng. Trong tự nhiên, thư hoàng được tạo ra chủ yếu ở một số nguồn: những lỗ phun khí ở núi lửa, mạch thủy nhiệt nhiệt độ thấp, suối nước nóng hoặc những sản phẩm thăng hoa của hoạt động núi lửa, một phần kết quả của quá trình phân rã khoáng chất hùng hoàng (sulphur arsen). Tuy nhiên người ta cũng cho rằng đây là một chất nhân tạo. Một số ghi chép đề cập tới việc thư hoàng là một màu nhân tạo vào thế kỷ thứ 15 nhưng bằng chứng chính xác về sự thăng hoa của thư hoàng là vào nửa cuối thế kỷ 18. Theo kết quả phân tích nhiễu xạ tia X, sự hiện diện của calcite – khoáng vật carbonat và là dạng bền nhất của calci carbonat (CaCO3), khiến người ta nghiêng về nguồn gốc tự nhiên của thư hoàng trong mẫu.  Độc chất len lỏi vào ngành xuất bản  Vậy điều gì khiến màu xanh lục ngọc bảo lại có mặt trên các cuốn sách? Để đi tìm câu trả lời, nhóm nghiên cứu di sản văn hóa đã đi sâu tìm hiểu nguồn gốc xuất xứ của màu xanh lục ngọc bảo trong các cuốn sách mà họ có. Thông tin họ phát hiện ra thật hữu ích, thông qua những phân tích nhiễu xạ tia X, sắc ký khối phổ…, ví dụ như thành phần của màu ở các sắc độ xanh hết sức tương đồng nhau, sự khác biệt nếu có chỉ là việc trộn các thành phần ở các tỉ lệ khác nhau cũng như việc hồ bột thành lớp dày hay mỏng. Về tổng thể, sự tương đồng nhau kỳ lạ về mặt hóa học cho thấy có thể là nguồn gốc màu của tất cả các cuốn đều được làm cùng một xưởng. Có thể là màu được làm từ một công thức chung, vốn đã phổ biến ở châu Âu vào thời kỳ đó, và việc áp dụng công thức này đem lại hiệu quả hơn so với việc cố gắng tạo ra một công thức mới. Các họa sĩ và những người làm sách thích tìm kiếm những nguyên liệu thô trong những cửa hàng trên phố thời kỳ đó, điều này có thể giải thích nguyên nhân vì sao có sự tương đồng về thành phần khoáng chất. Và dường như màu xanh giàu arsen là một phần của quy trình làm sách.  Dẫu các cuốn sách đều được in ở những địa điểm khác nhau ở châu Âu – Basel, Bologna, và Lübeck – phong cách của những bìa sách chỉ dấu là chúng có thể được làm cùng một thời kỳ, cùng một vùng khi đều áp dụng phong cách đóng sách phổ biến vào thế kỷ 16 và 17 ở Đức: vô cùng chắc chắn và ngay cả các trang sách bằng da cũng hiếm khi bị cong vênh (để hạn chế sự cong vênh của sách da, người ta phải đục lỗ, đóng chốt, ghì chặt các trang lại với nhau và dùng bìa dày nén chúng xuống. Dấu vết của cách đóng sách này chính là các loại gáy xoắn của những cuốn sổ hiện đại). Dần dà, chi phí dành cho nguyên liệu xuất bản sách gia tăng, cộng với sự giới hạn của các nguồn cung và một số lí do tôn giáo và chính trị khác ở châu Âu thời bấy giờ khiến cho giới xuất bản phải liên tục đi tìm những cách mới để hạn chế chi phí.  Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa đã nhanh chóng làm thay đổi cục diện giới xuất bản và nhanh chóng giúp các ông chủ nhà in in được những cuốn sách với số lượng lớn, đáp ứng được nhu cầu của một lượng lớn độc giả. Điều này khiến giới xuất bản phải nghĩ đến việc đổi mới, đó là tìm một vật liệu khả dĩ có thể thay thế da làm sách. Thực ra, nhiều tài liệu ghi lại là vải đã được dùng để bọc những cuốn sách da từ lâu nhưng phải đến đầu thế kỷ 19, nó mới được sử dụng một cách phổ biến, chủ yếu bắt nguồn từ nhu cầu giảm chi phí. “Vải thì rẻ hơn nhiều so với da, nhờ vậy họ có thể bán sách với giá thấp hơn nhiều”, Melissa Tedone, người đứng đầu Phòng thí nghiệm về bảo tồn vật liệu thư viện ở bảo tàng, vườn và Thư viện Winterthur ở Delaware (Mỹ), nhận xét.  Vào những năm 1820, vải đã được cả giới xuất bản đồng loạt dùng làm vật liệu bọc bìa sách, gần như tương đồng với thời điểm quy trình sản xuất màu xanh lục ngọc bảo được tối ưu: công ty Màu và Chì trắng Wilhelm ở Schweinfurt, Đức, sản xuất và thương mại hóa màu xanh lục ngọc bảo lần đầu vào năm 1814 – một sản phẩm của việc kết hợp đồng acetate và arsen trioxide tạo thành copper acetoarsenite.  Nhưng rắc rối là các tấm vải được dệt theo phương pháp truyền thống lại không đủ bền như người ta mong muốn để trải qua quá trình bọc sách đòi hỏi những căng kéo cơ học và cũng không đủ cứng cáp để làm được bìa sách như da. Vào những năm 1820, ông chủ nhà xuất bản William Pickering và người thợ đóng sách là Archibald Leighton đã phát triển một quy trình xử lý đầu tiên ở quy mô công nghiệp, đó là hồ bột lên vải để lấp các ô nhỏ giữa các đường dệt và nhờ đó, tạo ra một vật liệu cứng cáp như mong đợi. “Đó là vật làm thay đổi cuộc chơi”, Melissa Tedone nói. Nó làm thay đổi cách sách được đọc. “Họ khiến nhiều người có thể có được sách hơn, ở mọi cấp độ giàu nghèo”.  Những cuốn sách có bìa bọc vải xuất hiện vào những năm 1840 và quy trình tạo ra những tấm vải đủ tiêu chuẩn trở thành một bí mật nghề nghiệp. “Nó đem lại rất nhiều tiền cho các nhà xuất bản nhưng thật không may là không có nhiều tài liệu ghi lại bằng chứng về cuộc cải cách này,” Tedone nói.  Những gì chúng ta biết ngày nay là những người làm sách đã có một dải các màu sắc bắt mắt, vốn đều là những dung dịch chứa các hợp chất có sự liên kết chặt chẽ về mặt hóa học và các màu đó đều có thể là tấm áo phủ mang tính vật lý, giống như việc hồ bột cổ áo sơ mi trắng. Và do đây là kỷ nguyên của màu xanh lục ngọc bảo mà màu sắc này phổ biến trong các bìa sách. Theo cách này, arsen đã chen chân được vào những cuốn sách.  Thêm một điều thú vị khác là trong số bốn cuốn sách được nghiên cứu thì có một cuốn ghi là xuất bản vào năm 1575 nhưng những người đóng sách lại ghi ngày trên bìa là năm 1581. Khoảng trống thời gian này cho thấy năm xuất bản có lẽ không phải bao giờ cũng cùng với năm làm bìa nhưng có một điều chắc chắn là màu xanh lục ngọc bảo được thêm vào bởi những người làm bìa và việc quyết định màu thuộc về họ.  ***  Độc tố trong thư hoàng đã được biết đến từ thời cổ đại. Để tránh bị phơi nhiễm, người La Mã đã buộc nô lệ tới các mỏ để khai thác khoáng chất này. Trong cuốn Libro dell’arte, Cennini đã cảnh báo về độc chất thư hoàng, nguy hiểm nhất là khi vô tình nuốt phải.  Vậy có cách nào để người đọc hoặc các nhà nghiên cứu, những nhân viên thư viện tránh phơi nhiễm aren khi vô tình tiếp xúc với những cuốn sách bìa xanh lục ngọc bảo? Một dự án về những cuốn sách chứa độc dược đã được Melissa Tedone khởi xướng, đến ngày 8/5/2022 đã liệt kê được 91 cuốn đang được lưu trữ trong các thư viện. Hiện tại, cô và nhóm nghiên cứu di sản văn hóa đề xuất những cách bảo quản để độc tố không ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng. Nhưng có lẽ, cách an toàn nhất là số hóa nó và trao cho mọi người khả năng truy cập mở. Nếu muốn làm việc trực tiếp trên những cuốn sách này, nhà nghiên cứu phải được trang bị găng tay và ngồi trong một căn phòng đặc biệt để có thể kiểm soát được sự phát tán của các hạt arsen  Và bây giờ, nếu ai đó lạc vào một kho lưu trữ hay thư viện nào đó, tình cờ nhìn thấy những cái bìa màu xanh lục ngọc bảo thì hãy nhớ cần cẩn thận, bởi rất có thể chúng có độc đấy. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://theconversation.com/how-we-discovered-three-poisonous-books-in-our-university-library-98358  https://www.nationalgeographic.com/science/article/these-green-books-are-literally-poisonous  https://heritagesciencejournal.springeropen.com/articles/10.1186/s40494-019-0334-2    Author                .        
__label__tiasang Những điều cần xem lại về ODA      Đáng buồn và đau nhất là khi trả lời phỏng vấn, hầu hết những người được hỏi, từ đại biểu Quốc hội, cựu quan chức cao cấp, đến các chuyên gia kinh tế…, đều nói rằng họ “không ngạc nhiên” trước thông tin về vụ tham nhũng “xuyên biên giới” này.        “Không ngạc nhiên”, nghĩa là họ thừa nhận rằng tham nhũng là phổ biến, là khó tránh khỏi trong các dự án đầu tư công, rằng đây chỉ là một trường hợp mới bị lộ bên cạnh vô vàn các trường hợp chưa bị lộ. “Không ngạc nhiên”, cũng có nghĩa là mọi người đang mất niềm tin, đang đắng cay, chua xót trước khoảng cách xa vời vợi giữa những qui định pháp luật, những lời hứa hẹn, hô hào, với sự bất lực trên thực tế trong việc chống tham nhũng ở nước ta, kể cả trong các dự án sử dụng ODA với những qui định tưởng chừng đã hết sức chặt chẽ và được cả bên nước ngoài cùng giám sát.  Những rủi ro trong sử dụng ODA   Hiệu quả sử dụng ODA thường gắn liền với hiệu quả đầu tư công, nhưng ở Việt Nam như giáo sư Trần Văn Thọ từng nhận định trong một bài viết gần đây, đã có điều tra cho thấy chi phí xây dựng hạ tầng trong các dự án đầu tư công của chúng ta là rất cao do nguy cơ thất thoát lớn trong quá trình thực hiện, đồng thời Ngân sách nhà nước chi tiêu cho nhiều dự án không cần thiết, không có hiệu quả kinh tế.  Tình trạng trên có nguyên nhân chủ yếu là những rủi ro đạo đức và rủi ro về năng lực quản trị trong khu vực công, khu vực có trách nhiệm lớn nhất, trực tiếp nhất với các dự án ODA. Ở khu vực này người ta rất dễ nhìn ra cơ hội tham nhũng, xin-cho, chia chác trong các dự án ODA, nhưng không dễ kiềm chế lòng tham trước những cơ hội đó, hoặc chí ít cũng dễ thỏa hiệp mà bỏ qua các chuẩn mực, chấp nhận những tính toán sơ sài để “vay lấy được”, để có thêm thành tích và công trình trong nhiệm kỳ của mình, hoặc để được lòng ai đó, và để mặc món nợ đó cho người phụ trách ở những nhiệm kỳ sau giải quyết. Điều này càng dễ xảy ra khi thiếu vắng tính minh bạch và trách nhiệm trong đầu tư công, khi hệ thống ra quyết định có quyền lực vô biên trong khi hệ thống kiểm tra giám sát lại bất lực. Năng lực quản trị trong khu vực công cũng đang là một rủi ro mà bao nhiêu tiền ODA đổ vào cho khoản “tăng cường năng lực” cũng không giúp giảm thiểu, bởi những căn nguyên từ hệ thống thể chế về bộ máy, các qui tắc vận hành và con người hoạt động trong bộ máy đó. Với năng lực hạn chế, không ít trường hợp phía đi vay không tính được hết các rủi ro, không phát hiện được những sai lầm trong bài toán đi vay của chính mình cũng như các điều kiện, thủ thuật của phía cho vay gây bất lợi cho mình, nếu có. Và khi cả đạo đức lẫn năng lực cùng kém thì sự rủi ro và nguy cơ thất thoát sẽ càng to lớn!        Người ta rất dễ nhìn ra cơ hội tham nhũng, xin-cho, chia chác trong các dự án ODA, nhưng không dễ kiềm chế lòng tham trước những cơ hội đó, hoặc chí ít cũng dễ thỏa hiệp mà bỏ qua các chuẩn mực, chấp nhận những tính toán sơ sài để “vay lấy được”, để có thêm thành tích và công trình trong nhiệm kỳ của mình, hoặc để được lòng ai đó, và để mặc món nợ đó cho người phụ trách ở những nhiệm kỳ sau giải quyết.        Ngoài rủi ro tham nhũng, còn nhiều thứ rủi ro khác mà chúng ta còn chưa tính toán, có biện pháp phòng ngừa một cách thỏa đáng, khiến các dự án ODA có thể trở nên vô cùng đắt đỏ, hiệu quả ODA mất đi đáng kể, và việc vay ODA có khả năng trở thành mua gánh nợ lớn cho tương lai với giá cao. Như bất kỳ dự án đầu tư nào khác, các dự án dùng vốn ODA cũng có thể có những rủi ro do tính sai bài toán chi phí-lợi ích (khi chọn sai dự án hoặc tính sai về chi phí phải bỏ ra và kết quả có thể đạt được), rủi ro thị trường (khi giá cả các sản phẩm dùng trong dự án thay đổi – ở nước ta rõ nhất là giá đất hay mặt bằng và giá các thiết bị, vật tư nhập khẩu cho dự án), rủi ro tái cấp vốn và rủi ro lãi suất (mặc dù ODA về cơ bản có mức lãi suất thấp và ổn định nhưng khi đến hạn thanh toán người đi vay vẫn có nguy cơ không huy động được tài chính, hoặc phải đi vay với lãi suất cao để trả nợ; kịch bản này dễ xảy ra với Việt Nam khi ra khỏi ngưỡng nghèo và phải vay ODA với lãi suất cao hơn, thời gian hoàn trả ngắn hơn, thậm chí khoản ODA có thể đòi hỏi chúng ta phải vay thêm các nguồn khác để có vốn đối ứng), rủi ro tỉ giá (khi giá trị đồng tiền các nước cung cấp ODA tăng cao so với giá trị đồng tiền của nước đi vay, khiến nước đi vay phải trả nợ với chi phí cao hơn tính theo đồng tiền nội địa của mình), rủi ro về dòng tiền (khi ngân sách bị thâm hụt, dự trữ ngoại tệ hạn hẹp mà gánh nặng trả nợ tăng cao), rủi ro về kỹ thuật (như việc xảy ra khi xây dựng cầu Cần Thơ), chưa kể phải tính đến những rủi ro như thiên tai ở nơi có dự án, biến động lớn ở nước cung cấp ODA v.v.  Việt Nam cần vay nhiều ODA vì thiếu vốn?  Cũng đã đến lúc phải nghĩ xem nước ta có cần phải cố vay thêm thật nhiều vốn ODA nữa không, hay có những cách nào khác để phát triển, để sẵn sàng “tốt nghiệp ODA”. Việc các nước cung cấp ODA quyết định giảm nguồn cung, tăng điều kiện cho vay hoặc chấm dứt cung cấp ODA cho những nước đã đạt mức thu nhập trung bình để dành nguồn vốn cho các nước còn nghèo là hoàn toàn hợp đạo lý. Điều đó cũng thúc đẩy các nước đạt mức thu nhập trung bình phải cố gắng tự đứng trên đôi chân của mình, tự khai thác, phát huy các nguồn lực bên trong cũng như tận dụng các kênh hợp tác quốc tế khác để tiếp tục vươn lên đạt mức phát triển cao hơn. Khai thác, phát huy các nguồn lực này đồng thời cũng là tạo cơ hội cho người dân, doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư, phát triển, làm giàu cho mình và góp phần làm giàu cho đất nước.  Những lãng phí, mất mát lớn ở nước ta như cú sụp đổ của Vinashin, mức thua lỗ, nợ nần ghê gớm ở nhiều doanh nghiệp nhà nước, tỉ lệ thất thoát vài chục phần trăm trong các công trình xây dựng, sự tăng chi phí gấp 2-3 lần dự toán ban đầu trong vô số dự án đầu tư công, hay sự đóng băng của thị trường bất động sản trị giá hàng triệu tỷ đồng, hay việc đào bới tài nguyên đi bán thô… cho thấy nước ta đâu có quá thiếu vốn! Vấn đề chính là vốn ở nước ta bị sử dụng quá kém hiệu quả thôi. Chỉ cần giảm đi một nửa những mất mát kiểu này, có lẽ chúng ta đã có đủ nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển mà không cần vay ODA nữa!  ————  i Trần Văn Thọ, “Dùng ODA như thế nào”, Thời Báo Kinh tế Sài Gòn  http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/113157/Dung-ODA-nhu-the-nao?.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 1)      LTS: Trong nhiều năm qua, Tia Sáng đã có rất nhiều bài viết liên quan đến tài nguyên giáo dục mở, xuất bản mở, phần cứng nguồn mở… Nhưng ít ai biết rằng những lĩnh vực này đều bắt nguồn từ triết lý của phần mềm nguồn mở. Tưởng như khái niệm này không có gì mới nhưng trong giới làm công nghệ thông tin ở Việt Nam, đa số vẫn không hiểu đúng nghĩa của nó.      Ảnh: opensource.dev  Nguồn mở bắt đầu vào Việt Nam những năm cuối thập niên 1990, có lẽ vào khoảng thời gian ra đời của tổ chức Sáng kiến Nguồn Mở – OSI (Open Source Initiative) vào năm 1998 ở nước Mỹ, tổ chức bảo vệ cho phong trào phần mềm nguồn mở toàn thế giới. Tới lượt mình, OSI được thành lập từ một nhóm người tách ra từ phong trào phần mềm tự do được một tổ chức khác là Quỹ Phần mềm Tự do – FSF (Free Software Foundation), tổ chức bảo vệ cho phong trào phần mềm tự do toàn thế giới, được thành lập vào năm 1984 cũng ở nước Mỹ.    Nguồn mở dù bắt đầu bằng phần mềm, nhưng sau đó lan nhanh sang các lĩnh vực khác. Chính triết lý và thực hành của phần mềm tự do nguồn mở trong thế kỷ 20 đã truyền cảm hứng để đầu thế kỷ 21 hàng loạt các khái niệm mở liên quan tới các dạng nội dung khác nhau ra đời, như truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở, hay dữ liệu mở.    Ngoài ra, còn có những khái niệm mở khác có liên quan chặt chẽ tới phần mềm và nội dung như cấp phép mở, tiêu chuẩn mở, định dạng mở, phần cứng mở, kiến trúc mở, .v.v. Gần đây hơn, một khái niệm bao trùm đã xuất hiện và trở thành xu thế mới của thế giới, đó là Khoa học Mở. Ngay cả trong đại dịch COVID-19, các sáng kiến như Cam kết COVID Mở (Open COVID Pledge) hay OpenCovid19 (Covid-19 Mở) cũng đều được truyền cảm hứng từ triết lý và các thực hành của nguồn mở.     Định nghĩa     Phần mềm nguồn mở (PMNM) và mã nguồn mở là gì?    Bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất của UNESCO, xuất bản ngày 12/05/2021 định nghĩa phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở như sau:  Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở thường gồm các phần mềm mà mã nguồn của chúng được làm cho sẵn sàng công khai, kịp thời và thân thiện với người sử dụng, ở định dạng cả con người và máy móc đều đọc được và sửa đổi được, theo một giấy phép mở trao cho những người khác quyền để sử dụng, sử dụng lại, sửa đổi, mở rộng, nghiên cứu, tạo ra các tác phẩm phái sinh, và chia sẻ phần mềm và mã nguồn đó, thiết kế hoặc kế hoạch chi tiết của nó. Mã nguồn đó phải được đưa vào trong phát hành phần mềm và làm cho sẵn sàng trong các kho truy cập mở và giấy phép được chọn phải cho phép các sửa đổi, có các tác phẩm phái sinh, và chia sẻ theo các điều khoản và điều kiện mở tương đương hoặc tương thích.    Phần mềm tự do (PMTD) là gì?    Trước khi xuất hiện khái niệm ‘phần mềm nguồn mở’ thì đã có khái niệm ‘phần mềm tự do’. Một chương trình phần mềm được gọi là phần mềm tự do khi người sử dụng có các quyền tự do cơ bản sau:    1. Quyền tự do sử dụng chương trình đó vì bất kỳ mục đích gì;  2. Quyền tự do phân phối chương trình đó cho bất kỳ ai;  3. Quyền tự do sửa đổi chương trình cho phù hợp với mục đích sử dụng của mình; và để có thể sửa đổi được thì mã nguồn phải là mở cho bất kỳ ai cũng có thể có được chúng;  4. Quyền tự do phân phối lại chương trình đã được sửa đổi;    Về khía cạnh quyền của người sử dụng, phần mềm nguồn mở hầu như không khác gì so với phần mềm tự do. Ngược lại, phần mềm nguồn đóng, hay còn được gọi là phần mềm sở hữu độc quyền, không có bất kỳ quyền tự do nào như với 4 quyền tự do được nêu ở trên.    Ở Việt Nam, phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở được gọi chung là phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM).    Một chương trình PMTDNM là không mất tiền để mua, nhưng ngược lại, một phần mềm không mất tiền để mua lại chưa chắc là PMTDNM. Lý do cơ bản ở đây là với PMTDNM thì bạn luôn có được mã nguồn của chương trình phần mềm đó, nếu bạn muốn, còn phần mềm không mất tiền mua thì chưa chắc, vì nó có thể là phần mềm nguồn đóng/phần mềm sở hữu độc quyền, vì thế bạn không thể có mã nguồn của nó.     Triết lý của nguồn mở và văn hóa của người Việt Nam     Triết lý của nguồn mở, đôi khi còn được gọi là triết lý của quả táo và ý tưởng, được nêu như sau:    Tôi có một quả táo, bạn có một quả táo, nếu chúng ta trao đổi cho nhau thì mỗi người vẫn có một quả táo. Tôi có một ý tưởng, bạn có một ý tưởng, nếu chúng ta trao đổi cho nhau thì mỗi người sẽ có hai ý tưởng.    Ở đây, quả táo là đại diện cho những thứ hữu hình sờ mó được, như mảnh đất, ngôi nhà, mỏ dầu hay hòn đảo, .v.v.; còn ý tưởng là đại diện cho những thứ vô hình không sờ mó được, như phần mềm, nội dung số, và tất cả những gì là kết quả của việc số hóa – bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi số. Điều dễ tưởng tượng là những thứ hữu hình sẽ luôn dần cạn kiệt, trong khi với chuyển đổi số và Internet trong kỷ nguyên số ngày nay, những thứ vô hình sẽ ngày càng nhiều, vô cùng nhiều và ngày càng thừa thãi.    Triết lý trên đã chỉ ra nguyên tắc cộng lực để phát triển và nguyên tắc này chỉ có thể thịnh vượng được khi cùng một lúc có hai điều kiện, là VÔ HÌNH và MỞ, vì nếu VÔ HÌNH mà ĐÓNG thì cũng không có giá trị do không có chia sẻ, và vì thế không thể có việc mỗi người có hai ý tưởng được.      Hình 1. Triết lý của nguồn mở.  Với văn hóa của người Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử, ai cũng đều biết tới các thành ngữ mà các thế hệ cha ông truyền đời cho chúng ta như ‘tiền nào của nấy’ hay ‘ăn bánh trả tiền’, chúng thấm vào trong chúng ta và thường điều khiển cách hành xử của chúng ta trong cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản so với ông cha chúng ta hàng ngàn năm trước, là chúng ta ngày nay có Internet, và vì thế có lẽ văn hóa ‘tiền nào của nấy’ hay ‘ăn bánh trả tiền’ khi được áp dụng vào trong nền kinh tế số và xã hội số chủ yếu dựa vào Internet, là không chắc còn phù hợp nữa, bởi chúng ta đều biết rất rõ rằng nhiều ứng dụng, dịch vụ kỹ thuật số trên Internet mà chúng ta sử dụng thường ngày không phải trả tiền, trong khi các ứng dụng dịch vụ đó lại có chất lượng tốt, thậm chí rất tốt, và các hãng tạo ra chúng lại là các tập đoàn giàu có hàng đầu thế giới, như Google, Facebook và nhiều doanh nghiệp số khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông1. Điều này được giải thích vì các mô hình kinh doanh đi với chúng là khác và/hoặc rất khác so với các mô hình kinh doanh truyền thống, kiểu ‘tiền nào của nấy’ và ‘ăn bánh trả tiền’, bốn ngàn năm lịch sử của người Việt Nam chúng ta.     Mô hình phát triển của phần mềm nguồn mở     Bên cạnh triết lý quả táo và ý tưởng, PMTDNM được phát triển tuân theo Luật Linus, nó nêu rằng “Nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn” (Given enough eyeballs, all bugs are shallow), hoặc như câu nói nổi tiếng của người phát minh ra nhân Linux, Linus Torvalds: “Nói là không có giá trị, hãy cho tôi xem mã nguồn” (Talk is cheap. Show me the code!)2. Một chương trình phần mềm mà bạn không thể tải về mã nguồn của nó để xem và soi xét, chắc chắn 100%, nó không phải là phần mềm nguồn mở. Để dễ tưởng tượng, có thể nêu như sau: mã nguồn của một phần mềm nguồn mở do (các) lập trình viên người Việt Nam tạo ra, thì một lập trình viên ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới này, cũng PHẢI có khả năng tải về được từ Internet! Điều này còn cho thấy vai trò không thể thiếu của Internet trong phát triển phần mềm nguồn mở – chính Internet xúc tác để Luật Linus hiện thực hóa được trên phạm vi toàn cầu!    Lưu ý là, bất kể phần mềm được phát triển theo mô hình của phần mềm nguồn mở hay phần mềm nguồn đóng/sở hữu độc quyền, để có lòng tin vào phần mềm ở khía cạnh bảo mật của nó, được khuyến cáo bạn không nên tin tưởng vào bất kỳ phần mềm nào mà bản thân bạn chưa kiểm tra nó, còn nếu bạn phải tin tưởng phần mềm bạn đã không/chưa kiểm tra, thì hãy chọn tin tưởng mã nguồn được phơi ra cho nhiều lập trình viên, những người có khả năng độc lập để nói về các lỗi của phần mềm. Tuân thủ theo Luật Linus không có nghĩa là phần mềm nguồn mở mặc định một cách tự nhiên là bảo mật hơn so với phần mềm sở hữu độc quyền, nhưng các hệ thống có tại chỗ để sửa lỗi được lên kế hoạch, được triển khai, và được phân bổ nhân sự, tốt hơn nhiều3.  Trên thực tế, hầu hết các phần mềm nguồn mở đều do các cộng đồng lập trình viên phần mềm trên thế giới tạo ra, rất ít người trong số đó là người Việt Nam. Không ít các công ty Việt Nam tải về kho mã nguồn phần mềm nguồn mở, rồi sửa đổi các mã nguồn đó, sau đó đóng nó lại, ngắt bỏ mọi liên hệ với cộng đồng các lập trình viên của thế giới phát triển chính phần mềm đó. Cách làm này là rất không khôn ngoan, vì sau một khoảng thời gian, phần mềm được công ty tùy chỉnh đó có thể sẽ rất khác với phần mềm gốc của cộng đồng thế giới; và vì chúng ta không phải là những người khởi xướng ra phần mềm đó, nên nếu họ thay đổi ở (một) vài phần quan trọng của phần mềm đó, chúng ta sẽ gặp khó, đôi khi hoàn toàn mất khả năng quản lý và kiểm soát đối với phần mềm cùng các phần tùy chỉnh của chúng ta. Để tránh điều này xảy ra, được khuyến cáo gửi ngược lên dòng trên (upstream) toàn bộ phần mã nguồn chúng ta tùy chỉnh về cây dự án gốc của cộng đồng thế giới, để các phiên bản tiếp sau của phần mềm đó có thể có được sự hỗ trợ của toàn bộ cộng đồng thế giới đối với cả các tùy chỉnh của chúng ta4, như mô hình trên Hình 2. Nói một cách tổng quát, chúng ta cần phát triển nguồn mở cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở thế giới      Hình 2. Mô hình phát triển đúng của một dự án phần mềm nguồn mở     Mô hình cấp phép của phần mềm nguồn mở     Theo Luật sở hữu trí tuệ, ngay khi một tài nguyên – một tác phẩm trí tuệ – được tạo ra, nó sẽ tự động được Luật sở hữu trí tuệ (hoặc Luật bằng sáng chế) bảo vệ, bất kể tác giả của nó có đăng ký tác phẩm đó hay không5. Vì thế, chỉ khi được chính (các) tác giả cấp phép mở, tài nguyên mới thực sự là tài nguyên mở, vì người sử dụng rõ ràng có được sự cho phép từ (các) tác giả đối với tài nguyên đó để họ sử dụng mà không vi phạm bất kỳ bản quyền/các quyền sở hữu trí tuệ nào của (các) tác giả được Luật sở hữu trí tuệ bảo vệ. Điều này giải thích vì sao:    – Một chương trình phần mềm không được cấp phép mở thì 100% không phải là PMTDNM. Cộng đồng phần mềm nguồn mở thế giới coi các phần mềm được gọi là ‘MỞ’ dạng này là Open Washing, tạm dịch sang tiếng Việt là “tráng qua hàng mở” hay “phần mềm nguồn mở RỞM”.    – Tương tự, một tài nguyên không được cấp phép mở thì tài nguyên đó 100% không là tài nguyên mở, không là tài nguyên truy cập mở, không là dữ liệu mở, không là tài nguyên giáo dục mở, và nhiều nhất, chúng chỉ có thể được gọi là “tài nguyên mở RỞM”.    Đáng tiếc là tình trạng “phần mềm nguồn mở RỞM” và/hoặc “tài nguyên mở RỞM” là rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam, mà nguyên nhân sâu xa của nó có lẽ là do không một cơ sở giáo dục nào ở mọi cấp học của Việt Nam dạy về cấp phép mở, trong khi nhà nước cũng không có chính sách nào về cấp phép mở cho tới nay.    Một khi tài nguyên được cấp phép mở, tùy thuộc vào giấy phép mở được gắn vào từng tài nguyên đó, chúng sẽ được gọi với những cái tên khác nhau, như tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở hay dữ liệu mở, như trên Hình 3.      Hình 3. Tên gọi của tài nguyên khác nhau, tùy thuộc vào giấy phép mở được gắn với nó.  Một dạng đặc biệt của các tài nguyên mở là các tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng như được minh họa ở phần cao nhất trên Hình 3, chúng có ở hai dạng: (1) các tài nguyên đã hết thời hạn bảo hộ của Luật sở hữu trí tuệ hoặc Luật bằng sáng chế và chúng thường đi với dấu phạm vi công cộng (Public Domain Mark6); (2) các tài nguyên mà tác giả của nó khước từ tất cả các quyền và hiến tặng vào phạm vi công cộng, và chúng thường đi với công cụ/giấy phép CC07. Các tài nguyên dạng này còn được gọi là các tài nguyên không có bản quyền (No Copyright). Để dễ hình dung, hầu như tất cả các tác phẩm do các tác giả người Việt Nam xuất bản từ thế kỷ 19 trở về trước đều nằm trong phạm vi công cộng và phần lớn chúng nằm trong các viện bảo tàng, kho lưu trữ và/hoặc thư viện, những nơi mà bất kỳ ai cũng có quyền tự do không mất tiền để truy cập tới chúng. Được khuyến cáo, khi tiến hành số hóa các tài nguyên dạng này thì phiên bản số hóa của chúng cũng nên nằm trong phạm vi công cộng8 để không tước đoạt đi quyền truy cập tự do không mất tiền không chỉ của gần 100 triệu người Việt Nam, mà còn cả của gần 8 tỷ người trên thế giới.□ (Còn tiếp)  —–  Các chú giải  1 Lê Trung Nghĩa, 2020: Chuyển đổi số: Cách tiếp cận mới về Mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/chuyen-doi-so-cach-tiep-can-moi-ve-mo-280.html, CC BY.  2 Linus Torvalds > Quotes: https://www.goodreads.com/author/quotes/92867.Linus_Torvalds  3 OpenSource.com: Understanding Linus’s Law for open source security: https://opensource.com/article/21/2/open-source-security. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa có tại địa chỉ: https://giaoducmo.avnuc.vn/phan-mem-tu-do-nguon-mo/hieu-luat-linus-ve-bao-mat-cua-nguon-mo-431.html  4 Linux Foundation, 2012: Upstreaming: Strengthening Open Source Development. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/ao6fprcmn3uzexx/lf_upstreaming_os_dev-Vi-31012012.pdf?dl=0  5 Creative Commons: Creative Commons Certificate for Educators, Academic Librarians and GLAM; Unit 2: Copyright Law: https://certificates.creativecommons.org/cccertedu/chapter/2-1-copyright-basics/  6 Creative Commons: Public Domain Mark: https://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/pdm  7 Creative Commons: CC0: https://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/cc0  8. Lê Trung Nghĩa, 2020: Chuyển đổi số của ngành văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khía cạnh chuyển thể các tác phẩm và di sản văn hóa đang nằm trong phạm vi công cộng sang dạng kỹ thuật số: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/chuyen-doi-so-cua-nganh-van-hoa-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-va-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-va-khia-canh-chuyen-the-cac-tac-pham-va-di-san-van-hoa-dang-nam-trong-pham-vi-cong-cong-sang-dang-ky-thuat-so-312.html     Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Những điều cơ bản về nguồn mở (phần 2)      Nguồn mở thuộc sở hữu của cộng đồng và nếu sử dụng nó để làm ra sản phẩm phái sinh, đừng quên ghi công những tác giả đi trước.    Cả phần mềm nguồn đóng và Phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM) đều có một giấy phép. Nếu như trong thế giới phần mềm nguồn đóng chỉ có một loại giấy phép duy nhất được gọi là thỏa thuận giấy phép của người sử dụng đầu cuối – EULA (End User License Agreement), thì thế giới nguồn mở lại có hàng chục loại giấy phép mở với các mức độ tự do khác nhau cho phần mềm tự do1 và phần mềm nguồn mở2; cũng như có nhiều giấy phép mở, như của hệ thống giấy phép mở Creative Commons3, cho các dạng nội dung khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, .v.v., với các mức độ tự do khác nhau.     Điều quan trọng được nhấn mạnh ở đây là các hệ thống cấp phép mở cho PMTDNM và các nội dung mở được xây dựng dựa trên các Luật Sở hữu trí tuệ sẵn có, chứ không phải dựa vào các luật nào đó đặc biệt dành cho thế giới nguồn mở. Vì thế, nhận thức như thể chỉ có một chế độ quyền tác giả duy nhất là không đúng, như được nêu trong một tài liệu do UNESCO xuất bản năm 20154, rằng tổng cộng có tới ba chế độ quyền tác giả, đó là: (1) Copyright; (2) Copyleft (nếu như copyright có tuyên bố là “all rights reserved” – giữ lại tất cả các quyền thì copyleft giễu nhại lại với tuyên bố “all wrongs reserved”, rights vừa có nghĩa là quyền, vừa có nghĩa là “đúng đắn”, “wrongs” nghĩa là sai trái. Những “sai trái” mà copylelf giữ lại là… chẳng giữ lại cái gì, vì họ cho người dùng quyền tự do hoàn toàn trong sử dụng, nghiên cứu, chỉnh sửa, phân phối cho các bên khác); và (3) Creative Commons; trong đó hai chế độ sau thường được sử dụng cho PMTDNM và nội dung mở, một cách tương ứng.       Các chế độ quyền tác giả.     Khi sử dụng, đặc biệt là khi sửa đổi và/hoặc tùy biến thích nghi các PMTDNM, mã nguồn mở và nội dung mở do các cộng đồng nguồn mở làm ra để tạo ra các tài nguyên/tác phẩm phái sinh, điều quan trọng là bạn nhất định phải ghi công (các) tác giả trước đó. Hành vi này thể hiện sự tôn trọng (không vi phạm) bản quyền của bạn đối với (các) tác giả; ngược lại, hành vi không thừa nhận ghi công tài nguyên/tác phẩm không phải do tự bạn làm ra, được gọi là ‘ăn cắp’.     Ngày nay, số lượng các tệp mã nguồn phần mềm được chia sẻ tự do không mất tiền với các giấy phép mở là vô cùng nhiều, hơn 10 tỷ tệp trong hơn 161 triệu dự án phần mềm nguồn mở khắp trên thế giới, theo trang Software Heritage5. Tương tự, số lượng các tệp nội dung được cấp phép mở Creative Commons là gần 2 tỷ6. Điều này cho thấy, các cộng đồng nguồn mở trên thế giới là lớn tới mức nào.     Mô hình cộng đồng của nguồn mở     Một đặc tính khác để phân biệt giữa phần mềm nguồn mở và phần mềm nguồn đóng là ở câu hỏi ‘Ai là chủ sở hữu của phần mềm?’. Chủ sở hữu của các phần mềm nguồn đóng thường là của các công ty hoặc các tập đoàn, dù đôi khi là của cá nhân; trong khi chủ sở hữu của các phần mềm nguồn mở thường lại là của các cộng đồng, bao gồm cả các lập trình viên phát triển phần mềm nguồn mở đó đang làm việc trong các công ty/tập đoàn khác nhau. Ví dụ điển hình nhất là nhân Linux – một chương trình phần mềm nguồn mở nổi tiếng nhất trong thế giới nguồn mở với giấy phép mở GPL v.2 (một loại giấy phép copyleft phổ biến dành cho phần mềm nguồn mở), từ năm 2005 đã do cộng đồng của hơn 7.800 lập trình viên tới từ hơn 800 công ty khắp trên thế giới cùng phát triển7, bao gồm cả các tập đoàn khổng lồ đa quốc gia như IBM, Microsoft .v.v., và nằm dưới sự quản lý không phải của bất kỳ công ty/tập đoàn nào, mà của Quỹ Linux (Linux Foundation) – tổ chức đại diện cho cộng đồng của tất cả các lập trình viên đó, cùng với nhiều lập trình viên tự do không làm việc cho bất kỳ một công ty/tập đoàn nào nhưng có các đóng góp để phát triển nhân Linux.     Vì cộng đồng, chứ không phải công ty, mới là yếu tố chính để phát triển thành công bất kỳ phần mềm nguồn mở nào, nên việc xây dựng các cộng đồng nguồn mở có vai trò trung tâm trong việc phát triển phần mềm nguồn mở cũng như phát triển công nghệ mở. Quân đội Mỹ từ lâu đã nêu 15 yếu tố quyết định cho sự thành công của phát triển công nghệ mở nhằm có được các phần mềm tốt nhất trong quân sự8, trong đó khẳng định hai yếu tố quan trọng hàng đầu là: (1) Cộng đồng trước, công nghệ sau; (2) Mở là mặc định, đóng chỉ khi cần. Lý lẽ đằng sau việc này là vì ngày nay, phần mềm được sử dụng để chế tạo và điều khiển vũ khí, nó không thể bị phụ thuộc vào bất kỳ công ty/tập đoàn nào; vì việc thắng hay bại khi có xung đột hay chiến tranh không thể phụ thuộc vào cái gật hay lắc đầu của ông giám đốc công ty/tập đoàn bất kỳ nào được.         Việc xây dựng các cộng đồng nguồn mở có vai trò trung tâm trong việc phát triển phần mềm nguồn mở cũng như phát triển công nghệ mở.      Từ mô hình phát triển phần mềm nguồn mở được nêu ở trên, để ‘nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn’ và để bất kỳ ai cũng có thể tải về mã nguồn của phần mềm nguồn mở bất kỳ nào, mã nguồn sẽ được đặt trên Internet không biên giới. Điều này giúp giải thích vì sao các cộng đồng nguồn mở hầu hết có phạm vi toàn cầu (3 trong số bốn dạng cộng đồng), chứ không bị giới hạn bởi đường biên giới của một quốc gia, như trên Hình 1.       Hình 1. Các dạng cộng đồng nguồn mở và phạm vi toàn cầu của nó9​.       Một đặc tính khác trong phát triển phần mềm nguồn mở là có sự tham gia không chỉ của các lập trình viên phần mềm, mà còn cả những người sử dụng nữa – họ có thể có các vai trò, ví dụ như, trong phát hiện/báo cáo lỗi hoặc đề xuất xây dựng mới/tùy chỉnh các chức năng phần mềm, nên cộng đồng của một dự án phần mềm nguồn mở bao gồm tất cả các lập trình viên và người sử dụng, như trên Hình 2.     Việc quản lý điều hành các cộng đồng một dự án phần mềm nguồn mở thường có ở hai dạng chính11: (1) Nhà độc tài nhân từ (Benevolent Dictatorship), ví dụ điển hình của dạng này là với Quỹ Linux, nơi quản lý điều hành việc phát triển nhân Linux, do người phát minh ra nhân Linux, Linus Torvalds, dẫn dắt; (2) Người tài lãnh đạo (Meritocracy), ví dụ điển hình của dạng này là như với Quỹ phần mềm Apache, nơi quản lý điều hành nhiều dự án phần mềm mang giấy phép mở Apache, một trong số đó là dự án máy chủ web Apache nổi tiếng thế giới, hay bộ phần mềm văn phòng nguồn mở OpenOffice.            Hình 2: Thành phần của cộng đồng một dự án PMTDNM10.     Mô hình kinh doanh của nguồn mở     Do đặc thù của việc phát triển và cấp phép mở của PMTDNM dẫn tới việc hầu như ai cũng có thể tải về để sử dụng cả mã nguồn cũng như mã nhị phân của các sản phẩm PMTDNM đó một cách hoàn toàn hợp pháp; điều tương tự đối với các nội dung mở như các tài nguyên truy cập mở, dữ liệu mở hay tài nguyên giáo dục mở. Điều này dẫn tới việc các mô hình kinh doanh của thế giới nguồn mở nói chung, bao gồm cả các PMTDNM và nội dung mở, là khác so với các mô hình kinh doanh truyền thống của thế giới nguồn đóng theo kiểu ‘ăn bánh trả tiền’. Thông thường, mô hình doanh thu của các PMTDNM và nội dung mở là dựa vào việc bán các dịch vụ xung quanh các sản phẩm nguồn mở (cả các PMTDNM và các dạng nội dung mở), chứ không dựa vào việc thu tiền từ việc bán trực tiếp các sản phẩm của chung cộng đồng. Ví dụ, bạn hoàn toàn tự do không mất tiền để tải về và cài đặt bộ phần mềm văn phòng nguồn mở LibreOffice lên máy tính của bạn để sử dụng hàng ngày, nhưng để sử dụng nó được nó tốt nhất, bạn có thể phải mất tiền để mua các dịch vụ đào tạo và/hoặc tùy chỉnh để có một tính năng mới mà bạn cần sử dụng thêm với nó. Nhiều ví dụ về các mô hình kinh doanh của PMTDNM được nêu trong tài liệu ‘Các khía cạnh kinh tế và các mô hình kinh doanh của phần mềm tự do’13; cũng như 24 ví dụ về các mô hình doanh thu với các dạng nội dung số được cấp phép mở Creative Commons được nêu trong tài liệu ‘Làm bằng Creative Commons’14, có lẽ là rất cần được tham khảo và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mọi cấp học ở Việt Nam từ nay trở đi.       Các mô hình quản lý điều hành dự án phần mềm nguồn mở12.​     Kết luận và gợi ý     Thế giới của các PMTDNM và nội dung mở, nhất là nội dung số mở, có triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và mô hình của nó. Chúng là khác và/hoặc rất khác, thậm chí là trái ngược hoàn toàn với những điều tương tự của thế giới của phần mềm và nội dung (số) nguồn đóng/sở hữu độc quyền theo truyền thống.     Để ứng dụng và phát triển tốt được PMTDNM và nội dung (số) mở, bạn không thể cứ duy trì và sử dụng tư duy đóng truyền thống, mà cách tốt nhất là thông qua giáo dục và truyền thông để thay đổi từ tư duy đóng sang mở, ở mức độ phạm vi càng rộng, càng sâu và càng sớm càng tốt; tốt nhất là từ các học sinh tiểu học.     Một khi triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và các mô hình của thế giới nguồn mở hầu như không được dạy ở bất kỳ đâu trong các cơ sở giáo dục mọi cấp ở Việt Nam, sẽ là dễ hiểu vì sao vô cùng hiếm thấy các sản phẩm nguồn mở đích thực “Make in Vietnam” hiện nay. Mặt khác, các sản phẩm phần mềm và nội dung số MỞ “Make in Vietnam” cần tuân thủ với triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và các mô hình của thế giới nguồn mở, phải luôn được “phát triển cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở thế giới”, tránh xa các lỗi cơ bản như không được cấp phép mở và/hoặc không được xây dựng từ và trong cộng đồng (ví dụ, mã nguồn do các lập trình viên của chỉ một công ty và không có người ngoài công ty nào phát triển cùng; hoặc mã nguồn không nằm trên các kho mã nguồn mở trên Internet, ví dụ như, GibLab hoặc GitHub, .v.v.); hay tệ hơn, lấy mã nguồn của một dự án phần mềm nguồn mở có sẵn trên Internet về rồi sửa nó và tự nhận bản quyền là của mình – hành vi, như được nêu ở phần trên, được gọi là ‘ăn cắp’.     Với Khuyến cáo Tài nguyên Giáo dục Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia trên thế giới thông qua vào ngày 25/11/201915 và dự kiến Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO cũng sẽ được ngần ấy các quốc gia thông qua vào tháng 11/2021, có thể khẳng định chắc chắn là Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay. Vì cả Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở đều được truyền cảm hứng và phát triển từ PMTDNM (cả về triết lý, các nguyên tắc, luật lệ, và các mô hình), là không khó để hình dung rằng nếu chưa hiểu và làm tốt được với PMTDNM dù nó đã tới Việt Nam từ hơn 20 năm qua, thì khó có thể làm gì tốt được với Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở, đặc biệt khi mà, như trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất được UNESCO xuất bản ngày 12/5/202116, cả phần mềm nguồn mở, mã nguồn mở, và Tài nguyên Giáo dục Mở, bên cạnh nhiều điều mở khác, đều là các thành phần chính của Khoa học Mở.         Các sản phẩm phần mềm và nội dung số MỞ “Make in Vietnam” cần tuân thủ với triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và các mô hình của thế giới nguồn mở, phải luôn được “phát triển cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở thế giới”.      Rất nhiều công việc cần phải làm để ứng dụng và phát triển tốt nguồn mở ở Việt Nam. Trước mắt gợi ý hai từ khóa cần được đáp ứng càng sớm càng tốt: (1) Cấp phép mở; và (2) Xây dựng các cộng đồng nguồn mở. Trách nhiệm chính của việc đầu chắc chắn nằm ở các cơ quan nhà nước; còn việc sau cần phải là bổn phận của các cơ sở giáo dục và đào tạo, chứ không phải là của các công ty/tập đoàn, dù họ sẽ luôn là các tác nhân hỗ trợ tốt để các cộng đồng nguồn mở phát triển.□     —–  Các chú giải  1 FSF: Licenses: https://www.gnu.org/licenses/license-list.html  2 OSI: Open Source Licenses by Category: https://opensource.org/licenses/category  3 Creative Commons: About The Licenses: https://creativecommons.org/licenses/  4 Lê Trung Nghĩa, 2018: Không chỉ có một loại quyền tác giả: https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Khong-chi-co-mot-loai-quyen-tac-gia-12644  5 Software Heritage: https://www.softwareheritage.org/. Truy cập ngày 10/06/2021.  6 Catherine Stihler, Creative Commons, May 24, 2021: Announcing Our 20th Anniversary “Better Sharing” Campaign. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://giaoducmo.avnuc.vn/cap-giay-phep-mo/cong-bo-ky-niem-lan-thu-20-chien-dich-chia-se-tot-hon-cua-chung-toi-428.html  7 Linux Foundation, 2012: Linux Kernel Development. Bản dịch tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa:  https://www.dropbox.com/s/386z85gsawuuety/lf_who_writes_linux_2012-Vi-18042012.pdf, tr.2  8 US Army, 2011: Open Technology Development (OTD): Lessons Learned & Best Practices for Military Software: https://www.dropbox.com/s/sqsft68wjakvri6/OTD-lessons-learned-military-signed.pdf?dl=0. Bản dịch tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/7dr3l68df0n8qkd/OTD-Lessons-Learned-And-Best-Practices-For-Military-Software-Vi.pdf, tr. 42  9 Matthias Stürmer, 2013: Four types of open source communities. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://vnfoss.blogspot.com/2013/10/4-dang-cac-cong-ong-nguon-mo.html  10 Tùy biến từ hình ảnh trong bài của Simon Phipps: Community types. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: http://vnfoss.blogspot.com/2011/10/cac-dang-cong-ong.html  11 Ross Gardler, Gabriel Hanganu, 2012: Governance models. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: http://vnfoss.blogspot.com/2013/02/cac-mo-hinh-ieu-hanh.html  12 Tùy biến từ hình ảnh trong tài liệu của The Linux Foundation, 2011: Understanding the Open SourceDevelopment Model. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/3s6dbuatgqnmsl6/lf_os_devel_model-Vi-31012012.pdf  13 A. Albos Raya et al., 2010: Economic Aspects and Business Models of Free Software. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/0vs8e8zhvhpgx95/fta-m5-economic_models-Vi–26012015.pdf?dl=0  14 Paul Stacey and Sarah Hinchliff Pearson, 2017, CC BY-SA 4.0: Made with Creative Commons. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/a6n50my7owufi6w/Made%20with%20Creative%20Commons_Vi-10022020.pdf?dl=0  15 UNESCO, 2019: Recommendation on Open Educational Resources. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0  16 UNESCO, 12/05/2021: Draft text of the Unesco Recommendation on Open Science. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/hh9havem2m15dka/376893eng_Vi-13052021.pdf?dl=0  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Những điều đơn giản về co-working space      Co – working space là gì? Tại sao gần đây người ta lại nhắc nhiều đến nó?      Không gian làm việc chung Toong, Hà Nội  Nói một cách dễ hiểu thì co-working space là không gian làm việc chung dành cho các công ty khởi nghiệp. Điểm khác biệt giữa co-working space và các dịch vụ chia sẻ văn phòng (shared office) là môi trường và không khí làm việc xung quanh.  Phong trào khởi nghiệp dâng cao, cộng đồng bắt đầu học hỏi và tiếp thu những mô hình hay trên thế giới. “Shared office” năm nào giờ đây có thêm cái tên “mỹ miều” là “co-working space” dành cho các nhóm khởi nghiệp ở giai đoạn sơ khai chưa có chỗ ngồi cố định. Không những thế, tại co-working space, các cá nhân, nhóm khởi nghiệp còn có cơ hội học hỏi trao đổi lẫn nhau, là nơi thường được nhà đầu tư ghé mắt trước khi tìm kiếm các thương vụ đầu tư ở nơi khác. Về mặt bản chất hai mô hình thì giống nhau, nhưng cách vận hành khá khác nhau. Shared office thường tập trung vào các dịch vụ văn phòng, phù hợp trở thành văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài với số lượng rất ít nhân viên; co-working space là nơi tập trung cung cấp những dịch vụ dành cho các công ty khởi nghiệp.  Trước khi cụm từ “co-working space” thời thượng được nhắc đến rộng khắp như hiện tại thì mô hình chia sẻ văn phòng đã có mặt từ rất lâu. Một trong những doanh nghiệp tiêu biểu của mô hình này là G – Office. G – Office có văn phòng đầu tiên tại toà nhà IndoChina Park ở Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, TP.HCM và sau đó mở thêm chi nhánh tại toà nhà Saigon Trade – 37 Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP.HCM và toà nhà Rosana – 60 Nguyễn ĐÌnh Chiểu, Quận 1, TP.HCM. Với dịch vụ chia sẻ văn phòng, G – Office chỉ cung cấp những gói cơ bản ví dụ như đăng ký trụ sở công ty, cho thuê chỗ ngồi, cho thuê phòng họp, cho thuê dịch vụ văn thư/hành chính dùng chung, cung cấp các dịch vụ kế toán,… G – Office có mặt trên thị trường từ năm 2006 – một lão làng trong thị trường thực thụ.  Ở TP.HCM, co-working space đầu tiên mà theo tác giả bài này biết được là The Start Network. Sau đó, một (vài) trong những người sáng lập The Start Network bắt đầu làm Saigon Hub. Thật đáng tiếc khi Saigon Hub đóng cửa sau hơn một năm hoạt động, dù cho Saigon Hub vốn là nơi ưa thích của nhiều cộng đồng công nghệ tổ chức sự kiện ở đó.  Gần đây có nhiều co-working space mở  ra ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh như DreamPlex (TP.HCM) và Toong, Up (Hà Nội) với nguồn vốn đầu tư mạnh, những người sáng lập am hiểu cộng đồng cùng đội ngũ vận hành chuyên nghiệp, bài bản. Toong cũng là nơi chào đón CEO của Google ông Sundar Pichai trong chuyến viếng thăm gần đây khi đến Việt Nam. DreamPlex hiện đã có hơn 30 công ty khởi nghiệp tin tưởng chọn làm điểm dừng chân và CyberAgent Ventures Việt Nam cũng vừa chuyển đến đây cách đây không lâu.  Mô hình kinh doanh của co-working space  Nhiều người nghi ngại về mô hình kinh doanh của các co-working space hiện nay. Lý do thường được đề cập nhất là: chi phí thuê chỗ ngồi/văn phòng tại nước ngoài khá cao, thế nên họ có thêm sự lựa chọn là co-working space; thế nhưng tại Việt Nam, chi phí để uống cafe làm việc thì quá rẻ, liệu co-working space cạnh tranh lại bằng các chuỗi quán cafe không?  Co-working space kiếm được nguồn thu từ: tiền phí trả chỗ ngồi cố định hàng tháng, chi phí F&B (ăn uống, cafe,…), chi phí dịch vụ văn phòng (kế toán, thuế, in ấn,…), chi phí cho thuê phòng họp, chi phí cho thuê địa điểm làm sự kiện (kiếm được không ít đâu nha nếu mặt bằng đẹp & sức chứa tốt), chi phí kết nối và tư vấn,…  Ngoài ra, co-working space vẫn có thể tìm thêm được những nguồn tài trợ từ các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp khác nhau. Hoặc như một số co-working space ở nước ngoài, họ còn được các quỹ đầu tư tài trợ nữa. Thế nhưng ở trong nước, những nguồn tài trợ này vẫn còn rất hạn chế, chủ yếu các co-working space phải “tự thân vận động” sống được đã.  Chiến lược giá:  Hiện nay giá cho thuê của các co-working space vẫn phân bổ trên số lượng cá nhân. Tuy nhiên, nếu là tôi, tôi sẽ phân bổ giá dựa trên nhóm. Nếu là cá nhân, chỉ là một – hai người, mình nghĩ mọi người vẫn ưu tiên lựa chọn chỗ ngồi là quán cafe cho lâu lâu đổi không khí. Nhưng khi bạn là nhóm khởi nghiệp ba – bốn người, bạn sẽ cần có nơi tập trung và mọi người có nhu cầu muốn thấy nhau để công việc được tiến triển trơn tru hơn. Thế nên, thay vì bán gói lẻ, tôi sẽ bán dạng trọn gói, ví dụ như bán gói bốn người ngồi toàn thời gian, nhưng khuyến mãi cho thêm một người được ngồi linh hoạt thời gian. Như vậy sẽ phù hợp hơn với các nhóm khởi nghiệp hiện tại.  Hợp tác kinh doanh dịch vụ B2B  Các co-working space là cộng đồng doanh nghiệp hoàn hảo nhất cho bất kỳ dịch vụ nào đang muốn tiếp cận khách hàng là doanh nghiệp. Co-working space hoàn toàn có thể đóng vai trò reseller (mua dịch vụ của công ty này để bán cho công ty khác) để tăng thêm nguồn thu.  Điều gì làm một co-working space khác biệt?  Suy cho cùng, khởi nghiệp cần gì từ một co – working space? Nếu như co-working space chỉ hoạt động như shared office rồi thôi, các bạn khởi nghiệp chắc là đâu đó, vẫn sẽ chuộng sự tự do tại các quán cafe hơn. Theo tôi, một co-working space cần có những điều sau để thu hút khởi nghiệp đến với mình:  Văn hoá và môi trường làm việc xung quanh   Điều này quan trọng nhất. co-working space không tạo được cho mình một điểm nhấn thì rất khó có được lượng khách hàng như mong muốn. Điểm nhất ở đây thấy rõ nhất là văn hoá và môi trường làm việc xung quanh. Ngoài việc cung cấp các dịch vụ văn phòng hàng ngày, co-working space nên có những ưu đãi đặc quyền riêng cho thành viên: vé miễn phí tham gia các sự kiện tổ chức tại co-working space đó chẳng hạn. Đằng nào các co-working space cũng đã tài trợ địa điểm cho các sự kiện ấy rồi, thì quy đổi một lượng vé nhất định cho thành viên mình cũng tốt.  Tại co-working space mang tên Hubba ở Bangkok (Thái Lan), tôi rất ấn tượng việc mỗi ngày các bạn ấy đều có những hoạt động khác nhau nhằm gắn kết các nhóm startups ngồi tại đó. Ví dụ như các bạn ấy có thể tổ chức buổi ăn cơm trưa đơn giản, mọi người ngồi cùng nhau, giới thiệu tên tuổi rồi cùng bàn luận vấn đề chung nào đó. Chủ đề mình từng được tham gia tại Hubba là: “Nếu bạn có thể quay lại thời gian học đại học, bạn có thay đổi ngành học của mình không? Tại sao?”  Mạng Internet ổn định và nhanh vèo vèo   Cái này thấy dễ mà không dễ nè. Nghe bảo là hồi đó một trong những bài học từ Saigon Hub là chưa đầu tư bài bản hạ tầng mạng Internet lắm nên mọi người truy cập cũng không ổn định mấy. Startups hầu hết trong ngành công nghệ mà nếu mạng mẽo tại co-working space chán quá, chắc chắn startups sẽ nói lời chia tay nhanh chóng với địa điểm đó.  Có nhiều nhà đầu tư thường lượn qua tham quan, hoặc nếu lý tưởng nhất, có thể có vài văn phòng đại diện quỹ đầu tư đặt tại co-working space  Điều này quá sức rõ ràng luôn: cứ đặt mấy đống tiền ở đó thì dĩ nhiên startups chẳng thể nào cưỡng nổi mà không quá bộ qua đâu. Chẳng hạn như DreamPlex  Co-working space ngay trong chính trường học?  Theo mình biết, Đại học Bách Khoa TP.HCM đang có Vườn ươm công nghệ và cũng có hỗ trợ văn phòng cho một số công ty khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu Vườn ươm công nghệ đó có thể mở rộng thành co-working space thì quá đã cho các nhóm khởi nghiệp bên ngoài.  Co-working space trong trường học lúc nào cũng có nhiều lợi thế hơn so với bên ngoài: chi phí thuê mặt bằng để vận hành co-working space được ưu đãi, tiếp cận nguồn lực sinh viên dễ dàng hơn so với doanh nghiệp ở ngoài, tiếp cận nguồn thông tin chính thống và kho tàng tài liệu nghiên cứu đồ sộ,…       Author                Ngân sâu        
__label__tiasang Những điều Nhà nước cần cân nhắc trước khi đầu tư mạo hiểm vào các startup      Chính phủ không nên giúp startup1”, đó là tựa đề và cũng là khuyến nghị từ ban biên tập trang Bloomberg mới đăng trung tuần tháng bảy vừa qua, khi nhận xét về xu hướng chính phủ các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, dự định trực tiếp bỏ tiền đầu tư mạo hiểm cho các startup.      Ý kiến từ trang Bloomberg cho rằng việc Nhà nước trực tiếp bơm tiền vào các startup thì có khả năng họ sẽ nuôi dưỡng những công ty yếu kém, và người dân hẳn sẽ không hài lòng nếu tiền đóng thuế của họ chẳng may bị đầu tư vào những công ty đổ bể. Vì vậy, họ cho rằng, những nước giàu như Singapore có thể đổ tiền một cách kiên nhẫn để ươm tạo các doanh nghiệp trong nước, những nước khác tốt hơn hết là đầu tư vào “những nền tảng căn bản” như cơ sở hạ tầng (đặc biệt là đường truyền internet), hệ thống luật pháp đơn giản, chặt chẽ nhất quán; và nghiên cứu cơ bản.   Quan điểm trên từ ban biên tập Bloomberg khá thiên về một chiều, tuy nhiên, có lẽ nó rất đáng cân nhắc nếu xét trong bối cảnh của Việt Nam. Mặc dù chính phủ một số nước như Israel, Singapore, Malaysia… đã có mô hình đầu tư đối ứng với các quỹ đầu tư mạo hiểm tương đối thành công, nhưng các mô hình này hiện rất khó thực hiện ở Việt Nam do môi trường và nguồn lực chưa đủ, theo đánh giá của Phan Hoàng Lan, một trong những tác giả của Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồi tháng năm vừa qua.     Kinh nghiệm từ các nước cho thấy, các quỹ đầu tư đối ứng với tư nhân cho khởi nghiệp đòi hỏi số tiền rất lớn, từ hàng chục triệu USD (như Malaysia, Thái Lan), hàng trăm triệu USD (như Israel, Singapore) cho đến hàng tỉ USD (như Ấn Độ). Thực tế cho thấy Việt Nam đã có nhiều quỹ với giá trị nhỏ hơn nhiều lần nhưng hoạt động chưa hiệu quả (tiến độ giải ngân chậm) thì việc lập ra một quỹ đối ứng với quy mô lớn như ở các nước trên là không khả thi. Hơn nữa, Việt Nam chưa có quy định công nhận thế nào là quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, khóa tăng tốc khởi nghiệp nên rất khó đưa ra tiêu chí để đối ứng.    Môi trường pháp lí ở Việt Nam bao gồm Luật đầu tư, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp chưa cho phép tiền ngân sách đầu tư vào các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC). Đồng thời, quy định về “bảo toàn vốn nhà nước” sẽ không cho phép các khoản đầu tư bị lỗ. Nếu lỗ thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm lớn. Tuy nhiên, bản chất của đầu tư mạo hiểm hầu hết là lỗ và chỉ có một số khoản lãi. Thậm chí có thể lỗ liên miên cho đến khi 5-7 hoặc 10 năm sau mới có thể lấy được khoản lãi sau khi thoái vốn thành công từ startup. Như vậy không quỹ nào của nhà nước hiện nay “dám” đầu tư vào startup, trừ khi họ có đặc cách về pháp lý.   Ngoài ra, rào cản lớn nhất chính là việc chúng ta có chấp nhận đối ứng vốn với các VC nước ngoài? Trên thực tế, tất cả các nước đối ứng vốn đều có mục đích thu hút VC nước ngoài vào đầu tư trong nước. Hơn nữa, họ hiểu rằng chỉ có VC nước ngoài mới có thể có know-how để nâng hiểu biết của thị trường đầu tư mạo hiểm trong nước và lợi ích cuối cùng nằm ở các công ty khởi nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, sẽ có ý kiến phản đối: “Tại sao phải cho các VC nước ngoài vay tiền để làm lợi cho họ, còn không ủng hộ các bên của nước mình?”   Cuối cùng, đầu tư xong thì thoái vốn thế nào? Các nhà đầu tư hiện nay vẫn coi đó là một bài toán khó ở Việt Nam.  ——-1 http://www.bloomberg.com/view/articles/2016-07-14/governments-aren-t-venture-capitalists            Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Những doanh nghiệp xuất sắc nhất thế giới năm 2016      Tạp chí Forbes đã công bố kết quả xếp hạng các doanh nghiệp xuất sắc nhất thế giới của năm 2016.      Xe điện của hãng Tesla  Forbes lấy tiêu chí khoảng cách giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp với doanh thu hiện tại làm cơ sở cho việc xếp hạng. Khoảng cách này lớn có nghĩa là doanh nghiệp đó có nhiều khả năng tăng trưởng trong tương lai. Những doanh nghiệp không có đủ số liệu cơ bản trong 7 năm gần đây (như Facebook) sẽ không có mặt trong bảng xếp hạng.  Trong bảnh xếp hạng này, xét về mặt địa lý, hầu hết các doanh nghiệp có thứ hạng cao đều ở Mỹ, xét về mặt ngành nghề, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dược phẩm chiếm nhiều vị trí cao.  Thứ nhất: Tesla Motors  Tập đoàn ô tô điện này do tỉ phú Elon Musk thành lập năm 2003 và là doanh nghiệp được đánh giá có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất ở Mỹ. Bên cạnh việc sản xuất ô tô điện, Tesla có một nhà máy sản xuất ắc quy riêng, các trạm nạp điện nhanh và cũng đang nghiên cứu về ô tô tự hành…  Thứ 2: Hãng Salesforce  Salesforce cung cấp các giải pháp về công nghệ điện toán đám mây cho người dùng chuyên nghiệp. Doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ từ nền tảng công ty chuyên quản lý quan hệ khách hàng được thành lập năm 1999.  Thứ 3: Hãng dược phẩm Regeneron  Doanh nghiệp dược phẩm này chuyên nghiên cứu về các loại thuốc chữa bệnh dựa vào các kháng thể ở người. Trong tương lai gần, các loại thuốc này sẽ được dùng để điều trị các bệnh như ung thư, viêm khớp và tăng cholesterol trong máu.  Thứ 4: Hãng dược phẩm Incyte  Incyte nghiên cứu phát triển sản phẩm và phân phối các loại thuốc điều trị chuyên sâu về các bệnh rối loạn máu nghiêm trọng nhất.  Thứ 5: Hãng dược phẩm Alexion  Alexion nghiên cứu về dược liệu cho các bệnh di truyền hiếm gặp và đã giành rất nhiều giải thường quan trọng cho các nghiên cứu về điều trị bệnh tật.  Thứ 6: Under Armour  Từ một công ty sản xuất trang phục dành cho các môn võ thuật, giờ đây doanh nghiệp này chuyên cung cấp trang phục thể thao cho các câu lạc bộ nổi tiếng như St. Pauli và Southhampton. Under Armour cũng sản xuất nhiều sản phẩm chuyên dành cho các môn thể thao như golf, bóng rổ và bóng bầu dục.  Thứ 7: Monster Beverage  Tập đoàn nước giải khát này ra đời năm 1935 trên nền tảng công ty Hansen Natural. Năm 2002 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của tập đoàn này khi họ đưa ra trên thị trường hãng nước giải khát tăng lực Monster. Sản phẩm rất nổi tiếng của hãng Monster là nước tăng lực Red bull.  Thứ 8: Unilever của Indonesia  Unilever của Indonesia là doanh nghiệp nằm ngoài nước Mỹ được xếp hạng cao nhất. Doanh nghiệp có trụ sở chính ở Indonesia chuyên về sản xuất thực phẩm và sản phẩm vệ sinh và là công ty con của tập đoàn Unilever quốc tế.  Thứ 9: Hãng công nghệ sinh học Vertex  Năm ngoái, hãng Vertex đã tăng doanh thu lên tới 148%. Doanh nghiệp này của Mỹ chuyên nghiên cứu về phương pháp điều trị những căn bệnh nặng như xơ nang di truyền.  Thứ 10: Tập đoàn dược phẩm BioMarin  Tập đoàn BioMarin của Mỹ hiện đang đi tiên phong trong điều trị có hiệu quả chứng bệnh rối loạn trao đổi chất mucopolysaccharidosis (MPS) và rối loạn trao đổi chất bẩm sinh Phenylketonuria (PKU).  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những giải pháp liên kết  lấy nông dân làm trung tâm      Đối tượng chủ yếu làm nông nghiệp ở nước ta là các hộ nông dân nhỏ. Thực tế này đòi hỏi những cách tiếp cận mới và linh hoạt của Nhà nước trong việc thúc đẩy đầu tư, triển khai các tiến bộ KH&amp;CN vào nông nghiệp, trong đó người nông dân giữ vai trò thiết yếu.&#160;     Cách tiếp cận được Nhà nước quan tâm và tuyên truyền nhiều nhất gần đây là triển khai các mô hình cánh đồng mẫu lớn. Đây được coi là phương thức hữu hiệu giúp ngành nông nghiệp phần nào vượt qua rào cản của chính sách hạn điền, dùng mối liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân để tích tụ đất đai. Mô hình này tiến bộ hơn so với hình thức hợp tác xã trước đây, khi một mặt hình thành được những cánh đồng có quy mô lớn, cho phép triển khai tập trung cơ giới hóa và các thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng, hạ giá thành, và làm thương hiệu tăng sức cạnh tranh cho nông sản, mặt khác các thành viên tham gia đều có động lực riêng để đóng góp cho lợi ích chung – trong đó các doanh nghiệp vì lợi ích của mình phải luôn tích cực duy trì tính bền vững của mối liên kết bằng cách điều phối đảm bảo lợi ích của người nông dân.  Qua vài năm gần đây, những cánh đồng mẫu lớn đã được triển khai trên nhiều địa phương, từ các tỉnh Cà Mau, Vĩnh Long, Bình Định, Thanh Hóa, Ninh Bình, Thái Bình – có nơi đã thực hiện trên hàng chục nghìn hecta như Long An – tới cả vùng núi phía Bắc như Hà Giang, v.v. Việc liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân cũng có nhiều hình thức đa dạng. Các doanh nghiệp cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân với giá thành và lãi suất thấp (nhiều doanh nghiệp áp dụng mức lãi suất 0%), và có nhiều hình thức hỗ trợ cho nông dân khi thu mua, như hỗ trợ chi phí vận chuyển, mua với giá cao hơn giá thị trường, v.v.   Trong đó một số doanh nghiệp đã tham gia chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân, ví dụ như Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông ở Thanh Hóa, liên kết với người nông dân tạo thành một mô hình khép kín, trong đó nông dân góp đất, doanh nghiệp phụ trách từ giống tới sản xuất, chế biến và làm thương hiệu. Đổi lại người nông dân có thể cùng làm cùng hạch toán với doanh nghiệp, hoặc chỉ cần góp đất và nhận một phần lúa thu hoạch vào cuối vụ.   Sự liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân trên các cánh đồng lớn không chỉ được người nông dân và các cơ quan quản lý đón nhận tích cực mà bản thân thị trường cũng đánh giá cao về tính hiệu quả và triển vọng phát triển, điển hình như việc Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang vừa qua được Ngân hàng Standard Chartered tin tưởng cấp một khoản vay có giá trị lên tới 70 triệu USD1.  Thị trường lành mạnh sẽ giảm rủi ro cho nhà nông    Những tín hiệu tích cực trên đây không có nghĩa là người nông dân và doanh nghiệp không gặp nhiều rủi ro khi hợp tác trên những cánh đồng lớn. Những rủi ro đặc thù của nghề nông như thời tiết, sâu bệnh, biến động nguồn tiêu thụ và giá bán, v.v tăng lên theo quy mô canh tác, là mối lo thường trực của người nông dân và nhà đầu tư, đòi hỏi Nhà nước phải có những giải pháp phù hợp, trong đó không thể áp đặt duy ý chí mà phải dựa vào thị trường. Ví dụ, đối với rủi ro về thời tiết, sâu bệnh, cần xây dựng và giám sát một thị trường bảo hiểm phù hợp. Theo ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông, đây là điều kiện đầu tiên giúp các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp yên tâm phát triển2.           Cánh đồng mẫu lớn là nơi lý tưởng để triển khai các giống cây mới có năng suất và sức chống chịu cao hơn với sâu bệnh, biến đổi khí hậu. Đồng thời cũng là nơi doanh nghiệp và người nông dân áp dụng tiến bộ về kỹ thuật tưới tiêu, cải thiện năng suất sử dụng nước, giúp tiết kiệm, bảo vệ tránh ô nhiễm nguồn nước và các tầng nước ngầm. Hoặc áp dụng những kỹ thuật canh tác cây trồng đan xen, kỹ thuật xử lý rơm rạ sau thu hoạch và sử dụng phân chuồng để giữ hàm lượng carbon trong đất, vừa giúp duy trì độ màu vừa tránh thất thoát carbon vào khí quyển. Các thiết bị cảm ứng cầm tay đơn giản hoặc bảng hướng dẫn sử dụng phân bón tùy theo màu lá cây trồng có thể giúp nhận biết liều sử dụng phân bón nitrogen thích hợp để vừa giúp tiết kiệm chi phí, vừa cắt giảm khí thải nhà kính. Về năng lượng, Nhà nước có thể khuyến khích doanh nghiệp sử dụng những thiết bị cơ giới tiết kiệm nhiên liệu, triển khai công nghệ chuyển hóa rác thải nông nghiệp thành nhiên liệu sinh học, v.v.        Đối với việc giảm rủi ro về đầu ra cho doanh nghiệp và người nông dân, Nhà nước sẽ phải dựa vào các công cụ phù hợp, trong đó ưu tiên hàng đầu là thúc đẩy sự phát triển và giám sát thị trường một cách lành mạnh, thay vì tìm cách can thiệp một cách khiên cưỡng. Đây là bài học có thể rút ra từ thất bại gần đây của Thái Lan trong việc thu mua gạo với giá cao hòng điều tiết thị trường theo hướng làm lợi cho nông dân nhưng hậu quả là giá thị trường thế giới không tăng cao như mong muốn, Chính phủ thì không đủ tiền để trả cho nông dân đúng hạn, gây ra những mâu thuẫn, bất ổn trong xã hội.  Để đảm bảo về đầu ra cho người nông dân, giải pháp đầu tiên của Nhà nước là phải giảm thiểu độc quyền trong thu mua nông sản nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân thay vì để phần lớn rơi vào túi trung gian và nhà xuất khẩu. Việc một số doanh nghiệp tham gia vào các cánh đồng mẫu lớn đã góp phần tích cực trong việc giải quyết đầu ra cho người nông dân, tuy nhiên hiện nay không phải cánh đồng mẫu lớn nào cũng làm được như vậy3.  Trên thị trường tiêu dùng nông sản, Nhà nước cần tăng cường giám sát nhằm đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh bằng chất lượng sản phẩm thay vì cạnh tranh bằng giá, giúp những người làm ra nông sản chất lượng tốt và sạch có nguồn tiêu thụ dồi dào, không bị đe dọa bởi hàng giả, hàng đội nhãn, hoặc phải cạnh tranh ngang giá một cách bất công với hàng kém chất lượng hơn (thậm chí có hại cho sức khỏe người sử dụng). Đây là vấn đề vô cùng cấp bách, không chỉ cần giải quyết để bảo vệ nhà sản xuất mà cả sức khỏe người tiêu dùng, khi Nhà nước dường như đang mất khả năng kiểm soát, sàng lọc đối với những nông sản kém chất lượng, thậm chí có hại cho sức khỏe cộng đồng, điển hình như việc Hà Nội bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng hỗ trợ cho phát triển các vùng rau sạch, nhưng một số nơi từ vài năm vẫn sử dụng thuốc sâu độc hại – những người nông dân phản ánh rằng bản thân họ cũng không có lựa chọn, buộc phải dùng các loại thuốc sâu này vì thuốc bảo vệ thực vật sinh học được cung cấp quá kém chất lượng, thậm chí phun làm chết rau nhưng sâu bệnh vẫn sống4.     Thực tế trên cho thấy dù Nhà nước bỏ ra nhiều tiền của hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân, nông sản Việt Nam vẫn chưa thể có thương hiệu và giữ được lòng tin lâu dài của người tiêu dùng nếu khâu giám sát chất lượng của các cơ quan quản lý bị buông lỏng.      Tiến bộ KH&CN vì nông dân và phát triển bền vững  Hiện nay một số chính quyền địa phương, ví dụ như Thái Bình, đã triển khai các khoản hỗ trợ kinh phí ở mức hạn hẹp cho doanh nghiệp làm nghiên cứu và đổi mới công nghệ, trao các giải thưởng, hoặc dùng quỹ phát triển KH&CN để cho doanh nghiệp vay vốn lãi suất thấp thực hiện các dự án đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, các chính sách kể trên chỉ mới mang tính tự phát, rời rạc, quy mô hạn chế nên chưa phải là biện pháp hữu hiệu thúc đẩy động lực của doanh nghiệp khi xem xét đầu tư vào nông nghiệp, đồng thời rất khó để số đông các cá nhân và hộ nông dân có thể tiếp cận.  Vì vậy, việc xuất hiện các doanh nghiệp tham gia cùng nông dân làm cánh đồng mẫu lớn đã phần nào giúp giải quyết vướng mắc trên đây, khi họ chính là những đầu mối tiêu điểm thu hút các khoản đầu tư và hỗ trợ của Nhà nước, theo đó việc hỗ trợ cho doanh nghiệp cũng đồng thời gián tiếp hỗ trợ cho những người nông dân đồng hành: doanh nghiệp phát triển ổn định chính là điểm tựa để nông dân có thể liên kết, hợp tác lâu dài.    Mặt khác, đây là những cơ hội để Nhà nước có thể lồng ghép triển khai những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, không chỉ về cơ giới hóa mà trên nhiều lĩnh vực khác như giống, quản lý đất và nước, năng lượng xanh, công nghệ thông tin v.v. nhằm phục vụ cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam phải tăng cường ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.   Hình thành những cộng đồng thông minh  Để chuyển giao và phổ biến những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên đây cho doanh nghiệp và người nông dân rất cần có sự vào cuộc của các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật trong và ngoài nước, đặc biệt là những người có kinh nghiệm về các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật khác nhau trên thế giới, nhằm lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất với điều kiện riêng của từng địa phương.   Gần đây Chương trình Biến đổi khí hậu, Nông nghiệp và An ninh lương thực (viết tắt là CCAFS) của Trung tâm Quốc tế về Nông nghiệp Nhiệt đới đã tổ chức ở Ấn Độ, Nepal, Đông Phi, Tây Phi, Cambodia một số ngôi làng thông minh trong ứng phó với biến đổi khí hậu (climate-smart villages) trong đó dân làng được các chuyên gia quốc tế đến truyền bá kinh nghiệm và thử nghiệm các mô hình, kỹ thuật canh tác và thương mại hóa nông sản tiên tiến có hiệu quả cao nhưng không tốn kém – hiện CCAFS cũng đang cân nhắc lựa chọn một địa điểm triển khai thử nghiệm ở Việt Nam, theo lời TS. Rex L. Navarro, cố vấn truyền thông của CCAFS tại Đông Nam Á.  Trước đây Việt Nam cũng đã từng thử nghiệm những mô hình hợp tác như vậy giữa người nông dân tại một số địa phương và các chuyên gia trong và ngoài nước, nhưng tính bền vững không cao, khi hết tiền tài trợ của Nhà nước hoặc quốc tế thì cũng là lúc dự án chấm dứt và người nông dân lại quay về với những tập quán canh tác, làm ăn cũ. Tuy nhiên, khác biệt của những ngôi làng thông minh là sự tôn trọng, dành cho người nông dân quyền tự quyết – người nông dân cùng các chuyên gia bàn bạc, lựa chọn phương án ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp nhất với điều kiện đặc thù của địa phương mình – và chú trọng tới việc liên tục cập nhật, chia sẻ những tri thức, thông tin mới nhất. Trong đó, người nông dân có thể nhanh chóng tiếp nhận thông tin về thời tiết, giá cả nông sản và nguyên vật liệu đầu vào, các chỉ dẫn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, v.v. qua điện thoại di động.   Một mạng lưới chia sẻ thông tin chỉ dẫn như vậy tới nông dân và các ngôi làng thông minh thông qua điện thoại di động và radio đã được triển khai và hoạt động rất thành công ở Ấn Độ hay Kenya trong những năm qua. Vì vậy chúng ta có thể tin rằng Việt Nam với năng lực CNTT và viễn thông hiện nay hoàn toàn có thể làm được điều tương tự. Đây sẽ là một bước tiến phù hợp với điều kiện nền nông nghiệp chủ yếu là các hộ nông dân như ở nước ta, giúp người nông dân được trang bị những thông tin hữu ích, kịp thời phục vụ cho sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh nền nông nghiệp sẽ ngày càng hội nhập quốc tế sâu sắc.   ——————-  1 http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/109064/AGPPS-vay-70-trieu-do-la-cho-du-an-canh-dong-mau-lon.html  2 http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=6810  3 http://www.tienphong.vn/kinh-te/noi-lo-tu-duy-tieu-nong-sau-canh-dong-mau-lon-654808.tpo  4 http://m.vietnamnet.vn/vn/kinh-te/164459/chuyen-dong-troi-o-lang-rau-sach-lon-nhat-ha-noi.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những gợi ý cải thiện ô nhiễm không khí từ rêu      Khi đi trong các thành phố, kể cả những nơi hiện đại bậc nhất thế giới cũng như các nơi còn mang dấu vết quá khứ, ắt hẳn có lúc bạn sẽ lơ đãng bước qua một vài thảm rêu mượt như nhung mà không biết mình đang vô tình bỏ lỡ cơ hội nhận biết những trạm quan trắc không khí “sống” vùng đô thị.      Sarah Jovan, một chuyên gia về rêu và địa y của Cục Kiểm lâm Mĩ, đã phát hiện ra nguồn phát ô nhiễm kim loại ở thành phố Portland năm 2015. Nguồn: hcn.org  Điều này có vẻ khó tin nhưng trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, rêu – loài thực vật không mạch thuộc dòng dõi thực vật trên cạn cổ nhất thế giới còn sống sót, đã được các nhà nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu về ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng, từ giữa thế kỷ 20. “Rêu là loài thực vật bậc thấp, chúng không có rễ thực sự mà chỉ có rễ giả để gắn vào chất nền như bờ tường, đất, thân cây nên không hấp thụ nước và chất dinh dưỡng từ chất nền mà hấp thụ trực tiếp từ không khí. Hệ số hấp thụ kim loại nặng của rêu rất lớn do chúng không có biểu bì. Người ta đã chứng minh hàm lượng của các nguyên tố kim loại nặng trong rêu phản ánh hàm lượng của các nguyên tố kim loại nặng trong không khí”, giáo sư Lê Hồng Khiêm (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người mới tập trung vào nghiên cứu ô nhiễm không khí sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học, cho biết về sự lợi hại của những trạm quan trắc không khí rẻ tiền này.  ICP Vegetation – một chương trình nghiên cứu quốc tế về những tác động của các chất ô nhiễm trong không khí lên cây trồng tại châu Âu do Trung tâm Sinh thái và Thủy văn Anh điều phối, kể từ năm 2000 đã thực hiện Chương trình điều tra về rêu ở châu Âu (European Moss Survey) nhằm lập bản đồ phân bố rêu khắp châu Âu, nhận diện những khu vực ô nhiễm nhất và quan sát các xu hướng ô nhiễm theo thời gian. 28 quốc gia châu Âu với 6.000 địa điểm đã được đưa vào cuộc điều tra này. Thông qua chỉ thị sinh học rêu, các nhà khoa học đã theo dõi sự tích lũy kim loại từ bầu khí quyển từ những năm 1990 và sau năm năm lại được gia hạn. Các nghiên cứu của họ cho thấy, rêu là chỉ thị sinh học lý tưởng để theo dõi các xu hướng ô nhiễm theo những không gian, thời gian và địa điểm khác nhau.  Với những kết quả nghiên cứu về nồng độ ô nhiễm kim loại, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs), ICP Vegetation đã trở thành một phần của một công ước Liên Hợp Quốc về ô nhiễm không khí xuyên quốc gia và vận chuyển dài hạn nhằm định ra khung khổ kiểm soát và giảm thiệt hại lên môi trường và sức khỏe con người vì ô nhiễm không khí. Khi tiến hành nghiên cứu trên diện rộng như vậy, các nhà nghiên cứu châu Âu không ngờ rằng, kết quả nghiên cứu của chương trình đã góp phần gợi mở những nghiên cứu rất phong phú cho các đồng nghiệp của mình ở trong và ngoài lục địa già, trong đó phổ biến nhất là tìm hiểu về nồng độ ô nhiễm và truy ngược nguồn ô nhiễm.  Với sự phổ biến của một phương pháp không đòi hỏi quá nhiều phức tạp trong đặt mẫu và thu thập nên tại châu Âu và Bắc Mĩ, một làn sóng sử dụng rêu để quan trắc không khí đã lan tỏa từ các phòng thí nghiệm tối tân tới các cơ quan quản lý môi trường và doanh nghiệp “công nghệ xanh”.  Rêu làm thay đổi chính sách quản lý ô nhiễm  Loài thực vật nhỏ bé với kích cỡ từ 0,2 đến 10 cm này có vai trò quan trọng hơn người ta tưởng. Những kết quả rút ra từ những phân tích rêu thậm chí còn tác động đến cả chính sách quản lý môi trường của một thành phố, một quốc gia hay cả một châu lục. Một trong những điển hình thành công là trường hợp ở Portland, Mĩ với nghiên cứu của Sarah Jovan, một chuyên gia về rêu và địa y tại Trạm nghiên cứu Tây Bắc Thái Bình dương của Cục Kiểm lâm Mĩ. Năm 2013, cô và đồng nghiệp đã bắt đầu nghiên cứu về rêu bám trên các cây mọc ở nội đô Portland. Phát hiện của họ làm các công dân của thành phố bất ngờ: Rêu tiết lộ rằng Portland có vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm không khí.    Bản đồ ô nhiễm mà nhóm nghiên cứu lập lên. Nguồn: hcn.org  Trước đây, Ban Quản lý Chất lượng môi trường bang Oregon (DEQ) đã biết là không khí thành phố Portland có nồng độ cao các kim loại nặng như cadmium và arsenic, đều là những chất có khả năng gây ung thư nếu con người bị phơi nhiễm quá mức cho phép và trong thời gian dài. Nhưng điều mà các nhà khoa học làm được ở đây chính là xác định được nguồn ô nhiễm: hai nhà sản xuất kính màu là Bullseye và Uroboros đều sử dụng kim loại trong quá trình chế tạo sản phẩm. Đây là điều mà DEQ chưa làm được. “Chúng tôi đã áp dụng nó để xác định nguồn phát thải trong một môi trường đô thị phức tạp với nhiều nguồn phát khác nhau”, Sarah Jovan nhấn mạnh.  Không có rêu thì vấn đề này có thể không bao giờ được đưa ra ánh sáng. Khác với các loại thực vật bậc cao, rêu không có màng bao phủ tự nhiên trên lá nên không thể ngăn cản được việc hấp thụ các hợp chất trong không khí, “chúng thấm đẫm ô nhiễm như một miếng bọt biển vậy”, Sarah Jovan cho biết về đặc tính đặc biệt của loại chỉ thị sinh học này. “Một trong những lợi ích tuyệt vời nhất là rêu là mẫu hình đơn giản để thu hái được thông tin về nhiều chất ô nhiễm khác nhau”, Linda Geiser, giám đốc của Chương trình Quản lý nguồn không khí của Cục Kiểm lâm Mĩ cho biết thêm. “Nó không cần nguồn điện và bạn có thể gửi ai đó đặt mẫu ở bất cứ nơi nào bạn muốn, thậm chí ở vùng hẻo lánh nhất, để sau đó thu thập thông tin”.      Không chỉ phát hiện được ô nhiễm, rêu còn được tận dụng như một “thiết bị” lọc ô nhiễm – dựa vào tính năng hút chất độc hại trong không khí của nó.      Jovan cùng đồng nghiệp ở Cục Kiểm lâm Mỹ và các nhà nghiên cứu ở trường Đại học Drexel đã sử dụng một mô hình đưa 346 mẫu rêu Orthotrichum lyellii được thu thập năm 2013 từ các cây rụng lá ở những điểm cách nhau một phần tư ki lô mét trong thành phố vào một bản đồ chi tiết về các điểm nóng ô nhiễm để giúp DEQ có thể dễ dàng hình dung ra kết quả điều tra của họ. Phân tích cho thấy, hàm lượng Cadmium trong rêu liên quan với hai nhà máy sản xuất kính màu Bullseye và Uroboros ở gần biên giới giữa hai bang Oregon–Washington, đặc biệt cao ở gần nhà máy. Trung bình hằng tháng, nồng độ cadmium trong không khí là 29,4 ng/m3, cao hơn 49 lần so với mức chuẩn 0,6 ng/m3 của bang Oregon và đủ cao để gây rủi ro cho sức khỏe ngay cả khi tiếp xúc trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cả hai nhà máy này đều “lọt lưới” giám sát phát thải của các nhà quản lý môi trường.  Vậy vì sao các mạng lưới quan trắc môi trường lại không phát hiện ra điều này? Các nhà nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân xảy ra điều này, đó là vì các mạng lưới giám sát chất lượng không khí trong đô thị thường được đặt cách nhau ở khoảng cách quá lớn nên không hiệu quả trong việc xác định các nguồn gây ô nhiễm không khí. Sau khi kết quả được công khai, vào tháng 10/2015, Ban quản lý Chất lượng Môi trường Oregon đã đặt thiết bị theo dõi chất lượng không khí ở khoảng cách 120 m từ nhà sản xuất kính màu lớn, đồng thời hai công ty này đều tự ngừng sử dụng cadmium. Do đó, nồng độ cadmium trung bình hằng tháng của họ lần lượt giảm xuống còn 1,1 ng/m3 và 0,67 ng/m3. Một thông báo sớm vào đầu tháng hai của DEQ khiến nhiều công dân tức giận vì họ cho là DEQ phải hành động sớm hơn trong việc đảm bảo không khí trong lành. Giám đốc DEQ đã từ chức ngay sau đó với lý do sức khỏe.  Các nhà nghiên cứu đã công bố phát hiện của mình “Using an epiphytic moss to identify previously unknown sources of atmospheric cadmium pollution” (Sử dụng một loại rêu biểu sinh để nhận diện những nguồn ô nhiễm caddium trong khí quyển chưa biết) trên tạp chí Science of the Total Environment vào năm 2016.   Tuy vui mừng về thành công của nghiên cứu nhưng Geoffrey Donovan, đồng nghiệp của Jovan, nhấn mạnh là nghiên cứu của họ vẫn không thể thay thế được phương thức giám sát không khí truyền thống như đặt trạm quan trắc mà chỉ là một cách để hỗ trợ. Trong quá khứ, Portland mới chỉ có một trạm giám sát có khả năng dò được kim loại nặng nên không thể cung cấp được những thông tin chi tiết về các nguồn phát thải riêng rẽ. Do đó, Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (FDA) phải nhìn nhận và đánh giá lại thành công ở Portland để xem liệu phương pháp sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học có thể là cách tiếp cận mới để sàng lọc các chất độc hại gây ô nhiễm không khí hay không.  Chuyện kể của rêu không dừng ở đó. Bất chấp những cam đoan của bang, một số người dân địa phương vẫn cảm thấy sợ hãi trước những tác động về sức khỏe của ô nhiễm và đặt câu hỏi là liệu DEQ sẽ ngăn ngừa được tình trạng tương tự như thế trong tương lai không. Để dập tắt lo ngại đó, thống đốc bang Kate Brown đã phải thảo một chương trình mới của bang để tăng cường việc theo dõi chất lượng không khí.  Giải pháp xanh cho các thành phố ô nhiễm   Không chỉ phát hiện được ô nhiễm, rêu còn được tận dụng như một “thiết bị” lọc ô nhiễm – dựa vào tính năng hút chất độc hại trong không khí của nó. Nó đã gợi ý cho hai nhà khởi nghiệp Peter Sänger và Liang Wu ở Đức, những người cùng quan tâm đến cuộc chiến chống lại ô nhiễm không khí, thành lập công ty công nghệ “xanh” Green City Solutions, cung cấp giải pháp cải thiện chất lượng không khí cho vi môi trường đô thị mang tên CityTree (cây trong thành phố).   Ý tưởng sử dụng rêu để lọc không khí không phải là mới. Theo DW, vào năm 2017, thành phố Stuttgart cũng đã lắp đặt một bức tường rêu dài 100 mét, cao ba mét và tạo ra hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên, tường rêu này không thể so sánh với CityTree. Đây là một dạng máy lọc không khí có nhiều nét sáng tạo được thiết kế thân thiện với người dùng có thể đặt ở các vị trí thuận lợi trên đường và có bệ để cho mọi người có thể dừng chân. Loại cây đặc biệt này là sự tích hợp của nhiều loại công nghệ hiện đại: các tấm gỗ phủ rêu với nhiều loại khác nhau để có thể vừa cùng lúc lọc được các hạt bụi mịn và NOx lại vừa tạo ra ôxy; công nghệ IoT được tích hợp để có thể truyền thông tin một cách nhanh chóng và toàn diện về khả năng lọc của ‘cây”, tình trạng của không khí cũng như dữ liệu môi trường xunh quanh “cây”; công nghệ thông gió đa chiều cho phép các dòng chảy không khí được tăng cường, qua đó là tăng hiệu quả lọc không khí; hệ thống tưới nước tự động đảm bảo cung cấp đủ nước một cách tối ưu cho rêu; nguồn điện để đảm bảo cho “cây” hoạt động là thông qua lưới điện thành phố; hiệu ứng làm mát: rêu góp phần làm tăng độ ẩm và việc bốc hơi nước từ bề mặt các mảng rêu cũng góp phần tạo hiệu ứng làm mát một cách đáng kể. Sự kết hợp của các công nghệ cho phép “cây” làm sạch không khí và lượng không khí chúng lọc được có thể phụ thuộc vào các mức độ ô nhiễm tại những thời điểm khác nhau trong ngày.    Một phiên bản CityTree đặt tại Paris, Pháp. Nguồn: CNN.  Dĩ nhiên để có được loại “cây” lọc không khí này, Peter Sänger và Liang Wu đã hợp tác với hai tổ chức nghiên cứu và bảy nhà công nghệ Đức trong giải quyết từng vấn đề riêng rẽ: với Viện nghiên cứu Nhiệt đới Leibniz là để đo đạc và phân tích về tác động của thiết bị; Viện nghiên cứu ILK Dresden (trường Đại học Kỹ thuật Dresden) để phát triển công nghệ về lọc không khí và việc làm mát của rêu; công ty hàng đầu về IoT MaibornWolff để phát triển phần mềm, mang dữ liệu của “cây” theo thời gian thực tới khách hàng và đối tác qua nền tảng AirCare; Thies Clima phát triển và chế tạo các cảm biến và hoàn thiện hệ thống dự báo thời tiết đạt tiêu chuẩn của Đức và thế giới, qua đó có được cả các dữ liệu thời tiết chính xác để theo dõi sự “sống sót” của rêu; Bettair cung cấp các cảm biến có khả năng đo đạc được lượng bụi mịn với những hiểu biết sâu sắc về ô nhiễm không khí…  Nhận thấy hiệu quả giải pháp cây lọc không khí của công ty Green City Solutions, Hội đồng châu Âu đã đầu tư kinh phí và hỗ trợ kiểm tra về mặt khoa học một mạng lưới CityTree gồm 15 “cây” được đặt ở các điểm nóng ô nhiễm của thành phố Berlin vào năm 2020 này. Đây là một bước đi thận trọng của EU bởi trước khi tung CityTree ra thị trường, Peter Sänger và Liang Wu đã kiểm tra các thông số kỹ thuật của cây tại Viện ILK Dresden, một nơi có uy tín về những công nghệ về xử lý không khí.   Trước thềm Hội nghị thượng đỉnh về hành động khí hậu 2019, nơi tập trung vào mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và các thành phố, các giải pháp dựa vào thiên nhiên và khả năng phục hồi đối với biến đổi khí hậu, Tim Christophersen, trưởng chi nhánh Nước sạch, đất và khí hậu của Chương trình Môi trường Liên Hợp uốc, cho rằng cây cối ngày được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng trong cuộc chiến môi trường và biến đổi khí hậu. “Thiên nhiên có thể giúp chúng ta giải quyết những vấn đề về môi trường do con người gây ra, và chúng ta cần nhiều giải pháp từ đó. CityTree có thể được dùng tại các điểm nóng ô nhiễm không khí như một giải pháp thú vị tham gia vào hệ thống cây trồng đô thị và các không gian xanh mà các thành phố có thể đầu tư.”  Hiện tại, cả Peter Sänger và Liang Wu đều cho biết đã bán được hơn 50 thiết bị CityTree thuộc thế hệ đầu tiên của sản phẩm cho nhiều thành phố và công ty khắp châu Âu, điều mà họ cho là thành công lớn và qua đó cung cấp cho họ những dữ liệu có giá trị để có thể mở ra những cái nhìn hữu ích về thông tin môi trường và sức khỏe. “Các CityTrees của chúng tôi đã có mặt tại Na Uy, Pháp, Bỉ, Macedonia, Hong Kong và dĩ nhiên là Đức. Sản phẩm của chúng tôi cũng được giới thiệu ở nhiều hội nghị về giải pháp chống ô nhiễm không khí, một phần nhờ vào tính cơ động và thiết kế thân thiện của nó nữa”, Peter Sänger nói. □  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:   https://www.hcn.org/issues/48.7/inside-the-moss-mystery-how-the-organisms-helped-reveal-portlands-pollution  https://www.unenvironment.org/news-and-stories/story/air-pollution-eating-moss-cleans-hotspots-europe    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những gợi ý từ hội nghị khởi nghiệp lớn nhất Bắc Âu      Chuyến đi tới Slush của đoàn Việt Nam vừa qua đưa ra một số gợi ý về cách đưa hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam ra quốc tế.       Ấn tượng qua gian hàng 4m2  “Peter Vesterbacka (cha đẻ của Angry Bird) kể lại ấn tượng của ông về một cuộc thi thuyết trình trong một hội chợ công nghệ tại Cannes vào năm 2001: ‘Người thắng cuộc rất tuyệt… Tôi nghĩ họ đang thực hiện một kiểu nền tảng công nghệ thông tin nào đó. Không thực sự nhớ nó là cái gì và anh chàng thuyết trình đó nữa. Nhưng anh ta đi một đôi giày trắng!’ Nghe khôi hài là vậy nhưng những thứ nhỏ bé thường tạo ra sự khác biệt to lớn”. Đó là lời khuyên được ghi trong sổ tay hướng dẫn tới Slush năm 2015 và cũng là cách đoàn startup Việt Nam “tình cờ” tạo “dấu ấn” của mình tại Slush 2015.   Mục tiêu của đoàn startups Việt Nam khi tới Slush – sự kiện khởi nghiệp lớn nhất Bắc Âu là giới thiệu hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam đến thế giới. Đoàn vỏn vẹn 25 người đã “gây chú ý” chỉ bằng một gian hàng với kích thước 2x2m2 trong sự kiện đông đúc này.   Gian hàng đó là do VP9 (công ty  khởi nghiệp với những sản phẩm dựa trên công nghệ nén video/audio nhỏ để truyền qua internet ổn định) và Trace Verified (công ty áp dụng công nghệ để truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp đầu tiên tại Việt Nam), hai trong số 12 startup của Việt Nam tham dự Slush năm nay, chia sẻ 600 EUR tiền thuê và đông khách ghé thăm ngoài sức tưởng tượng, tới mức “tiếp không kịp”, theo lời Nguyễn Thị Lệ Quyên, đồng sáng lập VP9, kể lại trong bữa trưa tổng kết kinh nghiệm sau khi đoàn trở về từ Phần Lan.  “Người ta cứ nghĩ rằng Việt Nam chỉ là một đất nước làm nông nghiệp thuần túy, họ không ngờ là mình cũng có những doanh nghiệp khởi nghiệp làm về công nghệ thông tin,” Nguyễn Thị Lệ Quyên cho biết trong buổi họp tổng kết chuyến đi.   Khi đến Slush, VP9 hẹn với 15 nhà đầu tư nhưng không có được cuộc gặp nào. Tuy nhiên, ngay sau khi mở gian hàng, họ đã có ít nhất ba đối tác. Trong đó, ông Matti Sarja, giám đốc công nghệ của Sote360 (công ty Phần Lan chuyên sản xuất thiết bị theo dõi sức khỏe cho người già) nói, sản phẩm của VP9 là sản phẩm ông thích nhất đợt này.    Nhờ gian hàng, đại diện của chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Phần Lan – Việt Nam (IPP) giai đoạn 2 cũng có chỗ để phát hàng trăm tờ rơi mà họ đã chuẩn bị để giới thiệu về IPP và các startup Việt Nam tham dự.   Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, người sáng lập Trace Verified, giải thích vì sao phải thuê gian hàng: “Phải có gian hàng. Đó là nơi mọi người gặp gỡ, nói chuyện, là chỗ để giới thiệu sản phẩm của mình, để phát tờ rơi, biết đâu mình gặp nhà đầu tư.” Bà là Chủ tịch danh dự Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), người hằng năm xây dựng gian hàng đại diện cho Việt Nam ở hai hội chợ thủy sản lớn nhất thế giới tại Brussels (Bỉ) và Boston (Mỹ), đồng thời là nhà sáng lập hội chợ quốc tế VietFish dành cho các công ty xuất khẩu thủy sản ở châu Á, đã quá rõ vai trò của gian hàng trong một hội chợ.   Để chuẩn bị gian hàng này, Trace Verified đã chuẩn bị rất cầu kì từ trước ngày lên đường. “Ngay từ khi nghe đến sự kiện Slush, chúng tôi đã tìm mua và đóng gói 100 cái nón lá để làm quà tặng cho những người đến thăm gian hàng,” bà Hồng Minh kể. Khách tới thăm gian hàng của Việt Nam hào hứng đội nón lá cho tới bữa tiệc kết thúc Slush vào cuối ngày.   “Thực ra, gian hàng đó không thể gọi là của đoàn Việt Nam. Các lãnh đạo sợ là năm nay mình không có kinh nghiệm nên chỉ đi xem để học hỏi là chính nên không đặt gian hàng,” chị Trần Thị Thu Hương, giám đốc IPP – dự án tài trợ chính cho chuyến đi tới Phần Lan của đoàn Việt Nam năm nay, cho biết. Theo chị Hương, Việt Nam sẽ có một gian hàng riêng của quốc gia tại Slush vào năm tới.   Từ Slush, Việt Nam có thể học cách quảng bá của các quốc gia khác. “Rất nhiều quảng cáo được lồng vào mà mình không biết, Nga và Trung Quốc có những diễn giả khách mời trên sân khấu, thỉnh thoảng lại nhắc đến tiềm năng và nhân lực của nước họ. Việt Nam cũng nên có một diễn giả khách mời trên sân khấu, một người tương đối hiểu biết về hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam để hướng khán giả đến gian hàng của mình,” Phan Nam Long, CEO của Abivin, một thành viên đoàn của Việt Nam nhận xét. Năm nay, Tổng thống Estonia, Toomas Hendrik Ilves, cũng lên sân khấu trao đổi về thị trường số chung châu Âu. Trước đó, Phó Thủ tướng Trung Quốc, Uông Dương cũng từng có bài phát biểu tại lễ khai mạc Slush 2014.   Đem thế giới về Việt Nam  Các startup, trước khi đến Phần Lan, đều đăng kí mục tiêu là tìm nhà đầu tư và khách hàng mới. Nhưng những gì họ nhận được là những giá trị bên ngoài điều đó, phần lớn là những ý tưởng và cách tổ chức một sự kiện khởi nghiệp hiệu quả.  Nội dung chính của Slush diễn ra trong khuôn viên của Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Helsinki, trong đó có 1.700 gian hàng của các startup và bốn sân khấu nơi những nhà công nghệ nổi tiếng cùng 100 startup thuyết trình về sản phẩm của mình. Ngoài ra, còn có hàng trăm sự kiện bên lề được tổ chức tại các quán bar bên ngoài khuôn viên Slush. Bất cứ ai cũng có thể đăng kí tổ chức và tham gia những sự kiện này.   Chị Vũ Thị Hảo, trưởng đoàn dẫn các startup đến tham dự Slush lần này kể về ấn tượng của mình khi tới một sự kiện bên lề, gọi là Failure Festival. “Trong một quán bar đèn mờ ảo và nhạc xập xình, mọi người chia sẻ câu chuyện về thất bại của mình. Ở Việt Nam khi nghe kể về thất bại như vậy, mình sẽ an ủi, tỏ ra thông cảm. Nhưng hôm đó, có một ông người Mỹ cười ha ha vô cùng sảng khoái, cười thẳng vào mặt người vừa kể chuyện kia. Người thì rất sẵn lòng chia sẻ thất bại của mình, người thì rất thoải mái khi nghe thất bại của người khác. Tôi rất muốn tạo ra một không khí cởi mở như vậy ở Việt Nam”. Chị cho biết đang có ý định đề xuất tổ chức sự kiện tương tự như vậy ở Việt Nam.   Trace Verified hẹn được sáu cuộc gặp gỡ các nhà đầu tư qua mạng nhưng theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh: “không ai hứa hẹn gì với mình. Có lẽ, doanh nghiệp Việt Nam với quy mô nhỏ vẫn cần một sân chơi phù hợp hơn.”   Thực ra, Việt Nam cũng đã có ít nhất hai “sân chơi” kết nối các startup, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Chẳng hạn như HATCH!FAIR được tổ chức hằng năm kể từ năm 2013 và TechFest được tổ chức lần đầu vào tháng Năm vừa qua. Qua sự kiện Slush, một số doanh nghiệp tham dự cho rằng, Việt Nam sẽ tổ chức các sự kiện khởi nghiệp tốt hơn nếu “lôi kéo” được nhiều nguồn lực ngoài nước tham gia các sự kiện khởi nghiệp này.   “TechFest chưa có nhà đầu tư lớn mà toàn nhà đầu tư nhỏ đến từ Đông Nam Á, các nhà đầu tư từ Nhật cũng ít, từ Âu – Mỹ cũng không có mấy,” bà Nguyễn Thị Hồng Minh nói. Bà cũng cho biết, có thể học tập cách tổ chức của Slush đó là công khai danh sách tên nhà đầu tư tham gia sự kiện, phân loại lĩnh vực, khu vực họ quan tâm đầu tư và mức tiền mà họ muốn đầu tư. Theo đó, các startup sẽ hẹn các nhà đầu tư trên website của sự kiện thông qua một tài khoản riêng. Và hệ thống sẽ sắp xếp lịch hợp lí.   HATCH!FAIR lại gặp một vướng mắc khác. “Quy mô của HATCH!FAIR nhỏ, ít công ty nhưng lại ở các lĩnh vực quá khác nhau và năng lực không đồng đều nên rất khó hợp tác”, Phan Nam Long nhận định. Tuy nhiên, ở Slush lại rất dễ gặp người lạ và trao đổi: “Tôi lúc nào cũng bắt đầu bằng câu: ‘Tôi đến từ Việt Nam, tôi đang làm về phân tích dữ liệu lớn’. Mình cho họ thấy là mình có cái để cung cấp cho họ. Sau đó là mình nghe về lĩnh vực của họ và mình đưa ra gợi ý là mình có thể giúp họ những gì. Họ thích thú và bị cuốn theo câu chuyện đó.”   “Lí do có thể là bởi vì, Slush được tổ chức ở quy mô toàn cầu và có nhiều công ty công nghệ nên khả năng gặp gỡ những người cùng ngành và hiểu mình cao hơn,” anh Long nói.          Slush là một trong các hoạt động  của Aaltoes – Aaltoes Entrepreneurship Society (Cộng đồng khởi nghiệp  Aaltoes) do một nhóm sinh viên Đại học Aalto sáng lập và điều hành từ  năm 2009 nhằm kích thích khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Phần Lan. Từ  một sự kiện chỉ có 300 người trong năm đầu tổ chức, hiện nay Slush đã  quy tụ hàng chục nghìn những tài năng công nghệ, các nhà khởi nghiệp  hàng đầu ở khắp nơi trên thế giới. Năm nay, Hội nghị thu hút 15 nghìn  khách thăm và 630 phóng viên từ 100 nước trên thế giới.              Trung tâm của  sự kiện Slush là Slush 100, nơi 100 startup thuyết trình trước các nhà  đầu tư và hàng nghìn khán giả. (Từ 100 người sẽ chọn ra top 20 thi đấu  trong vòng bán kết và cuối cùng là top 4 trong vòng chung kết). Các tiêu  chí để đánh giá startup dựa trên sản phẩm, tiềm năng thị trường, tính  cạnh tranh của nhóm sáng lập và mức độ sẵn sàng nhận đầu tư. Người thắng  cuộc sẽ được đầu tư 650.000 EURO. Năm nay, startup thắng cuộc là  Caremonkey (Úc) với sản phẩm là các ứng dụng di động quản lý và chia sẻ  các thông tin nhạy cảm giữa những người trong gia đình, giữa các bệnh  viện và trường học để đề phòng tai nạn và rủi ro không đáng có.              Bà  Nguyễn Thị Hồng Minh cho biết: “Bọn tôi cũng ‘điếc không sợ súng’ đăng  ký Slush 100 nhưng không được chọn. Chúng tôi nhận thấy họ [những người  tham dự Slush 100] đều có những ý tưởng lớn, đã có khách hàng toàn cầu  còn mình thì tập trung vào mỗi Việt Nam mà chưa xong nữa. Châu Á cũng  không có doanh nghiệp nào lọt vào Slush 100 cả. Dù sao mình đến cũng học  được rất nhiều từ ý tưởng của người ta”.                Phan Nam Long, người  “tường thuật trực tiếp” Slush 100 trên trang cá nhân, lại suy nghĩ khác:  “Tôi hơi thất vọng về Slush 100, vì có nhiều người trình bày mà chưa có  sản phẩm, họ mới chỉ có ý tưởng thôi. Nhưng top 20 thì họ làm rất hay.”             Author                Quản trị        
__label__tiasang Những khả năng vô hạn của thiết bị điện tử gắn trên người      Benoît Lessard và nhóm nghiên cứu của mình đang phát triển các công nghệ chứa carbon có thể dẫn tới việc cải thiện sự hiển thị trên điện thoại một cách linh hoạt hơn, khiến “làn da” của robot thêm nhạy cảm và cho phép các thiết bị điện tử gắn trên người có thể giám sát sức khỏe của các vận động viên theo thời gian thực.      Benoît Lessard trong phòng thí nghiệm. Nguồn. Image courtesy Benoît Lessard.   Với sự hỗ trợ của Trung tâm máy gia tốc Canadian Light Source (CLS) tại trường đại học Saskatchewan (USask), một nhóm nghiên cứu Canada và các nhà khoa học quốc tế đã đánh giá cách cấu trúc màng mỏng tương quan như thế nào với hiệu suất của các transistor dạng màng mỏng hữu cơ.  Các thiết bị điện tử hữu cơ thường sử dụng các phân tử chứa carbon để tạo ra những thiết bị điện tử hiệu quả và linh hoạt. Sự hiển thị của các điện thoại thông minh là cơ sở của công nghệ LED hữu cơ, vốn có các phân tửu hữu cơ để phát xạ ánh sáng và những thứ khác để phản hồi lại hành xử chạm.  Lessard, tác giả chính của nghiên cứu gần đây mới xuất bản trên ACS Applied Materials and Interfaces “Thin-Film Engineering of Solution-Processable n-Type Silicon Phthalocyanines for Organic Thin-Film Transistors” (Kỹ thuật màng mỏng của các dạng Silicon Phthalocyanines có khả năng xử lý dung dịch cho các  transistor màng mỏng hữu cơ). Anh rất hứng thú nói về dữ liệu mà nhóm nghiên cứu của mình thu thập được trên chùm tia HXMA. Là nhà nghiên cứu của chương trình nghiên cứu của chính phủ Canada (Canada Research Chairs) trong lĩnh vực Các vật liệu polymer tiên tiến và điện tử hữu cơ và phó giáo sư Khoa Kỹ thuật hóa học và sinh học, trường đại học Ottawa, Lessard hiện đang nghiên cưu về các công nghệ bên trong các transistor dạng màng mỏng hữu cơ.  Để cải thiện công nghệ này, nhóm nghiên cứu của anh đang thực hiện thiết kế và xử lý phthalocyanines, các phân tử vẫn quen được sử dụng như các chất nhuộm và màu sắc.  “Các đặc điểm này khiến cho một phân tử sáng và có màu sắc, nó khiến chúng có khả năng hấp thụ và phát sáng một cách hiệu quả”, Lessard nói. “Một số điều mà chúng tôi muốn trong một chất nhuộm màu cũng tương tự như cách chúng tôi trông chờ vào hiển thị OLED”.  Phthalocyanines thường được sử dụng trong các máy photocopy kể từ những năm 1960. Sự đáp ứng của các phân tử cho việc sử dụng các thiết bị điện tử hữu cơ giúp giảm chi phí giá thành và khiến cho việc sản xuất các thiết bị đó thêm thiết thực, cho phép tăng cơ hội dùng chúng trong nhiều ứng dụng mới.    Trung tâm Máy gia tốc Canada là nơi giúp Lessard và cộng sự thực hiện nghiên cứu. Nguồn: CLS  “Máy tính mà chúng ta sử dụng có cả tỉ transistor nhưng nếu anh muốn có được da nhân tạo cho robotics hoặc các cảm biến mang theo người, anh cần phải có những thiết bị điện tử linh hoạt, có thể uốn cong được và cách tốt nhất để làm điều đó là tìm hiểu về hữu cơ”, Lessard nói.  Các công nghệ điện tử hữu cơ có thể được sử dụng trong da nhân tạo cho những nạn nhân bị bỏng hoặc da điện tử cho các robot.  Các cảm biến hữu cơ có thể được tích hợp vào trang phục của vận động viên và có thể gửi thông tin về các huấn luyện viên của họ, những người có thể quan sát các mức độ mất nước của học trò bằng giám sát việc ra mồ hôi của họ.  “Những ứng dụng này là dạng mà anh có thể mơ đến”, Lessard nói.  Lessard đã sử dụng công nghệ này trong việc tạo ra các cảm biến có khả năng dò cannabinoids, các phân tử hoạt hóa nhất trong cần sa. Anh là đồng sáng lập một công ty spin-off mang tên Ekidna Sensing, vốn được phát triển các thử nghiệm nhanh cho việc sử dụng cần sa trên các công nghệ tương tự.  “Tất cả những gì chúng tôi đang nghiên cứu về máy gia tốc có thể giúp chúng tôi hướng về mục tiêu của một start-up”, Lessard cho biết.  Dù các công nghệ hàng đầu đã có sẵn nhưng chúng không đủ khả năng tiết lộ những gì diễn ra trong các dao diện, vốn chỉ có độ dày vài nano mét. Nhóm nghiên cứu của anh có thể không thể tạo ra dữ liệu cần thiết cho hiểu biết về cách hiệu suất của các transistor mà không có sự hỗ trợ của Trung tâm máy gia tốc CLS.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-01-limitless-possibilities-wearable-electronics.html  https://pubs.acs.org/doi/10.1021/acsami.0c17657    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những khám phá của năm 2020      Vi phạm đối xứng vật chất – phản vật chất  Nhóm hợp tác T2K đã thông báo những phát hiện về vi phạm đối xứng gương hạt – phản hạt (còn được gọi là đối xứng chẵn lẻ) qua các hạt của nhóm lepton. Vi phạm chẵn lẻ lepton có thể được dùng để tìm …    Vi phạm đối xứng vật chất – phản vật chất   Nhóm hợp tác T2K đã thông báo những phát hiện về vi phạm đối xứng gương hạt – phản hạt (còn được gọi là đối xứng chẵn lẻ) qua các hạt của nhóm lepton. Vi phạm chẵn lẻ lepton có thể được dùng để tìm kiếm các hạt neutrino. Các hạt neutrino có ba ‘hương” được xác định bằng sự liên kết với các hạt lepton mang điện tích (một electron, một muon hoặc một hạt tau), và có thể thay đổi từ một hương này sang hương khác khi chúng di chuyển. Nếu đối xứng chẵn lẻ được bảo toàn, xác suất dao động để sự bảo toàn hạt muon thành electron có thể tương tự như bảo toàn phản neutrino muon thành electron. Trong thí nghiệm T2K, việc các hạt neutrino (hoặc phản hạt neutrino) di chuyển qua 295 km xuyên qua Trái đất đã được máy dò đặt dưới lòng đất ở Đài quan sát Kamioka tại Nhật Bản dò ra. Thí nghiệm này chứng tỏ xác suất dao động của bảo toàn neutrino muon thành electron. Các kết quả loại trừ bảo toàn chẵn lẻ đạt mức tin cậy 95%, và có thể là những biểu thị đầu tiên về nguồn gốc của sự bất đối xứng vật chất – phản vật chất trong vũ trụ của chúng ta.  Dòng tia ngừng dịch chuyển khi tầng ozone phục hồi  Việc phát hiện một lỗ hổng trong tầng khí quyển ozone vào mùa xuân ở Nam Cực giữa những năm 1980 đã giúp các nhà khoa học thấy mối đe dọa từ các chất làm suy giảm tầng ozone (ODSs) do con người tạo ra. Nằm ở độ cao khoảng 10-20km, lỗ thủng tầng ozone Nam Cực này cũng tác động đến hoàn lưu khí quyển trên toàn bộ bề mặt ở Nam bán cầu – điều đáng chú ý nhất, bằng cách dịch chuyển dòng tia (jet stream) mùa hè về phía cực.     Do đó, Nghị định thư Montreal năm 1987 và những bản sửa đổi sau đó đã nghiêm cấm việc sản xuất và sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozone (ODSs). Nhờ vậy, nồng độ ODS trong khí quyển đã giảm xuống và tầng ozone bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi. Banerjee và các cộng sự báo cáo rằng các hiệu ứng hoàn lưu liên quan đến lỗ thủng tầng ozone đã tạm ngưng kể từ khi việc phục hồi này bắt đầu. Trước đây, các nhà khoa học đã ghi nhận sự tạm ngừng của xu hướng hoàn lưu trên, tuy nhiên Banerjee và các cộng sự là những người đầu tiên chính thức cho rằng kết quả này là nhờ hiệu lực của Nghị định thư Montreal.    Tiềm năng của vệ tinh trong việc lập bản đồ chi tiết mọi tán cây trên Trái Đất  Brandt và các cộng sự đã lập một báo cáo phân tích các hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao, trong đó bao quát hơn 1,3 triệu km vuông của khu vực phía Tây Sahara và Sahel của Tây Phi. Theo đó, các tác giả đã lập bản đồ vị trí và kích thước của khoảng 1,8 tỷ tán cây riêng lẻ; đây là bản đồ cây cối đầu tiên mô tả chi tiết trên một khu vực rộng lớn như vậy. Các vệ tinh thương mại hiện đã bắt đầu thu thập các dữ liệu có thể chụp các vật thể trên mặt đất có kích thước từ một mét vuông trở xuống. Điều này cho thấy bước tiến lớn trong tương lai của lĩnh vực viễn thám: từ chỗ mới chỉ tập trung vào đo lường tổng thể cảnh quan đến chỗ có khả năng lập được bản đồ vị trí và kích thước tán của các loại cây trên toàn khu vực hoặc ở quy mô toàn cầu. Bước tiến này chắc chắn sẽ thúc đẩy những thay đổi căn bản về cách chúng ta nghĩ về, giám sát, mô hình hóa và quản lý các hệ sinh thái trên cạn toàn cầu.  Gây sốc HIV tiềm ẩn  HIV có thể ẩn náu ở dạng “tiềm ẩn” trong các tế bào chứa virus, trải qua rất ít hoặc không diễn ra quá trình phiên mã nên không bị hệ thống miễn dịch phát hiện. Các phương pháp điều trị “sốc và tiêu diệt” nhằm mục đích đảo ngược trạng thái tiềm ẩn này và tăng biểu hiện gene của virus (sốc), khiến các tế bào chứa virus dễ bị hệ thống miễn dịch loại bỏ (tiêu diệt). Hai nhóm nghiên cứu mô tả những can thiệp trên mô hình động vật có lẽ đã tạo ra trường hợp sốc mạnh nhất được ghi nhận cho đến nay. Christopher Nixon ở Trung tâm nghiên cứu AIDS, ĐH Bắc Carolina (Hoa Kỳ) và các đồng nghiệp đã dùng một loại thuốc có tên là AZD5582, có thể kích hoạt yếu tố phiên mã NF-κB – một tác nhân chính gây ra biểu hiện gene HIV-1. Julia Bergild McBrien ở Trung tâm vaccine Emory và Trung tâm nghiên cứu linh trưởng quốc gia Yerkes (ĐH Emory, Hoa Kỳ) và cộng sự đã kết hợp hai biện pháp can thiệp miễn dịch – làm suy giảm tế bào CD8+ T (tế bào miễn dịch làm giảm mức độ phiên mã của virus) qua kháng thể trung gian và điều trị bằng một loại thuốc có tên N-803 để kích hoạt phiên mã HIV-1.   Vì sao ruồi D. sechellia lại kén ăn?  Ruồi Drosophila sechellia chỉ ăn trái nhàu có độc (Morinda citrifolia). Vì sao loài này lại kén ăn hơn hẳn những họ hàng chung của nó? Auer và cộng sự đã sử dụng công cụ chỉnh sửa gene CRISPR – Cas9 để lý giải điều này. Một lớp tế bào thần kinh cảm giác của ruồi D. sechellia biểu hiện protein thụ thể giúp nhận biết mùi (Or22a) có phần nhiều hơn ở các loài ruồi khác – nhóm đã chỉ ra rằng những thay đổi nhỏ trong trình tự axit amin của Or22a đã góp phần giúp ruồi D. sechellia phân biệt những trái nhàu. Họ cũng xác định thêm một số thay đổi trong quá trình tiến hóa khác có thể góp phần vào sự khác biệt trong hành vi tưởng như đơn giản này. Ngay cả những con ruồi nhỏ thích ăn trái cây bốc mùi cũng có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách não bộ tiến hóa để hình thành các hành vi phức tạp.   Một vụ bùng phát sóng radio nhanh trong dải Ngân hà  Ba bài báo được công bố trên tạp chí Nature đã báo cáo về việc phát hiện một hiện tượng gọi là bùng phát sóng radio nhanh (FRB) đến từ một nguồn trong thiên hà của chúng ta. Điều thú vị là FRB đi kèm với một bùng phát tia X. Để có được phát hiện này, các nhà nghiên cứu đã kết hợp những gì quan sát được từ nhiều kính thiên văn trên mặt đất và không gian lại với nhau. Cái tên “bùng phát sóng radio nhanh” là cách mô tả hay về hiện tượng này: những đợt bùng phát sóng radio rực rỡ với thời lượng xấp xỉ mili giây. Các nhà khoa học lần đầu tiên phát hiện ra FRB vào năm 2007 nhưng bản chất tồn tại ngắn ngủi của chúng khiến việc phát hiện và xác định vị trí của FRB trên bầu trời đặc biệt khó khăn. Khác với những FRB được phát hiện trước đây, đây là lần đầu tiên các nhà khoa học tìm thấy FRB trong dải Ngân hà, và là FRB đầu tiên có liên hệ với tàn dư của các ngôi sao – được gọi là sao từ (magnetar) – chứng minh rằng những ngôi sao từ có thể tác động đến các FRB.  Độ phân giải ở mức nguyên tử của kính hiển vi điện tử cryo-electron     Có một nguyên tắc cơ bản trong sinh học cấu trúc: một khi những nhà nghiên cứu có thể quan sát trực tiếp các đại phân tử với đủ chi tiết, họ có thể hiểu được cách những cấu trúc 3D của chúng tạo ra các chức năng sinh học cho chính mình. Trong một bài báo trên Nature, nhóm nghiên cứu của Yip và nhóm của Nakane đã trình bày những hình ảnh sắc nét nhất từ trước đến nay bằng phương pháp kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp đơn hạt (cryo-EM), qua đó lần đầu tiên xác định được vị trí của các nguyên tử riêng lẻ trong protein. Cả hai nhóm đã sử dụng phần cứng để xử lý các khía cạnh khác nhau của hình ảnh cryo-EM – yếu tố từng hạn chế độ phân giải của ảnh. Với những công nghệ này, tỷ lệ tăng lên của tín hiệu so với nhiễu của các hình ảnh cryo-EM sẽ mở rộng khả năng ứng dụng của kỹ thuật này. Có lẽ sự kết hợp của những công nghệ trên sẽ cho phép xác định cấu trúc cryo-EM ở mức phân giải vượt quá một ångström – -điều mà trước đây dường như là không thể.   Thiếu interferon có thể khiến bệnh tình Covid-19 trở nên trầm trọng hơn  Zhang, Bastard và cộng sự đã hé lộ yếu tố quyết định đến việc liệu bệnh Covid-19 có trở nên trầm trọng hơn và có nguy hiểm đến tính mạng con người hay không. Các nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt các protein interferon, mà cụ thể là interferon loại I (IFN-I). Sự thiếu hụt có thể phát sinh thông qua các đột biến di truyền trong gene mã hóa các phân tử tín hiệu kháng virus quan trọng, hoặc do sự phát triển của các kháng thể liên kết và ‘trung hòa’ IFN-I.   Làm thế nào mà sự phản ứng trước việc thiếu hụt IFN-I có thể dẫn đến việc Covid-19 gây nguy hiểm đến tính mạng? Lời giải thích rõ ràng nhất đó là sự thiếu hụt IFN-I dẫn đến virus nhân lên và lây lan một cách khó kiểm soát. Tuy nhiên, thiếu hụt IFN-I còn có thể gây ra những hậu quả khác đối với chức năng của hệ miễn dịch.  Những người có đột biến gene trong quá trình cảm ứng IFN-I sẽ được hưởng nhờ từ liệu pháp cung cấp interferon. Hơn nữa, liệu pháp cung cấp các loại interferon khác, chẳng hạn như IFN-β và IFN-λ, có thể hỗ trợ những người có kháng thể trung hòa với IFN-α và IFN-ω.□  Anh Thư, Mỹ Hạnh, Thanh An, Anh Vũ dịch   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03514-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những khám phá  khoa học của thập kỷ (phần 1)      Trong mười năm qua, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc tìm hiểu về cơ thể người, về Trái đất và về vũ trụ quanh ta. Dưới đây là danh sách những khám phá khoa học lớn nhất thập kỷ do National. Geographic lựa chọn.    Hé lộ nghệ thuật cổ xưa     Các phát hiện ở khắp thế giới củng cố quan điểm rằng nghệ thuật – dù là hình vẽ nguệch ngoạc – là một hiện tượng toàn cầu và cổ xưa hơn người ta từng nghĩ. Năm 2014, các nhà khoa học xác định niên đại của các hình vẽ tay và một bức tranh “lợn-hươu” ở hệ thống hang Maros, đảo Sulawesi, Indonesia, là ít nhất 39.000 năm trước, tức là tương đương với những tranh vẽ cổ nhất trong các hang động ở châu Âu. Sau đó, năm 2018, các nhà khoa học công bố phát hiện các tranh vẽ trong hang động ở đảo Borneo (phần thuộc Indonesia) có tuổi từ 40.000 đến 52.000 năm, phát hiện này tiếp tục đẩy lùi [về xa xưa hơn] mốc xuất hiện của tranh vẽ. Cũng năm 2018, một mảnh đá có các nét gạch chéo được tìm thấy ở Nam Phi. Với niên đại 73.000 năm trước, nó có thể là hình vẽ cổ xưa nhất trên thế giới.      Một kỹ thuật viên đang đo đạc các vòng đá được cho là do người Neanderthal xây dựng, trong hang Bruniquel, Pháp.  Các phát hiện gây tranh cãi khác làm dấy lên tranh luận về trình độ nghệ thuật của người Neanderthal. Năm 2018, các nhà khoa học công bố phát hiện các mẩu phấn và vỏ sò đục lỗ ở Tây Ban Nha. Chúng có niên đại 115.000 năm trước, thời điểm ở châu Âu chỉ có người Neanderthal. Cùng năm, một nghiên cứu khác tuyên bố tuổi của một số tranh vẽ trong hang động ở Tây Ban Nha là 65.000 năm. Nhiều chuyên gia về tranh vẽ trong hang động nghi ngờ phát hiện này, nhưng nếu nó đúng, đó sẽ là bằng chứng đầu tiên về tranh vẽ trong hang động của người Neanderthal. Và năm 2016, các nhà khoa học tuyên bố tìm ra những vòng tròn đá kỳ lạ khoảng 176.000 tuổi trong một hang động ở Pháp. Nếu những vòng tròn đá đó không phải do gấu làm, thì tuổi của chúng cho thấy đó là một tác phẩm khác của người Neanderthal.     Chạm tới không gian giữa các ngôi sao     Các nhà sử học tương lai có thể nhìn lại thập kỷ 2010 như thập kỷ giữa các ngôi sao: lần đầu tiên, tàu vũ trụ của con người vượt qua tấm màn giữa Mặt trời và không gian giữa các ngôi sao, và chúng ta cũng đón nhận những vật thể đầu tiên được hình thành ở những hệ sao xa xôi.  Tháng 8 năm 2012, tàu thăm dò Voyager 1 của NASA vượt qua biên của nhật quyển, vùng không gian được đánh dấu bằng các hạt do Mặt trời phát ra. Tàu Voyager 2 theo bước người chị em song sinh vào tháng 11 năm 2018 và thu được những dữ liệu quan trọng trong hành trình của nó. Nhưng con đường giữa các ngôi sao là một đường hai chiều. Tháng 10 năm 2017, các nhà thiên văn học tìm thấy ‘Oumuamua, vật thể đầu tiên đi qua hệ Mặt trời mà có nguồn gốc từ một hệ sao khác. Tháng 8 năm 2019, nhà thiên văn nghiệp dư Gennady Borisov tìm thấy vật thể thứ hai như thế, một sao chổi sau đó mang tên ông.     Mở cánh cửa đến những nền văn minh cổ     Các nhà khảo cổ học có nhiều phát hiện đặc biệt trong thập kỷ 2010. Năm 2013, các nhà khoa học Anh cuối cùng đã tìm thấy thi hài của vua Richard III bên dưới một bãi đỗ xe. Năm 2014, các nhà khoa học tìm ra một hầm mộ hoàng gia nguyên vẹn trong khu đền Castillo de Huarmey ở Peru. Năm 2016, các nhà khảo cổ học tìm ra nghĩa trang đầu tiên của người Philistine, mở ra một ô cửa nhìn vào cuộc sống của dân tộc nổi tiếng nhất và bí ẩn nhất trong Kinh Thánh Do Thái cổ (hay Kinh Thánh Hebrew). Một năm sau, các nhà khoa học công bố rằng Nhà thờ Mộ Thánh (Church of the Holy Sepulchre) ở Jerusalem có tuổi hơn 1.700 năm, cùng thời hoàng đế Công giáo La Mã đầu tiên [Constantinus I]; điều này có vẻ khẳng định việc nó được xây ở nơi mà người La Mã cho là nơi an táng của Jesus Christ. Và năm 2018, các nhóm nghiên cứu ở Peru tuyên bố khai quật được khu hiến sinh trẻ em tập thể lớn nhất, trong khi các nhà khoa học khác, bằng cách sử dụng laser từ không trung, phát hiện ra hơn 60.000 công trình Maya cổ ở Guatemala.  Các phát hiện khảo cổ lớn còn được thực hiện ở dưới mặt nước biển. Năm 2014, một nhóm nghiên cứu Canada tìm thấy H.M.S. Erebus, một tàu nghiên cứu Bắc Cực xấu số bị đắm năm 1846. Hai năm sau, một cuộc thám hiểm khác định vị được con tàu H.M.S. Terror chị em của nó. Năm 2017, một nỗ lực tìm kiếm do nhà đồng sáng lập Paul Allen của Microsoft dẫn dắt tìm thấy tàu U.S.S. Indianapolis bị đắm năm 1945, một trong những thảm họa tồi tệ nhất trong lịch sử hải quân Mỹ. Dự án Khảo cổ Biển Đen (Black Sea Maritime Archeology Project) đã tìm thấy hơn 60 xác tàu đắm dưới đáy Biển Đen, trong đó có một con tàu 2.400 tuổi được phát hiện năm 2018. Và năm 2019, chính quyền bang Alabama công bố phát hiện con tàu bị mất tích Clotilda, con tàu cuối cùng chở nô lệ từ châu Phi sang Mỹ.   Thám hiểm vùng đất mới trong hệ Mặt trời  Tháng 7 năm 2015, tàu thăm dò New Horizons của NASA, sau một thập kỷ đi tới thế giới băng giá của Pluto (sao Diêm vương), đã gửi về những bức ảnh đầu tiên chụp bề mặt xù xì khó tin của hành tinh lùn này. Ngày 1/1/2019, New Horizons thực hiện chuyến bay ngang xa nhất trong lịch sử khi nó chụp được thiên thể băng giá Arrokoth, một mảnh vật chất sót lại từ buổi sơ khai của hệ Mặt trời.    Ảnh Pluto (sao Diêm Vương), chụp bởi hệ thống LORRI trên tàu thăm dò New Horizons của NASA, ngày 13/7/2015, khi tàu thăm dò ở cách bề mặt Pluto 768.000 km. Đây là bức ảnh cuối cùng và chi tiết nhất được gửi về Trái đất trước khi tàu thăm dò tới gần Pluto nhất vào ngày 14/7.  Gần Trái đất hơn một chút, năm 2011, tàu Dawn của NASA tới được Vesta, thiên thể lớn thứ hai trong vành đai tiểu hành tinh. Sau khi vẽ bản đồ khu vực đó, Dawn bay vào quỹ đạo quanh hành tinh lùn Ceres, vật thể lớn nhất của vành đai tiểu hành tinh, và trở thành tàu vũ trụ đầu tiên bay quanh một hành tinh lùn, cũng là tàu vũ trụ đầu tiên bay quanh hai thiên thể khác nhau. Gần cuối thập kỷ, tàu OSIRIS-REx của NASA và tàu Hayabusa2 của JAXA (Cơ quan Vũ trụ Nhật Bản) tới các tiểu hành tinh Bennu và Ryugu để lấy mẫu mang về Trái đất.  Ngăn chặn dịch bệnh  Trước nguy cơ bùng phát bệnh Ebola ở Tây Phi trong khoảng thời gian 2014-2016, các cơ quan y tế và công ty dược Merck đẩy mạnh nghiên cứu rVSV-ZEBOV, vaccine thử nghiệm phòng Ebola. Sau thử nghiệm thực tế thành công năm 2015, cơ quan chức năng châu Âu phê duyệt vaccine này vào năm 2019, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc chiến chống lại căn bệnh chết người. Một số nghiên cứu mang tính cột mốc cũng mở ra những hướng mới để ngăn chặn sự lây lan của HIV. Một thử nghiệm năm 2011 cho thấy việc uống phòng ngừa thuốc kháng retrovirus giúp giảm mạnh sự lây lan của HIV giữa các cặp khác giới, và kết luận tương tự cũng được khẳng định trong các nghiên cứu tiếp theo đối với các cặp đồng giới.  Thử thách giới hạn của sinh sản    Một nghiên cứu năm 2018 sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gene để tạo ra một con chuột con có hai mẹ. Khi trưởng thành, con chuột con sinh sản được bình thường.  Năm 2016, các bác sỹ tuyên bố sự ra đời của một “em bé có ba cha mẹ”, được tạo ra từ tinh trùng của người cha, nhân tế bào của người mẹ, và trứng đã bỏ nhân của một người hiến tặng. Liệu pháp này, nhằm giải quyết một rối loạn trong ty thể của người mẹ hiện vẫn gây tranh cãi về mặt đạo đức. Một nghiên cứu năm 2018 tạo ra được các tế bào tiền thân [precursor] của tinh trùng hoặc trứng người bằng cách biến đổi các tế bào da và tế bào máu. Một nghiên cứu khác cho phép hai con chuột cái sinh được con. Cũng năm 2018, các nhà khoa học Trung Quốc công bố nhân bản vô tính thành công hai con khỉ macaque, những động vật linh trưởng đầu tiên được nhân bản vô tính giống như cừu Dolly. Dù họ khẳng định kỹ thuật đó sẽ không được dùng trên con người, rất có thể chúng có thể được thực hiện thành công với các động vật linh trưởng khác, trong đó có loài chúng ta.  Truy lùng boson Higgs    Minh họa sự hình thành boson Higgs từ va chạm của các proton.  Vì đâu mà vật chất có khối lượng? Trong những năm 1960 và 1970, các nhà vật lý học Peter Higgs và François Englert đề xuất một lời giải dưới dạng một trường năng lượng mới, ngày nay mang tên trường Higgs, có mặt ở khắp nơi trong vũ trụ. Trường lý thuyết này đi kèm với loại hạt cơ bản của nó, boson Higgs. Tháng 7 năm 2012, cuộc tìm kiếm kéo dài hàng thập kỷ đi đến hồi kết khi hai nhóm nghiên cứu tại trung tâm Máy gia tốc hạt lớn (LHC) của CERN (Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu) tuyên bố tìm ra boson Higgs. Phát hiện này cung cấp mảnh ghép cuối cùng của Mô hình Chuẩn, lý thuyết cực kỳ thành công – dù chưa hoàn chỉnh – mô tả được ba trong bốn lực cơ bản của vật lý và tất cả các hạt cơ bản đã biết.  Viết lại sách giáo khoa cổ sinh vật học  Tri thức của chúng ta về thời tiền sử đã bùng nổ trong thập kỷ vừa rồi, khi các nhà khoa học phát hiện ra những hóa thạch mới trong khi tìm cách mở rộng bộ công cụ phân tích. Năm 2010, các nhà nghiên cứu do Hội Địa lý Mỹ (National Geographic Society) tài trợ công bố bản phục dựng màu toàn thân đầu tiên của một con khủng long, dựa trên các sắc tố hóa thạch được tìm thấy. Bảng màu ngày càng phong phú hơn, khi các nhà cổ sinh vật học tìm ra khủng long biết ngụy trang, lông vũ có màu từ đen đến xanh nước biển đến ngũ sắc óng ánh, và bộ da màu đỏ của một trong những hóa thạch khủng long bọc giáp tốt nhất được tìm thấy. Và trong một nghiên cứu hóa học đáng chú ý năm 2018, các nhà khoa học phân tích các phân tử chất béo hóa thạch và chứng minh rằng Dickinsonia, một loài sinh vật nguyên thủy sống cách đây 540 triệu năm, là một loài động vật.  Năm 2014, các nhà cổ sinh vật học công bố một hóa thạch mới của loài khủng long săn mồi Spinosaurus, hóa thạch này gợi ý rằng nó sống một phần ở dưới nước – loài khủng long đầu tiên như thế được biết đến. Một năm sau, một nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc công bố hóa thạch của Yi qi, một loài khủng long có lông vũ và có cánh màng giống như cánh dơi. Cũng trong thập kỷ vừa qua, hổ phách 99 triệu năm tuổi ở Myanmar thu hút được nhiều sự quan tâm. Các nhà khoa học tìm thấy trong đó một cái đuôi khủng long có lông vũ, một con chim non nguyên thủy và đủ các động vật không xương sống bị nhốt lại trong nhựa cây hóa thạch.  Tìm kiếm các thành tố của sự sống ở những thế giới khác  Trong mười năm qua, các dự án vũ trụ đã cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc hơn về các phân tử hữu cơ [chứa carbon], thành phần thiết yếu của sự sống [mà chúng ta biết], ở các thế giới khác. Tàu vũ trụ Rosetta của Cơ quan Vũ trụ châu Âu bay quanh và hạ cánh xuống sao chổi 67P/Churyumov–Gerasimenko. Những dữ liệu nó thu thập được từ năm 2014 đến năm 2016 cho chúng ta một cái nhìn rất kỹ vào những vật chất nguyên sơ có thể đã đến Trái đất nhờ những vụ va chạm xa xưa. Năm 2017, trước khi ngừng hoạt động, tàu Cassini của NASA xác nhận rằng chùm hơi của Mặt trăng Enceladus của sao Thổ chứa các phân tử hữu cơ lớn, một bằng chứng cho thấy nó có điều kiện để có sự sống. Năm 2018, NASA tuyên bố tàu tự hành Curiosity tìm thấy các hợp chất hữu cơ trên Sao Hỏa, cũng như một chu kỳ theo mùa kỳ lạ của lượng mê-tan trong khí quyển của hành tinh đỏ.  Cảnh báo ngày càng khẩn cấp về khí hậu  Trong thập kỷ vừa qua, lượng CO2 trong khí quyển đạt tới những mức cao chưa từng thấy trong kỷ nguyên hiện đại, kèm theo đó là những nhiệt độ cao kỷ lục. Ngày 9/5/2013, lượng CO2 đạt mức 400 phần triệu (tính theo mol) lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, và từ năm 2016 thì liên tục ở trên ngưỡng này. Hệ quả là thế giới trải qua một thời kỳ liên tục ấm lên: các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 là 5 năm nóng nhất kể từ năm 1880. Từ năm 2014, đại dương ấm lên gây ra hiện tượng bạc màu san hô trên toàn cầu. Các rặng san hô trên khắp thế giới chết dần, trong đó có cả một phần của hệ thống san hô Great Barrier Reef lớn nhất thế giới. Năm 2019, Australia tuyên bố loài chuột melomys rubicola, sống trên đảo Bramble Cay, tuyệt chủng do mực nước biển dâng. Đây là loài động vật có vú đầu tiên tuyệt chủng do biến đổi khí hậu trong kỷ nguyên hiện đại.  Trong một loạt các báo cáo quan trọng, các nhà khoa học trên thế giới ra sức kêu gọi quan tâm đến sự biến đổi khí hậu của Trái Đất, những nguy cơ nó mang đến, và yêu cầu đối phó với nó. Năm 2014, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra bản đánh giá thứ năm về thực trạng và hậu quả của biến đổi khí hậu, và một năm sau, các quốc gia trên thế giới thương lượng Thỏa thuận Paris, thỏa thuận toàn cầu về khí hậu với mục tiêu khống chế sự ấm lên của Trái đất trong ngưỡng 20C – ngưỡng được các nhà khoa học và giới lãnh đạo coi là nguy hiểm. Tháng 10 năm 2018, IPCC công bố một báo cáo ảm đạm khác nhấn mạnh những hậu quả khổng lồ của việc Trái đất ấm lên dù chỉ 1,50C ở năm 2100 – mức có lẽ là tối thiểu mà chúng ta phải đối diện. Trước những thách thức khổng lồ đó, những cuộc biểu tình lớn kỷ lục về biến đổi khí hậu đã diễn ra khắp thế giới, trong đó nhiều cuộc do các nhà hoạt động trẻ dẫn đầu. □ (Còn tiếp)    Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: National Geographic, 5/12/2019    Author                Michael Greshko        
__label__tiasang Những khám phá  khoa học của thập kỷ (phần 2)      Trong mười năm qua, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc tìm hiểu về cơ thể người, về Trái đất và về vũ trụ quanh ta. Dưới đây là danh sách những khám phá khoa học lớn nhất thập kỷ do National. Geographic lựa chọn.      Hình vẽ minh họa một sự kiện kilonova trong đó hai ngôi sao neutron va chạm với nhau. Ngày 16/10/2017, các nhà thiên văn học tuyên bố đã ghi lại được những rung động trong không thời gian, gọi là sóng hấp dẫn, do những sự kiện dữ dội, và quan sát được, như thế này tạo ra.  Lần đầu tiên phát hiện được sóng hấp dẫn  Năm 1916, Albert Einstein đề xuất rằng những vật thể có khối lượng đủ lớn khi tăng tốc có thể tạo ra các sóng truyền đi trong không-thời gian như các gợn sóng trên mặt hồ. Dù bản thân Einstein sau này nghi ngờ sự tồn tại của chúng, những nếp gợn không-thời gian được gọi là sóng hấp dẫn này là một dự báo quan trọng của thuyết tương đối, và các nhà khoa học đã mất hàng thập kỷ đi tìm chúng. Mặc dù những dấu vết khá thuyết phục đã xuất hiện từ những năm 1970, vẫn không ai trực tiếp phát hiện ra được chúng, cho đến năm 2015, khi đài quan trắc LIGO ở Mỹ đo được dư chấn của một va chạm giữa hai lỗ đen. Được công bố năm 2016, phát hiện này mở ra một phương pháp mới để “lắng nghe” vũ trụ.  Năm 2017, LIGO và đài quan trắc Virgo ở châu Âu đo được một đợt rung động khác, lần này do hai vật thể siêu đặc là hai ngôi sao neutron va vào nhau. Vụ nổ được các kính thiên văn trên khắp thế giới ghi lại và trở thành sự kiện đầu tiên được quan sát bằng cả ánh sáng lẫn sóng hấp dẫn. Những dữ liệu mang tính bước ngoặt của nó cho các nhà khoa học một cái nhìn mới về lực hấp dẫn cũng như về cách hình thành của các nguyên tố như vàng và bạc.  Biến động trong cây phả hệ của loài người  Thập kỷ vừa qua chứng kiến nhiều bước tiến trong việc tìm hiểu nguồn gốc phức tạp của chúng ta, trong đó có thể kể đến những niên đại được xác định lại trên các hóa thạch đã có, các hóa thạch hộp sọ còn nguyên vẹn đến bất ngờ, và sự xuất hiện của những nhánh mới. Năm 2010, nhà khảo cổ học Lee Berger công bố về Australopithecus sediba, một tổ tiên xa xưa của chúng ta. Năm năm sau, ông tuyên bố tìm thấy trong hệ thống hang động Cái nôi của Nhân loại (Craddle of Humankind, Nam Phi) những hóa thạch của một loài mới: Homo naledi. Đây là một hominin có những đặc điểm giải phẫu giống với cả người hiện đại lẫn những họ hàng xa xưa. Một nghiên cứu sau đó cho kết quả ngạc nhiên về niên đại khá trẻ của H. naledi, vào khoảng giữa 236.000 năm và 335.000 năm trước.    Hình đầu người H. naledi này được họa sỹ John Gurche phục dựng dựa trên hình chụp của xương; râu và tóc được làm bằng lông gấu. Quá trình phục dựng mất khoảng 700 giờ. Mặc dù còn nhiều nét nguyên thủy, khuôn mặt, hộp sọ và răng có nhiều đặc điểm hiện đại, nhờ đó H. naledi được xếp vào chi Người.  Các phát hiện đáng chú ý khác tập trung ở châu Á. Năm 2010, một nhóm nghiên cứu công bố rằng DNA lấy từ một xương ngón tay út tìm được ở Xi-bê-ri-a không giống của người hiện đại. Đó là bằng chứng đầu tiên về một giống người Denisova bí ẩn. Năm 2018, những công cụ đá 2,1 triệu năm tuổi được tìm thấy ở một di tích ở Trung Quốc, đó là bằng chứng cho thấy những người biết dùng công cụ đã di cư sang châu Á sớm hơn hàng trăm nghìn năm so với những ước tính trước đó. Năm 2019, các nhà khoa học ở Philippines công bố hóa thạch của Homo luzonensis, một hominin mới tương tự như Homo floresiensis, người “hobbit” ở đảo Flores (Indonesia). Và những công cụ đá được tìm thấy trên đảo Sulawesi, Indonesia, có từ trước khi người hiện đại đặt chân tới là bằng chứng cho sự tồn tại của một hominin khác, chưa xác định, trên các đảo ở Đông Nam Á.  Cách mạng hóa nghiên cứu DNA cổ  Với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ giải mã DNA, hiểu biết về cách thức quá khứ di truyền định hình con người hiện đại đã đạt được những bước nhảy vọt trong thập kỷ vừa qua. Năm 2010, các nhà khoa học công bố bộ gene gần như đầy đủ đầu tiên của một Homo sapiens cổ, bắt đầu một thập kỷ cách mạng trong nghiên cứu về DNA của tổ tiên chúng ta. Kể từ đó, hơn 3.000 bộ gene cổ đã được giải mã, trong đó có DNA của Naia, một cô bé qua đời 13.000 năm trước ở vùng đất nay là Mexico. Hài cốt của cô là một trong những bộ hài cốt nguyên vẹn cổ xưa nhất từng được tìm thấy ở châu Mỹ. Cũng năm 2010, các nhà khoa học công bố phác thảo đầu tiên về một bộ gene của người Neanderthal, bằng chứng di truyền vững chắc đầu tiên cho thấy từ 1 đến 4 phần trăm DNA của người hiện đại, trừ người châu Phi, đến từ những người họ hàng gần gũi này.  Trong một phát hiện gây chấn động khác, năm 2018, các nhà nghiên cứu DNA cổ công bố rằng một bộ xương 90.000 tuổi là của một thiếu nữ có mẹ là người Neanderthal và cha là người Denisova – đây là trường hợp người lai đầu tiên được tìm thấy. Trong một phát hiện khác nữa, các nhà khoa học so sánh DNA của người Denisova với các protein hóa thạch để xác nhận việc người Denisova từng sống ở Tây Tạng, qua đó mở rộng khu vực của nhóm người bí ẩn này. Sự trưởng thành của ngành nghiên cứu DNA cổ cũng song song với sự trưởng thành trong việc xử lý các vấn đề đạo đức, chẳng hạn cam kết của cộng đồng hay việc đưa những hài cốt bản địa hồi hương.  Phát hiện hàng nghìn hành tinh ngoài hệ Mặt trời  Trong thập kỷ 2010, tri thức của con người về những hành tinh xoay quanh những ngôi sao xa xôi cũng tiến một bước dài, và điều đó có được nhờ một phần không nhỏ vào kính thiên văn vũ trụ Kepler của NASA. Từ năm 2009 đến năm 2018, chỉ riêng Kepler đã phát hiện ra hơn 2700 hành tinh ngoài hệ Mặt trời, tức là hơn một nửa số hành tinh hiện được biết đến. Nổi bật trong những hành tinh tìm được là hành tinh đá đầu tiên ngoài hệ Mặt trời. TESS, kính thiên văn “kế vị” Kepler, mới được phóng lên năm 2018, đã tìm thấy 34 hành tinh.  Những cuộc tìm kiếm từ dưới mặt đất cũng diễn ra rất tích cực. Năm 2017, các nhà khoa học công bố tìm ra TRAPPIST-1, một hệ sao chỉ cách chúng ta 39 năm ánh sáng và có tới 7 hành tinh cỡ Trái đất, nhiều nhất trong tất cả các hệ sao ngoài hệ Mặt trời [mà chúng ta biết đến]. Trước đó một năm, dự án “Pale Red Dot” công bố phát hiện ra Proxima b, một hành tinh có kích thước tương đương Trái đất thuộc hệ sao Proxima Centauri, ngôi sao gần chúng ta nhất, cách chúng ta 4,25 năm ánh sáng.  Bước vào kỷ nguyên Crispr  Thập kỷ 2010 đánh dấu những tiến bộ khổng lồ trong kỹ thuật chỉnh sửa DNA một cách chính xác, mà phần lớn nhờ vào việc xác định được hệ Crispr-Cas9. Một số vi khuẩn sử dụng Crispr-Cas9 như hệ miễn dịch, vì hệ này cho phép lưu giữ các mẩu DNA của virus, [qua đó] nhận dạng virus và cắt vụn DNA của chúng. Năm 2012, các nhà khoa học đề xuất sử dụng Crispr-Cas9 như một công cụ chỉnh sửa gene hữu hiệu, vì nó cho phép cắt DNA một cách chính xác và dễ thao tác. Một vài tháng sau, một số nhóm nghiên cứu khác xác nhận rằng kỹ thuật này có thể được dùng cho DNA của người. Kể từ đó, các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới chạy đua để tìm ra những hệ tương tự, để cải tiến Crispr-Cas9 để có độ chính xác cao hơn, và để tìm cách ứng dụng nó trong nông nghiệp và trong y học.  Mặc dù có những lợi ích tiềm tàng to lớn, Crispr-Cas9 cũng đặt ra những vấn đề đạo đức to lớn. Năm 2018, cộng đồng y học thế giới kinh hoàng khi nhà khoa học Trung Quốc Hạ Kiến Khuê [He Jiankui] tuyên bố cho ra đời thành công hai bé gái có bộ gene được chỉnh sửa bằng Crispr, hai con người đầu tiên có DNA được chỉnh sửa và có thể được di truyền. Công bố này làm dấy lên những lời kêu gọi một lệnh hoãn toàn cầu về những chỉnh sửa di truyền ở tế bào mầm [heritable germline edit] ở người.  Cái nhìn mới về vũ trụ  Một số quan sát quan trọng trong những năm 2010 đã cách mạng hóa nghiên cứu về vũ trụ. Năm 2013, Cơ quan Vũ trụ châu Âu phóng tàu Gaia với mục đích thu thập dữ liệu đo đạc của hơn một tỷ ngôi sao trong dải Ngân Hà, cũng như dữ liệu vận tốc của hơn 150 triệu ngôi sao. Dựa trên bộ dữ liệu này, các nhà khoa học đã dựng một bộ phim 3D về dải Ngân Hà, cho chúng ta một cái nhìn chưa từng có về sự hình thành và thay đổi theo thời gian của các thiên hà.  Năm 2018, các nhà khoa học công bố kết quả cuối cùng của các phép đo bức xạ muộn của vũ trụ sơ khai do vệ tinh Planck thực hiện. Các kết quả này chứa những manh mối về thành phần, cấu trúc và tốc độ giãn nở của vũ trụ. Điều bí ẩn là tốc độ giãn nở vệ tinh Planck đo được khác với tốc độ giãn nở hiện tại, câu hỏi này có thể dẫn đến một “cuộc khủng hoảng trong vũ trụ học” và cần những lý thuyết vật lý mới để giải thích. Cũng năm 2018, dự án Khảo sát Năng lượng tối (Dark Energy Survey) công bố những dữ liệu đầu tiên, có thể được dùng để tìm kiếm các quy luật ẩn của cấu trúc vũ trụ. Và tháng 4 năm 2019, các nhà khoa học công bố hình ảnh đầu tiên về một lỗ đen, quan sát được với kính thiên văn chân trời sự kiện, một nỗ lực toàn cầu để cùng nhìn vào trung tâm thiên hà M87.  Khám phá và khám phá lại các loài  Các nhà sinh học hiện đại nhận dạng các loài mới rất nhanh, trung bình mỗi năm có 18.000 loài mới được đặt tên. Trong thập kỷ vừa qua, các nhà khoa học đã mô tả một số loài có vú lần đầu tiên, chẳng hạn voọc mũi hếch Myanmar (rhinopithecus strykeri), chuột khổng lồ Vangunu (uromys vika), và olinguito (bassaricyon neblina), loài ăn thịt mới đầu tiên được tìm thấy ở bán cầu Tây kể từ cuối những năm 1970. Số lượng của những nhóm động vật khác cũng tăng lên, khi các nhà khoa học mô tả những loài cá có “tay” mới được phát hiện, những con ếch nhỏ hơn đồng xu, kỳ nhông Florida khổng lồ, và nhiều loài khác. Ngoài ra, một số động vật như sao la ở Việt Nam và “Ili pika” (ochotona iliensis) ở Trung Quốc được nhìn thấy sau nhiều năm mất tích.  Nhưng bên cạnh những phát hiện mới, các nhà khoa học cũng ghi nhận tốc độ tuyệt chủng theo cấp số nhân. Năm 2019, các nhà khoa học cảnh báo rằng một phần tư các nhóm thực vật và động vật bị đe dọa tuyệt chủng, nghĩa là có thể có đến một triệu loài – đã được hoặc chưa được khoa học liệt kê – có nguy cơ biến mất, và có thể chỉ trong vòng vài chục năm.  Bắt đầu một kỷ nguyên du hành vũ trụ mới  Thập kỷ 2010 là một giai đoạn chuyển giao bản lề cho du hành vũ trụ, khi các chuyến bay lên quỹ đạo thấp [quỹ đạo quanh Trái Đất ở độ cao khoảng 2.000 km trở xuống] trở nên phổ biến hơn và được thương mại hóa hơn. Năm 2011, Trung Quốc phóng phòng thí nghiệm vũ trụ đầu tiên, Thiên Cung 1 (Tiangong-1) lên quỹ đạo. Năm 2014, tàu Mars Obiter Mission của Ấn Độ đến được hành tinh đỏ, và Ấn Độ trở thành nước đầu tiên đến được sao Hỏa ở ngay lần thử đầu tiên. Năm 2019, tổ chức phi lợi nhuận SpaceIL của Israel thực hiện chuyến đổ bộ đầu tiên lên Mặt trăng do tư nhân tài trợ (nhưng hạ cánh không thành công), và tàu Thường Nga 4 (Chang’e 4) của Trung Quốc thực hiện chuyến hạ cánh mềm đầu tiên lên nửa khuất của Mặt trăng. Lực lượng phi hành gia thế giới cũng đa dạng hơn: Tim Peake trở thành phi hành gia chuyên nghiệp đầu tiên của Anh, Aidyn Aimbetov trở thành phi hành gia Kazakhstan đầu tiên thời hậu Xô viết, và Các Tiểu vương quốc A Rập Thống nhất và Đan Mạch cũng gửi phi hành gia đầu tiên của mình vào không gian. Trong khi đó, các phi hành gia Jessica Meir và Christina Koch của NASA trở thành những phi hành gia nữ đầu tiên “đi bộ ngoài không gian.”  Ở Mỹ, sau lần phóng tàu con thoi cuối cùng năm 2011, các công ty tư nhân tìm cách lấp vào khoảng trống. Năm 2012, công ty SpaceX phóng tàu vận tải thương mại đầu tiên lên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). Năm 2015, Blue Origin và SpaceX trở thành những công ty đầu tiên phóng thành công các tên lửa tái sử dụng lên vũ trụ và đưa chúng hạ cánh trở lại Trái đất, đánh dấu cột mốc quan trọng đối với những chuyến đi giá rẻ lên quỹ đạo thấp.  Những khía cạnh bất ngờ của động vật  Thập kỷ vừa qua đã tiết lộ những đặc điểm và hành vi khác thường trong giới động vật. Năm 2015, nhà thám hiểm David Gruber của National Geographic phát hiện ra những con đồi mồi phát huỳnh quang màu xanh lục và đỏ – hiện tượng huỳnh quang đầu tiên được tìm thấy ở bò sát. Năm 2016, các nhà khoa học chứng minh rằng cá mập Greenland có thể sống đến 272 năm hoặc hơn, khiến nó trở thành loài có xương sống sống lâu nhất được biết đến. Chúng ta cũng hiểu hơn về khả năng sử dụng công cụ của động vật: một nghiên cứu năm 2019 chỉ ra rằng lợn rừng Visaya (các đảo Visaya gồm sáu hòn đảo thuộc Philippines) biết dùng công cụ, và một số nghiên cứu chỉ ra rằng khỉ thầy tu ở Brazil đã sử dụng công cụ được ít nhất 3.000 năm, khoảng thời gian dài nhất được biết đến đối với động vật không phải con người ở ngoài châu Phi. Trong một cảnh tượng cực hiếm năm 2018, các nhà sinh vật học ở Kenya ghi hình được một con báo đen ở châu Phi, lần đầu tiên kể từ năm 1909.  Định nghĩa lại các đơn vị khoa học  Để hiểu thế giới tự nhiên, cần phải đo nó – nhưng cần dùng đơn vị nào? Suốt nhiều thập kỷ, các nhà khoa học dần định nghĩa lại các đơn vị cổ điển theo các hằng số phổ quát, chẳng hạn định nghĩa đơn vị độ dài mét qua tốc độ ánh sáng. Nhưng đơn vị khối lượng, ki-lô-gam, vẫn được gắn với “ki-lô-gam mẫu”, một khối kim loại hình trụ được bảo quản ở Pháp. Nếu vì một lý do nào đó mà khối kim loại ấy bị thay đổi khối lượng, thì các nhà khoa học sẽ phải điều chỉnh lại các công cụ của mình. Không còn phải lo nữa: năm 2019, các nhà khoa học thống nhất sử dụng một định nghĩa ki-lô-gam mới dựa trên hằng số Planck trong vật lý và các định nghĩa mới của các đơn vị dòng điện, nhiệt độ, và số hạt. Lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các đơn vị khoa học bắt nguồn từ các hằng số của tự nhiên, đảm bảo một kỷ nguyên đo lường chính xác hơn. □       Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: National Geographic, 5/12/2019        Author                Michael Greshko        
__label__tiasang Những kịch bản về khí hậu khi mực nước biển dâng      Mặt nước biển sẽ dâng lên nhiều mét nếu lượng khí thải không bị hạn chế một cách kiên quyết. Sự đe dọa của tình trạng nước biển dâng với vùng ven biển lớn đến mức độ nào và chúng ta có thể cứu vớt được những gì nếu chuyện đó xảy ra?       Nếu như nhà khoa học Ben Strauss phải vẽ những bức tranh về tương lai thì những bức tranh đó giống những hình ảnh trong các phim nói về thiên tai thảm khốc: Trung tâm tài chính của Hồng công bị biển cả nuốt gọn. Tháp Big Ben ở London: đơn độc giữa trùng khơi. Thậm chí Pentagon, trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thì theo Strauss đến một ngày nào đó cũng bị chìm trong biển nước.    Cho đến nay những điều này chỉ mới là sự mô phỏng của Thinktanks Climate Central của Hoa Kỳ, nơi nhà nghiên cứu về khí hậu Ben Strauss làm việc. Nhưng những hình ảnh gây sợ hãi này đều dựa trên cơ sở các số liệu được chứng thực. Strauss đã nạp dữ liệu về độ cao các vùng ven biển và số lượng dân sinh sống  tại đây vào chương trình của mình. Sau đó, ông cho mực nước biển trong mô hình máy tính dâng lên. Kết quả cho thấy: nếu chúng ta nâng nhiệt độ trái đất lên bốn độ Celsius thì trong những thế kỷ tới mực nước biển sẽ dâng lên khoảng chín mét. Vùng đất hiện là nơi sinh sống của 630 triệu người sẽ bị chìm trong biển cả. “Nếu chúng ta không nhanh chóng chặn lượng khí thải CO2“, Strauss cảnh báo, “khó có thể tưởng tượng nhiều thành phố lớn ở ven biển còn có thể tồn tại khi nước biển dâng cao.“  Kể từ khi diễn ra kỷ nguyên nhiên liệu hóa thạch, bắt đầu năm 1880, nước biển trên các đại dương đã dâng cao 22,5 cm, đây chính là thời kỳ cao điểm về công nghiệp hóa ở châu Âu và Hoa kỳ. Các thành phố như Venice, London hay New York đã cảm nhận được nước biển dâng lên và đã phải chi hàng tỷ đôla để tôn tạo đê điều và xây dựng các hệ thống chống lũ lụt. Nếu các khu đô thị lớn không đầu tư mạnh mẽ cho việc phòng chống lũ lụt thì theo tính toán của Ngân hàng Thế giới đến năm 2050 tổn thất hàng năm lên đến một nghìn tỷ đôla. Thậm chí đến năm 210,0 nền kinh tế thế giới có nguy cơ bị  sụp đổ: “Nếu con người không làm gì cả“, nhà khí hậu học Jochen Hinkel thuộc Berliner Thinktank Global Climate Forum cảnh báo, “mỗi năm nhân loại sẽ bị tổn thất 100 nghìn tỷ đôla tài sản do nước biển dâng lên.“ Con số này nhiều hơn số của cải mà xã hội văn minh tạo ra trong một năm.   Cuối tháng 11 vừa qua, khi các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới gặp gỡ ở Pari để thương lượng về bảo vệ khí hậu thì vấn đề không phải là bảo vệ môi trường. Vấn đề đặt ra là trong tương lai con người trên trái đất này phải chi bao nhiêu để đất đai và các thành phố lớn không bị chìm dưới đáy biển.   Mặt nước biển sẽ dâng cao nhiều mét, đó là điều chắc chắn. Trong những năm tới sẽ có hàng nghìn tỷ đôla tài sản bị chìm trong biển cả. Những nơi nào bị đe dọa đặc biệt nghiêm trọng và chúng ta có thể  cứu vớt được những gì?  Cách đây tám năm Hội đồng khí hậu thế giới (IPCC) còn tỏ ra lạc quan: trong báo cáo các nhà chuyên môn cho rằng đến năm 2100 nước biển ở các đại dương sẽ dâng cao nhiều nhất là 59 cm. Nhưng thực tế đã vượt xa sự  lo ngại này: Hai khối băng lớn nhất của hành tinh ở Greenland và Nam cực (Antarktis) đã tan chảy nhanh hơn so với dự báo. Hiện tại các nhà nghiên cứu  của Cơ quan Vũ trụ  Hoa Kỳ NASA cho rằng đến năm 2100, mực nước biển tăng ít nhất là một mét. Từ đó sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng:   – Các trận lũ lụt, theo thống kê diễn ra khoảng 100 năm một lần, nay diễn ra hai lần trong một năm ở  New York –  và ở Kalkutta thậm chí gần như mỗi tháng một lần. Theo một báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á thì Bangladesh với 36 triệu dân bị đe dọa nghiêm trọng vì lũ lụt.    – Nước biển ngấm sâu vào lòng đất, gây nhiễm mặn nước giêng và đồng ruộng. Điều này đã diễn ra từ lâu trên các đảo san hô thuộc đảo quốc Kiribati trên Thái bình dương, tại đây người dân phải tích nước mưa làm nước ăn.   – Đến năm 2100, nhiều vùng đất sẽ bị mất đi vĩnh viễn, thí dụ một phần diện tích của Florida. Miami và các vùng lân cận hình thành từ đá vôi xốp do đó liên tục bị nước biển thâm nhập – ngay cả đê điều cũng trở nên vô dụng.  Vì vậy một số câu hỏi quan trong được đặt ra hiện nay là: để tránh  tình trạng bị lũ lụt khủng khiếp nhân loại được phép thải bao nhiêu khí CO2 vào bầu khí quyển? Liệu hàng triệu triệu con người còn có cơ hội cứu được quê hương mình khỏi bị ngập chìm hay không? Để làm được điều đó thì nhu cầu về kỹ thuật và kinh tế như thế nào?  Bà Kathrin Lang là nhà nghiên cứu người Đức làm việc ở Bắc Cực. Hàng ngày, bà thả  bóng bay lên bầu trời để thu nhận các dữ liệu về thời tiết.  Ny-Ålesund là vùng đất cách Bắc Cực khoảng 1300 km, nơi đây có 70 nhà khoa học sinh sống và làm việc, mỗi tháng máy bay hạ cánh tại đây một lần để  cung cấp  nhu yếu phẩm. Bà Lang là người phụ trách cơ sở nghiên cứu thuộc Alfred-Wegener-Institut của Đức. Tuy sống ở một nơi vô cùng hẻo lánh và gần như không có bóng người nhưng bà lại là một trong những người đầu tiên trên thế giới cảm nhận được điều bất ổn đang diễn trên trái đất này.   Từ trạm thời tiết của mình, nhà khoa học Lang nhận thấy mấy năm gần đây vùng Fjord ngay trong mùa đông nước không còn đóng băng. Các đồng nghiệp kể với bà giờ đây họ có thể bắt cá makrelen ở biển, loài cá này vốn dĩ chỉ sống ở vùng nước ấm hơn ở phía nam. Nhưng bà Lang thấy rõ nhất qua những dữ liệu thời tiết mà bóng bay thu thập được.   Dữ liệu phản ánh rất rõ: “Vùng Bắc Cực ấm lên với tốc độ nhanh gấp đôi so với phần còn lại của hành tinh“, nhà khoa học Lang nói. Năm  2015 nhiệt độ bình quân toàn thế giới tăng lên một độ C so với nửa cuối thế kỷ 19, nhưng ở vùng Bắc Cực đã tăng lên hai độ. Kể từ năm 1993 trong mùa đông nhiệt độ trên mặt đất tăng bình quân sáu độ.  Nguyên nhân của hiện tượng này là do ở gần Bắc Cực, băng phản chiếu khoảng 80% ánh sáng mặt trời lên không gian. Tuy nhiên băng càng tan nhiều thì lượng nhiệt trên mặt đất cũng càng tăng lên. Do đó băng lại càng tan nhanh hơn.  Điều mà các nhà khoa học nghiên cứu trên vùng Spitzbergen cũng như trong phòng thí nghiệm lại đang diễn ra với mức độ kinh hoàng hơn ở phía tây Greenland chừng 1000 km. Băng hà Jakobshagen, một núi băng có diện tích tương đương nước Áo và Thụy Sỹ, mỗi năm trượt 17 km ra biển –  nhanh gấp ba lần so với cách đây  20 năm. Eric Rignot, nhà khoa học về hệ thống trái đất làm việc tại NASA nói, “Núi băng tan này đủ làm cho nước biển dâng cao nửa mét.“ Cao hơn nửa mét có nghĩa là hệ thống đê điều của Đức trở nên quá thấp để có thể ngăn chặn được lũ lụt. Quá trình tan băng này mới bắt đầu và nó sẽ diễn ra ngày càng nhanh hơn.  Người dân ở New York đã từng trải nghiệm thủy tai này. Cơn bão Sandy năm 2012 đã tràn qua thành phố này: Manhattan bị mất điện, đường tầu điện ngầm ngập nước, hàng nghìn người hoảng hốt lánh nạn. Các nhà máy điện ngừng hoạt động, bệnh viện phải sơ tán, khoảng 250.000 ô tô bị phá hủy vì bão. 53 người bị chết. New York phải cải tạo, gia cố 840 km đê biển và phải chi tới 20 tỷ đôla.   Trong con mắt của các nhà kỹ thuật ven biển thì sự thích nghi với biến đổi khí hậu là một dự án xây dựng khổng lồ: rất tốn kém nhưng không phải không thực hiện được – chí ít là đối với các quốc gia công nghiệp giầu có. Robert Nicholls, giáo sư về các công trình ven biển thuộc đại học Southampton nói “Nhiều người cho rằng chúng ta phải tránh xa vùng duyên hải, nói vậy thật ngớ ngẩn.“ Có rất nhiều cách để bảo vệ đất đai: như củng cố các cồn cát, tạo những bãi cát nhân tạo và xây dựng tường chắn lũ.  Tuy nhiên nhà khoa học này cũng phải thừa nhận, trong tương lai có thể xẩy ra những bất ngờ vô cùng nghiệt ngã và những thảm họa to lớn chưa từng có ở vùng ven biển là khó tránh khỏi.   Đến cuối thế kỷ này, một phần của thành phố Boston ở miền đông Hoa Kỳ sẽ chịu cảnh ngập úng khi triều cường, trong đó có cả quận Back Bay. Giá một tòa nhà ở đây khoảng  20 triệu đôla. Mùa hè vừa qua các chuyên gia về quy hoạch đô thị của Boston đã nhóm họp và kiến nghị: biến các tuyến đường ở thành phố này thành kênh rạch để kiểm soát nước lũ. Boston sẽ trở thành một Venedig ở vùng duyên hải phía đông.  Kiến trúc sự người Hà Lan Koen Olthuis thậm chí còn suy nghĩ xa hơn. Ông nói: “Chúng ta không chỉ sống bên cạnh nước mà còn sống cả trên mặt nước“. Để thể hiện ý tưởng của mình vị kiến trúc sư này đã leo lên mặt con đê ở ngoại ô thành phố Delft. Từ đây có thể thấy một con kênh và có hàng chục tòa nhà trôi trên mặt nước. Trên mười năm nay Olthuis và văn phòng kiến trúc sư Waterstudio Pontons của ông đang ngày càng hoàn thiện dự án xây biệt thự trên mặt nước này.    Olthuis cho biết thêm: “Không lâu nữa chúng tôi sẽ xây dựng cả một khu dân cư trên mặt nước, ở đó có đường xá, nhà cửa và cây cối.“ Một công trình đang được xây dựng ở  Malediven. Quốc đảo ở Ấn Độ dương có thể bị chìm dưới biển cuối thế kỷ này.   Olthuis đang xây dựng tại đây một cơ sở nghỉ dưỡng với 185 tòa nhà  cao cấp. Khi sản xuất hàng loạt giá thành sẽ giảm. Olthuis nói, nước biển dâng thì nhà cũng dâng theo.  Mosambik, vùng duyên hải phía đông Châu Phi, thu nhập của 90% cư dân tại đây dưới hai đôla một ngày vì thế nước này không thể xây dựng những đê chống lũ đồ sộ, tốn kém. Tuy nhiên người ta vẫn có những giải pháp thích hợp, thí dụ ở trung tâm thành phố Beira, thành phố lớn thứ hai của Mosambik có con sông Rio Chiveve chạy qua, con sông này luôn bị tràn mỗi khi triều cường. Từ nhiều tháng nay công nhân khơi thông khoảng ba km dòng sông bảo đảm nước chẩy thông suốt. Ở cửa sông người ta xây một con đập bằng bê tông và có nhiều cửa bằng thép, cửa cống sẽ đóng lại khi nước tràn vào khi thủy triều xuống cửa cống mở ra để nước thoát ra biển.   Ven bờ người ta trồng rừng ngập mặn như tràm, đước để chống xói mòn, lở đất. Chi phí cho dự án này là 16 triệu Euro. Ngân hàng Tái thiết Đức cung cấp 13 triệu. Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về các dự án bảo vệ khí hậu ở các nước đang phát triển với sự trợ giúp của các nước công nghiệp.   Đến năm 2020, mỗi năm cần có 100 tỷ đôla tài trợ cho Green Climate Fund (GCF), quỹ bảo vệ khí hậu của Liên hợp quốc. Tuy nhiên cho đến nay mới có khoảng 20 nước cam kết rót 10 tỷ cho quỹ này –  song con số thực hiện còn thấp hơn nhiều.   Sẽ có những vùng đất trên thế giới, nơi con người trông ngóng một cách tuyệt vọng vào những con đê hiện đại, tốn kém. “Những vùng đất thưa thớt dân cư”, theo nhà khí hậu học Hinkel, “chúng ta đành phó mặc.” Và đối với các thành phố lớn, khi khí hậu nóng trên hai độ, thì ngay cả các chuyên gia về bảo vệ khí hậu cũng không dám tiên đoán. Mặt nước sẽ tăng bẩy mét, mười mét hay nhiều hơn – khi đó phải có những con đê và đập chắn khổng lồ để chống đỡ nhưng cho đến nay chúng chưa hề được con người thử nghiệm.  Xuân Hoài dịch  Theo Wiwo        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những kiệt tác chân dung nghệ sỹ Nga      Vào năm 2016, lần đầu tiên một triển lãm tranh chân dung các nghệ sỹ và nhà văn Nga được tổ chức tại London, Anh với sự hỗ trợ của Moscow. Lần đầu tiên trong đời, những người yêu nghệ thuật Anh được chiêm ngưỡng chân dung những Chekhov, Tchaikovsky, Tolstoy… ngay tại đất nước mình.      Chân dung nhà soạn nhạc Modest Mussorgsky được Repin vẽ chỉ vài ngày trước khi ông qua đời  Vào mùa xuân năm 1881, nhà soạn nhạc Mussorgsky ngồi làm mẫu vẽ chân dung tại bệnh viện ở thành phố St Peterburg, nơi ông đang được điều trị vì chứng nghiện rượu. Ông đến trước mặt họa sỹ Ilya Repin  với một áo choàng kiểu nông dân và mái tóc rối bù. Hai người trò chuyện với nhau về cuộc mưu sát Sa hoàng Alexander đệ nhị mới xảy ra ngày hôm trước và cùng đọc các tờ báo viết về vụ mưu sát. Ấn tượng một cách sâu sắc về buổi gặp mặt, Repin sau đó đã miêu tả nhà soạn nhạc như “một thiên tài của tự nhiên, một chiến binh thời Trung cổ, một thủy thủ của Biển Đen”. Vài ngày sau, khi họa sỹ trở lại thì nhà soạn nhạc đã qua đời.  Bức chân dung đó đã được vẽ trong ngày cuối trong cuộc đời ngắn ngủi của Mussorgsky – ông qua đời ở tuổi 42, đã gây kinh ngạc cho người xem ở nhiều khía cạnh. Nó mô tả một con người đắm chìm trong rượu, tuy vẫn còn gượng chống đỡ nhưng đã bắt đầu có dấu hiệu suy sụp, mũi đỏ mọng, cặp mắt còn rực lửa nhưng ánh nhìn đã chậm chạp trong hốc mắt. Những nét bút của Repin đủ nhanh để phác họa và điểm xuyết được thần thái của nhà soạn nhạc. Ông có được biệt tài nắm bắt cái thần như họa sỹ Hà Lan Frans Hals khi vẽ chân dung. Một lọn tóc quăn mềm mại nằm trên trán nhà soạn nhạc, nhắc nhở người ta nhớ đến sự trẻ trung của Mussorgsky, trái ngược với khuôn mặt sớm tàn tạ. Bức chân dung là một cách tỏ rõ sự tôn trọng của một họa sỹ xuất sắc với một nhà soạn nhạc xuất sắc.  Bức tranh thực sự là một kiệt tác. Người ta kể rằng, Kramskoy – một họa sỹ Nga nổi tiếng cùng thời và là bạn thân của Repin, đã kéo ghế ngồi hàng giờ để ngắm chân dung Mussorgsky với sự kinh ngạc không dấu giếm về sức biểu đạt phi thường của nó.    Chân dung nhà bảo trợ và nhà sưu tầm nghệ thuật Pavel Tretyakov của Repin  Repin đã từ chối nhận thù lao, ông coi đó là cách mình tưởng niệm Mussorgsky, và nhà bảo trợ của họa sỹ, Pavel Tretyakov, đã đồng ý với ông. Tretyakov là một thương gia, nhà sưu tập tranh từ năm 22 tuổi, ông có gần như đầy đủ toàn bộ tác phẩm của nhiều họa sỹ như V.G. Perov, I.N, Kramskoi, Ilya Repin, Vasili Surikov, I.I. Levitan, Valentin Serov… Ông thường đặt hàng các họa sỹ mà ông bảo trợ vẽ chân dung những nghệ sỹ là biểu tượng của văn hóa Nga. Nếu không có ông, thì không thể có bộ sưu tập tuyệt diệu những chân dung vào cuối thế kỷ 19 của Nga: Tolstoy bên bàn làm việc, Chekhov trầm ngâm trong suy tưởng, Turgeniev với khuôn mặt nghiêm nghị hay Tchaikovsky – một tay đặt nhẹ lên chồng tổng phổ, đôi mắt bộc lộ vẻ hoài nghi, và  cả bức chân dung duy nhất trong cuộc đời Dostoevsky. Năm 1892, Tretyakov hiến toàn bộ bảo tàng nghệ thuật của mình tại Moscow, trong đó trưng bày 2000 tác phẩm nghệ thuật (1.362 bức tranh, 526 bức phác họa, 9 tác phẩm kiến trúc) cho nước Nga và bảo tàng mang tên ông tại  State Tretyakov Gallery.  Trong số những bức chân dung trong cuộc triển lãm này, chân dung của Dostoevsky gây một cú sốc với người Anh, ngay cả những người từng ngắm những phiên bản của bức tranh. Nhà văn Nga nổi tiếng ngồi trong bóng tối, mái đầu quay nghiêng, ánh nhìn lảng tránh, vầng trán xương xẩu và nhợt nhạt. Năm 1849, ở tuổi 28, ông từng bị bắt giữ vì tham gia vào một tổ chức xã hội bí mật. Thoát khỏi án tử hình vào giờ chót, ông bị kết án bốn năm lao động khổ sai và năm năm phục vụ cưỡng bức trong quân đội, sức khỏe hoàn toàn suy sụp ngay trước khi trở về Moscow. Nếu như không biết gì về những điều ông phải hứng chịu – chân tay bị còng, làm việc trong trại lao động khổ sai ở Sibiri lạnh giá và trong lò lửa nóng bỏng, sống trong tình trạng cô độc, thiếu thốn và đói khát – bạn có thể thấy được tất cả điều đó trong chính bức chân dung tràn ngập cảm xúc câm lặng này. Họa sỹ tác giả – Vasily Perov, đã tạo ra một sự riêng tư hoàn toàn cho nhà văn, ông không nhìn chằm chằm vào họ, và cũng không có bất cứ ai có thể nhìn thẳng vào cặp mắt ông mà chỉ cảm thấy ánh mắt ông thiêu đốt trong lòng bóng tối.    Chân dung nhà văn Dostoevsky do họa sỹ Vasily Perov vẽ  Bức chân dung được vẽ năm 1872, lúc đó Dostoevsky đã viết xong cuốn “Tội ác và trừng phạt” (1866), “Thằng ngốc” (1869) và đang viết dở “Lũ người quỷ ám”. Bức tranh đã cho thấy dù cơ thể suy nhược và tổn thương nhưng sức sống của tinh thần sáng tạo và ý chí của ông vẫn rực cháy.     Để có được đợt triển lãm hiếm có này, Phòng triển lãm tranh chân dung quốc gia Anh đã gửi đến Nga một số chân dung khác, trong đó có Shakespeare, Byron và Mary Wollstonecraft. Bằng cách này, năm 2012, người Anh cũng từng có cuộc triển lãm những bức tranh Mỹ tại London.  Cuộc triển lãm dường như không theo một khuôn khổ hay phạm vi nào, thời gian vẽ 30 bức tranh trải rộng tới 50 năm, nhưng đem lại rất nhiều thông điệp quý giá. Lần đầu tiên, người Anh được ngắm Chekhov, Dostoevsky hay Tchaikovsky không phải qua những bức ảnh (dẫu cho thời kỳ này, sự phổ biến của máy ảnh đã đem lại những bức ảnh chân dung với độ chính xác cao hơn cả những bức vẽ) mà là qua cặp mắt của các họa sỹ Nga thiên tài.        Chân dung nhà văn Chekhov của Iosif Braz  Chekhov ngồi trên ghế tựa màu xanh, cổ áo trắng tinh và kính gọng mũi, ngón tay khép lại. Trong bức chân dung tinh tế và trang nghiêm này của Iosif Braz, phong cách của Chekhov không hoàn toàn giống một nhà văn mà gợi đến một bác sỹ y khoa – nghề nghiệp ông được đào tạo, đang lắng nghe một cách cẩn trọng lời nói của bệnh nhân và suy ngẫm các dữ liệu để chẩn đoán bệnh. Ở tuổi 38, Chekhov chỉ còn 6 năm nữa để sống. Cũng như Mussorgky, ông qua đời khi còn trẻ.  Những khuôn mặt Nga này nhiều chất Âu hơn Á. Một bức chân dung xuất sắc của nhà viết kịch Alexander Ostrovsky, cho thấy một khuôn mặt đậm chất Balkan – đôi mắt xanh lam nhạt, gò má rộng, tóc vàng và râu đỏ –  một hình mẫu Scandinavi thường thấy trong các vở kịch.    Chân dung nữ nghệ sỹ Maria Ermolova của Serov  Chân dung nữ nghệ sỹ Maria Ermolova cũng có trong triển lãm, một chân dung bộc lộ một nét kỳ lạ khó rời mắt. Chekhov đã viết vở kịch đầu tiên của mình cho bà; bà cũng là nữ nghệ sỹ yêu thích của Stanislavski và màn trình diễn của bà trong vở “Trinh nữ Orleans” của Schiller đã thành công đến mức được diễn trong vòng 18 năm tại Nga. Họa sỹ Serov đã khéo léo tạo cho Ermolova một thế đứng vững chãi khiến người xem phải ngước nhìn bà – gần như một bức tượng màu đen nổi bật trên nền họa tiết màu bạc trong căn hộ trang nhã của bà. Đôi tay nắm chặt, gương mặt có phần nghiêm nghị và lạnh lùng, bà ngạo nghễ thu hút sự chú ý. Đây thực sự là một màn biểu diễn bậc thầy của hai nghệ sỹ bậc thầy.    Chân dung nhà soạn nhạc Rimsky-Korsakov của Valentin Serov  Đây là ngụ ý đầu tiên về tương lai của một chuyển động nội tại trong hội họa từ chủ nghĩa hiện thực đầy sức mạnh trong những năm 1870 của Repin đến bình minh của chủ nghĩa hiện đại. Nhưng dẫu thời gian có trôi qua thì một vài đặc điểm vẫn còn được giữ lại trong nghệ thuật tranh chân dung Nga: không có nhiều trang trí ở phông nền, tất cả các áo khoác dường như được may cắt từ cùng một chất vải dày nặng, một sự tôn kính thực sự với nhân vật – họ thường ngồi bên ghế. Tolstoy rõ ràng nhìn vào họa sỹ đang đứng trước mình vài mét, vốn đang ngưỡng mộ ngắm nhà văn có một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Nhà soạn nhạc Rimsky-Korsakov đang suy nghĩ về tác phẩm của mình, ông hoàn toàn không để ý đến sự xuất hiện của họa sỹ Valentin Serov trong phòng làm việc của mình.    Chân dung nhà sưu tầm tranh Ivan Morozov của Valentin Serov  Bức chân dung được treo cuối cùng trong cuộc triển lãm là thương gia Ivan Morozov do Serov vẽ, ông là nhà sưu tập tranh như Tretyakov. Ông thích sưu tầm những bức tranh của các họa sỹ Pháp và sở hữu nhiều tác phẩm của Monet, Gauguin và Cézanne. Serov đã vẽ Morozov, đang hơi ngả người về phía trước với khuôn mặt khôn ngoan và măng sét sáng bóng, bức tường đằng sau ông treo bức Fruit and Bronze của Matisse, nhịp điệu sôi nổi của bức họa này như tràn cả ra ngoài, thể hiện sức ảnh hưởng của nó với nhân vật. Vì thế, Morozov như được khắc họa bằng cả hai nghệ sỹ xuất sắc, một Matisse và một Serov.  Với những cuộc triển lãm như vậy, những kiệt tác chân dung các biểu tượng văn hóa Nga đã tiếp tục đến với thế giới.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/artanddesign/2016/mar/20/russia-and-the-arts-the-age-of-tolstoy-and-tchaikovksy-review-national-portrait-gallery    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lý do thực sự khiến những nhà khởi nghiệp cần một mentor      Nhiều startup nghĩ rằng các mentors là những đại gia nào đó một ngày sẽ xuất hiện và thay đổi cuộc đời họ. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có các nhà khởi nghiệp mới có thể thay đổi cuộc đời họ và tạo ra thành công cho chính mình chứ không phải là các mentors.      Warren Buffet (bìa phải) là mentor của Bill Gates (bìa trái). Nguồn: FinanceBuzz     Hầu hết những người khởi nghiệp trẻ đều phấn khích về việc có một mentor. Các startup thường nghĩ rằng, cuối cùng thì ai đó cũng hiểu được ý tưởng của mình, đầu tư vào startup của mình, đưa ra những câu trả lời hoàn hảo cho vấn đề hiện tại của mình và kết nối mình với các khách hàng. Nhiều startup nghĩ rằng các mentors là những đại gia nào đó một ngày sẽ xuất hiện và thay đổi cuộc đời họ. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có các nhà khởi nghiệp mới có thể thay đổi cuộc đời họ và tạo ra thành công cho chính mình chứ không phải là các mentors. Phần lớn những người tôi gặp nghĩ rằng việc mentor là chuyển giao những kiến thức cụ thể mà startup còn thiếu nhằm giúp họ hiểu về những lĩnh vực như marketing, gọi vốn hoặc tăng trưởng nóng – Growth Hacking (chú thích cho những người “lạc hậu” như tôi: Đây là một quá trình thử nghiệm để chọn ra một kênh marketing hiệu quả nhất). Mặc dù việc chia sẻ kiến thức là rất hữu ích nhưng nó không phải là công cụ tối thượng thể hiện tầm ảnh hưởng của việc mentor.  Các nghiên cứu chỉ ra rằng những startup được mentor bởi các nhà khởi nghiệp thành công có doanh thu, doanh số cao hơn và có nhiều khả năng gọi vốn hơn. Theo nghiên cứu, phép màu của việc mentor thực sự nằm ở việc thúc đẩy và thách thức các nhà khởi nghiệp. Sức mạnh thực sự của các mentor nằm ở việc giữ cho những nhà sáng lập startup tập trung và có trách nhiệm với bản thân mình. Một nhà sáng lập startup cần mentor không phải bởi vì những mentors thông minh hơn và có những kiến thức chuyên môn mà startup không có mà bởi vì họ có thể giúp các nhà sáng lập đưa ra những quyết định khó khăn và vượt qua những gian khổ trong việc xây dựng một công ty tốt. Ví dụ, đối với một mentor, việc giải thích cho startup làm sao để triển khai khởi nghiệp tinh gọn và phát triển khách hàng là rất đơn giản nhưng đối với startup, thật sự rất khó để làm được. Thông thường, sẽ có rất nhiều phản hồi tiêu cực từ khách hàng và một người khởi nghiệp sẽ phải đối mặt với những suy sụp về mặt tinh thần. Một người mentor từng đi qua quá trình đó sẽ đồng cảm, giúp họ đối mặt với những cảm xúc tiêu cực và thúc đẩy họ tiến lên phía trước. Ngay cả khi startup xây dựng được một sản phẩm phù hợp với thị trường (product – market fit), bắt đầu xây dựng công ty và thuê nhân viên thì việc quản lý con người có thể sẽ tạo ra hàng ngàn vấn đề khác nhau. Quản lý con người là một trong những quá trình khó khăn nhất đối với những người sáng lập trẻ và một doanh nhân giàu kinh nghiệm có thể giúp họ suy nghĩ thông suốt trước những quyết định mang tính cá nhân.  Ngay cả sau khi các startup trở thành một doanh nghiệp thực thụ và có doanh thu đủ để người sáng lập sống thoải mái và được kính trọng bởi cộng đồng, người sáng lập rất dễ “rời khỏi chân ga”, thư giãn và tận hưởng hào quang của thành công. Họ cần một mentor để thúc đẩy họ mở rộng thị trường ra toàn cầu, không cho họ nghỉ ngơi trên thành công hiện tại mà phải vươn đến những điều vĩ đại hơn. Rất nhiều nhà sáng lập hi vọng tìm được đại gia nhưng chắc là không muốn ai đó đối  thúc họ hoặc thử thách họ. Đặc biệt là khi họ đạt một thành tựu nào đó, họ không thể đối mặt với những chỉ trích bởi nó ảnh hưởng đến cảm giác thành công của họ. Những người sáng lập startup muốn tạo ra những gì đó tuyệt với như Bill Gates (Mentor: Warren Buffet) hoặc Mark Zukerberg (Mentor: Steve Jobs) không bao giờ cảm thấy hài lòng [về bản thân mình] và luôn tìm kiếm những doanh nhân thành công thúc đẩy họ.    * Chuyên gia của SECO EP – tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp toàn cầu của Thụy Sỹ  Hảo Linh dịch  Nguyên văn bản Tiếng Anh:  The real reasons every entrepreneur needs a mentor  Most young startups are excited about getting a mentor. Startups typical think, finally someone will get my idea, invest in my startup, give me the perfect answer to my current problem, and connect me to customers. Many startups think mentors are like that rich uncle they don’t know about but will appear one day and change their lives. The fact is really only the startup founders can change their lives and create their success, not the mentors. That said research has shown startups who had successful entrepreneurs as mentors have had higher top line results and are more likely to raise investment. Most people I come across think mentoring is about knowledge and expertise transfer, a mentor is someone really smart and experience and is transferring a specific knowledge gap to a startup helping them to understand knowledge on areas like marketing, fund raising or Growth Hacking (Note to Old People like me: this is an experimental process to choose the most effective marketing channel/s). While knowledge transfer is helpful this is not the killer app for the impacts of mentoring.  What the research has said the magic of mentoring is actually pushing, focusing and challenge founders. Mentors real power is to keeping the startup founders focused and have them be accountable to themselves. A Startup founders needs a mentor not because the mentors are smarter have expertise the startups don’t have but because they can help founders make the tough decisions and get through the hard parts of building a great business. For examples, it’s relatively easy for a mentor to explain to a startup how to implement Lean Startup and go through the Customer Development process but it’s hard for a startup to implement. There is typically lots of negative feedback comes back in the customer development process and there is an emotional toil that a founder has to deal with. A mentor who has gone through the process can empathize and can help give them advice on how to deal with the negative feelings and push forward. Even after a startup hits product-market fit and actually starts building the business and has to start hiring employees, managing people can create a thousand different problems. Managing people is one of the most difficult processes for a young founder, and an experienced business leader can help them think through the tough decision making personal decisions. Even after the startup becomes a real business and is able to generate enough income for the founder to live comfortably and be respected by their local community it becomes very easy for founders to take their foot off the gas, relax and bask in the glow of their success. They need a mentor to push them to expand globally and talk about the issues of not resting on current success and pushing for something greater.  Many founders are hopping for their rich uncle and probably don’t want someone pushing them or challenging them especially after they reached a certain level of success, emotionally they can’t deal with the criticism and it counters to their own feeling of being a successful. The founders who want to create something great like Bill Gates (Mentor: William Buffet) or Mark Zukerberg (Mentor: Steve Jobs) never feel comfortable and seek for successful business people to push them.  * Specialist of SECO EP         Author                Mike Ducker        
__label__tiasang Những mong ước từ đồng ruộng      Mang những mong ước giản dị và hồn nhiên từ đồng ruộng tới cuộc gặp mặt do Bộ KH&amp;CN tổ chức ngày 12/5 tại Hà Nội, những nhà sáng chế không chuyên trông đợi được lắng nghe và giải đáp các thắc mắc bấy lâu của họ…   &#160;    Mong được lắng nghe   63 đại biểu được lựa chọn từ danh sách 254 nhà sáng chế không chuyên do các địa phương đề xuất tham dự cuộc gặp gỡ lần thứ nhất. Họ được lựa chọn theo những tiêu chuẩn chặt chẽ như kinh phí dành cho nghiên cứu sáng tạo không dùng ngân sách nhà nước, sản phẩm sáng tạo được ứng dụng rộng rãi và chứng thực trong đời sống, đã tham gia các cuộc thi sáng chế kỹ thuật các cấp…   Dù đến từ vùng miền nào, có sản phẩm sáng tạo thuộc lĩnh vực nào của đời sống xã hội như phục vụ sản xuất nông nghiệp (máy sạ hàng, máy gặp đập liên hợp, máy tuốt lúa, máy bóc lạc, máy vò chè, xe đa năng…) hay những vấn đề thường nhật (thuốc mỡ sinh cơ, dụng cụ thu hái trái cây, tạo hình bưởi hồ lô, bẫy chuột, máy thái hành tỏi, máy xe chỉ dừa…), những nhà sáng chế không chuyên đều có một mẫu số chung: sự say mê tìm tòi sáng tạo. Ít người trong số họ có điều kiện trải qua trường lớp đào tạo chuyên môn, thậm chí học còn chưa hết bậc phổ thông như ông Dương Xuân Quả (huyện Phú Tân, tỉnh An Giang), tác giả lò sấy tĩnh vỉ ngang tự động đầu tiên của Việt Nam, ông Nguyễn Văn Sành (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) – máy bóc thái hành tỏi, ông Nguyễn Văn Gia (tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) – máy lu nền ruộng muối, ông Văn Đức Quynh (huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) – máy bóc hạt ngô, ông Nghiêm Đại Thuận (huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh) – máy xe chỉ dừa… Chính niềm say mê đã đưa họ vượt qua những khó khăn gặp phải trong suốt quá trình dai dẳng “thai nghén” sản phẩm.   Có sản phẩm được tín nhiệm và ứng dụng rộng rãi song phần lớn các nhà sáng chế không chuyên vẫn cảm thấy bối rối và e ngại khi tiếp xúc với các cấp lãnh đạo, như lời bộc bạch của ông Đào Viết Thoàn (Quỳnh Phụ, Thái Bình), lương y có bài thuốc mỡ sinh cơ hay ông Quách Văn Ba (Kiên Giang), tác giả máy gặt đập lúa… Họ hồi hộp đến Hà Nội tham dự cuộc gặp gỡ lần thứ nhất này với những câu hỏi, liệu lãnh đạo Bộ KH&CN có thấu hiểu những suy nghĩ, khúc mắc của mình không, có lắng nghe những đề xuất mà mình muốn đề đạt không? Những băn khoăn về hỗ trợ vốn đầu tư, bảo hộ sản phẩm, cách tiếp cận thị trường, quảng bá sản phẩm, kết nối với nhà phân phối, cách thức điều hành, tổ chức sản xuất trên quy mô lớn… mà họ mang đến cuộc gặp mặt cũng chính là những gì các nhà sáng chế khác trên toàn quốc đang tâm tư.   Vốn sản xuất là nỗi lo thường trực của các nhà sáng chế nông dân, bởi nhiều sản phẩm phải mất tới vài năm trời mới thành hình nên “công sức tiền bạc bỏ ra đôi khi không thể kể xiết” như tâm sự của ông Nghiêm Đại Thuận hay “làm sáng chế thì luôn gặp khó khăn về tài chính, vì khi nghiên cứu thử nghiệm thì chỉ có đưa tiền ra chứ không có tiền thu về. Sáng kiến có giá trị càng cao thì càng đòi hỏi đầu tư nhiều chi phí”, theo lời ông Phạm Hoàng Thắng (Cần Thơ), tác giả máy gieo hạt, gặt đập liên hợp. Cũng chung nỗi niềm này, ông Lê Phước Lộc (huyện Cái Bè, Tiền Giang), tác giả sáng kiến dụng cụ cắt tỉa cành, bao trái cây đề nghị “cần chính sách hỗ trợ về vốn, các nhà sáng chế không chuyên như chúng tôi không dám đầu tư lớn vào các sản phẩm cải tiến, thử nghiệm vì sợ nếu thất bại sẽ không có vốn mà làm ăn tiếp, chúng tôi chỉ mong nhà nước thấy ý tưởng nào khả thi thì hỗ trợ”.   Bên cạnh vấn đề về vốn, các nhà sáng chế còn mong muốn có một tổ chức hoặc mạng lưới để việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm giữa các nhà sáng chế được thuận lợi hơn. Đề cập đến nguyện vọng này, ông Nguyễn Tấn Biền (Ninh Hòa, Khánh Hòa), tác giả máy bóc vỏ đậu xanh và ông Lê Văn Trung (Thạch Lợi, Vĩnh Long), tác giả sáng kiến tạo giống rau củ, mong “các cấp lãnh đạo tiếp tục tổ chức các cuộc gặp gỡ để chúng tôi có dịp trao đổi kinh nghiệm sáng tạo và tìm nguồn vốn”, hoặc “nếu có thể thì lập trang thông tin điện tử và Hội những nhà sáng chế không chuyên”. Ông Lê Văn Trung còn mạnh dạn đề xuất thêm: “Các cơ quan nhà nước, các nhà khoa học, các nhà đầu tư hãy cùng chúng tôi liên kết bốn nhà để máy móc, sản phẩm do chúng tôi chế tạo có thể đến được với nhiều người, nhiều vùng trong cả nước”.   Ngay bên lề cuộc gặp gỡ, nhà sáng chế máy gọt vỏ dừa tươi Lê Tân Kỳ (xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre), từng xuất máy sang Mỹ, Úc, Bangladesh, Đài Loan, đã liên hệ với nhà sáng chế ít tuổi nhất Trần Lan Anh (Tiền Hải, Thái Bình), tác giả máy đánh bắt ngao vạng hiện đang được áp dụng ở tất cả các vùng nuôi ngao Thái Bình, với mục đích “tìm hiểu thông tin về sản phẩm để đem về giới thiệu cho bà con Bến Tre, vốn rất cực nhọc khi thu hoạch ngao bằng cào mà năng suất thấp. Có thể bà con cũng sẽ mê chiếc máy vừa vừa hiệu quả lại vừa tốn ít sức này”.   Cùng tháo gỡ khúc mắc, tâm tư   Tham dự cuộc gặp mặt và lắng nghe những phát biểu của các nhà sáng chế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương tinh thần năng động sáng tạo của họ, những người đã “nghiên cứu sáng tạo để để sản xuất đỡ vất vả, nặng nhọc hơn, giảm chi phí sản xuất thấp hơn, đạt hiệu quả và chất lượng cao hơn”. Nhắc lại kỷ niệm từ những ngày còn trong quân ngũ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Thủ tướng kể: “Hồi kháng chiến, tôi đi bộ đội và có tham gia lao động sản xuất, đi cắt lúa cùng bà con nông dân. Khi đó, ai cũng làm ngoài đồng từ sáng sớm tới gần hai giờ chiều mới nghỉ mà chỉ cắt được một công, tức là tương đương 1000m2. Bây giờ, máy móc [của các nhà sáng chế] đã làm được 10 ha, bằng mấy chục người cộng lại. Có thể thấy, sự tham gia của máy móc vào quá trình lao động sản xuất khiến cho năng suất lao động tăng lên, con người bớt vất vả hơn”.   Đề cập đến những hoạt động sáng tạo, Thủ tướng cho rằng, đây là một trong những yếu tố quyết định đem lại sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế thông qua việc giảm chi phí đầu tư, giảm giá thành, tăng năng suất chất lượng. Chỉ khi tiến hành hoạt động nghiên cứu đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng KH&CN vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mới tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững cho đất nước. Vì vậy Thủ tướng đề nghị Bộ KH&CN và các bộ ngành liên quan lưu ý một số vấn đề “tạo mọi thuận lợi, tạo mọi chính sách khuyến khích cho công tác nghiên cứu sáng tạo, sáng chế của mỗi người dân Việt Nam. Mỗi sáng tạo sáng chế phải được trân trọng, phải được hỗ trợ hình thành. Nếu làm được điều này chắc chắn chúng ta sẽ thành công”.   Vậy tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sáng chế không chuyên theo hướng nào? Thủ tướng cho rằng, “mọi nghiên cứu sáng tạo đều phải được tạo điều kiện thuận lợi bằng sự hỗ trợ kịp thời để từ nghiên cứu ra được sản phẩm như cần hỗ trợ về vốn cho các sáng chế, khi các loại máy móc sáng chế đã được thẩm định về công nghệ rồi cần đưa ra thị trường giới thiệu rộng rãi”. Thấu hiểu trường hợp các nhà sáng chế muốn có cơ sở sản xuất phải có đất đai, mặt bằng hay những ưu đãi về thuế dành cho doanh nghiệp [có sản phẩm máy móc từ sáng chế] mới tạo dựng cơ nghiệp, Thủ tướng đề nghị “phải có chính sách khuyến khích, hỗ trợ. Các nhà sáng chế cần rất nhiều những yếu tố hỗ trợ nhưng tóm lại cần có những yếu tố cơ bản như về vốn, đưa sản phẩm ra thị trường, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ, tạo môi trường để phát huy sáng tạo, nghiên cứu áp dụng công nghệ mới… Tôi đề nghị Bộ KH&CN và các địa phương hết sức quan tâm hỗ trợ các nhà sáng chế những vấn đề này”.  Trước những chia sẻ và cam kết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, nhà sáng chế Quách Văn Ba (Kiên Giang) như trút được gánh nặng. Ông bày tỏ: “Khi viết tham luận chuẩn bị cho cuộc gặp mặt, tôi có rất nhiều tâm tư, e ngại nhưng qua lời phát biểu của Thủ tướng và bộ trưởng, tôi mới biết rằng những vấn đề mình vẫn tâm tư thì Chính phủ và bộ đã hiểu rồi”.               Giải đáp những băn khoăn của các nhà sáng  chế về vốn đầu tư sản xuất, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân khẳng  định, sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ sáng kiến từ nguồn  ngân sách nhà nước để Bộ có thể kịp thời khen thưởng người dân có sáng  kiến sáng tạo kỹ thuật có giá trị, đồng thời sẽ hướng dẫn việc đăng ký  và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ việc ứng dụng và thương mại hóa  sản phẩm.   Nhân dịp này, Bộ KH&CN đã gửi bản dự thảo mới nhất của thông tư  hướng dẫn thực hiện Nghị định số 13 [về Ban hành điều lệ sáng kiến năm  2012 của Chính phủ] về hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho sáng kiến của  người dân tới 63 nhà sáng chế không chuyên. Bộ trưởng Nguyễn Quân hy  vọng, “chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà sáng kiến  không chuyên nghiệp là đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách này  để sớm hoàn thiện và kịp thời ban hành thông tư phục vụ phong trào sáng  kiến cải tiến kỹ thuật trong cả nước”.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nền kinh tế nổi đình đám vào giữa thế kỷ này      Trong khi kinh tế các nước thuộc khu vực đồng Euro đang gặp  nhiều khó khăn nội tại thì kinh tế các nước Đông Nam Á và Mỹ La tinh lại phát triển  mang tính bùng nổ. Dưới đây là những nền kinh tế được ngân hàng HSBC của Anh đánh giá sẽ  phát triển năng động nhất trong những thập niên tới.     Vị trí thứ 10: Ả rập Saudi   Ả rập Saudi là nền kinh tế lớn mạnh nhất trong khu vực Ả rập. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2010 đạt 622 tỷ USD. Cũng trong năm này GDP tính theo đầu người là 24.200 USD.  Đây là quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới đồng thời lại phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của thị trường dầu mỏ thế giới, nhưng nhờ có trữ lượng khổng lồ nên có thể giảm nhẹ những tác động từ bên ngoài.   Trong những năm gần đây nền kinh tế Ả rập Saudi luôn đạt thặng dư mậu dịch. Năm 2010 nước này đạt kỷ lục thặng dư lên đến gần 372 tỷ USD. Nhờ đó Ả rập Saudi có thể đầu tư những khoản tiền lớn vào xây dựng khu vực công để hy vọng qua đó giảm tình trạng thất nghiệp cao hiện nay (khoảng 15%).   Tăng trưởng kinh tế thực tế của nước này năm 2011 đạt khoảng 6,8%. So với lĩnh vực khai thác dầu mỏ và hóa dầu của nhà nước thì khu vực kinh tế tư nhân khá khiêm tốn, tuy nhiên năm 2011 khu vực này cũng đạt 8,3%.  Ngân hàng HSBC đã tính toán và dự báo về tương lai kinh tế thế giới vào năm 2050. Theo đó trong 40 năm tới, tăng trưởng bình quân của Ả rập Saudi sẽ là 3,775%. Theo bảng xếp hạng này thì đến năm 2050 Ả rập Saudi là nước có nền kinh tế ở vị trí thứ 10 thế giới (hiện tại đứng ở vị trí 23).  Vị trí thứ 9: Nga và Iran  GDP của Nga trong năm 2011 tăng 4,3%. Theo dự báo của chuyên gia HSBC thì trong những năm tới tăng trưởng kinh tế của Nga sẽ ở mức như hiện nay và trong những thập niên tới tăng trưởng bình quân của Nga là 3,875%. Trên bảng xếp hạng nền kinh tế của Nga năm 2010 xếp thứ 17 sẽ tăng lên thứ hạng 15 trong những năm tới.   Iran cũng có mức tăng trưởng tương tự, đạt bình quân hàng năm là 3,875% đến năm 2050. Trong năm 2011/2012 GDP của Iran ước đạt 480 tỷ USD. Dầu mỏ và khí đốt là hai ngành kinh tế quan trọng nhất của Iran cạnh đó là các lĩnh vực hóa dầu, nông nghiệp, công nghiệp cơ khí và xe ô tô. Theo số liệu chính thức thì tỷ lệ lạm phát ở mức 22,5% nhưng thực tế trên 30%, tỷ lệ thất nghiệp 11,8%, theo số liệu chính thức.  Vị trí thứ 8: Thái Lan  Chính phủ của nữ thủ tướng Yingluck Shinawatra trong thời gian qua đứng trước những nhiệm vụ hết sức to lớn: thu hút các nhà đầu tư nước ngoài sau thảm họa lũ lụt hồi cuối năm 2011. Mục tiêu hàng đầu trong chính sách kinh tế của chính phủ Thái là “tăng trưởng cho mọi người”. Bất chấp những xung đột chính trị nội bộ, nền kinh tế Thái Lan phát triển hết sức sôi động năm và 2010 GDP của Thái Lan đạt 7,8%. Nguyên nhân chính là do xuất khẩu tăng mạnh sang các nước và khu vực nhập khẩu chủ yếu (các nước trong khối ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, EU và Mỹ).  Nền kinh tế Thái Lan 2011 bị ảnh hưởng nặng nề bởi thảm họa lũ lụt, năng lực kinh tế trong quý bốn giảm hơn 10%. Trên 830 nhà máy với trên 440.000 lao động bị ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai trong đó có những nhà máy phục vụ xuất khẩu thuốc các lĩnh vực như sản xuất ô tô xe máy, công nghiệp điện, điện tử. Ngành nông nghiệp cũng bị thiệt hại nặng nề.  Tuy nhiên cơ hội khôi phục sản xuất trong năm 2012 là tốt. Dự báo tăng trưởng năm nay đạt ít nhất 5,5 đến trên 6%, mức này được các chuyên gia quốc tế và chuyên gia Thái Lan cho là hiện thực.  HSBC tiên đoán tăng trưởng bình quân hàng năm của Thái Lan đến năm 2050 là 3,9%. Đến lúc đó nền kinh tế Thái Lan xếp thứ 22 trên thế giới (2010: thứ 29).  Vị trí thứ 7: Colombia  Tăng trưởng kinh tế bình quân của Colombia trong những năm từ 2004 đến 2007 đạt 6,2%. Sau đó, do khủng hoảng kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế của nước này năm 2008 chỉ đạt 2,5%, năm 2009 – 0,4%. Năm 2010 kinh tế Colombia hồi phục và tăng trưởng mạnh, đạt 4,4%; năm 2011 là 4,9%. So với các nước trong khu vực thì Colombia đã khắc phục khủng hoảng kinh tế khá nhanh chóng.  Động cơ thúc đẩy nền kinh tế là nhu cầu tiêu dùng trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh. Gía nguyên liệu tăng liên tục trong nhiều năm cũng tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Các lĩnh vực như sản xuất công nghiêp, xây dựng, vận tải, viễn thông, thương mại và du lịch phát triển sôi động.  Theo HSBC xu hướng này sẽ tiếp tục. Đến năm 2050, tăng trưởng bình quân hàng năm của Colombia đạt 4,2%. Đến năm 2050, Colombia sẽ có nền kinh tế đứng hàng thứ 25 thế giới.   Vị trí thứ 6: Indonesia  Trong nhiều năm gần đây, Indonesia đạt nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hết sức ngoạn mục – năm 2011 tăng trưởng kinh tế đạt 6,5%; dự báo 2012 là 6,3%. Indonesia có thị trường nội địa lớn nhất và đầy hấp dẫn ở khu vực Đông Nam Á. Nhà nước vẫn còn nắm độc quyền đối với các ngành kinh tế then chốt, khu vực kinh tế tư nhân cạnh tranh với các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên hiện đang diễn ra xu hướng phá bỏ cấu trúc độc quyền này. Thí dụ cuối năm 2010 đầu năm 2011 đã có những doanh nghiệp nhà nước đầu tiên – doanh nghiệp thép Krakatau Steel và công ty hàng không Indonesia GARUDA – đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.  Indonesia giầu tài nguyên khoáng sản như khí đốt, than, dầu mỏ, kẽm, nicken, đồng, bauxite và vàng. Từ cuối 2004, do lượng dầu mỏ khai thác được giảm sút nên Indonesia phải nhập khẩu dầu, tuy nhiên lại xuất khẩu khí đốt và than đá.   Indonesia có trữ lượng gỗ khá lớn và xuất khẩu nhiều loại nông sản như cao su, dầu cọ (đứng đầu thế giới), cacao (thứ ba thế giới), chè, cà phê và thuốc lá. Ngành may mặc, giầy dép, chế biến gỗ cũng là những ngành khá quan trọng.  Hai phần ba năng lực kinh tế của Indonesia được tạo ra thông qua khu vực phi chính thức và nông nghiệp vẫn là một yếu tố nổi trội trong nền kinh tế nước này.  Từ nay đến 2050 tăng trưởng bình quân của Indonesia sẽ ở mức 4,35%. Khi đó nước này sẽ là nền kin tế đứng ở vị trí 16 trên thế giới.  Vị trí thứ 5: Thổ Nhĩ Kỳ  Dù bị tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009 (tăng trưởng GDP là -4,7%), nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ vẫn hồi phục khá nhanh chóng. Năm 2010 đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là 8,9%, đứng hàng thứ hai sau Trung Quốc. Trong chín tháng đầu năm 2011, tăng trưởng GDP của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 6,9%, cao hơn cả Trung Quốc.   Các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ như ngành may mặc, công nghiệp ô tô, hóa chất, cơ khí và điện tập trung ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ và đóng góp 25% GDP. Khu vực dịch vụ đóng góp khoảng 60% GDP và xu hướng tiếp tục tăng. Theo số liệu của WB, trên 30% số người trong độ tuổi lao động vẫn làm nông nghiệp và tạo khoảng 10% GDP, tập trung ở miền đông và đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Đây cũng là vùng còn có nhiều điều kiện để xây dựng hạ tầng cơ sở.   Từ nay đến 2050, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Theo HSBC, tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của nước này đạt 4,375%, và Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều khả năng trở thành nền kinh tế đứng hàng thứ 11 của thế giới.   Vị trí thứ 4: Ai Cập  Quá trình chuyển đổi chính trị ở các nước Ả rập vẫn đang diễn ra. Ai Cập là quốc gia đầu tiên tiến hành cuộc cách mạng hoa nhài và hiện tại chính sách phát triển kinh tế của Ai Cập vẫn chưa thích nghi được với tình hình mới. Tăng trưởng kinh tế ở mức độ rất thấp một số công trình đầu tư thiết yếu bị ngừng trệ, dự trữ ngoại tệ nội trong một năm bị giảm tới 75%.  Tuy vậy Ai Cập vẫn là quốc gia có nền kinh tế được công nghiệp hóa xếp hàng thứ hai sau Nam Phi ở châu Phi. Nguồn thu nhập chính của Ai Cập vẫn là khai thác và xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ và khí đốt), du lịch và tiền do lao động Ai Cập làm việc ở nước ngoài gửi về nước. Ngoài ra kênh đào Suez cũng đem lại một lượng ngoại tệ không nhỏ.   Nếu tình hình chính trị sớm ổn định trở lại thì nền kinh tế Ai Cập có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ. Theo HSBC, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Ai Cập là 5,075%. Ai Cập sẽ là quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ 19 trên thế giới.  Vị trí thứ 3: Trung Quốc  Một điều bất ngờ, đến năm 2050 Trung Quốc sẽ không còn là nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới. Các chuyên gia HSBC dự báo tăng trưởng GDP bình quân của TQ trong những thập niên tới chỉ đạt 5,15%.   Năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn hàng thứ hai thế giới và dự kiến năm 2012, Trung Quốc sẽ là quốc gia có nền thương mại lớn nhất thế giới, trên cả Mỹ. Hiện nay thu nhập bình quân đầu người đạt 5.424 USD (2011) và đứng đầu các nước mới nổi. Tuy nhiên ở đây có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng miền ở Trung Quốc và sự phát triển xã hội cũng có sự chệnh lệch rất lớn.  Những sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất của Trung Quốc là: thiết bị điện, điện tử, hàng dệt may, cơ khí và sản phẩm ngành công nghiệp hóa chất.     Vị trí thứ 2: Malaysia     Malaysia là một nước mới nổi, từ chỗ chuyên xuất khẩu nguyên liệu đã trở thành địa bàn đầu tư công nghiệp có mức thu nhập bình quân đạt mức trung bình. Sau khi nền kinh tế bị phát triển âm vào năm 2009 so với năm trước đó thì đến 2010 tăng trưởng lên đến 7,2%, tương đương mức đã đạt được trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới.   Malaysia đứng hàng thứ hai sau Indonesia về sản xuất và xuất khầu dầu cọ; đứng sau Thái Lan và Indonesia về xuất khẩu sản phẩm cao su – ba nước này đáp ứng tới 80% nhu cầu cao su thế giới.   Theo HSBC đến năm 2050, tăng trưởng binh quân của Malaysia đạt 5,325% và sẽ là nền kinh tế đứng ở vị trí 20 trên thế giới.  Vị trí thứ nhất: Ấn Độ  Với tăng trưởng kinh tế ở mức 6,9% (năm 2011), Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền kinh tế bành trướng mạnh nhất thế giới. Dân số Ấn Độ hiện nay là 1,2 tỷ, đến giữa thế kỷ này Ấn Độ không những là quốc gia đông dân nhất thế giới mà còn có tổng sản phẩm quốc nội đứng hàng thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Mỹ.  Tuy có tỷ lệ tăng trưởng cao nhưng thu nhập bình quân đầu người hàng năm chỉ đạt 1.270 USD và Ấn Độ gặp nhiều khó khăn về hạ tầng cơ sở xã hội và sẽ tiếp tục là nước đang phát triển. Khoảng 30% dân số sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập mỗi ngày dưới 1 USD, và khoảng 70% thu nhập dưới 2 USD.  Nguyên nhân chính giúp kinh tế Ấn Độ đạt mức tăng trưởng cao về trung hạn và dài hạn là do “demographic dividend” (tỷ lệ sinh đẻ giảm chậm). Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động từ 15 đến 64 đến năm 2026 chiếm 68,4%.   Theo HSBC, tăng trưởng bình quân của Ấn Độ là 5,5% và sẽ có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới (năm 2010 Ấn Độ xếp thứ 8). Để so sánh: Tăng trưởng bình quân của Đức đến năm 2050 chỉ ở mức 1,475% /năm và Đức sẽ bị tụt từ hạng bốn xuống hạng sáu thế giới.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nghề có nguy cơ bị biến mất trong tương lai gần      Trong một nghiên cứu mới tiến hành gần đây,  ngân hàng dữ liệu về việc làm của Hoa kỳ Career Cast đã xác định mười  nghề có thể biến mất trong những năm tới, trong đó có những nghề như:  nhân viên ngành tài chính, biên tập viên các tòa báo và người đưa thư.       Mười nghề đó là:  Nhân viên ngành tài chính    Nghề này xếp hàng thứ 10 trong số những  nghề có nhiều nguy cơ bị biến mất nhất. Theo nghiên cứu này thì đến năm 2020 số nhân viên tài chính được tuyển mộ sẽ giảm 4%. Nguyên nhân của tình trạng này là do tiến bộ không ngừng của công nghệ và kỹ thuật, do đó nhu cầu về nhân lực giảm đi.   Nghề in ấn  Báo điện tử thay cho báo in, màn hình quảng cáo khổng lồ thay cho áp phích dán trên tường – điều này không những làm giảm tiêu thụ giấy in trong thế giới số hiện nay mà còn là nguy cơ đối với nghề in ấn. Đến năm  2022 số lao động cần cho lĩnh vực này sẽ giảm 5%.  Công nhân vận hành máy    Quá trình tự động hoá vẫn đang tiếp diễn trong các nhà máy. Tại đây máy móc tiếp tục lấn át con người. Đến năm 2022 nhu cầu tuyển công nhân đứng máy khoan cố định sẽ giảm 6%.    Tiếp viên hàng không  Theo Career Cast thì đến năm  2022 tuyển mộ tiếp viên hàng không sẽ giảm 7%. Trong danh mục đáng buồn này thì nghề tiếp viên hàng không xếp hàng thứ 7. Lý do cho sự hụt giảm này, theo các nhà nghiên cứu, là do số chuyến bay giảm và sự sát nhập đang diễn ra trong ngành hàng không. Những thay đổi này còn tiếp diễn và sự giảm sút lao động sẽ diễn ra trong một thời gian dài.  Nghề đốn gỗ  Những đổi mới về công nghệ trong ngành công nghiệp gỗ cũng như sự giảm sút tiêu thụ giấy đang làm cho nghề đốn gỗ trở thành vấn đề gây nhiều tranh cãi. Nhu cầu đối với thợ dốn gỗ sẽ giảm sút khoảng 9% vào năm 2022.  Nghề đại lý du lịch  Những hoạt động trên mạng Internet đã giúp các hãng như Opodo, Trivago hay Booking.com trở thành người tư vấn về du lịch. Thông qua mạng Internet người ta có thể chọn chuyến bay thích hợp, đặt phòng khách sạn với giá thuận lợi nhất, thậm chí có thể thuê xe để đi lại. Vai trò của các văn phòng du lịch sẽ tiếp tục giảm sút, điều này là một xu thế tất yếu. Do đó việc tuyển mộ nhân viên tư vấn du lịch sẽ giảm 12% trong những năm tới.   Biên tập viên báo  Lượng phát hành giảm, thu nhập qua quảng cáo sa sút – từ nhiều năm nay ngành báo in ngày càng lâm vào tình trạng khó khăn. Ngay cả những nhà xuất bản mạnh về tài chính cũng buộc phải tiết kiệm nhân lực. Báo trực tuyến đang từng bước thay thế cho báo in truyền thống. Biên tập viên báo in ngày một dư thừa – theo dự báo đến năm 2022 sự tuyển mộ những người làm nghề này sẽ giảm 13%.      Nhân viên đọc đồng hồ  Nhóm nghề này thường là nhân viên của các doanh nghiệp cung cấp điện, khí đốt và nước sinh hoạt. Đây là nhóm nghề có nguy cơ biến mất cao nhất. Career Cast dự báo đến năm 2022 số lao động thuộc nhóm nghề này sẽ giảm tới 19%. Lý do: hiện đã có những thiết bị đo tự động có thể thông báo cho nhà cung cấp các dữ liệu về mức tiêu thụ mà không cần người đọc đồng hồ.    Nghề nông  Trong bảng xếp hạng này thì vị trí thứ hai thuộc về những người làm nghề nông. Số lao động nông nghiệp sẽ ngày một giảm vì hiện có nhiều máy mới có thể thay thế lao động nông nghiệp, vả lại việc sản xuất kinh doanh của các trang trại nhỏ không có khả năng cạnh tranh để tồn tại. Theo dự báo thì lao động trong ngành nông nghiệp đến năm 2022 cũng giảm khoảng 19%.   Nghề đưa thư  Đây là nghề bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Career Cast dự báo đến năm 2022 số lao động làm nghề này giảm tới  28%.  Người làm nghề đưa thư là nạn nhân của giao lưu  trực tuyến. Ngày nay gửi thư, thiệp chúc mừng nhân dịp các ngày lễ, tết hoặc gửi văn bản, hợp đồng v.v… đều có thể thực hiện qua mạng internet.      Những kết quả này dựa trên báo cáo hàng năm về việc làm của  Career Cast và số liệu của Cơ quan thống kê lao động trực thuộc Bộ Lao động Hoa kỳ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người bảo vệ hạt giống cho tương lai      Những người làm vườn ở Anh đang cố gắng lưu trữ hạt giống cây trồng để thúc đẩy sự bền vững, khả năng phục hồi và tính đa dạng của hạt giống trên toàn cầu.      Người giám hộ hạt giống Beth Richardson đào đất trong lô khu vực phân bổ của cô ấy ở Stroud. Ảnh: theguardian  Đó là một ngày đẹp trời, se lạnh và phủ lớp sương đầu tiên của mùa, một dịp quan trọng đối với bất kỳ người làm vườn nào, và cũng là một dịp mà những người bảo vệ hạt giống thuộc Ngân hàng Hạt giống Cộng đồng Stroud không thể thờ ơ. Beth Richardson, một nữ hộ sinh học việc 27 tuổi, và là điều phối viên tại ngân hàng hạt giống, gặp tôi khi bên cạnh cô là một đống phân trộn lớn đang bốc hơi vì tiếp xúc với không khí lạnh. Đống phân bón này, một nguồn tài nguyên đầy giá trị của nhóm, thuộc về mảnh đất mà Breth được phân bổ để trồng trọt.   Trong các nhà kính và nhà kho sau vườn trên khắp các thị trấn, thành phố và làng mạc ở Vương quốc Anh, cộng đồng những người trồng trọt địa phương đang đào đất và gieo hạt để có được một hệ thống lương thực phong phú hơn, đa dạng hơn và bền vững hơn. Đó là một xu hướng quen thuộc trên khắp thế giới.   “Hạt giống rất quyền năng, rất quan trọng đối với sự sống, nhưng phạm vi và chủng loại hạt giống mà các công ty lớn cung cấp lại rất hạn hẹp”, Josie Cowgill, một trong 30 thành viên tích cực trồng và lưu giữ hạt giống thuộc ngân hàng hạt giống Stroud cho biết. “Theo thiển ý của chúng tôi, chúng tôi đang cố gắng có thể tăng đa dạng sinh học trong mỗi khu vực của mình hoặc trên mảnh đất trồng thực phẩm của Stroud.”  Ngân hàng Hạt giống Cộng đồng Stroud ở Gloucestershire là một trong hàng trăm sáng kiến trên khắp Vương quốc Anh nỗ lực lưu trữ hạt giống thông qua “hạt giống thụ phấn tự do”, nghĩa là – miễn không có sự thụ phấn chéo – sẽ tạo ra những cây trồng đúng chủng loại hằng năm. Thay vì bị bó buộc trong chu kỳ mua hạt giống mới mỗi mùa, họ có thể lưu trữ hạt giống để sử dụng trong tương lai. “Những gì chúng ta cần làm để chống lại cơ sở di truyền hạn hẹp đối với hạt giống, đó là càng nhiều người trồng càng nhiều loại hạt giống càng tốt”, Kate McEvoy thuộc Real Seeds, một nhà sản xuất quy mô nhỏ chuyên về thụ phấn tự do đối với cây trồng hữu cơ, chia sẻ.   Chúng ta có thể nghe thấy âm thanh từ khu vườn của Sally Oates trước khi tận mắt trông thấy nó. Tọa lạc trên những cánh đồng trống, mảnh đất nhỏ bé của cô dường như là một hòn đảo đơn độc với tiếng chim ríu rít. Oates cho biết khu vườn của cô, được bao quanh bởi những hàng rào xanh tươi, tự cung tự cấp phân trộn và hạt giống. “Tôi muốn khuyến khích những người làm vườn khác trong một địa phương tập hợp lại với nhau và hình thành cái gọi là vòng tròn hạt giống, và họ có thể trồng những hạt giống mà họ yêu thích. Khi họ có dư thừa hạt giống, họ có thể trao đổi chúng. Ngay cả khi chỉ có một vài người làm vườn phối hợp với nhau, họ vẫn có thể trao đổi khá nhiều loại hạt giống.”      Người giám hộ hạt giống Deirdre Pyzer lưu giữ một lọ đậu từ vụ mùa này. Ảnh: theguardian  Simon Allen, một người bảo vệ hạt giống khác của Stroud, cho biết thêm: “Điều này không cần kiến thức về di truyền học, bạn chỉ cần quan sát và chăm sóc.” Richardson giải thích rằng “sau vài năm, hạt giống thích nghi hơn với đất, khí hậu và điều kiện nơi mà nó được trồng, nếu chúng ta chọn lọc được mẫu hạt giống tốt. Về cơ bản, nó sẽ trở thành một loại cây trồng tốt hơn, vì qua nhiều năm, nó đã phát triển phù hợp với điều kiện ở đây.”   Người bảo vệ hạt giống Annie Page, người sở hữu nhiều nhà kính với cà chua đỏ tươi, mô tả khu vườn của mình hệt như một khu bảo tồn. Không khó để hiểu tại sao. Những hàng cải bắp và củ cải Thrupp kiêu hãnh vươn mình trong nắng mai chảy xuống thung lũng dốc.   “Một trong những giống cây mà tất cả chúng tôi đều trồng là củ cải Thrupp. Thrupp là một ngôi làng ngay bên cạnh Stroud. Nó phát triển thực sự tốt trong khu vực của chúng tôi. Nó đã thích nghi với đất trồng nơi đây nên sẽ có phần khác so với hạt củ cải ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Chúng tôi phát triển các hạt giống bằng cách lưu giữ chúng.”     Annie Page bên cạnh củ cải Thrupp ‘có phần khác biệt so với hạt củ cải ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới’. Ảnh: Alex Turner.    Mặc dù trên thế giới đã có nhiều biện pháp bảo vệ nhằm bảo tồn hạt giống, chẳng hạn như Kho hạt giống toàn cầu Svalbard và Ngân hàng Hạt giống Thiên niên kỷ tại Kew, sự tiến hóa liên tục và thích nghi của những hạt giống đã lưu giữ này có giá trị đáng kể đối với sự bền vững, khả năng phục hồi và tính đa dạng của hạt giống trên toàn cầu. Sinead Fortune, giám đốc chương trình của Chương trình Chủ quyền Hạt giống, nhận xét: “Nhờ đó, hạt giống vẫn đang sống và phát triển. Chúng vẫn là một thực thể sống thực sự, chứ không phải là một hạt giống tĩnh bên trong ngân hàng nào đó.” McEvoy cho biết thêm: “Bạn càng phát triển những hạt giống ở quy mô địa phương với nhiều người tham gia, thì nó càng có khả năng phục hồi. Bạn không chỉ có một hạt giống ‘chết’ duy nhất. Bạn có nhiều bản sao lưu.”  Một trong số ít những mặt tích cực của việc phong tỏa trong năm qua là nhu cầu về hạt giống tăng mạnh. Những người bảo vệ hạt giống hy vọng đây có thể là mầm xanh của cuộc cách mạng “tự trồng” nhằm đa dạng hóa cây trồng lấy hạt. McEvoy cho biết vào mùa xuân, không chỉ ngân hàng hạt giống Stroud mà “tất cả các công ty hạt giống vườn nhà về cơ bản đều phải tạm dừng website của họ. Tuy nhiên, họ vẫn có nhiều đặt hàng hơn so với thực tế trước khi phong tỏa.”   Fortune, người làm việc với nhiều nhà cung cấp quốc gia, tự hỏi liệu hạt giống có thể là một mặt hàng tương tự như cuộn giấy vệ sinh, và liệu mọi người có tích trữ nó để dùng dần trong đợt dịch hay không. Câu hỏi đặt ra là, liệu doanh số bán hàng có giảm đi hay không, nhưng “chúng vẫn liên tục tăng lên nhiều, cao hơn nhiều”, cô cho biết. “Điều này vô cùng hứa hẹn, vì nó có nghĩa là dường như đang có một sự thay đổi đang thực sự xảy ra.”  “Có những điều tuyệt vời đang diễn ra ở mỗi thành phố”, cô nói thêm. “Có những khu vườn cộng đồng và những khu vực trồng theo phân công. Nếu mọi người không có vườn hoặc không có đất, vẫn có những cách để họ tham gia. Tôi muốn thúc đẩy họ để xem điều gì có thể diễn ra.”     Josie Cowgill với một nắm đậu mà cô để dành nhằm phân chia cho cộng đồng địa phương. Ảnh: Alex Turner  Đối với những người bảo vệ hạt giống ở Stroud và trên khắp đất nước, họ vẫn lặng lẽ làm công việc cơ bản, là làm khô hạt trên gờ cửa sổ và trong tủ. Cowgill tổng kết lợi ích của việc lưu giữ hạt giống trong bối cảnh hiện tại: “Chúng ta đang sống trong một giai đoạn khó khăn. Chúng ta có đại dịch, chúng ta có biến đổi khí hậu, mất đa dạng sinh học, mất môi trường sống và khủng hoảng kinh tế. Dù công việc này chẳng có gì đáng kể so với những thứ đó, chỉ là giữ lại các hạt nhỏ như hạt đậu và trồng trọt chúng, nhưng tôi nghĩ nó là điều cốt yếu.”   “Bằng một cử chỉ nhỏ bé trong một nhóm nhỏ bé, ở một đất nước nhỏ bé nào đó, bạn đang hướng đến một điều gì đó mang lại hy vọng cho bạn. Đó là một bước đi tích cực. Tôi không nói đây là một cây đũa thần hay một phương thuốc chữa bệnh, nhưng đó là một bước đi đầy tích cực.”   Anh Thư dịch  Nguồn: Plotting the future: the ‘seed guardians’ bringing variety to UK gardens    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người hùng khám phá virus viêm gan C bị lãng quên      Một nhóm các nhà khoa học gắn bó mật thiết, cùng làm việc cật lực để xác định loại virus chết người gây viêm gan C. Vậy mà chỉ có một được giải Nobel.      Phát hiện năm 1989 về virus viêm gan C virus của George Kuo, Chu Quế Lâm và Michael Houghton (từ trái qua phải) là một chiến thắng của kỹ thuật mới và sự bền bỉ kiên trì của con người. Nguồn: protomag  Trong nhiều năm suốt thập niên 1980, nhà nghiên cứu virus Chu Quế Lâm (Qui-Lim Choo) ngày nào trong tuần cũng đều làm việc từ 8 giờ sáng đến 11 giờ đêm. Công việc lúc đó rất khó khăn, ông cùng hai đồng nghiệp đang truy lùng một loại virus chết người lây nhiễm trong máu mà không có chút tiến triển nào. Không có cách thức xét nghiệm virus nghĩa là mỗi ngày trôi qua lại có thêm nhiều người bị nhiễm. Và mỗi ngày như thế thì công ty mà ông Chu đang làm việc lại có thêm lý do để chấm dứt đề tài này, tức là ông cũng sẽ mất việc làm.  Với người cộng tác của Chu là Quách Kính Hoành (George Ching-Hung Kuo) thì đây cũng là khoảng thời gian của những buổi làm việc đến khuya cùng những lần lỗi hẹn ăn tối với gia đình. Ông Quách nhớ lại có lần xe hơi của ông bị hỏng trên cầu Vịnh San Francisco–Oakland khi ông đang lái xe về nhà lúc nửa đêm.  Nhưng cả hai đều nói rằng đó là một trong những thời điểm đẹp nhất của cuộc đời. Theo lời ông Chu, “Đó là thời gian khó khăn và rất nhiều việc, nhưng rất vui”. Cuối cùng công cuộc tìm kiếm đã thành công, và nhóm của họ đã xác định được virus gây viêm gan C (viết tắt tiếng Anh: HCV). Khám phá này đưa đến cách thức sàng lọc máu bị nhiễm, cùng một chế độ dùng thuốc chữa trị được cho hầu hết người bị nhiễm.  Ngày 5 tháng 10 năm nay, người quản lý của Chu trong đề tài năm đó, ông Michael Houghton, được một phần của giải Nobel sinh y nhờ công lao khám phá HCV. Giải thưởng còn được trao cho Charles Rice tại Đại học Rockefeller ở thành phố New York (Mỹ) và Harvey Alter, trước đây công tác tại Viện y tế quốc gia ở Bestheda (bang Maryland, Mỹ), nhưng không có tên Chu và Quách. Giải Nobel được xem là phần thưởng cao quý nhất trong khoa học. Nhưng đối với Hougton thì việc nhận giải này cũng như những giải thưởng danh giá khác đem đến những cảm xúc lẫn lộn. Ông cho biết “Nhận giải là một cảm giác ngọt ngào nhưng cũng có vị cay đắng vì họ không trực tiếp công nhận cả nhóm”.  Houghton từ lâu đã vận động để hai đồng nghiệp của mình cùng được ghi nhận công lao đối với HCV. Chia sẻ với phóng viên tại một buổi họp báo sau khi giải Nobel được công bố, Houghton nói “Nếu không có đóng góp của họ thì tôi không biết mình có thành công hay không”.    Một bức ảnh virus  Ctrên kính hiển vi điện tử quét truyền qua. Nguồn: Cavallini James/BSIP/SPL  “Đại học Chiron”  Houghton khởi đầu việc truy tìm virus này từ năm 1982 tại công ty công nghệ sinh học có tên gọi là Chiron ở Emeryvill, bang California (Mỹ). Công ty này được nhiều người gọi bằng biệt danh “Đại học Chiron” vì mức độ hàn lâm cao trong công việc cùng danh tiếng theo đuổi những đề tài khoa học mới mẻ nhất.  Vào thời điểm đó, mỗi ngày Hoa Kỳ có 160 người nhận truyền máu bị nhiễm HCV. Nếu không được chữa trị thì virus có thể gây tổn thương gan và dẫn đến ung thư gan. Ngày nay, tuy đã có các phương pháp sàng lọc máu và chữa trị nhưng Tổ chức Y tế thế giới ước tính vẫn có 71 triệu người trên thế giới bị nhiễm HCV.  Cho đến giữa thập niên 1970, các nhà nghiên cứu đã loại trừ hai virus gây tổn thương gan là virus viêm gan A và virus viêm gan B khỏi danh sách đối tượng nghi vấn gây ra kiểu nhiễm bí hiểm kia. Khi chưa xác định được cái gì nhiễm vào máu người nhận truyền máu, các nhà khoa học đành gọi loại bệnh truyền nhiễm qua máu này bằng cái tên “viêm gan phi A và phi B”.      Nhận giải là một cảm giác ngọt ngào nhưng cũng có vị cay đắng vì họ không trực tiếp công nhận cả nhóm” (Michael Houghton).      Lúc bấy giờ, công nghệ phản ứng chuỗi polymerase (PCR) có khả năng khuếch đại DNA dễ dàng vẫn còn chưa phổ biến. Giải trình tự một virus mới chỉ trong vài tuần kể từ lúc nó xuất hiện như ta đã làm với SARS-CoV-2 hồi đầu năm nay lúc đó là chuyện không tưởng. Houghton đã bắt đầu sàng lọc acid nucleic của virus bằng mẫu từ tinh tinh bị nhiễm và không bị nhiễm do Daniel Bradley tại Trung tâm kiểm soát & ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ ở Atlanta (bang Georgia) cung cấp.  Chu Quế Lâm tham gia phòng thí nghiệm của Houghton năm 1984 rồi cả hai trở thành bạn bè. Tìm kiếm đối tượng gây nhiễm là công việc vất vả, và trong suốt nhiều năm họ không tìm thấy gì. Là người điều hành phòng thí nghiệm, cứ mỗi 6 tuần, Houghton phải báo cáo tình hình cho ban quản trị Chiron. Một số thành viên ban quản trị nói rõ rằng họ cảm thấy dự án này đang lãng phí tiền của. Houhgton kể “Tôi thường xuyên bị doạ mất việc, nhưng lúc đó tôi nghĩ rằng còn có gì mà tôi có thể làm hay hơn thế này nữa?”.  Sàng lọc các trình tự  Ngay kề bên phòng thí nghiệm của Houghton là phòng thí nghiệm của Quách Kính Hoành. Quách đầu quân cho Chiron năm 1981 và đang thực hiện đề tài nghiên cứu một protein quan trọng trong y học gọi là yếu tố hoại tử khối u.  Sau nhiều năm tìm kiếm, Chu và Houghton đã sàng lọc hàng chục triệu trình tự di truyền mà vẫn không tìm ra dấu vết loại virus bí ẩn. Một hôm, nhìn thấy sự buồn bực của Chu, Quách mới đưa ra lời khuyên rằng nhóm nên thay đổi chiến thuật. Lượng virus chỉ đơn giản là quá thấp nên những kỹ thuật mà họ đang sử dụng không thể phát hiện được. Quách khuyên họ nên thu các mảnh RNA từ mẫu bị nhiễm, rồi đem biểu hiện trong vi khuẩn để khuếch đại số lượng. Nhóm nghiên cứu sau đó có thể sàng lọc những “thư viện” này bằng huyết thanh có kháng thể từ người bị nhiễm bệnh viêm gan phi A, phi B. Họ hy vọng rằng người bị nhiễm bệnh sẽ có kháng thể nhận biết được trình tự virus, từ đó cho phép những người làm nghiên cứu bắt được những trình tự tương ứng từ thư viện đã được tạo ra trước đó.  Daniel Bradley cũng từng đề xuất phương án này, nhưng nó nghe có vẻ mạo hiểm vì kháng thể đối với virus viêm gan phi A, phi B chưa từng được phân lập và do đó Houghton đã do dự. Nhưng vào năm 1986, Quách thuyết phục được Houghton làm thử, giúp thiết kế quy trình, và bắt tay cùng tham gia.  Nhóm ba người họ đã làm việc suốt ngày đêm. Houghton tạo ra các thư viện trình tự từ huyết thanh lấy của các bệnh nhân bị nhiễm. Ông dùng máy siêu ly tâm để thu DNA và RNA trong các cặn ly tâm sánh như keo dưới dáy ống nghiệm. Rồi một ngày, ông thấy hình như có gì sai sót vì “tôi thu được một mẫu tách chiết nhìn như dầu rất kỳ lạ”. Một người trợ lý nghiên cứu nói ông cứ vứt nó đi, nhưng ông vẫn quyết định dùng mẫu đó. Không lâu sau, Chu chạm tay đến mỏ vàng: trong thư viện trình tự làm từ cái mẫu trông như dầu của Houghton, ông tìm được một mẩu acid nucleic dường như có nguồn gốc từ virus đó.  Từ mẩu trình tự đó, cả nhóm đã lần ra được những đoạn trình tự liền kề trong bộ gen virus, và cuối cùng ráp chúng lại được với nhau. Quách lập tức dùng thông tin này để thiết kế một phương pháp xét nghiệm có khả năng sàng lọc máu bị nhiễm. Năm 1989, cả nhóm công bố hai bài báo trên tạp chí Science, một bài mô tả việc phân lập virus mà họ đặt tên là virus viêm gan C, còn một bài ghi lại quy trình sàng lọc.      “Động lực của tôi là ước mơ rằng tôi có thể tạo ra sự khác biệt khi giúp đỡ mọi người trên thế giới mà lắm lúc là cứu mạng họ; tôi cũng muốn dạy con mình rằng nỗ lực làm cái mà mình đam mê là quan trọng như thế nào” (Chu Quế Lâm).      Khám phá này trở thành một câu chuyện lớn, vậy mà khi Chu báo cáo kết quả ở những hội thảo khoa học, không ai biết ông là ai. Ông kể “Tôi nghe được mọi người thì thầm với nhau: thằng cha này là ai vậy?”. Ông nói rằng tất cả đều là thứ bậc trong phòng thí nghiệm: trong khi Houghton bận rộn giao dịch với bên ngoài trên tư cách người điều hành phòng thí nghiệm, thì Chu cặm cụi làm việc bên trong phòng thí nghiệm.  Cho đến lúc đó, xét nghiệm của Quách đã được triển khai. Cuối năm 1988, Chiêu Hoà thiên hoàng (Hirohito) của Nhật Bản là người đầu tiên được nhận máu đã qua sàng lọc bằng phương pháp của Quách. Nước Nhật cấp giấy phép để phương pháp này được sử dụng rộng rãi năm 1989, và Hoa Kỳ cũng tiếp bước vào năm 1990.  Việc khám phá ra virus viêm gan C cũng mở đường cho liệu pháp điều trị. Năm 2014, Cục quản lý thực phẩm & dược phẩm Hoa Kỳ đã phê chuẩn một chế độ dùng thuốc chữa bệnh được đến tận 90% bệnh nhân mắc bệnh này. Hiện nay, nhiều nhóm nghiên cứu đang bắt tay vào việc tìm vaccine.  Ít được công nhận    Michael Houghton,  Chu Quế Lâm và George Kuo (từ trái qua phải) trong những năm 1990. Nguồn: H. J. Alter & M. Houghton/Nature Med.  Từ đó đến nay, nhiều giải thưởng cao quý đã được trao cho những người đứng phía sau việc tìm ra virus viêm gan C. Nhiều giải đã được dành cho Michael Houghton, và ông đã thuyết phục một vài đơn vị trao giải cùng công nhận Chu Quế Lâm và Quách Kính Hoành. Năm 2013, Houghton đã làm một việc khác thường là từ chối giải thưởng Gairdner danh giá vốn đi kèm số tiền thưởng 100.000 dollar Canada (tương đương 75.000 dollar Mỹ). Trước đó Houghton đã hy vọng sẽ thuyết phục được Quỹ Gairdner cùng công nhận Chu và Quách khi họ đã công nhận Daniel Bradley và Harvey Alter. Khi quỹ này từ chối, Houghton cũng từ chối cả giải lẫn tiền thưởng.  Tuy nhiên, Houghton nói ông nhận giải Nobel vì không có hy vọng gì vào việc thay đổi quy luật lâu đời giới hạn số người nhận giải tối đa là 3. Houghton nói “Toàn bộ công cuộc khám phá này đã mất hay một chút khi dính đến chuyện giải thưởng”. Ông kể ra ngay hàng loạt tên tuổi các nhà khoa học đã đóng góp vào việc khám phá và sau đó tiếp tục nghiên cứu virus viêm gan C rồi nói “Tất cả những con người tài giỏi này đều xứng đáng được công nhận”.  Một trong những ứng cử viên của giải Nobel cho nghiên cứu virus viêm gan C theo một số người là Ralf Bartenschlager, nhà nghiên cứu virus tại Đại học Heidelberg ở Đức. Bartenschlager nói “Đây là một công việc hợp tác chung của rất nhiều, rất nhiều người trong lĩnh vực này”. Theo ông thì Quách, Chu, và Bradley có những đóng góp quan trọng, cũng như những nhà nghiên cứu khác, nhưng cách chia giải của Ủy ban giải thưởng Nobel cũng có lý: công việc của Harvey Alter cho thấy bệnh viêm gan phi A, phi B bí hiểm kia có thể lây truyền từ máu của người nhiễm sang cho tinh tinh; nhóm của Michael Houghton xác định loại virus; còn Charles Rice và cộng sự của mình chứng minh chỉ cần một mình virus viêm gan C là đủ gây ra bệnh viêm gan.  Bartenschlager nói “Đây lúc nào cũng là một thử thách”. Các uỷ ban giải thưởng Nobel không bình luận công khai lý do họ chọn cá nhân nào đó để trao giải.  Khi tin tức về giải Nobel được loan báo, Quách nói ông có chút cảm giác thất vọng. Ông nói “Giới hạn số lượng người nhận giải có lẽ đã là lạc hậu trong thế giới khoa học dựa trên hợp tác và làm việc theo nhóm ngày nay”. Nhưng ông cũng nói thêm rằng giải thưởng chưa bao giờ là mục tiêu công việc. Ông nói “Động lực của tôi là ước mơ rằng tôi có thể tạo ra sự khác biệt khi giúp đỡ mọi người trên thế giới mà lắm lúc là cứu mạng họ; tôi cũng muốn dạy con mình rằng nỗ lực làm cái mà mình đam mê là quan trọng như thế nào”.  Còn Chu đã bật khóc khi được hỏi ông cảm thấy thế nào khi giải Nobel được công bố. Ông nói “Tôi hạnh phúc, rất hạnh phúc”. Việc một số giải thưởng không có tên ông không hề làm giảm phần nào nhận thức rằng công việc của ông đã giúp cứu mạng rất nhiều người và định hình cả một thế hệ các nhà virus học và lâm sàng học. Chu nói “Đó là đứa con của tôi, tôi vô cùng tự hào; làm sao mà tôi không tự hào cho được?”.  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn:  Heidi Ledford (2020) Nature 586:485 https://doi.org/10.1038/d41586-020-02932-y  Ghi chú:  – Michael Houghton sinh ra ở Anh, lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Luân Đôn (Anh). Chu Quế Lâm (Qui-Lim Choo) sinh ra ở Singapore, lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Luân Đôn (Anh). Quách Kính Hoành (George Ching-Hung Kuo) sinh ra ở Đài Loan, lấy bằng tiến sĩ tại Trường y Albert Einstein (New York, Mỹ). Cả ba người cùng làm việc tại Công ty Chiron, sau đó Houghton chuyển đến Đại học Alberta (Canada) làm giáo sư virus học cho đến nay. Ngoài virus viêm gan C, Houghton và Chu còn tìm ra bộ gen virus viêm gan D.  – Hai bài báo gốc trên Science năm 1989 của Houghton, Chu và Quách: https://doi.org/10.1126/science.2496467 và https://doi.org/10.1126/science.2523562.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người Israel khởi nghiệp đi chinh phục New York      “Chúng ta đang tăng cường phát triển tiến trình [đổi mới sáng tạo], để những người sáng tạo trẻ tuổi cũng có thể tham gia”      Đây là lời phát biểu hôm 8/3 tại một buổi tiệc ở Tel Aviv, từ Ron Huldai, vị thị trưởng đáng kính của Tel Aviv trong suốt 15 năm qua, người được coi là một động lực lớn đằng sau nhiều sáng kiến giúp Tel Aviv trở thành một trung tâm công nghệ quốc tế, như xây dựng một thư viện mở đóng vai trò là trung tâm của các nhà đầu tư, nơi cung cấp Wifi miễn phí cho những người làm việc tự do. Bữa tiệc tại Tel Aviv mà Huldai tham dự cũng nhằm động viên và tôn vinh một số doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel, hiện đã và đang chinh phục một thị trường mới: thành phố New York. Có thể điểm qua sáu gương mặt tiêu biểu trong số các doanh nghiệp có mặt tại sự kiện này:  1. GetTaxi  GetTaxi muốn làm một cuộc cách mạng, thay đổi hoàn toàn cung cách người New York đi lại, thông qua dịch vụ “G-Car”, khẳng định từ Jing Wang Herman, giám đốc đại diện tại Mỹ của doanh nghiệp. Thay vì đứng ngoài đường và cố gắng vẫy taxi, ứng dụng của GetTaxi sẽ cho phép bạn gọi xe đến vị trí của mình trong vòng giây lát.  Sau khi gọi G-Car, bạn sẽ được thông báo khi nào xe đã đến, và tiền cước sẽ được tính chính xác dựa trên khoảng cách tới điểm đến, thay vì được báo trên đồng hồ trong xe. Dịch vụ này kết nối trực tiếp tới thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân hàng của bạn, nên bạn chẳng cần phải mang theo tiền mặt, hoặc phải quẹt thẻ tín dụng trong xe.   Ý tưởng thành lập GetTaxi bắt nguồn từ hai Shahar Waiser, vào mùa hè năm 2009, sau một lần anh phải chờ tới 30 phút mới có taxi tới đón đi sân bay ở Palo Alto. Sau khi triển khai ý tưởng thành sản phẩm và thử nghiệm từ năm 2010 ở Tel Aviv, đến nay GetTaxi đã mở rộng dịch vụ sang Jerusalem, London, Moscow, và St. Petersburg. Tính tới tháng 6 năm 2012, công ty đã thu hút được nguồn vốn lên tới 30 triệu USD, bao gồm 9 triệu USD từ Quỹ Access Industries của tỷ phú người Anh Len Blavatnik nhằm chinh phục New York và các khu vực khác ở Mỹ.  Hiện nay GetTaxi được sử dụng bởi 1000 tài xế taxi ở Tel Aviv, và hơn 4500 tài xế taxi ở Moscow và London, cung cấp tổng cộng 10.000 chuyến xe mỗi ngày.  2. LoyalBlocks  “Chuyện phải check-in đã xưa rồi”, khẳng định từ phó chủ tịch Ido Mart của LoyalBlocks, khi đề cập tới những ứng dụng kiểu như Foursquare. Với LoyalBlocks, điện thoại di động của bạn sẽ tự động đăng ký mỗi khi bạn bước vào một cửa hàng hay quán ăn thành viên, Mart nói, cung cấp một “trải nghiệm về sự được phục vụ đến nơi đến chốn” trên điện thoại của bạn, với những gói giảm giá, khuyến mãi, và các loại phần thưởng.   LoyalBlocks khởi động chương trình thử nghiệm ở New York từ đầu năm 2012 và nhanh chóng vươn tới hàng trăm cửa hàng trên toàn thành phố. Cách thức vận hành khá đơn giản: LoyalBlocks cung cấp cho các doanh nghiệp một chiếc điện thoại thông minh dùng nền tảng Android, và chiếc điện thoại này sẽ gửi thông tin tới những người tiêu dùng ngay sau khi họ tải về phần mềm miễn phí của LoyalBlocks. Khách hàng sẽ ngay lập tức được thấy những gói giảm giá mua hàng hiện trên điện thoại của mình, và được thưởng điểm tích lũy mỗi khi họ dừng chân tại các cửa hàng liên kết với LoyalBlocks.  Với cách thức như vậy, khách hàng sẽ tiếp tục quay lại cửa hàng, thậm chí mang theo bạn bè của họ. LoyalBlocks hiện đang được sử dụng bởi những chuỗi cửa hàng như McDonald’s, Cold Stone Creamery, và những chuỗi thương hiệu nhỏ hơn, như Nanoosh, nơi phục vụ các loại thực phẩm Địa Trung Hải. Mart cho biết LoyalBlocks đặt mục tiêu nhắm tới cả những cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ hơn.  3. Wix  Wix là một công cụ đơn giản trên máy tính cho phép người sử dụng dễ dàng xây dựng các trang web mà không cần một chút kỹ năng lập trình nào, theo lời Sandy Selinger, Giám đốc Marketing thị trường Mỹ của công ty. Người sử dụng có thể sử dụng công cụ của Wix để xây dựng các trang web đơn giản mà không hề mất tiền. Wix chỉ thu một khoản phí nhỏ trên các sản phẩm có chức năng phức tạp hơn, ví dụ các trang web phục vụ thương mại điện tử (khoản phí cao nhất mà khách hàng phải trả là 19,9 USD).  Wix được thành lập năm 2006 bởi Avishai Abrahami, Nadav Abrahami và Giora Kaplan. Công ty có trụ sở ở Tel Aviv, nhưng đến nay đã có văn phòng ở San Francisco, New York, và Dnepropetrovsk, được sự đầu tư của các công ty Insight Venture Partners, Mangrove Capital Partners, Bessemer Venture Partners, và Benchmark Capital.   Tại các văn phòng của mình ở New York, Wix cung cấp không gian làm việc miễn phí cho các nhà đầu tư và các công ty khởi nghiệp. Họ cũng mở các lớp học ở đây; mục tiêu của công ty là giúp nuôi dưỡng một cộng đồng các công ty khởi nghiệp trên mạng, Selinger nói. Wix được thành lập từ năm 2008.   4. Pango  Pango, ứng dụng cho phép trả tiền chỗ đậu xe bằng điện thoại di động, đã “làm thay đổi cơ bản cách thức đậu xe ở Tel Aviv”, nhận định từ Neil Edwards, chủ tịch văn phòng đại diện tại Mỹ của công ty, người được giao nhiệm vụ đưa Pango đến với nước Mỹ. Pango có hai chức năng: một là cho phép bạn dùng điện thoại thông minh để thực hiện đậu xe theo giờ tại các bãi đậu xe. Đồng thời còn cho phép bạn gọi người đưa xe ra trước khi bạn đến bãi đậu xe, nhằm đảm bảo rằng xe của bạn đã chờ sẵn ngay khi bạn đến nơi.  Chức năng thứ hai giúp các lái xe đậu xe trên đường phố một cách thuận tiện hơn, cho phép người sử dụng đăng ký chỗ đỗ và trả tiền mà không cần phải thanh toán tại cọc đồng hồ nơi đậu xe. Một điểm rất tiện dụng của chức năng này, Edwards nói, là nó thông báo tới người sử dụng khi thời gian đậu xe sắp hết, nhằm giúp họ kịp thời trở về lấy xe, hoặc dễ dàng trả tiền để được tăng thời gian đậu xe.   Người sử dụng Pango đơn giản chỉ cần cài đặt phần mềm, cung cấp số biển đăng ký xe, thông tin thẻ tín dụng, sau đó có thể thoải mái sử dụng dịch vụ đậu xe ở những nơi có mối liên kết với Pango mà không cần mang theo tiền mặt hay thẻ tín dụng, không cần phải xếp hàng hoặc thanh toán tại máy tính tiền, mức phí đậu xe dùng dịch vụ Pango không hề cao hơn mức phí đậu xe thông thường, và hóa đơn được in thẳng từ trang web của Pango.   Ngoài Israel, công nghệ Pango hiện đã được đăng ký bản quyền tại Mỹ, Trung Quốc, Hongkong. Edwards cho biết Pango hiện đang có mặt tại 47 thành phố trên toàn thế giới và được sử dụng bởi 1 triệu khách hàng. Dịch vụ này đã được mở tại New York liên kết với Hệ thống Đậu xe Imperial (tên một chuỗi các bãi đậu xe), và đang thử nghiệm hệ thống thanh toán đậu xe trên đường phố ở Latrobe, bang Pennsylvania.  5. ADagoo  ADagoo cung cấp nội dung và phân tích thống kê từ số liệu của các trang mạng xã hội, như Twitter, Digg, Delicious, hay LinkedIn, theo lời CEO Amit Mashiah. “Chúng tôi thu thập dữ liệu từ hồ sơ của công chúng, phân tích các chỉ số cơ bản”, và chỉ ra những thông tin quan trọng giúp phân biệt các nhóm người sử dụng khác nhau, Mashiah lý giải. Các nhà quảng cáo và các cơ quan chức năng sau đó có thể dùng những dữ liệu này để điều hành các chiến dịch quảng bá và đánh giá hiệu quả chi phí dành cho quảng cáo.   Trước khi thành lập ADagoo, Mashiah làm việc với nhà tổ chức quảng cáo McCann Erickson; nơi đã truyền cảm hứng để anh đứng ra thành lập ADagoo năm 2010. Khác với những sản phẩm cùng loại khá phức tạp và khó sử dụng, sản phẩm của ADagoo đem lại cho người dùng cảm giác dễ dàng sử dụng như mình đang chơi một video game.   6. Mobli  Mobli là một mạng xã hội cho những người dùng điện thoại di động, đang có kỳ vọng đánh bại các đối thủ nổi tiếng khác bằng cách cho phép người sử dụng dễ dàng chia sẻ, tìm kiếm các nội dung ảnh theo chủ để và địa điểm. Công cụ này hoạt động được cả trên điện thoại dùng nền tảng iOS lẫn Android, giúp một diện rộng hơn những người sử dụng có thể xem ảnh và video được tải lên.   Công ty được sáng lập từ năm 2010 bởi Moshiko Hogeg, Yossi Shemesh and Emmanuel Merali. Sản phẩm của họ được mở màn từ cuối năm 2011, đến nay có khoảng 5 triệu người sử dụng. “Chúng tôi muốn nó trở thành một giao diện cho phép người sử dụng có thể làm được mọi thứ”, khẳng định từ Yaron Talpaz, Phó Chủ tịch Phát triển Kinh doanh của công ty.   Một điểm nhấn của Mobli là sự quan tâm đầu tư của những người nổi tiếng. Diễn viên Mỹ Leonardo DiCaprio đã đầu tư tới 4 triệu USD vào công ty trong năm 2011, qua đó thu hút thêm nhiều người nổi tiếng khác, như ngôi sao quần vợt Selena Willams.  Mục tiêu ưu tiên của công ty, theo khẳng định từ CEO Hogeg hồi tháng 5 năm 2012, là tăng lượng người sử dụng từ 3 triệu lên 10 triệu, trước khi tính đến chuyện thu lợi nhuận. Tới tháng 9 năm 2012, Mobli được giới đầu tư định giá trong khoảng từ 100 triệu USD tới 300 triệu USD.   Thanh Xuân tổng hợp và lược dịch theo:  http://www.foxbusiness.com/business-leaders/2013/03/12/6-israeli-startups-hoping-for-bite-big-apple/  http://www.nydailynews.com/new-york/startup-loyalblocks-helps-small-businesses-zap-deals-rewards-customers-smartphones-article-1.1154135#ixzz2PNsMzlgZ  http://techcrunch.com/2012/06/20/mobile-parking-service-pango-makes-official-u-s-debut-with-new-app-smart-garage-in-nyc/  http://en.wikipedia.org/wiki/GetTaxi  http://en.wikipedia.org/wiki/Wix.com  http://en.wikipedia.org/wiki/Mobli    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người tiên phong      Một số ít các nhà đầu tư vào công nghệ thông  tin với tuổi đời từ cuối 20 tới đầu 30, đã thành công nhờ khai thác  được xu hướng xuất hiện ngày càng đông đảo những khách hàng ưa dùng  internet và điện thoại di động, đặc biệt là các thanh thiếu niên.     Khi Lê Hồng Minh quyết định từ bỏ một sự nghiệp sáng sủa trong lĩnh vực tài chính vào năm 2005 để theo đuổi niềm đam mê dành cho trò chơi trên máy tính, anh vẫn chưa thực sự định hình điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Vị doanh nhân 35 tuổi này từng du học ngành kinh doanh và tài chính tại Đại học Monash của Úc, sau đó làm việc 4 năm ở công ty kiểm toán PwC, và VinaCapital, một công ty quản lý quỹ lấy trọng tâm là thị trường Việt Nam. Nhưng sau khi thành lập Vinagame, một công ty trò chơi online, anh phải bắt đầu một quá trình mày mò vừa làm vừa rút kinh nghiệm. “Tôi thích rủi ro”, anh vừa nói vừa ngả người vào chiếc ghế sofa trong văn phòng thiết kế không tường ngăn kiểu Silicon Valley nằm ở ngoại vi TP. Hồ Chí Minh, một trung tâm thương mại của Việt Nam. “Chúng tôi đơn giản chỉ nói ‘hãy thử bắt tay làm cái này’, và không nghĩ tới những hậu quả”.    Bảy năm sau, những rủi ro bắt đầu đem lại thành công cho doanh nghiệp. Thành lập Vinagame trong bối cảnh hầu như không có doanh nghiệp online nào khác ở Việt Nam, và gần như không ai có kinh nghiệm về lập trình trò chơi ở Việt Nam, anh đã khai thác xu hướng bùng nổ của internet để xây dựng công ty.  Những trò chơi trên internet với sự tham gia của nhiều người chơi, như Võ Lâm Truyền Kỳ, được cấp môn bài từ một công ty phần mềm Trung Quốc, đã cho thấy sức cuốn hút đối với các thiếu niên Việt Nam. Với thành công này công ty tiếp tục lấn sân sang các lĩnh vực mạng xã hội, trang web cung cấp tin tức và âm nhạc, đồng thời đổi tên thành Tập đoàn VNG.  Lạc quan nhưng thận trọng khi nói về công ty của mình, Minh cho biết doanh thu của VNG sẽ vượt 100 triệu USD trong năm nay, tức là chiếm khoảng một nửa thị phần internet ở Việt Nam. Công ty cũng đã thu hút sự đầu tư từ Goldman Sachs.           Ngày nay điện  thoại thông minh và máy tính  bảng iPad đã trở nên phổ biến trên các  đường phố náo nhiệt ở Hà Nội và  TP. Hồ Chí Minh, chẳng kém gì London  hay New York.        Việt Nam là một nước có nền giáo dục kém phát triển, Nhà nước kiểm soát chặt về truyền thông, các giá trị Nho giáo hướng các lựa chọn của đa số mọi người nương tựa vào kinh nghiệm và sự thận trọng hơn là cổ vũ cho những nỗ lực [mạo hiểm] của tuổi trẻ. Các sản phẩm của Việt Nam được thế giới bên ngoài biết đến chủ yếu vẫn là gạo và giày dép, thay vì phần mềm hay các dịch vụ từ internet. Nhưng trong bối cảnh như vậy, Minh là một trong số ít các nhà đầu tư vào công nghệ thông tin với tuổi đời từ cuối 20 tới đầu 30, những người đã tận dụng được thời cơ khi xuất hiện một lực lượng đông đảo giới trẻ ưa dùng các sản phẩm công nghệ.  Mới chỉ 10 năm trước, ở Việt Nam chưa có nhiều người sở hữu điện thoại di động và máy tính cá nhân. Nhưng ngày nay điện thoại thông minh và máy tính bảng iPad đã trở nên phổ biến trên các đường phố náo nhiệt ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, chẳng kém gì London hay New York.  Tuy nhiên, dù có nhiều tiềm năng nhưng các công ty tiên phong trong lĩnh vực mới mẻ này của Việt Nam phải vượt qua một số trở ngại. Trong đó đáng kể đầu tiên là hệ thống giáo dục rất kém phát triển, vì vậy nhiều người đam mê công nghệ thông tin phải tự học, tự đào tạo.   Khi còn là một học sinh cấp ba, Nguyễn Hòa Bình từng phải dành dụm tiền ăn sáng để mua sách dạy lập trình. Năm ngoái, Bình vừa bán 20% cổ phần ở PeaceSoft – một công ty mua bán hàng trên mạng – do anh sở hữu, cho Ebay.             Hồ Minh Đức, Socbay: “Chúng tôi muốn tự   phát triển công nghệ Việt Nam của mình   để đáp ứng nhu cầu của người Việt”          Hồ Minh Đức, người xây dựng công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt đầu tiên cùng bốn người bạn khác, tất cả cùng từng học một trường phổ thông và cùng tốt nghiệp công nghệ thông tin từ một trường đại học, cho biết rằng anh và các bạn của mình đều “tự học nhiều hơn là học từ các thày, những người chủ yếu chỉ dạy lý thuyết”.   Công ty Socbay của anh có trụ sở ở một ngôi nhà nhỏ bình thường, trên một con phố ngoại vi đông đúc ở Hà Nội. Đức cho biết những người sáng lập công ty đã tạo ra một công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt tốt hơn sản phẩm của các đối thủ quốc tế, phù hợp hơn với văn hóa và ngôn ngữ của người Việt.  Năm 2006, Google từng đến đặt vấn đề, Đức nói, và ngã giá mua lại công ty với mức giá 5 triệu USD, bên cạnh việc chia sẻ các cơ hội cùng mức lương tháng 8000 USD. “Nếu chúng tôi gia nhập Google, chúng tôi có thể đã học hỏi được từ họ rất nhiều”, Đức nhận định. Tuy nhiên, họ từ chối với lý do là “mức giá quá rẻ và chúng tôi muốn tự phát triển công nghệ Việt Nam của mình để đáp ứng nhu cầu của người Việt”.    Nhưng trước khi họ đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, họ cũng phải đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của một chính phủ luôn đề cao kiểm soát.     “Ở Việt Nam, để kinh doanh phải có quan hệ [tốt với Nhà nước]”, nhận xét từ Phùng Tiến Công, một nhà đầu tư internet 32 tuổi, người sáng lập các trang web kết bạn và âm nhạc. Gần đây hơn, anh được mời làm phó tổng giám đốc Tập đoàn MV, một công ty chuyên phát triển các ứng dụng trên điện thoại di động.  Nhà nước luôn có sự cảnh giác với ảnh hưởng từ internet tới giới trẻ. Ngoài việc đặt ra quy định kiểm soát chặt chẽ đối với nội dung online và các nhà cung cấp dịch vụ, Nhà nước cũng thường xuyên kiểm tra các trò chơi online, đồng thời một số trang web phổ biến như Facebook vẫn có lúc bị chặn.           “Các  quy định  pháp lý như hiện nay khiến các  công ty nước ngoài được lợi  thế lớn, và  có lẽ tương là bất công cho các  công ty trong nước”        Tuy thanh niên Việt Nam không mấy để ý tới sự kiểm soát từ Nhà nước, nhưng các công ty truyền thông như VNG luôn nằm trong sự giám sát chặt chẽ. Lý do vì công ty này đã thu hút tới 18 triệu người sử dụng tham gia vào các trang web cung cấp trò chơi, mạng xã hội, âm nhạc, và tin tức – tức là khoảng 60% số người thường xuyên dùng internet ở Việt Nam. “Chúng tôi phải giữ quan hệ và liên lạc tốt với Nhà nước”, Minh cho biết. “Ở một chừng mực nhất định, đây là một ngành công nghiệp nhạy cảm. Chúng tôi phải đảm bảo mọi người hiểu rõ về mình”.  Một số nhà đầu tư cho biết họ cảm thấy phần nào chịu sức ép vì phải tự kiểm duyệt, và cũng e ngại là có lúc nào đó bị đóng cửa. Quy định bắt buộc phải có phần vốn nhà nước khiến các nhà đầu tư công nghệ [thông tin truyền thông] thấy bị thiệt thòi so với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài, nhận xét từ Henry Nguyễn, nhà đầu tư của IDG Ventures Vietnma, một công ty cổ phần có trụ sở ở thành phố Hồ Chí Minh từng đầu tư vào VNG và Socbay. “Các quy định pháp lý như hiện nay khiến các công ty nước ngoài được lợi thế lớn, và có lẽ là không công bằng cho các công ty trong nước”.   Các nhà đầu tư trong nước cũng lo ngại về tốc độ của sự thay đổi. “Công nghệ thay đổi rất nhanh, và các công ty trong nước gặp bất lợi lớn trong khi nguồn lực rất có hạn”, Minh nhận định. “Chúng tôi không có đủ nhân lực, kinh nghiệm, và các hệ thống các kết nối (ecosystem) cần thiết xung quanh để giúp cho tăng trưởng và phát triển”.            Những công ty như VNG cần đổi mới, nhưng họ không được tiếp cận với một nguồn dồi dào những nhân lực trình độ cao.        Những công ty như VNG cần đổi mới, nhưng họ không được tiếp cận với một nguồn dồi dào những nhân lực trình độ cao. Một số nhân viên của họ đi dép thể thao mầu hồng, tóc để đuôi gà sành điệu, nhưng không ai có thời gian chơi bóng bàn, hay nằm thoải mái trên ghế nệm để suy nghĩ về các dự án lớn.  Thay vào đó, như Minh nói, “chúng tôi bận tối mắt tối mũi”.  Phùng Tiến Công, vị tân phó tổng giám đốc của MV, người muốn truyền tinh thần đầu tư mạo hiểm vào công ty mới của mình, cho rằng điều quan trọng là nuôi dưỡng một tinh thần chấp nhận thất bại trong khi thử nghiệm các ý tưởng mới.  “Thông điệp cơ bản từ khi tôi về công ty mới là chúng ta sẽ tạo ra số sai lầm nhiều gấp đôi so với trước đây, nhưng chúng ta cũng sẽ làm việc chăm chỉ gấp đôi”, anh nói. “Nhân viên của tôi được phép phạm sai lầm, miễn là không lặp lại chúng”.  Lược dịch từ http://www.ft.com/intl/cms/s/0/44b8d1a4-6dd7-11e1-b9c7-00144feab49a.html?ftcamp=published_links/rss/world_asia-pacific/feed//product)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người tiên phong đưa công nghệ vào nông nghiệp      Đưa KHCN vào sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp là yếu tố bắt buộc để mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Và thực tế cho thấy đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiên phong đi vào con đường này.      Chịu chơi đầu tư vào công nghệ    Nếu như Vinamit đã quá quen thuộc với người dùng với việc áp dụng công nghệ tạo ra các sản phẩm trái cây sấy khô, và sây dẻo thì có thể công ty TNHH TMDV XNK Bé Dũng của doanh nhân Đỗ Văn Dũng với sản phẩm thanh long sấy dẻo lại là một trường hợp mới với nhiều thông tin thú vị.  Bước tay vào trồng thanh long ngay khi loại trái cây này xuất hiện tại Bình Thuận từ năm 1992, ông Dũng trải qua nhiều cung bậc thăng trầm với những vụ mùa được mất. Nhìn lại, ông thấy thị trường thanh long ngày càng khó khăn, năm sau lợi nhuận ít hơn năm trước. Điều đó buột ông phải tìm một hướng đi mới để nâng cao giá trị cho trái thanh long, đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường để tìm lối đi mới.  May mắn đến công ty Bé Dũng khi vào tháng 9 – 2014 ông Dũng tình cờ gặp một kỹ sư Việt kiều từ Đức về nước giới thiệu công nghệ sấy dẻo trái cây. Bắt gặp được điều mình tâm đắc, ông chủ thanh long quyết định dành số tiền tích lũy cộng với tiền vay từ thế chấp nhà cửa, tổng cộng 20 tỷ đồng để nhập khẩu công nghệ về sản xuất.  Cuối năm 2014, dây chuyền máy móc thiết bị về đến công ty và những khó khăn mới xuất hiện.  Ông Dũng cùng nhân viên thử hết mẻ này đến mẻ khác, các sản phẩm không đạt yêu cầu, hư rồi bỏ, hỏng rồi vứt. Và đến khi thử nghiệm gần 20 tấn thanh long, sản phẩm đầu tiên làm vừa lòng ông Dũng mới xuất hiện.  Hiện với sản lượng 200 kg thanh long sấy khô mỗi ngày, sản phẩm đã được Bé Dũng xuất đi nhiều nước.  Với 1,6 tấn thanh long tươi đầu vào, cho ra 100 kg thanh long sấy dẻo, đóng được 2.000 gói sản phẩm với khối lượng 50 gam/gói, giá bán 30.000 đồng/gói, tương ứng tổng doanh thu sẽ là 60 triệu đồng. Hay nói đơn giản, một kí thanh long sấy dẻo sẽ có mức giá là 600.000 đồng. Tuy không nói rõ tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhưng qua mức giá này ta thấy giá trị gia tăng mà công nghệ mang lại cho sản phẩm rất đáng kể.   Ông có nghĩ rằng mình quá mạo hiểm không? Một phóng viên đặt câu hỏi cho ông Dũng trong hội thảo “3C: lời giải pháp cho nông nghiệp Việt thời hội nhập” được tổ chức gần đây.  “Tôi nghĩ đây là con đường duy nhất để phát triển. Mình dám làm thì dám chịu. Tuy có mạo hiểm nhưng không thể không đi. Với tôi, làm ra sản phẩm ưng ý là đã thành công 50%.” Ông Dũng chia sẻ.  Mang giá trị mới cho sản phẩm nông nghiệp  Đến đây, có lẽ bạn đọc sẽ đặt câu hỏi với 200 kg sản phẩm mỗi ngày, sản lượng nhỏ như vậy thì làm sao phát triển?  Đây cũng chính là khó khăn mà Bé Dũng gặp phải. Tuy vậy, may mắn doanh nghiệp này đã có đối tác đi kèm. Và người này không ai khác chính là kỹ sư người Đức mà ông Đỗ Văn Dũng gặp vào tháng 9-2014.  Nặng lòng với quê hương, người kỹ sư Võ Phát Triển quyết định từ Đức về Đồng Tháp đầu tư 200 tỷ để làm trái cây sấy dẻo nhằm mở lối đi mới cho nông sản Việt Nam, đem lại giá trị gia tăng và nâng cao thu nhập người dân.  Đi nhiều hiểu nhiều, ông Triển rất hiểu giá trị của trái cây quê hương. Và theo ông chia sẻ, trái cây Việt Nam có giá trị vô cùng lớn, ví dụ như xoài Cát Chu của chúng ta được đánh giá rất cao so với xoài khu vực Nam Mỹ.  Hiện nhà máy ông có đa dạng các loại sản phẩm, từ “cầu đủ xài” (mãng cầu, đu đủ và xoài) cho đến các loại trái cây khác, thậm chí bao gồm cả ớt.  “Thị trường rộng lắm. Có doanh nghiệp đặt tôi mỗi tháng 3 container loại 40 feet xoài sấy dẻo nhưng tôi đành từ chối vì mình không cung cấp đủ sản lượng”, ông Triển chia sẻ.  Cũng tại hội thảo nêu trên, ngành nông nghiệp chế biến Việt Nam xuất hiện thêm một doanh nghiệp cũ mà mới đến từ Đồng Tháp là Cỏ May Essential.  Sở dĩ nói là cũ vì đây là một doanh nghiệp khá quen thuộc trong lĩnh vực thức ăn gia súc nhưng nói là mới vì những hướng đi thú vị của doanh nghiệp này.  Với quan niệm làm nông nghiệp, hoặc là làm mới, hoặc là làm khác đi, doanh nhân trẻ Phạm Minh Thiện – Giám đốc Điều hành Cỏ May đã mạnh dạn đưa khoa học công nghệ vào làm mới các sản phẩm nông nghiệp của quê hương.   Và một trong rất nhiều sản phẩm của Cỏ May là nấm rơm. Với gần như tất cả người dân Việt Nam, nấm rơm là một món ăn truyền thống, đầu tiên xuất hiện trong tự nhiên, rồi được người dân chủ động trồng nhưng giá trị vẫn chưa cao và thường quanh quẩn các chợ truyền thống với giá vài chục nghìn một ký. Lý do rất đơn giản: sản phẩm bảo quản không được tốt, yếu tố an toàn chưa được đảm bảo.  Vậy nếu bảo quản tốt hơn, an toàn hơn và đóng gói đẹp hơn thì bài toán nấm rơm đã được giải. Với góc nhìn như vậy, anh Thiện đã làm mới sản phẩm nấm rơm truyền thống thành một sản phẩm cao cấp định vị cho mình những khách hàng trung lưu trở lên với giá bán 160.000 đồng/kg.  “Điều thú vị là mặc dù giá đắt như vậy nhưng nhiều người sẵn lòng mua mà không quan tâm nhiều đến giá. Điều đó cho thấy nhu cầu về sản phẩm nông sản chất lượng của người Việt rất cao. Và đó là một tin vui.” Anh Thiện phát biểu.  Một tin khác, đáng chờ đợi hơn đó là câu chuyện anh Thiện đang cố gắng đưa nấm rơm cao cấp của anh vào chuỗi nhà hàng của Sài Gon Tourist và Việt Nam Airline.  Nếu việc đàm phán vụ này thành công, Cỏ May sẽ có đầu ra ổn định và dần chuyển giao công nghệ để nông dân sản xuất cho chúng tôi, ông Thiện nói về mong ước giúp cho những người nông dân quê ông có thêm thu nhập.  Chia sẻ về nền nông nghiệp quê ông, mà rộng ra là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, ông Thiện nhìn nhận “Sự trù phú của Đồng bằng sông Cửu Long hứa hẹn cho chúng ta một nền nông nghiệp sáng lạn, đặc biệt là nông nghiệp sạch và xanh kết hợp với ứng dụng những kỹ thuật tiến bộ của phương Tây.”  Hiểu rõ giá trị gia tăng mà công nghệ mang lại cho các sản phẩm nông nghiệp, hiện Cỏ May đầu tư khoảng 9 tỷ đồng để nhập khẩu công nghệ thiết bị chiết suất bằng CO2 siêu tới hạn chỉ để phục vụ nghiên cứu.  Với ông, đây là một bước đi mạo hiểm nhưng sự dấn thân là điều cần thiết.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người ve chai, đồng nát – một hệ sinh thái “âm thầm”      Những người làm công việc “ve chai”, “đồng nát” đang ở tuyến đầu trong việc thu hồi những vật liệu có thể tái chế, tái sử dụng nhưng vai trò của họ thường bị đánh giá thấp.          Ve chai ở Việt Nam chủ yếu là phụ nữ đi xe đạp thu gom rác tái chế để bán | Ảnh: UNDP         Rác thải sinh hoạt ở Việt Nam không được phân loại từ nguồn, nghĩa là những chất thải có thể tái chế bị lẫn với chất thải hữu cơ và những chất gây ô nhiễm khác. Thông thường, rác được để ở thùng rác bên đường hoặc trước cửa hộ gia đình và cơ sở kinh doanh để thu gom đến bãi rác chỉ định.     Những người thu gom tái chế trong khu vực phi chính thức (thường gọi là “đồng nát”, “ve chai”) đang ở tuyến đầu trong việc thu hồi những vật liệu có thể bán được như bìa cứng, giấy, kim loại, chai nhựa. Họ nhặt rác từ những đống rác vô chủ hoặc mua lại từ nhà dân, cửa hiệu và siêu thị. Sau khi thu đầy xe đạp hoặc xe thồ, những người này mang đến các cơ sở thu mua phế liệu nằm rải rác trong thành phố để bán. Rác tái chế tiếp tục được phân loại, tập hợp và bán cho các đại lý lớn hơn, sau đó chuyển về các làng nghề hoặc doanh nghiệp tái chế.     Trên thực tế, khu vực phi chính thức đóng góp đáng kể trong việc tái chế và tái sử dụng chất thải ở Việt Nam nhưng họ thường bị đánh giá thấp. Có khá ít bằng chứng cụ thể về những đóng góp của họ trong bức tranh tái chế xử lý rác thải chung của quốc gia. Ước tính gần nhất nằm trong Báo cáo Môi trường Quốc gia công bố năm 2011 chỉ ra rằng tỷ lệ tái chế chất thải rắn đô thị vào khoảng 8-12% và chủ yếu được thực hiện bởi khu vực phi chính thức tại các làng nghề.     Những đóng góp không thể xem thường     Mới đây, phòng Thí nghiệm Tăng tốc của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc UNDP Accelerator Lab (gọi tắt là AccLab) đã thực hiện một khảo sát thí điểm nhằm đánh giá vai trò của khu vực tái chế phi chính thức ở Đà Nẵng.     Anh Nguyễn Tuấn Lương, cán bộ đổi mới sáng tạo của AccLab, chia sẻ: “Chúng tôi quyết định tự xây dựng bộ số liệu theo cách khoa học để có thể hiểu về cách thức vận hành và những đặc điểm nổi bật của khu vực này. Điều đó sẽ rất hữu ích trong việc đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho thành phố.”         Trực quan hóa khu vực hoạt động của những người đồng nát, các điểm thu mua phế liệu và các điểm nóng rác thải bằng phương pháp ArcGIS | Ảnh: UNDP         Lấy cảm hứng từ nghiên cứu khám phá hệ thống rác thải phi chính thức ở Brazil thông qua dữ liệu GPS của phòng thí nghiệm MIT Sense­able Cities Lab, nhóm khảo sát đã tiến hành vẽ các bản đồ hoạt động địa lý của những người đồng nát ve chai, cơ sở thu mua phế liệu và những điểm nóng về rác thải để cung cấp dữ liệu liên quan đến hành vi, thói quen, đặc điểm kinh tế xã hội và nhân khẩu học của các thành phần này trong chuỗi giá trị rác thải.     Không gian thí nghiệm gồm 2 quận Hòa Vang (quận nông thôn) và Ngũ Hành Sơn (quận thành thị). Họ đã tiến hành khảo sát 40 người ve chai hoạt động ở khu vực này, theo 9 dõi tuyến đường đi của họ qua GPS và lập ra 39 bản đồ vùng phủ.     Kết quả ước tính cho thấy có khoảng 1.000-1.800 người ve chai ở Đà Nẵng, với khả năng bao phủ được hơn 80% diện tích địa lý cần thu gom và đóng góp đáng kể từ 4,31 – 7,49% khối lượng rác thu gom so với tổng lượng rác đưa đến bãi chôn lấp mỗi ngày.     Kết hợp với việc khảo sát 221 địa điểm, bao gồm 165 bãi thải và 56 cơ sở, đại lý thu mua phế liệu tại các quận này, họ ước tính rằng lực lượng phi chính thức – cả những người ve chai và cơ sở tập trung – có thể nâng mức thu hồi lên mức 7,5-9% trong tổng lượng rác vào khoảng 1.100 tấn được đưa đến bãi chôn lấp của thành phố mỗi ngày.     Trong kế hoạch của mình, Đà Nẵng đặt mục tiêu đạt tỷ lệ tái chế rác 15% vào năm 2025. Từ ước tính sơ bộ này, nhóm nghiên cứu thấy rằng khu vực rác thải phi chính thức đã và đang đóng góp đáng kể vào mục tiêu chung này, nhưng không phải lúc nào cũng được ghi nhận trong các chính sách hiện hành. Nếu được đưa vào, khu vực này sẽ có tác động lớn đến việc quản lý chất thải ở đô thị.     Chân dung điển hình     Bên cạnh số liệu định lượng, khảo sát của AccLab cũng xây dựng hồ sơ chân dung điển hình của những người làm việc thu gom tái chế trong khu vực phi chính thức.     Phần lớn trong số những người này là phụ nữ. Họ thường đến từ nhiều bối cảnh, đảm nhận công việc thu gom đồng nát do tính chất tự do của công việc cho phép họ có thêm thu nhập bổ sung trong khi vẫn làm những nghề khác. Một số đi lại trên đường để thu nhặt rác thải, một số làm công ở cửa hàng đồ cũ buôn bán vật liệu tái chế có giá trị, và những người khác mở cơ sở, đại lý thu gom như một phần trong chuỗi cung ứng rác thải. Trung bình họ kiếm được từ 100.000 – 200.000 đồng/ngày.     Mặc dù cùng lĩnh vực, nhưng không phải tất cả những người ve chai và cơ sở đều hoạt động theo một cách đồng nhất. Mỗi nơi có hình thức tiếp cận của riêng mình, tùy theo độ tuổi, khả năng, công suất và nhu cầu. Trong khi một số người chỉ thu gom ở những đầu mối quen sẵn có, thậm chí là những địa điểm chất thải có giá trị cao như công trường xây dựng, bãi chôn lấp, thì có những người chuyên di chuyển quanh đường phố để thu gom rác từ hộ gia đình và hộ kinh doanh.     Họ có liên kết cùng với nhau? Thực sự, mạng lưới địa chỉ liên lạc chính là nguồn công việc then chốt cho bất kỳ người đồng nát nào. Như bà Hiền, một người nông dân từng đi thu gom đồng nát trên đường và giờ đã mở cơ sở tái chế, nói: “Khi gom đủ mối làm ăn, tôi tự mở đại lý thu gom của riêng mình”. Vì thu nhặt rác không phải là công việc ai cũng mong muốn nên những người đồng nát chỉ mở cơ sở kinh doanh khi được người liên lạc đáng tin cậy chỉ cách.     Trong quá trình đi thu gom nhiều năm trên đường phố, mỗi người đồng nát đều cần phát triển đầu mối liên hệ chính để giảm nhẹ vất vả thời gian công sức. Mặt khác, ở nông thôn có quá ít nguồn thải, những người đồng nát và cơ sở thu gom phải cạnh tranh trực tiếp với nhau để mua đồ tái chế từ các hộ gia đình và doanh nghiệp địa phương.     Những lao động phi chính thức này thường thu gom phân loại rác thô sơ bằng tay, không được trang bị các vật dụng bảo hộ hoặc được hưởng chế độ bảo hiểm y tế. Các cơ sở thu gom, tái chế thường hoạt động trong điều kiện kém an toàn và ô nhiễm. Do vậy, nhân lực trong khu vực này luôn phải đối mặt với những rủi ro sức khỏe.       Trong đại dịch COVID-19, mặc dù Việt Nam đã nhanh chóng đưa ra gói cứu trợ xã hội giúp những nhân viên bị ảnh hưởng có thể nhận trợ cấp khoảng 1 triệu đồng/tháng trong thời gian ba tháng, tuy nhiên không phải ai cũng có thể tiếp cận. Những người ve chai, đồng nát nằm ngoài lưới an toàn đã phải tự vật lộn để đối phó.     Phần lớn đối tượng này cho biết họ “bị ảnh hưởng nghiêm trọng” về thu nhập kinh tế, do nhiều hoạt động kinh doanh bị chậm lại hoặc dừng hoàn toàn vì cách ly, làm giảm đáng kể lượng phế liệu được mua bán. Không thể lang thang khắp thành phố tìm kiếm rác, nhiều người đã đi mất nguồn thu nhập chính, phải trở về quê hoặc cố gắng bám trụ bằng công việc khác. Họ cho biết họ “cảm thấy bị bỏ rơi và không được hỗ trợ” bởi các chính sách phúc lợi xã hội trong thời gian COVID-19.     Mặc dù thời kỳ đại dịch có những mối lo nhất định về lây nhiễm bệnh tật, nhưng những người đồng nát không coi đó là vấn đề nghiêm trọng vì rác thải y tế như khẩu trang dùng một lần thường được người dân để lẫn vào các thùng rác hữu cơ mà họ không động tới.       Hợp thức hóa khu vực phi chính thức     Không chỉ không nằm trong lưới an sinh của xã hội, những người lao động trong khu vực phi chính thức này cũng thường phải đối mặt với định kiến thân phân hoặc tẩy chay do bị kỳ thị khi làm việc với chất thải.     “Tôi không thích khi trên TV mỗi khi nhắc đến những người đồng nát ve chai, họ luôn bị miêu tả là người có hoàn cảnh éo le, bần hàn. Trên thực tế, họ chỉ là những người bình thường làm công việc bình thường của mình” – bà Hiền chia sẻ. “Nếu thấy một cái lon hoặc vỏ chai trên đường phố, tôi sẽ phải nhìn trái nhìn phải, chỉ khi không có ai xung quanh mới nhặt lên. Bằng không sẽ có người hỏi tôi sao làm việc này và tôi không muốn bị hỏi như vậy.”     “Tôi biết một người ve chai cụt một chân. Thay vì đi ăn xin thì ông ấy đạp xe suốt từ Hóa Sơn lên đây để thu gom phế liệu. Tôi cảm nhận được sức nặng khi chiếc xe đó đầy ắp, thực sự là một người đáng nể”, bà Hiền nói thêm.       Có thể nói ở các đô thị tại Việt Nam, mạng lưới đồng nát và cơ sở tái chế không chỉ giúp giải quyết vấn đề rác thải mà còn có ý nghĩa nhân văn tạo công ăn việc làm cho không ít người từ nông thôn ra thành phố khi không còn ruộng để trồng cấy. Rác thải có thể trở thành tài nguyên nếu được thu gom, phân loại một cách hiệu quả và xử lý bằng công nghệ phù hợp. Trên thực tế, mạng lưới những người thu gom phế liệu phi chính thức đang làm rất tốt việc này.             “Tôi từng là một công nhân xây dựng khi một ngày lao động có giá 21.000 đồng, bây giờ là 300.000 đồng/ngày. Nhưng tôi không thể làm công việc đó nữa và trở thành người buôn bán đồng nát từ 3 năm trước. Ai cũng có công việc của mình, phải có người làm việc này việc kia chứ,” cô Đào, một người thu gom phế thải được hỏi trong khảo sát. | Ảnh: UNDP             “Nếu có thể gắn kết khu vực phi chính thức vào hệ thống của chính quyền thì chúng ta không chỉ thúc đẩy được việc quản lý tái chế tốt hơn, mà thậm chí còn hướng tới thay đổi hành vi của người dân, hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh về việc phân loại rác từ nguồn và đối xử với những người làm việc với rác”, anh Nguyễn Tuấn Lương nói. Nó cũng là chìa khóa để lực lượng này không phải hoạt động lén lút trong điều kiện kém an toàn cho chính họ và cho cộng đồng.     Có những ví dụ tuyệt vời trên khắp thế giới về cách người lao động phi chính thức được tích hợp như một tài sản cho chính quyền thành phố. Chẳng hạn, tại São Paulo (Brazil), nơi người thu gom của công ty môi trường đã phủ được 90% thị phần thu gom rác tái chế dân cư, chính quyền thành phố đã quyết định trả tiền cho những người ve chai làm nốt 10% còn lại thông qua các hợp đồng mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất; đồng thời coi họ như những nhân công chính thức được hưởng các chế độ của người lao động (bảo hiểm, tập huấn, khám sức khỏe định lỳ, cung cấp công cụ lao động…).     Một số mô hình khác cũng được gợi ý. Từ đầu những năm 1990, những người nhặt rác (catadores) ở Brazil đã tập hợp lại hình thành một hiệp hội mang tên ASMARE để chuyên vận động hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống nhà kho thu gom rác tái chế và ký kết hợp đồng với chính quyền thành phố về tái chế thu gom rác thải.     Ngay tại Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cũng đang xây dựng các chính sách môi trường, trong đó tích hợp sự tham gia của những người thu gom rác dân lập vào các tổ chức, công ty môi trường sẵn có, với dự kiến lộ trình hoàn thành trong quý IV/2020. Dự án ban đầu về người thu gom rác dân lập được thí điểm từ năm 2019, ước tính có thể thu hút được 350 tấn rác thải nhựa mỗi ngày và cải thiện 20-25% thu nhập cho gần 2.800 người tham gia.     Để hiểu thêm về những người thu gom rác phi chính thức ở Đà Nẵng, liên hệ nguyen.tuan.luong@undp.org  _________________________________     Nguồn: KHPT/https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/nhung-nguoi-ve-chai-dong-natmot-he-sinh-thai-am-tham/202009280537876p1c785.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nông dân nuôi gà toàn cầu      Ông Nguyễn Minh Kha không từ chối ngỏ ý thăm trại gà, mà chỉ giải thích: nguyên tắc quản lý trại gà của Nhật là không cho người ngoài vào, vì liên quan đến an toàn dịch bệnh…      Tại trại cung cấp gà thịt cho Koyu & Unitek chế biến xuất sang Nhật Bản.  Với lý do như vậy, ông Kha hẹn chúng tôi tại một quán cà phê trên đường Phan Xích Long, quận Phú Nhuận, để giới thiệu trại gà nuôi theo quy trình toàn cầu, địa điểm ở tận dưới huyện Tân Phú, Đồng Nai.  Cùng thua hoặc thắng  Nhấp một ngụm cà phê, lấy tay quẹt đi quẹt lại trên màn hình chiếc điện thoại iPhone7, hình ảnh 20 trại gà hiện lên rõ rệt qua hệ thống camera giám sát. Ông Kha giới thiệu chi tiết thời gian biểu nhập gà giống tháng 2/2018. Kiểu nuôi gà được lên kế hoạch trước cả tháng, nhập số liệu hàng ngày lên máy tính, điện thoại; gắn camera cả khu trại để có thể ngồi đâu cũng bao quát được… là cách tiếp cận hoàn toàn mới của những nông dân như ông Kha. Không chỉ tự lĩnh hội cách quản lý chăn nuôi hiện đại, ông Kha còn trở thành mắt xích trong chuỗi liên kết tạo ra sản phẩm gà sạch, chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu… Chuỗi này, bao gồm người chăn nuôi bỏ vốn đầu tư trang trại và đối tác còn lại cung cấp con giống, thức ăn và lo đầu ra. Cách liên kết này, giúp ông Kha cùng với vài nông dân khác sở hữu trại gà 720.000 con được cấp phép xuất khẩu vào Nhật Bản. Lô hàng đầu tiên, được công ty Koyu & Unitek (đối tác trong chuỗi liên kết lo con giống, cám, đầu ra) xuất vào thị trường Nhật cuối tháng 8 năm ngoái.  Theo ông Hiếu Nhơn Khứu, tổng giám đốc công ty Koyu & Unitek, trong chuỗi liên kết này, các công ty nước ngoài chuyển giao kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến của thế giới cho nông dân. Họ, cũng cam kết hỗ trợ tiềm lực và quan trọng nhất, giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm bằng cách xuất khẩu ra nước ngoài. Yếu tố quyết định thành công trong chuỗi là các mắt xích phải cùng nhìn về một hướng, cùng mục tiêu cung cấp cho người dùng sản phẩm sạch, truy xuất được nguồn gốc. Ngoài ra, muốn sản xuất ổn định, các bên cần xác định lợi nhuận vừa phải, và biết chia sẻ khó khăn khi có rủi ro xảy ra.  “Chúng tôi ngồi lại, cùng nhau tính toán đưa ra mức giá đầu vào hợp lý. Sau nhiều tháng hoạt động, đến nay công ty cung cấp con giống, công ty cung cấp thức ăn, công ty giết mổ, chế biến, xuất khẩu và các chủ trại đều hài lòng với mức lợi nhuận đang lãnh”, ông Khứu khẳng định.  Còn ông Nguyễn Minh Kha cho rằng, vì các mắt xích liên đới lẫn nhau nên ai cũng phải cố gắng làm cho tốt, nếu một ai đó làm sai, làm chưa tốt sẽ ảnh hưởng đến cả chuỗi. Nhớ tới yếu tố này, ông Kha kể: tháng 8 năm ngoái, cách thời điểm bắt lô gà đầu tiên xuất khẩu sang Nhật, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn các trại uống kháng sinh lần cuối phòng bệnh. Sau đó, đàn gà được ngừa kháng sinh đủ thời gian ít nhất 14 – 15 ngày, trước khi khai thác thịt được lấy mẫu test đi test lại nhiều lần, nhưng tất cả những người trong chuỗi vẫn phải trải qua mười ngày mất ăn mất ngủ, hồi hộp chờ đợi kết quả Nhật kiểm tra sản phẩm lần cuối tại cảng. Theo ông Kha, sở dĩ các bên phải nín thở chờ đợi, vì Nhật là thị trường khó tính bậc nhất về quản lý chất lượng. Nếu rủi ro họ phát hiện mẫu gà có kháng sinh, họ trả hàng về, xuất khẩu ngưng lại sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch của tất cả các bên.  “Kế hoạch sản xuất chuỗi khá ưu việt, từ thả, bắt gà, số lứa nuôi trong năm… đều lên kế hoạch trước. Tuy mới tham gia chuỗi, nhưng chúng tôi đã tăng từ 4 lên 5 lứa gà/năm (tăng 20% sản lượng và 20% lợi nhuận)” – Nguyễn Minh Kha  Vào chuỗi, muốn làm sai cũng khó  Ngoài chuỗi liên kết xuất khẩu gà đi Nhật, ngành chăn nuôi gà, còn có thêm liên kết khác, gồm công ty De Heus, Bel Ga làm đầu tàu. Đây là hai doanh nghiệp nước ngoài có bề dày kinh nghiệm chăn nuôi của Hà Lan và Bỉ, cùng với nông dân quản lý 150 trang trại, cung cấp khoảng 30.000 con gà thịt ra thị trường mỗi ngày. Hiện chuỗi này đang áp dụng quy trình chăn nuôi GlobalGAP, mục tiêu hướng đến xuất khẩu ra thế giới.  Nuôi gà Global GAP hay áp dụng các tiêu chuẩn của Nhật, đều đòi hỏi quy trình quản lý nghiêm ngặt, tạo ra sản phẩm chất lượng, sạch, an toàn. Như cách nghĩ của ông Nguyễn Văn Ngọc, một trong số nhiều nông dân nuôi gà (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) trong chuỗi liên kết của De Heus, nuôi gà chuẩn toàn cầu là không thay đổi, không sáng tạo, không chậm trễ. Tất cả các khâu thành tiêu chuẩn cố định, muốn thêm, bớt hay sáng tạo cũng không được. Từ khi tham gia chuỗi, ông Ngọc phải tốn thêm 40 – 50% chi phí đầu tư, thiết kế, thay đổi lại toàn bộ trại gà, từ việc phải xây thêm nhiều hạng mục chuồng trại, đào tạo nhân viên, phương tiện, dụng cụ thu gom sản phẩm từ trại về nhà máy giết mổ.  Khi còn nuôi gà theo kiểu “độc lập”, những nông dân như ông Ngọc, ông Kha thường làm theo phong trào, học lỏm lẫn nhau, hay vừa làm vừa suy nghĩ, chứ không áp dụng theo bất cứ tiêu chuẩn nào. Người nhiều tiền làm trại lớn, ít tiền làm trại nhỏ. Trang trại không được quản lý chặt chẽ, người ra vào thoải mái, dễ phát sinh dịch bệnh. Ngay cả các phương tiện vận chuyển, như xe chở gà giống, gà thịt cũng chỉ có một xe quay vòng và hầu như không rửa, không vệ sinh sau mỗi lần sử dụng. Nay, mọi thứ thay đổi, nuôi gà chuẩn GlobalGAP hay xuất đi Nhật Bản yêu cầu phải sử dụng xe chở gà giống riêng, chở gà thịt riêng, chở cám riêng, ngay cả đến cái lồng bắt gà cũng được yêu cầu sau mỗi lần sử dụng phải rửa nước lạnh, trụng nước nóng, khử trùng.  “Các khu nuôi gà của tui không cho người ngoài vào. Công nhân ở trại nào chỉ được ở khu đó, đến giờ ăn có người đem cơm tới tận nơi cho ăn, muốn ra ngoài phải được chấp thuận và khi trở lại trại họ phải có ba bốn ngày cách ly ở khu an toàn”, ông Kha nói. Theo ông Kha, 20 trại gà nuôi theo chuẩn của Nhật đang áp dụng hơn 200 tiêu chí, ngang với số tiêu chí của GlobalGAP. Tiêu chí nào cũng tỉ mỉ, cũng chi tiết, cần áp dụng đồng bộ. Quy trình nuôi gà phải liên tục cập nhật, ghi chép trên phần mềm quản lý, để cho tất cả mọi người liên quan trong chuỗi đều có thể cập nhật, biết để góp ý.  “Trang trại thiết kế, sử dụng công nghệ của Đức. Nước uống, thức ăn được rót vào các silo ở đầu trại, chuyển tự động đến từng con gà. Chỉ cần hai công nhân quản lý một trại. Công việc của họ là kiểm tra lượng đầu vào, kiểm tra sức khoẻ con gà, sau đó thu thập, phân tích, đánh giá hiệu quả trong ngày, cũng như các biến động bất thường của khu trại để điều chỉnh. Toàn bộ thông tin được cập nhật vào hệ thống phần mềm, hệ thống này được chuyển về điện thoại của tôi và công ty để họ biết tình hình, lập kế hoạch…”, ông Kha cho biết.  Cách nuôi gà này được coi là khá hiện đại, nhưng theo ông Nguyễn Văn Ngọc, so với công nghệ của thế giới, mới chỉ đạt 50% tự động, 50% còn lại vẫn phải vận hành bằng… con người. Cách nay không lâu, ông kể có lần tham quan một trang trại nuôi gà ở Hà Lan. Trại gà 250.000 con, nhưng chỉ có hai vợ chồng nông dân quản lý, tất cả đều tự động. “Họ quản lý trại gà hoàn toàn trên phần mềm, thiết bị tự động. Còn chúng tôi vẫn sử dụng nhân công ở nhiều khâu, như bắt gà thủ công chứ không dùng máy…”, ông Ngọc so sánh. Tuy nhiên, với cách vận hành trại gà bán tự động đang áp dụng, ông Ngọc cho rằng số lượng công nhân quản lý mỗi trại đã giảm từ ba người xuống còn một người. Nay, công việc của họ chỉ đi thăm trại, vệ sinh trại, chứ không làm công việc bốc vác, đổ cám cho gà ăn nữa, vì đã có xe chở cám từ nhà máy xuống trại trút vào hệ thống silo. Cám, nước vận chuyển vào hệ thống ăn tự động.  “Trước 2015, khu trại có thường xuyên 100 công nhân, nay còn 40 công nhân quản lý làm 34 trại, còn nếu làm công nghệ cao, làm trại mới theo chuẩn Hà Lan, châu Âu chỉ cần mười người”, ông Ngọc khẳng định.  “Trước đây chúng tôi nuôi gà tự phát thường gặp rủi ro rất lớn nên lớp nông dân này bỏ lại có lớp kia lên. Làm năm bảy năm, thua lỗ hết tiền thì bỏ đi chứ không có ai gắn bó với nghề chăn nuôi được hai ba đời như ở nước ngoài, đội ngũ quản lý của công ty De Heus là đời thứ tư, Emivest cũng là thứ tư, thứ năm; nhiều trang trại ở châu Âu cũng duy trì lâu đời. Chỉ có làm theo chuỗi, các bên hỗ trợ qua lại, cùng hướng đến mục tiêu thì mới bền được. Ngoài ra, tới đây nhân công không rẻ nữa nên phải chuyển đổi nhanh sang chăn nuôi công nghệ, tự động hoá”  – Nguyễn Văn Ngọc  bài, ảnh Hoàng Bảy  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nữ bác sĩ thời Trung cổ      Việc phụ nữ hành nghề y trở nên đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh người dân lúc bấy giờ ngày càng e ngại ma thuật. Các tài liệu cho thấy dù không được đến trường, nhưng những nữ y sĩ đã học nghề từ cha, anh trai, hoặc chồng của họ.    Trường y khoa ở Salerno xuất hiện trong bức tiểu hoạ của tập The Canon of Medicine (bộ bách khoa toàn thư về y học gồm 5 cuốn do bác sĩ kiêm triết gia người Ba Tư Avicenna biên soạn và hoàn thành vào năm 1025). Bức ảnh mô tả giai thoại về Robert, Công tước xứ Normandy. Bị trọng thương bởi một mũi tên, chàng đã được cứu nhờ lòng dũng cảm của vợ mình, người đã hút hết chất độc theo hướng dẫn của các bác sĩ ở Salerno. Ảnh: Wikipedia  Vào thời Trung cổ, những người phụ nữ am hiểu về thế giới tự nhiên một cách kỳ lạ thường bị quy là phù thủy. Trên thực tế, nhiều người bị quy là phù thủy đã bị sát hại ở châu Âu từ thế kỷ XV trở đi là những bà đỡ và thầy thuốc. Khi tìm hiểu về cuộc sống của những người này trước khi họ bị quy tội, các nhà nghiên cứu đã gặp phải một số trở ngại. Họ chỉ tìm thấy những mẩu thông tin rời rạc từ các văn bản tiểu sử, kinh tế, pháp lý và hành chính. Đôi khi tất cả những gì còn lại là một cái tên hoặc họ, chẳng hạn như trường hợp của những người phụ nữ được liệt kê trong Ars Medicina of Florence (một chuyên luận y tế) hay trường hợp của nữ tu chuyên bào chế thuốc Giovanna Ginori, tên bà được tìm thấy trong hồ sơ thuế của hiệu thuốc nơi bà làm việc vào những năm 1560.  Dù không có được nhiều thông tin, nhưng điều đó cũng hé lộ cho ta thấy một hệ thống thể chế do nam giới thống trị đã đẩy phụ nữ ra khỏi con đường hành nghề và nghiên cứu y học như thế nào.  Schola Salernitana  Để bắt đầu, hãy đến với câu chuyện về trường y khoa nổi tiếng một thời, toạ lạc ở Salerno (Ý) vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10. Schola Salernitana là một cơ sở y khoa đào tạo nhiều người phụ nữ tài giỏi, bao gồm cả bác sĩ phụ khoa và bác sĩ phẫu thuật tiên phong thường được gọi là Trota (hoặc Trotula) (thế kỷ 13), bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ chuyên khoa mắt như Costanza Calenda (thế kỷ 15), bác sĩ Abella di Castellomata (thế kỷ 14), hay Rebecca Guarna (thế kỷ 14). Thông tin về những người phụ nữ này khá ít ỏi, các nhà nghiên cứu hiện vẫn đang xoay sở để tách thông tin thực khỏi những câu chuyện mang tính huyền thoại. Tuy nhiên, những người phụ nữ được nhắc đến trên đây là những người được ghi chép lại rõ ràng hơn. Bên cạnh những tên tuổi trên, cũng hoạt động trong thời Trung cổ, vào thế kỷ 11, nhóm mulieres salernitae (nhóm các nữ bác sĩ Salerno) đã để lại dấu ấn không thể xoá nhoà.  Khác với các bác sĩ nữ trong trường, nhóm mulieres hành nghề đa phần dựa trên kinh nghiệm, sau đó gửi các phương pháp điều trị của họ cho các bác sĩ của trường, những người sẽ quyết định có chấp nhận chúng hay không. Có thể tìm thấy bằng chứng về điều này trong sách hướng dẫn Practica Brevis do Giovanni Plateario viết và trong các bài viết của Bernard de Gordon. Nằm ở phía Nam của Napoli, Salerno là một thành phố nơi các học giả Cơ đốc giáo, Do Thái và Hồi giáo quây quần với nhau, biến ngôi trường thành một điểm đặc biệt để các học giả gặp gỡ và chia sẻ quan điểm khoa học.  Phụ nữ bị buộc tội hành nghề y bất hợp pháp  Tuy nhiên, cần lưu ý rằng từ năm 1220 trở đi, không thể hành nghề y nếu không có bằng tốt nghiệp của Đại học Paris hoặc sự chấp thuận của các bác sĩ trong trường. Điều này đã đẩy các bác sĩ nữ ra bên lề. Nếu không tuân thủ, nữ bác sĩ sẽ bị đuổi ra khỏi ngành – đó chính xác là những gì đã xảy ra với một nữ bác sĩ tên là Jacqueline Felice de Almania. Theo tài liệu năm 1322 do Đại học Paris xuất bản, bà ấy đã điều trị cho bệnh nhân mà không có bất kỳ kiến ​​thức “thực sự” nào về y học (nghĩa là không được học đại học). Bà bị đuổi ra khỏi ngành và phải trả một khoản tiền phạt đáng kể. Tài liệu mô tả các cuộc chẩn đoán y tế do Jacqueline thực hiện, lưu ý cách bà ấy phân tích nước tiểu, bắt mạch cho bệnh nhân, thăm dò tay chân của họ và điều trị cho bệnh nhân nam. Đây là một trong những bằng chứng hiếm hoi đề cập đến việc các bác sĩ nữ cũng điều trị cho nam giới.  Phiên tòa xét xử bác sĩ trẻ diễn ra vào thời điểm những người hành nghề y không có bằng đại học đang bị lên án mạnh mẽ. Trước bà, Clarice xứ Rouen cũng bị cấm chữa bệnh cho nam giới, sau đó là các nữ chuyên gia y tế cũng hầu toà vào năm 1322.  Vào năm 1330, một số thầy đạo ở Paris cũng bị buộc tội hành nghề y bất hợp pháp, cùng với những “thầy lang” khác giả mạo làm chuyên gia – theo chính quyền. Tất cả đều bị coi là lừa đảo, ngay cả khi họ đã thực hiện thành công ca mổ. Năm 1325, Giáo hoàng John XXII đã nhận được lời thỉnh cầu từ các giáo sư của Đại học Paris sau vụ Clarice. Lập tức, ông đã viết thư cho Giám mục Stephen ở Paris để ra lệnh cấm phụ nữ không có kiến ​​thức y khoa và các nữ hộ sinh ở Paris lẫn các vùng lân cận hành nghề y, cảnh báo rằng những phụ nữ này thực tế đang hành nghề phù thủy.  Một nữ bác sĩ, có thể là một Trotula ở Salerno, đang cầm bình đựng nước tiểu. Ảnh: Wikimedia  Các lệnh cấm phụ nữ hành nghề y dần dần tạo ra một tiêu chuẩn học thuật chính thức trong lĩnh vực này. Nó đánh dấu sự khởi đầu của một quá trình kiểm tra cẩn thận của các cơ quan giảng dạy và các hiệp hội, khiến các nữ y sĩ bị gạt ra xa hơn nữa.  Tuy nhiên, điều này không thể xóa sạch hoàn toàn sự hiện diện của phụ nữ trong lĩnh vực này, vì có thể tìm thấy một vài cái tên trong hồ sơ của Ý. Những người này bao gồm Monna Neccia, được đề cập trong sổ đăng ký thuế Estimo năm 1359 và Monna Iacopa, người đã điều trị cho các nạn nhân bệnh dịch hạch năm 1374. Cả hai đều đến từ Florence, họp là hai trong số mười phụ nữ đã đăng ký thành viên trong hội bác sĩ của thành phố, Arte dei Medici e degli Speziali, từ năm 1320 đến 1444. Trong hồ sơ từ Siena, Tuscany, các nhà khoa học nhận thấy có đề cập đến việc thành phố đã trả thù lao cho các dịch vụ mà Agnese và Mita cung cấp vào năm 1390.  Việc phụ nữ hành nghề y trở nên đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh người dân ngày càng e ngại ma thuật. Các tài liệu cho thấy dù không được đến trường, nhưng những nữ y sĩ đã học nghề từ cha, anh trai, hoặc chồng của họ.  Xuất hiện trong văn học  Các nguồn tài liệu phi chính thống, chẳng hạn như các văn bản văn học, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu này. Ví dụ, Giovanni Boccaccio đã đề cập đến một nữ bác sĩ trong tác phẩm Mười ngày (Decameron). Người kể chuyện, Dioneo, kể lại câu chuyện về nàng Gillette xứ Narbonne, một thầy thuốc tài năng đã được phép hứa hôn với Bertrand de Roussillon yêu dấu của cô như một phần thưởng vì đã chữa khỏi bệnh cho vị vua nước Pháp. Khi Boccaccio mô tả đặc điểm của Gillette, rõ ràng ông nhận thức được sự thiếu tin tưởng của quốc vương đối với cô ấy, cả với tư cách là một phụ nữ và một “thiếu nữ”. Trong cuộc trò chuyện với nhà vua, cô ấy nói:  “Thưa quốc vương, xin đừng khinh thường tay nghề và kinh nghiệm của thần vì thần còn trẻ và hãy còn là một thiếu nữ, […] nhờ sự giúp đỡ nhân từ của Chúa, và những bài học quý giá mà thần đã học được từ Gerard xứ Narbonne, người cha kính yêu của thần, lúc sinh thời vốn là một thầy thuốc danh tiếng”.  Boccaccio mô tả nữ chuyên gia y tế này bằng những từ ngữ chân thật và tự nhiên. Điều này có lẽ là do, trái ngược với quan niệm hiện nay, ông đang đề cập đến một tình huống khá phổ biến mà độc giả lúc bấy giờ đều sẽ nhận ra. Những lời của Gillette cho thấy một thực tế đối với những phụ nữ hành nghề y vào thời điểm đó: cô ấy đã học được nghề từ cha mình .  Ngoài ra còn có rất nhiều thông tin về các nữ y sĩ Do Thái hoạt động chủ yếu ở miền nam nước Ý và Sicily, những người đã học nghề y từ gia đình của họ.  Đại học Paris đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình bình thường hóa và thể chế hóa ngành y. Trong bài báo Women and Healthcare Practices in the Plea Register of the Parliament of Paris, 1364–1427, Geneviève Dumas nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn tài liệu hợp pháp của Paris từ thế kỷ 14 và 15, ghi lạinhững phụ nữ bị kết án vì hành nghề y hoặc phẫu thuật bất hợp pháp. Dumas trích dẫn hai phiên tòa trong các bài viết của mình: một phiên tòa kết án Perette la Pétone, một bác sĩ phẫu thuật, và một phiên tòa khác kết án Jeanne Pouquelin, một thợ cắt tóc (vì thợ cắt tóc vào thời điểm đó được phép thực hiện một số quy trình ngoại khoa nhất định).  Việc các nữ bác sĩ vắng bóng dần trong thời Trung cổ có thể bắt nguồn từ các lệnh cấm do Giáo hội áp đặt, cũng như sự chuyên nghiệp hóa ngày càng tăng của lĩnh vực y tế, dẫn đến việc thành lập các tổ chức nghiêm ngặt hơn như trường đại học và hiệp hội, tất cả được thành lập và kiểm soát bởi nam giới.  Ở châu Âu, mãi đến giữa thế kỷ 19, những nữ bác sĩ đầu tiên có trình độ đại học mới có thể hành nghề. Ngay cả khi đó, họ vẫn phải đối mặt với những lời chỉ trích và sự e ngại.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  How the Middle Ages’ female doctors were consigned to oblivion  Trota of Salerno: Women’s Medicine in Medieval Italy      Author                .        
__label__tiasang Những nước nào quan tâm tới vaccine COVID-19 mới của Nga?      Nga khẳng định đã có 20 nước đặt mua loại vaccine chống COVID-19 “Sputnik V” do nước này mới chế tạo ra.    Trong bối cảnh giới khoa học các nước tham gia cuộc chạy đua tìm kiếm vaccine chống virus corona chủng mới từ nhiều tháng nay thì tuyên bố của Nga về việc đã phê chuẩn loại vaccine đầu tiên chống COVID-19 có hiệu quả thực sự đã gây xôn xao dư luận. Tổng thống Vladimir Putin đã tuyên bố trên đài truyền hình nhà nước rằng sau chưa đầy hai tháng thử nghiệm lâm sàng, Nga đã công nhận loại vaccine này và bán ra thị trường với cái tên “Sputnik V” – dựa theo tên của vệ tinh đầu tiên được đưa lên vũ trụ.  Không lâu sau đó, Kirill Dmitriew, người phụ trách Quỹ Đầu tư Nhà nước của Nga (RDIF), cho biết đã nhận được đơn đăng ký mua một tỷ liều vaccine của 20 nước và đã có thỏa thuận quốc tế về việc sản xuất 500 triệu liều. Trang web của RDIF đã nêu tên một số quốc gia quan tâm đến vaccine này như Mexico, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ả rập Xê út, Indonesia, Philippines, Brazil và Ấn Độ.    Kirill Dmitriew người đứng đầu Quỹ đầu tư Nhà nước Nga RDIF, cơ quan hỗ trợ nghiên cứu về vaccine ở Nga   Cho đến nay chỉ có một số quốc gia đưa ra ý kiến công khai về loại vaccine này, tuy nhiên hiện chưa có bằng chứng khoa học về hiệu quả của vaccine, vì thế các nhà nghiên cứu trên thế giới chưa thể có ý kiến đánh giá. Mặt khác, mặc dù Nga đánh giá Sputnik V an toàn nhưng loại vaccine này chưa có tên trong danh mục của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ghi tên các loại thuốc đã trải qua bước ba – bước cuối cùng về thử nghiệm lâm sàng. Bước cuối này đòi hỏi phải tiến hành thử nghiệm trên diện rộng với sự tham gia của hàng nghìn tình nguyện viên.   Cho đến nay, người đứng đầu quốc gia duy nhất tuyên bố ngỏ ý đặt mua vaccine của Nga là Tổng thống Rodrigo Duterte của Philippines. Ông Duterte cho biết sẵn sàng nhận mũi tiêm đầu tiên trước mặt công chúng. Duterte đưa ra tuyên bố trên sau khi nhận được đề nghị của Moscow về việc cung cấp vaccine tiêm phòng cho Philippines. Bộ Y tế Philippines cho biết đã trao đổi với Quỹ Đầu tư Nhà nước RDIF về số lượng và việc thiết lập các phòng thí nghiệm sản xuất vaccines tại Philippines. Tuy nhiên, mọi loại vaccine đều phải tuân theo các quy trình của quốc gia và phải được Cơ quan quốc gia về an toàn thực phẩm và dược phẩm của Philippines phê chuẩn, theo hãng thông tấn CNN trích lời người đứng đầu cơ quan này.  Brazil, quốc gia có hơn 100.000 người tử vong do đại dịch này, cũng bày tỏ sự quan tâm đến vaccine của Nga. Nhưng ý kiến này không xuất phát từ Tổng thống Jair Bolsonaro, mà từ tiểu bang Paraná ở phía nam. Mặc dù các thí nghiệm lâm sàng quan trọng trên diện rộng chưa kết thúc, chính quyền bang Paraná cho biết thống đốc bang sẽ gặp Đại sứ Nga ở Brazil để trao đổi về thỏa thuận sản xuất vaccine COVID-19 mới. Tuy nhiên mọi thỏa thuận về sản xuất vaccine phải có sự chấp thuận của cơ quan y tế Anvisa của Brazil. Vừa qua cơ quan này cho hay họ chưa nhận được đề nghị cấp phép cho vaccine của Nga từ phòng thí nghiệm có thẩm quyền. Còn tổ chức Y tế Liên châu Mỹ (PAHO), một chi nhánh của WHO ở Mỹ Latin nhấn mạnh, không nhập vaccine vào Brazil khi thử nghiệm giai đoạn hai và ba chưa kết thúc.   Một quốc gia khác ở Mỹ Latin có 53.000 ca tử vong vì corona, đứng hàng thứ ba thế giới là Mexico lại quan tâm nhiều hơn đến vaccine của Mỹ hoặc Trung Quốc. Tổng thống Mexico Andrés Manuel López Obrador tuyên bố nước này có đủ ngân sách để mua vaccine COVID-19 khi có vaccine. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, Mexico dự định mua vaccine COVID-19 đã kết thúc thử nghiệm lâm sàng do các doanh nghiệp Hoa Kỳ và Trung Quốc đã phát triển.   Ấn Độ, quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi COVID-19 và là nhà sản xuất vaccine lớn nhất thế giới chưa chính thức khẳng định những gì mà Nga đã tuyên bố. Một trong những tờ báo lớn nhất nước này là “The Economic Times” chỉ đề cập đến những thông cáo báo chí mới nhất của RDIF.  Nguồn tin gần đây ở Ả rập Xê út chỉ tiết lộ nước này có dự định với một loại vaccine COVID-19 do Trung Quốc sản xuất sau khi có kết thúc thử nghiệm lâm sàng với sự tham gia tối thiểu của 5000 tình nguyện viên.   Trong khi chờ đợi Bahrain sẽ bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba đối với một loại vaccine khác cũng do Trung Quốc phát triển, loại vaccine này đã được thử nghiệm ở Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất. Hiện chưa rõ liệu các nước Trung Đông hiện nay có muốn mua vaccine của Nga hay không.   Một quốc gia khác ở khu vực này là Israel đang thử nghiệm lâm sàng vaccine mới của Nga. Tổ chức y tế Hadassah Medical của Israel hoạt động trên khắp thế giới và có một cơ sở ở Moscow. Theo Zeev Rotstein, người phụ trách cơ sở này cho biết họ đang tiến hành thử nghiệm lâm sàng lần thứ ba – cũng là lần cuối cùng với vaccine COVID-19 của Nga. Bộ trưởng Y tế Israel, bà Yuli Edelstein cho biết nếu như các thử nghiệm thành công, chính phủ Israel có thể sẽ đặt vấn đề với Nga. “Chúng tôi đã trao đổi với một trung tâm nghiên cứu ở Nga về việc phát triển vaccine. Nếu họ cho thấy sản phẩm này thực sự hiệu quả thì chúng tôi sẽ tiến hành đàm phán”.  Theo dự kiến, Nga sẽ sản xuất vaccine trên quy mô lớn từ tháng 9/2020. Dự kiến đến cuối năm 2020, sản lượng vaccine sẽ tăng lên 200 triệu liều, trong đó sản xuất tại Nga 30 triệu liều. Một số quốc gia khác có quan hệ đối tác với Quỹ Đầu tư Nhà nước RDIF cũng sẽ tiến hành sản xuất, bao gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Brazil, ngoài ra còn có Ả rập Xê út, Thổ Nhĩ Kỳ và Cuba.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/politik/ausland/plus213392516/Interesse-an-Russlands-Corona-Impfstoff-Testen-ja-kaufen-nein.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nút thắt cần tháo gỡ      Việt Nam bước đầu đã có những cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp – một trong những động lực mới của nền kinh tế tri thức trên thế giới hiện nay, nhưng trong cuộc trao đổi với tạp chí Tia Sáng, Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Trần Văn Tùng cho rằng việc triển khai những chính sách ưu đãi đó trong thực tiễn còn gặp nhiều vướng mắc.      Xin Thứ trưởng cho biết, ở Việt Nam những đối tượng nào được coi là doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực KH&CN?  Có thể chia các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam trong lĩnh vực KH&CN làm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp mà nhà sáng lập là các nhóm nghiên cứu trẻ, sinh viên vừa ra trường có ý tưởng công nghệ (thường là trong lĩnh vực CNTT). Nhóm thứ hai gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp mà người sáng lập là các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu và mong muốn thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình (thường trong những lĩnh vực: công nghệ sinh học ứng dụng trong nông nghiệp, dược phẩm và thực phẩm, cơ khí, năng lượng,…).  Vậy sự phát triển của các doanh nghiệp này hiện nay thế nào?  Do nhiều nguyên nhân, đến nay, chưa có được số liệu thống kê đáng tin cậy, cũng như tình hình hoạt động của các doanh nghiệp này, trước hết là do sự “lên xuống” nhanh chóng trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp (tỷ lệ thất bại cao). Tuy nhiên thông qua các hội thảo, hội nghị, chương trình, sự kiện về doanh nghiệp khởi nghiệp, ta cũng có thể có một số thông tin sơ bộ: Các doanh nghiệp ở nhóm một đang phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên mọi phương diện internet, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại điện tử, phần mềm, ứng dụng di động và game, trong đó một số các doanh nghiệp khởi nghiệp đã thành công trên thị trường trong nước cũng như được đánh giá cao trên thị trường quốc tế như: VNG, Appota, Soha, Nhac Cua Tui, CocCoc, Tiki,… Còn đối với các doanh nghiệp ở nhóm hai, cho đến thời điểm hiện tại, các Sở KH&CN các địa phương đã cấp trên 100 giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và đang thẩm định hàng trăm hồ sơ của các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên những kết quả nghiên cứu có tính thương mại hóa cao.     Thứ trưởng đánh giá như thế nào về những điều kiện hỗ trợ để các doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam phát triển?  Ở Việt Nam, hệ thống các chủ thể hỗ trợ khởi nghiệp đang trong quá trình hình thành, với một số các quỹ đầu tư khá năng động trên thị trường bao gồm IDG Ventures, CyberAgent Ventures, DFJ Vinacapital, Sumitomo,… và đã thực hiện đầu tư và hỗ trợ được một số doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT khởi nghiệp thành công.  Để hỗ trợ khởi nghiệp, một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghệ cũng thành lập cơ sở ươm tạo riêng, ví dụ như Vườn ươm doanh nghiệp của Bách khoa – FPT; Vườn ươm lập nghiệp cho sinh viên của FPT – FICO; Vườn ươm SBI (công ty TNHH ươm tạo doanh nghiệp phần mềm Quang Trung- TP. HCM), vườn ươm ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Bộ KH&CN) v.v ngoài ra còn có một số tổ chức tư nhân cũng đầu tư vào cơ sở ươm tạo như Topica Founder Institute, Egg Agency, Hatch,…  Tuy nhiên, với nguồn tài chính và kinh nghiệm khiêm tốn, hầu hết các cơ sở ươm tạo của Việt Nam chưa thể cung cấp một quy trình ươm tạo hoàn thiện và chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; rất ít cơ sở có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp gọi vốn từ các quỹ, nhà đầu tư.  Ngoài ra, có một số sự kiện nổi bật dành cho startup ở Việt Nam bao gồm Demo Asean, Startup Asean, BarcampSaigon, Mobile Day, Startup Weekend (NEXT)… cũng như các hội thảo, hội nghị của các Bộ, ngành.  Về phía Nhà nước hiện đã có cơ chế, chính sách cụ thể nào để hỗ trợ các startup?  Hiện tại, một số cơ chế chính sách nhằm phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực KH&CN nằm trong tổng thể hệ thống cơ chế chính sách về phát triển doanh nghiệp KH&CN nói chung, như Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về phát triển doanh nghiệp KH&CN hay gần đây là Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18/6/2013 quy định về doanh nghiệp KH&CN (Điều 58). Theo đó, doanh nghiệp KH&CN được xem xét, giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước; được hưởng chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật; được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát triển Việt Nam, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước.  Như vậy có thể nói những cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý hiện tại đã khá đầy đủ để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trong việc tiếp cận vốn, tiếp cận các tổ chức ươm tạo doanh nghiệp KH&CN cũng như các cơ sở  vật chất cần thiết. Nhưng việc thực thi còn gặp không ít khó khăn trở ngại.    Xin Thứ trưởng cho biết một số ví dụ cụ thể về những khó khăn trở ngại đó?  Ví dụ như, các quy định ưu đãi về tín dụng, đất đai cũng như về việc sử dụng các trang thiết bị nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia chưa hề có các hướng dẫn cụ thể trong thông tư; hơn nữa việc thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thuế, ngân hàng, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ… khiến doanh nghiệp nhiều khi khó có thể tiếp cận các chính sách ưu đãi một cách thuận lợi, nhất là trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng. Mặt khác một số chính sách KH&CN với chính sách đất đai cũng là khó khăn lớn cho doanh nghiệp KH&CN khi tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai. Các chính sách thu hút đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN mới được thể hiện ở các văn bản pháp luật trong lĩnh vực KH&CN chưa được đồng bộ hóa trong các văn bản pháp luật khác, ví dụ trong  Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) vẫn chưa có những quy định về đầu tư mạo hiểm cũng như khuyến khích đầu tư cho ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN.   Phải chăng việc triển khai đề án Thung lũng Silicon nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, khó khăn kể trên?  Đúng vậy, Đề án là một trong các giải pháp để góp phần giải quyết khó khăn mà các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam gặp phải, đó là sự bế tắc trong triển khai thương mại hóa sản phẩm công nghệ do không đi lần lượt từng bước của tiến trình thương mại hóa: (1) xây dựng ý tưởng về sản phẩm, (2) hoàn thiện sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, (3) lập chiến lược và mô hình kinh doanh khả thi, (4) xây dựng đội ngũ có khả năng thực hiện chiến lược và mô hình kinh doanh đó và cuối cùng là (5) thu hút vốn đầu tư mạo hiểm. Đề án giúp tạo điều kiện để lập ra các doanh nghiệp khởi nghiệp tuân thủ năm bước như trên nhằm giúp các doanh nghiệp có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ xã hội.         Động lực và nguồn lực để thực hiện Đề án               Có thể nói đích đến đồng thời cũng là động lực của Đề án là lợi nhuận cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.              Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển ban đầu, các startup thường cần hỗ trợ một khoản vốn mồi nhất định từ Nhà nước. Nguồn vốn này có thể lấy từ kinh phí Nhà nước dành cho Đề án, trong đó tổng nguồn ngân sách Nhà nước đã cấp cho Đề án trong năm 2013 là 2 tỷ đồng và 10 tháng năm 2014 là 2 tỷ đồng, và hiện đang tiếp tục được thu xếp thêm 2 tỷ đồng nữa, dự kiến kinh phí năm 2015 cấp cho Đề án khoảng 11 tỷ.                                                       Thứ trưởng Trần Văn Tùng          Mục tiêu trước mắt của Đề án là góp phần hỗ trợ thực hiện mục tiêu mà Đảng và Chính phủ giao cho Bộ KH&CN đến năm 2020: xây dựng được 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành nòng cốt trong việc phát triển kinh tế xã hội. Về mặt lâu dài, Đề án giúp Việt Nam thúc đẩy quá trình hình thành một hệ sinh thái hoàn hảo cho khởi nghiệp, bao gồm các yếu tố: các tổ chức thúc đẩy kinh doanh, quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần và doanh nghiệp khởi nghiệp kết hợp một cách hữu cơ với nhau.    Việc triển khai đề án thời gian qua đã gặp khó khăn cơ bản gì?  Một trong những khó khăn cơ bản của Đề án là nguồn kinh phí cho hoạt động của Đề án vừa bị chậm vừa không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ví dụ, đề án được phê duyệt 8 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước để hoạt động trong năm 2014 nhưng cho đến thời điểm này, mới chỉ 50% trong số kinh phí đó thực sự được cấp. Bên cạnh đó, bộ máy còn cồng kềnh, phân công công việc còn chưa cụ thể, chồng chéo, gặp nhiều khó khăn trong việc lấy ý kiến của các bên liên quan, đồng thời vẫn tồn tại những bất cập trong các văn bản pháp lý, đặc biệt là các văn bản pháp lý hướng dẫn liên quan cơ chế tài chính chưa phù hợp với thực tế tình hình thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam hiện nay.   Vậy đâu là giải pháp cho những khó khăn đó?  Để giải quyết khó khăn về nguồn kinh phí của Đề án, rất cần một cơ chế đặc thù về đầu tư.   Theo quy định tại Điều 6, Nghị định 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN (viết tắt là Nghị định 95), đối với các nhiệm vụ KH&CN đặc biệt, tổ chức chủ trì được mở tài khoản riêng dùng cho việc tiếp nhận và giải ngân nguồn kinh phí phục vụ cho nhiệm vụ KH&CN đặc biệt được phê duyệt. Như vậy, nếu Đề án Thung lũng Silicon được phê duyệt là một trong những nhiệm vụ KH&CN của Bộ KH&CN thì cơ chế tài chính mới sẽ tạo những điều kiện thuận lợi hơn cho việc triển khai thực hiện các hoạt động của Đề án; đồng thời Đề án cần huy động được nguồn kinh phí hỗ trợ từ một số quỹ, dự án của các Bộ, ngành như Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ” (FIRST), Chương trình đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) do Bộ KH&CN quản lý và Dự án “Đổi mới sáng tạo hướng tới người thu nhập thấp Việt Nam”, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ Kế hoạch – Đầu tư quản lý.  Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.          PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những phẩm chất cần có trong khởi nghiệp      Hành trình Lập chí vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho Thanh niên Việt đã đến các sinh viên Đại học Giao thông vận tải Hà Nội với chủ đề “Khát vọng tuổi trẻ trong kỷ nguyên 4.0” với chuyên gia khởi nghiệp Đỗ Thị Tú Anh – Phó Giám đốc Trung tâm hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp SYS, nhà đầu tư thiên thần, cố vấn khởi nghiệp Nguyễn Tiến Trung – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Kankyo Việt Nam và á hậu Việt Nam 2016 Ngô Thanh Thanh Tú.      Chuyên gia khởi nghiệp Đỗ Thị Tú Anh giao lưu với sinh viên  Đừng quá ảo tưởng khi khởi nghiệp  Đỗ Thị Tú Anh đã có nhiều năm kinh nghiệm làm công tác tư vấn, đào tạo và hướng dẫn cho các khởi nghiệp trẻ tại Việt Nam. Theo chị, điều quan trọng trong khởi nghiệp chính là cần xác định được năng lực lõi của bản thân. Chị từng trải qua rất nhiều công việc khác nhau trong quá khứ và cuối cùng nhận ra rằng công việc mà mình yêu thích nhất cũng như có khả năng nhất chính là viết lách. “Yếu tố quan trọng nhất chính là xác định được năng lực lõi của bản thân. Chúng ta cần biết mình giỏi nhất trong lĩnh vực nào, hãy thử nhiều công việc khác nhau cho đến khi có thể khẳng định được mình sẽ thành công với công việc đó, đó cũng chính là xác định được “nghiệp” cho bản thân mình”.  Chị Tú Anh cho rằng, khởi nghiệp trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 sẽ có những lợi thế và khó khăn nhất định. Khó khăn lớn nhất mà các bạn trẻ gặp phải là hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam còn chưa hoàn thiện, các nguồn lực hiện đang phân tán và chưa có cơ chế kết nối nguồn lực để phát triển hệ sinh thái. Trong bối cảnh đó, để có thể khởi nghiệp, cần chấp nhận rủi ro. Chị chia sẻ, “khi có ý tưởng, các bạn nhìn vào thực tế nhưng không thể biết điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước. Khởi nghiệp đòi hỏi thời gian học hỏi, nghiên cứu một cách nghiêm túc và đừng quá ảo tưởng khi quyết định dấn thân khởi nghiệp”. Tuy nhiên chị cũng gợi ý, khởi nghiệp nên hướng tới việc tạo ra giá trị cho xã hội và cộng đồng.  Cần sự đam mê trong khởi nghiệp  Doanh nhân, nhà đầu tư thiên thần Nguyễn Tiến Trung là cựu sinh viên khoa Cơ khí của trường đại học Giao thông vận tải, một trong những người có nhiều đóng góp trong việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam. Là người có nhiều kinh nghiệm và chứng kiến sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp tại Việt Nam, anh đã chia sẻ những góc nhìn rất thú vị tới các bạn sinh viên trường đại học Giao thông vận tải, trước hết là quan điểm: “Khởi nghiệp không đơn thuần giới hạn ở việc lập một doanh nghiệp, một công ty hay mở một dịch vụ mà nó còn mở rộng thành khởi nghiệp chính là sự khởi đầu cho một sự nghiệp của bản thân, tạo giá trị tích cực cho cá nhân, gia đình và xã hội”.  Anh Trung cũng nhấn mạnh, hiện có nhiều cơ hội khởi nghiệp thuận lợi với sự phát triển của công nghệ thông tin. Do đó, điều các bạn trẻ cần nhất là sự đam mê trong khởi nghiệp: “Tôi luôn cổ vũ tinh thần lập nghiệp của các bạn trẻ, đừng sợ hãi bất cứ điều gì mà hãy tận dụng lợi thế của bối cảnh, qua đó lập kế hoạch thực thi và từng bước xây những viên gạch trên con đường khởi nghiệp của chính các bạn”  Dám đương đầu với thách thức  Công chúng vốn đã biết đến Thanh Tú là một á hậu đầy tài năng: tốt nghiệp khoa Luật quốc tế của Học viện Ngoại giao, thành thạo 3 ngoại ngữ và hiện đang thử sức mình trong vai trò MC chuyên nghiệp. Thay vì đi theo con đường có phần “êm đềm” đó là dự kỳ thi tuyển công chức của Bộ Ngoại giao như gia đình đã định hướng, Thanh Tú lựa chọn con đường nhiều thử thách và không hề dễ dàng đối với một cô gái 21 tuổi khi đó. Cho rằng tuổi trẻ cần phải luôn đặt mình đứng trước những thử thách và cơ hội, Thanh Tú quyết định tham gia cuộc thi sắc đẹp cũng chính là để bản thân thoát khỏi “vùng an toàn” và trải nghiệm những điều mới mẻ: “Đối với Tú, thi hoa hậu là một sự khởi đầu cho sự nghiệp. Qua cuộc thi Tú có cơ hội được rèn luyện kỹ năng, xây dựng những mối quan hệ và quan trọng hơn là khám phá bản thân mình. Bạn đã có khát vọng và đam mê, bạn cần phải đấu tranh để theo đuổi nó, hãy thể hiện bản lĩnh để khẳng định bản thân”. Thanh Tú cũng cho rằng khởi nghiệp là một quá trình, sẽ có những khó khăn và thách thức nhưng đối với người trẻ thì điều quan trọng đó là dám đương đầu với thách thức, kiên trì theo đuổi và cuối cùng sẽ gặt hái được thành công.  Chia sẻ về những kinh nghiệm để trang bị cho bản thân kiến thức và kỹ năng ngay từ khi còn là một cô sinh viên Ngoại giao, Thanh Tú cho biết đã từng đi làm thêm và làm rất nhiều công việc khác nhau. Trải nghiệm từ những công việc làm thêm đã giúp Thanh Tú học hỏi thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm cũng như kỹ năng sống vô cùng quý báu: “Các bạn sinh viên cần có tư duy khởi nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, có thể bắt đầu từ những công việc làm thêm tuy nhỏ. Chính những công việc đó sẽ giúp các bạn trau dồi kiến thức và kỹ năng trong cuộc sống và chuẩn bị cho con đường khởi nghiệp của mình sau này”.  Tiếp nối Hành trình, trong tháng 1/2018 này, các sự kiện thuộc Hành trình Lập chí vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho Thanh niên Việt sẽ tiếp tục được diễn ra định kỳ vào các thứ 7 hàng tuần tại các Không gian Trung Nguyên Legend, Cà Phê Thứ Bảy tại Hà Nội và TPHCM và tại nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước, trong đó, chương trình gần nhất sẽ được tổ chức tại Đại học Công Nghiệp TPHCM vào ngày 5/1/2018.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Những phẩm chất đáng quí của nền kinh tế tự do      Trí óc con người ta thường lúng túng và lầm lẫn trước vấn đề tự do kinh tế. Trong suốt hai thế kỉ qua phương Tây đã là nơi thể hiện tính ưu việt của tự do kinh tế, nhưng như nhà thần học Michael Novak đã chỉ ra: “Trong lịch sử trí tuệ phương Tây, thóa mạ tự do kinh tế là một trong số ít đề tài được nhiều người thảo luận nhất”. George Gilder, trong tác phẩm uyên thâm: Wealth and Poverty (Giàu và nghèo), đã buồn bã nhận xét rằng nhiều người có tư tưởng ủng hộ tự do kinh doanh không phải là vì họ đồng ý với những đặc điểm của nó (họ cho rằng đấy là sự suy đồi về mặt đạo đức), mà đơn giản là vì lí do công lợi: nó tạo ra nhiều của cải hơn là chủ nghĩa tập thể có thể làm .&#160; &#160;  Bài viết này chứng minh rằng nền kinh tế tự do – phương án thay thế cho chủ nghĩa tập thể – là lựa chọn đầy đức hạnh và xứng đáng cho từng cá nhân cũng như cho các dân tộc.&#160; &#160;  &#160;        Nghịch lý của tự do kinh tế  Nền kinh tế tự do là một đối tượng đầy mâu thuẫn. Người ta chống lại nó trong những cuộc thăm dò dư luận và ủng hộ nó khi cầm một nắm tiền trong tay. Các chính phủ theo đường lối tập thể để nó đứng đầu danh sách những kẻ thù không đội trời chung nhưng lại quay sang nhờ nó cứu chữa những căn bệnh trong nền kinh tế của mình[1]. Thị trường tự do dường như đã trở thành một một con điếm xã hội: những người có mức thu nhập khác nhau, trình độ học vấn và văn hóa khác nhau cùng công khai lên án nó vì những tội lỗi mà họ qui kết cho nó đồng thời lại tìm kiếm nó khi có nhu cầu về mặt kinh tế.  Tự do kinh tế, như đã được chứng minh suốt hai thế kỉ qua, đã đưa đến sự phát triển chưa từng có về mặt tài chính, đã mang tới cho các dân tộc thực hành nó số tài sản vượt xa ngay cả những vương triều giàu có nhất thời cổ đại. Nhưng các nhà phê bình vẫn coi tinh thần của tự do kinh tế là “lòng tham kiếm lời vô giới hạn của các doanh nhân”[2]. Schlesinger, một người ủng hộ nổi tiếng cho nền kinh tế kế hoạch hóa, coi triết lí tự do kinh doanh là tín điều vô chính phủ: “mọi người phải tự lo và khôn sống mống chết”[3]. Còn Ronald J. Sider, tác giả cuốn Về những người Thiên chúa giáo giầu có trong thời đại đói nghèo (of Rich Christians in an Age of Hunger), thì cho rằng sự phát triển của nền kinh tế tự do đơn giản chỉ là sản phẩm của lòng tham mà thôi:  Người ta không thể đọc câu chuyện ngụ ngôn về một người ngu ngốc giàu có [trong Kinh Tân Ước] mà không nghĩ tới xã hội của chúng ta. Chúng ta hăm hở làm ra thật nhiều món đồ tinh xảo, xây những ngôi nhà cao hơn và to hơn, chế ra những phương tiện vận tải nhanh hơn không phải vì những đồ vật đó làm cho cuộc sống của chúng ta phong phú hơn mà vì chúng ta bị ám ảnh là phải sở hữu ngày một nhiều hơn. Lòng tham – phấn đấu để càng ngày càng có nhiều đồ vật hơn – đã trở thành thói xấu chủ yếu của nền văn minh phương Tây[4]  Những lời kết án như thế – nhiều lời kết án đến nỗi người ta buộc phải đặt ra những câu hỏi hiển nhiên như sau: Sự cải thiện to lớn về mặt vật chất, những loại thuốc cứu người, nền giáo dục đại chúng, không còn nạn đói,  việc xóa bỏ những cơ cấu đã từng nô dịch những người nghèo khổ và quan niệm về quyền tự do cá nhân, đều xuất phát từ lòng tham, từ sự thèm muốn, từ ước muốn làm hại những người đồng bào của mình hay sao? Phải chăng lợi ích kinh tế do hậu duệ của những người đã từng là nô lệ thu được trong hai trăm năm qua chỉ là vết chàm về mặt đạo đức?  Quan điểm của tôi là: Nền kinh tế tự do đã mang lại những cải thiện kinh tế to lớn cho những dân tộc thực hành nó; đấy là điều không thể tranh cãi. Nhưng, nếu nhiều người – đặc biệt là những người có quyền đưa ra chương trình nghị sự cho xã hội – coi thị trường là môn bài của lòng tham, sự đồi bại và phá sản về mặt đạo đức, thì các dân tộc sẽ tiếp tục lao vào chủ nghĩa tập thể và sự can thiệp của nhà nước và thị trường tự do sẽ thoái hóa thành lừa đảo, hối lộ và tham nhũng, đấy là chợ đen[5].  Tôi tin rằng nền kinh tế tự do đã vượt qua được hai cuộc kiểm nghiệm: thứ nhất, nó phù hợp với Nguyên tắc Vàng được vinh danh từ thời cổ đại; thứ hai, xã hội tạo ra từ nền kinh tế tự do là xã hội đức hạnh đáp ứng được một số nguyên tắc đạo đức nhất định.       Sống với Nguyên tắc Vàng  Trong nền kinh tế cướp bóc, khó mà thực hiện được Nguyên tắc Vàng: “Cái mình không muốn, chớ làm cho người[i]”. Nếu chỉ có thể giành được tài sản bằng cách moi của người khác thì rõ ràng là người ta không thể trở thành giàu có mà vẫn có thể sống theo Nguyên tắc Vàng được. Người ta hoặc là phải ăn cắp (mặc dù không ai muốn bị gọi là kẻ cắp) hoặc là phải sống trong cảnh nghèo nàn (đấy là lí do vì sao nghèo lại được tư tưởng tôn giáo truyền thống coi trọng đến như thế).   Như Lippmann, Mises, Gilder và những người khác đã biện luận, sự thịnh vượng của thị trường tự do không phải là kết quả của trộm cắp mà là kết quả của sự hợp tác và sự tin cậy giữa các cá nhân với nhau. Luận điểm của Lippmann về xã hội tốt đẹp là xã hội đức hạnh, xã hội hợp tác, một xã hội chỉ có thể trở thành hiện thực khi thực hành những nguyên tắc của thị trường tự do. Ông viết như sau:  Tất cả chuyện này [sự thịnh vượng của phương Tây] không phải là do sự khai sáng tự phát hay sự bốc đồng của lòng tốt. Bản tính của con người không thể thay đổi một cách đột ngột được. . . . . Đây là lần đầu tiên trong lịch sử loài người con người tìm được biện pháp làm giàu, trong đó vận may của của tha nhân lại làm gia tăng vận may của chính họ. Khi David Hume có thể nói (1742) … “Tôi xin đánh bạo mà nói rằng, không chỉ như một người bình thường mà như một thần dân của nước Anh, tôi cầu nguyện cho nền thương mại thịnh vượng của nước Đức, nước Tây Ban Nha, nước Italy và thậm chí của chính nước Pháp nữa” thì đấy là thời khắc vĩ đại trong lịch sử chinh phục, cướp bóc và áp bức kéo dài. Trước khi Nguyên tắc Vàng trở thành hợp lí về mặt kinh tế, nhiều người đã không nghĩ như thế[6].  Muốn làm giàu trong nền kinh tế tự do, như Gilder nhận xét, trước tiên người ta phải cho chứ không phải là nhận. “Và món quà tặng của nền kinh tế tự do được gọi là đầu tư . . . . Món quà đó sẽ chỉ thành công trong chừng mực nó mang tính vị tha và xuất phát từ việc nhận thức được nhu cầu của tha nhân”[7]. Mises viết:  Phục vụ người tiêu dùng là cách làm giàu duy nhất. Nếu không đầu tư vào những dây chuyển có thể phục vụ tốt nhất nhu cầu của xã hội thì nhà tư sản sẽ đánh mất vốn liếng ngay lập tức[8].  Trong hệ thống tự do như thế, người ta chỉ nhận được thù lao khi người bên cạnh cũng nhận được thù lao.  “A” được chỉ lợi  — đấy là nói khi tự do lựa chọn thắng thế – bằng cách cung cấp cho “B” sản phẩm hoặc dịch vụ mà “B” cảm thấy là đáp ứng được nhu cầu hay sở thích của mình[9]. Nếu tương tác này không còn thì mạng lưới hợp tác phức tạp trong nền kinh tế tự do cũng ngay lập tức sụp đổ. Nếu không tin vào nhà sản xuất thì người bán sẽ không bán, nếu không tin vào sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có thì người tiêu dùng sẽ không mua.  Như Leonard Read đã chứng minh trong bài báo – “Tôi, một chiếc bút chì”, công bố hồi năm 1958 – rằng ngay cả những sản phẩm sơ đẳng được sản xuất trong nền kinh tế tự do cũng là kết quả của sự hợp tác của hàng ngàn người, thậm chí kể cả những người do tín ngưỡng hoặc chỉ nhìn thấy thôi mà có thể ghét nhau rồi. Đấy là sức mạnh của thị trường tự do. Không phải ngẫu nhiên mà, như Hans Sennholz đã chỉ rõ, thế kỉ XIX, một thế kỉ từng bị những người phê phán coi là một trăm năm bóc lột lại là thế kỉ hòa bình nhất trong lịch sử loài người[10].  Nền tảng của đạo đức  Vào năm 1776, khi Adam Smith trình bày luận điểm của ông trong tác phẩm Tài sản của các quốc gia (The Wealth of Nations), ông đã nhận ra rằng trật tự thị trường tự do không xuất phát từ những người hám lợi, tham lam và ác ý mà xuất phát từ xã hội, trong đó những giá trị đạo đức được coi là quan trọng, xuất phát từ xã hội, nơi óc sáng tạo, sự đồng cảm, tính tiết kiệm và trì hoãn thỏa mãn trong hiện tại để được tưởng thưởng trong tương lai, được mọi người coi là đức hạnh.  Trật tự như thế đã được hình thành ở New England theo Thanh giáo, đấy là nơi mà đức hạnh  – có vai trò sống còn đối với sự hình thành thị trường tự do – đã trở thành nền tảng cho khu vực tạo ra tinh thần Tự lực cánh sinh của Mĩ[ii].  Ngược lại, người ta có thể nói rằng những xã hội chỉ muốn trục lợi và có ít những phẩm chất đạo đức được mô ta bên trên cũng là những xã hội có ít, thậm chí không có tương lai kinh tế nào. Novak đã viết như sau:  Phát triển kinh tế một cách bền vững không chỉ là sự dư thừa về mặt vật chất; nó xuất phát từ và tiếp tục đòi hỏi người ta phải có một số phẩm hạnh. Nếu những phẩm hạnh như thế không còn thì sự phát triển bền vững cũng sẽ tiêu ma. Nền văn hóa hưởng lạc, chỉ nghĩ đến mình, có vẻ như sẽ không đầu tư cho tương lai của chính nó hoặc không chịu thực hiện những hi sinh cần thiết cho sự thịnh vượng của chính nó[11].  Phát triển kinh tế là kết quả của tự do  Mặc dù tốc độ phát triển kinh tế ngoạn mục đã xảy ra cách đây hơn 200 năm, nhưng nếu đặt hai thế kỉ đó trong dòng chảy hàng triệu năm của lịch sử nhân loại thì đấy cũng chỉ như là một chớp mắt mà thôi. Con người đang phải sống trong đói nghèo và áp bức, có thể là quá nhanh đối với phần đông những người đã tham gia hay bị lôi kéo vào trật tự tư bản chủ nghĩa. Tự do kinh tế đã mang đến cho người ta nhiều lợi ích, nhưng ít người hiểu được vì sao sự thịnh vượng lại gia tăng một cách bất ngờ đến như thế. Còn với những người sẵn sàng đi theo những triết lí truyền thống đã bám chặt vào đầu óc của họ dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ rao bán chủ nghĩa tập thể và ép buộc, coi đấy là con đường dẫn tới tương lai tốt đẹp hơn.  Kinh nghiệm của nền kinh tế tự do làm cho người ta vừa lạc quan lại vừa bi quan. Lạc quan là vì, như đã thấy trong suốt 200 năm qua, tự do mang đến cho tất cả mọi người một cuộc sống tốt đẹp hơn, và không còn thế lực có thể làm người ta phải sợ hãi. Nhưng người ta cũng bi quan vì có quá nhiều người không hiểu được những đức tính tốt của nền kinh tế tự do và vì vậy mà họ quay sang chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa quốc gia với hi vọng rằng áp chế sẽ giúp họ thực hiện được những giấc mơ của mình.  Nền kinh tế tự do tạo điều kiện cho người ta trở thành những người đức hạnh, tạo điều kiện cho người ta thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng trung thực và được tưởng thưởng vì có những đức tính tốt đó, làm cho những người đồng bào của mình có một đời sống tốt đẹp, giúp cho thế giới thoát khỏi dịch bệnh, đói nghèo và những tai họa khác đang săn đuổi những kẻ yếu đuối nhất trong chúng ta. Nó thúc đẩy hợp tác chứ không phải là xung đột, nó khuyến khích hòa bình chứ không phải là chiến tranh.  Khi Lippmann hô hào những đồng sự của mình quay lưng lại với cuộc vận động trở về với chủ nghĩa quốc gia trong những năm 1930 thì ông đã bị nhiều bạn bè, thuộc phái “tự do” chế giễu và tuyên bố là “tên phản động”. Nhưng hóa ra nhiều quan điểm thấu triệt của ông lại là đúng đắn và nhiều dự đoán của ông về cuộc chiến tranh sắp tới là chính xác. Hiện nay cũng vẫn còn đúng.  Thông điệp của Lippmann và cũng là thông điệp mà 200 năm tự do từng tuyên bố là: Xã hội tốt, một xã hội trong đó người dân có thể đấu tranh cho công lí, đức hạnh và một đời sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người chỉ có thể trở thành hiện thực khi người ta hành động nhằm “bảo vệ và đấu tranh nhằm hoàn thiện sự tự do của thị trường”[12].  Đấy không phải là một giấc mơ không tưởng vì những người tin vào không tưởng thì cũng là những người tin rằng có thể ép buộc con người để họ trở thành hoàn thiện hơn. Tôi không thể chấp nhận ý tưởng cho rằng vì một lí do nào đó con người sống trong cái thế giới mà chúng ta đang thấy sẽ không còn muốn phạm tội nữa. Nhưng thị trường tự do sẽ giúp đỡ con người – với sự bất toàn của họ – xây dựng được một thế giới thịnh vượng hơn, dễ chịu hơn, công bằng hơn và đức hạnh hơn.     Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: The Morality of Capitalis. Edited by Mark W. Hendrickson.  The Foundtion gor Economic Education, Inc. Irvington-onHudson, New York 10533.  Bill Anderson giảng dạy kinh tế học tại Covemant College in Tennessee.         [1] Lenin’s New Economic Policy of 1923, Stalin’s introduction of differential wages and other “capitalist” practices in 1931, and the encouragement of small, private enterprises in present-day Communist China are notable examples of despotic, collectivist governments seeking help from the free market.  [2] “The New Deal in Review, 1936-1940,” The New Republic, 102 (May 20, 1940), p. 707.  [3] Schlesinger, p. 30.  [4] Ronald J. Sider, Rich Christians in an Age of Hunger (Downers Grove, Illinois, 1977), p. 123.  [5] Muốn tìm hiểu kĩ về nền kinh tế bị nhà nước bóp nghẹt sinh ra thị trường chợ đen như thế nào, xin đọc Antonio Martino, “Measuring Italy’s Underground Economy,” Policy Review (Spring, 1981), và mô tả của Ken Adelman về thị trường chợ đen ở nước Tanzania xã hội chủ nghĩa trong  “The Great Black Hope,” Harper’s, July, 1981.      [6] Lippmann, pp. 193-194.      [7] Gilder, pp. 24, 27.      [8] Ludwig von Mises, The Anti-Capitalistic Mentality (South Holland, Illinois, 1972), p. 2.      [9] Trong xã hội kế hoạch hóa, tức là xã hội mà chính phủ thực hiện việc chọn lựa về mặt kinh tế cho các công dân của họ thì người dân phải “chọn” bất cứ thứ gì chính phủ cho họ. Nhưng trong những điều kiện như thế sản phẩm và dịch vụ thường không đáp ứng được ước muốn và kết quả là người tiêu dùng bị chèn ép, bất mãn.      [10] .   Hans Sennholz, “Welfare States at War,” The Freeman (January, 1981).  [11] Novak, “The Evangelical Basis of a Social Market Economy,” pp. 365-366.  [12] .   Lippmann, p. 207.              [i] Dịch thoát ý câu “Do not that to another, which thou wuoldest not have tothy selfe”. Tại phương Đông trước đó cả hai ngàn năm Khổng tử đã nói: Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân, nghĩa là cái mình không muốn, chớ làm cho người      [ii] Dịch thoát ý thuật ngữ Yankee Ingennuity  * Lược thuật bài tiểu luận của Bill Anderson        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những phát hiện mới về mặt trăng của sao Thổ và sao Mộc      Hai bài báo cùng công bố hôm 14/4 vừa qua cho biết những khám phá mới về hai mặt trăng có chứa đại dương ở bên dưới bề mặt băng giá của sao Thổ và sao Mộc, làm tăng thêm mối quan tâm của giới khoa học đối với những hành tinh có nước nằm trong và ngoài Hệ Mặt trời.      Cực bắc của mặt trăng Enceladus do tàu không gian Cassini chụp hôm 14/19/2015. Ảnh: NASA/Reuters  Một bài báo cho biết, tàu không gian robot Cassini đã phát hiện một dạng năng lượng hóa học có khả năng nuôi dưỡng sự sống trên mặt trăng (hay vệ tinh thiên nhiên) Enceladus của sao Thổ, trong khi bài báo kia công bố kính viễn vọng không gian Hubble đã cung cấp thêm bằng chứng về những cột vật chất phun ra từ mặt trăng Europa của sao Mộc.  Theo bài báo trên Science, tàu không gian Cassini đã phát hiện khí hydro và vật chất đóng băng trong cột khí phun ra từ mặt trăng Enceladus trong lần tiếp cận gần nhất và mới nhất với cột khí này vào ngày 28/10/ 2015. Cassini cũng đã lấy mẫu của thành phần cột khí trong các lần bay trước đó và các nhà khoa học xác định, khoảng 98% cột khí này là nước, khoảng 1% là hydro và phần còn lại là hỗn hợp của các phân tử khác bao gồm cac-bon dioxide, methane và amoniac.  “Việc xác nhận được nguồn năng lượng hóa học cho các dạng tồn tại của sự sống trong lòng đại dương của một mặt trăng nhỏ của sao Thổ là dấu mốc quan trọng trong nghiên cứu về thế giới sự sống bên ngoài trái đất của chúng tôi,” theo Linda Spilker, nhà khoa học trong dự án Cassini tại Phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực (JPL) của NASA ở Pasadena, California.  Sự tồn tại của lượng khí hydro dồi dào trong đại dương trên mặt trăng Enceladus có nghĩa là các vi khuẩn (nếu có) có thể dùng nó để tạo ra năng lượng bằng cách kết hợp hydro với carbon dioxide hòa tan trong nước. Phản ứng hóa học này, được gọi là “methanogenesis” vì nó tạo ra khí mê-tan như một sản phẩm phụ, là nguồn gốc của sự sống trên Trái đất.  Sự sống, như chúng ta biết, đòi hỏi ba thành phần chính: nước lỏng; một nguồn năng lượng cho quá trình trao đổi chất; và các thành phần hóa học phù hợp, chủ yếu là cacbon, hydro, ni-tơ, ô-xi, phốt-pho và sulfur. Với phát hiện này, tàu Cassini cho thấy Enceladus – một mặt trăng nhỏ, băng giá, xa Mặt trời hơn một tỷ dặm so với Trái đất – có gần như tất cả các yếu tố cần thiết cho sự sống. Tàu Cassini chưa phát hiện được phốt-pho và sulfur trong đại dương trên hành tinh này, nhưng các nhà khoa học ngờ rằng chúng tồn tại, vì lõi đá của Enceladus được cho là tương tự về mặt hóa học với các thiên thạch có chứa hai nguyên tố này.  Kết luận nói trên được đưa ra từ phép đo lường do Thiết bị khối phổ ion và chất trung tính (INMS) của tàu Cassini thực hiện bằng cách hút các khí để xác định thành phần của chúng. INMS được thiết kế để lấy mẫu khí quyển tầng trên của mặt trăng Titan của sao Thổ. Sau khám phá bất ngờ của Cassini về một đám sương lạnh vào năm 2005, phun ra từ những vết nứt gần cực Nam của Enceladus, các nhà khoa học đã chuyển máy dò sang mặt trăng nhỏ này.  Hunter Waite, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Mặc dù chúng tôi không thể phát hiện sự sống, nhưng chúng tôi thấy rằng có một nguồn thức ăn cho nó. Nó giống như một cửa hàng kẹo cho vi khuẩn”.  Những phát hiện mới này là một bằng chứng độc lập cho thấy hoạt động thủy nhiệt đang diễn ra trong lòng đại dương trên Enceladus. Các kết quả trước đó, được công bố vào tháng 3/2015, cho thấy nước nóng đang tương tác với lớp đá dưới mặt biển; những phát hiện mới này ủng hộ kết luận đó và bổ sung thêm thông tin rằng lớp đá dường như đang có phản ứng về mặt hóa học để tạo ra hydro.  Trong khi đó, bài báo trên tờ The Astrophysical Journal Letters, công bố chi tiết về các phát hiện mới của Kính viễn vọng không gian Hubble, trình bày các quan sát về mặt trăng Europa của sao Mộc từ năm 2016, trong đó phát hiện một cột vật chất phun trào từ bề mặt của mặt trăng này tại cùng một vị trí mà Hubble đã phát hiện bằng chứng về một cột vật chất vào năm 2014. Những hình ảnh này đã củng cố bằng chứng rằng những cột vật chất của Europa có khả năng là một hiện tượng thực sự, phun ra theo từng đợt trong cùng một khu vực trên bề mặt của mặt trăng.  Cột vật chất mới được chụp lại dâng cao khoảng 100 km so với bề mặt Europa, trong khi cột vật chất quan sát được vào năm 2014 cao khoảng 50 km. Cả hai đều tương ứng với vị trí của một vùng ấm bất thường có các đặc điểm dường như là của những vết nứt trên lớp vỏ băng giá của mặt trăng, do tàu không gian Galileo của NASA phát hiện vào cuối những năm 1990. Các nhà nghiên cứu cho rằng, giống như Enceladus, đây có thể là bằng chứng về nước phun ra từ trong lòng mặt trăng này.  Cả hai nghiên cứu nói trên đang đặt nền tảng cho tàu không gian Europa Clipper của NASA, dự kiến ​​sẽ được phóng vào những năm 2020 nhằm nghiên cứu sâu hơn về các cột vật chất trên mặt trăng Europa. Dự kiến Europa Clipper sẽ mang theo một camera cực tím có thể thực hiện các phép đo lường như camera của Hubble nhưng từ khoảng cách gần hơn hàng nghìn lần. Một số thành viên của nhóm phát triển thiết bị INMS cho Cassini cũng đang thiết kế phiên bản mới hơn của thiết bị này để phục vụ chuyến bay của Europa Clipper.  Nhàn Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nasa.gov/press-release/nasa-missions-provide-new-insights-into-ocean-worlds-in-our-solar-system  https://www.theguardian.com/science/2017/apr/13/alien-life-saturn-moon-enceladus-nasa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những phát minh thú vị (theo bình chọn của Time)      Hằng năm, tạp chí TIME tổ chức bình chọn “Những phát minh tốt nhất” đã khiến chúng ta thay đổi cách sống, làm việc, vui chơi và suy nghĩ. Dưới đây là 15 phát minh thú vị nổi bật của năm qua.      1. Aira: Thị giác cho người mù… theo yêu cầu  Với người mù, những công việc hằng ngày như phân loại thư hay giặt đồ là thách thức không nhỏ. Nhưng nếu họ có thể “mượn” mắt của ai đó để nhìn thì sao? Đây chính là ý tưởng đằng sau ứng dụng Aira – một dịch vụ cho phép người dùng đăng ký theo tháng để kết nối video quay môi trường xung quanh mình bằng điện thoại thông minh hoặc bằng kính độc quyền của Aira và phát trực tiếp đến một “hỗ trợ viên” theo yêu cầu. Các “hỗ trợ viên” này phục vụ 24/7, nhìn những gì trong video theo thời gian thực và có thể trả lời câu hỏi, mô tả đồ vật hoặc hướng dẫn người dùng đi lại, di chuyển. Ông Greg Stilson, một người khiếm thị, đã sử dụng dịch vụ này cả một năm trời để di chuyển tại các sân bay trước khi đồng ý trở thành giảm đốc quản lý sản phẩm của công ty này. “Đó là một năm đỡ lo lắng nhất trong cuộc đời tôi”, ông nói.    Chi phí sản phẩm: 99 USD/tháng cho gói cơ bản    2. Eargo Max : Trợ thính dành cho đại chúng  Gần 48 triệu người Mỹ bị mất thính lực ở các mức độ khác nhau. Mặc dù máy trợ thính đem lại nhiều lợi ích cho họ nhưng vẫn có những người không muốn đeo chúng vì lý do thẩm mỹ. Ông Christian Gormsen, chủ công ty thiết bị trợ thính Eargo cho biết: “Có rất nhiều sự kỳ thị xung quanh việc mất thính giác”, do đó, công ty ông đã dành 8 năm để chế tạo một thiết bị trợ thính rất gọn gàng kín đáo, có thể sạc lại và dành riêng cho những người bị mất thính lực từ mức độ nhẹ đến trung bình. Các máy trợ thính truyền thống thường ôm quanh vành tai và khi lắp đặt cần vài buổi gặp với chuyên gia thính học. Ngược lại, Eargo Max nằm gọn trong tai và có thể mua trực tuyến với sự trợ giúp tư vấn từ chuyên gia. Cho đến nay, khách hàng vẫn đang đón nhận tốt sản phẩm này, Eargo ước tính sẽ có khoảng 20.000 người dùng vào cuối năm 2018.  Chi phí sản phẩm: 2.450 USD    3. Model Ci: Chiếc xe lăn trao quyền cho người dùng  Hiện nay tại Mỹ có hơn 3 triệu người đi lại dựa vào xe lăn. Tuy nhiên, có rất ít sự đổi mới trong lĩnh vực này, hầu hết các xe lăn sử dụng đều là dạng cồng kềnh và khó đi trên nhiều loại địa hình. Công ty Whill chuyên sản xuất các loại xe điện cá nhân đã đưa ra dòng sản phẩm mới Model Ci được thiết kế dạng bánh xe omni (loại bánh xe có các đĩa nhỏ xung quanh chu vi và vuông góc với hướng quay nên có thể chạy thẳng hoặc dễ chuyển hướng trượt ngang.)  Xe Model Ci có thể chạy khoảng 16km trong nhà hoặc ngoài trời, vượt qua chướng ngại vật cao khoảng 5cm và dễ dàng chuyển hướng trong những không gian chật chội. Chiếc xe có thể tháo rời trong vài phút, cho phép vận chuyển dễ dàng. Công ty Whill cho biết, từ khi ra mắt vào tháng 1/2018, mẫu xe này đã bán được gần 10.000 chiếc.  Chi phí sản phẩm: 3.999 USD    4. Sheerly Genius: Quần tất “không thể phá hủy”  Quần tất từ lâu đã là một món đồ chủ lực trong ngăn tủ của phụ nữ, nhưng chúng dễ bị xé rách đến nỗi một số tín đồ thời trang khuyên rằng nên đeo găng tay khi mặc chúng. Bà Katherine Homuth, chủ công ty may mặc Sheerly Genius, cho rằng “Thật ngớ ngẩn khi nhiều công nghệ điên rồ khác được tạo ra nhưng chúng ta vẫn chưa giải quyết vấn đề siêu cơ bản này”. Công ty Sheerly Genius đã được thành lập khoảng 18 tháng trước để giải quyết vấn đề này. Kết quả, họ đã tạo ra một dòng quần tất mềm và thoải mái, được làm từ loại sợi dùng trong áo chống đạn và các thiết bị leo núi, bền hơn sắt gấp 10 lần. Bà Homuth cho biết “về cơ bản chúng không thể bị phá hủy” (sản phẩm đã được thử nghiệm kéo dãn, cắt bằng kéo). Loại quần tất này đắt hơn đáng kể so với các dòng truyền thống, nhưng nhiều phụ nữ sẵn sàng vung tay. Nếu các loại quần tất thông thường có thể bị rách sau 1-2 lần mặc thì sản phẩm của Sheius Genius có thể dùng đến 50 lần.  Chi phí sản phẩm: 99 USD trở lên    5. Panda: Cánh tay robot cách mạng  Chúng ta sống giữa cuộc cách mạng robot nhưng những cỗ máy có khả năng nhất thường chỉ dành cho các tập đoàn giàu có. Bởi vậy, công ty chế tạo robot Franka Emika có trụ sở ở Đức đang thay đổi điều đó với cánh tay robot Panda với ưu thế dễ lập trình dành cho doanh nghiệp nhỏ. Có khả năng di chuyển theo bảy trục và được thiết kế cảm ứng thông minh, cánh tay Panda có thể giúp tiến hành các thí nghiệm khoa học, lắp ráp bảng mạch điện tử hoặc kiểm thử các thiết bị. Thậm chí hai cánh tay Panda có thể làm việc cùng nhau để lắp cánh tay thứ ba. Mặc dù cánh tay Panda không được thiết kế dùng cho mục đích cá nhân, trong tương lai một sản phẩm tương tự có thể trợ giúp một vài hoạt động ở nhà như thái thức ăn hoặc giúp người già làm những công việc khó khăn. Ông Simon Haddadin, Giám đốc điều hành và đồng sáng lập của Franka Emika, tin rằng “Robot rồi sẽ có được sự thành công tương tự như máy tính cá nhân”.  Chi phí sản phẩm: 11.000 USD    6. Acuvue: Kính áp tròng tự điều chỉnh theo ánh sáng  Tưởng tượng không bao giờ phải che mắt dưới ánh mặt trời chói chang hoặc cảm thấy mỏi mắt khi làm việc 8 tiếng dưới bóng đèn huỳnh quang. Đó là sức hấp dẫn của dòng sản phẩm kính áp tròng trị tật khúc xạ mắt và nhạy cảm với ánh sáng, sắp tới công ty Acuvue sẽ hợp tác cùng Transitions Optical phát triển. Mỗi mắt kính chứa một bộ lọc cảm ứng ánh sáng đi vào và sẽ tự động làm tối đi hoặc sáng lên để khiến mắt thoải mái.   Ông David Turner, trưởng bộ phận nghiên cứu và phát triển kính áp tròng tại Johnson & Johnson Vision (công ty mẹ của Acuvue), cho biết họ đã phải vượt qua hàng rào công nghệ lớn để thực hiện được điều này. Sản phẩm này đã được nghiên cứu hơn một thập kỷ qua, đã được FDA thông qua vào tháng 4/2018 và hi vọng sẽ đi vào thương mại đầu năm 2019.  Chi phí sản phẩm: Chưa công bố    7. Aimovig: Thuốc điều trị chứng đau nửa đầu  Hiện có rất ít lựa chọn điều trị cho chứng đau nửa đầu mặc dù chúng khiến cho hàng triệu người phải chịu đựng, gây ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc cũng như căng thẳng dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần khác.  Từ tháng 5/2018, thuốc Aimovig do hai công ty dược phẩm Amgen (Mỹ) và Novartis (Thụy Sĩ) nghiên cứu là loại thuốc đầu tiên được FDA phê duyệt nhằm ngăn ngừa chứng đau nửa đầu. Được dùng bằng cách tiêm hàng tháng, loại thuốc này có thể chặn một loại thụ thể protein trong não, ngăn cản một loại peptide có khả năng kích hoạt chứng đau nửa đầu không cho chúng gắn vào các mục tiêu. Trong quá trình thử nghiệm, thuốc Aimovig đã làm giảm một nửa số ngày bị đau đầu của người dùng. Bà Cen Xu, giám đốc khoa học về thần kinh của công ty Amgen cho biết họ đã choáng ngợp bởi những phản hồi tích cực từ hơn 52.000 người sử dụng Aimovig đến nay. Amgen hiện đã giúp một số bệnh nhân không được bảo hiểm y tế hỗ trợ loại thuốc này có thể được sử dụng miễn phí trong vòng một năm.  Chi phí sản phẩm: 575 USD (trước bảo hiểm)    8. Fundamental Surgery: Đào tạo thông minh hơn cho bác sĩ phẫu thuật  Mọi người đều muốn bác sĩ phẫu thuật của mình được luyện tập hoàn hảo, nhưng hiện có rất ít cách không tốn kém để các bác sĩ thực hành mà không tạo nguy hiểm cho bệnh nhân. Mô phỏng thực tế ảo cũng giúp ích cho các bác sĩ, nhưng theo ông Richard Vincent, Giám đốc điều hành của công ty FundamentalVR, thì chúng có ít nhất một hạn chế lớn là “Ta không thể chạm vào môi trường theo cách có ý nghĩa được”. Đó là lý do công ty ông tạo ra một loại sản phẩm mô phỏng phẫu thuật thực tại ảo khắc phục nhược điểm trên bằng cách kết hợp phản hồi xúc giác (tương tự như báo hiệu rung trên smartphone) để các bác sĩ có thể “cảm nhận” được hành động như thể họ đang thực sự phẫu thuật. Điều quan trọng là hệ thống này sử dụng công nghệ tương thích cao với nhiều thiết bị và chi phí ít hơn nhiều so với các hệ thống đào tạo truyền thống, giúp các bác sĩ phẫu thuật trên toàn thế giới có thể dễ tiếp cận hơn. Hiện có khoảng 50 bệnh viện đã sử dụng sản phẩm này, bao gồm những tên tuổi lớn như Mayo Clinic.  Chi phí sản phẩm: 8.000 USD    9. Gravity: Chăn giảm lo âu  Mặc dù startup Gravity không phát minh ra loại chăn trọng lực tạo lực ép nhẹ lên người dùng mà các nghiên cứu chỉ ra là có khả năng xoa dịu hệ thần kinh, nhưng startup mới một năm tuổi này là những người đã thành công trong việc tiếp thị sản phẩm đến với đông đảo công chúng.  Những chiếc chăn nặng khoảng 10% trọng lượng cơ thể con người, bên trong có các túi nhựa viên để tạo sức ép và phân bố lực vào các huyệt đạo trên cơ thể giúp giải tỏa căng thẳng lo âu. Năm 2017, cộng đồng xôn xao khi Gravity tải lên một đoạn video về chiếc chăn mượt mà này. Chỉ trong vòng vài tháng, công ty đã huy động được vốn đầu tư gần 5 triệu USD trên Kickstarter. Đồng sáng lập ông Mike Grillo tin rằng sự thành công của sản phẩm đến từ thiết kế tốt (Chiếc chăn Gravity nhìn sang trọng hơn các phiên bản trước) và ra đời đúng lúc. “Cuộc bầu cử năm 2016 vẫn còn để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí nhiều người”, ông nói, và nhiều người vẫn đang tìm cách giảm bớt lo âu. Hiện công ty đã bán được lượng sản phẩm trị giá 18 triệu USD.  Chi phí sản phẩm: 249 USD    10. FUSE: Thiết bị bảo vệ người lao động  Vài tháng trước, một công nhân tại cơ sở phân phối hàng tạp hóa ở ngoại ô New York đã đeo một cảm biến dưới ngực để khi ôm hàng nặng trong nhà kho, thiết bị sẽ theo dõi cách anh ta di chuyển. Nó cho biết anh ta có nguy cơ bị chấn thương nghiêm trọng do các áp lực đè lên cột sống. Vì vậy, người công nhân đã gặp quản lý của mình và họ cùng chọn giải pháp dùng một chiếc móc giúp kéo hàng để người công nhân không phải cúi xuống nhiều như trước. Thiết bị theo dõi trên có tên gọi “Nền tảng quản lý rủi ro Fuse” do công ty StrongArm Tech chế tạo, giúp người sử dụng lao động bảo vệ các nhân công dễ bị chấn thương và xa hơn là đảm bảo lợi nhuận của mình (Theo thống kê, các chấn thương và tai nạn lao động nghiêm trọng khiến các công ty của Hoa Kỳ mất khoảng 59,9 tỷ USD mỗi năm.) Kể từ khi ra mắt vào tháng 4/2018, Thiết bị Fuse này đã được dùng cho hơn 10.000 công nhân, bao gồm cả những người từ 10 công ty trong danh sách Fortune 100. Ông Jack McCormack, quản lý khách hàng của StrongArm Tech, cho biết, “Cũng giống như Nike và Under Armour tạo ra các sản phẩm tốt nhất để cải thiện thành tích của vận động viên, chúng tôi đang làm điều tương tự cho những người đóng vai trò trụ cột của nền kinh tế”.  Chi phí sản phẩm: Liên hệ.    11. 3M: Mái nhà chống ô nhiễm khói  Khói là kẻ giết người thầm lặng trên toàn cầu. Chất gây ô nhiễm này, phần lớn đến từ khí thải ô tô và các cơ sở công nghiệp, gây ra hàng ngàn trường hợp tử vong sớm trên thế giới do các bệnh hô hấp. Nhà sản xuất 3M có trụ sở ở Minnesota đã tạo ra một loại vật liệu dùng trong tấm lợp mái ngói, khi gặp tia UV mặt trời sẽ phá vỡ các hạt khói có cấu tạo NOx thành các Ion Nitrat hòa tan trong nước (NO3) có thể rửa trôi bằng nước mưa và làm giảm ô nhiễm không khí. Một trong những nhà  sản xuất mái lợp hàng đầu Hoa Kỳ là Malarkey Roofing đã trở thành khách hàng của 3M và cho biết đầu năm 2018, họ sẽ kết hợp các hạt vật liệu trên vào trong tất cả tấm lợp mái nhà của mình. Theo ước tính của 3M, các sản phẩm của Malarkey làm giảm lượng khói tương đương với 100.000 cây xanh. Ông Josh Orman, giám đốc chiến lược và tiếp thị tại 3M hi vọng “năm tới con số này sẽ là 200.000 , và năm sau nữa sẽ đạt tới 400.000”.  Chi phí sản phẩm: Liên hệ.    12. LIA : Que thử thai riêng tư  Các que thử thai bằng nhựa tạo ra khoảng 900 tấn rác thải hằng năm, con số này khiến Bethany Edwards quyết định phát triển sản phẩm thay thế LIA làm bằng giấy có thể phân hủy sinh học. Nhưng khi bắt đầu làm, cô nhận ra sản phẩm này cũng có thể giải quyết một vấn đề khác. “Ai thử thai mà không từng phải giấu que nhựa trong thùng rác? Đó là một nhu cầu riêng tư mà phụ nữ chưa được đáp ứng.” Bởi vì que thử LIA làm bằng giấy, nó có thể được xả vào bồn cầu dễ dàng và kín đáo hơn. Bản thử nghiệm dự kiến sẽ được bán vào đầu năm 2019 và sẽ có giá tương đương với các loại que thử truyền thống. Hiện tại, sản phẩm đã có danh sách hơn 28.000 người chờ mua.  Chi phí sản phẩm:  Khoảng  9 – 22 USD    13. Vịt máy Aflac: Bạn đồng hành cho trẻ em bị ung thư  Nhiều đứa trẻ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cho biết điều khó nhất là cảm giác bị mất kiểm soát đối với cuộc sống của mình. Tập đoàn bảo hiểm khổng lồ Aflac đang phân phối miễn phí chú vịt máy Aflac cho bệnh nhân nhí nhằm mục đích khôi phục quyền kiểm soát đó.  Người bạn vịt máy này có nhiều tính năng: Một bộ truyền tĩnh mạch (IV) cho phép trẻ em “điều trị” vịt bằng hóa trị liệu để biết được quy trình điều trị hoạt động thế nào, và các thẻ biểu tượng cảm xúc khi chạm vào ngực của chú vịt sẽ khiến nó biểu hiện ra những cảm xúc mà trẻ em đôi khi quá sợ hãi hoặc bối rối để bày tỏ với bác sĩ.  “Trải nghiệm này không chỉ là việc điều trị y tế tốt hơn, mà còn là việc khiến các em hạnh phúc”, ông Aaron Horowitz, nhà thiết kế tại công ty công nghệ chăm sóc sức khỏe Sproutel cho biết. Tập đoàn Aflac đã liên kết với Sproutel để thực hiện dự án này sau khi Sproutel tung ra một món đồ chơi tương tự (chú gấu Jerry) cho trẻ em bị tiểu đường.  Chi phí sản phẩm: Miễn phí    14. Zipline thế hệ 2: Máy bay giao hàng cứu hộ không người lái  Năm 2016, Zipline đã làm nên lịch sử khi ra mắt dịch vụ giao hàng bằng máy bay thương mại không người lái đầu tiên ở quốc gia Rwanda ở Đông Phi, thúc đẩy việc vận chuyển máu và thuốc men y tế thiết yếu cho những cộng đồng hẻo lánh nhất thế giới. Năm 2018, công ty khởi nghiệp có trụ sở tại California này đã tiến lộ một bước tiến mới khi máy bay cánh cố định của họ có thể chở được 1,8 kg  với vận tốc 130 km/h và quãng đường khứ hồi tối đa 160 km – khiến nó trở thành máy bay thương mại giao hàng không người lái nhanh nhất và hiệu quả nhất thế giới. Công ty đã hợp lý hóa quá trình cất cánh và thu hồi khiến máy bay Zips thế hệ hai có thể thực hiện 500 lần giao hàng mỗi ngày từ trung tâm cất cánh so với 50 lượt giao hàng trước kia. Bên cạnh việc tiếp tục phục vụ các cộng đồng nông thôn ở Châu Phi, startup này có tham vọng hơn nữa khi gần đây công ty đã bắt đầu thử nghiệm cung cấp y tế khẩn cấp ở Hoa Kỳ và sẽ cung cấp dịch vụ thường xuyên ở Bắc Carolina vào đầu năm 2019.  Chi phí sản phẩm: Liên hệ.    15. Harry Potter Kano Coding Kit: Đũa phù thủy giúp trẻ lập trình  Harry Potter đã khiến trẻ em hào hứng đọc sách. Giờ đây công ty Kano, nhà sản xuất bộ máy tính thân thiện với trẻ em, muốn làm điều tương tự cho lập trình máy tính. Bộ công cụ lập trình Harry Potter của công ty thách thức người dùng hoàn thành các nhiệm vụ trong một thế giới phù thủy ảo bằng cách lập trình các “thần chú phép thuật”. Khi người dùng nhập một loạt các lệnh, họ có thể chạy chương trình bằng cách dùng cây đũa phép vật lý, ví dụ vẩy đũa lên làm thay đổi màu sắc của một lọ thuốc ảo hoặc vẩy đũa sang ngang khiến vật bay lên – tương tự như logic “Nếu – Thì” nền tảng trong lập trình máy tính truyền thống. Kano đã làm việc với cơ quan đại diện văn học của J.K. Rowling và hãng Warner Bros để đảm bảo nền tảng của họ thể hiện được sự kỳ diệu của thế giới phù thủy. Ông Alex Klein, Giám đốc điều hành của Kano, cho biết ý tưởng là mang đến những “thách thức sáng tạo” cho người dùng khiến họ có khả năng giải quyết các vấn đề cả trên máy tính và trong cuộc sống.  Chi phí sản phẩm: 100 USD     Ngô Hà lược dịch  http://time.com/collection/best-inventions-2018/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ràng buộc đối với tăng trưởng      Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2014,  do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc ĐH Kinh tế  (Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện, tập trung phân tích những ràng buộc  đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung và dài hạn, dựa  trên phương pháp chẩn đoán tăng trưởng.     Sáng 29/05/2014 tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp cùng Đại sứ quán Australia tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo công bố Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2014. Báo cáo nhận định tình hình tăng trưởng kinh tế năm qua đã có dấu hiệu phục hồi, tuy vậy gốc rễ của những chuyển biến tích cực đó chưa thực sự vững chắc.  Theo TS Nguyễn Đức Thành – Giám đốc VEPR – kết quả báo cáo đã đưa ra những thông số tích cực, thể hiện một trạng thái ổn định ở cấp vĩ mô và sự phục hồi nhẹ trong kinh tế Việt Nam trong năm qua: tăng trưởng GDP đạt 5,42%, nhích nhẹ so với 2012; lạm phát tiếp tục giảm xuống còn 6,04%, mức thấp nhất trong 13 năm qua.  Tuy vậy, báo cáo cũng chỉ ra rằng năng lực sản xuất căn bản của nền kinh tế vẫn chưa thực sự vững chắc: khối doanh nghiệp trong nước tỏ ra yếu đuối và tụt hậu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào các nhân tố theo chiều rộng, chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện ở việc hiệu quả sử dụng các nguồn lực thấp, cấu trúc tăng trưởng bất hợp lý, năng lực cạnh tranh quốc gia thấp.  Với tiêu đề “Những ràng buộc đối với tăng trưởng”, báo cáo năm nay tập trung phân tích, nghiên cứu sâu về những ràng buộc đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung và dài hạn, dựa trên phương pháp chẩn đoán tăng trưởng.   Cụ thể ba ràng buộc chính được phân tích sâu là: khía cạnh tài chính, được tiếp cận thông qua việc đánh giá hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bằng bộ chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs); những thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế sắp tới; ràng buộc về mặt năng lượng thông qua sự lựa chọn chính sách năng lượng của Việt Nam.   Hội đồng phản biện, bao gồm TS Vũ Viết Ngoạn- Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, TS Lê Đăng Doanh- nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW (CIEM), và TS Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng CIEM, đã đánh giá cao tính khái quát, khoa học, bài bản và công phu của báo cáo.   Tuy vậy, nhiều chuyên gia đánh giá phần dự báo viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2014 và những khuyến nghị chính sách vẫn còn chung chung, chưa nêu bật được những giải pháp cụ thể trọng yếu để kinh tế Việt Nam vượt qua được những trở ngại hiện tại. Thêm vào đó, báo cáo cũng cần cập nhật thêm những tác động mạnh mẽ của mối quan hệ Việt Nam- Trung Quốc sau những diễn biến căng thằng ở biển Đông gần đây.   Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam, được VEPR xây dựng lần đầu tiên năm 2009, nhằm tổng kết các vấn đề kinh tế lớn trong năm, đồng thời thảo luận về viễn cảnh kinh tế năm tới và khuyến nghị chính sách phù hợp.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những rào cản cố hữu      Trong quá trình xây dựng thương hiệu quốc  gia mang tầm cỡ toàn cầu, chúng ta cần nhận diện để có cách thức vượt  qua các rào cản cố hữu:    1. Tâm lý sính ngoại và văn hóa âm tính của thị trường tiêu dùng nội địa  Doanh nghiệp và thương hiệu Việt không thể thành công và thành công bền vững ngay tại thị trường nội địa nếu thiếu đi sự ủng hộ có ý thức cao của cộng đồng, thiếu đi nhận thức rằng chính các doanh nghiệp và thương hiệu nội địa tốt sẽ tạo nên tự chủ và sức mạnh cho quốc gia. Cần phải có các giải pháp tổng thể của Nhà nước và xã hội về giáo dục, đào tạo, truyền thông, giải trí, tuyên truyền để tạo nên một văn hóa tiêu dùng thông minh, lành mạnh và có chiến lược của cộng đồng.    2. Sự bất lợi của thương hiệu khi có xuất xứ từ một quốc gia đang phát triển  Đây là một hạn chế cần hóa giải, vì rõ ràng là một thương hiệu có xuất xứ từ Việt Nam sẽ có bất lợi lớn hơn rất nhiều so với một thương hiệu đến một quốc gia phát triển có tính biểu tượng cao như Mỹ, Nhật, EU. Khai thác tối đa lợi thế tại các thị trường đồng cấp hoặc kém phát triển hơn Việt Nam.  Một số hướng giải pháp có thể áp dụng là: Tạo ảnh hưởng lên các trọng điểm phát ngôn của thế giới, thiên về sử dụng chỉ dẫn điểm tiêu dùng hơn là chỉ dẫn xuất xứ (ví dụ Hiệu ứng NLP (New York, London, Paris- các thành phố biểu tượng); mượn xuất xứ từ các trung tâm kinh doanh toàn cầu (các mô hình off-shore); tạo ra các định vị ngành, định vị thương hiệu xuất xứ…  3. Hạ tầng hỗ trợ xã hội còn yếu kém  Xét một cách khách quan, nền tảng của Việt Nam chưa hoàn toàn sẵn sàng cho cuộc chơi toàn cầu về nguồn nhân lực, vốn, công nghệ… Nhưng cùng lúc, thế giới phẳng hóa cho phép chúng ta tiếp cận được những nguồn lực hàng đầu thế giới, điều mà trước đây là vô cùng khó khăn. Giải pháp là các doanh nghiệp phải chủ động dựa trên hậu phương nội địa, sử dụng nguồn lực một cách khôn ngoan để “mua” và hấp thụ: vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, mạng lưới… hàng đầu thế giới phục vụ cho mục tiêu Việt Nam.  4. Cảnh giác với “bẫy phát triển”  Sự cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh có kinh nghiệm và tiềm lực hơn hẳn. Bản chất thị trường Việt Nam đã đang ngày càng trở thành một thị trường có tính chất toàn cầu, với sự tham gia của các tay chơi số 1 thế giới. Họ không những hơn hẳn về kinh nghiệm quản trị, cung cận, vận hành… và tiềm lực tài chính… để áp đảo doanh nghiệp trong nước, thậm chí các chiêu thức và thủ thuật cũng hết sức tinh vi.  Đồng thời cũng không loại trừ ngay chính các doanh nghiệp trong nước không ý thức được sự đoàn kết và lợi ích chung của cộng đồng doanh nghiệp Việt mà áp dụng các chiêu thức và thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh với chính các doanh nghiệp đồng bào của mình. Doanh nghiệp Việt phải hết sức cảnh giác với cái bẫy phát triển, chiêu thức của sát thủ kinh tế, chống lôi kéo nhân sự chủ chốt, giữ tự chủ chống bị thâu tóm và sáp nhập…  Hạn chế trong năng lực và nghệ thuật quản lý kinh doanh, đặc biệt khâu xây dựng thương hiệu. Việt Nam là một nước đi sau trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh toàn cầu hóa, xa hơn nữa, trong lịch sử văn hóa Việt Nam không phải là một nền văn hóa cổ vũ và có truyền thống về thương mại và kinh doanh. Do đó, chúng ta rất hạn chế trong năng lực và nghệ thuật quản trị kinh doanh.  Mặt khác, với vị thế đi sau như vậy, nếu chúng ta chỉ học hỏi phương pháp và nghệ thuật quản lý kinh doanh từ bên ngoài thì chúng ta không thể nào vượt lên được, sẽ luôn là đi sau. Vì thương trường là chiến trường, nên giải pháp là vừa phải nhanh chóng học hỏi cốt lõi và bản chất của nghệ thuật quản lý kinh doanh đương đại, kết hợp với nghệ thuật chiến thắng ưu việt nhất của văn hóa và lịch sử Việt Nam – nghệ thuật chiến tranh nhân dân phải được áp dụng và biến thành một nghệ thuật kinh doanh mang đặc trưng và tạo ra sức mạnh cho doanh nghiệp, thương hiệu Việt.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những sắc thái của các đại gia công nghệ      Một loạt các hãng công nghệ khổng lồ trên  thế giới vừa công bố báo cáo tài chính quý 2 năm 2013, cho thấy những  sắc thái khác nhau của cả lời lẫn lỗ.    Mới nhất là ngày hôm nay, hãng Samsung công bố báo cáo tài chính quý 2 của mình với những con số ăn nên làm ra.   Doanh thu 51 tỉ USD, lợi nhuận 8,5 tỉ USD là những gì Samsung đạt được trong quý 2 năm 2013 trong đó các sản phẩm chủ lực là những chiếc điện thoại thông minh và các màn hình TV được bán ra trên khắp thế giới.   Samsung là một trong những ông lớn đang ăn nên làm ra trong ngành công nghệ thế giới.  Báo cáo tài chính quý 2 của Apple cũng ghi nhận những thông tin về kỷ lục khi trong trong quý này hãng đạt doanh thu 35,3 tỉ USD, lợi nhuận 6,9 tỉ USD. Apple là hãng công nghệ nổi danh với những chiếc điện thoại iPhone và máy tính bảng iPad.  Báo cáo tài chính của LG cũng cho thấy hãng kết thúc quý 2 với 139 triệu USD lợi nhuận ròng, doanh thu 13,6 tỉ USD.  Trong khi đó, Facebook đạt những con số cực kỳ ấn tượng với doanh thu 1,81 tỉ USD, lợi nhuận 333 triệu USD.  Báo cáo tài chính của Facebook cho thấy doanh thu của hãng công nghệ này đã tăng 50% so vớn cùng kỳ năm ngoái, và tăng 23% so với quý trước đó.   Facebook đã gặp nhiều khó khăn khi phát hành cổ phiếu ra công chúng hồi năm ngoái, nhưng nhờ bắt kịp nhu cầu của người dùng mạng xã hội trên điện thoại di động, nên nhà phát triển mạng xã hội này đã rất thành công.   Đại gia ngành công nghệ Google có mức doanh thu kỷ lục khi đạt 14,11 tỉ USD với lợi nhuận 3,23 tỉ đô la, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt là 19% và 15,5%.  Yahoo! cũng nằm trong số những ông lớn gặp cảnh doanh thu giảm khi chỉ đạt 1,13 tỉ USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, lợi nhuận của Yahoo! lại tăng mạnh so với cùng kỳ khi đạt 137 triệu USD so với 55 triệu USD, tăng 150%.   Còn hãng Intel chuyên sản xuất chip khá ổn định khi doanh thu tăng 2% với 12,8 tỉ USD, nhưng lợi nhuận lại giảm 2% so với quý 1, nhưng lại giảm 5% doanh thu và 28,5% lợi nhuận so với cùng kỳ năm trước.   Trong khi đó, ông lớn một thời là Nokia dù đạt doanh thu gần 7,5 tỉ USD, nhưng vẫn chưa có lợi nhuận khi lỗ khoảng 150 triệu USD.  Giới phân tích đã bình luận khá nhiều về sự sa sút của Nokia khi chậm bắt nhịp với công nghệ trên điện thoại di động thông minh, và dù mới vài năm gần đây Nokia trở lại thị trường với các sản phẩm điện thoại thông minh, nhưng dường như đã quá trễ so với hai ông lớn khác là Apple và Samsung.  Một nhà sản xuất điện thoại di động khác là HTC cũng khá không thành công lắm khi đạt 2,36 tỉ USD doanh thu. Dù hãng đã có gần 35 triệu USD lợi nhuận nhưng con số này giảm 80% so với cùng kỳ năm ngoái.   Một đại gia ngành công nghệ khác là Microsoft chứng kiến doanh thu tăng 10% so với cùng kỳ khi đạt gần 20 tỉ USD. Lợi nhuận của công ty này cũng ở mức gần 5 tỉ USD.  Microsoft được cho là khá thất bại với sản phẩm máy tính bảng Surface RT khiến cho hãng này bị mất đi gần một tỉ USD.  Hoàng Phi tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những sắc thái vĩnh cửu của khuôn mặt      Có khi nào, con người thuộc những nền văn hóa khác nhau, những khung thời gian khác nhau lại có sự tương đồng về biểu hiện của sắc thái tình cảm trên khuôn mặt?      Từ lâu, các nhà thơ, nhà viết kịch, họa sĩ hay các nhà điêu khắc thường dành nhiều thời gian để miêu tả sự biểu hiện của xúc cảm con người – cười mỉm, cười phá lên trong hạnh phúc không thể kìm nén khi đón nhận niềm vui hoặc nhỏ lệ, đau đớn trong một thảm kịch mà mình phải hứng chịu. Dường như họ thống nhất với nhau ở một quan điểm, đó là con người ở mọi nền văn hóa thường có những biểu hiện cảm xúc giống nhau.   Quan điểm này dường như cũng thể hiện một cách rõ nét trong nhiều bối cảnh giao tiếp. Ví dụ người ta có thể nói rất nhiều về trạng thái tình cảm của một người khác khi quan sát khuôn mặt họ. Một cái nhìn nhanh cũng có thể đem lại ý tưởng là liệu người đối diện hạnh phúc hay giận dữ, qua đó cho phép điều chỉnh hành vi ứng xử theo một cách phù hợp. Việc ghi nhận nhanh và chính xác các trạng thái cảm xúc, đặc biệt là sợ hãi hay giận dữ, có thể giúp ai đó có được thời gian tối ưu để quay đầu chạy trốn trước tình huống có thể bị tấn công.   Tuy vậy, không phải bao giờ người ta cũng đoán đúng. Hàng thập kỷ qua, các nhà khoa học xã hội không ngừng tranh luận với nhau về điều này. Một số ngả theo quan điểm của các nghệ sĩ là con người đều tiến hóa theo những mẫu hình biểu hiện phi ngôn ngữ cụ thể, như cười lớn, khóc lóc, ôm hôn, thở dài… đều bao hàm những ý nghĩa cụ thể và được hình thành từ những trải nghiệm chủ quan của con người… Bằng chứng là nhiều nghiên cứu cho thấy sự tương đồng về biểu cảm trong mặt người ở nền văn hóa ở giai đoạn chưa có chữ viết và phát triển trong những vùng địa lý bị cô lập và những nền văn hóa có chữ viết.   Một quan điểm khác cho rằng, ý nghĩa của những biểu hiện của khuôn mặt người phản ánh tính xã hội và mang sự khác biệt cao giữa các nền văn hóa. Họ lập luận là ban đầu, con người có những biểu cảm tương tự nhau nhưng sau đó, do có sự khác biệt về văn hóa liên quan đến các loại cử động của các sợi cơ trên khuôn mặt nên đã tạo thành một số cảm xúc khác biệt nhất định, nghĩa là các biểu hiện đó đã tiến hóa theo sự phát triển của văn hóa.    Các biểu hiện trên khuôn mặt đã được phát triển để truyền đạt nhiều loại cảm xúc hơn những gì các nhà khoa học vẫn thường nghĩ.    Vậy các biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt mang tính phổ quát hay chúng được định hình bởi văn hóa? Ẩn bên trong câu hỏi khó xác quyết này là vấn đề chung của con người: cảm xúc trước những trải nghiệm được coi là quan trọng nhất trong cuộc sống – niềm vui, hạnh phúc, đau đớn, mất mát, chiến thắng, thất bại… nên được hiểu là thuộc về bản chất sinh học của con người hay là sản phẩm của các nền văn hóa. Khó khăn chính trong việc đi đến đồng thuận hay bác bỏ là tìm cho ra một cách tiếp cận hợp lý và thuyết phục để kiểm tra các đặc tính này. Bởi có một điểm đáng chú ý là nhiều nghiên cứu trước đây thường so sánh những người thuộc các nền văn hóa phương Đông hoặc thuộc về các nền văn hóa bản địa ở các vùng đất khác và người phương Tây. Nhiều người cho rằng cách làm này có không ít thiên kiến bởi lấy biểu hiện tình cảm của người phương Tây làm chuẩn mực. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu thường mời những người ở các nền văn hóa khác nhau cùng xem các bức ảnh của những người ở các nền văn hóa khác để hỏi họ có nhận diện được những biểu hiện tình cảm tương tự không? Tuy nhiên cách làm này cũng không mấy khách quan khi đưa ra những bức ảnh đã được sàng lọc, các nhà nghiên cứu vô hình trung làm sai lệch câu trả lời theo định hướng của mình.  Trong một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Science Advance, “Universal facial expressions uncovered in art of the ancient Americas: A computational approach” (Những biểu hiện phổ quát trên khuôn mặt được khám phá trong nghệ thuật châu Mỹ cổ đại: Một cách tiếp cận tính toán), Alan Cowen và Dacher Keltner của Đại học California, Berkeley, đã đề xuất ý tưởng là có một số biểu hiện phổ quát trên các khuôn mặt người ở các nền văn hóa khác nhau, dù thuộc về nền văn hóa Maya hay nền văn hóa hiện đại.  Nét chung, nét riêng  Những gì cần thiết để biết là liệu con người sống trong bối cảnh bị cô lập với thực dân phương Tây có cho thấy bằng chứng về tính phổ quát trong việc ghi nhận biểu hiện của khuôn mặt không? Đây là một câu hỏi làm nền cho nhiều nghiên cứu, vốn phụ thuộc vào một số hình thức của tiếp xúc, và đều đem lại câu trả lời hạn chế. Do đó, để phân tích sự phổ quát của biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt, nhà tâm lý học Dacher Keltner và nhà thần kinh học tính toán Alan Cowen đã có một ý tưởng thú vị, đó là tìm đến những pho tượng được chế tác trước khi những người châu Âu đặt chân đến châu Mỹ.   Những bức tượng châu Mỹ cổ đại trong các bảo tàng nghệ thuật được khảo sát. Nguồn: Dacher Kelner  Họ đã đến các bảo tàng danh tiếng như Viện Nghệ thuật Chicago, Bảo tàng Nghệ thuật Los Angeles, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, Bảo tàng Nghệ thuật Đại học Princeton , Bảo tàng Mỹ thuật Boston, Bảo tàng Khảo cổ học và Dân tộc học Harvard…, nơi có hàng trăm nghìn đồ điêu khắc nền văn hóa Mesoamerican trong những bảo tàng danh tiếng, đồng thời mời một chuyên gia từng là người phụ trách một bộ sưu tập lớn gồm các tác phẩm nghệ thuật cổ đại của châu Mỹ tại Bảo tàng Michael C. Carlos của Đại học Emory trong 30 năm. Bà đã xác thực hơn 2.500 tác phẩm bằng hiểu biết của mình và cả các thử nghiệm khoa học với các tiêu chí rất chặt chẽ do trước đây có nhiều lo ngại về tính xác thực của nhiều tác phẩm điêu khắc cổ của châu Mỹ.  Các bức tượng mà họ tìm đến là thuộc về nhiều nền văn hóa châu Mỹ cổ đại cách xa nhau về địa lý và có niên đại trước 1500 năm trước Công nguyên. Một điểm kỳ lạ là dù cảm xúc hiếm khi thể hiện trong nhiều hình thức nghệ thuật tạo hình – vốn phụ thuộc vào nguyên mẫu – nhưng những bức tượng nhỏ, phù điêu và điêu khắc châu Mỹ cổ đại đôi khi lại miêu tả những đường nét trên khuông mặt khá rõ nét. Hai nhà khoa học cho rằng, các bức tượng này phần lớn đã bị đặt ra ngoài bối cảnh nguyên bản của nó, thì vẫn có thể nhận diện được những khía cạnh của bối cảnh mà các nguyên mẫu được lột tả, ví dụ có thể là đang lúc trở dạ, chơi một môn thể thao hoặc đang bị giam giữ. “Thật may mắn, những manh mối về bản chất cả biểu hiện cảm xúc trong các nền văn hóa không tiếp xúc với văn hóa phương Tây có thể nằm ở khía cạnh khác. Cụ thể, những chân dung nghệ thuật biểu hiện cảm xúc của văn hóa phương Tây có nét tương đồng với châu Mỹ cổ đại, đi trước cả khi có sự tiếp xúc của các nền văn minh phương Tây và châu Mỹ”, Dacher Kelner viết trong công bố.  Hai nhà khoa học tiếp tục đặt vào đó các tiêu chí quan trọng: khắc họa con người trong bối cảnh có thể nhận diện được; miêu tả các khuôn mặt rõ nét; được các chuyên gia xác thực là nguyên bản châu Mĩ. Từ một số lượng lớn này, họ sàng lọc được 63 bức, khắc họa chân dung của con người trong tám bối cảnh dễ nhận diện: đang bị giam giữ, đang bị tra tấn, mang vật nặng, ôm ai đó, bế một đứa trẻ, đang chiến đấu, chơi bóng, chơi nhạc…    Khi so sánh nét mặt phương Tây và nét mặt phương Đông, nhiều nghiên cứu cho thấy, có thể tồn tại sự khác biệt giữa các nền văn hóa trong cách diễn giải biểu hiện của hạnh phúc, ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, tức giận hay buồn bã trên khuôn mặt của người khác.    Để hoàn tất đánh giá, họ tuyển dụng 325 người tham gia nói tiếng Anh có độ tuổi trung bình gần 36 và cho họ nhìn ngắm duy nhất hình ảnh khuôn mặt của từng tác phẩm điêu khắc mà không để lộ toàn bộ tác phẩm điêu khắc hoặc phân biệt được bối cảnh của nó bởi lo ngại rằng những biểu hiện bên ngoài như thương tích, bế em bé… có thể bộc lộ sự tương quan về cảm xúc trên khuôn mặt các bức tượng. Những người này đã đánh giá mức độ cảm xúc của khuôn mặt, chẳng hạn như sợ hãi và tức giận, hoặc những trạng thái cảm xúc tinh tế hơn, chẳng hạn như sự dễ chịu và tỉnh táo.  Cùng với đó, có 114 người khác đánh giá online mức độ cảm xúc được mô tả bằng văn bản về cảm xúc trên mỗi tác phẩm điêu khắc. Biểu cảm khuôn mặt của mỗi tác phẩm thường phù hợp với những gì người tham gia thường thấy trong mỗi tình huống, ví dụ bức tượng có biểu hiện đau đớn và khổ ải thường có ở những cá nhân được điêu khắc cho thấy bị tra tấn, tương đồng với những gì người phương Tây dự đoán sẽ xảy ra. Tuy nhiên để cho chắc chắn, các nhà khoa học đã áp dụng phương pháp phân tích thành phần chính được bảo toàn (PPCA) để xác định số chiều, hay nói cách khác là các biến biểu cảm, cho thấy sự tương đồng giữa biểu cảm trên khuôn mặt mỗi bức tượng và những kỳ vọng cảm xúc của người phương Tây. Như vậy cả hai nhóm tham gia đều diễn giải các tác phẩm điêu khắc theo cách tương tự như cách mà người nói tiếng Anh trong xã hội phương Tây chờ đợi ai đó cảm nhận trong từng bối cảnh.   Nhà tâm lý học Dacher Keltner viết trong công bố, “phát hiện của chúng tôi cho thấy các tác phẩm nghệ thuật châu Mỹ cổ đại mô tả cấu hình cơ mặt mà người phương Tây công nhận là biểu hiện của ‘đau đớn’, thường gắn liền với ngữ cảnh bị tra tấn; ‘sự quyết tâm’/’căng thẳng’, liên quan đến ngữ cảnh của việc nâng vật nặng; ‘tức giận’, thường xảy ra trong ngữ cảnh chiến đấu; ‘sự phấn khích’ – thường trong bối cảnh gắn liền với gia đình, xã hội; ‘buồn bã’, thường trong bối cảnh bị giam cầm (thất bại)”. Điều này vượt qua sự nhầm lẫn của các nghiên cứu dựa trên khảo sát vốn là tiêu điểm của cuộc tranh luận về tính phổ quát của cảm xúc.  Mặt khác, các kết quả cũng cho thấy “sự phổ biến của ít nhất năm loại biểu hiện trên khuôn mặt: những biểu hiện liên quan đến đau đớn, tức giận, quyết tâm/căng thẳng, phấn khích và buồn bã”. Điều thú vị là năm cảm xúc phổ biến này lại không trùng khớp với bảy cảm xúc cơ bản: tức giận, ghê tởm, sợ hãi, ngạc nhiên, hạnh phúc, buồn bã và khinh thường. Thêm một điểm đáng chú ý là những trạng thái tình cảm như sự khinh miệt, ghê tởm và kinh hãi phổ biến hơn tất thảy. Có vẻ như ở mọi nền văn hóa thì một số biểu hiện trên khuôn mặt có thể phổ biến hơn những biểu hiện khác.  Những phát hiện này cho thấy, các biểu hiện trên khuôn mặt đã được phát triển để truyền đạt nhiều loại cảm xúc hơn những gì các nhà khoa học vẫn thường nghĩ. “Nó cho thấy chúng ta đã được chuẩn bị về mặt sinh học biểu hiện của các trạng thái cảm xúc nhất định với những hành xử cụ thể, làm sáng tỏ bản chất phản ứng của chúng ta đối với các trải nghiệm được cho là có thể đem ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta”, Dacher Keltner viết.   Biểu cảm có vượt qua ranh giới văn hóa?  Liên quan đến cuộc tranh luận kéo dài hàng thập kỷ nên nghiên cứu này ngay lập tức thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Nhà tâm lý học Jessica Tracy của Đại học British Columbia đánh giá, mối liên hệ giữa các nhóm tác phẩm cổ đại và người hiện đại đã “ủng hộ cho ý tưởng về tính phổ quát và nguồn gốc di truyền của những biểu hiện cảm xúc [cụ thể] này”.   Như vậy chúng ta có thể khép lại câu hỏi về việc liệu những biểu cảm trên khuôn mặt có phổ quát? Hóa ra là không hề.   Một nhà nhà tâm lý học là Deborah Roberson của Đại học Essex thừa nhận trên Science News là bất chấp cách tiếp cận của Keltner và Cowen mới lạ nhưng phát hiện của họ cũng sẽ không thể giải quyết được cuộc tranh luận tồn tại bấy lâu nay. Bởi về bản chất thì các nền văn hóa cổ đại có thể sử dụng các hình thức giao tiếp cảm xúc đặc biệt, phi ngôn ngữ mà con người hiện đại đơn giản là không thể nhận ra.  Viết trên Conversation, Megan Willis của trường Tâm lý, Đại học Công giáo Australia, cho rằng “Vẫn không rõ là liệu những tác phẩm nghệ thuật được chọn lọc có phản ánh đúng cuộc sống và trải nghiệm cảm xúc của những người được miêu tả hay không. Điều đó có nghĩa là, chúng có thể không đem lại cái nhìn trực diện và sâu sắc về cảm xúc của người châu Mỹ cổ đại”. Cô cũng cho rằng bản thân các tác phẩm điêu khắc này cũng có giới hạn khi chỉ quy tụ được một số cảm  xúc cơ bản của con người chứ không phải tất cả các cảm xúc phổ biến  Bản thân hai nhà nghiên cứu Đại học California, Berkeley cũng nhận thấy giới hạn trong nghiên cứu của mình. “Chúng tôi thiếu cái nhìn trực tiếp vào cảm xúc của người châu Mỹ cổ đại. Những gì chúng tôi có thể kết luận là các nghệ sĩ châu Mỹ cổ đại đã có chung chia sẻ với một số mối liên hệ của người phương Tây hiện đại giữa biểu cảm của cơ trên khuôn mặt và bối cảnh xã hội mà chúng có thể xuất hiện, những mối liên hệ có trước bất kỳ mối liên hệ nào giữa phương Tây và châu Mỹ cổ đại”.   Tuy nhiên nhiều nhà khoa học xã hội lập luận rằng, không thể giả định theo cách mà chúng ta giải thích ngày hôm nay chính là cách mà các nền văn hóa cổ đại đã nếm trải. Deborah Roberson trả lời Science News là có những khác biệt tinh tế về cách người Maya biểu lộ chính mình trong quá khứ và cách chúng ta biểu lộ chính mình ngày hôm nay.  Những biến đổi tinh vi như vậy không xa lạ với chúng ta. Ví dụ, khi so sánh nét mặt phương Tây và nét mặt phương Đông, nhiều nghiên cứu cho thấy, có thể tồn tại sự khác biệt giữa các nền văn hóa trong cách diễn giải biểu hiện của hạnh phúc, ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, tức giận hay buồn bã trên khuôn mặt của người khác. Những người nói tiếng Anh ngày nay nhất quán về cách biểu hiện cảm xúc nhưng với con người thuộc về các nền văn hóa châu Mỹ cổ đại có thể có những cách giao tiếp cảm xúc phi ngôn ngữ mà các nhà nghiên cứu ngày nay chưa nhận ra được, thậm chí là không bao giờ.  Có người đồng tình với quan điểm này của Deborah Roberson. Theo nhà tâm lý học Maria Gendron của Đại học Yale thì ý nghĩa của các trạng thái cảm xúc trên khuôn mặt có thể không tương đương giữa các nền văn hóa, cô nói. Ví dụ, những người sống ở nhóm đảo Trobriand, Papua New Guinea, thể hiện nỗi tức giận và sự đe dọa trên khuôn mặt trợn tròn, mồm há hốc trong khi dưới con mắt người phương Tây, đó là biểu hiện của sự sợ hãi. Trong khi đó, những người sống trong các cộng đồng nhỏ và tương đối biệt lập, như nông dân trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở Himba và miền Nam châu Phi có cách thể hiện cảm xúc trên khuôn mặt khác với người phương Tây, Roberson nói. Trong những xã hội truyền thống như vậy, mọi người đều hiểu rõ về nhau, vì vậy không cần cho rằng nét mặt phản ánh những trạng thái cảm xúc cụ thể.  Sống trong thế giới toàn cầu hóa, hiểu biết về sự tương đồng hoặc khác biệt giữa biểu cảm con người giữa các nền văn hóa đem lại khả năng phản ứng trước những tín hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ để tránh lâm vào những tổn thất, hiểu lầm không đáng có. Tuy nhiên, có thể vẫn có những khác biệt xảy ra. Nếu ai đó thường xấu tính, cáu kỉnh và thủ đoạn thì người ta có thể sẽ luôn phải đề phòng họ, ngay cả khi họ đang mỉm cười.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://www.smithsonianmag.com/smart-news/can-ancient-statues-reveal-universal-facial-expressions-180975666/  https://theconversation.com/surprise-facial-expressions-arent-necessarily-universal-6767  https://phys.org/news/2020-08-ancient-mayan-facial-universal.html  https://medicalxpress.com/page200.html    Author                .        
__label__tiasang Những sáng tạo nâng giá trị lúa gạo      Chọn hướng phát triển gắn liền với đổi mới công nghệ, công ty TNHH Cơ khí công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ đã gặt hái được nhiều thành công, không những đánh bay hàng ngoại nhập ở thị trường trong nước mà còn trở thành bạn hàng thân thiết của nhiều hãng xuất khẩu gạo lớn ở Indonessia, Ấn Độ, Thái Lan, Philippinnes.    Con đường đến thành công của công ty Bùi Văn Ngọ không hề thuận lợi. Xuất thân từ một cơ sở sản xuất cơ khí của gia đình chuyên sản xuất máy ép mía, máy xay lúa, cơ sở Bùi Văn Ngọ đã sáp nhập vào HTX cơ khí Hậu Giang vào năm 1975 nhưng sau đó bốn năm, HTX này bị giải thể. Khi tái thành lập, cơ sở Bùi Văn Ngọ tiếp tục sản xuất các mặt hàng truyền thống của mình.   Vào thời điểm đó, ông Bùi Văn Ngọ đã quyết định trao quyền điều hành, quản lý cho con cái để tập trung vào nghiên cứu, tìm tòi về các thiết bị xay xát lúa gạo, loại sản phẩm gắn liền với vụ mùa của người nông dân khu vực ĐBSCL. Trong giai đoạn đầu, cơ sở tiếp nhận một số máy móc công cụ của Liên Xô từ các nhà máy cơ khí phía Bắc nhưng sau đó chuyển hướng nhập các thiết bị cắt gọt kim loại và tự chế tạo nhiều thiết bị khác để sản xuất ra các máy móc xay xát lúa gạo, thay thế các loại máy cũ như Yanmar, Satake, Shuller…  Năm 1993, ông Bùi Văn Ngọ đã mở rộng quy mô sản xuất khi xây dựng thêm một xưởng sản xuất thiết bị tại thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, qua đó nâng cao số lượng sản phẩm, phân phối rộng rãi cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Chỉ ba năm sau, ông Bùi Văn Ngọ đã xuất hai lô hàng đầu tiên sang chào hàng ở Thái Lan và Indonesia. Được chào đón vì tính ứng dụng cao, các máy móc thiết bị của cơ sở Bùi Văn Ngọ liên tiếp đến với các bạn hàng quốc tế.  Trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm sản xuất, công ty Bùi Văn Ngọ (chuyển đổi sang công ty TNHH cơ khí công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ từ năm 2001) đã có thành công mang bước đột phá là cho ra đời máy xát trắng gạo mới, được Cục Sở hữu Công nghiệp Việt Nam cấp bằng độc quyền sáng chế. Sau bước ngoặt này, công ty liên tục đưa ra nhiều cải tiến, đổi mới như dây chuyền máy thu gọn máy xát gạo CRM (Compact Rice Mill) vào năng 2004, đạt năng suất 2 tấn/giờ, 3 tấn/giờ, 4 tấn/giờ và 6 tấn/ giờ. Được đánh giá là loại sản phẩm có kết cấu gọn ghẽ, phối hợp hài hòa giữa các bộ phận, dây chuyền CMR có nhiều chức năng được tự động hóa góp phần đem lại hiệu quả sản xuất và lợi ích khi sử dụng. Để đưa ra dây chuyền này, ông Bùi Văn Ngọ và gia đình đã phải đầu tư  vào đó nhiều kinh phí, công sức. Kết quả là từ đó đến nay, dây chuyền CMR đã được hoan nghênh ở nhiều quốc gia như Thái Lan, Philippines, Campuchia, Indonesia…  Trên đà nghiên cứu này, công ty Bùi Văn Ngọ liên tục cải tiến, nâng cấp những sản phẩm máy móc cũ, nâng cao tính năng sử dụng và hoạt động, đồng thời phát kiến nhiều sản phẩm mới cho thị trường sản xuất lúa gạo như máy đột lỗ điều khiển bằng máy tính CNC (computer numerical control), máy cắt kim loại dùng tia plasma, máy cắt kim loại dùng tia laser… Với dây chuyền sản xuất được hoàn thiện, tỷ lệ chi tiết sản phẩm không đạt tiêu chuẩn được giảm xuống còn một phần nghìn, chất lượng chi tiết máy và thiết bị đều đạt tiêu chuẩn quốc tế.   Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, công ty Bùi Văn Ngọ đã chuyển cơ sở nhà xưởng về Long An vào năm 2004, đầu tư các thiết bị CNC, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong những lĩnh vực  như tự động hóa, cơ khí, kỹ thuật, chế tạo máy… Công ty còn đề ra kế hoạch đến năm 2020 hoàn thành giai đoạn một dự án mở rộng tại xã Hướng Thọ, thành phố Tân An với quy mô 33 ha và mức vốn đầu tư 300 tỷ đồng. Một trong những mục tiêu của giai đoạn này là xây dựng mô hình doanh nghiệp KH&CN cao phục vụ phát triển nông nghiệp.  Luôn theo sát để nắm bắt nhu cầu của thị trường và bà con nông dân trong nước, nhiều sáng kiến của công ty Bùi Văn Ngọ đã ra đời từ đó, ví dụ như hệ thống tháp sấy đốt hong khô lúa gạo đảm bảo cho nguyên liệu giữ nguyên phẩm chất, vẫn đủ khả năng làm giống, đảm bảo độ ẩm 14%. Hơn nữa, tháp sấy lại dùng năng lượng từ trấu, một phụ phẩm trong nông nghiệp, góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở nông thôn. Chất lượng của hệ thống sấy này của công ty Bùi Văn Ngọ còn thuyết phục được cả nhà cung cấp thiết bị nông nghiệp Kent Electric Laboratory (Nhật Bản), nơi có hệ thống kiểm chuẩn vô cùng khắt khe. Hệ thống sấy của Bùi Văn Ngọ tiếp tục được xuất khẩu đi Đài Loan, Philippines, Indonesia… với số lượng lớn.  Vì vậy, những nỗ lực sáng tạo không chỉ đem lại chỗ đứng vững chắc trong ngành sản xuất lúa gạo cho công ty Bùi Văn Ngọ mà còn góp phần nâng cao giá trị trong sản phẩm cho người nông dân.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những tập đoàn trên 100 tuổi vẫn cường tráng      Các tập đoàn này luôn tập trung vào những  lĩnh vực kinh doanh then chốt, bảo thủ trong đầu tư và biết rút ra bài  học từ những sai lầm của mình: Một nghiên cứu dài hơi cho thấy vì sao  những tập đoàn gạo cội ở châu Âu liên tục gặt hái nhiều thành công và  các tập đoàn khác có thể học tập được gì ở các tập đoàn đó.     Tập đoàn Lafarge chuyên sản xuất vật liệu xây dựng của Pháp từng cung cấp xi-măng để xây dựng nhiều công trình thể thao nổi tiếng trong đó có sân vận động Olympic Bắc Kinh. Từ lâu Lafarge-DNA đã coi quốc tế hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mình.  Mọi sự bắt đầu từ năm 1864. Hồi đó hai anh em Edouard và Léon de Lafarge đã vận chuyển 200.000 tấn đá vôi từ miền nam nước Pháp tới Ai Cập để xây dựng kênh đào Suez. Năm 1950 Lafarge có trụ sở ở Canada và Brazil, từ những năm chín mươi tập đoàn này có mặt ở Châu Á.   Năm 1973 do cuộc khủng hoảng dầu mỏ, ngành xây dựng ở châu Âu lâm vào tình trạng đình đốn trong khi ở các nước Ả rập ngành xây dựng lại đang lên như diều. Sự mở rộng địa bàn hoạt động đã giúp tập đoàn Larfage tiếp tục tồn tại.   Ngược lại tập đoàn Allianz lại là một minh chứng cho thấy hoạt động kinh doanh vẫn có thể thành công trong hơn một trăm năm ngay tại thị trường nội địa. Allianz ra đời năm 1890, thoạt đầu chuyên về bảo hiểm đối với lĩnh vực vận tải. Nhưng chỉ mười năm sau Allianz đã ký hợp đồng bảo hiểm cho các công trình công nghiệp. Và giờ đây Allianz vẫn tiếp tục tiến lên theo xu hương phát triển của thời đại: từ tháng bẩy vừa qua tập đoàn này đã ký hợp đồng bảo hiểm với các công ty bị tấn công ảo từ Internet.   Hai phương án khác nhau nhưng cùng một cách suy nghĩ. Sự thành công đã chứng minh cả hai tập đoàn nêu trên đều có lý: đa dạng hóa về địa bàn hoạt động hay về các mảng kinh doanh khác nhau là một trong những bí quyết dẫn đến thành công, giúp cho tập đoàn giành thắng lợi lâu dài trước các đối thủ cạnh tranh và khẳng định được khả năng phát triển của mình.   Một công trình nghiên cứu công phu của hai nhà kinh tế Christian Stadler (Warwick Business School) và Philip Wältermann, người sáng lập đồng thời là giám đốc điều hành công ty tư vấn PWI đã chứng minh điều này.   Vậy thì để đạt được thắng lợi lâu dài cần phải thực hiện những điều kiện gì? Các doanh nghiệp phải làm thế nào để không bị lệ thuộc vào sự phát triển kinh tế lúc lên lúc xuống, vào những biến động của chiến tranh và vào cuộc khủng hoảng tiêu dùng? Các doanh nghiệp phải làm gì để tạo ra lợi suất tác động mạnh mẽ tới chỉ số chứng khoán quan trọng nhất?   Để trả lời được cho những câu hỏi này hai nhà kinh tế Stadler và Wältermann đã nghiên cứu tất cả các doanh nghiệp ở Châu Âu có tuổi thọ ít nhất 100 năm và từ năm 1953 niêm yết trên thị trường chứng khoán. Một điều kiện nữa là: lợi suất của những tập đoàn này phải cao hơn hẳn chỉ số chứng khoán Dax, Dow Jones và FTSE của Anh quốc.  Sau nhiều tháng trời dày công điều tra, nghiên cứu, tham khảo ý kiến một số nhà quản lý hàng đầu đã xác định được chín tập đoàn hàng đầu ở châu Âu có tuổi thọ trên 100 năm, trong đó có ba tập đoàn của Đức là: Allianz, Siemens và Munich Re (tập đoàn tái bảo hiểm Munich). Ngoài ra trong danh sách này còn có tập đoàn dược phẩm khổng lồ Glaxo, ngân hàng HSBC, hãng bảo hiểm Legal & General, tập đoàn dầu mỏ Shell và Nokia.         Năm lời khuyên để đạt được thành công lâu dài              •    Điều chỉnh nhãn hiệu               •    Tận dụng thế mạnh              •    Rút ra bài học kinh nghiệm              •    Dàn trải rủi ro              •    Luôn luôn đổi mới        Việc để Nokia, nhà sản xuất điện thoại di động của Phần Lan, đứng trong hàng ngũ các tập đoàn ưu tú này có phần khiên cưỡng. Những năm tháng mà Nokia thu được lợi nhuận cao đã qua từ lâu. Thời gian gần đây Nokia xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng do có những quyết sách sai lầm và sa thải nhân công thái quá. Trong quý II năm 2013, doanh thu của tập đoàn này giảm 24%. Nokia buộc phải nhường vị trí hàng đầu cho các nhà sản xuất như Lenovo, LG hay ZTE trong việc tiêu thụ Smartphones.   Tuy nhiên tình trạng này cũng có thể chỉ là nhất thời. Liệu những doanh nghiệp mới nổi của châu Á có trụ vững lâu dài trên thị trường được hay không cần phải được chính các tập đoàn đó chứng minh. Nhà khoa học Stadler cảnh báo trước những rủi ro do những cách nhìn và làm ăn thiển cận.   Trong quá trình điều tra nghiên cứu Stadler cũng rút ra bài học: các doanh nghiệp lâm vào tình trạng lao đao mạnh nhất khi họ rời bỏ con đường mà họ đã kiên trì theo đuổi trong nhiều năm qua để đạt được sự tăng trưởng. Hoặc nói khác đi: Các tập đoàn khổng lồ duy trì được sự phát triển năng động trong lịch sử kinh tế châu Âu là nhờ định hướng theo năm tiêu chí. Những tiêu chí này tuy không bảo đảm nhất thiết dành được thắng lợi, nhưng nó giúp cho các doanh nghiệp có thể thành công.   Bên cạnh sự đa dạng hóa liên tục, cần có khả năng rút ra bài học từ những sai lầm; các sản phẩm phải đạt hiệu quả cao; phân tán rủi ro. Không áp đặt những thay đổi từ trên xuống mà hãy thuyết phục người lao động về sự cần thiết phải thay đổi.   Tập đoàn tái bảo hiểm Munich Re là một ví dụ cho sự thành công này. Kể từ khi thành lập vào năm 1880 các nhà lãnh đạo tập đoàn luôn chủ trương phải tạo một nguồn dự trữ thật lớn. Và quả thật đây là một quyết định đúng đắn. Ngày 18/4/ 1906 xảy ra động đất ở San Francisco, khoảng 3.000 người bị chết, thành phố thành đống gạch vụn. Tuy nhiên hãng tái bảo hiểm Munich thực hiện được nghĩa vụ chi trả cho những tổn thất do động đất gây nên trong khi nhiều đối thủ cạnh tranh bị phá sản. Nhờ cách quản lý tài chính này mà gần một trăm năm sau hãng tái bảo hiểm Munich lại thoát hiểm. Đó là vụ tấn công khủng bố vào Trung tâm thương mại thế giới ngày 11.9.2001, khoản tiền bảo hiểm lên đến 1,6 tỷ Euro – đây là vụ chi trả bảo hiểm lớn nhất trong lịch sử của tập đoàn. Vậy mà cũng trong năm kinh doanh đó cổ tức của mỗi cổ phiếu vẫn đạt 1,25 Euro.    Tiếp thị có hiệu quả các sáng chế phát minh     Stephen Elop, ông chủ Nokia giới thiệu ở New York sản phẩm mới hàng đầu Lumia 1020   Sự dàn trải rủi ro quan trọng đến đâu thì mãi đến năm 1999 tập đoàn Nokia của Phần Lan mới thực sự được trải nghiệm. Hồi đó xảy ra hỏa hoạn tại một cơ sở sản xuất linh kiện của hãng Philips ở Mỹ khiến hàng triệu chips dùng cho điện thoại di động cháy ra tro. Về lý thuyết vụ cháy này có thể gây đình trệ sản xuất hàng tuần lễ đối với Nokia và đe dọa việc chế tạo khoảng 4 triệu điện thoại di động của tập đoàn. Tuy nhiên trong thực tế Nokia không chỉ nhập linh kiện của Philips, mà của nhiều nhà cung cấp khác. Cách thức làm ăn này lúc đầu bị coi là tốn kém nhưng cuối cùng lại đâm ra hữu dụng. Sản xuất của Nokia vẫn được duy trì, trong khi đó đối thủ cạnh tranh Ericsson, do chỉ nhập linh kiện của Philips, nên bị thiếu hụt nghiêm trọng linh kiện từ đó đã bị mất thị phần.   Nokia luôn ý thức, trong mọi tình huống luôn phải có các giải pháp dự phòng, không chỉ đối với việc nhập linh kiện, phụ kiện mà cả trong quan hệ với các nhà khai thác mạng điện thoại di động cũng như với các nhóm đối tượng.   Tuy nhiên theo Stadler, tác giả công trình nghiên cứu này, thì Nokia còn non trong một khâu có ý nghĩa quyết định, phân bổ không đủ rộng những sản phẩm của mình.   Kể từ ngày thành lập trong năm 1865, Nokia từng tung ra thị trường các loại sản phẩm khác nhau như giấy viết, giầy cao su và lốp xe. Từ đầu tập niên 1990, Nokia chỉ còn tập trung vào lĩnh vực viễn thông. Đối với nhiều người tiêu dùng Đức thì Handy 3110 là điện thoại di động đầu tiên trong đời mà họ có. Từ lâu Nokia đã để buột mất vai trò tiên phong của mình, Nokia bị tụt hậu đối với điện thoại thông minh Smartphone.  Phải chăng Nokia bị tụt hậu về công nghệ? Các tác giả công trình nghiên cứu này cho rằng, hoàn toàn không phải như vậy. Chủ yếu Nokia đã không thành công trong việc thương mại hóa những sáng chế, phát minh của mình và từ đó đã để các đối thủ cạnh tranh đoạt mất thị phần.   Trong lĩnh vực điện thoại di động Nokia từng chiếm lĩnh thị phần một cách tuyệt đối. Nhưng họ đã để buột vị trí hàng đầu của mình vào các đối thủ cạnh tranh như Apple hay Samsung. Cuộc rượt đuổi dành lại thị phần của Nokia chưa mang lại kết quả mong muốn.  Tóm lại Nokia đã làm buột mất một yếu tố thành công quan trọng. Đổi mới tất nhiên là hay và tốt rồi, tuy nhiên một điều không kém phần quan trọng là phải biết tiếp thị có hiệu quả sự đổi mới này và khai thác đúng đắn các bằng sáng chế.   Tiếp thị tốt diễn ra như thế nào? Về điểm này Nokia có thể noi theo tập đoàn dược phẩm Anh quốc GlaxoSmithkline. Tất nhiên đối với ngành công nghiệp dược thì những phát minh mới là hết sức quan trọng. Glaxo cũng biết rất rõ điều này. Chính vì thế nên ngân sách của tập đoàn dành cho nghiên cứu phát triển trong năm 2012 lên đến trên 4 tỷ Euro. Tuy nhiên theo Stadler thì những bằng sáng chế mới “mới chỉ là bước đi đầu tiên“. Sau đó là xác định đúng vị trí của sản phẩm và quảng bá chúng. Ngay từ khi mới thành lập Glaxo đã luôn trung thành với phương châm này.   Một giai thoại liên quan đến Alec Nathan, một thành viên của gia đình thành lập Glaxo, phản ánh điều này. Đầu thế kỷ 20, ông nghe nói các thầy thuốc khuyên nhủ các bậc cha mẹ vì lý do sức khỏe, không cho con trẻ ăn sữa nguyên liệu.   Nathan cảm nhận đây là một cơ hội trong kinh doanh: vào thời điểm đó, Glaxo đã tung ra thị trường một loại sữa bột. Nathan thuyết phục các bác sỹ và y tá coi sữa bột là thức ăn thích hợp với trẻ sơ sinh và đề nghị họ hãy khuyên các bậc cha mẹ cho con ăn sữa bột. Glaxo xuất bản cuốn sách về trẻ sơ sinh và đến năm 1922 đã bán ra tới hơn một triệu cuốn. Nhân viên của Glaxo mỗi tháng viết 50.000 thư gửi các thầy thuốc và khách hàng. Sản phẩm sữa bột trở thành con gà đẻ trứng vàng đầu tiên của doanh nghiệp dược phẩm này.     Thay đổi truyền thống cần tiến hành một cách tế nhị   Câu chuyện về một sản phẩm khác từng bán chạy như tôm tươi của Glaxo cũng phù hợp với hình ảnh này. Hãng dược phẩm Smithkline, hồi đó là đối thủ cạnh tranh và hiện là đối tác của Glaxo, năm 1976 bán ra thị trường loại thuốc trị viêm loét dạ dầy có tên là Tagamet. Năm năm sau, Glaxo tung ra thị trường một sản phẩm cạnh tranh mang tên Zantac và đẩy lùi thuốc Tagamet – không phải vì giá loại thuốc mới này rẻ hơn mà chính vì Zantac có giá cao hơn. Người ta lập luận “tiền nào của nấy” và khẳng định chất lượng của Zantac tốt hơn Tagamet. Chiến lược tiếp thị này đã giành được thắng lợi. Năm 1986, Zantac trở thành loại thuốc được tiêu thụ mạnh nhất. Năm 1994, Zantac chiếm tới 43% doanh thu của tập đoàn Glaxo.  Nhà khoa học Stadler nói điều này có nghĩa là sự dẫn trước về đổi mới thường chưa hẳn đã là điều có ý nghĩa quyết định… „Sự bắt chước nhiều khi mang lại lợi nhuận lớn hơn“.  Glaxo lảng tránh khâu nghiên cứu cơ bản rất tốn kém bằng cách mở rộng hạng mục đầu tư thông qua việc mua lại. Tháng sáu vừa qua, tập đoàn đã tiếp nhận doanh nghiệp công nghệ sinh học Okairos và cùng nhau nghiên cứu phát triển các loại vacxin tiêm phòng trong đó có tiêm phòng HIV và bệnh sốt rét.   Năm 2012 Ngân hàng HSBC phải nộp phạt 1,4 tỷ Euro cho cơ quan hữu quan ở Mỹ. Lý do ngân hàng lớn này của Anh quốc đã dính líu đến một vụ bê bối về rửa tiền. HSBC đã giúp đỡ trong việc chuyển tiền từ một số nước như Mexico, A rập Xê út và Iran tới Mỹ. Thượng viện Mỹ cũng được báo cáo khoản tiền này xuất sứ từ các phi vụ buôn bán ma túy. Hơn nữa HSBC đã thực hiện vụ chuyển tiền này cùng với một số ngân hàng vốn được coi là khá gần gũi với tổ chức khủng bố al-Qaeda.   HSBC đã rút ra được bài học từ vụ việc này: từ năm 2009 đến 2011, đại ngân hàng này đã tăng khoảng chín lần khoản chi của mình cho việc chống rửa tiền. Nhân sự phục vụ chống rửa tiền đã tăng gần mười lần trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2012. Rõ ràng là ngân hàng này đã rút ra được một bài học từ những sai lầm của mình.   Cho dù truyền thống kéo dài bao lâu đi nữa thì những thay đổi là không thể tránh. Khi cần thiết phải cải tổ, thì doanh nghiệp cần tránh thay đổi một cách cứng rắn mà nên thực hiện sự đổi thay này một cách mềm mại và tế nhị – cho dù sự đổi thay này là việc cơ cấu lại, giải thể một số bộ phận hay mua vào một số mảng hoạt động kinh doanh mới. Wältermann nhấn mạnh, „Các lao động của doanh nghiệp phải hiểu rõ vì sao phải thay đổi và họ cần được huy động tham gia vào chương trình thay đổi này. Khi có những thay đổi mang tính cơ bản thì các tập đoàn tránh vội vàng, hấp tấp mà nên có thời gian để xúc tiến tiến trình thay đổi này.“   Thế giới kinh tế ngày nay phát triển năng động và nhanh chóng, những điều nói trên dường như là quá tầm thường và dễ đi vào lãng quên. Tuy nhiên nhà kinh tế Wältermann tin chắc rằng, ngày nay những điều kể trên quan trọng hơn bất kỳ thời gian nào. Một phần là do những biến đổi về nhân khẩu học và tương quan lực lượng đang nghiêng về phía người lao động. Nói một cách đơn giản: khi người lao động cảm thấy bị tấn công bất ngờ, họ sẽ xa lánh người chủ của mình – may ra chỉ xa lánh về mặt tình cảm, nhưng trong trường hợp xấu nhất họ sẽ bỏ việc.     Chủ tịch hội đồng quản trị có vai trò quyết định  Stadler và Wältermann, tác giả của công trình nghiên cứu này, đều cho rằng thành công của một tập đoàn lệ thuộc vào chủ tịch Hội đồng quản trị. Trong nghiên cứu của mình hai tác giả không những chỉ phân tích về những tập đoàn trụ vững trên 100 năm mà cả về các CEO của tập đoàn. Họ rút ra kết luận: chỉ có một số nhà lãnh đạo nhất định có đủ các tố chất để áp dụng được năm tiêu chí dẫn đến thành công nói trên.   Stadler và Wältermann khuyến nghị khi đề bạt cán bộ lãnh đạo chủ chốt nên sử dụng những người đã làm việc lâu năm trong doanh nghiệp hơn là tin dùng những người từ bên ngoài. Người trong nội bộ tập đoàn không những có lợi thế về quan hệ nội bộ tốt đẹp mà họ còn hiểu biết cặn kẽ về doanh nghiệp của mình.   Những tập đoàn gạo cội có trên 100 năm tuổi trong thực tế đã áp dụng phương châm này. Kết quả điều tra cho thấy 95% các chủ tịch Hội đồng quản trị là những người từng làm việc lâu năm trong tập đoàn. Mới đây khi cử ông Joe Kaeser làm chủ tịch Hội đồng quản trị của Siemens, nguyên tắc này đã lại được coi trọng. Tập đoàn Shell hồi tháng 7 vừa qua cũng tuyên bố bắt đầu từ năm 2014, Ben van Beurden sẽ là CEO. Ông này đã làm việc hơn 30 năm tại hãng Shell. Hai người tiền nhiệm của ông cũng là những người làm việc lâu năm tại hãng này.   Ngoài ra chủ tịch hội đồng quản trị phải biết về những hạn chế của mình. Chỉ có như thế mới có thể bồi dưỡng kịp thời lãnh đạo kế cận và cân bằng được các điểm yếu. Stadler cho rằng những người lãnh đạo chuyên quyền, độc đoán hay lãnh đạo theo kiểu phong trào đều nguy hiểm. Nhà khoa học này nói „tôi ưa các vị xếp nhàm chán, họ thường đưa ra những quyết định có cơ sở vững chắc ở hậu trường.“  Nguyễn Xuân Hoài lược dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thách thức của năm 2007      Bắt đầu năm 2007, chúng tôi dự đoán sẽ có những thay đổi lớn. Quan điểm nội bộ của chúng tôi là nền kinh tế toàn cầu sẽ chậm lại, nhưng Mỹ sẽ có thể hạ cánh an toàn thay vì sự đình trệ kinh tế sâu sắc. Một phần những thuận lợi mà Mỹ được hưởng là từ giá dầu hạ, và một phần là nhờ những thành tựu về năng suất trong công nghiệp. Nhưng những thách thức thực sự đối với nền kinh tế toàn cầu rất ít liên quan đến những động thái của nền kinh tế Mỹ, mà sẽ bị chi phối bởi các hoạt động chính trị xã hội hơn là những hoạt động kinh tế thuần túy. Vì sao?    Nếu những năm 2005 và 2006 là những năm mà năng lượng độc chiếm nền tài chính toàn cầu, thì năm 2007 có thể sẽ là năm những vấn đề về nhân khẩu học sẽ giao nhau với con đường cải cách.  Từ khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu đẩy Trung Quốc theo con đường cải cách thị trường năm 1978, nhiều nhà lãnh đạo quốc gia khác cũng đã lựa chọn cách trở nên nghiêm túc hơn trong việc thực hiện những cải cách về pháp lý và kinh tế cần thiết để nâng cao mức sống và làm cho quốc gia của mình trở nên có sức cạnh tranh hơn trên qui mô toàn cầu. Một loạt những thay đổi này bắt đầu được đẩy nhanh vào năm 1990 đồng thời với tỷ lệ sinh đẻ giảm xuống trên toàn thế giới và sự xuất hiện ngày càng hùng hậu của tầng lớp trung lưu, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Nhưng sự tăng trưởng đó mang đến những vấn đề mà trong thập kỷ qua bị xếp sang một bên trong khi các quốc gia vừa hấp thu vừa bộc lộ tăng trưởng kinh tế to lớn lạ thường. Trong năm 2007, rất nhiều những vấn đề này sẽ hoành hành và các quốc gia đang phát triển sẽ được thử sức trong việc đáp trả. Các vấn đề trên rơi vào 5 loại cơ bản có thể xếp loại theo hai nửa đi đôi với nhau: giáo dục cơ sở đấu với giáo dục trung học, những nhu cầu của lớp trẻ đấu với những nhu cầu của lớp già, nữ quyền đấu với nam quyền, sự chuyển từ cánh tả sang cánh hữu chính trị, và coi thường vấn đề môi trường đấu với quan tâm đến môi trường. Tùy thuộc vào vị trí của từng quốc gia trên con đường cải cách, những nửa đi đôi này sẽ hoặc là được giải quyết một cách có lợi, hoặc những sự chia rẽ lớn sẽ xuất hiện và gây ra những vấn đề lớn. Làm cho những vấn đề này trở nên gay gắt sẽ là việc dự trữ tài khoản vãng lai đang tăng lên của nhiều quốc gia, gây nên do sự kết hợp của các yếu tố như xuất khẩu, tiết kiệm trong nước và sản xuất năng lượng.                     Ở Trung Quốc chẳng hạn, tất cả các vấn đề đi đôi đều đã xuất hiện và là chủ đề lo lắng của nhiều bậc lãnh đạo. Khi Trung Quốc tiếp tục leo những nấc thang cao hơn trong phát triển kinh tế, họ phải tìm ra một cách thức công bằng trong việc giải quyết vấn đề đặt ra có thể là sự co lại của các công việc sản xuất cơ khí, trong khi mức lương ở đô thị lại đang tăng lên nhanh chóng. Cùng lúc, cần phải mở rộng phát triển tại miền trung và miền Tây của đất nước, trong khi vẫn tiếp tục phải tăng cường mạng lưới an sinh xã hội, cải thiện y tế và cung cấp các lợi ích hưu trí tốt hơn cho những người bị ảnh hưởng bởi sự chuyển đổi của Trung Quốc. Trong lúc đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng muốn cải thiện các điều kiện môi trường, một đòi hỏi quá cao đối với một đất nước đang tiến lên phía trước với tốc độ công nghiệp quá nhanh. Trung Quốc, tất nhiên có một lợi thế mà nhiều quốc gia không có. Họ có hơn một nghìn tỷ đô la bao gồm cả dự trữ ngoại hối, vàng và thặng dư trong tài khoản vãng lai.  Mặt khác, những quốc gia như Chi-lê và Ai-len đã thành công vang dội trong việc giải quyết những vấn đề xã hội/nhân khẩu học dường như không thể giải quyết nổi này. Braxin cũng đạt được tiến bộ lớn lao trong việc đưa người nghèo vào trong nền kinh tế, trong khi vẫn tăng cường mạng lưới an sinh xã hội. Ấn Độ, là nước đang tiến về phía trước trên con đường tăng trưởng với tốc độ ngang với Trung Quốc, cách đây hai năm đã quyết định lùi một bước nhỏ để xem xét lại con đường mình đang đi. Mặc dù một số doanh nhân đang phất lên nhanh chóng và tầng lớp trung lưu mới được công nhận của Ấn Độ có thể bực bội đối với quyết định của chính phủ Ấn Độ về việc mở thêm cơ hội vào đại học cho đẳng cấp dưới, và áp dụng mức thuế xa xỉ đối với việc giáo dục tại các trường tư, đây lại chính là những bước tiến có thể giúp nhiều trong việc làm dịu những căng thẳng xã hội khi dân tộc tiến lên phía trước.  Về nhiều phương diện, những gì đang diễn ra tại các nước đang phát triển trên con đường cải cách thì không có gì mới. Từ năm 1960, nhà sử học Walt W Rostow của trường Đại học Texas, người về sau trở thành cố vấn của Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson, đã viết cuốn “Những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế: Một bản tuyên ngôn phi cộng sản chủ nghĩa”. Rostow mô tả một “cuộc cách mạng của những trông đợi ngày càng cao” sẽ diễn ra ở những quốc gia nơi sở hữu được thay thế bởi cơ hội, và nơi dân chúng và chính phủ phải đưa ra những quyết định quan trọng về việc sử dụng không những tài sản kinh tế mà còn tài sản chính trị nữa.  Những quốc gia trước đây đã trấn áp những số dân tộc thiểu số, ví dự như những người dân tộc thiểu số Shiite lớn tại nhiều nước Ả rập, nay đang phải đối mặt với những dân tộc thiểu số này, những người đang sử dụng những cải cách diễn ra tại các quốc gia nơi họ sinh sống để đòi quyền tự do hơn nữa, và đòi sự chia sẻ nhiều hơn đối với của cải quốc gia. Điều này sẽ tạo ra căng thẳng xã hội cần phải được giải quyết thận trọng, để khỏi biến thành bạo lực phe phái, như ở I-rắc. Nói chung lại, năm 2007 có thể là một năm của biến động xã hội, khi các cộng đồng bướng bỉnh cố gắng đẩy mạnh các yêu cầu của họ.  Phần lớn các quốc gia sẽ cố gắng đón đầu giải quyết sớm chiều hướng xảy ra những hỗn loạn xã hội, bởi vì có quá nhiều điều đứng trước nguy cơ. Giá cổ phiếu ở các thị trường mới nổi tăng nhanh từ năm 2002 đến giữa năm 2006 là một dấu hiệu của các nhà đầu tư rằng họ sẵn sàng thưởng công những nước đang trên con đường cải cách. Cũng như vậy, bất cứ một nhận thức nào về sự bất ổn tăng lên cũng có thể gây hại đến giá trị của các thị trường mới nổi.  Nếu năm 2007 có thể là năm mà các nhu cầu về xã hội bắt đầu lại có những đòi hỏi về ngân sách đối với các quốc gia, những quốc gia đó đáp trả như thế nào? Liệu có sự cách biệt ngày càng lớn giữa giàu và nghèo sẽ gây cho các quốc gia phải có những lựa chọn đau đớn? Trong một báo cáo năm 2001 của nhà kinh tế học Ngân hàng Thế giới Branko Milanovic, với nghiên cứu số liệu của giáo sư Đại học Hebrew ông Shlomo Yitzhaki mang tựa đề “Liệu thế giới có tầng lớp trung lưu không?”, hai nhà kinh tế học đã phân tích rằng sự bất bình đẳng về thu nhập đã lớn đến mức trừ khoảng hơn một chục quốc gia, còn lại khó có thể chứng minh rằng dân cư trong một quốc gia đang tiến tới sự tồn tại của một tầng lớp trung lưu. Mặc dù họ không đưa ra kết luận gì về việc sự bất bình đẳng về thu nhập có nghĩa là gì, lịch sử cho chúng ta thấy rằng những dân tộc ương bướng sẽ thúc ép phải thay đổi bằng mọi cách.  Chúng ta biết rằng năm 2007 sẽ là một năm quan trọng trong việc giải quyết cuộc cách mạng của những mong đợi ngày càng cao bởi vì vẫn có một số lượng lớn tiền như những con sóng đánh vào cái được gọi là bức tường tài sản mà cần phải được thực hiện để tạo công ăn việc làm, cải thiện mạng lưới an sinh xã hội của các quốc gia, và để tăng cường giáo dục và cơ hội cho 2 tỷ người hiện vẫn chưa thoát khỏi mức nghèo. Những quốc gia sản xuất dầu lửa và các nền kinh tế công nghiệp hóa của châu Á có cơ hội đưa ra những quyết định đầu tư mà có thể gây ảnh hưởng đến số phận của họ trong nhiều thập kỷ tới – và cũng có thể thu hút hay xua đuổi đầu tư đến với chính họ.  ———  * Trưởng ban Chuyên gia chiến lược toàn cầu, Công ty quản lý tài sản toàn cầu Citigroup.  Clark B Winter, Jr.*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thách thức trên đường hội nhập      Với việc kết thúc đàm phán và ký được thỏa thuận song phương với Hoa Kỳ, khả năng Việt Nam gia nhập WTO không còn xa. Nhiều người xem sự kiện này mở ra cánh cửa đầy thuận lợi cho kinh tế nước ta cất cánh mà không thấy hết những thách thức không nhỏ khi chúng ta hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới.    Trước hết là nhiều doanh nghiệp có thể đi đến phá sản do không cạnh tranh nổi với doanh nghiệp nước ngoài, nhất là trong các ngành nông nghiệp vì nông nghiệp của chúng ta còn manh mún, lạc hậu, nhiều nơi vẫn còn “con trâu đi trước…” thì không thể so sánh với ngành nông nghiệp hiện đại như Hoa Kỳ, nơi mà chỉ có 2% dân số sống về nông nghiệp nhưng có thể cứu đói cho cả thế giới.  Đã từ lâu, nhiều nước đang phát triển kêu gọi các nước phát triển mở rộng thị trường của họ và chấm dứt trợ cấp cho nông dân để nông nghiệp của các nước nghèo có thể cạnh tranh với nông dân các nước giàu. Mặc dù đã có những sự nhượng bộ gần đây nhưng vẫn chưa đủ để khuyến khích các nước đang phát triển an tâm phục hồi sản xuất những sản phẩm như bông vải, đậu tương… Có thể nói trợ cấp hay trợ giá đã làm méo mó lợi thế so sánh và phân công lao động trên bình diện toàn cầu.  Vừa qua, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị một số nước kiện là bán phá giá do có trợ cấp của Nhà nước vì chúng ta vẫn chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường. Trong thoả thuận song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vừa được ký kết thì Việt Nam phải chịu tình trạng nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm nữa. Thật khó xác định căn cứ để có con số này nhưng dù sao thì cũng hơn Trung Quốc – đến những 15 năm. Đây sẽ là một thách thức lớn cho Việt Nam chúng ta vì trong thời gian này một số biện pháp có thể áp dụng nếu doanh nghiệp của ta có dấu hiệu được Nhà nước trợ cấp. Tất nhiên là vị thế nền kinh tế của ta khác Trung Quốc, chúng ta có thể bị áp đặt trong khi Trung Quốc có khả năng huy động sự hậu thuẫn của nhiều nước khác để gây ảnh hưởng đến luật chơi. Chúng ta chỉ có thể là người cùng thụ hưởng, nếu có, chứ không thể là người khởi xướng. Với quyết tâm cao của lãnh đạo Đảng và Nhà nước sau Đại hội X vừa qua, chúng ta có thể hy vọng là Chính phủ sẽ có những biện pháp tích cực hơn nữa để tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế và cũng sẽ là cơ hội để việc sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn.  Chính phủ còn cần phải đẩy mạnh và nhanh hơn nữa việc cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh. Trở ngại lớn trong công tác này có lẽ ai cũng biết nhưng biện pháp mạnh hơn lại chưa có. Giảm số doanh nghiệp quốc doanh cũng sẽ giảm phần có thể xem là trợ cấp của Nhà nước, đồng thời cũng sẽ mở ra khả năng cho doanh nghiệp tư nhân tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng. Chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trước khi được công nhận là nền kinh tế thị trường.  Nhà nước đã và đang khuyến khích hình thành nhiều tập đoàn kinh tế mạnh để chuẩn bị đối đầu với nhiều tập đoàn kinh tế sẽ xâm nhập vào nước ta sau khi ta gia nhập WTO. Cách làm của ta cũng sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy mà ta chưa thể hình dung hết được. Cụm từ “vừa đá bóng, vừa thổi còi” sẽ là yếu huyệt khi các tập đoàn kinh tế của ta thường trực thuộc các bộ chủ quản. Một khi còn trực thuộc bộ chủ quản thì Nhà nước vẫn giữ quyền điều hành và tất nhiên sẽ “được nâng đỡ” trong quá trình huy động vốn trên thị trường tài chính trong hay ngoài nước. Tập đoàn kinh tế không thể hình thành bằng cách tập hợp một số doanh nghiệp lại mà phải là một quá trình tự phát triển và lớn lên của một doanh nghiệp thành đạt, không thể lắp ghép “nhiều con tép để trở thành con tôm được”. Có nhìn thẳng vào sự việc thì mới có hy vọng thực hiện các quyết tâm của Chính phủ để việc sử dụng tài nguyên quý hiếm của quốc gia có hiệu quả hơn, sẽ không còn khái niệm doanh nghiệp quốc doanh là chủ đạo để dồn vốn nuôi quốc doanh trong khi khu vực tư nhân lại linh hoạt để tạo hiệu quả và cũng là nguồn sử dụng nhiều lao động trong xã hội.  Một vấn đề cần lưu ý nữa trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu là hội nhập không đương nhiên mang lại phát triển cho thành viên mà phải do thành viên đó biết chọn con đường thích hợp thể hiện qua chính sách vĩ mô. Kinh nghiệm trong khu vực cho thấy là một số nước đã thành công trong quá trình phát triển thông qua con đường xuất khẩu và sản xuất công nghiệp. Có thể các nước đi trước có lợi thế hơn những nước đi sau như chúng ta. Chúng ta cũng khá thành công trong xuất khẩu trong các năm qua và chúng ta cũng đã chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhưng bước đi và ngành nghề để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì còn rất chung chung, ai cũng nói được nhưng khi vào cụ thể thì ậm ờ. Công tác giáo dục và đào tạo nghề hiện nay chưa đủ cũng như chưa xứng tầm với đà phát triển của các khu chế xuất và khu công nghiệp. Đây cũng là một minh chứng cho tính không đồng bộ trong chính sách và biện pháp thực hiện. Một chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã nói: “Hoạch định một chiến lược công nghiệp hoá thường dễ hơn là đưa vào thực hiện. Điểm yếu của các nước đang phát triển là sự phối hợp giữa thiết kế chính sách và thực hiện”. Khi có nhiều bộ cùng tham gia trong quá trình lập chính sách thì sự phối hợp lại càng quan trọng để tránh các mâu thuẫn thay vì cùng hỗ trợ lẫn nhau. Điều này rất đúng với tình trạng của ta, chúng ta rõ ràng thiếu sự phối hợp giữa các bộ như đã thể hiện qua nhiều sự việc đáng tiếc đã xảy ra. Chúng ta đang thiếu một nhạc trưởng để phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các chính sách, chủ trương của Nhà nước.  Còn quá nhiều trường hợp cơ quan có trách nhiệm lại đùn đẩy trách nhiệm lên trên làm cho bộ máy lãnh đạo cao nhất tràn ngập sự vụ mà đúng lý ra bên dưới phải giải quyết thật dứt khoát. Một thí dụ cụ thể là chỉ một sự tranh chấp giữa các chủ xe chuyên chở hành khách trên một tuyến đường mà cũng phải “nhờ và chờ” Thủ tướng giải quyết. Chắc chắn cơ chế điều hành của Nhà nước ta thiếu sự phân quyền đến thế nhưng lại cũng không có cơ chế xử lý quan chức, cán bộ thiếu khả năng. Muốn thành công trong quá trình hội nhập toàn cầu, Nhà nước ta cũng cần có những chính sách phù hợp cho quá trình này.      Trần Bá Tước      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thông điệp cho sinh viên Mỹ ngày tốt nghiệp      Như thường lệ, cuối mùa xuân mỗi niên học là buổi phát bằng cho các sinh viên tại Mỹ. Trong buổi lễ này, họ lại được lắng nghe những thông điệp, những lời nhắn nhủ từ những nhân vật được kính trọng trong xã hội, từ các lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo chính trị cho tới các diễn viên nổi tiếng. Dưới đây là một số thông điệp dành cho các sinh viên tốt nghiệp năm 2016 này.    Tổng thống Mỹ Barack Obama tại lễ tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Howard  1. SHERYL SANDBERG  Chức vụ/Công ty: COO Facebook, tác giả cuốn sách Lean In (tên sách tiếng Việt: Dấn thân, NXB Trẻ, 2014)  Phát biểu tại: Đại học California, Berkeley  Bài học: Hãy kiên nhẫn đối mặt với nghịch cảnh.  Câu nói trích dẫn: “Khi thử thách xuất hiện, tôi hy vọng rằng các bạn sẽ nhớ rằng ẩn sâu bên trong các bạn là khả năng học hỏi và vươn lên. Không ai sinh ra đã có sẵn một ngưỡng kiên trì cố định. Giống như cơ bắp vậy thôi, các bạn có thể rèn luyện để phát triển nó hơn và vận dụng nó khi cần. Trong quá trình rèn luyện này, các bạn sẽ nhận ra con người thực sự của mình, và biết đâu bạn sẽ có thể trở thành “phiên bản” tốt nhất của mình.  2. BETH BROOKE-MARCINIAK  Chức vụ/Công ty: Phó Chủ tịch Toàn cầu EY  Phát biểu tại: Đại học Babson  Bài học: Thương lượng để có một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả.  Câu nói trích dẫn: “Ở trường, các bạn đã được dạy rằng phải mày mò thử nghiệm, phải làm việc theo những phương thức mới, phải tư duy lại về cách xử lý những thách thức đang đối mặt với xã hội chúng ta ngày nay. Và các bạn được khuyến khích rằng phải thật nhanh lên, đi tắt đón đầu cái guồng thay đổi chóng mặt của thế giới ngày nay. Nhưng tôi chỉ khuyên các bạn hãy đi chậm lại. Hãy đi chậm thôi và để ý thêm một chút nữa tới nghệ thuật ngoại giao, thứ nghệ thuật đang dần biến mất khỏi xã hội này.  3. STEVE HARVEY  Chức vụ/Công ty: Diễn viên hài  Phát biểu tại: Đại học bang Alabama  Bài học: Thành công không phải là tất cả.  Câu nói trích dẫn: “Giữa sự thành công và sự vĩ đại là một khoảng cách xa. Hôm nay các bạn được nhận bằng tốt nghiệp – đó là thành công. Cho đến giờ, thế giới của các bạn vẫn mới chỉ xoay quanh bản thân các bạn. Nhưng những con người vĩ đại lại làm thay đổi cuộc đời của những người khác. Những con người vĩ đại đặt nhu cầu của người khác lên trước nhu cầu bản thân. Những con người vĩ đại quay trở về cộng đồng của mình để tạo nên những sự thay đổi lớn lao trong cuộc sống của người dân ở đó. Vì thế, các bạn hãy ra trường và trở thành những con người vĩ đại – hãy làm một người tạo nên sự thay đổi ở người khác.  4. BARACK OBAMA  Chức vụ/Công ty: Tổng thống Mỹ  Phát biểu tại: Đại học Howard  Bài học: Biến đam mê thành hành động.  Câu nói trích dẫn: “Trong cuộc sống, ngoài niềm đam mê tạo nên sự thay đổi trên thế giới, các bạn còn cần phải vạch ra một chiến lược hành động cụ thể nữa. Tôi xin nhắc lại: Các bạn hãy đam mê, nhưng các bạn cũng phải có một chiến lược. Nhận thức thôi chưa đủ, phải có hành động đi kèm nữa. Ngồi theo dõi và bình luận thôi chưa đủ, phải hành động nữa.  5. MICHELLE OBAMA  Chức vụ/Công ty: Đệ nhất phu nhân Mỹ  Phát biểu tại: Đại học bang Jackson  Bài học: Hãy để lại một di sản.  Câu nói trích dẫn: “Hãy nhớ rằng vài thập kỷ sau này, chính tại nơi tôi đang đứng đây sẽ có một người khác đứng nói với một thế hệ sinh viên mới tốt nghiệp về thế hệ các bạn bây giờ. Vì thế, chúng tôi mong rằng các bạn sẽ sống những cuộc đời đáng được kể lại, những cuộc đời sẽ làm động lực khích lệ thế hệ sau tiếp tục đi theo con đường chính đáng và nỗ lực thực hiện những ước mơ của mình.”  6. SCOTT KELLY  Chức vụ/Công ty: Cựu phi hành gia NASA, từng sống trong vũ trụ với thời gian tổng cộng 520 ngày  Phát biểu tại: Đại học Houston  Bài học: Tập trung vào nhiệm vụ trước mắt.  Câu nói trích dẫn: “Trong những khoảnh khắc mà bạn đang làm điều gì đó có khả năng làm thay đổi cuộc sống của bạn hay người khác, dù đó là khi bạn đang ở giữa vũ trụ hay khi đang thúc đẩy sự nghiệp của mình, hãy luôn nhắc nhở bản thân rằng không gì quan trọng hơn công việc mà bạn đang làm ngay trong lúc này.”  7. WAYNE CHANG  Chức vụ/Công ty: Giám đốc Chiến lược Sản phẩm Twitter; doanh nhân kiêm nhà đầu tư thiên thần  Phát biểu tại: Đại học Massachusetts, Amherst  Bài học: Đừng để người khác định ra con đường đi cho bạn.  Câu nói trích dẫn: “Đừng để người khác đóng khung bạn vào trong những nguyên tắc của họ, bởi họ sẽ chỉ mang lại cho bạn những kết quả tầm thường mà thôi. Hãy tự tạo ra những nguyên tắc cho mình, phá vỡ những thông lệ và làm thay đổi thế giới.  8. LIN-MANUEL MIRANDA  Chức vụ/Công ty: Diễn viên, nhà soạn nhạc, nhà văn, ca sĩ nhạc rap  Phát biểu tại: Đại học Pennsylvania  Bài học: Hãy suy nghĩ về những câu chuyện cuộc đời bạn.  Câu nói trích dẫn: “Những câu chuyện mà các bạn kể hay không kể đều sẽ vang vọng trong suốt cuộc đời các bạn. Các bạn sinh viên thân mến, các bạn đang chuẩn bị bước vào một giai đoạn thiếu chắc chắn và ly kỳ nhất cuộc đời mình. Những câu chuyện mà các bạn sẽ trải qua tới đây cũng chính là những câu chuyện mà bạn sẽ kể lại cho con cháu mình nghe, hoặc cũng có thể là cho bác sĩ tâm thần nghe nữa đấy.  9. SAMANTHA POWER  Chức vụ/Công ty: Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc  Phát biểu tại: Đại học Yale  Bài học: Hãy xông pha thực tế để tìm hiểu vấn đề – đừng ngồi nhìn màn hình máy tính suông.  Câu nói trích dẫn: “Từ những dòng feeds trên Facebook hay Twitter cho đến những thuật toán quyết định kết quả tìm kiếm đựa trên lịch sử duyệt web và vị trí của chúng ta, nguồn thông tin mà chúng ta nhận được ngày càng bị lèo lái theo hướng phản ánh lại với chúng ta về cái thế giới mà chúng ta đã hình dung trong đầu. Với những thông tin như thế, chúng ta sẽ yên tâm về những quan điểm mình đang có chứ không có động lực để tư duy. Vì thế, các bạn cần phải tìm ra cách để thoát khỏi những bức tường tiếng vọng đó.  12. JOHN GREEN  Chức vụ/Công ty: Author of young-adult fiction, including The Fault in Our Stars  Phát biểu tại: Kenyon College  Bài học: Hãy biết mềm lòng.  Câu nói trích dẫn: “Các bạn hãy biết mềm lòng khi đứng trước thế giới, bởi tình yêu và sự lắng nghe khiến bạn thấy mình yếu đuối hơn, khiến bạn muốn mở rộng trái tim mình ra. Chỉ khi trở thành những con người biết mềm lòng, bạn mới có thể thực sự nhìn ra, thừa nhận, tha thứ và yêu thương sự yếu đuối ở những người khác. Sự mềm lòng này giúp bạn nhận ra rằng con người không phải là kẻ thù để đánh bại mà là những người cộng tác, những người đồng sáng tạo.”  13. MADELEINE ALBRIGHT  Chức vụ/Công ty: Chính trị gia, nhà ngoại giao, nữ Ngoại trưởng đầu tiên của Mỹ  Phát biểu tại: Đại học Scripps  Bài học: Lắng nghe người khác và sẵn sàng thay đổi cách nhìn của mình.  Câu nói trích dẫn: “Chúng ta sẽ không thể hợp tác được cùng nhau nếu mỗi người đều khăng khăng giữ lấy cái nhìn hạn hẹp của riêng mình. Đối với tôi, sự ngăn cách lớn nhất trên thế giới không phải là sự ngăn cách giữa các hệ tư tưởng, giữa người giàu với người nghèo, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa chủng tộc này với chủng tộc khác; sự ngăn cách lớn nhất là sự ngăn cách giữa những người có đủ dũng cảm để lắng nghe và những người một mực đinh ninh rằng họ đã biết tất cả.”  14. HANK AZARIA  Chức vụ/Công ty: Diễn viên  Phát biểu tại: Đại học Tufts  Bài học: Hãy tin tưởng vào trực giác của mình.  Câu nói trích dẫn: “Tôi không khuyên các bạn hãy bỏ qua mọi nguyên tắc của xã hội hay của lý trí, hay luật pháp, sách vở, thầy cô giáo, internet, hay mọi nguồn thông tin kiến thức khác của các bạn. Tôi chỉ khuyên các bạn một điều: trong tất cả mọi việc, hãy trung thực với những suy nghĩ và cảm xúc của chính mình.”  15. HODA KOTB  Chức vụ/Công ty: Dẫn chương trình  Phát biểu tại: Đại học Tulane  Bài học: Kiên trì dẫu bị từ chối.  Câu nói trích dẫn: “Bạn không cần phải làm cho tất cả mọi người đều thích mình, chỉ một người thôi cũng đủ.”  Thu Trang dịch theo Entrepreneur    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những tiến bộ trong nghiên cứu giúp năng lượng hạt nhân cạnh tranh về chi phí      Năng lượng hạt nhân là một nguồn năng lượng phát thải carbon thấp, đóng vai trò rất quan trọng để giảm lượng khí thải carbon. Một yếu tố quan trọng để năng lượng hạt nhân tiếp tục tồn tại như là một nguồn năng lượng trong tương lai, là phải tìm ra những phương pháp mới và sáng tạo để cải thiện chi phí vận hành và bảo trì (O & M) trong các thế hệ lò phản ứng tiên tiến tiếp theo. Cơ quan Dự án Nghiên cứu tiên tiến (ARPA-E) của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) đã thành lập chương trình có tên gọi là “Phát điện được quản lý bởi chương trình tài sản hạt nhân thông minh” (Generating Electricity Managed by Intelligent Nuclear Assets – GEMINA) để thực hiện chính xác điều này. Thông qua tài trợ 27 triệu đô la, GEMINA đang tăng tốc nghiên cứu, khám phá và phát triển các công nghệ kỹ thuật số mới sẽ giúp giảm chi phí O & M một cách hiệu quả và bền vững.      Bên trong Phòng thí nghiệm Lò phản ứng hạt nhân MIT. Nguồn: MIT  Ba nhóm nghiên cứu của MIT đã nhận được tài trợ APRA-E GEMINA để tạo ra dữ liệu và chiến lược quan trọng nhằm giảm chi phí O & M cho thế hệ nhà máy điện hạt nhân tiếp theo giúp chúng tiết kiệm, linh hoạt và hiệu quả hơn. Các nhóm MIT bao gồm các nhà nghiên cứu từ Khoa Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân (NSE), Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Môi trường và Phòng thí nghiệm Lò phản ứng hạt nhân MIT. Bằng cách tận dụng các công nghệ tiên tiến trong mô phỏng độ chính xác cao và khả năng đặc biệt của lò phản ứng nghiên cứu MIT, các nhóm do MIT dẫn đầu sẽ hợp tác với các đối tác công nghiệp hàng đầu với kinh nghiệm O & M thực tế và tự động hóa, để hỗ trợ phát triển các bản sao lò phản ứng kỹ thuật số. Các bản sao kỹ thuật số là bản sao ảo của các hệ thống vật lý được lập trình để có các thuộc tính, thông số kỹ thuật và đặc điểm tính chất giống như các hệ thống thực. Mục tiêu là áp dụng trí tuệ nhân tạo, các hệ thống điều khiển tiên tiến, bảo trì dự đoán và phát hiện lỗi dựa trên mô hình bên trong các bản sao kỹ thuật số để đưa ra chi phí vận hành và bảo trì cơ bản cho các nhà máy điện hạt nhân tiên tiến.  Trong một dự án tập trung vào phát triển các bản sao kỹ thuật số có độ chính xác cao cho các hệ thống quan trọng trong các lò phản ứng hạt nhân tiên tiến, hai giáo sư của Viện NSE là Emilio Baglietto và Koroush Shirvan sẽ hợp tác với các nhà nghiên cứu từ GE Research và GE Hitachi. GE Hitachi BWRX-300, một lò phản ứng mô-đun nhỏ được thiết kế để cung cấp năng lượng linh hoạt, được sử dụng như một thiết kế tham chiếu. BWRX-300 là một khái niệm lò phản ứng mô-đun nhỏ đầy hứa hẹn nhằm mục đích cạnh tranh với khí đốt tự nhiên để hiện thực hóa sự thâm nhập thị trường tại Hoa Kỳ. Nhóm nghiên cứu sẽ lắp ráp, đánh giá và thực hiện các bản sao kỹ thuật số có độ chính xác cao của các hệ thống BWRX-300. Các bản sao kỹ thuật số xử lý các dạng hỏng hóc về cơ khí và nhiệt, giúp cho các hoạt động O & M vượt xa các thiết bị của lò BWRX-300 được chọn và mở rộng đến tất cả các lò phản ứng tiên tiến có sử dụng dòng chất lưu. Vai trò của độ phân giải độ trung thực cao là trọng tâm của phương pháp này, vì nó giải quyết những thách thức đặc thù của ngành công nghiệp hạt nhân.  Viện NSE sẽ tận dụng những tiến bộ lớn mà họ đã đạt được trong những năm gần đây để thúc đẩy quá trình chuyển đổi ngành công nghiệp hạt nhân sang mô phỏng độ chính xác cao dưới dạng động lực học chất lỏng. Sự chính xác về độ phân giải không gian và thời gian của các quá trình mô phỏng, được kết hợp với bản sao kỹ thuật số kết nối với trí tuệ nhân tạo (AI), mang đến cơ hội đưa ra các phương pháp bảo trì có tính dự báo trước, có thể giúp giảm đáng kể chi phí vận hành của các tổ hợp nhà máy điện hạt nhân. GE Research cho thấy là một đối tác lý tưởng, nhờ kinh nghiệm to lớn của họ trong việc phát triển bản sao kỹ thuật số và liên kết chặt chẽ với đội ngũ thiết kế GE Hitachi và BWRX-300. Đội ngũ này đặc biệt có vị thế tốt để giải quyết các thách thức về vấn đề pháp quy khi áp dụng các bản sao kỹ thuật số cho các thiết bị an toàn thông qua việc mô tả các sự bất định một cách rõ ràng. Dự án do MIT dẫn đầu trong ba năm này được hỗ trợ bởi nguồn tài chính trị giá $ 1,787,065.  Kỹ sư nghiên cứu chính của MIT và Giám đốc tạm quyền của Phòng thí nghiệm lò phản ứng hạt nhân Gordon Kohse sẽ lãnh đạo việc hợp tác với các thành viên của MPR để tạo ra dữ liệu chiếu xạ quan trọng được sử dụng trong việc thiết kế bản sao kỹ thuật số của lò phản ứng muối nóng chảy (MSRs). Các lò MSR tạo ra vật liệu phóng xạ khi nhiên liệu hạt nhân được hòa tan trong muối nóng chảy ở nhiệt độ cao và trải qua quá trình phân hạch khi nó chảy qua vùng hoạt lò phản ứng. Hiểu được đặc tính của các vật liệu phóng xạ này rất quan trọng đối với thiết kế lò MSR, và đối với việc dự đoán cũng như giảm chi phí O & M – một bước quan trọng trong việc đưa năng lượng hạt nhân thế hệ tiếp theo, sạch, an toàn ra thị trường. Nhóm do MIT dẫn đầu sẽ sử dụng khả năng đặc biệt của lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân MIT để cung cấp dữ liệu xác định cách thức các vật liệu phóng xạ được tạo ra và vận chuyển trong các thiết bị của lò MSR. Bản sao kỹ thuật số của MSR sẽ cần đến dữ liệu quan trọng này, hiện không có sẵn. Nhóm MIT sẽ theo dõi hoạt độ phóng xạ trong và sau khi chiếu xạ muối nóng chảy có chứa nhiên liệu trong các vật liệu sẽ được sử dụng trong xây dựng MSR. Cùng với Kohse, nhóm nghiên cứu của MIT bao gồm David Carpenter và Kaichao Sun từ Phòng thí nghiệm Lò phản ứng hạt nhân MIT, và Charles Forsberg và Giáo sư Mingda Li từ NSE. Storm Kauffman và nhóm của MPR mang lại nhiều kinh nghiệm trong ngành công nghiệp hạt nhân cho dự án và sẽ đảm bảo rằng dữ liệu được tạo ra phù hợp với nhu cầu của các nhà phát triển lò phản ứng. Dự án hai năm này được tài trợ $ 899.825.  Ngoài hai dự án do MIT dẫn đầu, nhóm MIT thứ ba sẽ hợp tác chặt chẽ với Viện nghiên cứu năng lượng điện (EPRI) về mô hình mới để giảm chi phí vận hành và bảo trì lò phản ứng tiên tiến. Đây là một nghiên cứu chứng minh tính khả thi của ý tưởng (proof-of-concept), tìm kiếm phương thức loại bỏ phương pháp bảo trì và sửa chữa truyền thống. Dự án do EPRI dẫn đầu sẽ kiểm tra mô hình thay thế và tân trang lại, trong đó các bộ phận được thiết kế và thử nghiệm có chủ đích cho thời gian sống ngắn hơn và dễ dự đoán hơn với tiềm năng tiết kiệm chi phí O & M. Cách tiếp cận này tương tự như phương pháp của ngành hàng không thương mại, trong đó nhiều lần tân trang – bao gồm cả thay thế động cơ – có thể giữ cho một chiếc máy bay vận hành một cách kinh tế trong nhiều thập kỷ. Nghiên cứu sẽ đánh giá một số thiết kế lò phản ứng tiên tiến liên quan đến tiết kiệm chi phí và các lợi ích kinh tế quan trọng khác, chẳng hạn như tăng tính bền vững cho các nhà cung cấp. Nhóm MIT tập hợp Jeremy Gregory từ Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Môi trường, Lance Snead từ Phòng thí nghiệm Lò phản ứng hạt nhân, và các giáo sư Jacopo Buongiorno và Koroush Shirvan từ NSE.  Ông Shirvan, người đứng đầu dự án của MIT cho biết: Dự án hợp tác này sẽ đưa ra cái nhìn mới về việc giảm chi phí vận hành và bảo trì bằng cách cho phép công nghệ hạt nhân thích nghi tốt hơn với các điều kiện thị trường năng lượng luôn thay đổi. Vai trò của MIT là xác định các lộ trình giảm chi phí sẽ được áp dụng trên một loạt các công nghệ lò phản ứng tiên tiến đầy hứa hẹn. Đặc biệt, chúng tôi cần kết hợp những tiến bộ mới nhất trong khoa học vật liệu và kỹ thuật cùng với cơ cấu xây dựng dân sự trong các chiến lược của chúng tôi.  Những tiến bộ đạt được do 3 nhóm nghiên cứu của MIT này, cùng với 6 người được trao giải khác trong chương trình GEMINA, sẽ cung cấp một khung cơ bản, hợp lý hóa chi phí O & M hơn cho các lò phản ứng hạt nhân tiên tiến thế hệ tiếp theo – một yếu tố quan trọng để cạnh tranh với các nguồn năng lượng thay thế.  Nguyễn Thị Thu Hà/VINATOM dịch  Nguồn: http://news.mit.edu/2020/making-nuclear-energy-cost-competitive-0527    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những tin vui thực sự về khí hậu      Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang bị khô hạn nghiêm trọng, nhiều vùng ở Australia bị ngập lụt, sông băng trên dãy Alps đang tan chảy ngày càng nhanh hơn, Thủ tướng Đức muốn đẩy mạnh khai thác khí đốt – tuy vậy, vẫn có một số tin vui liên quan đến cuộc khủng hoảng khí hậu.    Trong những ngày gần đây, các tin tức dồn dập liên quan đến khí hậu cứ như thể ngày tận thế đang ập đến. Australia đang trải qua trận lũ lụt thứ tư vô cùng tệ hại trong vòng 18 tháng, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lâm vào tình trạng khô hạn chưa từng có trong 1.000 năm nay, sông băng trên dãy Alps tan chảy với tốc độ ngày càng nhanh hơn và miền bắc Italy đang cạn kiệt nước. Trong khi đó, Thủ tướng Đức Olaf Scholz muốn phát triển khai thác các mỏ khí đốt mới ở Senegal, mặc dù Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cảnh báo không phát triển thêm các dự án hóa thạch vì mục tiêu khí hậu.  Tuy nhiên, trên thế giới hiện đang diễn ra một loạt sự kiện mang lại nhiều hy vọng. Sự phát triển của công nghệ về sản xuất và lưu trữ năng lượng, trung hòa CO2, đang tiếp tục được xúc tiến với tốc độ nhanh chóng. Dưới đây là các tin vui liên quan đến khí hậu:  1. Trung Quốc phát triển điện gió và điện mặt trời với tốc độ chóng mặt  Mới đây, Bloomberg New Energy Finance (Bloomberg NEF) – tổ chức nghiên cứu, tư vấn toàn cầu về năng lượng tái tạo, dự đoán sản lượng tuabin gió ngoài khơi trên toàn thế giới trong giai đoạn 2021-2035 sẽ tăng gấp 10 lần, lên 504 gigawatt. Để so sánh, tổng công suất của tất cả các nhà cung cấp điện của Hoa Kỳ hiện vào khoảng 1,1 terawatt. Cho đến nay, Trung Quốc là nước phát triển năng lượng gió ngoài khơi lớn nhất trên toàn cầu. Theo dự báo, đến năm 2030, nước này sẽ chiếm hơn một nửa mức tăng trưởng năng lượng gió ngoài khơi trên toàn cầu. Năng lượng gió trên bờ cũng đang phát triển cực kỳ nhanh ở Trung Quốc. Chỉ tính riêng trong năm nay, công suất trên bờ dự kiến sẽ tăng 50 gigawatt. Ngoài các tuabin gió ngoài khơi neo đậu trên và dưới đáy biển, các tuabin gió nổi dự kiến sẽ tăng từ giữa thập kỷ này. Bloomberg NEF dự báo công suất điện gió sẽ tăng thêm 25 gigawatt vào năm 2035.    Những tấm pin mặt trời và tua bin gió ở Yancheng, Trung Quốc  Công suất điện mặt trời cũng đang tăng nhanh ở Trung Quốc. Theo Viện Kỹ thuật Năng lượng Tái tạo Trung Quốc, nước này sẽ bổ sung thêm 100 gigawatt công suất điện mặt trời trong năm 2022. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bảy trong số mười nhà sản xuất tế bào quang điện lớn nhất có trụ sở tại Trung Quốc và khoảng 80% polysilicon cần thiết cho pin mặt trời cũng được sản xuất tại đây. Đây cũng là hệ quả từ những sai sót trong các quy định của châu Âu. Nhà sản xuất polysilicon châu Âu duy nhất trong top 5 là Wacker Chemie. Nhìn chung, nhiều dự báo cho thấy Trung Quốc sẽ tăng công suất năng lượng tái tạo từ 140 lên 154 gigawatt chỉ trong năm nay – gần gấp ba lần toàn bộ công suất điện mặt trời hiện đang được lắp đặt ở Đức. Theo kế hoạch 5 năm, Trung Quốc sẽ bổ sung 570 gigawatt công suất năng lượng tái tạo vào năm 2025, bằng khoảng một nửa tổng công suất của tất cả các nhà máy điện ở Mỹ. Nếu điều này tiếp tục, các chuyên gia tại Carbon Brief dự đoán Trung Quốc có thể đạt được mục tiêu vượt mức đỉnh điểm phát thải CO2 và giảm lượng khí thải sớm hơn kế hoạch – năm 2026 thay vì năm 2030.  2. Khí đốt đắt đến mức sẽ sớm không còn giá trị  Thoạt nghe điều này có vẻ vô lý: Giá khí đốt ngày càng tăng, phần lớn là do cuộc chiến giữa Nga và Ukraine, sẽ gây thiệt hại cho khí đốt trong ngắn hạn và trung hạn. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo nhu cầu khí đốt tự nhiên sẽ “giảm vào năm 2022 và vẫn giảm vào năm 2025”. Về bản chất, đó chỉ là một nửa tin tốt vì theo IEA, “dự báo giảm nhu cầu khí đốt phần lớn là do hoạt động kinh tế sa sút và ít chuyển đổi từ than, dầu sang khí”. Trong khi đó, dầu mỏ và than đá là những nguồn năng lượng “bẩn” hơn nhiều. Tuy nhiên, IEA cho rằng ít nhất một phần năm nhu cầu giảm là do “tăng hiệu quả và thay thế khí đốt bằng năng lượng tái tạo”. Đồng thời kết luận: “Điều này nhấn mạnh cần phải tiến bộ hơn nữa trong quá trình chuyển đổi năng lượng sạch.” Một chuyên gia khí đốt nói với Guardian rằng Australia sẽ “loại bỏ vĩnh viễn nhu cầu” về khí đốt. Các dự án phát triển mới có thể không còn giá trị ở đây nữa. Đây là tin tốt, bởi vì mỗi tấn CO₂ nằm lại trong lòng đất là một bước đi đúng hướng. Các nước như Australia nói riêng có thể sớm xuất khẩu năng lượng sạch bằng các phương pháp khác.  3. Các siêu cường năng lượng mới sẽ sớm xuất hiện  Sự chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, không chỉ để sạc ô tô và cung cấp năng lượng cho thiết bị điện tử, mà còn tạo ra hydro, dầu diesel trung tính carbon và thậm chí cả nhựa, sẽ thay đổi bản đồ kinh tế toàn cầu. Australia, với những vùng đất rộng lớn đầy ánh nắng, sẽ là một trong những nước thắng cuộc cuối cùng, tương tự như các quốc gia nhiều nắng, ít mây, có địa hình cao và không khí trong lành. Ngoài Chile – quốc gia đáp ứng tất cả các yêu cầu này, về lý thuyết, các địa điểm cung cấp năng lượng mặt trời hàng đầu còn có Namibia, Jordan, Ai Cập, Yemen, Oman, Ả Rập Saudi và nhiều quốc gia khác ở vùng Vịnh. Ngoài ra có thể kể đến Pakistan, Afghanistan hoặc các nước Mỹ Latinh như Bolivia, Peru và cả Argentina.  Hầu hết các bờ biển đều là những địa điểm tốt để sản xuất năng lượng gió, nhiều ngọn núi và khu vực khác cũng vậy. Ví dụ như ở vùng Sừng châu Phi, bờ biển phía tây châu Phi, bờ biển phía đông của Mỹ Latinh và Mông Cổ. Công nghệ sản xuất nhiên liệu (ví dụ cho tàu thủy và máy bay), các thành phần nhựa và các sản phẩm cho ngành công nghiệp hóa chất từ CO2 và hydro xanh đã có từ lâu. Điều này khó có thể xảy ra trên quy mô lớn ở Trung Âu, vì năng lượng tái tạo ở đây quá khan hiếm – nhưng một ngày nào đó, một số siêu cường năng lượng tái tạo trong tương lai được đề cập ở đây có thể trở thành nhà xuất khẩu các sản phẩm thay thế CO2 trung hòa cho chất độc hóa thạch. Lý tưởng nhất là với sự hỗ trợ của các công ty Đức như Ineratec từ Karlsruhe hoặc Sunfire từ Dresden.  5. Công nghệ lưu trữ điện đang trên đà phát triển  Khi tranh luận với những người không muốn thay đổi, khư khư bám vào cái cũ, thì lý lẽ đầu tiên người ta đưa ra là, khi không có gió và thiếu ánh sáng trời thì lấy đâu ra điện. Các mô hình “Power-to-X” được mô tả ở trên là một câu trả lời cho câu hỏi này. Các công nghệ lưu trữ mới và truyền thống là giải pháp thứ hai. Lĩnh vực Lưu trữ năng lượng trong thời gian dài (LDES) hiện đang phát triển nhanh chóng, với nhiều cách tiếp cận công nghệ khác nhau.  Tóm lại: Các giải pháp chúng ta cần để giải phóng bản thân không bị phụ thuộc vào sản sinh CO2 đã có sẵn từ lâu. Vấn đề phải làm lúc này là ưu tiên thực hiện. Đồng thời tính đúng các chi phí khi sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Cụ thể hơn, chúng ta nên khuyến khích xây dựng các nhà máy điện mặt trời ở Bắc hoặc Trung Phi hơn là tìm kiếm và khai thác các mỏ khí đốt mới ở Senegal.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://Klimakrise und technischer Fortschritt: Fünf wirklich gute Klimanachrichten – Kolumne – DER SPIEGEL    Author                phongvien        
__label__tiasang Những toà nhà bê-tông phủ màu xanh: Hướng đi cho các đô thị bền vững      Tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với sự suy giảm môi trường, nhưng một số thành phố đang chứng minh điều này không phải lúc nào cũng đúng.      Mật độ dân số của Hong Kong rất cao. Trung tâm thành phố không có nhiều cây xanh, chất lượng không khí xấu, có thể gây viêm phế quản và suy giảm chức năng phổi. Ảnh: Pu Miao / Researchgate  Quá trình đô thị hoá thường đi kèm với một “rừng” bê tông, những toà nhà chọc trời, không khí ô nhiễm, và dòng sông đặc quánh đen ngòm. Vào thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của thành phố, dòng sông Thames ở London đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Rác rưởi, chất thải công nghiệp, nước thải chưa qua xử lý, đều đổ xuống đây. Mùa hè năm 1858 nắng nóng như đổ lửa càng khiến mùi hôi trở nên nồng nặc hơn, đến mức sự kiện này đã đi vào sử sách với cái tên “Great Stink” (Mùi Hôi thối Kinh khủng). Ngày nay, các tác phẩm thuộc thể loại khoa học viễn tưởng thường miêu tả “đô thị” như một thành phố “phản địa đàng” (dystopia), dày đặc đường nhựa, nơi bạn chẳng thể tìm thấy một cái cây hay một ngọn cỏ nào. Chẳng hạn, trong bộ phim Blade Runner, khung cảnh thành phố lúc nào cũng tối tăm và tràn ngập các toà nhà cao vút.  Tăng trưởng kinh tế thường cũng đi kèm với suy giảm môi trường. Nhìn từ không gian, các khu vực đô thị hoá hiện lên như những dải ánh sáng rực rỡ. Phần chìm trong bóng tối thường là những khu vực có rừng cây, còn hoang sơ. Bên trong các đô thị chỉ có một vài mảng tối đen như mực, thành phố càng lớn, thì dường như càng ít màu xanh hơn.  Nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng với một số thành phố.  Xa xưa, vào thuở ban đầu khi con người bắt đầu dựng nên các thành phố, những thành phố đã làm suy yếu môi trường tự nhiên xung quanh, và con người đã phải trả giá vì điều đó. Vào năm 3000 trước Công nguyên, Uruk có mật độ dân cư đông đúc hơn thành phố New York ngày nay, với 80.000 người sống trong một khu vực rộng khoảng 2 dặm vuông. Thủ đô đông đúc này đã phải liên tục mở rộng hệ thống thủy lợi để thích ứng với dân số ngày càng tăng. Ở Sri Lanka 2.500 năm sau, thành phố Anuradhapura cũng gặp vấn đề tương tự. Nó cũng phát triển không ngừng, và hệt như Uruk, nó phụ thuộc rất nhiều vào một hệ thống tưới tiêu hoành tráng.  Khi Uruk phát triển, người nông dân bắt đầu chặt cây để có thêm không gian trồng trọt. Ban đầu, hoạt động mở rộng đất nông nghiệp vẫn diễn ra ổn thoả. Tuy nhiên, vì không có cây xanh để lọc nguồn cung cấp nước, hệ thống tưới tiêu của Uruk đã bị ô nhiễm. Nước bốc hơi để lại các mỏ khoáng, khiến đất quá mặn để canh tác.  Tuy nhiên, ở Anuradhapura, người dân cho rằng cây cối rất linh thiêng. Thành phố của họ có một nhánh của cây bồ đề được cho là nơi Đức Phật đã giác ngộ. Sự thành kính này đã làm chậm lại quá trình mở rộng đất canh tác, thậm chí khiến thành phố phải trồng thêm cây xanh trong các công viên đô thị. Hệ thống tưới tiêu của Anuradhapura được thiết kế để hoạt động hài hòa với khu rừng xung quanh. Dân số trong thành phố rốt cục đã tăng lên gấp đôi dân số của Uruk, và ngày nay Anuradhapura là một trong những thành phố có người ở liên tục lâu đời nhất thế giới, người dân vẫn chăm sóc một cây cổ thụ được trồng hơn 2.000 năm trước.  Câu chuyện về hai thành phố cổ đại này để lại cho chúng ta những bài học. Nhiều người nghĩ rằng thiên nhiên và đô thị là hai phần tách biệt, nhưng thực chất cây xanh luôn là một phần quan trọng của không gian đô thị phồn hoa. Một cái cây xanh tươi to lớn có thể có vài trăm nghìn chiếc lá, mỗi chiếc là một “công cụ” quang hợp. Những chiếc lá nhỏ bé này làm sạch không khí bằng cách giữ lại carbon và các chất ô nhiễm khác, khiến chúng trở thành một phần cần thiết trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Ngoài ra, cây cối hoạt động giống như một miếng bọt biển tự nhiên, hấp thụ nước mưa chảy tràn và giải phóng nó trở lại bầu khí quyển. Màng rễ của cây cho phép đất giữ nước và lọc bỏ độc tố. Rễ giúp ngăn lũ lụt.  Đáng buồn thay, cùng với quá trình đô thị hóa, rừng bị phá để làm nông nghiệp và những người dân nghèo đã chặt cây trong đô thị để lấy chất đốt. Thomas Jefferson xem việc chặt bỏ cây cối là “một tội ác”.  Song, từng chút một, màu xanh lá cây đã trở lại khi các thành phố tìm cách khắc phục phần nào sự phá hoại của mìn. Ở Seoul, Hàn Quốc, một con đường cao tốc lát bê tông đã che lấp con suối từng chảy qua thành phố. Năm 2003, thị trưởng Seoul quyết định dỡ bỏ đường cao tốc trên cao 40 năm tuổi với mong muốn khôi phục lại dòng suối bị ô nhiễm và xây dựng một công viên dọc theo bờ suối. Suối Cheonggyecheon hiện là một không gian giải trí cộng đồng. Cá, chim và côn trùng đã trở về, còn dòng suối đã giúp thành phố giảm bớt hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, góp phần giảm nhiệt độ của các khu vực lân cận xuống 3,6°C.  Các thành phố đang tập trung xây dựng các đầm lầy sinh học và vườn mưa (rain garden – giải pháp giữ và kiểm soát lượng nước mưa, làm giảm lượng nước chảy tràn trên bề mặt, góp phần giảm sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt…) để thay thế các đường ống dẫn nước mưa. Các biện pháp này hoạt động như một mạng lưới “cơ sở hạ tầng xanh” để thu nước mưa và lọc nước, giúp thành phố tiết kiệm chi phí đầu tư thêm hệ thống thoát nước mưa và lát nền. Ví dụ, việc lát các tấm thấm nước trên các đường phố của Seattle đã giúp chính quyền thành phố cắt giảm một nửa chi phí lát đá. Seattle đã đưa ra quy định 30% diện tích đất trong các khu thương mại phải là những khu vực có cây cối xanh tốt.  Nhiều thành phố cũng đã ban hành các sắc lệnh về việc trồng cây và thảm thực vật trên mái nhà.  Zurich là một trong những thành phố đầu tiên ban hành chính sách bắt buộc tất cả các mái nhà bằng phẳng (flat roof) trong thành phố, ngoại trừ sân thượng dùng để sinh hoạt (terrace), phải là những bề mặt xanh. Ở Đức, khoảng 14% mái nhà được phủ xanh. Hamburg thậm chí còn ban hành chính sách phủ thảm thực vật lên 70% tổng số mái nhà trong thành phố.  Nhiều thế kỷ trước, người Viking ở Newfoundland đã phủ xanh những mái nhà của mình. Cho đến thế kỷ 19, những ngôi nhà bằng gỗ ở Na Uy vẫn được bao phủ bởi cỏ, đôi khi xen lẫn với hoa và các loại cây nhỏ, để cung cấp cho mái nhà khả năng cách nhiệt. Ngày nay, mái nhà xanh vẫn là giải pháp giúp tăng tuổi thọ của mái nhà, vì thảm thực vật bảo vệ màng mái khỏi bức xạ tia cực tím và sự dao động nhiệt độ.  Những mái nhà xanh giờ đây còn là nơi trồng rau quả. Nông nghiệp đô thị, dù là trên mái nhà hay trong các khu vườn cộng đồng, đã và đang tiến vào các thành phố như một cách để giảm số năng lượng bị lãng phí vào việc vận chuyển thực phẩm từ xa đến cửa hàng tạp hóa địa phương. Với việc cây ăn quả bắt đầu trở thành một phần của các thành phố, chúng ta đã về lại với cách sống của tổ tiên, những người có cuộc sống xoay quanh công việc trồng trọt.  Cây cối đã trải qua một chặng đường dài từ rừng rậm đến những mái nhà. Chúng đang trở thành một phần không thể thiếu ở Singapore, thành phố nơi các tòa nhà chọc trời được bao phủ bởi màu xanh của cây cối.  Hình mẫu Singapore  Lần đầu ghé thăm Singapore, nhiều người đã ngạc nhiên về sự khác biệt giữa thành phố này với Hong Kong, mặc dù cả hai đều từng là thuộc địa của Anh, diện tích đất nhỏ, dân số và các ngành công nghiệp tương tự nhau. Tuy nhiên, tại Hong Kong, các tòa nhà chọc trời mọc lên san sát nhau, cơ sở hạ tầng ngầm khiến cây cối khó phát triển. Những con phố chật hẹp và vỉa hè đông đúc, với những tòa nhà chọc trời chắn nắng. Dây cáp và đường ống chạy dưới lòng đất khiến cây cối hầu như không thể sinh trưởng nổi ở trung tâm thành phố. Điều này góp phần khiến chất lượng không khí xấu đi, có thể gây viêm phế quản và suy giảm chức năng phổi.  Đối lập với rừng bê tông của Hồng Kông là Singapore, một ốc đảo xanh yên bình. Gốc rễ của hai bức tranh khác nhau này nằm ở cách quản lý. Hong Kong thời hậu thuộc địa vẫn dẫn đầu thị trường nhờ sự dẫn dắt của các nhà phát triển – nhưng họ không có quá nhiều kế hoạch hoành tráng liên quan đến môi trường. Singapore thì đi từ dưới lên, được điều hành bởi chính trị gia đại tài Lý Quang Diệu. Cả hai thành phố đều thịnh vượng, nhưng theo những cách hoàn toàn khác nhau.  Các toà nhà Singapore có mái và mặt tiền xanh mát. Ảnh chụp tại khách sạn Royal Park. Có thể thấy những hàng cây ven đường tốt tươi và đa dạng dọc theo Phố Pickering. Ảnh: Timothy Beatley  Năm 1963, Lý Quang Diệu đã phát động chiến dịch trồng cây bằng cách tự mình trồng cây đầu tiên, cây thành ngạnh (Cratoxylum formosum). Sau khi Singapore độc lập, ông đã phát động chiến dịch Thành phố Vườn và Ngày trồng cây hằng năm để làm đẹp Singapore. Năm 1974, Singapore có 158.000 cây xanh. Bốn mươi năm sau, con số này đã tăng lên thành 1,4 triệu.  Xanh hóa đã trở thành mục đích sống còn. Singapore là một đất nước có kích thước của một thành phố. Với khoảng 6 triệu người, dân số nước này tương đương với Đan Mạch, nhưng diện tích chỉ bằng một nửa London. Do đó, Singapore phụ thuộc vào các nước láng giềng, như Malaysia, để có nước sinh hoạt. Nhằm tránh phụ thuộc vào các quốc gia khác, Singapore cần phải tự cung tự cấp trong khuôn khổ nhỏ gọn của mình. Họ phải thu gom nước mưa, không thể để các dòng sông của mình bị ô nhiễm như các nước khác. Singapore, nếu muốn có khả năng tự cung tự cấp, không có lựa chọn nào khác ngoài thực hiện các chiến lược xanh hoá.  Năm 1963, ông Lý đã hợp nhất các đơn vị khác nhau lại để thành lập cơ quan cấp nước quốc gia. Trong 10 năm, cơ quan này làm sạch các con sông – nơi trước đây vẫn là một cống thoát nước. Họ đã di dời các nhà máy và trang trại, xây dựng các hồ chứa nước, lên kế hoạch thu gom và thu hồi nước mưa trong thành phố. “Đến năm 1980, chúng tôi có thể cung cấp khoảng 63 triệu gallon nước mỗi ngày,” ông Lý nói, “tương đương khoảng một nửa lượng nước mà chúng tôi tiêu thụ hằng ngày.”  Ngày nay, Singapore có vô số hồ chứa nước. Các mái nhà, công viên, lòng đường và vỉa hè đều có chức năng thu hồi nước. Một hệ thống phức tạp gồm các kênh, đường hầm và máy bơm sau đó chuyển nước đến các nhà máy xử lý, tất cả đều được điều khiển bằng bộ vi xử lý.  Năm 2009, Pinnacle@Duxton, dự án nhà ở công cộng của Singapore hoàn thành. Nó có bảy tòa tháp cao 50 tầng được kết nối với nhau nhờ những khu vườn cây cảnh trên cao, giúp cư dân chạy bộ hằng ngày giữa những cây cọ. Những cây xanh mới được trồng sẽ giúp làm mát các tòa nhà, tạo bóng râm, giảm nhiệt độ ngoài trời.  Singapore cũng tích cực tìm cách giải quyết vấn đề về thực phẩm. Họ đã xây dựng nên Sky Greens, trang trại thẳng đứng thương mại đầu tiên trên thế giới, bao gồm 120 khung chữ A bằng nhôm, mỗi khung có 38 tầng thực vật. Trang trại thẳng đứng sản xuất nửa tấn rau tươi mỗi ngày.  Singapore đã trở thành một hình mẫu cho sự phát triển bền vững trên toàn thế giới. Khi lượng khí thải carbon đang khiến nhiệt độ tăng lên và quá trình đô thị hóa đang phá vỡ hệ thống tự nhiên của chúng ta, Singapore đã cho ta thấy thế nào là một tương lai đô thị bền vững — đó là một nơi với những tòa nhà chọc trời xanh mát.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  The Concrete Jungle Is Turning Green Again  Story of cities #14: London’s Great Stink heralds a wonder of the industrial world    Author                .        
__label__tiasang Những triển vọng mới cho nông dân ASEAN      Nằm khuất giữa các nhà kính trên đỉnh toà nhà của một viện nghiên cứu thuộc đại học Quốc gia Singapore (NUS) là một phòng thí nghiệm đang đi tìm câu trả lời cho các vấn đề về an ninh lương thực của quốc gia này.      Citizen Farm là một nông trại đô thị ở Queenstown, một điển hình về cách mà nghiên cứu và đổi mới đang giúp chuyển đổi nông nghiệp và sản xuất thực phẩm ở Singapore.  Các nhà khoa học ở Temasek Life Sciences Laboratory (TLSL) mới đây đã lai tạo một loại lúa có thể kháng một số vi khuẩn và nấm, cũng như chịu được các điều kiện thời tiết bất lợi. Giống lúa này có tên là Temasek, là một trong những dự án nghiên cứu mới và quan trọng ở Singapore, vì đảo quốc khan hiếm đất đai, chỉ cung cấp được 10% lương thực.  Cũng như phần lớn các nước châu Á, gạo là thực phẩm chủ lực của Singapore, được nhập từ các nước đang vật lộn với các vấn đề an ninh lương thực do lũ, hạn, thiên tai và tác động do biến đổi khí hậu.  Viễn cảnh đó đã thôi thúc các nhà khoa học: TS Luo Yanchang và TS Yin Zhongchao ở TLSL sáng chế ra dòng lúa Temasek với tham vọng nuôi sống chính họ. “Phát triển lúa Temasek không chỉ là nỗ lực của riêng Singapore, mà còn là của các nước trong vùng. Chúng tôi muốn phát triển nhiều dòng lúa, các phiên bản khác nhau của giống lúa này, để nông dân được lợi”, TS Yin nói. Tuy nhiên thông tin về dòng lúa này đã được giữ kín!  Ngoài lúa Temasek, một dự án đã làm phấn khích các nhà khoa học là sáng kiến Black Soldier Fly (ruồi đen) do GS Rudolf Meier, khoa Sinh học NUS, làm chủ nhiệm đề tài. GS Meier và nhóm của ông đã tìm ra cách xử lý với rác lương thực thay vì đốt bỏ. Giải pháp của ông là khai thác ấu trùng của Black Soldier Fly để phân huỷ rác lương thực thành phân hỗn hợp giàu dinh dưỡng để sử dụng trong trồng trọt theo quy trình khép kín. “Đôi khi chúng ta có thể học từ tự nhiên bằng cách sao chép các giải pháp kỹ thuật. Trong những trường hợp khác, chúng ta có thể dùng thiên nhiên để làm công việc tái chế. Và trong trường hợp Black Soldier Fly, tôi cho rằng chúng được tối ưu hoá để làm đúng công việc này”, GS Meier nói.  Mô hình canh tác bền vững và thân thiện với môi trường đang là hướng đi mới của nông nghiệp Singapore. Citizen Farm, một nông trại nằm ở khu vực Queenstown của Singapore đã áp dụng khái niệm này. Không giống các nông trại truyền thống, Citizen Farm nằm trong tầm đi bộ cách các căn hộ và chung cư của tập đoàn Phát triển nhà (HDB). Nông trại này trồng cỏ, rau và hoa ăn được cho các nhà hàng. Darren Ho, người đứng đầu Citizen Farm nói: “Đô thị hoá là điều không tránh khỏi trong bối cảnh hiện nay và các đô thị ngày càng phình to. Làm nông ở đó không phải là điều xấu nếu chúng ta sản xuất bền vững. Canh tác đô thị đang là xu hướng của một thành phố tự túc về thực phẩm an toàn với cư dân”.  Đáng nói, nông dân ngày càng ý thức hơn về nhu cầu cấp thiết là cải thiện kiến thức về các vấn đề như biến đổi khí hậu để thích ứng với công việc đồng áng của họ. Làng Suntenjaya nằm giữa những ngọn đồi thường bị sạt lở ở Tây Bandung, đảo Java của Indonesia. Đó là quê hương của cộng đồng người Sundan. Hầu hết dân làng là nông dân đã sống tại đó hơn ba thế hệ. Trồng rau là công việc duy nhất mà họ biết.  Họ quan tâm đến các vấn đề như tiến bộ của công nghệ, tái phát triển đô thị và biến đổi khí hậu đã làm họ mất việc. Do vậy, nhiều nông dân ủng hộ trung tâm học tập Geger Sunten, một mô hình giáo dục phi chính phủ, vừa dạy chương trình vừa trợ cấp cho người học với mức 2 USD/ học viên/tháng. Chương trình học ở đây phù hợp với nông dân trẻ.  Nhiều quốc gia ASEAN đang sử dụng giáo dục và nghiên cứu để củng cố vai trò và vị thế của nông nghiệp. Và chìa khoá cho sự sống còn của nông nghiệp là các chương trình khác nhau nhằm chuyển đổi ngành nông, là công nghệ canh tác cao hoặc các sáng kiến dựa trên cộng đồng, mà  mô hình trung tâm học tập cộng đồng Geger Sunten là một điển hình sống động và có hiệu quả thiết thực.  Khởi Thức (todayonline.com/TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những trình tự hệ gene của tổ tiên hai loài cà chua dại      Cà chua là một trong những loại nông sản tươi được tiêu thụ phổ biến nhất trên toàn thế giới, đồng thời là một thành phần quan trọng trong nhiều thực phẩm công nghiệp.         Cũng như các loại cây trồng khác, một số gene hữu ích tiềm tàng có trong loài cà chua tổ tiên Nam Mỹ đã bị mất trong quá trình thuần hóa và nhân giống cà chua hiện đại, Solanum lycopersicum var. lycopersicum.  Là một cây trồng quan trọng, trình tự hệ gene cà chua đã được hoàn thiện và công bố từ năm 2012, với những bổ sung và cải thiện sau đó. Giờ đây, nhóm nghiên cứu tại Đại học Tsukuba, phối hợp với Công ty TNHH Hạt giống TOKITA, đã tìm ra trình tự hệ gene chất lượng cao của hai loài tổ tiên cà chua hoang dã từ Peru, Solanum pimpinellifolium và Solanum lycopersicum var. cerasiforme. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí DNA Research “De novo genome assembly of two tomato ancestors, solanum pimpinellifolium and S. lycopersicum var. cerasiforme, by long-read sequencing”.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng những công nghệ giải trình tự DNA hiện đại, có thể đọc các trình tự dài hơn so với trước đây, kết hợp với các công cụ tin sinh học tiên tiến để phân tích hàng trăm gigabyte dữ liệu được tạo ra và tăng cường chất lượng của dữ liệu. Họ đã tập hợp nhiều đoạn trình tự, chỉ rõ những vị trí mà trình tự khớp với các gene đã biết trong 12 nhiễm sắc thể được tìm thấy ở cà chua, họ cũng xác định hàng ngàn trình tự gene mới không có ở các loại cà chua hiện đại. Nhiều trình tự DNA mới này chỉ có ở một hoặc một vài loài cà chua tổ tiên.  Các nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích hệ phiên mã trong hai loài cà chua tổ tiên – những gene nơi DNA được phiên mã thành các thông tin RNA, cung cấp các chỉ dẫn cho tế bào tạo ra protein – kiểm tra 17 bộ phận khác nhau của cây để chỉ ra gene nào đang hoạt động. Kết hợp cùng việc so sánh với các gene đã biết, thông tin này chỉ ra các chức năng có thể có của các gene mới, ví dụ như trong sự phát triển của quả, hoặc tạo ra khả năng kháng bệnh ở lá, hoặc khả năng chịu mặn ở rễ.  “Các trình tự hệ gene mới của những cây cà chua tổ tiên này sẽ rất giá trị trong nghiên cứu sự tiến hóa của nhóm loài này và các đặc tính di truyền đã thay đổi như thế nào trong quá trình thuần hóa”, giáo sư Tohru Ariizumi, tác giả liên hệ cho biết. “Ngoài ra, các loài cà chua hoang dã chứa hàng ngàn gene không có trong cà chua hiện đại. Với thông tin mới này, các nhà nghiên cứu có thể xác định các gene mới hữu ích có thể dùng để lai tạo các loại cà chua và những cây trồng tiềm năng khác. Điều này sẽ giúp các nhà lai tạo giống cây trồng phát triển các loại cà chua cải tiến trong tương lai với các đặc tính như kháng bệnh tốt hơn, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, cải thiện hương vị và thời hạn sử dụng”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-genome-sequences-wild-tomato-ancestors.html  https://academic.oup.com/dnaresearch/article/28/1/dsaa029/6104860    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề cốt lõi của nhóm nghiên cứu mạnh      Trong nhiều phiên họp gần đây của Quỹ Nafosted, vấn đề khoa học Việt Nam cần số lượng công bố hay chất lượng công bố đã được đưa ra tranh luận một cách thẳng thắn giữa các thành viên hội đồng khoa học ngành.      Có thể thấy sau gần 10 năm triển khai tài trợ cho nghiên cứu cơ bản, số lượng công bố của chúng ta đã tăng nhiều so với trước đây (theo số liệu của Quỹ Nafosted là 802 bài báo ISI năm 2016 còn trước đó, khi Quỹ Nafosted mới bắt đầu hoạt động là 45 bài báo ISI năm 2009) nhưng so với một số quốc gia khác trong khu vực thì số lượng đó cũng chưa nhiều. Do đó, một mặt chúng ta vẫn cần đến số lượng công bố nhưng mặt khác cũng nên quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng công bố. Muốn đáp ứng được yêu cầu mới đó thì chúng ta cần phải có những nhóm nghiên cứu mạnh với hạt nhân là những nhà khoa học đã tích lũy được kinh nghiệm nghiên cứu và có được một số công bố trên tạp chí ISI uy tín.  Khi bàn về việc thúc đẩy hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, chúng ta có thể thấy là hiện nay mới chỉ có một văn bản đề cập đến vấn đề này là Thông tư 37 quy định quản lý đề tài nghiên cứu cơ bản được Quỹ Nafosted tài trợ do Bộ KH&CN ban hành vào tháng 12/2014, trong đó nêu những nội dung cơ bản về tiêu chuẩn nhóm nghiên cứu mạnh, còn những mục tiêu của việc hình thành nhóm nghiên cứu mạnh là gì thì chưa có văn bản nào nói rõ. Mọi việc cũng chỉ mới bắt đầu khởi động nên hiện cũng chưa có gì để tổng kết, đánh giá.  Theo tôi thì việc ra đời của nhóm nghiên cứu mạnh là vấn đề mới của khoa học Việt Nam nên việc đầu tư để hình thành nhóm nghiên cứu mạnh cần được xem xét ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ.  Thứ nhất, theo Thông tư 37, thành phần nhóm nghiên cứu mạnh ngoài trưởng nhóm có công bố trên tạp chí ISI uy tín trong vòng 5 năm trở lại đây còn có ít nhất hai thành viên chủ chốt khác cũng đáp ứng được yêu cầu đó, tức là từng làm chủ nhiệm đề tài của Quỹ. Nhóm nghiên cứu mạnh phải có hướng nghiên cứu lâu dài và có chiến lược phát triển hướng nghiên cứu đó theo từng giai đoạn, chứ không phải thực hiện nghiên cứu một cách ngẫu nhiên (các hướng nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu mạnh cũng cần thuộc định hướng nghiên cứu của Quỹ).  Thứ hai, một nhóm nghiên cứu mạnh có hướng đi lâu dài đã tốt nhưng nó cũng cần tập hợp được nhân lực có đủ khả năng giải quyết được vấn đề đó. Việc kết nối các thành viên trong công việc cần khoa học, có sự phân công nhiệm vụ thật rõ ràng bởi muốn cho ra được một bài báo chất lượng tốt thì phải có kế hoạch làm việc rõ ràng, trong đó quy định rõ những ai làm công đoạn gì, nó hoàn toàn khác so với một nhóm nghiên cứu thông thường, nhiều khi là trưởng nhóm đảm trách phần lớn công việc với sự hỗ trợ của một vài học viên, nghiên cứu sinh.  Thứ ba, để nhóm nghiên cứu mạnh có thể giải quyết được những vấn đề lớn thì thời gian thực hiện đề tài phải đủ dài. Trước đây, Quỹ quy định thời gian thực hiện các đề tài do Quỹ tài trợ thường là hai đến ba năm (thông thường là hai năm). Hai năm là quãng thời gian phù hợp với các đề tài lý thuyết, còn trong lĩnh vực thực nghiệm hai năm thực hiện đề tài thì rõ ràng là rất ít để nghiên cứu vấn đề nào đó thật sâu và có được những kết quả thật tốt. Ví dụ trong ngành khoa học vật liệu, chỉ cần chụp ảnh vật liệu nghiên cứu trên kính hiển vi điện tử quét (SEM) là có được kết quả đạt yêu cầu, nhưng nếu nâng cao yêu cầu hơn cần chụp ảnh trên kính hiển vi điện tử truyền qua có độ phân giải cao (HRTEM) chẳng hạn, việc đó cũng cần có thời gian thực hiện.  Thứ tư là vấn đề quyền lợi của những người tham gia nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là vấn đề hết sức tế nhị, bởi dù là nhóm mạnh thì quyền lợi mà mọi thành viên được hưởng vẫn theo quy chế chung, ví dụ như tính điểm chủ nhiệm đề tài thì chỉ có một người được hưởng điều này, các thành viên chủ chốt khác không được hưởng điều đó. Do liên quan mật thiết đến tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư và một số quyền lợi khác, nên việc áp dụng cách tính điểm này sẽ khiến các thành viên chủ chốt thiệt thòi, trong khi họ cũng từng là chủ nhiệm đề tài và kết quả nghiên cứu cũng rất tốt.  Và cuối cùng, trưởng nhóm nghiên cứu mạnh phải chịu áp lực rất nặng nề. Bản thân anh đã có sản phẩm nghiên cứu tốt với nhóm nghiên cứu trước đây, nhưng nay là nhóm nghiên cứu mạnh thì sản phẩm đầu ra của anh phải có chất lượng cao hơn hẳn, không chỉ đáp ứng yêu cầu của hội đồng khoa học mà còn là danh dự của anh trước cộng đồng khoa học.  Ở góc độ một nhà nghiên cứu, tôi thấy có đầy đủ lý do để giải thích tại sao mới chỉ có ba nhóm nghiên cứu đăng ký nhóm nghiên cứu mạnh: nhóm về khoa học vật liệu của GS. TS Nguyễn Văn Hiếu (Viện ITIMS, Đại học Bách khoa Hà Nội), nhóm về Toán học của GS. TS Phan Quốc Khánh (Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM) và nhóm về Y sinh của PGS. TS Hoàng Văn Tổng (Học viện Quân y). Đây là ba nhóm dũng cảm tiên phong: trưởng nhóm nhận trách nhiệm phải có bài tốt hơn, các thành viên chủ chốt dám chấp nhận thiệt thòi… Khi bắt đầu, cái mới nào cũng thấy khó, trong trường hợp này phải là những người “sống chết” với khoa học mới có thể làm được. Về phía các hội đồng khoa học ngành của Quỹ, tôi nghĩ có đủ dữ liệu về năng lực nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của trưởng nhóm và các thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu mạnh trong một thời gian khá dài. Do đó, không sợ hội đồng ngành “nhận lầm” nhóm nghiên cứu mạnh.  ——–  * GS. TS, Đại học Bách khoa Hà Nội  Theo kinh nghiệm của tôi, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, muốn xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh và đủ khả năng hội nhập quốc tế, chúng ta cần chú ý đến một số yếu tố: có được một tập thể gắn bó, đồng lòng và nhiệt tâm trong nghiên cứu khoa học; trưởng nhóm giỏi về chuyên môn, biết thiết lập một mạng lưới hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế, có tầm nhìn trong việc hoạch định hướng nghiên cứu tốt để có kế hoạch nghiên cứu trung hạn và dài hạn; nhóm nghiên cứu đó cần được đầu tư thích hợp về chế độ lương, thiết bị và kinh phí vận hành phòng thí nghiệm (running cost) cơ bản hằng năm và kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động giao lưu quốc tế như tổ chức và tham gia các hội nghị, khóa tập huấn và trao đổi khoa học ngắn hạn. Ngoài ra, nếu các nhà quản lý đặt mục tiêu đưa nhóm nghiên cứu mạnh ở một số ngành mũi nhọn trọng điểm, những lĩnh vực định hướng ưu tiên vượt hẳn lên thì có thể mời một số nhà khoa học danh tiếng trên thế giới về chỉ huy các nhóm nghiên cứu như cách làm của đội tuyển bóng đá quốc gia. (GS. TS Phạm Hùng Việt, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm, Đại học Quốc gia Hà Nội).    Author                Nguyễn Đức Chiến        
__label__tiasang Những văn phòng của tương lai      Khi năng suất không còn được đo bằng lượng  thời gian nhân viên ngồi ở bàn làm việc mà bằng sản phẩm thì kiến trúc  trụ sở của nhiều công ty đình đám cũng có những thay đổi rõ rệt.      Trong lần xuất hiện trước công chúng cuối cùng của mình năm 2011, Steve Jobs đã miêu tả chi tiết cho hội đồng thành phố Cupertino, California kế hoạch xây dựng trụ sở chính của Apple – một khuôn viên rộng 71 héc-ta với một tòa nhà hình chữ O khổng lồ ở trung tâm, dành cho 13.000 nhân viên. Jobs tuyên bố đó là cơ hội để họ xây dựng “tòa văn phòng tuyệt với nhất thế giới”: thiết kế giống hình bánh rán donut này của Norman Foster không chỉ mang tính thẩm mỹ cao mà còn đảm bảo rằng các nhân viên có thể hợp tác, đi lại trong khuôn viên mới. Đây là một ý tưởng trọng tâm của các kiến trúc sư thiết kế văn phòng hiện đại hiện nay.  Cũng giống như vậy, Norman Foster đã từng hủy kế hoạch xây dựng ba tòa nhà trụ sở chính của Pixar năm 2000 để xây dựng một khoảng không rộng lớn với một hội trường ở trung tâm, buộc các nhân viên phải chạm trán và tương tác với nhau. Tòa nhà nhằm mục đích khuyến khích sự cộng tác – một xu hướng cho thấy môi trường công sở hiện đại không còn chỉ xoay quanh bàn làm việc mà cả khu vực môi trường xung quanh nữa.  Simon Allford, giám đốc kiến trúc sư của Allford Hall Monaghan Morris (AHMM), nói rằng khi ông bắt đầu vào nghề, các thiết kế chỉ xoay quanh việc làm thế nào để có thể đi từ thang máy đến bàn làm việc một cách nhanh nhất. Điều này đã thay đổi trong thập kỷ vừa qua. Giờ đây văn phòng của các tổ chức, ví dụ như các trụ sở chính của BBC ở trung tâm London hay Viện Hoàng gia Kiến trúc sư Anh (Riba), đều có những khu vực để nhân viên có thể tụ tập, họp mặt ngẫu hứng.   Việc chuyển hướng khỏi suy nghĩ rằng bàn làm việc là công cụ cần thiết nhất cho sự năng suất trong lao động này là một trong những tiến bộ của ngành thiết kế công sở. Theo Philip Tidd, công ty thiết kế và kiến trúc Gensler, các tập đoàn lớn đã nhận ra rằng bó hẹp nhân viên của mình trong một khoảng không gian nhất định không phải lúc nào cũng tạo ra hiệu quả cao. Năng suất không còn được đo đạc bằng lượng thời gian nhân viên ngồi ở bàn làm việc nữa mà bằng sản phẩm. Điều tối quan trọng đối với thiết kế công sở là phải đạt được sự cân bằng giữa khoảng không gian đề nhân viên tập trung làm việc và khoảng không gian dành cho sự tương tác, giao lưu. Nhiều công ty, nhất là trong ngành công nghệ như Google, đã rất tích cực áp dụng yếu tố này, với những văn phòng được chia khu vực cụ thể dành cho làm việc và xả hơi.   Xu hướng thiết kế văn phòng hiện đại cũng đang dần dần phá bỏ những rào cản truyền thống về quyền lực và địa vị nơi công sở, ví dụ như thông lệ những người có chức tước cao trong một tổ chức được sở hữu phòng làm việc riêng rộng hơn. Một công ty luật ở Birmingham đã áp dụng thiết kế văn phòng mở, tức là không nhân viên nào có phòng làm việc riêng hết.   Viện Riba cho biết, nhu cầu cho những công sở chất lượng cao đang ngày càng tăng và đóng vai trò quan trọng trong việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên. Đối với những nước đang chuyển từ nền kinh tế dựa vào sản xuất sang dịch vụ như Anh, nơi mà gần ¾ GDP được đưa đến từ ngành công nghiệp dịch vụ văn phòng, thì việc thiết kế công sở là cực kỳ quan trọng và cần củng cố.   Nguồn:   http://www.theguardian.com/business/2014/sep/14/office-designs-apple-bbc-google      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vướng mắc của điện mặt trời mái nhà cho doanh nghiệp      Trong bối cảnh các doanh nghiệp sản xuất đang dần phải đáp ứng yêu cầu sử dụng nguồn năng lượng sạch, nhiều chuyên gia cho rằng điện mặt trời mái nhà tự dùng là một giải pháp nên được thúc đẩy nhiều hơn nữa trong thời gian tới.  Không còn chỉ là nhu cầu    Sản xuất xanh là cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây như một xu hướng phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong giai đoạn hội nhập hiện nay, đây không còn chỉ đơn thuần là một lựa chọn nữa mà đang dần trở thành một tiêu chí bắt buộc, nếu như doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam không muốn đứng ngoài cuộc chơi toàn cầu.        Chẳng hạn theo ông Vũ Đức Giang – Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, ngành dệt may của nước ta – một trong những ngành có sản lượng xuất khẩu lớn – đang phải đối mặt với 5 thách thức, trong đó thách thức đầu tiên đến từ việc các nhãn hàng trên thế giới bắt đầu đặt ra áp lực phải tăng trưởng xanh đi đôi với bảo vệ môi trường. “Các thị trường chiến lược lớn của ngành dệt may Việt Nam như châu Âu đang đưa ra những tiêu chuẩn về phát triển bền vững, nguồn nước, tỷ lệ sản phẩm tái chế và năng lượng tái tạo. Trong 10 năm tới, nếu Việt Nam không đáp ứng được thì chắc chắn sẽ bị giảm dần thị trường ở khu vực này”, ông Giang chia sẻ tại tọa đàm “Điện mặt trời mái nhà cho doanh nghiệp: Nhu cầu, lợi ích và giải pháp phát triển” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức vào cuối tháng sáu.    Không chỉ vậy, năm 2020, một bộ chính sách có tên Thỏa thuận Xanh đã được phê duyệt tại Liên minh châu Âu – khu vực đối tác thương mại lớn của Việt Nam, bao gồm các biện pháp và nỗ lực mới như cung cấp năng lượng sạch, giá cả phải chăng và an toàn,… nhằm chuyển đổi nền kinh tế theo hướng bền vững. Trong một loạt các biện pháp bao trùm nhiều lĩnh vực, hai trong những điểm nổi bật của chính sách mới này là việc sửa đổi Chỉ thị Đánh thuế Năng lượng, theo đó chuyển ưu đãi thuế khỏi nhiên liệu hóa thạch và hướng tới công nghệ sạch; và thứ hai là có Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon mới khi nhập khẩu một số sản phẩm để ngăn chặn “thất thoát carbon”.    Để đáp ứng được những yêu cầu tăng trưởng xanh trong bối cảnh như vậy, doanh nghiệp cần đạt được một trong những tiêu chí quan trọng là chứng minh mình sử dụng năng lượng sạch – năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Theo báo cáo của Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA), khác với thập kỷ vừa qua, dòng tiền của thập kỷ tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng cung ứng điện sạch tới các nhà máy sản xuất và khu công nghiệp. Báo cáo này ước tính, các tập đoàn đa quốc gia đóng góp khoảng 150 tỷ USD vào doanh thu xuất khẩu hằng năm của Việt Nam hiện đã đưa ra các cam kết cụ thể về trung hòa carbon hoặc giảm phát thải carbon ở các phạm vi và lộ trình khác nhau. Do vậy, Việt Nam cần có biện pháp phù hợp với hành trình hướng tới phát triển bền vững của các thương hiệu toàn cầu này.    Và một minh chứng rõ ràng cho nhu cầu điện sạch cấp bách của ngành sản xuất chính là sự phát triển gấp rút của điện mặt trời áp mái ở khu công nghiệp (tính đến hết ngày 31/12/2020, Việt Nam có hơn 100,000 công trình). Theo chuyên gia năng lượng Phan Công Tiến, đây là nguồn điện có nhiều ưu điểm như có tính phân tán và có thể xây dựng khá dễ dàng trên nóc các tòa nhà, công xưởng. Khi tự sử dụng, hệ thống điện mặt trời áp mái này cũng không đẩy công suất lên lưới, không làm ảnh hưởng đến đường truyền tải. “Điện mặt trời áp mái đang có rất nhiều tiềm năng khai thác và chúng tôi rất muốn khuyến khích tất cả các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp,… dùng điện mái nhà để sử dụng tại chỗ, giảm áp lực sử dụng điện từ lưới quốc gia”, bà Nguyễn Phương Mai, Phó Chánh Văn phòng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) chia sẻ tại một hội thảo hồi tháng tư.    Cần quy định rõ ràng    Dù điện mặt trời mái nhà sử dụng tại chỗ là một giải pháp đem lại lợi ích cho doanh nghiệp sản xuất, tuy nhiên, quá trình xây dựng các dự án này lại gặp rất nhiều vướng mắc, theo ông Đào Du Dương, Trưởng Văn phòng Đại diện Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam tại TP. HCM.    Trong đó, vướng mắc đầu tiên đến từ việc chưa có các quy định rõ ràng về điều kiện lắp đặt các công trình điện mặt trời mái nhà. “Hiện nay việc thẩm định kết cấu các mái nhà để có thể lắp đặt điện mặt trời đang được làm một cách rất tự phát”, ông Dương cho biết, “điều này dẫn đến chi phí thẩm định rất lớn, có khi riêng việc này đã tốn 300-500 triệu rồi”. Bên cạnh đó, quy định về trách nhiệm khi xảy ra sự cố cũng chưa rõ ràng, trong khi đây là một yếu tố rất quan trọng khi lắp đặt điện mặt trời áp mái. Không chỉ vậy, các quy định về giấy phép xây dựng cũng thiếu tính nhất quán và quy định chi tiết mang tính xuyên suốt. “Hiện nay một nơi làm một kiểu, mỗi địa phương áp dụng quy định theo một cách khác nhau, từ đó vô tình làm khó cho doanh nghiệp”, ông Dương nói thêm.    Và một vấn đề quan trọng nữa là tiêu chí lắp đặt và chất lượng công trình. “Thời gian vừa qua do có thời hạn giá FIT (feed-in tariff – tạm dịch là giá bán điện cố định) nên việc lắp đặt điện mặt trời diễn ra ồ ạt. Một số doanh nghiệp không cần biết có đủ điều kiện hay không cũng lên lắp đặt pin, thậm chí một ông thợ hồ hay đơn vị lắp máy nóng lạnh cũng lắp điện mặt trời được”, ông Dương chỉ ra vấn đề. Và khi mà ai cũng có thể làm được thì chứng tỏ các tiêu chuẩn được ban hành chưa ra đủ nhanh để đòi hỏi và để buộc các dự án phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện kĩ thuật, như chia sẻ của chị Vũ Chi Mai, Trưởng Hợp phần năng lượng tái tạo, dự án Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng thuộc Chương trình Hỗ trợ Phát triển Năng lượng của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) với Tia Sáng vào năm 2021. “Bản thân các nhà đầu tư tư nhân cũng không có đủ thông tin về các nhà cung cấp thiết bị, lắp đặt nào là tốt nhất. Mà với một dự án điện mặt trời có tuổi thọ khoảng 20 năm, những chuệch choạc về mặt kĩ thuật có sẽ dần ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn không chỉ của dự án mà còn của cả hệ thống lưới điện trong dài hạn”, chị nói. Bởi vậy, cần phải có quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với từng đơn vị, đơn vị nào đủ điều kiện thì mới lắp đặt, ông Dương nhấn mạnh.    Ngoài ra, theo ông Dương, cần phải có định nghĩa về điện “tự dùng”. “Hiện nay điện tự dùng được hiểu là: ‘ông’ đầu tư nhà máy, sản xuất và bán điện cho chính mình, không đưa lên lưới thì gọi là tự dùng. Nhưng bây giờ nếu tôi đi thuê mái của người khác và lắp lên thì cũng không được ‘tự dùng’ dù bản chất vẫn là điện đó bán cho nhà máy đó và không đưa lên lưới”, ông nói.    Những vướng mắc này không chỉ là tâm tư của doanh nghiệp Việt Nam mà còn của cả doanh nghiệp nước ngoài. Ông Tomaso Andreatta, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam, Chủ tịch Tiểu ban Tăng trưởng Xanh (EuroCham) từng chia sẻ rằng, họ rất mong muốn lĩnh vực điện mặt trời áp mái có sự rõ ràng hơn về mặt pháp lý và không còn là “vùng xám” nữa. “Rất nhiều doanh nghiệp của chúng tôi cần có năng lượng sạch để có thể hoạt động. Nếu chúng ta có quy định pháp lý trắng đen rõ ràng về điện mặt trời áp mái thì sẽ không chỉ có lợi cho ngành năng lượng của chúng ta mà còn có thể đem lại lợi ích cho mối quan hệ thương mại năng lượng với các quốc gia lân cận”, ông nói.    Đề xuất một số giải pháp, ông Phan Công Tiến cho rằng, do hệ thống điện mặt trời mái nhà tự dùng là giải pháp zero export – không đẩy lên lưới, độ dao động không ảnh hưởng lớn đến lưới điện, do đó có thể không cần thỏa thuận đấu nối nữa, tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp. Ngoài ra, Bộ Công thương cần ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật cho bộ biến tần (Inverter) để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến lưới điện.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Những ý tưởng mới về việc tìm kiếm vật chất tối      Kể từ những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều thí nghiệm để nghiên cứu về các hạt  tạo nên vật chất tối, một dạng vật chất không nhìn thấy được nhưng chiếm 80% vật chất trong thiên hà của chúng ta và trong vũ trụ. Vật chất tối được mang danh như vậy bởi nó không phát ra ánh sáng và đã chứng tỏ được là có ảnh hưởng lên vật chất thông thường thông qua lực hấp dẫn. Các nhà khoa học biết nó có ở đó nhưng vẫn không rõ nó là gì.    Vì vậy nhóm nghiên cứu tại Caltech do Kathryn Zurek, một giáo sư vật lý lý thuyết, dẫn dắt, đã trở lại với vật chất tối với những ý tưởng mới. Họ đã tìm đến khả năng vật chất tối được hình thành từ các hạt thuộc “khu vực tối”, vốn là những hạt nhẹ hơn các hạt được đề xuất trước đây, và về mặt lý thuyết, có thể được tìm thấy bằng các thiết bị gắn màn hình hiển thị tương tự máy tính bảng loại nhỏ. Đề xuất này tương phản với những cách kiếm tìm hiện tại bởi các nhà khoa học vẫn đang tìm kiếm các ứng cử viên vật chất tối nặng hơn mà người ta vẫn gọi là các hạt nặng tương tác yếu (WIMP) bằng các thực nghiệm quy mô lớn như XENON, thiết bị được lắp đặt dưới lòng đất gồm bể chứa 70.000 gallon nước ở Italy.    “Vật chất tối luôn luôn chuyển động quanh chúng ta, thậm chí ngay trong căn phòng này”, Zurek, người đầu tiên đề xuất về các hạt thuộc nhóm chưa biết từ cả thập kỷ trước. “Khi chúng ta chuyển động quanh trung tâm của dải Ngân hà, ‘luồng gió’ ổn định của vật chất tối thường ít được nhận thấy. Tuy nhiên chúng ra có thể đạt được một số tiến bộ trong hiểu biết về nguồn gốc vật chất tối, và thiết kế những cách mới để tìm kiếm những tương tác giữa gió vật chất tối và máy dò của chúng ta”.  Trong bài báo mới “Detecting Light Dark Matter with Magnons” mới được chấp thuận xuất bản trên Physical Review Letters, các nhà vật lý đã phác họa ra cách các hạt vật chất tối có khối lượng nhẹ hơn có thể được dò thông qua magnon, một dạng chuẩn hạt (quasiparticle). Một chuẩn hạt là một hiện tượng đột sinh xuất hiện khi một chất rắn hành xử như thể chứa các hạt tương tác yếu. Các magnon là một dạng của chuẩn hạt trong đó hạt điện tích electron có spin – vốn đóng vai trò như các nam châm nhỏ – được kích thích. Trong ý tưởng về thực nghiệm trên thiết bị có bảng hiển thị của các nhà khoa học, một vật liệu dạng tinh thể từ có thể được sử dụng kể tìm kiếm các dấu hiệu những hạt magnon do vật chất tối sinh ra bị kích thích.  “Nếu các hạt vật chất tối này nhẹ hơn proton, theo quy ước thì có thể phức tạp hơn để dò những tín hiệu của chúng”, Zhengkang (Kevin) Zhang, một postdoc tại Caltech và là tác giả nghiên cứu, cho biết. “Nhưng theo nhiều mô hình chuyển động, đặc biệt những mô hình bao hàm những “khu vực tối”, vật chất tối có thể bắt cặp với các spin của các electron, chúng sẽ tạo ra các mức kích thích spin, hoặc các magnon. Nếu chúng ta giảm bớt nhiễu nền này bằng việc làm lạnh thiết bị, chúng ta có thể hi vọng dò được các magnon được sinh ra từ vật chất tối và không có vật chất thông thường”.  Một thực nghiệm như vậy mới chỉ tồn tại về mặt lý thuyết nhưng có thể cuối cùng sẽ được thực hiện với việc đặt những thiết bị nhỏ ở dưới mặt đất, giống như một cái mỏ, nơi nằm ngoài những ảnh hưởng từ những hạt khác, ví dụ như các tia vũ trụ.  Một tín hiệu được máy dò vật chất tối ghi lại các thực nghiệm có bảng điện tử hiển thị có thể được thay đổi tín hiệu phụ thuộc vào khung thời gian theo ngày. Nó tùy thuộc vào các tinh thể từ có thể được sử dụng để dò vật chất tối có thể là bất đẳng hướng, nghĩa là các hạt nhân được sắp xếp một cách tự nhiên theo cách mà chúng có xu hướng tương tác với vật chất tối mạnh hơn khi vật chất tối đến từ những hướng đã biết.  “Khi trái đất chuyển động qua quầng vật chất tối trong thiên hà, có thể cảm thất gió vật chất tối thổi từ hướng mà hành tinh đang di chuyển. Một máy dò được đặt tại một địa điểm đã biết trên trái đất quay cùng hướng với trái đất, vì thế gió vật chất tối ‘va trúng’ từ những hướng khác nhau trong những khỏng thời gian khác nhau trong ngày, thi thoảng từ phía trên xuống, thi thoảng thì bên cạnh vào”, Zhang nói.  “Ví dụ trong suốt ngày, anh có thể đạt được một tỷ lệ dò cao hơn khi vật chất tối đến từ bên trên hơn bên cạnh. Nếu anh có thể nhìn thấy điều này, đây sẽ là một chỉ dấu vô cùng đẹp và vô cùng đúng để cho thấy là anh đã thấy vật chất tối”.  Các nhà nghiên cứu còn có những ý tưởng khác về cách vật chất tối có thể tự bộc lộ chính mình. Thêm vào các hạt magnon. Họ đề xuất là các hạt vật chất tối nhẹ hơn có thể được dò qua các photon cũng như với dạng khác của chuẩn hạt là phonon, vốn là nguyên nhân gây ra các xâm phạm trong một mạng tinh thể. Các thực nghiệm ban đầu dựa trên các hạt photon và phonon đều được thực hiện tại UC Berkeley, nơi nhóm nghiên cứu làm việc trước khi Zurek chuyển sang Caltech vào năm 2019. Các nhà nghiên cứu cho biết, việc sử dụng các chiến lược với nhiều cách tiếp cận khác nhau để tìm kiếm vật chất tối là điều cốt yếu bởi chúng sẽ bổ sung cho nhau và có thể giúp xác nhận các kết quả của từng cách khác nhau.  “Chúng tôi đang tìm những cách mới để dò vật chất tối bởi vì dù những hiểu biết về vật chất tối của chúng tôi còn rất ít ỏi thì vẫn đáng để xem xét về vật chất tối trên mọi khả năng có thể”, Zhang nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-ideas-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ý tưởng ngông cuồng      Ai biết được ngày mai ra sao? Nếu bạn đang nói về giá vàng hay kinh tế thế giới thì tôi sẽ nín thinh. Với lại, tôi không phải thầy bói. Nhưng tôi vừa mới lướt qua trang web của Phòng thí nghiệm Truyền thông của Viện Kỹ thuật Massachussetts (MIT) và cảm thấy hào hứng, muốn chia sẻ. Nơi đó tụ tập hàng trăm người trẻ tuổi đang đeo đuổi những ý tưởng ngông cuồng nhứt.     Ngông cuồng cỡ nào? Đây là một: Thay vì ngồi ỳ một chỗ chơi game dễ phát sinh béo phì, không “kul” lắm, game tương lai sẽ được chơi bằng cách đánh đàn. Người chơi game ăn mặc như ca sĩ ôm cây ghi ta điện, hay một nhạc cụ khác, một giàn trống chẳng hạn, vừa đánh vừa nhảy nhót như điên trước màn hình máy tính, trên đó trận ác đấu đang diễn ra quyết liệt, và chiến cuộc không phải bị điều khiển bằng con chuột, mà bằng âm nhạc! Kul không?     Cá nhân tôi hơi hốt hoảng với tương lai đó. Bất cứ ai từng là hàng xóm của một “teen” đang học đánh trống, thổi kèn hay chơi đàn điện, đều có thể thấu hiểu cơn hốt hoảng của tôi. Cho dù game thủ cừ khôi sẽ là người chơi nhạc cực kỳ quyến rũ, con số game thủ tập tọng và lèng tèng vẫn đủ lực lượng khủng bố những lỗ tai chỉ quen nghe hát ru. Nhưng thôi, ý tưởng gì mình cũng bàn ra thì làm sao có sáng tạo đột phá? Thử xem những ý tưởng táo bạo khác như thế nào?  Xe hơi chạy bằng điện, tốc độ cực cao, hình dáng cực đẹp, đặc biệt gọn nhẹ. Nhẹ cỡ nào? Xe Ford Explorer hiện nay nặng cỡ 2 tấn, xe Toyota Prius nhỏ hơn, năng 1 tấn rưỡi. Cái xe “mơ” trong tương lai chỉ nặng chừng 500 kí, chẳng những đã nhỏ con hơn hai đại ca kia, mà còn có thể “xếp” lại khi đậu trong một không gian tiết kiệm, như mặt bằng nhà đất ở Hà Nội chẳng hạn.   Một ngôn ngữ lập trình hình ảnh hỗ trợ trẻ con học về lập trình máy tính đồng thời sáng tạo ra những trò chơi, những phim hoạt hình, và cả những câu chuyện (của chính mình! Tất cả trẻ con tương lai đều là nhà văn, họa sĩ, đạo diễn! Ố là la!)  Chân giả (chính danh là Chân Mạnh, PowerFoot) sẽ xịn hơn cả chân thật: Chạy nhanh hơn nhé, leo trèo không hề mỏi nhé, đá banh chính xác hơn nhé, mà cũng biết khều biết ngáng… y như chân thật. Thực ra ý tưởng này đã thành hiện thực. Những cái chân giả xịn đã nhái được gần chính xác những vận động của mắt cá chân và các cơ chân, giúp người lỡ bị què có thể vận động tự nhiên như chưa từng có cuộc chia ly với một phần thân thể mến yêu của mình. Nhưng những người đang thực hiện dự án này có tham vọng lớn lao hơn ta tưởng: họ muốn chế tạo những rô bô chân giả giúp người tàn tật chạy nhanh hơn người lành lặn với đôi chân bình thường!  Trò chơi Lego sẽ không chỉ là những mẩu nhựa, gỗ, hay giấy cứng để lắp ráp theo những mô hình thô thiển. Lego tương lai sẽ biến mọi học sinh mẫu giáo thành nhà sáng tạo. Bằng cách nào thì những người đang thực hiện dự án này vẫn giữ bí mật. Tôi không dám đoán mò. Nhưng thử tưởng tượng, sáng sớm bố đem con đến gởi nhà trẻ, lưu ý bảo mẫu là thỉnh thoảng cháu còn đái dầm; chiều bố đến đón con, nghe bảo mẫu thông báo hôm nay cháu đã sáng tạo một loạt đĩa bay!      Ấy, đừng cười! Tất nhiên không ít ý tưởng “điên rồ” vẫn mãi là ý tưởng điên rồ. Nhưng từ phòng thí nghiệm này, ý tưởng về một thứ mực điện tử để “viết” những trang sách dùng năng lượng tối thiểu đã giúp khai sinh ra sách điện tử Kindle và Nook có thể đọc cả tháng không cần “sạc pin”.   Hay ý tưởng về máy tính XO giá rẻ phát sốc dành cho trẻ em. Khi ý tưởng này được nêu ra (với tham vọng trang bị mỗi đứa trẻ một máy tính) những nhà sản xuất máy tính đều cười xòa: Làm sao chế tạo máy tính dưới giá 100 đô? Ấy vậy mà hiện nay đã có 42 triệu trẻ em trên thế giới “chơi” máy tính XO.  Đến bao giờ chúng ta có thể điều khiển máy tính mà không cần ngồi ê mông và gõ mỏi tay? Yên tâm, trong tương lai gần, nếu dự án thành công, máy tính sẽ được điều khiển trực tiếp bằng não, khỏi thông qua tay chân cho rắc rối cơ bắp và hệ thần kinh. Hình như não có thể phát ra điện hay sóng gì đó, chỉ cần chế ra cái máy tính có thể bắt và “hiểu” được sóng hay điện đó là mọi việc ô kê.   Cái điện thoại thông minh đang được khuyến mãi trên thị trường rồi đây sẽ có thêm nhiều ứng dụng và tiện ích. Chẳng hạn muốn biết thị lực mình như thể nào, chỉ cần bật một ứng dụng, rồi… nhìn chằm chằm vào cái smartphone vài giây, tất cả thông tin cần biết sẽ hiện ra tức thì trên màn hình của cái điện thoại, như mắt trái loạn màu, mắt phải cận thị 1.25 độ. (Tôi thí dụ đại vậy thôi, chứ còn chưa thử xài hết mấy ngàn ứng dụng hiện có cho điện thoại thông minh. Nhưng nghe quảng cáo là trong tương lai mỗi người chỉ cần một cái smartphone bỏ túi là bảo đảm sành điệu, gặp bất cứ cái gì hay bất cứ tình huống nào trên thế gian ảo, chỉ cần chạm vào cái điện thoại là biết hết.)  Theo ông giám đốc Joi Ito của phòng thí nghiệm này thì hiện nay có khoảng 300 đề án nghiên cứu đầy triển vọng đang triển khai, mà theo nhận xét của ông là tất cả ý tưởng đều “amazing”. (Dịch như thế nào? Kỳ diệu / lạ lùng / gây sốc/ tuyệt vời / thú vị / đáng kinh ngạc / ngông cuồng?)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhượng quyền: Có thể nhanh nhưng phải rất bình tĩnh      Lời tòa soạn: Vụ việc tranh chấp nhượng quyền thương hiệu Phở Thìn Lò Đúc gần đây cho thấy sự phức tạp của nhượng quyền ở thị trường còn mới và thiếu hiểu biết về nhượng quyền như Việt Nam. Trong bài viết sau đây, chuyên gia về nhượng quyền Nguyễn Phi Vân phân tích những lợi ích và rủi ro trong nhượng quyền – một ngành có tiềm năng đóng góp rất lớn vào GDP quốc gia.    Việc nhượng quyền thương hiệu Phở Thìn Lò Đúc gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây.  Sau đại dịch, tôi đã nhiều lần dự đoán nhượng quyền là ngành sẽ phát triển tăng tốc không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới. Trên thực tế, từ cuối 2022 đến nay, các hoạt động nhượng quyền diễn ra rầm rộ tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.  Nhượng quyền – Tiềm năng tất yếu  Nếu phải nhắc đến tiềm năng thì không cần phải bàn, vì nhượng quyền đóng góp vào ngân sách GDP quốc gia rất lớn tại một số quốc gia đã đầu tư đúng mức cho ngành này phát triển. Ví dụ đóng góp GDP của ngành nhượng quyền tại Singapore là 3%, tại Philippines là 5%, tại Malaysia là 6.3%, tại Mỹ là 5.1%, tại Úc là 9%, tại Canada là 10%. Khi đưa nhượng quyền vào lăng kính kinh tế quốc gia, chúng ta mới thật sự hiểu rõ tiềm năng to lớn này của ngành. Ngoài GDP, đây cũng là ngành đóng góp về tạo công ăn việc làm, lao động tầm cỡ cho nền kinh tế.  Cũng vì lý do đó, rất nhiều quốc gia đã cấu trúc ngành nhượng quyền thành ngành chiến lược để phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt cho khối kinh tế tư nhân, và đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc có thể chuyên nghiệp hóa một mô hình và thương hiệu, sau đó tạo khả năng tăng tốc phát triển mô hình và thương hiệu đó không những tại thị trường nội địa mà còn xuất khẩu được với giá trị cao trên toàn thế giới có thể nói là cách hiệu quả nhất để phát triển chuỗi giá trị cho doanh nghiệp quốc gia. Ngoài ra, đây cũng là cách hiệu quả nhất giúp tăng tốc phát triển các ngành nghề bản địa có tính khác biệt cao và được người tiêu dùng thế giới mong chờ, trong đó ẩm thực bản địa là một trong những ngành có thể nói là tiềm năng nhất.  Trong bối cảnh đó, đương nhiên tất cả những ngành liên quan đến nông nghiệp, chế biến thực phẩm, ẩm thực bản địa Việt Nam đang giữ trong tay cơ hội vàng để bắt đầu hành trình đáng mơ ước này. Tất cả những món ăn mang đậm truyền thống Việt Nam, ví dụ như phở, cơm tấm, bún bò, bánh cuốn, nem, bánh mỳ, vv hoàn toàn đều có thể qua một mô hình nhất định, bước ra thế giới.  Nhượng quyền – Rủi ro lớn khi thiếu hiểu biết  Cơ hội thì lúc nào cũng có, và người ta thường nhắc đến nhượng quyền như một trong những hình thức phát triển kinh doanh hiệu quả nhất trong vòng một trăm năm qua, đặc biệt liên quan đến xuất khẩu mô hình và thương hiệu. Tuy nhiên, cơ hội không bao giờ không đi kèm với thử thách và rủi ro. Nhượng quyền là hình thức hiệu quả nhất để tăng tốc phát triển một mô hình và thương hiệu đã được đầu tư chuyên nghiệp hóa. Ngược lại, nó cũng là cách dễ nhất để hủy hoại một thương hiệu dù rất lâu đời, dù rất được thị trường công nhận, nhưng lại hoàn toàn chưa đầu tư đúng mức vào việc xây dựng nền tảng quản trị chuyên nghiệp, nền tảng hỗ trợ đối tác chuyên nghiệp.  Nếu muốn giảm tỷ lệ rủi ro trong nhượng quyền, và tăng khả năng thành công lên 80%, thì cả hai bên đối tác mua và bán nhượng quyền đều phải là người có hiểu biết rất rõ về nhượng quyền, thực hiện đúng vai trò trách nhiệm của mình trong quá trình hợp tác, và cùng xây dựng quan hệ hợp tác dựa trên niềm tin, giá trị, và tinh thần cộng tác lâu dài, cùng nhau phát triển.  Người ta hay nói, mua nhượng quyền thì tỷ lệ thành công là 80%. Là người đã làm việc và kinh doanh trong ngành nhượng quyền khắp nơi trên thế giới hơn 20 năm qua, tôi khẳng định tỷ lệ này không xác định được. Nếu cá nhân, doanh nghiệp sở hữu mô hình và thương hiệu hoàn toàn không hiểu về nhượng quyền, chưa đầu tư xây dựng nền tảng quản trị và hỗ trợ chuyên nghiệp gì cả, thì tỷ lệ rủi ro cho nhà đầu tư là 100%, không khác gì tự mình khởi nghiệp. Nhà đầu tư lúc này chấp nhận khai thác mô hình và thương hiệu nhượng quyền dựa trên dự toán về khả năng thành công theo đánh giá chủ quan của mình. Và vì chủ quan, dù hiểu rằng chủ sở hữu thương hiệu và mô hình hoàn toàn không có khả năng hỗ trợ bằng hệ thống quản trị chuyên nghiệp, nhà đầu tư vẫn có thể chấp nhận hợp tác dù tỷ lệ rủi ro cao.  Trong trường hợp chủ sở hữu mô hình và thương hiệu có đầu tư bài bản để xây dựng hệ thống nhượng quyền, nhưng nhà đầu tư lại là người thiếu hiểu biết về nhượng quyền, không có khả năng quản trị và vận hành chi nhánh nhượng quyền, thì tỷ lệ rủi ro vẫn là 50%. Mua nhượng quyền không có nghĩa là bạn sẽ thành công vì thương hiệu sẽ làm hết và bạn chỉ cần bỏ tiền. 50% thành công của chi nhánh nhượng quyền là nằm ở khả năng quản trị và vận hành chi nhánh của nhà đầu tư.    Nếu muốn giảm tỷ lệ rủi ro trong nhượng quyền, và tăng khả năng thành công lên 80%, thì cả hai bên đối tác mua và bán nhượng quyền đều phải là người có hiểu biết rất rõ về nhượng quyền, thực hiện đúng vai trò trách nhiệm của mình trong quá trình hợp tác, và cùng xây dựng quan hệ hợp tác dựa trên niềm tin, giá trị, và tinh thần cộng tác lâu dài, cùng nhau phát triển. Điều này có thể nói là cực khó tại thị trường Việt Nam, một thị trường còn quá non xanh về nhượng quyền, với mức độ niềm tin thấp, thiếu hiểu biết đúng và đủ về nhượng quyền, và tư duy cộng tác không mang tính lâu dài, bền vững. Vì vậy, thị trường nhượng quyền Việt nam trong vài năm tới tất yếu sẽ trải qua một thời gian hoảng loạn, với nhiều gãy đổ trong hợp tác, tạo ra sự mất niềm tin lớn vào mô hình nhượng quyền, trước khi thị trường trở nên chuyên nghiệp hơn, sau đó là tự nó sàng lọc và loại bỏ các mô hình thiếu bài bản và chuyên nghiệp. Sau thời gian này, thị trường nhượng quyền Việt Nam sẽ bước sang một trang mới, và ngành nhượng quyền Việt Nam sẽ trở thành một trong những ngành trọng điểm về kinh tế.  Điều kiện cần để có thể nhượng quyền  Với những dự đoán trên, thật ra cũng không đồng nghĩa với việc mọi người phải lo sợ và tránh tham gia nhượng quyền. Ngành nào mới cũng vậy, cơ hội lớn, rủi ro cao. Do đó, để có thể tham gia nắm bắt cơ hội thành công, cả hai bên đối tác nhượng quyền cần phải trang bị kiến thức đúng và đủ, bình tĩnh hơn trong việc lựa chọn hợp tác, dành thời gian tìm hiểu kỹ hơn để đưa ra quyết định mang tính có hiểu biết chứ hoàn toàn không nên cảm tính.  Dù là chủ sở hữu mô hình và thương hiệu muốn nhượng quyền hay là nhà đầu tư, rất mong các bạn sẽ tìm hiểu kiến thức về nhượng quyền trước khi bắt đầu. Thị trường sẽ có thể hỗn loạn trong vài năm tới, tuy nhiên đây sẽ vẫn là một trong những ngành có tiềm năng hàng đầu trong tương lai. Bạn chỉ cần trở thành chủ sở hữu thương hiệu và mô hình bình tĩnh, chuyên nghiệp, và kiên định.  Dù là chủ sở hữu mô hình và thương hiệu hay nhà đầu tư, đôi bên đều phải hiểu rất rõ về điều kiện cần thiết để có thể bắt đầu nhượng quyền. Sau đây là một số điều kiện ban đầu giúp cho các bên tham gia nhượng quyền cùng tìm hiểu và đánh giá:  1. Quyền sở hữu trí tuệ: nhượng quyền nghĩa là bạn cần phải có quyền để nhượng. Nếu chưa đăng ký và chưa được bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu, thương hiệu, hay các tài sản khác liên quan đến mô hình và thương hiệu thì bạn hoàn toàn chưa có quyền tài sản để nhượng. Hợp đồng nhượng quyền vì vậy cũng không có tác dụng, vì bên nhượng lúc này chưa có quyền. Do đó, khi đã nghĩ đến nhượng quyền, thì việc đầu tiên nên làm là đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Khi và chỉ khi bạn đã có quyền này rồi thì việc nhượng quyền mới có hiệu lực pháp lý.  2. Chứng thực hiệu quả mô hình kinh doanh: để có thể nhượng quyền, bản thân chủ sở hữu phải chứng minh được là bản thân đã kinh doanh mô hình của mình một cách hiệu quả. Hiệu quả nghĩa là, chi nhánh của chủ sở hữu khi hạch toán độc lập thì mang lại hiệu quả kinh tế bằng lợi nhuận ròng. Trừ phi nhà đầu tư là người tính toán giỏi, dù chủ sở hữu không chuyên nghiệp, cũng không có gì để đưa ra chứng minh, nhưng nhà đầu tư tự mình dự đoán được và độc lập đưa ra quyết định đầu tư. Trong trường hợp này, nhà đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư một chiều của mình.  3. Chứng thực hiệu quả mô hình nhượng quyền: một mô hình kinh doanh có hiệu quả không đồng nghĩa với việc đó là mô hình nhượng quyền hiệu quả. Khi chủ sở hữu tự kinh doanh, bạn hoàn toàn không bất kỳ khoản phí nào. Khi nhượng quyền, bạn bắt đầu thu nhiều loại phí, ví dụ phí nhượng quyền ban đầu, phí sử dụng thương hiệu hằng tháng trên doanh thu, phí hỗ trợ marketing, phí sử dụng phần mềm, phí hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo, lợi nhuận trên cung ứng hàng hóa và nguyên vật liệu, vv. Khi đưa các loại phí này vào mô hình kinh doanh, chưa chắc gì mô hình kinh doanh đó còn có lãi. Do đó, dù là chủ sở hữu mô hình và thương hiệu hay là nhà đầu tư, cả hai bên cũng đều phải tự mình tính toán hiệu quả này trước khi đưa ra quyết định. Việc đưa ra quyết định cần dựa trên thông tin, dữ liệu minh bạch và sự chịu trách nhiệm về quyết định của mỗi bên.  4. Mô hình quản trị chuyên nghiệp: Khi đã nói đến nhượng quyền, nghĩa là nhắc đến cách tăng tốc phát triển từ một hay vài địa điểm thành một hệ thống. Mà đã là hệ thống thì phải quản trị chuyên nghiệp. Nhượng quyền là cách dễ nhất để cho thấy sự yếu kém trong quản trị của bên chủ sở hữu nếu họ thật sự không đầu tư xây dựng nền tảng quản trị. Một hệ thống nếu đã không chuyên nghiệp thì khi bạn càng phát triển, nguy cơ và hệ lụy gãy đổ của hệ thống đó càng lớn. Trừ khi cả hai bên đều hiểu rõ về nguy cơ này nhưng vẫn quyết định đến với nhau vì một sự hào hứng hay tự tin nào đó, cả hai đều phải tự chịu trách nhiệm về mức độ rủi ro này và không có quyền đổ thừa cho nhau. Bằng không, thì nhà đầu tư cần tự mình tìm hiểu thật kỹ trước khi đưa ra quyết định. Còn chủ hữu mô hình và thương hiệu thì, nếu đã muốn phát triển, đừng bao giờ cho phép mình bỏ qua việc xây dựng nền tảng quản trị hệ thống chuyên nghiệp. Bạn không làm việc đó đồng nghĩa với việc bạn đang tự tạo ra rủi ro cho thương hiệu và mô hình của mình. Một là bạn chỉ nên dừng lại ở việc làm tiểu thương, vận hành theo kiểu gia đình như từ trước đến giờ vẫn làm, hoặc là bạn phải thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận sang xây dựng môi trường chuyên nghiệp. Có lẽ, đây cũng là nơi gãy đổ lớn nhất của mô hình và thương hiệu Việt, khi tư duy làm nhỏ lẻ vẫn ôm khư khư mặc dù vẫn muốn phát triển nhượng quyền.  Những phân tích trên đây tình thật vẫn mới chạm vào tầng hiểu biết sơ sài, cơ bản nhất về nhượng quyền dành cho các bên liên quan. Dù là chủ sở hữu mô hình và thương hiệu muốn nhượng quyền hay là nhà đầu tư, rất mong các bạn sẽ tìm hiểu kiến thức về nhượng quyền trước khi bắt đầu. Thị trường sẽ có thể hỗn loạn trong vài năm tới, tuy nhiên đây sẽ vẫn là một trong những ngành có tiềm năng hàng đầu trong tương lai. Bạn chỉ cần trở thành chủ sở hữu thương hiệu và mô hình bình tĩnh, chuyên nghiệp, và kiên định. Và nếu là nhà đầu tư, thì bạn nên chọn trở thành nhà đầu tư có hiểu biết để quản trị tốt hơn rủi ro trong kinh doanh. Có thể, nhượng quyền nên là một sản phẩm trong danh mục đầu tư của bạn, và việc quản trị rủi ro cho danh mục hay sản phẩm đầu tư đó, phần lớn là trách nhiệm của chính bạn.□  ——  * Tác giả Nguyễn Phi Vân, Chuyên gia nhượng quyền quốc tế, Chủ tịch Go Global Group.    Author                Nguyễn Phi Vân        
__label__tiasang Niềm tin, thông tin, và điều hành vĩ mô      Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2008 đã đưa ra bảy nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Về đại thể, những chính sách này đã đi đúng hướng. Tuy nhiên, trong điều hành kinh tế vĩ mô, việc có chính sách đúng hướng vẫn chưa đủ.    Để các tác nhân trên thị trường điều chỉnh hành vi theo hướng Chính phủ mong muốn thì chính sách phải được cụ thể hóa, và quan trọng hơn, phải tạo được niềm tin. Nói như vậy cũng có nghĩa là, nhóm giải pháp thứ tám – nhóm giải pháp còn đang thiếu – sẽ là khôi phục lại niềm tin của nhân dân và của thị trường đối với năng lực điều hành vĩ mô của Chính phủ.  Niềm tin của người dân và của các nhà đầu tư đối với Chính phủ đã bị thách thức nhiều lần trong khoảng một năm trở lại đây. Hoặc là do lời cam kết (thậm chí “đánh cược”) của một số quan chức chính phủ về tỷ lệ lạm phát dưới hai con số đã không thành hiện thực. Hoặc là do việc sử dụng số liệu thống kê một cách tùy tiện để bẻ chỉ số giá xuống mức một con số. Hoặc là do chính sách rút tiền ra hay bơm tiền vào đột ngột khiến hệ thống ngân hàng và toàn thị trường trở nên náo loạn. Hoặc là do số liệu thống kê (ví dụ như giải ngân FDI) hay chính sách (ví dụ như tự do hóa lãi suất) trước sau không nhất quán. Hoặc là thái độ thiếu trách nhiệm khi không nhận lỗi do chính sách sai mà đổ lỗi cho công tác dự báo của cấp dưới và các cơ quan khác, vân vân và vân vân.  Sự xói mòn niềm tin giờ đây đã trở thành một thách thức đối với các cơ quan điều hành vĩ mô của Việt Nam. Cổ nhân có câu “một lần thất tín, vạn sự bất tin”. Hoàn toàn không ngoa khi nói rằng tài sản lớn nhất của Ngân hàng Nhà nước hay Bộ Tài chính không phải là số tiền họ có trong tài khoản dự trữ hay trong kho bạc mà chính là uy tín của họ và niềm tin của thị trường. Ở các nước phát triển, một lời nói của Thống đốc Ngân hàng Trung ương hay Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể khiến thị trường rùng rùng chuyển động. Những  lời phát biểu của họ nặng tựa ngàn cân vì sau mỗi lời nói ấy là trách nhiệm, là uy tín nghề nghiệp và danh dự cá nhân, những tài sản họ tích lũy trong cả sự nghiệp; và khi uy tín, danh dự ấy bị xói mòn thì họ sẵn sàng trả giá bằng sự từ chức trong danh dự.  Tại sao uy tín của các cơ quan điều hành vĩ mô – cơ sở cho niềm tin của thị trường – lại quan trọng đến như vậy? Khi thị trường không còn niềm tin vào chính sách và năng lực điều hành của chính phủ thì hệ quả đầu tiên sẽ là chính sách của chính phủ sẽ không phát huy tác dụng, thậm chí đi theo những hướng ngoài mong muốn. Trong một thị trường đầy biến động và rủi ro như hiện nay, khi một người thiếu niềm tin thì phản ứng đầu tiên của người ấy sẽ là tìm mọi cách để tự vệ. Và khi rất nhiều người cùng có phản ứng tự vệ tiêu cực thì sự việc sẽ xấu đi một cách nhanh chóng. Việc mọi người vừa qua tranh nhau đổ xô đi mua gạo dự trữ làm giá gạo tăng gấp đôi, gấp ba trong vòng có vài ngày là một ví dụ điển hình.  Phản ứng tự vệ của một số đông người sẽ trở nên tồi tệ hơn khi những người này thiếu thông tin, hay có thông tin không chính xác. Khi ấy, sự đoán già đoán non và những tin đồn thổi dễ dàng biến cả những người bình thản nhất trở nên lo lắng. Sự lo lắng này sẽ phát tán và lan tỏa rất nhanh trong một môi trường thiếu niềm tin và thiếu thông tin, và kết quả là một sự hoảng loạn thực sự của thị trường. Khi ấy tâm lý đám đông và hành xử bầy đàn sẽ cuốn trôi tất cả, và tình hình sẽ nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy điều hành của Chính phủ.  Trong hơn một năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ không khí lạc quan, phấn khởi, đầy tin tưởng khi gia nhập WTO sang tâm trạng bất an, lo lắng, thiếu niềm tin do tình trạng lạm phát và bất ổn vĩ mô gây ra. Mặc dù niềm tin một khi đã xói mòn sẽ khó lòng lấy lại được, nhưng sẽ không bao giờ muộn nếu thực tâm muốn khôi phục niềm tin. Hơn thế nữa, khôi phục niềm tin cũng đồng thời là cách lấy lại sức mạnh và hiệu lực cho chính sách vĩ mô của Nhà nước – điều mà Chính phủ rất cần để có thể đưa nền kinh tế vượt qua những thách thức hiện nay. Để làm được điều này, một thái độ thực sự cầu thị, một hệ thống chính sách cẩn trọng, đúng đắn,và một cơ chế giao tiếp thông tin mạch lạc, kịp thời với người dân, với thị trường là những điều kiện không thể thiếu.  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm vui chưa trọn vẹn      Một trong những điểm sáng về kinh tế của nước ta trong năm 2012 đầy khó khăn này là thành tích xuất khẩu. Với mức tăng 18,3% và kim ngạch đạt tổng cộng khoảng 114,6 tỷ USD, xuất khẩu đã vượt kim ngạch nhập khẩu chút ít sau nhiều năm nhập siêu nặng nề.&#160; Tuy nhiên, đằng sau con số đẹp về tăng trưởng xuất khẩu, có thể thấy hàng loạt vấn đề trong lĩnh vực quan trọng này của nền kinh tế.    Trước hết, kim ngạch xuất khẩu của ta năm nay cao hơn so với nhập khẩu chủ yếu là do cầu trong nước yếu, tỷ lệ tồn kho tăng cao, hàng vạn doanh nghiệp đóng cửa, hàng vạn doanh nghiệp khác giảm công suất sản xuất, và sản xuất kinh doanh của nhiều ngành vốn dĩ phụ thuộc nặng vào nhập khẩu đầu vào từ bên ngoài bị đình trệ. Vì vậy sự vượt lên của xuất khẩu so với nhập khẩu năm 2012 hoàn toàn không nói lên sự cải thiện sức cạnh tranh hay năng lực cung cấp các đầu vào cơ bản của nền kinh tế, và cũng không có tính bền vững.  Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu chưa cho thấy sự cải thiện nào đáng kể. Đóng góp chủ yếu vào xuất khẩu vẫn là sản phẩm của các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng lao động giá rẻ, của nông sản chưa chế biến, của khoáng sản thô… Ngay sản phẩm được gọi là công nghệ cao của các nhà đầu tư nước ngoài làm ở Việt Nam để xuất khẩu cũng vẫn chỉ là hàng gia công, với giá trị gia tăng rất khiêm tốn. Như vậy xuất khẩu không có nghĩa là làm cho ta giàu lên, mà có khi càng xuất nhiều ta lại càng nghèo đi, còn năng suất lao động và trình độ kinh tế cứ giậm chân tại chỗ.  Thứ ba, năm nay nước ta đạt thứ hạng cao hơn về lượng xuất khẩu của một số sản phẩm, như lúa gạo lên vị trí số 1 toàn cầu, cà phê cũng lên số 1, cao su lên số 3… Tuy nhiên, vị trí cao hơn về khối lượng xuất khẩu không có ý nghĩa gì nhiều, khi ta xuất gạo nhiều hơn Thái Lan 1 triệu tấn nhưng kim ngạch thu được lại thua Thái Lan 1 tỷ USD, thu nhập cà phê cũng thua Brazil, và vị thế mặc cả, uy tín, khả năng quyết định các giao dịch quan trọng trên thị trường quốc tế vẫn thua xa các nước này.   Thứ tư, tăng trưởng xuất khẩu năm 2012 chủ yếu là thành tích của các nhà đầu tư nước ngoài (FDI), với mức tăng khoảng 33%, trong khi các doanh nghiệp trong nước chỉ tăng được hơn 1%. Thị phần của các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu tiếp tục bị đẩy lùi xuống chỉ còn khoảng 35%, trong khi doanh nghiệp FDI vượt lên chiếm 65% xuất khẩu của nước ta. Điều này vừa nói lên những khó khăn gay gắt mà các doanh nghiệp trong nước gặp phải, vừa thách thức tính bền vững của xuất khẩu nước ta: nếu ta không làm cho môi trường kinh doanh ở Việt Nam cạnh tranh hơn, thì khả năng các doanh nghiệp FDI chuyển các cơ sở làm hàng xuất khẩu đi nơi khác có thể xảy ra. Năm 2012 đã cho thấy niềm tin của doanh nghiệp FDI ở triển vọng kinh tế của Việt Nam đang giảm xuống, trong khi niềm tin của họ vào Indonesia, Myanmar, Philippines… đang tăng lên.  Thứ năm, cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, ai đang hưởng lợi ích từ thành tích xuất khẩu của Việt Nam? Nông dân hưởng bao nhiêu từ xuất khẩu nông sản, người lao động hưởng bao nhiêu từ xuất khẩu các mặt hàng gia công, người dân hưởng bao nhiêu từ xuất khẩu khoáng sản mà theo luật định là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân?  Rồi rốt cuộc Việt Nam thực sự hưởng lợi bao nhiêu từ xuất khẩu hộ các nước đang cung cấp đầu vào nhiều khi chiếm tới 80-90% giá trị các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam?  Những vấn đề trên khiến chúng ta không khỏi nhức nhối, và còn lâu ta mới có được niềm vui trọn vẹn từ điểm sáng xuất khẩu này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ninh Thuận cần đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào sản xuất      Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, tỉnh Ninh Thuận cần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và ứng dụng các tiến bộ KH&amp;CN vào sản xuất và đời sống.    Sáu tháng đầu năm 2015, tổng sản phẩm nội tỉnh đạt 2.012 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ; giá trị kim ngạch xuất khẩu 22,2 triệu USD, tăng 11,7% so cùng kỳ; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 70% dự toán năm; giải quyết việc làm mới cho 8.544 lao động, bằng 55% kế hoạch cả năm, tăng 0,9% so cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế có nhiều tiến bộ; công tác xóa đói giảm nghèo được quan tâm thực hiện. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thực hiện quyết liệt hơn. Công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến; an toàn giao thông được bảo đảm; an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  Tuy nhiên, Ninh Thuận vẫn là tỉnh còn nhiều khó khăn, quy mô nền kinh tế nhỏ so với các tỉnh trong Vùng, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, kết quả xây dựng nông thôn mới chưa cao, đời sống nhân dân vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn và tỷ lệ hộ nghèo cao.  Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh Ninh Thuận tiếp tục quan tâm công tác an sinh xã hội, bảo đảm nước sạch, lương thực cho nhân dân, báo cáo Chính phủ hỗ trợ gạo cho người dân vùng khó khăn khi cần thiết. Tỉnh cần có kế hoạch triển khai thực hiện tốt các Kết luận của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, xây hồ chứa nước, hệ thống kênh thủy lợi, đường giao thông…  Đồng thời đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của địa phương cho phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân.     Bên cạnh đó tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nhà đầu tư; quan tâm phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và tham gia hội nhập quốc tế.  Nguồn:   http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Ninh-Thuan-can-day-manh-ung-dung-KHCN-vao-san-xuat/234044.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nợ công châu Âu: Tiến thoái lưỡng nan về chính sách      Trong khi nguy cơ vỡ nợ ở châu Âu bị đánh giá là 40%&#160; thì thành công của Hội nghị EU vừa qua chỉ là bước giải cứu ban đầu và châu Âu vẫn đứng trước một số tình thế tiến thoãi lưỡng nan về chính sách.    Lịch sử đã cho thấy mỗi khi kinh tế suy thoái là nợ công sẽ tăng do nguồn thu ngân sách giảm, đồng thời chi tiêu chính phủ tăng mạnh (phúc lợi xã hội, trợ cấp thất nghiệp,…). Trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008, việc triển khai các gói kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng và cứu trợ hệ thống ngân hàng càng góp phần đẩy thâm hụt ngân sách lên mức cao kỷ lục và tỷ lệ nợ công vượt khả năng chi trả. Hiện nợ công là vấn đề của nhiều nền kinh tế phát triển như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, …, tuy nhiên, nguy cơ vỡ nợ ở châu Âu được cho nguy cơ lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới. Tháng 8/2011, Cơ quan Thông tin kinh tế (EIU) của tờ Nhà Kinh tế (Anh), cho rằng nguy cơ vỡ nợ khu vực EU là 40%1.  Nợ công bùng phát ở Châu Âu  Tại khu vực Châu Âu, khủng hoảng nợ công bùng phát tại Hy Lạp (5/2010), lan sang Ireland (11/2010) và Bồ Đào Nha (4/2011), buộc EU và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phải thông qua các gói cứu trợ khẩn cấp trị giá hàng trăm tỷ euro. Để ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng, EU cũng thống nhất gói các biện pháp “dài hạn” trong đó có việc thiết lập Quỹ Bình ổn tài chính Châu Âu (EFSF) từ năm 2013, thắt chặt các quy định trên thị trường tài chính – chứng khoán và tăng cường phối hợp chính sách. Vấn đề đã trở nên thực sự nghiêm trọng khiến EU buộc phải huy động sức mạnh của cả hệ thống tài chính và kêu gọi các tổ chức tài chính tư nhân hỗ trợ Hy Lạp trên cơ sở tự nguyện với quy mô 37 tỷ euro.   Trải qua nhiều Hội nghị Thượng đỉnh (HNTĐ), nhưng phải đến HNTĐ ngày 27/10/2011, EU nhất trí đưa ra gói giải pháp được đánh giá “đột phá”: (i) Các chủ nợ tư nhân đồng ý xóa 50% trong khoản nợ ước tính 350 tỷ USD của Hy Lạp; (ii) Tái cấp vốn cho các ngân hàng ở châu Âu trị giá 146 tỷ USD; (iii) Nâng quy mô Quỹ Bình ổn tài chính Châu Âu (EFSF) lên 1.000 tỷ euro tuy không đặt ra thời hạn cụ thể để hoàn thành mục tiêu này2. Trước đó, EU đã phải khá vất vả mới thông qua được quyết định (ngày 12/10) tăng quy mô Quỹ EFSF từ 440 tỷ euro lên 780 tỷ euro.  Nhìn chung, thế giới “thở phào” trước giải pháp quan trọng mới đạt được của EU đã giúp Hy Lạp tránh được nguy cơ vỡ nợ trước mắt. Thị trường tài chính – tiền tệ cũng có phản ứng tích cực với sắc xanh trên các sàn chứng khoán lớn. Nhưng như vậy chưa có nghĩa là các nước đã yên tâm với vấn đề nợ công của châu Âu. Một mặt, các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn để huy động vốn trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay. Mặt khác, diễn biến thời gian qua cho thấy việc nâng quy mô Quỹ EFSF không phải là dễ dàng, và cho dù có nâng được quy mô Quỹ lên 1.000 tỷ euro thì Quỹ vẫn cần sự bảo trợ, nhất là vai trò của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) để trấn an giới đầu tư – tài chính trong khi ECB hiện vẫn giữ quan điểm về tính độc lập của mình..     Tiến thoái lưỡng nan về chính sách  Trong bối cảnh “quả bom” nợ công vẫn treo trên đầu châu Âu, và thành công của HNTĐ EU vừa qua chỉ là bước giải cứu ban đầu, EU vẫn đứng trước một số tình thế tiến thoái lưỡng nan về chính sách.  Thứ nhất, các nước EU nỗ lực thống nhất được việc dùng ngân sách chung để cứu trợ Hy Lạp và các nền kinh tế sắp vỡ nợ khác. Một mặt, việc cứu các nền kinh tế thành viên sắp vỡ nợ có ý nghĩa “sống còn” đối với EU, và nhìn rộng ra là đối với nền kinh tế thế giới. Nguyên nhân là khi một vài thành viên EU bị vỡ nợ, lòng tin của giới đầu tư – kinh doanh sẽ giảm rất mạnh, việc tiếp cận vốn của các nền kinh tế khác trong và ngoài EU sẽ trở nên rất khó khăn do rủi ro bảo hiểm đối với nợ công tăng mạnh, khiến lãi suất cho vay tăng cao. Bài học lịch sử, mà điển hình là trường hợp của Úc trong Đại khủng hoảng 1930s cho thấy việc bị mất khả năng tiếp cận nguồn vốn sẽ đưa kinh tế vào suy thoái.3  Mặt khác, việc thông qua gói cứu trợ đủ lớn để cứu được các nước này gặp nhiều rào cản, khó khăn do các chính trị gia các nước EU khó có thể đưa ra quyết định dùng tiền thuế của người dân nước họ để cứu các nước sắp vỡ nợ trong bối cảnh EU đang cần tiền để phục hồi kinh tế, giảm thất nghiệp. Điển hình là người dân Đức cho rằng họ không có trách nhiệm phải dùng tiền thuế của mình để sửa chữa sai lầm của Hy Lạp, nhất là khi xuất hiện các bằng chứng về việc không trung thực về tài chính của nước này. Trong khi đó, xu hướng ở Hy Lạp là “thà làm đầu gà còn hơn làm đuôi công”, theo đó việc Hy Lạp ngày càng không muốn tuân theo các giải pháp của EU. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan thứ nhất của EU.  Thứ hai, EU tiếp tục buộc các nước có nợ công cao phải thắt lưng buộc bụng hơn nữa, nhằm đưa nợ công ở các nước này dần dần về mức bền vững. Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với giảm phúc lợi xã hội, tăng thất nghiệp, khiến đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn hơn và bất mãn với chính phủ theo đó cũng tăng theo.   Trong tình hình hiện nay, không gian chính sách cho lựa chọn này là rất hẹp, nhất là trong bối cảnh phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” đang lan rộng từ Mỹ sang nhiều nước châu Âu. Nhiều phân tích cho thấy thực chất của phong trào “Chiếm phố Wall” là những bức xúc trong xã hội do đời sống của người dân khó khăn hơn trước do suy thoái kinh tế trong khi các tổ chức tài chính chính, ngân hàng là thủ phạm gây ra khó khăn nhưng lại được cứu trợ bằng hàng tỷ USD tiền thuế của người dân và đang hưởng lợi nhuận trong khi chính phủ không có chương trình mạnh mẽ giúp xóa nợ cho người dân bị mất nhà và thất nghiệp4. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan thứ hai của EU.  Trong tình thế tiến thoái lưỡng nan đó, khả năng EU sẽ tiếp tục nỗ lực đạt được các giải pháp cơ cấu nợ cho các nước có nợ công cao như việc giảm nợ cho Hy Lạp vừa qua. Các giải pháp sẽ không chỉ dừng ở xóa nợ mà có thể là giãn nợ, tái cơ cấu lại các khoản nợ. Mục tiêu nhằm tránh để các nước có nợ công cao rơi vào vỡ nợ, qua đó duy trì được khả năng tiếp cận vốn đầu tư, phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách để trả nợ sau này. Mô hình các câu lạc bộ nợ như câu lạc bộ Luân-đôn, Paris có thể hoạt động tích cực trở lại. Chỉ khác là lần này, biện pháp sẽ áp dụng với các nền kinh tế phát triển thay vì đối với các nền kinh tế đang phát triển như trong quá khứ.  —  1. Theo Báo cáo Dự báo Kinh tế Thế giới của EIU.      2. Theo Tuyên bố Hội nghị Thượng đỉnh EU ngày 27/10/2011.     3. Theo bài trình bày của Thứ trưởng Bộ Ngân khố Úc tại Đại học Quốc gia Úc về “So sánh khủng hoảng kinh tế 1930 và khủng hoảng tài chính 2008: Bài học của Úc”.     4. Theo nguồn tin tổng hợp của Thông Tấn Xã Việt Nam.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nợ công Việt Nam đã vượt xa ngưỡng an toàn      Theo Ủy ban Kinh tế, những khoản nợ xấu của khu vực DNNN mà rất có thể sẽ phải dùng NSNN để trả, là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam. Riêng năm 2012, nghĩa vụ trả nợ xấp xỉ 5,4 tỷ USD, tương đương 4,5% GDP năm 2011.    Tại bản thảo nghiên cứu Nợ công Việt Nam – Quá khứ và Tương lai do Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiện, ghi nhận, số liệu ước tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam vào khoảng 58,7% GDP. Trong đó, nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt là 31,1% và 17,6% GDP.  Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách.  Theo đó, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam.  Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và DNNN không được chính phủ bảo lãnh chiếm 11,1% GDP. Ngoài ra, nợ trong nước của khu vực DNNN theo ghi nhận trong Đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5%.  Nhóm nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế và UNDP đánh giá, tính đến các con số kể trên, nợ công Việt Nam đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF).      Tại báo cáo thẩm tra về Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011 – 2015 và năm 2012, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu đồng ý với Chính phủ, chỉ tiêu dư nợ công năm 2012 không quá 60% GDP, đến năm 2015 không quá 65% GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 55% GDP, dư nợ quốc gia không quá 40% GDP.   Dự kiến, nợ công sẽ còn tăng đến 2015 và được đề xuất bắt đầu giảm từ 2016 nhằm tránh ách tắc trong phát triển KT-XH.   Nghĩa vụ trả nợ năm 2012 tương đương 4,5% GDP năm 2011  Báo cáo lưu ý, trong vài năm trở lại đây, quy mô của các khoản vay thương mại trong nợ nước ngoài với lãi suất cao đang có xu hướng tăng lên. Tính đến hết ngày 31/12/2010, đã có gần 6,8% tổng nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất lên tới 6-10% và hơn 7% tổng nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thả nổi.  Bên cạnh đó, bản dự thảo báo cáo chỉ ra, cơ cấu kỳ hạn của các khoản nợ công trong nước cũng gây rủi ro khá lớn. Trong khi các khoản nợ nước ngoài có kỳ hạn dài tới vài chục năm, có hơn 88,7% nợ trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn chỉ từ 2-5 năm.   Do vậy, nghĩa vụ nợ nước ngoài được dàn khá đều với 1,5-2 tỉ USD/năm, trong khi đó nghĩa vụ nợ trong nước lại dồn trong thời gian gần, với xấp xỉ 4,5-5 tỉ USD/năm trong vòng 4 năm tới. Như vậy, cùng với triển vọng cán cân ngân sách cơ bản tiếp tục thâm hụt thì sức ép phát hành trái phiếu để đảo nợ trong nước những năm tới là rất lớn.  Với tỉ trọng đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây, nhóm nghiên cứu cho rằng, nợ công trong nước đang hàm chứa những rủi ro do lợi suất cao cộng với kỳ hạn ngắn của nó.  Chỉ tính riêng năm 2012, nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc của Việt Nam lên tới xấp xỉ 5,4 tỉ USD hay tương đương với 4,5% GDP của năm 2011. Theo nhóm nghiên cứu, đây chính là những nguyên nhân chính của hiện tương chi tiêu công lấn át chi tiêu tư nhập, kết hợp lạm phát cao do sức ép tài trợ trái phiếu thông qua tăng cung tiền.      Theo số liệu được cung cấp bởi Kiểm toán Nhà nước, tính đến hết năm 2010 nợ phải trả nước ngoài dùng để cho vay lại tương đương 11,2 tỷ USD, tăng hơn so với 9,203 tỷ USD năm 2009. Trong đó, số dư mà Bộ Tài chính cho vay lại tại 11 tổ chức cho vay lại và 7 đơn vị vay lại khoảng 8,4 tỷ USD.   Lũy kế đến hết năm 2011, số tiền Bộ Tài chính ứng trả nợ thay cho các đơn vị được Chính phủ bảo lãnh vay công nước ngoài gần 2.437 tỷ đồng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nợ công Việt Nam tương đương 55,4% GDP      Chính phủ vừa gửi Quốc hội báo cáo về tình hình nợ công của Việt Nam. Theo đó, nợ công năm 2012 ước hơn 1.632.300 tỉ đồng (55,4%  GDP). Riêng nợ nước ngoài của quốc gia là 1.289.500 tỉ đồng.      Hoàn thành ngày 30/10, báo cáo của Chính phủ về tình hình nợ công vừa được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội.    Báo cáo cho biết đến cuối năm 2011, tổng trị giá vay nước ngoài của Chính phủ đã giải ngân để cho vay lại tương đương 12,6 tỉ USD. Trong số 580 dự án cho vay lại, số dự án có nợ quá hạn đến cuối năm 2011 là 55 dự án. Nhiều dự án gặp khó khăn trong việc trả nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh gồm lĩnh vực ximăng (năm dự án) và ngành giấy (hai dự án).  Nhật Bản vẫn là chủ nợ lớn nhất với 17%, Ngân hàng Thế giới chiếm 13%, Ngân hàng Phát triển châu Á chiếm 8%. Chính phủ đề ra mục tiêu nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến năm 2015 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.  Cũng theo báo cáo, đến cuối năm 2011 đã có 91 dự án được cấp bảo lãnh vay nước ngoài với tổng trị giá vốn cam kết là 10,468 tỉ USD, trong đó có 20 dự án đã hoàn trả hết nợ. Còn 71 dự án đang trả nợ với tổng số tiền khoảng 9,83 tỉ USD, các dự án điện chiếm 56,74% tổng giá trị vốn vay, dự án hàng không 17,86%, ximăng 12,09%, dầu khí 4,78%, giấy 4,11%, các dự án thuộc những lĩnh vực khác 4,42%.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nợ Hy Lạp – khủng hoảng tiền tệ Euro: Bài toán khó giải và sẽ còn lặp lại      Chuyện một nước nhỏ không thể trả nợ đúng  hạn là một biến cố thường lệ của một hệ thống thương mại và tài chính  toàn cầu dựa trên tín dụng và đầu tư. Vì lý do này, chúng ta có những tổ  chức như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cung cấp tín dụng tức thời để vấn  nạn đó không lan đến những nước khác. Nhưng trong suốt mấy năm qua, sự  kiện nợ của Hy Lạp, một nền kinh tế nhỏ chỉ ngang thành phố Dallas –  Fort Worth của Hoa Kỳ, đã biến thành cuộc khủng hoảng tiền tệ của cả  Châu Âu, ảnh hưởng đến thị trường tài chính quốc tế, là do một lỗ hổng  cơ bản của thiết kế khối Euro.    Khi một nhóm các quốc gia hội nhập tiền tệ nhưng không hội nhập về tài khóa    Nhiều người cho rằng Hy Lạp đáng lẽ không nên gia nhập với những nước có cơ cấu kinh tế khác biệt như Đức và Pháp. Nhưng khuyết điểm của khối Euro không phải là các nước không nên hội nhập, mà là chưa hội nhập đủ.  Khi cùng dùng một đồng tiền, các nước giảm được chi phí giao dịch và sự bất ổn định của giá cả qua việc loại bỏ sự bất ổn định hối đoái, theo đó gia tăng thương mại giữa các nước trong khối. Nhưng khi nhường cho Ngân hàng Trung ương Châu Âu quyền in tiền, ảnh hưởng lãi suất, v.v., các nước trong khối Euro đã từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập. Ràng buộc này có ảnh hưởng tốt cho khối là không cho phép một quốc gia tự phá giá đồng tiền để kích cầu cho riêng hàng hóa của mình.  Đồng thời, khi không có lựa chọn in tiền, một nước cũng không thể dùng lạm phát (một hình thức thu thuế) để giảm nợ thực sự của mình. Ràng buộc thứ hai này tạo thành cái neo cho kỳ vọng của thị trường đối với lạm phát của nước đó, giữ cho lạm phát không gia tăng. Kỷ luật trong việc in tiền là một lý do chính tại sao những nước mà trong lịch sử đã trải qua những giai đoạn siêu lạm phát sẵn sàng bãi bỏ chính sách tiền tệ tùy ý. Hy Lạp đã từng trải qua những thời điểm khi giá cả gia tăng 14.000% một tháng.  Tuy nhiên, mặt trái là hội nhập về tiền tệ tạo áp lực cho một nước tăng mức nợ công của quốc gia. Khi không có công cụ chính sách tiền tệ, một chính phủ chỉ có thể dùng đến chính sách tài khóa để kích cầu khi kinh tế suy thoái theo chu kỳ, mà trong thời suy thoái, nguồn thu thuế giảm, việc tăng chi tiêu chính phủ để kích cầu chỉ có thể dựa vào lựa chọn tăng nợ công. Mà nợ công của thành viên trong khối quá cao thì sẽ đưa đến khủng hoảng nợ và có thể đưa đến khủng hoảng tiền tệ cho cả khối.      Sự trớ trêu ở đây là một nhóm các quốc gia sử dụng chung một đồng tiền euro nhằm giảm chi phí giao dịch và sự thiếu ổn định trên thị trường nhưng việc giữ một thành viên (nhỏ) trong khối mất rất nhiều thời gian, công sức, và vốn chính trị, đồng thời lại gây thêm tình trạng bất ổn định.      Để giảm áp lực nói trên, hội nhập tiền tệ phải kèm theo sự hội nhập tài khóa bằng một hình thức nào đó. Ví dụ điển hình là khối USD của Hoa Kỳ. 50 tiểu bang đều dùng một đồng tiền và theo một chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (Federal Reserve). Hình thức hội nhập tài khóa của 50 tiểu bang là hệ thống thuế liên bang và chuyển nhượng giữa các tiểu bang qua Chính phủ Liên bang. Trong năm 2009 (khi khủng hoảng tài chính đang ảnh hưởng mạnh), 30 tiểu bang đã nhận ròng (nhận nhiều hơn số thuế nộp) từ Liên bang. Mười tiểu bang nhận ròng ở mức 150% GDP của tiểu bang hoặc cao hơn. Tiểu bang Alabama, với kinh tế ngang cỡ Hy Lạp, nhận ròng 174% GDP; Mississippi nhận ròng 254% GDP. Hai tiểu bang lớn Virginia và Maryland nhận ròng 145% và 149% GDP. Nếu không có những chuyển nhượng này thì các chính phủ tiểu bang sẽ phải vay mượn trên thị trường và sẽ phải tăng nợ công của mình. Những con số trên cho thấy tỷ lệ nợ công 175% GDP của Hy Lạp không nhất thiết là con số quá lớn không giải quyết được.  Trong 20 tiểu bang nộp thuế nhiều hơn số tiền nhận từ Liên bang trong năm 2009, ba bang lớn nhất California đã chi ròng 336 tỷ USD, Texas 390 tỷ, và New York 956 tỷ. Những con số này cao gấp nhiều lần gói giải cứu mới nhất mà khối EU cho vay thêm Hy Lạp là 96 tỷ USD tín dụng.  Hội nhập tài khóa có điểm quan trọng là việc chuyển nhượng từ tiểu bang này đến tiểu bang khác tự động xảy ra mà không đưa ra bàn cãi. Ví dụ khi một tiểu bang gặp suy thoái, thuế thu nhập nộp Liên bang sẽ giảm và số tiền nhận từ Liên bang cho bảo hiểm thất nghiệp sẽ tăng. Nếu đưa ra bàn cãi mỗi khi cần chuyển nhượng thì chắc chắn người dân California sẽ không đồng ý chuyển tặng dân Alabama 200 tỷ USD.  Sự trớ trêu ở đây là một nhóm các quốc gia sử dụng chung đồng tiền Euro nhằm giảm chi phí giao dịch và sự thiếu ổn định trên thị trường nhưng việc giữ một thành viên (nhỏ) trong khối mất rất nhiều thời gian, công sức, và vốn chính trị, đồng thời lại gây thêm tình trạng bất ổn định.  Khiếm khuyết lớn này xuất phát từ sự thiếu hội nhập về tài khóa giữa các nước trong khối Euro mà ai cũng có thể thấy nhưng không dễ giải quyết, bởi rất khó để người dân Đức hoặc Áo có thể đồng ý đưa vào luật việc tăng thuế để nuôi dân nghỉ hưu và thất nghiệp tại Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha. Đây là khó khăn của khối EU và là lý do khủng hoảng Euro sẽ tiếp diễn trong tương lai.      Là một con thuyền nhỏ thì một con sóng lớn cũng có thể gây thiệt hại, dù tài công tài giỏi đến đâu, vì vậy khi ra biển khơi thì con tàu nhỏ phải cột vào một tàu lớn để đối phó với sóng gió. Tuy nhiên, đó phải là con tàu lớn đi cùng hướng mà nó muốn đi.           Kinh tế Hy Lạp dựa chính vào ngành du lịch (18% GDP). Ngành này sẽ hồi phục một khi các nền kinh tế lân cận hồi phục.  Tăng trưởng còn quan trọng hơn số nợ  Từ năm 1998 đến 2007, tỷ lệ nợ công trên GDP của Hy Lạp giữ đều khoảng 100%. Đến năm 2010, tỷ lệ đó tăng đến 143%. Hiện nay tỷ lệ này khoảng 175%, thường được đưa ra để chứng tỏ sự không bền vững của ngân sách Hy Lạp. Nhưng tỷ lệ nợ trên GDP tăng phần lớn không phải vì những món nợ gia tăng mà vì GDP suy giảm. Trong các năm 2008-2014, GDP Hy Lạp giảm 29%!  Và khi GDP giảm thì nguồn thu thuế cũng giảm theo. Hy Lạp chẳng qua là một nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Khi kinh tế thế giới và Châu Âu hồi phục và GDP gia tăng trở lại thì tỷ lệ nợ công trên GDP cũng sẽ tự giảm.  Khi nói đến việc giảm nợ công, chúng ta thường nghĩ đến những biện pháp thắt lưng buộc bụng. Một trong những điều kiện cho gói giải cứu Hy Lạp là việc cắt giảm tiền trợ cấp cho dân. Tuy đây cũng có thể coi là điều kiện hợp lý, nhưng như đã trình bày ở trên, cách giảm nợ cơ bản nhất là gia tăng GDP. Đối với Hy Lạp, thách thức này đáng lo hơn cả con số nợ. Thập niên 1998-2007 là thời phồn thịnh mà đáng lý ra một quốc gia có thể tận dụng để giảm nợ của mình. Nhưng tỷ lệ nợ của Hy Lạp vẫn giữ nguyên khoảng 100%. Liệu khi kinh tế Châu Âu và quốc tế hồi phục và kéo Hy Lạp theo thì GDP của nước này có thể gia tăng để giúp giải quyết món nợ công hay không?  Kinh tế Hy Lạp dựa chính vào ngành du lịch (18% GDP). Ngành này sẽ hồi phục một khi các nền kinh tế lân cận hồi phục. Nhưng sự hội nhập toàn cầu tạo thêm nhiều điểm du lịch tại Đông Âu, Miến Điện, Cuba, cạnh tranh với giá cả thấp hơn Hy Lạp.  Như nhiều nước khác, Hy Lạp cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang những ngành khác, nhưng nhìn vào thực trạng quốc gia này thì khó thấy lợi thế tương đối nằm ở đâu, khi hơn 30% dân số là người già; 27% thất nghiệp; 20% lao động có việc làm là những người di dân làm trong ngành nông nghiệp và lao động phổ thông.  Hội nhập vẫn là xu thế tất yếu  Hy Lạp được coi là “cái nôi của nền dân chủ” nên cũng hợp lý khi vừa qua Thủ tướng Tsipras cho tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về việc có hay không chấp nhận các điều kiện đề xướng từ các chủ nợ Châu Âu. Điều đau lòng cho Hy Lạp là sau khi người dân bỏ phiếu và đa số quyết định không chấp nhận các điều kiện đó, Thủ tướng Tsipras đã trở lại đàm phán với các nước láng giềng và phải chấp nhận gói giải cứu với những điều kiện còn khắt khe hơn so với gói trước đó bị người dân Hy Lạp bác bỏ. Sự kiện này cho chúng ta thấy Hy Lạp không có lựa chọn tốt nào khác ngoài việc tiếp tục hội nhập với khối EU.      Hội nhập về tiền tệ tạo áp lực cho một nước tăng mức nợ công của quốc gia. Khi không có công cụ chính sách tiền tệ, một chính phủ chỉ có thể dùng đến chính sách tài khóa để kích cầu khi kinh tế suy thoái theo chu kỳ, mà trong thời suy thoái, nguồn thu thuế giảm, việc tăng chi tiêu chính phủ để kích cầu chỉ có thể dựa vào lựa chọn tăng nợ công.      Nếu Hy Lạp rời bỏ khối Euro thì vẫn phải nhờ đến một hoặc vài nước khác giải cứu khỏi khủng hoảng nợ hiện tại. Điều kiện của các nước chủ nợ Châu Âu tuy khắt khe nhưng vẫn tập trung vào yêu cầu thắt lưng buộc bụng, điều mà Hy Lạp đằng nào cũng phải làm nếu muốn nền kinh tế của mình tồn tại và phát triển. Có những nước khác có thể giải cứu Hy Lạp, nhưng sớm hay muộn, họ vẫn sẽ đưa ra những điều kiện riêng của họ và chúng có thể không tốt hơn hoặc thậm chí sẽ xâm phạm nhiều hơn đến chủ quyền của Hy Lạp.  Giáo sư Joseph Stiglitz (Nobel Kinh tế học năm 2001) từng so sánh một nước đang phát triển với con thuyền nhỏ. Là một con thuyền nhỏ thì một con sóng lớn cũng có thể gây thiệt hại, dù tài công tài giỏi đến đâu, vì vậy khi ra biển khơi thì con tàu nhỏ phải cột vào một tàu lớn để đối phó với sóng gió. Tuy nhiên, đó phải là con tàu lớn đi cùng hướng mà nó muốn đi. Với những nước nhỏ như Hy Lạp và Việt Nam, vấn đề không phải là hội nhập hay không hội nhập, mà là hội nhập với ai.  Chúng ta cũng có thể nhận xét tình trạng nợ của Việt Nam từ góc nhìn tăng trưởng kinh tế. Nợ công Việt Nam đang gia tăng và hiện nay đã đến mức 60% GDP. Đây là một điều đáng quan tâm. Nhưng biến cố Hy Lạp bàn trên nhắc chúng ta rằng nợ không chỉ là vấn đề ngân sách mà còn liên quan đến việc tăng trưởng kinh tế. Một khi kinh tế quốc tế hồi phục, kinh tế Việt Nam sẽ gia tăng nhanh hơn, và tỷ lệ nợ công có thể sẽ tự giảm. Nhiều vấn đề ngắn hạn một nước nhỏ như Việt Nam không thể chủ động mà chỉ có thể theo làn sóng của thế giới bên ngoài. Việc Việt Nam có thể chủ động và cần tập trung là lựa chọn những chính sách và cơ cấu kinh tế phù hợp, ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế dài hạn. Như Hy Lạp, Việt Nam cần có những ngành mới để thay thế những ngành trong tương lai sẽ chuyển dịch đến những nước khác với lao động rẻ hơn. Lý thyết tăng trưởng dạy chúng ta rằng tăng trưởng kinh tế chỉ bền vững khi nguyên do là sự sáng tạo và tăng trưởng hiệu quả trong sản xuất cũng như quản trị. Có lẽ khi nghĩ đến việc giảm nợ công, chúng ta không nên giới hạn tập trung vào việc chi thu ngân sách, mà nên xem xét với mỗi chính sách và biện pháp, liệu chúng có giúp cho kinh tế hoạt động hiệu quả hơn hoặc tạo động cơ thúc đẩy việc sáng tạo trong sản xuất và tổ chức, hoặc gia tăng sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường?  * Giáo sư Kinh tế học, Đại học Baylor, Hoa Kỳ      Author                Phạm Hoàng Văn        
__label__tiasang Nỗ lực của người dân      Người dân là nguồn động lực để nền công nghiệp điện than Hàn Quốc phải thay đổi.      Trẻ em tham quan bảo tàng điện than trong khuôn viên nhà máy điện than Yeungheung. Ảnh: Hảo Linh.  Năm 2016, lần đầu tiên, Chính phủ Hàn Quốc phải hoãn kế hoạch xây dựng nhà máy điện than tại huyện Dangjin, tỉnh Chungcheong Nam vì vấp phải sự phản đối dữ dội từ công chúng. Một nhóm người dân Dangjin và cả người lãnh đạo huyện này đã tổ chức một cuộc tuyệt thực trong vòng một tuần tại quảng trường Gwanghwamun, đối diện Phủ tổng thống giữa thời tiết nắng nóng vào tháng bảy.   Đời sống ở Dangjin, một huyện ven biển thanh bình, của khoảng 300 hộ gia đình vào những năm 90, bắt đầu bị xáo trộn khi Hàn Quốc lựa chọn đây là “thủ phủ” của điện than. Trong vòng 8 năm từ 1999 đến 2007, 8 nhà máy điện than được xây dựng với công suất hơn 6000 MW. Đến năm 2016, nhà máy số 9 và số 10 được hoàn thiện với tổng công suất hơn 2000 MW. Sau đó, chính phủ còn dự định xây thêm ở đây một nhà máy thứ 11 với tên gọi là “Nhà máy điện xanh”, “hứa hẹn” sẽ trở thành một trong những nhà máy điện than lớn nhất thế giới. Việc các nhà máy điện than cùng một loạt các cột điện cao thế dựng lên khiến cho người dân bị lấy đất nông nghiệp, mất đi nguồn sinh kế chính. Quan trọng hơn, họ bắt đầu lo lắng cho sức khỏe của mình: Trong những lần khám định kì của người dân Dangjin, đa số đều có nồng độ kim loại nặng Cadimium trong cơ thể lớn hơn mức bình thường. “1000 người đào tạo một ngày thì cũng bằng không, một người đào tạo bài bản thì sẽ lan tỏa đến 1000 người”.br /> Trước khi diễn ra cuộc biểu tình ở Seoul, tổ chức Friends of the Earth Hàn Quốc tại tỉnh ChungCheong Nam đã cùng người dân ở Dangjin tập hợp 12000 chữ kí phản đối xây dựng thêm nhà máy nhiệt điện ở đây gửi lên văn phòng chính phủ. Họ cũng liên tục tuần hành phản đối công ty điện than và tập trung tới 900 người trước trụ sở của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc yêu cầu hủy dự án này.   Tiếng nói của họ không được lắng nghe trong nhiều tháng trời vì ở Hàn Quốc, các cuộc biểu tình diễn ra như cơm bữa, bên ngoài mọi cơ quan công quyền của nước này. Cho đến khi ô nhiễm không khí của Hàn Quốc trở nên trầm trọng; cho đến khi những người tuyệt thực bị ngất xỉu, người dân Seoul mới nhận ra rằng câu chuyện ở một tỉnh cách đó hơn 100 km thực sự liên quan đến cuộc sống và sức khỏe của họ và điều đó tạo áp lực cho những ứng cử viên tranh cử tổng thống vào thời điểm bấy giờ.         “1000 người đào tạo một ngày thì cũng bằng không, một người đào tạo bài bản thì sẽ lan tỏa đến 1000 người”.      “Thực ra, chỉ cần Bộ trưởng của Bộ Thương Mại, Công nghiệp, Năng lượng đặt bút ký là dự án ấy sẽ được tiến hành (mà không cần thông qua hay hỏi ý kiến của bất kì ai) nhưng ý chí của người dân đã khiến việc đó không thực hiện được” – Jieon Lee, giám đốc Friends of the Earth ở Hàn Quốc cho biết.   Tiêu chuẩn nghiêm ngặt là nhờ người dân  Hàn Quốc là một trong bảy nước phát thải nhiều nhất trên thế giới. Quốc gia này có hơn 61 nhà máy điện than (và dự kiến sẽ có 16 dự án khác được xây dựng đến năm 2022). Tỉ lệ điện than trên tổng sản lượng điện của nước này là 43%, nhiều nhất trong khối OECD, được người dân ở đây nhắc đến như một nỗi xấu hổ. Mâu thuẫn giữa người Hàn Quốc với các nhà máy điện than không phải chờ đến cuộc biểu tình ở Dangjin mới bùng nổ mà trước đó nhiều năm đã diễn ra những cuộc biểu tình ở những khu vực khác mà điển hình là ở đảo Yeongheung, tỉnh Incheon. Người dân ở đây, cùng với các tổ chức môi trường, đã lên tiếng phản đối trong suốt hai năm liên tục từ 1997 – 1999 khi Hàn Quốc quyết định đặt những nhà máy đầu tiên ở đây.   Yêu cầu của những người dân ở Yeungheung không được đáp ứng. Nhưng nhà nước chỉ xây dựng được ở đây sáu nhà máy điện than, thay vì tám nhà máy như dự kiến. Hơn nữa, trước khi cuộc biểu tình kết thúc, người dân ở đây yêu cầu chính quyền Incheon phải kí với họ một “hiệp ước” liên quan đến bảo vệ môi trường. Việc giám sát những điều khoản thực hiện trong hiệp ước sẽ do một ủy ban bao gồm người dân, các nhà khoa học, thành viên của các tổ chức môi trường. Theo đó, nhà máy điện phải công khai mỗi quý một lần về tình hình phát thải của mình, đồng thời có những hỗ trợ về kinh tế – xã hội cho người dân sống ở khu vực xung quanh (chi trả cho tiền khám sức khỏe định kì hai năm/lần, tuyển con em dân địa phương vào làm việc…).     900 người dân Dangjin phản đối dự án “Nhà máy điện xanh” trước trụ sở của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc. Ảnh: Jieon Lee, Friends of the Earth Hàn Quốc.  Điện than của Hàn Quốc được xây dựng trên những quy định ngày một chặt chẽ là do sức ép không ngừng từ phía người dân địa phương và các tổ chức môi trường. Từ người dân bình thường cho đến những nhà hoạt động xã hội ở Hàn Quốc đều chia sẻ với chúng tôi rằng, công nghệ điện than lẫn công nghệ lọc khí thải của các nhà máy của họ đều thuộc hàng “top trên thế giới”. Tiêu chuẩn phát thải điện than của Hàn Quốc ngặt nghèo nhất toàn cầu (tiêu chuẩn phát thải PM 2.5 tương đương với Đức và khắt khe gấp 20 lần so với Việt Nam và phát thải NOx chỉ bằng 1/2 của nước này và dưới 1/6 của Việt Nam). Khu vực nhà máy điện than Yeungheung của Hàn Quốc đẹp như công viên, nằm giữa rừng thông được trồng bạt ngàn. Thậm chí còn có bảo tàng về điện than để trẻ em đến tham quan. 30% chi phí xây dựng nhà máy chỉ dành cho công nghệ lọc khí thải, lọc được gần 99% PM 2.5. Năm năm nữa, họ sẽ xây nhà trữ than thay vì để lộ thiên như hiện nay, với số tiền đầu tư tương đương với 10% giá trị nhà máy. 80% xỉ than được chế biến thành sản phẩm đầu vào cho các nhà máy sản xuất xi măng, còn lại 20% là chôn lấp.   Nhưng ngay cả như vậy, người dân sống quanh các nhà máy điện than cũng không muốn duy trì loại hình năng lượng này. 80% bụi không khí ở Incheon đến từ nhà máy điện than. Bà Kim Song Bun, một người dân sống ở đây đã 60 năm, là người đi đầu trong những cuộc phản đối điện than ở đây kể rằng, bà lo sợ cho sức khỏe khi lúc nào cũng “khó chịu ở cổ” mỗi khi làm đồng và cải thảo trồng ở đây thường bị phủ đầy tro than, không ăn được. Hơn nữa, người sống gần nhà máy điện than cũng khó chuyển đi nơi khác vì bán đất không ai mua.   Dù đang sử dụng công nghệ tối tân nhất trên thế giới, 15% bụi PM 2.5 của Hàn Quốc là đến từ điện than. Dù xây dựng nhà chứa than, bụi than vẫn sẽ phát tán trong không khí trong quá trình vận chuyển than và chôn lấp tro bay. Hơn nữa, đây là ngành công nghiệp sử dụng một khối lượng nước khổng lồ để làm mát hệ thống nhà máy, rồi lại thải ngược trở lại ra biển, khiến nhiệt độ nước biển ở gần bờ tăng khoảng 40C đột ngột, ảnh hưởng tới hệ sinh thái biển và đời sống của ngư dân địa phương.     Bà Kim Song Bun, người dân ở Yeungheung là người đi đầu trong các cuộc biểu tình phản đối điện than tại đây. Bà là thành viên trong nhóm giám sát nhà máy điện than Yeungheung. Ảnh: Hảo Linh.  Bỏ điện than cũng nhờ ý thức người dân  Nhưng giảm thiểu và ngừng điện than sẽ vấp phải mâu thuẫn với nhu cầu dùng điện ngày càng tăng của đa số người dân Hàn Quốc. Khi chúng tôi hỏi những nhà hoạt động về môi trường ở Hàn Quốc, rằng giải pháp nào giảm điện than thì tất cả đều đề cập đến việc tiết kiệm điện. Người dân Seoul và các vùng lân cận sử dụng tới hơn 70% sản lượng điện sản xuất ở ChungCheong Nam và Yeungheung mà không trực tiếp hứng chịu hậu quả của nhà máy điện than, liệu họ có sẵn sàng dùng điện ít đi? “Tôi nằm ở phe chống đối điện than, nhưng tôi hiểu rằng sẽ không giảm được nếu mình không giảm lượng tiêu thụ điện” – Ha Jiwon, người sáng lập tổ chức môi trường Ecomom Hàn Quốc và cũng là giáo sư về Chính sách phát triển bền vững tại Đại học Suwon, Hàn Quốc. “Người Hàn Quốc sống thì gia đình hạt nhân (chỉ có bố mẹ và hai con), chủ yếu ăn ngoài hàng nhưng ở nhà lúc nào cũng có ba chiếc tủ lạnh, (ngoài tủ lạnh thường còn có tủ đựng kim chi và tủ đựng rượu). Điều hòa thì mỗi phòng một cái mà phải là loại kèm với máy lọc không khí” – Bà nói thêm.  Ecomom muốn việc cắt giảm điện than trở nên bền vững. Ít nhất là họ muốn thay đổi suy nghĩ của thế hệ tương lai. Tổ chức vì môi trường nổi tiếng Hàn Quốc này tập trung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường từ trẻ em. Họ cho rằng đào tạo phải là quá trình lâu dài “1000 người đào tạo một ngày thì cũng bằng không, một người đào tạo bài bản thì sẽ lan tỏa đến 1000 người” – Ha Jiwon nói. Vì vậy, Ecomom chỉ tổ chức các khóa đào tạo dài hạn, kéo dài một năm hoặc đưa vào trường học, ở những môn không tính điểm hoặc tính điểm dựa trên bài luận và dự án cụ thể. Thông điệp họ dạy trẻ em được tổng kết ngắn gọn là: “Thói quen vui vẻ, thay đổi thế giới” nhưng không cứng nhắc “Chúng tôi không hỏi, một ngày em mở tủ lạnh bao nhiêu lần? bật điều hòa bao nhiêu lần mà tạo cho các em cảm giác bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng, thì các em ít bật điều hòa, ít mở tủ lạnh đi” – cô nói thêm. Cách dạy của tổ chức này chủ yếu là thông qua dự án, học sinh tự khảo sát, nghiên cứu về các hoạt động hằng ngày có ảnh hưởng đến môi trường thế nào, cách giải quyết ra sao nên học sinh ngoài kiến thức về môi trường, còn có một tư duy độc lập và kỹ năng lãnh đạo. Có em đã viết thư đến một công ty bánh kẹo phản ánh họ dùng quá nhiều giấy nilon không cần thiết (và khiến họ thay đổi thiết kế bao bì). Có em đã viết thư cho tổng thống bày tỏ quan điểm của mình.   Nhưng giáo dục người dân không có nghĩa là người làm chính sách không cần thay đổi. Mặc dù Tổng thống Moon Jae In tuyên bố sẽ giảm thiểu điện than nhưng quá trình này vẫn diễn ra chậm chạp. Hàn Quốc đóng cửa nhà máy điện than cũ, nhưng lại “âm thầm” phê duyệt xây các nhà máy mới. Giải pháp để đóng của một nền công nghiệp điện than với nhiều tập đoàn đã phát triển lớn mạnh nhiều thập kỉ với hàng chục nghìn con người là câu hỏi chưa có lời giải đáp. Hơn nữa, giá điện của Hàn Quốc vẫn rất rẻ (rẻ ngang với Việt Nam) và điện than thì không phải trả phí môi trường. Chính vì vậy, các nhà máy sản xuất “ngốn điện như nước lã” không có nhiều động lực để chuyển sang hay đầu tư cho điện tái tạo. “Chính sách về năng lượng của Hàn Quốc vẫn là làm sao để sản xuất thật nhiều điện với giá rẻ” – Jieon Lee cho biết.□  Việt Nam cũng tập trung xây dựng bốn nhà máy nhiệt điện than tại Vĩnh Tân, Tuy Phong, Bình Thuận. Jieon Lee cho rằng, những nhà máy này sẽ ảnh hưởng đến nghề muối lâu đời của người dân ở đây và chính phủ Việt Nam, chính quyền Bình Thuận cần tham khảo ý kiến người dân, cân nhắc phương án cung cấp điện phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế của họ. Kang Jo Hee, cũng thuộc tổ chức Friends of the Earth Hàn Quốc, chi nhánh thành phố Incheon, người thúc đẩy cuộc phản đối xây dựng nhà máy điện than tại Yeungheung, cho biết, nếu không thể tránh khỏi việc xây dựng nhà máy điện than thì điều quan trọng nhất cần phải làm là có một kênh thông tin rõ ràng, minh bạch tới người dân về ảnh hưởng của điện than tới họ.    Author                Hạnh Nguyên        
__label__tiasang Nợ xấu ngân hàng Việt Nam qua “lăng kính” của Moody’s      Trong báo cáo phân tích mới nhất về định mức  tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, hãng đánh giá tín nhiệm Moody’s  Investors Service cho rằng, chi phí để giải quyết khối nợ xấu trong hệ  thống ngân hàng của Việt Nam sẽ là lớn.    Báo cáo ra ngày 8/8 của Moody’s có đoạn về “hệ thống ngân hàng của Việt Nam đang cho thấy những điểm dễ bị tổn thương hậu thời kỳ bùng nổ tín dụng”. Các chuyên gia thực hiện báo cáo ghi nhận, sau thời gian tăng trưởng tín dụng nội địa mạnh mẽ từ năm 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại trong năm qua, bao gồm hạn chế cho vay đối với những khu vực kinh tế kém hiệu quả.  “Khi nguồn vốn ngày càng trở nên khan hiếm và lãi suất gia tăng, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực bất động sản trở thành đối tượng của các áp lực về thanh khoản, dẫn tới sự suy giảm chất lượng tài sản. Biến động tỷ giá càng làm trầm trọng thêm vấn đề bởi các ngân hàng nắm giữ một lượng tài sản dù nhỏ nhưng không thể xem nhẹ tính bằng đồng USD”, báo cáo của Moody’s viết.  Báo cáo đánh giá, xét tới mức độ minh bạch thấp trong các dữ liệu của Việt Nam, thì chất lượng tài sản của các ngân hàng Việt Nam trên thực tế là tệ hơn nhiều so với con số tỷ lệ nợ xấu 3,1% tính đến thời điểm cuối năm 2011.  Từ đầu năm đến nay, tỷ lệ và giá trị nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, theo Moody’s, là rất khó lường, thể hiện qua các con số khác biệt theo công bố của Ngân hàng Nhà nước. Vào tháng 7, Ngân hàng Nhà nước tuyên bố, tính đến cuối tháng 5, tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên mức 4,5% tổng dư nợ cho vay tại các ngân hàng thương mại. Trong khi đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình lại phát biểu rằng, tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên 10% tổng dư nợ, dù không đưa ra thời điểm cụ thể cho con số này.  Moody’s nhận định, chất lượng tài sản suy giảm đã xói mòn mức vốn của nhiều ngân hàng, làm suy yếu thêm khả năng hấp thụ thua lỗ vốn đã yếu của ngân hàng Việt Nam, đồng thời kìm hãm khả năng cấp vốn tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng. Tăng trưởng tín dụng trong 7 tháng đầu năm vì thế gần như là đi ngang.  Trong vòng 1 năm trở lại đây, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến nhằm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Vào cuối năm 2011, Chính phủ đã đưa ra một lộ trình cho hoạt động sáp nhập các ngân hàng thương mại.  Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức tăng trưởng tín dụng mục tiêu tùy thuộc vào đánh giá năng lực tài chính của từng ngân hàng, trong đó những ngân hàng mạnh nhất được phép tăng trưởng tín dụng 17% trong năm 2012, trong khi những ngân hàng yếu không được phép mở rộng cho vay.  Tuy nhiên, Moody’s chỉ rõ, đến nay, vẫn chưa có một kế hoạch rõ ràng về giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Chính phủ Việt Nam đã nêu dự định thành lập một “công ty quản lý tài sản quốc gia” để tập trung nợ xấu của các ngân hàng thương mại, nhưng chi tiết về kế hoạch thực hiện vẫn vắng bóng.  “Do mức độ hỗ trợ của Chính phủ là khó đoán biết và mức độ minh bạch còn thấp, nên tác động thực sự của việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đối với ngân sách của Chính phủ là khó dự đoán”, Moody’s nhận định. Tuy nhiên, báo cáo khẳng định, các chi phí liên quan tới tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ là lớn, vì hệ thống ngân hàng của Việt Nam là một trong những hệ thống lớn nhất trong số các nước có cùng hạng điểm tín nhiệm như Việt Nam.  Cũng trong báo cáo này, Moodys’ giữ nguyên định hạng tín nhiệm ‘B1’ (có dấu hiệu đầu cơ và rủi ro tín dụng cao) đối với trái phiếu bằng đồng nội tệ và ngoại tệ của Việt Nam. Cùng với đó, triển vọng của định hạng tín nhiệm này duy trì ở mức ‘tiêu cực’.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Kinh tế 2019 và câu chuyện đánh giá chính sách phát triển ở Việt Nam      Tính hiệu quả trong các chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam có thể đo đếm được bằng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên, phương pháp ba nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Kinh tế 2019 tiên phong áp dụng.         Một trong những kết quả ấn tượng của các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam là hệ thống cơ sở hạ tầng điện – đường  – trường trạm. Nguồn ảnh: Viện nghiên cứu phát triển Mekong.  Những câu hỏi từ Việt Nam  Mùa hè vừa rồi tôi có chuyến công tác cùng các chuyên gia quốc tế đến các thôn xã vùng sâu thuộc tỉnh Đắk Lắk. Nhóm của tôi tìm hiểu về tác động của thiên tai đến sinh kế của người dân. Người dân ở các thôn này nghèo, làm lúa, trồng khoai, hoặc đi làm thuê kiếm 150.000 đồng một ngày, và lại không có công việc thường xuyên. Tuy nhiên, ấn tượng mạnh nhất với bạn bè quốc tế lại là hệ thống hạ tầng thủy lợi, đê điều chỉn chu và quy mô tại các địa phương. Các chuyên gia về thủy lợi nói hệ thống họ thấy có thể so sánh tương đương với các nước có trình độ phát triển và thu nhập cao hơn Việt Nam. Dĩ nhiên tôi rất tự hào.  Tự hào kèm theo băn khoăn trước hiện thực hiện ra trước mắt. Người nông dân nghèo bước trên những kênh mương dẫn nước ngăn nắp đẹp đẽ.  Đa số công trình thủy lợi này thuộc Chương trình Giảm nghèo 135 hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn có tổng kinh phí khoảng 16.000 tỷ đồng. Đầu tư hạ tầng này là một thành phần trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020 với tổng kinh phí thực hiện là 48.400 tỷ đồng. Một trong các mục tiêu chính của chương trình là đến cuối năm 2020, thu nhập của hộ nghèo tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015.   Công trình thủy lợi có làm tăng thu nhập của nông dân? Câu hỏi gây ngạc nhiên vì đơn giản quá: câu trả lời sẽ là “có”, và thêm “không ít thì nhiều”. Tuy nhiên, dưới góc độ sử dụng vốn, đặc biệt là tiền thuế của dân, thì vấn đề lại không đơn giản như vậy.  Công trình thủy lợi trị giá 500 tỷ đồng cho cấp xã liệu có giúp làm tăng thu nhập của nông dân lên 1,5 lần trong 5 năm? Ngay cả khi số liệu thu thập được cho thấy so sánh trước và sau công trình, thu nhập tăng 1,5 lần cũng không có nghĩa là công trình giúp hoàn toàn làm tăng khoản thu nhập đó. Thu nhập của nông dân thay đổi sau một khoảng thời gian có thể do rất nhiều nguyên nhân: giá lúa tăng, mưa thuận gió hòa, ít dịch bệnh, nông dân được tập huấn canh tác hiệu quả hơn, sử dụng giống lúa năng suất cao, và có thể do lúa có nhiều nước hơn từ công trình thủy lợi. Thủy lợi chỉ đóng góp một phần trong thay đổi thu nhập.   Làm thế nào để biết chính xác thủy lợi đóng góp bao nhiêu vào câu chuyện tăng thu nhập, giảm nghèo cho người dân? Điều này cực kỳ quan trọng để quyết định vốn đầu tư có hiệu quả hay không. Thay vì dùng 500 tỷ đồng cho thủy lợi, có thể dùng số tiền này cho chương trình khác nếu nó mang lại hiệu quả giảm nghèo cao hơn. Với những khoản đầu tư nhỏ, trong phạm vi hẹp ở một thôn xã thì có thể dễ dàng theo dõi quá trình đầu tư – kết quả. Tuy nhiên với những khoản đầu tư có vốn khổng lồ trên 48.000 tỷ đồng như Chương trình quốc gia giảm nghèo bền vững, sai một ly có thể đi một dặm. Và đi một dặm xa trong nhiều trường hợp có thể không quay trở lại khắc phục hậu quả được nữa.  Bóc tách các nguyên nhân dẫn đến kết quả cuối cùng luôn là bài toán làm đau đầu các nhà kinh tế học và chi phối phần lớn các nỗ lực của họ trong đa số các nghiên cứu kinh tế học hiện nay. Thông thường các nhà kinh tế học dùng phương pháp thống kê phân tích xu hướng dao động của số liệu có sẵn. Nếu một cặp yếu tố nào đó dao động cùng nhau, thì họ thường kết luận yếu tố này là nguyên nhân làm thay đổi yếu tố kia, chẳng hạn thủy lợi làm tăng thu nhập của nông dân. Cách thức phân tích dữ liệu này được gọi là hồi quy.   Tuy nhiên hồi quy gặp rất nhiều vấn đề có thể dẫn đến sai lệch kết quả. Bóc tách nguyên nhân kết quả trong hồi quy yêu cầu phải nhận dạng và đo lường được các nguyên nhân dẫn đến kết quả. Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố nhà nghiên cứu không nắm bắt được, không đo lường được, nhưng lại chi phối các yếu tố nguyên nhân khác và chi phối kết quả. Chẳng hạn sự nhanh nhạy điều chỉnh hình thức canh tác trước thay đổi khí hậu giúp người nông dân đạt năng suất cao, từ đó làm tăng thu nhập. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu lại không có số liệu về sự nhanh nhạy điều chỉnh này, không đưa được vào mô hình phân tích. Mà yếu tố nhanh nhạy điều chỉnh này lại tác động đến các yếu tố khác như việc dùng nước thủy lợi, hay sử dụng phân bón thuốc trừ sâu, từ đó kết quả phân tích nguyên nhân – kết quả giữa thủy lợi và thu nhập không còn chính xác.         Hai nhà nghiên cứu Abhijit Banerjee và Esther Duflo thường xuyên thực hiện nhiều nghiên cứu trên khắp thế giới. Nguồn: https://economictimes.indiatimes.com/  Lời giải từ Nobel Kinh tế 2019  Ba nhà kinh tế học Abhijit Banerjee, Esther Duflo, từ MIT, và Michael Kremer, từ Đại học Harvard, là những người tiên phong sử dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên (randomization) để vượt qua các khuyết điểm của phương pháp phân tích hồi quy truyền thống,  góp phần giải quyết một trong những vấn đề lớn nhất của nhân loại – nghèo đói, mục tiêu số một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.   Câu hỏi căn bản mà ba nhà thực nghiệm ngẫu nhiên (randomitas) này cố gắng trả lời trong 20 năm qua là các chương trình đầu tư phát triển trên thế giới có đạt được mục tiêu đề ra? Các can thiệp chính sách nào hoạt động hiệu quả để đạt được mục tiêu giảm nghèo?  Phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên không phân tích số liệu sẵn có sau can thiệp chính sách. Phương pháp này chủ động thiết kế các can thiệp để tạo ra dữ liệu phân tích. Về căn bản, nhà nghiên cứu sẽ thiết kế, chia đối tượng đánh giá một cách ngẫu nhiên vào hai nhóm kiểm soát và can thiệp. Vì phân chia ngẫu nhiên, và nếu áp dụng cho số lượng nhiều, các đặc điểm của đối tượng đánh giá trong hai nhóm này và bối cảnh áp dụng là tương đồng. Do đó khi có can thiệp chính sách, chênh lệch kết quả giữa hai nhóm sẽ đến từ biện pháp can thiệp, vì mọi yếu tố khác là giống nhau.        Đối với các nhà nghiên cứu ở Việt Nam hay các nước thu nhập thấp và trung bình khác thì việc áp dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên quả thực vẫn còn xa vời nếu nhà nước không hỗ trợ kinh phí nghiên cứu và cơ chế cho nhà nghiên cứu tham gia vào thiết kế chính sách.      Chẳng hạn muốn đánh giá chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo có thực sự giúp thoát nghèo, nhà nghiên cứu sẽ phân chia một cách ngẫu nhiên người nghèo vào hai nhóm có và không có hỗ trợ tín dụng. Vì phân chia ngẫu nhiên nên các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm, tài sản, điều kiện đất đai v.v. của người nghèo trong hai nhóm là như nhau. Sau một thời gian, nhà nghiên cứu sẽ đo lường thu nhập của hai nhóm. Nếu nhóm được hỗ trợ tín dụng có thu nhập cao hơn nhóm không được hỗ trợ tín dụng, có thể kết luận chính sách hỗ trợ tín dụng hoạt động có hiệu quả, và làm tăng thu nhập ở mức độ x đồng, đo lường được từ so sánh kết quả thu nhập giữa hai nhóm.   Trong áp dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên này, có hai điểm quan trọng nhất quyết định thành công của nghiên cứu: khả năng dàn xếp để tiến hành thực nghiệm ngẫu nhiên và kỹ thuật thiết kế thí nghiệm cho phép so sánh được kết quả của các đối tượng tham gia một cách chính xác nhất.  Giáo sư Kremer là người tiên phong áp dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên trong kinh tế phát triển. Một trong những nghiên cứu đầu tiên gây chấn động giới làm chính sách của ông vào những năm 1990 là ông chỉ ra các chương trình cung cấp thêm sách giáo khoa ở Kenya hoàn toàn không làm cải thiện kết quả học tập của học sinh. Nói cách khác, số tiền đầu tư cho chương trình này đã bị lãng phí.   Năm 2003, vợ chồng giáo sư Banerjee và Duflo đã lập ra mạng lưới nghiên cứu đói nghèo toàn cầu, có tên là Phòng thí nghiệm hành động đói nghèo J-PAL (Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab). J-PAL cổ xúy việc áp dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên, phối hợp với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ quốc tế để đánh giá tác động của các can thiệp chính sách xóa đói giảm nghèo tại các quốc gia đang phát triển. Đến nay phòng thí nghiệm này đã thực hiện được gần 1000 thực nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của can thiệp của chính sách phát triển tại 83 quốc gia trên thế giới.   Thực hiện phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên để đánh giá tác động can thiệp của chính sách không dành cho các trung tâm nghiên cứu nhỏ. Tại sao Duflo thành công với J-PAL? Tại vì J-PAL đặt tại MIT, cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới. MIT/J-PAL có sức mạnh, cả về danh tiếng và tài chính, để làm việc với các nhà làm chính sách ở các nước để trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và đánh giá chính sách thông qua phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên.  Tại Việt Nam, J-PAL có một dự án sử dụng phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên phân tích tác động của việc công ty tham gia vào quá trình xây dựng quy định môi trường đến việc tuân thủ luật môi trường của chính các công ty đó trong khoảng thời gian 2014-2016. Kết quả cho thấy sự tham gia xây dựng luật giúp công ty tăng khả năng tuân thủ luật môi trường 5.5%.  Là phương pháp tương đối mới và cần nguồn lực nhất định để thực hiện, tuy nhiên thực nghiệm ngẫu nhiên không phải là phương pháp xa lạ tại Việt Nam. Trong các năm qua, các nhà nghiên cứu tại các trung tâm nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế TP. HCM, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Viện Nghiên cứu Phát triển Me kông và các trường đại học khác đã ứng dụng thực hiện phương pháp này để đánh giá các can thiệp chính sách khác nhau, chẳng hạn can thiệp giáo dục dinh dưỡng giảm béo phì trong học sinh tiểu học hoặc tác động của chính sách truyền thông giảm sử dụng rác thải nhựa.       Tư duy điều hành quản lý chính sách và dự án công của chúng ta trước đây tập trung nhiều vào việc xây dựng và vận hành. Tư duy này cần cân bằng hơn, dịch chuyển theo hướng bao gồm việc đánh giá tác động của chính sách nhằm rút ra bài học để sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công. Hiệu quả phân tích, đánh giá chính sách phát triển của phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên đã được đóng dấu xác nhận chất lượng bằng giải Nobel Kinh tế năm 2019. Các nhà nghiên cứu trong nước đã chứng tỏ được khả năng ứng dụng phương pháp này. Đây là thời điểm vàng để nhà quản lý và nhà nghiên cứu phối hợp tìm ra lời giải tốt nhất cho các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước. □  ————  Tài liệu tham khảo  Malesky, Edmund and Markus Taussig (2018) “Participation, Government Legitimacy, and Regulatory Compliance in Emerging Economies: A Firm-Level Field Experiment in Vietnam”. Forthcoming in American Political Science Review 1-22.     Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Nobel Kinh tế cho nghiên cứu biện pháp chế ngự các công ty độc quyền      Jean Tirole, nhà kinh tế học chỉ biết vùi đầu vào công việc, không hề quan tâm tới danh vị, người từng nói “sự tiếp xúc quá gần gũi với chính trường sẽ làm chúng ta đánh mất cái thước đo khoa học đang sử dụng”, đã giành giải Nobel Kinh tế năm nay, đúng như lời tiên đoán cách đây bảy năm.    Ngày 13/10 tại Stockholm, Viện Hàn lâm Khoa  học Hoàng gia Thụy Điển công bố: Giải Nobel Kinh tế học năm nay thuộc về  Jean Tirole ở trường Đại học Toulouse 1 Capitole nước Pháp “vì những  phân tích của ông về sức mạnh và quy luật thị trường”.   Giáo sư Staffan Normark, Thư ký thường trực Viện này, nhận xét: Jean Tirole đã có nhiều cống hiến quan trọng về nghiên cứu lý thuyết trong một số lĩnh vực, nhất là đã làm rõ cách hiểu biết và cách điều chỉnh các ngành bị thống trị bởi một số ít các công ty mạnh. Nói cách khác, ông đã phát minh ra “khoa học chế ngự thuần phục các công ty độc quyền”. Nhờ áp dụng lý thuyết của Tirole, Chính phủ có thể khích lệ các công ty độc quyền nâng cao năng suất đồng thời ngăn cản họ gây ra thiệt hại cho sự cạnh tranh và cho người tiêu dùng.   GS Tore Ellingsen, Chủ tịch Ủy ban Giải Nobel Kinh tế học, giải thích thành tựu nghiên cứu của Tirole như sau: có nhiều ngành bị thao túng bởi một số ít công ty hoặc một tập đoàn độc quyền. Trong tình trạng không được giám sát, quản lý, các thị trường thường nảy sinh những kết quả khiến người dân không mong muốn, như giá sản phẩm cao, năng suất thấp nhưng lại ngăn cản các công ty mới nhảy vào kinh doanh lĩnh vực đó. Từ giữa thập niên 80, Tirole đã bắt đầu nghiên cứu các bài học của những thị trường thất bại do bị một số ít công ty lớn thao túng. Các phân tích của ông đã giúp chính phủ có biện pháp xử lý vấn đề mua bán sáp nhập công ty và đối phó với nạn độc quyền.  Hãng thông tấn AFP cho biết: không phải ngẫu nhiên mà Jean Tirole giành giải Nobel kinh tế. Tuy rằng khi nhận tin được trao giải ông có nói “vô cùng ngạc nhiên và rất vui mừng”, nhưng bản tuyên bố của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển nói rõ: Jean Tirole “là một trong những nhà kinh tế học có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay”. Cho tới nay ông đã công bố khoảng 200 bài báo và xuất bản 10 cuốn sách viết về kinh tế, tài chính. Báo Le Monde (Pháp) tháng 9/2007 từng đăng một chuyên đề giới thiệu về nhà kinh tế học khiêm tốn này và cho rằng Tirole nhất định sẽ có ngày được tặng giải Nobel kinh tế.   Báo Le Figaro viết: Jean Tirole là một nhà nghiên cứu chỉ biết vùi đầu vào công việc, không hề quan tâm tới danh vị, ông luôn lo ngại cách đưa tin câu khách của giới nhà báo có thể làm người ta hiểu một cách đơn giản về các lý thuyết kinh tế học. Khác với những nhà kinh tế tham gia làm chính trị, Tirole từng nói “sự tiếp xúc quá gần gũi với chính trường sẽ làm chúng ta đánh mất cái thước đo khoa học đang sử dụng”.   Một bài trên báo Le Monde năm 2007 có nêu ra nghi vấn: Trên thực tế, một loạt chủ trương của Tirole thường được các nhà chính trị đề cập tới, như vấn đề thuế sa thải người lao động (firing taxes), hợp nhất hợp đồng làm việc ngắn ngày với hợp đồng làm việc dài ngày. Tirole trả lời: thông thường giới chính trị hay thực thi một cách không tự giác các chủ trương của những chủ nhân giải Nobel kinh tế đã qua đời – ở đây ông muốn ám chỉ John M. Keynes. Báo Le Monde còn nhấn mạnh: Tirole có cha là bác sĩ y khoa, mẹ là nhà giáo dạy văn, lẽ ra lớn lên trong hoàn cảnh gia đình như vậy, Tirole sẽ không hào hứng với môn kinh tế học. Nhưng khi học tập tại trường Đại học Bách khoa danh tiếng nhất nước Pháp, ông bỗng dưng rất thích sử dụng toán học để giải quyết các vấn đề phức tạp, từ đó ông chuyển sang học ngành kinh tế với ý định “muốn làm cho thế giới tốt đẹp hơn”.   Nhiều năm nay, giải Nobel kinh tế hầu như bị người Mỹ chiếm lĩnh. Maurice Allais là người Pháp gần đây nhất được trao giải năm 1988 do cống hiến về lý thuyết thị trường và sử dụng hữu hiệu các nguồn tài nguyên. Năm 1983 Gerard Debreau có hai quốc tịch Pháp-Mỹ cũng được trao giải này. Như vậy Jean Tirole là người Pháp thứ ba nhận giải Nobel Kinh tế.   Hôm 13/10, Phủ Tổng thống Pháp gửi lời chúc mừng Tirole trên tài khoản Twitter, ca ngợi ông lại là “một người Pháp nữa lên tới đỉnh vinh quang” tiếp sau Patrick Modiano giành giải Nobel Văn học năm nay.  Jean Marcel Tirole sinh năm 1953 tại thị trấn nhỏ Troyes (Pháp), năm 1976 tốt nghiệp Đại học Bách khoa (École Polytechnique, ở Paris), năm 1981 nhận học vị Tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT, Mỹ). Năm 1991 tham gia sáng lập Học viện Công nghiệp Kinh tế Toulouse thuộc Trường Kinh tế Toulouse, Đại học Toulouse 1 Capitole (Pháp), và hiện là Giám đốc Khoa học của Học viện này. Năm 2007 Tirole từng được Ủy ban Nghiên cứu khoa học nhà nước Pháp tặng giải vàng.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Y học 2022: DNA cổ xưa vén bức màn bí mật về tiến hóa và sức khỏe loài người      Giải Nobel sinh lý – y học (thường gọi tắt là Nobel y học) năm 2022 vừa được trao cho GS Svante Pääbo (đọc gần giống: Xvan-tơ Pe-bô) ở Viện nhân học tiến hóa Max Planck (Leipzig, Đức) “vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những nhóm người đã tuyệt chủng và liên quan đến sự tiến hóa của loài người”.     Chân dung Svante Pääbo trong công bố Giải Nobel sinh lý – y học 2022. (Nguồn: Niklas Elmehed/Nobel Prize Outreach)  Nobel y học năm nay khá đặc biệt vì giải chỉ trao cho 1 người, lại thuộc chuyên ngành sinh học tiến hóa.  Gian nan nghiên cứu tiến hóa bằng DNA cổ xưa  Tổ tiên loài Homo sapiens xuất phát từ châu Phi cách nay khoảng 300.000 năm và rời châu Phi di cư khắp trái đất cách đây khoảng 70.000 năm. Họ hàng gần nhất của chúng ta là người Neanderthal xuất hiện bên ngoài châu Phi và chỉ mới tuyệt chủng cách nay khoảng 30.000 năm. Như vậy, hai loại người này đã cùng tồn tại hàng chục ngàn năm trên lục địa Á–Âu, mà quan hệ giữa hai bên luôn là mối quan tâm hàng đầu của cổ sinh vật học, nhân học, và khảo cổ học. Thông tin trong bộ gene của người hiện đại và những di tích còn sót lại của các loại người cổ xưa sẽ giải đáp phần nào những bí ẩn này.  Từ những năm 1980, Svante Pääbo đã nghiên cứu DNA cổ xưa để tìm hiểu quá trình tiến hóa của sinh vật, chủ yếu là loài người nhưng có cả các động vật khác. Những mẫu DNA cổ xưa bị vùi dập, phân hủy dưới nhiều điều kiện khắc nghiệt trong một thời gian rất dài. Do đó khi được tách chiết, lượng DNA thu được thường dưới 0.1 ng/gram mô (DNA tách chiết từ mô động vật mới thu được thường đạt khoảng 1 µg/gram mô). Vấn đề nan giải hơn là DNA thu từ di tích mô cổ xưa luôn bị nhiễm các trình tự DNA từ các sinh vật khác, chủ yếu là vi sinh vật nhưng nghiêm trọng nhất là nguy cơ nhiễm DNA của người hiện đại.  Vì những khó khăn như vậy nên Pääbo thừa nhận rằng lúc đầu, ông cũng không rõ mình có thể làm việc với DNA từ người cổ đại không. Một trong những bài báo đầu tiên của Pääbo trong lĩnh vực này (tạp chí Nature, năm 1985) công bố một trình tự DNA từ xác ướp Ai Cập, nhưng trình tự đó sau này được xác định lại là của người hiện đại (có thể là của nhà khảo cổ học đã khai quật xác ướp đó). Tuy nhiên, với lòng đam mê tìm hiểu loài người cổ đại cùng tính kiên trì và sáng tạo, Pääbo đã dành hàng chục năm tiếp theo phát triển các phương pháp loại bỏ sự tạp nhiễm DNA của người hiện đại vào các mẫu khảo cổ. Một trong số đó là cách lấy mẫu DNA bằng dụng cụ và trong môi trường tuyệt đối sạch. Pääbo và cộng sự cũng tận dụng các công cụ sinh học phân tử hiện đại chẳng hạn như phát minh phản ứng chuỗi polymerase (công trình đạt giải Nobel hóa học năm 1993 của Kary Mullis) giúp việc khuếch đại các trình tự DNA dễ dàng hơn rất nhiều, cũng như các công nghệ giải trình tự DNA trên quy mô lớn với kết quả chính xác hơn. Những trình tự thu được sẽ được đem so sánh với các trình tự đã biết từ người và tinh tinh để loại bỏ những trình tự tạp nhiễm từ vi sinh vật. Cho đến năm 1997, nhóm của Pääbo đã công bố được trình tự DNA từ mẫu người Neanderthal cách đây hơn 50.000 năm trên tạp chí Cell. Mẫu lâu đời nhất được Pääbo phân tích DNA thành công đã tồn tại từ cách đây 430.000 năm ở Tây Ban Nha.  Ý nghĩa của trình tự gen cổ  Năm 2010, nhóm của Pääbo đã công bố một bản thảo bộ gene hơn 4 tỷ cặp nucleotide của người Neanderthal trên tạp chí Science. Trong cùng năm đó, trên tạp chí Nature, Pääbo công bố trình tự DNA của một mẫu xương ngón tay 40.000 năm tuổi phát hiện ở miền nam Siberia năm 2008. Kết quả xác định mẫu vật này không thuộc về người hiện đại, cũng chẳng phải người Neanderthal, mà một nhóm người mới được đặt tên Denisova theo tên cái hang mà trong đó người ta tìm ra mẫu ngón xương ngón tay này.  Khi phân tích, đối chiếu bộ gen người hiện đại (Homo sapiens), người Neanderthal, và người Denisova, Pääbo và các đồng nghiệp cho thấy bộ gen của loài người hiện đại ở Châu Á và Châu Âu có mang 1–4% gen của người Neanderthal, chứng tỏ tổ tiên của người hiện đại đã có quan hệ phối ngẫu với người Neanderthal sau khi rời khỏi Châu Phi. Người Denisova cũng chia sẻ một số gen với người hiện đại, đặc biệt ở Tây Tạng. Những gene chung này tuy ít nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong y học. Chẳng hạn như các gen từ người Neanderthal có liên quan đến nguy cơ tâm thần phân liệt hay bị biến chứng nặng do nhiễm COVID-19, còn những gene chung với người Denisova giúp người Tây Tạng ngày nay thích nghi với điều kiện sống trên núi cao.  Phần còn lại của bộ gene thì giúp ta xác định được những gene đặc trưng riêng cho loài người hiện đại. Một công trình vừa công bố tháng 9 năm 2022 trên tạp chí Science mà Pääbo  là đồng tác giả cho thấy phiên bản gee liên quan đến phát triển mạnh cấu trúc vỏ mới của đại não (neocortex) chỉ có ở người hiện đại chứ không xuất hiện ở người Neanderthal hay người Denisova. Vỏ mới là thành phần lớn nhất của vỏ đại não và là cấu trúc liên quan đến các chức năng phức tạp như giác quan, nhận thức, ngôn ngữ, v.v… Khi đem phiên bản gen của Homo sapiens biểu hiện trong các cấu trúc mô tiểu cơ quan giống não người (cerebral organoid) hay trong não của các mô hình động vật không phải người thì các tác giả nhận thấy có nhiều tế bào tiền thân thần kinh được sinh ra hơn so với khi biểu hiện phiên bản từ bộ gen người Neanderthal.    Sơ đồ tiến hóa loài một số loài vượn lớn trong đó có người Homo sapiens, người Neanderthal (mảnh xương đầu tiên được tìm thấy ở Neandertal, Đức), và người Denisova (mảnh xương đầu tiên được tìm thấy ở hang Denisova, Nga). Tổ tiên chung gần đây nhất của Homo sapiens, người Neanderthal, và người Denisova sống cách nay khoảng 800.000 năm. Trong suốt thời gian cùng tồn tại, ba loại người này có giao phối với nhau nên loài người hiện đại có mang một số gene của người Neanderthal và người Denisova (thể hiện bằng những mũi tên). (Nguồn: Nobelförsamlingen)  Thành công từ nhiều đam mê liên quan đến lịch sử con người  Cha của Svante Pääbo là nhà sinh hóa người Thụy Điển Sune Bergström, chủ nhân giải Nobel hóa học năm 1982 và sau này là Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển. Tuy vậy, sự nổi tiếng của cha khiến cho Svante Pääbo nhận ra rằng những người đạt giải Nobel cũng là người thường, “không có gì quá tuyệt vời” (Svante Pääbo là kết quả từ mối quan hệ ngoài hôn nhân của Sune Bergström, và ông chào đời cùng năm 1955 với người em trai cùng cha khác mẹ của mình). Svante Pääbo cho rằng mẹ của mình, nhà hóa học Karin Pääbo người Estonia, mới là người ảnh hưởng lớn nhất đến niềm đam mê khoa học tự nhiên của ông.  Từ nhỏ, cậu bé Svante đã thích ngành khảo cổ học, đặc biệt kể từ khi được mẹ đưa đến Ai Cập năm 13 tuổi. Từng có ước mơ trở thành người hùng như nhân vật hư cấu Indiana Jones, ông đã nhanh chóng nhận ra khảo cổ học không lãng mạn như mình tưởng khi nhập học ở Đại học Uppsala. Do đó, ông đã chuyển sang ngành y bên cạnh chuyên ngành Ai Cập học, rồi sau này chuyển dần sang nghiên cứu khoa học thay vì trở thành bác sĩ. Khi làm đề tài tiến sĩ trong những năm 1981–1986 về adenovirus và hệ miễn dịch người, Pääbo vẫn không từ bỏ niềm đam mê tìm hiểu con người cổ đại. Nhờ các giáo sư Ai Cập học trước đây của mình, Pääbo thu thập mẫu mô từ xác ướp Ai Cập trong các bảo tàng ở Châu Âu, rồi chứng minh rằng mình có thể thu nhận và giải trình tự DNA từ các mô này. Ban đầu, Pääbo không nói cho người hướng dẫn đề tài tiến sĩ của mình vì e ngại sẽ không được chấp thuận. Khi có kết quả, Pääbo mới dám công bố, lúc đầu là trên một tạp chí khoa học nhỏ của Cộng hòa dân chủ Đức năm 1984 (vì ông có thu mẫu từ bảo tàng ở Đông Berlin), rồi sau đó được đăng trên Nature như nêu trên.  Niềm đam mê khảo cổ học và sinh học phân tử cùng đức tính kiên trì đã giúp GS Pääbo sau này thực hiện được những khám phá có vai trò mở đường cho lĩnh vực nghiên cứu bộ gen cổ (palaeogenomics). Cả một thế hệ những người làm nghiên cứu di truyền học cổ cũng đã hình thành từ cái nôi Viện nhân học tiến hóa Max Planck của “cha đỡ đầu” là GS Pääbo. Những nghiên cứu của họ “giúp ta hiểu được cái gì làm cho con người chính là con người” như lời của TS Johannes Krause, một giám đốc khác của Viện nhân học tiến hóa Max Planck và từng là nghiên cứu sinh tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của GS Pääbo.  Những kết quả có giá trị to lớn về mặt y học có lẽ là lý do chính khiến Hội đồng giải Nobel y học năm 2022 xướng tên Svante Pääbo. Nhưng Pääbo vẫn không thôi nghĩ đến những ý nghĩa khác của công việc mình làm, như chính lời ông nói: “Chỉ mới cách đây 2.000 thế hệ thôi, bên cạnh chúng ta có những loại người tương tự nhưng rõ ràng là khác với chúng ta … Đôi lúc, tôi thử nghĩ nếu họ đã sống sót được suốt 2.000 thế hệ qua và vẫn còn ở đây, hệ quả của việc đó sẽ ra sao? Liệu có nạn phân biệt chủng tộc chống người Neanderthal còn tồi tệ hơn cái thứ phân biệt chủng tộc mà chúng ta thấy ngày nay … Hay liệu rằng khi nhận thức được ngoài chúng ta vẫn có một loại người khác, chúng ta sẽ không cảm thấy mình quá cách biệt với các loài vượn lớn khác như ta cảm thấy bây giờ, ta sẽ không có sự phân biệt rất lớn giữa những sinh vật mà chúng ta gọi là người và tất cả những loài mà ta gọi là động vật. Cả hai tình huống này đều có thể xảy ra, ta không thể nào biết được. Nhưng đây đều là những điều thú vị đáng suy nghĩ …”  —————————————-  Nguồn tham khảo:   Nobelförsamlingen (2022). “The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2022”. https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/2022/press-release/  Nature (2022). “Geneticists who unmasked lives of ancient humans wins medicine Nobel”. https://doi.org/10.1038/d41586-022-03086-9  Science (2022). “Ancient DNA pioneer Svante Pääbo wins Nobel Prize in Physiology or Medicine”. https://doi.org/10.1126/science.adf1103  Gruber Foundation (2011). “Svante Pääbo”. https://gruber.yale.edu/genetics/svante-p-bo  PLoS Genetics (2008). “Imagine: An interview with Svante Pääbo”. https://doi.org/10.1371/journal.pgen.1000035    Author                Nguyễn Trịnh Đôn        
__label__tiasang Nội địa hóa công nghệ sản xuất năng lượng tái tạo      Năng lượng tái tạo đã được xác định sẽ ngày càng có tầm quan trọng trong cơ cấu năng lượng ở Việt Nam dẫn tới nhu cầu nghiên cứu và đầu tư về công nghệ này. Nhưng trong bối cảnh công nghệ sản xuất năng lượng tái tạo ở trên thế giới đã ở mức độ hoàn thiện thì “đất” dành cho các nhà khoa học Việt Nam là gì?      Sử dụng bã mía để sản xuất điện tại nhà máy đường. Ảnh: Danviet.vn.  Nhập khẩu công nghệ: Chấp nhận “liệu cơm gắp mắm”  “Dù mới phát triển năng lượng tái tạo nhưng rất có thể chúng ta sẽ trở thành bãi thải công nghệ của một số nước tiên tiến”, ông Phạm Trọng Thực, Vụ trưởng Vụ Năng lượng tái tạo, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương bày tỏ lo ngại trong Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng năm 2017 do Bộ KH&CN tổ chức vào ngày 8/9 vừa qua. Dễ dàng hiểu lo ngại đó qua nhiều trường hợp cụ thể, chẳng hạn như trong sản xuất điện sinh khối từ bã mía, hầu hết các nhà máy mía đường của Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ khoảng dưới 1.000 tấn/ ngày tới 2.000 tấn/ ngày (rất ít nhà máy quy mô lớn vài nghìn tấn cho tới gần 10.000 tấn/ ngày) chỉ có khả năng mua dây chuyền phát điện sinh khối từ bã mía của Trung Quốc với giá thành dưới 1 triệu USD nên hiệu suất không cao (khoảng trên dưới 100 – 120 kwh điện/ 1 tấn bã mía) thất thoát điện nhiều, còn nếu áp dụng công nghệ tiên tiến của các nước phát triển thì đạt khoảng 350kwh điện/ 1 tấn bã mía.  “Tiền nào của nấy”, điều kiện kinh tế đã dẫn tới chắc chắn rằng, ở giai đoạn này chúng ta vẫn phải chấp nhận sử dụng công nghệ có suất đầu tư ban đầu thấp, kém hiệu quả trong ngành năng lượng tái tạo. Do vậy, “trước mắt, các nhà khoa học cần đề xuất giải pháp quản lý và kỹ thuật ngắn hạn và trung hạn để có thể khai thác các công nghệ này một cách hiệu quả nhất. Về lâu dài, cần có lộ trình loại bỏ dần các công nghệ kém hiệu quả, thay thế bằng các công nghệ mới và tiên tiến”, PGS.TS Phạm Hoàng Lương, Phó Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Ban chủ nhiệm Chương trình trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng” giai đoạn 2016-2020 (KC.05/16-20), trao đổi với Tia Sáng.  Không thể “bê nguyên si”  Khai thác làm chủ công nghệ và nội địa hóa như thế nào chính là “đề bài” Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng đưa ra trong Diễn đàn: “Để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của nền kinh tế đang phát triển, một trong những vấn đề then chốt là từng bước làm chủ công nghệ, từng bước nội địa hóa công nghệ, thiết bị”.  Đây cũng là mối quan tâm của các đơn vị làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Việt Nam nhưng ở mức độ cụ thể hơn, do vậy “cần Bộ KH&CN tạo ra thêm các diễn đàn mang tính định hướng chuyên môn sâu theo từng lĩnh vực để chúng tôi hiểu được có những công nghệ nào đang được áp dụng trên thế giới, có khả năng áp dụng ở Việt Nam hay không”, ông Lê Hội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam nói. Nghĩa là, mặc dù công nghệ tiên tiến đã được minh chứng và sử dụng ở nước ngoài nhưng sẽ không có chuyện “bê nguyên si” vào Việt Nam và cứ thế sử dụng, bởi nếu chỉ như vậy chúng ta sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào trang thiết bị nhập ngoại và thậm chí là cả nguồn nhân lực của họ. Ví dụ như, “những động cơ có hiệu suất sử dụng cao ở các nước tiên tiến nhưng về Việt Nam có thể chỉ sử dụng được với hiệu suất thấp vì điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Như vậy dù hiệu suất rất cao nhưng hiệu quả sử dụng lại thấp do điều kiện đặc thù của chúng ta. Do đó, phải có nghiên cứu thích hợp với điều kiện khai thác sử dụng”, PGS.TS Phạm Hoàng Lương nói.      Nghiên cứu các công nghệ năng lượng tiên tiến nhập ngoại có tiềm năng áp dụng tại Việt Nam để có thể nội địa hóa sản phẩm công nghệ nhằm giảm chi phí đầu tư, duy tu bảo dưỡng và phù hợp với điều kiện khai thác vận hành ở Việt Nam. (Mục tiêu của các đề tài nghiên cứu khoa học và dự án sản xuất thử nghiệm thuộc Chương trình KC.05/16-20.)        Công nghệ riêng có của Việt Nam?  Bên cạnh nội địa hóa công nghệ tiên tiến của nước ngoài, liệu các nhà khoa học và các doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam có thể tự sáng chế và làm chủ công nghệ của riêng Việt Nam?  Tại Diễn đàn, các nhà khoa học và nhà quản lý cũng thảo luận về vấn đề này nhìn từ trường hợp điện rác của công ty TNHH Thủy lực máy HMC tại Hà Nam. Từ nhiều năm nay, quy trình phát điện từ rác thải của HMC được nhiều đơn vị truyền thông đánh giá cao, nhiều cơ quan quản lý kỳ vọng sẽ nhân rộng được nhưng trên thực tế toàn bộ công nghệ này khi đưa vào thực tiễn sản xuất trên quy mô lớn lại chưa được chuẩn hóa, chưa kiểm định và công bố minh bạch toàn bộ các chỉ số kỹ thuật công nghệ. “Tôi hiểu nhiều lãnh đạo của ngành KH&CN đã kỳ vọng vào quy trình này của công ty HMC tuy nhiên phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể là không gây ô nhiễm môi trường thứ cấp, các chỉ tiêu về khí hóa phải đạt tiêu chuẩn. Tôi đã cùng các nhà khoa học tới khảo sát nhà máy năm lần để kiểm định, nhưng lãnh đạo HMC lại cho biết họ nắm giữ bí quyết công nghệ và không thể công khai”, ông Phạm Trọng Thực trao đổi tại Diễn đàn. Như vậy, rõ ràng việc đầu tư nghiên cứu hoàn toàn vào những dây chuyền nội địa nhưng không chứng minh được các chỉ tiêu kỹ thuật sẽ rất khó để thương mại hóa.  Trên thực tế, về mặt công nghệ, điện rác hay tất cả các hình thức khác của điện sinh khối đều không phải là công nghệ mới mẻ, mà đã hoàn thiện ở nhiều nước và đã được một số nhóm nghiên cứu của chúng ta cải tiến phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Chẳng hạn, các nhóm nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội đã nghiên cứu thành công công nghệ thủy nhiệt trong xử lý rác thải thành than tương đương với than đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và vận hành thử nghiệm hệ thống khí hóa sinh khối cung cấp năng lượng quy mô nhỏ phù hợp với điều kiện Việt Nam … đảm bảo các thông số kỹ thuật và môi trường nhưng việc chuyển giao những công nghệ này cho các doanh nghiệp lại không chỉ là câu chuyện của riêng nhà khoa học mà còn là vấn đề của chuyển giao công nghệ, quản lý và đầu tư.  “Việt Nam có thể làm được đường dây, hệ thống truyền tải… nhưng hệ thống phát điện như điện sinh khối, điện mặt trời hay điện gió thì phải nhập 100% công nghệ của nước ngoài. Bởi vấn đề đặt ra ở đây không phải là anh có thể nghiên cứu thành công công nghệ đó hay không mà là bài toán đầu tư vào sản xuất, giảm thiểu chi phí và kinh doanh có lãi. Đó là chưa kể tới nghiên cứu chế tạo cả hệ thống đó sẽ càng khó khăn khi khả năng chế tạo thiết bị của Việt Nam còn rất khiêm tốn”, theo TS. Nguyễn Trần Thuật, Trung tâm Nano và năng lượng, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Do đó, “đất” dành cho công nghệ riêng của Việt Nam chính là “những công nghệ phù hợp với đặc thù của Việt Nam mà có thể là trên thế giới đã không nghiên cứu (có thể vì họ không cần)”, anh nói.  Vì thế, bên cạnh những mục tiêu nghiên cứu để nội địa hóa, giải quyết những vấn đề mang tính vĩ mô của ngành năng lượng tái tạo thì Chương trình KC.05/16-20 có một cụm các đề tài hướng tới giải quyết những vấn đề rất “thường ngày” trong đời sống dân sinh như sử dụng công nghệ bơm nhiệt kết hợp với bộ thu năng lượng mặt trời để cung cấp nước nóng hay sử dụng công nghệ bơm nhiệt kết hợp với công nghệ vi sóng để sấy dược phẩm. Các nghiên cứu này đều đã có sản phẩm cuối cùng, sẵn sàng đưa vào dự án sản xuất thử nghiệm và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hoặc thương mại hóa.  Ngoài ra, các nhóm nghiên cứu ở các viện, trường cũng đang tích cực nghiên cứu theo hướng tương tự. Chẳng hạn, nhóm của PGS.TS Nguyễn Hoàng Hải và TS. Nguyễn Trần Thuật đang nghiên cứu hệ thống dẫn ánh sáng mặt trời trực tiếp vào nhà thông qua các hệ hội tụ và ống dẫn sáng sử dụng chất lỏng với thành ống được tráng bằng vật liệu cấu trúc nano (tương tự cơ chế của lá sen để cho phép truyền dẫn ánh sáng). Sản phẩm này hoàn toàn thích hợp với điều kiện Việt Nam vốn rất thừa thãi ánh nắng mặt trời nhưng đặc thù nhà ống luôn thiếu ánh sáng tự nhiên trong nhà và buộc phải bật đèn. Giới thiệu với chúng tôi sản phẩm đầu tay, TS. Nguyễn Trần Thuật cho biết đã đăng ký sáng chế ở Việt Nam và sẽ tiếp tục hoàn thiện công nghệ để đưa vào dự án sản xuất thử nghiệm, sau đó là chuyển giao công nghệ. “Những công nghệ về năng lượng tái tạo quy mô nhỏ nhưng dành cho nhiều người dùng sẽ mang lại tiện ích rất lớn, cũng có phần quan trọng không kém so với những công nghệ quy mô lớn. Chẳng hạn nếu công nghệ hệ thống chiếu sáng bằng năng lượng mặt trời này được chuyển giao và đi vào đời sống sẽ giúp hàng triệu hộ gia đình tiết kiệm năng lượng cho việc bật đèn vào ban ngày”, TS. Nguyễn Trần Thuật nói.       Author                Bảo Như        
__label__tiasang Nói gì về Vinashin lúc này?      Trước tình hình hiện nay của Vinashin, các nhà quản lý đất nước cần có những quyết định dứt khoát: đóng cửa các cơ sở, dự án chỉ cốt chơi trội; tập trung mọi nguồn lực cho các cơ sở, dự án gắn liền với yêu cầu vận tải, đánh bắt, bảo vệ chủ quyền trên biển; cố cứu giữ các thành quả công nghệ vừa thu lượm được dù với giá rất đắt do đầu tư dàn trải, thiếu bài bản, đặc biệt là các lớp kỹ sư và công nhân vừa được chạm tay tới nhiều công nghệ mới; duy trì và phát huy các thiết bị công nghệ mới rất đắt tiền, kể cả cần bố trí, phân phối lại, bổ sung cho phù hợp.                          Bạn hỏi tôi nghĩ gì, nên nói gì về Vinashin vào lúc này khi biết chúng tôi là những người trong nghề, đã đồng hành cùng biết bao anh em công nhân và kỹ sư từ những bước đi chập chững đầu tiên của con tàu máy hơi nước năm 1967 cho tới những buổi lễ hoành tráng bàn giao con tàu chở ô tô to lớn bên bờ vịnh Hạ Long tháng trước… Nhiều lắm, nhiều điều cần nói lắm cho một hành trình 40 năm nghề nghiệp, nhưng trên hết là nỗi đau đớn, tủi buồn cho một ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao của chiến lược biển quốc gia giờ đây là đầu đề đàm tiếu của xã hội, một gánh nợ cực kỳ lớn cho toàn dân tộc, là mối đe dọa mất việc làm của hàng vạn con người từng hy vọng vào những buổi ký kết những hợp đồng đóng tàu đầy hứa hẹn… Và tự giận mình, dù đã phát biểu, đã có những ý kiến phản biện, đã can ngăn, nhưng còn quá yếu ớt trong khi ngành đóng tàu ngày càng trượt dài khỏi lộ trình đúng đắn mà đáng ra nó phải theo…    Lấy đóng tàu xuất khẩu làm quốc sách, làm mũi nhọn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một vấn đề to lớn như thế nhưng hình như đã không được thực hiện theo đúng quy trình cần có. Không có công trình nghiên cứu về các khía cạnh kỹ thuật, kinh tế toàn cầu, an ninh quốc gia, không hội thảo khoa học, không phản biện, hình như tất cả cũng giống chiếc tàu Hoa Sen giá 90 triệu USD được “quyết” trong một chốc một lát, nếu không nói là quyết ngay bên bàn nhậu… Nhiều người đổ lỗi cho khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng chính khủng hoảng lại là tiền đề phải đặt ra cho kinh tế đóng tàu mà các giáo trình sơ giản nhất đã chỉ dẫn, cũng như xây dựng phải tính đến động đất, cho nên việc cam kết “sẽ trả hết nợ” là chuyện hứa hão nếu không nói tới biện pháp “con trẻ” là bán đất vì bản chất của nghề đóng tàu trong điều kiện bình thường đã là một thứ kinh doanh với lãi ròng rất thấp, gần như không có lãi. Cái nghề đặc thù khó nhằn này lại vô cùng cần thiết cho một quốc gia biển đảo, mà các yêu cầu về tàu thuyền cho bảo vệ chủ quyền, cho đánh bắt cá, cho chuyên chở người bệnh từ Phú Quý, Lý Sơn… về đất liền vẫn là một khoảng trống trong khi đó cơn say mê “gia công” tàu cho nước ngoài đã tiêu hết các nguồn lực mà hy vọng lập lại được rất khó xảy ra.    Trong những ngày này, người ta thường nhắc tới trách nhiệm của các cá nhân, những yêu cầu gay gắt đòi xử lý, một việc làm rất cần thiết với những kẻ tội phạm kinh tế nhưng có lẽ quan trọng hơn là làm cách nào “cứu” ngành đóng tàu. Không thể tiếp tục bơm tiền cho nó mà có lẽ chẳng còn nguồn tiền nào có thể bơm cho nó vô tội vạ như trước đây, mặc dù có những số tiền yêu cầu rất chính đáng vì bản chất của đóng tàu cần rất nhiều tiền vốn. Cái cần nhất, như chúng tôi đã kêu gọi từ nhiều năm nay là phải trả lời cho được câu hỏi: chúng ta đóng tàu để làm gì? Tại sao phải dồn toàn bộ nguồn lực cho một ngành kinh tế, xưa nay khá xa lạ với một nước nông nghiệp? Vì Chiến lược biển Quốc gia, vì muốn đi tắt đón đầu ư? Vậy Chiến lược biển Quốc gia là gì? Vào lúc này, cần xem xét nghe lại một cách nghiêm túc những ý kiến phản bác của nhiều tác giả như Huỳnh Thế Du, Trần Vinh Dự, David Dapice…, nhiều ý kiến của các nhà kỹ thuật kinh tế trong ngành đóng tàu mà lâu nay “giữ im lặng”… cũng như cần tranh luận với Tiến sĩ Lã Ngọc Khuê, nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT, người đã “ bác bỏ” quan điểm của nhóm các nhà kinh tế nói trên. Trên cơ sở các luận chứng kinh tế kỹ thuật nghiêm túc, hệ thống chính trị quản lý đất nước cần có những quyết định dứt khoát: đóng cửa các cơ sở, dự án thiếu luận chứng, căn cứ, hoành tráng, chơi trội, muốn “đứng thứ tư thứ năm trong hàng ngũ đóng tàu thế giới”; tập trung mọi nguồn lực cho các cơ sở, dự án gắn liền với các yêu cầu vận tải, đánh bắt, bảo vệ chủ quyền trên biển; cố cứu giữ các thành quả công nghệ vừa thu lượm được dù với giá rất đắt do đầu tư dàn trải, thiếu bài bản, đặc biệt là các lớp kỹ sư và công nhân vừa được chạm tay tới nhiều công nghệ mới; duy trì và phát huy các thiết bị công nghệ mới rất đắt tiền, kể cả cần bố trí, phân phối lại, bổ sung cho phù hợp.     Hiện nay có tình trạng có đơn vị làm ăn tốt, được khách hàng nước ngoài tín nhiệm nhưng không thực hiện được công việc vì bị đánh đồng với nhiều đơn vị thua lỗ trong tập đoàn, không nhận được tiền ứng của khách hàng vì ngân hàng chặn nợ. Vậy hình thức tổ chức tập đoàn hay tổng công ty đóng tàu phải ra sao, để gắn liền với toàn bộ nền công nghiệp, để không còn tình trạng là một “bộ công nghiệp con con”, cũng có nhà máy sơn ở Bình Dương, có cán thép Cái Lân, cáp điện Đà Nẵng… để cố chứng minh cho được là “nội địa hóa 60%”, một khái niệm kinh tế-kỹ thuật chỉ có ở Việt Nam!!! Và cả khu đất đẹp đẽ tại Hòa Lạc có xứng đáng dành riêng cho bể thử tàu, rồi cái dự án Đại học Đóng tàu Vinashin là những ý kiến “bốc đồng” hay thực sự là một đòi hỏi thực tế nghiêm túc?    Hơn lúc nào hết, thực tế đòi hỏi phải giải quyết căn cơ những vấn đề mà Vinashin đã đặt ra. Tất cả phải vì quyền lợi của dân tộc, quyền lợi của một đất nước với tấm bản đồ mà 2/3 rực rỡ màu xanh biển cả.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nới lỏng giới hạn thời gian nuôi cấy phôi thai người trong phòng thí nghiệm      Cơ quan quốc tế ISSCR đã nới lỏng lệnh cấm nuôi cấy phôi thai người trong phòng thí nghiệm quá 14 ngày, mở đường cho các nghiên cứu có thể giúp tháo gỡ các vấn đề từ sảy thai liên tiếp cho đến cải thiện thụ tinh trong ống nghiệm.    Trong nhiều thập kỷ qua, lệnh cấm trên đã tồn tại trong luật pháp của một số quốc gia, bao gồm Anh, Úc và được quy định trong hướng dẫn của Hiệp hội nghiên cứu quốc tế về tế bào gốc (ISSCR). Hướng dẫn của ISSCR thiết lập các tiêu chuẩn áp dụng cho hoạt động của các nhà khoa học, tạp chí, cơ quan nghiên cứu trên toàn thế giới, và cũng có thể ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách.  Tuy nhiên, ISSCR đã nới lỏng lập trường, tuyên bố rằng có thể thực hiện các thí nghiệm nuôi cấy phôi kéo dài hơn 14 ngày. Quy định này áp dụng trong các nghiên cứu được coi là hợp lý về mặt khoa học và không có cách thay thế nào phù hợp, đồng thời phải nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng và phù hợp với các quy định địa phương. Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng phải trải qua quá trình đánh giá chuyên môn nghiêm ngặt.     Các nhà khoa học cho rằng việc cho phép nghiên cứu phôi thai người trên 14 ngày sẽ giúp hiểu rõ hơn các vấn đề như sảy thai liên tiếp hoặc dị tật bẩm sinh. Nguồn: The Guardian  “Chúng tôi muốn khẳng định điều này: đây không phải là bật đèn xanh cho những tổ chức muốn tiến tới mở rộng nuôi cấy phát triển người trên 14 ngày. Làm thế là vô trách nhiệm và bị coi là bất hợp pháp ở nhiều nơi”, GS. Kathy Niakan ở ĐH Cambridge và Viện Francis Crick (Anh), người tham gia xây dựng các hướng dẫn của ISSCR, nhận xét. “Những hướng dẫn này là lời kêu gọi mọi người chủ động tham gia vào cuộc đối thoại hai chiều với công chúng để xem xét giới hạn 14 ngày trong việc nuôi cấy phôi thai người”.  Vào thời điểm ban hành lệnh cấm nuôi cấy phôi thai trên 14 ngày, việc nuôi cấy phôi thai người vượt quá 5 ngày là điều rất khó khăn. Tuy nhiên, khoa học đã tiến bộ: năm 2016, các nhà nghiên cứu tuyên bố đã nuôi cấy phôi thai người sống và hoạt động trong vòng 13 ngày.  Họ cho rằng việc cho phép nghiên cứu phôi thai người trên 14 ngày có thể mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe, bao gồm sử dụng các cụm tế bào người để nghiên cứu giai đoạn đầu phát triển của phôi thai hoặc đánh giá mức độ an toàn của các kỹ thuật như liệu pháp thay thế ti thể, nhằm mang đến những hiểu biết mới về tình trạng sảy thai liên tục và các bất thường bẩm sinh. “Người ta có thể lập luận về mặt đạo đức, rằng giai đoạn này (14-28 ngày) rất quan trọng với sự phát triển của con người. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, việc thiếu hiểu biết về những gì đang diễn ra trong giai đoạn đầu phát triển của con người cũng là một kiểu vô đạo đức”, Robin Lovell-Badge, chủ tịch đội ngũ biệt phái phụ trách bản hướng dẫn của ISSCR và lãnh đạo nhóm cấp cao ở Viện Francis Crick, nhận xét.  Các hướng dẫn của ISSCR cũng bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác như sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gene trên phôi người và các hoạt động liên quan đến sự phát triển chimera (được tạo ra bằng cách đưa tế bào người vào trong phôi của loài khác).  Daniel Brison, giáo sư phôi thai học lâm sàng ở Đại học Manchester, người không tham gia xây dựng các hướng dẫn này, cho rằng việc nuôi cấy phôi người trên 14 ngày sẽ làm thay đổi luật ở Anh, nhưng sự thay đổi này “chắc chắn có giá trị về mặt y học và lâm sàng”.   Tuy nhiên, Brison nhấn mạnh sự đồng thuận của dư luận đóng vai trò quan trọng. Ông nhắc lại rằng quy định 14 ngày được ban hành từ những năm 1980 vì đây là thời điểm xác định danh tính cá nhân trong quá trình phát triển của con người, vì khi đó phôi thai không thể phân đôi được nữa. “Với tư cách là nhà khoa học, chúng ta không nên coi việc thay đổi quy định đơn giản do bây giờ chúng ta có năng lực công nghệ để nghiên cứu phôi thai quá 14 ngày, mà vì chúng ta có thể chứng minh rằng công chúng đang ủng hộ các mục tiêu nghiên cứu”, ông cho biết. “Nếu không có sự ủng hộ rõ ràng từ công chúng, chúng ta có nguy cơ bị cáo buộc thay đổi các quy tắc nhằm mục đích tư lợi”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/may/26/time-limit-on-lab-grown-human-embryos-is-relaxed-by-experts       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nới lỏng hơn phong tỏa: Xu thế đảo ngược ở Hà Lan      Đầu tháng 7 số ca lây nhiễm ở Hà Lan lại bùng phát. Khi đó chính phủ vội vàng phong tỏa và thành công. Tuy nhiên chưa phải lúc để mọi người có thể thở phào nhẹ nhõm.      Mọi người ngồi san sát bên nhau trên những con kênh tràn trề ánh nắng mặt trời ở Amsterdam. Người ta chào hỏi nhau bằng những nụ hôn, hiếm ai nghĩ đến giữ khoảng cách, chẳng ai đeo khẩu trang – cùng lắm có vài chiếc nằm trong sọt rác. Đám đông chen chúc trong các cửa hàng, tiệc nướng trên bãi cỏ  công viên. Người Hà Lan yêu thích lối sống đông vui như thế này. Có điều Hà Lan bị đánh giá là nơi có độ rủi ro cao. Số ca lây nhiễm ở đây cao gấp bảy lần so với ở nước Đức láng giềng.  Nhiều du khách Đức khó có thể tin vào mắt mình vào nhữn gì diễn ra. Nếu họ không được tiêm phòng đầy đủ, khi trở về nhà chắc chắn phải bị cách ly. Nhưng ở Hà Lan mọi chuyện đều được coi là bình thường, dù tỷ lệ lây nhiễm là hơn 100. Thậm chí người Hà Lan còn chẳng quan tâm đến tỷ lệ lây nhiễm.  Tuy nhiên hiện tại tình trạng đảo ngược lại diễn ra. Trong hơn hai tuần, số ca nhiễm mới đã giảm đáng kể ở tất cả các khu vực trong điều kiện không hề có phong tỏa. Người Hà Lan chỉ thực hiện một số quy định như đeo khẩu trang khi đi xe buýt, xe lửa hoặc khi vào các bảo tàng, rạp chiếu phim hay vao các siêu thị vv…   Do đó, chính phủ phải áp dụng biện pháp “cứng rắn”. Cách đây khoảng 4 tuần ông thủ tướng Mark Rutte và bộ trưởng Y tế  Hugo de Jonge còn phải đứng trước TV nghiến răng ngỏ lời xin lỗi. Họ dường như đã phạm sai lầm khi “đánh giá không đúng” việc nới lỏng hầu hết các biện pháp chống corona.  Quả là có phần hơi chủ quan. Thí dụ ông bộ trưởng de Jonge đã thoải mái kêu gọi thanh niên “hãy khiêu vũ với  Janssen”, ý là nhanh nhanh đi tiêm: sáng làm một liều vaccine Janssen chiều tối lên quán bar thả phanh.  Biện pháp cứng rắn làm đảo ngược tình thế  Sai lầm thật nặng nề. Hầu như vừa mới mở cửa các sàn nhảy và câu lạc bộ rồi các lễ hội thì ngay sau đó bùng phát các vụ lây nhiễm bệnh thậm chí vọt lên tới 500 %. Đối với thanh niên độ tuổi từ 18 đến 24, thậm chí con số này còn vọt lên 850 %. Chính phủ vội vã nhấn phanh khẩn cấp. Mọi sinh hoạt về đêm đều tạm dừng, tất cả các quán bar phải đóng cửa trước 12 giờ đêm, mọi liên hoan, lễ hội đông người tham gia đều bị cấm.  Theo phân tích của Viện Sức khỏe và Môi trường RIVM, đó là lý do chính tạo ra sự đảo ngược tình thế. Gần đây nhất, 21.000 ca lây nhiễm mới đã được ghi nhận trong một tuần, ít hơn 44% so với tuần trước với khoảng 37.000 ca. Số lượng bệnh nhân Covid-19 phải nằm viện cũng ổn định trở lại. Đặc biệt, ở nhóm tuổi từ 18 đến 24, các chuyên gia quan sát thấy số ca lây nhiễm  ít hơn rõ rệt. Cuối tháng sáu cánh thanh niên nhào vào các vũ trường, disco và các câu lạc bộ để vui chơi thỏa thích và đây là nguồn gốc chủ yếu cho 40% các ca lây lan bệnh. Giờ đây các nhà hàng, quán nhậu chỉ chịu trách nhiệm cho ít hơn 4% các ca nhiễm mới.  Theo nhận định của các chuyên gia RIVM, virus đang bị đẩy lùi, mặc dù  92 % các ca lây nhiễm đều liên quan đến biến thể delta. Con số tái lây nhiễm hiện nay nhỏ hơn 0,7. Điều này có nghĩa là về lý thuyết 100 người có thể lây nhiễm cho 70 người.  Lý do thứ hai cho xu hướng giảm là chiến dịch tiêm chủng đang diễn ra tốt đẹp. Cho đến nay, 21,3 triệu liều vaccine  đã được tiêm tại đất nước với 17 triệu dân. Khoảng 2/3 người lớn được tiêm chủng đầy đủ và hơn 85% đã được tiêm ít nhất một liều.  10% các ca lây nhiễm là người đi du lịch về  Thủ tướng Rutte nhận xét, đây là những con số đáng vui mừng. Tuy nhiên ông chưa vội yên tâm “So với các nước láng giềng, chẳng hạn như Đức, số lượng các xét nghiệm dương tính của chúng tôi vẫn còn quá cao”.  Tới đây cũng là lúc người Hà Lan đi nghỉ trở về. Hiện nay khoảng mười phần trăm các ca lây nhiễm mới là do những người đi du lịch trở về gây ra. Nhưng không giống như ở Đức, người Hà Lan chỉ phải làm xét nghiệm khi họ trở về từ những nước có nguy cơ cao.  Vào ngày 13 tháng 8, chính phủ sẽ quyết định các biện pháp tiếp theo. Các quán bar và câu lạc bộ có được phép mở lại không? Và lễ hội hay các trận đấu bóng đá sẽ như thế nào? Thủ tướng Rutte không cho phép mình mắc sai lầm một lần nữa. Ngày càng có nhiều công dân muốn phải có sự rõ ràng, minh bạch. Theo một cuộc khảo sát mới đây đa số ý kiến ủng hộ các biện pháp nới lỏng thận trọng. Một phần ba thậm chí mong muốn tiếp tục quy định đeo khẩu trang.    Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Lieber locker statt Lockdown: Trendwende in den Niederlanden (wiwo.de)  https://www.ruhrnachrichten.de/nachrichten/lieber-locker-statt-lockdown-trendwende-in-den-niederlanden-1661389.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi nào hay, phải đến để học!      TS Lê Hoài Quốc, trưởng ban quản lý khu Công nghệ cao TP.HCM (viết tắt là SHTP) đã nói như vậy, trước khi chia sẻ thông tin cấp phép ba dự án đầu tư đầu tiên trong năm 2018.      Trong chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ (từ ngày 8 – 18/12/2017), lãnh đạo SHTP đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho ba doanh nghiệp Hoa Kỳ: Quantus Inc., AiPac và Greenvity. Theo TS Lê Hoài Quốc, cả ba doanh nghiệp Hoa Kỳ trên đang hoạt động tại Silicon Valley. Lễ trao giấy phép được tổ chức tại văn phòng của tập đoàn Allied Telesis (Santa Clara, California, Hoa Kỳ). Trong đó, Quantus với dự án “Viện nghiên cứu và phát triển về khoa học sự sống và bệnh viện công nghệ cao” có vốn đầu tư ban đầu là 250 triệu USD, hai dự án AiPac và Greenvity có tổng vốn đầu tư hơn 50 triệu USD.    “Nhưng mục đích của chuyến đi của đoàn lãnh đạo cấp cao và doanh nghiệp TP.HCM có nhiều việc quan trọng hơn”, TS Quốc nói.  – Ông có thể chia sẻ thông tin về “những việc quan trọng hơn” trong chuyến đến Hoa Kỳ vừa qua?  – Mục đích chính của chuyến đi sang Hoa Kỳ của đoàn TP.HCM là muốn tìm kiếm mô hình thúc đẩy hoạt động phát triển khởi nghiệp sáng tạo dựa trên công nghệ cao. Mục đích của mô hình này là làm sao kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước đã có sản phẩm có tiềm năng thương mại hoá với thị trường quốc tế thông qua môi trường, điều kiện của hệ sinh thái hoàn chỉnh tại Silicon Valley, bang California hoặc tại Boston, bang Massachusetts, nhằm tiếp thị để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm cho phù hợp với thị trường quốc tế, cũng như tìm nguồn vốn từ các quỹ đầu tư quốc tế. Ngược lại, đối với doanh nghiệp khởi nghiệp của người Việt Nam đang hoạt động tại Hoa Kỳ, có thể kết nối với thị trường trong nước, nhằm tìm kiếm các điều kiện để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm với chi phí thấp hơn khi thực hiện tại Hoa Kỳ. Cụ thể như thế này: sau khi đã tìm kiếm và kết nối các dự án khởi nghiệp tại Silicon Valley, sẽ chuyển sản phẩm về Việt Nam để gia công, hoàn thiện sản phẩm theo đúng yêu cầu của họ. Sau khi sản phẩm đã hoàn thiện, sẽ xuất các sản phẩm trở lại cho họ, phần việc còn lại là thương mại sản phẩm.  – Theo ông, liệu mô hình phía đoàn TP.HCM xác định có thực hiện được tại Mỹ?  – Trước hết, cộng đồng người Việt Nam, đặc biệt là các dự án khởi nghiệp muốn về đầu tư tại Việt Nam. Nhiều bạn trẻ, sau khi học xong các trường đại học lớn tại Hoa Kỳ, dù làm việc tại nhiều tập đoàn công nghệ lớn như Google, Apple… vẫn muốn làm điều gì đó cho riêng mình. Qua tìm hiểu, nhiều người thành đạt nhờ liên tục có những ý tưởng mới trong công nghệ. Họ có thể bán ý tưởng hoặc sản phẩm mẫu sau khi được cấp patent, hoặc thành lập doanh nghiệp để sản xuất, rồi sau đó bán lại doanh nghiệp để bắt đầu lại từ đầu với những ý tưởng sản phẩm mới. Chu kỳ khởi nghiệp dựa trên sáng tạo đó lại lặp lại…  Việc lãnh đạo TP.HCM muốn kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao tại Silicon Valley còn nhiều yếu tố khác. Tại đây đã hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp: ý tưởng mới, công nghệ mới, có nhiều nhà đầu tư thiên thần sẵn sàng hỗ trợ tài chính, kể cả hỗ trợ về công nghệ để biến ý tưởng thành sản phẩm cụ thể… Thêm một yếu tố quan trọng tại Silicon Valley là môi trường đầu tư đã phát triển: chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, ưu đãi vay vốn ngân hàng, đào tạo nguồn nhân lực… Môi trường pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Silicon Valley rất nghiêm khắc và sòng phẳng.  Nếu muốn học hỏi về khởi nghiệp công nghệ cao, không thể bỏ qua vùng đất này. Gremsy, một doanh nghiệp trưởng thành tại Vườn ươm SHTP, đã sang Hoa Kỳ để tìm cơ hội bán hàng và tiếp tục nâng cấp về trình độ công nghệ cho sản phẩm. Hiện, Gremsy đã tìm được nguồn vốn để tiếp tục thực hiện mục tiêu. Ngược lại, doanh nghiệp người Việt ở nước ngoài về ươm tạo và hoàn thiện công nghệ tại Vườn ươm của SHTP, như Emotiv tận dụng chi phí gia công, chế tạo… trong nước để sản phẩm tạo ra có giá thành rẻ hơn.    TS Lê Hoài Quốc, trưởng ban quản lý SHTP.  – Lãnh đạo TP.HCM đã bắt đầu làm gì để thực hiện mục tiêu trên, thưa ông?  – Dự kiến, TP.HCM sẽ có một trung tâm đại diện tại Silicon Valley. Có thể trong năm 2018, trung tâm này sẽ hoạt động theo định hướng là “không gian cùng làm việc, cùng chia sẻ” với các nhà khởi nghiệp, đặc biệt là giới khởi nghiệp trẻ.  Riêng SHTP được giao nhiệm vụ xây dựng đầu mối tương tác khởi nghiệp tại Silicon Valley. UBND TP.HCM sẽ thành lập ban chỉ đạo với hai cơ quan giúp việc là SHTP và sở Khoa học và công nghệ. Ngoài ra, những tổ chức như viện Nghiên cứu và phát triển TP.HCM, đại học Quốc gia TP.HCM, hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM và tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn (CNS) tham gia những nhiệm vụ: đào tạo nhân lực, xây dựng mô hình chính sách công, tổ chức khởi nghiệp cho cộng đồng doanh nghiệp và tổ chức đầu mối kết nối cho doanh nghiệp Việt ở nước ngoài về làm việc tại TP.HCM…  – Ông đã sang Mỹ nhiều lần để mời gọi, xúc tiến đầu tư cho SHTP. Vậy chuyến đi lần này có gì mới hơn không?  – Ngoài những phần việc riêng cho SHTP như trao giấy phép cho ba nhà đầu tư, thời gian còn lại của tôi và nhiều thành viên là đi thăm và làm việc với nhiều doanh nghiệp, tổ chức của Hoa Kỳ tại California, Massachusetts và Washington DC. Tôi đã được đến thăm nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp công nghệ cao như Intel, Marvell, Allied Telesis, ĐH Stanford, trường chính sách công Kennedy – đại học Harvard, viện Brookings, viện McCain (ĐH Arizona), các công ty khởi nghiệp thành công như Just (một doanh nghiệp làm thực phẩm công nghệ cao, dùng một loại đậu xanh và công nghệ gien để “chế biến” thành trứng gà, thịt bò…), công ty 8 SV (một doanh nghiệp Hoa Kỳ chuyên viết phần mềm chuyên dụng cho các tập đoàn lớn, mới thành lập nhưng giá trị doanh nghiệp đã hơn 4 tỷ đôla)… Qua các chuyến đi, không chỉ quan sát về công nghệ mà còn trao đổi và kêu gọi họ đầu tư vào Việt Nam, vào SHTP.  Trong chuyến đi này, đoàn TP.HCM còn làm việc với viện Brookings và viện McCain để học tập mô hình quản lý công và phương thức xây dựng các mô hình dự báo phát triển kinh tế – xã hội; làm việc với MIT để học tập mô hình đào tạo khởi nghiệp, vì tại đây có trường thành viên là Sloan School chuyên dạy về khởi nghiệp; tham dự diễn đàn kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp của người Việt tại Hoa Kỳ, nghe văn phòng luật MWE trình bày về một số vấn đề liên quan đến chính sách khởi nghiệp của Hoa Kỳ…  Trọng Hiền thực hiện  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi những người khởi nghiệp liên kết sức mạnh      TP. Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên trên cả nước xuất hiện mô hình co-working space – không gian làm việc cộng đồng, kết nối và hỗ trợ các chuyên gia hay người làm nghề tự do nói chung, các dự án khởi nghiệp nói riêng. Đã có co-working space ra đời rồi đóng cửa, và những co-working space khác xuất hiện, nhưng mục đích chung của những người sáng lập không thay đổi, đó là làm sao xây dựng được không gian làm việc cộng đồng chuyên nghiệp đúng nghĩa.     “Khởi nghiệp” không gian làm việc cộng đồng cho những người… khởi nghiệp  Có thể hiểu nôm na, co-working space là một bên sẽ thuê mặt bằng, sau đấy chia mặt bằng thành nhiều khu làm việc và cho thuê lại. The Start Center for Entrepreneurs là co-working space đầu tiên ở Việt Nam được sáng lập bởi hai người bạn trẻ. Nguyễn Đức Hải, một trong hai người sáng lập, cho biết: The Start Center ra đời nhằm cung cấp không gian làm việc sáng tạo và hỗ trợ lẫn nhau dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup); tạo không khí hợp tác, khuyến khích chia sẻ ý tưởng, kinh nghiệm startup. Địa chỉ này ra đời từ hoàn cảnh chính bản thân Hải cần tìm chỗ làm việc cho dự án startup của mình vào thời điểm đấy, khi mà ngân sách rất thấp, không tìm được chỗ thuê phù hợp về giá cả cũng như không gian làm việc.   Sau đó, nhiều mô hình co-working space khác xuất hiện, TP.HCM được xem như là thị trường “sôi động” hơn cả so với mặt bằng chung cả nước. Có thể kể  đến The Star Center, Saigon Hub, Gekkospace, WS,… trong đó, có cái xuất phát từ nhu cầu khởi nghiệp của bản thân, có cái vì lợi ích kinh doanh, nắm bắt được một thị trường “tiềm năng” phía trước. Lê Tuân, người xây dựng nên WS (viết tắt theo yêu cầu của chủ không gian) cho biết: bản thân làm các dự án sáng tạo liên quan đến nội thất, truyền thông, nhưng chưa tìm được môi trường nào phù hợp cho những người sáng tạo. Quán cà phê bình thường thì ồn ào, văn phòng thì buồn chán, ở nhà lại mất tập trung. Không nơi nào cho hiệu suất sáng tạo cao. Vì vậy WS ra đời, là cho chính Tuân và những người như mình! Còn với Phan Đình Tuấn Anh, người sáng lập Gekkospace (đã ngừng hoạt động), lí do anh mở ra không gian này là vì “kinh tế khủng hoảng kéo dài, buộc tất cả đều phải tìm cách cắt giảm chi phí, từ đó có cơ hội tìm hiểu về kinh tế chia sẻ (sharing economy), và co-working space là một mô hình của xu hướng kinh tế này”. Những co-working space tạo nên một hệ thống hỗ trợ cho các startup về tinh thần, địa điểm và tương tác với những đối tác khác về mặt ý tưởng, cơ hội hợp tác, nhân sự; và đưa văn hóa chia sẻ vào cộng đồng khởi nghiệp,…   Tọa lạc trong một biệt thự 400m2 , WS hiện có 10 nhân viên, 13 người thuê không gian làm việc và hai công ty khởi nghiệp. Những người thuê cố định tại đây tạo nên cộng đồng chính; còn những khách vãng lai tạo nên sự đa dạng, sống động.   Nhìn nhận co-working space là một môi trường kinh doanh, WS cũng vậy, nhưng vì “cái mà WS kinh doanh là cộng đồng”, nên Lê Tuân cho biết, WS muốn cộng đồng mình phát triển với những thành viên thật sự phù hợp, những người đến đây vì được giới thiệu qua bạn bè. “Co-working space ở nước ngoài khá phổ biến nên những người đến đó vì đúng mục đích, còn ở Việt Nam khá mới nên có nhiều bạn đến WS với những kì vọng mà chúng tôi không đáp ứng được”, Tuân nói.   Còn nhiều rủi ro  Lê Tuân chia sẻ, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay mà WS đang đối mặt là “phải cho khách hàng thấy được giá trị của một co-working space và sẵn sàng trả tiền mua những giá trị ấy”. WS kết hợp giữa co-working space, cà phê và trung tâm đào tạo để có lượng khách khá ổn định (gồm khách uống cà phê, khách thuê không gian và học viên). “Đây cũng là khó khăn chung cho co-working space trên toàn thế giới”, Lê Tuân nói.   Ngoài ra, để có kinh phí duy trì hoạt động, WS tổ chức các sự kiện kết nối các startup có thu phí, có tài trợ, hoặc có nguồn thu từ việc bán thức ăn, đồ uống… Nhưng làm co-working space cho các startup cũng lắm đau thương. Bài học mà WS nằm lòng là phải yêu cầu đối tác tổ chức sự kiện nộp tiền đặt cọc, vì đã có hai trường hợp, một là không trả tiền, hai là hủy sát ngày diễn ra sự kiện, khiến WS phải chịu toàn bộ chi phí…   Trong thực tế co-working space còn mới mẻ với Việt Nam, nhiều không gian như Saigon Hub, Gekkospace,… ở TP.HCM phải đóng cửa chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động. Phan Đình Tuấn Anh, từ trải nghiệm làm Gekkospace, cho biết, chủ yếu vẫn phải dựa vào tài trợ cá nhân. Đây cũng là hướng chung giải quyết khó khăn của nhiều co-working space khác. Cũng vì vậy, theo Tuấn Anh, không gian làm việc phải được thiết kế theo hướng tinh giản, còn các hoạt động hỗ trợ về tiếp cận vốn, kiến thức… cho cộng đồng/người sử dụng phải sôi nổi là hai yếu tố rất quan trọng để tổ chức vận hành, hoạt động hiệu quả. Tuấn Anh còn cho rằng, co-working space đến nay vẫn là một thị trường có quá nhiều rủi ro, người mở co-working phải ký hợp đồng thuê mặt bằng dài hạn, nhưng cho thuê lại theo hợp đồng ngắn hạn, nên về lâu dài khó có thể tăng trưởng bền vững, vì vậy đến nay vẫn chưa có một mô hình nào có lãi. Đây chính là lí do khiến Tuấn Anh quyết định đóng cửa Gekkospace, chuyển sang làm dự án khác.   Đánh giá chung về thị trường co-working space TP.HCM nói riêng, Việt Nam nói chung, các “tay” thủ lĩnh đều nhìn nhận: không chỉ ở Việt Nam mà nhìn ra cả Đông Nam Á, co-working space vẫn còn  sơ khai, chỉ dừng ở mức tổ chức sự kiện, có tác dụng tiết kiệm chi phí mặt bằng; và phù hợp với những người vừa học vừa làm.   Ngoài ra, một rào cản lớn khác của mô hình này là “văn hóa khởi nghiệp Việt Nam có vẻ còn mang tính đố kị”. Theo Nguyễn Đức Hải, đó là do văn hoá Á Đông thường không thích chia sẻ các ý tưởng kinh doanh, ngại chia sẻ không gian làm việc với người lạ, ngại nghe phản biện. Có lẽ vì vậy cho đến nay, co-working space ở Việt Nam vẫn chủ yếu “phù hợp” với công ty làm về công nghệ.   Vậy tiềm năng phát triển co-working space lớn không? Có. Đó là câu trả lời của khá nhiều người sáng lập. Với kế hoạch có thể sẽ quay lại khởi động một co-working space mới vào tháng 6/2015, Nguyễn Đức Hải nhìn nhận: hi vọng 2015 là bước ngoặt cho co-working space Việt Nam, bởi hiện số lượng startup đã nhiều lên, nhu cầu tìm không gian làm việc sáng tạo với chi phí hợp lý sẽ càng cao. Còn Lê Tuân lại đánh giá cụ thể hơn: TP.HCM hiện nay có thể mở thêm một, hai co-working space nữa ở quận 2 cho người nước ngoài hoặc những nơi như Bình Thạnh để phục vụ khách hàng Việt Nam nhiều hơn…  Dừng Gekkospace để phát triển một quỹ đầu tư dành cho các dự án khởi nghiệp, Tuấn Anh cho rằng, một co-working space đúng nghĩa còn cần một hệ sinh thái khởi nghiệp với các cơ chế hỗ trợ hoàn thiện như chương trình cố vấn, nguồn vốn hỗ trợ khởi nghiệp, các dịch vụ khác như trao đổi dịch vụ, nhân sự, đào tạo… Với những “tay” làm co-working space, đây không chỉ là nơi đem lại cho người sử dụng một chỗ ngồi mà còn mang các hỗ trợ nói trên cho các dự án khởi nghiệp. Và hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam cần phải phát triển hơn với sự hỗ trợ từ Chính phủ, tài trợ từ các quỹ đầu tư mạo hiểm của các công ty công nghệ lớn…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi quyết định tương lai dầu mỏ Mỹ      Cơ quan tài nguyên của bang North Dakota tin rằng chỉ ít năm nữa bang này có thể vượt Texas và trở thành địa phương sản xuất dầu mỏ lớn nhất Mỹ.     Cho đến năm 2004 một vùng rộng lớn của bang North Dakota của Mỹ vẫn bị coi là một vùng đất hoang vu trầm lắng. Ở đây du khách có thể đi xe ô tô cả giờ đồng hồ mà không thấy bóng nhà cửa ven đường. Tiếng ồn ở vùng đất này chủ yếu là tiếng gió.  Vùng phía tây giáp với Montana là vùng đất rộng 4.000 km2, một trong những vùng đất hoang vu, không một bóng người, tại đây du khách có thể chứng kiến bầy trâu rừng ung dung gặm cỏ.      Nhưng giờ đây, bang ở vùng cực bắc, vùng đất đặc trưng của Mỹ, đang có sự thay đổi triệt để. Dầu mỏ là lý do cho sự thay đổi này.  Trên con đường cao tốc trước đây ít năm còn thưa thớt xe cộ nay hàng ngày có hàng nghìn xe tải chạy rầm rầm. Ngồi trong ô tô khi băng qua những ngọn đồi, người ta có thể nhìn thấy những đốm lửa cao hàng mét, đó là khí từ trong lòng đất thoát ra và bị đốt bỏ từ những dàn khoan dầu.      Khí đốt ở khu vực Bakken bùng cháy vì không thể chuyển đi, lượng khí đốt này song hành cùng với việc khai thác dầu mỏ.   Sự bùng nổ dầu mỏ đã mang lại cho bang North Dakota thêm một biệt danh “Kuwait trên thảo nguyên”.  Cũng như Kuwait, trong tương lai, vùng đất này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh dầu khí trên thế giới. Cơ quan tài nguyên của bang tin rằng chỉ ít năm nữa North Dakota có thể vượt Texas và trở thành địa phương sản xuất dầu mỏ lớn nhất Mỹ. Theo dự đoán, sâu trong lòng đất khoảng 3 km, dưới lớp cỏ trên thảo nguyên, có chừng 500 đến 900 tỷ thùng dầu mỏ.    Trâu rừng ung dung gặm cỏ ở North Dakota.  Phòng thí nghiệm cho cả thế giới  Tuy nhiên, sự phát triển ở North Dakota không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với nước Mỹ: công nghệ mà các doanh nghiệp và các nhà khoa học đang thử nghiệm tại đây có thể dẫn đến một sự bùng nổ dầu mỏ mới trên thế giới. Từ khoảng 10 năm nay, các doanh nghiệp ở North Dakota khai thác dầu mỏ từ vùng đất có sự hình thành địa chất mang tên là Bakken. Vùng đất này có diện tích gấp rưỡi nước Đức và hình thành từ đá phiến.  Theo một nghiên cứu của viện chính sách IHS của Mỹ thì các quốc gia bên ngoài nước Mỹ có khoảng 146 vùng đá phiến tương tự với số lượng dầu mỏ có thể khai thác là 300 tỷ thùng, đủ để cung cấp cho nhân loại xăng dầu, xăng máy bay và các nguyên liệu hóa chất với mức tiêu thụ như hiện nay 10 năm liền. Từ đá phiến ở North Dakota với công nghệ hiện nay, các doanh nghiệp có thể khai thác từ 25 đến 45 tỷ thùng. Đây sẽ là sự bùng nổ lớn nhất về khai thác dầu mỏ trong lịch sử gần đây.  Vì vậy những công nghệ được áp dụng thành công tại đây có thể trở thành hình mẫu cho toàn cầu. Và cả những tác động đến môi trường và khí hậu do khai thác dầu không theo quy ước cũng bộc lộ đầu tiên tại đây.   Sự bùng nổ dầu mỏ cách đây chín năm xuất phát từ đôi bàn tay của ông Wayne Biberdorf. Biberdorf sống ở thị xã Williston – tại đây khách thăm vẫn gặp vị kỹ sư đã về hưu ở trung tâm đào tạo công nhân dầu khí thuộc một trường đại học của địa phương. Ông mặc quần Jeans, sơ mi kẻ sọc, chòm râu bạc và đầu đội mũ cầu thủ bóng chày.  Biberdorf sống nhiều năm tại các dàn khoan dầu và tham gia tiến hành hàng trăm mũi khoan, trong đó có mũi khoan vào mùa thu năm 2004. Hồi đó, ông làm việc trong một container có lò sưởi của doanh nghiệp dầu mỏ Hess, ngoài trời rét thấu xương. Biberdorf điều khiển mũi khoan 12 giờ đồng hồ mỗi ngày và đằng đẵng như vậy ba tháng trời liên tục.  Ngày nay, những người kế nghiệp ông làm việc trên bàn phím. Một số làm việc theo kiểu điều khiển từ xa của phi công điều khiển máy bay không người lái, họ ngồi tại trung tâm tập đoàn ở Houston thuộc bang Texas, cách miền nam North Dakota 2.500 km. Thời gian tiến hành một mũi khoan trước là ba tháng, nay chỉ còn 20 ngày. Sau đó, xe tải chuyển dàn khoan đã tháo dỡ thành nhiều bộ phận để đi đến các địa điểm khác. “Giờ đây mọi việc diễn ra như trên băng chuyền,” Biberdorf nói.  Mùa đông 2004, sau khi ông và các đồng nghiệp khoan sâu 2 km vào lòng đất, họ thận trọng chuyển mũi khoan theo chiều ngang. Trên con đường đi song song với mặt đất, mũi khoan chọc vào lớp đá phiến khoảng vài trăm mét. Khả năng khoan ngang là bước ngoặt tạo ra sự bùng nổ ở Bakken.      Sau khi những người thợ tống những cái ống theo đường khoan đi xuống lòng đất thì hàng chục chiếc xe tải khổng lồ chở tới nửa triệu lít nước kéo tới. Máy bơm bơm nước trộn cát và các loại hóa chất vào lòng đất. lỗ khoan to bằng lòng bàn tay kéo dài hai km chịu sức ép lớn đến mức tạo ra một cái rãnh dài trong lớp đá phiến. Phương pháp này có tên là Fracking được áp dụng lần đầu ở North Dakota và đưa được một lượng lớn dầu mỏ lên mặt đất. Dầu mỏ hơi sánh, trông như Coca-Cola và mầu sắc cũng vậy.  Hồi đó phương pháp Fracking tuy đã được áp dụng thành công trong việc khai thác khí đốt, thí dụ như ở bang Pennsylvania, tuy nhiên không có gì chắc chắn sẽ thành công ở North Dakota.  Ngay từ năm 1952, các doanh nghiệp dầu mỏ đã biết về sự có mặt của dầu mỏ trong đá phiến, khi các nhà địa chất phát hiện hình thái Bakken tại một trang trại cùng tên. Vấn đề ở chỗ, khi đó chưa có phương pháp kỹ thuật nào có thể đưa dầu mỏ kết dính với lớp đá phiến lên trên mặt đất.  Vì vậy các doanh nghiệp dầu tập trung vào việc khai thác dầu mỏ ở dạng lỏng mà người ta đã phát hiện ở sâu bên dưới lớp đá phiến trong lòng đất.  Cho đến những năm tám mươi, việc khai thác dầu mỏ ở North Dakota diễn ra trôi chảy. Sau đó các mỏ dầu ở đây bị bơm đến cạn kiệt. Các doanh nghiệp kéo nhau ra đi. Hàng ngàn lao động bị thất nghiệp và họ cũng rời thảo nguyên.  Hồi đó Lynn Helms cũng như Wayne Biberdorf làm việc cho hãng dầu Hess ở New York. Trong cuộc khủng hoảng này, nhà địa chất chuyển sang làm việc cho Cơ quan quản lý khoáng sản của nhà nước. Hồi đó cơ quan này chẳng có tiếng tăm gì, nhân viên rảnh rỗi suốt ngày ngồi tán chuyện và uống cà phê. Những giếng khoan mà họ phải quản lý có thể đếm trên đầu ngón tay. Tình hình cứ thế trôi đi suốt hai chục năm.      Giờ đây nhà địa chất Helms là nhân vật quan trọng đứng hàng thứ hai sau thống đốc bang Jack Dalrymple.  Trong số 9.400 mỏ dầu đang hoạt động thì hầu như không có mỏ nào không có giấy phép do ông Helms cấp. Mỗi ngày tại đây khai thác 900.000 thùng dầu, do đó North Dakota trở thành nơi khai thác dầu mỏ lớn hàng thứ hai ở Mỹ, sau Texas.  Dầu mỏ mang lại sự thịnh vượng cho vùng thảo nguyên: Năm 2012 North Dakota có mức tăng trưởng kinh tế là 14%. Ở khu vực Bakken hầu như không có người thất nghiệp, hoàn toàn khác với phần còn lại của nước Mỹ đang sống dở chết dở vì khủng hoảng kinh tế. Lương ở đây khá cao, lương lái xe tải một năm lên đến 100.000 đôla.  Nhiều doanh nghiệp thất bại  Khi đề cập lịch sử phát triển mang tính bùng nổ của vùng Bakken, nhà địa chất Helms cho rằng trước hết phải nói đến lịch sử tiến bộ kỹ thuật của ngành công nghiệp dầu mỏ.   Sau khi sự bùng nổ dầu mỏ lần thứ nhất bị đột ngột chững lại trong những năm tám mươi, một số doanh nghiệp tìm cách khai thác dầu từ đá phiến bằng cách tiếp tục khoan thẳng xuống lòng đất. Song lượng dầu mà họ thu được chẳng là bao.  Tình hình vẫn không tiến triển cho đến khi các kỹ sư tìm cách áp dụng phương pháp fracking khoan xuyên qua lớp đá phiến. Một số doanh nghiệp ở Montana đã thành công với công nghệ này, nhưng “ở North Dakota, các lớp đá phiến lại quá khác nhau,” Helms giải thích.  Mùa đông năm 2004 Wayne Biberdorf đã thực hiện các mũi khoan ngang và tạo ra sự đột biến.     Sản xuất dầu mỏ ở vùng Bakken. Biểu đồ phía dưới là sản xuất ở các mỏ dầu theo kiểu thông thường, mầu xanh là khai thác từ các lớp đá phiến.  Tiến bộ kỹ thuật còn tiếp diễn. Ông Helms kể, thời kỳ đầu các doanh nghiệp chỉ lấy được khoảng 1% dầu trong lòng đất, nay tăng lên từ 5 đến 7%. Được như vậy một phần là do có sự hiểu biết cặn kẽ hơn về cấu tạo địa chất ở vùng Bakken.  Thời kỳ đầu, người ta khoan theo kiểu ăn may. Qua áp lực và nhiệt độ người ta có thể biết vị trí mũi khoan. Giờ đây các nhân viên của Helms đã lập bản đồ dưới lòng đất của bang và mức độ chính xác tới hàng mét.   “Khoan, khoan và khoan”  Người ta không thể đơn giản sao chép phương pháp công nghệ này để áp dụng cho các địa bàn khác. Dầu mỏ ở hình thái Bakken chịu một áp lực rất lớn vì bên trên và bên dưới là một lớp đất sét tạo thành một khoang trống khép kín. Khi thực hiện công nghệ fracking thì dầu trong lớp đá phiến tự trào lên mặt đất. Ở các hình thái đá phiến khác, nhiều khi không có sức nén này và người ta phải dùng bơm để đưa dầu lên do đó giá thành khai thác cao hơn nhiều.   Trước kia trên mỗi dàn khoan chỉ có một giếng khoan, ngày nay có tới tám giếng và trong tương lai có thể lên 16 giếng vì thế lượng dầu khai thác trên đơn vị một hecta cũng tăng đáng kể.  Do liên tục phát huy sáng kiến cải tiến nên theo Lynn Helms, trong thời gian tới, tỷ lệ dầu khai thác được từ lòng đất có thể đạt 15%. Điều này có nghĩa là tăng gấp đôi tỷ lệ khai thác hiện nay. Cứ khai thác thêm được một phần trăm sẽ tăng thêm doanh thu một năm khoảng 100 tỷ đôla.  Một trong những ẩn số lớn nhất đối với sự bùng nổ dầu đá phiến ở North Dakota, và cả ở các bang khác của Mỹ như Texas, Arkansas, Wyoming và West Virginia: sự bùng nổ này kéo dài bao lâu? Cục Địa chất Mỹ dự báo chậm nhất sau mười năm nguồn tài nguyên này sẽ cạn kiệt.     Khai thác dầu từ đá phiến ở Mỹ. Sản lượng ở Bakken có thể giảm từ sau năm 2020.  Nếu như vậy thì hầu hết chi phí cho các mũi khoan, thường lên tới nhiều nhất là mười triệu đôla, chỉ sau một năm là thu hồi vốn. Nhưng muốn cho sự khai thác dầu từ đá phiến trở thành lâu dài và tạo ra được một sự hồi sinh của dầu mỏ thì tuổi thọ của các giếng dầu phải dài hơn. Bên cạnh việc áp dụng các công nghệ mới để tăng cường tỷ lệ khai thác thì trong tương lai, theo Lynn Helms nhất thiết phải thực hiện “khoan, khoan và tiếp tục khoan” Trong những năm tới ở North Dakota sẽ có tổng cộng 45.000 giếng dầu mới.  Nhu cầu về vật tư và tài nguyên phục vụ khai thác dầu cực kỳ lớn. Để có thể fracking một mũi khoan cần có 800 lượt xe tải chở nước cỡ lớn. Ngoài ra cần một khối lượng lớn cát và vật liệu xây dựng.   Lượng nước bơm vào lòng đất sau nhiều tháng sẽ truồi lên bề mặt và kéo theo các tạp chất trong đó có muối và các độc tố và chất phóng xạ. Lượng nước này phải được thu gom và dùng xe vận chuyển đến địa điểm xử lý.  Thảm họa ống dẫn dầu lịch sử   Để giảm lượng xe tải, người ta xây dựng một mạng lưới đường ống dày đặc như mạng nhện ở North Dakota phục vụ việc vận chuyển dầu mỏ, khí đốt, nước sạch và nước thải. Trong bốn năm qua, 88.000 km đường ống đã được lắp đặt và nhiều nghìn km nữa sẽ tiếp tục được triển khai.  Lượng xe tải có giảm nhưng vẫn xẩy ra các vụ tai nạn nghiêm trọng, nhất là trong mùa đông. Ngay cả hệ thống đường ống cũng không phải là không ẩn chứa hiểm nguy.  Mới đây đã xẩy ra một vụ rò rỉ dầu từ đường ống ở gần thị trấn Tioga và đây là vụ tai họa dầu mỏ lớn nhất trong lịch sử North Dakota: khoảng ba triệu lít dầu tràn ra một khu vực hoang vắng trong nhiều ngày liền trước khi được phát hiện.  Bên cạnh nguy cơ đối với môi trường còn có một vấn đề được đặt ra là liệu tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể bảo đảm để sự bùng nổ kéo dài hàng chục năm nữa hay không. Một vấn đề khá đơn giản có thể làm cho bữa tiệc tài nguyên ở “Thảo nguyên Kuwait” bị dừng đột ngột, liên quan đến giá dầu cao hiện nay: ở Bakken, giá thành một thùng dầu mỏ từ 35 đến 60 đôla. Nếu giá dầu hiện nay là 114 đôla/thùng quay lại mức giá năm 2003 là 30 đôla/thùng thì coi như cơn sốt dầu sẽ nguội lạnh ngay.   Những người chơi mới  Hiện Trung Quốc và Argentina đang tiến hành thử nghiệm những mũi khoan vào đá phiến để khai thác dầu. Một số doanh nghiệp đang nhòm ngó Bắc Phi.  Một điều có thể khẳng định, bắt chước Mỹ không phải chuyện dễ. Vì ở bên ngoài nước Mỹ thường thiếu hạ tầng cơ sở và thiếu nguồn nước để thực hiện công nghệ fracking. Ngoài ra vùng núi non hiểm trở hay sa mạc mênh mông cũng là điều cản trở việc khai thác.   Tuy nhiên theo tấm gương North Dakota thì ta thấy các doanh nghiệp bao giờ cũng tìm được lối đi dẫn đến sản phẩm của họ – cho dù có khó khăn đến mấy. Vấn đề khác được đặt ra là liệu người dân có ủng hộ việc khai thác dầu kiểu này hay không?  Tại North Dakota ảnh hưởng tới môi trường, cảnh quan hết sức rõ rệt, cho dù ở đây dân cư rất thưa thớt. Khung cảnh một nước Mỹ nguyên thủy đẹp như tranh đang dần dần bị công nghiệp hóa. Các doanh nghiệp đã phát hiện ra những vùng đất hoang dã cuối cùng để khai thác cho mình, nơi bầy trâu rừng đang ung dung gặp cỏ.   Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi sản xuất thủy tinh đầu tiên trên thế giới ?      Ngày nay, thủy tinh là vật dụng thông thường có mặt trong mọi gia đình. Nhưng đâu là nơi khởi sinh ra nó? Cho đến nay vẫn là điều mà các nghiên cứu liên ngành của khảo cổ học hiện đại và ngành khoa học vật liệu đang truy tìm.      Ở Lebanon, nhiều gia đình vẫn còn chế tác thủy tinh dựa trên kỹ thuật của người Phoenicia cổ đại. Nguồn: middleeasteye.net  Hàng ngàn năm trước, các vị pharaoh của vương triều Ai Cập cổ đại đã dùng nhiều đồ thủy tinh trong cuộc sống, ngay cả khi đã qua đời, và để lại những mẫu vật tuyệt đẹp cho các nhà khảo cổ khám phá. Lăng mộ của Vua Tutankhamen chứa bảng viết trang trí và hai giá gác đầu làm từ thuỷ tinh đặc, hẳn nó đã từng nâng giấc cho những vị vua say ngủ. Trên mặt nạ tang lễ của ngài, người ta khảm thủy tinh xanh xen lẫn vàng xung quanh.  Nhưng vẫn còn nhiều nghi vấn về loại vật liệu quan trọng này. Miếng thủy tinh đầu tiên được tạo thành ở đâu? Nó được làm ra, nhuộm màu và được truyền đi như nào trong thế giới cổ đại? Dẫu nhiều điều vẫn chìm trong bí ẩn nhưng trong vài thập niên qua, các kỹ thuật khoa học vật liệu và việc tái phân tích các hiện vật khai quật được trong quá khứ đã bắt đầu hé lộ thêm thông tin chi tiết.   Kết quả là, việc phân tích này mở ra cánh cửa tới cuộc sống của các nghệ nhân, nhà buôn và các vị vua từ thời đồ đồng, cũng như những mối giao thương quốc tế.   Một quá khứ dễ lẫn lộn  Ở thời cổ xưa lẫn hiện đại, thủy tinh thường được làm từ silic dioxit hay silic, có đặc trưng là các nguyên tử hỗn độn. Trong thạch anh tinh thể, các nguyên tử được sắp xếp một cách đều đặn và ổn định theo cùng một khuôn mẫu nhất định. Nhưng trong thủy tinh, các khối cơ bản tương tự – một nguyên tử silic kết cặp với các nguyên tử oxy – lại được xếp một cách hỗn loạn.  Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hạt thủy tinh có niên đại sớm nhất vào thiên niên kỷ III TCN. Lớp men dựa trên cùng một chất liệu và công nghệ ngày trước vẫn còn. Nhưng vào Cuối thời đại đồ đồng — năm 1600 đến 1200 TCN — việc sử dụng thủy tinh dường như đã thực sự phổ biến ở Ai Cập, thời kỳ Mycenae của Hy Lạp và Lưỡng Hà, còn được gọi là Cận Đông (nằm ở khu vực ngày nay là Syria và Iraq).  Không giống ngày nay, thủy tinh thời đó thường mờ đục và lẫn màu. Người ta nghiền nhỏ các viên thạch anh để lấy được khoáng chất silic, chứ không phải làm thủy tinh bằng nguyên liệu cát. Những người cổ đại thông minh đã tìm ra cách hạ nhiệt độ nóng chảy của thạch anh vụn xuống mức có thể đạt được trong các lò nung thời đại đồ đồng: Họ sử dụng tro của thực vật sa mạc có hàm lượng muối cao như natri carbonat hoặc bicarbonat. Vôi (canxi oxit) có trong các loại thực vật này làm cho thủy tinh bền hơn. Các nhà sản xuất thủy tinh cổ đại cũng bỏ thêm vào các vật liệu mang lại màu sắc cho thủy tinh, chẳng hạn như coban cho ra màu xanh đậm, hoặc hợp kim chì antimon cho màu vàng. Các thành phần hòa vào nhau trong quá trình tan chảy, đóng góp những manh mối hóa học mà các nhà nghiên cứu ngày nay đang tìm kiếm.  Khoa học vật liệu của thời hiện đại có thể sẽ mở lối cho chúng ta khám phá lịch sử của thủy tinh. “Chúng ta có thể bắt đầu phân tích các nguyên liệu thô dùng để sản xuất thủy tinh, rồi đưa ra giả thuyết xem nó đến từ nơi nào trên thế giới” — theo nhà khoa học vật liệu Marc Walton thuộc Đại học Northwestern ở Evanston, Illinois, đồng tác giả của một bài báo về khoa học vật liệu, hiện vật khảo cổ và tác phẩm nghệ thuật trong tạp chí Annual Review of Materials Research năm 2021.   Nhưng những manh mối đó chưa đủ sức dẫn các nhà nghiên cứu đi xa. Vào khoảng 20 năm trước, khi Andrew Shortland, tại Đại học Cranfield ở Shrivenham, England cùng đồng nghiệp bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của thủy tinh, thì dường như thủy tinh từ Ai Cập, Cận Đông và Hy Lạp có sự tương đồng về mặt hóa học, do đó với các kỹ thuật phân tích thời điểm đó cũng khó phân biệt chúng.  Chỉ có một ngoại lệ là thủy tinh màu xanh lam. Nhờ nghiên cứu của nhà hóa học người Ba Lan Alexander Kaczmarczyk vào những năm 1980, nhóm của Shortland đã phát hiện ra các nguyên tố như nhôm, mangan, niken và kẽm cùng với coban tạo cho thủy tinh màu xanh thẳm. Kiểm tra các nguyên tố này, nhóm của Kaczmarczyk thậm chí còn lần theo quặng coban được dùng để tạo màu xanh lam tới nguồn khoáng sản của nó trong các ốc đảo Ai Cập.     Đường giao thương và các địa điểm tạo tác thủy tinh ở thời đại đồ đồng.    Tiếp bước từ nơi Kaczmarczyk dừng lại, Shortland bắt đầu tìm hiểu cách người Ai Cập thao tác với quặng coban từ thời cổ đại. Trong phòng thí nghiệm, Shortland và các đồng nghiệp đã tái tạo một phản ứng hóa học mà những người thợ thủ công cuối thời đại đồ đồng có thể đã sử dụng để tạo ra một chất màu phù hợp. Và họ đã tạo ra một tấm thủy tinh màu xanh đậm, đồng màu với thủy tinh màu xanh Ai Cập.  Sau này, một phương pháp tương đối mới là cắt bỏ bằng laser cảm ứng kết hợp khối phổ (LA-ICP-MS) đã cung cấp nhiều hiểu biết sâu sắc hơn. Kỹ thuật này sử dụng tia laser để lấy ra một hạt vật chất cực nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy sau đó sử dụng khối phổ để đo một loạt các nguyên tố, tạo ra dấu ấn hóa học cho mẫu.  Dựa trên phương pháp này, vào năm 2009, Shortland, Walton cùng đồng sự đã phân tích các hạt thủy tinh cuối thời đại đồ đồng được khai quật tại một số di chỉ của Hy Lạp. Các phân tích cho thấy thủy tinh Hy Lạp mang đặc trưng của vùng Cận Đông hoặc Ai Cập, củng cố ý tưởng cho rằng Hy Lạp đã nhập khẩu thủy tinh từ cả hai nơi. Thủy tinh Ai Cập thường có lượng lantan, zirconium và titan cao hơn, trong khi thủy tinh Cận Đông hay có nhiều crom hơn.  Nơi khởi nguồn nghề sản xuất thủy tinh?  Nhưng giữa hai ứng cử viên chính: Cận Đông và Ai Cập thì những mảnh thủy tinh đầu tiên được tạo ra ở đâu? Trong ít nhất 100 năm, các nhà nghiên vẫn chưa thể ngã ngũ, bởi vì nhiều nguyên do.  Dựa trên một số hiện vật thủy tinh đẹp, được bảo quản tốt có niên đại khoảng 1500 TCN, ban đầu người ta đánh giá Ai Cập cao hơn. Đến những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã đặt cược vào Cận Đông, sau khi các nhà khai quật tìm thấy vô số thủy tinh được cho là có niên đại từ những năm 1500 TCN tại Nuzi, từng là một thị trấn vào cuối thời đại đồ đồng ở Iraq.      Một việc nữa khiến cho việc phân tích chính xác nơi nào sản xuất ra thủy tinh cũng cực kỳ rối rắm. Bởi vì loại vật liệu này thường xuyên được buôn bán trao đổi, cả ở dưới dạng vật dụng hoàn chỉnh và thủy tinh thô để sau đó thợ tiếp tục chế tác.      Nhưng ngay sau đó, một cuộc tái phân tích các văn bản khảo cổ cho thấy hiện vật thủy tinh phát hiện ở Nuzi có niên đại muộn hơn ước tính từ 100 đến 150 năm, còn ngành công nghiệp thủy tinh của Ai Cập trong khoảng thời gian đó đã phát triển hơn — bằng chứng này một lần nữa lại thiên về Ai Cập.  Nhưng chuyện vẫn chưa đến hồi kết thúc. Thủy tinh có thể bị suy thoái chất lượng, nhất là trong các môi trường ẩm ướt. Những hiện vật lấy từ các ngôi mộ và thị trấn cổ của Ai Cập đã tồn tại hàng thiên niên kỷ, nhờ môi trường bảo quản gần như lý tưởng của sa mạc. Trong khi đó thì thủy tinh Cận Đông chịu bất lợi hơn do được khai quật từ các ngôi mộ nằm trên các vùng đồng bằng ngập nước ở Lưỡng Hà, lại thường xuyên bị ngấm nước.  Rất khó xác định niên đại loại thủy tinh bị giảm giá trị này. Và có thể nhiều thủy tinh tương tự không được chú ý trong quá trình khai quật. “Tôi nghĩ rằng rất nhiều mảnh thủy tinh gần như đã biến mất hết,” Shortland cho biết. “Các cuộc khai quật trước đây thường không để tâm nhiều tới những món đồ thủy tinh cũ kỹ bong tróc hỏng nát bằng những hiện vật khác”.  Một việc nữa khiến cho việc phân tích chính xác nơi nào sản xuất ra thủy tinh cũng cực kỳ rối rắm. Bởi vì loại vật liệu này thường xuyên được buôn bán trao đổi, cả ở dưới dạng vật dụng hoàn chỉnh và thủy tinh thô để sau đó thợ tiếp tục chế tác.   Theo dấu những dòng giao thương   Thủy tinh giúp gắn kết các đế quốc cổ xưa lại với nhau, theo nhà khoa học vật liệu khảo cổ Thilo Rehren tại Viện Cyprus ở Nicosia. Ông đã nghiên cứu tay nghề thủ công đằng sau những hiện vật lấy từ lăng mộ của Vua Tut. Các kho báu cổ cuối thời đại đồ đồng hé lộ sự trao đổi ngà voi, đá quý, gỗ, động vật, con người, v.v., và tuy chúng ta chưa hiểu được hết vai trò của thủy tinh trong tục lệ ban tặng và cống nạp này, thì thành phần của các hiện vật cũng cho thấy đã có sự trao đổi thủy tinh.  Trong một chiếc vòng cổ bằng hạt thủy tinh được khai quật ở Gurob, Ai Cập, một khu vực được cho từng là cung điện hậu cung, Shortland cùng các đồng nghiệp đã tìm thấy dấu hiệu hóa học liên quan đến Lưỡng Hà: hàm lượng crom tương đối cao. Vị trí của chuỗi hạt ngụ ý rằng vật trang sức này có lẽ được tặng cho Pharaoh Thutmose III cùng những phụ nữ vùng Cận Đông đã trở thành thê thiếp của ngài.     Thủy tinh xanh được khai quật ở Uluburun.   Vào đầu những năm 1980, các thợ lặn cũng tìm thấy một di chỉ đầy những hiện vật thủy tinh của một cuộc trao đổi tương tự như vậy trong một con tàu đắm tên là Uluburun, có niên đại từ những năm 1300 TCN, ở ngoài khơi bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. Phân tích đồ vật trong con tàu này cho ta thấy nền kinh tế toàn cầu – đây có thể là con tàu của người Phoenicia trong một chuyến viễn chinh dâng tặng phẩm, con tàu này vận chuyển các mặt hàng từ khắp nơi: ngà voi, đồng, thiếc, thậm chí cả hổ phách từ vùng Baltic. Từ xác tàu, các nhà khai quật đã lấy được rất nhiều thủy tinh màu — 175 khối thủy tinh bán thành phẩm, được gọi là phôi, để làm thủy tinh.  Hầu hết các phôi đều có màu xanh đậm coban, nhưng con tàu cũng mang theo các phôi màu tím và xanh ngọc. Jackson cùng các đồng nghiệp đã bào ra vài mảnh nhỏ của ba phôi và báo cáo vào năm 2010 rằng các khối thủy tinh thô có nguồn gốc từ Ai Cập, dựa trên nồng độ của kim loại vi lượng.  Một lý do khác khiến việc xác định các địa điểm sản xuất thủy tinh khó khăn là thông thường việc tìm xưởng sản xuất chế tạo hiện vật sẽ đi liền với các dấu hiệu như xỉ thải, nhưng quy trình này lại chỉ tạo ra ít rác thải. Rehren và nhà khảo cổ học Edgar Pusch đã tìm kiếm những dấu tích này để hòng phát hiện ra dấu hiệu của một xưởng sản xuất thủy tinh cổ xưa ở kinh đô của Pharaoh Ramses II vào những năm 1200 TCN (là Qantir, Ai Cập ngày nay) từ khoảng 20 năm về trước.  Rehren và Pusch thấy nhiều bình chứa có một lớp vôi dày, lớp này sẽ hoạt động như một vách ngăn chống dính giữa thủy tinh và gốm, giúp dễ dàng nhấc thủy tinh ra ngoài. Một số bình chứa có thể được dùng để làm thủy tinh chứa thủy tinh bán thành phẩm màu trắng, trông sủi bọt. Rehren và Pusch cũng liên kết màu sắc của các bình gốm với nhiệt độ nung chúng trong lò. Ở khoảng 900oC, các nguyên liệu thô được nấu chảy để tạo ra loại thủy tinh bán thành phẩm đó. Có một số nồi nung có màu đỏ sậm hoặc đen, cho thấy chúng đã được nung đến ít nhất 1.000oC-nhiệt độ đủ cao làm tan chảy hoàn toàn thủy tinh và nhuộm đều màu để tạo ra phôi thủy tinh.   Tuy nhiên, vấn đề là dù các nhà khoa học xác định có thể đây là bằng chứng rõ rệt cho thấy có sản xuất thủy tinh tại đó nhưng không ai biết quá trình tạo tác diễn ra như thế nào.   Kể từ đó, Rehren cùng đồng nghiệp đã tìm thấy bằng chứng tương tự về việc chế tạo thủy tinh và sản xuất phôi ở các địa điểm khác, bao gồm thành phố sa mạc cổ Tell el-Amarna, gọi tắt là Amarna, đây là thủ đô của Akhenaton trong những năm 1300 TCN. Và họ nhận thấy một mẫu thú vị. Trong nồi nấu kim loại của Amarna chỉ có những mảnh thủy tinh màu xanh coban xuất hiện. Nhưng tại Qantir, nơi đồng đỏ cũng được dùng để tạo ra màu đồng thiếc, những chiếc nồi nung được khai quật chủ yếu chứa các mảnh thủy tinh màu đỏ. Tại Qantir, nhà Ai Cập học Mahmoud Hamza thậm chí đã khai quật được một phôi thủy tinh lớn màu đỏ bị ăn mòn vào những năm 1920. Và tại một địa điểm có tên là Lisht, người ta tìm thấy những chiếc nồi nung còn chứa các mảnh thủy tinh chủ yếu có màu xanh ngọc.  Rehren cho biết, sự đơn sắc của hiện vật ở các di chỉ gợi ý rằng có thể mỗi khu xưởng chuyên về một màu. Có một điều đặc biệt là tại Amarna, các thanh thủy tinh được khai quật từ địa điểm này-có thể được làm từ các phôi nung chảy lại — có nhiều màu sắc khác nhau, củng cố ý tưởng rằng các phôi thủy tinh màu được vận chuyển và buôn bán để chế tác thủy tinh tại nhiều địa điểm.  Những mảnh ghép ít ỏi từ quá khứ   Khi tiếp tục khám phá nguồn gốc thủy tinh ở Amarna, các nhà khảo cổ học lại phải lần ngược lại trong một đống thông tin bị nhiễu do những khai quật từ cả trăm năm trước bỏ sót nhiều thông tin.   Năm 1921 – 1922, một nhóm người Anh do nhà khảo cổ học Leonard Woolley dẫn đầu đã khai quật Amarna. Nhưng một trăm năm nhìn lại, nhà Ai Cập học và khảo cổ học Anna Hodgkinson tại Đại học Tự do Berlin cho biết: “Nói thẳng là ông ta đã phá hỏng hết cả. Vì vội vàng và tập trung vào những phát hiện hào nhoáng hơn, Leonard Woolley đã không thực hiện hoạt động khảo cứu lại các nguồn sử liệu về thủy tinh. Khai quật vào năm 2014 và 2017, Hodgkinson và các đồng nghiệp đã phải nhặt nhạnh lại các mảnh thủy tinh bị bỏ sót.   Một số hiện vật được khai quật được ở khu vực cư trú của các hộ gia đình có địa vị xã hội tương đối thấp không có lò nung – đây là một chuyện khó hiểu vì người ta vẫn giả định là ở thời cổ đại thủy tinh được có vai trò giúp thể hiện địa vị xã hội. Lật lại các tư liệu nghệ thuật cổ xưa của Ai Cập mô tả hai người thợ kim loại dùng ống thổi vào lửa, nhóm nghiên cứu đặt lại giả thiết rằng liệu những ngọn lửa nhỏ như thế có thể giúp chế tác thủy tinh hay không và họ phát hiện ra ngay cả những lò lửa nhỏ như vậy cũng có thể giúp đạt đến nhiệt độ đủ cao đủ để tạo tác thủy tinh.   Thông tin này đã giúp đảo ngược lại giả thiết ban đầu về thủy tinh, có lẽ việc chế tạo thủy tinh không phải độc quyền như các nhà nghiên cứu vẫn nghĩ. Hodgkinson suy đoán, có thể phụ nữ và trẻ em cũng tham gia vào việc này, vì cần có nhiều người giúp giữ lửa.  Rehren cũng đang suy nghĩ lại về việc thủy tinh là dành cho những tầng lớp nào, vì các thị trấn buôn bán ở Cận Đông có rất nhiều thủy tinh và một lượng lớn được chuyển đến Hy Lạp. Ông phân tích: “Với tôi thì nó không giống loại hàng hóa được hoàng gia kiểm soát chặt chẽ. Tôi tin rằng trong 5, 10 năm nữa thì chúng ta sẽ có thể lập luận rằng thủy tinh là một mặt hàng xa xỉ và chuyên dụng, nhưng không phải thứ được kiểm soát chặt chẽ”. Cao cấp, nhưng không chỉ dành cho hoàng gia.  Các nhà nghiên cứu cũng đang bắt đầu sử dụng khoa học vật liệu để theo dõi hoạt động buôn bán thủy tinh màu tiềm năng. Vào năm 2020, Shortland cùng đồng nghiệp đã báo cáo phương pháp sử dụng chất đồng vị để xác định nguồn gốc của antimon, một nguyên tố được dùng để tạo ra màu vàng hoặc có thể khiến thủy tinh mờ đục. “Phần lớn thủy tinh thời sơ khai — khởi đầu của quá trình sản xuất thủy tinh — có antimon trong đó,” Shortland cho biết. Nhưng antimon khá hiếm, khiến nhóm của Shortland băn khoăn không biết những người thợ thủy tinh cổ đại đã lấy nó từ đâu.  Họ tìm thấy các đồng vị antimon trong thủy tinh khớp với quặng chứa antimon sulfua, hoặc stibnit, từ vùng Georgia ngày nay ở Caucasus — một trong những bằng chứng tốt nhất cho nền thương mại thủy tinh màu quốc tế.  Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục xem xét niên đại của những tấm thủy tinh đầu tiên. Tuy Ai Cập vẫn nhận được phần lớn sự chú ý, nhưng còn rất nhiều địa điểm ở Cận Đông mà các nhà khảo cổ vẫn có thể khai quật để tìm kiếm các manh mối mới. Nhiều hiện vật cũ có thể giúp mang lại manh mối mới khi được phân tích lại bằng các kỹ thuật hiện đại hơn.  Kiến thức lịch sử của chúng ta về thủy tinh tiếp tục ngày một nhiều hơn, nhưng chúng ta vẫn chưa thể kết luận chắc chắn được điều gì. Rõ ràng là ngày nay, các nhà khảo cổ có ngày càng đầy đủ tư liệu thành văn hơn, hình đung được về bối cảnh văn hóa của các nền văn minh rõ ràng hơn, nhưng những vật liệu mà các nhà khai quật tìm thấy được lại chỉ là những phần nhỏ từ quá khứ, rải rác ở các địa điểm còn tồn tại đến ngày nay. □  Phương Anh lược thuật  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/a-brief-scientific-history-of-glass-180979117/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nồi sứ dùng được trên bếp từ duy nhất trên thị trường      Vào ngày 1/11 vừa qua, Công ty Minh Long I đã tổ chức lễ ra mắt màu mới của bộ nồi sứ dưỡng sinh tại Hà Nội.    Bên cạnh màu xanh rêu truyền thống được giới thiệu vào năm 2018 (mà theo theo ông Lý Ngọc Minh, người sáng tạo ra sản phẩm này, màu sắc đó gửi gắm thông điệp “vì sức khỏe” bởi rêu chỉ mọc ở những nơi trong lành, không ô nhiễm), giờ đây bộ nồi này có thêm màu đỏ và xám. Sở dĩ, phải mất ba năm mới công ty này mới cho ra màu sắc mới là bởi mỗi màu sắc đều được tạo nên bởi các thành phần kim loại khác nhau, có thể thay đổi tính dẫn nhiệt, độ sốc nhiệt, độ bền…của nồi, đòi hỏi phải có một quá trình thử nghiệm và đánh giá lâu dài. Trên thực tế, các hãng nồi sứ của Châu Âu và Mỹ hiện nay đa số chỉ lưu hành một màu duy nhất.  Đầu bếp biểu diễn nấu ăn trên chiếc nồi sứ dưỡng sinh màu mới (đỏ và xám) của Minh Long I. Ảnh: Fanpage Gốm sứ Minh Long.  Các nồi sứ vốn không thể dùng trên bếp từ. Nhưng Minh Long I lại có một dòng nồi sứ riêng dùng cho loại bếp này. Kĩ thuật sản xuất nồi từ inox thông thường, là gắn một miếng sắt vào đáy nồi, không thể áp dụng trực tiếp với nồi sứ. Ông Lý Ngọc Minh đã tìm ra được kĩ thuật lựa chọn đất làm nồi và pha trộn vật liệu chứa sắt làm đế từ sao cho hai thành phần này giãn nở cân bằng, khiến nồi không bị vỡ khi nấu ở nhiệt độ cao.  Ông Lý Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Minh Long chia sẻ về quá trình làm ra bộ nồi sứ. Ảnh: Fanpage Gốm sứ Minh Long.  Trải qua hàng nghìn năm văn minh của con người, nồi làm từ đất như gốm, sứ hiện nay vẫn được ưa chuộng trong các căn bếp khắp thế giới, đặc biệt là dùng trong lò nướng. Nồi gốm sứ nóng chậm nhưng giữ nhiệt tốt, chống dính tự nhiên, dễ dàng cọ rửa. Hơn nữa, gốm sứ là một trong số rất ít nguyên liệu sản xuất nồi gia dụng có bản chất không xúc tác với các thực phẩm có tính axit làm ảnh hưởng đến hương vị của món ăn. Điểm yếu của nồi loại này là dễ nứt, vỡ, đòi hỏi phải cẩn trọng trong lúc rửa và cất giữ. Độ sốc nhiệt của sứ cũng kém hơn so với các loại nồi kim loại khác. Cũng có lo ngại là với những màu men sặc sỡ, trong quá trình đựng thức ăn có thể rò rỉ các kim loại nặng như chì, gây độc. Tuy nhiên, sản phẩm của Minh Long hướng tới việc vừa bảo lưu, vừa nâng cao những giá trị độc đáo của đồ gốm, sứ trong nấu nướng và cũng vừa cải thiện những điểm yếu của loại nồi này. Sản phẩm này có được coi là thành quả hơn 15 năm nghiên cứu của ông Lý Ngọc Minh, nó không chỉ kế thừa, chắt lọc các kĩ thuật cũ mà còn phô diễn cả những kĩ thuật mới,  Chẳng hạn, cũng như tất cả các sản phẩm sứ từ trước đến nay, Minh Long I xử lý nguyên liệu đầu vào đạt đến độ tinh khiết để tiết kiệm nhiên liệu tối đa trong sản xuất và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng, tạo màu men rực rỡ nhưng không chứa kim loại nặng và cadium, nung ở nhiệt độ cao hơn các hãng khác đảm bảo độ bền và độ cứng của sản phẩm. Nhưng để chế tác bộ nồi này, họ còn nâng cấp kĩ thuật để đảm bảo độ sốc nhiệt của sản phẩm lên đến 8000C, bởi vậy, với dòng nồi không dùng cho bếp từ, người dùng có thể lấy nồi từ ngăn mát tủ lạnh và đặt ngay lên bếp vẫn không bị vỡ. Họ cũng lựa chọn nguyên liệu đất hiếm để làm nồi, có tính chất phát ra các bức xạ hồng ngoại khi nấu, đảm bảo thực phẩm chín đều, từ trong ra ngoài một cách từ từ và lưu lại được tối đa dưỡng chất. Kết quả kiểm nghiệm ở viện Pasteur, TP. Hồ Chí Minh cho thấy, rau của quả luộc trong nồi sứ dưỡng sinh của Minh Long giữ được đến 80% lượng vitamin so với củ quả sống.  Sau những kinh nghiệm chế tác và sản xuất bộ nồi này, họ đang đưa vào thử nghiệm khay sứ chế biến thức ăn cho các khu công nghiệp. Theo đó, từng khay sứ lớn có bốn năm để đặt nguyên liệu bốn món với lượng cho bốn suất ăn, chỉ cần đưa vào lò nướng công nghiệp nấu một lần trong 30’ là xong, thay vì nấu riêng từng món.  Dù bộ nồi dưỡng sinh của Minh Long I có những phẩm chất vượt trội – ông Lý Ngọc Minh không ngần ngại so sánh chất lượng món ăn nấu bằng bộ nồi này không có gì thua kém bộ nồi gang của các hãng xa xỉ ở Châu Âu, sản phẩm này vẫn còn một chặng đường dài để thuyết phục thị trường cả trong nước lẫn nước ngoài vốn đã quen thuộc với sự tiện lợi của nồi, chảo kim loại.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Nông dân Ấn Độ chống chọi với BĐKH nhờ công nghệ      Các thiết bị công nghệ mới đang giúp nông dân Ấn Độ giảm thiểu tổn thất trong trồng trọt do biến đổi khí hậu.      Năm vừa qua không phải là một năm tốt cho nông nghiệp Ấn Độ. Trong suốt mùa gieo trồng thì thời tiết hạn hán, còn giờ sắp đến mùa thu hoạch thì lại liên tiếp xảy ra mưa to.  Nhưng đối với một số nông dân như Lovepreet Singh ở bang Haryana, miền bắc Ấn Độ, thì không phải mọi thứ đều đã mất. Ông đã có được sự trợ giúp lớn từ những công nghệ mới, ví dụ như GreenSeeker – một công cụ cầm tay hoạt động như một cảm biến cây trồng.   Khi ông Singh chĩa công cụ vào một đám cây trồng, cảm biến sẽ phát ra những tia sáng đỏ và hồng ngoại. Thông qua việc đo đạc mỗi loại ánh sáng phản chiếu lại từ cây trồng, thiết bị này có thể tính toán và hiển thị tình trạng sức khỏe của cây trồng đó. Ông Singh sử dụng thiết bị này để đánh giá xem đất trên mỗi mảnh đất trồng cần bao nhiêu nitrogen.  Đây chỉ là một trong số những thiết bị ông sử dụng để hỗ trợ việc trồng trọt, thiếu chúng thì mùa màng sẽ thất bát thảm hại.   Ông cho biết, nhờ sử dụng công nghệ mà ông dự báo được thời tiết tốt hơn, từ đó có kế hoạch gieo hạt hay phun tưới cây trồng hiệu quả hơn, nếu không những vụ mưa bất chợt có thể dễ dàng cuốn trôi mọi công sức và tiền của mà ông bỏ ra.   Tuy không giúp tăng lợi nhuận nhiều nhưng sử dụng công nghệ đã giúp ông Singh giảm thiểu tổn thất.   Hầu hết người dân ở đây, như ông Singh, đều dựa hoàn toàn vào nông nghiệp để duy trì cuộc sống. Nhưng không phải ai cũng có khả năng đầu tư và những công nghệ đắt tiền như thế này. Thiết bị GreenSeeker có giá gần 40.000 rupees (680 đô-la Mỹ). Bởi vậy, hiệp hội nông nghiệp địa phương ở đây phải giúp đỡ bằng cách thu mua thiết bị và cho nông dân sử dụng miễn phí.   Họ cũng đang sử dụng một công nghệ mới khác, gọi là san lấp mặt bằng bằng la-de. Thiết bị được điều khiển bằng la-de được gắn vào máy kéo, giúp nông dân san phẳng mặt đất trồng. Phương pháp canh tác này giúp tiết kiệm từ 25-30% lượng nước trong trồng trọt.   Một phương pháp tiết kiệm nước và công sức nữa là gieo hạt trực tiếp bằng máy vào đồng lúa. Cách này thay thế cho phương pháp thông thường là ươm lúa rồi cấy cây con bằng tay.   Theo truyền thống thì nông dân Ấn Độ chi rất nhiều tiền thuê nhân công sau mỗi mùa thu hoạch để dọn những cây trồng còn dư lại. Sau đó họ đốt hàng đống phế thải này, gây ô nhiễm môi trường và tạo ra khói mù dầy đặc bay đến những thành phố như Delhi. Bây giờ, để tránh phải đốt cây trồng phế thải, thiết bị “happy seeders” đã được gắn vào các máy cày, giúp gieo hạt ngay cả khi trên cánh đồng vẫn còn lúa dư thừa. Cách này không những giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn giúp tăng chất hữu cơ và giúp kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ tốt hơn. Chính phủ đã đưa ra chính sách hỗ trợ chi phí để giúp nông dân mua thiết bị trị giá 100.000 rupees này.  Taraori là một trong mười mấy làng thuộc bang Haryana đang bắt đầu thay đổi cách làm nông nghiệp nhờ tham gia vào một sáng kiến dẫn dắt bởi tổ chức tư vấn toàn cầu Biến đổi Khí hậu, Nông nghiệp và An ninh Lương thực (CCAFS) ở Ấn Độ.   Người dân ở đây được trợ giúp để áp dụng những công nghệ “thông thái về khí hậu” để giảm thiểu những tác động của sự thay đổi về thời tiết. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng thay đổi về thời tiết có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Ấn Độ, lấy đi tương đương khoảng 9% GDP mỗi năm vào thế kỷ sau.  Bởi vậy mà chính quyền địa phương đang dần dần thay đổi các chính sách nông nghiệp để thích ứng với những thay đổi khí hậu này. Tuy không phải mọi nông dân đều đã chuyển sang sử dụng những công nghệ và kỹ thuật mới, song những thành công của một số nông dân như ở bang Haryana sẽ giúp khuyến khích chính phủ và nông dân các vùng khác học tập áp dụng công nghệ vào canh tác.   KM lược dịch  Nguồn: http://www.bbc.com/news/business-29257401      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân: Bị lấy đi nhiều hơn nhận về      Chúng tôi thực hiện bài ghi ý kiến TS Đặng  Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông  nghiệp, nông thôn, người luôn nhấn mạnh cần nhìn nhận đúng vai trò quan  trọng của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, cách đối xử với lĩnh vực  quan trọng này chưa công bằng.    Nông dân hy sinh quá nhiều  Từ đầu năm 2013 đến nay, chúng ta nói nhiều đến công lao điều hành kinh tế vĩ mô giữ cán cân thương mại ổn định, lạm phát giảm, nhưng có một điều không ai nói đến đó là phần hy sinh to lớn của nông dân. Giá lúa gạo, nông sản rẻ thê thảm, trong khi nông dân thiệt hại thì lại giúp cho rổ hàng hoá khả quan lên, lạm phát giảm đi. Lạm phát giảm nên Chính phủ có nhiều điều kiện thuận lợi để tiến hành điều chỉnh chính sách tiền tệ. Hy sinh của nông nghiệp đã bù đắp cho nợ xấu ngân hàng, khó khăn của doanh nghiệp. Trong khi đó, đáng lẽ công nghiệp hoá và đô thị hoá thì phải lấy công nghiệp có năng suất cao, giá trị gia tăng lớn để đẩy đất nước lên, sau đó quay lại bù đắp cho nông nghiệp.  Trong các chính sách các tỉnh trải thảm đỏ mời gọi đầu tư thời gian qua đã không tính đến giá môi trường, mất cân bằng trong tài nguyên. Chính chuyện hy sinh tài nguyên và môi trường mà làm cho việc phát triển công nghiệp và đô thị rất dễ dàng.  Chúng ta thấy nông nghiệp đóng góp 24% cho xuất khẩu, 20% cho GDP, nơi tạo việc làm cho một nửa lao động cả nước, nhưng tỷ trọng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp chưa được 10%, chi tiêu công cho nông nghiệp chỉ chiếm 1% trong tổng chi tiêu công. Cái chúng ta lấy đi từ nông nghiệp, nông thôn quá lớn so với trả lại cho họ.  Tương lai còn đáng lo hơn    Tốc độ tăng GDP của nông nghiệp ổn định nhưng rõ ràng so với công nghiệp thì chỉ bằng 1/3 vì năng suất lao động của công nghiệp. Nếu như thế thì đáng lý công nghiệp phải hút lao động gấp đôi, gấp ba lần. Nhưng thực tế không phải vậy vì công nghiệp ngày càng đầu tư máy móc hiện đại, nên tính đến chuyện chuyển 80% trong số 30 – 40 triệu nông dân sang công nghiệp thì không có cửa để họ đi vào đô thị.  Đất đai là tài nguyên duy nhất mà Nhà nước giao cho nông dân, nhưng 61% nông dân chỉ có dưới 0,5ha; 32% từ 0,5 – 3ha; còn nông dân sản xuất lớn rất ít. Nông dân Việt Nam chịu sức ép về công nghiệp hoá: lấy đi tài nguyên đổ chất thải trở lại, chịu sức ép của biến đổi khí hậu, thiên tai, của xâm nhập mặn, chịu cạnh tranh thương mại bất bình đẳng, sức ép của đô thị hoá. Trong khi đó nông dân phải đương đầu với giá cả biến động, không có bảo hiểm, không có thị trường giao sau, không có dự báo thị trường. Còn ốm đau thì đối mặt với tình trạng chăm sóc sức khoẻ ở nông thôn quá tệ.  Người thành thị được phòng chống thiên tai tốt hơn như triều cường đã lo nâng đường. Còn nông thôn, mỗi khi thiên tai, dịch bệnh người dân gánh chịu hết, 70% chi phí phòng chống thiên tai là do họ tự bỏ ra từ vốn liếng sản xuất ít ỏi của mình. Hơn 40% hộ gia đình nông dân khi xảy ra thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, họ không gượng dậy nổi.  Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp trong 30 năm khá tốt, e rằng từ đây chững lại. Những chính sách tức thời không giải quyết được căn cơ khi vấn đề quyết định là năng suất lao động.  Các tổ chức quốc tế dự báo 50 năm tới giá nông sản thế giới sẽ dừng lại ở mức rất cao, nhất là những nông sản sạch và chất lượng. Tuy nhiên, chúng ta đang đứng trước nguy cơ cạnh tranh về tài nguyên, ví dụ việc khai thác nước ở thượng nguồn sông Mekong, cạnh tranh về nghề cá trên Biển Đông. Trong nước thì người ta không muốn làm nông nghiệp nhưng lại đòi hỏi cao hơn về chất lượng nông sản.  Nhà nước nên giảm bớt chuyện chi tiết, đã từng diễn ra cảnh lãnh đạo đi chỉ tay nuôi con nọ, trồng cây kia, đến lúc người ta trồng, nuôi có sản phẩm bán không ra thì không thấy anh hoạch định đâu cả. Nhà nước nên tập trung xây dựng pháp lý cho thị trường, đất đai, từ đó người dân sẽ quyết định trồng gì, nuôi gì; hỗ trợ cho nghiên cứu, không cần phải viện nghiên cứu quốc gia vì trên thế giới hầu hết tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là do tư nhân nghiên cứu. Vai trò của nhà nước là đàm phán những hiệp định quốc tế, làm qui hoạch, pháp lý, những dịch vụ công như kiểm dịch, tài chính, bảo hiểm, thị trường, khuyến nông, khuyến khích những người trẻ có học thức về nông thôn. Hiện nay các bộ tranh nhau về đào tạo nghề cho nông thôn, nhưng rốt cuộc người hưởng lợi trực tiếp là nông dân thì lại trở thành đối tượng bị động.  Chúng ta đang xuất khẩu 6 – 7 triệu tấn lúa mỗi năm, nếu lùi bớt lại vẫn đảm bảo an ninh lương thực. Chúng ta phải giữ 3,8 triệu hecta đất làm lúa, nhưng có thể thay vì ba vụ lúa thì làm hai lúa – một màu, trồng thêm ngô, khoai tây, thậm chí hai màu – một lúa. Hiểu theo quy định nhà nước là không chuyển đất lúa thành đào ao. Nên chuyển sang khái niệm giữ đất nông nghiệp chứ không phải giữ đất lúa, tức là không làm sân golf, khu công nghiệp trên đất nông nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân hậu cách mạng xanh      Thực ra từ hồi cổ xuý cuộc cách mạng xanh tới giờ, ông nông dân mình đã thay đổi nhiều lắm rồi: từ kỹ thuật canh tác, giống má, phân bón, thuốc sâu… Sau nửa thế kỷ, mình lôi ông nông dân ra nói ổng làm không đúng khi so với nông nghiệp 4.0.      Sau nửa thế kỷ, mình lôi ông nông dân ra nói ổng làm không đúng khi so với nông nghiệp 4.0.  Có bữa đi họp về “Mekong Green”, ai cũng nói nông dân phải thay đổi, ra về tôi cứ băn khoăn. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nói “hậu cách mạng xanh” phải làm cho rõ ít nhất bốn cái “xanh”:  Thứ nhất là “Sản xuất xanh”: Nông dân từng theo tiêu chí GlobalGAP, VietGAP, có người thành công, nhưng cũng từng lên bờ xuống ruộng. Nói chuyện với bà con mình, họ nói làm như GAP thiếu chữ N(GAP).  Thứ hai là “Chế biến xanh”: Đâu có gì lo khi quy trình đã có doanh nghiệp chịu trách nhiệm, vấn đề là chế biến kiểu nào? Làm sao cho nhà máy không phải lên bờ xuống ruộng, vì không đủ nguyên liệu đủ chuẩn để làm.  Thứ ba là “Xuất xứ xanh”: Ai cũng chỉ nghĩ ngay tới truy xuất người sản xuất, nhưng lại không để ý tới điều người mua muốn nhấn mạnh là chuỗi, vùng miền, tính hợp pháp (thẻ vàng EU). Cái đó, bà nội trợ biết lâu rồi. Ra chợ người ta nói cá này là cá đồng, cao giá nhờ gắn xuất xứ đồng vô đó, rau này rau rừng, mắc hơn vì là loại tự nhiên, hột vịt chạy đồng bán giá khác; gà công nghiệp và gà thả vườn bán giá khác. Xuất xứ hàng hoá đối với người dân không có lạ, nhưng ai là người giữ xuất xứ hàng hoá khi người ta chỉ cần lên mạng gõ sẽ thấy Việt Nam là nước sử dụng thuốc sát trùng thấy ngán. Cái đó trong tay nhà nước, trách nhiệm của nhà nước. Gạo mình bán rẻ hơn Campuchia, họ đâu có cánh đồng lớn, tại sao người ta ưa chuộng vì người dùng nghĩ nó chưa thâm canh. Bây giờ nói nông dân phải thay đổi trong khi kỹ thuật canh tác, thuốc sát trùng, phân bón từ cuộc cổ xuý non nửa thế kỷ; để có sản lượng khiến đất, nước nhiễm độc, sinh thái không có chính sách bảo vệ, thực thi nghiêm túc, liệu có công bằng không?  Thứ tư là “Bữa ăn xanh”: Người mình có tiêu chí ngon, bổ, rẻ; có người nói phải thêm tiêu chuẩn sạch. Ngày xưa ông bà nói nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, chứng tỏ người xưa coi sạch là chuyện đương nhiên. Bây giờ tại sao mình đưa GAP vô mà sức phát triển vẫn èo uột, là vì không đáp ứng tiêu chuẩn ngon. Nhớ ngày nào, người ta kỳ vọng cái tủ lạnh giải phóng sức lao động phụ nữ, đi chợ một lần xài cả tuần, nhưng có tủ lạnh rồi lại thấy đồ để trong tủ lạnh, để ngăn đá đâu có ngon hơn đồ tươi. Dù giữ được tiêu chí sạch nhưng chưa chắc giữ được tiêu chí ngon. Còn làm organic bây giờ giá không rẻ, ngày xưa làm theo tự nhiên, hữu cơ đâu có gì mắc. Thử hình dung ngày xưa, có phải tự nhiên luôn là nhà cung cấp hàng tự nhiên, lành sạch cho lực lượng kháng chiến ở miền Tây dù bom đạn ác liệt? Khi mình nói làm sao có được bữa ăn xanh, làm được bốn cái xanh với một anh có tâm huyết với đồng bằng rằng về việc giảm nhập hoá chất độc hại, coi như ưu tiên hành động vì cái xanh; đừng đổ công nghệ bẩn vô đây nữa… Ảnh nói chuyện đó xa vời quá đi, trước mắt là phải thay đổi hành vi của ông nông dân. Tôi hình dung giống như anh dạy cho người lau nhà phải lau chỗ này, chỗ kia cho sạch, nhưng có cha nội mang dép dơ đi vòng vòng hoài, lau suốt đời!? Phải kêu cha nội đó bỏ dép ra ngoài. Đơn giản vậy mà sao cứ phải lý luận kiểu này kiểu kia.  Khi đã xác định chỗ này là trọng tâm sản xuất lương thực – thực phẩm quốc gia, thì đừng đưa công nghệ bàn vô đây nữa. Về lâu về dài muốn người ta nhìn anh tốt, nhà anh sạch cỡ nào nhưng kế bên đống rác, thì đi ngang nhìn vô là khó thiện cảm, mất giá trị của mình, phải dọn nó đi. Nhưng đúng là khó cho người trong hệ thống, muốn thay đổi cũng không dám. Do vậy, mình cứ phải vật lộn với hệ thống, cuối cùng thì chỉ tính loanh quanh thu nhập là dễ nghe, dễ thuyết phục nhất. Mà thu nhập có nhiều kiểu, thời thế, cầu may, êm xuôi là chuyện hay gắn với dựa dẫm, mê tín. Xã hội lẫn lộn mê tín và văn hoá, thế hệ sau không thấy cốt lõi xã hội, chiều sâu, tinh tế của người đi trước nên sống bằng bề nổi, hào nhoáng bên ngoài, chứ không giữ nét văn hoá “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”.  H.L lược ghi  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân miền Tây chế máy xuất khẩu sang Campuchia      Anh Nguyễn Văn Dũng (ấp Bình Phú, xã Bình  Thủy, Châu Phú, An Giang) tự chế máy đánh rãnh thoát nước, máy sạ mè,  máy cắt cải tiến, xe phun thuốc và máy rải phân, không chỉ nhiều người  trong vùng mà dân Campuchia cũng ưa chuộng    Năm 2007, nông dân huyện Châu Phú trồng mè đen. Cái khó khi gieo trồng mè là hạt mè quá nhỏ, việc sạ khó và lượng hao hụt lớn. Chứng kiến cảnh thất thoát ngay ở công đoạn đầu tiên này của bà con, ông nghĩ đến việc chế tạo máy sạ mè, dù kiến thức học hành chẳng được bao nhiêu.   Lại  thấy nông dân đeo bình xịt nặng nề và thuốc dễ ngấm vào người dễ mang bệnh, ông Dũng nghiên cứu, cải tiến máy bơm cũ thành máy xịt nước di động rất tiện lợi ở mọi địa hình. Máy phun xịt này còn dùng chữa cháy được ở các khu dân cư, hẻm nhỏ. Mới đây, nhiều nhà chuyển qua trồng cây đậu bắp, tốn nhiều công sạ phân, tổn thất thu hoạch và tiền thuê nhân công cắt đậu cao, rầy xanh cắn phá nên ông Dũng tìm tòi nghiên cứu tung ra 3 loại gồm máy sạ phân, máy cắt đậu bắp, máy dụ bắt rầy xanh…  Việc chế tạo bám theo sát nhu cầu của nhà nông nên đơn đặt hàng khá nhiều.  Mới đây, một  người  mua máy sạ mè đem về Lào sử dụng. Riêng máy đánh rãnh thoát nước., giá bán chỉ 25 triệu đồng, dân Campuchia rất thích.   Từ đầu năm 2015 đến nay, ông Dũng tiếp tục trình làng bốn sản phẩm mới sau một thời gian nghiên cứu chế tạo, gồm máy bắt rầy xanh cho cây đậu bắp Nhật, máy tưới tự động cho cây màu ba trong một, máy cắt cây ngô và máng uống có điều chỉnh nước phục vụ chăn nuôi bò, heo.  Máy bắt rầy xanh phá hoại cây đậu bắp vừa bắt rầy nhanh, sử dụng đơn giản, nhà nông khỏi phun thuốc diệt rầy ảnh hưởng chất lượng cây và sức khỏe. Máy cắt thân cây ngô gọn nhẹ cơ động, tiết kiệm được nhiên liệu, cắt một ha mà chỉ tốn năm lít dầu.   Hiện nay, ông Dũng đã được trang trại bò sữa Phúc An ở tỉnh Sóc Trăng mời lắp đặt các máng  nước cho trang trại.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân sáng tạo thuyền du lịch chạy bằng năng lượng mặt trời      Bốn nông dân&#160;ở Đồng Tháp đã gây bất ngờ khi sáng tạo ra chiếc thuyền du lịch chạy bằng năng lượng mặt trời. Chiếc thuyền này có ưu điểm là vận hành êm ái, không gây tiếng ồn&#160; và không ô nhiễm môi trường như các loại thuyền chạy bằng dầu hay xăng, vì vậy rất thích hợp cho việc chở khách tham quan trong các khu du lịch sinh thái và bảo tồn chim, thú hoang dã vùng ngập nước.       Sáng kiến này đã được trưng bày tại triển lãm của nông dân sáng tạo tỉnh Đồng Tháp vào cuối tháng 7/2015.   Xuất phát từ ý tưởng của ông Liêm, vốn là thợ lắp ráp pin năng lượng mặt trời cho những hộ dân vùng sâu vùng xa mà lưới điện quốc gia chưa tới được, chiếc thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời hình thành với sự góp sức của ông Dũng thợ cơ khí, ông Trăng, ông Hoàng thợ máy… Với sự hợp tác của bốn người, chiếc thuyền đã đân hình thành với kết cấu khá  đơn giản, động cơ chủ yếu của thuyền là hai tấm pin năng lượng mặt trời, hai bình ắc quy để nạp  năng lượng, động cơ chạy máy  đuôi tôm công suất 1,5 mã lực. Việc bổ sung bình ắc quy để phòng trời tắt nắng sẽ sử dụng năng lượng được tích trữ, trung bình mỗi bình được nạp đủ để thuyền có khả năng chạy trong ba giờ với vận tốc trung bình 20 km/giờ.   Giá mỗi bộ động cơ như vậy là 80 triệu đồng, (giá thuyền composite vào khoảng 20 triệu đồng/chiếc, có thể chở được 8 người).   Tuy giá thiết bị khá cao, nhưng không tốm kém nhiên liệu cho người sử dụng. Ưu điểm lớn khác của thuyền sinh thái là vận hành êm ái, không gây tiếng ồn và ô nhiễm môi trường, thích hợp cho các khu du lịch sinh thái và những khu bảo tồn chim, thú hoang dã vùng ngập nước.  Sau khi chứng kiến sáng kiến thuyền sinh thái, Sở KH&CN Đồng Tháp đã tiếp tục đặt hàng bốn nông dân của tỉnh thiết kế hệ thống tưới cây vận hành bằng năng lượng mặt trời để áp dụng tại các khu trồng hoa của thành phố Sa Đéc.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân sẽ không mặn mà với trồng lúa!      Những kết quả nghiên cứu thực tế của nhiều nhà khoa học về mô hình “Cánh đồng mẫu lớn liên kết bởi nông hộ nhỏ”, mô hình “Liên kết trực tiếp và thường xuyên giữa doanh nghiệp với nông dân ở An Giang’; “Ngành hàng sản xuất lúa gạo xuất khẩu”; “Chuỗi giá trị gạo xuất khẩu” được phân tích khá đầy đủ về những mặt làm được và chưa làm được của cuộc đua tăng vụ…. Nghiên cứu nào cũng cho kết quả: Nông dân thua thiệt!     Khi việc tiêu thụ lúa dễ dàng bị dìm giá thì nông dân cũng cứ trồng lúa do không thể làm gì khác. Họ không biết việc làm của mình ảnh hưởng gì tới biến đổi khí hậu, chất lượng nguồn nước… Thời tiết không quá khó trước sự chọn lựa sinh kế gắn với lúa nước. Nhưng nếu nay mai Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc thi nhau làm đập thủy điện, nguồn nước trở thành tài sản riêng của các nước thượng nguồn, việc sản xuất ở hạ nguồn có muốn tăng vụ cũng không được nữa. Xâm nhập mặn sẽ làm cho việc trồng những loại cây trái khác cũng khó hơn.  Trong chuỗi giá trị lúa gạo, cái gốc là nông dân, nhưng “cái gốc” này từng bị thiệt đơn thiệt kép. Người nông dân từng là người bạn liên minh công – nông, nếu là người trồng lúa thì việc bảo đảm mức lời 30% mỗi vụ cũng đã khó. Nếu mỗi năm làm ba vụ, mức lời lý thuyến mỗi vụ 30% đã là quá thấp lại phải chịu áp lực giá leo thang liên tục, chưa kể 30-40 khoản đóng góp ở nông thôn.   Hai khoản nông dân phải đóng nặng nhất là xây dựng giao thông nông thôn và trường học, bình quân 672- 872 nghìn đồng/hộ/năm. Họ còn phải đóng góp đối ứng để thực hiện 19 tiêu chí phát triển nông thôn. Nếu trên cơ sở mỗi hộ 4 người thì một năm mỗi nông dân chỉ đạt thu nhập trung bình 4,2 triệu đồng, tương đương 200 USD. Đây cũng là thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trước thời kỳ đổi mới. Hiện nay thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là hơn 1.600 USD/năm, hay sự dãn cách về thu nhập nông thôn và thành thị ngày một nhiều.   Công cuộc tái cơ cấu nông nghiệp, bao gồm sản xuất lúa hàng hóa, có nội dung trồng cây gì, nuôi con gì, công nghệ nào đang được đề cập nhiều hơn. Tuy nhiên, hãy xem đại đa số người dân gắn bó suốt đời này sang đời khác với cây lúa.   Điều có thể lý giải vì sao nông dân ĐBSCL cứ làm lúa và tỷ lệ giống lúa gốc OM (Viện lúa ĐBSCL ở Ô Môn, lúa OM đã được cấp bằng thương hiệu quốc gia) lên 60% và giống IR50404 tới trên 21% diện tích lúa. Làm một, hai hay ba vụ lúa cũng phải tính đến thu nhập thuần của nông dân trước, rồi mới để tăng số lượng lúa hàng hóa có số gạo xuất khẩu thứ nhì trên thế giới...  Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2013 đã phối hợp với 13 Sở Nông nghiệp và PTNT khảo sát và thống kê việc sử dụng giống lúa. Kết quả cho thấy tỷ lệ diện tích dùng giống IR50404 ở tỉnh Đồng Tháp, nơi có nhiều cơ sở chế biến bánh bún, là 41 đến 58%; tỉnh dùng ít nhất thấy ở Bạc Liêu, Cà Mau: 6 – 9%; bình quân toàn vùng trên 21%.   Cứ mỗi khi xuất khẩu khó, doanh nghiệp xuất khẩu gạo lại đổ lỗi do chất lượng gạo của ta kém, giống IR50404 lại phải “lên bờ xuống ruộng”, thương lái mua “dìm giá” để bán cho doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp. Nhưng phải nói rằng dù có làm gạo thuần thì qua cái hệ thống đấu trộn của các thương nhân cũng thành gạo mà bản thân nhà xuất khẩu không bao giờ nấu cho nhà mình ăn.   Giá lúa bất lợi liên tục sẽ là nguyên nhân khiến người trồng lúa phải thay đổi. Trong ngành hàng lúa gạo, nông dân là “Gốc” của ngành hàng, nhưng gốc không bền thì làm sao ngành hàng đứng vững được.   Tất nhiên, muốn cả ngành hàng lúa gạo đạt hiệu quả cao phải làm theo lời khuyên bảo của ông cha ta: “Phi nông bất AN; Phi công bất PHÚ; Phi thương bất HOẠT; Phi trí bất HƯNG” (Lê Quý Đôn, 1726 – 1784).   Vì diện tích sản xuất lúa của mỗi gia đình lại quá nhỏ lẻ, nên muốn thu nhập cao phải luân canh tăng vụ lúa- ngô/cây đậu đỗ, lúa – tôm/cá, đa canh, phát triển ngành nghề. Nhờ tài nguyên khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới ở vùng núi cao; lại có những vùng sinh thái nông nghiệp rất đa dạng để thực hiện đa dạng hóa sản xuất, trong đó có cây lương thực không chỉ có lúa, ngô, mà còn có tập đoàn cây ăn củ; cây công nghiệp lương thực lạc, sắn..cây lâm nghiệp lương thực như xa kê hay bánh mì; hồ đào hay óc chó, mít ăn hạt..sẵn sàng thích ứng với biến đổi khí hậu.   Nông dân ĐBSCL có tập quán sản xuất nông sản hàng hóa. Nếu thấy bất lợi, hoặc chỉ nghĩ rằng trồng cây này có lời hơn cây kia, họ sẽ chặt bỏ cây này trồng cây mới; lên liếp ruộng lúa để làm vườn hay hạ thấp đất vườn gieo cấy lại lúa. Tình thế tiến thoái lưỡng nan của nông dân trồng lúa là diện tích nhỏ lẻ manh mún sao có thể làm giàu được, đến chi tiêu hàng ngày cũng còn khó! Trồng rau màu, như ngô (bắp), đậu đỗ, củ quả.., cũng không đơn giản nếu không chuẩn bị thị trường.   Chỉ khi có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, chế biến hoặc xuất tươi theo công nghệ hoàn hảo thì việc chuyển dịch mới thoát cảnh vết xe đổ như việc trồng rồi chặt những loại cây khác.   Theo TS Võ Hồng Dũng, giám đốc VCCI – Chi nhánh Cần Thơ, vào năm 1990, sản xuất nông nghiệp (khu vực I) luôn đóng góp cho GDP khoảng 40%; từ năm 2005 đến nay khoảng 20%. Từ năm 1995 đến 2000, đầu tư cho nông nghiệp khoảng 14% tổng số vốn đầu tư, đến năm 2009 chỉ còn 6,4%! Trong khi đất nông nghiệp bị thu hồi ngày một nhiều, các khoản thu từ nông hộ nhiều, giá cả xuống thấp sẽ khiến người trồng lúa não nề hơn..   Nông dân chỉ phấn khởi khi thu nhập thuần của họ tăng. Trong khi đó, hằng năm Nhà nước chỉ bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp nhân danh tạm trữ lúa gạo cho nông dân.   Trong cuộc họp bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, thủy sản vùng ĐBSCL ngày 5/6/2013 vừa qua ở Cần Thơ, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định: “Mục tiêu tương lai là tăng hiệu quả sản xuất, cải thiện hơn nữa đời sống của người dân”. Trong khi đó, chủ tịch Hiệp hội lương thực thẳng thắn từ chối việc thực hiện chủ trương xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Sự từ chối này sẽ khiến nông dân bất an! Rồi đây bà con sẽ không mặn mà chuyện tăng vụ trồng lúa nữa nếu không tái sản xuất nông nghiệp đúng hướng.             Giảm diện tích trồng lúa (vụ hè thu 2013)                Tiền Giang: Nông dân chỉ gieo sạ 78.443ha lúa hè thu, giảm hơn 2.620ha so  cùng kỳ năm trước.               Bến Tre: chỉ gieo sạ 20.056ha lúa hè thu, giảm 9,8% so với cùng kỳ.              An Giang chuyển hơn 7.100ha đất trồng lúa sang trồng cây khác, hoặc luân canh cây lúa với bắp, đậu nành, các loại rau củ quả…              Long An, khoảng 2.890ha đất trồng lúa đạt hiệu quả thấp đã chuyển sang trồng  các loại cây nguyên liệu, rau màu.               An  Giang và Đồng Tháp: Trồng bắp lai có lợi nhuận gấp gần 2,8 – 4,5 lần so  với trồng lúa và trồng đậu nành có lời gấp hơn sáu lần so với trồng  lúa, chắc chắn cây trồng khác sẽ thay thế lúa.   Nguồn SGTT              Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân thi sáng tạo kỹ thuật      Sau gần hai năm phát động, cuộc thi Sáng tạo  kỹ thuật nhà nông lần thứ V 2013-2014 đã thu hút nhiều công trình gửi từ mọi miền đất nước, trong đó hầu hết tập  trung vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản,  thủy sản, cơ khí phục vụ nông nghiệp, xử lý môi trường nông thôn…&#160;    Căn cứ vào những tiêu chí quan trọng như tính mới so với trình độ kỹ thuật Việt Nam, hiệu quả kinh tế – xã hội do công trình mang lại và khả năng áp dụng rộng rãi trong điều kiện thực tế của Việt Nam, BTC cuộc thi đã chọn ra 14 hồ sơ vào vòng chung kết. Cuối cùng, giải nhất đã thuộc về giái pháp “Công nghệ HUD và máy xử lý rác thải ở địa phương” của tác giả Ngô Thái Nguyên (thôn Liên Hương, xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Theo đánh giá của BTC, máy xử lý rác của tác giả Thái Nguyên có nhiều ưu điểm như quy mô nhỏ, dễ vận hành, có khả năng phân loại, tinh chế rác để tái sử dụng làm phân vi sinh, nguyên liệu xây dựng…   Các giải pháp sáng tạo được trao giải khác cũng được BTC đánh giá cao như giải nhì – Cải tiến máy thu hoạch cà phê của tác giả Đỗ Đức Quang, Đỗ Đức Sáng (216 Trường Chinh phường Trà Bá, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai), giải ba – Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng nhông cát của Nguyễn Thanh Tuấn (thôn Thái Xuân, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), giải khuyến khích – Cải tạo vườn đồi để trồng cây tỏi sẻ, dưa hấu, đậu phộng của Bùi Dân (Thôn Xuân Đông, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa)…   Sáng ngày 9-10 tại trụ sở Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Hà Nội, BTC đã tiến hành trao một giải nhất, một giải nhì, bốn giải ba và 10 giải khuyến khích cho các tác giả đoạt giải.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân TP.HCM bắt đầu được hưởng lợi từ ‘công nghệ cao’      Nhờ áp dụng công nghệ cao mà nông dân ở TP.HCM từ tình trạng luôn phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nay đã được an nhàn.      Nhà màng trồng rau công nghệ cao của nông dân Lê Văn Dễ (huyện Hóc Môn)  Tuy các nông  hộ nhỏ, lẻ thực hiện “công nghệ cao” chưa được bài bản, nhưng chất lượng, sản lượng đều được tăng lên…  Tăng sản lượng, giảm lao động  Đó là hiệu quả nhiều nông dân thấy được khi làm nhà màng, hệ thống tưới nước, trồng thủy canh…  Điển hình, vườn trồng rau thủy canh công nghệ cao của nông dân Lê Văn Dễ (huyện Hóc Môn) với diện tích hơn 1.000m² chỉ cần một lao động với 2 “vai”: vừa sản xuất, vừa bảo vệ. Nhà vườn được đầu tư nhiều công nghệ cao như nhà màng, mái hiên che nắng mưa, máy đo nhiệt độ, quạt gió điều hòa không khí… Toàn bộ hệ thống đều được tự động hóa, chỉ cần có người “ấn nút” là hoạt động. Bên cạnh đó, để sản xuất sản phẩm sạch sau khi áp dụng công nghệ cao, yếu tố nước, môi trường cũng rất quan trọng nên vị trí trồng cần phải kiểm tra kỹ lưỡng.  Nông dân Lê Văn Dễ chia sẻ: “Đầu tiên, vườn rau thủy canh của tôi chỉ sử dụng nhà màng, rau rất dễ bị hư. Sau nhiều lần nghiên cứu, tôi đã đầu tư bên trong nhà màng 2 mái hiên di động là màu trắng và màu tối. Mái hiên màu trắng sẽ kéo ra che khi trời mưa, còn mái hiên màu tối thì dùng khi trời nắng gắt. Từ khi sử dụng 2 mái hiên này, tôi giảm được chi phí cho việc phun sương mà chất lượng sản phẩm lại tốt hơn. Trung bình, nhà màng sẽ phải thay mới sau 5 năm sử dụng, còn hạ tầng thì khoảng 15 năm. Sản xuất rau theo phương thức này, tôi không phải thuê nhiều nhân công, chỉ khi nào đến ngày thu hoạch hoặc gieo trồng thì mới thuê lao động thời vụ. Hiện tôi đang nghiên cứu thêm việc áp dụng công nghệ cao để hướng đến sản xuất sản phẩm hữu cơ”.  Tương tự, anh Lâm Ngọc Tuấn (ngụ quận 9) dù đang là nhân viên ngân hàng nhưng vẫn làm được nông nghiệp, nhờ áp dụng công nghệ cao. Hiện anh Tuấn có vườn rau trồng thủy canh rộng 1.000m². Khi biết được nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao rất thuận tiện, không tốn nhiều thời gian chăm sóc mà chỉ cần tốn chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu, anh đã quyết định triển khai. Thời gian anh chăm sóc vườn rau là sau giờ làm việc hành chính hoặc cuối tuần.  “Có thể nói, làm nông thời xưa rất cực, vất vả, còn bây giờ nếu đưa công nghệ cao vào sản xuất thì sẽ khá nhàn hạ. Tôi quyết định trồng dưa leo (rau ăn quả) theo mô hình thủy canh. Nhiều người hiện vẫn cứ nghĩ chỉ có rau ăn lá mới trồng nhà màng, nhưng thật ra rau ăn quả trồng theo phương thức này cũng rất hiệu quả. Dưa leo trồng thủy canh có vị ngọt, giòn hơn so với trồng theo kiểu bình thường”, anh Lâm Ngọc Tuấn cho biết.  Tăng chất lượng  Đã có nền tảng trồng nấm rơm nhiều năm, anh Bùi Công Đức (quận Thủ Đức) quyết định phủ bạt toàn bộ nhà trồng nấm (diện tích hơn 1.000m²) thay vì trồng “hở” như trước kia, nhằm giảm thiếu tác động ô nhiễm của môi trường xung quanh. Trước đó, anh Đức thử nghiệm chỉ phủ bạt một nhà trồng nấm, sau đó so sánh năng suất giữa trồng trong nhà bình thường và nhà có bạt. Kết quả, nấm rơm trồng nhà có bạt do không nhiễm vi sinh nên cho năng suất nhiều hơn, chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn cao. Bên cạnh đó, thời gian chăm sóc cũng giảm, phôi nấm có sức đề kháng tốt do không tiếp xúc với môi trường bên ngoài.  Không chỉ trong trồng trọt, ngay cả chăn nuôi khi được áp dụng công nghệ cao cũng mang lại hiệu quả tích cực. Điển hình như mô hình nuôi heo trong “nhà lạnh” (với hệ thống làm mát, quạt hút gió) của ông Trầm Quốc Thắng (Trại heo Gia Phát thuộc Hợp tác xã Tiên Phong). Bên trong nhà lạnh nuôi heo không có mùi hôi nồng nặc như cách nuôi bình thường. Thay vì phải có nhân công để đổ nước uống, cho thức ăn vào máng thì khâu này đã hoàn toàn tự động qua hệ thống cho ăn, chỉ cần heo đụng vào máng thì nước, thức ăn tự động bơm ra.  Ông Trầm Quốc Thắng cho hay, chi phí đầu tư ban đầu chỉ tốn thêm 10% trên một con heo so với đầu tư bình thường, nhưng lại giảm được chi phí lao động trong 15 năm. Đặc biệt, heo nuôi trong nhà lạnh không cần phải tắm nhiều như heo nuôi bình thường. Cộng thêm môi trường sinh sống sạch nên heo tăng sức đề kháng, ít bệnh tật, chất lượng thịt an toàn hơn. Đặc biệt là thời gian nuôi cho heo đạt chuẩn được rút ngắn, heo xuất chuồng sớm hơn 10 ngày so với heo nuôi kiểu truyền thống. “Thay vì phải mất công sức chăm sóc, nay tôi có thêm thời gian nghiên cứu làm sao để cho thịt heo ngon nhất”, ông Thắng nói.  Cũng nhờ áp dụng công nghệ cao, ao tôm của nông dân Trần Văn Chấm (huyện Cần Giờ) tăng năng suất và không còn phải sử dụng kháng sinh.  Ông Chấm kể, kinh nghiệm cho thấy tôm giống rất quan trọng, vì nếu từ nhỏ sức đề kháng không tốt thì tương lai người nuôi cũng rất cực, ông quyết định nuôi tôm giống trong môi trường kín (được bao bọc bởi nhà màng). Đối với ao nuôi tôm ngoài trời, ông dùng nhiều màng lưới giăng trên cao để giảm ánh nắng mặt trời chiếu xuống ao (vì nếu nhiều nắng sẽ xuất hiện tảo, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái và tác động trực tiếp đến con tôm). Ngoài ra, ông Chấm sử dụng thiết bị công nghệ để xây dựng hồ lọc nước sạch, giúp tôm không bị bệnh, không chết.  Theo ông Trần Trường Sơn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân TP.HCM, hiện nay nhiều nông dân đã nhận thấy lợi ích trong việc đầu tư công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, với doanh nghiệp, hợp tác xã, việc đầu tư công nghệ cao khá bài bản do có vốn; riêng nông hộ nhỏ, lẻ thì thực hiện còn hạn chế, không đồng bộ. Điều này sẽ dẫn đến khó khăn trong tiêu thụ, vì với sự đầu tư “nửa vời” thì chất lượng sản phẩm chưa thật sự tốt và giá thành vẫn còn khá cao. Để khuyến khích nông dân phát triển công nghệ cao trong sản xuất, cần có chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi, tập trung quy mô sản xuất…  Theo SGGP    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân và doanh nghiệp: Cần nhau nhưng thiếu niềm tin      Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo nhưng có nhiều giải pháp để thay đổi thực trạng này.    Trong buổi hội thảo “Giải pháp bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân – Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp” do Tạp chí Tia Sáng kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) và Sở KH&CN tỉnh Bến Tre, ông Trần Đức Viên, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp và người nông dân có nhiều lợi thế khi liên kết với nhau. Về phía doanh nghiệp, họ có được nguồn nguyên liệu tập trung và chủ động, nguồn gốc sản phẩm rõ ràng nên giá trị nông sản cao. Còn về phía nông dân, họ chắc chắn đầu ra ổn định, lâu dài và được đảm bảo vật tư nông nghiệp không sợ hàng nhái, hàng giả và các dịch vụ nông nghiệp. Tuy nhiên, ông lại đưa ra những con số khá “sốc” về mối liên kết giữa người nông dân với nhau và giữa nông dân với doanh nghiệp ở Việt Nam, chẳng hạn như, chỉ có 2-3% hộ nông dân trên cả nước ký hợp đồng với doanh nghiệp và 60% doanh nghiệp ký hợp đồng với người nông dân không tham gia đầu tư cho họ mà chỉ thu mua, gom sản phẩm – phương thức mà ông gọi thẳng là “ăn sẵn”; 85% hợp tác xã trên cả nước không tổ chức sản xuất theo thị trường, người nông dân nuôi trồng xong không hề biết mình sẽ tiêu thụ sản phẩm kiểu gì và ở đâu, ngay cả trong các hợp tác xã cà phê của Trung Nguyên, chỉ có 1% được tổ chức theo hướng thị trường. Ông Trần Đức Viên cho rằng niềm tin giữa doanh nghiệp và nông dân không có nên chuỗi liên kết lỏng lẻo, tùy hứng và không bị ràng buộc.      Các nhân viên kỹ thuật phải gần gũi với người nông dân, phải “đi tới đi lui, chỉ trỏ, kề cà vài ba li rượu, trao đổi thân tình với họ để hai bên hiểu nhau” thì như vậy những quyền lợi nho nhỏ mới không xảy ra tranh chấp  Giải đáp những khó khăn mà ông Trần Đức Viên nêu ra, chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng, doanh nghiệp cần phải hiểu vị thế của mình so với nông dân để tự thay đổi nhận thức, cùng chia sẻ khó khăn và rủi ro với nông dân vì trong khi nông dân chỉ có quyền sử dụng đất mà giá trị của đất nông nghiệp thường được đánh gía thấp còn doanh nghiệp sở hữu nhiều giá trị khác nữa; doanh nghiệp cũng nắm cả đầu vào và đầu ra trong chuỗi sản xuất nông nghiệp, khả năng tiếp cận thông tin về thị trường và những kỹ năng quản trị, xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp vượt trội hơn nhiều so với nông dân. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần đặt mình vào vị trí người nông dân và tìm cách nâng cao năng lực của họ thay vì o ép. Bên cạnh đó, bà cũng nhấn mạnh rằng, cần có cách thức tăng cường tính pháp lý của hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp. Hiện nay, mỗi khi hợp đồng đổ bể thường khó quy kết lỗi tại ai, Nhà nước và xã hội thường bênh vực người nông dân trong khi không ít trường hợp nông dân là người phá bỏ hợp đồng, bán cho người khác khi được trả giá cao hơn.  Kỹ sư Hồ Quang Cua (tác giả của giống lúa thơm ST 20 được trồng phổ biến ở ĐBSCL và đã xuất khẩu ở nhiều thị trường khó tính) cũng đưa ra kinh nghiệm của bản thân ông khi đã liên kết các hộ nông dân với quy mô vài trăm đến vài nghìn hecta trong việc chuyển giao hỗ trợ kỹ thuật cho bà con. Theo ông, các nhân viên kỹ thuật phải gần gũi với người nông dân, phải “đi tới đi lui, chỉ trỏ, kề cà vài ba li rượu, trao đổi thân tình với họ để hai bên hiểu nhau” thì như vậy những quyền lợi nho nhỏ mới không xảy ra tranh chấp. Theo ông, “người nông dân rất đa nghi nhưng một khi họ đã tin thì không bao giờ ‘ăn thua’”. Ông cũng gợi ý rằng cần phải tận dụng những cán bộ địa phương, nhân viên chính quyền cùng tham gia vào quá trình này để tạo niềm tin, đến khi thu hoạch sẽ không diễn ra tranh chấp. Ông Hồ Quang Cua cho rằng, muốn liên kết thì bắt buộc phải đầu tư, đầu tư vào mối quan hệ giữa con người với con người cũng là đầu tư và cũng cần nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, tuy nhiên nếu liên kết được thì doanh nghiệp có vô vàn cái lợi vì vùng nguyên liệu tập trung và giá đầu vào ổn định.  Tri thức của người nông dân rất quan trọng, nếu họ có một kiến thức sâu sắc về chuỗi giá trị, họ sẽ dễ dàng cởi mở hơn với những công nghệ mới trong nông nghiệp. Anh Nguyễn Khắc Minh Trí, CEO của MimosaTEK – doanh nghiệp với sản phẩm tưới nước chính xác sử dụng công nghệ Internet của vạn vật (IoT) chia sẻ rằng, thuyết phục người nông dân mà chỉ dựa vào tính hiệu quả của giải pháp của mình là không đủ mà còn phải dựa vào thực tế “hàng xóm của ông ta cũng phải sử dụng giải pháp đó”. Cách để thuyết phục người nông dân với anh là chỉ có thể dựa vào trường hợp cụ thể, người cụ thể có uy tín trong cộng đồng rồi nhờ đó lan tỏa. Tuy nhiên, điều đó rất khó khăn và anh không có đủ tiềm lực để “giáo dục thị trường” trong giai đoạn khởi nghiệp, khách hàng hiện nay của anh là các trang trại lớn thay vì các hộ nông dân nhỏ lẻ.      Trong mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, ông Trần Đức Viên còn đưa ra một giải pháp để thúc đẩy người nông dân chủ động hơn. Đó là Nhà nước cần tham gia xây dựng “xã hội thông tin”. Ông cho rằng người nông dân có quá ít kênh thông tin để hiểu về thị trường, về kỹ thuật sản xuất để nâng cao tri thức và năng lực cho mình. Ông đưa ra ví dụ rằng, ở Úc, làm nông dân là một trong bảy nghề được ưa thích nhất quốc gia này và người nông dân đóng vai trò dẫn dắt thị trường thay vì dẫn dắt thị trường vì họ có tri thức với 70% nông dân có bằng đại học trở lên.  Hội thảo “Giải pháp bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân – Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp” có gần 300 đại biểu đến dự, trong đó có ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh Ủy Bến Tre; Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đại Dương; đại diện của một số tổ chức khoa học và doanh nghiệp; cùng nhiều nông dân. Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Phạm Đại Dương nhận định: “Hội thảo là một cơ hội quý giá để các doanh nghiệp, người nông dân, các nhà khuyến nông, nhà khoa học, nhà hoạt động chính sách từ trung ương cho đến địa phương có những trao đổi thẳng thắn, cởi mở và từ đó chỉ ra những vấn đề cần phải giải quyết, từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhất để có thể nâng cao tính bền vững trong mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và người nông dân trong triển khai tiến bộ khoa học kỹ thuật.”    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Nông dân Việt vẫn hứng chịu nhiều rủi ro      Trả lời phỏng vấn báo chí tại Diễn đàn Chính sách Nông nghiệp thường niên 2015, GS. TS Võ Tòng Xuân cho rằng, nhiều năm qua, người nông dân Việt Nam vẫn phải hứng chịu nhiều rủi ro vì chưa sẵn sàng tham gia chuỗi mắt xích bốn nhà: nhà nông – nhà khoa học – nhà quản lý – doanh nghiệp để góp phần tạo ra những thương hiệu xứng tầm cho nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.     Diễn đàn Chính sách Nông nghiệp thường niên 2015 với chủ đề “Nền nông nghiệp và nông dân Việt Nam đối diện thách thức hội nhập” diễn ra ngày 4/11/2015 tại Hà Nội. Liên minh Nông nghiệp, Diễn đàn chính sách Nông nghiệp Việt Nam, Chương trình hỗ trợ Liên minh và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) phối hợp tổ chức đã thu hút sự tham gia của các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu, đại diện các tổ chức trong nước, quốc tế và các doanh nghiệp…  Vẫn loay hoay trước những vấn đề cũ  Những vấn đề của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, đặc biệt khi Hiệp định TTP được thông qua, đã được các chuyên gia đề cập tại Diễn đàn.   GS. TS Võ Tòng Xuân (ĐH Nam Cần Thơ, thành viên Liên minh Nông nghiệp) cho rằng, hiện nay người nông dân Việt Nam vẫn còn loay hoay trước những vấn đề cũ như trồng cây gì, nuôi con gì mà chưa được hỗ trợ gì trước những tác động của thị trường trong nước và quốc tế. Việc liên kết bốn nhà nhà nông – nhà khoa học – nhà quản lý – doanh nghiệp chưa được thiết lập một cách chặt chẽ. Các doanh nghiệp trong nước mới chỉ dừng lại ở khâu cung cấp sản phẩm đầu vào như giống, thuốc trừ sâu… cho nông dân mà chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn thực hiện việc đảm bảo đầu ra, những sản phẩm nông nghiệp hoàn chỉnh. Họ cần phải có trách nhiệm tham gia xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam để góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.  Đồng tình với nhận định này, ông Phạm Quang Tú, Trưởng nhóm Chương trình liên minh của tổ chức Oxfarm, đưa ra một kết quả nghiên cứu gần đây của Oxfarm: cấu trúc thị trường nông nghiệp Việt Nam bất hợp lý với những dấu hiệu thao túng thị trường và phân phối thiếu công bằng. Người nông dân phải mua các sản phẩm phục vụ chăn nuôi, sản xuất với giá cả không ngừng tăng cao trong khi đến ngày thu hoạch phải đối mặt với việc bị ép giá. Vì vậy thu nhập từ các hoạt động sản xuất của người nông dân ngày càng suy giảm. Do phần lớn nông dân Việt Nam vẫn chỉ quen sản xuất trên quy mô nhỏ nên họ ít được thụ hưởng những giá trị đem lại từ thay đổi chính sách hay chuyển hướng đầu tư phát triển trong ngành nông nghiệp.   Giảm phụ thuộc vào những thị trường truyền thống  Đánh giá những tác động của hội nhập quốc tế đến nông nghiệp Việt Nam, ông Đỗ Huy Thiệp, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn”, đề xuất những giải pháp trên ba góc độ sản xuất, thị trường và nâng cao nhận thức của các bên tham gia. Theo ông Thiệp, doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu kỹ về thị trường tiêu thụ nông sản mới trong khối TTP, mở rộng khả năng kết nối các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước với doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu trong khối TPP để đảm bảo nguồn gốc xuất xứ… Hiện có nhiều thị trường mới mà các doanh nghiệp cần tìm hiểu thêm như thị trường Mỹ Latin, trong đó Mexico là quốc gia tiềm năng với 90% lượng gạo tiêu thụ trong nước là nhập khẩu… Việc tìm hiểu thêm những thị trường mới sẽ góp phần giải quyết khâu đầu ra cho các mặt hàng nông sản Việt Nam, vốn nhiều năm qua chỉ phụ thuộc vào một số thị trường quen thuộc.   Những vấn đề quan trọng khác của nông nghiệp Việt Nam cũng được đề cập đến tại các phiên thảo luận bàn tròn về Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam, Tác động của hội nhập đến các ngành hàng nông nghiệp Việt Nam, Tổ chức sản xuất và liên kết nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập.  TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách(ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội), thành viên Liên minh Nông nghiệp cho biết, sau thành công của lần tổ chức đầu tiên này, Liên minh sẽ tiếp tục tổ chức các Diễn đàn định kỳ hàng năm để cùng phân tích và đề xuất những giải pháp cho những vấn đề lớn của nông nghiệp Việt Nam.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nóng lên toàn cầu gây bất bình đẳng kinh tế giữa các quốc gia      Không chỉ là nguyên nhân của sóng nhiệt, lũ lụt và nước biển dâng cao, giờ đây biến đổi khí hậu với nhiệt độ ấm hơn cũng được coi là nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các nước, thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế của các nước giàu có gây ô nhiễm trong khi làm giảm tốc độ tăng trưởng ở hầu hết các nước đang phát triển. Điều đó dẫn đến sự bất bình đẳng giữa những nước giàu và nước nghèo lớn hơn 25% so với kịch bản một thế giới “mát mẻ” hơn.    Đây là nội dung của bài báo “Global warming has increased global economic inequality” của hai tác giả Noah S. Diffenbaugh và Marshall Burke, trường Đại học Stanford ở Palo Alto, California trên tạp chí PNAS.  Mặc dù không đồng tình với các con số cụ thể, nhà kinh tế học Solomon Hsiang, Đại học California, Berkeley, vẫn cho rằng bài báo đã cung cấp bằng chứng rõ ràng về biến đổi khí hậu tác động vào quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. “Kết luận rất quan trọng của nghiên cứu là sự nóng lên tổn hại các cơ hội kinh tế ở các nước nghèo”, Solomon viết trong một email.  Được thực hiện dựa trên một kết quả nghiên cứu xuất bản trên Nature năm 2015, báo cáo cho thấy hoạt động kinh tế đạt hiệu suất tối đa ở nhiệt độ trung bình 13°C – vùng tối ưu, với nhiệt độ không quá nóng cũng không quá lạnh. Nhiệt độ thấp hơn mức này có thể cản trở các ngành sản xuất phụ thuộc vào thời tiết như nông nghiệp, nhưng nhiệt độ nóng hơn có thể làm khô héo cây trồng, gây mệt mỏi cho công nhân và làm trầm trọng thêm các xung đột xã hội. Nghiên cứu cho thấy biến đổi khí hậu có thể làm giảm 23% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu vào năm 2100.  Nhà khoa học khí hậu Noah Diffenbaugh và nhà kinh tế Marshall Burke đã sử dụng các mô hình khí hậu và kinh tế để thử nghiệm sự tác động của biến đổi khí hậu lên nền kinh tế các nước với mốc thời gian bắt đầu từ năm 1961. Mô hình của họ đã so sánh hiệu suất kinh tế của cùng một quốc gia trong những năm nóng và những năm lạnh, đồng thời tính đến các yếu tố khác như đổi mới công nghệ và chuyển hướng trong nền kinh tế toàn cầu. Họ đưa ra hai kịch bản, một phản ánh sự nóng lên toàn cầu thực tế và một kịch bản khác không có ô nhiễm khí nhà kính.  So sánh hai kịch bản cho thấy, từ năm 1961 đến 2010, nhiều quốc gia gần xích đạo, thường là các quốc gia nghèo hơn, đã mất trung bình hơn 25% tăng trưởng tiềm năng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vì sự nóng lên toàn cầu. Ngược lại, nhiều quốc gia có nhiệt độ thấp hơn, cũng là những quốc gia giàu có hơn, được hưởng một cú hích kinh tế với tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng từ 20% trở lên. Kể từ năm 1961, GDP bình quân đầu người của Na Uy tăng thêm 34%, trong khi Ấn Độ mất khoảng 34%. Các phát hiện này đã được công bố trong Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ.  Thiệt hại nhỏ về kinh tế cũng có thể có tác động rất lớn, bởi vì thiệt hại trong một năm có kéo theo những năm tiếp theo, Burke nhận xét. Doanh nghiệp nông nghiệp có thể bị mất thêm chi phí trong một đợt nắng nóng, trong khi lẽ ra số tiền đó là để đầu tư cho nghiên cứu, trang bị máy móc. “Ngay cả những thay đổi nhỏ trong tốc độ tăng trưởng sẽ tích tụ theo thời gian và gây tác động lớn”, ông nói.  Hsiang – tác giả chính của bài báo năm 2017 kết luận nền kinh tế Mỹ sẽ mất khoảng 1,2% GDP với nhiệt độ trung bình tăng 1°C, đã cảnh báo về việc quá chú trọng vào các con số, đặc biệt là mức tăng GDP rõ rệt đối với các quốc gia ôn đới. Tuy nhiên, điểm yếu trong cách tiếp cận này là không chứng minh được các kết quả đó là “bằng chứng xảy ra trong thế giới thực”, ông nói.     Cả Hsiang và các nhà nghiên cứu tại Stanford đều đồng ý về sự cần thiết phải nghiên cứu thêm về khí hậu và bất bình đẳng giữa các quốc gia. Một vấn đề lớn tiếp theo là sự nóng lên có gia tăng bất bình đẳng trong một quốc gia không?□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/04/global-warming-may-boost-economic-inequality    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nóng lên vì đất hiếm      Các doanh nghiệp công nghiệp lo lắng trước sự độc quyền của Trung quốc đối với một loại nguyên liệu đặc biệt -&#160; đất hiếm. Nếu không có các loại kim loại như&#160; Neodym&#160; hay Lanthan thì không thể có các sản phẩm công nghệ cao như&#160; iPhone hay ô tô Hybrid.    Ngành công nghiệp lệ thuộc ngày càng nhiều vào đất hiếm. Nếu không có 17 loại kim loại đất hiếm  thì nền kinh tế thế giới sẽ không thể có công nghệ cao, không có MP3–Player,  Blackberry cũng như không thể có các hệ thống điện gió. Các sản phẩm công nghệ chiếu sáng hiện đại không thể thiếu các loại nguyên liệu đất hiếm như  dysprosium, holmium và thulium.   Các nhà chế tạo ô-tô cũng như các doanh nghiệp phụ trợ của ngành công nghiệp này  không thể thiếu đất hiếm. Mỗi bình ắc quy của các loại ô tô điện hay ô tô Hybrid cần có tới 15 kg lanthan và 1 kg neodym. Các thiết bị điện hiện đại cỡ  nhỏ sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày thường có các loại động cơ có nam châm nhỏ xíu được sản xuất từ đất hiếm praseodym hay neodym. Các hãng sản xuất vi điện tử như Fujitsu hay các hãng sản xuất thủy tinh công nghiệp cao cấp cũng không thể thiếu đất hiếm. Ngành công nghiệp hóa chất không thể thiếu chất xúc tác là cer. Tóm lại đất hiếm đã trở thành một loại nguyên liệu không thể thiếu đối với ngành công nghiệp hiện đại.  Trung Quốc nắm độc quyền về đất hiếm  Cho đến nay Trung Quốc (TQ) là nhà xuất khẩu đất hiếm hàng đầu, chiếm 95% thị phần thế giới. Hiện nay, TQ đang tiếp tục tăng cường khai thác đất hiếm. Tuy nhiên ba năm gần đây chính phủ TQ liên tục giảm chỉ tiêu xuất khẩu đất hiếm, thuế xuất khẩu đất hiếm nâng lên mức 25%. Các doanh nghiệp và chính phủ ở phương tây đặc biệt lo ngại khi mới đây TQ tuyên bố sẽ thắt chặt hơn nữa chỉ tiêu xuất khẩu đất hiếm. Ông Wang Caifeng, một quan chức cao cấp thuộc Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin TQ trong một cuộc họp gần đây đã nói tại Bắc kinh các doanh nghiệp quốc doanh đất hiếm hiện không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nước này đối với các loại đất hiếm như dysprosium và terbium. TQ sẽ trở thành một OPEC – nguyên liệu mới.  Trung Quốc muốn đi đầu về công nghệ xanh. Các nhà quan sát thị trường cho rằng đến năm 2013 nhu cầu nội địa của TQ đối với kim loại đất hiếm sẽ tương đương sản lượng đất hiếm của nước này  –  điều đó có nghĩa là TQ sẽ chấm dứt xuất khẩu đất hiếm.  Jack Lifton, một chuyên gia độc lập về các nguyên liệu có ý nghĩa chiến lược ở Detroit (Mỹ) nói:  “Ngay từ năm 1992 Đặng Tiểu Bình  từng nói, Trung quốc sẽ trở thành một OPEC mới đối với đất hiếm – và điều này ngày nay đã trở thành hiện thực”. Lifton cho rằng, TQ hiện đang rất nỗ lực phát triển ngành công nghệ cao với những nguyên liệu mà TQ hiện có từ đó tạo nên lợi thế cạnh tranh  mà “phần còn lại của thế giới không thể địch nổi.”  Chiến lược này thật ra rất logic vì cả thế giới đang trong tình trạng đói nguyên liệu. Riêng năm 2009 cả thế giới tiêu thụ 115.000 tấn đất hiếm. Nỗi lo sợ trước sự biến đổi khí hậu làm cho nhu cầu sử dụng công nghệ xanh tăng lên từ đó nhu cầu đối với đất hiếm cũng tăng theo. Theo hãng nghiên cứu thị trường  Roskill ở London, đến năm 2012 nhu cầu đối với đất hiếm sẽ là  185.000 tấn.  Hiện chưa có các nguồn khác có thể thay thế nguồn đất hiếm từ TQ. Công ty Great Western Minerals ở Canađa dự định đến năm 2011 sẽ triển khai sản xuất ở Saskatchewan. Avalon Ventures đã phát hiện ở vùng tây bắc Thor Lake một mỏ đất hiếm có trữ lượng khá lớn nhưng sẽ còn mất nhiều thời gian người ta mới có thể tiến hành khai thác tại đây. Cho đến năm 1994 mỏ đất hiếm ở sa mạc Mojave (California)  thuộc công ty con – Chevron MolyCorp đáp ứng được nhu cầu về đất hiếm của toàn bộ nền công nghiệp Mỹ, sau đó khu mỏ này đã đóng cửa vì TQ tung sản phẩm của họ ra thị trường với giá rẻ hơn nhiều.  MolyCorp dự định sẽ tái khai thác khu mỏ đất hiếm của họ vào cuối năm nay.  Các chuyên gia thuộc Arafura Ressources (Úc) đã phát hiện mỏ đất hiếm với trữ lượng lên đến 30 triệu tấn. Doanh nghiệp cỡ nhỏ này chưa kịp tính đến chuyện khai thác thì TQ đã ngáng chân chặn cửa doanh nghiệp này. Một phần tư doanh nghiệp này nay thuộc về công ty Jiangsu East China, một công ty con của  East China Exploration & Development Bureau (ECE). Doanh nghiệp nhà nước này hiện đang khai thác 22 mỏ sắt, vàng, đồng, chì, phốt phát và đất hiếm.  Các nước lo ngại về sự độc quyền đất hiếm của Trung Quốc  Các nhà tiêu thụ đất hiếm ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu và Mỹ ngày càng lo lắng về việc TQ độc quyền cung cấp đất hiếm. Úc dự định liên doanh với TQ để khai thác đất hiếm nhằm hạ chi phí khai thác tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy những nguyên liệu khai thác được đều “lặn mất tăm” ở TQ. Ông  Ulrich Grillo thuộc Ủy ban chính sách nguyên liệu của Hiệp hội các nhà công nghiệp Đức (BDI) cho rằng “TQ thường áp dụng các cơ chế khác nhau để xóa nhòa sự cạnh tranh, nhằm thu hút nguyên liệu trên thị trường thế giới”.  Không riêng gì  BDI lo lắng trước thói quen “thu gom” của người TQ,  mà cả chính phủ ở Canberra cũng rất quan ngại. Cơ quan xem xét đầu tư nước ngoài của chính phủ Úc, đặc trách việc cấp giấy phép cho các dự án đầu tư có ý nghĩa chiến lược của nước ngoài vào Úc, hồi tháng 5 vừa qua đã đồng ý để người TQ đầu tư vào Arafura. Tuy nhiên gần đây đã ba lần cơ quan này không chấp thuận để Nonferrous Metal Mining của TQ đầu tư vào  doanh nghiệp Lynas ở phía tây Úc, có trữ lượng đất hiếm khá lớn. Người TQ dự  định chi 470 triệu đôla Úc để chiếm giữ 51,6% cổ phần của doanh nghiệp này.    Theo ông Stephens, giám đốc Arafura thì từ nay  đến năm 2013 sẽ có khoảng 50.000 tấn đất hiếm được khai thác ở các mỏ bên ngoài TQ và xu hướng giá đất hiếm sẽ tăng lên. Vùng Nội Mông chiếm ba phần tư trữ lượng đất hiếm của TQ  và chính quyền sở tại tuyên bố sẽ tăng cường lượng dự trữ của họ.  Dudley Kingsnorth, một chuyên gia đất hiếm của Úc cho rằng, người TQ không muốn nâng  giá đất hiếm lên quá cao và cũng không muốn khóa hoàn toàn cái vòi xuất khẩu đất hiếm. Nếu điều đó xẩy ra thì TQ sẽ gặp những rắc rối với  WTO, điều mà TQ hoàn toàn không muốn, hơn nữa điều này có thể dẫn đến hình thành nạn chợ đen. Ở những vùng dễ khai thác ở phía nam TQ đã diễn ra tình trạng khai thác lậu đất hiếm và gây ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng. Kingsnorth còn nói: “tình trạng khan hiếm và đẩy giá lên càng thúc đẩy việc tìm kiếm nguyên liệu thay thế, đặc biệt đang diễn ra ở Nhật Bản”. Các doanh nghiệp tại đây đang đẩy mạnh nghiên cứu tìm giải pháp thay thế tuy nhiên kết quả thu được còn nhỏ nhoi. Người ta đã tìm được chất thay thế europium, kim  loại này không thể thiếu trong việc sản xuất công nghệ chiếu sáng,  LEDs hay màn hình mầu.  Câu hỏi then chốt đối với công ty Arafura  và các cổ đông của công ty này là: Doanh nghiệp chấp nhận mức giá là bao nhiêu khi tiến hành khai thác đất hiếm ở bên ngoài lãnh thổ TQ?  Theo ước tính của Stephens, chi phí sản xuất một kilô đất hiếm hiện ở mức 10 USD. Hiện tại giá thị trường thế giới còn thấp hơn mức này. Nhưng chắc rằng giá thị trường sẽ không tiếp tục ở mức như hiện nay vì thế một số doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị trước: Tập đoàn ô tô Toyota của Nhật mới đây đã mua dự án Đông Pao (Lai Châu) của Việt Nam.  Xuân Hoài lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp 4.0: Bối cảnh thế giới và Việt Nam      Đức là nước đầu tiên khởi phát cách mạng công nghiệp 4.0 từ đó các lĩnh vực khác cũng dần sử dụng khái niệm này để đặt ra mục tiêu hướng tới trong các bước phát triển để phù hợp với xu hướng và đòi hỏi tất yếu đổi mới công nghệ trong đó có nông nghiệp. Khái niệm nông nghiệp 4.0 với đặc trưng là nền nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật số và kết nối các thiết bị để điều khiển tự động trong quá trình sản xuất.    Các nước còn lại ở châu Á bao gồm Việt Nam vẫn còn ở vị trí rất xa để tiếp cận nền nông nghiệp 4.0.  Tương tự với công nghiệp 4.0, nông nghiệp 4.0 ở Đức hay nói chung ở châu Âu được hiểu là các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi sử dụng hệ thống điều khiển tự động thông qua việc kết nối mạng các thiết bị máy móc trực tiếp tại nơi sản xuất hoặc gián tiếp tại trung tâm điều khiển. Trong đó, toàn bộ quy trình sản xuất bao gồm các công đoạn canh tác trên cánh đồng hay chăn nuôi trong các trang trại, kiểm soát chất lượng và giao dịch với các đối tác đều được kiểm soát thông qua thông tin đã được số hóa. Nói cách khác, thông tin ở dạng số hóa được sử dụng cho tất cả các đối tác và các quá trình sản xuất, giao dịch với các nhà cung cấp và khách hàng được truyền dữ liệu, xử lý, phân tích dữ liệu phần lớn tự động qua mạng internet. Trên thực tế, một số thuật ngữ khác cũng được dùng và hiểu tương tự như “Nông nghiệp thông minh” hay “Canh tác số hóa”, dựa trên sự ra đời của các thiết bị chính xác, điều khiển tự động và kết nối internet. Các thiết bị này được gọi là thiết bị thông minh tích hợp cảm biến, bộ điều tiết tự động, công nghệ xử lý phân tích và hiển thị kỹ thuật số. Theo xu hướng và tiến trình, nông nghiệp 4.0 khởi đầu cho mức phát triển tiếp theo sử dụng các công nghệ trí thông minh nhân tạo hoạt động mà không cần có sự điều khiển trực tiếp của con người và dựa vào hệ thống thu thập số liệu và xử lý thông tin hiệu quả, các thiết bị có thể tự đưa ra quyết định một cách tự động.  Như vậy, để cấu thành nên nền nông nghiệp 4.0 cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố tạo thành hệ thống bao gồm: (i) các hệ thống thiết bị máy móc được kỹ thuật số hóa, gắn cảm biến và kết nối internet với nhau, khái niệm này được viết một cách ngắn gọn là IoT (internet of things) hay (IoT sensors); (ii) công nghệ chiếu sáng thông minh sử dụng đèn LED đơn sắc ứng dụng trong các nhà lưới; (iii) đưa người máy hoặc thiết bị tự động robot thay thế cho các công việc mang tính lặp đi lặp lại hoặc các quy trình đã được chuẩn hóa; (iv) ứng dụng hệ thống tạo năng lượng tại chỗ bằng cách sử dụng các tấm pin quang điện; (v) các thiết bị viễn thám hoặc kiểm soát tự động như máy bay không người lái, vệ tinh để thu thập dữ liệu vùng hoặc của các khu vực sản xuất; (vi) hệ thống canh tác thông minh như nhà lưới điều khiển tự động, kết hợp các công nghệ giảm thiểu xả thải và phát thải, tích hợp các công nghệ vào một quy trình kép kín như thủy canh, khí canh; (vii) các dịch vụ cung cấp vật tư thiết bị cho sản xuất nông nghiệp như cung cấp internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây, các phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa, các dịch vụ tư vấn, vay vốn và hỗ trợ kỹ thuật; (viii) các quy định về tiêu chuẩn hóa, chính sách quản lý sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, các dịch vụ đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông nghiệp.  Thực trạng và định hướng phát triển nông nghiệp 4.0  Mặc dù là nước có nền công nghiệp và công nghệ được coi là bậc nhất trển thế giới, nền nông nghiệp của Đức hiện nay vẫn đang phải đối mặt với thách thức về kỹ thuật số hóa. Hiện nay, phần lớn các trang trại sản xuất nông nghiệp vẫn đang sử dụng các thiết bị máy móc tương tự (analog), tỉ lệ này chiếm tới 60-70% [2]. Do đó cần phải đầu tư rất lớn để thay thế các thiết bị này thành các thiết bị kỹ thuật số, khi đó mới có thể đồng bộ, đảm bảo kết nối mạng và điều khiển tự động. Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, cơ sở hạ tầng viễn thông không phù hợp để phát triển và ứng dụng kỹ thuật số đồng thời tính bảo mật dữ liệu và bản quyền sử dụng dữ liệu cũng là một vấn đề cần được giải quyết. Các vấn đề liên quan đến thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu ở quy mô lớn (big data analysis) cần được phát triển. Cuối cùng các thiết bị hoạt động động lập (standalone) và giải pháp xử lý độc lập cần phải giảm thiểu. Trên cơ sở phân tích này, các công nghệ bluetooth, beacon (đèn hiệu), hệ thống định vị (GPS) và công nghệ dùng kết nối sóng vô tuyến để tự động xác định và theo dõi các thẻ nhận dạng gắn vào vật thể (RFID), kết hợp với phần mềm, tiêu chuẩn hóa, số hóa và tăng khả năng tương tác giữa các thiết bị máy móc từng bước được nâng cấp, ứng dụng và sau đó mở rộng ra quy mô cả nước.  Mỹ được coi là quốc gia dẫn đầu về nền công nghiệp nông nghiệp với những vùng canh tác và chăn nuôi ở quy mô lớn. Việc ứng dụng máy móc thiết bị công nghiệp trong sản xuất nông nghiệp đã song hành cùng với các tiến bộ trong các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới. Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao, việc ứng dụng thành tựu nghiên cứu của công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí chính xác, công nghệ thông tin, hệ thống điều khiển tự động, hệ thống quan trắc GPS, RFID và kiểm soát không người lái (drone) đã được ứng dụng rộng khắp. Đồng thời, các hệ thống chính sách, các quy định về chuẩn hóa mọi công đoạn trong quá trình sản xuất, phân phối đã được xây dựng và nhiều trong số đó đã được đưa vào luật.  Israel một quốc gia với khí hậu khô cằn nguồn nước rất hạn chế nhưng đã tạo được nhiều thành tựu trong nông nghiệp đặc biệt nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tất cả các trang trại hay nhà lưới của Israel đều trang bị hệ thống điều khiển kỹ thuật số với cảm biến và điều khiển tự động. Đây cũng là điểm đặc trưng nhất và cũng là điểm mạnh của quốc gia này trong canh tác nông nghiệp. Các hệ thống tưới nước và dinh dưỡng nhỏ giọt, hệ thống quan trắc và cảm biến của Israel có chất lượng hàng đầu thế giới. Ngoài ra, vật tư trong nông nghiệp, mô hình nhà lưới thông minh điều khiển tự động được chuyển giao và lắp đặt ở hầu hết các nước trên thế giới.  Anh là nước dẫn đầu trong các cuộc cách mạng công nghiệp cũng đưa ra định hướng phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp tầm nhìn 2030 với các nội dung quan trọng như sau: (i) cơ giới hóa, mở rộng và tăng cường quy mô sản xuất áp dụng nông nghiệp chính xác, đưa robot ứng dụng trong nông nghiệp để cải thiện mức độ chính xác và tăng hiệu quả; (ii) ứng dụng di truyền và hướng chọn giống hiện đại để cải thiện chất lượng, tăng tính bền vững, khả năng phục hồi, và tăng năng suất thực thu trong trồng trọt và chăn nuôi; (iii) phát triển hướng tiếp cận kết hợp các phương thức quản lý hiệu quả cỏ dại, sâu bệnh hại trong hệ thống các trang trại; (iv) ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ phân tích số liệu lớn để phát triển các hướng tiếp cận điều khiển dựa vào số liệu và hình ảnh thực để xác định khả năng và tình trạng của hệ thống canh tác và hệ sinh thái từ đó đưa ra chính sách hỗ trợ hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp; (v) mở rộng và tăng cường đào tạo, tập huấn phát triển nghề và phát triển các kênh giao tiếp kết nối nhà nghiên cứu, người học, và các nhà tư vấn để thúc đẩy các mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp; (vi) kết hợp khoa học xã hội, kinh tế để thúc đẩy nông nghiệp phát triển nông nghiệp bền vững, an toàn và tạo sản phẩm chất lượng cao.  Đối với một số nước khu vực châu Á, chính phủ các nước đều đã nhận thức tầm quan trọng và xu hướng tất yếu trong chiến lược phát triển nông nghiệp của quốc gia. Nhiều nước đã xác định kế hoạch phát triển nông nghiệp 4.0 trong giai đoạn 2025-2030. Tuy vậy, thực trạng sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn ở trình độ công nghệ thấp, mức độ cơ giới hóa và tự động hóa chỉ mới bắt đầu.  Ở Ấn Độ, nông nghiệp 4.0 vẫn còn ở một khoảng cách khá xa so với các nước châu Âu và Mỹ. Mặc dù trình độ công nghệ thông tin ở Ấn Độ khá mạnh nhưng mạng lưới internet vẫn chưa phủ kín, thông tin và dữ liệu về hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các vật tư đầu vào chưa được kiểm soát. Bên cạnh đó, việc đầu tư các thiết bị cơ giới hóa, máy móc điều khiển kỹ thuật số gần như chưa được quan tâm.  Ở Trung Quốc, với quan điểm cho rằng tiến bộ của các lĩnh vực công nghiệp sẽ hỗ trợ tích cực cho phát triển nền nông nghiệp toàn diện, các nhà lãnh đạo Trung Quốc kỳ vọng phát triển nông nghiệp 4.0 vào thế kỷ XXI. Trên cơ sở đó, các nhà chính sách đã hoạch định tầm nhìn và định hướng tương lai nông thôn Trung Quốc sẽ phải kết nối đa ngành, nông dân mới chuyên nghiệp hơn thay thế nông dân nông hộ nhỏ làm việc bán thời gian hoặc nông dân nghèo đói. Hiện nay ở Trung Quốc, theo hướng nông nghiệp 4.0, nhiều ngành công nghiệp đang được đẩy mạnh như các ngành công nghiệp chế tạo máy kéo công suất cao, máy gặt đập thông minh; ứng dụng thiết bị bay không người lái; trồng cây trong nhà; công nghiệp phục vụ chăn nuôi thông minh 4.0.  Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan sẵn sàng tiếp nhận và định hướng phát triển nông nghiệp 4.0. Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan cho rằng mọi điều kiện cần thiết đã sẵn sàng để có lực lượng lao động đủ tiêu chuẩn “nông dân thông minh/smart farmer”. Chính phủ Thái Lan đã có chính sách đối với nông nghiệp cùng đổi mới công nghệ định hướng nông nghiệp và thực phẩm của Thái theo nông nghiệp 4.0. Chương trình hành động cụ thể đưa ra cho phát triển từng vùng với các sản phẩm cụ thể cho từng giai đoạn. Để đạt được mục tiêu này, Thái Lan tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua hình thành các trung tâm đào tạo huấn luyện ở tất cả các tỉnh để tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp thông qua đổi mới công nghệ. Hơn nữa, Thái lan đã đưa ra  “Bản đồ nông nghiệp” đê phân định ranh giới giữa các vùng nông nghiệp ở tất cả các tỉnh cho phép nông nghiệp đáp ứng cho từng cây trồng theo đất canh tác. Từng tổ chức thuộc Bộ nông nghiệp phải thống nhất trong chương trình đào tạo và hỗ trợ công nghiệp nông nghiệp.  Vượt xa các nước khác trong khu vực, Đài Loan đã định hướng là nơi cung ứng chuỗi thiết bị nông nghiệp . Trong khu vực và thể giới, Đài Loan nổi tiếng về công nghệ chế tạo và có nhiều sản phẩm cơ điện trên đầu người hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, trong đó nổi bật là công nghệ chế tạo các bộ cảm biến kết nối các thiết bị (IoT). Đài Loan được coi là nơi tập trung các thiết bị công nghệ IoT do có nhiều các nhà máy sản xuất bán dẫn (công viên Hsinchu sản xuất 25% sản lượng bán dẫn toàn thế giới). Với công nghệ sản xuất đèn LED hàng đầu thế giới, Đài Loan cung cấp đèn LED chất lược tốt nhất cho nông nghiệp trong nhà đảm bảo cây trồng sinh trưởng và cho năng suất tối ưu nhất. Ngoài ra, Đài Loan được coi là quốc gia đi đầu về công nghệ robot và nước này đặt mục tiêu trở thành quốc gia dẫn đầu về công nghệ robot trong 20 năm tới. Về công nghệ pin mặt trời, công nghệ sản xuất tế bào quang điện của Đài Loan dẫn đầu thế giới [6,17]. Đài Loan có thể cung ứng nguồn năng lượng cho các dự án lớn về nông nghiệp trên quy mô lớn. Tiếp đó, công nghệ sản xuất thiết bị bay không người lái là một trong những điểm nổi bật của nước này, tới 10% lượng thiết bị bay không người lái được chế tạo và sản xuất tại Đài Loan và mức tăng trưởng dự kiến hàng năm 10%. Cuối cùng công nghệ tích hợp nông nghiệp trong nhà, thủy sản kết hợp thủy canh với sự kết hợp hài hòa của các công nghệ và vật tư hỗ trợ đi kèm đã giúp cho Đài Loan là nước dẫn đầu trong khu vực châu Á về nông nghiệp công nghệ cao.  Các nước còn lại ở châu Á bao gồm Việt Nam vẫn còn ở vị trí rất xa để tiếp cận nền nông nghiệp 4.0. Nguyên nhân chính là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng hội nhập và nền tảng cơ sở hạ tầng tối thiểu để thiết lập hệ thống tự động hóa kết nối internet (IoT). Với nhiều nước ASEAN, nông nghiệp 4.0 đang trên đường tiến triển với vô vàn khó khăn. Dự kiến trong 15 năm tới, sẽ có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, canh tác thông minh. Để đạt được điều này cần có sự đầu tư mạnh và trọng điểm của chính phủ, các cơ sở hạ tầng, công nghiệp cơ khí chế tạo máy, công nghệ điều khiển, hệ thống mạng internet và công nghệ thông tin để kết nối. Nếu so sánh với các nước Mỹ, Châu Âu và một số nước trong khu vực, Việt Nam, Lào và Campuchia khó đề cập đến có được nền nông nghiệp thông minh hay nông nghiệp 4.0 trong 10 năm tới bởi vì mô hình nông nghiệp công nghệ cao phải đáp ứng các tiêu chí trong bốn lĩnh vực: công nghệ, kinh tế, xã hội và môi trường. Ở Việt Nam, các ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp cần sự tham gia không chỉ của các tổ chức nghiên cứu khoa học và nhà nước mà còn sự tham gia của nông dân và doanh nghiệp. Mặc dù các dự án phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020 được chính phụ tạo điều kiện ưu đãi đặc biệt cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao bao gồm cả đào tạo nhân lực và hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao nhưng tỉ lệ thành công còn thấp.  Nguyễn Đức Bách  Học viện Nông nghiệp Việt Nam       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp cần công nghệ cao để cạnh tranh      “Công nghệ cao không phải là công nghệ tiên tiến nhất, mắc tiền nhất hay nổi tiếng nhất – mà là công nghệ mang lại năng suất tốt nhất, chất lượng cao nhất, với giá rẻ nhất, dưới bất kỳ hình thức nào”.    TS Vọng nhấn mạnh: “Đầu tư công nghệ cho nông nghiệp phải đồng bộ, xuyên suốt cả chuỗi cung ứng. Chỗ nào thiếu đều mang lại hậu quả cho nông dân… Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp chính là sự ấm no của người nông dân, sự phát triển của doanh nghiệp và sự bền vững của nền nông nghiệp quốc gia”.  Thử hình dung, năm 2015, khi thị trường chung AEC mở ra và nếu TPP được ký kết, nông sản Việt Nam có một thị trường vô cùng rộng lớn. Nhưng thách thức còn lớn hơn khi chất lượng gạo Thái Lan ưu việt hơn; chuối Phillipines đẹp và bảo quản tốt hơn; dừa, càphê, cacao của Indonesia có chất lượng đồng đều hơn… Nếu không ứng dụng công nghệ cao thì nông sản Việt Nam sẽ có chất lượng thấp, không thể cạnh tranh được.  Khi tôi làm việc tại Úc, có tiếp một số lãnh đạo Việt Nam qua tham quan mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại đây. Họ nhìn ruộng bí ngô trồng trực tiếp trên đất thẳng băng hàng kilômét nhưng không ai nghĩ đấy là công nghệ cao. Thực ra, nhờ ứng dụng công nghệ nông nghiệp chính xác (Precision agriculture) mà nông dân đã tạo được độ phẳng của mặt luống, độ thẳng của luống cày, và độ nghiêng của mặt đất, để nước và chất dinh dưỡng được phân bố chính xác. Hiệu quả này có được là nhờ có vệ tinh hướng dẫn máy móc thực hiện. Nhờ đó, những trái bí ngô trên các thửa ruộng này phát triển rất đồng đều.  Chúng tôi thấy rằng, giống là yếu tố cực kỳ quan trọng. Nó là khâu đầu tiên trong chuỗi giá trị nông sản. Giống tốt là yếu tố tiên quyết để cây trồng tốt, tạo ra năng suất và chất lượng cao. Với một đất nước dựa vào nông nghiệp như Việt Nam, thị trường hạt giống Việt Nam có giá trị phỏng đoán khoảng 660 triệu USD. Việc gần 80% thị phần hạt giống trong tay nước ngoài là thách thức không nhỏ về an ninh lương thực và an ninh quốc phòng. Chúng tôi muốn nông dân Việt Nam được sử dụng nguồn giống tốt, giá cả phù hợp và cả sự an toàn, chủ động trong mùa vụ. Trung tâm Giống rau hoa chúng tôi cũng đã chọn nghiên cứu tập trung vào 15 loại rau bổ dưỡng nhất như cà chua, cà tím, ớt cay, ớt ngọt, càrốt, bông cải xanh, bắp cải…  Qua kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu của mình, tôi rất khâm phục hệ thống tưới nhỏ giọt của Israel. Tuy nhiên, để chọn lựa công nghệ nào hay sản phẩm nào thì cần có sự ứng dụng đồng bộ theo chuỗi giá trị ngành hàng. Quan trọng nhất, khi đầu tư công nghệ cao cho nông nghiệp, không được tách rời từng khâu, đầu tư từng khâu mà phải đồng bộ cả quá trình: giống – gieo trồng – thu hoạch – sau thu hoạch – bao bì – vận chuyển – thị trường tiêu thụ.            Năm 1991, khi Úc nghiên cứu thành công giống  cà chua Red Center có thể tươi ở nhiệt độ thường trong 60 ngày nhờ ứng  dụng gen đột biến “rin”. Nông dân Úc thu lợi lớn. Tác giả nghiên cứu này  là TS Nguyễn Quốc Vọng. Sau hơn 30 năm làm việc tại Úc và Nhật Bản, ông  cùng vợ quay về Việt Nam. Ông sinh năm 1946, từng làm trưởng phòng  nghiên cứu rau quả và trà của viện Nghiên cứu rau hoa quả Gosford, bộ  Nông nghiệp NSW, Úc. Sau đó, ông làm giám đốc chương trình AusAID–CARD  0016 và 004/04VIE, giúp Việt Nam sản xuất rau an toàn và thực hành quy  trình sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP, đồng thời là thành viên hội đồng  tư vấn cho Chính phủ Úc. Ông hiện là giáo sư trường Khoa học ứng dụng,  đại học RMIT, Melbourne, bang Victoria, Úc…                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp chính xác cho năng suất cao và xanh hơn      Với dân số thế giới lên đến gần 10 tỷ vào năm 2050, năng suất nông nghiệp cao hơn thực sự cần thiết đối với nhu cầu thực phẩm – cũng như các tác động do biến đổi khí hậu ngày càng nhiều.      Một số công cụ nuôi trồng chính xác đã được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ, ở Anh quốc, và một số nơi ở Nam Phi  May mắn thay, cả hai thách thức đó có thể khắc phục bằng canh tác chính xác, bảo đảm cho mỗi cây được tưới đúng lượng nước và bón đúng lượng phân để đạt năng suất tối ưu.  “Điều đó khá là ấn tượng, xét về mặt tăng năng suất và giảm tác động môi trường trong canh tác, Vicki Hird, điều phối viên chiến dịch của Sustain, một hãng tư vấn về thực phẩm và môi trường, nhận định. Nông nghiệp đang ngày càng sử dụng các phương pháp nuôi trồng chính xác, bao gồm máy bay không người lái, vệ tinh, robot và việc thu thập dữ liệu dung lượng lớn.  “Trong quá khứ, nông gia thường đánh giá theo đơn vị thửa đất”, Mark Young, giám đốc công nghệ của Climate Corporation, nói. “Hiện nay họ đang dịch chuyển sang thu thập dữ liệu trên từng đơn vị tấc để phân tích và đưa ra các quyết định đúng hơn”.  Một dự án có liên quan đến IBM và nhà máy rượu vang Gallo ở California đã giảm nước tưới 16%, trong khi tăng năng suất nho lên gần 30%. Một kế hoạch tưới tiêu được may đo chế tạo dành cho mỗi khối nho với các bộ cảm biến, hình ảnh vệ tinh và dự báo thời tiết, và điều đó được cập nhật khi các điều kiện thay đổi. Mark Rosegrant, một giám đốc của viện Nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế, cho rằng nông nghiệp chính xác có tiềm năng giảm phân bón và cho phép các nông gia thích ứng với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.  Ứng dụng phân bón đã có thể được quyết định bằng kỹ thuật số. Phần mềm do hãng Smart! của Israel sẽ đưa ra tỷ lệ áp dụng và số lần bón phân cho 250 loại cây trồng trên một loạt các khu vực địa lý. Trong khi đó, Well Cow của Anh chế tạo các bộ cảm biến có thể đặt trong dạ cỏ của một con bò cái, theo dõi việc cho ăn và tiêu hoá. Điều này cho phép nông gia tối ưu hoá chế độ ăn của các con vật, có khả năng giảm phát thải khí mêtan.  Chưa nói tới năng suất, trong các cộng đồng nghèo nuôi trồng thông minh có thể giảm chi phí đầu vào, mở ra các cơ hội thị trường, tiết kiệm thời gian và cải thiện sự bình đẳng giới, theo Jeehye Kim, kinh tế gia của ngân hàng Thế giới. Một số công cụ nuôi trồng chính xác đã được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ, ở Anh quốc, và một số nơi ở Nam Phi chẳng hạn. Một khảo sát năm 2014 cho thấy 83% những người gieo hạt bên Úc sử dụng tay lái GPS khi xử lý các thửa đồng của họ, nhờ đó giảm chi phí đầu vào, nhiên liệu và thời gian. Đầu tư vào nuôi trồng chính xác đạt 661 triệu USD với 96 thương vụ vào năm 2015, tăng 140% so với năm 2014, theo AgFunder, một nền tảng huy động vốn đại chúng ở California. Doanh số này giảm xuống còn 405 triệu USD vào năm 2016, chủ yếu là do chi tiêu vào việc mua máy bay không người lái thấp.  “Điều đó được chứng minh rằng công nghệ trong thế giới phát triển, một số các kỹ thuật này đang được ứng dụng ở các nước đang phát triển”, Rosegrant, người dự báo tốc độ tiếp thu ở một số khu vực châu Á, nơi mà nông nghiệp tương đối tiên tiến, nhận định. Tiến trình có vẻ chậm hơn trong các nước đang phát triển nơi mà các dự án thí điểm thường được định hướng bởi các định chế như ngân hàng Thế giới. “Ở Việt Nam và Ấn Độ, chúng tôi đang thí điểm IoT trên các thiết bị tưới tiêu”,  bà Kim nói. “Các thiết bị này giá cả phải chăng và dễ sử dụng, có thể đẩy năng suất lên, cũng như tiết kiệm nước và giảm khí thải hiệu ứng nhà kính”.  Tương tự, Climate Corporation đưa ra một nền tảng nông nghiệp kỹ thuật số miễn phí ở Ấn Độ, nơi khoảng 70% hộ nông dân nhỏ đã tiếp cận với smartphone, ông Young cho biết. Nền tảng này phát hành bản beta hồi tháng 5 cung cấp cho người dùng các tư vấn về canh tác, cập nhật nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ cũng như giá cả cây trồng mới nhất ở những thị trường gần đó. Mục tiêu dài hạn là đến được với 150 triệu nông gia bên Ấn Độ. Nền tảng cũng được phổ biến ở Á và Phi châu.  Việc tiếp thu công nghệ mới có khác nhau. “Nhiều ứng dụng cần phải được phát triển và may đo phù hợp với môi cảnh canh tác thửa đồng nhỏ”, bà Kim nói. Các vấn đề nối kết internet ở các nước đang phát triển có thể có nghĩa là các công cụ như bộ cảm biến không dây không hoạt động như mong muốn. Với chi phí rủi ro và cơ hội lớn, “nhận thức và niềm tin của các nông gia vào công nghệ cũng có xu hướng thấp”, bà Kim nói. Các chuyên gia lĩnh vực như ông Young, tuy vậy, vẫn lạc quan. Ông nói: “Khi mà các nông gia tiếp tục thấy giá trị của các thiết bị này có thể đem lại cho công việc của họ, chúng ta sẽ chứng kiến một bước tiến bộ mới về sản xuất cây trồng bền vững trên khắp thế giới”.  Đặng Kính (Financial Times)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp CNC: Cơ hội nào cho công nghệ VN?      Bắt đầu sau thế giới hàng trăm năm, liệu viện, trường, doanh nghiệp Việt Nam có thể tạo ra được những công nghệ và dịch vụ kèm theo chuyên nghiệp như các công ty nước ngoài ?      Chuyên gia của TAP đang hướng dẫn nhân viên của VinEco trong nông trường Tam Đảo.  Mặc dù là một trong công ty nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu Israel được truyền thông Việt Nam nhắc đến như một trong ba “đại gia” giúp Vingroup “thống lĩnh thị trường rau sạch”, nhưng TAP (Teshuva Agriculture Projects) có xuất thân rất “bình dị”. Đi lên từ một trang trại gia đình với khoảng 3 ha đất chuyên trồng hoa hồng để xuất khẩu, những người sáng lập TAP đều là nông dân. Vào đầu những năm 2000, họ tự nghiên cứu và phát triển các phương thức trồng rau tối ưu dựa trên việc kết hợp các công nghệ, thiết bị tiên tiến với kỹ thuật trồng trọt truyền thống và xuất khẩu quy trình này ra khắp thế giới. Với mỗi quy trình bao trùm từ sản xuất đến sau thu hoạch (làm lạnh và đóng gói), họ mất khoảng ba – bốn năm thử nghiệm trên chính trang trại của mình trước khi thương mại hóa. Đến bất kì thị trường nào, họ chỉ cần dành một tháng đến sáu tuần để khảo sát trước khi chuyển giao quy trình (bao gồm từ thiết kế, lắp đặt – thi công đến đào tạo và hỗ trợ).       Vì vậy, đến trang trại ở Tam Đảo của VinEco, không ngạc nhiên khi thấy logo của TAP được dán khắp nơi mặc dù không một thiết bị nào được sử dụng trong trang trại là sản phẩm của công ty này. Avner Shohet, CEO của TAP nói với phóng viên Tia Sáng rằng “Cái chúng tôi cung cấp cho khách hàng là know-how, nếu chỉ bán thiết bị thì người nông dân sẽ không “tận hưởng” được ích lợi mà công nghệ mang lại. Thực chất, điều chúng tôi làm là đào tạo họ, giúp đỡ họ”.  Cách làm của TAP gợi ý cho Việt Nam một cái nhìn vượt ra ngoài quan điểm gắn liền nông nghiệp công nghệ cao chỉ với sự hiện diện của cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại. “Nếu xây dựng được một quy trình quản lý sản xuất đúng và chú trọng khâu sau thu hoạch thì ngay cả với một hệ thống nhà kính và tưới đơn giản cũng có sản phẩm chất lượng. Nên nhớ, công nghệ chỉ là yếu tố quan trọng thứ nhì”- Avner nhấn mạnh nhiều lần.  Tại sao các công ty Việt Nam không làm được như TAP?  Ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều công ty cung cấp dịch vụ cho nông nghiệp công nghệ cao trong vòng 10 năm trở lại đây, chủ yếu là tư vấn, thiết kế và xây dựng nhà kính cùng một số hệ thống tưới và nuôi trồng rau, thủy sản. Rất khác với TAP, các công ty này phần lớn là những “tay ngang” bước vào lĩnh vực nông nghiệp. Họ xuất thân từ một ngành khác mà vì nhạy bén với nhu cầu thị trường hoặc yêu thích mà rẽ vào lĩnh vực nông nghiệp. Ban đầu, thi công nhà kính chỉ được coi như một trong những dịch vụ kinh doanh của họ. Trong số đó, một số công ty tranh thủ được thêm ưu đãi của chính phủ trong việc cấp quỹ đất để phát triển nông nghiệp cao đã tham gia đầu tư và sản xuất bằng chính công nghệ nhà kính của mình. Khi thành công, họ sẽ bán lại quy trình của mình cho những người có nhu cầu.    “Việt Nam luôn là như vậy, khi có nhu cầu thì họ sẽ đầu tư” – anh Lại Văn Song, giảng viên khoa Cơ điện, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từng có nhiều năm làm việc với các công ty cung cấp dịch vụ cho nông nghiệp công nghệ cao cho biết. Mặc dù hình thành một cách có phần tự phát, các công ty này cũng có những giải pháp rất thành công. Nhà Nguyễn, công ty chuyên cung cấp dịch vụ xây dựng và thiết kế một số ít giải pháp nuôi trồng trong nhà màng, nhà kính là một ví dụ. Theo anh Song, thiết kế nhà kính của công ty này phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam tới mức “các công ty Israel còn phải học hỏi họ”.  Tuy nhiên, anh Song cho biết, các công ty này ra đời theo kiểu “họ thấy thời cơ thì chớp lấy chứ không có nền tảng” dẫn đến việc các nhà kính được xây dựng xong đều bỏ xó “vô cùng nhiều”. Không ít người đầu tư vào sản xuất nông nghiệp sạch bị rơi vào hoàn cảnh trớ trêu, đó là họ đặt hàng các công ty cung cấp dịch vụ làm nhà kính với niềm tin chắc chắn rằng các công ty này rất hiểu về khí hậu, loại cây, phương thức canh tác của khách hàng để đưa ra một giải pháp phù hợp; trong khi đó, các công ty này lại cho rằng, nhiệm vụ của họ chỉ là xây dựng nhà kính bền, chắc, chịu được điều kiện thời tiết cực đoan theo mẫu có sẵn (mà rất có thể họ lấy các nhà kính ở Đà Lạt để làm mẫu cho Hà Nội). Cuối cùng, dễ hiểu là sản phẩm đưa ra không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, quy trình nuôi trồng mà các công ty xây dựng nhà kính chuyển giao cho người dân hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm của họ với một vài loại cây nhất định. Việc cải tiến quy trình đã có hoặc mở rộng sang nhiều loại cây khác phụ thuộc vào quyết định chủ quan của họ chứ không phải từ yêu cầu, đòi hỏi của thị trường rộng lớn nên rất manh mún.  Để giải quyết những khúc mắc trên, các công ty này thường thuê các nhà khoa học tư vấn ngắn hạn. Nhưng như vậy chưa đủ, nếu không xây dựng bộ phận R&D, họ không thể đo được mức độ chính xác của các quy trình hiện tại, đồng thời cũng không có điều kiện hoặc rất chậm trễ trong việc phát triển và khảo nghiệm những quy trình áp dụng công nghệ mới hoặc cho nhiều loại cây mới – điều không chỉ luôn đẩy rủi ro cho các khách hàng sử dụng dịch vụ mà theo anh Song, còn là lí do quan trọng khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh với những công ty nước ngoài như TAP.  Điều kiện lý tưởng cho bộ phận R&D (nếu có) của những công ty cung cấp dịch vụ phát triển nông nghiệp đó là họ có thể tiếp nhận các nghiên cứu từ các trường đại học. Nhưng theo PGS. Nguyễn Việt Long, Giám đốc Trung tâm ươm tạo công nghệ nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, từ trước đến nay, các nghiên cứu ứng dụng trong nông nghiệp thường phân mảnh, không thành các gói giải pháp; các nhà khoa học trong một lĩnh vực chuyên môn tự nghiên cứu công nghệ rồi tự chuyển giao (thường là trực tiếp cho các đơn vị sản xuất thay vì cho đơn vị cung cấp dịch vụ) nên các công nghệ này không được chuẩn hóa và nhân rộng. Thông qua việc thành lập Công ty TNHH Đầu tư Phát triển và dịch vụ trong trường, PGS. Long hi vọng không chỉ tập hợp các nghiên cứu thành các gói giải pháp hoàn chỉnh mà còn thương mại hóa đúng địa chỉ. Bên cạnh đó, cần phải tổ chức lại cách thức nghiên cứu, tăng tính liên kết giữa các nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau. Từng học tiến sĩ ở Đại học Wageningen, Hà Lan, PGS. Long chia sẻ: “Ở Đại học Wagenigen có hàng trăm nhóm nghiên cứu nhưng không nhóm nào làm việc một mình, đặc biệt là khi cần đưa ra một sản phẩm cụ thể. Những nhóm nghiên cứu chuyên về nông nghiệp liên kết với những nhóm nghiên cứu về kinh tế, xã hội.”  Việt Nam có thể làm gì?  Có hai hướng cho việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao vào canh tác sản xuất hiện nay tại Việt Nam. Thứ nhất là điều chỉnh những hệ thống, quy trình có sẵn của nước ngoài sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Thứ hai là dựa trên những xu hướng mới của thế giới tạo ra những quy trình sản xuất nông nghiệp mới hoàn toàn.  Cách thức thứ nhất thực ra đã được thực hiện ở Việt Nam trên một số công nghệ đơn lẻ. Netafim, công ty cung cấp giải pháp và các thiết bị tưới nhỏ giọt tại Israel mặc dù có phòng R&D với những nhà nông học nghiên cứu thiết kế hệ thống và giải pháp tưới nhỏ giọt cho rất nhiều loại cây trồng trên thế giới nhưng khi vào Việt Nam, công ty này vẫn phải đặt hàng nhiều viện, trường các nghiên cứu điều chỉnh để các giải pháp phù hợp với điều kiện khí hậu, các loại cây đặc thù và trình độ canh tác của người nông dân nước ta.“Hệ thống tưới chỉ là thiết bị thủy lợi cung cấp nước cho cây nhưng “phần mềm” là kỹ thuật sử dụng, kỹ thuật nông học mới là chìa khóa thành công” – Anh Vũ Kiên Trung, CEO công ty Khang Thịnh, đại diện Netafim tại Việt Nam cho biết.  Cách thức thứ hai gắn liền với việc nghiên cứu và phát triển những quy trình sản xuất nông nghiệp sáng tạo để đáp ứng những yêu cầu về canh tác bền vững, thân thiện với môi trường, xây dựng cộng đồng và các xu hướng mới trong kinh tế và công nghệ. Những quy trình này sẽ đòi hỏi cách thức mới trong việc đưa công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin vào sản xuất. Ở Việt Nam, Fargreen là một công ty đi theo hướng như vậy. Fargreen cùng ngồi lại với các chuyên gia trong lĩnh vực điện tử, nông nghiệp, Bộ môn Trồng nấm của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và những người nông dân để đưa ra một quy trình trồng nấm hoàn toàn bền vững và thân thiện với môi trường, mở rộng cho nhiều hộ nông dân cùng tham gia. Một trong những cách đầu tiên để họ có thể liên kết các bên lại với nhau là xây dựng hệ thống cảm biến thông báo và điều khiển điều kiện khí hậu của mạng lưới trồng nấm bao gồm trang trại của công ty và các nông hộ thông qua điện thoại di động. Đại diện của Fujitsu, một trong những công ty nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu Nhật Bản chia sẻ với Tia Sáng rằng, nông nghiệp của tương lai là mô hình “sáng tạo mở”. Theo đó, phải tạo ra nền tảng để tất cả những bên tham gia chuỗi sản xuất nông nghiệp từ doanh nghiệp, viện trường, người nông dân cho đến khách hàng chia sẻ know-how với nhau liên tục để hiểu rõ và nhìn ra các cơ hội mới của thị trường.  Tận dụng hay bỏ lỡ cơ hội?  Các công ty nước ngoài trong thị trường nông nghiệp công nghệ cao như Netafim và TAP bước vào thị trường Việt Nam không nhắm đến những trang trại với diện tích hàng trăm, hàng nghìn ha như VinEco mà tới những nông trại nhỏ và vừa, chiếm chủ yếu số nông hộ của Việt Nam, cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp trong nước. Ngoại trừ các hộ có diện tích nhỏ hơn 1000 m2, còn lại đều có thể là khách hàng của các công ty cung cấp dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao. Theo Avner, phần lớn các công nghệ trong nông nghiệp tiên tiến nhất hiện nay đều phù hợp với diện tích 5000 m2. Với đầu tư ban đầu vài trăm ngàn USD, các nông trại với diện tích này có thể có lãi sau ba năm.    Tuy nhiên, nhìn một cách công bằng, chính nhờ những doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam mà thị trường nông nghiệp công nghệ cao mới trở nên hấp dẫn. Khúc mắc lớn nhất của việc áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp là thuyết phục người nông dân thì những doanh nghiệp nước ngoài đã đảm nhận phần phát triển cộng đồng đầy gian nan này. Chẳng hạn như Netafim vào Việt Nam từ năm 1998, công ty này đã thay đổi hoàn toàn phương thức canh tác lạc hậu của người nông dân, đưa công nghệ này tưới nhỏ giọt phổ biến ở Đà Lạt tới mức “Họ tự mua về dùng giống như họ mua phân bón vậy đó” – Anh Trung nói. Nhờ đó, các doanh nghiệp trong nước với nguồn lực nhỏ không mất công đào tạo lại thị trường.  Sự xuất hiện của những doanh nghiệp nước ngoài là một niềm vui hay nỗi sợ phụ thuộc vào tốc độ chuyên nghiệp hóa của doanh nghiệp Việt Nam trong việc hợp tác với nhau, với viện-trường và với người nông dân để có thể tạo ra những giải pháp có độ chính xác và hiệu quả tương đương như các doanh nghiệp nước ngoài. Bởi vì mức độ tiếp nhận công nghệ của những người nông dân cũng đang thay đổi nhanh chóng mà như anh Trung gọi là “hiệu ứng vết dầu loang”: “Nó đã loang được rồi thì loang nhanh lắm”.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Nông nghiệp công nghệ cao: Cần cái nhìn toàn chuỗi giá trị      Gần đây, chúng ta nói nhiều hơn đến nông nghiệp và ngay đầu tháng hai, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ mong muốn có gói tín dụng 100.000 tỷ để hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Thế nhưng, khi nói đến nông nghiệp công nghệ cao, rất cần có cái nhìn toàn chuỗi giá trị và làm rõ khái niệm công nghệ cao để chương trình hỗ trợ đạt hiểu quả.  Tạp chí Tia Sáng trao đổi cùng TS. Nguyễn Thanh Mỹ – Giám đốc Công ty Rynan Agrifoods về đề tài này.      TS. Nguyễn Thanh Mỹ – Giám đốc Công ty Rynan Agrifoods (đầu tiên bên phải) giới thiệu sản phẩm phân bón thông minh  Thưa ông, nói đến nông nghiệp công nghệ cao, người ta hay nói nhiều về hệ thống nhà kính, công nghệ tưới nhỏ giọt, IoT trong nông nghiệp… Hiểu như vậy đã đầy đủ?  Công nghệ nhà kính hay hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ là một phần nhỏ trong câu chuyện canh tác. Khi nói đến nông nghiệp, tôi nghĩ, chúng ta phải có bức tranh toàn cảnh, nhìn từ năm yếu tố, gồm: đầu vào, canh tác, chế biến, phân phối và tiêu thụ.  Nếu một trong năm yếu tố bị tắc, dù các yếu tố còn lại có phát triển tốt thì cũng rất dễ bị hiệu ứng nút thắt cổ chai. Ví dụ đơn giản như khi anh áp dụng công nghệ giúp sản xuất tốt hơn nhưng các yếu tố đầu vào như phân bón và giống đều phải nhập khẩu, phụ thuộc các nhà cung cấp nước ngoài thì chắc chắn sự chủ động sẽ bị hạn chế và lợi nhuận bị ảnh hưởng.  Khi chúng ta nói nhiều đến yếu tố canh tác, bốn yếu tố còn lại sẽ bị lờ đi và thiếu sự quan tâm của cộng đồng. Điều này dễ dẫn đến hệ quả là những doanh nghiệp trong bốn lĩnh vực còn lại thiếu động lực hoặc có động lực nhưng không tiếp cận được những điều kiện hỗ trợ để phát triển.  Ông có thể nói rõ hơn điều này?  Tôi lấy thí dụ từ câu chuyện phân bón thế này. Nói đến phân bón, chúng ta có phân bón hóa học, phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh. Cần có sự phối hợp cân bằng giữa ba loại phân bón này khi canh tác để vừa đảm năng suất cho cây trồng, vừa đảm bảo sức sống cho đất.  Trong mối quan hệ này, vi sinh đóng vai trò cải tạo đất và tôi gọi vi sinh chính là những anh hùng lao động. Thế nhưng nhìn lại các nhà cung cấp phân bón vi sinh trong nước, tôi thấy đa phần họ nhập từ nước ngoài về bán. Ngay cả những chuyên gia đầu ngành về vi sinh tại Việt Nam, khi chúng tôi hợp tác cùng sản xuất, kết quả cũng chẳng đi đến đâu.  Như vậy, giờ đây, nếu có anh nào đó tiên phong và dũng cảm sản xuất phân bón vi sinh, anh ấy xứng đáng nhận được sự hỗ trợ chứ.  Trong câu chuyện đầu vào, giống cũng đóng vai trò rất quan trọng. Trong khi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, diện tích đất nông nghiệp giảm nhưng dân số lại tăng, nhu cầu về lương thực sẽ là một gánh nặng mà chúng ta cần nghĩ đến trong tương lai.  Lúc này, rất cần nghiên cứu để có những giống có năng suất cao. Ví dụ như ngành lúa gạo, chúng ta có thể tự hào đạt năng suất 8 tấn/héc ta nhưng một số nước trên thế giới đã có giống lúa đạt năng suất 15 tấn/héc ta. Cây lúa trong tương lai, để thích ứng với khí hậu, chắc chắn cần một hình ảnh khác với thân ngắn hơn nhưng đường kính lớn hơn để chắc chắn hơn, tránh bị gió làm đổ ngã; các lá sẽ dốc hơn để diện tích tiếp nhận ánh sáng mặt trời nhiều hơn và tránh lá trên che phủ lá dưới nhằm giúp chúng quang hợp tốt hơn…  Ngoài yếu tố năng suất, chúng ta còn có thêm lựa chọn khác liên quan đến chất lượng. Nhật có giống lúa mà từ đó họ đã làm ra những hạt gạo được bán với giá 109 USD/kg. Vì sao người tiêu dùng chấp nhận trả mức giá như vậy? Gạo đó có gì đặc biệt? Liệu chúng ta làm được không?  Đây là những yếu tố mà thiết nghĩ chúng ta cần phải biết và làm được khi nói đến bài toán nông nghiệp công nghệ cao trong tương lai.  Quay lại câu chuyện phân bón vi sinh. Như vậy có được gọi công nghệ cao?  Vấn đề nằm ở đây là cần làm rõ thế nào là công nghệ cao. Nếu không, mọi thứ thiếu rõ ràng, doanh nghiệp này có thể được hỗ trợ nhưng doanh nghiệp khác, cùng công nghệ, có thể không. Sự nhập nhèm là chỗ dễ nảy sinh tiêu cực và cơ chế xin cho.  Nhưng cuối cùng, câu hỏi quan trọng hơn cần phải trả lời là công nghệ cao để làm gì? Hay nói cách khác, công nghệ anh mang lại giá trị gì tốt hơn cho nông nghiệp hay không. Nếu công nghệ của anh mang lại giá trị cao hơn cho người nông dân hoặc sản phẩm nông nghiệp, anh xứng đáng nhận được sự hỗ trợ.  Bên cạnh nông nghiệp, một cụm từ khác, gần đây, cũng được nói đến thường xuyên là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Có sự giao thoa giữa nông nghiệp và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này?  Mấu chốt của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là sự tương tác giữa thế giới thực và thế giới số. Và nông nghiệp là mảnh đất màu mỡ để áp dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần này. Dễ thấy nhất là công nghệ kết nối Internet vạn vật (IoT) mà báo chí nói đến rất nhiều thời gian gần đây.  Tôi muốn kể một ví dụ khác, nơi nhờ công nghệ, có thể tạo sự thay đổi lớn, đặc biệt với người nông dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.    Cần nhìn nông nghiệp công nghệ cao từ năm yếu tố: đầu vào, canh tác, chế biến, phân phối và tiêu thụ. Ảnh: Doanh nhân Sài Gòn.     Trên thế giới, kỹ thuật canh tác lúa tưới ngập khô xen kẽ (AWD) không hề xa lạ và đã chứng minh mang lại nhiều lợi ích như tiết kiệm nước, nâng cao năng suất, giảm khí thải nhà kính. Kỹ thuật này cũng được Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) hỗ trợ nông dân trồng thử nghiệm tại Bạc Liêu và cho những kết quả tích cực.  Thế nhưng kỹ thuật này tại sao vẫn chưa được người nông dân áp dụng rộng rãi? Câu trả lời vì nó bất tiện và thiếu cơ chế khuyến khích.  Trồng lúa theo kỹ thuật AWD giúp giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính là điều khoa học đã chứng minh nhưng với nông dân, giảm khí thải nhà kính bao nhiêu, họ đâu có quan tâm bởi họ không thấy được và điều đó cũng không gắn với lợi ích trực tiếp của họ.  Để trồng lúa theo AWD, người nông dân cần theo dõi độ sâu mực nước trong ruộng bằng ống quan sát mực nước trên ruộng và bơm/rút nước ra khỏi ruộng để điều tiết từ thông số quan sát được. Làm như vậy bất tiện quá và người nông dân không muốn theo.  Nay, với IoT, thông qua cảm biến đặt tại ruộng lúa và bộ vi điều khiển gắn với máy bơm nước kết nối với chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể cài đặt chế độ tưới tiêu tự động cho mảnh ruộng của mình và theo dõi từ xa qua điện thoại. Điều này thật sự đem đến sự thuận tiện và lợi ích lớn cho nông dân và rộng hơn là môi trường.  Nhưng chi phí để đưa IoT vào nông nghiệp có quá cao?  Lấy ví dụ ngay tại ruộng lúa mà chúng tôi đang trồng theo phương pháp AWD, chi phí triển khai hệ thống IoT không hề cao. Cái cao nhất trong chi phí này thuộc về khâu thiết kế ứng dụng để nhờ đó, người nông dân có thể sử dụng thông qua smartphone. Nhưng ngày nay, những ứng dụng này đã có những công ty khởi nghiệp trẻ giải quyết nên nông dân không phải bận tâm.  Cái khó khi áp dụng công nghệ không hẳn vì công nghệ khó mà vì người nông dân ngại thay đổi thói quen canh tác. Để làm được điều này, cần có thời gian đi kèm sự hỗ trợ từ phía nhà nước.  Cám ơn ông!   Đức Tâm thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp hữu cơ: Có thực làm giảm biến đổi khí hậu?      Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) thường được cho là giúp bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu (BĐKH). Tuy nhiên một công bố gần đây trên Nature cho thấy NNHC không những không góp phần giảm BĐKH, mà còn làm gia tăng BĐKH.      Canh tác hữu cơ ở Florida, Mỹ. Ảnh: National Geographic.   Do đặc thù không sử dụng thuốc trừ sâu, không hormone tăng trưởng, không phân bón hóa học…nên NNHC thường cho năng suất tương đối thấp. Nên để duy trì cùng một năng suất giống như nông nghiệp truyền thống, NNHC buộc phải gia tăng diện tích canh tác.  Thường là các chủ trang trại NNHC phải phá rừng để lấy đất và sử dụng các cánh đồng cỏ vốn có tác dụng thu giữ carbon … để mở rộng diện tích canh tác nhằm bù lại sản lượng thấp này.  Theo tính toán từ ĐH Cranfield, Anh, NNHC giúp giảm trực tiếp khí nhà kính khoảng 5% từ chăn nuôi gia súc, khoảng 20% từ trồng cây lương thực trên một sản phẩm nhưng năng suất giảm 40%. Thiếu hụt sản lượng này buộc sẽ dẫn tới buộc phải nhập thêm thực phẩm từ nước ngoài để bù vào lượng lương thực thực phẩm bị thiếu. Và nếu một nửa diện tích đất đồng cỏ, nơi lưu trữ carbon phải chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu gia tăng đột biến diện tích canh tác thì sẽ làm tăng 21% lượng khí thải nhà kính [2] (để chuyển sang canh tác hữu cơ 100% sẽ cần thêm 1,5 lần diện tích đất để bù cho sự suy giảm sản lượng).  Một phân tích vào năm 2012 trên Nature communication xác định rằng năng suất canh tác hữu cơ thấp hơn từ 5% đến 34% so với nông nghiệp thông thường, tùy thuộc vào các loại cây trồng và các thực hành cụ thể. Ngoài ra, cũng một nghiên cứu trên Nature communication năm 2017 ước tính rằng việc chuyển sang canh tác hữu cơ sẽ tăng mức sử dụng đất từ 16% đến 33% [2].  Tác động phát thải của thịt, sữa và trứng được sản xuất từ chăn nuôi hữu cơ phức tạp hơn. Một mặt, động vật không thể lớn nhanh mà không có hormone, chất bổ sung và thức ăn thông thường, điều này có nghĩa là gia súc phải sống lâu hơn để tới thời điểm thu hoạch, đồng nghĩa với việc làm tăng khí CH4, một loại khí nhà kính. Mặt khác, việc cho phép động vật sống lâu hơn trên đồng cỏ có thể kích thích một số thực vật tăng trưởng và những thực vật này hấp thu CO2 [2], [3].   Những phát hiện này cung cấp thêm khuyến nghị rằng, nếu các nền nông nghiệp ở các quốc gia muốn phát triển nông nghiệp hữu cơ nhằm đáp ứng phân khúc nông sản chất lượng cao, thì cách tốt nhất phải là những thực hành không đòi hỏi phải chuyển đổi nhiều đất đai từ lâm nghiệp sang nông nghiệp, và vẫn đảm bảo năng suất nông nghiệp…   Dũng Hoàng tổng hợp  Nguồn:  1. http://www.fao.org/organicag/oa-faq/oa-faq6/en/#:~:text=Organic%20agriculture%20reduces%20non%2Drenewable,sequester%20carbon%20in%20the%20soil.   2. https://www.technologyreview.com/s/614605/sorryorganic-farming-is-actually-worse-for-climate-change/  3. https://www.nature.com/articles/s41467-019-12622-7#article-comments    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình      Sau nhiều thập kỷ duy trì chính sách bảo hộ số đông những người nông dân canh tác trên quy mô nhỏ, ngành nông nghiệp Nhật Bản đã tự hạn chế việc triển khai các tiến bộ KH&amp;CN và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của mình, nhưng những sức ép do xu hướng phát triển xã hội và khả năng gia nhập TPP đang buộc họ phải đối diện với lựa chọn khó khăn: cải cách hoặc suy thoái.    Cánh đồng lúa của Mutsuo Banba nằm ở quận Ishikawa, một khu vực ven biển phía Tây Bắc của Nhật Bản. Là một nông dân làm việc toàn thời gian và từng được chính phủ khen thưởng về tài quản lý sản xuất nông nghiệp, mỗi ngày ông đều đến chăm sóc cánh đồng của mình trong dịp mùa vụ. Nhưng nhiều nông dân Nhật Bản khác là những người làm bán thời gian và không chuyên tâm được như Banba. “Họ ở trong nhà có máy lạnh, trong khi lúa ngoài đồng bị khô nẻ, nứt cả hạt ra ngoài”, Banba phàn nàn. Điều này khiến ông bất bình, khi những người của hiệp hội địa phương đến thu hoạch, thóc lúa của mọi nhà được trộn lẫn và không thể phân biệt ai tốt ai xấu.       Tầm ảnh hưởng chính trị của những nông dân bán thời gian      Những người nông dân làm bán thời gian ở Nhật Bản thường không có động lực để toàn tâm cho đồng ruộng vì đa số đã có các công việc khác và chỉ ra đồng khi có thời gian rảnh. Thu nhập hằng năm của họ thường trên mức trung lưu của Nhật Bản và không phụ thuộc nhiều vào doanh thu sản xuất nông nghiệp, vì vậy họ không cần phải đầu tư nhiều cho công việc này, và hầu hết đều thỏa mãn với việc vĩnh viễn canh tác trên quy mô nhỏ. Chính sách bảo hộ của Chính phủ Nhật cho phép nông dân Nhật có thể không làm gì mà vẫn được trợ cấp – năm 2012, trợ cấp của Chính phủ Nhật cho nông dân chiếm tới 56% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp quốc gia này, chỉ thấp hơn so với Na Uy và Thụy Sỹ, theo số liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).   Tuy nhiên, do không dành nhiều thời gian cho việc trồng trọt, nông dân làm bán thời gian trên quy mô nhỏ ở Nhật Bản có xu hướng dùng nhiều hóa chất trừ sâu và diệt cỏ hơn nông dân làm toàn thời gian trên diện tích canh tác lớn. Theo một thống kê từ năm 2000, trong số những nông dân canh tác dưới 1 hecta, chỉ có 20% có phương thức canh tác thân thiện với môi trường, trong khi với những nông dân làm tối thiểu 10 hecta thì tỉ lệ này là trên 50%.     Với số lượng chiếm một tỉ lệ áp đảo so với số nông dân làm toàn thời gian – trong tổng số 1,5 triệu nông dân Nhật chỉ có 420 nghìn người làm toàn thời gian – mặc dù không có nhiều cống hiến về năng suất trồng trọt nhưng đội ngũ nông dân bán thời gian ở Nhật Bản có ảnh hưởng chính trị đáng kể, thông qua một mạng lưới hiệp hội toàn quốc mang tên hội Nông nghiệp Nhật Bản (JA). Hiệp hội này có mối quan hệ mật thiết với Đảng Dân chủ Tự do và Bộ Nông nghiệp, với số thành viên lên tới 10 triệu người (tương đương khoảng 8% dân số Nhật), và nhân viên hiệp hội trên toàn quốc lên tới 240 nghìn người – JA thậm chí còn có một ngân hàng riêng, với tổng giá trị tài khoản tiền gửi lên tới 532 tỷ USD, ngang ngửa với một ngân hàng quốc tế lớn trên thế giới là Barclays – có thể coi là tổ chức vận động chính sách hùng mạnh nhất ở Nhật Bản.     JA và Đảng Dân chủ Tự do luôn cực lực phản đối việc Nhật Bản đàm phán để tham gia vào hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Bộ Nông nghiệp cũng đồng tình với họ với nhận định rằng TPP sẽ khiến Nhật Bản mất đi 9 phần 10 thị phần và sản lượng gạo, kéo theo mất đi 3,4 triệu công ăn việc làm. Với sự hậu thuẫn này, hiện nay, hội JA đang có chiến dịch vận động duy trì mức thuế rất cao đánh vào hàng nông nghiệp nhập khẩu: thuế gạo nhập khẩu lên tới 777,7%, thuế bơ nhập khẩu là 360%, thuế đường nhập khẩu là 328%.       Nghịch lý Nhật Bản: có năng lực công nghệ nhưng tự trói tay mình     Thay vì phải cố thủ dựa vào hàng rào thuế quan cao vượt bậc, người Nhật hoàn toàn có đủ năng lực để có thể triển khai công nghệ cao vào nông nghiệp, làm giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh nông sản. Ví dụ nông dân Nhật có thể áp dụng kỹ thuật quản lý canh tác bằng cách chia ô ruộng, dùng công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để đo chính xác diện tích từng ô, rồi dùng công nghệ cảm biến để liên tục theo dõi, đánh giá chất lượng đất, đồng thời phân tích hàm lượng nitơ dựa trên cảm biến màu sắc của lá cây trồng, từ đó tính đoán ra lượng phân bón phù hợp cho từng ô ruộng, hoặc các thiết bị tự động có thể giúp theo dõi thời tiết, cho dữ liệu giúp dự đoán đợt bùng phát sâu bệnh để nông dân phun thuốc trừ sâu một cách hiệu quả và tiết kiệm.                 Mặc dù được trợ cấp nhiều nhưng đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng GDP của Nhật Bản ngày càng thấp.          Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn luôn bảo thủ với chính sách kiểm soát sản lượng để bảo vệ những người nông dân làm nông nghiệp ở quy mô nhỏ, khiến việc áp dụng công nghệ cao trở nên vô cùng đắt đỏ và không khả thi. Thậm chí một số loại công nghệ phố biến ở nước khác nhưng ở Nhật Bản lại bị hạn chế triệt để – ngay từ những năm 1970, việc nghiên cứu triển khai những giống lúa năng suất cao vẫn luôn là điều cấm kỵ đối với các nhà khoa học ở tầm trung ương cũng như địa phương. Hậu quả là hiện nay sản lượng gạo trên cùng một đơn vị diện tích ở Nhật Bản dưới mức 40% sản lượng gạo ở California, theo đó chi phí sản xuất cũng cao hơn trên 28%.       Nguy cơ suy thoái ngành nông nghiệp do chính sách bảo thủ     Do chính sách tự trói buộc mình nên nếu phải cạnh tranh với hình thức canh tác trên quy mô lớn kiểu Mỹ – ví dụ gieo hạt bằng máy bay – thì chắc chắn mô hình canh tác quy mô nhỏ của Nhật Bản sẽ sụp đổ, theo nhận định của ông Kozo Watanabe, một người đại diện của JA. Đây là lí do khiến vấn đề thuế nhập khẩu gạo là đề tài gây tranh cãi nhất ở Nhật Bản khi bàn về TPP, và JA không ngừng vận động để Chính phủ Nhật duy trì mức thuế nhập khẩu cao để ngăn chặn gạo nhập khẩu từ Mỹ và các nước khác, cho phép nông dân Nhật tiếp tục trồng lúa với quy mô nhỏ.             Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy nếu Chính phủ Nhật bãi bỏ chính sách hạn chế sản lượng gạo, giá gạo của Nhật sẽ giảm từ 13.000 Yen/60kg xuống còn 8000 Yen/60kg, tức là còn thấp hơn giá gạo sản xuất của Trung Quốc. Khi đó Nhật Bản sẽ không còn phải dựa vào thuế nhập khẩu để bảo vệ sức cạnh tranh của gạo nội địa, và thậm chí gạo Nhật Bản có thể còn được xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong những năm gần đây, gạo Nhật Bản đã được xuất khẩu sang Đài Loan và Hồng Kông. Gạo Nhật được nhiều nước ưa chuộng do ưu thế về chất lượng. Vì vậy, nếu chính sách hạn chế sản lượng được bãi bỏ khiến chi phí và giá thành sản xuất giảm xuống, người Nhật tin rằng ngành lúa gạo sẽ trở thành một ngành xuất khẩu có ưu thế của mình.           Những người vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như Watanabe thường lập luận rằng lúa gạo là “sản phẩm linh thiêng” của người Nhật, và hoạt động canh tác lúa gạo mang tính cộng đồng và trên quy mô nhỏ được coi là hệ quả tự nhiên của lịch sử đất nước (với đặc thù địa lý quốc gia nhiều đồi núi), đến nay đã trở thành một bản sắc văn hóa của dân tộc.      Thực tế thì số lượng hộ nông dân nhỏ ở Nhật tăng mạnh sau năm 1945, khi một cuộc cải cách ruộng đất quan trọng ở Nhật Bản đã phân phối lại đất nông nghiệp từ tay các lãnh chúa lớn vào tay nông dân. Tới giai đoạn sau này, người ta từng hi vọng các hộ nông dân nhỏ sẽ chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sang các ngành công nghiệp khác, đồng thời sẽ bán đất hoặc cho các hộ nông dân khác thuê để làm nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, theo lời Masatoshi Wakabayashi, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thời Chính phủ của Thủ tướng Abe nhiệm kỳ năm 2007. Tuy nhiên, trong thực tế giá đất đai ở Nhật Bản tăng vọt khiến nông dân có xu hướng giữ lại đất với hi vọng sau này có thể bán lại cho các dự án khu công nghiệp, đô thị, v.v. Luật đất đai nghiêm ngặt ở Nhật Bản cũng khiến việc mua bán đất diễn ra không dễ dàng.      Hậu quả là ngày nay khi các vùng nông nghiệp ngày càng thưa dân cư, có tới một phần mười đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Thế hệ trẻ đa số không muốn theo nghề nông khiến tuổi thọ trung bình của nông dân ngày càng cao: thống kê năm 2010 cho thấy tuổi thọ trung bình của nông dân là 70. Trước tình hình này, một quan chức Bộ Nông nghiệp Nhật Bản thừa nhận rằng nông nghiệp Nhật Bản đang phải đối diện với một lựa chọn không tránh khỏi: cải cách hoặc suy thoái.     Trong một báo cáo hồi tháng 5 năm ngoái, hai nhà kinh tế Randall Jones và Shingo Kimura của tổ chức OECD cũng đã viết: “Nếu không tiến hành cải cách một cách căn bản, nông nghiệp [Nhật Bản] sẽ tiếp tục suy thoái, mắc kẹt trong cái bẫy năng suất thấp, thu nhập thấp, và phụ thuộc vào chính sách trợ cấp và bảo hộ thương mại của Chính phủ”.     Gia nhập TPP: chất xúc tác để cải cách     Gia nhập TPP và giảm thuế là giải pháp duy nhất cho nông nghiệp Nhật Bản, Banba nói. “Những người nông dân giỏi của Nhật Bản không e sợ TPP”, ông khẳng định. Việc gia tăng cạnh tranh sẽ buộc những hộ nông dân nhỏ không chuyên tâm làm nông nghiệp bán lại đất, và những người làm nông nghiệp toàn thời gian như ông có thể gom được nhiều đất trồng trọt hơn. Hi vọng này của Banba không phải là vô căn cứ, một nông dân láng giềng của ông, nay đã 74 tuổi, cho biết sẽ để Banba thuê lại đất của mình ngay khi Nhật Bản ký vào hiệp định TPP, theo đó cho phép nhập khẩu gạo giá rẻ của Mỹ.                 Thủ tướng Shinzo Abe trả lời họp báo về TPP ở Tokyo, Nhật Bản hôm 15/3/2013          Nếu Nhật Bản gia nhập TPP, nhiều khả năng họ sẽ nỗ lực tìm cách đề nghị được trì hoãn vài năm trước khi xóa bỏ chính sách bảo hộ nông dân, đặc biệt đối với những sản phẩm được coi trọng như lúa gạo. Tuy nhiên, từ trước đó Nhật Bản đã phải triển khai những chính sách cải cách nông nghiệp quyết liệt, theo nhận định của Masayoshi Honma, giáo sư kinh tế Đại học Tokyo. Trước hết, Nhật Bản cần ban hành các chính sách giúp tập trung đất đai vào tay những người nông dân có năng lực. Những người mới bước chân vào nghề nông, bao gồm cả các doanh nghiệp, phải được quyền mua đất, thay vì chỉ được thuê lại.      Việc đàm phán tham gia TPP và tiến hành cải cách nông nghiệp sẽ phải được Chính phủ của Thủ tướng Abe triển khai đồng thời, vì nếu tham gia TPP và cho phép hàng nông sản nhập khẩu ồ ạt tràn vào thị trường trong khi người nông dân chưa kịp nâng cao năng lực cạnh tranh thì đó sẽ là thảm họa cho ngành nông nghiệp Nhật.      Trong khi đó, ở phía ngược lại, những nhà vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như hội JA sẽ tiếp tục tìm mọi cách để ngăn cản Nhật Bản cải cách nông nghiệp cũng như gia nhập TPP. Quyền lực và lợi ích của JA phụ thuộc vào số lượng thành viên của nó, vì vậy JA chắc chắn không muốn thay đổi hiện trạng cơ cấu đất nông nghiệp của Nhật Bản. Tuy nhiên, dù làm cách nào thì JA vẫn không thể thay đổi được thực tế là các thành viên của mình đang ngày càng già đi, và ảnh hưởng chính trị của nó cũng theo đó giảm dần.              Thanh Xuân  tổng hợp     http://www.economist.com/news/asia/21576154-fewer-bigger-plots-and-fewer-part-time-farmers-agriculture-could-compete-field-work  http://www.bloomberg.com/news/2013-12-12/abe-pushes-biggest-farm-revamp-since-macarthur-broke-landlords.html  http://www.japanpolicyforum.jp/en/archives/economy/pt20140204184909.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp thời AI      Trí tuệ nhân tạo (AI) hiện diện khắp nơi, từ quân sự đến kinh tế, từ lĩnh vực ô tô tự động đến ngành bán lẻ. AI cũng đã hiện diện trong nông nghiệp và được kỳ vọng đem lại nhiều giá trị hữu ích cho người nông dân.      Những người nông dân Ấn Độ sử dụng smartphone để theo dõi vụ mùa. Nguồn ảnh: Microsoft News Center India.  Đầu tháng 6/2016, trong khi những người nông dân tại Bairavanikunta, một ngôi làng ở Ấn Độ, đang tất bật gieo hạt cho mùa vụ mới thì Chinnavenkateswarlu vẫn án binh bất động. Anh quyết định chờ thêm ba tuần, tức đợi đến ngày 25-6, mới quyết định bắt đầu vụ mùa theo gợi ý từ ứng dụng Tư vấn gieo hạt dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI Sowing App). Đây là ứng dụng do Microsoft phối hợp với Viện Nghiên cứu cây trồng quốc tế cho vùng nhiệt đới bán khô cằn (International Crop Research Institute for the Semi-Arid Tropics – ICRISAT) thực hiện. Kết quả mang lại đúng như kỳ vọng của các bên tham gia. Năng suất trên cánh đồng của Chinnavenkateswarlu cao hơn 30% so với những cánh đồng khác trên cùng khu vực.  Mấu chốt của vấn đề nằm ở thời gian gieo hạt, đặc biệt tại những vùng khô hạn và cây trồng phụ thuộc nhiều vào nước tưới từ nguồn mưa tự nhiên. Chúng ta hiểu thế này. Khi cây vào giai đoạn phát triển, nếu gặp đúng thời điểm mưa đến, cây trồng được mùa. Nếu không, kết quả sẽ không được như ý. Vậy làm sao canh được thời điểm gieo hạt thích hợp để tận dụng được nguồn nước trời? Đây là bài toán mà người xưa đã có lời giải và những người đồng hương của anh Chinnavenkateswarlu vẫn đang làm theo kinh nghiệm truyền lại của cha ông. Kiến thức của người xưa không sai nhưng nay khí hậu đã biến đổi. Cơn mưa đến không đúng hẹn và khó đoán.  Microsoft và ICRISAT hiểu rõ vấn đề này. Để tính toán thời điểm gieo trồng tối ưu, về nguyên tắc, họ xác định dựa trên Chỉ số độ ẩm phù hợp (Moisture Adequacy Index – MAI). Để xác định MAI, Microsoft và ICRISAT thu thập dữ liệu về thời tiết và khí hậu tại khu vực Devanakonda thuộc bang Andhra Pradesh trong ba mươi năm, từ năm 1986 đến 2015 và dùng trí tuệ nhân tạo để phân tích và dự đoán.  Những kết quả tích cực từ vụ mùa năm 2016 giúp ICRISAT tự tin để đưa trí tuệ nhân tạo phục vụ rộng hơn cho cộng đồng nông dân. Năm 2017, đã có 4.000 nông dân tại hai bang Kartakana và Andhra Pradesh đăng ký tham gia nhận tư vấn từ ứng dụng AI Sowing, tăng 23 lần so với con số 175 nông dân tiên phong thử nghiệm một năm trước đó1.  Xin chuyển sang câu chuyện thứ hai liên quan đến việc phòng và trị bệnh trong nông nghiệp. Bạn làm gì để phòng bệnh cho cây trồng? Theo cách thông thường, nông dân sẽ đi thăm đồng và quan sát. Nếu thấy dấu hiệu của sâu bệnh, ví dụ như màu sắc hoặc hình dạng lá bị biến đổi bất thường, nông dân sẽ phun thuốc để diệt mầm bệnh ngay từ gốc.  Nguyên tắc trên được Prospera, một startup tại Israel, áp dụng để xây dựng phần mềm phòng ngừa sâu bệnh trên cây cà chua dựa trên nền tảng trí thông minh nhân tạo. Cách họ làm như sau. Công ty này lắp đặt 10 camera trên trần nhà kính trồng cà chua. Các camera này ghi nhận hình ảnh theo thời gian thực. Từ hình ảnh ghi nhận, phần mềm của Prospera sẽ xử lý và nhận dạng nếu thấy các vấn đề, ví dụ như cây bị chết, nhiễm sâu bệnh … xuất hiện.  NatureSweet – một công ty chuyên trồng cà chua trong nhà kính, là một trong những khách hàng lớn của Prospera. Những kết quả đầu tiên thu được từ 6 trang trại cà chua được NatureSweet trồng tại Mỹ và Mexico khi áp dụng Prospera cho thấy năng suất thu hoạch tăng từ 2% – 4%. Đây không phải là con số quá lớn. Tuy vậy, NatureSweet kỳ vọng con số tương ứng sẽ tăng lên 20% khi phần mềm được cải thiện theo thời gian2.  Ở đây, còn một giá trị khác quan trọng hơn mà phần mềm Prospera mang lại. Theo CNN, trước đây NatureSweet phải cần đến 8.000 nhân viên đi vòng quanh các trang trại để kiểm tra. Quá trình này chậm chạp và tốn kém. Công ty chỉ có thể thực hiện một lần mỗi tuần. Nay, nhờ ứng dụng mới, NatureSweet có thể kiểm soát tình hình thông qua hệ thống camera và phần mềm ngay lập tức mà không cần nhân viên phải đi khảo sát tại hiện trường. Chi phí nhân công giảm, mầm bệnh được phát hiện nhanh, giúp tăng khả năng phòng ngừa sâu bệnh.  Trước khi phân tích phương thức mà phần mềm của Prospera hoạt động, xin quay lại câu chuyện người nông dân đi thăm đồng. Đầu tiên, người nông dân sẽ quan sát xem có dấu hiệu gì bất thường không. Tiếp theo, nếu có, người ấy, bằng kiến thức của mình, sẽ đoán/biết đó là triệu chứng của bệnh gì. Nếu thay người nông dân bằng bạn, hoặc tôi – những người không biết gì về nông nghiệp, chúng ta có thể thấy một chiếc lá úa trong rừng lá xanh. Thế nhưng ta sẽ không biết cây mắc bệnh gì. Đó là sự khác biệt mà tri thức và kinh nghiệm mang lại.      AI là xu hướng và chúng ta không thể đứng bên lề nhưng cũng cần tỉnh táo nhận ra AI chỉ là một công cụ. Nó không giải quyết cái gốc trong nền nông nghiệp vẫn còn loay hoay với câu chuyện trồng cây gì, nuôi con gì. Để giải bài toán này, chúng ta rất cần một trí tuệ của con người chứ khó có thể trông chờ vào trí tuệ từ máy tính được.        Bây giờ, xin hãy làm phép liên tưởng. Camera mà Prospera sử dụng chính là con mắt của người nông dân. Phần mềm sẽ chuyển film mà camera ghi nhận thành những hình ảnh liên tục. AI sẽ nhận diện sự bất thường của ảnh. Bước tiếp theo, cũng chính AI sẽ phân tích hình ảnh này và so sánh với kho dữ liệu mà nó được xây dựng trước đó để xác định loại bệnh. Ở đây, kho dữ liệu tương ứng với kiến thức mà người nông dân có được trước đó, còn AI tương ứng với bước nhận thức và phân tích của bộ óc con người. Con người học càng nhiều càng giỏi, AI cũng tương tự như vậy, càng được dạy nhiều, càng tiến bộ.  Qua hai câu chuyện nêu trên, ta thấy giá trị tiềm năng của AI. Nếu bạn vẫn muốn biết thêm các câu chuyện khác trên thế giới, chỉ cần vài thao tác trên Google, không khó để bạn đọc tìm được những ứng dụng của AI trong nông nghiệp.  Đến đây, bạn hỏi, liệu AI có khả thi ở Việt Nam? Người viết đem câu hỏi này trò chuyện cùng một người bạn khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ nông nghiệp (AgTech). Anh chia sẻ, AI không phải là một khái niệm mới với dân kỹ thuật và hoàn toàn khả thi để áp dụng tại Việt Nam. Bên cạnh AI, ba yếu tố khác là điện toán đám mây, Internet kết nối vạn vật (IoT) và dữ liệu lớn cũng rất đáng quan tâm. Bốn công nghệ này sẽ tác động mạnh mẽ đến nền nông nghiệp thế giới và Việt Nam. Mỗi startup, tùy vào nguồn lực, tầm nhìn và thời điểm khởi nghiệp, sẽ chọn lĩnh vực phù hợp để bắt đầu dự án của mình. Phần anh, anh xây dựng ứng dụng quản lý tưới tiêu chính xác từ xa dựa trên nền tảng chính là Internet kết nối vạn vật. Sau tưới tiêu sẽ là phân bón. AI là câu chuyện ở bước kế tiếp.  Dĩ nhiên thứ tự trên không đúng với mọi trường hợp. Vẫn có startup chọn ngay AI để định vị sản phẩm của mình khi mới bắt đầu. Trong số này, gần đây nổi lên Sero3, một startup công nghệ nông nghiệp thông minh, cung cấp ứng dụng giúp nông dân chẩn đoán bệnh cho cây lúa thông qua hình ảnh tương tự như cách Prospera làm với cây cà chua.  Xin quay lại chủ đề chính: ứng dụng AI trong nông nghiệp. Ví dụ về ứng dụng rất đa dạng. Đó là về hình thức. Còn bản chất, AI được xây dựng dựa trên ba yếu tố quan trọng đó là năng lực tính toán của máy tính, thuật toán, và dữ liệu đầu vào. Máy tính có thể mua. Thuật toán có thể học nhưng dữ liệu bắt buộc phải xây dựng. Không có dữ liệu, không có AI. Dữ liệu càng đầy đủ và phong phú, AI càng phát huy sức mạnh. Đây là điểm thiết nghĩ chúng ta cần quan tâm.  Sở dĩ nói vậy là vì như chia sẻ của tiến sĩ Nguyễn Văn Giáp, nghiên cứu viên cao cấp về chính sách nông nghiệp tại chương trình Sáng kiến Chính sách công Hạ lưu Mekong (LMPPI), Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbight (FETP), thông tin dữ liệu trong ngành nông nghiệp Việt Nam rất manh mún, phân tán, và thiếu tính hệ thống.  Chính điều này làm cho một doanh nghiệp khi đặt chân vào ngành gặp nhiều khó khăn. Ví dụ đơn giản như một doanh nghiệp muốn trồng đậu bắp, họ cần biết nơi nào có thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp, diện tích quy hoạch bao nhiêu, giống đậu bắp nào hiện nay có năng suất tốt nhất, tìm giống bắp này ở đâu, sản lượng đậu bắp hiện nay như thế nào, đâu là những doanh nghiệp lớn trong ngành? … Những thông tin cơ bản này, theo ông Giáp, không dễ tìm kiếm ở Việt Nam.  Đó là câu chuyện vĩ mô. Đi vào từng trường hợp cụ thể, việc tìm kiếm thông tin liên quan cũng không đơn giản. Đây chính là khó khăn mà một startup công nghệ Việt Nam phải đối mặt khi đặt chân vào lĩnh vực nông nghiệp.  Khi chúng ta hướng đến một nền nông nghiệp công nghệ cao, hay nói theo ngôn ngữ thời thượng là nền nông nghiệp thời cách mạng công nghiệp lần thứ 4, xin đừng quên cái gốc căn bản là dữ liệu, thông tin. Cây trồng sống nhờ đất và công nghệ sống nhờ thông tin.  Và sau cùng, ngay khi chúng ta đã có dữ liệu cơ bản trong ngành nông nghiệp làm nền tảng cho ứng dụng AI thì cũng xin lưu ý rằng đây mới chỉ là điều kiện cần. AI giúp nông dân làm việc hiệu quả hơn. Điều đó không đồng nghĩa với kết quả tốt hơn. Ví dụ với AI, Sero có thể giúp nông dân giảm chi phí khi phòng trị bệnh cho cây lúa nhưng nếu lúa gạo bị dội chợ hoặc rớt giá thì mọi việc cũng không còn nhiều ý nghĩa.  Viết vậy không có nghĩa chúng ta bỏ qua những ứng dụng của AI. AI là xu hướng và chúng ta không thể đứng bên lề nhưng cũng cần tỉnh táo nhận ra AI chỉ là một công cụ. Nó không giải quyết cái gốc trong nền nông nghiệp vẫn còn loay hoay với câu chuyện trồng cây gì, nuôi con gì. Để giải bài toán này, chúng ta rất cần một trí tuệ của con người chứ khó có thể trông chờ vào trí tuệ từ máy tính được.     Tham khảo:  1https://news.microsoft.com/en-in/features/ai-agriculture-icrisat-upl-india/  2http://money.cnn.com/2017/07/26/technology/future/farming-ai-tomatoes/index.html  3http://sero.ai/about?lang=vi         Author                Đức Tâm        
__label__tiasang NOVAON: Khát vọng quảng cáo trực tuyến trên đất Việt      Trước đây, quảng cáo truyền thống là lựa chọn hàng đầu của tất cả các nhãn hàng. Hiện nay, trước sự bùng nổ mạnh mẽ của nhiều kênh truyền hình trong nước và quốc tế, khách hàng có rất nhiều lựa chọn các chương trình truyền hình khác nhau, do đó việc thu hút người tiêu dùng theo dõi quảng cáo là không dễ dàng.    Một hướng đi mới cho các doanh nghiệp đó là quảng cáo trực tuyến cũng đang phát triển khá nhanh. Và Tập đoàn NOVAON do Nguyễn Minh Quý sáng lập đã đón đầu lĩnh vực quảng cáo trực tuyến này.  Hành trình khởi nghiệp  Vào thời điểm khi mà Internet còn rất hiếm ở Hà Nội, đó là năm 2003, chàng sinh viên Đại học Ngoại Thương còn đang phải đôn đáo khắp nơi để tìm một quán Internet chỉ để chat với bạn gái đang du học tại Mỹ. Cũng chính bởi khó khăn thời bấy giờ mà Quý đã nảy ra ý tưởng mở cửa hàng Internet. Hàng ngày quan sát khách hàng sử dụng Internet với nhiều mục đích khác nhau như giải trí, nghiên cứu, làm việc, trao đổi thông tin… anh chắc chắc xu hướng này sẽ phát triển và tạo bước đột phá cho con người.  Nắm bắt được tâm lý của khách hàng, nên cửa hàng Internet đáp ứng được nhu cầu của không những sinh viên trong nước mà cả sinh viên quốc tế như sinh viên Lào thường gọi điện, sinh viên Trung Quốc cần bàn phím có mã tiếng Trung… do đó chỉ trong 1 năm, cửa hàng của Quý đã thu được 1,2 – 1,5 triệu đồng/ngày, và với lợi nhuận đó chàng trai tiếp tục đầu tư và mở rộng.  Trong khoảng thời gian ngắn kinh doanh Internet, Minh Quý phát hiện ra rằng, Internet là ngành “phẳng”, khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp mới bắt đầu không quá lớn; dựa vào sức mạnh tri thức nhiều hơn là sức mạnh mối quan hệ, tài chính hay kinh nghiệm; được update tri thức thường xuyên nên với những người chăm học hỏi sẽ rất thích hợp.  Đây là những đặc điểm phù hợp với giới trí thức trẻ và anh quyết định lựa chọn để khởi nghiệp. Phân tích kỹ hơn cho thấy, xu thế Internet tập trung vào 3 nội dung chính và những thế mạnh của mình: (1) Thương mại điện tử – đây là hình thức cần số vốn đầu tư ban đầu lớn; (2) Game-đây lại là nội dung mà mình không chuyên và có thế mạnh; và (3) Quảng cáo trực tuyến-đây là nội dung không cần nhiều vốn, lại phát huy được những kiến thức mình có. Đây thực sự là định hướng mà Minh Quý muốn lựa chọn.  Quá trình kinh doanh quán Internet giúp Quý làm quen với nhiều bạn bè trong giới công nghệ thông tin. Ra trường, với ý định đầu quân cho FPT nhưng không thành, Quý quay ra làm dịch vụ thiết kế web, in ấn… Một thời trang web www.top1.vn của Quý đứng hạng 20 – 30 ở Việt Nam, thu hút một số thương hiệu quảng cáo. Thời điểm đó, trang web được thị trường định giá 5 tỷ đồng.  Tuy nhiên, cuối năm 2007, do năng lực quản trị chưa tốt nên trang web bị tụt hạng nhanh chóng. Công ty với số lượng nhân sự 30 người đã tan rã, và chỉ còn lại 4 người kèm theo … nợ nần. Sau thất bại, mọi thứ trở về zero, Quý tiếp tục thuyết phục bố mẹ hỗ trợ tài chính để đầu tư vào phát triển bản thân và học về quản lý CEO, đồng thời tìm đến những người đi trước đã thành công để học hỏi kinh nghiệm. Bằng sự cầu thị, ý chí kiên định với con đường mình đi, Quý đã được mọi người tin tưởng, chỉ bảo và có được những kinh nghiệm nhất định.  Sau một thời gian, Quý quyết đứng lên làm lại từ đầu. Thuê một văn phòng nhỏ, vừa là nơi ở, vừa là nơi làm việc với 7 nhân viên, Quý bắt đầu cuộc chiến mới. Gần như ngay sau đó, họ gây chú ý bằng việc làm từ khoá trên Google cho doanh nghiệp vàng bạc đá quý Phú Quý. Tháng 7/2006, Nguyễn Minh Quý chính thức gia nhập thị trường quảng cáo trực tuyến bằng việc thành lập Công ty cổ phần Quảng cáo trực tuyến Sao Mới. Và đến năm 2010, anh đổi tên công ty thành NOVA ADS.  Minh Quý cho biết: “Tôi luôn đặt hoài bão phải xây dựng 1 tổ chức lớn trở thành trụ cột cho nền kinh tế nước nhà như Samsung, LG, Huyndai… đã làm với Hàn Quốc. Và ngành phù hợp nhất là marketing online, sử dụng chất xám nhiều, sức trẻ tốt, cần tinh thần học hỏi cao… Đó là một ngành rất phẳng”.  Chọn được mảnh đất phù hợp, lại đón đúng cơn gió lành từ thị trường nhiều tiềm năng, con diều NOVA ADS cứ vậy vươn cao để rồi phát triển thành Tập đoàn Internet NOVAON vào tháng 7/2014.  Tò mò với ý nghĩa của tên NOVAON, Minh Quý giải thích: “NOVAON cấu thành từ NOVA-tên 1 ngôi sao và ON, nghĩa là online. Hiện tại, NOVAON vận hành với 3 mảng hoạt động chính: (1) Digital marketing; (2) Thương mại điện tử; (3) Xuất khẩu phần mềm.  Thời gian đầu sơ khai, cả thị trường đều tin quảng cáo trực tuyến sẽ không hiệu quả. Quý và các bạn phải làm công tác đào tạo thị trường (tổ chức hội thảo mời các doanh nghiệp đến để chia sẻ xu hướng, cách làm, giới thiệu các câu chuyện thành công trên thế giới, khu vực hay đơn giản trong chính doanh nghiệp). Dần dần, trong 3-4 năm tiếp theo, mọi người nhận ra hiệu quả và dám đầu tư. Mặt khác, Quý cũng quyết định không đi theo xu hướng phát triển nội dung như các báo điện tử vẫn thường làm mà trở thành đối tác của các công ty quốc tế như Google, Facebook và sau này là Instagram, Youtube. Ban đầu, việc kết hợp đối tác với các công ty nước ngoài cũng khá mạo hiểm vì thị phần quảng cáo trực tuyến của các công ty này tại Việt Nam chỉ chiếm chưa đến 20% nhưng sau gần 10 năm, thị trường đã có sự đảo ngược khi doanh thu từ quảng cáo tăng  130 lần (đạt 390 triệu USD và các công ty nước ngoài chiếm trên 75% thị phần).  Nhờ lựa chọn đúng đắn, kiên trì với mục đích của mình, công ty của Quý ngày càng phát triển, nhân sự cũng không ngừng tăng lên. Để có được ngày hôm nay, Minh Quý cũng may mắn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của những người anh, trong đó anh Nguyễn Cảnh Bình là người giúp đỡ Quý nhiều nhất bởi anh nhìn thấy trong con người Quý hình ảnh của mình 10 năm về trước-một chàng trai đầy khát khao và ý chí kiên định. Lúc đó, Quý đang trong hoàn cảnh làm sao để biến công ty thành ngôi nhà thứ hai của nhân viên, phải chăng lương mình trả chưa nhiều, văn phòng chưa đẹp-Quý suy nghĩ rất nhiều. Tìm đến anh Bình, Quý đã có lời giải đáp, đó là phải hội tụ 3 yếu tố chính: (1) Người lãnh đạo phải gương mẫu, đam mê, có ý thức và quyết liệt trong công việc; (2) Cần có cơ chế đãi ngộ hợp lý; (3) Tạo môi trường văn hóa tại doanh nghiệp, khích lệ mọi người để tạo chất kết dính.  Anh tâm đắc với một triết lý của Jack Ma (người sáng lập Alibaba), rằng một doanh nghiệp thường tồn tại 3 nhóm nhân viên: nhóm những người có thành tích trong công việc nhưng không có tinh thần hợp tác tập thể; những người hiền lành và không có năng lực; những người vừa có thành tích vừa có tinh thần tập thể. Doanh nghiệp nên chọn nhóm thứ ba, đồng thời giữ lại những nhân viên xuất sắc, đào thải những người kém để duy trì trạng thái tích cực, cầu tiến và hoạt động hiệu quả.  Nhận thấy việc học hỏi luôn luôn cần thiết, tháng 3/2015 Quý đã thành lập Quỹ Novafund nhằm hỗ trợ các bạn đẵ và đang muốn khởi nghiệp. Nhiều người cho rằng, phải có nguồn tài chính dồi dào mới có thể thành lập Quỹ, nhưng theo Quý, những người khởi nghiệp không chỉ cần tiền mà họ còn mong muốn được biết những yếu tố khác như chiến lược, sự kết nối, nguồn lực, đối tác…Những yếu tố trên đôi khi chiếm đến 80% thành công của một doanh nghiệp khởi nghiệp.  Những thành công và ước vọng tương lai  Sau 10 năm hoạt động, NOVAON đã trở thành đối tác cao cấp của Google tại 5 quốc gia: Việt Nam, Singapore, Indonesia, Philippines và Thái Lan với 5.000 khách hành trong khu vực.  Doanh thu những năm gần đây của NOVAON đã vượt qua ngưỡng 10 triệu USD với mức tăng trưởng đều đặn 70%/năm và trở thành đối tác cao cấp của Google tại Việt Nam từ năm 2013.  Tháng 6/2016, NOVAON đã vươn lên trở thành đối tác cao cấp của Google tại Đông Nam Á. NOVAON hiện có 7 đơn vị thành viên là Digital marketing agency NOVAON ADS, Mạng quảng cáo ngữ cảnh NOVANET, Mạng du lịch trực tuyến Bookin, Ứng dụng Udoctor, Novaon Singapore, NOVAON Indonesia và Quỹ start-up Novaon Fund, cùng với hơn 5.000 khách hàng, trên 10.000 chiến dịch quảng cáo được triển khai.  10 năm – một chặng đường khởi nghiệp và đi lên thất bại, Minh quý đã ghi dấu ấn của mình: Giải nhì cuộc thi “Chìa khóa thành công” do VTV tổ chức năm 2011; Năm 2015, Novafund nhận phần thưởng là đối tác có sự tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á của Google; Giải thưởng “Sao Khuê” cho Booking năm 2016; Là đại diện Việt Nam than gia “Google Primium Partner Summit” tại Mỹ và Singapore.  Đến nay NOVAON đã thành lập 2 công ty thành viên tại Singapore và Indonesia. Tập đoàn cũng đang hướng đến việc đặt văn phòng tại các quốc gia khác như Philippines hoặc Thái Lan, nhưng sự khác biệt về lối sống, văn hóa khiến “người dẫn đường” Minh Quý gặp không ít khó khăn.  Trong 3 năm tới, NOVAON sẽ tập trung xuất khẩu phần mềm theo chiến lược kinh doanh khác biệt. Riêng với Minh Quý, anh quyết tâm sở hữu doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm với số nhân viên khoảng 1.000 người trong 5 năm, ddoognf thời duy trì mức tăng trưởng 80%.  “Hãy khát khao, hãy dại khờ”-đó là câu nói của Steve Job mà chàng trai Nguyễn Minh Quý rất tâm huyết. Có thể có nhiều khó khăn trước mắt cho 1 ước mơ, nhưng với kinh nghiệm sẵn có và ý chí kiên định, xin chúc cho giấc mơ của Quý sẽ thành hiện thực.          Author                Minh Phượng        
__label__tiasang NSND Xuân Hoạch: Người hồi sinh tiếng tơ cho cây đàn dân tộc      NSND Xuân Hoạch là một tên tuổi lớn của nghệ thuật Xẩm và Ca trù. Không chỉ là truyền nhân của kép đàn tài danh Đinh Khắc Ban, là học trò chân truyền của Đào nương Phó Thị Kim Đức, ông còn dày công khôi phục âm thanh nguyên bản cho cây đàn dân tộc sau hơn nửa thế kỷ bị quên lãng.    Hương Lan    NSND Xuân Hoạch (ngoài cùng bên phải)  đệm đàn cho NSƯT Phó Thị Kim Đức tại buổi  ra mắt nhóm Ca trù Phó Thị Kim Đức ngày  Hành trình tìm lại tiếng tơ  Như lời kể của NSND Xuân Hoạch, ông biết đến tiếng tơ là nhờ người thầy của mình – kép đàn Đinh Khắc Ban. Những năm bảy mươi, khi đã tuổi cao, sức yếu, không ít lần nghệ nhân Đinh Khắc Ban nâng cây đàn Đáy gia truyền, buông tiếng thở dài: “Giá như còn dây tơ”. Thấy học trò tỏ vẻ ngạc nhiên, lão nghệ nhân giải thích: “Dây tơ cho âm sắc đằm, ấm, có trầm có đục, ngân rung sâu thẳm, không nông, ‘bong’ và ‘váng tai’ như dây sắt, dây ni lông”.  Nghe thầy nhắc đi nhắc lại mãi lời so sánh ấy, Xuân Hoạch đâm bị ám ảnh về dây tơ. Kép đàn trẻ ước ao một lần được thưởng thức thứ âm thanh “không gì sánh nổi”: tiếng tơ! Thế nhưng, kể từ năm 1940, dây tơ đã hoàn toàn biến mất trước sự “bành trướng” của dây ni lông, dây sắt cùng xu thế điện tử hóa các nhạc cụ cổ truyền. Ngay làng lụa Vạn Phúc, nơi từng cung cấp dây tơ cho khắp các giáo phường ca trù Hà Nội, cũng không còn ai làm nghề. Xuân Hoạch đành chấp nhận một sự thực, tiếng tơ, thứ âm thanh nguyên bản của cây đàn dân tộc, nay chỉ còn tồn tại trong hoài niệm của các nghệ nhân đã “gần đất xa trời”.  Nhưng có lẽ, cái duyên của ông với dây tơ chưa dứt. Năm 2009, Xuân Hoạch trở thành học trò của nghệ nhân Phó Thị Kim Đức, đào nương cuối cùng của giáo phường Ca trù Khâm Thiên. Phải nhấn mạnh, NSƯT Phó Thị Kim Đức là người vô cùng kỹ tính, không tùy tiện nhận học trò. Bà từng từ chối không ít ca nương, kép đàn tìm đến xin “truyền nghề” vì nhận thấy: “Chưa ai vẹn toàn tài, đức cũng như bỏ được danh, lợi”. Thế nhưng, chính nghệ nhân Kim Đức lại mời Xuân Hoạch  gia nhập nhóm Ca trù đàn hát khuôn Phó Thị Kim Đức.  Chính bà đã chọn NSND Xuân Hoạch cùng giọng ca chèo nổi tiếng NSƯT Đoàn Thanh Bình làm học trò chân truyền, để sau này, thay bà truyền dạy vốn cổ cho lớp kế cận, bảo tồn tinh hoa của nghệ thuật Ca trù. Không những thế, mỗi khi biểu diễn, bà thường “chỉ định” Xuân Hoạch là người đệm đàn. Ai cũng biết, giọng ca, tiếng phách của đào nương Phó Thị Kim Đức chuẩn mực, sâu thẳm, mãnh liệt và giàu nội lực đến độ được mệnh danh là “tiếng phách Trạng Nguyên”, khiến bao kép đàn “khiếp vía”. Vậy mà không ít lần, bà buột miệng khen: “Nghe tiếng đàn của Hoạch, mình cũng muốn hát”, hay: “Hôm nay, Hoạch chơi bốc quá”. Như thế đủ rõ, lão nghệ nhân đã đặt trọn niềm tin vào nhân cách và tay nghề của học trò.  Khi Xuân Hoạch đã gần như quên hẳn câu chuyện về tiếng tơ của cây đàn dân tộc thì một bữa, cụ Đức chợt nhắc đến thứ âm thanh kỳ diệu của dây tơ. Cả một giấc mơ tuổi trẻ vụt sống dậy trong trái tim của kép đàn Xuân Hoạch. Đó là lúc ông nhận thức rõ, mình sẽ dành cả cuộc đời này để hồi sinh tiếng tơ. Đang khi bối rối chưa biết bắt đầu từ đâu, Xuân Hoạch được mời tham gia vở xiếc tre “Làng tôi” do nghệ sĩ gốc Việt Nguyễn Nhất Lý làm đạo diễn. Tuy xa quê hương từ nhỏ nhưng Nhất Lý lại đam mê và am hiểu văn hóa Việt. Chính anh đã đi tìm nguồn tơ tằm – chất liệu tạo thành dây tơ và cùng Xuân Hoạch về làng lụa Vạn Phúc để học cách xe tơ thành dây đàn. Tuy nhiên, do nghề sản xuất dây tơ đã thất truyền quá lâu nên không một nghệ nhân nào còn nhớ được kỹ thuật, thao tác. Xuân Hoạch buộc phải tự mày mò thử nghiệm. “Nghĩ mãi, tôi quyết định dùng quạt máy làm công cụ xe tơ và dùng bột gạo nấu thành hồ để gắn kết các sợi tơ. Tôi nối một đầu sợi tơ vào cánh quạt, đầu còn lại ghim lên  tường. Khi quạt quay về bên phải thì nhanh tay quết hồ lên sợi tơ. Quạt quay theo chiều ngược lại thì chập đôi sợi tơ, rồi lại quết, lại chập, cho đến khi cả chùm sợi tơ hòa quyện thành một dây tơ”. Nghe qua, tưởng chừng đơn giản. Nhưng thực ra, trong quá trình tập xe tơ, kép đàn thất bại cả trăm lần. Đếm không xuể số lượng tơ đã “đi đời” vì Xuân Hoạch chưa “căn” đúng thời điểm bật, tắt quạt hay quết hồ.  Sau rất nhiều thử nghiệm, cuối cùng, đến thời điểm giáp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NSND Xuân Hoạch đã hoàn thành công trình lớn của đời mình. Ông đã chế tạo thành công dây tơ, trả lại tiếng tơ cho cây đàn Đáy. Nhưng đây có đúng là tiếng tơ luôn ám ảnh người thầy của ông – nghệ nhân Đinh Khắc Ban? Chỉ có một người đủ trình độ thẩm định: Đào nương Phó Thị Kim Đức! Trước khi nghe đàn, cụ Đức nói với Xuân Hoạch: “Ngoài âm sắc có trầm, có đục, nét độc đáo nhất của dây tơ là khi dây đàn ngừng rung, tiếng tơ vẫn giữ nguyên tần số. Nghe có tiếng ‘e e’ văng vẳng một quãng khá lâu và đó là thứ âm thanh kỳ diệu nhất với mỗi một kép đàn”. Khi Xuân Hoạch đàn xong, tất cả những người chứng kiến như ngừng thở. Nghệ nhân Kim Đức thốt lên: “Đúng là tiếng ‘e e’ rồi, đúng là tiếng tơ rồi”. Ngày 19-9-2010, vào đúng ngày giỗ tổ của ngành sân khấu Việt Nam, nhóm Ca trù đàn hát khuôn của nghệ nhân Phó Thị Kim Đức chính thức ra mắt trong ngôi nhà gỗ thuần Việt do họa sĩ Bùi Hoài Mai phục dựng tại Bắc Ninh. Buổi biểu diễn hôm ấy cũng là lần đầu tiên những người yêu Ca trù thế hệ mới được biết về dây tơ và được thưởng thức tiếng tơ.  Dù chất lượng của dây tơ, tiếng tơ được nghệ nhân Phó Thị Kim Đức công nhận là “chuẩn” nhưng Xuân Hoạch vẫn chưa hài lòng về độ bền của dây đàn. Trước kia, dây tơ bị dây sắt và dây ni lông lấn lướt, một phần do kém bền. Chuyện đứt dây đàn là thường nhật ở các canh hát thuở xưa. Vậy nên, kép đàn nào cũng phải luyện thế ngồi để thay dây đàn cho dễ, cho đẹp mắt. Sau buổi ra mắt tại Bắc Ninh, Xuân Hoạch đặt mục tiêu cải tiến độ bền cho dây tơ. Thêm nhiều cuộc thí nghiệm, ông phát hiện ra, nguyên liệu tơ lấy từ làng Vạn Phúc chỉ thích hợp để dệt lụa, vì đấy là tơ thành phẩm đã qua xử lý, đã mất hết tinh chất của con tằm nên không có độ bám và chóng đứt. Nhờ sự giúp sức của quan viên Đàm Quang Minh, người thường “cầm chầu” cho nghệ nhân Kim Đức, Xuân Hoạch đã tìm được thứ tơ nguyên chất để xe dây đàn. Đó là tơ của làng lụa Nha Xá (Hà Nam). Tuy nhiên, quá trình lấy tơ khá cầu kỳ. Phải giữ cho độ nóng của nồi kén tằm không vượt quá 40 độ. Chỉ ở nhiệt độ ấy, những sợi tơ tằm mới tự trôi ra, để người nghệ nhân kéo lên từng chút, từng chút một. Sau này, Xuân Hoạch vẫn dùng quạt máy để xe tơ nhưng ông đã sáng chế một số phụ gia thay thế cho hồ quết, giúp sợi tơ cứng hơn, không dễ bị đứt.  Ngoài đàn Đáy, nhạc cụ gắn liền với Ca trù, đến giờ, NSND Xuân Hoạch đã trả lại tiếng tơ cho rất nhiều cây đàn dân tộc khác như: Nhị, Hồ, Bầu… Như đánh giá của chính kép đàn thì: Nhị, Hồ dùng dây tơ cho âm thanh “rất Xẩm”, âm sắc có độ mộc, độ khàn như giọng hát của nghệ nhân Xẩm vậy; còn đàn Bầu dùng dây tơ, kéo lên, nghe “réo rắt, mướt mải” hơn hẳn dây sắt, dây ni lông. Đến năm 2016, công cuộc hồi sinh tiếng tơ đã chiếm trọn tám năm của NSND Xuân Hoạch. Ông bảo, ngần ấy thời gian là quá ngắn chứ không phải quá dài nếu tính đến nguyện ước: Dùng cả đời để hồi sinh tiếng tơ!  Trả lại vẻ đẹp nguyên bản cho cây đàn dân tộc  Đối với Xuân Hoạch, nói về hình thức, nhạc cụ cổ truyền quý nhất, độc đáo nhất là ở sự mộc mạc. Cũng có nghĩa, mọi yếu tố tạo nên cây đàn phải thuần Việt. Chính vì thế, ông chỉ sử dụng các nguyên liệu dân giã để chế tác đàn như: tre, trúc, gỗ, vỏ dừa, vỏ quả bầu phơi khô… Ngay từ năm 1991, dựa trên ảnh tư liệu của người Pháp, ông đã tái tạo đàn Bầu theo đúng “chuẩn” của các cụ nghệ nhân xưa với cần đàn thuôn dài, cong vút tựa cánh cung. Từ đó đến nay, hàng chục cây đàn dân tộc khác như: Nhị, Hồ, Đáy… đã được Xuân Hoạch chế tác thành công từ các nguyên liệu thuần Việt. Kết hợp với dây tơ, những cây đàn làm bằng tre, trúc, vỏ dừa ấy cho thứ âm thanh rất mộc, ấm và thuần khiết, nghe một lần là nhớ mãi. Trong những đêm biểu diễn nghệ thuật cổ truyền miễn phí, Xuân Hoạch thường khiến khán giả vỗ tay không ngớt trước lời giới thiệu dí dỏm: “Để làm cây đàn này tôi ra chợ mua quả dừa. Nước dừa để uống, cùi dừa đem kho thịt còn vỏ dừa thì dùng chế tác đàn. Sướng nhất là tôi!”.    Tất nhiên, đó chỉ là lời nói vui. Nếu muốn biết Xuân Hoạch đã cực nhọc, vất vả cỡ nào để tìm lại tiếng tơ, để trả lại dáng vẻ nguyên bản cho cây đàn dân tộc, chỉ cần nhìn vào hai bàn tay của ông. Xuân Hoạch không có những ngón tay thon mảnh, nuột nà như người ta vẫn hình dung về đôi tay của các nghệ sĩ chơi đàn. Bàn tay ông gân guốc còn ngón út, ngón tay phải dụng sức nhiều nhất khi chơi đàn thì lồi lõm. Chỉ những nghệ nhân vừa tài hoa, vừa say đàn, yêu đàn như con mới có ngón út biến dạng đến vậy. Năm xưa, chính vì nhìn vào đôi bàn tay gồ ghề ấy mà nghệ nhân đàn Đáy Đinh Khắc Ban mới quyết đinh truyền thụ mọi “lòng bản” cho Xuân Hoạch, đồng thời, xem ông là truyền nhân duy nhất. Cũng cần nói thêm, ban đầu, Xuân Hoạch tìm đến cụ Đinh Khắc Ban với mục đích xin thầy bổ túc về đàn Đáy trong ít tháng, để có đủ kiến thức tham gia một tiết mục lớn của nhà hát Ca nhạc dân tộc Trung ương (nay là nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam), nơi ông công tác. Khi đó, Xuân Hoạch chuyên về đàn Nguyệt, nhạc cụ được gọi là “quân tử cầm”, nghe tên thôi đã thấy nhẹ nhàng, tao nhã. Ông phải trải qua không ít gian truân mới chinh phục được cây đàn Đáy, nhạc cụ vẫn được gọi vui là “nhục cầm”, vì khi chơi đàn, người nghệ nhân phải dồn quá nhiều nội lực vào mỗi ngón tay, mới “cho ra” thứ âm thanh trầm bổng và sâu thăm thẳm.  Thế rồi, khóa học ngắn hạn chuyển thành… vô hạn. Cụ Đinh Khắc Ban ưu ái Xuân Hoạch đến độ muốn trao lại cây đàn Đáy gia bảo của dòng họ Đinh cho học trò. Đây là cây đàn “có một không hai” với cần đàn làm bằng gỗ lim, thành là gỗ trắc mật còn mặt đàn làm từ gỗ dổi. Đặc biệt, cần đàn liền mạch không một vết ghép nối do được đục từ một khúc gỗ dài. Nghệ nhân Đinh Khắc Ban đã gắn bó với cây đàn này suốt cả cuộc đời. Xúc động trước tấm lòng của người thầy, Xuân Hoạch “xin” Nhà hát đứng ra mua cây đàn quý.  Hơn cả sự trông đợi của ông, lãnh đạo nhà hát Ca nhạc dân tộc Trung ương quyết định chi 4200 đồng, với ý nghĩa vừa mua đàn, vừa biểu lão nghệ nhân chút quà dưỡng già. Năm ấy (1982), 4200 đồng trị giá gần ba cây vàng! Đến giờ, cây đàn của cụ Đinh Khắc Ban vẫn được người học trò gìn giữ cẩn trọng. Dù đã bước sang tuổi 99, âm thanh của cây đàn cổ vẫn hay như ngày nào.  Trò chuyện với NSND Xuân Hoạch không bao giờ hết thú vị. Bởi cứ vừa kể chuyện xe dây tơ, chuyện làm đàn tre, đàn trúc, đàn vỏ dừa…, ông lại vừa hát Xẩm, hát Trống quân hoặc chơi đàn Đáy, kéo đàn Bầu, đàn Nhị, gõ Song Loan… Có lúc hứng lên, ông còn tay kéo đàn, hai chân “chơi” luôn hai bộ gõ – biệt tài không phải kép đàn nào cũng được “trời cho”. Mà tiếng đàn, giọng hát của Xuân Hoạch thì giống như lối nói chuyện của ông, rất mộc mạc, thuần hậu mà lại sâu sắc, duyên dáng. Gặp lại Xuân Hoạch vào những ngày hè oi nóng nhất của năm 2016, thấy ông vẫn vậy, tràn đầy năng lượng, dồn hết tâm huyết cho hành trình mới: trả lại vẻ đẹp thuần Việt cho cây đàn dân tộc.             Sinh ra tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, cái nôi của nghệ thuật chèo phía Bắc, ngay từ nhỏ, NSND Xuân Hoạch đã yêu những làn điệu dân tộc. Năm 1966, Xuân Hoạch trúng tuyển vào trường  Âm nhạc Việt Nam (nay là học viện Âm nhạc Quốc gia) rồi theo học đàn Nguyệt dưới sự chỉ dạy của Nhà giáo Nhân dân Xuân Khải. Nhờ tài năng “trời cho” và cả khổ luyện, sau này, Xuân Hoạch trở thành bậc thầy về nhiều loại nhạc cụ dân tộc như: Nguyệt, Bầu, Đáy, Nhị, Hồ, bộ gõ…, là một trong những kép đàn danh tiếng ở cả hai bộ môn nghệ thuật Xẩm và Ca trù.  Ngoài khả năng chơi nhạc cụ điêu luyện, Xuân Hoạch còn sở hữu giọng ca mộc mạc, cuốn hút và hiện là một trong những nghệ nhân Xẩm gạo cội của Hà Nội. Những năm qua, ông cùng các đồng nghiệp miệt mài biểu diễn Xẩm miễn phí, mở các lớp dạy hát Xẩm, góp phần khôi phục Xẩm chợ, Xẩm tàu điện – những dòng Xẩm nức tiếng của Xẩm Hà thành thuở trước.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nửa tỷ mỗi năm từ bẫy chuột Năm Phước      Một nông dân ở vùng lúa An Giang đã chế tạo thành công bẫy chuột hiệu quả cho bà con nông dân trong và ngoài nước, qua đó có doanh thu nửa tỉ đồng hàng năm.  &#160;    Nhà nghèo, cuộc sống luôn thiếu trước hụt sau, mùa lũ, vợ chồng ông phải vay mượn khắp nơi mua vài chục mét lưới đánh bắt tôm cá. Nhưng chuột luôn cắn phá. Ông Trần Văn Phước (Năm Phước) nói … “bực mình quá nên phải sáng chế”  Ông Năm Phước ở xã vùng sâu xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã chế ra loại bẫy độc đáo và  được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận cho giải pháp “Cải tiến rập bẫy chuột”. Dù giá chỉ vỏn vẹn 100.000 đồng nhưng chiếc rập bẫy chuột do ông chế tạo đã thành câu chuyện nhiều người biết ở đồng bằng.   Năm 2006, ông Năm Phước bắt tay chế tạo chiếc rập mới. Liên tiếp thất bại do chuột lắt rất tinh ranh, số bị sập bẫy không nhiều. Chịu khó quan sát tập tính sinh hoạt của loài chuột và cải tiến dần các chi tiết, phải mất 8 tháng, ông Năm Phước mới hoàn thiện dần chiếc bẫy có một không hai của mình.  Chiếc bẫy cải tiến của ông có hình dáng như lồng chim với 2 lồng chứa (trong và ngoài), phần khung làm bằng gỗ mít có vỉ sắt bao bọc. Thiết kế đơn giản nhưng hom ngoài được lắp một miếng gỗ nhỏ làm đường đi cho chuột. Miếng gỗ được liên kết với hom cửa bằng thanh sắt nhỏ, chỉ cần chuột vừa bước qua khỏi miệng hom là cửa tự đóng lại.  Chỉ cần bỏ chút gạo hoặc thức ăn thừa ở lồng ngoài để dụ chuột và ít nước ở lồng trong. Ăn xong, chuột sẽ tự sang lồng trong uống nước. No nê, đàn chuột tìm cách trở ra nhưng lúc này cửa đã đóng chặt.   Ông Năm Phước làm nắp đậy ở phía sau  lồng để dễ trút thẳng “chiến lợi phẩm” vào chai nhựa hoặc thùng phuy. “Không nên dùng vật nhọn đâm chuột chết bởi phần máu tanh sẽ làm những con còn lại sợ. Từ 7 đến 10 ngày sau khi sử dụng, nên rửa sạch bẫy để khử mùi hôi của chuột” ông  căn dặn.  Hiện nay, ông Năm Phước lập cơ sở sản xuất bẫy chuột ở ấp Hưng Phú, xã Đào Hữu Cảnh. Tranh thủ mỗi kỳ hội chợ nông nghiệp trong khu vực ĐBSCL, ông đăng ký giới thiệu sản phẩm bẫy chuột của mình, nhờ vậy, tiếng tăm bẫy chuột Năm Phước vang xa hơn, được nhiều người biết đến hơn.  Mỗi tháng, cơ sở Năm Phước cung cấp khoảng 500 chiếc bẫy cho thị trường, doanh thu hằng năm hơn nửa tỉ đồng. Thị trường tiêu thụ loại bẫy chuột của cơ sở Năm Phước còn vươn sang nước bạn Campuchia.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Núi vàng trong rác thải      Mỗi năm có 40 triệu tấn thiết bị điện tử trở thành rác thải. Bị vứt bỏ cùng với chúng là một lượng lớn kim loại quý: trong 41 điện thoại di động có một lượng vàng tương đương lượng vàng trong một tấn quặng vàng. Cùng với khái niệm “khai thác mỏ ở đô thị”, đã xuất hiện nhiều hãng tái chế rác điện tử ở châu Âu.      Để khai thác kim loại, con người phải đầu tư, chi phí rất lớn, phải đào và thiết kế hầm lò ở độ sâu hàng nghìn mét, phải phá ủi cả một quả núi hay sàng lọc, đãi cát cực kỳ vất vả. Trong khi đó, người ta có thể khai thác tài nguyên kim loại quý hiếm ít vất vả tốn kém hơn nhiều: trong chất thải công nghiệp và thiết bị, máy móc phế loại của các hộ gia đình chứa đựng một khối lượng lớn vàng, bạc và các kim loại quý hiếm khác. Bởi vậy Liên Hợp Quốc (LHQ) đang kêu gọi các quốc gia hãy tăng cường khai thác nguồn tài nguyên từ phế thải điện tử. Theo báo cáo của Cơ quan LHQ về Môi trường UNEP, mỗi năm thế giới thải ra khoảng 40 triệu tấn rác loại này. Ông Rüdiger Kühr làm việc tại trường Đại học của LHQ (United Nations University) cho rằng lượng kim loại quý hiếm có thể thu hồi từ thiết bị điện tử phế thải lớn hơn nhiều so với khai thác mỏ; do đó Kühr đề cập tới khái niệm “khai thác mỏ ở đô thị”.          Rác điện tử – tài sản quý giá chưa được khai thác và là một nguy cơ           Thường thì để khai thác được một gram vàng, doanh nghiệp phải đào bới vận chuyển một tấn quặng. Việc tái chế để có được lượng vàng này từ chất phế thải công nghiệp và gia đình đơn giản hơn nhiều: một lượng vàng tương tự có trong 41 điện thoại di động. Ngay cả các mỏ có tỷ trọng khai thác cao như mỏ Kalgold ở Nam Phi thì để lấy được 5 gr vàng người ta phải đào bới, vận chuyển một tấn đất, đá. Trong khi đó hãng tái chế Umicore tại Brussels có hàng triệu tấm vi mạch máy tính và người ta có thể thu hồi được 250gr vàng từ một tấn tấm vi mạch này, cao gấp 50 lần so với mỏ Kalgold. Ngành kinh doanh tái chế điện tử ngày càng trở nên hấp dẫn hơn. Đã xuất hiện nhiều hãng tái chế điện tử ở châu Âu. Do những năm gần đây giá kim loại không ngừng tăng nên các hãng này thu được lợi nhuận ngày càng cao. Cái khó là ở chỗ phần lớn thiết bị điện tử phế loại không được thu gom để đưa vào tái chế. Sự lãng phí nguồn tài nguyên này rất lớn, nhất là ở các nước nghèo. Theo một báo cáo của LHQ, thông thường ở các nước nghèo, thiết bị vi tính, điện thoại di động hư hỏng đều bị vứt bỏ chứ không được thu gom để tái chế. Một nhà nghiên cứu của UNEP đã tính mức độ lãng phí về vấn đề này ở các nước đang phát triển và cung cấp số liệu cho Spiegel Online. Riêng ở Trung Quốc mỗi năm có khoảng bốn tấn vàng, 28 tấn bạc và 6.000 tấn đồng ở trong máy tính và điện thoại di động hỏng bị vứt vào bãi rác. Lượng vàng này trị giá 100 triệu Euro – và tương đương lượng vàng được khai thác ở một số nước. Cũng theo bản báo cáo của UNEP thì trong năm 2010, ở Trung Quốc sẽ có 2,3 triệu tấn rác thải điện tử gồm 500.000 tấn tủ lạnh, 1,3 triệu tấn máy truyền hình và 300.000 tấn computer. Trung Quốc xếp hàng thứ hai sau Mỹ về lượng rác thải điện tử, theo ước tính thì năm 2010 Mỹ có khoảng 3 triệu tấn rác thải điện tử. Điện thoại di động và computer chiếm một khối lượng lớn kim loại: 15 % cobalt, 13% palladium và 3% lượng vàng, bạc khai thác hằng năm trên thế giới được dùng trong công nghiệp sản xuất điện thoại di động và computer. Phần lớn lượng kim loại quý hiếm này cuối cùng lại trở thành rác thải. Trong năm 2008, riêng lượng vàng, bạc, đồng, palladium và cobalt dùng để sản xuất computer trị giá 2,7 tỷ Euro. Theo điều tra của UNEP, do thiếu một quá trình tái chế nên các nước đang phát triển cũng như các nước mới nổi đang tự làm mất đi một lượng lớn các loại nguyên liệu quan trọng. Trong khi đó ở các nước EU, nhà sản xuất thiết bị điện, điện tử có trách nhiệm tiếp nhận lại những sản phẩm cũ của mình. Những người kinh doanh kim loại và nguyên liệu phế thải thì hy vọng ngành tái chế sẽ mang lại lợi nhuận không nhỏ. Đối với việc tái chế, thu hồi kim loại đồng người ta đã đạt được kết quả khả quan, thí dụ Đức thu hồi được khoảng 50% lượng đồng đã sử dụng trong quá trình sản xuất, tuy nhiên, bất chấp các quy định, một lượng lớn kim loại đã không được đưa vào hệ thống tái chế. Theo báo cáo của UNEP, ở châu Âu các kim loại như vàng, bạc và palladium ít được đưa vào quá trình tái chế, vì thế châu lục này mỗi năm bị thất thoát trên 5 tỷ Euro. Do sản xuất thiết bị điện tử sẽ tăng mạnh trong thời gian tới nên sự lãng phí nguồn tài nguyên cũng sẽ tăng gấp bội so với hiện nay. Một số công nghệ tương lai như tế bào chất đốt hay quang điện sẽ tăng nhu cầu đối với nhiều loại kim loại quý hiếm. Cho đến thời điểm 2007, toàn thế giới đã tiêu thụ tới 1 tỷ điện thoại di động.   Các chuyên gia cho rằng ở nhiều nước, rác thải điện tử sẽ tăng đáng kể: thí dụ ở Trung Quốc và Cộng hòa Nam Phi, lượng rác điện tử năm 2020 sẽ tăng gấp bốn lần so với năm 2007, mức tăng ở Ấn Độ là năm lần. Ở các nước châu Phi thí dụ như Senegal hay Uganda, mức tăng này thậm chí tới tám lần.   Hiện tại châu Phi đã trở thành bãi chứa thiết bị điện tử phế thải, lỗi thời của các nước phương Tây. Theo một Hiệp định của LHQ ký năm 1989, Công ước Basel, cấm không được tuồn rác sang các nước khác nếu không có sự chấp thuận của các nước đó. Tuy nhiên vẫn có nhiều thiết bị điện tử cũ, chất phế thải tuồn lậu bằng nhiều kênh khác nhau vào các nước đang phát triển.  Riêng nước Đức mỗi năm xuất khẩu khoảng 100.000 tấn rác điện tử. Việc tuồn lậu rác thải sang các nước khác rẻ hơn nhiều so với việc tái chế đúng quy định. Những chiếc ô tô cũ xuất khẩu của Đức thường chứa đến tận ngọn rác thải điện tử.  Thường rác thải được xuất sang châu Phi và tại đây các thiết bị điện tử sẽ được tháo dỡ thủ công. Tuy nhiên các loại kim loại không được tận thu, khoảng 75% số lượng vàng bị bỏ phí.   Khi bị đốt để thiêu hủy, những núi rác điện tử gây tác động chết người đối với môi trường và con người. Các loại kim loại nặng bị đốt cháy có thể gây ung thư, nhất là đối với những người làm việc gần bãi rác. Nguồn đất và nước ở khu vực rác thải bị đốt cũng bị nhiễm độc nghiêm trọng.     Xuân Hoài  dịch Theo Spiege l    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Anh: quê hương của những nhà phát minh      Richard Henderson nhận giải Nobel Hóa học cho kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp (Cryo-electron microscopy), cho phép xác định cấu trúc phân tử sinh học trong dung dịch với độ phân giải cao. Ủy ban Nobel đánh giá rằng, phát minh này đã “giúp mở ra những chân trời mới ở cấp độ hạ tế bào và giờ đây mọi góc tối của tế bào đều có thể được khám phá”.      1668  Isaac Newton phát minh kính thiên văn phản xạ  Newton thiết kế kính thiên văn phản xạ, sử dụng gương cầu, để tránh hiện tượng quang sai màu sắc nghiêm trọng của kính viễn vọng khúc xạ sử dụng thấu kính thời đó. Mặc dù kính thiên văn phản xạ gây ra một vài loại quang sai quang học khác, nó là một thiết kế cho phép chế tạo kính thiên văn có đường kính lớn. Hầu như tất cả các kính viễn vọng chính được sử dụng trong nghiên cứu thiên văn học là kính thiên văn phản xạ.    1825  Geogre Stephenson phát minh đường sắt dân dụng  Sự phát triển của đường sắt là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cuộc cách mạng công nghiệp. Dịch vụ đường sắt hành khách hỗ trợ vận chuyển hàng hóa, phát triển kinh tế, kết nối cộng đồng. Vào thời kỳ đầu, vận chuyển bằng đường sắt tiết kiệm 60-70% chi phí so với các phương tiện đường bộ khác.    1843  Ada Lovelace tạo ra chương trình máy tính đầu tiên  Ada đã mô tả một thuật toán cho máy tính Analytical Engine để tính số Bernoulli. Đây được coi là thuật toán được xuất bản đầu tiên được thiết kế riêng cho việc triển khai trên máy tính, và Ada Lovelace thường được coi là lập trình viên đầu tiên vì lý do này. Trong các ghi chép của mình, Lovelace nhấn mạnh sự khác biệt giữa Analytical Engine (Công cụ tính toán) và các máy tính trước đó, đặc biệt là khả năng có thể được lập trình để giải quyết các vấn đề phức tạp. Vào thời điểm đó cô đã nhận ra tiềm năng của thiết bị này vượt xa tính toán các con số.    1880  Joseph Swan bắt đầu sản xuất bóng đèn  Đến năm 1860, ông đã trình diễn một bóng đèn hoạt động và nhận được bằng sáng chế của Anh cho bóng đèn bán chân không sợi đốt carbon. Tuy nhiên, môi trường chân không chưa đủ lý tưởng và thiếu một nguồn điện thích hợp khiến cho bóng đèn không hiệu quả với vòng đời ngắn ngủi.  Sau đó, Joseph Swan quyết tâm tạo ra một bóng đèn hoạt động khả thi và lâu dài. Ông tìm ra cách sử dụng bông để sản xuất dây tóc “sợi chỉ da” và lấy bằng sáng chế 4933 của Anh vào ngày 27 tháng 11 năm 1880.    1926  John Logie Baird truyền đi hình ảnh động  Nhiều nhà sử học coi Baird là người đầu tiên tạo ra một hình ảnh truyền hình trực tiếp từ ánh sáng phản xạ. Trong phòng thí nghiệm của mình vào ngày 2 tháng 10 năm 1925, Baird truyền thành công hình ảnh truyền hình đầu tiên: đầu một con rối có biệt danh là “Bill Stooky” trên một hình ảnh quét theo 30 dòng chiều dọc, năm hình mỗi giây.    1967  Godfrey Hounsfield với ý tưởng máy quét CT  Hounsfield đưa ra ý tưởng rằng người ta có thể xác định cái gì nằm trong một hộp kín bằng cách quan sát hình chụp X-ray ở mọi góc xung quanh vật thể. Sau đó, ông bắt tay vào xây dựng một máy tính có thể lấy đầu vào là hình ảnh từ tia X ở các góc khác nhau để tạo ra một hình ảnh của vật thể theo từng “lát”.Vào ngày 1 tháng 10 năm 1971, quét CT được đưa vào ứng dụng với việc quét thành công trên một bệnh nhân u nang não tại Bệnh viện Atkinson Morley ở Wimbledon, London, Vương quốc Anh.    1978  Ca sinh từ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) đầu tiên thành công  Ở Anh, ngày 25 tháng 7 năm 1978, Louise Brown ra đời. Cô là em bé đầu tiên được sinh thành công từ một chu kỳ tự nhiên của IVF. Sau chín năm cố gắng có con và trải qua cả những biến chứng khi thụ thai do tắc nghẽn ống dẫn chứng, cha mẹ của Louise, Lesley và John Brown đã tìm đến IVF.  Câu chuyện của Louise đã thay đổi cách các chuyên gia, bác sĩ, truyền thông và các cá nhân trên khắp thế giới nhìn nhận IVF.    2004  Phát hiện và cô lập một dàn tinh thể carbon phẳng có độ dày một nguyên tử (graphene)  Graphene – một lớp các nguyên tử carbon có độ dày một nguyên tử được sắp xếp theo mô hình tổ ong – là vật liệu mỏng nhất có thể tưởng tượng được, rất cứng nhưng vẫn có thể kéo căng, thể hiện các tính chất nhiệt và điện tử nổi bật và là vật liệu trơ về mặt hóa học. Phát hiện này đã mang lại giải Nobel Vật lý cho nhà vật lý Andre K. Geim, 51 tuổi và Konstantin S. (Kostya) Novoselov, 36 tuổi, Đại học Manchester.    2011  Công ty Saturn Bioponics phát triển hệ thống trồng trọt 3D (thủy canh trụ đứng) đầu tiên trên thế giới.    2012  Susannah Clarke cách mạng hóa việc thay thế khớp bằng công nghệ in 3D, cho phép cá nhân hóa việc thay thế khớp, ít biến chứng hơn.    2013  Hệ thống radar băng tần S, NovaSAR của Surrey Satellite Technology tạo ra cuộc cách mạng về định vị và giám sát liên lạc, đoạt giải thưởng Đổi mới sáng tạo của Viện Kỹ thuật và Công nghệ (IET).    2015  Oxford Nanopore ra mắt MinION, một thiết bị USB di động giải trình tự ADN có thể được sử dụng để theo dõi các virus như Ebola hoặc theo dõi kháng kháng sinh mà không cần cơ sở hạ tầng điện toán quy mô lớn.    2015  Alpha Go của Deepmind đánh bại nhà vô địch cờ vây châu Âu, trở thành chương trình máy tính đầu tiên đánh bại một vận động viên chuyên nghiệp, cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc hơn về năng lực và độ linh hoạt của học máy (machine-learning).    2016  Double Negative, công ty chuyên làm kỹ xảo điện ảnh, hoạt hình máy tính và chuyển đổi định dạng từ 2D sang 3D lần thứ ba thắng giải Oscar cho những kỹ xảo tiên phong trong phim tâm lý hồi hộp viễn tưởng Ex Machina.    2017  Richard Henderson nhận giải Nobel Hóa học cho kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp (Cryo-electron microscopy), cho phép xác định cấu trúc phân tử sinh học trong dung dịch với độ phân giải cao. Ủy ban Nobel đánh giá rằng, phát minh này đã “giúp mở ra những chân trời mới ở cấp độ hạ tế bào và giờ đây mọi góc tối của tế bào đều có thể được khám phá”.  Hoàng Nam tổng hợp  Nguồn: Đại sứ quán Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước biển có thể là nguồn cung vật liệu làm pin vô hạn      Doanh số xe điện bùng nổ khiến nhu cầu đối với pin sạc ngày càng tăng. Nhưng lithium, thứ kim loại cần thiết để làm ra pin này lại không có nhiều. Giờ đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một nguồn cung vô hạn để khai thác lithium: nước biển.      Jang Wook Choi, kỹ sư hóa học tại Đại học Quốc gia Seoul. Nguồn: startup.kaist.ac.kr  “Đây là một phát hiện đột phá”, Jang Wook Choi, kỹ sư hóa học tại Đại học Quốc gia Seoul, người không tham gia vào nghiên cứu, nói và cho biết thêm là phương pháp này cũng có thể áp dụng vào việc thu hồi lithium từ pin đã sử dụng.  Ưu điểm của lithium là có thể lưu trữ nhiều năng lượng trên mỗi đơn vị trọng lượng hơn so với các vật liệu khác. Các nhà sản xuất sử dụng hơn 160.000 tấn lithium mỗi năm, dự kiện con số này sẽ tăng gần 10 lần trong thập kỷ tới. Nhưng nguồn cung lithium lại hạn chế và chỉ tập trung ở một số quốc gia, cũng như chỉ có thể khai thác từ các mỏ hoặc chiết xuất từ nước mặn.  Tình trạng khan hiếm lithium đã làm dấy lên mối lo ngại rằng giá pin có thể tăng vọt và kìm hãm sự phát triển của xe điện và các công nghệ phụ thuộc lithium khác như Tesla Powerwalls, loại pin thường được sử dụng để lưu trữ năng lượng mặt trời trên mái nhà.  Nước biển có thể là câu trả lời cho vấn đề này. Các đại dương trên thế giới chứa khoảng 180 tỷ tấn lithium. Nhưng chúng đã bị pha loãng đến khoảng 0,2 phần triệu. Các nhà nghiên cứu đã nghĩ ra các loại bộ lọc và màng để cố gắng chiết xuất có chọn lọc lithium từ nước biển, nhưng những nỗ lực đó chủ yếu dựa vào việc làm bay hơi phần lớn nước để tập trung lithium, đòi hỏi phải sử dụng diện tích đất lớn và thời gian dài. Cho đến nay những nỗ lực như vậy không hiệu quả về mặt kinh tế.    Choi và các nhà nghiên cứu khác cũng đã cố gắng sử dụng các điện cực pin lithium-ion để thu lithium trực tiếp từ nước biển và nước muối mà không cần phải làm bay hơi nước. Những điện cực này bao gồm các vật liệu xếp lớp giống như bánh sandwich được thiết kế để bẫy và giữ các ion lithium khi pin sạc. Trong nước biển, một điện áp âm được đặt vào một điện cực hấp thu lithium sẽ kéo các ion lithium vào điện cực. Nhưng nó cũng kéo theo sodium, một nguyên tố tương tự về mặt hóa học tồn tại trong nước biển với mật độ gấp 100.000 lần so với lithium. Nếu hai nguyên tố cùng đi vào điện cực với cùng một tốc độ, sodium gần như hoàn toàn lấn át lithium.  Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu do Yi Cui – nhà khoa học vật liệu tại Đại học Stanford – dẫn đầu, đã tìm cách để khiến vật liệu điện cực hấp thu một cách có chọn lọc hơn. Đầu tiên, họ phủ một lớp titan dioxide mỏng lên điện cực để làm rào cản. Vì các ion lithium nhỏ hơn natri, nên chúng dễ dàng luồn lách qua và đi vào trong bánh sandwich điện cực.  Các nhà nghiên cứu cũng thay đổi cách điều khiển điện áp. Thay vì đặt một điện áp âm không đổi vào điện cực, như những người khác đã làm, họ đặt điện áp theo chu kỳ. Đầu tiên, họ dùng điện áp âm, sau đó họ nhanh chóng tắt đi. Tiếp theo, họ đặt điện áp dương, tắt một lần nữa và cứ thế lặp lại chu kỳ.  Cui giải thích, sự thay đổi điện áp làm cho các ion lithium và sodium di chuyển vào điện cực, dừng lại và sau đó lại di chuyển ra ngoài khi dòng điện đảo chiều. Tuy nhiên, do vật liệu điện cực có ái lực với lithium cao hơn một chút so với sodium, các ion lithium sẽ vào điện cực nhanh hơn sodium và đi ra ngoài chậm hơn. Vì vậy việc lặp lại chu trình này giúp tập trung lithium trong điện cực. Sau 10 chu kỳ như vậy, chỉ mất vài phút, Cui và các đồng nghiệp thu được tỷ lệ một-một giữa lithium và sodium, họ đã báo cáo thành tựu này trên Joule.  “Phương pháp mới này đã tăng ít nhất là gấp đôi khả năng chọn lọc lithium,” Chong Liu, nhà khoa học vật liệu tại Đại học Chicago, trước đây từng làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại phòng thí nghiệm của Cui, cho biết.  Dù phương pháp này vẫn khá đắt so với việc khai thác lithium trên đất liền, Liu nói. Tuy nhiên, cô cho biết nhóm nghiên cứu đang cố gắng tăng tính chọn lọc bằng cách sử dụng các loại điện cực pin lithium-ion khác.  Choi cho biết thêm, có thể áp dụng phương phức này để thu hồi lithium từ pin qua sử dụng.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/07/seawater-could-provide-nearly-unlimited-amounts-critical-battery-material    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước chuyển thành kim loại màu vàng sáng bóng      Các electron từ một giọt sodium và potassium đã chuyển nước thành một vật liệu kim loại có thể dẫn điện.      Nếu ai đó không thể hô biến nước thành vàng như một nhà giả kim thuật siêu hạng, bước tốt nhất tiếp theo có thể là chuyển nước thành một vật liệu kim loại sáng bóng. Các nhà nghiên cứu đã làm được điều này bằng việc hình thành một lớp nước mỏng quanh kim loại alkali chia sẻ electron.  Nước ở trong một trạng thái kim loại chỉ trong một vài giây nhưng thí nghiệm này không đòi hỏi áp suất cao để đưa các vật liệu phi kim thành kim loại có tính dẫn diện. Đồng tác giả nghiên cứu là Pavel Jungwirth, một nhà hóa lý tại Viện Hàn lâm Khoa học Czech, cho rằng việc nhìn thấy nước thành một khối vàng sáng bóng là một điểm nhấn trong sự nghiệp của mình. Nhóm nghiên cứu của ông đã xuất bản phát hiện trên Nature 1.  Đây là một bước tiến quan trọng”, Peter Edwards, một nhà hóa học tại đại học Oxford, nói. “Ai lại có thể nghĩ nước là kim loại vàng?”  Kim loại không kim loại  Về lý thuyết thì phần lớn vật chất đều có khả năng trở thành kim loại nếu được đặt dưới một áp suất phù hợp. Các nguyên tử hoặc các phân tử có thể bị nén rất chặt đến mức chúng bắt đầu chia sẻ các electron lớp bên ngoài, vốn có thể di chuyển và dẫn điện như chúng ở trong một cục đồng hoặc sắt. Các nhà địa vật lý vẫn cho rằng trung tâm của những hành tinh lớn như Neptune hay Uranus đều chứa nước ở trạng thái kim loại, và dưới áp suất cao thì hydro kim loại thậm chí có thể trở thành siêu dẫn, có khả năng dẫn điện mà không có điện trở.  Chuyển đổi nước thành kim loại theo cách này có thể đòi hỏi một áp suất ở mức 15 triệu atmosphere, vốn nằm ngoài tầm với của các kỹ thuật trong phòng thí nghiệm hiện hành, Jungwirth cho biết. Nhưng ông cũng nghi ngờ là nước có thể trở nên dẫn điện theo một cách khác: bằng việc dễ mất các electron từ kim loại alkali. Các nguyên tố phản ứng lại này trong nhóm 1 của bảng tuần hoàn, vốn bao gồm cả sodium và potassium, có xu hướng lọai bỏ electron ở lớp vỏ ngoài cùng của chúng. Năm ngoái, Jungwirth và đồng nghiệp là Phil Mason — một nhà hóa học được biết đến rộng rãi qua các video về khoa học trên Youtube – dẫn dắt một nhóm nghiên cứu thực hiện một hiệu ứng tương tự trên ammonia. Sự thật là ammonia có thể phát sáng trong nhiều điều kiện như nhà hóa học Humphry Davy đã thực hiện vào đầu thế kỷ 19, Edwards cho biết.    Nhóm nghiên cứu muốn thử một cách tiếp cận khác với nước, thay vì ammonia, nhưng làm điều này phải đối mặt với một thách thức: alkali kim loại có xu hướng tương tác một cách dữ dội khi hòa với nước. Dung dịch này được dùng cho việc thiết kế một thực nghiệm có sự tương tác vô cùng lâu mà không phát nổ. Các nhà nghiên cứu đã đổ đầy một ống nghiệm với sodium và potassium, một hỗn hợp lỏng ở nhiệt độ phòng, đặt nó trong một buồng chân không. Sau đó họ dùng ống nghiệm này để hình thành các giọt hỗn hợp kim loại và phơi lộ chúng vào một lượng nhỏ hơi nước. Nước kết tụ thành từng giọt và hình thành một lớp có độ dày 1/10 micro mét. Các electron từ các giọt này sau đó nhanh chóng hòa lẫn vào nước – cùng với các ion kim loại có điện tích dương  – và trong vòng vài giây, lớp nước chuyển sang màu vàng.  Thời gian là tối thượng  Các thực nghiệm tại một máy gia tốc synchrotron ở Berlin xác nhận là những phản chiếu vàng tạo ra tín hiệu được chờ đợi về hydro kim loại. Điều quan trọng để tránh quá trình này dẫn đến phát nổ, Jungwirth nói, là tìm ra một thời gian cửa số để sự khuếch tán của các electron nhanh hơn tương tác giữa nước và kim loại. “Họ đã chế ngự được quá trình này, đạt được một trạng thái ổn định để tính vật lý của cơ chế hình thành kim loại thắng được cơ chế phân hủy hóa học”, Edwards lưu ý.  “Chúng tôi không chắc chắn là chúng tôi có thể đạt được điều này”, Jungwirth nói. “Thật kỳ diệu, như thể khám phá ra một nguyên tố mới vậy”.   Jungwirth cho rằng, thực nghiệm này thực sự là một quãng nghỉ sảng khoái khỏi công việc hàng ngày của mình, vốn thường chạy các mô phỏng máy tính trong hóa học hữu cơ, và là một bằng chứng nhắc nhở rằng khoa học có thể có những điều vui thích. “Đó không phải thứ giúp bạn có được nhiều tiền mà là thứ bạn có thể thoải mái làm vào cuối tuần”, ông nói. Đây không phải là lần đầu tiên ông hợp tác với Mason: vào năm 2015, họ và các đồng nghiệp của mình đã tìm ra một cơ chế khiến muối phát nổ khi chạm vào nước  – một thực nghiệm được họ thực hiện ngoài ban công ở viện nghiên cứu của mình, bởi vì họ không thể vào được phòng thí nghiệm.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-02065-w  https://www.sciencealert.com/scientists-have-found-a-new-way-to-turn-water-metallic  ——  1. Mason, P. E. et al. Nature https://doi.org/10.1038/s41586-021-03646-5 (2021).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Đức đã sẵn sàng cho làn sóng AI sắp tới      Juergen Schmidhuber là một trong những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng về trí tuệ nhân tạo (AI), về  máy móc có cảm giác, robot và về chiến lược công nghệ của Đức dành cho các doanh nghiệp hạng trung. Tờ Tuần kinh tế Đức đã phỏng vấn ông về sự chuẩn bị của nước Đức và một số nước phát triển trước làn sóng AI.      Juergen Schmidhuber.  Cách đây hơn 30 năm ông đã đề ra mục tiêu: thiết kế trí tuệ nhân tạo khôn ngoan hơn ông. Tại Viện của ông, nhiều mạng lưới thần kinh thuộc diện hàng đầu thế giới đã được phát triển để phân tích dữ liệu về ngôn ngữ, hình ảnh và video trong các smartphone. Nhưng cái smartphone của tôi thì hiện chưa viết nổi một luận văn tiến sỹ.  Đúng lắm, việc áp dụng trong thương mại phần lớn vẫn chỉ hạn chế trong việc nhận dạng mẫu một cách thụ động với một lượng lớn dữ liệu, mặc dù là điều đó cũng đủ để dịch và làm người ta hiểu về ngôn ngữ khác. Nhưng điều mà chúng tôi thực sự mong muốn lại chưa diễn ra trong cuộc sống hàng ngày.  Vậy thì cái mà ông muốn là gì?  Đó là một cái máy có khả năng từng bước tiếp thu được hàng nghìn khả năng và cải thiện được các khả năng đó theo kiểu cải thiện bản thân mình. Trước mắt chúng tôi vẫn là một con đường dài.  Những người phê phán lại không thấy con đường mà chỉ thấy ngõ cụt. Họ cho rằng các lưới thần kinh sẽ không thể khôn ngoan hơn được nữa.  Có một số người mạnh miệng chê bai nhưng họ không nắm rõ vấn đề.  Có nghĩa là trí tuệ nhân tạo (AI) cũng có thể thu thập kiến thức như con người?  Từ lâu đã có những lưới thần kinh tự học thêm được nhiều hơn. Một số lưới thần kinh của chúng tôi thậm chí còn có thể tò mò, tự mình đề ra các mục tiêu, thường xuyên học thêm những điều  mới mà không có “thầy giáo” để tìm hiểu về môi trường xung quanh. Cũng như một đứa trẻ sơ sinh là một nhà khoa học nhỏ muốn tìm hiểu thế giới xung quanh nó: Như thế giới này hoạt động như thế nào? Nếu trí tuệ nhân tạo có thể tiên đoán nhiều hơn thì mô hình thế giới của nó sẽ chính xác hơn và từ đó nó sẽ giải quyết các vấn đề dễ dàng hơn, lên kế hoạch hành động và qua đó thu được nhiều kinh nghiệm hơn.    Nhưng loại trí tuệ nhân tạo này không thực sự thích hợp với thực tiễn?  Đúng ra là chưa thích hợp.  Vậy ông cho rằng, điều này sẽ sớm thay đổi?   Nó cũng sẽ diễn ra như với việc nhận dạng mẫu đang khá phổ biến hiện nay. Cách đây hàng chục năm đã có những thuật toán cơ bản mà ngày nay có thể nhận biết đối tượng trong một tấm ảnh. Nhưng với điều này thì điện thoại di động còn quá chậm chạp. Hiện nay computer làm điều này nhanh hơn và rẻ hơn nhiều. Chính vì thế mới có hàng tỷ smartphone. Và niềm hy vọng của tôi là, không lâu nữa chúng ta cũng sẽ chứng kiến những tiến bộ ở các thế hệ trí tuệ nhân tạo tiếp theo…các công nghệ dựa trên lưới thần kinh và sẽ hình thành các loại máy có khả năng giải quyết các nhiệm vụ mang tính tổng hợp hơn, chứ không chỉ nhận biết các đối tượng trong ảnh. Đó là các loại máy có thể tự kiến tạo môi trường xung quanh chúng.   Chúng ta làm sao có thể tưởng tượng nổi điều này nhỉ?  Trong tương lai không xa sẽ xuất hiện lần đầu tiên các robot bé tí xíu mà bạn có thể chuyện trò với chúng như với một đứa trẻ. Bạn có thể chỉ cho con robot biết cách cắt một cái áo. Robot sẽ nhìn bạn làm, bạn sẽ giảng giải ít nhiều cho nó hiểu. Nó sẽ làm theo, có  thể có vài lần không thành công, sau đó nó sẽ làm tốt hơn, và một khi nó đã làm tốt hơn, tiết kiệm nhiều năng lượng hơn so với việc mà bạn tự làm. Sau đó bạn tắt chế độ dạy nó học và nó sẽ làm ra hàng triệu phiên bản. Những loại máy như thế sẽ xuất hiện rộng rãi trong nền kinh tế thế giới.  Và hai chúng ta liệu có được chứng kiến điều đó không?  Nếu điều đó không diễn ra thì tôi sẽ là người bị choáng đầu tiên. Hãng Nnaisense của chúng tôi đang theo đuổi điều này.  Nhưng sự thực là những con robot hiện nay, thí dụ làm động tác mở cửa, cũng còn khá vụng về.  Đúng, các nhà chế tạo đang suy nghĩ rất nhiều về những gì liên quan đến vận động nhẹ nhàng, khéo léo của robot. Điều khiển một con robot phức tạp khó khăn hơn chơi cờ vua nhiều. Trong hai thập niên vừa qua con người không còn là người chơi cờ vua giỏi nhất mà nhưng cho đến nay chưa có con robot nào có thể học cầm cái tuốc nơ vít để làm một công việc phức tạp.       Làn sóng AI tới đây sẽ mạnh mẽ hơn nhiều và hoàn toàn chưa biết ai là người làm chủ cuộc chơi.      Cái khó ở đây là gì?  Con người có rất nhiều loại cơ bắp và có mức độ tự do khác nhau. Một cơ bắp làm một cái gì đó đều tác động đến nhiều cơ bắp khác. Còn để tạo ra sự khéo léo ở robot thì hết sức phức tạp, mặc dù chúng ta, những người trưởng thành tưởng điều đó là dễ dàng. Để chuyển điều này sang khoa học máy tính: ở đây có một không gian tìm kiếm khá lớn đối với các khả năng. Vì thế mất rất nhiều thời gian để một hệ thống học tập, thí dụ một mạng thần kinh, có thể nghiên cứu, điều tra một cách khá kỹ lưỡng về cái không gian đó. Điều này thực ra ở con người cũng không khác bao nhiêu. Một đưa trẻ để có thể đi được cũng mất khoảng một năm học đi – có nghĩa là học cách phối hợp các cơ bắp với nhau để có thể đứng dậy, giữ thăng bằng và bước đi.  Hãng Nnaisense của ông mới đây không cần có “thầy giáo” vẫn “dạy” cho một trí tuệ nhân tạo biết đi và đã giành được giải thưởng trong một cuộc thi tại hội nghị có tiếng về trí tuệ nhân tạo.  Đúng, chuyện đó thật thú vị. Đề bài là một bộ xương  ảo trên máy vi tính, cấu tạo bộ xương này như một con người, có xương, có khớp và cơ bắp. Nhiệm vụ là, trong một khoảng thời gian nhất định  làm sao để cơ thể này có thể đi thật xa từ điểm xuất phát, Mạng lưới thần kinh điều khiển các cơ bắp thoạt đầu hoàn toàn không biết làm gì. Cũng không có thầy giáo chỉ bảo cho nó phải đi như thế nào. Nó phải tự thử nghiệm để tìm hiểm phải đi như thế nào.  Nó đã loay hoay mò mẫm như một đứa trẻ?    Cũng đại để như vậy. Thoạt đầu nó cũng tìm đủ mọi cách và tiến bộ ở chỗ nó đã định hướng đúng dù ngã dúi ngã dụi, dần dà nó hiểu ra muốn đứng vững và đi được thì phải mở rộng đôi chân để nhảy, sau đó nó ngả nghiêng nhúc nhích lên phía trước. Sau vài tuần tính toán khá tốn kém bộ xương ảo đã đi được. Nó đã dẫn đầu trong cuộc thi có hơn 400 đội tham gia.  Một lưới thần kinh đã điều khiển, sau nhiều lần thử nghiệm, thực hành trí tuệ nhân tạo này đã tự đi được mà không cần có thầy dạy.  Các nhà nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo nổi tiếng hiện nay, ví dụ tại lò AI của Google Deepmind. Phải chăng Hoa kỳ và TQ bị tụt hậu không còn là cường quốc thế giới về AI như châu Âu?  Không phải, phần lớn lợi nhụân AI thu được hiện nay đều từ lĩnh vực tiếp thị – thí dụ các thuật toán của chúng ta có thể học, tạo được quảng cáo cá nhân hoá một cách chính xác. Đấy là kinh doanh trên mạng của con người, phần lớn ở Hoa kỳ và TQ. Nhưng làn sóng AI tới đây sẽ mạnh mẽ hơn nhiều và hoàn toàn chưa biết ai là người làm chủ cuộc chơi.   Ông muốn nói về làn sóng gì?  Làn sóng AI tới đây đối với mạng lưới của máy móc thiết bị. Trong tương lai gần, phần lớn hơn nhiều của nền kinh tế thế giới sẽ chịu tác động của AI, điều khiển các cơ sở sản xuất, các nhà máy, các quá trình hoá học và các robot. Các thiết bị, máy móc sẽ ngày càng được trang bị nhiều cảm biến hơn và luôn thông minh hơn. AI sẽ sản xuất quần áo, làm Smartphone và giầy dép. Mạng lưới máy móc thiết bị sẽ lớn hơn nhiều so với mạng lưới của con người – đơn giản vì máy móc thiết bị sẽ đông đúc hơn con người.   Khi đó nước Đức sẽ khiến cho Google & Co phải chạy theo?  Không có nơi nào trên thế giới thích hợp hơn với làn sóng AI sắp tới như ở khu vực nói tiếng Đức (Đức, Thuỵ Sĩ và Áo: người dịch). Bởi vì phần lớn các nhà chế tạo máy, sản xuất hoá chất từ lâu đã đóng đô tại khu vực này. Và giờ đây các cơ sở này muốn chủ yếu áp dụng các phương pháp AI của châu Âu. Các đối thủ cạnh tranh lớn trong lĩnh vực này theo tôi sẽ không phải là Hoa Kỳ, mà có nhiều khả năng là Nhật bản, Hàn quốc  và ngày càng mạnh hơn là TQ.  Châu Âu phải tận dụng cơ hội này như thế nào, thưa ông?    Hoa Kỳ và TQ kiên trì theo đuổi  chính sách công nghiệp, có lẽ đây là điều mà châu Âu ít nhiều có thể học hỏi. Thí dụ chính phủ TQ không cho Facebook vào đất nước họ, một phần cũng nhằm bảo vệ các doanh nghiệp của TQ như Tencent chẳng hạn. Các doanh nghiệp này giờ đây có thể tự khai thác cái kho dữ liệu khổng lồ của 1,4 tỷ dân TQ. Ngày nay Tencent có giá trị không kém gì Facebook. Ngược lại ở châu Âu không có mạng xã hội rộng lớn. Trong khi đó Hoa kỳ cản trở không để các doanh nghiệp TQ mua các tập đoàn của mình.   Cách đây không lâu Kuka còn là của Bayern (một tiểu bang của Đức), chứ không phải của  TQ. Khi xây dựng các lĩnh vực công nghiệp mới châu Âu có thể noi theo, học tập  Mỹ và TQ: Tesla và Amazon đã  nhận được  nhiều tỷ đôla tiền đầu tư, Pentagon (Lầu Năm góc) là một dạng quỹ đầu tư mạo hiểm khổng lồ, khép kín. Nó hỗ trợ cho hàng loạt Start-up cỡ nhỏ và nâng đỡ các doanh nghiệp này bằng nhiều đơn hàng hấp dẫn.  Tới đây TQ dự kiến chi 150 tỷ đôla cho AI, Bắc kinh dự chi 2 tỷ đôla cho một công viên công nghiệp AI. Các tập đoàn hàng đầu thế giới của Đức phải liên kết với nhau cùng với các chuyên gia AI, nếu cần cả với nhà nước là nhà cung cấp đầu tư mạo hiểm để phát huy các doanh nghiệp  hạng trung có nhiều triển vọng trở thành các doanh nghiệp tầm cỡ như Hoa Kỳ và TQ đã làm.  Nhưng nhiều chuyên gia AI đang bị lôi cuốn tới Hoa Kỳ vì mức lương rất hấp dẫn, thử hỏi một doanh nghiệp hạng trung làm sao kham nổi?  Có một cách, thí dụ chính phủ Liên bang Đức trợ cấp lương thật cao cho một vài chuyên gia AI cao cấp và cử họ lần lượt tới các doanh nghiệp hạng trung. Các chuyên gia này đề xuất ý kiến phải làm gì cụ thể để cải tiến AI. Bản thân các doanh nghiệp đó cũng phải tự đầu tư, từ đó cũng tạo được sự phát triển nhanh chóng như ở TQ.  Hoài Trang lược dịch  Nguồn ảnh và bài: “Tuần kinh tế”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước mắm Phú Quốc được bảo hộ tên gọi xuất xứ tại EU      Ngày 19/8, tại Phú Quốc đã diễn ra lễ trao  Chứng nhận Tên gọi xuất xứ được bảo hộ tại các nước Liên minh châu Âu  cho sản phẩm Nước mắm Phú Quốc của Việt Nam.     Trước đó, ngày 15/7, tại Trụ sở EU ở Brussels, Chứng nhận này đã được đại diện Ủy ban châu Âu trao cho bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP), theo đó chỉ có sản phẩm nước mắm sản xuất và đóng  chai tại huyện đảo Phú Quốc mới được phân phối vào thị trường EU với tên  gọi xuất xứ “Phú Quốc”  Nước mắm Phú Quốc là sản phẩm đầu tiên của các nước ASEAN được chính thức bảo hộ tên gọi xuất xứ tại 28 nước thành viên EU và là sản phẩm đầu tiên của Việt Nam được công nhận và bảo hộ Chỉ dẫn địa lý tại EU, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Dự án MUTRAP các giai đoạn II và giai đoạn III.   Ông Franz Jessen, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn EU tại Việt Nam, chia sẻ: “Việc nước mắm Phú Quốc được công nhận là sản phẩm được bảo hộ Tên gọi xuất xứ tại EU là một thành tựu quan trọng. Đây là kết quả cụ thể có được từ việc hợp tác hiệu quả với EU. Việc bảo hộ ở EU sẽ làm tăng giá trị sản phẩm và mang lại lợi ích trực tiếp cho các nhà sản xuất Việt Nam. Đây là một minh chứng rõ ràng về triển vọng công nhận các sản phẩm mang Chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam- EU cũng sẽ là một cơ hội để mở rộng bảo hộ Chỉ dẫn địa lý của Việt Nam.”  Sản lượng nước mắm sản xuất tại Phú Quốc đạt mức đỉnh điểm năm 2012 (25 triệu lít/năm), tuy nhiên, dự báo năm 2013, sản lượng sẽ sụt giảm mạnh do thiếu nguyên liệu cá cơm. Vì vậy, việc đảm bảo chất lượng nguyên liệu và quy trình sản xuất của sản phẩm như đã được chứng nhận bảo hộ là một trong các mối quan tâm chính của Ban kiểm soát nước mắm Phú Quốc cũng như với từng doanh nghiệp mong muốn được cấp chứng nhận tên gọi xuất xứ “Phú Quốc”.  Nguồn: Bộ Công thương    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Mỹ đang tụt hậu      Trả lời phỏng vấn WirtschaftsWoche (Tạp chí Tuần kinh tế) của Đức, nhà kinh tế Mỹ Vivek Ghosal giải thích vì sao sáng tạo và đổi mới không giúp ích gì nhiều cho nền kinh tế Mỹ, hiện đang trong tình trạng tụt hậu do thiếu đầu tư lâu dài vào khâu hoàn thiện sản xuất những loại sản phẩm cao cấp.      * Thưa ông Ghosal, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nói, nước Mỹ phải đổi mới, sáng tạo hơn nữa. Phải chăng đầu tư nhiều hơn nữa vào khâu nghiên cứu và phát triển thì nước Mỹ có thể thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng?  – Mọi sự không đơn giản như vậy. Quý vị hãy xem bảng xếp hạng quốc tế đối với các doanh nghiệp năng động sáng tạo nhất. Những tập đoàn của Mỹ như Apple, Google, Intel, IBM và Microsoft đều đứng đầu trong bảng xếp hạng này. Chúng tôi cũng dẫn đầu về năng động sáng tạo ở các lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ nano. Trong một nghiên cứu gần đây của ủy ban EU về tình hình nghiên cứu và phát triển trong nền kinh tế tư nhân thì nước Mỹ được đánh giá cao hơn tất cả 27 nước thành viên EU. Chúng tôi dành 2,8% tổng sản phẩm quốc nội cho nghiên cứu và phát triển – ngay cả đến Trung Quốc cũng không đầu tư lớn đến như vậy. Nhưng để khởi động được nền kinh tế thì chỉ sáng tạo không thôi thì chưa đủ.  * Thưa ông tại sao như lại như vậy?          Vivek Ghosal, 50 tuổi, người gốc Ấn Độ, đến Mỹ từ năm 1983. Từ năm 2001, ông giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Kinh tế thuộc Viện Công nghệ Georgia ở TP Atlanta. Trước đó, ông đã từng làm việc tại Bộ Tư pháp Mỹ.        – Những doanh nghiệp có sự sáng tạo đổi mới này hoàn toàn không tạo ra việc làm mới ở nước Mỹ. Chỉ một ví dụ sau đây cũng có thể thấy sự tiến thoái lưỡng nan của chúng tôi: hai nhà nghiên cứu trẻ ở Boston đã phát triển thành công một loại đèn LED mới. Họ tự hỏi, chúng ta có thể chế tạo ở đâu và như thế nào sản phẩm mới này? Samsung của Hàn Quốc đã ngỏ ý sẵn sàng lo khâu sản xuất, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm. Điều đó có nghĩa là sáng chế mới này không mang lại nhiều lợi lộc cho nền kinh tế Mỹ trừ khoản thu về bằng sáng chế phát minh. Cái mà nước Mỹ hiện bị thiếu là thiếu một sự đầu tư lâu dài vào khâu hoàn thiện sản xuất những loại sản phẩm cao cấp. Hiện nay hầu như chúng tôi không còn tự sản xuất cái gì cả.  * Outsourcing chuyển sang châu Á – tất cả các nước Tây Âu đều bị ảnh hưởng bởi điều này.  Đúng vậy. Nhưng nước Đức đã thành công thực hiện sáng tạo, đổi mới ở các khâu hoàn thiện sản xuất do đó duy trì được khả năng cạnh tranh. Các vị đã di chuyển sản xuất đại trà, giản đơn ra nước ngoài nhưng những khâu hoàn thiện đòi hỏi công nghệ cao thì vẫn ở lại trong nước. Các tập đoàn của Đức tập trung nhiều vào khâu chất lượng, đầu tư mang tính lâu dài. Đây chính là cái mà nước Mỹ đang thiếu.  * Thưa ông nguyên nhân của điều này là gì?  – Ở bên nước chúng tôi mọi sự thường chỉ xoay quanh một điều: đó là ta phải làm gì để thu lợi nhanh nhất từ sản phẩm của mình? Nhưng đầu tư vào khâu chất lượng hay sản xuất công nghệ cao thường phải sau nhiều năm mới sinh lợi vì vậy nhiều doanh nghiệp Mỹ không thích đầu tư kiểu này. Chính vì vậy nước Mỹ bị tụt hậu trong cạnh tranh quốc tế. Chúng tôi cũng không đầu tư vào việc đào tạo thợ lành nghề có khả năng điều khiển thiết bị máy móc công nghệ cao. Chúng tôi đang bị thiếu những chỗ làm việc như thế này.  * Thưa ông những ngành nào bị ảnh hưởng nặng nề nhất?  – Vấn đề này diễn ra ở hầu hết mọi lĩnh vực. Apple không sản xuất loại iPad nào của mình ở nước Mỹ. Trong lĩnh vực năng lượng tái sinh cũng diễn ra tình trạng tương tự. Tuy nhiều phát minh, sáng chế được tạo ra ở Mỹ nhưng hiện nay người Trung Quốc đã xây dựng nhiều cơ sở điện gió và điện mặt trời hơn chúng tôi và giá thành cũng thấp hơn. Chúng ta hãy xem xét ngành công nghiệp chế tạo ô tô của Mỹ: Phải mất 30 năm General Motors mới nhận ra rằng cần phải đầu tư lâu dài vào khâu chất lượng chứ không phải chỉ loay hoay tính toán cho từng quý một. Mãi đến bây giờ họ mới ý thức được rằng nếu không chịu thay đổi thì ắt sẽ thua cuộc. Giờ đây đành phải chờ xem, liệu đã quá muộn hay chưa. So với các nhà sản xuất như BMW, Daimler, Volkswagen thì ngành công nghiệp ô tô của Mỹ bị tụt hậu khá xa. Ngay cả đến mấy nước châu Á cũng có thể bầy cho chúng tôi đường đi nước bước phải như thế nào.  * Tổng thống Obama dự kiến chi bạc tỷ để mở mang hạ tầng cơ sở ở nước Mỹ, thí dụ mở rộng các tuyến đường sắt cao tốc. Phải chăng đó sẽ là động lực thúc đẩy nền kinh tế Mỹ?    – Chỉ ở mức độ nhất định thôi. Từ nhiều chục năm nay đặc biệt các doanh nghiệp nước ngoài như Siemens, Bombardier hay Alstom đã đầu tư phát triển tầu bánh sắt cao tốc. Các doanh nghiệp này có know-how và nhân lực để làm việc này. Các tập đoàn của Mỹ đã không chịu bỏ công sức làm việc này. Nếu giờ đây nước Mỹ đầu tư vào hạ tầng cơ sở thì chúng tôi sẽ hoàn toàn bị lệ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài thí dụ như đối với tầu hỏa công nghệ cao. Nền kinh tế Mỹ chỉ được lợi nếu các doanh nghiệp Mỹ liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài để có thể cung cấp một phần trang thiết bị cho các dự án này. Đương nhiên đất nước sẽ được hưởng lợi khi hạ tầng cơ sở được cải thiện.  * Các tiểu bang của Mỹ như Wisconsin và Florida lại nhìn nhận vấn đề này khác, họ đã trả lại chính phủ Mỹ khoản tiền mà chính phủ chi cho các bang này để mở rộng mạng lưới đường sắt.  – Vấn đề là ngân sách của các bang này đã cạn kiệt. Chính phủ yêu cầu chính quyền bang phải có vốn đối ứng cho các dự án hạ tầng cơ sở. Nhưng các bang không biết đào đâu ra tiền để đầu tư. Hơn nữa chính phủ còn yêu cầu gói hạ tầng cơ sở này không chỉ bao gồm cải tạo, xây dựng mới hệ thống đường sắt mà cả hệ thống đường bộ và cầu cống. Thí dụ tiểu bang Wisconsin thì chỉ muốn xây dựng mới đường sá, cầu cống, chính quyền địa phương cho rằng xây dựng mới hệ thống đường sắt là vô nghĩa. Ngay cả ở đây cũng cho thấy chúng tôi không chịu nghĩ xa. Để có thể sáng tạo, đổi mới và để có sức cạnh tranh, chúng tôi cần phải học nghĩ xa khoảng 30 năm. Khác với nước Đức, dân số nước Mỹ đang tăng. Chúng tôi nhất thiết phải đầu tư cho hạ tầng cơ sở nếu như chúng tôi không muốn bị chìm nghỉm và rối loạn: hiện nay hệ thống giao thông của chúng tôi cũng g ở trong tình trạng khá tồi tệ.  * Theo ông thì đến khi nào nền kinh tế Mỹ mới hồi phục?  – Nếu như chúng tôi tiếp tục làm như hiện nay thì tôi nghĩ nền kinh tế Mỹ không thể hồi phục nhanh chóng được. Chúng tôi cần một sự tăng trưởng hữu cơ trong hai, ba năm để hồi phục. Nhưng sự tăng trưởng đó lấy ở đâu? Giờ đây có nguy cơ nhà nước mất khả năng chi trả nếu như không tăng mức nợ, hiện nay khoản nợ nhà nước đã lên tới 14,3 nghìn tỷ đôla. Sự thâm hụt ngân sách nhà nước và tình trạng két trống rỗng ở các tiểu bang là gánh nặng và có sự ảnh hưởng lâu dài. Các dự án hạ tầng sẽ bị xóa bỏ, khoản đầu tư cho giáo dục, nhất là để xây dựng trường học, không diễn ra. Trong các so sánh quốc tế về trình độ giáo dục ở các trường học thì Mỹ xếp hạng thứ 25 ở môn toán, thứ 17 ở môn khoa học tự nhiên. Chúng tôi phải đầu tư cho giáo dục phổ thông cơ sở và phổ thông trung học và phải đầu tư cho đào tạo công nhân chuyên nhiệp. Ở lĩnh vực này chúng tôi đã bị tụt hậu từ lâu rồi.  * Tổng thống Obama muốn tăng thuế đối với người giàu và xóa bỏ việc giảm thuế đối với các doanh nghiệp thí dụ như các tập đoàn dầu mỏ. Điều này có hàn gắn được lỗ thủng ngân sách nhà nước?  – Một khó khăn thực sự đối với các doanh nghiệp Mỹ hiện nay là chi phí y tyế quá cao. Hầu như không ở nước nào mà chi phí y tế lại cao như ở Mỹ. Đây là một trong những thách thức lớn mà nước Mỹ phải đương đầu: nước Mỹ phải làm gì để quản lý được hệ thống y tế quá tốn kém hiện nay? Đấy là lý do phải tăng thuế.  * Thưa ông, tại sao lại có chuyện một tập đoàn lớn như General Electric mặc dù có doanh thu và có lợi nhuận cao mà năm vừa qua không đóng một xu nào thuế nào?  – Gần 45% người Mỹ trong diện đáng ra phải đóng thuế nhưng lại không đóng một xu nào, đó là kết quả một công trình nghiên cứu gần đây. Trước hết cơ quan thuế phải thu cho được những khoản thuế bị thất thu và cần làm sáng tỏ hơn nữa hệ thống thuế. Các vị có thể tưởng tượng một tập đoàn như Siemens ở Đức mà lại không đóng thuế không? Cái ví dụ này cũng phản ánh nền văn hóa doanh nghiệp ở nước chúng tôi. Có lẽ còn có nhiều lỗ hổng trong luật thuế của chúng tôi chứ nếu không làm sao lại có thể xảy ra tình trạng nói trên. Nhiều tập đoàn ở nước chúng tôi có một đội ngũ đông đảo chuyên gia tài chính mà nhiệm vụ của họ chỉ là phát hiện những kẽ hở của pháp luật. Người ta không nghĩ đến việc nhà nước cần phải có các nguồn thu. Hầu như không có nước nào có chi phí y tế lớn như ở nước Mỹ và đây là một thách thức lớn đối với nhà nước chúng tôi.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Mỹ trong cơn bĩ cực      Kinh tế bị tê liệt, số người thất nghiệp tăng nhanh và ngày càng có nhiều thành phố xiêu điêu vì gánh nặng nợ nần. Liệu nước Mỹ siêu cường có vượt qua được cơn bĩ cực này?     Tập tài liệu dày 211 trang chứa danh sách trên 5.000 chủ nợ xếp theo thứ tự ABC mà con nợ là thành phố Stockton ở California. Cách đây hai tuần, thành phố có gần 300.000 dân này đã tuyên bố không còn khả năng thanh toán số nợ lên đến 700 triệu đôla.   Tuy vậy Stockton không phải là trường hợp cá biệt. Hiện nay có nhiều thành phố ở Mỹ nợ như chúa Chổm.   Chỉ còn 100 ngày nữa là đến thời điểm bầu cử Tổng thống Mỹ. Khoản nợ trên 15 nghìn tỷ đôla cho thấy đây cũng là thời điểm bắt đầu sự chấm dứt vai trò siêu cường của Mỹ. Vị Tổng thống mới ngay sau khi nhậm chức sẽ phải xử lý vấn đề tài chính hóc búa và sự cắt giảm ngân sách công.  Năm 2011 Siêu Ủy ban “Super-Committee”, gồm đại diện Đảng Cộng hòa và Dân chủ đã không thể thỏa thuận kế hoạch tiết kiệm trị giá 1,5 nghìn tỷ đôla. Nếu điều này không tiến triển thì tháng giêng tới sẽ diễn ra cắt giảm ngân sách hàng loạt, nghĩa là cắt giảm cả ngân sách dành cho vấn đề xã hội lẫn quốc phòng.   “Rõ ràng là hệ thống chính trị ở Mỹ có vấn đề, Tổng thống và Hạ viện đang ngáng chân nhau”, Josef Braml, chuyên gia về Mỹ thuộc Hội chính sách đối ngoại Đức, nhận xét. “Hố ngăn cách giữa những người Cộng hòa và Dân chủ rất sâu. Tôi không thấy hai đảng này có thể đi đến thống nhất – mặc dù phương pháp – cắt giảm đổ đồng này sẽ làm giảm sức mạnh của nền kinh tế.”  Nếu chương trình thuế không được gia hạn thì có nguy cơ ngân sách nhà nước sẽ thiếu hụt khoảng 600 tỷ đôla vào đầu năm 2013. Bình quân sẽ có khoảng 80% hộ gia đình ở Mỹ phải đóng thuế cao hơn. Nhà kinh tế nổi tiếng người Mỹ Nouriel Roubini cho rằng “fiscal cliff” [thuật ngữ để chỉ tình trạng khó khăn của nền tài chính công] có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế trong năm tới 4,5%. Điều đó có nghĩa là nội trong ba năm Mỹ trải qua hai đợt suy thoái kinh tế.   Tình hình thị trường lao động rất tồi tệ, không có một dấu hiệu tiến triển nào. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức 8,2%, là con số thống kê đã được tô hồng, trong thực tế số người thất nghiệp lên đến trên 16%.   Theo Martin Thunert, một nhà chính trị học đồng thời là giảng viên tại Center for American Studies (HCA) thuộc Đại học Heidelberg thì “nạn thất nghiệp cao vì xuất khẩu không phát triển như mong muốn và nhiều việc làm dịch chuyển ra nước ngoài. Có thể nói những chỗ làm việc mới tạo ra ở Mỹ chỉ phục vụ được nhóm lao động ưu tú, lực lượng lao động bình thường không được lợi lộc gì từ các ngành công nghệ cao. Ngoài ra Mỹ có một loạt doanh nghiệp công nghệ cao nổi tiếng thế giới, nhưng sản xuất lại thực hiện ở nước ngoài. Tổng thống Obama tìm mọi cách, kể cả các biện pháp tài chính, để sản xuất công nghiệp trở lại với nước Mỹ, nhưng đây là điều không thể.”  Do khủng hoảng đồng Euro nên lượng xuất khẩu của Mỹ sang châu Âu giảm mạnh so với cách đây hai năm. Liên minh châu Âu là thị trường nhập khẩu đứng hàng thứ hai đối với Mỹ vì thế Tổng thống Barack Obama đã phải khẩn cầu Châu Âu giải quyết nhanh gọn cuộc khủng hoảng nợ hiện nay để giảm khó khăn cho Mỹ.   Qua tình trạng thành phố Stockton có thể thấy tình trạng thất nghiệp cao tác động như thế nào đến tình hình xã hội. Đầu thế kỷ này, Stockom là một thành phố phát triển mang tính bùng nổ. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi nối liền hai thành phố lớn San Francisco và Sacramento nên nhiều doanh nghiệp đã tập trung về đây, đặc biệt các doanh nghiệp logistic. Giá nhà trong sáu năm từ 2000 đến 2006 tăng gấp bốn lần. Nhờ thu thuế ngày một tăng nên chính quyền thành phố đã vay thêm 300 triệu đôla để cải tạo đường sá, công viên và xây dựng trụ sở làm việc mới.  Nhưng công nhân viên chức chưa kịp dọn về địa điểm làm việc mới thì suy thoái kinh tế đã ập tới. Các doanh nghiệp thi nhau phá sản, năm 2008 chỉ trong một thời gian ngắn, thất nghiệp tăng lên 15%.   Năm 2009, Stockton buộc phải cắt giảm biên chế mạnh mẽ: cơ quan hành chính giảm gần 50% biên chế; các đơn vị cảnh sát, cứu nạn giảm 20% quân số – nhờ đó tiết kiệm được 90 triệu đôla ngân sách. Nhưng nạn thất nghiệp tiếp tục tăng, nguồn thu thuế giảm, tội phạm hình sự tăng đột biến. Tạp chí “Forbes” của Mỹ năm ngoái đã bình chọn Stockton là “thành phố thảm hại nhất nước Mỹ”.  Chuyên gia về Mỹ Josef Braml cho rằng hiện có hai trái bom nổ chậm đe dọa Mỹ, trái bom thứ nhất là khoản nợ khổng lồ của Washington và trái bom thứ hai là gánh nặng ngân sách đối với các tiểu bang. Hiện có tình trạng nhiều nhân viên nhà nước không có bảo hiểm cho tương lai. Họ có quyền hưởng lương hưu. Tuy nhiên hiện nay các bang lại không có hoặc có rất ít dự trữ. Bị lâm vào tình trạng này thường là các tiểu bang đông dân như California, Florida, Illinois, Minnesota và Connecticut. Đó là nhận định của nhà khoa học Martin Thunert.   Một trong những vấn đề gay cấn là hạ tầng cơ sở ở Mỹ phần lớn ở trong tình trạng tồi tệ. Một phần ba các tuyến đường chính ở tình trạng không tốt, 36 trong số các tuyến đường xa lộ xuyên qua các thành phố thường xuyên bị quá tải. Nhiều trường công lập cần tu bổ gấp. Do đường dây điện chạy nổi nên mạng lưới điện dễ xẩy ra sự cố. Một phần tư trong số 600.000 cây cầu ở Mỹ không còn được coi là an toàn tuyệt đối, khoảng 160.000 cây cầu thuộc diện có nguy cơ sụp đổ.   Hạ tầng cơ sở là một vấn đề lớn đối với Mỹ. Đây là lĩnh vực có nhiều việc phải làm. Nhưng đây lại là một vấn đề rất khó khăn vì các đảng chính trị thường ngáng chân nhau trong khâu thực hiện. Đảng Cộng hòa coi đây là vấn đề thuộc thẩm quyền của các tiểu bang và Liên bang không nên can thiệp. Hơn nữa giờ đây nước ngoài cũng không còn sẵn sàng cho Mỹ vay tiền để tiêu pha vung vẩy.   Josef Braml cho rằng “Sự tin tưởng của Trung Quốc và Nhật Bản vào tình hình chính trị, kinh tế của Mỹ đang bị mai một. Các nước châu Á đang có xu hướng đa dạng hóa khoản dự trữ ngoại tệ của mình và không còn sẵn sàng đổ tất cả vào giỏ đôla của Mỹ, các nước châu Á sẽ để khoản tiền đó trong khu vực và về trung và dài hạn đồng Nhân dân tệ cùng với đồng Euro có thể được sử dụng thay cho đồng đôla.” Mới đây Trung Quốc và Nhật Bản đã thỏa thuận dùng đồng tiền của mình để thanh toán các giao dịch thương mại song phương chứ không dùng đôla Mỹ như hiện nay. “Tuy nhiên sự phụ thuộc vào nhau giữa Trung Quốc và Mỹ hiện vẫn rất lớn. Hai nước này phải hết sức chú ý để con thuyền chắp vá mà họ cùng ngồi không bị chìm,” theo nhận định của Braml.  Khoản nợ nước ngoài của Mỹ mỗi ngày một lớn hơn. Hiện nay ngưỡng 15 nghìn tỷ đã bị phá. Một phần ba khoản tiền trên là khoản nợ nước ngoài của Washington. Các nước và các nhà đầu tư khắp thế giới hiện giữ trái phiếu Mỹ trị giá 5 nghìn tỷ đôla (tính đến tháng 5/2012).   Những khó khăn về kinh tế của Mỹ từ lâu đã để lại những hệ quả về chính trị. Đối với cuộc tranh chấp giữa Israel và Iran, tình huống gần như nội chiến ở Syria hay về giải pháp xử lý cuộc khủng hoảng nợ Mỹ giảm hẳn ảnh hưởng của mình so với trước đây. Phải chăng Mỹ từ một siêu cường chuyên ra quyết định nay đã trở thành quan sát viên? Theo Braml thì “Tiếng nói của Mỹ đối với thế giới vẫn có trọng lượng, nhưng cái trọng lượng này đã có thời nặng hơn nhiều”.   Trong chính sách đối ngoại Mỹ tỏ ra hết sức kiềm chế chừng nào lợi ích và an ninh của Mỹ không bị đe dọa. Mỹ đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa can thiệp của George W. Bush. Mỹ không còn muốn một mình nai lưng cáng đáng mọi việc của thế giới. Tuy nhiên chớ đánh giá thấp Mỹ. Về quân sự Mỹ vẫn là nước đứng đầu thế giới. Kể cả chiến tranh thông thường, chiến tranh điện tử và chiến tranh mạng. Tuy nhiên dù có hơn hẳn về quân sự nhưng nếu nền kinh tế yếu kém, nạn thất nghiệp không giảm và nguy cơ sụp đổ vì nợ nần thì khả năng hành động của Mỹ cũng bị hạn chế nhiều và uy tín của Mỹ không khỏi bị tổn thương.   Để có thể thực sự quay trở lại thời hoàng kim Mỹ cần có nhiều may mắn – và một trong cái may mắn đó là có nhiều dầu mỏ. Nhờ công nghệ “cracking” người ta có thể khai thác dầu mỏ và khí đốt ở độ sâu mà cho đến nay con người không thể khai thác được. Ở North và South Dakota hay ở Montana các nhà địa chất đã phát hiện ở độ sâu trong lòng đất một lượng lớn dầu mỏ và khí đốt.   Phải chăng siêu cường Mỹ đã đến thời cáo chung? Michael Thunert cho rằng “Đã qua rồi cái thời kỳ mà một nước có thể làm mưa làm gió về mọi lĩnh vực – quân sự, chính trị, văn hóa và kinh tế. Sự vượt trội và quyền lực của Mỹ đang bị tiêu biến và tôi không thấy có một quốc gia nào thế chân Mỹ.”  Xuân Hoài lược dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước nghèo chịu thiệt hại do phát thải của nước giàu      Một nghiên cứu mới do hai nhà khoa học ở ĐH Dartmouth (Hoa Kỳ) đã tính toán ảnh hưởng kinh tế mà các quốc gia phát thải nhiều hơn đã gây ra cho các quốc gia khác. Các dữ liệu này có thể được dùng trong xét xử hoặc các cuộc đàm phán khí hậu quốc tế về việc các nước giàu đã đốt nhiều than, dầu và ga phải chi trả cho các nước nghèo bị thiệt hại do khí thải.     Trong hàng thập kỷ, các nhà hoạt động môi trường, một số cơ quan chính phủ và các nhà khoa học đã cho rằng các nước giàu phải chi trả nhiều nhất để giải quyết biến đổi khí hậu, thậm chí là bồi thường cho các nước nghèo, bởi các nước công nghiệp phát triển trong lịch sử đã phát thải nhiều khí nhà kính nhất.  Trong nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Climatic Change, các nhà khoa học ở ĐH Dartmouth (Hoa Kỳ) đã tính toán thiệt hại kinh tế mà các quốc gia phát thải nhiều hơn đã gây ra cho các quốc gia khác.  Ví dụ, dữ liệu cho thấy quốc gia thải carbon nhiều nhất trong suốt thời gian qua – Hoa Kỳ, đã gây thiệt hại hơn 1,9 nghìn tỉ USD về mặt khí hậu cho các quốc gia khác từ năm 1990-2014. Cụ thể là thiệt hại 310 tỉ USD cho Brazil, 257 tỉ USD thiệt hại cho Ấn Độ, 124 tỉ USD cho Indonesia, 104 tỉ USD cho Venezuela và 74 tỉ USD cho Nigeria. Trong khi đó, ô nhiễm carbon của Hoa Kỳ đã mang lại cho nước này hơn 183 tỉ USD.    Các nước đang phát triển đã thuyết phục các nước giàu hỗ trợ tài chính để họ giảm lượng khí thải carbon trong tương lai, nhưng chẳng nhận được khoản bồi thường cho những thiệt hại mà các nước giàu đã gây ra. “Các nghiên cứu mang tính đột phá như thế này cho thấy các nước phát thải nhiều không thể trốn tránh nghĩa vụ của họ trong việc giải quyết các tổn thất và thiệt hại”, nhà khoa học khí hậu Bahamian Adelle Thomas ở Climate Analytics, người không tham gia nghiên cứu, cho biết. Bà nói rằng gần đây ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đang làm tê liệt các nước đang phát triển.  Trong khi phát thải carbon đã được theo dõi trong nhiều thập kỷ ở cấp độ quốc gia và được tính toán thiệt hại, Callahan và Mankin cho biết đây là nghiên cứu đầu tiên tìm ra mối liên hệ giữa các quốc gia tạo ra khí thải với các quốc gia chịu ảnh hưởng. “Những quốc gia phát thải ít nhất lại là những quốc gia chịu nhiều thiệt hại do sự gia tăng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Do vậy, sự bất công kép này chính là kết quả trọng tâm mà tôi muốn nhấn mạnh”, Callahan nói.  Để tiến hành nghiên cứu, Callahan đã tìm hiểu lượng phát thải carbon của mỗi quốc gia và tác động của chúng tới nhiệt độ toàn cầu, bằng cách sử dụng các mô hình khí hậu lớn và một thế giới mô phỏng – một phiên bản của kỹ thuật phân bổ được thường sử dụng cho các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Sau đó, ông đã kết nối chúng với các nghiên cứu kinh tế để xem xét mối quan hệ giữa gia tăng nhiệt độ và thiệt hại ở mỗi quốc gia.  Sau Hoa Kỳ, Trung Quốc (1,8 nghìn tỉ USD), Nga (986 triệu USD), Ấn Độ (809 tỉ USD) và Brazil (528 tỉ USD) là các quốc gia gây nhiều thiệt hại nhất kể từ năm 1990 – các nhà nghiên cứu chọn thời điểm này vì đã có sự đồng thuận về mặt khoa học, các quốc gia không thể chối rằng họ không biết về sự nóng lên toàn cầu. Chỉ riêng Hoa Kỳ và Trung Quốc đã gây ra 1/3 thiệt hại về khí hậu trên toàn cầu.  Năm quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất tính theo tổng số tiền là Brazil, Ấn Độ, Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Indonesia – nhưng đó là do các quốc gia này có nền kinh tế lớn nhất trong số các vùng nóng dễ bị tổn thương. Nếu xét về GDP, các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất là UAE, Mauritania, Ả Rập Saudi, Oman và Mali, Callahan cho biết. Dù nằm trong số các quốc gia phát thải và chịu nhiều thiệt hại nhất, nhưng Brazil và Ấn Độ không nộp đơn kiện để đòi bồi thường.  Câu hỏi về sự công bằng cho những quốc gia bị thiệt hại và làm thế nào để chuẩn bị và giảm thiểu ảnh hưởng của khí hậu ngày càng quan trọng trong các cuộc đàm phán quốc tế về khí hậu. Một số quốc gia, cộng đồng địa phương và các nhà hoạt động khí hậu đã kêu gọi các nước phát thải carbon lớn nhất trong lịch sử trả tiền “bồi thường khí hậu” cho những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các quốc gia, cộng đồng vốn chịu nhiều ảnh hưởng từ các hệ thống áp bức như chủ nghĩa thực dân và chế độ nô lệ.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-rich- nations-climate-poorer.html       Author                .        
__label__tiasang Nước Pháp gặp may vì có điện hạt nhân      Tổng thống Pháp  Macron chủ trương giữ cân bằng về năng lượng: một mặt ông chủ trương xây dựng các nhà máy điện hạt nhân công suất nhỏ (SMR), mặt khác mở rộng xây dựng các nguồn điện tái tạo. Do đó, ngay cả những người thuộc phái Xanh cũng không lên tiếng phản đối. Hiện tại, tổng thống Macron lại nỗ lực để Brussel phải công nhận đầu tư cho năng lượng nguyên tử là “đầu tư xanh”.      Pháp đã trở lại với năng lượng nguyên tử – và đáng ngạc nhiên là điều này thậm chí còn trở thành một chủ đề trong vận động tranh cử. Tổng thống Emmanuel Macron đang theo đuổi chiến lược cân bằng này để tránh không bị phe nào chỉ trích: chủ trương xây dựng các nhà máy điện hạt nhân công suất nhỏ (SMR) mới nhưng cũng đồng thời mở rộng hệ thống năng lượng tái tạo. Điều này vừa thể hiện quan điểm về cuộc chiến chống biến đổi khí hậu của Pháp cũng như bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước – và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là để giữ giá điện không bị tăng vọt.  “Pháp may mắn vì Pháp có năng lượng hạt nhân,” Macron thích nhấn mạnh điều này với quan điểm về nỗ lực giảm thiểu lượng khí thải CO2. Pháp thực sự đang nổi trội hơn so với Đức về vấn đề khí thải bởi 70% lượng điện của họ đến từ các nhà máy điện hạt nhân phát thải thấp.  Ngay cả Phái Xanh của Pháp hiện cũng đang không còn lên tiếng đòi loại bỏ hạt nhân, vốn từng lên tiếng yêu cầu chính phủ kịch liệt. “Không ai nói rằng chúng tôi sẽ đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân trong nay mai”, ứng cử viên tổng thống Yannick Jadot nói. Theo ông, cũng phải vài ba chục năm nữa thì Pháp mới có thể tính đến phương án rời bỏ các nhà máy điện hạt nhân.  Tại Brussels, Pháp đang cố gắng để đầu tư cho điện hạt nhân được công nhận là “đầu tư xanh”.  Đề xuất của Pháp là sự đánh giá này cần được công nhận vào cuối năm nay. Điều đó có nghĩa là EU phải hỗ trợ Pháp về tài chính trong việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử. Hiện cả Đức và Áo đều kịch liệt phản đối yêu cầu này.  Trong khi đó, các ứng cử viên tổng thống cánh hữu lại tìm cách chơi trội bằng sự hùng biện hạt nhân. Ứng cử viên bảo thủ Xavier Bertrand muốn xây dựng ít nhất ba nhà máy điện EPR mới, đảng dân túy cánh hữu Marine Le Pen đòi sáu và đảng cực hữu thậm chí đòi xây dựng tới mười.  Lò phản ứng nước áp lực châu Âu (EPR) được xây dựng ở Flamanville, Pháp sẽ đi vào hoạt động sớm nhất vào năm 2023 – chậm 11 năm so với kế hoạch và chi phí xây dựng tăng gấp gần bốn lần so với dự kiến. Và quyết định cuối cùng về nơi lưu trữ chất thải cho đến nay vẫn chưa được xác quyết.  Tuy nhiên, các lò phản ứng SMR mà tổng thống Macron muốn đầu tư hiện chưa chín muồi để đi vào xây dựng. Một mô hình duy nhất hiện đang được vận hành ở Nga còn ngành công nghiệp Pháp ít quan tâm đến các lò phản ứng nhỏ vì sản lượng điện của các nhà máy này nhỏ và không thể thay thế cho các nhà máy điện hạt nhân thông thường.  Nhưng điều quan trọng là điện hạt nhân ở Pháp luôn gắn liền với niềm tự hào và chủ quyền quốc gia. Sự độc lập của sản xuất năng lượng – ví dụ như từ khí đốt của Nga hoặc điện than của Đức – rất quan trọng đối với tổng thống Macron. “Chúng ta không bao giờ được quá phụ thuộc vào một nguồn năng lượng nhất định chỉ vì giá thấp”, ông nói gần đây bên lề một hội nghị thượng đỉnh của EU khi giá khí đốt đang tăng.  Pháp cam kết giảm tỷ trọng điện hạt nhân xuống còn 50% vào năm 2035, đóng cửa hàng chục lò phản ứng cũ đồng thời mở rộng năng lượng tái tạo. Các lò phản ứng SMR đã được lên kế hoạch có thể sẽ không thay đổi được điều đó. Tuy nhiên, trong bối cảnh tranh cử hiện nay, các lò phản ứng SMR có thể giúp Macron tạo dựng hình ảnh vừa thân thiện với năng lượng nguyên tử vừa có ý thức về bảo vệ khí hậu. Nếu mọi toan tính của ông Macron thành công thì có thể Pháp sẽ nhận được hỗ trợ tài chính của EU để mở mang công nghiệp điện hạt nhân.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/politik/ausland/article234358678/Macron-Frankreich-hat-Glueck-denn-Frankreich-hat-Atomkraft.html  https://www.wiwo.de/technologie/forschung/mini-atomkraftwerke-macron-und-frankreichs-strahlendes-glueck/27698938.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn nước sạch bấp bênh: Tô đậm thêm bất bình đẳng giới      Những bất công trong chính sách đảm bảo nước sạch đã đặt thêm gánh nặng lên vai những người phụ nữ ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.    Bà Neáng Phát bên thùng chứa nước của gia đình. Ảnh: Mỹ Hạnh  Dù đã hơn ba mươi mấy năm trôi qua, bà Neáng Phát (62 tuổi, xã Lê Trì, Tri Tôn, An Giang) vẫn nhớ như in những ngày đi gánh nước từ cái giếng cách nhà 1-2km. Khi đó, mỗi ngày bà thường dậy từ một giờ sáng để đi nhổ mạ, sau đó về nhà cho con bú rồi lại đi làm, rồi về nhà nấu cơm, sau đó lại chạy đi gánh nước, tới một giờ chiều thì lại tiếp tục đi cấy. “Khổ lắm, gánh có khi hết 2-3 tiếng giữa trưa nắng, mà đâu phải đi một lần là xong, nhiều khi phải đi vài lần và nghỉ mấy bận mới về được tới nhà. Nếu có đông người cùng đến lấy nước thì còn phải chờ lâu hơn nữa”, bà Phát nhớ lại.  Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, gia đình bà nói riêng và các hộ dân ở xã Lê Trì nói chung đã được lắp hệ thống nước máy để đảm bảo sinh hoạt trong gia đình. Những tưởng với tỉ lệ phủ nước sạch khoảng trên 95% như chia sẻ của ông Chau Phong – Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tri Tôn, những câu chuyện gánh nước như vậy sẽ lùi dần vào trong ký ức của những người lớn tuổi như bà Phát.  Thế nhưng chỉ cách nhà bà Phát khoảng vài chục mét đến vài trăm mét, tại căn nhà của các hộ dân ở cụm tuyến dân cư mới, bà Neáng Sâm và gia đình chị Neáng Sa Rây vẫn không có nước mà phải đi “câu” nước từ nhà hàng xóm với giá đắt hơn gấp năm lần so với giá nước thông thường. Thỉnh thoảng khi mâu thuẫn nảy sinh giữa các gia đình hàng xóm và không thể dùng nhờ nước nữa, họ lại phải đi chở nước từ giếng hoặc cây nước cách đó vài trăm mét.  Loay hoay tìm nguồn nước  Căn nhà một tầng lụp xụp với một bóng điện duy nhất “câu” từ nhà hàng xóm là nơi sinh sống của bà Neáng Sâm (53 tuổi) với một con trai và một đứa cháu gái đang học cấp hai. Nguồn kinh tế của gia đình bà phụ thuộc vào việc mót lúa, kiếm củi, bắt cua của bà và công việc ai thuê gì làm nấy của người con trai. Trước đây, gia đình bà Sâm sống nhờ 20 năm trên đất của người khác. Ba năm trở lại đây bà chuyển ra cụm tuyến dân cư này theo chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo.  Bà Neáng Sâm (trái) và bà Neáng Phát (phải) tại căn nhà của bà Sâm. Trước mặt họ là lu hứng nước mưa và thùng chứa nước được “câu” từ nhà của hàng xóm. Ảnh: Mỹ Hạnh  Do cụm tuyến dân cư mới chỉ có thưa thớt vài nhà chuyển ra ở, đường ống nước của xí nghiệp điện nước không lắp ra tới khu vực này. Trong một năm đầu tiên, bà Sâm và cháu gái phải đi gánh nước hoặc mượn xe đẩy để lấy nước từ giếng ở gần nhà về. Hai năm trở lại đây, gia đình hàng xóm cho gia đình bà Sâm lắp nhờ ống nước cao su để kéo nước về với giá 100,000 VNĐ/tháng. “Giá nước máy thông thường chỉ có khoảng 20,000 đồng/tháng thôi”, bà Neáng Phát kể. “Cuộc họp nào ở xã bà ấy cũng nêu ý kiến về việc lắp điện nước đó, người ta cũng xuống coi và hứa là tháng sau sẽ có những chưa biết sao”.  Cách đó khoảng 16km, tại ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Phước, gia đình anh Trần Đại Minh Thẩm (46 tuổi) và chị Lê Thị Kim Loan (42 tuổi) cũng đang dùng nguồn nước từ kênh để phục vụ cho mọi nhu cầu sinh hoạt cho gia đình, từ tưới tiêu đến tắm giặt, nấu ăn, rửa bát, ngoại trừ nước uống thì sẽ mua nước bình với giá khoảng 12,000 VNĐ cho một bình 20 lít. Nguồn nước kênh sau khi bơm lên sẽ được chị Loan trữ vào các lu để lắng đất cát và sử dụng phèn để xử lý nước. Điều đáng nói là, theo công bố kết quả quan trắc môi trường tỉnh An Giang đợt tháng 3/2022, chất lượng nước tại các tuyến kênh, rạch nội đồng theo chỉ số WQI dao động từ mức kém (chỉ sử dụng cho giao thông thủy) đến mức trung bình (chỉ sử dụng cho mục đích tưới tiêu), trong đó đa phần chất lượng nước ở mức kém.  “Đường nước không vào tới đây do các nhà cách xa nhau, và chúng tôi cũng không có tiền để làm nước giếng khoan. Có nhà bên cạnh đây cũng thử khoan giếng nhưng rồi nước cũng bị hôi, lợ lợ, chua chua không dùng được”, anh Thẩm nói.  Cũng tương tự như nhà bà Sâm, gia đình chị Loan chuyển sang khu hỗ trợ nhà ở này theo chương trình vùng kinh tế mới đã nhiều năm đến mức họ không nhớ con số chính xác, nhưng không có chính sách hỗ trợ đi kèm về điện nước. “Những chương trình đó chỉ có cấp nền đất thôi chứ không có mấy công trình phụ đi kèm, thế nên giờ mới không có điện không có nước”, ông Nguyễn Thanh Hải – Phó Chủ tịch UBND xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, An Giang cho biết.  Anh Trần Đại Minh Thẩm chỉ xuống nguồn nước kênh mà gia đình họ sử dụng suốt nhiều năm qua. Anh cho biết, con kênh này đã không được nạo vét suốt 4-5 năm qua. Ảnh: Mỹ Hạnh  Chính sách chưa đủ?  Theo ông Cao Quốc Long – Giám đốc Xí nghiệp điện nước Tri Tôn, trực thuộc công ty Cổ phần Điện nước An Giang, hiện nay trên địa bàn toàn huyện Tri Tôn có ba đơn vị cấp nước: xí nghiệp điện nước Tri Tôn, Trung tâm nước sạch vệ sinh và môi trường của tỉnh An Giang; và cấp nước tư nhân do người dân đứng ra khai thác nước. Về quy mô, xí nghiệp đang quản lý 12 hệ thống cấp nước trên toàn huyện và bốn trạm tăng áp với tổng công suất là khoảng 9.300 m³/ngày, sản lượng tiêu thụ bình quân tháng 356.000 m³/tháng. Nếu tính tỷ lệ mà xí nghiệp đang quản lý hiện nay, tổng số hộ xí nghiệp đang quản lý là khoảng 30.300 khách hàng, chiếm khoảng 90,1% số hộ trên toàn huyện. “Nếu tính chung luôn các đơn vị cấp nước bên ngoài thì hiện nay số hộ có sử dụng nước sạch của 3 đơn vị này đạt khoảng 98,1% số hộ trên toàn huyện”, ông cho biết.  Từ năm 2003, từ các nguồn vốn chương trình dân tộc (huyện Tri Tôn là huyện dân tộc thiểu số với đa phần người dân là người Khmer), công ty cũng mở rộng các địa bàn thị xã Núi Tô, Cô Tô, Ô Lâm, Châu Lăng. Bên cạnh đó, với việc sử dụng nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch vệ sinh môi trường, xí nghiệp tiếp tục mở rộng tới các địa bàn xã Lê Trì, Vĩnh Phước và đến nay đã đủ hết các địa bàn trên toàn huyện.  Vậy lý do nào khiến cho các gia đình như bà Sâm hay chị Loan không được hưởng những quyền lợi cơ bản về nước sạch như vậy? Theo ông Long, hiện nay bên công ty có hỗ trợ lắp đặt đồng hồ nước cho người dân không thu tiền và hỗ trợ các xã chi phí lắp đặt (vật tư, đường ống, đồng hồ), mỗi hộ tương đương giá trị 1,5-2 triệu VNĐ. Tuy nhiên, muốn đưa nước sạch đến được các hộ dân ở xa, công ty sẽ phải lắp đường ống và chi phí cần thiết để kéo tuyến ống nhỏ với đường kính 60mm là khoảng 100 triệu/km, chưa nói đến chi phí cho các đường ống với đường kính lớn hơn. “Nói chung bây giờ cái khó khăn nhất là chỉ nguồn vốn. Nếu có vốn thì sẽ giải quyết được gần như tất cả – về máy móc, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở phục vụ cho cấp nước. Phải bố trí nguồn vốn đầu tư về cấp nước tầm nhìn đến 2045”, ông Long nói.  Báo cáo Tài chính cho ngành nước năm 2022 của UNICEF cho thấy, đến năm 2022, cả nước chỉ có 52% dân số được sử dụng nước sạch, tương đương với nước máy. Hiện trạng này cho thấy Việt Nam khó mà đạt được mục tiêu đến 2025 có 95 – 100% người dân thành thị và 93 – 95% người dân nông thôn có nước sạch để dùng. Theo ước tính của báo cáo này, để đạt được mục tiêu 100% dân số được dùng nước sạch 24 giờ mỗi ngày tại nhà, Việt Nam cần 34,9 tỷ USD (tương đương 13% GDP của Việt Nam vào năm 2020), bao gồm 18,6 tỷ USD cho cấp nước và 13,5 tỷ USD cho vệ sinh môi trường cũng như duy tu bảo dưỡng những công trình đã được đầu tư. Trong khi đó, một phân tích từ báo cáo khác vào năm 2020 cũng của UNICEF cho thấy, tổng chi cho các hoạt động cơ bản liên quan đến nước sạch và vệ sinh lại giảm sút, từ 2,016 tỷ USD năm 2016 xuống còn 1,397 tỷ USD năm 2018. Nhìn chung, tổng chi cho nước sạch và vệ sinh đã giảm từ 1% năm 2016 xuống còn 0,56% GDP năm 2018.  Chi tiêu cho Nước sạch & Vệ sinh tại Việt Nam, 2016-2018 (triệu VND). Nguồn: UNICEF  Từ năm 2016, nguồn vốn cho nước sạch và vệ sinh đã được lồng ghép trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, chưa có tiêu chí và mục tiêu cụ thể để phân bổ ngân sách cho nước sạch và vệ sinh trong các chương trình này, chứ chưa nói đến tiêu chí để phân bổ công bằng.  “Chị có mong muốn có nguồn nước máy tốt hơn để sử dụng không? Không, bởi sẽ không bao giờ người ta kéo được đường nước vào đây đâu”, chị Loan thẳng thắn nói.  Những gánh nặng vô hình  Nếu việc thiếu nước sạch – một nhu cầu cơ bản của con người – đã đủ làm đảo lộn cuộc sống của các gia đình, thì khi nhìn dưới góc độ về giới, dường như vấn đề còn phức tạp hơn thế.  Dù 30 năm trước, chồng bà Neáng Phát luôn sẵn lòng đi lấy nước cùng bà, lịch trình công việc của ông không cho phép ông làm vậy. “Ổng không đi cày bừa thì ổng đi làm mướn cho người ta, đi cuốc đất, làm cỏ vậy đó, ít có ở nhà lắm”, bà Phát nhớ lại.  Việc phân chia vai trò công việc trong gia đình như vậy cũng không phải là trường hợp riêng của gia đình bà Phát. Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông thôn (Đại học An Giang) tiến hành tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, An Giang, vì phụ nữ Khmer đảm nhận nhiều công việc gia đình và việc sử dụng nước sinh hoạt, họ có ít thời gian hơn để đi làm, tham gia vào công việc cộng đồng, và có được một nền tảng giáo dục tốt. Tuy nhiên, “phụ nữ thường bị đổ lỗi vì chồng họ thấy rằng không có đủ nước cho nhu cầu của gia đình khi họ về nhà sau giờ làm việc, điều này có thể dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình”, một nghiên cứu khác tại xã Vĩnh Phước của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông thôn chỉ ra. Việc phải đảm bảo đủ nước không phải là vấn đề duy nhất mà nhiều người phụ nữ phải trải qua. “Họ còn phải đối mặt với nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua nguồn nước vì đôi khi họ phải sử dụng nước từ các nguồn không an toàn, chẳng hạn như kênh, hồ và giếng công cộng để giặt quần áo và bát đĩa”, nghiên cứu cho biết.  Điều đáng nói là nguồn nước không đảm bảo vệ sinh còn tác động sâu sắc đến trẻ em, đặc biệt là những em ở vùng dân tộc thiểu số. Theo Tóm tắt chính sách về nước sạch và vệ sinh môi trường tại Việt Nam năm 2020 của UNICEF, việc thiếu khả năng tiếp cận với nguồn nước và vệ sinh môi trường cùng với thực hành vệ sinh kém làm tăng cao tỷ lệ tiêu chảy, viêm phổi và nhiễm ký sinh trùng. “Có hơn 1/4 trẻ em dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, có nguyên nhân xuất phát từ bệnh tiêu chảy, nhiễm giun đũa, bệnh lý đường ruột có liên quan tới yếu tố môi trường, cộng thêm thói quen nuôi dưỡng kém. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao ở nhóm trẻ em dân tộc thiểu số, với mức trên 30%”, báo cáo chỉ ra.  Cách nhà bà Phát không xa có chị Neáng Mum với đứa con nhỏ mới được 3 tháng tuổi – đang ở nhờ trên mảnh đất sắp bị lấy lại của người họ hàng. Chị Mum (28 tuổi) cũng đang bi quan trước một tương lai phải quay lại với việc gánh nước như những ngày còn bé cũng như chất lượng nước mà họ sẽ sử dụng. Chồng chị đi làm công ty ở xa, chỉ thi thoảng mới quay lại nhà. Mọi công việc sắp tới từ quán xuyến việc nhà đến đi tìm nguồn nước cho gia đình sẽ do chị đảm nhận. Khi căn nhà đang ở nhờ được người họ hàng lấy lại, gia đình chị cũng sẽ chuyển ra cụm tuyến dân cư mà nhà bà Sâm đang ở. Điều này đồng nghĩa với việc nguồn nước máy mà gia đình chị đang sử dụng để sinh hoạt sẽ không còn nữa. “Có em bé thì dùng hao nước lắm, phải tắm rửa, giặt giũ liên miên”, chị nói. “Ra đó không có nước xài thì đành phải đi gánh nước từ giếng hoặc đi câu nước thôi”.  ————  Bài viết nhận được sự hỗ trợ của Mạng lưới Báo chí Trái đất của Internews.    Author                Mỹ Hạnh - Ngô Hà        
__label__tiasang Nước sinh hoạt sẽ có giá như dầu mỏ      Theo một nghiên cứu của Liên hiệp quốc, không bao lâu nữa, nước còn quan trọng hơn cả dầu mỏ về mặt chiến lược. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng nếu sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm, cộng với việc khai thác nguồn tài nguyên mới thì lượng nước dành cho con người sử dụng có thể tăng thêm 70%.      Năm 2008 Australia bị hạn hán nghiêm trọng. Chủ trang trại buộc phải dùng xe san ủi những cánh đồng trồng cam chanh và trồng nho vì cây cối bị chết khô do không có nước. Ngay cả đến đại gia súc cũng bị chết khát. Nhiều thị xã, thị tứ ở nông thôn như Girgarre thuộc tiểu bang Victoria bị “chết” vì người dân ở đây đã phải ra đi do không có nước sinh hoạt.   Ở một loạt vùng đất khác trên quả đất của chúng ta vấn đề nước cũng ngày trở nên khan hiếm, căng thẳng hơn. Xin đơn cử một vài ví dụ:  •    Nạn hạn hán ở phía bắc và tây Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng hơn. Vùng đất một thời phì nhiêu này nay đang bị sa mạc hóa. Riêng tổn thất về nông nghiệp hàng năm ở đây đã lên tới 7 tỷ đôla. Chính phủ Trung Quốc buộc phải áp dụng chế độ phân phối nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Đã có một số nhà máy phải giảm công suất vì thiếu nước, có những nhà máy phải tạm ngừng hoạt động trong một số ngày nhất định, thậm chí có nhà máy phải đóng cửa hoàn toàn vì thiếu nước. Theo Pan Yue, thứ trưởng bộ Môi trường Trung Quốc thì khoảng 90% sông ngòi chảy qua các khu đô thị đều bị ô nhiễm nghiêm trọng đến mức không thể sử lý để làm nước sinh hoạt. Ông cảnh báo: “tình trạng khan hiếm và ô nhiễm nước đe dọa sự phát triển kinh tế, sự ổn định xã hội và sức khỏe của người dân.”  •    Lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử thành phố Barcelona phải huy động tầu thủy cỡ lớn để mua nước nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân sau một mùa hạn hán kéo dài.   •    Hồ chứa nước Lake Mead lớn nhất của nước Mỹ chuyên cung cấp nước cho vùng tây nam nước này nay đang lâm vào tình trạng cạn kiệt. Theo một nghiên cứu mới đây của trường đại học California ở San Diego thì chỉ khoảng 13 năm nữa, (tính từ năm 2008) hồ này sẽ cạn kiệt nước.   Hiện nay trên thế giới có tới trên 1,4 tỷ người không có nước sạch, trong đó ở châu Á là 910 triệu người. Theo tổ chức Cứu đói thế giới thì mỗi ngày có khoảng 5.000 đứa trẻ bị chết vì bệnh đường ruột do không được tiếp cận với nước sạch. Biến đổi khí hậu, quá trình công nghiệp hóa gia tăng, tình trạng lãng phí nước nghiêm trọng, sự quản lý nước yếu kém và tăng trưởng dân số thế giới, tất cả những yếu tố này có khả năng làm cho tình trạng khan hiếm nước trong thời gian tới ngày càng nghiêm trọng hơn. Theo dự báo của Hiệp hội các nhà khí tượng học thế giới thì đến năm 2025 sẽ có một nửa thế giới lâm vào tình trạng thiếu nước.   Nếu không có các biện pháp hữu hiệu thì sự khan hiếm nước ngày càng tăng này sẽ là yếu tố gây tổn hại đến tăng trưởng kinh tế và mức sống của người dân. Ngành nông nghiệp và công nghiệp toàn thế giới tiêu thụ 4/5 lượng nước mưa hàng năm. Không có nước sẽ không có vi mạch điện tử, thuốc chữa bệnh, giấy viết, xe ô tô, bánh mì và bia. Theo một nghiên cứu của Liên hiệp quốc, không bao lâu nữa, nước còn quan trọng hơn cả dầu mỏ về mặt chiến lược. Ông Loïc Fauchon, chủ tịch Hội đồng nước thế giới (WWC) kêu gọi thế giới phải khẩn trương giải quyết vấn đề cung cấp nước, bởi nếu không “sẽ diễn ra một sự di dân chưa từng có trên thế giới”. Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon thậm chí còn lo ngại sẽ xảy ra chiến tranh do tranh giành nước. Ông nói: “Hiện có 46 quốc gia với 2,7 tỷ người sống trong tình trạng thiếu nước và điều này có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến bạo lực.“   Nước là hàng hóa?  Thực ra nếu sử dụng nước một cách đúng đắn thì trữ lượng nước vẫn còn đủ dùng cho dù thế giới có trải qua những vụ hạn hán gay gắt. Nhưng cần phải đầu tư mạnh mẽ vào mạng lưới nước sinh hoạt và nước thải, sử dụng các công nghệ hiện đại và cần có cách ứng xử thận trọng với nguồn tài nguyên nước.   Ở đây nảy sinh một vấn đề. Nước cần cho cuộc sống như không khí vì thế theo truyền thống, không mấy ai muốn coi nước là sản phẩm hàng hóa thông thường. Đây chính là lý do vì sao hệ thống nước thường do nhà nước quản lý và nước là mặt hàng thuộc diện được nhà nước bao cấp.   Trong khi đó nhiều chuyên gia về nước và các nhà kinh tế lại quan niệm nước cũng là một loại hàng hóa như bất kỳ loại hàng hóa nào khác. Hans-Jürgen Leist, làm việc tại đại học Hannover (Đức) nêu ví dụ từ lâu Thổ Nhĩ Kỳ thường xuyên dùng tầu thủy chuyên dụng vận chuyển nước bán cho Israel. Một số tập đoàn cỡ lớn như Veolia và Suez của Pháp hoặc tập đoàn Bechtel Group của Mỹ trong quá trình tiếp nhận việc quản lý và cấp nước cho một nước nào đó thì thường gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của người dân nước sở tại, nhất là khi tăng giá nước. Trong khi đó một số quốc gia có trữ lượng nước dồi dào như Mỹ và Canada khi xuất khẩu nước sạch cũng bị dân chúng kịch liệt phản đối. Điều này thật không bình thường vì nước là loại tài nguyên có khả năng tái sinh nên việc tiêu dùng nước hoàn toàn không giống với tiêu thụ dầu mỏ. Nếu không cho phép kinh doanh, buôn bán nước thì sẽ khó vận động được các nhà đầu tư tham gia các công trình lớn về nước.   Đầu tư vào lĩnh vực nước hiện nay là vô cùng bức thiết: đến năm 2025 thế giới sẽ có 8, 3 tỷ người – tăng thêm 1, 3 tỷ so với hiện nay. Điều đó có nghĩa là lượng tiêu thụ nước cũng tăng lên tương ứng từ khoảng 4, 4 tỷ hiện nay lên 5, 2 tỷ mét khối. Một khó khăn nữa trong vấn đề cung cấp nước là trữ lượng nước không rải đều trên thế giới. Châu Á chiếm 60 % dân số thế giới nhưng lại chỉ chiếm 39% trữ lượng nước. Trong khi đó Nam Mỹ chỉ chiếm 6% dân số thế giới nhưng lại có tới 26% trữ lượng nước.   Hơn nữa nhu cầu ngày càng lớn về hàng hóa và thực phẩm cũng làm tiêu hao nước nhiều hơn. Thí dụ để có một cái quần bằng vải bông tiêu tốn 6.000 lít nước, để sản xuất một xe ô tô con hạng trung tiêu tốn 150.000 lít nước. Để thu hoạch được 1kg hạt kê lượng nước thẩm thấu xuống lòng đất là 5.000 lít. Để có 1 kg thịt bò tiêu hao 15.000 lít nước.  Các nhà kinh tế gọi loại nước phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, làm ra các loại sản phẩm khác nhau là “nước ảo”. Theo ước tính, do toàn cầu hóa nền kinh tế nên lượng nước hàng năm chảy sang các nước khác, châu lục khác là 1.000 km khối (một km3 bằng 1nghìn tỷ lít) – lượng nước này nhiều gấp 20 lần nước sông Nil chảy ra Địa Trung Hải. Trong khi đó một số nước xuất khẩu cỡ lớn nhất lại nằm ở những vùng thiếu nước nhất. Ai Cập và Sudan phải dùng một lượng lớn nước sông Nil và Pakistan phải lấy nước sông Indus để trồng bông.  Nguy cơ khủng hoảng nước  Ngành kinh tế lớn nhất của California không phải là công nghiệp máy tính mà là nông nghiệp. California cung cấp cho miền tây Hoa Kỳ các loại nông sản như rau, quả, sữa, phoma và thịt bò. Những loại sản phẩm này đều đòi hỏi rất nhiều nước.   Cho đến nay người nông dân California được cấp nước với giá đặc biệt. Trong những năm qua nông dân bán bớt định suất nước của mình cho các thành phố như Los Angeles hay San Diego để hưởng chênh lệch. Nhưng từ khi giá lương thực, thực phẩm tăng cao, nhu cầu đối với ngô để làm nhiên liệu ngày một lớn hơn thì chênh lệch giá nước không còn hấp dẫn, người nông dân giữ nước để sản xuất và các thành phố đông dân lâm vào tình trạng khát nước. Tình trạng khan hiếm nước càng nghiêm trọng hơn vì lượng mưa giảm và sự khai thác nước ngầm quá mức. Hiện nay ở bang Colorado số luật sư chuyên về quyền sử dụng nước đã nhiều hơn luật sư về tội phạm hình sự: một cuộc chiến tranh giành nước đã bùng phát tại đây.  Nhiều người Mỹ tin rằng nước Mỹ sẽ giải quyết được những khó khăn về nước hiện nay bằng các giải pháp công nghệ tiên tiến và bằng tiền. Năm 2004 các quỹ đầu tư mạo hiểm của Mỹ mới dành 1 tỷ đôla để tìm kiếm các công nghệ mới về nước nhưng năm 2010 con số này đã tăng lên 30 tỷ đôla. Khoản tiền này tương đương với khoản tiền mà các nhà đầu tư Mỹ đã chi trong năm qua cho toàn ngành công nghệ cao của nước này.  Thiếu nhân lực chuyên nghiệp  Theo Diễn đàn nước thế giới thì trong khoảng 20 đến 40 năm tới lượng nước mà nhân loại tiêu dùng sẽ nhiều hơn lượng nước mưa. Tuy nhiên các chuyên gia về nước cho rằng nếu sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm cộng với việc khai thác nguồn tài nguyên mới thì lượng nước dành cho con người sử dụng có thể tăng thêm 70%.  Nhưng do thiếu những thị trường đích thực cũng như lực lượng cán bộ chuyên môn nên tình trạng lãng phí và quản lý nguồn nước kém hiệu quả vẫn tiếp tục diễn ra. Thí dụ ở các thành phố lớn như Cairo, Nairobi và Mexico, lượng nước bị thất thoát, rò rỉ lên tới 60%. Ngay cả ở các nước công nghiệp như Anh hay Tây Ban Nha lượng nước ăn bị rò rỉ vẫn lên đến 25%.   Bà Marie Leigh Livingston chuyên gia về kinh tế nước thuộc ĐH Northern Colorado đưa ra một mô hình hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước và tư nhân mà bà cho là hiệu quả nhất. Cụ thể, cần có sự kiểm soát của nhà nước kết hợp với các công cụ kiểm tra của kinh tế thị trường.   Thủ đô Berlin được coi là tấm gương về khai thác nước ăn có hiệu quả nhất. Đây là thành phố duy nhất trên thế giới lấy nước ăn với khối lượng rất lớn từ sông, hồ. Trên 60% lượng nước ăn phục vụ Berlin được lấy từ sông, hồ thông qua lọc sinh học, khử trùng hoàn toàn không dùng hóa chất. Để tăng hương vị của nước người ta chỉ khử sắt và măng-gan, đồng thời xối không khí vào nước. Có thể nói đây là một thành công trong việc nghiên cứu về nước. Công nghệ này tương đối rẻ và hiện đang được áp dụng ở New-Delhi (Ấn Độ).  Các doanh nghiệp công nghệ Đức sẽ được hưởng lợi nhiều trước nhu cầu ngày càng tăng về nước trên thế giới. Đức là một trong những nước đi tiên phong về khai thác, chế biến, làm sạch và vận chuyển nước đến người tiêu thụ với công nghệ được cả thế giới thừa nhận. Theo chuyên gia của Ngân hàng Thế giới thì riêng Châu Âu trong những năm tới phải chi khoảng 360 tỷ Euro để duy trì và mở rộng hệ thống dẫn nước; Hoa Kỳ sẽ phải đầu tư tới 820 tỷ Euro. Đấy là chưa kể nhu cầu của Châu Á cũng rất lớn. Con người nhất thiết phải thay đổi tư duy về nước. Thay vì đầu tư xây dựng các công viên giải trí hoặc chi tiền cho những nhu cầu cá nhân, chúng ta cần phải tăng cường đầu tư cho ngành kinh tế nước.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước thải canh tác ảnh hưởng đến sức khỏe gần một tỷ người      Một công bố mới trên Environmental Research Letters “Đánh giá trên phạm vi toàn cầu về ảnh hưởng của việc sử dụng nước thải đô thị trên các diện tích canh tác” (A global, spatially-explicit assessment of irrigated croplands influenced by urban wastewater flows) cho thấy, các nguồn cung cấp nước sạch đang bị sút giảm trên toàn cầu. Việc nông dân dùng nước chưa xử lý để trồng trọt, dù cách làm này có thể khiến họ bị bệnh, đã tăng lên rất nhiều so với trước đây.      Theo công bố này, khoảng 29,3 triệu ha diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới, tương đương diện tích của nước Đức, được tưới tiêu bằng nước thải sinh hoạt. Điều đó có nghĩa là sức khỏe những người tiêu thụ thực phẩm được nuôi trồng trên những cánh đồng này có khả năng bị ảnh hưởng.   Mô hình phân tích của các nhà nghiên cứu cho thấy, nhiều người trong số 885 triệu cư dân thành thị đang sống trong môi trường chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm với các ký sinh trùng, vi khuẩn. Nước thải chưa qua xử lý có thể chứa nhiều trứng của động vật ký sinh hay vi khuẩn gây ra bệnh tả – nhưng phổ biến vẫn là vi khuẩn gây tiêu chảy. “Nước chuyên chở mọi mầm bệnh”, TS. Pay Drechsel, người đứng đầu dự án tại Viện nghiên cứu Quản lý nước quốc tế ở Sri Lanka, và là đồng tác giả của nghiên cứu này, nhận xét. “Nó còn xa mới đạt đến tiêu chuẩn cho phép dùng làm nước uống hay nước tưới”.  Theo TS. Drechsel, trẻ em dưới năm tuổi dễ mắc bệnh này nhất, thường dẫn hậu quả chết người.  Dùng nước thải đô thị để tưới tiêu  Việc tưới tiêu bằng nước thải chưa qua xử lý là một vấn đề chung của các siêu đô thị không có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đạt tiêu chuẩn, đặc biệt ở Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Mexico và Iran, nghiên cứu cho biết.  “Trong phần lớn trường hợp, nông dân có thể không biết rõ về điều đó”, TS. Drechsel, cho biết.  Nhiều nông dân dùng nước thải để tưới tiêu mùa vụ. Ông chỉ ra, “nước chứa một lượng lớn chất dinh dưỡng. Chúng tôi biết nhiều trường hợp nơi người nông dân đang có xu hướng sử dụng nước thải, dẫu cho nước sạch sẵn có – vì nhờ đó họ không cần bón phân và không phải trả tiền mua phân bón”.   Thi thoảng, nước thải có thể là nguồn nước duy nhất sẵn có, như trường hợp các thành phố lớn bị bao quanh bởi các vùng khô cằn – hay ở Ghana, nơi Drechsel đã sống và làm việc suốt 11 năm, mọi nông dân đều dùng nước ô nhiễm để tưới tiêu, ông cho biết. “Không có giải pháp nào khác”.   Trong phần lớn trường hợp thì nông dân vẫn nghĩ rằng mình đang dùng nước sạch.  Trên toàn cầu, chỉ khoảng 10% nước thải được thu gom và xử lý. Cùng với nước mưa, nước thải chưa qua xử lý chảy vào các dòng sông, hòa lẫn vào cả nguồn nước sạch, và cuối cùng là có mặt trong dây chuyền sản xuất thực phẩm.  Tại Ghana, nông dân quanh các đô thị lớn chủ yếu trồng rau, Drechsel cho biết. “Rau là nguồn thu nhập số một của họ, đặc biệt là rau ăn lá ngoại nhập”. Nhiều mùa vụ đòi hỏi tưới tiêu thường xuyên, không giống như ngũ cốc. Ông tiết lộ, gần một triệu người ở thành thị Ghana ăn rau tưới bằng nước ô nhiễm hàng ngày.  Vào năm 2004, một nghiên cứu đã ước lượng khoảng từ 6 đến 20 triệu ha trồng trọt được tưới bằng nước thải chưa qua xử lý. Và con số này hiện đã tăng lên 30 triệu ha, một nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề này ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn trước.  Tổ chức Y tế thế giới ước lượng khoảng trên 10% dân số thế giới tiêu thụ thực phẩm được sản xuất từ nước ô nhiễm. Số lượng này có thể tăng lên hàng năm.  “Nước thải là nguồn nước duy nhất được tăng lên theo độ tăng của dân số và lượng nước tiêu thụ”, Drechsel chỉ ra. Liên hợp quốc ước lượng số lượng nước thải ra hàng năm nhiều gấp “sáu lần nước có trong sông hồ trên thế giới”.  Ảnh hưởng đến môi trường  Bên cạnh mối nguy hiểm về sức khỏe còn là ảnh hưởng đến môi trường. Nếu nước thải tràn vào sông hồ thì nó có thể làm ô nhiễm nước và đe dọa hệ sinh thái.  Vào năm 2013, các nhà nghiên cứu từ Ghana và Uganda đã kiểm tra nước thải sinh hoạt từ Old Fadama, khu ổ chuột đô thị lớn nhất Ghana. Nghiên cứu cho thấy, nước thải sinh hoạt từ khu dân cư này có mối liên hệ mật thiết với môi trường ô nhiễm.    Nước thải đồ vào một hồ chứa nước ở Iran là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cá chết trên diện rộng  Khi dòng sông Trent ở vùng North Staffordshire, Anh, bị ô nhiễm bởi nước thải vào tháng 9/2016, hơn 15.000 con cá đã chết. Theo lời tổ chức Bảo vệ thiên nhiên thế giới WWF, hơn 400 khu vực trên thế giới suy giảm lượng ô xy, và xảy ra hiện tượng phú dưỡng (eutrophication) *.  Nguồn sống cho hàng triệu người  Chris Scott, giáo sư về địa lý và phát triển tại đại học Arizona cũng nêu, việc sử dụng nước thải tưới tiêu không hẳn là điều xấu. “Đó là nguồn sống cho hàng triệu hộ gia đình tiểu nông, góp phần đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu và tái sử dụng các chất thải để nuôi dưỡng cây trồng, cách làm này cũng góp phần tránh làm nhiễm bẩn các dòng chảy tự nhiên”.   Tuy vậy ông cho rằng cần quản lý việc tưới tiêu bằng nước thải. Ông đề xuất phương án xử lý nước tại các trang trại, sử dụng trang phục bảo hộ, cải thiện điều kiện vệ sinh ở chợ và rửa sạch rau cỏ trong nhà bếp; tách lọc các chất dinh dưỡng trong nước thải để làm nguyên liệu sản xuất phân bón. Drechsel cho rằng, có thể xây dựng một nhà máy như vậy ở Accra, Ghana.  Với trải nghiệm của mình ở Ghana, Drechsel nghi ngờ vào khả năng xử lý nước thải “sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng”.  Vì vậy, điều quan trọng hơn cả là tránh ăn rau quả chưa được rửa sạch.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/wastewater-crop-irrigation-risks-health-of-nearly-a-billion-people/a-39538101  ————————————-  * Hiện tượng phú dưỡng: là một dạng suy giảm chất lượng nước thường xảy ra ở các hồ chứa với hiện tượng nồng độ các chất dinh dưỡng trong nước tăng cao, làm bùng phát các loại động, thực vật thủy sinh, làm tăng các chất hữu cơ lơ lửng, g=suy giảm lượng ô xi trong nước, nhất là ở tầng nước sâu, có thể làm chết cá và ảnh hưởng đến các loài khác. Nguồn: http://tapchivatuyentap.tlu.edu.vn/Portals/10/So%2030/So%203100010.pdf       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước thải tái chế: An toàn nhưng vẫn e ngại      Một báo cáo mới đây đã nhấn mạnh những tiến bộ trong công nghệ tái chế và dự đoán về sự tăng trưởng trong các chương trình xử lý.    Theo một báo cáo mới đây, công nghệ lọc nước đã đạt đến trình độ nước thải có thể đủ an toàn để uống, tuy nhiên có những rào cản về pháp lý và tâm lý cần phải được vượt qua trước khi công nghệ này có thể được ứng dụng rộng rãi.  “Phát triển việc tái sử dụng nước có thể làm tăng đáng kể nguồn tài nguyên nước của các quốc gia, đặc biệt là ở các cộng đồng ven biển” – ông Rhodes Trussell, giám đốc công ty Trussell Technologies ở Pasadena, California kiêm chủ tịch ủy ban đã viết báo cáo này nhận xét.  Nước thải đã qua xử lý, còn được gọi là nước tái chế, thường được sử dụng cho thủy lợi và công nghiệp. Nhiều thị trấn ngày nay phải dựa vào nguồn nước tái sử dụng vì họ lấy nước từ các ống thoát nước thải của các thành phố khác.  “Trên thực tế, tái sử dụng nước thải đang diễn ra trên khắp nước Mỹ” – ông Trussell nói.  Tuy nhiên, để mọi người chủ động uống nước thải đã xử lý là rất khó khăn.  Báo cáo mới nhấn mạnh sự an toàn  Một báo cáo mới của Hội đồng Nghiên cứu quốc gia (NRC) – cơ quan đã xem xét công nghệ xử lý nước thải hiện tại – cho thấy những mối nguy hiểm có thể có cho sức khỏe liên quan đến việc tiếp xúc với các chất độc hóa học là hy hữu.  “Công nghệ hiện nay có thể làm giảm các chất độc hóa học và vi sinh vật có hại tới mức độ ngang bằng hoặc thấp hơn mức hiện có trong nhiều nguồn cung cấp nước uống hiện tại” – ông Trussell cho hay.  Ông Trussell và các tác giả khác của NRC cho biết Chính phủ có thể làm nhiều việc để giúp người dân tăng sự tin tưởng vào các chương trình xử lý nước thải thành nước uống và giúp cung cấp mức độ bảo vệ tối thiểu ổn định trên cả nước. Đa số các mục tiêu này có thể đạt được nhờ vào các quy định khắt khe của liên bang – họ cho biết.  “Ví dụ, theo Đạo luật Nước sạch, các quy định tiền xử lý – đã đạt được những thành công lớn trong việc giảm mức độ độc hại trong nước thải của quốc gia kể từ khi chúng bắt đầu được thực hiện – có thể được cập nhật để giảm thiểu một cách quyết liệt hơn các chất độc hữu cơ trước đây không được đưa vào trong danh sách ban đầu vào năm 1977”. Nói cách khác, bằng cách cập nhật các tiêu chuẩn phù hợp với kiến thức hiện đại, người tiêu dùng có thể cảm thấy tin tưởng hơn rằng loại nước này thực sự an toàn.  Một thách thức khác là các quy định tái sử dụng nước có thể khác nhau giữa các địa phương. “Ở hầu hết các cộng đồng ven biển, nước thải thành phố thuộc về cơ quan nước thải và giữ lại để tái sử dụng là khá dễ dàng. Nhưng ở nhiều cộng đồng nội địa, nước đó trên phương diện pháp lý lại thuộc về người sử dụng hạ lưu” – ông Trussell nói.  Nhưng có lẽ trở ngại lớn nhất cần phải vượt qua trước khi cộng đồng chấp nhận uống nước thải tái chế không phải là vấn đề công nghệ và pháp lý, mà là tâm lý.  Quen với ý tưởng mới  “Khía cạnh tâm lý thường là yếu tố quan trọng” – ông Paul Rozin, một nhà tâm lý học tại ĐH Pennsylvania cho biết. Hầu hết mọi người đều sợ ý tưởng uống nước tái chế. Ông Rozin giải thích: “Nỗi khiếp sợ xuất phát từ sự liên quan của nó với chất thải. Với nước máy hay nước đóng chai, người ta không có xu hướng nghĩ về nơi xuất xứ, nhưng với nước tái chế thì có”. (Mặc dù sự thật là nhiều người đang uống nước tại các nguồn nước dẫn từ các cơ sở xử lý nước thải).  Một cách để vượt qua nỗi sợ hãi là tách biệt ấn tượng về nước tái chế và nguồn gốc của nó. Ví dụ người ta có thể bán nước đã xử lý dưới một cái tên sản phẩm hấp dẫn nào đó. Hoặc theo một cách thức khác, như ý kiến của ông Rozin, là học theo tấm gương của Singapore. “Họ đang chuyển hướng sang nước tái chế một cách từ từ. Người sử dụng sẽ được hưởng một khoản lợi ích về kinh tế ưu đãi cho việc chuyển đổi này” – ông nói.  Đầu tiên, họ lấy nước tái chế và bơm xuống đất, tức là không đi trực tiếp từ nước tái chế sang nước uống. Và họ cũng cung cấp nước tái chế miễn phí cho tất cả mọi sự kiện liên quan đến thực phẩm”.  Một ví dụ khác về một chương trình tái chế nước thải thành công là Hệ thống Bổ sung nước ngầm ở hạt Orange, California. Ở đó, nước thải được xử lý tới một cấp độ vượt qua các tiêu chuẩn nước uống của bang và liên bang, rồi sau đó được xả vào các lưu vực bổ sung nước ngầm địa phương – và cuối cùng được dùng bởi thành phố hoặc người dân. Trước đây, nước thải đã qua xử lý chỉ đơn giản là được thoát ra Thái Bình Dương. Nhưng tiến trình mới này sẽ giúp kéo dài tuổi thọ của các tầng nước ngầm, và có thể làm cho ý tưởng dùng lại nước tái chế hấp dẫn hơn là dùng từ tái chế trực tiếp vì nước tái chế này tiếp tục được lọc bổ sung một cách tự nhiên trong lòng đất.  “Dự án này đã bắt đầu việc mở rộng từ 70 tới 100 triệu gallon mỗi ngày” – ông Trussell nói.  Ông Trussell cho rằng hệ thống Bổ sung nước ngầm và các chương trình khác trên khắp nước Mỹ đã khiến chúng ta có thể lạc quan về tương lai của các chương trình xử lý nước thải. “Càng ngày các dự án càng được tiến hành một cách công khai và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của công chúng” – ông nói thêm.  Nhìn chung, nhà tâm lý học Rozin tới từ ĐH Pennsylvania cho rằng mọi người thường đánh giá thấp khả năng thích nghi của họ với những cái mới, trong đó có cả việc uống nước đã xử lý.  “Không có gì đáng nghi ngờ về việc người ta có thể quen với điều này”.  Tuy nhiên, trong khi tái chế nước thải có thể đóng góp đáng kể vào nguồn nước ngọt quốc gia, thì bản thân nó sẽ không giải quyết được tất cả các vấn đề về nước mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong những thập kỉ tới.  “Chúng tôi ước tính rằng việc tái sử dụng tất cả nước thải mà chúng ta thải ra các đại dương và vùng cửa sông sẽ làm tăng nguồn nước có thể sử dụng được cho các thành phố của Mỹ khoảng 6%. Đáng kể nhưng chưa thể coi là giải pháp đột phá” – ông nói.   Điều này có nghĩa là việc con người sử dụng nước tái chế có thể giúp giảm bớt mức khai thác sử dụng các tầng nước ngầm và sông ngòi. Nhưng để giải quyết vấn đề nguồn nước một cách cơ bản thì chúng ta vẫn phải cải thiện hệ thống quản lý tài nguyên nước trên quy mô toàn cầu.1  Nguyễn Thảo dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước trên trái đất đến từ đâu?      Nguồn gốc của nước trên hành tinh của chúng ta là một câu hỏi nóng: nước ẩn chứa những gợi ý rộng lớn về kiến tạo mảng, khí hậu, nguồn gốc sự sống trên trái đất, và khả năng có thể có sự sống ở những hành tinh tương tự trái đất.      Nước là một phần quan trọng tạo nên sự sống. Nguồn: Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mĩ.  Trong nghiên cứu gần đây trong Physical Review Letters, một giáo sư Viện Skoltech và đồng nghiệp Trung Quốc đã đề xuất một hợp chất hóa học – dẫu hiện tại không còn tồn tại – có thể bảo vệ nước ngầm ở một kỷ nguyên đầy biến động khi các cuộc va chạm lớn đã làm bay hơi nước trên lớp bao phủ trái đất 1.  Bên cạnh việc hình thành tất cả thành phần quan trọng cho nguồn gốc của sự sống như chúng ta đã biết, nước bề mặt quan trọng cho sự bền vững khí hậu của một hành tinh trong suốt những thời kỳ lớn, cho phép sự tiến hóa xảy ra. Ngay cả một lượng nhỏ nước ngầm bên dưới lớp bề mặt mà chúng ta đã biết là có thể làm gia tăng cả độ dẻo của đá, vốn là yếu tố thiết yếu cho kiến tạo mảng – một quá trình hình thành các lục địa và đại dương, và ảnh hưởng đến việc hình thành các trận động đất và núi lửa. Nhưng bất chấp tầm quan trọng của nó với sự tiến hóa của các hành tinh đá như trái đất của chúng ta, chúng ta không biết đâu là điểm bắt đầu của nước trên hành tinh này.  “Một số nhà khoa học cho rằng nước của chúng ta đã được các sao chổi mang đến nhưng nguồn này dường như lại vô cùng giới hạn – thành phần đồng vị của nước trên sao chổi lại hoàn toàn khác biệt với nước trên trái đất”, giáo sư Artem R. Oganov của Skoltech, đồng tác giả nghiên cứu, nhận xét.  Nếu nước không đến từ “trên trời”, nó phải đến từ phía dưới bên trong lớp bao phủ bề mặt hoặc thậm chí từ lõi trái đất. Nhưng bằng cách nào nó có thể sống sót sau quãng thời gian đầy xáo trộn 30 triệu năm hay lâu hơn thế trong lịch sử trái đất, khi hành tinh này vô cùng nóng và liên tục bị các tiểu hành tinh bắn phá và thậm chí là nằm dưới “làn đạn” của một vụ sáp nhập khủng khiếp với một hành tinh kích cỡ sao Hỏa? Các quá trình đó phải làm hóa hơi một phần trái đất và những gì còn lại bị nóng chảy, thấm xuống ít nhất hàng trăm ki lô mét, loại bỏ nước khỏi bề mặt. Cho đến bây giờ, các nhà khoa học cũng chưa rõ về một hợp chất bền vững có thể ‘khóa’ các nguyên tử hydrogen và oxygen bên trong hành tinh trong thời gian đủ dài và sau đó giải phóng nó dưới dạng nước.  Oganov tham gia với một nhóm các nhà khoa học do giáo sư Xiao Dong của trường đại học Nam Khai, Trung Quốc, dẫn dắt và cùng với họ tìm hiểu phương pháp dự đoán cấu trúc tinh thể USPEX của mình để khám phá ra một hợp chất phù hợp: magnesium hydrosilicate, với công thức Mg2SiO5H2, vốn chiếm hơn 11% khối lượng nước và bền vững dưới áp suất 2 triệu atmospheres và nhiệt độ siêu cao, như điều kiện áp suất trong lõi trái đất. Tuy nhiên, mọi người đều biết lõi trái đất là một trái bóng kim loại – hầu như toàn là sắt – vì vậy các nguyên tố tạo nên magnesium hydrosilicate đơn giản là không có ở đó chứ?  “Sai rồi. Chưa có lõi nào ở đó trong khoảng thời gian đó. Trong thời điểm bắt đầu của sự tồn tại, trái đất có ít hơn hay nhiều hơn thành phần phân bố và sắt trong suốt 30 triệu năm từ khi hành tinh hình thành cho đến khi thấm xuống phần trung tâm, đẩy silicates vào cái mà ngày nay chúng ta gọi là lớp bề mặt”, Oganov giải thích.  Điều đó có nghĩa là trong 30 triệu năm, phần chứa nước của trái đất vẫn bền vững và không liên quan đến hydrosilicates tại điểm sâu mà ngày nay là lõi trái đất. Trong suốt thời gian này, trái đất phải chống chịu với pha bắn phá của các tiểu hành tinh. Vào thời điểm lõi hình thành, hydrosilicates đã được đẩy vào khu vực có áp suất thấp hơn, nơi chúng trở nên thiếu bền vững và dễ bị phân hủy. Điều này đã tạo ra magnesium oxide và magnesium silicate để tạo ra lớp bao phủ như ngày nay và nước, bắt đầu một cuộc hành trình dài cả trăm triệu năm trên bề mặt.  “Trong thời gian đó, trái đất bị các tiểu hành tinh và ngay cả tiền hành tinh tấn công liên hồi, tuy nhiên nước vẫn được bảo vệ, bởi vì nó vẫn chưa hiện diện ở bề mặt”, Oganov cho biết thêm.  Các nhà nghiên cứu cho biết nghiên cứu của họ chứng tỏ đôi khi trực giác của con người có thể bị “đánh lừa” như thế nào. Không ai nghĩ về silicates ở áp suất lõi, bởi vì các nguyên tử thành phần vẫn được cho là không được tìm thấy có ở đó. Và ngay cả khi đó thì người ta cũng không trông đợi một hydrosilicates ổn định trong các điều kiện xảy ra ở lõi, bởi vì các mức nhiệt độ và áp suất cực đoan vẫn được cho là có thể ‘ép’ nước ra khỏi khoáng chất. Tuy vậy, mô hình chính xác dựa trên cơ học lượng tử đã chứng minh ngược lại.  “Đó là một câu chuyện về một vật liệu từng tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi trong khung thời gian của hành tinh nhưng lại có một tác động lớn lên sự tiến hóa của trái đất”, ông tiếp tục giải thích. “Điều này không chỉ hướng đến tư duy địa chất thông thường mà còn hướng đến suy nghĩ của một nhà sinh học tiến hóa, bởi rất nhiều điều chúng ta thấy ngày nay đã được tiến hóa từ các loài đã từng tồn tại, có thể khó gây ngạc nhiên phải không?”.  Giả thuyết mới về nguồn gốc của nước cũng có những gợi ý cho những thực thể trong vũ trụ khác. “Ví dụ, sao Hỏa quá nhỏ để tạo được ra áp suất cần thiết cho magnesium hydrosilicate bền vững”, Oganov nói. “Điều này giải thích tại sao nó quá khô và nó có nghĩa là bât kể có nước tồn tại trên sao Hảo, dường như nó đến từ các sao chổi”.  Hoặc ngay cả các hành tinh ngoài hệ mặt trời của chúng ta. “Để có thể sống được thì một ngoại hành tinh cần phải có khí hậu bền vững, vốn có nghĩa là cần cả các lục địa và đại dương. Vì vậy, nó phải có nước, dẫu không cần quá nhiều”, Xiao Dong cho biết thêm. “Có ước tính là với một hành tinh với các điều kiện như trái đất, ở bất cứ quy mô nào, để sinh sống được, phải có khoảng 0,2% khối lượng là nước. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ dấu là với những hành tinh lớn hơn, hay còn gọi là “siêu trái đất”, câu chuyện dường như khác biệt : trên nhiều hành tinh, áp suất đủ làm bền vững magnesium hydrosilicate phải tồn tại ngoài lõi, bảo vệ một lượng nước lớn trong khoảng thời gian vô hạn. Và kết quả, một siêu trái đất có thể có một lượng nước lớn hơn và vẫn còn hỗ trợ sự tồn tại của các lục địa đã lộ diện”.  Nó cũng có những chỉ dấu cho từ quyển của một hành tinh. “Tại các mức nhiệt độ cao hơn 2.000 độ C, magnesium hydrosilicate sẽ dẫn điện, với các hydrogen proton bảo vệ. Điều này nghĩa là hydrosilicate của chúng ta sẽ đóng góp vào từ trường của các siêu trái đất”, Oganov giải thích và cho biết thêm danh sách của những kết quả rút ra từ giả thuyết mới vẫn sẽ còn tiếp tục.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-probes-planet-turbulent-oceans.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/941167  ————————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.128.035703       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Ý trong cuộc chiến quá tải khách du lịch      Quá tải khách du lịch tại một địa điểm sẽ tác động tiêu cực đến cuộc sống của người địa phương cũng như chất lượng trải nghiệm của du khách. Nước Ý đang ‘ấp ủ’ kế hoạch gì để chấm dứt tình trạng đó, trước khi ngành du lịch nước này mở cửa trở lại?      Du khách chen chúc tham quan Nhà thờ chính tòa Firenze (Florence). Ảnh: dreamofitaly.     Ảnh selfie trước thần Vệ nữ của Botticelli. Một tấm ảnh cận ảnh bức tượng David. Những lối đi chật hẹp nơi thánh đường Duomo nổi tiếng. Trở lại thời kỳ trước đại dịch, Florence đã phải vật lộn với việc quá tải du khách. Và Phòng trưng bày Uffizi – một trong những bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới – là trung tâm của tất cả.      Vào giai đoạn cao điểm, nơi này đón 12.000 lượt du khách mỗi ngày. Họ vội vã lướt qua các tác phẩm nghệ thuật thời kỳ Phục Hưng để chụp ảnh selfie với các ‘nhân vật’ nổi tiếng: Thần Vệ nữ của Botticelli, bức tranh Doni Tondo của Michelangelo và Vệ nữ Urbino của Titian.       Chúng ta không còn lạ gì cảnh tượng khách du lịch phải xếp hàng dài trong nhiều giờ đồng giờ để vào cửa, và Phòng trưng bày Uffizi đã chiếm vị trí top đầu trong danh sách ‘những điểm đến không thể bỏ lỡ mà bạn nên ghé thăm một lần trong đời’. Nhưng trải nghiệm có thể sẽ căng thẳng đến mức một khi bạn đã chọn đến thăm nơi này, có lẽ bạn nên gác lại dự định đó.      Hơn nữa, rất nhiều du khách đã hành xử vô cùng tồi tệ, đến nỗi chính quyền Florence đã phải phát động một chiến dịch mang tên “Enjoy Respect Florence”, với khoản tiền phạt lên đến 500 euro (608 USD) cho những người bị bắt gặp đang dã ngoài bên ngoài hoặc ngồi/vẽ bậy lên các công trình quý giá.       Tất nhiên, đại dịch đã đưa tất cả trở thành dĩ vãng. Nhưng trước khi ngành du lịch mở cửa trở lại, giám đốc của Uffizi muốn đảm bảo rằng những cảnh tượng đó sẽ không tái diễn. Làm sao để đảm bảo điều đó? Câu trả lời chính là: Chuyển hướng du khách khỏi Florence.      Hãy đến với dự án Uffizi Diffusi. Có nghĩa là “Uffizi phân tán”, mô phỏng lại khái niệm “khách sạn phân tán” của Ý, trong đó các “căn phòng” riêng lẻ nằm trong những ngôi nhà khác nhau tại một ngôi làng.      Trong dự án này, các tác phẩm nghệ thuật thuộc Phòng trưng bày Uffizi sẽ được đặt khắp các địa điểm xung quanh Tuscany, biến khu vực nổi tiếng nhất của Ý thành một bảo tàng “phân tán” lớn. Chính quyền các thị trấn và làng mạc quanh Tuscany hiện đang đề xuất các tòa nhà có khả năng trở thành không gian triển lãm.      Giám đốc Uffizi, Eike Schmidt, chia sẻ với CNN Travel rằng ông nảy ra ý tưởng này trong thời gian đất nước đang bị phong tỏa. Ông đã dành phần lớn thời gian, khi bảo tàng đang bị đóng cửa, để tìm ra những địa điểm tiềm năng.  Để làm gì? Để “tạo ra một loại hình du lịch khác biệt”, ông nói, và cho biết thêm rằng đối với những người dân địa phương, nó sẽ “hòa văn hóa vào trong cuộc sống hằng ngày của họ”.        Phòng 41 của Phòng trưng bày Uffizi trưng bày các kiệt tác của Raphael và Michelangelo, được vẽ ở Florence khi thành phố “là trung tâm văn hóa và nghệ thuật của thế giới”, giám đốc bảo tàng chia sẻ. Ảnh: Gianni Cipriano for The New York Times     “Nghệ thuật không thể tồn tại một mình trong những phòng trưng bày lớn”, ông nhận định. “Chúng tôi cần nhiều không gian triển lãm trên khắp khu vực – đặc biệt là ở những nơi mà nghệ thuật đã ra đời.”      Nghệ thuật không phải là ốc đảo      Đây không phải là lần đầu tiên Schmidt cho các thị trấn mượn tác phẩm. Vào năm 2019, ông dã gửi một bức vẽ phong cảnh của Leonardo da Vinci đến quê hương của vị danh họa này, nhân kỷ niệm 500 năm ngày mất của ông ấy.  Cũng theo ông, năm 2019, ở phía đông Tuscany, đã diễn ra một cuộc triển lãm về Trận chiến Anghiari thế kỷ 15. Cuộc triển lãm được tổ chức tại chính Anghiari – nơi diễn ra trận chiến. Số lượng khách tham gia tăng gấp bốn lần so với kỷ lục trước đó của bảo tàng địa phương.      “Uffizi không phải là một bảo tàng biệt lập giữa hư không, nó là đỉnh cao của một cảnh quan, nơi tràn ngập trong sự kỳ diệu, nghệ thuật cùng vẻ đẹp tự nhiên”, ông nói về dự án Vinci, và gọi đây là “cơ hội có một không hai để ngắm nhìn bức vẽ này và sau đó bước vào cảnh quan của thế giới thực – nơi mà bức vẽ này khắc họa.”     100 không gian triển lãm mới     Hiện chi tiết về dự án Uffizi Diffusi vẫn đang trong vòng bí mật, nhưng Schmidt đang lên kế hoạch “ít nhất 60, thậm chí có thể có đến 100 không gian triển lãm” trên khắp Tuscany. Schmidt cũng cho biết chúng có thể sẽ bao gồm một biệt thự từng thuộc về gia đình Medici ở Montelupo Fiorentino – phía tây Florence, thành phố cảng Livorno, thị trấn Montecatini Terme, và Careggi – nơi có một biệt thự khác thuộc gia đình Medici nằm ngay phía đông của Florence     Kể từ khi dự án được công bố, nhiều thị trấn bày tỏ mong muốn trở thành một phần của nó. Và điều này không chỉ mang đến một sự sống mới cho không gian triển lãm, Schmidt cho biết dự án còn là “cơ hội để khôi phục một số công trình”.      Phân tán đám đông khỏi ‘lọ mật ong’ Florence        Nước Ý đang đối diện với việc quá tải khách du lịch. Ảnh: nexttourismgeneration     Tuy nhiên, có một mục đích quan trọng khác đằng sau giá trị nghệ thuật mà dự án mang lại. Khi Florence đang chuẩn bị cho sự trở lại của các khách du lịch, Schmidt muốn dự án Uffizi Diffusi sẽ làm giảm sức nóng của Florence, và những công trình mới với các tên tuổi nổi tiếng sẽ giúp giải tán đám đông khỏi nơi đây. “Về phía địa phương, dự án này sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, ổn định cho người dân”, ông trả lời CNN.      Và ông ấy cho biết thêm rằng bản thân muốn đưa người xứ Tuscan đến thăm trực tiếp di sản của họ, bởi “hệ thống văn hóa hiện tại quá dựa vào khách du lịch quốc tế”.        Người dân địa phương thường đến Uffizi để tìm kiếm các tác phẩm mà những nghệ sĩ xuất thân từ làng của họ sáng tác. Nhưng trải nghiệm tổng thể có thể giảm bớt sự thích thú của họ dành cho bức tranh duy nhất mà họ dự định đến xem, hay thậm chí bức tranh có thể đang được lưu trữ trong kho thay vì mang ra trưng bày.      Ông mong muốn dự án Uffizi Diffusi sẽ đưa nghệ thuật trở về nơi xuất ban đầu, kết nối trực tiếp mọi người với di sản của họ.      Và đừng lo lắng về việc bạn sẽ bị thiệt khi đến thăm Florence – còn rất nhiều tác phẩm nghệ thuật đang chờ bạn khám phá. “Ở Uffizi, chúng tôi trưng bày hơn 3.000 tác phẩm nghệ thuật – và thế là đủ”, Schimidt trả lời CNN. “Dự án Uffizi Diffusi sẽ mang những tác phẩm nghệ thuật – mà hiện tại chưa ai được chiêm ngưỡng – bước ra ngoài ánh sáng, trong một khung cảnh yên tĩnh hơn, gần gũi hơn.”      Dự án sẽ bước vào giai đoạn đầu tiên vào mùa hè này.      Anh Thư tổng hợp  Nguồn: https://edition.cnn.com/travel/article/uffizi-diffusi-tuscany-galleries-overtourism/index.html  https://www.dmarge.com/2021/03/uffizi-diffuzi-italy-overtourism-plan.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi cấy mô để bảo tồn loài lan quý      Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Huế đã ứng  dụng công nghệ nuôi cấy mô (in vitro) để tăng hệ số nhân giống từ quả  lan Kim Điệp, có thể tạo ra từ vài nghìn đến 1 triệu cây con.    Thành công trong việc tăng hệ số nhân giống loài lan Kim Điệp đang có nguy cơ tuyệt chủng đã góp phần quan trọng bảo tồn nguồn gen của loài lan quý hiếm này; đồng thời, tạo ra nguồn nguyên liệu quan trọng ban đầu cho quá trình sản xuất hoa lan Kim Điệp góp phần phát triển kinh tế.  Quy trình được bắt đầu thực hiện khi quả lan Kim Điệp ba tháng tuổi thu hái từ cây tự nhiên, rồi ngâm vào nước xà phòng loãng và rửa kỹ dưới dòng nước chảy. Khử trùng quả lan bằng cồn 70% trong hai phút và rửa lại năm lần bằng nước cất vô trùng.  Trong vòng hai tuần đầu, hạt lan được nuôi cấy mô sẽ chuyển sang màu nâu vàng và bắt đầu trương lên. Từ ba đến bốn tuần tiếp theo, hạt lan tiếp tục trương to và đâm chồi, sau khi được nuôi cấy trong môi trường có nồng độ chất kích thích sinh trưởng vừa phải.  Sau đó, chồi được tách riêng rẽ và cấy trong môi trường để tạo rễ. Đến khi cây con tái sinh hoàn chỉnh, cao từ 3cm đến 4,5cm và có từ hai đến năm rễ thì được chuyển từ phòng nuôi cấy ra ngoài môi trường tự nhiên có đủ điều kiện để cây thích nghi dần. Và khi chuyển cây con ra khỏi bình nuôi cấy cần rửa sạch môi trường, cắt ngắn rễ và nhúng vào dung dịch sát khuẩn.  Cây con cần được trồng trên giá thể rêu nước và dương xỉ, che ánh sáng khoảng 50% và tưới nước phun sương. Hai tuần sau đó, cây con sẽ bắt đầu hình thành rễ mới và hình thành lá sau ba tuần tuổi. Ở vườn ươm ngoài tự nhiên, tỷ lệ cây lan Kim Điệp giống sống đạt đến gần 91%.  Theo các nhà nghiên cứu, Kim Điệp là loài lan rừng phân bố chủ yếu ở vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Lan Kim Điệp có hoa lớn, màu vàng tươi.  Tuy nhiên, lan Kim Điệp đang thuộc nhóm nguy cấp và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân là do hạt lan Kim Điệp phát triển rất kém ngay cả khi đã chín. Đồng thời, hạt lại phụ thuộc vào sự nhiễm nấm và phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên để nảy mầm.  Mặt khác, lan Kim Điệp rất quý hiếm, nên người dân đã khai thác quá mức, cùng với diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp… đã làm cho nguồn gen loài lan này ngày càng cạn kiệt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi dạy trẻ phát triển tính sáng tạo      Chúng học đọc khi hai tuổi, chơi nhạc của Bach khi bốn tuổi, làm như bay các phép tính khi lên sáu, và nói ngoại ngữ làu làu khi lên tám. Bạn cùng lớp với chúng run lên vì ghen tị; cha mẹ chúng thì vui như trúng số. Nhưng theo cách nói của T.S Eliot, thì sự nghiệp của chúng không kết thúc với tiếng vang, mà là với tiếng thút thít.      Một ví dụ điển hình là giải thưởng khoa học danh giá nhất nước Mỹ dành cho học sinh trung học, giải Tìm kiếm tài năng khoa học Westinghouse, vốn được một Tổng thống Mỹ gọi là “Siêu cúp khoa học”. Từ khi ra mắt vào năm 1942 đến năm 1994, đã có hơn 2.000 thanh thiếu niên vào vòng chung kết của giải. Nhưng chỉ 1% số đó sau này làm việc cho Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, và chỉ tám người đoạt giải Nobel. Cứ mỗi người thành công – như Lisa Randall trong lĩnh vực vật lý lý thuyết – thì lại có hàng tá những người không đạt được cái mà tiềm năng của họ gây kỳ vọng.  Những đứa trẻ thần đồng hiếm khi trở thành thiên tài lúc trưởng thành, những người làm thay đổi thế giới. Chúng ta thường cho rằng, đó hẳn là vì chúng thiếu những kĩ năng xã hội và kĩ năng cảm xúc. Nhưng các bằng chứng cho thấy cách lý giải này không đúng với đa số các trường hợp: chưa đến ¼ những đứa trẻ tài năng gặp phải những vấn đề xã hội và cảm xúc. Còn lại phần lớn đều tự thích nghi tốt.  Điều khiến những đứa trẻ này bị tụt lại là ở chỗ chúng không học được cách trở thành chính mình. Chúng cố gắng để có được sự tán thưởng của cha mẹ và sự ngưỡng mộ của thầy cô. Nhưng khi chúng biểu diễn ở Carnegie Hall và trở thành những nhà vô địch cờ vua, có gì đó không như mong đợi xảy ra: Việc tập luyện sẽ tạo nên sự hoàn hảo, nhưng không tạo ra tính sáng tạo.  Đứa trẻ tài năng có thể học chơi được những giai điệu lộng lẫy của Mozart, nhưng hiếm khi soạn nổi những bản nhạc độc đáo của riêng mình. Chúng tập trung năng lượng vào việc thu nhận những kiến thức khoa học sẵn có mà không tạo ra được những nhận thức mới. Chúng tuân theo những quy luật đã được hệ thống hóa hơn là sáng tạo ra những quy luật của riêng mình. Nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ sáng tạo nhất ít có khả năng trở thành học trò cưng của giáo viên nhất, và để phản ứng lại, nhiều đứa trẻ trong số này học cách giấu những ý tưởng độc đáo cho riêng mình. Theo cách nói của nhà phê bình William Deresiewicz thì, những đứa trẻ tài năng bị biến thành “những con cừu xuất sắc”.  Ở tuổi trưởng thành, nhiều thần đồng trở thành chuyên gia hay người lãnh đạo các tổ chức. Tuy nhiên, “chỉ một phần nhỏ những đứa trẻ tài năng thực sự trở thành những người sáng tạo mang tính cách mạng”, theo nhà tâm lí học Ellen Winner. “Những đứa trẻ làm được điều này phải trải qua một bước quá độ khó nhọc” để cuối cùng trở thành người “đổi mới hẳn một lĩnh vực nào đó.”  Hầu hết những thần đồng không bao giờ tạo ra được bước nhảy vọt đó. Họ dùng những khả năng phi thường của mình để tạo sự nổi trội trong công việc chứ không để tạo ra những làn sóng đổi mới. Họ trở thành những bác sĩ chữa lành bệnh nhân mà không nỗ lực để cải thiện hệ thống y tế yếu kém hay những luật sư bảo vệ cho thân chủ trước những hình phạt bất công mà không nỗ lực để thay đổi các bộ luật.  Vậy phải làm gì để nuôi dạy nên một đứa trẻ sáng tạo? Một nghiên cứu đã so sánh các gia đình của những đứa trẻ được xếp vào số 5% sáng tạo nhất ở trường học với gia đình của những đứa trẻ không có gì sáng tạo đặc biệt. Cha mẹ của những đứa trẻ bình thường có trung bình sáu nguyên tắc, giống như thời gian biểu cụ thể cho giờ làm bài tập ở nhà và giờ đi ngủ. Cha mẹ của những đứa trẻ giàu sáng tạo trung bình có ít hơn một nguyên tắc.  Tính sáng tạo khó nuôi dưỡng nhưng lại dễ bị làm thui chột. Bằng cách hạn chế số nguyên tắc, cha mẹ đã khuyến khích con cái họ tự suy nghĩ cho bản thân. Họ có xu hướng “coi trọng những giá trị đạo đức hơn là chỉ tuân theo những quy tắc cụ thể”, theo nhà tâm lí học trường Harvard, Teresa Amabile.  Tuy nhiên, ngay cả các giá trị đạo đức cũng không nên bị nhồi nhét cho con trẻ một cách cưỡng ép. Khi các nhà tâm lí học so sánh những kiến trúc sư sáng tạo nhất nước Mỹ với một nhóm đồng nghiệp có tay nghề cao nhưng không có gì độc đáo, họ nhận ra một điều hết sức đặc biệt về cha mẹ của những kiến trúc sư sáng tạo này: “Chú trọng việc để cho đứa trẻ tự phát triển quy tắc đạo đức của riêng mình”.  Các bậc cha mẹ này khuyến khích con cái họ theo đuổi sự xuất sắc và thành công – nhưng đồng thời họ cũng khuyến khích con mình tìm “niềm vui trong công việc”. Con họ được tự do lựa chọn hệ giá trị của riêng chúng và khám phá những mối quan tâm của riêng chúng. Và điều đó giúp chúng trở thành những người thành công cũng như sáng tạo khi trưởng thành.  Khi nhà tâm lí học Benjamin Bloom tiến hành một nghiên cứu về tác nhân gốc rễ tạo nên những nhạc sĩ, họa sĩ, vận động viên và nhà khoa học đẳng cấp thế giới, ông nhận ra rằng bố mẹ của họ không hề mơ con mình trở thành cao siêu. Họ không phải là sĩ quan huấn luyện cũng không phải người trông coi nô lệ. Họ hưởng ứng theo động lực tự thân bên trong con mình. Khi con cái bày tỏ mối quan tâm và sốt sắng với một kĩ năng nào đó, họ luôn ủng hộ.  Những nghệ sĩ piano hàng đầu trong các buổi hòa nhạc không theo học những giáo viên ưu tú từ lúc mới biết đi; bài học đầu tiên của họ đến từ những người thầy tình cờ sống ngay cạnh và biến việc học trở nên vui vẻ. Mozart đã bộc lộ tình yêu âm nhạc trước khi được học nhạc, chứ không phải ngược lại. Mary Lou Williams tự học cách chơi piano; Itzhak Perlman tự học violin sau khi bị trường âm nhạc từ chối.  Thậm chí những vận động viên xuất sắc nhất cũng không có lợi thế nào so với những vận động viên khác ở xuất phát điểm. Khi nhóm nghiên cứu của TS Bloom phỏng vấn những tay vợt thuộc top 10 thế giới, họ cũng không hề, theo cách nói của Jerry Seinfeld, bắt đầu luyện tập từ khi còn trong bụng mẹ. Đa số họ không phải chịu áp lực tâm lý khủng khiếp đòi hỏi chơi được hoàn hảo như Andre Agassi. Và phần lớn các ngôi sao quần vợt đều ghi nhớ một điều về huấn luyện viên đầu tiên của mình: Họ khiến việc chơi tennis trở nên rất thú vị.  Kể từ khi “quy tắc 10.000 giờ” của Malcolm Gladwell được phổ biến rộng rãi, cho rằng thành công phụ thuộc vào số thời gian chúng ta thực hành một cách có ý thức, đã có nhiều tranh luận về việc số thời gian cần thiết để trở thành chuyên gia khác nhau như thế nào tùy theo từng lĩnh vực và cá nhân. Trong cuộc tranh luận này, chúng ta thường bỏ qua hai câu hỏi không kém phần quan trọng.  Thứ nhất, liệu chính việc thực hành có thể khiến chúng ta lầm lạc trong quá trình hoàn thiện lĩnh vực học tập của mình? Nghiên cứu chỉ ra rằng càng thực hành nhiều, chúng ta càng trở nên cứng nhắc – bị mắc kẹt trong những lối suy nghĩ quen thuộc. Những người chơi bài chuyên nghiệp phải vất vả hơn những người ít kinh nghiệm mới thích nghi được khi luật chơi thay đổi; những kế toán lão luyện kém hơn những người mới vào nghề trong việc áp dụng luật thuế mới.  Thứ hai, điều gì thúc đẩy người ta dành hàng nghìn giờ luyện tập một kĩ năng nào đó? Câu trả lời đáng tin nhất là đam mê – xuất phát từ bản tính tò mò hoặc do được nuôi dưỡng thông qua những trải nghiệm thú vị với một hoặc nhiều hoạt động khi còn nhỏ.  Bằng chứng này cho thấy những đóng góp sáng tạo phụ thuộc cả vào bề rộng chứ không chỉ chiều sâu của kiến thức và trải nghiệm của chúng ta. Trong lĩnh vực thời trang, những bộ sưu tập độc đáo nhất đến từ những nhà thiết kế dành hầu hết thời gian làm việc ở nước ngoài. Trong khoa học, người giành giải Nobel ít khi là những thiên tài chỉ chuyên tâm vào một lĩnh vực mà phổ biến hơn là những người quan tâm đến nhiều lĩnh vực. So với những nhà khoa học thông thường, những người giành giải Nobel có xác suất biểu diễn như diễn viên, vũ công hoặc ảo thuật gia cao gấp 22 lần; có xác suất sáng tác thơ, kịch hoặc tiểu thuyết cao gấp 12 lần; có xác suất sáng tác nghệ thuật và thủ công cao gấp bảy lần; và có xác suất chơi một nhạc cụ hoặc soạn nhạc cao gấp hai lần.  Không ai ép buộc những nhà khoa học có ảnh hưởng lớn này phải theo đuổi những sở thích nghệ thuật. Đó hoàn toàn là sự phản ánh tính tò mò tự thân của họ. Và đôi khi, sự tò mò đưa họ đến với những ý tưởng bất ngờ. “Lí thuyết tương đối nảy đến với tôi nhờ trực giác, và âm nhạc là động lực đằng sau trực giác này”, Albert Einstein hồi tưởng. Mẹ của Einstein cho ông học violin khi lên năm, nhưng ông không thích. Tình yêu âm nhạc chỉ bừng nở khi ông ở tuổi thanh thiếu niên, sau khi ông đã dừng học nhạc và tình cờ nghe các bản sonata của Mozart. “So với ý thức trách nhiệm, tình yêu là một người thầy tốt hơn”, ông nói.  Các bạn đã thấy chưa, hỡi những Mẹ Hổ và Cha Sói? Bạn không thể lập trình một đứa trẻ trở nên sáng tạo. Khi cố gắng thiết kế cho con mình một kiểu thành công nào đó thì kết quả khá nhất mà bạn có thể nhận được là biến con thành một con rô-bốt đầy tham vọng. Nếu bạn muốn con mình mang đến những ý tưởng độc đáo cho thế giới, bạn cần để chúng theo đuổi đam mê của bản thân chúng, chứ không phải đam mê của bạn.  Tác giả bài viết là giáo sư về quản trị và tâm lý tại Trường Wharton thuộc ĐH Pennsylvania. Bài viết này dựa theo cuốn sách mới của ông – “Originals: How Non-Conformists Move the World” (tạm dịch: Những người độc đáo: Những người phá cách khuấy đảo thế giới như thế nào).  T.N Vũ dịch  Nguồn: http://www.nytimes.com/2016/01/31/opinion/sunday/how-to-raise-a-creative-child-step-one-back-off.html    Author                Adam Grant        
__label__tiasang Nuôi thành công tế bào người trong phôi cừu      Các nhà khoa học cho biết họ đã phát triển thành công phôi cừu có chứa tế bào người, đánh dấu một bước tiến vô cùng quan trọng trong việc nuôi cấy cơ quan của người trên động vật.      Sắp có cừu lai người?- Ảnh:Internet  Với việc nuôi cấy nội tạng người trên động vật, các nhà khoa học tin rằng họ có thể giải quyết vấn đề thiếu nội tạng để cấy ghép hiện nay và giảm tỷ lệ ghép tạng không thành công xuống do tạng thay thế được nuôi bởi chính tế bào của bệnh nhân.  Từ lâu các nhà khoa học đã cố gắng phát triển nội tạng người bên trong một loài động vật khác và đã có nhiều thành công cô sở. Năm ngoái, các nhà khoa học thuộc Đại học California (Mỹ) đã thành công khi tạo ra phôi lai người – lợn, với khoảng 100.000 tế bào người trong phôi.  Nhóm nghiên cứu này giờ đây tuyên bố họ đã thực hiện một thí nghiệm thành công tương tự trên phôi cừu với khoảng 10.000 tế bào trong phôi này là của của con người. Nhóm nhà khoa học này cho hay họ đã biến đổi gien để phôi của cừu và lợn không thể phát triển được tuyến tụy, với hy vọng rằng các tế bào người trong phôi sẽ phát triển thành tiến tụy thay thế cho con vật.  Tuy nhiên, phôi thai nói trên chỉ được phát triển trong 28 ngày và bị tiêu hủy do các vấn đề đạo đức liên quan. Nhóm nhà khoa học muốn mở rộng hơn thời gian phát triển của phôi để nghiên cứu sâu về sự phát triển của các tế bào người trên động vật.  “Khi nói đến các thể người – cừu mọi thứ là rất khó khăn. Vì vậy, chúng tôi muốn tiến hành quá trình nghiên cứu thật cẩn thận. Có thể mất 5 hoặc 10 năm nữa nghiên cứu mới thành công, nhưng tôi nghĩ cuối cùng chúng tôi sẽ thành công”, tiến sĩ Hiro Nakuachi người dẫn đầu nhóm nghiên cứu cho hay.  Một số cơ quan ở lợn và cừu có kích thước tương tự như ở người, khiến chúng trở thành những động vật thích hợp để làm thí nghiệm nuôi ấy cơ quan người trên sinh vật sống.  Thiên Hà  Nguồn: Motthegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi trồng sinh thái – một xu thế mới      Trong khi tôm nuôi công nghiệp phải đương đầu với nhiều quan ngại về môi trường và đời sống hoang dã, tôm từ hình thức nuôi quảng canh trong các rừng ngập mặn duyên hải Nam bộ và nuôi kết hợp tôm lúa ở vùng nước lợ, đang nhận được nhiều quan tâm, ưu ái của các tổ chức vì môi trường.      Uông tôm giống trong mô hình nuôi tôm sú quảng canh.  Nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn  Đây là ví dụ điển hình về nhóm VI trong phân loại các khu bảo tồn của Liên minh quốc tế về Bảo tồn tự nhiên (IUCN).Mục tiêu đề ra cho những khu bảo tồn thuộc nhóm này là bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, sử dụng bền vững nguồn lợi, song song với đảm bảo sinh kế lâu dài cho cộng đồng.Nói khác đi, sinh kế (hay lợi ích kinh tế) gắn liền với việc bảo tồn hệ sinh thái và nguồn lợi.  Trước khi các đập ngăn mặn và rừng bị phá, người dân vùng ven biển đã từng mỗi tháng hai lần xổ tôm theo con nước, mười năm một lần tỉa và trồng lại rừng đước. Chừng 30 năm thôi mà ngỡ như xa xôi lắm.Từ lúc phong trào nuôi tôm thâm canh trở nên rầm rộ, vuông tôm chang chang nắng thay thế bạt ngàn xanh của những cánh rừng đước, sú, vẹt. Không biết rủi hay may, dịch bệnh tôm cũng theo đó mà phát triển, khiến nuôi thâm canh trở thành loại hình đầu tư mạo hiểm. Thêm vào đó, giá bán cao cho tôm đáp ứng tiêu chuẩn sinh thái (như Naturland), cùng với các chính sách về giao khoán đất rừng quy định dân phải duy trì rừng ở một tỷ lệ nhất định (tuỳ nơi mà tỷ lệ này có thể từ 40 – 60%), tôm quảng canh đang trở lại và rất hợp thời.  Năm 2013, báo cáo đầu tiên về tôm rừng Cà Mau với nhãn hàng Selva, được công bố trên trang mạng của Seafood Watch.Theo báo cáo, tôm Selva xuất xứ Cà Mau có kết quả đánh giá thuộc nhóm nhãn xanh, là lựa chọn tốt nhất cho môi trường.Người tiêu dùng ở Mỹ có thể nhận biết được sản phẩm tại các siêu thị thông qua ứng dụng của chương trình trên điện thoại thông minh. Kết quả điều tra với các hộ nuôi tôm rừng ở Cà Mau cho thấy, ngoài tôm, mô hình này còn nuôi được kết hợp các loại thuỷ sản có giá trị khác như sò, cua, cá chẻm. Cá nâu, cá đối, cá kèo khá phổ biến trong các vuông tôm kiểu này.  Mô hình tôm lúa  Khác với tôm rừng, tôm lúa được nuôi ở các vùng nước lợ, nơi mà nước mặn, ngọt theo mùa. Mô hình này phổ biến ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.Mùa nước mặn người dân thả tôm sú, cua và cá chẻm.Mùa ngọt họ trồng lúa, nuôi tôm càng xanh trong ruộng. Việc sử dụng phân, thuốc vì vậy mà được cân nhắc kỹ lưỡng. Sự tham gia của các công ty chế biến và xuất khẩu tôm, lúa hữu cơ, cùng với các hỗ trợ xây dựng năng lực sản xuất của các tổ chức trong ngoài nước, đã tạo động lực thúc đẩy chuỗi này.  Điều thú vị với chuỗi tôm lúa chính là thành quả liên quan đến trao quyền cho phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Một chị ở hợp tác xã Trí Lực (huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) nói nhờ chương trình mà chị biết… đi xe gắn máy, một điều nghe quá đỗi đơn giản nhưng lại mới mẻ và quan trọng với chị. Theo chị, thế giới như được mở ra (trước đó muốn đi đâu chị đều phải nhờ chồng).Người ta bắt đầu bàn về làng hữu cơ tôm lúa, về những hoa vàng dọc bờ xen lẫn trong màu xanh của lúa, người nghe thấy trong lòng phấn khởi lắm.  Biến lợi thế thành…lợi ích kinh tế  Hai mô hình tôm rừng và tôm lúa cho phép chúng ta tin rằng nhóm sản xuất quy mô nhỏ, vốn từng được xem là yếu thế trong các chuỗi sản xuất nông nghiệp, hoàn toàn có thể tham gia vào thị trường, mà là thị trường cao cấp hẳn hoi. Tuy nhiên, vẫn còn một đoạn khá xa để hiện thực hoá điều này. Vì với quy mô nhỏ lẻ, việc thu gom rất thách thức. Công việc này hiện đang do thương lái, tác nhân chưa từng được hoan nghênh ở bất cứ chuỗi nào, đảm nhiệm.  Suy nghĩ cặn kẽ, có thể nói rằng thương lái trong những chuỗi đặc thù như vầy, nên được đánh giá đúng mức về vai trò của họ.Thứ nhất, thương lái sở hữu quan hệ cộng đồng tốt. Thứ hai, họ có thể đi tới hang cùng, ngõ hẹp mà công ty chế biến không thể tới. Và cuối cùng, cũng là quyết định, chính là khả năng chi trả tiền mặt tức thời, điều làm cho một nông dân khó tính nhất cũng cảm thấy hài lòng. Để thương lái tham gia vào chuỗi, xây dựng năng lực cho họ về quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất, sẽ là yếu tố chủ chốt để có thể biến lợi thế của các chuỗi tôm quảng canh thành lợi ích kinh tế lâu bền.  Kim Thanh (theo TGHN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm hóa học có làm thay đổi hành vi của con người và động vật hoang dã?      Các nhà khoa học trên toàn cầu đang cảnh báo rằng các chất ô nhiễm hóa học trong môi trường có thể làm thay đổi hành vi của con người và động vật.      Trước đây, người ta đã nghiên cứu và đánh giá nguy cơ ảnh hưởng của các chất ô nhiễm hóa học đến tỉ lệ tử vong, sinh sản và phát triển của các loài động vật hoang dã. Mặc dù họ có nghi ngờ về ảnh hưởng đến hành vi song chưa từng có đánh giá hoặc kiểm chứng chính thức nào về vấn đề này. Các nhà khoa học cho rằng điều này cần phải thay đổi. Nguồn: CC0 Public Domain  Một diễn đàn khoa học gồm 30 chuyên gia đã đi đến một thỏa thuận thống nhất liên quan đến các chất ô nhiễm hóa học, từ đó thiết lập lộ trình bảo vệ môi trường khỏi các hóa chất gây thay đổi hành vi. GS Alex Ford, chuyên gia về sinh vật học thuộc ĐH Portsmouth (Anh) đã công bố kết quả của công trình này trên tạp chí Environmental Science and Technology.  Trước đây, người ta đã nghiên cứu và đánh giá nguy cơ ảnh hưởng của các chất ô nhiễm hóa học đến tỉ lệ tử vong, sinh sản và phát triển của các loài động vật hoang dã. Mặc dù họ có nghi ngờ về ảnh hưởng đến hành vi song chưa từng có đánh giá hoặc kiểm chứng chính thức nào về vấn đề này. Các nhà khoa học cho rằng điều này cần phải thay đổi.     Để khắc phục vấn đề này, các chuyên gia hàng đầu thế giới đến từ nhiều lĩnh vực liên quan gồm độc học môi trường, các nhà quản lý và chuyên gia đánh giá nguy cơ hóa chất đã tập hợp tại một diễn đàn do Cơ quan môi trường Đức tổ chức gần đây. GS. Alex Ford giải thích: “Chúng tôi chắc chắn rằng chất ô nhiễm hóa học có thể tác động đến hành vi của con người và động vật hoang dã. Tuy nhiên, khả năng của các nhà khoa học hiếm khi được ứng dụng trong việc quản lý nguy cơ của các hóa chất này để bảo vệ môi trường. Chẳng hạn, các hóa chất dùng trong dược phẩm điều chỉnh hành vi, chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm và lo âu, đã được chứng minh làm thay đổi hành vi của cá và các động vật không xương sống khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Cũng giống như nhiều loại thuốc kê theo đơn khác, các loại thuốc trên đi ra môi trường qua nước thải”.           Lịch sử cho thấy nhiều ví dụ khác về tác động của các hóa chất dẫn đến thay đổi hành vi. Trong suốt thế kỷ 19, các thành ngữ “dở hơi như thợ làm mũ” hay “điên như họa sỹ” được đặt ra khi người ta phát hiện những người làm nghề này bị thay đổi hành vi do sử dụng chì và thủy ngân. Gần đây, những lo ngại về độc tính kim loại đã dẫn đến việc cấm sử dụng nhiên liệu chứa chì.     Các nhà khoa học không chỉ lo ngại về các chất ô nhiễm rõ ràng như dược phẩm thải ra ngoài môi trường mà còn cảnh báo về những nguy cơ tiềm ẩn như các hóa chất trong nhựa, chất tẩy rửa, vải và các sản phẩm chăm sóc cá nhân.     Diễn đàn đã đưa ra một lộ trình nhằm thúc giục các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và những người đứng đầu trong lĩnh vực môi trường hành động. Các khuyến nghị bao gồm:     – Cải thiện cơ chế nghiên cứu khoa học về thay đổi hành vi do các chất ô nhiễm.  – Bổ sung yếu tố hành vi trong những thử nghiệm độc tính tiêu chuẩn hiện có và trong tương lai.   – Phát triển cách tiếp cận tích hợp trong đánh giá nguy cơ môi trường, bao gồm cả hành vi, bên cạnh tỉ lệ tử vong, sinh trưởng và sinh sản.  – Nâng cao độ tin cậy của các thử nghiệm hành vi bằng cách thay đổi các phản ứng hành vi.  – Xây dựng hướng dẫn và đào tạo về đánh giá báo cáo liên quan đến nghiên cứu hành vi.  – Tăng cường tích hợp nghiên cứu độc chất học liên quan đến hành vi của con người và động vật hoang dã.     GS. Ford cho biết: “Từ quá trình phát triển dược phẩm và độc chất học trên người, chúng tôi biết rằng các nhà quản lý và doanh nghiệp đã có tiến bộ trong việc áp dụng điểm cuối hành vi (behavioral endpoints) trong đánh giá nguy cơ hóa chất và phát triển thuốc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa thấy điều này được áp dụng đầy đủ khi bàn đến sức khỏe môi trường và ảnh hưởng của hóa chất đến hành vi của động vật hoang dã. Điều thực sự đáng lo ngại là chúng ta chưa hiểu rõ về tác động của các chất ô nhiễm tới hành vi của con người và động vật hoang dã, các quy trình đánh giá hiện nay về vấn đề này cũng chưa phù hợp”.     Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-chemical-pollutants-behavior-wildlife-humans.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sự phát triển của não từ giai đoạn nào?      Vào năm 1980, một dịch bệnh hô hấp bỗng đột ngột kéo đến khiến hàng trăm người phải nhập viện vì khó thở, nhưng không ai biết chính xác nó bắt nguồn từ đâu. Từ năm 1981 đến 1989, thống kê cho thấy có 26 đợt bùng phát hen suyễn ở Barcelona, đa phần tập trung quanh bến cảng. Các nhà khoa học địa phương cuối cùng đã phát hiện ra rằng bụi đậu tương thải ra không khí khi hàng hóa được dỡ xuống là thủ phạm.      Ô nhiễm không khí là hiện tượng chung của nhiều thành phố trên thế giới.   Trước khi biết đậu tương là nguyên nhân gây hen suyễn, các nhà khoa học lầm tưởng rằng bụi từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch là thủ phạm, vì vậy họ đã lập bản đồ theo dõi khả năng ô nhiễm của các vùng. Từ bản đồ này, các nhà nghiên cứu địa phương dần nhận ra hậu quả nghiêm trọng mà ô nhiễm không khí gây ra.  GS Jordi Sunyer của ISGlobal thuộc Viện Sức khỏe Toàn cầu Barcelona, một trong những nhà nghiên cứu đã phát hiện ra mối liên hệ giữa dịch bệnh với bụi đậu tương, và hiện đang điều tra các tác động của ô nhiễm không khí. Ông cho rằng đã đến lúc chúng ta cần hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng do ô nhiễm không khí lên các bộ phận khác ngoài phổi. “Vào năm 2008, đã có những nghiên cứu trên động vật cho thấy ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến não bộ. Điều này là do kích thước của các hạt ô nhiễm quá nhỏ đến mức chúng có thể đi vào não và gây viêm dây thần kinh.  Năm 2015, GS Sunyer và các đồng nghiệp đã công bố nghiên cứu cho thấy mức độ ô nhiễm cao hơn có liên quan đến việc giảm 5% số điểm trong các bài kiểm tra trí nhớ ở trẻ em từ 7 đến 10 tuổi.  Từ năm 1970, các nhà khoa học đã phát hiện lượng chì trong xăng dầu có thể gây hại cho cơ thể. Rõ ràng, ở cấp độ cá nhân, giảm 5% số điểm trong bài kiểm tra không phải là vấn đề lớn; nhưng ở cấp độ dân số, nó sẽ gây tác động lớn đến nền kinh tế. GS Sunyer cho biết, 90% quá trình phát triển não bộ diễn ra vào năm bốn tuổi, vì vậy ông đang theo dõi các nghiên cứu trước đây để hiểu hơn về ảnh hưởng của ô nhiễm không khí ở giai đoạn sớm nhất của cuộc đời.    Ông đang dẫn dắt nghiên cứu AIR-NB, chuyên theo dõi quá trình phơi nhiễm không khí bẩn ở trẻ trước cả khi đứa trẻ được sinh ra. Nhóm nghiên cứu đang tìm kiếm 1.200 phụ nữ mang thai ở Barcelona để nghiên cứu và đo mức độ ô nhiễm trong nhà của họ. Họ cũng sẽ cố gắng loại trừ các yếu tố ngoại cảnh khác để xác định chính xác sự khác biệt giữa những đứa trẻ khi chúng phát triển. Các nhà nghiên cứu sẽ chụp MRI não của đứa trẻ từ tháng thứ 6 của thai kỳ và từ một tháng sau khi sinh.  Ngoài ra, ô nhiễm không khí có thể làm tăng nguy cơ phát triển rối loạn phổ tự kỷ. TS. Juana Maria Delgado-Saborit, cũng thuộc ISGlobal, đang xem xét vấn đề này bằng cách sử dụng dữ liệu của 18.000 đứa trẻ – thuộc một phần dự án UK Millennium Cohort Study (MCS), trong đó các nhà khoa học thường xuyên theo dõi và kiểm tra tình trạng của những đứa trẻ trong suốt hai thập kỷ qua.   Ở một dự án khác, TS Delgado-Saborit đang sử dụng thông tin sức khỏe thu thập ở trẻ em dưới 14 tuổi để xem xét các chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ hoặc đặc điểm của tình trạng này. Bằng cách so sánh thông tin này với các bản đồ ô nhiễm từ khi đứa trẻ vẫn còn trong bụng mẹ cho đến giai đoạn thời thơ ấu của chúng, bà hy vọng sẽ xác định được bất kỳ mối liên hệ tiềm năng nào.  Việc phân tích dữ liệu vẫn đang diễn ra, nhưng kết quả ban đầu của bà cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng tự kỷ với nồng độ ozone trong không khí. Ozone là một chất hại cho cơ thể, được hình thành từ một phản ứng liên quan đến oxit nitơ và hydrocarbon – các chất có trong khí thải xe cộ. Mặc dù mọi người đều cho rằng trẻ em còn đi học không nên tiếp xúc nhiều với không khí ô nhiễm, nhưng GS Sunyer cho biết không chỉ trẻ em ở độ tuổi đó, mà có thể trẻ chưa sinh ra cũng bị ảnh hưởng nặng nề. “Nếu có thể phát hiện thêm những bằng chứng cho thấy trẻ còn trong bụng mẹ và trẻ sơ sinh là đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi ô nhiễm không khí; xã hội buộc phải tìm ra phương án để bảo vệ sức khỏe của các em.”  □  Anh Thư dịch  Nguồn tin và ảnh: https://phys.org/news/2020-07-air-pollution-affects-brain.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí có thể cản trở quá trình côn trùng thụ phấn      Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thí nghiệm ngoài trời để xem liệu khí thải diesel và ozone có cản trở các loài côn trùng tìm kiếm hương hoa hay không.      Tám hình bát giác dài tám mét bao quanh các cụm cây cải mù tạt (hay còn gọi là mù tạt đen). Mỗi “vòng” bát giác sẽ được bơm vào các loại hoá chất khác nhau – ozone, khí thải động cơ diesel, kết hợp cả hai loại hoá chất, hoặc không loại hoá chất nào. Ảnh: Kevin White / University of Reading  Giữa một cánh đồng lúa mì mùa đông, các nhà khoa học tại trang trại Sonning thuộc Đại học Reading (Anh) đã dựng lên một hệ thống khác thường: tám hình bát giác dài tám mét bao quanh các cụm cây cải mù tạt (hay còn gọi là mù tạt đen). Mỗi “vòng” bát giác sẽ được bơm vào các loại hoá chất khác nhau – ozone, khí thải động cơ diesel, kết hợp cả hai loại hoá chất, hoặc không loại hoá chất nào. Các nhà nghiên cứu muốn kiểm tra xem liệu những chất gây ô nhiễm không khí phổ biến này có ảnh hưởng đến những loại côn trùng thụ phấn hoa hay không.  Gần đó, các nhà nghiên cứu thực địa chuyên quan sát quá trình thụ phấn đang nín thở chờ đợi, ghi chép lại số lượng côn trùng ghé thăm mỗi “vòng” bát giác. Họ đã công bố kết quả của nghiên cứu này trên tạp chí Environmental Pollution, cho thấy các vòng thải ra chất gây ô nhiễm có ít côn trùng ghé thăm hơn đáng kể so với những vòng đối chứng – không phun bất kỳ loại chất nào.  Nhóm nghiên cứu thực hiện hai phép đếm riêng biệt: Đầu tiên, họ đếm số lượng tổng thể những loại côn trùng thụ phấn đã bay vào các vòng và đậu xuống ít nhất một bông hoa. So với vòng đối chứng, các vòng phun khí thải động cơ diesel có số lượng côn trùng đậu xuống giảm 69%, các vòng phun ozone giảm 62% và con số này là 70% đối với vòng phun cả hai chất.  Thứ hai, họ tính số lượt “ghé thăm” của bốn loài riêng biệt – ong, ngài, bướm và ruồi ăn rệp – cũng như số lượng hoa mà mỗi loài đậu xuống. So với mẫu đối chứng, số lượng hoa được đáp xuống giảm 89% ở vòng phun khí thải động cơ diesel, giảm 83% ở vòng phun ozone và giảm 90% ở vòng phun cả hai loại hoá chất.  “Kết quả này cho thấy ô nhiễm không khí là một yếu tố tiềm ẩn, tác động tiêu cực lên các loài thụ phấn”, tác giả chính của nghiên cứu, James Ryalls, một nhà khoa học chuyên về sự tương tác giữa côn trùng – thực vật, cho hay. Đây không chỉ là tin buồn đối với các loài thụ phấn, những loài có thể không tìm được nguồn thức ăn trong bối cảnh ô nhiễm không khí, mà còn là tin xấu đối với những loài thực vật phụ thuộc vào côn trùng để sinh sản. Con người cũng không tránh khỏi việc bị ảnh hưởng: Nếu côn trùng không thể thụ phấn cho cây trồng, thì rất có thể chúng ta sẽ bị mất đi một nguồn thực phẩm thiết yếu.  Các nhà nghiên cứu cho rằng lý do khiến lượt “ghé thăm” của côn trùng giảm xuống là do các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến mùi hương của hoa. Ryalls và các cộng sự đã tiến hành một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, cho thấy cả ô nhiễm khí thải diesel và ozone đều có thể tương tác và phá vỡ các phân tử mùi do hoa tiết ra.  Côn trùng, bao gồm cả ong và bướm, ngửi bằng cách sử dụng râu của chúng, các thụ thể khứu giác giúp phát hiện các hợp chất mùi. Khứu giác của chúng rất nhạy bén – nhạy hơn so với khứu giác của con người. Khi một bông hoa tiết ra một chùm hợp chất hóa học tạo mùi thơm, côn trùng sẽ dựa vào đó như một bản đồ để định vị địa điểm mà chúng có thể hút mật. Nếu một hoặc nhiều hợp chất tạo mùi bị thay đổi do phản ứng với khí thải diesel hoặc ozone, thì tỷ lệ và nồng độ của các hợp chất trong chùm khói sẽ thay đổi. Bản đồ định vị trở nên méo mó và côn trùng không thể tìm thấy vị trí hoa được nữa.  Gợi mở những câu hỏi  Ozone trong khí quyển ở các tầng cao giúp che chắn hành tinh của chúng ta khỏi những bức xạ nguy hiểm từ mặt trời. Nhưng ở các tầng thấp hơn, ozone có thể gây khó chịu và tăng tỉ lệ tử vong do bệnh về tim mạch và hô hấp. Đó là chất ô nhiễm do ô tô, nhà máy điện và nhà máy lọc dầu thải ra. Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) cho biết một trong những yếu tố mà cơ quan này xem xét khi thiết lập các tiêu chuẩn về mức độ an toàn đó là ozone có gây gián đoạn quá trình thụ phấn hay không. Báo cáo vào năm 2020 của EPA trình bày một thí nghiệm, theo đó khi nồng độ ozone tăng cao, ong vò vẽ ít có khả năng tự định hướng để tìm đến hương hoa hơn. “Rất nhiều bằng chứng cho thấy mối “sự tương tác giữa côn trùng và thực vật có liên quan đến việc tiếp xúc với ozone”, báo cáo kết luận.    Nồng độ các chất ô nhiễm không khí phổ biến – dù ở mức vừa phải – vẫn có thể làm giảm tỷ lệ côn trùng trong tự nhiên tìm thấy mùi hương và thụ phấn cho hoa.  Theo tiêu chuẩn của EPA, bảy mươi phần tỷ (70 ppb) được coi là nồng độ an toàn của ozone, và 53 ppb được coi là an toàn đối với nitrogen dioxide. Trong các vòng bát giác thử nghiệm của nhóm Ryalls, nồng độ ozone xấp xỉ 35 ppb, và nồng độ nitrogen dioxide, một thành phần của khí thải động cơ diesel, là khoảng 21 ppb. Theo Ryalls, nồng độ được sử dụng trong thí nghiệm tương đương với khoảng một nửa nồng độ của khí ozone và khí thải diesel tại khu vực bên cạnh một trong những con đường đông đúc nhất của London. “Nồng độ các chất ô nhiễm không khí phổ biến – dù ở mức vừa phải – vẫn có thể làm giảm tỷ lệ côn trùng trong tự nhiên tìm thấy mùi hương và thụ phấn cho hoa”, ông phân tích. “Trước đó chúng tôi đã thực hiện một số nghiên cứu và xây dựng mô hình trong phòng thí nghiệm, nhưng con số mà chúng tôi quan sát được tại hiện trường còn nghiêm trọng hơn so với dự đoán.”  Mặc dù một số loại cây trồng được thụ phấn nhờ gió, những loại cây khác phụ thuộc hoàn toàn vào côn trùng. “Nếu mai sau không còn côn trùng thụ phấn, chúng ta sẽ không thể sản xuất hạt ca cao, quả hạch Brazil và một số loại trái cây, những loại quả mà quá trình thụ phấn cần thiết cho sự sinh sản,” Ryalls nói – chẳng hạn như táo, nam việt quất và dưa. Các loại cây trồng như quả việt quất, anh đào và hạnh nhân gần như hoàn toàn phụ thuộc vào ong mật để thụ phấn.  “Hậu quả có thể còn nghiêm trọng hơn nữa”, ông bổ sung. “Ví dụ, pheromone là một loại mùi trong không khí, do côn trùng tạo ra để thu hút bạn tình. Nếu các loại hoá chất cũng ảnh hưởng đến pheromone theo cách tương tự, côn trùng có thể sẽ phải vật lộn để tìm kiếm bạn tình, điều này có thể gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học côn trùng”. Trên thực tế, Đại học Reading hiện đang tiến hành một dự án nhằm khám phá cách ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến pheromone côn trùng.  “Chúng ta vẫn chưa hiểu rõ tác động của khí thải diesel và ozone đến côn trùng thụ phấn và quá trình thụ phấn”, Jaret Daniels, phó giáo sư bảo tồn côn trùng và là người phụ trách bảo tồn côn trùng tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Florida, người không tham gia nghiên cứu, cho biết. Tuy nhiên, ông nói thêm, “có thể phỏng đoán rằng ô nhiễm – dù là ô nhiễm ánh sáng, âm thanh hay hoá chất – đều ảnh hưởng đến các loài thụ phấn.”  Theo Daniels, việc khí thải có nguồn gốc từ nhiên liệu hoá thạch làm gián đoạn quá trình thụ phấn – một “mắt xích then chốt” đối với hệ sinh thái và nông nghiệp, có thể sẽ ảnh hưởng đến khả năng chống chịu với khí hậu và an ninh lương thực trong tương lai. Những nghiên cứu như thế này đóng vai trò “rất quan trọng đối với thực trạng gia tăng dân số, đặc biệt trong bối cảnh bối cảnh môi trường đô thị đang phát triển, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng,” ông nói.  Mark Carroll, một nhà côn trùng học nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Ong Carl Hayden của USDA, đồng ý rằng nghiên cứu này bổ sung những kiến thức về ô nhiễm không khí và các loài thụ phấn, nhưng ông nói rằng các nhà khoa học cần hiểu rõ về bức tranh lớn hơn. Ví dụ, ông ấy tự hỏi liệu côn trùng có thực sự bị cản trở bởi vì chúng không thể ngửi để định vị bông hoa một cách chính xác hay không. Thay vào đó, ông gợi ý, có thể chúng chỉ đơn giản là cảm thấy mùi của các loại hoá chất quá khó chịu.  Ryalls cho biết thí nghiệm của họ đã kiểm soát khả năng này bằng cách đặt các bẫy khay (pan trap) màu vàng sáng trong mỗi vòng. (Các loài thụ phấn đặc biệt bị thu hút bởi màu vàng.) Bẫy khay là một loại bẫy côn trùng chủ yếu được sử dụng để bắt các bộ Cánh màng nhỏ. Bẫy khay thường được làm từ một cái bát/khay/đĩa chứa đầy chất lỏng hoặc chất dính, chẳng hạn như nước, xà phòng, dầu. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu sử dụng chúng để ước tính số lượng côn trùng bay vào mỗi vòng bát giác. Họ phát hiện ra số lượng cá thể côn trùng thụ phấn bị bắt trong các bẫy ở mỗi bẫy gần bằng nhau. Điều này cho thấy côn trùng không sợ mùi của hóa chất, chúng vẫn có xu hướng bay vào đó, nhưng số lượng đậu xuống hoa thì sụt giảm do chúng không ngửi thấy mùi phấn hoa.  Thiết kế thử nghiệm của trang trại Sonning về cơ bản mô phỏng một cánh đồng bên cạnh con đường đông đúc, và Daniels và Carroll đều cho rằng các nghiên cứu trong tương lai nên thử tái tạo mô hình này ở các loại địa điểm khác nhau. “Côn trùng sẽ thế nào nếu chúng sống trong một môi trường nơi các chất ô nhiễm tăng cao trên diện rộng, chẳng hạn như trong một thung lũng đầy khói bụi?” Carroll gợi ý.  Ryalls cho biết nhóm của ông đang lên kế hoạch tiến hành thử nghiệm trên quy mô lớn hơn, cũng như thực hiện “các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để xác định cơ chế cụ thể về lý do tại sao một số loài hoặc nhóm côn trùng bị ảnh hưởng nhiều hơn những loài khác.” Cho đến hiện tại, ông nói, công trình của ông vẫn là một điểm nhấn mới cho thấy mối nguy hiểm của khí thải công nghiệp. “Những tác động tiêu cực của các chất gây ô nhiễm không khí lên đời sống của các loài thụ phấn, ngay cả ở mức độ tương đối thấp, là một trong vô số lý do tại sao chúng ta nên tìm cách chấm dứt tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch càng nhanh càng tốt”.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  Air Pollution May Keep Insects From Stopping to Smell the Flowers  Anthropogenic air pollutants reduce insect-mediated pollination services    Author                .        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí có thể tác động tới não thai nhi      Một nghiên cứu mới thực hiện tại Hà Lan đã cho thấy mối quan hệ giữa quá trình tiếp xúc không khí ô nhiễm trong giai đoạn mang thai với những bất thường trong não mà có thể gây ra chứng suy giảm nhận thức ở trẻ trong độ tuổi đi học. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Biological Psychiatry này thậm chí đã chỉ ra, mức độ ô nhiễm không khí có thể gây ra những thay đổi trong não thậm chí còn thấp hơn cả ngưỡng an toàn cho phép.      Tranh minh họa. Nguồn: Internet.  Bác sĩ Mònica Guxens tại Viện Sức khỏe Toàn cầu Barcelona ISGlobal (Tây Ban Nha), tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đã quan sát mối quan hệ giữa sự phát triển của não bộ với mật độ của các hạt bụi siêu mịn trong ngưỡng an toàn của  EU”. Khi thực hiện nghiên cứu này, ISGlobal còn nhân được sự hỗ trợ từ Quỹ “la Caixa” và Trung tâm Y tế Đại học Eramus (Hà Lan). Phát hiện này đã bổ sung  cho những nghiên cứu trước đó về mối liên quan giữa ô nhiễm không khí ở trong ngưỡng an toànvới các biến chứng như suy giảm nhận thức và sự tăng trưởng bất thường ở thai nhi. “Vì vậy, ngưỡng ô nhiễm không khí được coi làan toàn tại thành phố như hiện nay làchưa đảm bảo an toàn”.  Nghiên cứu chỉ ra: Sự phơi nhiễm các hạt bụi siêu mịn trong suốt quá trình mang thai sẽ gây ra ảnh hưởng lênmột số vùng ở lớp vỏ mỏng bên ngoài của não bộ (cortex),. Những bất thường đó của não bộ có thể làm giảm khả năng kiểm soát bản thân trước những cám dỗ và hành vi bốc đồng – liên quan đến các vấn đề về sức khoẻ tâm thần như nghiện ngập và chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder – ADHD).  Nghiên cứu trên đã sử dụng dữ liệu từ những người đăng ký khám và theo dõi sức khỏe của trẻ từ giai đoạn bào thai tại Hà Lan. Bác sĩ Guxens cùng các đồng nghiệp đã khảo sát và đánh giá mức độ ô nhiễm tại nhà của 783 trẻ trong suốt quá trình mang thai. Dữ liệu trên được thu thập từ một chiến dịch theo dõi mức độ ô nhiễm trong không khí, bao gồm nồng độ Ni-tơ Điôxít (chất gây ô nhiễm không khí có trong khói thuốc lá và các phương tiện giao thông), các loại bụi thô và bụi siêu mịn.  Hình ảnh não được chụp khi trẻ đang trong độ tuổi từ 6 – 10 cho thấy những bất thường về độ dày vỏ não ở vùng tiểu thùy tứ giác (precuneus) và vùng trung gian giữa mũi với trán. Mặc dù có mối liên hệ giữa những thay đổi trong cấu trúc não với sự phơi nhiễm bụi siêu mịn, mật độ trung bình của các hạt bụi trong nghiên cứu thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của EU – chỉ 0,5% phụ nữ mang thai trong nghiên cứu là bị phơi nhiễm ở mức không an toàn. Ngoài ra, nồng độ Nitơ Điôxít không vượt quá mức cho phép.  Bác sĩ John Krystal, biên tập viên của tạp chí Biological Psychiatry cho biết: “Hiển nhiên, ô nhiễm không khí gây hại cho phổi, tim cùng các cơ quan khác, nhưng hầu hết chúng ta đều không bao giờ nghĩ đến những ảnh hưởng của nó đối với não bộ đang phát triển. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta cần phải học hỏi từ những nghiên cứu về tác động lâu dài lên sự phát triển nhận thức ở trẻ do người mẹ hít phải độc tố từ khói thuốc lá khi đang mang thai.”   Trong thời kỳ mang thai, não trẻ nhỏ đặc biệt rất dễ tổn thương vì cơ chế bảo vệ giúp chống lại hay loại bỏ các độc tố từ môi trườngchưa được phát triển hết. Những phát hiện trong nghiên cứu trên cho thấy: ngay cả việc tiếp xúc với ô nhiễm ở trong ngưỡng được coi là an toàn hiện nay cũng có thể gây ra tổn thương vĩnh viễn đối với não.  “Mặc dù những kết quả lâm sàng từ các trường hợp riêng lẻ trong nghiên cứu này chưa có ý nghĩa định lượng, tuy nhiên sự phát triển nhận thức chậmtrong giai đoạn đầu đờiở trẻ đã được ghi nhận – có thể gây nên những hậu quả lâu dài, như làm tăng nguy cơ rối loạn sức khỏe tâm thần và ảnh hưởng tới kết quả học tập có liên quan tới tình trạng phơi nhiễm [không khí ô nhiễm] ở khắp mọi nơi”, bác sĩ Guxens cho biết.  Công Nhất dịch  Nguồn: https://www.elsevier.com/about/press-releases/research-and-journals/air-pollution-linked-to-brain-alterations-and-cognitive-impairment-in-children    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí… kích thích phát triển ô tô điện      Tại Bắc Kinh, Thượng Hải và New Delhi, tình trạng ô nhiễm không khí đều ở mức cao. Vì vậy giờ đây ô tô điện tại các thành phố này đang được khuyến khích phát triển mạnh mẽ để thay thế các loại ô tô sử dụng nhiên liệu hóa thạch truyền thống.  &#160;      Bắc Kinh vừa trải qua một đợt ô nhiễm nặng nề, báo động cấp số một: tuần trước ba ngày liên tiếp Bắc Kinh phải ra lệnh báo động cấp cao nhất vì ô nhiễm không khí (Smog). Và trong những ngày tới ô nhiễm không khí còn tiếp diễn. Báo động cấp cao nhất là báo động đỏ, và ở cấp độ này thì các trường học và nhà trẻ phải đóng cửa, một số nhà máy buộc phải hạn chế hoặc ngừng sản xuất. Giao thông bằng ô tô cũng phải giảm thiểu.   Tình trạng trên không phải là cá biệt. Ở các thành phố như Thượng Hải hay New Delhi, không khí cũng bị ô nhiễm, vì vậy một số nhà máy buộc giảm hoạt động, trẻ em và người già không được phép ra đường.    Ấn Độ cũng đang xem xét áp dụng tình trạng khẩn cấp đối với việc đi lại bằng ô tô: Tòa án tối cao nước này ra  quyết định  về việc đăng ký xe ô tô chạy bằng dầu diesel có động cơ với dung tích trên 2000 phân khối  đối với New Delhi và vùng phụ cận, việc này phải hoàn thành trước cuối tháng ba tới. Quy định này liên quan chủ yếu đến các loại xe ô tô địa hình cỡ lớn mang tính phô trương. Lập luận của tòa “Người giầu không có quyền mua xe hơi chạy diesel sang trọng và gây ô nhiễm không khí”. Ngoài ra bắt đầu từ ngày 1/1, xe ô tô tư nhân chỉ được phép chạy cách nhật.  Các hãng sản xuất ô tô dự báo tình hình trên cũng sẽ diễn ra ở các thành phố lớn khác ở Trung Quốc, Ấn Độ, Các nước mới nổi khác sẽ noi gương New Delhi. Dự báo này là có cơ sở, tại Trung quốc ô nhiễm không khí đã trở thành một vấn đề mang tính cấp bách. Tình hình các siêu thành phố ở Ấn Độ thậm chí còn nghiêm trọng hơn: trong số 20 đô thị có mức độ ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới thì Ấn Độ chiếm 12.   Tập đoàn Ford đứng thứ hai thế giới về sản xuất ô tô đã tuyên bố tấn công vào lĩnh vực ô tô điện. Ford dự định đến năm 2020 sẽ tung ra 13 mẫu mới.   New Delhi và vùng phụ cận là thị trường tiêu thụ ô tô quan trọng đối với các hãng sản xuất ô tô của Đức. Các hãng như Daimler, BMW và VW  đều dự định sẽ thu hẹp sản xuất loại xe Diesel khủng vốn để cung cấp cho thủ đô Ấn Độ. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là tập đoàn Daimler, doanh nghiệp này cung cấp cho thị trường Ấn Độ chủ yêu loại xe diesel với dung tích trên 2000 phân khối. Tập đoàn này dự định đầu tư 140 triệu Euro ở Ấn Độ. Cả VW cũng coi Ấn Độ là một thị trường tiềm năng có sức tăng trưởng rất lớn. Những dự án đầu tư này có nguy cơ bị đe dọa.  Vì ô nhiễm không khí nặng nề chính phủ Trung Quốc đẩy mạnh khuyến khích phát triển ô tô điện. Với chính sách giảm thuế dành cho các loại xe nội đia, không có khí thải chính phủ đã thành công trong việc khuấy động thị trường: riêng trong năm nay khoảng một phần tư triệu xe ô tô điện đã được bán ra trên thị trường Trung Quốc, tăng gấp đôi so với năm  2014. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc vượt Hoa Kỳ trong việc tiêu thụ ô tô điện. Năm 2016 mức tiêu thụ sẽ lại tăng gấp đôi, đạt khoảng nửa triệu. Công ty mẹ  NEVS (National Electric Vehicle Sweden) của hãng sản xuất ô tô Saab hết sức phán khởi vì vừa ký được một hợp đồng cỡ tỷ đôla với Trung Quốc: công ty Panda New Energy đã đặt hàng 250.000 chiếc ô tô điện.  Vụ bê bối VW-diesel, nạn ô nhiễm không khí ở các nước mới nổi, quy định của EU về lượng khí thải ngày càng nghiêm ngặt hơn và tín hiệu rõ ràng từ Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu ở Paris sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình chuyển đổi từ động cơ đốt sang xe ô tô ắc quy. Giá xe ô tô ắc quy sẽ giảm mạnh là điều kiện thuận lơi với các hãng sản xuất ô tô.    Hoài Trang dịch  Theo Tuần kinh tế      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí liên quan đến các bệnh tâm thần nghiêm trọng hơn      Theo một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước tới nay, sự phơi nhiễm không khí ô nhiễm có mối liên hệ đến mức độ gia tăng của bệnh tâm thần nặng.      Một bầu trời vàng cam bao phủ thành phố London. Các mức ô nhiễm không khí ở London đã giảm xuống trong những năm gần đây. Ảnh: Michael Heath/Alamya  Nghiên cứu trên 13.000 người ở London cho thấy khi mức độ tiếp xúc với NO2 tăng một lượng nhỏ dẫn đến nguy cơ điều trị dựa vào cộng đồng tăng 32% và nguy cơ nhập viện tăng 18%.  Các nhà nghiên cứu cho biết những phát hiện này có khả năng áp dụng cho hầu hết các thành phố ở những nước phát triển và việc cắt giảm ô nhiễm không khí có thể mang lại lợi ích cho hàng triệu người. “Có thể thay đổi tình trạng ô nhiễm không khí, và trên quy mô lớn, nó sẽ làm giảm mức độ phơi nhiễm của dân số.” Joanne Newbury, thuộc Đại học Bristol, một thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết. “Chúng ta biết có thể áp dụng những biện pháp can thiệp như mở rộng khu vực phát thải thấp. Còn những các can thiệp về sức khỏe tâm thần ở cấp độ cá nhân thực sự rất khó.”  Nghiên cứu đã sử dụng tần suất nhập viện hoặc thăm khám bác sĩ và y tá công cộng làm thước đo mức độ nghiêm trọng. Các nhà nghiên cứu tính toán, việc giảm một lượng nhỏ riêng một chất gây ô nhiễm cũng có thể làm giảm bệnh tật và tiết kiệm cho Y tế quốc gia (NHS) hàng chục triệu bảng mỗi năm.  Mặc dù mức độ ô nhiễm không khí ở London đã giảm trong những năm gần đây nhưng thực sự chưa đạt đến mức độ an toàn – TS. Ioannis Bakolis, thuộc Đại học King’s College London, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết. “Ngay cả ở mức độ ô nhiễm không khí thấp, ta vẫn có thể thấy tác động rất nghiêm trọng này”.  Nghiên cứu gần đây đã cho thấy, sự gia tăng ô nhiễm không khí mức độ nhỏ có liên quan đến sự gia tăng trầm cảm và lo âu một cách đáng kể. Không khí ô nhiễm cũng liên quan đến sự gia tăng số lượng các vụ tự tử, và việc sinh sống ở những nơi ô nhiễm làm tăng nguy cơ rối loạn tâm thần. Các nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng ô nhiễm không khí gây suy giảm trí tuệ ở mức độ lớn và ảnh hưởng đến chứng mất trí nhớ. Một đánh giá toàn cầu vào năm 2019 đã kết luận,ô nhiễm không khí có thể gây hại cho mọi cơ quan trong cơ thể con người.  Nghiên cứu mới công bố trên The British Journal of Psychiatry đã theo dõi bệnh nhân ở phía nam London từ khi họ bắt đầu sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần và dùng những ước tính có độ phân giải cao về ô nhiễm không khí 1.  Nồng độ NO2 trung bình hàng quý trong khu vực nghiên cứu thay đổi từ 18 đến 96 μg/m³. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tiếp xúc với mức độ ô nhiễm cao hơn 15μg/m³ sau một năm có nguy cơ nhập viện cao hơn 18% và nguy cơ cần điều trị ngoại trú cao hơn 32%.  Mối liên hệ này mạnh nhất đối với chất ô nhiễm NO2 phần lớn phát ra từ các phương tiện chạy diesel. Tuy nhiên, nó cũng có ý nghĩa thống kê với các chất ô nhiễm dạng hạt (PM) sản sinh từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch. Nồng độ các hạt PM nhỏ thay đổi từ 9 đến 25 μg/m³ và cứ mỗi khi tăng phơi nhiễm 3 đơn vị thì nguy cơ nhập viện tăng lên 11% và nguy cơ điều trị ngoại trú tăng lên 7%.  Các nhà khoa học Anh đã đánh giá dữ liệu bệnh nhân bảy năm sau lần điều trị đầu tiên và thấy mối liên hệ với ô nhiễm không khí vẫn còn rất rõ ràng. Những phát hiện này không thể giải thích bằng một loạt các yếu tố khác như tuổi tác, giới tính, dân tộc, điều kiện sống thiếu thốn hoặc mật độ dân số, mặc dù các yếu tố không xác định vẫn có thể đóng một vai trò quan trọng.  “Việc xác định các yếu tố nguy cơ thay đổi theo mức độ nghiêm trọng và khả năng tái phát bệnh có thể giúp chỉ ra những can thiệp sớm và giảm đau đớn cho con người cũng như chi phí kinh tế lớn do bệnh tâm thần mãn tính lâu dài gây ra”, các nhà nghiên cứu cho biết.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không tập trung vào chứng minh mối liên hệ nhân quả giữa ô nhiễm không khí và mức độ nghiêm trọng của bệnh tâm thần bởi nó đòi hỏi những thí nghiệm khác. Nhưng họ cho biết mối liên hệ này là “hợp lý về mặt sinh học” vì các chất ô nhiễm không khí có đặc tính gây viêm mạnh và viêm, vốn được cho là một tác nhân gây các chứng rối loạn tâm thần và rối loạn hành vi.  Ngân hàng Thế giới đã ước tính, ô nhiễm không khí gây thiệt hại cho nền kinh tế toàn cầu 5.000 tỷ USD một năm, nhưng ước tính này chỉ bao gồm những thiệt hại gây ra cho những bệnh phổ biến như bệnh tim và phổi 2.  “Đánh giá chi phí hiện mới chỉ là một nhân tố trong sức khỏe thể chất, nhưng chúng tôi đang thấy ngày càng nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên hệ [của ô nhiễm không khí] với sức khỏe tâm thần”, Newbury nói. “Chúng tôi nghĩ rằng quan trọng là phải bao gồm tất cả những điều trên, bởi vì nó có thể làm thay đổi quy mô và giúp nhìn nhận rõ ràng hơn rằng đầu tư vào giảm ô nhiễm không khí sẽ đem lại hiệu quả về chi phí.”  Các nhà nghiên cứu ước tính, việc giảm phơi nhiễm bụi PM của người dân đô thị tại Anh từ một vài đơn vị đến mức giới hạn của WHO là 10μg/m³ cũng sẽ giảm khoảng 2% mức độ sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần và tiết kiệm hàng chục triệu bảng mỗi năm.  Giáo sư Kevin McConway ở Đại học Mở, người không tham gia nhóm nghiên cứu, cho biết: “Đây là một nghiên cứu tốt. Phân tích thống kê nói chung là phù hợp [và] làm tăng độ đáng tin cậy rằng có ít nhất một số yếu tố nhân quả trong mối liên hệ giữa ô nhiễm và sức khỏe tâm thần”.  “Nhưng việc tránh ô nhiễm không phải là điều dễ dàng. Để giảm ô nhiễm không khí ở các thành phố, cần có hành động chung trên quy mô rộng”, ông nói thêm.  Một nghiên cứu mới khác đã chỉ ra rằng các cơn đau tim tăng lên khi mức độ ô nhiễm không khí tăng lên. Nghiên cứu này đã kiểm tra dữ liệu từ miền nam Lombardy (nước Ý), khu vực có khoảng 1,5 triệu dân. Francesca Gentile, thuộc Quỹ IRCCS Policlinico San Matteo ở Pavia, cho biết: “Kết quả có thể được sử dụng để dự đoán tỷ lệ mắc loại bệnh đe dọa đến tính mạng này [và] cải thiện hiệu quả của dịch vụ y tế bằng cách đưa vào các mô hình dự báo xe cứu thương và hệ thống cảnh báo.”  Trang Linh tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2021/aug/27/air-pollution-linked-to-more-severe-mental-illness-study  https://www.forbes.com/sites/roberthart/2021/08/27/increased-air-pollution-boosts-chances-of-severe-mental-illness-study-finds/?sh=2e3771e4daed  ———————————  1. https://www.cambridge.org/core/journals/the-british-journal-of-psychiatry/article/association-between-air-pollution-exposure-and-mental-health-service-use-among-individuals-with-first-presentations-of-psychotic-and-mood-disorders-retrospective-cohort-study/010F283B9107A5F04C51F90B5D5F96D6  2. https://www.theguardian.com/environment/2018/nov/05/air-pollution-everything-you-should-know-about-a-public-health-emergency    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí: Nguy cơ lớn nhất đối với sức khoẻ con người ở châu Âu      Việc làm sạch không khí ở châu Âu vẫn diễn ra chậm chạp, thậm chí tại nhiều vùng, ô nhiễm không khí vẫn cao hơn mức cho phép.    Ô nhiễm không khí ở châu Âu vẫn ở mức quá cao, được thể hiện trong bản báo cáo về chất lượng không khí năm 2018 của Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA). Theo cơ quan này thì ô nhiễm không khí là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở 41 quốc gia châu Âu. Nhận định trên lấy cơ sở dữ liệu từ 2500 trạm quan trắc trên toàn châu Âu. Mức ô nhiễm ở nhiều nơi vẫn vượt ngưỡng giới hạn cho phép của EU cũng như của Tổ chức sức khoẻ thế giới WHO.  Theo tính toán của các nhà nghiên cứu tiến hành trong năm 2015, trong số 442.000 ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí thì có tới 391.000 ca thuộc về 28 nước thành viên EU. Nguyên nhân là do bụi mịn, ozon gần mặt đất và Nitơ dioxit (NO2). Chúng là nguyên nhân gây nên hoặc làm các bệnh về hô hấp, tim mạch hay ung thư nghiêm trọng hơn và từ đó dẫn đến tử vong, theo EEA.  Theo bản báo cáo, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là giao thông đường bộ, các nhà máy điện, ngành nông nghiệp, công nghiệp và các hộ gia đình.  Theo giám đốc của EEA, Hans Bruyninckx, “Thường thì khí thải trong giao thông đường bộ nghiêm trọng hơn so với các nguồn gây ô nhiễm khác”. Chúng được thải ra ở sát mặt đất, thường trong phạm vi các khu vực đông dân cư và do đó dễ thâm nhập vào con người. Tuy nhiên không chỉ con người bị tổn hại, ô nhiễm không khí còn làm tổn thương hệ sinh thái, đất đai, rừng núi, ao hồ và sông ngòi.  Theo một công trình nghiên cứu trước đây của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ô nhiễm không khí là nguyên nhân dẫn đến 7 triệu người tử vong mỗi năm, trong số đó có 600.000 là trẻ em dưới 15 tuổi. Nạn nhân phần lớn là người nghèo. “Ô nhiễm không khí là một cuộc khủng hoảng toàn cầu về sức khoẻ“, Tổ chức Y tế Thế giới WHO cảnh báo dựa trên số liệu năm 2016.   Bình quân trên thế giới khoảng 93% trẻ em hít thở không khí có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển, trong đó ở các nước giàu tỷ lệ này là 52%, còn các nước còn lại là 98%.   WHO phân biệt giữa ô nhiễm không khí ngoài trời và ô nhiễm không khí trong nhà. Việc đốt nhiên liệu hoá thạch và các chất thải công nghiệp, khí thải giao thông, nạn cháy rừng và phun trào núi lửa làm ô nhiễm không khí ngoài trời. Ở trong nhà, khói dầu hoả, than, các chất thải sinh học hay gỗ, củi để sưởi ấm hoặc để tạo ánh sáng gây ảnh hưởng đến hô hấp. Điều này đặc biệt bất lợi đối với trẻ em, nhất là khi các em còn quá nhỏ hầu như cả ngày phải ngồi trong nhà.  Hoài Nam dịch (Nguồn DPA)    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí và tiếng ồn làm gia tăng bệnh huyết áp      Những người thường xuyên phải tiếp xúc với không khí ô nhiễm và tiếng ồn trong thời gian dài sẽ gặp các vấn đề về huyết áp. Theo nghiên cứu trên diện rộng nhất từ trước tới nay về vấn đề này, khảo sát tới 41.000 người ở năm quốc gia khác nhau trong thời gian từ 5 đến 9 năm.      Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Tim mạch châu Âu (European Heart Journal), cho thấy, những người sống trong các khu vực ô nhiễm nhất của các thành phố thì tăng nặng bệnh về huyết áp so với những người sống ở khu vực ít bị ô nhiễm hơn. Nguy cơ này tương đương với nguy cơ tăng nặng bệnh huyết áp ở những người có chỉ số khối cơ thể (Body mass index – BMI, chỉ số này đánh giá mức độ cơ thể gầy hay béo) ở trong khoảng 25 – 30 so với những người có cân nặng bình thường và có chỉ số BMI ở khoảng 18.5 – 25. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét đồng thời tác động của không khí ô nhiễm và tiếng ồn giao thông đến sự gia tăng của các bệnh về huyết áp.  Tổng cộng có 41.072 người sống ở Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Đức và Tây Ban Nha tình nguyện tham gia nghiên cứu này. Các nhà khoa học thu thập thông tin về huyết áp của những người tham gia khảo sát tại thời điểm bắt đầu tiến hành nghiên cứu và trong suốt các năm sau đó. Tất cả họ đều không bị bệnh về huyết áp khi bắt đầu tham gia nghiên cứu, nhưng trong thời gian theo dõi nghiên cứu thì có 6.207 người (15%) bị mắc chứng huyết áp cao hoặc huyết áp thấp.  Vào giữa các năm 2008 và 2011, các nhà nghiên cứu đo mức độ ô nhiễm trong 3 giai đoạn riêng biệt, mỗi giai đoạn kéo dài 2 tuần. Họ thu thập thông tin và phân loại về các hạt bụi ô nhiễm thành các mức: PM 10 (những hạt bụi có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 10 micron), PM2.5 (nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 micron), PM từ 2.5 đến 10 micron. Các đo lường này được thực hiện ở 20 điểm khác nhau ở mỗi khu vực nghiên cứu, và người ta cũng đo nồng độ của Nitơ dioxide ở 40 điểm khác nhau trong mỗi khu vực. Mật độ giao thông và tiếng ồn giao thông được đo lường ở xung quanh nhà của những người tham gia nghiên cứu, chỉ thị về môi trường của EU được lấy làm căn cứ chuẩn để đo lường tiếng ồn giao thông. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, cứ 5 microgram bụi PM 2.5 trên mỗi mét khối không khí sẽ làm tăng thêm nguy cơ về bệnh huyết áp lên 22% (so sánh với những người sống ở khu vực ít bị ô nhiễm). Họ cũng nhận thấy việc tiếp xúc với tiếng ồn kinh niên tạo ra nguy cơ bệnh tật rất lớn. Có khoảng 6% những người tham gia nghiên cứu mà sống trong các đường phố ồn ào (nơi có mức độ tiếng ồn ban đêm trung bình là 50 decibel) bị tăng các bệnh về huyết áp so với những người sống ở nơi có tiếng ồn vào ban đêm ở mức trung bình dưới 40 decibel.  Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn có thể ảnh hưởng lên các chức năng thông thường trong cơ thể con người theo cơ chế khác nhau. Bụi ô nhiễm trong không khí tác động lên chức năng của tim và mạch máu với các triệu chứng bao gồm viêm hệ thống và viêm cục bộ (local and systemic inflammation), stress oxy hóa (oxidative stress – tình trạng tích tụ của các phân tử gây hại trong cơ thể) và sự mất cân bằng chức năng của hệ thần kinh. Còn tiếng ồn ảnh hưởng đến hoạt động của cả hệ thống thần kinh và nội tiết tố.  Nghiên cứu này cũng cho thấy, khu vực Trung và Nam Âu như Đức, Tây Ban Nha có mức độ ô nhiễm không khí trung bình cao hơn khu vực các nước bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch. Trong khi đó, người dân ở Đan Mạch và Tây Ban Nha phải tiếp xúc với tiếng ồn giao thông cao nhất.  Bảo Như lược dịch  Nguồn https://www.sciencedaily.com/releases/2016/10/161025084744.htm    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Ô tô bay, tại sao chưa bay?      Từ lâu các hãng sản xuất ô tô đã nói đến ô tô bay để vượt qua mọi sự ùn tắc, kẹt xe. Tuy nhiên cho đến nay ước mơ này vẫn chưa thành hiện thực, mặc dù đã có nhiều công nghệ đáp ứng về cơ bản yêu cầu này. Điều còn thiếu là những vấn đề hoàn toàn khác, không chỉ là công nghệ.      Model Aska dự kiến sẽ bán ra từ năm 2026, với giá 789.000 USD. Chắc chắn đây không phải là loại xe đại chúng.  Khoang lái của Cartivator khá tối giản. Hầu như không có thêm bất kỳ nút hoặc công tắc nào, và cũng không có thanh điều khiển. Bạn ngồi vào ghế chỉ thấy một màn hình lớn trước mặt. Dữ liệu chuyến bay hiển thị trên màn hình như tốc độ, đường bay, độ cao và tốc độ của bốn cánh quạt nhỏ chạy bằng điện.  Cartivator có càng trượt trông giống như một chiếc máy bay không người lái quá khổ. Có chỗ cho hai người, một ngồi đàng trước, một ở phía sau. Nói chung hơi chật chội, nhưng không có gì thừa. Keisuke Yasukochi của hãng sản xuất Skydrive của Nhật Bản cho biết, đây là ô tô bay tương lai.  Yasukochi nói “xe của chúng tôi sẽ giúp giải quyết nạn ùn tắc ở các đô thị”. Ông cho biết, Cartivator sẽ xuất xưởng năm 2025, ban đầu sẽ được sử dụng ở Nhật để làm taxi bay, sau đó sẽ tới các nước khác. Xe hoạt động tự động. Tuần này mọi người có thể tham quan mẫu Cartivator tại Hội chợ xe ô tô CES Las Vegas, hội chợ công nghệ lớn nhất thế giới.   Tuy nhiên con đường từ đây đến lúc đó còn dài. Bởi, tại các hội chợ lớn trên thế giới các mẫu ô tô bay đã được giới thiệu từ lâu. Tuy nhiên xe bay vẫn còn là mơ ước xa vời của con người.   Maca, một doanh nghiệp của Pháp giới thiệu tại CES trong năm nay mẫu xe S Eleven, một dạng xe công thức 1 để bay. Startup Aska của Mỹ trình diễn một thiết bị bay có 4 chỗ ngồi, có ngoại hình như một quả trứng khổng lồ, trong suốt bằng thủy tinh. Không vật trưng bày nào tại đây đã từng bay. Cartivator năm ngoái đã nâng mình tại một vùng núi ở Nhật bản lên độ cao 3 mét và ở trạng thái đó được 5 phút.   Startups Lilium và Volocopter của Đức thì có phần tiến xa hơn, đã bay được  một đoạn dài trong các cuộc thử nghiệm. Hiện tại trên thế giới có khoảng 100 doanh nghiệp đang thử nghiệm ô tô bay trong đó có các ông lớn như Airbus, Boeing, Hyundai và Honda. Các nhà phân tích coi đây là một thị trường lớn, theo Ngân hàng Hoa Kỳ Morgan Stanley, đến năm 2030 doanh thu sẽ lên tới 320 tỷ đôla.  Nhưng “Mọi sự tiến triển chậm hơn mong muốn”,  Yasukochi phụ trách phát triển kinh doanh của Skydrive nhận xét. Vậy thực chất vấn đề nằm ở đâu? Tại sao cho đến nay trên thị trường vẫn chưa có bán ô tô bay?  Một lý do, theo  Yasukochi là vấn đề quản lý nhà nước – “Loại phương tiện này của chúng tôi là loại nửa ô tô, nửa thiết bị bay, không nằm trong sự quản lý của cơ quan nào”. Trên thế giới cũng chưa nơi nào có quy định về cấp phép lưu hành cho loại phương tiện này, trừ trường hợp hãn hữu là cho phép bay thử.     Mô hình S Eleven do hãng Maca của Pháp phát triển.  Nhưng không dừng lại ở vấn đề quản lý, Yasukochi cho biết thách thức lớn hơn nằm ở hạ tầng cơ sở. Các thành phố phải có một mạng lưới dày đặc các bãi cất cánh và hạ cánh, chỉ có như thế ước mơ này mới có thể trở thành hiện thực. “Điều này đòi hỏi một khoản đầu tư công khổng lồ và có quyết tâm chính trị rất cao”, theo Yasukochi.  Theo chuyên gia người Nhật thì phải mất ít nhất 15 năm nữa taxi bay mới chính thức hoạt động rộng rãi. Và phải mất chừng 30 năm nữa thì mới có ô tô bay đỗ ở trước cửa các hộ gia đình.  Thierry de Boisvilliers thì có phần lạc quan hơn, ông này cho rằng phải mất 5 năm nữa thì sẽ có taxi bay hoạt động đón trả khách ở các đô thị. Ông là nhà sáng lập hãng Maca. Thiết bị bay của hãng này có tốc độ 250 km/giờ.   Công nghệ đã có, thiếu hạ tầng cơ sở công cộng  Theo Boisvilliers, ô tô bay dành cho mọi người khó có thể trở thành hiện thực trong tương lai gần. Ông nói: “Chúng ta  còn một chặng đường dài đến khi đó. Công nghệ phần lớn đã có sẵn, cái không có là  cơ sở hạ tầng công cộng. Tình trạng pháp lý cũng hoàn toàn không rõ ràng. Nó bắt đầu với những câu hỏi rất đơn giản. Ví dụ, bằng lái xe là gì, bằng lái ô tô hay giấy phép lái máy bay?”  Guy Kaplinsky lại nghĩ khác. Tại CES, ông giới thiệu một mô hình kích thước đầy đủ của Aska – quả trứng thủy tinh. Aska đơn giản hơn so với xe của Nhật Bản. Bất cứ ai ngồi trong buồng lái cũng sẽ tìm thấy cả hai: cần điều khiển để bay và vô lăng để chạy xe trên đường. Theo Kaplinsky “Những loại xe như thế này không còn là chuyện viển vông xa với mà không lâu nữa chúng  sẽ xuất hiện trên đường phố của chúng ta”. Loại xe Aska dự định đến 2026 sẽ có bán trên thị trường. Chắc chắn Cơ quan quản lý hàng không Hoa Kỳ FAA sẽ không ngày một ngày hai cấp phép lưu hành đơn giản  cho thiết bị bay này. Chủ nhân của Aska chỉ có thể cất cánh từ một sân bay. Cũng có thể xin cấp phép làm bãi hạ cánh trực thăng tại vườn nhà mình. Vả lại Aska không hề rẻ, dự kiến giá lên đến 789.000 đôla. Nguyên điều này đã cho thấy ô tô bay chưa phải là xe đại chúng.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/webwelt/plus236068130/Fliegende-Autos-Warum-die-Erfuellung-dieses-Traums-so-schwierig-ist.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô tô điện mini i-Road, giải pháp cho giao thông đô thị      Xe mini Toyota iroad đã bắt đầu được chạy thử nghiệm tại thành phố Grenoble, Pháp. Loại xe ba bánh nhỏ bé chạy điện này có nhiệm vụ làm giảm áp lực đối với giao thông nội đô nhờ vào ưu điểm nổi bật là hết sức nhỏ gọn, linh hoạt.      Loại xe ba bánh có mái che này chỉ chiếm phân nửa diện tích trên bãi đỗ xe so với các loại ô tô chạy điện và hãng Toyota coi đây là mẫu xe tối ưu cho giao thông nội đô. Xe có trọng lượng 300 kg, có hai động cơ điện, có thể đạt vận tốc 60 km/h, và có bình ắc quy đủ để xe có thể chạy xa khoảng 50 km.  Xe đã được thử nghiệm tại hãng Toyota ở Nhật bản và hiện tại đang thử nghiệm tại Grenoble ở Pháp bởi vì thành phố này có nhiều ngõ nhỏ, đường phố chật hẹp, phù hợp với loại xe ba bánh tí hon này. Với chiều dài 2,40 m, rộng 87 cm, xe này có thể di chuyển dễ dàng trong những con phố nhỏ, chật hẹp. Xe có mái che, đây là một ưu thế thân thiện với người dùng so với xe máy. Hơn nữa khách hàng có thể tham gia tạo kiểu dáng mà mìch thích thú thông qua áp dụng công nghệ in 3D.  Một số hãng sản xuất ô tô của Đức cũng đang cho thử nghiệm loại xe mini tương tự, như hãng Opel trình làng xe Ampera-e, VW thử nghiệm e-Golf và Mercedes có tham vọng chiếm lĩnh thị trường xe mini với Generation EQ.  Trước mắt, xe iroad của Toyota thử nghiệm và được rất nhiều người chào đón. Có tới hơn 1.000 người đã đăng ký thử nghiệm trong chương trình chia sẻ xe (Car-sharing) mà Toyota đã cùng với các đối tác khác khởi xướng. Nhu cầu sử dụng loại xe này tăng cao vào giờ cao điểm buổi sáng và buổi chiều trong những ngày làm việc. Vào giờ nghỉ trưa số người sử dụng loại xe chạy điện này cũng tăng lên. Thường họ đi bình quân 5 km, do đó các xe iroad có tầm đi xa từ 35 đến 50 km trong một lần sạc điện hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. 75 % khách hàng sử dụng xe chạy điện cho các chuyến đi thông thường và thời gian thuê xe bình quân đạt 45 phút. Địa điểm nạp điện và lấy xe thích hợp nhất là ở khu vực gần nhà ga đây là thêm một minh chứng nữa về việc cần gắn kết các phương tiện giao thông cá nhân với phương tiện giao thông công cộng.  Hiện tại Toyota cùng với các doanh nghiệp triển khai dự án mang tên “Open Road Project” để đánh giá tiềm năng của chiếc xe chạy điện siêu nhỏ i-Road trong hoạt động hàng ngày của nó. “Chúng tôi muốn nắm bắt được xe được nhu cầu sử dụng hàng ngày để từ đó tìm ra các dịch vụ thích hợp và cùng với các đối tác của dự án đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”, Dirk Breuer, chuyên gia tư vấn kỹ thuật ở Toyota Đức cho biết.  Tuy vậy, thử nghiệm này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Xe i-Road hiện nay chỉ là xe dành cho  Car-Sharing. Hơn nữa, tại Grenoble khách hàng phải có tài khoản ngân hàng mới có thể thuê xe. Điều này gây khó dễ cho khách du lịch trong việc thuê loại xe chạy điện này. Ngoài ra người ta vẫn đang tranh cãi về chỗ đỗ xe cho iroad. Đến nay, các xe iroad chạy vào ngõ nhỏ và đậu luôn ở đó vẫn thường gây ra các cuộc đụng độ, cãi vã. Thậm chí khoảng một nửa số xe bị đập phá không thể chạy tiếp được. Một khó khăn thực sự nữa là phải hướng dẫn người mới dùng loại xe này khoảng 60 phút để làm quen.  Xuân Hoài lược dịch theo “Tuần kinh tế”.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Ô tô robot sẽ đưa xe buýt và tầu điện vào viện bảo tàng?      Xu hướng về các loại xe tự lái không chỉ đem lại thách thức lớn cho ngành sản xuất ô tô mà còn có thể làm xáo trộn cả lĩnh vực giao thông công cộng.      Một mẫu xe bus cho tương lai của Mercedes-Benz  Vài năm trước, khi lái xe trên đường cao tốc tới New York, John Zimmer, lúc đó là sinh viên trường đại học Cornell, đã phát hiện một điều khá lạ lùng: nhiều chiếc ô tô chỉ có duy nhất một người, các chỗ còn lại trên xe đều bỏ trống. Zimmer nảy ra ý tưởng kinh doanh về dịch vụ đi chung xe và năm 2007 thành lập một startup mang tên Zimride cung cấp dịch vụ trực tuyến cho phép tài xế có thể bán chỗ ngồi còn trống trong xe của mình cho người có nhu cầu.  Chín năm sau, Zimride đã được đổi thành Lyft và trở thành một trong những start-ups có nguồn tài chính lớn nhất thế giới với số vốn lên tới 2 tỷ đôla. Zimmer còn có những ý tưởng táo bạo hơn về những phương án giao thông trong tương lai, thậm chí có thể tạo ra “một cuộc cách mạng”.  Cùng với General Motors, tập đoàn đã đầu tư 500 triệu đôla vào Lyft, Zimmer dự định ngay trong năm 2017 sẽ tung ra thị trường loại tắc xi tự lái. Trước mắt, loại tắc xi này mới chỉ chạy chậm trên những tuyến đường cố định và sẽ ngừng lái nếu gặp thời tiết xấu nhưng sau một vài năm tới nó sẽ xuất hiện trên các tuyến đường khác. Đến năm 2021, Lyft sẽ thực hiện đa số các chuyến đi bằng ô tô tự lái. “Với xu hướng này thì đến năm 2025, việc sở hữu ô tô sẽ không còn phổ biến”, Zimmer dự báo.  Một dự án thí điểm ở Helsinki giới thiệu về xe buýt tự lái, đi lại an toàn trên tuyến đường giao thông.  Đại diện tạp chí  Tuần kinh tế ( WirtschaftsWoche) có mặt trên xe buýt tự lái này.  Kế hoạch của Zimmer nghe có vẻ rất táo bạo nhưng anh vẫn không phải là người duy nhất đi tiên phong. Rất nhiều đối thủ cạnh tranh với Lyft trong lĩnh vực này như Uber, Google và nhiều tập đoàn ô tô khác cũng có những kế hoạch tương tự, các nhà nghiên cứu trên thế giới về giao thông công cộng cũng đưa ra nhận định là các kế hoạch này đều không huyễn hoặc.  Vì vậy những gì mà các doanh nghiệp giao thông đường bộ, đường sắt vv… đã làm được thì tới đây Lyft và các tập đoàn lớn sẽ còn làm được tốt hơn. Và nếu điều đó xảy ra như lời dự báo của các chuyên gia thì liệu nay mai các loại tầu hỏa cao tốc như ICE và TGV hay các loại tầu điện và tầu điện ngầm có hết thời và phải rút lui vào viện bảo tàng?  Những tín hiệu báo trước về một cuộc cách mạng trong giao thông đã xuất hiện từ lâu:  Google, Lyft, Daimler và hàng chục doanh nghiệp khác đã thử nghiệm các loại xe ô tô robot của mình trên các nẻo đường: start-up Nutonomy đã đưa xe ô tô tự lái hoạt động tại Singapore, Uber đưa hành khách di chuyển bằng ô tô tự lái tại Pittsburgh (Mỹ), tương tự ở Helsinki (Phần Lan), Sitten (Thụy Sỹ), Gelderland (Hà Lan), xe buýt tự lái cỡ nhỏ đã được đưa vào hoạt động. Local Motors, một start-up ở Berlin, dự định lắp ráp xe buýt robot và đưa vào vận hành hàng loạt loại xe này.  Theo một nghiên cứu của Diễn đàn giao thông thế giới (International Transport Forum), một tổ chức thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển châu Âu OECD, bước ngoặt về giao thông này tuy diễn ra một cách lặng lẽ nhưng lại có khả năng cải thiện đáng kể chất lượng sống của cư dân đô thị.  Với robot tắcxi, người ta không chỉ tới đích nhanh hơn khi không mất thời gian chờ đợi mà còn giảm chi phí vì giá chỉ bằng một nửa giá vé hiện hành. 95% các bãi đỗ xe sẽ được dùng để xây dựng nhà cửa, nhà hàng và công viên. Ùn tắc giao thông cũng sẽ trở thành câu chuyện quá khứ.  Các kịch bản về giao thông tương lai nghe có vẻ rất hấp dẫn, vì vậy các nhà khoa học cũng như các nhà tư vấn đã tính toán là trong tương lai, các thành phố sẽ phải chuẩn bị như thế nào để theo kịp trào lưu. Các chuyên gia của Diễn đàn giao thông thế giới đã mô phỏng trên máy tính một chuyến đi lại trong ngày thường ở Lisbon dựa trên thời gian lưu thông và phép tính xác xuất để xem người ta chọn lựa phương tiện giao thông nào.  Kết quả là người ta không còn chọn xe buýt, ngay cả tầu điện cũng vậy, thay vào đó là các xe công cộng cỡ nhỏ 12 chỗ, loại xe này sẽ tự xác định tuyến đi dựa trên đích đến của hành khách. Và vì vậy trong tương lai sự nhập cuộc của xe buýt “theo yêu cầu” này cũng góp phần tạo ra cuộc chạy đua đầy hấp dẫn và căng thẳng giữa các tập đoàn ô tô và các start-up công nghệ. Với đà này, ngành đường sắt sẽ mất khoảng 40% lượng hành khách, theo phán đoán của các chuyên gia, đơn giản vì các chuyến ô tô rô bốt con thoi này di chuyển nhanh hơn và thậm chí giá vé ngoài giờ cao điểm còn rẻ hơn. Và hành khách có thể đặt chỗ qua điện thoại di động.  Theo các tính toán này thì phần lớn ô tô, xe máy tư nhân cũng như xe tắc xi như hiện nay sẽ biến mất vì bị thay thế bởi các ô tô rô bốt. Xe bus đường trường cỡ lớn 50 chỗ cũng sẽ không còn tồn tại mà thay vào đó là xe minibus tự lái.  Theo  Nikolaus Lang, chuyên gia về giao thông của BCG thì xe minibus tự lái “sẽ đảm đương phần lớn giao thông công cộng”, ngay cả các nhà tài trợ về đầu tư mạo hiểm cũng tin tưởng như vậy: start-up Navya của Pháp vừa nhận được khoản đầu tư 34 triệu Euro cho một dự án có nội dung tương tự.   Xe buýt robot sẽ xuất hiện ở mọi nơi. Với khả năng tự tính toán về tuyến đi từ  điểm xuất phát và đích đến của mỗi hành khách, nó có thể làm biến mất các trạm dừng xe bus và cả các tuyến xe bus cố định. Ngay cả các tập đoàn ô tô như Volvo, Ford hay BMW cũng đã đánh tiếng đến năm 2021 sẽ tung ra thị trường những chiếc xe bus mini tự lái. Và rất có thể chỉ vài năm sau cái mốc này sẽ xuất hiện các đội xe bus tự lái ở mọi ngóc ngách của các thành phố.  Thời gian cho giai đoạn chuyển đổi này không còn nhiều. Hiện chưa có doanh nghiệp giao thông nào ở Đức ngỏ ý sẽ tiến hành những dự án thí điểm đầu tiên đối với ô tô bus tự lái. Ngược lại, München vừa đầu tư 11 triệu Euro cho giao thông bằng xe bus thông thường, Duisburg chi 134 triệu Euro để mua tầu điện mới còn ở Berlin, các chuyên gia đề nghị xây dựng thêm 100 km đường tầu điện mới, chi khoảng 2 tỷ Euro từ nay đến năm 2050. Có thể thấy các thành phố Đức đang đầu tư cho những thập niên tới bằng công nghệ của quá khứ.  Với những startup luôn tìm cách vươn lên như Lyft thì có thể các thành phố Đức sẽ là những con mồi rất ngon lành.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/auto/roboterautos-das-ende-von-linienbus-und-strassenbahn-/14648184.html       Author                Hoài Trang        
__label__tiasang Obama và Clinton: vận hội mới, thế cờ mới      Chỉ trong vòng hai tháng đầu năm 2008, cuộc chạy đua vào Nhà Trắng ở Mỹ đã thay đổi hẳn: thay vì bầu một tổng thống mới như nước Mỹ đã từng làm mỗi bốn năm, kể từ ngày lập quốc năm 1776, cuộc tranh cử năm nay, 2008, sẽ là một cuộc cách mạng dân chủ và bất bạo động. Hậu qủa của cách mạng 2008 sẽ chuyển hướng không những về chính trị, quân sự và ngoại giao của nước Mỹ, mà còn thay đổi cả văn hóa và xã hội Mỹ trong suốt thế kỷ mới này.  Có nhiều lý do và hoàn cảnh lịch sử đã đưa tới biến cố đặc biệt này, cũng như có nhiều điều kiện cá nhân đang ảnh hưởng đến tư duy và lá phiếu của dân chúng Mỹ năm nay.    Từ trắng sang đen, từ nam tới nữ  Năm nay, gần như chắc chắn là dân Mỹ sẽ bầu một tổng thống hoặc là phụ nữ hoặc là da đen. Ðó sẽ là một biến cố lịch sử của dân Mỹ, vì khi lập quốc năm 1776, cả hai số người này đều bị loại ra ngoài vòng sinh hoạt chính trị: người da đen không có quyền công dân, và phụ nữ không được quyền đi bầu.  Mãi đến gần 100 năm sau, 1863, và sau một cuộc nội chiến tương tàn, người da đen mới được “phóng thích” ra khỏi vòng nô lệ; và mãi đến năm 1920 phụ nữ ở Mỹ mới được quyền bầu cử. Bánh xe lịch sử thường thường lăn rất chậm, và dù cho hai nhóm người này – nếu cộng lại sẽ là đa số dân Mỹ – có lá phiếu trong tay, ảnh hưởng của họ trong chính trường Mỹ vẫn chưa đi tới đâu.  Phải đợi đến sau thế chiến thứ hai, người da đen mới tổ chức hữu hiệu “Phong trào dòi dân quyền”, kéo dài gần 20 năm nữa, và họ mới đạt được bình đẳng thật sự về pháp lý. Sau Đạo luật dân quyền (The Civil Rights Act) năm 1964, tất cả mọi hành động có tính cách kỳ thị về mầu da đều bị coi là vi phạm luật pháp và bị trừng phạt.  Phụ nữ Mỹ cũng nhận ra là họ có một vũ khí mới trong cuộc tranh đấu đòi bình quyền: tranh đấu ôn hòa, bất bạo động, nhưng rất công khai và có tổ chức, như người da đen đã làm. Năm 1966, họ thành lập Tổ chức toàn quốc cho phụ nữ (National Organization for Women – NOW), và từ đó phụ nữ Mỹ đã phát triển rất nhanh về mọi mặt.  Bốn mươi năm sau, hàng chục ngàn phụ nữ cũng như người da đen đã được bầu vào các chức vụ dân cử. Tháng 11 năm 2006, bà Nancy Pelosi, dân biểu San Francisco, đắc cử chức Chủ tịch Hạ viện, chiếc ghế thứ ba trong chính quyền Mỹ, chỉ sau có Tổng thống và Phó tổng thống. Ðủ thấy là phụ nữ Mỹ đã thành công như thế nào về chính trị trong vòng 40 năm vừa qua.  Trong những thập niên trước, cũng đã có nhiều phụ nữ và người da đen ra tranh cử chức vụ tổng thống, nhưng chưa có ai có khả năng thành công thật sự, và các cuộc tranh cử đó có tính cách tượng trưng nhiều hơn là thực lực. Họ tranh cử để nói lên nguyện vọng của cộng đồng họ, hơn là để quy tụ đa số cử tri để thắng lợi.  Nhưng năm nay, hai ứng cử viên còn lại của đảng Dân Chủ, hai thượng nghị sĩ (TNS) Hillary Clinton và Barack Obama, đã chứng tỏ được là họ có đủ khả năng tranh cử tới cùng, cả hai đều có một hậu thuẫn rất lớn, về tiền bạc cũng như về lá phiếu, và ở vào cuối tháng hai này, hai người vẫn còn là “bên tám lạng, bên nửa cân.”  Thêm vào đó, sau 7 năm của Tổng thống Bush (đảng Cộng hòa), và nhất là với nền kinh tế đang suy thoái và hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq đang sa lầy trầm trọng mà không có lối thoát, dân chúng Mỹ đã chán ngán đảng Cộng hòa lắm rồi. Ứng cử viên đảng Cộng hòa năm nay sẽ là TNS John McCain, 71 tuổi và đã từng ngồi tù ở “Hanoi Hilton” hơn 5 năm, được coi như một con vật tế thần.    Một hậu qủa bên cạnh: mở cửa cho người da mầu  Ngoài ảnh hưởng quan trọng tới “Phong trào giải phóng phụ nữ” ở Mỹ, Phong trào đòi dân quyền của người da đen còn có một ảnh hưởng khác trong xã hội Mỹ, cũng quan trọng không kém. Ðó là việc nước Mỹ mở cửa đón nhận di dân từ những nước da mầu.  Trước năm 1965, con số người di dân được nhận vào Mỹ hầu hết là từ châu Âu; các dân tộc châu Á, châu Phi hoặc châu Mỹ La tinh đều bị loại. Hồi năm 1882, Quốc hội Mỹ còn ra một đạo luật cấm hẳn, không cho người Trung Quốc (hiểu là cả châu Á ) nhập cư vào Mỹ.  Phải sau thế chiến thứ hai, khi quân đội của Tưởng Giới Thạch (Tầu quốc gia) là đồng minh của Mỹ, và nhất là trong cuộc tranh đấu đòi bình quyền của người da đen, các chính sách kỳ thị chủng tộc của Mỹ mới được “đem ra ánh sáng”, mổ xẻ, và từ đó, Ðạo luật Di Dân năm 1965 (Immigration Act) được chấp thuận.                  Ðạo luật năm 1965 thật sự mở cửa nước Mỹ cho người di dân từ khắp nơi trên thế giới; và trong vòng 40 năm qua, nước Mỹ đã chuyển mình nhanh, từ một quốc gia hầu hết là da trắng (khoảng 88%) trở thành một nước thật sự đa chủng tộc. Người da mầu (tiếng gọi chung cho những người gốc từ các châu Á, Phi hoặc Mỹ La tinh) đã tăng trưởng từ khoảng 12% hồi năm 1965 (đa số là người da đen) nay đã lên tới khoảng 36% dân số Mỹ. Nghĩa là tăng trưởng gấp ba lần trong vòng 40 năm.  Ở những bang lớn như California và Texas, người da trắng hiện nay đã trở thành thiểu số (dưới 50% dân số tiểu bang), và Sở Thống kê dân số (Census Bureau) thuộc Bộ Thương mại của chính phủ liên bang đã ứơc tính là khoảng năm 2050, cả nứơc Mỹ sẽ thành một quốc gia đa số là ngừơi da mầu. Cứ đà này, khi ngừơi Mỹ kỷ niệm 300 năm ngày lập quốc, nứơc Mỹ sẽ là một nứơc hòan tòan đa chủng tộc, và ngừơi da mầu sẽ chiếm đa số.  Trong bối cảnh lịch sử này, khi phụ nữ Mỹ đã gần đạt được bình quyền và khi người da mầu không còn bị kỳ thị như trong hai thế kỷ đầu, chức vụ tổng thống cũng phải chuyển đổi. Nứơc Mỹ đã có 43 ông tổng thống, tất cả đều là người da trắng. Vị tổng thống thứ 44 liệu còn là một đàn ông da trắng?  Thay đổi cục diện được không?  Hai tháng đầu năm nay đã thay đổi thế cờ của hai TNS Clinton và Obama.  Bà Hillary Rodham Clinton, năm nay 61 tuổi, tốt nghiệp luật sư, nhưng đã theo chồng để giúp cho sự nghiệp ông chồng, cựư tổng thống Bill Clinton. Ðã hai lần làm đệ nhất phu nhân: khi Bill làm thống đốc tiểu bang Arkansas, và khi ông làm tổng thống từ tháng giêng 1993 tới tháng giêng 2001.  Trước khi rời Nhà Trắng, vào mùa thu năm 2000, bà Clinton đã thắng cử vào chức thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang New York; và đã được dân chúng New York bầu bà vào nhiệm kỳ thứ hai, năm 2006.  Bà Clinton ra tranh cử sớm, từ trước năm 2007 đã tích cực vận động các thân hữu cũng như các mạnh thường quân đã từng ủng hộ cho hai vợ chồng bà. Chiến thuật của bà Clinton được coi là “đánh nhanh, thắng nhanh” hoặc là “đánh phủ đầu” những ai muốn cạnh tranh với bà trong Ðảng Dân chủ. Chiến thuật rất đơn giản: thâu những người có uy tín trong đảng ủng hộ bà, và kết nạp những người có tiền trong đảng đóng góp sớm cho cuộc vận động của bà. Như vậy, các ứng cử viên khác trong Ðảng Dân chủ sẽ không thể nào gây quỹ đủ, cũng như không tìm được nhiều người ủng hộ.                  Ðảng Dân chủ, thấy rằng các chính sách của tổng thống Bush – từ chiến tranh cho tới kinh tế – đều thất bại và sẽ đưa đảng Cộng hòa của ông tới thảm bại vào tháng 11-2008, nên cũng muốn cổ vũ đoàn kết nội bộ càng sớm càng tốt để chắc thắng hơn. Phe Dân chủ thu xếp đưa một số các tiểu bang lớn chọn ứng cử viên của họ sớm hơn thường lệ, để dành thì giờ chuẩn bị cho mùa thu. Do đó, phe Dân chủ đã đưa 24 tiểu bang cùng chọn ứng cử viên vào ngày thứ ba, mùng 5 tháng 2, còn gọi là Super Tuesday. Ý của phe Dân chủ là Super Tuesday sẽ quyết định ai sẽ là ứng cử viên của đảng; và đa số đảng viên cũng đã nghĩ là bà Clinton sẽ thắng cử vẻ vang vào ngày 5-2.  Tháng giêng 2007, TNS Barack Hussein Obama, 46 tuổi, chính thức tuyên bố ra tranh cử chức tổng thống Mỹ. Ông này là người lai, nửa đen nửa trắng; bố là du học sinh từ Kenya và mẹ là người da trắng từ bang Kansas. Hai người gặp nhau khi cùng học t ại ÐH Hawaii. Ông Obama sinh trưởng ở Hawaii, sau đó bố mẹ li dị, và ông được gia đình bên ngoại nuôi cho ăn học. Ông lớn lên ở nhiều nơi, ở Kansas nơi ông bà ngoại sinh sống, một thời ở Indpnesia, và thời trung học ở Honolulu.  Khi vào tới ÐH, ông Obama mới có khái niệm hơn về nguồn gốc cũng như vai trò của mình trong xã hội. Ông theo học lúc đầu ở ÐH Occidental, bang California, sau đó chuyển sang ÐH Columbia ở New York City, rồi tiếp tục lên ÐH Luật ở Harvard. Trong thời gian này, ông được bầu làm chủ biên tờ đặc san có uy tín là Harvard Law Review; đây cũng là lần đầu tiên một người da đen vào được chức vụ này.  Sau trường luật, ông Obama không đi hành nghề luật mà đi làm về công tác xã hội, tổ chức cộng đồng người nghèo ở Chicago. Nơi đây, ông gặp cô Michelle Robinson, cũng là một luật sư tốt nghiệp từ Harvard, và hai người lấy nhau, hiện nay có hai cô con gái, 9 tuổi và 6 tuổi, và sinh sống tại Chicago.  Ông Obama bắt đầu sự nghiệp chính trị cũng từ Chicago, bang Illinois. Lần đầu tranh cử chức nghị viên tiểu bang bị thất bại, nhưng lần thứ hai ông đắc cử; rồi sau đó thắng cử lên thượng viện tiểu bang Illinois. Năm 2002, khi còn ở thượng viện Illinois, ông đã lên án mạnh mẽ chủ trương của TT Bush khi đem quân sang đánh Iraq. Ðây là một lập trường quan trọng, vì thời đó, rất ít chính trị gia nào có can đảm đứng lên chống lại tập đoàn Bush-Cheney-Rumsfelt khi nhóm này nhất quyết đem quân đánh Iraq. Tất cả các ứng cử viên tổng thống “có máu mặt” kỳ này đều đã ủng hộ Bush đánh Iraq. Kể cả bà Clinton và các TNS Edwards, Biden, bên phía Dân chủ, hoặc các ông Giuliani, Romney, McCain, Huckabee… TNS Edwards đã xin lỗi vì ông đã bỏ phiếu ủng hộ cuộc chiến Iraq; bà Clinton vẫn không chấp nhận là phải xin lỗi.  Trong suốt năm ngoái, 2007, giới truyền thông cũng như dân chúng Mỹ đều coi bà Clinton là ứng cử viên “dẫn đầu”, mặc dù ông Obama đã chứng minh là ông có thể gây qũy hơn bà Clinton. Nhưng vì chưa có một trận “đụng độ” nào do chính cử tri chọn lựa, nên cũng còn khó định gía giữa hai TNS này.  Phải đợi đến ngày 3 tháng giêng vừa rồi, khi cử tri ở bang Iowa (dân số: 3 triệu, 91% da trắng, 4% Mỹ Latinh, và chỉ có 2,5% da đen) đi họp từng đơn vị bầu cử một, và kết qủa đã thay đổi thế cờ năm nay.  Phía đảng Dân chủ, có tám ứng cử viên, và chỉ có ba người đạt được kết qủa đáng kể: TNS Obama về đầu với 38% số phiếu, trong khi cựu TNS John Edwards và bà Clinton về ngang nhau với 30% mỗi người. Năm người kia chia nhau số phiếu còn lại.  Ba ngày sau đó, TNS Clinton phản công, và thắng cuộc bầu sơ bộ ở bang New Hampshire (dân số: 1,3 triệu, với 97% da trắng) với 39% số phiếu, TNS Obama với 37% và ông Edwards thụt xuống còn 17%.  Sau hai lần “ra quân” trong tháng giêng, với kết qủa 1-1, ngày 5 tháng hai trở thành ngày quan trọng nhất trong mùa bầu cử sơ bộ năm nay: có 24 bang (trong tổng cộng 50 bang) tổ chức chọn ứng cử viên cho cả hai đảng. Ðây là trận chiến mà phe TNS Clinton đã dự trù sẽ là trận quyết định, vì họ đã có nhiều tiền và nhiều tổ chức tại chỗ ủng hộ, và bà sẽ thắng vẻ vang, vừa loại khỏi vòng chiến các đối thủ Dân chủ, vừa chứng minh là chỉ có bà mới đủ khả năng thắng cử trên tòan quốc.  Nhưng sau Iowa, TNS Obama đã chứng tỏ là một địch thủ không những gây được nhiều tiền hơn bà Clinton mà còn có tổ chức tinh vi hơn phe Clinton nữa. Bà Clinton vẫn dựa vào sự ủng hộ của phụ nữ (điều này dễ hiểu), của người gìa, của người tương đối nghèo, và của hai sắc dân da màu: đen và Latinh, do qúa trình làm việc của chồng bà khi còn làm tổng thống.  Ít ai nghĩ là TNS Obama có thể vượt qua được những lợi thế qúa lớn như trên của TNS Clinton; nhưng Obama đã dùng một chiến thuật khác hơn: ông tranh cử với một chương trình hành động kêu gọi trực tiếp những người từ xưa tới nay ít, hoặc không khi nào, tham gia vào chính trị. Nhất là giới trẻ, tương đương với thế hệ 8X bên nhà. Ngoài ra, ông Obama còn chủ trương nhìn về tương lai nhiều hơn là nhìn về qúa khứ; bỏ lối làm việc cũ, và chú trọng đến những giải pháp cho thế kỷ mới này. Vì thế, giới trẻ cũng như những người đã chán ngán lối làm việc bế tắc ở Washington qui tụ vào ông Obama như một làn gío mới. Họ không những đóng góp ngân qũi cho Obama mà còn tình nguyện giúp ông tranh cử cũng như đi bầu thật đông. Ðến cuối tháng hai, 2008, phe Obama đã được gần một triệu công dân Mỹ tự nguyện giúp tiền để ông tranh cử, với một con số khổng lồ: 138 triệu đôla. Phe bà Clinton thâu được 118 triệu.  Một thời điểm quyết định  Chiến thuật của Obama đã thành công: ngày Super Tuesday 5 th áng 2, ông thắng ở 13 tiểu bang, so với 8 của bà Clinton; tuy nhiên bà Clinton thắng ở những tiểu bang lớn (New York, New Jersey, Massachussets, và lớn nhất là California), nên số đại biểu của bà thâu được bữa đó cũng ngang ngửa với ông Obama (834 so với 847).  Trong tháng 2, TNS Obama vẫn “thừa thắng xông lên”, thắng luôn một loạt 10 tiểu bang khác, kể cả những nơi được coi là đất của bà Clinton, và ông cũng được thêm nhiều thành phần trước kia ủng hộ bà Clinton, bây giờ quay sang ủng hộ ông. Ðến ngày 20 tháng 2, ba nghiệp đoàn quan trọng ở Mỹ đã chính thức ủng hộ Obama: Công đoàn về thực phẩm và thương mại (United Food and Commercial Workers, với 1,3 triệu đoàn viên); Công Ðoàn Quốc Tế Nhân viên dịch vụ (Service Employees International Union, với 1,9 triệu đoàn viên; và Công Ðoàn Teamsters, với 1,4 triệu đoàn viên). Các công đoàn đóng vai quan trọng trong mùa bầu cử, vì họ vừa giúp tiền cho các ứng cử viên họ ủng hộ, và nhất là họ có đoàn viên tình nguyện đi cổ động cho người họ ủng hộ. Sự ủng hộ của các công đoàn cũng chứng minh thêm là Obama đã thuyết phục được những thành phần trước kia ủng hộ bà Clinton, nay đã chuyển sang phía ông.  Thứ ba tuần này, 4 tháng 3, hai tiểu bang lớn là Ohio và Texas, cùng với hai tiểu bang nhỏ hơn, sẽ chọn ứng cử viên cho cả hai đảng.          Người Mỹ sẽ chọn ai? – Nguồn Corbis          Vào khoảng nửa đêm thứ ba, người Mỹ có thể sẽ biết ai sẽ là ứng cử viên đảng Dân Chủ. Ông Obama chỉ cần thắng ở một trong hai bang lớn là sẽ giữ vững được thế thượng phong trong muà bầu cử này, và hầu như chắc chắn là sẽ được các thành viên còn lại trong đảng Dân Chủ bầu chọn. Ngược lại, bà Clinton sẽ phải thắng –và thắng lớn– ở cả hai bang Ohio và Texas thì mới có hy vọng qua mặt được Obama.  Chính chồng bà, ông Bill Clinton cũng đã tuyên bố cách đây vài hôm là vợ ông phải thắng cả hai tiểu bang lớn này thì mới có triển vọng tiếp tục.  Trong khi đó, các thăm dò ý kiến cho tới hôm nay cho thấy là TNS Clinton đã tụt hậu ở bang Texas, nơi bà có nhiều liên hệ từ lâu và vẫn dẫn đầu cho tới tháng hai này; và ở bang Ohio, nơi bà cũng đã dẫn đầu tới 20% hồi đầu năm, nay cũng đã nghiêng ngửa, và cũng có thể là bà sẽ thua.  Thêm vào đó, hôm nay phe bà Clinton thông báo là trong tháng hai, bà đã gây quỹ được 35 triệu USD; và phía ông Obama, theo như báo New York Times tường thuật, thì sẽ gây được khoảng 50 triệu, một kỷ lục gây qũy trong một tháng, và nhất là ông đã vượt qúa con số một triệu người đã ủng hộ ông bằng cách đóng góp tiền cho ông tranh cử.  Chỉ trong vòng không đầy hai tháng, TNS Hillary Clinton đã mất hẳn thế thượng phong trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, và TNS Barack Obama, trẻ hơn bà 14 tuổi, đã đem lại một sinh khí mới trong chính trường Mỹ bằng cách tổ chức chu đáo hơn, kêu gọi được giới trẻ ủng hộ, gây quỹ nhiều hơn, và nhất là đem lại niềm tin mới cho dân chúng Mỹ ở ngưỡng cửa thế kỷ mới này.  San Francisco, tháng 3/2008  Vũ Đức Vượng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Óc sáng tạo luôn đi kèm với đạo đức làm việc mạnh mẽ      Hầu hết những người có tư duy sáng tạo đều  có mục tiêu định hướng của riêng mình. Cuộc sống của họ không chỉ đơn  giản là làm quen đối tác và giao thiệp hàng ngày mà được định nghĩa bởi  sự hiệu quả của cả quá trình. Họ lấy năng suất công việc là nguồn vui và  chỉ có làm việc hiệu quả hơn mỗi ngày mới làm họ hạnh phúc.    Điều này có nghĩa là những người có óc sáng tạo luôn đi kèm với một đạo đức làm việc mạnh mẽ. Bên cạnh đó, họ cũng dễ dàng cảm thấy chán nản bởi những việc vô nghĩa. Một khi họ cảm thấy không được tôn trọng hay đánh giá đúng năng lực, tự họ sẽ “chui” và vỏ ốc và sống như một công nhân viên chức bình thường. Nếu dự án mà họ dành toàn bộ tâm huyết bị ném đi không thương tiếc hay bị chế ra thành nhiều phiên bản khác nhau, ngày làm việc của họ thế là vô ích. Không ai muốn công sức của mình không được đền đáp hoặc bị coi thường. Điều này đặc biệt đúng với những cá nhân có cá tính sáng tạo. Nếu phải lựa chọn, họ thà làm công việc mà họ cho là thực sự quan trọng không lương còn hơn là nhận lương từ mấy công việc tẻ nhạt.  Sẽ có một thời điểm trong cuộc sống của những chuyên gia sáng tạo mà họ không làm việc vì nghệ thuật nữa. Họ bắt đầu nghĩ đến tính ứng dụng của sản phẩm. Sẽ có ích gì nếu sản phẩm họ làm ra không được ai đọc, xem, nghe hay sử dụng? Nhớ lại những ngày thơ ấu của chúng ta khi đem khoe bức tranh mình vẽ với bố mẹ và hạnh phúc biết bao khi nó được dán lên tủ lạnh để cả thế giới cùng chiêm ngưỡng.  Bạn hoàn toàn có thể thúc đẩy sự sáng tạo của người khác bằng một lời khen. Hãy nhìn thành quả công việc của họ với một con mắt tích cực hơn. Không có gì quan trọng hơn là nhận được ý kiến đánh giá của chính đồng nghiệp làm việc hàng ngày cùng mình, nhất là những ý kiến tốt đẹp. Thật tuyệt vời nếu mọi người làm cùng một nhóm và truyền cảm hứng cho nhau.  Một điều quan trọng nữa giúp thúc đẩy sự sáng tạo đó là cố gắng loại bỏ mọi sự gián đoạn. Sáng tạo là một quá trình chậm mà đòi hỏi sự tập trung và tập trung. Sự phiền nhiễu xung quanh làm chúng ta khó tập trung và có thể làm ta quên đi ý tưởng hay ho trong đầu. Giao thông, tiếng ồn hay trả lời điện thoại cả ngày cũng là những tác nhân chính làm mất đi những liên kết tư duy đang hình thành.  Tăng năng suất sáng tạo chính là kim chỉ nam thành công cho cá nhân nói riêng hay cho cả tổ chức nói chung. Nếu muốn phát huy ý tưởng và sức sáng tạo của nhân viên, chỉ cần hỏi khúc mắc lớn nhất trong công việc của họ là gì, điều gì đang làm họ phiền lòng. Khi không còn trở ngại nào nữa, sự sáng tạo mới có đường phát triển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ODA – “Sát thủ kinh tế” của Nhật Bản?      Đối với Việt Nam, việc tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, trong đó có vốn vay ODA, là cần thiết để phát triển. Tuy vậy, nếu như những nước cần vốn có “chiến lược nợ” của mình, thì các nước giàu cũng có “chiến lược cho vay” của họ. Vì thế, để xây dựng “chiến lược nhận” một cách thích hợp, các nước nghèo không thể không tìm hiểu “chiến lược cho” của đối tác.  Trên cơ sở tham khảo những công trình nghiên cứu có tính “vạch trần” về bản chất và chiến lược ODA của Nhật Bản, do chính các học giả xứ Phù Tang thực hiện và công bố, bài viết này chỉ ra “binh pháp ODA” của họ, nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam một góc nhìn tham chiếu trước khi đưa ra quyết định.                          Tiếng nói phê phán ODA của học giả Nhật   Trong ngôn ngữ ngoại giao, người ta coi ODA là biểu hiện của tình ưu ái của người cho đối với người nhận. Tuy vậy, ngay tại Nhật Bản, cũng có nhiều học giả, với tinh thần trung thực trong khoa học, đã “vạch trần” bản chất thực của chính sách ODA của chính đất nước mình.   Chẳng hạn, cuốn “Sự thật viện trợ ODA” của Sumi Kazuo, giáo sư Đại học Yokohama, là một trong những công trình như vậy. Cuốn sách này tuy dung lượng ngắn, nhưng có thể dẫn dắt người đọc lần theo đường đi nước bước của dòng chảy ODA ở những trường hợp cụ thể. Ngoài ra, tìm hiểu về ODA Nhật, không thể không đọc công trình nghiên cứu của tập thể học giả Fuke Yousuke, Fujibayashi Yasushi, Satake Youko, Moriyama Hiroshi, Nagase Riei, Miyauchi Taisuke, Ishikawa Kiyoshi. Cuốn sách của họ có tiêu đề “ODA – vì cuộc sống của người Nhật Bản”1. Các tác giả là những thành viên của một tổ chức học thuật phi Chính phủ: Hội Điều tra Nghiên cứu về ODA (ODA Chosa Kenkyu Kai), thành lập năm 1988.   Từ 5/1991 đến 3/1992, họ đã liên tục thuyết trình các kết quả nghiên cứu của mình về vấn đề viện trợ ODA của Nhật Bản. Sau đó, họ tiếp tục khảo cứu các tư liệu mới, đồng thời tiến hành điều tra thực địa tại các nước nhận ODA của Nhật Bản, và viết thành cuốn sách nói trên, xuất bản vào năm 1999, sau hơn 10 năm theo đuổi đề tài, với ngồn ngộn những tài liệu, số liệu, hình ảnh được xử lý và trình bày một cách khoa học.   Cuốn sách đã “vạch trần” bản chất đồng tiền ODA của Nhật, giúp chúng ta hiểu rằng, đằng sau những lời lẽ ngoại giao mỹ miều là một vũ khí kinh tế đặc biệt, mà như các tác giả khẳng định ở mục cuối của cuốn sách: Ngày xưa chúng ta dùng chiến tranh, ngày nay chúng ta dùng ODA2.   Ngay cả Đài Truyền hình Trung ương Nhật Bản NHK cũng từng có chương trình phát sóng điều tra về sự thật ODA, trong đó, tập trung vào những dự án ODA điển hình của tinh thần “vì Nhật Bản”. Nhìn chung, từ những nghiên cứu như vậy mà tiếng nói đề xuất cải cách chính sách ODA ngày càng mạnh mẽ ở Nhật Bản. Dưới đây xin giới thiệu cụ thể hơn góc nhìn của họ về ODA Nhật Bản.      “Ngày xưa: chiến tranh, ngày nay: ODA”  Để hiểu bản chất của đồng ODA Nhật Bản ngày hôm nay, ở thế kỷ 21 này, các tác giả của sách “ODA vì cuộc sống của người Nhật Bản” dẫn chúng ta quay ngược về quá trình hình thành và diễn biến của chiến lược ODA của đất nước họ. Chiến lược ODA của Nhật Bản được xây dựng cùng với việc phải tuân thủ hiệp ước San Francisco 1951, theo đó Nhật phải bồi thường chiến tranh cho một số nước châu Á. Họ đã khôn khéo làm cho những đồng tiền “bồi thường” ấy quay trở về phục vụ lại cho chính họ.  Ví dụ, Nhật đã “bồi thường chiến tranh” cho Indonesia như thế nào? Trong quá trình đàm phán bồi thường, họ đã khôn khéo lồng vào ý sau đây trong điều khoản: “Nhật Bản sẽ cung cấp cho Indonesia các dịch vụ và sản phẩm của Nhật Bản trị giá tương đương 80,3 tỷ Yên” 3  Kết quả, Nhật Bản “bồi thường” cho Indonesia bằng cách xây dựng… những khu khách sạn cao cấp, những tòa căn hộ sang trọng, những khu mua sắm đắt tiền, những nhà máy sản xuất giấy, vải, gỗ… Những thứ này, nói như các tác giả của sách, “không thể hiểu nổi sao có thể gọi đó là bồi thường chiến tranh”. Bởi một mặt, những thứ này không phải “bồi thường” cho nhân dân Indonesia, và mặt khác, chúng đã làm rất nhiều nhà máy sản xuất giấy và ván ép non yếu của Indonesia phá sản4.   Để có thể “bồi thường” như vậy, chắc chắn không thể không nhờ đến cả những đàm phán sau cánh cửa.   Họ đã chuyển hóa sự “bồi thường” cho nạn nhân thành cái chính mình hưởng lợi, còn nạn nhân thì không được gì, hoặc được rất ít không như công bố, thậm chí bị thiệt hại nặng hơn trước. Cùng sự sự phục hưng kinh tế của Nhật sau chiến tranh, chiến lược ODA cũng được thực thi mạnh mẽ theo nguyên tắc nói trên. Những quốc gia “ngây thơ”, vô tình hoặc cố ý, bắt đầu một cuộc đua tài trí tuệ không cân sức với Nhật Bản.   Xin điểm qua một vài trường hợp điển hình.   Từ những năm 70, do các quốc gia ven biển bắt đầu được nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, các công ty đánh bắt hải sản của Nhật bắt đầu bị hạn chế đánh bắt ở những ngư trường giàu có của nước cộng hòa Kiribati thuộc trung tây Thái Bình Dương. Hàn Quốc thì trả tiền cho Kiribati để được tiếp tục đánh bắt. Nhật thì triển khai một chiến lược khác. Họ đề xuất cho Kiribati cái gọi là “Viện trợ không hoàn lại trong lĩnh vực thủy sản”, tặng cho nước này mấy chiếc tàu đánh cá và kho bảo quản hiện đại, và rồi khai thác hải sản của Kiribati với giá rẻ. 5  Giáo sư Sumi Kazuo trong sách “Sự thật của viện trợ ODA”, cũng chỉ ra rằng, giữa những năm 70, ngành sản xuất nhôm của Nhật bắt đầu gặp khó khăn, chính phủ Nhật lập tức xây dựng dự án viện trợ ODA cho Indonesia trong lĩnh vực khai thác nguyên liệu sản xuất nhôm trên đảo Sumatra. Mục đích của nó không chỉ là “hợp tác quốc tế”, mà còn là, như chính họ nói, nhằm “đầu tư để xác lập thế trận bảo vệ có tính chiến lược đối với nguyên liệu nhôm của đất nước chúng ta” 6.   Cùng với sự phục hưng kinh tế Nhật sau chiến tranh, “nền sản xuất số lượng lớn” và “xã hội tiêu thụ với số lượng lớn” sẽ không thể đứng vững nến không có một quá trình “tiêu hủy rác thải số lượng lớn”. Và vì thế, viện trợ của Nhật cho Indonesia liên quan đến rác cũng được đưa vào cỗ máy ODA này. “Ở Indonesia, một hệ thống xử lý rác thải tương thích với thực tiễn của Indonesia đã không hề được xây dựng, mà thay vào đó, những cơ sở “hiện đại hóa” thu gom rác quy mô lớn đã được xây dựng bằng ODA. Indonesia đã chăm sóc một lượng rác lớn của người Nhật” 7   “Binh pháp” nào đã giúp Nhật thực hiện thành công những điều trên? Đó là cả một “thế trận” được sắp xếp một cách bài bản. Để tồn tại trước thế lực này, Việt Nam cần có một thế trận bài bản tương ứng.       “Binh pháp” của ODA Nhật Bản  Những nghiên cứu nói trên tuân thủ nguyên tắc thực chứng luận vốn có ảnh hưởng sâu đậm trong khoa học xã hội Nhật Bản, vạch trần bản chất của vấn đề thông qua việc phân tích các chuỗi sự kiện, mà không kèm theo bình luận chủ quan nào.   Thông qua những gì họ trình bày, người đọc dễ dàng nhìn thấy một thế trận chặt chẽ và bài bản để vận hành cỗ máy ODA ấy. “Binh pháp ODA” bao gồm cái cấu trúc này và sự vận hành của nó. Ở đây sẽ trình bày về “binh pháp” này và minh họa bằng một ví dụ cụ thể.  Thành tố đầu tiên trong binh pháp ODA Nhật là các Hiệp hội nghề nghiệp.   Các Hội nghề nghiệp của Nhật vận hành theo nguyên tắc của một xã hội dân sự, không bị can thiệp bởi chính quyền.   Những người trong cùng một ngành nghề, theo quy luật thị trường, sẽ phải cạnh tranh với nhau để sống còn. Nhưng ở Nhật Bản, văn hóa hiệp hội phát huy hiệu quả cao đến mức, quy luật này vận hành một cách khác thường.   Trong phạm vi hiệp hội, các thành viên coi cạnh tranh không phải là một hình thức tiêu diệt lẫn nhau, ngược lại, “cạnh tranh” là một hình thức của… “hợp tác”, thúc đẩy tinh thần thi đua và thử sức để cùng vươn lên.   Khi đối diện với người nước ngoài, chủ nghĩa ái quốc trong kinh tế được phát huy cao độ. Các thành viên sẽ hợp tác với nhau, gác qua cạnh tranh nội bộ, cùng nhau “sống còn” với đối thủ. Đó là cách họ bước ra thế giới từ hơn một thế kỷ nay.   Chính các tổ chức nghề nghiệp chứ không phải ai khác, là lực lượng đầu tiên đề xuất cho chính phủ của họ các dự án ODA cho các quốc gia bị họ xem là “con mồi”.   Thành tố thứ hai là tổ chức JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản). Giáo sư Sumi Kazuo ở Đại học Yokohama, trong sách “Sự thật của viện trợ ODA”, đã phân tích về bản chất của JICA như sau.   “Nhìn chung, có thể xem JICA là cơ quan thực hiện viện trợ không hoàn lại về mặt kỹ thuật và tài chính cho các nước đang phát triển. Quả thực, các hoạt động của JICA cũng có hướng đến những hoạt động kiểu như vậy. Tuy nhiên, ngoài chức năng ấy, JICA còn thực hiện cả các dịch vụ hỗ trợ cho các công ty Nhật. Nguồn tài chính được dùng thực hiện điều này là “Vốn đầu tư phát triển”. Việc JICA cho các công ty Nhật vay dài hạn với lãi suất thấp và điều kiện cực mềm, trong khuôn khổ “Vốn đầu tư phát triển”, là điều còn ít được biết đến” 8  “Vốn đầu tư phát triển” của JICA có hai loại. Một loại cho vay liên quan đến chuẩn bị cơ sở vật chất, và loại kia cho vay phục vụ cho “những công việc liên quan đến thí nghiệm”, là loại tiền xuất ra để “vừa bảo hiểm nợ vừa cho vay liên quan đến những sự nghiệp có tính tiên phong và khó khăn” như “thực hiện việc cải tiến kỹ thuật của doanh nghiệp”. 9  Trong trường hợp doanh nghiệp Nhật đầu tư ra nước ngoài, với danh nghĩa “cao cả” là cơ quan thúc đẩy “hợp tác” và “phát triển” có tính “quốc tế”, JICA sẽ sử dụng loại vốn thứ 2 để đảm nhiệm vai trò phát hiện mục tiêu, nghiên cứu và đề xuất các dự án cho vay ưu đãi ODA đối với quốc gia “mục tiêu”, chuẩn bị về mặt tri thức và quan hệ cho các doanh nghiệp Nhật.   Các dự án cho vay ODA được điểm qua ở trên đều do JICA đảm nhiệm khâu đầu tiên: nghiên cứu, viết dự án, thuyết phục nước sở tại, vận động hành lang… nhằm đạt đến mục đích cho họ vay ODA.   Mấu chốt của binh pháp ODA nằm ở quá trình thuyết phục con mồi. Như phân tích của giáo sư Sumi Kazuo, họ tạo ra và duy trì một “nhu cầu viện trợ giả tạo” 10, hướng đến “lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhật”11 và “đưa ô nhiễm của Nhật ra nước ngoài” 12  Thành tố thứ ba là Chính phủ. Chính phủ đảm đương công việc kết nối tất cả các đầu mối trong nước và quốc tế, đảm bảo sự vận hành thông suốt của guồng máy ODA.    Ta hãy thử hình dung cách vận hành của “thế trận” nói trên trong một “trận đánh” cụ thể của họ.   Sách “ODA vì cuộc sống của người Nhật Bản” đã trình bày diễn biến và kết quả của dự án ODA trồng rừng ở đông bắc Thái Lan từ 4/1992 đến 3/1997. Dự án này được đặt tên là “Hợp tác quốc tế vì màu xanh”, nhưng kết quả cuối cùng là biến vùng đông bắc Thái Lan thành vùng cung cấp… gỗ bạch đàn sản xuất giấy cho Nhật Bản.   Khảo sát diễn biến của “trận đánh” này, ta sẽ thấy rõ cách thức hoạt động của “thế trận” bộ ba “Chính phủ – JICA – Giới tư bản” trong quá trình vận hành của một dự án ODA.   Câu chuyện bắt đầu từ nhu cầu của Nhật Bản. Người Nhật tiêu thụ giấy thứ 4 thế giới (trung bình một người 245 kg/1 năm), ngành công nghiệp giấy của Nhật sản xuất 3000 vạn tấn giấy/ năm (số liệu năm 1996). Tuy vậy, từ những năm 80, khi chính sách bảo vệ môi trường được xiết chặt, các doanh nghiệp giấy Nhật bắt đầu tăng cường mua gỗ bạch đàn ở nước ngoài, đặc biệt là của Thái Lan.   Và vì thế, một dự án ODA được vạch ra để giới tư bản giấy Nhật có thể khai thác tài nguyên gỗ của Thái Lan với giá rẻ.   JICA lập tức xuất hiện. “Báo cáo nghiên cứu về kế hoạch trồng rừng vùng đông bắc Thái Lan” ra đời năm 1992. Báo cáo mở đầu bằng những lời tốt đẹp:   “Ở Thái Lan, 20 năm trở lại đây, dân số tăng nhanh, đất nông nghiệp được mở rộng, nhu cầu gỗ phát triển, cho nên vùng đông bắc Thái tỷ lệ che phủ rừng năm 1961 là 40% thì nay giảm còn 14%” 13  Trên cơ sở đó, JICA đề xuất một kế hoạch trồng rừng cho vùng đông bắc Thái. Chính phủ Thái đồng ý về mặt chủ trương và yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện. JICA liền đề xuất một kế hoạch trồng rừng mà tên gọi thì hết sức tốt đẹp, “Hợp tác quốc tế vì màu xanh”, nhưng người Thái chỉ nhận ra cái bẫy của nó sau khi dự án được triển khai 7 năm, khi mà không còn có thể tưởng tượng rằng vùng đông bắc Thái từng là “vương quốc của rừng” nữa.   Kế hoạch JICA đề xuất với Thái Lan gồm 3 việc:  –    Viện trợ không hoàn lại 3 tỷ Yên xây dựng 4 trung tâm trồng cây giống, cây non quy mô lớn, xây dựng các cơ sở huấn luyện, cung cấp xe cộ và các phương tiện cần thiết khác.   –    Gửi đến Thái Lan các chuyên gia lâm nghiệp của Nhật để huấn luyện sản xuất cây giống và chỉ đạo việc trồng rừng.   –    Phái đến “Đoàn thanh niên Hợp tác Quốc tế” của Nhật Bản để “khai sáng” cho nông dân Thái ý thức về tầm quan trọng của rừng và việc trồng rừng (“Khai sáng” là từ họ dùng trong nguyên văn)   Không rõ những thanh niên Nhật Bản kia đã “khai sáng” cho nông dân Thái Lan điều gì, nhưng nông dân Thái chỉ thích trồng bạch đàn vì đó là “loại cây biến thành tiền”, và không rõ 4 trung tâm sản xuất cây giống kia tạo ra loại cây gì, nhưng từ 1992 đến 1995, một trăm triệu cây giống được phát miễn phí cho nông dân Thái Lan để họ tự trồng rừng, và trong đó, hầu hết là cây bạch đàn để sản xuất giấy.   Khi cả một vùng đông bắc trồng bạch đàn, thì một mặt, giá bạch đàn ở đây sẽ vô cùng rẻ, và mặt khác, nguồn nước và nguồn dinh dưỡng của đất bị hủy hoại nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc nông dân được phát miễn phí cây giống bạch đàn với số lượng khổng lồ, là loại cây có lợi ích kinh tế trước mắt, đã làm cho diện tích rừng bạch đàn tăng vọt và diện tích rừng tự nhiên trước đó bị hủy hoại. Cái gọi là “hợp tác quốc tế” và “trồng rừng để bảo vệ thiên nhiên” chỉ là trò đùa. Hầu hết số tài sản 3 tỷ Yên của dự án đều phục vụ ngược lại cho Nhật Bản. Kết cục, dự án bị nhân sĩ Bangkok phản đối kịch liệt.   Nếu ví dự án ODA này là một cái bẫy thì cái lẫy then chốt của bẫy này là việc phát không cây giống cho nông dân tự trồng “rừng”. Thuyết minh cho chủ trương này, JICA đưa ra những lập luận tốt đẹp. Nông dân Thái Lan cũng đã trồng rừng một cách tự phát, vừa để bảo vệ môi trường vừa phục vụ nhu cầu cuộc sống. Vậy, có thể tận dụng điều này để thực hiện 2 việc một lúc: bảo vệ thiên nhiên và xóa đói giảm nghèo cho vùng đông bắc Thái14 Làm sao chính phủ Thái có thể từ chối một lời đề nghị như thế?   Mưu kế này của JICA làm người ta nhớ lại những câu chuyện đấu trí được kể trong “Chiến quốc sách” ở bên Tàu.   Ở “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” của John Perkins, người đọc không hiểu vì sao một cá nhân như ông lại có thể làm được một khối lượng công việc khổng lồ là lần lượt thuyết phục các chính phủ Châu Mỹ La tinh, Đông Nam Á, Trung Đông lao theo những dự án giả dối nhằm phục vụ lợi ích tư bản Mỹ. Nhưng, ở trường hợp Nhật Bản lại hết sức dễ hiểu: thực hiện điều này không phải là một cá nhân mà là cả một bộ máy trong đó có những tổ chức đóng vai trò xung kích.      Biện hộ cho ODA Nhật Bản  Dĩ nhiên, bản thân các học giả Nhật Bản khi phê phán chiến lược cho vay ODA thì cũng không có ý định phủ định sạch trơn mặt tích cực của nó. Không có gì là tiêu cực hoàn toàn. Chúng ta có thể liệt kê, trên bề mặt hiện tượng, vô số những lợi ích mà các dự án ODA mang lại. Ở Nhật Bản, có vô số sách vở ca ngợi ODA của Nhật là một “cống hiến” của dân tộc họ đối với thế giới.   Trong một cuốn sách biện hộ cho ODA Nhật, xuất bản năm 2003, Miura Yuuji, một trong những chuyên gia của JETRO (Hội Chấn hưng Ngoại thương Nhật Bản) và Watanabe Toshio, một giáo sư của Đại học Công nghiệp Tokyo, một mặt thừa nhận rằng, vào cuối những năm 50, vì khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty Nhật Bản còn yếu, cho nên “việc dùng ODA như một hình thức bảo hộ lợi nhuận của các công ty Nhật là sự biểu lộ rõ ràng của ý thức quốc gia” 15, nhưng mặt khác, theo hai tác giả, nếu tiếp tục nhìn bằng con mắt ấy trong bối cảnh “xã hội có tính quốc tế” hiện nay là sai, bởi vì ngày nay, “lực lượng xây dựng các dự án ODA rất đa dạng, không chỉ có các công ty Nhật mà còn có cả chính phủ nước được viện trợ, ngân hàng, JICA, các tổ chức và quốc gia tài trợ khác, thậm chí cả các công ty tư vấn không thuộc Nhật Bản cùng tham gia” 16.   Như vậy, cứ theo hai học giả trên thì có thể hiểu rằng, ngày nay ODA Nhật không còn là “ODA vì Nhật Bản” nữa mà đã thực sự là ODA “cao thượng”. Tuy vậy, cũng cần nói rằng, “sự đa dạng” ở trên thực chất không nói lên điều gì. Sự thật nằm ở kết quả cuối cùng mà những dự án đó đạt tới.   Có lẽ, nếu tranh cãi xem bên “phê phán” và bên “biện hộ”, bên nào đúng, bên nào sai, thì cuộc tranh cãi sẽ không bao giờ kết thúc. Vì dường như cả hai bên đều có mặt đúng của mình.   Viện trợ ODA của các nước giàu cho các nước đang phát triển như Việt Nam trở nên tốt hay không tốt, thì có lẽ, phụ thuộc vào phương thức tiếp nhận của phía chúng ta hơn là phụ thuộc vào người cho.   Vì vậy, Việt Nam không thể không xem xét hệ thống vận hành của ODA Nhật, để từ đó, nhìn lại lề lối suy nghĩ, “thế trận” và quá trình ra quyết định của chính mình. Nhìn từ góc độ này thì phải chăng, chúng ta đang tổ chức một “thế trận” hoàn toàn không tương thích với “thế trận” của đối phương/ đối tác?             1福家洋介、藤林泰、佐竹庸子、森山弘志、長瀬理英、宮内泰介、石川清「日本人の暮らしのためだったODA」、コモンズ、1999  (Fuke Yousuke, Fujibayashi Yasushi, Satake Youko, Moriyama Hiroshi, Nagase Riei, Miyauchi Taisuke, Ishikawa Kiyoshi, “ODA – vì cuộc sống của người Nhật Bản”, NXB Komonzu, 1999)  2 Như trên, p. 215 – 219  3 Như trên, p. 206  4 Như trên, p. 207 – 208  5 Như trên, chương 2  6 鷲見一夫、「ODA　援助の現実」、岩波書店、1989, p. 170  (Sumi Kazuo, Sự thật của viện trợ ODA, Iwanami shoten, 1989, p. 170)  7 “ODA vì cuộc sống của người Nhật Bản”, Sđd, p. 4  8 “Sự thật của viện trợ ODA”, Sđd, p.168 – 169   9 Như trên, p. 169  10 Như trên, p. 137 – p. 147  11 Như trên, p. 148 – 158  12 Như trên, p. 158 – 167  13 Dẫn theo: “ODA – vì cuộc sống của người Nhật Bản”, Sđd, p. 13  14 Như trên, p. 14  15 三浦有史、渡辺利夫、「ODA – 日本に何ができるか」, 中公新書、2003, 107-108 頁  (Miura Yuuji, Watanabe Tosio, “(Tạm dịch) ODA – có thể làm gì với tư cách là Nhật Bản”, Chuko Shinsho, 2003, 107-108 p)  16 Như trên, 109 p    Author                Quản trị        
__label__tiasang ODA và cuộc chiến chống tham nhũng – nhìn từ góc độ Nhà nước và thể chế      Sự cố tham nhũng xảy ra vừa qua&nbsp; ở dự &#225;n ODA “Đại lộ Đ&#244;ng &#8211;T&#226;y” (th&#224;nh phố Hồ Ch&#237; Minh) đang được điều tra, khiến ch&#250;ng ta li&#234;n tưởng trở lại vụ &#225;n tham nhũng v&#224; lạm dụng vốn ODA ở&nbsp;”PMU18″ hai năm trước. Vẫn l&#224; chủ đề li&#234;n quan đến chống tham nhũng, nhưng c&#243; lẽ tại thời điểm n&#224;y, từ cả hai ph&#237;a Ch&#237;nh phủ v&#224; x&#227; hội, cần c&#243; một c&#225;i nh&#236;n to&#224;n diện v&#224; s&#226;u sắc hơn về vấn đề tiếp nhận, quản l&#253; v&#224; gi&#225;m s&#225;t sử dụng ODA, một nguồn vốn v&#244; c&#249;ng quan trọng cho sự ph&#225;t triển đất nước.      Đặt vấn đề  ODA (Viên trợ phát triển chính thức) từ năm 1960 khi được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chính thức định nghĩa tới nay đã trở thành một hiện tượng chính trị – kinh tế toàn cầu, một nội dung quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia phát triển phương Tây và các nước đang phát triển. Trước đó, đã có hai trường hợp tài trợ đặc biệt ở cấp độ chính phủ tương tự ODA là việc Hoa Kỳ hỗ trợ tái thiết nước Đức và châu Âu (kế hoạch MARSHALL) và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy nhiên với ý nghĩa và hiệu quả hoàn toàn khác.   Trong các tuyên bố và cam kết công khai giữa các nhà tài trợ và chính phủ các quốc gia nhận viện trợ, mục đích của ODA thường bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị công hay xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, bản chất sâu sa của các mối quan hệ ODA không đơn giản là sự hỗ trợ một chiều mang tính “thiện chí” như vậy. Ngoài các lợi ích chính trị và kinh tế hai chiều được tính đến (xin không đề cập ở đây), các nhà tài trợ ngày càng quan tâm đến thúc đẩy qúa trình dân chủ hóa, tức vấn đề cải cách nhà nước và thể chế, ở các nước nhận viện trợ. Động cơ của sự quan tâm này, xét trong bối cảnh hiện nay, không còn mang màu sắc đấu tranh về “ý thức hệ” (như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây), mà xuất phát từ một nhận định khái quát hơn. Đó là “dân chủ hóa” là điều kiện tiên quyết cho việc xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, căn bản, đồng thời tạo môi trường quan trọng và cần thiết để bảo đảm ổn định và an ninh toàn cầu.  Hiện tượng tham nhũng và cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia tiếp nhận ODA có liên quan gì đến các mục tiêu của ODA nói trên? Trước hết, có thể khẳng định rằng hiện tượng tham nhũng vốn luôn luôn tồn tại. Trong điều kiện của các quốc gia đang chuyển đổi, tham nhũng đã vẫn tồn tại trong thời kỳ của nền kinh tế kế họach hóa tập trung; tuy nhiên khi đó nó không được nhận diện cũng như không có điều kiện phát triển trong bối cảnh một “hệ thống đặc quyền, đặc lợi” dành cho giới cầm quyền đã được pháp chế hóa. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, hệ thống đặc quyền, đặc lợi chính thức và hợp pháp đã bị xóa bỏ, tham nhũng xuất hiện và gia tăng mạnh mẽ. Cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia này trên thực tế không thành công, vì suy cho cùng, nó chỉ động chạm đến khía cạnh đạo đức và các hành vi cá nhân (tức lý do thuộc về con người) mà không tấn công vào các khuyết tật hay bất hợp lý của thể chế, bao gồm theo nghĩa rộng hệ thống tổ chức và họat động của bộ máy nhà nước, các nguyên lý của sinh họat chính trị, khung pháp luật và hệ thống thực thi tư pháp. Minh chứng cho nhận định này, người ta có thể dễ dàng so sánh tình trạng tham nhũng giữa các quốc gia có thể chế dân chủ (nơi vẫn còn tham nhũng nhưng rất ít và được kiểm soát) và các quốc gia chưa được dân chủ hóa (nơi hiện tượng tham nhũng đang tràn lan và trở nên không kiểm soát nổi).   Câu hỏi đặt ra là các hệ quả của tham nhũng như vô hiệu hóa các thành tựu về xóa đói giảm nghèo, gia tăng bất công xã hội và cản trở việc xúc tiến quá trình dân chủ hóa… đã và đang đi ngược với các mục tiêu đặt ra cho việc cam kết tài trợ và sử dụng ODA, trong khi nguồn vốn này đang tiếp tục được giải ngân ở các quốc gia đang phát triển. Vậy, phải chăng ODA đã không đem lại tác dụng tích cực nào cho cuộc chiến chống tham nhũng?     Hiện trạng  Chưa vội lý giải vấn đề có tính nghịch lý nói trên, chúng ta trước hết hãy cùng nhìn vào hiện trạng. ODA hiện nay đang được dành nhiều nhất cho các quốc gia Nam Á và châu Phi, trong đó Việt Nam dường như được coi là một trong các quốc gia được ưu tiên hàng đầu. Mặc dù được tiếp cận với ODA từ các nước và định chế phương Tây khá muộn, chỉ sau 1994 khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận chính trị và thương mại đối với Việt Nam, nhưng ngay sau đó và hàng năm, Việt Nam nhận được mức độ cam kết cũng như khối lượng giải ngân vốn ODA khá cao và ngày càng tăng, từ 2 tỷ đến 5 tỷ USD. Việc sử dụng ODA ở Việt Nam, khác với nhiều quốc gia Nam Á và châu Phi, đã tạo ra những hiệu quả rõ rệt và đầy ấn tượng trong việc duy trì nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, (trung bình trên 7% kể từ năm 1994) và xóa đói giảm nghèo, (tỷ lệ nghèo đói giảm một nửa chỉ trong vòng 10 năm, từ trên 60% năm 1994, sau mười năm xuống còn dưới 30% năm 2004). Tuy nhiên, bên cạnh đó, người ta đang có những đánh giá khác đi hoặc thậm chí ngược lại với các kết quả trên. Chẳng hạn, đó là việc nghi ngờ tính bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế cao sau khi việc cấp vốn ODA không còn nữa, (theo một số nhà tài trợ, các nguồn vốn ODA có thể sẽ giảm cơ bản và tiến tới cắt hoàn toàn sau khi GDP/đầu người/năm của Việt Nam đạt  1000 USD). Hay nếu nhìn vào hệ thống các công trình thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế như đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng, cầu… thì rõ ràng mặc dù cho tới nay khoảng  22 tỷ USD vốn ODA đã được giải ngân nhưng Việt Nam vẫn hầu như chưa có được những công trình lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Vấn đề ở chỗ nhiều công trình hạ tầng có sử dụng vốn ODA nhưng được xây dựng với chất lượng quá kém. Do đó, câu hỏi tiếp theo là Việt Nam sẽ lấy vốn ở đâu để vừa tiếp tục xây dựng mới, đồng thời vừa sửa chữa những công trình hạ tầng có chất lượng kém đó, một khi không còn ODA nữa ?            Lễ khánh thành Cầu Bãi cháy – công trình được xây dựng bằng nguồn vốn ODA           Đó là các vấn đề của Việt Nam. Còn tình hình ở nhiều nước châu Phi cũng không khá hơn, thậm chí còn tồi tệ với nạn đói triền miên, lấy nhiễm HIV không kiểm soát nổi, bạo lực và xung đột vũ trang mặc dù tiếp tục được cũng cấp cả ODA lẫn viện trợ nhận đạo.   Trên thực tế, các vấn đề và khó khăn của Việt Nam và các quốc gia châu Phi có tính chất khác nhau. Tuy nhiên, một hiện tượng chung có tính phổ biến cùng tồn tại. Đó là tham nhũng gia tăng. Nếu ở Việt Nam người ta đang ước tính một con số tham nhũng và lãng phí tới xấp xỉ 50% vốn sử dụng cho các công trình xây dựng (một tỷ lệ mà theo sự phân tích kinh tế học có thể làm vô hiệu hóa mọi khái niệm về tăng trưởng cũng như chất lượng sản phẩm), thì ở một số nước châu Phi, đó là sự nổi trên của các nhà chính trị độc tài, sống lãng phí và xa hoa, coi tài sản quốc gia là của chính mình.  Tại sao có tình trạng như vậy? Đi sâu vào phân tích mục đích sử dụng cũng như tác động của ODA đối với các nước nói trên, người ta có thể rút ra một nhận xét đáng suy nghĩ là: ở tất các các quốc gia nhận tài trợ, ODA có tác động tích cực và hiệu quả, dù ở mức độ khác nhau, vào đời sống kinh tế nhưng hầu như không động chạm tới được đời sống chính trị, tức các vấn đề về cải cách chính trị, bộ máy nhà nước và thể chế. Trong khi đó, qua rất nhiều cuộc khảo sát và nghiên cứu, các chuyên gia quốc tế và địa phương đã cùng đi đến một kết luận rằng tham nhũng tại các quốc gia này không thể kiềm chế được vì nó không phải xuất phát từ các lý do đạo đức mà từ các “khuyết tật” của thể chế. Phải chăng vì thế, các tác động tích cực của ODA vào cuộc chiến chống tham nhũng, như các nhà tài trợ mong đợi, đã trở nên bất khả thi? Thậm chí, ở một góc độ khác, và “nguy hiểm” hơn, khi thông qua scandal ở cơ quan PMU 18 thuộc Bộ Giao thông vận tải Việt Nam năm trước và Dự án Đại lộ Đông – Tây vừa qua, dư luận còn cảnh báo rằng chính vốn ODA đã vừa là “lý do” vừa là “điều kiện” cho các hành vi tham nhũng (!).      Đi tìm các lý giải  Trước khi bắt đầu phân tích, hãy đặt một câu hỏi khác là giả sử không có các nguồn vốn ODA thì sẽ xảy ra điều gì ở các nước như Việt Nam hay ở châu Phi? Chỉ xét ở Việt Nam, nếu chỉ tính đến 22 tỷ USD đã được đầu tư bổ sung vào nền kinh tế trong khoảng 15 năm qua, hàng trăm chuyên gia quốc tế đã được cử tới để chuyển giao các công nghệ quản lý và kỹ thuật, hàng ngàn hội thảo và chương trình đào tạo để nâng cao kiến thức của các quan chức và người dân được tổ chức, thì cũng có thể khẳng định rằng nếu không có vai trò của ODA, chắc chắn kinh tế không đạt mức tăng trưởng cao, tỷ lệ đói nghèo sẽ gia tăng, dân chủ trong quản lý nhà nước và đời sống chính trị sẽ không được mở rộng, và đi liền với nó rất có thể là các bất ổn về xã hội và chính trị. Điều đó chứng minh sự cần thiết và vai trò tích cực của ODA. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra tại thời điểm này là cần xem xét lại từ gốc rễ thế nào là sự đúng đắn trong quan niệm, sử dụng và quản lý ODA?   Trước hết, cần xác định lại rằng bản chất ODA không phải là thể hiện các mối quan hệ “Chính phủ với Chính phủ” mà là “Nhân dân với Nhân dân” thông qua chính phủ.   Điều này có nghĩa là ở các nước phương Tây, nơi tồn tại thể chế dân chủ, việc cấp ODA phải được ghi nhận trong luật do quốc hội thông qua, tức phải có sự nhất trí của nhân dân thông qua các đại biểu của mình. Minh chứng rõ ràng là khi vụ scandal PMU 18 và vụ đưa hối lộ ở Dự án Đại lộ Đông –Tây ở Việt Nam được đưa lên báo chí Nhật Bản, người dân Nhật đã phẫn nộ và ngay lập tức yêu cầu quốc hội chất vấn chính phủ Nhật về việc quản lý và sử dụng tiền đóng thuế của nhân dân sai mục đích ở Việt Nam. Về bản chất, ODA của các nước phương Tây hoàn toàn khác so với viện trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô và các nước Đông Âu cho Việt Nam trước đây, vì đó thuần túy là các mối quan hệ chính trị giữa các Đảng Cộng sản và chính phủ các nước liên quan mà không có sự tham gia hay quyết định của người dân. Tuy nhiên, vấn đề là ở phía Việt Nam với bối cảnh hiện tại, việc tương tác để tiếp nhận tài trợ lại hoàn toàn do chính phủ quyết định. Việt Nam chưa có luật về tiếp nhận và sử dụng ODA do Quốc hội ban hành, và sau vụ scandal PMU 18, các Đại biểu Quốc hội Việt Nam đã than phiền về việc không được quyết định hay giám sát việc sử dụng vốn ODA. Hệ quả là chính phủ đơn giản coi ODA là một “bộ phận bổ sung” của ngân sách nhà nước, trong đó mặc dù việc quản lý và sử dụng có “châm trước” một số thủ tục do các nhà tài trợ đề ra, nhưng về cơ bản vẫn theo các tiêu chuẩn nội địa. Với quan niệm không đấy đủ và thấu đáo về bản chất việc hình thành các nguồn vốn và chính sách ODA, chính phủ nước tiếp nhận thường có cách nhìn ngắn và đơn giản, coi trọng việc ứng xử để thỏa mãn người đại diện của các nhà tài trợ, thậm chí là các chuyên gia quốc tế được thuê để giám sát các dự án, nhằm phục vụ cho việc duy trì các cam kết tài chính và thuận lợi cho việc giải ngân, hơn là thông qua ODA để phát triển các quan hệ đối ngoạii cả về kinh tế và chính trị với nhân dân các quốc gia tài trợ. Người dân các quốc gia tài trợ vẫn có rất ít cơ hội để biết đến đất nước và con người mà họ muốn giúp đỡ bằng tài trợ ODA. Người dân Việt Nam ở các vùng quê đang được hưởng lợi trong việc sử dụng các công trình công cộng xây dựng bằng ODA, nhưng hầu như họ vẫn cho rằng đó là tiền của chính phủ chứ không phải là tiền của nhân dân nước khác cho vay và mình là người trả nợ. Thực tế này đã hạn chế các tác động tích cực lâu dài về mặt xã hội của ODA, đó là các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân các quốc gia cho và nhận ODA được xây dựng và phát triển sau khi quá trình tài trợ này chấm dứt. Ngoài ra, trong phạm vi nhất định, đó còn là biểu hiện của tình trạng thiếu dân chủ trong quản lý và sử dụng ODA với các quyết định độc đoán hoặc chủ quan, thiếu cân nhắc của những tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong chính phủ trong việc quản lý nguồn vốn này.  Thứ hai, về mặt nhận thức và thái độ của các quan chức chính phủ, ODA hầu như không được coi là nguồn tài chính đặc biệt và đi kèm với nó là một chế độ quản lý đặc biệt theo các tiêu chuẩn tiến tiến và dân chủ.  Trên thực tế, nhận thức của không ít quan chức nhà nước  vẫn cho rằng ODA là vốn viện trợ hoặc cho vay dài hạn ưu đãi (và chỉ phân biệt với vốn vay thương mại ở điểm này); và do việc các khoản tài trợ được thực hiện thông qua các cam kết chính phủ, một cách đơn giản, họ coi ODA là một bộ phận của ngân sách dành cho chi tiêu theo các chương trình đã định và bổ sung vào các các khoản thu nội địa. Nhận thức này không đầy đủ, thậm chí sai lầm ở chỗ nó làm cho ODA gần giống với các khoản vay thương mại, trong đó bên cho vay chủ yếu quan tâm đến việc thanh toán tiền lãi và khả năng thu hồi nợ đúng hạn. Với ODA, xét về bản chất, đó là tiền đóng thuế của nhân dân nước tài trợ, do đó, việc chi tiêu buộc phải gắn với mục tiêu chính trị rõ ràng, cùng với tính hiệu quả, minh bạch có thể chứng minh được của việc sử dụng. Việc hoàn trả ODA được chính phủ nước nhận tài trợ cam kết bằng các khoản thu của ngân sách nhà nước, do vậy, các rủi ro thanh toán hầu như không đặt ra, trừ rủi ro chính trị. Mặt khác, như đã đề cập ở trên, các nhà tài trợ ODA là các quốc gia của thể chế dân chủ có nền hành chính và quản trị công phát triển cao. Thực tế này, một cách tự nhiên, đòi hỏi các quốc gia tiếp nhận cũng phải có hoặc nếu chưa sẵn có thì phải có khả năng tiếp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn và công nghệ quản lý tài chính công “văn minh và hiện đại”. Lợi ích đối với các nước đang phát triển, do đó, có tính chất “kép”, có nghĩa rằng không chỉ là tiền vốn ưu đãi, mà còn đi kèm với nó là hệ thống và các quy trình quản trị công, từ việc lập chính sách kinh tế, quy hoạch phát triển, bồi dưỡng nhân sự đến triển khai và giám sát theo các tiêu chuẩn tiến bộ được chuyển giao. Nếu một khi lợi ích “thứ hai” này không đạt được, các quan hệ ODA xét trên bình diện nhà nước sẽ trở nên tầm thường và vụ lợi, dẫn đến hệ quả là làm biến dạng hay mất đi tính lành mạnh về chính trị trong quan hệ giữa các nhà nước và quốc gia có chủ quyền đối với nhau. Chẳng hạn, về phía các quốc gia tiếp nhận ODA, sẽ hình thành tâm lý cho rằng ODA gắn với mục tiêu áp đặt chính trị và can thiệp vào chủ quyền quốc gia, do đó sẽ tỏ thái độ theo hướng hoặc là tìm cách tránh sử dụng ODA càng ít càng tốt (để giữ được “độc lập”), hoặc cố gắng tranh thủ vốn ODA càng nhiều càng tốt bằng cách vận động và “chiều lòng” các nhà tài trợ nhưng trong thâm tâm chỉ coi đó là nguồn “tiền rẻ”. Cả hai khuynh hướng suy nghĩ này, theo chúng tôi, đều sai lầm vì suy cho cùng là biểu hiện của tính thiển cận và định kiến chính trị vốn bắt nguồn từ thời kỳ chiến tranh lạnh. Nhìn lại lịch sử, có hai tình huống thú vị và giống nhau xét về nhận tài trợ của chính phủ nước ngoài theo dạng “ODA”. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, bao gồm cả các nước Đông Âu, đều nhận “ODA” từ Liên Xô, và buộc phải chịu sự áp đặt chính trị, tức tuân theo mô hình quản lý nhà nước và xã hội soviet, là mô hình bị lịch sử chứng minh là lạc hậu và đã sụp đổ. Có thể vì sự ám ảnh của quá khứ như vậy, nhiều nước đang phát triển hiện nay vẫn còn tâm lý e ngại và tiêu cực về ODA. Tuy nhiên, trong một tình huống khác, nước Đức và châu Âu cũng như Nhật Bản tiếp nhận ODA của Hoa Kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai thì lại đã thành công trong việc tái thiết và phát triển đất nước, tăng cường thể chế dân chủ trong khi vẫn khẳng định vị thế độc lập của mình.   Rõ ràng là nếu không có một cách nhìn nhận vấn đề ODA theo đúng bản chất của nó, tức là coi ODA đối với các nước đang phát triển và chuyển đổi không phải trước hết là “tiền” mà là việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ hiện đại và văn minh về quản lý tài chính nói riêng và quản lý nhà nước và xã hội nói riêng, thông qua đó xúc tiến quá trình hội nhập quốc gia và nhân dân nước mình với cộng đồng thế giới phát triển, thì nguy cơ là sau thời kỳ tiếp nhận ODA, các quốc gia này lại trở lại trạng thái lạc hậu, chậm phát triển như ban đầu của chính mình.   Thứ ba, tình trạng quản lý ODA hiện nay đang ở trạng thái tiêu cực, thậm chí còn yếu kém hơn so với quản lý ngân sách.   Vụ scandal PMU18 ở Bộ Giao thông Vận tải năm 2006  đã tố giác cho xã hội, bao gồm cả cộng đồng các nhà tài trợ tại Việt Nam những điều bất ngờ: người ta ước lượng cả nước có trên 1000 PMU (gọi thông thường là các Ban quản lý Dự án) nhưng không ai rõ là bao nhiêu, định nghĩa về pháp lý PMU là gì không ai rõ, nhưng có một điều chắc chắn và rõ ràng là các PMU đang quản lý “tiền tỷ” Đô-la cả vốn ngân sách lẫn ODA (!). Phân tích sâu hơn, người ta có thể thấy rõ hơn một số vấn đề như sau:   Thứ nhất, các PMU được thành lập trong khắp các lĩnh vực, từ trung ương đến địa phương, thể hiện vai trò và mức độ thâm nhập khá sâu rộng của ODA vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước. Tuy nhiên, hầu hết người dân lại chỉ biết đến các PMU và quyền lực to lớn của cơ quan này chứ hầu như ít hoặc không biết đến tên tuổi các nhà tài trợ. Việc phân bổ nguồn vốn ODA một cách “rộng rãi” và “đều khắp” như vậy về mặt hình thức thể có thể coi là thỏa mãn yếu cầu “dân chủ” và “công bằng” trong chính sách quy họach. Tuy nhiên về bản chất, điều đó phản ánh tính thiếu định hướng và vô nguyên tắc, xét về khía cạnh chiến lược phát triển, xa hơn nữa còn thể hiện tâm lý “ăn chia chiếc bánh”, coi ODA là “tiền chùa” (quà tặng) để cứ việc tiêu xài.   Vấn đề thứ hai gây sự lo ngại thật sự cho xã hội, cho thế hệ ngày nay và tính đến cả các thế hệ tiếp theo, là chất lượng kém thậm chí giả dối của các công trình cơ sở hạ tầng được đầu tư bằng ODA. Ai đã đến châu Âu đều đã chứng kiến những cây cầu và con đường có tuổi thọ 50 năm hoặc thậm chí hàng trăm năm mà vẫn đứng vững và họat động tốt. Tại sao những con đường cao tốc ở Việt Nam được coi là đạt tiêu chuẩn quốc tế, ít nhất là về định mức về giá thành, mà chỉ ba năm sau khi hoàn thành đã hư hỏng? Môi trường đầu tư ở Việt Nam từ 20 năm nay đã và vẫn đang bị coi là kém hấp dẫn vì lý do cơ sở hạ tầng nghèo nàn. Đúng ra, ODA với ý nghĩa là nguồn vốn lớn và tập trung bằng ngoại tệ mạnh, hơn nữa đi kèm các công nghệ và tiêu chuẩn quản lý cao cấp, có thể là giải pháp khắc phục yếu kém này. Nỗi lo của xã hội hiện nay là hình như mục tiêu này đã không đạt được, trong khi thế hệ hiện nay và mai sau đã bắt đầu phải trả các khoản lãi và gốc cho các khoản vay ODA. Một điều nữa gây ngạc nhiên là ngay chính các công trình xây dựng có giám sát kỹ thuật bằng nhà thầu quốc tế cũng có khiếm khuyết về chất lượng. Vậy, vấn đề chắc hẳn không nằm ở trình độ yếu kém mà câu hỏi là: vấn đề gì đã cản trở các chuyên gia kỹ thuật của nước ngoài làm việc tại Việt Nam hành động theo đúng các tiêu chuẩn về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của họ ?  Có thể có nhiều phương án trả lời cho câu hỏi trên. Tuy nhiên, một trong những quan ngại chính của dư luận trong thời gian qua là nạn tham nhũng ở các PMU. Tham nhũng, đương nhiên và rất dễ thấy, là tác nhận trực tiếp dẫn đến chất lượng kém của của các công trình sử dụng vốn ODA. Khối lượng hạng mục các công trình luôn luôn phải hoàn thành (để hoàn tất các báo cáo). Tuy nhiên do “thất thoát” dẫn đến thiếu hụt tài chính nên làm cho các công trình tất yếu suy giảm về chất lượng. Vấn đề của tham nhũng, xét về thực chất, không phải chỉ là biển thủ tiền, mà là sự nhũng nhiễu, thao túng và lạm quyền của các nhận sự trong bộ máy quản lý; hậu quả là toàn bộ các mối quan hệ mang tính hệ thống, các quy trình và thủ tục cũng như tiêu chuẩn quản lý, xét cả về khía cạnh quyền lực lẫn kỹ thuật, đều bị vô hiệu hóa. Trở lại vấn đề động cơ và nguyên nhân của các hành vi tham nhũng, nếu cho rằng vì điều kiện thu nhập thấp của các quan chức chính phủ (tức biển thủ hay nhận hối lộ do nhu cầu bức bách của đời sống) hay vì thiếu đạo đức công vụ do chưa được giáo dục và rèn luyện tốt, thì không thể “mổ xẻ” được bản chất của vấn nạn này. Để minh chứng, có thể nêu hai nhân tố thực tế quan trọng: một là, tất cả các quan chức tham nhũng đều rất giàu và số tiền tham nhũng được sử dụng cho các mục tiêu hưởng lạc xa hoa và hoang phí, thậm chí đồi bại (tức là thỏa mãn các nhu cầu không lành mạnh và “phi đời sống”); và hai là, mặc dù có một hệ thống các tổ chức và chuyên gia nước ngoài do các nhà tài trợ chỉ định để hỗ trợ và giám sát quản lý, điều hành, là những người có trình độ giáo dục và văn hóa rất cao, chịu sự điều chỉnh khắt khe của pháp luật nước họ về chống tham nhũng, nhưng “hệ thống” bổ sung này hầu như không phát huy được tác dụng, thậm chí trên thực tế còn bị vô hiệu hóa. Điều đó chứng tỏ nguyên nhân sâu xa nằm trong hệ thống quyền lực chính trị chứ không phải các “hệ thống kỹ thuật”. Các công nghệ quản lý tiên tiến của quốc tế trên thực tế được giới thiệu, huấn luyện và yêu cầu ứng dụng, tuy nhiên các tác dụng của nó rất hạn chế bởi thiếu yếu tố nòng cốt là “quyền lực”, tức sự chuyển hóa nó thành các cơ cấu nhà nước và thể chế. Nhìn nhận một cách thực tế, không phải các nhà tài trợ không nhìn thấy vấn đề này, tuy nhiên đó thực sự là “bài toán” quá khó đối với họ mà qua nhiều năm qua vẫn chưa tìm ra lời giải. Chẳng hạn, một bộ phận đáng kể của nguồn vốn ODA là giành cho “cải cách pháp luật và thể chế“, tuy nhiên kết quả của các quá trình này vẫn chỉ là số lượng ngày càng nhiều các bộ luật được ban hành, và mặc dù chất lượng “câu chữ” có cao hơn, nhưng tính thực thi của cả hệ thống pháp luật nói riêng và tình trạng tiếp cận và bảo đảm công lý nói chung vẫn không có tiến bộ đáng kể.  Thứ tư, để kết thúc cho bài viết này, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một giải pháp trong quản lý ODA tại Việt Nam, đó là thành lập một bộ hoặc cơ quan độc lập trực thuộc chính phủ chuyên trách quản lý ODA.  Khi xem xét và đánh giá trách nhiệm quản lý nhà nước liên quan đến vụ scandal ở cơ quan PMU 18 Bộ Giao thông Vận tải, có một sự phê phán mang tính “đổ lỗi” như sau: Cử tri và nhân dân cho rằng Quốc hội có lỗi, Quốc hội yêu cầu Chính phủ và Thủ tướng kiểm điểm trách nhiệm, Chính phủ phê bình các Bộ chức năng, và cuối cùng các Bộ (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính) hoặc không nhận lỗi, đổ lỗi cho nhau, hoặc quy trách nhiệm cho tập thể Chính phủ, tức đỗ lỗi cho “thể chế và cơ chế”. Xét cho cùng, sự “đổ lỗi” hay “không nhận trách nhiệm” như trên đều “có lý” vì theo phân tích của các chuyên gia, trên nền tảng pháp luật hiện hành, tất cả các cơ quan nói trên đều có trách nhiệm; nhưng vấn đề ở chỗ trách nhiệm đó không được xác định cụ thể và không ai chịu trách nhiệm cao nhất hay cuối cùng. Cụ thể, theo thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, ở cấp Bộ, Bộ Giao thông Vận tải là Bộ quản lý chuyên ngành, do đó chịu trách nhiệm trực tiếp, đặc biệt là về các khía cạnh hành chính và kỹ thuật của các dự án giao thông. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính là các cơ quan có chức năng quản lý tổng hợp, tức Bộ Kế hoạch và Đầu tư giám sát về tính phù hợp với quy hoạch, tuân thủ pháp luật và hiệu quả xét theo mục tiêu được xác định của các dự án, còn Bộ Tài chính giám sát về việc chi tiêu tài chính minh bạch, đúng mục tiêu và đúng luật ngân sách. Về mặt lý thuyết, đó có vẻ là một cơ cấu hoàn hảo và nếu các ba Bộ nói trên thực hiện theo đúng chức năng của mình thì có thể vụ scandal PMU 18 đã không xảy ra. Đành rằng trên thực tế, không có hệ thống quản lý nào là hoàn thiện và chặt chẽ tới mức không để xảy ra hay loại trừ được tất cả các “sự cố”. Tuy nhiên, các “sự cố” ở cơ quan PMU 18 lại đã diễn ra một cách thường xuyên và liên tục trong một thời gian dài, hơn nữa khá hiển nhiên mà không hề được báo động hay phát hiện bởi bản thân hệ thống quản lý. Cuối cùng, sự phát hiện scandal này xảy ra có vẻ rất “ngẫu nhiên”, và bắt đầu bằng những sai phạm mang tính “đạo đức sinh hoạt” của các quan chức nhà nước: đánh bạc thông qua cá độ bóng đá. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự cho tới nay cũng chỉ nhằm vào các đối tượng liên quan trực tiếp (các cán bộ lãnh đạo PMU 18) trên cơ sở các hành vi vi phạm pháp luật trực tiếp theo Bộ Luật hình sự. Trong khi đó, về vấn đề không hòan thành sứ mệnh và trách nhiệm công vụ của quan chức trong các Bộ liên quan, tuy có được bàn tới nhưng không được đánh giá và xác định cụ thể. Báo chí và dư luận xã hội đã nói công khai tới cái “lỗi hệ thống” thay vì “lỗi đạo đức” của các cá nhân. Cuối cùng, hầu như tất cả đều phải chấp nhận một “nguyên lý thực tế” rằng người ta có thể biểu dương thành tích của một hệ thống chứ không thể truy cứu trách nhiệm của cả hệ thống được, hay nói một cách khác không thể “bỏ tù tất cả” (!).  Phân tích vụ việc trên nhằm tái khẳng định rằng hiện tượng tham nhũng, một khi đã trở thành phổ biến, luôn luôn có nguồn gốc từ “thể chế”, tức các khuyết tật của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật. Muốn chống lại tham nhũng, phải bắt đầu từ nhận thức này, tức giải quyết bài toán “hệ thống quản lý” chứ không phải là hoàn thiện Bộ Luật hình sự hay các tòa án.  Trên cơ sở các phân tích và đánh giá ở trên, chúng tôi cho rằng về vấn đề quản lý ODA hiện nay, cần thành lập một Bộ hoặc cơ quan độc lập trực thuộc chính phủ chuyên trách cũng như chịu trách nhiệm trực tiếp và tòan bộ về quản lý và sử dụng các nguồn vốn ODA. Cơ quan này thực hiện nguyên tắc quản lý tập trung ở trung ương có phối thuộc với các bộ ngành khác ở trung ương và các ủy ban nhân dân địa phương trong triển khai các dự án cụ thể. Tóm tắt và khái quát các luận giải về ý tưởng này như sau:  Về lý thuyết, khi họach định chiến lược phát triển và chính sách kinh tế, chính phủ cần coi ODA là “vấn đề đặc biệt” ở cả hai khía cạnh, đó là (i) nguồn tài chính đặc biệt (tức vay với lãi suất ưu đãi và dài hạn, bên vay phải thương lượng với nhà tài trợ về mục tiêu sử dụng nhưng lại không bị giám sát về tính hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư cụ thể), và (ii) cơ chế quản lý đặc biệt (tức bên vay được hỗ trợ chuyển giao công nghệ quản lý theo các tiêu chuẩn quốc tế, tiên tiến và hiệu quả hơn hẳn so với trình độ quản lý hiện có của nước sở tại). Điều thú vị là hai khía cạnh trên chính là “hai mặt của một vấn đề”, hay là sự đan xen giữa “cơ hội” và “thách thức” đối với quốc gia nhận tài trợ. Về mặt “thách thức”, các khoản tiền ODA với các điều kiện thương mại và tài chính thuận lợi đi kèm được coi là “tiền dễ”, mà theo lẽ thường, “tiền dễ” hay đi đôi với việc quản lý lỏng lẻo, tức dẫn đến sử dụng kém hiệu quả. Mặt trái này lại trùng khớp với một hiện tượng phổ biến khác vốn đồng hành với các nước đang và kém phát triển là nền quản trị công yếu kém. Như vậy, hệ quả có thể rút ra là ODA càng được cấp nhiều thì càng tạo điều kiện cho sự “lạm dụng”, (mà biểu hiện vật chất của nó chính là tham nhũng). Thách thức này chỉ có thể vượt qua nếu một khi chính phủ của các quốc gia nhận ODA ý thức được điều đó và thay đổi cách nhìn truyền thống, vốn bị chi phối nặng bởi các nhu cầu mang tính tình thế; tức thay vì quan tâm đến khối lượng tiền ODA được giải ngân thì cần tập trung sự chú ý vào việc tiếp thu các công nghệ quản trị tiên tiến của các quốc gia phát triển.    Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý là các điều kiện khách quan để được nhận ODA không phải là “vô hạn”. Thông thường các quốc gia chỉ được xem xét tài trợ ODA khi còn ở mức độ phát triển thấp, với GDP hằng năm/đầu người dưới 1000 USD. Có nghĩa rằng trong trường hợp của Việt Nam, theo dự báo về mức độ tăng trưởng kinh tế thì đến 2010 sẽ không còn được cung cấp nguồn vốn này nữa. Trong khi đó, để phát triển thành một nước công nghiệp hóa sau đó (tức đạt mức GDP năm/đầu người khoảng 8 – 9000 USD – theo tiêu chuẩn mới hiện nay) Việt Nam vẫn cần những nguồn vốn khổng lồ để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho một nền kinh tế hiện đại. Với yêu cầu này, bài toán đặt ra là với tổng số ODA ước tính mà Việt Nam có thể huy động là 25 tỷ USD, cộng với trung bình khoảng 15% vốn đối ứng, nếu không đạt được sự sử dụng hiệu quả, tức phải tạo ra được những thành quả có ý nghĩa căn bản và lâu dài cho sự phát triển (chẳng hạn một hệ thống cơ sở hạ tầng như đường cao tốc hay các sân bay, bến cảng) thì sẽ đồng nghĩa với việc đất nước đang mất đi một cơ hội lớn để xây dựng tương lai của mình. Việc coi ODA không phải đơn giản là “tiền” mà là một cơ hội cho sự phát triển sẽ làm cho chính phủ nước tiếp nhận nguồn vốn này cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc xác định mục tiêu sử dụng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nước Đức đã ưu tiên sử dụng tài trợ của Hoa Kỳ cho việc khôi phục các cơ sở công nghiệp dân sự đã đạt trình độ cao trước Chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi đó Nhật Bản lại sử dụng nguồn tiền này cho hai mục tiêu chính là xây dựng nền giáo dục mới và các nhà máy công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Cả hai quốc gia này đều là điển hình của việc sử dụng hiệu quả vốn “ODA” để tạo nên các bước phát triển nhảy vọt sau đó. Trong khi đó, tại Việt Nam, hình như ODA đã và đang được sử dụng cho quá nhiều các mục tiêu dàn trải, từ cải cách thể chế và pháp luật đến xây dựng cơ sở hạ tầng và xóa đói giảm nghèo… Có nghĩa là ODA là một “cái bánh ngon” nên cần được chia đều cho tất cả.  Các lý giải ở trên, diễn đạt một cách ngắn gọn và đơn giản, ngụ ý rằng nếu coi ODA là “vấn đề đặc biệt thì cần quản lý nó cũng bằng một “cơ chế đặc biệt”. Tuy nhiên, ai đó có thể hỏi rằng làm sao để “cơ chế đặc biệt” đó tương thích với “hệ thống tổng thể” để không tạo ra các “chồng chéo”, “mâu thuẫn” cũng như nhằm bảo đảm hiệu quả cho sự phát triển nói chung? Câu trả lời nằm trong “nghệ thuật điều hành” của Chính phủ và trực tiếp hơn là vai trò “điều phối” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với tư cách cần có là một “siêu bộ” chứ không phải chỉ là bộ “tham mưu, tổng hợp”. Tương tự, một tư duy mới có tính “đột phá” cần phải có để triển khai “cơ chế đặc biệt” này là hãy coi việc quản lý ODA với các “công nghệ tiên tiến” được chuyển giao là một mô hình quản trị công tương lai cần hướng tới, trong đó “Bộ quản lý ODA” là bước đi thử nghiệm.      Thay lời kết  Tóm lại, việc đề xuất thành lập một cơ quan chính phủ độc lập quản lý ODA bắt nguồn từ triết lý cơ bản rằng bản chất của ODA đối với một quốc gia đang chuyển đổi như Việt Nam không phải chỉ là nguồn tài chính, mà quan trọng hơn, còn là sự “lồng ghép” về chính trị và thể chế. Thông qua việc tài trợ và tiếp nhận ODA, về chính trị, đó là sự tiếp cận giữa hệ thống “Dân chủ phương Tây” và hệ thống “Xã hội Chủ nghĩa”; còn về thể chế, đó là sự tương tác giữa hai cấp độ phát triển. Tính chất “lồng ghép” như vậy, xét về mặt khoa học, đòi hỏi những cơ chế trung gian, các bước chuyển tiếp hay quá độ, với mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công một thể chế nhà nước mới với một nền quản trị công hiện đại. Nếu quá trình này không được tiến hành như vậy, bản thân tính chất “lồng ghép”, (vốn tồn tại như một thực tế), sẽ đương nhiên tạo ra cái gọi là các “khe hở” hay “khiếm khuyết” về quản lý, là hệ quả của sự “vênh” giữa hai hệ thống quản lý hoàn toàn khác biệt, và đó là các tiền đề cả về lý thuyết và thực tiễn cho các hiện tượng tham nhũng trong lĩnh vực ODA vừa qua.    Author                Quản trị        
__label__tiasang OER- Các cột mốc quan trọng của giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở trong chương trình nghị sự quốc tế      Dưới đây là 5 cột mốc quan trọng của Giáo dục Mở – OE (Open Education) và Tài nguyên Giáo dục Mở – OER (Open Educational Resources) trong chương trình nghị sự quốc tế.      Hình 1: Các cột mốc quan trọng của OE/OER trong chương trình nghị sự quốc tế.  Cột mốc 1: UNESCO lần đầu đưa ra khái niệm OER năm 2002  Các dấu hiệu về sự xuất hiện của tài nguyên giáo dục mở đã có từ cuối những năm 1990 và vài năm đầu của những năm 2000 ở một vài nơi trên thế giới, nhất là tại nước Mỹ. Tuy nhiên phải tới khi UNESCO lần đầu tiên đưa ra khái niệm Tài nguyên Giáo dục Mở – OER (Open Educational Resources) vào năm 2002 tại Diễn đàn UNESCO về ‘Ảnh hưởng của Học liệu Mở – OCW (Open Courseware) đối với giáo dục đại học ở các quốc gia đang phát triển’, cột mốc quan trọng đầu tiên về Giáo dục Mở – OE (Open Education) và OER trong chương trình nghị sự quốc tế mới chính thức được xác lập. Kể từ đó, đã có sự gia tăng đáng kể cả về phát triển, sử dụng và chia sẻ OER khi ngày càng nhiều hơn các chính phủ và cơ sở giáo dục nhận thức được về giá trị của nó.  UNESCO định nghĩa tài nguyên giáo dục mở như sau:  Tài nguyên Giáo dục Mở là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu trong tất cả các phương tiện – dù là số hay không – nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo một giấy phép mở cho phép những người khác truy cập không mất chi phí, sử dụng, tùy biến thích nghi và phân phối lại không có các hạn chế hoặc có các hạn chế có giới hạn.  Sở dĩ ta nói cột mốc quan trọng này cũng là của Giáo dục Mở – OE (Open Education), vì nền tảng của OE chính là OER.  Định nghĩa Giáo dục Mở của Liên minh Xuất bản Học thuật và Tài nguyên Hàn lâm – SPARC (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition) là như sau:  Giáo dục Mở xoay quanh các tài nguyên, các công cụ và các thực hành là tự do, không có các rào cản về pháp lý, tài chính và kỹ thuật  và có thể hoàn toàn được sử dụng, được chia sẻ và được tùy biến thích nghi trong môi trường số… Nền tảng của Giáo dục Mở là Tài nguyên Giáo dục Mở.  Cột mốc 2: Tuyên bố Giáo dục Mở Cape Town năm 2007  Vào năm 2007, những người ủng hộ OE/OER trên thế giới đã nhóm họp tại Cape Town, Nam Phi, và đã đưa ra Tuyên bố Giáo dục Mở Cape Town 2007, đánh dấu cột mốc quan trọng thứ 2 trong chương trình nghị sự quốc tế của OE/OER.  Tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ OE/OER, khuyến khích các nhà giáo dục và những người học trở thành những người tham gia tích cực trong phong trào OE và kêu gọi tất cả các bên tham gia đóng góp phát triển các tài nguyên giáo dục phát hành chúng như là OER.  Tuyên bố nêu: Giáo dục mở không có giới hạn chỉ cho tài nguyên giáo dục mở. Nó cũng dựa vào các công nghệ mở để tạo thuận lợi cho học tập cộng tác, mềm dẻo và chia sẻ mở các thực hành dạy học để trao quyền cho các nhà giáo dục nhằm hưởng lợi từ những ý tưởng tốt nhất từ các đồng nghiệp của họ. Nó có thể cũng phát triển để bao gồm cả các tiếp cận mới về đánh giá, công nhận và học tập cộng tác.    Tuyên bố đưa ra 3 chiến lược nhằm gia tăng sự vươn tới và tác động của tài nguyên giáo dục mở:  1. Các nhà giáo dục và những người học: Trước hết, chúng tôi khuyến khích các nhà giáo dục và những người học tích cực tham gia vào phong trào giáo dục mở đang nổi lên. Việc tham gia bao gồm: tạo lập, sử dụng, tùy biến thích nghi và cải thiện tài nguyên giáo dục mở; ôm lấy các thực hành giáo dục mở được xây dựng xung quanh sự cộng tác, phát hiện và tạo lập tri thức; và mời các bạn ngang hàng và các đồng nghiệp cùng tham gia vào. Việc tạo lập và sử dụng các tài nguyên mở nên được coi là phần không thể thiếu đối với giáo dục và nên được hỗ trợ và thưởng tương xứng.  2. Tài nguyên giáo dục mở: Thứ hai, chúng tôi kêu gọi các nhà giáo dục, tác giả, nhà xuất bản và các cơ sở phát hành các tài nguyên của họ mở. Các tài nguyên giáo dục mở đó nên được chia sẻ tự do qua các giấy phép mở để tạo thuận lợi cho bất kỳ ai để sử dụng, tùy biến thích nghi, dịch, cải tiến và chia sẻ. Các tài nguyên nên được xuất bản ở các định dạng tạo thuận lợi cho sử dụng và soạn sửa, và thích nghi được với sự đa dạng các nền tảng kỹ thuật. Bất kỳ khi nào có thể, chúng cũng nên là sẵn sàng ở các định dạng sao cho những người khuyết tật và những người còn chưa có sự truy cập tới Internet cũng truy cập được.  3. Chính sách giáo dục mở: Thứ ba, các chính phủ, các ban lãnh đạo các trường học, các trường cao đẳng và đại học nên làm cho giáo dục mở trở thành ưu tiên cao. Lý tưởng, các tài nguyên giáo dục được những người đóng thuế cấp tiền nên là các tài nguyên giáo dục mở. Các quy trình công nhận và áp dụng nên trao sự ưu tiên cho tài nguyên giáo dục mở. Các kho tài nguyên giáo dục nên tích cực đưa vào và nhấn mạnh các tài nguyên giáo dục mở trong các bộ sưu tập của chúng.    Gặp gỡ giáo dục mở (Open Education Meet Up) về Tuyên bố giáo dục Mở Cape Town: 10 hướng đi để thúc đẩy Giáo dục mở, diễn ra tại re:publica 2018, hội thảo về internet và xã hội số lớn nhất châu Âu, Đức. Ảnh: Jöran Muuß-Merholz  Cột mốc 3: Tuyên bố Paris 2012 về OER  Hội nghị Thế giới lần thứ nhất về OER diễn ra trong các ngày 20-22/06/2012 tại trụ sở của UNESCO ở Paris, Pháp. Hội nghị đã đưa ra Tuyên bố, gọi là Tuyên bố Paris 2012 về OER, với 10 điểm khuyến cáo cho các quốc gia, theo năng lực và quyền hạn của mình, thúc đẩy OER vì sự phát triển.  Tuyên bố khuyến khích các chính phủ khắp trên thế giới cấp phép mở cho các tư liệu giáo dục được nhà nước cấp vốn để sử dụng công cộng:  “Các chính phủ/các cơ quan có thẩm quyền có thể tạo ra những lợi ích to lớn cho các công dân của họ bằng việc đảm bảo các tư liệu giáo dục được phát triển bằng các vốn cấp của nhà nước được làm cho sẵn sàng theo các giấy phép mở (với bất kỳ hạn chế nào họ thấy cần thiết) để tối đa hóa ảnh hưởng của sự đầu tư đó”.  Cột mốc 4: Tuyên bố Ljubljana 2017 về OER  Trong các ngày 18-20/09/2017, tại Ljubljana, Slovenia, đã diễn ra Hội nghị Thế giới lần thứ hai về OER với sự tham gia của 100 quốc gia thành viên UNESCO, 30 bộ trưởng và thứ trưởng, với 500 người tham dự với chủ đề hội nghị ‘OER vì giáo dục bao hàm toàn diện và công bằng: từ cam kết tới hành động’, đã đưa ra Tuyên bố Ljubljana 2017 về OER ‘Từ cam kết tới hành động’.  Kế hoạch hành động Ljubljana với 41 “khuyến cáo cho OER dòng chủ lưu để hỗ trợ cho mục tiêu phát triển bền vững 4 (SDG 4)” đã được thông qua. Kế hoạch hành động OER Ljubljana 2017 kêu gọi vì dòng chủ lưu OER ở tất cả các mức giáo dục và nhắc lại lời kêu gọi của Tuyên bố Paris đối với các chính phủ làm cho các tư liệu giáo dục sẵn sàng theo các giấy phép mở. Nó yêu cầu rõ ràng: “Các tài nguyên giáo dục được nhà nước cấp vốn nên được phát triển và chia sẻ như là các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở”.  Kế hoạch đưa ra 41 hành động khuyến cáo cho các chính phủ theo 5 lĩnh vực trọng tâm:  1. Xây dựng năng lực của người sử dụng để tìm kiếm, sử dụng lại, tạo lập và chia sẻ OER.  2. Các vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa.  3. Đảm bảo truy cập bình đẳng và toàn diện tới OER chất lượng.  4. Phát triển các mô hình bền vững.  5. Phát triển các môi trường chính sách hỗ trợ.  Hội nghị khẳng định vai trò then chốt OER có thể đóng để hướng tới việc đạt được các mục tiêu chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030, và trên hết tất cả, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững 4 – SDG 4 (Sustainable Development Goal 4) về giáo dục chất lượng.  Hội nghị khẳng định sức mạnh của OER giúp biến đổi việc dạy và học ở tất cả các mức độ của giáo dục, chúng gồm:  1. Truy cập tới sách giáo khoa được cải thiện.  2. Chất lượng được cải thiện.  3. Thực hành nghề nghiệp của giảng viên được cải thiện.  4. Truy cập gia tăng tới các tài nguyên không phải tiếng Anh.  5. Tiết kiệm chi phí cho những người học.  6. Hỗ trợ cho học tập suốt đời.  7. Đa dạng về văn hóa.  Hội nghị cũng đã đưa ra các khuyến cáo hành động cụ thể cho các nhóm đối tượng khác nhau gồm: (1) Các tổ chức liên chính phủ; (2) Các chính phủ; (3) Các cơ sở giáo dục; (4) Các cơ quan đảm bảo chất lượng; (5) Khu vực tư nhân; (6) Các tổ chức xã hội dân sự; (7) Các cơ quan và các nhóm nghiên cứu; (8) Các giảng viên và thủ thư; (9) Những người học.  Cột mốc 5: Khuyến cáo của UNESCO về OER 2019?  UNESCO và các quốc gia thành viên của mình hiện đang làm việc về một văn bản khuyến cáo cho sự cộng tác quốc tế trong tương lai về OER. Khuyến cáo này sẽ đưa ra các nguyên tắc và chuẩn mực cho sự điều chỉnh quốc tế về OER. Một khi khuyến cáo được chuyển qua Hội nghị Toàn thể của UNESCO vào cuối năm 2019, các quốc gia thành viên của UNESCO sẽ được mời để tiến hành các bước lập pháp và khác để áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mức đó trong lãnh thổ tương ứng của họ.  Vài sự kiện và con số đáng lưu ý về OE/OER của thế giới rất gần đây  Có lẽ thành tích nổi bật và dễ nhận thấy nhất, là số lượng hơn 1 tỷ 470 triệu các tài nguyên được cấp phép mở Creative Commons cho tới hết năm 2017, cùng hàng loạt các thành tích khác không chỉ trong lĩnh vực OE/OER, mà còn ở các lĩnh vực có liên quan khác như khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở, ở mức độ phạm vi khắp trên thế giới.  Nhân kỷ niệm 10 năm Tuyên bố Giáo dục Mở Cape Town, tuyên bố đó đã được cập nhật với mục tiêu đưa phong trào giáo dục mở tới mức tiếp theo với ‘10 đường hướng để đưa giáo dục mở tiến lên’, bao gồm: (1) Truyền thông mở; (2) Trao quyền cho thế hệ sau; (3) Kết nối với các phong trào mở khác; (4) Giáo dục mở vì sự phát triển; (5) Sư phạm mở; (6) Suy nghĩ vượt ra ngoài tổ chức; (7) Dữ liệu và phân tích; (8) Vượt ra ngoài sách giáo khoa; (9) Mở ra các tài nguyên được nhà nước cấp vốn; (10) Cải cách bản quyền cho giáo dục.  Bên cạnh các mặt được, cũng còn có các vấn đề, các mặt chưa được trong triển khai thực tế của phong trào OE/OER thế giới, đặc biệt khi các giảng viên và những người chỉ dẫn trong giáo dục nói chung còn chưa gắn thực tế giảng dạy của họ với thực hành OE/OER và đối với nhiều người, việc tìm ra các OER phù hợp còn là công việc mất nhiều thời gian.  Cũng đã nổi lên các nhà vô địch thế giới, những đơn vị giành các giải thưởng về Giáo dục Mở 2018 cho các hạng mục mới được đưa vào như: (1) Tài nguyên; (2) Công cụ; (3) Thực hành mở với các đơn vị giành giải gồm:  ● SÁCH GIÁO KHOA MỞ: Hướng dẫn Tạo lập các Sách giáo khoa Mở với các Sinh viên, Cộng đồng Rebus, Montreal, Quebec, Canada.  ● KHO OER (BỘ SƯU TẬP HOẶC THƯ VIỆN): SHMS – Mạng OER Ả rập Xê út, Trung tâm Quốc gia về học tập điện tử, Riyadh, Ả rập Xê út và VIDYA-MITRA: Cổng Nội dung điện tử Tích hợp.  Trung tâm Mạng Thông tin và Thư viện, Gandhinagar, Ấn Độ.  ● DỮ LIỆU MỞ: ROER4D, Nghiên cứu về Tài nguyên Giáo dục Mở vì sự Phát triển, Sáng kiến Dữ liệu Mở, Đại học Cape Town, Cape Town, Nam Phi.  ● SƯ PHẠM MỞ: Hộ chiếu OER, Viện Núi Cao (Mountain Heights Academy), Tây Jordan, Mỹ và Red EuLES/ Mạng EuLES, Đại học Zaragoza, Zaragoza, Tây Ban Nha.  Cùng với các nhà vô địch MỞ khác, họ là những hình mẫu và tấm gương trong lĩnh vực OE/OER cho các quốc gia/cơ sở giáo dục khắp trên thế giới noi theo.  Lời kết  Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 trong Phần III- Nhiệm vụ, giải pháp đã nêu: ‘Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập’.  Phát biểu tại hội thảo ‘Hệ thống giáo dục mở trong bối cảnh tự chủ giáo dục và hội nhập quốc tế’ ngày 16/05/2018, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nêu: “Bàn về giáo dục mở thì chắc có nhiều việc phải làm. Trước hết cần nhận diện tất cả những rào cản vô hình và hữu hình. Theo tinh thần là các rào cản đó phải được gỡ bỏ một cách kiên quyết”; và: “Xây dựng được kho học liệu mở đủ lớn sẽ có tác dụng rất thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy và học”. Quả thực, đây là những điều cơ bản nhất, như được nêu trong định nghĩa về OE/OER ở bên trên.  Dù còn rất nhiều khó khăn trong ứng dụng và phát triển OE/OER tại Việt Nam, nhưng rõ ràng cũng có nhiều điểm thuận lợi, cả trong nước lẫn ngoài nước, và vì vậy chúng ta có quyền hy vọng, Việt Nam trong thời gian tới sẽ không bỏ lỡ chuyến tàu OE/OER, đặc biệt khi mà cột mốc quan trọng thứ 5 của OE/OER trong chương trình nghị sự quốc tế nhiều khả năng sẽ rơi vào cuối năm nay, 2019, với việc UNESCO có thể sẽ đưa ra các khuyến cáo với các nguyên tắc và chuẩn mực cho sự điều chỉnh quốc tế về OER; và Việt Nam, với tư cách là một quốc gia thành viên của UNESCO, có thể được mời để tiến hành các bước lập pháp và khác để áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mức đó tại Việt Nam.  Hy vọng 2019 sẽ là năm bùng nổ các hoạt động về OE/OER hướng tới cột mốc quan trọng thứ 5 đó ở Việt Nam. □  ——–  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Ông bác sĩ với cây đàn cello      Trong chuyến du xuân tại Siem Reap, tôi có cái duyên được gặp ông bác sĩ nhi khoa người Thụy Sĩ, hiện là giám đốc của ba bệnh viện nhi khoa hiện đại của nước Campuchia, ông Beat Richner. Xin đọc tên ông là Bi-át vì cái sự tình cờ tên ông cũng có cấu tạo như động từ to beatify có nghĩa là “phong thánh”. Và quả tình công việc ông làm ở đây thật thánh thiện. Thánh thiện và có phương pháp. Xin cho tôi được kể về ông.    Đường vào hai khu đền Angkor đi ngang cổng bệnh viện của ông. Ở cổng có tấm quảng cáo Bác sĩ Beatocello biểu diễn cello nhạc J. S. Bach – vào cửa không mất tiền –  7 giờ 15 phút các chiều thứ bảy.  Với cánh du lịch “ba-lô”, làm sao có thể bỏ qua một lời mời mọc như thế? Tới cửa thì rõ, biểu diễn không bán vé, nhưng tùy tâm, xin bỏ tiền vào hộp tặng bệnh viện. Một bệnh viện nhi khoa sang trọng, mát rượi, tọa lạc trên miếng đất vài ba hecta, thế mà lại còn cần đến sự hảo tâm của khách qua đường?              Biểu diễn cello gây quỹ cho bệnh viện từ thiện        Bác sĩ Beat chừng sáu chục tuổi, không cao to. Đúng bảy giờ mười lăm phút, bác sĩ vào căn phòng 600 ghế ngồi đông kín. Bác sĩ mở hộp lấy ra cây đàn, bước lên sân khấu ngồi vào chiếc ghế nhựa đen, trước mặt là cây mi-crô, dưới sàn là hộp giấy lau. Giản dị thế đó cái người giờ đây mỗi năm quản lý 17 triệu đô-la. Ông bắt đầu đàn, không một lời giới thiệu. Ông chơi một khúc chừng 3 phút thì dừng lại. Và ông chơi nhiều khúc như thế và nhiều lần dừng lại như thế. Mỗi lần dừng, ông diễn thuyết. Cũng chỉ diễn thuyết chừng 3 phút thôi. Ông nói về ba bệnh viện nhi khoa của nước Campuchia, về đường lối hiện đại hóa ba bệnh viện đó, về gây qũy để xây dựng và hoạt động, về nguyên tắc phục vụ bệnh nhi không mất tiền, về chống tham nhũng đối với các tổ chức quốc tế và trong nước, về đào tạo bác sĩ và chuyên gia địa phương… Có hai lần bác sĩ chơi nhạc xong mà không nói, nhường lời cho đoạn băng chiếu lên màn hình sau lưng ông…  Cuộc đời ông bác sĩ này cũng đáng để ta biết đến.  Năm 1974 ông là một bác sĩ nội trú thực tập tại bệnh viện Kantha Bopha ở thủ đô Phnom Penh. Kantha Bopha tiếng Campuchia nghĩa là “bông hoa nhỏ thơm tho”. Đó chính là tên con gái vua Sihanouk, chết khi mới 13 tuổi vì bệnh máu trắng. Năm 1962, Kantha Bopha được đặt cho cái nhà thương nhi khoa số 1 này ở thủ đô.  Năm 1975 chàng trai Beat trốn khỏi Campuchia để thoát tay bọn diệt chủng. Beat về Thụy Sĩ học tiếp tốt nghiệp khoa cello, và mở một bệnh viện nhi khoa tư.   Cuộc đời run rủi ra sao đó, cuối năm 1991 Beat đi chơi xứ Chùa Tháp, gặp lại cái nhà thương xưa nay đang nằm im tan hoang, rồi ngài Sihanouk mời Beat xây dựng lại bệnh viện Kantha Bopha đổ nát ấy. Ông quyết định nhận lời và tự tay tôi phải mó vào mọi việc(*).  Việc đầu tiên là tiền đâu…  Ông xin tài trợ từ chính phủ liên bang Thụy Sĩ, từ các ngân hàng lớn và nhất là từ các công ty hóa chất lớn. Ông tính toán thế này: chính phủ Thụy Sĩ thay mặt một nước giàu cần viện trợ nhân đạo cho nước nghèo; ngân hàng bớt chút tiền làm từ thiện; công ty hóa chất lãi nhiều nhờ bán thuốc bớt cho trẻ ốm đau cũng là lẽ thường tình. Nhưng các ngân hàng lớn, các công ty hóa chất đều quay lưng lại… Chính phủ Thụy Sĩ cũng trù trừ, mãi sau này mới quyết định chi mỗi năm một triệu franc Thụy Sĩ (nhưng chi đều đặn cho mãi tới bây giờ). Sự ủng hộ lại đến từ hai người bạn làm báo Le matin và Schweizer Illustrierte. Beat quyết định: từ nay, mỗi tuần biểu diễn đàn cello một lần và diễn thuyết gây qũy, nơi rót tiền ủng hộ là tài khoản của Beat ghi trên tờ Schweizer kia… Năng nhặt chặt qũy, tính đến 1996, số tiền “lòng vàng” đó đã hơn 30 triệu franc Thụy Sĩ…  Khi lưng vốn hòm hòm, chính phủ Thụy Sĩ lại đều đặn rót cho, Beat bay qua Phnom Penh, bắt tay vào xây dựng lại bệnh viện Kantha Bopha.              Người bác sĩ từ tâm cùng bệnh nhân “nhí” của mình        Đường lối của Beat ngay từ đầu là: không làm thì thôi, đã làm thì phải hiện đại. Vì hiện đại thì mới mang tính khoa học và mới có hiệu quả kinh tế. Cái lý của ông thế này: chữa bệnh mà dùng giải pháp nửa vời thì tiền mất tật mang, và vô đạo đức vì đó là đánh lừa người dân. Ông cử một bác sĩ giỏi bạn thân của mình phụ trách điện nước. Công tác vệ sinh bệnh viện cũng giao cho một bác sĩ giỏi. Bệnh viện phải làm cả việc chữa bệnh và phòng bệnh. Ông đặt mua máy móc xịn nhất về dùng. Đơn giản thế này thôi: tiếp máu ư? Nếu máu có HIV và siêu vi Gan B và C thì sao? Thử máu để loại bỏ các tác nhân xấu đó đâu có dễ và rẻ tiền? Trong ngày đầu Kantha Bopha tái hoạt động, điện ở thủ đô còn xập xệ, ông cho mua hẳn từ Singapore một máy phát điện 60 nghìn đô-la. Ông lập luận đơn giản: đang mổ mà mất điện thì để con người ta chết à?  Nhưng chớ nghĩ một đường lối như thế sẽ được mọi người hoan nghênh. Những người vừa dốt nát vừa quan liêu và lại vướng vào tham nhũng nữa thì đều chống lại. Và họ chống lại có lý có lẽ: Các nước nghèo của thế giới thứ ba không nên có một nền Y tế sang trọng và đắt tiền. Cô nương chủ tịch Quỹ “Cứu trẻ em” (Save Children Funds) còn nói như sau: chữa bệnh và phòng bệnh ở nước này thì hãy dạy cho họ rửa tay là đủ. Một vợ bộ trưởng gợi ý mua cho tôi một chiếc Land Cruiser thì có đủ các thứ dự án và thừa chi tiêu… Một quan chức y tế cao cấp “quốc tế” nghỉ ở khách sạn 340 đô-la một đêm chỉ cách bệnh viện vài chục mét nhưng không tới thăm và chỉ nhắn một lời khuyên không nên xa xỉ trong công tác Y tế ở các nước nghèo… Và mặc dù tham nhũng là bệnh của kẻ có quyền và có tiền nhưng không loại trừ những thói hư tật xấu ở đội ngũ nhân viên y tế khi mà lương bình quân mỗi tháng là 18 đô-la. Tiền, tiền, tiền, đụng tới đâu cũng thấy vòi tiền, thậm chí có sản phụ lên bàn đẻ rồi còn phải lột cái vòng cổ ra đặt cọc thì mới được vượt cạn…  Beat tâm sự trong sách của mình: nhiều lần tôi chán nản muốn bỏ cuộc. Những lần như thế, tôi mang đàn vào chùa Angkor Thom và kéo đàn. Nghĩ đến các con bệnh non nớt mỗi năm có thể chết hàng nghìn cháu, thế là lại quay về tiếp tục công việc. Làm việc và đấu tranh lại. Cách hiệu quả nhất Beat quen dùng là viết báo. Vốn là công dân một nước dân chủ, ông hiểu rằng, ngay trong lòng một thể chế dân chủ, thì cũng có lúc quyền lực rơi vào tay một kẻ chuyên chế hoặc một phe đa số chuyên chế. Khi đó con người dân chủ chỉ có hai vũ khí là tự do báo chí và tự do lập hội. Ông đã triệt để sử dụng hai vũ khí dân chủ đó để xây dựng không chỉ một mà giờ đây đã là ba bệnh viện.  Bệnh viện thứ nhất, Kantha Bopha sau sáu tháng phục hồi đã hoạt động năm 1992. Kantha Bopha thường xuyên bị quá tải, bác sĩ Beat phải nghĩ đến một bệnh viện nữa. Ông xin mảnh đất sát Kantha Bopha I, song các quan chức đều lắc đầu từ chối. Nó đã được một nước viện trợ nhiều ODA nhăm nhe. Loay hoay mãi, cuối cùng chính Sihanouk cắt đất trong hoàng cung cho xây bệnh viện Kantha Bopha II. Mùa thu năm 1996, bệnh viện Kantha Bopha II ra đời hoạt động song song với Kantha Bopha I. Rồi bác sĩ Beat về Siem Reap và thấy vùng đất xa xôi này có quá nhiều trẻ em bị lao và các bệnh của miền nhiệt đới nghèo khổ lâu đời. Ông xin phép xây dựng một bệnh viện nữa ở đây. Ngay lối đi vào đền, một ông bộ trưởng có mảnh đất định xây khách sạn năm sao đón khách du lịch, đã tìm cách ngăn cản dự định đó. Beat lại tìm cách thuyết phục và đấu tranh trên báo chí. Và thuyết phục tốt nhất, dễ thu phục lòng người nhất là dùng cứ liệu văn hóa địa phương. Đền Angkor Thom gắn với tên tuổi Vua Jayavarman VII, ông vua trị vì 40 năm từ 1181 đến 1220, ông vua không chỉ xây đền chùa mà còn xây 102 nhà thương cho dân, ông vua đã nói nỗi đau khổ của dân là nỗi đau khổ của nhà vua.  Bác sĩ Beat cuối cùng đã xây được một bệnh viện nữa khánh thành đầu thiên niên kỷ, và lần này nó có tên là Jayavarman VII… chỗ chúng tôi được vinh dự tới thăm và đang lắng nghe tiếng đàn của ông đây…  Kể từ khi gây quỹ lần đầu tới nay, bác sĩ Beat biểu diễn hàng trăm lần: ông nhớ lại, tính đến hôm 4 tháng 4 năm 2002, ông đã chơi đàn gây qũy lần thứ 146!  Tự tay ông trao tiền lương hàng tháng cho 1.400 nhân viên. Ông làm việc mỗi tuần 8 ngày, bốn ngày ở hai bệnh viện tại Phnom Penh và bốn ngày ở Jayavarman VII, ngày thứ hai bao giờ cũng căng những việc, nên coi đó là 2 ngày. Trong 1400 người làm việc với ông, chỉ có 4 chuyên gia nước ngoài. Các sinh viên Y khoa được thực tập và đào tạo ngay tại các bệnh viện hoàn toàn hiện đại của nước mình do ông lập ra cho họ.  Hoàn toàn hiện đại, trừ… Tại bệnh viện của ông, không có máy thở ô-xy đắt tiền. Ông trang bị những chiếc bơm ô-xy bằng tay, để những bà mẹ bệnh nhi tự tay bơm cho con mình thở, vì các bà cảm nhận được từng nhịp sống của con họ, đồng thời cũng để con bệnh không khi nào cảm thấy bơ vơ cạnh máy móc tối tân vô cảm…  Cuối sách, ông viết:  Con đường tôi đi kể từ tháng chạp 1991 giống như một cuộc dạo chơi tới đường chân trời, đi cứ đi. Song đôi chân tôi không chạm đất. Tựa hồ như tôi đang bay lượn tới nơi chân trời xa, cận kề với biển khơi đầy sao trời. Khi chọn cho mình cuộc dạo chơi như thế, tôi cần phải dứt bỏ khỏi cảnh yên ổn vật chất sống còn của môi trường văn hóa riêng. Cuộc dạo chơi ấy cũng đòi hỏi bản thân tôi phải nỗ lực. Đồng thời nó cũng cho tôi thấy rõ cả những ngôi sao trần thế dưới này lẫn những ngôi sao thiên giới trên kia. Hằng hà sa số sao trời trần thế này đi thẳng vào lòng ta, và còn vô số sao trời trên kia rồi sẽ thành những thực tại ở chốn đây và sẽ ở lại mãi mãi nơi đây. Sống với những thực tại ấy ở dưới này và ở trên kia tựa hồ như tôi đang bước đi dần vào vũ trụ. Mỗi bước đi là một hành động sáng tạo, và những bước chân tiếp nối theo nhịp âm nhạc, đó cũng có chút gì như thơ ca. Và nếu như mỗi con người thấy lòng mình còn rộn ràng tình yêu, niềm tin và hy vọng, khi đó chúng ta sẽ tìm thấy một ý nghĩa cho chuyến dạo chơi tới chân trời và chúng ta sẽ thành thơ ca thuần khiết.   ———–  (*)  Các đoạn trích in nghiêng và nội dung tóm lược đều rút từ cuốn sách do bác sĩ Beat Richner viết, Le médecin au violoncelle, nhà xuất bản Favre, Zurich, 2004.    PHẠM TOÀN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ong bắp cày có giá trị với hệ sinh thái, nền kinh tế và sức khỏe như ong mật      Những con ong bắp cày xứng đáng được coi là có giá trị cao như những loài côn trùng khác như ong mật, do vai trò của chúng như kẻ săn mồi, kẻ thụ phấn…, theo một bài báo do các nhà khoa học ở UCL và trường đại học East Anglia thực hiện.      Loài ong bắp cày giấy. Nguồn: MSU  Nghiên cứu “Ecosystem services provided by aculeate wasps” (Những dịch vụ hệ sinh thái do các con ong bắp cày có ngòi cung cấp) xuất bản trên Biological Reviews, nêu ra bằng chứng từ hơn 500 bài báo khoa học để đưa ra nhận xét về cách khoảng 33.000 loài ong bắp cày có nọc đóng góp vào hệ sinh thái mà chúng tham gia và cách điều này có thể đem lại lợi ích cho nền kinh tế, sức khỏe con người và xã hội.  Giáo sư Seirian Sumner (Trung tâm nghiên cứu Đa dạng sinh học và môi trường UCL), tác giả chính của công trình, cho biết: “Ong bắp cày là một trong những loài côn trùng mà chúng ta vừa yêu và lại ghét. Nó bị cho là không giống như ong mật, không thụ phấn cho mùa màng của chúng ta và làm ra mật. Trong nghiên cứu trước, chúng tôi đã tìm ra là sự căm ghét ong bắp cày chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết về vai trò của ong bắp cày trong các hệ sinh thái và cách chúng có thể đem lại lợi ích cho con người vẫn được lan truyền rộng rãi”.  “Ong bắp cày ít được nghiên cứu hơn những loài côn trùng khác như ong mật, vì vậy chúng tôi giờ mới chỉ bắt đầu hiểu một cách đúng đắn về giá trị và tầm quan trọng của chúng trong các dịch vụ hệ sinh thái. Tại đây, chúng tôi đã nhìn nhận và đánh giá lại bằng chứng thuyết phục nhất và tìm thấy con bắp cày có thể có giá trị tương tự như những loài côn trùng được yêu thích như ong mật, nếu như chúng ta cho thêm chúng cơ hội chứng tỏ bản thân mình”.    Ong bắp cày còn là kẻ thụ phấn cho cây cối. Nguồn: Skynews  Những con ong bắp cày là những kẻ săn mồi hàng đầu, đe dọa mạng sống của những loài côn trùng khác. Việc các con côn trùng săn mồi – như hành động kiểm soát sinh học để bảo vệ mùa màng – có giá trị ít nhất 416  triệu đô la mỗi năm trên toàn thế giới. Đúng vây, con số này hầu như xem xét một cách hoàn toàn  những đóng góp của kẻ săn mồi ong bắp cày. Nghiên cứu của họ nhấn mạnh vào cách vai trò của ong bắp cày như những kẻ săn mồi khiến cho chúng giá trị hơn với nông nghiệp. Ong bắp cày điều chỉnh dân số của động vật chân đốt giống như rệp vừng và sâu bướm, những loài vẫn phá hủy mùa màng. Các loài ong bắp cày cô độc có xu hướng trở thành các chuyên gia phù hợp vói việc quản lý dân số của một loài cụ thể  trong khi các loài ong cắp cày sống theo đàn là những kẻ săn mồi phổ biến, có thể hữu dụng trong việc kiểm soát một phạm vi rộng các loài chuyên phá hoại mùa màng ở một địa phương.  Các nhà nghiên cứu cho biết, các con ong bắp cày có thể được dùng như những hình thức kiểm soát côn trùng bền vững trong các quốc gia phát triển, đặc biệt trong những quốc gia nhiệt đới, nơi các nông dẫn có thể gia tăng số lượng những loài ong bắp cày địa phương ít nguy cơ rủi ro với môi trường tự nhiên. Giáo sư Sumner và đồng nghiệp mới xuất bản một nghiên cứu cho thấy các loài ong bắp cày phổ biến đều là những kẻ săn mồi hiệu quả, có thể kiểm soát các loài côn trùng với hai loại cây có giá trị kinh tế cao ở Brazil là ngô và mía đường.  Công trình này nhấn mạnh vào các dịch vụ thụ phấn do ong bắp cày thực hiện. Sự phụ phấn của côn trùng là sống còn với côn trùng và tầm quan trọng về kinh tế đã được đánh giá lớn hơn 250 tỉ đô la mỗi năm trên toàn thế giới.    Nguồn: MSU  Các nhà nghiên cứu tìm ra bằng chứng ong bắp cày thăm thú 960 loài cây khác nhau, trong đó có 164 loài cây hoàn toàn phụ thuộc vào sự thụ phấn của chúng như một số loài phong lan có đáp ứng tiến hóa để thu hút ong bắp cày mà chúng phụ thuộc, như một sự xuất hiện của một bộ phận bắt chước phần đuôi của ong bắp cày cái. Nhiều con ong bắp cày cũng là chuyên gia thụ phấn cho một lượng rất lớn cây cối, vì vậy các nhà nghiên cứu cho biết chúng có thể xứng đáng như “những kẻ thụ phấn dự trữ” nếu như một loài cây mất đi kẻ thụ phấn địa phương của chúng.  Nghiên cứu cũng miêu tả những tác dụng khác của ong bắp cày như nguyên liệu làm thuốc như nọc ong và dịch tiết có những đặc tính giống kháng sinh, trong khi nọc ong bắp cày màu vàng đã chứng tỏ có nhiều hứa hẹn trong điều trị ung thư. Ong bắp càu có thể còn là một nguồn thực phẩm giá trị như ấu trùng của chúng đã được săn lùng ở nhiều quốc gia nhiệt đới để ăn.  Đồng tác giả, tiến sĩ Alessandro Cini (Trung tâm nghiên cứu Đa dạng sinh học và môi trường UCL và trường đại học Florence) nói: “Chúng ta vẫn còn hiểu biết sơ sài về giá trị của ong bắp cày đối với mùa màng của chúng ta; chúng ta hi vọng bằng việc phục hồi danh tiếng đích thực của chúng, chúng ta có thể tìm ra nhiều giá trị từ những tạo vật thu hút này”.  Tác giả thứ nhất là Ryan Brock (trường đại học East Anglia) cho rằng: “Bên cạnh những loài côn trùng khác, nhiều loài ong bắp cày đang bị suy giảm số lượng bởi nhiều nguyên nhân như biến đổi khí hậu và mất nơi cư trú. Vì vậy cần nỗ lực để bảo tồn chúng và đảm bảo môi trường sống tiếp tục nhận được các dịch vụ sinh thái từ ong bắp cày”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-wasps-valuable-ecosystems-economy-human.html  https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/brv.12719    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông bí thư khởi nghiệp      Các bạn trẻ khởi nghiệp của tỉnh Đồng Tháp trìu mến gọi ông như vậy (cũng có bạn gọi là chú Sáu khởi nghiệp). Gọi như vậy có lẽ không đúng vì chưa nói hết “đặc điểm” của ông nhưng thôi, đang nói chuyện khởi nghiệp thì tạm gọi như thế.      Ông Lê Minh Hoan (thứ hai từ phải sang) thăm một trang trại trồng nấm sạch ở Đồng Tháp.  Bắt đầu câu chuyện này từ đâu? Lại cũng khó. Tôi cứ thử chọn một cột mốc. Ngày mà bà Đại sứ Israel đến nói chuyện với cán bộ tỉnh Đồng Tháp về khởi nghiệp, giới thiệu quan điểm, một số kinh nghiệm của quốc gia khởi nghiệp Israel. Sau đó ông bí thư rủ một số người đang say mê công việc hỗ trợ khởi nghiệp từ TP.HCM đến Đồng Tháp, nói với tất cả cán bộ Đảng và quản lý nhà nước dể mọi người quan tâm, chia sẻ quan điểm về khởi nghiệp. Ông nói, nếu dàn lãnh đạo mà không thông suốt và thấy rõ là họ cần làm gì thì không thể thực sự hỗ trợ bạn trẻ khởi nghiệp được.  “Tráng lớp men” quan điểm và kiến thức cơ bản về khởi nghiệp xong, ông sử dụng cả đài Truyền hình Đồng Tháp để trao đổi về quan điểm khởi nghiệp. Rồi kế đó là xây dựng mạng lưới các tổ chức hỗ trợ cũng như trực tiếp ủng hộ các bạn trẻ khởi nghiệp.  Tại cuộc thi sơ kết các dự án khởi nghiệp trong nông nghiệp tại Đồng Tháp, ít ai ngờ ông bí thư có mặt suốt đêm trước để (o gà?) cùng các bạn trẻ khởi nghiệp của Đồng Tháp trưng bày gian hàng và chuẩn bị tập tành việc thuyết trình trước ban giám khảo. Hôm sau là ngày thuyết trình chính, ông ngồi từ sáng đến chiều và nếu len lén theo dõi, sẽ thấy nét mặt ông vui buồn, lo âu, hứng thú tùy theo diễn biến trên sân khấu. Rồi đến cuộc thi chung kết, dù phải đi nước ngoài công tác, ông không quên dành những phút cuối cùng trước khi ra sân bay, đến góp ý với từng gian hàng của “lính” ông. Tôi nhìn ông trò chuyện với họ, tự hỏi, khà khà, ông bí thư này làm cách nào để thuộc tên từng chủ dự án, nội dung từng dự án để mà chia sẻ niềm vui, khuyến cáo chút chi tiết còn thiếu sót hay chưa đủ cẩn thận? Ông vi hành đến từng dự án, hiện trường, cánh đồng hay nhà xưởng của các chủ dự án. Và khi các dự án đã mọc lông mọc cánh tạm đủ, ông bắt đầu kết nối họ với thị trường: chỉ đạo Đoàn thanh niên, Sở Kế hoạch Đầu tư… tổ chức Hội chợ hàng khởi nghiệp tại tỉnh nhà hay giới thiệu để các bạn tham gia Phiên chợ xanh tử tế ở Sài Gòn .  Cùng với ông, đài Truyền hình Đồng Tháp cũng luôn luôn có mặt bên cạnh các bạn trẻ. Họ tổ chức tranh luận về quan niệm hai chữ “khởi nghiệp” trên truyền hình (dự án khởi nghiệp mà không có tính đột phá về công nghệ thì có thể gọi tên là khởi nghiệp hay không, hay chỉ làm kiếm sống, mưu sinh?)  Qua truyền thông, tiếng lành thực sự đồn xa. Tết này đài Truyền hình Quốc gia VTV đã về thực hiện phóng sự dài về tình hình khởi nghiệp ở Đồng Tháp và đặc tả trường hợp Võ Văn Tiếng làm lúa thiên nhiên ở huyện Hồng Ngự, một dự án đặc sắc, tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm của một bạn trẻ cương quyết từ chối sử dụng hóa chất trong nông nghiệp. Ngoài ra, Tỉnh ủy khuyến khích việc thành lập Câu lạc bộ Doanh nghiệp dẫn đầu của tỉnh (LBCD), thuyết phục các doanh nghiệp dẫn đầu của tỉnh quan tâm ủng hộ các dự án khởi nghiệp của tỉnh nhà.  Chắp lại tất cả những mảnh rời rạc đó thì thấy: tỉnh Đồng Tháp đã nỗ lực xây dựng nền tảng của hệ sinh thái khởi nghiệp, qua các hoạt động thực hành cụ thể: Gầy dựng thống nhất quan điểm và sự ủng hộ của nhà nước – Xây dựng từng bước các định chế công, tư hỗ trợ – Truyền thông – Kết nối với thị trường. Có thể thấy một nét rất “chú Sáu khởi nghiệp”: những việc làm cụ thể tràn đầy cảm hứng (nên dễ lan truyền cảm hứng) thể hiện tình cảm ưu ái các bạn khởi nghiệp, ví dụ, tìm đến tận “hang ổ” các dự án khởi nghiệp để thăm hỏi động viên, để cho cháu nội quảng cáo sản phẩm khởi nghiệp… Nói theo cách phân tích quen thuộc thì ông bí thư quan tâm tạo nền về quan điểm, tạo nguồn lực ủng hộ bằng chính sách và lực lượng bảo trợ căn cơ là các doanh nghiệp dẫn đầu của tỉnh, liên tục truyền thông bằng nhiều loại hình và công cụ nhiều cấp và rất dày công kết nối với thị trường.    Võ Văn Tiếng khởi nghiệp với thương hiệu gạo hữu cơ Tâm Việt ở huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.   Sát cánh với Đồng Tháp là Bến Tre, một tỉnh bị tác hại của biến đổi khí hậu trầm trọng nhất năm 2016, lực lượng doanh nghiệp ít hơn, thực lực có phần yếu hơn, cũng có cách xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp khá bài bản, căn cơ, bằng cách: xác định ngay từ đầu là phong trào khởi nghiệp phải gắn bó liền lạc với phát triển doanh nghiệp, bên cạnh thành lập Câu lạc bộ Khởi nghiệp thì tỉnh xây dựng chính sách hỗ trợ, hình thành Trung tâm Tư vấn khởi nghiệp, xây dựng Quỹ Hỗ trợ khởi nghiệp từ Câu lạc bộ Doanh nghiệp Bến Tre tại TP.HCM, tổ chức liên tiếp nhiều khóa huấn luyện và đẩy mạnh hoạt động câu lạc bộ gắn với thị trường. Mỗi lần gặp các anh lãnh đạo Bến Tre là nghe một “phát hiện” mới của các anh qua tiếp cận trực tiếp với các bạn trẻ. Mới đây, ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy tỉnh Bến Tre kể chuyện anh đến gặp hàng loạt (hơn chục) học sinh các trường phổ thông nói chuyện khởi nghiệp thì các em thẳng thắn nói, học xong trung học, nhiều em chưa chắc có đủ điều kiện học tiếp và suy nghĩ thường trực của các em sau khi tốt nghiệp trung học chưa phải là khởi nghiệp mà là tìm việc làm gì đó để mưu sinh, phụ giúp kinh tế gia đình. Vậy để khuyến khích khởi nghiệp, phải giúp các bạn trẻ mưu sinh trước rồi mới có điều kiện khởi nghiệp.  Cách nào, như Đồng Tháp hay như Bến Tre, ta đều thấy mỗi tỉnh đều tiếp cận từ quan điểm thực tế mà căn cơ. Không nghĩ đơn giản là tìm quỹ trợ vốn như giải pháp tức thì, khởi đầu cho phong trào khởi nghiệp mà là tìm cách hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp để phong trào khởi nghiệp có thể đi dài, đi xa, phát triển bền vững. Với hoạt động cụ thể như vậy, phải chăng ta có thể quan tâm là hoạt động khởi nghiệp ở Đồng Tháp, Bến Tre dù không “phất” lên tưng bừng hoành tráng mà có vẻ chậm chậm, nhưng lại là đang đi đúng cách đi của những nước đang có phong trào khởi nghiệp vững mạnh, là xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp để duy trì và phát triển phong trào.       Author                Vũ Khánh        
__label__tiasang Ông Đặng Lê Nguyên Vũ chính thức sở hữu toàn bộ cổ phần tại các công ty thuộc Tập đoàn Trung Nguyên      Theo thông tin dành cho báo chí của Tập đoàn Trung Nguyên:      Thương hiệu cà phê Trung Nguyên Legend được giới thiệu trong không gian Pop-up store rộng hơn 300m2 tại Hoàn Cầu Cảng năm 2018.  Căn cứ Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 9233/GXN-THADS ngày 21 tháng 5 năm 2021 của Cục thi hành án dân sự TP.HCM, ông Đặng Lê Nguyên Vũ đã thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo là 1.318.471.219.421,54 đồng và không còn thi hành thêm bất kỳ nội dung nào khác theo Quyết định sửa đổi bổ sung quyết định về thi hành án số 416/QĐ-CTHADS ngày 13/5/2021.  Căn cứ Quyết định giám đốc thẩm số 01/202/HNGĐ-GĐT ngày 11/03/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ Quyết định sửa đổi bổ sung quyết định về thi hành án số 416/QĐ-CTHADS ngày 13/5/2021 và căn cứ Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 9233/GXN-THADS ngày 21/05/2021 của Cục thi hành án dân sự TP.HCM.  Tập đoàn Trung Nguyên khẳng định:  1. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Nhà sáng lập, Chủ Tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên đã thực hiện xong hoàn toàn và toàn bộ nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho Bà Lê Hoàng Diệp Thảo.  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Nhà sáng lập, Chủ Tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên đã chính thức sở hữu toàn bộ cổ phần tại các công ty thuộc Tập đoàn Trung Nguyên.   2. Bà Lê Hoàng Diệp Thảo hoàn toàn không còn tư cách cổ đông tại Tập đoàn Trung Nguyên và tại bất kỳ công ty nào thuộc Tâp đoàn Trung Nguyên. Vì vậy, tất cả các hoạt động, phát ngôn của bà Lê Hoàng Diệp Thảo nhân danh, mượn danh, lợi dụng Tập đoàn Trung Nguyên, các công ty và các thương hiệu sản phẩm thuộc Tập đoàn Trung Nguyên là hành vi không hợp pháp, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Tập đoàn Trung Nguyên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông Đặng Lê Nguyên Vũ là chủ sở hữu thương hiệu Trung Nguyên      Đó là một trong những nội dung chính của quyết định Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao ngày 11/3/2021 đối với bản án phúc thẩm số 39/2019/HNGĐ-PT ngày 5/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao TP.HCM và Bản án sơ thẩm số 291/2019/HNGĐ-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân TP.HCM về vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên và bà Lê Hoàng Diệp Thảo.      Gian hàng giới thiệu các sản phẩm cà phê G7 tại một triển lãm ở Nhật Bản. Nguồn: baoquocte  Các nội dung chính của Quyết định giám đốc thẩm số 1/2021/HNGĐ-GĐT của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thể hiện sự công tâm, thấu tình, đạt lý, khách quan và nghiêm minh của các cơ quan pháp luật – trong đó ghi nhận sự đóng góp đầy đủ, khách quan và công tâm của các bên trong quá trình khởi nghiệp, xây dựng và phát triển thương hiệu Trung Nguyên. Đặc biệt là sự thấu tình đạt lý trong việc bảo vệ toàn vẹn tài sản thương hiệu quốc gia “cà phê Trung Nguyên, G7”, gìn giữ niềm tự hào của một thương hiệu cà phê số một Việt Nam đại diện cho một cường quốc cà phê Việt Nam vươn ra với thế giới đã không bị hủy hoại trong vụ án tranh chấp hôn nhân giữa nguyên đơn là bà Lê Hoàng Diệp Thảo và bị đơn là ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên.  Người sáng lập Trung Nguyên là cha mẹ của ông Đặng Lê Nguyên Vũ và ông Đặng Lê Nguyên Vũ. Thương hiệu Trung Nguyên được ông Đặng Lê Nguyên Vũ và cha mẹ của ông Vũ sáng lập và khởi nghiệp từ năm 1996. Toàn bộ số vốn sáng lập của Trung Nguyên là của ba mẹ ông Vũ bán toàn bộ gia sản có được là căn nhà đang ở và các mẫu ruộng để khởi nghiệp, lập “Hãng cà phê Trung Nguyên”. Do vậy, bà Thảo hoàn toàn không phải là người sáng lập Trung Nguyên, bà Thảo chưa bao giờ là người đồng sáng lập Trung Nguyên – bà Thảo vừa là người có góp công sức vào sự phát triển thương hiệu Trung Nguyên vừa là người thụ hưởng và thu vén nhiều lợi nhuận trong giai đoạn phát triển của Trung Nguyên suốt hơn 20 năm qua.  Quyết định giám đốc thẩm số 01/2021/HNGĐ-GĐT ngày 11/3/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Bản án phúc thẩm số 39/2019/HNGĐ-PT ngày 5/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM nêu rõ ở phần tuyên án về tài sản:   * Về phần bà Lê Hoàng Diệp Thảo  – Giao cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo sở hữu khối tài sản là bất động sản tại Đà Nẵng, và các bất động sản tại quận 2, quận 3, quận 9, quận Bình Tân với tổng trị giá bất động sản là hơn 375 tỷ đồng;  – Giao cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo sở hữu số tài sản là số tiền, vàng, các loại ngoại tệ tại các ngân hàng do bà Lê Hoàng Diệp Thảo quản lý với tổng số tiền là: 1.764 tỷ đồng;  – Bà Lê Hoàng Diệp Thảo được ông Đặng Lê Nguyên Vũ thanh toán chênh lệch tài sản với tổng số tiền là: 1.318.471.219.421,54 đồng (Một nghìn ba trăm mười tám tỉ, bốn trăm bảy mươi mốt triệu, hai trăm mười chín ngàn, bốn trăm hai mươi mốt phẩy năm mươi tư đồng).  * Về phần ông Đặng Lê Nguyên Vũ  Giao cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ sở hữu toàn bộ số cổ phần đang ghi tên ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo tại các Công ty thuộc Tập đoàn Trung Nguyên.  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho Bà Lê Hoàng Diệp Thảo là 1.318.471.219.421,54 đồng (Một nghìn ba trăm mười tám tỉ, bốn trăm bảy mươi mốt triệu, hai trăm mười chín ngàn, bốn trăm hai mươi mốt phẩy năm mươi tư đồng) – trong đó 1.190.677.619.855 đồng (Một nghìn một trăm chín mươi tỉ, sáu trăm bảy mươi bảy triệu, sáu trăm mười chín ngàn, tám trăm năm mươi lăm đồng) đã được ông Đặng Lê Nguyên Vũ nộp thi hành theo Bản án phúc thẩm số 39/2019/HNGĐ-PT ngày 5/12/2019 và nay theo Quyết định giám đốc thẩm số 01/2021/HNGĐ-GĐT ngày 11/3/2021, thì ông Đặng Lê Nguyên Vũ sẽ nộp thanh toán thêm chênh lệch tài sản với Bà Lê Hoàng Diệp Thảo là 127.793.599.566.54 đồng.  Vì vậy, bản án Phúc thẩm, bản án Sơ thẩm và Quyết định giám đốc thẩm đã xem xét mọi yếu tố một cách thấu tình, đạt lý, giải quyết được nguyện vọng xin ly hôn của nguyên đơn là bà Lê Hoàng Diệp Thảo. Sau khi ly hôn, bà Thảo được sở hữu trên 3.500 tỷ đồng bao gồm: 7 bất động sản trị giá hơn 375 tỷ đồng; tiền vàng ngoại tệ trị giá: 1.764 tỷ đồng; giao toàn bộ tài sản của vợ chồng tại Công ty Trung Nguyên International Pte. (Singapore) cho Bà Thảo được toàn quyền sở hữu và hơn 1.300 tỷ đồng do ông Đặng Lê Nguyên Vũ thanh toán số tiền chênh lệch về giá trị tài sản. Trên cơ sở này, Bà Thảo có đủ điều kiện tập trung xây dựng và đã, đang phát triển thương hiệu cà phê riêng, công ty kinh doanh cà phê riêng của bà Thảo.  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ giữ được thương hiệu Trung Nguyên do gia đình ông Đặng Lê Nguyên Vũ sáng lập từ năm 1996. Điều này còn giúp cho toàn thể hơn 5.000 người lao động và Tập đoàn Trung Nguyên an tâm làm việc, chủ động trong sản xuất phát triển kinh doanh; bảo vệ toàn vẹn thương hiệu tài sản quốc gia “cà phê Trung Nguyên, G7” và tiếp tục có những đóng góp mạnh mẽ hơn vào ngành cà phê Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.  (Theo thông tin dành cho báo chí của Tập đoàn Trung Nguyên)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông Lý Ngọc Minh được trao tặng “Nghệ nhân nhân dân”      Ngày 15/12 vừa qua, ông Lý Ngọc Minh, người sáng lập thương hiệu gốm sứ Minh Long I là một trong bốn nghệ nhân được trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” năm 2020.      Ông Lý Ngọc Minh trong buổi lễ trao tặng  “Nghệ nhân nhân dân” là danh hiệu trao cho những người đã có từ 20 năm hoạt động trong nghề trở lên và “có tài năng nghề nghiệp đặc biệt xuất sắc, có cống hiến to lớn, tiêu biểu cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên cả nước”. Từ trước đến nay, cả nước chỉ có 22 người được công nhận là “nghệ nhân nhân dân”.  Ông Lý Ngọc Minh sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm gốm sứ hơn 100 năm và bản thân ông đã gắn bó với “nghiệp” này gần nửa thế kỉ. Ông là người đưa nghệ thuật gốm sứ của Việt Nam lên tầm cao mới cả về kỹ thuật lẫn về nghệ thuật. Điều đó thể hiện ở những sản phẩm Minh Long I phục vụ các nguyên thủ quốc gia trong nhiều sự kiện APEC như chén ngọc và bộ đồ ăn Hoàng Cung – Hoàng Liên lấy cảm hứng từ những chất liệu dân gian như hoa sen, mái đình và các linh vật như rồng phượng… Trong đó, chiếc chén ngọc được tạo hình như một chiếc bát ăn cơm đặt trên bốn đôi cánh cong vút của bốn con rồng, không dán keo hay bắt ốc vít nhưng khi ra khỏi lò nung vẫn nguyên vẹn. Kỹ thuật “nung liền khối” này là điều mà Minh Long I dám tự tin cho rằng là chưa từng có trên thế giới.   Lý Ngọc Minh có lẽ là người duy nhất trong bốn nghệ nhân nhân dân được vinh danh năm nay trong một nghề thủ công nhưng bản thân lại tiên phong ứng dụng những công nghệ tân tiến nhất trên thế giới để tạo ra sản phẩm của mình. Toàn bộ quy trình của Minh Long I đều được số hóa từ điều kiện của từng nguyên liệu đến vị trí của từng sản phẩm trong nhà kho rộng 12 hecta. Ông Lý Ngọc Minh cũng là người nghĩ ra những sản phẩm “phi truyền thống”, chẳng hạn như trong bài phát biểu của mình tại buổi lễ, ông chia sẻ rằng trước đây mọi người nghĩ đèn ngủ hay đèn chùm chỉ có thể làm bằng chất liệu pha lê hoặc kim loại thì giờ đây ông làm hoàn toàn bằng gốm sứ.  Dù bản thân sáng tạo và không ngừng bắt kịp với thị trường và công nghệ mới, ông Lý Ngọc Minh cho rằng công đoạn thủ công vẫn là đặc trưng, chiếm chủ yếu trong quá trình phát triển và sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ. Do vậy, theo ông, thu nhập của các nghệ nhân nói chung là thấp và vai trò hỗ trợ của nhà nước là “vô cùng quan trọng”. Theo đó, các cơ quan nhà nước cần có những ưu đãi về thuế và về vay vốn đối với các nghệ nhân để họ tiếp tục duy trì và phát triển ngành nghề.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang OTA Việt trước áp lực tự đổi mới      Những chuyển dịch mạnh mẽ trong ngành du lịch khi du khách ngày càng ưa dùng những ứng dụng trực tuyến trong tra cứu thông tin, đặt vé máy bay hay thuê phòng khách sạn… đang đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước sức ép phải tự đổi mới – đặc biệt về mặt công nghệ để tồn tại, thích nghi và cạnh tranh với những đại lý du lịch trực tuyến (OTA)[1] nước ngoài đang làm mưa làm gió trên thị trường.      Doanh thu OTA khu vực Đông Nam Á từ 2015 – 2025. Số liệu tổng hợp từ báo cáo của Google và Temasek Holding (Singapore)    Du lịch trực tuyến: xu thế tất yếu  Đây là vấn đề chính được thảo luận tại Hội thảo Du lịch thông minh – Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, diễn ra hôm 6/10/2017 tại khu Công nghệ cao (KCN) Hòa Lạc, do Ban quản lý KCN Hòa Lạc phối hợp với Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch đồng tổ chức.    Internet và các ứng dụng di động đang mang lại nhiều lợi ích cho người đi du lịch, chẳng hạn giá đặt phòng qua mạng thường thấp hơn 15 – 18% so với những kênh truyền thống. Vì vậy, du lịch trực tuyến nghiễm nhiên trở thành lựa chọn ưu tiên của nhiều khách hàng, đặc biệt những người trẻ tuổi yêu thích sự tự trải nghiệm.  Theo báo cáo của Temasek Holding2 (Singapore), thị trường du lịch trực tuyến tại Việt Nam (bao gồm cả đặt phòng khách sạn và mua bán vé máy bay) đã đạt 2.2 tỷ USD vào năm 2015, và dự kiến sẽ cán mốc 9 tỷ USD tới năm 2025 – tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 15% mỗi năm. Thống kê từ Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM)3 cũng cho biết, trên 70% dân số Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) và trung bình mỗi người dành 2 tiếng một ngày kết nối internet. Nghiên cứu của Google (2016)4 cũng chỉ ra, khoảng 70% số người đi du lịch ở Việt Nam có tìm kiếm thông tin qua điện thoại di động, những nhóm ứng dụng phổ biến nhất là đặt phòng khách sạn (48%), khảo sát điểm đến (42%) và mua vé máy bay (37%).  Những con số trên đây cho thấy, du lịch sử dụng các dịch vụ trực tuyến đang là xu thế tất yếu và còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.    Những hạn chế của OTA Việt  Đáng tiếc, thị trường du lịch trực tuyến Việt Nam dù rất hấp dẫn, song lại đang gần như là “sân chơi” của các OTA ngoại – dẫn đầu là Agoda.com, Booking.com hay Expedia.com, cùng hàng loạt những tên tuổi mới nổi như Traveloka, Trivago, … ước tính chiếm tới 80% thị phần – theo báo cáo của VECOM.  Tại phân khúc sôi động và cạnh tranh khốc liệt nhất – dịch vụ đặt phòng khách sạn. Agoda và Booking đang nắm giữ lần lượt hơn 7600 và 6000 khách sạn đối tác. Cũng theo VECOM, thị phần đặt phòng khách sạn trực tuyến ở Việt Nam đang tăng rất nhanh, chiếm 30 – 40% tổng lượng khách. Những OTA đang đóng góp khoảng 15 – 20% doanh thu thuê phòng của các khách sạn, ước đạt 60.000 tỷ đồng trong năm 2016, và khoảng 50% lượng tiền này chảy vào túi các doanh nghiệp nước ngoài (tránh được nhiều khoản thuế tại Việt Nam). Chẳng hạn, chỉ riêng Agoda đã thu hơn 4000 tỷ đồng cho mảng khách sạn tại thị trường Việt Nam năm 2016.  So với những OTA non trẻ của Việt Nam, các OTA ngoại có lợi thế hơn hẳn về tài chính và công nghệ. Điểm khác biệt lớn nhất, theo ông Ngô Minh Đức – Chủ tịch Công ty Cổ phần lữ hành HG Travel là: trong khi những công ty du lịch trực tuyến thế giới thường định vị mình là công ty công nghệ, tập trung vào nhiệm vụ tối ưu hóa trải nghiệm người dùng và nâng cao tốc độ truy cập, thì các công ty du lịch trực tuyến của Việt Nam lại thường có xuất phát điểm là công ty du lịch thuần túy, điều này gây cản trở tầm nhìn trong việc phát triển những OTA đúng nghĩa. Ông Trần Trọng Kiên, chủ tịch Tập đoàn Thiên Minh (TMG) – một công ty du lịch lớn ở Việt Nam với doanh thu hơn 2000 tỷ đồng (2016) chia sẻ kinh nghiệm khi tham quan mô hình Ctrip5 – OTA lớn nhất Trung Quốc, doanh thu hơn 1.2 tỷ USD, niêm yết sàn NASDAQ (Mỹ) với giá trị vốn hóa thị trường lên tới hơn 28 tỷ USD. Ctrip thuê hàng ngàn kỹ sư công nghệ làm việc, nhiều nhóm cùng được giao phát triển một loại ứng dụng, sau đó hội đồng quản trị sẽ lựa chọn giải pháp ưu việt nhất. Bên cạnh đó, Ctrip cũng vung tiền thâu tóm những đối thủ có công nghệ tiềm năng, như mua lại Skyscanner – dịch vụ tìm kiếm khách sạn, chuyến bay và cho thuê xe của Scotland với giá 1,74 tỷ USD.  Với thế mạnh về vốn, những OTA ngoại có thể “ứng” nhiều tiền để đặt trước một lượng lớn phòng với vị trí đắc địa, dịch vụ tốt trong cả năm, bảo đảm không bị thiếu phòng trong mùa cao điểm. Ngoài ra, đó còn là những chiến dịch truyền thông, quảng bá rầm rộ trên quy mô lớn, đi kèm những chương trình ưu đãi hấp dẫn, đem lại hiệu quả thu hút du khách cao.  Một thách thức lớn nữa đối với các OTA Việt Nam khi cạnh tranh cùng các đối thủ nước ngoài, đó là mô hình kinh doanh này cũng mới chỉ xuất hiện gần đây, những doanh nghiệp của chúng ta hoàn toàn là những doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, thiếu hụt nền tảng vốn, công nghệ lẫn kinh nghiệm. Bên cạnh đó, phí thanh toán thẻ tín dụng tại Việt Nam hiện vẫn tương đối cao, ở mức 2 – 3%, làm giảm khả năng cạnh tranh về giá dịch vụ, trong khi ở nước ngoài mức phí này thường chỉ duy trì ở mức trên dưới 1%. Chẳng hạn, một vé máy bay khứ hồi Tokyo – TP. Hồ Chí Minh mua trên trang web của Gotadi có giá khoảng 10,3 triệu đồng – tương đối rẻ so với khi mua qua đại lý (gần 11 triệu đồng), tuy nhiên khi thanh toán bằng thẻ với mức phí 3% thì cũng trở nên không còn rẻ nữa.  Cơ hội vẫn còn nhưng phải tự đổi mới    Dù đang bị lấn lướt, các OTA Việt Nam vẫn còn lợi thế “sân nhà” nhờ vào sự am hiểu thị trường và văn hóa bản địa, có mối quan hệ tốt với những nhà cung cấp như khách sạn, nhà nghỉ, … và có thể xuất hóa đơn VAT – phù hợp với tập quán kinh doanh trong nước. Với một thị trường có dân số hơn 90 triệu người, nếu tận dụng được những lợi thế kể trên, các doanh nghiệp Việt vẫn có cơ hội chuyển mình.  Hiện nay, nhiều doanh nghiệp kinh doanh OTA trong nước đã chủ động liên kết, cải tiến chất lượng, đưa ra những sản phẩm mới nhằm chia lại thị phần, có thể kể tới Gotadi, iVivu, Tugo, Vntrip, Chudu24, Triip, … Trong đó, tiêu biểu có Vntrip.vn đang nổi lên như một thế lực khi vừa được hai quỹ đầu tư Fenghe Group và Hancock Revocable rót 3 triệu USD đầu tư; Tugo.com.vn cũng tỏ ra không kém cạnh khi đạt doanh thu 5 triệu USD trong năm 2016 và tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, dự kiến cán mốc 100.000 lượt khách trong năm 2017. Từ năm 2014, HG Travel đã khai thác mảng du lịch trực tuyến thông qua Gotadi.com và mạnh dạn tái cấu trúc công ty theo hướng số hóa các quy trình kinh doanh, đồng thời chủ động liên kết với các đối tác trong nước – theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang để mở rộng mạng lưới thu hút người dùng; Gotadi cũng là trang web đầu tiên tại Việt Nam có kết nối API trực tiếp với cả ba hãng hàng không nội địa lớn nhất Việt Nam (Vietnam Airlines, Vietjet Air và Jetstar Pacifici) cam kết giá vé máy bay sẽ đúng với giá niêm yết của các hãng. Trước HG Travel, từ năm 2011, Tập đoàn Thiên Minh – nổi tiếng với thương hiệu lữ hành Buffalo đứng đầu thị trường Việt Nam, cũng đã phát triển iVivu.com như một mảng kinh doanh mới quan trọng của công ty, đạt mức tăng trưởng hằng năm từ 25 – 30%; mạng lưới hiện nay gồm có 11 khách sạn, khu nghỉ dưỡng với gần 800 phòng tại ba nước Đông Dương, 12 văn phòng đại diện trên thế giới, phục vụ trên 140.000 du khách mỗi năm đang là những nền tảng bổ trợ rất tốt cho sự phát triển của iVivu.  Theo ông Trần Trọng Kiên, cùng với sự tự thân vận động của các doanh nghiệp du lịch, Nhà nước cần ban hành những chính sách để hỗ trợ như: xây dựng môi trường bình đẳng hơn về thuế (hiện các OTA nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không phải chịu thuế, còn các OTA nội thì có); thiết lập các rào cản kỹ thuật đối với những OTA nước ngoài để các doanh nghiệp trong nước có đủ thời gian lớn mạnh và tích lũy nguồn lực; hỗ trợ các OTA nội trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để tăng cường năng lực cạnh tranh; bên cạnh đó là kêu gọi các nhà mạng viễn thông đầu tư nâng cấp băng thông và tăng tốc độ kết nối internet, vv.1    ——–  Chú thích:  1. Online Travel Agency (OTA) là đại lý du lịch bán sản phẩm qua kênh trực tuyến. Các đại lý như vậy thường không trực tiếp đưa ra sản phẩm du lịch mà làm đại lý bán dịch vụ cho các doanh nghiệp cung cấp. Tất cả các giao dịch từ việc đặt dịch vụ cho đến thanh toán đều được thực hiện trực tuyến.  2. Google: Southeast Asia’s digital market to grow more than sixfold to $200b by 2025. Link: https://www.techinasia.com/google-temasek-economy-sea  3. Báo cáo Chỉ số Thương mại Điện tử Việt Nam 2017, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam. Nguồn: http://vecom.vn/wp-content/uploads/2017/02/Bao-cao-EBI-2017-Final.pdf  4. Google Study Forecasts Southeast Asia Online Travel Market at $76 Billion in 2015. Link: https://skift.com/2016/08/09/google-study-forecasts-southeast-asia-online-travel-market-at-76-billion-in-2025/  5. Exclusive: Ctrip CEO on Global Ambitions, Skyscanner Buy and the Priceline Relationship. Link: https://skift.com/2016/11/28/exclusive-ctrip-ceo-on-global-ambitions-skyscanner-buy-and-the-priceline-relationship/    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang OUCRU: 27 năm tạo đột phá trong y tế công cộng      Cũng như nhiều nước nhiệt đới, Việt Nam vốn là điểm nóng về các bệnh truyền nhiễm, nên  việc tổ chức nghiên cứu, đặc biệt là hợp tác quốc tế để tìm ra các giải pháp quản lý lâm sàng có vai trò rất quan trọng. Trong gần ba thập kỷ qua, OUCRU – Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford – một đơn vị  hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam, Đại học Oxford và quỹ Wellcome Trust đã xây dựng được uy tín quốc tế trong nghiên cứu, giúp xác định cách chẩn đoán tối ưu và quản lý lâm sàng một loạt các bệnh truyền nhiễm đe dọa tính mạng ở Việt Nam.      Nhóm nghiên cứu của OUCRU và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Nguồn ảnh trong bài: Trang cá nhân của GS Guy Thwaites.  Câu chuyện bắt đầu vào ngày Giáng sinh năm 1990, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tại thành phố Hồ Chí Minh và Wellcome Trust cùng ký một biên bản ghi nhớ, khai sinh ra một đơn vị nghiên cứu lâm sàng. Một khoản tiền 30.000 USD đã được trao cho GS. Nicholas White (ĐH Oxford), TS. Trần Tịnh Hiền (Sau này là Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới) và TS. Nguyễn Hữu Trí (Sau này là Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới) để xác định vai trò của artesunate – một hoạt chất chống bệnh sốt rét ở Trung Quốc nhưng chưa hề được thử nghiệm chính thức ngoài quốc gia này. Vào tháng 1 năm 1991, việc nghiên cứu bắt đầu và ban đầu nhóm được gọi là Đơn vị Nghiên cứu lâm sàng Wellcome Trust với 9 giường bệnh và một nhóm 6 bác sĩ. Trong tháng 11/1992, báo cáo nghiên cứu đầu tiên của đơn vị đã được công bố, đưa ra kết quả một thử nghiệm của artesunate tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp trong điều trị sốt rét falciparum nặng.  Kể từ đó đến nay, chúng tôi đã phát triển từ một đơn vị tập trung nghiên cứu điều trị bệnh sốt rét do P.falciparum trở thành một trung tâm, một viện nghiên cứu đa quốc gia có uy tín quốc tế1, để thực hiện nghiên cứu lâm sàng về một loạt các bệnh truyền nhiễm trên toàn cầu.  Đặt mục tiêu giảm tử vong do sốt rét  Trong giai đoạn đầu của hợp tác (1991-2000) tại Việt Nam, mục tiêu của chúng tôi là giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét nặng, và thật vậy: vào năm 2000, tỷ lệ này giảm xuống còn 10% trong khi ở đầu những năm 1990 là 40%.  Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam vẫn rất cao, mỗi năm vẫn còn hơn một triệu trường hợp mắc bệnh. Do đó, nghiên cứu bệnh sốt rét của chúng tôi không còn giới hạn ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM, mà một số nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện tại các bệnh viện tỉnh, huyện và tại các trạm y tế xã. Mục đích của những nghiên cứu này là để xác định phác đồ điều trị tốt nhất cho bệnh sốt rét P.falciparum chưa biến chứng để chữa trị và đồng thời để ngăn chặn sự bùng nổ của dịch bệnh. Để tổ chức nghiên cứu tốt, chúng tôi cùng Viện nghiên cứu ký sinh trùng và côn trùng học đã có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các tỉnh Bình Phước, Khánh Hòa, Ninh Thuận. Kết quả từ những nghiên cứu này đã đóng góp đáng kể cho việc quản lý sốt rét của Chương trình Kiểm soát Sốt rét (NMCP) của quốc gia và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đặc biệt là việc đưa ra ý tưởng về việc sử dụng các thuốc artemisinin và Artemisinin kết hợp trị liệu (ACT).  Đến năm 2010, nhóm nghiên cứu lại phải đối mặt với sự thách thức trước hiện tượng kháng artemisinin ở Đông Nam Á. Do đó phải thực hiện các dự án để xác định và theo dõi tính nhạy cảm của artemisinin trong cơ thể và trong ống nghiệm. Ngoài ra, các nghiên cứu di truyền học và sinh học phân tử đã xác định được các marker của P. falciparum và kháng artemisinin. KAE 609, và liệu pháp phối hợp abartemisinin (DHA + PPQ + MQ) cũng được áp dụng để giải quyết mối đe dọa của sự lan truyền kháng thuốc. Gần đây hơn, OUCRU đã được tham gia vào một dự án thí điểm để nghiên cứu chiến lược mới nhằm đánh giá loại bỏ bệnh sốt rét, hay còn gọi là “sự loại bỏ bệnh sốt rét mục tiêu” (TME), sử dụng PCR định lượng để phát hiện nơi chứa ký sinh trùng và xóa bỏ chúng bằng việc quản lý thuốc hàng loạt.  Chăm sóc chuyên sâu và nghiên cứu uốn ván: Những phát hiện đầu tiên trên thế giới  Ngay từ khi thành lập, OUCRU và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đã đặt mối quan tâm đặc biệt với vấn đề chăm sóc uốn ván. Các bệnh nhân bị uốn ván được điều trị ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM đã tham gia vào các đợt nghiên cứu: trong đó hơn một ngàn bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu so sánh penicillin và metronidazole – thử nghiệm ngẫu nhiên lớn nhất cho điều trị uốn ván và trở thành nền tảng cho nhiều khuyến nghị quốc tế. Tương tự, dữ liệu từ hơn một nghìn bệnh nhân được sử dụng để tạo ra “điểm đo mức độ nghiêm trọng uốn ván” (Tetanus Severity Score) mà đến giờ vẫn là điểm đo tốt nhất để dự đoán kết quả của uốn ván.    GS. TS Guy Thwaites.  Vào giữa những năm 1990, nhóm nghiên cứu của bác sĩ Lâm Minh Yến, Nguyễn Thị Ngọc Nga, Chris Parry, nhà vi sinh học Jim Campbell, y tá Janet Parry và Trần Thị Diễm Thúy đã nghiên cứu về kháng kháng sinh và họ nhận ra vai trò trung tâm của uốn ván trong các vấn đề nhiễm trùng bệnh viện và kháng kháng sinh gặp phải ở các bệnh nhân điều trị chuyên sâu dài hạn.  Năm 2007, khi có điều kiện chăm sóc chuyên sâu ở các đơn vị hồi sức tích cực, TS. Phan Tứ Quí và cộng sự là nhóm đầu tiên trên thế giới mô tả việc sử dụng magnesium sulphate trong uốn ván ở trẻ sơ sinh cũng như ở khoa hồi sức tích cực cho người lớn, và báo cáo là có tỷ lệ tử vong ở mức thấp nhất trên thế giới.  OUCRU cũng hợp tác nghiên cứu với Bệnh viện Bệnh nhiệt đới và phát hiện, các liên cầu khuẩn lợn chính là tác nhân phổ biến nhất của bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở Việt Nam. Một nghiên cứu bệnh chứng của chúng tôi khẳng định, các yếu tố tăng nguy cơ nhiễm liên cầu khuẩn lợn ở Việt Nam chính là do tiếp xúc với lợn và tiêu thụ các sản phẩm thịt lợn chưa nấu hoặc chưa nấu chín. Phát hiện này đã đưa đến sự hợp tác hơn nữa với các trung tâm y tế dự phòng tỉnh và các phòng thú y để điều tra sự lưu hành của mầm bệnh này trong quần thể lợn.  Năm 2005, trước mối đe dọa đại dịch tiềm năng của virus từ động vật sang con người, Viện Quốc gia về Sức khỏe (Mỹ) và tổ chức Wellcome Trust đã tài trợ để thiết lập một mạng lưới các bệnh viện ở Việt Nam, Thái Lan và Indonesia nhằm tiến hành nghiên cứu và tăng năng lực ứng phó trong khu vực (www.seaicrn.org). Nhóm nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người được thành lập ở OUCRU vào năm 2012. Trọng tâm nghiên cứu là để hiểu việc sử dụng thuốc chống vi trùng và tình trạng kháng thuốc trong nông nghiệp  cũng như những nguy cơ phổ biến về lây nhiễm mầm bệnh từ động vật sang người tại Việt Nam.  Nhiễm trùng não và nghiên cứu HIV: Những thử nghiệm có ảnh hưởng rộng rãi  Một thành tựu lớn trong quá trình hợp tác nghiên cứu ở OUCRU là chúng tôi đã phát triển khả năng chẩn đoán trong các phòng lab của bệnh viện, mà hiện nay đã cung cấp một loạt các công nghệ phân tích, chẩn đoán – từ truyền thống đến phân tử và cả tự động hóa – với chất lượng có thể cạnh tranh với các trung tâm tốt nhất trên toàn cầu. Chúng tôi nghiên cứu thử nghiệm trên hơn 4.000 bệnh nhân và hiểu được chi tiết về các nguyên nhân gây nhiễm trùng thần kinh trung ương trong khu vực đô thị rộng như thành phố Hồ Chí Minh, và quang phổ của nhiễm trùng tại các khu vực nông thôn.  Chúng tôi đã thực hiện những thử nghiệm can thiệp trong viêm não Nhật Bản B, viêm não do Herpes simplex, viêm màng não cấp do vi khuẩn, viêm màng não lao, viêm màng não do Cryptococcus và Penicillium. Kết quả của những thử nghiệm này có ảnh hưởng ở cấp địa phương, quốc gia và cả quốc tế. Một ví dụ có thể kể đến trong viêm màng não do vi khuẩn cấp tính là việc chúng tôi đã chứng minh rằng dexamethasone làm giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân. Trong viêm màng não lao, chúng tôi đã chỉ ra rằng dexamethasone bổ sung giúp giảm nguy cơ tử vong, nhưng cả việc tăng phác đồ điều trị thuốc chống lao lẫn việc sử dụng liệu pháp chống virus sao chép ngược đồng thời với điều trị lao đều không mang lại tác động tích cực tới người bệnh HIV. Trong viêm màng não do cryptococcus, chúng tôi đã chứng minh rằng kết hợp liệu pháp chống nấm có ảnh hưởng tới việc kéo dài thời gian sống và tăng cường chức năng ở bệnh nhân HIV. Sau đó chúng tôi đã chỉ ra rằng việc sử dụng dexamethasone ở những bệnh nhân viêm màng não do cryptococcus dẫn đến việc tiệt trùng CSF kém hơn và ảnh hưởng đến khả năng sống cũng như tiềm năng gây ra tàn tật.  Nghiên cứu sốt xuất huyết  Bệnh sốt xuất huyết cũng là một trong những chủ đề chính của nghiên cứu ở OUCRU trong hơn 20 năm qua. Những nỗ lực nghiên cứu ban đầu tập trung vào cải thiện công tác quản lý của hội chứng sốc Dengue có khả năng đe dọa tính mạng (DSS) ở trẻ em, với một loạt các thử nghiệm tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới và Trung tâm Nhi Đồng Nai trong những năm cuối 1990 và đầu những năm 2000. Các nghiên cứu tiếp theo nhằm để xác định bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết cao cũng như nguy cơ biến chứng.  Chương trình nghiên cứu lâm sàng đã hỗ trợ một loạt các nghiên cứu bệnh học, bao gồm làm rõ các loại phản ứng miễn dịch với virus và hiểu được tác động của vật chủ và mầm bệnh di truyền tới dịch tễ học. Chúng tôi hiện đang thực hiện các nghiên cứu để điều tra bệnh mạch máu, dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết nặng, bằng cách sử dụng một loạt các kỹ thuật lâm sàng, sinh lý và cấu trúc. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tích cực tham gia vào các nỗ lực phòng chống dịch bệnh.  27 năm tới sẽ mang lại những điều gì?  Sự hợp tác giữa OUCRU và các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, tình hữu nghị và mong muốn chia sẻ để cải thiện kết quả điều trị các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.  27 năm đầu tiên, mối quan hệ hợp tác của chúng tôi đã mở rộng một cách ấn tượng, với mạng lưới các cộng tác viên Việt Nam, và ảnh hưởng sâu rộng tới cộng đồng. Vậy 27 năm tiếp theo sẽ mang lại những điều gì? Sự gia tăng của vi khuẩn kháng thuốc trên tất cả các tác nhân gây bệnh sẽ là một thử thách lớn cho việc kiểm soát và điều trị các bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam và các khu vực lân cận.  Bên cạnh đó, tốc độ thay đổi kinh tế của khu vực Đông Nam Á cũng sẽ là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ. Với số lượng người cao tuổi tăng lên và nhiều người trong số đó bị các bệnh như đái tháo đường, bệnh truyền nhiễm sẽ diễn biến ngày một phức tạp. Việc chăm sóc bệnh nhân nặng sẽ cải thiện, nhưng kỳ vọng và chi phí tăng cao sẽ đặt ra những thách thức mới. Các chương trình kiểm soát và giám sát dịch bệnh có thể cải thiện khả năng đối phó và chữa trị.  Do đó, OUCRU sẽ cần phải thay đổi và phát triển. Chúng ta sẽ phải thích ứng với những thay đổi trong nước và khu vực. Nghiên cứu chúng tôi tiến hành phải mang lại lợi ích cho bệnh nhân, thành phố, quốc gia và cả khu vực. 27 năm tiếp theo có thể sẽ rất khác nhưng một điều sẽ không thay đổi: tầm quan trọng của tình bạn và sự tin tưởng. Đây vẫn là hai yếu tố hàng đầu trong các mối quan hệ hợp tác nghiên cứu của OUCRU tại Việt Nam.  Minh Châu lược dịch  ———  *GS.TS, nghiên cứu vi sinh học và các bệnh truyền nhiễm. Giám đốc OUCRU.  Chú thích:  1 Tính đến 2010, OUCRU đã công bố gần 1500 công bố quốc tế.  Các mốc hoạt động và cộng tác chính của OUCRU 1990-1995: Ngoài tập trung nghiên cứu sốt rét và thương hàn, đơn vị mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cả thương hàn (một vấn đề lớn ở vùng ĐBSCL), uốn ván, viêm não và sốt xuất huyết. Đăng các xuất bản đầu tiên trên các tạp chí Y học Lancet và New England. 1996 – 2003: Chuyển hướng sang nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng phổ biến ở Việt Nam như sốt xuất huyết, lao, nhiễm trùng não, HIV, cúm. Từ 2004: Mở rộng các chương trình nghiên cứu, thành lập các đơn vị vệ tinh như ở Nepal (2004), Hà Nội (2006).       Author                Guy Thwaites*        
__label__tiasang Oxytocin có thể chữa lành và phục hồi tim      Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra “hormone âu yếm” – oxytocin không chỉ củng cố liên kết tình cảm mà còn có tác dụng chữa lành tim mạch. Theo đó, sự gia tăng giải phóng oxytocin khiến một số tế bào trong thành tim chuyển đổi trở lại thành tế bào gốc. Các tế bào tiền thân chưa trưởng thành này sau đó có thể hình thành các tế bào cơ tim mới và do đó giúp sửa chữa các phần bị tổn thương của tim – điều này có thể cung cấp các cách tiếp cận mới để tái tạo sau cơn đau tim.    Không giống như các cơ khác, khả năng tự phục hồi cơ tim của con người rất hạn chế. Nếu nó bị tổn thương do đau tim hoặc chấn thương thi rất khó để chữa lành. Một trong những lý do là hầu như không có bất kỳ tế bào gốc nào trong tim mà từ đó các tế bào cơ tim mới có thể hình thành. Tuy nhiên, có những dấu hiệu ban đầu cho thấy các tế bào từ thành tim, tâm tim có thể biến thành tế bào gốc trong những điều kiện nhất định – và sau đó hình thành các tế bào cơ tim mới.  Tác động không ngờ của “hormon âu yếm”  Aaron Wasserman và các đồng nghiệp của ông tại Đại học Bang Michigan mới đây đã phát hiện yếu tố quyết định cho sự tái sinh này: hormon oxytocin. Động lực cho nghiên cứu của họ xuất phát từ quan sát trên cá ngựa vằn: không giống như con người, chúng không có vấn đề gì đối với việc tái tạo tim. Nếu tim của chúng bị tổn thương, cơ tim và các mạch máu của nó sẽ nhanh chóng phát triển trở lại. Nó thực hiện điều này bằng cách chuyển đổi hàng loạt các tế bào từ thành tim thành các tế bào tiền thân có nguồn gốc từ thượng tâm mạc (EpiPC).  Khi các nhà nghiên cứu tìm kiếm động lực cho sự biến đổi này, họ đã phát hiện một điều đáng ngạc nhiên trong não của cá ngựa vằn: Một lượng lớn “hormon âu yếm” oxytocin được giải phóng ở đó để ứng phó với vết thương ở tim. Kết quả là, RNA thông tin để sản xuất hormone này đã tăng gấp 20 lần trong não cá ngựa vằn trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, hormon này không ở trong não: nó di chuyển theo máu đến tim, nơi nó kích hoạt một dòng thác phân tử bắt đầu chuyển đổi các tế bào thượng tâm mạc thành các tế bào gốc.  Điều này cũng diễn ra trên tế bào nuôi cấy của người. Từ đó phát sinh câu hỏi,  liệu cơ chế này có thể hoạt động ở con người hay không. Mặc dù một cơn đau tim hoặc chấn thương tim không gây ra sự gia tăng oxytocin trong chúng ta, nhưng có thể hình dung được rằng các phản ứng phân tử đối với hormon âu yếm vẫn tồn tại trong chúng ta. Để kiểm tra điều này, Wassermann và nhóm nghiên cứu của ông đã nuôi cấy tế bào thành tim của con người và cho chúng tiếp xúc với oxytocin để so sánh với 14 chất dẫn truyền thần kinh khác nhau.  Kết quả đáng ngạc nhiên: các tế bào tim của con người cũng phản ứng với hormon âu yếm. Trong khi các chất truyền tin khác có rất ít tác dụng, dưới ảnh hưởng của oxytocin, chúng ngày càng biến đổi thành các tế bào tiền thân có nguồn gốc từ màng tim. Các phân tích chi tiết hơn cho thấy rằng các tế bào này có các thụ thể oxytocin riêng cho việc này, nơi mà hormone âu yếm xuất hiện từ đó bắt đầu quá trình chuyển đổi.  Hy vọng về một tiềm năng cho y học  Tác giả bài báo khoa học Aitor Aguirre cho biết: “Xuất phát từ điều này, chúng tôi đã thấy oxytocin có thể kích hoạt cơ chế sửa chữa tim ở cá ngựa vằn và trong nuôi cấy tế bào người. “Rõ ràng, phản ứng này đối với sự kích thích oxytocin cũng đã được bảo tồn ở một mức độ nhất định trong các tế bào tim của con người.”  Aguirre giải thích: “Từ lâu Oxytocin đã được sử dụng trong y học vì những lý do khác. “Do đó, không có gì là không tưởng khi sử dụng nó cho những bệnh nhân bị đau tim. Ngay cả khi điều này chỉ dẫn đến sự tái sinh một phần của tim, lợi ích cho bệnh nhân cũng sẽ rất lớn”. Tuy nhiên, cho đến lúc đó, cơ chế sinh hóa và liệu pháp khả thi phải được nghiên cứu chi tiết hơn ở động vật có vú.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.scinexx.de/news/medizin/kuschelhormon-heilt-das-herz/  https://www.focus.de/wissen/natur/kuschelhormon-liefert-erstaunliche-ansaetze-fuer-die-herzregeneration_id_159619372.html    Author                .        
__label__tiasang Pan Jianwei: Tiên phong về truyền thông lượng tử      Ông là nhà vật lý đưa truyền thông lượng tử lên không trung và đưa nó trở lại.      Tại Trung Quốc, nhiều người gọi Pan Jianwei là “cha đẻ của lượng tử” (Liàngzĭ zhī fù) do đã góp phần đưa Trung Quốc lên vị trí tiên phong của truyền thông lượng tử đường dài/khoảng cách lớn (long-distance quantum communication): sử dụng các quy luật lượng tử để truyền tải thông tin trong trạng thái bảo mật. Sau quá trình làm việc ở châu Âu, năm 2008, Pan trở về Trung Quốc, kể từ đó ông thực hiện nỗ lực thúc đẩy công nghệ lượng tử. “Tôi đã sốc khi đọc được những gì họ đã làm”, Christopher Monroe – nhà vật lý lượng tử tại trường đại học Maryland ở College Park, thán phục.  Vào tháng 7, Pan và nhóm nghiên cứu do ông dẫn đầu tại trường đại học KH&CN Trung Quốc (Hồ Bắc) đã thông báo, họ đã phá vỡ kỷ lục về viễn tải lượng tử, truyền trạng thái lượng tử của một photon từ trái đất đến một photon trên quỹ đạo vệ tinh cách 1.400km. Và vào tháng 9/2017, nhóm nghiên cứu đã dùng vệ tinh để chiếu các photon đến Bắc Kinh và Vienna, tạo ra các chìa khóa mã hóa lượng tử cho phép các nhóm nghiên cứu ở hai thành phố này trò chuyện qua video trong sự bảo mật hoàn toàn. Việc dò các photon sẽ làm nhiễu loạn các trạng thái lượng tử của chúng, do đó các hacker không thể phá khóa mật mã mà không bị phát hiện.  Việc chứng minh được khả năng truyền thông lượng tử này là “một sự kiện lịch sử”, theo đánh giá của Anton Zeilinger, người từng hướng dẫn Pan làm luận án tiến sỹ ở đại học Vienna và nay là cộng sự của ông. Nhóm nghiên cứu của Pan đang dẫn đầu trong việc phát triển internet lượng tử: thiết lập một mạng lưới các vệ tinh và các thiết bị mặt đất có thể chia sẻ thông tin lượng tử khắp thế giới.  Điều đó cho phép mã hóa [thông tin] trên toàn thế giới cũng như những thí nghiệm mới để khai thác các kết nối lượng tử ở khoảng cách dài và việc hợp nhất chùm tia từ các máy dò khắp hành tinh để sáng tạo ra kính thiên văn siêu phân giải. Nhóm nghiên cứu của Pan đã lập kế hoạch lắp đặt vệ tinh thứ hai, và hiện đang thực hiện một thí nghiệm lượng tử khác trong không gian từ trạm vũ trụ Tiangong-2 của Trung Quốc. Trong năm năm tới, “nhiều kết quả kỳ diệu sẽ tới. Nó thực sự là một kỷ nguyên mới [của truyền thông lượng tử]”, Pan nhận định.   Dù cho đang dẫn dắt một nhóm nghiên cứu gồm 50 nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực, bao gồm mô phỏng lượng tử, máy tính lượng tử và quang học lượng tử, Pan vẫn là “bộ não chính” điều hành công việc, đen đến sự hợp nhất trong tầm nhìn, tổ chức và sự chính xác trong thực nghiệm, Anton Zeilinger cho biết.  Được biết đến như một người lạc quan với sự nhiệt tình thường trực, Pan có khiếu thuyết phục những quỹ đầu tư. Ông hoàn toàn có thể tự tin với sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc cho kế hoạch lớn sắp tới của mình: một khoản đầu tư trị giá hai tỷ đô la cho một sáng kiến trong vòng năm năm tập trung vào truyền thông lượng tử, đo lường lượng tử và máy tính lượng tử, trong khi ngay cả châu Âu cũng chỉ đầu tư 1,2 tỷ đô la cho một kế hoạch tương tự vào năm 2016.    Kỹ năng của Pan là ở chỗ chọn được những vấn đề đúng và loại bỏ những gì rủi ro, Monroe cho biết và nhận xét thêm “Trung Quốc rất may mắn khi có được ông ấy”.  Thanh Nhàn dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, Đại học KHTN, Đại học Quốc gia HN) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html#pan-jianwei    Author                Quản trị        
__label__tiasang Paris ra mắt dịch vụ dùng xe máy điện chung Cityscoot      Sau sự ra mắt của dịch vụ sử dụng xe đạp chung Vélib’ năm 2007 và dịch vụ sử dụng xe ô tô điện chung Autolib’ năm 2011, tuần này thành phố Paris lại tiếp tục khuấy động trào lưu sharing (chia sẻ) với dịch vụ sử dụng xe máy điện mang tên Cityscoot.    Cityscoot trên đường phố Paris  Cityscoot là dòng xe moped dung tích 50cc của Đức được sản xuất tại Ba Lan. Hiện nay tại Paris đã có một “đội quân hùng hậu” gồm 150 chiếc sẵn sàng phục vụ.Theo các nhà tổ chức dự án này, dòng xe này có giá rẻ, không gây tiếng ồn hay xả khói, đồng thời lại an toàn và vệ sinh; mỗi chiếc xe đều trang bị sẵn một chiếc mũ bảo hiểm và một chiếc mũ trùm tóc bằng nhựa đặt trong cốp.  Tuy tốc độ tối đa khá hạn chế (45km/h), song theo nhận định của tờ Le Figaro thì Cityscoot “đủ nhanh nhẹn để có thể dễ dàng hòa mình vào dòng xe đang lưu thông trên đường. […] Một người nặng trên 100kg cũng có thể dễ dàng tăng tốc và đạt tới tốc độ tối đa chỉ sau vài giây.”  Người dùng xe không phải lo lắng về chỗ để xe, vì họ có thể thoải mái dựng chiếc Cityscoot ở bất cứ đâu, miễn là không gây cản trở giao thông hoặc gây bất tiện cho người khác. Họ cũng không phải xạc điện cho xe. Trên xe có gắn thiết bị định vị, do đó người nào muốn dùng xe có thể dễ dàng tìm ra vị trí chiếc Cityscoot đang “nhàn rỗi” ở gần mình nhất thông qua một ứng dụng trên smartphone. Sau khi đăng ký sử dụng chiếc xe đó trên ứng dụng, người đăng ký sẽ có 10 phút để đi tới chỗ dựng xe và dùng mã khởi động để vận hành xe.  Dĩ nhiên, người dùng xe phải trên 18 tuổi và đăng ký dùng ứng dụng (kèm theo ảnh chân dung). Phần mềm nhận diện khuôn mặt sẽ kiểm tra nhân dạng của người đăng ký.  Nếu đăng ký dịch vụ trả trước, chi phí người sử dụng xe phải bỏ ra là từ 20 – 28 cent/phút. Như vậy, một chuyến đi từ đầu này tới đầu kia Paris sẽ rơi vào khoảng 2,40E, nhỉnh hơn một chút so với đi tàu điện ngầm.  Cityscoot đặt mục tiêu nâng tổng số đoàn xe tại thủ đô Paris lên 1.000 chiếc vào cuối tháng Ba sang năm.  Đăng Quang dịch theo Guardian    Author                Quản trị        
__label__tiasang Paul Krugman, Nobel Kinh tế 2008      Paul Krugman, 55 tuổi, người Mỹ, gi&#225;o sư Đại học Princeton, vừa được H&#224;n l&#226;m viện Khoa học Thụy Điển cho biết l&#224; sẽ được giải Nobel Kinh tế năm 2008 (lễ trao sẽ v&#224;o th&#225;ng 12), qua những đ&#243;ng g&#243;p của &#244;ng về thuyết thương mại v&#224; kinh tế địa l&#253;. Việc Krugman được giải n&#224;y kh&#244;ng g&#226;y nhiều ngạc nhi&#234;n. Đối với đa số đồng nghiệp, &#244;ng đ&#227; nằm trong danh s&#225;ch &#8220;đ&#225;ng được Nobel&#8221; từ l&#226;u. Tuy vậy, cũng c&#243; v&#224;i lời đ&#224;m tiếu. C&#243; người nhắc l&#224;, từ khoảng mười năm nay (từ khi &#244;ng cộng t&#225;c với tờ New York Times) hầu như Krugman kh&#244;ng c&#243; đ&#243;ng g&#243;p g&#236; mới (c&#243; kẻ n&#243;i m&#243;c: Ủy ban Nobel đ&#227; vi phạm điều lệ l&#224; chỉ trao giải cho người c&#242;n sống, v&#236; &#8220;nh&#224; kinh tế Krugman&#8221; đ&#227; qua đời gần mười năm rồi!). Ngược lại, c&#243; người cho rằng, d&#249; &#244;ng c&#243; xứng đ&#225;ng, trao giải cho &#244;ng năm nay l&#224; kh&#244;ng đ&#250;ng l&#250;c, đ&#225;ng lẽ n&#234;n đợi Bush hết nhiệm kỳ, những c&#244;ng tr&#236;nh khoa học của Krugman (một người cực lực chống Bush) sẽ được đ&#225;nh gi&#225; kh&#225;ch quan hơn, v&#224; giải thưởng sẽ kh&#244;ng bị nghi ngờ l&#224; c&#225;ch c&#225;c gi&#225;m khảo Nobel mượn Krugman để l&#224;m bẽ mặt Bush!  D&#249; sao th&#236; Paul Krugman cũng được giải năm nay, vậy cũng n&#234;n biết về hai đ&#243;ng g&#243;p, quả l&#224; quan trọng, m&#224; &#244;ng đ&#227; được tuy&#234;n dương. Thứ nhất l&#224; c&#225;i gọi l&#224; &#8220;thuyết thương mại mới&#8221; (&#8220;new trade theory&#8221;) v&#224; thứ hai l&#224; &#8220;kinh tế địa l&#253; mới&#8221; (new economic geography).     1.   Trước hết, nên biết “thuyết thương mại cũ” nói gì. Đây là lý thuyết được dạy trong các lớp kinh tế nhập môn ở hầu hết các đại học: Quốc gia này khác quốc gia kia về năng suất của từng công nghiệp, và về các nguồn lực (vốn, lao động, v.v.) mà quốc gia ấy sở hữu. Những khác biệt đó là động cơ của thương mại. Chẳng hạn, quốc gia vùng nhiệt đới thì trồng trọt và xuất khẩu chuối, quốc gia vùng ôn đới thì trồng trọt và xuất khẩu lúa mì; quốc gia có lao động nhiều học vấn thì xuất khẩu hàng công nghệ cao, còn quốc gia mà lao động học vấn kém thì xuất khẩu hàng công nghệ thấp…   “Thuyết thương mại mới” phát sinh từ nhận định rằng, dù “thuyết thương mại cũ” soi sáng rất nhiều cơ cấu thương mại toàn cầu, vẫn còn một số hiện tượng quan trọng mà nó không giải thích được. Khối lượng thương mại giữa Pháp và Đức, chẳng hạn, là rất cao, dù hai nước khá giống nhau về tài nguyên cũng như khí hậu. Mậu dịch giữa Mỹ và Canada cũng thế. Hơn nữa, hàng hóa mà các nước đã phát triển buôn bán với nhau thường là cùng một thứ (chẳng hạn như Mỹ xuất khẩu ôtô mà cũng nhập khầu ôtô), chứ không phải luôn luôn xuất khẩu thứ này, nhập khẩu thứ khác.  (Nên để ý rằng sự kiện này đã được phát giác từ thập kỷ 1950, Krugman không phải là người đầu tiên nhận thấy.)   Tuy đã có một số lý thuyết giải thích hiện tượng này (thường được gọi là “thương mại nội ngành” – intra-industy trade) nhưng hầu hết đều vá víu, tùy tiện, chỉ áp dụng cho vài trường hợp thật cá biệt. Đóng góp to lớn của Krugman là chứng minh rằng “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất. Cụ thể, có khá nhiều sản phẩm không giống lúa mì, hoặc chuối (mà rất nhiều nơi trên thế giới sản xuất được), nhưng lại giống loại máy bay khổng lồ (jumbo jet), mà chỉ vài nơi trên thế giới sản xuất. Tại sao? Lý do chính là một số công nghiệp có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá phí bình quân càng thấp. Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng sản xuất là đủ. Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ.  Cách giải thích của Krugman tất nhiên dẫn đến câu hỏi: Quốc gia nào sẽ là nơi có cơ xưởng sản xuất máy bay, hoặc một loại máy chuyên dụng, hoặc một kiểu ôtô đặc biệt mà một số người tiêu dùng khắp thế giới đều muốn? “Thuyết thương mại mới” của Krugman đưa câu trả lời, khá bất ngờ và thú vị: Điều đó không quan hệ! Rất nhiều loại hàng có tính “tiết kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng! Quan trọng là cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại “cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính tiết kiệm do quy mô, như thuyết thương mại “mới” vừa cho thấy. Đó là lý do tại sao khối lượng thương mại toàn cầu trên thực tế rất lớn, nhất là giữa những nước khá giống nhau, hơn là khối lượng mà thuyết thương mại “cũ” (chỉ căn cứ trên sự khác biệt tài nguyên và khí hậu) tiên đoán.   2.   Khoảng mươi năm sau khi trình làng “thuyết thương mại mới”, Krugman đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu như vài (nhưng không tất cả) nguồn lực kinh tế (cụ thể là lao động và vốn) có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác? Trong thế giới của “thuyết thương mại cũ”, thương mại (hoặc, nói cách cầu kỳ, “sự lưu động của hàng hóa”) có thể được thay thế bằng “sự lưu động của yếu tố sản xuất”: nếu nhà máy và công nhân có thể tự do di chuyển từ vùng này sang vùng khác, thì những nhà máy và công nhân này sẽ phân tán đến “gần” nông dân, để “tối thiểu hóa” phí vận chuyển nông phẩm lẫn hàng công nghiệp. Song, trong thế giới “tiết kiệm do quy mô” mà Krugman hình dung thì “hiệu ứng ly tâm” này (đẩy các hoạt động kinh tế ra xa nhau) sẽ gặp sự đối kháng của “hiệu ứng hướng tâm” kéo những hoạt động ấy đến những thị trường lớn. Hiệu ứng hướng tâm này có khuynh hướng tập trung hóa các hoạt động kinh tế. Lấy trường hợp vua  ôtô Henry Ford và kiểu xe “Model T” nổi tiếng, làm thí dụ. Ford có thể xây nhiều nhà máy rải rác khắp nước Mỹ để gần khách hàng. Tuy nhiên, ông sáng suốt tiên đoán rằng dù phí chuyên chở đến khách hàng có là cao nếu tập trung sản xuất ở chỉ một nhà máy ở bang Michigan, tập trung như thế sẽ cho phép ông khai thác “tiết kiệm do quy mô”, phí sản xuất sẽ rất thấp, và rốt cuộc thì giá bán sẽ rẻ hơn là sản xuất ở nhiều nhà máy nhỏ, dù gần khách hàng.   Tất nhiên, sẽ có câu hỏi: nếu tập trung sản xuất vào một số ít địa phương để tận dụng tiết kiệm do quy mô thì nên chọn những địa phương nào? Krugman trả lời: đó là những địa phương có sẵn một thị trường lớn – tức là những địa phương mà các nhà sản xuất khác cũng đã chọn để sản xuất hàng của họ! Qua thời gian, nếu lực hướng tâm này đủ mạnh, chúng ta sẽ có một hiệu ứng tích lũy: những vùng, do một tình cờ lịch sử nào đó, là nơi đầu tiên có những trung tâm sản xuất thì những vùng ấy sẽ thu hút thêm các nhà sản xuất, trở thành trung tâm kinh tế, trong lúc những vùng khác trở thành “ngoại vi”. Chính vì thế mà, theo Krugman, cho đến gần đây, hầu hết công nghiệp của Mỹ đều nằm trong một “vòng đai” địa lý tương đối hẹp, trải từ miền Tân Anh Cát Lợi (New England) đến vùng Trung Tây (Midwest) của quốc gia này. Tương tự, Krugman nói cách ấn tượng: 60 triệu người Mỹ sống dọc bờ biển miền Đông chẳng phải vì so với nơi khác thì phong cảnh ở đây hữu tình hơn, hoặc khí hậu dễ chịu hơn (trái lại là khác!), song mỗi người sống ở đây vì 60 triệu người khác cũng sống ở đây.   Với cùng một lôgíc, Krugman giải thích tại sao một số công nghiệp nào đó tập trung ở một địa phương nhất định, dù rằng trong trường hợp này thì cái lôgíc sẽ dính líu đến những yếu tố như: ở địa phương ấy số lao động chuyên môn về một ngành nào đó thì đặc biệt hùng hậu, hoặc là ở nơi ấy có nhiều nguồn cung cấp một loại đầu vào mà nơi khác không có.   Có thể hỏi thêm: Điều gì quyết định một công nghiệp định cư ở nơi nào? Trả lời: Thường, là một ngẫu nhiên! Ví dụ như thung lũng Silicon (Silicon Valley, trung tâm công nghiệp điện tử của Mỹ) sở dĩ được như ngày nay cũng vì hai chàng William Hewlett và David Packard (sáng lập viên đại công ty Hewlett-Packard), tẩn mẩn rị mọ trong gara của họ ở một ngôi nhà vùng đó… Một ví dụ khác: Thành phố New York là thủ phủ đồ may mặc của nước Mỹ, phần lớn là vì số lượng mậu dịch về hàng vải đã sẵn có ở đây, và vì đông đảo khách hàng đang sống ở thành phố (lớn nhất nước Mỹ) này.                                                                        3.   Ngày nay, hầu như ai trong giới kinh tế cũng chấp nhận căn bản của thuyết “thương mại mới” và thuyết “địa lý kinh tế” như là hiển nhiên. Nhưng trước Krugman thì những cách mô tả này rất là xa lạ (một ngoại lệ: hình như Paul Samuelson, “trưởng lão” kinh tế gia Mỹ, người Mỹ đầu tiên được Nobel kinh tế, cũng đã nghĩ đến vai trò của tiết kiệm do quy mô trong thương mại, dù nhà kinh tế này không khai triển thêm). Thiên tài của Krugman là nhận ra, trước mọi người, cốt tính của một hiện tượng kinh tế quan trọng, rồi dùng một mô hình cực kỳ đơn giản (nhưng không quá đơn giản!) để phân tích nó, trình bày nó một cách thật dễ hiểu, mở đường cho hàng trăm nhà kinh tế khác (trong đó có người viết bài này!) theo chân ông, khai triển thêm mô hình ấy. Krugman cũng đã may mắn vào nghề đúng lúc kinh tế học có nhiều tiến bộ khác mà ông có thể sử dụng trong mô hình của ông (ví dụ như tiếp cận áp dụng thuyết trò chơi trong các phân tích về cạnh tranh công nghiệp, hay “hàm tiêu dùng” cực kỳ giản dị, nhưng súc tích, của Avinash Dixit và Joseph Stiglitz – từ một lý thuyết nổi tiếng của Kelvin Lancaster — theo đó người tiêu dùng không chỉ ham muốn số lượng (nhiều) và chất lượng (cao) của một loại hàng mà còn ưa chuộng sự đa loại của hàng hóa nữa).   Những lý thuyết trên đây của Krugman có áp dụng nào cho chính sách kinh tế? Chính Krugman cũng nhìn nhận rằng điều này không là rõ ràng. Khi mới xuất hiện thì “thuyết thương mại mới” thường được xem là cho Nhà nước một lý do để can thiệp vào thương mại (cụ thể là bảo hộ những công nghiệp có tính tiết kiệm do quy mô), thậm chí nó đã được nhiều công ty viện dẫn để biện hộ cho yêu cầu nhà nước giúp đỡ. (Trong thời kỳ này, Krugman rất “đắt sô”, được các công ty mời đi diễn thuyết mọi nơi, trả tiền khá sộp!). Tuy nhiên, dần dà Krugman và những người có đóng góp vào thuyết này (như James Brander, Barbara Spencer, Anthony Venables…) đâm “hoảng” về sự lạm dụng mà các công ty dùng thuyết của họ để yêu cầu Chính phủ tài trợ, bảo hộ. Họ phải quay ra viết nhiều bài để “thanh minh”. Chẳng hạn, họ cảnh báo rằng Nhà nước cần xác định ảnh hưởng của chính sách bảo hộ một công nghiệp đến những công nghiệp khác (giúp cái này có thể hại cái kia), hoặc là vạch rõ rằng công cụ bảo hộ (nếu quyết định là sẽ bảo hộ) tùy vào cách mà các công ty cạnh tranh với nhau (cạnh tranh bằng giá cả thì khác cạnh tranh bằng số lượng, chẳng hạn), và nhiều điều khó tiên liệu khác. Đằng khác, thuyết thương mại mới cũng có thể được dùng để chứng minh lợi ích của tự do mậu dịch, bởi vì thương mại trên cơ sở này sẽ đem đến cho người tiêu dùng nhiều chủng loại hàng hóa hơn. Nói chung, Krugman tin rằng tuy bảo hộ có thể có ích trên lý thuyết nhưng trên thực tế thì cái lợi của bảo hộ hầu như luôn luôn bất cập hại. Theo Krugman, những công trình của ông về thương mại và địa lý như tóm lược trên đây là để gia tăng kiến thức của chúng ta về thế giới thực tế, không có một dụng ý chính trị nào.   Một chi tiết khá thú vị là người ủng hộ Krugman mạnh mẽ nhất (đã vận động để New York Times mời Krugman về cộng tác) chính là Thomas Friedman, nổi tiếng với ý niệm “thế giới phẳng”. Oái oăm là, theo lý thuyết địa lý của Krugman thì toàn cầu hóa sẽ làm thế giới … kém phẳng: chính tiến trình này sẽ củng cố vai trò của những “thành phố toàn cầu” như New York, London… vì lẽ ngày càng dễ cho những thành phố này buôn bán với cả thế giới.   4.   Tuy không được Ủy ban Nobel chính thức tuyên dương, hai lãnh vực nghiên cứu khác của Krugman cũng có nhiều dấu ấn đáng kể, đó là những phân tích của ông về khủng hoảng tiền tệ và về sự phân bố thu nhập ở Mỹ. Về khủng hoảng tiền tệ thì ông là một trong số ít người bào chữa quyết định kiểm soát ngoại hối của Thủ tướng (lúc ấy) Mahathir của Malaysia, thay vì nghe lời IMF, trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997. Còn về vấn đề phân bố thu nhập ở Mỹ thì phe bảo thủ luôn luôn phủ nhận là sự chênh lệch trong phân bố này ngày càng tăng, và họ cho rằng nếu có tăng thì cũng là do những yếu tố khách quan, cụ thể là tiến bộ công nghệ. Krugman mạnh mẽ phản bác ý kiến này. Dựa vào những con số thống kê khó chối cãi, ông chứng minh rằng hố chênh lệch thu nhập ở Mỹ phần lớn là hậu quả của chính sách của đảng Cộng Hòa, nhất là vào thời Tổng thống Reagan.   5.   Trong những nhà kinh tế được Nobel từ trước đến nay, có lẽ Paul Krugman là người được biết nhiều nhất ngoài giới kinh tế, qua hai bài bình luận mà ông viết hàng tuần cho tờ New York Times vào thứ hai và thứ sáu, và cụ thể là sự công kích kịch liệt chính sách của Bush nói riêng và đảng Cộng Hòa nói chung. Có thể nói là trong giới bình luận gia, ông là cái gai khó chịu nhất trong mắt của Bush và đảng Cộng Hòa. Tuy nhiên, liên hệ giữa Krugman và phe phóng khoáng (chống Bush) cũng có nhiều “phức tạp”. Vào giữa thập niên 1990, ông viết một số bài báo, cực lực chỉ trích (đôi khi hơi cao ngạo) những nhà kinh tế mà ông cho là “đem kinh tế đi bán dạo”. Dù có học vị cao, dạy trường danh tiếng, song, theo Krugman, những người này dùng những lập luận lỏng lẻo, lý thuyết lỗi thời, thậm chí sai lầm, để biện hộ cho những mục tiêu chính trị, hoặc chỉ để kiếm tiền hay vì háo danh. Không may, trong số những người mà ông chỉ trích lại là những nhân vật phóng khoáng có hạng (như Lester Thurow, Robert Kuttner, Robert Reich, Laura Tyson) được nhiều người mến mộ. Song, cũng phải nói, từ khi viết thường xuyên cho New York Times thì Krugman có vẻ “điềm đạm” hơn đối với người cùng phe phóng khoáng (có thể vì đôi khi chính Krugman cũng bị cáo buộc là “đem kinh tế đi bán dạo”!). Nhưng rồi gần đây, trong giai đoạn bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ, Krugman lại làm nhiều người trong hàng ngũ phóng khoáng “nhức đầu” vì ông kịch liệt ủng hộ bà Hillary Clinton, đến độ lắm khi nặng lời với phe ủng hộ Barack Obama, cho là họ quá mê muội!   6.   Paul Krugman sinh trưởng ở Long Island (kế cận thành phố New York). Thuở nhỏ, ông mê truyện khoa học giả tưởng của Isaac Asimov (có lẽ đây là lý do ông viết một bài đùa “lý thuyết thương mại giữa các ngôi sao” (theory of interstellar trade) khi còn là sinh viên). Sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) năm 1977, ông dạy ở Yale, MIT, Stanford, trở lại MIT, và từ năm 2000 về trụ trì ở Princeton, do lời mời của Ben Bernanke (hiện là chủ tịch Hệ thống Dự trữ Liên bang của Mỹ) lúc ấy là chủ nhiệm khoa kinh tế ở trường đại học này. Ông cũng có làm việc vài năm trong Chính phủ (vào thời Reagan, cùng nhóm với Lawrence Summers, do Martin Felstein mời về làm trong Hội đồng Cố vấn Kinh tế). Năm 1991 ông được huy chương John Bates Clark của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ. Đây là một huy chương rất có uy tín, được trao hai năm một lần cho một kinh tế gia dưới 40 tuổi, và thường được xem là dấu hiệu của “tương lai Nobel”. Krugman cũng có viết hai cuốn sách giáo khoa bán rất chạy, một cuốn về kinh tế quốc tế mà đồng tác giả là Maurice Obstfield, một cuốn về kinh tế nhập môn viết chung với bà Robin Wells. Bà này là vợ kế của Krugman.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Paul Midler lý giải hàng dỏm Trung Quốc      Qua Poorly made in China của Paul Midler,  độc giả nhận ra rằng việc sản xuất hàng kém chất lượng ở Trung Quốc không  chỉ do non kém về tay nghề, hoặc chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, mà  thậm chí có thể giả định là do âm mưu ám hại người tiêu dùng Mỹ (!), như  tác giả của cuốn Death by China đã ám chỉ.  &#160;    Nói đến hàng “sản xuất tại Trung Quốc”, người ta nghĩ ngay đến các loại hàng hóa rẻ tiền và kém phẩm chất, có khả năng gây hại cho môi trường và đe dọa sự an toàn tính mạng của người sử dụng. Nhưng tại sao những loại hàng hóa có phẩm chất tồi tệ như thế lại vào được thị trường Mỹ? Phải chăng các doanh nhân Mỹ do quá tham lợi nên đã nhập hàng hóa kém chất lượng của TQ, hay chính họ là nạn nhân của những doanh nhân Trung Quốc ranh ma, láu cá? Câu trả lời cho những câu hỏi trên có trong cuốn sách xuất bản lần đầu tiên năm 2009 và được tái bản năm 2011 của Paul Midler có tựa tiếng Anh là Poorly made in China, có thể tạm dịch sang tiếng Việt là “Sản xuất (hàng dỏm) tại Trung Quốc”.  Theo Midler, cuốn sách này của ông thoạt đầu chỉ là một bài viết ngắn theo đặt hàng của Wharton School of Business thuộc ĐH Pennsylvania, Mỹ vào năm 2007. Đó là năm mà một loạt vấn đề về chất lượng của hàng hóa TQ đã bị phát hiện, nào là sữa cho trẻ em và thức ăn cho thú cưng (pet) bị nhiễm melamin, lốp xe mới toanh bị nổ banh giữa đường, và đồ chơi trẻ em bị nhiễm chì khiến các bậc phụ huynh vô cùng lo lắng. Dư luận Mỹ đưa ra lời cáo buộc rằng chính các nhà nhập khẩu Mỹ phải chịu trách nhiệm về sự cố trên do đã nhập hàng dỏm từ Trung Quốc vào nước Mỹ.   Với kinh nghiệm hơn 20 năm sống và làm việc tại TQ trong vai trò người đại diện cho các công ty nhập khẩu của Mỹ để làm việc với các nhà sản xuất tại Trung Quốc, Midler có một cái nhìn khác về việc này. Theo ông, thực ra những công ty của Mỹ đã cố gắng làm hết trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, họ đã quá ngây ngô, khờ khạo khi làm ăn tại TQ, với đối tác là những thương nhân ranh ma, quỷ quyệt, đã dùng mọi thủ đoạn để lấy được hợp đồng rồi sau đó lẳng lặng giảm dần các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm để gia tăng lợi nhuận. Các sản phẩm nhập vào Mỹ từ TQ thực ra ban đầu cũng đạt chất lượng, nhưng sau đó chất lượng giảm dần một cách tinh vi rất khó nhận ra cho đến khi quá muộn. Hiện tượng nói trên được Midler gọi bằng một cụm từ rất thú vị là “quality fade”, tức là “nhạt phai chất lượng”, hay còn có thể gọi là hiện tượng “chất lượng bốc hơi”.   Bài viết ngắn của Paul Midler đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm và phản hồi của độc giả, đặc biệt là những độc giả từ các doanh nghiệp của Mỹ đang làm ăn hoặc có ý định làm ăn với TQ. Điều này đã khuyến khích Midler đồng ý chia sẻ thêm những kinh nghiệm và hiểu biết của mình về đất nước TQ dưới dạng một cuốn sách. Kết quả chính là cuốn sách Poorly made in China dài gần 250 trang, đã được nhà xuất bản Wiley xuất bản vào năm 2009. Và thật bất ngờ cho một tác giả với cuốn sách đầu tay, cuốn Poorly made in China đã được chọn để trao giải thưởng Cuốn sách hay nhất (Best book of the year) trong lãnh vực doanh thương của Tạp chí Nhà Kinh tế (The Economist) của năm 2009. Một vinh dự mà tác giả không bao giờ ngờ đến.   Vì sao cuốn Poorly made in China lại hấp dẫn độc giả đến vậy? Rất đơn giản: cuốn sách đã đưa ra một góc nhìn riêng mà chỉ có những người có kinh nghiệm sống lâu năm trong lòng đất nước Trung Quốc như Midler mới có thể có được. Đa số các tác giả khác khi viết về Trung Quốc đều dùng loại văn nghị luận và nhìn dưới góc độ đơn thuần chuyên môn – hoặc kinh tế, hoặc kỹ thuật, hoặc chính trị. Cuốn sách của Midler thì khác: ông không dung văn nghị luận mà viết dưới dạng một câu chuyện với các nhân vật, và tất cả những thông điệp về TQ đều được Midler cung cấp cho độc giả thông qua lăng kính văn hóa. Điều này khiến cho cuốn sách trở nên nhẹ nhàng, dễ đọc, nhưng các kiến giải của tác giả về các sự kiện ở Trung Quốc lại có được một sự sâu sắc không dễ tìm thấy ở nhiều tác giả khác.  Qua những mẩu chuyện trong Poorly made in China, độc giả nhận ra rằng việc sản xuất kém chất lượng ở Trung Quốc không chỉ do non kém về tay nghề, hoặc chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, hoặc thậm chí có thể giả định là do âm mưu ám hại người tiêu dùng Mỹ (!), như tác giả của cuốn Death by China đã ám chỉ. Theo Midler, rất nhiều những trục trặc xảy trong mối quan hệ làm ăn với Trung Quốc có nguyên nhân sâu xa từ những thói quen hoặc những giá trị văn hóa của đất nước này. Người Trung Quốc hầu như không bao giờ có thể thừa nhận là mình đã sai lầm (vì sợ bị mất mặt), mặt khác cũng luôn tránh không bao giờ chỉ thẳng ra với đối tác những điều mình chưa hài lòng (vì sợ mất hòa khí).   Bên cạnh những quan niệm nói trên, TQ còn có một truyền thống giao tiếp thương mại theo nguyên tắc cố lấy được thật nhiều thông tin từ người khác, đồng thời phải cố giữ bí mật thông tin về phía mình, vì họ biết rất rõ sự lợi hại của vũ khí thông tin. Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp thì hợp đồng ký chỉ để mà ký, còn khi thực hiện hợp đồng thì các nhà sản xuất phía  Trung Quốc sẽ tự thực hiện theo ý mình, tất nhiên là để bảo vệ lợi ích của mình. Họ hoàn toàn không cần biết phía đối tác có bị thiệt hại gì không, và với những kẻ non nớt, chưa có nhiều  kinh nghiệm làm ăn với TQ, thì những thiệt hại có thể sẽ rất đáng kể.   Cuốn sách bao gồm 22 chương, mỗi chương là một mẩu truyện liên quan đến quá trình giao dịch làm ăn giữa một đối tác của Mỹ và một đối tác ở miền Nam TQ (tỉnh Quảng Châu). Mặc dù cuốn sách nhằm giúp ta nhìn ra được mặt trái của quá trình sản xuất (hàng dỏm) tại TQ, nhưng những mẩu chuyện trong sách vẫn toát ra một vẻ nhẹ nhàng, thân thiện, thậm chí một tình yêu đối với một đất nước lạ lùng mà tác giả của nó đã làm việc và sinh sống rất lâu đến nỗi ông tự xem mình là người địa phương. Một cuốn sách rất đáng đọc đối với những ai muốn làm ăn với Trung Quốc, và cả với những ai chỉ muốn  hiểu thêm về đất nước và con người Trung Quốc.   Hiểu, để có những cảnh giác cần thiết, để không rơi vào tình trạng bất ngờ với những thiệt hại mà khi biết ra thì đã quá muộn. Một cuốn sách rất cần đối với mọi người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, không chỉ cho các doanh nhân, mà còn cả các vị lãnh đạo, để có được những đối sách cần thiết trong mối quan hệ với người hàng xóm lạ kỳ này.   Để độc giả có thể phần nào thưởng thức cuốn sách, trong những số tới chúng tôi sẽ trích dịch một số chương tiêu biểu của cuốn sách này. Riêng lần này, chúng tôi xin bắt đầu với một quy trình ngược, đó là giới thiệu trước bản dịch Lời cuối của tác giả. Lời cuối này không phải là phần kết của cuốn sách, mà là những trăn trở còn đọng lại của tác giả sau khi viết xong cuốn sách. Và một câu hỏi mà dường như cho đến tận bây giờ tác giả vẫn chưa tìm ra lời giải đáp dứt khoát: Vì sao nước Mỹ, và xa hơn nữa là toàn thế giới, lại dễ dàng rơi vào bẫy của Trung Quốc như vậy? Phải chăng đó là do ngây thơ, thiếu kinh nghiệm, thiếu bản lãnh, hay do lòng tham? Hay đúng hơn, là do tất cả những điều này cộng lại?  Một câu hỏi cũng đang rất cần được mọi người Việt Nam trả lời cho mình trong giai đoạn hiện nay!  —————–  Lời cuối  Ngay sau khi cuốn sách Poorly made in China được xuất bản vào mùa Xuân năm 2009, tôi được WFAE mời phỏng vấn trong một tiếng đồng hồ trên radio. WFAE là chi nhánh phát thanh của NPR, truyền thanh từ thành phố Charlotte thuộc bang North Carolina. Trong cuộc phỏng vấn ấy, Mike Collins, người phụ trách chương trình đã hỏi tôi: Tại sao tôi lại viết cuốn sách này?  Để viết cuốn sách ấy tôi đã phải bỏ ra 2 năm trời ròng rã, lẽ ra tôi phải trả lời được dễ dàng câu hỏi đó. Nhưng có thể là do chưa quen với những cuộc phỏng vấn long trọng nên tôi thấy mình thật lúng túng trước câu hỏi này. Vì thế tôi đã nói lan man chẳng ra đâu vào đâu.  Sau cuộc phỏng vấn ấy, tôi đã có thêm thời gian để suy nghĩ về động cơ viết sách của mình. Có người viết sách để kiếm tiền, và người khác thì viết vì mong được chút danh. Riêng tôi, dù đã được nhận tiền trước để viết cuốn sách này, nhưng thời gian để viết cuốn sách đã kéo dài hơn tôi nghĩ nhiều, và tôi đã phải bù tiền túi của mình vào để hoàn tất cuốn sách. Tôi không phải là nhà báo, cuốn sách ấy đối với tôi không phải là một sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Tôi đã phải ngưng công việc chính của mình trong suốt thời gian viết sách.  Nếu xét về danh tiếng thì những quan tâm của độc giả đến cuốn sách này chỉ làm cho tôi lo lắng. Do bản chất của cuốn sách – và nhất là do cái tựa gay gắt của nó – nên tôi đã sợ rằng sau khi xuất bản cuốn sách tôi có thể sẽ không được phép làm việc ở Trung Quốc nữa, hoặc nếu vẫn còn được phép trở lại đất nước này thì các đối tác phía TQ cũng sẽ nhìn tôi với cặp mắt thiếu thiện cảm. Thực ra lúc ấy một số lo lắng của tôi cũng đã trở thành hiện thực: tôi bắt đầu vấp phải cách đối xử lạnh nhạt và những bức thư điện tử không được trả lời.   Ngay sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, đứng trước cửa phòng thu của mình Mike cám ơn tôi đã đồng ý thực hiện cuộc phỏng vấn này, và tiếp tục nhắc lại câu hỏi ban nãy – chỉ có điều lần này câu trả lời của tôi sẽ không được thu và phát đến độc giả nữa. Rõ ràng là tôi chẳng có mấy lợi ích trong việc viết một cuốn sách như Poorly made in China, vì vậy Mike thực sự tò mò muốn biết tại sao tôi lại phải nhọc công đến thế?   Tôi thoáng ngập ngừng và suy nghĩ rất nhanh. Tôi hiểu anh ta muốn ám chỉ cái gì. Lúc này, vì không còn áp lực phỏng vấn nữa, nên tôi đã nở một nụ cười yếu ớt và đưa ra câu trả lời có chút riêng tư: “Ừ, nhưng chắc cũng phải có ai viết ra những điều ấy chứ!” Câu trả lời của tôi đã khiến Mike nhìn tôi với một vẻ tôi không thể nào quên, đầy thất vọng và tiếc rẻ, anh ta bảo tôi rằng anh ấy ước gì trong lúc phỏng vấn tôi đã nói đúng như thế.  Kỹ năng trả lời phỏng vấn của tôi hôm ấy thật kém, nhưng trong mấy tháng sau đó tôi cũng đã làm hết sức mình để cổ động cuốn sách của tôi. Tôi có thêm một số cuộc phỏng vấn khác, đa số là do các đài địa phương thực hiện, và cuốn sách của tôi có thêm một số nhận xét tích cực trong các bài điểm sách, cũng từ các tờ báo nho nhỏ. Rồi thì sau khi cuốn sách ra đời được khoảng 9 tháng, một vận may lớn đã xảy ra. Tạp chí The Economist và một số các nhà xuất bản liên bang khác đã chọn cuốn Poorly made in China làm cuốn sách hay nhất trong năm. Đó là một vinh dự, giúp thu hút sự chú ý của độc giả đến cái tựa sách này. Rồi tiếp theo đó là những nhà phê bình – hoặc ít ra là những nhà phê bình nghiệp dư.  Bất kể tôi đi đến đâu, người ta cũng đều có thái độ theo kiểu “ừ tôi có biết, nhưng cũng thường thôi” về cuốn sách này. Không ai nói là họ không thích cuốn sách, nhưng họ đều ám chỉ rằng cuốn sách này được chọn làm cuốn sách của năm chỉ vì nó có đúng chủ đề mọi người đang quan tâm. TQ lúc ấy đang dính rất nhiều vụ tai tiếng về chất lượng hàng hóa, vì thế mọi người muốn biết thêm về chủ đề này, có thế thôi. “Anh đã có mặt đúng lúc vào đúng thời điểm”, người ta bảo tôi thế, hàm ý rằng nếu như trước đó đã có một vài cuốn sách nào khác về chủ đề này thì cuốn sách của tôi thậm chí chẳng ai buồn để ý đến.  Những nhận xét như trên đã làm cho tôi nhận ra một điều mà trước đó tôi hoàn toàn không nhận ra: cuốn sách của tôi hóa ra là cuốn sách duy nhất  đã đưa ra những lý giải về sự yếu kém chất lượng của hàng hóa TQ. Điều này quả là lạ, tôi nghĩ thế. Trong vòng đời của các tin tức thời sự, thông thường khi một chủ đề được báo chí đề cập thật nhiều trong một thời gian, thì y như rằng trong khoảng từ 12 đến 18 tháng sau thế nào cũng có ít ra là một vài cuốn sách viết về chủ đề ấy. Trong khi đó, scandal lớn đầu về chất lượng hàng hóa TQ đã nổ ra tại Mỹ cho đến nay là đã gần 3 năm, chất lượng thì cứ tiếp tục tồi tệ, vậy mà cho đến giờ chỉ mới có một cuốn sách của tôi.  Tôi chẳng phiền giận gì với những nhận xét theo kiểu “có mặt đúng lúc vào đúng thời điểm” về cuốn sách của tôi, vì điều đó là chính xác: Tôi có kinh nghiệm làm việc với các nhà sản xuất TQ, nên tôi có chất liệu để viết. Nhưng những nhận xét như tôi đã nêu ở trên tạo cho ta cái cảm giác rằng chỉ có một mình tôi mới có kinh nghiệm làm việc với các nhà sản xuất. Thế còn hàng ngàn người ngoại quốc khác đang làm việc tại TQ thì sao? Và còn một số lượng lớn hơn rất nhiều những người TQ – con số hẳn phải lên đến hàng chục triệu, theo nghĩa đen – cũng đang làm việc trong lãnh vực sản xuất? Rõ ràng là tất cả những người này đều phải có ít nhiều hiểu biết về những bí mật đen tối và sâu kín nhất của các ngành công nghiệp chứ nhỉ?  Lẽ ra tôi đã phải có cảm giác tự hào vì mình là người duy nhất xuất bản được cuốn sách về chủ đề ấy, nhưng tôi không hề cảm thấy thế. Trái lại là khác: tôi cảm thấy rất băn khoăn vì tại sao lại có quá ít người lên tiếng như vậy. Tôi có cảm giác là có nhiều người có thể viết được, nhưng chỉ rất ít người viết vì ở TQ nói chung là người ta khó chấp nhận sự phê phán. Có vẻ như mọi người đều tin vào giả định này, mà không phải là không có cơ sở, là không nên viết những điều phê phán về đất nước này; chính phủ TQ kiểm soát chặt chẽ và khá cứng rắn; ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra.  Từ khi cuốn sách được xuất bản, tôi thường bị người khác hỏi liệu tôi có còn được cho phép quay lại TQ nữa hay không. Câu trả lời đơn giản nhất là tôi vẫn được vào – tại sao lại không nhỉ? Tôi vẫn tiếp tục đóng vai trò trung gian giữa các công ty của Mỹ và các nhà sản xuất tại TQ. Công việc với trung gian của tôi đã giúp tạo ra dòng chảy của đồng Mỹ kim vào một nền kinh tế đang rất cần ngoại tệ. Hàng triệu đô la Mỹ mà tôi giúp để đưa vào Trung Quốc cuối cùng sẽ đóng góp vào việc củng cố sức mạnh của Đảng Cộng sản TQ thôi.  Nhưng xin các bạn đừng nhầm lẫn: không hề có chuyện TQ đang trải thảm đỏ để đón rước tác giả của cuốn sách này. Nơi xuất bản cuốn sách của tôi đã phải mất nhiều tháng để xin phép nhập bản tiếng Anh của cuốn sách này vào TQ, và cho đến nay chúng tôi vẫn còn chưa tìm được nhà xuất bản nào ở TQ sẵn lòng mua tác quyền để dịch cuốn sách này ra cho thị trường nội địa.  Cá nhân tôi cũng có những nỗ lực tìm kiếm một nhà xuất bản tại TQ, và đã trao đổi với một nhà xuất bản mà một người bạn tôi là nhà văn đã giới thiệu cho tôi. Ban đầu họ cũng tỏ ra rất quan tâm vì đã đọc qua những bài điểm sách, nhưng sau đó họ lại tỏ ra lạnh nhạt. Họ nói thẳng cho tôi biết rằng cuốn sách của tôi đem lại quá nhiều rủi ro cho họ, bởi vì nó có thể sẽ tạo ra một sự quan tâm không đúng hướng.  Trong số những câu hỏi khó trả lời nhất mà tôi đã nhận được từ lúc cuốn sách được xuất bản, đặc biệt là liên quan đến vấn đề chất lượng hàng hóa, đó là: Mọi việc phải khá hơn rồi chứ? Nếu trả lời được rằng chúng ta đã qua khỏi giai đoạn hoang sơ ban đầu rồi thì rất tốt, nhưng với một quốc gia mà hầu như bất cứ ai và bất cứ lúc nào người ta cũng phải tự kiểm duyệt thì ta có thể nói gì về nó đây?       Author                Quản trị        
__label__tiasang PEGA dám nghĩ lớn và làm lớn      Xe máy và xe đạp điện ở Việt Nam hiện đang tăng trưởng tốt, mở ra nhiều cơ hội khởi nghiệp hấp dẫn, tiêu biểu là trường hợp thành công của PEGA – một doanh nghiệp dám nghĩ lớn và làm lớn với mong muốn chứng minh rằng người Việt cũng có thể sản xuất được những sản phẩm tốt, đủ khả năng cạnh tranh với thế giới chứ không phải chỉ biết bán hàng.      Ca sĩ Sơn Tùng quảng cáo cho mẫu xe điện mới của PEGA. Ảnh: PEGA.    Khoảng 6-7 năm trở lại đây, hình ảnh những em học sinh phổ thông điều khiển xe máy, xe đạp điện, lướt đi băng băng trên phố đã trở nên quá quen thuộc. Trong bối cảnh giá xăng ở Việt Nam “chưa chịu giảm” cùng nạn tắc đường và ô nhiễm khói bụi kinh hoàng, nhất là tại các đô thị lớn nơi mật độ dân cư quá đông và hạ tầng giao thông vẫn chưa đủ để áp ứng nhu cầu, những chiếc xe hai bánh sử dụng động cơ chạy điện lại được tin dùng, trở thành phương tiện đi lại chính của nhiều người dân, thay cho xe gắn máy sử dụng động cơ đốt xăng truyền thống. Lợi thế của những chiếc xe loại này là sự nhỏ gọn, tiện lợi, thân thiện với môi trường, cùng khả năng tích hợp được nhiều công nghệ thông minh, song quan trọng nhất vẫn là không tốn tiền mua xăng, thậm chí chỉ mất khoảng 1000 – 2000 đồng cho mỗi lần sạc điện để đi được 100 km.  Thị trường tiêu thụ xe đạp, xe máy điện ở Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ, cả về số lượng, chất lượng, lẫn mẫu mã và kiểu dáng, với doanh số mỗi năm đạt cả trăm nghìn xe. Hiện nay, số lượng xe lưu hành trên cả nước đã vượt quá 3 triệu – số liệu của Cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương. Với mức giá dao động trong tầm 7 – 19 triệu đồng/xe, chỉ cần làm một phép tính đơn giản cũng thấy thị trường có doanh thu nghìn tỷ này hấp dẫn như thế nào.  Tuy nhiên cũng theo Cục Quản lý thị trường, trong số hơn 3 triệu xe điện đang lưu hành thì chỉ có gần 10% là quản lý được. Nguyên nhân là do trong suốt một thời gian dài, xe từ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc, được tuồn vào Việt Nam và gắn nhãn “made in Vietnam”. Chính vì vậy, nhà nước đang phải tìm cách siết chặt công tác quản lý, trong đó có việc ban hành một số tiêu chuẩn và quy định mới. Cụ thể, từ ngày 1/7/2016, tất cả các xe máy điện nếu muốn được lưu hành, tham gia giao thông tại Việt Nam thì đều phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, chủ xe cần phải có cả giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật của xe điện, đồng nghĩa với việc những xe có nguồn gốc không rõ ràng, chất lượng không đảm bảo thì rất khó có thể xuất hiện ngoài đường phố.  Điểm sáng  Hiện nay, PEGA, Detech và DKBike là 3 hãng lớn nhất, chiếm hơn 40% thị phần xe đạp, xe máy điện ở Việt Nam. Đáng chú ý, PEGA được kỳ vọng sẽ tạo ra sự đột phá khi tuyên bố sẽ thâu tóm 30% thị phần vào năm 2018 và ít nhất 50% vào năm 2019.    CEO Lê Hoàng Long của PEGA. Ảnh: PEGA.    Trao đổi với Tia Sáng, CEO Lê Hoàng Long của PEGA nhận định: “Việt Nam vốn đã có sẵn một hệ sinh thái sản xuất xe máy chạy xăng hoàn chỉnh được gây dựng từ mấy chục năm nay, với các tên tuổi lớn của Nhật Bản như Honda, Yamaha, cùng hàng ngàn công ty cung ứng linh phụ kiện khác … Vì vậy, nếu không nhanh nhạy tìm cách biến môi trường này thành cơ hội để tự sản xuất xe điện, thì những hãng nước ngoài sẽ làm điều đó thay cho chúng ta”.  Trước đây, xe điện vốn chỉ là cuộc chơi của các thương hiệu Trung Quốc với những sản phẩm giá rẻ, nhưng vị CEO sinh năm 1085 tin tưởng rằng chỉ có cạnh tranh về chất lượng mới giúp xe điện thực sự đáng được quan tâm. Với tầm nhìn ấy, PEGA đã luôn chú trọng hợp tác với các nhà cung cấp hàng đầu, … đồng thời tìm cách nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên mức 35%, thường xuyên điều chỉnh và cải tiến cả thiết kế lẫn công nghệ nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng nhất. Lê Hoàng Long luôn tâm niệm: “Nội địa hóa là bước đi quan trọng để có thể tự chủ, tạo dựng nền tảng vững chắc, để người Việt có thể cùng nhau tự sản xuất ra những chiếc xe lý tưởng, và sau đó tiến tới phát triển những công nghệ, tiện ích hiện đại khiến cuộc sống của mọi người trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn”.  Tham vọng của PEGA đã không chỉ dừng lại ở mục tiêu chiếm lĩnh thị phần trong nước, mà còn hướng tới vươn xa ra thế giới và giúp định hình khái niệm “xe máy điện thông minh” (Smart E-Bikes) qua việc đầu tư cho những công nghệ thông minh tích hợp sẵn trên xe như: quản lý điện năng, định vị, chống trộm, điều khiển từ xa, kiểm tra tình trạng xe, cảnh báo an toàn, hay gửi thông báo khẩn cấp trong trường hợp chủ xe bị tai nạn,… Long cho biết công ty đổi tên từ HKbike sang PEGA, với cảm hứng từ hình ảnh chú ngựa bay Pegasus trong thần thoại với mong mỏi đưa sản phẩm công nghệ Việt ra thế giới dù biết đây là một bước đi mạo hiểm.   Vươn lên từ thất bại  Năm 2010, vào thời điểm bùng nổ của điện thoại di động, Lê Hoàng Long – tốt nghiệp kỹ sư lập trình từ Đại học Bách khoa Hà Nội – cùng 3 sáng lập viên khác của PEGA đã từng thử sức trong lĩnh vực này với nhãn hiệu HKPhone, nhưng không được thành công. Nguyên do, theo anh đó là vì hệ sinh thái công nghệ ở Việt Nam khi ấy đã không đủ thuận lợi cho việc tự sản xuất điện thoại di động, cụ thể Long và bạn bè đã không thể tìm được đối tác trong nước để đặt hàng.  Sau thất bại đó, anh nhận ra nếu không nắm được sản phẩm trong tay qua khâu chế tạo, không quản lý được chất lượng linh kiện thì sẽ đối mặt với rất nhiều vấn đề. Buông tay với giấc mơ điện thoại Việt, Long vẫn đau đáu với câu châm ngôn “người Việt hiểu người Việt”. Bắt đầu từ năm 2013, anh chuyển hướng sang sản xuất các loại xe hai bánh chạy điện.  Vì muốn tận dụng các lợi thế của Việt Nam như đã có sẵn ngành công nghiệp sản xuất xe máy, thay vì lên kế hoạch mua sắm linh kiện từ Trung Quốc về lắp ráp rồi cải tiến, bổ sung công nghệ, mẫu mã, PEGA quyết định tìm đến các vệ tinh sản xuất, linh phụ kiện cho Honda, Yamaha ở Việt Nam để bàn việc, đó là Bosch (chuyên cung cấp động cơ điện ), Jhen Da (vỏ và các linh kiện từ nhựa), … và nhiều đơn vị gia công uy tín khác nữa.  Ban đầu, nhiệm vụ này gặp rất nhiều khó khăn vì không dễ để thuyết phục các đối tác, ngay cả bản thân Long và cộng sự cũng cảm thấy mơ hồ vì việc chế tạo ra được 1 chiếc xe hoàn chỉnh thực sự không phải cứ muốn là được. Thông thường, quy trình cho ra đời một mẫu xe, từ lúc lên ý tưởng cho tới phác thảo, đắp mẫu, làm khuôn, tới chế tạo các chi tiết và lắp ráp sẽ phải mất từ 24 – 36 tháng, bên cạnh đó là khoản vốn đầu tư không hề nhỏ, chính vì vậy mối nghi ngờ về khả năng thành công là hoàn toàn có căn cứ. Ngay cả Bosch, đối tác cung cấp động cơ điện chất lượng cho PEGA bây giờ, khi ấy cũng đã không thể tin là PEGA có thể thành công. Nhưng cuối cùng, khát khao doanh nghiệp Việt phải làm được sản phẩm mà người Việt ưa thích đã vượt qua mọi rào cản.      Dây chuyền lắp ráp PEGA tại Bắc Giang. Ảnh: Tinh tế.  Từ 2 showroom khiêm tốn chỉ rộng chưa đầy 50 m2 ở Hà Nội, PEGA đã từng bước gây dựng và thành lập được 250 showroom chuyên biệt, đồng thời cung cấp sản phẩm cho hơn 500 đại lý phân phối khác trên cả nước; ngoài ra công ty còn đang có kế hoạch phát triển lên thành 700 showroom trong vòng 3 năm tới. Chỉ sau 4 năm khởi nghiệp, PEGA đã đạt vốn hóa thị trường khoảng 1.000 tỷ đồng, sở hữu 2 phân xưởng sản xuất chính tại Gia Lâm và Bắc Giang, đáng chú ý là cơ sở tại Bắc Giang có quy mô lên tới 15.000 m2 và công suất tối đa đạt 40.000 sản phẩm/tháng.  Không những chỉ được tin dùng trong nước, nhiều đối tác nước ngoài cũng bắt đầu để ý đến thương hiệu xe điện của Việt Nam. Trong tháng 1/2017, PEGA đã xuất khẩu đơn hàng 100 chiếc xe đạp điện đầu tiên sang thị trường Pháp nhằm thăm dò phản ứng của người tiêu dùng tại một thị trường khó tính như châu Âu. Lê Hoàng Long cũng cho biết, kể từ năm 2018, PEGA sẽ bắt đầu tiến công ra  châu Á, châu Âu và cố gắng hiện diện ở ít nhất 10 thị trường.  Có được thành công này, như anh Long chia sẻ, đó là do PEGA luôn dám mơ ước, nghĩ lớn và làm lớn: “Tham gia vào lĩnh vực xe đạp điện là cách tôi muốn chứng minh cho thế giới rằng người Việt Nam có thể sản xuất được những sản phẩm tốt, có uy tín, có đủ khả năng cạnh tranh với thế giới chứ không phải chỉ biết bán hàng, đồng thời mong muốn các bạn trẻ bắt tay khởi nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thay vì thương mại hay dịch vụ. Vì chỉ có sản xuất mới giúp DN phát triển bền vững và đưa đất nước đi lên”.    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Pep Guardiola gọi, thị trường dầu mỏ trả lời      Có lẽ, khó có fan hâm mộ bóng đá nào trên thế giới tưởng tượng ra, một ngày nào đó, việc chuyển nhượng cầu thủ diễn ra vào đầu mỗi mùa bóng lăn lại có thể tạo ra những thay đổi bất thường về giá cả trên thị trường dầu mỏ.      Sân nhà của CLB Man City cũng được đặt theo tên nhà tài trợ chính là hãng hàng không Etihad Airways của các Tiểu vương quốc Arab.  Mối quan hệ này có vẻ thật lạ lùng nhưng đó là điều đã xảy ra ở các câu lạc bộ bóng đá thuộc sở hữu hoặc được tài trợ bởi những “ông trùm” dầu mỏ hiện nay. Chúng tôi đã xuất bản trên tạp chí Energy Economics, số 100 (2021) nghiên cứu “When Pep comes calling, the oil market answers: The effect of football player transfer movements on abnormal fluctuations in oil price futures” (Khi Pep Guardiola gọi, thị trường dầu mỏ trả lời: Ảnh hưởng của các chuyển nhượng cầu thủ bóng đá tới các biến động bất thường của giá dầu trên thị trường)1 để nói về vấn đề này.     Ý tưởng nghiên cứu này nảy sinh từ một sự tình cờ: trong một hội nghị tài chính năm 2019, tôi đọc được lời phát biểu của ông Uli Hoeness, Chủ tịch Bayern Munich – câu lạc bộ bóng đá thành công nhất trong lịch sử Bundesliga, về mối liên hệ giữa việc chuyển nhượng cầu thủ với việc tăng giá dầu mỏ. Tò mò về thông tin này, tôi đã quyết định cùng các cộng sự tìm hiểu ảnh hưởng của việc chuyển nhượng cầu thủ do các câu lạc bộ bóng đá thuộc quyền sở hữu hoặc được tài trợ bởi những “ông trùm” dầu mỏ tới sự thay đổi bất thường trong giá dầu giao nhanh (spot price) và giá dầu tương lai (futures price) trên thị trường dầu mỏ. Câu chuyện khá thú vị vì hiện tại mối liên hệ này chưa rõ ràng và chưa có nghiên cứu nào để liên kết hai thị trường tưởng chừng như rất độc lập là thị trường chuyển nhượng bóng đá và thị trường dầu mỏ dưới góc độ tài chính và luồng tiền.     Khi ông trùm dầu mỏ đầu tư vào bóng đá      Nếu quan sát những chuyển động của bóng đá thế giới khoảng gần 20 năm trở lại đây, chúng ta có thể thấy một dòng tiền cực lớn ngày càng gia tăng của các ông trùm dầu khí đổ vào các CLB bóng đá. Một trong những ví dụ sớm nhất và đáng chú ý nhất là trường hợp của Công ty dầu khí Nga Gazprom khi mở rộng tầm ảnh hưởng từ ở các giải ngoại hạng Premier League (Nga) đến Bundesliga (Đức) và Premier League (Anh). Họ sở hữu CLB bóng đá Zenit (Nga), có một hợp đồng kinh doanh lâu dài với CLB Schalke (Đức) và đã tài trợ cho cả CLB Chelsea (Anh) thông qua công ty đầu từ Millhouse Capital của ông trùm dầu khí Roman Abramovich.    Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của việc các ông trùm dầu mỏ tài trợ hoặc sở hữu CLB bóng đá tác động tới các biến động trên thị trường dầu khí như thế nào, mặc dù những nghiên cứu về các yếu tố quyết định sự biến động của giá dầu mỏ kể từ cuộc khủng hoảng dầu khí vào những năm 1970 đã có nhiều. Nguyên nhân một phần là do trước đây, mới chỉ có một hoặc hai CLB thuộc quyền sở hữu của ông chủ dầu mỏ và khoảng thời gian để thu thập dữ liệu về chuyển nhượng cầu thủ còn ngắn.     Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, các ông chủ dầu mỏ đã đổ tiền vào mua lại hoặc tài trợ các câu lạc bộ bóng đá nhiều hơn. Điều này dẫn đến phần lớn các nhà đầu tư cho các CLB bóng đá tên tuổi ở châu Âu đều đến từ Trung Đông, có thể kể đến cựu Thủ tướng Qatar, Abdullah bin Nasser Al Thani, từ năm 2010 sở hữu CLB bóng đá Malaga (Tây Ban Nha); tập đoàn Qatar Sports Investment sở hữu nhà vô địch Pháp Paris Saint-Germain từ năm 2011; tập đoàn dầu khí có trụ sở tại Abu Dhabi do Sheikh Mansour đứng đầu tài trợ và cũng là chủ sở hữu nhà vô địch giải Ngoại hạng Anh 2019, CLB Manchester City. Sân nhà của CLB Man City cũng được đặt theo tên nhà tài trợ chính là hãng hàng không Etihad Airways của các Tiểu vương quốc Arab. Gần đây nhất, vào năm 2020, CLB Newcastle United (Anh) cũng là đối tượng trong cuộc đấu thầu mua lại của Quỹ đầu tư công Ả Rập Saudi do Thái tử Mohammed bin Salman đứng đầu, tuy nhiên nỗ lực mua lại CLB NewCastle United giữa năm 2020 từ ông chủ Mike Ashley của Quỹ đầu tư công Ả Rập Saudi không thành công, một phần lớn có thể do tiến trình bị kéo dài và tính rủi ro cao trên bình diện quốc tế do ảnh hưởng của dịch COVID-19.     Ai tác động đến ai?      Kết hợp nhận định của chủ tịch CLB Bayern Munich và dữ liệu về tiến trình “dầu mỏ hóa” của các dòng tiền đầu tư vào bóng đá châu Âu đã thúc đẩy chúng tôi hứng thú đi tìm tác động của hai thị trường bóng đá và dầu mỏ. Chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu theo sự kiện (event study) và tập trung vào năm CLB châu Âu thuộc sở hữu của các nhà đầu tư giàu dầu mỏ là CLB Manchester City (Anh), CLB Chelsea (Anh), CLB Málaga (Tây Ban Nha), CLB Paris Saint-Germain (Pháp) và CLB Zenit (Nga) trong khoảng thời gian là từ tháng 7/2003, (đó là khi Roman Abramovich mua CLB Chelsea) đến tháng 2/2019. Các hợp đồng chuyển nhượng được tổng hợp từ trang www.transfermarkt.com, trang web cung cấp dữ liệu chính thống về lịch sử của tất cả các loại hình trao đổi cầu thủ bóng đá tại châu Âu như mua, bán, cho mượn với nhiều điều khoản hợp đồng khác nhau.    Chúng tôi đã phát hiện ra, các CLB bóng đá do những doanh nghiệp hoạt động trong ngành dầu khí tài trợ hoặc được mua lại hoàn toàn luôn là một trong những người đi đầu trong việc trả những khoản tiền lớn cho các cầu thủ hàng đầu trên thị trường chuyển nhượng. Điều này cho thấy, chủ sở hữu của các CLB này muốn tập hợp đội hình gồm những cầu thủ tốt nhất để có được thành công ngay tức thì, ví dụ như giành được các danh hiệu trong nước cũng như châu lục. Dĩ nhiên, chiến lược này thường đòi hỏi nguồn tài chính đáng kể mà các CLB không thể đáp ứng chỉ từ việc chuyển nhượng cầu thủ. Dữ liệu thực nghiệm về chuyển nhượng cầu thủ cho thấy, các CLB bóng đá mà sau nhận được sự tài trợ của các công ty dầu khí thường xuyên rơi vào cảnh phải phải chi ra những khoản tiền lớn để mua cầu thủ vượt xa số tiền họ nhận được khi bán cầu thủ, Đây có thể nói là sự thâm hụt lớn trên thị trường chuyển nhượng cầu thủ, do đó các CLB này cần nhận thêm tài trợ từ các nguồn bên ngoài thị trường chuyển nhượng. Một trong những nguồn cung chính cho họ là từ thị trường dầu khí, vốn do chủ sở hữu/nhà tài trợ của các CLB này chi, đều là các công ty dầu khí của Nga hoặc các ông trùm dầu khí Trung Đông.  Để tài trợ cho những khoản thâm hụt trên thị trường chuyển nhượng cầu thủ, các chủ sở hữu đã có hành động mang tính chất “cơ hội” trong ngắn hạn bằng cách giữ lại nguồn cung dầu, dẫn đến việc tăng giá dầu giao nhanh, do thị trường dầu mỏ giao nhanh thường có tính thanh khoản thấp và khả năng điều phối, điều tiết thị trường dầu mỏ thế giới từ các quốc gia có sản lượng khai thác, sản xuất dầu mỏ lớn.  Bảng 1: Số liệu thống kê về việc giá trị chuyển nhượng cầu thủ (đơn vị: 100 triệu bảng Anh)                 Cực Hạn      Trung Bình      Median      Cực Tiểu      Độ Lệch Chuẩn          Phần A: Cầu thủ đến                                         (1) Giao dịch mua      1.9980      0.1486      0.0810      0.0018      0.1886          (2) Giao dịch mượn      0.4050      0.0492      0.0053      0.0014      0.1151          (3) Tổng (1) + (2)      2.0160      0.2181      0.1211      0.0018      0.2644          Phần B: Cầu thủ đi                                             (4) Giao dịch bán      0.5940      0.0881      0.0540      0.0009      0.1022          (5) Giao dịch cho mượn      0.0711      0.0144      0.0090      0.0011      0.0157          (6) Tổng (4) + (5)      0.9090      0.1021      0.0450      0.0009      0.1543          (7) Khoản thâm hụt      1.7127      0.1765      0.0810      0.0000      0.2169            Việc tăng giá dầu giao nhanh còn được thúc đẩy bằng nỗi lo lắng về việc cắt giảm nguồn cung dầu (Hình 1). Sự tăng giá bất thường trên thị trường giao nhanh thông thường sẽ được phản ánh trên thị trường dầu mỏ tương lai, trừ những trường hợp chuyển nhượng các cầu thủ có giá trị chuyển nhượng cao. Các trường hợp đặc biệt này thường là các vụ chuyển nhượng cầu thủ rất nổi tiếng như Neymar, có thể thu hút sự quan tâm đông đảo của báo chí và các nhà đầu tư dẫn đến sự nhận biết về thông tin trên diện rộng. Khi một thông tin đã được phản ánh vào giá giao dịch trên thị trường dầu tương lai, nhà đầu tư sẽ không còn kiếm được lợi nhuận bất thường từ thông tin này nữa.            Hình 1: Lượng tìm kiếm bất thường trên trang Google với từ khóa “Oil supply reduction” (cắt giảm lượng cung dầu) xung quanh ngày thâm hụt (ngày 0) trên thị trường chuyển nhượng của 5 câu lạc bộ (đường màu xanh) so sánh với lượng tìm kiếm cùng từ khóa trung bình trong những ngày không thâm hụt (đường màu đỏ).  Có thể sẽ có nhiều người băn khoăn về việc tại sao những ông trùm dầu khí này không thực hiện việc tăng giá dầu một cách thường xuyên. Chúng tôi cho rằng, nếu họ làm điều đó một cách thường xuyên thì có khả năng sẽ thu hút sự chú ý từ các thành viên khác của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), qua đó sẽ khiến cho việc tăng giá dầu bị để ý và dễ bị quy kết là cố gắng thao túng thị trường. Thay vào đó, nếu điều này diễn ra trong thời gian ngắn và ngẫu nhiên chỉ để giải quyết nguồn tài chính cho các CLB bóng đá trong việc chuyển nhượng cầu thủ thì sẽ ít gây sự chú ý hơn. Hơn nữa, việc làm này cần thực hiện nhanh chóng (a snap decision) để giải quyết bài toán cụ thể khi các CLB bóng đá cần nguồn tài chính để thực hiện việc chuyển nhượng cầu thủ chứ không phải là một phần của chiến lược dài hơi của tập đoàn trong công việc kinh doanh dầu khí.    Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của các CLB bóng đá thuộc sở hữu của các ông chủ dầu khí trên thị trường chuyển nhượng cầu thủ và những biến động bất thường về giá dầu tương lai, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra cơ chế truyền sốc giữa hai thị trường theo cách như vậy. Một điều rất tình cờ là khi bài báo được xuất bản thì cũng trùng với khoảng thời gian xác định được Chelsea và Man city đá trận chung kết cúp C1 châu Âu, hai đội bóng trong mẫu nghiên cứu. PSG sau khi được sở hữu bởi ông chủ dầu mỏ thì cũng đã lột xác trở thành một những ông lớn ở sân cỏ châu Âu, liên tục vào bán kết hoặc chung kết C1 trong những năm gần đây.□  Giá giao ngay là giá hiện hành của thị trường mà tại đó một tài sản nhất định, chẳng hạn như chứng khoán, hàng hóa hoặc tiền tệ, tại đó có thể mua hoặc bán ngay lập tức để chuyển giao tài sản. Mặc dù giá giao ngay phụ thuộc chủ yếu vào thời gian và địa điểm, giá giao ngay của hầu hết các chứng khoán và hàng hóa có xu hướng đồng đều hơn so với tỉ giá hối đoái. Ngược lại với giá giao ngay, giá tương lai là giá được thỏa thuận trước để chuyển giao tài sản trong tương lai, hay còn gọi là giá hợp đồng tương lai.     ——  1 https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0140988321002310?via%3Dihub    Author                Đỗ Xuân Hùng        
__label__tiasang Perseverance bắt đầu khám phá sao Hỏa      Tàu tự hành Perseverance (NASA) đã hạ cánh thành công lên Sao Hỏa ngày 18/2, 203 ngày sau khi bắt đầu được phóng từ Cape Canaveral ở Florida. Con tàu tự hành, vốn được truyền năng lượng từ Máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ đa nhiệm vụ (MMRTG) do Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) và đối tác phát triển, sẽ khám phá núi lửa Jezero và thu thập các mẫu vật để cuối cùng mang trở lại trái đất.      Đồ họa cho thấy các sự kiện này xuất hiện trong những phút quan trọng Perseverance của NASA hạ cánh xuống bề mặt sao Hỏa.  Cú chạm thành công này do trung tâm kiểm soát nhiệm vụ tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực của NASA ở Nam California thông báo vào 3 giờ 55 phút chiều. Tàu tự hành – được NASA miêu tả như một “nhà địa chất và sinh học vũ trụ robot” –trải qua nhiều tuần thử nghiệm trước khi bắt đầu quá trình thực nghiệm khoa học kéo dài hai năm ở miệng lúi lửa, nơi nó sẽ tìm hiểu về đất và trầm tích của các hồ cổ đại và đồng bằng ven sông cổ đại để xác định các đặc điểm về địa chất và khí hậu quá khứ của vùng này. Chiến dịch đem mẫu Sao Hỏa trở lại, vốn do NASA và ESA (Cơ quan hàng không vũ trụ châu Âu) đặt ra nhằm mục tiêu đưa các mẫu vật thu thập được bằng Perseverance về trái đất, nơi chúng sẽ được nghiên cứu về các tín hiệu về sự sống trong quá khứ.  “Việc hạ cánh này là một trong những khoảng khắc đáng nhớ với NASA, Mỹ và cuộc khám phá vũ trụ toàn cầu – khi chúng ta biết chúng ta cùng trên đỉnh của khám phá và mài sắc cây bút của mình, vì vậy để nói, để viết lại những cuốn sách giáo khoa về sự sống”, Steve Jurczyk – quyền quản lý NASA, nói. Nhiệm vụ Mars 2020 Perseverance với “những nhân cách hóa lý tưởng con người của Perseverance hướng về tương lai sẽ giúp chúng ta chuẩn bị cho sự khám phá của con người lên hành tinh đỏ”, ông nói thêm.  “Perseverance là bước đầu tiên đem đá và tầng phong hóa từ Sao Hỏa về trái đất. Chúng ta không biết những mẫu vật còn nguyên sơ đó sẽ nói với chúng ta điều gì nhưng những gì chúng có thể nói với chúng ta là vô cùng vĩ đại – bao gồm việc sự sống có thể từng tồn tại ngoài trái đất”, Thomas Zurbuchen, nhà quản lý về khoa học của NASA, nói.  “Thật thú vị khi thấy Perseverance, được truyền năng lượng bằng máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ, hạ cánh xuống sao Hỏa một cách thành công! Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về nhiều cách thức mà khoa học và công nghệ hạt nhân có thể đóng góp vào sự tiến bộ của loài người”, Tổng giám đốc World Nuclear Association Sama Bilbao y Léon nói.    Bức ảnh cho thấy địa điểm hạ cánh.  Tăng cường năng lực Pu-238  Máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ đa nhiệm vụ MMRTG cung cấp cho Persevance điện năng và nhiệt, được DOE và đối tác phát triển các hệ phát điện dành cho những ứng dụng vũ trụ dân sự. Hệ phát điện đồng vị phóng xạ do Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho (INL) phát triển và chuyển đổi nhiệt từ quá trình phân rã nhiên liệu plutonium-238 (Pu-238) – do Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge cung cấp – thành điện năng. Vòng đời vận hành của nó sẽ kéo dài 14 năm.  Người ta tạo ra Pu-238 từ việc chiếu xạ neptunium-237, vốn được tái sinh từ nhiên liệu của lò phản ứng nghiên cứu hoặc từ những mục tiêu đặc biệt, trong các lò phản ứng nghiên cứu nhưng Mỹ đã mất năng lực sản xuất ra vật liệu này từ cuối những năm 1980 sau khi đóng cửa các lò phản ứng tại Savannah River. DOE cùng với NASA trong năm 2015 đã tái thiết việc sản xuất này tại Lò phản ứng đồng vị xung cao  (HFIR) tại ORNL, nơi đã tạo ra được 1 kg vật liệu chứa nhiệt này.  DOE nói rằng đang tiếp tục gia tăng quy mô sản xuất Pu-238 để hỗ trợ mục tiêu sản xuất 1,5kg mỗi năm của NASA vào năm 2026. Một tổ hợp thứ hai gồm bảy bia neptunium oxide và một bột kim loại nhôm được tải vào trong Lò phản ứng thử nghiệm tiên tiến (ATR) INL, nơi sẽ chiếu xạ vật liệu trong vòng 55 đến 58 ngày, DOE thông báo. Các mục tiêu chiếu xạ này sau đó sẽ được gửi tới ORNL để tách chiết plutonium và xác nhận chất lượng và khối lượng của vật liệu chứa nguồn nhiệt được tạo ra. INL chờ đợi sẽ tạo ra được 30 gram vật liệu Pu-238 từ hai chiến dịch phát triển đầu tiên của mình. Bảy bia ban đầu đã được tải vào ATR trong tháng 7/2019.  “Trong khi Mỹ đủ nhiên liệu để hỗ trợ các nhiệm vụ không gian sang cả thập kỷ tới, mối quan hệ đối tác giữa DOE và NASA vẫn được tiếp tục để đảm bảo là có một nguồn cung cấp plutonium nội địa để hỗ trợ các nhiệm vụ tương lai”, DOE cho biết.    Hệ phát điện đồng vị phóng xạ do Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho (INL) phát triển và chuyển đổi nhiệt từ quá trình phân rã nhiên liệu plutonium-238.  Những bước tiếp theo  Đầu tuần này, nhà quản lý và cung cấp vận hành Liên minh Năng lượng Battelle LLC cho INL loan báo sẽ tiếp tục hợp tác với NASA và DOE để tìm kiếm đối tác công nghiệp nhằm thiết kế một hệ điện năng mới, nó được coi là bước tiếp theo cho những cuộc khám phá không gian.  Hệ điện đồng vị phóng xạ động lực (RPS) sẽ sử dụng Pu-238 như một nguồn nhiệt và sẽ được thiết kế cho nhiệm vụ khám phá mặt trăng tiềm năng vào cuối thập kỷ 2020. Dự án công nghệ này nhằm mục tiêu phát triển và thể hiện hiệu suất của một hệ hiệu quả gấp ba lần so với công nghệ RPS hiện hành. Việc chuyển đổi năng lượng động lực hiệu quả hơn việc chuyển đổi nhiệt điện do các hệ hiện hành như Perseverance, INL nói. Nó cho phép một Dynamic RPS tạo ra lượng điện năng tương đương với ít plutonium-238 hơn và mở rộng điện từ đồng vị phóng xạ ứng dụng trên các hệ lớn hơn.  Trong bảy năm tới, dự án này sẽ tiến triển thông qua các pha tăng thêm để chế tạo và xác định chất lượng của một hệ Dynamic RPS cho những nhiệm vụ khám phá khoa học trong tương lai, bao gồm cả các thực nghiệm quy mô nhỏ trên mặt trăng, các tàu tự hành và các tàu vũ trụ cỡ nhỏ, INL nói.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/Perseverance-begins-exploring-on-Mars  https://edition.cnn.com/2021/02/18/world/mars-perseverance-rover-landing-scn-trnd/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Personal Food Computer: Hệ thống smart-farming cho đô thị      Tiến sĩ Caleb Harper, nhà sáng lập Sáng kiến Nông nghiệp mở (OAI) thuộc phòng thí nghiệm Media Lab tại Học viện Công nghệ Massachusetts, vừa cùng với các đồng nghiệp của mình phát triển một thiết bị có tên Personal Food Computer giúp các nông dân có thể mô phỏng điều kiện sinh trưởng của các loại cây thuộc các vùng khác nhau trên thế giới.    Một thiết bị Personal Food Computer  “Nhiều người chỉ thích ăn hạt tiêu có xuất xứ từ Mexico, nhưng cái mà họ thích thực ra lại là loại hạt tiêu được sinh trưởng trong những điều kiện giống như ở Mexico,” Tiến sĩ Harper chia sẻ. Từ quan niệm trên, ông cho rằng có thể tái tạo được một loài thực vật nếu có thể tái tạo các điều kiện sinh trưởng của loài đó. Để đạt được mục tiêu trên, trước tiên cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng về các điều kiện này.  Personal Food Computer là một thiết bị để bàn có chức năng kiểm soát ánh sáng, hàm lượng carbon-dioxide, độ ẩm, nhiệt độ bên ngoài, nhiệt độ tại rễ cây, độ acid, hàm lượng hòa tan oxy trong nước tưới cây, hàm lượng dinh dưỡng cùng nhiều khía cạnh liên quan đến hóa học khác.  Trong suốt quá trình sinh trưởng của cây trồng, các kiểu hình cây được theo dõi qua hệ thống camera kết nối với một phần mềm có chức năng phát hiện những điểm khác biệt trên gờ lá và màu sắc cây trồng bằng cảm biến; các bộ cảm biến này cũng có thể tìm ra những vị trí thực hiện hoạt động quang hợp mạnh nhất ở cây. Sau khi thu hoạch, cây trồng được kiểm tra bằng công nghệ lidar để lưu lại chi tiết kiểu hình, sau đó được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ để tìm hiểu thành phần hóa học của chúng.  Ý tưởng của Tiến sĩ Harper là xây dựng một mạng lưới “khoa học mở” trong đó các thành viên cùng nhau xây dựng các Personal Food Computer bằng cách cung cấp và thu thập những dữ liệu về các điều kiện sinh trưởng của các loại cây trồng, từ đó tìm ra các hiệu ứng kiểu hình phát sinh từ các điều kiện đó. Những thông tin được chú ý đặc biệt là những dữ liệu liên quan đến mùi vị và tinh chất của sản phẩm cây trồng, vốn được kiểm soát bằng các chất trao đổi thứ cấp. Những chất này thường nằm trong các cơ chế tự vệ của cây trồng, vì thế, trong một thí nghiệm, các máy tính này đã tìm hiểu tác động của việc đưa thêm xương của động vật có chân đốt vào nguồn nước tưới cây để mô phỏng những cuộc tấn công của côn trùng lên cây cối. Họ hi vọng rằng điều đó sẽ giúp họ chủ động hơn trong việc thay đổi mùi vị của các loại quả.  Hiện nay nhóm nghiên cứu đã xây dựng được khoảng gần 40 chiếc Personal Food Computer, và khoảng hơn 100 chiếc nữa đang được phát triển ở nhiều nơi trên thế giới. Mục đích của việc phát triển thiết bị tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới là nhằm tách rời yếu tố khí hậu khỏi khu vực địa lý và xây dựng một “danh mục các loại khí hậu”. Khi quá trình này hoàn tất, các trang trại nội đô trong nhà sẽ có thể được lập trình theo bất kì điều kiện khí hậu nào để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương. Cách làm này cũng có thể giúp hóa giải nỗi lo của một số người về một hiện tượng gọi là “food miles” (tạm dịch: đường đi của thực phẩm) – tức là chi phí xét về mặt carbon dioxide khi vận chuyển đồ ăn trên phạm vi toàn thế giới. Vấn đề đặt ra lúc này là: Liệu hoạt động này sẽ gây thiệt hại ra sao cho những nông dân tại các khu vực bị mô phỏng khí hậu ở các nước giàu?  Chi Nhân theo Economist    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phá vỡ một phần bí ẩn về phản vật chất và vật chất tối      Có thể những bí ẩn sâu sắc của phản vật chất và vật chất tối có liên hệ với nhau. Nghĩ đến khả năng đó, các nhà khoa học từ nhóm hợp tác quốc tế BASE do Stefan Ulmer của Bộ phận Cụm Nghiên cứu tiên phong ở RIKEN dẫn dắt đã thực hiện những thí nghiệm đầu tiên để xác định xem liệu sự khác biệt không lớn giữa tự tương tác của vật chất và phản vật chất với vật chất tối có thể là yếu tố quan trọng để giải quyết các bí ẩn này.      Công bố của họ “Direct limits on the interaction of antiprotons with axion-like dark matter” mới được xuất bản trên Nature.  Vật chất và phản vật chất đều là những vấn đề gây tranh cãi bởi các nhà vật lý đang cố gắng hiểu cách thế giới của chúng ta hoạt động tại cấp độ cơ bản như thế nào.    Vấn đề với phản vật chất là dẫu Big Bang có thể tạo ra một số lượng lớn vật chất và phản vật chất ở mức tương đương nhau, vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát được vốn được tạo ra từ vật chất. Phản vật chất được tạo ra hàng ngày trong các thí nghiệm từ các quá trình tự nhiên như ánh sáng, nhưng lại nhanh chóng bị các vụ va chạm với vật chất thông thường phá hủy. Các dự đoán chứng tỏ hiểu biết của chúng ta về vật chất chứa trong vũ trụ còn nhiều thiết hụt, và không ai biết tại sao lại tồn tại sự bất đối xứng này.  Trong trường hợp của vật chất tối, từ các quan sát thiên văn học, một số khối lượng chưa được biết rõ đang ảnh hưởng lên các quỹ đạo của các ngôi sao trong các thiên hà nhưng các đặc tính vi mô chính xác của những hạt mà chúng ta còn chưa rõ. Theo một lý thuyết khác, chúng là một dạng hạt mới chỉ tồn tại trên lý thuyết như hạt axion, vốn đóng vai trò quan trọng trong giải thích sự thiếu hụt  của xâm phạm đối xứng trong các tương tác mạnh trong mô hình chuẩn của vật lý hạt.  Nhóm hợp tác BASE đặt câu hỏi: liệu sự thiếu hụt phản vật chất có thể là do tương tác một cách khác biệt của nó với vật chất tối và họ thiết kế một thí nghiệm để tìm hiểu về giả thiết này. Để thực hiện nó, họ sử dụng bẫy Penning, một thiết bị được thiết kế một cách đặc biệt, để bẫy một hạt phản proton đơn lẻ có từ tính, ngăn nó không tương tác với vật chất thông thường và bị phá hủy. Sau đó họ đo đạc tính chất của  phản proton là tần suất tiến động spin (spin precession frequency). Thông thường, nó chỉ không đổi trong một từ trường cho trước và một biến điệu của tần suất này có thể được tính bằng một hiệu ứng trung gian do các hạt như axion tạo ra, về lý thuyết là ứng cử viên cho vật chất tối.  Tác giả thứ nhất của nghiên cứu này, Christian Smorra, cho biết, “lần đầu tiên, chúng tôi đã tìm ra một cách rõ ràng một tương tác giữa vật chất tôi và phản vật chất, và dẫu chúng tôi không thấy được sự khác biệt thì chúng tôi cũng tạo ra một giới hạn trên cho tương tác tiềm năng giữa vật chất tối và phản vật chất”.  Nhìn về tương lai, Stefan Ulmer của Bộ phận Cụm Nghiên cứu tiên phong ở RIKEN và là phát ngôn viên của Nhóm hợp tác BASE, nói: “Từ bây giờ, chúng tôi lập kế hoạch để cải thiện hơn nữa độ chính xác trong những đo đạc của chúng tôi về tần xuất tiến động spin của phản proton này, điều đó cho phép chúng tôi thiết lập được nhiều hơn những ràng buộc chặt chẽ về những bất biến cơ bản của điện tích, sự tương đương và thời gian và khiến việc tìm kiếm về vật chất tối thêm phần khả quan hơn”.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-mysteries-antimatter-dark-linked.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phá vỡ nghịch lý để tồn tại      Giữ gìn và bảo lưu ngành nghề truyền thống trong thời đại hiện nay là tìm cách tồn tại giữa một nghịch lý: người nghệ nhân cả đời mài giũa, khao khát tạo ra những sản phẩm độc bản, đỉnh cao về mặt nghệ thuật và kĩ thuật nhưng thị trường thì chạy theo những sản phẩm sản xuất hàng loạt với giá rẻ. Công ty Minh Long I của nghệ nhân Lý Ngọc Minh, là một minh chứng cho sự vật lộn để phá vỡ nghịch lý đó, cho sự nghĩ và làm vượt ra ngoài các khuôn khổ của truyền thống để vừa sống sót nhưng cũng vừa có chỗ nuôi dưỡng kĩ thuật đẳng cấp.      Minh Long I là một trong những nhà tài trợ đặc biệt của hội nghị cấp cao ASEAN 2020 với bộ bình trà Huyền Liên, được chế tác phức tạp hơn bộ Hoàng Liên tại APEC 2017 với họa tiết được đắp nổi.   Minh Long I vốn được biết đến qua những tác phẩm phục vụ sự kiện và các buổi yến tiệc quốc gia với những hoa văn cầu kì, tầng lớp các ẩn ý và điển tích văn hóa được vẽ thủ công; phô bày những kĩ thuật chế tác gốm tinh tế và phức tạp nhất mà họ tích lũy được trong nửa thế kỉ làm nghề. Chẳng hạn thiết kế bộ đồ ăn Hoàng Liên được lựa chọn trong bữa tiệc chiêu đãi các nguyên thủ quốc gia tại dịp APEC 2017 là sự gói ghém và cân bằng những câu chuyện trong văn hóa dân gian của Việt Nam giữa những lễ nghi bàn tiệc quốc tế. Họa tiết hoa sen trên đó là kết quả của nhiều năm nghiên cứu của Minh Long I cùng các họa sĩ châu Âu nhằm đem đến một thiết kế của truyền thống nhưng không nhàm chán, vừa kế thừa những họa tiết sen kinh điển trên những sản phẩm gốm sứ thế giới nhưng cũng vừa mang hơi thở của thẩm mĩ hiện đại. Trung tâm của bộ đồ ăn gồm hơn 80 chi tiết là chiếc khay ăn hình chữ nhật và chiếc nắp đĩa úp lên hình bán nguyệt cỡ lớn tượng trưng cho trời tròn – đất vuông như trong câu chuyện Lang Liêu xưa. Chiếc khay ăn mềm mại như một chiếc chiếu thư vừa mới lật giở, còn hơi quăn ở một bên mép giấy. Chiếc thố, chén hai lòng để ăn súp kiểu phương Tây có nắp đậy gợi nhắc đến mái hơi cong cong của đình, chùa làng Việt. Đằng sau thiết kế này cũng là những năm tháng “đã đời” tôi luyện về mặt kĩ thuật sao cho sản phẩm hoàn thiện trong trẻo, trơn láng, có những chi tiết nhẹ bẫng như pha lê, có những đồ hai lớp sứ để giữ nhiệt, họa tiết lúc in lúc vẽ vừa tạo độ đồng đều, vừa tạo chiều sâu.   Về sau, mỗi bộ Hoàng Liên bán ra thị trường với giá tới gần trăm triệu nhưng Minh Long I không sống bằng những tác phẩm như vậy. “Chỗ đó là cái chỗ chết, chỗ đó chỉ để PR thương hiệu thôi” – Ông Lý Ngọc Minh nói trong cuộc trò chuyện gần đây với Tia Sáng. Giống như các hãng gốm sứ lâu đời khác trên thế giới, Minh Long I “sống” nhờ những sản phẩm sản xuất đại trà bằng hệ thống máy móc tự động.       Tiêu chí bốn không – bốn có trong sản phẩm (không thời gian, không biên giới, không tuổi tác, không giới tính và có văn hóa, có nghệ thuật, có phong cách và có hồn) thể hiện rõ nhất đích đến ngang hàng với các thương hiệu lớn trên thế giới của ông Lý Ngọc Minh.      Dù vậy, xây dựng mình có thương hiệu gắn liền với những sản phẩm thủ công, Minh Long I đã tự làm khó mình ở thị trường Việt Nam: khách hàng trông đợi ở những sản phẩm mà hãng bán ra, dù là đại trà cũng phải có vẻ đẹp và chất lượng “nhìn vào là thấy đẳng cấp”, nhưng túi tiền của người dân lại không chi trả đắt hơn những sản phẩm không có thương hiệu quá 50%. Đã có lúc, để duy trì đẳng cấp này mà Minh Long I “về kĩ thuật thì đạt đến đỉnh cao mà về kinh tế thì trước mắt là vực thẳm”, theo lời ông Lý Ngọc Minh.    Ngôn ngữ của “cái đẹp”  Ông Minh không phải là một tuýp nghệ nhân thuần túy vị nghệ thuật. Là một người có những ước mơ lớn trong việc chinh phục những đỉnh cao của kĩ nghệ gốm sứ, mỗi khi nói chuyện ông không che giấu tham vọng muốn sản phẩm của mình sánh vai hoặc hơn các hãng của Đức như Rosethal, Meissen, Villeroy & Boch…với tuổi nghề hàng trăm năm, nhưng ông cũng là người thực tế, chân luôn chạm đất với óc kinh doanh nhạy bén.   Cái đẹp, với ông Lý Ngọc Minh, cũng nên là một loại ngôn ngữ có thể truyền đạt cho nhiều người hiểu được. Ông lấy ví dụ như có mấy người nước ngoài cảm nhận được vị ngon của nước mắm, mắm nêm, mắm tôm nguyên bản? Nhưng khi chế biến thành các món như chả cá Hà Nội, bún chả, phở thì ai ăn cũng thích. Làm nghề thủ công ở thời hiện đại với ông là như vậy, phải tái định nghĩa lại những công năng của gốm sứ. Đó là lí do mà ông Minh không dừng lại ở việc chỉ sản xuất bát đĩa, bình hoa sứ, tượng sứ trưng bày truyền thống mà ông còn muốn đưa gốm sứ tới gần đời sống hơn nữa. Một trong những nỗ lực gần đây nhất của ông là nồi chảo sứ. Bằng việc nghiên cứu lựa chọn đất và men để tăng tính chất phát ra tia hồng ngoại của sứ khi được đun nóng và tăng độ sốc nhiệt lên đến 8000C, chiếc nồi của ông Minh nấu ngon và an toàn như nồi đất của người xưa, chống dính tự nhiên như nồi chảo tráng Teflon, giữ nhiệt tốt như nồi chảo gang, không mốc, không gỉ, không thấm nước như nồi inox. Bộ nồi chảo của ông ra đời với cái tên “dưỡng sinh” bắt kịp đúng xu hướng thời thượng sống xanh, ăn sạch được dấy lên trong vài năm trở lại đây. Trở về từ buổi nói chuyện với ông Minh, tôi tới các cửa hàng phân phối sứ Minh Long I ở Hà Nội và được biết đa phần các nồi nấu trên bếp từ của ông đều cháy hàng.        Trong lễ trao tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú vào giữa tháng 12/2020, ông Lý Ngọc Minh là nghệ nhân duy nhất được mời phát biểu. Giữa những lời ca tụng của các lãnh đạo nhà nước, tôn vinh nghệ nhân là những “đại diện tiêu biểu cho trái tim, khối óc, bàn tay của dân tộc”, là “nhịp cầu đưa bạn bè năm châu đến với văn hóa đất nước” và có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, những chia sẻ của ông Lý Ngọc Minh có phần lạc điệu. Với ông, kĩ nghệ truyền thống đang bị mai một dần vì không tạo được dấu ấn trên thị trường và giới trẻ không muốn theo học. Do vậy các làng gốm Việt Nam từng lừng danh một thời giờ hoặc là thất truyền, hoặc là vô danh trên toàn cầu.  Ông còn đang nghiên cứu làm sứ nội thất. Phòng làm việc của ông Minh ở Bình Dương gần 10 năm nay có treo một chiếc đèn chùm hoàn toàn được chế tác bằng sứ vẫn đang trong quá trình thử nghiệm để tung ra thị trường. Sứ có thể được chế tác mỏng, nhẹ, trong trẻo như pha lê nhưng khác với pha lê ở chỗ có thể đa dạng màu sắc hơn. “Một ngày nào đó, bước vào văn phòng làm việc của tôi (người ta sẽ thấy) bao nhiêu kĩ thuật hiện đại để làm gốm sứ, bao nhiêu thứ chuyện trên đời tôi đúc kết lại trong 50 năm ở đó. Giới trẻ rồi sẽ ngạc nhiên là mỹ nghệ truyền thống cũng có thể hiện đại hóa được” – Ông nói.   Nhưng làm sao để làm ra sản phẩm thể hiện đẳng cấp của mình, lại không được bán đắt rồi vẫn đủ sống trên thị trường vẫn “thật khó vô cùng”. “Cho nên giờ Minh Long I vẫn phải đau đầu chứ đâu có đơn giản đâu. Minh Long I giờ vẫn còn khó khăn” – Ông Lý Ngọc Minh chia sẻ. Ông biết rõ, tự động hóa là lối thoát duy nhất. Từ cuối những năm 90, ông đã nhập khẩu những máy móc hiện đại nhất của ngành gốm sứ ở Đức và Nhật để tự động hóa một số công đoạn. Đến ngày nay, quá trình tự động hóa và số hóa đã thực hiện gần như toàn bộ: từ “cục đất chạy ra cái chén luôn”.   Trong số bốn nghệ nhân nhân dân năm 2020 vừa qua, ông Lý Ngọc Minh là người duy nhất tự động hóa triệt để và hiện đại đến như vậy. Không mấy người hiểu rằng nếu không có những tri thức thoát thai từ thủ công truyền thống thì sẽ không thể thiết kế hệ thống tự động hóa. Và ngược lại, nếu không có số hóa, cho phép kiểm soát, ghi lại từng thông số kĩ thuật của từng bước sản xuất thì kĩ thuật cũng như thiết kế cũng không thể phá bỏ được những giới hạn cũ. Công nghệ nung một lần lửa ở gần 14000C mà ông vẫn tự hào (thông thường, trên thế giới phải nung hai lần ở nhiệt độ như vậy, sản phẩm vào lò lần thứ nhất sẽ biểu hiện những lỗi và tạp chất trong những công đoạn trước đó, cần điều chỉnh để sau khi sản phẩm đưa vào lò lần thứ hai có thể đạt độ tinh khiết, láng mịn như gương) là nhờ vào những tri thức tích lũy từ việc làm gốm sứ từ thủ công lẫn trên máy móc hiện đại.   Thiết kế đẳng cấp quốc tế  Nhưng kĩ thuật đỉnh cao, sản phẩm sáng tạo cũng chưa bảo đảm một công ty gốm sứ thủ công cao cấp có thể tồn tại trên thị trường nếu không có một thiết kế độc đáo riêng biệt hấp dẫn người mua.   Việt Nam từng được biết đến là một địa chỉ làm gốm sứ trước thế kỉ 15 có dấu ấn trên thế giới. Những bình gốm của làng Chu Đậu (Hải Dương) ở thế kỉ 13-14 hiện vẫn đang được trưng bày trong những bảo tàng lớn nhất ở Nhật, châu Âu và Mỹ. Nhưng hiện nay, các làng gốm Việt Nam từng lừng danh một thời giờ hoặc là thất truyền, hoặc là vô danh trên toàn cầu.     Nhưng bài học của các hãng gốm sứ cao cấp nhất ở các nước châu Âu cho thấy, đẳng cấp thẩm mĩ của một thương hiệu thủ công phải được hình thành từ hàng trăm năm nuôi dưỡng và bồi đắp, duy trì cả về kĩ thuật và mĩ thuật, truyền thụ qua nhiều thế hệ. Anh Lý Huy Sáng, Phó Tổng giám đốc Minh Long I, con trai ông Lý Ngọc Minh từng chia sẻ trên báo chí rằng, so với các hãng gốm lâu đời trên thế giới, Minh Long I với tuổi đời 50 năm, chỉ là “một cậu bé”.       Bằng việc nghiên cứu lựa chọn đất và men để tăng tính chất phát ra tia hồng ngoại của sứ khi được đun nóng và tăng độ sốc nhiệt lên đến 8000C, chiếc nồi của ông Minh nấu ngon và an toàn như nồi đất của người xưa, chống dính tự nhiên như nồi chảo tráng Teflon, giữ nhiệt tốt như nồi chảo gang, không mốc, không gỉ, không thấm nước như nồi inox. Bộ nồi chảo của ông ra đời với cái tên “dưỡng sinh” bắt kịp đúng xu hướng thời thượng sống xanh, ăn sạch được dấy lên trong vài năm trở lại đây.      Mỗi năm, trong Lễ Hiển Linh mừng sự viếng thăm và chiêm bái Chúa Jesus của ba đạo sĩ, Pháp tiêu thụ khoảng 60 triệu chiếc bánh Gallete de Rois (bánh vua) và trong mỗi chiếc bánh có một con giống nhỏ bằng sứ được chế tác sinh động và tinh xảo. Người Pháp thường săn tìm, sưu tập, trưng bày những con giống này. Khoảng 80% số này là do Minh Long I thiết kế và sản xuất đã hơn 20 năm nay. Alcara, Prime, Arguydal và Nordia, bốn hãng lớn nhất từng sản xuất con giống này ở Pháp giờ cũng phải đặt hàng của Minh Long I. Nhưng trong suy nghĩ của ông Lý Ngọc Minh, bấy nhiêu đó chỉ là làm hàng “hương đồng cỏ nội”.   Tiêu chí bốn không – bốn có trong sản phẩm (không thời gian, không biên giới, không tuổi tác, không giới tính và có văn hóa, có nghệ thuật, có phong cách và có hồn) thể hiện rõ nhất đích đến ngang hàng với các thương hiệu lớn trên thế giới của ông Lý Ngọc Minh. Đi và học hỏi kĩ thuật gốm sứ từ 60 quốc gia, đưa Minh Long I tham gia hội chợ Ambiente ở Đức – hội chợ hàng tiêu dùng lớn nhất và quan trọng nhất trên thế giới hằng năm trong 20 năm qua, ông luôn khao khát sản phẩm của mình có thể vừa với thị hiếu của thị trường cao cấp ở châu Âu. Đội ngũ thiết kế của Minh Long I được đào tạo ròng đã hơn 20 năm nay, đến thời điểm này theo ông mới có thể sẵn sàng cho mục tiêu đó.  Dù mòn mỏi tìm kiếm, Minh Long I chưa tìm được một người nghệ sĩ Việt Nam nào có thể thiết kế sản phẩm cho mình. Ít người biết rằng, họa tiết lá tre và chuồn chuồn đầy duyên dáng, vẽ ít mà gợi nhiều về cảnh bình yên của làng quê phía Bắc Việt Nam trên bộ Thanh Trúc của Minh Long là do nghệ sĩ Sabine Cheneviere người Pháp vẽ. Sabine Cheneviere từng là họa sĩ nổi tiếng của hãng gốm sứ có lịch sử lâu đời từ thế kỉ 18 của Đức Villeroy & Boch. Hay bộ Ngọc biển với những chiếc bát hình vỏ sò, chiếc ấm hình con ốc; hoặc bộ Gastroline có thiết kế tối giản với đường nét dứt khoát, phẳng, mạnh mẽ của chủ nghĩa công năng là do Hans Wilhelm Seitz, nhà thiết kế của Azberg Ceramic, hãng gốm sứ tiên phong trong thiết kế hiện đại của Đức, sáng tạo cùng Minh Long I.  Khác với những công ty công nghệ được xây dựng và tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, các công ty theo đuổi các ngành nghề truyền thống như Minh Long I phát triển bằng sự kiên trì và bền bỉ trong rất nhiều năm xây đắp và tích lũy nội lực cả về mặt kĩ nghệ, thẩm mĩ lẫn công nghệ hiện đại. Bài toán của Minh Long I làm sao để có thể tạo ra sản phẩm đẳng cấp nhưng giá rẻ và công ty vẫn có thể trường tồn vẫn còn đó. Ông Lý Ngọc Minh chia sẻ rằng, thị trường của Minh Long I vẫn chưa đủ lớn, hệ thống máy móc của ông vẫn chưa hoạt động hết công suất, phần lớn thời gian vẫn “trùm mền”. Nhưng ông tin rằng ba đến năm năm nữa thôi thị trường sẽ bùng nổ. Ông nói, “công nghệ phải đầu tư để sẵn để nuôi thị trường dần dần, cũng như cái cây mình trồng phải chờ tới lúc nào đó mới có thể hái trái. Người làm được lớn chuyện phải có được hoài bão lớn, phải có tầm nhìn xa”.□       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Phá vỡ rào cản exascale cho các mô phỏng hóa học lượng tử      Một nhóm nghiên cứu do giáo sư Thomas D. Kühne và Christian Plessl dẫn dắt đã trở thành nhóm nghiên cứu đầu tiên trên thế giới phá vỡ rào cản “exaflop” chính  – vận hành hơn một nghìn tỉ phép tính mỗi giây – cho một ứng dụng khoa học tính toán. Với thành công này, họ đã lập nên một kỷ lục thế giới mới.      Hai giáo sư – Plessl, nhà khoa học máy tính, và Kühne, nhà hóa học (thứ nhất và thứ hai từ bên phải) – đã vượt qua thách thức exaflop trong một mô phỏng protein gai của SARS-CoV-2 trong một ứng dụng khoa học tính toán trong thế giới thực. Họ đã tạo ra một đột phá với sự hỗ trợ của siêu máy tính Perlmutter tại Trung tâm Tính toán nghiên cứu khoa học năng lượng quốc gia Mỹ (NERSC) 1.  Perlmutter hiện là máy tính chạy nhanh thứ năm thế giới. Vấn đề cơ bản là phương pháp mô phỏng mới mà Plessl và Kühne phát triển trong nhiều năm gần đây và tích hợp vào chương trình phần mềm hóa lượng tử nguồn mở CP2K.  Chạy đua với máy tính nhanh nhất thế giới  Trong thế giới của tính toán hiệu năng cao, số lượng vận hành số thực dấu phẩy động (floating-point arithmetic) – một hệ thống biểu diễn số mà trong đó sử dụng một chuỗi chữ số để biểu diễn một số hữu tỉ – được thực hiện trong mỗi giây với sự chính xác gấp đôi (64 bit) là “điểm chuẩn” đánh giá hiệu suất của một siêu máy tính. Vào năm 1984, điểm chuẩn của một tỉ phép toán vận hành trong mỗi giây lần đầu tiên đạt được – một mẫu hình mà ngày nay mọi điện thoại thông minh đều đạt được.  “Tầm quan trọng đang ngày một gia tăng của tính toán hiệu năng cao cho khoa học đã được nâng lên thành một cuộc chạy đua công nghệ của máy tính nhanh nhất thế giới. Kể từ đó, bảng xếp hạng đã được cập nhật với 500 siêu máy tính nhanh nhất thế giới được xuất bảng sáu tháng một lần”, Plessl, chủ tịch ban giam đốc Trung tâm Tính toán song song Paderborn (PC2), nơi vận hành siêu máy tính Noctua tại trường đại học này.  Các cột mốc được ấn định vào năm 1997 (1 nghìn tỉ phép tính được vận hành mỗi giây hoặc một teraflop) và năm 2008 (1 nghìn triệu triệu phép tính hoặc một petaflop). Cuộc chạy đua cho cột mốc mang tính biểu tượng tiếp theo của một exaflop ngay lập tức được gia nhiệt. Plessl nói “Chiều cạnh của con số này trở nên rõ ràng hơn nếu anh xem xét một điều là vũ trụ này có độ tuổi là 1018 giây. Điều đó có nghĩa là nếu một người thực hiện một phép tính theo từng giây một kể từ thời điểm xảy ra Big Bang, một máy tính exascale có thể làm được việc tương tự chỉ trong vòng một giây”.  Như một công nghệ dẫn dắt trong công cuộc số hóa của khoa học đang ngày trở thành một vấn đề cạnh tranh quốc tế, cuộc chay jđua cho máy tính exascale đầu tiên giờ đã tiến hóa thành một đấu trên quy mô toàn cầu, “cuộc chạy đua không gian của thế kỷ 21”.  Pessl cho rằng “chúng ta hiện nay đang trên đỉnh của kỷ nguyên exascale. Người ta đang chờ đợi siêu máy tính đầu tiên phá vỡ ngưỡng exascale với sự vận hành 64 bit sẽ được thông báo công khai tại Hội nghị quốc tế về Tính toán hiệu năng cao (ISC), diễn ra tại Hamburg trong năm 2022”.  Phương pháp mới cho mô phỏng hóa lượng tử song song khối lượng lớn  Khi đánh giá tiêu chuẩn để xác định tốc độ của một siêu máy tính cho danh sách TOP500, một chương trình được sử dụng để tính toán thời gian cho một hệ các phương trình rất lớn. Plessl dẫn giải về điều này: “Tùy thuộc vào các đặc tính song song xuất sắc của chương trình này, các siêu máy tính có thể sử dụng một tỉ lệ rất cao về mặt lý thuyết năng lực tính toán cực đại sẵn có. Cũng có phê bình về phương pháp đo lường này là năng lực tính toán đó có thể hữu dụng với các ứng dụng khoa học trong thế giới thực, vốn thường chỉ là một phần nhỏ của năng lực tính toán cực đại. Sở dĩ như vậy là vì sự phân bố của các nhiệm vụ tính toán, việc chuyển dữ liệu và điều phối sự thực hiện trên hàng trăm nghìn yếu tố tính toán thường đòi hỏi thời gian và chi phí vận hành”.  Sự phát triển của các phương pháp mô phỏng tối ưu và các thuật toán khai thác ngày một hiệu quả hơn năng lực tính toán của các siêu máy tính song song do đó là chủ đề nghiên cứu chính trong lĩnh vực khoa học tính toán. Plessl, Kühne và nhóm nghiên cứu của mình đã đón nhận thách thức này. Trong bối cảnh sử dụng các máy tính exascale cho mô phỏng các hệ hóa học, họ đã thực hiện phương pháp ma trận con cho tính toán xấp xỉ các hàm ma trận trong năm 2020, một phương pháp mới được thiết kế một cách lý tưởng cho những yêu cầu về các siêu máy tính exascale. Điều cốt lõi của phương pháp là phương pháp trong đó nhiều tính toán độc lập được thực hiện trên các ma trận nhỏ dày đặc. “Đó chính xác là các dạng vận hành có thể đạt được với năng lực tính toán cao và hiệu quả năng lượng trên một siêu máy tính được trang bị phần cứng được GPU gia tốc”, Kühne nói.  Mô phỏng đạt mức kỷ lục trên siêu máy tính JUWELS Booster   Vào năm 2021, các nhà khoa học ở Paderborn đã lập tức thực hiện các mô phỏng trên virus HI với 102 triệu nguyên tử trên JUWELS Booster ở Trung tâm Siêu máy tính Jülich, lúc đó là siêu máy tính nhanh nhất châu Âu (hiện thời xếp hạng 8 thế giới), do vậy đã lập một kỷ lục mới cho mô phỏng động lực phân tử ngay từ đầu dựa trên cấu trúc electron lớn nhất thế giới. Mô phỏng này đạt một hiệu suất tính toán là 324 petaflop trong một số thực dấu phẩy động độ chính xác hỗn hợp và một hiệu quả 67,7% năng lực tính toán hiện hành về mặt lý thuyết, một dạng cột mốc cho miền ứng dụng. Kể từ khi mô phỏng được lập kỷ lục ở Jülich, các phương pháp này đã được tiếp tục tối ưu để gia tăng hiệu quả sử dụng gia tốc phần cứng GPU.  Để thử nghiệm năng lực exascale của phương pháp này trên thực tế, nhóm nghiên cứu đã được phép sử dụng siêu máy tính Perlmutter ở NERSC. Máy tính này có những nguồn phù hợp để vượt qua rào cản exascale khi sử dụng độ chính xác hỗn hợp 32-/16 bit thay vì độ chính xác 64 bit cho tính toán. Phương pháp này có thể được phân loại trong bối cảnh tính toán xấp xỉ các nhiệm vụ với độ xấp xỉ thay vì các giá trị chính xác.  “Sau đó vào tháng Tư, khi thực hiện một mô phỏng protein gai SARS-CoV-2 sử dụng 4.400 gia tốc GPU, chúng tôi đã phá vỡ ngưỡng exaflop và đạt tới 1,1 exaflop trong số học chính xác hỗn hợp trên phần tính toán tới hạn của ứng dụng này”, Plessl nói. “Là một khung tham chiếu, một bước mô phỏng mất 42 giây cho 83 triệu nguyên tử, nghĩa là xấp xỉ 47 x 1018 vận hành phép tính số thực dấu phẩy động được thực hiện trong quá trình này. Không bao gồm đòi hỏi bộ nhớ, như một tính toán có thể mất tới 13 giờ với hệ petaflops đầu tiên, siêu máy tính Roadrunner đạt được vào năm 2008, và khoảng 1,5 năm với hệ teraflop đầu tiên, the ASCI Red vào năm 1997”.  Các nhà khoa học Paderborn giờ đã bận rộn cho đỉnh tiếp theo của mình: “Tiêu chuẩn vàng cho mô phỏng nguyên tử trong hóa học và vật lý chất đậm đặc là phương pháp lý thuyết phiếm hàm mật độ. Chúng tôi rất tự tin là chúng tôi sẽ thanhg công trong ứng dụng phương pháp ma trận con trong lĩnh vực này”, Kühne nói.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://www.eurekalert.org/news-releases/954353  https://techxplore.com/news/2022-06-scientists-exascale-barrier-quantum-chemistry.html  —————————————————————-  1. https://arxiv.org/pdf/2205.12182.pdf       Author                .        
__label__tiasang Phá vòng luẩn quẩn của công nghiệp ôtô VN      Hai câu hỏi căn bản khi xây dựng kế hoạch  phát triển ôtô ở Việt Nam là chọn dòng xe nào và hợp tác với ai để thiết  kế và sản xuất xe có chất lượng cao.     Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam không thoát khỏi cuộc tranh chấp giữa hai quan niệm về tổ chức xã hội. Thứ nhất là phát triển nhanh chóng công nghiệp để nâng cao đời sống kinh tế mà công nghiệp ôtô là mũi nhọn; thứ hai là bảo vệ môi trường sống bền vững dựa trên các phương tiện giao thông công cộng và giới hạn các phương tiện cá nhân. Nhưng chúng ta phải nhanh chóng có sự thống nhất để định hướng cho nền công nghiệp quốc gia và vai trò ngành ôtô khi cửa thị trường phải mở vào năm 2018, khi hiệp định AFTA (Asean Free Trade Area) bắt đầu được thi hành. Sự kiện này cộng với sự tăng trưởng kinh tế sẽ là hai động cơ kéo mạnh thị trường ôtô trong những thập niên tới; theo Bộ Công Thương, lượng bán mỗi năm sẽ hơn 500.000 xe vào năm 2020 và 1,3 triệu, có thể lên tới 1,8 triệu năm 2030 nếu theo phương án cao. Một thị trường khổng lồ sẽ có ảnh hưởng nhất định lên kinh tế và công nghiệp quốc gia.  Công nghiệp ôtô được tổ chức theo mô hình tháp cấu tạo bởi nhiều tầng, cao nhất là thiết kế và lắp ráp xe, các tầng sau là thiết kế lắp ráp từ những bộ phận phức tạp xuống tới đơn giản rồi cuối cùng là các cơ sở sản xuất linh kiện. Như vậy, ở nhiều mức độ khác nhau, công nghiệp ôtô vận dụng tất cả mọi khả năng xã hội từ người có chuyên môn về quản lý và KHKT cao đến nhân công cơ bản. Ngành này cung cấp nhiều công ăn việc làm, nhưng đòi hỏi vốn đầu tư cao, nhiều kinh nghiệm mà chúng ta chưa có và cần phải một thời gian nhất định mới tích lũy được. Cho tới bây giờ, ngành ôtô Việt Nam đang ở trong vòng luẩn quẩn: một mặt công nghiệp lắp ráp không phát triển được vì thị trường nội địa còn quá nhỏ và công nghiệp phụ trợ nội địa quá yếu; mặt khác, công nghiệp phụ trợ không tiến được là do công nghiệp lắp ráp chưa phát triển. Nếu tiếp tục nằm trong vòng luẩn quẩn này, sự sống còn của công nghiệp lắp ráp ô tô Việt Nam sẽ bị đe dọa vì khó cạnh tranh khi các hàng rào thuế bị phá hủy vào năm 2018; ngược lại, nếu khai thác được đường xuất khẩu của AFTA, công nghiệp phụ tùng có cơ hội phát triển ra cả thị trường vùng Đông Nam Á, thoát khỏi sự lệ thuộc vào sinh hoạt lắp ráp nội địa. Trong bối cảnh này, công nghiệp ôtô Việt Nam có thể đi vào một chu kỳ mới.  Phát triển công nghiệp phụ tùng ôtô cho thị trường ASEAN  Những thuận lợi  Điểm thuận lợi quan trọng, trong khuôn khổ phát triển khu vực mậu dịch tự do ASEAN là Việt Nam có vị trí địa lý chiến lược đối với 4 nước công nghiệp ôtô quan trọng nhất trong vùng. Từ TPHCM hay Chu Lai, chỉ cần một ngày đường bộ đến Thái Lan, 2-3 ngày tầu biển đến Malaysia, Indonesia và Philippin; khi có đường cao tốc nối liền TPHCM với Rayong, trung tâm công nghiệp ôtô của Thái Lan, thời gian chuyên chở chỉ còn vài giờ đồng hồ. Vị trí chiến lược này tạo nên những điều kiện tốt để chúng ta phát triển một nền công nghiệp xuất khẩu.         Ngoài ra, dù còn yếu, Việt Nam đã có một công nghiệp phụ tùng xuất khẩu cho hơn 30 nước với số lượng lên hơn 1,5 tỷ USD* năm 2010, lực lượng chủ yếu là những doanh nghiệp FDI nằm trong dây chuyền của hệ thống cung ứng linh kiện của nhiều công ty sản xuất ôtô lớn trên thế giới, đặc biệt là các công ty có cơ sở lắp ráp ở Việt Nam. Mạng lưới thương mại này sẽ là những đường vào thị trường công nghiệp ôtô thế giới. Nhưng chỉ khai thác được thuận lợi này nếu các doanh nghiệp của ngành công nghiệp cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao, giá cạnh tranh được và uyển chuyển linh hoạt đáp ứng nhu cầu thị trường.   Những hướng phát triển  Hiện tại ở Việt Nam, các phụ tùng ôtô thường được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản lượng thấp và chất lượng không ổn định nên thiếu kinh nghiệm và phương tiện trong việc phát triển quốc tế. Các công ty FDI ở Việt Nam sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng chỉ ở quy mô nhỏ và dùng nhiều sức lao động như sản xuất dây dẫn điện, linh kiện điện tử, túi khí an toàn, các linh kiện bằng cao su như gioăng chịu nhiệt, yếm,… Một số doanh nghiệp trong nước cũng có những sản phẩm xuất khẩu nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ về sản lượng. Họ cần sự giúp đỡ của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi về hạ tầng cơ sở và hành chính để làm tăng tính linh động; mặt khác, Nhà Nước cũng có trách nhiệm tạo điều kiện để các doanh nghiệp này có phương tiện trao đổi thông tin và kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong các liên hệ quốc tế. Kế hoạch phát triển phải vừa tích lũy vốn và kiến thức KHKT vừa chuẩn bị cho sự phát triển của một công nghiệp có giá trị gia tăng cao mà căn bản dựa trên các công nghệ sau:  – Vật liệu như thép, nhựa, cao su,…Với nguồn cao su thiên nhiên sẵn có và nếu sản xuất được cao su nhân tạo để chế biến các hỗn hợp có đặc tính kỹ thuật cao, như vậy chúng ta làm tăng giá trị gia tăng của vật liệu và linh kiện sản xuất.   – Khuôn mẫu   – Áp lực và cán kim loại, ép nhựa.  – Và xây dựng các trung tâm thử nghiệm để đảm bảo chất lượng sản phẩm trước khi được đưa ra thị trường.  Công nghiệp phụ tùng ôtô Việt Nam chỉ có thể phát triển và tồn tại nếu nó được hướng ra thị trường quốc tế, giai đoạn đầu là thị trường ASEAN    Phát triển công nghiệp sản xuất ôtô  Những nguyên nhân thất bại của công nghiệp ôtô Việt Nam đã được phân tích nhiều, các lý do đưa ra như hạ tầng cơ sở không đáp ứng nhu cầu, thuế và lệ phí sử dụng quá cao,…đều dẫn tới hậu quả là thị trường ôtô tăng chậm hơn mức tăng thu nhập của dân chúng, chỉ đạt tới hơn một 100.000 xe/năm từ mấy năm nay, quá nhỏ để lôi cuốn đầu tư phát triển. Bài toán sẽ hoàn tòan thay đổi khi thị trường lên tới 500.000 rồi 1,5 triệu xe / năm trong thập niên 2020/2030. Với khối thị trường quan trọng như vậy, tham vọng của Việt Nam có một công nghiệp ôtô hoàn toàn hợp lý. Nhưng điều kiện phát triển sẽ khó khăn vì không còn hàng rào thuế quan để bảo vệ lúc ban đầu khi sản phẩm chưa tốt, giá cả chưa cạnh tranh được, mạng lưới phân phối và dịch vụ hậu mãi còn rất giới hạn và thương hiệu chưa có sự tin cậy của thị trường; người mua sẽ đặc biệt chú ý đến chất lượng của sản phẩm và dòng xe thích ứng với nhu cầu.   Hai câu hỏi căn bản khi xây dựng kế hoạch phát triển ôtô ở Việt Nam là chọn dòng xe nào và hợp tác với ai để thiết kế và sản xuất xe có chất lượng cao.   Chọn dòng xe chiến lược  Chọn một mẫu xe để đưa ra thị trường trong 5-15 năm tới (thời gian thiết kế và thương mại) là một việc rất khó và nhiều rủi ro vì phải dự đoán những thay đổi kinh tế (kinh tế quốc gia, mức độ thu nhập người dân,…), đời sống xã hội và gia đình (nhu cầu giao thông, biểu hiện của ôtô trong xã hội,…) và những thay đổi về KHKT, văn hóa nghệ thuật ảnh hưởng lên thị hiếu của khách hàng. Theo ý tôi, hai thông số có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với thị trường Việt Nam trong giai đoạn này là mức thu nhập của người mua và cách biểu hiện của ôtô trong xã hội; dựa trên hai thông số này, thị trường ôtô được chia làm năm dòng xe, xem biểu đồ dưới đây. Những loại xe SUV và xe cao cấp đòi hỏi công nghệ cao, “tay nghề”cao nên chỉ giới hạn vào những công ty lớn và nổi tiếng.     Phân tích thị trường theo thu nhập & ôtô tiêu biểu      – Ultra-Lowcost: Loại xe rất nhỏ, dài khoảng 3m, động cơ yếu với dung tích xy lanh dưới 1L và giá dưới 4.000 USD. Hãng Tata đã sản xuất loại xe này với mục đích cung cấp cho các gia đình thu nhập thấp một phương tiện an toàn và tiện nghi hơn các xe máy. Xe Nano Tata đã được đưa ra thị trường Ấn Độ năm 2009, nhưng không thành công như dự định vì một vài vấn đề kỹ thuật của xe ngay lúc đầu đưa vào thị trường.  – Familial- Lowcost: loại xe khá lớn, dài hơn 4m, động cơ lớn hơn 1,2L và giá dưới 10.000 USD. Tiêu biểu của dòng xe này là Logan Renault, loại xe lớn 5 người và coffer lớn hơn 500 lít (bằng coffer của Toyota Camry), giá khoảng 7000 USD. Mẫu xe này rất thành công trong giới trung lưu ở các nước Đông Âu và Bắc Phi. Renault đang xây nhiều nhà máy lắp ráp ở Ấn Độ, Nga,…  – Urban vehicle: dài khoảng 3,5m, động cơ 1,2L hay mạnh hơn và giá trên 10.000 USD, nhắm vào thành phần trẻ, độc thân hay gia đình 1 con, có thu nhập khá và sống ở các thành phố lớn. Dòng xe này chiếm phần lớn nhất của thị trường ôtô thế giới, do đó độ cạnh tranh rất cao vì tất cả các công ty đều có mặt, cạnh tranh khốc liệt hơn so với 2 dòng Ultra và Familial-Lowcost.  Chọn đối tác để thiết kế và sản xuất  Có hai sự kiện của công nghiệp ôtô thế giới mà chúng ta cần phải chú ý và rút kinh nghiệm. Thứ nhất, một số hãng “nhỏ” (Volvo, Chrysler, Mitsubishi, Samsung,…) đã phải sáp nhập vào các công ty lớn (Mercedes, Renault, GM,…) vì không kháng cự được cuộc khủng hoảng kinh tế trước năm 2000. Giữ độc lập, hai công ty Proton và Perodua đã gặp rất nhiều khó khăn và PSA, dù hiện tại sản xuất hơn 3,5 triệu xe một năm, cũng đang bị đe dọa đóng cửa nhiều nhà máy và phải liên minh với GM để tồn tại. Với tính cạnh tranh khốc liệt, thị trường ôtô không có chỗ đứng cho những công ty của quốc gia khoa học kỹ thuật chưa phát triển.   Thứ hai là sự thất bại (hiện nay) của chương trình xe Nano, vì không đảm bảo chất lượng lúc đưa xe ra thị trường, kết quả là lượng xe bán giảm 85% sau một năm vì những thông tin về mấy vụ xe bị cháy và vài khuyết điểm kỹ thuật. Chương trình Nano thất bại vì sản phẩm không đạt được mức độ kỹ thuật tối thiểu.   Từ những nhận định trên, Việt Nam sẽ khó xây dựng một công nghiệp ôtô nếu không hợp tác với một tập đoàn quốc tế, ngoài việc chia sẻ vốn đầu tư, mạng lưới phân phối và hậu mãi, chính yếu là chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để bảo đảm chất lượng của xe. Chỉ có kinh nghiệm mới tránh được những loại khó khăn của Nano Tata. Sự hợp tác này dựa trên nguyên tắc “win-win”: một bên được chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm, bên kia được ưu tiên ở thị trường Việt Nam và có cơ sở ở ASEAN, hai bên đều giảm vốn đầu tư và chia sẻ những rủi ro, Việt Nam có thể dùng một “platform” của công ty này để vừa giảm thời gian và chi phí thiết kế vừa giảm các vấn đề kỹ thuật.  Những đối tác có lợi nhất cho Việt Nam là các tập đoàn chưa có mặt hoặc còn yếu trên thị trường ASEAN và có kinh nghiệm trong các dòng xe lowcost.      —  (*) Theo Bộ Công thương – Báo cáo Tổng hợp Quy hoạch Phát triển ngành công nghiệp ôtôViệt Nam đế năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phác dựng hoàng thành Thăng Long thời Lý: Tìm lại kiến trúc nghìn năm      “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,  Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.  Cũng như hình ảnh trong câu thơ của Bà huyện Thanh Quan, tất cả các kiến trúc hoàng gia ở hoàng thành Thăng Long đều đã thành tro bụi, nay chỉ còn trơ lại nền móng. Việc phác dựng hoàng cung không hề dễ dàng bởi vì trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, hầu như không có mô tả nào về hình dáng các công trình kiến trúc, thậm chí cũng không có dòng nào về không gian của các công trình.      Hình ảnh phục dựng cung điện thời Lý. Nguồn: Viện Nghiên cứu kinh thành.   Những manh mối lịch sử      Mặc cho những câu hỏi, tưởng tượng, mong mỏi của chúng ta ngày nay để hình dung về di sản của ông cha ta, thì sau ngàn năm, những lầu son gác tía của Kinh đô Thăng Long một thuở đã không còn bóng dáng. Không mô tả chi tiết về cung cấm trong Hoàng thành Thăng Long, những dòng ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư để lại chỉ cho hậu sinh chúng ta định vị: Sau khi định đô ở Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho xây dựng quần thể cung điện, trung tâm là điện “Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía. Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thúy Hoa, Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ1”.     Sau thời đại thịnh trị của nhà Lý, các triều đại nhà Trần, Lê vẫn tiếp tục quy hoạch, xây dựng cung điện, lầu gác. “Sử cũ ghi chép lại xung quanh điện Càn Nguyên (điện Kính Thiên), các triều đại đã tiến hành xây dựng rất nhiều cung điện và lầu các”, trong công bố vào số 1 năm 2007 trên tạp chí Khảo cổ học, PGS. Tống Trung Tín và PGS.TS Bùi Minh Trí cho biết như vậy. Năm 2007, nghĩa là hơn năm năm sau khi khai quật khu di tích Hoàng thành Thăng Long đợt đầu tại 18 Hoàng Diệu (năm 2002-2004) kết thúc, những hiểu biết về kiến trúc hoàng cung thời Lý, Trần, Lê còn hết sức hạn chế. Các bằng chứng khảo cổ học đến thời điểm đó, với những vết tích còn lại của nền móng cung điện, lầu gác, mới chỉ cho phép hình dung có một hệ thống kiến trúc chịu lực bằng gỗ, quy mô to nhỏ khác nhau cùng hệ thống tường bao, cống nước, giếng nước, đường đi lối lại chứ chưa cho phép chúng ta hiểu về hình thái kiến trúc của hoàng thành.       “Chúng ta có thể tự hào nói rằng, Hoàng cung Thăng Long thời Lý vốn từng được xây dựng rất nguy nga, tráng lệ và có nhiều công trình kiến trúc gỗ to lớn, hoành tráng, không thua kém so với các kiến trúc cung điện nổi tiếng ở châu Á“. PGS.TS Bùi Minh Trí      Năm năm tiếp sau đó, cuộc tìm kiếm bóng hình của quá khứ vẫn còn xa vời, cộng cả cuộc khám phá tại 18 Hoàng Diệu với cuộc khảo sát khu vực xây dựng Nhà Quốc hội (năm 2008-2009), cho phép tìm thấy một quần thể gồm 53 dấu tích nền móng công trình kiến trúc, 7 móng tường bao, 6 giếng nước, minh chứng xác thực lịch sử xây dựng Kinh đô Thăng Long hoa lệ dưới vương triều Lý. Nhưng cung cấm hoa lệ tới mức nào? Hóa ra đây lại là vấn đề quá khó, “nghiên cứu giải mã được kiến trúc cung điện nhà Lý là một thách đố với các nhà khoa học”, PGS.TS Bùi Minh Trí, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, kể lại.     10 năm trôi qua sau khi đặt nhát cuốc đầu tiên khảo sát tại nơi nay là khu di tích 18 Hoàng Diệu và tầng hầm tòa nhà Quốc hội, những mảnh gạch ngói vụn chỉ cho ta những manh mối rời rạc. Tất cả những phát hiện khảo cổ học, những dấu tích còn lại chỉ là phần nền móng của công trình, còn toàn bộ phần trên của hệ thống kiến trúc đồ sộ đều đã biến mất, vì thế chúng ta không thể hình dung ra được cái quy mô bề thế và lộng lẫy vàng son của hoàng thành. Đáng tiếc là trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, hầu như không có mô tả nào về hình dáng các công trình kiến trúc, thậm chí cũng không có dòng nào về không gian của các công trình, ví dụ có bao nhiêu gian, dài rộng bao nhiêu… Vài ghi chép lại cái tên của các cung điện, lầu gác trong cung điện Hoàng thành Thăng Long như trong Đại Việt sử ký toàn thư hay Việt sử lược (và cũng không hoàn toàn đầy đủ) không cho phép chúng ta hình dung được hình dáng, quy mô. Mặt khác, kiến trúc thời Lý, nói chung là kiến trúc cung điện Việt Nam từ Lý, Trần, Lê, đều không còn tồn tại tới ngày hôm nay. Do đó, các nhà khoa học không có cơ sở nào để có thể so sánh, đối chiếu và tái dựng một mô hình nào đó, một kiến trúc của một thời kỳ huy hoàng. So với những di sản khác ở các nước Đông Bắc Á như kiến trúc Cố Cung – Bắc Kinh (Trung Quốc), Changdokung (Seoul – Hàn Quốc) hay Nara (Nhật Bản), có lẽ cung điện thời Lý chẳng hề kém cạnh về sự tráng lệ như Việt Sử lược từng mô tả (“cách chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ, xưa chưa từng có vậy”2), nhưng không có đủ cơ sở để nhận diện.     Không chỉ các nhà khoa học chưa có được một hiểu biết đầy đủ về hình thái kiến trúc cung đình, mà công chúng cũng chịu thiệt thòi vì không thể nào biết được kiến trúc của cha ông ta có đặc trưng riêng biệt, độc đáo như thế nào, quy mô hoành tráng to lớn tới đâu, giống hay khác Trung Quốc? Tất cả rút cuộc chỉ là cảm nhận rất mơ hồ khi tham quan vết tích khảo cổ học dưới lòng đất, nhìn thấy các ô vuông, các trụ sỏi xếp hàng ngang dọc, thi thoảng nhìn thấy chân tảng chạm hoa sen, nhô đầu cột gỗ còn lại, hoặc những viên gạch vỡ từ quá khứ nằm lại. “Nhìn những hiện vật đó, dù được giới thiệu là vết tích kiến trúc của nhà Lý, nhà Trần thì họ cũng không hình dung được”, PGS.TS Bùi Minh Trí kể và nhớ lại lần thất bại khi dẫn công chúng vào thăm khu di tích Hoàng thành Thăng Long vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010). Dù người tham quan rất thích thú với hiện vật hoàng cung trong trưng bày Lịch sử ngàn năm ở thành cổ nhưng khi ra hố khai quật, họ cũng không thể hình dung được giá trị thật của khu đền đài lăng tẩm có nhiều tầng mái, cung điện, ngay cả khi được ông và các cộng sự giải thích “khản cả cổ”.       Toàn cảnh cung điện thời Lý. Nguồn: Viện Nghiên cứu kinh thành.  Tìm từng dư ảnh vàng son     Phải đến sau 2010, PGS.TS Bùi Minh Trí và cộng sự mới có điều kiện tiếp tục tìm kiếm thêm bằng chứng để vẽ nên hình hài cung điện thời Lý. Vào năm 2011-2014, khi tổ chức tái điều tra, mở rộng thêm các hố khai quật tại 18 Hoàng Diệu, Viện Nghiên cứu Kinh thành mới nghiên cứu thiết lập được hệ thống các di tích, kiến trúc của nhà Lý, xây dựng được đầy đủ bản vẽ. Cuộc khai quật cũng tìm thấy nhiều loại hình di vật khác nhau, gồm đồ đất nung, đồ gốm, đồ kim loại và cấu kiện gỗ. Trong đó, gạch ngói chiếm số lượng lớn, đặc sắc nhất là loại gạch ngói trang trí rồng, lợp mái cung điện được tráng men xanh (thanh lưu ly) và men vàng (hoàng lưu ly), cùng loại gạch hộp thông gió trang trí rồng còn tương đối nguyên vẹn. Lúc này, mới hình thành được hệ thống “điện, tường bao… xác định được từng mặt bằng của các công trình, tính chất của các dấu tích của các công trình đó, rồi mới xem mối quan hệ của nó với nhau, trên cơ sở đó xác định kiến trúc lầu bát giác, nhà dài, nhà nhỏ, nhà lớn, tường bao, đường đi, cống thoát nước, tất cả đều phải nghiên cứu nhận diện đầy đủ rõ ràng dựa trên những vết tích khảo cổ học. Trên cơ sở đó mới hướng tới phục dựng được”, PGS.TS Bùi Minh Trí nói.     Sau khi hoàn thiện được bản vẽ tổng thể mặt bằng di tích dưới thời Lý, PGS.TS Bùi Minh Trí cùng đồng sự thực hiện nhiệm vụ trưng bày di tích di vật dưới tầng hầm Quốc hội, tái hiện các phát hiện khảo cổ học khai quật được tại khu tòa nhà Quốc hội. Ý tưởng chủ đạo là tái hiện lại một phần nền móng các công trình kiến trúc, trong đó dùng hệ thống đèn ống thay thế, trình chiếu thay cho hệ thống cột công trình, còn ở dưới mặt sàn là các hình chân tảng cột giúp người tham quan hình dung được công trình kiến trúc có quy mô đồ sộ. Bên trong các “cung điện” được dựng lên bằng cột ánh sáng đó, nhóm trưng bày các loại hiện vật, vật liệu trang trí, kèm theo các đồ dùng vật dụng trong hoàng cung.     Cùng thời gian này, các nhà nghiên cứu mới lý giải được chức năng của nhiều vật liệu trang trí trên mái, như các loại ngói lưu ly, ngói hình lá đề, ngói uyên ương, trang trí đầu rồng, phượng…, ví dụ đầu rồng thì lợp ở đầu hồi, hay lá đề lớn thì lợp ở giữa mái, ngói gắn lá đề lợp ở rìa mái, uyên ương lợp ở các bờ giải.       Hệ đấu củng. Nguồn: Viện Nghiên cứu kinh thành.  Lúc này, bài toán vướng mắc nhất còn lại là vẽ lại được hình thái, bộ khung đỡ mái của những cung điện đã mất dấu tích nghìn năm. Muốn giải mã tổng thể được hình thái kiến trúc cung đình nhà Lý thì điều quan trọng hàng đầu là phải giải mã được hình thái bộ khung đỡ mái. Bộ khung đỡ mái như thế nào để đỡ được cái mái lợp ngói lá đề, rồng phượng ở bên trên?     Câu chuyện phục dựng hoàng thành như một cuộc thám hiểm hấp dẫn mà mỗi phát hiện lại hé lộ thêm nhiều thông tin về quá khứ và bổ sung ngay vào những phát hiện cũ. Trong trường hợp câu hỏi về bộ khung đỡ mái, lời giải chỉ đến khi các nhà nghiên cứu hiểu sâu về những cái “đấu” trong những cấu kiện gỗ dưới lòng đất từ đợt khai quật di tích Hoàng thành Thăng Long đợt đầu vào năm 2004, họ đã phát hiện ra mà chưa rõ tính năng. Đến lần tái khai quật này, họ mới phát hiện được cái “đấu” đó là một bộ phận cấu thành đầy đủ nên cấu trúc “đấu củng” để đỡ bộ mái. “Đấu củng” là thuật ngữ kiến trúc bắt nguồn từ Trung Quốc để chỉ một loại kết cấu đỡ mái gồm hai bộ phận cấu thành, đó là “đấu” và “củng” mà “đấu” là bệ đỡ còn “củng” giống hình khuỷu tay là tay đỡ, được dùng để đỡ một kết cấu khác bên trên. Phát hiện này giúp các nhà khoa học có điều kiện đi so sánh với các mô hình kiến trúc bằng đất nung có dấu tích của đấu củng vẫn còn được lưu lại ở một số bảo tàng hiện nay như bảo tàng Thái Bình, Hải Dương. Ngoài ra dư ảnh của đấu củng vẫn còn lại trên một số kiến trúc như Chùa Keo (Thái Bình), đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội), chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội), những công trình ở giai đoạn Mạc và Lê Trung Hưng nhưng vẫn lưu lại những dấu tích của thời Trần. Chúng ta cũng còn một nguồn bổ trợ nữa là tư liệu lịch sử, trong bi ký nhà Lý có nhắc tới đan lô và họa củng, tức là có đấu củng và các “kiến trúc sư” thế kỷ 11-12 không để nguyên màu gỗ mà sơn son và vẽ hoa văn rồng, hạc ở bên trên. Phát hiện này đã chấm dứt những băn khoăn ở thời điểm đó là liệu bộ khung đỡ mái là kiến trúc kẻ chuyền, hoặc kẻ bảy mà chúng ta vẫn đang nhìn thấy phổ biến ở các đình chùa miền Bắc? hay là chồng rường giá chiêng từng tồn tại trong suốt nhiều năm.     Để xác quyết điều này, Viện Nghiên cứu Kinh thành tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu các kết quả này và kết nối với các nhà khoa học ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để so sánh với các kiến trúc có đấu củng cùng thời Lý. Phải mất gần hai thập niên, các nhà nghiên cứu mới có thể tái hiện hình hài đầu tiên về một phần hoàng cung dưới thời Lý, phục dựng lại những nét vàng son một thuở và từ đó, Viện Nghiên cứu Kinh thành tiếp tục nghiên cứu phục dựng tổng thể hình thái kiến trúc của khu di tích Hoàng thành Thăng Long bằng mô hình 3D. Bức tranh toàn cảnh về cung điện, lầu gác của thời Lý được tái hiện trên nền các vết tích khảo cổ học dưới lòng đất khu di tích 18 Hoàng Diệu và khu vực xây dựng Nhà Quốc hội với 64 công trình kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long – gồm 38 công trình kiến trúc cung điện và hành lang, 26 kiến trúc lục giác cùng hệ thống tường bao, đường đi và cổng ra vào công trình. Đây là một quần thể kiến trúc cung điện, lầu gác cực kỳ đặc sắc, được quy hoạch xây dựng rất bài bản, khoa học vào thời kỳ vàng son của vương triều Lý. “Từ đây, chúng ta có thể tự hào nói rằng, Hoàng cung Thăng Long thời Lý vốn từng được xây dựng rất nguy nga, tráng lệ và có nhiều công trình kiến trúc gỗ to lớn, hoành tráng, không thua kém so với các kiến trúc cung điện nổi tiếng ở châu Á”, PGS. TS Bùi Minh Trí nói.       Hình thái bộ mái kiến trúc cung điện thời Lý. Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh thành.  Trong suốt cuộc trò chuyện với Tia Sáng, PGS. TS Bùi Minh Trí nhiều lần nhấn mạnh “đây mới là thành quả ban đầu, rất nhiều vấn đề khoa học cần tiếp tục đặt ra, nghiên cứu giải mã để làm tốt trong tương lai”. Sau 18 năm khai quật, ông rất hài lòng ở điểm đã giải mã được hình thái kiến trúc cung điện nhà Lý, bước đầu đưa được giá trị nay đến với công chúng, khơi dậy niềm tự hào cha ông ta để lại. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận là trên cơ sở bộ khung phục dựng đó thì vẫn còn nhiều câu hỏi mà ông và các đồng sự còn phải tiếp tục tìm kiếm, không chỉ là chức năng của từng điện, gác mà bản thân nội thất bên trong của các cung điện còn là “chuyện dài lắm”. Dù hiện vật khai quật được hiện nay có rất nhiều, từ đồ dùng hằng ngày, bài trí nội thất, đồ nghi lễ tôn giáo, đi theo phong tục tập quán như ăn trầu…, nhưng lịch sử không để lại ghi chép gì để chúng ta có thể hình dung được và sắp xếp lại khối hiện vật nội thất. Để tiếp tục tìm hiểu, ắt hẳn cần các cuộc nghiên cứu “dài hơn cả đời người lao tâm khổ tứ” như nhận định của PGS.TS Bùi Minh Trí. □    Nếu so sánh về diện tích mặt bằng với chùa Todai (Đông Đại Tự), là ngôi chùa cổ kính và lâu đời nhất tại Nara, Nhật Bản, xây dựng năm 743, đã được xếp vào loại di sản kiến trúc gỗ lớn nhất thế giới, thì kiến trúc gỗ thời Lý ở phía Nam khu A khu di tích Hoàng thành Thăng Long (kí hiệu LYAKT021) có thể xếp vào loại di sản kiến trúc gỗ lớn thứ hai trên thế giới, sau kiến trúc chùa Todai. Mặt bằng chùa Todai có diện tích 2.850m2, rộng 50m, dài 57m. Mặt bằng kiến trúc LYAKT021 có diện tích khoảng trên 2.280m2, rộng 38m và dài trên 60m. Như vậy, kiến trúc LYAKT021 chỉ nhỏ hơn chùa Todai khoảng 570m2. Đặc biệt, trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long còn tìm thấy hệ thống lầu lục giác rất độc đáo nằm phía trước cung điện nhà dài ở phía Bắc và kiến trúc bát giác to lớn, hoành tráng có thể so với kiến trúc Tháp Thích Ca nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống ở phía Nam.  —  1 http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt07.html  2 http://www.baotanglichsutphcm.com.vn/~/thang-long-ha-noi-linh-thieng-hao-hoa    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Phác thảo ý tưởng Bảo tàng café ở Việt Nam      Vừa qua, nh&#226;n được dự khai trương Hội qu&#225;n Caf&#233; Trung Nguy&#234;n, được trực tiếp nghe anh Nguy&#234;n Vũ v&#224; những anh em t&#226;m huyết của anh tr&#236;nh b&#224;y về một Dự &#225;n Thủ phủ C&#224; ph&#234; to&#224;n cầu (c&#243; thể gọi khi&#234;m tốn l&#224; L&#224;ng caf&#233; to&#224;n cầu) &#8211; một giải ph&#225;p chiến lược ph&#225;t triển T&#226;y Nguy&#234;n m&#224; bảo t&#224;ng caf&#233; l&#224; một th&#224;nh tố quan trọng trong đ&#243; th&#236; t&#244;i thật sự ngỡ ng&#224;ng v&#224; bị thuyết phục về những &#253; tưởng t&#225;o bạo của dự &#225;n.  Sau buổi đ&#243; t&#244;i bắt đầu c&#243; những suy nghĩ tản mạn về bảo t&#224;ng tương lai n&#224;y.     Một doanh nghiệp làm bảo tàng ư? Ở nước ta thì quả là mới, chưa có tiền lệ, nhưng điều này đâu có gì lạ trên thế giới. Ở nhiều nước các công ty mạnh và có truyền thống thường dành một ngân khoản nhất định cho việc xây dựng và tổ chức hoạt động cho một bảo tàng của công ty để quảng bá cho nghề nghiệp của mình, để khẳng định những thành tựu, sản phẩm của công ty mình hay để đền ơn trả nghĩa khách hàng đã ưu ái sử dụng dịch vụ của mình. Tôi đã từng được xem một bảo tàng rất thú vị về ngành in và kỹ thuật in ở Tokyo, Nhật Bản. Học sinh có thể học và trải nghiệm nhiều điều từ những kỹ thuật in thô sơ nhất như bản dập khắc gỗ rồi in bằng cách xếp những con chữ cái được đúc bằng chì đến cách in hiện đại nhất ngày nay.             Bảo tàng cà phê Vienna, Áo        Đó là bảo tàng của công ty in Toppan. Công ty ô tô Toyota cũng có một bảo tàng hoành tráng và hiện đại về ô tô và các kỹ thuật ô tô trên thế giới. Một công ty đường sắt ở Nhật Bản đã tài trợ một ngân khoản cực kỳ lớn để tạo ra một bảo tàng gọi là “bảo tàng thế giới nhỏ” với không gian hàng trăm ha giới thiệu những kiến trúc đặc sắc và các phong tục, cuộc sống của các nước trên thế giới với một lý do rất được lòng người là “đền đáp công ơn khách hàng đã sử dụng dịch vụ đường sắt của công ty”, lấy lãi của công ty phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Chắc rằng suy nghĩ của những người lãnh đạo Tập đoàn Café Trung Nguyên về một bảo tàng tương lai cũng tương đồng như những suy nghĩ như các nhà doanh nghiệp có tầm cỡ nói trên. Tuy nhiên điều khác nhau căn bản là các doanh nghiệp như nói trên có một bề dày lịch sử rất lâu dài còn Trung Nguyên thì quá trẻ, mới hơn 10 năm tuổi. Nhưng lịch sử không đi theo lối mòn và tuần tự như những gì đã diễn ra trước đó. Tầm nhìn xa, cái sáng tạo và táo bạo của Trung Nguyên là ở chỗ đó, sớm nghĩ đến một bảo tàng café ngay từ buổi khởi đầu này.  Các bảo tàng của các công ty ở nước ngoài thường chú ý nhiều đến khía cạnh kỹ thuật. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi các công ty của họ giành được thị trường là nhờ kỹ thuật, uy tín của công ty trước hết là kỹ thuật: kỹ thuật in, kỹ thuật dệt, làm ô tô, máy bay, tên lửa, con tàu vũ trụ… Họ cần tiếp thị trước hết về trình độ kỹ thuật của mình. Bảo tàng café tương lai của Trung             Quán cà phê ở phố Hàng Hành (Hà Nội)    Quán cà phê Sách của Trung Nguyên ở HN                        Quán cà phê vỉa hè ở Mỹ        Nguyên có đi theo con đường thuần túy kỹ thuật ấy không? Đó là một câu hỏi có tính chiến lược cho bảo tàng tương lai. Câu trả lời cho câu hỏi này phải xuất phát từ những đặc trưng của nghề nghiệp – ở đây là café, từ bối cảnh của không gian, môi trường và con người mà ngành café chiếm lĩnh và hoạt động. Không thể phân tích kỹ những đặc trưng và bối cảnh trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đặc trưng nông nghiệp của ngành café gắn chặt chẽ với con người và môi trường, nhất là ở vùng Tây Nguyên. Bảo tàng café tương lai nếu muốn hấp dẫn, nếu muốn đóng góp gì đó cho xã hội thì chắc chắn không chỉ dừng lại ở toàn bộ các khía cạnh kỹ thuật từ việc trồng trọt, thu hái, chế biến café đến thương mại, buôn bán café và thưởng thức café mà còn cần quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh con người, cộng đồng những người làm ra café, cuộc sống và sự thay đổi cuộc sống của họ từ khi họ tham gia vào cộng đồng café này. Rất nhiều câu chuyện có thể kể được trong bảo tàng này về cộng đồng các dân tộc như Ê đê, Mnông, Gia rai, Ba na… ở Tây Nguyên đã từ bỡ ngỡ buổi ban đầu, làm quen dần đến nay gắn bó thiết thân với cây café như thế nào. Tôi nghĩ rằng nét đặc sắc của bảo tàng café sẽ là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố kỹ thuật của công nghệ café với con người, cộng đồng những người làm café cùng môi trường sống của cả con người và café. Việc tạo ra nét đặc sắc này chính là chiến lược cần hướng tới một bảo tàng sinh thái café ở Tây Nguyên tương lai. Đó sẽ là một bảo tàng không chỉ đóng khung trong 4 bức tường của tòa nhà bảo tàng hay khuôn viên bảo tàng như vẫn thường quan niệm. Bảo tàng này sẽ là bảo tàng luôn mở rộng không gian và cộng đồng, luôn vươn tới và gắn kết với cộng đồng trong mọi hoạt động của mình. Cộng đồng sẽ tham gia như một chủ thể văn hóa của bảo tàng, chẳng hạn, tại đây họ sẽ tự giới thiệu và trình bày về văn hóa và cuộc sống của mình gắn với cây café thế nào, đồng thời không gian sống của họ cũng trở thành một bộ phận của bảo tàng như một địa điểm du khách có thể thăm quan, trao đổi và đối thoại với cộng đồng. Bảo tàng sẽ có chiến lược để cộng đồng tham gia như thế được hưởng lợi không chỉ về văn hóa, tinh thần mà cả về tăng thu nhập cho ngân sách của mỗi gia đình nữa. Tính nhân văn và sự gắn kết lâu dài giữa bảo tàng và cộng đồng chính là sự giải quyết hài hòa giữa tinh thần và vật chất. Đó chính là cách tiếp cận mới, quan niệm mới cho bảo tàng café tương lai ở nước ta mà tôi đặt nhiều hy vọng.      Phác thảo Ý tưởng Đề cương về Bảo tàng Café        1. Quan niệm:   1.1 Xây dựng một bảo tàng sinh thái café Trung nguyên, café-ecomuseum  1.2 Nhấn mạnh cả yếu tố kỹ thuật và con người,  1.3 Bảo tàng gắn với cộng đồng, trước hết vì cộng đồng  2. Nội dung trưng bày  2.1 Lịch sử café trên thế giới  Lịch sử café: như con đường tơ lụa, con đường hồ tiêu, con đường nha phiến  Các trung tâm café trên thế giới: trưng bày và kinh nghiệm  2.2. Lịch sử café Việt Nam  2.3 Kỹ thuật  Kỹ thuật trồng café  Giống: các loại giống và sự khác nhau  Kỹ thuật trồng và chăm sóc  Kỹ thuật thu hái: độ chín  Kỹ thuật bảo quản  Kỹ thuật chế biến  2.4. Café và thương mại  2.5 Café và việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:  Khai thác tài nguyên đất  Nguồn nước  Phân bón, phân hóa học  2.6 Café và con người  3. Hoạt động của bảo tàng tương lai  3.1 Cộng đồng tự giới thiệu và tham gia  3.2 Học sinh vẽ về cây café và con người làm café  Hiểu và yêu di sản café  Khuyến khích năng khiếu  3.3 Trình bày tác phẩm ở Hội quán và Đắk Lắk  3.4 Chụp ảnh, quay video: photovoice về café, kể chuyện về cây café và con người làm café (sản xuất, chế biến, kinh doanh café), cuộc sống của họ, những niềm đam mê, thích thú của họ  4. Đào tạo nguồn nhân lực bảo tàng  4.1 Gắn với ĐắkLắk: không gian-con người  4.2 Đào tạo người địa phương  4.3 Đào tạo người dân tộc thiểu số gắn với cây café  4.4 Đào tạo đa lĩnh vực trong bảo tàng:  Nhân học  Bảo tàng học  Thiết kế  Đa phương tiện  5. Cạnh tranh để xây dựng một bảo tàng   5.1 Hướng đến bảo tàng đẳng cấp quốc tế:  5.2 Hợp tác và cạnh tranh các dịch vụ văn hóa  5.3 Chủ bài: café, con người và môi trường Tây Nguyên
__label__tiasang Phải xóa bỏ tâm lý thụ động nhận “ban phát”      “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020” đã được phê duyệt và thực hiện trong bối cảnh xu thế tái nghèo có dấu hiệu gia tăng. Bài viết này đề xuất một số quan điểm tiếp cận mới đối với sứ mệnh giảm nghèo dựa trên trải nghiệm của tác giả, một người làm nghiên cứu nhân học, sau nhiều năm làm việc ở vùng cao, tiếp xúc với người nghèo đến từ nhiều tộc người, vùng miền khác nhau.      Cần trang bị tri thức nâng cao năng lực quản lý tài chính, quản lý rủi ro, nắm bắt thị trường…trước khi trao cho họ con cá hay cần câu. Ảnh: Trao bò giống cho người nghèo ở huyện Bình Liêu, Quảng Ninh.  Nhận diện người nghèo  Việc “đồng nhất hóa” nghèo thuần túy với thu nhập tiền mặt đã được thực tế chứng minh là không phù hợp khi áp dụng vào một số tộc người cư trú ở vùng cao đã dẫn đến một cách tiếp cận nặng về hỗ trợ lương thực trực tiếp cho hộ nghèo trong một thời gian, từng được biết đến là chỉ cho con cá thay vì cần câu. Sau khi nhận ra những điểm bất hợp lý khi thực hiện giảm nghèo theo chuẩn thu nhập, cuối năm 2015, Chính phủ cũng đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho  giai đoạn 2016 – 2020, trong đó ngoài tiêu chí thu nhập tiền mặt, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Đây là một bước đột phá, phản ánh cách tiếp cận mới về nghèo đói.  Nếu đem soi chuẩn nghèo mới với các tiêu chí đa dạng này vào các cộng đồng nghèo, sẽ thấy rằng người nghèo không phải là một cộng đồng thuần nhất, cùng chia sẻ vài đặc điểm cố định. Nhưng cách đánh giá nghèo của chúng ta vẫn thường theo cách: dựa trên một số tiêu chí nhất định để đánh giá “tất cả” các cộng đồng nghèo khác nhau. Có thể chỉ ra một ví dụ: đến nay, diện tích đất nông nghiệp là một tiêu chí đánh giá nghèo phổ biến nhưng lại không hoàn toàn đúng với nhiều tộc người vốn có các đặc điểm sinh kế rất khác nhau. Trên thực tế, diện tích đất sản xuất có thể ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng kinh tế hộ gia đình các tộc người làm nông nghiệp và cư trú ở vùng thấp nhưng lại không hoàn toàn đúng với đặc điểm canh tác của cư dân ven biển hay các tộc người ở rẻo cao như Hmông, Dao. Đợt khảo sát của chúng tôi ở xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu cho thấy nếu chỉ dựa vào diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người, không dân tộc nào có nhiều đất hơn người Hmông. Tuy nhiên, đa phần đất nông nghiệp của họ là đất một vụ, có độ dốc cao, tưới tiêu hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, diện tích canh tác phân tán, manh mún…Những đặc điểm này tạo ra nhiều thách thức cho việc chuyên canh hóa,thâm canh hóa, tăng cường đầu tư phân bón, công chăm sóc dẫn đến tổng sản lượng lương thực hàng năm của hộ gia đình người Hmông thấp hơn nhiều so với các tộc người khác dù xét về diện tích, họ vượt trội hơn nhiều. Thêm vào đó, việc cư trú ở rẻo cao khiến khọ phải mất nhiều chi phí, thời gian hơn cho việc đi lại, mua bán; nông sản họ bán cho tư thương bị trừ giá vận chuyển từ trên đồi xuống đường lớn… Do đó, việc xác định hộ nghèo cần phải được đặt trong bối cảnh cụ thể và chỉ như thế chính sách hỗ trợ mới hy vọng phù hợp, hiệu quả. Điều đó có nghĩa là, rất cần tham vấn cộng đồng trong xây dựng tiêu chí nghèo cụ thể cho từng khu vực thay vì áp dụng một khung chung cho tất cả mọi vùng. Và người nghèo cần phải được nhìn nhận là một cộng đồng với nhiều nhóm, có đặc điểm, nhu cầu khác nhau.  Xác định con cá hay cần câu  Câu chuyện hỗ trợ người nghèo con cá hay cần câu từng được bàn luận nhiều, song chưa phải là vấn đề mấu chốt. Cách hỗ trợ người nghèo sao cho ý nghĩa nhất có lẽ không phải là vài chục cân gạo cứu đói, con bò giống hay phân bón. Con cá hay cần câu đều khó đem lại hiệu quả bền vững nếu người nghèo không biết cách biến một con cá thành nhiều con cá, không biết dùng cần câu để đánh cá hay không có không gian cho họ câu cá. Một tình trạng thường thấy ở nhiều dự án giảm nghèo là, hầu hết trâu, bò, dê hay cây trồng cấp cho người nghèo hay bị chết chỉ một thời gian ngắn sau khi bàn giao vì các dự án giảm nghèo đều chưa trang bị đầy đủ kiến thức cho người dân. Do vậy, điều tối quan trọng là trang bị các tri thức nâng cao năng lực quản lý tài chính, quản lý rủi do, lựa chọn đầu tư, nắm bắt nhu cầu thị trường, kết nối thị trường… cho người nghèo trước khi trao cho họ cá hay cần câu.  Tuy vậy, chuyển giao tri thức là một việc làm khó khăn, bởi vì cần nhiều điều kiện như: năng lực, kỹ năng truyền đạt của cán bộ, phương pháp truyền đạt, đối tượng nhận truyền đạt, kênh truyền đạt… Do đó, cách lý tưởng nhất là tập huấn sâu cho chính những người dân có đủ năng lực ở địa phương để rồi chính họ chia sẻ lại với cộng đồng qua ngôn ngữ, văn hóa của chính họ. Điều đáng tiếc là sau hàng thập kỷ triển khai công tác giảm nghèo ở vùng miền núi, vùng DTTS, chúng ta chưa có cán bộ chuyên trách cho công tác này, phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm, hay bị luân chuyển, không ổn định. Chính vì thế, họ chủ yếu làm công việc hành chính thay vì được trang bị đủ kiến thức để trực tiếp hỗ trợ người dân trong xã. Cán bộ tập huấn thường là người từ huyện, tỉnh thậm chí từ ngoại tỉnh- những người chỉ có tối đa 1 ngày tập huấn đại diện cho các hộ nghèo. Những cán bộ này không có thời gian để tìm hiểu điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường của địa phương, dẫn đến bài tập huấn của họ như bài giảng nơi giảng đường. Chúng xa lạ, hàn lâm và khiến người nghèo không hiểu trọn vẹn dẫn đến thiếu tự tin, không dám tham gia vào thảo luận.  Xóa nghèo thông tin cần phải được coi là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất!  Giảm nghèo bắt đầu từ người giàu  Tôi từng có dịp tham gia vào một số dự án giảm nghèo ở vùng cao Việt Nam và nhận thấy cách tiếp cận giảm nghèo rất phổ biến hiện nay là chỉ tập trung vào người nghèo, với người nghèo, cho người nghèo, vì người nghèo. Điều này đúng nhưng chưa đủ.  Có lẽ cần bắt đầu tìm hiểu những người cũng có xuất phát điểm kinh tế khó khăn, đã thoát nghèo và trở nên giàu có tại địa phương. Bài học mà họ thay đổi địa vị kinh tế của mình sẽ là những kinh nghiệm quý giá, có khi hiệu quả, thiết thực, bền vững hơn nhiều so với các mô hình hinh tế mới được đưa vào từ bên ngoài. Đó rất sẽ là nguồn kinh nghiệm thực tế quan trọng giúp cho việc thiết kế, triển khai, giám sát và đánh giá các dự án, chương trình giảm nghèo. Việc mời đối tượng này tham gia với vai trò tư vấn, tuyên truyền viên, người tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm thực tế cho các hộ nghèo nên được coi là một giải pháp lâu dài, thường xuyên bởi không cán bộ dự án nào đến từ bên ngoài có thể gắn bó với người nghèo như họ. Chính họ chứ không phải ai khác mới là người biết cách truyền đạt kinh nghiệm tốt nhất cho hộ nghèo trong thôn bản và được người nghèo tin tưởng.  Tôi từng bất ngờ nhưng thấm thía khi một số hộ khá giả người Kinh ở xã Thanh Xương, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chất vấn rằng: sao cán bộ giảm nghèo không làm việc với chúng tôi, sao không mời chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm thoát nghèo mà cứ bê mô hình không thực tế ở đâu đó? Bao nhiêu cuộc họp bàn về giảm nghèo chỉ họp với người nghèo, bỏ qua người khá giả thì có phải là khôn ngoan không?  Xóa bỏ mặc cảm từ người nghèo  Cảm nhận chung của tôi khi tham gia trong khá nhiều cuộc họp tham vấn với người nghèo, ở nhiều vùng, đến từ nhiều tộc người khác nhau là họ khá dè dặt trong việc thảo luận tìm lối thoát cho chính mình. Rào cản ngôn ngữ, văn hóa không phải là thứ duy nhất khiến họ dè dặt. Mà có lẽ tâm lý mặc cảm, thiếu tự tin và “ngợp” trước cán bộ dự án khiến họ ngại ngần lên tiếng. Họ có thể tỏ ra đồng tình với mọi phương án, đề xuất hỗ trợ được đưa ra, dù không phải lúc nào trong thâm tâm họ cũng đồng tình, tin tưởng hay bị thuyết phục trước giải pháp đề xuất. Dường như họ quen với việc nhận bất cứ thứ gì được hỗ trợ mà không kiến nghị ngược lại.  Tôi từng chứng kiến có hộ nghèo vùng cao đem ngô giống được phát cho gà ăn vì họ biết chắc giống đó sẽ không hiệu quả qua kinh nghiệm triển khai thực tế ở xã bên. Nhưng khi được hỏi vì sao không góp ý với dự án, những câu trả lời của họ khiến tôi không khỏi giật mình: là hộ nghèo, nhà nước cho gì thì nhận ấy, không ai tin nếu họ có ý kiến “này nọ”, và cũng không nên có ý kiến để làm gì …  Công bằng mà nói, tâm lý này một phần bị chi phối bởi cách nhìn nhận của không ít cán bộ làm chính sách về người nghèo. Tâm lý “ban phát” dường như vẫn còn ngự trị ở nhiều nơi. Khi tiếp xúc với cán bộ giảm nghèo ở một số xã ở Tây Nguyên tôi khá ngạc nhiên khi họ cho rằng: tất cả người nghèo lười làm việc, ỷ lại vào nhà nước, chi tiêu hoang phí, bừa bãi, họ không biết làm gì cả, phải cầm tay chỉ việc, phải dạy họ mọi thứ thì may ra mới hiệu quả.  Chừng nào người nghèo vẫn thụ động “nhận” hỗ trợ, chừng ấy tính bền vững và hiệu quả còn là bài toán chưa có lời giải. Chừng nào cán bộ chính sách vẫn giữ cách nhìn định kiến với người nghèo, chừng đó nỗ lực giảm nghèo vẫn còn đơn độc, thiếu lực đẩy.  Hỗ trợ thúc đẩy từ nội lực chứ không ban phát vô tận  Rất nhiều người nghèo quen với việc cho rằng hỗ trợ từ nhà nước là cho không, là vô tận, năm nay được, rồi năm sau sẽ được tiếp. Điều đó khiến nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo không được sử dụng hiệu quả. Để khắc phục được điểm yếu này, công tác truyền thông cần giúp người nghèo nhận thức rõ những gì họ nhận được không phải là vô tận và họ có trách nhiệm sử dụng chúng sao cho hiệu quả nhất. Họ cần phải hiểu rõ, những hỗ trợ đó chỉ là phần nhỏ, nỗ lực của chính họ mới là điều kiện tiên quyết giúp họ thoát nghèo một cách nhanh chóng, bền vững.  Trong rất nhiều trường hợp, công tác truyền thông phải giúp người dân hiểu rõ rằng những hỗ trợ họ đang nhận được là tiền chính phủ đi vay và họ hoặc con cháu họ sẽ là người có trách nhiệm phải hoàn trả. Việc sử dụng nguồn lực được cấp, được cho vay vì thế là trách nhiệm giữa họ với không chỉ nhà nước mà cả với thế hệ tương lai.  Người nghèo cần không chỉ tri thức, tài chính, họ cần tin chính mình và niềm tin từ cộng đồng vào việc họ có đủ năng lực để thoát nghèo, thậm chí trở nên khá giả. Họ cần nhận thức rõ nghèo không phải là tội lỗi nhưng cũng không phải là cái gì nên tồn tại mãi mãi.  Không có niềm tin, không có ý thức trách nhiệm người ta khó có thể làm được bất cứ điều gì…    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Phân bón ruộng từ than sinh học      Tận dụng nguồn nguyên liệu phụ phẩm trong  nông nghiệp, ThS Mai Thị Lan Anh, Khoa Môi trường và Trái đất thuộc Đại  học Thái Nguyên, đã sáng chế ra than sinh học có thể dùng làm phân bón  ruộng.      ThS Nguyễn Thị Mai Anh đã sử dụng nhiều loại nguyên liệu có sẵn trong quá trình sản xuất nông nghiệp như rơm, rạ, lõi ngô, vỏ trấu đưa vào lò đốt than sinh học ĐK – TR 1 hoặc bếp đun cải tiến ĐK – T2 và nung ở nhiệt độ khoảng 500 đến 600 độ C. Sau nhiều giờ, nguồn các bon sinh khối này tự chuyển thành than.  Khi đem bón ruộng, với điều kiện thời tiết và môi trường Việt Nam, than sinh học sẽ giúp làm chậm quá trình thoái hóa đất, chống bạc màu, giảm độ chua… Gần như toàn bộ thành phần chất dinh dưỡng trong nguyên liệu sẽ giúp vi sinh vật trong đất phát triển, thúc đẩy quá trình cải tạo đất và tăng năng suất cây trồng. Khả năng giữ chất dinh dưỡng của đất được cải tạo nhờ than sinh học không chỉ giúp cho người sử dụng không tốn thêm kinh phí mua thêm phân bón mà còn giúp giảm thiểu những tác động có hại đến môi trường, khí hậu trên vùng đất canh tác. Dầu tái tạo trong quá trình nhiệt phân than có thể được sử dụng làm nhiên liệu.   Từ việc sử dụng than sinh học, nhiều lợi ích thiết thực đã được đo đếm cho đất canh tác như giảm phát thải khí metan, giảm phát thải khí ôxít nitơ (ước tính 50%), giảm độ a xít, tăng mức độ sẵn có về kali, phốt pho, măng gan…, tăng sự hô hấp vi khuẩn đất, kích thích cộng sinh cố định đạm trong cây họ đậu, tăng sinh khối vi sinh vật đất…  Với những lợi ích này, mô hình sản xuất than sinh học có thể sẽ được triển khai rộng rãi, giúp người dân tái sử dụng nguồn nguyên liệu thừa mà không làm ô nhiễm môi trường bằng phương pháp đốt bỏ như phổ biến hiện nay.   Công trình của ThS Mai Thị Lan Anh đã gây ấn tượng mạnh với BTC Chương trình Sáng tạo Việt về những lợi ích đa dạng của nó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần cứng của AI cũng có thể “học tập suốt đời”      Trong khi bộ não của con người có khả năng tiếp thu những thông tin mới thì trí tuệ nhân tạo lại thường quên đi những gì đã học. Mới đây, một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Science đã đề xuất một phương pháp giúp cho các chip máy tính có thể chủ động ghi nhớ các dữ liệu mới, từ đó giúp AI có thể “học tập suốt đời” giống như bộ não của con người.      Các nhà khoa học đã phát hiện ra, chip điện tử có thể được tái lập trình theo nhu cầu để giúp AI liên tục học hỏi thêm giống như bộ não của con người. Ảnh: Đại học Purdue/Rebecca McElhoe  Chia sẻ về nghiên cứu này, Shriram Ramanathan, giáo sư tại Trường Kỹ thuật Vật liệu tại Đại học Purdue cho biết: “Bộ não của sinh vật sống có khả năng liên tục học tập trong suốt cuộc đời của mình. Hiện tại, chúng tôi đã xây dựng được một nền tảng nhân tạo để máy móc cũng có thể học tập suốt đời như vậy”.  Trước hết, chúng ta cần biết rằng, trong khi bộ não động vật liên tục xây dựng các liên kết mới giữa các tế bào thần kinh nhằm giúp sinh vật ở có thể “học tập”, thì các mạch điện tử trong chip máy tính lại không hề thay đổi theo thời gian. Do đó, kể cả khi đã được sử dụng hàng chục năm, một mạch điện tử trong một chiếc máy cũ cũng không khác gì so với một mạch điện tử vừa được chế tạo trong nhà máy.  Đây cũng chính là một rào cản nếu muốn AI trở nên linh động hơn, đặc biệt là trong những trường hợp mà máy móc cần phải tự đưa ra quyết định khi ở trong những môi trường biệt lập (ví dụ như xe tự hành hoặc robot ở ngoài vũ trụ). Các nhà khoa học cho rằng, nếu AI có thể được “gắn” trực tiếp vào phần cứng thay vì chỉ chủ yếu chạy trên phần mềm như hiện tại, những cỗ máy này sẽ có thể hoạt động hiệu quả hơn.  Do đó, trong công trình này, Ramanathan và các cộng sự đã nghiên cứu và chế tạo ra một phần cứng mới có khả năng tái lập trình theo yêu cầu thông qua các xung điện. Ông tin rằng khả năng thích ứng của phần cứng sẽ giúp cho thiết bị có thể đảm nhiệm được tất cả những chức năng cần thiết để tạo ra một máy tính giống như não bộ của sinh vật sống.  Phần cứng mà nhóm nghiên cứu chế tạo là một thiết bị nhỏ có hình hộp chữ nhật, được làm từ perovskite nickelate – loại vật liệu rất nhạy với hydro. Theo nhóm nghiên cứu, việc áp dụng các xung điện ở các điện áp khác nhau sẽ giúp cho thiết bị có thể thay đổi nồng độ của ion hydro chỉ trong một phần tỷ giây, từ đó tạo ra các trạng thái giống với các chức năng tương ứng trong não.  Chẳng hạn, khi thiết bị này có nhiều hydro hơn ở gần vị trí trung tâm, nó sẽ hoạt động như một tế bào thần kinh đơn lẻ. Ngược lại, khi khu vực này có ít hydro, thiết bị sẽ có vai trò như một điểm tiếp hợp thần kinh (synapse) kết nối các nơ ron – thứ mà não bộ sử dụng để lưu trữ ký ức trong các mạch thần kinh phức tạp.  Thông qua các mô phỏng của dữ liệu thí nghiệm, các cộng tác viên của nhóm nghiên cứu tại Đại học Santa Clara và Đại học Bang Portland đã chỉ ra rằng, yếu tố vật lý bên trong thiết bị này đã tạo ra một cấu trúc động giúp mạng thần kinh nhân tạo có khả năng nhận dạng các chữ số và điện tâm đồ hiệu quả hơn so với mạng lưới tĩnh. Cụ thể, mạng lưới thần kinh này sử dụng “điện toán hồ chứa” (reservoir computing) – mô hình giúp lý giải cách các bộ phận khác nhau của não giao tiếp và truyền thông tin.  Cũng trong nghiên cứu này, các nhà khoa học thuộc Đại học Bang Pennsylvania cũng đã chứng minh rằng khi các vấn đề mới xuất hiện, một mạng lưới động sẽ có thể “lựa và chọn” mạch nào phù hợp nhất để giải quyết các vấn đề đó.  Do nhóm nghiên cứu có thể chế tạo thiết bị bằng cách sử dụng các kỹ thuật chế tạo tương thích với chất bán dẫn tiêu chuẩn và vận hành thiết bị ở nhiệt độ phòng, Ramanathan tin rằng kỹ thuật này có thể được áp dụng một cách dễ dàng trong  ngành công nghiệp bán dẫn.  Hiện tại, các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu để chứng minh ý tưởng này trên các chip thử nghiệm quy mô lớn – những con chip sẽ được sử dụng để chế tạo ra một chiếc máy tính có cách hoạt động giống như bộ não của sinh vật sống.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: The brain’s secret to life-long learning can now come as hardware for artificial intelligence      Author                .        
__label__tiasang Phần cứng nguồn mở: Đổi mới sáng tạo tốc độ cao      Không chỉ có phần mềm nguồn mở (PMNM), mà còn có cả phần cứng nguồn mở (PCNM) hay phần cứng mở (PCM), và trên thực tế, PCNM/PCM được khởi nguồn và phát triển nhờ vào cảm hứng được truyền từ chính PMNM. PCM có thể là một cách để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong sản xuất và chế tạo phần cứng nhanh nhất và rẻ nhất.      Một hoạt động ở Fablab Saigon, một trong những tổ chức hiếm hoi cam kết theo những thực hành phần cứng nguồn mở ở Việt Nam. Họ cũng là thành viên của hệ thống Fablab – một địa điểm cung cấp thiết bị, máy móc, hướng dẫn, kết nối để các cá nhân có thể chế tạo sản phẩm thử trên thế giới.   Định nghĩa và nguyên tắc của phần cứng nguồn mở (PCNM)     Phần cứng nguồn mở là phần cứng mà thiết kế của nó được công khai, sẵn sàng cho bất cứ ai cũng có thể nghiên cứu, điều chỉnh, phân phối, chế tạo, bán thiết kế khác hoặc làm phần cứng khác dựa trên thiết kế đó. Nguồn của phần cứng hay chính là thiết kế của phần cứng, phải được công bố dưới định dạng tối ưu cho phép tùy chỉnh được. Lí tưởng nhất là các phần cứng nguồn mở sử dụng những linh kiện và nguyên vật liệu sẵn có, các quy trình tiêu chuẩn, các nền tảng mở, các tài liệu không giới hạn việc tiếp cận và các công cụ thiết kế mở để cho phép tối đa mọi cá nhân có thể chế tạo hoặc sử dụng phần cứng đó. Phần cứng nguồn mở trao cho mọi người toàn quyền kiểm soát công nghệ của mình nhưng đồng thời cũng chia sẻ tri thức và khuyến khích thương mại thông qua sự trao đổi các thiết kế mở.    Nguyên tắc 1.0 của PCNM – OSHW (Open Source Hardware) được Hiệp hội PCNM – OSHWA (Open Source Hardware Association) nêu rõ:    Định nghĩa phần cứng nguồn mở (OSHW) 1.0 dựa vào Định nghĩa Nguồn Mở cho Phần mềm Nguồn Mở.    Trong khi định nghĩa PMNM tuân thủ nguyên tắc với 10 tiêu chí, thì định nghĩa PCNM  tuân thủ nguyên tắc tương tự với 12 tiêu chí, được liệt kê và so sánh với nhau như bảng bên dưới.                Các điều khoản phân phối PCNM phải tuân thủ các tiêu chí sau:      Các điều khoản phân phối PMNM phải tuân thủ các tiêu chí sau:              1. Tài liệu      –          2. Quy mô      –          3. Phần mềm cần thiết      2. Mã nguồn phần mềm          4. Tác phẩm phái sinh      3. Tác phẩm phái sinh          5. Phân phối tự do      1. Phân phối lại tự do          6. Ghi công      4. Tính toàn vẹn mã nguồn của tác giả          7. Không phân biệt đối xử với người hoặc nhóm      5. Không phân biệt đối xử với người hoặc nhóm          8. Không phân biệt đối xử với các lĩnh vực nỗ lực      6. Không phân biệt đối xử với các lĩnh vực nỗ lực          9. Phân phối giấy phép      7. Phân phối giấy phép          10. Giấy phép không đặc thù cho một sản phẩm      8. Giấy phép không đặc thù cho một sản phẩm          11. Giấy phép phải không hạn chế phần cứng hoặc phần mềm khác      9. Giấy phép phải không hạn chế phần mềm khác          12. Giấy phép phải trung lập về công nghệ      10. Giấy phép phải trung lập về công nghệ            Cấp phép mở cho PCNM    Cũng giống như bất kỳ tài nguyên mở nào khác, để phần cứng được gọi là MỞ, chúng cần phải được cấp phép mở.    Định nghĩa PCNM ở trên theo nguyên tắc tuân thủ với 12 tiêu chí thể hiện ý định giúp cung cấp các hướng dẫn để phát triển và đánh giá các giấy phép cho PCNM.    Trong khi PMNM dành cho các sản phẩm vô hình, thì PCNM là khái niệm dành cho các chế tác hữu hình – máy móc, thiết bị, hoặc những đồ vật khác, với thiết kế của nó được phát hành cho công chúng theo cách thức mà bất kỳ ai cũng có thể chế tạo, sửa đổi, phân phối, và sử dụng chúng. Chính vì điều này, việc cấp phép mở cho PCNM, một mặt cũng giống như với PMNM, mặt khác là phức tạp hơn.    Phần cứng là khác với phần mềm ở chỗ các tài nguyên vật lý phải luôn có cam kết để chế tạo ra các hàng hóa vật lý. Theo đó, những người hoặc công ty nào sản xuất các mặt hàng (“sản phẩm”) theo giấy phép PCNM có nghĩa vụ phải làm rõ:    1. các sản phẩm đó không phải do nhà thiết kế ban đầu sản xuất, bán, bảo hành hoặc sẽ bị xử phạt nếu làm khác; và    2. không được phép sử dụng bất kỳ nhãn hiệu nào thuộc sở hữu của nhà thiết kế gốc ban đầu.    Các loại giấy phép mở thường gặp trong PCNM    Với một dự án PMNM, các giấy phép mở được cấp cho phần mềm và tài liệu đi kèm với nó, còn với một dự án PCNM, có thể có các khả năng sau:    1. PCNM không đi kèm phần mềm Khi đó sẽ có việc cấp phép mở cho PCNM và các tài liệu đi kèm với nó;    2. PCNM có đi kèm PMNM Khi đó sẽ có việc cấp phép mở cho cả PCNM, PMNM và các tài liệu đi kèm với cả PCNM lẫn PMNM;    Các loại giấy phép thường được sử dụng trong một dự án PCNM có đủ các yếu tố phần cứng, phần mềm và tài liệu, gồm:  – cho PCNM: các loại giấy phép như CERN, Solderpad và TAPR,  – cho tài liệu: các loại giấy phép như CC0, CC BY, và CC BY-SA,  – cho PMNM: các loại giấy phép như Apache, GPL, LGPL, MIT, Mozilla, .v.v.    Các tiếp cận cấp phép mở cho một dự án PCNM    Hiện có hai cách tiếp cận về cấp phép mở cho một dự án PCNM:    Một cách tiếp cận mà Javier Serrano của Cơ quan hạt nhân châu Âu – CERN đưa ra là tận dụng luôn kho các giấy phép PMNM sẵn có vốn đang được sử dụng và chấp nhận rộng rãi sau đó cần thống nhất cách dịch các khái niệm của phần mềm cho phù hợp với ngữ cảnh của phần cứng. Lý tưởng nhất là các tổ chức quản lý các giấy phép sẵn có sẽ làm luôn điều này. Thực ra trong thập kỉ vừa qua, việc cấp các giấy phép nguồn mở cho các ngôn ngữ miêu tả phần cứng (HDL – Hardware description languages) như giấy phép GNU GPL và LGPL là loại giấy phép copylelf hay giấy phép “dễ dãi” (permissive license) cho phần mềm như BSD, MIT đã được áp dụng rộng rãi, cũng thể hiện một phần ý tưởng trên. Với số lượng lớn các HDL đã dùng giấy phép PMNM thì việc cấp thêm cho chúng một nền tảng pháp lí vững chắc bằng cách điều chỉnh việc diễn đạt các khái niệm kĩ thuật trong những giấy phép phần mềm như GNU GPL sẽ rất tiện lợi.      Các loại máy in 3D của dự án PCNM Lulzbot 3D  Một cách tiếp cận khác là tạo ra loại giấy phép mới dựa vào các giấy phép phần mềm đang có nhưng thay thế các khái niệm phần mềm không tương thích bằng các khái niệm sử dụng trong lĩnh vực bán dẫn và các chip logic số có thể lập trình được – FPGA (Field Programmable Gate Array). Các giấy phép dạng này gồm giấy phép Solderpad dựa vào giấy phép phần mềm Apache, và giấy phép mô tả phần cứng mở OHDL (Open Hardware Description License) dựa vào giấy phép công cộng Mozilla – MPL (Mozilla Public License). Giấy phép phần cứng mở của CERN (CERN OHL) dựa vào việc tùy chỉnh giấy phép GNU GPL để sử dụng cho PCNM.    Lướt qua khía cạnh sở hữu trí tuệ của PCNM    Với việc cấp phép mở cho PCNM như được nêu ở trên, có thể thấy, giống như các dự án PMNM, các dự án PCNM cũng rất quan tâm tới vấn đề sở hữu trí tuệ, cả bản quyền và các quyền tác giả đối với các sản phẩm của chúng.    Còn ở khía cạnh bằng sáng chế thì sao?    Trong thế giới nguồn đóng có không ít các công ty, ví dụ cụ thể như trong lĩnh vực phần mềm, không tạo ra bất kỳ sản phẩm phần mềm nào cho xã hội, ngoài việc buôn bán các bằng sáng chế có liên quan tới phần mềm bằng bất kỳ phương thức nào, kể cả phương thức sử dụng các bằng sáng chế để tống tiền các công ty khởi nghiệp thông qua các vụ kiện, họ thường được biết tới bằng cái tên – các quỷ lùn bằng sáng chế (Patent trolls) hoặc các ‘thực thể đòi quyền lợi bằng sáng chế’ – PAE (Patent Assertion Entities) hay các ‘thực thể không hoạt động thực tiễn’ – NPE (Non-Practicing Entities). Các thực thể đó thường cản trở sự phát triển của cả phần cứng và phần mềm, làm gia tăng giá thành sản phẩm, tạo ra gánh nặng lên người tiêu dùng và xã hội, và làm xói mòn ý nghĩa cũng như mục đích của Luật về bằng sáng chế.    Còn trong thế giới nguồn mở, bao gồm cả phần cứng và phần mềm, Mạng Phát minh Mở – OIN (Open Invention Network) là tổ chức quản lý hơn 1.100 bằng sáng chế và đơn xin cấp bằng sáng chế toàn cầu để xúc tác cho ứng dụng và phát triển nguồn mở, bảo vệ nguồn mở và giúp cho các cộng đồng nguồn mở giảm thiểu các rủi ro về bằng sáng chế trong Linux và các công nghệ nguồn mở có liên quan, nhất là trong các vụ kiện liên quan tới bằng sáng chế. Bên cạnh đó, cũng cần nêu một thực tế khác, là thế giới PMNM có phong trào ‘Chấm dứt bằng sáng chế phần mềm’ (End Software Patents), nó đấu tranh chống lại việc cấp bằng sáng chế cho phần mềm, một câu chuyện dài và không nằm trong phạm vi của bài viết này.    Các ví dụ dưới đây là về các dự án PCNM từ chối và/hoặc không muốn làm các bằng sáng chế cho sản phẩm của họ, chỉ vì họ muốn phát triển chúng nhanh hơn với giá thành rẻ hơn nhiều, nhờ vào công nghệ mở.    Dự án máy in Lulzbot 3D (https://www.lulzbot.com/) của công ty Aleph Objects tại Colorado, Mỹ chuyên tập trung vào bán máy và các linh kiện phục vụ in 3D. Tất cả các sản phẩm của họ đều là PCNM. Họ cũng là một trong số những công ty phần cứng có tốc độ phát triển nhanh nhất ở Mỹ. Jeff Moe, giám đốc điều hành của dự án nói ở thời điểm khởi đầu của Luzbot 3D: “Chiến lược của chúng tôi là không đăng ký sáng chế cho bất kì thứ gì, mà tạo ra tác phẩm gốc (prior art) nhanh nhất có thể. Bởi vậy khi chúng tôi phát triển thứ gì đó, chúng tôi đẩy nó ra công chúng càng sớm càng tốt và kì vọng sẽ tạo ra một tác phẩm gốc nếu chưa hề có một sản phẩm tương tự trên thị trường. Điều đó cho phép tốc độ phát triển của chúng tôi nhanh hơn rất nhiều”. Điều này là rất giống với những gì được Eric Raymond nêu trong tiểu luận nổi tiếng của ông “Nhà thờ lớn và cái chợ” khi nói về triết lý phát triển của PMNM: “Phát hành sớm, phát hành thường xuyên. Và hãy lắng nghe các khách hàng của bạn.” (Release early, release often. And listen to your customers).    Tương tự, cộng đồng e-NABLE (http://enablingthefuture.org/), nơi có dự án sản xuất các bàn tay cơ khí giúp cho những người có khuyết tật bàn tay, ví dụ như, mất ngón tay, cũng có quyết định, “không làm bằng sáng chế cho thiết kế và không bán thiết kế cho các công ty chỉ muốn bán nó cho những người cần nó với giá hàng trăm và có thể hàng ngàn USD. Họ đã muốn xuất bản thiết kế theo cách mở, và hy vọng mọi người có thể làm được bàn tay làm việc được với giá thành ít hơn 100 USD”.    Ngày nay, công nghệ in 3D đang phát triển rất nhanh, nó có thể tạo ra nhiều sản phẩm khó có thể tưởng tượng ra được trước đó, ví dụ như, xây nhà 130m2 để ở, xây lõi lò phản ứng hạt nhân, hay thậm chí làm món bò bít tết nhân tạo.v.v.     Cộng đồng PCNM trong một số lĩnh vực     Cũng giống như với việc phát triển PMNM, các cộng đồng, chứ không phải các công ty hay các tập đoàn, đóng vai trò chính trong phát triển PCNM. Vì số lượng các cộng đồng PCNM là nhiều, bạn có thể tham khảo thêm về chúng trong hai tài liệu: (1) Bit và Bu lông; và (2) Làm bằng Creative Commons. Bên dưới đây chỉ nêu ví dụ vắn tắt vài trong số các cộng đồng đó.    Cộng đồng máy bay không người lái – UAV (Unmanned Aerial Vehicle)    Trên trang chủ của cộng đồng này (https://diydrones.com/) có đoạn giới thiệu: Cộng đồng này là nơi sinh ra ArduPilot, nền tảng lái tự động vạn năng đầu tiên trên thế giới (máy bay, máy bay trực thăng đa năng và tất cả các loại tàu lượn trên mặt đất). Ngày nay máy lái tự động Pixhawk chạy với một loạt các hệ thống phần mềm mạnh chuyên dành cho máy bay không người lái (UAV) đủ mọi loại dạng, tự do không mất tiền và mở. Đây là cộng đồng với hơn 92.000 thành viên. Một doanh nhân và là thành viên của cộng đồng này đã từng nói trong một bài báo xuất bản năm 2012: “Trong vòng hai năm, chúng tôi đã bắt đầu phá vỡ một nền công nghiệp nhiều triệu USD với mô hình nguồn mở… Chúng tôi có thể đưa ra một sản phẩm đạt đến 90% hiệu năng của các máy bay quân sự không người lái chỉ với 1% giá thành”. Cộng đồng này được chia thành hàng chục nhóm khác nhau, mỗi nhóm có hàng trăm hoặc hàng ngàn thành viên với nhiều sản phẩm/bộ sản phẩm tương ứng của từng nhóm.      Hình 1. Nhiều sản phẩm trong các dự án PCNM của OSMS.  Cộng đồng Arduino (https://www.arduino.cc/)    Arduino là nền tảng điện tử nguồn mở vì lợi nhuận và là công ty phần cứng và phần mềm máy tính. Được thành lập vào năm 2005 ở Ý, mô hình doanh thu của nó là lấy tiền đối với các bản sao vật lý (bán các bo mạch, module, bảng mạch, và các bộ công cụ), cấp phép cho nhãn hiệu (các khoản phí những ai muốn bán các sản phẩm Arduino phải trả khi sử dụng tên của họ). Nền tảng này đã tích hợp các phần mềm, phần cứng, các bộ kiểm soát nhỏ, và các đồ điện tử. Tất cả các khía cạnh của nền tảng đó đã được cấp phép mở: các bản thiết kế và tài liệu phần cứng với giấy phép Creative Commons Ghi công – Chia sẻ Tương tự – CC BY-SA (Attribution-Share-Alike), và phần mềm với giấy phép GNU General Public License (GPL). Tới tháng 1/2017, cộng đồng này đã có 324.928 thành viên khắp trên thế giới với vô số các sản phẩm và các sách hướng dẫn mọi cấp độ cho người sử dụng, từ những người mới bắt đầu cho tới những người chuyên nghiệp.    Cộng đồng Sparkfun (https://www.sparkfun.com/)    SparkFun là nhà bán lẻ đồ điện tử trên trực tuyến chuyên về PCNM. Được thành lập vào năm 2003 ở nước Mỹ. Mô hình doanh thu của nó là lấy tiền đối với các bản sao vật lý (bán đồ điện tử). Công ty đã tăng trưởng từ một dự án nhỏ thành một tập đoàn với 140 nhân viên. Vào năm 2015, SparkFun đã kiếm được 33 triệu USD doanh thu.    Theo CEO SparkFun Nathan Seidle:    “Chúng tôi có hàng đống cơ hội để đào tạo cho thế hệ tiếp sau các công dân kỹ thuật. Mục tiêu của chúng tôi là tác động tới cuộc sống của 350.000 học sinh trung học tới năm 2020”.    Giấy phép Creative Commons nằm bên dưới tất cả các sản phẩm của SparkFun là trung tâm cho sứ mệnh này. Giấy phép đó không chỉ là dấu hiệu thiện chí của sự chia sẻ, mà nó còn thể hiện mong muốn để những người khác tham gia vào và sửa đổi các sản phẩm của họ, vừa để học và để làm cho các sản phẩm của họ tốt hơn.  SparkFun sử dụng giấy phép Ghi công – Chia sẻ Tương tự (CC BY-SA), nó là giấy phép “copyleft”, cho phép mọi người làm bất kỳ điều gì với nội dung miễn là họ thừa nhận ghi công và làm cho bất kỳ sản phẩm phái sinh nào cũng công khai và thuân thủ các điều khoản cấp phép y hệt.    Các cộng đồng PCNM hiện nay thường có trong các lĩnh vực nào?    Không dễ để hình dung PCNM hiện nay đang được ứng dụng và phát triển trong các lĩnh vực nào. Mẫu tờ khai đề nghị cấp chứng chỉ cho một dự án PCNM của Hiệp hội PCNM (Open Source Hardware Association có lẽ gợi ý cho chúng ta về điều này. PCNM hiện có mặt trong nhiều lĩnh vực như: in 3D, điện tử, Internet của Vạn vật (IoT), âm thanh, nông nghiệp, chế tạo, hàng không, nghệ thuật, môi trường, người máy, công cụ, giáo dục, kết nối trong gia đình, khoa học, các đồ vật đeo trên người,.v.v.     COVID-19 và sự nổi lên mạnh mẽ của PCNM về PPE và vật tư y tế     Có lẽ trong lịch sử nhân loại, không có bất kỳ một cộng đồng chế tạo nào được hình thành một cách nhanh chóng chỉ trong vài tuần như cộng đồng PCNM cung ứng các thiết bị bảo vệ cá nhân – PPE (Personal Protective Equipment) và các vật tư y tế bị thiếu hụt nghiêm trọng vì sự đứt gẫy của chuỗi cung ứng toàn cầu của nó khi xuất hiện đại dịch COVID-19. Đoạn dưới đây mô tả về sự kiện lịch sử có một không hai này vào những ngày đầu của đại dịch:    Vào ngày 7/2/2020, với chỉ 270 trường hợp COVID-19 được ghi nhận và một trường hợp được báo chết ngoài Trung Quốc lục địa, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) TS. Tedros Adhanom Ghebreyesus đã đưa ra cảnh báo: “Thế giới đang đối mặt sự thiếu hụt lâu dài trang thiết bị bảo vệ cá nhân – PPE (Personal Protective Equipment)”… Bất chấp cảnh báo, các hệ thống đã thất bại để đáp ứng các nhu cầu do khủng hoảng bùng nổ tạo ra. Các lãnh đạo doanh nghiệp trong giới công nghiệp sản xuất đã gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng họ sẽ không thể tăng cường sản xuất trang thiết bị nếu không có sự hỗ trợ và phối hợp của chính phủ… Đã rõ ràng là cần nhiều hơn các trang thiết bị và các chuỗi cung ứng truyền thống đã không đáp ứng được nhiệm vụ đó… Hàng ngàn cá nhân – khắp đất nước, và khắp trên thế giới – đã ứng phó tại thời điểm cần thiết này một cách khéo léo. Họ đã hình thành các mạng ảo – nhỏ và phi chính quy trước hết, nhanh chóng trở nên lớn hơn – để thiết kế, sản xuất, và phân phối các vật tư y tế. Các mạng đó đã kích hoạt các kỹ sư, những người có chuyên môn về y tế, chuyên gia hậu cần, và các chuyên gia điều chỉnh pháp luật để thiết kế trang thiết bị mới có thể được tạo ra bằng các vật liệu và trang thiết bị có trong tay. Họ khai thác năng lực sản xuất len lỏi trong các ngõ ngách của các cộng đồng để sản xuất nó và tìm cách phân phối thiết bị đến những nơi có nhu cầu cấp thiết.     Một chuỗi cung ứng mới được hình thành, được sản xuất ở địa phương trên khắp các quốc gia và khắp trên thế giới đã xuất hiện từ con số không chỉ trong vài tuần.    Trên trang cộng đồng Vật tư Y tế Nguồn Mở – OSMS (Open Source Medical Suppliers) ghi nhận tác động của cộng đồng PCNM này lên xã hội cụ thể với: hơn 42.000 thành viên tham gia; với các nỗ lực ứng phó tích cực của 1.878 cá nhân và nhóm ở các địa phương tại 86 quốc gia trên thế giới, trong đó có một nhóm ở TP. Hồ Chí Minh của Việt Nam – nhóm FabLab Saigon; với hơn 48 triệu vật tư y tế và PPE với hàng loạt các sản phẩm khác nhau (xem Hình 1) được cộng đồng toàn cầu phân phối có giá trị ước tính khoảng 271 triệu USD.     So sánh mô hình phát triển PCNM và phần cứng nguồn đóng     Thực tế ngày nay, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch COVID-19, đã rõ ràng cho thấy:    Các quy trình thiết kế kỹ thuật truyền thống là “nguồn đóng” – các kết quả đầu ra của chúng được coi là sở hữu trí tuệ của các công ty trả tiền cho các nhóm những người thiết kế và các kỹ sư. Trong khi có hiệu quả và lợi nhuận qua thời gian dài, dạng phát triển này có thể là chậm và có hạn chế, khi từng nhóm làm việc trong một giải pháp phải tiến hành nghiên cứu người sử dụng của riêng nó, phát triển các yêu cầu dự án của riêng nó, lặp đi lặp lại trong thiết kế và nguyên mẫu, và phát triển các thiết kế của riêng nó cho các quy trình chế tạo cụ thể.    Ngược lại, các quy trình thiết kế và kỹ thuật nguồn mở có thể diễn ra cực kỳ nhanh chóng, khi toàn bộ các cộng đồng của hàng trăm ngàn người có thể đóng góp cho sự hiểu biết được chia sẻ của nghiên cứu, các yêu cầu của dự án, các thiết kế, và các quy trình chế tạo. Do tất cả thông tin và thiết kế nguồn mở đều được công khai, bất kỳ ai trên thế giới (chứ không chỉ là bất kỳ ai ở Việt Nam) đều có thể bổ sung vào khối kiến thức này, phát triển các thiết kế phái sinh, hoặc sản xuất các vật tư từ các kế hoạch hiện có mà không cần phải thiết kế cho riêng họ.     Kết luận và vài gợi ý     Được truyền cảm hứng từ PMNM, các dự án PCNM cũng được phát triển dựa vào cộng đồng. Để một phần cứng được gọi là PCNM thì bản thân phần cứng đó phải được cấp phép mở; cùng với nó, các tài liệu hướng dẫn sử dụng và các tài liệu liên quan khác cũng được cấp phép mở, bao gồm các bản vẽ thiết kế, vì vậy cho phép bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể tải về và sửa đổi các thiết kế cho phù hợp với mục đích của mình/địa phương/quốc gia mình. Trong các trường hợp, nơi dự án PCNM đi kèm với cả phần mềm, thì các phần mềm cùng với các tài liệu đi kèm với nó cũng được cấp phép mở một cách tương ứng.    Thực tế đã chỉ ra, nhờ có đặc thù được cấp phép mở, PCNM thường được phát triển nhanh hơn, với sản phẩm có giá thành rẻ hơn hoặc rẻ hơn nhiều/rất nhiều so với phần cứng nguồn đóng có cùng chất lượng. Giá trị mang lại của nguồn mở nói chung, PCNM nói riêng, không chỉ thuần túy là giá trị kinh tế, mà còn cả giá trị xã hội và văn hóa.    Sự hình thành và phát triển của các cộng đồng PCNM trong đại dịch COVID-19 để ứng phó với sự thiếu hụt nghiêm trọng, thậm chí sự đứt gẫy hoàn toàn các chuỗi cung ứng các thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE) và vật tư y tế ở nước Mỹ và trên toàn cầu đã minh chứng cho khả năng và sức mạnh vô song của các cộng đồng PCNM, khi mà cả các cơ quan chức trách của chính phủ cũng như các nhà cung cấp vật tư y tế của giới công nghiệp “nguồn đóng” truyền thống đã hoàn toàn thất bại trong việc ứng cứu khẩn cấp trong đại dịch COVID-19, vì vậy nó đã góp phần định hướng cho không chỉ chính phủ Mỹ, mà có thể còn cho cả Chính phủ nhiều quốc gia khác, trong việc xây dựng các hệ thống dự phòng và ứng cứu khẩn cấp trong tương lai dựa vào các cộng đồng thiết kế/chế tạo và cung ứng PCNM để đối phó với các thảm họa và/hoặc đại dịch tương tự như với COVID-19, để điều chỉnh các chính sách hiện hành nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển các cộng đồng PCNM ở mức quốc gia và quốc tế.    Không phải ngẫu nhiên, nước Mỹ, quốc gia chịu tổn thất lớn nhất thế giới vì đại dịch COVID-19, với hơn 600.000 người chết, cũng là nơi mà cộng đồng Vật tư Y tế Nguồn Mở (OSMS) được hình thành và phát triển vượt bậc trong thời gian hơn một năm qua, đã đưa ra hàng loạt các khuyến cáo dựa trên ba khía cạnh nhằm đảm bảo những thiệt hại như đại dịch COVID-19 sẽ không bao giờ được lặp lại trong tương lai, chúng gồm:    1. Cộng đồng và sự phối hợp. Cải thiện sự phối hợp giữa các cộng đồng PCNM và chính phủ. Một trong những việc quan trọng là xây dựng thư viện kỹ thuật số các thiết kế PCNM; và hỗ trợ liên tục về tài chính và hoạt động cho dự phòng chế tạo số quốc gia.    2. Xây dựng quy mô và năng lực. Tìm kiếm các cách thức nhằm đảm bảo tính bền vững và tính minh bạch trong hoạt động của các cộng đồng PCNM.    3. Các tiêu chuẩn và quy định. Hệ thống các tiêu chuẩn và quy định hiện hành chỉ phục vụ cho phát triển phần cứng truyền thống “nguồn đóng” và cần phải thay đổi để bao gồm cả dạng thiết kế sáng tạo của PCNM.    Chi tiết các khuyến cáo theo ba khía cạnh nêu trên được chi tiết hóa trong tài liệu: “Kết hợp lại thành một giải pháp: Những bài học từ phần cứng nguồn mở đối phó với COVID-19” có lẽ là rất đáng để Việt Nam tham khảo.    Cũng cần lưu ý là, PCNM là một trong những thành phần chính của Khoa học Mở, một xu thế hầu như không thể đảo ngược của thế giới ngày nay, trong khi ở Việt Nam cho tới thời điểm này, khó có thể nhận ra các dấu hiệu rõ ràng nào về sự hiện diện của nó.□  —–  Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Phần cứng Y tế nguồn mở trong đại dịch Covid-19      Trên toàn cầu, bằng nhiều cách khác nhau, mọi người đang cố gắng giúp lấp đi khoảng trống cung ứng vật tư, thiết bị y tế do dịch Covid-19 gây ra qua phần cứng y tế nguồn mở.      PPH có thể cung cấp luồng không khí được lọc một cách vừa đủ cho người mang mà không lo nhiễm virus qua đường thở. Nguồn: NB.  Do đó, người ta có thể thấy những câu chuyện thú vị ít ai ngờ đến: những tấm chắn che mặt của các kỹ sư in 3D trong tầng hầm của họ, những người có sở thích tự may khẩu trang và các nhà thiết kế thời trang tự làm các áo choàng bảo vệ cá nhân. Đây là cách thích ứng mang tính đổi mới sáng tạo mang tính toàn cầu của con người. Nhưng đây cũng chỉ là những ví dụ rất nhỏ về những thích ứng của con người. Điều đáng nói hơn là những hành vi tự bảo vệ của con người trong bối cảnh đại dịch đã được một nguồn hỗ trợ mới tiếp sức, đó là phần cứng y tế nguồn mở – các bản thiết kế của những thiết bị được cấp phép mở sao cho chúng có thể được sửa đổi, tạo lập, và sử dụng không hạn chế.  Vì sao phần cứng y tế nguồn mở lại quan trọng?  Ngày nay, phần cứng y tế nguồn mở không còn là điều mới mẻ nữa. Trên thực tế, nó từng là công cụ cung cấp các thiết bị y tế và trang bị cho các nhân viên và các cơ sở y tế thiếu thốn nguồn cung thiết bị, vật tư nhiều năm – một nhu cầu còn có trước cả đại dịch Covid-19. Ví dụ, theo sau dịch H1N1, các giáo sư y học ở Đại học Swansea đã xuất bản các chỉ dẫn nguồn mở cho thiết kế một loại quạt cấp cứu chi phí thấp.  Trong một báo cáo năm 2010, Tổ chức Y tế Thế giới WHO (World Health Organization) đã nêu, “Nghiên cứu này đang tạo ra sự tiến bộ nhanh trong phát triển các công nghệ y tế phức tạp bởi dù đã có tiến bộ theo cách này thì đa số dân cư của thế giới vẫn ít hoặc không có khả năng truy cập tới những đổi mới sáng tạo về công nghệ đó”. Đặc biệt, WHO đã nhấn mạnh đến tính sẵn sàng của các thiết bị y tế, đáp ứng hiệu quả các nhu cầu y tế công cộng tại nhiều vùng trên thế giới và chỉ ra thực trạng là “70% đến 90% số thiết bị y tế được tài trợ cho những khu vực đang phát triển lâm vào cảnh không hoạt động như dự kiến”. Có 4 thành phần quan trọng để sửa sai sự “không phù hợp” là tính sẵn sàng, khả năng truy cập, tính thích hợp, và khả năng phù hợp về giá thành – đây sẽ là điểm mấu chốt để phần cứng y tế nguồn mở phát huy tác dụng, như TS. Gerrit Niezen đã giải thích trong một bài báo nghiên cứu trong năm 2016:  “Làm cho thiết kế phần cứng sẵn sàng theo một giấy phép nguồn mở cho phép bất kỳ ai cải tiến và đóng góp cho thiết kế của thiết bị, dẫn tới sự đổi mới sáng tạo rất nhanh so với các phương pháp truyền thống. Nó cũng xúc tác cho thiết kế sẽ được sửa đổi cho bất kỳ sử dụng đặc thù nào, và làm cho các thiết bị dễ dàng sửa chữa… Đây là tiềm năng lớn để làm cho các thiết bị y tế truy cập được nhiều hơn ở thế giới đang phát triển, nơi các thiết bị cũng có thể được thiết kế như là nguồn mở và được xây dựng cho các trường hợp điển hình đặc thù, thay vì phải phụ thuộc vào trang thiết bị tài trợ”.      Có bốn thành phần quan trọng để sửa sai sự “không phù hợp” của các thiết bị y tế là tính sẵn sàng, khả năng truy cập, tính thích hợp, và khả năng phù hợp về giá thành – đây sẽ là điểm mấu chốt để phần cứng y tế nguồn mở phát huy tác dụng,      Một ví dụ dễ thấy về thiết bị y tế “không phù hợp” là chi phí của ống nghe chẩn bệnh quá cao với khả năng chi trả của những nơi cần nó. Là một trong những công cụ quan trọng nhất cho các nhân viên y tế, các ống nghe chẩn bệnh trên thị trường có giá thành khoảng 90 USD cho tới 200 USD, do đó hầu như các khu vực nghèo khó có thể bỏ tiền ra mua. Khi làm việc ở Gaza, TS. Tarek Loubani một bác sĩ phòng cấp cứu ở Canada và là người nhận Học bổng Bassel Khartabil năm 2020, mới phát hiện ra vấn đề này nên quyết định tạo ra một thiết kế nguồn mở cho ống nghe chẩn bệnh vào năm 2018 để những nơi cần nó có thể in 3D được với giá thành chỉ khoảng 3 USD. Thông qua dự án thiện nguyện mang tên Glia, TS. Loubani tập trung vào các thiết kế nguồn mở cho các ống nghe chẩn bệnh, các thiết bị ép máu đông và ống khám tai để tạo điều kiện cho bất kỳ ai có nhu cầu đều có thể tự chế tạo trên máy in 3D. Không chỉ tạo ra các thiết kế mở, ông và cộng sự còn huấn luyện mọi người trong các vùng đất nghèo, ít nguồn lực đầu tư, đặc biệt là những nơi có xung đột, ít có điều kiện đón nhận các thiết bị y tế từ bên ngoài để họ có thể sử dụng các máy in 3D, qua đó có được các thiết bị y tế cần thiết. “Dự án Glia là dự án đầu tiên và trước nhất về sự tự chủ trong thiết bị y tế”, TS. Loubani đã giải thích trong một cuộc phỏng vấn năm 2009.  Đó là những tiền đề quan trọng để gần đây, ứng phó với đại dịch, Glia đã xoay qua việc chế tạo các mặt nạ cho các nhân viên y tế Canada. “Đó từng là lời hứa của tôi đối với các đồng nghiệp của tôi”, TS. Loubani nói với CBC, “Và điều đó cũng là lời hứa của tôi đối với tất cả các nhân viên y tế ở Canada”.  Tạo phần cứng y tế nguồn mở trong đại dịch Covid-19  TS. Loubani không đơn độc trong việc sử dụng phần cứng nguồn mở để làm giảm bớt tình trạng thiếu trang thiết bị và cung ứng y tế do Covid-19. Nhóm Thiết kế hữu dụng (Helpful Engineering Group) trên Slack đã đón nhận được sự đóng góp ý tưởng từ cộng đồng hàng ngàn kỹ sư về các thiết bị và công cụ y tế, và nhóm trên facebook các nhà cung ứng Y tế Covid-19 Nguồn mở – OSCMS (Open Source Covid-19 Medical Supplies) có hơn 50.000 thành viên đang làm điều y hệt. Bên cạnh những nỗ lực có phần hơi đặc biệt và được tổ chức lỏng lẻo là những sáng kiến từ các cơ sở và các phòng thí nghiệm nghiên cứu, như dự án Quạt cấp cứu của MIT – E-Vent (MIT Emergency Ventilator) và Sáng kiến Chỉ một Phòng thí nghiệm khổng lồ cho OpenCovid19 (Just One Giant Lab OpenCovid19 Initiative).    Đại dịch Covid-19 khiến nhiều nơi điêu đứng vì thiếu thiết bị y tế.    Vậy quy trình chế tạo là gì?  Quy trình xác định thiết kế và chế tạo phần cứng nguồn mở cho một sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sự phức tạp của thiết kế, các yêu cầu về an toàn, các nhu cầu phân phối, .v.v. “Điều quan trọng nhất là kiểm thử các thiết kế, tối ưu hóa, tùy biến thích nghi thiết kế đó cho phù hợp với các điều kiện sẵn có của từng địa phương, sau đó là việc thực hiện một quy trình kiểm thử chặt chẽ với những người làm công tác chuyên môn ở các bệnh viện. Nếu nó hoạt động đúng như thiết kế và đáp ứng được mong đợi thì có nghĩa là bạn thành công”, André Rocha, trợ lý giáo sư Escola Superior de Educação de Lisboa, đồng điều phối FabLab Benfica, và là một thành viên tích cực của cộng đồng mở CC Bồ Đào Nha, nói.  Trong một số trường hợp, một khi thiết kế nguồn mở được tạo ra trong nội bộ, hoặc ở đâu đó được xác định, thì quy trình chế tạo có thể là khá nhanh chóng.  Ví dụ, tấm che mặt – một thành phần quan trọng của thiết bị bảo vệ cá nhân – PPE (Personal Protection Equipment) – rất có khả năng “chế tạo được”, nghĩa là ngụ ý người ta có thể dễ để thiết kế và chế tạo trên máy in 3D trong khoảng thời gian từ 20 phút cho tới một tiếng đồng hồ. Do nhu cầu về tấm che mặt này tăng vọt trong thời kỳ “nóng” của đại dịch nên có nhiều người sử dụng các thiết kế nguồn mở để chế tạo và phân phối chúng cho các nhân viên y tế. Ông Darrell Currington, người quản lý Trung tâm tạo Mẫu Nhanh ở Đại học OCAD ở Toronto, Canada cũng là một trong những người như vậy: “Chúng tôi đã và đang tích cực sản xuất các tấm che được in 3D được sử dụng để làm các tấm che mặt cho các nhân viên y tế trong các bệnh viện, những người phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất. Do trường đại học nơi đặt trung tâm của chúng tôi đã đóng cửa, nên chúng tôi không thể làm theo cách làm cũ nữa, nguồn mở đã trở thành giải pháp tốt nhất chúng tôi có, thiết kế những trang thiết bị cần thiết nhất và cung cấp nó đầu tiên cho các nhân viên, sau mở rộng đối tượng sử dụng ra”.      Creative Commons đang thúc giục các cá nhân, công ty, và các cơ sở nghiên cứu áp dụng một giấy phép nguồn mở hoặc dấu hiệu Cam kết Covid Mở (Open Covid Pledge) – trao quyền truy cập công khai, tạm thời cho các quyền IP để hỗ trợ giải quyết khủng hoảng Covid-19, loại bỏ các rào cản tới tri thức và các phát minh để có thể cứu được nhiều cuộc sống và hạn chế thiệt hại trong hiện tại.      Dù in 3D là cách thức nhanh và chi phí thấp để tạo ra các thành phần thiết bị bảo vệ cá nhân nhưng cũng có những cách tốt hơn là sử dụng các công nghệ khác như cắt bằng lazer để chế tạo các thiết bị tin cậy và hiệu quả hơn – điều này đặc biệt đúng cho các thiết bị phức tạp hơn như mũ áp lực – PPH (Positive Pressure Helmet). PPH có thể cung cấp luồng không khí được lọc một cách vừa đủ cho người mang có thể hít thở một cách bình thường mà không lo nhiễm virus qua đường thở. Những chiếc mũ đặc biệt này đã được sử dụng trong các bệnh viện, nơi tràn nhập những bệnh nhân Covid-19, ví dụ như ở Ý, Anh, Tây Ban Nha… Thiết kế của mũ cho phép người mang có thể tự nới lỏng áp suất không khí lên các quạt khí, ngăn người ốm khỏi rơi vào cảnh hít phải không khí ô nhiễm trong các bệnh viện chật cứng người. Quy trình thiết kế và chế tạo mũ PPH phức tạp hơn nhiều so với tấm che mặt, do đó nó đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa các chuyên gia công nghệ và các chuyên gia y tế, nhiều nguyên liệu hơn, và đòi hỏi quá trình kiểm thử nhiều hơn để đảm bảo phần cứng đó thực sự an toàn và đáng tin cậy trước khi mở thiết kế của nó cho cộng đồng sử dụng.   Mở như thế nào để hữu dụng?  Một lần nữa, nhu cầu cần có các thiết bị y tế lại phụ thuộc vào bối cảnh dịch bệnh và khả năng của từng vùng. Trong một vài trường hợp, những ‘đơn đặt hàng’ qua kênh chính thức của chính phủ, các nhà quản lý ngành y, tuy nhiên rất nhiều trường hợp khác, nhiều “đơn đặt hàng” không qua kênh chính thức và được phân phối truyền tay qua các nhóm tình nguyện nhỏ hoặc các cá nhân, ví dụ như nhóm Coronavirus Makers ở Madrid, Tây Ban Nha. Nhóm nghiên cứu của André ở Lisbon, Bồ Đào Nha nhận các yêu cầu cung ứng PPE từ các nhân viên y tế địa phương. “Tất cả sự trợ giúp và yêu cầu đó là không chính thức”, ông giải thích, “Chúng tôi [những người tình nguyện] trao đổi từ xa hầu như mỗi ngày để chuẩn bị cho những cấp phát thiết bị vào ngày hôm sau cho những nơi cần chúng như các bệnh viện, các đồn cảnh sát…”.  Không may, những nỗ lực của các nhóm tình nguyện và các cá nhân lại ở cùng cảnh ngộ là hạn chế về con người và kinh phí – vì thế, họ không có khả năng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. André hy vọng vượt qua được thách thức bằng “việc phát triển các thiết kế mở in 3D để có thể phân phối vài ngàn [tấm che mặt] trong một vài giờ”. Bên cạnh đó, để giúp các nơi có thể không có sẵn nguyên liệu cần thiết cho quá trình in 3D này, ông cho rằng “cần tạo ra các phiên bản khác nhau cho nhiều loại nguyên liệu độ dày khác nhau và các quy trình khác nhau phù hợp với hoàn cảnh”.    Các thành viên tham gia Sáng kiến Chỉ một Phòng thí nghiệm khổng lồ mở Covid-19 (Just One Giant Lab OpenCovid19 Initiative).  Các thiết bị đó có đủ an toàn?  Trong bối cảnh đại dịch, bức tranh phần cứng y tế nguồn mở mang nhiều màu sắc với nhiều loại thiết kế khác nhau, có thể điều này khiến người ta phải bối rối là liệu thiết kế mở nào là an toàn và tin cậy. Có lẽ không thể phớt lờ được yếu tố quan trọng này, dù đang ở tình trạng khẩn cấp đi nữa. Thật may là nhiều thiết kế đạt được yếu tố này, ví dụ các thiết bị do Dự án Glia phát triển đã được Bộ Y tế Canada phê chuẩn. Tuy nhiên, không phải thiết kế nào cũng được như vậy bởi chúng phải trải qua một quy trình phê chuẩn mất nhiều thời gian.  Đây là rào cản mà các nhà phát triển công nghệ phải chú ý và không nên bỏ qua. Mọi người nên nhớ, ở nhiều quốc gia, thông tin và các quy định về an toàn xung quanh các thiết bị y tế cũng đều công khai và nên được tuân thủ. Ví dụ, Cơ quan Thuốc Liên bang Mỹ (FDA) liệt kê các tiêu chuẩn pháp lý cho một loạt các thiết bị trên website của họ, và để đối phó Covid-19, họ đã kiểm định thông tin đặc thù về các loại quạt và mũ.  Vì thế, trước hết cần cẩn trọng để đảm bảo các sản phẩm của họ là an toàn. Nhưng làm thế nào? André nhấn mạnh, “Tôi nghĩ mức cơ bản nhất để kiểm thử các giải pháp thiết kế của mình với sự tham gia của những nhà chuyên môn của ngành y địa phương. Mọi điều nên được những người chuyên nghiệp thẩm định Một vấn đề khác phải cực kỳ thận trọng trong thiết kế, chế tạo, đặc biệt với các dự án phức tạp thì sự tham gia của chuyên gia ngành y là cần thiết”. Nhóm của Darrell, ví dụ đã tới kiểm chứng hiệu quả thiết kế các tấm che mặt tại Bệnh viện Michael Garron ở Toronto trước khi mở các thiết kế. “Bệnh viện đã làm việc với nhà thiết kế tên là Shawn Lim, họ đã kiểm thử thiết kế này, và đã thấy có thể vệ sinh tấm che và an toàn để sử dụng trong bệnh viện”, Darrell giải thích, “Sau đó, chúng tôi đã đăng thiết kế lên trang web và hỏi ai có máy in phù hợp để đóng góp vào dự án. v.v. Kết quả là trong một buổi tối đã nhận được sự hưởng ứng để bước đầu có được gần 1.000 chiếc sẵn sàng mang tới tại bệnh viện vào ngày hôm sau”.  Có thể tìm kiếm các sáng kiến và thiết kế nguồn mở ở đâu?  Có hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn, các sáng kiến phần cứng nguồn mở khác nhau người ta có thể đóng góp và ngược lại có thể sử dụng thiết kế. Hiện tại có vài “kho” đáng tin cậy, bao gồm Appropedia, Wikifactory, và “Evaluation of Open Source Ventilators” của Public Invention, cũng như các nhóm thiết kế công nghệ như Helpful Engineering Group về cung cấp thiết bị y tế nguồn mở Covid-19 (OSCMS) trên Facebook. Just One Giant Lab (JOGL) cũng đã khởi xướng vài dự án theo Sáng kiến OpenCovid19 của họ. Cũng có nhiều sáng kiến và thiết kế đặc thù quốc gia hơn, như Breath4Life (Bỉ), Un Respiro (Argentina), Fast Jungle Face Shield (Panama), Make4Covid (Mỹ), VentilAid (Balan), Open Source Ventilator (Ireland), OxyGen (Tây Ban Nha), Open Source Against Covid -19 (Bỉ).  Theo André, môi trường mở vẫn còn khá hỗn loạn, trong đó thường để “lọt lưới” những sáng kiến và thiết kế “hớt tay trên” từ các sáng kiến đang phát triển các thiết kế mới qua những cộng tác chính thức giữa các trường đại học, các công ty, và các trung tâm nghiên cứu. “Thực sự rất khó để phân biệt được bản chất tự nhiên của các sáng kiến”, ông thừa nhận. “Chúng tôi không luôn biết được liệu chúng có là những thiết kế nguồn mở sẵn sàng hay không”.    Để tránh các vấn đề về sở hữu trí tuệ (IP), và làm rõ các kết quả của các cộng tác đó là nguồn mở, Creative Commons đang thúc giục các cá nhân, công ty, và các cơ sở nghiên cứu áp dụng một giấy phép nguồn mở hoặc dấu hiệu Cam kết Covid Mở (Open Covid Pledge) – nó trao quyền truy cập công khai, tạm thời cho các quyền IP để hỗ trợ giải quyết khủng hoảng Covid-19, loại bỏ các rào cản tới tri thức và các phát minh để có thể cứu được nhiều cuộc sống và hạn chế thiệt hại trong hiện tại.  Điều gì tiếp theo?  Tình hình hiện nay không lý tưởng cho phát triển nguồn mở. Sự bùng nổ các phần cứng thiết bị y tế nguồn mở chỉ trong một vài tháng trong bối cảnh đại dịch là chính kết quả trực tiếp của việc thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung thiết bị y tế trên khắp thế giới – và thật không may, các nỗ lực hiện nay dù hiệu quả đối với những vùng thiếu nguồn lực, thiếu khả năng quản lý nhưng lại rơi vào cảnh khó mở rộng phạm vi.   Không thể đoán trước được điều gì sẽ xảy ra cho tất cả phần cứng nguồn mở được phát triển liên quan tới Covid-19. Các thiết kế đó liệu sẽ trở thành các lựa chọn thay thế hợp pháp cho những ai thấy trên thị trường một khi đại dịch qua đi? Liệu chúng có được sử dụng để sửa lỗi “không phù hợp” cho các thiết bị y tế trên toàn cầu? Hay liệu chúng chỉ đơn giản được đại diện cho các các kho lưu trữ lịch sử kỹ thuật số? Có các câu hỏi quan trọng sẽ cần được kiểm nghiệm trong các tháng sắp tới.  Còn bây giờ, hãy làm việc.□    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Phần Lan: Khởi công nhà máy điện hạt nhân sau nhiều năm trì hoãn      Lò phản ứng hạt nhân Olkiluoto 3 của Phần Lan sau thời gian dài trì hoãn đã bắt đầu đi vào sản xuất thử nghiệm nhằm cung cấp điện cho lưới điện quốc gia. Theo dự kiến, khi lò phản ứng đi vào hoạt động, sẽ cung cấp lượng điện năng đủ để làm giảm nhu cầu nhập khẩu điện, đồng thời giảm giá điện xuống thấp hơn.      Khu vực nhà máy điện hạt nhân Olkiluoto ở Eurajoki, Phần Lan ngày 10 tháng 12 năm 2020. Một sự xáo trộn bất thường nghiêm trọng đã xảy ra tại Nhà máy điện hạt nhân Olkiluoto dẫn đến việc đóng cửa lò phản ứng ở tổ máy số 2. Lehtikuva/Tomi Glad/REUTERS  Lò phản ứng có công suất lên tới 1,6 gigawatt (GW) ban đầu dự kiến mở cửa vào năm 2009, trước khi vấp phải những vấn đề về công nghệ. Đây là nhà máy hạt nhân mới đầu tiên của Phần Lan trong hơn bốn thập kỷ và là nhà máy đầu tiên của châu Âu trong gần 15 năm qua.  Lò phản ứng Olkiluoto 3 đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm với công suất chỉ hơn 0,1 gigawatt, với sản lượng điện thường xuyên tăng lên tối đa theo kế hoạch. Công ty điều hành Teollisuuden Voima (TVO) cho biết: “Lò OL3 cải thiện đáng kể khả năng tự cung cấp điện của Phần Lan và giúp đạt được các mục tiêu về trung hòa carbon”.  Nhà kinh tế học Alexander Esser của Viện Nghiên cứu Aurora Energy Research chia sẻ với Reuters: “Lò Olkiluoto 3 sẽ giúp Phần Lan giảm sự phụ thuộc vào điện nhập khẩu và trở thành một khu vực giá rẻ hơn”.  Sau khi đi vào hoạt động, lò được kỳ vọng sẽ đáp ứng 14% nhu cầu điện của Phần Lan, giảm nhu cầu nhập khẩu điện từ Nga, Thụy Điển và Na Uy. Ông Esser cũng cho biết nhập khẩu điện ròng của Phần Lan đạt trung bình 13 terawatt giờ (TWh) trong vài năm qua, và sẽ giảm xuống còn 5-8 TWh vào năm 2025 với việc lò phản ứng Olkiluoto 3 đi vào hoạt động.  Năng lượng hạt nhân vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi ở châu Âu, với việc một số quốc gia như Đức đang loại bỏ dần các lò phản ứng do lo ngại về vấn đề an toàn, trong khi những quốc gia khác bao gồm Pháp và Anh đang thảo luận về những hướng phát triển mới.  Ông Marius Holm Rennesund, một đối tác của Công ty Tư vấn Thema có trụ sở tại Oslo, cho biết Phần Lan là quốc gia Bắc Âu duy nhất có thâm hụt điện năng lớn. Công ty Thema đưa ra dự đoán rằng giá điện bán buôn của Phần Lan sẽ giảm xuống 60 euro/megawatt giờ (MWh) vào năm 2023, từ mức trung bình được dự đoán là 70 euro/MWh vào năm 2022, mặc dù mức giảm dự kiến cũng bởi lý do giá khí đốt thấp hơn.  Ông Rennesund kì vọng vào năm 2024, giá bán buôn điện của Phần Lan có thể sẽ giảm thêm xuống còn 45 euro / MWh.  Trần Thiện Phương Anh dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/phan-lan-khoi-cong-nha-may-dien-hat-nhan-sau-nhieu-nam-tri-hoan-nham-ha-nhiet-cho-thi-truong-dien/    Author                .        
__label__tiasang Phần mềm chặn cuộc gọi lừa đảo của Bkav      Trước hiện tượng ngày càng nhiều người sử  dụng điện thoại tại Việt Nam đã bị mất tiền oan vì các cuộc gọi lừa đảo  từ điện thoại vệ tinh, ngày 10/10 Công ty An ninh mạng Bkav cho biết đã  tích hợp thành công công nghệ tự động chặn các cuộc gọi lừa đảo này vào  phần mềm bảo vệ Smartphone – Bkav Mobile Security.    Để lừa cước viễn thông, kẻ xấu dùng dải số quốc tế tạo cuộc gọi nhỡ vào điện thoại của người dùng. Dải số này thuộc Hệ thống vệ tinh di động toàn cầu (Global Mobile Satellite System – GMSS) và không thuộc bất kỳ quốc gia nào. Khi người sử dụng gọi lại, dù đầu dây bên kia chỉ mới đổ chuông, cước phí đã được tính với mức lên tới hàng trăm nghìn đồng. Các nhà mạng cũng không thể bảo vệ khách hàng, hoàn lại cước phí vì dải số không thuộc phạm vi quản lý. Điều này gây hoang mang cho người sử dụng.  Phần mềm do các chuyên gia của Bkav nghiên cứu có thể hỗ trợ cho tất cả các dòng điện thoại sử dụng hệ điều hành phổ biến như Android, iOS, Symbian, RIM (BlackBerry).  Để cài đặt phần mềm chặn cuộc gọi lừa đảo – Bkav Mobile Security, người sử dụng có thể cài từ các kho phần mềm tương ứng với điện thoại của mình. Cụ thể, với điện thoại dùng Android, người sử dụng có thể tải về từ Google Play, với BlackBerry tải về từ App World, với iOS có thể tải từ Cydia. Hoặc, có thể tải bộ cài từ website mobile.bkav.com.vn Nếu người sử dụng đã cài đặt phần mềm, Bkav Mobile Security sẽ tự động cập nhật phiên bản mới nhất để bảo vệ.  Ông Vũ Ngọc Sơn, Giám đốc bộ phận nghiên cứu của Bkav (Bkav R&D), nhận định: Các hình thức lừa đảo trên điện thoại di động sẽ ngày càng tinh vi hơn và tập trung vào việc khai thác trực tiếp tài khoản của người sử dụng. Chẳng hạn, lừa nhắn tin đến đầu số trả tiền, tự động gọi điện đến đầu số trả tiền hoặc giá cước cao. Người sử dụng cần trang bị cho mình phần mềm an ninh thường trực trên điện thoại để không chỉ chống virus mà còn ngăn chặn các tin nhắn rác và cuộc gọi lừa đảo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm dự đoán phán quyết của thẩm phán      Các nhà nghiên cứu ngành Khoa học máy tính trường ĐH London (UCL) đã phát triển một chương trình phần mềm có thể dự đoán kết quả của các phiên tòa thông qua ngôn ngữ được sử dụng cũng như qua chủ đề và tình huống được đề cập trong tài liệu vụ án.      Dựa trên tính năng có thể tìm thấy quy luật trong những quyết định rất phức tạp của con người, phần mềm trí tuệ nhân tạo (Artificial intelligence – AI) được dùng để dự đoán sở thích của khán giả về phim ảnh, chương trình truyền hình và âm nhạc với độ chính xác ngày càng cao.  Giờ đây, sau một nghiên cứu mang tính đột phá của một nhóm các nhà nghiên cứu ngành Khoa học máy tính trường UCL (Anh), phần mềm này còn có thể dự đoán được kết quả của các phiên tòa, vì thế nó còn được gọi là “thẩm phán AI”.   “Thẩm phán AI” có thể dự đoán chính xác kết quả trong hàng trăm vụ án trên thực tế nhờ vào khả năng đánh giá được những chứng cứ pháp lí và những câu hỏi đúng sai về đạo đức. Thậm chí “thẩm phán AI” còn đưa ra những phán quyết tương tự các đồng nghiệp của mình tại 4/5 vụ án liên quan đến tra tấn, ngược đãi và vi phạm quyền riêng tư thẩm tại tòa án châu Âu.  Vậy điều gì làm nên sự chuẩn xác của “thẩm phán AI”? Bí quyết của nó ẩn chứa trong một thuật toán có khả năng kiểm tra dữ liệu trong các văn bản được viết bằng tiếng Anh về 584 vụ án liên quan đến tra tấn, ngược đãi và vi phạm quyền riêng tư. Trong mỗi vụ án, phần mềm này đã tự đưa ra phán quyết dựa trên việc phân tích thông tin. So với kết quả các phiên tòa thì độ chính xác của “thẩm phán AI” đạt 79%.  TS. Nikolaos Aletras, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi không cho là AI có thể thay thế được vai trò của thẩm phán hay luật sư nhưng hy vọng họ sẽ nhận thấy nó hữu ích cho việc nhanh chóng xác định khuôn mẫu trong các vụ án, qua đó góp phần đưa đến những kết quả chắc chắn”.  “Phần mềm này cũng có thể là một công cụ có giá trị nêu bật được những vụ án liên quan đến công ước của châu Âu về quyền con người”.  Trong quá trình phát triển chương trình này, thậm chí nhóm nghiên cứu đã tìm ra một số phán quyết của tòa án về nhân quyền của châu Âu phụ thuộc vào những chứng cứ không hợp lệ hơn là những luận cứ hoàn toàn hợp pháp. Điều này đặt ra giả thiết rằng những thẩm phán của tòa ngả theo học thuyết “chủ nghĩa pháp lý hiện thực”1 nhiều hơn những người theo học thuyết “chủ nghĩa pháp lý hình thức”2. Điều này cũng đúng với những tòa án cấp cao khác, chẳng hạn như Tòa án tối cao Hoa Kỳ, theo những nghiên cứu đã được thực hiện trước đó.  Việc dự đoán những quyết định của tòa án nhân quyền châu Âu dựa trên chính ngôn ngữ được sử dụng cũng như chủ đề và tình huống được đề cập trong những tài liệu của vụ án. Đồng tác giả của nghiên cứu, TS. Dimitrios Tsarapatsanis, giảng viên Luật ĐH Sheffield, nói rằng đây là nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này. Nó đã chứng thực cho những kết quả của nghiên cứu khác về những yếu tố ảnh hưởng đến phán quyết của những tòa cấp cao, ông nói. “Cần tiếp tục theo đuổi và hoàn thiện nghiên cứu này thông qua việc kiểm tra nhiều dữ liệu hơn một cách có hệ thống”.  TS. Vasileios Lampos, một nhà khoa học máy tính tại UCL cũng cho biết thêm: “Những nghiên cứu trước đó dự đoán kết quả dựa trên bản chất của hành vi phạm tội, hoặc quan điểm xử án của mỗi thẩm phán, vì thế đây là lần đầu tiên phán quyết được dự đoán thông qua việc sử dụng phép phân tích tài liệu do tòa án chuẩn bị. “Chúng tôi hi vọng loại công cụ này sẽ nâng cao hiệu quả xét xử của những tòa án cấp cao nhưng để ứng dụng trong thực tế thì vẫn cần kiểm tra độ chính xác của nó trên cơ sở những điều khoản và dữ liệu của vụ án được đệ trình lên tòa”.  Các luật sư thì ngày càng tận dụng phần mềm để thực hiện những nhiệm vụ phức tạp như thế này nhiều hơn – chẳng hạn như có khả năng tìm kiếm những khái niệm hơn là những từ khóa đơn giản – để giảm thiểu thời gian cần thiết để quyết định xem tài liệu nào có thể liên quan đến vụ án.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2016/oct/24/artificial-intelligence-judge-university-college-london-computer-scientists  ————————————————————————————————————–  1. Chủ nghĩa hiện thực pháp lí (Legal Realism) cho rằng luật pháp là sản phẩm trực tiếp từ các phán quyết trong thực tế xử lý vụ việc của tòa án.   2. Chủ nghĩa hình thức pháp lí (Legal Formalism) cho rằng những phán quyết của tòa án là do những tiền lệ lập pháp có từ trước quyết định và phán quyết cùa tòa phải được đặt nền tảng trên sự áp dụng hợp lý các dữ kiện vào những qui tắc có trước này.       Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phần mềm giúp đơn giản hóa việc làm sạch môi trường      Các công ty đang bắt đầu trông cậy vào các  phần mềm cải tạo môi trường xanh hiện đang nở rộ để cân nhắc những tác  động môi trường và xã hội của các công tác vệ sinh, xử lý rác thải và  nhiều mặt khác.    Cách tiếp cận thông thường trong công tác vệ sinh môi trường là đảm bảo công việc này được thực hiện với chi phí thấp nhất có thể. Nhưng ngày nay, các công ty vận hành tốt phải xem xét một bộ tiêu chuẩn rộng hơn, bao gồm các vấn đề môi trường và xã hội như sử dụng nước, an toàn công cộng, những ô nhiễm và tiếng ồn gây ra trong công tác vệ sinh- và thậm chí phải xem xét liệu khu vực được vệ sinh có ý nghĩa văn hóa như thế nào đối với cộng đồng địa phương. Bằng cách tính đến những vấn đề liên quan đến bền vững này, các công ty đang cố gắng tránh những rủi ro có thể làm trì hoãn dự án, ví dụ như sự phản đối của dư luận hay những yêu cầu đánh giá tác động môi trường ngoài dự kiến từ các nhà quản lý.   Phần mềm cải tạo môi trường bền vững  Công ty tư vấn về môi trường Golder đã phát triển một công cụ quản lý công tác xử lý môi trường mang tên GoldSET, và đã sử dụng trong 150 dự án trên toàn thế giới trong vòng hai năm qua. Đây là một trong những phần mềm cải tạo môi trường có tính “xanh” và bền vững, đã xuất hiện từ cuối những năm 2000 để dẫn dắt các công ty trong các quyết định phức tạp mà các dự án liên quan tới đông đảo công chúng thường gặp phải.   Các chương trình phần mềm này cung cấp cho các công ty một phương pháp có hệ thống để xem xét một loạt các lựa chọn và chọn ra được phương pháp cải tạo cân nhắc đến các yếu tố kinh tế, công nghệ, môi trường và xã hội. Nhiều cơ quan điều hành như Tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ (US Environmental Protection Agency) và các nhà tổ chức nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường ở qui mô lớn như Quân đoàn Công binh Mỹ (US Army Corps of Engineers) đã phát triển các phần mềm này. Thậm chí còn có cả một nhóm chuyên nghiệp về ngành này là Diễn đàn cải tạo môi trường bền vững (Sustainable Remediation Forum – Surf).  Công ty vận tải hàng hóa đường sắt Canada CN đã bắt đầu kết hợp các yếu tố môi trường và xã hội vào những dự án vệ sinh môi trường năm 2007 như một phần của chương trình liên hiệp phát triển bền vững. Ngày nay đây là cách làm tiêu chuẩn cho tất cả các dự án kiểu này, Stella Karnis- nhà quản lý cấp cao về lĩnh vực môi trường  của công ty cho biết. Theo bà, phần mềm cung cấp cho công ty một cách tiếp cận nhất quán đối với những dự án trong  phạm vi hoạt động của mình và điều đó giúp họ hoạt động hiệu quả hơn.  Công cụ đánh giá các lựa chọn  Khi biết bãi chôn lấp của mình sẽ không còn đủ chỗ chứa trong 20 năm nữa, vùng Waterloo ở Ontario đã sử dụng phần mềm GoldSET để xây dựng một dự án tổng thể dài hạn về rác thải đô thị. Công cụ giúp những người đưa ra quyết định cân nhắc chi phí và lợi ích của những lựa chọn khác nhau, như bãi chôn lấp, xử lý nhiệt hoặc quá trình xử lý sinh học bằng máy móc như máy biến rác thải thành năng lượng.   Các bãi chôn lấp về cơ bản là phương pháp xử lý rác thải rẻ hơn, nhưng các nhà kế hoạch đã xem xét cả các yếu tố có thể đi kèm những giải pháp khác, ví dụ như giao thông đường bộ, tiếng ồn, mùi rác thải, sự ô nhiễm, tác động vào không gian xanh của địa phương và liệu một số bãi chôn lấp của Mỹ có thể đóng cửa trong tương lai – Donna Serrati, nhà quản lý kỹ thuật điều hành chất thải và chương trình cho khu vực chôn lấp chất thải, cho biết.  Waterloo hoàn thành dự án vào cuối năm 2013, chọn phương pháp xử lý nhiệt bởi vì phương pháp này là tối ưu nếu xem xét tổng thể các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, công nghệ.   Tuy vậy về bản chất, các loại phần mềm này là những công cụ ra quyết định mà không bị bó hẹp trong việc đánh giá các lựa chọn cho những dự án khắc phục môi trường. Trong một dự án, CN đã sử dụng một máy bơm tiêu hao nhiều năng lượng để tẩy rửa phần đất bị ô nhiễm dầu diesel tại Saskatchewan, Canada. Nhưng một phân tích về tác động lâu dài lên môi trường cho thấy, nếu kèm thêm xử lý sinh học đất sẽ giảm lượng chất thải và hạ thấp mức ô nhiễm không khí đáng kể. Ứng dụng mà CN sử dụng còn hỗ trợ cho công ty lưu lại các quyết định của dự án để trình với các nhà quản lý và cộng đồng địa phương.    Tuyên truyền bằng đồ họa  Phần mềm này cũng cho phép một nhóm định hướng kỹ thuật truyền đạt những ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp cho công chúng không mấy hiểu biết về công nghệ. Thay vì những dữ liệu kỹ thuật, nó trình bày số điểm ghi được ở mỗi mặt – môi trường, xã hội, kinh tế – với đồ họa minh họa đơn giản.    “Công vụ này cho phép chúng tôi trình bày một quá trình đưa ra quyết sách khá phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, dưới dạng đồ họa, gói gọn trong một áp phích để có thể tuyên truyền với các chính trị gia và công chúng. Và nếu họ muốn đào sâu thêm thông tin thì chúng tôi vẫn có thể cung cấp thêm”, Serrati cho biết.   Việc xem xét các vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội sẽ giúp các công ty tránh được những trở ngại không mong muốn, và có thể thúc đẩy họ xem xét đến những mặt tích cực tiềm năng của các dự án liên quan đến môi trường, Benoit Bourque, quản lý dự án về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu tại Golder, giải thích. Ông đề cập đến trường hợp một công ty quản lý rác thải đã quyết định vệ sinh một bãi rác hơn mức yêu cầu, bởi vì họ thấy chỉ phải thêm một ít chi phí mà lại có lợi hơn trong mối quan hệ với cộng đồng.   Với những chuyên gia phát triển bền vững, những công cụ phần mềm này cung cấp cách làm có hệ thống để liên kết những biện pháp về môi trường, xã hội trong việc điều hành công việc hàng ngày. Một phần mềm được thiết kế đặc biệt cho phép các công ty nắm được những cách làm tiên tiến nhất và theo dõi tác động từ quyết định của họ theo thời gian.       Ý tưởng đằng sau phần mềm này không chỉ giới hạn trong những dự án khắc phục môi trường. Nhiều ngành công nghiệp có thể được hưởng lợi từ quá trình xem xét các phương án giả định khác nhau để giải quyết những vấn đề phức tạp.   Thanh Nhàn dịch   Nguồn:http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/dec/03/tech-environment-sustainable-remediation-software       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm nguồn mở: Trên đường bảo vệ dữ liệu cá nhân      Sự ra đời của GDPR – Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (General Data Protection Regulation) của Liên minh châu Âu (EU) vào năm 2016 đã thay đổi to lớn cách xử lý các dữ liệu cá nhân của các công ty công nghệ. Thay vì lạm dụng dữ liệu của những người dùng, các công ty này phải trao cho họ gần như toàn quyền kiểm soát dữ liệu của bản thân mà các công ty thu thập, lưu giữ và xử lý. Nguồn mở có thể là một trong những giải pháp giúp các công ty tuân thủ được các yêu cầu của GDPR và tránh những hình phạt đáng tiếc khi không tuân thủ.    Nguon mo gdpr: Ảnh: Opensource.com  GDPR là Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (General Data Protection Regulation) của Liên minh châu Âu (EU). Đây được cho là một trong những quy định toàn diện nhất và tiên tiến nhất trong việc xử lý dữ liệu cá nhân, và đang thay đổi cách các tổ chức thu thập và sử dụng dữ liệu không chỉ ở các nước trong EU mà còn trên toàn thế giới.  Quy định này được mô tả trong một tài liệu 88 trang bao gồm các nguyên tắc và bổn phận phải tuân thủ khi thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân của các công dân của Liên minh châu Âu1. Nghị viện châu Âu ban hành GDPR vào tháng 4/2016 và quy định này có hiệu lực kể từ ngày 25/5/2018. Mặc dù quy định này chỉ áp dụng đối với những việc xử lý dữ liệu liên quan đến các công dân EU nhưng nó đã và đang thay đổi cách vận hành của nhiều công ty công nghệ – vốn là các công ty toàn cầu.  Dữ liệu cá nhân (personal data) trong GDPR được định nghĩa như là bất kỳ thông tin nào liên quan tới thể nhân được nhận dạng hoặc có khả năng nhận dạng được, bao gồm:  * thông tin có thể nhận dạng trực tiếp ai đó, cần hoặc không cần theo ngữ cảnh – đôi khi được gọi là “thông tin có khả năng nhận dạng được cá nhân” (ví dụ, mã số định danh quốc gia như số chứng minh thư, số hộ chiếu; tên; ngày sinh; địa chỉ thư điện tử).  * thông tin có thể gián tiếp nhận dạng được ai đó (ví dụ, tên công việc + công ty – “Giám đốc về Vật tư tại Công ty ABC”).  * thông tin có thể kết nối được tới một cá nhân xác định (ví dụ, các bài post trên mạng xã hội, các chi tiết đơn hàng, các chi tiết ngân hàng, thông tin y tế, các địa chỉ IP…).  GDPR hết sức khắt khe với các hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Theo đó định nghĩa về “xử lý” bao trùm gần như tất cả các hoạt động, ở bất kì thời điểm nào thực hiện liên quan đến dữ liệu. Điều này bao gồm thu thập, lưu giữ, truyền, xóa dữ liệu cá nhân và thậm chí cả truyền và xem dữ liệu, dù sử dụng hay không sử dụng các công cụ tự động.  Để hạn chế tối đa việc lợi dụng dữ liệu cá nhân. GDPR xác định bảy nguyên tắc chính về xử lý dữ liệu cá nhân. Trong đó, xử lý dữ liệu cá nhân phải hợp pháp, công bằng và minh bạch đối với chủ thể dữ liệu. Dữ liệu cá nhân cũng chỉ được thu thập ở mức tối thiểu, xử lý dữ liệu và lưu trữ dữ liệu trong khoảng thời gian phù hợp với các mục đích hợp pháp mà dữ liệu đó được thu thập. Hơn nữa, các dữ liệu thu thập phải được duy trì chính xác và cập nhật, đồng thời thực hiện mọi bước hợp lý để xóa hoặc sửa dữ liệu không chính xác. Việc xử lý dữ liệu phải đảm bảo tính bảo mật thích hợp. Người kiểm soát dữ liệu cá nhân phải có trách nhiệm giải trình trong việc chứng minh mình tuân thủ tất cả các nguyên tắc trên.    Phần mềm nguồn mở còn là một xu thế tất yếu, là điều kiện tiên quyết để phát triển Khoa học mở – phong trào nhằm giúp cho bất cứ ai có điều kiện kết nối internet đều có thể tiếp cận tri thức một cách bình đẳng, dễ dàng và miễn phí.    Đặc biệt, GDPR đề cập đến tính mở trong nguyên tắc đối với các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân2. Trong đó, các tổ chức này phải: Mở với mọi người về dữ liệu cá nhân nào họ đang thu thập; Mở với mọi người về cách thức họ sử dụng, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu cá nhân; Mở về các cơ chế trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng sai các dữ liệu cá nhân; Giải thích cho mọi người hiểu cách dữ liệu của họ được thu thập và sử dũng cũng cách thức mà các tổ chức đưa ra quyết định sau khi phân tích và xử lý dữ liệu cá nhân của họ; Kết quả của quá trình thu thập, sử dụng và xử lý dữ liệu cũng cần phải càng mở càng tốt.  Dữ liệu cá nhân và dữ liệu mở là hai khái niệm không loại trừ lẫn nhau. Khi xử lý dữ liệu cá nhân là các dữ liệu mở, phương pháp ẩn danh (Anonymisation) thường được sử dụng để không thể nhận dạng hoặc tái nhận dạng được các thể nhân từ các dữ liệu mở đó. Tuy nhiên, đây không phải là trọng tâm của bài viết này.  Tại sao phần mềm nguồn mở lại phù hợp với các quy định của GDPR?  Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở được định nghĩa là phần mềm với mã nguồn của nó được công khai sẵn sàng, theo cách thức kịp thời và thân thiện với người sử dụng, ở định dạng người và máy đọc được và sửa được, theo một giấy phép mở trao cho những người khác quyền để sử dụng, truy cập, sửa đổi, mở rộng, nghiên cứu học tập, tạo ra các tác phẩm phái sinh và chia sẻ phần mềm đó và mã nguồn, thiết kế và kế hoạch chi tiết của nó. Mã nguồn phải được đưa vào nội dung phát hành phần mềm đó và được lưu trong các kho truy cập mở và giấy phép được chọn phải cho phép các sửa đổi, các tác phẩm phái sinh và chia sẻ theo các điều khoản và điều kiện mở bình đẳng và tương thích.  Phần mềm nguồn mở đã trở thành một “bảo chứng” cho tính bảo mật của phần mềm. Đến năm 2022, 97% mã phần mềm thương mại có chứa nguồn mở. Sự hiện diện của thành phần nguồn mở trong một ứng dụng được coi là yêu cầu tối thiểu và bắt buộc đối với bất kì nỗ lực DevSecOps và AppSec nào3. Trong đó, DevSecOps là viết tắt của Phát triển (Development), Bảo mật (Security) và Vận hành (Operation), AppSec (App Security) là các quá trình kiểm soát nguy cơ về bảo mật trong suốt vòng đời của ứng dụng – từ khi thiết kế đến lúc kết thúc một sản phẩm.  Bảo mật dữ liệu, nhất là bảo mật dữ liệu cá nhân, là một trong những vấn đề quan trọng của bảo mật trong DevSecOps và AppSec. Vì rất nhiều ứng dụng được sử dụng để thu thập/phân tích/xử lý dữ liệu cá nhân của các công dân, bảo mật dữ liệu chắc chắn cũng là mối quan tâm của tất cả các bên liên quan tới các dự án Phần mềm nguồn mở trên thế giới, bao gồm cả những người làm chính sách về nó ở tất cả các mức quản lý.  Phần mềm nguồn mở còn là một xu thế tất yếu, là điều kiện tiên quyết để phát triển Khoa học mở – phong trào nhằm giúp cho bất cứ ai có điều kiện kết nối internet đều có thể tiếp cận tri thức một cách bình đẳng, dễ dàng và miễn phí. Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia thành viên của nó thông qua vào ngày 23/11/20214, khẳng định Khoa học Mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay. Trong đó, phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở là một trong năm thành phần của Kiến thức Khoa học Mở, điều được khuyến nghị cho các quốc gia trên thế giới ưu tiên đầu tư để ứng dụng và phát triển,  Mặc dù “phần mềm nguồn mở không tự nhiên bảo mật hơn so với phần mềm nguồn đóng sở hữu độc quyền. GDPR sẽ có tác động lớn tới cộng đồng phần mềm nguồn mở. Để tuân thủ quy định này, những người phát triển – các lập trình viên, hay những người sử dụng phần mềm nguồn mở, đặc biệt là các doanh nghiệp cần phải ý thức và khắc phục các lỗ hổng, rủi ro bảo mật liên quan đến rò rỉ thông tin cá nhân. Trên thực tế một trên 18 thành phần nguồn mở chứa những rủi ro bảo mật và 84% các dự án sử dụng nó không vá lỗi.5  Tuy nhiên, phần mềm nguồn mở có nhiều cơ hội hơn trong việc đáp ứng các yêu cầu khắt khe của GDPR, bởi hai bên đều chia sẻ các quan điểm về hợp pháp, công bằng, bình đẳng và tự do. Phần lớn các triết lý mà cộng đồng nguồn mở theo đuổi đều gắn liền với các nguyên tắc cơ bản của GDPR. Nếu phải thu thập dữ liệu cá nhân, đại đa số dự án nguồn mở cũng chỉ giới hạn trong mục đích hợp lí và chỉ ở mức tối thiểu. Mục đích của các dự án nguồn mở là để sửa chữa các lỗi lập trình chứ không phải để thu thập dữ liệu cá nhân. Hơn nữa, mọi dữ liệu cá nhân thu thập được cũng như toàn bộ mã nguồn đều cập nhật và công khai về mục đích của chúng.6  Mặc dù phần mềm nguồn mở không hoàn hảo “nhưng các hệ thống sẵn có để sửa lỗi cho phần mềm nguồn mở được lên kế hoạch, được triển khai, và được phân bổ nhân sự, tốt hơn nhiều” phần mềm nguồn đóng. Vì thế, “nếu bạn phải tin tưởng phần mềm bạn đã không kiểm tra, thì hãy chọn tin tưởng mã nguồn được phơi ra cho nhiều lập trình viên, những người có khả năng độc lập nói ra về các lỗi”7, vì theo Luật Linus, ‘Nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn’ (given enough eyeballs, all bugs are shallow)8.  Đối với mỗi phần mềm nguồn mở, hay nói chính xác hơn, đối với mỗi dự án phần mềm nguồn mở đúng nghĩa, thuộc sở hữu của cộng đồng dự án phần mềm nguồn mở đó, tất cả các hoạt động phát triển của nó đều là minh bạch sao cho bất kỳ ai cũng có thể soi xét được từng dòng mã lệnh của nó, và vì thế, bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra được mục đích của từng dòng mã lệnh của nó được viết ra để làm gì.  Khác với phần mềm nguồn mở, bản chất của các phần mềm nguồn đóng cùng mã nguồn của nó là thường phụ thuộc vào chỉ một công ty sở hữu độc quyền. Vì vậy, việc sử dụng các phần mềm và mã nguồn đóng là không dễ đưa ra sự minh bạch đủ để tuân thủ “Các nguyên tắc của tính mở đối với các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân” của GDPR như được nêu ở trên. Ví dụ, làm thế nào có thể biết mã nguồn của phần mềm nguồn đóng thực sự không làm những gì được coi là bất hợp pháp đối với các dữ liệu cá nhân, khi không ai có thể nhìn thấy mã nguồn của nó ngoài các lập trình viên của chính công ty phần mềm nguồn đóng đó?  Hiện nay, các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức nhà nước ngày càng có nhu cầu sử dụng các phần mềm, giải pháp phần mềm tuân thủ GDPR để tránh bị phạt, nhiều trong số chúng là các PMNM. Nếu phi phạm GDPR, số tiền phạt là 2% của doanh thu trên toàn cầu của công ty đó, bất kể công ty đó đặt trụ sở ở đâu.  Hơn nữa, việc sử dụng các phần mềm nguồn đóng và mã nguồn đóng, chắc chắn là đi ngược với xu thế không thể đảo ngược của thế giới trong phát triển Khoa học mở của UNESCO mà đã có 193 nước cam kết theo đuổi.□  Ảnh: Bảng 1: 17 dự án nguồn mở sẵn sàng với GDPR cho Doanh nghiệp (ERP, CRM, CMS, CHAT, Đám mây, Phân tích)9        PMNM  Magento  EspoCRM  SuiteCRM  Vtiger CRM  NextCloud      Giấy phép mở  OSL v3, AFLv3  GPLv3  AGPLv3  SUGARCRM PL v1.1.2  AGPLv3      PMNM  OwnCloud  RocketChat  ERPNext  Axelor ERP  Dolibarr ERP/ CRM      Giấy phép mở  AGPLv3  MIT  GPL  AGPLv3  GPLv3+      PMNM  Matomo  OWA  GrandNode  0 A.D.  WordPress      Giấy phép mở  AGPLv3  MIT  GPLv3  GPLv2  GPLv2+      PMNM  Zenario CMS  Jahia CMS            Giấy phép mở  BSD  GPLv3              Bảng 2: 5 công cụ phân tích tuân thủ với GDPR là PMNM10        PMNM  PostHog  Plausible  Countly  GoAccess  Matomo      Giấy phép mở  MIT  AGPLv3  AGPLv3  MIT  AGPLv3        —–  Chú thích  1EU, 27 April 2016: General Data Protection Regulation: http://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX:32016R0679  2Open Data Institute, 2018: Openness principles for organisations handling personal data: https://theodi.org/article/openness-principles-for-organisations-handling-personal-data/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://vnfoss.blogspot.com/2018/02/cac-nguyen-tac-cua-tinh-mo-oi-voi-cac.html  3Synopsys: 2022 Open Source Security and Risk Analysis Report: https://www.synopsys.com/content/dam/synopsys/sig-assets/reports/rep-ossra-2022.pdf, p.22  4UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  5Glyn Moody, 2/5/2018, https://www.linuxjournal.com/content/gdpr-takes-open-source-next-level  6Amye Scavarda Perrin 2021, https://open.mitchellhamline.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1101&context=cybaris  7Seth Kenlon (Red Hat), 09/02/2021: Understanding Linus’s Law for open source security: https://opensource.com/article/21/2/open-source-security. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/phan-mem-tu-do-nguon-mo/hieu-luat-linus-ve-bao-mat-cua-nguon-mo-431.html  8Lê Trung Nghĩa, 2021: Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 1): https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-phan-1-448.html, phần C. Mô hình phát triển của phần mềm nguồn mở.  9Hamza Musa, 10/03/2019: 17 GDPR-Ready Open source Projects for the Enterprise (ERP, CRM, CMS, CHAT, Cloud, Analytics): https://medevel.com/gdpr-opensource/  10Posthog: The 5 best GDPR-compliant analytics tools: https://posthog.com/blog/best-gdpr-compliant-analytics-tools    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Phan Thanh Sơn Nam: Chọn hướng nghiên cứu mới      GS. TS Phạm Hùng Việt (Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích, kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã chia sẻ với Tia Sáng những suy nghĩ của ông về GS. TS Phan Thanh Sơn Nam, nhà hóa học đầu tiên nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu, vốn được ông biết đến một cách tình cờ vào năm 2009, nhân đợt xét chức danh GS/PGS.      GS. TS Phan Thanh Sơn Nam (phải) và các thành viên của nhóm nghiên cứu.  Ảnh: NVCC.  Ứng viên PGS trẻ trong lĩnh vực thực nghiệm  Năm đó, so với những đợt xét chức danh GS/PGS trước, có điểm khác lạ: số hồ sơ của các cán bộ nghiên cứu trẻ tăng đột biến với hơn 20% là trẻ (độ tuổi dưới 40) và Phan Thanh Sơn Nam (Đại học Bách khoa TPHCM, ĐH Quốc gia Tp.HCM) xuất hiện như một điểm sáng. Cả hội đồng chức danh giáo sư liên ngành Hóa học – Công nghiệp thực phẩm đều chú ý đến trường hợp này vì Nam ít tuổi nhất –  32 tuổi. Một người ở tuổi đó “dám” nộp hồ sơ PGS cũng là mạnh dạn.  Chính vì Nam quá trẻ nên một số ủy viên Hội đồng băn khoăn khi xét duyệt vì cho rằng anh cần “chín” hơn nữa và có thời gian cống hiến nhiều hơn. Là thành viên Hội đồng, tôi có trao đổi với anh và được biết, con đường học vấn của anh khá thuận lợi: học đại học trong nước rồi làm tiến sỹ ở Anh, sau tiến sỹ ở Mỹ theo chương trình 322 trong vòng sáu năm. Qua trao đổi, tôi thấy Nam nắm kiến thức chuyên môn khá vững, việc trả lời rõ ràng, mạch lạc cũng cho thấy anh là người có trình độ và bản lĩnh.  Điểm trừ của Nam vào thời điểm đó là chưa có công trình gì đặc biệt nhưng tôi thấy anh có điểm đáng chú ý: theo đuổi hướng nghiên cứu tương đối mới và hứa hẹn nhiều đột phá về vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs), vốn “thừa hưởng” từ giáo sư Christopher W. Jones (Viện Công nghệ Georgia, Mỹ), thầy hướng dẫn Nam trong giai đoạn làm post-doc. MOFs là loại vật liệu xốp năng động kết hợp cả thành phần hữu cơ và vô cơ – một loại vật liệu lai, có cấu trúc dạng tinh thể trật tự ba chiều, khung cấu trúc đa dạng, có thể thay đổi kích thước cũng như hình dạng lỗ xốp và đa dạng nhóm chức hóa học bên trong lỗ xốp nên có khả năng “bẫy” các loại khí. Do tâm kim loại có hoạt tính xúc tác cho nhiều phản ứng hóa học nên MOFs thường được dùng làm xúc tác hoặc chất mang xúc tác. Nam tập trung nghiên cứu sử dụng Cu-MOFs làm xúc tác cho phản ứng ghép đôi theo con đường hoạt hóa trực tiếp liên kết C-H; sử dụng Cu-MOFs làm xúc tác cho phản ứng của các dẫn xuất aryl halide; sử dụng Ni-MOFs làm xúc tác cho phản ứng ghép đôi; sử dụng MOFs làm xúc tác cho phản ứng tạo thành hợp chất dị vòng; sử dụng MOFs làm xúc tác acid/base cho phản ứng hữu cơ.  Trong buổi họp cuối cùng nhận xét về từng ứng viên trước khi bỏ phiếu, tôi đã đề nghị Hội đồng nên xem xét và ủng hộ sớm cho các ứng viên trẻ, không nên coi việc bổ nhiệm chức danh như phần thưởng mà nên là tiêu chí đánh giá một giai đoạn trưởng thành của nhà khoa học. Việc trao danh hiệu sớm cũng có nghĩa là trao cho họ trách nhiệm nghề nghiệp và ý thức đào sâu nghiên cứu. Lần đó, Nam có đủ số phiếu công nhận để trở thành phó giáo sư trẻ nhất đợt phong GS/PGS cùng với một số nhà khoa học trẻ khác của ĐH Bách khoa Hà Nội như PGS. Huỳnh Đăng Chính, PGS. Lê Minh Thắng…  Tuy ít gặp Nam nhưng qua một số đồng nghiệp và vài lần trò chuyện với PGS. TS Phan Thanh Bình, giám đốc ĐH Quốc gia Tp.HCM lúc đó, tôi được biết sau đợt đó, anh đã được lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo Sở KH&CN Tp. HCM quan tâm đầu tư. Năm 2010, Đại học Bách khoa TPHCM đầu tư kinh phí cho anh thành lập phòng thí nghiệm riêng, sau nâng cấp thành Phòng thí nghiệm trọng điểm ĐH Quốc gia Tp. HCM về cấu trúc vật liệu. Những yếu tố “thiên thời, địa lợi” như vậy đã giúp Nam có điều kiện tập hợp lực lượng, gây dựng nhóm nghiên cứu… để thực hiện tốt một số đề tài được giao, qua đó có thêm nhiều công bố quốc tế đáng trân trọng.  Chọn hướng nghiên cứu mới  Với quyết tâm xây dựng nhóm nghiên cứu có thể “tự lực cánh sinh” thực hiện đề tài, Nam đã tìm và lôi kéo bằng được những người trẻ có tiềm năng trở về, trong đó “nặng ký” nhất là TS. Trương Vũ Thanh từ Mỹ và sau trở thành cánh tay phải của Nam trong công việc với chỉ số h-index là 14 (thông thường, h-index 12 đã là mốc khởi đầu của các PGS Mỹ). Với sự hỗ trợ này, Nam đã thực hiện nghiên cứu theo hướng mới tốt hơn: tác động vào liên kết C-H, hoạt hóa nó bằng việc chế tạo chất xúc tác. Từ trước tới nay, trong tổng hợp hữu cơ, người ta thường tránh liên kết C-H vì đây là liên kết tương đối bền vững nên chỉ tác động vào những liên kết yếu hơn, do đó quá trình tổng hợp phải qua nhiều bước trung gian, phải tạo nhóm chức cho các tiền chất, phân lập và tinh chế các hợp chất trung gian, khá tốn kém và tăng số bước. Việc lựa chọn phương án tác động trực tiếp vào liên kết C-H là cách làm hứa hẹn nhiều đột phá, điều đó đã được chứng minh ở công trình giúp anh nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017: “Tổng hợp propargylamine từ N-methylaniline và alkyne đầu mạch thông qua con đường methyl hóa và hoạt hóa trực tiếp liên kết C-H sử dụng vật liệu Cu2(BDC)2(DABCO) làm xúc tác” (Propargylamine synthesis via sequential methylation and C-H functionalization of N-methylanilines and terminal alkynes under metal-organic-framework Cu2(BDC)2(DABCO) catalysis) xuất bản trên tạp chí Journal of Catalysis có hệ số IF 7.354 và được SCImago xếp vào danh mục Q1.  Bẵng đi một vài năm, tôi bất ngờ gặp lại Nam tại Hội đồng khoa học ngành Hóa học, Quỹ Nafosted. Được bầu là thành viên hội đồng chứng tỏ uy tín của Nam trong cộng đồng ngành đã tăng lên bởi thông qua các công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín, nhiều người đã biết đến anh như một nhà nghiên cứu có năng lực. Qua các buổi xét duyệt đề tài của Quỹ Nafosted, tôi thấy Nam trưởng thành lên rất nhiều, tuy nhiên trước những “ca nhạy cảm”, có thể vì thấy mình còn ít tuổi nên anh vẫn còn ngần ngại và dè dặt trong đánh giá, đó cũng là biểu hiện của khiêm nhường và thận trọng – những đức tính tốt của nhà khoa học.  Năm 2014, Nam được phong chức danh giáo sư. So với năm năm trước, Nam tự tin hơn với số lượng công trình nhiều và có sức nặng chuyên môn của mình. Với cộng đồng khoa học, việc Nam là giáo sư trẻ nhất năm đó cũng khá “sốc” vì đây là lần đầu Hóa học – lĩnh vực nghiên cứu thực nghiệm, thường đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tích lũy nhiều năm kinh nghiệm, có giáo sư tuổi 37, điều trước đây chỉ có trong lĩnh vực Toán học.  Và giờ đây, Nam đã vinh dự nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017 với một “lần đầu tiên” khác: nhà hóa học đầu tiên trong danh sách các nhà khoa học được trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu. Đây là thành công từ những nỗ lực của anh, người đại diện cho một thế hệ các nhà nghiên cứu trưởng thành vào giai đoạn đổi mới của khoa học Việt Nam. Mong rằng với mốc Giải thưởng Tạ Quang Bửu, Nam sẽ có thêm nhiều động lực để nghiên cứu, mở rộng hơn nữa nghiên cứu của mình đến những đích xa hơn, đồng thời phát huy uy tín ở những sự kiện chuyên môn lớn của ngành Hóa quốc gia và quốc tế, được biết đến là thành viên báo cáo mời (invited speaker) hay cao hơn là báo cáo chủ chốt (key note speaker) tại các hội nghị quốc tế chuyên ngành… Chúng tôi xin chúc Nam tiếp tục cống hiến và đạt những thành công hơn nữa trong sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu khoa học của mình.       Thanh Nhàn ghi       Author                Phạm Hùng Việt        
__label__tiasang Phân tích cơn bão Ulysses trong tiểu thuyết của James Joyce      Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp dự báo hiện đại để phân tích các tập tài liệu cũ, từ đó khám phá mức độ nghiêm trọng của sự kiện – và hậu quả có thể xảy ra nếu cơn bão xuất hiện trở lại trong tương lai.     Bão Ulysses đã gây hư hại cơ sở hạ tầng và tàu thuyền khi nó quét qua Ireland và Vương quốc Anh từ ngày 26 đến ngày 27/2/1903. Ảnh: Reading University /NCAS/SWNS  Đó là một cơn bão có thật vào năm 1903, dữ dội đến mức quật ngã hàng ngàn cây cối, khiến nhiều người thiệt mạng. Cơn bão được James Joyce đề cập đến trong tiểu thuyết Ulysses – về sau mọi người đã lấy tên cuốn tiểu thuyết để gọi cơn bão này.  Tuy nhiên, mãi cho đến gần đây, các nhà nghiên cứu mới có thể khẳng định rằng cơn bão năm 1903 đã tạo ra những cơn gió mạnh nhất trong ít nhất một thế kỷ – đưa Ulysses trở thành một trong những cơn bão tồi tệ nhất từ trước đến nay.  “Chúng tôi biết cơn bão mà chúng tôi phân tích là một cơn bão lớn, nhưng chúng tôi không ngờ rằng dữ liệu sẽ cho thấy nó nằm trong số bốn cơn bão có sức gió mạnh nhất trên khắp nước Anh và xứ Wales,” Giáo sư Ed Hawkins, một nhà khoa học khí hậu tại Đại học Reading (Vương quốc Anh) và Trung tâm Khoa học Khí quyển Quốc gia, chia sẻ.  Nhóm nghiên cứu của ông đã phân tích các tài liệu về sự kiện thời tiết khắc nghiệt lịch sử – mức gió giật vượt quá 100 dặm/giờ ở một số khu vực – số hóa chúng và áp dụng các phương pháp dự báo thời tiết hiện đại. “Nghiên cứu này là một ví dụ tuyệt vời về cách các tài liệu giấy đã cũ có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các cơn bão trong nhiều thập kỷ qua. Giải mã những bí mật trong quá khứ sẽ thay đổi hiểu biết của chúng ta về những rủi ro mà thời tiết khắc nghiệt có thể gây ra trong hiện tại,” Giáo sư Hawkins lý giải.  Ông cho biết nếu cơn bão lặp lại trong tương lai, hậu quả sẽ tồi tệ hơn nhiều so với năm 1903 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khí hậu. “Chúng ta có thể dịch chuyển những sự kiện trong quá khứ này sang bối cảnh hiện đại, trong thế giới đang ấm lên”, ông dẫn chứng trong chương trình Today của BBC Radio 4. Ví dụ, chúng ta biết rằng mực nước biển đang dâng lên, vì vậy những cơn bão xảy ra trong quá khứ ngày nay sẽ gây thiệt hại nhiều hơn, bởi vì mực nước dâng do bão xung quanh bờ biển sẽ càng cao hơn.  “Ngoài ra, vì chúng ta sống trong một thế giới ấm hơn nên bầu khí quyển cũng ấm và ẩm hơn, do đó có nhiều hơi nước hơn. Và do đó, các cơn bão sẽ gây mưa nhiều hơn so với trước đây. “Nhờ những sự kiện trong quá khứ, chúng ta có thể hiểu những rủi ro đang thay đổi như thế nào theo thời gian khi thế giới đang nóng lên.”  Các nhà nghiên cứu cho biết vẫn còn nhiều cơn bão xảy ra trước năm 1950 chưa từng được xem xét, vì hàng tỷ dữ liệu chỉ tồn tại trên giấy. Đối với nghiên cứu này, họ đã phân tích cách bão Ulysses gây thiệt hại nặng nề cho cơ sở hạ tầng và tàu thuyền khi nó đi qua Ireland và Vương quốc Anh trong khoảng thời gian từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 2 năm 1903. Họ so sánh thiệt hại với các quan sát thời tiết độc lập, chẳng hạn như dữ liệu về lượng mưa, cũng như các bức ảnh và văn bản đương thời. Kết quả nghiên cứu đã được công bố vào ngày 24 tháng 4 trên tạp chí Natural Hazards and Earth System Sciences.  Hawkins tiết lộ ông dự định áp dụng phương pháp này cho các cơn bão lịch sử khác. “Chúng tôi vẫn còn rất nhiều nhật ký và hồ sơ viết tay ở Vương quốc Anh và Ireland, từ những năm 1800, đề cập đến rất nhiều cơn bão và các sự kiện khắc nghiệt khác trong quá khứ. Và do đó, việc tái tạo lại những cơn bão trước đây là một sáng kiến ​​đầy tiềm năng mà chúng tôi đang theo đuổi.”  Đây không phải là lần đầu tiên GS Ed Hawkins phân tích về dữ liệu thời tiết trong quá khứ. Năm 2022, sau khi Đại học Reading và 16.000 tình nguyện viên nỗ lực khôi phục 5,2 triệu dữ liệu khí tượng, các nhà khoa học có thể tra cứu thông tin lượng mưa quốc gia từ năm 1836 trở lại đây.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn:  1903 Storm Ulysses one of windiest ever in England and Wales, shows analysis  120-year-old storm’s secrets key to judging weather risks    Author                .        
__label__tiasang Phân tích dữ liệu lớn giúp dự đoán lây lan đại dịch trong tương lai      Trong đại dịch Covid-19, trí tuệ nhân tạo (AI) đã được sử dụng để hỗ trợ nâng cao năng lực chẩn đoán, phân phối các trang thiết bị y tế và hiện nay đang được nghiên cứu để dự báo về diễn biến Covid-19 trong tương lai.      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình học sâu để giúp dự đoán sự lây lan của COVID-19.  Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Ali Mostafavi ở Đại học Texas A&M đã phát triển một mô hình tính toán sử dụng trí AI và dữ liệu lớn về các hoạt động và di chuyển của dân cư để giúp dự đoán sự lây lan của Covid -19 trong tương lai.  Quá trình lây lan của đại dịch chịu ảnh hưởng từ các mối quan hệ phức tạp liên quan đến các yếu tố bao gồm sự di chuyển, hoạt động dân cư và đặc điểm về dân số học xã hội, v.v… Tuy nhiên, các mô hình dịch tễ  toán học điển hình chỉ tính đến một số trong rất nhiều các tác nhân liên quan ở trên. Ngược lại, mô hình học sâu do Mostafavi phát triển có thể giải thích mối quan hệ phức tạp giữa nhiều yếu tố tác động để dự báo phạm vi gia tăng lây nhiễm Covid -19 trong những ngày tới.  “Chúng tôi ngay lập tức nhận ra tiềm năng sử dụng AI để bổ sung cho các mô hình dịch tễ toán học hiện có”, Mostafavi nói. “Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của dữ liệu lớn và việc tận dụng những dữ liệu lớn này trong các cuộc khủng hoảng mang lại cơ hội lớn cho việc phát triển các mô hình và công cụ dựa trên dữ liệu để cung cấp thông tin chính sách”.  Mô hình học sâu của các nhà nghiên cứu tính đến các yếu tố như sự di chuyển của cư dân trong cộng đồng, dữ liệu điều tra dân số, dữ liệu về khoảng cách xã hội, mức tăng các ca bệnh trong quá khứ và nhân khẩu học xã hội để dự đoán sự gia tăng các ca Covid-19 ở mỗi vùng với độ chính xác 64%. Mức độ dự đoán chính xác cao nhất của mô hình là trong phạm vi bảy ngày, càng dự đoán tương lai xa hơn thì độ chính xác càng giảm đi.  Mô hình không chỉ đưa ra dự đoán với mức độ chính xác tương đối cao mà còn giúp đánh giá các chiến lược nào đang tác động đến tình hình dịch bệnh. Cụ thể, “mô hình này không xác định các chiến lược giảm thiểu và ứng phó cụ thể, nhưng nó có thể giúp đánh giá xem tại một thời điểm nhất định chiến lược nào – ở cấp tỉnh/ hạt có thể đem lại hiệu quả”, Mostafavi nói. Khi biết được điều đó, các cơ quan quản lý có thể thúc đẩy các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn. Ví dụ, nếu yếu tố quan trọng nhất quyết định đối với một hạt là tính di chuyển của cư dân, thì các cơ quan quản lý có thể cần phải khuyến khích mua hàng tại nhà.  Mô hình cũng có thể giúp đánh giá hiệu quả của các chính sách sau khi chúng đã được áp dụng. Mostafavi phát hiện ra rằng nhìn chung, các lệnh hạn chế đi lại bước đầu đã có hiệu quả — những người từ các tỉnh ít dân cư ít di chuyển đến các thành phố đông dân hơn, nhưng mức độ di chuyển bên trong các tỉnh đông dân không thay đổi nhiều.   Khi đại dịch bắt đầu, các nhà nghiên cứu xem các yếu tố liên quan đến đi lại, di chuyển là những yếu tố dự báo quan trọng cho số ca nhiễm, nhưng theo thời gian, họ thấy các đặc điểm khác như việc người dân thường xuyên đến các địa điểm ưa thích và đặc điểm nhân khẩu học xã hội là các yếu tố quan trọng hơn. Kết quả là việc làm hạn chế đại dịch rất phức tạp và không có chính sách nào là phù hợp tất cả mọi lúc mọi nơi.  Trong tương lai, phòng thí nghiệm của Mostafavi sẽ sử dụng các bộ dữ liệu mới để phát triển các loại mô hình khác nhau. Ngoài mô hình giám sát dự đoán quy mô dịch bệnh quốc gia hiện tại, nhóm đang nghiên cứu mô hình dựa trên trí tuệ nhân tạo giám sát quy mô thành phố để dự đoán số ca nhiễm theo từng mã zip bưu chính (zip-code level). Quan trọng hơn, họ muốn dự đoán đâu là các yếu tố ảnh hưởng đến từng mã zip, để các cơ quan quản lý có thể đưa ra các chính sách cụ thể cho từng địa điểm. Mostafavi cho biết thay vì đóng cửa các nhà hàng trong toàn bộ hạt, các quan chức có thể chỉ đóng cửa các nhà hàng trong các mã zip có rủi ro cao.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-09-harnessing-big-artificial-intelligence-future.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân tích mới để nhìn sâu hơn vào hạt neutrino trơ      Một kết quả mới từ thực nghiệm MicroBooNE tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Fermi của Bộ Năng lượng Mỹ để chứng minh về Mô hình chuẩn – lý thuyết phù hợp nhất hiện nay của các nhà khoa học về cách vũ trụ này vận hành. Mô hình này được giả định là có ba loại hạt neutrino. Trong hơn hai thập kỷ qua, loại neutrino thứ tư được đề xuất có lời giải thích hứa hẹn cho sự dị thường xuất hiện trong các thí nghiệm vật lý. Phát hiện ra hạt neutrino giả thuyết này có thể là một khám phá quan trọng và một cú chuyển cơ bản trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.    Phân tích mới đã so sánh dữ liệu của thí nghiệm với một mô hình có hạt neutrino trơ để kiểm tra sự tương thích của nó. Các nhà khoa học của MicroBooNE không tìm thấy bằng chứng của hạt neutrino trơ đã mong chờ từ lâu trong phạm vi tham số được khám phá.  Khả năng là các hạt neutrino trơ là nguyên nhân của những dị thường chưa được giải thích mà các thực nghiệm trước đã báo cáo. Nó bao gồm những đo đạc của Máy dò neutrino lỏng ở Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, thí nghiệm MiniBooNE tại Fermilab, và nhiều thí nghiệm neutrino hóa phóng xạ và lò phản ứng hạt nhân.  “Đây là lần đầu tiên chúng tôi kiểm tra xem liệu dữ liệu của chúng tôi có phù hợp với mô hình hạt neutrino trơ không”, Matt Toups, một nhà khoa học ở Fermilab và là đồng phát ngôn của MicroBooNE, nói. “Chúng tôi đã loại trừ các tiết diện lớn của neutrino trơ mà không gian tham số cho phép bởi LSND. Nhưng vẫn còn những góc nơi hạt neutrino trơ có thể có tiềm năng ẩn náu”.  Trong khi phiên bản cơ bản bậc nhất của hạt neutrino trơ đang ngày một trở nên ít thấy hơn thì những dạng khác tinh tế hơn của vật lý có thể có vai trò nhất định. Ví dụ, có thể là một hạt neutrino trơ có hoạt động trong sự kết hợp với thứ vật chất khác như vật chất tối chẳng hạn. Hoặc có thể là những giải thích hoàn toàn khác biệt cho những dị thường xuất hiện. Thứ vật lý chưa thể giải thích được liên quan đến hạt Higgs boson hoặc thứ vật lý khác nằm ngoài Mô hình chuẩn có thể là nguyên nhân dẫn đến điều này.  “Trong công trình này, chúng tôi tìm thấy một sự tác động qua lại quan trọng giữa sự xuất hiện và biến mất của hạt neutrino, vốn chưa từng được xem xét trong công trình thực nghiệm trước đây. Đó là một hệ quả quan trọng trong kết quả tìm kiếm của chúng tôi”, Xiangpan Ji, một nhà nghiên cứu postdoctor tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven của DOE và là đồng phụ trách phân tích này.  Giống các kết quả năm 2021, phát hiện mới chỉ sử dụng một nửa bộ dữ liệu của MicroBooNE. Các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục nhìn vào các tín hiệu neutrino tiềm năng trong những phân tích tương lai. Họ sẽ mở rộng phân tích của mình cho toàn bộ bộ dữ liệu.  Máy dò MicroBooNE nặng 170 tấn thu thập dữ liệu từ năm 2015 đến 2021. Nó ghi nhận hàng trăm nghìn hình ảnh 3 D chi tiết một cách ngoạn mục về các sự kiện neutrino. Gần 200 nhà nghiên cứu từ 39 viện nghiên cứu từ năm quốc gia xây dựng và vận hành thực nghiệm này, giờ họ đang cùng nhau phân tích dữ liệu. Nhóm hợp tác chờ đợi thông báo những kết quả đầu tiên từ trọn bộ dữ liệu vào năm 2023.  MicroBooNE là một trong ba máy dò hạt từ Chương trình Neutrino đường chuẩn ngắn của Fermilab.  ICARUS và máy dò gần đường chuẩn ngắn là hai máy dò còn lại. Kết hợp lại, chúng có thể cho phép khám phá chi tiết về các đặc tính của hạt neutrino. Cụ thể, họ kiểm tra các dao động neutrino tại những mức năng lượng thấp và các khoảng cách ngắn. Các nhà khoa học hi vọng những đo đạc kết hợp của ba máy dò này sẽ giải quyết hoàn toàn những dị thường trong đo đạc hạt neutrino mà LSND và MiniBooNE đã quan sát được.  Sang năm, các nhà khoa học MicroBooNE cũng chờ đợi báo cáo về các mô hình neutrino trwo bawngg việc sử dụng dữ liệu từ hai chùm tia neutrino với những năng lượng khác nhau, một đặc điểm độc đáo của phức hợp máy gia tốc ở Fermilab. Cho đến lúc đó, kết quả này của MicroBooNE phụ thuộc vào các hạt neutrino được cung cấp bởi Booster Neutrino Beam của Fermilab, vốn tạo ra bằng các proton với năng lượng 8 tỉ billion electron volts (GeV). Nhưng máy dò MicroBooNE cung ghi nhận những tương tác  của các hạt neutrino từ máy gia tốc Main Injector ở Fermilab, tạo bởi các proton với năng lượng 120-GeV.  “Năng lực khám phá các hạt neutrino và các tương tác hiếm của chúng tôi sẽ được tăng  cường khi chúng tôi có thêm dữ liệu từ chùm Main Injector neutrino”, Hanyu Wei, giáo sư vật lý tại trường đại học bang Louisiana và đồng phụ trách phân tích về hạt neutrino trơ, cho biết. “Sự tác động qua lại giữa dữ liệu hai chùm tia sẽ rất thú vị và không chỉ là thống kê”.  Thêm vào việc cân nhắc câu hỏi về hạt neutrino trơ, MicroBooNE sẽ còn tìm kiếm những hiện tượng khác nằm ngoài Mô hình chuẩn và đem lại những đo đạc chính xác về cách các hạt neutrino tương tác với vật chất.  “Các hạt neutrino sẽ tiếp tục là một trong những hạt lạ nhất và thú vị nhất ở ngoài kia. Chúng là một trong những cơ hội đẹp nhất của chúng ta để nghiên cứu về thứ vật lý mới nằm ngoài Mô hình chuẩn”, Justin Evans, nhà khoa học tại trường đại học Manchester và là đồng phát ngôn của MicroBooNE, nói. “Có nhiều thứ vật lý neutrino đáng kinh ngạc mà MicroBooNE có thể phát hiện. Chúng tôi vô cùng hào hứng để thấy cái gì đang chờ mình trong dữ liệu này”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-analysis-closer-sterile-neutrino.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/06/220616152504.htm    Author                .        
0.0334075723830735
__label__tiasang Phản ứng chính sách trong Cách mạng công nghệ 4.0: Nhìn từ khía cạnh tiền điện tử      Liệu các chính sách của Việt Nam có đủ linh hoạt trước sự bùng nổ của các sản phẩm công nghệ thời đại 4.0 hay Việt Nam sẽ bị chậm lại trong cuộc đua này?    Thận trọng với Bitcoin  Nếu startup là một trào lưu thì Bitcoin đã trở thành một cơn sốt, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới, ngay cả khi thị trường đã chứng kiến sự lao dốc của hầu hết các đồng tiền mã hóa từ cuối năm 2017. Ngay từ năm 2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra thông cáo về việc không chấp nhận Bitcoin như một phương tiện thanh toán. Gần đây, những người sở hữu Bitcoin băn khoăn về việc áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 (gọi tắt là “BLHS 2015”) và Nghị định 96/2014/NĐ-CP (gọi tắt là “Nghị định 96”) liên quan tới việc xử phạt và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp. Có ý kiến còn cho rằng từ ngày 01/01/2018 (thời điểm BLHS 2015 có hiệu lực), những người mua bán Bitcoin sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề này cần phải được phân tích rõ từ khía cạnh pháp lý.  Theo BLHS 2015, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự[1]. Tương tự, Nghị định 96 quy định phạt tiền đối với hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp[2]. Cần lưu ý rằng chủ thể thực hiện hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp có thể là các cá nhân, tổ chức nói chung mà không chỉ là các tổ chức tín dụng hay cá nhân làm việc trong các tổ chức này. Với các quy định hiện hành tại Nghị định 96 và BLHS 2015, cần thiết phải làm rõ hai vấn đề: (i) phương tiện thanh toán như thế nào bị coi là không hợp pháp; và (ii) hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán được hiểu như thế nào?  Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước[3]. Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không được liệt kê ở trên[4]. Điều này cũng phù hợp với nội dung thông cáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc khẳng định Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.  Trong khi hành vi “phát hành” và “sử dụng” phương tiện thanh toán dường như có vẻ khá rõ ràng thì hành vi “cung ứng” lại khó xác định hơn. Lấy ví dụ, A bán Bitcoin cho B (bán một Bitcoin hay nhiều Bitcoin, có thể bán một lần duy nhất hoặc bán thường xuyên) và B sử dụng Bitcoin để thanh toán phí dịch vụ cho C thì hành vi của A có bị coi là cung ứng phương tiện thanh toán không hợp pháp hay không? Đây là một khoảng mờ trong quy định pháp luật hiện hành và rất cần thêm các hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật hoặc giải thích thông qua án lệ của tòa án.  Bên cạnh việc xác định các hành vi có nguy cơ vi phạm pháp luật liên quan tới Bitcoin, một trong những vấn đề pháp lý nổi cộm khác liên quan tới Bitcoin nói riêng và các đồng tiền mã hóa nói chung là sự cần thiết phải phân biệt rõ Bitcoin như một phương tiện thanh toán với Bitcoin như một loại tài sản, trên cơ sở đó bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của các bên trong giao dịch mua bán Bitcoin. Vì Bitcoin chưa được thừa nhận như một loại tài sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam nên các hợp đồng mua bán Bitcoin cũng không phải là một giao dịch dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc tranh chấp liên quan tới hợp đồng mua bán Bitcoin cũng không được tòa án giải quyết. Đây là một khoảng trống pháp lý vào thời điểm hiện tại và sẽ còn phải mất khá nhiều thời gian để lấp đầy.  Khoảng trống với ICO  Bitcoin và công nghệ blockchain kéo theo nhiều xu hướng kinh doanh mới, trong đó đặc biệt phải kể tới ICO (Initial Coin Offering – tạm dịch là chào bán đồng tiền mã hóa ra công chúng). ICO là hình thức mà một công ty/nhóm kêu gọi vốn đầu tư thông qua việc phát hành một mã tiền mã hóa (token) để bán cho nhà đầu tư và huy động vốn. Có trường hợp số token mà các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua đại diện cho cổ phần của doanh nghiệp phát hành token, trong trường hợp này token sẽ có giá trị tương tự như cổ phiếu và ICO khá giống với IPO (chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng). Tuy nhiên, có những trường hợp token chỉ giống như một voucher trả trước cho một số dịch vụ cung cấp bởi đơn vị thực hiện ICO trong tương lai hay chỉ giống như một giấy xác nhận vay nợ mà chủ nợ là nhà đầu tư và con nợ là doanh nghiệp thực hiện ICO. Cần nhấn mạnh rằng các dự án ICO rất đa dạng khi nhìn từ khía cạnh pháp lý, điều này có thể nhận thấy phần nào qua giá trị đại diện của token như đã nêu. Tại Việt Nam, do chưa thừa nhận giá trị pháp lý của tiền mã hóa nên việc huy động vốn thông qua việc phát hành token cũng không được thừa nhận. Một số quốc gia khác đã có các động thái chính sách liên quan tới ICO (như Hoa Kỳ, Canada, Singapore, Trung Quốc hay Nhật Bản) cũng rất thận trọng trong việc đưa ra các phán quyết liên quan.  Vào tháng 07 năm 2017, Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đã xác định  DAO token – một mã tiền mã hóa phát hành năm 2016 bởi “The DAO”[5] – là một hình thức của chứng khoán theo luật pháp Hoa Kỳ và hoạt động chào bán DAO token phải được đăng ký theo pháp luật về chứng khoán[6]. SEC nhấn mạnh các quy định về đăng ký chào bán chứng khoán được áp dụng bất kể bên phát hành là các tổ chức truyền thống hay tổ chức “ảo” (“virtual organization”), bất kể chứng khoán được mua bán sử dụng đồng đô-la Mỹ hay các đồng tiền mã hóa. Tuy nhiên, SEC cũng nhấn mạnh rằng việc kết luận các hoạt động ICO có phải tuân thủ theo pháp luật về chứng khoán của Hoa Kỳ hay không phụ thuộc vào dữ kiện và hoàn cảnh của từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, để chứng minh DAO token là một dạng chứng khoán, SEC đã phải xem xét nhiều yếu tố như việc áp dụng các nguyên tắc của luật chứng khoán đối với các tổ chức “ảo” như “The DAO”, sự tồn tại của các hợp đồng đầu tư, mong muốn lợi nhuận của các nhà đầu tư, nỗ lực của các bên trong việc tạo ra lợi nhuận…[7]. Tương tự như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh (United Kingdom) cũng khẳng định rằng tùy thuộc vào cấu trúc của ICO, các hoạt động này có thể được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về IPO, phát hành cổ phần riêng lẻ (private placement of securities), quỹ đầu tư tín thác (collective investment schemes) hay gọi vốn cộng đồng (crowdfunding).  Rõ ràng, xây dựng chính sách điều chỉnh ICO tại Việt Nam là một vấn đề rất phức tạp. Tương tự như trường hợp Bitcoin, chừng nào ICO vẫn là một khoảng trống trong khung pháp luật Việt Nam thì các nhà đầu tư vẫn còn phải chấp nhận rủi ro rất lớn khi đầu tư theo hình thức này và Nhà nước sẽ còn tiếp tục phải gánh chịu các thiệt hại từ thất thu thuế hay các hoạt động rửa tiền.  Thách thức cho việc xây dựng chính sách  Tính kịp thời trong việc ban hành chính sách luôn là một trong các yếu tố quyết định sự thành côngcủa chính sách đó, đồng thời cũng là một thách thức đáng kể với các cơ quan có thẩm quyền. Điển hình như liên quan tới tiền mã hóa, vào tháng 08 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo…[8]. Theo đó, dự kiến, đến cuối năm 2020, Bộ Tư pháp sẽ phải hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo. Như vậy, dự kiến sẽ mất hơn 3 năm để Việt Nam đưa ra được một khung chính sách cơ bản đối với tiền mã hóa trong khi nhiều quốc gia đã dẫn trước Việt Nam trong vấn đề này. Cũng có khả năng vào thời điểm 2020, tiền mã hóa đã không còn phổ biến và nhu cầu của xã hội lúc đó là sự cần thiết điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới phát sinh dựa trên nền tảng công nghệ blockchain, ví dụ như hợp đồng thông minh (smart contract).  Xây dựng chính sách bắt kịp với sự phát triển của công nghệ là một thách thức không chỉ với Việt Nam mà với nhiều quốc gia khác. Ở nước ta, công tác xây dựng pháp luật mới được thực sự quan tâm trong khoảng 20-25 năm trở lại đây. Sự thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng chính sách kết hợp với bối cảnh nhiều quan hệ xã hội mới được định hình đã dẫn tới sự lúng túng của các nhà làm luật[9]. Bên cạnh áp lực về ban hành các chính sách kịp thời, cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 có thể sẽ còn thách thức các nhà làm chính sách hơn khi đòi hỏi họ phải hiểu cả về công nghệ để có thể nhìn ra được bản chất của quan hệ xã hội bất kể “lớp vỏ” của các công nghệ liên quan phức tạp như thế nào. Lấy ví dụ với mô hình của đồng Bitconnect mới sụp đổ, khi gạt bỏ những câu từ hoa mỹ miêu tả công nghệ của Bitconnect, suy cho cùng về bản chất đây chính là một hình thức huy động vốn theo mô hình đa cấp (MLM lending).  Sự nhìn thấu bản chất vấn đề sẽ khiến cho các nhà làm chính sách không còn bị động trước sự phát triển phi mã của công nghệ tân tiến. Quay trở lại ví dụ về DAO token, Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ đã áp dụng các đạo luật từ các năm đầu của thế kỷ 20 để áp dụng cho mối quan hệ xã hội vào đầu thế kỷ 21. Liệu có phải các nhà lập pháp đã tiên đoán trước về sự xuất hiện của Bitcoin từ gần 100 năm trước? Câu trả lời là không. Vấn đề mấu chốt ở đây là giá trị của các đạo luật của Hoa Kỳ không dừng lại ở các quy định thành văn mà còn nằm ở các án lệ, các giải thích của thẩm phán về điều luật liên quan qua từng thời kỳ. Nhận thức được tầm quan trọng của án lệ trong việc khắc phục các khoảng trống pháp lý, ở Việt Nam, án lệ đã bắt đầu được công bố từ năm 2016 (tính đến thời điểm 15/02/2018 có tổng cộng 16 án lệ có hiệu lực). Các án lệ này sẽ là nguồn phong phú để lấp các lỗ hổng pháp lý trong quá trình lập pháp. Tuy nhiên, án lệ không phải là công cụ vạn năng và trách nhiệm của các nhà lập pháp vẫn rất nặng nề trong bối cảnh các quan hệ xã hội mới đang hình thành và thay đổi từng ngày.  Đồng tiền mã hóa có thể thay thế đồng tiền phát hành bởi các Chính phủ; fintech có thể thay thế thiết chế ngân hàng truyền thống; hợp đồng thông minh có thể thay thế cho luật sư, trọng tài, thẩm phán; thậm chí chính sách có thể được viết ra bởi trí tuệ nhân tạo– đó đều là những viễn cảnh có khả năng xảy ra trong tương lai. Trước mắt, có một điều khó có thể phủ nhận là cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tiếp tục dẫn trước và sẽ còn dẫn trước rất xa các văn bản pháp luật.Suy cho cùng, cái mới thay thế cái cũ là quy luật tất yếu của mỗi cuộc cách mạng và các nhà làm chính sách cũng phải tự thay đổi mình để bắt kịp với tốc độ phát triển của xã hội. Chúng ta kỳ vọng vào một sự nhất quán trong các phản ứng chính sách từ phía Chính phủ và hy vọng tình trạng “nói một đằng làm một nẻo” sẽ không xảy ra./.            [1] BLHS 2015, Điều 206, khoản 1, điểm h      [2] Điều 27 của Nghị định 96 quy định phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi này      [3] Văn bản hợp nhất 43/VBHN-NHNN năm 2016 hợp nhất Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, Điều 4, khoản 6      [4] Văn bản hợp nhất 43/VBHN-NHNN năm 2016 hợp nhất Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, Điều 4, khoản 7      [5] Một dạng thức tổ chức tự trị phi tập trung – Decentralized Autonomous Organization, hay còn gọi là một tổ chức “ảo” – virtual orgazization      [6] Xem thêm tại U.S. Securities and Exchange Commission, Investor Bulletin: Initial Coin Offerings, https://www.sec.gov/oiea/investor-alerts-and-bulletins/ib_coinofferings      [7] Xem thêm tại Securities and Exchange Commision, Securities Exchange Act of 1934, Release No. 81207/July 25, 2017, Report of Investigation Pursuant to Section 21(a) of the Securities Exchange Act of 1934: The DAO https://www.sec.gov/litigation/investreport/34-81207.pdf      [8] Xem Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, Thủ tướng yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý quản lý tiền ảo, http://www.thesaigontimes.vn/163977/a.html      [9] Tờ trình Chính phủ Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp, tháng 06/2014        Author                Nguyễn Thùy Dương        
__label__tiasang Pháp luật Tào Tháo      Chuyện này rất nhiều người biết, nhưng có thể nhiều người không nhớ, vì vậy tôi xin kể lại. Chuyện rằng thời Tam Quốc, Ngụy, Thục, Hán đánh nhau. Để có thể thành công, họ đều trên thì mượn tiếng phụng sự Thiên tử, dưới thì tìm mọi cách để được lòng dân.      Một hôm, Tào Tháo dẫn quân đi qua một cánh đồng lúa chín vàng. Một ý nghĩ loé lên trong đầu con người nổi tiếng mưu lược này. Từ trên chiến xa thống lĩnh trung quân, một quân lệnh ban ra: “bất cứ ai làm nát lúa của dân sẽ bị chém đầu”.   Tào Tháo nhếch mép với cái cười mơ hồ: “Lệnh ấy đồn tới dân chúng, ai chẳng khâm phục con người vĩ đại biết lo cho dân. Mọi trái tim, khối óc sẽ hướng về ta. Tuy nhiên ta có vội vàng không nhỉ. Đấng quân vương không được làm trái lời mình. Ngộ nhỡ có ai trong đám kiêu binh, cận thần vi phạm, lúc ấy thì sao. Dân thì cần thật đấy nhưng mà còn xa. Đám cận thần mà có một kẻ bị tội vì mấy bông lúa vớ vẩn thì chúng sẽ xa rời ta mất.   Tiếng hô truyền lệnh của người túc vệ làm con ngựa kéo chiến xa của Tào Thừa tướng vùng chạy khiến người lính đánh xe không kịp trở tay. Chiếc chiến xa phá nát một khoảnh lúa rồi mới dừng lại được. Nghiêm lệnh vừa ban đã phải thi hành. Thừa Tướng là bậc tôn quý, không thể bình phẩm chứ đừng nói đến xét xử. Điều đáng tiếc là người lính đánh xe là em trai người thiếp yêu quý nhất của Tào Tháo. Quân lệnh như sơn, không thể tha được. Một hội đồng xét xử dã chiến được thành lập, đó là những người tâm phúc của Tào Thừa tướng.   Xin trở về thời hiện tại để nói với độc giả rằng các sử gia đã sai sót khi viết rằng chính Tào Tháo cưỡi ngựa làm nát lúa; ông tự nhận lỗi và xét xử mình và sau một hồi được các quan can ngăn liền rút gươm cắt tóc vứt xuống đất để thay việc chặt đầu như một biện pháp chấp hành. Một người như Tào Thừa tướng mà lại dùng một biện pháp xoàng xĩnh để hòng mua được lòng dân ư? Không, giải pháp xứng đáng với tầm cỡ của ông ta phải hoàn hảo đến mức không để cho ông hoặc những người mà ông ưa thích bị rụng một sợi lông kia.  Lại nói tiếp chuyện diễn ra tại trung quân của Tháo, tả tướng Tào Hồng được triệu kiến và bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng xét xử. Theo quy trình, sáu ủy viên khác được chính tay Tào Hồng chỉ định. Vậy là Hội đồng gồm bảy người đã được thành lập. Ba quân nhận nghiêm lệnh chỉnh đốn đội ngũ chứng kiến xét xử.  Sự kiện đã rõ, chiến xa làm nát lúa, vậy kẻ nào có tội? Hai kẻ liên đới là tên lính đánh xe và con ngựa. Biểu quyết phán tội cho tên lính đánh xe đưa ra, năm trên bảy phiếu phản đối. Đáng thương thay cho hai phiếu tán thành vì không biết người đánh xe là em trai thiếp yêu của Tào Công. Tuy vậy, đa số phiếu cho là vô tội cho nên Hội đồng phán quyết rằng y không có tội.  Kẻ tội đồ cuối cùng là con ngựa. Bảy trên bảy ủy viên gồm cả Chủ tịch Hội đồng nhất trí do con ngựa bất trị đã làm nát lúa. Thế là đã rõ, thời chiến không thể tranh luận dài dòng. Con ngựa phải chịu chết chém. Nghiêm lệnh phải được thực thi nghiêm ngặt. Một nhát đao đưa và đầu con tuấn mã trung thành đã rơi xuống đất bên cạnh bốn vó còn chưa kịp khuỵu xuống.  Đầu con ngựa bị chém vẫn mở mắt trừng trừng. Nó là con ngựa dũng mãnh biết bao, trung thành biết bao. Chỉ cần một tiếng hô xung trận là lao tới không ngại ngần đường tên, mũi giáo, lấy người che cho chủ tướng. Tuy nhiên, những công trạng ấy không thấm là bao so với công trạng cuối cùng này – nó vừa giải thoát ông chủ khỏi một tình thế tiến thoái lưỡng nan vừa viết vào lịch sử một cái tên mới cho ông chủ của nó: kẻ gian hùng nhất mọi thời đại.   Lại nói đến chuyện hai tên tiểu tướng của Tào Hồng đã biểu quyết tên lính đánh xe có tội. Cả hai sau đó đã được điều chuyển từ kỵ binh sang thủy binh và hi sinh oanh liệt trong trận Xích Bích. Đây là chuyện kể do đó nếu có nội dung không khớp với lịch sử thì xin độc giả đại xá không truy cứu.              BÙI ĐẠI DŨNG   Dịch từ tạp chí nước ngoài    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện bằng chứng đầu tiên về dấu vân tay mực nước biển      Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở Đại học Harvard đã phát hiện ra bằng chứng đầu tiên về sự thay đổi mực nước biển do băng tan, được gọi là dấu vân tay mực nước biển. Đây có thể là chìa khóa để dự đoán sự thay đổi của mực nước biển trong tương lai trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.     Khi các tảng băng tan chảy, một hiện tượng kì lạ và phản trực quan sẽ diễn ra với mực nước biển. Theo logic thông thường, hầu hết mọi người nghĩ rằng mực nước ở khu vực gần khối băng tan sẽ tăng lên – trên thực tế, chúng giảm xuống. Tuy nhiên, ở cách nơi đó hàng ngàn dặm, mực nước lại tăng lên. Điều này xảy ra do lực hấp dẫn kéo về phía tảng băng bị mất đi, khiến nước phân tán ra xa. Các mô hình này được gọi là dấu vân tay mực nước biển bởi vì mỗi sông băng hoặc tảng băng tan chảy có tác động hoàn toàn khác biệt đến mực nước biển. Khoa học về mực nước biển hiện đại đã xây dựng các yếu tố liên quan đến khái niệm này hơn một thế kỷ nay. Đây cũng là cốt lõi cho thấy mực nước biển toàn cầu không tăng đồng đều. Dù được chấp nhận rộng rãi, song lý thuyết này lại gặp phải một vướng mắc từ lâu: các nhà nghiên cứu chưa bao giờ phát hiện được dấu vân tay mực nước biển.  Một nhóm nghiên cứu do TS. Sophie Coulson và nhà địa vật lý Harvard Jerry X. Mitrovica ở Đại học Harvard dẫn đầu – cho biết họ đã phát hiện ra dấu vân tay mực nước biển đầu tiên. Kết quả này đã được công bố trên Science. Công trình không chỉ cung cấp bằng chứng cho khoa học mực nước biển mà còn góp phần củng cố độ tin cậy của các mô hình dự đoán mực nước biển dâng trong tương lai.  “Các dự án về mực nước biển, quy hoạch ven biển và đô thị – tất cả đều được xây dựng dựa trên ý tưởng về dấu vân tay mực nước biển”, GS. Mitrovica ở Khoa Khoa học Trái đất và hành tinh, Đại học Harvard cho biết. “Đó là lý do tại sao các dấu vân tay này rất quan trọng. Chúng cho phép bạn ước tính mực nước biển sẽ thay đổi như thế nào… Nếu vật lý về dấu vân tay nước biển không đúng, chúng ta sẽ phải xem xét lại tất cả các nghiên cứu về mực nước biển hiện đại”.    Dấu vân tay mực nước biển nổi tiếng là khó phát hiện do những dao động của mực nước biển phụ thuộc vào sự biến đổi thủy triều, dòng chảy và gió. Nó càng trở thành một câu hỏi hóc búa khi các nhà nghiên cứu đang cố gắng phát hiện các chuyển động của nước ở cấp độ milimet và tìm ra mối liên hệ giữa chúng với các sông băng đang tan chảy cách đó hàng ngàn dặm.  Mitrovica đã so sánh nghiên cứu này với việc tìm kiếm hạt hạ nguyên tử Higgs Boson. “Trong vật lý mực nước biển, hầu hết mọi người đều cho rằng dấu vân tay mực nước biển tồn tại, nhưng các nhà khoa học chưa bao giờ tìm thấy chúng với mức độ tin cậy có thể so sánh được”, Mitrovica nói.  Trong nghiên cứu mới, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu vệ tinh từ một cơ quan giám sát biển châu Âu, ghi lại hơn 30 năm quan sát vùng lân cận tảng băng Greenland và phần lớn đại dương nằm gần trung tâm Greenland để ghi lại sự thay đổi của mực nước biển.  Mitrovica và đồng nghiệp David Sandwell ở Viện Hải dương học Scripps đã chú ý đến dữ liệu vệ tinh. Thông thường, các dữ liệu vệ tinh ở khu vực này chỉ kéo dài đến cực nam Greenland, nhưng dữ liệu mới phát hành đã mở rộng hơn 10 vĩ độ, cho phép nhóm nghiên cứu quan sát một dấu vết tiềm năng trong sự thay đổi mực nước biển do dấu vân tay mực nước biển gây ra.  Mitrovica nhanh chóng chuyển những kết quả thu được cho Coulson, từng làm nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của Mitrovica, và hiện là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, để xác định xem đây có thực sự là dấu vân tay mực nước biển mà các nhà khoa học đã theo đuổi trong nhiều thập kỷ hay không.  “Cô ấy là người giỏi nhất trong việc lập mô hình chính xác để tìm hiểu dấu vân tay mực nước biển trông như thế nào, giúp chúng tôi hiểu thêm về quá trình giảm khối lượng của lớp băng Greenland. Đồng thời, Coulson có thể xác định liệu dự đoán đó có khớp với dữ liệu quan sát vệ tinh hay không”, Mitrovica nói.  Khi dữ liệu gửi đến hòm thư của Coulson – một chuyên gia về mô hình mực nước biển và biến dạng lớp vỏ Trái đất liên quan đến băng tan, cô đang về thăm gia đình ở Anh. Ngay lập tức, cô ấy đã nhận ra tiềm năng của chúng.  Coulson nhanh chóng thu thập những dữ liệu quan sát tốt nhất trong ba thập kỷ về sự thay đổi độ cao của tảng băng Greenland cũng như tái tạo sự thay đổi độ cao của sông băng trên khắp các quần đảo Bắc Cực thuộc Canada và Iceland. Cô đã kết hợp các bộ dữ liệu này để đưa ra các dự đoán về sự thay đổi mực nước biển trong khu vực vào thời kỳ 1993-2019, sau đó so sánh với dữ liệu vệ tinh mới. Sự tương đồng ở mức hoàn hảo. Kết quả đối chiếu 1-1 với độ tin cậy hơn 99,9% cho thấy, mô hình về sự thay đổi mực nước biển là một dấu vân tay của tảng băng tan.  “Tôi hoàn toàn bất ngờ khi thấy bằng chứng về sự tồn tại của dấu vân tay mực nước biển”, Coulson nói. “Đây là khoảnh khắc thực sự thú vị. Có rất ít khoảnh khắc trong khoa học vừa đáng chú ý, lại rõ ràng và đơn giản như vậy về các quá trình phức tạp của Trái đất”.  Nghiên cứu khoa học thường tốn nhiều năm để phát triển kết quả và soạn thảo thành bài báo. Nhưng trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành rất nhanh chóng. Họ chỉ mất khoảng vài tháng kể từ khi có dữ liệu vệ tinh cho đến khi gửi bài.  Đó là nhờ phần lớn công việc đã được thực hiện trước đó. Hầu hết lý thuyết, công nghệ, phương pháp đều được phát triển và nâng cao kể từ khi nhóm nghiên cứu của Mitrovica trình bày công trình nghiên cứu về dấu vân tay mực nước biển khoảng 20 năm trước – các phép tính đã được chấp nhận rộng rãi và được đưa vào hầu hết các mô hình dự đoán mực nước biển gia tăng.  Giờ đây khi các nhà khoa học đã phát hiện ra dấu vân tay mực nước biển đầu tiên, câu hỏi mang ý nghĩa toàn cầu lớn nhất hiện nay là những kết quả này sẽ dẫn đến đâu.  “Sẽ có thêm nhiều phát hiện hơn nữa”, Mitrovica nói. “Chẳng bao lâu nữa, toàn bộ công dụng của dấu vân tay mực nước biển sẽ được phát huy để dự báo sự thay đổi mực nước biển trong thập kỷ, thế kỷ tới và xa hơn thế”.  Thanh Bình tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-definitive-proof-elusive-sea-fingerprints.html  https://www.thecrimson.com/article/2022/10/13/sea-level-fingerprint-research/    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sự thụ phấn      Sau một mùa đông kéo dài trong dịch bệnh, ai cũng háo hức chào đón những bông hoa mùa xuân bắt đầu hé nở. May mắn cho con người là nhiều loài hoa thực sự nở sớm hơn.      Cây gul-tour, một loài thảo dược thường nở hoa vào mùa xuân ở Kashmir, năm nay đã nở sớm vào tháng hai thay vì tháng ba như thường lệ. Nguồn: Anzar Khuroo  Tuy nhiên với một số cây thì điều này không phải là may mắn.  Cây cối phụ thuộc vào ong hoặc các loài côn trùng thụ phấn khác để chuyển phấn hoa giữa các bông hoa – chúng vo vo bay từ bông violet này sang bông violet kia hoặc từ bông trillium sang trillium. Cây cối đang đối mặt với nhiều bất định khi mùa xuân tới sớm hơn bởi đột nhiên những con ong có nhiều bông hoa để lựa chọn hơn trong cùng một thời điểm. Một câu hỏi mấu chốt vẫn còn ở trong đầu các nhà nghiên cứu: bầu không khí “cạnh tranh” này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cây cối?  “Khí hậu biến đổi làm cây cối nở rộ hoa, và nó phá vỡ mối liên kết lịch sử giữa cây và các côn trùng thụ phấn”, Matthew Austin, một nhà sinh thái học và postdoc về đa dạng sinh học tại nhóm nghiên cứu Living Earth Collaborative ở trường ĐH Washington ở St. Louis. “Nhưng chúng tôi mới chỉ biết chút ít về tác động của nó với cách các cây tương tác với nhau và hệ quả tiến hóa của việc thay đổi những tương tác cây – cây”.  Không phải mọi loài cây đều phản hồi với biến đổi khí hậu theo cùng một cách. Một số loài thì ra hoa sớm hơn, một số có thể nở hoa trong giai đoạn dài hơn khắp các mùa. Ở nơi từng có cảnh những bông hoa bừng nở như những làn sóng kế tiếp nhau theo thời gian thì giờ đây, làn sóng đó xuất hiện theo kiểu khác, lớp nọ chồng lên lớp kia. Việc hoa nở chồng chất như vậy có nghĩa là có nhiều loài cùng nở vào một thời điểm hơn so với quá khứ.    Trout lily, hay còn gọi là hoa dogtooth violet (Erythronium sp.). Nguồn: Matthew Austina  Mùa xuân này, Austin đang cùng với các đồng nghiệp như Adam Smith tại Vườn thực vật Missouri và Kenneth Olsen, giáo sư sinh học tại trường đại học Washington, khám phá cách những thay đổi về thời điểm nở hoa ảnh hưởng đến động lực sinh thái và tiến hóa của các hệ phụ phấn.  “Công việc của tôi là đang xem liệu sự thay đổi về những thời điểm nở hoa này có làm tăng tỉ lệ chuyên chở phấn hoa giữa các loài khác nhau không”, Austin nói. “Và nếu đúng như vậy thì tôi dự đoán là tỉ lệ cao của việc chuyển phấn hoa giữa các loài khác nhau đang dẫn đến tỉ lệ cao của sự tự thụ phấn”.  Việc thụ phấn hoa ở nơi nào dường như không quá quan trọng với ong, ít nhất là trong ngắn hạn. Nhưng với cây cối, việc sinh sản phụ thuộc vào hoa có nhận được phấn hoa của cùng loài không. Phấn hoa được chuyển nhầm hoa thì về cơ bản, chấm dứt một chu trình sinh sản.  Và nếu ong chuyển phấn hoa giữa các loài khác nhau thường xuyên hơn khi có nhiều loài cây cùng nở hoa một đợt, sau đó các điều kiện này có thể làm cho cây cối loại bỏ các loài côn trùng thụ phấn trung gian.  Để xác định là điều này có xảy ra trong thực tế hay không, Austin sử dụng dữ liệu lịch sử ghi chép hơn 70 loài cây có hoa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Shaw trong giai đoạn cuối những năm 1930 và đầu những năm 1940. Ông kết hợp các ghi nhận đó với các quan sát của riêng mình tai nhiều địa điểm bảo tồn ở gần Eureka, Missouri, rồi dùng các kỹ thuật mới để lấy mẫu phấn hoa từ những bông hoa thu thập trong quá khứ và được lưu trữ tại bộ sưu tập thảo mộc ở Vườn thực vật Missouri.    Tại khu bảo tồn thiên nhiên Shaw, Austin đặt một túi lưới mắt nhỏ  lên cây Sanguinaria canadensis, nhờ vậy ông có thể kiểm tra xem hạt giống của nó trong điều kiện kiểm soát sự phụ phấn như thế nào. Nguồn: Matthew Austin  Những phương pháp đó cho phép Austin khám phá cách thay đổi về thời điểm nở hoa khắp thế kỷ qua đã ảnh hưởng đến các bông hoa đã được ong thụ phấn như thế nào, trong khi vẫn tìm kiếm các dấu hiệu của sự tự thụ phấn trong những loài cây hiện nay.  “Trong những năm gần đây, công chúng và nhà khoa học đều quan tâm đến việc bảo tồn sự thụ phấn cho cây”, Austin nói. “Trong khi mối quan tâm này đều tập trung vào việc cứu lấy các loài thụ phấn khỏi suy giảm số lượng thì tôi hi vọng là nghiên cứu này sẽ đem lại sự chú ý đến khía cạnh khác thường bị bỏ qua trong bảo tồn cây và loài thụ phấn: biến đổi toàn cầu có thể ảnh hưởng đến hành vi của loài thụ phấn như thế nào, với sự phân tầng ảnh hưởng lên việc sinh sản của cây trồng.  Nghiên cứu này sẽ làm tăng thêm hiểu biết của chúng ta về cách biến đổi khí hậu ảnh hưởng không chỉ các loài cụ thể mà cả các cộng đồng sinh thái cũng như sự tương tác các loài nhỏ với nhau”.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-blooming-earlierand-bees.html  https://www.newswise.com/articles/yes-spring-flowers-are-blooming-earlier-it-might-confuse-bees    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cặp tuyến nước bọt mới trong cơ thể người      Các bác sĩ đã phát hiện ra những tuyến nước bọt lớn nằm dưới đáy hộp sọ. Điều này có thể giúp giải đáp vì sao những người sau khi tiến hành xạ trị ung thư đầu hoặc cổ thường bị khô miệng mãn tính và các vấn đề về nuốt, từ đó họ có thể đưa ra được phương án để khắc phục.      Cặp tuyến nước bọt lớn này ẩn sâu ở nơi giao nhau giữa khoang mũi và cổ họng. Ảnh: Viện Ung thư Hà Lan  Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Hà Lan đã phát hiện ra một cặp tuyến nước bọt lớn, ẩn nấp ở nơi giao nhau giữa khoang mũi và cổ họng. Nếu phát hiện này được xác nhận, đây sẽ lần đầu tiên sau 3 thế kỷ chúng ta lại phát hiện ra một tuyến nước bọt mới.   Bất kỳ cuốn sách giải phẫu học hiện đại nào cũng sẽ chỉ trình bày ba loại tuyến nước bọt chính: tuyến nước bọt mang tai (tuyến nước), tuyến nước bọt dưới hàm (tuyến hỗn hợp), tuyến nước bọt dưới lưỡi (tuyến nhầy). “Giờ thì chúng tôi cho rằng đây chính là tuyến nước bọt thứ tư,” – TS Matthijs Valstar, bác sĩ phẫu thuật và là nhà nghiên cứu tại Viện Ung thư Hà Lan, đồng thời cũng là tác giả của nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Radiotherapy and Oncology, cho biết.   Theo TS Valerie Fitzhugh, một nhà bệnh lý học tại Đại học Rutgers, người không tham gia vào nghiên cứu, nghiên cứu này có quy mô nhỏ và chỉ mới kiểm chứng trên một số lượng bệnh nhân hạn chế. “Nhưng nếu thông tin này chính xác, thì nó có thể thay đổi cách chúng ta nhìn nhận về những căn bệnh ở vị trí này trên cơ thể.”   Trong khi đó, TS Yvonne Mowery, một nhà ung thư học bức xạ tại Đại học Duke, cho biết bà “khá sốc khi đến tận năm 2020 rồi mà chúng ta vẫn còn có thể xác định thêm một cấu trúc mới trong cơ thể người”.  TS Valstar và các cộng sự, những người thường nghiên cứu dữ liệu từ các bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, đã không có chủ đích truy tìm một tuyến nước bọt mới. Nhưng cấu trúc này rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu và bác sĩ làm việc trong lĩnh vực ung thư.   Các tuyến nước bọt tiết ra khoảng một lít nước bọt mỗi ngày, điều này giúp chúng ta “tận hưởng cuộc sống” – TS Valstar nói. Nó bôi trơn miệng, giúp ta nói và nuốt dễ dàng hơn. Nó giúp chúng ta cảm nhận được hương vị của thức ăn, và thậm chí còn giúp chống lại vi trùng và đẩy nhanh quá trình lành vết thương.    Khi tiến hành xạ trị cho bệnh nhân, các bác sĩ thường thận trọng để tránh làm tổn thương các tuyến. Chỉ cần một vết cắt lệch hướng duy nhất, họ có thể làm tổn thương vĩnh viễn các mô mỏng manh đó.   Trong lúc xem xét các bức ảnh quét từ một thiết bị giúp hình dung các mô một cách chi tiết, những nhà nghiên cứu nhận thấy hai cấu trúc lạ thường nằm ở trung tâm đầu: một cặp tuyến phẳng, hình gai, dài vài inch, nằm trên các ống nối từ tai đến cổ họng.    Bối rối trước những gì vừa trông thấy, họ đã tiến hành giải phẫu hai tử thi và phát hiện ra rằng các tuyến này có đặc điểm tương tự với những tuyến nước bọt đã biết nằm dưới lưỡi. Các tuyến mới cũng được nối với các ống dẫn lưu lớn – một dấu hiệu cho thấy chúng đang vận chuyển chất lỏng từ nơi này sang nơi khác.     Các nhà nghiên cứu cho biết họ đã tìm thấy tuyến nước bọt mới ở phần trên của cổ họng, phía sau mũi khi thực hiện nghiên cứu về bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Ảnh: Viện Ung thư Hà Lan.   Dù chưa thể lý giải hết được vì sao trước đây các nhà giải phẫu học không biết đến sự tồn tại của chúng, nhưng rõ ràng “chúng nằm ở một vị trí khó tiếp cận, và phải cần những thiết bị chụp rất nhạy để phát hiện ra chúng,” TS Wouter Vogel, nhà ung thư học bức xạ tại Viện Ung thư Hà Lan và là tác giả của nghiên cứu cho biết. Các tuyến nước bọt lớn khác của cơ thể nằm gần bề mặt da hơn, trong khi đó cấu trúc thứ tư này lại nằm dưới đáy hộp sọ.    TS Vogel cho biết thêm, phát hiện mới có thể giúp giải thích tại sao những người sau khi tiến hành xạ trị ung thư đầu hoặc cổ thường bị khô miệng mãn tính và các vấn đề về nuốt. Các bác sĩ không biết đến sự tồn tại của những tuyến này, vì vậy họ không thực hiện các biện pháp giúp chúng thoát khỏi sự ảnh hưởng của những phương pháp điều trị trên.   Tuy nhiên, TS Alvand Hassankhani, một nhà X-quang học tại Đại học Pennsylvania, cho biết ông khá băn khoăn rằng có nên xem các cấu trúc này là “những cơ quan mới” hay không. Ngoài ba cặp tuyến nước bọt lớn đã biết, còn có khoảng 1.000 tuyến nước bọt nhỏ nằm rải rác trên niêm mạc miệng và cổ họng. Chúng nhỏ hơn, và khó tìm thấy qua ảnh quét hơn so với những ‘người anh em’ của chúng.   TS Fitzhugh và TS Mowery thì tỏ ra hào hứng trước phát hiện này, nhưng cả hai đều cho rằng nhóm nghiên cứu cần đưa ra thêm nhiều dữ liệu hơn nữa. Theo TS Fitzhugh, những bệnh nhân trong nghiên cứu này không đa dạng lắm. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra trên 100 bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt hoặc tuyến niệu đạo, và trong số đó chỉ có một phụ nữ.   Bà cũng cho rằng nhóm nghiên cứu nên mở rộng quy mô thí nghiệm này bằng cách tiến hành trên một nhóm bệnh nhân mới, sử dụng các phương pháp khác nhau. “Bây giờ chúng ta đã biết nó tồn tại”, vì vậy sẽ dàng hơn nếu phân tích nó bằng các kỹ thuật truyền thống, thay vì chỉ xem qua hình ảnh, TS Fitzhugh kết luận.  Anh Thư dịch  Nguồn: Doctors May Have Found Secretive New Organs in the Center of Your Head       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện đột phá giúp hiểu về Trái đất sơ khai      Một nhóm nghiên cứu Nhật Bản đã nuôi cấy thành công một loài vi khuẩn cổ hiếm gặp được cho là giống với loài đã tạo ra các tế bào phức tạp đầu tiên – sinh vật nhân thực (eukaryotes). Công trình này được coi là bước tiến lớn làm sáng tỏ cột mốc tiến hóa này.      Lần đầu tiên nuôi cấy được loài vi khuẩn cổ trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Nature.    Trong hai tỷ năm tồn tại đầu tiên, sự sống trên Trái đất bao gồm cả hai loài vi sinh vật là vi khuẩn (bacteria) và vi khuẩn cổ (archaea). Hiện nay vi khuẩn cổ vẫn phát triển mạnh trên Trái đất. Dù được coi là có vai trò then chốt với sự xuất hiện của các dạng sống phức tạp, song số lượng nghiên cứu về chúng khá ít. Nhiều loài được tìm thấy ở các môi trường khắc nghiệt và rất khó để phát triển trong phòng thí nghiệm. Do đó, thành công của nhóm nghiên cứu Nhật Bản được Nick Lane, giáo sư về hóa sinh tiến hóa ở Đại học London (UCL), đánh giá là một công trình “tuyệt vời”còn theo hai chuyên gia khác, nó đã đánh dấu “bước đột phá trong ngành vi sinh vật học”.  Nghiên cứu này bắt đầu vào năm 2006 với việc sưu tập một mẫu bùn dưới biển sâu do một chiếc tàu ngầm nạo vét ở độ sâu 2.5 km dưới bờ biển Omine Ridge của Nhật Bản. Mẫu bùn này được đưa vào một hệ phản ứng sinh học (bioreactor) và được ‘nuôi’ bằng khí methane liên tục trong hơn 5 năm.   “Hầu hết các sinh vật được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm đều có khả năng sinh sản nhanh chóng, số lượng lớn và có thể tự phát triển”, Masaru Nobu, Viện Quốc gia về KH&CN công nghiệp tiên tiến (AIST), ở Tsukuba, Nhật Bản cho biết. “Tuy nhiên các sinh vật do chúng tôi phân lập hoàn toàn khác biệt: nhân bản chậm hơn vi khuẩn E.coli, chỉ sống được với số lượng nhỏ và phụ thuộc vào các đối tác cộng sinh”. Nobu và đồng nghiệp đã lấy các mẫu nhỏ hơn từ nồi phản ứng sinh học, đặt vào các ống thủy tinh và để trong phòng thí nghiệm thêm 1 năm nữa trước khi thấy dấu hiệu rõ ràng của sự sống.   Trong khi thí nghiệm này đang diễn ra, một nhóm nghiên cứu Hà Lan đã phát hiện một bất ngờ về vi khuẩn cổ khi giải trình tự DNA của các vi sinh vật được trích xuất từ bùn trong một miệng phun thủy nhiệt ở bờ biển Greenland: họ tìm ra một hệ gene thú vị, rõ ràng là một thành viên của vi khuẩn cổ nhưng DNA lại có nhiều điểm tương tự với các tế bào nhân thực. Họ gọi đó là vi khuẩn cổ Asgard và cho rằng tổ tiên của nhánh tiến hóa này có thể đã thu hẹp khoảng cách giữa sự sống cơ bản và phức tạp vào hàng tỉ năm trước.  Khi nhóm nghiên cứu Nhật Bản giải trình tự gene mẫu đã thu thập, việc phân tích di truyền cho thấy họ đã nắm bắt được chính xác cách nuôi dưỡng loài vi khuẩn cổ Asgard này. Họ còn phát hiện ra vi khuẩn cổ Asgard là những tế bào nhỏ đơn giản nhưng có cấu trúc giống như xúc tu dài vươn ra khỏi các tế bào.   Có lý thuyết cho rằng, các vi khuẩn cổ đã kết hợp với vi khuẩn để tạo ra một dạng tế bào hoàn toàn mới có thể phát triển thành những nền tảng cơ bản cho tất cả các dạng sự sống trên Trái đất, từ cây cỏ đến loài người. Dù không phải ai cũng đồng ý với lý thuyết đó nhưng những người đề xướng lý thuyết cho rằng các tế bào này có thể đã “nuốt” một loại vi khuẩn để trở thành những cấu trúc ty thể – nguồn cung cấp năng lượng bên trong tất cả những tế bào phức tạp ngày nay. Cả vi khuẩn và vi khuẩn cổ đều thiếu cấu trúc bên trong này.  Theo nhóm nghiên cứu Nhật Bản, những tua xoắn của vi khuẩn cổ Asgard có thể “nuốt” một vi khuẩn ngẫu nhiên và hình thành mối quan hệ cộng sinh. Sau một vài bước nhảy tiến hóa, hai sinh vật có thể đã trở thành một loại tế bào phức tạp hơn – một sinh vật nhân thực sơ khai.  Kịch bản này vẫn chỉ là suy đoán và có lẽ vẫn cần được tranh luận trong thập kỷ tới. Tuy nhiên, chắc chắn một điều là những tiến bộ này có thể sẽ thu hút mối quan tâm về những vi sinh vật chưa được khám phá.   Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/jan/15/breakthrough-gives-insight-into-early-complex-life-on-earth    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện dược liệu có thành phần hoạt tính chống oxy hóa và ức chế enzyme gây bệnh gút      Các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nhận thấy ​​một số hoạt chất từ vỏ cây ngô đồng, thân rễ cây chút chít và cành chùm ngây có tiềm năng phát triển thành các sản phẩm thuốc hoặc thực phẩm chức năng giúp điều trị bệnh gút.    Xanthine oxidase được biết đến như là enzyme chính gây ra hội chứng tăng acid uric trong máu và bệnh gút. Enzyme này đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tác quá trình oxy hóa xanthine và hypoxanthine thành acid uric.    Lượng acid uric trong máu tăng cao sẽ dẫn tới hiện tượng kết tủa tinh thể urat, chủ yếu tập trung ở các khớp của tay, chân gây ra những đợt viêm khớp cấp (cơn gút cấp). Do đó, một trong những phương pháp điều trị gút là làm ức chế hoạt động của enzyme xanthine oxidase và ngăn chặn quá trình oxy hóa để giảm thiểu sự hình thành acid uric trong máu.    Gút là căn bệnh phổ biến ở Việt Nam với số lượng người mắc rất lớn. Hiện tại, có khoảng 1 triệu bệnh nhân đang sử dụng Allopurinol – hoạt chất làm giảm nồng độ acid uric có trong máu – để điều trị bệnh. Trớ trêu là Allopurinol không chỉ giúp điều trị, nó còn là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra các phản ứng tổn thương da nặng với tỷ lệ cao ở người châu Á. Trong một hội thảo được tổ chức vào năm 2022, TS.BS. Nguyễn Văn Đĩnh (Trưởng khoa Nội chung, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City) cho biết, cùng với Carbamazepine (loại thuốc được sử dụng chủ yếu trong điều trị bệnh động kinh và đau liên quan đến thần kinh), Allopurinol là “thủ phạm” hàng đầu khiến tỉ lệ tổn thương nghiêm trọng về da do dị ứng thuốc tại Việt Nam cao hơn 17-20 lần so với châu Âu.    Với mong muốn tìm ra các chất hóa học từ nguồn dược liệu lành tính có khả năng điều trị bệnh gút, nhóm nhà khoa học tại Học viện Khoa học và Công nghệ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần hoạt tính chống oxy hóa và ức chế enzyme gây bệnh gút từ một số cây dược liệu Việt Nam”.    Trong quá trình nghiên cứu, TS. Trương Ngọc Minh, chủ nhiệm đề tài, cho biết nhóm nhận thấy cây ngô đồng (Jatropha podagrica), cây chút chít (Rumex acetosa) và cây chùm ngây (Moringa oleifera) là ba nguồn dược liệu tiềm năng để ứng dụng điều trị gút.        Cây ngô đồng có tên khoa học là Jatropha podagrica thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), ở Việt Nam còn được gọi bằng các tên khác là dầu lai có củ, sen lục bình hay dầu lai lá sen. Ngô đồng có nguồn gốc từ châu Mỹ nhiệt đới, nhưng hiện đã được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới trên toàn thế giới.    Cây chút chít còn có tên gọi khác là lưỡi bò, dường đề, đại hoàng, tên khoa học là Rumex acetosa thuộc họ Rau Răm (Polygonaceae). Loài này được tìm thấy phổ biến trên các bãi đất hoang, là một loại cỏ dại xâm lấn nghiêm trọng đất nông nghiệp, được tìm thấy trên hầu hết các loại đất, ngoại trừ đất có tính axit cao.    Cây Chùm ngây (Moringa oleifera) thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae) có nguồn gốc ở Ấn Độ, Arabia, châu Phi, vùng Viễn Tây châu Mỹ; được trồng và mọc tự nhiên ở vùng nhiệt đới châu Phi, nhiệt đới châu Mỹ, Sri Lanka, Ấn Độ, Mexico, Malabar, Malaysia và Philippines. Ở Việt Nam, cây được trồng ở Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc.    Cả ba loại dược liệu này đều phổ biến ở Việt Nam, từ lâu vẫn được các nhà khoa học đánh giá cao vì chứa hàm lượng các chất có hoạt tính sinh học cao có khả năng ức chế hoạt động của enzyme xanthine oxidase. Tuy nhiên, qua phân lập bằng ethyl acetate, nhóm nghiên cứu nhận thấy các thành phần trong thân vỏ cây ngô đồng, thân rễ cây chút chít, và cành chùm ngây còn có khả năng chống oxy hoá mạnh. Đặc biệt, các hợp chất như fraxetin và tomentin trong vỏ cây ngô đồng và 7 hợp chất chrysophanol, physcion, nepalenside A, nepalenside B, torachrysone, emodin và citreorosein trong thân rễ cây chút chít có khả năng chống oxy hoá mạnh hơn đối chứng dương BHT (một chất chống oxy hoá phổ biến).    Nhóm nghiên cứu đã công bố các kết quả của mình trong các bài báo như A Potential Use of Moringa oleifera Twigs Extracts as an Anti-Hyperuricemic and Anti-Microbial Source (Phân lập và tinh chế các hợp chất có hoạt tính sinh học từ vỏ thân cây ngô đồng Jatropha podagrica), Potential Use of Moringa oleifera Twigs Extracts as an Anti-Hyperuricemic and Anti-Microbial Source (Tiềm năng sử dụng các chiết xuất từ ​​cành chùm ngây Moringa oleifera như một cách kháng khuẩn và chống tăng acid uric máu) v.v.    Theo nhóm nghiên cứu, việc phân lập các hoạt chất từ vỏ cây ngô đồng, thân rễ cây chút chít và cành chùm ngây sẽ góp phần bổ sung dữ liệu hóa học và có tiềm năng phát triển thành các sản phẩm thuốc hoặc thực phẩm chức năng.    Tuy nhiên, TS. Trương Ngọc Minh cho biết cần có những nghiên cứu tiếp theo nhằm thiết lập, tối ưu hoá các điều kiện và hệ thống dung môi hiệu quả hơn để tinh chế các hợp chất hoạt tính sinh học trong 3 loại cây nghiên cứu. Ngoài ra, cần tiến hành các thử nghiệm in vivo để khẳng định hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được, phát triển các chất phụ gia thực phẩm và chất bổ sung nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh gút.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện gen giúp ngô thích nghi với môi trường cao nguyên      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Bắc Carolina mới đây đã phát hiện một gen quan trọng trong ngô có tên là HPC1, giúp điều chỉnh thời gian ra hoa của ngô.      Ảnh chụp màn hình phim tài liệu Sunú, bộ phim đã mang đến cho người xem góc nhìn về cuộc sống của những người sản xuất ngô bản địa ở Tây Bắc Mexico.  Gen này có nguồn gốc từ “teosinte mexicana”, một loại cây mọc hoang ở vùng cao nguyên Mexico, tiền thân của ngô hiện đại. Những phát hiện này cung cấp thêm nhiều thông tin chuyên sâu về sự tiến hóa và chọn lọc gen của thực vật, từ đó rút ra những yếu tố tác động đến với sự thích nghi của ngô và các cây trồng khác với nhiệt độ thấp.  Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu về sự biến đổi của phospholipid và vai trò của chúng trong việc thích ứng với thời tiết lạnh giá, cũng như đối với sức khoẻ và năng suất cây trồng như thời gian ra hoa.”  Các nhà khoa học đã trình bày kết quả nghiên cứu trên Proceedings of the National Academy of Sciences.  Thích ứng với điều kiện khắc nghiệt  Ngô được trồng ở những vùng cao nguyên khó phát triển hơn so với ngô trồng ở những vùng thấp với mức nhiệt cao. “Ở vùng núi, trong điều kiện lạnh giá, ngô cần nhiều thời gian hơn để tích luỹ nhiệt và tăng trưởng”, Rubén Rellán-Álvarez, trợ lý giáo sư về cấu trúc và sinh hóa phân tử tại ĐH Bang Bắc Carolina và là tác giả liên hệ của bài báo, phân tích. “Ở độ cao 2.600 mét, người nông dân mất thời gian lâu gấp ba lần để trồng ngô – so với trồng ở khu vực thấp hơn”.  Để ứng phó với điều này, đến mùa vụ, người nông dân phải trồng ngô từ sớm và trồng thật sâu trong đất; ngô sẽ tăng trưởng chậm nhưng ổn định trong vài tháng, cho đến khi mùa mưa đến. Qua hàng thiên niên kỷ, người nông dân đã chọn ra những giống ngô có thể phát triển mạnh ở nhiệt độ thấp và ra hoa sớm trước khi mùa đông đến. “  Ở các giống ngô được trồng ở vùng thấp, gen HPC1 phân hủy phospholipid – loại lipid chuyên liên kết với các protein quan trọng giúp đẩy nhanh thời gian ra hoa.  Ở ngô cao nguyên, gen HPC1 không hoạt động, nhưng điều này lại có lợi cho người nông dân.  “Ở ngô vùng cao, người nông dân đã chọn lọc một phiên bản gen khiếm khuyết, giúp hàm lượng phospholipid tăng cao,” Rellán-Álvarez nói.  Trong bài báo, các nhà nghiên cứu cho biết họ đã tiến hành thí nghiệm trên khắp Mexico – ở cả các vùng đất thấp và cao nguyên. Họ phát hiện ra rằng ngô mang phiên bản gen cao nguyên ra hoa sớm hơn một ngày so với những cây không có phiên bản gen đó. Ngoài ra, ngô trồng ở vùng đất thấp có phiên bản gen cao nguyên ra hoa muộn hơn một ngày so với cây không có phiên bản gen này.  Nó giúp cây phát triển tốt hơn trong môi trường địa phương. “Nếu cây không ra hoa, sẽ không có hạt giống, vì vậy rõ ràng một yếu tố bất kỳ tác động đến đến thời gian ra hoa cũng sẽ tác động đến sự thích nghi của cây trong môi trường địa phương.”  Chọn lọc loại ngô tối ưu  Nghiên cứu cũng xem xét quá trình tiến hóa của ngô qua bàn tay chọn lọc của người nông dân trên khắp Tây bán cầu suốt hàng ngàn năm qua. Từ rất lâu về trước, người Mỹ bản địa đã thuần hóa một loại cây dại có tên là teosinte parviglumis ở Tây Nam Mexico, trở thành giống ngô chất lượng có thể thích nghi khắp Châu Mỹ — từ sa mạc Arizona và Perú đến những khu rừng ẩm ướt của Yucatán và Colombia, bao gồm cả vùng cao nguyên Mexico, nơi ngô được lai với một cây teosinte dại khác – teosinte mexicana.  “Kết quả của chúng tôi cho việc lai ngô với teosinte mexicana đã giúp ngô thích nghi với điều kiện vùng cao”, Rellán-Álvarez cho biết.  Trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các gen từ teosinte mexicana – cụ thể là HPC1 phiên bản cao nguyên – đã được giữ lại trong ngô ngày nay.  “Sự lưu giữ này — cái mà các nhà khoa học thường gọi là sự xâm nhập — cũng tương tự như cách con người hiện đại giữ lại gen của người Neanderthal trong mã di truyền của mình”, Rodríguez-Zapata cho biết.  Nghiên cứu cũng tìm thấy biến thể cao nguyên của HPC1 trong ngô được trồng ở Canada, Bắc Hoa Kỳ và Bắc Âu – điều này khá hợp lý khi những vùng đất này rất lạnh.  Các nhà nghiên cứu hiện đang xem xét vai trò của gen này và các gen khác liên quan đến quá trình chuyển hóa phosphorus để tìm hiểu các cách trồng ngô bền vững hơn.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-gene-maize-high-elevations-cold.html    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện giải pháp tạo siêu dẫn trong DNA có thể làm thay đổi công nghệ      Các nhà khoa học tại trường Y ĐH Virginia và đồng nghiệp đã sử dụng DNA để vượt qua một chướng ngại tưởng chừng không thể vượt qua nhằm thiết kế các vật liệu có thể tạo ra cuộc cách mạng hóa các thiết bị điện tử.    Một trong số rất nhiều kết quả mà các vật liệu được thiết kế có thể đạt được là các chất siêu dẫn – những chất cho phép các dòng điện tích đi qua mà không gặp bất kỳ lực cản nào. Điều đó có nghĩa là chúng không bị mất năng lượng và không tạo ra nhiệt, không giống như việc truyền tải điện năng hiện nay. Việc phát triển một siêu dẫn có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng thay vì mức nhiệt độ cực cao hoặc cực thấp có thể dẫn đến việc tạo ra những máy tính siêu nhanh, giảm bớt kích thước của các thiết bị điện tử, cho phép tàu điện siêu tốc chạy trên đệm từ trường đạt và giảm bớt điện năng… cùng nhiều lợi ích khác.  Siêu dẫn lần đầu tiên được nhà vật lý trường Stanford William A. Little đề xuất lần đầu tiên vào hơn 50 năm trước. Các nhà khoa học đã dành nhiều thập kỷ để làm theo đề xuất này nhưng ngay cả khi đánh giá được tính khả thi của ý tưởng thì vẫn còn nhiều thách thức. Cho đến tận bây giờ.  Tiến sĩ Edward H. Egelman, Khoa Hóa sinh và di truyền phân tử của ĐH Virginia, từ lâu đã là người đi đầu trong lĩnh vực kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp (cryo-EM). Ông và Leticia Beltran, một học viên trong phòng thí nghiệm của mình, đã sử dụng hình ảnh cryo-EM để nghiên cứu ý tưởng dường như không thể này. “Kỹ thuật cryo-EM có tiềm năng lớn trong nghiên cứu về vật liệu”.  Kỹ thuật ở cấp độ hạt nhân  Một cách có thể để hiện thực được ý tưởng về siêu dẫn của Little là biến đổi các mạng tinh thể ống nano carbon, làm rỗng các cylinder carbon để đo đạc ở mức nano mét – phần tỉ một mét. Nhưng có một thách thức lớn: kiểm soát các phản ứng hóa học dọc ống nano vì vậy mạng tinh thể có thể được lắp ráp chính xác theo nhu cầu và chức năng mong muốn.  Egelman và cộng sự đi tìm câu trả lời trong những khối cơ bản của sự sống. Họ chọn DNA, vật liệu di truyền có thể cho biết các tế bào sống được vận hành như thế nào và sử dụng nó để hướng dẫn một phản ứng hóa học có thể giúp vượt qua rào cản lớn đến siêu dẫn của Little. Họ sử dụng hóa học để thực hiện kỹ thuật cấu trúc chính xác một cách đáng kinh ngạc – xây dựng cấu trúc tại mức độ đơn phân tử. Kết quả là một mạng tinh thể nano ống carbon được lắp ráp theo nhu cầu về siêu dẫn ở nhiệt độ phòng của Little.  “Công trình này cho thấy có thể đạt được việc chỉnh sửa ống nano carbon theo trình tự bằng việc thực hiện kiểm soát dãy DNA ở không gian giữa các vị trí phản ứng liền kề nhau”, Egelman nói.  Mạng tinh thể mà họ xây dựng cho đến hiện tại không chỉ để thử nghiệm cho siêu dẫn mà còn đề ra nguyên tắc nền tảng cho những tiềm năng lớn hơn trong tương lai, các nhà nghiên cứu cho biết. “Cryo-EM xuất hiện như một kỹ thuật quan trọng trong sinh học để xác định cấu trúc của tập hợp các protein ở cấp độ nguyên tử, nhưng cho đến nay chưa được sử dụng nhiều như khoa học vật liệu”, Egelman nói.  Egelman và đồng nghiệp cho biết cách tiếp cận kiểm soát DNA cho cấu trúc mạng tinh thể có thể rất hữu dụng trong nhiều ứng dụng nghiên cứu, đặc biệt trong vật lý. Nó cũng xác nhận khả năng có thể xây dựng siêu dẫn trong nhiệt độ phòng của Little. Công trình này kết hợp với những đột phá về siêu dẫn trong nhiều năm có thể dẫn đến làm thay đổi công nghệ như chúng ta biết và dẫn đến nhiều dạng “Star Trek” trong tương lai.  “Trong khi chúng ta thường nghĩ sinh học sử dụng các công cụ và kỹ thuật từ vật lý, công trình của chúng tôi cho thấy các cách tiếp cận được hình thành từ sinh học có thể trên thực tế được ứng dụng cho các vấn đề vật lý và kỹ thuật”, Egelman nói. “Đây là điều rất thú vị đối với khoa học: không thể dự đoán được công việc của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến đâu”.  Các nhà nghiên cứu đã xuất bản công trình trên tạp chí Science.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-dna-scientists-solution-superconductor-technology.html  ———————————————–  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abo4628    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện hai bước tiến hoá giúp cải xoong thale dại hấp thụ chất dinh dưỡng dễ dàng hơn      Đây là một trường hợp đặc biệt về sự thích nghi bằng cách sửa chữa các đột biến có lợi mới theo trình tự trong quần thể thực vật hoang dã. Khám phá này sẽ gợi mở nhiều hướng đi mới trong tương lai trong lĩnh vực sinh học tiến hóa và cải tiến cây trồng.      Cải xoong thale (Arabidopsis thaliana) tại Vườn Bách thảo Paris. Ảnh: Marie-Lan Nguyen/Wikimedia Commons  Một nhóm nghiên cứu quốc tế do Angela Hancock thuộc Viện Max Planck về Nghiên cứu Giống cây trồng ở Cologne (Đức) dẫn dắt đã nghiên cứu một quần thể cải xoong thale dại (Arabidopsis thaliana) mọc trên một núi lửa dạng tầng (stratovolcano) đang hoạt động ở Đảo Fogo. Họ phát hiện ra rằng một quá trình phân tử gồm hai bước đã tái thiết quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng trong quần thể.  Các phát hiện, được công bố trên tạp chí Science Advances, là một trường hợp đặc biệt về sự thích nghi bằng cách sửa chữa các đột biến có lợi mới theo trình tự trong quần thể thực vật hoang dã. Khám phá này sẽ gợi mở nhiều hướng đi mới trong tương lai trong lĩnh vực sinh học tiến hóa và cải tiến cây trồng.  Thích nghi với môi trường đất mới  Quá trình cân bằng nội môi chất dinh dưỡng vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của cây, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Việc xác định chính xác những thay đổi về di truyền cho phép thực vật phát triển trong điều kiện đất lạ sẽ cung cấp cho các nhà khoa học những thông tin chuyên sâu về quá trình quan trọng này. Tuy nhiên, với kích thước khổng lồ của một bộ gen, rất khó để họ xác định cụ thể đâu là biến thể chức năng giúp cây thích ứng với môi trường mới. “Trong trường hợp này, chúng tôi muốn biết: Cải xoong cần có yếu tố gì để tồn tại và sinh trưởng dưới chân núi lửa đang hoạt động? Các loài thực vật đã thích nghi với đất núi lửa Fogo như thế nào?”, Hancock nói.  Nhóm nghiên cứu đã có những phát hiện đáng ngạc nhiên. “Các cây cải xoong mọc ở Fogo sinh trưởng tốt trong môi trường tự nhiên hoang dã nhưng lại phát triển kém trong đất trồng cây tiêu chuẩn”, Emmanuel Tergemina, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết. Phân tích hóa học trong đất Fogo cho thấy đây là đất nghèo mangan, một nguyên tố quan trọng trong sản xuất năng lượng và sự phát triển của cây trồng. Trong khi đó, nếu mang cải xoong ở núi lửa Fogo trồng trên đất trồng cây tiêu chuẩn, lá của chúng sẽ chứa hàm lượng mangan rất cao, chứng tỏ cây đã phát triển một cơ chế để tăng khả năng hấp thụ mangan.  Hai bước tiến hóa để thích nghi  Nhằm khám phá các bước phân tử cho phép thực vật sinh sống trên vùng đất nghèo mangan của Fogo, các nhà khoa học đã kết hợp phương pháp lập bản đồ gen và phân tích tiến hoá.  Trong bước tiến hóa đầu tiên, một đột biến đã gây gián đoạn gen vận chuyển sắt sơ cấp (IRT1), loại bỏ chức năng của nó. Đây là điều đáng lưu ý, vì gen quan trọng này tồn tại nguyên vẹn trong tất cả các quần thể cải xoong khác trên toàn thế giới – lần đầu tiên các nhà khoa học ghi nhận được sự gián đoạn chức năng của gen này. Hơn nữa, các dạng biến đổi di truyền trong vùng gen IRT1 cho thấy rằng biến thể bị gián đoạn của IRT1 rất quan trọng với quá trình thích nghi. Sử dụng công nghệ CRISPR-Cas9, các nhà nghiên cứu nhận thấy sự gián đoạn IRT1 ở Fogo chính là nguyên nhân giúp gia tăng khả năng hấp thụ mangan ở lá.  Trong bước tiến hóa thứ hai, gen vận chuyển kim loại NRAMP1 được nhân đôi nhiều lần. Hiện tại, gần như tất cả các cây cải xoong ở Fogo đều mang nhiều bản sao của NRAMP1 trong bộ gen của chúng. Điều này giúp khuếch đại chức năng gen NRAMP1, tăng cường vận chuyển sắt và bù đắp tình trạng thiếu hụt sắt do sự gián đoạn IRT1 gây ra. “Chúng giúp cân bằng nội môi chất dinh dưỡng, một yếu tố quan trọng trong quá trình thích nghi”, Hancock nhận định. “Nhìn chung, kết quả của chúng tôi đã minh hoạ đặc biệt rõ ràng về cách những thay đổi di truyền đơn giản có thể điều chỉnh quá trình xử lý chất dinh dưỡng trong thực vật, cho phép chúng thích nghi với môi trường đất mới.”  “Hoá ra một quy trình hai bước đơn giản cũng có thể làm thay đổi quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng, điều này chứng tỏ chúng ta có thể tìm kiếm phương án đơn giản nào đó giúp cải thiện cây trồng, để chúng sinh trưởng thuận lợi hơn trong môi trường đất địa phương. Hơn nữa, quá trình phá vỡ gen và khuếch đại gen, như trong trường hợp IRT1 và NRAMP1 ở cải xoong Fogo, khá đơn giản đối với các nhà nghiên cứu, họ có thể học hỏi để ứng dụng lên các loài cây trồng khác,” Tergemina gợi mở.  Đinh Trang dịch  Nguồn: Two-step molecular process rewires nutrient transport in wild thale cress    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện hóa thạch một loài người tiền sử mới      Cây phả hệ của con người đã phát sinh thêm một nhánh khác sau khi các nhà khoa học khai quật được di cốt của một loài chưa được biết đến trước đây từ một hang động ở Philippines. Loài mới này được đặt tên là Homo luzonensis.      Nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế tại hang Callao. Ảnh: Armand Salvadore Nujares / AFP – Getty Images file.  Phát hiện mới được công bố trên tạp chí Nature vào ngày 10 tháng tư, có khả năng xới lại cuộc tranh luận về việc lần đầu tiên loài người cổ đại rời khỏi châu Phi như thế nào. Và niên đại của di cốt là khoảng 50.000 năm cách ngày nay – cho thấy bằng chứng có thể có các loài Homo khác nhau đã từng sinh sống ở khu vực Đông Nam Á.  Dấu vết đầu tiên của loài mới này đã bắt đầu được phát hiện từ khoảng một chục năm về trước, khi các nhà nghiên cứu báo cáo về việc phát hiện xương chân có niên đại ít nhất 67.000 năm tuổi trong hang Callao trên đảo Luzon, Philippines. Các nhà nghiên cứu không chắc chắn được là xương này thuộc về loài nào, nhưng báo cáo ban đầu của họ cho rằng có thể giống một cá thể Homo sapien còn nhỏ.  Nhiều cuộc khai quật tiếp theo tại hang Callao sau đó đã phát hiện thêm một xương đùi, bảy chiếc răng, hai xương chân và hai xương bàn tay – nhưng có những đặc điểm không giống với Homo sapien, theo nhà cổ nhân học Florent Détroit tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Pháp, trưởng nhóm nghiên cứu. Các di cốt này có thể thuộc về ít nhất là hai người lớn và một trẻ em.   So sánh với các loài khác trong chi Homo  Homo luzonensis là loài mới thứ hai thuộc chi Homo được xác định ở Đông Nam Á trong những năm gần đây. Trước đó, vào năm 2004, một nhóm nghiên cứu khác đã công bố phát hiện ra Homo floresiensis – còn được gọi là Hobbit – có chiều cao chỉ khoảng hơn một mét trên đảo Flores ở Indonesia.    Xương răng của Homo luzonensis. Ảnh: Callao Cave Archaeology Project.  Nhưng Détroit và các đồng nghiệp cho rằng di cốt trong hang Callao khác biệt với Homo floresiensis và các loài khác, trong đó có Homo erectus (người đứng thẳng) được cho là rời khỏi châu Phi lần đầu tiên vào khoảng 2 triệu năm trước.  Cụ thể, răng hàm của di cốt trong hang Callao rất nhỏ so với những loài người cổ đại khác. Các chỏm răng hàm giống như ở Homo sapien nhưng không rõ rệt như những Hominin (họ người) khác trước đó. Đặc điểm của men răng hàm trông giống như cả các mẫu vật Homo sapien và Homo erectus đã tìm thấy ở châu Á. Các răng tiền hàm được phát hiện tại hang Callao tuy nhỏ nhưng vẫn nằm trong phạm vi đặc điểm của Homo sapien và Homo floresiensis. Nhưng về mặt tổng thể, kích thước của răng cũng như tỉ lệ giữa kích thước của răng hàm và răng tiền hàm khác biệt với các loài khác thuộc chi Homo.  Hình dạng của xương chân Homo luzonensis cũng khác biệt. Dường như các xương chân này giống với Australopithecus (Vượn người phương Nam – được phát hiện với hóa thạch tiêu biểu là vượn người Lucy ở phía Bắc Ethiopia, châu Phi. Lucy có niên đại khoảng 3,2 triệu năm tuổi). Các đường cong ở xương ngón chân và xương ngón tay của di cốt Homo luzonensis cho thấy loài này có thể trèo cây rất thuần thục.  Các nhà nghiên cứu vẫn thận trọng trong nhận định về chiều cao của Homo luzonensis nhưng với hàm răng và xương chân nhỏ của các di cốt, Détroit cho rằng có thể loài này có kích thước tương đương với một số nhóm Homo sapien thấp nhỏ. Chẳng hạn như ngày nay một số nhóm cư dân bản địa sống ở Luzon và một số địa điểm khác ở Philippines thấp, nam giới có chiều cao trung bình được ghi nhận là khoảng 151 cm và phụ nữ khoảng 142 cm.     Xương ngón chân cong của Homo luzonensis để thích nghi với việc leo trèo. Ảnh: Callao Cave Archaeology Project.  Vị trí trong cây phả hệ  Các nhà nghiên cứu đang thảo luận về vị trí của Homo luzonensis trong cây phả hệ của loài người. Détroit ủng hộ quan điểm rằng các loài Homo mới xuất phát từ Homo erectus và có cơ thể dần dần phát triển thành các hình dạng khác với tổ tiên ban đầu.  “Và có thể có các con đường tiến hóa khác nhau giữa các hòn đảo”, theo nhà cổ nhân học Gerrit van den Bergh tại Đại học Wollongong ở Australia. “Chúng ta có thể tưởng tượng là Homo erectus di chuyển đến các hòn đảo như Luzon hoặc Flores và cần phải thích nghi với việc sống ở trên cây vào ban đêm”.   Nhưng với những đặc điểm tương đồng với Vượn người phương Nam, các nhà khoa học cũng băn khoăn liệu rằng Homo luzonensis có xuất phát từ một dòng di cư nào đó ra khỏi châu Phi trước cả Homo erectus hay không (vượn người phương Nam chưa được tìm thấy ở các khu vực khác ngoài châu Phi).   Việc nghiên cứu dữ liệu di truyền từ các di cốt này có thể sẽ giúp các nhà khoa học xác định được mối liên hệ của loài mới được phát hiện này với các loài Homo khác, nhưng những nỗ lực trích xuất DNA từ di cốt của Homo luzonensis đã thất bại. Tuy nhiên, các di cốt này có niên đại ít nhất là 50.000 năm cách ngày nay cho thấy rằng, có thể Homo luzonensis đã sinh sống, di chuyển ở khu vực Đông Nam Á cùng thời điểm với Homo sapien, Homo floresiensis và một nhóm vẫn còn nhiều bí ẩn là Denisovans – mà các nhà khoa học cũng đã tìm thấy DNA của người Denisovan ở cư dân châu Á ngày nay.   “Các đảo ở Đông Nam Á dường như chứa đầy những điều bất ngờ về cổ nhân học và sẽ làm phức tạp các kịch bản tiến hóa tưởng chừng như đơn giản của loài người”, William Jungers, một nhà cổ sinh học tại Đại học Stony Brook ở New York nhận định.     Các nhà khoa học đang thảo luận về vị trí của loài mới trong cây phả hệ loài người. Ảnh cây phả hệ: http://humanorigins.si.edu/evidence/human-family-tree  Bảo Như dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01152-3     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện kiến trúc cổ nhất và lớn nhất được biết của người Maya      Sử dụng kỹ thuật lidar, các nhà khoa học đã khám phá ra một kiến trúc lớn nhất và cổ nhất mà người ta biết từ trước đến nay của nền văn minh Maya – một cái nền cao hình chữ nhật khổng lồ được xây dựng vào khoảng 1000  năm đến 800 năm trước Công nguyên tại bang Tabasco, Mexico.      Cấu trúc này, không giống như những kim  tự tháp của nền văn minh Maya tại các thành phố như Tikal ở Guatemala và Palenque, Mexico được xây dựng vào khoảng 1.500 năm sau, nghĩa là không được xây bằng đá mà bằng đất sét và đất, và có lẽ được dùng để cho các buổi lễ lớn, các nhà nghiên cứu cho biết.  Tọa lạc tại một địa điểm mang tên Aguada Fénix gần với biên giới Guatemala, kiến trúc này rộng gần khoảng 400 mét  và dài 1.400 mét, cao từ 10 đến 15 mét. Nhìn tổng thể, nó còn vượt quá Kim tự tháp Giza Ai Cập, vốn được xây sớm hơn 1.500 năm.  Không có dấu hiệu của những bức tượng mô tả những cá nhân có địa vị cao trong xã hội lúc bây giờ. Điều đó cho thấy văn hóa Maya trong thời kỳ đầu này vẫn còn ở dạng “ăn chung, làm chung, hưởng chung” và chỉ ở giai đoạn sau đó sự bất bình đẳng xã hội mới xuất hiện, dẫn đến sự hình thành của một xã hội phân cấp do hoàng gia đứng đầu, các nhà nghiên cứu cho biết.  “Bởi vì nó rất rộng nên nếu đi bộ trên đó, anh vẫn chỉ tưởng đó là một vùng đất tự nhiên”, nhà khảo cổ học Takeshi Inomata của trường đại học Arizona và là người dẫn dắt nghiên cứu mới được xuất bản trên Nature nói. “Nhưng theo những gì lidar cho chúng tôi thấy thì nó tuyệt đẹp.”    Lidar là một kỹ thuật viễn thám được dùng trên một thiết bị bay để chiếu luồng xung laser và những dữ liệu khác thu được khi bay qua một địa điểm để tạo ra thông tin ba chiều về hình dạng của trên bề mặt.  Chín con đường lớn đắp cao và một loạt hồ nước được liên kết với kiến trúc này. Một vài phần của vùng nông thôn Aguada Fénix ngày nay là những trang trại chăn nuôi gia súc, những phần khác là rừng rậm.  “Có lẽ là có nhiều người sống xung quanh các khu vực này đã được tập hợp trong những dịp đặc biệt, có thể gắn liền với các chu kỳ lịch đại,” Inomata nói. “Lễ tế có thể liên quan đến các đám rước dọc theo các đường lớn và bên trong quảng trường hình chữ nhật. Con người cũng chôn các vật thể mang tính biểu tượng như rìu ngọc tại tâm điểm cao nguyên này.”  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/jun/03/maya-structure-discovered-mexico-lidar-aguada-fenix    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện may mắn có thể giúp đánh bại bệnh ung thư máu hiếm      Các nhà nghiên cứu Adelaide đã khám phá ra một phương pháp mới để điều trị bệnh ung thư máu tăng sinh tủy ác tính (yyelofibrosis) hiếm gặp, có thể có tiềm năng kéo dài cuộc sống cho người bệnh nhưng chất lượng cuộc sống vẫn được cải thiện.    Cứ 100.000 người Úc thì có một người mắc myelofibrosis. Các triệu chứng hiện hành được kiểm soát với việc suwe dụng các loại thuốc viên uống. Tuy nhiên điều đáng nói là chúng có tác dụng phụ và trên thực tế thì không thể loại bỏ được các tế bào ung thư.  Theo thời gian, chứng bệnh này sẽ tiến hóa thành bệnh máu trắng (leukemia) hoặc thành xơ tủy (marrow fibrosis), khiến bệnh nhân có thể chết. Tiến sĩ Daniel Thomas, người phụ trách Phòng thí nghiệm Chuyển hóa Myeloid tại SAHMRI và phó giáo sư y học trường đại học Adelaide, đã dẫn dắt thực hiện nghiên cứu và xuất bản trên EMBO Reports, trong hợp tác với giáo sư Angel Lopez tại SA Pathology. Tiến sĩ Thomas cho biết rằng thật vô cùng may mắn thi được tham gia dẫn dắt phát hiện khác thường này.  “Chúng tôi trên thực tế cố gắng để tạo ra một công cụ để nghiên cứu về myelofibrosis. Chúng tôi không nhận ra là kháng thể mà chúng tôi tạo ra có thể có các đặc tính trị liệu”, tiến sĩ Thomas nói.  “Sản phẩm của chúng tôi đã ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư trong một mô hình căn bệnh, đã làm tăng đáng kể tỷ lệ sống sót mà không gây ra những tác dụng phụ đáng chú ý”.  Đồng tác giả nghiên cứu và nhà hóa sinh Denis Tvorogov tạo ra các kháng thể bằng việc sử dụng một đoạn peptide gọi là “neoepitope” chỉ hiện diện trong các mô bệnh mà không xuất hiện ở các mô lành.  Những gì ông không chờ đợi là kháng thể tiêu diệt tế bào ung thư khi thử nghiệm nó trên các mẫu bệnh phẩm. “Điều thực sự thú vị là nhiều bệnh ung thư cũng có các đoạn peptide tương tự, vì vậy chúng tôi có thể nhắm mục tiêu bằng cách khai thác hệ miễn dịch”, tiến sĩ Tvorogov nói.  “Các mảnh đó được tạo ra bằng đột biến chèn đoạn hoặc đột biến xóa đoạn xảy ra khi mắc ung thư. Chúng tôi đã tìm thấy chúng không chỉ dẫn dắt sự tăng trưởng của ung thư mà còn pha hủy các đích mà không tạo ra hiệu ứng phụ”. Nó sẽ trở thành phương thức thực hành tiêu chuẩn để điều trị myelofibrosis với thuốc Ruxolitinib. Tuy nhiên, thật khó chứng minh hiệu quả trong việc điều trị ung thư, thậm chí còn là nguyên nhân dẫn đến những hiệu ứng phụ. Kháng thể mới hiện đang được chuẩn bị cho các pha thử nghiệm lâm sàng sớm ở Nam Úc vào cuối năm nay, với sự hỗ trợ của công ty sinh học địa phương AusHealth. Giám đốc Greg Johansen cho biết giáo sư Lopez và tiến sĩ Thomas đã hỗ trợ rất nhiều cho quá trình chuẩn bị pha thử nghiệm lâm sàng tiếp theo.  Các mô hình tiền lâm sàng đã chứng tỏ thuốc hiệu quả khi làm giảm các khối u và tiến sĩ Thomas tự tin cho rằng thuốc kháng thể này sẽ chứng tỏ được sự an toàn và hiệu quả trên người.  “Chúng tôi ước tính có ít nhất 12.000 người Úc mắc bệnh ung thư hoặc có ung thư biểu hiện một loại neoepitope tái phát tương tự như những gì được tìm thấy trong bệnh xơ tủy, có thể chữa được bằng phương pháp điều trị miễn dịch”, tiến sĩ Thomas nói.  “Khám phá này mang đến cho chúng tôi một góc nhìn mới. Chúng tôi cần xây dựng các liệu pháp tế bào và kháng thể chống lại các đoạn đó càng nhanh càng tốt”.  Ông hiện thời đang xây dựng một thuật toán để dò các mảnh sẽ giúp các công ty dược và các bác sĩ kết nối với các ca điều trị lâm sàng. “Với cơ sở liệu pháp proton mới đang được xây dựng, một số lượng lớn các công ty sinh học và hồ sơ theo dõi việc tuyển dụng người cho các ca thử nghiệm lâm sàng, Nam Úc đã sẵn sàng dẫn đầu một làn sóng mới thay đổi cuộc đời với các liệu pháp điều trị ung thư”, tiến sĩ Thomas nói.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-02-lucky-key-rare-blood-cancer.html  https://www.abc.net.au/news/2022-03-25/researchers-discover-potential-treatment-for-rare-cancer/100938498  ———————————————–  1. https://www.embopress.org/doi/full/10.15252/embr.202152904    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện mới lý giải tại sao con người có bộ não lớn      Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Cell cho thấy, sự chuyển đổi phân tử đã khiến cho bộ não của con người lớn hơn gấp ba lần so với bộ não của vượn lớn.      Vỏ não của người trưởng thành có số lượng tế bào thần kinh lớn hơn gần gấp đôi so với vỏ não của vượn lớn. Ảnh: Pixel-shot/Alamy  Một trong những đặc điểm khiến con người khác biệt so với các loài họ hàng linh trưởng gần gũi, đó là chúng ta có bộ não lớn hơn một cách đáng kinh ngạc. Hiện nay, các nhà khoa học đã dần làm sáng tỏ nguyên nhân tạo nên sự khác biệt ấy, thông qua việc thu thập tế bào của người, khỉ đột và tinh tinh rồi biến chúng thành những khối mô não trong phòng thí nghiệm.   Các thử nghiệm trên khối mô não siêu nhỏ cho thấy, một “công tắc” phân tử chưa từng được biết đến từ trước đến nay kiểm soát sự phát triển của não bộ và khiến não của con người lớn hơn gấp ba lần so với não của những con vượn lớn. Nếu “công tắc” ấy có thay đổi nhỏ thì bộ não của con người có thể sẽ đánh mất ưu thế phát triển, còn bộ não của vượn lớn lại trở nên giống như não của con người.  “Chúng tôi nhận thấy rằng sự khác biệt trong ‘hành vi’ tế bào ở thời điểm ban đầu đã khiến cho não người phát triển lớn hơn các loài vượn khác”, tiến sĩ Madeleine Lancaster, nhà sinh học phát triển tại Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử của Hội đồng Nghiên cứu Y tế ở Cambridge, cho biết.   Bộ não của một người trưởng thành khỏe mạnh thường đạt 1,500cm3, lớn gấp gần ba lần kích thước bộ não của khỉ đột (500cm3) hoặc bộ não của tinh tinh (400cm3). Tuy nhiên, để tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt ấy lại là một thách thức lớn, đặc biệt là khi sự phát triển của não người và vượn lớn không dễ dàng để có thể nghiên cứu.  Lancaster và các đồng nghiệp của mình đã thu thập các tế bào, thường là các tế bào còn sót lại sau các xét nghiệm và các cuộc phẫu thuật y tế từ người, khỉ đột và tinh tinh, rồi “lập trình” chúng thành những mô não 3D (brain organoids) siêu nhỏ có kích thước chỉ vài milimet.    Sau vài tuần, các mô não người đã đạt kích thước lớn nhất trong số đó. Theo kết quả kiểm tra của các nhà nghiên cứu, nguyên nhân là do trong mô não của người, các tế bào thần kinh tiền sinh (neural progenitor cells) – tế bào sẽ tiếp tục tạo ra tất cả các tế bào khác trong não – đã phân chia nhiều hơn so với các tế bào tương tự ở mô não vượn lớn. Lancaster cho biết: “Có sự gia tăng số lượng tế bào thần kinh tiền sinh ở con người, do vậy một khi chúng chuyển sang tạo ra các tế bào não khác nhau, bao gồm cả tế bào thần kinh, chúng sẽ dẫn đến nhiều thay đổi khác nữa. Và vì vậy, số lượng tất cả các tế bào não trên toàn bộ vỏ não của con người trở nên nhiều hơn”.  Sự khác biệt trong sản sinh tế bào đã diễn ra từ rất sớm trong quá trình phát triển não bộ, và điều này cuối cùng đã dẫn đến việc số lượng tế bào thần kinh trong vỏ não của người trưởng thành nhiều hơn gần gấp đôi so với số lượng ấy ở vượn lớn.  Không chỉ vậy, các nhà nghiên cứu cũng tiếp tục xác định được một gene đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình này. Đó là Zeb2, gene sau đó đã “bật” trong mô của người, cho phép các tế bào phân chia nhiều hơn trước khi chúng trưởng thành. Các thử nghiệm cũng chỉ ra, việc trì hoãn tác động của Zeb2 sẽ khiến cho mô não của khỉ đột phát triển lớn hơn, trong khi nếu gene này được “bật” lên sớm hơn ở người thì các mô não của chúng ta sẽ phát triển giống như loài vượn.  John Mason, giáo sư về sự phát triển thần kinh phân tử tại ĐH Edinburgh, người không tham gia vào nghiên cứu cho biết, các kết quả này đã làm nổi bật vai trò và sức mạnh của “organoid” – các mô 3D cực nhỏ được nuôi cấy từ tế bào gốc – trong các nghiên cứu về sự phát triển của não bộ. “Việc chúng ta biết được cách một bộ não bình thường phát triển như thế nào là điều vô cùng quan trọng, một phần là bởi nó sẽ giúp chúng ta hiểu điều gì khiến con người trở nên đặc biệt, và một phần là vì nó có thể cung cấp cho ta những thông tin thiết yếu về cách các rối loạn phát triển thần kinh được hình thành”, ông nói. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/mar/24/scientists-discover-why-the-human-brain-is-so-big    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới trong cơ chế phát triển ung thư bạch cầu      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Sussex, Anh vừa tìm ra một cơ chế mới trong sự tăng trưởng tế bào ung thư bạch cầu. Phát hiện này có thể giúp đưa ra các phương pháp điều trị mới.      Trong các tế bào máu bình thường, protein β-catenin đi theo một chu trình: Protein này tương tác với LEF-1 để đi vào nhân, sau đó gắn vào DNA, thúc đẩy hoạt động của một số gen. Nồng độ LEF-1 giảm sau đó sẽ giúp giải phóng β-catenin ra ngoài nhân. Còn trong các tế bào ung thư bạch cầu, nồng độ β-catenin tăng cao. Protein này tương tác với LEF-1 để đi vào nhân, gắn vào DNA, tuy nhiên sau đó sẽ không đi ra khỏi nhân. Việc mất kiểm soát trong chu trình hoạt động của β-catenin gây ra sự tăng trưởng bất thường của các tế bào máu.  Bệnh ung thư bạch cầu dòng tủy cấp (Acute myeloid leukemia – AML) là một bệnh ung thư máu nguy hiểm và thông thường tiên lượng xấu với các bệnh nhân mắc phải, kể cả người lớn và trẻ em.  Phương pháp hóa trị liệu được sử dụng phổ biến hiện nay trong điều trị ung thư bạch cầu có độc tính cao, và thường không đem lại hiệu quả chữa bệnh lâu dài. Việc tìm ra ra các liệu pháp dung nạp tốt hơn và nhắm đích cao có thể giúp thuyên giảm bệnh bền vững là một nhu cầu cấp bách cho điều trị.     Đặc điểm của các tế bào ung thư bạch cầu là có một protein là β-catenin hoạt động quá mức, đóng vai trò trong thúc đẩy sự phát triển ung thư. Protein này di chuyển vào nhân của các tế bào, nơi lưu trữ DNA, hỗ trợ kích hoạt các gen quan trọng cho sự phát triển bệnh bạch cầu. Hoạt động của β-catenin phụ thuộc nhiều vào tương tác giữa nó với các protein khác trong tế bào. Tuy nhiên, trước đây, quá trình di chuyển của β-catenin vào nhân tế bào trong bệnh bạch cầu vẫn chưa được hiểu rõ.  Các nhà nghiên cứu tại Đại học Sussex, sử dụng tài trợ từ Quỹ bệnh bạch cầu Kay Kendall (KKLF) và Bloodwise đã phát hiện ra một protein tương tác voi β-catenin và thúc đẩy quá trình phát triển của các tế bào ung thư bạch cầu.     Nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng protein LEF-1 có thể chủ động kiểm soát nồng độ β-catenin trong nhân của các tế bào ung thư bạch cầu dòng tủy. Đây là nghiên cứu đầu tiên phát hiện ra cơ chế hoạt động này và cũng là nghiên cứu đầu tiên tìm ra loại protein tương tác voi β-catenin trong các tế bào máu. Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Haematologica. Phát hiện của họ mở ra chiến lược mới trong điều trị AML.     Tiến sĩ Rhys Morgan, tác giả chính bài báo cho biết: “Trong khi từ lâu nay, các nhà khoa học đã biết về vai trò của β-catenin trong tiến triển ung thư, nhưng các loại thuốc nhắm trực tiếp vào protein này hoặc các “đối tác” của nó vẫn chưa được đưa vào thử nghiệm lâm sàng. Vì vậy chúng tôi mong rằng việc tìm ra cơ chế này sẽ dẫn tới phương pháp nghiên cứu nhắm vào quá trình di chuyển cua β-catenin vào nhân, thông qua một đối tác như LEF-1. Đây có thể trở thành một liệu pháp khả thi trong điều trị bệnh bạch cầu. “     Ông cũng lưu ý: “Nghiên cứu này vẫn còn ở giai đoạn rất sớm và việc nhắm mục tiêu điều trị vào hoạt động của β-catenin có thể sẽ không phải là một giải pháp cho tất cả các trường hợp bệnh.”    Tiến sĩ Morgan và nhóm của ông hiện đang tiếp tục tìm hiểu thêm về ý nghĩa sinh học của nhiều tương tác protein mới được phát hiện trong nghiên cứu này, với niềm tin rằng những tương tác khác cũng có thể đóng vai trò trong việc ức chế hoạt động cua β-catenin trong bệnh ung thư bạch cầu.    Lam Huyên dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2019-01-reveals-mechanism-leukaemia-cell-growth.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới từ tổ ong bắp cày gợi mở ứng dụng của vật liệu huỳnh quang      Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Liên (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cùng các nhà khoa học thuộc Đại học Sorbonne và Đại học Paris mới đây đã phát hiện ra tổ của nhiều loài ông bắp cày châu Á hiển thị màu xanh lục sáng dưới tia UV. Trong bài báo đăng trên Journal of the Royal Society Interface, nhóm tác giả đã mô tả những chuyến đi của họ xuyên qua các cánh rừng nhiệt đới ở miền Bắc Việt Nam vào ban đêm và những điều kỳ lạ mà họ đã tìm thấy.      Dưới ánh sáng trắng, tổ ong bắp cày có màu trắng (bên trái). Nhưng trong bóng tối, dưới tia UV, tổ ong phát ra áng sáng xanh lục (bên phải). Ảnh: Bernd Schöllhorn và Serge Berthier.  Swanne Gordon, một nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Washington ở St. Louis, người nghiên cứu về tín hiệu côn trùng và ong, và cũng không tham gia vào nghiên cứu, nhận định: “Một khám phá mới như thế này sẽ gợi mở ra rất nhiều câu hỏi”.   Thực chất, đã từng có nhiều loài động vật phát huỳnh quang trên các bộ phận của cơ thể chúng như cá, bọ cạp, tắc kè hoa và rùa; nhưng rất hiếm khi bắt gặp một vật liệu do sinh vật tạo ra cũng có thể phát huỳnh quang. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng về việc phát huỳnh quang sinh học (khi vật chất sống hấp thụ ánh sáng và sau đó phát lại ở bước sóng mới) trong tổ ong bắp cày ở miền Bắc nước ta.    Nhóm nghiên cứu phát hiện ra điều này một cách rất tình cờ. Bernd Schöllhorn (Giáo sư hóa học thuộc Đại học Paris), người dẫn dắt nghiên cứu, cho biết trong khi băng qua rừng vào ban đêm, họ đã phát hiện ra một thứ gì đó phát ra ánh sáng màu vàng xanh. Khi ông tắt đèn, thứ đó biến mất. Schöllhorn tiến lại gần hơn và nhận ra đó là một tổ ong bắp cày. Những loài ong bắp cày thuộc chi Polistes đã tạo nên những chiếc tổ với các ô nhỏ hình lục giáp ghép lại với nhau. Chúng bịt kín mặt dưới của những tế bào hình lục giác bằng một thứ mũ kén làm bằng sợi mềm, giúp bảo vệ những ấu trùng đang phát triển trong tổ. Và thật ngạc nhiên, những chiếc mũ kén này phát ra ánh sáng mạnh màu vàng lục khi tiếp xúc với tia UV có bước sóng từ 360 đến 400 nanomet. Trong khi đó, khi tiếp xúc với ánh sáng trắng, tổ ong có màu trắng sáng.   “Chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra một loại vật chất sinh học có thể phát huỳnh quang mạnh như vậy”, nhóm nghiên cứu chia sẻ với Live Science qua email. “Theo chúng tôi được biết, chưa có một nhà nghiên cứu hay bất kỳ nhiếp ảnh gia nào từng quan sát và ghi nhận hiện tượng này trong quá khứ.” TS. Phương Liên và các nhà khoa học đã phát hiện thêm hiện tượng phát huỳnh quang ở tổ của ba loài ong bắp cày khác.  Bản thân TS. Nguyễn Thị Phương Liên và các đồng nghiệp cũng đã cân nhắc rất nhiều về ý nghĩa của hiện tượng này. Việc phát sáng huỳnh quang có thể chỉ là kết quả của sự tình cờ, hoặc là hệ quả kỳ lạ của một quá trình lý sinh ngẫu nhiên. “Đây có thể chỉ là một sản phẩm phụ ngẫu nhiên trong quá trình ong bắp cày tạo ra những tơ mềm”, chuyên gia về ong bắp cày Liz Tibbetts thuộc Đại học Michigan cho biết.   Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những nghiên cứu trước đây với các sinh vật khác đã phát hiện ra rằng huỳnh quang có thể đóng vai trò như một ngọn hải đăng – dẫn lối cho các loài sinh vật trở về nhà vào ban đêm. Ngoài ra, các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng vật liệu huỳnh quang sinh học là phương tiện che chắn cho ấu trùng ong bắp cày khỏi những tia UV có hại của Mặt trời – nhóm nghiên cứu nghiêng về giả thuyết này hơn cả. “Các nghiên cứu trước đây cho thấy độ dài tương đối của ngày và đêm ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của ấu trùng ong”, Schöllhorn chia sẻ, do đó các nắp kén phát sáng có thể giúp kiểm soát lượng ánh sáng ban ngày chiếu vào ấu trùng khi chúng phát triển thành nhộng.   Hiện tại, nhóm nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu thêm để xác định cấu trúc hóa học cho phép loại mũ kén này phát sáng. Những kiến thức đó có thể cung cấp manh mối về chức năng của nó, và gợi mở những ứng dụng của vật liệu huỳnh quang này cho các mục đích công nghệ hoặc y sinh trong tương lai. □  Anh Thư tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-asian-paper-wasp-bright-green.html  https://www.popsci.com/animals/paper-wasp-nest-fluorescent-glow/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về tương tác của arsenic trong tầng ngậm nước      Giáo sư Phạm Hùng Việt, giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm (ĐHQGHN) và cộng sự mới có công bố “Phosphate immobilisation dynamics and interaction with arsenic sorption at redox transition zones in floodplain aquifers: Insights from the Red River Delta, Vietnam” (Động lực cố định phosphat và tương tác với sự hấp thụ arsenic tại các vùng chuyển tiếp trong những tầng ngậm nước ven sông: Những cái nhìn từ vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam) trên tạp chí Journal of Hazardous Materials.      Lấy mẫu đất tại làng Vạn Phúc.  Ngày nay, tác tại của arsenic (As) đối với môi trường và sức khỏe con người đã được biết đến rộng rãi. Việc càng có thêm nhiều hiểu biết về hành xử của arsenic sẽ càng giúp chúng ta có nhiều giải pháp để giảm thiểu tác hại của nó. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống thông tin về những tương tác với arsenics, không chỉ ở châu Á mà còn trên thế giới. Do đó, giáo sư Phạm Hùng Việt và các nhà nghiên cứu tại ĐHQGHN và Đức, Thụy Sĩ đã tập trung vào tìm hiểu về sự cố định song song của arsenic và phosphat (PO43-), một hợp chất tồn tại khá nhiều trong các trầm tích trong những tầng ngậm nước.tại một vùng chuyển tiếp ô xi hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng tại Việt Nam.   Các nhà nghiên cứu cho biết, sau khi phân tích các mẫu khoan và tách chiết arsenic và phosphat, họ nhận thấy cả hai chất này đều có cấu trúc liên kết trong các lớp kết tủa sắt (III) hydroxit – một hợp chất hóa học của sắt, oxy và hydro. Điều này cho thấy, sự hình thành của arsenic và phosphat đều dựa trên một cơ chế cố định chiếm ưu thế. Tuy nhiên, sự cố định này còn liên quan đến một quá trình khác là quá trình hấp thụ arsenic. Điều đáng chú ý là các tỷ lệ phân tử gam của tổng số phosphat so với arsenic trong những khu vực trầm tích hấp thụ bề mặt cao hơn một bậc so với các tỷ lệ tương tự trong nước ngầm. Điều này cho thấy, quá trình hấp thụ đã “ưu tiên” phosphat hơn so với arsenic.   Vậy nguyên nhân nào dẫn đến kết quả này? Trong công bố của mình, giáo sư Phạm Hùng Việt và cộng sự cho rằng, sự hấp phụ cạnh tranh này chủ yếu là do sự hiện diện của các lớp kết tủa sắt (III) hydroxit. Sự tiếp xúc liên tục của các trầm tích trong tầng chứa nước với nước ngầm khử sắt là nguyên nhân dẫn đến dẫn đến giảm sự phân hủy của kết tủa sắt (III) hydroxit kết tinh yếu, qua đó kéo theo giảm sự cạnh tranh về vị trí hấp phụ giữa arsenic và phosphat. Đây chính là cơ chế đằng sau sự hấp phụ arsenic trong các tầng ngậm nước.  Các nhà nghiên cứu cho rằng, với những hiểu biết mới về tương tác arsenic, chúng ta sẽ có cơ hội nhìn nhận lại các giải pháp giảm thiểu tác động của hóa chất này trong đất. Để có những giải pháp đạt được thành công trong trung hạn và dài hạn, các phương pháp tiếp cận và chiến lược quản lý khắc phục ô nhiễm arsen cần phải xem xét đến sự hấp thụ cạnh tranh giữa arsenic và phosphat cũng như động lực của chu trình sinh hóa sắt.   Nhóm nghiên cứu địa hóa môi trường của giáo sư Phạm Hùng Việt tại ĐHQGHN là nhóm nghiên cứu hàng đầu Việt Nam về ô nhiễm arsenic trong đất. Thông qua các hợp tác quốc tế với nhiều nhà khoa học ở Đức, Thụy Sĩ, nhóm đã có nhiều công trình nghiên cứu xuất bản trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao, như “Arsenic contamination of groundwater and drinking water in Vietnam: a human health threat” (Sự ô nhiễm arsenic trong nước ngầm và nước ăn tại Việt Nam: Một hiểm họa sức khỏe con người) trên tạp chí Environmental science & technology (năm 2001), “Arsenic in groundwater of the Red River floodplain, Vietnam: controlling geochemical processes and reactive transport modeling” (Arsenic trong nước ngầm ở vùng ven sông Hồng, Việt Nam: Kiểm soát các quá trình địa hóa và mô hình hóa vận chuyển phản ứng) xuất bản trên tạp chí Geochimica et Cosmochimica Acta năm 2007, “Retardation of arsenic transport through a Pleistocene aquifer” (Cơ chế làm chậm sự di chuyển của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene”) trên tạp chí Nature năm 2014… Hiện tại, “Arsenic contamination of groundwater and drinking water in Vietnam: a human health threat” là công trình nghiên cứu về arsenic có nhiều trích dẫn nhất của nhóm với 1274 lần.  Tô Vân    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một dạng mới của vật chất bên trong các sao neutron      Một nhóm nghiên cứu Phần Lan đã tìm ra bằng chứng thuyết phục về sự hiện diện của vật chất quark “lạ” trong các lõi của những ngôi sao neutron lớn nhất đang tồn tại. Họ có được kết luận này bằng việc kết hợp với lý thuyết vật lý hạt và vật lý hạt nhân, qua đó đo lường được sóng hấp dẫn từ những vụ va chạm sao neutron.    Tất cả các vật chất bình thường xung quanh chúng đều bao gồm các nguyên tử có cấu trúc hạt nhân dày đặc và được cấu tạo từ các proton và neutron, được bao các electron mang điện tích âm bao quanh. Tuy vậy trong các ngôi sao neutron, vật chất nguyên tử suy sụp thành vật chất hạt nhân đậm đặc, trong đó các neutron và proton được nén lại chặt đến mức toàn bộ ngôi sao này được coi là một hạt nhân khổng lồ.  Cho đến tận bây giờ, có một điều vẫn còn chưa rõ là liệu vật chất hạt nhân trong lõi của những ngôi sao neutron siêu khối lượng suy cụp thành một trạng thái lạ mà người ta vẫn gọi là vật chất quark, trong đó hạt nhân tự nó có tồn tại lâu không. Các nhà nghiên cứu từ trường đại học Helsinki đã tuyên bố: câu trả lời cho câu hỏi này là có. Kết quả mới được họ công bố trên Nature Physics.    Phó giáo sư Aleksi Vuorinen của Khoa Vật lý trường đại học Helsinki. ĐH Helsinki  “Việc xác nhận sự tồn tại của các lõi quark bên trong các sao neutron đã là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các nhà vật lý sao neutron kể từ khi điều có thể này được trao đổi khoảng 40 năm trước”, phó giáo sư Aleksi Vuorinen của Khoa Vật lý trường đại học Helsinki, nói.  Cùng làm việc với Vuorinen, nhóm nghiên cứu còn có nghiên cứu sinh Eemeli Annala từ Helsinki, cũng như các đồng nghiệp Tyler Gorda từ trường đại học Virginia, Aleksi Kurkela từ CERN, và Joonas Nättilä từ trường đại học Columbia.  Sự tồn tại có vẻ phù hợp  Với những mô phỏng trên quy mô lớn chạy trên những siêu máy tính có khả năng xác định được cả vật chất hạt nhân bên trong các sao neutron, nhóm nghiên cứu Phần Lan đã đề xuất một cách tiếp cận mới cho vấn đề này. Họ nhận thấy bằng việc kết hợp những phát hiện về vật lý hạt nhân, vật lý lý thuyết hạt với những đo lường vật lý thiên văn, có thể suy ra những đặc điểm và sự nhận diện của vật chất tồn tại bên trong các sao neutron.  Theo nghiên cứu này, vật chất tồn tại trong lõi của những ngôi sao neutron siêu khối lượng và bền bậc nhất tương đồng nhất với vật chất quark hơn bất cứ vật chất hạt nhân thông thường khác. Những tính toán chỉ ra rằng trong những ngôi sao này, đường kính của lõi được nhận biết như vật chất quark có thể vượt quá một nửa của những vật chất trong toàn bộ sao neutron. Dẫu sao, Vuorinen chỉ ra rằng ở đây vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất định liên kết với cấu trúc chính xác của các sao neutron. Điều này có nghĩa gì với việc tuyên bố là vật chất quark hầu như đã được khám phá?  “Vẫn còn một cơ hội nhỏ cho thấy mọi ngôi sao neutron đều được tạo ra chỉ từ vật chất hạt nhân. Những gì chúng ta có khả năng làm là định lượng những gì kịch bản này có thể đòi hỏi. Nói ngắn gọn, hành xử của vật chất hạt nhân đậm đặc sau đó có thể cần phải thực sự đặc biệt. Ví dụ tốc độ của âm thanh có thể cần chạm tới ánh sáng”, Vuorinen giải thích.  Xác định phạm vi bán kính từ các quan sát sóng hấp dẫn  Một yếu tố quan trọng đóng góp vào phát hiện mới này là sự xuất hiện của hai kết quả trong quan sát vật lý thiên văn: việc đo lường được những sóng hấp dẫn từ một cuộc sáp nhập sao neutron và việc dò được các ngôi sao neutron siêu khối lượng với khối lượng gần gấp đôi khối lượng mặt trời.  Vào mùa thu năm 2017, các đài quan sát LIGO và Virgo đã dò được lân đầu tiên các sóng hấp dẫn sinh ra từ sáp nhập của hai sao neutron. Quan sát này đã thiết lập một giới hạn trên rất nghiêm ngặt về một đại lượng gọi là sự biến dạng thủy triều, vốn được đo lường sự nhạy cảm của một cấu  trúc sao di chuyển theo với trường hấp dẫn của sao còn lại. Kết quả này đã được sử dụng để tìm được giới hạn trên cho những phạm vi va chạm của các ngôi sao neutron, hóa ra vào khoảng 13 km.  Tương tự, khi quan sát đầu tiên về một sao neutron theo nhiều cách vào năm 1967, những phép đo đạc khối lượng chính xác của các ngôi sao này chỉ được thực hiện trong vòng 20 năm qua hoặc hơn. Phần lớn các ngôi sao với khối lượng được biết một cách chính xác thường rơi vào khoảng 1 đến 1,7 khối lượng sao nhưng thập kỷ qua đã chứng kiến việc dò được ba ngôi sao chạm đến hoặc thậm chí có thể vượt qua một chút với giới hạn gấp đôi khối lượng mặt trời.  Những quan sát mong đợi  Thông tin về phạm vi bán kính và khối lượng sao neutron đã lập tức được coi là giảm đi những bất định liên quan với các đặc tính nhiệt động lực học của khối lượng sao neutron. Điều này giúp hoàn thành phân tích của nhóm nghiên cứu Phần Lan trên bài báo “Evidence for quark-matter cores in massive neutron stars” được đăng trên Nature Physics.  Trong những phân tích mới, các quan sát vật lý thiên văn đã kết hợp những kết quả lý thuyết tiên tiến nhất từ vật lý hạt và vật lý hạt nhân. Điều này cho phép đưa ra một dự đoán chính xác hơn về cái vẫn được gọi là sự tương quan giữa áp suất và mật độ năng lượng của chúng. Một phần không thể thiếu của quá trình này là một kết quả nổi tiếng của Thuyết tương đối rộng, vốn liên quan đến phương trình của trạng thái với sự liên quan giữa những giá trị có thể của bán kính và khối lượng sao neutron.  Từ mùa thu năm 2017, sự sáp nhập của những ngôi sao neutron đã được quan sát, và LIGO – Virgo đã nhanh chóng trở thành một phần không thể thiếu trong nghiên cứu về sao neutron. Thông tin mới về những quan sát được tập hợp một cách nhanh chóng đã đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường độ chính xác của phát hiện mới từ Phần Lan, và trong sự xác nhận sự tồn tại của vật chất quark bên trong các sao neutron. Với những quan sát thêm nữa được chờ đợi trong tương lai gần, những bất định liên quan với kết quả mới sẽ được giảm bớt một cách tự động.  “Đây là nguyên nhân để chúng ta tin tưởng là thời đại vàng của vật lý thiên văn sóng hấp dẫn mới chỉ bắt đầu, và chúng ta sẽ nhanh chóng chứng kiến rất nhiều bước nhảy vọt như điều mới tìm thấy này trong hiểu biết của chúng ta về tự nhiên”, Vuorinen hào hứng nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-neutron-stars.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một đồng vị mới: Mendelevium-244      Một nhóm nghiên cứu làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Berkeley Lab) đã khám phá ra một hình thức mới của mendelevium, nguyên tố do con người tạo ra và là nguyên tố 101 trên bảng tuần hoàn. Đồng vị mới này mang tên mendelevium-244 là hình thức nhẹ nhất trong số 17 đồng vị của nguyên tố mendelevium.      Mendelevium do các nhà khoa học tại Berkeley Lab lần đầu tạo ra vào năm 1955, và thuộc về danh sách 16 đồng vị mà các nhà khoa học ở đây phát hiện hoặc hỗ trợ phát hiện ra. Một đồng vị là một hình thức của một nguyên tố với ít hoặc nhiều neutron (các hạt không mang điện tích) trong các hạt nhân nguyên tử hơn những dạng khác của nguyên tố đó.  Trong khám phá mới nhất này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng máy gia tốc 88-Inch Cyclotron của Berkeley Lab với những chùm tia của những hạt mang điện tích được gia tốc cực lớn bắn vào các bia để tạo ra các nguyên tử của các nguyên tố siêu nặng để hình thành mendelevium-244. Một máy gia tốc cyclotron là một dạng của máy gia tốc hạt do chính Ernest O. Lawrence, người sau đó được lấy tên đặt cho phòng thí nghiệm này, thiết kế và lắp đặt vào năm 1930.  Nhóm nghiên cứu này, gồm các nhà khoa học từ UC Berkeley, Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore, trường đại học San Jose, trường đại học Lund Thụy Điển và do các nhà khoa học Berkeley Lab dẫn dắt, đã khám phá ra đồng vị mendelevium – 12 trong 17 đồng vị của mendelevium, và có được tất cả 640 đồng vị – khoảng 1/5 đồng vị đã biết và trở thành viện nghiên cứu duy nhất dẫn đầu trong hướng này. Khi năm 2019 khép lại, trên toàn thế giới có 3.308 đồng vị được biết đến. Mendelevium-244 là đồng vị đầu tiên do các nhà khoa học ở Berkeley Lab phát hiện kể từ năm 2010.  “Thật thách thức cho việc khám phá được dạng đồng vị mới của mendelevium bởi vì tất cả các đồng vị mendelevium liền kề đều có những đặc tính phân rã tương đồng”, Jennifer Pore, nhà khoa học dẫn dắt dự án nghiên cứu này tại Berkeley Lab, nói. Phân rã alpha miêu tả quá trình này bằng một nguyên tố phóng xạ như mendelevium bị phá vỡ thành các nguyên tố nhẹ hơn theo thời gian.  Về tổng thể, nhóm nghiên cứu đã đo đạc các đặc tính của 10 nguyên tử mendelevium-244, vốn là chi tiết được đề cập đến một cách chi tiết trong công bố trên Physical Review Letters với tiêu đề “Identification of the New Isotope Md244”.    “Mỗi đồng vị thể hiện một sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa các proton và neutron”, Pore giải thích. “Khi một đồng vị mới được phát hiện ra thì đó là sự kết hợp cụ thể của các proton (các hạt mang điện tích dương) và các neutron (các hạt không mang điện tích) chưa từng được quan sát. Các nghiên cứu về những kết hợp mang tính độc đáo như thế có vai trò hết sức quan trọng với hiểu biết của chúng ta về tất cả các vật chất hạt nhân”.  Thêm vào khám phá về đồng vị mới, công việc của nhóm nghiên cứu cũng đem lại bằng chứng trực tiếp đầu tiên về một quá trình phân rã bao gồm một đồng vị của berkelium.  Họ đã tìm thấy bằng chứng là mendelevium-244 có hai chuỗi phân rã riêng rẽ, mỗi chuỗi dẫn đến một  chu kỳ bán rã khác biệt: 0,4 giây và 6 giây, trên cơ sở các hình thức năng lượng khác nhau của các hạt trong các hạt nhân của nó. Một chu kỳ bán rã là thời điểm để số lượng các nguyên tử của một nguyên tố phóng xạ bị giảm đi xuống còn một nửa khi phân rã hạt nhân của chúng thành một chất khác, hạt nhân nhẹ hơn.  Trong một phép đo đạc riêng rẽ từ một nghiên cứu tương tự, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng đầu tiên về quá trình phân rã alpha của berkelium-236, một đồng vị của nguyên tố berkelium, khi chuyển thành americium-232, một đồng vị nhẹ hơn chút đỉnh. Berkelium đã được tìm ra vào năm 1949 cũng do một nhóm nghiên cứu ở Berkeley Lab.  Trung tâm của khám phá đồng vị này là một thiết bị mang tên FIONA tại 88-Inch Cyclotron hay còn được gọi là “Để nhận diện Nuclide A” (For the Identification Of Nuclide A). Chữ  “A” trong FIONA thể hiện số khối của một nguyên tố, vốn là số lượng của toàn bộ các proton và neutron trong một hạt nhân nguyên tử. Số khối của đồng vị mới là 244.  “Công cụ quan trọng nhất mà chúng tôi có trong khám phá này chính là FIONA”, Pore nói. Chị là một thành viên của nhóm nghiên cứu đã hỗ trợ các kiểm thử trên FIONA. FIONA có thể đo đạc một cách chính xác số khối của đồng vị mới.  Barbara Jacak, Giám đốc Bộ phận Khoa học hạt nhân tại Berkeley Lab, nói, “Chúng tôi xây dựng FIONA để thúc đẩy các khám phá như nghiên cứu này, và thật thú vị khi thấy công cụ này có thể ‘điểm trúng’ từng bước đi đó”.  Michael Thoennessen, một giáo sư xuất sắc của trường đại học Michigan và hiện là tổng biên tập của tạp chí American Physical Society, vẫn giữ một danh sách các khám phá đồng vị phòng xạ và lưu ý là danh sách đồng vị mới đã ít hơn những năm trước. “Các khám phá về đồng vị mang tính chu kỳ và phụ thuộc vào loại máy gia tốc mới và những tiên tiến quan trọng trong các thiết bị thực nghiệm được phát triển”, ông nói. FIONA của Berkeley Lab và Cơ sở Các chùm tia đồng vị hiếm (Facility for Rare Isotope Beams FRIB), một cơ sở của Bộ Năng lượng Mỹ phát triển tại trường đại học Michigan, có những năng lực độc đáo “với tiềm năng khám phá ở quy mô lớn” cho các dạng khác nhau của các đồng vị mới tại Mỹ, ông cho biết thêm.  Để đảm bảo các đo đạc của FIONA chính xác, nhóm nghiên cứu đầu tiên đo đạc các đặc tính của phân rã và các con số khối của những đồng vị mendelevium đã biết, bao gồm cả mendelevium-247, mendelevium-246, và mendelevium-245.    “Một khi tự tin đã hiểu biết rõ các đặc tính của những đồng vị mendelevium nhẹ, chúng tôi đã nỗ lực thực hiện thí nghiệm dể khám phá ra đồng vị ít được để ý trước đây là mendelevium-244”, Pore kể. “Không có  xác nhận trực tiếp là đã tạo ra một đồng vị với số khối 244, có thể rất khó để giải thích các kết quả và chứng minh khám phá”.  Để tạo ra nhiều đồng vị lạ – ngay cả hình thức nhẹ nhất được biết của mendelevium vẫn còn nặng hơn nguyên tố xuất hiện một cách tự nhiên uranium – các nhà khoa học đã tạo ra một chùm hạt trên máy gia tốc 88-Inch Cyclotron có chứa các hạt mang điện tích argon-40, một đồng vị của argon, và chiếu thẳng chùm tia này là một tấm bia kim loại mỏng đã tạo ra bismuth-209, một đồng vị của bismuth.  Đôi khi trong các thí nghiệm này, một hạt nhân trong chùm tia các hạt năng lượng cao va đập một cách trực tiếp và tập trung vào một hạt nhân trong tấm bia kim loại đó, tạo ra một đơn nguyên tử của một nguyên tố nặng. Và với một đồng vị có chu kỳ bán rã cực ngắn, đó là một cuộc đua để đặt các phép đo đạc lên một nguyên tử trước khi nó phân rã thành một thứ hoàn toàn khác.  Máy gia tốc 88-Inch Cyclotron ở Berkeley có một công cụ khác ngược tuyến với FIONA mang tên Thiết bị phân tách chứa khí Berkeley (Berkeley Gas-Filled Separator). Thiết bị này giúp lọc ra các nguyên tử  thích hợp để đo đạc một cách nhanh chóng và riêng rẽ trong từng chi tiết cùng FIONA.  Các nhà nghiên cứu có thể theo đuổi các nghiên cứu khác của mendelevium-244 với thiết bị khác để cố gắng tìm hiểu về cấu trúc của nó, Pore nói.  Và hiện tại, FIONA đã thể hiện được những giá trị của nó trong cuộc khám phá đồng vị, các nhà nghiên cứu Berkeley Lab đang thiết lập những cái nhìn mới về các đồng vị khác. “Chúng tôi mới lập kế hoạch về các nghiên cứu tương tự cùng các chuỗi đồng vị khác để khám phá ra những đồng vị mới”, Pore cho biết.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-isotope-mendelevium-.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện nguồn gốc và con đường lây lan của bệnh gỉ sắt trên cây cà phê      Thạc sỹ Lê Thị Mai Châm (Phòng Công nghệ Vi sinh, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM) mới đây cùng các đồng nghiệp tại Đại học Tsukuba và Đại học Ibaraki khảo sát các vùng trồng cà phê lớn tại Việt Nam để đề xuất phương thức quản lý hiệu quả, ngăn chặn bệnh gỉ sắt – căn bệnh đang hoành hành trên khắp các đồn điền trồng cà phê tại Việt Nam.     Nhóm nghiên cứu đánh giá sự đa dạng di truyền của nấm thông qua giải trình tự gene, ước tính vùng địa lý nơi vi khuẩn H. vastatrix xuất hiện đầu tiên. Nguồn: Báo Gia Lai  Bệnh gỉ sắt là bệnh thực vật được đặt tên theo các bào tử nấm gây bệnh gỉ sắt – còn được gọi là Hemileia vastatrix. Khi cây bị nhiễm bệnh, mặt dưới của lá sẽ dần đổi màu. Những đốm màu này nhanh chóng chuyển sang màu vàng, sau đó là một lớp “bụi” màu cam – tức các bào tử trưởng thành. Các đốm gỉ sắt phát triển to dần, làm suy giảm khả năng quang hợp, trao đổi chất của lá, cuối cùng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây trồng, ảnh hưởng nặng nề đến năng suất và chất lượng của hạt cà phê. Cách tốt nhất để kiểm soát bệnh gỉ sắt là sử dụng cây trồng kháng bệnh. Tuy nhiên, gần đây đã có nhiều báo cáo về tình trạng bùng phát bệnh ở các vùng trồng những giống kháng bệnh gỉ sắt trên cây cà phê.  Trong bài báo “Incidence of coffee leaf rust in Vietnam, possible original sources and subsequent pathways of migration”, xuất bản trên tạp chí Frontiers in Plant Science, nhóm nghiên cứu cho biết họ đã tiến hành xem xét phạm vi mắc bệnh gỉ sắt trên lá cà phê ở Việt Nam, nguồn gốc và con đường lây lan của bào tử nấm cũng như mối quan hệ di truyền chặt chẽ giữa nó với các quần thể nấm gỉ sắt Trung và Nam Mỹ. “Để kiểm soát căn bệnh, chúng ta cần hiểu được sự đa dạng của quần thể bệnh gỉ sắt”, tác giả chính của nghiên cứu, phó giáo sư Izumi Okane, lý giải. “Chúng ta cũng phải xác định các biến thể di truyền của nó và dự đoán các biến thể tiềm năng trong tương lai”.  Với mục tiêu đó, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra mật độ xuất hiện của bệnh gỉ sắt ở các vùng sản xuất cà phê trọng điểm của Việt Nam, bao gồm Đông Nam Bộ (Đồng Nai và Bình Phước), Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) và Tây Bắc (Sơn La và Điện Biên). Kết quả cho thấy ở 85 trang trại được khảo sát, có 41 nơi xuất hiện mẫu lá cà phê bị nhiễm nấm gỉ sắt. Trong đó, giống Catimor có mức độ nhạy cảm cao với các triệu chứng bệnh nghiêm trọng, trong khi các giống Robusta có mức độ nhạy cảm khác nhau.  Nhóm nghiên cứu tiếp tục đánh giá sự đa dạng di truyền của nấm thông qua giải trình tự gene, ước tính vùng địa lý nơi vi khuẩn H. vastatrix xuất hiện đầu tiên, cũng như hướng lan truyền bệnh giữa các vùng sản xuất cà phê chính của Việt Nam. Qua phân tích, các nhà khoa học nhận thấy bệnh gỉ nấm trên cây cà phê xuất hiện đầu tiên tại Tây Bắc rồi lan dần xuống miền Nam. Một số chi khác của nấm gây bệnh thì phát sinh tại Tây Nguyên và lan rộng ra xung quanh.  Nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới đã lý giải việc cây trồng mất khả năng kháng bệnh gỉ sắt có thể do đột biến trong bộ gene của H. vastatrix hoặc sự xuất hiện của các chủng gây bệnh mới. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng điều kiện khí hậu và hoạt động sống của con người cũng có thể thúc đẩy dịch bệnh bùng phát. Ví dụ, các nhà khoa học phát hiện, tình trạng mắc bệnh gỉ sắt ở cây cà phê tại các trang trại bị bỏ hoang ở Tây Nguyên có phần nghiêm trọng hơn so với những khu vực khác. Vì vậy, cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn để xác định rõ các yếu tố gây bệnh, từ đó đề ra phương thức kiểm soát bệnh hiệu quả.  Cùng với đó, sự lây lan của bệnh gỉ sắt từ Bắc vào Nam cho thấy bên cạnh gió và gió mùa, vẫn còn một số tác nhân khác liên quan đến việc lan truyền bào tử nấm từ một vùng bị nhiễm bệnh sang các vùng khác. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cần phải xem xét các hoạt động của con người như một thành tố trung gian. Đây có thể là lý do đẩy nhanh quá trình đa dạng hóa di truyền của các quần thể nấm gỉ sắt”, các nhà nghiên cứu cho biết. □  Hà Trang tổng hợp  (Theo Eurekalert, Frontiers in Plant Science)    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện những tác phẩm nghệ thuật cổ xưa trong hang động ở Alabama      Các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ 3-D để đưa một loạt các tác phẩm nghệ thuật trong một hang động ở Alabama ra ngoài ánh sáng     Stephen Alvarez đang áp dụng kỹ thuật chụp ảnh mới bên trong Hang động không tên thứ 19 ở Alabama. Ảnh: Alan Cressler  Hang động uốn quanh có chiều dài hai dặm nằm ở phía bắc Alabama, với những đoạn rẽ đưa ta chìm vào vùng tối bí ẩn, trầm tích lắng đọng, thác nước và vực sâu. Dấu chân cổ xưa được in hằn trên lối đi. Tên của những người lính Liên bang miền Bắc tham gia Nội chiến được viết nguệch ngoạc trên một bức tường.  Vào ngày 30 tháng 7 năm 1998, Alan Cressler tiến vào hang động. Phải khuỵu xuống vì trần hang quá thấp, ông bật đèn trên mũ bảo hiểm và chiếu tia sáng xuyên qua bề mặt phía trên trần. Tác phẩm nghệ thuật của những người sống từ cách đây nhiều thế kỷ đã xuất hiện: có thể là một con chim, với cái đầu tròn trịa.  “Hồi đó, khi nhìn lên trần, tôi chỉ kiểu ‘ồ, được đấy’”, Ông Cressler, người hiện đang làm việc cho Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn mới đây. “Nhưng giờ đây nó khiến tôi nổi cả da gà, bởi tôi đã nhận ra tầm quan trọng của nó.”  Cùng với một nhà khảo cổ học, một chuyên gia về nhiếp ảnh 3-D và những người khác, ông Cressler đã tiến hành khám phá sâu hơn về hang động – được gọi là Hang động không tên thứ 19 – và nghệ thuật của nó trong những năm qua. Tuần này, họ đã công bố phát hiện của mình trên tạp chí Antiquity. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của công nghệ 3-D trong việc khám phá nghệ thuật – những khám phá mà hơn 20 năm trước ông Cressler đã không nhìn thấy. Ông bị ép sát trần hang đến mức không thể nhìn thấy toàn cảnh trần hang tỏa ra theo mọi hướng phía trên mình.  Jan Simek, một nhà khảo cổ học tại Đại học Tennessee và là đồng tác giả của bài báo, cho biết đây là một trong những tác phẩm nghệ thuật hang động lớn nhất được tìm thấy ở Bắc Mỹ, nằm sâu trong một vùng tối phức tạp nơi ánh sáng tự nhiên không thể chiếu tới.  Sử dụng phương pháp xác định niên đại bằng carbon phóng xạ và phân tích mảnh vỡ đồ gốm, các nhà nghiên cứu ước tính rằng tác phẩm nghệ thuật này có niên đại từ thời kỳ Woodland Giữa đến Woodland Muộn (tức là từ năm 500 sau Công nguyên đến năm 1000 sau Công nguyên), khi hoạt động canh tác, săn bắn và hái lượm trong khu vực đã nhường chỗ cho sản xuất lương thực và lối sống định cư.  Có những hình vẽ với các đặc điểm của con người, một con rắn cuộn với cái đuôi khua qua khua lại và cái lưỡi chẻ đôi, và một con rắn dài 10 foot uốn lượn trên khắp nền trần rộng lớn. Một số hình vẽ kết hợp các đặc điểm của trần hang để tạo ra một tổng thể sinh động, chẳng hạn như con rắn xuất hiện từ một khe nứt tự nhiên.    Hình người với chiều cao 1m81. Ảnh: S. Alvarez / Antiquity  Những hình người ma quái được trang trí với lễ phục, các hình nét được chạm khắc đầy tinh xảo. Một số mảnh than vụn từ khúc tre đã cháy cho thấy tác phẩm nghệ thuật này là nỗ lực tập thể, có thể đã có một người cầm ngọn đuốc (bằng tre) trong khi người nghệ sĩ, hoặc các nghệ sĩ, làm việc. Những người nghệ sĩ ngày xưa có thể đã chạm khắc những tác phẩm của mình bằng ngón tay hoặc các công cụ tinh xảo có đầu nhọn. “Họ vẽ rất chi tiết”, Tiến sĩ Simek mô tả. “Các tác phẩm bao phủ lên diện tích bề mặt trần hang”.  Áp dụng công nghệ mới  Kể từ khi các nhà khảo cổ học lần đầu tiên phát hiện ra những tác phẩm nghệ thuật hang động ở Bắc Mỹ vào năm 1979, Tiến sĩ Simek và ông Cressler đã đi khắp nơi để nghiên cứu nghệ thuật hang động vùng tối – những lối đi không thể tiếp cận bằng ánh sáng tự nhiên.  Hang động được phát hiện vào năm 1979 ở Tennessee chứa các hình vẽ bằng bùn, có tuổi đời từ 750 đến 800 năm, mô tả các chủ đề tôn giáo của người Mỹ bản địa thời tiền Colombo, nghiên cứu được đăng tải trên Antiquity cho biết. Kể từ đó, 89 địa điểm nghệ thuật hang động thời tiền Colombia khác đã được xác định ở Đông Nam Bắc Mỹ. Tác phẩm sớm nhất có niên đại gần 7.000 năm, nhưng hầu hết trong số chúng có niên đại từ năm 800 sau Công nguyên đến năm 1600 sau Công nguyên  Một số hang động thuộc sở hữu tư nhân và những phát hiện đó được giữ bí mật để đảm bảo không có kẻ phá hoại nào muốn xâm nhập vào khu vực. Những hang động khác nằm trên đất công, bao gồm ở Virginia, Tennessee, Kentucky và Alabama. Các nhà khoa học buộc phải di chuyển bằng thuyền, bởi vì các con sông đã dâng cao lên ngập lối vào mà trước đây có thể tiếp cận bằng đường bộ .  Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu cho biết thêm trong nghiên cứu của mình rằng việc áp dụng mô hình 3-D trong Hang động không tên thứ 19 ở Alabama “hứa hẹn một kỷ nguyên khám phá mới về nghệ thuật hang động cổ đại”.  Kỹ thuật này đã được sử dụng ở những nơi khác, chẳng hạn như để tạo ra một bản sao của tác phẩm nghệ thuật trong các hang động Lascaux ở Pháp; song không nhiều chuyên gia sử dụng kỹ thuật này vào việc tìm kiếm, mà như Tiến sĩ Simek mô tả là “để xem liệu có thứ nào mà mắt thường của chúng ta không thể nhìn thấy được hay không”.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một kỹ thuật gọi là phép quang trắc (Photogrammetry), trong đó máy ảnh sẽ di chuyển dọc theo một đường ray, liên tục chụp những hình ảnh chồng chéo. Sau đó các nhà khoa học sẽ ghép các tấm ảnh lại với nhau bằng phần mềm. Stephen Alvarez, người sáng lập Cơ quan Lưu trữ Nghệ thuật Cổ đại và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết nó tạo ra một sự thể hiện liền mạch làm nổi bật những tác phẩm đẹp nhất trong hang. Ông là người chịu trách nhiệm về công việc chụp ảnh 3-D trong Hang động không tên thứ 19.  Hơn 16.000 bức ảnh chồng lên nhau đã tạo ra bản đồ nghệ thuật tuyệt diệu của hang động. “Hệt như phép màu”, ông Alvarez nói. “Những tác phẩm chìm vào màn đêm hơn 1.000 năm nay đột nhiên sống lại. Dù những người tạo ra chúng đã mất đi, nhưng câu chuyện của họ vẫn còn ở lại”.  Phương pháp này rất hữu ích vì trần hang động có đặc trưng là không bằng phẳng, gồ ghề, điều này tạo ra bóng che khuất các đường nét tinh tế trong tác phẩm nghệ thuật. Ông Cressler cho biết chính sự gồ ghề của trần hang đã khiến ông khó lưu lại những tác phẩm này bằng máy ảnh.  Tiến sĩ Simek thường hình dung về việc các nghệ sĩ cổ đại không có công nghệ hoặc cơ hội để xem tổng thể bức tranh lớn mà mình tạo ra. Không giống như nghệ thuật đá ngoài trời, trần hang động quá thấp và quá tối, các nghệ sĩ bên trong hang động chẳng thể bước lùi lại và suy ngẫm về quá trình sáng tạo của mình. Vì lẽ đó, việc ứng dụng phép quang trắc trở nên thú vị hơn.  “Những người sáng tác nên tác phẩm này không thể nhìn thấy chúng trong tổng thể một bức tranh lớn, họ chỉ có thể tưởng tượng trong tâm trí của họ,” ông nói. “Điều đó có nghĩa là họ đã có ý tưởng về những gì họ phải vẽ, và nó quẩn quanh trong tâm trí trong quá trình họ khắc từng đường nét.”  Nhưng chính xác là những nghệ sĩ đã nghĩ gì thì cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu rõ. Tiến sĩ Simek cho biết dự án đang hợp tác với các tình nguyện viên người Mỹ bản địa để giúp giải thích mối quan hệ có thể có giữa hang động với lực lượng siêu nhiên.  Dustin Mater, một thành viên bộ lạc Chickasaw và là nghệ sĩ làm việc với kho lưu trữ của ông Alvarez, cho biết các chủ đề và hình ảnh từ nghệ thuật hang động có đôi nét tương tự với những chủ đề và hình ảnh mà ông đã nghe trong các câu chuyện mà những già làng trong bộ lạc vẫn thường kể, chẳng hạn như cổng hang động mở ra lối đi vào thế giới dưới lòng đất và một hình người có cánh đang cầm chùy.  “Đây gần như chỉ là suy đoán, nhưng có những đặc điểm vẫn còn được lưu giữ trong văn hoá truyền thống và trong những câu chuyện của chúng tôi,” ông Mater, người có tổ tiên là những người bản địa bị ép rời khỏi tây bắc Alabama vào những năm 1800 cho biết. “Các nền văn hóa sống tiếp thu các biểu tượng và sau đó hồi sinh chúng, mang lại ý nghĩa cho chúng.”  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn: In Alabama’s ‘19th Unnamed Cave,’ a Trove of Ancient Dark-Zone Art  Discovering ancient cave art using 3D photogrammetry: pre-contact Native American mud glyphs from 19th Unnamed Cave, Alabama    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện những vi khuẩn mới giúp giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh      Các nhà khoa học đang mạo hiểm đi đến những môi trường khắc nghiệt nhất trên thế giới để tìm ra những phương pháp mới giúp chống lại tình trạng kháng thuốc.      Sa mạc Gobi nằm ở phía Bắc Trung Quốc. Mùa đông ở đây kéo dài và khắc nghiệt, nhiệt độ thường tụt xuống dưới –25 độ C, và rất hiếm mưa. Ảnh: Britannica   Ở phía Bắc Trung Quốc, nơi sa mạc Gobi tiếp giáp với cao nguyên Tây Tạng, có một vùng rộng lớn với những cồn cát gợn sóng, núi và đá trơ trọi. Mùa đông ở đây kéo dài và khắc nghiệt, nhiệt độ thường tụt xuống dưới –25 độ C, và lượng mưa rất nhỏ nên chỉ những loài thích nghi tốt mới có thể tồn tại. Trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã mạo hiểm đến đây để tìm kiếm sự sống có thể tồn tại trong môi trường thù địch này.  Gần đây họ đang truy tìm một thứ đặc biệt. Các nhà khoa học tin rằng những sinh vật sống trong môi trường khắc nghiệt có thể giúp con người chống lại mối đe dọa khẩn cấp của vi khuẩn kháng kháng sinh, vốn đang ngày càng trở nên nguy hiểm. Đánh giá toàn diện đầu tiên về tác động của chúng, được công bố vào đầu năm nay, ước tính rằng vi khuẩn kháng thuốc đã trực tiếp khiến hơn một triệu người tử vong vào năm 2019 và là yếu tố gián tiếp dẫn đến cái chết của vài triệu người nữa cũng trong năm đó.  Để chống lại mối đe dọa này, giới khoa học cần tìm ra các loại thuốc kháng sinh mới — những chất mà vi khuẩn không có khả năng kháng — và bản thân vi khuẩn là một nguồn tốt để tạo ra những chất này. Nhiều loại thuốc chúng ta sử dụng ngày nay là các chất do vi khuẩn sản xuất để tự bảo vệ mình khỏi các vi khuẩn khác. Do vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra vi khuẩn mới có đặc tính kháng khuẩn — họ quyết định tiến vào sa mạc.  “Chúng tôi nghĩ rằng điều kiện càng khắc nghiệt, thì càng nhiều sinh vật buộc phải tiến hoá và thích nghi để tồn tại”, Paul Dyson, nhà vi sinh vật học phân tử tại Trường Y Đại học Swansea (xứ Wales), cho biết. “Theo lý thuyết, điều kiện khắc nghiệt đồng nghĩa với việc phải cạnh tranh để sinh tồn, bạn sẽ tìm thấy những vi khuẩn với khả năng phòng thủ mạnh mẽ, có khả năng chống lại yếu tố bất lợi”.  Và sâu trong sa mạc, Dyson và các cộng sự của ông tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã phát hiện ra một loài vi khuẩn thực sự có tiềm năng. Vào năm 2013, các đồng nghiệp người Trung Quốc của Dyson đã phân lập được một loài vi khuẩn Streptomyces mới mà họ đã phát hiện được ở cực nam của sa mạc Gobi, trong khu vực Cao nguyên Alxa. Sau khi giải trình tự bộ gen của vi khuẩn, họ phát hiện ra rằng nó không chỉ tạo ra kháng sinh tiêu diệt các vi khuẩn khác mà còn phát triển cực kỳ nhanh so với các loài Streptomyces đã biết .  Quá trình giải trình tự cũng cho thấy vi khuẩn sa mạc này sở hữu một gen RNA vận chuyển (tRNA) chưa từng được ghi nhận trước đây. Đây là một phân tử cho phép sinh vật “đọc” vật liệu di truyền của chúng và bằng cách đó, xây dựng các phân tử khác mà chúng cần để tồn tại. Dyson và nhóm của ông đã sớm phát hiện ra rằng gen tRNA mới được phát hiện này đã kích hoạt các công tắc phân tử kiểm soát việc sản xuất kháng sinh hiệu quả hơn nhiều so với các vi khuẩn sản xuất kháng sinh thông thường.  Đưa gen tRNA từ vi khuẩn sa mạc sang vi khuẩn Streptomyces thông thường  Các loài vi khuẩn quan trọng nhất thường thuộc chi Streptomyces: một nhóm bao gồm hơn 500 loài đã biết. Chúng được tìm thấy trong lòng đất nhiều đến nỗi các phân tử do Streptomyces tạo ra chính là thứ khiến cho đất có mùi đất đặc trưng. Quan trọng hơn, Streptomyces là một nguồn quan trọng để tạo ra thuốc. Hơn hai phần ba số kháng sinh tự nhiên được sử dụng ngày nay có nguồn gốc từ nhóm vi khuẩn này.  Có rất nhiều vi khuẩn có thể cung cấp cho chúng ta những loại thuốc kháng sinh mới hữu ích để sử dụng. Nhưng nếu bạn thấy một vi khuẩn có vẻ hứa hẹn, bước tiếp theo là phải khiến nó tạo ra đủ lượng kháng sinh để phân tích — và đây có thể là một thách thức thực sự.  “Điều này thường cản trở quá trình phát hiện ra kháng sinh”, Laura Piddock, giám đốc khoa học của tổ chức Đối tác Nghiên cứu và Phát triển Kháng sinh Toàn cầu (GARDP) tại Geneva, phân tích. Thêm vào đó, đôi khi vi khuẩn có tiềm năng tạo ra các chất hữu ích, nhưng “bộ máy di truyền bị tắt, vậy nên không có kháng sinh nào được tạo ra,” Piddock cho biết thêm.  Biết được điều này, Dyson và các cộng sự của ông đã quyết định lấy gen tRNA từ vi khuẩn sa mạc phát triển nhanh và thêm nó vào vi khuẩn Streptomyces thông thường đã được sử dụng để sản xuất thuốc kháng sinh lâm sàng. Giả thuyết của nhóm nghiên cứu là gen từ vi khuẩn phát triển nhanh sẽ giúp tăng cường sản xuất kháng sinh của những vi khuẩn khác — và đó chính xác là những gì đã xảy ra. Các vi khuẩn đã biến đổi tạo ra các hợp chất kháng sinh trong vòng 2 đến 3 ngày – nhanh gấp đôi so với các loài Streptomyces thông thường.  Những phát hiện này, được công bố trên tạp chí Nucleic Acids Research, có thể sẽ hỗ trợ các nhà khoa học rất nhiều trong việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới. Nếu các nhà khoa học tìm thấy một loại vi khuẩn mới có thể tạo ra chất có tiềm năng được sử dụng làm thuốc, nhưng chúng không tạo ra số lượng nhiều (như thường lệ), thì có thể xem đây là một công cụ giúp gia tăng năng suất. “Đây là một kỹ thuật đơn giản, có thể tích hợp nó trong bất kỳ chương trình khám phá kháng sinh mới nào”, Dyson nói.  Piddock cũng đồng ý với quan điểm này. Theo bà, trong tương lai, các nhà nghiên cứu sẽ quan tâm hơn đến việc “bắt ép” vi khuẩn sản xuất ra khối lượng lớn các chất kháng sinh, bởi nó có tác động tích cực đến sức khỏe con người. “Kỹ thuật này hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm các loại thuốc kháng sinh mới – làm cơ sở cho các loại thuốc mới để điều trị các bệnh nhiễm trùng.”  Đây là một tin vui, vì hiện tại, Ngân hàng Thế giới ước tính rằng kháng kháng sinh là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu, an ninh lương thực và sự phát triển bền vững. Theo một báo cáo của Liên hợp quốc vào năm 2019, nếu chúng ta không có hành động nào cụ thể để chống lại những siêu vi khuẩn đang tràn lan này, đến năm 2050, sẽ có 10 triệu người chết mỗi năm vì tình trạng kháng kháng sinh. Thêm vào đó, việc sử dụng kháng sinh để bảo vệ bệnh nhân COVID-19 khỏi nhiễm trùng thứ phát đã khiến tình trạng kháng thuốc trở nên trầm trọng hơn.  Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn tiếp xúc nhiều lần với thuốc kháng sinh và phát triển các cách để chống lại chúng. Hiện tượng này càng trầm trọng và tăng nhanh hơn do hiện tượng lạm dụng thuốc kháng sinh ở cả người và gia súc — kể cả khi con người dùng thuốc kháng sinh để chữa bệnh do virus thông thường (chúng chỉ có tác dụng chống lại vi khuẩn) và khi vật nuôi khỏe mạnh được tiêm thuốc để phòng bệnh.  “Không thể ngăn chặn hoàn toàn kháng kháng sinh, nhưng chúng ta có thể giảm thiểu và kiểm soát phần nào rủi ro”, Hatim Sati thuộc Bộ phận Kháng Kháng sinh của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết.  Vi khuẩn sa mạc Dyson là một trong những loài có thể góp phần giảm thiểu tình trạng này, ngoài ra còn có rất nhiều loài khác thích nghi với môi trường khắc nghiệt cũng có thể cung cấp giải pháp cho ta. Được mệnh danh là sinh vật ái cực (extremophiles), những sinh vật này sống trong những môi trường khắc nghiệt nhất trên Trái đất: núi lửa ngầm, biển sâu và giữa những đụn cát của nơi khô cằn nhất trên Trái đất . Những môi trường sống này có nhiệt độ, độ pH, áp suất hoặc độ mặn rất cao hoặc rất thấp, hoặc kết hợp của tất cả những yếu tố này.  Các chủng vi khuẩn Streptomyces, được tìm thấy trong đất ở Bắc Ireland, được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tại Đại học Swansea ở xứ Wales. Ảnh: Jason Pietra  Cách đây vài năm, Dyson khi đó là thành viên của một nhóm nghiên cứu khác; họ đã phát hiện ra một số loài Streptomyces mới ở Cao nguyên Boho, Bắc Ireland, một khu vực với mức độ đa dạng sinh học cao. Cảnh quan được tạo thành từ đá vôi, đầm lầy có tính axit cao và đồng cỏ có tính kiềm. Tương tự như sa mạc Gabi, chính các đặc điểm khắc nghiệt này đã tạo ra một môi trường độc đáo cho các vi khuẩn “bền bỉ” hơn có khả năng phát triển. Trong nhiều thế kỷ, vùng đất – bị nhóm người Druid chiếm đóng cách đây 1.500 năm – được truyền tụng như một vùng đất thần bí, với loại đất đặc biệt có khả năng chữa bệnh, thường được sử dụng trong cồn thuốc và điều trị vết thương.  Gerry Quinn, một nhà khoa học trong nhóm từng nghiên cứu ở Boho, kể rằng ông của anh là một thầy lang địa phương trong khu vực và là người nắm giữ phương pháp bí truyền chữa trị một số bệnh. “Chúng ta thường nghe những câu chuyện về các thầy thuốc với phương pháp kỳ diệu”, Quinn chia sẻ, “bài thuốc được truyền từ đời này sang đời khác, cùng những công thức nghiêm ngặt”.  Khi hồi tưởng lại câu chuyện đó, Quinn quyết định trở về quê hương để thu thập các mẫu vi khuẩn. Các nhà khoa học sau đó đã phát hiện ra rằng một trong những chủng vi khuẩn mà nhóm nghiên cứu đặt tên là Streptomyces sp. myrophorea, có thể giúp chống lại bốn trong sáu mầm bệnh kháng kháng sinh hàng đầu, bao gồm cả Tụ cầu vàng kháng methicillin.  Song, cần nhớ rằng việc phát hiện ra những vi khuẩn này chỉ là bước đầu tiên trên hành trình dài phát triển các loại thuốc kháng sinh mới. Không phải chất nào được phát hiện cũng có khả năng trở thành thành phần của thuốc, bởi cần phải xét đến độc tính của chúng đối với con người hay một loạt các yếu tố khác. Và ngay cả khi chúng đã đáp ứng được những điều kiện cần, các nhà khoa học vẫn phải mất thêm nhiều năm để tiến hành các thử nghiệm lâm sàng tiếp theo.  Dù vậy, Dyson hy vọng rằng gen tRNA mới được phát hiện sẽ là chìa khóa để khắc phục phần nào tình trạng kháng kháng sinh. Hiện tại, giới khoa học vẫn đang nỗ lực tìm kiếm vi khuẩn có triển vọng – điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ tiếp tục mạo hiểm tiến vào những môi trường khắc nghiệt nhất của Trái đất.  Anh Thư tổng hợp  Nguồn: A Tool for Fighting Superbugs Has Been Found Deep in the Desert  A new bacterial tRNA enhances antibiotic production in Streptomyces by circumventing inefficient wobble base-pairing     Author                .        
__label__tiasang Phát hiện phương pháp tiềm năng giúp điều trị bệnh Alzheimer      Các nhà nghiên cứu cho biết khi một trong hai loại protein gây ra bệnh Alzheimer là beta-amyloid kết tụ lại, nó khiến nhiệt độ các tế bào gia tăng. Khi bổ sung một hợp chất thuốc, ta có thể ngăn chặn tình trạng kết tụ, như vậy nhiệt độ tế bào sẽ giảm – ý tưởng này được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội điều trị thành công bệnh Alzheimer trong tương lai.     Bệnh Alzheimer ảnh hưởng tới khoảng 44 triệu người trên toàn thế giới, và hiện tại vẫn chưa có kỹ thuật chẩn đoán hay cách điều trị hiệu quả đối với căn bệnh này. Trong não người bệnh, beta-amyloid và protein tau tạo thành các đám rối và mảng – gọi chung là các khối kết tụ – khiến các tế bào não chết và não co lại. Điều này dẫn đến chứng mất trí nhớ, thay đổi tính cách và khiến người bệnh gặp khó khăn khi thực hiện các chức năng sinh hoạt cơ bản thường ngày.  Dù đã nghiên cứu về Alzheimer nhưng các nhà khoa học gặp phải rất nhiều khó khăn bởi căn bệnh phát triển qua hàng thập niên và chỉ có thể đưa ra chẩn đoán chính xác sau khi tiến hành kiểm tra các mẫu tế bào não – nhưng chỉ khi người bệnh qua đời. Hiện họ vẫn chưa thể biết loại thay đổi sinh hóa nào trong tế bào dẫn đến tình trạng beta-amyloid kết tụ.  Do đó, nhóm nghiên cứu của giáo sư Gabriele Kaminski Schierle tại Khoa Kỹ thuật Hóa học và Công nghệ Sinh học của ĐH Cambridge đã quyết định điều tra các mối liên hệ khả dĩ giữa nhiệt độ và tình trạng beta-amyloid kết tụ trong tế bào.  Lĩnh vực nghiên cứu sự thay đổi nhiệt độ trong tế bào được gọi là quá trình sinh nhiệt nội bào. Đây là một lĩnh vực mới mẻ và đầy thách thức: các nhà khoa học đã phát triển những cảm biến nhỏ và nhạy có thể đo được nhiệt độ thay đổi, tuy nhiên, chưa ai từng sử dụng các cảm biến này để nghiên cứu bệnh Alzheimer. Chyi Wei Chung, một trong số tác giả của nghiên cứu, cho biết “Quá trình sinh nhiệt nội bào gắn liền với căng thẳng tế bào, và nó có thể thúc đẩy thêm quá trình kết tụ. Chúng tôi tin rằng khi bên trong các tế bào có sự mất cân bằng, chẳng hạn mật độ beta-amyloid hơi cao và bắt đầu tích tụ lại, nhiệt độ tế bào sẽ tăng lên”.  “Hiện tượng tế bào nóng lên cũng tương tự như khi ta rán một quả trứng vậy – các protein bắt đầu vón lại và ngừng hoạt động”, bà Kaminski Schierle, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết.  Các nhà nghiên cứu sử dụng cảm biến nhiệt độ siêu nhỏ là nhiệt kế polyme huỳnh quang (FTP) để tìm hiểu mối liên hệ giữa tình trạng kết tụ và nhiệt độ. Họ thêm beta-amyloid vào dòng tế bào người để kích hoạt quá trình kết tụ và sử dụng hóa chất FCCP làm đối chứng, bởi nó giúp làm tăng nhiệt độ. Họ phát hiện khi beta-amyloid bắt đầu hình thành các cục vón mảnh như sợi, nhiệt độ trung bình của tế bào bắt đầu tăng lên, cao hơn rất nhiều so với các tế bào không thêm beta-amyloid.  Bằng cách sử dụng một loại thuốc ức chế sự kết tụ beta-amyloid, các nhà nghiên cứu có thể xác định chính những sợi này là nguyên nhân sinh nhiệt. Trước đây, người ta vẫn chưa biết liệu tình trạng kết tụ protein hay tổn thương tiềm ẩn đối với ti thể – loại “pin” cung cấp năng lượng cho tế bào, mới là nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Ngoài ra, chất ức chế kết tụ này có thể giảm thiểu sự gia tăng nhiệt độ tế bào, loại chất này có tiềm năng là phương pháp điều trị bệnh Alzheimer.  Hàng loạt thí nghiệm tương tự cũng cho thấy khi bổ sung hợp chất thuốc, ta có thể ngăn chặn tình trạng beta-amyloid kết tụ, như vậy nhiệt độ tế bào sẽ giảm. Tuy vậy vẫn cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu cũng như thử nghiệm lâm sàng để đưa ra kết luận chính xác. Bên cạnh đó, thử nghiệm này có thể được dùng làm công cụ chẩn đoán bệnh Alzheimer, hay để sàng lọc các ứng viên thuốc tiềm năng. □  Phương Anh lược dịch  https://phys.org/news/2022-05-alzheimer-disease-cells-overheat-eggs.html    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện ra cách kích hoạt chất béo nâu một cách nhân tạo      Vào tháng 8/2020, một nhóm nghiên cứu quốc tế báo cáo tạp chí Cell Metabolism rằng họ đã phát hiện ra cách kích hoạt chất béo nâu một cách “nhân tạo”. Nghiên cứu là kết quả hợp tác giữa Centre de recherche du Center Hospitalier universitaire de Sherbrooke (CRCHUS) ở Québec và Trung tâm nghiên cứu trao đổi chất cơ bản của Quỹ Novo Nordisk (CBMR) tại Đại học Copenhagen.    Trong tự nhiên, sau khi được kích hoạt bởi nhiệt độ lạnh hoặc các tín hiệu hóa học, chất béo nâu đốt cháy năng lượng và tạo ra nhiệt — quá trình gọi là sinh nhiệt. Chất béo nâu còn là một trong những chìa khóa của quá trình trao đổi chất, kiểm soát bệnh béo phì và tiểu đường, và còn có thể kéo dài tuổi thọ.    Nhưng con người chỉ có một lượng nhỏ chất béo nâu, và các nhà khoa học từ lâu đã đưa ra giả thuyết rằng nếu có cách để kích hoạt lượng chất béo đó mà không cần các điều kiện tự nhiên, hoặc biến chất béo trắng thành chất béo nâu, thì sẽ giúp cải thiện quá trình trao đổi chất.    Chất béo mà hầu hết mọi người hình dung được gọi là chất béo trắng, vì nó có màu trắng hoặc vàng. Nhưng ngoài ra, con người còn được sinh ra với chất béo nâu, có màu nâu như tên gọi.        Loại chất béo này được tìm thấy nhiều ở cổ và vai của trẻ sơ sinh. Nó đốt cháy nhiều calo để giữ ấm cho cơ thể, chức năng quan trọng đối với trẻ sơ sinh. Dù vậy, con người mất hầu hết chất béo nâu khi lớn lên và già đi. Đến sáu tuổi, mỗi người chỉ còn ít hơn 5% chất béo nâu so với thời điểm sơ sinh. Trong khi đó, lượng chất béo tăng theo thời gian lại là chất béo trắng.    Chất béo trắng không hoạt động hiệu quả về mặt trao đổi chất, nó không sử dụng nhiều năng lượng, khó đốt cháy, do đó tích tụ và gây ra các vấn đề sức khỏe.    Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Copenhagen đã chuyển hóa thành công chất béo trắng thành chất béo nâu trong điều kiện thí nghiệm, thông qua thay đổi các yêu tố biểu sinh. Sau đó, họ tiêm chất béo nâu vào những con cừu béo. Kết quả, những con cừu có nhiều mỡ nâu gầy đi và hết hội chứng chuyển hóa và tiểu đường.    Một nhóm nghiên cứu khác ở Delaware đã thực hiện quá trình chuyển đổi mỡ trắng sang mỡ nâu ngay trong cơ thể bằng một loại thuốc điều trị. Hầu hết những người lớn tuổi không có lượng mỡ nâu đáng kể, và các liệu pháp này có thể giúp tạo ra nhiều chất béo nâu hơn.    Vì sao điều này lại quan trọng? Kể từ năm 1974, một trong những nguyên nhân chính khiến tuổi thọ bị rút ngắn và gia tăng các bệnh mãn tính như viêm xương khớp, tiểu đường loại 2 và nhiều bệnh ung thư là do lượng mỡ trắng ngày càng tăng. Nhiều triệu chứng lão hóa, thậm chí mệt mỏi và thiếu năng lượng, bắt nguồn từ sự phá hủy sinh học và viêm nhiễm do mỡ trắng dư thừa. Sự tích tụ mỡ trắng dẫn đến tuổi thọ ngắn hơn so với thực tế.    Và trong khi các phương pháp điều trị y tế đã giảm thiểu phần lớn bệnh tật và sự thay đổi tuổi thọ do mỡ trắng gây ra, thì con người vẫn tiếp tục tích tụ mỡ trắng dư thừa. Phần lớn đến từ ăn thực phẩm có chất béo bão hòa và thực phẩm làm tăng lượng đường trong máu quá nhanh.    Nếu các nhà khoa học tìm ra cách thay thế chất béo trắng bằng chất béo nâu, các liệu pháp có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh viêm nhiễm như viêm xương khớp, tiểu đường, bệnh tim, đột quỵ và rối loạn chức năng não đồng thời cung cấp mức năng lượng tăng lên. Hay nói cách khác, con người sẽ trở nên trẻ hơn.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Giác mạc mắt có chứa tế bào miễn dich      Trước nay người ta vẫn nghĩ rằng không có bất kỳ tế bào miễn dịch nào trong giác mạc của mắt nhưng nghiên cứu mới cho thấy không phải như vậy.    Nhà miễn dịch học Scott Mueller, nhà nghiên cứu miễn dịch học tại Đại học Melbourne, cho biết giác mạc có phản ứng miễn dịch hạn chế, một phần do các tế bào miễn dịch hoạt động mạnh có thể làm hỏng lớp mô trong suốt và suy giảm thị lực. Vì lý do này, các tế bào miễn dịch có phản ứng nhanh nhưng thô bạo đối với các tác nhân gây bệnh, chẳng hạn như tế bào đuôi gai và đại thực bào, chỉ cư trú bên ngoài giác mạc và chỉ xuất hiện khi cần thiết.        Trong hầu hết mọi mô trong cơ thể đều có các tế bào miễn dịch tồn tại lâu dài, được gọi là tế bào T. Khi mầm bệnh xâm nhập cơ thể, tế bào T sẽ nhanh chóng tấn công nếu đó là mầm bệnh mà chúng đã gặp trước đó, hay mầm bệnh có trong “trí nhớ miễn dịch”. Mueller và các đồng nghiệp của ông tự hỏi liệu những tế bào như vậy có sống trong giác mạc hay không.    Sử dụng kính hiển vi hấp thụ đa photon để nghiên cứu mô sống, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra giác mạc của những con chuột có mắt bị nhiễm virus herpes simplex. Họ phát hiện hai loại tế bào T: tế bào T gây độc tiêu diệt mầm bệnh và tế bào T hỗ trợ – tác nhân tạo ra trí nhớ miễn dịch, đã xâm nhập vào giác mạc và tồn tại ở đó đến một tháng sau khi xảy ra nhiễm trùng. Kiểm tra kỹ hơn, bao gồm cả các kỹ thuật kính hiển vi xâm lấn, cho thấy các tế bào T gây độc đã phát triển thành các tế bào tồn tại lâu dài trong giác mạc.    Sau đó, các nhà nghiên cứu sử dụng chụp ảnh tế bào sống giác mạc của sáu người trưởng thành khỏe mạnh. Họ tìm thấy các tế bào có hình dạng, kích thước và tốc độ di chuyển tương tự như tế bào T ở chuột. “Chúng tôi hơi ngạc nhiên và vui mừng khi thấy rằng thực sự có một trí nhớ miễn dịch trong giác mạc,” Mueller nói. Nhóm nghiên cứu dự định phân tích mô từ những người hiến tạng để xác định cụ thể các loại tế bào họ quan sát được trong giác mạc người là tế bào gì.    Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell Reports vào ngày 24/5.    Các nhà nghiên cứu cho biết phát hiện này có thể cải thiện hiểu biết về các bệnh như khô mắt mãn tính, suy giảm giác mạc ở những người mắc bệnh tự miễn dịch và bệnh nhân bị đào thải giác mạc sau khi ghép giác mạc.    Khúc Liên    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện thêm 42 gene liên quan đến nguy cơ mắc bệnh Alzheimer      Một nghiên cứu di truyền lớn nhất từ trước đến nay về bệnh Alzheimer đã đem lại bằng chứng thuyết phục về mối liên hệ giữa căn bệnh này với những gián đoạn trong hệ miễn dịch của não.      Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã sử dụng bộ gene của khoảng 100.000 người mắc bệnh Alzheimer và 600.000 người khỏe mạnh. Thông qua phân tích di truyền, họ đã xác định được 75 gene liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, trong đó có 42 gene trước đây không có dấu hiệu liên quan. Chúng gợi ý rằng thoái hóa não của người bị sa sút trí tuệ có thể do hoạt động “quá tích cực” của các tế bào miễn dịch não. Các kết quả này được công bố trên tạp chí Nature Genetics. Giáo sư Julie Williams, Giám đốc Viện Nghiên cứu Chứng mất trí nhớ thuộc Đại học Cardiff (UK) và là đồng tác giả của bài báo, cho biết, phát hiện này có thể thúc đẩy những nỗ lực tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả. “Đây là một manh mối rất lớn về những vấn đề trong não. Tám hoặc chín năm trước, chúng tôi không xem xét đến hệ miễn dịch. Nhưng di truyền học khiến chúng tôi tập trung vào nó”, bà nhận xét.  Với kết quả này, các nhà khoa học có thể đưa ra dự đoán khả năng bệnh nhân bị suy giảm nhận thức trong vòng ba năm, kể từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên sẽ tiếp tục phát triển thành bệnh Alzheimer. Dù chưa thể áp dụng cho thực hành lâm sàng ngay nhưng có thể áp dụng kết quả nghiên cứu khi tuyển người tham gia thử nghiệm thuốc lâm sàng nhằm điều trị bệnh trong giai đoạn sớm nhất.  Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng mất trí nhớ. Các yếu tố về lối sống như hút thuốc, tập thể dục và chế độ ăn uống có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, nhưng 60%-80% nguy cơ mắc bệnh này là do di truyền.  Mặc dù gây ra gánh nặng lớn nhưng hiện căn bệnh này không có thuốc mới trong vòng hai thập kỷ qua, ngoại trừ loại thuốc được cấp phép nhưng gây tranh cãi ở Mỹ và không có sẵn ở châu Âu là Aducanumab. GS. Williams cho biết, việc phát triển thuốc chịu ảnh hưởng nhiều từ các nghiên cứu về gia đình có đột biến gene hiếm gặp gây bệnh Alzheimer khởi phát sớm.  Các khám phá mới làm nổi bật những bộ gene khác nhau tìm thấy trong các dạng bệnh Alzheimer phổ biến, nhiều gene trong đó có vai trò quan trọng với hệ miễn dịch. “Nếu [ban đầu] chúng tôi thấy sự di truyền của bệnh Alzheimer thông thường thì chúng tôi hẳn sẽ nói đây là bệnh về miễn dịch”, GS. Wiliams cho biết.  Các gene nguy cơ được nhấn mạnh trong nghiên cứu bao gồm các gene ảnh hưởng đến hiệu quả của tế bào microglia có nhiệm vụ xử lý các mô thần kinh bị tổn thương. Ở những người có nguy cơ mắc bệnh, các tế bào “quản gia” này dường như hoạt động quá tích cực. Người ta cũng tìm thấy biểu hiện tương tự ở các gene kiểm soát việc khớp thần kinh synapse gửi tín hiệu “ăn tôi đi” khi bị stress. Các biến thể có nguy cơ cao dường như làm giảm ngưỡng chịu đựng của synapses trước khi gửi đi tín hiệu cấp cứu, khiến cho bộ não thanh lọc synapse với tốc độ nhanh hơn. GS. Williams khá lạc quan rằng sẽ có những phương pháp điều trị hoạt động hiệu quả với các hệ thống mà họ đang xem xét như vậy.  Các phát hiện của nhóm nghiên cứu phù hợp với những kết quả trước đây về vai trò của hệ miễn dịch. Ví dụ, những người mắc bệnh tiểu đường dẫn đến ảnh hưởng hệ miễn dịch, có nguy cơ mắc Alzheimer cao hơn đáng kể, và một khi họ bị chẩn đoán mắc chứng mất trí nhớ thì các đợt nhiễm trùng sẽ kích thích suy giảm nhận thức nhanh hơn.  TS. Susan Kohlhaas, Giám đốc nghiên cứu tại Viện Alzheimer’s Research UK, nói rằng: “Việc lập được một danh sách các gene về nguy cơ mắc bệnh Alzheimer giống như việc ghép các mảnh xếp hình lại với nhau. Nó có thể không cung cấp cho chúng ta một bức tranh đầy đủ nhưng sẽ giúp tạo ra một khung quan trọng để phát triển trong tương lai. Nghiên cứu cũng cho chúng ta biết bệnh Alzheimer phức tạp như thế nào và có nhiều cơ chế khác nhau liên quan đến sự phát triển của bệnh”.□  Trang Linh  Tổng hợp  Nguồn:  https://www.theguardian.com/society/2022/apr/04/alzheimers-study-finds-42-more-genes-linked-to-higher-risk-of-disease  https://www.nature.com/articles/s41588-022-01024-z    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện về một hạt nặng mới có thể thay đổi lý thuyết của Einstein      Một phát hiện loại hạt mới cho phép ngành vật lý tiếp tục kiểm nghiệm thuyết Mô hình chuẩn (Standard Model) trong nghiên cứu hạt cơ bản và đem lại cái nhìn mới mẻ hơn về cách các lực cơ bản liên kết những hạt ở cấp hạ nguyên tử (sub-atomic).      Hạt Xi-cc++ (dưới cùng bên phải), một baryon với 2 quark nặng. Nguồn ảnh: Scientific American.  Những nhà vật lý tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu (CERN), Geneva, Thụy Sĩ đã phát hiện ra một loại hạt mới ở cấp hạ nguyên tử, được gọi là Xi-cc++, chứa hai hạt quark “charm” nặng và một hạt quark “up”, có kích cỡ lớn gấp 4 lần hạt baryon cùng họ là proton. Phát hiện này đã được công bố hôm 6/7, tại một hội thảo ở Venice.  Theo các nhà khoa học, Xi-cc++ là một loại hạt baryon đẹp song trùng và rất hiếm gặp. Nó chỉ tồn tại một khoảng khắc rất ngắn ngủi trong vũ trụ sơ khai. Đây là một loại baryon không ổn định vì chỉ tồn tại một phần rất nhỏ của giây trước khi phân rã thành các loại hạt khác nhẹ hơn. Để tạo ra chúng trong phòng thí nghiệm, cần có những vụ va chạm năng lượng lớn, điều chỉ có thể thực hiện được nhờ sự trợ giúp của những cỗ máy gia tốc hạt lớn như The Large Hadron Collider (LHC) tại CERN, vốn được đóng cửa nâng cấp trong 2 năm và chỉ trở lại hoạt động từ 2015 nhằm tìm ra hạt Higgs.  Phát hiện quan trọng trên cho phép ngành vật lý tiếp tục kiểm nghiệm thuyết Mô hình chuẩn (Standard Model) trong nghiên cứu hạt cơ bản và đem lại cái nhìn mới mẻ hơn về cách các lực cơ bản liên kết những hạt ở cấp hạ nguyên tử (sub-atomic). Tuy nhiên, nó chưa thể giúp giải thích sự tồn tại của vật chất tối (dark matter), cũng như không lý giải được tại sao lại có nhiều vật chất (matter) hơn phản vật chất (anti-matter) trong vũ trụ.    Một điều quan trọng khác, mô hình này đi ngược với thuyết tương đối của Einstein. Theo đó, trọng lực (gravity) dường như không hoạt động ở cấp hạ nguyên tử. Các nhà khoa học cho biết, nhiệm vụ lớn nhất của họ sau phát hiện này là cố gắng chạm tới nơi mà lý thuyết Standard Model bị phá vỡ để đi tìm một cách lý giải khác.  Hải Đăng dịch  Nguồn:  https://www.scientificamerican.com/article/lhc-physicists-unveil-a-charming-new-particle/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện virus tăng nguy cơ phát triển bệnh đa xơ cứng      Việc nhiễm virus Epstein-Barr (EBV), một loại virus herpes lây nhiễm cho hầu hết mọi người ở tuổi vị thành niên và sau đó tiềm ẩn trong tế bào B suốt đời, làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển căn chứng đa xơ cứng ở người.    150 năm sau khi một nhà thần kinh học người Pháp lần đầu ghi nhận một trường hợp mắc chứng đa xơ cứng (Multiple Sclerosis – MS) ở một phụ nữ trẻ bị co giật bất thường, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định nguyên nhân chính xác của căn bệnh quái ác này.    Giờ đây, một nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ các xét nghiệm máu định kỳ của 10 triệu binh sĩ Mỹ đã tìm ra bằng chứng cho thấy việc nhiễm một loại virus phổ biến, virus Epstein-Barr (EBV), làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển căn chứng đa xơ cứng.    Chứng đa xơ cứng phát triển khi các tế bào miễn dịch bị rối loạn và tấn công các vỏ myelin có tác dụng bảo vệ các sợi thần kinh trong tủy sống và não. Sợi thần kinh bị tổn thương kéo theo các vấn đề về thị lực, đau, yếu và tê thỉnh thoảng xuất hiện, và trở nên trầm trọng hơn theo thời gian. Hiện không có thuốc chữa chứng đa xơ cứng, các bác sĩ chỉ có thể truyền các kháng thể làm suy giảm tế bào B, một loại tế bào bạch cầu, để hạn chế bệnh tái phát.    Sau nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã thu hẹp phạm vi các nguyên nhân có thể gây ra bệnh: di truyền (căn bệnh này thường xảy ra trong gia đình) và các tác nhân gây bệnh từ môi trường như virus. EBV, một loại virus herpes lây nhiễm cho hầu hết mọi người ở tuổi vị thành niên và sau đó tiềm ẩn trong tế bào B suốt đời, từ lâu đã là một nghi phạm chính. Những người từng bị bệnh bạch cầu đơn nhân, bệnh do EBV gây ra, có nguy cơ mắc chứng đa xơ cứngcao hơn. 99% bệnh nhân đa xơ cứngđã từng bị nhiễm EBV. Nhưng vấn đề là 95% những người không mắc chứng đa xơ cứngcũng từng bị nhiễm EBV, do đó rất khó xác định mối liên hệ giữa virus này với chứng đa xơ cứng.    Lý tưởng nhất, các nhà nghiên cứu sẽ theo dõi một nhóm thanh niên chưa bị nhiễm EBV để xem liệu những người nhiễm EBV về sau có nguy cơ phát triển chứng đa xơ cứng cao hơn không. Một nhóm do bác sĩ và nhà dịch tễ học Alberto Ascherio tại Trường Y tế Công cộng Harvard TH Chan đã kiểm tra cơ sở dữ liệu hồ sơ y tế của 10 triệu quân nhân Mỹ, tại ngũ từ năm 1993 đến năm 2013, nhóm này được lấy mẫu máu mỗi năm để xét nghiệm HIV.      Một nghiên cứu mới liên kết bệnh đa xơ cứng với virus Epstein-Barr (chấm màu tím trong ảnh, đi ra từ tế bào B)    955 binh sĩ đã phát triển chứng đa xơ cứng, nhưng trong số này chỉ có mẫu máu của 801 người. Trong 801 người, 35 người âm tính với EBV trong lần xét nghiệm máu đầu tiên. 34/35 người này trở nên dương tính với EBV trong thời gian nghiên cứu, và phát triển chứng đa xơ cứng trung bình 5 năm sau khi dương tính với EBV.    Trong khi đó, chỉ một nửa trong số 107 binh sĩ không phát triển chứng đa xơ cứng (nhóm này được chọn ngẫu nhiên để làm đối chứng với nhóm phát triển chứng đa xơ cứng) trở nên dương tính với EBV trong cùng khoảng thời gian. Từ đó cho thấy dương tính với EBV làm tăng nguy cơ mắc chứng đa xơ cứng gấp 32 lần, tương đương với mức tăng nguy cơ mắc ung thư phổi do hút thuốc, theo kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science.    Nhóm Ascherio đã thực hiện các phân tích tương tự đối với các loại virus phổ biến khác, và không tìm thấy mối tương quan nào như đối với EBV. Để khẳng định thêm kết quả, nhóm đã chỉ ra rằng những quân nhân phát triển chứng đa xơ cứng có nồng độ của một protein liên quan đến suy thoái thần kinh gia tăng, sau khi họ bị nhiễm EBV. Ascherio tin chắc nhóm đã chỉ ra mối liên hệ giữa EBV và chứng đa xơ cứng. “Không có cách nào khác để giải thích cho việc binh sĩ không phát triển chứng đa xơ cứng trừ khi đã nhiễm EBV,” Ascherio nói.    Tuy nhiên những nhà nghiên cứu khác vẫn tỏ ra thận trọng. Bằng chứng mới “rất thú vị, nhưng vẫn chỉ là mối tương quan,” theo Jeffrey Cohen, nhà virus học tại Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Mỹ. Và nghiên cứu mới chưa giải thích được tại sao hầu hết những người mắc EBV không phát triển chứng đa xơ cứng, theo nhà thần kinh học Emmanuelle Waubant ở Đại học California, San Francisco.    Ngoài ra, một lỗ hổng khác là các nhà khoa học chưa biết cơ chế tấn công của EBV. Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng EBV làm hỏng tế bào B; những người khác, bao gồm Steinman, thì cho rằng protein của EBV giống với protein thần kinh và do đó hệ thống miễn dịch tấn công nhầm các dây thần kinh.    Nếu muốn chứng minh quan hệ nhân quả giữa EBV và chứng đa xơ cứng, các nhà nghiên cứu có thể tiêm vaccine EBV cho một nhóm lớn những người trẻ tuổi có nguy cơ cao mắc chứng đa xơ cứngvì tiền sử gia đình, và theo dõi sự chênh lệch nguy cơ phát triển chứng đa xơ cứngvới nhóm không tiêm vaccine. Nhà thần kinh học Gavin Giovannoni ở Đại học Queen Mary London, người đang làm việc với cộng đồng bệnh nhân chứng đa xơ cứng để thiết kế một thử nghiệm như vậy cho biết kết quả này sẽ là mảnh ghép cuối cùng.    Vài năm trước, GlaxoSmithKline đã phát triển một loại vaccine EBV nhưng đã từ bỏ sau khi một thử nghiệm cho thấy vaccine không ngăn được nhiễm trùng EBV. Hai loại vaccine mới đang trong giai đoạn đầu thử nghiệm lâm sàng có thể khả quan hơn. Một loại do Cohen phát triển dựa trên protein EBV và công nghệ hạt nano, một loại khác do Moderna phát triển chứa RNA thông tin hướng dẫn các tế bào tạo ra bốn loại protein EBV khác nhau.    Chuyên gia về vaccine Larry Corey của Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson cảnh báo rằng không có gì đảm bảo rằng các hãng sẽ dành công sức để đưa vaccine EBV qua hàng rào cấp phép. Tuy nhiên, bằng chứng mới cho thấy tương quan giữa EBV và MS làm cho vaccine EBV trở thành một khoản đầu tư hấp dẫn hơn nhiều, Corey nói.    Nam Phong    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện y học mới: Phổi có vai trò tạo máu      Một nghiên cứu mới trên chuột của Đại học San Francisco cho thấy, phổi không chỉ đóng vai trò trong hệ hô hấp như chúng ta vẫn thường nghĩ, mà còn sản xuất hầu hết các tiểu cầu và có thể bổ sung tế bào máu trong tủy xương.      Hình ảnh nhuộm huỳnh quang của tiểu cầu trong mạch máu ở phổi.   Các nhà khoa học ở Đại học San Francisco (UCSF) công bố kết quả nghiên cứu mới này trên tạp chí Nature vào ngày 22 tháng 3, cho thấy phổi đóng vai trò tạo máu – mà trước đây giới y học chưa từng được biết đến. Các nhà nghiên cứu tìm được bằng chứng cho thấy, phổi sản xuất hơn một nửa số tiểu cầu – thành phần trong máu rất cần thiết cho quá trình làm đông máu. Đáng ngạc nhiên hơn, các nhà khoa học cũng xác định được một khối lượng tế bào gốc tạo máu có khả năng khôi phục quá trình sản xuất máu khi mà tế bào gốc ở tủy xương (vẫn được biết tới là cơ quan sản xuất máu chính) bị cạn kiệt.  “Phát hiện này chắc chắn giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về phổi – rằng đây không chỉ là cơ quan hô hấp mà còn là giữ vai trò chính yếu trong việc tạo máu” – GS Y khoa Mark R. Looney tại phòng thí nghiệm y tế của UCSF, là tác giả chính của công bố này cho biết. “Những quan sát trên chuột đã đưa ra gợi ý rằng phổi cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu ở con người”, ông nói thêm.  Các nhà nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chụp ảnh huỳnh quanh sống 2 photon (two-photon intravital imaging) mới được phát triển bởi GS Looney và các đồng sự tại UCSF. Kỹ thuật này cho phép người ta quan sát được các hoạt động cực kỳ tinh tế của các tế bào đơn lẻ trong từng mạnh máu nhỏ ở phổi của con chuột còn sống. Looney và đồng sự đã kiểm tra được sự tương tác giữa hệ thống miễn dịch và tiểu cầu đang lưu thông trong phổi. Họ ghi nhận thấy một lượng rất lớn tế bào sản sinh ra tiểu cầu gọi là tế bào có nhân to (megakaryocytes) trong các mạnh máu của phổi (mặc dù các tế bào có nhân to đã từng được quan sát thấy trong phổi từ trước đó nhưng người ta vẫn nghĩ rằng nó vẫn tồn tại và giữ vai trò sản xuất tiểu cầu ở trong tủy xương chứ không phải phổi). Kỹ thuật hình ảnh này còn cho thấy các tế bào có nhân to này sản xuất tới hơn 10 triệu tiểu cầu mỗi giờ ngay trong các mạch máu ở phổi, và rất có thể đây là hơn một nửa tổng số tiểu cầu của chuột – được sản xuất ở phổi chứ không phải ở tủy xương như lâu nay người ta vẫn nghĩ. Các video hiển vi đã cho thấy một lượng lớn các tế bào đầu dòng của tế bào có nhân to và tế bào gốc tạo máu ở trong phổi mà trước đây vẫn thường bị lướt qua không để ý – ước tính khoảng một triệu tế bào trong mỗi lá phổi chuột.  Nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu về bệnh tật ở người, trong đó có bệnh nhân bị bệnh rối loạn giảm tiểu cầu (thrombocytopenia), căn bệnh hàng triệu người mắc phải và làm tăng tình trạng không kiểm soát được khi chảy máu. Phát hiện mới về cách thức tế bào gốc tạo máu ở phổi cũng sẽ ảnh hưởng đến những ca cấy ghép phổi.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2017/03/170322143209.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát huy nguồn lực doanh nghiệp là chìa khóa cho phát triển nông nghiệp      Nông nghiệp Việt Nam còn thiếu những thương hiệu giàu sức cạnh tranh, hàm lượng KH&amp;CN trong sản phẩm còn hạn chế, giá thành thấp, và đời sống nông dân còn rất khổ. Đây là những vấn đề căn bản được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đưa ra tại Hội nghị toàn quốc đánh giá hoạt động KH&amp;CN thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.    Đây là hội nghị do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Bộ KH&CN cùng Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 21/09 tại Hà Nội. Ngoài sự tham gia của ba cơ quan Trung ương nói trên, còn có sự tham gia của đại diện các địa phương, hội nông dân, hội khuyến nông, các trường và viện nghiên cứu, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, và một số nông dân có thành tích tiêu biểu trong sản xuất nông nghiệp. Các đại biểu đã đem đến cho hội nghị nhiều ý kiến phong phú, đa chiều về những kết quả đạt được, tồn tại yếu kém, và kiến nghị đề xuất về hoạt động KH&CN dành cho nông nghiệp.  Đa số các đại biểu cho rằng nguồn lực của Nhà nước và xã hội dành cho nghiên cứu KH&CN và giáo dục đào tạo trong nông nghiệp còn rất hạn chế và manh mún, các đề tài bị dàn trải, thiếu tính tập trung triệt để giúp đưa ra sản phẩm hoàn chỉnh. “Các nhà nghiên cứu phải tham gia quá nhiều đề tài tản mạn, rời rạc để kiếm thu nhập, rất hiếm ai đủ chuyên môn sâu để khi nói về từng con giống, cây trồng cụ thể người ta phải nhắc đến người đó”, PGS. Nguyễn Văn Bộ, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phát biểu. Ông cũng cho rằng Nhà nước đang đầu tư nhiều về phần cứng là các phòng thí nghiệm trọng điểm, nhưng không song hành với việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực để có thể sử dụng, khai thác có hiệu quả. Cùng quan điểm này, PGS. Trần Đức Viên, Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Hà Nội cho rằng “Ngân sách Nhà nước cho khoa học đang quá chú trọng khía cạnh quản lý tiền mà chưa chú trọng phát triển con người.” Ông phản ánh thực trạng nguồn kinh phí ít ỏi khiến các trường phải tăng quy mô để thu học phí, và hậu quả là các nhà khoa học phải dồn sức cho giảng dạy, không còn thời gian, tâm trí dành cho nghiên cứu.           Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, trong thời gian tới nguồn lực của Nhà nước cho KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi Luật KH&CN sửa đổi đi vào cuộc sống, hiện thực hóa một số tiến bộ về cơ chế tài chính như áp dụng cơ chế quỹ và khoán đến sản phẩm cuối cùng.        Mặc dù trong điều kiện vẫn còn những hạn chế như vậy về nguồn lực, trong 5 năm vừa qua ngành nông nghiệp vẫn có một số thành tựu nhất định trong ứng dụng tiến bộ KH&CN. Hàng trăm giống cây trồng và vật nuôi đã được chọn tạo, hình thành nên các mô hình sản xuất chăn nuôi bò sữa, nuôi trồng hải sản, với một số mô hình ứng dụng công nghệ cao thành công. Bên cạnh đó là công tác nghiên cứu triển khai quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất nông sản với quy mô lớn như mô hình cánh đồng mẫu lớn ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, vùng chuyên canh trồng hoa ở Đà Lạt, Sa Pa, vùng chuyên canh trồng rau ở Hà Nội, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, nuôi cá ở Tiền Giang, nuôi tôm ở Khánh Hòa, v.v.     Chưa chú trọng đến chất lượng và xây dựng thương hiệu quốc tế  Tuy nhiên, cho đến nay đóng góp của KH&CN vẫn chưa đủ để giúp ngành nông nghiệp đạt được một số mục tiêu cơ bản mà Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra, đó là đào tạo nông dân “có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực” và “xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao”. Tại hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng nhiều đại biểu nhất trí cho rằng ngành nông nghiệp Việt Nam sau thời kỳ Đổi mới thành công trong việc giải quyết nhu cầu về lượng, tạm đáp ứng đảm bảo về an ninh lương thực, đến những năm gần đây đã lộ ra những hạn chế lớn mà ngành KH&CN còn chưa giúp giải quyết và khắc phục một cách hiệu quả. Điển hình là vấn đề giá trị sản phẩm nông nghiệp còn thấp do trình độ sản xuất và hàm lượng công nghệ trong sản phẩm còn hạn chế, dẫn tới thương hiệu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam còn rất thiếu hoặc được ít người biết đến.  Điều nghịch lý là mặc dù Việt Nam vẫn tự hào là nước xuất khẩu gạo với số lượng nhất, nhì trên thế giới, nhưng hầu như chưa có thương hiệu, trong khi chính các nước nhập khẩu gạo của Việt Nam lại xây dựng được thương hiệu gạo của họ. Ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông cho biết, trong tất cả những hội chợ quốc tế ông từng tham dự, có thể thấy gạo Việt Nam xuất hiện nhiều nhưng đều dưới thương hiệu của quốc gia khác. Điển hình như hội chợ CAEXPO 2013 tổ chức ở Trung Quốc gần đây, Việt Nam không hề có thương hiệu nào, trong khi các nước vẫn nhập khẩu gạo Việt Nam là Philippines và Indonesia, hay thậm chí quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn Việt Nam là Campuchia, đều có thương hiệu gạo của riêng mình và được giới thiệu, trình bày một cách nghiêm túc, chuyên nghiệp – “gạo của họ được đóng trong túi nilon không khác gì những gói kẹo”, ông Phong cho biết. Khi được hỏi vì sao những nước này một mặt nhập khẩu gạo khá nhiều của Việt Nam, mặt khác vẫn có sản phẩm đem đi xuất khẩu, các doanh nghiệp tại hội chợ cho ông Phong biết rằng nước họ chỉ nhập khẩu gạo giá thành thấp của Việt Nam, còn gạo mà họ đem đi xuất khẩu là thứ gạo không chú trọng vào số lượng, chỉ chú trọng vào chất lượng, được bán với giá thành cao nên không cần xuất khẩu nhiều mà vẫn mang về giá trị thương mại đáng kể.  Mở rộng quy mô sản xuất: mối liên kết nông dân với doanh nghiệp       Để hình thành được thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp, trước mắt Việt Nam cần có những doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp một cách bài bản, chuyên nghiệp, đảm bảo được chất lượng ổn định từ khâu giống, các nguyên liệu đầu vào, cho tới sản phẩm cuối cùng. Một mặt họ liên kết với nông dân để gom ruộng đất thành những cánh đồng lớn cho phép áp dụng công nghiệp hóa và các tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách hiệu quả, mặt khác họ có nhiều thuận lợi hơn so với các hộ nông dân trong công tác làm thương hiệu.          “Các nhà nghiên cứu phải tham gia quá nhiều đề tài tản mạn, rời rạc để kiếm thu nhập, rất hiếm ai đủ chuyên môn sâu để khi nói về từng con giống, cây trồng cụ thể người ta phải nhắc đến người đó”.         Hiện nay mô hình liên kết nông dân và doanh nghiệp hình thành những cánh đồng mẫu lớn đã được triển khai từ Nam ra Bắc như tại các tỉnh Cà Mau, An Giang, Thanh Hóa, Ninh Bình, Thái Bình, thậm chí cả vùng núi phía Bắc như Hà Giang, v.v, đem lại những lợi ích tích cực, trong đó điều quan trọng là đồng ruộng được quy hoạch lại một cách hợp lý và hiệu quả hơn. Mối liên kết giữa Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông của ông Nguyễn Hồng Phong với nông dân xã Quảng Thành là một ví dụ điển hình cho mô hình khép kín, trong đó nông dân góp đất, doanh nghiệp phụ trách từ giống tới sản xuất, chế biến và làm thương hiệu. Đổi lại người nông dân có thể cùng làm cùng hạch toán với doanh nghiệp, hoặc chỉ cần góp đất và nhận một phần lúa thu hoạch vào cuối vụ. Việc góp đất cho phép công ty Tiến Nông sản xuất trên quy mô lớn, loại bỏ các đường bờ để đưa thiết bị cơ giới vào hoạt động một cách đồng bộ, tăng hiệu quả, giảm giá thành. “Mục tiêu hướng tới của chúng tôi là chỉ tốn chi phí 3000 đồng/kg”, ông Nguyễn Hồng Phong khẳng định tại Hội nghị.  Nhưng để mở rộng mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, Nhà nước cần giúp doanh nghiệp hạn chế bớt những rủi ro trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, vốn là đặc thù tự nhiên không tránh khỏi, bằng cách tăng cường xây dựng và giám sát thị trường bảo hiểm dành cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo ông Nguyễn Hồng Phong, chính sách bảo hiểm hợp lý là điều kiện tiên quyết giúp các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp yên tâm phát triển một cách bền vững, và ngược lại việc tham gia ngày càng nhiều các khách hàng là doanh nghiệp sẽ giúp ngành bảo hiểm nông nghiệp phát triển thành công.     Không thể chỉ trông chờ vào Ngân sách Nhà nước   Theo nhận định của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường nguồn lực đầu tư cho KH&CN trong nông nghiệp mà hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào Ngân sách Nhà nước – tỷ trọng đầu tư của Nhà nước cho KH&CN ở nước ta là 70%, của xã hội là 30%, trong khi ở các nước phát triển tỷ trọng đầu tư của xã hội cho KH&CN lên tới 70%. Các doanh nghiệp cũng như toàn xã hội cần ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của đầu tư cho KH&CN trong nông nghiệp, khi mà các sản phẩm ngày càng chịu sự cạnh tranh gay gắt về giá cả và chất lượng từ nước ngoài, đặc biệt trọng bối cảnh tới đây Việt Nam sẽ phải tăng cường thực hiện các thỏa thuận WTO, đồng thời sắp tới sẽ gia nhập TPP.   Trước mắt, ông cho rằng các nhà khoa học cần tăng cường nghiên cứu để tư vấn cho các nhà quản lý và doanh nghiệp về vấn đề cải thiện công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý trong nông nghiệp, qua đó tạo ra những điều kiện, nền tảng căn bản phù hợp cho việc ứng dụng hiệu quả các thành tựu công nghệ vào nông nghiệp, và đáp ứng những đòi hỏi của thị trường quốc tế đối với các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp. Chất xám của các nhà khoa học chính là yếu tố thu hút nguồn lực của xã hội dành cho KH&CN, vì vậy các tổ chức nghiên cứu và trường đại học không thể chỉ trông chờ Nhà nước tăng kinh phí, mà cần chủ động tăng cường mối liên kết với doanh nghiệp, nông dân, và thị trường. “Nếu chúng ta vừa muốn được Nhà nước bao cấp, vừa muốn đẩy mạnh đào tạo, nghiên cứu, thì không có cách gì thỏa mãn”, ông nhận định.     Ba vấn đề trọng yếu Hội nghị còn để ngỏ  Để cải thiện đời sống người nông dân, một vấn đề cốt lõi lâu nay chưa được đề cập là tăng cường tính cạnh tranh lành mạnh. Điều này hàm ý hai vấn đề. Thứ nhất, cần có những nghiên cứu giúp Nhà nước cải thiện thể chế thị trường, đảm bảo tăng cường tính cạnh tranh giữa những doanh nghiệp thu mua nông sản và xuất khẩu, qua đó giúp người nông dân có nhiều lựa chọn cung ứng nông phẩm và nâng cao giá bán, tránh tình trạng thị trường bị chi phối bởi một nhóm doanh nghiệp đầu mối độc quyền khiến giá thu mua nông phẩm bị ép xuống mức tối thiểu.  Thứ hai, cần có những nghiên cứu giúp Nhà nước tăng cường năng lực kiểm soát chất lượng và độ an toàn của nông phẩm. Điều này một mặt giúp bảo vệ sức khỏe và lợi ích người dân, mặt khác sẽ khiến các hộ nông dân và doanh nghiệp có động lực đầu tư tiến bộ KH&CN để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng và độ an toàn cao hơn. Có như vậy những thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam mới thực sự có sức sống trên thị trường.    Vấn đề trọng yếu thứ ba mà Hội nghị còn để ngỏ là phát triển nông nghiệp hài hòa bền vững với các điều kiện môi trường và tài nguyên thiên nhiên, mặc dù đây cũng là một mục tiêu cơ bản của Nghị quyết 26-NQ/TW. Ngành nông nghiệp có đặc thù gắn bó và tương tác mật thiết hai chiều với môi trường tự nhiên, hiện đang đối diện với những vấn đề ngày càng lộ rõ như quỹ đất bị thu hẹp do quy hoạch chưa hợp lý, đất bị mất chất do canh tác quá mức, chất lượng nước và phù sa suy giảm do mất rừng đầu nguồn, bên cạnh đó là tác động đang gia tăng từ biến đổi khí hậu. Đây là những thách thức không nhỏ cần sự tham gia giải quyết của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực để có thể đưa ra những giải pháp đồng bộ thích hợp.        Tái cấu trúc nền nông nghiệp nước ta hiện nay là phải xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn với cơ cấu sản nghiệp mới lấy trục phát triển trọng tâm là những sản nghiệp chủ lực có hiệu quả cao, nông dân có lời nhiều, đồng thời tạo ra những sản phẩm có chuỗi giá trị gia tăng cao đủ sức cạnh tranh quốc tế.               Trước hết, đối với ngành trồng trọt cần có bước điều chỉnh lớn trên bốn trụ cột là cây lương thực, cây thức ăn chăn nuôi,  cây rau hoa quả, cây công nghiệp lâu năm, và cây thuốc. Đối với cây lương thực, ưu tiên hàng đầu là đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm theo hai hướng:              Về lúa gạo: không nên tiếp tục ưu tiên hướng ra xuất khẩu. Hiện nay diện tích gieo cấy lúa nước ta khoảng 7,75 triệu ha (năm 2012), sản lượng lúa khoảng 40 triệu tấn, nhưng doanh thu lại thấp nhất trong toàn ngành trồng trọt. Nông dân thu lời rất ít, kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng sức cạnh tranh kém, hiệu quả thấp. Bởi vậy chỉ nên để lại khoảng 5,8 triệu ha đất gieo cấy lúa với sản lượng khoảng 35 triệu tấn/năm, đủ đảm bảo gạo ăn cho số dân 100-130 triệu người – bình quân đầu người 250 kg lúa/năm – và khoảng 20% lúa dự trữ 5 triệu tấn để đề phòng mọi bất trắc về thiên tai và những tình huống ngoài dự báo, nếu không dùng hết thì mới dành để xuất khẩu.               Về cây thức ăn chăn nuôi: phải coi đây là bộ phận không thể tách rời của nội hàm an ninh lương thực. Do nhu cầu từ đời sống văn minh, ngành sản xuất thức ăn để phục vụ chăn nuôi có tầm quan trọng không kém sản xuất lúa gạo. Vì vậy, cần điều chỉnh giảm 2 triệu ha đất trồng lúa chuyển sang ưu tiên trồng cây làm thức ăn chăn nuôi, chủ yếu là ngô và cỏ xanh. Với sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp hằng năm hiện nay là 26 triệu tấn và còn tăng nhanh trong thời gian tới, trong đó cần tới 16 triệu tấn thức ăn chất bột, là thị trường lớn và ổn định đối với sản phẩm ngô.  Hiệu quả trồng ngô cũng cao hơn hẳn trồng lúa – nếu đất trồng lúa phù hợp để trồng ngô thì năng suất ngô trên đất chuyển đổi có thể đạt 10-12 tấn/ha/vụ, doanh thu 70-80 triệu đồng/ha/vụ, gấp đôi so với trồng lúa.               Về cây công nghiệp lâu năm, phải đi theo hướng nâng cao chuỗi giá trị gia tăng sản phẩm. Cao su, chè, cà phê, điều, hồ tiêu kim ngạch xuất khẩu hiện nay đạt 9,1 tỷ USD, chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản cả nước nhưng phần lớn các cây công nghiệp lâu năm đã phát triển tới ngưỡng tối đa về lượng, buộc chúng ta phải chuyển hướng chú trọng nâng cao về chất.              Về cây rau, hoa, quả, cần phát triển vài loại rau, hoa cao cấp và trên 10 loại cây ăn quả quý. Với thế mạnh về khí hậu đa dạng, nước ta có điều kiện phát triển và lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực này, có khả năng tạo ra kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD  trong tương lai không xa, vì vậy phải được tập trung trở thành ngành sản xuất chủ lực.              Về cây (con) làm thuốc, là cây lâm sản ngoài gỗ quan trọng của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Xã hội phát triển ngày càng có nhu cầu cao đối với các loại thảo dược và thực phẩm chức năng. Đặc thù nước ta có nhiều vùng có điều kiện để phát triển cây dược liệu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời rất phù hợp với tập quán canh tác của đồng bào miền núi.              Bên cạnh đó, đối với ngành chăn nuôi, là ngành sản xuất quan trọng chiếm 30% giá trị nông sản, cần khắc phục nhược điểm là ván đề thiếu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi dẫn tới phải nhập khẩu và bị các hãng nước ngoài lũng đoạn thị trường khiến giá thành cao, sức cạnh tranh rất yếu. Nên chú trọng phát triển chăn nuôi bò sữa, đáp ứng nhu cầu trong nước dự kiến sẽ lên tới 6-8 triệu tấn/năm, chưa kể đến đáp ứng những nhu cầu thiết yếu khác ngoài sữa như thịt, da thuộc, v.v.              Ngành thủy sản cần tăng cường ngành đánh bắt cá xa bờ, khai thác triệt để mặt nước nuôi trồng thủy sản, trong đó có mặt nước các hồ chứa lớn. Phát triển các loại thủy sản quý hiếm cao cấp, như nuôi tảo xoắn – được đánh giá là nguồn protein vô tận của con người trong thế kỷ 21 – hay nuôi cá nước lạnh gắn với chế biến những sản phẩm cao cấp xuất khẩu.               Phải tạo ra chuyển biến bước ngoặt đối với ngành kinh tế lâm nghiệp, biến hàng chục triệu ha đất lâm nghiệp trở thành địa bàn sản xuất làm giàu cho nông dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Ưu tiên phát triển ngành trồng cây lấy gỗ và sản xuất đồ gỗ, trong bối cảnh thế giới đang ngày càng ý thức sâu sắc vấn đề “an ninh gỗ”. Trong tương lai không xa, cần tiếp tục hướng tới những sản nghiệp mới hứa hẹn tạo nên bước nhảy vọt về kinh tế lâm nghiệp, như sử dụng nguyên liệu sinh khối sản xuất diesel sinh học – dự báo sản lượng sinh khối nước ta có khả năng hằng năm sản xuất được 50 triệu tấn dầu quy đổi, doanh thu lên tới 50 tỷ USD/năm.              (Trích tham luận Tổng quan nông nghiệp Việt Nam, của ông Nguyễn Công Tạn, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam)                              Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát minh-công nghệ thấp: những ý tưởng đơn giản có thể làm cho thế giới tốt đẹp hơn      Bên cạnh những nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với nền tảng công nghệ cao, ví dụ như cách mà Quỹ Gates đang nghiên cứu như ủng hộ các hãng làm các nhà máy điện nguyên tử mini, lọc CO2 trong không khí, làm thịt nhân tạo hoặc phát triển giống cây trồng biến đổi gien, chịu hạn vv…thì có những sáng kiến, phát minh công nghệ thấp đơn giản hơn nhiều, đem lại nhiều thay đổi cho thế giới tốt đẹp hơn. Bảy lựa chọn sáng kiến công nghệ thấp sau đây là minh chứng cho điều đó.      Đèn bão, có lẽ đây là nguồn ánh sáng đơn giản nhất trên thế giới này.  Đối với nhiều người thế giới này không phải là một nơi dễ sống gì. Thí dụ 785 triệu người không có nổi nước sạch để sử dụng. Và thế giới luôn cần có những ý tưởng mới, xuất sắc và ít tốn kém để cải thiện cuộc sống con người.   Để cho thế giới tốt đẹp hơn còn có vô vàn công việc phải làm: Theo WHO hiện có 785 triệu người không có nước sạch, 820 triệu người theo FAO thường xuyên bị đói kinh niên, hai tỷ người không có nhà tiêu hợp vệ sinh vv…    Bên cạnh những nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với nền tảng công nghệ cao, ví dụ như cách mà Quỹ Gates đang nghiên cứu như ủng hộ các hãng làm các nhà máy điện nguyên tử mini, lọc CO2 trong không khí, làm thịt nhân tạo hoặc phát triển giống cây trồng biến đổi gien, chịu hạn vv…thì có những sáng kiến, phát minh công nghệ thấp đơn giản hơn nhiều, đem lại nhiều thay đổi cho thế giới tốt đẹp hơn. Bảy lựa chọn sáng kiến công nghệ thấp sau đây là minh chứng cho điều đó.   Chai nhựa tỏa sáng  Alfredo Moser rất bực bội. Lại mất điện, lại phải ngồi trong xưởng tối om. Mất điện – ở thành phố Uberaba phía nam Brasil đã trở nên thường xuyên như cơm bữa. Moser đành khoét một khoảng trống to tướng trên mái nhà lợp fibro xi măng, tuy nhiên vẫn không đủ sáng cho cả xưởng. Moser bèn khoan một lỗ qua mái nhà để lấy ánh sáng, đổ nước vào chai nhựa, anh sáng xuyên qua chai nhựa tỏa sáng trong căn nhà – Alfredo Moser đã phát minh ra một nguồn sáng đơn giản nhất thế giới.     Giờ đây “ngọn đèn-Moser” được lan rộng trên thế giới. Ngay cả Liên hiệp quốc cũng dùng nguồn sáng này cho các trại tị nạn. Bản thân Alfredo Moser không kiếm được một hào nào từ sáng kiến của mình, tuy nhiên anh tự hào về sáng kiến đó (một số sáng kiến thắp sáng trong chai nhựa được cập nhật tại đây https://literoflight.org)  Sodis: dùng chai làm thiết bị xử lý nước  Cơ sở xử lý nước thải không phải ở đâu cũng có, nhưng mặt trời thì không thiếu. Năm 1980, nhà sinh thái học Aftim Acra có ý tưởng dùng ánh sáng mặt trời để khử khuẩn, vì trong ánh sáng trời có nhiều tia cực tím có thể tiêu diệt vi khuẩn. Acra đổ nước vào chai rồi phơi ngoài trời nắng dăm tiếng đồng hồ. Nước trong chai sau đó có thể uống được.   Phương pháp Sodis (Solar Water Disinfection) có thể thực hiện được với chai thủy tinh và chai nhựa, người ta đã làm thử nhiều lần và tác dụng tốt, tuy nhiên cần thực hiện đúng cách: vỏ chai không được trầy xước; dung tích không quá 3 lít và nước không được đục quá – nếu không lượng tia cực tím không đủ để diệt khuẩn.    Phải phơi chai trực tiếp dưới ánh sáng trời ít nhất sáu tiếng đồng hồ, còn nếu nhiều mây thời gian khử trùng mất khoảng hai ngày. Theo khuyến cáo của WHO và LHQ thì Sodis là phương pháp xử lý nước hiệu quả nhất và đơn giản nhất (xem thêm www.sodis.ch).  Biocercas: dùng chai nhựa để lọc rác  Rác thải nhựa có mặt ở khắp nơi, qua kênh rạch và sông suổi nó trôi dạt ra biển cả và tạo ra những vòng xoáy và trụ lại thành bãi nhựa khổng lồ trên đại dương. Những người nông dân ở Mỹ La tinh đã dùng nhựa để trị nhựa: Tại Guatemala, Honduras và Cộng hòa Dominica người dân đã kết chai nhựa và lưới bắt cá vứt đi thành rào chắn nổi – Biocercas – để chặn dòng rác thải trên những dòng sông.   El Salvador cũng muốn áp dụng Biocercas, các nước khác như Achentina, Panama, Somalia và Malaysia cũng quan tâm đến sáng kiến này. Hiện nay, ngay cả một số doanh nghiệp cũng được truyền cảm hứng phát triển phát minh-công nghệ thấp này thành thiết bị lọc cho những dòng sông (www.renewoceans.org).    Wonderbag: Bếp ở trong túi  Ba tỷ người nấu nướng trong những căn buồng lụp xụp bằng rơm rạ, than củi. Mỗi năm khoảng 4 triệu người chết vì hít thở  khói độc, trẻ em vì khói này thường bị viêm phổi . Để có chất đốt người ta, chủ yếu phụ nữ và trẻ em, phải kiếm củi mất nhiều thời gian, nhiều em phải bỏ học.   Bà Sarah Collins, một phụ nữ ở Nam Phi muốn chấm dứt tình trạng này và bà nghĩ đến một cách đơn giản mà bà nội bà đã từng làm: bà nội có một cái thùng gỗ, quấn rơm xung  quanh, thường bà cho các nồi nấu ủ trong đó, kể cả nồi cơm. Bằng cách này bà chỉ cần đun không lâu, khi cơm cạn, hoặc thức ăn gần chín bà cho nồi vào thùng ủ. Nay thay cho thùng ủ bà làm những cái túi, thay cho rơm rạ bà dùng hạt styropor làm nguyên liệu cách nhiệt. Bà Collins đã phát triển một loại túi ủ mới rất thuận tiện và tiết kiệm năng lượng, giảm thời gian ngồi bếp. Cơm cạn sau một tiếng trong túi thì chín và nóng hổi, hầm gà mất ba tiếng. Bill Gates rất ấn tượng về cái túi bếp này. Ông vận động nâng cấp sáng kiến này và hiện đã có loại bếp ủ chạy điện vừa tiết kiệm năng lượng vừa tiết kiệm công sức. (xem thêm www.kochen-mit-wonderbag.de)  The Cup: cốc nguyệt san hiệu quả không kém băng vệ sinh  Theo WHO và UNICEF khoảng 500 triệu chị em không có loại băng vệ sinh đảm bảo vệ sinh khi đến tháng. Họ phải dùng vải rất mất vệ sinh và dễ bị nhiễm trùng, ở một số nước nghèo, cứ đến tháng là các em gái phải nghỉ họ mấy ngày.   Cốc kinh nguyệt  chất liệu silicon là một giải pháp khá thuận tiện, có thể đổ và  rửa sạch, cất đi dùng lại. Một cốc silicon có thể dùng tới 10 năm. Theo tạp chí Lancet loại cốc này cũng đạt các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn như các loại Tampons hay băng thông dụng. Nhờ nó cũng bớt được rác thải. Cup Foundation đã phân phối cốc 15.000 cốc cho các cô gái ở Kenia. (xem thêm www.thecup.org)    Foldscope: kính hiển vi bằng bìa   Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất trên thế giới, hiện hàng năm có khoảng 200 triệu người bị sốt rét. Dùng kính hiển vi phân tích có thể dễ dàng phát hiện vật gây bệnh  – tuy nhiên để làm được phải có kính hiển vi. Anh Manu Prakash đã làm ra kính hiển vi giá rẻ nhất thế giới, không tới  50 Cent. Chỉ cần cắt bìa giấy, gấp  và cài một mắt kính bằng nhựa là xong (www.foldscope.com).  Hippo-Roller: Thùng kéo nước  Hiện nay đối với nhiều người, nước sạch vẫn thuộc diện hàng xa xỉ. 600 triệu người phải cất công chở nước sinh hoạt từ rất xa về nhà  – thường là đội đầu, về lâu dài rất hại cho cột sống.   Hai người ở Nam Phi là Pettie Petzer và Johan Jonker không chịu được cảnh vất vả này họ có sáng kiến làm xe đẩy, tuy nhiên giá thành cao quá. Từ đó ra đời loại thùng lăn (Hippo-Roller) thùng chứa được 90 lít nước đồng thời là bánh xe, có thể kéo trên đường. Hiện tại loại thùng lăn này đã được sản xuất hàng loạt với giá khoảng 125 USD, đã có 46.000 thùng lăn được cung cấp ra thị trường (www.hipporoller.org).    Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus199500876/Erfindungen-Wie-diese-7-Lowtech-Innovationen-die-Welt-besser-machen.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển AI để hỗ trợ đọc ngôn ngữ cổ      25 thế kỷ trước, mọi “tư liệu giấy tờ” của triều đình Achaemenid tại Đế quốc Ba Tư đều được ghi lại trên các tấm đất sét – và hàng vạn tấm trong số đó đã được các nhà khảo cổ học tại Viện Phương Đông thuộc Đại học Chicago – Hoa Kỳ, phát hiện nguyên vẹn vào năm 1933. Qua nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã bỏ ra nhiều công sức để tìm hiểu và phiên dịch nội dung từng văn bản cổ này. Tuy vậy, quá trình phiên dịch thủ công thường rất khó khăn, kéo dài và thường dễ mắc lỗi.      Kể từ thập niên 1990, công việc của các nhà khoa học đã có thêm sự hỗ trợ của máy tính – dù không nhiều thành công, một phần bởi vì tính chất ba chiều của văn bản trên đất sét và sự phức tạp của hệ thống chữ hình nêm. Nhưng mới đây, một đột phá công nghệ của ĐH Chicago có thể cuối cùng tạo chìa khóa mở ra khả năng phiên dịch tự động các văn bản này, cũng như cho phép các nhà khoa học có thể rảnh tay thực hiện các phân tích sâu hơn. Qua đó, giúp chúng ta hé mở thêm nhiều thông tin về lịch sử, xã hội và ngôn ngữ thời Achaemenid.  Dự án DeepScribe được thành lập vào năm 2019 với sự cộng tác giữa các chuyên gia của Viện Phương Đông (OI) và Khoa Khoa học Máy tính và nhận được tài trợ từ Trung tâm Dữ liệu và Tin học – ĐH Chicago (CDAC). Khởi đầu với bộ dữ liệu gồm 6000 hình ảnh từ Kho lưu trữ thành cổ Persepolis dùng để “huấn luyện” cho AI, dự án sẽ xây dựng một mô hình học máy có thể “đọc” các tấm đất sét trong bộ sưu tập, và có thể sẽ cho ra đời một công cụ cho phép các nhà khảo cổ học ứng dụng với các loại ngôn ngữ cổ khác.  “Nếu chúng ta có thể xây dựng được một công cụ vừa linh hoạt vừa có thể ứng dụng rộng rãi cho các hình thức chữ viết và thời đại khác nhau, đó sẽ trở thành bước ngoặt lớn trong giới nghiên cứu,” PGS. Susanne Paulus, chuyên gia Assyria học tại ĐH Chicago, nói.  Dự án DeepScribe được thai nghén khi Paulus, Sandra Schloen và Miller Prosser từ OI có cuộc gặp gỡ với phó giáo sư Sanjay Krishnan trong một sự kiện về nghiên cứu nhân văn số. Schloen và Prosser có vai trò quản lý OCHRE, một cơ sở dữ liệu trực tuyến của Viện tập hợp và sắp xếp tư liệu của các cuộc khai quật khảo cổ và các hoạt động nghiên cứu khác. Trong khi đó, Krishman nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật AI và học sâu vào phân tích các hình thức dữ liệu phức tạp. Sự tương hợp giữa hai phía sau đó đã dọn đường cho khả năng hợp tác.    “Rất thú vị khi nhìn từ điểm nhìn thị giác máy tính (computer vision) vì đây là những thách thức mà tất cả chúng tôi cùng đối mặt. Ngành thị giác máy tính trong 5 năm qua đã tiến bộ vượt bậc; mà nếu 10 năm trước thôi chúng tôi sẽ không thể đạt được bước tiến như bây giờ.” PGS. TS Krishnan nói, “Đây là một vấn đề học máy rất hay, vì khi lấy chính xác làm mục tiêu, chúng tôi hưởng lợi từ việc có một bộ mẫu có hệ thống để luyện tập và có hiểu biết rất kỹ càng về [đối tượng nghiên cứu] là văn tự [hình nêm]. Vậy nên đây không phải là vấn đề chưa từng được biết đến.”  Bộ dữ liệu được dùng để huấn luyện cho AI được lấy từ kết quả nghiên cứu suốt 80 năm của các nhà khoa học Viện và ĐH Chicago, cũng như dự án gần đây nhằm số hóa bộ sưu tập văn bản đất sét bằng ảnh chụp có độ phân giải cao – với khối lượng hiện đã lên đến 60 terabyte và vẫn tiếp tục mở rộng – trước khi chúng được trả về Iran. Tận dụng bộ sưu tập này, các nhà khoa học đã biên soạn một từ điển tiếng Elamite viết trên các tấm sét, cũng như cho sinh viên hỗ trợ xây dựng một bộ dữ liệu gồm hơn 100 nghìn “điểm nóng” hay là các dấu hiệu riêng đã xác định.  Với những nguồn lực của Trung tâm Máy tính UChicago, Krishnan đã sử dụng dữ bộ dữ liệu này để huấn luyện một mô hình học máy mới tương tự như mô hình sử dụng ở các dự án thị giác máy tính khác. Khi thử nghiệm với các tấm sét không nằm trong bộ dữ liệu gốc, mô hình này có thể phiên dịch các ký tự hình nêm với độ chính xác lên đến 80%. Giai đoạn nghiên cứu tiếp theo sẽ xem xét vấn đề của 20% sai số để tìm cách nâng độ chính xác lên cao hơn nữa.  Nhưng hiện tại thì với độ chính xác 80%, mô hình này cũng có thể giúp ích rất nhiều cho việc đọc. Nội dung của nhiều tấm sét thực ra chỉ ghi chép hoạt động mua bán, giống như “một tập hóa đơn siêu thị vậy”, theo PGS.TS Paulus. Và trên thực tế thì một hệ không được bổ sung thêm vào “bộ não” của chúng thì hệ đó vẫn hữu dụng.  Cũng theo PGS. TS Paulus: “Nếu như máy tính có thể phiên dịch và xác định ra những đoạn thông tin lặp đi lặp lại và để lại cho các chuyên gia các đoạn phức tạp như tên địa danh, động từ, hay các từ cần giải nghĩa… thì cũng đã rất được việc rồi.”  “Còn nếu như máy tính không thể quyết định cách đọc văn bản, nó vẫn có thể gửi về cho chúng ta các phương án khả thi nhất hay xác suất – như vậy cũng là một khởi đầu tốt cho nhà nghiên cứu. Điều đó rất tuyệt vời.”  Tham vọng lớn hơn của nhóm là sẽ biến DeepScribe thành một công cụ đọc và phiên dịch đa năng mà họ có thể chia sẻ với các nhà khảo cổ khác. Ví dụ như mô hình hiện tại có thể được huấn luyện lại cho các ngôn ngữ sử dụng văn tự hình nêm khác ngoài tiếng Elamites; hoặc huấn luyện để tự động hoàn thiện các nội dung văn bản bị khuyết thiếu. Một mô hình học máy như vậy còn có thể giúp xác định niên đại hay nguồn gốc của tấm sét hay các hiện vật khác, vấn đề vốn trước nay phải dựa vào phân tích hóa học.  Các dự án tương tự do CDAC tài trợ đang sử dụng tiếp cận thị giác máy tính cho nhiều hướng ứng dụng khác nhau, trng đó có nghiên cứu đa dạng sinh học và nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật. Những hợp tác trong dự án này cũng hy vọng sẽ truyền cảm hứng cho nhiều sự hợp tác trong tương lai, khi khảo cổ học kỹ thuật số ngày càng đến gần hơn các phương pháp tính toán tiên tiến.  Tuấn Quang dịch  Nguồn: http://news.uchicago.edu/story/how-ai-could-help-translate-written-language-ancient-civilizations    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển các loài lan quý bằng công nghệ nuôi cấy mô      Nhiều loài lan quý đang được sưu tầm, lưu giữ, và nhân giống tại Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&amp;CN (Sở KH&amp;CN Hải Dương) nhờ công nghệ nuôi cấy mô.  &#160;    Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN đã thực hiện thành công đề tài “Sưu tầm, tuyển chọn, xây dựng mô hình duy trì, lưu giữ và phát triển hoa lan”. Đề tài được đánh giá là tạo ra cơ hội để những nông dân trồng lan tập trung đầu tư vốn và công sức vào việc mở rộng diện tích trồng, chăm sóc các loại lan quý có giá trị kinh tế cao.   Khi bắt tay vào thực hiện đề tài, các cán bộ của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN đã lựa chọn và xác định các loài lan quý như Lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea); Lan Hoàng Hậu (Cattleya), Lan Giáng Hương (Aerides), Lan Phi Điệp (Giả Hạc), Lan Thủy Tiên (lan Kiều), Lan Dendrobium công nghiệp…, vốn được thị trường trong và ngoài tỉnh ưa chuộng. Để đảm bảo độ chính xác cao và tỷ lệ thành công lớn cho dự án, Trung tâm đã liên hệ với Viện Sinh học nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) về vấn đề chuyển giao công nghệ nuôi cấy mô bằng tế bào thực vật. Từ mối quan hệ hợp tác này, Trung tâm đã được Viện Sinh học nông nghiệp trao đủ quy trình nhân giống, công nghệ lưu giữ, bảo quản các giống lan quý cũng như quy trình trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cho lan giống sau khi đưa khỏi phòng nuôi cấy mô ra vườn ươm.  Nhằm đảm bảo vườn ươm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật được chuyển giao, Trung tâm đã cải tạo, nâng cấp nhà lưới rộng 250m2 với khung treo giò lan nhiều tầng, mái che và lưới giảm cường độ ánh sáng mặt trời, bổ sung hệ thống phun mưa để giữ ẩm cho cây… Đồng thời mô hình sản xuất lan thương phẩm với quy mô 3.000 cây cũng được khởi động để có thể cung cấp lan cho thị trường tỉnh.   Dù có quy trình chặt chẽ như vậy nhưng thoạt đầu các cây lan từ phòng mô đưa ra vườn ươm cũng chưa thể thích nghi nhanh, đặc biệt khi điều kiện thời tiết không thuận lợi như mưa lớn, chuyển nóng đột ngột… Bằng nỗ lực bám sát vườn ươm, kịp thời có biện pháp điều chỉnh kịp thời của các cán bộ Trung tâm, những cây lan giống đã bắt đầu bén rễ, sinh trưởng đều đặn như dự kiến và tăng dần tỷ lệ sống, ví dụ Lan Đai Châu đạt 96,0%, Phi Điệp đạt 93,9%, lan Dendrobium 82,8%…  Sau nhiều tháng nuôi cấy và trồng thử nghiệm, những loài lan quý đã được Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN Hải Dương duy trì và phát triển. Từ thành công bước đầu này, Trung tâm sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho các hộ kinh doanh nhằm nhân rộng mô hình trồng và sản xuất lan thương phẩm trên địa bàn tỉnh Hải Dương, qua đótạo điều kiện cho những người nông dân áp dụng một mô hình trồng lan mới đem lại thu nhập cao và ít rủi ro hơn.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển các tổ chức trung gian cung-cầu công nghệ      Sau gần 6 năm triển khai quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển thị trường KH&amp;CN, với những con số công bố qua khảo sát về mức tăng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp vài năm gần đây có thể thấy thị trường công nghệ của chúng ta hiện còn đang ở dạng sơ khai, thiếu nhân tố tạo ra đột phá cho sự phát triển nhanh.      Nguyên nhân là do cơ sở pháp lý để thị trường vận hành chưa hoàn thiện; nguồn cung từ các viện NC nghèo nàn; nguồn cầu từ các doanh nghiệp – chủ thể của thị trường công nghệ – rất hạn chế… và nhất là các tổ chức trung gian để tạo môi trường thuận lợi cho giao dịch mua bán công nghệ: thông tin, giám định kiểm định, đánh giá công nghệ … rất ít về số lượng, yếu kém về năng lực. Chẳng hạn như hệ thống giám định sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện chỉ có duy nhất 1 đơn vị thuộc Bộ KH&CN.  Vì vậy việc Bộ KH&CN xây dựng đề án Chương trình Quốc gia phát triển thị trường công nghệ đến năm 2020, với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng giao dịch mua bán công nghệ bình quân 15-17% vào năm 2020 nhằm tạo sinh lực mới cho sự phát triển thị trường công nghệ, góp phần đáp ứng nhu cầu cơ cấu lại nền kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, là hết sức cần thiết.  Để đạt được mục tiêu đó, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý của thị trường công nghệ, đề án cần có những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi cao để phát triển đồng bộ cung, cầu và đặc biệt là những tổ chức trung gian cung cầu trong cả nước, bao gồm một số việc trọng tâm:   – Xây dựng một hệ thống giám định về SHTT có sự tham gia của các tổ chức xã hội, hiệp hội, để hình thành một tổ chức giám định mạnh; xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thiết bị để thành lập cơ quan định giá, tiến tới tổ chức sàn đấu giá tài sản trí tuệ; tổ chức một số đơn vị chuyên khai thác dữ liệu của nước ngoài, đặc biệt là các công nghệ đã hết thời gian bảo hộ nhưng còn giá trị sử dụng…   – Đồng thời với việc ban hành các quy định về trích lợi nhuận trước thuế để thành lập các quỹ KH&CN của các doanh nghiệp, cần thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ với một quy trình chặt chẽ, minh bạch (qua kiểm toán) đồng thời linh hoạt, bảo đảm cho dự án đầu tư R&D có triển vọng tốt để được bảo lãnh cần thiết…   – Và trên hết là phải có một chương trình đào tạo bài bản hệ thống đội ngũ chuyên gia cho các tổ chức lĩnh vực kể trên.  Có thể nói các giải pháp về phát triển mạng lưới trung gian cung – cầu cần được coi là một trong những trọng tâm hàng đầu của đề án Chương trình Quốc gia phát triển thị trường công nghệ đến năm 2020.  Nói thêm về tên của đề án:  Cách đây 7 năm, tại Hội thảo về đề án “Phát triển thị trường KH&CN VN” do Viện CL& CS KH&CN soạn thảo, hầu hết các đại biểu đều có chung quan điểm với GS Phạm Duy Hiển là cần xem lại tên đề án vì “chưa thấy ở nơi nào có nói đến khái niệm thị trường KH. Chức năng của KH là nghiên cứu, khám phá các quy luật tự nhiên. Sản phẩm của nó là các công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí KH để mọi người sử dụng. Với phát minh vĩ đại của mình, Einstein đâu có thu được đồng nào!” (Tia Sáng tháng 7/2004). Nhưng rồi tên đề án vẫn được giữ nguyên, với lý do trong báo cáo chính trị  Đại hội Đảng X đã ghi rõ là cần phát triển thị trường KH&CN.  Nay trong việc dự thảo đề án Chương trình Quốc gia phát triển thị trường công nghệ đến năm 2020, hẳn ban soạn thảo của Viện CL&CS KHCN dự thảo, đã đồng quan điểm không có thị trường khoa học của các nhà KH cách đây 7 năm, và nội dung của đề án đã được soạn thảo theo quan điểm đó, dù không ít ý kiến từ các nhà KHXH cho rằng cần giữ nguyên tên đề án như trong các văn kiện của Đảng. Hy vọng quan điểm của ban soạn thảo sẽ nhận được sự đồng tình của cấp có thẩm quyền.               Tia sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển cảm biến mang trên người để theo dõi các mức oxy qua da      Các nhà nghiên cứu đã kết hợp một màng mỏng cảm biến oxy mới vói học máy để tạo ra một cảm biến có thể mang trên người và có năng lực đo đạc các mức nạp oxy qua da. Thiết bị này có thể được sử dụng để giám sát mức oxy cá nhân theo một mức liên tục cho các ứng dụng trong y tế và thể thao.    Rất dễ dàng vận hành và kết nối thiết bị không dây này, điều đó khiến cho nó phù hợp với việc theo dõi các mức oxy bên ngoài các cơ sở y tế. “Thiết bị này được hướng đến hỗ trợ con người trong bất kỳ kịch bản nào, khi có nguy cơ dẫn đến việc ảnh hưởng đến lưu lượng máu và thiếu oxy đến các chi và các mô”, Conor Evans – nhà nghiên cứu chính của dự án, cho biết. “Công nghệ này rất hiệu quả cho các tình huống y tế, nơi các công cụ bão hòa lượng oxy trong máu truyền thống không thể cung cấp thông tin một cách đầy đủ. Các ứng dụng của thiết bị theo doiix lượng oxy không dây có thể mang theo người này có thể trên phạm vi rộng, từ các chấn thương  nặng như tai nạn xe hơi, bị thương trên chiến trường đến theo dõi hậu phẫu và chăm sóc vết thương”.  Juan Pedro Cascales và Conor L. Evans của Bệnh viện Massachusetts và trường Y Harvard sẽ trình bày nghiên cứu này tại Hội thảo Hình ảnh OSA, Quang ứng dụng và Cảm biến quang từ ngày 19 đến 23/7.  Thiết bị này, có thể đeo như một chiếc đồng hồ đeo tay, bao gồm một lớp vỏ được làm bằng công nghệ in 3D, một đầ cảm biến nhỏ và màng mỏng cảm biến oxy kết dính. Các thành phần điện tử xử lý dữ liệu từ cảm biến và cho phép thiết bị này gửi các bản ghi dữ liệu qua kênh Bluetooth hoặc Wi-Fi.  Cảm biến này hoạt động bằng việc dò thời gian tồn tại của lân quang và cường độ của màng mỏng cảm biến oxy acrylic. Hai đèn LED trong đầu cảm biến kích thích màng cảm biến oxy bằng tia cực tím. Một photodiode dò pha ánh sáng phát xạ bằng màng mỏng cảm biến oxy phản hồi. So sánh pha ánh sáng phát xạ bằng LED với pha ánh sáng phát xạ bawnhg mang cảm biến oxy cung cấp phép đo lượng oxy trong mô dưới lớp màng này.  “Lần đầu tiên, chúng ta có một thiết bị theo dõi lượng oxy qua da không xâm lấn, Juan Pedro Cascales, tác giả dẫn dắt dự án này, nói. “Sự đơn giản, chính xác, kích cỡ nhỏ và đễ dàng sử dụng của thiết bị này có ý nghĩa là nó có thể được mang đi bất cứ nơi nào và được các bác sĩ, y tá cũng như bệnh nhân sử dụng tại nhà”.  Để hiệu chỉnh cảm biến, các nha nghiên cứu đã thử nghiệm thiết bị ở nhiều mức nhiệt độ khác nhau bên trong một buồng chứa nitrogen, không khí khác và điều chỉnh nó cho đến các pha phù hợp với cảm biến thương mại.  Các nhà nghiên cứu còn thử nghiệm thiết bị này bằng việc đính nó vào chi trước một con lợn Yorkshire. Khi một garo được buộc vào chỗ khớp chân, cảm biến đã dò ngay dược sự suy giảm đột ngột lượng oxygen, phản ánh lưu lượng máu thấp. Các đo đạc cũng phù hợp với phép đo từ một cảm biến thương mại và không bị các mức nhiệt độ, độ ẩm và các điều kiện môi trường khác nhau ảnh hưởng. Điều này khiến cho việc sử dụng nó ngoài phòng thí nghiệm trở nên thuận lợi.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụn một cách tiếp cận bằng học máy để huấn luyện cho hệ này có thể đo đạc một cách chính xác các mức oxy trong những điều kiện khác biệt. Cách tiếp cận này cũng cho phép các nhà nghiên cứu tính toán cho tẩy màu huỳnh quang, xu hướng các vật liệu kích thích ánh sáng dần dần mất đi khả năng phát xạ ánh sáng. Tẩy màu huỳnh quang là giới hạn chung của các thiết bị trên cơ sở đo đạc cường độ ánh sáng.  “Hiện tại chúng tôi đang đem nó thử nghiệm lâm sàng trên người lần đầu tiên, và sẽ chia sẻ sớm kết quả”, Evans nói. “Chúng tôi đang thiết kế những phiên bản nhỏ hơn , tối ưu hơn để có thể kết nối nó với bất kỳ đồng hồ thông minh, điện thoại thông minh, máy tính bảng hay máy tính nào”, Cascales bổ sung.  Dự án dầy tính đổi mới sáng tạo này đã nhận được tài trợ của Bộ Quốc phòng Mỹ thông qua Chương trinh Quang tử quân y cũng như Chương trình Các công nghệ chuyển đổi quân sự.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-wearable-sensor-oxygen-skin.html  https://www.photonics.com/Articles/Wearable_Sensor_Measures_Light_Emission_on_Skin/a67147    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển công cụ mới để phân tích các mạch siêu dẫn lớn      Thế hệ máy tính và xử lý thông tin mới thuộc về thế giới đầy hấp dẫn của cơ học lượng tử. Các máy tính lượng tử được chờ đợi có khả năng giải quyết những bài toán cực phức tạp và cực lớn, vốn nằm ngoài phạm vi của các cỗ siêu máy tính quyền năng nhất hiện nay.      Do đó cần thiết có các công cụ nghiên cứu mới để thúc đẩy lĩnh vực này và phát triển các máy tính lượng tử hoàn thiện. Hiện các nhà nghiên cứu tại trường đại học Northwestern đã phát triển và thử nghiệm một công cụ lý thuyết để phân tích các mạch siêu dẫn lớn. Các mạch này được sử dụng trong các bit lượng tử siêu dẫn, hay còn gọi là các qubit, đơn vị nhỏ nhất của một máy tính lượng tử, để lưu trữ thông tin.  Kích thước của mạch là tối quan trọng để bảo vệ nó khỏi nhiễu bất lợi có xu hướng làm giảm đi độ phức hợp của mạch. Hiện tại có một số công cụ có thể giải quyết việc mô hình hóa các mạch lớn, khiến phương pháp của các nhà nghiên cứu Northwestern trở thành một đóng góp quan trọng cho cộng đồng nghiên cứu. “Khung của chúng tôi được truyền cảm hứng từ các phương pháp được phát triển cho nghiên cứu về các electron trong các tinh thể và cho phép chúng tôi đạt được các dự đoán mang tính định lượng cho các mạch rất khó hoặc không thể truy cập”, Daniel Weiss, tác giả liên hệ và tác giả thứ nhất của nghiên cứu mới, nói. Anh là một học viên bốn năm trong nhóm nghiên cứu của Jens Koch, một chuyên gia về các qubit siêu dẫn.  Koch, một phó giáo sư vật lý và thiên văn học tại trường Nghệ thuật và khoa học Weinberg, là một thành viên của Trung tâm các vật liệu và các hệ lượng tử siêu dẫn (SQMS) và Trung tâm Tiên tiến lượng tử đồng thiết kế (C2QA). Cả hai trung tâm quốc gia này đều được Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) thành lập vào năm ngoái. SQMS tập trung vào xây dựng và sử dụng máy tính lượng tử siêu đỉnh cao trên cơ sở các công nghệ siêu dẫn. C2QA đang xây dựng các công cụ cơ bản và cần thiết để tạo ra các hệ máy tính lượng tử kháng lỗi, phân tán và có thể nâng cấp về quy mô. “Chúng tôi rất hào hứng được đóng góp vào các nhiệm vụ do hai trung tâm của DOE theo đuổi và đưa tầm nhìn của Northwestern vào lĩnh vực khoa học thông tin lượng tử này”, Koch nói.  Trong nghiên cứu của họ, các nhà nghiên cứu Northwestern đã làm rõ việc sử dụng công cụ lý thuyết của mình bằng việc tách từ một mạch được bảo vệ thông tin định lượng  mà không thể đạt được bằng các kỹ thuật tiêu chuẩn thông thường.  Các chi tiết của nó đã được ghi rõ trong bài báo xuất bản tại tạp chí truy cập mở Physical Review Research 1.  Các nhà nghiên cứu nghiên cứu một cách đặc biệt các qubit được bảo vệ. Các qubit này được bảo vệ khỏi những nhiễu bất lợi do thiết kế và có thể đem lại lợi ích về thời gian hơn cả các qubit tiên tiến hiện nay.  Các mạch siêu dẫn cần phải rất lớn và công cụ của Northwestern rất có ý nghĩa về định lượng hành xử của các mạch đó nhưng mỗi mạch lại chỉ hoạt động tốt ở trong những điều kiện nhất định. Phương pháp của Northwestern bổ sung vào đó và hoạt động tốt khi các công cụ khác có thể đạt tới gần những điểm cực thuận.  Công trình này mang tên “Variational tight-binding method for simulating large superconducting circuits”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-tool-large-superconducting-circuits.html  https://news.northwestern.edu/stories/2021/september/researchers-develop-new-tool-for-analyzing-large-superconducting-circuits/  ————————  1. https://journals.aps.org/prresearch/abstract/10.1103/PhysRevResearch.3.033244    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển công nghệ nhận biết được chướng ngại vật ngoài tầm nhìn      Theo Nature, một nhóm nhà nghiên cứu ở Đại học Stanford, Mỹ, đã phát triển một công nghệ laser cho phép nhận biết những vật thể bị che khuất, ở ngoài tầm nhìn. Cách tiếp cận mới dựa trên công nghệ đã từng được biết đến trước đây là Lidar.      Công nghệ này có thể được sử dụng trong việc phát triển các phương tiện không người lái để có thể dự đoán và tránh được những tai nạn giao thông – Ảnh: Tesla  Đây là một kỹ thuật để thu thập dữ liệu về các vật thể ở xa bằng cách xử lý tín hiệu ánh sáng phản xạ.Trong hầu hết các trường hợp, nguồn ánh sáng trong trường hợp này là laser. Ngoài ra, dữ liệu từ Lidar cũng được sử dụng để xây dựng một mô hình địa hình.  Các nhà nghiên cứu ở Stanford đã hoàn thiện ý tưởng này. Họ đã sử dụng một thiết bị trong đó các máy dò laser và photon được đặt trước một bức tường gần vật thể ẩn và ngăn cách bằng một hàng rào. Các xung laser “bắn” vào tường ở một góc và làm bật lên hình đối tượng ẩn.  Một lượng nhỏ ánh sáng được phản xạ từ vật ẩn rồi quay trở lại bức tường, nơi mà mức phản xạ được phân tích bởi một máy dò photon mạnh. Sau đó, một phần mềm giúp tách các hạt nhiễu, được phản xạ từ đối tượng và một thuật toán phục hồi hình dạng của vật ẩn.  Trong trường hợp tốt nhất, thuật toán có thể gửi lại hình ảnh trong vòng chưa đầy một giây và mặc dù nó không sắc nét như nhiếp ảnh hiện đại, nhưng đủ để tránh những trở ngại trên đường. Hiện tại, tia laser giúp đọc tốt nhất hình dạng của vật thể phản xạ tốt ánh sáng như các biển báo đường bộ. Nhưng các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng công nghệ này vẫn còn phải được hoàn thiện và họ cần khắc phục một số vấn đề cùng một lúc.Trước hết, việc quét phải mất từ ​​một phút đến vài giờ, trong khi để sử dụng công nghệ này trong xe không người lái thì điều đó cần diễn ra nhanh hơn nhiều. Ngoài ra, một hệ thống còn gặp lỗi khi phát hiện các vật không phản xạ mạnh và laser chưa đủ hiệu quả khi sử dụng ngoài trời khi ánh sáng mặt trời chói chang.  Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, công nghệ này một khi cải tiến có thể được sử dụng trong việc phát triển các phương tiện không người lái để có thể dự đoán và tránh được những tai nạn giao thông có thể xảy ra trước khi một vật thể nguy hiểm tiềm ẩn lọt vào tầm nhìn.  Vũ Trung Hương  Nguồn: Motthegioi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển công nghiệp khai khoáng biển      Biển là nơi chứa đựng và thể hiện những quyền lợi không thể từ bỏ về chính trị,  kinh tế, quốc phòng và khoa học của đa số các nước trên thế giới. Vì  vậy, một trong những định hướng quan trọng để thực thi các quyền lợi đó  là giải quyết vấn đề nghiên cứu và khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản  của biển để phục vụ cho việc phát triển bền vững nền kinh tế trong vài chục năm tới.    Khai thác khoáng sản ngoài biển  Công nghệ khai thác khoáng sản ngoài biển được chia thành hai nhóm chính: dưới đáy biển (trong lòng trái đất dưới đáy biển- chủ yếu khoáng sản lỏng là dầu và khí) và trên đáy biển (dưới tầng nước biển- chủ yếu khoáng sản kim loại rắn).  Khai thác dầu-khí dưới đáy biển: Ngày nay, công tác khai thác dầu mỏ ngoài biển đã và đang ngày càng phát triển với công nghệ ngày càng hiện đại và tiên tiến. Trên thế giới, hàng năm đang triển khai tới hơn 1.000 giếng khoan tìm kiếm thăm dò (khoảng 3 triệu mét khoan sâu) và gần 2.000 giếng khai thác (khoảng 5 triệu mét khoan sâu). Chi phí khoan ngoài biển lớn hơn nhiều so với khoan trong đất liền: ở độ sâu 20-30m-lớn hơn 2 lần, ở độ sâu 50m – 3-4 lần, ở độ sâu 200m – gấp 6 lần; chi phí đặt đường ống cũng cao hơn 1,5-3 lần; chi phí xây dựng công trình cao hơn 4-8 lần.     Khai thác các khoáng sản rắn trên đáy biển: Hiện có hơn 70 doanh nghiệp lớn trên thế giới khai thác hàng năm hơn 130 triệu m3 quặng các loại ngoài biển, tương đương với 2% tổng giá trị khoáng sản được khai thác trong đất liền.  Thiết bị khai thác truyền thống chủ yếu là máy xúc kiểu guồng, máy xúc ngoạm, máy bơm hút v.v. đặt trên các tầu/bè nổi để đưa sa khoáng chứa quặng (kim loại có ích) lên khỏi mặt nước. Trong một số trường hợp phải bơm hút đi các lớp bùn phủ trên bề mặt của lớp sa khoáng chứa quặng và đổ thải vào các khu vực đã khai thác. Các quặng kim loại được tuyển rửa các công nghệ phù hợp trực tiếp bằng ngay trên tầu ngoài biển hay sau khi đưa vào đất liền.  Gần đây, các nhà khoa học của trường ĐH tổng hợp Mỏ Mátxcơva đã phát minh ra công nghệ và thiết bị khai thác rất hiệu quả các khoáng sản rắn từ đáy biển dựa trên các qui trình lý-hóa và mô hình toán đặc biệt, cho phép ứng dụng ở những nơi có độ sâu tới 4,5-5km. Phát minh này đã được các đối tác Mỹ rất quan tâm.  Các kỹ sư Nhật Bản đã đề xuất một phương pháp khai thác thông minh bằng các dọ sắt gắn trên một vòng sợi cáp lớn, phần trên của vòng sợi cáp nằm trên tàu, phần dưới quyét trên mặt đáy biển để gom quặng. Vòng sợi cáp được kéo lên cùng với các dọ chứa quặng bằng một tời trục đặt trên tầu. Phương pháp này đã cho phép khai thác các loại quặng nằm trên đáy biển ở độ sâu 1.400m và có thể ứng dụng cho độ sâu tới 6km.    Phát triển ngành khai khoáng biển của Việt Nam          Theo số liệu của World Coal Institute,  Energy Information Administration, China Business News, BHP Billiton  v.v, nguồn tài nguyên khoáng sản trên đất liền sắp cạn kiệt hết. Với mức  độ khai thác và thăm dò như hiện nay, thời gian tồn tại của khí đốt chỉ  còn 67 năm; dầu mỏ- 46 năm; đồng, thiếc, nikel – 30-35 năm; chì, kẽm-  20-25 năm; vàng, bạc- 15-20 năm. Chỉ riêng than đá với trữ lượng khoảng  990 tỷ tấn có thể tồn tại hơn 200 năm nữa. Vì vậy từ những năm 60 của  thế kỷ trước, viện sỹ Liên Xô L. A. Zenkevich đã tuyên bố: “Loài người  cần chuyển hướng quan tâm ra đại dương. Đây là điều chắc chắn phải xẩy  ra và không thể khoanh tay ngồi nhìn, nếu không sẽ phải trả giá đắt  trong tương lai”.        Biển Đông là tương lai của ngành khai khoáng VN (trừ ngành than vì các vỉa than cắm từ đất liền ra biển nằm ở độ sâu quá lớn), vì: (i) Nguồn tài nguyên khoáng sản trên đất liền của VN đang cạn kiệt nhanh, trong khi dân số ngày càng tăng; (ii) Công nghệ và kỹ thuật trên thế giới phát triển, cho phép trinh phục được các vùng biển sâu và xa; (iii) Việc khai thác nhiều loại khoáng sản ngoài biển đã trở nên hiệu quả hơn so với trong đất liền.  Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển ngành khai khoáng ngoài biển, như: (i) Được tiếp xúc với Thái Bình Dương- theo đánh giá của các chuyên gia là nơi có chứa nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là kim loại mầu; (ii) Có thềm lục địa rộng và kéo dài; (iii) Các hoạt động kiến tạo trong quá khứ (phun trào nham thạch, núi lửa, động đất) góp phần hình thành nhiều loại khoáng sản có ích ngoài biển Đông. Công nghiệp khai khoáng của VN ở ngoài biển Đông so với trên đất liền có nhiều thuận lợi như: chi phí đầu tư thấp; chi phí vận hành nhỏ; tính cơ động cao; không chiếm đất (không cần hoàn thổ); không cần xây dựng các công trình giao thông; nhiều loại khoáng sản ngoài biển không đòi hỏi công nghệ khai thác phức tạp; không cần thiết bị đổ thải; không cần mở mỏ; không cần khoan nổ mìn v.v. Đó là những công đoạn phức tạp và rất tốn kém của ngành khai khoáng trên đất liền.  Khó khăn lớn nhất của Việt Nam mang tính chủ quan, đó là ngành địa chất biển kém phát triển, việc thăm dò dầu khí ngoài biển đều do nước ngoài thực hiện, ảnh hưởng của sóng biển; tác động của các dòng hải lưu ngầm; phụ thuộc vào đáy biển có các cao độ khác nhau; các điểm chứa quặng phân tán, kéo dài; và có nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường biển.  Một số kiến nghị  Về quản lý vĩ mô: (i) Việt Nam cần xem xét thành lập cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế biển tổng hợp tương tự như ở Nhật, Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Úc, Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Phần Lan, v.v; (ii) Trong tư duy quản lý phải coi thềm lục địa và đáy đại dương là đối tượng- không gian chủ yếu để Việt Nam phát triển công nghiệp khai thác các khoáng sản có ích khác (ngoài dầu mỏ và khí đốt hiện nay) nhằm bù đắp cho sự nghèo nàn và manh mún của khoáng sản trong đất liền.  Về KHCN: Cần thực hiện các công việc: (i) Hoàn thiện các phương pháp thăm dò tìm kiếm các sa khoáng chứa quặng trên đáy biển và xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá về kinh tế và kỹ thuật để phục vụ cho việc thăm dò địa chất ngoài biển; xây dựng các bản đồ chi tiết về đồng đẳng chiều cao của đáy biển gần bờ (việc thăm dò, khai thác khoáng sản gần bờ đơn giản nhưng rất cần các thông tin tối thiểu về cấu trúc, thế nằm của đáy biển); (ii) Triển khai khảo sát, thăm dò để sớm thu hồi các khoáng vật nằm trên đáy biển ở ngay gần bờ, chủ yếu là các khoáng vật chứa kim loại nặng như măng gan, sắt, titan, nikel, vật liệu xây dựng v.v.; (iii) Đào tạo lực lượng cán bộ KHKT về khai thác mỏ ngoài biển. Trước đây, đã có cán bộ VN bảo vệ thành công luận án tiến sỹ về khai thác mỏ ngoài biển tại Trường Mỏ Mátxcơva. Ngày nay, Việt Nam nên tranh thủ tối đa kênh đào tạo này. (iv) Nghiên cứu công nghệ khai thác và tuyển khoáng phù hợp với các độ sâu khác nhau và các loại quặng khác nhau. Tổ chức tiếp thu có hệ thống và thường xuyên cập nhật các thành tựu của thế giới trong lĩnh vực này.  Về hợp tác quốc tế: Cần hợp tác với các đối tác tiềm năng trong thăm dò, khai thác khoáng sản ngoài biển như: «Южморгеология» (Nga); KCON – Kennecott Consortium, ОМСО – Ocean Minerals Company, OMI – Ocean Management Incorporated (Mỹ); DSRD–Department of Sea Resourses Development (Ấn Độ); DORD- Deep Ocean Resource Development (Nhật); IFREMER/AFERNOD French Institute of Research for the Exploitation of the Sea/French Association of Studies and Research of Nodules (Pháp); BGR– Federal Institute for Geosciences and Natural Resources (Đức) v.v. để thực hiện các công việc từ thăm dò đến khai thác chế biến sử dụng khoáng sản biển.  —  Giám đốc BQL các dự án Than đồng bằng sông Hồng – Vinacomin.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển đường một chiều cho các electron      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill đã tạo ra đường một chiều cho electron, qua đó hứa hẹn khả năng cho các thiết bị xử lý dữ liệu không dây siêu tốc độ và đồng thời khai thác được năng lượng để cung cấp điện cho các thiết bị đó. Các nhà nghiên cứu đã làm được điều này bằng việc định hình silicon trên quy mô cực nhỏ để tạo ra một cái phễu, hoặc các bộ truyền động có răng cưa, cho các electron.      Trong một cấu trúc hình học siêu nhỏ ở những điều kiện thích hợp, các electron có thể được xử lý như những hạt nẩy khỏi một bức tường. Nếu các electron này được chứa trong một dây dẫn và đối xứng bị phá vỡ, các electron có thể được xoáy thành hình phễu theo một chiều và ngăn không di chuyển theo hướng khác, tạo ra một đi ốt điện. Nguồn: J. Custer  Phương pháp này đã vượt qua được những giới hạn về tốc độ của những công nghệ trước bằng việc loại bỏ các giao diện có xu hướng làm chậm thiết bị. “Công trình này rất thú vị bởi nó có thể cho phép một tương lai, nơi những thứ như những đồng hồ thông minh tốn ít điện năng được nạp không dây từ dữ liệu mà không cần phải rời khỏi cổ tay con người”, James Custer Jr., một nghiên cứu sinh ở trường Khoa học và nghệ thuật thuộc UNC-Chapel Hill, nhận xét.  Các kết quả này đã được xuất bản trên Science với bài báo “Ratcheting quasi-ballistic electrons in silicon geometric diodes at room temperature”. Custer là tác giả thứ nhất. Anh hợp tác nghiên cứu với các cộng sự tại trường đại học Duke và Vanderbilt.  Electron là hạt mang điện tích, tạo ra dòng điện khi di chuyển trong một dây dẫn. Chúng không quan tâm đến hình dạng của dây mà các dòng điện đi qua. Khi các dây dẫn ở mức rất nhỏ, hình dạng của dây dẫn mới thành vấn đề. Các phễu ở đây cũng rất nhỏ, nhỏ hơn một dây dẫn điện điển hình cả triệu lần. Kết quả là các electron bên trong hành xử như các viên bóng billiard – nẩy lên một cách tự do khỏi các bề mặt. Cái phễu phi đối xứng hình thành sau đó do các electron này thường ‘ưu tiên’ nẩy theo một hướng. Trên thực tế, các electron bị buộc phải đi theo một con đường một chiều.  Trong điện áp một chiều, cái phễu được tạo ra một cách dễ dàng bởi dòng điện đi theo hướng về phía trước, tạo ra một đi ốt điện. Khi đưa một dòng điện xoay chiều vào, cấu trúc này vẫn cho phép dòng điện chạy theo một hướng, hành xử như một bộ truyền động răng cưa (ratchet) và khiến các electron tập hợp về một bên. Quá trình này giống như một cú vặn ổ cắm, trong đó các bộ truyền động răng cưa bị ép tạo ra chuyển động vật lý chỉ theo một hướng.  Công trình này chứng tỏ các bộ truyền động răng cưa tạo ra “các đi ốt hình học” được vận hành ở nhiệt độ phòng và có thể giải phóng các năng lực còn chưa được biết đến trong cơ chế điện từ terahertz.  “Các đi ốt điện là thành phần cơ bản của thiết bị điện tử, và các kết quả của chúng tôi đề xuất khả năng hình thành một mô hình khác biệt hoàn toàn để thiết kế các đi ốt vận hành ở các tần số siêu cao”, James Cahoon, một phó giáo sư hóa học, cho biết. Cahoon là tác giả chính của công trình và là người dẫn dắt nhóm nghiên cứu. “Điều này là có thể bởi chúng tôi đã nuôi các cấu trúc theo cách thức từ dưới lên, áp dụng một quá trình tổng hợp để thu được những vật liệu kết tinh chính xác về mặt hình học”.  Các bộ truyền động electron được tạo ra từ một quy trình do nhóm nghiên cứu của Cahoon mang tên ENGRAVE (Nuôi cấy dây dẫn nano mã hóa và Xuất hiện thông qua VLS và công nghệ khắc) phát triển trước đây. ENGRAVE sử dụng một quá trình xử lý theo cơ chế hơi – lỏng – rắn (VLS vapor-liquid-solid) để nuôi các xi lanh silicon ở dạng đơn tinh thể, hay còn gọi là các dây nano, với độ chính xác về mặt hình học.  “Rất nhiều thứ trong công trình nghiên cứu đã được thực hiện trước đây với những loại vật liệu đắt đỏ tại các mức nhiệt độ đông lạnh nhưng công trình này đã nhấn vào các đi ốt hình học liên quan đến các silicon giá thành rẻ có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng, khiến chúng tôi ngạc nhiên trước tiên”, Custer nói. “Chúng tôi hi vọng các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần đem lại sự quan tâm vào các đi ốt hình học”.  Các diode là yếu tố cơ bản cho mọi loại công nghệ; chúng cho phép các máy tính có thể xử lý dữ liệu bằng việc mã hóa các tín hiệu thành 1 và 0. Về mặt truyền thống, các đi ốt đòi hỏi các giao diện giữa các vật liệu như giữa các bán dẫn và kim loại kiểu n và kiểu p. Tuy nhiên ngược lại, các đi ốt hình học được tạo ra từ một loại vật liệu và được hình thành một cách đơn giản để có thể trực tiếp nạp điện theo một hướng nhất định.  Với bước phát triển tiếp theo, các bộ truyền động bánh răng electron dây nano hứa hẹn có một bước tiến lớn hơn đến những công nghệ mới.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-one-way-street-electrons.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển hệ thống giám sát sâu rầy thông minh      Không chỉ giúp người dân dễ dàng theo dõi sâu bệnh và xác định thời điểm cần phun thuốc, hệ thống giám sát sâu rầy do công ty của TS. Nguyễn Thanh Mỹ phát triển còn hướng đến một mục tiêu lớn hơn: góp phần xây dựng một hệ sinh thái chuyển đổi số cho nông nghiệp Việt Nam.    Vào giữa năm 2021, trao đổi với báo giới, ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN-PT&NT) cho biết, theo kết quả khảo sát thì vựa lúa ĐBSCL là nơi dùng nhiều phân bón nhất với khối lượng hơn 1 tấn/ha, cao hơn 42% so với cả nước. Đây không phải là thông tin mới bởi khoảng 5 năm trước, báo cáo “Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam: Ngành trồng trọt” của Ngân hàng Thế giới đã cho thấy, nếu xét riêng khu vực phía Nam thì có khoảng 38–70% nông dân sử dụng lượng thuốc trừ sâu ở mức cao hơn mức khuyến nghị.    Hậu quả của việc sử dụng thuốc trừ sâu này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa mà còn dẫn đến sự “nhờn thuốc” ở các loại sâu bệnh hại lúa, rau màu, khiến các loại thuốc hiện hành không còn hiệu quả nữa…    Làm sao để giải quyết thực trạng này là một vấn đề nan giải và phức tạp, song từ vị trí của một người làm công nghệ, TS. Nguyễn Thanh Mỹ – Giám đốc điều hành của Công ty Rynan Technologies – cho rằng, một mạng lưới giám sát sâu rầy thông minh, ứng dụng công nghệ 4.0 ít nhiều có thể giúp ích được gì đó cho một trong những vấn đề gây đau đầu nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long này.      Hệ thống giám sát sâu rầy thông minh ở huyện Tháp Mười, Đồng Tháp    Không còn phải “vạch lá tìm sâu”    Trước đây, để giám sát sâu bệnh trên cây lúa, nhân viên của phòng nông nghiệp địa phương thường sử dụng bẫy đèn truyền thống để dẫn dụ côn trùng. Tuy nhiên, “bẫy đèn phải làm thủ công, đốt đèn vào ban đêm, đến sáng thì lấy vô để…đếm từng con và xác định từng loại một. Sau đó phải vào sổ, làm thông báo khuyến cáo gửi đi các nơi nên rất mất thời gian và tốn công”, ông Lê Quốc Cường, nguyên Giám đốc Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam từng chia sẻ như vậy với báo Kinh tế nông thôn.    Thực tế này đã khiến cho bốn năm trước, TS. Thanh Mỹ và các kỹ sư trong công ty nghĩ đến việc phải có một hệ thống có khả năng giám sát tự động và chính xác. Và một trong những điểm đầu tiên mà Rynan cải thiện so với bẫy đèn truyền thống đó là ánh sáng để thu hút côn trùng. Nhận thấy các bẫy đèn trước đây chỉ sử dụng các bóng đèn thông thường dẫn đến khả năng thu hút côn trùng thấp, nhóm nghiên cứu ở Rynan đã thử nghiệm và nhận thấy các ánh sáng có dải bước sóng càng ngắn thì càng dễ thu hút sâu bọ. Do đó, họ quyết định sử dụng một hệ thống đèn LED gồm ánh sáng UV, ánh sáng xanh dương, ánh sáng xanh lá, ánh sáng trắng có khả năng thay đổi theo thời gian và tập tính của từng loại côn trùng để dẫn dụ chúng vào trạm giám sát.    Sau khi sâu rầy đã bị “hút” vào thiết bị và được giữ lại bởi lưới cản, bài toán đặt ra là làm thế nào để có thể phân loại và thống kê số lượng của chúng một cách tự động và chính xác? Với thế mạnh về công nghệ, nhóm nghiên cứu ở Rynan đã kết hợp các nền tảng đang là xu hướng hiện nay gồm trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning) và internet vạn vật để nhận dạng và phân tích dữ liệu.    Cụ thể, các camera chuyên dụng đã được lắp đặt trong trạm sẽ tự động và định kỳ chụp lại hình ảnh của côn trùng bay vào trạm. “Song nếu gửi những bức ảnh với độ phân giải cao từ khắp các trạm này về trung tâm để xử lý thì sẽ rất nặng và khó để sàng lọc”, TS. Thanh Mỹ cho biết. Để giảm tải dữ liệu cho trung tâm của công ty, hệ thống giám sát đã được các kỹ sư thiết kế lại để sử dụng công nghệ điện toán biên (edge computing) nhằm thu thập và phân tích hình ảnh liên tục ngay tại trạm, chỉ khi mật độ côn trùng đạt ngưỡng phù hợp thì kết quả phân tích mới được gửi về trung tâm cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, thiết bị cũng có khả năng tự động vệ sinh và làm sạch sau khi có côn trùng để đảm bảo dữ liệu hình ảnh luôn được cập nhật theo môi trường thực tế.    Sau đó, hệ thống giám sát sẽ sử dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo để tự động xác định, thống kê số lượng, mật độ và phân loại các chủng sâu rầy cũng như xem loại côn trùng nào có lợi hay có hại. Hiện nay, theo TS. Thanh Mỹ, hệ thống giám sát sâu rầy thông minh của Rynan đã có khả năng nhận diện được khoảng 120 loại côn trùng khác nhau như rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, rầy lưng trắng, bướm sâu cuốn lá, bướm sâu đục thân, bướm sâu keo mùa thu, bọ xít, kiến ba khoang,… Các kỹ sư ở Rynan đã sử dụng công nghệ học máy để “dạy” cho hệ thống học thông tin về các loại côn trùng và hình dạng của mỗi loại. Với những loại côn trùng chưa biết, nhóm nghiên cứu sẽ trao đổi với Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam để nhận diện và liên tục cập nhật dữ liệu. “Do áp dụng công nghệ học máy, theo thời gian, khi có càng nhiều dữ liệu được thu thập thì hệ thống sẽ càng chính xác”, TS. Thanh Mỹ nói.    Kết quả phân tích cuối cùng sẽ được trả về dưới dạng biểu đồ trực quan, thể hiện rõ tương quan giữa sâu rầy gây hại và thiên địch có lợi, từ đó giúp người nông dân có cái nhìn tổng quát và nhanh chóng về mức độ cân bằng của hệ sinh thái ngay trên điện thoại thông minh mà không phải ra tận cánh đồng. Đồng thời, “hệ thống cũng đưa ra các cảnh báo, dự báo về tình hình sâu rầy trên cánh đồng để người dân xác định có cần phun thuốc hay không và lựa chọn phương thức xử lý kịp thời thông qua phần mềm quản lý trung tâm SaaS”, TS. Thanh Mỹ cho biết.    Hướng đến hệ sinh thái giám sát thông minh    Nhờ sử dụng năng lượng mặt trời và có ắc quy lưu trữ, hệ thống giám sát sâu rầy của Rynan có thể đảm bảo việc duy trì vận hành liên tục trên diện rộng như ruộng lúa, rau màu, khu trồng trọt canh tác diện tích lớn và không phụ thuộc vào lưới điện quốc gia. Với những ưu điểm vượt trội như vậy, hệ thống này đã được nhiều tỉnh thành đánh giá cao và hiện đã có 47 trạm giám sát được đầu tư hoặc tài trợ để lắp đặt ở Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang, Lâm Đồng, Nghệ An, Trà Vinh,…    Song với tinh thần “làm đúng lại cái đang bị làm sai; làm tốt hơn cái đang tốt; làm có cái chưa có; và làm một dấu ấn tốt để lại cho cuộc sống”, TS. Thanh Mỹ biết rằng, hệ thống giám sát vẫn còn rất nhiều điểm cần cải thiện. Một trong số đó là việc hiện nay thiết bị mới chỉ thu hút được côn trùng ở ruộng lúa chứ chưa có hiệu quả với vườn cây ăn trái. “Có những loại côn trùng bị ánh sáng thu hút, nhưng có những loại lại phải dùng chất dẫn dụ thì mới được”, ông nói và cho biết thêm đây cũng chính là một trong những chủ đề mà công ty đang “ấp ủ” trong phòng thí nghiệm.    Hay có một câu hỏi mà nhiều người quan tâm là, số lượng côn trùng bay vào hệ thống giám sát có thực sự phản ánh số lượng côn trùng thực tế ở ngoài cánh đồng hay không? Theo TS. Thanh Mỹ, Rynan đã làm việc với Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam để đối chiếu với các dữ liệu có sẵn trong vài chục năm qua và nhận thấy: các kết quả mà hệ thống ghi nhận cũng tương đồng với số liệu thực tế. Song, đây cũng là một điểm mà công ty sẽ cần phải tiếp tục nghiên cứu để nâng cao hiệu quả và độ chính xác khi cảnh báo trong thời gian tới.    Nhưng tham vọng của TS. Thanh Mỹ không chỉ dừng lại ở những thiết bị giám sát đơn lẻ bởi ông muốn lập được một “bản đồ về sâu rầy” trên cả nước và xác định được mức độ thiệt hại cụ thể do mỗi loại sâu bệnh gây ra, từ đó giúp người nông dân có thể lựa chọn và phun thuốc bảo vệ thực vật một cách phù hợp hơn. “Hiện nay, hệ thống giám sát giúp chúng ta biết là có sâu rầy với mật độ bao nhiêu, nhưng chưa có được dữ liệu về mức độ hư hại. Cứ tưởng tượng, nếu trong tương lai, khi mạng lưới giám sát không chỉ có dữ liệu về sâu bệnh nói chung mà còn cả dữ liệu về dấu vết, địa điểm hư hại cụ thể trên ruộng vườn, thì người nông dân sẽ có thể phun đúng vị trí, đúng loại thuốc và liều lượng cần thiết, từ đó sẽ tiết giảm được một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật đang bị phun tràn lan như hiện nay”, TS. Thanh Mỹ kỳ vọng.    Ông còn đang hướng đến một “hệ sinh thái” mà trong đó mạng lưới giám sát sâu rầy thông minh mới chỉ là một mảnh ghép nhỏ. Hiện nay, Rynan đang có một mạng lưới quan trắc xâm nhập mặn với 77 phao và trạm quan trắc thông minh, cũng như đang thực hiện một số dự án khác như mạng lưới canh tác thông minh; sử dụng trí tuệ nhân tạo để đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp,… Dù đã đầy ắp ý tưởng như vậy nhưng với TS. Thanh Mỹ, “vẫn còn nhiều thứ có thể làm lắm”.    Minh Ngoc    Author                phongvien        
__label__tiasang Phát triển hệ thống IoT thân thiện với môi trường      IoT là công nghệ có tác động lớn đến cuộc sống hàng ngày và nhiều ngành công nghiệp, giúp kết nối và tạo điều kiện trao đổi dữ liệu giữa nhiều thiết bị thông minh có hình dạng và kích thước khác nhau, chẳng hạn như giữa các thiết bị trong hệ thống an ninh gia đình, giữa các ô tô tự lái được trang bị cảm biến phát hiện chướng ngại vật hay giữa các thiết bị nhà máy.    Một nhóm nghiên cứu quốc tế do Đại học Khoa học và Công nghệ King Abdullah (KAUST) dẫn đầu đề xuất rằng các vật liệu bán dẫn thay thế, chẳng hạn như chất hữu cơ, đồng vị nanocarbon và oxit kim loại, có thể góp phần tạo ra một mạng lưới Internet kết nối vạn vật (IoT) bền vững hơn về mặt kinh tế và môi trường.  Siêu mạng đang phát triển này được dự đoán sẽ đạt tới hàng nghìn tỷ thiết bị trong thập kỷ tới, gia tăng hơn nữa số lượng nút cảm biến cần có trong mạng. Các phương pháp hiện tại được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các nút cảm biến chủ yếu dựa trên công nghệ pin, nhưng pin cần được thay thế thường xuyên, gây tốn kém và có hại cho môi trường. Ngoài ra, việc sản xuất lithium toàn cầu hiện nay cho vật liệu pin có thể không theo kịp nhu cầu.        Các nút cảm biến chạy bằng năng lượng không dây có thể giúp tạo ra hệ thống IoT bền vững, vì chúng không cần pin, mà thay vào đó lấy năng lượng từ môi trường, qua bộ thu năng lượng. Bộ thu năng lượng có thể là tế bào quang điện và bộ thu năng lượng tần số vô tuyến (RF).    Kalaivanan Loganathan, cựu sinh viên KAUST, cùng với Thomas Anthopoulos và các đồng nghiệp, đã đánh giá khả năng sử dụng của nhiều loại thiết bị bộ thu năng lượng này, cũng như tiềm năng của chúng trong việc cung cấp năng lượng không dây cho các nút cảm biến trong IoT, giúp hệ thống trở nên thân thiện hơn với môi trường.    Trong những năm qua, nhóm của Anthopoulos đã phát triển một loạt các bộ thu RF, bao gồm các thiết bị bán dẫn dựa trên oxit kim loại và polyme hữu cơ được gọi là điốt Schottky. Loganathan nói: “Các thiết bị này là thành phần quan trọng trong các bộ thu năng lượng không dây và sẽ quyết định hiệu suất và chi phí của các nút cảm biến”.    Những đóng góp quan trọng của nhóm KAUST bao gồm các phương pháp có thể mở rộng để sản xuất đi-ốt RF. Anthopoulos cho biết: “Những công nghệ như vậy là thành tố cần thiết nếu muốn cung cấp năng lượng một cách bền vững cho hàng tỷ nút cảm biến trong các mạng IoT trong tương lai”.    Nhóm nghiên cứu đang nghiên cứu cách tích hợp các thiết bị này với ăng-ten và cảm biến để hiện thực hóa tiềm năng thực sự của chúng trong các hệ thống IoT, Loganathan cho biết thêm.    Bài báo được đăng tải trên tạp chí Nature Electronics.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Phát triển kinh tế hợp tác: Trọng tâm của quá trình tái cơ cấu nông nghiệp      Để tái cơ cấu nông nghiệp thành công, chuyển nền sản xuất ‘số lượng’ sang sản xuất ‘chất lượng’ thành công, có rất nhiều vấn đề cần được giải quyết, rất nhiều việc cần phải làm, như quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, tín dụng, áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, phù hợp v.v… trong đó vấn đề thúc đẩy kinh tế hợp tác (KTHT) trong nông nghiệp để gắn kết sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ ở nông thôn nước ta với chuỗi giá trị toàn cầu là trọng tâm.     Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp trên thế giới  Sản xuất nông nghiệp tập thể hay mô hình hợp tác xã (HTX) (collective farming hay communal farming) là các hình thức sản xuất có sự tập hợp của một số trang trại và các thành phần liên quan. Trên thế giới, có hai mô hình sản xuất kinh tế nông nghiệp hợp tác điển hình là Kolkhozy phổ biến tại Liên Xô cũ trong suốt 60 năm (1930 đến 1991) và Kibbutzim, hình thức cộng đồng trong sản xuất nông nghiệp của Israel. Nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới đã phân tích sự khác biệt giữa hai mô hình để thấy được một mô hình vốn đã phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng lan rộng trên thế giới của Liên Xô nhưng rồi không tồn tại lâu do kém hiệu quả và mô hình được xem là hiệu quả và bền vững của Israel. Sự khác biệt chính như sau:  Cả hai loại KTHT này đều dựa trên nguyên tắc tổ chức HTX: sở hữu chung các nguồn lực, lao động và chia sẻ thu nhập. Tuy nhiên hai hình thức có sự khác biệt về quyền lựa chọn và phân chia lợi nhuận. Sự hình thành của Kolkhozy tại Liên Xô diễn ra trong những chiến dịch liên miên nhằm phát triển hợp tác xã trên toàn lãnh thổ Liên Xô những năm 1930, trên thực tế là hình thức bắt buộc nông dân Nga và các nước Cộng hòa Liên bang tham gia HTX với sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Trong khi đó hình thức Kibbutzim tại Israel là HTX được tạo ra bằng sự tình nguyện và được quản lý một cách dân chủ. Sự thất bại của hệ thống HTX nông nghiệp của Liên Xô còn được thể hiện ở nhiều nước Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Việt Nam và Tanzania mà nguyên nhân lớn nhất là sự ép buộc tham gia và phân chia lợi nhuận không công bằng. Điển hình là hệ thống HTX khổng lồ với sự quản lý vô cùng chặt chẽ của nhà nước ở Trung Quốc đã không cưỡng lại được sự thất bại tất yếu vào những năm 1970. Các hình thức hợp tác xã như trên rất khó tìm thấy ở các nước châu Âu khác; HTX ở Tây Âu chủ yếu là các cộng đồng sản xuất nông nghiệp dưới quyền quản lý của hiệp hội người sản xuất không có sự can thiệp thô bạo của chính quyền vào quá trình sản xuất và phân chia lợi nhuận.     Mô hình hợp tác xã của Israel được coi là ổn định nhất và thành công nhất thế giới. Mô hình này phân chia lợi nhuận dựa trên vốn đối ứng của các hộ dân, từ đó khuyến khích mọi người đóng góp vào quá trình sản xuất của cộng đồng. Ảnh: Kibbutz (hợp tác xã) Sha ở Israel  Israel có hình thức HTX nông nghiệp hay ‘cộng đồng hợp tác xã’ đặc thù và có lịch sử lâu đời, hình thành từ năm 1909, và được phát triển mạnh mẽ từ khi Israel giành độc lập (1948). Gần đây hình thức HTX của Israel cũng có xu hướng tư nhân hóa trong hệ thống sản xuất nông nghiệp tập thể. Tuy nhiên so với tất cả các hệ thống khác trên thế giới, HTX tại Israel là thành công và ổn định nhất. Năm 2010, Israel có 270 HTX thành viên, hệ thống nhà máy và trang trại của họ chiếm đến 9% sản phẩm công nghiệp (8 tỉ USD) và 40% sản phẩm nông nghiệp (1,7 tỉ USD). Một số thành viên HTX còn tạo ra các sản phẩm công nghệ cao; ví dụ năm 2010, HTX Sasa (200 thành viên) tạo ra 850 triệu USD từ công nghiệp nhựa quân sự.  Cùng với cách thức tổ chức, thì sự khác biệt rõ nét nhất giữa mô hình HTX Liên Xô và Israel là nguyên tắc về chia sẻ lợi nhuận. Qua sự phân tích tương tác công việc – lợi nhuận giữa hai mô hình HTX này, Guttman và Schnytzer (The Economic Journal, 1989) chỉ ra sự khác biệt chiến lược giữa hai mô hình trong bài “Strategic work interactions and the Kibbutz- Kolkhoz Paradox”. Trong mô hình Liên Xô sự chia sẻ lợi nhuận được phân chia “bình quân chủ nghĩa” do đó không khích lệ các thành viên trong HTX tăng hiệu quả lao động. Trong khi đó mô hình của Israel có phương pháp phân chia lợi nhuận “công bằng” dựa vào đối ứng (matching – sự đóng góp vào lợi nhuận HTX của từng thành viên) và từ đó khích lệ tất cả các thành viên tham gia đóng góp cho sự phát triển của HTX. Phương pháp đối ứng chính là công cụ để hệ thống HTX của Israel khích lệ thành viên tăng cường đóng góp (thường là bằng lao động) để tạo ra nhiều sản phẩm hơn của HTX, tăng thu nhập cá nhân và qua đó họ lại tăng nguồn đóng góp giúp cho sự phát triển bền vững của KTHT.            Trải qua hơn 20 năm phát triển, Liên minh HTX Việt Nam và khu vực KTHT đã có những đóng góp rất đáng ghi nhận vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Tuy nhiên, KTHT vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài (Kết luận của Bộ Chính trị, 2012), mà nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về phát triển KTHT còn thấp và chưa đầy đủ, người nông dân e ngại và mất lòng tin về mô hình HTX mà họ hoặc cha ông họ đã phải nếm trải, các mô hình HTX kiểu mới chưa mấy thành công do năng lực của các tổ chức KTHT còn yếu, công tác quản lý nhà nước về KTHT còn nhiều hạn chế, khung pháp luật và chính sách phát triển KTHT còn nhiều bất cập…            Các hệ thống HTX theo mô hình của Liên Xô cũ hiện nay đã thay đổi, trong đó có nhiều bài học thành công (như công cuộc Đổi mới ở Việt Nam) nhưng đáng chú ý hơn đó là bài học thành công trong sản xuất nông nghiệp ở Ukraine. Sau khi độc lập, mặc dù có diện tích đất nông nghiệp đứng thứ hai ở châu Âu (45 triệu hecta), Ukraine đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nông nghiệp trầm trọng do nhiều nguyên nhân kinh tế-chính trị, tuy nhiên một trong những nguyên nhân đó là hệ thống HTX theo mô hình của Liên Xô không phù hợp với thực tế phát triển. Ukraine đã tiến hành cải tổ nông nghiệp với khẩu hiệu “Đất cho những ai làm việc – Land for those who work it” và đây được xem là phương thức chính trong cuộc cải cách nông nghiệp tại Ukraine. Ukraine đã chuyển đổi gần 100% (khoảng 12.000) các liên minh HTX (kolkhozes) của nhà nước sang hình thức kinh doanh tư nhân. Điều đáng nói là sự biến đổi trong hình thức KTHT của Ukraine là bước chuyển hóa liên tục rõ ràng với định hướng hội nhập để nông nghiệp của Ukraine luôn phát triển trở thành bệ đỡ cho nền kinh tế suy thoái do khủng hoảng chính trị triền miên. Sự chuyển biến dựa trên thay đổi phương thức sản xuất KTHT gắn với chuỗi giá trị toàn cầu như sau: từ xã viên hợp tác trở thành người nông dân sở hữu đất (trung bình 4 hectare/trang trại) và chuyển vào những trang trại lớn, giờ đã thành các agroholdings (tạm dịch là các công ty cổ phần nông nghiệp). Trong đó đáng chú ý là công ty cổ phần nông nghiệp UkrLandFarming (sở hữu trên 800.000 hectare) lớn thứ tám thế giới và đã được tập đoàn Cargill khổng lồ của Hoa Kỳ mua 5% cổ phần. Hiện nay giá trị thị trường của các agriholdings của Ukraine chiếm đến 4 tỉ USD.  … Và Việt Nam   Trong giai đoạn hiện nay, sự thành bại của các hình thức KTHT nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc HTX hay liên minh HTX gắn kết thế nào với chuỗi giá trị toàn cầu. Bởi hoạt động theo chuỗi giá trị sẽ cho phép từng thành phần kinh tế tương tác với nhau và kiểm soát nhau ở mức hiệu quả nhất. Người quản lý tư nhân hay nhà nước có thể dễ dàng phát hiện ra điểm mạnh điểm yếu trong bất kỳ khâu nào tại bất kỳ thành phần nào trong chuỗi để điều chỉnh. Việc gắn kết những hộ nông dân nhỏ lẻ, hay các HTX ở trình độ sản xuất nhỏ, manh mún lạc hậu vào một hệ thống kinh tế tập thể theo chuỗi giá trị mà thường được điều phối bởi các chuỗi siêu thị hay các tập đoàn lớn đa quốc gia là mấu chốt nhưng cũng là thử thách vô cùng lớn (Gulnaz Kaseeva, FAO, 2013) để phát triển KTHT ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Điều này chúng ta không thể thực hiện được nếu không đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phù hợp, đồng thời có biện pháp thích ứng để rút ra các bài học từ những kinh nghiệm và trải nghiệm quốc tế.   Nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cho biết hiện nay có khoảng 4 triệu nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn đang sống trong cảnh nghèo đói, thu nhập chưa đến 1 USD/ngày (United Nations Development Program, Human Development Report 2013). Thành phần nông dân này – phần lớn là phụ nữ, người già và trẻ em thất học – không có kỹ năng nào khác ngoài việc làm ruộng, 75% phụ thuộc vào thương lái, không thể tự mình tiếp cận với thị trường, họ chưa được tổ chức, hoặc tổ chức lỏng lẻo để ‘làm ruộng’. Như vậy nguyên nhân của sự nghèo đói chính là nông dân ta không có khoa học kỹ thuật, và hạ tầng cơ sở kém đã tiếp sức để ngăn cản bước đột phá của nông thôn Việt Nam.   Do vậy muốn nông dân thoát cảnh đói nghèo, muốn công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn thành công phải có sự tham gia của nông dân có trình độ, nông dân ‘có học’ thông qua tổ chức sản xuất nông nghiệp theo kiểu công nghiệp, theo tư duy công nghiệp, trong đó KTHT là thành phần kinh tế chủ đạo, để nông dân cũng có thu nhập cao như công nhân trong khu vực công nghiệp, viên chức ở các đô thị. Việc trồng rau, hoa trong nhà có mái che (greenhouse) ở Úc, Canada, Nhật Bản, Hà Lan, Israel đã mang đến một thu nhập khoảng 1-1,5 triệu USD/ha/năm nhờ ứng dụng công nghệ cao, rồi câu chuyện Làng thần kỳ Kawakami thuộc tỉnh Nagano, ở phía tây Tokyo thu nhập bình quân hộ gia đình lại tới mức 250.000 USD/năm, rồi những nông dân có học đang xây dựng thôn Đạ Nghịt, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng thành Làng thần kỳ là những ví dụ cụ thể chứng tỏ nông thôn có đủ sức để vươn lên làm giàu với những xóm làng xanh, sạch, đẹp nếu được đầu tư đúng, có tư duy đúng.   Có KTHT, có nông dân có học, với sự giúp sức của KH&CN và Khoa học quản lý, chúng ta mới có thể xây dựng được những thương hiệu nông sản và thực phẩm made in Vietnam “tươi ngon, sạch đẹp – green & clean” từ các làng xóm thần kỳ!  Một số giải pháp phát triển KTHT tại Việt Nam    Việt Nam có đến trên 80% diện tích đất nông nghiệp đang được các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ nhất thế giới (trung bình mỗi hộ có khoảng một hectare được chia làm năm-bảy thửa ruộng, ở miền Bắc nhỏ lẻ hơn ở miền Nam, OEDC 2010) canh tác. Những hộ nông dân này đang phải đối mặt với vô vàn khó khăn trong sản xuất và thị trường do hạn chế về quỹ đất, sản xuất nhỏ, thiếu đầu ra ổn định và đặc biệt thiếu kiến thức và kỹ năng về công nghệ nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp (đại đa số chưa bao giờ biết đến hợp đồng nông nghiệp-contract farming). Trong khi đó, các công ty chế biến, các doanh nghiệp nông nghiệp cũng gặp phải khó khăn trong việc xuất khẩu nông sản nguyên nhân do thiếu nguyên liệu đầu vào có chất lượng và ổn định. Mặt khác, các doanh nghiệp hay các cơ sở chế biến, kinh doanh này lại thiếu ‘niềm tin’ vào chất lượng và khả năng cung cấp nguồn vật liệu đầu vào của các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Sự không gắn kết này là rào cản lớn nhất cần phải giải quyết để phát triển KTHT trong nông nghiệp.   Để phát triển KTHT trong nông nghiệp, chúng tôi đề xuất một số giải pháp dựa vào phương pháp tiếp cận chuỗi đó là xác định vai trò của từng thành phần/mắt xích trong chuỗi giá trị và điểm yếu để cải thiện, đồng thời kết hợp với các bài học quốc tế và kinh nghiệm tham gia dự án quốc tế.   (1) Phát triển các hội sản xuất nhỏ-trung bình tự chủ có nhóm trưởng là người có trình độ và uy tín: Từ kinh nghiệm của các dự án nước ngoài và thực tế các công ty chế biến thường chỉ nhận nguồn nguyên liệu cung cấp từ hộ sản xuất nhỏ trong khuôn khổ các dự án của các tổ chức nước ngoài hay là thông qua các tổ chức tư vấn. Sự mất “niềm tin” của doanh nghiệp đối với hộ sản xuất nhỏ lẻ là do người dân thường nhận đầu tư ban đầu (tạm ứng vốn, phân bón, hạt giống…) của công ty để cung cấp sản phẩm, nhưng khi thu hoạch họ không làm đúng theo cam kết, sẵn sàng bán đi nơi khác nếu giá cao hơn. Từ thực tế trên chúng ta có thể phát triển các “mô hình hội sản xuất nông dân tự chủ”, lựa chọn các hộ có nguyện vọng và khả năng tham gia vào các hội sản xuất. Nhóm nông dân tự bầu ra một nhóm trưởng có uy tín nhất và mọi trao đổi hợp tác đều thông qua nhóm trưởng (cách tiếp cận của các dự án quốc tế). Hội sản xuất nông dân tự chủ nên được đào tạo sử dụng nguyên tắc chia sẻ lợi nhuận “matching” theo mô hình của Israel. Qua đây chúng ta cũng sẽ nâng dần “niềm tin” của các bên liên quan đối với hộ sản xuất nhỏ lẻ.  (2) Đào tạo các thương lái trung gian có kiến thức kinh doanh nông nghiệp: Giải pháp hiện tại của các công ty là hợp tác với các thương lái (middle-man) để họ thu mua nông sản từ các hộ nông dân rồi bán số lượng lớn hơn cho công ty. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp ở Kenya cho thấy, thương lái là một thành phần trung gian tiềm năng trong chuỗi sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên hiện nay thành phần trung gian này ở các nước đang phát triển cũng chưa có trình độ đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế hội nhập, thậm chí một số còn gây thêm sự mất “niềm tin”. Chính vì vậy, người thương lái nên là đối tượng được đào tạo để trở thành một mắt xích kết nối người nông dân nhỏ lẻ hay các nhóm nông hộ tự chủ để cùng tham gia vào chuỗi giá trị. Đối tượng này cần được trang bị kiến thức về luật bản quyền, về hợp đồng kinh doanh, về phương pháp tiếp cận với nhiều nguồn thông tin nông nghiệp trong nước và quốc tế…          Theo TS. Nguyễn Quốc Vọng, ở nước Úc nông dân chỉ chiếm 1,8 % dân số, nhưng thành phần này đã sản xuất một lượng lương thực và vải vóc với năng suất một nông dân có thể nuôi sống được 204 người – một kỷ lục chưa có nước nào đạt được, kể cả Hoa Kỳ – nhờ nông dân có trình độ văn hóa cao: 31% có bằng đại học hoặc cao đẳng.          (3) Gắn kết KTHT với các tập đoàn, công ty lớn quốc tế bởi các thành phần này sẽ nắm vai trò kéo nền KTHT của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, dựa trên nguyên tắc phát triển của chuỗi giá trị là kéo (pull) chứ không phải đẩy (push). Kinh nghiệm thành công của Ukraine và một số nước có sự chuyển đổi từ mô hình HTX kiểu Liên Xô thành các agroholdings cho thấy các nhóm nông hộ, các công ty kinh doanh địa phương cần được hỗ trợ của các Bộ, ngành của Chính phủ trong việc hỗ trợ hợp tác với các tập đoàn và công ty quốc tế. Bài học từ chuỗi sản xuất hạt óc chó (Walnut) của Kazakhstan cho thấy, trong vài thập niên ngành này luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn do nhiều thành phần tham gia, nhiều trung gian nhưng không có đối tác ổn định do thiếu tổ chức từ sản xuất đến tiêu thụ bài bản. Tuy nhiên, khi có công ty lớn của châu Âu quan tâm, chuỗi sản xuất hạt óc chó của quốc gia này trở nên ổn định và gia tăng giá trị, và có các đối tác ổn định, tin cậy lẫn nhau, bao gồm HTX, công ty xuất khẩu trong nước, và các doanh nghiệp kinh doanh, nhập khẩu của châu Âu.  4) Phát triển các hãng sản xuất và các công ty vừa và nhỏ có vai trò như người “nhạc trưởng”. Theo TS. Vũ Trọng Khải, trong chuỗi giá trị giúp phát triển KTHT thì việc phát triển này là chiến lược trung hạn và nó nằm ở “niềm tin” giữa người sản xuất nhỏ và các công ty chế biến để kết nối hai thành phần của chuỗi sản xuất. Để giải quyết được việc này, chúng ta cần nâng cao nhận thức của người nông dân, và có kế hoạch dài hạn với sự tham gia hiệu quả hơn nữa của khuyến nông và các cơ sở đào tạo. Đồng thời cần xây dựng các công ty có cung cách tổ chức và làm việc chuyên nghiệp. Trong kinh doanh nông nghiệp, các công ty không thể chỉ cung cấp hạt giống thử nghiệm ban đầu để bán được giống như đa số công ty trong nước hiện nay đang làm mà cần phải có cam kết và trách nhiệm với sự phát triển của hạt giống do công ty mình cung cấp cho người dân, phải lấy tiêu chí “người nông dân thành công là thành công của công ty” giống như văn hóa của các công ty châu Âu đó là “Seed & Service”. Ngoài ra công ty cần phải có khả năng tư vấn cho người sản xuất về kế hoạch sản xuất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, có khả năng tập huấn cho người sản xuất nhỏ và tập hợp họ trong thành phần sản xuất của công ty mình, từ đó mà hình thành vùng nguyên liệu ổn định và tin cậy của công ty.    Công ty Lacue, Nhật Bản muốn xây dựng một mô hình giống như “làng thần kỳ” Kawakami ở thôn Đạ Nghịt, Lạc Dương, Lâm Đồng.  (5) KH&CN có vai trò quan trọng trong KTHT. Cơ sở nghiên cứu cần được đầu tư xứng tầm để các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có thể đóng góp thiết thực và cụ thể làm chuyển hóa cả một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng cao, chứ không phải là xây dựng một vài mô hình, một vài điểm sáng để trình diễn như hiện nay. Cơ sở nghiên cứu nên được khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp để chuyển giao công nghệ (tương tự các dự án đổi mới sáng tạo do World Bank tài trợ hiện nay như dự án FIRST và VIIP). Điều đó cũng phải tách biệt với việc nhà khoa học trực tiếp làm kinh doanh (nhà khoa học không thực chất1, xin tạm gọi như vậy). Hiện nay trong một số lĩnh vực nghiên cứu, các nhà khoa học sử dụng kinh phí nghiên cứu từ các đề tài của nhà nước để tạo giống hay nghiên cứu ra công nghệ sản xuất mới. Trên thực tế thì các nhà khoa học này sử dụng nguồn kinh phí đề tài để nhập khẩu giống của nước ngoài, làm mô hình để nghiệm thu, sau đó là kinh doanh (bán giống, bán phân bón, bán thuốc bảo vệ thực vật, bán công nghệ…). Những lĩnh vực họ nghiên cứu lại rất ‘thị trường’, nghĩa là có nhu cầu lớn (giống rau, giống hoa, phân bón mới, công nghệ mới…). Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các cá nhân muốn khởi nghiệp. Đồng thời cũng làm cho các nhà nghiên cứu kinh tế-chính sách “bó tay”. Kinh nghiệm của Học viện Nông nghiệp Việt Nam là các nhà nghiên cứu tạo ra giống mới (lúa, cà chua…) bán bản quyền cho các doanh nghiệp và hướng tới nhà khoa học chỉ làm khoa học, kinh doanh là việc của doanh nghiệp spin-off như các đại học nghiên cứu trên thế giới đang làm.  (6) Vai trò của các cơ quan chính phủ trong hỗ trợ phát triển KTHT: KTHT không thể phát triển được nếu thiếu vắng sự hỗ trợ thông qua chính sách và thể chế của nhà nước. Hiện nay chúng ta đã có nhiều chủ trương chính sách phát triển KTHT trong nông nghiệp như Cánh đồng mẫu lớn, Liên kết bốn nhà, Tam nông, v.v… nhằm phát triển nông nghiệp hàng hóa có giá trị gia tăng cao gắn với chuỗi giá trị. Cùng với các chính sách và thể chế khuyến khích sự hình thành và phát triển của các loại hình KTHT, thì nhà nước còn cần cải thiện hệ thống phân tích đánh giá đầu ra hay nhu cầu thị trường trong và ngoài nước để cung cấp cho bộ phận KTHT thì sẽ mãi tồn tại nền sản xuất nông nghiệp với nhiều rủi ro như hiện nay (bởi người dân thường sản xuất những gì họ vẫn sản xuất hoặc những gì được giá cao ở vụ trước; có thể kể ra vô số các ví dụ về sự rủi ro này mà người nông dân nhỏ lẻ phải gánh chịu). Ngoài việc tạo ra hệ thống phân tích thông tin thị trường còn cần phải có hệ thống truyền tải/phản hồi thông tin đó đến người người sản xuất và thương lái.  Đồng thời, Chính phủ cần hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (người nhạc trưởng) trong nền KTHT mà chúng ta đang xây dựng như đã đề cập ở trên bằng cách quan tâm đầu tư vào công nghệ sản xuất. Đây chính là bài học rút ra từ việc thành bại của hệ thống KTHT theo mô hình Liên Xô (công nghệ lạc hậu) và Israel (với công nghệ tiên tiến, khích lệ sự sáng tạo và đổi mới công nghệ).   Kiến nghị   Trình độ sản xuất và trình độ quản lý của tất cả các thành phần trong nền KTHT nông nghiệp của Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém. Trình độ, kiến thức và “niềm tin” ở một số thành phần kinh tế là những “nút thắt cổ chai” hiện nay cần phải tháo gỡ để phát triển KTHT gắn với chuỗi giá trị toàn cầu. Để thực hiện việc này cần đầu tư vào đào tạo, KHCN và thúc đẩy trải nghiệm kinh nghiệm quốc tế. Ngoài việc đề xuất các chính sách có liên quan đến quản lý ruộng đất, chính sách tín dụng… để phát triển KTHT mà bài viết này không đề cập thì hai việc sau: (1) xây dựng các kế hoạch để đào tạo các thành phần trong chuỗi sản xuất kiến thức và kỹ năng về kinh doanh nông nghiệp, công nghệ nông nghiệp và quản lý sản xuất nông nghiệp là vô cùng quan trọng; (2) Cần đầu tư vào nghiên cứu phát triển công nghệ và kỹ thuật để tạo đột phá trong sản xuất nông nghiệp như một tổng thể, chứ không phải chỉ đầu tư một vài mô hình công nghệ nông nghiệp như chúng ta đang làm, mới có thể làm thay đổi căn bản nền nông nghiệp Việt Nam. Việc này không thể làm trong một sớm một chiều mà là việc làm lâu dài, kiên trì, cần thời gian và tiền bạc.  Chúng tôi có một số đề xuất cụ thể sau:   Có chính sách xây dựng các nhóm hộ nông dân (HTX) sản xuất tiên tiến theo mô hình ‘chia sẻ lợi nhuận’ (matching) kiểu Israel, đồng thời xây dựng chương trình đào tạo về sản xuất và kinh doanh nông nghiệp cho nhóm thành phân kinh tế này;  Mở các lớp đào tạo về quản lý sản xuất nông nghiệp, tiêu chuẩn và thực hành sản xuất đảm bảo chất lượng quốc tế cho lãnh đạo các làng xã nông thôn, các doanh nghiệp địa phương và thương lái thông qua các chương trình trao đổi quốc tế, tìm kiếm đối tác;  Xây dựng các chương trình đào tạo ngắn hạn cho các chủ doanh nghiệp về kiến thức kinh doanh quốc tế (nhà nước và nhân dân cùng đóng góp), thông qua các chương trình hợp tác quốc tế của các trường đại học (Học viện Nông nghiệp Việt Nam hiện đang có chương trình trao đổi với nhiều nước trên thế giới về thực hành nông nghiệp: quản lý chuỗi sản xuất nông nghiệp với Hà Lan, thực hành nông nghiệp tốt với Israel…).  Mở các chương trình đào tạo đại học, sau đại học về quản lý sản xuất nông nghiệp theo chuỗi ngành hàng.Mở các chương trình đào tạo công nghệ thông tin kinh doanh nông nghiệp: ứng dụng CNTT trong dự báo dự tính thị trường…  Chiến lược phát triển KH&CN cho các trường ĐH Nông nghiệp để kết hợp vừa nghiên cứu khoa học vừa chuyển giao kiến thức, với sự tham gia của doanh nghiệp. Có chính sách quản lý tốt để kinh phí nghiên cứu khoa học phục vụ những người thực sự làm nghiên cứu khoa học.            Phát biểu tại hội thảo Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam: từ chính sách đến thực tiễn, Chủ tịch UBTW MTTQ Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định bên cạnh mô hình liên kết giữa hộ nông dân và các doanh nghiệp, thì các hợp tác xã vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với nền nông nghiệp Việt Nam bởi mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp sẽ không  thể đảm bảo vươn đến hàng chục triệu hộ sản xuất. Tuy nhiên, ông cũng nhận định rằng mô hình hoạt động của đa số các hơp tác xã hiện nay ở Việt Nam đã không còn phù hợp, cần sớm cải tổ theo các mô hình tiến bộ ở trong và ngoài nước. Kinh nghiệm từ một số mô hình đã thành công trong nước như hợp tác xã Quý Hiền (Lào Cai) hay hợp tác xã vận tải thủy Rạch Gầm (Tiền Giang), đã thúc đẩy hiệu quả vai trò của hợp tác xã trong việc thu hút, gây dựng các hợp đồng lớn để chia lại cho các xã viên, trong khi hộ nông dân vẫn phát huy được vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất, thậm chí tự chịu trách nhiệm về lời lỗ, qua đó cho thấy một mô hình hợp tác xã tiến bộ được triển khai đúng đắn sẽ “không phủ định kinh tế hộ và kinh tế cá thể” mà chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên thông qua hợp tác.                Tài liệu tham khảo:  OEDC. 2010.Sustainable Development and Poverty Reduction: The Case Study of Vietnam. Global Forum on Agriculture 29-30 November 2010. Policies for Agricultural Development, Poverty Reduction and Food Security. OECD Headquarters, Paris.  Mark Overton. Agricultural Revolution in England 1500 – 1850. Agricultural Revolution in England: The Transformation of the Agrarian Economy 1500-1850 by Mark Overton (Cambridge University Press, 1996)  Gulnaz Kaseeva. 2013. Processor driven intergration of small farmers into value chains in Kyrgyzstan. FAO. 2013Guttman và Schnytzer, 1989. “Strategic work interactions and the Kibbutz- Kolkhoz Paradox”. The Economic Journal, 1989.  The Transformation of Rural England: Farming and the Landscape, 1700-1870 by Tom Williamson (Exeter University Press, 2002) (Oxford University Press, 2001)  http://www.fao.org/docrep/013/i2008e/i2008e04.pdf  http://www.osw.waw.pl/en/publikacje/osw-commentary/2014-02-07/transformation-agriculture-ukraine-collective-farms-to  ——————————————  * Học viện Nông nghiệp Việt Nam  1: Hiện nay ở nước ta có một thực tế : Có những nhà khoa học chẳng làm gì gọi là ‘nghiên cứu’ nhưng họ lại rất giỏi xin tiền NCKH vì có quan hệ tốt. Họ đi mua giống mới, máy móc mới, công nghệ mới… ở nước láng giểng phương Bắc, những thứ mà thực tiễn sản xuất trong nước đang cần; ví dụ như họ mua giống mới về gieo trồng, thử nghiệm rồi mời hội đồng đến nghiệm thu. Thế là xong một ‘mẻ’, và họ lại tiếp tục làm ‘mẻ’ khác. Vì thế, nền KH&CN nước nhà trong giai đoạn hiện nay được gọi là nền ‘KH&CN của các mối quan hệ’. Một số cơ quan làm công tác quản lý KH&CN của các bộ ngành có sứ mệnh rất quan trọng là chăm lo và xây dựng đội ngũ, đẩy mạnh tiềm lực KH&CN quốc gia, thì dường như họ không có việc gì hơn là (i) ngồi chia tiền cho các đơn vị, cá nhân dựa nhiều hơn vào các mối quan hệ, dựa ít hơn vào các tiêu chí KH&CN đích thực, (ii) thành lập các hội đồng xét duyệt, nghiệm thu (cũng chủ yếu là theo các mối quan hệ). Bản thân người viết đã chứng kiến nhiều lần các tiến sĩ trẻ được đào tạo bài bản từ các nền giáo dục tiên tiến trở về với đầy hoài bão cống hiến, đã phải ngậm ngùi ra đi vì họ không thể thích ứng được với lề thói quản lý KH&CN hiện nay của chúng ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển máy bay không người lái phù hợp với nhu cầu vận chuyển nội tạng      Trong một bài báo, xuất bản trên tạp chí Science Robotics, các nhà nghiên cứu phác thảo lại quá trình vận chuyển và ý nghĩa của nó đối với các bệnh nhân trên khắp thế giới.    Một nhóm các nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Bệnh viện Đa khoa Toronto, Unither Bioelectronics Inc., và University Health Network, đã chứng minh tính khả thi của việc sử dụng máy bay không người lái để chuyển nội tạng cấy ghép trong phạm vi gần.  Khi công nghệ máy bay không người lái trở nên đáng tin cậy hơn, các kỹ sư đã bắt đầu sử dụng chúng cho các ứng dụng quan trọng hơn trong cuộc sống. Trong trường hợp này, một máy bay không người lái đã mang phổi sử dụng trong cấy phép, do một bệnh nhân vừa qua đời ở một bệnh viện ở trung tâm thành phố Toronto hiến tặng, đến cho một bệnh nhân khác đang chờ cấy ghép phổi ở một bệnh viện khác, cũng ở trung tâm thành phố Toronto.        Đây không phải là nghiên cứu đầu tiên sử dụng máy bay không người lái để vận chuyển nội tạng người hoặc vật tư y tế, nhưng có lẽ là nghiên cứu nghiêm ngặt nhất. Nỗ lực này nhằm kiểm tra tính khả thi của việc sử dụng máy bay không người lái để vận chuyển nội tạng hiến tặng một cách thường xuyên. Để đạt được mục tiêu này, họ bắt đầu bằng cách chọn một máy bay không người lái. Trong lần vận chuyển này đó là máy bay M600 Pro do Trung Quốc sản xuất.    Tiếp theo, họ sửa đổi máy bay không người lái cho phù hợp với nhu cầu vận chuyển nội tạng. Đầu tiên, họ bổ sung các thiết bị điện tử mới nhằm đảm bảo khả năng kết nối mạnh mẽ, không gián đoạn. Máy bay trong nghiên cứu này được điều khiển từ xa bởi một phi công là con người. Tiếp theo, họ thêm một chiếc dù, đèn chiếu sáng, một số máy ảnh, thiết bị theo dõi GPS và hệ thống phục hồi trong trường hợp máy bay gặp sự cố.    Cuối cùng, họ tháo bộ phận hạ cánh và thay thế bằng một hộp đựng được thiết kế đặc biệt để giữ mát nội tạng trong quá trình vận chuyển. Sau đó, họ bắt đầu thực hiện các chuyến bay thử nghiệm. Họ cho máy bay không người lái mang đồ vật từ điểm này sang điểm khác, thử nghiệm tất cả các tính năng của nó. Sau 400 chuyến bay thử nghiệm như vậy, cuối cùng họ cho máy bay không người lái bay chuyến vận chuyển nội tạng.    Chuyến bay thử nghiệm cất cánh từ Bệnh viện Tây Toronto. Nhiệm vụ của máy bay không người lái là chuyển lá phổi được hiến tặng đến Bệnh viện Đa khoa Toronto cách đó 2 km, nơi bệnh nhân đang chờ cấy ghép. Các nhà nghiên cứu cho rằng phương pháp này có thể được sử dụng để chuyển nội tạng trong khoảng cách ngắn ở các khu vực đông dân cư, chẳng hạn như trong một thành phố, giúp giảm đáng kể thời gian vận chuyển.    Họ lưu ý rằng rất thường xuyên, ngay cả khi chỉ di chuyển khoảng cách ngắn, các phương tiện trên mặt đất cũng có thể mất rất nhiều thời gian do tắc đường và các sự cố không lường trước được. Họ lưu ý rằng máy bay không người lái có thể bay qua tất cả những chướng ngại đó.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Phát triển mô hình doanh nghiệp KH – CN      Thế  giới đã khẳng định, những doanh nghiệp phát triển dựa trên nền tảng  công nghệ, giá trị sáng tạo khoa học thì bao giờ cũng tiên phong và có  tính bền vững, ổn định rất cao. Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân nói về những vấn đề phát triển doanh nghiệp KH-CN ở Việt Nam hiện nay và  những mô hình thành công.      * PV: Đến thời điểm này, bộ trưởng đánh giá như thế nào về mô hình hoạt động của hệ thống doanh nghiệp KH-CN ở Việt Nam?  * Bộ trưởng NGUYỄN QUÂN: Doanh nghiệp KH-CN là loại hình doanh nghiệp ứng dụng thành công các hoạt động nghiên cứu của chính họ hoặc những kết quả nghiên cứu từ các viện nghiên cứu, các trường đại học, thậm chí là chuyển giao từ nước ngoài mà họ được quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp. Đây chính là những doanh nghiệp đã kết nối được với các nhà khoa học, có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và giá trị gia tăng lớn. Đặc biệt là họ có đóng góp rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước, bởi sự phát triển rất ổn định và bền vững, nhất là ở thời điểm có khủng hoảng kinh tế hoặc những khó khăn khác.  Trong 7 năm qua, Chính phủ Việt Nam, trực tiếp là Bộ KH-CN đã quan tâm và chủ trương hình thành một hệ thống doanh nghiệp KH-CN đất nước. Cụ thể là Nghị định 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp KH-CN. Cho đến nay có khoảng 2.000 doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm đối tượng này, đáp ứng được các tiêu chí về doanh nghiệp KH-CN. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn, vướng mắc khác nhau, chỉ mới có chưa đến 200 doanh nghiệp chính thức được công nhận, cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH-CN. Lý do là còn nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được những chính sách ưu đãi của Chính phủ, cũng như chưa có đủ thông tin về mô hình hoạt động này. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính còn rất nhiều vướng mắc, nhất là ở địa phương, nên việc cấp giấy chứng nhận còn hạn chế.  * Theo bộ trưởng, cần phải làm gì để 2.000 doanh nghiệp đã được “nhắm đến” đó sẽ chuyển đổi hoạt động theo mô hình doanh nghiệp KH-CN?  * Bộ KH-CN đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ các tổ chức KH-CN chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hình thành các doanh nghiệp KH-CN. Chương trình sẽ được khởi động từ năm 2014 này. Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ cho các tổ chức tổ chức KH-CN, tức là các viện, trung tâm nghiên cứu, các trường đại học khi có kết quả nghiên cứu thì chuyển ngay sang thành lập các doanh nghiệp trực thuộc mình, hoặc chuyển đổi chính các tổ chức ấy thành doanh nghiệp KH-CN, nhằm thương mại hóa, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào đời sống kinh tế – xã hội. Chúng tôi cũng đã xây dựng các chương trình, dự án hợp tác quốc tế nhằm tìm các nguồn lực hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi này. Chính phủ đặt yêu cầu đến năm 2020, Việt Nam phải có 5.000 doanh nghiệp KH-CN. Chúng tôi đang hy vọng với những chính sách mới, quyết liệt và cởi mở hơn, số lượng doanh nghiệp KH-CN ở Việt Nam sẽ tăng lên nhanh chóng trong thời gian tới.  * Thời gian qua, khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển đổi mô hình hoạt động, hướng đến những doanh nghiệp công nghệ. Bộ trưởng đánh giá như thế nào việc Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel từ kinh doanh dịch vụ viễn thông thuần túy đã tuyên bố hướng đến mô hình hoạt động tập đoàn công nghệ?  * Tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Viettel. Trước đây họ có một trung tâm nghiên cứu và đã nâng cấp lên thành viện nghiên cứu thuộc tập đoàn. Chúng ta đều biết Viettel là một đơn vị kinh doanh hiệu quả và theo số liệu chúng tôi được biết, năm 2012 họ đã dành 10% lợi nhuận trước thuế, tương đương khoảng 2.400 tỷ đồng cho hoạt động nghiên cứu, phát triển. Tuy nhiên, do những vướng mắc về cơ chế chính sách và những quy định bất cập về mặt tài chính đối với Quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp, Viettel mới sử dụng được khoảng 400 tỷ đồng. Nhưng chỉ với chừng đó, Viettel đã đầu tư nghiên cứu và có được những sản phẩm hết sức quan trọng. Trong cuộc triển lãm của ngành công nghiệp quốc phòng cuối năm 2013 vừa rồi, Viettel đã trình bày và giới thiệu những sản phẩm hết sức ấn tượng đối với quân đội nói riêng và KH-CN nói chung. Nổi bật là những máy thông tin quân sự thế hệ mới, hệ thống radar tầm trung để cảnh giới vùng trời và vùng biển. Đây là những thiết bị được thiết kế, chế tạo hoàn toàn ở Việt Nam, đều do Viettel làm chủ công nghệ, đảm bảo tối đa về an ninh, bảo mật. Đặc biệt, chất lượng các thiết bị này tương đương nhập ngoại, nhưng giá thành rẻ hơn rất nhiều, có loại chỉ bằng 1/4 đến 1/5.  * Thành công của Viettel nói lên điều gì, thưa Bộ trưởng?  * Viettel là một tập đoàn nhà nước đi đầu trong lĩnh vực viễn thông của Việt Nam hiện nay, nhưng nếu không có đầu tư cho nghiên cứu, phát triển KH-CN, chắc chắn rằng Viettel không thể có những kết quả rất ấn tượng về doanh thu, lợi nhuận cũng như những sản phẩm về KH-CN phục vụ quốc phòng. Viettel chỉ làm một lĩnh vực hẹp trong quốc phòng là viễn thông và thông tin liên lạc; nhưng do sự phát triển về KH-CN, nên sức lan tỏa của Viettel đã vượt ra ngoài phạm vi của nó. Mô hình chuyển đổi của Viettel sang doanh nghiệp công nghệ là rất tốt. Đương nhiên, nếu cả tập đoàn chuyển thành doanh nghiệp công nghệ thì khó khăn, phức tạp, nhưng nếu từng đơn vị thành viên trở thành doanh nghiệp KH-CN thì phù hợp nhất. Tôi cho rằng, Nhà nước, Bộ KH-CN, Bộ Tài chính cần sớm hiện thực hóa những tư tưởng của Luật KH-CN để giúp những doanh nghiệp như Viettel sử dụng tối đa nguồn kinh phí dành cho hoạt động KH-CN để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao quay trở lại phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp cũng như quốc gia.    * Bộ trưởng có thể cho biết, hiện nay ở Việt Nam đã có bao nhiêu doanh nghiệp đã trích 10% lợi nhuận trước thuế của mình dành cho hoạt động nghiên cứu, phát triển KH-CN?  * Trước đây, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định doanh nghiệp có thể trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho KH-CN thông qua quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp. Nhưng do chưa có chế tài, cũng như quy định về mức sàn nên rất nhiều năm qua hầu như các doanh nghiệp đều không thực hiện. Nay Luật KH-CN 2013 và nghị định hướng dẫn thực hiện luật đang được trình Chính phủ đã có quy định rõ, doanh nghiệp phải trích tối thiểu từ 1% và mức trần là 10% lợi nhuận trước thuế. Sẽ có sự phân loại theo loại hình doanh nghiệp, quy mô thu nhập tính thuế để thực hiện và đây là điều bắt buộc. Thời gian qua, khi nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến nghiên cứu, ứng dụng KH-CN, một số doanh nghiệp lớn đã làm và thành công.  Luật KH-CN 2013 sẽ bắt buộc các doanh nghiệp Nhà nước, các tổng công ty 90-91 phải trích lợi nhuận trước thuế thành lập Quỹ phát triển KH-CN, còn các thành phần kinh tế khác thì được khuyến khích áp dụng. Làm sao để ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhà nước thực sự phát triển mạnh, bền vững nhờ đầu tư nghiên cứu phát triển, đổi mới, áp dụng KH-CN.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển một khái niệm mới về mô hình toán học      Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu Các vấn đề cơ bản của Vật lý nhiệt và cơ học của trường đại học Công nghệ liên bang Samara, Nga (Samara Polytech) đang xây dựng các mô hình toán học mới và tìm những phương pháp mới cho nghiên cứu về các hệ vật lý. Với một cách tiếp cận đầy sáng tạo, họ đã đặt cơ sở cho một phiên bản hiện đại của vật lý nhiệt thế hệ thứ ba.      Mô hình toán học và phương pháp của các quá trình vận chuyển bất cân bằng cục bộ. Nguồn:: @SamaraPolytech  Dự án của họ “Development, theoretical research and experimental verification of mathematical models of oscillatory processes, heat and mass transfer and thermomechanics with two- and multiphase delays”  (Xác nhận về lý thuyết, phát triển và thực nghiệm các mô hình toán học của các quá trình dao động, vận chuyển nhiệt và khối lượng với các trễ hai pha và đa pha) là một trong những dự án được Quỹ Khoa học cơ bản Nga (RFBR) tài trợ. Các kết quả nghiên cứu mới đây đã được xuất bản trên tạp chí Physica A: Statistical Mechanics and its Applications.  Một mối quan tâm hiện nay trong nghiên cứu về các quá trình bất cân bằng cục bộ (local nonequilibrium) là việc tính toán các đặc trưng trong những quá trình vận chuyển ở cấp độ phân tử bởi nó chịu tác động của nhiều quá trình vật lý khác nhau trong các điều kiện cực đoan – ví dụ, sự tác động của các dòng chảy năng lượng lên vật chất trong quãng thời gian cỡ femtosecond, các mức áp suất và nhiệt độ cực thấp hoặc cực cao, các sóng nhiệt…, rất nhiều quá trình vật lý được hợp lại để tạo ra những công nghệ mới nhằm chế tạo được vật liệu ở cấp độ nano và các lớp phủ ngoài vật liệu với các đặc tính lý hóa độc đáo, vốn không thể đạt được nếu sử dụng các phương pháp truyền thống (các hợp kim đa thành phần, gốm, vật liệu  polymer, các loại kính bán dẫn và kim loại, các loại màng mỏng nano, graphene, vật liệu composite nano…).  “Trước đây, vật lý nhiệt cổ điển phát triển trên nền tảng của nguyên tắc về hệ cân bằng cục bộ nhưng nay nó không còn phù hợp để miêu tả các quá trình xuất hiện trong các điều kiện bất cân bằng cục bộ nữa. Dự án của chúng tôi do đó đóng vai trò quan trọng đối với cả khoa học cơ bản và với những ứng dụng thực tiễn sau này”, giáo sư Igor Kudinov – người phụ trách dự án, giải thích. “Để hoàn thành các nhiệm vụ này, chúng tôi đã lập kế hoạch tạo ra một gói phần mềm mới chưa từng có để thiết kế mô hình 3D của các quá trình vận chuyển nhiệt, khối lượng, mô men động lượng bất cân bằng cục bộ tốc độ cao. Như vậy, nhìn từ quan điểm của công nghệ nano hiện đại thì phương pháp của chúng tôi mở ra nhiều khả năng nghiên cứu về các tiến trình quan trọng cho phát triển vật liệu mới”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-scientists-concept-mathematical.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển một phương pháp cải thiện độ nhạy máy dò sóng hấp dẫn      Các máy dò sóng hấp dẫn đã mở ra một cánh cửa mới vào vũ trụ bằng việc đo đạc các gợn sóng trong không thời gian, vốn được tạo ra bằng sự sáp nhập của các lỗ đen và sao neutron. Tuy nhiên độ nhạy của các máy dò này bị các thăng giáng lượng tử giới hạn. Tiến sĩ vật lý Jonathan Cripe và cộng sự ở trường đại học Louisiana (Mỹ) đã triển khai một thực nghiệm mới với các nhà nghiên cứu Caltech và Thorlabs để khám phá một cách loại trừ những tác động ngược của thăng giáng lượng tử và cải thiện độ nhạy của các máy dò.      Tiến sĩ vật lý Jonathan Cripe và cộng sự ở trường đại học Louisiana (Mỹ) đang thực hiện một thực nghiệm mới. Nguồn: LSU  Trong “Quantum Backaction Cancellation in the Audio Band” – một bài báo trên Physical Review X, các nhà nghiên cứu đã trình bày một phương pháp loại bỏ những tác động ngược đó trong một hệ được làm đơn giản hóa sử dụng gương có kích thước như tóc người và chứng tỏ chuyển động của gương đã giảm xuống tương đồng với những dự đoán lý thuyết. Nghiên cứu này do Quỹ Khoa học Mỹ tài trợ.  Bất chấp việc sử  dụng các tấm gương nặng 40 kilogram để dò các sóng hấp dẫn vượt qua, các thăng giáng lượng tử của ánh sáng làm nhiễu loạn vị trí của các tấm gương khi ánh sáng được phản chiếu. Khi các máy dò sóng hấp dẫn tiếp tục tăng độ nhạy lên sau những lần nâng cấp, những tác động ngược lượng tử sẽ trở thành một giới hạn cơ bản cho độ nhạy của máy, ảnh hưởng đến năng lực dò các thông tin vật lý thiên văn từ sóng hấp dẫn.  “Chúng tôi trình bày một môi trường thử thực nghiệm để nghiên cứu và loại trừ tác động ngược lượng tử”, Cripe nói. “Chúng tôi thực hiện hai phép đo đạc vị trí của một vật thể vĩ mô bị tác động ngược lượng tử lấn át và chứng tỏ bằng việc thực hiện một thay đổi đơn giản trong phối hợp đo lường, chúng ta có thể loại bỏ các ảnh hưởng lượng tử khỏi đo đạc chuyển vị. bằng việc khám phá các tương quan giữa pha đó và cường độ của trường quang học, tác động ngược lượng tử bị loại trừ”.  Garrett Cole, người phụ trách công nghệ tại Phòng thí nghiệm Thorlabs Crystalline Solutions (Các giải pháp gương tinh thể theo đề xuất của Thorlabs Inc.) vào năm ngoái) và cộng sự của ông chế tạo các tấm gương vi cơ học từ một lớp đa lớp biểu mô GaAs và AlGaAs. Một tổ chức bên ngoài, IQE North Carolina, phụ trách việc nuôi cấy tinh thể trong khi Cole và cộng sự, bao gồm các kỹ sư Paula Heu và David Follman, chế tạo thiết bị tại bộ phận chế tạo nano của trường đại học California Santa Barbara.  “Bằng việc thực hiện phép đo đạc này trên một tấm gương có thể nhìn thấy bằng mắt thường – tại nhiệt độ phòng và tại các mức tần số tai người có thể nghe thấy được – chúng ta đã mang các tác động tinh tế của cơ học lượng tử tới gần hơn với trải nghiệm thực của con người”, nghiên cứu sinh Torrey Cullen nói. “Bằng việc làm dịu đi ‘tiếng thì thầm’ của lượng tử, giờ chúng tôi có thể nghe được nhiều hơn những nốt nhạc của bản giao hưởng vũ trụ”.  “Nghiên cứu này xảy ra đúng thời điểm đặc biệt bởi Đài quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế LIGO hiện mới loan báo vào cuối tháng trước trên Nature là họ đã thấy những hiệu ứng nhiễu áp suất phóng xạ lượng tử tại đài quan sát LIGO Livingston”, Thomas Corbitt, phó giáo sư tại Khoa vật lý và thiên văn LSU.  Nỗ lực đằng sau bài báo này “Những tương quan lượng tử giữa ánh sáng và các tấm gương có khối lượng hàng kilogram của LIGO” là sự dẫn dắt Nergis Mavalvala, hiệu trưởng trường Khoa học MIT cũng như công sức của Haocun Yu – người nhận học bổng postdoct và nhà nghiên cứu Lee McCuller cùng ở Viện nghiên cứu Vật lý thiên văn và không gian Kavli MIT.  “Nhiễu áp suất phóng xạ lượng tử hiện đã bị loại khỏi nền nhiễu của LIGO, và chẳng bao lâu nữa, nó cũng bị loại khỏi nguồn nhiễu của các cỗ máy dò GW”, Mavalvala nói. “Các quan sát vật lý thiên văn sâu sắc hơn sẽ không chỉ trở nên có thể nếu chúng ta có thể giảm bớt được nhiễu và kết quả đẹp đẽ từ nhóm nghiên cứu Corbitt tại LSU đã chứng tỏ một kỹ thuật đã làm được điều đó”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-physicists-method-gravitational-detector-sensitivity.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển năng lượng sạch có giữ được đa dạng sinh học?      Tuy được coi là giải pháp hay để chúng ta từ bỏ nhiên liệu hóa thạch nhưng theo thời gian, các nhà máy điện gió, điện mặt trời và thủy điện lại đang dần dịch chuyển vào những nơi có môi trường sống dễ bị hủy hoại nhất trên thế giới.      Trong những năm gần đây, các cuộc chạy đua phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) trên toàn thế giới đang dần hủy hoại một trong những tiêu chí bền vững của nó, đó là sự phá hủy các khu vực được khoanh vùng bảo tồn đa dạng sinh học. Các nghiên cứu cho thấy có sự chồng chéo đáng báo động giữa những môi trường sống cần được bảo tồn trên thế giới và vị trí của các nhà máy điện gió, điện mặt trời và thủy điện đang hoạt động hay đã được lên kế hoạch xây dựng.  Giảm phát thải khí nhà kính để chống biến đổi khí hậu bằng việc thay thế các cơ sở năng lượng tái tạo cho các nhà máy nhiệt điện than và khí đốt là mục tiêu trọng điểm trong chương trình nghị sự của 140 quốc gia cùng tham gia ký kết Hiệp định Paris về Chống Biến đổi Khí hậu. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tin rằng, phải lập kế hoạch xây dựng các nhà máy điện tái tạo và khai thác khoáng sản, kim loại cần thiết một cách cẩn thận để tránh tổn hại đến các khu đa dạng sinh học không thể thay thế.  Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Global Change Biology đã chỉ ra, hiện có hơn 2.200 cơ sở năng lượng tái tạo và khoảng 900 dự án khác đang được xây dựng tại chính các khu bảo tồn, khu đa dạng sinh học trọng yếu và rừng nguyên sinh. Ông José Rehbein, chuyên gia tư vấn cấp cao về Môi trường, Tài nguyên Thiên nhiên và Kinh tế Xanh của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho biết: “Các cơ sở năng lượng và hạ tầng xung quanh như đường xá và các hoạt động dân sinh có thể gây ra tổn hại vô cùng lớn đến môi trường tự nhiên. Do đó, sự phát triển của năng lượng tái tạo hiện nay đang không tương thích với các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học”.      “Các con sông là mạch máu của hệ sinh thái. Mọi chính sách hướng đến bảo tồn thiên nhiên đều phải ưu tiên dòng chảy tự nhiên của các dòng sông”. (Michele Thieme)      Ông và các cộng sự đã từng hết lòng ủng hộ chiến dịch chuyển đổi, sử dụng năng lượng tái tạo một cách nhanh chóng để tránh biến đổi khí hậu và bảo vệ một số loài động thực vật quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, hiện nay José Rehbein lại nỗ lực kêu gọi các nhà hoạch định chính sách và các công ty năng lượng đảm bảo việc phát triển các cơ sở năng lượng tái tạo không làm tổn hại đến các khu đa dạng sinh học.  Theo nhận xét của ông Rehbein, “một số nhà máy thủy điện đang nằm trong khu vực cần được bảo tồn và điều tương tự cũng đang xảy ra với điện gió. Trường hợp này có thể ít xảy ra với năng lượng mặt trời bởi các tấm pin quang điện chỉ chiếm một phần nhỏ không gian và dễ dàng di chuyển để tránh xâm phạm đến khu vực cần được bảo vệ. Tuy nhiên, do đặc điểm của các tuabin gió luôn cần đặt trong khu vực có luồng gió liên tục nên chúng rất có thể trở thành mối đe dọa cho các loài chim và dơi. Đối với các nhà máy thủy điện, vấn đề ở vị trí của thượng nguồn và hạ lưu các con đập chắc chắn sẽ phá vỡ hệ sinh thái xung quanh”.    Một loạt các tấm pin mặt trời khổng lồ tại một nhà máy quang điện thuộc vùng nông thôn ở ngoại ô thành phố Ninh Ba, miền đông Trung Quốc. Trong khi năng lượng mặt trời được coi là máy phát điện tái tạo linh hoạt nhất thì sự gia tăng các nhà máy quy mô lớn đã làm dấy lên lo ngại. Nhiều nhà máy năng lượng như vậy hiện đang được lắp đặt  ở các khu vực ven biển hoặc các hồ chứa nhằm làm giảm nhu cầu về các dự án thủy điện nhưng lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó có thể lường trước. Ảnh: Cynthia Lee / Alamy  Làm “sạch” môi trường xung quanh  Tất cả các cơ sở mới đều tiềm ẩn những rủi ro từ việc phát quang môi trường xung quanh để xây dựng hạ tầng thiết yếu như đường xá, cột điện và dây cáp cung cấp điện.  Theo ông Rehbein, cho dù các nhà máy năng lượng tái tạo được đặt trong các khu vực bảo tồn nhạy cảm trên thế giới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ (17,4%) nhưng lại có khả năng gây ra những vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Trong lịch sử phát triển, các ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng khác chưa từng được xây dựng ở những nơi quan trọng như vậy. Đáng chú ý, một số lượng lớn các cơ sở tái tạo của các quốc gia như Đức, Tây Ban Nha và Trung Quốc đang nằm trong các khu bảo tồn quan trọng; hơn một nửa số nhà máy khác đang được phát triển ở Ấn Độ, Đông Nam Á, Nam Mỹ hoặc Châu Phi tiếp tục được quy hoạch chồng chéo trong các khu vực có vai trò quan trọng đối với đa dạng sinh học toàn cầu.  Khi đề cập đến vị trí của các nhà máy điện mặt trời, điện gió và thủy điện, ông cảm thấy lo ngại bởi những nỗ lực nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu đang khiến năng lượng tái tạo lấn lướt các tuyên bố bảo vệ đa dạng sinh học. Không chỉ đơn thuần là giảm thiểu carbon, mục tiêu phát triển bền vững còn bao hàm cả đa dạng sinh học và đa dạng sinh học xứng đáng giữ vị trí quan trọng ngang bằng với biến đổi khí hậu. Do đó, theo ông Rehbein, các tổ chức bảo tồn cần được mời tham gia xây dựng chiến lược cho các khu công nghiệp, đồng thời đóng góp cho chính phủ những bản đồ chính xác, chi tiết về các khu vực thiết yếu đối với bảo tồn đa dạng sinh học.  Mặt khác, ông Rehbein cũng cảnh báo: năng lượng tái tạo là một thương vụ kinh doanh, không hướng đến mục đích bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học và các công ty năng lượng luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu. Điều này dẫn đến việc lựa chọn địa điểm đặt nhà máy luôn là những nơi thuận tiện nhất, thay vì cân nhắc đến sự bền vững của đa dạng sinh học.  Cùng quan điểm này, tiến sĩ James Allan của Đại học Amsterdam, cho rằng không giống như nạn phá rừng và các hoạt động trái phép gây ô nhiễm, hầu hết các hoạt động phát triển làm suy thoái các khu bảo tồn đáng lẽ nên bị chính phủ trừng phạt thì lại luôn được coi là việc làm hợp pháp. Để ngăn chặn điều này, cần thay đổi các chính sách và cách thế giới nhìn nhận về sự phát triển. Vấn đề cốt lõi ở đây là phải đảm bảo các cơ sở năng lượng tái tạo được xây dựng tại địa điểm không làm tổn hại đến đa dạng sinh học. Chúng ta có đủ những khu vực đất đai vừa cằn cỗi, vừa không ai tranh giành nhưng vẫn tiềm năng cho năng lượng tái tạo, do đó không nhất thiết phải xâm phạm tới các khu bảo tồn.      Không chỉ đơn thuần là giảm thiểu carbon, mục tiêu phát triển bền vững còn bao hàm cả đa dạng sinh học và đa dạng sinh học xứng đáng giữ vị trí quan trọng ngang bằng với biến đổi khí hậu.       Tiến sĩ James Allan nhấn mạnh, việc xây dựng các cơ sở năng lượng tái tạo sẽ còn dẫn đến những hậu quả không mong muốn, đó là việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho dự án như các dịch vụ thiết yếu, những tuyến đường hỗ trợ, những hoạt động thu hút lao động từ nơi khác, tạo dựng được các thị trấn mới, nho nhỏ ở những “vùng sâu vùng xa” chưa từng có bóng dáng con người trước đó.  Trong tất cả các nguồn năng lượng tái tạo, thủy điện dường như tiềm ẩn các tác động lớn nhất, không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học địa phương mà còn ảnh hưởng tới các loài thực vật và động vật sống dựa vào dòng chảy tự do ở thượng nguồn, cục bộ và hạ lưu.  Nhà nghiên cứu Michele Thieme, trưởng nhóm nghiên cứu khoa học nước ngọt tại Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) từng so sánh các con sông giống như mạch máu của hệ sinh thái; do đó bất kỳ chính sách bảo tồn thiên nhiên nào cũng đều ưu tiên hướng đến dòng chảy tự do của các con sông. Bà đã từng công bố một đánh giá toàn cầu cho thấy 1.249 đập lớn trong các khu bảo tồn và 509 đập khác được lên kế hoạch hoặc đang xây dựng trong các Khu bảo tồn, bao gồm Vườn quốc gia ở Thung lũng Valbona (Albania) và Khu bảo tồn rừng ven sông Kaliwa ở Philippines. Bà Thieme cho rằng: “Số lượng các con đập được quy hoạch xây dựng trong các khu bảo tồn đang ở mức đáng báo động. Chính sách của chính phủ và các ban ngành cần phải ngăn chặn các đập được xây dựng trong các khu vực nhạy cảm này”.  Bà cũng cho biết nhiều trường hợp ghi nhận các con đập gây ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học, điển hình như hai con đập trên sông Madeira ở rừng Amazon (Brazil): dù đem lại một nguồn điện cho Brazil nhưng nó lại gây ra lũ lụt ở thượng nguồn, lan rộng tới Bolivia và làm ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt cá da trơn ở nơi này. Theo thống kê, các con đập trên sông Madeira gây ra ngập úng kéo dài tới 606km2, trong đó 78% là rừng, vượt quá 160km2 so với dự đoán ban đầu. Hơn nữa, tập tục di cư ra khỏi vùng lũ để tìm sinh kế của người dân địa phương đã dần xóa sạch các khu rừng nguyên sinh. Đó là tác động tiêu cực của các con đập đối với hệ động thực vật địa phương khiến Thiemeeven thường kêu gọi nên dỡ bỏ trong các khu bảo tồn như một bước khởi động nhằm khôi phục lại hệ thống sông ngòi. Tại Mỹ, hai đập lớn trên sông Elwha đã được dỡ bỏ nhằm tạo điều kiện cho cá hồi di cư và tái tạo môi trường sống trong Vườn quốc gia Olympic.    Đập Santo Antonio trên sông Madeira, tỉnh Porto Velho, Brazil. Những người chỉ trích hai con đập của con sông khẳng định nhà máy thủy điện ở đây được xây dựng mà không cần đến đánh giá tác động môi trường bởi nó được coi là một loại điện “xanh”, do đó xu hướng này đang tạo tiền lệ cho các kế hoạch tương tự trong tương lai. Ảnh: A.P.S. (UK)/Alamy  Khai thác khoáng sản và kim loại cho các cơ sở tái tạo  Một hệ quả không mong muốn nữa trong cuộc chạy đua phát triển năng lượng tái tạo là nhu cầu liên tục tăng cao về vật liệu xây dựng, sản xuất, phân phối và lưu trữ năng lượng. Điều này dẫn đến sự gia tăng khai thác kim loại và khoáng sản như đồng, coban, liti và thậm chí cả sắt, với nhiều mỏ đang hoạt động và được quy hoạch nằm trong các khu vực trọng điểm về bảo tồn đa dạng sinh học. Theo tiến sĩ Laura Sonter thuộc Đại học Queensland, trên thế giới, khoảng 8% các khu vực khai thác nằm trong các khu với các khu bảo tồn, 7% đang ở các khu đa dạng sinh học trọng yếu và 16% thuộc khu vực rừng nguyên sinh.  Tiến sĩ Laura Sonter cho rằng, nếu không có kế hoạch khai thác cụ thế, các mỏ này sẽ trở thành mối đe dọa đối với đa dạng sinh học vượt xa những hậu quả đã được đẩy lùi bởi giảm thiểu biến đổi khí hậu. Theo nghiên cứu mới đây của bà vừa được công bố trên tạp chí Nature Communications, nếu biến đổi khí hậu gây ra 20% ảnh hưởng trực tiếp tới hành tinh của chúng ta thì việc suy thoái môi trường sống hiện đang đe dọa hơn 80% các loài có nguy cơ tuyệt chủng.  Bà Sonter lưu ý, “Có khi, sản xuất năng lượng tái tạo càng nhiều thì càng gây ảnh hưởng lớn đến các loài động thực vật, hệ sinh thái và những khu vực đa dạng sinh học, thậm chí lớn hơn cả những tác động do biến đổi khí hậu”. Đối với bà, biến đổi khí hậu là vấn đề quan trọng nhất cần giải quyết nhưng “điều cấp bách là cần hiểu rõ rủi ro có thể xảy ra với đa dạng sinh học khi khai thác các tài nguyên thiên nhiên, từ đó phải có những tính toán chiến lược trong các chính sách bảo tồn. Tuy nhiên, hiện nay, các chính sách khí hậu quốc tế vẫn chưa xem xét nghiêm túc đến việc phải đánh đổi sau này”.  Do đó, việc tăng cường chính sách để tránh hậu quả tiêu cực đến từ hoạt động khai thác ở những khu bảo tồn đồng thời giải quyết một cách rõ ràng vấn đề quy hoạch cảnh quan sẽ đóng vai trò then chốt trong việc hạn chế tối đa những mối đe dọa có thể xảy ra trong tương lai.  Trần Thiện Phương Anh/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.nationalgeographic.co.uk/environment-and-conservation/2020/09/renewable-energy-is-a-business-what-happens-when-cleaner-power    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển năng lượng tái tạo: Thực trạng đào tạo và R&D      Công việc nghiên cứu và đào tạo về năng lượng tái tạo trong các trường đại học của Việt Nam vẫn còn ở những bước đi ban đầu với quy mô nhỏ lẻ và chưa có một chương trình tổng thể định hướng nghiên cứu ở tầm quốc gia.      Sinh viên thực tập trong phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và công nghệ, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN. Ảnh: Hảo Linh  Hiện nay Việt Nam đã có một số doanh nghiệp tư nhân sản xuất điện gió, điện mặt trời cũng như một số doanh nghiệp FDI về sản xuất turbine gió, pin mặt trời… đi vào hoạt động1. Tuy nhiên có một thực tế là thị trường năng lượng tái tạo của Việt Nam vẫn chưa được hình thành. “Chưa có thị trường đồng nghĩa với việc chưa có nhu cầu về R&D và đào tạo từ các doanh nghiệp, ngoài một vài yêu cầu hết sức đơn lẻ về nhân lực”, TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và năng lượng NEC, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) nói.  Định hướng trong đào tạo  Trong bối cảnh đó, Đại học KHCN Hà Nội (USTH) là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam đi đầu trong đào tạo từ bậc cử nhân đến tiến sỹ ngành năng lượng tái tạo (NLTT). Năm 2010, với lực lượng giảng viên gồm các giáo sư từ châu Âu và tiến sỹ Việt Nam học ở nước ngoài về, Khoa Năng lượng của trường bắt đầu tuyển sinh khóa đầu tiên với hai chuyên ngành, Green electric city (điện xanh) và năng lượng sinh học. Hiện nay, khoa tuyển từ 10 đến 15 sinh viên mỗi khóa. “Năm đầu tiên, chúng tôi chủ yếu giảng dạy các môn đại cương, tập trung vào các môn kỹ thuật điện. Hai năm cuối quan trọng nhất, chúng tôi đi sâu vào các môn chuyên ngành về quản lý năng lượng, công nghệ điện lưới thông minh, kinh tế năng lượng, nhiên liệu sinh học, năng lượng gió, năng lượng mặt trời… Với số lượng sinh viên không nhiều, chúng tôi có thể tập trung đào tạo và phát triển cho từng em theo khả năng và định hướng”, TS. Nguyễn Trịnh Hoàng Anh, một trong số các giảng viên trẻ của USTH, giới thiệu.  Ưu điểm lớn nhất của USTH là chương trình học được thiết kế theo chuẩn quốc tế dựa trên mô hình LMD (cử nhân – thạc sĩ – tiến sĩ) – một mô hình đang được áp dụng rộng rãi tại hầu hết các trường đại học trên thế giới, tương ứng với số năm học là ba năm – năm năm – tám năm. Các chương trình đều được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh và có thời gian thực tập ở nước ngoài nên khi ra trường sinh viên có thể đáp ứng được cả yêu cầu của các nhà tuyển dụng quốc tế bởi theo TS. Hoàng Anh, “không thể chỉ trông chờ vào nhu cầu nhân lực chưa rõ ràng của các doanh nghiệp trong nước để định hướng đào tạo”.  Đến nay, sau bảy năm đào tạo, USTH đã cho ra lò những khóa sinh viên đầu tiên. “Sinh viên của trường năng động và kiến thức tốt nên không khó tìm việc làm, thậm chí có nhiều em ngay trong thời gian thực tập đã được các công ty ký hợp đồng tuyển dụng, số khác đã nhận được học bổng tốt để học tiếp”, TS. Hoàng Anh cho biết.  Đại học Điện lực (Bộ Công Thương) là trường thứ hai của Việt Nam có mã ngành đào tạo về NLTT. Năm 2015, bộ môn NLTT (Khoa Công nghệ năng lượng) tuyển sinh khóa đầu với 30 sinh viên. Học kỳ hai năm 2017, các em chuẩn bị bước vào những môn học chuyên ngành đầu tiên.  Đến năm 2020, những sinh viên chuyên ngành NLTT khóa 1 của ĐH Điện lực sẽ ra trường, “có thể là thời điểm thị trường NLTT ở Việt Nam sôi động nhờ những chính sách khuyến khích đầu tư, trợ giá của nhà nước ‘đã đi vào cuộc sống’, do đó nở rộ nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực này”, TS. Nguyễn Hữu Đức (trưởng bộ môn NLTT, ĐH Điện lực), người được đào tạo về điện gió và điện mặt trời ở ĐH Kỹ thuật Tổng hợp Berlin, Đức, dự đoán. Với những kiến thức được cung cấp trong trường, các em không chỉ có thể làm việc tại các cơ sở về NLTT mà còn tham gia các cơ sở sản xuất điện năng khác cũng như các công ty kinh doanh, tư vấn điện…  Trong quá trình giảng dạy có một số vấn đề nảy sinh.“Trên thế giới, công nghệ về điện gió, điện mặt trời đã định hình và ổn định vài chục năm nay. Vì vậy, xu hướng của các doanh nghiệp sản xuất điện gió, điện mặt trời và cả doanh nghiệp sản xuất pin mặt trời, turbine gió cũng là bê nguyên công nghệ này về Việt Nam, bất kể doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài”, TS. Đặng Văn Sơn (NEC) cho Tia Sáng biết như vậy. Đó là thực tế đang diễn ra tại các nhà máy sản xuất pin mặt trời ở Bắc Giang như Vina Solar, JASolar, BoViet, nhà máy sản xuất turbine gió GE tại Hải Phòng hay các nhà máy điện gió Bạc Liêu, Bình Thuận…  Thực tế này ảnh hưởng thế nào đến định hướng đào tạo của các trường đại học ở Việt Nam? Ngoại trừ USTH có mục tiêu cung cấp nhân lực cho thị trường quốc tế, các trường đại học Việt Nam đều nhắm đến các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, nghĩa là những nơi “bê nguyên công nghệ về Việt Nam”. Vì vậy, theo TS. Nguyễn Hữu Đức, trước mắt các trường đại học Việt Nam có thể đào tạo những người có khả năng đảm trách vị trí vận hành, bảo trì, bảo dưỡng, giám sát thi công, tư vấn công nghệ… trong các doanh nghiệp điện gió, điện mặt trời. Về lâu dài, “cần đào tạo những con người có khả năng làm chủ công nghệ để từng bước nội địa hóa công nghệ hay thiết bị, ví dụ như cánh quạt gió, turbine, tụ điện điều khiển gắn dưới cột turbine”, có vậy Việt Nam mới có thể chủ động về công nghệ và đáp ứng chiến lược phát triển nền công nghiệp NLTT.  Có một thực tế khác là hiện trong một số nhà máy điện gió, điện mặt trời Việt Nam, phần nhiều các cán bộ đảm trách vị trí vận hành, điều khiển đều không tốt nghiệp chuyên ngành NLTT mà là các ngành năng lượng khác sau khi đã tham gia một khóa tập huấn ngắn hạn chừng sáu tháng. TS. Sơn lý giải, “cách tạo ra điện ở các loại hình năng lượng có khác nhưng cơ chế truyền tải nhìn chung là giống nhau nên nếu có kiến thức nền tốt về kỹ thuật điện thì ‘dân’ học về kĩ thuật điện, truyền tải điện, quản lý năng lượng điện… đều có thể đảm trách được công việc. Ngoài ra còn có các ngành về kĩ thuật khác như cơ khí chính xác, khoa học vật liệu… cũng có thể tham gia vào các mảng khác nhau của điện gió”.  Nếu như vậy thì có cần những khóa đào tạo chuyên ngành về NLTT hay chỉ cần tập trung vào công nghệ năng lượng nói chung như những năm qua là đủ đáp ứng nhu cầu thực tế? Trả lời câu hỏi của Tia Sáng, TS. Đức dẫn chứng thực tế khảo sát tại một số nhà máy điện gió, “đa số các kỹ sư được đào tạo từ các chuyên ngành khác đều chưa nắm sâu về chuyên môn nên chưa giải thích được bản chất cơ chế hoạt động và mới chỉ nêu một cách máy móc những gì nắm được trong khóa đào tạo cấp tốc”. Qua quan sát, anh nhận thấy, trong thời gian có chuyên gia Đức cùng tham gia vận hành thì công suất nhà máy đạt khoảng 60 triệu kWh/năm, lúc chuyên gia về nước thì công suất giảm tới xuống còn khoảng 50 triệu kWh/năm, nghĩa là sụt tới gần 20%. Nguyên nhân chính là các cột gió chưa vận hành được tối ưu nên cánh quạt quay chậm hoặc dừng lại hẳn. “Vì vậy, không thể nhìn vào thực tế trước mắt mà cho rằng không cần đào tạo cán bộ chuyên ngành NLTT”, TS. Đức nhận định.  Cần những chương trình nghiên cứu lớn về NLTT  Hầu hết các nhà nghiên cứu trẻ về NLTT ở các trường đại học ở Việt Nam đều được đào tạo bài bản ở châu Âu. Đây là lợi thế lớn cho NLTT Việt Nam bởi ngoài việc đào tạo nhân lực, họ còn có thể tham gia tư vấn cho các cơ quan bộ ngành về cơ chế chính sách và các doanh nghiệp về thẩm định, lựa chọn công nghệ… dựa trên xu thế phát triển của thế giới cũng như kết quả nghiên cứu mà mình thực hiện.  Tuy nhiên, cái khó lớn nhất hiện nay là các đề tài mà các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ manh mún, “mạnh ai nấy làm” và chỉ giải quyết được những vấn đề trong phạm vi rất nhỏ trong hướng nghiên cứu của mình mà kết quả là “việc thực hiện đề tài trong các chương trình quốc tế nó thành ‘một vệt’ kéo mình đi mãi” như bộc bạch của TS. Nguyễn Xuân Quang (Viện KH&CN Nhiệt điện lạnh, ĐH Bách khoa HN).  Việt Nam cũng đã có một số chương trình nghiên cứu tương tự về năng lượng nhưng lại có ít chỗ cho NLTT, ví dụ trong năm năm thực hiện chương trình KC 05/11-15 “Nghiên cứu và ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng”, chỉ có khoảng 7/34 đề tài về NLTT2. Vì vậy, để tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu có thể tham gia giải quyết được những vấn đề lớn vượt khỏi phạm vi một trung tâm nghiên cứu, một trường đại học, cần phải có những chương trình KH&CN ở tầm quốc gia về NLTT với sự tham gia của doanh nghiệp. Theo quan điểm của TS. Thuật, đã đến lúc cần phải có những chương trình như vậy mới “cứu” các nhà nghiên cứu khỏi cách làm cũ là đề xuất đề tài chỉ để viết bài báo quốc tế và đào tạo mà chưa hướng đến ứng dụng trong công nghiệp. Còn TS. Đức cho rằng, đi kèm với chương trình đó là việc xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm về NLTT hoạt động theo cơ chế mở nhằm tạo điều kiện làm việc tốt cho nhiều nhóm nghiên cứu tại các trường đại học và viện nghiên cứu. Các phòng thí nghiệm trọng điểm này sẽ là nơi thích hợp cho việc tập hợp các nhà nghiên cứu trong nước cùng làm việc cũng như trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài. Vậy khi chưa có những chương trình như vậy, các nhà nghiên cứu Việt Nam duy trì nghiên cứu theo cách nào? Về cơ bản, họ có ba cách: thực hiện đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ, tham gia một số chương trình hợp tác quốc tế liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của mình hoặc kết hợp với một vài tổ chức trong nước và quốc tế làm một số dự án về áp dụng mô hình sử dụng NLTT ở một vài địa phương, vốn mang ý nghĩa vận động chính sách là chính.  Về lâu dài, việc duy trì điều này là không ổn. Ở góc độ một người nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực NLTT, ông Tobias Cossen, Trưởng dự án GIZ/PDP thuộc tổ chức Hợp tác phát triển Đức tại Việt Nam, đưa ra nhận xét: “Không bao giờ được phép coi R&D là ‘quá nhiều’ trong lĩnh vực liên quan đến công nghệ NLTT. Mặc dù rõ ràng là nhiều cường quốc đã thực hiện nhiều R&D về NLTT nhưng vẫn luôn cần [tiếp tục điều đó] để có thể xem xét đến những điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia”. Đây cũng là lý do để GIZ/PDP tài trợ kinh phí cho ba dự án hợp tác nghiên cứu khác nhau về điện gió, điện mặt trời giữa các trường ĐH Đức, ĐH Việt Nam và EVN mà theo ông Tobias Cossen là giúp nhận diện được những vấn đề của điện gió và điện mặt trời liên quan đến các điều kiện cụ thể ở Việt Nam, nghĩa là đem lại nhiều kiến thức quan trọng cho việc giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam.  Nỗ lực của các nhà nghiên cứu NEC: Trước một thị trường chưa hình thành và các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng công nghệ đã định hình vào Việt Nam, các nhà nghiên cứu có thể làm được những gì? Để trả lời câu hỏi này, TS. Nguyễn Trần Thuật, TS. Đặng Văn Sơn (Trung tâm Nano và Năng lượng NEC) đã chủ động nêu vấn đề hợp tác nghiên cứu với công ty BoViet. Tuy nhiên câu trả lời thật sốc, “Họ ‘chỉ muốn hợp tác những gì không tự làm được như đào tạo, còn R&D thì không cần hợp tác cho các công nghệ đang và sắp đưa vào quy trình sản xuất, tự chúng tôi làm được. Nếu các anh tự bỏ tiền túi ra làm sau đó liên hệ với công ty thì cũng được’. Họ chỉ rập khuôn những gì có sẵn cho nhanh và không tốn thời gian thử nghiệm”, TS. Thuật kể về cú sốc mà anh và đồng nghiệp gặp phải khi làm việc với doanh nghiệp sản xuất pin mặt trời. Tuy cú sốc đó khiến TS. Thuật hoang mang mất một thời gian về định hướng nghiên cứu nhưng không đủ sức dập tắt mong muốn đưa một vài kết quả nghiên cứu vào ứng dụng. Vì vậy, anh quyết định chuyển sang nghiên cứu perovskite, một loại vật liệu với những ưu điểm nổi trội và được dự đoán có thể “đánh bại” pin silic trong tương lai gần. “Vật liệu perovskite hứa hẹn có rất nhiều ứng dụng dựa trên các tính chất điện, từ, hấp thụ, có thể dùng chế tạo ra nhiều thiết bị hữu ích như pin mặt trời, linh kiện bán dẫn, cảm biến từ…”, TS. Thuật cho biết. Các nhà nghiên cứu khác của Trung tâm cũng đi sâu vào nghiên cứu một số mảng liên quan đến NLTT như thiết bị khai thác năng lượng vi mô, vi thiết bị làm lạnh và chế tạo màng mỏng phản xạ hồng ngoại, những định hướng nghiên cứu rất hữu ích nếu được áp dụng vào thực tế, đặc biệt là khâu tiết kiệm năng lượng với những màng mỏng phản xạ hồng ngoại dán trên kính có khả năng làm giảm nhiệt độ trong mùa hè và ngược lại, tăng nhiệt độ trong mùa đông.  ——————————-  Chú thích:  1.http://vneconomy.vn/giao-thuong/ge-energy-hai-phong-xuat-xuong-tuabin-gio-phat-dien-dau-tien-20100510042025338.htm  http://baodautu.vn/von-fdi-do-vao-nang-luong-mat-troi-d57624.html  2. http://www.vpct.gov.vn/News.aspx? ctl=listproject&IDCT=22&GD=2       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phát triển ngành năng lượng: Công nghệ trong nước có thể làm được gì?      Công nghệ đã từng là một trong những “cứu sinh” nâng cao năng suất trong ngành năng lượng Việt Nam trong thời gian trước đây. Nhưng KH&CN sẽ thể hiện vai trò như thế nào trong bối cảnh mới, với đòi hỏi cải tiến đột phá nhằm tối ưu hóa sản xuất trong những ngành năng lượng truyền thống, tạo cú huých năng lượng tái tạo, tránh trở thành “bãi rác” công nghệ của nhiều nước phát triển…? Đó là những thảo luận chính trong Diễn đàn Công nghệ và năng lượng Việt Nam năm 2017 do Bộ KH&CN tổ chức ngày 8/9 tại Hà Nội.      Thứ trưởng Bộ KH&CN phát biểu tại Diễn đàn.   “Những năm 1990, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đang lúng túng vì các phương pháp khai thác dầu khí truyền thống không thể tiếp tục tìm ra thêm dầu ở mỏ Bạch Hổ thuộc bể trầm tích Cửu Long và không ai nghĩ ở tầng đá móng có dầu. Công nghệ khai thác dầu trong đá móng granitoit ra đời đúng thời điểm đó không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa quá trình khai thác dầu mà còn là ‘cứu sinh’ cho tập đoàn Dầu khí Việt Nam”, TS. Nguyễn Hoàng Yến, Trưởng Ban Khoa học Công nghệ Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) cho biết.  Bà Yến cho biết thêm, đến hiện nay, mỏ Bạch Hổ vẫn là mỏ khai thác được số lượng lớn, với khoảng hơn 5 triệu tấn/ năm, chiếm khoảng hơn 1/3 sản lượng dầu khí của PVN. Công nghệ khoan mà tập đoàn áp dụng không chỉ dừng lại ở khoan thẳng như trước mà khoan ngang để tăng chiều dài kim thân giếng, giúp qua nhiều thân giếng, làm tăng lượng dầu khai thác được. Ngoài ra, tập đoàn cũng áp dụng các giải pháp khoan cắt thân mới và khoan đan dầy đối với khu vực còn nhiều tiềm năng dầu. Công nghệ khai thác dầu trong đá móng này đã được hoàn thiện, có ý nghĩa thực tiễn và khoa học không chỉ ở Việt Nam mà còn đóng góp khoa học cho ngành khai thác dầu trên thế giới và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012.  Câu chuyện của PVN là một điển hình cho thấy vai trò của nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ mới đến quá trình phát triển của ngành năng lượng trong quá khứ. Tuy nhiên, hiện nay, những yêu cầu mới trong phát triển ngành năng lượng Việt Nam đã đặt ra hàng loạt “đề bài” mới cần KH&CN giải quyết.  “Khai thác than trong các hầm mỏ ngày càng xuống sâu hơn, xa hơn, tăng tai biến địa chất, tăng áp lực mỏ, tăng khí độc hại và nước mỏ, tăng suất đầu tư, tăng chi phí khai thác… đòi hỏi cần nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới như tự động hóa trong khai thác nhằm giảm thiểu chi phí và nguồn nhân lực cho ngành than”, ông Kiều Kim Trúc, Phó Ban Khoa học Công nghệ thông tin và Chiến lược phát triển, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam cho biết. Nguồn điện từ than sẽ vẫn chiếm hơn 30% trong tổng cơ cấu điện Việt Nam cho đến năm 2050 cũng sẽ đòi hỏi công nghệ lò đốt tới hạn và siêu tới hạn để đảm bảo lọc sạch khí độc hại trong quá trình đốt phát điện.  Không chỉ ngành than, mà ngay cả những ngành năng lượng mới như mặt trời, gió, sinh khối… đang bị tăng chi phí sản xuất hoặc tụt hậu do công nghệ lạc hậu hoặc thậm chí có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ”.    Ví dụ, một trong những khó khăn lớn nhất với năng lượng tái tạo ở Việt Nam là vấn đề lưu điện để đảm bảo ổn định tần số điện. “Để nối lưới giữa các nhà máy năng lượng tái tạo và hệ thống điện quốc gia, cần ổn định tần số điện, nhưng khi hết nắng, hết gió thì điện mặt trời hay điện gió sẽ có tần số điện dao động mạnh. Do đó rất cần công nghệ lưu điện bằng pin lithium nhưng hiện nay ở Việt Nam chưa thể áp dụng được. Chúng ta không đủ khả năng sản xuất, còn trong khu vực cũng chỉ có một số nhà sản xuất lớn như Samsung làm được điều này”, ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam nói.  Tuy nhiên, hầu như công nghệ trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về máy móc, thiết bị cho các ngành năng lượng mới, mà hầu hết các nhà đầu tư nhập khẩu công nghệ và thiết bị từ nước ngoài. Chẳng hạn, công nghệ sử dụng bã mía để phát điện sinh khối ở các nhà máy mía đường hiện nay chủ yếu nhập khẩu từ các nước phát triển, hoặc Ấn Độ hay Trung Quốc. “Áp dụng công nghệ Trung Quốc trong sản xuất điện sinh khối từ bã mía ở một số nhà máy khiến thất thoát nguồn điện rất nhiều. Ví dụ, nếu áp dụng công nghệ tiên tiến thì một tấn bã mía cho 300kwh nhưng công nghệ Trung Quốc chỉ cho khoảng 100kwh”, ông Phạm Trọng Thực, vụ trưởng vụ Năng lượng tái tạo, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công thương cho biết. Điều đó khiến nhiều nhà khoa học tại diễn đàn lo lắng một viễn cảnh “nếu không cẩn thận”, Việt Nam có thể trở thành “bãi rác công nghệ” của nhiều nước.  Một số công nghệ năng lượng tái tạo trong nước cũng chưa được chuẩn hóa, kiểm định và công bố minh bạch toàn bộ các chỉ số kỹ thuật công nghệ. Ví dụ, điện sinh khối từ rác “made in Vietnam” cũng chưa được thẩm định các chỉ số về bảo vệ môi trường như không sinh ra ô nhiễm thứ cấp “bởi ô nhiễm thứ cấp từ khí, than của các nhà máy điện rác đó sẽ khó giải quyết gấp nhiều lần so với ô nhiễm ban đầu”, ông Phạm Trọng Thực nói thêm.  Sử dụng điện năng trong sản xuất và sinh hoạt ở Việt Nam cũng đang bị lãng phí rất nhiều. Theo tính toán của Schneider Việt Nam, các ngành sản xuất đang lãng phí điện nhiều nhất gồm công nghiệp xi măng (50%), nông nghiệp (50%), dệt may (30%), phát điện than (25%)… Điều đó đặt ra yêu cầu cần áp dụng công nghệ để kiểm soát, tiết kiệm triệt để lượng điện lãng phí này. Những công nghệ tiên tiến như áp dụng cảm biến thông minh, IoT vào giúp tiết kiệm năng lượng hầu như vẫn chưa được áp dụng ở Việt Nam.  Những thực trạng đó đòi hỏi chính sách khoa học công nghệ, chính sách thu hút đầu tư có sự điều chỉnh nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới. Về phía Bộ KH&CN, trong thời gian vừa qua đã cho thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về công nghệ tiên tiến, tiêu biểu có thể kể tới như đề tài KC.05/16-20 về Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã trở thành những đề xuất quan trọng và được áp dụng ở EVN, PVN. Trong thời gian tới, đề tài tiếp tục nghiên cứu về những công nghệ đốt lò tiên tiến nhằm xử lý chất thải rắn, công nghệ nhiệt lạnh sản xuất đá lỏng phục vụ ngành thủy sản…  Phát biểu tại Diễn đàn, thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng cho biết, Bộ KH&CN sẽ tổ chức các hội thảo chuyên sâu về từng chủ đề công nghệ cho các ngành năng lượng ở Việt Nam để doanh nghiệp, hội nghề nghiệp về năng lượng có thông tin tham khảo. Bộ cũng sẽ tập trung xây dựng các chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong nước nhằm phát triển ngành năng lượng tái tạo.     Author                Bảo Như        
__label__tiasang Phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt      ­Tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt sẽ ngày càng đi sâu hơn vào đất liền là một thực tế không cưỡng lại thiên nhiên được. Do vậy chúng ta không nên xem nước mặn là kẻ thù mà là một tài nguyên quí, để chọn hướng sản xuất thâm canh những cây trồng vật nuôi theo các hệ thống canh tác làm giàu bền vững.      Hạn hán đầu nguồn kéo theo xâm nhập mặn ven biển  Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị thiệt hại bởi tình trạng khí hậu biến đổi khôn lường từ thập kỷ qua. Đặc biệt trong năm 2015, nông nghiệp thế giới bị ảnh hưởng lớn bởi hiện tượng El Nino xuất phát từ vùng xích đạo Đông Thái Bình Dương khi nhiệt độ mặt biển tăng cao hơn bình thường. Theo các chuyên gia khí tượng, nhiệt độ nước biển tăng cao tạo ra một hệ thống áp thấp nhiệt đới lan ra cả vùng rộng lớn. Hệ thống áp thấp kéo theo hệ lụy dây chuyền cho các hệ áp cao và áp thấp trên khắp địa cầu. Vì thế thời tiết thay đổi khó lường, cùng một thời điểm mà nơi thì mưa bão, nơi thì khô hạn. Nhiệt độ nước biển tăng cao do hoạt động của con người thải ra ngày càng nhiều khí nhà kính vào khí quyển (chủ yếu do xe cộ và nhà máy phun khói, sử dụng đất nông nghiệp và rừng bao gồm chất thải chăn nuôi, trồng lúa nước bón phân không đúng kỹ thuật và đốt đồng) làm cho bầu khí quyển nóng lên thêm. Những tác động khác của con người làm cho đất đai bị hạn hán bao gồm đắp đập thủy điện hoặc đập chứa nước ở thượng nguồn con sông, khai thác rừng đầu nguồn quá giới hạn (để lấy gỗ hoặc để trồng cây lương thực), mở rộng vùng trồng trọt, nhất là trồng lúa, tiêu tốn quá nhiều nước ngọt trong mùa nắng ráo. Các chuyên gia khí tượng tiên đoán là đến tháng 8/2017 thì chu kỳ ngược của El Nino là La Nina sẽ xuất hiện mang đến ngập lụt cho các vùng hạn hán hiện nay.  Trong số các quốc gia dọc sông Cửu Long (nay chỉ còn Thất Long, vì sông Ba Lai ở Bến Tre bị bồi lắng cạn dần nên nhà nước cho đắp đập kín luôn để ngăn mặn, và sông Ba Thắc trên Cù Lao Dung, Sóc Trăng đã bị phù sa bồi lấp tự nhiên không còn dấu vết), Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã và đang lấy nước sông Tiền và sông Hậu nhiều nhất để mở rộng diện tích lúa có tưới trong mùa khô (Đông-Xuân) từ hơn 35 năm nay, giúp cho sản lượng lúa tăng gấp năm lần so với năm 1974, đạt 25,5 triệu tấn lúa năm 2014. Nhờ đó, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng tự túc lương thực, xuất khẩu hằng năm 6-7 triệu tấn gạo. Theo gương Việt Nam, các nước khác dọc sông Mekong cũng mở thêm diện tích lúa cao sản ngắn ngày vụ Đông Xuân, từ Vân Nam (Trung Quốc), xuống đến Lào và Campuchia. Và mới hai năm gần đây, Thái Lan cũng đắp đập lấy nước sông Mekong về tưới cho vùng Đông Bắc của họ. Thêm vào đó, hệ thống trên 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ Vân Nam sang Lào chắc chắn ảnh hưởng xấu đến lượng nước cuối nguồn. Như thế khối lượng dòng chảy sông Mekong về đến ĐBSCL sẽ tiếp tục giảm, rõ nét nhất là trong mùa khô (Đông Xuân).  Theo các chuyên gia thủy văn nắm rõ lịch sử ngập lũ của vùng hạ lưu sông Mekong, sự cung cấp nước ngọt và sự ngập lũ của ĐBSCL bị ảnh hưởng đáng kể do lượng mưa trong mùa gió mùa Tây Nam mà hai hồ chứa lớn nhất là Tonle Sap (Biển Hồ) và Đồng Tháp Mười (ĐTM) xưa kia đã chứa nước cho cả vùng. Ngày nay rừng đầu nguồn quanh Biển Hồ đã bị khai thác gần hết, đất bị xói mòn lấp cao đáy hồ nên lượng nước chứa lại không được bao nhiêu để chuyển qua cho ĐB Sông Mekong, và ĐTM cũng không còn là vùng trũng như trước nữa, thay thế bởi trên 700.000 hecta ruộng lúa 2-3 vụ/năm, nên đáp ứng nhu cầu nước tưới lúa bây giờ phải bơm từ sông Mekong chứ không thể từ hồ chứa ĐTM được. Trong toàn cảnh hệ thống sông Mekong từ Tây Tạng đến Campuchia là như thế, chúng ta tuy có Ủy hội Sông Mekong quốc tế nhưng vẫn không tin vào sự nhượng bộ của quốc gia nào trên thượng nguồn, nên phải lo lấy thân ta trong thực tế nước sông Mekong về đến địa phận khu Tây Nam Bộ bây giờ ngày càng giảm như đã nói ở trên.  Nghịch lý trong sản xuất lúa gạo Việt Nam  Những năm nước ta thiếu ăn, hạt lúa thật sự quí như hạt ngọc, xứng đáng cho tất cả chi phí và công lao cả nước đã đầu tư vào. Nông dân làm ra bao nhiêu lúa cũng đều có nơi giành giựt tiêu thụ ngay. Nhưng bây giờ lúa chín đầy đồng, cả nước dư thừa mỗi năm trên dưới 20 triệu tấn lúa, cố gắng bán rẻ lắm ta mới chỉ xuất được 2/3 số lượng đó. Nông dân thu hoạch lúa xong là phải bán ngay với giá rẻ để thanh toán nợ nần, mùa nào cũng thế, không có dư bao nhiêu, người nông dân trồng lúa suốt 40 năm nay vẫn còn nghèo. Giá lúa gạo Việt Nam quá thấp vì người mua trong nước cũng như ngoài nước biết khối lượng cung quá lớn mà khối lượng cầu không tăng bao nhiêu. Thêm vào đó, chất lượng gạo của chúng ta chưa được tin tưởng vì không ngon và không truy nguyên được nguồn gốc, không biết có thật là an toàn vệ sinh thực phẩm hay không. Mặt khác, chính sách nhà nước định giá lúa gạo thấp chủ yếu để cho người tiêu dùng Việt Nam có thể mua được dễ dàng. Hạch toán giá thành của lúa gạo, chúng ta không đưa phí nước ngọt vào giá thành, mà coi nước ngọt là của trời cho. Vô tình những người nước ngoài ăn gạo của Việt Nam cũng được nhà nước Việt Nam bao cấp luôn tiền nước ngọt. Thông thường nếu trồng mỗi hecta đạt 5 tấn lúa thì phải tốn 5.000-6.750 m3 nước. So với cây ăn trái nhiệt đới, mỗi hecta vườn chỉ tốn khoảng 150 m3 nước ngọt.  Quyết định 899/QĐ-TTg của Chính phủ cho phép tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cụ thể để sử dụng tài nguyên nước hợp lý hơn, cho chuyển đất lúa sang nuôi trồng cây con có giá trị cao hơn lúa mà sử dụng tiết kiệm nước ngọt, tuy đã ban hành từ tháng 6/2013 nhưng đến nay vẫn chưa có chuyển biến gì đáng biểu dương. Chúng ta thấy rõ gần như không có chuyển biến gì tại các vùng đất ven biển không thích hợp trồng lúa trong mùa nắng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) và lãnh đạo các địa phương không có nước ngọt trong mùa nắng vẫn chỉ đạo cho dân tiếp tục trồng lúa, bất chấp những cảnh báo khoa học. Và khi hạn hán trở nên ngày càng gay gắt, nguồn nước ngọt không về đủ, nhường chỗ cho nước mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền giết hại “lúa cải trời” thì trong nhiều ngày qua các phương tiện truyền thông của Việt Nam tường thuật quá nhiều về hiện trạng nước biển tiến sâu vào đất liền làm ảnh hưởng hàng trăm ngàn hecta lúa vùng ven biển của vùng Tây Nam Bộ, trong đó theo Bộ NN&PTNT có khoảng 58.300 hecta lúa sẽ bị thiệt hại. Chính quyền bốn tỉnh ven biển đang huy động sức người và sức của để cứu lúa. Và ngành nông nghiệp đang dự kiến một số dự án tiếp tục đắp đập ngăn mặn, giữ ngọt cho vùng mặn thiên nhiên này để nông dân tiếp tục trồng lúa an toàn. Họ coi thường Quyết định 899/QĐ-TTg. Vào Internet, trên trang Google, ta gõ “rice damaged by salinity intrusion 2016” thấy tin từ Việt Nam là phần lớn, một ít tin từ Bangladesh. Nếu gõ tiếng Việt “lúa thiệt hại do xâm nhập mặn 2016” thì hầu như chỉ có tin từ Việt Nam. Thái Lan cũng đang bị hạn hán (không bị mặn) gay gắt nhất trong 50 năm làm thiệt hại mùa màng và nước sinh hoạt trong 12 tỉnh. Nhưng phần lớn tin tức xâm nhập mặn chỉ nói đến khía cạnh cây lúa, cho nên đã gây nên dư luận xem nước mặn quả là kẻ thù mà mọi người cần phải chống, bằng mọi cách.  Mưa bão, ngập lụt, hạn hán đều là thiên tai chứ có ai muốn. Có người hỏi tại sao lúc thời điểm này thiên tai lại ghét nông dân trồng lúa của bốn tỉnh ven biển miền Tây dữ dội thế? Có rất nhiều lý do mà báo đài và các cấp thẩm quyền đã nêu, nhưng lý do thực tế nhất mà có vài chuyên gia đã nói nhưng ít được phổ biến là thiên nhiên đã và đang phạt những ai cố trồng lúa trong điều kiện không thích hợp – tức là trong mùa không nước ngọt tại vùng mặn. Một điều đáng chú ý là trong sự kiện này, tiếng nói của những người thấp cổ bé miệng lại ít được phổ biến, đó là những người nuôi tôm sau khi thu hoạch lúa của tỉnh Bạc Liêu. Hằng năm những nông dân thực hiện hệ thống canh tác lúa – tôm muốn có nước mặn để nuôi tôm nhưng phải đấu tranh với nông dân trồng lúa không cho nước mặn vào vùng này, rốt cuộc rồi cả lúa và tôm đều bị thiệt hại.  Hướng phát triển bền vững với tài nguyên nước có sẵn tại hạ lưu sông Mêkong  Đến thời điểm này tất cả chúng ta đang sẵn sàng bắt tay vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Đại hội Đảng Đổi mới, thì sự đổi mới trước tiên trong phát triển kinh tế Việt Nam là sự đổi mới tư duy, cách nghĩ và cách làm thế nào vừa sức với ngân sách quốc gia, sử dụng tài nguyên hợp lý sao cho đa số nông dân có thể bắt đầu làm giàu. Nông dân không thể làm giàu bằng lúa gạo, như kinh nghiệm 40 năm qua cho thấy rất rõ. Trồng lúa phải tiêu tốn khối lượng ngân sách khổng lồ, tiêu tốn khối lượng nước ngọt quí hiếm rất lớn đáng lẽ phải dành cho nước sinh hoạt của dân ven biển. Nhưng giá lúa thì luôn thấp mà đầu ra rất bấp bênh khiến nhà nước lại phải bỏ tiền ra mua tạm trữ, dân không lời được bao nhiêu. Vì vậy, chính sách “an ninh lương thực” đã làm tốt nhiệm vụ lịch sử từ lâu rồi, bây giờ phải sang chính sách “tái cơ cấu nông nghiệp” cho vùng ĐBSCL theo hướng:  a. Vùng nước ngọt hoàn toàn:  1) Tập trung đầu tư sản xuất lúa cao sản và đặc sản phù hợp. Triệt để áp dụng phương pháp tưới lúa tiết kiệm nước theo qui trình GAP. Trong qui hoạch cho cây lúa cao sản của đồng bằng sông Mekong, từ khi chúng ta sử dụng lúa ngắn ngày, chúng tôi đã bố trí trồng hai vụ đông xuân và hè thu, để mùa lũ tự nhiên cho khai thác thủy sản thiên nhiên. Không nên sản xuất lúa vụ ba.  2) Một phần đất có thể trồng rau, quả cao cấp trong hệ thống bao đê ngăn lũ và giữ nước ngọt trong mùa mưa lũ. Áp dụng qui trình GAP.  b. Vùng mặn ven biển: đây là tài nguyên quí chỉ có ở nước ta, các nước thượng nguồn không thể có được.  1) Vùng đất sau bờ biển (đất giồng cát, đất cao): trồng cây ăn trái, hoa màu phụ trên đất cao hoặc đất liếp, xây dựng đìa (ao sâu) giữa các giồng cát để chứa nước ngọt trong mùa mưa để dành tưới cây ăn trái, hoa màu phụ trong mùa nắng.  2) Vùng còn rừng ngập mặn: áp dụng qui trình tôm-rừng hoặc thủy sản rừng.  3) Vùng đã bị xóa rừng để nuôi tôm: xây dựng hệ thống thủy lợi điều khiển hệ thống nước mặn pha lợ nuôi tôm đúng khoa học. Đưa nhà máy chế biến thủy sản vào làm trung tâm và sắp xếp dân nuôi tôm vào cơ sở hạ tầng mới này.  4) Vùng ven biển thường trồng lúa trong mùa mưa, nhiễm mặn trong mùa khô, chúng ta bố trí một vụ lúa cao sản trong mùa mưa, và khi dứt mưa thu hoạch lúa xong, lúc ruộng lúa đang còn sình lầy thì nông dân cho nước mặn lên ruộng để nuôi tôm, các kèo, cua, v.v. đạt lợi tức trên ba lần lúa với nước mặn.  Trong thời gian qua, nhiều nông dân gần nguồn nước mặn đã áp dụng kỹ thuật trồng lúa – nuôi tôm, trở nên khá giả. Nhiều nông dân khác trong vùng ngọt hóa đã lén phá đập ngăn mặn để lấy nước mặn nuôi tôm, đạt kết quả trong vài năm đầu rất khả quan, xây nhà mới, tậu nhiều vật dụng sang trọng. Tất cả họ đều hành động một cách tự phát, bất hợp pháp, ngược với chủ trương sản xuất lương thực của nhà nước. Những vuông tôm của họ được xây dựng nối tiếp nhau một cách vô tổ chức, nước thải từ vuông tôm này được vuông tôm kia hứng, làm cho bệnh tôm lây lan ngày càng trầm trọng, khiến nhiều người nuôi tôm trở nên sạt nghiệp sau vài năm làm giàu trước đó. Nhìn sang các nước Thái Lan, Philippines, Indonesia, công nghệ nuôi tôm được nhà nước cho đầu tư một cách khoa học, nông dân sản xuất rất yên tâm và hiệu quả cao.  * * *  Trong thời đại tái cơ cấu nông nghiệp thích ứng với khí hậu biến đổi khôn lường, nước ngọt là tài nguyên thiên nhiên quí hiếm không tái tạo được thì chúng ta không nên xem nước mặn là kẻ thù mà là một tài nguyên quí, từ đó chọn hướng sản xuất thâm canh những cây trồng vật nuôi theo các hệ thống canh tác làm giàu bền vững tại vùng nhiễm mặn, như hệ thống lúa-tôm, lúa-cá, v.v., vườn cây ăn trái…  để nhanh chóng tăng GDP bình quân đầu người Việt Nam như Nghị quyết Đại hội XII đã đề ra.      Author                Võ Tòng Xuân        
__label__tiasang Phát triển phần mềm có thể cắt giảm thời gian và chi phí giải trình tự gene      Một nhóm nghiên cứu của trường đại học Johns Hopkins đã phát triển một phần mềm mới hứa hẹn có thể làm cách mạng hóa cách giải trình tự DNA, khiến cho quá trình này diễn ra nhanh hơn và ít chi phí hơn để lập bản đồ mọi hệ gene từ nấm men đến gene ung  thư.      Phần mềm này được miêu tả một cách chi tiết trong bài báo “Targeted nanopore sequencing by real-time mapping of raw electrical signal with UNCALLED” xuất bản trên Nature Biotechnology, có thể được sử dụng trong các thiết bị giải trình tự gene cơ động để góp phần làm tăng tốc năng lực thực hiện các xét nghiệm di truyền và chẩn đoán bệnh lý bên ngoài phòng thí nghiệm. Các mục tiêu của công nghệ mới là thu thập và giải trình tự các gene đặc biệt mà không cần phải chuẩn bị mẫy và không cần phải sắp xếp vật liệu di truyền xung quanh như các phương pháp tiêu chuẩn vẫn thường đòi hỏi.  “Tôi nghĩ nó sẽ làm thay đổi mãi mãi cách giải trình tự DNA được thực hiện”, theo nhận xét của Michael C. Schatz, một phó giáo sư Bloomberg Distinguished về khoa học máy tính và sinh học, đồng thời là tác giả chinh của công trình.  Quá trình xử lý mới làm giảm thời gian cần có để định hình các đột biến di truyền, từ 15 ngày đến khoảng ba ngày. Điều này cho phép các nhà khoa học hiểu và chẩn đoán các điều kiện một cách nhanh chóng đồng thời có thể tiết kiệm thời gian và tiền bạc bằng việc loại đi khâu chuẩn bị và phân tích bổ sung  Điều đó cho phép các nhà khoa học hiểu và chẩn đoán điều kiện gần như ngay lập tức, đồng thời tiết kiệm thời gian và tiền bạc bằng cách loại bỏ việc chuẩn bị và phân tích bổ sung.  “Trong hệ gene học ung thư, có hàng tá gene được biết là làm tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên với một giải trình tự gene tiêu chuẩn, anh có thể phải giải trình tự toàn bộ hệ gene để đọc ra một vài gene như vậy”, Schatz nói và cho biết thêm việc giải trình tự thích nghi cho phép các nhà nghiên cứu “tìm và chọn những phân tử mà mình muốn đọc giữa những thứ cần bỏ qua”.  Giải thích về cách phát minh làm tăng tốc giải trình tự gene này, Schatz đã liên hệ với việc phát hiện một bộ phim trên Netflix. Phương pháp tiêu chuẩn cũ về giải trình tự gene có thể đòi hỏi một số người phải xem từng giây của từng bộ phim để tìm cái họ cần còn giải trình tự gene mới có thể giúp loại đi nhiều giờ xemnội dung không liên quan, nhận ra một cách nhanh chóng những bộ phim không mong muốn để chuyến sang mục tiêu tiếp theo.  Thuật toán của phần mềm mã nguồn mở này do Sam Kovaka, một nghiên cứu sinh Johns Hopkins tạo ra. Nó được gọi là UNCALLED (Utility for Nanopore Current Alignment to Large Expanses of DNA). Phải mất tới hai năm cho việc viết mã, phát triển và kiểm tra phần mềm, một năm khac để tinh chỉnh lại kết quả để xuất bản, Kovaka cho biết.  “UNCALLED cho phép chúng tôi dễ dàng lựa chọn giải trình tự gene đích”, anh cho biết thêm. “Sự thật là các nhà nghiên cứu có thể định hướng bất cứ vùng nào thuộc bộ gene mà không phải mất thêm chi phí như phương pháp thông thường, và cũng có thể dễ dàng thay đổi các mục tiêu bằng việc chạy một lệnh khác”.    Quá trình nhận diện các phân tử DNA khi chúng lướt qua các lỗ chứa điện nhỏ bé, hay còn gọi là lỗ nano (nanopore) bên trong các thiết bị được gọi là giải trình tự lỗ nano, vốn là các phiên bản có kích thước như điện thoại thông minh của các cỗ máy cồng kềnh trong phòng thí nghiệm. Phần mềm này đọc dữ liệu và kiểm tra nó lần nữa các trình tự tham chiếu của hệ gene cụ thể trong chớp mắt (một phần nhỏ của một giây). Các phân tử mà các nhà nghiên cứu muốn kiểm tra được phép vượt qua lỗ nano này để dược đánh dấu nhưng nếu dò được một phân tử không cần thiết thì phần mềm đảo điện áp trong lỗ nano, qua đó giúp loại bỏ phân tử đó đi để khỏi “chiếm chỗ” của phân tử tiếp theo.  “Nó như là người canh cửa một hộp đêm, chỉ cho phép những vị khách được mời trong danh sách có sẵn vào cửa trong khi loại bỏ phần còn lại với một súng bắn điện”, Schatz giải thích.  Nhóm nghiên cứu này đã thực hiện hai thử nghiệm với UNCALLED.  Thử nghiệm thứ nhất chứng tỏ phần mềm có thể thúc đẩy việc giải trình tự gene của 148 gene đã biết để nhận biết một cách nhanh chóng và chính xác các gene đã biết tất cả các biến dị của chúng chỉ một lần chạy qua thiết bị giải trình tự cầm tay. Phần mềm đã có thể lập danh mục theo thời gian thực hàng tá biến dị với cấu trúc phức tạp trong các gene ung thư mà có thể bị bỏ qua trong phương pháp thông thường.  Sau đó họ chứng tỏ cách phần mềm này có thể giải trình tự chọn lọc các loài đã biết được thu thập từ một môi trường như các vi sinh vật sống trên da hoặc trong một bể nước. Bằng việc loại các phân tử từ những vi sinh vật đã biết như E. Coli chẳng hạn, phần mềm này đã có thể giải trình tự một cách hiệu quả các phân tử được giữ lại.  UNCALLED có thể hoạt động trên một phần cứng tiêu chuẩn sử dụng giải trình tự lỗ nano mà không cần đến các hóa chất đặc biệt. Việc lựa chọn các gene hoặc hệ gene để giải trình tự được kiểm soát toàn bộ trong phần mềm và có thể thay đổi bất cứ lúc nào.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-team-software-gene-sequencing.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển phương pháp mới dò chuyển động của vật chất siêu chảy      Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Rochester (RIT) tham gia vào một nghiên cứu mới có thể giúp khai phá tiềm năng của các chất siêu chảy – về cơ bản là các loại vật chất đặc biệt phi ma sát có khả năng chuyển động không ngừng một khi đã bắt đầu.      Mishkat Bhattacharya, một phó giáo sư tại trường Vật lý và thiên văn học RIT  Một nhóm nghiên cứu do Mishkat Bhattacharya, một phó giáo sư tại trường Vật lý và thiên văn học RIT cũng như Sáng kiến Photon cho tương lai, đã đề xuất một phương pháp mới để dò chuyển động của vật chất siêu lỏng trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters “Cavity Optomechanical Sensing and Manipulation of an Atomic Persistent Current” 1.  Các nhà khoa học trước đó đã tạo được ra các vật chất siêu chảy trong chất lỏng, chất rắn và khí, và hi vọng việc khai thác được các đặc tính quan trọng của siêu lỏng có thể giúp dẫn đến những khám phá như siêu dẫn có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng. Bhattacharya cho biết, những khám phá có thể tạo ra cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp điện tử, nơi có nhiều năng lượng bị mất mát do sự nóng lên của điện trở trog các dây dẫn, gây tổn thất rất nhiều tiền của.  Tuy nhiên, một trong những vấn đề chính với nghiên cứu siêu chảy là các phương pháp đo đạc hiện hành về chuyển động quay của siêu lỏng đều khiến cho chuyển động của nó dừng lại. Bhattacharya và đồng nghiệp của anh ở RIT hợp lực với các nhà khoa học ở Nhật Bản, Đài Loan và Ấn Độ đã đề xuất một phương pháp dò mới có thể giảm thiểu khả năng tác động đến chuyển động đó cũng như có thể đo tại chỗ và theo thời gian thực  Bhattacharya cho biết, các kỹ thuật này thường được dùng để dò sóng hấp dẫn từng được Einstein tiên đoán. Chính chúng đã truyền cảm hứng để anh và cộng sự tạo ra phương pháp mới. Ý tưởng cơ bản của nó là truyền tia laser thông qua vật chất siêu lỏng đang quay. Tia sáng này xuất hiện có thể chọn ra một biến điệu tại tần số của chuyển động quay siêu chảy. Việc dò được tần số của chùm tia bằng các công nghệ hiện hành có thể đem lại hiểu biết mới về chuyển động của siêu chảy. Tuy nhiên thách thức là đảm bảo cho chùm tia laser không gây nhiễu loạn dòng chảy này, khiến nhóm nghiên cứu phải nghĩ đến việc chọn một bước sóng ánh sáng khác biệt có thể hấp thụ các nguyên tử.  “Phương pháp do chúng tôi đề xuất là phương pháp đầu tiên để đảm bảo giảm thiểu tác động và có độ nhạy gấp hàng nghìn lần so với bất cứ phương pháp hiện có nào”, Bhattacharya nói. “Đây là một phát triển hết sức thú vị, khi kết hợp quang học với dòng siêu chảy ở cấp độ nguyên tử, nó có khả năng đem lại những khả năng mới về độ nhạy và xử lý thông tin”.  Bhattacharya và đồng nghiệp cũng cho thấy chùm tia có thể điều khiển các siêu dòng điện hiện hành. Về cụ thể, họ chứng tỏ ánh sáng có thể tạo ra rối lượng tử bên trong hai dòng điện chảy trong một số loại khí. Rối lượng tử có thể hữu dụng đối với lưu trữ và xử lý thông tin lượng tử.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2021-09-method-superfluid-motion.html  https://www.rit.edu/news/researchers-develop-new-method-detecting-superfluid-motion#:~:text=The%20basic%20idea%20is%20to,knowledge%20of%20the%20superfluid%20motion.  —————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.127.113601    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển thành công các sợi cơ nhân tạo      Nhóm nghiên cứu của TS. Đỗ Thanh Nhỏ (Đại học New South Wales, Úc) đã phát triển được một loại cơ nhân tạo có thể đan dệt để tạo ra những bộ trang phục “thông minh” với chức năng đặc biệt.    Những ai đã từng đọc bộ truyện tranh Doraemon nổi tiếng hẳn có thể vẫn còn nhớ đến đôi găng tay võ sĩ – một bảo bối thần kỳ giúp tăng công lực cho người đeo chúng. Song, món đồ này không còn chỉ là một ý tưởng mơ mộng của tác giả bộ truyện nữa mà hoàn toàn có thể trở thành một sản phẩm thực tế, khi các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát triển thành công các sợi cơ nhân tạo – một tiền đề để sản xuất ra các thiết bị thông minh mặc được trên người, giúp nâng cao sức mạnh hay phục hồi chức năng cho người bệnh.        Kết quả nghiên cứu “Smart textiles using fluid-driven artificial muscle fibers” mới được đăng tải trên tạp chí Scientific Reports của nhóm TS. Đỗ Thanh Nhỏ (Đại học New South Wales, Úc) là một trong những nỗ lực như vậy.    Trong vài năm trở lại đây, lĩnh vực nghiên cứu robot mềm (soft robots) đã trở thành một chủ đề hấp dẫn nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới. Khác với robot “cứng” truyền thống, robot mềm sẽ sử dụng những sợi cơ nhân tạo làm từ vật liệu mềm và dẻo – được lập trình để co giãn, chuyển động mềm mại dưới tác động của tác nhân kích thích – nhằm trở thành các thiết bị mang được trên người và ứng dụng trong y học.    Dù việc phát triển các vật liệu như vậy đã có nhiều tiến bộ, song các nghiên cứu trước đây đều có những điểm hạn chế nhất định. Chẳng hạn, “những sợi cơ nhân tạo được điều khiển bằng nhiệt thì có tốc độ phản ứng rất chậm; sợi dùng hóa chất lại tạo ra lực rất yếu. Những sợi dùng cơ chế hoạt động khác như nước lại có kích thước rất to và khó có thể đan, dệt thành vải để thực sự ứng dụng trong cuộc sống”, TS. Nhỏ cho biết.    Thực tế này đã khiến cho nhóm của anh nhận ra, muốn khắc phục được các nhược điểm của những sợi cơ nhân tạo trước đây thì phải làm ra được sợi “giống cơ của con người nhất”. Trong hình dung của nhóm nghiên cứu, sợi cơ ấy sẽ có kích thước thật nhỏ và được dẫn động bằng nước để có tốc độ phản ứng nhanh và điều khiển dễ dàng.    Từ ý tưởng đó, sợi cơ nhân tạo mới do nhóm TS. Nhỏ phát triển có cấu trúc gồm hai lớp: lớp bên trong là một ống silicone nhỏ cỡ micromet để chứa chất lỏng, và lớp bên ngoài là một lò xo y tế xoắn dài để giữ cho ống bên trong không nở rộng theo chiều ngang. Với cách thiết kế như vậy, các sợi cơ của nhóm sẽ có thể được lập trình để co giãn tùy theo mục đích khi điều chỉnh áp suất thủy lực vào sợi cơ.    Trái với tưởng tượng của nhiều người, “phương pháp gia công này thực ra rất đơn giản”, TS. Nhỏ cho hay. “Tuy nhiên, cách kết hợp hai vật liệu trên là một cách rất mới, đó có thể là lý do mà nhiều nghiên cứu trước đây chưa nghĩ đến”. Nhờ tiếp cận điểm khó nhất trong nghiên cứu theo một hướng đi lạ, nhóm của TS. Nhỏ đã tạo ra được sợi cơ nhân tạo với những ưu điểm vượt trội so với trước đây. “Phương pháp này có thể dùng để sản xuất ra hàng loạt sợi cơ được điều khiển bằng thủy lực có chiều dài ít nhất vài mét và đường kính chỉ 0.5 milimet – có thể được xem là kích thước nhỏ nhất trên thế giới hiện nay”, anh cho biết.    Không chỉ vậy, một điểm khác biệt nữa là sợi cơ này có tốc độ phản ứng (thay đổi hình dạng) rất nhanh và có thể được lập trình để điều khiển lực tạo ra ngay từ khi bắt đầu chế tạo thông qua việc thay đổi tỷ lệ co giãn của ống silicone bên trong. “Công nghệ này cũng giúp cho miếng vải khi được đan, dệt bằng sợi cơ có thể co giãn đa hướng và cũng có thể chuyển từ hình dạng 2D thành bất cứ hình dạng 3D nào mong muốn”, anh nói thêm.    Nhóm của TS. Nhỏ đã sử dụng sợi cơ nhận tạo để thử nghiệm sản xuất ra các mẫu vải thông minh theo hai phương pháp: cách thứ nhất là sử dụng các kỹ thuật truyền thống để bện, đan, dệt sợi cơ thành vải thông minh; và cách thứ hai là gắn trực tiếp sợi cơ vào các loại vải thông thường để tạo ra chuyển động mong muốn.    Với những ưu điểm nổi bật, công nghệ của nhóm TS. Nhỏ đã có đơn đăng ký sáng chế theo PCT (Hiệp ước Hợp tác về sáng chế) ở Úc, Mỹ, châu Âu, Nhật, và Trung Quốc. “Có thể nói công nghệ về cơ nhân tạo là một công nghệ nền, giống như động cơ của máy móc vậy, từ đó mình có thể mở rộng ứng dụng cho rất nhiều lĩnh vực”, TS. Nhỏ nhận định.    Một trong những ứng dụng ấy là những bộ quần áo thông minh có thể giúp cho người tàn tật phục hồi chức năng, “chẳng hạn như khi mang bộ đồ đó vào thì có thể đứng lên đi được hoặc có thể giúp tăng tuần hoàn máu cho người bệnh”, TS. Nhỏ cho biết. “Sản phẩm cũng có thể nâng cao sức mạnh cho người mặc, giúp cho một người bình thường chỉ có thể mang vác được khoảng 20kg nay có thể mang được vật nặng 50kg”. Trong một thí nghiệm gần đây, nhóm của TS. Nhỏ đã tạo ra một robot mềm làm từ sợi cơ nhân tạo có thể nâng các vật thể có trọng lương gấp 346 lần so với trọng lượng của nó.    Không chỉ vậy, công nghệ này còn có thể dùng để tạo ra các thiết bị mô phỏng cảm giác trong môi trường ảo, “giúp cho một người ở xa có thể cảm nhận được như mình đang chạm vào người thân ở phía bên kia màn hình hoặc bác sĩ phẫu thuật có thể điều khiển từ xa robot mổ mà cảm giác được như đang chạm trưc tiếp vào bệnh nhân”, TS. Nhỏ kỳ vọng. Và thực tế là hai năm trước, nhóm nghiên cứu của anh đã tạo ra được chiếc găng tay thông minh có chức năng như vậy nhờ vào việc sử dụng sợi cơ nhân tạo. Với việc thành công tạo ra một găng tay mô phỏng cảm giác, năm 2022, TS. Nhỏ đã nhận được giải thưởng trao tặng bởi Google (Mỹ) và là người Việt Nam duy nhất tại Úc nhận được giả thưởng này cho đến thời điểm hiện tại.    Và đáng chú ý hơn cả, sợi cơ này còn là một tiền đề để tạo ra những thiết bị y tế có thể cứu sống hàng ngàn người, chẳng hạn như một trái tim nhân tạo. Nhóm của TS. Nhỏ đã nhận được tài trợ của Quỹ tim mạch quốc gia Úc để nghiên cứu và phát triển một thiết bị vải y tế thông minh giúp cho trái tim của những người bị suy tim có thể bơm máu mà không bị đào thải trong quãng thời gian chờ đợi được ghép tạng.    Nhóm nghiên cứu của anh đang phối hợp chặt chẽ với các bệnh viện ở Sydney, Úc để có các tư vấn về mặt lâm sàng. Bên cạnh đó, nhóm vẫn tiếp tục các nghiên cứu để nâng cao hiệu quả của sợi cơ nhân tạo. “Hiện nay, sợi cơ của chúng tôi đang có kích thước khoảng 0.5 milimet. Dù kích thước này đã đủ để làm vải thông minh rồi nhưng mục tiêu mà chúng tôi mong muốn là có thể giảm được kích thước xuống khoảng nhỏ hơn 0.1 milimet để tương đương với kích thước sợi cơ thực sự của con người”.    Một thách thức nữa mà nhóm nghiên cứu cũng đang nỗ lực giải quyết, đó là việc chế tạo và tích hợp được một máy bơm mini làm hoàn toàn từ vật liệu mềm và hỗ trợ giao tiếp không dây để có thể điều khiển sản phẩm vải thông minh từ xa, chẳng hạn qua điện thoại thông minh. Dù ước chừng còn khoảng vài năm nữa mới có thể thương mại hóa, song anh tin rằng, “các ứng dụng của nó đã đang trên đường rồi và sẽ đến rất nhanh thôi”.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Phát triển thiết bị chuyển ty thể thông lượng cao      Các nhà khoa học từ Trung tâm Ung thư Toàn diện UCLA Jonsson đã phát triển một phương pháp đơn giản và có hiệu suất cao để chuyển các ty thể cô lập và DNA ty thể liên quan của chúng vào tế bào động vật có vú. Phương pháp này giúp các nhà khoa học có thể điều chỉnh một thành phần di truyền quan trọng trong tế bào để nghiên cứu và từ đó có khả năng điều trị các bệnh suy nhược như ung thư, tiểu đường và rối loạn chuyển hóa.      Được công bố trên tạp chí Cell Reports, nghiên cứu của các nhà khoa học từ UCLA đã mô tả cách thiết bị mới có tên MitoPunch chuyển ty thể vào 100.000 hoặc nhiều tế bào nhận cùng một lúc. Đây là một cải tiến đáng kể so với các công nghệ chuyển ty thể hiện có. Thiết bị này cũng là một trong những nỗ lực của các nhà khoa học trong việc tìm hiểu các đột biến ở DNA ty thể, thông qua việc phát triển các phương pháp cải thiện chức năng của tế bào người hoặc mô hình hóa chính xác hơn các bệnh ty thể ở người.  “Việc tạo ra được các tế bào với trình tự DNA ty thể theo mong muốn chính là chìa khóa để nghiên cứu cách các gen trong ty thể và nhân tế bào tương tác với nhau khi điều chỉnh các chức năng của tế bào – một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hiểu và điều trị bệnh”, Alexander Sercel, nghiên cứu sinh tại Trường Y David Geffen tại UCLA và là đồng tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.  Ty thể, thường được gọi là ‘nguồn năng lượng’ của tế bào, được di truyền từ người mẹ. Nếu DNA ty thể toàn vẹn, chúng mới có thể thực hiện các chức năng thiết yếu này. Do vậy, các đột biến trong DNA ty thể có thể làm suy giảm đáng kể quá trình sản xuất năng lượng và có thể gây ra nhiều bệnh suy nhược.  Các công nghệ để điều khiển DNA ty thể sẽ giúp phát triển các mô hình bệnh tật và liệu pháp điều trị cho các rối loạn do những đột biến này gây ra. Tuy nhiên, công nghệ này lại đang tụt hậu so với nhiều tiến bộ khác trong việc điều khiển các DNA trong nhân tế bào. Thêm vào đó, những phương pháp tiếp cận DNA ty thể hiện tại còn hạn chế, phức tạp, và phần lớn chỉ có thể phân phối các ty thể với trình tự DNA ty thể mong muốn vào một số ít tế bào.  Trong khi đó, thiết bị MitoPunch mới lại vận hành đơn giản và cho phép chuyển các ty thể được phân lập từ các loại tế bào cho khác nhau sang vô số loại tế bào nhận, ngay cả đối với các loài không phải người, bao gồm cả các tế bào được phân lập từ chuột.  “Điều khiến MitoPunch khác biệt với các công nghệ khác là khả năng thiết kế các tế bào không bất tử và không ác tính, chẳng hạn như tế bào da người, để tạo ra các tổ hợp gen DNA nhân ty thể độc nhất”, đồng tác giả Alexander Patananan, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ của UCLA, cho biết. “Với thiết bị MitoPunch này, chúng tôi có thể nghiên cứu tác động của các chuỗi DNA ty thể cụ thể lên các chức năng của tế bào bởi công nghệ mới này cho phép tái lập trình các tế bào đó thành các tế bào gốc đa năng, sau đó được biệt hóa thành các tế bào mỡ, sụn và xương.”  MitoPunch được tạo ra trong phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Michael Teitell, giám đốc Trung tâm Ung thư Jonsson, giáo sư bệnh học và y học thí nghiệm, Pei-Yu Chiou, giáo sư kỹ thuật cơ khí và hàng không tại Trường Kỹ thuật và Ứng dụng Henry Samueli thuộc UCLA Science, và Ting-Hsiang Wu, từ ImmunityBio, Inc., Culver City, CA.  MitoPunch được xây dựng dựa trên các công nghệ trước đây và một thiết bị được gọi là thanh nano quang nhiệt mà nhóm đã phát triển vào năm 2016. Nhưng khác với thanh nano quang nhiệt – thiết bị đòi hỏi phải có một hệ thống quang học và laser phức tạp, MitoPunch hoạt động bằng cách sử dụng áp suất để đẩy huyền phù ty thể cô lập qua một lớp xốp có phủ các tế bào. Theo các nhà nghiên cứu, độ dốc áp suất sẽ có khả năng chọc thủng màng tế bào ở những vị trí riêng rẽ, từ đó cho phép ty thể xâm nhập trực tiếp vào tế bào nhận, và sau đó sửa chữa màng tế bào.  “Khi lần đầu tiên tạo ra tấm nano quang nhiệt, chúng tôi đã biết rằng sẽ cần phải có một hệ thống có thông lượng cao hơn và đơn giản hơn để các phòng thí nghiệm khác dễ lắp ráp và vận hành,” Teitell cho biết. “Thiết bị mới này rất hiệu quả và có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu bộ gen ty thể theo cách đơn giản hơn – như hoán đổi nó từ tế bào này sang tế bào khác – và có thể được sử dụng để khám phá các yếu tố cơ bản của sinh học đang chi phối một loạt các chức năng của tế bào. Một ngày nào đó, những kết quả nghiên cứu này có thể sẽ mang lại hy vọng điều trị được các bệnh về DNA ty thể.”  Hoàng Nam tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-scientists-high-throughput-mitochondria-device.html  https://bio.biologists.org/content/6/12/1960    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển thiết bị điện gió mini có hiệu suất cao và không gây tiếng ồn      Các nhà nghiên cứu ở Aeromine Technologies, một công ty con của Đại học Houston (Hoa Kỳ) đã phát triển một thiết bị khai thác năng lượng gió có thể cung cấp nguồn điện có công suất 5000 watt  nhưng không tạo ra tiếng ồn và không phá vỡ cảnh quan.    Từ trước đến nay, bất cứ ai muốn tự sản xuất điện tại nhà đều chỉ có thể dựa vào năng lượng mặt trời. Việc xây dựng nhà máy điện gió mini cá nhân phải tuân theo các yêu cầu nghiêm ngặt cho dù thiết bị chỉ to hơn một món đồ chơi. Điều này một phần là do vấn đề rác thải, tiếng ồn khi chạy và hiệu ứng nhấp nháy của cánh quạt dưới tia sáng mặt trời. Aeromine Technologies, một công ty con của Đại học Houston, đã trình làng một thế hệ tuabin gió mới hoàn toàn bất động và không gây tiếng ồn đối với môi trường cảnh quan hay khi đặt trên mái nhà. Hệ thống này cũng rẻ hơn nhiều so với điện mặt trời. Hãng này tiết lộ: “Hệ thống năng lượng gió chuyển động được cấp bằng sáng chế của Aeromine Technologies, có thể tạo ra năng lượng nhiều hơn tới 50% với hệ thống năng lượng mặt trời đặt trên mái nhà song giá thành lại chỉ tương đương”.  Tối ưu hóa luồng gió  Thiết bị hoạt động như thế nào? Trên thực tế, nó chỉ bất động khi nhìn từ bên ngoài. Ở đó bạn chỉ nhìn thấy một loại máy “bắt gió”. Với hình dạng đón gió và dẫn gió vào tuabin bên trong, mọi hoạt động sẽ diễn ra khép kín. Tua bin dạng thẳng đứng và quay bên trong thiết bị, tạo ra điện. Thiết bị có chiều cao từ ba đến bốn mét, các hệ thống thử nghiệm được đặt trên bệ với các đường dây chạy qua. Nếu làm đúng quy cách, bạn có thể lắp chúng trên mái nhà hoặc trong lòng đất .    Gió sẽ được hút vào ở bên trên, tuabin ở bên dưới.  Các nhà máy điện gió mini không phải là mới. Nhiều nơi cũng đã sản xuất loại tuabin thẳng đứng, cỡ nhỏ. Điều đặc biệt của hệ thống Aeromine là khe đón gió khí động học, giúp tăng hiệu quả hoạt động. Nó khuếch đại làn gió nhẹ thành gió mạnh và tối ưu hóa luồng gió, ngay cả khi nó không thổi trực tiếp vào thiết bị. Phần bắt gió có diện tích lớn hơn cửa mở của tuabin. Về cơ bản, các thiết bị bắt này dựa trên hiệu ứng Venturi nổi tiếng, bằng cách khéo léo thu hẹp luồng không khí, tốc độ dòng chảy được tăng lên.  Ưu tiên nhà có mái cao  Ban đầu các thiết bị được thiết kế cho các nhà xưởng. Trên một mái nhà có thể lắp đặt từ 20 đến 40 thiết bị. Gió thường thổi mạnh hơn trên mái nhà và không bị che chắn bởi các vật trên mặt đất. Các thiết này yêu cầu không gian ít hơn đáng kể so với một tấm pin năng lượng mặt trời. Tạm tính mỗi thiết bị cung cấp 5000 watt, tương ứng với khoảng 12 tấm pin mặt trời, mỗi tấm có công suất 400 watt và đòi hỏi khoảng 50 mét vuông không gian. Tất nhiên, các thiết bị gió trên mái nhà cũng có thể được kết hợp với một tấm pin mặt trời. Điều này cũng khác so với các cột điện gió thông thường, cánh quạt của chúng sẽ che bóng các tấm pin mặt trời bên dưới.  Về nguyên tắc, các thiết bị như vậy chỉ có thể được lắp đặt ở những nơi có gió. Một hướng gió tương đối ổn định cũng rất quan trọng, vì các thiết bị hiện không thể di chuyển theo hướng gió. Đây không phải là vấn đề khó khăn vì nó chỉ cần bộ phận bắt gió bằng nhựa quay xung quanh tuabin. Ưu điểm của hệ thống này là cung cấp điện quanh năm suốt tháng, không kể ngày đêm. Thời gian hoạt động lâu hơn cũng là một lợi thế về chi phí so với điện mặt trời. Mức thu hoạch kilowatt/h hàng năm của hộp 5000 watt cao hơn nhiều so với các tấm có cùng công suất.  Các thiết bị này có thể tạo ra năng lượng khi gió thổi nhẹ nhàng nhất. Hơn nữa, chúng hoàn toàn kín nên không gây ra bất kỳ nguy hiểm nào cho các loài chim. Chúng có thể trở thành một thiết bị cung cấp điện hữu ích cho các hộ gia đình, miễn là có vị trí thích hợp. Tuy nhiên, thiết bị sẽ không phát huy tác dụng khi lắp đặt trong một khuôn viên nhỏ hẹp bốn bề bị che chắn bởi các tòa nhà. Chúng sẽ phát huy tác dụng tốt khi được lắp đặt ở các tòa nhà ở vùng ven biển thoáng đãng có không gian phù hợp.   Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.stern.de/digital/technik/windkraft-ohne-stroboeffekt-und-groessenwahn—-bewegungslose–turbine-kann-haeuser-mit-strom-versorgen-32822248.html    Author                .        
__label__tiasang Phát triển thuật toán cải tiến robot phục hồi chức năng cho người đột quỵ      Một nhóm các nhà khoa học gồm TS Tâm Bùi (Viện Công nghệ Shibaura Nhật Bản), TS Trung Nguyễn (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) và TS Hà Phạm (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) đã đề xuất một thuật toán nhằm cải thiện các chuyển động của cánh tay robot phục hồi chức năng cho những người đang tiến hành vật lý trị liệu sau đột quỵ.      Robot phục hồi chức năng chi trên sẽ có khớp vai, khuỷu tay và cổ tay. Việc mở rộng các khớp này đến một góc cụ thể sẽ giúp cánh tay di chuyển theo một cách nhất định. Ảnh: Semantic Scholar     Đột quỵ là một vấn đề lớn ở các quốc gia có dân số già như Nhật Bản – nơi nguy cơ đột quỵ có thể lên đến 20% ở độ tuổi trung niên. Nó là một trong những nguyên nhân chính gây mất và hạn chế chức năng vận động. Y học thể chất và phục hồi chức năng hợp lý có thể giúp phục hồi chức năng ở các khu vực bị ảnh hưởng, nhưng phương pháp chữa trị này khá tốn kém, đòi hỏi các bác sĩ trị liệu đã được đào tạo phải dành nhiều thời gian cho một bệnh nhân. Y học phục hồi bằng robot có thể giúp giải quyết phần nào vấn đề này.     Một vấn đề lớn trong việc thiết kế robot đó là bài toán ‘chuyển động học nghịch đảo’. Một robot phục hồi chức năng có chân tay tương tự con người và có cùng số khớp xương. Robot phục hồi chức năng chi trên sẽ có khớp vai, khuỷu tay và cổ tay. Việc mở rộng các khớp này đến một góc cụ thể sẽ giúp cánh tay di chuyển theo một cách nhất định. Tuy nhiên, hãy thử tưởng tượng số góc mà các khớp có thể uốn cong chỉ để làm một việc đơn giản như nhặt đồ vật. Chính lúc này, chuyển động học nghịch đảo xuất hiện. Nó xem xét vị trí mà cánh tay cần đi tới (vị trí và hướng kết thúc của nó) sau đó tính toán ngược lại để xác định góc mà các khớp khác nhau phải uốn để đạt được điều đó. Đây có vẻ như là một giải pháp hiển nhiên, nhưng những phép tính đằng sau nó vô cùng phức tạp. Trong một bài báo được công bố trên tạp chí Artificial Intelligence Review¸ một nhóm các nhà khoa học do tiến sĩ Tâm Bùi thuộc Viện Công nghệ Shibaura (Nhật Bản) dẫn đầu đã đề xuất một thuận toán cải tiến để giải bài toán chuyển động học nghịch đảo. “Thuận toán mà chúng tôi đề xuất sẽ giúp giảm thiểu độ phức tạp và số lượng phép tính so với các phương pháp khác”, TS Tâm Bùi cho biết.      Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều phương pháp tối ưu hóa nhằm giải quyết bài toán chuyển động học nghịch đảo. Chúng hướng đến giảm thiểu hoặc tối đa hóa một yếu tố (chẳng hạn như thời gian thực hiện hoặc năng lượng thực hiện). Tuy nhiên, hầu hết các phương pháp hiện tại nhằm giải quyết vấn đề chuyển động học nghịch đảo không xem xét tính khả thi của các góc khớp được tối ưu hóa, nói cách khác, liệu vai, khuỷu tay và cổ tay của cánh tay người mà robot đang hỗ trợ có di chuyển giống như cách mà robot chuyển động dựa trên các phép tính hay không? TS Tâm Bùi và nhóm nghiên cứu đã tính đến trường hợp này khi họ phát triển thuật toán của mình, thuật toán mang tên “các tham số điều khiển tự điều chỉnh trong thuật toán tiến hóa vi phân với cải thiện không gian tìm kiếm” (Pro-ISADE). Cụ thể, nhóm sử dụng một phương pháp tối ưu hóa có tên là thuật toán tiến hóa vi phân (Differential Evolution – trong đó phép tính được lặp đi lặp lại cho đến khi tìm thấy giải pháp tốt nhất hoặc “tối ưu”) với không gian tìm kiếm – phạm vi góc mà các khớp robot có thể uốn cong – giảm. Việc giảm không gian tìm kiếm giúp cải thiện tốc độ tính toán của thuật toán và đảm bảo rằng các góc khớp được tính toán không làm cho robot bị mất tự nhiên.      Để kiểm chứng, TS Tâm Bùi và cộng sự – TS Trung Nguyễn (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) và TS Hà Phạm (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) – đã sử dụng phương pháp Pro-ISADE để giải quyết bài toán chuyển động học nghịch đảo cho cánh tay con người trong hai hoạt động thiết yếu với đời sống hằng ngày: uống một cốc nước và đánh răng. Họ cũng thử nghiệm với hành động ném và bắt bóng. Đầu tiên, họ thực hiện các hoạt động bằng cách sử dụng một cánh tay chức năng và chụp các góc của cánh tay bằng một thiết bị đo lường do chính họ tạo ra – còn gọi là hệ thống chụp chuyển động của khung xương trợ lực (E-HMCS). E-HMCS được gắn vào cánh tay và chuyển đổi chuyển động của cánh tay thành tín hiệu điện tử thông qua việc sử dụng chiết áp làm cảm biến.        Các nhà nghiên cứu đã sử dụng E-HMCS nhằm ghi lại đường đi, vị trí và hướng cuối cùng của cánh tay khi thực hiện nhiệm vụ. Sau đó, họ đưa những giá trị này vào thuật toán Pro-ISADE để so sánh xem liệu nó có thể dự đoán chính xác những góc mà các khớp robot phải thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ hay không. Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng thuận toán Pro-ISADE đã dự đoán giá trị rất gần với các góc đo được, chứng minh hiệu quả của nó trong việc giải quyết bài toán chuyển động học nghịch đảo đối với các chuyển động tự nhiên của con người.        Thông qua các thí nghiệm cho hai hoạt động sinh hoạt hằng ngày – đánh răng và uống nước, các nhà khoa học đã kiểm chứng được mức độ hiệu quả của thuật toán Pro-ISADE đối với robot phục hồi chức năng. Ảnh: Tam Bui from SIT     Có thể thấy, thuật toán Pro-ISADE là một công cụ tuyệt vời đối với robot phục hồi chức năng, trong đó việc bắt chước chuyển động tự nhiên của cơ thể con người là điều cần thiết nếu muốn tránh thương tích cho bệnh nhân. Theo TS Tâm Bùi, “phục hồi chức năng với sự hỗ trợ của robot giúp người bệnh có thể luyện tập với cường độ cao hơn, thời gian dài hơn và số lần tập nhiều hơn. Robot phục hồi chức năng cánh tay có thể giúp bệnh nhân sau đột quỵ nhanh chóng tái hòa nhập với cuộc sống thường ngày của họ.”      Nhìn chung, thuận toán Pro-ISADE còn có thể được ứng dụng với các robot công nghiệp và robot dịch vụ, điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng to lớn của phương pháp này.      Hà Trang tổng hợp  Nguồn:   Scientists develop improved algorithm for upper arm rehabilitation robots  Using proposed optimization algorithm for solving inverse kinematics of human upper limb applying in rehabilitation robotic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển thương hiệu nông sản ĐBSCL: Bắt đầu từ đâu?      Trong Hội nghị về thúc đẩy phát triển nông nghiệp ĐBSCL chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, không chỉ Bộ trưởng Bộ NN&PTNN Lê Minh Hoan mà nhiều chuyên gia ngành nông nghiệp đều nhắc đến chuỗi liên kết giá trị và cả việc xây dựng thương hiệu cho nông sản từ chuỗi giá trị đó chỉ để giải đáp một vấn đề “làm sao để nông sản ĐBSCL tự cứu mình”.     Thương hiệu yếu vì thiếu chất lượng  Mỗi khi nhắc đến ĐBSCL, người ta thường nghĩ ngay đến những cánh đồng lúa và những miệt vườn cây trái. Tuy nhiên, khi hỏi đó là những sản vật cụ thể gì thì ai cũng ngớ người ra vì… không biết. Mãi đến gần đây, người ta mới có thể nhắc đến gạo ST25 “ngon nhất thế giới”. Tại sao vậy? Tại sao hoa trái xứ mình ngon ngọt lạ thường như vậy mà mãi “áo gấm đi đêm”, bán hoài, xuất khẩu hoài vẫn chẳng có tiếng tăm. Trên thực tế, “nông sản của mình bán ra ở châu Âu ít lắm, lâu lâu mới có vài thương vụ, mà đa phần bán trong cộng đồng người Việt hoặc cửa hàng của người gốc Á như Thái Lan chứ chưa đưa vào được hệ thống phân phối chính quy. Không phải chỉ có một vài chuyến hàng của một vài doanh nghiệp là có thể nói chúng ta đã chiếm lĩnh được thị trường khó tính. Khi vào được chuỗi phân phối thì mới có sức lan tỏa, người tiêu dùng mới biết đến, chúng ta mới định hình thương hiệu cho mặt hàng nông sản quốc gia”, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan thẳng thắn chỉ ra trong tọa đàm “Nông nghiệp – Trụ đỡ vững chắc trong biến động” do Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức cuối năm 2021 [1].  Tình trạng xuất khẩu chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô, không thương hiệu khiến một số mặt hàng nông sản ở ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung tuy thuộc hàng nhất nhì thế giới về sản lượng xuất khẩu như gạo, hạt tiêu, cà phê nhưng giá trị xuất khẩu lại không tương xứng. Đơn cử theo thống kê của Bộ Công thương năm 2021, sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam nằm trong nhóm thứ hai và thứ ba thế giới nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đứng thứ 10. Bên cạnh thị trường xuất khẩu, ngay cả trong nước, nông sản có thương hiệu tốt luôn có mức giá cao hơn hẳn. Tiêu biểu như khi sản phẩm gạo ST25 của ông Hồ Quang Cua đoạt giải nhất cuộc thi gạo ngon nhất thế giới năm 2019, hàng loạt điểm bán loại gạo này nhanh chóng cháy hàng. Nhờ giá trị thương hiệu của ST25, nhiều nơi đã chuyển sang trồng giống lúa này và cải thiện thu nhập rõ rệt so với lúc trước.    Việc phát triển thương hiệu là điều cần thiết để nâng cao giá trị của các loại nông sản ở ĐBSCL. Nguồn: Saigon RIders  Tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu cho nông sản đã được bàn đến từ lâu. Vậy tại sao bao năm nay, thương hiệu nông sản của chúng ta vẫn mờ nhạt? Có ý kiến cho rằng phải thúc đẩy đăng ký bảo hộ, vì các quốc gia có thương hiệu nông sản nổi tiếng thế giới như gạo Hom Mali của Thái Lan, gạo Basmati của Ấn Độ,… đều được chú ý đăng ký bảo hộ từ rất sớm, vừa là cơ sở để phát triển thương hiệu, vừa tránh bị đánh cắp khi ra ngoài thị trường. “Khi gạo Hom Mali đoạt giải gạo ngon nhất thế giới, họ đã phát huy rất bài bản, xây dựng thành thương hiệu gạo quốc gia. Trong khi đó, khi gạo ST25 được vinh danh, chúng ta mới chỉ tặng bằng khen cho người phát minh ra giống lúa chứ chưa có động thái nào công nhận cũng như quản lý thương hiệu”, GS. Võ Tòng Xuân trả lời phỏng vấn trên báo Công thương năm 2021. Điều này vô cùng cần thiết khi muốn xuất khẩu nông sản sang những thị trường cao cấp như Hoa Kỳ, vì “người tiêu dùng Hoa Kỳ mua gạo thường chỉ dựa vào bao bì, nhãn hiệu, thậm chí cùng loại gạo đó nhưng đưa bao bì khác người ta cũng không mua”, đại diện một doanh nghiệp từng chia sẻ trên báo Kinh tế & Đô thị năm 2021.  Tuy nhiên, việc thiếu đăng ký bảo hộ nhãn hiệu không phải là vướng mắc chính trong phát triển thương hiệu nông sản ở ĐBSCL. Theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) năm 2019, ĐBSCL là vùng có số lượng nông sản được đăng ký bảo hộ (dưới dạng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý) nhiều nhất cả nước.[2] Dưới sự hỗ trợ của các chương trình phát triển tài sản trí tuệ, chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP),… số lượng thương hiệu nông sản được đăng ký bảo hộ ngày càng tăng. Với sản phẩm chủ lực là lúa gạo, từ năm 2018, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu Gạo Việt Nam/Vietnam Rice tại Việt Nam do Bộ NN&PTNT là chủ sở hữu nhãn hiệu. Đến nay, nhãn hiệu này được bảo hộ tại 22 quốc gia với kỳ vọng sẽ phát triển thương hiệu gạo quốc gia của Việt Nam.  Dù quan trọng nhưng “đăng ký bảo hộ chỉ là bước đầu tiên để có được dấu hiệu nhận biết (nhãn hiệu) của sản phẩm thôi, thương hiệu của nông sản phải dựa trên yếu tố chất lượng, từ quy trình sản xuất, chế biến, lưu thông,.. một thương hiệu chỉ thành công khi có được niềm tin của người tiêu dùng và chỗ đứng trên thị trường”, bà Nguyễn Thị Thành Thực, Chủ tịch công ty Bagico Bắc Giang, người có nhiều năm kinh nghiệm về xuất khẩu nông sản nhận xét tại một diễn đàn do Bộ NN&PTNT tổ chức năm 2021.  Tuy nhiên, đây lại là điểm yếu của nông sản Việt Nam: “Từ trước đến giờ chúng ta bán cái chúng ta có chứ chưa song hành với những gì thị trường cần, về cả số lượng lẫn chất lượng. Tình trạng này dẫn đến ‘sập bẫy’ giải cứu nông sản do tạo ra sản lượng nhiều, dư thừa nhưng không đảm bảo yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc,… Chúng ta không tạo được niềm tin trên thị trường, ngay cả trong nước nhiều khi cũng muốn quay lưng với nông sản nội, đi chợ cũng lo không biết rau này có bị tưới thuốc trừ sâu hay không”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói.  Việc “bỏ bê” yếu tố chất lượng không chỉ làm giảm giá trị thương hiệu mà còn khiến ngành nông sản ở ĐBSCL dễ gặp rủi ro. Hầu hết nông sản nơi đây được xuất khẩu sang Trung Quốc – một thị trường lớn được coi là “dễ tính”. Nhưng đến gần đây, Trung Quốc bắt đầu siết chặt các quy định về nhập khẩu nông sản, yêu cầu nâng cao chất lượng, minh bạch về truy xuất nguồn gốc, kiểm soát vùng trồng,… dẫn đến tình trạng xuất khẩu nông sản bị ùn ứ, thậm chí trả về do không đáp ứng được các tiêu chí này. “Trong năm 2021, các lô hàng xuất khẩu bị phía Trung Quốc đình chỉ và cảnh báo tăng khá nhanh”, TS. Lê Bá Anh, Phó Cục trưởng Cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản (Bộ NN&PTNT) cho biết trong tọa đàm trực tuyến chia sẻ thông tin, thích ứng với quy định mới trong xuất khẩu nông sản, thực phẩm vào thị trường Trung Quốc vào cuối năm ngoái.  Bám sát nhu cầu thị trường  Trước tình trạng này, chúng ta nên làm gì để các thương hiệu nông sản của ĐBSCL phát huy giá trị trên thị trường chứ không chỉ nằm trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu? Câu trả lời có lẽ nằm trong những từ khóa phát triển nông nghiệp mà Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã chỉ ra: “Điều quan trọng nhất là hợp tác, liên kết, thị trường. Những người sản xuất phải hợp tác với nhau, đồng thời phải liên kết thành chuỗi giữa người sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ, chế biến. Tất cả các hoạt động này phải dựa trên tiêu chí thị trường, chứ không phải bán cái chúng ta có. Chẳng hạn ngày xưa nông sản chất lượng chỉ cần ngon sạch, nhưng xu thế mới là nông nghiệp có trách nhiệm với biến đổi khí hậu, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ,… Một trong những thương hiệu tích hợp đa giá trị, bền vững theo xu hướng mới mà chúng tôi đang xây dựng là lúa thơm – tôm sạch ở ĐBSCL”.  Việc liên kết và hợp tác chặt chẽ cũng là yếu tố quan trọng để các mô hình canh tác an toàn, góp phần nâng cao chất lượng nông sản như VietGAP, GlobalGAP,… phát huy hiệu quả. Dù đã triển khai từ lâu song đến nay, số lượng diện tích rau trồng theo tiêu chuẩn VietGAP trên cả nước vẫn chưa đạt tới 10%, chưa kể đến những tiêu chuẩn cao hơn như GlobalGAP hay rau hữu cơ. Nguyên nhân là “chi phí khá tốn kém, một số nơi đã bỏ trồng theo VietGAP vì đầu ra không có”, theo ông Nguyễn Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) trả lời trên báo Hà nội mới năm 2016. Theo kinh nghiệm của một số ít nơi thành công như hợp tác xã Tân Tiến (Đà Lạt), “phải liên kết được các hộ nông dân bằng cách hỗ trợ quy trình sản xuất, đảm bảo ổn định đầu ra thì mới thu hút được nhiều người tham gia mô hình sản xuất rau an toàn”, ông Mai Văn Khẩn, Giám đốc HTX Tân Tiến cho biết.  Một trụ cột khác để phát triển thương hiệu là tăng cường chế biến và đa dạng hóa sản phẩm. “Chế biến sâu là yếu tố then chốt để gây dựng thương hiệu nông sản ở thị trường nội địa cũng như quốc tế, vừa giúp dễ dàng vận chuyển, bớt chi phí bảo quản so với trái cây tươi, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. Thế mạnh của ngành nông nghiệp nước ta là có nhiều loại trái cây bổ dưỡng, tuy nhiên, hiện nay việc chế biến thành các loại nước uống hoặc các sản phẩm bổ dưỡng, tiện lợi cho sử dụng còn rất hạn chế”, ông Nguyễn Ngọc Luận, CEO Công ty Cà phê trái cây Meet More cho biết.  Thanh Bình  [1] https://baochinhphu.vn/nong-nghiep-tru-do-vung-chac-trong-bien-dong-102302926.htm  [2] https://ipvietnam.gov.vn/web/guest/phat-trien-chi-dan-ia-ly/-/asset_publisher/SGA9PgvmYtWI/content/thuc-trang-trong-xay-dung-quan-ly-va-phat-trien-chi-dan-ia-ly-nhan-hieu-chung-nhan-va-nhan-hieu-tap-the    Author                .        
__label__tiasang Phát triển thủy điện: Tỷ lệ nội địa hóa công nghệ và thiết bị thấp      Các dự án thủy điện đã hoàn thành và đang thi công xây dựng của Việt Nam đã đạt trên 86% công suất quy hoạch, tuy nhiên yếu tố nội địa hóa công nghệ và thiết bị trong các nhà máy thủy điện lại ít được tính đến.      Nhà máy thủy điện Trung Sơn công suất 260 MW (Quan Hóa, Thanh Hóa). Nguồn: Dantri  Tại hội thảo Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ, phát triển năng lượng tái tạo: An toàn, hiệu quả, bền vững do Bộ Công Thương, Bộ KH&CN và Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXN Việt Nam) phối hợp tổ chức vào ngày 5/10/2017, dự án thủy điện Trung Sơn công suất 260 MW tại Quan Hóa, Thanh Hóa đã được nêu như một án điển hình thành công trong việc áp dụng các bài học thực tiễn quốc tế và tuân thủ các chính sách an toàn của nhà tài trợ World Bank. Ông Trần Hồng Kỳ, chuyên viên Ban Năng lượng (World Bank) cho biết, Trung Sơn không chỉ là một trong những dự án hiếm hoi tiết kiệm được vốn đầu tư (tiết kiệm 50 triệu USD, tương đương 12% tổng mức đầu tư) mà còn nổi bật về sự an toàn trong vận hành nhờ nâng cao chất lượng thiết kế kỹ thuật và áp dụng chương trình an toàn đập theo thông lệ quốc tế, bao gồm bổ sung đập tràn khẩn cấp dài 100m, cổng xả sâu có năng lực xả khoảng 17.000m3 và thực hiện các kế hoạch an toàn đập (EVN là đơn vị thực hiện dự án). Vào cuối tháng 6/2017 vừa qua, cả bốn tổ máy của nhà máy Trung Sơn đều đã hoạt động và điện được nối lưới quốc gia.  Vẫn nhập thiết bị và công nghệ nước ngoài   Trao đổi bên lề hội nghị, ông Trần Hồng Kỳ cho biết, phần lớn các trang thiết bị máy móc của dự án Trung Sơn đều được nhập ở nước ngoài “vì về cơ bản, từ các thiết bị cơ điện quan trọng cho nhà máy thủy điện như turbin, máy phát điện đến hệ thống điều khiển, thiết bị giám sát…, Việt Nam vẫn chưa đủ năng lực sản xuất. Không riêng gì Trung Sơn mà với các dự án thủy điện quy mô lớn, vừa và nhỏ khác thì các thiết bị cơ điện đều [phải] đi nhập hết”.  Khi được hỏi về nỗ lực nội địa hóa thiết bị và công nghệ, ông Trần Hồng Kỳ cho biết thêm, Việt Nam cũng đã thực hiện trong nhiều năm qua và mới thành công ở một số chi tiết, thiết bị thủy công nhưng về thiết bị cơ điện thì rất khó vì hai yếu tố, thứ nhất là khoảng cách về công nghệ của các nhà sản xuất Việt Nam với nước ngoài rất lớn, thứ hai nếu có sản phẩm thì nó cũng khó cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc và Ấn Độ.  Một đại biểu khác của hội nghị, ông Ngô Xuân Thế, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần thủy điện A Vương, cũng thừa nhận tình hình tương tự với nhà máy A Vương, “nhiều cái vẫn cần phụ thuộc”. Đặt tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, thủy điện A Vương có công suất 210 MW, hai tổ máy hòa lưới điện quốc gia vào năm 2008, điện lượng bình quân hàng năm đạt 815 triệu KWh. Những sản phẩm của Việt Nam trong các hạng mục công trình của A Vương chính là thiết bị cơ khí thủy công do Viện Cơ khí NARIME (Bộ Công thương) cung cấp và công nghệ bê tông đầm lăn (RCC-roller compacted concrete), loại công nghệ thích hợp cho các công trình bê tông khối tích lớn, hình dáng không phức tạp như đập, mặt đường. “A Vương cũng là một trong những công trình đầu tiên của thủy điện vừa và nhỏ của Việt Nam áp dụng công nghệ này”, ông Ngô Xuân Thế nói.    Việt Nam vẫn phải nhập các thiết bị cơ điện của nhà máy thủy điện như hệ thống điều khiển, giám sát… Ảnh: Phòng điều khiển của nhà máy thủy điện Lai Châu. Nguồn: EVN  Về lâu dài, A Vương có chiến lược nội địa hóa một số thiết bị nhà máy? Ông Thế cho rằng, công việc vận hành nhà máy rất tốt và an toàn nên vẫn chưa nghĩ tới điều đó và giải thích thêm: “Với các công trình thủy điện, đặc biệt vừa và nhỏ như A Vương, hiện Việt Nam mới chỉ làm tốt ở một số khâu bảo trì, bảo dưỡng, còn chế tạo thêm được thiết bị nào cũng tốt nhưng cũng khó làm vì nó còn phụ thuộc vào năng lực sản xuất của doanh nghiệp”.  Cần khuyến khích doanh nghiệp trong nước sản xuất thiết bị   Theo báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) tại hội nghị, năm 2014, Bộ Công thương đã phối hợp với UBND các tỉnh ra soát lại quy hoạch thủy điện theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18/2/2014. Kết quả cho thấy, các dự án đã hoàn thành và đang thi công xây dựng đã đạt trên 86% công suất quy hoạch. Còn theo báo cáo của Cục Kỹ thuật An toàn và môi trường công nghiệp (Bộ Công thương), đến năm 2017, cả nước có 330 công trình thủy điện đã được đưa vào khai thác thủy điện, trong đó có 194 công trình thủy điện nhỏ (công suất lắp đặt đến 30 MW). Ở góc độ kinh doanh, thị trường cung cấp thiết bị cho các nhà máy thủy điện rất tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó chỉ cần đảm bảo cung cấp một số trang thiết bị quan trọng cho các nhà máy này, thậm chí ngay cả thực hiện khâu bảo trì, bảo dưỡng, cũng là cơ hội rất lớn với các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam.  PGS. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, trong bối cảnh mới, việc phát triển thủy lợi “không nên thực hiện theo cách làm cũ mà làm theo cách thức mới”, tính đến yếu tố đổi mới công nghệ vì lâu nay “chúng ta sản xuất năng lượng mà chưa đặt ra vấn đề sản xuất thiết bị về năng lượng và tiếp cận công nghệ thế giới”.  Chia sẻ tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng cho biết, Bộ KH&CN đã thực hiện nhiều chương trình KH&CN về năng lượng tái tạo, trong đó nổi bật là Chương trình trọng điểm cấp nhà nước KC05 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng” với nhiều đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm mà sản phẩm là những quy trình công nghệ, thiết bị tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng trong khâu sản xuất, lưu trữ, truyền tải và tiêu thụ năng lượng. Tuy hiện nay “cơ khí Việt Nam đã từng bước chủ động được phần thiết kế, chế tạo một số thiết bị như cửa van đập tràn, máy biến áp các loại… nhưng về lâu dài cần mở rộng số lượng thiết bị này, đi kèm với đẩy mạnh nghiên cứu sâu về chế độ thủy lực, môi trường bồi lắng trong các hồ đập, cửa cống… nhằm đảm bảo an toàn trong vận hành”, Thứ trưởng Trần Văn Tùng nêu. Ông cũng đề xuất giải pháp thực hiện là mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước quan tâm đến sản xuất thiết bị cho các nhà máy thủy điện.                        Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phát triển viên nhộng robot để phân phối thuốc trong dạ dày      Một trong những nguyên nhân khiến khó vận chuyển những viên thuốc protein lớn qua đường uống là các viên thuốc này không thể đi qua barrier niêm dịch theo đường dạ dày ruột người. Điều đó có nghĩa là insulin và phần lớn các loại thuốc sinh học khác – thuốc chứa các protein hoặc acid nucleic – phải được tiêm vào cơ thể hoặc được các bác sĩ ở bệnh viện giám sát việc dùng.    Một loại thuốc mới dạng viên nhộng được phát triển tại MIT có thể một ngày nào đó thay thế các loại thuốc tiêm đó. Viên ngộng này có một các mũ robot có thể quay và tạo đường xuyên qua barrier niêm dịch khi nó chạm đến ruột non, nhờ vậy cho phép thuốc trong vỏ nhộng băng qua để vào đến các tế bào xếp hàng trong ruột.  “Bằng việc dịch chuyển niêm dịch, chúng tôi có thể tối ưu hóa sự phân tán của thuốc trong một vị trí và tăng cường sự hấp thụ của hai loại phân tử nhỏ và đại phân tử”, Giovanni Traverso, trợ lý giáo sư kỹ thuật cơ khí MIT và là một nhà nghiên cứu về dạ dày – ruột ở Bệnh viện Brigham và Phụ nữ.  Trong một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Science Robotics, các nhà nghiên cứu đã trình bày cách họ có thể áp dụng cách tiếp cận này để phân phối insulin cũng như vancomycin, một peptide kháng sinh hiện đang được dùng dưới dạng tiêm 1.  Shriya Srinivasan, một nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Ung thư hợp nhất Koch MIT và nhận học hổng tại Society of Fellows của đại học Harvard, là tác giả thứ nhất của nghiên cứu này.  Làm đường hầm xuyên qua   Trong nhiều năm, phòng thí nghiệm Traverso đã phát triển các chiến lược về phân phát thuốc protein như insulin qua đường uống. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó bởi thuốc protein có xu hướng bị phá vỡ trong môi trường a xít trong ống tiêu hóa chúng cũng vô cùng khó có thể xuyên qua barrier niêm dịch sắp hàng trong đường dạ dày.  Để vượt qua những rào cản đó, Srinivasan có ý tưởng tạo ra một dạng vỏ nhộng bảo vệ thuốc với một cơ chế là có thể đào hầm xuyên qua niêm dịch giống như những cỗ máy buồn tẻ đào hầm xuyên qua lớp đất đá.  “Tôi nghĩ là nếu chúng tôi có thể làm đường xuyên qua đám niêm dịch này, chúng tôi có thể đưa thuốc trực tiếp vào đến biểu mô”, cô nói, “Ý tưởng là anh có thể uống viên nhộng này và lớp bên ngoài có thể phân rã trong ống tiêu hóa để bắt đầu khuấy niêm dịch lên và làm sạch nó”.  Viên nhộng RoboCap với kích thước của một multivitamin, mang tải trọng thuốc trong một cái túi nhỏ và mang nó xuyên qua đường hầm trong ống tiêu hóa. Viên nhộng có lớp phủ bằng gelatin có thể dễ dàng được phân hủy tại một điều kiện độ pH cụ thể.  Khi lớp phủ phân rã, sự thay đổi pH kích hoạt một cỗ máy nhỏ tí bên trong viên nhộng RoboCap để bắt đầu quay. Chuyển động này giúp viên nhộng tạo đường xuyên qua niêm dịch và dịch chuyển. Đáng chú ý là viên nhộng này còn được phủ bằng những cái đinh nhỏ có thể quét niêm dịch ra xa, tương tự như hành động của một cái bàn chảy đánh răng.  Chuyển động quay cũng giúp làm mòn đi cái khoang kín mang thuốc, vốn được phân rã vào ống tiêu hóa.  “Những gì RoboCap đã làm là dịch chuyển một cách nhanh nhất qua barrier niêm dịch và sau đó là tăng cường khả năng hấp thụ bằng việc tối ưu hóa sự phân phối thuốc ở các điểm cục bộ”, Traverso nói. “Bằng việc kết hợp tất cả những yếu tố đó, chúng tôi đã lập tức tối đa hóa được năng lực của mình để đem lại một điều kiện tối ưu cho thuốc phát huy tác dụng”.  Tăng cường phân phối thuốc  Niềm vui của nhóm nghiên cứu ở MIT khi chứng thực được hiệu quả của cách tiếp cận mới  Trong các thử nghiệm trên động vật, các nhà nghiên cứu đã sử dụng viên nhộng này để phân phối insulin hoặc vancomycin, một kháng sinh peptide lớn dùng để điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng, bao gồm nhiễm trùng da cũng như nhiễm trùng làm ảnh hưởng đến các mô cấy chỉnh hình. Với viên nhộng này, các nhà nghiên cứu thấy là họ có thể phân phối lượng thuốc gấp 20 đến 40 lần so với viên nhộng thông thường không sử dụng cơ chế xuyên hầm.  Một khi thuốc được giải phóng từ viên nhộng, viên nhộng tự nó sẽ đi qua được trong ống tiêu hóa. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy dấu hiệu nào của viêm nhiễm hoặc kích thích ống tiêu hóa sau khi viên nhộng đi qua và họ quan sát thấy lớp niêm dịch tái trở lại trạng thái ban đầu chỉ vài giờ sau khi viên nhộng dịch chuyển.  Một cách tiếp cận khác mà một số nhà nghiên cứu đã áp dụng để tăng cường phân phối thuốc qua đường uống là bổ sung cho chúng một số thuốc để giúp chúng băng qua được các mô ruột. Tuy nhiên, những chất tăng cường thường chỉ hoạt động với những loại thuốc nhất định. Bởi vì cách tiếp cận mới của nhóm nghiên cứu MIT chỉ phụ thuộc vào sự phá vỡ về mặt cơ chế barrier niêm dịch nên nó có tiềm năng được ứng dụng cho một phạm vi rộng các loại thuốc, Traverso nói.  “Một số chất bổ sung hóa học thường ưa kết hợp với một số phân tử thuốc nhất định”, anh nói. “Việc sử sụng các phương pháp cơ học có tiềm năng tăng cường khả năng hấp thụ nhiều loại thuốc hơn”.  Trong khi viên nhộng được sử dụng trong nghiên cứu này giải phóng tải trọng của nó trong ruột non, có thể hữu dụng để hướng đích đến dạ dày hoặc ruột kết bằng việc thay đổi độ pH tại điểm phân rã lớp vỏ gelatin. Các nhà nghiên cứu đã lên kế hoạch khám phá phả năng phân phối các loại thuốc protein khác như GLP1 receptor agonist, vốn thi thoảng được dùng để điều trị bệnh tiểu đường type 2. Các viên nhộng này có thể hữu dụng để phân phối các loại thuốc điều trị viêm loét đại trực tràng và những dạng viêm nhiễm khác bằng việc tối đa hóa sự tập trung của thuốc trong mô để hỗ trợ điều trị viêm nhiễm.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-09-robotic-capsule-drugs-gut.html  https://www.technologynetworks.com/drug-discovery/news/robocap-the-robotic-capsule-designed-to-improve-drug-delivery-in-the-gut-366073  ——————————————————-  1. https://www.science.org/doi/10.1126/scirobotics.abp9066    Author                .        
__label__tiasang Phát triển Vinacomin thành tập đoàn kinh tế mạnh      Thủ tướng vừa phê duyệt kế hoạch sản  xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm của Tập đoàn Công nghiệp  Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), nêu rõ, phát triển Vinacomin trở thành tập đoàn kinh tế vững mạnh,  góp phần vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.     Theo đó, Vinacomin phấn đấu tốc độ tăng trưởng  tổng doanh thu bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 6-7%/năm, với cơ cấu  phát triển hợp lý giữa các lĩnh vực.    Về Bể than Đồng bằng sông Hồng, kế hoạch 5 năm 2011-2015, Tập đoàn sẽ thăm dò xong một phần tài nguyên và trữ lượng than ở các khu vực có điều kiện địa chất-mỏ tương đối thuận lợi để triển khai một số dự án khai thác thử nghiệm.  Đối với bể than Đông Bắc, đầu tư cải tạo và cải tạo mở rộng, đổi mới công nghệ nâng công suất 61 dự án mỏ hiện có; đầu tư xây dựng mới 28 dự án mỏ có công suất đến 2 triệu tấn/năm; trong đó Cẩm Phả có 10 dự án mỏ; Hòn Gai với  2 dự án mỏ; Uông Bí có 16 dự án mỏ. Bên cạnh đó, đầu tư cải tạo và mở rộng các dự án mỏ lộ thiên hiện có theo hướng đổi mới thiết bị, công nghệ tiên tiến, đồng bộ để tăng sản lượng khai thác; đầu tư xây dựng mới dự án mỏ hầm lò để khai thác phần than phía dưới mỏ lộ thiên Khánh Hòa (Thái Nguyên).  Về công nghiệp điện, vận hành an toàn, hiệu quả các nhà máy nhiệt điện than hiện có, đồng thời đưa vào vận hành sáu nhà máy nhiệt điện than gồm Nhiệt điện Cẩm Phả II có công suất 330MW, Nhiệt điện Cẩm Phả III với công suất 270MW, Nhiệt điện Mạo Khê có công suất 440MW, Nhiệt điện Đồng Nai 5 với công suất 150MW, Nhiệt điện Lý Sơn công suất 6MW và Nhiệt điện Phú Quốc công suất 200MW.  Đồng thời, tiếp tục đầu tư xây dựng các dự án nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập (Nghệ An); nhà máy nhiệt điện Hải Phòng III đảm bảo đưa vào vận hành an toàn, đúng tiến độ; tiếp tục nghiên cứu đầu tư các dự án nhiệt điện than trên cơ sở Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đầu tư hoặc mua các mỏ than ở nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn than cung cấp ổn định, lâu dài cho các nhà máy điện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vùng nguyên liệu mây tre đan: thách thức và tiềm năng      Hiện nay khoảng 35-42% các cơ sở mây tre đan đang phải sản xuất cầm chừng và tệ hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu. Việc thiết lập những vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước ta.    Ngành nghề Tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ (TTCN-TCMN) mây tre đan nước ta đang có bước phát triển ngoạn mục trong vài thập niên qua. Hiện có khoảng 713 làng nghề mây tre đan trong tổng số 2017 làng nghề trên toàn quốc và hơn 1700 doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh doanh mây tre đan. Doanh số xuất khẩu mây tre đan của năm 2007 là 219 triệu đô la với mức tăng trưởng bình quân là 30%/năm. Riêng giá trị sản xuất của ngành tre nứa là 1.2 tỷ USD Mỹ trong đó 900 triệu đô-la có tác động trực tiếp đến người nghèo. Ngành nghề này cũng đã tạo ra gần nửa triệu việc làm thường xuyên và bán thời gian vốn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông thôn. Chính phủ đã đặt ra kế hoạch đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là 1,5 tỷ USD vào năm 2010 trong đó hàng mây tre phải đạt con số 600 triệu USD.  Tuy nhiên, một thực trạng nghiêm trọng hiện nay là khoảng 35-42% các cơ sở đang phải sản xuất cầm chừng và tệ hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu. Hằng năm chúng ta vẫn cứ nhập một lượng nguyên liệu lớn mây tre với giá cao hơn trong nước từ 15-20%. Tài nguyên mây tre trong nước thì có nhiều, nhưng cũng cạn kiệt dần do những khai thác bất hợp lý, khai thác quá mức ở những nơi và điều kiện đường sá cho phép, làm cho số lượng và chất lượng nguyên liệu giảm trầm trọng. Trữ lượng khai thác mây cũng giảm đi thấy rõ, từ 80.000 tấn năm 1989 xuống còn 20.000 tấn năm 2005. Nguyên liệu tre nứa thì tập trung ở miền núi, làng nghề với nguồn lao động dồi dào lại tập trung ở đồng bằng, sơ chế thì chưa phát triển, hạ tầng miền núi cũng còn khó khăn, nên hai nguồn tài nguyên có giá trị ở cách xa nhau chưa có điều kiện tốt nhất để hợp lại với nhau tạo ra giá trị và của cải cho xã hội. Một vấn đề đáng lưu ý nữa là ngành nghề TTCN-TCMN mây tre cần những loại nguyên liệu rất đặc trưng ví dụ như giang, lùng, luồng, tầm vông, nứa đối với tre và mây tắt. mây nếp, mây nước, song, hèo.. trong đó tổng lượng tre nứa khai thác dành cho sản xuất TTCN-TCMN không nhiều, chỉ trên dưới 30%, còn lại đi vào các ngành xây dựng và sản xuất bột giấy. Như vậy, rõ ràng là ngành nghề TTCN-TCMN mây tre đan đang đối mặt nghiêm trọng với việc thiếu nguyên liệu. Và rõ ràng là việc thiết lập những vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước ta.  Đâu là cơ hội?  Về thị trường thì các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy là mây tre có một thị trường cực kỳ triển vọng. Bằng việc xây dựng mô hình Kinh tế, các giáo sư Đại học Sydney – Úc đã dự đoán thị trường thế giới về tre nứa có thể đạt đến 17 tỷ đô la/năm vào năm 2017 so với 7 tỷ USD Mỹ hiện nay (Trung Quốc chiếm khoảng 5.5 tỷ USD). Trong đó các sản phẩm có tốc độ phát triển mạnh nhất là đồ gỗ bằng tre nứa, ván sàn và ván tấm. Còn tổng khối lượng của thị trường mây các loại của thế giới hiện nay cũng đạt hơn 6 tỷ USD, trong đó Indonesia chiếm hơn 64% thị phần và tốc độ tăng trưởng bình quân/năm là 10%. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mây tre đan hiện nay của Việt Nam cũng khoảng 25% mỗi năm. Việt Nam cũng được cho là nước có lợi thế cạnh tranh hơn Trung quốc về sản xuất các mặt hàng này do giá lao động trung bình của nước ta hiện nay là 50 USD/tháng trong khi ở Trung quốc là 150 USD/tháng. Chi phí chế biến một tấn tre nứa nguyên liệu ở Việt Nam hiện nay chỉ 40 USD sao với 100 USD của Trung quốc.  Về nguyên liệu tự nhiên thì hiện nay nước ta có hơn 1 triệu ha tre nứa dưới các loại rừng khác nhau. Trong đó diện tích có thể khai thác bền vững được là 354.000 ha với tổng trữ lượng khoảng 4,3 tỷ cây và sản lượng có thể khai thác hằng năm có thể đạt 432 triệu cây. Ngoài ra ở Thanh Hoá và Nghệ An đã thiết lập được 80,000 ha nguyên liệu luồng chuyên canh, phục vụ cho tiêu thụ chế biến ở địa phương và các tỉnh lân cận.  Hiệu quả kinh tế quá hấp dẫn của việc trồng nguyên liệu mây và tre đã rộ lên phong trào trồng mây rộng khắp trên cả nước. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng hiệu quả trồng luồng ở Thanh Hoá hiện nay là 4 triệu đồng/ha/năm cao hơn rất nhiều so với những cây lâm nghiệp khác như bạch đàn và keo. Hiệu quả kinh tế của việc trồng mây là một câu chuyện hết sức ngoạn mục mà nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra. Đối với trồng mây nguyên liệu ở Thái Bình và Quảng Nam, hiệu quả kinh tế đạt từ 16-28 triệu đồng/ha/năm ở quy mô hộ gia đình (hộ ông Vũ Xuân Đức xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình) và 19 triệu đồng/ha/năm với quy mô doanh nghiệp (Công ty CP Song Mây Dũng Tấn – xã Thượng Hiền, Kiến Xương, Thái Bình).  Hiện nay quỹ đất lâm nghiệp trong dân cũng rất lớn. Đến nay đã có khoảng 8,1 triệu ha đất lâm nghiệp đã giao cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Trong đó có 3,2 triệu ha đã giao và cấp giấy chứng nhận cho 1,102 triệu hộ gia đình với diện tích trung bình khoảng 2,87 ha/hộ. Tuy nhiên số liệu gần đây của Bộ chủ quản đã chỉ ra rằng chỉ có 20-30% diện tích đất lâm nghiệp đã sử dụng đúng mục đích, có nghĩa là 70-80% diện tích còn lại chưa được sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích. Như vậy, phải nói rằng tiềm năng đất lâm nghiệp trong hộ dân rất lớn, nhưng việc có tập hợp được thành vùng rộng lớn để trồng nguyên liệu lại là vấn đề khác. Đó là chưa kể quỹ đất khổng lồ hiện nay đang nằm trong tay của 355 lâm trường trên toàn quốc, nơi mà khả năng hình thành các vùng nguyên liệu lớn hàng ngàn ha đang được mong đợi.  Về vốn đầu tư thì hiện nay bà con vẫn khó tiếp cận, nhưng đã xuất hiện nhiều liên kết ứng vốn trồng và khai thác lâm sản, đặc biệt là nguyên liệu tre nứa. Với quyền sử dụng đất sẵn có thì đây sẽ là một nguồn vốn có ý nghĩa để liên kết đầu tư trong tương lai.  Đâu là cản trở?  Như đã đề cập, tuy số lượng và diện tích tre nứa tự nhiên lớn như thế nhưng không phải nơi nào cũng khai thác được chủ yếu do điều kiện cơ sở hạ tầng không cho phép và sơ chế ở các vùng này chưa phát triển. Mỗi năm Việt Nam tiêu thụ hàng trăm triệu cây tre nứa, nhưng chỉ một tỷ lệ rất nhỏ trong số này được sử dụng trong ngành nghề mây tre. Tỉnh Nghệ An mỗi năm tiêu thụ 52,5 triệu cây tre nứa trong đó làm bột giấy và xây dựng cơ bản là 35 triệu cây, chỉ có 17,5 triệu cây là cho TTCN-TCMN, chiếm khoảng 22% tổng lượng tre nứa khai thác trên địa bàn tỉnh. Ở Thanh Hoá, tỷ lệ này là 16%.  Về thị trường nguyên liệu, có thể nói thị trường trong nước hiện nay vừa thừa vừa thiếu trên cả hai phương diện đó là chủng loại nguyên liệu mà ngành mây tre đan cần và nơi cần nguyên liệu. Về chủng loại, TTCN-TCMN sử dụng những loại nguyên liệu mang tính dẻo (giang, lùng, tầm vông…) để đan lát, uốn, bện… mà không dùng nhiều cây tre gai trồng rải rác khắp các vùng ở đồng quê. Ví dụ ở Hội An, Cơ sở Mây tre Bội Lâm hằng năm tiêu thụ hàng chục ngàn cây Tầm vông và họ phải đi mua tận A Lưới, Thừa Thiên Huế. Ở Nghệ An, hằng năm phải tiêu thụ đến 17,5 triệu cây Lùng khai thác từ tự nhiên, mà chưa gây trồng được. Do đó có thể nói là ngành nghề mây tre đan rất “kén chọn” nguyên liệu. Về khoảng cách địa lý thì giá nguyên liệu một cây luồng ở Tuyên Quang là 8,000 đồng nhưng khi chở về đến Hà Tây đã lên đến 27,000 đồng. Giá một cây lồ ô mua ở Đà Nẵng là 10,000 – 15,000 thì ở Đăk Lak, người dân (xã Dak Nuê, Lak) chỉ bán được 3000 đồng/cây. Có thời điểm tổ hợp chế biến đũa họ chỉ ép mua với giá 2000 đồng/cây. Từ việc phân tích các tác nhân hưởng lợi trong chuỗi giá trị tiêu thụ nguyên liệu tre nứa cho thấy các lái buôn trung gian là người được hưởng lợi khá nhiều trong khâu mua bán nguyên liệu cũng như sản phẩm chế biến. Đến giai đoạn tiêu thụ cuối cùng thì các đại gia xuất khẩu, các công ty quốc tế có tên tuổi như IKEA là những tác nhân hưởng lợi nhiều nhất. Các công ty này cho Cán bô kiểm tra chất lượng đến nghiệm thu sản phẩm, rồi đóng nhãn mác của họ vào để xuất khẩu. Khi vào mạng tra giá bán lẻ của các sản phẩm tương tự của các đại gia này mới thấy giá họ rao bán cao gấp hàng chục lần so với giá họ mua tại địa phương. Trong khi người trồng nguyên liệu và người chế biến hưởng lợi rất ít từ chuỗi giá trị này. Bên cạnh đó việc thiếu vắng thông tin thị trường, thiếu một thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan Việt Nam cũng làm cho sức cạnh tranh và năng lực ngã giá yếu hơn.          Trồng mây cao sản ở Thái Bình            Với vấn đề thị trường, để cho minh bạch giá và tránh hiện tượng ép giá bán nguyên liệu thì việc thành lập các chợ đầu mối mua bán nguyên liệu mây tre là rất quan trọng. Thứ hai để giải quyết vấn đề thiếu thông tin thị trường dẫn tới bị mua ép giá đối với các sản phẩm chế biến mây tre đan của ngưòi dân thì cần phải thành lập sàn giao dịch điện tử, thành lập các nghiệp đoàn địa phương ở các cấp như thôn, xã, huyện và tỉnh, làm tốt vai trò gắn kết thị trường, nghiên cứu khoa học và người dân lại với nhau. Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy việc ra đời của Hiệp hội Tre Nứa Trung Quốc năm 1985 đã giúp ích rất nhiều cho ngành công nghiệp này phát triển. Việc minh bạch hoá trong giao dịch thị trường cũng làm giảm cơ hội của việc xuất hiện quá sức nhiều và phức tạp các nhà mua bán trung gian hiện nay trong chuỗi giá trị. Ngoài ra, vấn đề xây dựng thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan Việt Nam cần phải nhanh chóng được thực hiện để nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng phạm vi thị trường. Hiện tượng mãi lộ cũng được đổ lỗi làm ảnh hưởng đến quá trình lưu thông tiêu thụ lâm sản. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng mãi lộ đã làm tăng giá luồng 19,5 % từ một vùng lân cận về Hà Tây.  Thực trạng hiện nay là đất đai quá manh múm và sử dụng kém hiệu quả, quỹ đất trong lâm trường còn khá nhiều. Do đó với vấn đề đất đai và quy hoạch thì rõ ràng là cần phải có chính sách để tạo ra những vùng đất liên tục quy mô hàng nghìn ha cho xây dựng vùng nguyên liệu dựa trên lợi thế sinh địa, thị trường trên cơ sở có cân nhắc sự tồn tại các cơ sở làng nghề hiện nay. Đất trong dân rất nhiều nhưng đang trong tình trạng manh múm. Do vậy cần có chính sách liên kết giữa doanh nghiệp với dân theo hình thức góp vốn bằng đất, dân với dân theo hình thức tổ hợp trồng rừng nguyên liệu với những hỗ trợ thích đáng từ phía Nhà nước, và doanh nghiệp tư nhân đang khát nguyên liệu với lâm trường vốn đang giữ nhiều đất và có thể phát triển mạnh vùng nguyên liệu. Các địa phương cần phải có quy hoạch sẵn những vùng đất rộng lớn để chào mời doanh nghiệp đến đầu tư, chứ không thụ động chờ doanh nghiệp đến xin rồi cấp đất nhưng khi ra hiện trường không biết lấy đất đâu mà giao như một trường hợp đã xảy ra đối với một địa phương ở phía Bắc. Cần đẩy mạnh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có chính sách mở rộng các hình thức đấu thầu, cho thuê đất… Theo tính toán sơ bộ, hiện nay Việt Nam cần ít nhất 40,000 tấn song mây các loại cho chế biến hằng năm. Nếu mỗi ha cho khai thác bền vững bình quân 3,5 tấn/năm thì phải cần hơn 12,000 ha mây các loại phục vụ cho chế biến trong nước. Riêng ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nơi tập trung 65% cơ sở chế biến TTCN-TCMN thì việc thiết lập khoảng 8000 ha cho khu vực này là một điều rất bức thiết và hoàn toàn không thừa. Hiện nay mây được trồng thử nghiệm trên toàn quốc nhưng vùng mây tự nhiên nổi tiếng lâu nay vẫn là các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và gần đây là mây trồng trên đất ruộng với thu nhập cao ngất trời (28 triệu đồng/ha/năm) ở Thái Bình.  Về vốn thì phải nói đây là một vấn đề gay cấn trong thời điểm hiện nay. Trước đây lãi suất cho vay trồng rừng nguyên liệu hiện nay khi mà lãi suất huy động của các ngân hàng đăng tăng lên, vốn vay cho trồng rừng nguyên liệu lại càng khó hơn. Hiện nay người dân vẫn rất khó tiếp cận với vốn vay để trồng rừng. Ngoài nguồn vốn tự có và vốn ứng trước từ doanh nghiệp, đa số các hộ dân khó tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn vay, mà thường phải qua bảo lãnh của một doanh nghiệp. Cũng từ kinh nghiệm Trung quốc cho thấy một chương trình tín dụng đặc biệt cho việc trồng tre nứa cũng đã được triển khai với mức vay là 545 USD/ha đã thật sự là một đòn bẩy ngoạn mục giúp nền công nghiệp mây tre phát triển.  Khoa học công nghệ liên quan đến trồng, thu hoạch và chế biến mây tre ở nước ta hiện nay cũng chưa phát triển. Hiện nay Trung Quốc đã đa dạng hoá các sản phẩm từ tre nứa như chế biến than hoạt tính, bia, dược liệu…Vì thế mà nhu thập từ 1 ha tre nứa lên đến con số ngoạn mục là 15,000 USD Mỹ/năm. Ở nước ta hiện chưa có nhiều nghiên cứu về giống mà quan trọng nhất là xây dựng bộ sưu tập giống mây tre thương mại. Đặc biệt là trong nghiên cứu chế biến tổng hợp – để tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu vốn rất thấp hiện nay – là một nhu cầu rất bức thiết. Một vấn đề nữa là hàng mỹ nghệ mây tre đan không phải là mặt hàng thiết yếu hằng ngày do đó cầu thị trường phụ thuộc rất nhiều vào sự tinh tế, tính thẩm mỹ, đa dạng và giá cả của sản phẩm. Do đó cần phải có tính sáng tạo trong thiết kế những sản phẩm này để làm sao kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng và tính ham muốn phải sở hữu được một sản phẩm mây tre đan. Do đó bên cạnh đầu tư vào khoa học công nghệ giống, trồng, khai thác và đa dạng hoá về chế biến, việc đầu tư nghiên cứu, đào tạo về thiết kế sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm này cũng là giải pháp hết sức quan trọng trong việc xác định một chiến lược phát triển ngành hàng mây tre đan Việt. Với truyền thống ngành da giày hàng trăm năm của Ý và xìgà của Cuba, ngày nay những sản phẩm cao cấp thuộc những thương hiệu da giày nổi tiếng của Ý và những điếu xìgà với giá hàng trăm đô-la thì chỉ có người giàu và nổi tiếng mới sở hữu được. Với phương châm như thế, mặt hàng mỹ nghệ mây tre đan cũng cần có một sự chuẩn bị cho sự đột phá từ lượng sang chất.             Ông Đỗ Xuân Đức trong vườn mây của ông ở xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình        Lao động cho ngành công nghiệp mây tre hiện nay cũng tồn tại nhiều bất cập. Muốn bán được nguyên liệu thì khâu chế biến phải phát triển, do đó việc đào tạo lao động và tay nghề phải kết hợp cả khâu xây dựng vùng nguyên liệu và chế biến sản phẩm.Về lao động hiện nay ở nông thôn khá dồi dào và đa dạng, từ lao động ngoài mùa vụ cho đến lao động của người khuyết tật. Tuy nhiên, chính cái sự dồi dào về lao động ấy cộng với đức tính tham công tiếc việc ấy đã làm cho một số nhà nhập khẩu gần đây phàn nàn về chất lượng sản phẩm. Phải nói lao động mây tre đan hiện nay chia ra hai nhóm rõ rệt, một nhóm là không thường xuyên và thiếu kỹ năng và một nhóm là thường xuyên và kỹ năng cao. Nhóm thứ nhất thường làm những sản phẩm đan lát đơn giản và không hoặc ít có đào tạo bài bản. Nhóm thứ hai thường làm việc ở các cơ sở hoặc các doanh nghiệp chế biến hàng mỹ nghệ cao cấp. Để có một sự đột phá về lượng thì cần phải đào tạo nhiều và mạnh hơn đối với nhóm thứ nhất và đào tạo bài bản với tính sáng tạo cao để tạo ra sự đột phá về chất như đã giới thiệu trên.  Với những bằng chứng nói trên phải nói rằng ngành nghề mây tre đan nước ta đang đứng trước những cơ hội to lớn. Vấn đề còn lại là phải xây dựng khẩn trương những giải pháp đồng bộ từ khâu nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu cuối cùng. Đặc biệt là trong khâu xây dựng nguyên liệu thì cần có các giải pháp chính sách về đất, vốn, lao động, thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng miền núi và khoa học công nghệ để làm sao vừa thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợn nhất nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư của tư nhân và ngoài nước để thúc đẩy ngành nghề mây tre đan phát triển. Một cơ hội tốt đang chờ một hành động cụ thể.  Đinh Hữu Hoàng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vượt bậc nhờ đổi mới công nghệ      Năm 2013, đại hội cổ đông Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông quyết định trích 20% lợi nhuận sau  thuế cho nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ. Trong đó Trung tâm  nghiên cứu R&amp;D Rạng Đông trở thành hạt nhân phát triển tiềm lực khoa  học công nghệ của Công ty, nền tảng của sự phát triển bền vững.    “Cần có  kế hoạch, biện pháp sát đúng. Tổ chức thật tốt bộ máy quản lý, đội ngũ  những người làm công tác khoa học kỹ thuật, nhằm tăng năng suất lao  động, chú trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, thực  hành tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân. Đó là ý  thức giai cấp, là lương tâm và trách nhiệm của mỗi cán bộ, công nhân”.  Đó là những lời dặn của Hồ Chủ tịch gần 50 năm trước khi Người về thăm  Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông, tiền thân của Công ty CP bóng đèn  phích nước Rạng Đông ngày nay.   Được khởi công xây dựng từ năm 1958, đây là  một trong 13 nhà máy đầu tiên được thành lập theo Quyết định của Chính  phủ nhằm đặt nền móng cho nền công nghiệp Việt Nam thời kỳ đầu xây dựng  XHCN. Từ đó đến nay, xuyên suốt chặng đường phát triển, những lời dặn dò  giản dị của Bác vẫn là phương châm để nhà máy và doanh nghiệp vượt qua  mọi khó khăn và nỗ lực vươn lên.  Ba giai đoạn phát triển  Ở giai đoạn đầu, từ năm 1990 đến 1993: Trong bối cạnh đất nước chuyển mình đổi mới sang cơ chế thị trường gặp rất nhiều khó khăn thách thức, do không có vốn để đầu tư mới bất kỳ hạng mục nào nên Rạng Đông buộc phải triệt để tận dụng cơ sở vật chất sẵn có với thiết bị hoàn toàn như cũ. Tuy nhiên, công ty đã phát huy được tối đa nhân tố con người nhờ tiến hành tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, đổi mới cơ chế điều hành, phát huy quyền chủ động của đơn vị cơ sở và thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ rộng khắp. Kết quả sau 4 năm, sản lượng năm 1993 tăng gấp 2,27 lần so với 1990 (từ 4 triệu bóng đèn lên 10,5 triệu, 306 nghìn phích nước lên 862 nghìn), đưa doanh thu tăng 5,5 lần, nộp ngân sách tăng 24,25 lần, vốn kinh doanh tăng 2,34 lần. Năm 1990 doanh nghiệp còn lỗ nhưng năm 1991 có lãi 222 triệu đồng, và tới năm 1993 lãi tới 3741 triệu đồng, tăng 16,85 lần so với năm 1991, thu nhập của cán bộ công nhân viên tăng 4,88 lần. Năm 1993 cũng là lần đầu tiên sản phẩm Rạng Đông được người tiêu dùng cả nước bình chọn vào “Mười mặt hàng tiêu dùng Việt Nam được ưa thích nhất -TOP TEN”. Từ thành quả đáng khích lệ đạt được trong giai đoạn này, năm 1994 Chủ tịch nước quyết định trao tặng Rạng Đông Huân chương Lao động hạng Nhất.  Giai đoạn từ 1994-1997: Sau khi huy động tối đa cường độ lao động, để tiếp tục phát triển đòi hỏi Rạng Đông phải đầu tư có chiều sâu vào dây chuyền công nghệ. Với toàn bộ nguồn vốn huy động được là 8,4 tỷ, lấy từ tiền thưởng của cán bộ công nhân viên cho công ty vay, Rạng Đông đã đầu tư mua máy thổi vỏ bóng tự động, khi đó đang là khâu vướng mắc nhất gây hạn chế sản lượng bóng đèn. Kết quả đạt được là tới năm 1997, so với năm 1993 giá trị tổng sản lượng của Rạng Đông tăng lên 2,35 lần, doanh thu tăng 2,42 lần, đạt tới gần 100 tỷ, các sản phẩm chủ yếu là bóng đèn từ 10,5 triệu tăng lên 22,27 triệu, sản phẩm phích từ 862 nghìn tăng lên 2 triệu. Công ty nộp ngân sách tăng 2,8 lần, lợi nhuận thực hiện tăng 2,56 lần, vốn kinh doanh tăng 3,9 lần và thu nhập bình quân của CBCNV tăng 2 lần đạt trên 1,8 triệu /người/tháng. Bốn năm liền trong giai đoạn này, sản phẩm Rạng Đông liên tục được bình chọn “Mười mặt hàng tiêu dùng Việt Nam được ưa thích nhất-TOPTEN”. Năm 1998, Công ty được chủ tịch nước tặng Huân chương Độc lập đầu tiên.  Giai đoạn thứ ba 1998 – 2004:  Đảng bộ và lãnh đạo Rạng Đông đặt ra một chương trình cụ thể nhằm phát huy nội lực, coi đó là nguồn lực chủ yếu phát triển công ty, với yêu cầu đặt ra là tất cả các dây chuyền sản xuất các sản phẩm chủ yếu như bóng đèn tròn, đèn huỳnh quang và ruột phích phải được đổi mới hiện đại hóa thiết bị và công nghệ đạt trình độ trung bình của khu vực, đồng thời nội địa hóa một số bán thành phẩm, giảm nhập ngoại. Phương châm của công ty là đầu tư tới đâu đưa nhanh vào sản xuất và khai thác tối đa để đến lúc phải cạnh tranh với nước ngoài thì cơ bản đã khấu hao xong – nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh khi thị trường mở cửa.   Dấu ấn đổi mới công nghệ lần thứ nhất của Rạng Đông trong giai đoạn 1998 – 2004 là chương trình 700 ngày chào đón thế kỷ 21. Chỉ trong một thời gian ngắn Rạng Đông đã ngừng toàn bộ hệ thống khí hóa than vừa gây bụi vừa độc hại qua hàng chục năm, chuyển toàn bộ các dây chuyền của Công ty sang dùng LPG. Ngày 23/5/1998 dây chuyền huỳnh quang hiện đại số 1 về đến công ty, và ngày 25/6/1998 đã ra đời chiếc đèn đầu tiên. Tháng 8/1998 phục hồi xong dây chuyền công suất 2600 sản phẩm/giờ số 1. Mặc dù không có thiết kế, không có chuyên gia hướng dẫn nhưng tháng 11/1998 công ty đưa lò thủy tinh Hungary 12m2 và máy thổi vỏ bóng P25 vào hoạt động. Tháng 1/1999 đưa dây chuyền kéo ống thủy tinh huỳnh quang vào khai thác công suất bằng lò thủy tinh Hungary, chấm dứt tình trạng phải nhập ngoại ống thủy tinh. Tháng 9/1999 phục hồi xong và đưa vào sản xuất dây chuyền công suất 2600 chiếc/giờ số 2.  Kết quả là trong 6 năm liền doanh số tiêu thụ của Công ty tăng từ 108,8 tỷ (1998) lên 399,38 tỷ ( 2004), bình quân mỗi năm tăng đều đặn 50 tỷ. Nộp ngân sách năm 1998 đạt hơn 9 tỷ, tới năm 2004 nộp 22 tỷ. Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên năm 1998 là 1,7 triệu/người/tháng thì năm 2004 là 2,2 triệu/người/tháng.   Từ những thành quả đạt được một cách liên tục, đều đặn, đúng 36 năm sau ngày Bác Hồ về thăm Rạng Đông, ngày 28-4-2000 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 159/KT-CTN phong tặng cho tập thể CBCNV Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.     Đối diện với thách thức mới  Những năm gần đây, nền kinh tế thế giới và trong nước rơi vào trạng thái trầm lắng, đặc biệt nền kinh tế trong nước đến nay về cơ bản vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Năm 2011 cả nước có đến 79000 doanh nghiệp phá sản, năm 2012 tiếp tục có thêm 100000 doanh nghiệp phá sản. Trong khi đó, giá điện, nước, xăng dầu vẫn tiếp tục tăng cùng với các khoản chi phí khác gây nhiều khó khăn cho các nhà sản xuất.   Năm 2013 cũng là năm áp lực đặc biệt đối với Rạng Đông do Chính phủ cấm sản xuất và lưu thông các chủng loại bóng đèn sợi đốt có công suất trên 60W vốn đang chiếm tới 48% sản lượng đèn tròn đang tiêu thụ và 57% tổng doanh số của đèn tròn của Rạng Đông, gây nguy cơ thiếu hụt doanh số, lợi nhuận, và ảnh hưởng tới công ăn việc làm của hơn 200 công nhân.  Tuy nhiên, Rạng Đông đã có những chuẩn bị cần thiết để đối phó trước những khó khăn thách thức này. Quá trình tái cấu trúc toàn diện công ty trong giai đoạn 2006 – 2010, từ tái cấu trúc về sở hữu, phân bổ nguồn lực, đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc, phát triển theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ đã tạo cho Rạng Đông một tiềm lực vững chắc, phát triển nhanh và bền vững. Bên cạnh đó, chất xúc tác kích thích đáng kể nỗ lực đổi mới để phát triển ở công ty là năm 2005, khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được hình thành, các hiệp định thương mại tự do ASEAN+1,3,6,8 có hiệu lực, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả tập thể doanh nghiệp nhằm tìm tòi, sáng tạo tối đa để có thể hợp lý hóa tổ chức, cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tri thức tiên tiến về quản trị và tri thức mới về khoa học công nghệ.   Hằng năm, Rạng Đông dành tới 2% doanh thu để đầu tư phát triển năng lực công nghệ và các dây chuyền sản xuất tiên tiến. Đại hội cổ đông năm 2013 quyết định trích 20% lợi nhuận sau thuế cho nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ. Trong đó Trung tâm nghiên cứu R&D Rạng Đông trở thành hạt nhân phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của Công ty, nền tảng của sự phát triển bền vững. Đến nay Trung tâm đã tập hợp được đội ngũ những nhà khoa học đầu ngành, nhiều Giáo sư, phó Giáo sư, tiến sĩ khoa học đầu ngành về nguồn sáng, điện tử, hóa vật liệu, kỹ thuật chiếu sáng và các lĩnh vực khác.  Đặc biệt, Công ty hướng tập trung phát triển các sản phẩm chiếu sáng sử dụng các nguồn sáng LED, CMH – nguồn sáng của thế kỷ 21, đầu tư dây chuyền hàn dán LED – SMD của Hàn Quốc với tốc độ 500 linh kiện/phút, dây chuyền nắn chân và cắm linh kiện điện tử tự động của Nhật Bản; đầu tư dây chuyền sản xuất đèn cao áp, đèn cao áp Metal Halide thế hệ mới dùng lõi gốm (CMH) với hiệu suất và chất lượng ánh sáng vượt trội so với HID truyền thống đang được sử dụng rộng rãi trong chiếu sáng trong nhà và ngoài trời.  Từ những nỗ lực đổi mới không ngừng đó, Rạng Đông tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế còn đang hết sức khó khăn. Năm 2012 Doanh thu của công ty đạt 2208 tỷ, tăng 16,2% so với 2011; lợi nhuận đạt 96 tỷ đồng, tăng 20% so với 2011, thu nhập bình quân đạt gần 8,5 triệu đồng/người/tháng, về đích trước 3 năm so với mục tiêu đề ra đến năm 2015 doanh thu đạt trên 2000 tỷ. Kết thúc Quí 1/2013 doanh số đạt 659,085 tỷ, lợi nhuận thực hiện đạt 36,381 tỷ, nộp ngân sách 55,559 tỷ.   Những kết quả tích cực của năm 2012 và trong năm 2013 đã đẩy lùi nguy cơ ngừng hoạt động một số bộ phận và buộc nghỉ việc của một bộ phận cán bộ công nhân trước những thách thức của năm 2013 như dự báo trước đây. Không những thế, Rạng Đông đã chứng tỏ mình đang đi đúng hướng, đạt được mục tiêu tham vọng của giai đoạn 2011- 2015, trong đó đặt ra “hạn chót năm 2015” trở thành doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp nguồn sáng chất lượng cao, đạt hiệu suất cao, tiết kiệm điện và thân thiện môi trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phê duyệt 10 đề tài thuộc Chương trình hợp tác song phương NAFOSTED – SNSF 2021      Từ 39 đề tài đăng ký, Hội đồng khoa học hỗn hợp Việt Nam và Thụy Sĩ đã đánh giá và lựa chọn được 10 đề tài trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội – nhân văn. Đây là đợt tài trợ đầu tiên trong chương trình hợp tác song phương giữa Quỹ Phát triển KH&CN (NAFOSTED) và Quỹ KH Quốc gia Thụy Sĩ (SNSF).      Một trong những đề tài được phê duyệt lần này liên quan đến việc trao quyền cho các cộng đồng ở khu vực nông thôn trong sản xuất nông nghiệp và chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Nguồn: Nông thôn mới.  Thuộc chương trình hợp tác song phương mới nhất của Quỹ NAFOSTED, đợt kêu gọi tài trợ đầu tiên này diễn ra từ ngày 1/10/2020 đến ngày 15/1/2021 với cơ hội mở rộng cho các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực như Giáo dục học/Tâm lý học, Xã hội học/Dân tộc học, Địa lý xã hội và sinh thái/Khoa học quản lý, Kinh tế/Khoa học chính trị, Khoa học kỹ thuật, Hóa lý/Vật lý/Vật lý vật chất ngưng tụ, Thổ dưỡng học/Kỹ thuật nông nghiệp, Học máy/Dữ liệu, Khoa học vật liệu/Hóa học, Khoa học môi trường/Khí hậu, Tim mạch/Miễn dịch học/Nội tiết, Sinh học phân tử/Di truyền học, Sinh vật học/Động vật học và Y Sinh. Theo quy định của chương trình này, một trong các điều kiện quan trọng để hồ sơ được chấp nhận là mỗi đề tài phải có cả nhóm nghiên cứu Thụy Sỹ và nhóm nghiên cứu Việt Nam phối hợp thực hiện 1.  Do quá trình tiếp nhận và phê duyệt các hồ sơ đều diễn ra trong đại dịch nên toàn bộ công việc đều được thực hiện online. So với các đợt kêu gọi và xét duyệt của các chương trình hợp tác song phương khác, đây là lần đầu tiên, hội đồng khoa học hỗn hợp thảo luận online, với bảy thành viên của SNSF và bảy thành viên của NAFOSTED. Trước đó, từ tháng 4 đến 7/2021, các hồ sơ đã được gửi để các chuyên gia phản biện quốc tế nhận xét, trung bình bốn chuyên gia phản biện/hồ sơ), theo thông tin từ NAFOSTED 2.  Theo biên bản thỏa thuận hợp tác NAFOSTED – SNSF thì chương trình hợp tác song phương sẽ diễn ra đến tháng 12/2025. Trong thời gian này, sẽ có nhiều hoạt động tài trợ/hỗ trợ dành cho các nhà khoa học Việt Nam – Thụy Sĩ cùng thực hiện.  Tuy mới ở lần “mở quỹ” đầu tiên nhưng chương trình hợp tác song phương NAFOSTED – SNSF đã nhận được đánh giá tích cực của rất nhiều nhà khoa học Việt Nam. Giáo sư Phạm Hùng Việt (Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích, kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm, ĐHGQHN), một chuyên gia đầu ngành về hóa phân tích từng học tập tại trường Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ và giữ mối quan hệ hợp tác nhiều năm với nhiều nhà khoa học Thụy Sĩ, nhận định, trong bối cảnh nguồn lực đầu tư cho khoa học Việt Nam chưa thật sự dồi dào thì đây là cơ hội tốt để các nhà nghiên cứu Việt Nam triển khai những đề tài nghiên cứu có ý nghĩa, áp dụng những phương pháp nghiên cứu mới với các nhà khoa học quốc gia này.     Dẫu vậy, một số nhà khoa học khác cũng cho rằng, để có được những kết quả nghiên cứu tốt và mang lại tác động lâu dài thì chương trình hợp tác này sẽ cần tập trung vào một số chủ đề hoặc lĩnh vực nhất định theo từng đợt hoặc giai đoạn, tránh mở ra dàn trải trên quá nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng đến tác động của chương trình với khoa học Việt Nam.  Dưới đây là danh sách các đề tài đầu tiên được Hội đồng khoa học hỗn hợp phê duyệt:  1. “Agro-Econvert: Agroecological Production and Organic Certification in Vietnam to Empower Rural Communities” – TS Phạm Văn Hội (Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp – Học viện Nông nghiệp Việt Nam) 36 tháng  2. “Understanding the Heritage and Development Nexus in Vietnam: A multi-scalar approach (HEAD)”- PGS.TS Nguyễn Thị Hiền (Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) 36 tháng  3. “The role of schools in detecting and responding to child maltreatment: A collaborative approach to evidence-based policy development in Switzerland and Vietnam” – TS Lê Minh Thi (Trường Đại học Y tế Công cộng) 36 tháng  4. “Eating green or eating meat? Eating crickets or eating beef? Sustainable food consumption behavior in Vietnam and Switzerland” – PGS. TS Phạm Bảo Dương (Học viện Nông Nghiệp Việt Nam) 36 tháng  5. “Role of microbial C, S and N cycling in the fate of As in aquifers in the Vietnamese Mekong Delta” – PGS.TS Võ Lê Phú (ĐH Bách khoa, ĐHQGTPHCM) 36 tháng  6. “Human and Algorithms for Detecting and Counter-attacking Fake Medical News” – PGS.TS Quản Thành Thơ (ĐH Bách khoa, ĐHQGTPHCM) 24 tháng  7. “Amplifying Waste Recovery Solutions – Towards a Circular Society (AWARE)” – TS Nguyễn Thị Hạnh Tiên (ĐH Phenikaa) 36 tháng  8. “How to decrease phosphate (P) losses from upland crops while maintaining optimum crop yields on acid sulfate soils of the lower Mekong delta? (acronym P-ASS)” – PGS. TS Phạm Thị Hoa (ĐH Quốc tế, ĐHQGTPHCM) 36 tháng  9. “Neutrino-nucleus cross-section meassurements using the new sFGD detector of T2K” – TS Nguyễn Thị Dung (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) 36 tháng  10. “Genetic investigations in Children with Developmental and Epileptic Encephalopathies in Ho Chi Minh City, Vietnam: A collaborative, prospective, tertiary care center study” – TS Bùi Chí Bảo (ĐH Y Dược, ĐHQGHN) 36 tháng  —————————————————  1. https://nafosted.gov.vn/thong-bao-tiep-nhan-ho-so-dang-ky-de-tai-thuoc-chuong-trinh-tai-tro-song-phuong-nafosted-snsf-thuy-sy/  2. https://nafosted.gov.vn/thong-bao-danh-muc-de-tai-thuoc-chuong-trinh-hop-tac-song-phuong-nafosted-snsf-nam-2021-duoc-quy-phat-trien-khoa-hoc-va-cong-nghe-quoc-gia-tai-tro/    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Phế phẩm dứa thành aerogel có giá trị cao: Hướng đi mới cho phụ phẩm nông nghiệp      Mới đây, các nhà khoa học Việt Nam đã cùng tham gia vào một nghiên cứu mới, hứa hẹn chuyển đổi hàng chục triệu tấn lá dứa phế thải vẫn để thối hoặc bị đốt thành aerogel có giá trị cao, rẻ và sạch.      PGS.TS Dương Minh Hải (giữa) và nhóm nghiên cứu. Ảnh: NUS  Aerogel là một trong những vật liệu rắn nhẹ nhất, được tạo ra bằng cách kết hợp polymer với dung môi nhằm hình thành gel, sau đó loại bỏ chất lỏng trong gel tạo ra vật liệu xốp, nhẹ nhưng vẫn mang lại cảm giác chắc chắn khi chạm vào.  PGS.TS Dương Minh Hải, giảng viên khoa Cơ khí thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS), ước tính rằng mỗi năm có khoảng 76,4 triệu tấn lá dứa bị thải bỏ. “Để có 1kg trái dứa, lại cần phải thải ra 3kg lá dứa. Người nông dân xử lý lượng phế phẩm khổng lồ này bằng cách đốt, ủ hoặc tái sử dụng làm thức ăn gia súc”, ông cho biết. Số phế phẩm này sẽ giải phóng các hóa chất độc hại và khí nhà kính, dẫn đến những vấn đề môi trường nghiêm trọng.   Ông cùng các đồng sự ở NUS sẽ công bố nghiên cứu của mình về quy trình chế tạo aerogel từ phế phẩm dứa trong ấn bản tháng 12 sắp tới của tạp chí Environmental Chemical Engineering. Ông cho biết thêm, quá trình sản xuất ra các loại aerogel thương mại – thường được dùng để cách nhiệt và cách âm – rất tốn kém và thường giải phóng một lượng carbon độc hại. Còn quy trình sản xuất do nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng các sợi lá dứa để tạo ra những aerogel siêu nhẹ, có thể phân hủy sinh học. Chúng có tác dụng như chất thấm dầu hoặc vật liệu cách nhiệt, cách âm. “Chúng tôi cũng đã chứng minh được hiệu quả của chúng khi ứng dụng vào việc bảo quản thức ăn hoặc xử lý nước thải. Đây có thể xem là một bước tiến lớn đối với nông nghiệp bền vững và quản lý chất thải”, ông nói.   PGS.TS Dương Minh Hải đã theo đuổi công việc tái chế các vật liệu khác nhau thành aerogel trong hơn một thập kỷ. Trước đây ông đã phát triển các kỹ thuật tạo aerolgel từ lốp cao su cũ, bã cà phê và chai nhựa.   “Gần đây nhất, chúng tôi tạo ra các aerogel sinh thái từ phế phẩm nông nghiệp và thực phẩm. Chúng tôi bắt đầu công trình này từ tháng 8 năm 2016, phải mất ba năm để gặt hái được những kết quả khả quan như hiện tại”, ông cho biết. “Chúng tôi đã sản xuất thành công aerogel sinh thái từ bã mía, bã cà phê và đậu bắp”.   Với quy trình mới này, trước tiên cần đưa lá dứa vào máy xay để ra được thành phẩm là sợi dứa, sau đó trộn sợi dứa với rượu polyvinyl liên kết ngang (PVA) – lưu ý phải xử lý ở nhiệt độ 800C để thúc đẩy liên kết ngang giữa các sợi và PVA. Trung bình, cần 10-12 tiếng để sản xuất aerogol từ nguyên liệu thô, nhanh hơn nhiều so với các quy trình tương đương.   “Một tấm aerogel sinh thái rộng khoảng 1m2, có độ dày một centimeter, chi phí sản xuất dưới 7 USD và có giá thị trường từ 22 đến 37 USD. Trong khi đó, một tấm cách nhiệt làm từ aerogel thông thường với cùng kích cỡ lâu nay vẫn được bán với giá hơn 220 USD”.  Nhóm nhiên cứu đang làm việc với các đối tác để thí điểm sản xuất các loại aerogel sinh thái này với quy mô lớn, ứng dụng vào việc bảo quản thực phẩm, cách nhiệt, giảm tiếng ồn, làm sạch dầu tràn và mặt nạ tái sử dụng để lọc khí độc, bụi bẩn và vi khuẩn.   Dứa là một trong những loại trái cây được ưa chuộng nhất trên thế giới. Ba nước sản xuất lớn nhất trên thế giới hiện nay là Costa Rica, Brazil và Philippines.  “Công nghệ tiên tiến chuyển đổi bã dứa có giá trị thấp thành bã dứa kỹ thuật có giá trị cao để bảo quản thực phẩm và xử lý nước thải sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Họ sẽ tích cực tìm kiếm phương án nhằm biến rác thải thành vật liệu hữu ích”, PGS.TS Lê Thị Kim Phụng, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc Hóa dầu tại Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, cho biết.  “Mặc dù quy trình tái chế vẫn đang được quá trình hoàn thiện, nhưng đây là một bước quan trọng hướng tới việc phát triển bền vững, từ đó xây dựng tư duy sáng tạo và đổi mới trong công cuộc bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên”, bà chia sẻ.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-scientists-pineapple-high-value-aerogels.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phê phán  Bush, khi điều này còn chưa là „mốt“      Giáo sư Paul Krugman được giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 2008 không chỉ là nhà kinh tế tầm cỡ quốc tế, người đã tiên đoán trước về cuộc khủng hoảng Dotcom, khủng hoảng tín dụng, và từng cảnh báo sớm về chính sách của&#160; George W. Bush, ông còn là bỉnh bút, một ngôi sao của tờ “New York Times”.    Đúng hôm Paul Krugman được tin được giải thưởng Nobel về kinh tế  thì trên tờ báo “New York Times” ra ngày thứ 2 vẫn xuất hiện như mọi kỳ bài bỉnh bút của ông bàn về vai trò tiên phong của Gordon Brown trong việc khắc phục cuộc khủng hoảng ngân hàng đang lan rộng trên thế giới hiện nay. Ông Krugman viết với giọng điệu khiêu khích, phải chăng vị Thủ tướng Anh này là người “cứu hệ thống tài chính toàn cầu” và qua mặt Chính phủ Mỹ đang bị mất uy tín dưới thời Tổng thống George W. Bush. Ông Krugman tả ngày được tin mình được giải thưởng Nobel: “Thật là một ngày hết sức kỳ quặc, nhưng kỳ quặc một cách dễ chịu” Nỗi lo lắng lớn nhất của ông là điện thoại di động liên tục đổ chuông.  Ông Edward Glaeser, một nhà nghiên cứu kinh tế ở Harward viết bài báo đầu tiên hoan nghênh  Krugman được giải thưởng Nobel trên  tờ  “New York Times” như sau: “Hiếm có nhà kinh tế được giải thưởng Nobel nào lại được nhiều người biết đến trước khi được giải như Krugman. Trong môi trường hàn lâm ông thực sự là người có công khai phá, cảnh báo sớm về nguy cơ cạnh tranh trong điều kiện thiếu các luật lệ và lý trí”, vì trong các bài viết của mình Krugman đã tiên đoán sớm không những về cuộc khủng hoảng của kỷ nguyên Bush mà cả về thảm họa tài chính trên thế giới hiện nay.  Riêng ông Krugman lại bình thản khi được tin về giải thưởng Nobel. Ông nói: “Điều này đối với một nhà khoa học kinh tế là một sự thừa nhận, nhưng đối với bạn đọc, có lẽ họ sẽ đọc kỹ hơn một chút khi tôi đề cập đến các vấn đề kinh tế, và họ cũng khoan dung hơn một chút,  khi thấy tôi tẻ nhạt”.  Krugman chỉ trích những điều mà người khác khen ngợi  Tính hay gây tranh cãi này trên các phương tiện truyền thông đã làm tăng  đáng kể lượng phát hành báo và số lượng sách bán ra (cho đến nay Krugman đã xuất bản 20 đầu sách trong đó phần lớn thuộc diện  Bestseller). Nhờ những sách, báo đó, các lý thuyết kinh tế của Krugman được dư luận rộng rãi trên thế giới coi là những chuẩn mực. Ngay từ năm 1979 và 1980, ông đã xúc tiến hai công trình có tính định hướng, trong đó ông nghiền ngẫm để làm sáng tỏ về vấn đề  tại sao Toyota lại bán ô tô của mình ở Đức và  ô tô Mercedes- Benz (Đức) lại bán ở Nhật Bản. Từ đó ông phát triển lý thuyết  “New Trade Theory”, và lý thuyết này  đã thay thế sự  lý giải về mô hình  dòng chảy  thương mại quốc tế thịnh hành trong thế kỷ 19 và 20. Ủy ban giải thưởng Nobel lấy Thụy Điển làm ví dụ, nước này vừa nhập khẩu lại vừa  xuất khẩu ô tô: “Loại buôn bán kiểu này tạo điều kiện để chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa hàng loạt,  nhờ đó giảm giá thành và làm cho chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú hơn.”  Nhờ thành tích này, ngay từ năm 1991 khi mới  38 tuổi, Krugman đã được Hiệp hội các nhà kinh tế  lâu đời nhất của Hoa Kỳ AEA  trao tặng huy chương  “John Bates Clark”, giải thưởng  nổi tiếng nhất về kinh tế của Hoa Kỳ. Giờ đây, 17  năm sau, ông mới có mặt trong ngôi đền Pantheon của các nhà thông thái về kinh tế. Ông đã  sánh vai trong đội ngũ các nhân vật nổi danh như Eli Heckscher, Bertil Ohlin và  Paul Samuelson.  Con đường thăng tiến trong nghiên cứu khoa học dường như đã được định sẵn đối với Krugman. Lớn lên ở Long Island, từng theo ở các trường Đại học Tổng hợp Yale, MIT, Berkeley, Stanford và London School of Economics. Năm 1982 lần đầu tiên ông tham gia chính trường. Khi đó ông làm việc một năm tại Hội đồng Kinh tế thuộc Nhà Trắng dưới thời Ronald Reagan. Mười năm sau, năm 1992 Clinton thậm chí đã cho mời ông đến Arkansas để phỏng vấn –  nhưng sau đó từ chối không ngỏ lời mời. Theo “Newsweek” lý do chính của sự thoái thác này vì: “Krugman có cái lưỡi quá phóng khoáng”. Bản thân ông hồi đó cũng thừa nhận: “Tính tình của tôi không phù hợp với vai trò đó. Anh phải biết cách cư xử với mọi người và biết cắn răng lại khi ai đó nói những lời xuẩn ngốc.”  Có thể nói viết bỉnh bút là một công việc thật thích hợp đối với Krugman. Ông viết cho các báo và tạp chí  như  “Fortune”, “Slate”, “Foreign Policy”, “Harper’s”,  “Harvard Business Review” và  “Economist”, từ năm 1999 ông viết cho “New York Times”. Ông có lối viết thật cay độc và những người không ưa ông  chế diễu ông là một  “Pop Internationalism”. Và ông lấy khái niệm này để đặt tên cho một cuốn sách của mình: ông muốn làm cho dân ngoại đạo “hiểu được và thích thú” cái thế giới đầy phức tạp này.  Ông Krugman thường không đứng về phía đa số, nhưng cuối  cùng cái đúng thuộc về ông. Trong những năm 90 ông phê phán  “New Economy”, kết cục của nền kinh tế mới này là sự sụp đổ của Dotcom. Năm 1997, ông phê phán chính sách tiền tệ của châu Á trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính. Năm  1998, ông chỉ trích các  Hedge-Fonds như  Long-Term Capital Management (LTCM), LTCM bị suy yếu và buộc phải chi hàng tỷ USD mới khỏi bị sụp đổ. Năm 2003 trong bài “The Great Unraveling” (“Sự bán tống bán tháo”) ông đề cập đến hậu quả tồi tệ của các chính sách kinh tế, tài chính và ngoại giao của chính quyền Bush. Năm 2007 trong bài “The Conscience of a Liberal” (“Sau  Bush – Sự cáo chung của  những kẻ thuộc phái tân bảo thủ và thời kỳ của phái Dân chủ”) ông Krugman tiên đoán sự sụp đổ của học thuyết Bush và nêu lên những luận đề mà hiện nay ứng cử viên Đảng Dân Chủ  Barack Obama đang vận dụng để tìm cách trở thành Tổng thống Mỹ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phép đo lường chính xác trên vật chất tối      Các đồng hồ quang học có độ chính xác có thể đem đến một ước tính 20 tỉ năm – dài hơn cả tuổi vũ trụ – để giảm hoặc tăng thêm một giây. Hiện tại, các nhà nghiên cứu Mỹ do nhóm nghiên cứu của Jun Ye tại Viện Tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ và trường đại học Colorado dẫn dắt đã khám phá ra độ chính xác của đồng hồ quang học và sự ổn định chưa từng thấy của hốc silicon ở dạng tinh thể để tăng cường những ràng buộc trên bất kỳ khả năng ghép nối nào giữa các hạt và các trường trong mô hình chuẩn của vật lý và cả các thành phần riêng biệt của vật chất tối.      Nhà nghiên cứu Jun Ye tại Viện Tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ và trường đại học Colorado là tác giả chính. Nguồn: ĐH Colorado  Ye và cộng sự đã sử dụng đồng hồ quang học của họ để tìm kiếm bất kỳ các biến thiên nào trong hằng số cơ bản α, hằng số cấu trúc tinh tế, vốn để xác định mức độ của những tương tác giữa các hạt mang điện tích và các photon. Ở phần kết thúc, họ so sánh tần số các nguyên tử strontium sử dụng trong đồng hồ quang học với hốc silicon ở dạng tinh thể, một thiết bị sử dụng chùm tia laser cho phép các sóng điện từ liên kết giữa các bề mặt phản chiếu đối lập và tạo ra một sóng đứng với tần số có đặc điểm được xác định bằng độ dài của hốc. Tần số của cả hai thiết bị được tinh chỉnh trong cả hằng số α và me (một hằng số cơ bản khác liên quan đến khối lượng của electron) nhưng với những phụ thuộc khác nhau, vì vậy tỉ lệ giữa hai tần số sẽ tiết lộ các biến thiên trong hằng số α.  “Mọi người sử dụng đồng hồ nguyên tử tại các tần số vi sóng để hạn chế giới hạn của cường độ liên kết trong vật chất tối nhưng công trinhg này có thể tái hiện những kết quả đầu tiên qua việc sử dụng các đồng hồ quang học để đem lại các hạn chế của tín hiệu dao động của vật chất tối”, Ye giải thích.  Cũng so sánh tần số hốc với các nguyên tử của đồng hồ, các nhà nghiên cứu so sánh nó với tần số của maze hydro – một tiêu chuẩn tần số vi sóng tạo ra bức xạ trên cơ sở những chuyển pha giữa các trạng thái spin hạt nhân và điện tử khác nhau trong nguyên tử hydro. Dẫu maze hydro không có khả năng đem lại mức giữ thời gian chính xác như đồng hồ quang học strontium, các chuyển pha năng lượng này là cơ sở dẫn đến mối quan hệ khác nhau giữa tần số và hằng số α và me, như tỉ lệ của tần số với hốc silicon ở dạng tinh thể đem lại một thí nghiệm cho các biến thiên trong giá trị của me. Trong khi các dao động trong giá trị của α có thể chỉ dấu những tương tác giữa vật chất tối và các điện từ trường, các dao động trong me có thể tiết lộ những tương tác với khối lượng electron.  Các tỉ lệ tần số được đo đạc giữa hốc và cả đồng hồ quang học với maze hydro đã góp phần đem lại một tiên tiến công nghệ cốt lõi – độ bền vững của hốc silicon tinh thể. “Phần lớn các hốc được làm bằng kính, vốn là chất rắn vô định hình và hỗn độn, nên có khuynh hướng nhiều chiều và không bền”, Colin Kennedy, một nhà nghiên cứu trong nhóm của Ye và là tác giả thứ nhất của công trình nghiên cứu, giải thích và nhấn mạnh đến sự tiên tiến của việc sử dụng hốc được làm từ một đơn tinh thể silicon. “Các hốc thế hệ mới này được làm từ đơn tinh thể silicon và có khả năng giữ được các nhiệt độ cryo, khiến cho trật tự về  độ lớn của chúng trở nên ổn định hơn. Đây chính là điểm quan trọng nhất của công trình mà chúng tôi thực hiện”.  Tiến gần tới vật chất tối  Dù các nhà nghiên cứu chưa quan sát được các dao dộng trong những hằng số cơ bản do các tương tác với vật chất tối tạo ra, dữ liệu của họ đã làm thu hẹp lại phạm vi các giá trị có thể của các tham số trong tương tác có thể có. Bởi khi cường độ có thể của các tương tác vật chất tối được tinh chỉnh bằng α thì các hạt vật chất tối với những khối lượng trong phạm vi từ 4.5 × 10−16 đến 1 × 10−19 eV khi được tinh chỉnh bằng me thì phạm vi khối lượng của nó ở giữa 2 × 10−19 và 2 × 10−21 eV.  “Ý tưởng sử dụng tần số cộng hưởng hốc quang học để so sánh với tần số nguyên tử được nêu ra lần đầu trong một trao đổi qua email giữa tôi và giáo sư Victor Flambaum”, Ye nói với phys.org khi lể lại những trao đổi giữa họ trong năm 2015. Trong khi Flambaum nhanh chóng viết ngay một bài “Optical clock sensitive to variations of the fine-structure constant based on the Ho14+ ion” trên Physics Review A miêu tả những ý tưởng cơ bản mà họ đã thảo luận thì Ye cho biết anh “muốn thấy các kết quả thực nghiệm nữa. Và bây giờ chúng tôi đã có”, đó là công trình “Precision metrology meets cosmology: Improved constraints on ultralight dark matter from atom-cavity frequency comparisons” trên tạp chí Physical Review Letters.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-precision-metrology-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phễu bán hàng – Cách hiểu trải nghiệm của khách hàng      Bài viết giúp những người kinh doanh có một cái nhìn tổng quát về trải nghiệm mua hàng của khách hàng để từ đó vạch ra chiến lược thuyết phục họ và mở rộng thêm những khách hàng mới.      Bài viết “Quyết định dựa trên những con số” trong số tạp chí Tia Sáng ra ngày 5/12/2016 đã giới thiệu công cụ thang đo “cướp biển” – AARRR để đo lường mức độ quan tâm của người dùng đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty, giúp những người kinh doanh, đặc biệt là khởi sự kinh doanh, có thể quyết định tốt hơn trong việc phát triển và quảng bá sản phẩm. Tuy vậy, để những thang đo này phản ánh đúng những nỗ lực và hiệu quả của hoạt động marketing và bán hàng, người kinh doanh cần phải gắn nó trong một chuỗi trải nghiệm của khách hàng. Sales funnel – thường được biết đến với tên gọi “phễu bán hàng”- là một công cụ được sử dụng trong hàng chục năm qua để đo lường hiệu quả việc chuyển hóa trải nghiệm của khách hàng theo từng bước.  Mặc dù trong thời đại số, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nhiều ý kiến cho rằng, thời của phễu bán hàng đã hết vì cách đưa ra quyết định của người mua đã bị thay đổi, họ bị tác động bởi các yếu tố xã hội và không phải trải qua tất cả những bước của phễu mới trở thành khách hàng của bạn. Tuy nhiên, nếu biết cách áp dụng, phễu bán hàng vẫn giúp ích trong việc chuẩn hóa quy trình bán hàng và sáng tạo cách thức bán hàng để rút ngắn thời gian chúng ta chuyển hóa một khách hàng tiềm năng thành khách hàng thực sự hay biến một khách hàng bình thường thành người trung thành lâu dài với sản phẩm dịch vụ.    Một phễu bán hàng đơn giản có hình dạng như hình bên, theo đó, một khách hàng sẽ trải qua năm giai đoạn cơ bản:  1. Khi khách hàng có nhu cầu, họ sẽ bắt đầu tìm kiếm thông tin trên nhiều kênh truyền thông khác nhau.  2. Các kênh thông tin sau đó sẽ dẫn dắt họ tới với bạn (đến website hay cửa hàng trực tiếp).  3. Trên kênh tiếp cận đó, họ sẽ tìm hiểu thông tin về sản phẩm dịch vụ của bạn, yêu cầu được cung cấp thông tin thêm nếu cần.  4. Khi sản phẩm/dịch vụ của bạn đáp ứng được nhu cầu của họ (một phần hoặc hoàn toàn), đó là lúc họ cân nhắc .  5. Khi họ quyết định mua hàng, họ trở thành khách hàng của bạn.  Việc đưa ra các bước như trên hoàn toàn mang tính gợi ý, với mỗi doanh nghiệp, thậm chí một kênh bán hàng/tiếp cận khách hàng, bạn sẽ có những nội dung khác nhau để điền vào phễu. Một phễu bán hàng cũng có thể có nhiều hơn hoặc ít hơn năm bước.  Hiểu ra trải nghiệm của khách hàng từ lúc họ mông lung trong lựa chọn sản phẩm đến khi chọn sản phẩm/dịch vụ của bạn, bạn bắt đầu hình dung ra hai vấn đề chính:  1. Bạn đo lường tỷ lệ chuyển đổi qua từng bước:  Ví dụ, xem xét tỷ lệ chuyển đổi từ người yêu cầu thông tin và người đang cân nhắc (họ sẽ hỏi thêm thông tin hoặc đàm phán giá cả, chiết khấu, số lượng, thời gian giao hàng v.v.), bạn sẽ nắm được số lượng người quan tâm đến sản phẩm dịch vụ của bạn và những người có thể trở thành khách hàng tiềm năng.  Hay khi xem xét tỷ lệ những người đang cân nhắc về sản phẩm dịch vụ với những người thực sự đặt mua và trở thành khách hàng, bạn sẽ thấy hiệu quả chốt đơn đặt hàng của đội ngũ sales. Cũng như vậy, qua phản hồi, bạn sẽ nắm được nguyên nhân nào khiến họ không mua hàng của bạn.  2. Bạn phải làm gì để những trải nghiệm qua từng bước đó của khách hàng có thêm giá trị (nội dung này sẽ được trình bày ở phần dưới).  Sẽ là sai lầm nếu bạn không xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng ngay từ những bước đầu tiên trong quá trình kinh doanh và càng sai lầm nếu không nắm giữ thông tin, phản hồi của những người đã là khách hàng của bạn như một báu vật.  Để khắc phục sai lầm này, bạn nên sử dụng một công cụ phát triển cao hơn của phễu cơ bản ở trên, đó là phễu hai đầu:  Phễu hai đầu như hình vẽ chỉ ra là một quá trình Thu hút – Giữ chân – Phát triển khách hàng hoàn chỉnh.  Sau khi chính thức có khách hàng, bạn phải giữ chân họ và làm sao để họ giới thiệu sản phẩm dịch vụ của bạn tới những người khác. Quá trình đó trải qua những bước sau đây:  1. Để giữ chân khách hàng, việc kiểm tra mức độ hài lòng và phản hồi bằng hình thức gọi điện thoại, khảo sát là điều rất nên làm.  2. Tiếp đến, bạn phân loại khách hàng với những nhóm đối tượng khác nhau để có những chiến lược khác nhau cho từng nhóm khách hàng.  3. Với những nhóm tiêu thụ cùng một mặt hàng, hãy khuyến khích họ mua thêm những sản phẩm dịch vụ mà họ đã từng mua.  4. Khuyến khích nhóm khách hàng đó mua những sản phẩm bổ trợ và/hoặc có liên quan.  5. Hãy sử dụng cơ chế khuyến khích họ giới thiệu sản phẩm dịch vụ của bạn tới những người khác.  Bạn nên để ý tới hai mũi tên cong trong hình vẽ. Nếu sau khi trở thành khách hàng và hài lòng với sản phẩm, họ có thể sẽ giới thiệu sản phẩm dịch vụ của bạn cho người khác trên các kênh khác nhau và một vòng lặp mới bắt đầu. Hoặc khi bạn xây dựng cơ chế khuyến khích khách hàng giới thiệu những khách hàng mới có nghĩa là sẽ càng có thêm những khách hàng tiềm năng đi thẳng vào bước dẫn dắt hoặc thậm chí là cân nhắc và đặt hàng.    Việc sử dụng phễu hai đầu sẽ không chỉ giúp bạn nhìn tổng thể bức tranh chăm sóc phục vụ khách hàng mà còn giúp bạn có những chiến thuật qua từng giai đoạn.  Lộ trình bán hàng  Làm thế nào để gắn kết phễu bán hàng với quy trình kinh doanh để gia tăng hiệu quả của hoạt động bán hàng? Nói một cách khác, làm thế nào để gắn kết những nguồn lực của công ty với chiến lược bán hàng thành một bức tranh chung, dễ nhìn và dễ hiểu? Bởi vì, từ bức tranh chung đó, bạn sẽ thấy nguồn lực của mình đang khuyết thiếu ở đâu và bước nào chưa hiệu quả để tiếp tục hoàn thiện.  Với những thông tin từ phễu kinh doanh dạng đơn giản và phễu hai đầu, chúng ta hãy chuyển thành dạng bảng như sau. Tuy vậy, với cột đầu tiên, bạn hãy điều chỉnh theo thực tế kinh doanh trong lĩnh vực của bạn.    Giả sử, công ty bạn cung cấp dịch vụ tư vấn chọn trường học cho con, khi đã dựng được bản lộ trình bán hàng, bạn hãy bắt đầu điền những thông tin như ví dụ dưới đây cho doanh nghiệp của mình. Không nên xây dựng bản đồ lộ trình tương lai mà thay vào đó là bản đồ hiện tại để nhìn ra những lỗ hổng và nguy cơ hiện có trong doanh nghiệp, từ đó xây dựng chiến lược mới hoàn thiện lộ trình kinh doanh hiệu quả hơn.    Phễu hai đầu. Nguồn: Nguồn: http://ericmorrow.com/  * Quy trình của người mua: Hãy đặt mình vào vị trí của người mua hoặc tiến hành quan sát, hỏi ý kiến của khách hàng xem ở giai đoạn đầu tiên khi bắt đầu nhận biết nhu cầu, họ thường làm gì. Hãy liệt kê tất cả những hành động thường thấy ở họ.  Ví dụ: Với người cần sử dụng dịch vụ tư vấn chọn trường học cho con, họ sẽ thực hiện hành động sau đây:  – Tìm kiếm thông tin trên mạng  – Hỏi bạn bè trên Facebook  – Tìm kiếm danh sách các trường  – Gọi điện để hỏi thăm các trường  * Nhiệm vụ kinh doanh (của bạn): Tương ứng với những hành động của người mua, bạn hãy liệt kê những việc mà bạn đã thực hiện để người mua hoàn thành hành động của họ hiệu quả nhất. Ví dụ:  – Đưa thông tin lên Facebook Fanpage  * Kỳ vọng phản hồi: Bạn phải trả lời được khách hàng đang kỳ vọng gì ở giai đoạn này. Ví dụ:  – Thông tin của bạn hữu ích  * Thang đo: Hãy đưa ra những tiêu chí được lượng hóa giúp bạn đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhiệm vụ kinh doanh bạn tiến hành.  – Số lượng người vào thăm Fanpage  – Số lượng người like page  – Số lượng người bình luận  * Phát hiện vấn đề: Sau khi đặt mình vào vị trí khách hàng và trải nghiệm, bạn sẽ thấy khách hàng có những vấn đề chưa được giải quyết hoặc khó chịu liên quan đến sản phẩm dịch vụ của bạn. Ví dụ:  – Không tìm thấy thông tin ở ba kết quả đầu tiên trên Google  Bạn tiếp tục tiến hành với những quy trình tiếp theo của người mua và làm càng chi tiết càng tốt.  Sau đó bạn tô màu những ô đang có vấn đề nghiêm trọng với quy ước màu khác nhau. Ví dụ:  – Trắng: Bình thường  – Vàng: Có vấn đề  – Đỏ: Vấn đề nghiêm trọng  Với ba công cụ vừa nêu trên, bạn hãy cùng xây dựng với nhóm bán hàng và marketing của mình, xem xét tỷ lệ chuyển đổi qua từng bước và cùng nhau phân tích những điểm yếu trong lộ trình bán hàng, từ đó hoàn thiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.      Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Phi lê cá hồi từ phòng thí nghiệm      Sebastian Rakers và Simon Fabich có kế hoạch tạo ra cá từ phòng thí nghiệm. Cả hai là người thành lập Bluu Biosciences, một startup về công nghệ sinh học. May mắn là họ nhận được hỗ trợ của Ngân hàng Tái thiết (KfW) để phát triển ý tưởng.      Sebastian Rakers đã nếm thử chút xíu miếng cá hồi mà cho đến nay chưa ai từng được thưởng thức. Miếng cá xinh xinh này được chế tạo trong phòng thí nghiệm của Bluu Biosciences ở Lübeck. Tại đây, người ta đã nuôi cấy từ một tế bào cá hồi trong ống nghiệm. Mục đích của startup này không chỉ có vậy mà còn là tạo ra nhiều sản phẩm cá khác nhau, trước tiên là chế tác ra các lát cá tẩm bột rán rồi tiến tới làm ra phi lê cá hồi. Hiện tại, họ đã thành công trong việc tạo ra những khối lượng cá nhỏ có hương vị rất triển vọng.  Khai trương doanh nghiệp bất chấp đại dịch  Bluu Biosciences ra đời đầu năm 2020, vào một thời điểm đầy rủi ro do bùng phát đại dịch corona. Việc sản xuất cá trên cơ sở nuôi cấy tế bào là một phương pháp có ý nghĩa về bảo vệ môi trường và bảo vệ khí hậu, đặc biệt nhằm hạn chế việc đánh bắt quá mức nguồn thủy hải sản trong tự nhiên. Theo Quỹ Động vật hoang dã thế giới (WWF), 33% trữ lượng cá được sử dụng thương mại trên trái đất hiện đang bị đánh bắt quá mức, ở Địa Trung Hải là 62%. Từ quan điểm sinh thái, các trang trại nuôi cá cũng không phải là một giải pháp thay thế hoàn hảo, vì cần rất nhiều thức ăn để chăn nuôi và theo WWF, các chất thải gây ô nhiễm, trong đó có cả kháng sinh, có thể tràn ra biển.  Theo nhìn nhận của Bluu Biosciences thì việc sản xuất trong ống nghiệm có tính bền vững cao hơn nhiều. Một mặt, người ta không còn phải đánh bắt và giết mổ cá, qua đó, có thể giúp bảo vệ được nguồn dự trữ trong tự nhiên. Điều này có thể thành hiện thực trong tương lai. Mặt khác, sản xuất cá trong phòng thí nghiệm  hiệu quả hơn nhiều so với nuôi trồng thủy sản, vì những gì làm ra được, đều trở thành thức ăn, không có gì phải vứt bỏ như vây, xương, nội tạng vv…. Ngoài ra, người ra cũng không còn phải sử dụng thuốc kháng sinh, vì việc sản xuất cá trong phòng thí nghiệm hầu như không phải đối mặt với mầm bệnh. Nhà sinh vật biển Rakers cũng nhận thấy những lợi thế về lâu dài của giải pháp này đối với khí hậu “Người ta có thể sản xuất phi tập trung, gần  với người tiêu dùng và có thể chấm dứt vận chuyển đường dài”. Năng lượng điện phục vụ sản xuất có thể là điện mặt trời, tóm lại việc sản xuất gần như hoàn toàn “xanh”.  Hiện tại, không riêng gì Bluu Biosciences mà một loạt doanh nghiệp khác đều có ý đồ sản xuất thịt trên cơ sở nuôi cấy tế bào. Thí dụ hãng Mosa Meats của Hà lan hoặc Memphis Meats của Mỹ dự kiến nuôi cấy tế bào để sản xuất thịt bò và gia cầm.  Tuy nhiên không phải không có thách thức với lĩnh vực này, trong đó một trở ngại lớn đối với tất cả những người đi tiên phong là “sự chết của tế bào”. Thông thường, các đơn vị sinh học cơ bản của sự sống chỉ có thể phân chia từ  20 đến 30 lần trước khi chúng bị chết. Do đó, từ một tế bào duy nhất sẽ không thể nuôi cấy để có một lát cá hồi mà phải tạo ra từ hàng tỷ tế bào. Bluu Biosciences đã giải quyết thành công vấn đề này: các nhà khoa học đã thành công trong việc phân lập cái gọi là tế bào gốc bất tử, qua đó có thể phân chia thường xuyên, vô tận. Thách thức lớn thứ hai trong quá trình sản xuất thịt trong phòng thí nghiệm là tìm ra chất lỏng dinh dưỡng để các tế bào có thể phát triển tối ưu. Cho đến nay, cái gọi là huyết thanh này vẫn chứa các thành phần động vật, ví dụ như máu bê. Nhưng Bluu Biosciences đã tìm ra các giải pháp thay thế – các yếu tố tăng trưởng được tạo ra từ thực vật, vi khuẩn hoặc tảo. Bước tiếp theo là chuyển kết quả thí nghiệm sang sản xuất đại trà – Bluu Biosciences phải chuyển từ một công ty nghiên cứu sang một nhà sản xuất thực phẩm.    Có thể trong tương lai, những món cá hồi mà người ta thưởng thức sẽ đến từ các phòng thí nghiệm. Nguồn: stern.de  Công nghệ sinh học có thể nuôi hàng triệu người  Sau không đầy hai năm, Bluu Biosciences đã có 15 nhân viên thường xuyên. Hiện bộ đôi sáng lập viên này đang phải tìm địa bàn để mở rộng các phòng thí nghiệm sinh học. Trước mắt doanh nghiệp nhằm vào thị trường tiêu thụ ở Đức nhưng về lâu dài là thị trường toàn cầu. Lý do hiện tại khoảng ba tỷ người sử dụng chất đạm từ nguồn lợi hải sản. Người ta tin rằng các nước đang phát triển và mới nổi sẽ là thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng trong tương lai.  Bluu Biosciences gặp may, hiện đã có nguồn tài chính trị giá 7 triệu euro đầu tư cho họ. Kế hoạch của danh nghiệp này là trong năm tới tạo ra được một lượng mô tế bào lớn hơn. Cuối năm 2023 phán đấu có lô sản phẩm đầu tiên bán ra thị trường trước mắt dưới dạng cá que và bánh cá Tatar. Về lâu dài là tạo ra được file cá hồi. Cái khó ở đây là bên cạnh mớ tế bào còn phải tạo ra các lớp mỡ và mạch máu trong miếng cá hồi. Những cấu trúc phức tạp như vậy vẫn chưa thể  tạo ra được trong phòng thí nghiệm. Nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy các giải pháp khả thi: Ví dụ, một máy in 3-D có thể chồng các lớp tế bào khác nhau hoặc bằng một cách khác, miếng phi lê có thể được xây dựng bằng cách sử dụng khung sinh học. Dù sao thì để đên khi có được một lát cá hồi Bluu trên đĩa của bạn, ít nhất cũng phải mất vài ba năm nữa.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/sponsored/kfw/nachhaltigkeit/article233792694/Unternehmensgruendung-Lachsfilets-die-aus-dem-Labor-kommen.html  https://www.swr.de/wissen/fisch-aus-dem-labor-100.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phía sau báo cáo môi trường kinh doanh 2013      Việt Nam được xếp hạng 99 trong 185 nền kinh  tế toàn cầu theo Báo cáo Môi trường kinh doanh 2013 do Ngân hàng Thế  giới và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) công bố sáng 23-10 tại Hà Nội.    Như vậy, thứ tự của Việt Nam năm nay không khác gì các năm trước, tức vẫn ở khoảng đầu của nửa cuối bảng xếp hạng, vốn được WB và IFC công bố từ 8 năm qua.  Tuy vậy, bản báo cáo năm nay không thể hiện được tình thế khó khăn mà doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt trên thực tế.  Ông Nguyễn Văn Làn, đại diện IFC tại Hà Nội nói: “Xếp hạng năm nay của Việt Nam có thể hiện tình trạng khó khăn của doanh nghiệp hay không. Câu trả lời của tôi là không”.  Ông giải thích, môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp hạng tương đối giống nhau trong các bản báo cáo của tổ chức này, trong khi doanh nghiệp đang đối diện với tình thế vô cùng khó khăn trong 2 năm qua.  “Bản báo cáo chỉ chụp một góc rất nhỏ trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam mà thôi,” ông giải thích.  Có mặt tại buổi lễ công bố báo cáo, chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đang đối diện với khó khăn lớn nhất kể từ khi “Đổi mới” với biểu hiện rõ nhất là tình trạng phá sản, nợ xấu, tồn kho cao.  Bà Lan trích dẫn những số liệu của Chính phủ, có tới 40.000 doanh nghiệp đã giải thể trong 9 tháng đầu năm nay và 53.000 doanh nghiệp phá sản trong năm 2011.  “Có nghĩa là chỉ trong hai năm qua, số doanh nghiệp phá sản đã chiếm gần một nửa so với tổng số doanh nghiệp phá sản kể từ khi Đổi mới là khoảng 200.000”, bà nói.  Mặt khác, theo bà Lan, số 450.000 doanh nghiệp còn tồn tại cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, khi họ phải cắt giảm tới 20% công suất.  “Tỷ lệ cắt giảm công suất như vậy tương đương với 30% trong số 450.000 doanh nghiệp còn hoạt động là phá sản”, bà nói.  “Rất nhiều doanh nghiệp nói với tôi gần đây là họ rất lo lắng, hoang mang không biết thời gian tới thế nào,” bà kể.  Bản báo cáo “Môi trường kinh doanh 2013: các quy định thận lợi hơn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ” ghi nhận Việt Nam chỉ có duy nhất một cải cách trong năm qua là cho phép doanh nghiệp sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng tự in.  Trong khi đó, cả 10 tiêu chí mà WB và IFC sử dụng để xếp hạng Việt Nam được bà Lan phân tích là “không sát với thực tế”.  Chẳng hạn, tiêu chí Cấp phép xây dựng của Việt Nam được xếp thứ 28 thế giới, với 11 thủ tục, 110 ngày và chi phí chỉ khoảng 67% thu nhập bình quân đầu người (1.260 đô la Mỹ).  Bà Lan bình luận: “Tôi nghi ngờ nhất về tiêu chí này khi thực tế là có nhiều dự án kéo dài quá lâu, năm này qua năm khác và chi phí bị đội lên rất cao. Chúng ta sống ở đây nên chúng ta hiểu tình hình khó hơn báo cáo”.  Tiêu chí Vay vốn tín dụng của Việt Nam cũng được xếp hạng 40 thế giới. Bà Lan nói: “Đây là điều không sát với thực tế, vì doanh nghiệp đối diện với nợ xấu và lãi suất tăng cao”.  Về tiêu chí Nộp thuế, Việt Nam xếp hạng 138, với số lần doanh nghiệp đóng thuế trong năm là 38, thời gian đóng thuế mỗi năm là 872 giờ, và tổng thuế suất lên tới 34,5% lợi nhuận.  Bà Lan cho rằng, tổng thuế suất lên tới 34,5% lợi nhuận so với thuế thu nhập doanh nghiệp 25% nói lên tình trạng tham nhũng ở Việt Nam.  “Điều này cho thấy, nhiều doanh nghiệp phải hối lộ cho được việc”, bà nói.  Bà nhận xét, Đề án 30 của Chinh phủ về cải cách thủ tục hành chính dường như không phát huy tác dụng trong báo cáo này.  Hơn nữa, Chính phủ đã cam kết tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cải thiện môi trường kinh doanh trong Nghị quyết 11, chủ trương lớn nhất hiện nay nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, song những cam kết này dường như không phát huy tác dụng.  “Các doanh nghiệp xin tôi khuyên họ, nhưng tôi cũng chẳng biết nói thế nào. Tôi chỉ nói, là hãy tự cứu mình trước khi chờ trời cứu”, bà Lan nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phiên chợ tăng tốc khởi nghiệp      Phiên chợ Xanh Tử tế do BSA tổ chức diễn ra hằng tuần bắt đầu từ tháng 10 tại TP.Hồ Chí Minh là nơi tụ hội của những người nông dân khởi nghiệp với những sản phẩm nông nghiệp chất lượng và sản xuất theo quy trình sạch. Ít người biết rằng, đây thực chất là một accelerator (khóa tăng tốc khởi nghiệp) với quy trình tuyển chọn khắt khe nhưng đào tạo và hỗ trợ hào phóng để tạo ra một thế hệ nông dân kiểu mới: năng động và có trách nhiệm với cộng đồng. Tia Sáng đã có dịp trò chuyện với bà Vũ Kim Anh – người phụ trách phiên chợ đặc biệt này.    Có ý kiến cho rằng, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp về nông nghiệp thành công ở Đồng bằng sông Cửu Long nhưng họ lại rất kín tiếng. Vậy làm thế nào để mình có thể tìm kiếm và “gom” họ lại trong Phiên chợ Xanh Tử tế?  Một là chúng tôi có CLB nông dân miền Tây, với các thành viên đến từ đa số các tỉnh của miền Tây Nam Bộ. Mỗi tháng đều có sinh hoạt CLB và ai có gì hay, ai có gì mới là phải đem đến trưng bày và nói về sản phẩm mới và những kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh của mình. Rồi chúng tôi có CLB Những người sản xuất sạch mà bạn Võ Văn Tiếng, chủ thương hiệu gạo Tâm Việt, cũng là thành viên, gồm những người tự nguyện ký cam kết với nhau là sản xuất sạch. Người miền Nam mà, nghĩ sao nói vậy, và người ta đã làm là làm thiệt, cho nên người ta đã ký vô đây rồi là có chết cũng làm giống như vậy. Như vậy, chúng tôi vừa có nguồn đầu vào phiên chợ vừa tạo được thói quen chia sẻ, không giấu nghề giữa những người nông dân.   Các CLB đó của BSA xây dựng cách đây 6-7 năm rồi và hoạt động hằng năm, tháng nào cũng họp và gần đây thì họp thường xuyên hơn vì sản phẩm của mấy “ông nông dân” đó đều có mặt trong Phiên chợ Xanh Tử tế, được tham gia các chương trình hàng Việt về Nông thôn hoặc Hàng Việt Nam chất lượng cao do BSA tổ chức.     Từ khi thành lập, Phiên chợ Xanh Tử tế đã tổ chức được 14 lần, đều đặn hai tuần một lần và tổng cộng có 70 doanh nghiệp tham gia, mỗi phiên có 30-40 doanh nghiệp. Tổng doanh thu trung bình của mỗi phiên chợ diễn ra trong hai ngày là 300-450 triệu đồng và mặt hàng bán chạy nhất là rau xanh, có những khi các đơn vị mang 100 kg rau xanh đến và bán hết veo chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ.   Có người nói rằng Phiên chợ Xanh Tử tế giống như một khóa tăng tốc khởi nghiệp, các doanh nghiệp sẽ bán ở đây một thời gian cho đến khi họ trưởng thành, ổn định đầu ra rồi sẽ nhường chỗ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp khác vào. Vậy mình hỗ trợ họ khi còn ở trong phiên chợ như thế nào?  Đối với các bạn trẻ khởi nghiệp và cả người “già” luôn, như anh Đoàn Văn Vươn mới khởi nghiệp có một năm nay thôi, thì chúng tôi giúp cho các bạn thứ nhất là ra được sản phẩm, các chuyên gia (bao gồm các doanh nhân thành công trong Hội Hàng Việt Nam chất lượng cao) đến tận vườn giúp cho các bạn xây dựng kế hoạch kinh doanh, tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu v..v   Sau đó là giúp đỡ về đầu ra, mặc dù các bạn tự tiêu thụ được nhưng một là nó nhỏ lẻ, hai là nó có thể phân phối trong gia đình, trong nhóm nhỏ, chứ còn về quy mô và tạo ra cái niềm tin rộng rãi thì không có. Đó là những cái băn  khoăn, cho nên BSA có hoạt động nào thì chúng tôi cho các bạn tham gia, ví dụ như chương trình tung hàng Tết, các chương trình Hàng Việt Nam Chất lượng cao, Chương trình Hàng Việt về nông thôn.   Nhưng nếu thuần túy là Hàng Việt Nam chất lượng cao thì với các bạn trẻ khởi nghiệp tham gia sẽ không đủ chuẩn, vì toàn là doanh nghiệp đã thành lập hàng chục năm rồi. Thế nên, mình bố trí cho các bạn các gian hàng trong một không gian gọi là ngôi nhà chung ở Sài Gòn, ở Đồng Tháp, ở Nha Trang, Khánh Hòa, Đồng Nai và chúng tôi ghi rõ là thanh niên khởi nghiệp, không ai thắc mắc. Phía bên kia có các doanh nghiệp 20 năm hàng tiêu biểu còn bên này có nhóm hàng hóa thanh niên khởi nghiệp rất xôm tụ, có cả tinh dầu của các bạn ở Hợp tác xã H’Mong Cát Cát (ở Lào Cai), có cả Hồng sấy gió (ở Đà Lạt), sầu riêng, chôm chôm (ở miền Tây Nam Bộ)… cho nên là nó tạo được một cái lạ, người ta thích và mua rất nhiều. Ngày hội Tung hàng Tết cũng vậy, chúng tôi tổ chức những phiên chợ đặc sản địa phương để các em giới thiệu sản phẩm và kết nối với các tiểu thương trong CLB Người bán hàng số một của chúng tôi để mở rộng thị trường.  Còn Phiên chợ Xanh Tử tế, chúng tôi tổ chức ngay trong cơ quan của mình, là văn phòng của BSA, của Hội hàng Việt Nam chất lượng cao, thì chúng tôi lấy thương hiệu mình ra mình đảm bảo để đưa sản phẩm của các bạn về đó bán. Như vậy, một là đỡ tốn chi phí mặt bằng, hai là người mua biết đây là văn phòng trung tâm của cơ quan cũng có uy tín nhất định thì từ đó người ta tin, người ta tin là sản phẩm tốt. Và BSA phải kiểm soát chặt đầu vào phiên chợ của mình thì mới dám đảm bảo đầu ra. Khi đó, nó mới tạo ra một cú hích, một cơ sở để giúp cho các bạn khởi nghiệp tin tưởng vào bản thân hơn.     Mà A Nủ (phải) khi mới 20 tuổi đã sáng lập ra Hợp tác xã H’Mong Cát Cát (Lào Cai) để tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương mình với sản phẩm tinh dầu  Vậy ban tổ chức kiểm tra kĩ, kiểm soát rất chặt đầu vào như thế nào?   Mặc dù mình tiếp nhận từ các câu lạc bộ nhưng khi người ta muốn bán ở các phiên chợ thì phải có giấy chứng nhận kinh doanh, giấy vệ sinh an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận Viet GAP, Global GAP v.v. Như vậy có thể coi là Nhà nước đã chứng nhận đủ cho họ rồi. Song song với đó là mình đi kiểm tra tận nơi. BSA có một CLB chuyên gia ở tất cả các ngành nghề (từ nông nghiệp cho đến thương hiệu, bán hàng…) và họ làm việc tình nguyện, họ đi vào các vườn rau, trang trại chăn nuôi và mấy anh đó mới coi người ta trồng. Người ta làm như thế nào, người ta sử dụng thuốc như thế nào qua nói chuyện là biết hết, các ông chuyên gia đi hỏi rồi mấy ông nông dân khai hết trơn à. Nếu các chuyên gia đi ra và nói với mình là đúng, là được rồi thì thôi, mà họ nói tôi hơi băn khoăn thì mình sẽ trả lời là mình tạm ngưng tiếp nhận tham gia và trao đổi riêng với họ để họ làm lại thì mình mới tiếp tục tiếp nhận.   Hôm qua, khi đi qua một gian hàng của tỉnh Thái Nguyên, cũng có một khách hàng tỏ ý không tin rằng đây có phải đúng là đặc sản không, có đúng đạt vệ sinh an toàn thực phẩm không thì cô bán hàng đã trả lời lại là: “Chị phải tin chứ, vì chúng tôi khó lắm mới vào được đây đấy!”  Các doanh nghiệp ở Miền Bắc là do các anh chuyên viên ở Trung tâm Xúc tiến của Bộ Nông nghiệp giới thiệu. Sau đó thì chúng tôi đi khảo sát xem họ buôn bán như thế nào. Họ cũng đăng ký nhiều lắm nhưng chúng tôi cũng phải từ chối đa số. Không phải vì chất lượng nhưng thứ nhất là mình chưa an tâm về cách trưng bày hàng hóa, cách buôn bán và đầu vào hàng hóa, thứ hai là mình không biết họ có bán thêm cái gì hay không. Có những gian hàng chúng tôi đồng ý nhưng họ phải ký cam kết với mình. Vì thời gian không có nên nhiều nơi chúng tôi chưa kiểm tra được ngay, nhưng qua hội chợ này rồi chúng tôi tiếp tục sàng lọc nữa, nếu lần này mà các anh tham gia đúng là đàng hoàng thiệt thì mai mốt sẽ mời tiếp, còn nếu anh lôm côm thì chắc là lần sau không được tham gia rồi.   Ở các phiên chợ này có rất nhiều những bạn trẻ có kiến thức, được đào tạo bài bản đi làm nông nghiệp. Đây có phải là xu hướng không, có phải thế hệ nông dân kiểu mới như vậy ngày càng đông không?   Nhiều, tôi thấy nhiều đó, qua facebook và các mạng xã hội khác thì ngày càng có nhiều bạn trẻ, từ Đaklak, Phú Yên, cho đến Bình Thuận tham gia các cuộc thi dự án khởi nghiệp do BSA tổ chức. Ban đầu có hai mươi mấy dự án thôi mà bây giờ là 80 dự án dự thi. Các dự án nông nghiệp do những người trẻ tuổi làm ra thì rất nhiều nhưng con số trên là những bạn dám đứng trước mọi người, dám thuyết trình trước mọi người về sản phẩm của mình.   Các bạn trẻ nhận thức về cái sạch, cái nhu cầu sạch khá rõ và không thỏa hiệp với môi trường xấu ở xung quanh. Các bạn lại nhạy bén, từ cái chuyện kết nối thị trường, đi tìm hàng, kết nối với nhau như thế nào – bạn này bán món này thì phải có bạn khác bán món khác “nhào vô” cùng bán với nhau. Chẳng hạn như em Huỳnh Nhật Phong với sản phẩm từ tiêu lốp (thương hiệu tiêu lốp Huỳnh Châu) quy tụ các bạn lọt vào vòng chung kết dự án khởi nghiệp (BSA vừa tổ chức) tự đi từ Nam ra Bắc để tham dự Phiên chợ Xanh tử tế ở Hà Nội. Thì đó là sự năng động của tuổi trẻ, sáng tạo của tuổi trẻ.   Cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!    Anh Nguyễn Minh Hậu (thứ hai từ phải sang) tham gia được gần 10 phiên chợ với giống sầu riêng Ri 6 “gia truyền”. Thông thường, sầu riêng Ri 6 của anh rất khó cạnh tranh vì giá cao hơn so với các loại sầu riêng không rõ nguồn gốc nhưng thậm chí vẫn đề tên thương hiệu của anh. Thông thường, sầu riêng Ri ^ chỉ bán thông qua một số đại lý nhất định. Anh cho biết, nhờ phiên chợ mà khách hàng tự tìm đến mua sầu riêng của anh và có thể mua với giá rẻ nhất. Bên cạnh đó, sản lượng sầu riêng bán ra ở phiên chợ cũng tương đương với ở các đại lý. Có những buổi sáng, anh bán hết sạch nửa tấn sầu riêng.   Trong Phiên chợ Xanh Tử tế diễn ra tại Hà Nội, những người đi chợ có dịp được giao lưu với những người nông dân khởi nghiệp trẻ tuổi năng động và trách nhiệm đến từ Phiên chợ Xanh Tử tế tại Tp.Hồ Chí Minh, chấp nhận khó khăn, thậm chí là cả những nghi ngờ từ những người xung quanh để sản phẩm chất lượng, nếu không muốn nói là “hoàn hảo”. Nguyễn Minh Hậu là con út của ông Sáu Ri, tác giả của giống sầu riêng Ri 6 cơm vàng hạt lép nổi tiếng ở Nam Bộ, được bà Kim Anh giới thiệu là người khó tính đến mức “khó chịu” vì anh chỉ bán cho những khách hàng yêu và thực sự hiểu được giá trị của sầu riêng. Từ bỏ công việc của một kỹ sư công nghệ với mức lương 2.500 USD/tháng, vì muốn thay đổi định kiến của người dùng cho rằng hễ sầu riêng là nhúng thuốc, anh trở về tự tay đi rao bán trái sầu riêng của cha mình trên khắp cả nước. Ở Phiên chợ Xanh Tử tế tại Hà Nội, trong hai ngày, số sầu riêng Ri 6 anh Hậu mang ra Hà Nội đã được báo là… hết hàng mặc dù vẫn còn. Tại sao anh không bán nữa? Theo như bà Kim Anh giải thích, đó là bởi vì, “đụng tới sầu riêng của cha mình, ai chê là bạn ấy không có chịu. Cho nên, khi giao hàng cho khách là phải ngon và phải chín tới thì bạn ấy mới chịu bán ra, sầu riêng còn nhưng không chín, nó còn chai cái đầu một chút là bạn ấy không chịu rồi.” Một nhân vật khác, nổi tiếng hơn với biệt danh “ngựa ô can trường” là Võ Văn Tiếng, chủ thương hiệu gạo Tâm Việt ở Hồng Ngự, Đồng Tháp. Chưa bao giờ có ý định làm nông nhưng Tiếng lại quay trở về trồng lúa theo phương thức hữu cơ vì thấy rằng người nông dân lệ thuộc quá nhiều vào phân và thuốc hóa học, có người chết trên đồng ruộng. Ban đầu, anh bị gia đình và làng xóm phản đối dữ dội cho đến khi trồng hai vụ lúa thành công, cha anh mới công nhận: “Mày trồng lúa không dùng phân và thuốc hóa học mà gạo ăn được đấy. Tao nghe người ta nói là mày làm như thế thì vỏ trấu cũng không có mà ăn chứ đừng nói gì đến gạo”. Sự “cứng đầu” của Võ Văn Tiếng cuối cùng cũng được nhìn nhận: Khi cả ruộng của anh và nhiều người khác vàng rực vì bị rầy lửa bu đến, mọi người khuyên anh phun ngay thuốc trừ sâu nhưng anh không chịu. Cuối cùng, sau một thời gian, cây lúa ở ruộng của anh lớn, đủ sức kháng lại rầy lửa, lại xanh tốt trở lại trong khi nhiều ruộng xung quanh dù phun thuốc trừ sâu loại mạnh mà vẫn chết. Nhờ sự kiện này mà một số người theo Tiếng trồng theo phương pháp hữu cơ. Gần đây, Tiếng được cha đầu tư hơn 20ha để trồng lúa, anh đã lên facebook kêu gọi được tám bạn trẻ tốt nghiệp đại học ở các tỉnh khác trở về quê tại Hồng Ngự, Đồng Tháp để cùng xây dựng thương hiệu gạo Tâm Việt.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Phiến đá Rosetta: Mở khóa những bí mật Ai Cập cổ đại      Hai trăm năm trước, vào ngày 27/9/1822, học giả người Pháp Jean-François Champollion đã công bố công trình giải mã của mình về chữ tượng hình Ai Cập. Từ đây, thế giới Ai Cập cổ đại đã mở ra trước mắt chúng ta.     Phải mất 20 năm người ta mới giải mã được phiến đá Rosetta. Ảnh: Mellan Solly/Hội đồng tín thác của Bảo tàng Anh Quốc  Khi Jean-François Champollion, chàng trai người Pháp 31 tuổi, người đã dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu về Ai Cập cổ đại, xông vào văn phòng của anh trai mình ở Paris vào ngày 14/9/1822, ông đã tuyên bố dõng dạc  – “Je tiens mon affaire!” (Em hiểu ra rồi!) – và lập tức ngã quỵ. Người ta đồn rằng nhà văn tự học phải mất đến năm ngày mới dần hồi tỉnh sau cú ngất.  Mức độ kịch tính trong cách Champollion thông báo là một biểu hiện rõ ràng cho tính cách đặc trưng của ông. (Học ​​giả, nhà văn Edward Dolnick từng tả rằng ông là “ kiểu người hay làm quá, không kiềm chế được cảm xúc, cường điệu, luôn bừng lên niềm sung sướng ngất ngây hoặc rơi vào trạng thái khổ sở tuyệt vọng.”) Nhưng phản ứng của ông vẫn khá dễ hiểu nếu xét đến tầm quan trọng của thứ mà ông vừa phát hiện ra. Gần hai tuần sau đó, Champollion đã tiết lộ với các đồng nghiệp của mình rằng ông vừa giải quyết được một trong những bí ẩn lớn nhất của lịch sử: cách đọc chữ tượng hình Ai Cập – chiếc chìa khóa mở ra bí mật của nền văn minh cổ đại.  Ngọn nguồn của câu chuyện là từ một phiến đá granodiorit được khai quật ở Ai Cập vào tháng 7/1799. Đá Rosetta – theo tên của thị trấn nơi phát hiện ra nó – là một tấm bia khắc lại sắc lệnh theo ba phiên bản chữ viết: chữ tượng hình, chữ Demotic (chữ Ai Cập của người bình dân, thực chất là một dạng chữ giản lược của chữ tượng hình) và chữ Hy Lạp cổ đại.  Về mặt lý thuyết, đáng lẽ việc giải mã các chữ khắc trên bia không hề khó khăn, vì các học giả lúc bấy giờ đều biết tiếng Hy Lạp cổ đại. Họ có thể suy đoán, ghép nối bản dịch chữ tượng hình dựa trên bản dịch tiếng Hy Lạp. “Những người đầu tiên nhìn thấy phiến đá Rosetta đều nghĩ rằng sẽ chỉ mất hai tuần để giải mã là cùng”, Dolnick, tác giả của cuốn sách Chữ viết của các vị thần: Cuộc đua giải mã phiến đá Rosetta, kể lại, “ngờ đâu, phải mất đến 20 năm”.  Phiến đá Rosetta là gì?  Phiến đá Rosetta thực chất là mảnh vỡ của một phiến đá lớn hơn được đặt tại một ngôi đền Ai Cập vào năm 196 TCN, dưới thời trị vì của vua Ptolemy V (Ptolemy là vương triều của người Macedonia – Hy Lạp cai trị Ai Cập cổ đại). Bề mặt của nó khắc một sắc lệnh do hội đồng các thầy tế Ai Cập ban hành nhân kỷ niệm lễ đăng quang của vua Ptolemy. Văn bản ca ngợi công đức của nhà vua, đề cập đến ông như hiện thân của các vị thần, và khẳng định họ sẽ luôn sùng bái và kính ngưỡng vương triều của ông. Trong phần kết của văn bản, các thầy tế yêu cầu sắc lệnh phải được khắc trên bia “bằng ngôn ngữ của các vị thần” [ý chỉ chữ tượng hình Ai Cập], ngôn ngữ bình dân [chữ Demotic] và ngôn ngữ của người Hy Lạp. Những bản khắc sau đó sẽ được đặt tại các ngôi đền trên khắp vương quốc.    Phiến đá Rosetta thực chất là mảnh vỡ của một phiến đá lớn hơn được đặt tại một ngôi đền Ai Cập vào năm 196 TCN, dưới thời trị vì của vua Ptolemy V (Ptolemy là vương triều của người Macedonia – Hy Lạp cai trị Ai Cập cổ đại). Bề mặt của nó khắc một sắc lệnh do hội đồng các thầy tế Ai Cập ban hành nhân kỷ niệm lễ đăng quang của vua Ptolemy. Sau khi được dựng lên vào năm 196 TCN, phiến đá Rosetta đã vỡ thành nhiều mảnh. Phần sót lại gồm 14 dòng chữ tượng hình, 32 dòng chữ Demotic và 53 dòng chữ Hy Lạp cổ đại. Các nhà khảo cổ hiện vẫn chưa tìm thấy phần mảnh vỡ trên cùng và dưới cùng bên phải của phiến đá.    Vào năm 3100 TCN, người Ai Cập cổ đại sử dụng chữ tượng hình để biểu đạt ngôn ngữ Ai Cập cổ đại dưới dạng chữ viết. Khoảng 3.000 năm sau đó, dưới thời Ptolemy, hầu như chỉ có các thầy tu mới sử dụng hệ thống chữ viết phức tạp này (do đó, phiến đá Rosetta mới gọi đây là “ngôn ngữ của các vị thần”), còn dân thường sẽ sử dụng chữ Demotic đơn giản hơn.  Như Ilona Regulski, người phụ trách mảng văn hóa thành văn (lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dựa trên văn bản) của Ai Cập tại Bảo tàng Anh Quốc, nơi trưng bày phiến đá Rosetta từ năm 1802, đã nhận định, “thời điểm đó Ai Cập là một xã hội đa văn hóa, … và những người biết đọc, biết viết có thể đọc và viết bằng nhiều ngôn ngữ. Do đó, vào thời này, việc chuyển ngữ bất kỳ loại văn tự chính thức nào sang các chữ viết khác đều khá dễ dàng, cho dù đó là tiếng Ai Cập sang tiếng Hy Lạp hay tiếng Hy Lạp sang tiếng Ai Cập”.  Hội đồng đã ban hành sắc lệnh vào giữa Cuộc nổi dậy Vĩ đại (năm 206 đến năm 186 TCN), một cuộc nổi dậy bắt nguồn từ sự bất đồng giữa vương triều Hy Lạp Plotemy và các thần dân Ai Cập của họ. Các cựu binh Ai Cập tham gia cuộc chiến do cha của Plotemy V lãnh đạo “trở về nhà, họ không chấp nhận vị thế công dân hạng hai của mình” và đã nổi dậy giành lại sự lãnh đạo đất nước về tay người Ai Cập. Phiến đá Rosetta đề cập trực tiếp đến những sự kiện này, trình bày chi tiết cách Ptolemy V, người kế vị cha mình vào khoảng năm 204 TCN, chiếm được một thị trấn của kẻ thù, “chém những kẻ nổi loạn đang ở đó thành từng mảnh, và … đã tiến hành một cuộc tàn sát vĩ đại.” Bằng những khúc ngợi ca vị vua trẻ tuổi, sắc lệnh về cơ bản là “một tấm áp phích tuyên truyền được khắc trên đá”, Dolnick ví.  Phiến đá Rosetta thực chất là mảnh vỡ của một phiến đá lớn hơn được đặt tại một ngôi đền Ai Cập vào năm 196 TCN, dưới thời trị vì của vua Ptolemy V. Ảnh: Wikimedia Commons  Phiến đá Rosetta được phát hiện như thế nào?   Được dựng lên vào năm 196 TCN nhưng về sau phiến đá Rosetta đã vỡ thành nhiều mảnh. Phần sót lại gồm 14 dòng chữ tượng hình, 32 dòng chữ Demotic và 53 dòng chữ Hy Lạp cổ đại. Các nhà khảo cổ hiện vẫn chưa tìm thấy phần mảnh vỡ trên cùng và dưới cùng bên phải của phiến đá.  Vào khoảng năm 1470, trong quá trình dựng một pháo đài gần thị trấn cảng Rosetta ở vùng châu thổ sông Nile, những người thợ xây đã ghép mảnh vỡ vào một bức tường. Nó vẫn ở đó cho đến tháng 7/1799, khi sĩ quan quân đội Pháp Pierre-François Bouchard phát hiện ra phiến đá trong lúc giám sát công tác phục dựng pháo đài cổ – lúc bấy giờ đã đổ nát (Có nhiều giả thuyết cho rằng đây thực chất là công lao của một binh sĩ vô danh nào đó).  Người Pháp đã đến Ai Cập một năm trước đó. Vào ngày 1/7/1798, Napoléon Bonaparte đã đưa quân viễn chinh gồm 400 tàu và 54.000 người đổ bộ vào Ai Cập. Vừa trải qua chiến thắng ở Ý, Napoleon muốn xác lập quyền giao thương của người Pháp ở khu vực Trung Đông, thách thức vị thế của Anh ở khu vực này và thu thập thông tin về lịch sử phong phú của Ai Cập. Trong số 54.000 người, có những học giả được giao nhiệm vụ tìm kiếm và thu thập các hiện vật văn hóa quan trọng để mang về cho nước Pháp. Sau 12 tiếng đồng hồ hành quân, trước trận Embabeh nhằm chiếm thủ đô Cairo, Napoléon đã khích lệ toàn quân bằng câu nói: “Hỡi các binh sĩ, từ trên đỉnh những kim tự tháp, 40 thế kỷ đang nhìn xuống chúng ta”.  Ban đầu, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Napoléon tận hưởng chiến thắng vang dội trước quân đội Mamluk và Ottoman và giành quyền kiểm soát được toàn bộ khu vực. Nhưng rồi ngày vui ngắn chẳng tày gang, quân đội Anh do Đô đốc Horatio Nelson chỉ huy đã đập tan tham vọng của Napoléon. Hải quân Pháp chịu tổn thất lớn trước lực lượng Anh khi nhiều tàu chiến bị phá hủy hoặc bị bắt giữ. Tháng 8/1799, Napoléon quyết định trốn về Pháp cùng với một số hầu cận, để lại người của ông – bao gồm khoảng 160 học giả được giao nhiệm vụ ghi chép lại văn hóa Ai Cập – mắc kẹt ở đất nước xa lạ.  Cuối cùng khi quân Pháp đầu hàng lực lượng Anh vào năm 1801, họ cũng đồng ý bàn giao cho người Anh những kho báu cổ xưa mà họ tìm thấy, trong số đó có phiến đá Rosetta. “Phiến đá rất đỗi kỳ lạ” này, theo cách nói của một tờ báo ở London, đã cập bến nước Anh vào tháng 2/1802 và được trưng bày tại Bảo tàng Anh Quốc vào cuối năm đó. Ngày nay, hai dòng chữ khắc trên các mặt của phiến đá là minh chứng hùng hồn cho lịch sử thuộc địa của nó: bên trái, “Được quân đội Anh thu giữ vào năm 1801 ở Ai Cập,” và bên phải, “Được Vua George III trao tặng [cho Bảo tàng Anh Quốc]”.  Tại sao phiến đá Rosetta lại khó giải mã đến thế?  Công việc giải mã phiến đá Rosetta hóa ra lại vô cùng gian nan. Thách thức lớn nhất là chữ tượng hình trên thực tế đã không còn được sử dụng từ khoảng 1.400 năm trước. Văn bản bằng chữ tượng hình Ai Cập gần nhất mà các nhà khoa học ghi nhận là dòng chữ được khắc trên cổng của một ngôi đền vào khoảng năm 400 SCN. Bản khắc bằng chữ Demotic cuối cùng được biết đến có niên đại cách đó vài thập kỷ – năm 452 SCN. “Mối liên hệ giữa chữ tượng hình và ngôn ngữ nói [của người Ai Cập cổ đại] đã biến mất”, Regulski nhận định. Tiếng Ai Cập vĩnh viễn biến mất ở thế kỉ bảy sau Công nguyên khi chữ Ả Rập bắt đầu phủ sóng ở đây.    Hàng loạt học giả đã lao vào thử “bẻ khóa” mật mã trên phiến đá Rosetta, đáng kể hơn cả là Champollion, nhà văn tự học người Pháp – người sau đó đã giải mã thành công, và Thomas Young, nhà vật lý người Anh – người đặt nền móng lý thuyết sóng ánh sáng.    Trái ngược với quan niệm sai lầm phổ biến, phiến đá Rosetta không phải là một văn bản ba thứ tiếng. Đó là một bản song ngữ với ba hệ thống chữ viết riêng biệt. Hãy coi các chữ tượng hình là một dạng chữ thư pháp phức tạp; còn chữ Demotic là các chữ cái bình thường, được đơn giản hóa từ chữ tượng hình để người dân có thể dễ dàng sử dụng. Cả hai đều được viết bằng tiếng Ai Cập cổ đại, nhưng chúng trông khác nhau đến mức ban đầu các nhà khảo cổ nghĩ rằng chúng đại diện cho các ngôn ngữ khác nhau.  Bên cạnh đó, các học giả nhanh chóng nhận ra rằng nội dung của ba phần trong phiến đá Rosetta “chỉ gần giống nhau, như thể có ba người mô tả cùng một bộ phim. Vì vậy, bạn không thể đơn giản cho rằng từ đầu tiên trong một dòng chữ sẽ tương ứng với từ đầu tiên trong dòng chữ tiếp theo”, Dolnick lý giải (Theo Regulski, khác biệt này có thể nảy sinh từ việc sắc lệnh “được ban hành bằng tiếng Hy Lạp, sau đó có người dịch chúng sang tiếng Ai Cập để tạo cho [nó] phong vị bản địa”).  Ngay cả khi có một người tìm ra cách đọc các chữ tượng hình, họ có thể sẽ gặp khó khăn khi ghép ý nghĩa của những âm thanh mà họ thốt ra. “Hãy thử tưởng tượng tiếng Anh sau hàng ngàn năm đã trở thành một ngôn ngữ chết”, Dolnick phân tích, “và ai đó đã tìm thấy một đoạn văn bản, họ cũng mò ra được cách phát âm bảng chữ cái, thế là họ đọc to từng chữ “c-a-t” (m-è-o) lên. Nhưng làm sao họ biết rằng những âm thanh đó để chỉ một động vật nhỏ bé dễ thương có bộ lông và những sợi râu?”  Phiến đá Rosetta được giải mã như thế nào?  Bất chấp những trở ngại, hàng loạt học giả đã lao vào thử “bẻ khoá” mật mã trên phiến đá Rosetta, đáng kể hơn cả là Champollion, nhà văn tự học người Pháp – người sau đó đã giải mã thành công, và Thomas Young, nhà vật lý người Anh – người đặt nền móng lý thuyết sóng ánh sáng.  Theo Dolnick, ông Young “không đặc biệt quan tâm đến Ai Cập hay chữ tượng hình”. Nhưng ông ấy – với tư cách là một học giả thông thái và là “nhà giải mã vĩ đại nhất của thời đại” – đã không thể cưỡng lại sức hấp dẫn của câu đố mà phiến đá Rosetta đặt ra. Regulski cho biết thêm, việc giải mã là “một thú vui tiêu khiển của ông ấy trong những giờ phút rảnh rỗi”.  Ngược lại, ông Champollion bị “ám ảnh” với việc giải mã chữ tượng hình lẫn mục tiêu mở khóa những bí ẩn của thế giới Ai Cập cổ đại. Đối với ông, dự án “thực sự là cánh cửa dẫn vào một nền văn hoá cổ đại mà từ lâu ông vẫn luôn khao khát tìm hiểu”, Regulski chia sẻ. “Ông ấy không chỉ muốn đọc được các văn bản. Ông ấy còn muốn thấu hiểu nền văn hóa ẩn sau đó”.  Cuộc đua giải mã giữa Champollion và Young ngày càng trở nên gay cấn, bởi lúc bấy giờ Pháp và Anh là kình địch của nhau. “Vì vậy, đây không chỉ là cuộc đua giành vinh quang của hai cá nhân, là còn là cuộc đua giành vinh quang giữa hai quốc gia”.          Thomas Young, nhà khoa học toàn năng đã giải mã được cartouche ghi chữ Ptolemy.    Jean-François Champollion, nhà văn tự học người Pháp, người đã giải mã thành công chữ tượng hình Ai Cập. Ảnh: Wikimedia Commons        Nhiệm vụ giải mã phiến đá Rosetta rất phức tạp do tính chất độc đáo của ngôn ngữ Ai Cập cổ đại. Vào thời điểm đó, Champollion, Young và các đồng nghiệp của họ chủ yếu tiếp xúc với các ngôn ngữ có bảng chữ cái như tiếng Anh và tiếng Pháp, trong đó các chữ cái riêng lẻ và các nhóm chữ cái đại diện cho một hoặc nhiều âm vị trong ngôn ngữ nói. Trong khi đó, chữ tượng hình là một hệ thống kết hợp, với hàng trăm ký tự đại diện cho âm thanh, đối tượng hoặc ý nghĩa. Tờ New Yorker giải thích, “Một chữ tượng hình có thể là ký hiệu ngữ âm (cách phát âm một từ), hoặc nó có thể là biểu tượng (hình ảnh về sự vật được nhắc trên, như trong ‘Tôi ♥ New York’), hoặc nó có thể là chữ biểu ý (sử dụng một ký hiệu đã được thỏa thuận ngầm, tiền giả định người viết lẫn người đọc đã biết trước ý nghĩa của nó, chẳng hạn như ‘XOXO’ – ngôn ngữ mạng của ‘ôm và hôn’, hoặc ‘&’ để chỉ ‘và’).  Trước khi ông Young đạt được những bước tiến đầu tiên trong hành trình giải mã, hầu hết các học giả đều tin rằng chữ tượng hình toàn bộ là chữ biểu ý. “Các chữ tượng hình trông quá đỗi bí ẩn, thật công phu và thật lộng lẫy, đến nỗi mọi người đều cho rằng chắc hẳn chúng phải hàm chứa một ý nghĩa thần bí sâu xa nào đó”, Dolnick giải thích suy nghĩ của mọi người. “Họ tin rằng chúng không phải là một bảng chữ cái Alphabet thông thường, mà ý nghĩa của chúng phải thâm sâu như kiểu ‘E=mc^2’, chứ không thể truyền tải những nội dung bình dị như ‘Đừng quên mua sữa trên đường về nhà nhé’”.  Khoảnh khắc eureka ập đến với ông Young khi ông quyết định tập trung vào các bộ chữ tượng hình được bao bọc trong khung hình bầu dục (còn được gọi là cartouche). Nhận thấy rằng những cái tên trong tiếng Hy Lạp như “Ptolemy” sẽ khó viết bằng chữ biểu ý của Ai Cập, ông đề xuất rằng chữ tượng hình, trong một vài trường hợp hiếm hoi, có thể là những ký hiệu phiên âm, vì tên riêng của người sẽ được phát âm gần giống nhau cho dù là trong ngôn ngữ nào đi nữa. Theo cuốn sách Chữ viết của các vị thần: Cuộc đua giải mã phiến đá Rosetta, lập luận của ông Young được gợi cảm hứng từ tiếng Trung:  Làm thế nào để viết tên của một người nước ngoài bằng tiếng Trung? Lấy Napoléon làm ví dụ. Không khó để chuyển ngữ các từ thông thường sang tiếng Trung và viết chúng ra giấy – tiếng Trung cũng có từ chỉ nhà cửa, con vịt và cái rổ như các ngôn ngữ khác. Nhưng tiếng Trung không có từ nào chỉ Napoléon. Thế thì phải làm sao? Mấu chốt là đây, ông Young đã học giải pháp của người Trung. Khá đơn giản, để viết tên riêng nước ngoài bằng tiếng Trung, bạn chỉ cần chọn các chữ có phát âm giống là được, không cần quan tâm đến nghĩa của nó làm gì. (Trong tiếng Trung, Napoleon được chuyển thành 拿破崙, phát âm là Nápòlún).  Dựa trên phần tiếng Hy Lạp đã dịch trên phiến đá Rosetta, ông Young biết được cái tên Ptolemy chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều lần trong văn bản chữ tượng hình. Nhìn vào các chữ tượng hình, ông xác định được ba cartouche giống hệt nhau, và ba cartouche khác cũng có phần chữ tượng hình tương tự bên trong khung bầu dục, nhưng chúng có thêm một số chữ ở phần cuối khung. Qua nghiên cứu, Young kết luận rằng các cartouche giống hệt nhau chính là để chỉ Ptolemy, với các chữ tượng hình riêng lẻ đại diện cho âm thanh của tên. Ông lập luận rằng các cartouche dài hơn là để bổ sung một chức danh nào đó – khả năng cao là “Ptolemy Đại đế”.  Ông Young đã công bố phát hiện của mình trên Encyclopedia Britannica vào năm 1819. Song công việc giải mã của ông cũng chững lại từ đó, chủ yếu là do ông từ chối tin rằng chữ tượng hình vẫn có thể ký âm ngay cả khi nó không được sử dụng vào việc viết ra các tên nước ngoài. Champollion đã lật ngược tình thế, nhờ kiến ​​thức sâu rộng của mình về tiếng Copt – một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Ai Cập cổ đại – ông đã bẻ khóa được mật mã của phiến đá Rosetta.  “Mặc dù tiếng Ai Cập cổ đại là ngôn ngữ chết, nhưng nó là cơ sở để hình thành nên tiếng Copt – đây cũng là một ngôn ngữ chết nhưng nó vẫn còn hiện diện xung quanh ta,” chủ yếu là trong Giáo hội Chính thống giáo Copt (nhánh lâu đời nhất của Kito giáo), Dolnick lý giải.  Nếu chữ tượng hình và chữ Demotic – hai hệ thống chữ viết ban đầu của tiếng Ai Cập – đều được viết bằng các ký tự độc đáo, thì chữ Copt sử dụng bảng chữ cái Hy Lạp. Điều này đồng nghĩa với việc các nhà khảo cổ thế kỷ XIX vẫn có thể đọc được chữ Copt.  Bởi vì ông Champollion “biết tiếng Copt,….Ông ấy có thể phát hiện ra giá trị ngữ âm của các chữ tượng hình từ sự tương ứng giữa chữ Ai Cập và bản dịch tiếng Hy Lạp trên phiến đá Rosetta”, James Allen, một nhà Ai Cập học tại Đại học Brown, chia sẻ với Live Science vào năm ngoái. Kết hợp kiến thức tiếng Copt của mình và phương pháp giải mã của ông Young, ông Champollion đã xoay sở để dịch các cartouche khác và xác định âm vị của một chục chữ tượng hình.  Cartouche chỉ tên của Ramses II (hoặc  Ramesses II). Ảnh: Edward Dolnick  Năm 1822, Champollion nghiên cứu một cartouche được khắc ở ngôi đền Abu Simbel, một công trình tôn giáo do Pharaoh Ramesses II dựng lên để ghi lại những chiến công của mình. Không giống như Ptolemy hay Cleopatra – những cái tên không phải tên Ai Cập; Ramesses là tên của người Ai Cập — nếu chiếu theo lập luận của ông Young, cartouche biểu thị tên Ramesses sẽ không chứa ký tự ngữ âm. Thực chất, cartouche ở đền Abu Simbel chứa bốn biểu tượng, trong đó có một biểu tượng cuối cùng được lặp lại. Champollion xác định chữ tượng hình lặp lại là âm “s” và đưa ra giả thuyết rằng chữ tượng hình đầu tiên, một vòng tròn với một chấm ở giữa, đại diện cho mặt trời (“ra” hoặc “re” trong tiếng Copt).  Suy ra, “dãy chữ này là ‘ra-?-s-s”, tác giả Simon Singh viết trên BBC vào năm 2011. “Chỉ có một vị pharaoh có cái tên tương ứng. Nếu bỏ qua các nguyên âm và chữ cái không xác định, chắc chắn đây là Ramesses. Phép thuật đã được hoá giải. Chữ tượng hình là sự kết hợp giữa các ký hiệu ngữ âm để ký âm tiếng Ai Cập – chứ không chỉ là là những hình ảnh biểu ý mà không diễn đạt âm thanh như phần đông các học giả đề xuất.  Di sản của phiến đá Rosetta  Thấm thoát 200 năm đã qua kể từ thời điểm Champollion công bố giải mã thành công chữ tượng hình. Hiện vật lịch sử – phiến đá Rosetta – giờ đây vẫn chiếm một vị trí đặc biệt trong dòng chảy văn hoá loài người.  Bảng đối chiếu chữ tượng hình, chữ Demotic và chữ Copt của Champollion. Ảnh: Wikimedia Commons  Đây là một trong những hiện vật thu hút khách tham quan nhất tại Bảo tàng Anh Quốc, và sắp đến nó sẽ trở thành tâm điểm của một cuộc triển lãm về chữ tượng hình. Trên khắp các kênh truyền hình tiếng Anh tại Pháp, mọi người nô nức với các sự kiện khác nhau – từ triển lãm các tài liệu chưa từng được công bố của Champollion đến bảo tàng lưu động  “Egyptobus” – hướng đến kỷ niệm thành quả của nhà văn tự học xuất chúng. Mặt khác, ở Ai Cập, các nhà khoa học đang kêu gọi nước Anh trả lại phiến đá.  Mặc dù phiến đá đang nằm ở London được xem là phiên bản nổi tiếng nhất của sắc lệnh năm 196 TCN, nhưng nó không phải là phiên bản duy nhất. “Nội dung sắc lệnh nêu rõ, các sắc lệnh sẽ được khắc trên đá và dựng lên ở tất cả các ngôi đền của Ai Cập”, Regulski nhắc lại. “Vì vậy, giả dụ mọi ngôi đền đều có một bản sao của sắc lệnh này, thì phiến đá Rosetta [chỉ] là một trong những bản sao đó.” Đến nay, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra hơn hai chục mảnh bản khắc rời rạc tương tự.  Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2007 với tạp chí Smithsonian, ông John Ray – tác giả cuốn sách Phiến đá Rosetta và Sự tái sinh của Ai Cập cổ đại, chia sẻ rằng “phiến đá Rosetta thực sự là chiếc chìa khóa, không chỉ đơn giản là mở ra cánh cửa bước vào thế giới Ai Cập cổ đại; nó còn là chìa khóa để giải mã chính nó”.  Ông kết luận, “hãy nhớ lại thời điểm trước khi phiến đá được phát hiện. Tất cả những gì chúng ta biết về thế giới cổ đại chỉ xoay quanh Hy Lạp, La Mã và Kinh Thánh. Chúng ta ý thức được rằng có những nền văn minh lớn khác, như Ai Cập, nhưng họ đều rơi vào câm lặng. Với việc giải mã được phiến đá Rosetta, họ có thể cất lên tiếng nói của riêng mình, và bỗng nhiên,  mở ra những trang sử mới”. □  Anh Thư dịch    Author                .        
__label__tiasang Phim Người kiến mới khai thác một phần sức mạnh phi thường của loài kiến      “Ant-Man and The Wasp: Quantumania” (Người kiến và chiến binh ong: Thế giới lượng tử) là phim mới nhất của hãng Marvel Cinematic Universe.    Bộ phim kiến mới này theo sau những cuộc phiêu lưu của Scott Lang (AKA Người kiến), Hope Van Dyne (AKA Chiến binh ong) và Cassie Lang (AKA The Stinger), người sử dụng công nghệ để đem lại cho họ sức mạnh của loài kiến. Trong chuỗi bộ phim này, Người kiến cũng có năng lực để trực tiếp chỉ huy hành động của nhiều loài kiến khác nhau, mỗi loài lại có những đặc điểm vô cùng độc đáo.  Những con kiến nhỏ bé trong phim dường như không như siêu anh hùng nhưng những con kiến đời thực lại có sức mạnh phi thường khiến chúng trở thành những liên minh khủng khiếp.  Siêu hùng mạnh  Người kiến và Chiến binh ong đều mặc những bộ đồ cho phép họ thu nhỏ người lại và đem lại cho họ một sức mạnh tương đương với một con kiến.  Kiến vốn được biết đến với sức mạnh vô song, một số kiến thợ có thể gánh được vật nặng gấp 50 lần trọng lượng cơ thể. Kiến – như những loài côn trùng khác – có bộ xương bên ngoài, các sợi cơ của chúng không phải hỗ trợ nhiều cho khối lượng cơ thể, khiến chúng tự do dùng sức mạnh nhiều hơn để mang vác. Thêm vào đó, những loài động vật nhỏ hơn có xu hướng có sức mạnh lớn hơn khối lượng cơ thể mình. Ngay cả các khớp nối của kiến cũng rất mạnh: các khớp cổ của kiến Formica exsectoides có thể chịu đựng được sức nặng của vật mang gấp 5.000 khối lượng cơ thể.  Siêu nhanh  Người kiến và Chiến binh ong không phải là những tay đua tốc độ nhưng trên thực tế thì những con kiến dĩ nhiên lại sở hữu điều đó!  Nhưng con kiến bạc Sahara (Cataglyphis bombycina) có thể di chuyển trên quãng đường gấp 100 lần chiều dài cơ thể trong vòng một giây, đưa chúng vào danh sách những con vật tốc độ nhất hành tinh này. Quãng đường dài 180 centimeter này tương đương với một người chạy với vận tốc 200 mét mỗi giây (hay 720km mỗi giờ)! Chúng ta nên nhớ là Usain Bolt, tay chạy nước rút số một trên thế giới hiện nay chỉ có thể chạy với vận tốc tối đa 47km mỗi giờ.  Kiến bẫy hàm (Odontomachus bauri)  Kiến không chỉ là những vận động viên chạy nhanh nhất – chúng có thể chuyển động mỗi phần cơ thể của mình với tốc độ sửng sốt. Kiến bẫy hàm (Odontomachus bauri) có thể mở rộng hàm mình với tốc độkhông tưởng 137km mỗi giờ, một trong những chuyển động nhanh nhất trong kinh đô loài vật. Kiến bẫy hàm cử động hàm dưới siêu nhanh để bắt con mồi yêu thích của mình: những con mối.  Cái hàm của kiến bẫy hàm là những vũ khí phòng vệ ấn tượng và có thể được sử dụng để khiêu chiến những kẻ săn mồi như nhện. Những con kiến này thậm chí còn có thể tạo ra một cú “tẩu vi thượng sách” bằng việc đập hàm xuống mặt đất. Miếng võ “phòng vệ nẩy” này có thể ném kiến bay vào không khí cao tới 8 cm, tương đương với một cú nhảy 40 mét của người có chiều cao trung bình.  Sức mạnh của những con số  Những gì kiến thiếu về kích thước thì chúng bù lại bằng những con số khủng khiếp. Một nghiên cứu gần đây ước tính có hơn 20 triệu tỉ tỉ con kiến (1024) – có nhiều kiến sống trên trái đất hơn cả những ngôi sao trên dải Ngân hà.  Kiến Argentina (Linepithema humile) xây dựng những siêu tổ lớn nhất thế giới, chứa hàng tỉ kiến thợ và số kiến này có thể lấp đầy 6.000 km2.  Bằng việc sống cùng nhau với số lượng áp đảo như vậy, những con kiến có thể tấn công các loài động vật lớn hơn chính mình nhiều lần. Kiến quân đội có thể tấn công những loài thú có kích thước lớn hơn mình như thằn lằn, ếch và ngay cả bọ cạp. Giống như nhân vật Người kiến Cassie Lang, một số loài kiến cũng chứng tỏ khả năng châm đốt gây đau đớn. Kiến đạn Nam Mỹ (Paraponera clavata) có vết tiêm gây đau đớn nhất thế giới. Không lạ là nó được gọi là “kiến tấn công” trong bộ phim Người kiến.  Không nhất thiết có thủ lĩnh  Trong suốt các phim Người kiến, những người hùng thường sử dụng thiết bị truyền thông để chỉ huy các đàn kiến. Tuy nhiên không cần vị thủ lĩnh nào cho kiến ở đời thực.  Kiến thợ có trách nhiệm đảm trách việc săn mồi, làm sạch và cắt lá trong khi kiến chúa đẻ trứng và giữ cho đàn kiến luôn có kiến thợ. Người ta có thể nghĩ đến việc một xã hội có hàng triệu loại động vật nhỏ bé không cần thủ lĩnh sẽ rơi vào hỗn loạn, tuy nhiên bằng việc làm cùng nhau, kiến có thể lập được những chiến công vượ quá sức mạnh của bộ não của bất kỳ con nào – điều đó gọi là “trí tuệ bầy đàn”.  Kiến Argentina (Linepithema humile)  Kiến Argentina có thể tìm thấy đường đi ngắn nhất giữa các tổ trong khi kiến lửa có thể thoát khỏi lụt lội bằng việc gắn kết cơ thể của chúng lại với nhau để hình thành những cái bè sống khổng lồ. Trong phim Người kiến, Scott Lang sử dụng các kỹ năng điều phối của kiến lửa để phá vỡ hang ổ của Pym.  Xã hội siêu cỡ  Trong bộ phim mới ra mắt, một đàn kiến có thể gia nhập một cách tình cờ thực tại lượng tử kỳ bí, nơi chúng trải qua 1.000 năm tiến hóa, dẫn đến kết quả là một xã hội có những con kiến có trí tuệ cao sống trong một xã hội vị lai.  Nhưng kiến hiện đại cũng tiến hóa thành các xã hội phức tạp một cách khác thường. Một số loài kiến đã phát triển theo những hình thức nông nghiệp như nuôi và bảo vệ loài rệp cây. Rệp cây cung cấp cho những nông dân kiến của mình những giọt dịch thơm chứa đường và được kiến khai thác làm thức ăn.  Thật kỳ lạ là kiến cắt lá ở Nam Mỹ chăm sóc vườn nấm rộng lớn dưới lòng đất để làm thức ăn. Kiến cho nấm ăn lá và biết lựa chọn lá loại cây nào có thể giúp nấm phát triển tối đa. Kiến chăm vườn bằng việc loại bỏ các loại nấm cằn cỗi và thậm chí có thể sử dụng cả kháng sinh để bảo vệ nấm khỏi dịch bệnh.  Được trao siêu sức mạnh, tốc độ không thể tin được và trí tuệ bầy đàn kỳ diệu, Người kiến thật may mắn khi có những con kiến ở bên mình!  Thanh Đức tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-ant-man-portion-real-superpowers-ants.html  https://theconversation.com/from-deadly-jaws-and-enormous-strength-to-mushroom-farming-ant-man-is-only-tapping-into-a-portion-of-the-real-superpowers-of-ants-200530  https://www.sydney.edu.au/news-opinion/news/2023/03/02/ant-man-only-tapping-into-portion-of-real-ant-superpowers.html    Author                .        
__label__tiasang Phó Thống đốc NHNN: Tỷ lệ nợ xấu đã giảm      So với mức 8,82% cuối tháng 9/2012, tỷ lệ nợ xấu hiện đã giảm, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho biết.     Trong cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ chiều 29/1, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng xong đề án công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC) và đã được Chính phủ thông qua, hiện đang được trình Bộ Chính trị duyệt và có những sửa đổi, bổ sung.  Tuy nhiên, không chỉ đợi công ty khi VAMC ra đời thì nợ xấu mới được xử lý mà thời gian qua, các ngân hàng đã có hướng xử lý qua việc trích lập dự phòng, cơ cấu lại nợ và xử lý tài sản đảm bảo…, nhờ đó tỷ lệ nợ xấu đã giảm đáng kể, Bộ trưởng Vũ Đức Đam cho biết.  Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cũng cho hay, so với tỷ lệ nợ xấu 8,82% (tương đương gần 240 nghìn tỷ đồng) được Thanh tra Ngân hàng Nhà nước công bố đến hết tháng 9/2012, tỷ lệ nợ xấu hiện đã giảm.  Mục tiêu lập ra VAMC là nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống về mức hợp lý 3%, ông Tiến nói.  Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước về xử lý nợ xấu trong năm 2012, các tổ chức tín dụng đã xử lý được 45 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Việc xử lý nợ xấu đến từ việc các ngân hàng đã trích lập dự phòng. Trong đó, dự phòng rủi ro đã trích lập chưa sử dụng đến cuối tháng 11/2012 đạt 78,6 nghìn tỷ đồng (tương đương 58,31% nợ xấu), tăng 33% so với cuối năm 2011.  Tốc độ gia tăng của nợ xấu từng bước được kiểm soát. Trong 4 tháng đầu năm, nợ xấu tăng khoảng 8-9% mỗi tháng, đến cuối năm tốc độ tăng còn 3% mỗi tháng, đặc biệt tháng 10 nợ xấu giảm 0,95%, chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước cho biết tại cuộc họp báo tổng kết cuối năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phó Thủ tướng kêu gọi doanh nghiệp đổi mới công nghệ      Phát biểu tại Lễ trao giải thưởng Chất  lượng quốc gia, giải thưởng Chất lượng quốc tế châu Á-Thái Bình Dương  2013 ngày 16/3, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam kêu gọi cộng đồng  doanh nghiệp Việt Nam chú trọng đổi mới công nghệ, tăng năng suất, chất  lượng để chiến thắng ở thị trường trong nước và thế giới.    Năm 2013 là năm nền kinh tế thế giới và Việt Nam tiếp tục có những khó khăn, do đó việc các doanh nghiệp đoạt giải chất lượng quốc gia và quốc tế là minh chứng cho sự nỗ lực, sáng tạo liên tục và quyết tâm vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp.  Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh gay gắt và khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, yêu cầu về đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, thu hút cạnh tranh, từng dịch vụ, từng doanh nghiệp ngày càng cao.  Bên cạnh việc kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp chú trọng đổi mới công nghệ, Phó Thủ tướng đề nghị  Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp để có nhiều giải pháp thiết thực. Qua đó, thực hiện tốt chiến lược nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020.  Đặc biệt, các cơ quan chức năng cần phải có giải pháp để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam thấy có động lực, lợi ích để đầu tư đổi mới công nghệ, chú trọng quản lý chất lượng, nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm, dịch vụ.  Giải thưởng chất lượng quốc gia năm 2013 được trao cho 82 doanh nghiệp. Trong đó có 20 doanh nghiệp đoạt giải Vàng và 62 doanh nghiệp đoạt giải Bạc.  Có 2 doanh nghiệp Việt Nam được Tổ chức Chất lượng châu Á-Thái Bình Dương trao tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc tế châu Á-Thái Bình Dương (giải thưởng quốc tế GPEA) là Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Vietinbank (Giải Nhất loại hình Doanh nghiệp dịch vụ lớn); Công ty cổ phần Traphaco (Giải Nhì loại hình doanh nghiệp sản xuất lớn).  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/pho-thu-tuong-keu-goi-doanh-nghiep-doi-moi-cong-nghe/249012.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp      Phát biểu tại buổi lễ trao Giải thưởng chất lượng quốc gia và Giải thưởng Chất lượng quốc tế châu Á – Thái Bình Dương vào sáng ngày 2/4, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ mong muốn đẩy mạnh hơn nữa tinh thần đổi mới sáng tạo để tất cả các doanh nghiệp cùng bắt tay vào làm chủ và áp dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị trên nguyên tắc hướng tới hiệu quả, hướng tới chất lượng và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.      Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại giải Giải thưởng Chất lượng quốc tế châu Á – Thái Bình dương năm 2016. Ảnh: Đình Nam  Sáng ngày 2/4 tại Hà Nội đã diễn ra lễ trao giải thưởng Chất lượng quốc gia và Giải thưởng Chất lượng quốc tế châu Á – Thái Bình dương năm 2016. Tới dự có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh.  Kể từ năm 1996, Giải thưởng Chất lượng quốc gia do Tổng cục Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng (Bộ KH&CN) chủ trì được trao hằng năm cho các doanh nghiệp đạt được bảy tiêu chí chặt chẽ phản ánh những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp về mô hình quản trị, hệ thống quản lý tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, năng lực cạnh tranh và hiệu quả trong hoạt động.  Đây là bộ tiêu chí được xây dựng trên cơ sở tham khảo và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình tiêu chí giải thưởng chất lượng của các quốc gia tiên tiến, đặc biệt là mô hình Giải thưởng chất lượng quốc gia Mỹ (Malcolm Baldrige). Từ năm 2000, giải thưởng Chất lượng quốc gia được công nhận thuộc hệ thống Giải thưởng Chất lượng châu Á – Thái Bình dương (GPEA) của tổ chức Chất lượng châu Á – Thái Binh dương (APQO).  Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá cao những giá trị mà Giải thưởng Chất lượng quốc gia đã góp phần mang lại cho doanh nghiệp Việt Nam, trong đó quan trọng là khuyến khích doanh nghiệp không dừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh, quản trị và đóng góp rất to lớn vào phong trào năng suất chất lượng và phát triển kinh tế xã hội.  Phó Thủ tướng cho rằng, “khi càng phát triển thì vấn đề chất lượng càng được coi trọng, từ những sản phẩm, từ những điều lớn lao nhất đến những sản phẩm nhỏ nhất đều phải đạt yêu cầu chất lượng”. Ông nhắc lại một thực tế đã từng xảy ra ở Việt Nam nhiều năm trước đây, khi có những thời kỳ thị trường trong nước tràn ngập hàng hóa ngoại nhập, dù chỉ là những sản phẩm rất đơn giản. Bằng nỗ lực đổi mới sáng tạo và đi vào nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước lấy lại niềm tin của người tiêu dùng, chiếm lĩnh thị trường trong nước và từng bước vươn ra quốc tế.  Phó Thủ tướng nhận định, với mục tiêu góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc thành công, nhất định nền kinh tế phải có tốc độ tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh cao hơn. Vì thế, từng doanh nghiệp đều phải hướng tới vấn đề năng suất, chất lượng trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình. Muốn làm được điều này, cần phải làm tốt rất nhiều công việc, trong đó có hai vấn đề mấu chốt.  Thứ nhất, phải nỗ lực nhiều hơn nữa để cải thiện môi trường kinh doanh thật thông thoáng để cho tất cả các doanh nghiệp đã thành lập, đã hoạt động đều được hoạt động thuận lợi, gỡ bỏ được mọi rào cản, mọi vướng mắc. Tất cả mọi cá nhân đều được truyền ý chí lập nghiệp và khi đã có ý định, ý chí lập nghiệp thì đều được tạo điều kiện để thành lập doanh nghiệp, để khởi nghiệp và hoạt động sáng tạo.  Thứ hai, nhất thiết phải đẩy mạnh hơn nữa đổi mới sáng tạo để khơi dậy sự sáng tạo trong từng người dân ao động, để tất cả mọi doanh nghiệp cùng ý thức được và cùng bắt tay thực hiện, trước hết là tìm hiểu ứng dụng, áp dụng và làm chủ công nghệ mới, kể cả sáng tạo lên công nghệ mới trong sản xuất, trong kinh doanh và trong quản trị trên nguyên tắc hướng tới hiệu quả, hướng tới chất lượng và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Phó Thủ tướng yêu cầu, “cho nên cùng với việc thực hiện thật tốt các chương trình, các nghị quyết về cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường sáng tạo quốc gia về chất lượng, về năng suất, chúng ta vẫn phải cùng với nhau đổi mới hơn nữa công tác tiêu chuẩn, chất lượng và quản lý chất lượng và gắn liền với việc cổ vũ doanh nghiệp nâng cao chất lượng. Chúng ta cần làm tốt hơn công tác quản lý chống gian lận thương mại, chống hàng giả vì một môi trường phát triển lành mạnh cho doanh nghiệp và vì lợi ích của người tiêu dùng, không chỉ trong kinh doanh mà trong toàn xã hội”.  Chính vì lẽ đó, Phó Thủ tướng bày tỏ hy vọng, Giải thưởng Chất lượng quốc gia ngày càng thu hút được sự quan tâm của không chỉ của các doanh nghiệp mà còn của toàn xã hội và đặc biệt tạo được động lực cho tất cả cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đổi mới, phát huy sáng tạo và cùng nâng cao chất lượng để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.  Tại lễ trao giải năm nay, 77 doanh nghiệp đã được vinh danh, trong đó có 15 doanh nghiệp giải Vàng và 62 giải Bạc. Đặc biệt, ba doanh nghiệp hai năm liên tiếp đoạt giải Vàng là tổng công ty Xây dựng Công trình giao thông 4 (CIENCO 4) – thành phố Hà Nội, công ty Cổ phần thiết bị điện THIBIDI – tỉnh Đồng Nai và Công ty CP Dược Lâm Đồng LADOPHAR – tỉnh Lâm Đồng đã được trao Giải thưởng GDEA 2016.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phối hợp và liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung      Dường như đã xuất hiện một sự đồng thuận giữa các nhà hoạch định chính sách ở trung ương, các nhà lãnh đạo địa phương, và các nhà nghiên cứu và phân tích chính sách rằng vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) miền Trung và toàn miền Trung phải tìm cách phối hợp và liên kết, để từ đó tạo ra được một sức mạnh tổng thể cho cả vùng. Tuy nhiên cho đến nay có rất ít thảo luận về cách thức hợp tác và liên kết vùng sao cho khả thi và hiệu quả.    Trở ngại đầu tiên xuất phát từ tâm lý và động cơ của các tỉnh trong VKTTĐ miền Trung. Rõ ràng là tỉnh nào cũng muốn vượt lên trước, trở thành đầu tầu tăng trưởng của miền Trung, và để đạt được điều này trong bối cảnh kinh tế và thể chế hiện nay, các tỉnh nhiều khi phải cạnh tranh trực diện một cách gay gắt với nhau, và một khi đã có sự xung đột về lợi ích thì khó có thể nói tới sự hợp tác chân thành.  Để có thể giải được bài toán hợp tác và liên kết vùng, cần phải giải ít nhất ba bài toán con: (i) Cơ sở để hợp tác vùng là gì? (ii) Cơ chế nào đảm bảo sự phối hợp và liên kết vùng bền vững? (iii) Cần những chính sách cụ thể nào để thực hiện liên kết vùng?  Đối với câu hỏi thứ nhất, cơ sở đầu tiên để các tỉnh hợp tác với nhau là mức độ thiệt hại khi các tỉnh thay vì hợp tác lại cạnh tranh với nhau. Chúng ta đã từng chứng kiến các cuộc chạy đua xuống đáy trong việc tăng ưu đãi để thu hút đầu tư hay các nhà máy mía đường mọc lên khắp miền Trung… và tất nhiên trong cuộc chạy đua này sẽ không có người thắng cuộc mà tất cả đều là người thua cuộc. Để khuyến khích hợp tác và giảm bớt cạnh tranh trực diện đòi hỏi các tỉnh phải xác định được các ưu thế và năng lực cơ bản (core competency) của mình. Chẳng hạn như, từ những quan sát đã trình bày ở đầu bài viết, có thể hình dung một viễn cảnh trong đó hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi tập trung nhiều hơn vào sản xuất công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp nặng), trong khi Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam với lợi thế nổi trội về du lịch và di sản văn hóa sẽ phát triển thiên về du lịch. Đà Nẵng muốn thực sự trở thành tâm điểm phát triển của cả vùng thì không nên (và cũng không cần) cạnh tranh trực diện với các tỉnh xung quanh. Ngược lại, với lợi thế sẵn có về vị trí, thế vị, và nguồn nhân lực, Đà Nẵng có thể biến mình trở thành một trung tâm dịch vụ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của cả vùng. Nói một cách hình tượng, viễn cảnh này cho rằng đầu mối nối kết, hỗ trợ, và phối hợp cho sự phát triển toàn vùng nằm ở trung độ, và càng đi về phía Nam sản phẩm của VKTTĐ miền Trung càng nặng dần lên. Tất nhiên đây chỉ là một khả năng. Để có thể quy hoạch phát triển cho toàn VKTTĐ miền Trung một cách thích hợp, đòi hỏi nhiều nghiên cứu công phu và nghiêm túc khác.  Một cơ sở nữa để các tỉnh trong VKTTĐ miền Trung liên kết với nhau là lợi ích có thể chia sẻ từ sự hợp tác. Chẳng hạn như các tỉnh trong vùng có thể cùng hợp tác để cùng phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) (với sự trợ giúp của chính phủ); quy hoạch công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, và dân cư; cùng nhau thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, và du lịch; cùng nhau xây dựng thương hiệu cho VKTTĐ miền Trung v.v.  Về câu hỏi thứ hai, nên cùng một lúc áp dụng nhiều cơ chế đa dạng để hợp tác vùng. Cơ chế này có thể xuất phát từ chính quyền trung ương với Ban điều phối VKTTĐ với sự tham gia của các bộ ngành có liên quan. Đáng tiếc là với cách tổ chức như hiện nay, cơ chế hợp tác này vẫn chưa phát huy được tác dụng. Một cơ chế hợp tác khác có thể được xây dựng từ thiện chí và mong muốn của chính quyền của 5 tỉnh và thành phố thành viên. Trước khi có thể bàn tới chuyện hợp tác và liên kết, việc đầu tiên các tỉnh cần làm là tạo ra các kênh đối thoại. Hình thức của các kênh đối thoại này có thể thông qua các diễn đàn phát triển kinh tế, hay các tổ công tác, hay các cuộc gặp định kỳ giữa những nhà lãnh đạo địa phương và các cơ quan ban ngành chức năng… Một cơ chế hợp tác nữa cũng rất quan trọng, đó là thông qua hiệp hội doanh nghiệp. Xây dựng các hiệp hội có tổ chức tốt và đại diện được cho quyền lợi của các thành viên có thể sẽ là bước đột phá để các tỉnh tiến tới hợp tác toàn diện và sâu sắc hơn. Và cuối cùng, không thể quên được cơ chế điều phối (vô hình hay hữu hình) của thị trường. Nên nhớ rằng bất kỳ chính sách nào của các cơ quan công quyền đưa ra đều phải tính tới “đối sách” của khu vực doanh nghiệp, các hiệp hội, và người dân.  Câu hỏi thứ ba về các chính sách cụ thể để phối hợp và liên kết vùng đã vượt quá khuôn khổ của bài viết này, vì vậy xin được quay trở lại chủ đề này trong một bài viết khác. Ở đây chỉ xin đơn cử một ví dụ. Như trên đã phân tích, đường giao thông đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hợp tác phát triển kinh tế vùng. Miền Trung đã có con đường di sản văn hóa như một gạch nối giữa quá khứ và hiện tại thì nay cũng cần những con đường cao tốc và đường du lịch ven biển để nối kết các tỉnh thành với nhau và với cả nước. Hai dự án này nên được coi là những dự án có thứ bậc ưu tiên cao trong chiến lược phát triển của VKTTĐ miền Trung nói riêng và toàn bộ miền Trung nói chung.  Vùng kinh tế trọng điểm miền trung là một vùng đất rất giàu tiềm lực. Làm thế nào để đánh thức tiềm lực của vùng đất này? Câu trả lời có thể tìm thấy trong sự phối hợp và liên kết giữa các tỉnh trong vùng.  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng chống cháy nổ bằng kỹ thuật thị giác máy      Trong khi các nghiên cứu phòng chống cháy nổ trong nước tập trung chủ yếu vào vật liệu, phương pháp, quy trình… thì hướng nghiên cứu của Khoa Công nghệ thông tin thuộc Học viện Kỹ thuật quân sự thực sự rất mới mẻ.     Từ năm 2007, nhóm các nhà nghiên cứu trẻ, đứng đầu là TS Tống Minh Đức tập trung vào hướng nghiên cứu xử lý ảnh nhận dạng thông qua hệ thống quan sát camera, hay còn gọi là kỹ thuật thị giác  máy. Sau sáu năm, nhóm đã xây dựng được thuật toán nhận dạng đối tượng chuyển động với ảnh đầu vào thu được từ camera quan sát, và xây dựng được mô hình nhận dạng ngọn lửa và đám khói dựa vào sự kết hợp đặc trưng màu sắc và đặc trưng “lay động” của ngọn lửa hay sự chuyển động của đám khói…     Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đã tạo ra một số sản phẩm khoa học và công nghệ như: bộ dữ liệu phân loại các video clip về đám cháy; hệ thống phát hiện và cảnh báo cháy (hệ thống FD) trong các điều kiện: vật liệu cháy thông thường, có camera quan sát trong phòng, nhiệt độ môi trường làm việc từ 10 – 40ºC, vùng bảo vệ hình chóp nón có chiều cao 5m. Hệ thống này cho phép thiết lập các tham số cảnh báo phù hợp với môi trường giám sát.     Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thử nghiệm so sánh giữa hệ thống các đầu báo cháy với hệ thống FD tại phòng thí nghiệm với vật liệu cháy là gỗ, giẻ, nến. Kết quả cho thấy, hệ thống FD hoạt động hiệu quả với cự ly quan sát xa, và trong cả trong tình huống hệ thống cảnh báo cháy truyền thống bị mù như phụ thuộc không gian, thời tiết, hướng gió… Tuy nhiên, trong tình huống đám cháy bị che khuất, mật độ đám khói thưa thì hệ thống truyền thống lại phát huy hiệu quả hơn. Nếu có thể kết hợp hai hệ thống cảnh báo này với nhau sẽ đem lại một ứng dụng toàn diện.     Từ đầu thế kỷ 20,  người ta đã dùng các đầu báo cháy nhiệt, đầu báo cháy khói và đầu  báo cháy lửa để phát hiện cháy. Hệ thống phát hiện và cảnh báo cháy dựa  trên đầu báo đã phát huy hiệu quả trong nhiều tình huống, tuy nhiên nó  vẫn tồn tại những hạn chế khi mà các đầu báo cháy chỉ làm việc lúc nhiệt  độ, khói đã lan truyền tới đầu cảm biến và đạt ngưỡng hoạt động, khi đó  thường đám cháy đã phát triển lớn. Sử dụng kỹ thuật thị giác  máy – xử lý ảnh nhận dạng thông qua hệ thống quan sát camera chính là hướng nghiên cứu mới, được kỳ vọng sẽ khắc phục được nhược điểm của các phương pháp phòng chống cháy nổ truyền thống.     Theo Cục Cảnh  sát Phòng cháy chữa cháy, Bộ Công An, năm 2012, Việt Nam xảy ra hơn 2.000 vụ cháy và nổ, làm hơn 70 người thiệt mạng và gần  140 người bị thương, gây thiệt hại về tài sản ước tính hơn 1.000 tỷ đồng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phóng tên lửa lớn nhất lịch sử: Elon Musk muốn mở kỷ nguyên mới về du hành vũ trụ      Elon Musk, người sáng lập SpaceX, đã tuyên bố về cuộc phóng tên lửa mạnh nhất trong lịch sử từ xưa đến nay. “Starship” dự kiến sẽ bắt đầu sau vài ngày nữa. Sự nghiệp du hành vũ trụ của cả cuộc đời của Musk phụ thuộc vào sự khởi đầu này, liệu ước mơ …    Nguyên mẫu Starship tại địa điểm sản xuất ở Brownsville  Elon Musk, người sáng lập SpaceX, đã tuyên bố về cuộc phóng tên lửa mạnh nhất trong lịch sử từ xưa đến nay. “Starship” dự kiến sẽ bắt đầu sau vài ngày nữa. Sự nghiệp du hành vũ trụ của cả cuộc đời của Musk phụ thuộc vào sự khởi đầu này, liệu ước mơ đó có thành hiện thực hay không?  Ngành công nghiệp vũ trụ đã chờ đợi sự kiện này từ nhiều năm nay. “Tàu vũ trụ đã sẵn sàng trên bệ phóng” tỷ phú Elon Musk đã tweet thông tin này đúng vào ngày lễ Phục sinh. Điều duy nhất còn lại phải làm là chờ phê duyệt của chính quyền để tên lửa độc nhất vô nhị về mọi phương diện này được phóng đi.  Sự nghiệp du hành vũ trụ của Musk phụ thuộc vào việc tên lửa Starship có hoạt động suôn sẻ hay có lỗi thiết kế cơ bản nào hay không. Ông cho rằng sự kiện này sẽ tác động đến khả năng chiếm lĩnh sao Hỏa và cuối cùng là sự tồn tại của nhân loại.  Tên lửa lớn nhất thế giới này cao 120m, lực đẩy 7590 tấn, là quả tên lửa mạnh nhất mọi thời đại, sẽ sớm được cất cánh. Chưa có thời điểm chính xác về ngày khởi hành, có thể xảy ra trong tuần này, nhưng cũng có thể không. Người trong cuộc dự báo, nhiều khả năng sẽ diễn ra ngày 17 tháng 4.  Tên lửa của Musk là một đột phá về công nghệ. Cụ thể, nó là tên lửa hạng nặng hai tầng, bao gồm tầng đẩy cao 70 mét có tên là “Super Heavy” và tầng trên có tên là “Starship”.  Tên lửa này có nhiều phiên bản khác nhau, nó có thể vận chuyển một lượng lớn hàng hóa và vệ tinh vào không gian, đóng vai trò là mô-đun mặt trăng của NASA, có thể quay quanh mặt trăng với du khách, có thể bay tới sao Hỏa hoặc được sử dụng làm trạm tiếp nhiên liệu vũ trụ. Tầng đẩy có 33 động cơ đẩy và tầng trên có thêm 6 động cơ nữa, 3 trong số đó được thiết kế đặc biệt cho các điều kiện không gian.  Đã sẵn sàng trên bệ phóng: Starship đã được lắp ráp hoàn chỉnh tại sân bay vũ trụ của SpaceX ở Texas  Điều này vẫn chưa đủ đối với Musk. Vị tỷ phú này vừa tweet rằng có thể “cơi nới” tên lửa thêm mười mét nữa. Theo đó tầng trên sẽ nhận được thêm ba động cơ Raptor được tối ưu hóa chân không “vì đó là điều không thể thiếu”. Phi thuyền thậm chí còn chưa cất cánh nhưng Musk đã nghĩ về nhữngđiều cần cải tiến.  Nhà phát minh và doanh nhân này đã thực hiện những điều chỉnh lớn hoặc nhỏ đối với tên lửa này nhiều lần. Ngày phóng tên lửa cũng bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần sau những trục trặc ở các chuyến bay thử nghiệm nhỏ trước đó. Trải qua nhiều lần thất bại rồi mới thành công, những chuyến bay thất bại và những vụ nổ mô hình là một phần trong lịch sử của công ty hàng không vũ trụ tư nhân SpaceX ngay từ những ngày đầu thành lập. Công thức thành công của Musk là: kiên trì thực nghiệm, liên tục thử nghiệm cho đến khi thành công.  Musk luôn theo đuổi ý tưởng về khả năng tái sử dụng tên lửa nhằm giảm đáng kể chi phí. Trái ngược với tên lửa Ariane của châu Âu, vẫn là một sản phẩm dùng một lần, rất đắt tiền, Starship sẽ là tên lửa đầu tiên trên thế giới mà toàn bộ tên lửa có thể tái sử dụng từ động cơ đến tầng trên.  Musk hiện là người dẫn đầu công nghệ trong ngành vũ trụ, có số lần phóng tên lửa nhiều nhất trong một năm và là nhà điều hành vệ tinh lớn nhất thế giới. Trong hơn hai mươi năm Musk đã xây dựng một đế chế không gian tư nhân thu được hàng tỷ đô la từ ngân sách của NASA. Tuy nhiên đích thân Musk cũng đang phải gánh chịu những rủi ro tài chính lớn, như trường hợp của Starship hiện nay.  Musk rất kiệm lời khi bình luận về cơ hội thành công của chuyến bay Starship đầu tiên này. Trong một cuộc phỏng vấn, Musk ám chỉ rằng tên lửa có thể bị phá hủy trong chuyến bay đầu tiên. Nhiều chuyên gia trong ngành cũng cho rằng không phải mọi thứ sẽ diễn ra suôn sẻ. Nhưng nếu không có vấn đề cơ bản về kỹ thuật thì đây sẽ là một bước đột phá lớn.  Đây sẽ là chuyến bay đầu tiên kéo dài 90 phút. Trong chuyến bay vào vũ trụ, tên lửa sẽ đạt đến độ cao của Trạm vũ trụ quốc tế ISS và gần như bay hoàn toàn quay quanh trái đất.  Trục trặc có thể xảy ra từ giây đồng hồ đầu tiên. Trong số các thảm họa có thể xảy ra bao gồm một vụ nổ khi phóng một tên lửa khổng lồ, chứa 4.600 tấn khí mê-tan và oxy lỏng, được phóng lên, đến một vụ nổ trong quá trình bay, đến sự vỡ vụn khi quay trở lại bầu khí quyển trái đất.  Để lắp đặt được tên lửa lớn nhất thế giới cần phải có các thiết bị lắp ráp chuyên dụng hạng nặng  Tên lửa sẽ được phóng từ sân bay vũ trụ SpaceX ở Boca Chica, Texas. Khung phóng làm bằng thép đặc biệt phải được làm mát bằng một khối lượng nước khổng lồ, nếu không nó sẽ bị nung chảy khi 33 động cơ tỏa nhiệt. Được biết, sau hai phút 49 giây, động cơ của giai đoạn siêu nặng sẽ dừng lại. Sau đó là sự tách rời của tầng trên, đây cũng là một khâu rất hóc búa. Nấc đầu tiên sẽ quay đầu và bay trở lại địa điểm xuất phát, tên lửa sẽ chạm nhẹ xuống mặt biển ngoài khơi Texas.  Ban đầu, SpaceX đã thực hành hạ cánh tầng đẩy của tên lửa Falcon 9, loại tên lửa hiện vẫn được sử dụng. Chúng đã thành công hạ xuống theo chiều thẳng đứng trên biển hoặc trên đất liền trong bảy năm qua.  Trong trường hợp của tên lửa Starship, giai đoạn đẩy một ngày nào đó sẽ quay trở lại thẳng tháp phóng. Ở đó, nó sẽ được thâu nạp bởi mthiết bị thâu nạp khổng lồ khi đến gần nơi hạ cánh. Đây cũng là một thao tác ngoạn mục chưa từng được thử trước đây. Nó thực sự có phần táo bạo đối với một chuyến bay ra mắt.  Nếu mọi thứ diễn ra theo đúng kế hoạch, tầng trên của Starship sẽ bay về phía đông từ Hoa Kỳ qua Đại Tây Dương, miền nam châu Phi và cuối cùng là phía bắc Australia. Cuối cùng, tầng tên lửa sẽ hạ cánh ở phía bên kia địa cầu, cách Hawaii khoảng 100 km về phía bắc, theo phương thẳng đứng ở Thái Bình Dương. Quỹ đạo của Starship càng ít bay qua vùng trời trên mặt đất càng tốt. Điều này nhằm ngăn các mảnh vỡ rơi vào khu vực dân cư nếu không may tên lửa bị vỡ hoặc phát nổ.  Một câu hỏi có ý nghĩa then chốt đối với chuyến bay đầu tiên này là liệu tấm chắn nhiệt có hoạt động hoàn hảo khi quay trở lại bầu khí quyển trái đất hay không. Trong quá trình đổ bộ lên sao Hỏa, nó được thiết kế để chịu được nhiệt độ lên tới 1700OC.  Có thể mất nhiều năm trước khi một con tàu vũ trụ thực sự đi vào bầu khí quyển của sao Hỏa. Trước đó, cuộc đổ bộ lên mặt trăng có người lái đầu tiên của Hoa Kỳ trước đây hơn 50 năm vấn đề này đã được đưa vào kế hoạch. Tuy nhiên ở khâu này cũng có sự chậm trễ. Được mệnh danh là Artemis III, sứ mệnh dự kiến đưa con người lên mặt trăng vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, các chuyên gia tỏ ra hoài nghi về thời điểm này. Họ cho rằng, thời điểm từ 2026 đến 2028 có phần thực tế hơn và tên lửa Starship khi đó phải đạt độ an toàn 100%. Hiện nay mới là giai đoạn tiến hành các bài kiểm tra đầu tiên.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/plus244725078/Starship-Groesste-Rakete-der-Welt-startbereit-Musk-will-neue-Aera-der-Raumfahrt-einleiten.html    Author                .        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm của Leonardo da Vinci: Nơi đi trước thời đại      Trong năm kỷ niệm 500 ngày mất của biểu tượng văn hóa Phục hưng, Martin Kemp đã rọi cái nhìn mới vào những mô hình thực nghiệm mang tính sáng tạo về sự chuyển động của nước và máu.      Mặc dù có vẻ sáo rỗng nhưng chúng ta vẫn phải lặp lại câu nhận xét quen thuộc này: Leonardo da Vinci (1452–1519) là người đi trước thời đại mình. Tuy nhiên, ông có được những điều đó là nhờ học hỏi rất nhiều từ những người thuộc thời đại mình. Sự tài khéo và linh hoạt của ông đã được báo hiệu từ những kỹ sư – nghệ sỹ của Ý thời kỳ Phục Hưng. Nổi bật nhất trong số này là Filippo Brunelleschi – người được coi là cha đẻ của kiến trúc Phục Hưng, đã kiến tạo ra mái vòm đồ sộ của nhà thờ Florence Cathedral và hình thành khoa học phối cảnh tuyến tính cho các họa sỹ trong những năm đầu thế kỷ 15. Các công trình về khoa học vật lý của Leonardo đã cho thấy ông đã thừa hưởng một cách trọn vẹn các lý thuyết về tĩnh học và động lực học thời kỳ Trung cổ trong khi sẽ còn rất lâu nữa mới đến thời kỳ của Isaac Newton và sự ra đời của cơ học cổ điển. Các nghiên cứu về giải phẫu của Leonardo là sự kết hợp của sinh lý học Trung cổ với các phân tích về chức năng và hình thái của nhà nghiên cứu y học thời kỳ La Mã Aelius Galenus.  Tuy nhiên cũng phải nói rằng, những đổi mới sáng tạo của Leonardo cũng cho thấy một sự thật hiển nhiên: ông đã hiểu các vấn đề này một cách sâu sắc hơn những người tiền nhiệm cũng như những người cùng thời để làm được nhiều hơn trong bối cảnh khoa học thời kỳ mình.  Những đổi mới sáng tạo nổi bật của Leonardo là việc phát minh ra những kỹ thuật đồ họa những chi tiết đường nét, cấu trúc bên trong vật thể trước khi tia X ra đời. Trong cuốn sổ tay ghi chép của mình, ông đã vẽ những vật thể bằng việc sử dụng kỹ thuật phối cảnh; mô hình hóa một cách có hệ thống các hình thể rắn bằng hình khối ánh sáng và bóng tối; tách bạch chúng để tiết lộ các cấu trúc bên trong; khắc họa những phần cơ thể và cỗ máy để phơi lộ những hình thái và khớp nối của chúng; phát minh ra những cách thể hiện dưới dạng sơ đồ để miêu tả các chức năng của các hệ thống cơ học và cơ thể; rút ra những kết luận về việc ý nghĩa hoạt động như thế nào thông qua thực nghiệm…  Sự chuyển động của chất lỏng  Giữa phạm vi rộng lớn của các hiệu ứng mà Leonardo khám phá và miêu tả là tính chất của các chất lỏng. Trong Leonardo da Vinci’s Codex Leicester — một cuốn sách gồm 4 tập được xuất bản từ cuốn sổ tay ghi chép về khoa học dày 72 trang, sáng tác sau năm 1508 — nhà sử học khoa học Domenico Laurenza và tôi đã chứng tỏ các ý tưởng mang tính cách mạng của ông về động lực học dòng chảy trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử cổ đại về “cơ thể thế giới”.  Các lý thuyết của Leonardo về sự truyền đi của ánh sáng từ mặt trời đến trái đất và mặt trăng, bao gồm cả những phản xạ từ biển, thực tế hay giả định. Phần lớn cuốn ghi chép này, là dành cho các nghiên cứu về nước trong các chuyển động, trên biển cả, các dòng sông và kênh dưới hình thức vene d’aqua  (các mạch chảy của nước), trên bề mặt trái đất và ngầm dưới mặt đất. Yếu tố cơ bản trong suy nghĩ của Leonardo là dù ở cấp độ vi mô và vĩ mô, ông vẫn thấy cơ thể con người như một “thế giới thu nhỏ”, phản chiếu những hình thức và chức năng của thế giới rộng lớn hơn.    Trong khi những nhà nghiên cứu trước đó, như nhà thiên văn học và địa chất học thế kỷ 12  Ptolemy, đã xem trái đất đã trải qua những thay đổi cục bộ thì Leonardo coi nó như có cả một câu chuyện về cuộc sống cổ xưa về những biến đổi trên quy mô lớn. Trong lý thuyết về địa chất của ông, các mặt cắt của vỏ trái đất sụp đổ, dẫn đến sự chuyển đổi dữ dội giữa đất và nước. Vì các trung tâm của trọng lực dịch chuyển, các phần của vỏ trái đất chuyển động để hình thành nên đồng bằng và núi non.    Ghi chép của Leonardo về bể thử nghiệm.   Giữa những khía cạnh nguyên bản nhất trong các cuộc nghiên cứu của ông là những gì mà ngày nay chúng ta gọi là “thực hành trong phòng thí nghiệm” bằng việc sử dụng các mô hình vật lý một cách khéo léo. Các phân tích của Leonardo về tính chất của nước là sự kết hợp giữa các lý thuyết toán học về chuyển động với quan sát sắc sảo. Các thực nghiệm được thiết kế để chứng tỏ cách sóng nước được sinh ra từ gió và các dòng chảy cùng cuộn xoáy hình thành các đường lượn phức hợp của chúng dưới bề mặt. Ông đã phác thảo một bể thực nghiệm trong hai bức vẽ nhỏ trong số ghi chép, hình vẽ trên được ông ghi là experientia (thực nghiệm); kèm theo là một ghi chú của ông về “một đáy lớn và phẳng dài 2 braccia [116 centimetres], rộng bằng nửa braccio [29 cm]; phải được các thợ gốm làm ở đây”. Các thành bể, ông viết, có thể được làm từ thủy tinh; ông sẽ thả vào nước những hạt cỏ kê (Panicum spp.) để theo dõi các cuộn xoáy chuyển động.  Các loại van và cuộn xoáy  Một trong những nhiệm vụ ông định cho minh là quan sát những gì diễn ra để một vật thể di chuyển tại đáy bể khi một dòng không khí thổi qua một hình chữ nhật ngay phía trên bề mặt nước. Ông nghĩ rằng vật thể đó sẽ di chuyển theo hướng ngược lại với luồng gió.  Việc bố trí thực nghiệm tiết lộ những nghiên cứu kỳ diệu của Leonardo về sự chảy rối không xuất phát từ những quan sát thế giới tự nhiên mà từ những thí nghiệm về những chuyển động của cuộn xoáy. Bằng việc tập trung vào những khía cạnh khác nhau trong chuyển động của nước và không khí, ông đã hoàn tất một nghiên cứu tuyệt vời.  Nghiên cứu của Leonardo về chuyển động của máu trong cơ thể con người liên quan đến thực nghiệm về mô hình dòng chảy tương tự. Ông đặc biệt quan tâm đến sự thụ động của quả tim, một loại van động mạch chủ ba lá giữa tâm nhĩ và tâm thất mà ông nhận thấy là mang chức năng vận hành chuyển động của máu (trên thực tế nó giúp máu đi một chiều từ nhĩ phải xuống thất phải, dòng máu từ thất phải qua van động mạch phổi vào động mạch phổi đưa máu lên phổi để trao đổi ô xi). Lý thuyết của ông cho rằng các cuộn xoáy lấp đầy các điểm trong cấu trúc thắt lại như cổ ống thủy tinh ở động mạch chủ tại cổ người, ông đã đề xuất tạo ra một khuôn gốm hình cổ, trong đó thổi một ống thủy tinh, nhờ vậy ông có thể chứng kiến chuyển động của nước và hoạt động của các điểm van như một sự kiểm chứng các hành xử của máu. Mô hình của Leonardo đã được chuyên gia về cơ học dòng chảy Morteza Gharib – người đã được Hội Vật lý Mỹ (APS) trao giải thưởng Fluid Dynamics do có nghiên cứu nổi bật về động lực học chất lỏng – đã sử dụng các kỹ thuật hình ảnh hiện đại để chứng minh sự tồn tại của các cuộn xoáy xoay vòng và chứng minh là Leonardo đã diễn giải việc đóng van.  Việc mô hình hóa đã xuất hiện từ thời kỳ đầu Phục hưng. Bằng những đổi mới này, Leonardo đã thực sự đi trước thời đại mình.  Người ta thường cho rằng  vì các nghiên cứu khoa học của Leonardo không được xuất bản và không được lưu hành trong nhiều thế kẻ nên chúng không hề tác động vào sự phát triển của khoa học. Nhưng Codex Leicester cho thấy, công trình của ông vẫn tiếp tục được tiếp nối trong công việc của những nhà cải cách địa chất giữa thế kỷ 17 và 19 như nhà núi lửa học William Hamilton – đại sứ Anh tại Naples từ năm 1764 đến 1800. Những bản sao chép bằng tay tác phẩm của Leonardo đều có mặt tại nhiều địa điểm quan trọng trong sự phát triển của địa chất hiện đại: London, Rome, Florence, Naples, Paris và Weimar.  Do đó, những người nghiên cứu về Leonardo luôn luôn ngạc nhiên về ông.  Thanh Phương lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02144-z    Author                Martin Kemp        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm mô phỏng các loại hình thời tiết      Nhiệt độ dưới 0 và bão tuyết đổ xuống hai ngôi nhà vừa được xây dựng bên trong một phòng thí nghiệm khổng lồ ở miền bắc nước Anh.    Bất chấp thời tiết băng giá, hai ngôi nhà tiết kiệm năng lượng vẫn ấm cúng nhờ sử dụng công nghệ cách ly và cấp nhiệt tiên tiến.    Phòng thí nghiệm giống như nhà kho khổng lồ này được đặt trong khuôn viên Đại học Salford, gần trung tâm Manchester.    Tại đây, các nhà khoa học có thể tái dựng các tình huống mưa, gió, nắng và tuyết trong khoảng nhiệt độ từ 40 độ C tới -20 độ C.        “Điều chúng tôi cố gắng đạt được là mô phỏng các điều kiện thời tiết sẽ xảy ra với khoảng 95% cư dân Trái đất”, theo GS Will Swan, người đứng đầu Phòng thí nghiệm Nhà năng lượng.    Với siêu phòng thí nghiệm, các nhà khoa học và các công ty không có thể thử nghiệm các điều kiện thời tiết diễn ra trong một năm chỉ trong vòng một tuần. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra môi trường tiện lợi, khả thi và tiết kiệm chi phí để giải quyết những vấn đề về độ bền vững trong xây dựng.    Hai ngôi nhà trong phòng thí nghiệm là kiểu nhà điển hình của Anh. Sau này, các nhà thầu khác có thể thuê không gian trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu mô hình nhà của họ.    Ngôi nhà đầu tiên do công ty bất động sản Barratt Developments của Anh và tập đoàn vật liệu khổng lồ Saint-Gobain của Pháp hợp tác xây dựng. Khung nhà bằng gỗ và vật liệu cách ly, ốp gạch trang trí bên ngoài, trên mái lắp các tấm năng lượng mặt trời.    Các nhà khoa học đang kiểm nghiệm hiệu quả của các hệ thống cấp nhiệt khác nhau ở đây, bao gồm công nghệ bơm nhiệt nguồn khí.    Trong phòng khách, một mạch nước nóng được bố trí dọc theo chân tường; ngoài ra còn có nguồn nhiệt khác từ công nghệ hồng ngoại trong gờ áp trần và từ tấm ốp tường. Các tấm gương cũng là bộ tản nhiệt hồng ngoại, trong khi có vô số cảm biến giám sát xem phòng nào đang có người sử dụng.    Những người sống ở đây có thể quản lý công nghệ này thông qua một hệ thống điều khiển duy nhất giống trợ lý ảo điều khiển bằng giọng nói Alexa của Amazon.    Các công ty xây dựng ước tính công nghệ tiên tiến này sẽ khiến cho hóa đơn tiền điện chỉ còn ¼ so với con số trung bình mà các gia đình ở Anh phải trả hiện nay, một lợi ích tuyệt vời đối với những người đang choáng váng trước giá điện tăng cao ngất.    Đây cũng sẽ là một đóng góp quan trọng đối với nỗ lực của Anh nhằm đạt mục tiêu phát thải ròng carbon bằng 0 vào năm 2050 để chống lại biến đổi khí hậu.    Năm 2019, một báo cáo của Quốc hội cho biết, nhà dân đóng góp 17% phát xạ nhiệt từ các tòa nhà – tương đương mức phát xạ nhiệt của tất cả các xe ô tô chạy bằng xăng và dầu ở Vương quốc Anh.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Quy trình sản xuất, có khả năng phòng trừ nhện đỏ hai chấm gây hại trên cây trồng      Sản phẩm do Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM nghiên cứu và hoàn thiện quy trình sản xuất, có khả năng phòng trừ nhện đỏ hai chấm gây hại trên cây trồng.    Nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae) gây bệnh trên nhiều loại cây trồng, dẫn đến các đốm hoại tử trên lá, cánh hoa bị cháy, làm cây giảm sức sống và chết nhanh hơn. Do chu kỳ sống ngắn (10-15 ngày) và sự thay đổi thế hệ nhanh, mật độ tăng cao nhanh, nhất là trong điều kiện khô hạn, nhện đỏ có thể gây hại hàng loạt trên cây trồng. Biện pháp phòng trừ hiện nay là sử dụng các loại thuốc hóa học phối hợp hoặc luân phiên phun lên cây nhằm tiêu diệt nhện. Tuy nhiên, việc lạm dụng các loại thuốc trừ sâu hóa học kéo dài làm tăng khả năng kháng thuốc, ảnh hưởng trực tiếp trên cây trồng, sức khỏe người dùng và môi trường sinh thái.        Hiện nay, để vừa tiêu diệt nhện/côn trùng gây bệnh, vừa thân thiện với môi trường, nhiều loài nấm côn trùng đã được ứng dụng trong đấu tranh sinh học kiểm soát dịch hại, như Cordyceps, Beauveria, đặc biệt là chi nấm Isaria. Chi Isaria bao gồm các loài nấm ký sinh côn trùng phân bố khá rộng, dễ dàng thu thập trong tự nhiên, có tiềm năng trong việc sử dụng phòng trừ nhện và sâu hại.    Tại Việt Nam, đã có khá nhiều chế phẩm sinh học phòng trừ sâu hại trên cây trồng được sản xuất từ các loại nấm (xanh, trắng,…). Tuy nhiên, chế phẩm phòng trừ nhện đỏ từ nấm hầu như rất ít, chủ yếu dạng thô, chất lượng chưa ổn định.    Trong bối cảnh đó, Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM đã nghiên cứu sử dụng nấm Isaria sp. để sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nhện đỏ hai chấm. Cụ thể, các chủng nấm Isaria sp. sau khi phân lập từ ngoài tự nhiên, được nuôi cấy trên đĩa petri và trong môi trường lỏng (lên men cấp 1). Khi nấm phát triển thành hệ sợi từ 7 – 8cm, tiếp tục lên men cấp 2 để thu bào tử, sinh khối nấm (sau khi cấy 15 ngày). Sinh khối nấm này được sấy khô rồi nghiền nhỏ, rây lấy bột mịn, rồi phối trộn với chất phụ gia (bột cao lanh theo tỷ lệ 90% phụ gia, 10% bào tử nấm) để tạo thành chế phẩm Isaria sp.    Thử nghiệm chế phẩm trên cây cà tím cho thấy hiệu quả phòng trừ nhện đạt 72% sau 10 ngày phun, thấp hơn khả năng diệt trừ nhện của thuốc hóa học (penpyroximate 5%) 82% và thuốc sinh học (Abamectin, Emamectin benzoate) 73%.    Trung tâm đã hoàn thiện quy trình sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nhện đỏ hai chấm từ nấm Isaria sp. với chi phí sản xuất 34 nghìn đồng/kg chế phẩm. Quy trình có thể phát triển sản xuất ở quy mô lớn, sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho các đơn vị, tổ chức có nhu cầu.    Nguyễn Trang    Author                .        
__label__tiasang Photovoltatronics có thể giúp tạo ra những tấm pin mặt trời thông minh      Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan đã giới thiệu trên tạp chí Energy & Environmental Science về Photovoltatronics – một lĩnh vực nghiên cứu mới hướng tới mục tiêu tạo ra những tấm pin mặt trời có khả năng tương tác với nhau và với các thiết bị ở xung quanh để đưa điện năng đến đúng nơi cần đến.    Cho đến nay, pin mặt trời chủ yếu đang được sử dụng như một nguồn năng lượng hữu ích. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tại Đại học công nghệ Delft tin năng lượng mặt trời có thể làm được nhiều hơn thế nếu các tấm pin mặt trời được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Miro Zeman, giáo sư Đại học Công nghệ Delft giải thích: “Thông thường, những tấm pin mặt trời sẽ thu nhận ánh sáng và cung cấp điện năng. Các hạt ánh sáng thuộc loại này được gọi là photon còn các hạt mang điện là electron. Cả photon và electron đều là các vật mang năng lượng. Ý tưởng của chúng tôi là tìm ra được một phương thức thông minh để kết hợp hai đặc điểm này và hợp nhất chức năng chứa năng lượng và thông tin vào trong một thiết bị. Điều này sẽ cho phép chúng ta thiết kế ra những tấm pin mặt trời với thành phần mới không chỉ tạo ra điện mà còn có thể xử lý thông tin. Các tấm pin này sẽ có khả năng “giao tiếp” với nhau và với các thiết bị khác, cũng như đảm bảo rằng tất cả điện năng sản xuất ra có thể đến đúng nơi cần đến. Đó là cách chúng ta sẽ mở ra một cuộc cách mạng năng lượng mặt trời thông minh”  Theo dự đoán của Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA), đến năm 2050, điện mặt trời sẽ đáp ứng ít nhất một phần tư nhu cầu năng lượng của con người. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều thách thức liên quan đến việc sử dụng loại năng lượng này. Một trong số đó là câu hỏi: làm thế nào để có thể thu được tối đa lợi ích từ năng lượng mặt trời trong môi trường đô thị. Và làm thế nào để năng lượng này có thể sử dụng được trong các căn phòng như phòng khách của chúng ta? “Ta sẽ chỉ trả lời được câu hỏi đó nếu kết hợp tất cả các lĩnh vực chuyên môn khác nhau vào thành một lĩnh vực nghiên cứu”, Zeman nói. “Đó là lý do tại sao Photovoltatronics sẽ là một chất xúc tác quan trọng trên hành trình hướng tới một tương lai bền vững”.  Trả lời câu hỏi tại sao người ta lại đặt kỳ vọng vào Photovoltatronic nhiều như vậy, nhà nghiên cứu Ziar cho rằng: “Đơn giản là bởi Photovoltatronic kết hợp được nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Sớm thôi, các tấm pin mặt trời sẽ được trang bị trí thông minh, khả năng lưu trữ năng lượng và khả năng kết nối (không dây). Những tấm quang năng sẽ không chỉ sản xuất ra năng lượng một cách thụ động nữa mà sẽ thực sự đóng vai trò chủ động trong đời sống xã hội. Hãy thử tưởng tượng về những tấm pin mặt trời được tích hợp vào các cửa sổ để có thể vừa điều hòa ánh sáng trong tòa nhà, lại vừa làm mát và che nắng cùng một lúc. Rồi có thể, các tấm pin mặt trời dưới lớp vải bọc của sofa cũng sẽ có khả năng tạo ra năng lượng, hay những chiếc đèn trong nhà sử dụng năng lượng mặt trời cũng sẽ biết tự bật khi nhận thấy trời quá tối”.  Các tác giả tin rằng lĩnh vực nghiên cứu mới này có thể đem đến những đóng góp quan trọng cho một tương lai bền vững. Phó giáo sư Isabella Olindo nhận định: “Với sự trợ giúp của thiết bị điện tử và phần mềm xử lý dữ liệu, chúng ta sẽ có thể tích hợp thêm trí thông minh vào các tấm pin mặt trời. Khi ấy, nếu gắn một viên pin vào dưới đáy của tấm pin mặt trời thì lượng điện năng dư thừa không thể xử lý được hoàn toàn sẽ được lưu trữ vào viên pin đó. Công nghệ này sẽ không chỉ giới hạn sử dụng trong môi trường đô thị mà thậm chí có thể áp dụng vào các ứng dụng y tế. Chỉ cần tưởng tượng – bạn có thể tạo ra một viên pin mặt trời siêu nhỏ có khả năng chuyển đổi tia hồng ngoại (thành phần của ánh sáng mặt trời) thành điện năng và đưa nó vào cơ thể của mình. Với sự hỗ trợ của các cảm biến tích hợp, lượng điện năng này sau đó sẽ có thể giúp làm tăng nhịp tim của bạn và kích thích sự tuần hoàn mạch máu”.□  Mỹ Hạnh dịch   Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-11-photovoltatronics-smart-solar-cells.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phụ nữ không cần phải lo sợ sẽ bị vô sinh sau tiêm chủng      Đã có những thông tin cho rằng Coronavirus và protein ở nhau thai rất giống nhau đến mức kháng thể được hình thành sau tiêm chủng có thể cản trở sự thụ thai. Nhưng các bằng chứng khoa học đã cho thấy không có cơ sở để lo sợ về điều đó.      Vẫn có những phụ nữ lo lắng vì vaccine không chỉ tạo phản ứng miễn dịch đối với protein gai (Spike-Protein) của Sars-CoV-2 mà còn chống lại cả protein ở nhau thai. Chị em lo sợ vì hai loại protein này rất giống nhau nên có thể xảy ra nhầm lẫn và khiến phụ nữ tiêm chủng sau này khó thụ thai. Có những cơ sở khoa học giúp chị em yên tâm tiêm chủng:     1. Chỉ có rất ít điểm giống nhau     Protein gai của corona bao gồm 1273 axit amin, protein nhau thai Syncytin-1 bao gồm 538 axit amin. Có một trình tự ngắn tương tự, nhưng không giống nhau: trong protein tăng đột biến, có tên là VVNQN, trong syncytin-1 VVLQN. Tuy nhiên, dù có hình dạng bên ngoài tương tự nhau thì hai bên vốn có nếp nhăn phức tạp và cấu trúc khác nhau. Và các kháng thể nhận ra cấu trúc khác nhau này.   Nhà virus học Ian Jones từ Đại học Reading của Vương quốc Anh cho biết hai loại protein này không đủ giống nhau để các kháng thể hình thành sau khi tiêm chủng có thể liên kết với syncytin-1. Do đó, nguy cơ vô sinh về cơ bản chỉ là “tưởng tượng”, ông nói sự kiểm nghiệm từ thực tế tiêm chủng của Anh là “minh chứng đầy đủ”.     2. Những điểm tương đồng luôn có ở mọi nơi      Còn có những điểm tương đồng thì sao? Chúng ta không cần lo lắng vì sự giống nhau này luôn có ở mọi nơi. Ví dụ, một nhà miễn dịch học đã đặt trình tự axit amin của protein đột biến bên cạnh trình tự của các protein khác của con người và tìm thấy nhiều trường hợp có 4 hoặc 5 axit amin giống nhau liên tiếp.     Ngoài ra còn có một ví dụ sinh khác: temelimab kháng thể điều trị, được sử dụng trong các bệnh tự miễn dịch như bệnh đa xơ cứng hoặc bệnh tiểu đường, nhận ra một loại protein từ một loại virus nội sinh có 81% liên kết với syncytin- 1 từ nhau thai, theo Udo Markert, Trưởng phòng thí nghiệm Nhau thai tại Bệnh viện Đại học Jena và Chủ tịch Hiệp hội Miễn dịch Sinh sản Châu Âu. Tuy nhiên, các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy temelimab thực tế không liên kết với syncytin và do đó không ảnh hưởng đến sự phát triển và chức năng của nhau thai.     3. Không thể tiếp cận     Theo Markert, phần liên quan trong chuỗi axit amin của syncytin-1 nằm phía dưới bề mặt của nhau thai. Ngay cả khi các kháng thể nhầm lẫn giữa hai protein – điều rất khó xảy ra vì những lý do được mô tả ở trên – thì trình tự cũng “không thể tiếp cận trực tiếp với bất kỳ kháng thể nào”.     4. Những người nhiễm virus cũng không bị vô sinh     Những kinh nghiệm từ đại dịch cũng nói lên ảnh hưởng của vaccine đối với khả năng sinh sản. Lý do: Nếu các kháng thể hình thành sau khi tiêm chủng chống lại syncytin-1 của chính cơ thể, thì các kháng thể hình thành sau khi bị lây nhiễm cũng vậy. Bởi vì giống như các kháng thể được tạo ra sau khi tiêm chủng, các kháng thể này tấn công protein đột biến của Sars-CoV-2. Với hơn 225 triệu người bị nhiễm bệnh trên toàn thế giới, người ta sẽ nhận thấy nếu nhiễm trùng làm tăng nguy cơ vô sinh. Nhưng điều đó không xẩy ra.     5. Thí nghiệm ở động vật     Trước khi vaccine được sử dụng cho phụ nữ mang thai, các tác động lên khả năng sinh sản phải được quan sát trong các thí nghiệm trên động vật ngoài những phát hiện từ các nghiên cứu lâm sàng ở người lớn. Các nhà khoa học nghiên cứu vaccine Pfizer – Biontech không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy vaccine có bất kỳ ảnh hưởng nào đến khả năng sinh sản, buồng trứng hoặc tử cung. Việc tiêm phòng cũng không ảnh hưởng đến việc mang thai.     Về rối loạn chu kỳ kinh nguyệt mà phụ nữ đã đề cập sau tiêm phòng corona?     Ngoài ra có phụ nữ đã thông báo về những bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt của họ sau khi tiêm vaccine corona trên mạng xã hội. Liệu có mối liên hệ nhân quả giữa rối loạn kinh nguyệt và việc tiêm chủng hay không? điều này chưa được chứng minh hoặc bác bỏ. Cả những ý kiến  ủng hộ hoặc phản bác luận điểm này cho đến nay vẫn thiếu dữ liệu để có một câu trả lời thuyết phục.Các nhà nghiên cứu đang nghĩ đến một khả năng – là bất thường đó sẽ chỉ xảy ra tạm thời và sự cân bằng hormone sẽ ổn định sau một vài chu kỳ.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fgesundheit%2Fschwangerschaft%2Fcoronavirus-warum-frauen-nach-einer-impfung-keine-angst-vor-unfruchtbarkeit-haben-muessen-a-ed719534-fe4a-4efb-9a9c-55e12bf8d0be     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phục hồi công thức làm mực in màu xanh thời Trung cổ      Giở lại những trang sách xuất bản trong thời kỳ Trung cổ, các nhà khoa học đã tìm cách tái tạo lại thứ mực in màu xanh tím có nguồn gốc từ cây cỏ, vốn đã bị khuất lấp theo thời gian.      Trong thời Trung cổ, màu xanh folium được dùng phổ biến để trang trí các cuốn sách.  Tại miền Nam Bồ Đào Nha, những lùm cây nhỏ lá màu bạc lấp lánh với những chùm quả xinh xinh lấm tấm trắng và xanh lá mọc khiêm tốn ở vệ đường hoặc rìa các đồng cỏ ít gây chú ý của mọi người. Tuy nhiên một nhóm các nhà khoa học ở ba trường Đại học lớn của Bồ Đào Nha là NOVA Lisbon, Porto và Aveiro lại để mắt đến cây Chrozophora tinctoria họ Đại kích này. Họ lấy quả của chúng và khuấy trộn lên, qua đó tạo ra một hỗn hợp methanol và nước để tạo ra màu xanh sẫm gần ngả sang tía. Nếu các nhà giả kim thuật thường có xu hướng giữ lấy bí mật công thức thì các nhà khoa học rốt cục công bố kết quả nghiên cứu với tựa đề “A 1000-year-old mystery solved: Unlocking the molecular structure for the medieval blue from Chrozophora tinctoria, also known as folium” (Giải quyết bí ẩn nghìn năm: Mở khóa cấu trúc phân tử của màu xanh lam Trung cổ từ Chrozophora tinctoria, hay còn gọi là folium) trên tạp chí Science Advances.  Học hỏi các nghệ nhân thời kỳ Trung cổ  Trở lại thời kỳ Trung cổ, màu xanh lam vẫn được biết đến tên gọi folium này được các nghệ nhân dùng để trang trí một cách tỉ mỉ các bản thảo. Thông thường, các nghệ nhân lưu trữ các dung dịch màu xanh lam và cả màu tía được chiết xuất từ cây Chrozophora tinctoria, sau đó ngâm với vải lanh (linen) và làm khô đi thành dạng màu nước. Chúng được chuyển đến các xưởng thủ công ở khắp châu Âu và được dùng cho nhiều mục đích khác nhau, từ làm sách, màu vẽ đến nhuộm quần áo. Do được coi là không độc hại nên folium không chỉ dùng để vẽ trong các bức họa tôn giáo mà còn được ghi lên bề mặt của các bánh phô mai cứng của Hà Lan. Tuy nhiên, khi phong cách trang trí như thời Trung cổ trở nên lỗi thời, người ta ngày một ít dùng folium hơn và thay vào đó ưa chuộng việc dùng indigo (cây chàm), một trong những nguồn nguyên liệu chính để tạo ra mực in màu xanh lam. Do đó tới thế kỷ 19 thì folium đã gần như biến mất và các phụ gia hóa học cho công thức làm mực in đã nhanh chóng bị lãng quên. Chrozophora tinctoria trở lại nguyên bản là cây dại mọc lề đường, gần như còn rất ít những người quan tâm đến quá khứ lẫy lừng từng có mặt trong những trang văn bản ghi chép quan trọng trong nhiều lĩnh vực, từ tôn giáo đến văn học, khảo cứu…, của nó.  Ít ai biết loài cây nào là nguyên liệu làm mực in màu lam và việc mực được tổng hợp như thế nào vẫn còn là một bí ẩn, ngay cả với khoa học. Một nhóm các nhà khoa học Bồ Đào Nha không chấp nhận điều đó, họ mong muốn chiếu rọi vào quá khứ bị lãng quên của folium để tìm ra bí quyết làm mực in của các nghệ nhân Trung cổ bằng cách tiếp cận liên ngành với sự tham gia của các nhà nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật, bảo tồn nghệ thuật, thực vật học và hóa học.  Bước đầu tiên mà họ giải quyết là tìm hiểu các văn bản cổ để tìm hiểu về những miêu tả đầy đủ của Chrozophora tinctoria, thời điểm thu hoạch và quy trình chế biến nó đúng như cách các bậc tiền bối thực hiện. Trong số các cuốn sách hiếm hoi mà họ chọn lọc ra để truy tìm công thức mực in, có một số đáng quan tâm như The book on how to make all the colour paints for illuminating books (Cuốn sách về cách làm tất cả các màu vẽ để rọi sáng các cuốn sách) – xuất bản vào thế kỷ 15, Montpellier liber diversarum arcium (Cuốn sách về nhiều môn nghệ thuật) – xuất bản vào thế kỷ 14, và Theophilus on divers arts (Về các bộ môn nghệ thuật khác nhau) – xuất bản vào thế kỷ 12. Nội dung các cuốn sách này nói về khoa học và nghệ thuật trong việc pha chế các màu vẽ “dùng để chiếu rọi hoặc minh họa hoặc để in các văn bản”. “Chúng tôi đã cố gắng bắt chước họ”, Maria João Melo, nhà khoa học bảo tồn nghệ thuật tại trường Đại học NOVA Lisbon và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết trên atlasobscura.com. “Phần chuyên môn của chúng tôi là đọc các văn bản cổ xưa, thực hiện việc chuyển đổi những thông tin được thu nhận từ những trang viết đó về cách họ tiến hành, dù thi thoảng nó không thực sự rõ ràng dễ hiểu lắm”.    Sử dụng phép đo trên máy sắc ký khối phổ, cộng hưởng từ hạt nhân, họ phát hiện ra cấu trúc hóa học của hợp chất tạo nên mực in, đó là anthocyanins – hóa chất màu xanh vẫn thường tìm thấy ở các loại quả mọng (berries).  Các thông tin về các phương pháp chế biến dường như được ghi chép khá đầy đủ nhưng việc hiểu được nó đòi hỏi mất nhiều công sức và thời gian bởi phần lớn chúng được viết bằng tiếng Judeao-Portugeuse – một thứ ngôn ngữ do người Do Thái ở Bồ Đào Nha thời kỳ Trung cổ sử dụng nhưng nay không còn ai nói và viết nữa. Do đó bên cạnh tìm đến các chuyên gia lịch sử nghệ thuật để tham khảo, họ phải áp dụng một số phương pháp khác và những nguồn khác, tuy vậy không có cách nào trong số này cho họ biết tên nguyên liệu làm ra màu sắc này.  Giữa lúc tưởng chừng bế tắc thì Melo đã tìm ra manh mối ngay trong The book on how to make all the colour paints for illuminating books, nguồn tài liệu quan trọng mà hai năm trước giúp bà và cộng sự có được công trình “The book on how to make all the colour paints for illuminating books: unravelling a Portuguese Hebrew illuminators’ manual” (Cuốn sách về cách làm tất cả các màu vẽ để rọi sáng các cuốn sách: Làm sáng tỏ cuốn sách hướng dẫn những người tô màu bằng tiếng Do Thái Bồ Đào Nha) xuất bản trên Heritage Science. Khi đó, họ đã tìm hiểu được những bước chế tạo chính và thành phần tạo ra các vật liệu vẽ phổ biến thời Trung cổ như vàng khảm, chì đỏ, xanh đồng, các sắc màu đỏ từ gỗ Brazil, đỏ cánh kiến, thần sa, keo da dê… Giữa những trang sách, Paula Nabais, một nhà khoa học bảo tồn của nhóm Melo phát hiện ra các miêu tả chi tiết về một loại cây bí mật. “Hình thái bên ngoài, quả của nó như thế nào cũng như nói có thể tìm cây ấy ở nơi nào, khi nào có thể thu hoạch nó… được miêu tả rất cụ thể. Chúng tôi nghi ngờ đó là loại cây chúng tôi cần và thế là câu chuyện đã được mở ra”, Paula Nabais nói với Chemical and Engineering News. Đó là cách họ phát hiện ra Chrozophora tinctoria.     Cây Chrozophora tinctoria.  Rất may mắn là một phần công thức chế tạo màu lam đã được một nhà nghiên cứu tên là M. N. Joly (Pháp) tìm hiểu. Năm 1842, ông tới vùng Grand-Gallargues (nay là Gallargues-le-Montueux) của Pháp, để phỏng vấn một linh mục về họa sĩ Hugues Merle và thu thập thông tin về cách làm màu lam chính cha của Hugues, trong đó mô tả chính xác thời điểm thu hoạch (tháng tám hoặc tháng chín) cũng như việc công thức chế tạo màu là một trong những bí ẩn bậc nhất của nghề thủ công thời Trung cổ.  Tái hiện công thức tạo màu in   Mặc dù cho rằng có thể tìm thấy dịch chiết hữu ích từ mọi phần của cây nhưng Joly cho rằng, quả của nó cho nhiều nguyên liệu cần thiết nhất. Do vậy các nhà thực vật học và chuyên gia về hệ thực vật Bồ Đào Nha của nhóm nghiên cứu đã cùng đi xuống miền Nam Bồ Đào Nha, tới thị trấn cổ Monsaraz để thu thập quả cây Chrozophora tinctoria như lời hướng dẫn. Trên thực tế, quả của nó màu xanh lam và có kích thước tương đương quả óc chó. Họ cẩn thận để không làm ảnh hưởng đến hạt trong đó vì họ sợ rằng nó làm ảnh hưởng đến chất chiết xuất từ hạt, và do đó ảnh hưởng đến chất lượng mực in. Họ mang quả về phòng thí nghiệm, ngâm nó trong methanol và nước rồi kiểm tra dung dịch nước quả được chiết xuất ở cấp độ phân tử. Sử dụng phép đo trên máy sắc ký khối phổ, cộng hưởng từ hạt nhân, họ phát hiện ra cấu trúc hóa học của hợp chất tạo nên mực in, đó là anthocyanins – hóa chất màu xanh tìm thấy ở các loại quả mọng (berry). Cẩn thận không thừa, Nabais cho biết, việc ép dịch quả không làm vỡ hạt để không giải phóng chất polysaccharides chứa trong hạt, vốn là chất làm hình thành một dạng vật liệu nhớt dính làm ảnh hưởng đến độ tinh khiết của anthocyanins.  Để chắc chắn kết quả, họ còn mô phỏng sự tương tác của ánh sáng với các phân tử trích xuất được từ những mẫu “ứng viên” khác và nhận thấy, mình đang có trong tay chính màu xanh khao khát. Mặt khác, sự trùng khớp giữa những dự đoán bằng lý thuyết với thuyết phiếm hàm mật độ phụ thuộc thời gian và kết quả đo đạc được cho thấy, tính chất nhị trùng (dimer) là nguyên nhân dẫn đến việc folium có thể hiển thị thành hai màu xanh và tím sau nhiều giờ phơi lộ trước ánh sáng.  Nhìn nhận lại quá trình tìm công thức cổ, Melo cho rằng, họ quá may mắn bởi công thức đó có thể được áp dụng cho công tác bảo tồn các văn bản cổ. “Chúng tôi cuối cùng đã ‘bắt’ được bí mật của các thầy tu Trung cổ”. “Đây chính là màu Trung cổ có nguồn gốc hữu cơ duy nhất mà chúng tôi chưa tìm thấy cấu trúc hóa học. Chúng tôi cần nó để bảo vệ những sắc màu đẹp đẽ ấy cho thế hệ tương lai chiêm ngưỡng”.  Hóa ra, các nghệ nhân Trung cổ sử dụng màu in này rất linh hoạt: sau khi chiết xuất màu từ cây, họ ngâm các mảnh vải vào dung dịch xanh tím ấy và để nó khô lại, khi cần sử dụng lại làm ướt mảnh vải đó là sắc màu tươi tắn lại được kích hoạt trở lại. “Thật vô cùng thú vị khi khám phá ra công thức này”, Melo trả lời Science News.  Theo dõi kết quả công bố của nhóm nghiên cứu Bồ Đào Nha qua công bố trên Science Advances, Patrick Ravines, một nhà bảo tồn nghệ thuật tại trường Đại học Buffalo đánh giá với Chemical and Engineering News là nghiên cứu đã nhấn mạnh vào “cách kết hợp văn bản lịch sử và các phương pháp phân tích trên những thiết bị khoa học hiện đại có thể phân loại được các hợp chất thiên nhiên trong các bảng màu của họa sĩ hoặc văn bản cổ một cách chính xác như thế nào”.  Arie Wallert, một nhà sưu tầm và nhà nghiên cứu tại Rijksmuseum – bảo tàng quốc gia dành riêng cho nghệ thuật và lịch sử ở Amsterdam, Hà Lan, cho biết ông đã cố gắng tìm cách giải quyết bí ẩn về màu vẽ này trong những năm 1990 nhưng đã thất bại. “Tôi đã quyết định xếp nó lại một bên để dành đến lúc về hưu mới có thể quay trở lại với nó,” ông nói. “Nhưng hiện tại, thông qua sức mạnh của việc kết hợp nhiều bộ não lại với nhau, nhóm nghiên cứu của Bồ Đào Nha đã giải quyết được nó một cách trọn vẹn và vô cùng đẹp đẽ. Vì thế, tôi có thể dành thời gian nghỉ hưu đó cho những bí ẩn khác.”  Tuy tự hào về những kết quả thu được nhưng nhóm nghiên cứu Bồ Đào Nha vẫn còn cho rằng mình cần phải tìm kiếm thêm những thông tin ẩn giấu trong những trang sách cổ. “Chúng tôi tin rằng, công trình này không phải là nghiên cứu cuối cùng về loài cây kỳ diệu này và câu chuyện của nó sẽ được chúng tôi tiếp tục khám phá trong thời gian tới”, họ viết trong công bố.  Melo, người dẫn dắt nghiên cứu, cảm thấy trách nhiệm của mình, không chỉ ở vai trò người làm công tác bảo tồn nghệ thuật. “Các nghệ nhân đã có thể tạo ra những màu vẽ từ nhiều thế kỷ trước. Hiện giờ chúng ta không còn có những mẫu đẹp như vậy nữa. Vì vậy, nghiên cứu này là một phần trong chủ đề nghiên cứu lớn hơn của chúng tôi để hiểu thứ vật liệu thú vị này càng nhiều càng tốt cũng như cách tổng hợp ra nó để gìn giữ những tác phẩm nghệ thuật và sự sáng tạo của họ”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://heritagesciencejournal.springeropen.com/articles/10.1186/s40494-018-0208-z  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/researchers-followed-15th-century-recipe-recreate-medieval-blue-ink-180974709/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phun trào núi lửa có thể đã thúc đẩy luồng khí oxy đầu tiên trong bầu khí quyển Trái đất      Một phân tích mới về những tảng đá 2,5 tỷ năm tuổi ở Úc cho thấy các vụ phun trào núi lửa có thể đã thúc đẩy sự gia tăng số lượng các vi sinh vật biển. Điều này sẽ thay đổi câu chuyện hiện có, vốn cho rằng các quá trình địa chất hoặc hóa học kiểm soát hầu hết những thay đổi trong bầu khí quyển sơ khai của Trái đất.      Dù tập trung vào lịch sử thuở ban đầu của Trái đất, nghiên cứu này còn liên quan đế sự sống ngoài Trái đất và thậm chí là biến đổi khí hậu. Nghiên cứu do ĐH Washington (UW), ĐH Michigan và các viện trường khác dẫn đầu và công bố trên tạp chí PNAS vào tháng 8 vừa qua 1.   “Trong vài thập kỷ qua, có khá nhiều mối liên hệ giữa thạch quyển, vật chất không sống trên Trái đất và sự tiến hóa của sự sống”, Jana Meixnerová, nghiên cứu sinh về khoa học Trái đất và vũ trụ ở UW, tác giả thứ nhất của nghiên cứu cho biết. “Nhưng các mối liên hệ cụ thể đã thúc đẩy quá trình tiến hóa của sự sống trên Trái đất là gì?”  Vào thời sơ khai, bầu khí quyển Trái đất không có oxy, và các dạng sống hít thở oxy trên Trái đất, nếu có cũng rất ít. Bầu khí quyển Trái đất bắt đầu giàu oxy cố định vào khoảng 2,4 tỷ năm trước, có thể là sau một vụ bùng nổ các dạng sống có khả năng quang hợp, biến CO2 và nước thành oxy.   Nhưng vào năm 2007, Ariel Anbar ở ĐH bang Arizona, đồng tác giả nghiên cứu đã phân tích mẫu đá ở núi McRae Shale ở Tây Úc, công bố một luồng khí oxy ngắn hạn xuất hiện khoảng 50-100 triệu năm trước khi trở thành oxy cố định vĩnh viễn trong khí quyển. Nhiều nghiên cứu gần đây đã xác nhận các luồng khí oxy ngắn hạn khác ở giai đoạn sớm hơn, nhưng họ vẫn chưa giải thích được quá trình gia tăng và suy giảm của chúng.  Trong nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu tại ĐH Michigan, do Joel Blum dẫn đầu đã phân tích các mẫu đá cổ tương tự để tìm hiểu nồng độ và số lượng các neutron trong các nguyên tố thủy ngân, phát ra từ các vụ phun trào núi lửa. Các vụ phun trào núi lửa lớn phát tán khí thủy ngân vào tầng khí quyển cao, lưu thông ở đó khoảng 1-2 năm trước khi theo mưa đi vào bề mặt Trái đất. Nghiên cứu mới cho thấy lượng thủy ngân đã tăng đột biến khoảng vài triệu năm trước khi lượng oxy tăng lên tạm thời.   “Trong mẫu đá, ngoài sự tăng vọt nhất thời của oxy, chúng tôi đã tìm thấy bằng chứng về sự phong phú tự nhiên của các đồng vị thủy ngân. Nguyên nhân hợp lý nhất là do núi lửa phun trào đưa vào trong khí quyển”, Roger Buick, giáo sư về Khoa học Trái đất và không gian ở UW cho biết.  Các tác giả lý giải rằng nơi núi lửa phun trào chắc chắn sẽ có dung nham và các cánh đồng tro núi lửa. Các tảng đá giàu dinh dưỡng ở đó sẽ bị phong hóa dưới tác động của mưa gió, giải phóng phốt pho vào các con sông và bồi đắp cho các vùng ven biển gần đó, tạo điều kiện cho vi khuẩn lam và các dạng sống đơn bào khác có khả năng sản sinh oxy phát triển.   “Có nhiều chất dinh dưỡng khác điều chỉnh hoạt động sinh học trong khoảng thời gian ngắn, nhưng phốt pho là chất quan trọng nhất trong khoảng thời gian dài”, Meixnerová cho biết.  Ngày nay, các nguyên liệu sinh học và phân bón nông nghiệp rất giàu phốt pho. Nhưng vào thời cổ đại, đá núi lửa phong hóa là nguồn cung cấp chính của loại tài nguyên khan hiếm này.   “Trong suốt quá trình phong quá thời liên đại Thái cổ (Archaean), đá bazan mới sẽ từ từ hòa tan, giải phóng các chất dinh dưỡng đa lượng phốt pho thiết yếu vào các con sông. Quá trình này sẽ cung cấp thức ăn cho các vi sinh vật sống ở vùng ven biển nông, thúc đẩy năng suất sinh học và tạo ra một sản phẩm phụ là lượng oxy tăng đột biến”, Meixnerová giải thích.  Nhóm nghiên cứu vẫn chưa biết vị trí chính xác của các ngọn núi lửa và cánh đồng dung nham, nhưng các cánh đồng dung nham lớn có độ tuổi phù hợp tồn tại ở Ấn Độ ngày nay,  Canada và một số nơi khác, Buick cho biết.   “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nguyên nhân trực tiếp tạo ra những luồng khí oxy ngắn hạn là sự gia tăng sản xuất oxy chứ không phải là giảm tiêu thụ oxy do đá hoặc các vật chất không sống khác”, Buick giải thích. “Phát hiện này rất quan trọng vì sự xuất hiện của oxy trong khí quyển là yếu tố cơ bản – động lực lớn nhất dẫn đến quá trình tiến hóa của những dạng sống lớn và phức tạp”.   Cuối cùng, nhóm tác giả cho biết nghiên cứu này cho thấy địa chất của một hành tinh có thể ảnh hưởng như thế nào đến quá trình phát triển của sự sống trên bề mặt hành tinh. Điều này có thể hỗ trợ việc xác định các hành tinh nằm ngoài hệ Mặt trời có thể sinh sống được và trong nghiên cứu tìm kiếm sự sống ngoài vũ trụ.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-volcanic-eruptions-spurred-whiffs-oxygen.html  https://swordstoday.ie/recent-studies-volcanoes-are-responsible-for-the-first-oxygen-jets-on-earth-united-states/  ——————————————————-  1. https://www.pnas.org/content/118/33/e2107511118    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp đèn UV LED giúp làm khô mực trong ngành in bao bì      Hệ thống do nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM nghiên cứu, chế tạo có thể làm khô mực trên các vật liệu in không thấm hút, với giá thành chỉ bằng 1/5 so với sản phẩm tương tự nhập ngoại.    Trong công nghiệp sản xuất in, công đoạn làm khô mực in khá quan trọng, giúp gia tăng chất lượng và năng suất. Màng, film, nhựa, kim loại… là những loại vật liệu không thấm hút mực, bắt buộc phải sử dụng phương pháp làm khô hóa học, để giúp quá trình đóng rắn mực in nhanh nhất.    Hiện nay, phần lớn các nhà máy in ấn đều sử dụng loại mực in tự khô, mất khoảng 5-6 giờ để khô mực. Điều này làm thời gian hoàn thành đơn hàng chậm hơn do phải chờ mực in khô hẳn. Đôi khi một số đơn hàng cần thời gian giao hàng nhanh thì doanh nghiệp không đáp ứng kịp. Phương pháp được sử dụng làm khô mực nhanh hơn là sử dụng ánh sáng tia cực tím (đèn UV LED), do có nhiều ưu điểm như tiết kiệm điện, tuổi thọ đèn và độ an toàn cao,…        Tuy nhiên, mới có một số ít doanh nghiệp lớn đầu tư hệ thống làm khô mực in bằng phương pháp đèn UV LED. Giá thành hệ thống UV LED làm khô mực in nhập ngoại lên đến vài trăm ngàn USD.    Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống UV LED làm khô mực in trong ngành in bao bì”.    Sau 18 tháng nghiên cứu, nhóm tác giả đã chế tạo được Hệ thống UV LED làm khô mực in, dùng cho máy in offset tờ rời 52x72cm, với các thông số kỹ thuật như bước sóng 396nm, công suất quang 18W, tốc độ khô đạt 7.300 tờ/giờ, vùng làm khô tối đa 720mm (72cm). Trong đó, cụm đèn sấy sử dụng chip UV LED (Nhật Bản) bao gồm 286 chip LED, được thiết kế gồm 3 hàng 4 cột để thuận lợi cho bảo trì bảo dưỡng. Hệ thống UV LED này có thể làm khô mực in trên các vật liệu in không thấm hút như nhựa, decal PVC, giấy ghép màng metalized… Đồng thời, nhóm cũng chế tạo được hệ thống làm mát cho đèn và cụm điều khiển đồng bộ với máy in, có thể đo, kiểm soát năng lượng bức xạ UV, đo, cảnh báo dòng điện qua chip LED, giám sát, cảnh báo lỗi trên màn hình HMI.    Hệ thống đèn UV LED có thể điều khiển bằng tay thao tác trên màn hình HMI hoặc tự động theo tín hiệu của máy in. Ngoài ra, năng lượng bức xạ UV được đo bởi cảm biến và dòng điện đầu ra của bộ nguồn cũng được đo để kiểm soát năng lượng bức xạ của cụm UV LED. Điều này giúp tránh được các lỗi ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm in.    Hệ thống UV LED được triển khai thử nghiệm tại máy in offset 5 màu của Công ty In Trúc My (TPHCM) cho thấy, đáp ứng tốc độ làm khô từ 6.400 -7.200 tờ/giờ, đối với các vật liệu không thấm hút như nhựa, metalized, decal. Chất lượng sản phẩm in đạt yêu cầu về độ khô và có thể chuyển sang công đoạn thành phẩm ngay sau khi in, giúp doanh nghiệp có thể giao hàng nhanh chóng.    Đỗ Ngọc    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp giúp lập bản đồ lây truyền COVID-19 hiệu quả hơn      Các nhà khoa học của Viện Công nghệ Rochester, Mỹ, đã phát triển một phương pháp được cho rằng sẽ giúp các nhà dịch tễ học dự đoán sự lây lan của đại dịch COVID-19 hiệu quả hơn.      Nghiên cứu của họ “Accurate closed-form solution of the SIR epidemic model” xuất bản trên Physica D: Nonlinear Phenomena đã phác thảo một giải pháp cho mô hình dịch bệnh SIR vốn thường được sử dụng để dự đoán số người nhiễm bệnh và phục hồi do virus.   Phó giáo sư Nathaniel Barlow tại trường Khoa học tính toán và Trưởng khoa Kỹ thuật Hóa học Steven Weinstein của Viện Công nghệ Rochester là hai người đã tạo ra phương pháp này. Họ cho rằng sử dụng phương pháp này cho mô hình SIR sẽ giúp các nhà dịch tễ học nhanh chóng dự báo nhiều kịch bản khác nhau về cách lây truyền của COVID-19 dựa trên nhiều biến số. Những dự báo của mô hình toán học cũng có thể giúp các công chức nhà nước đưa ra quyết định chính sách về thời điểm áp đặt và dỡ bỏ lệnh hạn chế đi lại nhằm giảm thiểu tỷ lệ lây nhiễm.  PGS. Barlow cho biết: “Khi thấy một bài báo phổ biến trên mạng về mô hình SIR, chúng tôi nhận ra rằng phương pháp của mình có thể giúp tăng tốc quá trình đó. Chúng tôi đã nhanh chóng viết một bài báo nghiên cứu với mục đích để các chuyên gia [y tế] có công cụ tốt hơn chiến đấu với dịch bệnh”.  Phương pháp này dựa trên những giải pháp trước đây họ từng phát triển cho các vấn đề về nhiệt động lực học, cơ học chất lỏng và dự đoán quỹ đạo ánh sáng xung quanh các lỗ đen. Trong 6 năm qua, hai giảng viên đã làm việc sâu với nhiều sinh viên đại học về từng lĩnh vực trên. Giờ đây, họ thấy rằng cấu trúc toán học của lời giải cho mô hình dự đoán ca nhiễm bệnh SIR khá giống với những điều đã có. Mặc dù chưa từng tiếp xúc với lĩnh vực dịch tễ học, nghiên cứu của họ dường như chuyển đổi rất nhịp nhàng sang địa hạt mới này.  “Rất nhiều lần, các nhà toán học ứng dụng như chúng tôi phải làm việc ở ranh giới những lĩnh vực mà mọi người thường không bàn tới. Chúng tôi đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thuật toán hỗ trợ nghiên cứu và dự đoán khoa học. Kỹ thuật chúng tôi phát triển ở đây có thể dùng chung cho rất nhiều lĩnh vực khác nhau”, TS. Weinstein nói.  Các tác giả hiện đang nghiên cứu để chứng minh phương pháp của họ có thể áp dụng cho những mô hình phức tạp hơn như SEIR – một mô hình dịch bệnh tương tự SIR nhưng sẽ dự đoán số người phơi nhiễm với dịch bệnh.  Minh Anh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-scientists-method-epidemiologists-covid-.html             Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp khử mặn nước đơn giản bằng năng lượng mặt trời      Một hệ thống tự động khử mặn bằng năng lượng mặt trời do các nhà nghiên cứu tại MIT và Đại học Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc phát triển có thể cung cấp hơn 1,5 gallon nước uống mỗi giờ trên mỗi mét vuông diện tích thu năng lượng mặt trời. Các hệ thống như vậy có khả năng cung cấp nguồn nước hiệu quả, chi phí thấp, phục vụ các khu vực ven biển khô cằn.    Bài báo trên tạp chí Energy and Environmental Science đã miêu tả chi tiết hệ thống này: gồm nhiều lớp thiết bị bay hơi và ngưng tụ năng lượng mặt trời phẳng, được xếp thành một hàng dọc và có lớp cách nhiệt trong suốt trên cùng. “Cách tiếp cận mới này rất có ý nghĩa”, Ravi Prasher, giám đốc phòng thí nghiệm hợp tác tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley và giáo sư phụ trách kỹ thuật cơ khí tại Đại học California tại Berkeley, nói và chỉ ra “một trong những thách thức trong khử mặn bằng năng lượng mặt trời là hiệu quả thấp do mất năng lượng đáng kể trong quá trình ngưng tụ”.   Các tác giả hy vọng thiết kế của mình có thể góp phần giảm bớt tình trạng khan hiếm nước ở nước đang phát triển, nơi điện đang khan hiếm nhưng nước biển và ánh sáng mặt trời rất dồi dào.  Yếu tố chính đem lại hiệu quả của hệ thống này là phân kỳ từng giai đoạn để khử muối trong nước. Ở mỗi giai đoạn, nhiệt thoát ra từ giai đoạn trước được khai thác thay vì để lãng phí. Bằng cách này, thiết bị của họ có thể đạt được hiệu quả tới 385% trong chuyển đổi năng lượng của ánh sáng mặt trời thành năng lượng để bốc hơi nước.  Thực chất là một bể chưng cất nhiều lớp dùng năng lượng mặt trời, thiết bị này có một bộ các thành phần bay hơi và ngưng tụ giống như các bộ phận được sử dụng để chưng cất rượu. Nó sử dụng các tấm phẳng để hấp thụ nhiệt và sau đó truyền nhiệt sang một lớp nước để nước bắt đầu bay hơi và ngưng tụ trên tấm tiếp theo. Nước được thu thập trong khi nhiệt từ ngưng tụ hơi được truyền sang lớp tiếp theo nữa.  Khi hơi ngưng tụ trên một bề mặt, nó sẽ giải phóng nhiệt; trong các hệ thống ngưng tụ điển hình, nhiệt đó bị phát tán ra môi trường nhưng trong thiết bị chưng cất đa lớp này, dòng nhiệt được giải phóng đến lớp bay hơi tiếp theo, “tái chế” nhiệt và tăng hiệu quả. “Khi ngưng tụ nước, bạn giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt”, Wang – một tác giả công trình, nói. “Nếu có nhiều giai đoạn, bạn có thể tận dụng được nhiệt đó.»  Thông thường có nhiều lớp làm tăng hiệu quả chuyển đổi năng lượng chưng cất nước nhưng mỗi lớp cũng tăng thêm chi phí và kích thước cho hệ thống. Nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn hệ thống gồm 10 lớp cho thiết bị ban đầu của họ, hệ thống được thử nghiệm trên tầng thượng tòa nhà MIT. Hệ thống này cung cấp nước tinh khiết vượt quá tiêu chuẩn nước uống của thành phố, với tỷ lệ 5,78 lít mỗi mét vuông (khoảng 1,52 gallon mỗi 11 feet vuông), cao gấp hai lần kỷ lục tách nước bằng thiết bị cũ, Wang nói.  Không giống như một số hệ thống khử muối, hệ thống này không có sự tích tụ muối hoặc nước mặn cần phải xử lý sau khi chưng cất nước. Một ưu điểm khác của hệ thống là được chế tạo chủ yếu từ các vật liệu rẻ tiền và sẵn có như tấm hấp thụ năng lượng mặt trời màu đen sẵn có trên thị trường, hay sử dụng khăn giấy làm bước dẫn để đưa nước tiếp xúc với tấm hấp thụ năng lượng mặt trời. Trong hầu hết các nỗ lực khác để tạo ra các hệ thống khử mặn thụ động bằng năng lượng mặt trời, vật liệu hấp thụ năng lượng mặt trời và vật liệu thấm hút đều là các vật liệu chuyên dụng và đắt tiền, Wang nói.   Thành phần đắt nhất của nguyên mẫu là một lớp aerogel – một dạng vật liệu rắn siêu nhẹ, trong suốt, được sử dụng làm chất cách điện, tuy nhiên nhóm nghiên cứu cho thấy các chất cách điện rẻ hơn khác có thể được sử dụng thay thế.  Wang nhấn mạnh, đóng góp quan trọng của nhóm là tạo nền tảng để tối ưu hóa các hệ thống thụ động đa tầng để khử mặn, có thể áp dụng cho nhiều loại vật liệu và cấu trúc thiết bị, cho phép tối ưu hóa thêm các hệ thống dựa trên quy mô hoạt động, điều kiện và vật liệu khác nhau. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-02-simple-solar-powered-desalination.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp mới biến túi rác thành nhiên liệu      Một công bố gần đây trên tạp chí Science về một phương pháp mới có thể dùng chất xúc tác để phân tách các loại nhựa dẻo, mềm polyethylene và chuyển chúng sang các dạng nhiên liệu lỏng hoặc các hóa chất có ích khác, mang lại tiềm năng lợi ích to lớn từ hàng triệu tấn rác thải nhựa con người bỏ đi mỗi năm.    Rác thải nhựa đang là một trong những thủ phạm hàng đầu cho tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay  Đó là kết quả nghiên cứu của ba nhóm thuộc trường Đại học California, Irvine (do Zhibin Guan dẫn đầu); Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Thượng Hải (do Zheng Huang dẫn đầu); và trường Đại học Bắc Carolina, Chapel Hill (do Maurice Brookhart dẫn đầu) liên quan tới polyethylene, một loại nhựa được tạo thành từ nhiều ethylene, hợp chất hydrocarbon gồm hai đơn nguyên tử carbon và bốn nguyên tố hydrogen. Các chất xúc tác giúp kết nối hàng triệu ethylene này thành những chuỗi dài theo đường thẳng hoặc phân nhánh, theo đó sẽ xác định được độ cứng, dai, và độ dày của polyethylene thành phẩm. Với kết cấu như vậy, thông thường, các polyethylene sẽ khó phân tách bởi tất cả các liên kết giữa các nguyên tử đều là liên kết đơn vốn có độ bền vững rất cao. Để thay đổi điều này, các nhà khoa học đã sử dụng hai chất xúc tác post-metallocene do nhà hóa học Maurice Brookhart phát triển; hai chất xúc tác này thường dùng để gắn kết các hydrocarbon ngắn (gọi là các alkane) lại với nhau thành các chuỗi hydrocarbon dài và có giá trị hơn, như những chuỗi hydrocarbon trong dầu diesel.   Khi đưa hai chất xúc tác này vào một hỗn hợp alkane ngắn, chất xúc tác thứ nhất sẽ tách các nguyên tử hydrogen khỏi các nguyên tử carbon liền kề trong các phân tử alkane đơn. Các nguyên tử tự do mới này lại hình thành mối liên kết với nhau, tạo thành một mối liên kết đôi giữa các nguyên tử carbon bên cạnh. Những mối liên kết đôi này tạo ra một mắt xích yếu trong các chuỗi alkane ngắn, cũng là một điểm yếu mà chất xúc tác thứ hai tấn công vào để chia tách chuỗi alkane. Sau đó, các alkane bị chia tách này lại phản ứng với nhau và tạo thành một hỗn hợp gồm những alkane có độ dài ngắn và trung bình (alkane có độ dài trung bình thường chứa 10-12 nguyên tử carbon, một công thức hoàn hảo để tạo nên dầu diesel).   Để tìm hiểu xem liệu quá trình trên có áp dụng theo chiều ngược lại để chia tách các polyethylene dài, có thể chứa tới hàng triệu nguyên tử carbon không, Guan và Huang đã trộn các chất thải polyethylene như túi đựng rác với các dung dịch alkane ngắn rồi đổ hai chất xúc tác trên vào. Kết quả là, chất xúc tác đầu tiên vẫn tách các hydrogen khỏi các nguyên tử carbon liền kề trong cả các chuỗi polyethylene dài và các alkane ngắn để hình thành các liên kết đôi; chất xúc tác thứ hai chia tách các phân tử rồi lại ngẫu nhiên gắn các phân tử này lại với nhau. Và như vậy, chúng tiếp tục tách nhỏ các chuỗi polyethylene dài cho tới khi chuỗi có độ dài bằng các chuỗi tìm thấy trong các nhiên liệu và các hợp chất hydrocarbon giá trị khác.  Brookhart đề cao sáng tạo trong cách sử dụng hai chất xúc tác mà nhóm nghiên cứu của ông phát triển được, nhưng ông cũng lưu ý rằng cần phải nghiên cứu thêm thì mới có thể đưa phương pháp này vào sử dụng trong thương mại. Bởi trước hết, các chất xúc tác này thực hiện quá trình phân tách polyethylene rất chậm chạp, có thể kéo dài một ngày hoặc hơn. Ngoài ra, việc phát triển các chất xúc tác này khá tốn kém và chỉ phân tách đường một vài nghìn chuỗi polymer, ít hơn nhiều so với con số hàng triệu polymer bị phân tách khi sử dụng các chất xúc tác khác đang được lưu hành trên thị trường. Hiện Guan và các đồng nghiệp đang tìm cách khắc phục những vấn đề trên với hy vọng rằng trong tương lai, họ có thể khai thác được những giá trị mới từ hàng triệu tấn rác thải nhựa mà con người bỏ đi mỗi năm.  Thu Trang dịch theo Science        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp mới chuyển đổi methane thành methanol      Một nhóm nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học ở Đại học Manchester (Anh) dẫn dắt đã phát triển một phương pháp mới nhanh chóng và tiết kiệm để chuyển đổi methane thành methanol ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thông thường.     Phương pháp này liên quan đến dòng chảy liên tục của nước bão hòa methane/oxy trên một chất xúc tác mới là vật liệu khung cơ kim (MOF). Đây là vật liệu xốp và chứa nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần đều có vai trò hấp thụ ánh sáng, chuyển đổi thành các electron, kích hoạt và mang lại khí methane và oxy. Nhờ đó, người ta có thể dễ dàng chiết xuất methanol lỏng từ nước. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trong bài báo “Direct photo-oxidation of methane to methanol over a mono-iron hydroxyl site” trên tạp chí Nature Materials.    Khí methane có sẵn trong tự nhiên là một nguồn nhiên liệu dồi dào và giá trị, được dùng cho lò nướng, lò nung, máy nước nóng, ô tô và tua bin. Tuy nhiên, methane cũng nguy hiểm do khó chiết xuất, vận chuyển và lưu trữ. Khí methane cũng gây hại cho môi trường khi phát tán vào khí quyển bởi nó là một khí nhà kính mạnh. Các nguồn phát thải methane hàng đầu bao gồm sản xuất và sử dụng nhiên liệu hóa thạch, sinh khối mục rữa hoặc bị đốt cháy như cháy rừng, phế phẩm nông nghiệp, bãi chôn lấp và lớp băng vĩnh cửu tan chảy.  Khí methane dư thừa thường được đốt cháy để giảm tác động đến môi trường. Tuy nhiên, quá trình này lại tạo ra khí nhà kính CO2.  Từ lâu, ngành công nghiệp đã tìm kiếm một phương pháp tốn ít chi phí và hiệu quả để chuyển đổi methane thành methanol – một loại nguyên liệu thô đa năng có giá trị thương mại cao được dùng để sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải methane mà còn mang lại lợi ích về kinh tế.  Methanol là một nguồn carbon linh hoạt hơn methane và là một chất lỏng dễ vận chuyển. Nó có thể sử dụng để sản xuất hàng ngàn sản phẩm như dung môi, chất chống đông, nhựa acrylic, vải và sợi tổng hợp, chất kết dính, sơn và gỗ dán, các tác nhân hóa học được dùng trong dược phẩm và nông hóa phẩm. Việc chuyển đổi methane thành một nhiên liệu có giá trị cao như methanol càng được quan tâm hơn khi trữ lượng dầu mỏ ngày càng giảm.  Phá vỡ liên kết  Thách thức chính trong việc chuyển đổi methane (CH4) thành methanol (CH3OH) là phá vỡ liên kết hóa học C-H để chèn một nguyên tử oxy tạo liên kết C-OH. Các phương pháp chuyển hóa methane thông thường bao gồm hai giai đoạn: đầu tiên là định hình bằng hơi nước, sau đó là quá trình oxy hóa tổng hợp. Phương pháp này cần sử dụng nhiều năng lượng, tốn kém chi phí và không hiệu quả vì đòi hỏi điều kiện nhiệt độ và áp suất cao.  Quy trình chuyển methane thành methanol nhanh chóng và tiết kiệm do nhóm nghiên cứu phát triển sử dụng vật liệu MOF đa thành phần và ánh sáng khả kiến. Một dòng nước bão hóa CH4 và O2 sẽ chảy qua một lớp hạt MOF được tiếp xúc với ánh sáng. MOF chứa nhiều thành phần được thiết kế khác nhau với những vị trí cố định trong cấu trúc phía trên của lớp xốp. Chúng sẽ hấp thụ ánh sáng để tạo ra các electron và chuyển cho oxy và methane trong lỗ xốp để tạo thành methanol.  “Để đơn giản hóa quy trình, khi methane tiếp xúc với vật liệu MOF chứa các vị trí hydroxyl sắt đơn, các phân tử oxy được kích hoạt và năng lượng từ ánh sáng sẽ thúc đẩy liên kết C-H trong methane để tạo thành methanol”, Sihai Yang, giáo sư hóa học ở Đại học Manchester và là tác giả liên hệ của bài báo cho biết. “Quy trình này có tính chọn lọc 100%, đồng nghĩa với việc không có những sản phẩm phụ ngoài ý muốn”.  Các thí nghiệm đã chứng minh rằng chất xúc tác rắn có thể được phân lập, rửa sạch, để khô và tái sử dụng trong ít nhất 10 chu kỳ, hoặc khoảng 200 giờ phản ứng mà không làm giảm hiệu suất.  Quá trình quang xúc tác mới tương tự cách thực vật chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học trong quá trình quang hợp. Thực vật hấp thụ áp sáng mặt trời và CO2 qua lá, sau đó quá trình quang xúc tác sẽ chuyển đổi các nguyên tố này thành đường, oxy và hơi nước.  “Quá trình này được gọi là ‘chén thánh của xúc tác’. Thay vì đốt cháy methane, giờ đây chúng ta có thể chuyển hóa trực tiếp chúng thành methanol, một chất hóa học giá trị cao có thể ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu sinh học, dung môi, thuốc trừ sâu và phụ gia nhiên liệu cho các phương tiện giao thông”, Martin Schröder, người đứng đầu Khoa Khoa học và Kỹ thuật ở Đại học Manchester cho biết. “Vật liệu MOF mới này cũng có thể thúc đẩy các loại phản ứng hóa học khác bằng cách đóng vai trò như một loại ống nghiệm, trong đó chúng ta có thể kết hợp các chất khác nhau để xem chúng phản ứng như thế nào”.  Sử dụng neutron để “chụp lại” quá trình  Để quan sát hoạt động và tính chọn lọc của quy trình này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng tán xạ neutron trên máy quang phổ neutron VISION với nguồn neutron Spallation (SNS) ở Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge.  “Việc sử dụng tán xạ neutron để ‘chụp hình’ trên thiết bị VISION bước đầu đã xác định những tương tác mạnh mẽ giữa CH4 và hydroxyl sắt đơn trong MOF dẫn đến sự suy yếu của các liên kết C-H”, Yongqiang Cheng, một nhà khoa học thiết bị tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge nói.  “VISION là một máy quang phổ dao động neutron công suất cao được tối ưu hóa để cung cấp thông tin về cấu trúc phân tử, liên kết hóa học và tương tác giữa các phân tử”, Anibal “Timmy” Ramirez Cuesta, người đứng đầu Nhóm Quang phổ hóa học tại SNS cho biết. “Các phân tử methane tạo ra tín hiệu tán xạ neutron mạnh và đặc trưng từ chuyển động quay và rung – những thứ nhạy cảm với môi trường cục bộ. Nhờ đó, chúng tôi có thể tìm hiểu rõ ràng các tương tác làm suy yếu liên kết giữa CH4 và MOF bằng các kỹ thuật quang phổ neutron tiên tiến”.  Nhanh chóng, tiết kiệm và có thể tái sử dụng  Bằng cách loại bỏ điều kiện về nhiệt độ hoặc áp suất cao, và sử dụng năng lượng mặt trời để thúc đẩy quá trình quang oxy hóa, phương pháp này có thể góp phần giảm đáng kể thiết bị và chi phí vận hành. Ngoài ra, khả năng chuyển hóa methane thành methanol với tốc độ cao mà không tạo ra sản phẩm phụ ngoài ý muốn sẽ góp phần giảm chi phí và tạo điều kiện thuận để ứng dụng thực tế.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-holy-grail-catalysisturning-methane-methanol.html    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp mới có thể đo đạc huyết sắc tố mà không cần lấy mẫu máu      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một cách mới để sử dụng các hình ảnh chụp bằng điện thoại thông minh mi mắt để đánh giá các mức độ huyết sắc tố của mỗi người..      Năng lực để thực hiện một trong những xét nghiệm lâm sàng phổ biến nhất mà không cần lấy máu có thể giúp giảm thiểu việc đi tới các phòng khám của mỗi người, qua đó giúp các bác sĩ có thể dễ dàng giám sát các bệnh nhân nặng, và cải thiện khả năng chăm sóc y tế trong các quốc gia thu nhập trung bình và thấp, nơi người dân không có nhiều cơ hội tới phòng khám.“Cách tiếp cận y tế linh hoạt mới của chúng tôi đang tiến từng bước trên đường đưa các mức xét nghiệm huyết sắc tố   cho việc dò các bệnh thiếu máu, tổn thương thận và xuất huyết, hoặc để đánh giá các bệnh lý liên quan đến máu như bệnh hồng cầu hình liềm”, Young Kim của trường đại học Purdue và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói. “Đại dịch COVID-19 đã làm tăng thêm nhận thức về sự cần thiết mở rộng chăm sóc y tế cơ động và dịch vụ y tế từ xa”.  Kim và đồng nghiệp từ trường đại học Indianapolis, trường Y thuộc trường đại học Vanderbilt (Mỹ) và trường Y thuộc trường đại học Moi ở Kenya đã công bố cách tiếp cận mới “mHealth spectroscopy of blood hemoglobin with spectral super-resolution” trên Optica.  Các nhà nghiên cứu sử dụng phần mềm để chuyển đổi camera trong một điện thoại thông minh thành một máy ảnh siêu phổ có thể đo đạc được các mức sắc tố một cách tin cậy (một biện pháp đo lượng oxy trong máu) mà không cần đến bất kỳ biến đổi phần cứng nào phải bổ sung thêm các thiết bị. Một xét nghiệm lâm sàng thử nghiệm với các tình nguyện viên của Bệnh viện trường đại học Moi cho thấy các lỗi dự đoán của kỹ thuật điện thoại di động so với các kỹ thuật đo đạc trong các xét nghiệm máu lâm sàng vào khoảng 5 đến 10%.  Phòng thí nghiệm của Kim tập trung vào phát triển các công nghệ y tế trước hết được thiết kế và thử nghiệm trong những điều kiện giới hạn nguồn lực của các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Những đổi mới sáng tạo đó sau đó được ứng dụng trong những vấn đề thách thức quan trọng của y tế trong những quốc gia phát triển như Mỹ.  “Công nghệ mới này có thể hữu dụng với việc dò tình trạng thiếu máu, vốn là đặc điểm của những mức độ thấp của huyết sắc tố”, Kim giải thích. “Đây là một vấn đề y tế công cộng lớn trong các quốc gia đang phát tiển nhưng có thể là nguyên nhân của bệnh ung thư và điều trị ung thư”.  Thông tin phổ từ điện thoại thông minh  Các phân tích quang phổ được dùng để đo đạc lượng huyết sắc tố bởi nó có một phổ hấp thụ ánh sáng dễ nhận thấy trong phạm vi bước sóng nhìn thấy được. Dẫu vậy, kiểu phân tích này đòi hỏi những thành phần quang học cồng kềnh và đắt tiền mang tính đặc thù.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một phiên bản y tế cơ động cho phép phân tích này bằng việc áp dụng một phương pháp tiếp cận là quang phổ siêu phân giải phổ. Kỹ thuật này sử dụng phần mềm để chuyển các bức ảnh thực mang tính chất mô tả bệnh với các hệ phân giải thấp như camera điện thoại thông minh thành các tín hiệu phổ số hóa với độ phân giải cao.  Các nhà nghiên cứu sau đó đã chọn mí mắt trong như một điểm cảm biến bởi hệ mạch máu vi mô dễ dàng nhìn thấy ở đây; nó dễ dàng để đánh giá và có màu đỏ đồng dạng. Mí mắt trong cũng không bị màu da ảnh hưởng, vốn là yếu tố khiến gia tăng những hiệu chuẩn cá nhân.  Để xem việc thực hiện đo đạc huyết sắc tố bằng kỹ thuật mới như thế nào, các bệnh nhân đẩy mí mắt xuống cho bác sĩ xem các mạch máu nhỏ phía dưới. Một bác sĩ hoặc một người được trải qua các khóa tập huấn  sau đó sử dụng ứng dụng điện thoại thông minh do các nhà nghiên cứu này phát triển để chụp các bức ảnh mí mắt. Một thuật toán siêu phân giải phổ được dùng để trích xuất ra những thông tin phổ chi tiết từ các hình ảnh camera rồi thuật toán trên máy tính khác định lượng  huyết sắc tố bằng việc dò các đặc điểm phổ độc nhất vô nhị của chúng.  Ứng dụng điện thoại này có nhiều đặc điểm được thiết kế để ổn định hóa chất lượng hình ảnh trên điện thoại thông minh và đồng bộ hóa đèn nháy của điện thoại nhằm có được những hình ảnh thích hợp. Nó cũng cung cấp những hướng dẫn về sự sàng lọc để đảm bảo người sử dụng giữ một khoảng cách nhất định giữa camera điện thoại với mắt bệnh nhân. Dẫu thông tin phổ này được lấy ra bằng một thuật toán trên máy tính riêng rẽ, các nhà nghiên cứu chờ đợi thuật toán này có thể được tích hợp vào ứng dụng điện thoại.  Thử nghiệm lâm sàng  Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm kỹ thuật mới với 153 tình nguyện viên liên quan đến những xét nghiệm máu thông thường tại Bệnh viện trường đại học Moi. Họ dùng dữ liệu từ nhóm được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, sau đó thử nghiệm ứng dụng sức khỏe mới này với 15 tình nguyện viên còn lại. Những kết quả cho thấy thử nghiệm y tế này có thể cung cấp các biện pháp với những hiệu quả về huyết sắc tố ở phạm vi lớn hơn so với xét nghiệm máu truyền thống.  Trong một nghiên cứu lâm sàng riêng rẽ, ứng dụng điện thoại được sử dụng để đánh giá các bệnh nhân ung thư tại Trung tâm Ung thư Simon ở trường đại học Indiana. Các nhà nghiên cứu đang hợp tác với đồng nghiệp ở trường đại học Rwanda để tiến hành những nghiên cứu tiếp theo và đang lập kế hoạch hợp tác với Bệnh viện Shrimad Rajchandra ở Ấn Độ để sử dụng công cụ y tế này để đánh giá các tình trạng dinh dưỡng quốc gia, sự thiếu máu và bệnh hồng cầu hình liềm trên các bệnh nhân ở đây.  “Công trình của chúng tôi chứng tỏ nghiên cứu dựa trên dữ liệu và nghiên cứu tập trung vào dữ liệu phổ ánh sáng có thể cung cấp các cachs mới để tối giản hóa sự phức tạp của phần cứng và tạo điều kiện cho những biện pháp y tế cơ động”, Kim nói. “Việc kết hợp các cảm biến sẵn có trong các điện thoại thông minh hiện nay với các cách tiếp cận dựa vào dữ liệu có thể nhanh chóng gia tăng tốc độ đổi mới sáng tạo và dịch chuyển nghiên cứu trong lĩnh vực này”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-mobile-health-tool-hemoglobin-blood.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp mới giúp điều trị ung thư thông qua quá trình thoái biến protein      Trung tâm mới được thành lập ở London sẽ khai thác các kỹ thuật mới đầy hứa hẹn trong thời gian tới      Một loại thuốc mới để điều trị đa u tủy xương đã được chứng minh là giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ảnh: David Davies / PA  Các nhà khoa học đang hoàn thiện một phương pháp điều trị ngăn chặn ung thư mới, trên cơ sở khai thác hệ thống xử lý chất thải tế bào của chính cơ thể. Một số loại thuốc đã và đang tạo ra những kết quả đầy hứa hẹn, và số lượng các loại thuốc mới dự kiến ​​sẽ tăng lên trong tương lai gần, bởi các nhà khoa học dự định sẽ mở một trung tâm ở Anh dành riêng cho việc áp dụng kỹ thuật này.  Hai nhà thiện nguyện David và Ruth Hill đã quyên góp 9 triệu bảng Anh cho Viện Nghiên cứu Ung thư tại London để thành lập Trung tâm Thoái biến Protein. Theo đó, sẽ có mười lăm nhà nghiên cứu làm việc tại đây.  ​​Giáo sư Ian Collins, người đứng đầu trung tâm mới cho biết, nhiều loại thuốc điều trị ung thư hiện đại hoạt động bằng cách ngăn chặn chức năng của các protein có hại. Tuy nhiên, kỹ thuật này hoạt động theo một cách khác biệt, ông khẳng định. Nó quét sạch chúng hoàn toàn.  “Các tế bào của chúng ta đã phát triển một kỹ thuật hiệu quả cao giúp loại bỏ các protein có hại. Đó là một phần công việc thường nhật.” ​​Protein được đánh dấu để làm thoái biến bằng một loại protein nhỏ có tên là ubiquitin. Phản ứng đánh dấu được xúc tác bởi các enzyme gọi là ubiquitin ligases. Một khi một protein được đánh dấu bằng một phân tử ubiquitin duy nhất, đây là một tín hiệu ligases khác để gắn các phân tử ubiquitin thêm. Kết quả là một chuỗi polyubiquitin bị ràng buộc bởi proteasome, cho phép nó làm thoái biến protein gắn thẻ. “Tuy nhiên, quá trình phân hủy protein của tế bào chỉ nhận ra để đánh dấu một số loại protein cụ thể.”  ​​“Khoa học hiện đã tìm ra cách để khắc phục điều này – đánh dấu các protein mới mà tế bào không nhận ra, nhưng chúng ta biết rằng có hại và liên quan đến sự phát triển của khối u.”  Nói một cách dễ hiểu, “chúng ta nhắn nhủ các tế bào của mình: làm ơn, bạn có thể thêm loại protein có hại này vào thùng rác mà bạn đang thải ra không?” Một minh chứng về hiệu quả của phương pháp này là loại thuốc thoái biến protein lenalidomide, được sử dụng để điều trị đa u tuỷ xương, và đã được chứng minh là giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.  Đa u tuỷ xương là một bệnh tăng sinh có tính chất ác tính của tương bào ở tủy xương và một số cơ quan khác. Bệnh đa u tủy xương dẫn đến tăng các globulin miễn dịch trong máu, tạo thành nhiều ổ tiêu xương dẫn đến gãy xương bệnh lý, rối loạn chức năng nhiều cơ quan. Bệnh nhân mắc đa u tủy xương giai đoạn đầu có thể đau âm ỉ sau đó đau dữ dội liên tục, vì vậy bệnh nhân cần được điều trị hệ thống hóa chất để kiểm soát khối u và điều trị triệu chứng để ngăn ngừa biến chứng, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.  “Tôi thậm chí chưa bao giờ nghe thấy từ u tủy”, bệnh nhân Cecelia Brunott, 45 tuổi đến từ Farnham ở Surrey, người được chẩn đoán mắc bệnh vào năm 2020. cho biết. “Hiện tại, loại thuốc đang hoạt động để giữ cho sức khoẻ của tôi ổn định và kiểm soát tình trạng bệnh .”  Collins cho biết các loại thuốc như lenalidomide có thể xác định một phân tử có khả năng tiếp tục thực hiện chức năng thúc đẩy ung thư. “Về cơ bản, nó khiến phân tử hiện hữu trước bộ máy xử lý chất thải của tế bào. Nó đánh dấu để xử lý và đảm bảo phân tử được cắt nhỏ và bị tiêu diệt.”  Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu một loại thuốc tương tự giúp điều trị ung thư vú. Nó có thể làm thoái biến một loại protein là nguyên nhân quan trọng gây ra ung thư vú.  “Hiện tại, các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu cách sử dụng quá trình thoái biến protein để phát triển các loại thuốc điều trị ung thư mới”, Collins cho biết thêm. “Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai kỹ thuật này sẽ được áp dụng vào việc phát triển các loại thuốc điều trị các loại bệnh khác. Kỹ thuật này rất tiềm năng và đầy hứa hẹn.”  Anh Thư  tổng hợp  Nguồn:  New cancer treatment uses body’s cellular waste disposal to flag harmful proteins  ‘For 30 years I’ve been obsessed by why children get leukaemia. Now we have an answer’      Author                .        
__label__tiasang Phương pháp mới tạo ra ruột từ tế bào gốc      Theo nghiên cứu mới công bố trên Nature Cell Biology, các nhà khoa học ở Đại học Copenhagen đã tìm ra phương pháp mới để phát triển các cơ quan của cơ thể người từ tế bào gốc trong phòng thí nghiệm.     Trong nhiều thập niên, các nhà khoa học đã cố gắng bắt chước con đường hình thành các cơ quan trong phôi của tế bào gốc. Dù đã bỏ ra nhiều công sức, việc phát triển các tế bào phù hợp trong phòng thí nghiệm vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng theo một nghiên cứu mới của Đại học Copenhagen, các nhà khoa học đã không chú ý đến một bước quan trọng và có lẽ đã bỏ qua một loại tế bào gốc khác.  “Một số nghiên cứu gần đây đã cố gắng tạo ra ruột từ tế bào gốc trong đĩa thí nghiệm. Chúng tôi đã tìm ra một phương pháp mới để làm điều này, bằng cách theo dõi các khía cạnh khác nhau về những gì xảy ra trong phôi. Tại đây, chúng tôi tìm ra một con đường mới của phôi, mô tả lại giai đoạn trung gian mà các loại tế bào gốc khác nhau đã trải qua để tạo ra ruột cùng các cơ quan khác,” theo nghiên cứu sinh Martin Proks, một trong những tác giả chính của nghiên cứu từ Trung tâm Y học tế bào gốc Novo Nordisk tại Đại học Copenhagen (reNEW).    Các nhà khoa học ở Đại học Copenhagen đã tìm ra phương pháp mới để phát triển bộ phận ruột người trong phòng thí nghiệm. Ảnh: CC0 Public Domain  Các nhà nghiên cứu xem xét tế bào gốc đa năng và tế bào gốc ngoại phôi nội bì – một dòng tế bào gốc mới mà họ đã khám phá cách đây vài năm. Đây là các tế bào hỗ trợ rất quan trọng với ruột, chúng góp phần hình thành, nuôi dưỡng màng tế bào và thực hiện nhiều chức năng khác nữa.  Giáo sư Joshua Brickman tại reNEW, trưởng nhóm nghiên cứu giải thích: “Chúng tôi đã xác định được một con đường mới của tế bào ngoại phôi để tạo ra các cơ quan ruột trong phôi. Sau đó, chúng tôi lấy tế bào gốc nội bì ngoại phôi và phát triển chúng thành cấu trúc giống ruột trong đĩa thí nghiệm.  Trước đây mọi người đều cho rằng những tế bào này đã giúp phôi thai phát triển và sau đó biến mất, chúng không liên quan gì đến cơ thể người. Nhưng trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện ra nếu định hướng tế bào hỗ trợ theo con đường mới như trên, chúng sẽ hình thành các cấu trúc cơ quan”, Joshua Brickman nói.  Cơ hội cải thiện các tế bào phát triển trong phòng thí nghiệm  Các nhà nghiên cứu đã xác định mọi tế bào tiềm năng có thể hình thành những cơ quan liên quan đến đường tiêu hóa, chẳng hạn như gan, tuyến tụy, phổi và ruột, dựa trên việc dán nhãn chúng bằng dấu hiệu di truyền. Việc phân tích lượng dữ liệu lớn như vậy rất phức tạp và đòi hỏi các phương pháp phân tích sáng tạo mới. Nhóm nghiên cứu đã hợp tác với các nhà vật lý tại Viện Niels Bohr để phát triển một công cụ tính toán mới nhằm so sánh các cụm tế bào, bao gồm so sánh các tế bào trong tập dữ liệu có sẵn, đồng thời kiểm tra những tế bào khác.  Để xem con đường mới có thể phát triển các loại tế bào của các cơ quan trong phòng thí nghiệm hay không, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một loại tế bào gốc khác – không phải là tế bào gốc đa năng, mà thuộc một phần khác của phôi thai. Chúng là điểm khởi đầu cho lộ trình hình thành cơ quan thứ hai (lộ trình thay thế).  “Sau đó, chúng tôi đã sử dụng những tế bào gốc này để tạo ra cấu trúc giống ruột trong đĩa thí nghiệm. Kết quả thu được cho thấy cả hai con đường này đều có hiệu quả. Việc sử dụng con đường thay thế có thể giúp những tế bào trong phòng thí nghiệm hình thành nên tế bào chức năng, cũng như điều trị và nghiên cứu bệnh tật”, Michaela Rothova, đồng tác giả nghiên cứu cho biết.  Kết quả này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi từ lâu các nhà khoa học đã cố gắng giải mã cách phát triển tế bào gốc thành các tế bào chính xác cần thiết cho một phương pháp điều trị cụ thể, ứng dụng trong thử nghiệm thuốc hay tạo ra mô hình bệnh.  Joshua Brickman kết luận: “Về mặt chức năng, chúng tôi chưa hoàn toàn đạt được điều đó, và vấp phải nhiều khó khăn khi hoàn thiện các tế bào này. Chúng tôi có thể giải quyết bằng cách thử nghiệm con đường thay thế này hoặc kết hợp chúng với con đường truyền thống”.  Phương Anh lược dịch  https://phys.org/news/2022-06-stem-cells-unraveled-closer-dish.html       Author                .        
__label__tiasang Phương pháp nuôi cấy mô giúp nhân giống dược liệu bọ nẹt      Quy trình nhân giống in vitro cây bọ nẹt do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM nghiên cứu có thể áp dụng để tạo ra nguồn cây giống dồi dào với chất lượng đồng đều.    Cây bọ nẹt hay còn được gọi là bọ nét, sóc dại, đom đóm thuộc họ Thầu dầu, có chứa các hợp chất thứ cấp chủ yếu như alkaloid, terpene, steroid, phenolic acid và saponin. Trong đó, các hợp chất alkaloid guanidine, alchomine, alchomindine có tính kháng khuẩn, chống viêm; còn hợp chất phenolic acid có tác dụng kháng nấm bệnh và côn trùng gây hại cho cây trồng. Do đó, cây được dùng để điều trị các bệnh như viêm khớp, kiết lị, rối loạn đường ruột, sốt rét, đau cơ, thấp khớp; hoặc trồng với mục đích xua đuổi côn trùng, thanh lọc không khí và khử mùi chuồng trại chăn nuôi.        Ở Việt Nam, cây bọ nẹt chủ yếu mọc hoang dại ở miền Bắc và miền Trung. Hiện nay, cây bọ nẹt chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp truyền thốnglà giâm cành ngoài tự nhiên. Cách làm này cho hệ số nhân giống thấp, tốn nhiều thời gian, cây giống không đồng đều, tỷ lệ cây giâm hom ra rễ thấp, không đáp ứng nhu cầu để phát triển vùng trồng.    Để chủ động nguồn cung dược liệu bọ nẹt, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM đã nghiên cứu và hoàn thiện quy trình nhân giống cây bọ nẹt invitro, cho phép sản xuất số lượng lớn cây giống có chất lượng ổn định.    Các vật liệu được sử dụng gồm cây bọ nẹt 1 năm tuổi, tủ cấy vô trùng, máy cất nước, nồi hấp vô trùng, máy đo pH, máy đo nhiệt độ, độ ẩm, máy đo cường độ ánh sáng,… Theo quy trình, từ cây bọ nẹt 1 năm tuổi khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, chọn các đoạn thân bánh tẻ để cắt các đốt thân với chiều dài từ 1-1,5 cm. Sau khi làm sạch mẫu (các đốt thân), khử trùng, các đoạn thân sẽ được cấy vào môi trường khoáng WPM có bổ sung 0,2 mg/l BA, 30 g/l saccharose, 8g/l agar. Sau 20 ngày nuôi cấy, những mẫu sạch được dùng để tái sinh, tăng trưởng chồi. Khi chồi cao khoảng 1,5-2 cm sẽ tiếp tục nuôi cấy in vitro trong 60 ngày để có thể mang ra vườn ươm.    Quy trình này đạt hệ số nhân 4,9 chồi/mẫu, tỷ lệ mẫu phát sinh chồi là 85%, tỷ lệ chồi tạo rễ 100%. Tỷ lệ sống của cây bọ nẹt in vitro ngoài vườn ươm đạt 100% sau 30 ngày trồng. Chi phí sản xuất 1 cây giống bọ nẹt in vitro khoảng hơn 3.000 đồng/cây, (hiện cây giâm cành theo phương pháp truyền thống có giá thị trường khoảng 7.000 đồng/cây).    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp nuôi tảo sử dụng thiết bị tích hợp độc đáo      Với việc kết hợp chức năng nhân giống và sản xuất tảo, thiết bị nuôi tảo đơn bào dạng ống nhiều tầng của PGS.TS Trịnh Văn Dũng (Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc Gia TP.HCM) không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn giúp cho tảo có thể được nuôi ngay ở những không gian nhỏ hẹp như sân thượng hay ban công của mỗi gia đình.      Hệ thống nuôi tảo của PGS.TS Trịnh Văn Dũng    Thực phẩm chức năng từ tảo, đặc biệt là tảo xoắn Spirulina platensis đang ngày càng được nhiều người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng bởi những lợi ích về sức khỏe mà nó đem lại. Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học cũng như các doanh nghiệp Việt đã tự nghiên cứu các phương pháp để nuôi trồng tảo như sử dụng thiết bị hở (cánh đồng tảo), thiết bị kín (dạng chai, ống, tấm thủy tinh) hay thiết bị bán kín (dạng mái che, nhà kính) để nội địa hóa sản phẩm tảo trước một thị trường đầy tiềm năng nhưng đang bị các sản phẩm ngoại nhập áp đảo.    Tuy nhiên, “nuôi tảo không khó nhưng nuôi làm sao để bán được tảo lại không phải dễ bởi ‘không cẩn thận’ là chi phí sản xuất sẽ tăng cao ngay”, PGS.TS Trịnh Văn Dũng cho biết. Nguyên nhân của vấn đề nằm ở chỗ: do tảo cần quang hợp và sử dụng khí CO2hòa tan trong nước để sinh trưởng và phát triển, thế nên các thiết bị/bể nuôi tảo thường đòi hỏi phải có diện tích lớn để thu nhận ánh sáng cũng như phải đủ sâu để có lớp nước chứa các chất dinh dưỡng cho tảo. “Riêng chi phí để thuê đất sản xuất đã không nhỏ, và đây cũng chính là một trong những điểm yếu của các thiết bị nuôi tảo hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh quỹ đất cho nông nghiệp ngày càng hạn hẹp”, ông nhận định.    Bên cạnh đó, người sản xuất tảo theo quy trình thông thường cần phải thực hiện hai bước: nuôi nhân giống và nuôi sản xuất sinh khối tảo, mỗi công đoạn được thực hiện ở một loại thiết bị/bể nuôi khác nhau. “Khi bể nuôi sản xuất tảo càng lớn thì số lần nhân giống cần tiến hành càng nhiều, mỗi lần nhân giống lại cần tăng kích thước thiết bị theo tỷ lệ khoảng 1×10. Thế nên người nuôi tảo theo cách thức này sẽ cần rất nhiều thiết bị nhân giống, trong khi đó đến bước nuôi tảo thì các thiết bị để nhân giống ấy thường lại bị bỏ không, vừa lãng phí vừa chiếm nhiều diện tích”, PGS.TS Dũng chỉ ra vấn đề.    Thiết bị “hai trong một”    Là nhà nghiên cứu chuyên về thiết bị công nghệ hóa học, PGS. TS Dũng bị thu hút bởi bài toán tưởng như nhỏ nhưng lại rất quan trọng để cắt giảm chi phí nuôi tảo ấy. Ông tự đặt câu hỏi: “Tại sao không kết hợp hai thiết bị nhân giống và nuôi tảo làm một để vừa tiết kiệm đất, vừa thuận tiện cho người sản xuất?”.    Suy nghĩ này dẫn ông đến ý tưởng về một thiết bị nuôi tảo kiểu Bioreactor (lò phản ứng sinh học) dạng ống nhiều tầng, gồm nhiều mô đun giống nhau được kết nối thành hệ thống. Thực tế, việc lắp rắp thiết bị để tạo thành cấu trúc dạng ống không có gì khó, song vấn đề là: làm sao để khuấy được tảo trong một thiết bị kín như vậy và đảm bảo tất cả tảo trong bể được tiếp xúc với ánh sáng – một trong những yếu tố quan trọng giúp cho tảo phát triển? “Cũng đã có một số công ty sản xuất tảo trong nước và trên thế giới dùng các thiết bị kín dạng chai, ống hay dạng tấm để giảm diện tích xây dựng và tránh tạp nhiễm, nước mưa, tuy nhiên, các thiết bị này được thiết kế và vận hành theo kiểu: ống sục khí bơm từ dưới lên ống góp nằm phía trên, rồi tách khí và chia ra các ống thủy tinh để tảo hấp thụ ánh sáng và phát triển, sau đó lại thu về ống góp bên dưới”, PGS.TS Dũng mô tả về cách mà các hệ thống hiện có được lắp đặt và cho biết, “làm như vậy sẽ khiến cho tảo không được khuấy đều trong các ống nuôi, nhất là nếu hệ thống có nhiều ống. Khi cần nuôi sản xuất lớn, hệ thống này sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc liên kết các cụm ống với nhau”.    Để giải quyết vấn đề mấu chốt này, PGS.TS Dũng đã thử nghiệm nhiều kiểu cấu tạo khác nhau và cuối cùng đi đến một phương án mà ông cho là tối ưu nhất, gồm có khung đỡ, bộ phận nạp liệu có cửa nạp được nối với ống cấp liệu thông qua van chặn, và trên ống cấp liệu có đường nối với các bộ phận tuần hoàn, nhân giống và nuôi tảo. Cụ thể, bộ phận tuần hoàn được thiết kế theo dạng chữ U, ở nhánh nối với ống cấp liệu. Đồng thời, bộ phận nhân giống được thiết kế để có hai ống nhân giống nối với nhau bằng ống nối cong tạo thành dạng chữ U kín, hai đầu còn lại được nối với bộ phận tuần hoàn, van chặn và cơ cấu nuôi thông qua ống nối chữ Y. Cuối cùng, ông Dũng bố trí các ống nuôi tảo song song với nhau, mỗi đầu của ống được nối với nhau bởi ống nối tạo thành liên kết xoắn gấp khúc dạng lò xo hở hai đầu, một đầu hở được nối với ống cấp liệu, đầu còn lại được nối với bộ phận nhân giống tạo thành kết cấu khép kín.    Theo đó, thiết bị sẽ được vận hành thông qua các bộ cảm biến, điều chỉnh và hệ thống van. Khi tảo giống và môi trường nhân giống được nạp vào hệ thống qua cửa nạp liệu, thiết bị sẽ mở van cấp khí để không khí được tuần hoàn cho quá trình nhân giống. Sau khi đạt được các chỉ tiêu kỹ thuật cần thiết, thiết bị sẽ chuyển sang giai đoạn nuôi trồng sản xuất bằng cách đóng van chặn, sau đó cấp bổ sung môi trường nhân giống để nuôi tảo cũng như sục khí để giúp “môi trường” được tuần hoàn trong toàn bộ các ống. Khi tảo nuôi đã đạt yêu cầu, van xả sẽ được mở để người nuôi thu hoạch sản phẩm tảo. “Trước đó, tảo cũng được thiết bị tách ra theo hệ thống đường ống để đưa đi rửa sạch, lọc, ly tâm và sấy để bảo quản”, PGS.TS Dũng giải thích thêm.    Với thiết kế tích hợp này, người sử dụng có thể nhân giống và nuôi tảo ngay trong một thiết bị mà không cần phải thực hiện việc nhân giống bổ sung và nuôi tảo. Quan trọng hơn, “thiết bị có thể vận hành tự động, không bị tạp nhiễm, đảm bảo các yêu cầu về cung cấp đủ quang năng; thực hiện khuấy trộn, tuần hoàn môi trường nuôi cấy để tảo phát triển tốt, đồng thời đo và giám sát được các thông số công nghệ như nhiệt độ, pH một cách tự động”, PGS.TS Dũng hào hứng cho biết. Với những điểm mới ấy, hệ thống nuôi tảo này cũng đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2-0002790.    Điều đáng chú ý là không chỉ có cơ chế vận hành đơn giản, dễ sử dụng, thiết bị còn có thể được nối ghép thêm nhiều mô đun khác nhau để “mọi đối tượng từ nông thôn đến thành thị, từ gia đình đến công nghiệp đều có thể sử dụng”, PGS.TS Dũng nói. Hiện nay, một hệ thống nuôi tảo có quy mô lên đến 30 mét khối đã được ông chuyển giao lắp đặt tại một công ty chuyên sản xuất và bán các sản phẩm về tảo. “Nếu một hộ gia đình mong muốn tự sản xuất tảo thì một hệ thống nuôi tảo nhỏ cỡ khoảng vài chục lít cũng có thể được lắp đặt ngay trên sân thượng, ban công của các tòa nhà, hay trên chính mặt nước sông, hồ, mà không đòi hỏi nhiều diện tích đất để xây dựng công trình”, PGS.TS Dũng nhấn mạnh.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp sử dụng hạt Muon tiết lộ kỷ lục điện áp giông mới      Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận một cơn giông có thể tạo ra điện thế lên tới khoảng 1,3 tỷ volt (GV), gấp 10 lần giá trị điện thế lớn nhất mà một cơn giông tạo ra được ghi nhận trước đây. Nhóm nghiên cứu sử dụng một phương pháp theo dõi mới sử dụng các hạt Muon rơi xuống trái đất – những hạt này được tạo ra từ các tia vũ trụ khi nó va vào bầu khí quyển. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Physical Review Letters.      Sử dụng một máy dò muon, các nhà nghiên cứu đã đo được một cơn dông có điện thế lớn hơn 1 tỷ volt. Nguồn: physics.aps.org  Điện thế của cơn dông có thể làm giảm năng lượng của các hạt mang điện tích và làm suy giảm khả năng chúng sẽ được dò trong cơn dông. Phép đo mới chỉ ra rằng điện thế của giông bão có khả năng lên tới vài tỷ volt, điện áp này đủ cao để có thể giải thích sự xuất hiện chớp nhoáng đầy bí ẩn của những tia gamma năng lượng cao mà chúng ta đôi khi quan sát được trong cơn dông.  Năm 1752, Benjamin Franklin đã thử thả một chiếc diều vào buổi chiều giông bão. Kể từ đó, con người đã biết rằng giông bão bao gồm các hiện tượng liên quan đến điện năng – như chớp và sấm là biểu thị của sự phóng điện đột ngột giữa các vùng mang điện tích trong khí quyển. Để nghiên cứu cấu trúc điện năng của mây dông, các nhà nghiên cứu từng dùng máy bay hoặc bóng thám không thả vào tâm bão và thấy điện thế ở đó vượt quá hàng chục triệu volt, trong đó giá trị lớn nhất từng ghi nhận là 130 Megavolt từ cơn bão trên núi vùng New Mexico những năm 1990. Tuy nhiên, máy bay và bóng thám không chỉ có thể thăm dò được một khu vực nhỏ của cơn bão mà chúng bay qua và không thể đo được điện thế trên toàn đám mây.  Phương pháp do nhà nghiên cứu Sunil Gupta của Viện nghiên cứu cơ bản Tata ở Mumbai, Ấn Độ và các đồng nghiệp tìm ra dựa vào việc dò các hạt sơ cấp sử dụng Kính viễn vọng hạt Muon (G3MT) ở miền Nam Ấn Độ (thiết bị này đăt tại trung tâm dò tia vũ trụ GRAPES-3).  Kính viễn vọng dò các hạt Muon do tia vũ trụ tạo ra trong khí quyển – các hạt mang điện tích âm này chủ yếu đến từ ngoài Hệ Mặt Trời. Nhiều nhà nghiên cứu từ các nơi có kính viễn vọng hạt Muon khác từng quan sát các hiện tượng giông bão có tương quan với sự thay đổi số lượng hạt Muon đo được.   Phần lớn các hạt Muon do G3MT dò ra là những phản hạt Muon mang điện tích dương, chúng thường mất năng lượng vì phản ứng lại những vùng mang điện tích khác nhau ở mây giông. Do sụt giảm năng lượng, khả năng dò được các hạt Muon sẽ giảm đi do máy dò chỉ phát hiện được các hạt mang năng lượng ở một ngưỡng nhất định.  Với hơn 1 triệu hạt Muon có thể chạm tới máy đo trong mỗi phút, máy G3MT có thể đo được những thay đổi thông lượng của hạt với độ chính xác 0,1%. Kính viễn vọng này còn có khả năng phân biệt 169 hướng riêng biệt của hạt Muon trên bầu trời. Từ các phép đo thông lượng, Gupta và các đồng nghiệp của mình có thể ước tính điện năng của cơn giông bằng cách sử dụng các mô phỏng trên máy tính dựa trên mô tả đơn giản về cơn giông này. Họ coi nó như một tụ điện khổng lồ được làm từ hai bề mặt dẫn điện đặt song song cách nhau 2 km, phát ra một điện trường theo hướng ngược lên trên.  Trên cơ sở dữ liệu về 184 cơn giông thu thập từ năm 2011 đến 2014, các nhà nghiên cứu đã chọn ra 7 cơn giông lớn nhất, sau đó tập trung vào cơn bão thứ 7, xảy ra ngày 1/12/2014, và đo được điện thế cực đại là 1.3 GV, phá vỡ kỷ lục trước đó.  “Dù là cách tiếp cận gián tiếp, kỹ thuật dựa trên hạt Muon này vẫn đem lại một phương thức độc đáo để thăm dò các điện trường trong chớp và giông tố – những máy gia tốc hạt tự nhiên lớn nhất trên trái đất”, Michael Cherry, chuyên gia nghiên cứu tia vũ trụ năng lượng cao và tia gamma tại ĐH bang Louisiana ở Baton Rouge, nhận xét.   Phân tích này phụ thuộc vào các mô phỏng Monte Carlo và việc đơn giản hóa các giả định, nên không thể áp dụng cho việc tính toán điện thế ở tất cả các cơn bão. Tuy nhiên, mức điện thế nó thu được cho thấy độ chính xác lớn hơn các kết quả đo bằng bóng thám không trước đây.   Nhóm của Gupta hiện đang thiết lập các máy dò tia gamma xung quanh GRAPES-3 với hy vọng tìm được bằng chứng thuyết phục bằng cách cố gắng bắt tín hiệu các ánh chớp tia gamma trùng với cơn giông ở cấp độ gigavolt.  Phong Du dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v12/29    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp thiết kế mới hứa hẹn mở ra xu thế chế tạo sản phẩm thế hệ mới      Những phương pháp thiết kế tối ưu vật liệu có kết cấu xốp vẫn thường được áp dụng có một nhược điểm là đòi hỏi dung lượng máy tính và thời gian tính toán lớn. Tuy nhiên, một cách tiếp cận hoàn toàn mới của giáo sư Nguyễn Xuân Hùng và cộng sự tại Viện Công nghệ liên ngành (trường Đại học Công nghệ TPHCM) thông qua công bố “Adaptive Concurrent Topology Optimization of Cellular Composites for Additive Manufacturing (Tối ưu tôpô đồng thời thích nghi của các vật liệu tế bào ứng dụng trong công nghệ in 3D) xuất bản trên JOM, một tạp chí thuộc nhóm Q1 của nhà xuất bản Springer, đã làm thay đổi điều đó.      Đại diện Viện Công nghệ liên ngành (trường Đại học Công nghệ TPHCM) giới thiệu sản phẩm quạt không cánh, một ứng dụng từ nghiên cứu của Viện, với Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng tại Hội thảo & triển lãm Thương mại hóa công nghệ năm 2016. Nguồn: vtc.vn  Trong thời gian gần đây, việc thiết kế tối ưu vật liệu xốp thường dựa trên kĩ thuật đồng nhất hóa vật liệu của các cấu trúc vi mô. Phương pháp này hiệu quả nhưng cũng có một số nhược điểm là cần phải chia rất tinh tế lưới trong mô hình tính toán phần hữu hạn, phân tích phần tử hữu hạn và cập nhật biến thiết kế ở cả hai cấp độ vĩ mô và vi mô. Ngoài ra, cần phải thêm vào một số ràng buộc về kết nối giữa các cấu trúc vi mô và ràng buộc về thể tích vật liệu trong mỗi cấu trúc vi mô. Do đó, khi áp dụng các phương pháp này, máy tính cần phải có khả năng xử lý dung lượng lớn cũng như mất nhiều thời gian tính toán. Thông thường, thời gian cho một thiết kế chạy trên máy tính cá nhân là hàng giờ cho tới hàng chục giờ, tùy thuộc vào kích thước của bài toán thiết kế, thậm chí không thực hiện được cho các bài toán ứng dụng đòi hỏi độ phức tạp cao.  Trong công trình mới, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng đã đề xuất một cách tiếp cận mới về thiết kế và chế tạo theo công nghệ in 3D cho các vật liệu có dạng cấu trúc giống như cấu trúc của vật liệu tế bào hay vật liệu xốp trong tự nhiên, ví dụ như cấu trúc của tổ ong hay cấu trúc của xương người… So với nhiều dạng vật liệu khác thì vật liệu xốp có các đặc tính quan trọng như độ bền và độ ổn định so với trọng lượng bản thân cao, khả năng hấp thụ âm thanh tốt, khả năng chống va đập tốt, và cho phép khuếch tán chất lỏng qua nó – vốn rất cần thiết trong kĩ thuật cấy ghép xương trong y học,…  Cách tiếp cận mới dựa trên một kĩ thuật tính toán mới với việc mô hình hóa các thành phần hình học thích nghi mà không cần thiết dùng đến kĩ thuật đồng nhất hóa vật liệu và các ràng buộc kết nối hay ràng buộc thể tích vật liệu của các cấu trúc vi mô. Các thành phần hình học thích nghi bao gồm hai lớp: một lớp mô tả tổng thể kết cấu tức là cấu trúc vĩ mô và một lớp khác mô tả cấu trúc vật liệu, tức là cấu trúc vi mô.   Để làm được việc này, các tác giả đã tối ưu kết cấu một cách đồng thời ở cả hai cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô. Họ tối ưu các tham số hình học của các thành phần hình học thích nghi thông qua việc phân tích phần hữu hạn và cập nhật biến thiết kế mới một lần cho mỗi vòng lặp tối ưu trên một hệ lưới phần hữu hạn thô. Kết quả là, khi áp dụng phương pháp này, thời gian dành cho mỗi thiết kế không chỉ giảm xuống chỉ khoảng vài phút chạy trên máy tính mà còn không đòi hỏi máy tính phải có dung lượng xử lý lớn.   Về tổng thể, sự kết hợp giữa phương pháp tối ưu tôpô đồng thời thích nghi với kĩ thuật in 3D có thể cho phép thiết kế và chế tạo các kết cấu dạng xốp phức tạp với chi phí thấp. Nó hứa hẹn trở thành một xu thế về thiết kế và chế tạo sản phẩm không thể thiếu được trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.   Mặt khác, việc áp dụng kết hợp giữa phương pháp tối ưu tôpô đồng thời thích nghi của các vật liệu tế bào sẽ với học máy (machine learning) sẽ còn giúp đánh giá, truy xuất nhanh các mẫu thiết kế tối ưu cho in 3D.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phương pháp xạ trị ung thư mới: Giảm tác dụng phụ và thời gian chiếu xạ      Các nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm gia tốc quốc gia SLAC tại Đại học Standford vừa công bố công nghệ mới trong xạ trị ung thư. Công nghệ này dựa trên kỹ thuật gia tốc, giúp giảm thời gian chiếu xạ trên bệnh nhân từ vài phút xuống còn dưới 1 giây, hạn chế tối đa tác dụng phụ của tia xạ lên bệnh nhân.    “Tích hợp liều bức xạ của một buổi hóa trị liệu thông thường thành một lần chiếu duy nhất trong chưa đầy 1 giây là cách tối ưu để giảm ảnh hưởng của tia xạ lên các cơ quan khỏe mạnh, đây là một tiến bộ lớn so với phương pháp chiếu xạ đang được sử dụng hiện  nay”- Billy Loo, phó giáo sư về xạ trị ung thư tại Đại học Standford nhận xét.  “Để tạo ra tia xạ mật độ cao mang lại hiệu quả trị liệu trong thời gian chiếu xạ rất ngắn, chúng tôi cần các cấu trúc gia tốc mạnh hơn hàng trăm lần so với công nghệ hiện tại. Nguồn tài trợ mà chúng tôi nhận được sẽ giúp chúng tôi xây dựng hệ thống này,” GS vật lý lượng tử và thiên văn Sami Tantawi, trưởng phòng thí nghiệm gia tốc quốc gia SLAC cho biết.  Xạ trị bằng tia X  Dự án có tên là PHASER nhằm phát triển hệ thống phân phối tia X cho xạ trị.  Với các thiết bị y tế thông thường hiện nay, các hạt electron được truyền qua một cấu trúc tạo gia tốc dạng ống dài khoảng 1m, thu năng lượng từ sóng điện từ tần số radio (sóng radio) qua ống cùng một lúc và theo cùng một hướng. Năng lượng của electron sau đó được chuyển thành tia X. Trong những năm vừa qua, nhóm PHASER đã phát triển và thử nghiệm các cấu trúc gia tốc với nhiều hình dạng và cách thức nạp sóng radio khác nhau. Kết quả từ những thử nghiệm này đã cho các nhà nghiên cứu cơ sở để thiết kế các máy gia tốc có khả năng tạo ra năng lượng cao hơn và kích thước nhỏ gọn hơn.  “Tiếp theo chúng tôi sẽ thiết kế cấu trúc máy gia tốc và thử nghiệm tác động của công nghệ này, trong vòng 3 đến 5 năm tới, chúng tôi có thể tạo ra thiết bị đầu tiên và đưa vào thử nghiệm lâm sàng.”- Tantawi cho biết.  Xạ trị bằng photon  Về nguyên tắc, xạ trị bằng photon sẽ ít gây hại cho mô lành hơn là dùng tia X vì năng lượng từ photon sẽ tiêu diệt các tế bào khối u tại một vị trí nhất định. Tuy nhiên, liệu pháp xạ trị bằng photon đòi hỏi nhiều thiết bị để tạo và điều chỉnh gia tốc phù hợp. Liệu pháp này cũng cần dùng đến các nam châm nặng hàng trăm tấn chuyển động chậm quanh người bệnh nhân để nhắm các hạt từ đến đúng khối u.  Emilio Nanni, một trong những thành viên của dự án tại SLAC cho biết: “Chúng tôi muốn tìm ra cách mới để tạo ra các thiết bị điều khiển chùm photon nhỏ gọn hơn với vận tốc lớn hơn. Hiện tại chúng tôi đang tiến hành thiết kế, chế tạo và thử nghiệm một cấu trúc tạo gia tốc tương tự dự án PHASER, với thiết bị này chúng tôi có thể điều chỉnh hướng và năng lượng của chùm photon và tạo ra liều bức xạ năng lượng cao ngay lập tức.”  Nhanh, hiệu quả và dễ sử dụng  Ngoài việc giúp điều trị ung thư hiệu quả hơn, phương pháp xạ trị mới này cũng có thể mang lại nhiều lợi ích khác.  “Chúng tôi thấy rằng ở những con chuột được điều trị bằng phương pháp chiếu xạ nhanh này, hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư ngang bằng hoặc thậm chí hiệu quả hơn cả phương pháp chiếu xạ thời gian dài trước đây, ngoài ra những cơ quan khỏe mạnh khác của chuột mô hình cũng ít bị ảnh hưởng bởi tia xạ hơn. Nếu kết quả này vẫn đúng trên người, phương pháp này sẽ thật sự trở thành một liệu pháp mới cho xạ trị ung thư.”- Loo nói.  Nhóm nghiên cứu cũng hướng đến thiết kế một hệ thống vừa nhỏ gọn vừa tiết kiệm năng lượng, vừa dễ áp dụng cho lâm sàng và tương thích với cơ sở hạ tầng hiện có của các bệnh viện trên thế giới. Tantawi cho biết thêm: “Máy gia tốc tuyến tính y tế được phát minh và sử dụng rộng rãi đầu tiên tại Stanford chính là đòn bẩy để xây dựng SLAC. Thế hệ tiếp theo của hệ thống này sẽ là một tiến bộ thật sự không những đối với y học mà cả nhiều lĩnh vực khác như vật lý và quốc phòng.” ¨    Lam Huyên dịch  Nguồn: https://www6.slac.stanford.edu/news/2018-11-28-future-fighting-cancer-zapping-tumors-less-second.aspx    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp xóa đói giảm nghèo mới      Esther Duflo đã làm thay đổi triệt để ngành kinh tế học phát triển. Bà đã tìm ra giải pháp chống nghèo khổ với những thực nghiệm có kiểm chứng và được tiến hành tại chỗ.     Esther Duflo hiện là giáo sư kinh tế học phát triển tại Viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT) và là một trong những chuyên gia kinh tế nữ có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Esther Duflo đã làm thay đổi triệt để ngành kinh tế học phát triển. Bà đã tìm ra giải pháp chống nghèo khổ với những thực nghiệm có kiểm chứng và được tiến hành tại chỗ.  Khi bà bắt đầu sự nghiệp khoa học của mình thì môn kinh tế học phát triển mới chỉ là một bộ môn phụ của ngành kinh tế quốc dân. Nhờ nỗ lực của Duflo và đồng nghiệp Abhijit Banerjee, bộ môn này đã phát triển hết sức mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế học. Hai nhà nghiên cứu này đã tạo được bước đột phá, đưa ra một phương pháp nghiên cứu khoa học làm đảo lộn nghiên cứu về đói nghèo: thử nghiệm đối với nhóm đối chứng, như đã thực hiện từ lâu trong y học. Cũng như các thầy thuốc khảo nghiệm có hệ thống về công dụng của thuốc chữa bệnh mới, thì các nhà nghiên cứu kinh tế kiểm tra hiệu quả của chính sách kinh tế bằng cách thử nghiệm ngẫu nhiên (randomized trials). Năm 2003, bà cùng với Banerjee đã thành lập tổ chức Thực nghiệm hành động vì đói nghèo (PAL), hiện có 70 nhà kinh tế của 51 nước là thành viên.  Các nhà khoa học tại MIT đã thực hiện 345 thử nghiệm ngẫu nhiên. Hiện tại Duflo đang tập trung vào thử nghiệm chống bệnh thiếu máu: phương thuốc chống thiếu máu là dùng muối ăn có bổ sung chất sắt, phân chia chất này cho 400 làng ở Ấn độ –  muối có bổ sung sắt chia làm hai loại, loại không được trợ giá và loại có trợ giá được phân bố ngẫu nhiên.  Với phương pháp này, các nhà nghiên cứu đều thấy rằng, trong cuộc chiến chống đói nghèo, tín dụng nhỏ chỉ có thể giúp đỡ phần nào, và loại bếp tiết kiệm năng lượng phải hết sức giản tiện và dễ sử dụng thì người nghèo mới có thể áp dụng được. Họ đều nhất trí rằng Duflo đã cải thiện chất lượng các dự án viện trợ. Thí dụ, người ta đã phát hiện ra trị giun cho trẻ em ở châu Phi là biện pháp  hữu ích nhất để khuyến khích các em đến trường.  Duflo đoạn tuyệt với quan niệm cho rằng muốn xóa đói giảm nghèo phải có đủ tiền, vấn đề chính là phải sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên hạn hẹp – và hiệu quả này thể hiện qua các thực nghiệm của Duflo. Bà còn áp dụng kết quả nghiên cứu kinh tế học hành vi, trong đó giải thích nguyên do vì sao con người không phải lúc nào cũng hành động duy lý. Mặt khác bà cũng không tán thành quan niệm của một số đồng nghiệp ở Đại học New York, những người này cho rằng viện trợ phát triển là vô bổ, vì nó làm cho người nghèo thiếu tinh thần tự chịu trách nhiệm.  Nhưng phương pháp mới này cũng đang  gây tranh cãi. Không ít nhà phê bình chỉ trích các nhà kinh tế thực nghiệm biến con người thành những con thỏ thí nghiệm, một số lại nghi ngờ tính thuyết phục của các con số thống kê ở  thí nghiệm, một số khác cảnh báo không nên khái quát hóa các kết quả thực nghiệm do có sự khác biệt về văn hóa, vì bối cảnh văn hóa ở Ấn độ có thể rất khác so với Kenya. Theo Duflo thì đây chính là lý do để đẩy mạnh nghiên cứu hơn nữa và khẳng định các mô hình lý thuyết và phương pháp truyền thống khác vẫn có tầm quan trọng của nó. Bà cũng cho rằng cần phải kiên nhẫn hành động, vì “đói nghèo đã đi cùng với nhân loại từ hàng nghìn năm nay”.          Năm 2011, tạp chí  Time-Magazine đã xếp Duflo vào danh sách 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Cuốn sách Poor Economics do bà và Banerjee viết chung đã được tờ Financial Times đánh giá là cuốn sách kinh tế đáng giá nhất trong năm 2011. Năm 2010, Hiệp hội Kinh tế Mỹ (American Economic Association) đã trao tặng bà huy chương John Bates Clark.          Xuân Hoài lược dịch theo Die Zeit.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Pin kim loại lithium tuổi thọ cao: Bước tiến cho xe điện      Gần đây, một nhóm các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (PNNL) thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) đã tạo ra một loại pin kim loại lithium chạy được tới 600 chu kỳ, lâu hơn nhiều so với các kết quả được báo cáo khác. Điều đó nghĩa là pin điện này có thể sạc và xả 600 lần trước khi bị chai. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí Nature Energy vào ngày 28/6.    Đây là một bước tiến lớn trong ngành công nghệ đầy triển vọng mặc dù vẫn chưa sẵn sàng để có thể thay thế pin lithium-ion. Mặc dù pin lithium-ion ngày nay chứa ít điện hơn, đi được quãng đường hạn chế hơn trong một lần sạc nhưng lại có tuổi thọ lâu hơn, ít nhất là 1000 chu kỳ.  Thay vì làm cực dương sử dụng nhiều lithium hơn, họ tạo ra các dải lithium cực kỳ mỏng (tầm 20 microns), nhỏ hơn nhiều so với chiều dày sợi tóc người. Jie Xiao, đồng tác giả của bài báo nghiên cứu, cho biết: “Nhiều người đã nghĩ rằng lithium dày hơn sẽ giúp pin hoạt động lâu hơn. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Có độ dày tối ưu cho mỗi loại pin kim loại lithium tùy thuộc vào năng lượng và thiết kế tế bào của nó.”  Pin kim loại lithium do nhóm nghiên cứu tạo ra có mật độ năng lượng 350Wh/kg. Con số này rất cao nhưng không phải là chưa từng có. Giá trị quan trọng hơn của nghiên cứu mới này nằm ở tuổi thọ của pin chứ không phải năng lượng. Sau 600 chu kỳ, pin vẫn còn giữ được 76% dung lượng ban đầu.  Bốn năm về trước, một pin kim loại lithium thử nghiệm chỉ có thể hoạt động khoảng 50 chu kỳ. Tuy nhiên từ đó đến nay tuổi thọ pin đã không ngừng tăng lên nhanh chóng. Hai năm trước, nhóm PNNL đã tạo ra loại pin có 200 chu kỳ và bây giờ là 600 chu kỳ. Hơn nữa, pin của PNNL có dạng tế bào túi – gần với ứng dụng thực tế hơn là tế bào pin hình xu thường sử dụng trong các dự án nghiên cứu.  Các nhà nghiên cứu đã thử dùng các dải lithium mỏng dựa trên những hiểu biết về động học phân tử của cực dương. Họ phát hiện ra rằng các dải dày hơn góp phần trực tiếp làm hỏng pin do các phản ứng phức tạp xung quanh màng trên cực dương được gọi là liên pha chất điện ly rắn (solid electrolyte interphase – SEI).  SEI là sản phẩm phụ của phản ứng phụ giữa lithium và chất điện phân. Nó hoạt động như một người gác cổng quan trọng, cho phép các phân tử nhất định đi từ cực dương đến chất điện phân và quay trở lại trong khi vẫn giữ các phân tử khác tại vị trí cũ.  Lớp SEI hoạt động hiệu quả sẽ cho phép một số ion lithium nhất định đi qua (khuyến khích các phản ứng có lợi quan trọng) nhưng hạn chế các phản ứng hóa học không mong muốn làm giảm hiệu suất của pin và tăng tốc độ hỏng của pin.  Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng các dải lithium mỏng hơn hoạt động tuyệt vời trong việc tạo ra lớp SEI tốt, trong khi các dải dày hơn nhiều khả năng sẽ góp phần tạo nên lớp SEI có hại.   Trong bài báo của mình, các nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ “SEI ướt” và “SEI khô”. Phiên bản ướt tạo tiếp xúc giữa chất điện phân lỏng và cực dương, giúp các phản ứng điện hóa quan trọng có thể xảy ra.  Nhưng trong phiên bản khô, chất điện phân lỏng không tiếp cận được với tất cả lithium. Đơn giản bởi khi các dải lithium dày hơn, chất điện phân cần chảy vào các túi lithium sâu hơn, và như vậy, nó khiến các phần còn lại của lithium bị khô. Điều này ngăn chặn các phản ứng quan trọng xảy ra, giảm hiệu quả của những phản ứng điện hóa cần thiết và góp phần trực tiếp vào việc pin chết sớm.  Đó là một vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với các loại pin thực tế như pin túi vốn có lượng chất điện phân ít hơn 20-30 lần so với chất điện phân được sử dụng trong pin đồng xu thử nghiệm.  Giống như chảo rán sẽ dần tích tụ một lớp dầu mỡ nếu không được vệ sinh kỹ càng sau mỗi lần sử dụng, theo thời gian các lớp cặn tích lại, tạo ra rào cản, làm giảm dòng chảy năng lượng và khiến bề mặt kém hiệu quả hơn. Tương tự, một lớp SEI khô không mong muốn sẽ ngăn cản việc truyền năng lượng hiệu quả vào bên trong pin.□  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://www.pnnl.gov/news-media/longer-lived-lithium-metal-battery-marks-step-forward-electric-vehicle    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pin mặt trời hữu cơ siêu mỏng vừa hiệu quả lại vừa bền      Giáo sư Nguyễn Thục Quyên và đồng nghiệp ở Viện RIKEN đã thành công trong việc tạo ra một tấm pin mặt trời hữu cơ siêu mỏng đạt được hai tiêu chí là vừa đạt hiệu suất cao lại vừa bền.      Sử dụng một quá trinh xử lý ủ bằng thùng đơn giản, họ đã tạo ra một tấm pin hữu cơ mềm chỉ bị giảm hiệu suất đi 5% sau 3.000 giờ trong điều kiện khí quyển và đồng thời đạt tỉ lệ chuyển đổi năng lượng – một chỉ dấu chính của hiệu suất pin năng lượng mặt trời – là 13%.  Quang điện hữu cơ được coi là một giải pháp hứa hẹn cho các màng thông thường chứa silicon, vốn thân thiện với môi trường và giá thành nguyên liệu rẻ để có thể sản xuất hàng loạt. Các tấm pin mặt trời siêu mỏng và mềm đặc biệt thu hút sự chú ý vì chúng có thể cung cấp một lượng công suất điện lớn so với khối lượng và được sử dụng trên một phạm vi ứng dụng rất rộng như các thiết bị điện tử đeo trên người, cảm biến hay robot mềm. Các màng hữu cơ siêu mỏng có xu hướng chuyển đổi năng lượng không thật sự hiệu quả, tỉ lệ chuyển đổi năng lượng khoảng 10 đến 12 %, thấp hơn so với pin bằng silicon  – vốn đạt hiệu suất cao nhất 25%, hoặc pin hữu cơ cứng – khoảng 17%. Các màng siêu mỏng có xu hướng giảm hiệu suất nhanh chóng dưới ánh nắng mặt trời, nhiệt và oxygen. Do đó các nhà nghiên cứu đang cố gắng tạo ra các màng siêu mỏng vừa hiệu quả lại vừa bền nhưng thường xuyên thất bại vì đây là mục tiêu khó thực hiện.  Trong nghiên cứu xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Sciences, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc chứng minh một màng siêu mỏng lại có thể đạt cùng lúc hai tiêu chí này. Họ bắt đầu với một polymer bán dẫn cho lớp donor, do Toray Industries, Inc. phát triển và được thực nghiệm với một ý tưởng mới, sử dung một chất nhận phi fullerene để tăng thêm tính bền nhiệt. Trên  cùng, họ thử nghiệm với một quá trình ủ trong thùng đơn giản, nơi vật liệu được gia nhiệt đến 150 độ C sau một pha xử lý nhiệt ban đầu ở mức 90 độ C. Bước này chứng tỏ góp phần tăng độ bền của thiết bị bằng việc tạo ra một giao diện ổn định giữa các lớp.  Theo tiến sĩ Kenjiro Fukuda, một trong những tác giả của nghiên cứu, “bằng việc kết hợp một lớp thế hệ mới với một cách xử lý đơn giản, chúng tôi đã đạt được cả hiệu quả chuyển đổi năng lượng cao và tính bền trong thời gian dài với pin mặt trời hữu cơ siêu mỏng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các pin mặt trời hữu cơ siêu mỏng này có thể hữu dụng theo cách bền vững hơn trong suốt một thời kỳ dài và có thể tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ và độ ẩm cao. Tôi rất hi vọng nghiên cứu này có thể góp phần vào việc phát triển các thiết bị với nguồn điện lâu dài và có thể tích hợp trong những thiết bị điện tử đeo trên người như cảm biến để gắn vào quần áo”.  Nghiên cứu “Highly efficient organic photovoltaics with enhanced stability through the formation of doping-induced stable interfaces” do các nhà nghiên cứu ở Viện RIKEN dẫn dắt và thực hiện với sự hợp tác của các nhà nghiên cứu ở trường đại học Tokyo, đại học California ở Santa Barbara và đại học Monash.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2020/03/200309152058.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pin năng lượng cao của Trung Quốc mở ra một kỷ nguyên mới cho ô tô điện      Nhà sản xuất Trung Quốc CATL gây bất ngờ với loại pin hiệu suất cao. Nó mở ra những khả năng mới cho ô tô điện, thậm chí cả máy bay hoạt động bằng động cơ điện.       Cuộc cách mạng về pin điện xuất phát từ Trung Quốc.  Tuần qua nhà sản xuất pin lớn nhất thế giới, CATL, đã công bố một loại “pin ngưng tụ” mới (Condensed Battery) tại Hội chợ Triển lãm ô tô Thượng Hải. Doanh nghiệp này không tiết lộ chi tiết về thành phần, nhưng một con số gây xôn xao giới chuyên môn: 500 Watt giờ điện có thể được lưu trữ trên mỗi kg tế bào pin.  Các mẫu pin hiện tại chỉ có thể đạt mật độ năng lượng nhiều lắm chỉ bằng một nửa. Nhà nghiên cứu pin người Đức Maximilian Fichtner gọi bước phát triển nhảy vọt này là “không thể tin được” và “qua đó các giấc mơ đã trở thành hiện thực.” Thí dụ với máy bay. Theo CATL “Một kịch bản điện khí hóa mới với máy bay” đang được mở ra.  Cho đến nay, các thiết bị lưu điện đều quá lớn và nặng nề. Nhưng trong tương lai, pin cho ô tô điện có thể chỉ nặng từ 100 – 200 kg thay vì nửa tấn như hiện nay.  Các hãng sản xuất ô tô phương Tây bỗng trở nên cổ lỗ khi so sánh với những bước nhảy vọt đầy sáng tạo của Trung Quốc. Ngay trước hội chợ, thông tin về việc CATL bắt đầu sản xuất hàng loạt một loại pin khác gọi là natri-ion cũng đã làm thế giới ô tô không khỏi choáng váng. Hãng sản xuất ô tô Trung Quốc Chery là nơi đầu tiên áp dụng các thành tựu này vào một số mẫu xe nhất định, khiến các loại ô tô này có giá thành rẻ hơn đáng kể.  Theo hãng tin tài chính Bloomberg, pin ô tô điện hiện có giá khoảng 130 euro cho mỗi kilowatt giờ (kWh) dung lượng lưu trữ. Đối với một chiếc xe ID.3 của Volkswagen với 62 kWh, giá pin sẽ vào khoảng 8000 euro. Điều này làm cho loại xe điện này đắt hơn xe chạy xăng hoặc dầu diesel.  Chi phí pin đã giảm nhanh chóng trong những năm gần đây, trừ năm 2022 bị khựng lại do giá vật tư và nguyên liệu tăng. Giờ đây các công nghệ mới có khả năng làm cho quá trình giảm giá pin tiếp tục tái diễn.  Giới am hiểu trong ngành ô tô cho rằng trong một vài năm tới, giá ô tô điện sẽ giảm xuống ngang với giá động cơ đốt trong và giá thành của pin sẽ giảm xuống dưới 100 USD cho mỗi kWh. Cơ quan tư vấn Berylls hy vọng pin xe ô tô sẽ rẻ hơn một phần ba vào năm 2028 nhờ giảm chi phí sản xuất và cải thiện cấu trúc.  Nhưng động lực thúc đẩy chủ yếu không xuất phát từ phương Tây. “Châu Á hiện là thị trường pin hàng đầu và thị trường này đang mở rộng nhanh chóng”, báo cáo Battery Monitor của Đại học Kỹ thuật Aachen cho biết. “Trung Quốc cố gắng giảm hơn nữa chi phí đối với các biến thể tế bào pin vốn đã rẻ rồi, như lithium iron phosphate.”  Bốn yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với pin trong tương lai  1. Hóa học: lithium và natri  Kim loại Lithium có vai trò quan trọng trong sản xuất pin vì nó nhẹ hơn hầu hết các nguyên tố khác. Lithium thường được kết hợp với hỗn hợp niken, mangan và coban. Những chất này đều có các vấn đề, đặc biệt là coban khai thác ở Congo trong điều kiện coi thường tính mạng con người.  Với các loại pin rẻ hơn, chẳng hạn như pin được Tesla sử dụng cho các mẫu xe cấp thấp, các kim loại này được thay thế bằng các hợp chất sắt. Điều này làm cho bộ lưu trữ năng lượng ổn định hơn và ít bị hư hỏng hơn, tuy nhiên phạm vi hoạt động của xe lại bị hạn chế.  Điểm mới trên thị trường là pin natri, trong đó thay vì các ion lithium, các hạt natri di chuyển giữa các cực dương và cực âm. Lợi thế của loại pin này là natri rẻ và có sẵn ở khắp mọi nơi, ví dụ như trong muối ăn.  Fichtner làm việc tại Viện Công nghệ Karlsruhe (KIT) dự đoán: “Nếu pin natri-ion thực sự đuổi kịp pin lithium-iron phosphate về giá trị hiệu suất thì có thể nghĩ tới một sự thay đổi có tính hệ thống”.  Ngay cả lá đồng trên cực âm của pin natri cũng có thể được thay thế bằng lá nhôm rẻ tiền hơn. Theo Fichtner, loại pin này có lợi thế về giá cả, chi phí và độ bền. Nhược điểm là mật độ năng lượng thấp hơn: Pin lithium với niken, mangan và coban trên cực dương hiện có công suất lưu trữ là 250 Wh/kg so với pin lithium iron phosphate là 160 Wh/kg. Pin natri trong tương lai cũng có thể vận động ở mức độ này.  Mặc dù loại siêu pin mới của CATL có chứa lithium, hợp chất [natri] này nên tiếp tục được sử dụng vì chúng rẻ hơn nhiều. Điều này cho phép triển khai những chiếc xe nhỏ, giá rẻ, có phạm vi hoạt động hạn hẹp hơn. Ngoài ra, các tế bào natri ít nhạy cảm hơn đáng kể so với các tế bào có lithium. Fichtner cho biết: “Ở nhiệt độ -20 độ C, loại pin như vậy vẫn còn 90% dung lượng lưu trữ, pin lithium còn 70%“  2. Hình dạng: Nhiều không gian hơn nhờ thiết kế có góc cạnh  Tròn hay vuông, đó là câu hỏi lâu nay của các nhà sản xuất ô tô. BMW và Tesla chọn các tế bào pin giống với pin gia dụng (hình trụ) được phóng to gấp nhiều lần. Trong khi đó Volkswagen lại chọn chọn dạng lăng trụ cho các loại ô tô của mình.  Một số tế bào này được kết nối với nhau để tạo thành các mô-đun và sau đó được tích hợp vào pin trong một bộ khung lớn hơn. Theo Fichtner, thiết kế này đã lỗi thời. Một vài năm trước, một bước đột phá đã được thực hiện ở Trung Quốc trong việc tạo dựng các tế bào, qua đó phạm vi hoạt động của xe lớn hơn, khả năng sạc tốt hơn và bền vững hơn.  “Pin không còn được chế tạo thành từng bộ phận nhỏ nữa mà các tế bào được sản xuất lớn như những tấm ván sàn. Điều này có nghĩa là người ta cần ít vật liệu đóng gói và công nghệ kết nối hơn trong pin, tiết kiệm chi phí và có thể chứa nhiều chất liệu lưu trữ hơn,” Fichtner giải thích.  Những gã khổng lồ ngành công nghiệp của Trung Quốc BYD và CATL đã sử dụng các loại tế bào “blade” này trong các ô tô sản xuất hàng loạt. Mục tiêu là đưa phạm vi hoạt động của xe lên hơn 1000 km và thời gian sạc trong mười phút cho 700 km.  3. Nguyên liệu: khan hiếm các kim loại  Việc cung cấp kim loại làm pin sẽ trở thành một vấn đề trong những năm tới. Do đó giá cả các loại kim loại này đã tăng vọt trên thị trường trong năm 2022. Lithium chủ yếu được khai thác ở Úc và Chile. Việc mở rộng mỏ và phát triển các mỏ mới đang được lên kế hoạch trên toàn thế giới.  Theo tính toán của Cơ quan Nguyên liệu Đức, nhu cầu về lithium sẽ tăng từ 4 – 8 lần vào năm 2030. Các chuyên gia cũng nhận thấy sẽ có sự tắc nghẽn đối với một số nguyên liệu khác như niken.  4. Tái chế: Làm mới từ các phế thải  Cho đến nay, tái chế không đóng vai trò gì trong sản xuất pin. Ví dụ như đối với lithium, “việc phục hồi hiện chưa khả thi vì chúng không có hiệu quả kinh tế”. Tuy nhiên, pin lithium-ion có thể tái chế được và đã có các quy trình tái chế với quy mô lớn. Một ngành công nghiệp tương ứng đang phát triển ở châu Âu. Dự kiến đến năm 2030, khaonrg 3-9% nhu cầu về lithium có thể được đáp ứng từ vật liệu tái chế.  Điều này cũng sẽ cần thiết nếu Ủy ban Châu Âu thành công với chỉ thị về pin theo kế hoạch của mình. Đó là quy định tỷ lệ phần trăm tái chế tối thiểu từ năm 2035, ví dụ như 12% đối với niken và 10% đối với lithium. Các nhà sản xuất cũng phải có nghĩa vụ thu hồi pin cũ. Đó là một lý do tại sao các tập đoàn như Renault, Mercedes-Benz và Volkswagen đang xây dựng các nhà máy tái chế.  Một vấn đề nữa là khí hậu: “Tùy thuộc vào cấu trúc, lượng khí thải CO2 trong quá trình sản xuất pin hiện nằm trong khoảng 42 kg CO2 trên mỗi kWh trong trường hợp sạch nhất, và 142 kg CO2 trên mỗi kWh trong trường hợp xấu nhất”.  Việc quy đổi các loại khí thải khác nhau thành CO2 được coi là tiêu chuẩn trong cân bằng khí hậu. Do đó, việc sản xuất một khối pin lớn tạo ra khoảng 10 tấn CO2, phần lớn từ quá trình khai thác và tinh chế kim loại. Theo các nhà nghiên cứu, việc giảm mạnh lượng CO2 sẽ “chỉ có thể đạt được nếu áp dụng các công nghệ tái chế”.  Nguồn: Elektroauto: Mit Chinas Super-Batterie beginnt eine neue Elektro-Ära – WELT  Hoài Nam    Author                .        
__label__tiasang Pin thế hệ mới sẽ thay thế nhiên liệu hóa thạch      Những tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu và phát triển các loại pin nhiên liệu thế hệ mới khiến các nhà khoa học hy vọng, chỉ ít năm nữa là các loại pin này có thể thay thế hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch.&#160;       Một trong những công nghệ then chốt có thể giúp con người không còn phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong tương lai gần là các loại pin năng lượng có khả năng tích điện từ năng lượng mặt trời hay năng lượng gió.  Nếu các loại pin có giá thành rẻ hơn và tích chứa được nhiều năng lượng hơn thì những chiếc ô tô chạy điện hay những tòa nhà thông minh có thể kéo dài thời gian vận hành, ngay cả lúc không có ánh nắng mặt trời hoặc lặng gió. Được coi là đầy triển vọng, nNhững giải pháp này mới được đề cập tại hội nghị về khí hậu do LHQ tổ chức diễn ra ở Paris cuối tháng 11 vừa qua.    Jay Whitacre, một chuyên gia đồng thời là nhà sáng chế về các loại pin thuộc đại học Carnegie Mellon cho rằng: “Khi suy nghĩ nghiêm túc về việc loại bỏ sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch trong việc cung cấp điện cho một tòa nhà, một thành phố hay cho cả một quốc gia thì người ta không thể bỏ qua khâu lưu trữ năng lượng”.  Ngay cả cựu phó tổng thống Hoa kỳ Al Gore và người phụ trách hiện nay của tạp chí Science, Marcia McNutt cũng như một số nhân vật khác cũng đều coi những loại pin thế hệ mới là một trong những chìa khóa trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.     Pin đã xuất hiện từ trên 200 năm, hiện nay công nghệ mới đã đưa nó lên một bước tiến vượt bậc. Tháng mười vừa qua, một nhóm các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc chế tạo một loại pin có mật độ lưu trữ năng lượng cao gấp mười lần so với các loại pin tốt nhất hiện đang có trên thị trường.   Trước đó, nhà phát minh Whitacre đã giành được giải thưởng trị giá 500.000 đôla vì có thành tích tạo ra một loại pin thân thiện với môi trường. Nhà đầu tư Elon Musk cho hay doanh nghiệp Tesla Motors của ông sẽ tung pin HighTech ra thị trường. Loại pin này có khả năng tích điện ban ngày để người dân có thể dùng vào ban đêm hoặc những ngày trời đầy mây, âm u.   JB Straubel, giám đốc công nghệ và là đồng sáng lập hãng Tesla cho rằng, tốc độ của đổi mới diễn ra một cách nhanh chóng. Chúng tôi hiện đã đạt đến điểm pin có công suất và tuổi thọ tương tự như nhiên liệu hóa thạch.     Tại cơ sở sản xuất khổng lồ Gigafactory ở Nevada, Tesla bắt đầu sản xuất cái gọi là bức tường năng lượng (Powerwalls) phục vụ các tòa nhà. Nhu cầu của  thế giới đối với sản phẩm này lớn đến mức việc sản xuất bức tướng năng lượng không đủ phục vụ nhu cầu.    Tháng 11 vừa qua, một nhà cung cấp ở Texas tuyên bố sẽ cung cấp miễn phí năng lượng gió cho khách hàng của mình vào ban đêm. Theo đánh giá của Straubel thì khoảng mười năm nữa, giá thành của năng lượng gió và mặt trời sẽ giảm rõ rệt. Việc lưu trữ hai loại năng lượng này cũng đơn giản hơn, chúng sẽ được tích trong bình ắc quy hoặc pin nhiên liệu để sử dụng thay vì dùng than, dầu hoặc khí đốt.     Các nhóm nghiên cứu khắp thế giới đang nỗ lực tìm kiếm các loại pin mới  “Chính Gigafactory đang làm thay đổi tình hình“, t Venkat Srinivasan, phó giám đốc Trung tâm cộng đồng về nghiên cứu tích trữ điện thuộc phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Berkeley. “Cách đây hai năm không một ai có thể tin rằng có ai đó dám bỏ ra 5 tỷ đôla để đầu tư xây dựng một nhà máy pin lớn.“  Tesla dựa trên công nghệ hiện hành, thực hiện sản xuất và tiêu thụ hàng loạt. Đây là một sự chuyển biến quan trọng của ngành này. Công việc còn lại là làm sao tăng cường hiệu suất của pin.    John Goodenough, giáo sư trường đại học Texas là người phát minh loại pin lithium-ion đang đươc dùng phổ biến hiện nay. Dự án tới đây của ông là loại pin có độ an toàn cao hơn trên cơ sở Sodium, nguyên tố này có nhiều hơn và việc nạp pin cũng nhanh hơn.   Cuộc chạy đua với thời gian  “Giờ đây tôi hy vọng các vị có thể giải phóng  mình khỏi sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch“, John Goodenough tuyên bố điều này hồi tháng mười khi nhận một giải thưởng của Israel trị giá một triệu đôla vì có công trong việc thúc đẩy các nguồn năng lượng thay thế. Ông nói tiếp: “Tôi tin rằng năm tới sẽ là năm tạo ra sự đột phá. Tôi tràn đầy hy vọng về điều đó nhưng rõ ràng là chúng ta còn phải nỗ lực để hoàn tất công việc này”.  Glenn Amatucci, giám đốc  nghiên cứu lưu trữ năng lượng thuộc đại học Rutgers nói về một cuộc chạy đua dành thời gian. “Mỗi ngày, mỗi giờ đều có tính quyết định cho sự tiến lên của chúng ta”. Với  Goodenough thì sự khẩn trương càng vô cùng quan trọng. Nhà khoa học 93 tuổi này mỗi ngày làm việc miệt mài tám giờ đồng hồ với loại pin mới nà ông đang nghiên cứu.    Nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới đang tìm tòi những loại pin khác nhau. Một trong những nguyên liệu đầy triển vọng là Lithiumoxid, nguyên liệu này có khả năng lưu trữ năng lượng từ năm đến mười lần so với loại pin lithium-ion thông thường.  Loại pin Lithium mới của hãng Bosch giúp cho ô tô điện có thể chạy xa gấp đôi, trong khi trọng lượng, thể tích và giá cả lại giảm đáng kể. Đây là những yếu tố làm cho ô tô điện hấp sẽ trở nên dẫn hơn nhiều đối với người sử dụng.   Tuy nhiên vẫn còn nhiều trở ngại về kỹ thuật phải vượt qua nhằm nâng cao hiệu xuất của pin. Công nghệ này tuy đầy triển vọng nhưng cần ít nhất 7 đến 10 năm mới có thể  đưa công nghệ này vào thực tiễn cuộc sống , theo lời nhà nghiên cứu Grey. Trong khi đó một số nhà khoa học khác lại tập trung nghiên cứu pin trên nền tảng nước hay Magnesium.   Theo Straubel, Tesla quan tâm đến tất cả các giải pháp về pin nhiên liệu khác nhau. Ông nói: “Đây là một cuộc cách mạng diễn ra không ngừng. Đây là một phần việc đầy khó khăn của toàn bộ trò chơi lắp các mảnh ghép, vấn đề đặt ra ở đây là, làm sao chặn đứng được hoàn toàn việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.”             Thông tin kỹ thuật đối với bình ắc quy   Pin: cục pin có nhiệm vụ tiếp nhận  nhiều nhất  electron  khi sạc điện, lưu trữ chúng với tổn thất thấp  nhất. Khi xả thì giải phóng những electron này, và dùng dòng điện này  vận hành động cơ điện hay điện thoại di động.      Ắc quy:  ác quy tích điện nhờ pin lithium-ion: electron  không có nguyên tử này. Do đó chúng mang điện tích dương. Khi sạc các  electron điện tích âm tràn vào bình ác quy và tập hợp tại một tấm cácbon  có khả năng dẫn điện là graphit. Những pin lithium-ion   điện tích dương cũng kéo tới đây. Mỗi Ion kết nối với một elektron,  nhằm bảo đảm sự trung hòa khi nạp. Khi xả ác quy các electron rời từ từ  khỏi tấm graphit. Những pin lithium-ion điện tích dương cũng tách khỏi tấm graphit. Sau đó chu trình nạp lại bắt đầu từ đầu.      Loại ắc quy mới: Bình ắc quy tích càng nhiều pin lithium-ion  bao nhiêu thì cũng có nhiều electron bấy nhiêu nhờ đó lượng điện tích  trong bình tăng lên cho dù dung tích giữ nguyên. Vì thế từ lâu hãng  Bosch đã tìm mọi cách để giảm thành phần graphit càng nhiều càng tốt,  thậm chí bỏ hẳn không dùng graphit. Điều này sẽ làm tăng rõ rệt mật độ  năng lượng trong bình ác quy. Dường như doanh nghiệp start-up Seeo mà  Bosch mới mua đã thành công ở công đoạn này.             Hoài Trang dịch   Nguồn: Tuần kinh tế online         Author                Quản trị        
__label__tiasang Piñatex: Từ dứa đến khởi nghiệp      Ananas Anam không chỉ là startup, nó còn là đáp án của Carmen Hijosa cho bài toán ô nhiễm do ngành thuộc da ở Philippines gây ra bằng cách tận dụng lá dứa – nguồn sản vật dư thừa địa phương để sản xuất Piñatex – loại vật liệu thay thế da thuộc.      Các hãng thời trang nổi tiếng đang thiết kế nguyên mẫu và sản phẩm từ Piñatex. Nguồn: dezeen.com  Tại tuần lễ thời trang London 2017, những người tham dự khi bước chân vào Designer Showrooms đều bị ấn tượng với chiếc váy dự tiệc màu vàng kim bóng bẩy treo giữa phòng. Chiếc váy disco ngắn trông như được làm từ da, nhưng những người thiết kế nó – siêu mẫu người Mỹ Arizona Muse và Georgie Macintyre – giám đốc nghệ thuật của hãng thời trang Anh Quốc Matthew Williamson, bật mí rằng nó được làm từ một loại vải giả da làm hoàn toàn từ lá dứa – gọi là Piñatex của công ty Ananas Anam sản xuất.  Tìm kiếm vật liệu thay thế da thuộc  Người sáng lập Ananas Anam – TS. Carmen Hijosa, từng là cố vấn thiết kế cho World Bank và EU tại Nam Mỹ, Philippines, Thái Lan và EU. Trong một chuyến thăm Manila (Philippines) để tư vấn cho ngành công nghiệp da thuộc tại đây, Hijosa nhận ra hai vấn đề: da thuộc kém chất lượng và quá trình sản xuất gây tác động xấu đến môi trường cũng như sức khỏe địa phương. Quy trình thuộc da động vật đòi hỏi sử dụng các hóa chất độc hại như formaldehyde và kim loại nặng như crom – tất cả đều gây ra ô nhiễm.  Vì vậy, Hijosa đã hình thành ý tưởng tìm kiếm một vật liệu thay thế cho da thuộc.Với 15 năm kinh nghiệm trong ngành đồ da, bà hiểu rằng loại vật liệu có thể thay thế da thuộc và thương mại hóa thì cần có những đặc tính cụ thể như bền, dai, sáng, nhẹ và có khả năng sản xuất bền vững. Bà tinh cờ để ý thấy những chiếc áo Barong Tagalog truyền thống của người Philippines được may từ piña – loại vải có nguồn gốc từ sợi lá dứa và lụa. Sợi cellulose được tước ra từ lá dứa có độ bền và mịn đáng ngạc nhiên và từng được người dân bản địa dùng để dệt loại vải này suốt nhiều thế hệ, tuy nhiên nghề này đã bị mai một từ lâu.  Nhận ra tiềm năng của sợi lá dứa, Hijosa đã phối hợp với những người dệt vải ở địa phương để phát triển một dạng vải không dệt từ sợi lá dứa. Và sau 5 năm, bà đã nghiên cứu ra quy trình sản xuất Piñatex và khởi nghiệp lần nữa ở tuổi 62 với Ananas Anam.  Rẻ hơn và thân thiện hơn  Với phương châm Cradle to Cradle (các thành phần tạo ra sản phẩm này sẽ là chất dinh dưỡng cho thế hệ sản phẩm sau), Hijosa đã thiết kế quy trình sản xuất của mình thân thiện nhất với môi trường có thể. Lá dứa được thu gom và tước thành sợi dài, sau khi rửa sạch, phơi khô sẽ được loại bỏ chất diệp lục và nhựa cây. Sợi lá dứa tinh chế tiếp tục được xử lý thành một loại lưới không dệt trước khi vận chuyển từ Philippines sang Tây Ban Nha cho quá trình xử lý hóa học và cơ học cuối cùng nhằm có độ dai, bền và bề ngoài giống da thuộc. Hijosa chia sẻ: “Nó [Piñatex] được tạo ra từ phụ phẩm nông nghiệp, thế nên nó là sản phẩm hoàn toàn từ rác thải. Điều này nghĩa là để tạo ra Piñatex, chúng ta không cần thêm đất, nước, thuốc trừ sâu, phân bón… Chúng ta đang thực sự lấy rác thải và “nâng cấp” nó, nói cách khác là thêm giá trị gia tăng cho nó”. Ngoài ra, quá trình tước sợi lá dứa sẽ để lại phần sinh khối có thể chuyển thành loại phân bón cho vụ mùa kế tiếp, tạo thêm thu nhập cho nông dân. Tính đến hiện nay, Piñatex gần như có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn, ngoại trừ lớp phủ chống thấm – vẫn chứa một lượng nhỏ hóa chất. Hijosa đang phối hợp với Bangor University, và các chuyên gia từ InCrops để phát triển lớp phủ hữu cơ phi dầu.  Piñatex – tương tự như da thuộc, có thể được nhuộm, in và xử lý để tạo ra nhiều loại kết cấu và độ dày khác nhau. Nó có thể thay thế hoàn hảo cho da thuộc để làm giày, túi, ghế sofa,… với giá chỉ 18 bảng/m2 – rẻ hơn 40% so với da thuộc, có giá khoảng 20 – 30 bảng/m2. Hijosa chia sẻ rằng Piñatex được đóng thành cuộn (rộng 150 hoặc 218cm) thay vì hình dạng không đồng đều như da thuộc, vì thế tỷ lệ “vải vụn” chỉ khoảng 5% so với 25% của da thuộc, vì thế chi phí phải trả cho phần bị lãng phí sẽ ít hơn. Với những lợi thế như vậy, sau khi trải qua tất cả các bài kiểm tra kỹ thuật theo tiêu chuẩn ISO, hiện nay một số thương hiệu giày như Puma hay Camper đang sử dụng Piñatex để thiết kế các sản phẩm mẫu. Khi giá da thật ngày càng trở nên đắt đỏ quá mức thì sự xuất hiện của loại vật liệu tự nhiên, có thể tái chế và thân thiện môi trường như Piñatex thật hấp dẫn đến nỗi, chỉ trong vòng 9 tháng kể từ khi ra mắt, số lượng khách hàng của Ananas Anam đã lên tới hơn 500.  Minh Thuận tổng hợp theo TheGuardian; Wired.co    Author                Quản trị        
__label__tiasang Plasma giúp loại bỏ coronavirus trên các bề mặt nhanh hơn      Các nhà nghiên cứu ở trường đại học California, Los Angeles tin rằng việc sử dụng plasma có thể hứa hẹn dẫn đến một đột phá trong cuộc chiến chống lại COVID-19.      Trong công trình xuất bản trên Physics of Fluids “Cold atmospheric plasma for SARS-CoV-2 inactivation featured”, họ sử dụng mô hình chứng tỏ đã loại trừ được sự lan truyền của loài coronavirus này trên các bề mặt như kim loại, da và nhựa sau khoảng 30 giây chiếu plasma lạnh chứa argon.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một tia plasma ở mức áp suất khí quyển mà họ chế tạo với một máy in 3D để phun lên các bề mặt đã được nuôi cấy sẵn SARS-CoV-2. Các bề mặt bao gồm nhựa, kim loại, bìa cứng và các miếng da làm bóng rổ, bóng đá và bóng chày.  Việc phun plasma chứa khí argon lên các bề mặt này khiến tất cả các coronavirus trên đó chết trong vòng ít nhất ba phút và phần lớn đều chết trong vòng 30 giây. Thử nghiệm tiếp theo cho thấy những con virus này đều chết trên chất liệu coton của khẩu trang trong khoảng thời gian tương tự.  Loài coronavirus mới có thể còn khả năng lây nhiễm trên các bề mặt sau nhiều giờ. Richard E. Wirz , một trong số các tác giả của công trình, cho rằng phát hiện mới này chứng tỏ tiềm năng lớn của việc sử dụng plasma trong việc phá vỡ chu trình lây truyền của nó virus. “Đây mới chỉ là bước khởi đầu. Chúng tôi rất tự tin và tràn trề hi vọng cho việc sử dụng plasma cho công trình tiếp theo. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ có rất nhiều câu trả lời về plasma cho cộng đồng khoa học”.  Plasma là một trong bốn trạng thái cơ bản của vật chất và có thể được tạo ra từ việc gia nhiệt khí trơ hoặc  đặt vào một trường điện từ mạnh. Một công nghệ mới có liên quan, plasma khí quyển lạnh là một khí ion hóa ở gần nhiệt độ phòng đã được chứng minh có hiệu quả điều trị ung thư, có thể chữa lành vết thương và nhiều ứng dụng y khoa khác.  Các tác giả cũng thực hiện một thí nghiệm tương tự về coronavirus với plasma chứa helium nhưng helium lại không phát huy tác dụng, ngay cả trong quãng thời gian áp dụng tăng lên 5 phút. Họ tin nguyên nhân do các tỉ lệ tương tác oxy và nitrogen thấp hơn khi sử dụng khí chứa helium.  Zhitong Chen – một trong số các tác giả, nói, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một thiết bị compact có thể được sử dụng rộng rãi để xử lý các bề mặt có coronavirus với plasma. Nó an toàn và có lợi cho sức khỏe hơn là các cách xử lý bằng hóa chất hoặc những phương pháp khác. “Tất cả mọi thứ chúng tôi sử dụng đều từ không khí. Không khí và điện: đây là cách xử lý rất hiệu quả mà không có những tác động phụ”.  Các nhà nghiên cứu hi vọng những lợi ích của plasma, giống như những thứ thực hiện trong nghiên cứu này, có thể sẵn sàng phục vụ con người trên khắp thế giới.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-plasma-treatments-quickly-coronavirus-surfaces.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Polymer giúp loại bỏ thuốc nhuộm khỏi nước thải      Mới đây, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Bang Bắc Carolina đã chứng minh được một loại polymer tổng hợp có khả năng làm sạch một số thuốc nhuộm nhất định trong nước thải. Không chỉ vậy, loại polymer này còn có thể được thu hồi và tái sử dụng.     Lọ bên trái đựng nước có chứa dung dịch nhuộm (màu xanh), và lọ bên phải đựng nước đã được làm sạch thuốc nhuộm bằng polymer. Ảnh: Januka Budhathoki-Uprety/Đại học Bang Bắc Carolina  Các tác giả đã công bố những phát hiện mới ấy trên tạp chí ACS Applied Polymer Materials và cho thấy đây là một phương pháp tiềm năng để xử lý nước thải của các ngành dệt may, mỹ phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác.  “Thuốc nhuộm được sử dụng ở khắp mọi nơi, bao gồm ngành công nghiệp dệt may, cũng như dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất giấy, da và thậm chí là cả thuốc”, Januka Budhathoki-Uprety – tác giả chính của nghiên cứu và là trợ lý giáo sư ngành kỹ thuật dệt, hóa học và khoa học tại Đại học Bang Bắc Carolina cho biết. “Nếu những chất này không được loại bỏ đúng cách khỏi nước thải sau khi nhuộm, chúng sẽ trở thành một nguồn gây ô nhiễm môi trường không hề nhỏ, đồng thời ẩn chứa nhiều nguy cơ đối với sức khỏe con người”.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã tạo ra một loại polymer tổng hợp có tên là polycarbodiimide. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra khả năng làm sạch nước thải của vật liệu bằng cách hòa tan nó trong dung môi, sau đó trộn vật liệu này với nước bị nhiễm thuốc nhuộm. Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm dung dịch polymer này với 20 loại thuốc nhuộm anion (hay còn được gọi là thuốc nhuộm axit, thường được dùng trong công nghiệp dệt may). Trong những bước đánh giá ban đầu, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra trực quan bằng mắt thường để xem liệu polymer có tác dụng đối với thuốc nhuộm hay không. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã sử dụng quang phổ UV-Vis để định lượng khả năng loại bỏ chất tạo màu của của polymer.  “Chúng tôi đã trộn dung dịch polymer vào nước chứa thuốc nhuộm để polymer trong dung dịch có thể bám vào thuốc nhuộm. Đây là một dung dịch gồm có hai pha (two-phase), giống như dầu và nước vậy”, Budhathoki-Uprety cho biết. “Sau đó chúng tôi có thể dễ dàng tách phần nước sạch ra khỏi hỗn hợp dung dịch, bằng cách xả chúng đi, tương tự như việc tách nước ra khỏi hỗn hợp nước và dầu”.  Kết quả kiểm tra cho thấy dung dịch polymer của nhóm nghiên cứu có thể loại bỏ được 16/20 loại thuốc nhuộm được thử nghiệm. Không chỉ vậy, polymer này cũng dễ dàng thu hồi lại được chỉ sau vài phút. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra, các đặc điểm của các loại thuốc nhuộm – liên quan đến cấu trúc phân tử của chúng – sẽ góp phần quyết định liệu polymer có tác dụng với loại thuốc nhuộm đó hay không.  Trong tương lai, nhóm nghiên cứu dự định sẽ phát triển một tập hợp các polymer có tiềm năng xử lý nhiều loại thuốc nhuộm hơn nữa. Bên cạnh đó, họ cũng mong muốn sẽ xây dựng được một phương pháp thực tế hơn để sử dụng polycarbodiimide cho xử lý nước thải. Lý do là bởi, dung môi mà nhóm nghiên cứu đang sử dụng hiện nay là chất dễ cháy, do đó chưa thực sự lý tưởng nếu muốn dùng để xử lý nước thải ở quy mô lớn.  “Chúng tôi đang nghiên cứu để phát triển các vật liệu có chức năng tương tự mà không cần phải sử dụng polymer ở trong pha dung dịch”, Budhathoki-Uprety nói.  Mỹ Hạnh tổng hợp  Nguồn: New Method Can Remove Dyes From Wastewater  A substance that scrubs textile dyes from wastewater    Author                .        
__label__tiasang Probiotics: Tăng chất lượng chăn nuôi mà không để lại tồn dư      Với sản phẩm probiotics do Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (ĐH Quốc gia Hà Nội), các hộ, các cơ sở sản xuất chăn nuôi sẽ không phải lo ngại đến chất tồn dư trong thịt gia súc, gia cầm.  &#160;    Sản phẩm probiotics là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa một nhóm nghiên cứu do PGS.TS Dương Văn Hợp, Viện trưởng Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học (ĐH Quốc gia Hà Nội) dẫn dắt phối hợp với Viện Chăn nuôi quốc gia (Bộ NN&PTNT). Hai bên đã cùng chung nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sản xuất probiotics và enzym tiêu hóa dùng trong chăn nuôi”, một nhánh trong “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020” của Bộ NN&PTNT quản lý từ năm 2006.  Đây là sản phẩm cần thiết cho thị trường chăn nuôi Việt Nam, khi nhu cầu probiotics ngày càng cao do các loại thuốc kháng sinh dùng trong chăn nuôi không còn được chấp nhận do dư lượng thuốc ảnh hưởng đến chất lượng và độ an toàn của thịt gia cầm, gia súc, đặc biệt với các mặt hàng xuất khẩu. Vì vậy ngành chăn nuôi trong nước đã phải tìm đến những chế phẩm sinh học để ngăm ngừa dịch bệnh và kiểm soát chất lượng, phẩm chất thịt gia cầm, gia súc. Tuy nhiên các probiotics nhập khẩu vừa có giá thành cao vừa có nhiều điểm chưa thật tương thích với vật nuôi trong nước, còn nguồn cung trong nước lại nhỏ lẻ thiếu đồng bộ và nguồn gốc chủng giống không rõ ràng. Nhìn nhận về hiện tượng này, ThS. Hoàng Văn Thái – Trưởng Phòng thí nghiệm Công nghệ lên men và Phát triển sinh phẩm, Viện VSV&CNSH cho biết: “Việt Nam chưa có biện pháp hữu hiệu về kiểm soát và đánh giá chất lượng các sản phẩm này, nên dẫn đến hậu quả đáng lo ngại về vệ sinh an toàn toàn thực phẩm, đặc biệt nếu người dân chỉ có thói quen dùng kháng sinh thì sẽ nguy hại đến cả người và vật nuôi do tình trạng kháng thuốc”.  Sự hợp tác nghiên cứu giữa Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học (ĐHQGHN) và Viện Chăn nuôi quốc gia trên đề tài “Nghiên cứu sản xuất probiotics và enzym tiêu hóa dùng trong chăn nuôi” đã cho ra đời chế phẩm Probiotics lợi khuẩn đường ruột cho vật nuôi. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, sản phẩm này có khả năng giúp vật nuôi thay đổi cấu trúc của các quần thể vi sinh vật đường ruột theo chiều hướng có lợi, tăng cường khả năng miễn dịch, giảm phản ứng viêm; ngăn cản sự xâm nhập và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, tăng sản xuất các axit béo bay hơi; tăng cường quá trình tổng hợp các vitamin nhóm B, tăng hấp thu chất khoáng; làm giảm cholesterol huyết thanh, tăng năng suất vật nuôi, giảm hàm lượng amoniac và ure trong chất thải. Một nét đặc biệt của sản phẩm probiotics là hết sức an toàn với vật nuôi và thân thiện với môi trường nên các hộ, các cơ sở sản xuất chăn nuôi khi chọn probiotics sẽ không phải lo ngại đến chất tồn dư trong thịt gia súc, gia cầm, qua đó an toàn cho người tiêu dùng.   Nhận định về két quả nghiên cứu, PGS. TS Dương Văn Hợp coi đó là ví dụ tiêu biểu “chứng minh nhóm nghiên cứu của Viện từng bước làm chủ công nghệ, thu hồi và phát triển sinh phẩm đưa các ứng dụng của đối tượng vi sinh vật vào đời sống”, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi từ việc tiết kiệm chi phí đầu tư, nâng cao giá trị sản phẩm. Là người trực tiếp làm công tác nghiên cứu, PGS Hợp cho biết phương châm của nhóm là tìm ra những sản phẩm hữu ích, giá thành rẻ và phù hợp với điều kiện chăn nuôi Việt Nam để ứng dụng ngay vào thực tiễn sản xuất.   “Tiếng lành đồn xa”, những ưu điểm của sản phẩm probiotics đã được nhiều đơn vị trong nước biết đến. Hiện tại, sản phẩm của Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học đã có mặt tạ Thái Nguyên, Nam Định, Hải Phòng, Nghệ An… Viện Chăn nuôi Quốc gia, đối tác nghiên cứu của Viện, cũng tiến hành ký kết nhiều đơn đặt hàng phục vụ chương trình hỗ trợ nông thôn.        Author                Quản trị        
__label__tiasang PUTIN – Nhân vật năm 2007      Với tầm ảnh hưởng lớn, Ông ấy là một nhà lãnh đạo tài ba trong việc đánh thức “người khổng lồ” Nga trở lại vị thế một quyền lực của thế giới. Đó là lý do TIME đã chọn Vladimir Putin là “Person of the Year” – nhân vật năm 2007.    Ấn tượng đầu tiên về Vladimir Putin, đó là con người của quyền lực: cứng rắn và hiệu quả. Dù chỉ cao chừng 1m7, ông có cơ thể cân đối nhờ nhiều năm luyện tập tới đai đen judo và bơi lội mỗi sáng chừng một tiếng. Putin là một người Nga điển hình với khuôn mặt rắn rỏi và đôi mắt sắc sảo. Putin thích thư giãn bằng nhạc của Brahms, Mozart, Tchaikovsky và bài Yesterday của nhóm Beatles. Dù sinh ra trong thời Xô Viết, ông vẫn giữ đức tin và thường xuyên đọc Kinh Thánh. Thiếu kiên nhẫn trước thái độ khiếm nhã trong các cuộc trò chuyện nhưng ông là người hoàn toàn làm chủ lời nói của mình.  Ông thấu hiểu vai trò của nước Nga trên thế giới. Tin rằng sự tan rã của Liên Bang Xô Viết là một bi kịch, nhưng ông nói không muốn xây dựng lại Liên Xô hay tái lập các khối liên minh chính trị. Hơn hết, Putin là người theo chủ nghĩa thực dụng. Ông đã kiến thiết một thị trường tự do nhưng dựa trên một nền tảng quản lí chặt chẽ.  Giống như tổng thống Mỹ George W. Bush xem khủng bố là một trong những mối đe dọa sẽ ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỉ mới, nhưng ông cũng tỏ ra khá thận trọng khi đề cập đến điều đó dưới cái mác đạo Hồi. Ông nói: “Cực đoan có thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào”. Putin tiết lộ rằng Cục điều tra Nga gần đây đã phát hiện một “nguy cơ” khủng bố chống lại cả 2 nước Nga và Hoa Kỳ, và ông đã nói chuyện qua điện thoại với tổng thống Bush về điều này.  Điều Putin lo ngại là việc Mỹ luôn muốn can thiệp quá sâu vào nội bộ nước Nga. Ông nói: “Chúng tôi muốn là bạn với người Mỹ, nhưng đôi khi chúng tôi có ấn tượng rằng người Mỹ không cần có bạn”. Nhưng dường như Mỹ lại xem Nga như những vị khách không mời trong bữa tiệc.  Putin đã tuyên bố sau khi kết thúc nhiệm kì tổng thống, ông có thể trở thành thủ tướng. Điều đó sẽ cho phép ông hoàn thành được công việc mà ông đã khởi xướng trong 8 năm làm tổng thống. Ông đã dẫn dắt đất nước trải qua những cột mốc đáng chú ý: khôi phục lại sự ổn định và tinh thần yêu nước của người dân, những người mà sau những năm tháng trì trệ đã gần như không còn niềm tin vào tăng trưởng. Ngày nay, người Nga giàu vẫn ngày càng giàu thêm, song người nghèo cũng có cuộc sống khá hơn: từ năm 2003, lương của công nhân đã tăng gấp đôi phần lớn nhờ giá dầu tăng tới 90 USD một thùng.  Sau nhiều thập kỉ chìm trong giấc ngủ sâu trì trệ, “người khổng lồ” Nga đã tỉnh giấc. Tham vọng ảnh hưởng toàn cầu của Putin dường như rõ ràng. Quan trọng hơn, ông muốn nước Nga hoàn toàn độc lập, tự chủ, không phải chịu bất cứ một can thiệp nước ngoài nào. Ông đã từ bỏ quan điểm của Yeltsin, rằng tương lai của Nga cần sự đồng thuận lớn từ phương Tây.    Đứng lên từ hoang tàn           Một nước Nga mới        Để hiểu một cách trọn vẹn về con người Putin và cách hành xử của ông, cần quay ngược trở lại vào những năm 90. Adi Ignatus, phóng viên tờ Time ở Nga kể: “Tôi vẫn còn nhớ những hình ảnh khó quên của thời bấy giờ. Hình ảnh thứ nhất: nhóm “tinh hoa” và những “chuyên gia” được đào tạo của các nước Phương Tây của điện Kremlin soạn những dự thảo, mà tất cả rốt cục đều vô nghĩa. Hình ảnh thứ hai: dòng người dài những phụ nữ nghèo trong cái lạnh của Moscow, cố bán cho được bất cứ cái gì để sống.  Vô hình trung, tất cả những tài sản đáng giá – dầu lửa, lãnh thổ, và truyền thông – đều rơi vào của những người thân tổng thống. Nạn tham nhũng và tội phạm hoành hành, tiền trợ cấp bị lờ đi. Nước Nga của năm 1998 chìm trong những nợ nước ngoài. Đồng Rúp và thị trường tài chính sụp đổ. GS Stephen Sestanovich, ĐH Columbia nhận định: “Putin đã bước vào ‘cuộc chơi’ trước sự bất bình của người Nga”.  Và thực tế, từ cuối năm 1999,  khi Putin kế nhiệm, không còn nơi nào ở Nga suy sụp nữa mà chỉ có phát triển.    Con đường tới quyền lực  Điều gì đã đưa Putin tới quyền lực? Con đường thăng tiến của Putin khiến các nhà quan sát vẫn phải ngạc nhiên. Ông sinh năm 1952, trong một gia đình bình thường ở  St. Petersburg. Bố ông tham gia Chiến tranh thế giới thứ 2, sau đó làm công nhân nhà máy đầu máy xe lửa. Mẹ ông, một người theo đạo Cơ đốc, cũng chỉ có học vấn trung bình và làm công việc chân tay. Cả gia đình sống trên tầng 5 tại một khu nghèo ở St. Petersburg. Người đáng chú ý duy nhất trong dòng họ của Putin là ông nội, người đã phục vụ bếp cho cả Lenin và Stalin. Nhưng không có gì chứng tỏ việc này có mối liên hệ tới sự nghiệp của Putin.  Thời trẻ, Putin hay bị bạn bè bắt nạt. Chính vì vậy ông học sambo -một môn võ pha trộn giữa judo và đấu vật – rồi sau đó là judo. Trong môn võ nào, ông đều tuân thủ hết mình tinh thần thượng võ.  Chính KGB đã khiến cho một đứa trẻ trở thành một người đàn ông thực thụ. Năm1975, trong học kì đầu tại Đại học Leningrad, một người lạ mặt đã nói với ông rằng:  “Tôi cần nói chuyện về sự nghiệp của cậu. Tôi không muốn nói chính xác điều đó là gì”.  Putin, người vẫn từng mơ về một ngày được trở thành một điệp viên, đã vô cùng thích thú. Trong vòng 1 tháng, ông đã được huấn luyện ở cục phản gián. Vào giữa những thập kỷ 80, ông được gửi đến Đông Đức. Nhưng khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm1989 thì sự nghiệp KGB của Putin cũng chấm dứt.  Bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Putin là được một người bạn giới thiệu với Anatoli Sobchak, thị trưởng  St. Petersburg. Nhưng sau đó, Sobchak, bị vướng vào một tin đồn về vụ tham nhũng và mất ghế.  Dù Putin luôn nói rằng ông không có bất cứ mối quan hệ nào khi ông tới thủ đô vào giữa năm 1996, thì ông vẫn có một vài các đồng minh có vị thế đã giúp ông làm việc tại Kremlin. Ông trở thành người đại diện tại trụ sở Bộ chỉ huy tại đại bản doanh của Yeltsin. Sau 2 năm, ông được mời vào vị trí lãnh đạo FSB, một tổ chức kế tục KGB. Putin kể trong cuốn tự truyện rằng ông nhận được cuộc gọi bất ngờ yêu cầu ông tới sân bay để gặp Thủ Tướng Nga Sergei Kirienko: “Sắc lệnh đã được kí duyệt. Ông được chỉ định trực tiếp vào FSB.” Sau đó, vào tháng 8 năm 1999, Putin được bổ nhiệm làm Thủ Tướng – một chức danh quan trọng nhưng luôn bị thay đổi: Putin là Thủ Tướng thứ năm của Yeltsin trong vòng 17 tháng. Nhưng khác với những người tiền nhiệm, sau bốn tháng làm Thủ tướng, một Yeltsin mệt mỏi đã yêu cầu Putin đảm nhận chức Tổng thống. Ban đầu ông từ chối, nhưng chính Yeltsin nhấn mạnh: “Đừng trả lời “Không”. Và vào ngày cuối cùng của năm 1999, Putin chính thức trở thành người đứng đầu nước Nga.  Khi được hỏi, trước đó có bao giờ nghĩ mình sẽ đảm nhiêm một vị trí lịch sử như vậy không, Putin nói: “Đó hoàn toàn là một bất ngờ”. Putin đã đạt được sự ủng hộ của Yeltsin bởi ông thực sự giỏi, và bởi ông không thuộc một phe cánh quyền lực nào.  Điều hành đất nước  Năm 1999, khi trở thành Tổng thống, dường như chẳng mấy ai biết rõ Putin. Với phương Tây, Putin cũng là một ẩn số: Phải chăng ông là một nhà cải cách theo phương Tây (vì từng làm việc cho Sobchak), hay là người có lập trường kiên định?(vì từng là nhân viên KGB). “Hình ảnh quốc tê” của ông bắt đầu với cuộc gặp gỡ các vị lãnh đạo các quốc gia APEC. Sestanovich, người đã theo cùng Tổng Thống Clinton, nhớ lại cuộc gặp mặt với Putin tại khách sạn nơi nghỉ của Tổng Thống Clinton: “Ông ấy là người mới ở đây, không thể đoán biết được chắc chắn điều gì về ông ấy. Nhưng Clinton lại có cảm tình với ông ấy. ‘Volodya’ –  Clinton gọi tên thân mật của Vladimir – ‘Tôi đề nghị chúng ta sẽ cùng ra ngoài’.  Cả hai ông cùng bước ra. Mọi người đã vỗ tay”.  Clinton không phải là người Mỹ duy nhất có cảm tình với Putin. 2 năm sau, Tổng thống Bush đã tuyên bố rằng ông đã nhìn thấy một tâm hồn bên trong của Putin. Đó là lần gặp gỡ đầu tiên của hai người trong buổi gặp mặt ở Slovenia. Bush nói, “Tôi đã nhìn vào đôi mắt ông ấy, tôi nhận thấy sự thẳng thắn và trung thực trong đó. Tôi có thể cảm nhận được tâm hồn ông ấy.”  Vụ khủng bố ngày 11/9 đã đem tới cho Putin hình ảnh mới trong mắt người Mỹ. Ông là một trong những vị nguyên thủ đầu tiên trên thế giới gửi lời chia buồn và mong muốn giúp đỡ tới tổng thống Bush. Nhưng những khởi đầu chia sẻ giữa Putin với Bush cũng dừng ở đó. Putin cực lực phản đối cuộc tấn công của nước Mỹ vào Iraq, yêu cầu các quyết định về Iraq cần được đưa ra bởi Liên hợp Quốc. Putin tuyên bố chính thức trước Liên hiệp quốc: Các quốc gia không nên can thiệp vào nội bộ các nước khác. Và dĩ nhiên, điều đó cũng có nghĩa là không một quốc gia nào có thể can thiệp vào nội bộ của Nga. Có một câu chuyện vui: Putin và Bush đang đi câu trên sông Volga. Sau nửa giờ, Bush phàn nàn: “Vladimir, tôi phát điên vì bọn muỗi, nhưng chẳng thấy con nào làm phiền ông”. Putin nói: “Bọn chúng biết rằng tốt hơn là nên như vậy”  Dưới thời Putin, cuộc sống ở Nga đã tốt hơn nhiều so với những năm trước. Các cửa hàng tích trữ nhiều hàng hóa. Đồng Rúp trở thành một đồng tiền có sức mạnh. Tội phạm vẫn còn, nhưng không còn các vụ lớn như trước.  Nhiệm vụ của Putin không phải là vượt qua các nước Phương Tây mà là khôi phục lại vị thế của một nước Nga hùng mạnh – vị thế đôi khi đã bị lãng quên. Điều đó không phải là một giấc mơ.      MINH HẰNG – theo TIME      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quá trình xây dựng Đinh Tiên Hoàng trở thành một biểu tượng đa năng      Trong nhiều ghi chép lịch sử từ thời trung đại cho đến các nghiên cứu của giới học giả hiện đại, Đinh Bộ Lĩnh đã hiện lên như là một biểu tượng đa chiều kích với nhiều chức năng khác nhau. Bài này, sẽ đưa ra những góc nhìn mới về Đinh Tiên Hoàng từ góc độ của biểu tượng học lịch sử. Từ các sử liệu quan phương, biểu tượng lịch sử Đinh Tiên Hoàng hiện lên như là kết quả của quá trình kiến tạo lịch sử và sự truyền bá nội hàm biểu tượng (với các diễn ngôn chính trị) của các phe viết sử.    LTS: Những nhân vật lịch sử thường được sử gia các thời kỳ kiến tạo, “bồi đắp” hay có khi cố tình lờ đi một số thông tin, để nhằm tạo dựng nên những “tượng đài lịch sử” mang nhiều ý nghĩa khác nhau, phù hợp với tư tưởng của các thời đại khác nhau. Như vậy, rõ ràng là các thế hệ hậu sinh hầu như không có khả năng tiếp cận được với các nhân vật lịch sử – như là chính họ, tiếp cận với sự thật lịch sử, mà chỉ qua các lăng kính mang màu sắc chính trị. Nối tiếp những phân tích về quá trình xây dựng hình tượng Thái hậu Dương Vân Nga vốn luôn bị cuốn theo và phụ họa cho tư tưởng nam quyền (trong số 17-05.9.2018 trên Tia Sáng), TS. Trần Trọng Dương tiếp tục lật lại những nhận định của các sử gia về Đinh Tiên Hoàng.  Kỳ 1: Dưới bàn tay bồi đắp của các sử gia phong kiến    Tượng đài Đinh Tiên Hoàng tại phường Ninh Khánh, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Nguồn: Zing  Từ các truyền thuyết dân gian, biểu tượng lịch sử này thể hiện các xu hướng tăng quyền của cả chính quyền lẫn nhân dân. Hai xu hướng này không chỉ diễn ra trong thời trung đại mà còn tiếp tục triển nở trong thời hiện đại dưới ngòi bút của các nhà nghiên cứu và các văn nghệ sĩ.  Trong con mắt của các sử gia, ông là một hoàng đế khai cơ cho nền chính trị Nho giáo ở Việt Nam, một hoàng đế có công thống nhất đất nước, hoàng đế dẹp loạn, một hoàng đế đại diện cho sức mạnh của nông dân/ nhân dân, một hoàng đế cờ lau khởi nghĩa, một hoàng đế của chính nghĩa…  Đinh Bộ Lĩnh là người nổi lên sớm nhất trong triều đại Hậu Ngô Vương. Từ năm 951 trở đi, ông tiếp tục xây dựng quân đội ở Hoa Lư, ngầm liên lạc với các lực lượng khác. Năm 954, khi Đinh Bộ Lĩnh 30 tuổi, Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập mất, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tiếp tục nắm quyền. Năm 965, Ngô Xương Văn chết trận tại hai thôn Đường – Nguyễn ở Thái Bình. Lợi dụng tình hình chính sự xáo trộn, Đinh Liễn trốn thoát về Hoa Lư với cha sau 15 năm làm con tin/tù binh ở kinh đô Cổ Loa (tr.208). Như vậy, Đinh Bộ Lĩnh đã là một lực lượng chính trị- quân sự chống đối triều nhà Ngô ít nhất là 15 năm (từ 951-965). Đến năm 965, Đinh Bộ Lĩnh 41 tuổi. Cái chết của Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn đã tạo nên biến động quan trọng trên chính trường nhà Ngô. Đến lúc này, ít nhất có 3 – 4 lực lượng quân sự chống lại nhà Ngô đã ra mặt, trong đó có Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư. Đến năm 967, khi Đinh Bộ Lĩnh đánh thắng được Đỗ Cảnh Thạc cùng 500 con cháu họ Ngô, và tiêu diệt lực lượng Ngô Xử Bình ở Cổ Loa, thì nhóm Đinh Bộ Lĩnh (gồm cả Phạm Phòng Át- Trần Thăng- Ngô Phó sứ) đã trở thành lực lượng mạnh nhất. Kể từ đây, Đinh Bộ Lĩnh tiếp tục đi đánh dẹp các Thứ sử/ Sứ quân khác. Các thế lực chính trị này, hoặc là đã chịu thất bại, hoặc là chịu đầu hàng. An Vương Ngô Nhật Khánh, trước tình thế đại bại của các lực lượng thứ sử, nên có lẽ sau đó buộc phải đầu hàng. Đinh Bộ Lĩnh xưng là Vạn Thắng Vương. An Nam chí lược ghi “Đinh Bộ Lĩnh cướp ngôi họ Ngô” (宋初丁部領簒呉)1, cũng không phải là không có lí do riêng.  Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đặt đô ở Hoa Lư, bề tôi dâng tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Để tiếp nối tính chính danh, ông sử dụng phương thức hôn nhân ràng buộc. Bộ Lĩnh lấy Dương hậu, lại đem con gái gả cho Ngô Nhật Khánh, và đem em gái Khánh gả cho Đinh Liễn.  Hoàng đế dẹp loạn    Bản đồ loạn 12 sứ quân. Nguồn: Nghiencuulichsu  Như trong bài viết “Đinh Bộ Lĩnh và loạn Ngô Xử Bình” và “Có hay không loạn 12 sứ quân” đã chứng minh, các sử liệu “12 sứ quân tranh nhau làm loạn”, và “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn” chỉ là cách “dựng hiện trường” của những dòng bút sử chiến thắng dành cho những kẻ đã chiến bại. Thực tế sử liệu cho thấy, Đinh Bộ Lĩnh “nổi lên/ loạn” sớm nhất ngay từ năm 951 đời nhà Ngô thời Nam Tấn Vương- Thiên Sách Vương. Ông “cát cứ” ở Hoa Lư trong vòng 15 năm cho đến khi Ngô Xương Văn chết trận. Ngô Xử Bình đà đao theo cái chết của Xương Văn, dẫn quân chính quy về đảo chính triều Ngô. Con cháu nhà Ngô thất thủ, chạy khỏi kinh đô Cổ Loa về với thuộc tướng Đỗ Cảnh Thạc. Đinh Bộ Lĩnh sau khi tiêu diệt 500 con cháu họ Ngô, lực lượng Đỗ Cảnh Thạc, tiếp tục đánh bại Ngô Xử Bình ở Cổ Loa, và nhiều Thứ sử khác. Sau khi chiến thắng và lên ngôi Hoàng đế, ông dĩ nhiên là người có đủ khả năng nhất để ra lệnh viết nên những dòng sử chiến loạn vào giai đoạn này. Tất cả những Thứ sử đã thua hiện lên như những kẻ làm loạn đất nước. Các sử quan thời Đinh hiện biết là Trịnh Tú và Vương Thiệu Tộ. Đây đều là hai nhân vật từng đi sứ nước Bắc và được nhà Tống cho làm Ngự sử Đại phu2.  Cách mô tả của Toàn thư cho thấy thủ pháp sắp đặt hiện trường của sử gia ăn lộc triều đình. Việc “loạn 12 sứ quân” được nhắc rất chi tiết trong hai vị trí ở Toàn thư. Một lần ở phần Ngô sứ quân. Một lần được chép trong Kỷ nhà Đinh thời Tiên Hoàng Đế. Câu mở đầu của cả hai đoạn đều là “các hùng trưởng tranh nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp” hay “bấy giờ 12 sứ quân đều tự xưng hùng trưởng, cát cứ đất đai”. Sức mạnh của hai đoạn sử liệu này là đã liệt kê chi tiết tên họ từng sứ quân, họ tự xưng ra sao (hàm ý tiếm xưng), cát cứ đất nào. Mặt khác hai đoạn sử liệu này cũng giấu nhẹm đi chức vụ Thứ sử của họ. Toàn thư ghi như sau: “1/ Ngô Xương Xí chiếm Binh Kiều; 2/ Kiểu Công Hãn (xưng là Kiểu Tam Chế) chiếm Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc); 3/ Nguyễn  Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình) chiếm Tam Đái; 4/ Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công) chiếm Đường Lâm (có sách chép là chiếm Giao Thủy) ; 5/ Đỗ Cảnh Thạc (xưng là Đỗ Cảnh Công) chiếm Đỗ Động Giang; 6/ Lý Khuê (xưng là Lý Lãng Công) chiếm Siêu Loại; 7/ Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công) chiếm Tiên Du, 8/ Lữ Đường (xưng là Lữ Tá Công) chiếm Tế Giang; 9/ Nguyễn Siêu (xưng là Nguyễn Hữu Công) chiếm Tây Phù Liệt; 10/ Kiểu Thuận (xưng là Kiểu Lệnh Công) chiếm Hồi Hồ (nay ở xã Trần Xá huyện Hoa Khê vẫn còn nền thành cũ); 11/ Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át) chiếm Đằng Châu ; 12/Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công) chiếm Bố Hải Khẩu; gọi là 12 sứ quân.”3 Cách gọi “sứ quân” có lẽ đã được dùng thay cho các chức hiệu chính danh là “Thứ sử” hoặc các Thuộc tướng của nhà Ngô (đã được ban thực ấp). Các sử liệu Hán văn còn ghi cụ thể tên và chức một vài vị, như Phong châu Thứ sử Kiều Tri Hựu (tức Kiều Công Hãn, Kiều Tam Chế), Vũ Ninh châu Thứ sử Dương Huy (xem sử liệu đã dẫn trong bài “Đinh Bộ Lĩnh và loạn Ngô Xử Bình”. Các sử liệu nhà Tống còn ghi thêm chi tiết thú vị, Đinh Bộ Lĩnh khi dẹp loạn không phải ở Hoa Lư, mà với tư cách “Hoan châu Thứ sử”. Điều này là khác so với chính sử Việt Nam. Có lẽ, việc Đinh Bộ Lĩnh “dẹp loạn 12 sứ quân”4 với tư cách Thứ sử chỉ là thông qua lời tâu của sứ thần nhà Đinh trước nhà Tống. Ta biết, sứ giả không ai khác chính là Đinh Liễn. Nên, trong Tống sử, Đinh Liễn hiện lên còn rõ nét hơn cả Đinh Bộ Lĩnh. Việc Liễn “thêm nếm mắm muối” hay “cắt cúp các chi tiết” để củng cố tính chính thống cho triều đại mình là điều có thể hiểu được.      “12 sứ quân tranh nhau làm loạn”, và “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn” chỉ là cách “dựng hiện trường” của những dòng bút sử chiến thắng dành cho những kẻ đã chiến bại. Thực tế sử liệu cho thấy, Đinh Bộ Lĩnh “nổi lên” sớm nhất ngay từ năm 951. Và Ngô Sĩ Liên lẫn Lê Văn Hưu, Ngô Thì Sĩ đều không để ý đến sự kiện Đinh Bộ Lĩnh đã nổi lên trước cái gọi là “loạn 12 sứ quân” tới 15 năm.      Trở lại với liệt kê trong Toàn thư về các sứ quân. Ta thấy, hầu như không có sứ quân nào tự xưng vương cả, mà phần lớn chỉ là xưng “công”. Nếu mà chỉ có xưng công thì chắc cũng chưa đủ chứng cớ để chứng minh tham vọng tranh đoạt của các vị này. Dẫu rằng, trong số đó hẳn cũng có người có lòng khác với nhà Ngô (như Trần Minh Công, Phạm Phòng Át, và cả Đinh Bộ Lĩnh nữa). Nhưng sử liệu cho thấy, chỉ có Phong châu Thứ sử Kiều Công Tiễn, và Vũ Ninh châu Dương Duy là cất quân đánh Ngô Xử Bình- người đã đánh phá kinh đô Cổ Loa. Trong nhóm ấy có hai người không thấy đoạn sử liệu trên chép xưng công đó là Ngô Xương Xí và Ngô Nhật Khánh. Nhưng ở đoạn sau trong Toàn thư có ghi rõ, Ngô Nhật Khánh xưng An Vương. Ông này xưng vương hẳn có lý do (mà theo ông là chính đáng). Bởi Ngô Nhật Khánh là con trai của Dương hậu (với Ngô Xương Văn). Còn Ngô Xương Xí là con trai thứ hai của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, em trai của Ngô Chân Lưu (Khuông Việt đại sư), được sinh ra ở Nam Sách khi Xương Ngập bị Tam Kha truy sát. Năm 965, khi Nam Tấn Vương chết, Ngô Xương Xí được ghi là “chiếm Bình Kiều” nay là Bình Kiều, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; còn Ngô Nhật Khánh chiếm Đường Lâm (Nghệ An nay). Nghe tin chú mất, Cổ Loa thất thủ, Ngô Xương Xí vẫn tiếp tục giữ đất Bình Kiều (có thể khi đó ông là Hoan châu Thứ sử). Còn Ngô Nhật Khánh, khi nghe tin bố mất, đã xưng An Vương và tiếp tục quản lý châu Đường Lâm- đất mồ mả tổ tông.  Ngô Thì Sĩ cũng như nhiều sử gia khác trước ông, đều chỉ tập trung tô đắp hình tượng mà mình muốn có. Việc dựng nên sự nổi loạn của 12 sứ quân là một thao tác chính trị của sử thần Nho giáo. Đinh Bộ Lĩnh có công dẹp loạn 12 sứ quân kia thì đó là một công lao đáng để ca ngợi. Ngô Sĩ Liên bàn rằng: “vận hội của trời đất có lúc bĩ rồi lại thái, bắc nam cũng cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại ở Bắc triều rối loạn thì Tống Thái Tổ nổi lên, 12 sứ quân ở Nam triều giành nhau thì Đinh Tiên Hoàng trổi dậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà do trời đấy”5. Sử thần Lê Văn Hưu bình rằng: “Đinh Tiên Hoàng nhờ tài năng sáng suốt hơn người, dũng lược hơn đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, lũ hùng trưởng cát cứ, một lần nổi lên mà 12 sứ quân phải hàng phục”6.  Ở đây cần có đôi dòng phân tích về lối bình sử của các sử gia. Cả Ngô Sĩ Liên lẫn Lê Văn Hưu và Ngô Thì Sĩ đều góp tay chép soạn các bộ sử. Nhưng cả ba ông đều không để ý đến sự kiện Đinh Bộ Lĩnh đã nổi lên từ năm 951, trước cái gọi là “loạn 12 sứ quân” 15 năm. Các ông chỉ nhớ đến việc Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại 12 sứ quân đó, mà không để ý đến tuyến tính chi tiết của các lực lượng chính trị. Ngô Thì Sĩ thông luận rằng Ngô Xương Xí “đã lấy chút đèn tàn ở xứ Bình Kiều mà dự vào hàng ngũ sứ quân”7, hàm ý rằng ông này cũng nổi loạn như đám sứ quân nổi loạn, tức là tự chống lại chính triều đại Ngô nhà mình, tức là đứng về phe phi nghĩa. Chi tiết Ngô Nhật Khánh xưng An Vương nối chức cha, cũng đã bị bỏ qua, không bình luận đến8. Ít nhất ở đây, các sử gia đã bình luận trên những sử kiện đã được “tái cấu trúc” từ con mắt của người chiến thắng về những kẻ chiến bại. Những kẻ bại trận đã bị mô tả như là những lực lượng làm loạn; còn Đinh Bộ Lĩnh – người chiến thắng mới là người ở phe chính nghĩa, là người có công lập lại trị an.  Đại Thắng Minh Hoàng đế – biểu tượng nối lại quốc thống  Việc lên ngôi hoàng đế là một trong những lý do khiến các sử quan Nho giáo đời sau xưng tụng Đinh Bộ Lĩnh như là một biểu tượng quan trọng của mẫu hình nhà nho Đế vương ở Đại Việt. Họ Khúc ba đời nhưng mới chỉ là tự quản / tự trị với danh nghĩa Tiết độ sứ theo mô hình quan chế nhà Đường. Dương Đình Nghệ dù có chiến thắng nhưng ngay sau đó đã bị ám sát. Ngô Quyền đã xưng vương, nhưng ngoài chiến thắng Bạch Đằng, ông không để lại nhiều dấu vết có lợi mà thể chế nho giáo đời sau cần có để chứng minh cho tính chính thống của triều đại mình. Bình Vương Dương Tam Kha dù xưng vương như là một sự tiếp nối quyền lực của bố đẻ Dương Đình Nghệ và của ông anh rể Ngô Quyền; nhưng cũng chỉ được coi là kẻ tiếm đoạt triều đại, và phá hoại Ngô triều.  Phải đến Đại Thắng Minh Hoàng Đế, mọi yếu tố đã hội tụ đầy đủ, với các cứ liệu rõ rệt và có hệ thống. Vị Hoàng đế mới của một kỷ nguyên mới, đã tiến hành hàng loạt cải cách chính trị. Ông đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đặt đô ở Hoa Lư, cho xây dựng kinh đô mới, đắp thành trì, đào hào, xếp đặt triều nghi phẩm phục, lập Hoàng hậu, phong vương cho các con, đặt niên hiệu Thái Bình, đúc tiền lưu thông buôn bán. Về việc sắp đặt triều đình, ông quy định các cấp bậc văn võ cũng như tăng đạo. Dùng Nguyễn Bặc làm Định quốc công, dùng Lưu Cơ làm Đô hộ phủ Sĩ sư, Đinh Điền làm Ngoại giáp, cho Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, Ngô Chân Lưu (cháu đích tôn của Ngô Quyền, con trai cả của Thiên Sách Vương) làm Tăng thống ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Ngô Nhật Khánh (con trai của Ngô Xương Văn) làm Phò mã, kiêm Hoan châu Thứ sử (như cũ). Phong Trương Ma Ni làm Tăng lục, và đạo sĩ Huyền Quang làm Sùng Chân Uy Nghi, Trần Thăng làm Phò mã Đô úy, phong Hạng Lang làm Hoàng Thái tử.      Việc dựng nên sự nổi loạn của 12 sứ quân là một thao tác chính trị của sử thần Nho giáo. Hình tượng “hoàng đế dẹp loạn” này là có tính hữu dụng, như một tiền lệ để các triều đình phong kiến sau này chống lại các lực lượng phản kháng ở trong nước bất tuân vương lệnh      Chính vì có những hoạt động kiến thiết một mô hình nhà nước theo mẫu hình Nho giáo như thế, ông mới trở thành biểu tượng của các triều đại sau này. Đại Việt sử ký toàn thư ca ngợi: “vua tài năng sáng suốt hơn người” là dựa vào chữ “minh” trong đế hiệu, lại khen “dũng cảm mưu lược nhất đời” là dựa vào công tích “đánh dẹp hùng trưởng các phương”. Rất có khả năng đây là những lời ngợi ca của chính những sử quan đương thời. Từ vị trí của một người chống đối bên rìa nhà Ngô trong 15 năm, Đinh Bộ Lĩnh trở thành người làm nên lịch sử sau khi làm nên “muôn chiến thắng”. Những kẻ chiến bại dưới tay ông đều được xây dựng như những kẻ làm loạn. Cái thuật ngữ “loạn 12 sứ quân” và công nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân ấy không biết đích xác được định danh từ khi nào. Nhưng sớm nhất nó có thể đã xuất hiện trong các bộ sử của thời Lý thời Trần (ví dụ như của Lê Văn Hưu), mà trên đó Ngô Sĩ Liên đã tái dụng. Hoặc giả, nó đã được viết ngay dưới bàn tay của các các Ngự sử Đại phu nhà Ngô như Triệu Tú, Vương Thiệu.  Việc lên ngôi Hoàng đế của Đinh Bộ Lĩnh được đánh giá là “nối lại quốc thống của Triệu Vũ Đế” (như lời trong Toàn thư). Chữ “quốc thống”(國統) là một khái niệm Nho giáo hay sử dụng, hoặc dùng để chỉ thể chế chính trị quốc gia, hoặc dùng để chỉ “tính chính thống” của thế lực cầm quyền vốn là một sự kế thừa tiếp nối từ triều đại trước đó trong lịch sử9. Ở đây, Triệu Vũ Đế đã được coi làm biểu tượng tiền lệ cho sự xưng đế của Đinh Bộ Lĩnh. Và đến lượt ông, Đinh Bộ Lĩnh được coi là vị hoàng đế chính thống đầu tiên của đất Việt sau nghìn năm bắc thuộc. Lý Nam Đế đã không được nhắc đến chắc chắn vì sự thất bại về quân sự của mình. Sự xưng đế mà thất bại dĩ nhiên không phải là một tiền lệ đẹp, nó vừa xui xẻo lại vừa dễ gây nguy hiểm cho những sử thần ngợi ca! Còn đối với Triệu Vũ Đế, các nhà Nho đã vượt qua khoảng cách ngàn năm lịch sử, và hàng trăm cây số về mặt không gian, cũng như các vấn đề về nguồn gốc dân tộc, để duy danh theo một phiên âm “Việt” (một thứ khác Hán) ở phương Nam, từ đó xây dựng nên cặp đôi biểu tượng đầu tiên cho nền hành chính Nho giáo tại Đại Việt.  Đến thế kỷ 17, khi lịch sử đã tiến rất xa, các triều đại Đinh- Lê- Lý- Trần- Lê đã thay nhau trị nước bảy tám trăm năm thì Triệu Vũ Đế lúc ấy không còn giá trị như một biểu tượng tiền lệ của mô hình Đế vương phương nam nữa, nên Đinh Tiên Hoàng mới được sử quan Lê – Trịnh ca ngợi là vị vua chính thống đầu tiên của nước Việt (chính thống chi quân tự thử 正統之君自此)10. Chúa Trịnh đã cho xây dựng Đền Vua Đinh và Đền Vua Lê để đưa biểu tượng lịch sử vào trong điển chế tế tự cấp quốc gia của triều đình. Sau khi xây đền, liền sai quan làm bia công đức với dụng ý nổi ở đầu ngọn bút: “có công với dân thì thờ, bậc đế vương của các triều đại trước khoanh tay rủ áo ở trong triều để mà trị nước, nêu rõ pháp độ điển chương, làm ra phép tắc lễ nhạc, ân đức ấy thấm đến dân này từ lâu. Vì đã có công lao to lớn với nước với dân muôn ngàn năm nay rồi, nên không thể quên được. Bởi thế người đời sau mới truy ơn công đức của họ, dựng đình xây miếu để bốn mùa xuân thu phụng thờ báo đáp”11. Tâm linh hóa lịch sử và thần hóa các vị đế vương là một thủ pháp chính trị để tăng tính chính thống cho các triều đại. Đây là một hành vi thực hành tín ngưỡng mà mọi thể chế chính trị đều sử dụng, kể cả ở thời điểm hiện tại.   Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử đầu tiên ghi chép huyền thoại dân gian về hình ảnh Đinh Bộ Lĩnh như là một đứa trẻ mồ côi cha, cùng tập trận với đám trẻ chăn trâu. Câu chuyện này được sáng tác về sau (ít nhất là trước Lê Văn Hưu 1272, Phan Phu Tiên 1455, Ngô Sĩ Liên 1479). Và với tinh thần văn – sử – triết bất phân, các sử gia đã chép lại huyền thoại này vào bộ sử chính thống của quốc gia nhằm chứng minh cho lý thuyết “thiên mệnh” của Nho giáo. “Thiên mệnh” đã được thể hiện thông qua việc xây dựng hình xây dựng hình tượng một cậu bé thông minh tính trời, có khả năng lãnh đạo đám đông, làm “điềm báo tương lai” cho sự lên ngôi tất yếu (đã biết) sau này. Nào là “bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng” nên “suy tôn làm trưởng”, “bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử”, những mô tả này hô ứng với các đoạn viết của sử quan: “tài năng sáng suốt hơn người”, “bề tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế”. Đến khi có mâu thuẫn và thất thế trước Đinh Dự, thì Đinh Bộ Lĩnh lại được hai con rồng vàng hộ vệ để đánh bại ông chú ruột. Rồng hộ mạng, như quan niệm của dòng sử bút Nho gia, là biểu tượng cho quyền lực đế vương. Như vậy, một tác phẩm văn học dân gian đã được đưa vào chính sử để bù lấp khoảng trống sử liệu về Đinh Bộ Lĩnh trong vòng 35 năm từ lúc cha mất (tuổi nhi đồng, trên dưới 7 tuổi, tức khoảng trước sau mốc năm 930) cho đến năm 965. Các tình tiết và motif của câu chuyện đã được điều hướng đến mục đích duy nhất: xây dựng hình ảnh một vị hoàng đế thiên định được sự ủng hộ của cộng đồng nhân dân (đám trẻ mục đồng, bà mẹ thân sinh, và các phụ lão).  (Đón đọc kỳ 2: Đinh Tiên Hoàng dưới con mắt các sử gia hiện đại)     ——–  1 Lê Trắc, 1335,  An Nam chí lược, Sđd., 2002, tr.224.  2 Tống sử, Q.488. trong “An Nam truyện: ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc xưa”, Châu Hải Đường dịch và biên soạn, Nxb. Hội Nhà Văn. Hà Nội, 2018, tr.22.  3 [Ngô Sĩ Liên, 1479, Toàn thư, 1998,  tr.208-209, 211.]  4 Các sử gia đời sau dựa trên hiện trường này để bình luận theo những chiều hướng khác nhau: “Lúc ấy hai vua Ngô Tuy mất. Xương Xí là dòng dõi Thiên hoàng, cũng như Đông Chu Quân nhà Chu, Hoài Dương Vương nhà Hán, nếu các thổ hào cùng nhau phục tòng, hợp hơn mười bọn nhỏ, làm một nước lớn, tôn Ngô Xương Xí lên làm thiên hạ cộng chủ, để nối dòng họ Ngô, mà các bộ sứ quân thời tự trị lấy trong bộ mình,… Về sau, Đinh Tiên hoàng vốn xưng Vạn Thắng, thì thế lực không thể chống nổi, nhưng vẫn là người Nam làm vua nước Nam, tưởng 12  sứ quân có linh thiêng, cũng nên ngậm cười dưới suối.” [Nguyễn Đình Tuân  soạn, Đại Việt quốc sử ký cải lương <大 越 國 史 改 良>, 1 bản viết, 774 tr, 30 x 21, 1 tựa. A.1146/1-2, Q1. T.65a-66b; Ngô Giáp Dậu 吳 甲 酉 soạn, Trung học Việt sử toát yếu中學越史撮要, Phạm Văn Thụ 范 文 樹 duyệt, Đoàn Triển 段 展 , Phạm Văn Thụ 范 文 樹, Cao Xuân Dục 高 春 育 đề tựa. Q.3. In tại số nhà 22 phố Hàng Bè, Hà Nội, 1911. tr.5b. Kí hiệu: VHv.987/1 – 4. VNCHN.  5 Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH. H. 1997, tr. 148.  6 Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH. H. 1997, tr. 153.  7 Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH. H. 1997, tr. 149.  8 Toàn thư chỉ chép Phò mã Ngô Nhật Khánh rạch má vợ, bỏ trốn vào Chiêm Thành và chết cùng đám viện binh ở cửa Đại Ác – Tiểu Khang. Xem thêm [Đặng Xuân Bảng, 1905, Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH. H. 2000, tr. 62].  9 La Trúc Phong, 1992, Hán ngữ đại từ điển, T3. Tr. 642.  10 Văn bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức bi ký tịnh minh 前朝丁先皇帝功德碑記並銘 khắc năm Hoằng Định 9 (1608), Đền vua Đinh (Ninh Bình), thác bản Viện NC Hán Nôm, ký hiệu 29483-29484. Bia này do Nguyên soái Quốc chính phụ Bình An Vương Trịnh Tùng cho khắc.  11 Tiền triều Đinh Tiên Hoàng Đế miếu công đức bi ký 前朝丁先皇帝廟功德碑記, Đền Vua Đinh (Ninh Bình), thác bản Viện NC Hán Nôm, ký hiệu 15853-15854. [bản dịch của Mai Hồng, chuyển dẫn Nguyễn Danh Phiệt, 1990, sđd. Tr.170-178.]    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Quả trứng trong chùm tia X: Một cái nhìn vào điều diễn ra với quả trứng khi nấu      Một nhóm nghiên cứu sử dụng nguồn tia X ở máy gia tốc PETRA III ở DESY để phân tích những thay đổi về cấu trúc trên một quả trứng khi nấu trên bếp.      Trung tâm máy gia tốc DESY. Nguồn: DESY  Công trình này đã tiết lộ cách các protein trong lòng trắng trứng gà dãn nở ra và liên kết với nhau để hình thành một cấu trúc rắn khi được gia nhiệt. Phương pháp sáng tạo của họ có thể được ngành công nghiệp thực phẩm quan tâm cũng như được lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn hơn đặt chú ý về cách phân tích protein.  Nhóm hợp tác với sự tham gia hai nhóm nghiên cứu, một do giáo sư Frank Schreiber từ trường đại học Tübingen và một do giáo sư Christian Gutt từ trường đại học Siegen dẫn dắt, với các nhà khoa học ở DESY và Trung tâm XFEL châu Âu đã nêu kết quả nghiên cứu trong hai bài báo trên tạp chí Physical Review Letters, một là “Kinetics of Network Formation and Heterogeneous Dynamics of an Egg White Gel Revealed by Coherent X-Ray Scattering”.  Các quả trứng là một trong những loại nguyên liệu thực phẩm đầy linh hoạt. Nó có thể xuất hiện dưới hình thức sệt sệt như keo hoặc kem bọt nhưng cũng có thể nhanh chóng trở nên tương đối rắn chắc hoặc mềm mạng dạng nhũ tương. Tại ở mức 80 độ C, lòng trắng trứng sẽ trở nên đậm đặc và chuyển màu trắng đục. Điều này xảy ra là bởi các protein trong lòng trắng trứng hình thành mộ cấu trúc dạng mạng. Việc nghiên cứu về cấu trúc phân tử chính xác của lòng trắng trứng cần có bức xạ năng lượng như các tia X, vốn có thể xuyên qua phần lòng trắng trứng đã chín đục và có một bước sóng không dài hơn các cấu trúc đang được xem xét.  Kiểm soát nhiệt  “Để hiểu về sự tiến hóa của cấu trúc một cách chi tiết, anh phải nghiên cứu hiện tượng này ở cấp độ vi mô”, tiến sĩ Nafisa Begam, tác giả thứ nhất của nghiên cứu đầu tiên, một người được học bổng của Quỹ Alexander von Humboldt trong nhóm nghiên cứu của Schreiber, nói. Các nhà khoa học đã sử dụng quang phổ tương quan photon tia X (XPCS) với một hình học cụ thể cho phép họ xác định được cấu trúc và động lực học của các protein trong lòng trắng trứng.  Với thí nghiệm thực hiện trên đường tia P10 tại PETRA III, các nhà khoa học sử dụng một quả trứng gà mua từ siêu thị gần đó và lọc lòng trắng trứng vào một ống thạch anh với đường kính là 1,5 mi li mét. “Bên trong, lòng trắng trứng được gia nhiệt với sự kiểm soát cẩn thận trong khi chúng tôi thực hiện các phép phân tích với sự hỗ trợ của tia X”, đồng tác giả Fabian Westermeier ở DESY nói. “Chùm tia X được mở rộng với kích thước 0,1 – 0,1 mi li mét để giữ cho liều bức xạ ở dưới ngưỡng có thể phá hủy các cấu trúc protein”.    Khi được gia nhiệt, lòng trắng trứng gà chuyển từ một chất gel trong suốt thành một mạng lưới trắng đục. Nguồn. University of Tübingen  Sự hình thành mạng theo cấp số nhân trong quả trứng ba phút  Các phép đo đạc tiết lộ động lực học của protein trong lòng trắng trứng vượt quá một thời gian khoảng một phần tư giờ. Trong suốt ba phút đầu tiên, mạng protein này lớn lên theo cấp số nhân, sau khoảng năm phút thì chạm đến một trạng thái ổn định mà tại đó không đường liên kết protein nào được hình thành. Cũng tại thời điểm đó, kích thước mắt lưới trung bình vào khoảng 0,4 micro mét (phần trăm của một mi li mét).  Trong nghiên cứu thứ hai, nhóm nghiên cứu sử dụng kỹ thuật quang phổ tương quan photon tia X để tìm hiểu việc tự tổ chức của các dung dịch protein thành những miền có nồng độ protein cao và thấp, như một ví dụ về sự hình thành cấu trúc trong sinh học tế bào. Trong quá trình này, chúng có thể tuân theo động lực học phụ thuộc nhiệt độ. “Tại các mức mật độ protein cao, tính cơ động giảm, vốn chậm đi để chờ sự tách pha. Đây là điều quan trọng cho động lực học đặc biệt của hệ này”, tác giả thứ nhất Anita Girelli của nhóm nghiên cứu do Schreiber dẫn dắt cho biết.  Các nghiên cứu này do Bộ Giáo dục và nghiên cứu Đức (BMBF) tài trợ. Nó không chỉ tiết lộ những chi tiết mới về sự thay đổi cấu trúc xuất hiện trong lòng trắng trứng mà con chứng minh ý tưởng của thực nghiệm, vốn có thể hữu dụng với nhiều ví dụ khác, như được thể hiện ới ngiên cứu thứ hai. “Việc áp dụng thành công quang phổ tương quan photon tia X mở ra một cách mới để nghiên cứu động lực học của phân tử sinh học, điều này rất cần thiết để chúng ta hiểu về chúng một cách đúng đắn”, Schreiber bình luận.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-egg-x-ray-peek-cook.html  https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.126.098001    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quân bài nhân công rẻ mạt (Bài 2)      Không ai có thể cạnh tranh nổi với TQ về chi phí lao động, kể cả các nước đang phát triển khác, vì TQ hiện có hàng trăm triệu lao động dôi dư ở nông thôn, sẵn sàng chấp nhận các công việc nặng nhọc với mức lương thấp.                       Các vùng nông thôn Trung Quốc (TQ) cung cấp một lực lượng nhân công rẻ mạt khổng lồ: ước tính có khoảng 250 triệu người nông dân TQ không có việc ở nông thôn, trong đó có 140 triệu đi làm “culi” ở các nơi, còn 110 triệu “lực lượng dự trữ” có thể huy động được (*). Ở vùng quê của họ rất nghèo, nên các nhân công này sẵn sàng chấp nhận các công việc nặng nhọc với mức lương thấp (hiện lương trung bình quãng 200 USD/ tháng, chưa bằng 1/10 so với ở nhiều nước phương Tây).      Tất nhiên, hàng trăm triệu nhân công nghèo khó của TQ muốn được hưởng lương cao hơn, chế độ bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động tốt hơn. Nhưng ở nông thôn không có việc làm, còn đói khổ hơn là đi làm “culi” ở thành phố, nên họ lép vế và đành chấp nhận mức lương rẻ mạt, điều kiện làm việc căng thẳng, và chế độ bảo hiểm hầu như không có gì, trong nền “kinh tế thị trường” ở TQ. Các doanh nghiệp không vội vàng gì tăng lương cho nhân công vì muốn giữ thế cạnh tranh và lợi nhuận, và nhà nước TQ cũng không vội vàng gì trong việc can thiệp đòi tăng quyền lợi của nhân công, vì nhân công rẻ mạt là lợi thế của TQ. Lương của nhân công TQ có tăng trong những năm qua, nhưng tăng chậm hơn so với tăng trưởng kinh tế, và vẫn sẽ còn thấp hơn hàng chục lần so với các nước phương Tây trong những năm tới.   Theo một con số chính thức của chính phủ TQ, thì lương tháng trung bình của công nhân ở TQ trong giai đoạn 2002-2007 tăng lên từ 700 nhân dân tệ thành 1.400 nhân dân tệ (khoảng 200 USD theo tỷ giá hiện tại) tuy nhiên theo một số quan sát viên thì con số tăng trưởng hai lần này có phần phóng đại.      Không ai có thể cạnh tranh nổi với TQ về chi phí lao động, kể cả các nước đang phát triển khác. Bởi vậy hàng loạt các hãng nước ngoài, từ nhỏ đến lớn, đã di chuyển khâu sản xuất sang TQ, và TQ nghiễm nhiên trở thành “xưởng sản xuất của thế giới”: nguyên nhiên vật liệu được nhập từ các nơi về TQ, chế biến ra hàng hóa tại TQ, rồi lại được xuất lại sang các nước khác.  Đài Loan, trung tâm sản suất đồ điện tử bán dẫn cho toàn thế giới trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, cũng đã chuyển đến 80% khâu sản xuất sang Trung Quốc. Các nước giàu dịch chuyển phần sản xuất sang nhiều nước nghèo, trong đó có cả Việt Nam, chứ không chỉ riêng TQ. Và các doanh nghiệp lớn nước ngoài cũng không muốn bị phụ thuộc vào một nguồn sản xuất duy nhất là TQ, mà muốn chia bớt sản xuất ra các nước khác để giảm rủi ro.  Tuy nhiên, TQ chiếm vị thế áp đảo hơn hẳn các nước khác trong sản xuất hàng tiêu dùng. Ngay tại Việt Nam cũng tràn ngập hàng hóa sản xuất tại TQ, lấn chiếm hàng nội địa, gây khó khăn cho sản xuất nội địa. Các nước đang phát triển khác cũng rơi vào tình trạng tương tự như VN, với hàng giá rẻ của TQ tràn ngập thị trường. Và các nhà máy phải đóng cửa vì không cạnh tranh nổi về giá với TQ.  Nhân công rẻ mạt ở TQ có lợi và có hại cho ai?      – Nước TQ được lợi, vì nhờ đó mà trở thành “xưởng sản xuất của thế giới”, nắm bắt được công cụ sản xuất và công nghệ, tạo việc làm cho dân chúng và phát triển kinh tế. Các thế lực lãnh đạo chính trị (cộng sản) và doanh nghiệp (tư bản) TQ nhờ đó lợi theo.  – Tầng lớp dân nghèo ở TQ thì được lợi về tuyệt đối (có việc làm, và thu nhập cũng có tăng dần lên), nhưng thiệt thòi về tương đối ở TQ, vì thu nhập của họ tăng chậm hơn so với tăng trưởng trung bình ở TQ, và khoảng cách chênh lệnh về kinh tế giữa tầng lớp dân nghèo và tầng lớp cộng sản–tư bản ngày càng cao.   – Các chủ tư bản của các doanh nghiệp nước ngoài được lợi, vì bóc lột được dân công TQ với giá rẻ, giảm chi phí, tăng lợi nhuận.   – Công nhân lao động ở các nước khác thì bị thiệt hại vì mất việc làm, hàng loạt nhà máy đóng của. Chỉ riêng ở Pháp, theo thống kê đã có khoảng 700 nghìn người mất việc làm vì TQ.  Nếu tính toàn thế giới thì con số này sẽ lên đến hàng chục triệu hay thậm chí hàng trăm triệu. Ở những nước đã trở nên “hoàn toàn phụ thuộc” vào TQ như Kazakhstan, có đến trên 80% hàng tiêu dùng là nhập từ TQ, còn các nhà máy thì đóng cửa.   – Đối với các nước ngoài, thì việc di chuyển quá nhiều khâu sản xuất sang TQ có hại nhiều hơn là có lợi, và có thể lợi trước mắt nhưng hại về lâu dài. Tuy là di chuyển sản suất kéo theo giá thành giảm đi, người tiêu dùng được lợi (và TQ khoe là làm tiết kiệm được cho người tiêu dùng ở Mỹ đến 600 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2003), nhưng những người thất nghiệp thì không làm ra của cải cho xã hội và xã hội (tức là cũng chính những người tiêu dùng) phải nuôi. Khi di chuyển quá nhiều sản xuất chế biến ra nước ngoài, thì cái phần của cải bị hụt đi, không làm ra đó, còn nhiều hơn là phần tiết kiệm được, nên tổng cộng lại là có hại. Đứng về mặt quốc gia, di chuyển sản suất ra nước ngoài có lợi nếu như ở trong nước tạo ra được nhiều việc làm cao cấp hơn thay thế cho công việc sản xuất, và nhân dân trình độ tăng lên kịp để làm được các công việc mới đó.    Nhưng trên thực tế, ngay tại các nước đã phát triển, một lượng lớn người không đủ trình độ để làm các công việc cao cấp hơn là làm công nhân, và cũng không có đủ việc cao cấp hơn để làm. Tại sao việc di chuyển phần lớn sản suất sang TQ gây thiệt hại cho nhiều nước về phương diện quốc gia (gây thất nghiệp và hủy hoại nền công nghiệp) nhưng người ta vẫn “nhắm mắt” làm? Đó là vì tư bản luôn chạy theo lợi nhuận trước mắt, và ích kỷ chỉ cần biết lợi cho mình không cần biết hại đến xung quanh ra sao (dù rằng khi môi trường xung quanh mình bị hại, thì cuối cùng mình sẽ bị hại theo). TQ đã dùng miếng mồi “lợi trước mắt” để câu cả thế giới. Chính sách kinh tế xã hội của các nước thì có lỗ hổng, gây mâu thuẫn quyền lợi giữa đất nước và doanh nghiệp (di chuyển toàn bộ sản xuất ra nước ngoài thì có hại cho đất nước nhưng có lợi cho doanh nghiệp) nên đã không ngăn chặn được xu thế này.   —  (*) Theo sách “The Vampire du Milieu” của Cahen & Richard, Chương 1.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quân đội Mỹ muốn loại đạn có thể nảy mầm thành cây      Quân đội Mỹ đang kêu gọi nghiên cứu loại đạn phân hủy sinh học mang theo hạt giống có thể nảy mầm thành cây để phục vụ thao trường.      Đạn lựu phóng thường có đường kính 30- 40mm.  Đạn dược không chỉ là mối nguy hiểm cho con người mà cả môi trường. Tại các cơ sở đào tạo của Quân đội Hoa Kỳ trên toàn thế giới, hàng trăm ngàn vỏ đạn vương vãi khắp thao trường. Do không có cách nào hiệu quả để dọn sạch những vỏ đạn này nên chúng vẫn nằm ở đó.  Vấn đề là những vỏ đạn chứa kim loại và các chất hóa học có thể gây ô nhiễm đất và nước ngầm.  Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ muốn làm gì đó để giải quyết thực trạng này nên đã kêu gọi những đề xuất liên quan đến đạn phân hủy sinh học “mang theo những hạt giống chuyên biệt mọc thành cây có lợi cho môi trường, loại bỏ những mảnh đạn và chất gây ô nhiễm”.  Chất liệu phù hợp nhất cho những viên đạn như vậy có thể bao gồm nhựa phân hủy sinh học được dùng để làm chai nước hay hộp nhựa. Nó cũng có thể là một loại vật liệu khác hẳn. Theo yêu cầu của đề xuất, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Thiết kế Vùng Lạnh của Đoàn Kỹ sư Quân đội Hoa Kỳ đã phát triển và thử nghiệm những hạt giống được bao bởi composite phân hủy sinh học. Chúng được xử lí bằng kĩ thuật sinh học để chỉ này mầm sau khi đã nằm trong đất vài tháng.  Việc kêu gọi đề xuất kéo dài đến hết ngày 8/2, sau mốc này, nhà thầu được lựa chọn sẽ sản xuất những viên đạn phân hủy sinh học theo một quá trình gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu, nhà thầu tập trung vào việc sản xuất những viên đạn có đường kính từ 40mm đến 120mm dùng trong tập huấn. “Những viên đạn” ở đây là một cách nói giảm. Ngay cả những viên đạn có đường kính dưới 40mm, cơ bản là đạn lựu phóng, cũng khá nặng. Những loại đạn đường kính 120mm thì nặng hơn nhiều, chúng được sử dụng trong xe tăng.  Giai đoạn hai bao gồm việc phát triển nguyên mẫu và các phương thức để sản xuất nó; còn giai đoạn ba tiến hành chuyển đổi sang sử dụng đạn phân hủy sinh học ở những cơ sở đào tạo của quân đội.  Các cây mọc lên từ những hạt giống nằm trong viên đạn có thể giúp loại bỏ chất gây ô nhiễm đất hoặc trở thành nguồn thức ăn cho động vật hoang dã tại nơi đó. Theo đề xuất thì “Động vật có thể ăn những cây này mà không bị bất kì tác động xấu nào”. Nói cách khác, những viên đạn này không giết chóc.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.livescience.com/57461-army-wants-biodegradable-bullets.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ cộng sinh giữa Đức và Trung Quốc trên chiến trường kinh tế – công nghệ      Nước Đức chủ yếu phải cám ơn Trung Quốc cho xu thế tăng trưởng kinh tế lạc quan hiện nay, đặc biệt là với nhu cầu mạnh mẽ đối với thiết bị máy móc nhập khẩu từ Đức và những mặt hàng tương tự. Nhưng nhiều nhà công nghiệp Đức đang tự hỏi mối quan hệ cộng sinh này sẽ kéo dài trong bao lâu, khi mà Bắc Kinh cũng nuôi khát vọng trở thành một nền kinh tế công nghệ cao. Bài viết do nhóm tác giả của Spiegel thực hiện.     Phụ thuộc lẫn nhau   Kinh tế nước Đức ngày nay phụ thuộc vào phục hồi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc nhiều hơn bất kỳ quốc gia công nghiệp phương Tây nào khác. Quan hệ thương mại với Bắc Kinh là động lực lớn nhất đằng sau đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Đức. Đây cũng là lý do khiến các nhà kinh tế dự đoán một tương lai tươi sáng cho nền kinh tế của Đức trong khoảng thời gian trung hạn trước mắt.  Nền công nghiệp Đức đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ mà quốc gia Đông Á đang đòi hỏi, từ xe hơi sang trọng tới các trang thiết bị máy móc, những tuốc bin cho các nhà máy sản xuất năng lượng. Nhưng trạng thái hân hoan tại những tập đoàn công nghiệp lớn của Đức như Siemens hay BASF gần đây đang chuyển sang âm u vì những câu hỏi lo lắng. Điều gì sẽ xảy ra khi Trung Quốc bắt đầu cạnh tranh trên những thị trường công nghệ cao? Đâu sẽ là hậu quả khi mà nhiều ngành công nghiệp sẽ bị chi phối bởi bàn tay chính trị của Bắc Kinh trong tương lai?  Và tương lai nào sẽ đến nếu bức tranh tăng trưởng của Trung Quốc hiện nay chỉ là bong bóng? Thực tế thì Chính phủ Trung Quốc hiện nay đang phải tìm cách ngăn chặn xảy ra vỡ bong bóng trên thị trường bất động sản.  “Tôi nhận thức rằng sự lệ thuộc của công ty vào quốc gia này (Trung Quốc) đang gia tăng”, nhận định từ Dieter Zetsche, CEO của hãng sản xuất ô tô Daimler. Và quan hệ phụ thuộc này sẽ kéo dài cả khi tốt lẫn khi xấu.   Tự xác lập luật chơi riêng   Trung Quốc tìm cách bắt tay với phương Tây, nhưng theo luật chơi riêng của mình. Các công ty Đức nay đã bắt đầu cảm thấy được hậu quả từ những luật chơi này. Ví dụ như, họ lưu ý một cách lo ngại rằng người Trung Quốc ngày càng có những đòi hỏi rõ ràng về việc cung cấp bí quyết công nghệ để đánh đổi lấy quyền làm ăn ở Trung Quốc. Họ cũng lo ngại vì người Trung Quốc kiểm soát rất chặt các nguồn nguyên liệu thô trên lãnh thổ của mình, trong khi tìm cách giành quyền kiểm soát những mỏ dự trữ năng lượng quan trọng ở cả châu Á và châu Phi. Và người Đức cũng phát bực vì Trung Quốc ngày nay đang coi những thị trường công nghiệp truyền thống của Đức là sân chơi chiến lược của mình.   Việc làm ăn với Trung Quốc cũng đem đến thay đổi sâu sắc trong cơ cấu các doanh nghiệp Đức. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đức – nổi tiếng được biết đến như các Mittelstand – ngày nay có tới hơn một nửa thị phần là ở Đông Á, và số lượng các công ty liên doanh giữa Đức và Trung Quốc vẫn đang tiếp tục gia tăng. Các giám đốc người Trung Quốc ngày nay đã len vào hàng nhân sự cao cấp trong một số công ty Đức. Hiếm có công ty blue-chip nào trên sàn chứng khoán DAX của Đức mà không bị thẩm thấu một phần bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  Sự mâu thuẫn len cả vào các bài phát biểu của doanh nghiệp tập đoàn. Khi các lãnh đạo cao cấp của Đức có mặt ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, họ không có gì để nói hơn là ca tụng đất nước này. Nhưng ngay khi trở về Munich hay Düsseldorf, họ than phiền về vấn nạn gián điệp công nghệ, và chỉ đạo các bộ phận nhân sự phải bằng mọi giá tránh tuyển các nhân viên tập sự người Trung Quốc.  Trong bối cảnh khi mà nền kinh tế Mỹ vẫn đang đau ốm, và Châu Âu phải thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng khắc khổ, các công ty từ cấp độ đa quốc gia tới các doanh nghiệp nhỏ đang phải đối diện với lựa chọn lạnh lùng: Trung Quốc hay là chết.  ‘Trung Quốc là cứu cánh của chúng tôi’   Đây là câu nói của Martin Herrenknecht, chủ sở hữu của công ty cùng tên có chức năng sản xuất những cỗ máy đào hầm. “Nếu không có Trung Quốc, chúng tôi đã không thể sống khỏe qua cơn khủng hoảng như đã làm được”.  Các số liệu của công ty này cho thấy tổng sản lượng của nó chỉ giảm 6% trong năm 2009, năm tồi tệ nhất của cuộc suy thoái toàn cầu. Không có nhân viên nào bị sa thải ở Herrenknecht, và công ty cũng không cần đến chương trình “hỗ trợ nhân công ngắn hạn” của Chính phủ Đức vốn đã giúp khá nhiều công ty Đức tránh phải sa thải người làm. Doanh thu của công ty trong năm 2009 là 866 triệu Euro (khoảng $1,1 tỷ USD), với 25% doanh thu là từ châu Á. “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc”, lời nói thốt lên từ vị doanh nhân tóc bạc. “Quốc gia này năng động không thể tin được”.  “Tốc độ ánh sáng”   Nguyên nhân chính khiến Herrenknecht thấy rằng Trung Quốc năng động là vì đất nước này liên lục đào hầm – hầm to, hầm bé, hầm dài, hầm ngắn. Herrenknecht nhận được tới 19 đơn đặt hàng đào hầm tàu điện ngầm và 7 đơn đặt hàng đào hầm tàu điện cao tốc riêng trong năm ngoái.  Vào lúc này ông ta đang chuẩn bị hoàn tất đàm phán cho một hợp đồng mới nhất. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, ông sẽ bay đi Bắc Kinh trong vài ngày tới. Ông tới Bắc Kinh cứ 2 tháng một lần. Công ty có 9 cơ sở tại Trung Quốc, với tổng số 500 nhân viên. Herrenknecht vẫn tiếp tục sản xuất các thiết bị điện và thủy lực tại nhà máy chính ở Schwanau, Đức, nhưng doanh thu từ thị trường nội địa Đức không đủ để bộ máy vận hành hết công suất trong những năm gần đây. “Nếu bạn muốn hoàn thiện một dự án xây dựng ở Đức thì sẽ mất rất nhiều thời gian,” doanh nhân này cho biết, “nhưng ở Trung Quốc thì khác, khó mà có thể theo kịp với tốc độ phát triển xây dựng cho hệ thống tàu điện ngầm ở đây  Nhiều doanh nghiệp Đức có trải nghiệm tương tự như Herrenknecht. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc dường như đang lên cơn khát không thể nguôi được đối với các sản phẩm từ Đức. Tuy các quốc gia trong Liên minh Châu Âu khác vẫn chiếm tới 2/3 trong số 800 tỷ Euro tổng kim ngạch xuất khẩu hằng năm của Đức, nhưng không có thị trường nào tăng trưởng nhanh chóng như thị trường Trung Quốc. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng tới 60% trong năm nay.              Trung Quốc là điểm đến hàng đầu của hàng hóa xuất khẩu từ Đức          Các công ty và người tiêu dùng từ Trung Quốc đang giúp nền kinh tế Đức tăng trưởng với tốc độ gần như theo kịp các nước Đông Á. Trong Quý 2 năm nay, tổng sản lượng kinh tế của Đức tăng ở mức độ tương đương với 4%/năm, gần bằng một nửa của Trung Quốc. Nhưng nguyên nhân không chỉ là người Đức được hưởng lợi từ đồng Euro yếu. Họ giỏi hơn các nước châu Âu khác trong việc tự điều chỉnh theo hoàn cảnh thị trường toàn cầu. Những giám đốc điều hành của các công ty ở những thành phố như Düsseldorf, Frankfurt hay Stuttgart đã điều chỉnh cơ cấu tổ chức để trở nên linh hoạt hơn, và thường xuyên tạo ra những sản phẩm mới, trong khi công đoàn cũng hợp tác với việc đồng ý không đòi tăng lương quá nhiều.  Điều này dẫn tới giảm được chi phí lao động, một chỉ tiêu quan trọng phản ánh tính cạnh tranh của một nền kinh tế. Các sản phẩm của Đức vẫn giữ được chất lượng cao mà giá cả không đắt đỏ. Điều này chỉ có lợi cho các thương hiệu của họ trên thị trường toàn cầu.  Đáp ứng mọi nhu cầu của một nền kinh tế đang phất lên    Nền kinh tế Đức cũng đáp ứng được nhu cầu cho nhiều chủng loại mặt hàng. Các công ty Đức có thể cung cấp mọi nhu cầu mà một nền kinh tế đang nổi lên cần đền, từ thiết bị máy móc tới các sản phẩm hóa chất, hay các dây chuyền luyện kim.  Các công ty Đức cũng được hưởng lợi từ chương trình đầu tư cho cơ sở hạ tầng có giá trị 400 tỷ Euro do Chính phủ của Thủ tướng Ôn Gia Bảo thông qua nhằm kích cầu nền kinh tế. Không giống như các quốc gia phương Tây khác, ví dụ như Anh, Đức chưa bao giờ cho phép nền tảng sản xuất công nghiệp của mình suy thoái – một chiến thuật mà ngày nay đem lại thành quả xứng đáng.  Một lợi thế khác cho các công ty Đức là họ hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa từ rất sớm. Đa số các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tìm cách đầu tư ra nước ngoài từ 1 hoặc 2 thập kỷ trước nhằm bán sản phẩm ra quốc tế hoặc sản xuất linh kiện ở nước ngoài để nhập trở về trong nước. “Với những ai đã từng hoạt động tích cực ở Trung và Đông Âu từ 20 năm qua, việc bước chân sang Trung Quốc không có gì là khó”, nhận định từ Ãel Nitschke, trưởng phòng kinh doanh quốc tế thuộc Viện Công nghiệp và Thương mại Đức (gọi tắt là DIHK)  Người Trung Quốc ngày càng chuộng hàng Đức    Ngày nay, Đức không chỉ cung cấp các thiết bị phục vụ phát triển công nghiệp Trung Quốc. Khi ngày càng nhiều người Trung Quốc gia nhập tầng lớp thượng lưu, nhu cầu cho sản phẩm tiêu dùng, bao gồm xe hơi loại sang sản xuất bởi Mercedes, BMW hay Audi, hoặc đồ làm bếp thượng hạng hay giày cao cấp. Thậm chí thú nhồi bông của Đức cũng tìm đường sang viễn Đông. Trung Quốc, nhà sản xuất đồ chơi lớn nhất trên Thế giới, ngày nay lại chuộng gấu bông và thỏ bông sản xuất bởi Steiff, thương hiệu sản xuất đồ chơi lừng danh của Đức. Trong khi đó, điều thú vị là nhằm đảm bảo duy trì chất lượng cao, Steiff bắt đầu chuyển một số cấu phần công nghiệp của mình từ Trung Quốc về lại châu Âu.  Nếu mọi chuyện giống như cách người Đức mong muốn, mối quan hệ cộng sinh này có thể kéo dài mãi mãi. Một đằng là Trung Quốc xuất khẩu áo thun, giày thể thao, màn hình phẳng TV, đầu đọc CD sang Đức. Ở chiều ngược lại, Đức xuất khẩu hàng công nghệ cao (xe hơi, máy bay, đường tàu điện, và máy móc…) sang Trung Quốc.  Và vì quốc gia này quá lớn và phần lớn vẫn chưa phát triển, đặc biệt là ở các tỉnh và vùng nông thôn phía Tây, mối quan hệ phân công lao động giữa hai quốc gia như hiện nay có thể kéo dài trong nhiều năm, tạo ra tăng trưởng kinh tế cho cả hai nước.  Điều này nghe có vẻ dễ chịu, tuy nhiên thực tế sẽ không đơn giản như vậy. Trung Quốc đã tăng trưởng quá nhanh trong 3 thập kỷ, thường xuyên tăng trưởng ở mức 2 chữ số. Nhưng thời gian tăng trưởng càng dài thì khả năng suy thoái lại càng cao.   Những dấu hiệu suy giảm phía trước             Trung Quốc đang mất dần lợi thế nhân công rẻ          Tuy nền kinh tế Trung Quốc dự kiến vẫn sẽ tăng trưởng ở mức 10% trong năm nay, ngày càng nhiều dấu hiệu cho thấy đà tăng trưởng đang suy yếu.  Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc cắt giảm mạnh tay tín dụng cho vay từ nhiều tháng nay. Trong nhiều nhà máy, công nhân được chấp nhận cho tăng lương đáng kể sau nhiều cuộc đình công và phản đối trong các tháng vừa qua. Các chuyên gia cũng lưu ý rằng thị trường bất động sản đang nóng một cách nguy hiểm. Những năm gần đây, giá bất động sản ở các thành phố lớn tăng nhanh hơn đáng kể so với mức tăng thu nhập.  Ít tuần trước, nhà kinh tế người Mỹ  Kenneth Rogoff cảnh báo sự bắt đầu “đổ vỡ của bất động sản”, có thể dẫn tới vỡ nợ ở các ngân hàng, sụt giảm tín dụng, và giảm mạnh tăng trưởng kinh tế. Điều này sẽ tác động nghiêm trọng sang nền kinh tế Đức.   Ví dụ như Volkswagen, hiện nay bán được ¼ số xe hơi trên toàn cầu của mình ở Trung Quốc. Nếu tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giảm mạnh, nhà sản xuất có trụ sở tại Wolfsburg này sẽ chịu lỗ trên toàn cầu.  (Xem tiếp kỳ sau: thế đối đầu khốc liệt đang thành hình)  Nhóm tác giả: Frank Dohmen, Katrin Elger, Dietmar Hawranek, Ralf Neukirch, Rene Pfishter, Christian Reier Mann, Michael Sauga, Wieland Wagner .   (Spiegel Online International)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý đổi mới sáng tạo tại DN vừa và nhỏ      Đại học Ngoại thương Hà Nội mới đây đã phối hợp với &#160; Đại học Khoa học ứng dụng Seinajoki (Phần Lan) thực hiện dự án “Quản lý đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam” (I-SME).    Đào tạo hỗn hợp  Ý tưởng của dự án I-SME bắt đầu từ khái niệm Triển vọng của Mô hình ba vòng xoáy “triple helix” với vai trò của cả ba đối tượng Nhà nước, doanh nghiệp và trường/viện, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò chủ chốt vì là người thực hiện đổi mới sáng tạo (ĐMST). I -SME, nhấn mạnh hai yêu cầu là linh hoạt và thực tiễn.   Để đáp ứng yêu cầu linh hoạt, I-SME lựa chọn hình thức đào tạo hỗn hợp thay vì đào tạo hoàn toàn trực tuyến. Việc bổ sung những buổi học truyền thống giúp tăng cường tương tác giữa giảng viên và học viên, cũng như giữa các học viên. Do đó, mỗi module được triển khai trong thời gian 3-4 tuần, trong đó có hai ngày đào tạo vào cuối tuần, thời gian còn lại, các học viên tương tác thông qua website.  TS Đào Ngọc Tiến, điều phối viên dự án I-SME, cho biết, mặc dù có sự kết hợp giữa các chuyên gia Phần Lan có kinh nghiệm và kiến thức hiện đại và các chuyên gia, giảng viên Việt Nam (hiểu biết về thực tiễn tại Việt Nam), đáp ứng yêu cầu về tính thực tiễn luôn là thách thức với các khóa đào tạo cho doanh nghiệp như I-SME. Nếu các giảng viên chỉ xây dựng nội dung bài giảng dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của bản thân sẽ không đáp ứng được yêu cầu của I-SME vì chuyên gia Phần Lan không hiểu rõ đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam, còn giảng viên Việt Nam lại chưa có kiến thức sâu về đổi mới sáng tạo. Ngược lại, hình thức tư vấn doanh nghiệp, theo đó, các giảng viên làm việc trực tiếp với từng doanh nghiệp sẽ giúp có được những kế hoạch đổi mới sáng tạo cho từng doanh nghiệp nhưng lại không giúp nâng cao năng lực tự quản trị đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp do thiếu nội dung lý thuyết. Do đó, phương thức được lựa chọn trong dự án I–SME là phương pháp doanh nghiệp ảo. Cụ thể, phương pháp doanh nghiệp ảo được thực hiện ở mỗi module như sau:  Trước khi bắt đầu, các học viên được yêu cầu thực hiện các bài tập trước (pre- assignment) nhằm giúp học viên nhìn nhận và đánh giá thực tiễn của doanh nghiệp mình, cũng như cung cấp thông tin cho giảng viên. Chính các thông tin được cung cấp thông qua các bài tập trước này là đầu vào cho việc xây dựng và điều chỉnh nội dung bài giảng trong các buổi học.  Trong các buổi học, giảng viên cung cấp các nội dung lý thuyết phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp, với các ví dụ minh họa từ chính các bài tập trước của các doanh nghiệp học viên và những thực tiễn tốt (best practices) trên thế giới. Thông qua các hoạt động trao đổi, thảo luận, các học viên khác cũng có thể tham gia ý kiến đóng góp để tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau.  Sau các buổi học, các học viên được yêu cầu thực hiện các bài tập sau. Về cơ bản, các bài tập sau là sự tự hoàn thiện bài tập trước của học viên trên cơ sở lý thuyết được cung cấp và các ý kiến trao đổi góp ý của giảng viên và các học viên khác trong các buổi học. Các bài tập sau cũng được kỳ vọng chính là các phần của một kế hoạch đổi mới sáng tạo có thể sẵn sàng triển khai thực hiện.  Càng trẻ càng khao khát đổi mới  Trong thời gian thực hiện dự án, từ tháng 3/2012 đến 6/2013, đã có hai khóa đào tạo, mỗi khóa dài bốn tháng với 18 học viên, chủ yếu đến từ ngành dịch vụ và liên quan ít nhiều đến ứng dụng của công nghệ thông tin như công cụ tìm kiếm, sách điện tử, Internet TV, thương mại điện tử. Phần lớn học viên đều nắm giữ các chức  vụ quản lý trong doanh nghiệp, CEO hoặc trưởng phòng/bộ phận, thể hiện  xu hướng đổi mới “từ trên xuống” tại các doanh nghiệp Việt Nam.  Trong số các doanh nghiệp tham gia khóa học, có hai doanh nghiệp Nhà nước, hai doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp còn lại (tương đương 85%) là doanh nghiệp tư nhân. Phần lớn các doanh nghiệp đều mới thành lập, doanh nghiệp lâu nhất từ năm 2002, thậm chí có doanh nghiệp mới thành lập hai năm. Điều này hoàn toàn phù hợp với một số nghiên cứu trước đây cho rằng các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trẻ năng động và khao khát đổi mới hơn.  Thành công, ở một mức độ nhất định, của dự án I-SME, là kết quả hợp tác giữa các bên: Đại học Khoa học ứng dụng Seinajoki, Đại học Ngoại thương Hà Nội, Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo IPP và đặc biệt là các doanh nghiệp – họ không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà chính là những đồng tác giả của chương trình đào tạo quản trị ĐMST, của các tình huống nghiên cứu.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý lưu vực sông bằng viễn thám      Trung tâm Khí tượng Thủy văn (KTTV) Quốc gia  và Ngân hàng phát triển châu Á, Cơ quan thám hiểm Nhật Bản (JAXA) vừa  khởi động dự án “Ứng dụng công nghệ viễn thám trong quản lý lưu vực  sông”.    Đây là Dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng nguồn vốn ODA do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tài trợ được thực hiện từ tháng 4/2011 – 3/2014.   Dự án này nhằm hỗ trợ các Chính phủ Việt Nam, Bangladesh và Philippines cải thiện các hệ thống giám sát và cảnh báo trong quản lý rủi ro do lũ lụt gây ra với chi phí hợp lý; kinh nghiệm thực tiễn thông qua ứng dụng công nghệ dựa trên không gian (SBT); công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).  Theo ông Phạm Văn Đức,Phó TGĐ Trung tâm KTTV quốc gia, công nghệ SBT và ICT có khả năng nâng cấp hệ thống giám sát và cảnh báo, bởi lẽ vệ tinh có thể bao phủ trên một phạm vi rộng lớn hơn so với các hệ thống quan trắc mặt đất hiện có, có thể chuyển tin nhắn trực tiếp và đồng thời cho người dân tại các vùng nguy hiểm. Công nghệ này còn có thể cập nhật dữ liệu đo mưa hàng giờ. Với những tính ưu việt trên, ông Yusuke Muraki – đại diện ADB cho biết, các chuyên gia dự án đã áp dụng công nghệ SBT và ICT để quản lý thiệt hại do lũ gây ra đối với lưu vực sông của Việt Nam. Các chuyên gia dự án cũng xác định, khu vực mục tiêu của dự án là lưu vực sông Hồng và sông Thao. Trong đó, các chuyên gia sẽ chọn huyện Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) làm vùng chạy thử trạm đo mưa lưu vực sông và truyền tin nhắn qua điện thoại di động để cảnh báo thiên tai. Đối tượng được nhận tin nhắn trực tiếp là Chủ tịch xã và Trưởng thôn.  Các hoạt động sẽ được thực hiện tại dự án bao gồm: Hiện chỉnh số liệu mưa ở lưu vực sông đo qua vệ tinh; xây dựng hệ thống giao diện giữa số liệu mưa vệ tinh và hiện chỉnh dùng dự báo lũ; xây dựng GSWeb cảnh báo lũ; xây dựng mô hình chạy thử cảnh báo lũ qua tin nhắn và điện thoại di động; tăng cường năng lực công nghệ và xây dựng hướng dẫn chính sách, giám sát và đánh giá phương thức quản lý viễn thám…  Với dự án này, các chuyên gia Nhật Bản mong muốn chia sẻ ứng dụng công nghệ viễn thám tại Việt Nam, khuyến khích các nhà hoạch định chính sách sử dụng nhiều hơn công nghệ SBT và ICT. “Đây là một điều vô cùng hữu ích đối với một quốc gia có hơn 80% dân số có thể chịu rủi ro tác động tiêu cực từ các vấn đề liên quan đến thiên tai như Việt Nam”, đại diện ADB cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý nước thải đô thị trở nên dễ dàng hơn      Một trong những vấn đề mà các khu đô thị đông dân cư của thế giới phải đối mặt là vấn đề quản lý nước thải. Lucy Mutinda, một nhà khởi nghiệp trong lĩnh vực quản lý nước thải đô thị đã trả lời hãng thông tấn DW về một giải pháp hữu hiệu mà cô đã áp dụng ở Kenya.      Nếu một vài năm trước, Lucy Mutinda mới bắt đầu công việc của mình thì nay chị đã là một doanh nhân thành công trong việc hỗ trợ tái xử lý nước thải cho các công ty ở Kenya.  Chị có thể nói cho mọi người biết về tình trạng môi trường ở Kenya        Dù ban đầu Kenya có môi trường tự nhiên rất trong lành nhưng vẫn gặp phải rất nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, nguyên nhân là do tình trạng gia tăng dân số, tăng cường sản xuất công nghiệp và các hoạt động khác của đời sống hiện đại ở đô thị.  Hiện trạng này đòi hỏi chúng tôi phải có nhiều biện pháp hữu hiệu hơn để đảm bảo xã hội phát triển nhưng không ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Nếu nhìn vào các thành phố, có thể thấy rằng số lượng cư dân tập trung ở đấy quá cao nhưng hệ thống quản lý nước thải lại chưa được nâng cấp kịp thời. Bên cạnh đó, vấn đề chất thải rắn ở đô thị cũng là thách thức lớn. Đây chính là những vấn đề mà chúng tôi cần nghiên cứu giải quyết và thực hiện những chiến lược phát triển bền vững mới.  Và đây chính là lĩnh vực mà chị đang tập trung thực hiện?   Chính xác là vậy. Tôi đang tập trung vào việc giải quyết vấn đề tái xử lý nước thải đô thị tại chỗ vì nhận thấy rằng các thành phố đang ngày càng phình ra rất nhanh, chúng tôi không có một hệ thống cống ngầm nào theo kịp với tốc độ phát triển của đô thị.  Những gì con người phải học là biết cách quản lý nước thải ngay trong các ngôi nhà mình. Tôi cung cấp biện pháp tái chế nước thải tại chỗ, vì vậy thay vì đổ nước thải vào một hố chứa nào đó hay phải thuê xe chuyên dụng đến hút, người ta có thể dùng máy xử lý nước thải của tôi và tái chế nó. Nước sau khi được xử lý sẽ được dùng để tưới cây, dùng trong nhà vệ sinh hoặc đơn giản là để lau rửa.  Và công ty của chị đã làm được những gì?   Tôi là một nhà doanh nhân chuyên về công nghệ. Hai năm rưỡi qua, tôi đã thành lập startup mang tên EcoCycle. Tôi đặt tên như vậy vì nó rất thân thiện với môi trường. Tôi tin tưởng rằng các nguồn tài nguyên của chúng tôi có thể được sử dụng một cách trọn vẹn theo một vòng tuần hoàn mà không để lãng phí bất cứ thứ gì.  Với niềm tin này tôi gây dựng EcoCycle, đến nay chúng tôi đã được thực hiện được hơn năm mươi dự án về hệ thống tái xử lý nước thải tại chỗ cho các tòa nhà văn phòng, khách sạn, viện nghiên cứu và cả nhà riêng. Khách hàng của chúng tôi rất hài lòng vì thông qua việc sử dụng thiết bị của chúng tôi, họ không chỉ tiết kiệm được chi phí dành cho nước sinh hoạt mà còn tham gia bảo vệ môi trường sống của mình.  Nguồn: http://www.dw.com/en/wastewater-management-made-easy/a-36137647    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Quản lý thị trường vàng, những câu hỏi đang đợi trả lời      Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà  nước ban hành các quy định về quản lý vàng, đồng thời lại là cơ quan độc  quyền nhập khẩu vàng, kinh doanh vàng miếng SJC, đấu thầu vàng, mua-bán  vàng để bình ổn thị trường vàng. Trên thế giới chưa thấy có nền kinh tế  thị trường nào lại áp dụng những biện pháp quản lý như vậy và hiện  tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” là quá lộ liễu.     Trải qua những biến động lịch sử (chiến tranh, thay đổi chính phủ, đổi tiền v.v.), người dân Việt Nam đã có thói quen dùng vàng để giữ tài sản của mình. Không chỉ người giàu có, người nghèo cũng giữ vàng, người mẹ nào cũng cố gắng cho con gái vài đồng cân vàng khi đi lấy chồng. Theo Hội đồng Vàng Thế giới từ năm 1993 đến 2010, Việt Nam đã nhập tổng cộng 1.000 tấn vàng (trong đó có tỷ lệ khá lớn nhập lậu), trừ đi số vàng đã xuất khẩu, trong dân còn khoảng 400-500 tấn vàng, một nguồn lực rất lớn có thể và cần huy động để xây dựng đất nước.  Trong những năm 1990, giá vàng liên tục biến động, tình hình chỉ ổn định sau khi nhà nước chủ động áp dung cơ chế thị trường vàng, cân đối cung-cầu. Từ 1993, người dân được quyền sở hữu, cất giữ vàng không hạn chế.Từ 1999 Nghị định NĐ174/1999/NĐ-CP và NĐ 64/2003/NĐ-CP cấp phép cho 8 ngân hàng thương mại và một công ty sản xuất vàng miếng. Năm 2000, Ngân hàng Nhà nước cho phép ngân hàng thương mại được huy động vốn bằng vàng và cho vay bằng vàng (Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN). Từ năm 2011, Nhà nước cấp quota nhập khẩu vàng cho tám ngân hàng thương mại và công ty SJC để “tham gia bình ổn thị trường vàng” trong nước.  Từ năm 2008, trước tình hình lạm phát tăng cao, xu hướng dùng vàng để thanh toán những phi vụ mua bán nhà, đất tăng lên. Tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế xuất hiện, vàng không chỉ còn là phương tiện cất giữ mà còn trở thành phương tiện thanh toán, tức là đồng tiền mạnh trong nền kinh tế, tác động tới tỷ giá, dự trữ ngoại tệ. Trên cả nước đã có khoảng 12.000 cửa hàng lớn nhỏ được cấp phép hoạt động, một số còn kiêm cả mua bán ngoại tệ, chủ yếu là USD. Cứ mỗi khi có biến động tỷ giá hay giá vàng biến động lại có hiện tượng đoàn người xếp hàng chen chúc nhau để mua vàng kiếm lợi.  Các hiệp hội đã kiến nghị tổ chức “sàn vàng” như một thị trường vàng có sự quản lý của nhà nước, từng bước liên thông với thị trường vàng thế giới, giảm bớt chênh lệch giá giữa giá vàng trong ước và giá vàng thế giới.  Trước tình hình đó, Nghị định 24/2012/ NĐ-CP đã quyết định bỏ quy định cấp quota nhập khẩu vàng, không liên thông giá vàng trong nước và giá vàng thế giới, ấn định thời hạn tất toán dịch vụ nhận gửi tiết kiệm và cho vay bằng vàng tại các ngân hàng thương mại đến ngày 30/6/2013, tuyên bố vàng miếng SJC trở thành nhãn hiệu vàng độc quyền, Ngân hàng Nhà nước độc quyền nhập vàng, độc quyền phát hành vàng SJC và là người độc quyền bán vàng để bình ổn thị trường, áp đặt những điều kiện ngặt nghèo cho các hộ kinh doanh vàng phải đăng ký lại v.v.  Những người dân giữ vàng miếng không phải SJC phải đổi với chênh lệch giá khá lớn, số cửa hàng kinh doanh vàng được cấp phép trơ lại giảm đáng kể. Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức đấu thầu vàng, cho đến nay đã hơn 40 phiên, bán ra 41,4 tấn vàng, phải sử dụng lương lớn ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu như trước ngày 30.6, bình quân mỗi phiên chỉ bản 26.000 lượng vàng thì ngày 9/7/2013, sau thời hạn tất toán vàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đấu thầu lượng vàng gần gấp đôi, lến đến 40.000 tấn vàng/ phiên. Chênh lệch giá vàng trước và giá vàng thế giới có lúc lên đến 7 triệu đồng/lượng, nay vẫn còn ở mức 5-6 triệu đồng/lượng. Ngân hàng Nhà nước tuyên bố bình ổn thị trường vàng nhưng không bình ổn giá. (?!).     Ngân hàng Nhà nước tuyên bố chính sách quản lý thị trường vảng đã đạt thắng lợi quan trọng, không còn cảnh người mua vàng chen chúc, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng lên v.v. Báo chí đưa tin Ngân hàng Nhà nước đã lãi 5.000 tỷ đồng nhờ nhập khẩu vàng giá thấp, bán vàng giá cao và Ngân hàng Nhà nước quả quyết toàn bộ lợi nhuận thuộc về nhân dân và nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy vậy, chưa thấy Kho bạc Nhà nước có thông báo về số thu ngân sách này.  Song, sau thời hạn khóa sổ ngày 30/6/2013, tình hình không ổn định như Ngân hàng Nhà nước dự đoán. Một số ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản, chưa thể tất toán vàng. Dự báo nhu cầu của các ngân hàng này còn ít nhất 9 tấn vàng để tất toán. Trong những ngày nắng nóng lên đến 40 độ C cuối tháng Sáu, đầu tháng Bảy này ở Hà Nội, hiện tượng sắp hàng từ sáng đến tối để mua vàng của người dân lại xuất hiện trở lại. Tỷ giá đã phải điều chỉnh lên 1% ngày 28/6 và đã có lúc đạt mức 22.000 VND/USD trên thị trường tự do. Nhu cầu vàng chưa thấy đến giới hạn. Tình hình đang tiếp tục diễn biến phức tạp.  Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định về quản lý vàng, đồng thời lại là cơ quan độc quyền nhập khẩu vàng, độc quyền kinh doanh vàng miếng SJC, độc quyền đấu thầu vàng, mua-bán vàng để bình ổn thị trường vàng. Trên thế giới chưa thấy có nền kinh tế thị trường nào lại áp dụng những biện pháp quản lý như vậy và hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” là quá lộ liễu. Thanh tra Nhà nước tháng 4/2013 đã thông báo sẽ thanh tra hoạt động kinh doang vàng của Ngân hàng Nhà nước.  Số vàng trong dân chưa biết đến bao giờ mới huy động được và bằng phương án nào. Giá vàng trong nước tiếp tục nhảy múa, chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới vẫn rất cao.  Muốn biết kết quả kinh doanh vàng thế nào phải đợi kết quả của Thanh tra Nhà nước, song cách vừa tự ban hành quy định lại độc quyền thực hiện như hiện nay là điều không giống bất kỳ nước nào.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý trật tự xây dựng bằng công nghệ học sâu      Mới đây, một số quận huyện của TPHCM đã ứng dụng các công nghệ vào việc quản lý trật tự xây dựng đô thị và tài nguyên môi trường. Tại UBND quận Bình Tân, công nghệ học sâu lần đầu tiên được đưa vào sử dụng góp phần xác định nhanh các công trình xây dựng trái phép.    Bình Tân là một quận nội thành mới được thành lập năm 2003, có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất của TPHCM. Dân số quận Bình Tân đã tăng gần 111% từ năm 2004-2021.    Tốc độ đô thị hóa nhanh của quận Bình Tân dẫn đến nhu cầu xây dựng nhà ở rất lớn. Nhiều năm nay, quận Bình Tân luôn nằm trong nhóm các quận cấp giấy phép xây dựng hằng năm cao nhất của TPHCM. Trong giai đoạn 2010-2020, UBND quận cấp hơn 6.000 giấy phép xây dựng mỗi năm. Bên cạnh các dự án phát triển nhà ở và số lượng nhà ở riêng lẻ được cấp phép xây dựng, có một số lượng không ít các công trình vi phạm trật tự xây dựng.        Tại Hội nghị ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý hành chính công ở TPHCM do Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM tổ chức mới đây, ông Vũ Chí Kiên, Phó Chủ tịch UBND quận Bình Tân, cho biết, do đặc thù địa bàn rộng, lực lượng cán bộ quản lý trật tự xây dựng còn hạn chế, tình hình vi phạm trật tự xây dựng vẫn diễn ra khá phức tạp. Việc phát hiện công trình vi phạm của các cơ quan chức năng hoàn toàn dựa trên công tác kiểm tra trên thực địa và việc áp dụng công nghệ còn rất hạn chế.    Được sự hỗ trợ của Phòng Thí nghiệm truyền thông đa phương tiện (thuộc Trường Đại học Công nghệ Thông tin) và Trung tâm Công nghệ thông tin (thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM), UBND quận đã đưa vào sử dụng ứng dụng “Không ảnh tích hợp Bình Tân” từ tháng 10/2022 để hỗ trợ công tác quản lý và phát triển đô thị, trong đó có công tác quản lý trật tự xây dựng.    Cụ thể, ứng dụng tích hợp nhiều lớp dữ liệu trên nền tảng GIS. Trong đó, có 27 lớp dữ liệu, với 17 lớp dữ liệu không ảnh (ảnh trên không) và 10 lớp dữ liệu về công trình xây dựng qua các năm.    Bằng phương thức chồng các lớp dữ liệu không ảnh gần nhất và lớp dữ liệu công trình xây dựng các năm, lớp dữ liệu quy hoạch phân khu,… mô hình học sâu cho kết quả khu vực có công trình vi phạm trật tự xây dựng. Cán bộ quản lý dựa trên thông tin này để xuống kiểm tra trực tiếp, xem xét hồ sơ quy hoạch, giấy tờ liên quan để xác định vi phạm.    Theo ông Kiên, ứng dụng này giúp cán bộ quản lý xây dựng phát hiện nhanh các khu vực có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng, đặc biệt là ở các khu vực không phù hợp quy hoạch để xây dựng nhà ở, từ đó ngăn chặn kịp thời các trường hợp vi phạm, và xử lý dễ dàng hơn so với việc cưỡng chế, tháo dỡ khi công trình đã xây xong.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Quản lý Uber và Grab ở một số nước: Muôn hình vạn trạng cửa ải pháp lý      Ngày 05/06/2017, hai ngàn tài xế taxi Ba Lan đã khóa chặt giao thông ở thủ đô Warsaw bằng cách lái xe với tốc độ sên bò để phản đối đối thủ cạnh tranh bao Uber. Các hãng taxi truyền thống Ba Lan lập luận rằng Uber cạnh tranh không lành mạnh và né tránh các quy tắc cũng như hạn chế dành cho hoạt động của một hãng taxi chuyên nghiệp . Cách đó 500 dặm về phía Nam, vào ngày 21/06/2017, hàng trăm tài xế taxi Croatia đã chặn một trong những đại lộ chính của thủ đô Zagreb để phản đối các dịch vụ của Uber, cho rằng “ông lớn” này đang hoạt động bất hợp pháp tại Croatia trong suốt hai năm . Đó mới chỉ là hai ví dụ điển hình trong số rất nhiều các hoạt động chống Uber trên thế giới.      Các tài xế taxi truyền thống ở Budapest, Hungary dàn hàng trên đường phố để biểu tình phản đối Uber. Nguồn ảnh: Reuters    Hình thức kinh doanh “chia sẻ” của Uber và Grab đã tận dụng các nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả, góp phần tăng tính cạnh tranh trên thị trường cho Uber và Grab, đồng thời mang đến cho người tiêu dùng những lựa chọn đa dạng hơn. Tuy nhiên, mô hình kinh doanh này cũng được đánh giá là mới lạ và đặt ra những yêu cầu mới trong chính sách quản lý ngay cả ở các quốc gia phát triển. Chính quyền các quốc gia khác cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, không chỉ là đảm bảo lợi ích người tiêu dùng, giải quyết những xung đột giữa công ty cung cấp dịch vụ truyền thống và công ty cung cấp dịch vụ trên nền tảng công nghệ, mà còn phải tạo ra những quy định điều chỉnh một cách hiệu quả mô hình “kinh tế chia sẻ” và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.  Những cánh cửa đóng…  Lệnh cấm từ Thái Lan [1]  Ngày 09/03/2017, chính phủ Thái Lan thông báo rằng các dịch vụ gọi xe trực tuyến như Uber hay GrabCar là bất hợp pháp. Các quan chức Bộ Giao thông Thái Lan khẳng định Uber và Grab đang xây dựng mô hình sử dụng ô tô và cơ cấu giá vé không hợp lý. Theo đó, ô tô cung cấp dịch vụ của Uber không chỉ chưa được đăng ký phù hợp mà tài xế Uber cũng chưa có giấy phép hành nghề chuyên nghiệp. Ngoài ra, phương thức thanh toán mà Uber đưa ra thể hiện sự phân biệt đối với nhóm khách hàng không sử dụng thẻ tín dụng[2].  Trước đó, các nhà chức trách Thái Lan đã nhiều lần cảnh cáo và tiến hành phạt tiền những chủ phương tiện giao thông cá nhân cung cấp dịch vụ này. Mặt khác, Chính phủ Thái Lan cũng có kế hoạch đưa ra ứng dụng riêng có tên là Taxi OK dành cho hành khách muốn sử dụng loại taxi có đăng ký và cài đặt hệ thống định vị GPS cùng với camera theo dõi[3].  Trái ngược với những phản ứng tiêu cực từ phía Chính phủ, giới công nghệ nước này nhận định rằng động thái này của Chính phủ chính là sự chống lại viễn cảnh xây dựng xã hội sáng tạo dựa trên công nghệ và kỹ thuật số và cho rằng Chính phủ nên đứng trên quan điểm của người tiêu dùng để tìm ra được giải pháp phù hợp hài hòa lợi ích giữa các bên.  Ma trận pháp lý ở Liên minh châu Âu (EU) [4]  Uber đang gặp nhiều vấn đề pháp lý đáng lo ngại liên quan đến mô hình kinh doanh của mình, sau khi các luật sư cấp cao tại Tòa án Tối cao của EU đứng về phía chính phủ Pháp trong mâu thuẫn về lệnh cấm UberPOP hoạt động tại Pháp. Tại thời điểm Uber ra mắt phiên bản ứng dụng UberPOP ở Paris vào đầu năm 2014, Tổng cục Cạnh tranh, Tiêu dùng và Trấn áp gian lận (DGCCRF) của Pháp bắt đầu xem xét việc cấm UberPOP. DGCCRF đặc biệt chú trọng đến vấn đề cạnh tranh không lành mạnh vì UberPOP đã tự cung cấp dịch vụ chia sẻ xe – được đánh giá về bản chất là dịch vụ taxi (ở Pháp, chia sẻ xe có lợi nhuận đòi hỏi phải có giấy phép hành nghề của tài xế và bảo hiểm), và dựa vào lý do đó, Uber đã không thực hiện nghĩa vụ thuế như một công ty cung cấp dịch vụ taxi.  Nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh rào cản kỹ thuật được dựng lên nhằm hạn chế hoạt động của Uber tại Pháp nói riêng và các quốc gia thành viên EU nói chung. Theo luật của EU, chính phủ các quốc gia thành viên có quyền thực thi kiểm soát ở mức độ cao đối với quy định giao thông thuộc quốc gia mình. Tuy nhiên, họ phải thông báo cho Ủy ban Liên minh Châu Âu tại Brussels về bất kỳ thay đổi nào đối với quy định về dịch vụ kỹ thuật số. Do đó, Uber hy vọng có thể đảo ngược phán quyết với lập luận rằng họ là một công ty cung cấp dịch vụ thông tin và lệnh cấm của Pháp được ban hành mà không thông báo cho Ủy ban Liên minh châu Âu là một sự vi phạm. Định nghĩa về hoạt động kinh doanh của Uber thực sự là một vấn đề gây tranh cãi, suy cho cùng Uber là một công ty cung cấp dịch vụ công nghệ hay dịch vụ vận tải?  Đưa ra nhận định về bản chất hoạt động của Uber, Maciej Szpunar – một luật sư biện hộ của Tòa án EU khẳng định rằng Uber nên được nhìn nhận với tư cách là một công ty vận tải thay vì một công ty cung cấp dịch vụ thông tin như các nhà sáng lập Uber vẫn lập luận. Trước hết, dẫn chiếu về Uber Tây Ban Nha, ông đã kết luận rằng UberPOP “không tạo thành một dịch vụ cung cấp thông tin xã hội (information society service)”[5]. Ngoài ra, “giá trị kinh tế chính” từ dịch vụ của Uber bắt nguồn từ việc vận chuyển hành khách chứ không phải nằm ở sự kết hợp giữa hành khách và tài xế thông qua công nghệ của Uber.  Như để minh chứng cho sự “tiếp đón lạnh nhạt” của EU, Uber bị “ép buộc” đình chỉ hoạt động tại Hungary[6] do đạo luật mới cho phép cơ quan chức trách ngăn chặn các hoạt động trên nền tảng Internet để điều phối nhân sự bất hợp pháp (illegal dispatcher service). Tòa án ở Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ và Hà Lan đã cấm dịch vụ UberPOP với lý do sử dụng tài xế không có giấy phép hành nghề chuyên nghiệp. Trong khi đó, Toà án lao động ở London quy định rằng các lái xe Uber cần được đối xử như người lao động hoặc nhân viên của Uber thay vì là những đối tác độc lập theo cách mà Uber vẫn áp dụng hiện nay. Do vậy, ngoài việc phải đáp ứng điều kiện về giấy phép hành nghề taxi, tài xế Uber nên được đảm bảo mức lương tối thiểu và có ngày nghỉ theo luật định.  Và những khe cửa khép hờ…  Uber và Grab loay hoay ngay tại sân nhà  Vào năm 2015, Uber nhận khoản phạt 7,3 triệu đô la Mỹ cùng yêu cầu đình chỉ hoạt động tại bang California với lý do cho rằng Uber đã không tuân thủ luật pháp tiểu bang được thiết kế để đảm bảo sự công bằng cho các hành khách sử dụng dịch vụ của Uber. Tiếp theo, Uber phải đối mặt với những yêu cầu về dấu vân tay của tài xế tại New York – một thị trường lớn mà Uber không thể bỏ qua. Hơn nữa, các quy định về kỳ thi cấp giấy phép hành nghề cho lái xe cũng khiến Uber đau đầu. Trên thực tế, có thể mất đến ba tháng, 60 giờ và 3.000 đô la đối với một lái xe để có được giấy phép TLC (giấy phép cho tài xế taxi và lái xe cho thuê – for hire driver) của New York. Trong khi đó, tại Hạt Orange, California – nơi mà tài xế chỉ cần vượt qua kiểm tra lý lịch của Uber – mất ít hơn hai giờ và chi phí khoảng 10 đô la.  Đối với thị trường lớn thứ tư của Mỹ – Houston, bang Texas, Uber “ngậm ngùi” tuyên bố sẽ rời khỏi thành phố này nếu tiếp tục phải chịu áp lực trước những yêu cầu phức tạp trong quy trình lựa chọn tài xế. Đại diện Uber chia sẻ: “Có thể mất đến 04 tháng làm thủ tục với mỗi tài xế tại Houston chỉ để được thành phố cấp giấy phép hành nghề trong 02 năm”.  Tính đến ngày 02/09/2016, 34 tiểu bang và hơn 69 thành phố[7] đã thông qua luật về các công ty cung cấp dịch vụ chia sẻ xe, hay còn gọi là các công ty mạng lưới vận tải (TNCs). Sáu tiểu bang khác đã ban hành luật yêu cầu bảo hiểm tối thiểu. Thậm chí, một số nhà lập pháp thể hiện mong muốn tiến hành đẩy mạnh những yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với việc lấy dấu tay tài xế, quy định về lệ phí và địa điểm đón khách. Cuộc chiến pháp lý trong tương lai xung quanh việc phân loại người lao động hay tài xế độc lập sẽ còn tiếp tục cuốn Uber vào vòng xoáy của thủ tục và hệ thống quy định ngặt nghèo.  May mắn hơn người đồng nghiệp Uber, Grab nhận được sự đối xử tương đối “nhẹ nhàng” từ chính quyền Malaysia và Singapore[8]. Chính phủ các quốc gia này thể hiện sự ủng hộ với những giải pháp giao thông mang tính cải cách. Tuy nhiên, tuyên bố về một sự đối xử nhẹ nhàng không đồng nghĩa với việc Grab tránh khỏi được sự ràng buộc của khung pháp lý và hệ thống các điều kiện tiên quyết cần đáp ứng. Thực tế, tài xế Grab phải vượt qua nhiều vòng giám định như kiểm tra an toàn đường bộ cho hoạt động của xe hơi, kiểm tra y tế và kinh nghiệm, kiến thức của tài xế. Trong tuyên bố ngày 16/08/2016 của Ủy ban Giao thông Malaysia (SPAD) về kế hoạch đẩy mạnh cải cách ngành công nghiệp taxi, bao gồm cả các công ty cung cấp dịch vụ xe chung như Uber và Grab, tài xế nhiều khả năng sẽ phải thực hiện thủ tục xin cấp “Thẻ điều khiển” do SPAD phát hành.  Sự trở lại với thị trường Đài Loan [9]  Tại thời điểm tháng 02/2017, hoạt động của Uber phải buộc tạm đình chỉ tại Đài Loan do ảnh hưởng từ những hạn chế khắt khe của chính quyền nước sở tại. Lập luận về các chính sách nghiêm khắc đối với Uber, chính quyền Đài Loan khẳng định hoạt động của Uber là bất hợp pháp. Uber tham gia vào thị trường Đài Loan với tư cách là một công ty phần mềm, như vậy, Uber không được cung cấp dịch vụ vận tải. Hơn nữa, các tài xế Uber đều không có giấy phép hành nghề taxi chuyên nghiệp, thực trạng này sẽ đặt hành khách vào tình thế nguy hiểm và cũng gián tiếp đẩy hoạt động cung cấp dịch vụ của Uber vào trạng thái bấp bênh. Năm 2017, Uber thực hiện kinh doanh tại Đài Loan mà không chịu sự điều chỉnh của một khung pháp lý cụ thể nào, không có bảo hiểm và không bị tính thuế, do đó, chính quyền Đài Loan đưa ra điều kiện rằng chỉ hợp tác với Uber nếu “hiện tượng start-up” này chấp nhận thực hiện các nghĩa vụ như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải thông thường. Do từ chối thay đổi hình thái kinh doanh của mình, Uber đã phải hứng chịu hình phạt nặng nề từ phía các nhà quản lý Đài Loan. Một đạo luật tại Đài Loan có hiệu lực vào 06/01/2017, áp đặt mức phạt kỷ lục với các tài xế Uber là từ khoảng 150.000 Đài tệ (tương đương 4.687 đô la Mỹ) lên đến 25 triệu Đài tệ (tương đương 780.000 đô la Mỹ), mức phạt cao nhất mà Uber từng phải đối mặt so với bất cứ nơi nào trên thế giới.  Đến giữa tháng 04/2017, Uber chính thức thông báo trên website[10] rằng họ đã tìm được giải pháp để trở lại với thị trường Đài Loan. Trong sự trở lại lần này, Uber thông báo rằng các tài xế phải có giấy phép hành nghề taxi và hoạt động dưới sự kiểm soát của một công ty cho thuê xe vận tải. Sự “uốn mình” theo khung pháp lý đã mang lại hiệu quả kinh doanh tích cực cho Uber giữa vô vàn những khó khăn tại các thị trường châu Á.  Những chấp thuận đến từ Chính phủ Brazil [11]  Tháng 09/2015, tại Rio de Janeiro, một đạo luật cấm ứng dụng đặt xe taxi bằng điện thoại thông minh như Uber đã được ra đời. Thị trưởng Rio de Janeiro, Eduardo Paes, đã ký các đạo luật được thông qua bởi hội đồng thành phố Rio về việc cấm Uber và các công nghệ tương tự hoạt động trong thành phố. “Uber bị cấm”, Paes nói sau khi ký bản dự thảo. “Chúng tôi rất cởi mở khi thảo luận về vấn đề này, nhưng Uber bị cấm”. Tài xế Uber bỏ qua lệnh cấm này có thể bị phạt lên tới 500 đô la Mỹ. Tuy nhiên, đến tháng 12/2015, lệnh cấm đã được bãi bỏ và Uber tiếp tục hoạt động bình thường tại thành phố này.  Tại thành phố lớn nhất Brazil, hội đồng thành phố São Paulo cũng thông qua luật cấm Uber tháng này, nhưng thị trưởng Fernando Haddad vẫn chưa thông qua hay phủ quyết dự luật. Thị trưởng đang băn khoăn về việc tìm phương án trung lập giữa đảm bảo lợi ích của ngành taxi truyền thống và mong muốn đưa công nghệ mới của Uber vào thành phố.  Tại Belo Horizonte, các quan chức thành phố đã bỏ phiếu thông qua một dự luật cấm các mô hình vận tải khác như Uber hoạt động trong thành phố. Theo luật mới, tất cả các lái xe chở khách sẽ có 45 ngày để đăng ký với một nhà vận tải và được cấp giấy phép hành nghề. Những xe và công ty không có giấy phép đăng ký hoạt động sẽ bị phạt tiền.  Cánh cửa nào cho các giải pháp công nghệ?  Internet và sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng trên nền tảng công nghệ thông tin đang từng bước xâm lấn vào những ngóc ngách nhỏ nhất của cuộc sống là một thực tế không thể phủ nhận. Uber hay Grab với sự đột phá trong ứng dụng giải pháp công nghệ đang nhận được sự ủng hộ của phần lớn người tiêu dùng. Tuy nhiên, mô hình kinh doanh chia sẻ này lại khiến các nhà quản lý “bối rối”. Một cánh cửa mở ra cho hướng đi mới cũng đồng nghĩa với những khung cửa cũ cần được phá bỏ hoặc sửa đổi. Câu chuyện quản lý hoạt động của Uber – Grab là vấn đề không của riêng ai, không chỉ là băn khoăn của các nhà quản lý Việt Nam mà cũng là câu hỏi hóc búa đối với những nền kinh tế thị trường vững mạnh như Mỹ và Liên minh Châu Âu. Một làn gió công nghệ mới như Uber – Grab sẽ cần những giải pháp quản lý phù hợp hơn để sự sáng tạo và đổi mới không còn phải lách mình qua “những khe cửa hẹp”.  ——–  Chú thích:  [1] Thai transport authorities crack down on Uber, Grab drivers, seek ban, Reuters, truy cập tại http://www.reuters.com/article/us-uber-thailand-idUSKBN16E17R vào ngày 11/07/2017  Thailand to ban Uber and Grab, Daily Times, truy cập tại http://dailytimes.com.pk/world/08-Mar-17/thailand-to-ban-uber-and-grab vào ngày 11/07/2017  [2] Uber declared illegal in Thailand, Bangkok Post, truy cập tại http://m.bangkokpost.com/news/general/445978/uber-declared-illegal-in-thailand-drivers-face-heavy-fines vào ngày 11/07/2017  [3] Thailand will attempt to take on Uber with ‘Taxi Ok’ app, Coconut Bangkok, truy cập tại https://coconuts.co/bangkok/news/thailand-will-attempt-take-uber-taxi-ok-app/ vào ngày 11/07/2017  [4] Uber Looks Like It Is Losing Another Big Case In EU’s Highest Court, Fortune, truy cập tại http://fortune.com/2017/07/04/uber-looks-like-losing-another-big-case-in-eus-highest-court/ vào ngày 11/07/2017  [5] EU states have right to ban Uber: lawyer, Global Times, truy cập tại http://www.globaltimes.cn/content/1054906.shtml vào ngày 11/07/2017  [6] Uber to Suspend Operations in Hungary Over New Law, The New York Times, truy cập tại https://www.nytimes.com/2016/07/14/business/international/uber-hungary-taxi-suspension.html vào ngày 11/07/2017  [7] Uber and Lyft are getting pushback from municipalities all over the US, Harriet Taylor, CNBC, truy cập tại http://www.cnbc.com/2016/09/02/uber-and-lyft-are-getting-pushback-from-municipalities-all-over-the-us.html vào ngày 11/07/2017  [8] Trailing Southeast Asian peers, Malaysia draws up rules to legalize Uber and Grab, Nadine Freischlad, TechinAsia, truy cập tại https://www.techinasia.com/malaysia-drafts-ride-hailing-rules vào ngày 11/07/2017  [9] Taiwan: The place Uber couldn’t crack, BBC News, truy cập tại http://www.bbc.com/news/business-38928028 vào ngày 11/07/2017  [10] Taiwan: Your Uber ride has returned, Uber Newsroom, truy cập tại https://newsroom.uber.com/taiwan/uback/ vào ngày 11/07/2017  [11] Rio de Janeiro becomes first city in Brazil to ban Uber, The Guardian, truy cập tại  https://www.theguardian.com/world/2015/sep/30/rio-de-janeiro-brazil-uber-ban vào ngày 11/07/2017  Uber Protests and Controversy Continue in Rio and Brazil, Lise Alves, The Rio Times, truy cập tại http://riotimesonline.com/brazil-news/rio-politics/alternative-transportation-controversy-continues-in-brazil/ vào ngày 11/07/2017    Author                Vũ Thị Diệu Thảo        
__label__tiasang Quan niệm mới về sự bắt chước      Bắt chước hay sao chép các ý tưởng phát minh, sáng chế hiện được coi là một hành động ăn cắp, đáng bỉ ổi. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu đã xem xét lại nhiều trường hợp bắt chước và sao chép ý tưởng, rồi đi đến kết luận: hành động sao chép nhiều khi đem lại giá trị xã hội lớn hơn so với bản thân các phát minh, sáng chế. Tạp chí Harvard Business Review (HBR) đã phỏng vấn Giáo sư Oded Shenkar, người thực hiện nghiên cứu về câu chuyện này.    Oded Shenkar: Đúng vậy, bắt chước ý tưởng của người khác là một hình thức kinh doanh tốt. Đôi khi, nó là một thương vụ tuyệt vời. Trong nghiên cứu của mình, tôi đã xem kỹ lại 48 phát minh và nhận thấy rằng 34 phát minh trong số này (tức là gần ¾) là những thứ bắt chước. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tỉ lệ bắt chước hiện vẫn tiếp tục gia tăng. Thí dụ, Chrysler đã phát minh ra chiếc minivan (xe tải nhỏ), với chiếc bánh lái phía trước và chiếc xe một khối (carlike unibody) vào năm 1984. Nhưng phải đến gần một thập kỷ sau, các nhà sản xuất ô tô khác mới bắt chước ý tưởng này. Nhưng ngay sau khi GM giới thiệu chiếc xe loại nhỏ Spark, chiếc xe QQ của Trung Quốc bắt chước hoàn toàn mẫu xe Spark đã ra đời chỉ sau có một năm và bán chạy gấp 6 lần tại thị trường Trung Quốc. Trên thực tế, gần 98% giá trị được tạo ra bởi các phát minh lại rơi vào túi của những người bắt chước chứ không phải là các nhà phát minh, mặc dầu những bản quyền đã được ghi nhận.  HBR: Như vậy, người ta chỉ cần đợi có cái gì đó thành công và ăn cắp ý tưởng đó?  Thực ra, những người bắt chước thành công không bao giờ chờ đợi. Họ tìm kiếm một cách tích cực những ý tưởng đáng để bắt chước. Và họ thường kiếm tìm từ những nơi rất xa so với ngành công nghiệp và quê hương của họ. Họ cũng không chỉ bắt chước một ý tưởng mà còn tìm cách biến ý tưởng đó thành một sản phẩm ngày càng rẻ hơn và tốt hơn.  Những người bắt chước lại luôn xây dựng được nền tảng vững chắc trên thị trường và luôn chờ đợi những phản ứng của thị trường để đưa ra những điều chỉnh cần thiết.   Tuy nhiên, người ta vẫn thường hay nói rằng bắt chước thực ra là những hành động ăn cắp. Làm thế nào để một công ty có thể vừa thực hiện hành động bắt chước một cách có ý nghĩa, vừa thoát khỏi những điều khoản về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tránh đối đầu với những vụ kiện?  Chúng ta hãy bắt đầu thế này nhé. Quyền sở hữu trí tuệ thường chỉ đưa ra được một sự bảo vệ hạn chế. Vả lại, nó khá tốn kém và trong nhiều trường hợp, nó khó có thể thi hành được. Người ta có thể đưa ra những thứ kiểu như “phát minh liên quan” (invented around), hoặc đòi hỏi những minh bạch để giúp việc bắt chước được thực hiện một cách dễ dàng hơn. Sự thật là đối với phần lớn sản phẩm, tiến trình, ứng dụng hoặc ý tưởng không hề được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ.             Các nét chính trong nghiên cứu của Oded Shenkar  Phát hiện: Bắt chước là hành động đang bị đánh giá thấp. Tuy nhiên, nó có thể được coi là có tầm quan trọng lớn hơn đối với việc tăng trưởng kinh doanh khi so với hiệu quả thực sự của phát minh/sáng chế. Bắt chước không phải là một quá trình lặp lại không suy nghĩ (rập khuôn). Mà thực ra đó là một nghiên cứu thông minh để có thể giải quyết vấn đề “con gà-quả trứng”.  Nghiên cứu: Oded Shenkar xem xét kỹ càng các phát kiến lớn nhất trong mô hình kinh doanh, các phát hiện có tính chất đột phá của 8 nhà khoa học và nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau, từ lịch sử đến khoa học thần kinh. Trong những trường hợp này, ông nhận thấy sự bắt chước là khởi nguồn của tiến bộ, ngay cả khi sự tiến bộ này thường không được các học giả và những nhà điều hành thừa nhận. Ông cũng khám phá ra rằng một sự bắt chước (với mục đích) tốt và hiệu quả không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi nhiều trí thông minh và tưởng tượng hơn người ta tưởng.  Con số chính:  97,8% giá trị của các phát minh thuộc về… những người bắt chước.           Giáo sư có thể đưa ra những ví dụ về doanh nghiệp trong đó chúng ta coi họ có những phát kiến quan trọng, nhưng thực tế chúng chỉ là sự sao chép y nguyên?  Nếu bạn để ý tới các công ty đứng đầu mỗi lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi họ không chỉ là những người tiên phong, mà còn là những người có khả năng sao chép, và sao chép rất sáng tạo. Thí dụ như McDonald’s chẳng hạn, công ty này đã bắt chước ý tưởng về hệ thống bán hàng mà White Castle (hệ thống bán đồ ăn nhanh đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1921) là người đầu tiên đưa ra. Tương tự như vậy, hãy nghĩ tới các loại thẻ tín dụng như Visa, MasterCard hay American Express. Tất cả đều đã mượn ý tưởng từ những nỗ lực của Diners Club, loại thẻ tín dụng đầu tiên đã đem lại cuộc cách mạng về mua bán không dùng tiền mặt. Hay Wal-Mart cũng vậy. Những người sáng lập chuỗi siêu thị danh tiếng này đã thừa nhận họ mượn ý tưởng từ những người đi trước. Nhưng họ cải tiến và kết hợp những ý tưởng này lại thành một công thức đem lại chiến thắng cho họ. Ngày nay, các công ty lớn nắm giữ nhiều thị phần lại chính là các công ty bắt chước ý tưởng của người khác.  Nếu như việc sao chép, bắt chước hiệu quả như vậy, tại sao người ta không phát triển liên tục ý tưởng này?  Về mặt xã hội, chúng ta thường được giáo dục từ thửa ấu thơ rằng cần đối xử với sự sao chép, bắt chước như là một hành động bỉ ổi và đáng chê trách. Và đó là thứ do những kẻ không bình thường tạo ra. Ngay cả ở những công ty thực hiện việc sao chép, các nhà điều hành thường miễn cưỡng sử dụng chữ “i” (tức là dấu hiệu ghi rõ là sản phẩm sao chép), bởi đó là một dấu hiệu sỉ nhục. Kết quả là sự sao chép thường được thực hiện trong bóng tối mà không hề có chiến lược hay chiến dịch đáng ra phải có để thu hút sự chú ý của công luận, người tiêu dùng.  Thế còn những nghiên cứu từ các nhà khoa học thì nói gì về sự bắt chước?  Các nhà khoa học lúc đầu nhìn nhận sự sao chép, bắt chước như là một hành động trí tuệ ở mức thấp (low-level activivy), một số miêu tả hành động này như cách ứng xử của động vật, của trẻ con hay một hành động thiểu năng trí tuệ. Hiện nay, sau các thực nghiệm với việc quan sát động vật và con người ở nhiều dạng khác nhau, các nhà khoa học đã nhìn nhận đây thực sự là một tiến trình phức tạp và cần thiết đòi hỏi trí tuệ bậc cao cùng các năng lực nhận thức tập thể ở mức cao. Theo các nhà nghiên cứu động vật, khả năng bắt chước có từ loài khỉ lớn với mục đích thích nghi và tồn tại trong một môi trường thù địch nhằm bù đắp cho một số khiếm khuyết về mặt vật lý của chúng. Đây là bằng chứng cho thấy có thể có điều tương tự trong môi trường doanh nghiệp hiện nay.   Hoàng An  lược dịch từ Harvard Business Review số tháng 3/2010    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát các tương tác lượng tử bằng kính hiển vi điện tử siêu nhanh      Lần đầu tiên kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) được sử dụng để quan sát các tương tác lượng tử kết hợp giữa điện tử tự do và hốc quang tử đã mở ra những hiểu biết mới về các tương tác lượng tử trong các linh kiện quang tử. Nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ Technion – Israel đã phát triển công cụ dựa trên kính hiển vi điện tử truyền qua siêu nhanh cho phép quan sát được động học của ánh sáng khi bị bẫy trong các vật liệu nano quang tử. Công trình này có thể sẽ mở ra một xu hướng nghiên cứu mới trong quang tử học (photonics) với các khả năng quan sát trực tiếp các tương tác quang – lượng tử.      Hình 1. Ảnh chụp hệ thiết bị UTEM tại Viện Công nghệ Technion-Israel, được xây dựng từ thiết bị TEM JEOL JEM-2100 Plus.  Quang tử học và thử thách siêu nhanh     Quang tử học – photonics  là ngành khoa học kĩ thuật nghiên cứu về thu phát và điều khiển ánh sáng, đặc biệt là việc sử dụng ánh sáng như một công cụ mang thông tin. Quang tử học hứa hẹn tạo ra các linh kiện với tốc độ siêu nhanh nhờ tốc độ tương tác rất nhanh của ánh sáng. Trong một tinh thể quang tử (photonic crystal), tương tác giữa xung ánh sáng cực ngắn ở trường gần và điện tử tự do – các hạt với dải năng lượng liên tục (khác với điện tử nằm trong liên kết chỉ chiếm các mức năng lượng rời rạc) tạo ra rất nhiều hiệu ứng quang học phi tuyến. Vì các tương tác với xung ánh sáng diễn ra ở tốc độ rất nhanh việc ghi nhận các hình ảnh ở kích thước nano là một thử thách lớn.    Kính hiển vi điện tử truyền qua (transmission electron microscope – TEM) là một công cụ quan sát và phân tích với độ phân giải siêu cao ở cấp độ nguyên tử. Chùm điện tử của TEM đồng thời có thể đóng vai trò như một nguồn sóng điện tử tự do cung cấp cho các tinh thể quang tử. Thế nhưng các thiết bị TEM thông thường – nơi mà các chùm điện tử là chùm sóng liên tục – thường có tốc độ ghi ảnh hay phổ khá chậm (từ micro, 10-6 đến mili 10-3 giây), nên nó không phải là công cụ được yêu thích trong các nghiên cứu về photonics, nơi cần tới khả năng phân giải thời gian lên tới pico (10-12) hay thậm chí femto (10-15) giây.     UTEM và con đường mới cho photonics     Nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ Technion-Israel do  Ido Kaminer dẫn dắt đã tìm ra giải pháp kết hợp công cụ TEM cho nghiên cứu photonics bằng việc xử dụng thiết bị UTEM (Ultrafast TEM – TEM siêu nhanh – hình 1) để quan sát các cấu trúc nano photonics.1 UTEM là một thiết bị TEM sử dụng chùm xung điện tử cực ngắn (cỡ femto giây),2 cho phép ghi nhận ảnh và phân tích với độ phân giải thời gian lên tới femto giây. Để làm được điều này, chùm điện tử phát ra ở thiết bị TEM được sản sinh bằng cách dùng một xung ánh sáng cực mạnh kích thích lên cathode của nguồn điện tử (hình 2), vừa đồng thời đóng vai trò nguồn bức xạ ghi ảnh, đồng thời cũng là xung điện tử tự do để tác dụng lên mẫu vật. Xung ánh sáng này cũng kích thích mẫu – là một hốc quang tử SiN, vì vậy mà việc kích thích quang lên mẫu và quá trình ghi nhận ảnh, ghi phổ, được đồng bộ hóa bởi một xung ánh sáng gốc.      Hình 2. Nguyên lý thí nghiệm, trái: thiết bị UTEM với xung UV kích thích nguồn điện tử và kích thích mẫu vật; phải: tương tác trên mẫu bởi chùm điện tử tự do (sóng điện tử của UTEM) và xung ánh sáng, và tương tác quang này diễn ra trong hốc quang tử. Ảnh từ Nature 582, 50–54(2020).  Sự kết hợp tuyệt vời này cho phép nhóm nghiên cứu lần đầu tiên quan sát được tương tác lượng tử một cách trực tiếp diễn ra trong hốc quang tử bằng việc chụp ảnh siêu nhanh (hình 3). Kết hợp với ghi nhận phổ tổn hao năng lượng điện tử (Electron Energy Loss Spectroscopy – EELS) phân giải trong thời gian thực, thời gian sống của photon trong tương tác động với điện tử tự do cũng được đo đạc một cách chính xác.      Hình 3. Quan sát trực tiếp tương tác lượng tử trong hốc quang học bằng UTEM: a) Ảnh TEM của một lỗ trên màng SiN, b) Ảnh EFTEM của lỗ cho hình ảnh Bloch-mode của hốc quang học, c) các mode dao động của điện tử phản ánh xác suất chiếm chỗ của điện tử trong các mức năng lượng, d) hàm Rabi theo vị trí trong hốc, e) phổ EELSS đo theo từng vị trí trong hốc cho phép xác định cấu trúc vùng năng lượng trong hốc. Hình từ Nature 582, 50–54(2020)  Giáo sư Kaminer phấn khởi chia sẻ trên Phys.org:3 “Thành tựu này thậm chí sẽ trở nên ảnh hưởng lớn hơn nếu chúng tôi tiếp tục nghiên cứu các vật liệu quang tử nano khác. Với một kính hiển vi với độ phân giải siêu cao, chúng tôi đang bắt đầu một bước tiến mới (cho các nghiên cứu photonics)”. Cách tiếp cận mới này có thể mở ra một xu thế mới cho nghiên cứu photonics với những ứng dụng cực kỳ rộng mở, ví dụ trong các công nghệ QLED, hay máy tính quang – lượng tử… □     TS. Ngô Đức Thế (ĐH Manchester, Anh)  Tổng hợp từ Nature & Phys.org     Tham khảo và chú thích  1.  Wang et al., “Coherent interaction between free electrons and a photonic cavity”, Nature 582, 50–54(2020). Access: https://www.nature.com/articles/s41586-020-2321-x  2.  UTEM thực chất là thiết bị đã được thương mại hóa, từ những phát kiến từ đầu những năm 2000 bởi nhóm nghiên cứu của Ahmed Zewail ở Caltech. Ahmed Zewail (1946 – 2016, nhà vật lý, hóa học người Ai Cập) được trao giải Nobel Hóa học năm 1999 cho những đóng góp trong nghiên cứu lý hóa ở tốc độ siêu nhanh.  Xem thêm: Lobastove at al., “Four-dimensional ultrafast electron microscopy”, PNAS 102, 7069-7073 (2005). https://doi.org/10.1073/pnas.0502607102  3. Phys.org 4/6/2020: https://phys.org/news/2020-06-one-of-a-kind-microscope-enables-breakthrough-quantum.html.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan trắc phóng xạ: từ văn bản pháp lý đến thực tiễn triển khai      Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) diễn ra vào tháng 12 năm 2015 tại Paris (Pháp) đã ghi nhận một thỏa thuận đạt được giữa các quốc gia để cam kết tự nguyện cắt giảm lượng khí thải gây ô nhiễm và hạn chế sự nóng lên toàn cầu.Đây này là tín hiệu mở lại thời kỳ phục hồi mạnh mẽ của nguồn năng lượng hạt nhân khi điện hạt nhân được xem là giải pháp hữu hiệu, có tính khả thi và cạnh tranh hơn cả so với các nguồn năng lượng sạch khác. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng lịch sử thế giới đã chứng kiến một số sự cố hạt nhân để lại hậu quả khôn lường mặc dù công nghệ hạt nhân được đánh giá là loại công nghệ tiên tiến có độ tin cậy và an toàn cao với xác suất xảy ra sự cố dưới phần triệu.      Các địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc  Năm 1986, sự cố Chernobyl xảy ra trên lãnh thổ Ukraina và thông tin về sự cố đã không được chính quyền thông báo rộng rãi, đặc biệt là không có bất kỳ động thái thông báo nào với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, tại nơi cách nhà máy Chernobyl hàng nghìn km, hệ thống quan trắc phóng xạ của Thụy Điển đã phát hiện được những dữ liệu bất thường. Bằng những phân tích, các nhà nghiên cứu Thụy Điển đã tìm ra được nguồn gốc phát sinh phóng xạ và thông tin về một tai nạn nhà máy điện hạt nhân chính thức nổ ra.  Theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các quốc gia cần thiết lập Kế hoạch chuẩn bị và ứng phó khẩn cấp để có được những phương án ứng phó kịp thời đối với bất kỳ một sự kiện hạt nhân bất thường, nhằm đảm bảo an toàn cho dân chúng ngay cả đối với quốc gia chưa theo đuổi chương trình điện hạt nhân. Như vậy, yêu cầu này đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải xây dựng được một hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường có đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ đưa ra được những cảnh báo sớm.  Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hàng loạt các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc có vị trí sát biên giới hai nước đi vào hoạt động đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải sớm hoàn thiện hệ thống mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia. Theo thống kê của IAEA, đến tháng 9 năm 2016, Trung Quốc có 35 tổ máy điện hạt nhân đang hoạt động với tổng công suất điện lắp đặt là 31.617MW. Ngoài ra, nhiều tổ máy khác đang và sẽ được xây dựng trong thời gian tới nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng của Trung Quốc với dự kiến đưa vào vận hành 170 nhà máy điện hạt nhân năm 2050 với tổng công suất điện lắp đặt vào khoảng 195.000MW. Trong đó, đặc biệt đáng chú ý trong năm 2016, ba nhà máy điện hạt nhân ở phía nam Trung Quốc vừa chính thức đi vào hoạt động, gồm Phòng Thành (Quảng Tây) công suất điện 1.000MW, Xương Giang (đảo Hải Nam) công suất điện 650MW và tổ máy 600MW của nhà máy Trường Giang (Quảng Đông). Ba nhà máy này đều nằm ở vị trí gần với biên giới trên đất liền và trên biển Việt Nam, trong đó gần nhất là nhà máy Phòng Thành chỉ cách Móng Cái (Quảng Ninh) khoảng 50km.  Theo khuyến cáo của IAEA, đối với vị trí của nhà máy Phòng Thành thì Quảng Ninh và một số tỉnh phía bắc Việt Nam nằm trong phân vùng cần phải lập kế hoạch mở rộng (EPD, trong phạm vi 100km) và kế hoạch cho hàng hóa và thực phẩm (ICPD, trong phạm vi 300km). Do đó, chúng ta cần phải xây dựng Kế hoạch chuẩn bị và ứng phó dự phòng cùng với hệ thống quan trắc phóng xạ giúp cảnh báo sớm mặc dù mới chỉ có một lò phản ứng nghiên cứu công suất rất thấp (500kW) tại Đà Lạt (Lâm Đồng) và chưa có nhà máy điện hạt nhân nào hoạt động.  Quan trắc phóng xạ môi trường ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai thực hiện ngay từ giai đoạn khôi phục lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu Đà Lạt nhằm mục đích xác định phông phóng xạ môi trường xung quanh khu vực lò phản ứng và quan trắc sự ảnh hưởng của lò phản ứng đối với môi trường khi đi vào hoạt động. Với chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được sự cần thiết của việc xây dựng một mạng lưới quan trắc quốc gia. Ngày 31 tháng 8 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1636/QĐ-TTg về việc Quy hoạch mạng lưới quan trắc phóng xạ môi trường quốc gia đến năm 2020 với mục tiêu nhằm đảm bảo kịp thời phát hiện mọi diễn biến bất thường về bức xạ, hạt nhân trên toàn lãnh thổ Việt Nam và hỗ trợ kịp thời cho công tác ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân. Mạng lưới sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu về phóng xạ môi trường quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.  Thực hiện Quyết định số 1636/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức soạn thảo và ban hành Thông tư số 27/TT-BKHCN ngày 30/12/2010 về đo lường bức xạ, hạt nhân và xây dựng, quản lý mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, Thông tư số 16/TT-BKHCN ngày 30/7/2013 về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia củamạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, Dự thảo Thông tư về Định mức kinh tế – kỹ thuật quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia. Ngoài ra, Bộ Quốc phòng cũng đã có những hoạt động xây dựng các đề án liên quan đến việc xây dựng, kiện toàn hệ thống quan trắc cảnh báo phóng xạ môi trường trong quân đội…  Theo Quyết định số 1636/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia đến năm 2020 sẽ gồm Trung tâm điều hành quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường đặt tại Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN); 4 trạm cấp vùng đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng, TP. Hồ Chí Minh; 16 trạm địa phương đặt tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Thái Nguyên, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận, Cần Thơ, Kiên Giang và hệ thống quan trắc và cảnh báo phóng môi trường (Bộ Quốc phòng).Tuy nhiên, căn cứ trên tình hình thực tiễn ở trong và ngoài nước, TS. Nguyễn Hào Quang, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Bộ KH&CN), đơn vị chủ trì triển khai dự án xây dựng mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, cho biết dự án sẽ được đề xuất thực hiện theo 2 giai đoạn. Trong giai đoạn một dự kiến trong năm 2017-2020, đề xuất tập trung đầu tư thiết bị quan trắc tại những địa phương có khả năng bị ảnh hưởng nhiều nhất trong trường hợp xảy ra sự cố hạt nhân từ Trung Quốc bao gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An và Hà Nội (nơi đặt Trung tâm điều hành). Giai đoạn hai dự kiến trong năm 2021-2025, sẽ hoàn thiện mạng lưới quan trắc trên cả nước.  Hiện nay, công tác quan trắc của Việt Nam đang được giao cho 3 trạm quan trắc đặt tại Viện Nghiên cứu hạt nhân, Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam VINATOM (Bộ KH&CN) và Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường thuộc Bộ Tư lệnh hóa học (Bộ Quốc phòng). Những trạm quan trắc này thời gian qua đã có được những đóng góp đáng kể trong các hoạt động quan trắc của Việt Nam, đặc biệt đã có được những quan trắc kịp thời một số đồng vị phóng xạ nhân tạo trong son khí lan truyền phát sinh từ sự cố hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) vào tháng 3 năm 2011.    Phân bố Mạng lưới Quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia (Ảnh: INST)  Cũng theo TS. Nguyễn Hào Quang, mặc dù trong giai đoạn một,mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia mới chỉ có 8 trạm quan trắc và Trung tâm điều hành nhưng cũng có thể thu được một lượng dữ liệu rất lớn. Để khai thác một cách hiệu quả mạng lưới này, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam sẽ thiết lập một quy trình chặt chẽ, trong đó trọng tâm là việc khai thác dữ liệu thu được từ các trạm quan trắc.Đó phải thực sự là “những con số biết nói”.  —-  Tác giả công tác tại Cục Năng lượng nguyên tử          Author                Đinh Văn Chiến        
__label__tiasang Quốc gia khởi nghiệp*: Một cuốn sách phải-đọc      Có một số câu hỏi mà chúng ta cần phải xác  định là nỗi-trăn-trở-đời-người. Ấy là: Tại sao có người thành công-kẻ  thất bại? Tại sao có nước giàu-nước nghèo? Tại Sao Việt Nam Lại Mãi  Nghèo? Làm thế nào để trở thành quốc gia vĩ đại, hùng cường, ảnh hưởng?  Người Khác Làm Được Sao Ta Không Làm Được? Nước Khác Làm Được Sao Nước  Ta Không Làm Được?    Trước những câu-hỏi-thời-đại, ta cần phải thao thức nhiều ngày đêm, phải tìm hiểu qua nhiều sách vở, tham vấn nhiều nhân vật ảnh hưởng, phải nghiên cứu nhiều quốc gia và thực mục sở thị nhiều cảnh đời… Có nhiều quốc gia, dân tộc cần phải được điển cứu để rút ra nguyên lý thành công phổ quát cho Việt Nam. Và Israel là dân tộc không-thể-bỏ-qua trên hành trình này.  Cuốn sách đặc sắc mà Bạn đang cầm trên tay kể nhiều câu chuyện kỳ thú làm toát lên phẩm chất vượt trội của con người và đất nước Israel. Sách phần nào giúp Bạn giải mã hiện tượng Israel, phần nào trả lời những câu hỏi lớn nêu trên.  Tôi có thể may mắn hơn một số người khi có khá nhiều cơ hội đi thực địa Israel. Nỗi niềm đau đáu trong Tôi là, bằng cách nào mà một dân tộc chỉ với khoảng 14 triệu dân (bao gồm khoảng 8 triệu dân trong nước và  hơn 6 triệu kiều bào Do Thái ngoài lãnh thổ) và lại có thể sản sinh ra vô số chủ nhân Nobel, khoa học gia lỗi lạc và những nhà tài chính–kỹ nghệ đại tài để kiểm soát các lĩnh vực then chốt của thế giới? Làm thế nào mà một dân tộc hai nghìn năm vong quốc lại có thể chi phối hành tinh? Làm thế nào mà một quốc gia 8 triệu dân, với chỉ 65 năm tuổi lại làm chủ được cuộc chơi, luôn nắm thế thượng phong trước khối thù địch tôn giáo hơn 350 triệu người bủa vây? Israel có tài nguyên thiên nhiên bằng không, hai phần ba diện tích là hoang mạc, còn lại là đồi núi, sỏi đá cằn cỗi; nước ngọt thì thiếu trầm trọng. Nghịch cảnh như vậy, điều kiện thiếu đất – thiếu nước – thiếu người như vậy mà họ luôn tự chủ. Điều đáng suy tư là nước ta rộng hơn khoảng 12 lần, dân số đông hơn xấp xỉ 11 lần và tài nguyên nhiều gấp bội Israel nhưng ta lại kém 23 lần về GDP đầu người, thậm chí gián tiếp nhận viện trợ từ họ. Đây là Nỗi Niềm Lớn của chúng ta!  Ta cần phải hỏi, họ làm được sao ta không làm được? Họ nào phải thần thánh gì. Họ cũng là da thịt, cũng sinh-lão-bệnh-tử như ta. Họ cũng là người như ta thôi. Vậy, tại sao họ làm được mà ta không làm được? Ta tuyệt không thiếu bất kỳ một điều kiện nào để trở thành cường quốc. Nhưng phải chăng cái chúng ta thiếu chính là sức mạnh tinh thần, nhất là tinh thần quật cường và đoàn kết trong thời bình?  Trở thành doanh nhân khởi nghiệp là chuẩn mực trong xã hội Israel ngày nay. Rõ ràng Văn Hóa đóng vai trò sinh tử trong phát triển quốc gia, bên cạnh Tầm Nhìn của giới tinh hoa, Ý Thức Hệ, Thể Chế Vĩ Mô và Chiến Lược Thực Thi, được kích xúc bởi Văn Hóa Khởi Nghiệp.  Phân tích ngườiDo Thái-Israel, tôi cô đặc lại 3 tinh thần đặc trưng: Chiến Binh, Doanh Nhân và Sáng Tạo, đồng hành với Hoài Bão về Dân tộc Vĩ đại và Tư duy Toàn biên-Toàn diện-Toàn cầu. Trong đó, tinh thần Sáng tạo là tinh thần luôn tư duy xé rào, tiếp cận khôn ngoan và đặc biệt là, tinh thần Sáng-Tạo-có-Trách-Nhiệm. Tinh thần Sáng tạo, theo tôi, được người Israel-Do Thái coi là Năng Lượng Sống của họ.  Sở dĩ quốc gia Israel hùng cường-ảnh hưởng như thế, làm chủ được thời đại như thế, theo tôi, là bởi họ sở đắc 1 Hoài Bão – 3 Tinh Thần mà tôi đã nhắc đi nhắc lại.  Bạn hãy đọc sách và mài chí để hành động cho một Việt Nam Hùng Mạnh, Ảnh Hưởng và Trường Tồn, trước mọi mối đe dọa-thiên tạo lẫn nhân tạo. Người Khác Làm Được Thì Ta Làm Được. Nước Khác Làm Được Thì Nước Ta Làm Được. Ta nhất định làm được. Tôi nguyện sát cánh bên Bạn.    —  * Quốc gia khởi nghiệp: Câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel – Tác giả: Dan Senon và Saul Singer, Alpha Books và NXB Thế giới ấn hành tháng 5/2013, 340 trang, giá bìa: 99 nghìn đồng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc gia nào sáng tạo nhất?      Thomas Friesman, tác giả cuốn Thế giới phẳng vừa đến thăm Việt Nam. Ông cho rằng thế giới hiện tại đang thay đổi bởi hai nhân tố chính: công nghệ và sức sáng tạo. Vậy quốc gia nào đang dẫn đầu sáng tạo?     Hằng năm, tổ chức quản lý bằng sáng chế quốc  tế (WIPO) đều công bố nghiên cứu về chỉ số sáng tạo của các quốc gia.  Năm 2013 và quý 1/2014 thế giới chứng kiến nhiều sự thay đổi về sức sáng  tạo quốc gia.  Cụ thể, Trung Quốc đã thay thế Đức trở thành quốc gia có số lượng bằng sáng chế nhiều thứ ba thế giới theo WIPO. Năm 2013, cả thế giới đã đăng ký 205.300 bằng sáng chế, tăng hơn 5% so với 2012. Dẫn đầu vẫn là Mỹ với hơn 57.000 sáng chế mới năm 2013. Xếp hạng tiếp theo lần lượt là Nhật với 43.918 bằng, Trung Quốc với 21.516 bằng và Đức với 17.927 bằng.  Về xếp hạng công ty, Panasonic dẫn đầu với 2.881 bằng. Xếp sau là hai công ty công nghệ của Trung Quốc: ZTE và Huawei.                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ dạng ARPA đem lại lợi thế đổi mới sáng tạo cho công nghệ xanh      Một phân tích về những thành công và thất bại của các công ty công nghệ xanh tại Mỹ đã phát hiện ra những công ty được hưởng đầu tư từ ARPA sẽ có nhiều sáng chế trong những năm tiếp theo hơn những các công ty khởi nghiệp về công nghệ sạch trong cùng thời gian.      Đây là nội dung công bố “Patenting and business outcomes for cleantech startups funded by the Advanced Research Projects Agency-Energ” (Bằng sáng chế và kết quả thương mại cho các công ty khởi nghiệp công nghệ sạch được Cơ quan Quản lý các dự án nghiên cứu tiên tiến về năng lượng đầu tư) trên Nature Energy. Nghiên cứu do trường đại học Cambridge, Anh dẫn dắt (với giáo sư Laura Diaz Anadon), trường đại học Massachusetts Amherst, Mỹ (tiến sĩ Anna Goldstein và giáo sư Erin Baker), và trường đại học Kỹ thuật Munich, Đức (giáo sư Claudia Doblinger).  Lợi thế đổi mới sáng tạo có được là nhờ hoạt động đầu tư của ARPA-E – một phiên bản trong lĩnh vực năng lượng của Quỹ DARPA “huyền thoại” (Defense Advanced Research Projects Agency Cơ quan Quản lý các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến) được Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) thành lập dưới thời tổng thống Obama, sử dụng một phần của gói kích cầu kinh tế sau khủng hoảng tài chính 2009. Các cơ quan đầu tư dạng ARPA được phát triển tại Mỹ để cấp kinh phí cho những nghiên cứu “rủi ro cao, kinh phí lớn” với mục tiêu khuyến khích các đột phá thực sự, thường đem lại cho người thụ hưởng quyền tự do thực hiện lớn hơn để sẵn sàng chấp nhận những thách thức về kỹ thuật, công nghệ để đạt được các mục tiêu đầy tham vọng.  Đến nay, ARPA-E đã được phân bổ 3,38 tỉ USD. Mục tiêu của Quỹ này là tăng tốc độ đổi mới sáng tạo trong các công nghệ sạch như nhiên liệu sinh học, lưới điện thông minh, điện mặt trời tại thời điểm nó không được các nhà đầu tư mạo hiểm quan tâm, một phần nguyên nhân là chu kỳ phát triển dài và lợi nhuận ban đầu thấp.  Những thành quả này đã gợi ý cho Anh về khả năng thành lập một quỹ ARPA tương tự (hoặc BARPA), nhưng việc chấp thuận mô hình này sẽ đòi hỏi phải chọn một trọng tâm nào đó để phát triển – và trong trường hợp của BARPA thì nên là khí hậu, giáo sư Laura Diaz Anadon của trường đại học Cambridge nói.  “Nghiên cứu về những hoạt động đầu tư của Mỹ chỉ ra giá trị của các cơ quan như ARPA. Anh có thể hưởng lợi tốt với một cách tiếp cận trong một thế giới hậu đại dịch, với vốn công nghệ trong các trường đại học và lĩnh vực tư nhân”, Anadon, đồng tác giả của nghiên cứu về đổi mới sáng tạo ở Mỹ, nói.  “Anh phải thích ứng với mô hình ARPA này để tạo ra một cơ quan nhằm giải quyết những thách thức về khí hậu như một phần của các gói hỗ trợ COVID-19. Tập trung vào nghiên cứu và phát triển việc lưu trữ năng lượng thế hệ mới và năng lượng tái tạo, cũng như các giải pháp để khử carbon trong vận tải, hàng không, xây dựng, có thể thúc đẩy sản xuất và lan tỏa lợi ích trên diện rộng hơn cho xã hội”, Anadon nói.    Tiến sĩ Anna Goldstein, tác giả đầu của nghiên cứu từ trường đại học Massachusetts Amherst, cho rằng: “ARPA không phải là một giải pháp phù hợp cho tất cả mọi hoàn cảnh. Các cơ quan dạng ARPA  là nơi tập trung vào các nhiệm vụ lớn và không có bằng chứng cho thấy mô hình này có thể đạt được kết quả tương tự như các quỹ đầu tư cho KH&CN nói chung”.  Với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã cùng tìm hiểu là liệu ARPA-E có thể chuyển cách tiếp cận độc đáo của mình thành những thành công trong thế giới thực không.  Bằng việc cấu trúc một cơ sở dữ liệu của 1.287 startup công nghệ sạch của Mỹ và sử dụng các bằng sáng chế như tiêu chí về đổi mới sáng tạo, họ đã thấy các công ty khởi nghiệp nhận tài trợ dành cho “người mới” của ARPA-E vào năm 2010 có được các sáng chế với tỷ lệ gấp đôi các công ty khác trong những năm tiếp theo.  Các nhà nghiên cứu cũng đo lường được “mức độ thành công trong kinh doanh” bằng việc tìm hiểu có bao nhiêu công ty khởi nghiệp được công khai hóa hoặc được các công ty lớn hơn mua lại, cũng như các mức kinh phí tài trợ và tỷ lệ sống sót.  Họ thấy, các công ty được ARPA tài trợ hoạt động không tốt hơn hoặc kém hơn các công ty khởi nghiệp về công nghệ sạch khác khi có cùng lượng bằng sáng chế và nguồn vốn tư nhân đầu tư trước năm 2010. Họ kết luận là hỗ trợ của ARPA-E không đủ để bắc cầu cho công ty khởi nghiệp qua được “Thung lũng chết”: pha chuyển đổi giữa nhận tài trợ giai đoạn đầu với việc sinh lợi nhuận mà các doanh nghiệp này thường phải đối mặt. Goldstein nhận xét: “Việc ARPA-E giúp các nhà khởi nghiệp phát triển các công nghệ có nhiều rủi ro hơn nhưng cũng có tiềm năng tạo ra nhiều đột phá cũng tương đương với hiệu quả của việc hỗ trợ các công ty về công nghệ sạch và ít rủi ro hơn”.  “Dẫu vậy, vẫn có một nhu cầu về đầu tư công để đem lại những đổi mới sáng tạo trong công nghệ sạch vượt qua được ‘thung lũng chết’, vì nhờ đó, các công ty có thể thương mại hóa sản phẩm có khả năng cạnh tranh với những công nghệ sẵn có và giảm thiểu phát thải”.  Viết cho Cambridge Zero, một sáng kiến về biến đổi khí hậu của trường đại học Cambridge, Laura Diaz Anadon chỉ ra là chỉ với 1,7% of GDP đầu tư cho R&D, Anh ở mức dưới trung bình của nhóm quốc gia EU28 và sau Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản.  “Trong khi Anh tăng một cách đột ngột đầu tư cho năng lượng trong vòng 20 năm qua thì mức đầu tư này vẫn còn ở mức thấp so với quá khứ – mức của những năm 1970 và 1980”, Anadon, giáo sư về chính sách đổi mới sáng tạo tại trường Cambridge, bình luận.  “Các đồng nghiệp tham gia nghiên cứu này và tôi sẽ kiến nghị thử nghiệm một phiên bản Anh của ARPA-E để mô hình này có thể góp phần gia tăng khả năng đổi mới sáng tạo về năng lượng và hỗ trợ các dự án qua pha trình diễn. Các đầu tư vào R&D trong chuyển dịch năng lượng có thể là một hợp phần trong gói phục hồi kinh tế sau COVID-19”.  “Anh có nhiều kinh nghiệm trong không gian năng lượng nhưng chúng ta chưa đo lường được chính xác thành công của các sáng kiến đầu tư do nguồn tài trợ của chính phủ thiếu ổn định và dẫn đến việc nhiều sáng kiến thất bại. Những nỗ lực trong tương lai sẽ cần được giữ ổn định cũng như thiết lập một đánh giá mới và độc lập đi kèm”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-09-arpa-type-funding-green-technology-advantage.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy hoạch đô thị bền vững hậu COVID-19: Hình mẫu từ Barcelona?      COVID-19 đã khiến quy hoạch đô thị sinh thái trở thành một hướng đi hấp dẫn. Tuy nhiên, đi kèm với những kế hoạch này là cái giá không rẻ.      Barcelona là thành phố đi tiên phong trong việc ứng dụng khái niệm “siêu khối” (superblocks), được đề xuất lần đầu vào năm 2016, trong quy hoạch đô thị xanh. Mỗi “siêu khối” là một tổ hợp dân cư gồm chín khối nhà lớn. Các phương tiện giao thông cơ giới chỉ được phép lưu thông ở rìa ngoài của “siêu khối”, trả lại khu phố bên trong cho người đi bộ và đi xe đạp. Ảnh: marchello74/Shutterstock  Lệnh phong tỏa và các biện pháp hạn chế nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch COVID-19 đã làm rung chuyển đời sống đô thị. Khu vực nội đô nhộn nhịp trước đây giờ vắng vẻ, nhường chỗ cho các vùng ngoại ô hoặc nông thôn, nơi có nhiều không gian xanh và dễ dàng để giãn cách xã hội.  Những thông tin mới về vaccine khiến ta hy vọng về sự khôi phục phần nào trạng thái bình thường trong các thành phố. Tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch COVID-19 có thể kéo dài lâu hơn thế.  Cụ thể, đại dịch đã cho thấy mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông và sự thiếu vắng không gian xanh – bao gồm tác động nghiêm trọng của chúng lên cư dân đô thị. Chúng ta đang đứng trước cơ hội thay đổi số phận của các thành phố theo hướng tích cực hơn.  Barcelona là ví dụ điển hình, với các khu phố được cải tiến để giảm ô nhiễm và tăng cơ hội tiếp cận không gian xanh của cư dân. Đây là thành phố đi tiên phong trong việc ứng dụng khái niệm “siêu khối” (superblocks), được đề xuất lần đầu vào năm 2016, trong quy hoạch đô thị xanh. Mỗi “siêu khối” là một tổ hợp dân cư gồm chín khối nhà lớn. Các phương tiện giao thông cơ giới chỉ được phép lưu thông ở rìa ngoài của “siêu khối”, trả lại khu phố bên trong cho người đi bộ và đi xe đạp.  Gần đây, thành phố vừa thông báo kế hoạch tiếp tục mở rộng các “vùng xanh” ở quận trung tâm Eixample. Theo kế hoạch, các vùng có mật độ giao thông thấp sẽ được mở rộng để ưu tiên người đi bộ và đi xe đạp, nhằm hạn chế ô nhiễm và tạo ra các không gian xanh mới. Thành phố sẽ áp dụng kế hoạch mới cho 21 tuyến phố và giải phóng không gian để xây dựng 21 quảng trường đi bộ tại các giao lộ. Ít nhất 80% chiều dài mỗi tuyến phố sẽ được phủ xanh vào mùa hè và 20% không bị trải nhựa. Thành phố sẽ quyết định thiết kế cuối cùng vào tháng 5/2021, trong một cuộc thi mở cho công chúng.  Mục đích của kế hoạch là đảm bảo tất cả không gian xanh trong thành phố đều nằm trong tầm di chuyển 200m của cư dân.  Việc tạo ra những không gian xanh đô thị như vậy mang lại rất nhiều lợi ích, bao gồm cải thiện chất lượng không khí và mức độ tiếng ồn tại các tuyến phố cấm xe hơi, và giảm lượng khí thải NO₂ từ giao thông đường bộ. Tiếp xúc với nồng độ NO₂ cao có thể gây ra một loạt các vấn đề hô hấp.  Ngoài ra, nghiên cứu đã cho thấy không gian xanh đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe tâm thần, cũng như làm giảm nguy cơ béo phì và tiểu đường – những bệnh lý làm tăng khả năng bị tổn thương bởi COVID-19.  COVID-19 đã khiến quy hoạch đô thị sinh thái trở thành một hướng đi hấp dẫn. Tuy nhiên, đi kèm với những kế hoạch này là cái giá không rẻ.  Rào cản trong xanh hóa đô thị  Một tác động tiêu cực của quy hoạch phân vùng xanh là gánh nặng lên nhu cầu nhà ở, khiến cho bất động sản tăng giá. Điều này có thể dẫn đến việc di dời dân cư và doanh nghiệp địa phương. Cần phải cẩn thận để đảm bảo các ngôi nhà vẫn có mức giá phải chăng, và các vùng xanh trong đô thị không trở thành những “ốc đảo biệt lập” của giới nhà giàu.  Các đợt phong tỏa vì COVID-19 đã khiến sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm cư dân đô thị hiện rõ. Do vậy, các sáng kiến xanh phải đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả các nhóm và không được làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng hiện tại. Thêm vào đó, bên cạnh khu vực nội đô thường được ưu tiên áp dụng sáng kiến xanh, chúng ta cũng cần để tâm đến các khu vực ngoại vi. Mục tiêu là giảm sự phụ thuộc vào carbon một cách toàn diện – chứ không phải là chuyển nó từ vùng này sang vùng khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác.  Kế hoạch cũng cần đưa ra trình tự xanh hóa toàn bộ hệ thống giao thông cá nhân và công cộng. Trình tự này có thể bao gồm các bước như thay thế phương tiện phát thải carbon bằng phương tiện không phát thải, và xây dựng cơ sở hạ tầng đầy đủ gồm các trạm sạc điện và làn đường dành riêng cho xe điện.  Không thể áp dụng một mô hình quy hoạch cho tất cả thành phố, bởi mỗi thành phố đều sở hữu đặc điểm về hình thái, cấu trúc và cơ chế vận hành riêng. Nếu lựa chọn đi theo mô hình của Barcelona, các chính quyền đô thị sẽ phải xem xét các vấn đề địa phương thật cẩn thận. Siêu khối là lựa chọn hoàn hảo cho một đô thị kiểu bàn cờ như Barcelona. Nhưng không nhiều thành phố được quy hoạch gọn gàng như vậy.  Tuy thế, các nguyên tắc xây dựng khu dân cư xanh, thân thiện với môi trường, cấm hoặc hạn chế giao thông vẫn có thể được áp dụng ở bất cứ đâu. Một số ví dụ có thể kể đến là các khu dân cư có mật độ giao thông thấp ở London, sáng kiến “Paris 15 phút”, hay kế hoạch phát triển trung tâm thành phố không carbon của Manchester.  Điều quan trọng là các biện pháp can thiệp kể trên cần lưu ý đến nhu cầu hằng ngày của cư dân để tránh gây thêm sức ép cho họ. Việc hạn chế các phương tiện cơ giới cần đi đôi với đảm bảo hệ thống giao thông công cộng, đầu tư cơ sở hạ tầng an toàn cho người đi bộ và đi xe đạp, và quy hoạch đường sá đáp ứng các nhu cầu dịch vụ thiết yếu.    Một con phố thân thiện với người đi bộ trong khu Gràcia. Ảnh: BCNecologia  Một kế hoạch phát triển đô thị bền vững sẽ cần huy động rất nhiều vốn đầu tư. Chẳng hạn, chi phí dự kiến của dự án mở rộng các “vùng xanh” tại Barcelona là 38 triệu Euro (hơn 1.000 tỷ VND). Con số này sẽ còn tăng thêm nếu Barcelona triển khai dự án ra nhiều khu vực hơn. Các thành phố ở các quốc gia đang phát triển và các nước nghèo hơn không thể chi trả những khoản tiền lớn như vậy. Đó là chưa kể đến khoản nợ khổng lồ mà một số thành phố đang phải gánh chịu do ảnh hưởng của đại dịch.  Các sáng kiến đô thị xanh cần mang tính lâu dài – và có được sự ủng hộ của người dân địa phương. Nhận thức về lợi ích của lối sống xanh và sự ủng hộ có hiểu biết đối với các kế hoạch phát triển sẽ là nhân tố thúc đẩy những thay đổi hành vi tích cực của cư dân đô thị.  Hà Trang dịch  Nguồn: Sustainable cities after COVID-19: are Barcelona-style green zones the answer?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ điều chỉnh phân bổ tài trợ      Dự kiến, một số chính sách mới của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) sẽ hướng tới cải thiện sự mất cân đối phân bổ tài trợ theo vùng địa lý.    Điều chỉnh này bắt nguồn từ việc hiện nay phần lớn kinh phí của NSF phân bổ hướng tới các trường đại học nghiên cứu hàng đầu tập trung ở một số tiểu bang lớn, trong khi các cơ sở nghiên cứu ở các liên bang còn lại ở một nửa đất nước thường chỉ nhận những khoản tài trợ ít ỏi hoặc không nhận được.    Nguồn tài trợ của NSF đã nghiêng về một số tiểu bang kể từ khi NSF bắt đầu được thành lập và đi vào hoạt động từ những năm 1950. Đại diện của một số tiểu bang từ lâu đã phàn nàn về việc cơ quan tài trợ khoa học quốc gia này đã phớt lờ các bang của họ, và vào năm 1979 NSF đã xây dựng chương trình EPSCoR để giải quyết vấn đề này.        Một số bang trong tổng số 25 tiểu bang ít nhận được tài trợ, như cũng như Puerto Rico, Guam và Quần đảo Virgin đang nhận được tài trợ từ EPSCoR. Nguồn ngân sách này được sử dụng để gieo mầm các nghiên cứu học thuật cũng như để giúp các trường cao đẳng và đại học ở các bang đó xây dựng cơ sở hạ tầng nghiên cứu cần thiết.    Ngân sách của EPSCoR, đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, hiện ở mức khoảng 215 triệu USD. Nhưng tổng thể cả chương trình tài trợ của NSF thì vẫn mất cân đối. Vào năm 2020, chỉ năm bang – California, Massachusetts, New York, Texas và Maryland — đã nhận được gần 40% chi ngân sách nghiên cứu của NSF, trong khi năm tiểu bang kém nhất — Vermont, West Virginia, North Dakota, South Dakota và Wyoming — cùng nhận được ít hơn hơn 1%. Danh sách phân bổ này thay đổi rất ít trong những năm qua.    Và giờ đây Thượng viện muốn thúc đẩy phân bổ ngân sách đa dạng theo vùng địa lý bằng cách bơm tiền vào EPSCoR. Ví dụ: nếu ủy thác 20% được đưa ra ngay bây giờ, ngân sách của EPSCoR sẽ tăng lên khoảng 1,75 tỷ USD.    Những ý kiến ủng hộ kế hoạch của Thượng viện, mà hầu hết là đại diện cho các bang nhận EPSCoR, nói rằng nếu làm được như vậy sẽ dẫn đến việc cân đối và sử dụng ngân sách NSF tốt hơn.    Trong đó, vào cuối năm 2021, 33 thành viên tại Thượng viện và 26 thành viên Hạ viện, tất cả đều đến từ các bang của EPSCoR, ký một lá thư, lập luận về việc “đảm bảo rằng các tổ chức và nhà nghiên cứu trên toàn quốc nhận được một phần tài trợ R&D của liên bang”.    Nhưng kế hoạch phân bổ lại của Thượng viện không dễ gì được chấp thuận.    Thượng viện muốn NSF thay đổi tình trạng mất cân bằng trong cơ cấu tài trợ theo phân vùng địa lý nhiều thập niên này. Nhưng giải pháp của Thượng viện – phân bổ ngay 20% ngân sách của NSF cho chương trình EPSCoR hiện mới chỉ là một chương trình nhỏ phục vụ những tiểu bang ít nhận quỹ – đang vấp phải sự phản đối gay gắt từ nhiều trường đại học.    “Tùy tiện cắt một tỷ lệ khá lớn ngân sách của cơ quan khoa học khỏi phần lớn các cơ quan nghiên cứu của đất nước về cơ bản sẽ làm giảm năng lực khoa học của quốc gia”, 18 thượng nghị sĩ và 78 thành viên Hạ viện viết thư cảnh báo phản đối kế hoạch của Thượng viện ngay khi biết rằng bản kế hoạch này được công bố. Vì theo họ, nếu làm như vậy thì NSF sẽ buộc phải thu hẹp các chương trình hiện có. Mà đây chính là một động thái có thể gây tổn hại cho nhiều cơ sở nghiên cứu, vốn nằm bên ngoài các bang không nhận được tài trợ. Lá thư cũng nêu rõ là có nhiều cách tốt hơn để giải quyết tình trạng mất cân bằng địa lý hiện tại.    Trong một lá thư vào ngày 2/4, hơn 200 trường đại học ở các bang không ở trong chương trình EPSCoR đã thúc giục bỏ đề xuất cắt ngân sách tài trợ từ các các bang “mạnh” sang các bang ít nhận được ngân sách. “Chúng tôi đồng ý rằng bắt buộc phải mở rộng sự tham gia của các nhà nghiên cứu và sinh viên được liên bang tài trợ, bất kể vị trí địa lý. Nhưng một giải pháp dành nguồn lực chỉ cho các tiểu bang trong chương trình EPSCoR sẽ không giải quyết hiệu quả mối lo ngại này… trong khi đó lại sẽ hạn chế đáng kể nguồn tài trợ dành cho các tổ chức khác đang cần”.    Một lá thư khác của 96 nhà lập pháp cũng lặp lại những lo ngại đó. Họ viết rằng 20% ​​được trích lập “sẽ bỏ các tổ chức nghiên cứu mới nổi ở các bang không có EPSCoR lại phía sau”.  Cuộc tranh luận đang trở nên gay gắt trong tháng này, khi các nhà lập pháp Hạ viện và Thượng viện cố gắng đạt được thỏa thuận về một dự luật lớn nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của Mỹ với Trung Quốc trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao. Cả Thượng viện và Hạ viện đều đã thông qua các phiên bản luật sẽ cho phép tăng gấp đôi ngân sách của NSF. Và cả hai dự luật đều mong muốn thúc đẩy các công nghệ mới nhận được tài trợ của NSF thành các sản phẩm công nghệ cao.    Các nhà lãnh đạo đảng Dân chủ hy vọng sẽ có một cách giải quyết khác. Đó là Dự luật Cạnh tranh và Đổi mới (USICA), yêu cầu tăng ngân sách gấp 10 lần cho chương trình NSF hướng tài trợ đến các tiểu bang không có tên trong chương trình EPSCoR. Dự luật Cạnh tranh sẽ tạo ra các chương trình nghiên cứu cạnh tranh mới nhằm vào các tổ chức ở bất kỳ tiểu bang nào vốn ít nhận được tài trợ.    Có một giải pháp dung hòa, đó là giúp các bang trước đây ít nhận tài trợ giờ đây gia tăng khả năng nhận được tài trợ bằng cách không cắt giảm nguồn hiện có của NSF cho các bang khác, mà thúc đẩy để họ tăng tỉ lệ nhận được trong nguồn tài trợ mới mà NSF. Ví dụ: nếu ngân sách cấp cho NSF tăng 1 tỷ USD, thì EPSCoR có thể nhận được 20% số tiền mới đó — nhưng không phải 20% trong toàn bộ ngân sách của quỹ hiện nay.    Dự luật Cạnh tranh sẽ cho phép NSF xây dựng một chương trình trị giá 150 triệu USD một năm, mở ra cơ hội cho bất kỳ tổ chức nào có thể nhận quỹ nghiên cứu liên bang. Khoản tài trợ này sẽ được trao dựa trên nguyên tắc cạnh tranh, cho các hồ sơ xin tài trợ nghiên cứu và xây dựng cơ sở vật chất, tuyển dụng giảng viên, trợ cấp sinh viên đại học và sau đại học, cũng như “các hoạt động khác cần thiết để xây dựng năng lực nghiên cứu”. Nó còn có một điều khoản khác yêu cầu một chương trình thí điểm cạnh tranh sẽ tài trợ cho các dự án chung giữa một công ty nghiên cứu và một “tổ chức nghiên cứu mới nổi” – có ngân sách khoảng 35 triệu USD hằng năm, trong nghiên cứu do liên bang tài trợ.    Các chương trình mới được thiết kế như vậy sẽ hữu dụng hơn là nỗ lực giảm sự mất cân bằng phân bổ ngân sách theo vùng bằng cách “dồn” sang các cơ sở nghiên cứu ít nghiên cứu chuyên sâu hơn ở tất cả các bang.    Công Phạm    Author                .        
__label__tiasang Quỹ khuyến khích đầu tư sáng tạo      Đầu năm 2017, Tổng cục Thống kê cho hay “Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippines và bằng 87,4% năng suất lao động của Lào” 1.      Một buổi giới thiệu về giáo dục STEM của Trung tâm POMath tại trường tiểu học Sài Đồng. Nguồn: Trung tâm POMath   Những con số này đã gây sốc cho không ít người. Ngay trong thời kỳ “dân số vàng” với số lượng người trong độ tuổi lao động chiếm ưu thế mà chúng ta cũng không thể có được chất lượng lao động cao. Có thể thấy, một phần của nguyên nhân của chất lượng lao động không cao bắt nguồn từ phẩm chất của người lao động trong khi nhắc đến giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, chúng ta luôn đặt mục tiêu “đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,  … sáng tạo”.  Tôi đã từng làm một khảo sát với những người tuổi 20 xung quanh mình. Các bạn ấy cho biết rằng cái mà các bạn muốn làm khác đi, đó chỉ là thay đổi những thói quen, những công việc mà tuổi đi học đã phải làm. Nhiều bạn không có khát vọng để làm mới, làm khác, hay sáng tạo.  Vì sao lại như thế? Có phải vì lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, các học sinh đã quen với việc “học theo, làm theo, làm đúng” là sẽ ĐẠT, thế là đủ?. Có phải các giáo viên, các bậc cha mẹ, những người đi trước các học sinh ấy đã chọn cách làm “tội gì mà sáng tạo”, nên những người học trò, những người con, những người em của họ đã không được biết sáng tạo là gì, sáng tạo có giá trị thế nào với cuộc sống của họ?.  Những người trẻ thường nghĩ rằng sáng tạo là phẩm chất chỉ thuộc về những người có năng lực vượt trội. Do đó, khi nói rằng ai cũng có thể sáng tạo theo cách của mình thì họ không mấy tin tưởng. Nhưng thực chất sáng tạo là gì?. Chúng ta có thể hiểu “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi (trong phạm vi áp dụng cụ thể)”. Hoặc đơn giản như Steve Jobs (dù đã không còn sống trên cõi đời này nhưng chúng ta vẫn luôn nghĩ ông tồn tại và gắn liền với thương hiệu Apple), “sáng tạo chỉ là kết nối nhiều thứ lại với nhau. Khi bạn hỏi những người sáng tạo về cách họ thực hiện một việc gì đó, họ sẽ cảm thấy ngượng ngùng một chút vì họ không thực sự làm gì cả. Qua thời gian, những ý tưởng ban đầu dần trở nên rõ ràng hơn mà thôi.”.   Ai khơi gợi sáng tạo?  Câu chuyện về những người 20 tuổi cho thấy nếu không có người truyền cảm hứng sáng tạo cho các học sinh thì thật khó để giúp họ có cơ hội dám sáng tạo và sáng tạo thành công. Và người truyền cảm hứng sáng tạo cho họ chính là những người gần gũi, thân thiết như cha mẹ, giáo viên.  Khi nghĩ về sáng tạo, người tạo cảm hứng cho tôi là Thomas Alva Edison (1847 – 1931) – một trong những nhà phát minh giàu ý tưởng nhất trong lịch sử. Ông giữ 1.093 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ. Cùng với các bằng sáng chế ở Anh Quốc, Pháp, và Đức, tổng cộng 1.500 bằng phát minh trên toàn thế giới được cho là của ông. Thế nhưng ít người biết, hồi nhỏ, ông đã từng là một đứa trẻ ốm yếu, luôn lơ mơ trong lớp và giáo viên của ông (Reverend Engle) đã gọi ông là đứa trẻ “rối trí”. Vì những trò nghịch ngợm của mình mà Edison đã bị đuổi học ngay khi tới trường được ba tháng. Nhờ có mẹ từng là giáo viên, việc học của ông đã được tiếp tục tại nhà. Bà cũng là người khuyến khích và dạy ông đọc, làm thực nghiệm. Ông nhớ lại, “mẹ đã tạo ra tôi. Bà rất tin tưởng về tôi; và tôi cảm thấy rằng mình có một điều gì đó để sống, một ai đó để mình không thể làm cho thất vọng”.  Câu chuyện về Edison được kể ở trên là một minh họa cho thấy, chẳng ai khác, những người thầy đầu tiên của trẻ em chính là người truyền cảm hứng sáng tạo cho họ, cho họ niềm tin để sống, để dám làm và làm có trách nhiệm. Theo nghĩa đó, thúc đẩy sáng tạo là một trách nhiệm lớn của người thầy.  Ai cản trở sáng tạo?  Người có thể truyền cảm hứng cũng chính là người có thể cản trở sự sáng tạo trong con trẻ. Một nghiên cứu trên mạng xã hội đã chỉ ra tâm lý “an toàn” của cha mẹ phổ biến đến mức, ngay khi trẻ đi học lớp 1, họ cũng “sợ nhất” là con làm sai, họ muốn các giáo viên làm mẫu, hướng dẫn trẻ làm đúng như mẫu.  Còn người thầy cản trở sáng tạo bằng cách nào? Có thể họ không lường được sự thích “an toàn”, “thích đúng”, “thích thành tích cao” của mình lại giết đi sự sáng tạo trong học trò. Có một sự thật là các giáo viên cũng vì tâm lý “sợ sai”, “an toàn” mà dạy trẻ “đúng” mà “không đủ”. Rất ít giáo viên để ý khơi gợi ở trẻ những cách làm mới, hoặc dẫn vào bài làm những căn cứ, những lập luận mà sách giáo khoa không đề cập. Họ muốn học sinh làm theo mẫu mực đến mức có thể học thuộc. Nếu học sinh có cách làm khác, có giáo viên đã không ủng hộ. Điều đó dẫn đến hiện tượng “đúc khuôn” những bài văn, những bài trình bày lời giải toán của học sinh mà người ta vẫn than phiền.  Dần dần, khi lớn lên, thói quen làm theo mẫu đã trở thành “tính cách” của mỗi đứa trẻ đó. Cho đến tận khi chúng là người trưởng thành. Nhiều nhà nghiên cứu than phiền rằng sinh viên đại học ở Việt Nam không khác gì học sinh phổ thông, không có động lực để mày mò, tìm hiểu, chưa nói đến chuyện sáng tạo trong công việc.  Có một thực tế khác là cũng có những người trẻ muốn thực hiện một số cải tiến để công việc của họ hiệu quả hơn, tốn ít thời gian hơn, thậm chí tiết kiệm kinh phí đầu tư vào công việc nhưng không phải bao giờ họ cũng được ủng hộ. Một mặt, ở mỗi cơ quan, dù có dán những khẩu hiểu cổ vũ “sáng tạo, đổi mới” nhưng với lề lối làm việc đã thành lối mòn thì sự khởi động cho “sáng tạo” nào cũng là sự “mạo hiểm”, nhất là khi người trẻ còn ít kinh nghiệm. Mong muốn đổi mới dựa trên vốn hiểu biết ít ỏi và không được hợp tác ủng hộ khiến đề xuất của họ trở thành “sáng tạo nửa vời”. Rõ ràng điều chúng ta thiếu ở đây là cơ chế niềm tin, sự ủng hộ cho sự sáng tạo ở mỗi tập thể, cá nhân.  Hai yếu tố đó là những thành tố của quỹ đầu tư cho sáng tạo. Không nhất thiết đề cập đến quỹ là đề cập đến tiền, có thể đó chỉ là sự chấp nhận “cho phép làm sai” và sẵn sàng “khắc phục”. Nó tạo cơ hội cho người trẻ được thử nghiệm, thay đổi một vài quy trình khi còn đang học tập. Sự không đầu tư cho sáng tạo chính là cản trở. Mà ai có thể làm chủ quỹ đầu tư cho sáng tạo? Đối với trẻ em thì đó là những người lớn như cha mẹ, là giáo viên. Bản thân chúng ta, dù có muốn “sáng tạo” đến mấy cũng có thể trở thành người cản trở sự sáng tạo nếu chúng ta nghĩ rằng đây là đặc quyền của những người có tố chất đặc biệt và mọi sáng tạo phải đem đến hiệu quả tức thì.  ———-  1. http://vneconomy.vn/tong-cuc-thong-ke-nang-suat-lao-dong-nguoi-viet-thua-lao-bang-7-singapore-20171227161950647.htm    Author                Chu Cẩm Thơ        
__label__tiasang Quỹ Kinh tế sinh học tuần hoàn đầu tiên được đầu tư 82 triệu ero      Quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của châu Âu dành riêng cho kinh tế sinh học tuần hoàn đã khởi động thành công vào ngày hôm qua, với 82 triệu euro để đầu tư vào các công ty thương mại hóa công nghệ bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu thỏa thuận xanh của châu Âu.      PeelPioneers, công ty này phát triển một phương pháp biến vỏ cam thành các nguyên liệu thực phẩm khác nhau. Ảnh: pbs.twimg  Quỹ Kinh tế sinh học Châu Âu vẫn còn nhiều cơ hội để đạt được mục tiêu cuối cùng là 250 triệu euro, nhưng ở lần cam kết đầu tư đầu tiên này, quỹ đã thu hút được các nhà đầu tư tư nhân – nhờ khoản đầu tư nền tảng có giá 100 triệu euro của Ngân hàng Đầu tư châu Âu.   Quỹ vẫn mở cửa cho các nhà đầu tư mới cho đến tháng 8 năm 2021. Michael Brandkamp, người đứng đầu quỹ cho biết quỹ sẽ có được một khoản lãi đáng kể. “Quỹ của chúng tôi nhằm thúc đẩy việc mở rộng quy mô các công ty kinh tế sinh học đổi mới sáng tạo, thúc đẩy sự bền vững, từ đó mang lại lợi nhuận hấp dẫn cho các nhà đầu tư của mình”, Brandkamp nói.  Khoản đầu tư đầu tiên, trị giá 82 triệu euro, đến từ EIB và ba nhà đầu tư tư nhân: PreZero International, một công ty tái chế và chất thải; Corbion, nhà sản xuất hóa chất và polyme có nguồn gốc sinh học; và công ty đầu tư Hettich Beteiligungen.  Quỹ đã dành khoản đầu tư này cho PeelPioneers, công ty đã phát triển một phương pháp biến vỏ cam thành các nguyên liệu thực phẩm khác nhau; và Prolupin, một nhà sản xuất protein từ thực vật có thể thay thế cho các sản phẩm từ sữa.  Dirk Carrez, thành viên Hiệp hội các Ngành công nghiệp Có nguồn gốc Sinh học (BIC), trao đổi với tờ Science rằng, việc bơm 250 triệu euro cho nền kinh tế sinh học châu Âu vốn trị giá hơn 2,4 nghìn tỷ euro là một khoản đầu tư có vẻ khiêm tốn, nhưng nó sẽ không kém phần quan trọng khi chúng ta nhìn nhận nó kèm với những chương trình giúp thúc đẩy nền kinh tế sinh học phát triển.    Thông qua các cam kết hợp tác, chương trình nghiên cứu tiếp theo của EU, Horizon Europe, vẫn sẽ tiếp tục hỗ trợ các nghiên cứu và dự án đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp có nguồn gốc sinh học. Đồng thời, EU sẽ thành lập một quỹ kế nhiệm để tài trợ cho các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này trong tương lai.   Theo Carrez, các cam kết hợp tác này chỉ có thể tài trợ cho một tỷ lệ nhỏ các nghiên cứu và dự án đổi mới sáng tạo. Trong lần kêu gọi gần đây nhất, họ đã nhận được 50 đơn xin tài trợ cho các dự án trình diễn (đang cần giới thiệu ý tưởng), trong đó họ chỉ có thể tài trợ tối đa 5 đơn vị, và 20 đơn đăng ký cho các dự án hàng đầu (đã có quy mô đáng kể), trong đó 3 đơn vị sẽ nhận được tài trợ.   Mặc dù những cam kết hợp tác kiểu này là một công cụ hữu ích, nhưng chúng không thể tạo ra khác biệt đủ lớn. Các dự án cần những chương trình hỗ trợ khác để mở rộng quy mô ứng dụng, chẳng hạn như quỹ mạo hiểm kinh tế sinh học mới, cũng như khoản tiền hỗ trợ từ các khu vực.   “Cần phải có một hệ thống hoàn chỉnh để hỗ trợ ngành này phát triển”, Carrez cho biết. Lĩnh vực này sẽ phải ‘tự đứng trên đôi chân của mình’ trong vòng bảy năm tới, bởi các bên liên quan đã đồng ý rằng quan hệ đối tác công tư sẽ kết thúc sau năm 2028.   Quá khứ và tương lai  Vào cuối năm 2017, Ủy ban châu Âu đã công bố kế hoạch vận hành quỹ kinh tế sinh học tuần hoàn, dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2018.  Tuy nhiên, phải mất đến hai năm để Ủy ban bổ nhiệm thành công ngân hàng Đức Hauck & Aufhäuser làm giám đốc quỹ vào năm 2019.  Carrez hi vọng quỹ này sẽ giúp các công ty sinh học tận dụng tận dụng thêm tiền từ các nhà đầu tư tư nhân. Các nhà đầu tư hầu hết đều không mấy mặn mà với lĩnh vực này.   “Tất cả phụ thuộc vào những công ty [được chọn để đầu tư] đầu tiên. Nếu họ thành công, thì điều này sẽ đẩy nhanh toàn bộ quá trình. Đây là minh chứng rõ ràng nhất để thuyết phục các nhà đầu tư quan tâm đến ngành này”, Carrez cho biết.   Anh Thư dịch   Nguồn: Circular bioeconomy fund announces first close of €82M       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy tắc l’Hôpital: Công thức tính giới hạn vô định      Quy tắc l’Hôpital mang tên nhà toán học người Pháp sống ở thế kỷ XVII Guillaume Francois Antoine, Marquis de l’Hôpital, chính là người vào năm 1692 viết quyển sách đầu tiên về phép tính vi phân “Analyse des infiniment petits pour l’intelligence des lignes courbes” (1696). Cuốn sách gồm mười chương, trong đó quy tắc mà hiện giờ được gọi là quy tắc Hôpital nằm ở chương thứ chín.      Công trình của Hôpital đạt được thành công vang dội và nhiều lần được in tái bản trong thế kỷ mười tám. Trong lời mở đầu, tác giả tỏ lòng biết ơn đối với Gottfried Leibniz và Johann Bernoulli vì “Tôi được tự do sử dụng các công trình của họ”. Hôpital cho rằng vai trò của Leibniz trong giải tích là ngang với Newton, nhưng Hôpital thích Leibniz hơn “vì cách trình bày của ông ấy đơn giản và trực tiếp hơn”. Còn về Bernulli thì Hôpital không nói thêm gì ngoài một dẫn chứng là Bernoulli là giáo sư ở Groninghen.  Vậy thì Johann Bernoulli là ai và tại sao Marquis de l’Hôpital phải tỏ lòng biết ơn?  Trái với ý của cha, người con thứ mười trong gia đình Bernoulli là Johann nghiên cứu y học ở trường đại học Basel. Cũng trong khoảng thời gian đó ông được người anh cả là Jakob ngầm dạy toán cho và chẳng mấy chốc ông đã ngang tài với anh trai mình. Năm 1691 lần đầu tiên ông tham gia và cuộc đấu toán tay đôi: giải phương trình về đường dây xích do Jakob đưa ra. Johann trẻ tuổi đã nhanh chóng giải được bài toán và làm ngạc nhiên những người đương thời với mình.   Một trong những lần tới Paris, Johann Bernoulli làm quen với Marquis de l’Hôpital – một trong những nhà toán học Pháp xuất chúng đương thời. Hôpital tỏ ra rất ngạc nhiên bởi tài năng của Bernoulli trẻ tuổi và cả nghệ thuật sử dụng phép tính vi phân và tích phân mà Leibniz lập ra. Biết mình yếu kém, Hôpital thuê Johann với thù lao hậu hĩnh để Johann dạy mình những bí mật của phép tính mới. Khi phải quay trở về Basel, Johann hứa là sẽ không nói điều đó với ai và những bài giảng vẫn được tiếp tục qua thư từ qua lại.  Johann sao chép lại các bức thư vì muốn viết bài giảng về giải tích. Thế nhưng học trò thì đã nhanh chân hơn thầy. Sử dụng các bài giảng của Johann, năm 1696 Hôpital công bố công trình đầu tiên về phép tính vi phân “Analyse des infiniment petits, puor l’intelligence des lignes courbes” (“Giải tích các đại lượng vô cùng bé để khảo sát các đường cong”).  Cuốn sách gây bất hòa  Johann im lặng giống như đã hứa với Marquis và không yêu cầu câu nhận quyền tác giả. Nhưng bằng cách riêng, ông than phiền, các phát minh của Hôpital là ăn cắp bản quyền một cách trơ tráo. Trong bức thư gửi Leibniz năm 1698, Bernoulli viết: “Ngoại trừ một số trang thì tất cả phần còn lại là ông ta nhận được từ tôi qua thư […]. Ưu điểm của ông ta nằm ở chỗ ông ta đã sắp xếp theo trật tự và trình bày một cách cẩn thận bằng tiếng Pháp những thứ lộn xộn mà tôi đã viết cho ông ấy bằng tiếng Pháp hoặc tiếng La tinh”. Mãi sau khi Marquis mất vào năm 1704, Bernoulli mới đòi lại được một chút những gì đã mất bằng cách công bố nhiều kết quả của mình, trong đó có quy tắc Hôpital.  Thế nhưng, tính cách nổi loạn đã làm hại thanh danh của Johann. Ông ganh đua quyết liệt với anh trai và cũng là người thầy của mình là Jakob, rồi cả với Danill –  người con trai và cũng là người mà ông đã hết mực dạy bảo. Ông cũng tham gia vào cuộc luận chiến giữa Newton và Leibniz: ai là người nghĩ ra phép tính vi phân đầu tiên; ông đứng về phía Lebniz. Khác với Johann, danh tiếng của Marquis lại không hề bị sứt mẻ chút nào.   Tư liệu bị thất lạc  Những dấu hiệu đầu tiên cho thấy Johann có thể đã đúng xuất hiện vào năm 1922, khi người ta tìm thấy trong thư viện của Basel, giáo trình của Johann Cáculo diferential (“Phép tính vi phân”); nó chưa từng được công bố. Nếu so sánh với quyển sách của Hôpital thì sẽ thấy rõ về bản chất chúng là một.  Kết luận rõ ràng xuất hiện vào năm 1955 khi bức thư đầu tiên giữa Johann và Hôpital được tìm thấy. Người ta phát hiện ra lời đề nghị lạ lùng mà  Marquis De Hôpital gửi cho Johann Bernulli trong bức thư gửi vào ngày 17 tháng 3 năm 1694.  “Tôi rất sẵn lòng gửi cho ngài khoảng 300 Livre bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm nay; tôi sẽ gửi ngay 200 Livre trong nửa đầu năm cho phần khái quát mà ngài đã gửi cho tôi; còn 150 Livre nữa tôi sẽ gửi trong nửa cuối của năm và mọi thứ sẽ tiếp tục như thế. Tôi hứa rằng số tiền này trong thời gian sắp tới sẽ tăng lên vì tôi biết nó là rất ít; và tôi sẽ làm nó ngay khi công việc của tôi đạt kết quả tốt đẹp… Quả là gàn dở khi làm mất thời gian của ngài, nhưng tôi khẩn thiết đề nghị ngài thỉnh thoảng hãy dành cho tôi một vài tiếng để trả lời các câu hỏi của tôi và hãy gửi cho tôi những phát minh của mình, với điều kiện là không được công bố chúng với ai. Tôi cũng sẽ hứa là không gửi bản sao chép những tài liệu này cho Varignon hay bất kỳ người nào khác, bởi vì tôi không thích điều đó. Hãy trả lời tôi nhé!”.  Mặc dù thư hồi âm của Bernoulli không được tìm thấy, nhưng dễ hiểu là ông đã đồng ý thỏa thuận (không có gì ngạc nhiên nếu để ý rằng khi đó Johann mới 24 tuổi và đang không có việc làm). Trong những bức thư tiếp theo Bernoulli có trả lời thư và những câu hỏi của Marqui. Một trong những bức thư ấy chứa công thức Hôpital. Ngoài ra những ví dụ mà Bernoulli đưa ra gần như trùng khớp với những ví dụ mà Marquiz về sau in trong quyển sách của mình. Nhưng chúng tôi cũng phải thừa nhận là Hôpital đã sửa vài lỗi của Bernoulli, ví dụ như Bernoulli cho rằng tích phân của hàm là hữu hạn.  Johann Bernoulli mất khi 80 tuổi, rất nhiều người liệt kê công thức mà ngày nay chúng ta gọi là công thức Hôpital vào di sản toán học đồ sộ của ông.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] Carl B. Boyer, A History of Mathematics. John Wiley & Sons, 1968.  [2] Carlos Sánchez, Concepción Valdés, Los Bernoulli, geómetras y viajeros. Editorial Nívola, 2001.  [3] Daniel Martín, Los Bernoulli. ¿Cómo ves?, 136, 26-29.  [4] María Cristina Solaeche, La controversia L’Hospital – Bernoulli. Divulgaciones matemáticas 1, 1993, 99-104.  [5] http://hijos.ru/2012/05/20/pravilo-lopitalya-ili-pravilo-bernulli/       Author                Hoàng Ngự Huấn        
__label__tiasang Công nghệ chế biến vỏ bưởi mới      Làm thế nào để các loại nông sản chế biến của Việt Nam giữ được hương vị thơm ngon tự nhiên, đảm bảo tốt cho sức khỏe và cạnh tranh được với các sản phẩm nhập khẩu tương tự? Sản phẩm vỏ bưởi sấy dẻo bắt nguồn từ nghiên cứu của PGS.TS. Lê Trung Thiên và các cộng sự ở trường ĐH Nông Lâm TP.HCM chính là một trong những câu trả lời cho bài toán này.    Dưới góc nhìn của các chuyên gia về công nghệ thực phẩm, việc bỏ qua bước chế biến không chỉ khiến đầu ra của trái bưởi gặp bấp bênh mà còn lãng phí một nguồn nguyên liệu quý. “Trong quả bưởi, phần thịt quả chiếm 48%, khoảng 50% còn lại là những thứ bị bỏ đi, chủ yếu là vỏ bưởi. Tuy nhiên, trong đó lại chứa rất nhiều thành phần giá trị như hợp chất limonen, myrcen, naringin,… có tác dụng chống viêm và oxy hóa, rất tốt cho sức khỏe”, PGS.TS. Lê Trung Thiên ở Khoa Công nghệ thực phẩm, trường ĐH Nông Lâm TP.HCM giải thích. Ước tính với sản lượng quả gần 1 triệu tấn/năm, số lượng vỏ bưởi bỏ đi ở Việt Nam hiện nay lên tới hàng trăm ngàn tấn mỗi năm.        Từ lâu vỏ bưởi đã được dùng trong các bài thuốc dân gian trị ho, đun nước xông hơi, gội đầu, chiết tinh dầu hoặc dùng phần cùi trắng để nấu chè. Dù đa dạng song những phương pháp trên chỉ xử lý được một lượng nhỏ vỏ bưởi, hơn nữa cũng chưa phát huy được hết giá trị vì “ngày xưa chủ yếu dùng theo phương pháp truyền thống chứ không nghiên cứu cụ thể trong đó chứa hoạt chất nào, cơ chế, vai trò quan trọng ra sao,…”, PGS.TS. Lê Trung Thiên nói.    Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đang tìm cách thu mua vỏ bưởi hay vỏ các loại trái cây có múi khác để chế biến thành các sản phẩm giá trị cao, thậm chí xuất khẩu sang Việt Nam. “Hiện nay Hàn Quốc đang nhập rất nhiều vỏ bưởi nấu đường từ Trung Quốc để làm marmalade (một loại mứt được làm từ trái cây và vỏ trái cây đun sôi với đường và nước, dùng để nấu ăn hoặc pha nước uống), trước đây họ làm từ trái tắc, bây giờ họ chuyển sang làm thêm bưởi và cam. Khi thấy nguyên liệu của chúng ta rất nhiều mà không khai thác được thì mình cũng thấy buồn lắm, tại sao người ta làm bán khắp thế giới, trong khi đó mình có mà không làm được, không biết bắt đầu từ đâu”, anh nhận xét.    Xuất phát từ những suy nghĩ trên, không có gì khó hiểu khi vỏ bưởi là đối tượng đầu tiên mà anh hướng đến trong đề tài nghiên cứu tận dụng trái cây và phụ phẩm từ chế biến trái cây do ĐH Ghent (Bỉ) tài trợ từ năm 2014-2016. Ngoài việc tạo ra sản phẩm vỏ bưởi sấy dẻo hiện đang được phân phối rộng rãi trên thị trường, đây cũng là cơ hội để PGS.TS. Lê Trung Thiên và các cộng sự thành lập Công ty Nông Lâm Food – nơi thương mại hóa rất nhiều sản phẩm của nhóm nghiên cứu sau này.    Cân bằng giữa “ngon” và “tốt”    Trong ấn tượng ban đầu của nhiều người, việc phát triển sản phẩm vỏ bưởi sấy có vẻ khá dễ dàng. Khi tìm kiếm trên mạng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều nơi bán cũng như hướng dẫn cách tự làm vỏ bưởi sấy. Một số quốc gia có trồng bưởi như Thái Lan đã thành công với sản phẩm này: trong những năm gần đây, vỏ bưởi sấy của Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam được rất nhiều người tiêu dùng chú ý và sử dụng, một phần vì màu xanh tươi bắt mắt.    Tuy nhiên, dưới con mắt của những chuyên gia như PGS.TS. Lê Trung Thiên, những sản phẩm này chưa thực sự tốt cho sức khỏe người dùng – tiêu chí mà anh luôn theo đuổi. “Sản phẩm của Thái Lan có bổ sung màu thực phẩm nên khi chế biến sẽ thấy phần trắng bên trong cũng trở nên xanh không tự nhiên. Sản phẩm của họ cũng có nhiều đường và ngọt hơn”, anh trả lời trên báo Phụ nữ TP.HCM vào năm 2018.    Do vậy, ngay từ khi bắt tay vào nghiên cứu vỏ bưởi sấy, anh và các cộng sự xác định phải “làm thế nào để giữ được các thành phần tốt cho sức khỏe, chứ không đơn giản là cắt lát, làm sạch và thêm đường. Nếu như vậy thì ai cũng làm được”. Tuy nhiên, yếu tố “ngon” và “tốt” không dễ đồng hành với nhau, nhất là trong vỏ bưởi. “Vỏ bưởi chứa nhiều tinh dầu, có vị đắng the, cho nên thách thức lớn nhất là phải hài hòa giữa hai yêu cầu – vừa giảm bớt vị đắng the để dễ ăn hơn, vừa giữ lại lượng tinh dầu vừa phải để không mất hết tác dụng và hương vị tự nhiên”, PGS.TS. Lê Trung Thiên giải thích.    Mấu chốt để tìm ra lời giải của bài toán này nằm ở quá trình khử đắng và sấy. Dựa trên những nghiên cứu cơ bản, họ đã chế tạo một thiết bị khử đắng vỏ bưởi trước khi sấy, với nguyên lý hoạt động quay tròn như chiếc lồng máy giặt. Sau bước khử đắng, vỏ bưởi sẽ được sấy bằng phương pháp hồng ngoại theo công nghệ của Hàn Quốc. Ưu điểm của phương pháp này là thời gian sấy ngắn, có thể tiêu diệt vi sinh vật đảm bảo chất lượng sản phẩm, phù hợp với các vật liệu có kích thước nhỏ, mỏng như vỏ bưởi cắt lát.    Tuy công nghệ, thiết bị đã có sẵn song để có được quy trình sản xuất trong thực tế không hề đơn giản. “Quá trình đi từ thí nghiệm đến quy trình sản xuất trên thực tế tốn rất nhiều thời gian. Với những sản phẩm mới, mình bắt buộc phải nghiên cứu để liên tục hoàn thiện”, anh nhận xét. Do vậy, sau khi sản xuất thành công vỏ bưởi sấy dẻo từ năm 2015, đến nay anh và các cộng sự vẫn tiếp tục nghiên cứu cải tiến. Đây chính là bí quyết để tạo ra nét đặc trưng cho vỏ bưởi sấy dẻo của Nông Lâm Food: “Rất ngon, dai dẻo, không hề ngọt và có vị chua nhẹ, không bị đắng phần vỏ, rất đáng mua thêm nhiều lần nữa”, theo đánh giá của hầu hết khách hàng đã mua sản phẩm này trên Shopee.    Đa dạng hóa sản phẩm chế biến    Không ít người sẽ bất ngờ khi biết rằng hiện nay, sản phẩm vỏ bưởi sấy dẻo của một doanh nghiệp nhỏ như Nông Lâm Food đang xuất hiện trên kệ hàng của những “ông lớn” trong ngành bán lẻ như Lotte, Aeon, Circle K, Ministop,… Có lẽ ngoài sức cạnh tranh đến từ nền tảng nghiên cứu bài bản, một điểm thuận lợi của Nông Lâm Food là “tuy nhỏ nhưng có nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực chuyên môn tốt”, PGS.TS. Lê Trung Thiên tự hào. “Hầu hết toàn là những người thân quen từ trường ĐH Nông Lâm, mọi người rất nỗ lực, gắn bó vì đam mê với công việc”.    Thành công của vỏ bưởi sấy dẻo không chỉ mở đường cho rất nhiều sản phẩm trái cây sấy khác của Nông Lâm Food như ổi, xoài, cam, mãng cầu, dứa,… đi ra thị trường mà còn tạo động lực cho PGS.TS. Lê Trung Thiên và các cộng sự nghiên cứu những sản phẩm chế biến có giá trị cao hơn từ trái bưởi. Nhưng làm thế nào để một doanh nghiệp non trẻ có được nguồn vốn đầu tư cho các hướng đi này? Họ đã tìm sự hỗ trợ thông qua rất nhiều nguồn, từ đề tài của Sở KH&CN, cho tới đề tài của Quỹ Nafosted và một số dự án của nước ngoài. Tiêu biểu như qua đề tài nghiên cứu và chế biến các sản phẩm thử nghiệm từ quả bưởi của Sở KH&CN TP.HCM từ năm 2018-2020, nhóm nghiên cứu đã phát triển thêm sản phẩm vỏ bưởi sấy dẻo kết hợp với chanh dây, đồng thời chế biến thêm sản phẩm nước bưởi thanh trùng, mứt, kẹo dẻo bưởi và tách chiết hợp chất naringin – có tác dụng như chống oxy hóa, hạ lipid máu, hạ đường huyết,… từ vỏ bưởi. Sau khi nghiệm thu, hiện nay, quy trình sản xuất các sản phẩm này đã sẵn sàng chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu.    Dù có nhiều kết quả nghiên cứu tiềm năng song PGS.TS. Lê Trung Thiên và các cộng sự biết rằng để phát triển chúng thành sản phẩm ra thị trường không phải là điều dễ dàng. “Sản phẩm chúng tôi ứng dụng chỉ là một phần nhỏ của những gì đã nghiên cứu ra thôi. Mình nghiên cứu ra thấy cái nào phù hợp với hệ thống thiết bị đang có có để ứng dụng, còn không thì có thể chuyển giao cho nơi khác có nhu cầu và phù hợp hơn”, anh cho biết. “Hướng nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi là các sản phẩm rau và thảo mộc tốt cho sức khỏe, chúng tôi sẽ tìm cách tích hợp vào những sản phẩm đang có để gia tăng giá trị, hoặc làm cho nó đa dạng hơn”.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Kiểm soát phụ gia hóa học trong nước sơn móng tay      Đây là chất phụ gia hóa học có thể làm thay đổi thời gian dậy thì ở trẻ em, và một số nước đã cấm sử dụng chúng trong đồ chơi và đồ dùng chăm sóc trẻ em.    Phthalat có tính hóa dẻo nên thường được sử dụng trong công nghiệp sản xuất đồ chơi trẻ em, áo mưa, đồ nhựa,… Trong mỹ phẩm, phthalat có trong các sản phẩm như keo vuốt tóc, dầu gội đầu kem dưỡng da, son môi,… để tạo độ tươi mới, mịn, làm mềm da,… và tăng độ trơn bóng, sáng màu, bền màu, dễ bám dính hơn ở nước sơn móng tay.        Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy, phthalat làm thay đổi thời gian dậy thì ở cả bé trai và gái, gây rối loạn estrogen, dẫn đến thúc đẩy quá trình ung thư vú, ảnh hưởng đến chức năng gan,… Ngoài ra, phthalat còn ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh của trẻ, giảm sự tỉnh táo, rối loạn tăng động, giảm chú ý, viêm mũi, hen suyễn,… Vì ảnh hưởng không nhỏ của phthalate, một số nước đã cấm sử dụng chúng trong đồ chơi và đồ dùng chăm sóc trẻ em.    Một số công trình nghiên cứu đã sử dụng phương pháp LC-MS (sắc ký lỏng đầu dò khối phổ) và GC-MS (sắc ký khí ghép khổi phổ) để phân tích phthalat trong thực phẩm, mỹ phẩm, bao bì,… Tuy nhiên, chưa có công trình nào trong nước sử dụng phương pháp này để xác định đồng thời một số phthalat có trong nước sơn móng tay. Trong khi đó, nước sơn móng tay là một trong số các mỹ phẩm được sử dụng phổ biến và việc kiểm soát chất lượng mỹ phẩm là yêu cầu bắt buộc. Vì vậy, cần có quy trình phân tích đồng thời một số phthalat cầm và được phép sử dụng, với giới hạn cho phép trong nước sơn móng tay, nhằm đảm bảo chất lượng mỹ phẩm tại Việt Nam.    Vì vậy, nhóm tác giả ở Đại học Y dược TPHCM đã thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình định lượng đồng thời một số hợp chất phthalat trong nước sơn móng tay bằng kỹ thuật LC-MS và GC-MS”.    Một số phthalat được dùng trong nghiên cứu gồm dimethy phthalat, diethyl phthalat, diisobutyl phthalat,… cùng các dung môi n – hxen, aceton, methanol,… Thiết bị sử dụng là hệ thống sắc ký khí , đầu dò khối phổ, bể siêu âm, cân phân tích,…    Với phương pháp GC – MS, trong khoảng thời gian 15 phút, có thể xác định được 20 phthalat, với giá trị LOD (giới hạn phát hiện) từ 0,03 – 0,3 ppm, LOQ (giới hạn định lượng) từ 0,01 – 1 ppm. Còn phương pháp LC – MS, trong khoảng thời gian 23 phút, có thể xác định 19 phthalat, với LOD từ 0,3, LOQ từ 1 ppm.    Cả hai phương pháp trên đều có tính đặc hiệu, giới hạn phát hiện và định lượng thấp, cho độ chính xác cao (trên 80%). Quy trình do nhóm xây dựng, có thể áp dụng vào việc kiểm soát các phthalat trong nước sơn móng tay trên thị trường.    Khúc Liên    Author                .        
__label__tiasang Sản xuất chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật chứa Oligo Carrageenan từ rong sụn      Kể từ lần đầu xuất hiện ở Việt Nam hơn 30 năm, rong sụn đã trở thành loại thực vật giúp người dân miền Trung thoát nghèo. Để nâng cao giá trị của rong sụn, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ Nha Trang đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật chứa Oligo Carrageenan từ rong sụn.    Phương pháp cắt mạch đặc biệt    Chất điều hòa sinh trưởng thực vật (hay còn gọi là hocmon sinh trưởng) là những chất được sinh ra trong cây để điều khiển các quá trình sinh trưởng phát triển của cây, trong các giai đoạn như nảy mầm, lớn lên, ra hoa, kết quả. Trước khi có chế phẩm điều hòa sinh trưởng của các nhà nghiên cứu đến từ Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ Nha Trang, các chất điều hòa sinh trường thông thường trên thị trường đều có nguồn từ hóa học. Các nghiên cứu khoa học trên thế giới đã chứng minh, hoạt chất carrageenan có rất nhiều trong rong sụn, không chỉ thích hợp để làm thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm mà còn có thể trở thành phân bón rất tốt cho cây trồng, và an toàn với người sử dụng và người canh tác.        “Ven biển miền Trung như Nha Trang, Ninh Thuận,… là khu vực có điều kiện thuận lợi cho rong sụn phát triển với sản lượng lớn. Điều quan trọng là tìm được đầu ra cho rong sụn với giá trị cao hơn. Trong khi đó, chính phủ và nhiều nước trên thế giới đang xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững. Phân bón từ rong sụn có thể góp phần vào xây dựng nền nông nghiệp đó” – TS. Huỳnh Hoàng Như Khánh, đại diện nhóm nghiên cứu bày tỏ.    Khi tìm hiểu về các nghiên cứu chế phẩm điều hòa sinh trưởng từ rong biển, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, đã có nhiều công bố về chất điều hòa sinh trưởng từ rong biển, do nhóm thực vật này chứa nhiều nguyên tố đa lượng, vi lượng cho cây trồng. Tuy nhiên, chế phẩm điều hòa sinh trưởng có nguồn gốc từ carrageenan và oligo carrageenan thì chưa có. Đây được xem là cánh cửa mở ra hướng nghiên cứu mới cho những ứng dụng của rọng sụn vào đời sống.    Theo Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam, hiện rong sụn đang được trồng chủ yếu tại Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên và Bình Định với khoảng 900ha được canh tác. Trong khi đó, diện tích tiềm năng khoảng 10.000 ha. Rong sụn cho năng suất 20-30 tấn/ha, và được thu mua với giá 0,1 USD/kg tươi.    Nếu khai thác hiệu quả giá trị của rong sụn nói riêng và các loại rong khác nói chung thì Việt Nam sẽ đảm bảo được hai mục tiêu, bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi ven biển và nâng cao đời sống người dân ven biển, góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP 26 trong cam kết giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050, giảm 30% lượng phát thải khí metan gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030.    Ở thời điểm bắt tay vào thực hiện, nhóm nghiên cứu nhận thấy chưa có quy trình phù hợp để sản xuất chế phẩm điều hòa sinh trưởng chứa oligo carrageenan cho cây trồng được điều chế từ rong sụn. Để thu được chế phẩm chất điều hòa sinh trưởng chứa này, cần đến một quy trình với điều kiện tối ưu để sản xuất sản phẩm có hiệu quả cao nhất và thân thiện với môi trường.    Theo TS. Huỳnh Hoàng Như Khánh, carrageenan là một loại polysaccharid có nhiều hoạt tinh sinh học tốt cho con người và môi trường. Trước đó, Viện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về các đặc tính của carrageenan cũng như polysaccharid từ rong biển nói chung và carrageenan nói riêng.    “Chúng tôi nhận thấy rằng, Polysaccharid là hợp chất cao phân tử nên cơ thể động thực vật đều khó hấp thụ. Vì thế, điểm khác biệt lớn nhất của quy trình điều chế này nằm ở ý tưởng ‘cắt mạch carrageenan thành oligo carrageenan’ tức là biến Polysaccharid thành dạng mạch ngắn để làm trọng lượng phân tử giảm xuống. Như vậy, hợp chất này khi bón xuống cây trồng sẽ dễ được hấp thụ hơn” – TS. Như Khánh giải thích.    Nói thì đơn giản vậy nhưng thực tế, việc cắt mạch carrageenan lại trở thành vấn đề then chốt. “Nếu không có phương pháp cắt đặc hiệu sẽ làm carrageenan mất đặc tính” – TS. Như Khánh nhấn mạnh.    Để tìm ra phương pháp tối ưu, nhóm nghiên cứu đã khảo sát các phương pháp chiết khác nhau và mang oligo carrageenan thu được đi kiểm tra xem hoạt chất nào hiệu quả nhất.    Cái khó của việc này còn nằm ở việc, phương pháp cắt mạch phải hội tụ đủ các yếu tố: Đảm bảo hoạt tính để oligo carrageenan có thể trở thành chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng và đảm bảo tính kinh tế, tức là làm sao để phương pháp này không đắt đỏ, có thể triển khai rộng rãi.    Sau nhiều lần thử nghiệm, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, sử dụng dung dịch vitamin C nồng độ 0,05M, tương đương độ pH bằng 3, không gây ăn mòn thiết bị cũng như ảnh hưởng đến con người. Bên cạnh đó, tác nhân xúc tác cho quá trình thủy phân cắt mạch là oxy già nồng độ 30% sẽ cho oligo carrageenan có trọng lượng phân tử 5kDa, thích hợp làm chế phẩm điều hòa sinh trưởng.    Tăng giá trị cho rong sụn    Theo TS. Huỳnh Hoàng Như Khánh, chất điều hòa sinh trưởng từ rong sụn thích hợp với các cây bón lá như cà phê, ngô… Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện các nghiên cứu đối chứng để so sánh hiệu quả.    “Chúng tôi phải làm nhiều thí nghiệm để tìm ra nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thích hợp cho cây trồng, và nên dùng vào giai đoạn nào là phù hợp nhất” – TS. Như Khánh tiết lộ.    Một trong những thử nghiệm được tiến hành trên cây ngô lai tại buôn Krai A, huyện Krông Pắk, Đắk Lắk với thời gian phun xử lý là sau 15,30 và 50 ngày sau gieo, với thời gian thu hoạch là 110 ngày.    So sánh đối chứng các kết quả thu được, nhóm nhận thấy tác động rõ rệt của chất điều hòa sinh trưởng với sự phát triển và năng suất của cây ngô lai. Đơn cử, với nhóm cây không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng chỉ cho năng suất 5606kg/ha, trong khi nhóm sử dụng 100mg/L lại cho năng suất 6806 kg/ha, tăng 1,21 lần. Đây được xem là nồng độ phù hợp nhất để bón cho cây, bởi nếu sử dụng hàm lượng gấp đôi 200mg/L thì năng suất lại đạt 6680kg/ha.    Một chi tiết nhỏ cũng được nhóm nghiên cứu thống kê để củng cố kết luận trên là số hạt/bắp, số hạt/hàng, số hàng hạt/bắp thì cho thấy, nhóm cây phun 100mg/L vẫn đạt năng suất cao nhất.    Một so sánh khác về sự ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng tới chiều cao của cây ngô, thì sau 60 ngày, nhóm cây không bón cho chiều cao 185,3cm, trong khi nhóm bón 100mg/L có chiều cao 223,5cm, nhóm 200mg/L đạt chiều cao 213,7cm, nhóm 250mg/L đạt 185,5cm.    “Những kết quả thực nghiệm trên củng cố thêm niềm tin về hiệu quả và khả năng chống chịu bệnh tật, biến đổi khí hậu khắc nghiệt của cây trồng khi được bón chế phẩm điều hòa sinh trưởng có nguồn gốc tự. Chế phẩm này có thể dùng cho tất cả các loại cây trồng, và tốt với cây cung cấp lá như rau, hoa màu. Quan trọng hơn cả, chế phẩm này an toàn với cả người nông dân sử dụng và người tiêu dùng” – TS. Như Khánh nói. Theo kết quả của đề tài nghiên cứu này, nhóm đã hoàn thành quy trình sản xuất chế phẩm với năng suất 300 lít/ngày.    Những nghiên cứu như trên của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ Nha Trang nằm trong chuỗi các sản phẩm nhằm gia tăng hiệu quả và ứng dụng của rong sụn trong đời sống. Viện là đơn vị tiên phong đưa rong sụn di nhập về Việt Nam và thực hiện thành công nhiều đề tài nghiên cứu về quy trình nuôi trồng, các sản phẩm từ rong sụn như Rong sụn, Kappaphycus alvarezii, nguồn dược liệu tiềm năng hổ trợ phòng ngừa virus trong tương lai (Lê Đình Hùng), Nghiên cứu các giải pháp về nuôi trồng và ứng dụng công nghệ chế biến nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng của rong sụn ở Ninh Thuận…    Nghiên cứu này được xem là một bước tiến khác nhằm da dạng hóa các sản phẩm từ rong sụn, để sản phẩm sẽ không chỉ xuất thô mà còn có thể mang lại giá trị kinh tế cao, trong tiềm năng của nuôi trồng rong sụn còn rất lớn.    “Bằng việc sử dụng công nghệ xanh từ enzym, tách chiết bằng acid trong môi trường an toàn, chế phẩm này cũng góp phần bảo vệ môi trường bền vững” – TS. Như Khánh nói thêm.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Quy trình xử lý lún nghiêng của “Thần đèn” đất Bắc      Với tài xử lý lún nghiêng, sập và di  dời công trình theo quy trình do mình nghiên cứu ra, Ths Đỗ Quốc Khánh, công ty Xử lý  lún nghiêng, Hà Nội, được mệnh danh là “thần đèn đất Bắc”.    Điểm nổi bật của giải pháp công nghệ này chính là sử dụng bộ thiết bị đồng bộ điều khiển qua trạm trung tâm, có kiểm soát toàn bộ các biến dạng, chuyển vị của kết cấu công trình, thông qua các đầu đo biến dạng – chuyển vị điện tử được kết cấu với máy vi tính.   Ông Đỗ Quốc Khánh đã cùng với TS Đỗ Quốc Việt thiết kế hai bộ thiết bị đồng bộ: bộ thiết bị nâng hạ, căn chỉnh nghiêng nhà LNS-5.000T, có sức nâng tới 5.000 tấn và bộ thiết bị đồng bộ di dời- xoay đổi hướng nhà DD – 1.500 tấn. Với sự hợp sức này, các tác giả có thể di dời các công trình có tải trọng lên tới 15.000 tấn.   Một ưu điểm khác của sản phẩm này là triển khai thành công các phương pháp mô phỏng, mô hình hóa sự cố và các tác động có thể ảnh hưởng đến công trình nên trong khi xử lý lún, nghiêng hay di dời nhà vẫn kịp thời gia cường kết cấu công trình, tránh xảy ra biến dạng hoặc đổ nhà trong quá trình thực hiện. Với việc áp dụng hệ thống đầu đo biến dạng – chuyển vị điện tử qua máy tính, có thể kiểm soát được những diễn biến bất lợi, nhằm đảm bảo cho vấn đề an toàn, tránh xảy ra hư hại về chất lượng công trình.  Hiệu quả mà quy trình xử lý mới đem lại thật lớn, khi Ths Đỗ Quốc Khánh và cộng sự đã phối hợp di dời hai tòa tháp chùa Phổ Giác Hà Nội, khắc phục ngôi nhà ba tầng bị nghiêng, quay 180 độ và di chuyển trụ sở đài phát thanh Xuân Trường, Nam Định, di dời trụ sở Ủy ban Dân số Gia đình trẻ em tỉnh Nam Định, di chuyển trường trung cấp nghề Thuận Thành…  Năm 2012, công trình đã dược trao giải Nhất lĩnh vực cơ khí tự động hóa, giải thưởng Sáng tạo KH&CN đồng thời vinh dự nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ VBCF: Gần 12 triệu USD cho các dự án kinh doanh sáng tạo      Trong giai đoạn 2013-2015, Quỹ Thách thức  Doanh nghiệp Việt Nam (VBCF) sẽ hỗ trợ thực hiện các mô hình kinh doanh  sáng tạo ở Việt Nam với tổng kinh phí 7 triệu bảng Anh (tương đương  11,7 triệu USD), thuộc ba lĩnh vực: nông nghiệp, tăng trưởng xanh và  dịch vụ cơ bản và hạ tầng.    Mục tiêu của VBCF là phát triển các mô hình sáng tạo đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp tư nhân, đồng thời mang lại lợi ích phát triển cho bộ phận dân cư có thu nhập thấp như tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện tiếp cận và sử dụng hàng hóa và dịch vụ cơ bản.   Quỹ VBCF hỗ trợ các mô hình kinh doanh mang đầy đủ ba yếu tố như sáng tạo, có sự tham gia của người có thu nhập thấp, và bền vững về thương mại. Đến nay, đã có một số dự án đã được lựa chọn để hỗ trợ như: dự án giới thiệu công nghệ sản xuất phân sinh học trong canh tác và chế biến ngô; nuôi trồng sò điệp bền vững; xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và có thể tạo ra lợi nhuận, tăng khả năng tiếp cận với nước sạch cho các hộ gia đình có thu nhập thấp…  Cụ thể, VBCF sẽ hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn kinh doanh, và tài trợ không hoàn lại lên tới 49% tổng số vốn đầu tư cho các dự án được lựa chọn thông qua kêu gọi đề xuất công khai và cạnh tranh, với vốn tài trợ từ 100.000 USD đến 800.000 USD cho một dự án.  Quỹ VBCF thành lập tháng 11/2012 dựa trên thành công của Quỹ Thách thức Việt Nam (2009-2012), được Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID) tài trợ và do Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) trực tiếp quản lý.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ VINIF tài trợ cho 28 dự án khoa học góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam      28 dự án nhận tài trợ năm nay thuộc nhiều lĩnh vực như gen và tế bào, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, năng lượng tái tạo, vật liệu thế hệ mới… Đây đều là những dự án có tính ứng dụng cao, có thể mang lại giá trị lâu dài cho xã hội.    Đó là chia sẻ của GS Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata, tại Lễ ký kết tài trợ dự án Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ năm 2020.  GS Vũ Hà Văn cho biết, trong năm 2019, Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã tài trợ cho 20 dự án với tổng giá trị 124 tỷ đồng. Cùng với đó, ngay từ khi đại dịch Covid xảy ra, từ tháng 2/2020 VINIF đã triển khai gói tài trợ khẩn cấp cho 3 dự án nghiên cứu ứng phó Covid-19, với tổng kinh phí tài trợ gần 20 tỷ đồng. “Qua một thời gian thực hiện, các dự án đã đạt được những thành tựu đáng kể và góp phần giải quyết được những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới như là nghiên cứu vaccine, hệ thống cảnh báo chống Covid-19, phát triển công nghệ 3D, những loại vật liệu nano mới…”  Trong năm 2020, dù “là một năm rất đặc biệt trong lịch sử thế giới, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến tất cả mọi mặt của đời sống”, nhưng Quỹ VINIF vẫn tài trợ 136 tỷ đồng cho 28 dự án. “Trong thời điểm này, chúng tôi vẫn mong muốn có thể đầu tư bài bản và tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà nghiên cứu chuyên tâm vào các dự án khoa học” – GS Vũ Hà Văn giải thích.     GS. TSYK. Trần Bình Giang – Giám đốc Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức và PGS.TS Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ VinIF đại diện ký kết tài trợ dự án giữa VINIF và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Ảnh: VINIF  Để xét duyệt các đề tài, Quỹ VINIF đã thành lập một hội đồng xét duyệt với hơn 50 chuyên gia đầu ngành trong cả nước thuộc 22 lĩnh vực khác nhau để đánh giá các hồ sơ từ 76 trường đại học. Các chuyên gia sẽ đưa ra nhận xét cụ thể dựa trên 5 tiêu chí: Mức độ cần thiết của đề tài; Năng lực nghiên cứu của tác giả, cơ sở vật chất của đơn vị thực hiện; Tính sáng tạo, ý nghĩa khoa học; Tác động tới kinh tế – xã hội; Tính thuyết phục của mục tiêu cũng như giá trị khoa học – công nghệ của sản phẩm, dịch vụ. Các dự án vào vòng trong tiếp tục trải qua quá trình xét duyện từ các chuyên gia uy tín trong nước, quốc tế và cả các chuyên gia tài chính. “Chúng tôi không chỉ đánh giá về mặt ý nghĩa khoa học, năng lực đội ngũ, mà còn cả tính khả thi, tiến trình thực hiện trong từng giai đoạn của mỗi dự án” – PGS. Hà Dương chia sẻ.   Sau 3 vòng đánh giá, xét chọn nghiêm ngặt của hội đồng khoa học cùng sự tư vấn của hơn 50 giáo sư, tiến sĩ như: GS Đặng Đức Anh (Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TW), GS Hồ Tú Bảo (Viện NCCC về Toán), GS Phan Thanh Sơn Nam (ĐHQG TP HCM), GS Nông Văn Hải (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), GS Đàm Thanh Sơn (ĐH Chicago), GS Nguyễn Thái Thục Quyên (ĐH California), GS Đỗ Ngọc Minh (VinUni)…, Quỹ đã chọn ra được 28 dự án nhận tài trợ từ 139 hồ sơ gửi về trong năm nay. Với suất tài trợ cao nhất lên tới 10 tỷ đồng, giải ngân ngay trong tháng 10, các nhà nghiên cứu sẽ có nguồn lực kịp thời để chi trả cho thành viên dự án, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, mua nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị, thực hiện công bố quốc tế và đăng ký sáng chế…  Không dừng lại ở đó, theo GS Văn, thay vì để các dự án tự ‘loay hoay’, Quỹ VINIF sẽ hỗ trợ cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc…  Ngoài ra, “chúng tôi dự định sẽ tổ chức những buổi gặp gỡ giữa các dự án để các nhóm nghiên cứu có thể trao đổi và trình bày với nhau về tiến trình thực hiện cũng như những kết quả của mình” – PGS.TS Phan Thị Hà Dương bổ sung thêm. Đây cũng là điều mà PGS.TS Hoàng Minh Sơn, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho là hợp lý, bởi ông mong muốn “VINIF không chỉ là quỹ tài trợ cho các dự án riêng lẻ, mà còn là nơi tổ chức các chương trình nghiên cứu lớn để kết nối nhiều trường đại học, viện nghiên cứu với nhau, từ đó gắn kết nghiên cứu đổi mới sáng tạo với đào tạo sau đại học, gắn kết doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu…”    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Quyền lực công nghệ trong những hình dung viễn tưởng (Phần 1: Sự bất ổn về căn tính nhân văn)      Thời đại chúng ta sống đang trải qua những biến chuyển dữ dội, đang chứng kiến và hứa hẹn những điều tưởng chừng không thể tưởng tượng nổi trong một tương lai gần, nơi quyền lực của công nghệ gần như đã nắm vị trí tối thượng, chi phối đời sống cộng đồng cũng như thâm nhập vào mọi khía cạnh riêng tư nhất của cuộc sống con người.  Vấn đề đặt ra không còn là việc lựa chọn hay khước từ công nghệ; thay vào đó, điều chúng ta cần đối mặt trực diện là ý thức về sự chi phối của nó lên đời sống của mỗi cá nhân, những tiềm năng và nguy cơ mà nó đưa lại, sự chuyển đổi và thay thế của một hệ giá trị mới nơi con người mất dần vị thế trung tâm, và đi kèm với đó là những suy tư chiêm nghiệm lại về vấn đề “nhân tính” trong kỉ nguyên của máy móc và công nghệ cao. Tất cả những phản biện và dự báo ấy, ở đây, sẽ được bước đầu khảo sát qua những hình dung viễn tưởng, trong những thực hành nghệ thuật gần đây như “Her” và “Blade Runner”…  cho tới khởi nguồn từ tác phẩm hư cấu của Aldous Huxley: “Brave New World”.      Trong Her, Theodore cô đơn và chỉ yêu một ứng dụng công nghệ. Trong ảnh, Theodore đang hạnh phúc khi nghe ứng dụng nói chuyện qua tai nghe.  Nỗi âu lo trước sự lệ thuộc của con người vào các phần mềm công nghệ cao cùng khả năng “gây nhiễu” đường biên người-máy mà những cuộc tiếp xúc ngày một sâu với các ứng dụng điện tử đưa lại trong thời đại này, bởi thế, sẽ được khảo sát trước hết qua tác phẩm điện ảnh Her (Hạnh phúc ảo, 2013) – bộ phim được đề cử tới 5 hạng mục tại giải Oscar và giành chiến thắng tại hạng mục “Kịch bản xuất sắc nhất”. Ngay từ những cảnh quay đầu, bộ phim mở ra một xã hội tối giản hóa mọi sự tiếp xúc trực tiếp. Nói đúng hơn, Theodore Twombly (nhân vật chính của Her) sống trong một thế giới được bao trùm bởi mọi dạng thức công nghệ thông tin, một xã hội không hứa hẹn trao cho chúng ta các mối quan hệ xã hội mà ngược lại, đẩy ta vào một mạng lưới lằng nhằng những huyễn tưởng về các mối quan hệ ảo. Kiểu quan hệ được đem ra thử thách trong môi trường công nghệ thống trị ở đây là tình yêu. Đau lòng trước sự đổ vỡ gia đình với người vợ cũ, Theodore, từ việc tìm kiếm những quan hệ thân mật qua điện thoại, đã trở nên say mê một hệ điều hành mới mang lại cho anh hi vọng có một sự gắn kết tưởng chừng vĩnh cửu, nơi giọng nói dịu dàng vô hình hài của Samantha (do Scarlett Johansson lồng tiếng) trở thành mối tương tác đầy đồng cảm, thấu hiểu, không rời theo từng bước chân anh. Ứng dụng ấy có một giọng nói đủ dịu dàng để tâm tình, đưa lại cho người dùng một cảm giác tin cậy, được lắng nghe, nhưng cũng đủ trẻ trung hấp dẫn để gợi dục. Gần như chưa bao giờ một mối quan hệ phi xác thịt được tụng ca đến thế. Giọng nói ấy ân cần đánh thức anh mỗi sáng và cũng hết sức sexy mỗi khi mời gọi anh đi vào giấc ngủ. Theodore nói chuyện với cô mọi lúc mọi nơi, anh giới thiệu cô cùng bạn bè (những người bạn ấy cũng có quan hệ tình cảm của riêng mình với một đối tác ảo tương tự), cùng cô thực hiện những chuyến đi xa, rủ cô theo trong những buổi cắm trại ngoài trời. Dù chỉ là một phần mềm điện tử, Samantha tỏ ra là một người bạn đồng hành tuyệt vời trong cuộc sống. Cảm giác cô đơn chán chường ở Theodore gần như được xóa bỏ trọn vẹn. Từ một người bạn tâm giao, Samantha dần mang lại cho Theodore một cảm giác lãng mạn và bị hấp dẫn như trước một người yêu đúng nghĩa. Nói như chính Spike Jonze, đạo diễn bộ phim, Her là “một huyền thoại lãng mạn kiểu cổ điển về tình yêu của một chàng trai và một cô gái mà chỉ một trong hai người được sở hữu một cơ thể”. Nhưng sự chấp nhận điều phi lý này, với Theodore cũng như với chính những người cùng thời anh, gần như là một lẽ đương nhiên bởi gần như bất cứ ai cũng đang sống, trò chuyện, và gắn bó với những thứ đồ dùng máy móc công nghệ của mình hơn là với những người xung quanh. Cảnh quay Theodore trên những chuyến tàu đông chật nhưng mỗi người đều chỉ chăm chú vào việc tương tác với đủ kiểu loại máy móc điện tử mình mang bên người là một mô tả ngắn gọn về quyền lực công nghệ, và cùng với nó, một nỗi cô đơn cùng cực giữa đám đông có lẽ chẳng có gì là quá xa lạ với chúng ta ngày hôm nay. Samantha, giống như tất cả các ứng dụng đã trở nên quen thuộc như Twitter, Facebook,… đem lại cho chúng ta một cảm giác dễ chịu trong ảo tưởng được cứu vớt khỏi sự cô độc, được bước ra bên ngoài vỏ ốc của chính mình để mở rộng một mạng lưới giao lưu rộng hơn trong khi sự thật nằm ở chỗ, thứ duy nhất chúng ta tiếp xúc trực tiếp và có được cảm giác gần gũi là một màn hình điện thoại lạnh lẽo vô tri giác.      Sự suy giảm nhân tính ở con người mỗi lúc một lộ hiện lại diễn ra song song với sự nhân tính hóa ở máy móc mỗi lúc một cao.      Bộ phim của Spike Jonze gần như đã chạm đến được tất cả những vấn đề nhạy cảm nhất của thời đại này, truyền tải một mối suy tư mang tính thời sự về mối tương quan giữa công nghệ hiện đại với cái siêu vượt và siêu nghiệm, giữa cơn ngây ngất say mê với sự hoài nghi, và cuối cùng, giữa khoa học viễn tưởng với sự chiêm nghiệm về bản chất của tình yêu. Nhưng những cặp phạm trù tưởng như hoàn toàn đối lập ấy liệu có loại trừ lẫn nhau? Công nghệ, không thể phủ nhận, đã kéo Theodore ra khỏi cơn trầm uất, tặng cho anh một “người tình” không chỉ hoàn hảo mà còn liên tục được “nâng cấp” sao cho mỗi lúc một đáp ứng tối đa những đòi hỏi tinh thần (và phần nào thể xác) của anh. Trong khi cuộc đời không những tước đoạt đi tình yêu mà còn đẩy anh vào tuyệt vọng, công nghệ tặng anh một huyễn ảnh tươi đẹp về sự kết nối tâm giao trong một tình yêu siêu nghiệm, kéo anh ra khỏi mọi cơn độc thoại không dám mong cầu một lời hồi đáp vào những cuộc đối thoại triền miên không mệt mỏi, đầy nhẫn nại, và tức thì nhận được phản hồi, dù là với một phần mềm ứng dụng. Nghịch lí nằm ở chỗ, sự suy giảm nhân tính ở con người mỗi lúc một lộ hiện lại diễn ra song song với việc sự nhân tính hóa ở máy móc mỗi lúc một cao. Theodore dần dần quên mất Samantha chỉ là một sản phẩm công nghệ điện tử từ lúc nào không hay. Chính bởi vậy, dù là một tồn tại phi hình hài, Samantha vẫn là một trong hai nhân vật chính của bộ phim. Chúng ta theo dõi những diễn biến tâm lí, những thay đổi về tình cảm, sự gắn kết mỗi ngày một sâu đậm và sự thấu hiểu mỗi lúc một tăng trong tình yêu của cô dành cho Theodore hệt như với một nhân vật hư cấu văn chương. Ở Samantha không chỉ có sự lắng nghe và thấu hiểu, cô còn liên tục tự chất vấn – về tình cảm của hai người cũng như về chính sự tồn tại của mình. Samatha, một ứng dụng di động, đã chạm tới những câu hỏi mang tính triết học về bản thể. Câu hỏi trung tâm mà Jonze muốn đặt ra trong bộ phim của mình, bởi thế, không chỉ là liệu máy móc có khả năng yêu hay không giống như ở đa phần các tác phẩm hư cấu viễn tưởng khác, mà hơn thế nữa: liệu máy móc, một cách có ý thức, có khả năng yêu thương hơn hẳn những con người – kẻ đã tạo ra chúng hay không?     Nhân vật K trong Blade Runner đi giữa những phiên bản người nhân bản.  Câu hỏi tương tự cũng được đặt ra trong Do Androids Dream of Electronic Sheep? (Liệu những người máy có mơ về lũ cừu điện)- một trong những cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng viết năm 1986 đưa lại hình dung đình đám nhất về đời sống hậu-nhân loại (post-human) của Phillip K.Dick; cùng bộ phim chuyển thể nổi tiếng lấy kịch bản từ nó là Blade Runner (Tội phạm nhân bản,1982), và phim điện ảnh gần đây hơn được gợi hứng và tiếp nối phiên bản chuyển thể đầu tiên của Ridley Scott: Blade Runner 2049 (Tội phạm nhân bản 2049, 2017) của Denis Villeneuve. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của Dick là Rick Deckard, một kẻ kiếm tiền bằng nghề săn đuổi những người nhân bản thế hệ mô hình sinh học-điện tử Nexus-6 đang bỏ trốn. Deckard bắt tay vào công việc săn đuổi lạnh lùng của mình bằng một nguyên tắc rõ ràng: luôn phân định một ranh giới tách biệt tuyệt đối giữa người và máy, chính vì thế, để nhận diện một người nhân bản cần tiêu diệt, anh tuân thủ một phương thức tưởng chừng chắc chắn – sự vô cảm: “Một người nhân bản không quan tâm tới việc điều gì có thể xảy ra với một người khác hay không. Đó là một trong những dấu hiệu nhận biết để chúng ta có thể nhận ra”. Nhưng lập luận này bị chính anh phản bác và mâu thuẫn, và vị thế của một tên sát thủ mà Deckard vốn nắm giữ lại bị lung lay dữ dội bởi mối quan hệ tình ái với Rachel Rosen, một Nexus-6. Tác giả đã để Rachel, một người máy nhân bản, tự cất tiếng nói ý thức đầy đau xót về thân thể và sự tồn tại của chính mình: “chúng tôi không được sinh ra, chúng tôi không lớn lên, thay vì chết bởi bệnh tật hay tuổi già, chúng tôi mòn dần đi như bị mối ăn”, hay như lời thú nhận: “Không phải là em đang sống! Cũng không phải là anh đang lên giường với một phụ nữ đâu! Xin anh đừng thất vọng!” Tiếp nối vấn đề được đặt ra từ cuốn tiểu thuyết, phim của Ridley Scott đặc biệt đi sâu vào tính chất cảm động trong cuộc đấu tranh của những người máy trong nỗ lực giành sự sống và bản sắc riêng. Bằng sự đồng cảm được khơi dậy từ tình yêu với một người nhân bản, chính Deckard cũng dần vi phạm những quy định hà khắc về xúc cảm anh buộc phải tuân thủ: “Người nhân bản là một cỗ máy sinh học-điện cơ không được công nhận quyền mang cảm xúc, nhưng kể cả kẻ săn đuổi cũng vậy. Anh ta không được phép xúc động. Nhưng chuyện quái gì đang xảy ra với tôi đây?” Sự tự vấn ấy là bước khởi đầu cho việc phá vỡ đường ranh giới không thể vượt qua giữa người (human) và máy (cyborg). Những gì vốn được lấy làm nền tảng căn bản xác định căn tính nhân văn (tình yêu, đức hi sinh, sự chấn thương, năng lực sáng tạo tuyệt vời và cả khả năng chất vấn sự tồn tại của bản ngã), trong những hình dung viễn tưởng này, gần như đã không còn là đặc quyền của riêng con người nữa. Câu hỏi phản biện mang tính triết học về sự tồn tại bản thể tiếp tục được nối dài trong Blade Runner 2049. Đường phân giới người/máy chưa bao giờ trở nên mơ hồ hơn thế khi Denis Villeneuve để “K” (một cách định danh nhân vật rất Kafka) – một nhân viên an ninh thế hệ Nexus 9 chuyên săn lùng và tiêu diệt các thế hệ nhân bản đời cũ hòng đảm bảo một xã hội ngày một tân tiến và hoàn hảo hơn đã đi từ sự truy sát kẻ khác sang cuộc hành trình tìm kiếm sự thật về chính mình. Cũng chính cuộc hành trình tự khám phá bản thân đã đẩy K lệch ra bên ngoài những luật tắc buộc phải tuân thủ đối với một nhân viên an ninh thực thụ. Mọi hành động của K đều mang một hi vọng về căn tính người mà anh (hi vọng) có thể mang chứa trong mình. Nghi vấn mình chính là đứa con duy nhất của Deckard và Rachel Rosen (trong Blade Runner) khiến K bí mật lưu giữ một niềm tin đặc biệt vào phần “nhân tính” tiềm ẩn trong mình. Nhưng cái giá K phải trả là quá lớn bởi mọi kí ức về một thời thơ ấu bên cha mẹ của anh hóa ra chỉ là một kiểu kí ức được cài đặt sẵn, được lập trình, được kiến tạo, hay nói đúng hơn, được “mượn” từ kẻ khác. Hi vọng về một phần nhân tính có thể có hóa ra chỉ là một ảo tưởng lớn để K khổ công kiếm tìm và rồi vỡ mộng. Bộ phim kết thúc trong sự suy sụp cùng cực khi K nhận ra rằng mình là một “vật thế vì”, một người nhân bản được tạo tác hoàn toàn. Nhưng cuộc hành trình kiếm tìm bản ngã cùng sự vỡ mộng về tồn tại ấy là một lời bênh vực cho chính nhân vật. Cuộc truy vấn về tồn tại của K đã khiến chính những con người chúng ta phải tự chất vấn về phần nhân tính cùng những năng lực “nhân văn” vốn được nghiễm nhiên thừa nhận chỉ thuộc về riêng con người, trong sự phân biệt tuyệt đối với người máy. □     Đón đọc phần 2: Lời cảnh tỉnh cho kỷ nguyên hiện đại    Author                Đặng Hà        
__label__tiasang Quyền lực công nghệ trong những hình dung viễn tưởng (Phần 2: Lời cảnh tỉnh cho kỷ nguyên hiện đại)      Từ những dự cảm đầu tiên trong Brave New World của Aldous Huxley, và sau này là 1984 – George Orwell, Khi loài vật lên ngôi – Karel Kapek,… cho đến các tác phẩm xuất sắc nhất gần đây như series Black Mirror đã cho chúng ta cái nhìn vừa sâu sắc vừa trực diện vào nỗi ám ảnh ‘tận thế’ trong cơn khủng hoảng công nghệ mà chính chúng ta đang phải đương đầu.    Một trong những dự báo đầu tiên về sự lên ngôi của khoa học công nghệ, thường được ghi nhận như một “lời cảnh tỉnh dành cho kỉ nguyên hiện đại” là cuốn tiểu thuyết viễn tưởng Thế giới mới tươi đẹp (Brave New World, 1932) của Aldous Huxley. Tác phẩm thường được xem như một bản cáo trạng đanh thép chế độ độc tài chuyên chế cũng như những cơn điên cuồng công nghệ đã, đang và sẽ diễn ra. Chính Huxley cũng đã từng gọi đích danh chủ đề ông hướng đến là “sự tiến bộ khoa học cùng những ảnh hưởng của nó đến đời sống cá nhân của mỗi con người”. Với chủ đích ấy, ông đưa đến một cái nhìn phản không tưởng1 về tương lai khi mọi thứ được kiểm soát trong một trật tự được đảm bảo hoàn hảo và vận hành hiệu quả, với hệ quả tất yếu là sẽ “không còn chừa một khoảng trống nào cho tự do hay sáng kiến cá nhân”. Nhưng với Brave New World, Huxley còn gửi gắm một thông điệp mang ý nghĩa sâu xa hơn: tác phẩm là một lời cảnh báo, một bức chân dung nghiệt ngã về cuộc sống trong một thế giới chối bỏ Chúa và kiệt quệ nhận thức về cái cao cả và sự siêu vượt, nơi con người thỏa mãn tất cả nhưng mọi ham muốn lớn nhỏ nhưng chỉ dừng lại trong những khát vọng vật chất trần tục nhất. Từ những dấu hiệu được nhen nhóm trong chính thời mình sống, Huxley dường như đã cảnh báo trước những gì đang hiện hữu và chờ đón chúng ta. Lịch sử, có thể nói, đã minh chứng cho tư tưởng nhuốm màu bi quan chủ nghĩa của nhà văn.    Em bé chỉnh sửa gene đã ra đời rất sớm so với những gì được cảnh tỉnh trong Brave New World. Ảnh: allphysicianjobs.  Câu chuyện bắt đầu trong bối cảnh năm 632 Kỷ nguyên Ford (tức năm 2540 Công lịch), với những lời tụng ca của người dẫn truyện – Giám đốc Trung tâm Ấp và Bảo quản phôi tại London – đầy hào hứng khi tuyên bố một thành tựu lớn của thời đại mới: nguyên tắc sản xuất hàng loạt cuối cùng cũng đã được ứng dụng trong công nghệ sinh học. Mặc dù chưa hẳn tuyên bố này đã mang hàm ý phán xét hay mỉa mai, chúng ta nên lưu ý rằng Huxley đã viết cuốn tiểu thuyết vào đầu những năm 1930, khi bước chuyển công nghiệp hóa đã bắt đầu ảnh hưởng và chi phối đời sống phương Tây – một bước chuyển dữ dội tác động sâu sắc đến tâm lí của những con người thời ấy khi chứng kiến những đổi thay chóng mặt ngay trong đời sống hằng ngày. Hình dung về tương lai của Huxley, bởi thế, mang một nỗi âu lo chung khi đối diện với sự bành trướng của nền công nghiệp sản xuất hàng loạt và ám ảnh về điểm kết thúc mang màu sắc phản-không tưởng của quá trình “tăng trưởng” không ngừng đang được tụng ca. Theo nhiều cách khác nhau, Brave New World cảnh báo trước tư tưởng áp đặt nguyên lí sản xuất hàng loạt lên chính loài người, tham vọng đồng bộ hóa mọi cá tính, mọi gương mặt, chứ không chỉ là sự ám ảnh trước những cỗ máy.       Nhân tính và nhân quyền – những gì rất dễ bị bỏ qua và phủ nhận dưới sự thống trị đã được khéo léo “công nghệ hóa”, trong những xã hội nơi sự bất bình đẳng được duy trì nhân danh văn minh và tiến bộ.      Brave New World được đánh giá là một trong những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng danh tiếng nhất mọi thời đại, nói đúng hơn, là một trong những cuốn tiểu thuyết mang tinh thần phản-không tưởng dữ dội nhất. Như chính tâm sự của Huxley trong bức thư gửi người bạn mình, “tôi đang viết một cuốn tiểu thuyết về tương lai, về nỗi kinh hoàng của một thế giới không tưởng kiểu H.G.Wells và cuộc nổi dậy chống lại nó”. H.G.Wells là một người bạn của Huxley, cũng là một nhà văn kiệt xuất với ý tưởng nổi danh cho rằng sự phát triển công nghệ sẽ đưa đến một tương lai huy hoàng cho toàn nhân loại; tư tưởng ấy được ông nhiệt thành gửi gắm trong cuốn tiểu thuyết Men Like Gods (Con người như là Chúa Tể) viết năm 1923. Với cùng những hình dung viễn tưởng về tương lai nhân loại – nơi nền kinh tế giữ vị trí chi phối toàn bộ đời sống, nơi kĩ thuật di truyền gene đã đạt tới những thành tựu bậc cao và nền văn hóa được thế tục hóa một cách tuyệt đối trong sự hỗ trợ đắc lực bởi công nghệ, nơi con người luôn nằm trong tầm kiểm soát và được quy định từng định mức chi tiết về tất cả những khoái cảm kiểu Freud, đặc biệt là khoái cảm tình dục – tuy nhiên, cái nhìn của Huxley ngầm ẩn một sắc độ bi quan hơn khi nhận ra “thế giới mới” ấy cũng chính là nơi con người sẵn sàng đánh đổi tự do cá nhân và nhân tính căn bản để phục tùng sự kiểm soát tuyệt đối của chính quyền. Không khó để nhận ra sự đánh mất tự do cũng là chủ đề được George Orwell đề cập tới trong 1984, nhưng trong khi các nhân vật của Huxley sẵn sàng từ bỏ tự do, trong xã hội phản-không tưởng của Orwell, quần chúng bị cưỡng chế tuân thủ theo quy định của một nhà nước pháp quyền dưới sự dẫn dắt của kẻ độc tài bạo lực tự xưng là Anh Lớn (Big Brother). Huxley dường như tự cảm thấy mình đã đưa ra một lời tiên tri chính xác hơn về tương lai khi ông tuyên bố: “Tôi tin rằng trong tương lai những kẻ thống trị khôn khéo sẽ tìm được những cách thức ít khó khăn và bớt lãng phí hơn để cai trị cũng như thỏa mãn ham muốn quyền lực của mình; và sẽ giống hơn với những gì tôi mô tả trong Brave New World”. Dù thực tế đang dần chứng minh luận đề của Orwell qua các nhà nước thống trị bằng bạo lực, những gì Huxley dự đoán cũng đang được “hiện thực hóa” khi nhìn vào cái giá phải trả cho sự phát triển vượt bậc của công nghệ sinh học trong quá trình kiểm soát sinh sản, sự sụp đổ dần khái niệm về gia đình, sự biến mất dần của ý niệm tình yêu, sự kéo dài tuổi trẻ và trục xuất kẻ già, và sự xuất hiện của những chất kích thích (hợp pháp) thay thế cho rượu, cocain và thuốc phiện hòng liên tục duy trì ảo giác về một “cuộc sống tươi đẹp”.    Trong phần 3 của Black Mirror, các nhân vật luôn bị ám ảnh phải thể hiện mình đạt chuẩn 5 sao.   Trong phần mở đầu của Brave New World, vị Giám đốc Trung tâm Ấp và Bảo quản phôi vừa dẫn một đoàn sinh viên thực tập đi thăm quan Trại giống London, vừa giải thích cho họ hiểu những lợi thế vượt trội mà thế giới hiện đại đã đạt được. Ông chỉ cho họ xem những đứa trẻ chưa ra đời trong các ống nghiệm sinh sản vô tính đang được liên tục bơm đủ loại hóa chất gây tác động đến bộ não, hệ cơ và hệ thần kinh để định hình “đẳng cấp” cho từng cá nhân ngay khi chỉ mới phôi thai. Sau khi ra khỏi các “chai” nuôi bào thai, những đứa trẻ này phải trải qua một quá trình huấn luyện, học tập cùng những cơnthôi miên trong giấc ngủ để hình thành được các nhóm cộng đồng có chung một cách nghĩ, một lối cảm xúc hay một cách phản ứng trước những điều kiện tương tự nhau. Cơ thể và hệ thần kinh được “bóp méo” sao cho tương hợp một cách hoàn hảo nhất với điều kiện sinh tồn và môi trường lao động mà họ vĩnh viễn bị quy định thuộc về. Quá khứ với chiến tranh và các mối quan hệ gia đình được nhìn như một tấm gương xấu khi bạo lực và dục vọng còn chưa thể được kiểm soát, còn ẩn chứa nguy cơ bùng phát một cách vô thức và nguy hiểm. Xã hội mới này là một xã hội phi ràng buộc, nơi con người có tất cả mọi thứ trong phạm vi nhu cầu đã được quy định sẵn tới mức không ai phải lo lắng đến việc chịu trách nhiệm trước bất cứ điều gì. “Vợ chồng”, “con cái” hay “cha mẹ” trở thành những ý niệm “ghê rợn”. Đó là một xã hội phải đánh đổi tất cả những gốc rễ căn bản nhất từ gia đình, tôn giáo đến nghệ thuật bậc cao và thi ca để có được huyễn tưởng về sự ổn định và hạnh phúc. Những giá trị văn chương vĩnh cửu như tác phẩm của Shakespeare trở thành loại hình nguy hiểm và mang mầm mống lật đổ bởi nó gợi ý cho những sự nghĩ lại, những chất vấn suy tư, những trăn trở về đúng và sai, bình đẳng và bất bình đẳng, tình yêu và thù hận – những điều tối kị cho một thiết chế bất công bền vững. Trong cuộc đối thoại giữa vị thủ tĩnh tinh thần thời đại Mustaphord Mond và “người hoang dã” John – một nhân vật xuất thân từ “khu bảo tồn”, kiểu không gian đối trọng với đời sống văn minh công nghệ, nơi tất cả những phương thức đời sống cũ được bảo lưu và bị biến thành những thứ ‘dị lãm’ (exotic) cho người ta đến thăm quan, ngắm nghía như thể đang bước chân vào một dạng “vườn bách thú” – lần đầu tiên hạnh phúc được đặt lại vấn đề. Mond quả quyết rằng để duy trì sự hài hòa, xã hội cần liên tục được kiểm duyệt: kiểm duyệt nghệ thuật, kiềm chế cá tính, tránh xa tình yêu, cấm kị đổi mới. Đó là một thế giới tước bỏ sự xung đột tinh thần dưới bất kì hình thức nào, không còn mê tín nhưng cũng không còn tôn giáo tín ngưỡng, không có sự khủng hoảng kinh tế nhưng cũng mất đi tất cả những vẻ đẹp của truyền thống cũ, không bất đồng quan điểm nhưng cũng không có nổi những sáng tạo tuyệt vời. Nhưng trong khi Mond, từ luận điệu của giới cầm quyền, khăng khăng lấy nền tảng xã hội là sự ổn định trong suy trì các mối quan hệ đẳng cấp, triệt tiêu mọi say mê mà thường đi kèm với nó là tham vọng quyền lực và bạo lực, John cho rằng hạnh phúc điều mà để có được nó, con người phải chấp nhận đánh đổi bằng một cái giá quá lớn: “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi”. Brave New World của Aldous Huxley, bởi thế, không chỉ là một tiên nghiệm về sự phát triển của công nghệ mà còn phơi lộ những bàn tay quyền lực đứng đằng sau điều khiển và lợi dụng những bước tiến công nghệ ấy. Một đám đông phục tùng phi cá tính, đó gần như là kiểu mẫu công dân lí tưởng đối với mọi nhà cầm quyền. Và ở đây, sự phát triển vượt bậc của công nghệ là điều kiện lí tưởng để những tham vọng ấy được hiện thực hóa, bắt đầu từ quyền năng biến đổi gene để duy trì vĩnh cửu các kiểu hình công dân. Huxley, hơn ai hết, đưa đến một lời cảnh tỉnh về nhân tính và nhân quyền – những gì rất dễ bị bỏ qua và phủ nhận dưới sự thống trị đã được khéo léo “công nghệ hóa”, trong những xã hội nơi sự bất bình đẳng được duy trì nhân danh văn minh và tiến bộ.    Những hình dung viễn tưởng, như thế, đã chạm tới cái nhìn sâu nhất về một kỉ nguyên của công nghệ mà chúng ta đang bước đầu đối diện, đặt lại ý niệm nhân tính trước những thách thức và gợi mở mà thời đại hậu-nhân loại này đang đưa lại. Từ những dự cảm đầu tiên của Aldous Huxley, và sau này là George Orwell, Karel Kapek2,… các tác phẩm phản-không tưởng xuất sắc nhất gần đây như series Black Mirror (Gương đen) đã cho chúng ta cái nhìn vừa sâu sắc vừa trực diện vào nỗi ám ảnh ‘tận thế’ trong cơn khủng hoảng công nghệ mà chính chúng ta đang phải đương đầu. Dẫu vậy, điểm cốt yếu nhất mà các tác phẩm viễn tưởng có thể gợi mở cho chúng ta không chỉ là sự thức tỉnh trước bá quyền thống trì được duy trì và nghiễm nhiên hóa bằng công nghệ, mà còn là một cách tiếp cận mang tính “lỏng” hơn trước những hình dung nhân văn. Lặp đi lặp lại trong những tác phẩm ấy là sự phá vỡ liên tục những ranh giới nhị nguyên như Donna Haraway đã chỉ ra trong Cyborg Manifesto (Bản tuyên ngôn quyền người máy): giữa sinh thể với máy móc, giữa thân thể với phi-thân thể,… để từ đó xác quyết một ý niệm táo bạo hơn về “khoái cảm của sự rối loạn những đường biên” hay chính là những cách thức có thể trao tặng cho con người những khả thể tồn tại mới.  Chú thích:   1 Phản không tưởng (Dystopia): là một thuật ngữ phái sinh từ ý niệm ‘utopia’ được Sir Thomas More đặt ra trong cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 1516 để chỉ một nơi chốn hay một nhà nước tưởng tượng nơi tất cả mọi thứ đều hoàn hảo, vốn được Thomas More xây dựng trong ước vọng đối lập với một xã hội Anh tha hóa, xuống cấp vào chính thời ông sống. Để tạo ra khái niệm này, More đã chơi chữ, ghép từ “ou” (có nghĩa là không) và “topos” (có nghĩa là nơi chốn) trong tiếng Hi Lạp để nói về một nơi chốn “không nơi chốn”, một nhà nước văn minh hoàn hảo gần như mới chỉ tồn tại trong mơ ước. Trái lại, “dystopia” ra đời trong thế kỉ XX, gắn với sự đổ vỡ của những ảo tưởng về tính hiện đại cùng nỗi thất vọng về một nơi chốn tuyệt đối hứa hẹn sẽ chờ đón con người trong kỉ nguyên của công nghiệp, công nghệ và kĩ thuật. Nó gắn với sự hình thành của văn học phản không tưởng (dystopian literature) mà Brave New World là một trong những tác phẩm mở màn, nhắm đến khám phá những cấu trúc chính trị xã hội trong ‘một thế giới tăm tối, ác mộng’, gắn với chủ nghĩa bá quyền và sự sụp đổ hoàn toàn niềm tin vào huyễn tưởng mà kỉ nguyên hiện đại từng hứa hẹn khi nó đang từng bước đẩy con người vào những ‘nguy cơ tận thế’ mới.   2 Với “R.U.R” đã được dịch sang tiếng Việt. Karel Kapek cũng là người đầu tiên đưa từ “robot” vào văn học.    Author                Đặng Hà        
__label__tiasang Quyết định dựa trên con số      Có năm ý tưởng cốt lõi trong khởi nghiệp tinh gọn được Eric Ries* giới thiệu: (1) Doanh nhân ở khắp mọi nơi; (2) Tinh thần doanh nhân thực chất là quản trị; (3) Học tập có kiểm chứng; (4) Vòng lặp Xây dựng – Đo lường – Kiểm chứng; (5) Kế toán đổi mới sáng tạo.       Mô hình AARRR.  Công tác kế toán tưởng chừng không có mối liên hệ nào với câu chuyện của khởi nghiệp giai đoạn đầu khi còn chưa có doanh thu thực ra lại vô cùng quan trọng, thậm chí còn cho bạn những ý tưởng rất cần thiết để hình thành, phát triển dịch vụ mới hay đơn giản là xem xét quyết định có nên đi tiếp với sản phẩm dịch vụ của mình hoặc dừng lại. Nếu đặt khởi nghiệp trong bối cảnh của nền kinh tế số, với hai xu hướng quan trọng đang tác động đến cách chúng ta phát triển sản phẩm dịch vụ mới và ra quyết định hiệu quả hơn là Dữ liệu Lớn (Big Data) và IOT (Internet of Things) thì việc chuẩn bị đo lường những thông số xung quanh câu chuyện kinh doanh là điều cần thiết. Sẽ rất chủ quan nếu đợi đến khi bán được hàng rồi mới nói đến chuyện thống kê doanh số. Nhưng với nguồn lực hạn chế, sẽ không khả thi nếu tập trung thu thập tất cả mọi loại dữ liệu. Lời khuyên của cha đẻ khởi nghiệp tinh gọn là nên đo lường càng sớm càng tốt và luôn theo sát những thông số quan trọng và đặt ra những câu hỏi: làm thế nào để đo lường tiến bộ đạt được, làm thế nào để dựng lên những dấu mốc quan trọng và làm thế nào để xác định các ưu tiên trong công việc.  Bài viết này giới thiệu với những thước đo quan trọng trong khởi nghiệp một cách cơ bản nhất dựa trên những công cụ có sẵn.  Thống kê số liệu với AARRR  Được phát triển bởi Dave McClure, công cụ AARRR (được gọi là “cướp biển” vì đọc lên giống như âm thanh cướp biển cầm thanh kiếm đe dọa) được sử dụng phổ biến và được yêu thích bởi các doanh nghiệp nói chung, không riêng gì khởi nghiệp nhờ sự đơn giản, nhiều ý nghĩa của nó. Nếu như trong quá khứ, nguyên tắc AIDA (Attraction – hấp dẫn; I- Interested – Quan tâm; D- Desire – Mong muốn; A- Action – Hành động) trong marketing và cũng là một phễu đơn giản trong kinh doanh từng rất phổ biến thì AARRR được coi như sự thay thế hoàn hảo cho AIDA.  AARRR là viết tắt của:  Acquisition: Số lượng người thu hút được / Đăng ký sử dụng sản phẩm dịch vụ/ quan tâm đến sử dụng sản phẩm dịch vụ bước đầu  Activation: Số lượng người kích hoạt tài khoản hoặc thực hiện hành động gì đó gắn kết họ với sản phẩm dịch vụ của bạn/bắt đầu trải nghiệm  Retention: Bao nhiêu người quay trở lại với website; gian hàng theo ngày, tuần, tháng, năm (tùy theo sản phẩm dịch vụ)  Revenue: Bao nhiêu người trả tiền cho sản phẩm dịch vụ của bạn  Referrals: Bao nhiêu người giới thiệu sản phẩm dịch vụ của bạn cho người khác  Với AARRR, bạn hãy linh hoạt trong cách áp dụng. Ví dụ, với một doanh nghiệp khởi nghiệp chạy chương trình marketing, bạn có thể đặt những câu hỏi sau để chuẩn bị thông số phù hợp cho việc theo dõi:  Bao nhiêu người tìm đến bạn qua từng kênh khác nhau? Ví dụ: Facebook; Hotline; Website; Google Ads  Tỷ lệ chuyển đổi qua từng bước là bao nhiêu? Ví dụ, chiến dịch của bạn tiếp cận 10.000 người, nhưng chỉ có 100 người đăng ký tài khoản, tức là tỷ lệ chuyển đổi là 1%, thấp hơn kỳ vọng. Bạn sẽ đặt câu hỏi về hiệu quả của thông điệp marketing ngay từ bước đầu. Hay mặc dù có rất nhiều người đăng ký sử dụng sản phẩm dịch vụ nhưng tỷ lệ chuyển đổi từ trải nghiệm đầu tiên đến bước họ sẽ quay trở lại chỉ có 1%, bạn lại tiếp tục đặt ra câu hỏi, điều gì khiến họ không quay trở lại? Lúc này việc phỏng vấn các khách hàng một đi không trở lại và cả những khách hàng quay trở lại sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về chiến lược hoặc chương trình của mình để có sự điều chỉnh.  Tại sao ta cần theo dõi những chỉ số này? Còn chỉ số nào nhỏ hơn trong từng giai đoạn cần theo dõi không?  Khi biết chính xác các bước bạn sẽ trải qua, việc xác định chi tiết từng dữ liệu phản ánh hành vi khách hàng sẽ cho bạn cái nhìn sâu sắc và chặt chẽ hơn để phục vụ khách hàng tốt hơn rất nhiều. Hình vẽ bên là ví dụ của Piktochart (một doanh nghiệp cung cấp cho người dùng các template miễn phí và các công cụ đơn giản để thiết kế inforgraphic, poster, bài thuyết trình đẹp) đã chi tiết hóa những thông số để nắm được hành vi người dùng như thế nào, từ đó hoàn thiện sản phẩm dịch vụ.  Ta cần điều chỉnh gì để có tỷ lệ chuyển đổi tốt hơn? Việc coi các bước AARRR như một cái phễu để lọc khách hàng và đi đến đích cuối cùng là khách hàng mua hàng, hài lòng và giới thiệu với người khác là một cách để sự nỗ lực ở từng bước phải diễn ra tốt nhất.  Thống kê số liệu với Google Analytics, Facebook  Khi nhu cầu của doanh nghiệp tìm hiểu về khách hàng, đồng cảm hơn với khách hàng ngày càng lớn, các công cụ miễn phí ra đời ngày càng nhiều. Các tổ chức tạo ra những công cụ này không khác gì doanh nghiệp, họ cũng cần nắm hành vi khách hàng. Đó là lý do Google phát triển Google Analytics, phân tích thông số của website, trong khi Facebook có Facebook Insights để giúp người quản lý fanpage nắm được hiệu quả truyền thông marketing của mình. Và không dừng ở những công cụ miễn phí, các công ty liên tục phát triển các công cụ mạnh hơn, chi tiết hơn và đắt đỏ hơn để nắm bắt hành vi khách hàng. Dẫu vậy, với ngân sách hạn hẹp thì chỉ cần tận dụng các công cụ miễn phí, doanh nghiệp cũng có thể thu về cho mình những giá trị hữu ích vô cùng.  Với Google Analytics, chỉ cần bước tích hợp đơn giản vào website hoặc landing page mà bạn tạo ra, bạn có thể theo dõi rất nhiều thông số từ số lượng người vào trang, vào qua những kênh nào, vào từ vùng địa lý nào, hành vi trên trang web của bạn diễn ra như thế nào, họ vào mục nào nhiều nhất, đi đến đâu, đi qua những bước nào rồi mới đến bước gọi điện đặt hàng. Những ý tưởng có thể bật ra từ quan sát của bạn, ví dụ một thị trường mới tiềm năng nhờ quan sát sự xuất hiện và gia tăng số lượng khách hàng qua đó; một nút bấm để sai chỗ làm số lượng người đăng ký sử dụng thử dịch vụ của bạn giảm hẳn; hay số lượng người vào website qua mobile ngày càng nhiều đòi hỏi bạn phải điều chỉnh phiên bản mobile cho website của mình v.v.  Với Facebook Insights, bạn có thể đánh giá lượng người vào trang web, đánh giá hiệu quả của từng bài mình đưa lên, sự gắn kết của mọi người với website của bạn.  Công cụ thì luôn sẵn có và rất nhiều, vấn đề là bạn dùng chúng vào việc gì và dùng như thế nào. Bạn cũng không nên kỳ vọng một công cụ sẽ giải quyết hết mọi việc, hãy tập trung vào mô hình kinh doanh của bạn để có những điều chỉnh phù hợp về các thông số. Nhiều doanh nhân khác khi hiểu về khởi nghiệp tinh gọn, họ thấy rằng, không chỉ nên tập trung quan sát các con số về doanh thu, số lượng khách hàng. Xung quanh sự phát triển của doanh nghiệp là hàng loạt những con số biết nói khác, mà nếu nhìn sâu, bạn không chỉ hiểu về chính những điểm yếu, điểm mạnh, tiềm năng và thách thức của doanh nghiệp, mà còn giúp bản thân bạn thấy tự tin hơn với những quyết định của mình. Vì vậy, hãy hình thành một tư duy từ đó dẫn đến thói quen, hãy quyết định dựa trên số liệu và sự quan sát ngay từ những bước đầu khởi nghiệp.  ———-  * Eric Ries là nhà khởi nghiệp và tác giả cuốn sách “Khởi nghiệp tinh gọn” (The lean starrtup).    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Ra mắt bốn câu lạc bộ sáng tạo khởi nghiệp ở ĐBSCL      Bốn câu lạc bộ sáng tạo khởi nghiệp vừa ra mắt hôm 18/6 có thành viên ở hầu khắp các tỉnh miền Tây như: An Giang, Cần  Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh.     Buổi ra mắt của bốn CLB diễn ra trong khuôn khổ Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC)  tại Cần Thơ.   Các CLB này được thành lập theo sáng kiến của Hội Doanh nghiệp HVNCLC và  Trung tâm BSA, bao gồm:    CLB sáng tạo khởi nghiệp Bếp Phương Nam: Đây là nơi tập hợp những đầu bếp thực sự có ý tưởng sáng tạo từ những nguyên liệu địa phương. Việc thành lập câu lạc bộ này kỳ vọng sẽ làm thay đổi hình ảnh và các giá trị của nông sản Việt Nam cũng như “đào” thêm được nhiều món ăn ngon, truyền thống của từng vùng miền. CLB sáng tạo khởi nghiệp Bếp Phương Nam được thành lập ban đầu gồm tám thành viên đến từ Cần Thơ, Bến Tre và Trà Vinh. Vui mừng vì được bầu vào ban chủ nhiệm CLB, anh Khúc Trí Dũng chia sẻ: “Hiện nay, không chỉ các bạn trẻ ở thành phố mà các bạn trẻ ở nông thôn cũng rất mê nghề đầu bếp, việc thành lập CLB này là nơi lý tưởng để bạn trẻ trao đổi về nghề nghiệp mình yêu thích”.  CLB Nông dân sáng tạo: CLB này thu hút 10 bạn trẻ ở các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh tham gia. Trong CLB Nông dân sáng tạo tập trung hàng loạt các công trình nghiên cứu của các bạn trẻ nông dân như: máy phun thuốc tự vận hành, máy vô chân mía, máy tích điện, dưa hấu thỏi vàng…  CLB Khởi nghiệp từ rau an toàn: Do sáu HTX chuyên sản xuất các loại rau, củ ở Cần Thơ tập trung lại cùng Hội DN HVNCLC, Trung tâm BSA để thành lập nên.  Anh Nguyễn Văn Bi, người được bầu làm chủ nhiệm CLB cho rằng, việc thành lập CLB cùng với sự giúp đỡ của Hội DN HVNCLC thì sản phẩm của “CLB khởi nghiệp từ rau an toàn” trong tương lai sẽ vào được siêu thị cũng như các hệ thống phân phối khác trên thị trường. Trước mắt, CLB có 10 thành viên tham gia hoạt động.  Đặc biệt, dịp này, có tới 16 bạn trẻ đang thực hiện Dự án Du lịch nông nghiệp tại An Giang cũng kết nối vào mạng lưới sáng tạo khởi nghiệp do Trung tâm BSA khởi xướng. Với ý tưởng liên kết hoạt động du lịch có trách nhiệm, ban tổ chức đã thống nhất và thành lập CLB Chương trình Du lịch có trách nhiệm. Trong nhóm này, đa số các bạn trẻ đang là người đứng đầu các tổ hợp tác du lịch nông nghiệp ở chính quê nhà như Óc Eo, Núi Sam, Núi Sập, Ba Chúc, Vàm Nao, Mỹ Hòa… và góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại địa phương.  Bốn CLB sáng tạo khởi nghiệp ra đời không chỉ nhận được sự quan tâm của lãnh đạo thanh niên mà còn nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp. Ông Huỳnh Quang Vinh, Phó tổng giám đốc doanh nghiệp Antesco, đã thuê hẳn một chuyến xe từ An Giang để “tháp tùng” các bạn trẻ An Giang đến tham dự chương trình. Ông Vinh cho rằng, việc thành lập những câu lạc bộ trên là cần thiết để những bạn trẻ nông thôn làm giàu từ chính mảnh đất của mình.  Cũng trong chương trình, các thành viên của bốn CLB sáng tạo khởi nghiệp còn được nghe và trao đổi với chuyên gia Nguyễn Duy Long về cách lập kế hoạch kinh doanh cho mình.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt cuốn tranh truyện đầu tiên về hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ      Được chắp bút bởi TS. Phạm Thị Kiều Ly và minh hoạ bởi hoạ sĩ Tạ Huy Long, cuốn sách Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ sẽ đưa độc giả đến với câu chuyện về cuộc đời nhiều thăng trầm của giáo sĩ Đắc Lộ – Alexandre de Rhodes – người có công rất lớn trong việc in cuốn từ điển đầu tiên của tiếng Việt (Từ điển Việt-Bồ-La).    Cuốn sách Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ của tác giả Phan Thị Kiều Ly và hoạ sĩ Tạ Huy Long  Chữ viết Tiếng Việt ra đời như thế nào? Tại sao chúng ta hiện nay lại đang dùng thứ văn tự Latinh, khác hẳn với các nước xung quanh? Chúng ta vẫn nói mình dùng chữ Quốc ngữ, vậy chữ Quốc ngữ là gì? Ai đã tạo ra nó? Đó chính là những nội dung mà cuốn sách Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ sẽ giải đáp.  Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết là một trong những phát minh vĩ đại, là công cụ để ghi lại lời nói và tư duy. Nếu không có chữ viết, hẳn sự trao truyền tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác sẽ vô cùng khó khăn. Và tất nhiên, không có chữ viết thì không có sách vở.  Khác với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, hay các triều đại phong kiến Việt Nam xưa kia chủ yếu sử dụng chữ tượng hình, Việt Nam ngày nay đang sử dụng một dạng văn tự khác biệt: chữ Quốc ngữ, tức là chữ viết ghi âm của tiếng Việt bằng ký tự Latinh.  Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ là cuốn tranh truyện bán hư cấu kể lại câu chuyện cuộc đời nhiều thăng trầm của giáo sĩ Đắc Lộ – Alexandre de Rhodes, một vị linh mục, người của Tòa thánh Vatican, đã tới Việt Nam từ thế kỉ 17 và có công rất lớn trong việc in cuốn từ điển đầu tiên của tiếng Việt (Từ điển Việt-Bồ-La) vào năm 1651.  Lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ gắn với hành trình truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây. Ban đầu, thứ văn tự này chỉ là một công cụ để học tiếng Việt nhằm dễ dàng trao đổi với người Việt và thuận tiện cho việc truyền giáo; sau đó nó được sử dụng như một thứ mật mã giữa các thừa sai với giáo dân và chỉ được dạy trong các chủng viện. Sau những biến động chính trị và giáo dục, chữ Quốc ngữ dần thay chữ Nho trong các văn bản hành chính của đất nước và trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam.  Nội dung cuốn sách Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ dựa vào luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Kiều Ly về Lịch sử ngữ pháp và chữ viết hệ Latinh của tiếng Việt (1615-1919) tại Đại học Sorbonne Nouvelle năm 2018, sau đó được hiệu chỉnh và in thành sách năm 2022, tại Nhà xuất bản Les Indes Savantes, Pháp; cũng như các tài liệu trong văn khố ở châu Âu và các cuốn sách viết về hành trình truyền giáo của các thừa sai.    Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ có sự kết hợp hài hòa giữa hai phần: Đắc Lộ kí sự và Chữ Quốc ngữ kí sự.  Trong đó, Đắc Lộ kí sự được đặc biệt thể hiện bằng hình thức truyện tranh, giúp độc giả dễ theo dõi và nắm được hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ của các thừa sai phương Tây, qua lời kể của Alexandre de Rhodes. Phần Chữ Quốc ngữ kí sự mang độc giả đi ngược dòng lịch sử, tìm hiểu về hành trình chữ Quốc ngữ đi vào đời sống của người dân Việt Nam. Phần này kể sâu hơn về vai trò, đóng góp của những người Việt và người Pháp trong việc biên soạn từ điển hay dịch sách sử dụng chữ Quốc ngữ, thái độ của giới trí thức Việt Nam trước sự lan rộng của chữ Quốc ngữ, cùng chặng đường chông gai để chữ Quốc ngữ được công nhận là văn tự chính thức của Việt Nam.  Bên cạnh đó, nhằm giúp bạn đọc có cơ hội hiểu rõ hơn về cách ghi âm của tiếng Việt, nhóm tác giả còn sáng tạo một đoạn phỏng vấn đặc biệt với ba nhân vật tiêu biểu trong quá trình sáng tạo chữ Quốc ngữ: Alexandre de Rhodes, Francisco de Pina và Gaspar do Amaral, bàn luận về quá trình sáng tạo chữ viết Latinh của tiếng Việt.  Thông qua những tình tiết li kì và đặc sắc được lựa chọn để kể lại quá trình sáng tạo và phát triển của chữ viết hệ Latinh của tiếng Việt – vốn dĩ rất quen thuộc và hiện vẫn đang gắn bó với mỗi người chúng ta, Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ hứa hẹn là một trong những nguồn tham khảo để các bạn trẻ hiểu rõ hơn về tiếng Việt, truyền ngọn lửa tình yêu tiếng Việt, thứ ngôn ngữ rất đẹp của dân tộc Việt Nam.  Cuốn sách cũng đưa bạn đọc tới Việt Nam thế kỉ 17, với không gian nhiệt đới và những xung đột của Đàng Trong và Đàng Ngoài. Chia sẻ về việc lựa chọn bối cảnh, màu sắc cho tác phẩm, họa sĩ Tạ Huy Long viết: “Màu sắc – với tôi là cảm xúc của câu chuyện, không hẳn nương theo những gì thực tế mô tả. Tôi đã rất cân nhắc khi chọn hai màu và chỉ hai màu thôi với sắc độ đậm nhạt từ chúng. Màu xanh cây già – màu của cây lá nhiệt đới, của áo thầy tu bạc màu. Màu nâu sepia – màu của đất đai màu mỡ và da người cháy nắng. Đơn giản như vậy!”  Với mong muốn giới thiệu cuốn sách rộng rãi đến bạn đọc, Nhà xuất bản Kim Đồng, Viện Pháp tại Hà Nội và Phố Sách Hà Nội phối hợp tổ chức chương trình giao lưu và giới thiệu sách “Alexandre de Rhodes và hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”:  Thời gian: 9:30 Thứ Bảy ngày 22.4.2023  Địa điểm: Phố Sách Hà Nội, Phố 19/12, Hoàn Kiếm, Hà Nội  Diễn giả: Nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương, Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly, Họa sĩ Tạ Huy Long  Về tác giả sách:  Tác giả Phạm Thị Kiều Ly phụ trách phần nội dung và cốt truyện Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ – Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ. Nội dung cuốn sách này dựa vào luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Kiều Ly về Lịch sử ngữ pháp và chữ viết hệ Latinh của tiếng Việt (1615-1919) tại Đại học Sorbonne Nouvelle năm 2018, sau đó được hiệu chỉnh và in thành sách với tiêu đề Histoire de l’écriture romanisée du vietnamien (1615-1919)[Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919)] năm 2022, tại Nhà xuất bản Les Indes Savantes, Pháp. Chị hiện là giảng viên tại Khoa Các Khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội.  Họa sĩ Tạ Huy Long – người minh hoạ cuốn sách – tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, là một hoạ sĩ được nhiều người ái mộ với tác phẩm minh hoạ nổi bật như: Tủ sách tranh truyện dân gian Việt Nam, Tủ sách tranh truyện lịch sử, Lược sử nước Việt bằng tranh, Nam Hải dị nhân liệt truyện, Dế Mèn phiêu lưu kí,… Hiện anh đang làm việc tại Nhà xuất bản Kim Đồng.    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Ra mắt điện thoại cao cấp Bphone      Ngày 26/5 tại Hà Nội đã diễn ra lễ ra mắt Bphone của Bkav với khoảng 2000 người tham dự.     Buổi ra mắt đã tạo cho những người đến dự nhiều trải nghiệm thú vị: thiệp mời kim loại để quét mã QR qua cửa, cho phép mọi người được dùng thử sản phẩm, không gian diễn ra sự kiện có cách bài trí sân khấu và ánh sáng tối giản để làm nổi bật màn hình lớn trình diễn các tính năng của Bphone giống như những buổi ra mắt smartphone của các hãng lớn trên thế giới.  Bphone là kết quả của hơn 1000 thử nghiệm và gần 5 năm nghiên cứu của Bkav. Nhóm phát triển Bphone cho biết, chiếc điện thoại này gồm 800 linh kiện đến từ 82 nhà cung cấp trên toàn thế giới. Việc thiết kế (từ kiểu dáng đến linh kiện) và lắp ráp Bphone được thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam và được kiểm soát kích thước chính xác 0.05 – 0.1 mm. Bphone có thiết kế kiểu dáng phẳng, “giống như một tấm kính” và được bảo hộ độc quyền thiết kế toàn cầu từ 2011. Điều này được thống nhất từ hình dáng bên ngoài cho đến những biểu tượng và trải nghiệm phần mềm bên trong thiết bị.  Là “người đến sau” trong dòng smartphone cao cấp, Bkav mạnh tay đầu tư cho phần cứng của Bphone với bộ vi xử lý Qualcomm Snapdragon 801 với tốc độ nhanh hơn Iphone 6 hiện nay. Một điểm ưu việt khác của Bphone đó là điện thoại này sử dụng công nghệ truyền dữ liệu gần Transferjet thay vì NFC (hiện được tích hợp trên Iphone 6 và Galaxy S3) nên người dùng chỉ mất chưa đầy 30s để truyền 1Gb dữ liệu bằng cách chạm hai thiết bị (để truyền từ Bphone đến máy tính, chỉ cần một adapter có kích thước bằng đầu ngón tay). Bphone có camera sau phẳng và là một trong hai điện thoại trên thế giới hiện nay sử dụng công nghệ Fast-tracking auto focus để chụp ảnh động với độ nét cao. Về phần mềm, hệ điều hành của Bphone là BOS cho phép người dùng chỉ cần thao tác bằng một tay và giảm 30% thao tác so với các smartphone khác. Đồng thời, BOS được phát triển dựa trên nền tảng Android 5.0 Lollipop nên người dùng vẫn có thể sử dụng được các ứng dụng trên Google Play. Ngoài ra, Bphone có một bộ nhạc chuông riêng được sáng tác bởi nhạc sĩ Huy Tuấn. Bphone là một trong ba smartphone hiện nay hỗ trợ các file nhạc 24 bit – 192 KHz, tương đương với chất lượng đĩa than.     Được phát triển bởi Bkav, Bphone có phần mềm Bkav mobile security phiên bản đặc biệt “với công nghệ bảo mật, an ninh cao cấp nhất” được tích hợp sâu trong nhân của Hệ điều hành BOS. Anh Võ Hồng Sơn, trưởng bộ phận anti-malware của Bkav cho biết, Bphone là điện thoại “không virus, không tin nhắn rác, không phần mềm gián điệp và không nghe lén”, kiểm soát dung lượng 2G, 3G, đưa ra các cảnh báo những phần mềm sử dụng lưu lượng mạng lớn. Bphone cũng là điện thoại đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống tường lửa – firewall. Một trong những tính năng của firewall được quan tâm, là chặn quảng cáo làm phiền trên các ứng dụng. Giống như Iphone, Bphone cũng có chức năng chống trộm giúp tìm vị trí điện thoại trực tiếp trên bản đồ và khóa và kiểm soát dữ liệu từ xa. Tuy nhiên, với chức năng này, Bphone không đòi hỏi điện thoại phải kết nối internet mà cho phép người dùng điều khiển qua tin nhắn SMS.  Bphone có giá từ 9.990.000 đồng (trước thuế) và chỉ được bán online bắt đầu từ 10h ngày 2/6. Sự kiện ra mắt Bphone là cơ hội để Bkav giới thiệu Vala.vn – website thương mại điện tử mà giám đốc Bkav – Nguyễn Tử Quảng giới thiệu, đây sẽ là nơi bán mọi thứ, kể cả cái kim sợi chỉ cho người tiêu dùng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt Học viện Khởi nghiệp      Startup Academy (Học viện Khởi nghiệp) do TS. Giáp Văn Dương sáng lập đã ra mắt vào ngày 21/2 vừa qua tại BKUP – một co-working space trong khuôn viên Đại học Bách Khoa Hà Nội.    Startup Academy không hoạt động theo mô hình vườn ươm hay khóa tăng tốc khởi nghiệp mà là cơ sở đào tạo không tuyển chọn đầu vào và hướng tới đối tượng đã, đang khởi nghiệp hoặc có ý định khởi nghiệp. Theo TS. Giáp Văn Dương, nền tảng của Startup Academy là văn hóa khởi nghiệp, thể hiện ở việc xây dựng mạng lưới những doanh nhân khởi nghiệp thành công muốn truyền lại kinh nghiệm khởi nghiệp cho thế hệ sau và có khả năng giảng dạy – những người anh gọi là procademics đến đào tạo các học viên. Chương trình giảng dạy của học viện sẽ tập trung đào tạo chuyên sâu bốn nội dung chính: tinh thần lãnh đạo, đổi mới sáng tạo (làm thế nào để triển khai những cái mới, cái đột phá trong doanh nghiệp), khởi nghiệp (làm thế nào để hạn chế rủi ro thấp nhất trong kinh doanh) và tinh thần kinh doanh (entrepreneurship). Trong tháng 3/2017, Học viện sẽ mở hai khóa học: “Tôi là ai khi tôi khởi nghiệp?” nhằm giúp học viên xác định liệu mình có phù hợp với việc khởi nghiệp hay không và “English for startup” phục vụ cho việc gọi vốn đầu tư của doanh nghiệp khởi nghiệp.     Trong sự kiện ra mắt, TS. Giáp Văn Dương và ông Nguyễn Thành Nam (nguyên tổng giám đốc FPT và người sáng lập Đại học trực tuyến FUNiX) đã tổ chức một buổi tọa đàm mang tên: “Khởi nghiệp là khởi cái gì” với hàng trăm khán giả tham dự.  Trong sự kiện ra mắt Startup Academy, TS. Giáp Văn Dương chia sẻ rằng, lý do anh sáng lập học viện xuất phát từ chính câu chuyện khởi nghiệp của anh. Xuất thân là một nhà khoa học, không có kinh nghiệm kinh doanh, anh cho rằng anh phải trả giá đắt vì những bài học “tưởng như đơn giản”. Khi sáng lập GiapSchool, một cổng giáo dục trực tuyến mở, anh tin chắc chắn rằng một sản phẩm dành cho hàng triệu người dùng thì thể nào nó cũng sẽ tự sống được nên anh không cần mô hình kinh doanh và miễn phí tất cả các bài giảng. Nhưng anh đã nhầm: “Trước khi đạt đến con số một triệu người dùng, có thể công ty của bạn đã mất máu và “chết” rồi”. Vì vậy, anh thành lập Học viện Khởi nghiệp với mong muốn giúp đỡ những người trẻ tránh được những vấp váp của người đi trước. Anh cũng cho biết thêm, Startup Academy được triển khai dựa trên sự tư vấn của hai doanh nhân là Nguyễn Thế Trung (Tổng giám đốc công ty DTT) và Đỗ Hoài Nam (CEO công ty SeeSpace tại Mỹ). TS. Giáp Văn Dương mong muốn, Startup Academy Vietnam sẽ như một ngôi nhà để khi những học viên gặp khó khăn gì trên con đường khởi nghiệp đều có thể quay trở lại và tìm kiếm sự giúp đỡ.      Hiện nay, TS. Giáp Văn Dương là người sáng lập và giám đốc điều hành GiapGroup, bao gồm: GiapSchool (cổng giáo dục trực tuyến mở), GiapCoach (đơn vị nghiên cứu và đào tạo phát triển cá nhân và tổ chức), GiapBooks (đơn vị biên soạn, dịch thuật, ấn bản, chuyển soạn các tài liệu KH&CN) và GiapConsult (đơn vị tư vấn cho các tổ chức đào tạo và doanh nghiệp).       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ra mắt mô hình Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt-Hàn      Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc hướng tới đẩy mạnh đổi mới công nghệ cho&#160; các doanh nghiệp vừa và nhỏ của thành phố Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL&#160; trong một số ngành công nghiệp chiến lược gồm chế biến nông sản, chế biến thủy sản và cơ khí chế tạo.      Ngày 17/12 tại TPHCM, Sở Công Thương TP. Cần Thơ tổ chức Hội thảo giới thiệu Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc (KVIP) và cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là một phần kết quả của chương trình hợp tác toàn diện giữa hai chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc về công nghệ công nghiệp.  Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc do Trung tâm phát triển Công nghệ Công nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc quản lý, vận hành được khởi công xây dựng từ tháng 11/2013 với tổng diện tích xây dựng là 4,5 ha.   Tổng kinh phí của dự án xây dựng Vườn ươm trên 21 triệu USD, trong đó phía Hàn Quốc hỗ trợ gần 17,7 triệu USD, vốn đối ứng của Việt Nam là trên 3,4 triệu USD.  Khi được chính thức đưa vào hoạt động, Vườn ươm sẽ điều hành, hỗ trợ hơn 30 doanh nghiệp tham gia ươm tạo tại đây. Ngoài khu vực văn phòng cho các doanh nghiệp đặt trụ sở, Vườn ươm còn có khu vực phòng thí nghiệm với diện tích 4.000m2 được trang bị các thiết bị hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu sản phẩm, kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng như khu vực nhà xưởng để sản xuất thí nghiệm các sản phẩm nghiên cứu tại vườn ươm.   Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc sẽ trở thành cơ sở ươm tạo, nghiên cứu phát triển kỹ thuật, tư vấn đào tạo nhân lực, nhằm hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của thành phố Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL. Vườn ươm sẽ hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nuôi, trồng, chế biến nông thủy sản và cơ khí chế tạo phục vụ chế biến nông thủy sản, giúp các doanh nghiệp này có cơ hội tiếp cận, nghiên cứu và đổi mới công nghệ.   Theo ông Yoon Sang Jick, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng Hàn Quốc, hiện đã có 20 doanh nghiệp Hàn Quốc chờ được chuyển vào khu tổ hợp vườn ươm và con số này sẽ còn tăng lên trong tương lai.             Ngày 30/7/2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  đã ban hành Quyết định số 1193/QĐ-TTg về thí điểm một số cơ chế chính  sách đặc thù phát triển Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam- Hàn  Quốc (KVIP) tại TP. Cần Thơ.   Trong  Quyết định này, Chính phủ dành những ưu đãi cho Vườn ươm, doanh nghiệp  ươm tạo công nghệ tại Vườn ươm, dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển thị  trường. Đặc biệt, các doanh nghiệp tham gia Vườn ươm sẽ được tạo điều  kiện thuận lợi về về thuế nhập khẩu, hỗ trợ nghiên cứu khoa học phát  triển công nghệ và đào tạo nhân lực cũng như những ưu đãi về thu nhập  của doanh nghiệp từ hoạt động thực hiện đề tài, dự án ươm tạo công nghệ,  chính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm tạo ra từ các hoạt  động ứng dụng công nghệ…                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt quỹ Việt-Bỉ hỗ trợ vườn ươm DN KH&CN      Phó Đại sứ Bỉ tại Việt Nam, ông Geert Vansintja, hy vọng dự án “Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” (BIPP) sẽ “giúp Việt Nam tạo lập khung pháp lý hỗ trợ quá trình phát triển của các doanh nghiệp KH&amp;CN nhằm thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo”.  &#160;    Trong lễ ra mắt dự án BIPP tại Hà Nội ngày 26/3, giám đốc dự án, ông Trần Đắc Hiến, cho biết, nằm trong khuôn khổ Chương trình hợp tác định hướng Việt Nam – Bỉ giai đoạn 2011-2015, dự án BIPP đã hình thành sau hai năm xây dựng với tổng số vốn đầu tư bốn triệu Euro. Khi xây dựng dự án này, chính phủ Bỉ mong muốn hỗ trợ Bộ KH&CN xây dựng môi trường cho các  doanh  nghiệp  KH&CN vừa và nhỏ trên cơ sở một khung pháp lý được cải thiện và một loạt các cơ chế gắn kết cho việc  thành  lập và vận hành các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ nhằm tăng cường khu vực doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ.  BIPP bao gồm bốn hợp phần: hợp phần 1. Củng cố khung pháp lý hỗ trợ ươm tạo Doanh nghiệp KH&CN, Vườn ươm doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam; hợp phần 2: Hỗ trợ thí điểm hai vườn ươm Doanh nghiệp KH&CN ở Hà Nội và TP. HCM; hợp phần 3: Vận hành Quỹ Innofund hỗ trợ trực tiếp các hoạt động, dự án ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; hợp phần 4: Thiết  lập và vận hành khung  theo dõi và đánh giá các kết quả dự án.   Theo thỏa thuận, BIPP sẽ hỗ trợ các vườn ươm doanh nghiệp KH&CN và doanh nghiệp KH&CN theo ba nội dung: 1. Hỗ  trợ  xây  dựng  chính  sách phát triển hoạt động ươm  tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam; 2. Hỗ  trợ  các  hoạt  động  của  hai vườn ươm thí điểm tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; 3, Vận  hành Quỹ Innofund để  hỗ trợ, tài trợ trực tiếp cho các vườn ươm và doanh nghiệp KH&CN.   Quỹ Innofund sẽ hoạt động với hai cửa sổ: cửa sổ một hướng tới mục tiêu tăng cường chuyển giao kết quả nghiên cứu đổi mới sáng tạo của các nhà nghiên cứu và đầu tư người Việt vào sản phẩm có khả năng thương mại và hình thành doanh nghiệp KH&CN. Đối tượng của cửa sổ một là các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp Việt Nam đang được ươm tạo trong một vườn ươm KH&CN Việt Nam. Với đối tượng này, quỹ Innofund sẽ hỗ trợ tư vấn thực hiện kiểm toán công nghệ nhằm xác định đề án có khả năng thương mại hóa, hỗ trợ tư vấn mua sắm nguyên vật liệu, thuê/mua thiết bị liên quan đến phát triển mẫu sản phẩm KH&CN, tư vấn để phát triển và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà khởi nghiệp… Cửa sổ hai hướng tới mục tiêu tăng cường năng lực của các vườn ươm doanh nghiệp KH&CN Việt Nam để có thể cung cấp đầy đủ các loại hình dịch vụ cho khách hàng.    Hiện tại, các nhà điều hành quỹ Innofund đang hoàn thiện cuốn Sổ tay hướng dẫn trong năm 2015 nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp KH&CN dễ dàng tiếp cận với vốn hỗ trợ hơn. Dự kiến, mỗi dự án sẽ được Quỹ Innofund đầu tư cao nhất 50.000 Euro.   Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng nhấn mạnh đến hiện trạng của hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là mới chỉ dựa vào lợi thế đất đai, chi phí lao động giá rẻ, chưa sử dụng được yếu tố đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Vì vậy ông Trần Văn Tùng mong muốn dự án BIPP hỗ trợ hình thành các giải pháp tổng thể để hỗ trợ và nâng cao năng lực hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN Việt Nam.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt thương hiệu mới Trung Nguyên Legend: Cà phê năng lượng – cà phê đổi đời      Sau 22 năm thành lập, Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã chính thức công bố danh xưng mới “Trung Nguyên Legend – Tập đoàn Chuyên Cà Phê Năng Lượng – Cà Phê Đổi Đời” đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Tổ chức Trung Nguyên Legend nhằm đẩy mạnh quá trình hiện thực hóa khát vọng toàn cầu, thống ngự nội địa, chinh phục thế giới.      Nhân kỉ niệm 22 năm thành lập (16/6/1996 – 16/6/2018), Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã chính thức ra mắt hệ sản phẩm cà phê năng lượng mới mang tên Trung Nguyên Legend. Chương trình lễ ra mắt thương hiệu mới, sản phẩm mới Trung Nguyên Legend được tổ chức tại trung tâm GEM (Số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1, Tp.HCM) với sự hiện diện của Nhà sáng lập – Chủ tịch – Tổng giám đốc Đặng Lê Nguyên Vũ.  Được các chuyên gia cà phê hàng đầu có kinh nghiệm hơn 15 năm sáng tạo nên sau nhiều năm nghiên cứu, trong mỗi tuyệt phẩm cà phê Trung Nguyên Legend là sự tổng hòa nguồn năng lượng đặc biệt của những hạt cà phê Robusta, Arabica tốt nhất thế giới được tinh tuyển từ những vùng nguyên liệu hàng đầu Buôn Ma Thuột, Cầu Đất (Việt Nam), Jamaica, Brazil, Colombia… và bí quyết huyền bí phương Đông không thể sao chép. Đặc biệt, siêu công nghệ NANO hiện đại bậc nhất thế giới lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam cho phép cà phê được xay nhuyễn với kích thước siêu nhỏ và xử lý ở nhiệt độ âm, giúp tạo nên những tuyệt phẩm cà phê Trung Nguyên Legend giữ trọn vẹn 100% hương vị cà phê tươi ngon đặc trưng, đậm vị rang xay. Hơn nữa, với sự dẫn dắt của Người sáng lập – Chủ tịch – Tổng giám đốc Tập đoàn “Dù có phải xới tung trái đất này lên cũng phải làm để tạo ra những tuyệt phẩm cà phê năng lượng ngon nhất thế giới, chuyên cho não sáng tạo để thành công”, những tuyệt phẩm của hệ sản phẩm cà phê năng lượng mới Trung Nguyên Legend đã được tạo nên với nguồn cảm hứng từ những cuốn sách quý đổi đời và câu chuyện thành công của các vĩ nhân. Đó là những thiết kế bao bì ấn tượng lấy ý tưởng như những cuốn sách – nguồn năng lượng tri thức, với hình ảnh cùng các câu trích dẫn truyền cảm hứng, khát vọng thành công của danh vĩ nhân, và hình ảnh biểu trưng gia đình mang năng lượng yêu thương, hạnh phúc. Hòa quyện cùng hương vị tuyệt ngon của cà phê, mỗi tuyệt phẩm cà phê năng lượng Trung Nguyên Legend sẽ đem đến nguồn năng lượng tỉnh thức, sáng tạo và thúc đẩy những đam mê, khát vọng thành công. Đặc biệt, khi thưởng thức những tuyệt phẩm Trung Nguyên Legend bên những cuốn sách nền tảng đổi đời sẽ giúp đánh thức 99% năng lượng tiềm ẩn bên trong mỗi cá nhân giúp đi đến Thành Công và Hạnh Phúc đích thực.    Trong đó, tuyệt phẩm Trung Nguyên Legend Café Sữa đá là phiên bản đặc biệt, đóng gói công thức ly cà phê năng lượng sữa đá pha phin. Cùng với sự khác biệt, đặc biệt của hệ sản phẩm cà phê năng lượng mới, Trung Nguyên Legend Café Sữa Đá kết hợp được công nghệ rang xay nano siêu mịn cùng công nghệ sấy khô kem đặc có đường chuyên dùng cho cà phê độc quyền của Trung Nguyên Legend để tạo nên ly cà phê sữa đá đậm vị rang xay. Tuyệt phẩm này được Trung Nguyên Legend nghiên cứu, phát triển dành riêng cho khách hàng khi không có thời gian đến thưởng thức tuyệt phẩm cà phê năng lượng sữa đá tại các Không gian Trung Nguyên Legend. Với tuyệt phẩm Trung Nguyên Legend Café Sữa Đá, khách hàng có thể tự pha cho mình ly cà phê năng lượng sữa đá tuyệt ngon tại nhà, tại văn phòng làm việc hay ở bất kỳ nơi đâu. Hơn nữa, với việc đóng gói trọn vẹn hương vị của ly cà phê sữa đá nổi tiếng, niềm tự hào của Việt Nam với thế giới, tuyệt phẩm cà phê năng lượng Trung Nguyên Legend Café Sữa đá sẽ là quà tặng đặc biệt dành tặng cho những người thân phương xa, bạn bè quốc tế yêu ly cà phê Việt Nam, dành tình cảm cho văn hóa, đất nước Việt Nam.  Hiện nay, tuyệt phẩm Trung Nguyên Legend Café Sữa Đá, Trung Nguyên Legend Special Edition và Trung Nguyên Legend Classic đã hiện diện tại các cửa hàng tạp hóa, điểm bán, chuỗi siêu thị Big C, chuỗi không gian Trung Nguyên Legend, E-coffee và sẽ nhanh chóng bao phủ toàn bộ các hệ thống trên toàn quốc.  Cùng với hoạt động ra mắt thương hiệu mới, trong cuối tháng 6/2018, Tập đoàn Trung Nguyên Legend sẽ tiếp tục đẩy mạnh những hoạt động ra mắt concept mới đặc biệt, khác biệt của chuỗi không gian Trung Nguyên Legend Café và phát triển mạnh mẽ chuỗi E-coffee – Hệ thống cửa hàng chuyên Cà phê Năng lượng – Cà phê Đổi đời trên toàn quốc. Đặc biệt, Tập đoàn Trung Nguyên Legend cũng sẽ chính thức phát động Hành trình Lập Chí Vĩ Đại – Khởi Nghiệp Kiến Quốc cho Thanh Niên Việt  Nam giai đoạn 2017 – 2022 nhằm lan tỏa tri thức xuyên Việt, trao tặng hàng triệu cuốn sách trong Tủ sách nền tảng đổi đời cho thanh niên trên toàn quốc. Đây là hoạt động góp phần xây dựng một thế hệ thanh niên có nền tảng tri thức, sự hiểu biết đầy đủ, giàu khát vọng làm giàu bền vững cho bản thân, góp phần xây dựng nước Việt hùng mạnh, vĩ đại.  Nguồn: Thông cáo báo chí của Tập đoàn Trung Nguyên    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt trang tìm kiếm mới wada.vn      Ngày 15/11, Công ty Cổ phần  Mạng Tầm Nhìn Mới (New Horizon Internet JSC) và Công ty Opera đã tổ chức họp báo giới  thiệu công cụ tìm kiếm trực tuyến wada.vn và công bố hợp tác chiến lược  của hai công ty.     Theo Công ty Tầm Nhìn Mới, công cụ tìm kiếm này là kết quả hợp tác giữa các chuyên gia công nghệ hàng đầu của Nga với đội ngũ chuyên gia ngôn ngữ học nhiều năm kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc tiếng Việt. Bởi vậy, nó có thể khắc phục được hạn chế hiểu biết về mặt chữ viết lẫn văn hóa phong tục tập quán của người sử dụng mà các công cụ tìm kiếm khác chưa vượt qua được.  Wada có thể cung cấp cho người dùng những kết quả truy vấn chính xác, tự động đặt dấu câu tiếng Việt khi người dùng gõ truy vấn của mình. Ngoài ra, nó còn có các dịch vụ hữu ích khác như danh bạ web, dịch vụ bản đồ, cùng 40.000 website được chọn lọc kỹ càng và phân loại thành 1.000 chuyên mục khác nhau.   Nhờ bộ lọc các nội dung xấu cho trẻ em và trẻ vị thành niên, nó đảm bảo người dùng Wada sẽ được lướt net trong một môi trường mạng trong sạch, an toàn. Với những ưu việt đó, Wada được hy vọng sẽ trở thành một công cụ tìm kiếm trực tuyến nhanh hơn, tốt hơn và, chính xác hơn cho tất cả người dùng internet tại Việt Nam.  Tổng giám đốc Phạm Tiến Thịnh cho biết mục tiêu trước mắt của Wada là mang đến trải nghiệm mới mẻ cho những người không phải người Việt nhưng biết tiếng Việt, cho những người tìm hiểu Việt Nam nhưng không ở Việt Nam.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Rác thải nhựa của chúng ta đi đâu?      Một cuộc điều tra do The Guardian (Anh) thực hiện trên phạm vi 11 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã tìm ra “bí mật bẩn thỉu” trên đường tới các bãi đỗ nước ngoài của rác thải nhựa Mỹ.      Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm được trả 6,5 USD mỗi ngày để phân loại rác thải nhựa. Nguồn: Bac Pham/The Guardian  Theo những lời quảng cáo của ngành công nghiệp nhựa Mỹ, các chất thải nhựa sẽ được đưa vào một nhà máy tái chế để chuyển thành những sản phẩm mới. Nhưng trên thực tế, quá trình đó lại diễn ra hoàn toàn trái ngược. Ví dụ là trường hợp của bà Nguyễn Thị Hồng Thắm, một thành viên trong đội quân “tái chế” ở vùng ngoại ô Hà Nội, sống giữa những ống nhựa Mỹ đầy cáu bẩn đã qua sử dụng, vỏ túi bim bim Cheetos, túi nhựa từ ShopRite, một hệ thống siêu thị tại New Jersey… Bà được trả 6,5 USD mỗi ngày để phân loại rác thải và làm sạch những thứ có thể thái chế.  Điều tra của The Guardian đã tìm ra mỗi năm, hàng trăm ngàn tấn chất thải nhựa Mỹ đã được chuyển đi bằng tàu biển tới các quốc gia đang phát triển trên toàn cầu cho một quá trình tái chế đòi hỏi nhiều nhân công thiếu an toàn, có thể dẫn đến các vấn đề về y tế công cộng và môi trường khủng khiếp. Năm 2018, ước tính có 68.000 container như vậy được xuất khẩu từ Mỹ. Chính điều đó đang làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng chất thải nhựa đang không ngừng tăng lên – một loại vật liệu có mặt trong nhiều loại thiết bị, vật dụng như bàn chải đánh răng đến mũ của các phi hành gia vũ trụ và được tìm thấy với số lượng lớn trong các đại dương và cả hệ tiêu hóa của con người.  Vào tháng trước, 187 quốc gia đã ký một hiệp ước trao quyền cho các quốc gia từ chối nhập khẩu chất thải hoặc chất thải nhựa khó tái chế. Chỉ một vài quốc gia không ký, trong đó có Mỹ.  Nơi nào chứa chất thải nhựa Mỹ?  Theo ước tính của Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ, vào năm 2015, chỉ có 9% chất thải nhựa Mỹ được tái chế, Trung Quốc và Hong Kong xử lý hơn một nửa: khoảng 1,6 triệu tấn mỗi năm khi phát triển một ngành công nghiệp khổng lồ để khai thác và tái chế những rác thải có giá trị nhất và tạo ra những sản phảm có thể đưa trở lại thế giới phương Tây. Tuy nhiên do trong các đống rác thải này có nhiều loại gây ô nhiễm hoặc không thể tái chế hoặc đơn giản là tìm “bãi đáp” tại Trung Quốc nên làm dấy lên những nỗi sợ hãi về sức khỏe và môi trường, Trung Quốc quyết định đóng cửa trước mọi loại rác thải nhựa vào cuối năm 2017.  Kể từ đó, chất thải nhựa của Mỹ trở thành quả bóng được nảy đi nảy lại từ quốc gia này sang quốc gia khác. Phân tích của The Guardian cho thấy, Mỹ vẫn chuyển hơn 1 triệu tấn mỗi năm ra nước ngoài.  Các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu và thấy nhiều quốc gia ở mức nghèo đói đã tham gia vào “đường dây” này. Theo một nghiên cứu của Jenna Jambeck (trường đại học Georgia) thì Malaysia là quốc gia tiếp nhận kỷ lục rác thải nhựa Mỹ, và 55% lượng này không được quản lý đúng quy trình – có nghĩa là chỉ đưa vào các địa điểm lộ thiên. Indonesia và Việt Nam thì lần lượt có tới 81% và 86% lượng rác thải quản lý không đúng quy trình.    Ở Việt Nam, làng Minh Khai – một ngôi làng bên bờ sông Hồng ở Văn Lâm, Hưng Yên, có gần 1000 nóc nhà, là trung tâm của ngành công nghiệp quản lý rác thải nông thôn. Rác từ mọi nơi trên thế giới, từ Ả rập đến Pháp, la liệt trên mọi nẻo đường ở đây. Những người làm việc trong các “xưởng tái chế” xử lý những thứ có thể tái sử dụng giữa khói độc và mùi hôi.  Năm 2018, Mỹ chuyển 83.000 tấn rác thải nhựa tới Việt Nam. Có những dấu hiệu rõ ràng là các đồ thải đó có nguồn gốc từ Mỹ, ví dụ một cái túi đựng kẹo York Peppermint Patties của hãng Hershey với nhãn hiệu Mỹ, một cái túi rỗng đựng đồ hóa chất từ Ohio. “Chúng tôi vô cùng sợ cái túi nhựa có mùi kinh khủng này, chúng tôi còn không dám uống nước giếng ở đây nữa”, bà Nguyễn Thị Hồng Thắm với găng tay bằng vải rất dày, khẩu trang bịt kín mặt và nón đội đầu, nói. “Không có tiền nên chúng tôi không còn bất kỳ sự lựa chọn nào khác ngoài việc làm ở đây”.  Trong khi những ảnh hưởng đến sức khỏe người làm nghề đồng nát do phơi nhiễm rác thải nhựa vẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, mùi hôi từ việc đốt nhựa hoặc từ quá trình tái chế có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh hô hấp. Việc tiếp xúc thường xuyên có thể khiến người làm và cả cư dân xung quanh có nguy cơ nhiễm độc hàng trăm chất độc với cơ thể con người, bao gồm axit clohydric, lưu huỳnh điôxit, dioxin và nhiều loại kim loại nặng, vốn có khả năng phát triển thành các chứng rối loạn nội tiết ung thư.  Những “đồng nghiệp” của bà Thắm tại Philippines cũng lâm vào cảnh tương tự. Helen Lota, chủ một vựa tái chế ở thành phố Valenzuela, một thành phố lân cận của thủ đô Manila (Philippines), cũng phàn nàn về mùi hôi bốc lên vào buổi chiều. “Thật khó thở, nhiều người trong chúng tôi đã bị ốm. Tôi đã phải đưa con gái đi khám bệnh vì nó ho suốt. Kết quả X quang thật rõ ràng, ho là do không khí.”  Rác nhựa sau khi được những người như bà Thắm phân loại được đưa vào máy nghiền rồi làm thành hạt nhựa sau quá trình gia nhiệt và ngưng tụ. Vào tháng 4/2019, hơn 23.400 container rác thải bị hải quan giữ lại nhưng công việc vẫn tiếp tục tiến triển ở làng Minh Khai. Bà Thắm nói, đồ phế liệu vẫn hàng ngày tới từ Hải Phòng và những nơi khác. Và theo điều tra của The Guardian, hồ sơ cho thấy việc nhập khẩu cũng vẫn được duy trì.  Khi các quốc gia như Việt Nam, Malaysia và Thái Lan cấm nhập khẩu thì chất thải nhựa tìm bến đỗ ở một loạt các quốc gia mới như Campuchia, Lào, Ghana, Ethiopia, Kenya và Sénégal, những nơi trước chưa từng xử lý chất thải nhựa Mỹ. The Guardian còn điều tra ra, hàng tháng trong nửa cuối năm 2018, các chuyến tàu chở container mang 260 tấn rác thải nhựa Mỹ biến thành phố cảng Sihanoukville thành một nơi ngập rác và bãi biển thành một tấm thảm polymer bắt sáng. Khi được hỏi, không ai ở Sihanoukville biết rác thải từ Mỹ tới và không rõ điều gì sẽ diễn ra với nó.  Không riêng gì người dân Sihanoukville mà cả người dân Valenzuela cũng không biết rác thải nhựa họ đang tái chế là từ Mỹ (mỗi tháng có 120 container rác nhựa được chở tới Philippines bằng tàu biển), chỉ có các hồ sơ nhập khẩu cho biết chúng được vận chuyển từ nhiều nơi như Los Angeles, Georgia và New York.  Các chuyên gia ước tính, từ 20 đến 70% chất thải nhựa được đưa vào các cơ sở tái chế trên toàn cầu sẽ bị loại bỏ bởi không thể tái chế được – vì vậy quá trình tái chế tại Sihanoukville rút cục cũng dẫn đến kết quả là đem lại nhiều thứ xà bần đồng nát ở đây hơn nữa.  Rác nhựa đã trở thành nhiên liệu cho kinh doanh toàn cầu như thế nào?     Làm thế nào để đồ nhựa do bạn thải ra lại có thể tới một làng quê Đông Nam Á? Dĩ nhiên là thông qua một mạng lưới thương mại trải rộng qua các đại dương và lục địa, một mạng lưới đầy phức tạp, đôi khi bất chính và chỉ một vài thành viên là hiểu rõ vai trò của mình.  Nơi dừng chân đầu tiên của nhựa nhựa sau một cuộc hành trình kéo dài nhiều tháng là một cơ sở tái chế, nơi phân loại thành nhiều dạng – chai soda, bình sữa, các loại hộp khác, và sẵn sàng để bán. Là một loại hàng hóa, những người môi giới tái chế tìm kiếm những người sẵn sàng mua, họ sẽ nghiền rồi đun chảy nhựa và tạo ra những sản phẩm mới. Trước đây, việc chuyển rác nhựa đến châu Á mang ý nghĩa lớn, bởi những công ty vận chuyển vẫn mang hàng hóa do Trung quốc sản xuất tới Mỹ và khi không có đủ hàng Mỹ trên đường trở lại Trung Quốc, họ sẵn sàng lấp đầy các container rỗng bằng rác nhựa.  Steve Wong, một thương gia gốc Hong Kong, là một trong số những người trung gian môi giới rác nhựa. “Có lúc, tôi là một trong những người xuất khẩu rác nhựa lớn nhất thế giới”, ông nói, công việc trị giá hàng triệu USD. Tuy nhiên hiện tại, công ty của ông, Fukutomi Recycling, có trụ sở tại Hồng Kong, đang ngập trong nợ nần.  Vấn đề của Wong không nằm ở nguồn cung hay cầu. Mỗi tháng, hàng ngàn container rác nhựa ở Mỹ và ở Trung Quốc có rất nhiều nhà máy tái chế cần nguyên liệu để tạo ra sản phẩm mới – từ đồ chơi trẻ em đến khung ảnh và đồ làm vườn. Vậy điều gì xảy ra với doanh nghiệp của ông? Ngày càng có nhiều quốc gia trở nên khắt khe hơn với ngành công nghiệp tái chế, sau khi có nhiều nhà vận chuyển và điều hành thiếu đạo đức đã tham gia cuộc chơi với những mức giá rẻ nhất có thể, không quan tâm đến môi trường hay cư dân sở tại. “Trong lĩnh vực này, nếu làm đúng cách thì bạn vẫn có thể bảo vệ môi trường. Còn ngược lại, thì bạn sẽ phá hủy môi trường,” Wong nói.  Ông có thể đưa ra mức giá 150 USD cho một tấn rác thải nhựa từ Mỹ. Một khi được chuyển ra nước ngoài, bán cho một cơ sở tái chế nào đó, có thể đạt mức giá 800 USD/tấn.  Wong tin câu trả lời trong tương lai cho vấn đề rác thải nhựa sẽ là việc hình thành điểm tái chế gần Mỹ hơn. Bản thân ông muốn xây những nhà máy hiện đại với các hệ thống xử lý cập nhật để có thể hạn chế phát thải cho môi trường nước và không khí. Tuy nhiên, ông biết có nhiều người sẵn sàng cạnh tranh với mức giá rẻ, vì thế ngay cả khi nhiều quốc gia đã cấm việc nhập khẩu rác nhựa thì loại vật liệu này vẫn tìm được bến đỗ một cách mờ ám. Nhiều doanh nghiệp tái chế cũng đã thiết lập các cơ sở tái chế ở quy mô công nghiệp tại nhiều quốc gia. Nhưng họ không đủ nguồn cung, vì thế họ phải nhập lậu, dẫu pháp luật không cho phép, họ phải làm những gì có thể để có được nguyên liệu nhựa.”  Về danh nghĩa, việc nhập khẩu rác thải nhựa để tái chế trong các nhà máy sẽ giúp giải quyết vấn đề môi trường. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào cũng vậy, nhất là khi nó được nhập khẩu qua những doanh nghiệp mà theo cách gọi của ông Wong là thiếu đạo đức, rao bán thứ hàng hóa đặc biệt theo mức rẻ nhất có thể. Do đó, nó ảnh hưởng đến nguồn sống của những người thu mua phế liệu quy mô nhỏ lẻ ở nước sở tại. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các nhà nhập khẩu rác nhựa Mỹ đã đưa một lượng rác nhựa khổng lồ, từ 159.000 tấn lên 439.000 tấn trong vòng hai năm. Mỗi tháng, khoảng 10 chuyến tàu cập cảng Istanbul và Adana, mang tới 2.000 tấn rác nhựa giá rẻ mà Trung Quốc giờ cũng không cần, phần lớn từ cảng Georgia, Charleston, Baltimore và New York. Việc này khiến 500.000 người thu gom đồng nát Thổ Nhĩ Kỳ không còn tìm ra người mua hàng hóa của mình nữa. Baran Bozoğlu, người phụ trách Phòng Kỹ thuật môi trường Thổ Nhĩ Kỳ lo ngại, việc nhập khẩu rác thải nước ngoài một cách “không kiểm soát và không giới hạn” sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của họ. Họ sẽ sống bằng gì? Ai sẽ giải quyết vấn đề môi trường ở Thổ Nhĩ Kỳ?  Cuộc chiến chống lại rác thải nhựa    Nếu nhiều người dân ở các thành phố nhập khẩu rác nhựa Mỹ không biết nguồn gốc của thứ hàng hóa này thì nhiều người dân Mỹ cũng không hề biết tác động xấu đến môi trường và sức khỏe của nó với nước sở tại.  Một công trình mới do nhóm nghiên cứu về môi trường mang tên Gaia xuất bản vào tháng 5/2019 cho biết, “tác động của chuyến tàu chở rác nhựa thương mại tới Đông Nam Á thật đáng kinh ngạc- ô nhiễm nguồn nước, tàn phá mùa màng, bệnh về đường hô hấp do phơi nhiễm với việc đốt nhựa, sự gia tăng của tội phạm có tổ chức tại các điểm nhập khẩu nhựa. Các quốc gia này và người dân của họ đang mang gánh nặng kinh tế, môi trường và xã hội của sự ô nhiễm, có thể ‘truyền’ cho thế hệ tiếp theo”.  Với nhiều chuyên gia, một ví dụ đáng lưu tâm là Malaysia với việc chính quyền tìm mọi cách kiểm soát ngành công nghiệp tái chế. Một giải pháp quyết liệt cả họ là loan báo kế hoạch dừng cấp giấy phép nhập khẩu rác nhựa mới và kết thúc hoàn toàn trong vòng 3 năm. Dẫu vậy, quốc gia này vẫn còn tồn tại hàng ngàn tấn rác nhựa. Ở ngoại ô Jenjarom, một thị trấn ở  vùng Kuala Langat, bang Selagor, chính quyền địa phương đã đóng cửa 34 cơ sở tái chế và gần đó, một khu vực rộng lớn chất đầy rác nhựa bị bỏ lại sau khi những người chủ Trung Quốc bỏ đi.  Tuy nhiên, tất cả như muối bỏ bể. Theo lời bộ trưởng Bộ Môi trường Yeo Bee Yin, nhiều chuyến tàu vẫn tiếp tục cập bến va nhiều nhà vận chuyển chỉ cần thay đổi mã tàu liệu khai báo là có thể đưa rác nhựa  thành nhựa nguyên chất.  Pang Song Lim, một kỹ sư sống ở Sungai Petani, một thị trấn thuộc bang Kedah, nơi có tới 20 cơ sở tái chế bất hợp pháp, cho biết là khoảng sau 8 giờ tối thì các cơ sở này hoạt động, đốt để làm chảy nhựa. Mùi khói hôi như muốn nhấn chìm các ngôi nhà của thị trấn. “Một ngày nào đó, rác sẽ chiếm đoạt vùng đất này”, anh nói.  Tô Vân lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/us-news/2019/jun/17/recycled-plastic-america-global-crisis    Author                Quản trị        
__label__tiasang Radar lượng tử: Có thể thay đổi cách nghĩ về an ninh quốc gia      Vận dụng nguyên lý của rối lượng tử (quantum entanglement) giữa hai photon được tạo ra như một cặp “song sinh” có tương quan mật thiết, không phụ thuộc khoảng cách, việc hình thành và áp dụng radar lượng tử có thể sẽ làm thay đổi cách chúng ta nghĩ về an ninh quốc gia.      Máy bay tàng hình ở Bắc Cực Canada sẽ không thể “giấu mình” với hệ thống radar lượng tử.  Radar (Radio Detection and Ranging) là thiết bị để dò tìm và định vị vật thể bằng sóng vô tuyến, được sử dụng rộng rãi trong hàng hải, hàng không và quân sự. Trạm radar phát sóng tập trung thành một luồng hẹp quét vào không gian. Khi sóng radar gặp bất kỳ mục tiêu nào thì nó bị phản xạ trở lại. Phân tích các tín hiệu phản xạ có thể tính được khoảng cách từ trạm phát đến mục tiêu. Vì nhiều lý do, để tránh việc bị phát hiện, người ta có thể làm giảm độ phản xạ bằng cách thiết kế các bề mặt của vật thể với độ cong thích hợp như bề mặt của các máy bay tàng hình với các hình dạng kỳ lạ. Để giảm hơn nữa tín hiệu phản xạ, các máy bay tàng hình còn được gắn thêm các mảnh nhiễu xạ, có tính phản xạ cao nhưng không trực tiếp phản xạ trở lại nguồn. Các radar phải phân biệt được tín hiệu phản xạ từ mục tiêu thật với các tín hiệu nhiễu từ nội nguồn của sóng hoặc từ môi trường. Khả năng phân biệt được đánh giá bởi tỉ số tín hiệu trên nhiễu (signal-to-noise ratio). Nếu tỉ số này quá thấp thì hoạt động của radar là không hiệu quả.  Radar lượng tử được coi là giải pháp hữu dụng để làm những thứ khó có thể khắc phục ở radar thông thường. Radar lượng tử sử dụng một kỹ thuật cảm biến gọi là chiếu sáng lượng tử (quantum illumination) để phát hiện và nhận thông tin về vật thể. Cốt lõi của nó là vận dụng nguyên lý lượng tử của sự rối lượng tử (quantum entanglement) giữa hai photon được tạo ra như một cặp “song sinh” có tương quan mật thiết với nhau, không phụ thuộc khoảng cách giữa chúng.  Radar lượng tử có thể phát hiện được máy bay tàng hình  Theo lời của Jonathan Baugh, một nhà nghiên cứu tại Viện Tính toán Lượng tử và là giáo sư Khoa Hóa học, trường Đại học Waterloo “Ở Bắc Cực, các hiện tượng tự nhiên xảy ra trong không gian như bão địa từ (geomagnetic storms) và lửa Mặt trời (solar flares) giao thoa với các hoạt động thu/phát tín hiệu khiến việc xác định hiệu quả các vật thể trở nên rất khó khăn đối với các radar cổ điển truyền thống (conventional classical radar). Ông nói thêm: “Bằng cách chuyển từ radar cổ điển truyền thống sang radar lượng tử (quantum radar), có thể hy vọng không chỉ cắt được nhiễu do các hiện tượng tự nhiên nêu trên gây ra mà còn xác định được, với độ chính xác vô song, cả các vật thể vốn được thiết kế một cách đặc biệt nhằm tránh bị phát hiện như các máy bay hoặc tên lửa tàng hình chẳng hạn.  Máy bay tàng hình dựa vào thiết kế thân và cách sơn đặc biệt để hấp thụ và làm chệch hướng sóng vô tuyến, khiến chúng trở nên vô hình (invisible) trước radar cổ điển truyền thống. Các kỹ thuật gây nhiễu điện tử cũng được sử dụng để che khuất tín hiệu bằng các nhiễu nhân tạo. Với radar lượng tử, theo lý thuyết, những chiếc máy bay tàng hình này sẽ không chỉ là bị phát hiện mà còn không hề biết rằng chúng đã bị phát hiện.  Một nguyên mẫu radar lượng tử có khả năng phát hiện các vật thể vô hình đối với các hệ thống radar cổ điển thông thường do một nhóm nghiên cứu quốc tế phát triển. Loại radar mới này là một hệ thống lai sử dụng sự rối lượng tử giữa các chùm vi sóng và các chùm quang học để phát hiện các vật thể có độ phản xạ thấp như tế bào ung thư hoặc máy bay tàng hình. Do radar lượng tử hoạt động ở mức năng lượng thấp hơn nhiều so với các hệ thống radar cổ điển thông thường, nó có tiềm năng to lớn trong tương lai lâu dài cho một loạt các ứng dụng trong y sinh học, kể cả quét cộng hưởng từ hạt nhân không xâm lấn (non-invasive Nuclear Magnetic Resonance scan).  Chiếu sáng lượng tử vi sóng  Nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Stefano Pirandola (thuộc Khoa Khoa học Máy tính của Đại học và Trung tâm Công nghệ Lượng tử York) dẫn đầu, phát hiện ra rằng một bộ chuyển đổi đặc biệt – một thiết bị hai hốc kết hợp chùm tia vi sóng với chùm tia quang học bằng bộ dao động cơ học ở kích thước nano mét – là chìa khóa cho loại thiết bị mới này. Thiết bị có thể tạo ra sự rối quang học-vi sóng (trong quá trình phát tín hiệu) hoặc chuyển đổi tín hiệu vi sóng thành tín hiệu quang học (trong quá trình thu tín hiệu phản xạ từ vật thể). Nghiên cứu về phương pháp chiếu sáng lượng tử vi sóng (microwave quantum illumination) này đã được công bố trên tạp chí Vật lý uy tín hàng đầu [S. Barzanjeh, S. Guha, C. Weedbrook, D. Vitali, J. H. Shapiro, and S. Pirandola, Physical Review Letters 114, 080503 (2015): “Microwave Quantum Illumination”].  Một ăng ten radar phát ra một chùm vi sóng để quét một vùng không gian. Bất kỳ đối tượng mục tiêu nào cũng sẽ phản xạ tín hiệu vi sóng đến nguồn, nhưng tín hiệu từ các đối tượng có độ phản xạ thấp bị “ngập chìm” trong các tín hiệu phát sinh từ môi trường có nhiễu nền cao rất khó phân biệt khi sử dụng các hệ thống radar cổ điển thông thường. Ngược lại, radar lượng tử hoạt động hiệu quả hơn và khai thác sự rối lượng tử để tăng độ nhạy nhằm phát hiện ra các tín hiệu phản xạ nhỏ truyền qua các vùng không gian có nhiều nhiễu. Trong nhiều tình huống nhất định, tỷ số tín hiệu trên nhiễu của radar lượng tử được cải thiện đáng kể do sử dụng các nguồn rối lượng tử.  “Về mặt lịch sử, các bằng chứng về khái niệm, như bằng chứng mà chúng tôi đã chứng minh ở đây, thường được coi như cột mốc quan trọng đối với những tiến bộ về công nghệ trong tương lai. Thật thú vị khi thấy những ứng dụng của nghiên cứu này trong tương lai, đặc biệt đối với các cảm biến vi sóng tầm ngắn” (Shabir Barzanjeh, trợ lý giáo sư tại Đại học Calgary, Canada).  Theo tiến sĩ Pirandola, các radar lượng tử sẽ có hiệu suất vượt trội, đặc biệt là ở chế độ năng lượng thấp (số photon tín hiệu ít) khi các hiện tượng xâm lấn không xảy ra “Đặc tính không xâm lấn như vậy đặc biệt quan trọng đối với các ứng dụng y sinh tầm ngắn. Về lâu dài, radar lượng tử có thể được vận hành ở khoảng cách ngắn để phát hiện sự hiện diện của khuyết tật trong các mẫu sinh học hoặc mô người một cách hoàn toàn không xâm lấn, do chỉ sử dụng một số lượng nhỏ các photon trong trạng thái rối lượng tử. Phương pháp của chúng tôi có thể được sử dụng để phát triển không xâm lấn phổ cộng hưởng từ hạt nhân của protein dễ vỡ và axit nucleic. Trong y học, những kỹ thuật này có khả năng được áp dụng cho chụp ảnh cộng hưởng từ, với mục đích giảm liều bức xạ trong điều trị cho bệnh nhân.”  Gần đây, các nhà vật lý tại Viện KH&CN Áo đã phát minh ra một nguyên mẫu radar lượng tử mới sử dụng rối lượng tử và đầu thu kỹ thuật số như một phương pháp hiệu quả để phát hiện vật thể. Sự tích hợp thành công cơ học lượng tử như này vào các thiết bị có thể tác động đáng kể đến các ngành công nghiệp y sinh và an ninh.  Các nhà khoa học thuộc nhóm nghiên cứu của giáo sư Fink tại Viện KH&CN Áo, cùng với các cộng tác viên là Pirandola từ Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) và Đại học York (Anh) và Vitali từ Đại học Camerino (Ý) đã đề xuất một loại công nghệ phát hiện (detection technology) mới gọi là chiếu sáng lượng tử vi sóng kết hợp với đầu thu kỹ thuật số (digital receiver). Nghiên cứu này vừa mới được công bố trên tạp chí Science Advances [S. Barzanjeh, S. Pirandola, D. Vitali and J. M. Fink, Science Advances 6, eabb0451 (2020): “Microwave quantum illumination using a digital receiver”]. Công nghệ chiếu sáng lượng tử vi sóng sử dụng các photon vi sóng rối (entangled microwave photons) như một phương pháp để phát hiện vật thể. Thiết bị radar lượng tử mới này có thể phát hiện các vật thể trong môi trường nhiệt có nhiễu, trong khi các hệ thống radar cổ điển thông thường không thể. Công nghệ này hứa hẹn các ứng dụng tiềm năng cho máy quét hình ảnh và bảo mật y sinh với năng lượng cực thấp.  Nguyên tắc hoạt động của thiết bị radar lượng tử dựa trên công nghệ chiếu sáng lượng tử vi sóng có thể mô tả như sau. Thay cho việc sử dụng các vi sóng thông thường, các nhà nghiên cứu làm rối hai nhóm photon, một nhóm được gọi là nhóm các photon tín hiệu (signal photons) và nhóm kia là nhóm các photon idler. Các photon tín hiệu được bắn về phía có đối tượng muốn phát hiện, còn các photon idler thì được giữ lại và sau đó được đo tại chỗ trong điều kiện cách ly tương đối để không bị ảnh hưởng bởi giao thoa và nhiễu của môi trường. Khi các photon tín hiệu bị phản xạ trở lại, độ rối lượng tử giữa hai nhóm photon bị giảm đáng kể, nhưng một lượng nhỏ của sự tương quan lượng tử vẫn còn, tạo ra một chứng cứ cho sự tồn tại hoặc không tồn tại của đối tượng mục tiêu, bất chấp sự hiện diện của các loại nhiễu trong môi trường.  “Những gì chúng tôi đã thực hiện là một bằng chứng về khái niệm của radar lượng tử vi sóng”, tác giả chính của phát minh, Shabir Barzanjeh, hiện đang là trợ lý giáo sư tại Đại học Calgary, người trước đây đã có nghiên cứu giúp đưa ra khái niệm lý thuyết về công nghệ radar lượng tử, cho biết. Ông cũng nói thêm: “Sử dụng rối lượng tử được tạo ra ở nhiệt độ rất thấp, chỉ khoảng một vài phần nghìn độ trên độ không tuyệt đối (-273,14° C), chúng tôi đã có thể phát hiện các vật thể có dộ phản xạ thấp ở nhiệt độ phòng.”  Radar lượng tử có thể hoạt động vượt trội so với radar cổ điển  Mặc dù sự rối lượng tử rất dễ bị phá vỡ do tương tác với môi trường tự nhiên trong quá trình phát và thu tín hiệu, radar lượng tử có một vài lợi thế so với radar cổ điển thông thường. Ví dụ, ở mức năng lượng thấp, các hệ thống radar cổ điển thông thường thường có độ nhạy thấp vì chúng khó phân biệt giữa bức xạ phản xạ từ vật thể với bức xạ nền xảy ra một cách tự nhiên do nhiễu của môi trường. Chiếu sáng lượng tử là một giải pháp cho vấn đề này vì sự tương quan giữa các photon tín hiệu và các photon idler (do chúng đã được tạo ra trong các trạng thái rối lượng tử) giúp phân biệt một cách hiệu quả hơn giữa các photon tín hiệu (nhận được do phản xạ từ vật thể quan tâm) với các photon phát sinh bởi nhiễu của môi trường. Trong quá trình đo, nếu thấy có mối tương quan với các photon idler thi đó chính là các photon tín hiệu (do các photon tín hiệu đã bị làm rối với các photon idler từ trước), còn nếu không thấy có mối tương quan nào thi đó là các photon nhiễu (do các photon nhiễu hoàn toàn không bị rối với các photon idler). Vì vậy, tỉ số tín hiệu trên nhiễu của radar lượng tử sẽ lớn hơn nhiều so với radar cổ điển.    Minh họa của một nguyên mẫu radar lượng tử.  Barzanjeh nói: “Thông điệp chính từ nghiên cứu của chúng tôi là radar lượng tử dựa trên chiếu sáng vi sóng lượng tử không chỉ có thể trên lý thuyết, mà còn có thể trên thực tế. Trong cùng các điều kiện như nhau, chúng tôi thấy rằng ngay cả khi số lượng photon tín hiệu rất thấp, khả năng phát hiện vật thể của radar lượng tử vẫn có thể vượt trội hơn so với radar cổ điển thông thường.”  Xuyên suốt lịch sử, khoa học cơ bản là một trong những động lực chính của đổi mới sáng tạo, chuyển đổi mô hình và đột phá công nghệ. Mặc dù vẫn còn ở mức độ khái niệm, nghiên cứu của nhóm đã chứng minh một cách hiệu quả về một phương pháp mới dựa trên hiện tượng rối lượng tử để phát hiện vật thể. Phương pháp lượng tử này, trong một số trường hợp, có thể hiệu quả hơn các phương pháp cổ điển.  Barzanjeh cho biết: “Về mặt lịch sử, các bằng chứng về khái niệm, như bằng chứng mà chúng tôi đã chứng minh ở đây, thường được coi như cột mốc quan trọng đối với những tiến bộ về công nghệ trong tương lai. Thật thú vị khi thấy những ứng dụng của nghiên cứu này trong tương lai, đặc biệt đối với các cảm biến vi sóng tầm ngắn”.  Theo giáo sư Fink, trưởng nhóm nghiên cứu, “Kết quả khoa học này chỉ có thể có được nhờ việc hợp tác giữa các nhà vật lý lý thuyết và các nhà vật lý thực nghiệm, những người được thúc đẩy bởi sự tò mò về cách cơ học lượng tử có thể giúp đẩy xa hơn các giới hạn cơ bản của cảm biến. Nhưng để thấy rõ tính ưu việt trong các tình huống thực tế, chúng tôi cũng sẽ cần đến sự giúp đỡ của các kỹ sư điện có kinh nghiệm, và vẫn còn rất nhiều việc phải làm để kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể áp dụng một cách thực thụ trong việc phát hiện vật thể trong môi trường có nhiễu”.  Chuyển radar lượng tử từ phòng thí nghiệm ra hiện trường  Để radar lượng tử có thể hoạt động hiệu quả, trước tiên cần có một nguồn phát ra  thật nhanh các photon rối với nhau theo yêu cầu. “Mục tiêu cho dự án của chúng tôi là tạo ra một nguồn phát các photon rối dồi dào và có thể nhận được ngay chỉ bằng cách nhấn nút”, Baugh nói.  Hiện nay, phương pháp chiếu sáng lượng tử chỉ mới được khám phá trong phòng thí nghiệm. Chính phủ Canada, theo chương trình KH&CN cho tất cả các lĩnh vực nhận thức tình huống của Bộ Quốc phòng, đang đầu tư 2,7 triệu USD để đẩy nhanh việc sử dụng nó trong lĩnh vực radar lượng tử.  Các trạm radar của Hệ thống Cảnh báo Bắc 54 (The 54 North Warning System), có trụ sở tại Bắc Cực và Bộ chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ điều hành, đang sắp hết hạn sử dụng và có thể cần phải được thay thế vào đầu năm 2025.  “Dự án này sẽ cho phép chúng tôi phát triển công nghệ để giúp chuyển radar lượng tử từ phòng thí nghiệm ra hiện trường. Nó có thể thay đổi cách chúng ta nghĩ về an ninh quốc gia,” Baugh nói.□  Nguyễn Bá Ân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2015-02-big-future-quantum-radar.html  https://phys.org/news/2018-04-quantum-radar-expose-stealth-aircraft.html  https://phys.org/news/2020-05-scientists-quantum-radar-prototype.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rạng Đông lọt top 50 công ty niêm yết tốt nhất tại VN      Ngày 3/9, Forbes Việt Nam công bố danh sách 50  công ty niêm yết tốt nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó  có Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông.    Theo Forbes Việt Nam, danh sách 50 Công ty tốt nhất được xếp hạng bao gồm cả những công ty lớn nhất thị trường và những công ty vừa và nhỏ có hiệu quả kinh doanh cao, lợi nhuận cao, có sản phẩm và thương hiệu uy tín trên thị trường và có khả năng tăng trưởng bền vững.  Dữ liệu sử dụng để đánh giá dựa trên báo cáo tài chính có kiểm toán của ba năm liên tiếp, năm tài chính gần nhất kết thúc ngày 31/12/2012. Trong 3 năm từ 2010-2012, nhờ có chiến lược đúng hướng, sản phẩm chất lượng cao, hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông đã đạt tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng.  Riêng lợi nhuận thực hiện năm 2012 của Công ty Rạng Đông đạt 99,8 tỷ đồng, tăng 24,8% so với năm 2011; doanh số tiêu thụ đạt 2 208 tỷ, tăng 19.5% so với 2011; thu nhập bình quân người/tháng đạt 8,449 triệu đồng/người/tháng, tăng 22,7% so với năm 2011; nộp ngân sách nhà nước đạt 182,39 tỷ đồng, tăng 51,4% so với 2011. Mức trả cổ tức bằng tiền mặt lên tới 30%.    Trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, rất nhiều doanh nghiệp hoạt động cầm cự thì kết quả kinh doanh và mức chi trả cổ tức năm 2012 của Rạng Đông cho thấy uy tín, thương hiệu, các sản phẩm của Rạng Đông được đánh giá cao, chiếm lĩnh được thị trường và đạt tốc độ tăng trưởng bền vững. Có được kết quả khả quan đó là do công ty có chiến lược phát triển, đổi mới khoa học và công nghệ phù hợp trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đến từ nhiều đơn vị khác nhau trong và ngoài nước.     Tổng kết 8 tháng đầu năm 2013, doanh số tiêu thụ của Rạng Đông đạt 1 472,4 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2012; lợi nhuận thực hiện 6 tháng đầu năm đã soát xét báo cáo tài chính đạt 63,596 tỷ đồng, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2012.  Năm 2012, Công ty CP bóng đèn phích nước Rạng Đông được Công ty báo cáo đánh giá Việt Nam VNR xếp hạng TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, TOP 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập nhiều nhất năm 2012; 17 năm liên tiếp được người tiêu dùng bình chọn Hàng Việt Nam chất lượng cao.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ranh giới đã trở thành cầu nối trong quá trình tiến hóa như thế nào?      Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Communications đã đưa ra lý giải cho câu hỏi này dựa trên sự tiến hóa của các sắc tố trong bộ lông của một loài chim ở Bắc Mỹ.    Có một nghịch lý trong thuyết tiến hóa, đó là: các sinh vật tồn tại được đến ngày nay là nhờ chúng có khả năng biến đổi khi môi trường cũ biến mất. Tuy nhiên, các sinh vật lại tiến hóa để phù hợp với các ổ sinh thái cụ thể.  “Sự chuyên biệt hóa với độ chính xác ngày càng tăng lên đáng nhẽ ra phải dẫn đến một con đường cụt trong quá trình tiến hóa, tuy nhiên thực tế lại không phải vậy. Làm thế nào mà khả năng thích ứng với môi trường hiện tại dung hòa được với khả năng biến đổi là câu hỏi cơ bản nhất trong sinh học tiến hóa”, Alex Badyaev, giáo sư sinh thái học và sinh học tiến hóa ở đại học Arizona, đồng tác giả của bài báo công bố trên Nature Communications cho biết.    Theo Badyaev, có hai đáp án khả thi cho câu hỏi trên. Đáp án thứ nhất đó là các cơ chế cho phép sinh vật thích ứng tốt với môi trường hiện tại của chúng và các cơ chế tạo nên sự thay đổi để thích ứng là hai cơ chế khác nhau – cơ chế sau bị triệt tiêu khi sinh vật ngày càng phù hợp với môi trường sống của mình và chỉ được kích hoạt khi môi trường thay đổi. Đáp án thứ hai đó là các cơ chế làm cho sinh vật thích ứng với môi trường sống hiện tại cũng tự biến đổi trong quá trình tiến hóa.  “Việc phân biệt các khả năng này là một thách thức lớn bởi trong sinh học tiến hóa, chúng ta nhất thiết phải nghiên cứu các quá trình từng diễn ra trước đây, trong khi những sự kiện này lại xảy ra rồi và chúng ta đã bỏ lỡ”, ông nói. “Do vậy, thay vào đó, chúng tôi đưa ra kết luận về những gì đã qua từ việc so sánh các loài đang tồn tại ngày nay. Mặc dù phương pháp tiếp cận này có thể cho chúng tôi biết cách các sinh vật hiện nay thích ứng với môi trường sống như thế nào, nó không thể lý giải được nhờ đâu mà những sinh vật này làm được điều đó”.  Cuối cùng, kết quả của nhóm nghiên cứu đã củng cố tình huống đầu tiên trong hai đáp án nói trên. Các cơ chế giúp cho sinh vật hòa hợp với môi trường sống và các cơ chế chịu trách nhiệm cho sự biến đổi là những cơ chế khác nhau và chúng diễn ra tuần tự trong quá trình tiến hóa.  Manh mối Carotenoid  Badyaev và nhóm nghiên cứu của mình đã lựa chọn một loài chim sẻ sa mạc Sonoran phổ biến để quan sát trực tiếp sự thích nghi của chúng với môi trường mới, trong khi đặc biệt chú ý đến các cơ chế liên quan. Loài chim này trong thế kỷ vừa qua đã sinh trưởng rộng khắp Bắc Mỹ và hiện chiếm phạm vi sinh thái lớn nhất so với bất kỳ loài chim nào đang sống ngày nay.  Những con chim này tự “tô màu” cho bản thân bằng cách ăn và tích hợp các phân tử sắc tố có tên carotenoid vào bộ lông của mình.  “Carotenoid là những phân tử lớn. Việc đưa chúng vào các bộ lông đang phát triển là một quá trình lộn xộn, bởi vậy nó gây ra các thay đổi cấu trúc và sự sai sắc đối với bộ lông”, Badyaev nói. “Điều này đã đem đến cho chúng tôi một cơ hội đặc biệt để nghiên cứu về cách mà các cơ chế phát triển đặc trưng tạo ra bộ lông phức tạp này đồng thời tiến hóa với các yếu tố đầu vào bên ngoài không dự đoán được trước để tạo ra màu sắc cho bộ lông”.  Ở các loại lông vũ cần đến tính toàn vẹn cấu trúc, ví dụ như bộ lông tơ có khả năng điều hòa nhiệt độ hoặc bộ lông bay, các cơ chế tiến hóa sẽ bảo vệ quá trình phát triển của bộ lông ấy khỏi sự kết hợp với các sắc tố carotenoid. Nhờ vậy, các sợi lông bay hoặc lông tơ ở các loài chim này hầu như không bao giờ có màu sắc. Ngược lại, các bộ lông vũ “trang trí” lại có màu sắc rực rỡ và phát triển các cơ chế sửa đổi cấu trúc của mình để cho phép kết hợp nhiều carotenoid hơn cũng như tăng cường sự hiện diện của sắc tố.  Các tác giả đã tận dụng sự đa dạng đó để nghiên cứu cách mà loạt cơ chế này – từ cơ chế bảo vệ khỏi các carotenoid đến cơ chế tích hợp chúng trong bộ lông – thực sự tiến hóa như thế nào.  Các nguồn sắc tố carotenoid có sự khác biệt ở các loài chim sẻ. Với những quần thể sa mạc bản địa, các con chim thu nhận sắc tố từ quả và phấn hoa của cây xương rồng, trong khi với các quần thể sống ở thành phố, chúng lấy sắc tố từ các loài thực vật mới du nhập và từ thức ăn cho chim. Ở các quần thể phía bắc, chúng lấy sắc tố từ các hạt cỏ, chồi và quả mọng.  “Đúng như dự đoán, ở mỗi địa điểm, chim sẻ lại phát triển những cách thích nghi đặc biệt để kết hợp các carotenoids bản địa vào bộ lông của mình”, Badyaev nói. Tuy nhiên, khía cạnh độc đáo của nghiên cứu đó là “chúng tôi biết được lộ trình cư trú của những con chim này, nhờ đó chúng tôi đã quan sát được cách chúng thay đổi sự thích nghi khi di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác trong thế kỷ vừa qua”.  Phương pháp tiếp cận này không chỉ giúp nhóm trực tiếp tìm hiểu được quá trình tiến hóa, mà còn cho phép họ nghiên cứu về sự tiến hóa lặp đi lặp lại trong tự nhiên, bởi từ những điểm khởi đầu đã biết, các loài chim sẽ phát triển những cách thích ứng riêng biệt theo từng địa phương một cách song song với nhau khi chúng tỏa đi khắp lục địa.  Nhóm đã thành lập 45 quần thể nghiên cứu dọc theo lộ trình cư trú của loài chim sẻ nói trên từ miền Nam Arizona bản địa đến tây bắc Hoa Kỳ. Họ cũng tìm hiểu về cách loài này biến đổi ở mỗi khu vực, ví dụ như quần thể sa mạc Arizona và quần thể đô thị ở khuôn viên Đại học Arizona và ở Tucson. Với tất cả các quần thể này, họ đã kiểm tra cấu trúc vi mô và thành phần carotenoid hoàn chỉnh trong hàng nghìn mẫu lông vũ. Với quy mô và chiều sâu nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay đối với loài chim hoang dã này, kết quả nghiên cứu đã đưa đến hai khám phá mới.  Khám phá đầu tiên đó là: quá trình tiến hóa diễn ra theo trình tự tương đối giống nhau dù bắt nguồn từ những điểm khởi đầu đa dạng. Ban đầu, các carotenoid bản địa xa lạ đã tạo ra những thay đổi lớn trong quá trình phát triển bộ lông của chim, tuy nhiên càng cư trú lâu hơn ở một khu vực, các con chim này lại càng trở nên quen thuộc với các loại carotenoid đó. Nhờ vậy, chúng có khả năng kết hợp các sắc tố vào bộ lông của mình cũng ngày một tốt hơn, và cuối cùng hình thành nên sự thích nghi chính xác đối với khu vực đó.  Khám phá thứ hai và cũng là khám phá quan trọng nhất, đó là: mặc dù carotenoid và những tổ hợp khác của chúng có sự khác biệt rõ rệt giữa từng khu vực, các cơ chế đằng sau sự kết hợp của sắc tố này vào các bộ lông đang phát triển lại có sự đồng nhất đáng kể, cũng như không có sự đặc trưng riêng đến đặc tính sinh hóa của các hợp chất carotenoid riêng lẻ. Thay vào đó, trong tất cả các quần thể, sự tiến hóa là kết quả của những biến đổi trong cơ chế bảo vệ các thích nghi bản địa trước đó khỏi các tác nhân gây stress từ bên ngoài. Các cơ chế chung bảo vệ khỏi stress – mà Badyaev gọi là “vệ sỹ của sự thích ứng bản địa” – đã được sử dụng để cho phép hình thành những sự thích nghi mới.  Nói theo cách khác, “ranh giới của những sự thích nghi hiện tại trở thành cầu nối cho những sự thích nghi sau này của quá trình tiến hóa”, Badyaev nói.  Bước tiếp theo, các tác giả dự định sẽ nghiên cứu nguồn gốc của các cơ chế phân tử và cơ chế phát triển liên quan đến những quá trình bảo vệ khỏi tác nhân stress trong tiến hóa.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-boundaries-bridges-evolution.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ranh giới giữa con người và robot đang nhoà dần?      Đây là một robot hay là một con người? Ngày nay, khi nhìn vào một robot bạn sẽ trả lời câu hỏi này dễ dàng và nhanh chóng. Tuy nhiên trong tương lai bạn sẽ khó trả lời hơn, vì ranh giới giữa robot và con người sẽ mờ dần khi máy móc học suy nghĩ, còn con người cũng được cấy từng phần của máy móc.      Robot ngày càng giống con người    Robot Erica đến từ Nhật bản, robot Armar ra đời tại quê hương Karlsruhe (Đức) và robot Myon, sản phẩm của trường Cao đẳng kỹ thuật Beuth không “quen biết” nhau. Nhưng sẽ thật thú vị nếu được xem bộ ba này cùng các con robot giống người khác nhảy múa với nhau trong một buổi thử nghiệm để biết rằng các cỗ máy có mắt, tay và cơ thể giống con người có thể làm những gì. Ở khắp châu Âu, châu Á và ở Mỹ, các nhà nghiên cứu luôn tìm cách thiết kế các robot giống người với các cảm biến tự động nghe nhìn và có thể tự nói.  Máy móc biết “tư duy” như con người  Cái máy móc ngày nay đã khác nhiều so với những cánh tay robot được gắn cố định trước đây chúng ta vẫn thấy. Những máy móc mới này khôn ngoan hơn, “biết học” do có trí tuệ nhân tạo. Để làm được điều đó, các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu về quá trình hoạt động của bộ não con người. Trên cơ sở những kiến thức này, họ thiết kế, lắp đặt máy móc và sử dụng trí tuệ nhân tạo có cơ chế hoạt động tương tự như các tế bào ở trong não bộ để điều khiển máy móc. Trí tuệ nhân tạo có thể bắt chước con người: ví dụ chúng “nhìn xem” bàn tay nắm bắt như thế nào và chuyển tải mô thức đó sang máy móc – giờ đây được côi là một “sinh vật” làm bằng kim loại, giây nhợ và các khớp nối nhân tạo.  Song song với quá trình “thông minh hóa máy móc” này, sự tiến bộ của kỹ thuật y học cũng giúp cấy các bộ phận của máy tính vào cơ thể con người. Thí dụ cấy chip vào tai giữa, qua đó giúp những người bị điếc nặng có thể cảm nhận được nhiều âm thanh hơn. Hoặc gắn những con robot hỗ trợ vào cơ thể con người như một bộ xương ở bên ngoài để giúp đỡ các hoạt động của con người. Như thế, con người hoà với thiết bị này. Người bị liệt có thể nhích đi một đoạn ngắn. Những người khoẻ mạnh có thể nâng vác một vật có trọng lượng cực kỳ lớn.  Hiroshi Ishiguro, chuyên gia về robot người Nhật và nhiều đồng nghiệp luôn cố gắng tạo ra những cỗ máy giống người thật như đúc. Thí dụ con Geminoid HI-1 rất giống người. Và chính bản thân Ishiguro đã đứng ra làm người mẫu để tạo hình cho Geminoid HI-1. Sau này, robot Erica được chế tạo trông giống người hơn nữa. Ông và các cộng sự của đại học Osaka, đại học Kyoto và viện ATR đã tạo ra một cô gái robot mang mái tóc dài mầu nâu có biệt tài trong giao tiếp. Thậm chí, khi nói chuyện, biểu cảm trên khuôn mặt cô cũng rất giống với người thật.  Một số nhà khoa học khác như giáo sư Rüdiger Dillmann, ở Viện công nghệ Karlsruhe (Đức) có quan điểm khác khi cho rằng không nhất thiết phải thiết kế robot giống người. Nhưng dù có quan niệm rất khác nhau trong thiết kế hình dạng, nhưng điểm chung trong các sáng tạo của họ ở đây là không thể tách rời con người với công nghệ. Thậm chí Ishiguro còn đưa ra một định nghĩa cơ bản nhất về con người là: con vật cộng với công nghệ. Điều đó có nghĩa là: “Nếu như chúng ta không sử dụng được kỹ thuật thì chúng ta không thể là con người. Nghĩa là chúng ta không thể tách rời con người với kỹ thuật. Và robot là công nghệ tiến bộ nhất”, ông nói.  Con người và robot có thể nhích lại gần nhau đến đâu?  Bất luận robot sẽ phát triển mạnh mẽ như thế nào, cho đến nay, con người vẫn luôn là chủ thể ra quyết định về khả năng của robot. Tuy nhiên giờ đây các nhà nghiên cứu đều tìm mọi cách để những đứa con nuôi của họ ngày càng được độc lập hơn.  Con Robot điển hình cho mong muốn này là Myon, với chiều cao 1.25 m, nặng khoảng 16 kg. Trên vai Myon là một cái đầu màu đen-trắng với một con con mắt – camera. Giáo sư Manfred Hild và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu của ông ở trường Cao đẳng Beuth (Đức) đã thiết kế để robot này có thể quan sát môi trường xung quanh mình, có thể đi và biết rút ra các bài học từ những trải nghiệm của mình.  Từ hiện tượng những robot ngày càng “thông minh” và linh hoạt hơn, nhiều chuyên gia phỏng đoán, máy móc có thể khôn ngoan hơn con người. Điều đó có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực chứ không phải chỉ ở những lĩnh vực nhất định. Hiện tại phần mềm bác sĩ IBM Watson có thể giúp các thầy thuốc chẩn đoán bệnh thông qua phân tích cực nhanh, hoặc AlphaGo của Google đã có thể hạ gục nhưng tay cờ vaya thiện nghệ nhất thế giới. Và trong tương lai, những công nghệ này sẽ giúp giải quyết những vấn đề rất khác nhau, từ chữa trị bệnh ung thư cho đến biến đổi khí hậu.  Tuy nhiên, có nhiều ý kiến tỏ ra nghi ngờ khả năng robot sẽ thông minh hơn con người. Chẳng hạn như Dillmann, một chuyên gia về robot người Đức lại tỏ ra thận trọng: “Tôi không tin rằng trí thông minh nhân tạo có thể bắt chước hoặc vượt xa tầm vóc của con người. Nếu ta xem xét các quá trình liên quan đến hoạt động sáng tạo, ví dụ do các nghệ sỹ hay các kiến trúc sư thực hiện thì sẽ thấy ngay điều đó. Hơn nữa tư duy còn bao gồm cả sự giao tiếp giữa con người với nhau trong xã hội. Điều này hoàn toàn xa lạ với máy móc. Do đó máy móc gần như không thể bắt chước con người hoặc vượt lên khỏi tư duy con người. Và nếu có thể bắt chước, thì đó chỉ là những nét phác hoạ thô như ở tranh biếm hoạ”.  Giáo sư Hild thì lại dự báo rằng còn rất lâu nữa mới tới ngày robot thật sự giống con người: “Tôi tin rằng trong vài trăm năm nữa chúng ta vẫn có thể dễ dàng nhận ra đối tượng đứng trước mặt mình là một robot hay là một con người bằng xương, bằng thịt”.  Xuân Hoài lược dịch theo “Tuần kinh tế”.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Rào cản từ kiến thức      Để đẩy sản phẩm ra thị trường, các nhóm spin-off phải lo từ A-Z, điều này đòi hỏi ở nhà khoa học năng lực phát triển đội ngũ, kiến thức cơ bản về thị trường và kinh doanh, cách thức kêu gọi vốn, mà những kiến thức này vẫn là điểm yếu lớn của các nhà khoa học Việt Nam.       Trong năm hoạt động cốt lõi của quá trình thành lập spin-off mà GS. Dornberger (2015)1 xác định: (1) thành lập nhóm sáng lập, (2) gọi vốn, (3) phát triển PoC (Proof-of-Concept, sản phẩm mẫu ở giai đoạn minh họa ý tưởng), (4) xây dựng mô hình kinh doanh, (5) thâm nhập thị trường, thì hoạt động thành lập nhóm sáng lập được coi là quan trọng nhất, quyết định thành bại của doanh nghiệp spin-off. Nhóm sáng lập phải hội đủ các năng lực cần thiết, đặc biệt là kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nhà khoa học – tác giả của công nghệ không chỉ thiếu những kiến thức trên mà còn “không nói cùng ngôn ngữ” với giới kinh doanh nên khó có hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, họ bị chi phối bởi công việc giảng dạy (xấp xỉ 200 giờ/năm) nên không có thời gian tập trung vào doanh nghiệp của mình.   Việc công ty có ra đời được hay không phụ thuộc nhiều vào khả năng của nhóm sáng lập, bởi họ phải tự lo kinh phí hoặc đi huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư cá nhân hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm. Giai đoạn phát triển PoC để chứng minh tính khả dụng của công nghệ chủ yếu được tài trợ bởi ngân sách cho nghiên cứu. Tuy nhiên, khoảng cách từ PoC đến sản phẩm thương mại thường khá xa, đòi hỏi đầu tư không nhỏ và rủi ro cũng rất lớn. Nguồn đầu tư cho giai đoạn này đa dạng hơn so với giai đoạn đầu tư cho PoC, nhưng cũng không nhiều và không dễ để tiếp cận. Phần lớn các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam hiện tại chỉ đầu tư vào các dự án khởi nghiệp ở giai đoạn có rủi ro thấp và khi dự án đã có những cứ liệu cho thấy sản phẩm phát triển thực sự mang lại giá trị và được thị trường đón nhận2 Do vậy, giai đoạn từ PoC đến sản phẩm thương mại được giới chuyên gia mô tả là “thung lũng chết” của thương mại hóa công nghệ để diễn đạt sự khan hiếm nguồn lực trong giai đoạn này. Vì vậy, nhóm sáng lập cần có năng lực huy động các nguồn vốn phù hợp cho từng giai đoạn phát triển khác nhau của spin-off.   Ngay cả khi các nhà khoa học không tham gia toàn bộ vào việc kinh doanh của spin-off mà chỉ dành một phần thời gian cho công việc này thì kiến thức khởi nghiệp vẫn đóng vai trò dẫn dắt họ trong suốt quá trình hình thành công ty, giúp họ tránh lãng phí nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Trọng tâm của giai đoạn khởi nghiệp của doanh nghiệp là tìm kiếm một mô hình kinh doanh khả thi3, thông qua quá trình học hỏi có kiểm chứng4(thử và sai), theo đó sản phẩm liên tục được phát triển và đưa ra thị trường để kiểm nghiệm. Căn cứ trên các phản hồi của khách hàng, các yếu tố của mô hình kinh doanh sẽ được điều chỉnh. Quá trình tìm kiếm mô hình kinh doanh khả thi là một quá trình lặp, cần được thực hiện một cách thông minh với sự tiêu tốn nguồn lực (tiền bạc và thời gian) tối thiểu. Đến bước thâm nhập thị trường, là giai đoạn bán sản phẩm cho những khách hàng có tầm nhìn (early adopters), nhận phản hồi và hoàn thiện sản phẩm, tìm kiếm các hỗ trợ về phân phối và các dạng hỗ trợ khác từ những khách hàng này. Để làm được điều đó, đội ngũ sáng lập cần có kiến thức và kinh nghiệm marketing công nghệ cao và biết kết nối với giới công nghiệp. Không may là các nhà khoa học thường quá chú trọng đến công nghệ mà thiếu quan tâm hoặc không được trang bị các kiến thức và công cụ cần thiết để xây dựng mô hình kinh doanh khả thi (công nghệ chỉ là một trong chín thành phần chính của mô hình kinh doanh). Thậm chí, những kiến thức và công cụ này còn không được giảng dạy tại các trường kinh doanh.  Những giải pháp trước mắt  Các nhà khoa học cần có một cách nhìn khác về việc xây dựng đội ngũ sáng lập. Thay vì tự mình làm tất cả mọi việc, họ cần phải hợp tác. Để xây dựng spin-off thành công, cần làm tốt đồng thời hai việc: phát triển sản phẩm và phát triển thị trường. Phát triển sản phẩm phải được dẫn dắt bởi các thông tin phản hồi từ thị trường. Nhà khoa học có năng lực chuyên môn để phát triển sản phẩm ở khía cạnh kỹ thuật, nhưng thiếu những kiến thức và kỹ năng để phát triển thị trường. Vì vậy, ngoài nhà khoa học, nhóm sáng lập cần được bổ sung các thành viên có kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh, đặc biệt là kinh nghiệm quản trị các dự án khởi nghiệp. Để thuận lợi trong hợp tác, các nhà khoa học cần được đào tạo, huấn luyện những kiến thức, công cụ cơ bản về quản trị khởi nghiệp.  Bên cạnh đó, các viện, trường cũng phải tạo điều kiện khuyến khích các nhà nghiên cứu thành lập spin-off. Chẳng hạn, trên thế giới, nhà khoa học được phép tạm thời ngưng công việc hiện tại để làm việc toàn thời gian cho spin-off của mình. Trường hợp spin-off thất bại, nhà khoa học được phép quay trở lại với công việc trước đây.   Ở tầm vĩ mô, có nhiều giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả việc hỗ trợ các spin-off nhưng quan trọng nhất và trước mắt cần làm ngay là đầu tư để tăng cường năng lực các vườn ươm trong viện, trường. Họ là đầu mối kết nối những huấn luyện viên khởi nghiệp, các quỹ đầu tư và các nhà đầu tư tư nhân, đồng thời liên lạc với nền công nghiệp và thị trường, hỗ trợ các startup.           Cách làm của vườn ươm ITP (Khu Công nghệ phần mềm ĐH Quốc gia  TP. HCM)  Xác định những điểm yếu cố hữu của các nhà khoa học và  nhận định rằng không thể một sớm, một chiều cải thiện những hạn chế như  đã phân tích trong bài, tôi quyết định “làm ngược” so với cách của các  vườn ươm truyền thống.  Cụ thể, tôi bắt đầu bằng việc hỗ trợ các startup ở bên ngoài trường đại học. Sau đó, tập trung xây dựng các hoạt động “kết nối”, giúp các startup này tiếp cận các nguồn lực thiết yếu cho khởi nghiệp, như: nguồn nhân lực, thông tin và vốn. ITP kết nối với các đối tác để cung cấp dịch vụ cho các startup chứ không tự mình cung cấp tất cả các dịch vụ này. ITP chỉ xây dựng các dịch vụ khi không tìm thấy đối tác phù hợp. Bên cạnh đó, không giống với các vườn ươm trong viện, trường khác, ITP tham gia mạnh mẽ vào hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương.               Sau một năm vận hành, cách làm trên được cộng đồng  startup hưởng ứng khá tích cực. Cụ thể VCCI, UNICEF đang nghiên cứu đặt  văn phòng tại ITP để cùng phát triển “hệ sinh thái khởi nghiệp ITP” (từ  này được dùng từ cuối năm 2013).   Tôi dự kiến năm 2016 sẽ bắt tay vào việc thúc đẩy phát  triển spin-off từ các nhà khoa học và sinh viên. Hoạt động này sẽ tập  trung vào giai đoạn tiền ươm tạo (pre-incubation), kết hợp với các dịch  vụ đang triển khai cho startup trước kia sẽ giúp các nhà khoa học, sinh  viên (đại học và sau đại học) khắc phục những điểm yếu đã bàn đến ở  trên.           —————–  *Giám đốc Khu Công nghệ Phần mềm ĐH Quốc gia TP.HCM   1Fostering Entrepreneurship in the context of University: challenges in academic spin-off creation, Leipzig University’s Innovation school 2015   2 Trạng thái này được gọi là điểm hòa hợp sản phẩm– thị trường (Product-Market Fit)  3Viable Business Model      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rất cần khoa học mở cho CMCN 4.0      Tại Việt Nam thời gian gần đây, bạn có thể nghe nói nhiều tới CMCN4.0 ở khắp mọi nơi, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội…  Gần đây, tạp chí Tia Sáng tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: “CNTT Việt Nam có thể làm gì trong CMCN4.0?” Quả thật, để trả lời cho câu hỏi ở trên vào lúc này là không dễ, và tôi tin sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau, thậm chí rất khác nhau, từ góc nhìn và quan điểm của những người khác nhau, với các lĩnh vực chuyên sâu khác nhau của họ.  Là người có đam mê tìm hiểu các thông tin trong lĩnh vực nguồn mở, bao gồm cả phần mềm nguồn mở, phần cứng nguồn mở, khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở và nhiều khái niệm “NGUỒN MỞ” khác, tôi muốn thông qua bài viết này để thử trả lời cho câu hỏi khó đó với góc nhìn của “NGUỒN MỞ”, cùng lúc đối chiếu với hiện trạng của Việt Nam để bạn đọc, đặc biệt là những người trong cuộc, có thể cảm nhận được ngay những khó khăn mà chúng ta gặp phải khi đối mặt với CMCN4.0.    Triết lý của “NGUỒN MỞ”  Tôi mê cái triết lý của “NGUỒN MỞ”, được diễn giải trong câu sau đây của Bernard Shaw trong cuốn sách “Giới thiệu phần mềm tự do”1 của Viện Công nghệ Tự do – FTA (Free Technology Academy):  “Nếu bạn có một quả táo và tôi có một quả táo và chúng ta trao đổi táo cho nhau, thì bạn và tôi sẽ vẫn mỗi người có một quả táo. Nhưng nếu bạn có một ý tưởng và tôi có một ý tưởng và chúng ta trao đổi cho nhau những ý tưởng đó, thì mỗi người chúng ta sẽ có 2 ý tưởng”.  Đây chính là triết lý cơ bản nhất của thế giới nguồn mở, là nguyên tắc cộng lực tuyệt vời không chỉ cho phần mềm nguồn mở, mà còn cho và là nguồn cảm hứng để chia sẻ mở nhiều điều khác nữa trong thế giới của những thứ vô hình được chia sẻ mở khác, như trong các khái niệm mới được sinh ra thời gian gần đây như “Khoa học mở – Open Science”, “Truy cập mở – Open Access”, “Dữ liệu Mở – Open Data”, “Dữ liệu mở liên kết – Linked Open Data”, “Tài nguyên giáo dục mở – Open Educational Resources”…  Ngày nay, nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả nước Mỹ và châu Âu, đang triển khai rộng rãi triết lý này và sự chia sẻ mở trong các chương trình, dự án đi với các khái niệm được nêu ở trên, đặc biệt trong trường hợp các chương trình, dự án đó được cấp vốn từ nhà nước, về bản chất là từ tiền của những người dân đóng thuế của các nước đó.  Triết lý này không là đặc tính của thế giới nguồn đóng, bất kể lĩnh vực nào, nơi mà mọi ý tưởng thường không được chia sẻ mở và bản thân sự chia sẻ mở cũng là điều cấm kỵ, không được khuyến khích và/hoặc chào đón trong cái thế giới nguồn đóng đó.  A. Vài đặc tính nổi bật nhất của CMCN4.0  Trong thời gian qua, đã có không ít các bài viết nêu những đặc tính của CMCN4.0, trong số đó, có lẽ nổi bật nhất là: (1) người máy có khả năng thay thế con người; và (2) sự thông minh trong giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống của con người theo các mức độ ‘thông minh’ khác nhau, với mức thông minh cao nhất được cho là nhờ vào khả năng sử dụng các kết quả phân tích dữ liệu lớn theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực) để đưa ra các quyết định điều khiển sự vận hành của một (vài) quy trình công việc nào đó cũng theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực).  B. Việt Nam trước các cơ hội và thách thức của CMCN4.0  Có một logic đơn giản có lẽ nhiều người sẽ cảm thấy là đương nhiên, đó là, để có thể tiếp cận được và làm được gì đó với CMCN4.0, yêu cầu hàng đầu là phải đổi mới sáng tạo. Để có được đổi mới sáng tạo thì cần phải có tri thức và đầu tư thích đáng cho nghiên cứu/ phát triển và triển khai, cả nhân lực, vật lực và tiền bạc.  Bạn đừng bao giờ nghĩ Việt Nam có thể tiếp cận được hoặc làm gì đó lớn với CMCN4.0 bằng con đường để trở thành “Người mua sắm vĩ đại” như những gì, có lẽ, Việt Nam đã từng làm trong vài thập kỷ vừa qua, và cũng đã được nhắc tới trong một bài trên tạp chí Tia Sáng thời gian gần đây. Vì sao? Vì, ít nhất, bạn cần các dữ liệu về Việt Nam và của Việt Nam.  C. Tại sao khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở, và tài nguyên giáo dục mở lại cần thiết để Việt Nam có thể nâng cao năng lực tiếp cận trong cuộc CMCN4.0?  Với Việt Nam bây giờ và có lẽ trong vài thập kỷ tới, câu hỏi lớn được đặt ra: Làm thế nào để đổi mới sáng tạo khi mà nhân lực, vật lực và tiền bạc đều rất ít và rất hiếm?  Vô số các ví dụ ở các quốc gia như Mỹ và châu Âu hiện nay, những nơi đang phất cao ngọn cờ khoa học mở, truy cập mở, giáo dục mở và dữ liệu mở, có lẽ là tấm gương sáng để Việt Nam nhận thức ra được con đường tất yếu phải đi nếu thực sự Việt Nam muốn tiếp cận và làm được gì đó trong cuộc CMCN4.0. Biết rằng, để khoa học mở phát triển, Liên minh châu Âu (EU) đã từng đầu tư liên tục trong vòng hơn 1 thập kỷ qua, và chỉ riêng với chương trình Horizon 2020 (https://ec.europa.eu/programmes/horizon2020/en/what-horizon-2020), EU đã và đang đầu tư cho tới năm 2020 một khoản tiền khổng lồ gần 80 tỷ euro để hiện thực hóa ‘Đám mây khoa học mở của châu Âu’.  C1. Khoa học mở  Định nghĩa khoa học mở2: Khoa học Mở (Open Science) là thực hành khoa học theo cách thức sao cho những người khác có thể cộng tác và đóng góp, nơi mà các dữ liệu nghiên cứu, các ghi chép trong phòng thí nghiệm và các quy trình nghiên cứu khác là sẵn sàng tự do, theo các điều khoản cho phép sử dụng lại, phân phối lại và tái tạo lại nghiên cứu đó và các dữ liệu và phương pháp nằm bên dưới của nó.    Hình 1: Khoa học mở – các thành phần và đặc tính. Trong đó, truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở là các thành phần không thể thiếu của nó.   Hình 1 cho chúng ta nhận biết được: (1) khoa học mở gồm những thành phần nào; và (2) khoa học mở ngày nay có thể được đặc trưng bằng những đặc tính nào (hoặc các ký tự nào theo tiếng Anh). Hình 1 cũng cho chúng ta thấy:  * Khoa học mở là chưa tồn tại ở Việt Nam.  * Ở Việt Nam hiện tại, không khó để thấy rằng, các tài liệu và dữ liệu khoa học là kết quả của các nghiên cứu khoa học, nhất là các nghiên cứu khoa học được nhà nước cấp tiền, hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, chưa mang/với tới được các tiêu chuẩn của bất kỳ đặc tính nào của khoa học mở như: (1) Khả năng tìm kiếm, phát hiện ra được (Findable) trên Internet; (2) Truy cập được (Accessible) trên/qua Internet; (3) Tương hợp được (Interoperable) – khả năng trao đổi và pha trộn thông tin và/hoặc dữ liệu với nhau nhờ sử dụng các tiêu chuẩn mở; (4) Sử dụng lại được (Re-usable); (5) Lần vết được (Traceable), ví dụ trích dẫn từ đâu, có rõ ràng và minh bạch hay không, có ‘đạo văn’ hay không?; (6) Được cấp phép mở (Licensed), ví dụ như Creative Commons; (7) Được kết nối với nhau (Connected).  C2. Truy cập mở  UNESCO định nghĩa truy cập mở (http://en.unesco.org/open-access/what-open-access) như sau: “Truy cập mở tới tư liệu ngụ ý tính sẵn sàng tự do trên Internet công khai, cho phép bất kỳ người sử dụng nào để đọc, tải về, sao chép, phân phối, in, tìm kiếm, hoặc liên kết tới toàn văn các bài báo đó, đi sâu vào chúng để đánh chỉ mục, truyền chúng như là dữ liệu tới phần mềm, hoặc sử dụng chúng vì bất kỳ mục đích hợp pháp nào khác, mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật ngoại trừ những rào cản gắn liền với sự truy cập tới bản thân Internet”.  Triết lý của truy cập mở là để cung cấp sự truy cập miễn phí và không có rào cản tới nghiên cứu và các xuất bản phẩm của nó mà không có các hạn chế về bản quyền.  Để làm thỏa mãn những gì được nêu trong định nghĩa của truy cập mở, công việc cốt lõi là chuyển đổi hệ thống truyền thông nghiên cứu từ hệ thống người sử dụng trả tiền thành hệ thống truyền thông nghiên cứu tác giả trả tiền, đặc biệt đối với các nghiên cứu có sử dụng tiền từ nhà nước cấp (từ những người đóng thuế). Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi của quy trình xuất bản các kết quả nghiên cứu và mô hình kinh doanh của tất cả các bên tham gia đóng góp trong hệ thống truyền thông nghiên cứu, bao gồm cả các nhà nghiên cứu, các nhà xuất bản, các nhà cấp vốn nghiên cứu, các trường đại học/ các viện nghiên cứu và các thư viện, và xã hội học tập.  Đây là công việc rất khó, mất nhiều công sức và thời gian, vì cần phải làm hài hòa lợi ích của nhiều bên, trong khi các lợi ích của từng bên là khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Thực thể có khả năng nhất để kết nối để làm hài hòa hóa các lợi ích của các bên chính là nhà nước – thực thể thay mặt cho những người dân đóng thuế.    Hình 2: Các dạng truy cập mở.  Có thể dễ dàng để thấy, các dạng truy cập mở là chưa tồn tại ở Việt Nam, trong khi nó là phổ biến hiện nay trên thế giới, với các chính sách truy cập mở ở nhiều mức, như ở mức nhóm các quốc gia, quốc gia, tổ chức quốc tế, trường đại học khắp nơi trên thế giới.  C3. Dữ liệu mở và dữ liệu mở liên kết  Dữ liệu mở (Open Data) được định nghĩa như sau: Dữ liệu mở là dữ liệu có thể được bất kỳ ai tự do sử dụng, sử dụng lại và phân phối lại – nhiều nhất, chỉ tuân thủ yêu cầu ghi công và chia sẻ tương tự. (http://opendatahandbook.org/guide/en/what-is-open-data/)  Dữ liệu mở liên kết là sự liên kết chỉ của các dữ liệu mở với nhau tạo thành.  Nếu sử dụng hệ thống giấy phép Creative Commons để cấp phép cho dữ liệu mở, thì chỉ có 3 loại giấy phép ở khoang trên cùng phần bên trái của Hình 3 là đáp ứng được định nghĩa của dữ liệu mở. Dữ liệu mở cũng có thể sử dụng các giấy phép mở tương đương với 3 giấy phép ở trên nhưng của các hệ thống giấy phép mở khác3.  Để có thể làm cho máy đọc/hiểu được và có được sự thông minh, kể cả ở mức cao nhất, từ năm 2006, nhà phát minh ra World Wide Web, ngài Tim – Berners Lee đã đưa ra (https://www.w3.org/DesignIssues/LinkedData.html) nguyên tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của dữ liệu mở liên kết.  Với nguyên tắc 4 điểm, ông chỉ ra rằng, nếu như Internet trước đây là web của các tài liệu được liên kết với nhau, thì Internet của ngày nay là web của các dữ liệu được liên kết với nhau; nếu Internet của trước đây sử dụng bộ định vị tài nguyên thống nhất – URL (Uniform Resource Locator) để định vị tài nguyên thì Internet của ngày nay sử dụng mã nhận diện tài nguyên thống nhất – URI (Uniform Resource Identifier) để không chỉ con người, mà cả máy cũng có thể đọc/hiểu được và có thể không chỉ dừng lại ở mức biết được tri thức về tài nguyên được định vị như trước kia, mà quan trọng hơn nhiều, là để sinh ra được các tri thức mới.  Với lược đồ tiêu chuẩn 5 sao: Để có thể đạt tới mức 5 sao, dữ liệu cần phải tuân thủ một số yêu cầu nhất định:    Hình 3: Lược đồ tiêu chuẩn 5 sao và các giấy phép mở Creative Commons.  * Mức 1 sao là thấp nhất, yêu cầu dữ liệu phải được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở, như được nêu ở phần định nghĩa dữ liệu mở ở trên, vì thế bất kỳ doanh nghiệp nào, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, đều có thể sử dụng các dữ liệu mở đó để tạo ra các ứng dụng/dịch vụ được phép thương mại hóa (xem khoang trên cùng của Hình 3). Ở Việt Nam hiện chưa ở đâu có các dữ liệu được cấp phép mở để đạt được mức 1 sao này.  * Mức 2 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 1 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu đó phải có cấu trúc để máy còn có khả năng đọc được.  * Mức 3 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 2 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu phải ở định dạng mở (tiêu chuẩn mở), điều rất khó cho Việt Nam đạt được, khi mà thực tế hiện nay trong các cơ quan nhà nước và trong giáo dục, hầu như chỉ sử dụng các định dạng và tiêu chuẩn đóng, từ một nhà cung cấp độc quyền duy nhất. Nếu Việt Nam tiếp tục đi theo cách thức đào tạo và/hoặc sử dụng này, trong tương lai, có khả năng sẽ phải mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để thực hiện việc chuyển đổi các dữ liệu từ định dạng đóng sang định dạng mở. Một điều Việt Nam cần tránh càng xa càng tốt ngay từ bây giờ.  * Mức 4 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 3 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu đi với URI cho các các đối tượng hữu hình và/hoặc vô hình. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng kho từ vựng tiêu chuẩn để dựa vào đó xây dựng các bộ mã URI cho Việt Nam, ví dụ như các bộ từ vựng được chuẩn hóa để làm URI của Eurovoc (http://eurovoc.europa. eu/) của châu Âu, hay tìm hiểu cách tham gia sử dụng các hệ thống mã khác của thế giới, như ORCID (https://orcid.org/) để cấp mã nhận diện cho từng nhà nghiên cứu hiện nay, hay mã nhận diện đối tượng số DOI (https://www.doi.org/) cho các bài báo hay dữ liệu nghiên cứu… Lưu ý là ở Việt Nam hiện nay còn chưa xây dựng xong hệ thống mã nhận diện các tỉnh, thành phố để sử dụng trong hệ thống chính phủ điện tử. Vì vậy, có khả năng Việt Nam sẽ phải cần nhiều năm để xây dựng được hệ thống mã dạng như của Eurovoc.  Mức 5 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 4 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu phải được kết nối theo nghĩa toàn cầu. Việt Nam bây giờ, dữ liệu còn chưa có, các cơ sở dữ liệu quốc gia vẫn ở giai đoạn chuẩn bị làm và/hoặc đang làm như từ thời kỳ IT-2000 của những năm 1996-2000, chưa thể nói gì tới việc kết nối toàn cầu.    Hình 4: Lợi ích của việc áp dụng các tiếp cận dữ liệu mở và dữ liệu mở liên kết. Nguồn: https://ablvienna.wordpress.com/2013/02/05/the-power-of-linked-data/.  Trong khi đó, người châu Âu với chính sách Khoa học Mở đã được phê chuẩn và đã được triển khai trong thực tế từ 2007 cho tới nay, đã và đang chỉ ra cho thế giới thấy:  Nếu đi theo tiếp cận dữ liệu mở, thì bạn thu được các ứng dụng thông minh, còn nếu đi theo tiếp cận dữ liệu mở liên kết, thì ngoài các ứng dụng thông minh ra, bạn còn có khả năng có được các sản phẩm thông minh và các hệ thống thông minh.  Cũng ngay từ bây giờ, bất kỳ ai trên thế giới, kể cả các nhà nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng như các công ty của Việt Nam, đều được tự do tải về để sử dụng các kết quả nghiên cứu của châu Âu, bao gồm cả các bài báo, tài liệu và các bộ dữ liệu, dưới cái ô khoa học mở theo chương trình Horizon 2020 ở các trang như OpenAIRE (https://www.openaire.eu/) hay Zenodo (https://zenodo.org/), ví dụ thế.  C4. Tài nguyên giáo dục được cấp phép mở / Tài nguyên giáo dục mở (OER)  Bộ Giáo dục Mỹ (https://tech.ed.gov/open/) định nghĩa tài nguyên giáo dục được cấp phép mở (hay tài nguyên giáo dục mở – Open Educational Resource, viết tắt là OER) là các tài nguyên học tập, giảng dạy, và nghiên cứu nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo giấy phép cho phép tự do sử dụng, sử dụng lại, sửa đổi và chia sẻ chúng với những người khác. Các tài nguyên số được cấp phép mở có thể gồm các khóa học đầy đủ trên trực tuyến, các sách giáo khoa số theo module cũng như các tài nguyên khác như các hình ảnh, video và các hạng mục đánh giá.  Khác với dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở có thể được gán bất kỳ giấy phép Creative Commons nào như phần bên trái của Hình 3 ở trên, và/hoặc bất kỳ giấy phép mở nào tương đương từ các hệ thống giấy phép mở khác với Creative Commons.  Theo thống kê của Creative Commons (https://stateof.creativecommons.org/), năm 2016, trên thế giới có 1 tỷ 200 triệu tư liệu được cấp phép mở Creative Commons, nghĩa là từng công dân Việt Nam, nếu có đủ các kỹ năng và khả năng, đều có thể khai thác và sử dụng được hàng tỷ tư liệu được cấp phép mở nêu trên, mà không vi phạm các luật bản quyền.  Một câu hỏi lớn cho giáo dục Việt Nam là: ở đâu đang sản xuất và tiêu dùng OER ở Việt Nam?, bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài. Trong khi đó, tại nước Mỹ, có các trang web về OER cho cả bậc đại học như MERLOT (https://www.merlot.org/merlot/index.htm), cũng như giáo dục phổ thông 12 lớp như CK-12 (https://www.ck12.org/) cung cấp nội dung OER, kể cả bằng tiếng Việt. Điều đó có nghĩa là, từ giờ trở đi, mọi học sinh phổ thông và sinh viên đại học của Việt Nam hoàn toàn có khả năng ngồi ở Việt Nam và học các sách giáo khoa và các nội dung giáo dục của nước Mỹ bằng tiếng Việt mà không mất đồng xu nào ngoài việc phải có kết nối Internet. Không rõ, các giáo viên và các cơ sở giáo dục của Việt Nam rồi sẽ ra sao khi việc sử dụng đó trở nên dễ dàng, thuận tiện và phổ cập hơn?    Hình 5: OER và các trang OER của giáo dục nước Mỹ có tiếng Việt.  Có thể, những trang như MERLOT hay CK-12 còn đưa ra một thông điệp cảnh báo cho chúng ta rằng: Từ nay trở đi, những gì người Việt Nam không có khả năng làm được bằng tiếng Việt cho người Việt Nam, thì thế giới sẽ làm hộ cho Việt Nam, và người Việt Nam chỉ cần bỏ tiền ra mua dịch vụ là được chăng? Bằng cách này, Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành “Người tiêu dùng vĩ đại” chăng?  D. Lời kết  Với những gì được nêu sơ lược ở trên về một vài thành phần của khoa học mở, có thể nói ngắn gọn rằng, để có thể tiếp cận được CMCN4.0, trước hết cần phải có tri thức! Với nguyên tắc cộng lực của “NGUỒN MỞ”, thì đi với “NGUỒN MỞ” là cách để vừa có được nhiều tri thức nhất với giá thành thấp nhất và số lượng người tham gia truy cập tới tri thức lớn nhất và không có giới hạn, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thế giới! Điều này là đúng với bất kỳ quốc gia nào, dù là nước Mỹ, các nước châu Âu hay Việt Nam.  Trên tinh thần đó, một vài gợi ý cho Việt Nam như sau:  * Việt Nam cần một thế hệ trẻ các nhà khoa học có định hướng khoa học mở.  * Việt Nam cần hệ thống chính sách để khoa học mở/truy cập mở/giáo dục mở – tài nguyên giáo dục được cấp phép mở/dữ liệu mở phát triển.  * Việt Nam cần các hệ thống thư viện số, mở, kết nối được với nhau theo các tiêu chuẩn mở quốc tế với lực lượng các thủ thư thế hệ mới với đủ các kỹ năng và khả năng để quản lý toàn bộ vòng đời dữ liệu nghiên cứu.  * Việt Nam thời gian tới cần tập trung vào xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho CMCN4.0 theo cách thức của khoa học mở, từng bước một để với tới được đầy đủ các đặc tính FAIR+TLC, bao gồm: (1) Các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và khác; (2) Các hệ thống mã nhận diện duy nhất, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.  * Việt Nam cần bỏ hoàn toàn giáo dục CNTT phụ thuộc vào một nhà cung cấp nguồn đóng độc quyền từ bậc tiểu học, để tránh sau này tạo gánh nặng cho việc chuyển đổi các dữ liệu từ đóng sang mở để đạt được mức 3 sao theo lược đồ tiêu chuẩn 5 sao về dữ liệu mở liên kết của Tim – Berners Lee, một công việc được biết trước, vừa tốn công, tốn sức, tốn tiền và tốn thời gian một cách vô ích. Trong khi, đối với các học sinh bậc tiểu học, thầy cô giáo dạy cái gì thì cái đó nhiều khả năng sẽ trở thành thói quen đi với chúng suốt cuộc đời. Mặt khác, đừng để trẻ em Việt Nam được giáo dục về CNTT để trở thành công dân của quốc gia là thuộc địa số của một công ty4 nguồn đóng độc quyền nào!!!  * Các nhà khoa học trẻ Việt Nam có quan tâm tới khoa học mở có thể tìm thấy cơ hội cho mình tại châu Âu ngay lúc này, với hy vọng là lực lượng đó sau này có thể giúp cho Việt Nam tiếp cận và làm được gì đó đúng với các yêu cầu của CMCN4.0, biết rằng, trong vòng 10 năm tới, châu Âu thiếu nửa triệu nhân viên dữ liệu cốt lõi5, một triệu nhà nghiên cứu khoa học6 để hiện thực hóa được ‘Đám mây khoa học mở châu Âu’.  Bài viết này chỉ nêu vài thông tin sơ lược của vài thành phần cơ bản của khoa học mở. Để có thêm nhiều thông tin liên quan, bạn có thể xem tại địa chỉ: https://vnfoss.blogspot.com/.  Giấy phép của bài viết: CC BY 4.0 Quốc tế (https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/).  ———–  1https://www.dropbox.com/s/6ermd5ljljoq56q/GioiThieuPhanMemTuDo-Th9-2012.pdf?dl=0  2https://www.fosteropenscience.eu/foster-taxonomy/open-science-definition  3https://www.dropbox.com/s/dfpckbj7yoq1o2l/OpenDataHandbook-Vi-21122014.pdf?dl=0  4http://vnfoss.blogspot.com/2017/05/cac-nha-bao-ieu-tra-nghien-cuu-su-khoa.html  5https://www.dropbox.com/s/isr2sa0vmalm3qw/realising_the_european_open_science_cloud_2016-Vi-20122016.pdf?dl=0  6https://www.dropbox.com/s/wn6io7ql98no5i4/h2020-wp1617-swfs_en-Vi-28062017.pdf?dl=0    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang R&D cần song hành với quản trị trong doanh nghiệp      Chiều 2/10, Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) đã phối hợp cùng tạp chí Tia Sáng tổ chức tọa đàm “Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang báo Tia Sáng” trong khuôn khổ Techmart 2015 với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân.     Bốn diễn giả – bao gồm ông Lý Huy Sáng (Phó tổng giám đốc công ty Minh Long I), ông Nguyễn Đoàn Thăng (Tổng Giám đốc Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông), ông Nguyễn Thanh Mỹ (Tổng giám đốc Tập đoàn Mỹ Lan), và bà Lê Diệp Kiều Trang (giám đốc kinh doanh của Misfit) – đã lần lượt kể câu chuyện làm R&D thành công của mình trong bối cảnh Việt Nam và với nhân lực hoàn toàn là người Việt. Qua câu chuyện của họ, có thể thấy rằng, việc xây dựng bộ phận R&D phải được tiến hành song song với việc nâng cao khả năng quản trị trong doanh nghiệp.          “Việt Nam cần có nhiều hơn nữa những nhà khoa học có tinh  thần doanh nghiệp và các doanh nghiệp có tinh thần ứng dụng KH&CN.”    Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân tại tọa đàm “Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang báo Tia Sáng”        Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong việc quản trị của Minh Long I. Ông Lý Huy Sáng cho biết, Minh Long I là “một công ty gốm sứ vốn được nhiều người biết đến như một ngành nghề thủ công chứ không sử dụng công nghệ”. Định kiến này khiến những người nghiên cứu khoa học hoặc được đào tạo trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ cảm thấy rụt rè và “ái ngại” khi nộp đơn ứng tuyển vào Minh Long I. Ông Lý Huy Sáng cho biết, để thay đổi tâm lí này, công ty phải tạo ra một môi trường đổi mới sáng tạo, trước hết là bằng cách sử dụng dây chuyền và công nghệ hiện đại, tiên tiến trong sản xuất. Bên cạnh đó, cứ năm tháng một lần, Minh Long I lại có một cuộc họp giữa ban lãnh đạo công ty và các trưởng bộ phận. Trong đó, các trưởng bộ phận phải đề xuất ít nhất năm ý tưởng cải tiến công nghệ của các công nhân và ít nhất là hai trong số đó khả thi. Việc khen thưởng của Minh Long cho từng bộ phận và cá nhân cũng dựa trên những ý tưởng và đề xuất như vậy. Theo ông Lý Huy Sáng, điều này khuyến khích toàn bộ tập thể trong một công ty lâu đời như Minh Long không ngừng linh hoạt và sáng tạo trong công việc. Quan niệm của ông Lý Huy Sáng rất giống với Elon Musk, người cho rằng: “Mọi thay đổi dù nhỏ cũng đều hữu ích và những ý tưởng cần phải đến từ người công nhân hơn là người quản lí”  Còn theo ông Nguyễn Đoàn Thăng, với một công ty có 3.000 như Rạng Đông, để đội ngũ R&D tập trung năng lực phục vụ cho những mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, cần xây dựng đội ngũ quản trị doanh nghiệp giỏi. Rạng Đông đã phối hợp với Viện Kinh tế và Thương mại quốc tế để xây dựng các khóa học nâng cao năng lực cho các cán bộ của công ty.   Khác với Rạng Đông và Minh Long I, Tập đoàn Mỹ Lan và Misfit tiến hành công việc R&D từ những ngày đầu thành lập nhưng khó khăn của họ nằm ở việc tuyển dụng nhân lực nghiên cứu. Ông Nguyễn Thanh Mỹ thấy rằng, điểm yếu của các nhà khoa học Việt Nam là thường “ùa theo” những hướng nghiên cứu “thời thượng” mà không cân nhắc năng lực của bản thân và yêu cầu của thị trường. Điều này khiến cho Tập đoàn Mỹ Lan gặp khó khăn trong việc thuyết phục và hợp tác với các viện nghiên cứu và trường đại học để cùng phát triển sản phẩm.   Đồng tình với ông Nguyễn Thanh Mỹ về việc các nhà khoa học chưa có sự nhạy cảm cần thiết về thị trường, bà Lê Diệp Kiều Trang chia sẻ từ chính ví dụ của công ty mình, bộ phận R&D của Misfit tại Việt Nam từng viết một dòng lệnh rất cao siêu nhưng mất tới 15 phút để Misfit Shine có thể kết nối với điện thoại di động (mà điều này về mặt kinh doanh là không khả thi). Chính vì vậy, bà Kiều Trang khẳng định, để có một sản phẩm công nghệ cạnh tranh với thị trường thế giới, một công ty cần phải có cả đội ngũ phát triển thị trường và đội ngũ R&D giỏi cùng hợp tác, trao đổi và chia sẻ tầm nhìn với nhau.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Recovery: Vũ khí mới trong điều trị Covid-19      Cho đến nay, các bệnh viện đều chưa có thuốc nào có khả năng điều trị có hiệu quả với Covid-19.      Tuy nhiên gần đây, một nghiên cứu mớicho thấy kháng thể nhân tạo có thể chặn đứng mầm bệnh, ngay cả khi người bệnh đã trong trạng thái nhiễm bệnh rõ rệt. Dù chưa thể vội vã kết luận nhưng chí ít, nó cũng có hiệu quả đối với một số người bệnh nhất định.  Hiện nay tỷ lệ tử vong ở người bệnh Covid phải dùng máy thở vẫn trên dưới 50%. Lý do quan trọng nhất là khi rơi vào trạng thái nhiễm bệnh nặng và phải nhập viện thì bệnh nhân không có thuốc điều trị thích hợp. Hiện tại, các bệnh viện mới chỉ có chế phẩm Cortison Dexamethason và thuốc chữa thấp khớp Tocilizumab nhưng lại có nhược điểm là rất đắt đỏ. Với một số các  hoạt chất khác đang được áp dụng thử tại các bệnh viện thì đáng tiếc là đều không có tác dụng.  Từ ngày 16/6, may mắn là các bác sỹ điều trị đã được trao một “vũ khí” mới, một loại hoạt chất có khả năng chống lại mầm bệnh mang tên Recovery. Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Anh thì các kháng thể nhân tạo có thể làm giảm 20% tỷ lệ tử vong đối với bệnh nhân Covid-19 điều trị tại bệnh viện. Với trên 40.000 người tham gia thử nghiệm, nghiên cứu này được đánh giá là nghiên cứu có quy mô lớn nhất và hoàn hảo nhất đối với điều trị Covid-19.  “Kết quả này có thể là sự mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong điều trị  Covid-19”, Martin Landray thuộc trường đại học Oxford, đồng thời cũng là một trong số những người phụ trách thí nghiệm Recovery, nhận xét. Đây là lần đầu tiên các bác sỹ điều trị có một loại thuốc tác động trực tiếp vào mầm bệnh và có thể hạn chế sự sinh sôi của chúng.  Các loại hoạt chất thường được sử dụng cho đến nay là Dexamethason và Tocilizumab đều không làm được điều này. Một lợi thế nữa đối với loại thuốc kháng thể đang được hãng Regeneron nghiên cứu là ở chỗ, nó tác dụng ở những người bệnh đang cần chữa chạy nhất. Đó là những người bị lây nhiễm và hệ miễn dịch cho đến giai đoạn muộn này vẫn không tạo ra được kháng thể để chống lại mầm bệnh. Theo nghiên cứu thì những bệnh nhân này có tỷ lệ tử vong cao gấp đôi so với những người tạo ra được kháng thể.  Dẫu sao thì chúng ra không nên vội mừng bởi không phải vì vậy mà Covid-19 có thể trở thành loại bệnh không còn nguy hiểm chết người. Kháng thể nhân tạo chỉ có thể giúp ích với một số nhóm bệnh nhân nhất định, đó là những người bệnh không tự tạo ra được kháng thể chống lại mầm bệnh – trong nghiên cứu trên, họ chiếm khoảng 30%. Đối với tất cả các bệnh nhân khác, điều này cũng được Recovery chứng minh, thuốc hoàn toàn không có tác dụng.  Chế phẩm nhằm giúp người bệnh nguy kịch  Landray phỏng đoán, phản ứng miễn dịch chậm chạp làm cho cơ thể đặc biệt nhạy cảm với các bệnh nhân nặng vì nếu có bệnh nền như ung thư, thận và các loại bệnh di truyền. Do đó, ông tin rằng trong tương lai, các bệnh nhân Covid-19 điều trị tại bệnh viện đương nhiên sẽ phải xét nghiệm máu để tìm kháng thể tương ứng trong máu. Nếu kết quả âm tính thì mặc nhiên phải truyền kháng thể đơn dòng vào máu người bệnh.    Tuy nhiên loại thuốc này hầu như khó có thể được áp dụng rộng rãi không những  vì giá thành rất cao mà còn vì chi phí đầu tư sản xuất rất tốn kém.   Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.mdr.de/nachrichten/deutschland/panorama/antikoerper-medikamente-100.html  https://www.welt.de/wissenschaft/plus231865883/Warum-Antikoerper-Medikamente-die-Corona-Therapie-revolutionieren-koennten.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robert-Jan Smits: Người dẫn đầu sáng kiến truy cập mở      Một công chức thuộc Ủy ban Châu Âu đã khởi động một cuộc chuyển hướng lớn nhằm thay đổi bộ mặt ngành xuất bản khoa học.      Kế hoạch S thúc đẩy xuất bản mở. Nguồn: americanlibrariesmagazine.org  Nhà “kiến trúc sư” của năm nay, ông Robert-Jan Smits, đã có những bước thúc đẩy đầy táo bạo nhằm loại bỏ các tường phí (paywalls) trong ngành xuất bản khoa học. Smits cho biết ý tưởng này đến từ một nguồn không ngờ là chính các nhà xuất bản.  Vào tháng 3/2018, Smits được Carlos Moedas, ủy viên nghiên cứu của EU giao nhiệm vụ đặc biệt: trong vòng 1 năm phải nhanh chóng đưa càng nhiều tài liệu nghiên cứu được xuất bản ngoài tường phí của các tạp chí càng tốt. Là một thành viên nghiên cứu về chính sách khoa học kỳ cựu, Smits quyết định hỏi chính các nhà xuất bản lớn là làm thế nào để có thể thực hiện yêu cầu trên. Họ cho biết, nếu các tổ chức trả tiền cho nghiên cứu đòi hỏi những công trình phải được xuất bản mở thì các tạp chí sẽ phải đáp ứng yêu cầu.  Đó chính xác là những gì ông Smits đã làm để thuyết phục các nhà tài trợ nghiên cứu thực hiện – trong một kế hoạch mang tên ‘Plan S’ được đưa ra vào tháng 9/2018.  Động thái này đã gây ra một làn song tấn công khắp giới xuất bản khoa học.  Trước đây, trong nhiều thập kỷ, Smits đã tạo được ảnh hưởng lên các chính sách khoa học tại Ủy ban châu Âu và cho đến khi được giao nhiệm vụ hiện tại, ông đã có tám năm làm Tổng giám đốc của Ban nghiên cứu. Ông được coi là một người có mối liên hệ lý tưởng để kết nối các cơ quan châu Âu tham gia “Kế hoạch S” (Chữ “S” là từ viết tắt cho “khoa học, tốc độ, giải pháp, sốc”).  Khi tạp chí Nature đăng tin, 16 nhà tài trợ nghiên cứu đã ký vào bản kế hoạch và yêu cầu: bắt đầu từ năm 2020, các kết quả từ những dự án mà họ tài trợ phải được sẵn sàng mở ngay từ thời điểm xuất bản.  Trong nhiều thập kỷ, các nhà xuất bản đã điều khiển việc công bố nghiên cứu. Smits nói: “Giờ đây, các nhà tài trợ mới là người ra quyết định, và chúng tôi sẽ làm những điều này một cách khác biệt”.  Còn quá sớm để biết tác động cuối cùng của ‘Kế hoạch S’ đối với việc xuất bản nghiên cứu. Chi tiết kế hoạch đã được mở để thảo luận và sức ảnh hưởng của nó phụ thuộc phần lớn vào việc có bao nhiêu nhà tài trợ nghiên cứu sẽ chấp nhận ý tưởng này – nhưng, ít nhất nó sẽ cải thiện khả năng tiếp cận các nghiên cứu – ông Peter Suber, giám đốc Dự án Truy cập mở Harvard và trưởng Văn phòng truyền thông học thuật Harvard ở Cambridge, Massachusetts, cho biết.  Smits đã nhận được hàng loạt thông điệp ủng hộ, nhưng sáng kiến ​​này cũng gặp phải không ít kháng cự: một số nhà xuất bản cho rằng kế hoạch trên sẽ làm họ phá sản, một số nhà nghiên cứu lại nói họ không muốn bị hạn chế về việc chọn nơi xuất bản. (Theo Kế hoạch S, những nghiên cứu nhận tài trợ, ví dụ từ phía nhà nước, sẽ không được xuất bản tại các tạp chí khoa học phải trả tiền để tiếp cận – hiện chiếm gần 85% tổng số tạp chí, trong đó có những tên tuổi có sức ảnh hưởng lớn như Nature hoặc Science).  Smits không xa lạ gì trong việc phá vỡ hiện trạng ngưng trệ (status quo) trong giới khoa học châu Âu. Năm 2007, ông đã góp phần vào việc thành lập một hội đồng chuyên trách xuất sắc về tài trợ cho các nghiên cứu KH&CN là Hội đồng Nghiên cứu châu Âu (ERC) trong khi rất ít quốc gia thành viên muốn điều đó. “Chúng tôi phải đi từng nước để thuyết phục mọi người rằng điều đó là cần thiết”, Smits cho biết.  Những người đã làm việc với Smits không mấy ngạc nhiên về khả năng tạo sự đồng thuận về các chính sách gây tranh cãi của ông. “Robert-Jan có một trí nhớ tuyệt vời về con người, sự kiện, tài liệu và cả chính sách. Khả năng kết nối của ông thật vô cùng ngoạn mục”, bà Helga Nowotny, cựu chủ tịch của ERC nhận xét.  Nhiệm kỳ ngắn ngủi của Smits dưới tư cách “ông hoàng truy cập mở” sắp kết thúc. Năm tới, ông sẽ rời cương vị trên để tham gia vào một vị trí tại Đại học Công nghệ Eindhoven ở quê hương Hà Lan. “Đã đến lúc tôi rời khỏi Ủy ban, tại thời điểm tôi cho là đỉnh cao của mình”, ông nói.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot có thể cảm nhận được các lớp vải      Nghiên cứu mới từ Viện Robot ở trường đại học Carnegie Mellon có thể giúp cho robot cảm nhận được các lớp vải mà không cần đến các công cụ thị giác máy tính để “nhìn”. Công trình này có thể cho phép các con robot hỗ trợ con người làm việc vặt trong gia đình như gập quần áo.    Con người thường sử dụng những cảm nhận về thị giác và xúc giác để cầm lấy một cái ly hoặc chọn quần áo. Đó là việc thực hiện theo thói quen hàng ngày mà không cần nhiều đến suy nghĩ. Với các con robot, tuy nhiên, các nhiệm vụ này lại khó khăn cực độ. Lượng dữ liệu thu thập qua xúc giác rất khó định lượng và thị giác lại quá khó để mô phỏng trong robot – cho tới gần đây là vậy.  “Con người nhìn vào mọi thứ, chạm vào nó. Chúng ta thường chạm vào vật để đảm bảo là chúng ta đang ở tư thế đúng để cầm lấy nó”, David Held, một trợ lý giáo sư ở trường Khoa học máy tính và phụ trách Phòng thí nghiệm Lĩnh hội và hành động Robot (R-Pad), nói. “Với chúng ta, có rất nhiều vấn đề về cảm nhận giác mà con người vẫn làm một cách tự nhiên. Chúng ta không nghĩ nhiều về nó, vì vậy chúng ta không thể nhận thức được nó đáng giá như thế nào”.  Ví dụ, để gập đồ, các con robot cần một cảm biến để bắt chước cách các ngón tay của con người cảm nhận lớp vải phía trên một cái áo sơ mi hay gấp các lớp bên dưới. Các nhà nghiên cứu có thể dạy một con robot cảm nhận được lớp phía trên của áo và cầm lấy nó nhưng không có cảm biến robot nào về các lớp khác của chiếc áo cả, robot có thể chỉ cầm được lớp trên cùng nhưng không bao giờ gập được áo thành công.  “Vậy chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?”, Held đặt câu hỏi. “Tốt thôi, có thể những gì chúng ta cần là cảm biến xúc giác”.  ReSkin, do các nhà nghiên cứu tại Carnegie Mellon và Meta AI phát triển, là một giải pháp lý tưởng. “Lớp da” cảm biến chạm nguồn mở này được làm từ một dạng polymer mỏng, đàn hồi cuộn lấy các hạt từ để đo đạc các tín hiệu xúc giác ba trục. Trong một bài báo gần đây, họ đã sử dụng ReSkin để giúp robot cảm nhận được các lớp quần áo hơn là phụ thuộc vào các cam biến thị giác để “nhìn” chúng.  “Bằng việc đọc những thay đổi trong từ trường từ việc nén hoặc chuyển động của lớp da, chúng tôi có thể có được cảm nhận xúc giác”, theo nhận xét của Thomas Weng, một nghiên cứu sinh ở R-Pad Lab nghiên cứu về dự án này cùng Daniel Seita – một postdoc, và học viên cao học Sashank Tirumala. “Chúng ta có thể sử dụng cảm biến xúc giác này để xác định các lớp áo chúng ta chọn bằng việc kẹp chặt cảm biến”.  Họ đã thực hiện một nghiên cứu khác, sử dụng cảm biến xúc giác để nắm lấy các vật thể cứng nhưng quần áo lại dễ bị “biến dạng”, nghĩa là nó dễ thay đổi khi được chạm vào – điều này khiến cho nhiệm vụ gập quần áo của robot trở nên khó khăn hơn nhiều. Việc hiệu chỉnh khả năng cầm nắm quần áo của robot làm thay đổi cả tư thế của nó lẫn việc đọc của cảm biến.  Các nhà nghiên cứu không dạy cho robot cách nắm hay chỗ cần nắm trên vải. Thay vào đó, họ dạy cách có bao nhiêu lớp vải được nắm trong lần ước tính đầu tiên bằng việc sử dụng các cảm biến của ReSkin, sau đó hiệu chỉnh sự cầm nắm thêm một lần nữa. Nhóm nghiên cứu đánh giá việc robot chọn cr một hoặc hai lớp quần áo và sử dụng quần áo được làm từ những loại vải và màu sắc khác nhau để có được những thông tin tổng quát nằm ngoài dữ liệu huấn luyện.  Độ mỏng nhất và linh hoạt nhất của cảm biến ReSkin có thể giúp cho việc dạy cho robot cách cầm nắm một cách gượng nhẹ các lớp quần áo. “Cảm biến này rất nhỏ nên có thể thực hiện được nhiệm vụ rất tinh thế, lựa chọn được giữa các lớp vải, điều không thể với những cảm biến khác, cụ thể là các cảm biến thị giác”, Weng nói. “Chúng tôi đã có thể đặt nó vào việc thực hiện các nhiệm vụ chưa từng làm được trước đây”.  Dẫy vậy vẫn cần phải thực hiện nhiều nghiên cứu nữa trước khi đặt giỏ quần áo vào tay một robot. Tất cả bắt đầu với các bước như làm phẳng một cái áo khô nhăn nhúm, chọn lấy số lượng các lớp vải đúng của quần áo, sau đó gập nó lại theo đúng cách. “Đó thực sự là một cuộc khám phá điều chúng tôi có thể làm với cảm biến mới”, Weng nói. “Chúng tôi đang khám phá cách đem lại cho robot cảm nhận với lớp da từ tính với những đồ mềm mại và khám phá chiến lược đơn giản để xử lý quần áo vì cuối cùng chúng tôi cần robot có thể thực hiện việc đó trên quần áo của chúng ta”.  Nhóm nghiên cứu đã trình bày bài báo “Learning to Singulate Cloth Layers Using Tactile Feedback” tại hội nghị quốc tế về Các robot và các hệ thông minh 2022 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 23 đến 25/10. Công trình này đã được trao giải bài báo xuất sắc nhất tại hội nghị RoMaDO-SI 2022.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-10-robots-layers-day-laundry.html  https://cosmosmagazine.com/technology/laundry-folding-robot/    Author                .        
__label__tiasang Robot có thể chơi bóng đá linh hoạt như người?      Những nhà công nghệ ở Đức chế tạo ra những robot có khả năng đá bóng và vô địch RoboCup – cuộc thi bóng đá thế giới dành cho robot. Liệu ngày mà robot có khả năng đá bóng linh hoạt như con người, thậm chí thay thế con người sắp tới?      Với chiều cao 135 cm, thân hình màu trắng có những đường lượn sóng và đôi mắt đen to tròn, robot NimbRo OP2X là niềm tự hào cho các nhà nghiên cứu tại Đại học Bonn. Năm nay, NimbRo đã giúp đội của mình giành vị trí dẫn đầu trong Giải đấu dành cho robot cỡ người lớn của RoboCup – cuộc thi bóng đá thế giới dành cho robot. Trong trận chiến chung kết, NimbRo đã giành chiến thắng trước một robot Đức khác mang tên Sweaty do các nhà khoa học từ Đại học Offenburg chế tạo.  NimbRo được sinh ra ở Khoa Hệ thống Thông minh tự động, nằm trong khuôn viên mới của ĐH Bonn. Hơn một nửa diện tích khoa là sân bóng có kích thước 9 x 14m được phủ cỏ nhân tạo và các cột gôn. Nửa còn lại đặt máy tính, dây cáp và pin sạc.  Tại đây, một nhóm nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới đang làm một điều thoạt nghe như trò đùa – dạy robot cách chơi bóng đá.  Dạy robot đá bóng: Không hề dễ dàng  Bóng đá có thể chỉ là một trò chơi đối với chúng ta, nhưng với một robot – và các lập trình viên vận hành nó – thì đó lại là công việc khó nhằn.  Grzegorz Ficht, một trong những nhà nghiên cứu của dự án cho biết: “Đi lại là điều rất tự nhiên đối với con người, nhưng robot cần những thuật toán vô cùng phức tạp để có thể bước đi và giữ thăng bằng”.    Grzegorz Ficht, một nhà nghiên cứu tại Đại học Bonn, giải thích cách thức hoạt động của NimbRo OP2X  Anh nhấn một nút trên cơ thể NimbRo, đèn đỏ trên đầu robot bắt đầu sáng và ổ cứng rít lên. Bên trong mình chú robot này là một máy tính cá nhân (PC) tiêu chuẩn. Quỳ gối, Ficht nâng robot lên. NimbRo đứng thẳng mà không cần bất kỳ sự giúp đỡ nào.  Mỗi chuyển động mà robot này thực hiện đều được lập trình sẵn, nhưng nó cũng có thể tự mình ra quyết định.  “Nó phân tích các hình ảnh và phân đoạn các phần thú vị ra,” Ficht nói. “Nó có thể nhận ra các phần của sân bóng, vòng tròn giữa sân và quả bóng, rồi sau đó tự định hướng dựa trên những yếu tố đó.”  Và, quan trọng nhất, nó biết đá vào đâu.  Tư duy độc lập?  Dù vậy, điều NimbRo không thể làm – ít nhất chưa thể làm được – là tự học.  “Đã có những loại robot có thể hiểu ngữ nghĩa,” Ficht nói. “Nhưng để robot có thể tự học  thì chúng ta cần những thuật toán phát triển hơn mà những thuật toán đó mới chỉ được bắt đầu phát triển gần đây”.  Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, xử lý dữ liệu trực quan và nhận dạng khuôn mặt đã được sử dụng trong chế tạo robot.  Gần đây, robot Sophia, được tạo ra bởi công ty Hanson Robotics có trụ sở tại Hồng Kông, đã gây chú ý toàn cầu. Sophia đã có thể bắt chước cử chỉ của con người, duy trì các cuộc trò chuyện đơn giản và có thể truyền tải hơn 50 biểu cảm trên khuôn mặt.     Sophia thường xuất hiện phỏng vấn trên TV và là robot đầu tiên được cấp quyền công dân.  Ficht cho biết, cuộc thi RoboCup hàng năm là một tiêu chí chuẩn (benchmark) khá tốt cho các robot hình người. Mục tiêu cuối cùng của các nhà nghiên cứu là tạo ra một nhóm robot có thể đánh bại các nhà vô địch World Cup người thực vào năm 2050. Làm cho robot giống như người – hoặc thậm chí tốt hơn con người – sẽ được nhiều việc hơn chỉ là để giải trí. Sau cuối thì công nghệ này sẽ cải thiện cuộc sống của chúng ta.  “Ý tưởng ở đây là ta có thể triển khai những robot đó đến nơi mà chúng ta không muốn đưa con người đến và những robot ấy có thể hành động bán tự động”, Ficht nói.  Thiên tai, thảm họa hạt nhân, thám hiểm không gian – đây chỉ là một vài lĩnh vực mà robot hình người có thể được sử dụng trong tương lai.  Sử dụng robot làm nhân viên xã hội và bạn đồng hành là một ý tưởng phổ biến khác. Chính phủ Nhật Bản đang tài trợ cho việc phát triển robot để chăm sóc người già. Nhưng … chúng sẽ lấy cắp công việc của chúng ta! Tuy nhiên, nhiều người lo sợ rằng robot càng bắt chước con người tốt hơn thì càng có nhiều khả năng chúng lấy cắp công việc của con người.  Ficht cho rằng nỗi lo này là không cần thiết. Ficht lạc quan tin rằng robot sẽ làm những công việc mà con người không muốn làm và sẽ tạo ra những công việc mới cho những người như anh – những người điều hành, lập trình viên và nhà sản xuất robot.  Đứng cạnh sân bóng đá mini tại Đại học Bonn và quan sát NimbRo hoạt động. Nó di chuyển khá chậm và vụng về. Ficht đi phía sau đề phòng trường hợp nó ngã xuống. Và đấy là robot hình người đá bóng tốt nhất trên thế giới nhé.  Thật khó để tin rằng trong khoảng 30 năm nữa, con robot đó có thể vượt qua được Cristiano Ronaldo, chứ đừng nói gì đến việc lấy mất công việc của ai.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/better-than-ronaldo-do-we-really-need-robots-that-play-football/a-46780956    Author                Ngô Hà        
__label__tiasang Robot có thể tác động vào các tương tác giữa người với người      Ba người và một robot tạo thành một đội chơi. Robot mắc lỗi, khiến cả đội nhận một bàn thua. Giống như bất kỳ đồng đội tốt nào, nó thừa nhận lỗi. “Xin lỗi các bạn, tôi đã phạm sai lầm trong vòng này”, nó nói. “Tôi biết điều này có thể khó tin, nhưng robot cũng mắc lỗi”.      Trẻ em tương tác với robot Nao với hệ điều hành WoZ. Nguồn: ResearchGate  Tình huống này đã lặp lại nhiều lần trong một nghiên cứu do Đại học Yale tiến hành về tác động của robot đối với các tương tác giữa người với người. Được công bố trên PNAS, nghiên cứu cho thấy con người trong các đội chơi – bao gồm một robot biết bày tỏ cảm xúc – sẽ có trải nghiệm nhóm tích cực hơn so với những người trong nhóm có robot im lặng hoặc các robot chỉ đưa ra tuyên bố trung lập, như thuật lại tỉ số của các vòng chơi.  “Chúng tôi biết robot có thể ảnh hưởng đến hành vi của con người – những ai mà chúng tương tác trực tiếp, nhưng làm thế nào mà robot ảnh hưởng đến cách con người giao tiếp với nhau thì vẫn chưa được làm rõ”, Margaret L. Traeger, nghiên cứu sinh xã hội học tại Viện Khoa học Hệ thống Yale (YINS) và là tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Do đó, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy robot có tác động đến sự tương tác giữa người với người.”  Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thí nghiệm, trong đó 153 người được chia thành 51 nhóm, mỗi nhóm gồm ba người và robot. Mỗi nhóm chơi một trò chơi trên máy tính bảng, trong đó các thành viên đã phối hợp để xây dựng các tuyến đường sắt hiệu quả nhất có thể trong hơn 30 vòng chơi. Các nhóm được ấn định một trong ba trạng thái hành vi khác nhau của robot. Vào cuối mỗi vòng, robot sẽ giữ im lặng, thốt ra một tuyên bố trung lập liên quan đến nhiệm vụ (như điểm số hoặc số vòng hoàn thành), hoặc thể hiện sự nhạy cảm thông qua một trò đùa, kể chuyện cá nhân hoặc bằng cách thừa nhận sai lầm; tất cả các robot đôi khi để thua một vòng.  Những người cùng đội với loại robot tạo ra lời nói thể hiện sự nhạy cảm, đã dành khoảng gấp đôi thời gian trò chuyện với nhau trong trò chơi. Họ thể hiện sự thích thú với trải nghiệm này nhiều hơn so với những người trong những nhóm có robot thuộc hai loại còn lại.  Sự giao tiếp giữa con người tăng lên khi robot đưa ra những tuyên bố có cảm xúc, hơn là khi chúng đưa ra những tuyên bố trung lập. Cuộc trò chuyện giữa mọi người được phân phối đồng đều hơn khi robot chia sẻ cảm xúc, thay vì im lặng.  Các thành viên trong nhóm có robot chia sẻ cảm xúc và robot trung tính, sẽ trò chuyện với nhau đồng đều hơn so với các thành viên trong nhóm có robot im lặng, Nó cho thấy sự tham gia của robot nói chuyện sẽ khuyến khích mọi người trao đổi với nhau đồng đều hơn.  “Chúng tôi quan tâm đến việc xã hội sẽ thay đổi như thế nào khi thêm các hình thức trí tuệ nhân tạo vào giữa mọi người”, Nicholas A. Christakis, giáo sư Khoa học xã hội và tự nhiên Sterling nói. “Khi chúng ta tạo ra các hệ thống xã hội kết hợp giữa con người và máy móc, chúng ta cần xem xét cách lập trình các tác nhân robot, làm sao để chúng không ảnh hưởng đến cách chúng ta đối xử với nhau.”  Làm sáng tỏ ảnh hưởng xã hội của robot trong cộng đồng là vô cùng quan trọng, ngay cả khi robot không chủ ý thực hiện trách nhiệm xã hội, Sarah Strohkorb Sebo, nghiên cứu sinh Khoa Khoa học Máy tính và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết. “Hãy tưởng tượng một robot trong nhà máy có nhiệm vụ phân phối các bộ phận trên dây chuyền lắp ráp cho công nhân,” bà nói, “Nếu nó trao tất cả các bộ phận cho một người, nó có thể tạo ra một môi trường xã hội khó xử – các công nhân khác sẽ đặt câu hỏi: ‘Liệu robot có nghĩ rằng mình kém cỏi hơn trong công việc hay không?’ Phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng thiết kế của robot thúc đẩy gắn kết xã hội, sự tham gia đồng đều và trải nghiệm tích cực đối với những người làm việc trong nhóm.” □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-03-robots-foster-conversation-humans.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot của A.K.B: Sắn sàng cho thương mại hóa      Nhiều nhà khoa học thừa nhận, trong khi đa  phần robot tại Việt Nam phải nhập khẩu hoặc được lắp ráp trong nước  nhưng linh kiện và chế tác cơ khí hoàn toàn tại nước ngoài, thì robot 5  bậc tự do của Công ty A.K.B lại có mức nội địa hóa khá cao.    Những robot từng được mua từ nước ngoài với giá hàng chục ngàn đô la giờ “đắp chiếu nằm kho” vì không có khả năng sửa chữa. Trong khi hàng ngàn sinh viên ngành cơ khí vẫn đang học chay với những bài giảng khô cứng, thiếu thực tế. Nỗi trăn trở sau lần về thăm trường cũ đã thôi thúc một kỹ sư mạo hiểm đầu tư hàng tỷ đồng vào nghiên cứu, sản xuất robot phục vụ giảng dạy. Điều đáng nói, đây là robot thành phẩm đầu tiên có mức nội địa hóa cao nhất và giá thành rẻ nhất.  Liên tục cải tiến  Đến thăm Công ty TNHH Chế tạo máy A.K.B trong buổi nghiệm thu Dự án Thiết kế chế tạo robot 5 bậc tự do phục vụ giảng dạy, kỹ sư Lê Anh Kiệt, Giám đốc công ty đồng thời là chủ nhiệm dự án đưa chúng tôi vào tận xưởng để giới thiệu những thế hệ robot anh đã nghiên cứu, cải tiến trong hơn 1 năm qua. Nhìn những cánh tay robot hoạt động trơn tru và chính xác, ít ai biết rằng vào thời điểm nhận dự án, anh Kiệt phải đắn đo bởi số tiền đầu tư quá lớn và nhiều rủi ro.  Với tổng mức đầu tư cho dự án lên đến 2,95 tỷ đồng (trong đó, vốn nhà nước chỉ hỗ trợ 30%), trong thời gian 18 tháng (từ tháng 8-2011 đến 2-2013), nhóm dự án phải chế tạo được robot có thể ứng dụng giảng dạy các môn học về cơ khí và tự động hóa cho sinh viên từ cấp bậc cao đẳng đến đại học, đồng thời phải có những ưu điểm vượt trội hơn so với những robot của các hãng nổi tiếng trên thế giới.  Để đạt được các yếu tố kể trên, anh Kiệt và các kỹ sư trẻ khác phải liên tục làm tăng ca. Ban ngày dành trọn cho thiết kế chế tạo robot, ban đêm phải tăng cường sản xuất các loại máy CNC, robot công nghiệp và máy đóng gói điều khiển số (NC) theo đơn đặt hàng của công ty.  “Nhưng để đủ sức cạnh tranh, những linh kiện điện tử và vật liệu chế tạo được chúng tôi chọn lọc làm sao có khả năng thay thế hàng loạt khi hư hỏng. Đồng thời phải làm nhiều robot để có thể kiểm chứng độ ổn định của khớp xoay và mạch điện tử. Bên cạnh đó, để giảm sức nặng, tăng tính cơ động cho robot, chúng tôi phải cải tiến kết cấu liên tục. Đến nay, dự án đã qua 5 thế hệ với hơn 16 robot các loại”, anh Kiệt chia sẻ.  Chế tạo xong, nhưng để đánh giá đầy đủ khả năng ứng dụng của sản phẩm, anh Kiệt lại đôn đáo mang robot tìm đến các trường ĐH, CĐ kỹ thuật trên địa bàn TP mong tìm những lời góp ý. Không chỉ cho mượn robot, một giáo án giảng dạy cũng được nhóm dự án soạn sẵn lên đến 500 trang giấy với hơn 22 bài học.  Sẵn sàng thương mại hóa  Tại những buổi nghiệm thu dự án, nhiều nhà khoa học thừa nhận, trong khi đa phần robot tại Việt Nam phải nhập khẩu hoặc được lắp ráp trong nước nhưng linh kiện và chế tác cơ khí hoàn toàn tại nước ngoài, thì robot 5 bậc tự do của Công ty A.K.B lại có mức nội địa hóa khá cao.  Theo đó, phần cơ khí hoàn toàn được chế tác bởi các kỹ sư của công ty trên mặt bằng công nghệ được cho là mới nhất mà Việt Nam hiện đang sở hữu. Các linh kiện điện tử khá phổ thông, có thể sản xuất và thay thế hàng loạt khi cần. Chỉ có motor và encoder là phải nhập do Việt Nam chưa tự sản xuất được.  Đáng lưu ý, hệ thống điều khiển robot không chỉ phục vụ đào tạo môn robot cho sinh viên, mà còn có thể ứng dụng robot công nghiệp đến 6 bậc tự do. Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Lâm, Hội Tự động hóa TPHCM nhận xét, với thiết kế cơ khí chính xác, khả năng kết nối vào dây chuyền sản xuất linh hoạt, điều khiển PLC qua các ngõ In/Out của robot, đây vẫn được xem là robot “gần” công nghiệp, có khả năng phát triển thành robot công nghiệp sau này.  Với giá thành chỉ khoảng 7.500 USD, robot A.K.B hoàn toàn phù hợp với năng lực tài chính của các trường Việt Nam hiện nay, chưa kể việc bảo hành dễ dàng. Hơn nữa, phần mềm mô phỏng A.K.B robot có thể chạy “Offline” trên PC. Điều đó cho phép nhiều học viên có thể cùng học lập trình robot mà không cần trang bị quá nhiều robot. Hiện cổng giao tiếp Ethernet đang được hoàn thiện, tiến tới khả năng điều khiển robot A.K.B đặt tại 1 trạm nào đó bằng internet hay điện thoại di động.  Theo đánh giá của PGS-TS Lê Hoài Quốc, Trưởng ban Quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM, làm robot hoàn toàn tại Việt Nam là chuyện hiếm hoi, vì thế sự thành công của A.K.B robot sẽ tạo đà cho nghiên cứu và chế tạo robot nội địa sau này…  Điểm mạnh của robot A.K.B 5 bậc tự do nằm ở giá thành và khả năng sửa chữa. PGS-TS Nguyễn Tấn Tiến, giảng viên Trường ĐH Bách khoa TPHCM cho biết, các trường cơ khí, kỹ thuật của Việt Nam đã đầu tư robot giảng dạy từ khá lâu. Nhưng giá thành khá đắt đỏ, khi gặp hư hỏng thì không có khả năng can thiệp để sửa chữa. Đơn cử như robor Scorbot ER-5 do Công ty Intelitek (Mỹ) sản xuất, được ĐH Bách khoa mua về với giá hơn 20.000 USD. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng, robot bị lỗi hệ thống điều khiển nhưng không có khả năng sửa chữa, đành “đắp chăn” nằm chờ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot dắt người qua đường      Nhóm sinh viên ĐH Duy Tân, Đà Nẵng, vừa chế  tạo và thử nghiệm bước đầu một robot có thể dắt 70 lượt người sang đường  với năng lượng được nạp sẵn.    Ý tưởng chế tạo robot này đầu tiên xuất phát từ Nguyễn Công Tín, một thành viên của nhóm ba bạn trẻ ở khoa Điện – Điện tử, ĐH Duy Tân, sau lần đi chơi TP Hồ Chí Minh và chứng kiến cảnh nhiều người, nhất là du khách nước ngoài, e ngại qua đường do xe cộ đi lại quá đông đúc.   Robot dắt người qua đường cao 1,9 m, tay cầm gậy chỉ dẫn, mặc trang phục Thanh niên tình nguyện, và được gắn hàng chục cảm biến, trong đó có những cảm biến siêu âm, có khả năng đọc và xử lý nhanh các tình huống như chủ động dừng lại chờ xe, tăng tốc, hoặc quay bánh lùi lại để tránh xe. Robot cũng tự động nhận biết khi đã đến vỉa hè đối diện để quay lại vị trí cũ và chờ người tiếp theo. Theo Võ Thành Nghĩa, một thành viên khác trong nhóm, chức năng này là thách thức lớn nhất đối với nhóm. Mỗi ngày, robot có thể dắt 70 lượt người sang đường với năng lượng được nạp sẵn.  Tại buổi thử nghiệm thực tế vào sáng 31/3 tại ngã tư Phan Đăng Lưu – Lê Thanh Nghị (Đà Nẵng), robot đã hoạt động tốt. Robot được đặt ngay bên lề đường và phát lời chào bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt: “Tôi là robot dắt người qua đường. Mời bạn ấn nút khởi động. Tôi sẽ dắt bạn qua đường”.   Nhóm vẫn đang tiếp tục cải tiến để robot dắt người qua đường ngày càng hoàn thiện với hy vọng robot sẽ được đặt ở những khu vực công cộng có đông người qua đường như bệnh viện, trường học, chợ, khu trung tâm thương mại… phục vụ người già, trẻ em, người khuyết tật, du khách nước ngoài… Được biết, chi phí để hoàn thành một chú robot vào khoảng 15 triệu đồng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot được điều khiển từ quỹ đạo      Mocup là một chú robot bé xíu, có thể điều  khiển từ xa, được chế tạo từ một bộ đồ chơi xếp hình Lego Mindstorms,  với bộ não là một máy tính Beagleboard, và mắt là một chiếc webcam. Nghe  thì có vẻ bình thường và đơn giản, nhưng trong thực tế Mocup được điều  khiển từ ngoài không gian vũ trụ.     Chiếc robot có kích cỡ bằng con mèo này có thể di chuyển, tránh chướng ngại vật, và truyền tín hiệu video. Đây hầu như là một thử nghiệm cho công nghệ viễn thông sẽ giúp cho các nhà du hành vũ trụ ngoài quỹ đạo và các robot trên bề mặt một hành tinh nào đó có thể phối hợp ăn ý với nhau. Hôm 23 tháng 10 vừa qua, nhà du hành Sunita Williams đã gửi những mệnh lệnh từ Trạm Không gian Quốc tế cho Mocup đang ở Đức, yêu cầu nó đi vòng qua một chướng ngại vật. Thử nghiệm này có vẻ tầm thường, nhưng Mocup chính là bước khởi đầu cho cách thức mà con người sẽ khám phá vũ trụ trong tương lai.  Với đa số mọi người, thám hiểm nghĩa là con người phải đi những hành trình dài – như chuyến đi của thuyền trưởng James Cook khám phá các hòn đảo trên Thái Bình Dương, hay khi Robert Peary và Frederick Cook cắm cờ ở Bắc Cực. Những cuộc đổ bộ tàu Apollo trong thập kỷ 1960 và 1970, với lá quốc kỳ và vết chân lịch sử, vẫn còn trong tâm trí mọi người, và chúng ta cứ hình dung rằng đây sẽ cách con người tiếp tục khám phá các hành tinh trong tương lai.   “Chúng ta hình dung nhà thám hiểm là một Columbus, Magellan, hay Lewis hoặc Clark”, nhận xét từ nhà du hành vũ trụ Dan Lester từ Đại học Texas, Austin. “Nhưng có nhất thiết cứ phải như vậy hay không? Tôi nghĩ là không. Những nhà thám hiểm đó thiếu các thiết bị công nghệ như chúng ta ngày nay, nếu không thì họ đã làm theo cách hoàn toàn khác.”  Hiện đang có những đồn đoán rằng NASA sẽ sớm công bố các kế hoạch gửi con người trở lại Mặt trăng, và sau đó là tới các tiểu hành tinh hay sao Hỏa. Người ta hình dung ra hình ảnh những trạm đồn trú tại Mặt trăng, hay hình ảnh nhà du hành bước chân trên sao Hỏa. Nhưng thực tế nhiều khả năng sẽ hoàn toàn khác.  Với công nghệ máy tính và thông tin liên lạc ngày càng phát triển, các nhà du hành có thể lơ lửng trong một trạm không gian ngoài quỹ đạo của Mặt trăng hoặc sao Hỏa và chỉ huy robot bằng bộ điều khiển từ xa. Những robot này có thể chạy, bay, khoan, đào, múc, và thu thập vật liệu nhanh hơn, chính xác hơn những thiết bị hiện có ở Trái đất. Bộ não của con người kết hợp với thế mạnh của những robot này – những camera và dụng cụ tân tiến – có thể tiến hành thám hiểm hàng tháng trời, tránh cho cơ thể người phải tiếp xúc với những bệnh tật, hiểm nguy trên hành tinh lạ, ví dụ như sao Kim.   “Tôi không muốn thay thế con người trong không gian bằng robot”, chuyên gia Geoffrey Landis của NASA nói. Ông là người tham gia vào các dự án khám phá bằng những cỗ xe tự hành Spirit và Opportunity. “Nhưng tôi nghĩ đây là cách khởi đầu tốt. Bởi vì robot đang ngày càng được hoàn thiện, trong khi cơ thể con người tiến hóa rất chậm.”    Trong tương lai, con người sẽ để cho tâm trí của mình được gián tiếp khám phá các hành tinh thông qua máy móc, trong khi cơ thể nằm rất xa ở bên trên.   Năm 2004, Tổng thống Bush khởi động chương trình Constellation, dự định sẽ chế tạo những tàu vũ trụ rất lớn nhằm đưa hàng tấn thiết bị dự kiến sẽ được đưa lên Mặt trăng xây dựng trạm đồn trú lâu dài, và phục vụ cho những nhiệm vụ thám hiểm sao Hỏa sau này. Nhưng chi phí của chương trình vô cùng lớn, và chính quyền Tổng thống Obama đã hủy chương trình này vào năm 2010, quyết định rằng NASA cần tránh những nhiệm vụ nguy hiểm liên quan tới đưa người xuống các hành tinh, mà thay vào đó là những nhiệm vụ chỉ cần đến người chỉ huy trong tình trạng không trọng lực ở ngoài không gian.   Tuy nhiên, những tiền đề của chương trình Constellation vẫn còn đó. Quốc hội Mỹ ủng hộ việc hủy bỏ kế hoạch đưa người lên Mặt trăng và sao Hỏa, nhưng quyết định vẫn tiếp tục chế tạo nhiều cấu phần của dự án tàu vũ trụ loại mới. Hệ thống phóng tàu vào không gian mới dự kiến sẽ sẵn sàng đưa người lên không gian vào năm 2019, sẽ là loại tên lửa mạnh chưa từng có, có khả năng đưa các nhà du hành đi xa hơn cả những quỹ đạo tầm thấp quanh Trái đất.   Điều này đặt ra câu hỏi cho NASA: “Tiếp theo sẽ làm gì?”, nhà du hành Jack Burns của Đại học Colorado đặt vấn đề. Trong vòng một thập kỷ tới, NASA có thể đưa người tới gần Mặt trăng, trong khi họ lại không có đủ tiền để đưa người đổ bộ xuống.”  Kinh phí thám hiểm vũ trụ là có hạn, NASA dự kiến sẽ không nhận được nhiều hơn 17,7 tỷ USD mỗi năm trong vòng 5 năm tới. Điều này khiến việc đưa người đổ bộ xuống Mặt trăng không khả thi. Burns là một trong những người thuộc thế hệ các nhà khoa học và chuyên gia mới, đang xây dựng lại các kế hoạch thám hiểm không gian. Ông giúp điều hành mạng lưới LUNAR, chuyên giám sát các nhiệm vụ trong đó con người điều khiển các robot từ xa để thám hiểm phần khuất trên bề mặt của Mặt trăng.  Trong dự án này, NASA sẽ dùng những tên lửa đẩy loại lớn để đưa các nhà du hành tới điểm Lagrange 2 (L2), nơi lực hút từ Mặt trăng và Trái đất cân bằng nhau, cho phép con tàu có thể đứng im mà không hao tổn nhiên liệu. Tại đây, một nhóm phi hành gia sẽ lơ lửng trong không gian trong khi vẫn liên tục duy trì liên lạc với Trái đất. Họ ở cách bề mặt khuất của Mặt trăng 40 nghìn dặm (hơn 63 nghìn km), nơi hoàn toàn chưa được khám phá qua các nhiệm vụ từ thời Apollo. Có thể trong thập kỷ tới, sẽ có 3 nhà du hành tới được điểm L2 trên tàu vũ trụ Orion của NASA. Cơ sở của họ tại đây có thể được chế lại từ những cấu phần còn lại của trạm vũ trụ ISS theo kế hoạch của NASA.  Từ không gian, các nhà du hành sẽ gửi xuống bề mặt Mặt trăng những cỗ xe tự hành và robot, và chỉ huy chúng thám hiểm những vùng địa chất thú vị, ví dụ như Lòng chảo Aitken Cực Nam. Là một trong những lòng chảo lớn nhất trong hệ Mặt trời, Aitken sẽ cung cấp cho con người những thông tin giá trị về các tiểu hành tinh mà Trái đất từng va đập trong thời kỳ cổ sơ nhất. Một người điều khiển từ xa sẽ lái chiếc xe tự hành đi vòng quanh, thu thập những mẩu đá 4 tỷ tuổi thọ, tương ứng với thời gian khi tế bào sống đầu tiên xuất hiện trên Trái đất. Nếu người ta có thể đưa được những viên đá đó về một phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể sẽ tìm hiểu được ngọn ngành câu chuyện về nguồn gốc sự sống từ các thiên thể bên ngoài.   Một dự án khác mà các nhà nghiên cứu đang thai nghén là dùng một robot được điều khiển từ xa để trải tấm nhựa mỏng dài 11 m chứa đầy những ăng ten kim loại. Thiết bị này sẽ đóng vai trò là một ăng ten radio khổng lồ, thu được những tín hiệu từ các vì sao và thiên hà cổ xưa nhất. Các nhà khoa học hiện nay có rất ít thông tin về thời kỳ sơ khai của vũ trụ trong vòng một tỷ năm sau vụ nổ Big Bang. Trong khi các tín hiệu radio của Trái đất bị tạo nhiễm quá nhiều những âm thanh từ cuộc sống thường nhật, thì vùng khuất của Mặt trăng lại là nơi hoàn toàn lý tưởng để thu được những tín hiệu sạch giúp kể lại câu chuyện xa xưa về lịch sử vũ trụ.  Hè năm 2013, NASA sẽ bắt đầu thử nghiệm điều khiển robot từ xa tại học viện Ames ở Mountain View, California. Các nhà du hành trên trạm vũ trụ ISS sẽ thử điều khiển con robot có tên gọi K-10 khi nó di chuyển trên Trái đất, và thử triển khai một cuộn ăng ten.  “Tương lai sẽ là nơi các nhà du hành chỉ huy các đội robot”, Burns nói. “Đó sẽ là những người tiên phong cho một cách thức thám hiểm vũ trụ và các hành tinh”.1  Theo Wired Science:  http://www.wired.com/wiredscience/2012/11/telerobotic-exploration/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot được “in ra” và di chuyển theo nhịp đập      Thiết bị nhỏ bé được tạo ra bởi máy in 3D, và di chuyển được nhờ các tế bào tim.    Thiết bị gồm một robot thân mềm có kích thước của một hạt gạo, vận động theo những tiếng đập từ các tế bào tim của chuột, rung trên bề mặt một đĩa Petri. Mô hình robot này được thiết kế bằng phần mềm trên máy tính, và tiếp theo được tạo dựng lên nhờ một máy in 3D tại trường Đại học Illinois tại Urbana-Champaign.  Máy in 3D tạo ra các vật thể bằng cách xây từng lớp vật liệu chồng lên nhau, để cuối cùng tạo ra một vật thể ba chiều được dựng từ dưới lên. Để tạo ra robot trên, máy in phun một lớp chất lỏng hydrogel – một hỗn hợp sền sệt của nước và phân tử trơ, có dạng như mạng lưới – và sau đó làm cứng từng lớp bằng tia laser. “Miếng chân” cong của robot sẽ được cấy một hỗn hợp của nguyên bào sợi của máy và tế bào tim, và chúng sẽ tự động co thắt. Sau khoảng ba ngày, lớp tế bào trở thành một phiến tạo ra những âm thanh đồng bộ và các nhịp co thắt tạo ra lực đẩy robot về phía trước.  Điều tuyệt diệu của việc chế tạo robot bằng máy in là nó tạo dựng được các vật thể theo đúng với các mẫu thiết kế vặn vẹo, và cần mẫn làm cho đến khi các cấu phần đủ kết dính với nhau trước khi chuyển sang bước tiếp theo, trưởng nhóm nghiên cứu Rashid Bashir cho biết. Một ngày nào đó, những robot tương tự như vậy có thể trở thành những thiết bị cảm ứng tự động di chuyển để phát hiện ra các hóa chất trong môi trường. “Bằng cách sử dụng các tế bào để xây dựng bộ máy sinh học, chúng tôi có thể giải quyết được các vấn đề”. Bashir và các đồng nghiệp đã có mô tả trực tuyến trong chương trình Scientific Reports vào ngày 15 tháng 11.  Nguyễn Bình dịch           Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot gieo hạt, rau củ tự động      “Robot gieo hạt rau củ quả tự động” của anh  Phạm văn Hát được đánh giá cao, không chỉ vì nó có thể ứng dụng rộng rãi  cho các hộ gia đình trồng rau mà còn phát huy hiệu quả cả trên các khu  vực chuyên canh rau trong cả nước.    Hiện nay, khâu gieo trồng cây giống vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp thủ công với các trang thiết bị lạc hậu, làm hạn chế năng suất và chất lượng nông sản. Bởi vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp công nghệ mới vào khâu gieo trồng rất được chú trọng.  Là một người thợ cơ khí vốn có niềm đam mê sáng chế và cải tiến các loại máy móc nông nghiệp, anh Phạm Văn Hát ở Hải Dương đã dành rất nhiều thời gian và đam mê để nghiên cứu, chế tạo thành công chiếc máy gieo hạt rau củ quả mà anh rất tâm đắc gọi với cái tên là: “Robot gieo hạt rau củ quả tự động”.  Gọi là robot vì máy có khả năng tự động gieo các loại hạt theo thiết kế. Hiện nay, chiếc máy của anh đang tự động gieo hạt rau củ quả trên luống thẳng rộng 1 mét, số lượng 40 hạt trên một hàng và khoảng cách giữa các hạt được thu hẹp và ổn định chỉ còn 3 cm. Theo tính toán của tác giả, máy gieo một lạng hạt giống… như su hào, súp lơ, bắp cải… tương đương khoảng 10.000 hạt chỉ trong 25 phút. So với việc gieo hạt bằng tay, năng suất được lên đến 80 lần, khoảng cách hạt đồng đều, đảm bảo yêu cầu theo tiêu chuẩn, do đó không mất công nhổ tỉa cây thừa, dễ chăm sóc và thu hoạch hơn.   Điểm thiết kế kỹ thuật quan trọng của máy nằm ở Rulô mềm, làm nên tính năng vượt trội, giúp Robot gieo hạt của anh có khả năng di chuyển tốt và vượt chướng ngại vật linh hoạt. Rulô mềm gồm cơ cấu trục, đĩa và dây văng. Ở giữa dây văng có các lò xo đàn hồi và uốn cong giúp dây văng thay đổi được chiều dài tùy động. Dưới trọng lượng của máy, rulô mềm luôn áp sát với mặt luống, do đó giúp máy di chuyển tối ưu trên cả các mặt luống cong vồng mà không bị trượt và không làm hỏng độ vồng của luống. Đây chính là một giải pháp sáng tạo hiệu quả mà tác giả rất tâm đắc.  Máy gieo hạt tự động chạy bằng động cơ điện một chiều 12V với tổng công suất là 130W, được chỉnh lưu từ dòng điện xoay chiều 220V. Trong trường hợp không có điện lưới cung cấp, máy vẫn có thể hoạt động trơn tru nhờ nguồn điện từ ắc quy.   Bộ lấy và nhả hạt đặc biệt được thiết kế khoa học gồm một thanh rỗng được gắn các kim nhỏ có khả năng nhặt hạt từ khay đựng bằng lực hút của quạt gió, hút hạt vào đầu kim và nhả chính xác, nhịp nhàng vào các ống bỏ hạt nhờ một bộ phận ngắt lực hút.  Các kim hút và ống bỏ hạt có thể được điều chỉnh kích thước và khoảng cách để phù hợp cho nhiều loại hạt cũng như nhiều nhu cầu sử dụng khác nhau.  Với máy gieo hạt rau củ quả tự động, anh Phạm Văn Hát đã vinh dự được trao giải nhất hội thi sáng tạo khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương năm 2013 và nhiều giải thưởng khác.  Trước đây, anh Hát từng đầu tư bốn năm liền vào mô hình trồng rau an toàn và thua lỗ gần hai tỷ đồng. Để gỡ lại vốn, anh quyết định đi xuất khẩu lao động. Những ngày tháng làm việc tại Israel mở ra cho anh tầm nhìn mới. Làm việc trong trang trại hầu như chỉ sử dụng máy móc kĩ thuật hiện đại, anh Hát đã mạnh dạn xin chủ trang trại được sửa lại máy móc cho phù hợp hơn với công việc.    Sau sáu tháng máy mò nghiên cứu, anh đã sửa và chế tạo thành công máy rải phân, có thể thay thế cho hàng chục lao động. Được ông chủ tạo điều kiện, anh còn chế tạo thêm máy cắt rau và máy vệ sinh luống rau.  “Ý nghĩ đầu tiên thôi thúc tôi khi về nước là làm sao có thể giúp đỡ được bà con phát triển trên chính mảnh đất này. Bà con vất vả quá!”. Từ suy nghĩ ấy, anh đã chế tạo thêm được rất nhiều loại máy để cho bà con thử nghiệm như: máy đánh luống, soi rạch để trồng cây vụ đông; máy dỡ khoai tây, cà rốt. Anh còn chế tạo lại máy cày tay hai lưỡi thay thế cho máy cày một lưỡi, máy cày bốn, năm lưỡi thay thế cho cày ba lưỡi. Đây đều là những sản phẩm đơn giản nhưng lại giúp được bà con áp dụng vào thực tế trong việc sản xuất.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot giúp việc có thay thế được con người?      Trong những năm tới, robot sẽ ngày càng làm nhiều công việc nội trợ như lau dọn nhà cửa thay con người.      Với những gia đình mà mọi thành viên đều bận bịu ở công sở thì luôn có nhu cầu về dịch vụ dọn dẹp nhà cửa. Với sự phát triển của công nghệ, người ta có thể thay đổi cả nhu cầu này: thay vì đặt hàng các công ty chuyên làm dịch vụ, họ sẽ nhờ cậy đến các robot lau chùi cửa sổ, hút bụi hoặc sử dụng nhiều loại thiết bị điện tử thông minh.  Người Đức dường như có xu hướng tận dụng tiến bộ kỹ thuật này. Theo kết quả một cuộc khảo sát mới thực hiện gần đây thì có tới ba phần tư người Đức sẵn sàng mua một con robot biết hút bụi, lau sàn nhà, lau cửa sổ hoặc làm hàng núi công việc nội trợ đòi hỏi sự tỉ mỉ và tốn nhiều thời gian khác.  Wolfgang Gründinger, phát ngôn viên của Hiệp hội kinh tế kỹ thuật số liên bang (BVDW) đoan chắc rằng: “Đến năm 2026, hầu như mọi gia đình ở Đức sẽ sở hữu nhiều loại robot giúp việc”. Robot mà ông Gründinger nhắc đến này có thể là một robot biết lau chùi nhà cửa hoặc một tấm thảm thông minh biết phát tín hiệu báo động nếu nhận thấy các bậc cao niên trong gia đình tự nhiên bất động sau một khoảng thời gian dài.  Nắm bắt xu hướng này, Trung tâm môi giới người giúp việc ở Đức đã phối hợp với Viện nghiên cứu xu hướng và tương lai (ITZ) tại Heidelberg thực hiện điều tra về “vai trò của nghề giúp việc trong ngôi nhà thông minh tương lai”.  Dựa trên nhiều kịch bản khác nhau, các chuyên gia đã nghiên cứu về các xu hướng phát triển có thể xảy ra trong tương lai.  Các nhà nghiên cứu và nhà sáng lập ITZ Eike Wenzel đều khẳng định: “Cả robot dọn nhà và robot chăm sóc người già đều không thể thay thế được người giúp việc.“  Theo các chuyên gia thì trước hết công nghệ mới sẽ giảm gánh nặng đối với người giúp việc, ví dụ theo một kịch bản thì nhờ robot hút bụi tự tiến hành công việc của nó trong phòng, người giúp việc sẽ có thêm thời gian để lau chùi phòng tắm, phòng vệ sinh hoặc dọn dẹp trong bếp.  Cũng như những quốc gia phát triển khác, xã hội Đức đang nổi trội xu hướng sự già hóa dân số, và nó hứa hẹn sự “đắt khách” trong tương lai của nghề giúp việc nhà. Do sự thay đổi về cơ cấu dân số, số lượng người già cần được chăm sóc ngày càng gia tăng, hiện nay đã có dấu hiện thiếu hụt đội ngũ điều dưỡng viên.  Theo các nhà nghiên cứu thì, trong tương lai, ngôi nhà thông minh với các thiết bị hỗ trợ sẽ góp phần giải quyết khó khăn này, tuy vậy yêu cầu đối với người giúp việc nhà sẽ phải thay đổi. theo đó, họ sẽ không còn làm việc theo phương pháp cổ điển mà còn phải biết kết hợp với việc sử dụng các thiết bị gia dụng thông minh.  Nhà tương lai học Wenzel cho rằng, những người giúp việc trong tương lai  sẽ không gặp khó khăn vì thiếu kiến thức cần thiết về công nghệ nhà thông minh: “Sẽ không có những cản trở đáng kể vì công nghệ kỹ thuật số dùng trong gia đình về cơ bản là dễ hiểu, dễ sử dụng”.  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/haushaltshilfe-putzfrau-oder-putz-roboter-wer-ist-besser/14803704.html       Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Robot hình người: Nên giống ở mức độ nào?      Robot hình người (Humanoide Robot) cần phải học để biết vận động như con người, một số robot có thể tập thể dục, cưỡi ngựa hoặc chống đẩy. Tuy nhiên robot cũng chỉ nên giống con người ở một mức độ nhất định – nếu vượt qua giới hạn đó thì cỗ máy này lại gây ra nỗi sợ hãi đối với con người.      Robot Atlas  “Atlas” đứng tại chỗ và làm một cú nhảy lộn ngược, hai chân tiếp đất một cách vững vàng. Đối với các vận động viên thể dục đây là bài tập chuẩn nhưng với robot lại được coi là hành động kỹ thuật cao. Vì vậy công ty sản xuất Boston Dynamics của Mỹ gọi “Atlas” là “robot hình người năng động nhất thế giới”. Tuy nhiên những động tác đầy ấn tượng này phần lớn được thực hiện riêng lẻ – có lẽ “Atlas” không thể thực hiện một cách nhịp nhàng các “động tác nhảy lộn ngược” như con người. Đối với các nhà phát triển robot hình người thì các động tác của con người vẫn luôn là những thách thức vô cùng to lớn.  Nhu cầu cần có robot giống người  Tại sao người ta cần phải có những robot giống con người? Tamim Asfour thuộc Viện Công nghệ Karlsruhe (KIT) cho rằng điều này là cần thiết để trong quá trình làm việc con người có thể lường trước các hoạt động của máy móc. Vị kỹ sư của KIT coi việc “gắn với đời sống” là một nhiệm vụ quan trọng trong tương lai đối với robot hình người: khi làm việc nhà, trong chăm sóc người già yếu, trong sản xuất hàng hoá hoặc khi làm các công việc bảo dưỡng trên mặt đất, trên biển cả hay trên vũ trụ – thí dụ khi làm việc ở bên ngoài trạm Vũ trụ quốc tế (ISS). Ngay cả đối với những công việc nguy hiểm phải tiến hành sau thảm hoạ, trong việc giảng dạy ở trường học phổ thông, các động tác giống con người luôn là mục tiêu hướng tới.  Tuy nhiên đây vẫn đang là viễn cảnh tương lai. Hiện tại các kỹ sư vẫn đang đau đầu với các vấn đề cơ bản, như làm sao để robot đi bằng đôi chân giống người. Theo Daniel Rixen thuộc Đại học kỹ thuật München, hiện tại robot đã đi trên mặt đường bằng phẳng thành công, tuy nhiên khi đi lại trên con đường gập ghềnh hoặc có vật cản thì còn nhiều khó khăn. “Chúng ta tập đi trên những con đường gập ghềnh khi còn là trẻ nhỏ nhưng đối với robot thì điều này còn là một thách thức”, Rixen nói.  Khi bước trên cát thay vì trên đường lát gạch, robot buộc phải thực hiện các động tác để lấy lại thăng bằng. Hiện tại Rixen và đồng nghiệp đang làm việc về hệ thống điều chỉnh nhanh nhằm giúp robot có khả năng phản ứng tức thì. Mục tiêu: để robot có thể ngay lập tức dừng chân trước nguy cơ bị sa xuống hố.  Để làm các động tác của robot giống người hơn, Yuki Asano và các nhà nghiên cứu thuộc đại học Tokyo đã thay đổi cấu trúc thông thường: robot hình người có tên “Kengoro” của bà có bộ xương bằng nhôm và rất tương đồng với bộ xương con người. Ngoài ra con robot này còn có 53 thiết bị giống cơ bắp. Các khớp nối của con robot này tuy không co duỗi được như của con người, nhưng so với các con robot hình người khác thì cử động linh hoạt hơn hẳn. Theo tạp chí chuyên đề “Science Robotics” mô tả thì Kengoro có khả năng làm các động tác hít đất, ép bụng hoặc có thể duỗi người ra.  Việc lập trình cho một chuỗi động tác của robot vẫn luôn gặp khó khăn. Vì vậy một chuyên gia Nhật Bản khác là Jun Morimoto thuộc Viện Nghiên cứu Viễn thông Tiên tiến Quốc tế (Advanced Telecommunications Research Institute International) ở Kyoto đề nghị thực hiện một phương pháp học mới: Dùng dữ liệu để đo cử động và hoạt động ở các cơ của người và coi đây là cơ sở để tính toán về sự cử động của Robot. Với sự hỗ trợ của mạng nơ-ron hoặc các phương pháp khác trong trí tuệ nhân tạo, robot có thể học nhiều chuỗi cử động hơn nữa, Morimoto mới đây đã viết trong “Science Robotics”.  Tại Karlsruhe, Asfour và các đồng nghiệp đã phát triển một cơ sở dữ liệu lớn nhất thế giới về các cử động ở cơ thể con người mang tên “Cơ sở dữ liệu toàn bộ chuyển động của cơ thể người” (KIT- Whole-Body Human Motion Database). Cũng theo “Science Robotics”, các nhà nghiên cứu mới đây công bố bảng phân loại chuyển động cơ thể dựa trên 388 bản vẽ về cơ thể. Thí dụ bảng phân loại này phân biệt giữa quỳ gối và đứng thẳng, giữa sờ bằng lòng bàn tay với việc cầm nắm, giữa ngồi, tựa lưng và nằm – và các tư thế này với nhiều sự kết hợp khác nhau. Từ đó họ tập trung vào 46 tư thế quan trọng của cơ thể. Asfour giải thích việc phân loại này giúp cho robot hình người có thể nhanh chóng thay đổi tư thế vận động của cơ thể chỉ trong vài giây.  Egidio Falotico thuộc Trường Nghiên cứu Cao cấp Sant’Anna (Scuola Superiore Sant’Anna) ở Pisa và các đồng nghiệp cũng kiến nghị về các nguyên tắc cơ bản đối với cử động của robot hình người. Họ cũng lấy con người làm hình mẫu: theo đó sự lấy thăng bằng sẽ dựa vào một hệ thống ở trong đầu robot, hệ thống này giống như giác quan thăng bằng ở con người.  Khi toàn bộ quá trình vận động đã sẵn sàng, thì trong một số nhiệm vụ nhất định robot thậm chí còn có thể làm hơn con người: theo Rixen thì trong tương lai Robot có thể làm nhiệm vụ thử nghiệm bộ phận cơ thể giả. “Bởi nhận xét về việc thử nghiệm các bộ phận giả của con người thường thiếu sự khách quan “, Rixen nói.    Giống quá sẽ… gây sợ hãi  Tuy nhiên việc cử động giống con người cũng chỉ là một trong các vấn đề cần giải quyết khi robot hỗ trợ con người trong công việc và cuộc sống thường ngày. Markus Appel ở Đại học Würzburg, đang nghiên cứu về vấn đề con người chấp nhận sự giống người của robot đến mức nào cho biết, vào những năm 70, robot càng giống người thì càng gây được nhiều thiện cảm hơn. Tuy nhiên về sau điều này chỉ đúng ở một mức độ nhất định. Sự giống nhau quá lại khiến nhiều người cảm thấy sợ hãi – khi không thể phân biệt nổi robot với con người.  Các đồng sự của Appel nhận thấy: Một robot được chế tạo càng giống người bao nhiêu thì càng gây cảm giác sợ hãi bấy nhiêu. Robot khi là một công cụ thông thường ít gây cảm giác sợ hãi hơn so với con robot biết lập kế hoạch và hành động độc lập. Qua khảo sát, nhiều người cho rằng robot đáng sợ nhất khi biết thể hiện cảm xúc và nhu cầu. “Dựa vào các kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi khuyến nghị rằng các công ty chế tạo robot không nên quá nhân cách hóa robot dịch vụ trong quá trình sản xuất”, Appel nói. Những khuyến cáo này cũng áp dụng cho các bệnh viện, nhà dưỡng lão, nơi cảm xúc con người như sự cưu mang, giúp đỡ được coi là một đặc thù nghề nghiệp.   Ngay cả Asfour cũng cố gắng tạo ra sự khác biệt giữa robot và con người: “Phải luôn duy trì trạng thái phân biệt được máy móc với con người”, Asfour nói. Loại robot ARMAR trợ lý (ARMAR-Assistenzroboter) được phát triển ở Karlsruhe có khả năng hoạt động độc lập và học tập, tuy vậy chúng chỉ hơi giống với người thật. Loại robot ARMA nội trợ có thể thu dọn máy rửa bát đĩa thậm chí không có chân mà thay vào đó là một giá đẩy.  Hoài Trang dịch  Nguồn bài và ảnh: http://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/wie-roboter-dem-menschen-aehnlicher-werden-a-1199161.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot hướng dẫn trong viện bảo tàng      Từ ngày 8/11, bảo tàng Công nghệ Đức ở Berlin có thêm một nhân viên mới, đó là một robot hết sức thân thiện đảm trách nhiệm vụ hướng dẫn khách tham quan trong viện bảo tàng.      “Xin chào, tên tôi là Tim”, chú robot với chiều cao 1,50m, nặng 75kg giới thiệu như vậy. Robot Tim hoạt động theo trình duyệt Androi do máy tính điều khiển có khả năng nói bằng hai thứ tiếng Anh và Đức, hướng dẫn khách tham quan theo chương trình đã được cài đặt sẵn. Tim bắt đầu thể hiện vai trò của mình tại một cuộc triển lãm của bảo tàng mang tên “Mạng lưới: Con người, cáp, những dòng chảy dữ liệu”.  Tại buổi ra mắt triển lãm, việc Tim lần đầu xuất hiện đã thu hút sự chú ý của báo giới Đức. Dù khả năng tương tác với con người vẫn còn hạn chế nhưng Tim đã có thể dẫn được khách tham quan đi qua các căn phòng trưng bày và giới thiệu trôi chảy về những hiện vật trong bộ sưu tập của viện bảo tàng.  Ra mắt ấn tượng như vậy nhưng Tim vẫn chưa thể thay thế được các “đồng nghiệp” thực sự của mình ở viện bảo tàng. Vì vậy, những nhân viên từ trước đến nay vẫn đảm trách nhiệm vụ hướng dẫn khách tham quan không phải lo ngại về khả năng bị mất việc làm. Hiện tại Tim mới chỉ có thể trình bày những lời giới thiệu ngắn gọn mà không có khả năng trả lời bất kỳ câu hỏi nào của khách. Không chỉ có vậy, Tim cũng chưa có ngoại hình bắt mắt: nó mới chỉ là một hình cầu trong suốt với cặp mắt tròn và một màn hình hiển thị thông tin đặt trên một khối hình trụ màu lam ngọc. “Nó có khả năng giành được thiện cảm của khách tham quan”, Eva Kudraß, nhà quản lý của Bảo tàng Công nghệ Đức, bày tỏ tin tưởng.  Đây không phải là lần đầu tiên robot xuất hiện trong bảo tàng Đức. Từ năm 2000, bảo tàng Truyền thông Đức đã từng đưa ba robot vào vị trí lễ tân, chào đón khách tham quan, tuy vậy cách xuất hiện của robot Tim ở Bảo tàng Công nghệ Đức mang ý nghĩa đặc biệt: robot có khả năng làm việc một cách khá độc lập và truyền tải thông tin tới con người.    Bảo tàng Công nghệ Đức có diện tích 25.000m2, tập trung vào việc giới thiệu lịch sử phát triển của lĩnh vực vận tải, truyền thông, sản xuất và công nghệ năng lượng.  Thanh Nhàn tổng hợp.  Nguồn:  http://www.dw.com/en/robots-used-as-museums-guides-in-berlin/a-36320169  https://www.berlin.de/kultur-und-tickets/nachrichten/4633942-2154924-neuer-mitarbeiter-im-technikmuseum-robot.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot nano sinh học từ DNA và Protein      Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một robot phân tử có kích cỡ bằng một tế bào có thể thay đổi hình dạng của nó khi hồi đáp một tín hiệu DNA.      Bộ dẫn động phân tử hoạt động bên trong robot (sọc) để thay đổi hình dạng của màng tế bào nhân tạo. Khi nhận được một tín hiệu DNA, “bộ li hợp phân tử” sẽ truyền lực từ bộ dẫn động, kiểm soát việc thay đổi hình dạng.  Đây là lần đầu tiên một hệ thống robot phân tử có thể nhận biết các tín hiệu và kiểm soát chức năng thay đổi hình dạng của nó. Điều này có nghĩa là trong tương lai gần, chúng có thể hoạt động như những sinh vật sống.  Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Tohoku và Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Nhật Bản đã phát triển một robot được tạo ra từ DNA và protein. Kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Science Robotics.  Sử dụng những phân tử sinh học tinh vi như DNA và các protein có vai trò hết sức quan trọng. Chẳng hạn như những tế bào bạch cầu có thể đuổi theo vi khuẩn bằng cách cảm nhận những tín hiệu hóa học và di chuyển về phía mục tiêu. Trong lĩnh vực hóa học và sinh học tổng hợp, những công nghệ nền tảng cho việc tạo ra những cỗ máy phân tử đa dạng, chẳng hạn như cảm biến, bộ vi xử lí và bộ dẫn động, được tạo ra bằng cách sử dụng những phân tử sinh học.  Một robot phân tử là một hệ thống phân tử nhân tạo được tạo ra bằng cách tích hợp những cỗ máy phân tử. Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tạo ra được một hệ thống như vậy có thể dẫn đến bước đột phá quan trọng – một robot được thiết kế trên cơ sở phân tử.  Để đạt được mục tiêu này, các nhà nghiên cứu tích hợp những cỗ máy phân tử vào một màng tế bào nhân tạo để tạo ra một robot phân tử. Robot phân tử do nhóm nghiên cứu nói trên phát triển có kích thước cực kì nhỏ – khoảng một phần triệu của một mét – tương đương kích thước tế bào ở người.  Nó bao gồm một bộ dẫn động phân tử tạo ra từ protein và một bộ li hợp phân tử tạo ra từ DNA. Hình dạng của thân robot (màng tế bào nhân tạo) có thể được thay đổi nhờ bộ dẫn động, trong khi sự truyền lực do bộ dẫn động sinh ra có thể được kiểm soát bởi bộ li hợp phân tử.  Nhóm nghiên cứu đã chứng minh qua các thử nghiệm rằng robot phân tử này có thể thay đổi hình dạng trước các tín hiệu DNA cụ thể.  Giáo sư Shin-ichiro Nomura thuộc nhóm nghiên cứu phát triển robot phân tử ở Đại học Tohoku, chia sẻ: “Thật thú vị khi thấy chuyển động thay đổi hình dạng của robot qua kính hiển vi. Nó có nghĩa là bộ li hợp DNA do chúng tôi thiết kế đã hoạt động hoàn hảo, bất chấp những điều kiện phức tạp bên trong robot”.  Việc tạo ra một robot phân tử có các thành phần được thiết kế ở cấp độ phân tử và có thể hoạt động trong môi trường nhỏ và phức tạp, như cơ thể con người, được cho là sẽ mở rộng đáng kể khả năng của công nghệ robot. Những kết quả của nghiên cứu này có thể đưa đến những sự phát triển về mặt công nghệ giúp giải quyết những vấn đề y tế quan trọng, chẳng hạn như một robot điều trị cho việc nuôi cấy sống các tế bào và robot giám sát ô nhiễm môi trường.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  https://www.asianscientist.com/2017/03/in-the-lab/molecular-robot-dna-protein/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot phân loại rác, một công việc mới      Phân loại rác là một vấn đề mà lâu nay những đô thị lớn “đau đầu”, vì đây là một công việc dơ bẩn và nguy hiểm.      Khủng hoảng do Trung Quốc hạn chế nhập rác thải đã được công nghệ phân loại rác giải quyết vấn đề.  Công nhân tái chế rác là những người có khả năng bị thương cao gấp hai lần và tỷ lệ tử vong cao ở nhiều nước.  Với sự gia tăng của trí tuệ nhân tạo (AI), các robot phân loại rác giỏi hiện nay đang chuyển vào các nhà máy tái chế trên toàn nước Mỹ. Được các hệ thống camera và máy tính hướng dẫn để nhận ra các sự vật cụ thể, các cánh tay robot trượt trên các băng chuyền chuyển động cho đến khi chúng đạt mục tiêu. Những bầu hút và những cái kẹp quá khổ gắn vào các cánh tay robot sẽ nhặt lon, hộp thuỷ tinh, hộp nhựa và các loại có thể tái chế khác ra khỏi đống rác, sau đó bỏ chúng vào các thùng rác gần đó. Trượt, kẹp lấy, nâng lên.., trung bình mỗi một giây các cánh tay nhận diện một mục tiêu mới và lấy ra khỏi đống rác.  Các robot giờ đây chính xác như một công nhân vệ sinh thực thụ nhưng công suất nhanh gấp đôi. Với những cải tiến đang tiếp diễn về năng lực phát hiện và lấy ra các vật cụ thể của các robot, chúng có thể trở thành một lực lượng mới trong nỗ lực phân ra hàng chục triệu tấn vật liệu tái chế từ các bãi chôn lấp hoặc lò đốt mỗi năm. “Vẫn còn quá sớm nhưng tôi rất lạc quan trong tương lai về robot phân loại rác thải”, John Standish, giám đốc kỹ thuật của hiệp hội Tái chế nhựa ở Washington, D.C., nói với NBC News.  Thời điểm thích hợp  Trung Quốc, nước nhập khẩu các vật liệu tái chế hàng đầu thế giới đã gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu hồi tháng giêng vừa qua, khi họ ngưng nhập một số thứ rác thải do các quan ngại về môi trường. Trong khi đó, một số cơ sở tái chế ở Mỹ đóng cửa… Hàng đống rác thải chất cao khi các nhà xuất khẩu chưa tìm ra người mua các mặt hàng chất thải như giấy tổng hợp, nhựa và các vật liệu khác…  Để tìm ra lối thoát cho chất thải, các hãng sản xuất robot: AMP Robotics ở Denver; Bulk Handling Systems of Eugene ở Oregon và ZenRobotics ở Helsinki, Phần Lan, các robot phân loại rác thải đã được đưa ra thích hợp. Giám đốc điều hành của ZenRobotics Timo Taalas nói với chương trình NBC News MACH: “Các thứ tái chế hiện nay phải sạch hơn và phải được phân loại tốt hơn”.  ZenRobotics hiện đã lắp đặt hệ thống robot phân loại rác tại hai nơi ở Mỹ và tại mười nước khác. Con robot Heavy Picker lớn nhất của hãng này có thể nâng các vật nặng gần 30kg bằng cánh tay có gắn kẹp, đặc biệt hữu dụng khi phân loại rác xây dựng. Robot có các cánh tay nhện  sử dụng bầu hút như một thứ kẹp đã được triển khai tại ba điểm ở Mỹ và ba điểm ở châu Âu.  Trên tuyến tiên phong  Các dây chuyền tại các nhà máy sản xuất đã có “công nhân” robot từ lâu. Nhưng mãi gần đây, việc “tách gỡ” các đống rác thành từng phần riêng biệt là một vấn đề khó. Chưa kể ở các đô thị cho phép người dân đổ tất cả rác vào một thùng rác chung – có nghĩa là các cơ sở tái chế nhận được một “nùi” các thứ dơ bẩn và những thứ không thể dự báo trước đáng ra phải được phân loại tại chỗ, trước khi chúng được đem đi tái chế.  Nhiều công ty công nghệ đã đưa ra các giải pháp phân loại rác bằng cách ghép nối các camera và các robot với các thuật toán máy tính sử dụng công nghệ “học sâu” để cải thiện phân loại rác. “Nhưng với tốc độ tính toán và học sâu của AI, cho phép máy tính nhìn chính xác vào một vỏ chai đã bị dập và nhận ra đó là chai Coca-Cola, để từ đó điều khiển robot hoạt động”, Standish nói.  Matanya Horowitz, CEO của AMP Robotics nói với NBC News: công ty huấn luyện từng robot Cortex bằng cách đưa cho chúng hàng ngàn mẫu vỏ chai, lon, vỏ hộp và các thứ khác. “Cortex học nhận diện toàn bộ các vật liệu đó. Nó học cách nhìn logo, hình dáng và kết cấu”, Horowitz nói.  Horowitz cho biết hệ thống Cortex đang được sử dụng ở ba nhà máy tái chế của Mỹ, có thể khấu hao trong vòng ba năm. Steve Miller, CEO của Bulk Handling Systems, hãng làm ra robot phân loại rác MAX-AI nói rằng, nhu cầu phân loại rác thải đã đành thức ngành công nghiệp sản xuất robot với nhiều sản phẩm đang được đặt hàng. Nếu các robot tỏ ra đắc lực, rác thải sẽ ít đi.  Trần Bích (theo TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot sẽ được trao “tư cách pháp nhân” ở châu Âu?      Đồng thời với việc đề xuất xem xét khoản thu nhập cơ bản phổ quát cho con người trước viễn cảnh rô-bốt sẽ khiến nhiều người lâm cảnh thất nghiệp, một số thành viên Nghị viện châu Âu đề xuất xem xét trao các “quyền con người” cho rô-bốt.      Một số thành viên Nghị viện châu Âu đề xuất xem xét trao các “quyền con người” cho rô-bốt. Nguồn ảnh: Reuters  Nghị viện châu Âu mới đây đã thúc giục việc dự thảo một bộ các quy định nhằm quản lí việc sử dụng và chế tạo rô-bốt cũng như trí tuệ nhân tạo (AI), bao gồm việc xác lập “tư cách con người điện tử” để đảm bảo quyền và trách nhiệm đối với những trí tuệ nhân tạo thông minh nhất.  Trong cuộc bỏ phiếu với tỉ lệ 17/2, với hai phiếu trắng, Ủy ban các vấn đề pháp lí của Nghị viện châu Âu đã thông qua bản một báo cáo, trong đó phác thảo khuôn khổ của quy định.  Theo Mady Delvaux, thành viên Nghị viện châu Âu người Luxembourg, “Nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đời thường của chúng ta ngày càng chịu ảnh hưởng của rô-bốt. Để giải quyết thực tế này và để đảm bảo rằng các rô-bốt đang và sẽ tiếp tục phục vụ con người, chúng ta cần khẩn trương tạo ra một khuôn khổ pháp lí mạnh mẽ ở châu Âu’’.  Tư cách pháp lí được đề xuất dành cho rô-bốt sẽ tương tự như tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, cho phép các công ty tham gia vào những vụ việc pháp lí cả ở vị trí của bên nguyên và bên bị. “Nó tương tự như tư cách hiện nay chúng ta quy định cho các công ty, nhưng không phải chuyện của ngay ngày mai. Những gì chúng ta cần hiện nay là tạo ra một khung pháp lí dành cho các rô-bốt đang có trên thị trường mới đây hoặc sẽ xuất hiện trong vòng 10 đến 15 năm nữa”, theo Delvaux.  Báo cáo tổng quát xác định một loạt lĩnh vực cần sự giám sát cụ thể từ Liên minh châu Âu, bao gồm:    Tạo lập một cơ quan của châu Âu phụ trách các vấn đề về rô-bốt và AI;  Một định nghĩa pháp lí về “rô-bốt tự chủ thông minh” với một hệ thống đăng kí tân tiến nhất;  Một bộ quy tắc ứng xử mang tính tư vấn  cho các kĩ sư chế tạo rô-bốt nhằm đưa ra các chỉ dẫn về đạo đức trong thiết kế, sản xuất và sử dụng rô-bốt;  Một cơ chế báo cáo mới dành cho các công ty, đòi hỏi họ phải báo cáo những đóng góp của khoa học người máy và AI vào kết quả kinh doanh của công ty, nhằm phục vụ việc đánh thuế và đóng góp an sinh xã hội;  Một chương trình bảo hiểm bắt buộc đối với các công ty nhằm chi trả cho những thiệt hại do rô-bốt của công ty họ gây ra.     Báo cáo cũng tập trung vào nguy cơ cạnh tranh thái quá từ các rô-bốt có thể dẫn đến tình trạng người lao động thất nghiệp trên diện rộng, và kêu gọi việc xem xét “nghiêm túc” thu nhập cơ bản phổ quát [khoản thanh toán tiền mặt vô điều kiện cho tất cả các công dân] như một trong các giải pháp.  Ashley Morgan, thuộc công ty luật quốc tế Osborne Clarke, nói rằng những đề xuất này sẽ “cực kì gây tranh cãi”. Theo ông, “Người ta có thể lập luận rằng, về bản chất, bộ luật được đề xuất trong cách giải quyết này sẽ trao các quyền con người cho rô-bốt. Điều đó sẽ không dễ được các công ty đang chế tạo rô-bốt và AI chấp nhận”.  “Nếu tôi tạo ra một con rô-bốt, và con rô-bốt đó tạo ra thứ có thể được cấp bằng sáng chế, thì tôi hay con rô-bốt sẽ sở hữu tấm bằng sáng chế đó? Nếu tôi bán con rô-bốt đó đi, thì tài sản trí tuệ mà nó đã phát triển có được bán đi cùng với nó không? Đây là những câu hỏi không dễ trả lời, và sẽ là trọng tâm của cuộc tranh luận này”, Morgan nói thêm.  Nghị viện châu Âu sẽ bỏ phiếu đối với đề xuất dự thảo này vào tháng Hai, và nó sẽ cần được thông qua bởi quá bán số thành viên của Nghị viện.  Vũ Thanh Nhàn dịch.  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2017/jan/12/give-robots-personhood-status-eu-committee-argues    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot thám hiểm cống ngầm      Nhận thấy việc kiểm tra hệ thống cống ngầm  hết sức khó khăn và nguy hiểm, hai kỹ sư Phạm Minh Hưng và Đỗ Phước Khôi  Nguyên ở TP Buôn Mê Thuột đã nghĩ đến việc chế tạo một robot thay thế  con người đảm nhiệm công việc này.    Robot này có khối lượng 20kg, thân bằng thép không gỉ, bánh xe ốp cao su, sử dụng điện một chiều và có hai toa với đèn chiếu sáng và camera thu hình. Khi kiểm tra đường ống cống ngầm, ở bên ngoài cần có một xe chuyên dụng với các vật tư thiết bị hỗ trợ, trong đó có bảng điều khiển, máy vi tính, cáp điện, tín hiệu. Khi robot được đưa vào đường ống, người điều khiển theo dõi trên màn hình, ghi lại số liệu, dữ liệu mà robot truyền tải về. Trên cơ sở này, có thể thống kê hiện trạng của cống ngầm mà công nhân không phải xuống tận nơi.   Thiết bị robot thám hiểm cống ngầm của hai kỹ sư Buôn Mê Thuột đã tham gia chương trình Sáng tạo Việt và được đánh giá có tiềm năng ứng dụng cao ở phạm vi cả nước, hỗ trợ công tác duy tu bảo dưỡng hệ thống cống ngầm, qua đó giảm chi phí đầu tư, sửa chữa.   Hiện nay hai kỹ sư, vốn là chuyên viên dự án vệ sinh môi trường – hợp phần thoát nước của TP Buôn Mê Thuột, đang tiếp tục nghiên cứu để nâng cấp robot này nhỏ gọn và đa năng hơn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot trí tuệ vừa có khả năng  kiếm soát suy nghĩ và hành động      Mặc dù máy móc và các sinh vật là hai chỉnh thể riêng biệt, nhưng chúng ta chưa bao giờ kết hợp năng lực trí tuệ của cả hai vào với nhau. Từ trước đến nay, chưa có loại robot nào có khả năng tương tác với môi trường xung quanh và với con người tương tự như cách AI trên máy tính và điện thoại ngày nay đang thực hiện.      Môn học “Physical AI” có thể mở đường cho sự ra đời của một loại robot thông minh giống như thật. Ảnh: Caroline Brogan, Imperial College London/techxplore.com  Giáo sư Mirko Kovac của Khoa Hàng không Vũ trụ Imperial và Trung tâm Vật liệu và Công nghệ Robot của Phòng thí nghiệm Liên bang Thụy Sĩ về Khoa học Vật liệu và Công nghệ (Empa), đồng tác giả chính của nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Machine Intelligence, cho biết: “Sự phát triển về mặt ‘cơ thể’ của robot đã tụt hậu nghiêm trọng so với sự phát triển trong ‘não bộ’ của chúng. Không giống như AI kỹ thuật số – khái niệm mà chúng ta đã tường tận trong vài thập kỷ qua, việc đưa kết hợp năng lực như vậy hãy còn xa lạ”.  Theo các nhà khoa học, nguyên nhân của khoảng trống này có thể là bởi chưa tồn tại một phương pháp giáo dục có hệ thống nào nhằm hướng dẫn sinh viên và các nhà khoa học tạo ra một sản phẩm hợp nhất giữa bộ não và cơ thể của robot.  Nghiên cứu mới đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ Physical AI và đề xuất một phương pháp để khắc phục khoảng trống trong kỹ năng này, đó là tích hợp các bộ môn khoa học lại với nhau để giúp các nhà nghiên cứu tương lai tạo ra được các robot giống như thật và sở hữu các khả năng có ở các sinh vật thông minh, chẳng hạn như phát triển khả năng kiểm soát cơ thể, khả năng tự chủ và cảm nhận cùng một lúc. Họ xác định năm môn học chính cần thiết để tạo ra Physical AI, bao gồm: khoa học vật liệu, cơ khí chế tạo, khoa học máy tính, hóa học và sinh học.  Giáo sư Kovac cho rằng: “Khái niệm AI thường bị giới hạn trong các khái niệm về máy tính, điện thoại và các tính toán dữ liệu chuyên sâu. Chúng tôi cho rằng cần nghĩ về AI theo nghĩa rộng hơn và cần phải phát triển cùng lúc các hình thái học vật lý, hệ thống học tập, cảm biến, bộ logic lỏng và dẫn động tích hợp. Physical AI sẽ là một “đường biên” mới trong lĩnh vực nghiên cứu robot và sẽ cho thấy ảnh hưởng trong những thập kỷ tới. Việc đồng thời phát triển các kỹ năng của sinh viên theo hướng tích hợp và đa ngành sẽ có thể khơi gợi một số ý tưởng mới mẻ cho các nhà khoa học và sinh viên”.  Theo các nhà nghiên cứu, muốn robot có được các chức năng tương tự như ở con người và động vật thì phải kết hợp môn robot học và trí tuệ nhân tạo thông thường với các bộ môn khác để tạo ra Physical AI như một môn học riêng. “Chúng tôi hình dung các robot Physical AI sẽ được phát triển trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng rất nhiều vật liệu và phương pháp nghiên cứu độc đáo khác nhau. Các nhà khoa học sẽ cần thêm nhiều kỹ năng rộng hơn để phát triển được loại robot như vậy. Và cũng do đó nên sự hợp tác liên ngành sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng”, giáo sư Kovac nhận định.  Các tác giả cũng đề xuất tăng cường các hoạt động nghiên cứu về Physical AI bằng cách hỗ trợ cho giáo viên ở các cấp độ tổ chức và cộng đồng; đề xuất tuyển dụng và hỗ trợ cho các giảng viên có ưu tiên nghiên cứu về Physical AI đa ngành.  Tiến sỹ Aslan Miriyev của Empa và Khoa Hàng không tại Imperial, đồng tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Việc chế tạo ra những con robot giống như thật cho đến nay vẫn là một nhiệm vụ bất khả thi, tuy nhiên nó có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta đưa môn Physical AI vào hệ thống giáo dục đại học. Việc phát triển các kỹ năng và nghiên cứu trong Physical AI có thể giúp chúng ta đến gần hơn việc xác định lại tương tác giữa con người với robot và giữa robot với môi trường”.  Các nhà khoa học cũng hy vọng rằng nghiên cứu của họ sẽ giúp thúc đẩy các cuộc thảo luận tích cực về chủ đề này và giúp tích hợp ngành Physical AI vào trong chương trình giáo dục chính thống và dự định sẽ triển khai phương pháp luận Physical AI trong các nghiên cứu và hoạt động giáo dục của mình để mở đường cho hệ sinh thái người – robot. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-11-skills-physical-ai-birth-lifelike.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot trở thành bạn đồng hành      Đến một ngày nào đó, các robot có thể trở  thành bạn đồng hành hỗ trợ chúng ta trong công việc và trong cuộc sống  hàng ngày được không? Khi đó chúng ta định dành cho máy móc thiết bị bao  nhiêu phần trăm khả năng kiểm soát?     Vậy có nên duy trì quyền kiểm soát của con người đối với máy móc? Ngay ngôn từ của câu hỏi này đã khiến tôi cảm thấy khó chịu. Vấn đề ở đây không phải là có hay không, đen hay trắng, hoàn toàn hay không gì cả. Chúng ta phải tùy từng trường hợp mà ra quyết định phù hợp, lúc nào chúng ta trao quyền kiểm soát – và nếu trao, thì ở mức độ nào.  Ngoài ra tôi cũng không thích lắm cách diễn đạt “con người chống lại máy móc”. Điều tôi quan tâm nhiều hơn là trong tương lai, con người và máy móc sẽ hợp tác thay vì kình địch như thế nào. Vì vậy tôi quan tâm đến hoạt động của  IDC Media Innovation Lab ở Herzliya, Israel, để tìm hiểu quá trình làm việc nhóm và sự tương giao giữa con người với robot.  Ở đây thường mối quan hệ này chủ yếu diễn ra trong môi trường nghề nghiệp. Thí dụ tới đây công nhân trong nhà máy sẽ vai kề vai cùng làm việc với robot để sản xuất các bộ phận của một thiết bị hoặc cùng nhau lắp ráp; y tá ở bệnh viện giám sát các robot trong việc phân phối thuốc chữa bệnh; một nhà giáo cùng với “trợ lý” robot hỗ trợ học sinh học tập; nhân viên văn phòng có thể tương tác với robot để sắp xếp chuyển giao công văn, thư từ hoặc tổ chức các cuộc họp.  Ngoài ra, chúng ta còn có thể thiết kế những robot cùng chung sống với con người. Ở khía cạnh này, việc sử dụng robot cũng rất đa dạng. Robot có thể làm việc nhà, nấu nướng và lau chùi quét dọn. Robot có thể giúp chúng ta giải trí, cổ vũ hoạt động thể thao, hỗ trợ khi làm những công việc mà mình ưa thích. Robot cũng có thể giúp trẻ em làm bài tập hoặc trợ giúp các em chơi nhạc.  Với tư cách là các nhà khoa học, chúng tôi đều chung ý tưởng: đến một lúc nào đó, robot và con người sẽ có quan hệ cá nhân bền chặt và lâu dài với nhau, dù trong hoạt động nghề nghiệp hay trong cuộc sống riêng tư. Chúng tôi gọi lĩnh vực nghiên cứu này là sự tương tác con người – robot.    Khía cạnh mà tôi thấy đặc biệt hấp dẫn là: các yếu tố như thời gian hay ngôn ngữ cơ thể có vai trò gì trong mối quan hệ giữa con người và robot?  Sự cảm thông và đồng cảm  Từ một loạt thí nghiệm của tôi, kết quả thu được luôn giống nhau: phần lớn người ta đều cho rằng robot cảm nhận được trước các ý muốn của họ, ngay cả khi điều này đồng nghĩa với việc robot phạm sai lầm vì luôn phải đoán trước hành động của con người.   Hơn nữa, yếu tố ngẫu hứng có vai trò quan trọng. Theo nghiên cứu của tôi, con người có thể coi robot thông minh hơn, năng nổ hơn và hoạt động có hiệu quả hơn, khi bản thân con người dám mạo hiểm làm một điều gì đó, hay nói một cách cụ thể: con người ít kiểm soát hơn và tăng cường sự ngẫu hứng.  Đối với những công việc mang tính chất lặp đi lặp lại một số kỹ năng thì con người lại muốn robot phát huy tính chủ động. Con người không muốn sử dụng một công cụ dốt nát chỉ biết “chỉ đâu đánh đấy”.   Ở một số thí nghiệm khác, chúng tôi có thể chứng minh, sức mạnh của ngôn ngữ cơ thể và cử chỉ của robot có vai trò như thế nào.  Thí dụ, chúng tôi nhận thấy, khi robot vừa hát vừa múa thì dễ làm cho người ta thích bài hát đó hơn. Nói cách khác, dường như niềm vui của robot tác động đến ý nghĩ của con người.   Chúng tôi cũng để con người chuyện trò với robot về những trải nghiệm với những tình cảm phức tạp mang tính chất cá nhân. Điều này cho thấy, con người dễ chấp nhận robot nếu nó biết đáp lại những câu chuyện của con người bằng sự đồng cảm của mình.   Chúng ta định chia sẻ bao nhiêu quyền lực?  Ở một thí nghiệm khác, chúng tôi nhận thấy sự có mặt của robot đủ để ảnh hưởng tới hành vi của con người. Hãy xem, khi robot có mặt trong phòng và thỉnh thoảng nhìn những người tham gia thì những người này xử sự chân thật và đàng hoàng hơn. Sự có mặt của robot cũng có hiệu quả y như sự hiện diện của một người khác.  Từ tất cả những thí nghiệm này, chúng tôi nhận rõ một điều: con người sẵn sàng rũ bỏ hoài nghi và thiếu tin tưởng đối với robot. Con người đặt các nhu cầu xã hội và nhu cầu giữa người với robot tương tự như giữa con người với nhau.   Hơn thế nữa, khi người ta cùng làm việc càng lâu với một robot nhất định thì lại càng có mong muốn mạnh mẽ đến lúc nào đó robot biết phát huy sáng kiến, biết tự đánh giá  –  thay vì chỉ biết thụ động chờ lệnh. Điều này là một phần mong đợi của chúng tôi đối với trí tuệ nhân tạo.  Từ đó dẫn đến câu hỏi, chúng ta để cho máy móc kiểm soát bao nhiêu phần và robot đảm nhận bao nhiêu phần trong quyết định vốn dĩ là của con người. Đây không đơn thuần là câu hỏi mang tính kỹ thuật đối với kỹ sư về robot và chuyên gia tin học mà là câu hỏi với toàn thể xã hội.  Người ta phải hiểu rằng, không có ranh giới giữa cơ học và ý chí. Một cái cửa mở tự động ít nhiều biết ra quyết định mở cửa khi ai đó đến gần. Nhưng điều gì xảy ra khi việc mở cửa liên quan đến khả năng nhận diện khuôn mặt? Và khi phần mềm này dự đoán, rằng con người kia thuộc nhóm bất hảo để dẫn tới quyết định không cho người này vào nhà?  Thực ra vấn đề ở đây chỉ là một cơ chế toán học đơn giản nhưng lại can thiệp bất ngờ vào cuộc sống thật. Vì vậy chúng ta phải quyết: trong tình huống nào thì trao quyền quyết định – tức là trao bớt quyền kiểm soát, và nếu có thì trao bao nhiêu?  Những vấn đề quan trọng mang tính xã hội và văn hóa  Hiện nay chúng ta đã để cho những thiết bị điều khiển qua GPS dẫn đường đưa mình về nhà. Vậy liệu chúng ta có dám trao cho máy móc quyền quyết định lựa chọn những phương pháp điều trị kéo dài sự sống của người thân không?  Tại Israel có sáng kiến về  “Robots in Human Society” (Robot trong xã hội con người), tôi cùng với  đồng nghiệp Dan Halperin và  Lior Zalmanson đã đề xuất sáng kiến này. Hàng năm, chúng tôi đều có những cuộc thảo luận về chủ đề luôn mới mẻ  này trên diễn đàn, tuy nhiên không nên chỉ có các nhà khoa học mà cần cả toàn thể xã hội quan tâm đến những cuộc thảo luận này.  Có một số khía cạnh pháp lý về việc robot chịu trách nhiệm như thế nào với những hoạt động của mìn, trong đó có những khía cạnh về văn hóa, nhưng cũng có những vấn đề về kinh tế liên quan đến tương lai của lao động. Phần lớn các nhà kinh tế đều cho rằng, trước hết những người có thu nhập thấp sẽ bị thiệt thòi vì robot  – tuy nhiên cho đến nay vấn đề này hầu như chưa được chú ý tới.  Việc chối bỏ sự kiểm soát nhất định có thể làm cho robot trở thành đồng nghiệp tốt trong công tác cũng như là bạn đồng hành tốt trong cuộc sống. Nhưng điều này cũng có nghĩa là, những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến trí tuệ nhân tạo và robot không phải là những vấn đề mang tính công nghệ, khoa học kỹ thuật mà là những vấn đề về văn hóa, xã hội. Vì vậy không nên  giao hoàn toàn phần công việc này cho các đơn vị liên quan đến robot.          Guy Hoffman là PGS ở ĐH Truyền thông ở Herzliya (School of  Communication in Herzliya), và đồng giám đốc Phòng thí nghiệm Đổi mới sáng tạo truyền thông (Media Innovation Lab).  Trước đó, ông từng nghiên cứu ở một số đơn vị khác, trong đó có Viện Công nghệ Massachusetts. Từ nhiều năm nay, ông quan tâm tới  sự hợp tác giữa con người và  robot.          Xuân Hoài dịch             Author                Quản trị        
__label__tiasang Rong biển và máy in 3D: cách tiếp cận sáng tạo của Chile để tạo ra thực phẩm mới      Với một máy in thực phẩm 3 D và một cú chuyển hiện đại cho việc sử dụng một nguyên liệu truyền thống là cochayuyo –Durvillaea antarctica một loài tảo bẹ thường mọc rất nhiều ở bờ biển Chile, miền nam New Zealand và đảo Macquarie, Roberto Lemus, một giáo sư trường đại học Chile …    Với một máy in thực phẩm 3 D và một cú chuyển hiện đại cho việc sử dụng một nguyên liệu truyền thống là cochayuyo –Durvillaea antarctica một loài tảo bẹ thường mọc rất nhiều ở bờ biển Chile, miền nam New Zealand và đảo Macquarie, Roberto Lemus, một giáo sư trường đại học Chile và học trò đã tìm cách tạo ra các loại đồ ăn giàu dinh dưỡng và không độc hại với hi vọng là bọn trẻ sẽ thích ăn nó.  Sau khoảng bảy phút, khối hỗn hợp gồm các nguyên liệu này được “in” theo hình dạng nhân vật hoạt hình Pokemon, hay bất cứ loài động vật nào mà người ta có thể hình dung ra từ một máy in 3D. “Chúng tôi đang tìm kiếm những hình dạng khác nhau, các hình thù hài hước… cùng với màu sắc, khẩu vị, mùi…”, Lemus nói với hãng thông tấn AFP.  Nhưng ông nhấn mạnh, tâm điểm của phương pháp này là thành phần dinh dưỡng. “Sản phẩm có thành phần dinh dưỡng rất cao nhưng cũng rất thú vị với mọi người”, ông nói.  Các máy in 3 D thường rất đắt, chi phí lên từ 4.000 đến 10.000 USD nhưng Lemus hi vọng là khi các công nghệ ngày càng phát triển thì chi phí của nó sẽ giảm xuống và vừa túi tiền với mọi người hơn.  Công nghệ này đang được phát triển trong lĩnh vực ẩm thực ở nhiều quốc gia, và các máy in 3 D cũng được dùng để thiết kế ra các loại kẹo, pasta và các loại thực phẩm ngon lành khác.  NASA mới  thử nghiệm in 3 D thực phẩm vào năm 2013 với ý tưởng mở rộng nhiều loại thực phẩm để có thể phục vụ các nhà du hành dùng bữa trong vũ trụ.  Tảo siêu quyền lực   Chile đang nỗ lực thúc đẩy theo hướng này với tảo cochayuyo, một trong những thành phần ẩm thực của người dân vùng duyên hải, vốn giàu amino acids, khoáng chất, i ốt, theo Alonso Vasquez, một học viên cao học tham gia nghiên cứu với Roberto Lemus.  Nhà nghiên cứu trẻ này đã khử nước ở cochayuyo, cắt và nghiền nó để tạo thành bột cochayuyo,sau đó trộn với bột khoai tây và nhồi với nước nóng. Cuối cùng, anh thu được một hỗn hợp sền sệt, kết dính để có thể đưa vào máy in.  “Chúng tôi sử dụng các củ khoai tây, gạo hay tất cả những gì đem lại nhiều bột. Bột của những nguyên liệu thô được kết hợp với tảo cochayuyo là những gì tạo ra được sự bền vững cho nguyên liệu của máy in 3D”, anh nói trong khi chờ máy in kết thúc quá trình tạo ra một con Pikachu cao chừng hai cen ti mét và có khẩu vị của các củ khoai tây cùng rong biển.  Dự án này diễn ra trong vòng hai năm và giờ vẫn còn chưa kết thúc. Ý tưởng của nó là áp dụng các thành phần nguyên liệu này để tạo ra các loại hoa không độc hay các loại màu không độc để đưa vào các món ăn thêm màu sắc hấp dẫn và thu hút với trẻ em.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-06-seaweed-3d-printers-chile-approach.html  Scientists develop new high-strength, seaweed-based hydrogel for 3D printing      Author                .        
__label__tiasang Rosatom sẽ chuyển nhiên liệu MOX cho lò neutron nhanh vào năm 2022      Lò phản ứng số 4 của nhà máy điện hạt nhân Beloyarsk tại Nga sẽ hoàn thành việc chuyển nhiên liệu MOX uranium-plutonium vào năm 2022, đánh dấu một bước chuyển quan trọng tới gần chu trình nhiên liệu kín, tập đoàn năng lượng hạt nhân nhà nước Rosatom (Nga) mới loan báo.      Lò phản ứng BN-800 số 4 tại nhà máy Beloyarsk. Nguồn: Rosatom  Lò phản ứng neutron nhanh BN-800 công suất 789 MW hiện dang được tiếp nhiên liệu bằng ‘lõi lai’ – một dạng vật liệu hỗn hợp mới gồm có uranium và plutonium oxide tạo thành nhiên liệu. Việc chuyển pha sang tổ hợp nhiên liệu MOX sẽ bắt đầu trong nửa đầu năm sau.  “Lò phản ứng BN-800 sẽ được chuyển từ lõi lai sang lõi với việc tải đầy đủ các tổ hợp nhiên liệu MOX. Hiện nhiên liệu MOX đang được chúng tôi chế tạo tại Khu Liên hợp Mỏ và hóa chất ở vùng Krasnoyarsk và bao gồm uranium dioxide và plutonium dioxide theo hình thức các viên nhiên liệu“, Vladimir Shaloumov, người phụ trách bộ phận Tin cậy và an toàn hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Beloyarsk, cho biết.  “Theo thiết kế thì lò phản ứng BN-800 được tập trung vào việc sử dụng nhiên liệu MOX như một trong những giai đoạn của con đường nội địa hóa năng lượng hạt nhân để phát triển một chu trình nhiên liệu hạt nhân kín”, ông cho biết thêm.  Một chu trình nhiên liệu hạt nhân kín sẽ cho phép sáng tạo năng lượng hạt nhân “hợp phần kép”, Rosatom thông báo, “với sự vận hành đồng thời các lò phản ứng neutron nhiệt và neutron nhanh”. Rosatom cũng cho biết thêm là nó sẽ góp phần ‘mở rộng cơ sở nhiên liệu của năng lượng hạt nhân nhiều lần hơn, bao gồm đồng vị uranium-238, đảm bảo cho tái sử dụng nhiên liệu hạt nhân và cả giảm thiểu chất thải phóng xạ”.    Công suất của lò phản ứng số bốn ở nhà máy điện hạt nhân sẽ vượt qua lò phản ứng số ba BN-600 công suất 560 MW cũng tại Beloyarsk, lò phản ứng neutron nhanh có công suất số hai thế giới.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/Rosatom-plans-progress-to-closed-nuclear-fuel-cycl       Author                Quản trị        
__label__tiasang Rubella có thể lây truyền từ động vật sang người      Trước đây, loại virus gây ra bệnh Rubella (hay còn gọi là bệnh sởi Đức) là ‘thành viên’ duy nhất trong chi Rubivirus và các nhà khoa học chưa bao giờ xác định được họ hàng gần của nó. Tuy nhiên, một bài báo trên tạp chí Nature mới đây đã cho thấy, rubella có một ‘gia đình’ với hai virus họ hàng ruhugu và rustrela.      Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một loại virus có liên quan đến bệnh rubella ở những con dơi nếp mũi cyclops (cyclops leaf-nosed bats) khỏe mạnh trong rừng quốc gia Kibale ở Uganda. Ảnh: Emily Julka/sciencemag.org  Theo các nhà nghiên cứu, những phát hiện này là một minh chứng quan trọng cho việc ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, một loại virus tương tự đã lây truyền từ động vật sang người và sinh ra virus rubella ngày nay. Mặc dù những virus mới được tìm ra chưa cho thấy khả năng truyền bệnh từ động vật sang người, tuy nhiên việc có một loại virus lây truyền giữa các loài động vật khác nhau đã làm dấy lên lo ngại: hai virus này và cả những virus khác chưa được biết đến sẽ gây bùng phát dịch bệnh cho con người. “Sẽ là thiếu sót lớn nếu bỏ qua vấn đề này, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay”, nhà dịch tễ học Tony Goldberg của Đại học Wisconsin, Madison, tác giả chính của nghiên cứu, nhận định.   Là loại virus có khả năng lây nhiễm rất cao, virus rubella thường gây ra sốt và phát ban. Tuy nhiên đối với phụ nữ có thai, nó còn có thể dẫn đến sảy thai, thai chết lưu, hoặc con sinh ra mắc hội chứng rubella bẩm sinh – bị điếc và có các vấn đề về mắt, tim và não. Theo ước tính, có khoảng 100.000 trẻ sơ sinh bị hội chứng này ảnh hưởng mỗi năm, trong đó các ca hầu hết xảy ra ở châu Phi, phía Tây Thái Bình Dương và phía Đông Địa Trung Hải. Ở nhiều quốc gia khác, vaccine đã làm hạn chế sự lây lan của sởi, quai bị và rubella (MMR).  Goldberg và sinh viên cũ của mình là Andrew Bennett đã phát hiện ra một trong hai loại virus mới ở ruhugu, các con dơi nếp mũi cyclops dường như rất khỏe mạnh ở Vườn quốc gia Kibale tại Uganda. Ruhugu có cấu trúc bộ gene giống hệt với cấu trúc của virus rubella, đồng thời 56% axit amin trong 8 protein của nó cũng khớp với axit amin của rubella. Các protein tương tác với các tế bào miễn dịch của vật chủ cũng gần như giống hệt nhau ở cả hai loại virus.  Trong khi chuẩn bị công bố kết quả này, họ biết một nhóm nghiên cứu khác do Martin Beer ở Viện Nghiên cứu Friedrich-Loeffler dẫn dắt cũng phát hiện ra một họ hàng của rubella trong mô não của một con lừa, một con kangaroo và một con chuột lang nước – chúng đều chết vì bệnh viêm não tại một vườn thú. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện loại virus tương tự ở chuột đồng cổ vàng hoang dã bắt tại sở thú hoặc trong khu vực có bán kính 10 km. Những con chuột này dường như đều khỏe mạnh, cho thấy chúng có thể chính là một ổ virus tự nhiên làm lây lan virus sang những động vật khác. Khi so sánh các dữ liệu với nhau, các nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy, hai loại virus mà họ phát hiện ra đều liên quan đến nhau, mặc dù virus ruhugu có quan hệ gần gũi với rubella hơn loại virus thứ hai có tên rustrela – được đặt theo tên một đầm phá ở biển Baltic. Trước kết quả này, cả hai nhóm đã quyết định công bố nghiên cứu cùng nhau.  Goldberg cũng lưu ý, hai loại virus khác chủ yếu gây bệnh cho trẻ em là sởi và quai bị cũng bắt nguồn từ động vật. “Bây giờ chúng ta đã biết được rằng cả ba bệnh sởi, quai bị và rubella trong tên vaccine MMR đều có nguồn gốc từ động vật”, ông nói. Họ lo ngại sẽ có thể tìm thấy các loại virus Rubivirus khác khi tiếp tục nghiên cứu.  Nhà nhân chủng học phân tử Anne Stone ở ĐH bang Arizona đánh giá, công bố này “có ý nghĩa rất quan trọng bởi trước đây chúng ta gần như chưa biết về nguồn gốc của rubella. Chúng ta chưa biết bất kỳ họ hàng gần nào của nó”. Bà cũng cho biết, những kết quả nghiên cứu đã làm nổi bật tầm quan trọng của phương pháp tiếp cận Một Sức khỏe (One Health) – hướng tiếp cận cho rằng sức khỏe của con người có liên quan mật thiết đến sức khỏe của động vật và môi trường xung quanh.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/10/newly-discovered-viruses-suggest-rubella-jumped-animals-humans    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng ngập mặn đã bắt carbon trong 5.000 năm      Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một nguyên nhân mới để bảo vệ các khu rừng đước ngập mặn: chúng đã giữ carbon khỏi bầu khí quyển trái đất suốt 5.000 năm qua.    Cây đước, sú, vẹt… sống trong những điều kiện cực đoan mà hầu hết các loài cây khác không thể sống nổi, ví dụ như nước biển. Một số loài còn có bộ rễ dài dẫn khí hoạt động giống như ống thở khi thủy triều lên cao, đem lại cho cây dáng vẻ trôi nổi trên những cái cột.  Một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học ở UC Riverside và UC San Diego đã thữ hiện một nghiên cứu để tìm hiểu về cách các khu rừng ngập mặn ven biển ở La Paz, Mexico, hấp thụ và phát thải các nguyên tố như nitrogen, carbon, các quá trình xử lý mà người ta vẫn còn là chu trình sinh địa lý.  Vì các quá trình này được các vi sinh vật dẫn dắt nên nhóm nghiên cứu muốn hiểu loài vi khuẩn và nấm đang phát triển ở đó.  Nhóm nghiên cứu từng cho là carbon có thể được tìm thấy trong lớp bùn bên dưới khu rừng này nhưng họ lại không ngờ rằng carbon lại có 5.000 năm tuổi. Kết quả này, cùng với miêu tả về các vi sinh vật mà họ nhận diện được, đã xuất hiện trong công trình xuất bản trên tạp chí Marine Ecology Progress Series.  “những gì đặc biệt về các địa điểm có rừng đước này không chỉ là việc chúng là nơi lưu trữ carbon với tốc độ nhanh nhất mà còn giữ carbon lâu nhất”, Emma Aronson, nhà vi sinh vật môi trường UCR và tác giả liên hệ của nghiên cứu nói. “So với các hệ sinh thái khác trong khu vực thì nó là nơi lưu trữ nhiều carbon hơn cả”.  Đám bùn dưới những cây đước là một sự kết hợp của trầm tích ngập nước và phần vật chất hữu cơ đã phân hủy. Trong một số mẫu lấy từ khu vực nghiên cứu, lớp bùn mở rộng tới khoảng 10 feet dưới mực nước biển.  Chỉ có ít oxy có thể đi tới phần sâu nhất của lớp bùn đó. Đó là lý do giải thích tại sao nhóm nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ loài nấm nào sống ở đó; thông thường nấm được tìm thấy ở gần như mọi môi trường trên trái đất. Tuy nhiên, để phần lớn các loài nấm phân hủy các hợp chất chứa carbon thì chúng cần có oxy. Nhóm nghiên cứu có thể khám phá thêm sự vắng mặt của nấm trong các nghiên cứu về bùn ở rừng ngập mặn trong tương lai để tìm hiểu hơn về vấn đề này.  Có hơn 1.100 loại vi khuẩn sống bên dưới rừng đước tiêu thụ và bài tiết một lượng vô cùn phong phú các nguyên tố hóa học. Nhiều loại trong số này hoạt động trong các môi trường cực đoan với lượng oxy thấp hoặc thậm chí là thiếu oxy. Tuy vậy các loại vi khuẩn này không hề hiệu quả trong việc phân hủy carbon.  Càng đi xuống sâu hơn lớp đất bùn, người ta càng tìm thấy ít các vi sinh vật hơn. Không có nhiều loại có thể phân hủy carbon ở đây, hoặc chính bùn”, Mia Maltz, nhà sinh thái học vi sinh UCR và một trong số tác giả nghiên cứu. “Bởi vì thời gian phân hủy nó quá dài, không dễ dàng để làm điều đó hoặc tái tạo cả cộng đồng vi sinh vật bên trong nó”.  Có những hệ sinh thái khác trên trái đất vẫn được biết là có độ tuổi tương đồng hoặc thậm chí chứa carbon có độ tuổi lớn hơn. Lớp băng vĩnh cửu ở Bắc Cực hay Nam Cực, nơi băng dày đến mức không cho phép thoát khí, ví dụ như vậy. Về mặt tiềm năng, những khu rừng ngập mặn khác cũng như vậy. Các nhà gnhieen cứu hiện giờ đang tìm các địa điểm nghiên cứu rừng ngập mặn khác ở Hawaii, Florida và vịnh Yucatan Mexico. “Các địa điểm này đang bảo vệ carbon hàng thiên niên kỷ. Việc tác động lên chúng có thể là nguyên nhân phát thải carbon mà chúng ta không thể đủ năng lựa để sửa chữa”, Matthew Costa, nhà sinh thái học duyên hải UC San Diegovà là tác giả thứ nhất của nghiên cứu.  Carbon dioxide làm gia tăng hiệu ứng nhà kinh đang là nguyên nhan khiến cho hành tinh này nóng lên. Costa tin là chỉ có một cách để giữ vấn đề này khỏi trở nên xấy hơn là để cho rừng ngập mặn không bị xáo trộn.  “Nếu chúng ta để những khu rừng ngày giữ đúng chức năng của mình, chúng có thể giữ lượng carbon mà chúng đã cô lập khỏi bầu khí quyển, về cơ bản là mãi mãi”, Costa nói. “Những cây đước có một vai trò quan trọng trong việc giảm bớt tình trạng biến đổi khí hậu”.  Thanh Phương  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-mexican-mangroves-capturing-carbon-years.html  https://tabbed.info/science/details/29397/New-Reason-to-Protect-Mangrove-Forests    Author                .        
__label__tiasang Ruồi robot bay thử thành công      Tạp chí Science News bản online mới đây đưa tin một nhóm nhà khoa học Mỹ đã bước đầu chế tạo thành công loại robot có cánh tự bay như ruồi. Đôi cánh của loại robot côn trùng này có thể đập với tốc độ 120 lần/giây, tương đương tốc độ đập cánh của ruồi.       Quan sát loài ruồi, ta thấy chúng có khả năng dễ dàng nhanh chóng đổi hướng bay để tránh tai họa (như khi ta đập vỉ ruồi vào chúng), và có thể đậu yên ổn trên một vật đang bị gió cuốn đi – các đặc tính này không thấy ở các loài sinh vật có cánh khác. Nghiên cứu cho thấy, một biến đổi nhỏ khi cánh côn trùng chuyển động có thể tạo ra lực quay giúp côn trùng nhanh chóng đổi hướng bay. Các đặc điểm nói trên đã thu hút sự chú ý của giới khoa học, và họ đã bắt đầu nghiên cứu chế tạo loại robot bắt chước cách bay của côn trùng từ nhiều năm nay.  Theo nguyên lý cơ học bay, lực cản và lực ma sát có ảnh hưởng rất lớn đối với các vật thể nhỏ. Vì thế rất nhiều chi tiết của các loại robot cỡ lớn, như bánh răng và ròng rọc đều không thích hợp với các dụng cụ bay cỡ nhỏ. Robert Wood ở Đại học Harvard cùng các cộng sự đã nghiên cứu chế tạo các chi tiết có thể nâng cao tính năng các bộ phận chính của ruồi robot. Họ ứng dụng vật liệu gốm có tính năng áp điện (piezoelectric) để làm cơ bắp cánh bay, là loại vật liệu có thể co dãn tùy thuộc vào sự biến đổi điện trường. Họ cấy hai cơ bắp cánh bay vào thân robot làm bằng sợi carbon. Điện trường biến đổi làm cho cơ bắp cánh áp điện co dãn khiến bộ cánh đập lên đập xuống hệt như cánh côn trùng. Bằng cách biến đổi cường độ và tần số điện trường, họ làm cho cánh robot đập với cường độ và tần số khác nhau.  Sau 10 năm nghiên cứu thí nghiệm, Wood và cộng sự đã thành công trong việc làm cho robot côn trùng bay được. Họ đã làm ra một số mẫu robot côn trùng, trong đó loại tốt nhất có bộ cánh có thể đập 120 lần/giây, gần bằng tốc độ đập cánh của ruồi. Robot này tiêu hao năng lượng khoảng 19 mW, tương đương năng lượng mà loại côn trùng cùng kích cỡ như vậy cần dùng khi bay. Trước khi robot rơi xuống, nó có thể bay liệng, bay tiến, bay lùi, hoặc dừng khoảng hơn 20 giây trong không trung.  Mặt chưa đạt của các robot côn trùng là chúng chưa được lắp các thiết bị động lực kèm, các bộ truyền cảm và bộ điều khiển. Bộ cánh robot chưa tinh vi phức tạp như cánh côn trùng.  Dickinson cho rằng công trình nghiên cứu nói trên “là một tiến bộ làm kích động lòng người” nhưng để chế tạo được loại robot bay tự chủ đích thực, hãy còn một chặng đường dài phía trước.  NHH  dịch theo sciencenews.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rút ngắn thời gian thi công nhờ công nghệ bê tông nhẹ      Trong quá trình đi tìm vật liệu mới với tiêu  chí giảm giá thành, tránh gây ô nhiễm môi trường để thay thế những loại  vật liệu truyền thống, ThS Nguyễn Quang Huy, Công ty cổ phần Đầu tư và  Phát triển Vật liệu Composit Sao Đỏ, đã tìm ra được bê tông siêu nhẹ  (hay còn gọi là bê tông xốp).     Đây cũng là giải pháp công nghệ mà ThS Nguyễn Quang Huy đưa tới tham dự chương trình Sáng tạo Việt 2013 vừa qua.   Được làm từ những nguyên liệu cơ bản như xi măng, cát và chất phụ gia tạo bọt, bê tông xốp được đánh giá là nhẹ và bền, có khả năng cách âm, cách nhiệt rất tốt. Ưu điểm đặc biệt của loại vật liệu mới này đã mở ra cho nó những khả năng ứng dụng mới như xây tường ngăn, tường bao cho các chung cư cao tầng, hỗ trợ về mặt kết cấu cho các vùng đất không ổn định, giảm tải trọng cho các lớp lấp ở phía trên kết cấu ngầm, lấp các công trình ngầm không còn được sử dụng, lớp đệm cho các bể và đường ống ngầm… Hơn nữa, việc sử dụng bê tông xốp cũng làm rút ngắn thời gian thi công các công trình xây dựng, giảm giá thành phần kết cấu như móng, khung… từ 15 đến 20%, qua đó giảm giá thành đầu tư vào công trình.  Tuy vậy, điểm yếu lớn nhất của bê tông xốp là cường độ chịu lực còn ở mức thấp hơn so với bê tông truyền thống. Đây cũng là lý do giải thích vì sao, bê tông nhẹ vẫn không thể thay thế bê tông truyền thống trong vai trò làm khung chịu lực cho các tòa nhà.   Với những tính năng của mình, bê tông xốp đã được giới thiệu rộng rãi đến nhiều doanh nghiệp, đối tác xây dựng và được đưa vào sử dụng trong quá trình thi công nhiều khu đô thị, giúp tiết kiệm đáng kể thời gian thi công và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ những hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ thi công nhà bên tông nhẹ không tháo cốp pha này, công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Vật liệu Composit Sao Đỏ đã đạt doanh thu 11 tỷ đồng trong năm 2013. Từ hướng nghiên cứu thành công đạt hiệu quả cao này, công ty đang chuyển hướng và bắt đầu bước vào quá trình xin cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sắc màu SINGAPORE      Singapore vốn nổi tiếng với màu xanh lá cây. Nhưng bên cạnh màu xanh của cây cối, đất nước này còn để lại ấn tượng với nhiều sắc màu khác thể hiện ở những tòa nhà được sơn xanh, đỏ, tím, vàng…    Những gam màu mạnh mẽ và tươi sáng ấy tạo nên sự bất ngờ ở Singapore, vì khi ngắm nhìn ở một góc độ nào đó, chúng khiến đảo quốc hiện đại vào bậc nhất trên thế giới này trông ngộ nghĩnh và vui mắt như một vườn trẻ.  Những ngôi nhà nhiều màu sắc xuất hiện nhiều nhất ở khu ba cây cầu cảng Clarke Quay, Anderson Quay và Boat Quay – bến cảng xưa của Singapore. Ngược với hình dung về một bến cảng xưa, đáng lẽ ra phải là nơi xuất hiện những căn nhà mái ngói rêu phong thì khu vực này lại tập trung những ngôi nhà một trệt một lầu có quy hoạch rất rõ ràng về màu sắc. Sau một loạt nhà sơn màu xanh lá cây, đến một loạt nhà sơn màu xanh dương, rồi màu cam, màu hồng… Những quán cà phê tại đây cũng chọn những màu sắc tươi tắn nhất để trang trí. Kiến trúc nhà ở, kho hàng từ thế kỷ trước vẫn được giữ nguyên, chỉ có màu sắc được sơn phết lại khiến cho quang cảnh chung của cả khu nhìn khá ngộ nghĩnh và tươi vui. Những ngôi nhà này tương phản với màu xám của hàng loạt các kết cấu chọc trời ngay sau lưng khu phố cổ, và nó có hiệu quả không nhỏ trong việc thu hút khách du lịch.  Một khu phố thứ hai cũng rất nhiều màu sắc, đó là China Town. Ngoài những căn nhà sơn nhiều màu như Clarke Quay, China Town còn sặc sỡ với những bảng hiệu, những ngôi đình, chùa… Khu phố của người Hoa này cũng giống như những China Town khác trên thế giới, chỉ có điều là sạch sẽ hơn rất nhiều. Bạn có thể nhìn thấy những ngôi nhà có mái đỏ, tường màu vàng và cửa sổ màu xanh dương. Sự kết hợp màu sắc đem lại cảm giác ở đây dường như không gì là không thể.  Tom Galvin, một du khách, nhận xét: “Những tòa nhà chọc trời ở khu Raffles City có thể gây ấn tượng, nhưng tôi lại có cảm giác những khối kiến trúc cao lớn kết hợp giữa sắt thép và thủy tinh với hai màu xám và trắng ấy dường như rất lạnh lùng. Tôi thích những bức tường nhiều màu sắc ở Clarke Quay và China Town hơn. Rất thân thiện và không ẩn chứa mối đe dọa nào”.  Ngay cả một số cơ quan nhà nước của Singapore cũng sơn những màu sắc tươi vui. Bộ Văn hóa Thông tin và Nghệ thuật (MICA) là một ví dụ. Đi thuyền từ sông Singapore nhìn lên, bạn sẽ thấy một toà nhà lớn có những khung cửa sổ sơn năm màu: đỏ, tím, vàng, xanh lá cây, xanh dương. Ngôi nhà này được khách du lịch chụp hình khá nhiều vì cách sử dụng màu sắc ấn tượng và vui mắt. Theo giải thích của một chuyên viên thuộc MICA thì năm màu này tượng trưng cho sự sáng tạo, phong cách chuyên nghiệp, niềm đam mê, sự tự hào, tinh thần gắn kết cộng đồng và là biểu hiện cho sự sống luôn tiếp diễn. Cũng là một cách lý giải đầy sáng tạo cho những sự lựa chọn độc đáo và không theo lối mòn.  Việc sử dụng màu sắc tươi sáng cho những khu nhà chung cư cao tầng lại nhằm mục đích khác. Theo tài xế taxi Ishak Hassan, những màu sắc của chung cư khiến tâm lý người dân vui vẻ và đỡ cảm thấy nhàm chán khi trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi. Cũng cần nói thêm rằng người dân Singapore phải làm việc mỗi ngày từ 10-12 tiếng trong áp lực công việc rất cao. Việc xây nhà chung cư có màu sắc vui mắt, ngoài mục đích làm đẹp cho thành phố, còn là sáng tạo của những người xây dựng nhằm đem lại chất lượng sống tốt hơn cho cộng đồng dân cư. Nó khiến người ở thấy hứng thú hơn và khả năng sáng tạo do vậy cũng được nâng cao hơn (ít nhất là theo lý thuyết).  Singapore đang nhắm đến việc phát triển ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm thiết kế, truyền thông, nghệ thuật và văn hóa để tạo nên một Singapore độc đáo hơn. Chính phủ dự định đầu tư khoảng 200 triệu USD cho lĩnh vực này. Không biết việc sơn phết nhà cửa với nhiều màu sắc có phải là một cách thể hiện mong muốn đổi mới liên tục và phát triển ngành công nghiệp sáng tạo của đất nước này không. Nhưng ít nhất thì những màu sắc ấy cũng để lại ấn tượng ấm áp hơn về Singapore. Tom Galvin tâm sự: “Tôi rời khỏi Singapore với một cảm giác khá thú vị là ở đây không chỉ có những tòa nhà chọc trời và một nền công nghiệp hiện đại. Singapore còn có nhiều hơn thế nữa”.  Quang Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách “Cuộc chơi khởi nghiệp”: Chữ “tín” trong đầu tư      Trong bối cảnh khởi nghiệp là câu chuyện mà khắp nơi nói tới, những nhân vật chính trong câu chuyện vẫn không ít người còn đang lơ mơ: Nhà đầu tư là ai? Trông họ ra sao? Họ ra quyết định thế nào? Họ giúp gì được chúng ta?      Còn bản thân những người có tiền, mong muốn tìm những công ty/dự án tốt để đầu tư cũng không biết phải dựa trên những tiêu chí gì. Cả nhà đầu tư và người được đầu tư không biết sẽ duy trì quan hệ với nhau ra sao. Vì vừa e ngại vừa chưa hiểu biết, nên mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp trở nên cứng nhắc, không hiệu quả. Startup hoặc rơi vào trạng thái giữ thái độ dè dặt kém tự tin, sợ sệt mặc dù cần nhà đầu tư, hoặc rơi vào trạng thái tự mãn – cả hai đều khiến mối quan hệ đổ bể rất sớm. Nhà đầu tư cũng không ít người mang thái độ ban phát đi làm việc với startup, thậm chí can thiệp quá sâu vào vận hành doanh nghiệp dẫn đến thất bại cho cả hai.  Có thể bạn sẽ nghĩ truyền thống gia đình, kinh nghiệm và đương nhiên, tài chính, là ba yếu tố tạo nên một nhà đầu tư mạo hiểm thành công. Câu trả lời là không hẳn như vậy. Khi đọc kỹ cuốn sách, bạn sẽ thấy trong con người nhà đầu tư, sự yêu thích mạo hiểm là một tố chất. Họ muốn sử dụng tiền để tạo ra lợi nhuận, họ sẵn sàng hợp tác và làm việc với những doanh nhân giỏi khác để cùng đầu tư. Đích họ hướng tới là lợi nhuận (sự tăng trưởng của công ty và chiến lược thoái vốn khi cần), nhưng họ còn muốn hướng tới mối quan hệ lâu dài tốt đẹp với con người và doanh nghiệp mà họ đầu tư. Và không kém phần quan trọng, họ theo đuổi đam mê được làm một phần trong sự phát triển và đổi mới sáng tạo. Bạn sẽ nhận thấy niềm hạnh phúc của họ khi thương vụ họ đầu tư mở ra một ngành mới.  Cuốn sách được viết bởi một nhà đầu tư mạo hiểm điển hình – William Draper III – nhưng không được ca ngợi về những chiến tích trong đầu tư mà bởi tinh thần “fair-play”- chơi đẹp, hành xử lịch thiệp và đúng mực – giúp người đọc không chỉ hiểu về đầu tư mà còn trả lời được câu hỏi lớn – thế nào là “chơi đẹp” trong đầu tư? “Chữ tín” là câu trả lời. Nhà đầu tư chỉ muốn làm việc với những người mà họ tin tưởng. Và lòng tin này được khẳng định qua những yếu tố sau của một doanh nghiệp khởi nghiệp: Những ai đang cấp vốn cho công ty của bạn;  Đội ngũ doanh nhân của công ty; “Tiếp thị” sản phẩm và thị trường (đặc điểm thị trường, thuyết trình v.v); Hợp đồng/Thỏa thuận (tỷ lệ phân chia 50-50; 90-10; 80-20 v.v.); Mối quan hệ (mối quan hệ tư vấn, hỗ trợ tuyển dụng, tìm ứng viên mua bán sáp nhập, hay nhận định về CEO của doanh nghiệp, họp ban quản trị v.v.)  Đọc cuốn sách, bạn cũng sẽ hiểu rõ hơn về những giai đoạn sau khi đầu tư vào một dự án của quỹ đầu tư mạo hiểm. Trong giai đoạn “Thử và sai”, vai trò của Ban Quản trị hỗ trợ đội ngũ quản lý mới sẽ như thế nào? Giai đoạn “Đầu tư rót vốn” đặt ra mục tiêu gì và mang tính quyết định cho giai đoạn sau ra sao? Ở giai đoạn “Kết thúc đầu tư / thoái vốn”, họ sẽ tìm lối thoát và giữ uy tín bằng cách nào?  Cuốn sách cũng đưa ra 10 lỗi cơ bản và tố chất của doanh nhân thành đạt. Điều này không chỉ giúp các doanh nhân khởi nghiệp tự soi lại mình mà còn là tiêu chí mà nhiều nhà đầu tư nên nhìn vào để đánh giá mỗi dự án mình định đầu tư. Là người giới thiệu cuốn sách này đến bạn, tôi thực sự khuyên bạn hãy đọc từng trang của cuốn sách một cách cẩn thận và ghi chép. Đó không chỉ là câu chuyện về đầu tư, đó là câu chuyện về nhiệt huyết, đam mê, tinh thần lao động nghiêm túc và sự chính trực làm nền tảng cho mọi thành công.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực      Mặc dù không phải là công cụ dạy và học duy nhất nhưng sách giáo khoa là một trong những tài liệu học tập quan trọng nhất đối với việc dạy và học trong nhà trường. Bài viết này nêu sơ bộ quan điểm cá nhân về một số vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc nghiên cứu, biên soạn và phát triển sách giáo khoa như quan niệm về sách giáo khoa, bản chất và yêu cầu của sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực.      Sách giáo khoa phải là sách được biên soạn dành cho học sinh (sao cho học sinh có thể tự học được chủ yếu dưới sự hướng dẫn của giáo viên và trong sự tương tác với bạn học). Nguồn: Kênh tuyển sinh.  Quan niệm về đối tượng sử dụng sách giáo khoa  Vấn đề đầu tiên dường như chi phối toàn bộ cấu trúc, nội dung và cách thể hiện cụ thể của sách giáo khoa chính là quan niệm như thế nào là sách giáo khoa. Cùng gắn liền với một chương trình giáo dục, song các bộ sách giáo khoa khác nhau có thể có mô hình, cấu trúc rất khác nhau do có quan niệm xuất phát khác nhau. Ở ta, chưa có sự phân định rõ ràng và dứt khoát giữa sách dùng cho học sinh học, sách dành cho giáo viên dạy học, sách bài tập và sách tham khảo cho học sinh.  Nghị quyết 40 của Quốc hội (năm 2000) quan niệm sách giáo khoa gồm cả sách (do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn) dùng cho học sinh, sách dùng cho giáo viên, sách (bài tập) dùng cho cả học sinh lẫn giáo viên. Trong Công văn số 1372 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013) phân định và quan niệm: “Sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Sách giáo khoa là tài liệu chính thức để giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh và là tài liệu chính để học sinh học tập. Khi giáo viên, học sinh sử dụng sách giáo khoa, nếu gặp tình huống có các cách hiểu khác nhau về một nội dung nào đó giữa sách giáo khoa và chương trình thì lấy chương trình làm căn cứ để dạy học”. Đây là một quy định pháp quy, tương đối chặt chẽ, có sự phân biệt rõ ràng giữa sách giáo khoa với sách giáo viên, sách bài tập, sách tham khảo và tài liệu giáo dục địa phương, song cách hiểu này vẫn cho phép người ta diễn giải nội hàm sách giáo khoa theo nhiều cách khác nhau. Chính nét nội hàm “dành cho đối tượng sử dụng” là cái cho phép người ta hiểu không giống nhau: sách giáo khoa có thể là sách có nội dung chỉ dành cho học sinh (tự học), hoặc dành cho cả học sinh lẫn giáo viên (hai trong một), hoặc dành cho cả học sinh, giáo viên và phụ huynh học sinh (ba trong một). Thực tế sách giáo khoa hiện nay của chúng ta chủ yếu là loại sách dành cho cả học sinh lẫn giáo viên. Chính điều này đã góp phần gây nên tình trạng nhiều nội dung dạy học vốn rất quan yếu, vừa sức và phù hợp với học sinh cuối cùng lại bị xã hội cho là quá sức, quá tải.  Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể (2016) định nghĩa “Sách giáo khoa là tài liệu chính để dạy và học trong nhà trường, đáp ứng được những tiêu chí do Nhà nước quy định, có tác dụng hướng dẫn hoạt động dạy và hoạt động học, chủ yếu về nội dung và phương pháp dạy học”. Cách hiểu này về sách giáo khoa tuy có cụ thể hơn một vài điểm song về thực chất cũng tương tự như cách hiểu của Công văn 1372. (Tuy nhiên, cho đến giờ chúng ta vẫn chưa có được một danh sách tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá một bộ sách giáo khoa, ngoài bộ Tiêu chí đánh giá sách giáo khoa tiếng Anh (2015). Trong khi ấy, với quan niệm một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa thì bộ tiêu chí đánh giá lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết).  Trước đòi hỏi của xã hội và của giáo dục, việc tiến hành xây dựng bộ sách giáo khoa mới phải xác định rõ ràng và dứt khoát là sách giáo khoa là sản phẩm dành cho học sinh tự học, hay dành cho cả học sinh và giáo viên, hay dành cho cả học sinh, giáo viên và phụ huynh. Theo chúng tôi, theo truyền thống và trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, sách giáo khoa phải là sách được biên soạn dành cho học sinh (sao cho học sinh có thể tự học được chủ yếu dưới sự hướng dẫn của giáo viên và trong sự tương tác với bạn học).  Các cách tiếp cận sách giáo khoa hiện nay  Tính từ những năm 1990 trở lại đây, khi nói đến sách giáo khoa, người ta thường đề cập đến ba cách tiếp cận chính là: cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận kết quả đầu ra, và cách tiếp cận năng lực.  Trên đại thể, có thể nhận xét một cách tương đối rằng: cách tiếp cận nội dung là cách tiếp cận của Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Lào,…; cách tiếp cận kết quả đầu ra là cách tiếp cận của Mĩ, Úc, Thái Lan,…; cách tiếp cận năng lực là cách tiếp cận của Hàn Quốc, Phần Lan, Đức,…  Trên thực tế, hiện nay có khá nhiều nước sử dụng kết hợp các cách tiếp cận này, ví dụ như Pháp, Ấn Độ,… Cách tiếp cận năng lực tuy đã được đề ra và áp dụng từ những năm 1970 trong lĩnh vực dạy nghề ở Anh – Mĩ, và đã trở nên phổ biến hơn ở nhiều nước trên thế giới vào những năm 1990, song cho đến hiện nay vẫn còn có nhiều tranh cãi chung quanh cách tiếp cận này; một số nước phát triển đang có xu hướng xem xét lại cách tiếp cận này (Hirtt, 2009).  Bộ sách giáo khoa hiện hành (theo Chương trình 2000) chủ yếu vẫn được phát triển theo định hướng nội dung kiến thức. Các bộ sách giáo khoa sắp tới, như sự hình dung của Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể (2016) và như những gì mà các cơ quan, bộ phận hữu trách đang bàn thảo hiện nay, sẽ được thiết kế phát triển theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Vậy bản chất của sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực là gì?  Bản chất của sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực  Ở Việt Nam, dường như cách tiếp cận năng lực đối với sách giáo khoa đã là câu chuyện đương nhiên. Khái niệm đương nhiên ở đây được hiểu theo cách có giới hạn. Đương nhiên là do chủ trương từ các bộ phận hữu trách, hữu quan, chứ đương nhiên dường như chưa hẳn là một yêu cầu khách quan tất yếu hoặc lựa chọn chủ quan tốt nhất sau khi đã có sự nghiên cứu lí luận và đánh giá thực tiễn kĩ lưỡng.  Đã có một số danh sách các năng lực chung và các năng lực riêng được đề ra (như trong Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể, chẳng hạn). Thực chất tên gọi và số lượng các loại năng lực khác nhau này (nhất là đối với từng môn học) là gì vẫn còn là một câu chuyện chưa ngã ngũ, và chúng nên được bàn bạc, nghiên cứu tiếp.  Theo chúng tôi, nhìn chung sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực phải là sách giáo khoa giúp học sinh có thể vận dụng và vận dụng một cách thành công tất cả những gì đã học vào cuộc sống. Thay vì trả lời câu hỏi học về cái gì thì sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực phải trả lời câu hỏi học để làm gì. Thay vì cho chúng ta biết học sinh được học cái gì, được có cái gì, được làm cái gì thì sách giáo khoa phải cho chúng ta biết học sinh học được cái gì, có được cái gì, làm được cái gì. Nói cách khác, sách giáo khoa phải giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi đại loại như: Học sinh biết làm gì từ những điều đã học? Học sinh biết vận dụng những kiến thức mình đã được học như thế nào vào cuộc sống?  Học sinh có khả năng, biết làm cái gì và làm như thế nào từ những cái mình biết và những cái mình hiểu?…  Những nhược điểm căn bản của sách giáo khoa hiện nay  Sách giáo khoa hiện nay, bên cạnh những ưu điểm (như phần nào thể hiện được tính tích hợp, tính phân hoá,…), còn có những điểm yếu, bất cập đáng chú ý như:  – Tính đồng bộ, tính liên thông, tính kế thừa, tính hệ thống và sự thống nhất còn yếu. Ví dụ, ở mức độ vĩ mô, hiện nay nhà trường phổ thông của chúng ta sử dụng đồng thời tới ba bộ sách (sách theo Chương trình 2000, sách theo mô hình VNEN, sách Công nghệ giáo dục); ở mức độ vi mô, trong sách giáo khoa Tiếng Việt và Ngữ văn, có những nội dung, những thuật ngữ về hoặc liên quan đến hệ thống dấu câu, các đơn vị ngôn ngữ,… không thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn nhau, có những nội dung sai và ngược với môn học/ khoa học khác (như bài dạy về nghĩa rộng, nghĩa hẹp ở lớp Tám), có những nội dung mơ hồ, không đúng cảm thức bản ngữ (như các bài nói về việc nhận diện kiểu câu trong lớp Hai),…  – Nhiều nội dung sách giáo khoa, như trong sách giáo khoa lịch sử, vì những mục đích và lí do ngoài khoa học, giáo dục đã “bỏ lơ” một phần thực tiễn.  – Tính tự học, thực hành chưa được chú trọng, tính cập nhật chưa cao.    – Tính tham chiếu ngoài yếu (nội dung dạy học không có sự tham chiếu, bổ sung từ các nguồn tham khảo điện tử, trực tuyến hiện nay,…)  – Hình thức trình bày chưa thống nhất,…  Yêu cầu của sách giáo khoa mới  Việc biên soạn sách giáo khoa mới, thiết nghĩ ngoài những yêu cầu bất biến của một bộ sách giáo khoa thông thường ra (như phải đảm bảo về tính hệ thống, tính liên thông, tính kế thừa, tính tích hợp, tính pháp luật, tuân thủ Chương trình, bảo đảm tính tích hợp và sự phân hoá, sự cập nhật, không thiên kiến (về giới, nghề nghiệp, tôn giáo), hình thức trình bày, ngôn ngữ trình bày, có sự hỗ trợ tích cực cho việc đổi mới phương pháp dạy – học, kiểm tra và đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực,…), những yếu tố, vấn đề sau cần phải được chú ý thích đáng:  Thứ nhất, sách giáo khoa không nên quá tập trung vào việc trang bị số lượng kiến thức, nhất là những kiến thức kinh viện, thuần lí thuyết, mà cần chú ý lựa chọn bày những vấn đề, những sự kiện, những tình huống thiết thực, điển hình, có tính đại diện của cuộc sống.  Thứ hai, các vấn đề, sự kiện và tình huống đã chọn phải nên được cân nhắc để trình bày, thể hiện theo lối hành động, thực hành, thực học. Nội dung chính của mỗi bài học hay nhóm bài học nên xác định rõ việc học sinh phải huy động sử dụng những hoạt động và năng lực nào để có thể hoàn thành bài học, và sau khi hoàn thành bài học thì học sinh có thể được phát triển và được hình thành hay phát triển được và có được những năng lực, phẩm chất nào.  Thứ ba, sách giáo khoa cần được biên soạn sao cho học sinh có thể chủ động, tự giác tự học được, có thể tự đánh thức và khai thác các tiềm năng sẵn có trong mình một cách hệ thống, tự nhiên và hiệu quả. Cái nội dung mà học sinh có thể tự học được phải là những thứ vừa sức, phù hợp với trình độ, lứa tuổi của học sinh.  Thứ tư, nội dung sách giáo khoa ở tất cả các môn học đều phải thể hiện rõ được mô hình, phương pháp nhận thức, tức mô hình, phương pháp chiếm lĩnh và hình thành kiến thức, kĩ năng, năng lực nói chung. Trong thời đại của sự chi phối một cách toàn diện và trực tiếp của khoa học và công nghệ như hiện nay thì vai trò của dữ liệu và dữ liệu lớn đã không còn có vị trí như trước, mà phương pháp mới là cái quan trọng và quan trọng hơn. Có phương pháp thì sẽ có dữ liệu. Có phương pháp thì mới phát hiện, thu thập và xử lí được dữ liệu. Ở một khía cạnh nào đó, nhà trường, sách giáo khoa mới phải nhấn mạnh nhiều hơn đến phương pháp, phương pháp tự học, so với kiến thức.  Thứ năm, sách giáo khoa phải giúp học sinh hiểu được rằng những phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề, những kết luận, đáp án cho một bài toán nào đó có thể chỉ là một trong những phương pháp, kết luận, đáp án có thể có; phải giúp học sinh hình thành được lối tư duy phê bình. Trước một bài toán thực tế, đứng từ các góc nhìn khác nhau và dựa trên những tiêu chí xem xét khác nhau, chúng ta hoàn toàn có thể có những cách tiếp cận, và do đó là, những đáp án khác nhau; mỗi cách tiếp cận, đáp án đều có những điểm mạnh điểm yếu riêng của mình. Chọn cách tiếp cận, và do đó, có kết quả nào là do động cơ, điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân. Nhiều sự kiện, vấn đề, tình huống trong sách giáo khoa nên được nhìn nhận thêm từ góc độ lô gích mờ, lô gích đa trị,… chứ không chỉ duy nhất là từ lô gích biện chứng, lô gích đơn trị thuần tuý. Sách giáo khoa phải là phương tiện chính thống để cổ vũ cho tự do tư tưởng và tự do học thuật, cổ vũ cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển, sự công bằng về hưởng thụ thành quả phát triển,…  Thứ sáu, bên cạnh việc phát triển tư duy lô gích, khả năng giải quyết vấn đề, sách giáo khoa phải giúp học sinh phát triển được sự mẫn cảm, nhanh nhạy với thế giới thẩm mĩ và xúc cảm. Như thế cũng có nghĩa là bên cạnh việc đánh thức, kích hoạt và phát huy khả năng của não trái của học sinh, sách giáo khoa phải đánh thức, kích hoạt và phát huy khả năng của não phải của học sinh. Chẳng hạn, khi dạy về các tác phẩm văn học, việc kịch hoá chúng, giúp các học sinh tưởng tượng, sắm vai trải nghiệm các nhân vật là điều cần thiết.  Thứ bảy, các đơn vị kiến thức và các kênh biểu diễn kiến thức phải có sự phù hợp và bổ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, không nên đặt một văn bản khoa học, vốn có tính khách quan và chính xác, bên cạch việc dạy học sinh biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh, nói quá. Hay như, các bức tranh với những ống khói ngút trời, đường giao thông chật ních đủ các loại xe cộ lộn xộn, cổ vũ cho công nghiệp hoá trong thời gian trước đây không còn thích hợp để xuất hiện với mục đích ca ngợi sự giàu có hay nhộn nhịp nữa.  Thứ tám, tính chất động và tính chất mở cần được lưu ý trong bộ sách giáo khoa mới. Việc làm này giúp cho học sinh có thể thích nghi và cập nhật được thực tế xã hội biến động không ngừng bên ngoài. Những kiến thức thuộc về nội dung khoa học cơ bản, có tính chất lí thuyết thì ở một chừng mực nào đó, có thể xem đó là những cái có tính chất đóng và khép kín đối với học sinh, buộc học sinh phải chiếm lĩnh một cách đầy đủ và trọn vẹn từ sách giáo khoa. Nhưng những vấn đề, kiến thức, sự kiện không thuộc về nội dung khoa học cơ bản có tính chất lí thuyết thì bên cạnh việc có thể tự chiếm lĩnh được từ sách giáo khoa, học sinh còn phải biết tự tham chiếu, dẫn xuất, cập nhật từ thực tế, nhất là từ các nguồn tham khảo điện tử, trực tuyến hiện nay. Yêu cầu này, như thế, cũng giả định rằng nhiều nội dung kiến thức dù quan trọng nhưng không nhất thiết phải đưa vào sách giáo khoa, mà chỉ cần nêu hướng dẫn giúp cho học sinh có thể tự mình tìm kiếm qua các nguồn tài liệu tham khảo, đặc biệt là các nguồn tham khảo điện tử, trực tuyến qua mạng; cũng giả định rằng nội dung và cách biểu diễn tri thức, kĩ năng cho học sinh trong sách giáo khoa luôn phải được tham chiếu tới các nguồn tài liệu điện tử, trực tuyến dưới các dạng khác nhau, từ kênh chữ, kênh hình, kênh tiếng đơn thuần đến các kênh có tính chất tổng hợp, từ các kênh tiếp thụ bằng tai mắt thông thường đến các kênh có tính chất tương tác tổng hợp,… (Chẳng hạn, một bài học về tác phẩm Chí phèo phải dẫn học sinh tới sự tham khảo một bộ phim về Chí phèo, một bài học về nghề thủ công nên được tham chiếu đến một phóng sự hay phim tài liệu về các làng nghề thủ công, một bài học về môi trường thì cũng phải giúp học sinh biết tìm kiếm thông tin thực tế về các thảm họa môi trường như Chernobyl hay Formosa).  Đòi hỏi thay đổi sách giáo khoa  Nhìn một cách tổng thể có thể nói rằng sách giáo khoa của ta trước nay được biên soạn chủ yếu theo định hướng phát triển kiến thức, chú trọng nhiều đến việc cung cấp số lượng và nội dung kiến thức, ít quan tâm đến hướng dẫn, phát triển phương pháp học tập, phát triển năng lực vốn có cho học sinh.  Yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi phải thay đổi sách giáo khoa. Sách giáo khoa phải thoả mãn yêu cầu giúp cho học sinh có thể tự học, biết cách tự trang bị kiến thức, vận dụng các kiến thức đó vào việc giải quyết và giải quyết thành công các bài toán trong cuộc sống thực tế. Để làm được điều đó, một trong những điều quan trọng hàng đầu là sách giáo khoa phải giảm bớt nội dung kiến thức được cung cấp song lại tăng cường các nội dung liên quan đến phương pháp, tình huống thực tế.  Cuộc cách mạng công nghệ thông tin nói riêng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung đang tác động mạnh đến mọi phương diện của giáo dục. Vì thế, sách giáo khoa mới phải đảm bảo được sự kết hợp giữa sách giấy và sách điện tử, sách giấy và các nguồn tài liệu tham khảo điện tử.    Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Sài Gòn Food: Tìm sự khác biệt từ phòng thí nghiệm      Theo đại diện của Sài Gòn Food từ lúc ấp ủ ý tưởng đến khi sản xuất thành công một sản phẩm vừa đảm bảo sự khác biệt với những thương hiệu lâu đời hơn vừa kịp thời nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng thì phải mất bảy năm, trong đó có ba năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.     Thành lập năm 2003, dù không có lợi thế về tuổi đời so với nhiều công ty khác trong ngành chế biến thủy hải sản, thực phẩm đông lạnh Việt Nam nhưng Sài Gòn Food đã nhanh chóng nhập cuộc. Sau sáu tháng hoạt động, Sài Gòn Food đã từ chối việc thuê nhà máy gia công sản phẩm để mua nhà máy tại khu công nghiệp Vĩnh Lộc với diện tích 5.000 m2. Đó thực sự là bước đi khởi đầu cho doanh nghiệp lớn sau này.   Nghiên cứu bám sát nhu cầu thị trường  Song song với hành động đột phá đó, tổng giám đốc Sài Gòn Food Nguyễn Văn Hòa quyết định đầu tư vào R&D, bộ phận được chờ đợi sẽ đem lại những đổi mới về sản phẩm để giúp doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường nội địa. Vào thời điểm đó, những thương hiệu lớn như Vissan, Cầu Tre… đang làm mưa làm gió lĩnh vực thực phẩm đông lạnh, và nhiềm vụ đặt ra cho bộ phận R&D trước hết là phải đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh sản phẩm nhằm tạo uy tín với khách hàng.   Sài Gòn Food đã đầu tư mua nhiều thiết bị máy móc đạt tiêu chuẩn quốc tế về trang bị cho các phòng thí nghiệm. Tại đây, các sản phẩm trước khi đưa ra thị trường đều được kiểm nghiệm chặt chẽ, đảm bảo không có dư lượng thuốc kháng sinh cũng như những chỉ tiêu vi sinh trong thực phẩm về e-coli, coliform, salmonella, tả… Năm 2005, Sài Gòn Food đã nhận được chứng nhận đạt hệ thống quản lý an toàn thực phẩm HACCP (Hazard Analysis & Critical Control Points). Vì vậy, độ an toàn trong các sản phẩm của Sài Gòn Food bước đầu đã thuyết phục được người tiêu dùng trong nước với mặt hàng thủy hải sản đông lạnh.  Một trong những tiêu chí của bộ phận R&D Sài Gòn Food là bám sát nhu cầu thị trường, tìm nguyên liệu sẵn có, dễ tìm và phù hợp với năng lực sản xuất của công ty. Trên cơ sở đó, bộ phận R&D đã nghiên cứu cải tiến sản phẩm và đưa ra những sản phẩm mới. Ngoài sản phẩm đông lạnh, Sài Gòn Food có thể phục vụ người tiêu dùng dòng sản phẩm chế biến sẵn, phục vụ ngay bữa ăn hàng ngày như cá trứng kho tiêu, cá trứng tẩm bột, hải sản ngũ sắc, cá saba tiêu xanh…  Công thức bảy – ba  Trên con đường đi tìm những sản phẩm vừa đảm bảo sự khác biệt với những thương hiệu lâu đời hơn, vừa kịp thời nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng, Sài Gòn Food đã nghiên cứu pha chế các loại nước lẩu dùng kèm với các loại thủy hải sản. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Phó tổng giám đốc Lê Thị Thanh Lâm cho biết, từ lúc ấp ủ ý tưởng đến khi sản xuất thành công phải mất bảy năm, trong đó có ba năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.   Trước khi bắt tay vào sản xuất những sản phẩm mang dấu ấn riêng, Sài Gòn Food đã không tiếc tiền thuê một công ty nghiên cứu thị trường với chi phí 100 triệu đồng để tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng. Qua đó, Sài Gòn Food đã “đón lõng” được nhu cầu thực sự của thị trường.   Với sự thận trọng này, ngay từ khi tung ra thị trường, sản phẩm lẩu Thái của Sài Gòn Food đã được người tiêu dùng chấp nhận và trở thành niềm tự hào của cả công ty. Thành công đã đem lại một dòng mặt hàng chủ lực của công ty: lẩu chua cay, lẩu mắm, lẩu hải sản thập cẩm… Dù hiện nay có nhiều công ty theo bước sản xuất mặt hàng nước lẩu nhưng sản phẩm của Sài Gòn Food vẫn được ưa thích nhất.   Sự năng động của bộ phận R&D còn đem lại một thành công khác cho Sài Gòn Food, đó là sản phẩm nước dùng lẩu cô đặc vị mắm, riêu cua, hải sản thập cẩm và lẩu Thái. Nét đặc biệt của nước dùng lẩu cô đặc là chỉ cần bảo quản ở điều kiện bình thường, phù hợp với túi tiền người tiêu dùng và dễ chế biến, sử dụng.   Không chỉ dừng lại ở đây, Sài Gòn Food còn liên tục cải tạo, nâng cấp mặt bằng nhà xưởng và đổi mới dây chuyền công nghệ hiện đại như thiết bị cấp đông IQF (Individual Quick Freezer) có khả năng làm đông lạnh 500kg sản phẩm trong 15 phút, tủ cấp đông tiếp xúc, tủ đông gió, máy hút chân không, máy chiên, thiết bị lọc nước muối, máy rà kim loại, máy băm… Ngay cả nguồn nước sử dụng cũng được lọc và xử lý chlorine trước khi đưa vào sản xuất.   Những nỗ lực từ khâu nghiên cứu, phát triển ý tưởng đến sản xuất trên dây chuyền công nghệ cao đã đem lại những dấu ấn khác biệt trong các sản phẩm của Sài Gòn Food so với nhiều thương hiệu khác. Ví dụ sản phẩm cháo ăn liền được hầu hết các công ty chế biến thực phẩm khai thác nhưng chỉ có Sài Gòn Food mới có dòng cháo bổ dưỡng được đóng gói trong bao bì túi nhôm, dạng bao bì tiên tiến nhất hiện nay ở Việt Nam. Mang tên Sài Gòn Soup, dòng sản phẩm chủ lực này của công ty bên cạnh dòng nước lẩu được đánh giá cao bởi giữ nguyên được giá trị dinh dưỡng, rất tiện dụng khi chỉ cần xé bao bì ra là có “cháo tươi” ăn ngay.   Đạt tiêu chuẩn của thị trường quốc tế  Trên nền tảng thành công ở thị trường nội địa, Sài Gòn Food còn vươn ra những thị trường khó tính như Nhật Bản và châu Âu. Để đạt được những tiêu chuẩn khắt khe của hai thị trường này, Sài Gòn Food đã tiếp tục liên kết với các trung tâm nghiên cứu ứng dụng thực phẩm và tham gia các chương trình kết nối khoa học thực phẩm quốc tế.   Ngoài ra, để đảm bảo đồng bộ trong các công đoạn sản xuất, Sài Gòn Food còn tiếp tục mở rộng thêm 3000m2 nhà xưởng, định hướng sản xuất hàng có giá trị gia tăng cho toàn nhà máy, đồng thời cải tiến các hệ thống quản lý sản xuất đã và đang được áp dụng thành công như ISO 9001, HACCP, Kaizen… Năm 2008, công ty được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm toàn cầu BRC (British Retailer Consortium), bộ Tiêu chuẩn kỹ thuật hàng đầu trong ngành công nghiệp sản xuất, đóng gói, lưu trữ, phân phối thực phẩm an toàn và sản phẩm tiêu dùng.  Sản phẩm của Sài Gòn Food xuất khẩu ra thị trường quốc tế bao gồm cá hồi sushi, cá hồi khè, cá hồi makishin, cá chẽm kirimi, bạch tuộc và cá tra tẩm bột. Riêng thị trường Nhật Bản chiếm tới 70% tổng sản phẩm của công ty.  Chiếm lĩnh được thị trường trong nước và vươn ra quốc tế, Sài Gòn Food đã đạt được nhiều giải thưởng có giá trị cao như Hàng Việt Nam chất lượng cao, Tốp 10 thương hiệu Việt tin cậy… Năm 2014 này, Sài Gòn Food đã nhận được bằng khen của Bộ KH& CN vì đã có nhiều ứng dụng đổi mới sáng tạo, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Samsung phải bồi thường cho Apple hơn 1 tỷ USD      Apple đã thắng vụ kiện gần đây tại Mỹ khi  bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết yêu cầu tập đoàn Samsung phải đền bù tới  1,05 tỷ USD, dựa trên kết luận rằng Samsung đã vi phạm bảy bản quyền trên  các thiết bị di động.     Đây là vụ kiện đầu tiên được đưa ra một tòa án của Mỹ giữa hai tập đoàn đang tranh dành ảnh hưởng trên thị trường điện thoại smartphone toàn cầu.  Chín thành viên bồi thẩm đoàn của tòa án liên bang Mỹ đã phủ quyết các cáo buộc và yêu cầu bồi thường từ phía Samsung. Phiên tòa được tổ chức tại San Jose, California, đưa ra phán quyết ngày hôm qua, trong đó khẳng định rằng tất cả các bản quyền của Apple trong vụ kiện đều hợp lệ.  Ngày hôm qua, giá cổ phiếu Apple tăng 1,8% lên 675 USD vào lúc 7:32 tối, giờ New York, khi đóng phiên giao dịch trên thị trường chứng khoán Nasdaq.  Apple có trụ sở tại Cupertino, California, từ tháng 4 năm 2011 đã tiến hành kiện Samsung, và phía Samsung cũng đã phản công ngược lại tạo thành một trận chiến pháp lý trên bốn lục địa. Ngoài Mỹ, hai công ty còn kiện cáo nhau tại Vương quốc Anh, Úc, và Hàn Quốc.  Những câu hỏi về mức bồi thường chỉ là một số trong hơn 600 câu hỏi mà bồi thẩm đoàn phải trả lời. Apple đòi được bồi thường từ 2,5 tỷ USD tới 2,75 tỷ USD với cáo buộc rằng Suwon, một công ty của Samsung có trụ sở ở Hàn Quốc, đã vi phạm 4 bản quyền mẫu thiết kế và 3 bản quyền phần mềm bằng cách sao chép từ các sản phẩm iPhone và iPad. Ở phía ngược lại, Samsung cáo buộc rằng Apple đã vi phạm 5 bản quyền của họ và đòi mức bồi thường là 421,8 triệu USD.  Trước đây, Apple đã đạt được một thắng lợi khi tòa án Mỹ phán quyết một lệnh cấm sơ bộ các máy tính bảng củ Samsung trong phạm vi nước Mỹ. Vừa qua Apple đã đòi hỏi vĩnh viễn hóa lệnh cấm này và muốn mở rộng nó sang các sản phẩm smartphone.  Adam Yates, người phát ngôn cho văn phòng tại Mỹ của Samsung khẳng định rằng công ty sẽ đưa ra ý kiến phản hồi sau khi đã nghiên cứu đầy đủ phán quyết.  Cuộc chiến pháp lý giữa hai người khổng lồ bắt đầu khi Samsung bán ra thị trường điện thoại smartphone Galaxy năm 2010. Các nhân chứng trong phiên tòa vừa qua đã khẳng định rằng Steve Jobs, cố chủ tịch Apple, khi đó đã liên hệ với Samsung và bày tỏ lo ngại về việc điện thoại Galaxy sao chép lại iPhone.  Samsung và Apple là hai nhà sản xuất lớn nhất cho các sản phẩm thiết bị cầm tay pha trộn chức năng giữa điện thoại và máy tính. Hai bên đã đối đầu nhau tại một số tòa án, dù cả hai vẫn có những mối liên kết làm ăn theo hình thức cung cấp sản phẩm cho nhau. Apple đem lại tới 9% doanh thu của Samsung và trở thành khách hàng lớn nhất cho công ty Hàn Quốc, theo các đánh giá phân tích của Bloomberg.  Thị trường điện thoại di động năm nay vẫn đang hết sức sôi động. Trong quý 2 năm nay, người tiêu dùng trên toàn thế giới đã mua tới 406 triệu điện thoại di động, so với con số 401,8 triệu của cùng kỳ năm ngoái, trong đó Samsung và Apple thâu tóm tới gần một nửa thị phần, theo đánh giá của IDC, một công ty nghiên cứu thị trường có trụ sở tại Framingham, Massachusetts.  Samsung đang chiếm được nhiều thị phần hơn, bán được tới 50,2 triệu điện thoại di động, tức là 32,6% thị phần. Apple bán được 26 triệu điện thoại, chiếm 16,9% thị phần, IDC cho biết.  Cả hai bên đều đã dành được một số thắng lợi pháp lý. Apple chiến thắng tại phiên tòa ở Mỹ hôm 29/6, với phán quyết cấm Samsung bán điện thoại Galaxy Nexus, là mẫu điện thoại đầu tiên dùng hệ thống điều hành Android 4.0 của Google. Tuy nhiên, sản phẩm này vẫn đang lưu hành trên thị trường Mỹ do Samsung đang trong tiến trình kháng cáo.  Tháng 11 vừa rồi, Samsung dành thắng lợi ở Úc, qua đó họ được phép bán sản phẩm cạnh tranh với iPad.  Một phiên tòa tại Seoul ngày hôm qua đã yêu cầu cả hai công ty phải ngừng bán một số sản phẩm smartphone và máy tính bảng ở Hàn Quốc và bồi thường cho nhau, với phán quyết rằng cả hai đều đã xâm phạm bản quyền của nhau.  Thanh Xuân lược dịch theo   http://www.bloomberg.com/news/2012-08-24/apple-samsung-jury-reaches-verdict-in-patent-trial.html            Author                Quản trị        
__label__tiasang Samsung trở thành số 1 thế giới như thế nào?      Hầu như tất cả chúng ta đều biết câu chuyện về thành công của Steve Jobs và Apple, hay Akio Morita và Sony, nhưng thành công của Lee Kun Hee và Samsung với nhiều người vẫn còn là điều bí ẩn. Kể từ khi Lee nắm quyền kiểm soát Samsung vào năm 1987, công ty đã thăng tiến vượt bậc đạt mốc 179 tỷ USD trong năm ngoái, trở thành nhà sản xuất điện tử lớn nhất thế giới tính theo doanh thu.     Một số người cho rằng Samsung và các chaebol  khác nhận được sự nâng đỡ từ Chính phủ Hàn Quốc và được cấp quá nhiều  tín dụng ưu đãi. Nhưng mấu chốt thực sự đằng sau sự lột xác để vươn lên  mạnh mẽ của Samsung chính là Chủ tịch Lee với sự kiện lịch sử tại Phòng  Frankfurt.      Ngày nay, Phòng Frankfurt được tái hiện lại và đặt trong Trung tâm Phát triển Nhân lực Samsung ở Yongin có tên gọi là Changjo Kwan (theo tiếng Hàn Quốc có nghĩa là Viện Sáng tạo), nằm ở phía Nam của Seoul, cách 45 phút lái xe. Ngay ở hành lang ngoài của tổ hợp to lớn này người ta đặt một bản đồ thế giới khắc trên đá lát, trên đó chia địa cầu thành hai phần xanh và đỏ, trong đó màu xanh chiếm áp đảo, là những quốc gia nơi Samsung đang có hoạt động kinh doanh, còn những quốc gia màu đỏ là nơi Samsung sẽ xúc tiến kinh doanh. Phía trong sảnh, một dòng chữ khắc trên tường bằng cả tiếng Triều Tiên lẫn tiếng Anh: “Chúng ta sẽ cống hiến nhân lực và công nghệ tạo ra những sản phẩm và dịch vụ vượt trội, nhằm đóng góp vì một xã hội toàn cầu tốt hơn”. Một tấm biển khác bằng tiếng Anh: “Tiến tới! Tiến tới! Tiến tới!”      Mỗi năm có hơn 50 nghìn học viên được đào tạo ở Chanjo Kwan và các cơ sở tương tự của Samsung, tham dự  các khóa đào tạo kéo dài từ vài ngày tới vài tháng. Họ ghi nhớ những nguyên tắc cơ bản của Samsung, ví dụ như ba P (“products, process, people” tức sản phẩm, quy trình, con người). Họ cũng phải học về kỹ năng “quản trị toàn cầu” để giúp Samsung mở rộng sang những thị trường mới; một số nhân viên phải học làm kimchi cùng với nhau, qua đó vừa rèn luyện tinh thần hợp tác, vừa nắm bắt văn hóa Hàn Quốc.      Tại Chanjo Kwan, các nhân viên của Samsung sống trong những phòng đơn hoặc phòng tập thể, tùy thuộc vào cấp bậc. Cách bài trí mỗi tầng mỗi khác. Tầng có tên Magritte trang trí hình những đám mây trên thảm và đèn bàn được bố trí lộn ngược trên trần. Ngoài hành lang, từ các loa phát ra những lời huấn thị được ghi lại trước đây của Lee Kun Hee, vị chủ tịch 71 tuổi của Samsung Electronics. Ông hiếm khi xuất hiện trước công chúng và trên báo chí, ngoại trừ một số tin tức xung quanh việc ông bị cáo buộc tội trốn thuế năm 2008 và năm 2009 được Tổng thống Hàn Quốc ân xá. Thế nhưng tại Samsung, dường như ông hiện hữu ở khắp mọi nơi. Không chỉ qua những lời huấn thị phát qua hệ thống loa, tư tưởng của ông thấm sâu trong chiến lược đối nội và đối ngoại của tập đoàn.      Lee Kun Hee là người vạch ra một kế hoạch cải tổ cho Samsung, lột xác từ một nhà sản xuất TV hạng hai trở thành nhà sản xuất điện tử lớn nhất, hùng mạnh nhất trên toàn cầu. Để làm được như vậy, Samsung phải dịch chuyển từ mô hình sản xuất sản lượng lớn, chất lượng thấp, sang mô hình sản xuất sản phẩm chất lượng cao, cho dù phải chấp nhận hi sinh doanh số; đồng thời, phải có tầm nhìn vượt xa ra ngoài biên giới Hàn Quốc để thực sự chiếm lĩnh thị trường thế giới.      Vận hành như bộ máy một chiếc đồng hồ      Ngày nay, Samsung đang vô cùng thành công. Công ty chiếm ưu thế trong kinh doanh TV, bán được rất nhiều máy giặt, và đặc biệt được biết đến trên toàn thế giới với các sản phẩm điện thoại thông minh, trở thành một thương hiệu toàn cầu như Walt Disney hay Toyota Motor. Với một số người thương hiệu điện thoại di động của Samsung chưa so được với Apple, nhưng Samsung vẫn đạt được thành công khi được coi là đối thủ đáng gờm nhất của Apple – số lượng điện thoại Galaxy được tiêu thụ trên thế giới cao hơn nhiều so với số lượng iPhone. Và có lẽ Samsung là công ty duy nhất trên thế giới ngoài Apple có khả năng thu hút khách hàng xếp hàng dài cả dãy phố khi một sản phẩm mới được ra mắt, như họ từng làm được khi tung ra sản phẩm Galaxy S4 ở thành phố New York hôm 14/3 vừa rồi.         Samsung Electronics là cấu phần lớn nhất của Samsung, một tập đoàn đa ngành chiếm tới 17% GDP của Hàn Quốc. Samsung có tới 370 nghìn nhân viên ở hơn 80 quốc gia, nhưng không ở đâu sự hiện hữu của nó thể hiện sâu sắc hơn tại Hàn Quốc, nơi thậm chí người ta có thể coi Samsung là một chính quyền thứ hai. Một cô bé Seoul có thể được sinh ra tại Trung tâm Y tế Samsung, được đưa về nhà tại một căn hộ được xây bởi nhà thầu xây dựng thuộc sở hữu của Samsung (cũng chính là những người đã xây Tháp Petronas Twin1 và tòa Burj Khalifa2). Cũi của em bé có thể được nhập khẩu ở nước ngoài, nhưng có lẽ được vận chuyển về Hàn Quốc trên chiếc tàu vận tải do Samsung Heavy Industries đóng. Khi cô bé trưởng thành, cô sẽ được xem những chương trình quảng cáo cho Bảo hiểm Nhân thọ Samsung, được tạo ra bởi Cheil Worldwide, một công ty quản cáo cũng do Samsung sở hữu. Cô có thể mặc quần áo sản xuất bởi Bean Pole, một thương hiệu thuộc đơn vị chuyên về may mặc của Samsung. Khi họ hàng của cô ở xa tới thăm, họ có thể sống trong khách sạn The Shilla, hoặc mua sắm tại The Shilla Duty Free, cũng đều do Samsung sở hữu.        Các tập đoàn đa ngành hầu như không còn chỗ đứng ở các nước công nghiệp từ vài thập kỷ trở lại đây, nhưng Samsung là một ngoại lệ. Khác với những tập đoàn phương Tây lừng lẫy một thời nay đã vắng bóng như Gulf + Western hay Sunbeam, Samsung là điển hình cho tinh thần tập trung tối đa vào mục tiêu và tận dụng triệt để các cơ hội. “Samsung giống như một tổ chức quân sự”, nhận xét từ Chang Sea Jin, giáo sư Đại học Quốc gia Singapore, tác giả cuốn sách Sony vs. Samsung. “CEO công ty quyết định hướng đi, và không ai bàn cãi – tất cả đều răm rắp làm theo lệnh”.      “Samsung giống như bộ máy một chiếc đồng hồ”, nhận xét từ Mark Newman, nhà phân tích của công ty quản lý đầu tư Sanford C. Bernstein, người từng làm việc tại bộ phận chiến lược kinh doanh của Samsung từ 2004 tới 2010. “Bạn phải tuân theo tôn ti trật tự. Nếu không, sức ép đè lên bạn sẽ tới mức không chịu đựng nổi. Nếu không thể tuân theo một mệnh lệnh cụ thể nào đó, bạn không thể tiếp tục ở lại công ty.”       Bí quyết đánh bại những đối thủ lừng lẫy: Nghiên cứu kỹ lưỡng và đặt cược lớn      Có thể hình dung nguyên tắc của Samsung qua cách thức Samsung Electronics bước chân vào một lĩnh vực sản phẩm nào đó. Cũng giống như các tập đoàn khác của Hàn Quốc – chẳng hạn như LG hay Hyundai – bước đầu tiên là thực hiện một khởi đầu nhỏ: sản xuất một linh kiện quan trọng nào đó trong lĩnh vực này. Sẽ là lý tưởng nếu linh kiện đó đòi hỏi thật nhiều tiền khi đầu tư sản xuất – ví dụ như bộ vi xử lý hay memory chip – vì như vậy sẽ giúp công ty giới hạn bớt sự cạnh tranh. “Một cơ sở sản xuất linh kiện bán dẫn tốn từ 2 tới 3 tỷ USD, và không ai lại đi xây một nửa nhà máy”, theo lời Lee Keon Hyok, giám đốc truyền thông toàn cầu của Samsung.       Sau khi đã chuẩn bị hạ tầng xong xuôi, Samsung sẽ bắt đầu bán sản phẩm linh kiện cho các công ty khác. Quá trình này sẽ giúp họ học hỏi, nhận biết cách thức vận hành của toàn ngành công nghiệp. Và khi Samsung quyết định mở rộng hoạt động, bắt đầu cạnh tranh với những công ty vốn dĩ là khách hàng của mình, họ sẽ đầu tư với quy mô khổng lồ cho các nhà máy, nghiên cứu công nghệ, nhằm chiếm lĩnh cho mình một vị thế mà các đối thủ không thể cạnh tranh lại. Năm ngoái, Samsung Electronics dành tới 21,5 tỷ USD cho chi phí vốn (capital expenditure), nhiều hơn gấp hai lần so với chi phí mà Apple bỏ ra trong cùng thời gian. “Samsung rất chịu khó tiêu tiền vì công nghệ”, Newman nhận định. “Họ nghiên cứu vấn đề rất kỹ lưỡng, và chấp nhận đặt cược bằng cả đống tiền”, ông nói.        Năm 1991, Samsung bắt đầu sản xuất các tấm màn hình LCD và bán cho các nhà sản xuất TV. Năm 1994, công ty bắt đầu sản xuất bộ nhớ flash cho các thiết bị dạng như điện thoại di động. Nhưng ngày nay, Samsung là nhà sản xuất TV LCD số một thế giới, đồng thời bán số lượng bộ nhớ flash và chip RAM nhiều hơn bất kỳ công ty nào khác. Năm 2012, họ cũng vượt mặt Nokia để trở thành nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới.       Khi Samsung nổi lên thì những đối thủ khác gục ngã một cách kịch tính. Motorola bị phân mảnh, bộ phận sản xuất thiết bị cầm tay bị bán cho Google. Nokia chứng kiến vị thế số 1 của mình sụp đổ do không kịp trở tay theo sự phát triển của thị trường điện thoại thông minh. Mối quan hệ hợp tác liên doanh Sony-Ericsson tan rã. Palm bị hòa tan vào Hewlett-Packcard. BlackBerry tiếp tục rơi vào diện giám sát 24 tiếng và một phần tài sản bị trưng thu. Trong ngành sản xuất phần cứng điện thoại di động, ngày nay chỉ hiện hữu Apple, Samsung, và một nhóm những thương hiệu khác đang bí bách trong nỗ lực tìm cách vượt ra khỏi cái gọi là “đám còn lại”.      Tương quan thực lực giữa Samsung và các đối thủ thể hiện rõ qua cung cách ra mắt các sản phẩm. Để ra mắt Galaxy S 4 vào giữa tháng 3 vừa qua ở thành phố New York, Samsung tổ chức một sự kiện vô cùng đình đám thuê toàn bộ tòa nhà Radio City Music Hall trong một đêm thứ 5. Những xe chuyên dụng của các hãng truyền thông đậu phía ngoài, trong khi đoàn người xếp hàng rồng rắn kéo dài cả một khúc phố. Sảnh đường đông chật cứng. Trên sân khấu, dẫn chương trình là Will Chase, diễn viên Broadway, xen giữa những tiểu phẩm trong đó diễn viên đóng vai khách hàng sử dụng Galaxy S 4 trong nhiều tình huống khác nhau. Những cảnh trí được dàn dựng công phu, mô phỏng những khung cảnh thay đổi nối tiếp nhau, từ một trường học, một khu phố Paris, quang cảnh Brazil. Hỗ trợ cho sân khấu là một dàn nhạc giao hưởng, nổi lên trên sàn diễn bằng thiết bị nâng thủy lực. Trong khi đó, chỉ 6 tháng trước khi Motorola ra mắt sản phẩm cũng ở thành phố New York trong một sự kiện mà thương hiệu tổ chức được bán cho Haier, một nhà sản xuất Trung Quốc. Còn sự kiện của Nokia trong cùng ngày diễn ra ở một địa điểm gần đó, nhưng vô cùng khiêm tốn.      Phòng Frankfurt và sự thức tỉnh của người khổng lồ      Cha của ông Lee Kun Hee là Lee Byung Chull, người sáng lập Samsung năm 1938. Samsung có nghĩa là “ba vì sao”, cũng là biểu tượng logo của công ty qua các thập kỷ. Lee kế thừa vị trí chủ tịch sau khi cha ông mất năm 1987. (Con trai của Lee Kun Hee là Lee Jae Yong hiện là phó chủ tịch công ty và dự kiến sẽ kế nhiệm vị trí của ông). Dưới sự lãnh đạo của Lee Kun Hee, ngay lập tức công ty gặt hái thành công. “Từ 1988 tới 1993, công ty đã tăng trưởng tới 2,5 lần”, theo lời Shin Tae Gyun, giám đốc Trung tâm Phát triển Nhân lực của Samsung, “nên các giám đốc dưới quyền có thể thấy rằng mọi thứ đang phát triển đúng hướng.” Thế nhưng Lee không chỉ muốn Samsung là một công ty Hàn Quốc thành công. Ông muốn Samsung trở thành một đấu thủ tầm cỡ thế giới, như General Electric, Procter & Gamble, và IBM. Ông thậm chí còn đặt ra thời hạn cho mục tiêu của mình là năm 2000. “Khi đó chẳng còn bao xa là tới năm 2000, và với tốc độ tăng trưởng của thời kỳ ấy liệu chúng tôi có kịp trở thành một công ty đẳng cấp thế giới? Câu trả lời là không”, Shin nói.      Để đánh giá vị thế quốc tế của công ty, Lee đã tiến hành một cuộc khảo sát vòng quanh thế giới vào năm 1993. Kết quả không mấy triển vọng: Tháng 2, bước chân vào một gian hàng đồ điện tử ở Southern California, ông thấy những TV của Sony và Panasonic được bày lên trước, trong khi TV của Samsung tích bụi nằm ở những kệ thấp phía sau. Lee hoàn toàn không vui.       Tới tháng 6, ông tới Đức và ở tại khách sạn Falkenstein Grand Kempinski, thành phố Frankfurt. Ông triệu tập tất cả mọi giám đốc điều hành của Samsung – tức là hàng trăm người – tới gặp mình ở đó. “Ông ta ra lệnh một cách đơn giản, như nhấc chiếc mũ khỏi đầu, và tất cả mọi người đều có mặt”, Lee Keon Hyok, giám đốc truyền thông của Samsung nói. Ngày 7 tháng 6 vị chủ tịch bắt đầu bài nói chuyện kéo dài suốt 3 ngày (họ chỉ tạm nghỉ vào buổi tối). Câu nói nổi tiếng nhất thường được trích dẫn trong bài nói chuyện này là “hãy thay đổi tất cả mọi thứ ngoại trừ vợ và con các bạn”. Đối với các nhân viên Samsung câu nói này cũng nổi tiếng chẳng kém câu nói “đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn” [của cố Tổng thống Kenedy] với người Mỹ.       Sự kiện này được biết đến một cách chính thức với tên gọi Tuyên bố Frankfurt năm 1993. Nội dung của nó được gọi là Quản trị Mới, và những nguyên tắc của nó được truyền đạt lại trong một cuốn sách dày 200 trang, và được cung cấp cho tất cả mọi nhân viên Samsung. Ngoài ra, sau này công ty còn phát hành riêng một cuốn sách khác chỉ để chú giải các khái niệm trong cuốn sách đầu tiên. Những công nhân không biết chữ sẽ được phát một phiên bản có hình thức diễn đạt như truyện tranh. Lee đi khắp các cơ sở chi nhánh của Samsung trên toàn cầu để thuyết giảng tư tưởng của mình. “Ông thực hiện rất nhiều bài giảng”, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nhân lực của Samsung, ông Shin Tae Gyun nhớ lại. “Tổng thời gian lên tới 350 tiếng đồng hồ. Chúng tôi đã ghi chép lại những sự kiện này, tất cả lên tới 8500 trang.”      Ngày nay, Phòng Frankfurt nằm đối diện với Sảnh Quản trị Mới tại Chanjo Kwan. Nằm trong một quần thể đặc biệt, Phòng Frankfurt lại càng vô cùng đặc biệt, như Thánh đường Clementine Chapel trong Đại giáo đường St. Peter’s Basilica3. Tuy nhiên, vẻ ngoài của nó không có gì đáng kể, chỉ là những chi tiết bài trí cũ kỹ và buồn tẻ thời đầu thập kỷ 1990, một chiếc bàn lớn bày hoa giả ở chính giữa, nhưng việc chụp hình ở đây tuyệt đối bị nghiêm cấm; trong phòng mọi người chỉ được phép nói thầm với nhau. Cách bài trí căn phòng sao chép lại tỉ mỉ nguyên trạng căn phòng hội nghị tại khách sạn Kempinski ở Đức. Những người hướng dẫn du lịch tự hào lưu ý du khách rằng tất cả mọi thứ trong căn phòng này – bao gồm những chiếc ghế, khăn trải bàn màu hồng, một bức tranh vẽ cảnh thành phố Venice – đều là bản gốc từ căn phòng tại khách sạn Kempinski nơi Lee phát ra lời tuyên bố Frankfurt và được Samsung đưa lên tàu biển chuyển về Hàn Quốc.      Những nguyên tắc Quản trị Mới      Tư duy cốt lõi của Quản trị Mới tập trung ở một số điểm, trong đó thường được nghe như “nuôi dưỡng phát triển cá nhân” và “thay đổi bắt đầu từ bản thân tôi”. Có lẽ vấn đề quan trọng nhất là kiểm soát chất lượng, hay “quản lý chất lượng”, như cách nói của mọi người trong công ty. Tất  cả những điều này được trưng bày một cách sống động ở thánh địa của Samsung, tổ hợp Gumi, cách Seoul khoảng 240 km về phía Nam. Gumi là cơ sở sản xuất điện thoại di động hàng đầu của Samsung, nơi Samsung chế tạo chiếc điện thoại di động đầu tiên: mẫu SH-100.      Có hơn 10 nghìn công nhân làm việc ở Gumi. Đa số họ là phụ nữ trẻ đầu 20. Họ thường đi theo nhóm, mắt nhìn xuống điện thoại, mặc trang phục hồng hoặc xanh da trời – một trong hai màu tùy theo sở thích cá nhân. Nhiều người trong số họ chưa lập gia đình, sống trong ký túc xá ở Gumi, nơi có phòng ăn, trung tâm tập thể dục, thư viện, và quầy cà phê. Người Hàn Quốc thích uống cà phê, và quầy cà phê ở Gumi có máy rang riêng. Điều đầu tiên chúng ta dễ nhận ra ở Gumi là những giai điệu nhạc pop của Hàn Quốc. Khắp nơi trong khuôn viên dường như đều có thứ nhạc nhịp điệu trung bình khá dễ nghe này, thường được phát ra qua những chiếc loa được ngụy trang thành các tảng đá. Samsung cho biết những loại nhạc này được tuyển chọn bởi một nhóm các chuyên gia tâm lý, nhằm giúp các nhân viên giảm sự căng thẳng.      Phía trong nơi làm việc ở Gumi ấm và ẩm một cách đáng ngạc nhiên. Nhà máy này là một phần trong mạng lưới sản xuất của Samsung mà trong năm 2012 đã chế tạo ra 400 triệu chiếc điện thoại, tức là 12 điện thoại mỗi giây. Công nhân ở Gumi không làm việc tại những băng chuyền lắp ráp, thay vào đó mỗi người làm trong từng khu vực đơn lập hình tam giác, với ba mặt là ba kệ để tất cả mọi dụng cụ và nguyên liệu trong tầm tay với. Từng công nhân có trách nhiệm ráp nối toàn bộ chiếc điện thoại. Những trạm máy tính được lắp khắp nơi trong nhà máy giúp xác định chính xác dữ liệu sản xuất trong thời gian thực tại tất cả mọi nhà máy của Samsung trên thế giới.        Những chuỗi thiết bị kiểm tra chất lượng sản phẩm được xếp đầy một căn phòng. Những chiếc chong chóng cánh nhựa quay tít bên trên cửa thông hơi của nhiều thiết bị. Đây là một ý tưởng từ chính những người công nhân: những chong chóng nào không quay giúp người quan sát nhận biết từ xa rằng thiết bị gắn với nó đang không hoạt động. Nhân viên của Samsung được khuyến khích đưa ra những ý tưởng như vậy. Người ta sẽ tính toán mức chi phí tiết kiệm mà ý tưởng mới giúp mang lại, và một phần của giá trị này sẽ được thưởng cho người chủ ý tưởng.      Trước đây, những nỗ lực phấn đấu vì hiệu quả và chất lượng chưa được ưu tiên chú trọng như vậy. Năm 1995, Chủ tịch Lee không hài lòng khi được báo cáo rằng một số điện thoại di động mà ông dùng làm quà tặng Năm Mới không hoạt động được. Ông ra lệnh cấp dưới thu thập 150 nghìn chiếc điện thoại xếp thành một đống ngay bên ngoài nhà máy Gumi, với hơn 2000 nhân viên đứng vòng quanh. Sau đó, người ta châm lửa đốt đống điện thoại này. Khi lửa tàn, xe ủi vào phá nát tất cả những gì còn lại. “Nếu còn tiếp tục có những sản phẩm chất lượng tệ như thế này, tôi sẽ trở lại và lặp lại việc làm hôm nay”, Lee Keon Hyok nhớ lại lời của vị Chủ tịch.      Bài học ghi sâu vào tâm trí nhân viên Samsung. Tháng 5 năm 2012, ba tuần trước khi điện thoại Galaxy S III được chuyển đi phân phối, một khách hàng gọi điện phàn nàn với công ty rằng lớp vỏ phía sau chiếc điện thoại nhìn rẻ tiền hơn so với hình mẫu từng được giới thiệu trước đây với khách hàng. Vị khách này nói không sai, trong số điện thoại mới sản xuất, có 100 nghìn chiếc đang nằm trong kho có lớp vỏ phía sau có chất lượng rẻ tiền hơn, và một số lô hàng đang nằm chờ ngoài sân bay cũng trong tình trạng tương tự. Sau sự cố này, không có chiếc điện thoại nào của samsung bị đem ra đốt cháy, nhưng tất cả 100 nghìn chiếc trong kho, cũng như tất cả các lô hàng đang nằm chờ ngoài sân bay, đều được Samsung thay vỏ mới.      Khả năng linh hoạt vượt trội      Năm 2009, Samsung đưa ra quyết định chiến lược trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động là chọn hệ điều hành Android của Google, và cho ra lò thiết bị Android đầu tiên của mình với tên gọi Galaxy. “Chúng tôi không mấy thành công với chiếc điện thoại đầu tiên dùng hệ điều hành Android này”, DJ Lee, giám đốc thị trường của Samsung cho biết. Khi đó Android vẫn còn giai đoạn trứng nước, bị thua kém hoàn toàn so với hệ điều hành iOS của iPhone. Nhưng Android có mã nguồn mở, nghĩa là nó hoàn toàn miễn phí cho bất kỳ nhà sản xuất nào có nhu cầu.      Năm 2010, Samsung giới thiệu dòng Galaxy S, thí điểm cho quyết định chiến lược thứ hai của họ, đó là sử dụng màn hình lớn hơn. Màn hình của Galaxy S lớn hơn đáng kể so với màn hình của Galaxy và các mẫu điện thoại Android khác. “Chúng tôi chọn kích cỡ 4 inch, và mọi người cho là quá to”, DJ Lee nói. “Có rất nhiều tranh cãi quanh chuyện này.” Nhưng thực tế đã chứng minh màn hình to đem lại thắng lợi trên thị trường, và Samsung tiếp tục cho ra các mẫu Galaxy S II và S III với màn hình còn lớn hơn.  Ngày nay, điện thoại thông minh của Samsung có các kích cỡ màn hình từ 2,8 inch tới 5 inch (chưa kể họ còn làm các phablet, sản phẩm pha trộn giữa điện thoại và máy tính bảng, với kích cỡ lên tới 5,5 inch). “Chẳng ai biết kích cỡ màn hình nào là hợp lý nhất, vì thế Samsung làm ra đủ mọi cỡ để xem loại nào thì ăn khách”, nhận định từ Benedict Evans, một nhà nghiên cứu từ công ty tư vấn Enders Analysis.      Sản xuất cùng một loại sản phẩm với nhiều kích cỡ khác nhau để tìm ra loại nào ăn khách nhất là một cách làm quá tốn kém mà đa số các công ty thường tránh. Nhưng khả năng chế tạo màn hình, bộ nhớ, bộ xử lý, và các linh kiện công nghệ cao khác giúp Samsung có được sự linh hoạt mà không đối thủ nào có thể so được.       Trong khi cách tiếp cận của Apple là làm ra một số ít mẫu điện thoại, mỗi mẫu được thiết kế cực kỳ tinh xảo, thì cách tiếp cận của Samsung là thử làm tất cả mọi kiểu cách, và làm thật nhanh. “Khi chúng tôi cho ra lò mẫu Galaxy S III, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thiết bị này quá to đối với một số khách hàng”, DJ Lee nói. “Vì thế chúng tôi làm ra cùng một kiểu điện thoại với màn hình chỉ 4 inch, và gọi mẫu này là Galaxy S III mini.” Để ra được thiết bị nhỏ hơn như vậy cần từ 4 tới 6 tháng, DJ Lee cho biết. “Chúng tôi quan sát thị trường, và chúng tôi ngay lập tức phản ứng thích nghi”, DJ Lee khẳng định. Mẫu Galaxy S 4 được tung ra chỉ 9 tháng sau mẫu Galaxy S III. “Samsung đa dạng hóa sản phẩm của mình ở trình độ bậc thầy, trong khi nếu tôi muốn một cái gì đó khác biệt, nằm trung gian giữa iPad và iPad mini, thì tôi không thể nào được Apple đáp ứng”, nhận xét từ Michael Gartenberg, một nhà phân tích từ công ty nghiên cứu và tư vấn công nghệ thông tin Gartner.        Lợi thế ‘nhìn trước 3 năm’      Apple có một lợi thế mà Samsung không có: sự kiểm soát đối với phần mềm. Chỉ điện thoại di động và máy tính bảng của Apple chạy hệ điều hành iOS, và người ta ưa thích iPhone và iPad vì sự tương thích êm ái giữa phần phềm và phần cứng. Điều này giúp duy trì một ngành công nghiệp các nhà sản xuất phần mềm ứng dụng, và Apple được chia một phần doanh thu từ tất cả mọi giao dịch mua bán phần mềm ứng dụng trên thị trường.       Hiện nay Samsung đang nỗ lực tăng cường vị thế của mình bằng cách mở một trung tâm phát triển phần mềm ở Silicon Valley. Có thể không bao giờ đạt được sự kiểm soát hệ thống điều hành trên thiết bị như Apple, nhưng có thể nói rằng cách Samsung khai thác chiều sâu và sự linh hoạt trong năng lực sản xuất của mình cũng đem lại lợi thế to lớn không kém Apple. Samsung không chỉ tự sản xuất bộ xử lý, memory chip, camera trên thiết bị của mình mà còn cung cấp cho các nhà sản xuất khác – bao gồm cả bộ vi xử lý trong iPhone 5. Những công nghệ mới thường tốn rất nhiều thời gian để nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là những công nghệ dùng cho sản phẩm sản xuất với khối lượng lớn. “Có được từ sớm những thông tin về chuỗi sản xuất [các cấu kiện] là một trong những yếu tố chính làm thành lợi thế của Samsung”, nhận xét từ Neil Mawston của công ty tư vấn Strategy Analytics. “Họ được nhìn thấy mọi thứ từ trước 3 năm”.      Mặc dù công ty tuyên bố chính sách của mình rằng mọi tổ chức hoạt động sản xuất linh kiện cấu phần luôn độc lập tách biệt với tổ chức hoạt động sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, và rằng tổ chức này không được biết tổ chức kia đang làm gì, nhưng ít người tin rằng Samsung tự lấy tay che mắt mình. Đây chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi và xung đột giữa Samsung và các khách hàng của mình.       Apple kiện Samsung ở Mỹ và các thị trường khác với cáo buộc vi phạm các bản quyền, từ hình dạng cơ bản của chiếc điện thoại tới cách thiết kế hiệu ứng giao diện màn hình nảy ngược lại khi người sử dụng miết tới sát cạnh đáy. Samsung bác bỏ những cáo buộc này, và kiện ngược lại. Cuộc chiến pháp lý này tới nay vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Apple thắng kiện ở sân nhà vào tháng 8, khi bồi thẩm đoàn tòa án liên bang công nhận Apple được bồi thường thiệt hại lên tới 1 tỷ USD, nhưng vấp phải kháng cáo, và gần đây thẩm phán giảm mức phạt xuống còn khoảng một nửa.       Nhưng dù các vụ tranh chấp đi đến kết cục nào thì Samsung vẫn chẳng cần vi phạm luật pháp để khai thác lợi thế của một nhà cung cấp linh kiện. Mỗi khi một công ty khách hàng tìm đến Samsung với đề nghị cung cấp một loại vi xử lý mới, thì thông tin đó hiển nhiên đã đem lại giá trị cho Samsung. “Không cần phải sao chép, hoặc làm gì bất hợp pháp. Bạn chỉ đơn giản biết trước rằng năm 2013 Apple sẽ cần đến bộ vi xử lý Quad Core”, Newman của công ty tư vấn Bernstein nói. “Có trong tay tấm bản đồ con đường đi của những đối thủ như Apple, và biết rõ các đối thủ đang làm gì, hẳn là điều hữu ích”, Newman nhận định.      ‘Chúng ta đang lâm nguy’      Khi nói về tương lai trước mắt của Samsung, Lee Keon Hyok (giám đốc Trung tâm Phát triển Nhân lực Samsung ở Yongi) không hề biểu lộ sự thỏa mãn. Ông đã chứng kiến những thành công tương tự trước đây, và ông biết sự thỏa mãn với thành tựu của ngày hôm nay sẽ đi ngược lại với nguyên tắc Quản trị Mới mà vị Chủ tịch đề ra. “Năm 2010 là năm thành công cao điểm của tất cả tập đoàn, nhưng ngài Chủ tịch đã nói gì? ‘Những mảng kinh doanh quan trọng của chúng ta có thể sẽ biến mất trong vòng 10 năm.’”        Người ta có thể nghĩ ra nhiều kịch bản thoái trào của Samsung mà ngay bản thân vị Chủ tịch cũng không biết chắc kịch bản nào là có thể hoặc không thể xảy đến. Có thể Samsung sẽ trở nên quá to lớn khiến Chính phủ Hàn Quốc tìm cách dè chừng. Có thể các mẫu iPhone 6, 7, và 8 sẽ quá đẹp và ấn tượng. Hoặc một kịch bản dễ xảy ra hơn, đó là nguy cơ từ các đối thủ Trung Quốc, sẽ lặp lại chính những gì mà Samsung đã làm với các đối thủ trước đây của mình. “Các công ty Trung Quốc hiện nay cũng giống như Samsung của 5 năm trước’, nhận định từ Horace Dediu, một chuyên gia phân tích độc lập trong ngành điện thoại di động. Ông chỉ ra Huawei và ZTE là những mối nguy trực tiếp. Các chuyên gia khác bổ sung thêm Levono. “Samsung đạt mức lợi nhuận trung bình trên mỗi chiếc điện thoại thấp hơn Apple, trong khi người Trung Quốc kiếm lợi nhuận còn ít hơn. Nếu điện thoại di động trở thành dạng hàng hóa phổ thông [tức là mọi sản phẩm của các thương hiệu khác nhau đều tương đối giống nhau về chất lượng và các công ty buộc phải cạnh tranh bằng cách đưa ra mức giá thấp nhất] thì làm sao Samsung có thể tồn tại được trong cuộc chơi này [tức có thể cạnh tranh lại được với các công ty Trung Quốc về giá cả]”, Dediu nói.      Lee Keon Hyok công nhận rằng điện thoại di động sẽ trở thành hàng hóa phổ thông, tương tự như máy tính cá nhân hồi thập kỷ 1990. “Nhưng bạn phải nhớ rằng chúng tôi là nhà cung cấp của rất nhiều cấu phần [cho điện thoại di động”, ông nói. “Hình thù điện thoại có thể thay đổi, nhưng điện thoại luôn cần có màn hình AMOLED, bộ nhớ, và bộ vi xử lý. Chúng tôi luôn sẵn sàng chuẩn bị để thích nghi với thay đổi”.       Và khi ngành điện thoại di động không còn lợi nhuận, Samsung sẽ lại tìm con đường đi trong những ngành công nghiệp khác, trong những lĩnh vực đòi hỏi lượng vốn đầu tư ban đầu khổng lồ, và rất nhiều kỹ thuật chuyên môn để có thể sản xuất quy mô lớn. Hồi cuối năm 2011, công ty công bố rằng họ sẽ tiêu khoảng 20 tỷ USD để phát triển năng lực sản xuất các thiết bị y tế, tấm thu nhiệt mặt trời, đèn LED, công nghệ sinh học, và ăc-quy cho ô tô điện. Và nếu ăc-quy hay máy quét y tế MRI của Samsung không chinh phục được thị trường, có thể ngài Chủ tịch của họ sẽ lại cho chất chúng thành đống để châm lửa đốt. DJ Lee giám đốc thị trường điện thoại di động của Samsung nói:  “Ngài Chủ tịch của chúng tôi luôn luôn nhắc nhở, rằng ‘đây là một cuộc khủng hoảng thường trực, chúng ta đang lâm nguy.’”       Thanh Xuân lược dịch từ bài viết của Sam Grobart đăng trên Business Week; các tít phụ do người dịch đưa vào.        http://www.businessweek.com/articles/2013-03-28/how-samsung-became-the-worlds-no-dot-1-smartphone-maker#p1      —-      1 Tòa tháp đôi nổi tiếng ở Malaysia      2 Tòa nhà ở Dubai, là toàn nhà cao nhất thế giới hiện nay    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sân bay Long Thành: Tầm nhìn chiến lược và tư duy cơi nới      Việc xây dựng sân bay quốc tế Long Thành  đang là một chủ đề thảo luận sôi nổi, thu hút sự quan tâm rộng rãi của  công luận với hai luồng ý kiến nên hay không nên “đối chọi” nhau.    Với bên đồng thuận, cần xây dựng để đưa Long Thành trở thành một sân bay quốc tế lớn và mới, đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn và tương xứng với tầm vóc tương lai của nền kinh tế và của đất nước Việt Nam 20 đến 30 năm sau. Với tầm nhìn đó, hai sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa không đủ điều kiện và khả năng cải tạo, mở rộng, nâng cấp hay chuyển đổi công năng để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong giai đoạn phát triển sắp tới, dự báo là sẽ có sự bùng nổ mạnh mẽ và chuyển biến sâu sắc về đẳng cấp. Vì vậy, việc xây dựng một sân bay quốc tế mới, quy mô lớn, hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu hội nhập quốc tế trình độ ngày càng cao là tất yếu.   Ngược lại, bên không đồng thuận dự án sân bay Long Thành đưa ra ý kiến với hai phương án: 1) Chưa xây sân bay Long Thành trong vài chục năm tới vì việc nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa vẫn đủ khả năng giải tỏa áp lực vận tải hàng không của Vùng phía Nam; 2) Không nên xây sân bay Long Thành vì tốn kém (đất đai: 5.000 ha, tiền bạc: cỡ 18 tỷ USD, tăng nợ nần quốc gia và đổ gánh nặng đó lên đầu nhân dân), không hiệu quả (nó không thể là sân bay trung chuyển quốc tế do lượng hành khách kỳ vọng 80 – 100 triệu/năm là ảo tưởng, vì nguy cơ đầu tư “lỗ” về kinh tế và tài chính, gây lãng phí tài nguyên và tài sản quốc gia.  Sau khi Hội nghị Trung ương 12 (4/2015) đã kết luận khẳng định chủ trương xây dựng sân bay Long Thành, chủ đề tranh luận dường như không còn tập trung bàn vào việc “nên hay không nên làm sân bay Long Thành” như trước mà chủ yếu hướng vào tính đúng đắn và hợp lệ của quy trình xây dựng, báo cáo và phê duyệt Dự án xây dựng sân bay Long Thành của Bộ GTVT; hiệu quả kinh tế – xã hội của việc thực hiện Dự án.   Định vị sân bay Long Thành trong tầm nhìn chiến lược  Xây dựng sân bay Long Thành không phải là một ý tưởng mới. Nó không phải mới xuất hiện tức thời, dưới áp lực ngắn hạn của quá trình hội nhập quốc tế mấy năm gần đây hay từ ý đồ nào đó của một vài nhóm lợi ích.   Nhìn vào thực tế có thể thấy, quy mô và trình độ phát triển của Việt Nam đã đạt đến mức những sân bay hiện có không thể đáp ứng được. Sân bay Tân Sơn Nhất đang ở tình trạng quá tải với tốc độ quá tải gia tăng rất nhanh. Năm 2014, số khách qua sân bay Tân Sơn Nhất đã đạt mức 24 triệu, so với công suất thiết kế chỉ có 20 triệu. Năm 2015, dự kiến số khách sử dụng sân bay này sẽ lên tới 26 triệu. Nghĩa là sân bay này đang quá tải trên trời, quá tải mặt đất (đường băng, điểm đỗ), quá tải nhà ga và quá tải giao thông kết nối. Đó là chưa kể đây còn là sân bay nằm trong nội đô – chứ không còn là sân bay nằm gần thành phố nữa, nên ẩn chứa những yếu tố phá vỡ nguyên tắc an ninh, môi trường đô thị và nhiều rủi ro khác.           Ý tưởng xây dựng sân bay Long Thành đã được định hình từ hơn 20 năm trước và được đưa vào quy hoạch phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong hai kỳ chiến lược (chiến lược 2001-2010 và 2011-2020). Điều đó cho thấy, dự án xây dựng sân bay Long Thành xuất phát từ tầm nhìn chiến lược và được chuyển thành một dự án lớn sau một thời gian dài chuẩn bị công phu.             Chúng ta thử hình dung Việt Nam trong tầm 20 đến 30 năm sau trở thành một quốc gia có dân số hơn 100 triệu dân, có nền kinh tế phát triển lớn gấp hàng chục lần hiện tại, việc kết nối với thế giới cũng ngày càng mở rộng, đi kèm với những vấn đề như nhu cầu đi lại, du lịch, vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa công nghệ cao… Khi đó, dù sân bay Tân Sơn Nhất muốn “cơi nới” mở rộng quy mô cũng chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu vận chuyển của chính nó mà ở thời điểm hiện tại chưa giải quyết nổi, chưa kể việc “cơi nới” này cũng gặp khó khăn vì chi phí đền bù giải tỏa mặt bằng mở rộng sân bay, mở rộng kết nối hạ tầng giao thông, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng cũng đòi hỏi số tiền rất lớn và nếu thực hiện cũng chỉ ở dạng “chắp vá”.      Vì vậy, Việt Nam cần phải chuẩn bị ngay từ bây giờ việc xây dựng một sân bay quốc tế có quy mô lớn để 10 năm sau có nó phục vụ cho đời sống kinh tế xã hội, nếu không sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế Tp HCM và khu vực Nam Bộ. Với một loạt hiệp định và thỏa thuận thương mại đã được ký kết trong thời gian qua như Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA)…, Việt Nam (và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) cần một “nút” hội nhập, một trung tâm kết nối quốc tế tương xứng về quy mô và đẳng cấp.   Hiện tại, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có “nút” hội nhập quốc tế lớn, đó là cảng biển trung chuyển quốc tế Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu). “Nút” hội nhập hàng không hiện tại do sân bay Tân Sơn Nhất đảm nhiệm. Về dài hạn, với tất cả những điều kiện thực và triển vọng phát triển của Vùng, sân bay Long Thành sẽ chính là một trung tâm hội nhập, liên kết quốc tế của Vùng.   Sân bay Long Thành cần xây dựng theo mô hình nào?  Có nhiều mô hình được đặt ra cho việc xây dựng sân bay Long Thành. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, liên quan đến chi phí đầu tư và hiệu quả sử dụng – những yếu tố thu hút sự quan tâm của dư luận trong thời gian qua.    Để đáp ứng tầm nhìn chiến lược, mô hình nào là phù hợp với sân bay Long Thành? Và mô hình hình đó gắn với những chức năng gì – một nhà nhà ga hàng không thông thường, một sân bay trung chuyển quốc tế tầm cỡ, hay một tổ hợp phát triển hiện đại với hạt nhân là sân bay trung chuyển quốc tế gắn với một đô thị lớn – thông minh?   Đây là những vấn đề liên quan đến việc xác định sứ mệnh của sân bay Long Thành trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Chúng không chỉ xác định tính tất yếu của việc xây dựng sân bay Long Thành mà còn định vị giá trị chiến lược và hiệu quả phát triển quốc gia trong việc thực hiện dự án. Trên cơ sở này mới định hình được chân dung tổng thể của sân bay cần phải xây dựng, qua đó quyết định phương hướng, quy mô và chi phí tổng thể cho dự án xây dựng nó.  Trước hết, sân bay quốc tế – điểm nút hội nhập quốc tế tương lai của phía Nam, của Vùng cần được định hình về quy mô, cơ cấu và đẳng cấp để đáp ứng các yêu cầu phát triển được kỳ vọng mà không bị tụt hậu, không bị lâm vào tình trạng phải thường xuyên “chạy theo”, phải liên tục “cơi nới” để đáp ứng nhu cầu phát triển. Khi đề cập đến quy mô của sân bay quốc tế dự tính cho Vùng KTTĐ phía Nam phải tính đến ba biến số:   i)    lượng hành khách luân chuyển dự báo tăng lên qua từng giai đoạn;   ii)    lượng vận tải hàng hóa qua đường hàng không;   iii)    khả năng đột biến phát triển của Vùng KTTĐ phía Nam và của Việt Nam trong giai đoạn tới.   Đến nay, đa số ý kiến tranh luận mới chủ yếu dựa vào biến số thứ nhất; hai biến số còn lại liên quan tới mức độ gia tăng nhanh vận tải hàng hóa qua đường hàng không trong thời đại công nghệ cao và khả năng đột biến vận tải hàng không đến Việt Nam hầu như chưa được bàn luận.           Sân bay quốc tế Long Thành mà chúng ta muốn xây dựng phải đồng thời là một trung tâm logistics lớn, kết nối toàn cầu và khu vực. Trong sân bay phải có khu kho vận lớn, có các văn phòng đại diện của nhiều hãng quốc tế lớn; xung quanh sân bay sẽ là địa điểm đầu tư của các tập đoàn lớn, giống như các trung tâm lắp ráp điện thoại di động khổng lồ của Samsung sát sân bay Nội Bài.           Dựa trên đà tăng trưởng hiện nay có thể dự báo: Việt Nam cần trở thành một tọa độ hội nhập quốc tế lớn, một địa chỉ hội tụ toàn cầu như Singapore đã làm được trong mấy chục năm qua nhưng ít nhất với một điều kiện bảo đảm: phải có một sân bay quốc tế lớn và hiện đại, có khả năng cung cấp dịch vụ và hấp dẫn khách du lịch. Các sân bay trung chuyển quốc tế trong khu vực mới được xây dựng gần đây cung cấp gợi ý cho việc xác lập một tầm nhìn để lựa chọn tầm cỡ sân bay thích hợp cho Việt Nam.   Sân bay quốc tế ngoài chức năng vận tải hành khách còn phải là nhà ga vận tải hàng hóa lớn và ngày càng lớn cùng với bước chuyển nền kinh tế sang quỹ đạo công nghệ cao1. Hàng hóa chủ yếu của nó là thiết bị, linh kiện, phụ kiện công nghệ cao với mức độ đòi hỏi logistics đặc biệt. Nền kinh tế Việt Nam, Vùng KTTĐ phía Nam đang nỗ lực hướng tới một nền kinh tế như vậy. Nghĩa là Vùng cần một sân bay vận tải hàng hóa lớn hiện đại có khả năng tổ chức vận tải tốt hàng hóa công nghệ cao trên quy mô lớn.   Một sân bay như vậy phải là hạt nhân của một tổ hợp công nghiệp – dịch vụ – đô thị. Là một Trung tâm phát triển mới – mới về diện mạo và đẳng cấp, nó cần một không gian mới, một mặt bằng quy mô lớn. Mọi sự “cơi nới” để có được một Trung tâm như vậy, dù tốt đến mấy, cũng chỉ là một giải pháp không triệt để, thiếu tầm nhìn và không phù hợp với logic phát triển hiện đại. Đó là chưa kể mọi sự “cơi nới” đều có nguy cơ làm giảm tốc độ của nỗ lực tiến lên, làm cho đất nước bị tụt hậu và phải trả giá đắt về dài hạn.  Bài học rút ra từ các dự án đầu tư  Với một tầm nhìn chiến lược, có thể thấy việc xây dựng sân bay Long Thành gắn liền với hiệu quả phát triển quốc gia. Vì vậy, chi phí lớn cho dự án này không hẳn là đắt đỏ và lãng phí như nhiều ý kiến vẫn lo ngại. Khi đưa vào sử dụng ở 10 năm sau, người ta sẽ thấy hiệu quả thu hồi của sân bay Long Thành, nơi bài toán đầu tư quốc gia gắn với nhu cầu thị trường và cạnh tranh quốc tế.   Trường hợp dự án sân bay Long Thành cho thấy, nếu nhìn sân bay tương lai chỉ căn cứ vào những khó khăn hiện tại của nền kinh tế, vào những căng thẳng và bức xúc ngắn hạn, kể cả là những bức xúc chính đáng, đều là cách nhìn không đầy đủ, có phần thiển cận, phản ánh sự thiếu hụt về tầm nhìn, nhất là trong một thế giới biến đổi nhanh sang hướng công nghệ cao, toàn cầu hóa mạnh và liên kết ngày càng chặt chẽ.          Khi đề cập đến quy mô của sân bay quốc tế dự  tính cho Vùng KTTĐ phía Nam phải tính đến ba biến số: lượng hành khách  luân chuyển dự báo tăng lên qua từng giai đoạn; lượng vận tải hàng hóa  qua đường hàng không; khả năng đột biến phát triển của Vùng KTTĐ phía  Nam và của Việt Nam trong giai đoạn tới. Cho đến nay, đa số ý kiến tranh  luận mới chủ yếu dựa vào biến số thứ nhất…          Khi thực hiện, sân bay Long Thành sẽ là dự án đầu tư lớn nhất Việt Nam kể từ trước đến nay nên những quan tâm từ phía cộng đồng, bao gồm các chuyên gia kinh tế, xây dựng… đến người dân cũng là điều dễ hiểu. Dư âm từ nhiều dự án trước đó, đặc biệt dự án đường sắt đô thị Hà Nội hợp tác với Nhật Bản bị phát hiện có tham nhũng, thất thoát kinh phí đầu tư, gây bức xúc dư luận và khiến người ta lo ngại đến khả năng tương tự có thể xảy ra với một dự án tầm cỡ quốc gia và có số vốn đầu tư lớn như sân bay Long Thành, một lo ngại mang tính chất cảnh báo. Thực chất đây là vấn đề lòng tin đã phần nào bị mai một, dẫn đến việc đứng trước bất cứ dự án nào, người ta cũng đặt dấu hỏi về tính khả thi và minh bạch của nó.   Để giải quyết được trọn vẹn những vấn đề như thế này, về lâu dài không còn cách nào khác là cần có một cơ chế giám sát sự minh bạch từ lộ trình thực hiện dự án, quy mô dự án, những bước đi thực hiện từng giai đoạn của dự án như thế nào cho hợp lý đến những yếu tố như tỷ lệ đầu tư công – tư trong dự án… Những kinh nghiệm từ thực tiễn cho chúng ta những cơ sở để làm tốt dự án sân bay Long Thành hơn, ví dụ như chọn đối tác đầu tư, đối tác thực hiện các phần của dự án sẽ theo tiêu chuẩn nào để đảm bảo được chất lượng, đẳng cấp, uy tín, tránh sai sót trong quá trình triển khai. Hơn hết, cần phải có một cơ chế với những khuôn khổ pháp lý, quy định chặt chẽ, thưởng phạt nghiêm minh mới đủ khả năng, đủ tầm bao quát để giám sát toàn bộ dự án. Vấn đề ở đây là các hạng mục của dự án khi thực hiện cần phải giải trình được, công khai được, không có “vùng cấm” để có thể công khai thông số và tiến độ thi công trước Quốc hội và nhân dân.    Với một dự án lớn của đất nước như trường hợp sân bay Long Thành, xã hội rất cần được cung cấp thông tin từ quá trình chuẩn bị. Thông tin công khai sẽ giúp xã hội hiểu rõ ý nghĩa, mục đích, lộ trình thực hiện dự án, đồng thời, tạo điều kiện để sớm có những ý kiến phản biện từ chuyên gia các ngành, đặc biệt thuộc các ngành khoa học công nghệ, kinh tế, tài chính… Việc công khai thông tin về dự án càng sớm thì càng đem lại nhiều luận cứ đóng góp thắng thắn, tích cực. Đây cũng là cơ sở để các nhà quản lý có được phương án tối ưu cho dự án mà mình thực hiện. Sự quan tâm tham gia của xã hội với các dự án không chỉ cho thấy việc thực thi tốt cơ chế dân chủ, công khai minh bạch của Chính phủ trong quá trình điều hành đất nước mà còn tạo điều kiện thúc đẩy nó phát triển ở tầm cao hơn.          Các hạng mục của dự án khi thực hiện cần  phải giải trình được, công khai được, không có “vùng cấm” để có thể công  khai thông số và tiến độ thi công trước Quốc hội và nhân dân.           Chú thích:  1. Một ví dụ minh họa rõ nhất là việc Samsung xây dựng các cơ sở lắp ráp điện tử quy mô lớn ở Bắc Ninh và Thái Nguyên, tại những địa điểm chỉ cách sân bay Nội bài 20-40km. Xét từ góc độ logistics, đây không phải là sự lựa chọn “tình cờ”: Samsung đầu tư vào hai địa điểm này gần như đồng thời với việc sân bay Nội Bài được xây dựng mới. Chỉ trong vòng vài năm, Samsung tăng nhập khẩu và xuất khẩu lên khoảng 30 tỷ USD linh kiện và điện thoại di động mỗi năm, chủ yếu qua sân bay Nội Bài. Kết cục là sản lượng vận tải hàng hóa qua sân bay này tăng vọt nhanh chóng.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Sân chơi khoa học mới cho các bạn nhỏ      Tổ chức các khóa học ngắn và dài hạn, các sự kiện khoa học định kì thường xuyên, cũng như tạo ra các bộ dụng cụ thí nghiệm để mọi lứa tuổi từ mẫu giáo đến hết cấp III đều có thể tự tay làm thí nghiệm tại nhà hay tại trường… , nhóm nhà khoa học trẻ sáng lập viên của Học viện Sáng tạo kỳ vọng sẽ bù đắp sự thiếu vắng các hoạt động khoa học thực hành ở nhà trường phổ thông hiện nay.     Trở về sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ tại các trường đại học hàng đầu châu Âu, một nhóm nhà khoa học trẻ nhận ra thực trạng nghiên cứu khoa học ở trong nước hiện nay không khác gì nhiều so với mười năm trước khi họ lên đường du học. Ở bậc phổ thông không có bất cứ hoạt động khoa học nào cho học sinh; nhiều sinh viên chọn các chuyên ngành khoa học không phải vì đam mê thực thụ mà có khi chỉ vì học bổng tốt, hoặc đơn giản hơn, do sự thiếu định hướng… Với sức trẻ và ít nhiều liều lĩnh của những người đam mê khởi nghiệp, họ đã ngồi lại cùng nhau để tìm giải pháp, dù là nhỏ. Và thế là Học viện Sáng tạo ra đời với sứ mệnh tạo sân chơi khoa học vui và chuyên nghiệp cho học sinh phổ thông, bù đắp cho sự thiếu vắng hoàn toàn các hoạt động khoa học thực hành ở trường học.   Hoạt động chính mà Học viện hướng đến là tổ chức các khóa học ngắn và dài hạn cùng các sự kiện khoa học định kì thường xuyên nhằm kích thích và nuôi dưỡng niềm đam mê khoa học của đông đảo học sinh và phụ huynh, với hy vọng ít nhiều sẽ cải thiện tình trạng “quên lãng” khoa học ở bậc phổ thông. Trong lần ra mắt sự kiện đầu tiên, để tạo cú huých mạnh, nhóm đã kết hợp thêm các hoạt động nghệ thuật và hoạt động vui chơi ngày Tết.   Tại sự kiện “Cánh đồng Khoa học và Nghệ thuật – Tết sẻ chia” được tổ chức trong trọn ngày 8/2/2015, lần đầu tiên trẻ em Hà Nội có một sân chơi khoa học thú vị và gần gũi đến thế, nơi các em không chỉ được xem các tiết mục biểu diễn khoa học như biến rượu vang thành các loại đồ uống khác, biến dung dịch thuốc tím KMnO4 thành nước không màu, hay biến nước thành Coca-Cola, v.v, mà còn được tự tay làm các thí nghiệm vui như chế tạo robot đơn giản đi được nhờ động cơ rung, tạo núi lửa nhờ phản ứng của thuốc muối (NaHCO3) với axit giấm, hay các trò chơi với đá khô và các thí nghiệm ảo thuật vật lý. Gần 20 nhóm trẻ tham gia say sưa khắp các góc trong sân trường, với các dụng cụ thí nghiệm chuyên nghiệp, với sự tập trung tối đa để đong đếm cho đúng từng ml hóa chất, lắp ráp cho chính xác từng mạch, từng dây. Có bạn vừa làm xong robot “con bọ” vội vàng bò lăn trên thảm cỏ cho hai chú “bọ” thi chạy. Xem ra không bạn nào dửng dưng được với các trò chơi khoa học… “Hay thế mà chúng mình chưa bao giờ được tận tay làm như thế này” – bạn Khôi Nguyên (8 tuổi) thốt lên. Việc tự mình hoàn thành một món đồ chơi công nghệ không chỉ kích thích niềm say mê khoa học ở trẻ mà còn giúp trẻ trở nên tự tin và tự hào về bản thân. Một sân chơi thực sự đem lại niềm vui học, vui chơi cho trẻ – thành công bước đầu ngoài mong đợi này đã ít nhiều khích lệ những người đứng ra tổ chức sự kiện.  Chuỗi sự kiện của Học viện Sáng tạo phỏng theo mô hình ngày hội khoa học (science fair/science camp) vẫn thường được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới dành cho trẻ em lứa tuổi từ mẫu giáo trở lên. Tại ngày hội này, học sinh, có thể là cá nhân hoặc tập thể, sẽ trình bày các dự án của mình. Học sinh cũng có thể tham gia các buổi biểu diễn khoa học ở trường đại học do các giảng viên của trường giới thiệu – cách làm khá phổ biến ở châu Âu. Tất cả các hoạt động này nhằm kích thích trí tò mò, niềm đam mê khoa học hay đơn giản chỉ nhằm giới thiệu thêm về khoa học cho trẻ em.   Những hoạt động như vậy lâu nay còn thiếu vắng ở Việt Nam. Gần đây, trong Ngày KH&CN Việt Nam (18/5), một số trường có tổ chức cho học sinh tham quan phòng thí nghiệm nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó, trong khi lẽ ra hoạt động này phải được tổ chức thường xuyên hơn, theo quý hoặc theo học kì, và dưới nhiều hình thức phong phú hơn. Chính vì vậy, Học viện Sáng tạo hi vọng sẽ đưa được chuỗi sự kiện khoa học của mình trở thành một hoạt động thường xuyên trong nhiều nhà trường phổ thông. Sự kết hợp giữa trường học và các “đơn vị” bên ngoài là xu hướng phát triển tất yếu của giáo dục trên thế giới, khi không phải trường nào cũng có khả năng xây dựng và điều hành riêng một phòng khoa học với đội ngũ nhân sự là các nhà khoa học.  Với sự cộng tác của một số nhà khoa học tốt nghiệp tại châu Âu (TS. Đặng Văn Sơn, ĐH Birmingham, Anh; TS Bùi Văn Điệp, Ecole Polytechnique, Pháp…) và đội ngũ trợ giảng chuyên nghiệp, ngoài các sự kiện khoa học, Học viện Sáng tạo còn dự định chế ra những bộ dụng cụ thí nghiệm đơn giản được chia làm nhiều cấp độ, từ cơ bản và phổ cập như bộ đồ chơi giúp thực hiện các thí nghiệm với hóa chất nhà bếp, đến các bộ thí nghiệm chuyên sâu dành cho các bạn đam mê khoa học thực sự, từ 14 tuổi trở lên. Với các bộ dụng cụ thí nghiệm của Học viện, mọi đối tượng từ mẫu giáo đến hết cấp III, thậm chí cả sinh viên đại học, đều có thể tự tay làm thí nghiệm tại nhà hay tại trường. Cũng có thể coi các bộ dụng cụ thí nghiệm này như “giáo trình” để đưa môn khoa học vào các trường một cách nhanh chóng, hấp dẫn, và hiệu quả theo phương châm học thông qua hành, thông qua tự nghiên cứu. Khi quen dần với việc thực hiện các dự án khoa học nhỏ, các bạn trẻ sẽ tự tin hướng đến sự nghiệp khoa học thực sự trong tương lai.         Hiện Học viện Sáng tạo đang tổ chức  các khóa học ngắn hạn (năm buổi) để giới thiệu cho học sinh làm quen với  khoa học; sau đó, nếu thực sự thích, các em sẽ đăng ký học các khóa học  dài hạn, kéo dài cả năm, mỗi tuần một buổi với các bài học theo từng  chủ đề, từng bộ môn khoa học. Học sinh sẽ học hoàn toàn qua thực hành,  tự tay làm toàn bộ các thí nghiệm, các công đoạn lắp ráp, tham gia làm  các dự án khoa học theo nhóm và trình bày các dự án tại các “Science  show”.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Sân ga chuyển động: một cách giúp tiết kiệm thời gian?      Một nhà thiết kế đã đưa ra giải pháp độc đáo cho việc rút ngắn thời gian chạy tàu: thay vì thay đổi động cơ hay đường ray,&#160; ông muốn xóa bỏ hệ thống các nhà ga.      Ông Paul Priestman, người Anh, giám đốc nhóm thiết kế Priestmangoode – tin rằng với ý tưởng “Sân ga chuyển động” ông sẽ có thể cách mạng hóa ngành công nghiệp đường sắt.  Kế hoạch của ông là hành khách sẽ được phục vụ bởi một băng chuyền xe điện và tàu tốc độ cao – một hệ thống sẽ đưa hành khách từ nhà họ tới điểm đến mà không phải dùng xe buýt, xe hơi hay taxi.  “Ý tưởng Sân ga chuyển động là… ví dụ như nếu như bạn đi nghỉ hay đi công tác, bạn có thể bắt một chiếc xe điện trên đường, sau đó dễ dàng chuyển sang đường sắt tốc độ cao, rồi xuống điểm đến của bạn ở một thành phố khác, sau đó lại lên một chiếc xe điện rồi xuống điểm đến của bạn mà không cần dùng xe hơi hay bắt xe buýt” – ông Priestman cho hay.  “Hệ thống này được tích hợp toàn diện vào một dạng hệ thống giao thông lớn hơn” – ông nói thêm.  Ý tưởng này là có một mạng lưới xe điện rộng khắp thành phố chạy trong một vòng lặp và kết nối với một hệ thống đường sắt tốc độ cao.   Nhưng thay vì hành khách phải xuống xe điện ở một nhà ga và đợi chuyến tàu cao tốc tiếp theo, chiếc xe điện đang chạy sẽ áp sát một tàu cao tốc đang chạy, để hành khách di chuyển từ xe điện sang tàu cao tốc mà cả hai không cần dừng lại.  “Xe điện tăng tốc trong khi tàu cao tốc chạy chậm lại và chúng kết nối với nhau ở tốc độ cao” – ông Priestman giải thích.  “Chúng sẽ kết nối với nhau bằng khoảng thời gian mà nó sẽ dừng lại ở một nhà ga” – ông nói thêm.  “Có những cửa ra vào lớn và rộng. Tất cả đều ở cùng một kích cỡ để bạn có thể dễ dàng đi lại giữa 2 phương tiện một cách an toàn, không phải vội vã. Sau đó, khi mọi người đã di chuyển xong, cửa đóng lại và xe lửa tách ra. Xe điện sau đó chạy về thành phố hoặc thị trấn đón thêm khách đồng thời trả khách”.  Thay vì sử dụng vé giấy để đi qua một rào cản thì hành khách sẽ sử dụng một hệ thống nhận dạng tần số radio RFID để di chuyển từ xe điện sang xe lửa. Những hệ thống tương tự cho phép hành khách quét thẻ thông minh trả trước đã được sử dụng ở nhiều hệ thống giao thông công cộng.  Tuy Priestman thừa nhận rằng phải mất một thời gian trước khi ý tưởng của ông có thể thực hiện được, nhưng ông cho rằng đã đến lúc phải suy nghĩ lại về cách mà chúng ta di chuyển.  “Ý tưởng này là một suy nghĩ cho tương lai xa nhưng thật hay nếu chúng ta đánh giá lại và suy nghĩ lại toàn bộ quá trình” – ông chia sẻ.  Nguyễn Thảo dịch theo  http://edition.cnn.com/2011/11/24/tech/innovation/moving-platforms/index.html         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản phẩm di động đầu tiên dành cho người khiếm thị Việt      Lần đầu tiên tại Việt Nam có điện thoại di động dành cho người khiếm thị, đó là sản phẩm Speak Sim của Tổng Công ty Viễn thông Viettel, mới ra mắt vào ngày 18/6. Dự kiến, bộ sản phẩm này sẽ xuất hiện rộng rãi vào tháng 7 tới trên hệ thống của Viettel trên toàn quốc.      Bộ sản phẩm Speak Sim dành cho người khiếm thị bao gồm một sim ưu đãi trả trước Speak, một điện thoại smart phone được cài đặt sẵn phần mềm đọc tiếng Việt trên nền tảng hệ điều hành Android (Viettel Speak). Để hỗ trợ người khiếm thị trong sử dụng điện thoại, phần mềm Viettel Speak được cài đặt trong điện thoại cho phép người sử dụng có thể thao tác một cách dễ dàng theo giọng đọc của ba miền Bắc, Trung, Nam.  Phần mềm này đã được Viettel mua bản quyền dành riêng cho khách hàng của mình.  Sim ưu đãi Speak trả trước được thiết kế tương đồng với gói cước Tomato. Nhờ vậy, khách hàng sẽ không bị giới hạn thời gian sử  dụng (trong vòng 60 ngày, chỉ cần phát sinh ít nhất một trong  các giao dịch như nạp thẻ, phát sinh cuộc gọi đi có cước, tin nhắn đi có  cước hoặc phát sinh lưu lượng mobile internet). Đặc biệt, khách hàng còn  được miễn phí cước truy cập data 3G khi sử dụng ứng dụng Tin ngắn Radio  (phiên bản dành riêng cho người khiếm thị) để đọc báo, cập nhật thông  tin hàng ngày… Đồng thời, Viettel cũng miễn phí nạp thẻ hộ cho thuê bao  Viettel khác khi muốn nạp thẻ cho thuê bao Speak Sim.   Không đặt mục tiêu phát triển thuê bao với  sản phẩm này, Viettel kỳ vọng  đem lại cơ hội đem lại cho ba triệu người khiếm thị tại Việt Nam khả năng tiếp cận phàn mềm. Việc cho ra đời bộ sản phẩm Speak Sim không chỉ giúp  cho cộng đồng người khiếm thị có một công cụ hỗ trợ trong cuộc  sống hàng ngày như giữ liên lạc, tiếp cận thông tin  xã hội, dịch vụ giải trí mà còn giúp cho đối tượng các học sinh bị khiếm thị có thể hòa nhập  tốt hơn trong việc học tập hàng ngày.  Phát biểu tại lễ ra mắt, Phó Tổng Giám đốc Viettel Phùng Văn Cường cho biết thay vì làm ra một sản phẩm phục vụ số đông, Viettel sáng tạo ra từng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu riêng biệt của từng đối tượng khách hàng.   Được biết, người khiếm thị đang là thuê bao Viettel sẽ được hỗ trợ chuyển sang Speak Sim. Và để họ dễ dàng tiếp cận với sản phẩm, các tài liệu hướng dẫn đều được Viettel thiết kế dưới dạng file âm thanh.    Đánh giá cao bộ sản phẩm, Chủ tịch Hội người Mù Việt Nam Cao Văn Thành cho biết đây là một trong những sản phẩm thân thiện, hỗ trợ tốt cho cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày của người khiếm thị.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản phẩm không bền vững: Giá càng cao, người giàu càng mua      Một nghiên cứu mới trên tạp chí Journal of Marketing Research cho thấy, mức giá cao không khiến cho những người thuộc tầng lớp thượng lưu ngừng mua các mặt hàng kém bền vững, mà ngược lại, dễ kích thích họ “rút hầu bao” hơn.      Các nhà khoa học phát hiện ra, những người thuộc giới thượng lưu có nhiều khả năng sẽ mua các mặt hàng không thân thiện với môi trường khi chúng có mức giá cao hơn. Ảnh: Josh Madison  Trong loạt nghiên cứu của mình, Karen Winterich – giáo sư về lĩnh vực bền vững tại Đại học bang Pennsylvania và các đồng nghiệp đã phát hiện ra nhiều khả năng những người thuộc giới thượng lưu sẽ mua các sản phẩm không bền vững (ví dụ như đồ ăn vặt đóng từng gói riêng), khi các sản phẩm này có giá cao hơn. Các phân tích sâu cho thấy, giá cao khiến cho người giàu cảm thấy họ xứng đáng nhận được lợi ích từ các sản phẩm này, dù cho môi trường có phải trả giá.  Thêm vào đó, theo nhóm nghiên cứu, hiệu ứng này còn mở rộng phạm vi ra các tình huống “gây hại cho xã hội” khác, ví dụ như các chuyến du lịch đến những bãi biển vốn đang oằn mình chịu thiệt hại môi trường do có quá đông du khách.  Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng phát hiện ra, khi khuyến khích những người tình nguyện tham gia nghiên cứu suy nghĩ rằng tất cả mọi người đều bình đẳng, thì hiệu ứng tâm lý ấy cũng biến mất. Theo Winterich, kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng để giúp khách hàng đưa ra những lựa chọn mua sắm bền vững hơn.  “Nếu muốn loại bỏ việc tiêu thụ các sản phẩm ‘gây hại cho xã hội’, chúng ta cần phải tập trung vào các chiến lược truyền tải thông điệp khuyến khích mọi người nghĩ nhiều hơn về sự bình đẳng tổng thể của cả nhân loại”, Winterich nói. “Khi thúc giục mọi người để ý nhiều hơn đến môi trường và sự bình đẳng, thì chúng ta có thể phá vỡ hiệu ứng ‘đặc quyền’ này và khiến cho người giàu khó chấp nhận những cái giá mà xã hội phải trả hơn”.  Theo nhóm nghiên cứu, các cuộc khảo sát trước đây đã cho thấy, nhìn chung, hầu hết mọi người đều ưa thích các sản phẩm đem lại lợi ích cho xã hội, ví dụ như các mặt hàng “xanh” thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, đến lúc thực sự mua hàng, rất nhiều người vẫn chọn các sản phẩm tiện lợi hoặc dùng tốt hơn so với các sản phẩm bền vững.  Winterich và Saerom Lee – đồng tác giả, trợ lý giáo sư nghiên cứu về tiếp thị và tiêu dùng tại Đại học Guelph, đều tò mò tại sao nhiều người lại tiếp tục mua các sản phẩm như vậy, đặc biệt là khi chúng có giá cao hơn. Từ ý tưởng này, để tiến hành nghiên cứu, các tác giả đã thực hiện một số cuộc thử nghiệm để thiết lập và xác nhận “hiệu ứng hưởng lợi về giá”, cùng với một số thử nghiệm để xem liệu có chiến lược nào giúp xóa bỏ hiện tượng này không. Trong các nghiên cứu, những người tham gia sẽ tự xác định tầng lớp xã hội của họ, dựa trên các yếu tố như thu nhập, giáo dục và tình trạng công việc.  Nhóm tác giả phát hiện ra, dù những người có địa vị xã hội cao hơn cảm thấy công bằng khi mua những hàng hóa “gây hại cho xã hội”, thì những người này cũng có một giới hạn chấp nhận nhất định đối với các sản phẩm như vậy. “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một xu hướng cụ thể, khi giá sản phẩm khơi dậy cảm giác công bằng ở người mua”, Winterich cho biết. “Ở đây, chúng tôi không nói về những ‘cái giá xã hội’ thực sự nghiêm trọng. Bởi vì nếu ‘cái giá’ ấy quá đắt, ví dụ như người lao động làm ra sản phẩm đó bị tổn hại về mặt sức khỏe, thì hiệu ứng này cũng không xuất hiện”.  Nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết, những người cho rằng mình thuộc tầng lớp thấp hơn trong xã hội có thể nghĩ đến cộng đồng nhiều hơn, do đó họ không có cảm giác đặc quyền gì khi mua hàng với mức giá cao.  “Điều này có thể đến từ trải nghiệm của việc người ở các tầng lớp thấp phải sống dựa vào cộng đồng nhiều hơn so với người giàu, từ đó họ có tư duy tập thể hơn là lối suy nghĩ thực dụng”, Winterich nói. “Những người này dễ nhận ra cái giá xã hội phải trả hơn. Và khi nghĩ đến việc có thể làm tổn hại đến cộng đồng, họ không sẵn sàng chịu chi phí đó nữa”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: High prices make wealthy people feel entitled to unsustainable goods    Author                .        
__label__tiasang Sản phẩm xuất sắc là chưa đủ      Những người dân xã Bằng Cả lựa chọn rượu Bâu, một sản phẩm đầy tiềm năng, làm đặc sản tham gia chương trình OCOP (“Mỗi xã phường một sản phẩm”) của tỉnh Quảng Ninh. Họ đã đóng góp 300 triệu đồng thành lập công ty và xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên họ lại không đủ năng lực điều hành và công ty lâm vào khủng hoảng…      Dây chuyền, máy móc sản xuất rượu Bâu.  Người Dao Thanh Y chiếm tới 98% dân số của xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh. Rượu Bâu vốn là thức uống mà mọi gia đình Dao Thanh Y vẫn thường tự chế để dùng và mời khách quý trong những dịp lễ, tết. Rượu có độ cồn cao (khoảng 10-13%) nhưng lại có vị ngọt, gần giống rượu Barley của châu Âu. Điều thú vị khác là rượu Bâu gắn liền với một truyền thuyết của người Dao Thanh Y, kể rằng sau khi uống thứ “rượu trời cho” này, một con quỷ vốn tác oai tác quái trộm thóc và rình bắt trẻ con mỗi khi người lớn ở làng vào rừng săn bắt và làm nương bỗng nhiên trở nên hiền lành và ngoan ngoãn trở về rừng, không càn quấy dân làng nữa.  PGS. TS. Trần Văn Ơn, người dẫn đường cho phóng viên Tia Sáng tới xã Bằng Cả gọi rượu Bâu là “rượu vang gạo”. Nhìn ở khía cạnh nào thì quyết định của người dân Bằng Cả khi lựa chọn rượu Bâu tham gia chương trình OCOP là “không chê vào đâu được”. Đây vừa là đặc sản mang bí quyết của người Dao Thanh Y, vừa dễ uống, lại có câu chuyện hay để marketing, một sản phẩm có tiềm năng lớn ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu vì thị trường đồ uống Việt Nam tăng trưởng hơn 10% mỗi năm, trong đó dòng sản phẩm như thức uống lên men (bia, rượu vang) còn tăng mạnh hơn nữa.  Ba mươi ba người dân tham gia chương trình đã thành lập Công ty cổ phần phát triển sản phẩm truyền thống Bằng Cả năm 2014 với rượu Bâu là sản phẩm đầu tiên, mỗi người đóng góp 10-20 triệu đồng và trở thành cổ đông. Chị Đặng Thị Thủy, một người trong số họ, chia sẻ với phóng viên Tia Sáng lí do mình tham gia: “Nếu bản thân mình làm thì sẽ không đi được xa còn nếu có công ty vào thì sẽ đưa hàng hóa của mình ra nhiều nơi xa hơn”.  Tuy nhiên, trong cuộc họp cổ đông gần nhất, không chỉ mình chị Thủy mà hầu hết các cổ đông đều quyết định rút vốn, không tham gia công ty nữa. Từ năm 2014 đến nay, công ty gần như không sản xuất được mẻ rượu nào.     Công nghệ chưa hoàn thiện, giám đốc thờ ơ  Giống như rất nhiều sản phẩm thủ công, rượu Bâu theo cách làm truyền thống không thể đảm bảo đúng các tiêu chuẩn chất lượng về rượu hay đồ uống có cồn theo quy định của Bộ Y tế, vì vậy chưa được bán rộng rãi (vì mỗi nhà làm một kiểu mà không phải lần nào làm cũng có màu và mùi vị giống nhau). Sản phẩm cũng không thể vận chuyển đi xa theo cách thông thường vì nhanh hỏng. Rượu Bâu sau khi làm xong phải uống ngay, để được chưa đến một tuần là hỏng, nếu muốn bảo quản trong thời gian vài tháng thì phải để ở nhiệt độ 0-20 C. Một yêu cầu bắt buộc là công ty phải có quy trình làm rượu thống nhất, đầu tư máy móc, dây chuyền sản xuất bài bản và nghiên cứu phương thức bảo quản nhưng vốn của các cổ đông đóng góp ban đầu chưa đủ để làm việc này. Vì vậy, chính quyền huyện xây dựng văn phòng, mua sắm trang thiết bị trị giá 600 triệu cho công ty với vốn đối ứng từ phía người dân chiếm 50%.  Tuy nhiên, sau khi cơ sở vật chất được xây dựng và hoàn thành thì một điều oái oăm xảy ra, hệ thống thiết bị máy móc không sản xuất được rượu Bâu! Mỗi khi rượu đi qua công đoạn sục khí cuối cùng là rượu mất màu và nhanh chua. Công ty mang rượu đến các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của chương trình OCOP tại Quảng Ninh thì đến nơi phát hiện ra các chai đều hỏng, mở nắp chai rượu là “nó phì ra như kiểu có hơi gì”, theo lời chị Thủy.  Số tiền hơn 300 triệu mà các cổ đông đóng góp lúc đầu quá ít ỏi so với số tiền đối ứng với Nhà nước và chi phí vận hành công ty nên đến nay, công ty vẫn nợ nhà thầu xây dựng gần 200 triệu đồng. Vì vậy, không sản xuất được rượu thì công ty không hoạt động được đã đành mà cũng không thể trả tiền cho nhà thầu và không được bàn giao đất đai và nhà xưởng máy móc. Một cách dễ thấy để giải quyết tình trạng này là đi vay hoặc góp thêm vốn, nhưng Phó chủ tịch hội đồng quản trị của công ty, chị Trương Thị Oanh, hiện nay đang là Phó hiệu trưởng trường THCS Bằng Cả, phân trần rằng, công ty không thể đi vay ngân hàng vì không có hồ sơ đất (do tài sản chưa được bàn giao) và khi kêu gọi các cổ đông góp mỗi người 50 triệu đồng thì mọi người không chỉ phản đối mà nhất loạt đòi rút vốn.  Đến đây, sẽ có người thắc mắc rằng, giám đốc của công ty đã ở đâu trong suốt câu chuyện này?  Giám đốc của công ty là một thanh niên trẻ mới học hết lớp 5 và theo  anh Trần Văn Ơn, là người “thích làm công nhân hơn làm giám đốc”. Không mặn mà lắm với trọng trách được giao nên anh cũng không tìm hiểu về công nghệ, thậm chí còn thờ ơ với các cơ hội kinh doanh. Sau một lần tham gia hội chợ OCOP, công ty nhận được một đơn đặt hàng 100 lít rượu định kỳ từ một nhà hàng ở Hà Nội, anh giám đốc, khi đó chở rượu được làm thủ công (vì chưa sản xuất được bằng máy) đi bán được một lần rồi thôi, “bẵng đi người ta thấy mình làm ăn không chuyên nghiệp, họ chẳng đặt nữa” – chị Oanh kể. Bây giờ, công ty hoạt động cầm chừng, chị Oanh vừa làm công việc tại trường THCS Bằng Cả, vừa nấu rượu theo cách thủ công và đem bán cho các xã xung quanh.       Không chỉ cần vốn mà cần người hướng dẫn  Chính quyền huyện Hoành Bồ và tỉnh Quảng Ninh đã kết nối công ty với Viện Ứng dụng Công nghệ (Bộ KH&CN) và hỗ trợ 80% vốn để triển khai đề tài về bảo quản rượu Bâu (sau khoảng 8 tháng nữa mới kết thúc) nhưng như thế chưa đủ bởi vì máy móc sản xuất chưa cải tiến, thậm chí điện lưới chưa đủ để đảm bảo sản xuất (có một lần bị chập, cháy). Quy trình sản xuất rượu của công ty chưa thống nhất sẽ lấy quy trình rượu của nhà nào, nếu lấy thì phân chia lợi nhuận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ra sao. Hầu hết cổ đông không còn niềm tin với hiệu quả hoạt động của công ty, với sự hỗ trợ của nhà nước (do đã đóng góp một khoản cao nhưng chưa được bàn giao tài sản) và những người trẻ tuổi, năng động thì không mặn mà với công việc ở xã.  Phóng viên Tia Sáng đã đi theo anh Trần Văn Ơn đến cuộc họp “tái cơ cấu” lại công ty ở Bằng Cả. Để lấy lại niềm tin của cổ đông, anh Ơn góp vốn vào công ty và gọi thêm vốn từ các công ty thân hữu để trả cho các cổ đông muốn rút vốn và để vận hành công ty. Đồng thời, anh cũng cử học trò của mình, một dược sĩ trẻ, về làm giám đốc công ty trong ít nhất sáu tháng để hoàn thiện quy trình làm sản phẩm chuẩn (dựa trên bí quyết của người làm rượu có tiếng trong xã với cam kết bằng văn bản là không được tiết lộ ra ngoài), đồng thời nghiên cứu cải tiến dây chuyền và tìm cách phân phối sản phẩm.  Như vậy, người dân Bằng Cả không chỉ được hỗ trợ về vốn, họ còn được chỉ dẫn, tạo niềm tin, thậm chí được những người xây dựng cộng đồng xắn tay vào làm cùng. Họ cần một người hiểu kinh doanh và quản trị, biết cách xây dựng cộng đồng hướng dẫn họ – điều mà các cán bộ xã, huyện còn thấy mới mẻ. Chị Thủy sau đó đã thôi rút vốn vì chị hiểu nếu để lại, cho dù đóng góp không đạt 50 triệu, chị vẫn được hưởng lãi của công ty trong tương lai và chị vẫn tin vào tính khả thi của công ty: “Rượu Bâu này bây giờ cũng phát triển rồi, nhiều người cũng biết đến rượu này mà uống cũng ngon.”          Author                Hảo Linh        
__label__tiasang San sẻ rủi ro cho doanh nghiệp      Nhà nước cần chia sẻ những rủi ro trong nghiên cứu – phát triển, thúc đẩy việc cấp phép lưu hành sản phẩm và song hành với doanh nghiệp trong quá trình thương mại hóa.       Doanh nghiệp trả phí cho những rủi ro nào?  “Có những thứ mình không nên chờ đợi nguồn lực từ Nhà nước, nếu thị trường có tín hiệu tốt thì chúng tôi thúc đẩy sớm” – Câu nói của anh Cao Văn Hùng, Phó giám đốc Công ty Phát triển Công nghệ Nông thôn (RTD), doanh nghiệp tham gia Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia (CTPTSPQG) thể hiện sự chủ động của công ty nhưng cũng ngầm phản ánh một bất cập, đó là cơ chế của Nhà nước không theo kịp tốc độ phát triển của doanh nghiệp.  Trong CTPTSPQG, RTD kết hợp với Học viện Nông nghiệp thực hiện hai dự án KHCN, đó là vaccine phòng bệnh tai xanh và lở mồm long móng cho vật nuôi. Trong đó, vaccine tai xanh đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm và vài tuần tới sẽ có kết quả. Đến đầu năm 2016, họ đã có sản phẩm và đưa vào đăng kí lưu hành. RTD đã tự lực triển khai nghiên cứu và phát triển vaccine tai xanh từ năm 2010. Theo anh Hùng: “Để có thể thành công được thì mình phải mạnh dạn đầu tư vào khâu nghiên cứu. Nhưng nếu có những rủi ro trong quá trình nghiên cứu thì không ai hỗ trợ doanh nghiệp cả”.  Đồng tình với ý kiến này, anh Đỗ Tuấn Đạt, Giám đốc công ty TNHH-MTV Vaccine và Sinh phẩm sổ 1 (VABIOTECH), thành viên hội đồng thẩm định chuyên môn cho vaccine phòng bệnh cho thú y, thẳng thắn: “Gần như là khi các nhà khoa học làm hồ sơ đăng kí một đề tài nghiên cứu nghĩa là đã phải làm được hòm hòm rồi. Cái lúc [đáng lẽ phải] nghiên cứu thì chỉ là thời gian để làm chứng từ thôi. Còn nếu vừa làm nghiên cứu, vừa làm chứng từ thì không ai làm được”.        Để có thể thành công được thì mình  phải mạnh dạn đầu tư vào khâu nghiên cứu. Nhưng nếu có những rủi ro  trong quá trình nghiên cứu thì không ai hỗ trợ doanh nghiệp cả.        Khi được hỏi về khó khăn trong khi tham gia CTPTSPQG, câu trả lời của anh Cao Văn Hùng là: “rào cản đầu tiên, bài toán muôn thuở vẫn là thủ tục về thanh quyết toán”. Các quy định về dự toán cho các đề tài vẫn cứng nhắc theo kiểu trong thuyết minh sử dụng hóa chất, nguyên vật liệu, công nghệ nào để nghiên cứu thì khi thực hiện phải sử dụng y hệt như vậy, nếu không, khi Kiểm toán hoặc Thanh tra của Bộ Tài chính kiểm tra có thể bị yêu cầu xuất toán. Chính vì vậy, họ phải nghiên cứu trước khi sử dụng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách.“Nhiều người kêu trời là tôi dự toán thế này nhưng khi nghiên cứu thì hôm nay dùng nguyên vật liệu này, không thành công thì ngày mai tôi phải đổi sang cái khác, tại sao lại bắt tôi phải dùng y hệt thuyết minh? […] Cho nên, chúng tôi mới phải nghiên cứu thăm dò trước xem nó phải là hóa chất nào, bộ kit thử nghiệm nào, nhưng cũng chỉ tương đối thôi, không chính xác 100% đâu. Lúc làm có khi vẫn không ra kết quả được, nếu có ai giới thiệu cho hóa chất, bộ kit khác thì doanh nghiệp tự bỏ tiền cho nhanh.”   Bên cạnh việc “trả phí” rủi ro  trong nghiên cứu, trước khi tung sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp nhiều khi bỏ lỡ cơ hội bởi việc cấp phép lưu hành quá lâu do các quy định và văn bản chưa hợp lí.   Mặc dù RTD tự tin rằng họ sẽ có sản phẩm vào đầu năm 2016 nhưng bao giờ có thể thương mại hóa thì anh Cao Việt Hùng tỏ ra dè dặt: “Tùy thuộc vào hội đồng Nhà nước, nhanh thì đến tháng 5, 6 còn chậm thì đến cuối năm”. Trước đây, chỉ cần thông qua Hội đồng chuyên môn của Cục Thú y, nếu đạt tiêu chuẩn là được cấp phép lưu hành. Tuy nhiên hiện nay, sau khi hội đồng có kết quả, phải báo cáo lên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Sau đó, Bộ trưởng sẽ chỉ đạo một hội đồng gọi là Tổ 20 để thẩm định, rà soát lại hồ sơ. Hạn chế của quy trình này là thời gian cấp phép bị kéo dài từ ba đến sáu tháng. Đồng thời, với sự can thiệp của Tổ 20 chủ yếu gồm các cán bộ quản lí “ở góc độ chuyên môn sâu thì họ không thể hiểu được” mà đánh giá chủ yếu dựa vào văn bản pháp lí. Tuy nhiên, “các văn bản pháp lý liên quan đến thú y đã lạc hậu khoảng chục năm, không phù hợp với tình hình thực tế.” – Anh Hùng cho biết.     Dựa chủ yếu vào nội lực doanh nghiệp?  Thực tế cho thấy, việc dựa chủ yếu vào nội lực của doanh nghiệp, không đủ để tạo ra “sản phẩm hàng hóa Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh về tính mới, về chất lượng và giá thành […] nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp và tiềm lực KHCN quốc gia” như tham vọng của CTPTSPQG. Trên thị trường Việt Nam hiện nay, chưa đến 10% vaccine phòng bệnh cho vật nuôi là sản phẩm trong nước. Nếu dựa chủ yếu vào tiềm lực của doanh nghiệp, đến năm 2020, sẽ chỉ tạo ra những sản phẩm có chất lượng trung bình, chiếm một thị phần nhỏ trong cả nước. Theo anh Cao Văn Hùng, “Mình làm được nhưng không thể so sánh với các sản phẩm nước ngoài. Họ đi trước, có bề dày nghiên cứu bao nhiêu năm, mình đi sau, vốn lại nghèo nàn nên mình không kỳ vọng là đạt chất lượng như họ ngay từ đầu mà chỉ bằng 60-68%”.   Chính vì vậy, bên cạnh việc thay đổi cơ chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp (bằng cơ chế quỹ và khoán đến sản phẩm cuối cùng) và cập nhật các văn bản pháp lí sao cho phù hợp với tình hình phát triển của công nghệ trong nông nghiệp để thúc đẩy sản phẩm ra đời, Nhà nước còn phải song hành với doanh nghiệp trên cả khâu thương mại hóa: “Pha thương mại đối với vaccine cần đầu tư nguồn vốn rất lớn. Sản phẩm sản xuất ra cũng chưa đủ điều kiện ngay để cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn nước ngoài. Nếu Nhà nước không tạo điều kiện hỗ trợ về mặt đất đai, nhà xưởng, cho vay thì rất khó cho doanh nghiệp.” Anh Cao Việt Hùng cho biết.    Hơn nữa, các chương trình quốc gia cũng cần liên kết với nhau để tạo ra thị trường cho sản phẩm. Hằng năm, trong các chương trình vaccine quốc gia cho vật nuôi hoặc chương trình phòng chống dịch bệnh cho gia súc gia cầm, Nhà nước vẫn nhập khẩu hàng triệu liều từ các nhà cung cấp vaccine trên thế giới để cung cấp cho các hộ chăn nuôi trên cả nước. Vì vậy, các doanh nghiệp trong CTPTSPQG nên được ưu đãi tham gia những chương trình này. “Nếu mình làm được, sản phẩm không đến nỗi tồi mà còn được tham gia các chương trình [vaccine phòng bệnh cho vật nuôi] này nữa thì sẽ không mất tiền marketing, quảng bá… mà vẫn đảm bảo sản lượng hằng năm, kết hợp với các kênh thương mại có từ trước thì sẽ rất tốt.” – Anh Hùng cho biết.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn tìm chuối dại ở Papua New Guinea      Cây chuối từng được biết đến rất sớm là có nguồn gốc từ Papua New Guinea, nơi những cộng đồng bản địa đã thuần hóa nó ít nhất 7.000 năm trước. Tổ tiên của nó, Musa acuminata, là loài phụ của Banksii, nhìn rất khác biệt với loài chuối Cavendish mà chúng ta thấy khắp mọi nơi: bóc lớp vỏ ra chúng ta có thể thấy hàng trăm hạt lớn và cứng để giúp chúng có khả năng sinh sôi nảy nở trong tự nhiên.      Chuối dại ở Papua New Guinea vẫn còn có những hạt cứng. Nguồn: S.Carpentier  Ngày nay các loài chuối hoang dại nhiều màu sắc (bao gồm cả Banksii) vẫn phát triển trong những khu vườn ẩm ướt ở New Guinea. Tuy vậy do nạn phá rừng và cháy rừng giảm giảm diện tích rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp Nam Thái Bình Dương, chúng ta đang đứng trước nguy cơ rủi ro mất cả các cây chuối tổ tiên lẫn cả cây chuối mà chúng ta biết và thích thú vị ngọt của nó trong tương lai.  Trên cái nền của biến đổi khí hậu, và sự khắc nghiệt của biến đổi khí hậu, các nhà nghiên cứu và nhà làm giống đều đang xem xét kỹ lưỡng các biến thể đa dạng của giống chuối có những đặc tính như khả năng kháng dịch bệnh, kháng sâu cũng như những khả năng đáp ứng được các dao động nhiệt. Các loài chuối dại hứa hẹn một nguồn gene phong phú còn chưa được khai khác. Sebastien Carpentier, một nhà nghiên cứu tại Liên minh đa dạng sinh học quốc tế và CIAT, giải thích: “Với các nhà làm giống thì việc đánh giá vụ mùa trong tự nhiên có liên quan đến chuối vô cùng quan trọng bởi nó giúp họ tìm thấy những đặc tính mà họ đang tìm kiếm.”  Nhiệm vụ: tìm kiếm và thu thập  Tại Trung tâm Chuyển giao mầm Musa quốc tế (ITC) – ngân hàng gene chuối lớn nhất thế giới ở Leuven, Bỉ. Mặc dù hiện đang giữ khoảng 1.617 gene của những loại chuối khác nhau, ngân hàng gene này chỉ mới có chút ít dữ liệu về đa dạng sinh học chuối dại. Bart Panis, nhà nghiên cứu chính tại ITC, cho biết, “chúng tôi không biết là trong tự nhiên có bao nhiêu loài chuối dại”.  Việc bảo tồn giống chuối tại địa phương đang ngày một thiếu hiệu quả do môi trường sống của chuối dại ngày một mất đi. Do đó các nhà khoa học như Panis đang cố gắng làm điều gì đó để :lấp đầy những khoảng trống” bằng việc thu thập các mẫu gene trong môi trường sống tự nhiên của chúng, sau đó chuyển chúng vào ngân hàng gene để nghiên cứu và bảo tồn chúng tại nơi chúng sinh sống.  Năm ngoái, một chuyến thực địa thu thập mẫu đã diễn ra tại Papua New Guinea, bao gồm Panis, Carpentier và nhiều nhà nghiên cứu khác, hợp tác với Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia này (NARI). Trong vòng gần hai tuần, đoàn nghiên cứu đã tới các khu vực núi cao và thung lũng, thu thập được khoảng 31 buồng chuối của các loài khác nhau trong khi quan sát sự thích nghi với những điều kiện môi trường đa dạng của chúng.    Một nông dân tham gia chuyến thực địa cầm buồng chuối dại maclayi ở Papua New Guinea. Nguồn: S.Carpentier  Một điều bất ngờ là họ đã tìm thấy “gã khổng lồ” Musa ingens. Mặc dù “sống sót” trong cuộc cạnh tranh với những cây lân cận bằng độ cao 15 mét, loài chuối cao như tòa tháp này không phù hợp với những khu đất đang bị khai phá và hiện đang có nguy cơ tuyệt chủng.  Những thách thức trong thu thập mẫu  Thu thập mẫu là một việc không đơn giản: người ta thường khó nắm bắt mùa vụ của các cây chuối dại. Dù chúng có những đặc tính thú vị nhưng một số loài vẫn chưa được trồng trọt vì chúng không thích hợp với khẩu vị con người. Ngay cả các chuyên gia về chuối cũng không phải lúc nào cũng nhận diện được những loài chuối dại giữa cánh đồng, và một khi họ tìm thấy, các cây này có thể không ở giai đoạn có sẵn hạt trong quả hoặc vật liệu di truyền sẵn sàng (người ta chưa bao giờ dự đoán được lịch ra hoa và đậu quả của chuối).  Việc gìn giữ vật liệu chứa sự sống khiến cho khả năng bảo quản và vận chuyển thành công thêm thách thức (quả có thể tồn tại trong vòng hai đến bốn tuần di chuyển trước khi hạt của chúng được tách ra ở Bỉ). Do đó các nhà nghiên cứu phải tôn trọng các quy định ngặt nghèo về thu thập và vận chuyển vật liệu di truyền của cây trồng.    Bart Panis và một người dẫn đường địa phương cầm trong tay buồng chuối Musa, một loài chuối dại cao tới 15 mét. Nguồn: S.Carpentier  Đảm bảo cho những thế hệ tương lai của chuối  Trở lại Bỉ, nhóm nghiên cứu đã bảo quản một cách cẩn thận các mẫu trong ngân hàng gene (cá kỹ thuật bao gồm những hạt giống khô và bảo quản ở mức nhiệt độ thấp), bắt đầu thực hiện một loại các thí nghiệm để hiểu tốt hơn về vật liệu di truyền mới được thu thập này.  Sau khi quan sát một cách cẩn thận loài Musa balbisiana, vốn tồn tại trong khu đất trống đang phục hồi sau đám cháy rừng (chỉ dấu về sự phát triển theo bề rộng của hệ rễ để có thể hút được nước), các nhà nghiên cứu đã có thêm được những thông tin về việc nước được sử dụng một cách hiệu quả, giúp cho các nhà tạo giống có thể cho ra đời những cây chuối có khả năng thích nghi với các kịch bản khô hạn trong tương lai – một tính năng quan trọng vì các nông dân trồng chuối đang phải hứng chịu với thiệt hại 65% sản lượng thu hoạch do hạn hán.  Carpentier lưu ý đến những khả năng chống sâu bệnh “chúng ta cần tiếp tục thu thập, lưu giữ và sàng lọc “những bà con xa” của chuối”. Những điển khác cần quan tâm của chuối còn có lợi ích về sức khỏe (chuối dại thường được sử dụng trong y học cổ truyền nhưng chưa được ghi lại một cách đầy đủ) và những gợi ý cho việc gia tăng năng suất trên mỗi cây.  Các kết quả nghiên cứu đã được họ công bố trong hai bài báo, một trên Plants với việc đánh giá các phương pháp để đảm bảo thu thập các hạt giống có khả năng sống được và bài khác trên Crop Science về các đặc điểm của những kiểu gene đa dạng.  Các nhà khoa học cho rằng, dự án này chỉ là một phần trong nỗ lực sắp tới với mục tiêu lấp đầy khoảng trống hiểu biết và đảm bảo sự tồn tại của loài chuối có khả năng chống chịu với điều kiện môi trường khắc nghiệt. Panis và Carpentier đồng ý là việc ai thực hiện những nghiên cứu đó không quan trọng mà điều quan trọng là những loài chuối dại đó sẽ tiếp tục được thu thập và bảo tồn tốt hơn trước khi chúng biến mất mãi mãi.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-wild-bananas-papua-guinea.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn vé máy bay giá rẻ cùng atadi      Năm năm trước, có lẽ ít ai nghĩ đến việc di chuyển bằng máy bay lại trở nên phổ biến như hiện nay. Sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không đã đem lại những mức vé khác nhau trên cùng một chuyến bay cho khách hàng tùy ý lựa chọn. Thậm chí trong nhiều chương trình khuyến mãi, giá vé máy bay còn rẻ hơn vé tàu hoặc ô tô trên cùng chặng.      Bắt kịp xu hướng đó, với sự hỗ trợ của công nghệ, việc mua vé máy bay trở nên thuận lợi hơn bằng sự ra đời của rất nhiều đại lý bán vé máy bay trực tuyến (OTA – Online Travel Agent) như atadi.vn; abay.vn; vemaybay.vn; vemaybay247.com ….   Trong các OTA này, atadi.vn – một công ty khởi nghiệp công nghệ được sáng lập bởi anh Nguyễn Văn Phong, nguyên là Tiến sĩ chuyên ngành Tự động hóa Điều khiển không lưu, cùng một số cộng sự từ cuối năm 2013 – nổi bật như một siêu thị vé máy bay giá rẻ, có khả năng cung cấp thông tin về giá vé và phí của các hãng hàng không từng ngày để khách hàng có thể chọn được vé phù hợp với khả năng tài chính và thời gian của mình trong thời gian ngắn.   Khác biệt từ định vị  Định vị như một siêu thị, atadi.vn tạo cho người dùng cảm giác thân thiện khi truy cập. Ngay khi vào giao diện chính, người dùng chỉ cần gõ thời gian, điểm đi và điểm đến là ngay lập tức có ngay đầy đủ những thông tin hữu ích về vé của ba hãng hàng không tương ứng là Vietnam Airlines, Vietjet Air và Jetstar Pacific từng ngày trong một tháng liên tiếp.  Ví dụ, nếu bạn chọn chuyến đi ngày 18-1-2016, từ TPHCM về Quy Nhơn, atadi.vn sẽ cung cấp cho bạn bảng vé dạng cột, kéo dài từ ngày 12-1 đến ngày 12-2-2016, mỗi cột tương ứng với một ngày, thể hiện giá vé của ba hãng khác nhau trong ngày đó.  Tại sao atadi.vn có thể cung cấp thông tin về giá vé theo nhiều ngày như vậy?  Anh Phong cho biết, ngành hàng không có những đặc thù rất riêng, ví như cùng một chặng đường, nếu đặt vé càng sớm, giá sẽ càng rẻ; nếu thời gian ngắn hơn, trong một tuần chẳng hạn, giá vé ngày thứ sáu sẽ đắt hơn ngày thứ năm; thậm chí ngay trong cùng ngày, chuyến bay khuya hoặc sáng sớm có giá vé cũng rẻ hơn chuyến 9 giờ sáng. Với những người có thu nhập trung bình, sự chênh lệch giá vé từ 800.000 đến 1.000.000 đồng cũng khiến họ cân nhắc suy nghĩ lại về thời gian bay.  “Do vậy, atadi.vn muốn cung cấp cho khách hàng một bức tranh toàn cảnh để họ có thể chọn được chiếc vé có giá tốt nhất và phù hợp nhất về thời gian. Chúng tôi gọi nôm na những cái nhất này là giá rẻ tương đối trong định vị Siêu thị vé máy bay giá rẻ của mình,” anh Phong chia sẻ.  Hãy hình dung cảm giác khi bạn tìm được chiếc vé ưng ý, khi đó cảm xúc của bạn thế nào? Có lẽ bạn sẽ vô thức bật ra “a, ta đi thôi”. Đây chính là lý do tại sao anh Phong và đồng nghiệp chọn atadi.vn làm tên sản phẩm của mình.   Liều theo đến cùng  Nhắm đến khách hàng mục tiêu là những người cần tìm vé “giá rẻ tương đối” trong thời gian ngắn, do đó atadi.vn chọn bước đi đầu tiên là làm nền tảng so sánh giá giữa các hãng máy bay trong nước. Sau bốn tháng chuẩn bị, ngày 21-12-2013, atadi.vn cho ra mắt phiên bản so sánh giá đầu tiên. Từ việc cung cấp thông tin so sánh, atadi.vn tiến thêm bước nữa khi giúp người tiêu dùng đặt vé trực tiếp từ các hãng hàng không.   Hoạt động được một thời gian, khi hệ thống thanh toán dần hoàn thiện, từ ngày 21-11-2014, atadi.vn chính thức trở thành đại lý bán vé máy bay trực tuyến (OTA – Online Travel Agent) cho tất cả các hãng hàng không nội địa. Nhưng từ đó cho đến tháng 4-2015, atadi.vn chi nhiều hơn thu. Phần lớn các khoản chi đều dành cho việc xây dựng hệ thống và quảng cáo để kéo khách về với atadi.vn nhưng dường như mọi thứ đều bế tắc. Khoản tiền tiết kiệm của các thành viên sáng lập cũng sắp cạn.   “Vào thời điểm đó, chúng tôi có hai sự lựa chọn: một là đóng cửa, hai là… liều sát ván để theo đến cùng. Chúng tôi ngồi lại, và tất cả cùng tin rằng atadi.vn là một sản phẩm đủ tốt để đem đến sự hài lòng cho khách hàng. Khi khách hàng hài lòng, thành công tất sẽ đến. Vậy là chúng tôi đồng lòng cùng xoay trở tìm tài chính từ tất cả các nguồn có thể để tiếp tục,” anh Phong nhớ lại.  Bước ngoặt công nghệ   Trong bối cảnh sự cạnh tranh giữa các hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Jetstar Pacific rất gay gắt, các hãng liên tục tung ra các chương trình khuyến mại khủng (ví dụ: 300.000 vé 9.000 đồng, 22.000 vé 22.000 đồng, …). Chi phí của những chương trình này cực lớn nên các hãng thường chỉ phân phối trên các trang web chính thức của mình để tối ưu hóa lợi nhuận cũng như độ nhận diện thương hiệu. Do sức hút của các chương trình này rất lớn nên vé có thể được mua hết chỉ trong 5 phút mở bán với các chặng ‘hot’. Vậy OTA làm thế nào để cung cấp vé mở bán tức thời tới khách hàng của mình? Theo anh Phong, “ai giải được bài toán này, người đó sẽ giành được lợi thế trong việc kéo khách hàng về với mình”.  Nhìn thấy cơ hội từ chính thách thức đó, anh Phong cùng Phạm Thanh Tùng – Giám đốc công nghệ – đồng sáng lập atadi.vn, tập trung toàn lực để tạo ra một bước ngoặt cho atadi.vn khi trang web này đưa thêm tính năng săn vé rẻ từ các chương trình khuyến mãi lớn cho người dùng.   Để giải bài toán này, anh Tùng chọn giải pháp xây dựng atadi.vn theo kiến trúc hệ thống phân tán sử dụng nền tảng điện toán đám mây. Với ưu thế tối ưu trong phân phối tài nguyên sử dụng của điện toán đám mây, hệ thống quét của atadi.vn có thể thực hiện trong thời gian ngắn hơn với chi phí thấp hơn vì chỉ phải trả phí cho những dịch vụ mà mình sử dụng.  Nhờ vậy, atadi có thể đem lại cho người tiêu dùng trải nghiệm mua vé máy bay đơn giản và nhanh chóng chỉ 1 phút 30 giây với mức phí dịch vụ tối thiểu 1,5 USD (khoảng 33.000 đồng), thấp hơn so với các cách đặt vé khác, kể cả mua trực tiếp từ hãng hàng không.  Bước ngoặt quan trọng này giúp khách hàng tìm đến atadi.vn. Họ cảm thấy gắn kết với atadi.vn hơn khi nhận được những lợi ích về thời gian và tiền bạc mà atadi.vn mang lại.  Giữ nguyên triết lý mang đến sự thân thiện và tiện lợi cho khách hàng, hiện atadi.vn tiếp tục phát triển thêm ứng dụng để họ có thể dùng trực tiếp trên các điện thoại thông minh. Với phương châm “1 phút 30 giây – Vé rẻ có ngay – Ngại gì không bay”, atadi.vn luôn cố gắng làm hài lòng khách hàng không chỉ bằng việc đặt vé nhanh, tiện lợi mà còn bằng nhiều tiện ích được cá nhân hóa ví như tính năng Săn vé tết, thông báo tức thời về biến động tăng/giảm giá vé cho hành trình cụ thể mà khách hàng quan tâm.  Khi những khó khăn ban đầu đã qua, atadi.vn đã có thể sống tốt từ chính doanh thu của mình. Không những vậy, qua các cuộc thi khởi nghiệp, nhiều quỹ đầu tư đã tìm đến atadi.vn để tìm cơ hội đầu tư.   Tài chính không còn là vấn đề quá lo ngại với atadi.vn và đây là lúc công ty đặt ra tham vọng phát triển rộng hơn. Tuy không nói rõ về dự định sắp đến của mình nhưng vị CEO atadi.vn chia sẻ: “Dù thị trường du lịch nội địa hiện rất lớn và ngày càng phát triển nhưng phương thức kinh doanh, mua bán sản phẩm trong lĩnh vực này vẫn còn mang nặng tính truyền thống. Vì vậy, đây sẽ là mảnh đất màu mỡ cho những công ty khởi nghiệp về công nghệ mở rộng thị trường.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ đưa tinh dầu thực vật dạng lỏng sang dạng bột      Ứng dụng công nghệ vi bọc tinh dầu và kỹ thuật sấy phun, nhóm nghiên cứu ở Trường Đại học Nông lâm TPHCM đã đưa một số tinh dầu thực vật dạng lỏng sang dạng bột, giúp thuận tiện hơn cho quá trình sử dụng.    Tại hội thảo “Công nghệ tách chiết tinh dầu sử dụng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước và ứng dụng kỹ thuật sấy phun sản xuất một số loại bột tinh dầu”, do Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TPHCM tổ chức mới đây, PGS.TS Mai Huỳnh Cang, Phó trưởng khoa Công nghệ hoá học thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm TPHCM, cho biết, tinh dầu thực vật hiện nay được sản xuất bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng đều chủ yếu dưới dạng lỏng, dễ bay hơi, hiệu quả bảo vệ các hoạt chất có trong tinh dầu giảm dần theo thời gian.        Để khắc phục những nhược điểm này, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nông lâm TPHCM đã sản xuất thử nghiệm một số sản phẩm bột tinh dầu (bạc hà, hương nhu trắng, húng quế, hương thảo), bằng công nghệ vi bọc tinh dầu, sử dụng kỹ thuật sấy phun, với chất bao được sử dụng là Maltodextrin (tinh bột tự nhiên từ ngô, gạo, khoai tây,…).    Kỹ thuật sấy phun là phương pháp sản xuất bột khô từ chất lỏng hoặc bùn, bằng cách làm khô nhanh bằng khí nóng. Khi đưa dung dịch qua bồn sấy, sẽ tiếp xúc với một luồng không khí nóng ở nhiệt độ 140-180 độ C, lúc này dung dịch sẽ trở thành dạng bột. Theo PGS.TS Mai Huỳnh Cang, sử dụng phương pháp này, tinh dầu được bảo vệ hoạt chất tốt nhất, bằng cách đưa những chất trợ sấy, chất men vào để bao bọc, bảo vệ thành phần tinh dầu. Ngoài ra, tinh dầu dưới dạng bột tiện sử dụng, giúp đa dạng hóa được sản phẩm. Cụ thể, tinh dầu ở dạng lỏng thì không tan trong nước, nhưng khi đưa về cấu trích vi bọc thì có khả năng hòa tan trong nước. Khi chế biến sản phẩm thực phẩm như nước cam, nước sả, thay vì phải dùng nước ép sả, có thể dùng bột có mùi hương này.    Thử nghiệm một số bột tinh dầu do nhóm nghiên cứu sản xuất cho thấy, độ tan của bột tinh dầu đạt trên 92%. Các thành phần hóa học, hoạt tính kháng ô xy trước và sau khi vi bọc sấy phun tương đương nhau, chứng tỏ quá trình vi bọc không làm ảnh hưởng, biến chất tinh dầu.    Bột tinh dầu có thể sử dụng rộng rãi trong chế biến thực phẩm thông thường, thực phẩm chức năng, thuốc sủi bọt, bột nêm, nước có gas, nước hoa,… Hiện nay, nhóm nghiên cứu đã làm chủ được quy trình sản xuất bột tinh dầu bằng công nghệ vi bọc tinh dầu, sử dụng kỹ thuật sấy phun, có thể chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu.    Ngọc Đỗ     Author                .        
__label__tiasang Sản xuất dầu cá Ranee từ mỡ cá tra      Áp dụng đề tài nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) về những lợi ích độc đáo từ mỡ cá tra, tập đoàn Sao Mai An Giang đã sản xuất ra dầu cá cao cấp Ranee tinh luyện, góp phần nâng cao chuỗi giá trị từ cá tra, “con cá tỷ đô”.  &#160;    Trước đây, ở các công ty chế biến, cá tra chỉ được dùng 30% thịt phi lê xuất khẩu, 10 sản phẩm nguyên con xắt khúc cho thị trường nội địa, 5% sản phẩm dầu cá, bột cá, collagen, còn phần còn lại là phụ phẩm để làm thức ăn gia súc, nguyên liệu sản xuất dầu biodiesel hoặc xuất thô với giá rất thấp. Theo ước tính của Hiệp hội Cá tra Việt Nam (VN Pangasius), lượng mỡ cá tra mỗi năm ở khu vực ĐBSCL không dưới 140.000 tấn.  Ông Lê Thanh Thuấn, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ tập đoàn Sao Mai, cho biết, ông thấy hết sức lãng phí khi không tận dụng được phụ phẩm từ con cá tra và luôn mong tìm được cách xử lý. Cơ may đã đến khi ông Thuấn biết đến một đề tài nghiên cứu của Viện dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) về những lợi ích từ mỡ cá tra, đem lại cho ông quyết tâm theo hướng tận dụng mỡ cá tra làm dầu ăn.  Tập đoàn Sao Mai An Giang đã khởi động dự án vào năm 2010 với việc xây dựng nhà máy tinh luyện dầu cá 200 tấn/ngày tại KCN Vàm Cống (Đồng Tháp). Tập đoàn còn tự trang bị công nghệ tinh luyện dầu cá hiện đại, tự động hóa từ châu Âu. Mẻ sản phẩm đầu tiên đã được sản xuất thử nghiệm vào giữa năm 2013. Sau khi ổn định hệ thống dây chuyền công nghệ, xử lý những vấn đề về công suất, chất lượng và ổn định nguồn cung nguyên liệu theo quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt, sản phẩm dầu cá nhãn hiệu Ranee chính thức có mặt trên thị trường vào tháng 10/2014. Lãnh đạo tập đoàn cho biết, nhiều đơn vị, nhà phân phối trong và ngoài nước đã chủ động liên hệ nhận phân phối sản phẩm, ký kết hợp tác lâu dài.  Để nâng cao năng suất, tập đoàn Sao Mai đã tiếp tục đầu tư vào dây chuyền tinh luyện dầu cá cao cấp thứ hai có công suất tương đương nhà máy hiện có. Ước tính, khi cả hai dây chuyền cùng vận hành suôn sẻ, tập đoàn sẽ “thâu tóm” gần 100% mỡ cá tra của ĐBSCL để tinh chế thành dầu cá cao cấp Ranee. Như vậy, cá tra sẽ thực sự là “con cá tỷ đô”, đem lại một hướng kinh doanh mới, góp phần gia tăng lợi nhuận cho ngành sản xuất cá tra Việt Nam.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất gà giống bằng thụ tinh nhân tạo      Thành công của mô hình sản xuất gà bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo tại trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Phú Thọ không những cung cấp cho người chăn nuôi giống gà chất lượng cao, sạch bệnh mà còn góp phần bảo tồn được nhiều giống gà quý.    Năm 2011, trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Phú Thọ bắt đầu nuôi 550 con gà bố mẹ, quá trình phát triển đến nay đã có gần 2.500 con gà bố mẹ để sản xuất giống gà ri lai chất lượng cung cấp cho người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Từ nguồn gen đó, tháng 4.2012, Trung tâm bắt đầu triển khai ứng dụng việc thụ tinh nhân tạo gà để sản xuất gà ri lai giống chất lượng cao cung cấp cho người chăn nuôi.  Chị Nguyễn Thị Lan Anh – cán bộ kỹ thuật của trung tâm cho biết: thụ tinh nhân tạo gà là tiến bộ kỹ thuật mới ở Việt Nam. Thụ tinh nhân tạo sẽ giúp kiểm tra được tinh dịch của gà trống trước khi mang phối giống, nâng cao chất lượng trứng có phôi, tạo ra gà giống có chất lượng cao, khả năng kháng bệnh tốt. Bình thường thụ tinh trực tiếp 100 trứng nở được khoảng 70 gà con, thụ tinh nhân tạo có thể đạt tới 90 – 95 gà con và gà giống đồng đều hơn.  Theo giám đốc trung tâm Từ Anh Sơn, thụ tinh nhân tạo có nhiều ưu điểm như tỷ lệ nhiễm bệnh không cao, bảo tồn được giống gà quý, sạch bệnh, tiết kiệm được con giống, góp phần nâng cao chất lượng con giống. Thời gian tới chúng tôi sẽ chuyển dần từ thụ tinh trực tiếp sang thụ tinh nhân tạo trong sản xuất gà giống để tạo ra gà giống có chất lượng và giảm chi phí cho người nông dân. Ngoài việc thụ tinh nhân tạo giống gà ri lai chất lượng cao, Trung tâm cũng đã nhân giống, sản xuất và bảo tồn nhiều giống gà cựa.  Thụ tinh nhân tạo gà thành công đã mở ra mở một hướng đi mới cho ngành chăn nuôi Phú Thọ. Những con giống chất lượng cao, sạch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là nhu cầu tất yếu để phát triển ngành chăn nuôi theo hướng bền vững, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất hàng xa xỉ trong phòng thí nghiệm      Một thế hệ startup mới đang sản xuất các mặt hàng cao cấp trong phòng thí nghiệm. Còn các nhà sản xuất các mặt hàng xa xỉ truyền thống có nguồn gốc tự nhiên đang tự hỏi: họ có nên hưởng ứng xu hướng này hay không?      Giày làm từ tơ nhện của Amsilk được hãng Adidas giới thiệu.  Hiện nay, với máy gia tốc hạt như loại máy ở Geneva, người ta có thể làm ra vàng, tuy nhiên, chỉ ở dạng nguyên tử, nghĩa là để có được 50 gram vàng phải mất nhiều triệu năm. Nhưng việc điều chế các nguyên liệu khác – như da gia súc, tơ hay rượu lâu năm – nhanh hơn nhiều. Một số startup ở châu Âu và Mỹ đã tận dụng công nghệ cao để sản xuất những sản phẩm cao cấp trong thời gian ngắn với chi phí thấp hơn nhiều so với các sản phẩm truyền thống cùng loại mà chất lượng không hề thua kém.  Xu hướng trên khiến nhiều nhà sản xuất các mặt hàng xa xỉ truyền thống lâm vào tình thế “tuyệt vọng” và phải đầu tư thêm nhiều thiết bị máy móc để chứng minh sản phẩm của mình “có nguồn gốc tự nhiên”. Ví dụ, vài năm gần đây, khi các công ty như Pure Grown Diamonds ở New York hay New Diamond Technology ở  St. Petersburg sản xuất hàng loạt kim cương nhân tạo bằng cách ép carbon dưới áp suất lớn và nhiệt độ cao, hoặc để chúng kết tinh trong môi trường chân không thì tập đoàn kim cương De Beers ở Luxemburg buộc phải đầu tư hàng triệu USD để trang bị máy móc giúp nhận biết kim cương nhân tạo hay tự nhiên. Mới đây, diễn viên điện ảnh Leonardo DiCaprio và nhà sáng lập Twitter  Evan Williams cũng đã đầu tư cho startup Diamond Foundry ở Thung lũng Silicon có khả năng tạo ra kim cương trang sức hảo hạng trong phòng thí nghiệm và đã gọi vốn được trên 100 triệu USD.  Trong lĩnh vực thời trang cao cấp, Jens Klein, 45 tuổi, lãnh đạo startup Amsilk, xuất phát từ Đại học Kỹ thuật München, Đức, được coi là một trong những người “nổi loạn” khi sản xuất loại tơ bền như tơ nhện bằng vi khuẩn E.coli biến đổi gene. Vi khuẩn E.coli được bổ sung DNA của loại nhện vườn châu Âu sống trong các bể thép cao như tòa nhà ba tầng thải ra một chất bột mầu trắng có thể biến thành tơ để dệt nên loại lụa cho cảm giác mát lạnh trên da.  Cách đây chưa lâu, hãng Adidas đã giới thiệu lần đầu tiên ở New York loại giày thể thao được dệt bằng tơ nhện công nghệ sinh học tổng hợp của Jens Klein. Loại tơ này có độ bền rất cao, nếu bện thành sợi to như thân cây bút chì, chúng có thể nâng cả một chiếc máy bay phản lực cỡ lớn. Hơn nữa, loại giày này còn có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn.  Amsilk không phải là startup duy nhất nghiên cứu sản xuất lụa bằng công nghệ sinh học tổng hợp. Đối thủ cạnh tranh của startup này là Bolt Threads ở California đã gọi vốn được hơn 100 triệu USD từ những nhà đầu tư danh tiếng và đã liên kết với hãng Patagonia để dự kiến sẽ tung ra thị trường bộ sưu tập thời trang cao cấp đầu tiên bằng chất liệu lụa công nghệ sinh học.  Đặc biệt, giá thành của lụa công nghệ sinh học rất rẻ so với lụa tự nhiên. Startup công nghệ sinh học Spiber của Thụy Điển đã quảng cáo, không lâu nữa giá lụa nhân tạo chỉ khoảng 20 – 30 USD/kg. Hiện nay giá lụa tự nhiên lên tới 50 USD/kg.  Mặt khác, để may một áo dài bằng lụa, người ta phải dùng khoảng 50.000 cái kén, có nghĩa là 50.000 con tằm phải chết, đây là điều mà các nhà bảo vệ động vật luôn lên án. Nhiều loại nguyên liệu cao cấp để sản xuất hàng xa xỉ đắt tiền lâu nay bị tai tiếng vì hủy hoại môi trường, làm tổn thương lớp người yếu thế trong xã hội. Loại da đắt tiền nhất, mềm mại nhất được chế biến từ da bê non hay bê chưa ra đời. Khi thuộc da, người ta sử dụng một hỗn hợp hóa chất độc hại và gây ung thư. Hơn nữa chăn nuôi gia súc là một trong những nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính.  Những vấn đề nêu trên sẽ không xuất hiện trong tương lai nữa: startup công nghệ sinh học tổng hợp Modern Meadow ở New York đang nuôi tế bào Collagen để tạo ra da bò. Quá trình này chỉ kéo dài khoảng vài tuần trong lò phản ứng sinh học. Hơn nữa, da bò sản xuất trong phòng thí nghiệm không có lông, không có mô mỡ bám bên trong cho nên quá trình thuộc da cần ít hóa chất hơn. Da công nghệ sinh học tổng hợp cũng không có tì vết, trong khi da tự nhiên có tỷ lệ bị vứt bỏ khi xử lý từ 30% đến 80%.  Andras Forgacs, nhà sáng lập Modern Meadow, dự kiến trong tương lai sẽ để các tế bào phát triển liên kết với nhau theo hình dạng sản phẩm, thí dụ ghế ngồi trong ô tô, ghế sô pha hay ví tiền. Ông còn cho rằng có thể tạo ra da trong suốt. Tất nhiên Forgacs không chỉ muốn làm cho thế giới này tốt đẹp hơn mà còn muốn giành một phần đáng kể trong thị trường da giày cỡ hàng trăm tỷ USD hiện nay. Cho đến nay, start-up này đã gọi được 40 triệu USD vốn đầu tư mạo hiểm, trong đó có cả của Mark Zuckerberg.  Trong khi đó Bryan Davis, sáng lập startup Lost Spirits ở California đã có một bước tiến khá xa khi sản xuất thành công loại rượu rhum có hương vị như 20 năm tuổi chỉ trong… sáu ngày. Davis đã phát triển một thiết bị có thể rút ngắn quá trình hình thành ester trong rượu, vốn kéo dài cả năm trời nếu nấu rượu theo kiểu truyền thống, xuống còn vài giờ. Davis dùng ánh sáng hồng ngoại để hòa tan polymer từ gỗ cây dẻ, chất này phản ứng với ester, mô phỏng quá trình cất giữ thùng rượu trong hầm để từ đó tạo ra hương vị đặc trưng của loại rượu rhum 20 năm tuổi.  Davis kể để tạo ra loại rượu rhum mà cả trăm năm nay không còn ai có dịp được thưởng thức, ông đã phá bộ bàn ghế cổ làm từ loại gỗ cây dẻ gần như đã biến mất hoàn toàn vào những năm 1920, sau khi chúng được phát hiện là loại gỗ rất hợp để đóng thùng rượu.  Một chai Lost Spirit của Davis có thể được trả tới 1.400 Euro tại các phiên bán đấu giá ở Đức. Thực ra với công nghệ của mình, Davis có thể sản xuất loại rượu cao cấp này với khối lượng lớn, tuy nhiên ông không làm như vậy, lý do hết sức đơn giản: một khi sản phẩm được bán ra đại trà thì không còn là hàng xa xỉ nữa.  GS. Karsten Kilian, chuyên gia về thương hiệu ở Đại học Würzburg-Schweinfurt tin rằng các “nhà giả kim thuật hiện đại” như Davis, Klein hay Forgacs có thể tung ra thị trường một loại sản phẩm ở phân khúc hoàn toàn mới. Ông gọi phân khúc này là mặt hàng xa xỉ có nguồn gốc công nghệ, có giá thấp hơn một chút so với mặt hàng cao cấp có nguồn gốc tự nhiên. Vị giáo sư này tiên đoán các nhà sản xuất hàng cao cấp hiện nay sẽ buộc phải chia sẻ một phần doanh thu của họ. Nhưng nếu các hãng xa xỉ đó khôn ngoan thì sẽ thành lập các thương hiệu phụ, và bộ phận này đảm nhiệm luôn phân khúc mới này.  Không lâu nữa các “nhà giả kim thuật hiện đại” có thể tạo ra những nguyên liệu thiên nhiên khác như lụa Kashmir hay nấm cục (truffle), thậm chí chất lượng còn cao hơn.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: http://www.wiwo.de/lifestyle/gold-diamanten-seide-biotechseide/19557792-2.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất hydro sinh học từ rác thải nông nghiệp      Đó là một trong những kết quả của đề tài  “Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất hydro sinh học từ vi khuẩn kị  khí ưa nhiệt Thermotoga neapolitana DSM 4359” do TS. Bùi Thị Việt Hà,  Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, làm chủ nhiệm.    Đề tài được Bộ Khoa học và Công nghệ đầu tư thực hiện nhằm nghiên cứu, tìm ra những phương pháp tối ưu để lên men hydro từ vi sinh vật kị khí Thermotoga neapolitana, góp phần nghiên cứu tạo ra một nguồn năng lượng mới có nhiều ứng dụng trong tương lai.  Sau một thời gian triển khai, đề tài đã nghiên cứu được các điều kiện nuôi cấy chủng vi khuẩn kị khí bắt buộc ưa nhiệt Thermotoga neapolitana DSM 4359. Sản lượng hydro trung bình đạt được khá cao khoảng 43%, tương đương với 17.63mmol/L, không thua kém các nghiên cứu được thực hiện ở Mỹ, Canada, Hàn Quốc,…; nghiên cứu các tác nhân ảnh hưởng tới quá trình tạo thành H2 sinh học của chủng Thermotoga neapolitana DSM 4359.  Đồng thời, bước đầu thăm dò, nghiên cứu sản xuất hydro từ nguồn rác thải của nông nghiệp (rơm, rạ,…) và nguồn phụ phẩm của quá trình sản xuất bio-diezel nhờ sự lên men kị khí của chủng vi khuẩn DSM 4359, có ý nghĩa lớn về kinh tế và môi trường. Đề tài cũng nghiên cứu sản xuất H2 ở một số quy mô khác nhau trong phòng thí nghiệm.  Với những ý nghĩa đó, đề tài cần tiếp tục được đầu tư nghiên cứu sâu hơn về khả năng sử dụng các nguồn nhiên liệu thay thế sẵn có ở Việt Nam và nâng cao hiệu suất tạo hydro của chủng vi khuẩn kị khí ưa nhiệt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất lúa vụ ba – những điều cần cân nhắc      Với chương trình xây bờ bao khép kín chống  lũ, diện tích lúa vụ 3 ở ĐBSCL những năm gần đây liên tục tăng mạnh. Tuy  nhiên, nếu chương trình này tiếp tục được làm triệt để ở tất cả các  huyện, xã thì từ góc độ quản lý vẫn còn những điều cần cân nhắc.      Kết thúc niên vụ 2011, Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đạt sản lượng cao nhất: 23 triệu tấn, tăng 1,5 triệu tấn so 2010, góp phần đưa cả nước đạt sản lượng kỷ lục 42 triệu tấn. Xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, cũng là mức cao nhất. Sản xuất vụ 3 hay còn gọi là vụ Thu đông đạt sản lượng 3,3 triệu tấn, vượt kế hoạch 1 triệu tấn. Nông dân ĐBSCL một năm trúng mùa, được giá càng hăng hái sản xuất; đã và đang góp phần ổn định đời sống trong tình hình khủng hoảng tài chánh, suy thoái kinh tế thế giới mà Việt Nam không là ngoại lệ.  Sản xuất vụ 3 ở An Giang bắt đầu từ huyện Chợ Mới năm 1995 với chương trình bờ bao khép kín chống lũ triệt để, kết hợp xây dựng giao thông nông thôn. Cùng với dự án Bắc Vàm Nao – thủy lợi, giao thông, cống bửng hoàn chỉnh do Úc viện trợ và công trình Kinh T5 – Võ Văn Kiệt, năm 2000, diện tích sản xuất tăng lên gần 20.000 héc-ta. Năm 2002 có Đề án 31 của tỉnh tổng kết và qui hoạch sản xuất vụ 3 với đỉnh lũ dự kiến ở Tân Châu là 5m; bắt đầu định hình vụ sản xuất chính với các loại cây trồng, vật nuôi thích hợp trong mùa nước nổi với diện tích trên 40.000 héc-ta, trong đó có 5.000 héc-ta hoa màu. Nếu kể 10.000 héc-ta lúa vùng cao Bảy Núi, diện tích lúa-màu vụ nầy có đến 50.000 héc-ta, giải quyết việc làm cho lao động “nông nhàn”, người nghèo không cần cứu trợ, người có vốn, có kinh nghiệm cũng có dịp làm giàu. Nhờ vậy mà những lo ngại ban đầu về “đất bạc màu”, “môi trường ô nhiễm”, hiện tượng nước ngoài đê sẽ dềnh lên làm tăng ngập lụt nơi khác… cũng dần tìm ra cách khắc phục có hiệu quả. Nói lại chuyện cũ để chỉ ra cái khó của cái mới ra đời – “vạn sự khởi đầu nan” mà! Những năm đầu, nhất là lúc lên qui hoạch, thi công công trình đê bao, cán bộ huyện, xã phải chịu nhiều thử thách về tính kiên trì, lắng nghe dân và cũng tỏ rõ quyết đoán, đôi khi lôi cả lãnh đạo tỉnh, trung ương vào cuộc.  Kết quả thực tiễn có sức thuyết phục không gì bằng. Từ chỗ chưa biết, nhiều nông dân kiện thưa, cản ngăn, đôi khi thành hình sự; người ngoài cuộc châm chọc vào, truyền thông cũng phân tán dư luận v.v…; đến chỗ trúng mùa được giá, giá thành sản xuất lại thấp do ít sâu bệnh, nông dân đâm mê thì hiện tượng sản xuất tự phát xuất hiện, nhiều vùng không thực hiện được kế hoạch xả lũ luân phiên mà đành chịu ô nhiễm môi trường, thậm chí có người sản xuất ngoài đê bao, đôi khi bị thiệt hại mất trắng mà không dám than.   Năm 2011, vụ 3 nầy An Giang sản xuất trên 130.000 héc-ta lúa (không kể hoa màu và lúa ruộng trên hơn 15.000 héc-ta), năng suất trên 5,5 tấn/héc-ta, lợi nhuận trên 11 triệu đồng/ha. Hoa màu trái vụ đắc giá, xuất khẩu qua Campuchia khối lượng lớn là sức hấp dẫn nông dân và chính quyền. Nghe đâu sắp tới tỉnh sẽ được trớn làm đê bao khép kín mạnh hơn; huyện, xã nào chưa làm cũng rục rịch lên kế hoạch. Tình hình nầy ở góc độ quản lý cần cân nhắc:  * Năm 2000 đỉnh lũ ở Tân Châu 5,06m – Ở Chợ Mới 3,58m => diện tích lúa vụ 3: 18.984ha.          – Diện tích lúa của Đồng Tháp: 19.797ha.  – Tổng diện tích choán mặt nước sông Tiền (Tân Châu) của hai tỉnh: 38. 783 ha.  *  Năm 2011 đỉnh lũ ở Tân Châu 4,86m – Ở Chợ Mới 3,49 => diện tích lúa vụ 3: 44.473ha, tăng 2,34 lần so năm 2000.   – Diện tích lúa tỉnh Đồng Tháp: 98.858ha, tăng gần 5 lần so năm 2000.   – Tổng diện tích choán nước sông Tiền của hai tỉnh: 143.331ha, tăng 3,69 lần so 2000.    * Năm 2000 đỉnh lũ Châu Đốc 4,90m – Long Xuyên 2,63m=> diện tích lúa vụ 3: 2.025 ha.  – Năm 2011 đỉnh lũ Châu Đốc 4,27m – Long Xuyên 2,81m => diện tích lúa Vùng Tứ Giác Long Xuyên: 86.895ha, tăng 43 lần so năm 2000.  Như vậy, năm 2011 mực nước Sông Tiền tại Tân Châu thấp hơn năm 2000 là 0,20m, nhưng tại Chợ Mới chỉ thấp hơn 0,09m. Tương tự, năm 2011 tại Châu Đốc thấp hơn năm 2.000 là 0,63m, nhưng tại Long Xuyên lại cao hơn năm 2.000 là 0,18m. Sở dĩ cao hơn (đáng lý phải thấp hơn tương ứng như Cà Mau) là vì diện tích lúa vụ 3 vùng Tứ giác Long Xuyên – Sông Hậu – tăng đến 43 lần, trong khi vùng sông Tiền và Đồng ThápM tăng chỉ 3,69 lần. Vậy là hiện tượng nước dềnh lên ở hạ lưu Sông Hậu rất rõ – khoảng 20 phân (không kể triều cường). Nên lưu ý: Nhờ dốc toàn lực, nhất là hàng ngàn bộ đội ngày đêm chống chọi, dù đỉnh lũ Tân Châu mới 4,86/qui hoạch 5m, nhưng thiệt hại do vỡ đê, dẫn đến mất trắng khoảng 6.000 ha là một thiệt hại không nhỏ cho những nông dân.   Nếu sắp tới An Giang tăng thêm vùng Tứ Giác Long Xuyên 100.000 ha nữa là hết diện tích đất lúa và tỉnh Đồng Tháp cũng tăng phần diện tích còn lại thì không lường hết điều gì sẽ xảy ra? Nghe anh em thủy lợi cho hay là ngành thủy lợi trung ương có ý đồ quay lại qui hoạch (cũ) là sẽ làm 7 cống đầu kinh trục theo tuyến quốc lộ 91 Châu Đốc – Long Xuyên (mà thủy lợi đã đề nghị), không hình dung khi đóng các cống vào lúc đỉnh lũ thì ba huyện cù lao sẽ trôi về đâu. Đó là chưa nói việc tính làm âu thuyền tại các cống thì là không tưởng trong điều kiện lưu thông ghe tàu xưa nay ở vùng nầy!  Từ tình hình và phân tách, người viết bài nầy đề nghị: ĐBSCL là vùng ngập hở, nước lũ thoát ra hai hướng: Biển Đông và Biển Tây; đồng bằng có độ cao so mặt biển bình quân không quá một mét, nên sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi biến đổi khí hậu làm nước biển dâng. Ngoài ra còn tác động thất thường của lượng nước mưa; năm 2011 mực nước cao nhất tại Viêng-chăn thấp hơn năm 2000 là 0,91m, trong khi Pắc-sế (hạ lưu) lại cao hơn năm 2000 là 0,23 m, đó có thể do lượng mưa tăng. Ở Campuchia năm 2011 xảy ra ngập lụt lớn cũng vì lý do đó. Vì vậy Bộ NN và PTNT phải là cơ quan chịu trách nhiệm làm nhạc trưởng chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp sản xuất nói chung, sản xuất vụ Thu – Đông nói riêng. Không thể để cho từng tỉnh mạnh ai nấy làm. Có thể làm đê bao khép kín, có cống bửng hoàn chỉnh, kết hợp giao thông nông thôn cho toàn vùng sản xuất, vì giao thông trong vùng cực kỳ quan trọng cho yêu cầu xây dựng nông thôn văn minh hiện đại. Nhưng việc sản xuất có thể từ 8 vụ 3 năm, điều chỉnh lại 7 vụ 3 năm. Nghĩa là diện tích choán nước do làm vụ 3 chỉ tương đương năm 2011. Trên một trục kinh, năm nầy phía trên nước sản xuất thì thả nước phía dưới, năm sau đổi lại. Nghĩa là không được biến dòng kinh thành máng xối.   Bài học thực tiễn dân ta có thừa, vấn đề là nghiêm túc rút kinh nghiệm và chủ trương hợp lòng dân mà cũng phải tương hợp đất trời thì mới có thể thành công. Quyết không chạy theo thành tích mà sanh hậu họa.                Năm         Đỉnh lũ  Tân Châu      Đỉnh lũ               Chợ Mới      Diện tích lúa choán nước Sông Tiền-An Giang      Diện tích lúa choán nước Sông Tiền -Đồng Tháp      Tổng diện tích lúa choán nước               ở 2 tỉnh       Tăng so với năm 2010          2010       5,06m      3,58m       18.984 ha       19.797 ha      38,783 ha                 2011       4,86m      3,49m       44.473 ha       98.858 ha      143.331ha       3,69 lần                     Năm       Đỉnh lũ              Châu Đốc       Đỉnh lũ               Long Xuyên      Diện tích lúa vụ 3 ở Tứ Giác               Long Xuyên      Tăng so với năm 2010          2010        4,90 m       2,63 m       2.025 ha                 2011       4,27 m       2,81 m       86.895 ha       43 lần                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất máy bay ném bom Mosquito trong xưởng mộc      Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các kỹ sư chạy đua sáng chế công nghệ sản xuất máy bay chiến đấu. Một điều gây bất ngờ trong một thời gian dài là chiếc máy bay ném bom mang tên Mosquito của Anh từng làm kẻ thù thất điên bán đảo lại ra đời tại xưởng mộc.&#160;         Geoffrey de Havilland đặt trọn niềm tin vào gỗ. Loại máy bay do ông thiết kế mang tên Tiger Moth DH.60 (từ năm 1925) và DH.80 (từ năm 1932) tính chung đã được xuất xưởng tới gần 10.000 chiếc và được đánh giá là những loại máy bay thành công nhất thời đó. Chúng đã làm cho kỹ sư de Havilland, một người rất say mê côn trùng và thường lấy tên chúng đặt tên cho những loại máy bay của mình, trở nhà chế tạo máy bay hàng đầu nước Anh.  Năm 1938, khi bộ Quốc phòng Anh từ chối phương án sản xuất một loại máy bay ném bom mới của ông, de Havilland quyết không chấp nhận sự chối từ này.  Ông cam kết sẽ cho ra đời loại máy bay ném bom siêu nhẹ có thể bay cao hơn và nhanh hơn bất cứ loại máy bay chiến đấu nào. Vì thế, người ta không cần phải bổ sung lực lượng phòng vệ cho máy bay này.  Bộ Quốc phòng Anh coi lập luận này là vớ vẩn và yêu cầu de Havilland phải thiết kế, chế tạo loại máy bay ném bom đúng theo tiêu chuẩn của Air-Force – tức là bằng nguyên liệu aluminium.  Nhưng đây chính là điều mà de Havilland coi là sai lầm. Ông cho rằng, khi xẩy ra chiến tranh, nhôm sẽ trở nên khan hiếm và đắt đỏ. Trong khi đó gỗ không khan hiếm. De Havilland có tiền và sự độc lập để thể hiện lập trường vững chắc của mình: ông quyết định bí mật sản xuất loại máy bay theo sáng kiến của mình và tự gánh chịu mọi phí tổn.  Loại máy bay gỗ đã dành thắng lợi trong cuộc không chiến ở Anh  Chỉ ít lâu sau, điều này đã trở thành một điềm may mắn lớn đối với Anh. Ngày 25/11/1940, khi bộ Quốc phòng Anh giao nhiệm vụ cho kỹ sư de Havilland sản xuất thêm 50 máy bay ném bom, ông cho cất cánh chiếc máy bay bị chính phủ chối bỏ, hành động này được coi như một cái đấm vào các nhà chiến lược quốc phòng Anh.   Chuyến bay thử đầu tiên diễn ra gần Hatfield, máy bay sơn mầu vàng chóe. Kết quả đo đạc và các ước đoán đều cho thấy, mặc dù Mosquito có trọng lượng gần gấp đôi nhưng lại bay nhanh hơn máy bay huyền thoại Spitfire 32 km/h và Spitfire được đánh gia là máy bay chiến đấu có tốc độ cao nhất  và hiện đại nhất của quân đội Anh thời đó.  Thời điểm đó, không quân Đức đã phát động các đợt tấn công ồ ạt vào  nước Anh  và bị coi là thất bại trước máy bay chiến đấu Spitfire của Anh. Bộ máy tuyên truyền của Anh dùng Spitfire  để thêu dệt cho chiến thắng của mình trong các cuộc chiến trên bầu trời nước Anh. Trong thực tế phi công Anh đã chiến thắng huy hoàng  với  máy bay Hurricane và bắn hạ được nhiều máy bay địch – nhưng loại máy bay này làm bằng gỗ và người ta đã coi nó là loại vũ khí lỗi thời và lạc hậu.  De Havilland công bố các số liệu liên quan đến chiếc máy bay làm bằng gỗ của ông và một lần nữa người ta nghi ngờ ông.  Tuy nhiên dù sao ông cũng có dịp cho chiếc  Mosquito của mình được trình diễn hồi đầu tháng hai 1941 tại sân bay thử nghiệm  Boscombe Down. Đại diện của không quân và bộ Quốc phòng Anh có mặt nhưng họ tỏ ra hoài nghi, không tán thành thậm chí còn có ý chê bai. Nhưng Mosquito cất cánh và đánh đổ mọi kỷ lục.                                                                                                                                                       Nó nhanh nhẹn hơn so với các máy bay chiến đấu thời đó, gần như nhanh gấp đôi so với các loại máy bay ném bom thông thường.  Ném bom cuộc duyệt binh ở Berlin  Chỉ ít giờ đồng hồ sau cuộc trình diễn  de Havilland nhận được nhiệm vụ chế tạo 7781 máy bay, nếu chỉ sản xuất tại nhà máy của mình ông phải làm việc liên tục trong mười năm. Lúc đầu, theo dự kiến, Mosquito chỉ được dùng để thả bom và trinh sát ban đêm nhưng sau đó nó trở thành loại máy bay có nhiều thành tích nhất của không lực hoàng gia Anh quốc. Và sau đó nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.  Đúng như cam kết của nhà thiết kế Mosquito không những nhanh nhẹn, bền bỉ, tiêu hao ít nhiên liệu mà còn có hiệu quả cao. De Havilland không chỉ lắp ráp loại máy bay này trong các nhà máy sản xuất máy bay của ông mà còn huy động các xưởng mộc lớn trong cả nước cùng hoạt động. Ngay trong trận chiến đấu trên không đầu tiên Mosquito đã thoát khỏi sự tấn công của ba máy bay chiến đấu của Đức bằng cách tăng tốc và chuồn thẳng.   Người Anh đã sớm phát hiện hiệu quả tuyên truyền từ thành công này. Bọn Quốc xã dự định tiến hành một cuộc diễu binh vào buổi sáng ngày 30/1/1943 kỷ niệm mười năm giành chính quyền với sự hiện diện của Bộ trưởng tuyên truyền Joseph Goebbels và tư lệnh không quân Hermann Göring. Tuy nhiên Quốc xã đã vội vàng hủy đại lễ này: lần đầu tiên máy bay Mosquitos của Anh đã dội bom xuống Berlin bất chấp sự đánh trả của lực lượng phòng không và máy bay chiến đấu của Đức.   Đám trùm quốc xã tức điên lên và chuyển cuộc duyệt binh sang buổi chiều. Ngay lập tức một cuộc tấn công thứ hai diễn ra  – và biến lời tuyên bố huyênh hoang của Göring không một máy bay địch nào có thể lọt vào thủ đô nước Đức trở thành trò hề. Toàn bộ máy bay Mosquitos xuất kích ngày hôm đó đã trở về an toàn. Thông tin này ít nhiều bị lu mờ vì những sự kiện trọng đại hơn nhiều: sau đó một ngày toàn bộ quân đội Đức ở Stalingrad đã buộc phải tuyên bố đầu hàng –  đây là một bước ngoặt của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.  Mãi đến cuối cuộc chiến tranh, máy bay chiến đấu Messerschmitt Me 262 của Đức nhập cuộc và Mosquito không thể theo kịp. Một loạt quốc gia cùng lúc phát triển loại động cơ phản lực nhưng không có nước nào đưa loại động cơ này vào sử dụng nhanh như ở Đức. Đế chế quốc xã được coi là lò luyện công nghệ cao, tuy nhiên ngay cả ở đây không phải cái gì là kim loại cũng đều lấp lánh.  Đúng như tiên đoán của de Havilland, kim loại nhẹ trở nên khan hiếm ở khắp mọi nơi. Một số lượng lớn bất ngờ máy bay chiến đấu trong cuộc chiến tranh thế giới dùng rất nhiều nguyên liệu gỗ. Điều này không phải là chuyện bất đắc dĩ, gỗ thậm chí được đánh giá là nguyên liệu lý tưởng. Cánh máy bay chiến đấu của Đức Messerschmitt Me 163 được làm bằng gỗ và cho đến năm 1953 loại máy bay này được đánh giá là loại máy bay có tốc độ cao nhất thế giới. Năm trong số 8 loại máy bay mang động cơ phản lực hay tên lửa mà nước Đức sản xuất cho đến khi đầu hàng vào năm 1945 và được coi là những vũ khí thần kỳ, ít nhiều đều dùng gỗ làm nguyên liệu.  Ngay cả máy bay Horten H IX đầy bí ẩn, mà người ta liên tưởng đến loại máy bay ném bom tàng hình ngày nay, cánh được làm hoàn toàn bằng gỗ, thân phần lớn bằng gỗ dán được gia cố bằng bộ khung gồm nhiều ống. Cả loại máy bay tên lửa dùng một lần Bachem Ba 349 cũng được ốp ván ép và người ta hy vọng sẽ phá được bức thường âm thanh.  Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đánh dấu đỉnh cao đồng thời cũng là sự chấm dứt cấu trúc gỗ chí ít đối với máy bay quân sự. Do tốc độ máy bay ngày càng cao nên vật liệu gỗ đối mặt với những hạn chế. Hơn nữa gỗ và cả loại keo dán được đưa vào xử dụng trong việc lắp ráp máy bay trở thành những điểm yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Máy bay dễ bị cong vênh hoặc bong tróc.  Tuy vậy cho đến tận ngày nay loại vật liệu có khả năng tái tạo và dễ chế tác này không bị biến mất hoàn toàn trong ngành chế tạo máy bay. Người ta vẫn dùng gỗ để sản xuất một số loại máy bay nhỏ, nhẹ. Bên cạnh một vài tầu lượn nhất định thì Robin DR 400 của hãng  Robin New Aircraft (Pháp) được làm hoàn toàn làm bằng gỗ  –  y như chiếc Mosquito hồi nào.  Thành công và niềm tin sắt đá đã đưa kỹ sư Geoffrey de Havilland trở thành một người khả kính và năm 1944 ông đã được Nữ hoàng phong danh hiệu quý tộc.    Xuân Hoài dịch  Theo Spiegel online      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất nguyên liệu mỹ phẩm từ cám gạo      Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tiến – Viện Cơ điện  nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch đã nghiên cứu công nghệ  sản xuất Gamma Oryzanol từ cám gạo, làm nguyên liệu cho sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm bổ sung chống lão hoá cho phụ nữ.    Lấy lại hàng trăm vi chất quý từ cám  Với lượng cám gạo chiếm khoảng 10% so với lúa, thì cám gạo thải ra hàng năm trong các cơ sở chế biến của nước ta ước khoảng trên 45 triệu tấn cám gạo, lượng cám gạo này được sử dụng chủ yếu để làm thức ăn chăn nuôi, cám gạo thường bị ôi khét và mốc hỏng trong quá trình tồn trữ, chưa khai thác hết được tiềm năng về giá trị vốn có của cám gạo.  Thực tế ngoài những thành phần có giá trị dinh dưỡng như protein. Lipit, glucocide, vitamin,… cám gạo còn chứa hợp chất đặc biệt quan trọng đó là Gamma Oryzanol. Gamma Oryzanol như chất chống oxy hoá quan trọng từ thực vật, chống viêm loét, đặc biệt là viêm loét dạ dày, làm giảm lượng mỡ trong máu, có khả năng làm tăng việc lưu thông máu, giảm mỡ cơ thể, ngăn chặn sự xâm nhập của tia cực tím, phòng chống nám da,…  Hiện Gamma Oryzanol từ cám gạo được ứng dụng làm nguyên liệu trong sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất thực phẩm bổ sung hỗ trợ chống lão hoá cho phụ nữ, giảm các triệu chứng bốc hoả và căng thẳng thay đổi bất thường của phụ nữ thời kỳ mãn kinh và thời kỳ sau mãn kinh, làm thực phẩm bổ sung giúp phát triển cơ trong cơ thể, tăng sức bền,…  Mặc dù có nhiều tác dụng như vậy, nhưng hiện nay chế phẩm Gamma Oryzanol dùng sản xuất mỹ phẩm, dược phẩm và các sản phẩm thực phẩm chứa Gamma Oryzanol ở nước ta đang phải nhập khẩu. Trong nước chưa có cơ sở nào nghiên cứu sản xuất chế phẩm Gamma Oryzanol, nguyên liệu này phần lớn nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc và các nước khác.  Nhận thấy những lợi ích của Gamma Oryzanol cũng như cần thiết phát triển công nghệ sản xuất Gamma Oryzanol phù hợp, nhóm tác giả Nguyễn Đức Tiến- Viện cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất Gamma Oryzanol từ cám gạo”, từ kết quả của đề tài, nhóm thực hiện đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất Gamma Oryzanol  từ cám gạo.    Khai thác phụ phẩm còn bỏ ngỏ  Quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm Gamma Oryzanol từ cám gạo được thực hiện qua 12 bước, gồm: Lựa chọn cám gạo nguyên liệu; Xử lý nguyên liệu; Trích ly; Xà phòng hoá; Sấy xà phòng; Trích ly xà phòng; Thu dịch trích ly; Tách sáp; Thu dịch lọc, cô; Kết tinh Gamma Oryzanol; Lọc thu Gamma Oryzanol kết tinh và Sấy bột Gamma Oryzanol tinh thể.  Từ quy trình công nghệ được xây dựng và trên cơ sở các thông số kỹ thuật của quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm Gamma Oryzanol từ cám gạo được xác định, nhóm tác giả đã tiến hành sản xuất thử chế phẩm Gamma Oryzanol từ cám gạo ở quy mô pilot.  Kết quả là từ 120 kg cám gạo nguyên liệu, sản xuất được 568 gam chế phẩm Gamma Oryzanol có độ tinh khiết đạt 68,5%. Hiệu suất sản xuất Gamma Oryzanol có từ cám gạo đạt 70,62% thu được 5,8kg phôi xà phòng làm nguyên liệu cho chế biến xà phòng.  Xà phòng sau khi trích ly Gamma Oryzanol được sấy chân không -0,8 atm ở 70 độ C/2 giờ, thu được phôi xà phòng dầu cám gạo có hàm ẩm khoảng 3,3, sau đó được đem để chế biến xà phòng thảo mộc. Kết quả từ 2kg phôi xà phòng đã sản xuất thử được 10 lít xà phòng thảo mộc.  Với những quy trình công nghệ tương ứng, Gamma Oryzanol còn được ứng dụng cho sản xuất thực phẩm chức năng và mỹ phẩm như: Ứng dụng chế phẩm Gamma Oryzanol cho tạo viên thực phẩm Gamma Oryzanol; Ứng dụng chế phẩm Gamma Oryzanol sản xuất được cho công thức phối chế tạo kem dưỡng da; Ứng dụng chế phẩm Gamma Oryzanol  sản xuất được cho công thức phối chế tạo kem dưỡng tóc;…  Nói về hiệu quả kinh tế của công nghệ sản xuất chế phẩm Gamma Oryzanol  từ cám gạo, tác giả Nguyễn Đức Tiến cho biết, chi phí để sản xuất 1kg Gamma Oryzanol  khoảng 1.900.000đ, với Gamma Oryzanol  có chất lượng tương đương hiện đang bán giá khoảng 7.000.000đ/kg. Kết quả cho thấy với quy trình công nghệ sản xuất Gamma Oryzanol  cho tiềm năng về hiệu quả kinh tế.  Như vậy công nghệ cho thấy có nhiều triển vọng trong việc khai thác hoạt chất sinh học từ cám gạo- loại phụ phẩm hiện nay còn bỏ ngỏ. Nhằm nâng cao giá trị của lúa gạo, tạo ra được chế phẩm Gamma Oryzanol trong nước hiện đang có nhu cầu lớn trong các ngành chế biến thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm, góp phần phát triển ngành công nghiệp khai thác hoạt chất sinh học từ nông sản,… thời gian tới cần tiếp tục triển khai phát triển sản xuất Gamma Oryzanol ở quy mô sản xuất công nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất nước mắm bằng năng lượng mặt trời      Hệ thống cấp nhiệt sử dụng năng lượng mặt trời chuyên dụng cho các loại bể chượp do Kỹ sư Lê Văn Danh thiết kế đã giúp rút ngắn thời gian chế biến nước mắm xuống còn một nửa trong khi lượng nước mắm cốt tăng hơn 30%.     Thông thường, nước mắm được sản xuất bằng phương pháp lên men truyền thống. Gần đây, nhiều hợp tác xác, doanh nghiệp chế biến nước mắm đã nỗ lực đưa công nghệ mới nhằm giảm thời gian rang phơi, náo đảo trong quy trình chế biến.  Từ thực sản xuất của bà con làm mắm tại tỉnh Hà Tĩnh, kỹ sư Lê Văn Danh, hiện công tác tại Trung Tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh đã triển khai đề tài “nghiên cứu rút ngắn thời gian chế biến nước mắm bằng hệ thống cấp nhiệt sử dụng năng lượng mặt trời”.   Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên nguồn năng lượng tái tạo này ở nước ta là khá dồi dào. Chính thế mà KS Lê Văn Danh đã cùng với Trung tâm Năng lượng mới- Đại học Bách khoa Hà Nội thiết kế hệ thống cấp nhiệt chuyên dụng cho các loại bể chượp 1000-1500kg cá với diện tích 1,4m2 cùng các thiết bị phụ trợ và quy trình lắp đặt, vận hành hệ thống cấp nhiệt này. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào bề mặt của tấm thu nhiệt, lúc này quang năng chuyển hóa thành nhiệt năng, nhiệt độ trong tấm thu nhiệt tăng lên sẽ làm tăng nhiệt độ nước mắm trong ống.  Nước nóng trong ống được bơm chuyển vào bể, nước mắm nhiệt độ thấp chảy ra từ đáy bể bù vào lượng thiếu hụt, tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín nâng nhiệt độ của khối chượp lên. Theo đó, thiết bị lắp đặt gồm ống lọc, một tấm thu nhiệt được làm bằng kính trắng cường lực, ở giữa là các ống inox được nối liền với nhau và sơn đen để tăng tính hấp thụ nhiệt à một bơm tuần hoàn công suất 8.5 w/h. Ngoài ra còn có hệ thống đo đếm 2 bộ chỉ số: Thứ nhất là Sự biến đổi nhiệt độ, lưu lượng nước mắm tuần hoàn, thời gian chín của chượp và độ ổn dịnh của dây chuyền. Thứ 2 là chỉ số chất lượng sản phẩm: hàm lượng đạm, độ mặn ; các chỉ tiêu cảm quan: màu, mùi, vị…  Tuy công nghệ chưa đưa ra được một bảng thời gian hoạt động của hệ thống nâng nhiệt do phụ thuộc vào nhiều điều kiện thời tiết nhưng với công nghệ mới này, thời gian chế biến đã rút ngắn chỉ còn một nửa, lượng nước mắm cốt nhiều hơn 30%, hàm lượng đạm toàn phần cao hơn, hương vị nước mắm thơm ngon hơn, giảm chi phí nhân công và tăng công suất lên gần 2 lần so với phương pháp truyền thống.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân hữu cơ không mùi hôi từ lông gà      Tận dụng những phụ phẩm chăn nuôi như lông gà, TS. Tạ Ngọc Ly (Khoa Hóa, trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng) không chỉ giúp giải quyết một vấn đề môi trường mà còn tạo ra một loại phân hữu cơ không mùi hôi, tiện dụng, chất lượng tốt.    Tìm kiếm chủng sinh vật phân giải lông gà    Hình ảnh lông gà, nội tạng, phân, máu hòa lẫn nước thải từ lâu đã trở thành khung cảnh quen thuộc tại những khu chợ dân sinh và các lò mổ gia cầm. “Hiện tại ở các điểm giết mổ gia cầm, lông gà được thải ra và vứt bỏ chung với rác thải sinh hoạt, điều này gây nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe”, TS. Tạ Ngọc Ly mô tả.      Thùng ủ phân từ lông gà kết hợp trống xoay với lưới sàng    Thực chất, phế phẩm của công nghiệp chế biến gia cầm – lông gà – với khối lượng lên đến hàng ngàn tấn/năm, không phải là thứ vô dụng. Lông gà chứa hàm lượng protein rất cao nên có thể tận dụng làm nguồn bổ sung protein cho thức ăn chăn nuôi hoặc làm phân bón cho cây trồng. Nhận thức được điều này, người nông dân từ lâu vẫn thường xuyên tận dụng lông gà làm phân bón cho cây trồng. Tuy nhiên, keratin từ lông gà vốn là protein có cấu trúc dạng sợi, có độ bền cơ học cao và rất khó phân hủy tự nhiên; nếu không có phương pháp phù hợp mà chỉ trực tiếp chôn xuống đất thì lâu dần sẽ tạo ra môi trường vi khuẩn độc hại và bốc mùi.    Là nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học, chủ yếu về bệnh học, TS. Tạ Ngọc Ly vẫn dành thời gian tìm hiểu về các hướng ứng dụng công nghệ sinh học để giải quyết ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, một trong những yếu tố chính thôi thúc anh tìm hiểu về lông gà lại đến từ chính thực tế mà anh đang… thấm thía mỗi ngày. “Nhà tôi ở gần một khu trồng quất, ở đây người dân vẫn thường dùng lông gà để ủ phân theo cách truyền thống, gây mùi hôi nồng nặc”, anh chia sẻ.    Lúc này, vấn đề đầu tiên mà anh cần giải quyết là làm thế nào để phân hủy keratin nhanh chóng? “Đúng là keratin không tan trong nước và không bị phân hủy bởi các protease thông thường như: trypsin, pepsin và papain”, anh phân tích về khó khăn bước đầu khi bắt tay vào nghiên cứu, “nhưng keratin có thể bị phân hủy bởi các chủng vi khuẩn xạ khuẩn và nấm có khả năng sinh tổng hợp keratinase – một dạng protease kiềm có khả năng xúc tác thủy phân protein tạo thành những phân tử thấp và các amino acid”. May mắn là vi sinh vật sinh tổng hợp keratinase có thể được tìm thấy ở nhiều nơi và từ nhiều nguồn khác nhau.    Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thành công về các chủng sinh vật có hoạt tính keratinase. Tuy nhiên, ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này chưa có nhiều và việc ứng dụng chúng còn rất hạn chế. “Sử dụng các chủng vi khuẩn có hoạt tính keratinase cao để thủy phân lông vũ có thể là câu trả lời hợp lý”, TS. Ly nhận định.    Vậy chủng vi sinh vật nào là chủng tối ưu để phân hủy lông gà? “Đó là câu hỏi tiếp theo mà chúng tôi buộc phải giải quyết, và cũng là lý do để chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu phân lập chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy lông gà, xác định một số đặc điểm sinh học cũng như hoạt tính sinh enzyme keratinase và protease”. Từ các mẫu đất, lông và nước thu được tại nơi giết mổ gia cầm chợ Hòa Khánh, nhóm nghiên cứu đã phân lập được 14 chủng vi khuẩn. Trong đó, chọn lọc được 4 chủng vi khuẩn có khả năng sinh keratinase cao, đạt hiệu suất phân hủy trên 70% sau bốn ngày nuôi cấy.    Từ kết quả này, TS. Tạ Ngọc Ly và các đồng nghiệp của mình tiếp tục tạo ra chế phẩm dịch thủy phân lông gà như là nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng. Sau khi bón phân thử nghiệm, kết quả cho thấy cây rau muống được bón dịch thủy phân lông gà bằng vi sinh phát triển tốt, tăng 183,97% (khối lượng tươi) và 105,88% (chiều cao) so với cây mẫu đối chứng. So với đối chứng cây bón phân thương phẩm tăng 216,03% (khối lượng) và 108,17% (chiều cao).    “Việc phân lập được chủng vi sinh vật có khả năng phân giải keratin từ lông gà và chứng minh thành công khả năng kích thích tăng trưởng thực vật của dịch thủy phân lông gà đã gợi ý cho chúng tôi một điều rằng, lông gà thải nếu được xử lí phù hợp có thể tạo ra phân bón hữu cơ sinh học có giá trị, góp phần làm đa dạng nguồn phân bón hữu cơ hiện có”, TS. Tạ Ngọc Ly gợi mở. Theo anh, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào về sản xuất phân bón sinh học từ lông gà thải cũng như chưa có sản phẩm phân bón sinh học từ lông gà trên thị trường. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu sản xuất phân hữu cơ sinh học từ lông gà thải nhằm ngăn ngừa ô nhiễm trong hoạt động giết mổ gia cầm sẽ là một hướng đi đầy tiềm năng.    Thuyết phục những người thụ hưởng    Khi quyết định tiến hành nghiên cứu sâu hơn, nhóm của TS. Tạ Ngọc Ly đã vấp phải khó khăn từ chính những người thụ hưởng kết quả của nghiên cứu. “Chúng tôi xác định hai mục tiêu thụ hưởng chính, đó là người giết mổ gia cầm và người nông dân cần phân bón hữu cơ cho cây trồng. Tuy nhiên, khi đến làm việc với hộ bán gia cầm ở chợ Hòa Khánh thì những gì diễn ra khác với điều chúng tôi hình dung. Ban đầu, họ không hợp tác vì không hiểu mục đích của chúng tôi, phải đến khi mình giải thích thì họ mới tích cực hỗ trợ nhóm thu gom lông gà trong quá trình giết mổ”, TS. Ly nhớ lại. Chất thải giết mổ gia cầm ở Việt Nam có đặc điểm là nhiều tạp chất như nội tạng, phân, máu.. nên rất khó xử lý, việc tìm đến thu gom từ nguồn sẽ giúp tiết kiệm công đoạn xử lý hỗn hợp này.    Khi đã có được nguyên liệu, nhóm tiến hành lựa chọn cơ chất phù hợp với quá trình ủ lên men lông gà gồm cám gạo, tro trấu, mùn dừa, bột mì, bột ngô…Tiếp đó, nhóm tiến hành tối ưu hóa hoạt động ủ phân này với hai thông số là lượng vôi bổ sung và độ ẩm. Lượng vôi bổ sung vào sẽ giúp điều chỉnh pH của khối ủ và giúp diệt một phần vi sinh vật có hại trong lông gà.    Để ủ lông gà, TS. Ly và các đồng nghiệp đã thiết kế một chiếc thùng kết hợp trống xoay với lưới sàng, trống được cố định trong một khung và bên dưới có một lưới. Nhóm sẽ tạo một lớp đệm nuôi cấy vi sinh vật là Bacilus subtilis và Streptomyces sp, hai chủng có hoạt lực keratinase cao mà nhóm đã rút ra được từ nghiên cứu trước đó. “Chúng tôi đưa chủng vi sinh vật vào trống xoay ủ trước trong khoảng ba đến bốn ngày cho hệ vi sinh vật phát triển ổn định. Sau đó, chúng tôi bổ sung lông gà vào trong trống và định kỳ từ hai đến ba ngày sẽ dùng tay xoay cho trống quay đảo trộn”, anh mô tả. Sau năm ngày ủ, nấm mốc phát triển rất mạnh, đặc kín phân, nhiệt độ khối ủ rất cao. Sau 14 ngày, phần cánh lông đã phân hủy, còn lại phần ống lông. Sau 14 ngày, hầu hết lông đã phân hủy, nhóm nghiên cứu thu được sản phẩm là phân hữu cơ sinh học đen sậm, mịn, hơi dính ướt hơn so với phân bón thông thường.    Nhờ đã nghiên cứu từ trước chủng vi sinh vật có khả năng có hoạt tính phân giải lông gà cao mà lông gà phân hủy nhanh hơn, không có mùi hôi thối. Cuối cùng, sau khoảng 20 ngày, quá trình ủ phân đã hoàn thiện. Phân sẽ đi qua lưới sàng, phần nào lọt qua lưới sàng xuống phía dưới thì phần đó đã phân hủy và có thể thu thập, sử dụng vào việc bón cây. Những phần còn lại nằm ở trên lưới thì nhóm nghiên cứu sẽ bỏ lại vào thùng để nó tiếp tục lên men.    Để tối ưu hóa quá trình ủ trộn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm với nhiều công thức khác nhau và nhận thấy tỷ lệ cám gạo 20%, tro trấu 5%, mùn dừa 25%, lông gà 50% đạt được hiệu quả xử lý cao nhất – thể hiện qua hai chỉ tiêu là nhiệt độ ủ phân ở thời điểm từ bốn đến năm ngày đạt gần 60 độ, khối lượng lông gà trong quá trình ủ còn lại rất thấp, dưới 5%. Công thức này còn cho hàm lượng carbon nitro phù hợp với chỉ tiêu chất lượng của phân bón tiêu chuẩn Việt Nam, cũng như cho hàm lượng vi sinh vật cao nhất. “Chúng tôi đã loại bột mì, bột ngô ra khỏi công thức. Dù hai loại bột này có thể giúp bổ sung nguồn carbon, nhưng giá thành của chúng lại quá cao. Thời gian tới chúng tôi dự định sẽ phối trộn với bã thải trồng nấm, mùn cưa, bông thải hoặc sinh khối rau củ quả hư hỏng thu tại chợ để làm phân, chúng sẽ giúp giảm chi phí sản xuất”, TS Ly giải thích.    Để tìm hiểu hiệu quả sử dụng trên một số loại cây trồng thông dụng, nhóm đã lựa chọn khảo sát trên cây cải. Kết quả cho thấy, so sánh với nhóm đối chứng là cây không bón phân và cây bón phân sinh học mua trên thị trường thì phân sản xuất từ lông gà thải có thấy lượng chiều cao, số lá, chiều dài rễ tốt hơn hẳn, tương đương gấp 1,6 lần so với không bón phân và 1,2 lần so với phân đối chứng và tăng năng suất thực tế của sản lượng cây trồng lên 30 đến 50%.    Với công thức ủ lông gà thải tối ưu, quy trình đơn giản và nhanh, không tạo mùi hôi, chất lượng phân ủ tốt, TS. Ly cho biết anh mong kết quả nghiên cứu “sẽ được chuyển giao cho các hộ nông dân hoặc các hợp tác xã sản xuất ở quy mô lớn hơn”. Dù vậy, nhóm nghiên cứu sẽ phải nỗ lực rất nhiều, bởi “người nông dân có phần hoài nghi với ý tưởng mà chúng tôi đặt ra, chúng tôi vẫn đang tiến hành thử nghiệm trên quy mô đồng ruộng để họ có thể ‘mắt thấy, tai nghe’ những gì chúng tôi làm, đồng thời tính toán chi phí sản xuất tối ưu nhất – dù với việc tận dụng nguồn nguyên liệu như lông gà, bã thải thì giá thành vốn đã thấp rồi”, TS Ly cho biết.    Và cuối cùng, quay trở lại với mục tiêu ban đầu của mình, anh cho rằng “phân từ lông gà cũng rất thích hợp cho cây quất cảnh, nên tôi cũng muốn giới thiệu cho những người trồng quất ở gần nhà tôi nữa”, anh hào hứng chia sẻ.    Nguyễn Long    Author                phongvien        
0.11764705882352941
__label__tiasang Sản xuất rượu vang, nước giải khát từ mật hoa dừa      Trung tâm dừa Đồng Gò (xã Lương Hòa, huyện  Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) vừa sản xuất thành công hai sản phẩm rượu vang  và nước giải khát từ mật hoa dừa.    Đây là công trình được tiến hành bởi tập thể nhóm nghiên cứu Trung tâm dừa Đồng Gò và được nghiệm thu bởi Hội đồng khoa học Công nghệ, trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre.  Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, cho biết mật hoa dừa được lấy từ bắp hoa dừa (dân địa phương thường gọi là “lưỡi mèo”, “bông dừa”). Mỗi bắp hoa có thể cho mật trong một tháng và lượng mật hoa thu được khoảng 35 – 45 lít.  Mật hoa dừa có khoảng 15% là đường nên có vị ngọt và hương thơm rất dễ chịu. Sau khi lấy được mật hoa, các kỹ sư sẽ tiến hành xử lý, lên men và bổ sung một số vi chất để tạo ra sản phẩm rượu vang và nước giải khát.  Mật hoa dừa còn có thể sử dụng để chế biến đường. Với giá thành như hiện nay, việc khai thác mật hoa dừa để chế biến rượu vang, nước giải khát, đường đều có hiệu quả kinh tế cao hơn so với bán quả. Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Giồng Trôm cũng đang tiến hành mở lớp hướng dẫn người trồng dừa lấy mật hoa (giá thành dao động 7.000-8.000 đồng/lít).  Cũng theo bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, cả hai sản phẩm này đều đang trong giai đoạn hoàn thiện để đảm bảo chất lượng ổn định và thời gian bảo quản lâu hơn trước khi được đưa vào sản xuất để cung ứng ra thị trường./.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/Home/San-xuat-ruou-vang-nuoc-giai-khat-tu-mat-hoa-dua/20138/212212.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất sạch – tiêu dùng sạch      Tính đến nay tại Việt Nam, Rạng Đông là đơn vị duy nhất có thể sản xuất được thủy tinh không chì, sản phẩm an toàn cho người sử dụng và bảo vệ môi trường, và có khả năng tái chế, thu hồi.     Việc chủ động sản xuất thủy tinh không chì  đã giúp Công ty thay thế nguyên liệu nhập khẩu với chi phí lên tới hàng  triệu USD mỗi năm, nâng cao giá trị cạnh tranh cho các sản phẩm, mở rộng  khả năng xuất khẩu, đặc biệt là những thị trường khắt khe như châu Âu.   Do thủy tinh là loại vật liệu quan trọng, chiếm từ 30 – 40% chi phí giá thành sản phẩm, và sản xuất thủy tinh được coi là khâu đầu tiên của quá trình sản xuất bóng đèn, có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm – hằng năm hàng trăm triệu sản phẩm bóng đèn các loại của Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông đòi hỏi lượng thủy tinh lên tới hàng chục ngàn tấn – nên để chủ động cho sản xuất, Rạng Đông đã quyết định đầu tư xây dựng lò thủy tinh không chì công suất 19 tấn/ngày. Công ty cũng mạnh dạn đầu tư áp dụng công nghệ trợ đốt bằng điện, trở thành nơi đầu tiên ở Việt Nam có lò thủy tinh áp dụng công nghệ tiên tiến này.   Nếu như trước kia với công nghệ sử dụng đốt hoàn toàn bằng dầu FO, phần dầu đốt hoàn toàn nằm trên bề mặt thủy tinh làm cho hiệu suất tận dụng nhiệt của ngọn lửa dầu FO chỉ đạt 25%, thì nay với công nghệ trợ đốt bằng điện, người ta đưa điện cực vào trong lòng khối thủy tinh làm cho hiệu suất tận dụng nhiệt của điện trợ nấu trong lòng khối thủy tinh lên tới 90%. Điều này giúp nâng công suất khai thác của lò tăng thêm 30%, giảm lượng tiêu thụ dầu FO từ 170 lít/tấn thủy tinh xuống còn 145 lít/tấn thủy tinh, giảm chi phí nhiên liệu 25- 30%, giảm phát thải khí nhà kính do góp phần bảo vệ môi trường phù hợp với xu hướng sản xuất sạch hơn.  Cạnh tranh quốc tế  Những nỗ lực cải tiến công nghệ sản xuất như vậy đã giúp Rạng Đông có một chỗ đứng vững chắc ở thị trường trong nước. Nhưng bài toán tiếp tục được đặt ra là làm sao tiếp tục tiết kiệm vật liệu, nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh với các hãng nổi tiếng của nước ngoài.   Để giải quyết yêu cầu này, các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu và phát triển R&D của Rạng Đông đã phối hợp với Viện Tiên tiến Công nghệ – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, nghiên cứu thành công công nghệ phủ gia cường bề mặt ống thủy tinh bằng dung dịch nano oxit. Đây là công nghệ phun một lớp chất lỏng không độc, không màu, trong suốt. Công nghệ màng phủ kích cỡ nano có những tính chất ưu việt, tốt hơn rất nhiều so với công nghệ màng phủ kích cỡ micro, macro. Màng này góp phần đẩy lùi tất cả các chất bám vào từ chất lỏng tới bụi, thậm chí cả vi khuẩn.   Bên cạnh đó, công nghệ chất phủ gia cường còn giúp công ty có thể tiến hành sản xuất thu nhỏ đường kính ống thủy tinh hay làm mỏng chiều dày đường kính ống thủy tinh để giúp giảm chi phí nguyên vật liệu mà vẫn đảm bảo chất lượng. Chẳng hạn như thu nhỏ đường kính ống đèn huỳnh quang từ 32,5mm xuống còn 25,5mm, giảm chiều dày của ống đèn từ 0,8mm xuống còn 0,68 mm, giảm tới 40% lượng nguyên vật liệu. Các sản phẩm bóng đèn được sản xuất ra vừa có chất lượng cao hơn, nhỏ gọn hơn, dẫn đến giảm các chi phí về bao bì, đóng gói, vận chuyển. Đối với đèn compact giảm kích thước đường kính các loại ống phóng điện xuống từ 16,5mm còn 14mm, giảm 12,3 mm xuống còn 9mm, hay xuống 7 mm giúp sản xuất ra các loại bóng đèn compact T5, T4, T3, T2 nhỏ gọn hơn, có thể lắp đặt dễ dàng vào trong chao, đèn trang trí.  Khả năng chủ động sản xuất thủy tinh không chì, áp dụng công nghệ trợ đốt bằng điện trong lò nấu thủy tinh, và việc nghiên cứu chế tạo chất phủ gia cường bề mặt thủy tinh bằng công nghệ Nano đã giúp Rạng Đông chủ động sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao, tiết kiệm điện, sử dụng ít nguyên vật liệu, và thân thiện hơn với môi trường, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, người tiêu dùng, phù hợp với xu hướng sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.         Thủy tinh không chì là một loại vật liệu mới phát triển trên thế giới khoảng hơn chục năm nay, do trong thành phần không có chì nên có ưu điểm là an toàn và thân thiện với môi trường. Ngoài ra, trong thành phần thủy tinh không chì có chứa các thành phần từ nguyên tố đất hiếm như ôxít cerium CeO2, ôxít sắt Fe2O3 giúp cho thủy tinh có thể ngăn chặn được các tia tử ngoại có bước sóng nhỏ hơn 320nmi và đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Đồng thời trong thành phần có hàm lượng Na thấp nên hạn chế được quá trình phản ứng thủy ngân với kiềm gây đen, giúp nâng cao chất lượng của đèn.            —    i Theo bằng sáng chế của Mỹ số 6831026 và 5470805 về tác dụng của thủy tinh không chì.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất thử nghiệm thành công bột rau rừng núi Tản      Với tài trợ của Chương trình Đối tác Đổi mới  Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), Công ty Cổ phần Thực phẩm San Nam  Ba Vì đã sản xuất thành công sản phẩm có thương hiệu “Bột rau rừng núi Tản” quy mô nhỏ.    Dựa trên quy trình gieo trồng và thu hoạch khép kín, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm kết hợp với công nghệ tiên tiến của Phần Lan, các giống rau rừng có giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe, Công ty Cổ phần Thực phẩm San Nam đã triển khai dự án “Nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm bột rau rừng núi Tản” với ba loại rau: Báng; Bướm Trắng và Tai Sóc. Sản phẩm vẫn giữ được hàm lượng dinh dưỡng cao và những mùi vị đặc trưng của các loại rau rừng mọc tại chân núi Tản.   Bột rau rừng có thể dùng để nấu cháo, canh, trộn bột, giúp các món ăn thêm đa dạng về dinh dưỡng và mùi vị..  Quá trình triển khai dự án cho thấy, mục tiêu của dự án trùng với lợi ích của Công ty và cộng đồng nơi thực hiện dự án là điều kiện đảm bảo tính khả thi và phát triển bền vững kết quả của dự án. Bên cạnh đó còn có những yếu tố như sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban điều hành dự án với nhóm chuyên gia giỏi, đúng chuyên môn, nhất là chuyên gia nước ngoài.  Việc nghiên cứu và thử nghiệm sản xuất thành công sản phẩm mới ở qui mô nhỏ tại nhà máy ở Ba Vì của Công ty Cổ phần Thực phẩm San Nam, là cơ sở để Công ty tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất và tăng cường khả năng hoạt động.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất tinh dầu bằng công nghệ lôi cuốn hơi nước hồi lưu kết hợp siêu âm      Áp dụng công nghệ lôi cuốn hơi nước hồi lưu kết hợp siêu âm, Công ty TNHH Giải pháp công nghệ sau thu hoạch đã nghiên cứu sản xuất ra tinh dầu từ thảo dược thiên nhiên, với hiệu suất trích ly cao và tiết kiệm thời gian.    Tại Hội thảo trực tuyến giới thiệu “Giải pháp trích ly tinh dầu bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước hồi lưu, kết hợp công nghệ siêu âm” do Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TPHCM tổ chức ngày 24/6, ông Đặng Tiến Dũng, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Giải pháp công nghệ sau thu hoạch, cho biết, có rất nhiều phương pháp để trích ly tinh dầu như chưng cất trực tiếp bằng nước, chưng cất lôi cuốn hơi nước, chưng cất có hỗ trợ vi sóng, chưng cất có hỗ trợ sóng siêu âm, ép lạnh, trích ly bằng dung môi siêu tới hạn, dung môi hữu cơ,…  Trong đó, chưng cất trực tiếp bằng nước, dung môi, lôi cuốn hơi nước là phương pháp thông dụng và phổ biến nhất. Ưu điểm của phương pháp này là thiết bị đơn giản, dễ thao tác, chi phí đầu tư không cao. Tuy nhiên, thời gian thực hiện khá lâu, từ 4 – 6 giờ, dung môi không xử lý triệt để dễ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và gây độc cho con người, môi trường. Đối với các phương pháp khác như ép lạnh, dung môi siêu tới hạn, chi phí đầu tư thiết bị thường cao, vận hành phức tạp, khó phù hợp với các hộ dân, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, ít kinh phí.  Để giải quyết các nhược điểm trên, nhóm nghiên cứu của Công ty TNHH Giải pháp công nghệ sau thu hoạch đã nghiên cứu sản xuất, chế tạo thiết bị chiết xuất tinh dầu bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước hồi lưu kết hợp siêu âm.    Ông Đặng Tiến Dũng giới thiệu về thiết bị chưng cất tinh dầu. Ảnh: NVCC  Theo đó, nguyên liệu sau khi sơ chế được đưa vào bồn chứa, sử dụng công nghệ siêu âm có gia nhiệt từ 40 – 60 độ C để phá vỡ cấu trúc của nguyên liệu, trong khoảng thời gian từ 2 – 3 giờ. Sau đó, sử dụng phương pháp lôi cuốn hơi nước hồi lưu để chưng cất tinh dầu. Bằng phương pháp này, thời gian chưng cất tinh dầu từ 4 giờ còn 2 – 3 giờ, hiệu suất trích ly cũng tăng lên từ 7‰ lên 10‰so với phương pháp chưng chất lôi cuốn hơi nước hồi lưu. Ngoài ra, các hoạt chất có trong tinh dầu vẫn được giữ nguyên.  Nhóm nghiên cứu không chỉ xây dựng quy trình sản xuất tinh dầu tắc (quất) mà còn tận dụng phụ phẩm của quá trình trích ly để chế tạo nước rửa sinh học đa năng. Quy trình sản xuất này bao gồm các thiết bị như bồn chứa nguyên liệu, bồn ủ vi sinh, bồn khuấy, thiết bị chiết xuất,… tạo thành một hệ thống dây chuyền khép kín. Trái tắc sau khi chiết xuất lấy tinh dầu, phần dịch tắc được lên men, lọc thô, lọc tinh làm nước rửa sinh học, phần bã có thể làm phân bón sinh học hoặc thức ăn chăn nuôi. Với hệ thống khép kín này, công suất khoảng 2 tấn/ngày có giá khoảng 800 triệu đồng.  Ông Dũng cho biết, chiết xuất tinh dầu bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước hồi lưu kết hợp siêu âm, có thể sử dụng đa dạng nguyên liệu đầu vào như hoa, trái, lá,… của các cây dược liệu, giúp tiết kiệm thời gian, năng lượng và cho hiệu suất trích ly cao. Thiết bị được Công ty chế tạo theo dạng container di động, dễ dàng di chuyển, lắp đặt tại các vùng nguyên liệu sẵn có, phù hợp cho những hộ dân, doanh nghiệp sản xuất tinh dầu. Tuy thuộc vào nhu cầu của từng cơ sở, Công ty có thể chế tạo thiết bị theo các công suất khác nhau, sử dụng nguồn chất đốt đa dạng như củi, năng lượng mặt trời,…  KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất tinh dầu diệt khuẩn bằng công nghệ phân tách và nano      Ứng dụng công nghệ phân tách và nano, nhóm nghiên cứu của Công ty Cố phần Quốc tế AOTA (TPHCM) đã nghiên cứu, sản xuất ra tinh dầu nano từ các loại dược liệu, có tác dụng sát khuẩn nhanh bàn tay và các bề mặt vật dụng, trong đó có khẩu trang.    Tại Hội thảo “Công nghệ nano và tinh chế hoạt chất từ dược liệu, ứng dụng trong các sản phẩm phòng chống SARS-COV-2” do Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TPHCM tổ chức ngày 23/7, TS Lưu Xuân Cường, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế AOTA, cho biết, một số dược liệu của Việt Nam như gừng, sả, bưởi, chanh, tràm, bạch đàn,… chứa nhiều hoạt chất, có thể điều hòa hệ miễn dịch, kháng viêm, kháng khuẩn,… Tuy nhiên, đối với các loại tinh dầu được chiết xuất thô, thường có hàm lượng hoạt chất quan trọng thấp, thành phần dược tính chưa cao. Ngoài ra, trong tinh dầu vẫn lẫn nhựa của cây, làm cho khả năng thẩm thấu tinh dầu trên da bị giảm. Vì vậy, để khắc phục những nhược điểm này, nhóm nghiên cứu của Công ty AOTA đã nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ phân tách và công nghệ nano để sản xuất tinh dầu diệt khuẩn từ các loại dược liệu của Việt Nam.  Theo quy trình sản xuất của nhóm nghiên cứu, ở công nghệ phân tách, sử dụng các thiết bị (do nhóm nghiên cứu, thiết kế) để tách tinh dầu từ lá và hạt của cây dược liệu, thu tinh dầu thô. Sau đó, tinh dầu được loại bỏ phần nhựa lẫn trong đó và tách thành các phân đoạn khác nhau dựa trên nhiệt độ sôi, nhiệt độ kết tinh để thu được hoạt chất quan trọng với hàm lượng cao. Cụ thể, trong lá tràm gió có chứa α-Terpineol, một chất không chỉ có khả năng sát khuẩn tốt mà còn kháng nấm hiệu quả, bằng công nghệ phân tách, nhóm có thể thu được 95% hàm lượng α-Terpineol có trong tinh dầu tràm gió. Cũng bằng cách này, nhóm có thể thu 95% Eugenol (có tác dụng sát khuẩn, kháng nấm)trong tinh dầu hương nhu, 90% Citral (có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, khử mùi)trong tinh dầu sả,…    TS Lưu Xuân Cường hướng dẫn xịt tinh dầu lên khẩu trang. Ảnh: CMH  Từ các loại dược liệu được khoa học chứng minh có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, kháng virus trên phổ rộng, gồm: tràm gió, sả, gừng, bưởi, quế, đinh hương, hương nhu, hương thảo, bạch đàn, bạc hà, ngũ trảo, dầu hạt sacha inchi, nhóm đã sản xuất ra tinh dầu nano thảo mộc Flustop diệt khuẩn. Flustop có thể dùng để sát khuẩn nhanh bàn tay và các bề mặt vật dụng; tăng khả năng sát khuẩn của khẩu trang, tạo thêm lớp màng “bảo vệ kép” ngăn vi khuẩn, virus; khử mùi không khí, xua đuổi côn trùng;…  Thử nghiệm khả năng diệt khuẩn lên vải không dệt có xịt tinh dầu Flustop tại Viện Kỹ thuật Công nghệ cao Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho thấy, tinh dầu có khả năng diệt đến 99,9% các loại vi khuẩn như: Esccherichia coli (gây bệnh đường ruột), Pseudomonas aeruginosa (gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, não), Bacillus cereus (gây tiêu chảy, nôn ói), Staphylococcus aureus (gây bệnh tụ cầu vàng trong máu và da). Đồng thời, có tác dụng diệt khuẩn trong 8 giờ sau khi xịt tinh dầu lên vải, khẩu trang (y tế, cotton).  Ngoài ra, để tăng khả năng thẩm thấu, nhóm áp dụng công nghệ nano hóa, tạo ra các hạt siêu nhỏ, có kích thước 10 – 20nm. Theo TS Cường, với kích thước siêu nhỏ này, trong một lần xịt có khoảng hai triệu tỷ hạt tinh dầu ở dạng nano được phun ra. Do đó, các hạt hoạt chất này có khả năng bám dính đều lên bề mặt khẩu trang cũng như sợi vải rất tốt, tạo thành một lớp màng bảo vệ. Với kích thước hạt bé hơn kích thước virus, lớp màng bảo vệ này có thể ngăn được sự xâm nhập của vi khuẩn, virus,… Ngoài ra, hương thơm tự nhiên của tinh dầu còn mang lại cảm giác dễ chịu, giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi khi phải đeo khẩu trang trong thời gian quá lâu.  Theo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất và xuất khẩu cái gì?      Với tư duy về tái cơ cấu nông nghiệp bắt đầu từ vấn đề sản xuất cái gì (bên cạnh các vấn đề sản xuất cho ai và như thế nào), TS Trần Tiến Khai cho rằng đã đến lúc Việt Nam nên tính đến việc giảm quy mô nguồn lực dành cho các sản phẩm xuất khẩu truyền thống giá trị thấp để đầu tư cho những sản phẩm giá trị cao mà mình có ưu thế.    Xu hướng chung của các nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp là chuyên môn hóa sản xuất, tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao, và có nhu cầu tiêu dùng trên thế giới ngày càng tăng như thủy sản đánh bắt, thủy sản nuôi trồng, rau quả, nấm ăn, hoa cắt cành. Các sản phẩm này thường được chế biến sâu, thậm chí thành những sản phẩm được sơ chế, nấu nướng sẵn sàng cho người tiêu dùng; và vì vậy góp phần kích thích phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.  Tuy nhiên, nhìn lại Việt Nam, từ nhiều năm nay, mặc dù tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của nhóm các mặt hàng nông sản luôn đóng góp phần quan trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, xấp xỉ 20% tổng kim ngạch xuất khẩu – năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước ước đạt 30,86 tỉ USD, tăng 11,2% so với năm 2013, trong đó, nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh là cà phê tăng 32,2%, hạt điều tăng 21,1%, hồ tiêu tăng 34,1%, rau quả tăng 34,9%, thủy sản tăng 18%, lâm sản và đồ gỗ tăng 12,7%, và gạo (không kể tiểu ngạch) tăng 5,3% – nhưng ngoại trừ nhóm mặt hàng thủy sản, hầu hết các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu đều dưới dạng sản phẩm thô, chưa thông qua chế biến sâu, và có giá trị gia tăng thấp.   Nếu so sánh với thị trường nông sản, thực phẩm thế giới ở khía cạnh giá trị xuất khẩu, thì rõ ràng, các mặt hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam có vị trí vô cùng khiêm tốn (Bảng 1). Các nông sản có thị phần tương đối lớn là thủy hải sản (4,17%), cà phê – chè – hồ tiêu (9,01%) và gạo (7,83%), trong khi các sản phẩm của ngành chăn nuôi gần như vắng bóng trên thị trường thế giới. Việt Nam lại có thị phần rất nhỏ ở các nhóm sản phẩm như sản phẩm sữa, trứng, mật ong, hoa cắt cành, rau củ, trái cây, quả ăn được. Điều đáng nói là tính theo giá trị, quy mô các nhóm sản phẩm sữa, trứng, mật ong; rau củ và trái cây lớn gấp 3.8, 2.7 và 3.9 lần quy mô thị trường gạo là sản phẩm xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. Chỉ tính riêng nhóm sản phẩm ca cao, quy mô thị phần cũng lớn gần gấp đôi sản phẩm gạo. Quy mô thị trường nhóm sản phẩm thủy sản cũng lớn gấp hơn bốn lần so với sản phẩm gạo.   Xét về nguồn lực sản xuất, Việt Nam đã hầu như không còn tiềm năng đất đai để mở rộng quy mô sản xuất các nhóm sản phẩm trồng trọt truyền thống như lúa gạo, cà phê, nhân hạt điều, hồ tiêu và cao su, nhưng lại đang bỏ lỡ cơ hội sản xuất và xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp mà mình có ưu thế về điều kiện tự nhiên, đất đai và vị trí địa lý, nhất là các chủng loại rau, quả, nấm ăn, hoa cắt cành nhiệt đới và á nhiệt đới đến các nước ôn đới trong mùa đông. Các ngành rau, quả, nấm ăn, và hoa cắt cành không cần quy mô đất sản xuất quá lớn, áp dụng được công nghệ sinh học và công nghệ cao trên quy mô đất nhỏ và phân tán, phù hợp với quy sản xuất nhỏ như ở Việt Nam và đã được trồng phổ biến ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau.   Ngoài ra tiềm năng phát triển ngành thủy sản đánh bắt và nuôi trồng vẫn còn rất lớn, nhất là đối với hai sản phẩm tôm nước lợ và cá da trơn khi Việt Nam đang có 0,5 triệu ha đất nuôi trồng thủy sản ven biển và hàng chục ngàn ha diện tích mặt nước cho nuôi thủy sản nước ngọt, phù hợp với bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thiếu nước ngọt và khô hạn trong mùa khô.   Như vậy, có thể thấy bên cạnh việc duy trì khối lượng và nâng cao chất lượng các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp mới là có tiềm năng, hết sức cần thiết, và có khả năng tạo ra nhiều hơn giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam có thể thu hẹp quy mô sản xuất một số sản phẩm có giá trị gia tăng thấp như lúa gạo, nhân hạt điều hoặc các loại nông sản không có lợi thế cạnh tranh như mía đường, lạc, đậu tương để sử dụng nguồn lực một cách hợp lý hơn cho các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.  (Trích tham luận Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: một cách nhìn từ thị trường của TS. Trần Tiến Khai cho Hội thảo Tái cơ cấu nông nghiệp ngày 17/1/2015 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất vaccine: Cần nhiều hơn một bằng sáng chế      Để chuyển giao hiệu quả công nghệ sản xuất vaccine mới phức tạp đòi hỏi một hệ sinh thái tiếp nhận có thể mất nhiều năm, đôi khi hàng thập kỷ, để xây dựng.      Một loại vaccine COVID-19 của Trung Quốc ở Mashhad, Iran, tháng 3/2021  Vào ngày 5/5, Tổng thống Joe Biden thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ cam kết toàn cầu trong việc xóa bỏ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine trong thời gian xảy ra đại dịch coronavirus. Điều đó cho phép nhiều quốc gia tăng cường sản xuất vaccine thậm chí là với công nghệ “tinh xảo” của vaccine Pfizer-BioNTech và cả Moderna để chống lại COVID-19. Nhiều cộng đồng y tế trên toàn cầu và các nước đang phát triển hoan nghênh quyết định này như một thắng lợi giúp cho việc phân phối vaccine công bằng hơn, khi các nước thu nhập trung bình và thấp đang tụt hậu quá xa so với các nước giàu có.  Nhưng sự hân hoan này có lẽ còn quá sớm. Động lực cho việc miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ một phần bắt nguồn từ kinh nghiệm của thế giới vừa trải qua cuộc chiến chống lại HIV/AIDS. Trao đổi bằng sáng chế, miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ và các cơ chế tự do hóa khác là cấp thiết trong việc đảm bảo quyền bình đẳng để tiếp cận thuốc đặc trị trong thời kỳ đại dịch. Nhưng những công cụ này phù hợp với các loại thuốc và dược phẩm khác hơn là vaccine. Sản xuất vaccine – đặc biệt là những vaccine phức tạp về mặt công nghệ (như RNA thông tin – mRNA) chống lại COVID-19 không chỉ đòi hỏi bằng sáng chế mà cần toàn bộ cơ sở hạ tầng không thể chuyển giao trong một sớm một chiều. Việc chia sẻ các bằng sáng chế là một bước phát triển quan trọng và đáng hoan nghênh trong dài hạn, nhưng nó thậm chí có thể không phải là bước đầu tiên cấp bách nhất.  Gỡ nút thắt  Vào đầu những năm 2000, các công ty dược phẩm đa quốc gia đã tính phí 10.000 USD mỗi bệnh nhân cho chế độ điều trị hằng ngày để duy trì sự sống cho những người nhiễm HIV/AIDS. Những bệnh nhân ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ở châu Phi hay những nơi khác chỉ có thể tiếp cận các loại thuốc hỗn hợp này (cocktail drug) trong một số trường hợp hạn chế. Sau đó, vào năm 2001, nhà sản xuất thuốc Ấn Độ Cipla Limited bắt đầu sản xuất các phiên bản của một loại cocktail ba thuốc kháng virus với giá chỉ 350 USD. Cipla, cộng tác với Médecins Sans Frontières (Doctors Without Borders – Bác sĩ không biên giới), đã giúp mở ra một kỷ nguyên mới về tiếp cận toàn cầu đối với các loại thuốc thiết yếu — một kỷ nguyên đánh dấu cho việc nới lỏng hoặc thậm chí miễn trừ quyền bảo hộ các bằng sáng chế quốc tế và các quyền sở hữu trí tuệ khác để sản xuất và phân phối một loại thuốc quan trọng và cứu mạng hàng triệu con người – được biết đến là thuốc generic – thuốc mang tên gốc (sau khi hết thời hạn bảo hộ bằng độc quyền sáng chế, các công ty dược khác được phép nghiên cứu, sản xuất những thuốc tương tự biệt dược gốc và được gọi tên là thuốc generic).      Số lượng vaccine COVID-19 được chuyển đến châu Phi hoặc tới các quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình ở châu Á và châu Mỹ Latinh là không đáng kể.      Kể từ thời điểm đó, các tổ chức vận động y tế toàn cầu đã thiết lập những cách thức ngày càng “tinh vi” hơn để hợp tác với các công ty đa quốc gia trong việc đảm bảo cho các nước thu nhập thấp và trung bình tiếp cận các loại thuốc thiết yếu. Vào những năm 2010, sáng kiến y tế toàn cầu Unitaid đã giúp tạo ra Quỹ Sáng chế dược phẩm chung (Medicines Patent Pool – MPP), trong đó các công ty dược phẩm từ khắp nơi trên thế giới có quyền cấp li-xăng cho thuốc kháng virus, mở ra một con đường để phát triển nhiều phiên bản thuốc generic, miễn là đổi lại, chủ sở hữu bằng sáng chế được tiền bản quyền. Cơ chế này vừa cung cấp li-xăng tự nguyện cho các nhà sản xuất mới, trong khi vẫn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất ban đầu của thuốc. Ví dụ, các công ty như Gilead đã cấp li-xăng tự nguyện của thuốc kháng virus của họ cho các nhà sản xuất thuốc generic, cho phép các quốc gia trên thế giới tự định giá bán lẻ loại thuốc này.   Cũng dễ hiểu rằng, các chuyên gia y tế toàn cầu đang tìm cách xác định liệu cách tiếp cận tương tự như trên có thể giúp cho việc phân phối vaccine COVID-19 công bằng hơn. Hơn một tỷ liều vaccine hiện đã ra thị trường – nhưng hầu như chỉ dành cho những người sống ở một số rất ít quốc gia. Hơn một nửa số liều thuộc về riêng Hoa Kỳ (250 triệu) và Trung Quốc (290 triệu), tiếp theo là Ấn Độ (160 triệu), Vương quốc Anh (51 triệu) và Đức (32 triệu). Ngược lại, mặc dù rất cần thiết, số lượng vaccine COVID-19 được chuyển đến châu Phi hoặc tới các quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình ở châu Á và châu Mỹ Latinh là không đáng kể. Các nhà vận động y tế toàn cầu đã đối phó với sự bất công bằng này bằng cách tìm cách áp dụng các bài học mà họ học được từ thuốc kháng virus và yêu cầu trao đổi bằng sáng chế hoặc các miễn trừ sở hữu trí tuệ đối với vaccine COVID-19. Vào tháng 3/2021, Médecins Sans Frontières tổ chức các cuộc biểu tình tại trụ sở Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ở Geneva, giăng một biểu ngữ “Không độc quyền COVID — Các quốc gia giàu có ngừng chặn việc miễn trừ Hiệp định TRIPS”. Hiệp định TRIPS là thỏa thuận giữa các nước trong WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. (Hiệp định này bảo hộ chặt chẽ quyền lợi của những người sở hữu các bằng sáng chế. Nó cho phép các công ty công nghệ lớn độc quyền và tối đa hóa lợi nhuận trên các sản phẩm của mình. Điều này bị chỉ trích rất nhiều từ các quốc gia đang phát triển, giới học thuật và các tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là khi các sản phẩm đó lại liên quan đến sức khỏe con người và những người nghèo, nước nghèo lại không thể tiếp cận được vì lí do tài chính).     Stephen Cornish, giám đốc trung tâm vận hành của tổ  chức Bác sĩ không biên giới, biểu tình trước trụ sở của WTO với tấm panel ghi rõ: “Các nước giàu dừng ngay việc trì hoãn miễn trừ thỏa thuận TRIPS!” (Wealthy countries stop blocking tripps waiver).   Giả định đằng sau đòi hỏi của Frontières đó là quyền sở hữu trí tuệ là một rào cản chính, ngăn chặn các nhà phát triển vaccine, nhất là ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình mở rộng quy mô sản xuất vaccine COVID-19 – đặc biệt là vaccine mRNA hiệu quả cao mà Pfizer-BioNTech và Moderna hiện đang sản xuất. Những vaccine này có hiệu quả bảo vệ lên tới hơn 90%, đối với các ca bệnh COVID có triệu chứng và không có triệu chứng. Các vaccine này đang thúc đẩy thành công sự phục hồi nhanh chóng của Hoa Kỳ, Israel và các quốc gia khác. Nhưng cho đến nay, vaccine mRNA hầu như vắng mặt ở châu Phi, Mỹ Latinh và các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ở các khu vực khác. Người ta hi vọng rằng miễn trừ hiệp định TRIPS và trao đổi sáng chế sẽ thúc đẩy công nghệ tạo ra sự phục hồi trên toàn cầu.  Cần cả một hệ sinh thái  Chia sẻ tài sản trí tuệ có thể hữu ích về lâu dài. Nhưng việc sản xuất ra các loại sinh phẩm phức tạp, đặc biệt là những loại cải tiến như vaccine mRNA hoặc vector adenovirus, không chỉ là vấn đề tiếp cận bằng sáng chế. Với các loại thuốc kháng virus phân tử nhỏ thì tương đối đơn giản: các quá trình hóa học nhiều bước để tổng hợp thường được trình bày chi tiết đầy đủ trong các bằng sáng chế hoặc bài báo khoa học đã xuất bản. Các nhà hóa học và chuyên gia bào chế thường có thể tổng hợp và mở rộng quy mô sản xuất chỉ từ việc hiểu biết về cấu trúc thuốc. Nhưng vaccine thì khác. Chế tạo và sản xuất các phân tử mRNA được bọc trong vỏ lipid, tái tổ hợp adenovirus, hoặc thậm chí là protein hay toàn bộ virus bất hoạt được sử dụng trong vaccine thế hệ cũ đòi hỏi mức độ tinh vi cao hơn nhiều so với sản xuất thuốc phân tử nhỏ. Hơn nữa, việc sản xuất vaccine phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và giám sát theo quy định.      Hiện số các quốc gia thu nhập thấp hoặc trung bình có khả năng sản xuất các vaccine mới chỉ chưa đầy một bàn tay.      Việc chuyển giao hiệu quả của công nghệ phức tạp như vậy đòi hỏi một hệ sinh thái tiếp nhận có thể mất nhiều năm, đôi khi hàng thập kỷ, để xây dựng. Các quốc gia đang tìm cách tăng tốc sản xuất vaccine sẽ cần đào tạo đội ngũ nhà khoa học và kỹ thuật. Họ cũng sẽ cần các quản trị viên khoa học không chỉ thông thạo nghiên cứu cơ bản và phát triển mà còn lưu giữ hồ sơ chi tiết, bao gồm các tài liệu thực hành cụ thể như hồ sơ sản xuất theo lô. Hơn nữa, họ sẽ cần hệ thống kiểm soát chất lượng mạnh mẽ và các hàng rào bảo vệ theo quy định. Việc xây dựng một cơ sở hạ tầng như vậy đòi hỏi phải được đào tạo chuyên sâu, thường là đầu tư tài chính đáng kể nhiều rủi ro và cần có thời gian. Theo một số ước tính, việc phát triển vaccine cần ít nhất 11 năm, và thậm chí xác suất sau ngần đó nỗ lực để có thể đưa vaccine ra thị trường chỉ là dưới 10 phần trăm. Hãy coi vaccine COVID-19 là kết quả của nhiều thập kỷ nghiên cứu và phát triển. Rất ít quốc gia chuẩn bị sẵn sàng để chấp nhận những rủi ro như vậy.  Hiện số các quốc gia thu nhập thấp hoặc trung bình có khả năng sản xuất các vaccine mới chỉ chưa đầy một bàn tay. Đáng chú ý nhất và lớn nhất là Ấn Độ, đang sản xuất vaccine vector adenovirus do Janssen, Oxford và AstraZeneca phát triển, cũng như công nghệ cũ hơn là vaccine protein tái tổ hợp hay vaccine virus bất hoạt. Các nhà sản xuất ở Brazil, Cuba và một số nước Đông Nam Á có kinh nghiệm sản xuất vaccine cho trẻ nhỏ cũng có thể nâng cao năng lực sản xuất vaccine COVID-19.  Những nơi khác cũng có thể có khả năng, bao gồm cả ở Trung Đông và châu Phi. Nhưng trước mắt, các nhà sản xuất này sẽ đối mặt với yêu cầu đầu tư tài chính, tiếp cận với lượng lớn nguyên liệu và vật tư (có thể bao gồm cả việc nới lỏng kiểm soát xuất khẩu), và một số chuyên môn kỹ thuật trong sản xuất và kiểm soát chất lượng nếu họ muốn sản xuất các loại vaccine hiện có để chống COVID -19. Chỉ riêng việc tiêm chủng cho Ấn Độ sẽ cần gần hai tỷ liều, và yêu cầu hơn 12 tỷ liều để tiêm chủng cho thế giới. Sự xuất hiện của các biến thể mới và nhu cầu về liều tăng cường có thể làm tăng nhu cầu hơn nữa. Liệu công nghệ vaccine mRNA có thể được mở rộng để sản xuất hàng tỷ liều vào năm 2021, hoặc thậm chí vào đầu năm 2022 hay không vẫn chưa rõ, nhưng mục tiêu này rất đáng để theo đuổi. Để đạt được điều này, “nới lỏng” bằng sáng chế có thể là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ. Các nhà sản xuất sẽ cần bí quyết kỹ thuật, các quy định kiểm soát và các thành phần đang thiếu hụt, chẳng hạn như nucleotide và lipid.  Tầm nhìn thập kỉ  Để tạo cơ sở cho việc chuyển giao công nghệ vaccine mRNA cho các nước có thu nhập thấp và trung bình, các nhà sản xuất vaccine ở Ấn Độ, Brazil và một quốc gia châu Phi hoặc một quốc gia ở Trung Đông nên bắt đầu bằng cách thiết lập các trung tâm xuất sắc về sản xuất và kiểm soát hóa học. Các trung tâm này sau đó sẽ hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và sản xuất vaccine mRNA ở các khu vực đang thiếu khả năng tiếp cận trên thế giới. Họ sẽ cung cấp đào tạo tại chỗ cho các chuyên gia. Những người này cũng sẽ nhận được hướng dẫn từ các nhóm vận hành kỹ thuật tại Pfizer-BioNTech và Moderna. Các trung tâm nên làm việc với WTO để đảm bảo rằng các thiết bị và thành phần vaccine được lưu thông tự do qua các nguồn cung quốc tế. Các nhà máy sản xuất có thể phải sản xuất thiết bị và vật liệu cho các trung tâm đó: ví dụ như các túi phản ứng sinh học (bioreactor bags) và các bộ lọc chuyên dụng. Các trung tâm và nhà sản xuất vaccine ở các nước có thu nhập thấp và trung bình sẽ cần sự hỗ trợ từ cộng đồng cũng như tài trợ bền vững từ Hoa Kỳ và các quốc gia G-7 khác, cùng với Ngân hàng Thế giới, có thể là nhờ vào các công cụ tài chính sáng tạo như trợ cấp vốn hoặc hợp đồng mua bán.    Chỉ có 2% số vaccine COVID-19 trên thế giới được gửi đến các nước châu Phi.  Cơ sở vật chất sản xuất vaccine mà các quốc gia xây dựng ngày nay có thể là một bức tường thành chống lại các đại dịch trong tương lai. Nhưng để được như vậy đòi hỏi phải suy nghĩ trước cả thập kỉ. Các tổ chức toàn cầu như Liên minh Đổi mới Chuẩn bị sẵn sàng Dịch bệnh được thành lập gần đây, cùng với Gavi, Liên minh Vaccine, Tổ chức Y tế Thế giới và các đối tác của Quỹ Bill & Melinda Gates, sẽ cần đầu tư vào việc chuẩn bị cho các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất thích ứng với nhiều công nghệ vaccine khác nhau. Tính đa dạng là rất quan trọng: không có cách nào để dự đoán công nghệ vaccine nào sẽ là tối ưu để sử dụng chống lại một mầm bệnh cụ thể. Vì vậy, các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất cần phải chuẩn bị để tăng cường nỗ lực cho bất kỳ tác nhân nào trong số chúng. Ví dụ, vaccine virus vector (dùng virus gây bệnh mụn nước trên gia súc làm vector để chuyên chở protein của kháng nguyên) được xem là hoạt động tốt nhất để ngăn chặn Ebola ở Cộng hòa Dân chủ Congo vào năm 2019, trong khi mRNA tỏ ra có lợi thế hơn trong việc ngăn chặn COVID-19. Do đó, các nỗ lực đào tạo nên hướng tới việc tạo dựng nền tảng chuyên môn trong một loạt các lĩnh vực từ vi sinh vật học đến công nghệ sinh học. Song song đó, các nhà hoạch định chính sách toàn cầu nên tiếp tục dỡ bỏ các rào cản thương mại và cung cấp các nguồn lực và nguyên liệu cần thiết để sản xuất và mở rộng quy mô các loại vaccine hiện tại của họ.      Ngay cả khi dỡ bỏ quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ với các bằng sáng chế về vaccine mới như vaccine mRNA hay adenovirus tái tổ hợp, có thể phải mất tới 10 năm mới đủ năng lực sản xuất, thậm chí sau đó xác suất có thể đưa vaccine ra thị trường là dưới 10 phần trăm.      Hợp tác quốc tế sẽ rất quan trọng đối với tương lai của việc phát triển và sản xuất vaccine, cũng giống như tình trạng khẩn cấp hiện nay. Nếu các công ty dược phẩm toàn cầu tỏ ra không muốn cấp giấy phép tự nguyện, thì việc miễn trừ bằng sáng chế có thể là cần thiết. Nhưng đó vẫn luôn là yếu tố có vai trò khiêm tốn nhất trong bất kì nỗ lực toàn cầu nào trong việc sản xuất vaccine. Việc sản xuất vaccine cho thế giới rất phức tạp và hệ sinh thái vaccine toàn cầu hiện tại rất mong manh – nhưng việc mở rộng hệ sinh thái này ra các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới sẽ có tiềm năng rất lớn để ngăn chặn đại dịch COVID-19 khủng khiếp này.□  Hạ Nhiên dịch  Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2021-05-10/producing-vaccine-requires-more-patent    Author                Peter J. Hotez, Maria Elena Bottazzi và Prashant Yadav        
__label__tiasang Sản xuất vaccine tích hợp vào một nhà máy hợp thành từ các container      Quy trình sản xuất vaccine mRNA của BioNTech gồm 50.000 bước nằm ở các dây chuyền sản xuất trên khắp thế giới, đang được tích hợp vào một nhà máy hợp thành từ các container kích cỡ tiêu chuẩn.    Tại trụ sở ở Marburg, Đức, BioNTech đang hoàn thiện các bước cuối cùng để tạo ra một nhà máy sản xuất vaccine hợp thành từ các container kích cỡ tiêu chuẩn, được gọi là Biontainers, dự kiến dành cho những nơi thiếu khả năng sản xuất vaccine. Bộ Biontainers đầu tiên sẽ đến một quốc gia châu Phi vào cuối năm 2022, nhưng chưa rõ là quốc gia nào.        Tất cả các hoạt động sản xuất nói chung, đặc biệt là dược phẩm và vaccine, bao gồm một loạt các bước sản xuất và kỹ thuật tinh chỉnh khác nhau, tạo thành một dạng “công thức công nghiệp” bí mật. Mỗi bước và kỹ thuật chỉ do một nhóm các kỹ sư trực tiếp thực hiện bước sản xuất đó nắm giữ. “Công thức” bao gồm mọi thứ, từ cài đặt từng thiết bị đến nhiệt độ, áp suất và thời gian chạy của các phản ứng hóa học. Với sản xuất dược phẩm, các biến số này chính xác đến mức có thể thay đổi tùy thuộc vào thời tiết. Quá trình chuyển giao “công thức” cho các cơ sở sản xuất mới xây dựng chính là điểm nghẽn trong việc mở rộng sản lượng vaccine. Ngay cả trong nội bộ một công ty dược phẩm, quá trình chuyển giao “công thức” cho một cơ sở sản xuất mới cũng phải mất khoảng tám tháng. Và quy trình sản xuất vaccine mRNA của BioNTech gồm 50.000 bước nằm ở các dây chuyền sản xuất trên khắp thế giới.    Ý tưởng của BioNTech là sau khi “công thức” đã được tích hợp thành công vào một bộ Biotainers, họ có thể nhanh chóng nhân bản và sao chép ra các bộ khác và mở rộng quy mô sản xuất mà không cần trải qua quá trình chuyển giao mất nhiều thời gian. “Đây là tương lai của ngành sản xuất không chỉ cho châu Phi mà trên toàn thế giới,” Sahin nói.    Các thiết bị được chế tạo ở Đức và đến tay quốc gia khách hàng vào cuối năm 2022. Mỗi bộ Biotainers gồm 12 container và chỉ cần bốn hoặc năm kỹ thuật viên vận hành, có khả năng sản xuất khoảng 40-60 triệu liều vaccine BioNTech mỗi năm, với chi phí “rẻ hơn đáng kể” so với một nhà máy sản xuất vaccine truyền thống có sản lượng tương đương – các cơ sở sản xuất truyền thống có giá ít nhất 170 triệu USD.    Bên cạnh xin chấp thuận và kiểm soát chất lượng Biotainers, BioNTech đồng thời thuê và đào tạo các kỹ thuật viên vận hành địa phương.    Mặc dù theo kế hoạch khả quan nhất, phải hai năm nữa các thiết bị của BioNTech mới đi vào hoạt động, nhưng họ cho biết đã có kế hoạch ứng dụng công nghệ này cho các thuốc khác như vaccine sốt rét hoặc lao.    Nếu kế hoạch của BioNTech thành công, không chỉ năng lực sản xuất thuốc ở lục địa châu Phi, mà cả cách sản xuất thuốc ở khắp mọi nơi cũng thay đổi.    Bùi Dung    Author                .        
__label__tiasang Sản xuất xe điện: thừa pin, thiếu xe      Mặc dù nhận được hỗ trợ từ chính phủ từ 3 năm nay, nhưng ngành sản xuất pin cho ô tô điện ở Mỹ vẫn rất ế ẩm.    Từ tháng 8 năm 2009, Tổng thống Obama công bố một chương trình tài trợ 2,4 tỉ USD cho ngành công nghiệp xe pin điện ở Hoa Kỳ. Ba năm sau, các nhà máy được tài trợ hiện đang ỳ trệ hoặc chỉ hoạt động ở mức thấp hơn nhiều so với công suất dự định ban đầu.  Đơn giản vì lượng mua xe ô tô điện không như dự kiến ban đầu, và hầu hết lượng pin bán ra được sản xuất bởi các nhà sản xuất đặt tại châu Á.                Khả năng dư thừa trong sản xuất pin cho xe điện trong năm 2013  Chú thích:              + Phần màu trắng: Khả năng sản xuất trong 2013.              + Phần màu xám: Dự đoán nhu cầu trong 2013.          Biểu đồ bên phải cho thấy khoảng cách giữa kế hoạch sản xuất và nhu cầu về pin năm 2013, theo các ước tính của Menahem Anderman ở công ty tư vấn cao cấp về pin cho ô tô.  Một số công ty nhận nguồn vốn trợ cấp của chính phủ đã phải rất vất vả để tìm kiếm khách hàng. Ví dụ, hãng Dow Kokam, nhận một khoản trợ cấp 161 triệu USD, đã có một vài khách hàng, nhưng không phải những nhà sản xuất ô tô lớn. Tuần trước, công ty này công bố sẽ cung cấp pin cho một loại xe điện nhỏ của nhà sản xuất ô tô Lumeneo ở Pháp. Các loại pin này có kích thước nhỏ hơn 1/3 kích thước pin cho những ô tô điện thông thường, ví dụ như xe Nissan Leaf.  LG Chem là nhà cung cấp pin cho hãng Chevrolet Volt. LG Chem xây dựng một nhà máy ở Holland, Michigan, với nguồn quỹ 151,4 triệu USD nhưng không sản xuất được vì doanh số bán hàng của hãng Volt đã thấp hơn so với dự kiến ban đầu. Và Volt nhập cell pin từ Hàn Quốc, nơi LG Chem đặt trụ sở chính, mà ngay cả ở Hàn Quốc, các nhà máy cũng chỉ còn hoạt động từ 20% đến 30% công suất. Các công ty sản xuất pin cho xe điện ở châu Á đã có khởi đầu trước Mỹ vì họ sẵn có cơ sở sản xuất pin cho các thiết bị điện tử cầm tay hoặc xe điện.  Xe hybrids đã bán được hàng triệu đơn hàng, là nguồn cầu lớn cho ngành sản xuất pin điện. Tuy nhiên, đa số các xe hybrid sử dụng pin nickel-metal-hydride, không phải loại pin lithium-ion mới do các nhà máy ở Mỹ sản xuất ra.  Thu Quỳnh lược dịch  Nguồn: http://www.technologyreview.com/news/429422/too-many-battery-factories-too-few-electric-cars/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng chế bằng… hình dung      Mới học hết lớp bốn, chưa từng đọc qua sách  vở nào về khoa học kỹ thuật, ông Nguyễn Văn Sành ( SN 1950) ở Nam Trung,  Nam Sách, Hải Dương, sáng chế một số máy, đặc biệt là máy bóc thái hành  tỏi, nhờ vào sự…hình dung.    Chiếc máy nổi tiếng   Ở xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương – một xã chuyên trồng tỏi vào vụ đông từ những năm 2000, ông Nguyễn Văn Sành đã trở nên “nổi tiếng” vì sáng chế được máy vừa bóc, vừa cắt tỏi. Công suất máy của ông trong một giờ với máy cơ là 1-4 tạ (máy điện là 6-8 tạ), trung bình gấp 20 lần một lao động làm trong một ngày. Nhờ sáng chế ra máy bóc vỏ và cắt hành tỏi, ông là người tạo ra làng nghề “Năng suất Xanh” ở xã Nam Trung, chuyên trồng và chế biến tỏi để bán trong nước và xuất khẩu. Mỗi máy cơ của ông hiện bán với giá 2,5 triệu đồng và máy điện có giá là 4,5 triệu đồng. Hãng LG cũng có một máy bóc tỏi điện dùng cho các hộ kinh doanh với kích thước 50x53x83 cm, tương đương với máy của ông Sành nhưng có công suất chỉ bằng 1/10 và không thể cùng lúc vừa cắt, vừa bóc tỏi và giá bán cao gấp 4-5 lần máy của ông.   Trong gần 15 năm qua, ông đã sản xuất khoảng 3.000 máy và hơn một nửa số đó là phục vụ cho những người dân ở xã, huyện của mình, số còn lại là phục vụ cho các tỉnh khác. Nhiều người ở xa cũng đến tận nơi để mua máy của ông. Là chủ một chuỗi quán Phở Thái ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, nhờ thông tin trên mạng, anh Sơn tìm đến ông Sành để đặt hai chiếc máy xắt hành tỏi (để làm món tỏi ngâm giấm ớt ăn kèm với phở). Ngồi xem ông Sành “biểu diễn” hơn 30 phút nhưng mỗi khi thấy những lát tỏi mỏng đều tăm tắp rơi ra từ chiếc máy là anh lại thích chí: “Thế này là con đã làm hàng được rồi đấy!”   Chiếc máy “hai trong một” của ông Sành có cấu tạo và nguyên lý hoạt động rất đơn giản. Hai bộ phận chính của chiếc máy là một ống phễu chứa hành, tỏi có đáy gắn với một đĩa tròn gồm hai lưỡi dao gắn với tay quay (máy bằng điện thì tay quay sẽ được thay thế bằng một dây cuaroa gắn với một động cơ). Khi quay đĩa, một lưỡi dao sẽ có nhiệm vụ bóc và lưỡi dao còn lại để thái. Bí quyết của ông nằm ở hai điểm: lưỡi dao được thiết kế hình bầu dục sẽ làm “trượt” lớp vỏ ngoài của hành tỏi và đĩa quay với độ rung nhẹ để hành, tỏi thả vào ống phễu luôn rơi theo chiều dọc khi thái nên đầu ra không bị nát mà luôn đều, đẹp. Toàn bộ máy của ông được làm bằng inox và dao trên máy của ông phải thái khoảng 100 tấn rau củ mới phải thay.    Người ta hay gọi ông Sành là “Sành hành tỏi” nhưng thực ra, với chiếc máy này, người ta có thể dùng để thái lát khoai tây, dưa chuột. Nhiều gia đình tại huyện Điện Biên, Sơn La còn mua máy của ông để thái táo mèo. Bên cạnh đó, vẫn với nguyên lí trên, nếu thay đổi độ nghiêng của lưỡi dao, kiểu dáng lưỡi dao, thì sẽ thay đổi độ dày và hình dáng của các lát thái. Nhờ thế, những quán cơm rang ở Phố Nối, Hưng Yên, vẫn mua máy của ông để cắt rau, củ quả thành hình hạt lựu, hình răng cưa… và một số hộ gia đình làm mứt mua máy của ông để thái bí thành sợi.    Chỉ cần có… máy tiện   Chiếc máy bóc, thái hành tỏi nói trên được ông Sành mang đi dự các cuộc thi, hội chợ, triển lãm và xuất hiện nhiều trên truyền hình nên công chúng ít biết đến những loại máy khác mà ông sáng chế phục vụ chuyên sâu hơn trong chế biến. Một số máy bóc thái tỏi được sử dụng trong những xưởng sản xuất lớn còn có thêm chức năng tách tép tỏi. Ông cũng sáng chế ra hai máy chỉ phục vụ cho một công đoạn nhỏ trong sản xuất tỏi và lạc để đóng hộp xuất khẩu hoặc làm bánh kẹo là máy trượp tỏi (máy loại bỏ vỏ lụa – lớp vỏ mỏng trong cùng của tép tỏi) và máy bóc vỏ đỏ của lạc. Đó là hai máy sấy được thiết kế dựa vào độ dãn, xoắn của vỏ tỏi và lạc khi thay đổi nhiệt độ. Gần đây, ông mới hoàn thành và bán được hàng trăm chiếc máy “gọt lựa bí ngô”.  Theo mô tả của ông, máy này dùng phương pháp quay và gọt: quả bí ngô sẽ được gắn vào một trục quay và lưỡi dao sẽ gạt vào thân quả bí, giống với nguyên lý hoạt động của đa số máy gọt rau quả có tính chất đối xứng của Trung Quốc. Tuy nhiên, điểm cải tiến trong máy của ông Sành là dù quả bí ngô có đối xứng hay không, máy của ông vẫn gọt đều mà không bị “lẹm vào ruột”.   Ông Sành còn muốn cải tiến máy gặt phù hợp với đặc điểm mùa vụ ở phía Bắc (máy gặt hiện nay mà mọi người đang sử dụng nếu áp dụng vào vụ Chiêm thì sản phẩm thu hoạch dễ bị rơi và dập). Ông cho biết, chi phí sản xuất chiếc máy cải tiến này vào khoảng 200 triệu và sử dụng nguyên lí hoạt động của máy xúc tuyết Liên Xô trước đây.   Trung bình mỗi ngày, theo đơn đặt hàng, ông lại tự sản xuất một chiếc máy bóc hành tỏi. Mọi máy ông sản xuất đều được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, lưỡi dao trên máy cũng do ông tự cắt và mài (mà ông cho rằng, thợ làm dao nổi tiếng ở Nam Định cũng không làm được đúng thông số như vậy).  Ông Sành chưa học hết lớp bốn và “thú thực” là mình chưa bao giờ có thời gian để tham khảo bất cứ sách vở, tài liệu nào về khoa học – kỹ thuật. Kinh nghiệm sản xuất của ông là nhờ vào nghề rèn mà ông theo học từ năm 16 tuổi.    Từng lên chương trình “Ai là ai” trên VTV2 vào tháng 1/2014, ông cho biết, là “nhà sáng chế nông dân” có nhiều khó khăn, đặc biệt là không có tiền để sáng chế. Ban đầu, khi bắt tay vào thực hiện máy bóc thái hành tỏi, ông chỉ tận dụng sắt vụn và “dùng nhờ” máy móc của xưởng rèn trong xã. Ông khẳng định, ông không mất nhiều thời gian hoặc vứt bỏ nhiều “phiên bản” để thử nghiệm mà “quan trọng là đầu tư vào hình dung, làm thế nào để thái được ra thế này và lấy đó làm gốc”. Nói cách khác, dựa vào yêu cầu của khách hàng, ông sẽ suy ra lưỡi dao, cách thái và từ đó “hình dung” ra nguyên lý hoạt động của chiếc máy.   Toàn bộ doanh thu mà ông có được nhờ vào việc bán máy móc dành để điều trị cho người vợ bị mắc bệnh ung thư suốt 15 năm qua và xây nhà cửa cho con cái. Ông không có nhu cầu mở rộng xưởng sản xuất, xin đầu tư hoặc bảo hộ sáng chế vì ông cho biết mục tiêu chính của mình là chỉ phục vụ người dân trong xã. Khi được hỏi, ông có mong muốn gì, ông trả lời không thể đơn giản hơn: “Có mỗi công đoạn tiện là tôi phải đi thuê. Bây giờ tôi chỉ cần một chiếc máy tiện 70 triệu. Như thế thì tôi sẽ làm ra được vô số loại máy khác nhau”.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng chế xử lý dầu tràn của hai học sinh lớp 11      Sau khi giành giải nhì Cuộc thi Sáng tạo khoa học kĩ thuật dành cho học sinh phổ thông toàn quốc, đề tài “Nguyên cứu chế tạo vật liệu thu gom xử lý dầu tràn có chứa hạt nano sắt từ” của hai học sinh lớp 11 ở Hà Nội đã được chọn để tham dự hội thi khoa học kỹ thuật quốc tế Intel International Science and Engineering Fair tại Mỹ vào tháng Năm tới.      Trước đó, đề tài của Đinh Tiến Dũng và Hoàng Minh Quang (Trường THPT Nguyễn Tất Thành) đã giành giải nhất lĩnh vực Hóa học tại Cuộc thi Sáng tạo khoa học kĩ thuật dành cho học sinh phổ thông khu vực phía Bắc năm 2015.   Theo Quang và Dũng, dưới sự hướng dẫn của thầy vật lý và được tạo điều kiện nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của khoa Hóa học, ĐH Sư phạm Hà Nội, sau nửa năm, hai cậu học sinh lớp 11 đã chế ra được loại vật liệu có khả năng hấp thu dầu trên cơ sở tổng hợp vật liệu polyme và hạt oxit sắt có từ tính, có thể sử dụng để xử lý những vệt dầu loang một cách triệt để, hoặc khắc phục hiện tượng rò rỉ trong khi khai thác, chế biến dầu mỏ, tránh ô nhiễm môi trương.  Các giám khảo tại cuộc thi đều đánh giá cao tính ứng dụng thực tế của sản phẩm, đặc biệt là chi phí để sản xuất vật liệu khá rẻ.  Hiện Hoàng và Quang đang ôn luyện thêm để chuẩn bị cho kỳ thi Intel ISEF do Hiệp hội Khoa học và Cộng đồng SSP (Society for Science and the Public) tổ chức. Đây là hội thi khoa học kỹ thuật hằng năm, tập trung những dự án nghiên cứu khoa học – kĩ thuật xuất sắc nhất của sinh viên, học sinh từ khắp nơi trên thế giới. Năm nay, Intel ISEF 2015 sẽ diễn ra tại TP Pittsburgh (bang Pennsylvania, Mỹ) từ ngày 10 đến ngày 15/5 với sự tham gia của hơn 1.700 học sinh, sinh viên.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng kiến kêu gọi cứu Viện Nghiên cứu Y học Tái tạo California      Những người ủng hộ cơ quan nghiên cứu tế bào gốc California tiết lộ kế hoạch cho sáng kiến kêu gọi bỏ phiếu trị giá 5,5 tỷ đô la      Những người ủng hộ nghiên cứu tế bào gốc ở California đang thúc đẩy một kế hoạch nhằm cứu Viện Nghiên cứu Y học Tái tạo California (CIRM), nơi đang chật vật vận hành chỉ bằng số tiền do chính quyền hỗ trợ. Nhóm ủng hộ đòi hỏi cử tri bang phê duyệt số tiền mang tính sống còn trị giá 5,5 tỷ đô-la Mỹ đối với cơ quan này.  Robert Klein, người sáng lập kiêm chủ tịch Americans for Cures, một nhóm gồm những người ủng hộ việc nghiên cứu tế bào gốc tại Palo Alto, California, chia sẻ với tạp chí Nature rằng họ dự định sẽ thành lập một tổ chức vận động phi lợi nhuận vào tháng 10 hoặc tháng 11/2019 để hỗ trợ đề xuất trên. Mục tiêu của họ là trình bày kế hoạch trước cử tri California vào tháng 11/2020 trong cuộc bầu cử toàn bang tiếp theo.  Những người ủng hộ CIRM phải thuyết phục khoảng 620.000 cử tri ký đơn thỉnh nguyện nhằm đưa đề xuất trên vào cuộc bỏ phiếu. Nếu thành công và phần lớn người dân California sau đó bỏ phiếu cho kế hoạch, CIRM sẽ tiếp tục là cơ quan nghiên cứu được bảo trợ bởi chính quyền bang California.  Nếu các cử tri bác bỏ kế hoạch, tương lai của Viện sẽ trở nên mịt mù. CIRM được thành lập vào năm 2004 bằng một phương thức bỏ phiếu tương tự, và khoảng tiền 3,3 tỷ đô la đã được dành ra để hỗ trợ cho cơ quan. Số tiền đó đang cạn kiệt dần. Tháng trước, CIRM tuyên bố họ không chấp thuận thêm đơn xin hỗ trợ cho các dự án tế bào gốc mới.  Klein, người đóng vai trò quan trọng trong sáng kiến ​​bỏ phiếu năm 2004 và từng là chủ tịch CIRM từ năm 2004 đến 2011, cho rằng chiến dịch kêu gọi tài trợ cho cơ quan này sẽ thành công: “Cuộc thăm dò ý kiến ​​cho thấy mức độ ủng hộ khá cao cho những điểm chính của đề xuất”, ông nói. Khoảng 70% số người được hỏi chấp thuận kế hoạch.  Ông từ chối cung cấp thêm thông tin cụ thể về cuộc điều tra dư luận của mình, kể cả việc đã có bao nhiêu người tham gia khảo sát, nhưng nói rằng chiến dịch nhằm duy trì CIRM sẽ tập trung vào những câu chuyện thành công từ các thử nghiệm lâm sàng mà cơ quan này đã tài trợ.  “Chúng tôi có những câu chuyện về việc [người khiếm thị] phục hồi thị lực, những người bị liệt cả chân và tay sau khi được điều trị đã có khả năng nâng tạ”, Klein chia sẻ. “Việc kể lại những câu chuyện của bệnh nhân sẽ mang lại lợi ích lớn.”  TÌM KIẾM HỖ TRỢ  Những người ủng hộ CIRM cũng đang đề xuất các thay đổi nhằm đảm bảo nghiên cứu của cơ quan này mang lại lợi ích cho người dân California. Thay đổi này bao gồm việc thành lập một đội ngũ nhân viên từ 10 – 15 người làm việc với các công ty bảo hiểm và bệnh nhân để cải thiện khả năng tiếp cận những thử nghiệm lâm sàng và liệu pháp chữa trị trong tương lai.  Aaron Levine, nhà nghiên cứu chính sách khoa học tại Viện Công nghệ Georgia ở Atlanta, cho rằng CIRM đã đưa California trở thành trung tâm của lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc trên toàn cầu. “CIRM có vai trò thực sự quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu tế bào gốc, từ khi nó vẫn còn là lý thuyết cho đến khi chứng minh được tính khả thi”, ông nói.  Nhưng Levine không chắc liệu điều đó có đủ để thuyết phục được cử tri tiếp tục ủng hộ cơ quan này không. Chiến dịch thành lập ra CIRM năm 2004, vốn tiêu tốn 34 triệu đô la, đã tranh thủ được sự ủng hộ của những người nổi tiếng như Michael J. Fox và Christopher Reeve, và thuyết phục rằng sáng kiến ​​này có thể áp dụng vào việc chữa trị. Cơ quan này sau đó đã tài trợ cho 55 thử nghiệm lâm sàng, nhưng chỉ một liệu pháp điều trị về tình trạng hiếm gặp về suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (đôi khi được gọi là chứng bệnh “người bong bóng”) là có khả năng sớm được tung ra thị trường.  “Tôi nghĩ sẽ rất thú vị để xem liệu chiến dịch này có dẫn đến một trong những phương pháp chữa bệnh đầy hứa hẹn hay chỉ tạo ra được một thứ gì đó hơi khác biệt”, Levine nói. “Sẽ cần thời gian để một lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn mới có thể thu được kết quả trong việc chữa trị. Nhưng sẽ rất khó để truyền tải việc đó đến các cử tri trong một vài câu đúc kết ngắn gọn.”  Carla Kim, một nhà nghiên cứu tế bào gốc tại Trường Y Harvard ở Boston, Massachusetts, nói rằng việc đóng cửa CIRM sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến việc nghiên cứu. “Không dễ dàng để nhận được các khoản hỗ trợ dành cho những loại nghiên cứu như thế này”, Kim nói. “Tôi nghĩ, việc dừng lại bây giờ sẽ là một sự lãng phí khủng khiếp.”  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02267-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng kiến toàn cầu nghiên cứu 1000 mô hình bệnh ung thư mới      Một sáng kiến toàn cầu sẽ tập hợp, nghiên cứu nhằm cung cấp một bức tranh đầy đủ, phong phú và đa dạng nhất từ trước đến nay về các mô hình bệnh ung thư, góp phần tìm ra các phương pháp chữa trị rẻ và hiệu quả. Chỉ trong vòng ba năm đầu tiên, các cơ quan cùng hợp tác nghiên cứu trong sáng kiến này sẽ nuôi cấy khoảng 1000 dòng tế bào để các nhà khoa học phân tích chúng.    Nguồn ảnh: genengnews.com  Sáng kiến Nghiên cứu mô hình ung thư (The Human Cancer Models Initiative) vừa công bố dự án thí điểm vào ngày 11 tháng 7 vừa qua, các đơn vị tham gia sáng kiến này gồm có Viện Ung thư quốc gia Mỹ (NCI), Viện Ung thư Anh, Viện Ung bướu Hubrecht, Hà Lan. Với mục tiêu ban đầu – 1.000 mô hình như dự kiến sẽ làm tăng gấp đôi bộ sưu tập các mô hình tế bào ung thư sẵn có hiện nay trên toàn thế giới, và nếu suôn sẻ, dự án này sẽ mở rộng thêm hàng nghìn mẫu khác. Ước tính các nhà nghiên cứu cần khoảng 10.000 mô hình để có thể nắm bắt được một cách đầy đủ tính đa đạng của các phân nhóm di truyền tương đối phổ biến của ung thư.   Sáng kiến này sẽ đem lại một số cải tiến trong nghiên cứu về hầu hết các dòng tế bào ung thư (cancer cell lines) sẵn có hiện nay. Mỗi dòng tế bào sẽ được khớp với dữ liệu lâm sàng của bệnh nhân tham gia hiến tế bào và quá trình chúng tiếp nhận điều trị. Dự án này cũng sẽ áp dụng các kỹ thuật tiên tiến đề tạo ra các mô hình, trong đó bao gồm kỹ thuật nuôi cấy tế bào ác tính 3D, và các tế bào đã được lập trình lại để phát triển mạnh mẽ. Cải tiến mới này mang lại hi vọng mô tả hoàn chỉnh hơn về bức tranh ung thư ở người, giúp ích cho thử nghiệm các loại thuốc mới và xác định phương pháp điều trị phù hợp cho từng loại ung thư.   Umber Cheema, nhà nghiên cứu về mô ở Đại học London (UCL) đánh giá sáng kiến này là một cơ hội rất tốt để kết hợp các nhà chuyên môn từ nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau bởi vì có rất nhiều vấn đề chuyên môn cần chia sẻ giữa các nhà khoa học các nước khác nhau nhưng lâu nay họ nghiên cứu khá độc lập và vẫn còn thiếu kết nối lẫn nhau.  Dự án thí điểm này sẽ cho phép các thành viên tham gia có cơ hội trao đổi, làm sáng tỏ những vướng mắc trong quá trình nghiên cứu, tìm ra các phương pháp chữa trị rẻ và hiệu quả nhất có thể, Mathew Garnett, một nhà nghiên cứu ung thư tại viện Sanger (Anh) cho biết.  Tại NCI, Sáng kiến mô hình ung thư này sẽ được kết hợp với một dự án khác để có thể thu thập thành một bộ sưu tập lớn các tế bào ung thư ở người đã được nuôi cấy trên chuột. Các dòng tế bào được tạo ra từ các dự án đó sẽ được đưa vào Sáng kiến Nghiên cứu mô hình ung thư, Louis Staudt, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Gene Ung thư ở NCI cho biết.   NCI cũng quan tâm đến việc tìm hiểu các phương pháp khác để phát triển mô hình tế bào ung thư – một vấn đề nóng trong nghiên cứu ung thư. Staudt nói thêm rằng nhóm nghiên cứu đang tìm ra những điều kiện tối ưu để phát triển một số tế bào ung thư chậm phát triển như ung thư hạch (lymphoma). Một số nhà nghiên cứu khác đang cố gắng để điều chỉnh các mô hình hiện nay để đem lại môi trường nuôi cấy giống trong tự nhiên cho các khối u. Ví dụ như nhóm của Cheema, phát triển các tế bào ung thư bằng kỹ thuật nuôi cấy 3D với hi vọng sẽ cải tiến kỹ thuật để xác định liệu các tế bào ung thư có thể di căn hoặc đáp ứng một liệu trình điều trị hay không.  Bảo Như lược dịch  http://www.nature.com/news/global-initiative-seeks-1-000-new-cancer-models-1.20242         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sàng lọc gene xác định căn nguyên ung thư vú      Thông qua việc giải trình tự hàng ngàn gene, các nhà khoa học đã chọn được những gene có thể góp phần phát triển các khối u.    Một nghiên cứu quy mô lớn với gần 4000 biến thể trong một gene có liên quan đến ung thư có thể giúp xác định con người bị nguy cơ ung thư vú hay ung thư buồng trứng. Thông tin này hết sức cần thiết: hàng triệu người có gene được xếp theo trình tự BRCA1. Một số biến thể trong trình tự gene DNA của BRCA1 liên quan đến ung thư vú và buồng trứng; những biến thể khác được cho là an toàn, không liên quan đến bệnh tật. Nhưng những ảnh hưởng của phần lớn các biến thể này vẫn còn chưa rõ ràng, khiến cho các bệnh nhân và bác sỹ không thể giải thích được các hậu quả mà nó có thể dẫn đến.  Nghiên cứu này được xuất bản trên Nature vào ngày 12/9, kiểm tra những ảnh hưởng của hàng ngàn biến thể khác nhau trong những tế bào được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Nghiên cứu có thể giúp các bác sỹ làm sáng tỏ ý nghĩa của đột biến gây ung thư, ví dụ một biến thể cản trở khả năng hoạt động của một tế bào đảm trách nhiệm vụ sửa chữa DNA trong phòng thí nghiệm có thể liên quan đến ung thư trong lâm sàng.  Trường Đại học Di truyền và hệ gene y khoa Mỹ ghi nhận, từ 60 gene đã được sàng lọc có thể gợi ý cho việc lập một kế hoạch nghiên cứu về ngăn chặn những ảnh hưởng của bệnh tật. Thông thường các bác sĩ không giải thích được tác động của những giải trình tự NDA bất thường xuất hiện trong các gene. “Các biến thể thực sự là ác mộng. Dù có kết quả giải trình tự gene thì chúng tôi cũng không biết thực chất nó là gì”, Alvaro Monteiro, nhà di truyền học tại Trung tâm ung thư Moffitt ở Tampa, Florida, nói.  Các kết quả khảo nghiệm tìm nguyên nhân di truyền của chứng mất thính lực là một ví dụ: người ta thấy ý nghĩa của những biến thể trên một nửa số người mắc chứng này không rõ ràng, Heidi Rehm, nhà di truyền học tại Broad Institute MIT và Harvard – trung tâm nghiên cứu y sinh và hệ gene tại Cambridge, Massachusetts, nói. “Đây là thách thức có trong tất cả các lĩnh vực khảo nghiệm về gene”.  Điều này thể hiện rõ với BRCA1: phụ nữ có giải trình tự gene BRCA1 phải đối mặt với nguy cơ cần phẫu thuật để loại bỏ khả năng ung thư vú và buồng trứng, tuy nhiên có tới hơn 2.500 biến thể được biết của BRCA1 không có thông tin rõ ràng về việc sẽ dẫn đến bệnh hay không.  Shendure và nhà di truyền học Lea Starita ở Viện Brotman Baty đã quyết định thử giải quyết vấn đề này khi dùng các tế bào đã chết, không có protein chức năng BRCA1 – vốn đóng vai trò quan trọng trong sửa chữa DNA, rồi dùng kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR–Cas9 để tạo ra đột biến trên gene BRCA1.  Qua sàng lọc, họ đã khám phá ra biến dị đơn vị di truyền trong các vùng có vai trò quan trọng đối với chức năng của protein của BRCA1. Trong nhiều trường hợp thuộc dữ liệu lâm sàng có sẵn, các kết quả thu được trong phòng thí nghiệm cũng tương ứng hơn 96% với kết quả nghiên cứu lâm sàng.  Cách tiếp cận này có thể được mở rộng cho nghiên cứu về những gene có liên quan đến bệnh tật khác, đặc biệt là gene đóng vai trò quan trọng trong quá trình sửa chữa DNA, Monteiro nói.  Lý tưởng nhất, các dữ liệu này có thể được kết nối với những thông tin di truyền khác về một biến thể đã có nhưng nhiều dữ liệu có thể không sẵn các giải trình tự gene hiếm. Trong nhiều trường hợp, nó có thể đem lại cho bệnh nhân và các bác sỹ cơ hội giải thích, còn một số trường hợp khác có thể chọn để sàng lọc thẳng về bệnh ung thư, nhất là trường hợp phát hiện sớm bệnh ung thư, Starita nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn tin & ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06665-x       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo có trách nhiệm là thông điệp chung cho thế giới      Trong bài trả lời phỏng vấn của Roland Schatz được đăng trong Báo cáo Hòa bình toàn cầu 2011*, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Trung Nguyên đã trả lời một số câu hỏi chung quanh vấn đề triết lý kinh doanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, và những điểm sẽ giúp tạo nên sự hài hòa cho cục diện thế giới hiện nay.      Vì sao ông đã không xây dựng công ty của mình theo những nguyên tắc kinh tế thuần túy mà coi  văn hóa và các giá trị cộng thêm như là chìa khóa cho sự tăng trưởng?  Tôi hiểu câu hỏi của ngài, với tôi chính câu hỏi đó đã chứa đựng câu trả lời. Trước hết, sự khác biệt ở đây nằm ở chính yếu tố văn hóa. Đối với lối tư duy tổng hợp của người Việt Nam chúng tôi thực sự sẽ không có khái niệm kinh tế thuần túy. Bản thân mỗi hoạt động đều không thể vận hành riêng biệt nếu thiếu những lĩnh vực và hoạt động khác, mọi sự vật và hiện tượng đều có liên hệ với nhau và không thể tách rời. Vì vậy, trong kinh tế nhất định phải có văn hóa và các giá trị cộng thêm khác.  Bên cạnh đó, nếu chúng tôi đặt ra một mục tiêu có vẻ là thuần túy kinh tế là “trở thành nhà lãnh đạo của ngành cà phê thế giới” thì chúng tôi không thể ổn định khi mà địa bàn khởi nghiệp của chúng tôi có vấn đề, ngành cà phê có vấn đề, và kể cả thế giới có vấn đề. Một doanh nghiệp trong thời đại này phải chủ động có trách nhiệm với quốc gia, với ngành nghề và với cả thế giới. Chúng tôi tin đó là một quy luật tất yếu.  Ở bên ngoài Việt Nam đã là rất khó để nói về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility) như là một động lực chính cho thành công lâu dài của doanh nghiệp, nhưng làm sao ông đã có thể thành công về điều này trong bối cảnh như ở Việt Nam?  Thế giới đang biến đổi và biến đổi rất nhanh và sự biến đổi đó được gọi tên là toàn cầu hóa. Nhưng cái quy luật hoặc động lực thật sự dẫn dắt toàn cầu hóa là gì thì dường như cả thế giới còn chưa tìm được một khái niệm xác thực. Theo chúng tôi, thế giới toàn cầu hóa đang ở trong một giai đoạn được gọi là “hài hòa hóa”.  Vì sao là hài hòa hóa? Vì sự mưu cầu lợi ích vật chất và tư duy phân tích dẫn dắt thế giới phát triển rất nhanh trong hai thập kỷ gần đây đã tạo ra một thực tế là toàn thể nhân loại đang phải đứng trước những cuộc khủng hoảng đan xen ở cấp độ toàn cầu về kinh tế – tài chính, môi trường và biến đổi khí hậu, năng lượng, lương thực, dân số, y tế, xung đột tôn giáo và sắc tộc, nguy cơ của chiến tranh hủy diệt,… Do đó, khả năng tìm ra sự hài hòa hay điểm cân bằng của các yếu tố xung đột để hướng đến phát triển sẽ trở thành động lực và quy luật dẫn dắt thế giới ở mọi cấp độ.  Ở trong lĩnh vực kinh doanh, động lực trách nhiệm xã hội song hành với động lực kinh tế tài chính chính là biểu hiện căn bản cho quá trình hài hòa hóa nói trên, thậm chí, có nơi chốn và thời điểm động lực trách nhiệm xã hội có thể và cần thiết trở thành động lực mang tính dẫn dắt. Trong lĩnh vực chính trị cũng vậy, sự phân biệt về ý thức hệ và hình thức thể chế chắc chắn sẽ ngày càng trở nên mờ nhạt cho tới biến mất. Tư tưởng tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, kể cả các tư tưởng mang nặng ý thức hệ dân tộc và tôn giáo sẽ không thể và không còn ở trạng thái xung đột và loại trừ nhau như trước đây chúng ta quan niệm, mà chúng phải hài hòa với nhau, bổ sung cho nhau vì sự phát triển bền vững chung của nhân loại. Có một ví dụ khá điển hình, tôi vừa có một chuyến đi công tác tại Israel, ở đó tôi thấy người ta tổ chức nông thôn và nông nghiệp theo mô hình xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh doanh theo mô hình kinh tế tư bản, và xu hướng chính trị theo chủ nghĩa dân tộc. Và như chúng ta đều biết, họ đã và đang rất thành công. Tuy nhiên, tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần thêm một yếu tố thứ tư nữa: đó là tinh thần quốc tế. Chúng ta cần phải bước vào giai đoạn hài hòa hóa của thế giới bằng việc mở rộng tư duy và xóa bỏ các rào cản của định kiến. Đó là tư tưởng, niềm tin và nguyên tắc của chúng tôi, và Trung Nguyên sẽ thực hiện nó.  Lại nói trên góc độ văn hóa, nếu nghiên cứu sâu về văn hóa Á Đông ngài sẽ thấy mỗi ngành nghề của chúng tôi đều có một triết lý nhân sinh. Chúng tôi cũng có cho mình một triết lý dẫn dắt. Đó là triết lý cà phê, và giá trị trung tâm của triết lý này mà chúng tôi cam kết cũng như muốn mang đến cho mọi người thông qua cà phê chính là trạng thái “sáng tạo có trách nhiệm”. Như vậy, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với chúng tôi không phải là một khái niệm tách biệt, không phải là một biện pháp tạo thêm giá trị doanh nghiệp, mà nó được hòa quyện vào trong mọi hoạt động của chúng tôi.  Ông cho rằng quá trình ông gọi là hài hòa hóa đó sẽ tạo ra hòa bình và phát triển cho thế giới, vậy theo ông, đâu là những điểm tạo nên sự hài hòa cho cục diện thế giới hiện nay?  Tôi cho rằng thế giới hiện nay đang cần phải tìm ra điểm hài hòa cho hai chiều kích là dạng thức quyền lực giữa quyền lực cứng và quyền lực mềm và nguồn gốc văn minh giữa văn minh phương Đông và văn minh phương Tây. Xu hướng dịch chuyển ai cũng thấy đó là từ quyền lực cứng sang quyền lực mềm, từ phương Tây đang chiếm ưu thế sang sự phục hưng của phương Đông. Nhưng, điểm hài hòa đích thực ta chỉ tìm ra khi ta kết hợp hai chiều này lại thành một ma trận phát triển, và khi đó sẽ phát hiện được những điểm mất căn bằng quan trọng. Để hài hòa con người với thiên nhiên, con người phải phát triển theo tư tưởng của quyền lực mềm, tôn tạo và bảo vệ thiên nhiên. Phương Đông và các giá trị phương Đông sẽ phải phát triển để cân bằng lại và bổ sung với các quốc gia và giá trị phương Tây đã phát triển gần như cực thịnh. Do đó, có hai thách thức lớn nhất cho sự hài hòa của thế giới. Một là các quốc gia phương Tây có chiến thắng được quán tính hàng ngàn năm của quyền lực cứng để dịch chuyển sang quyền lực mềm hay không? Hai là, các quốc gia phương Đông cùng các quốc gia đang trỗi dậy có thể chiến thắng lại cám dỗ phát triển theo quyền lực cứng hay không? Phương Đông và phương Tây chỉ có thể hòa hợp khi cùng nhau phát triển theo quyền lực mềm, và sẽ tiêu diệt và loại trừ nhau nếu cùng là cứng. Trong diễn trình đó, vai trò của các quốc gia, các nguồn lực mang tính chủ chốt của nền văn minh phương Tây mà cụ thể là Mỹ, cường quốc số một thế giới hiện nay là rất quan trọng.  Mỗi thời kỳ phát triển của thế giới sẽ tương ứng với một trung tâm địa lý điển hình. Trung tâm đó đã từng ở Địa Trung Hải địch chuyển qua Bắc Đại Tây Dương và giờ đang dịch chuyển qua Thái Bình Dương. Địa bàn cụ thể nhất chính là Đông Nam Á. Bởi ở đây đang hội tụ gần như đầy đủ nhất các vấn đề cũng như các cơ hội của thế giới, thể hiện rõ sự đa dạng về chủng tộc, tư tưởng, ý thức hệ chính trị, sự đang dạng về quy mô, trình độ phát triển, sự đang xen nhiều mặt về lợi ích của từng quốc gia trong khu vực với các cường quốc, các nhóm liên minh khác nhau trên thế giới.  Chắc chắn một quốc gia có chiến lược như Mỹ đã nhìn nhận ra vấn đề này và sự dịch chuyển chiến lược của Mỹ sang châu Á – Thái Bình Dương và đặc biệt là Đông Nam Á sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ.  Ông có nói đến quyền lợi và trách nhiệm của các cường quốc, cụ thể là Mỹ. Năm 2012 chắc chắn sẽ là một điểm bùng phát đối với nước Mỹ – nó có thể trở thành quốc gia đầu tiên trong lịch sử không bị phá sản dù tham gia vào nhiều cuộc chiến trên toàn cầu. Nhưng nó sẽ đòi hỏi việc cắt giảm nghiêm trọng ngân sách quốc phòng của Mỹ. Điều gì có thể thuyết phục dư luận Mỹ để họ nhận ra rằng hòa bình có thể được gặt hái nhờ vào nhiều văn hóa hơn và ít tiền đi? Cần phải thực hiện những việc gì để có thể thuyết phục được các cử tri Mỹ?        “Sáng tạo có trách nhiệm” – năng lượng phát triển mạnh mẽ mà lại có tính hài hòa, không loại trừ lợi ích của các đối tượng có liên quan, sẽ là thông điệp chung cho thế giới và Mỹ là nước có đủ điều kiện nhất để trở thành ngọn cờ đầu cho nó.         Trước hết, cần phải khẳng định lại là dù khủng hoảng gì xảy ra thì trong ít nhất là nửa thế kỷ tới, Mỹ vẫn sẽ là quốc gia đứng đầu thế giới trong hầu hết các lĩnh vực trọng yếu. Nước Mỹ vì vậy không chỉ có quyền lợi trên phạm vi toàn cầu mà tương ứng với đó cũng là trách nhiệm với toàn cầu. Sức mạnh càng lớn thì trách nhiệm càng phải cao.   Sức mạnh của một quốc gia được tạo nên bởi bốn cột trụ chính: địa chính trị, văn hóa quốc gia, chiến lược quốc gia, và thể chế quốc gia. Do vậy, muốn có sự thay đổi của thế chế quốc gia thì phải tạo nên nhận thức và thay đổi lên cả các yếu tố còn lại. Sự thuyết phục ở đây phải mang yếu tố tổng hợp tới các đối tượng chính trị, các nhóm lợi ích kinh tế, với các nhóm ảnh hưởng xã hội, rồi tới đại bộ phận dân chúng Mỹ. Sự quyết định về chính quyền và thể chế phải đáp ứng sự thay đổi về chiến lược quốc gia tương ứng với sự biến đổi của địa chính trị (dịch chuyển Tây sang Đông). Tôi có niềm tin vào văn hóa Mỹ, một nền văn hóa cởi mở, sáng tạo, và luôn có khả năng đón nhận và chuyển hóa các tư tưởng hữu dụng. Vấn đề là chúng ta phải thuyết phục các nhóm lợi ích của nước Mỹ lợi ích của việc dịch chuyển chiến lược từ cứng sang mềm, của việc lấy động lực có tính trách nhiệm bổ sung cho động lực mang tính lợi ích. Thông điệp “sáng tạo có trách nhiệm” sẽ là thông điệp chung cho thế giới và Mỹ là nước có đủ điều kiện nhất để trở thành ngọn cờ đầu cho nó. Sáng tạo có trách nhiệm là năng lượng phát triển mạnh mẽ mà lại có tính hài hòa, không loại trừ lợi ích của các đối tượng có liên quan. Chúng tôi muốn dùng cà phê và thông qua cà phê, muốn dùng toàn bộ di sản của cà phê, cũng như các lợi thế hiện của của địa bàn Việt Nam đề cùng đưa thông điệp này tới Mỹ, góp phần vào hòa bình và phát triển cho bản thân nước Mỹ, cho Việt Nam, và cho cả thế giới.  Câu hỏi cuối cùng, tôi vẫn xin được quay về một vấn đề mà có thể ông coi đó là kinh tế thuần túy: Ông đã biến Trung Nguyên trở thành công ty cà phê số 1 ở Việt Nam và còn xa hơn thế. Điều gì khiến ông nghĩ rằng thế giới sẽ sẵn sàng để chuyển từ Starbucks và Nestlé qua Trung Nguyên?          Roland Schatz – Chủ tịch tập đoàn Truyền thông quốc tế Media Tenor International / InnoVatio Verlag.         Trước hết, tính đa dạng tạo nên sự hài hòa. Mọi sự độc quyền và độc tôn đều là không tốt. Trong ngành cà phê và văn hóa cà phê cũng vậy. Thế giới cần sự đa dạng và đa sắc của cà phê của phong cách và văn hóa cà phê cũng giống như chúng ta cần bảo về sự đa dạng trong thế giới sinh học. Đó là điều thế giới cần, cà phê thế giới không chỉ là Starbucks hoặc Nestlé.  Sau nữa, quá trình cạnh tranh của thế giới hiện nay có thể tạo ra các đối thủ cạnh tranh lớn và không loại trừ. Ví dụ rõ nhất là trong thế giới internet, chúng ta đã chứng kiến ít nhất bốn cuộc cách mạng trong vòng trên dưới hai thập kỷ. Microsoft tạo ra cuộc cách mạng về trình duyệt với IE, Yahoo tạo ra hộp thư cá nhân, Google sắp xếp và tìm kiếm, và gần nhất là Facebook đã xã hội hóa internet. Trong ngành cà phê, chúng tôi có cho mình lối đi riêng, chúng tôi đang chuẩn bị cho một góc nhìn mới, một lựa chọn mới cho cộng đồng cà phê thế giới. Và như ngài nói, nó có nhiều điểm nằm khá sâu trong cái gọi là kinh tế thuần túy, cạnh tranh thuần túy nên cho phép chúng tôi được giữ chút bí mật cho câu hỏi này.  —————  * Do InnoVatio Verlag xuất bản và được trình bày tại Hội nghị báo cáo hòa bình toàn cầu 2012, diễn ra một tuần sau Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos (Thụy Sĩ).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo – Giá trị cốt lõi của Thiên Long      Từ một cơ sở sản xuất bút bi nhỏ được thành lập vào năm 1981, đến nay Thiên Long đã trở thành một tập đoàn lớn nổi tiếng tại Việt Nam. Hiện sản phẩm của Thiên Long không chỉ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu đến hơn 40 quốc gia khác nhau trên thế giới. Sự thành công của Thiên Long đến từ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến vai trò của đổi mới sáng tạo.      Tinh thần đổi mới sáng tạo từ người sáng lập  Theo ông Nguyễn Đình Tâm – Phó Tổng Giám đốc thường trực của Tập đoàn Thiên Long, ngay từ những ngày đầu thành lập, Thiên Long đã mang trong mình tinh thần đổi mới sáng tạo của người sáng lập là ông Cổ Gia Thọ.    Ngay từ giai đoạn đầu đất nước mở cửa, vào những năm 1990, ông Thọ đã lặn lội tìm đến những quốc gia nổi tiếng trong lĩnh vực bút bi là Thụy Sĩ và Đức để học hỏi kinh nghiệm và mua công nghệ mới về phục vụ sản xuất. Và với đầu bút nhập từ Thụy Sĩ, mực nhập từ Đức, sản phẩm bút bi TL-07 và TL-08 đã tạo sự đột phá trong thị trường lúc bấy giờ. Những sản phẩm đến ngày hôm nay vẫn được tin dùng đó đã đủ chứng tỏ chất lượng của sản phẩm này.          Tập đoàn Thiên Long được trao  Giải Bạc Chất lượng Việt Nam năm 2008, 2009; Giải Vàng Chất lượng Việt  Nam năm 2011, năm 2014; Giải Chất lượng quốc tế châu Á – Thái Bình Dương  năm 2015.          Ông Tâm cho biết: Nhiều người nghĩ rằng cứ phải tự mình làm tất cả các công việc thì mới gọi là đổi mới sáng tạo. Tôi nghĩ điều này không hẳn đúng, có những công nghệ mình phải nhập từ nước ngoài về vì đó là một bước đi vừa an toàn, vừa giúp chúng ta nhanh chóng tiết kiệm thời gian để bắt kịp nhu cầu của thị trường. Dĩ nhiên, bên cạnh đó cũng phải có những công nghệ, sản phẩm chúng ta tự sản xuất để có sự chủ động và tạo lợi thế cạnh tranh. Khi bạn thay đổi công nghệ cũ bằng một công nghệ mới tiên tiến hơn, cái đó gọi nôm na là đổi mới nhưng đổi mới sẽ không mang lại giá trị nếu thiếu đi sự sáng tạo. Đó là lý do vì sao chúng ta thường dùng chung cụm từ “đổi mới sáng tạo”.    Để tôi dễ hình dung hơn, ông Tâm đưa ra một ví dụ. Với một cây bút bi, bạn thử tháo rời các bộ phận ra, thông thường bạn sẽ thấy trên dưới 10 chi tiết khác nhau, tùy loại bút. Mỗi chi tiết cần một cái khuôn khác nhau để đúc tạo hình. Với công nghệ đúc cũ, bạn phải dùng các thiết bị cơ khí thô sơ mà việc sản xuất tốn nhiều thời gian và độ chính xác không cao. Nhờ đổi mới công nghệ, chúng ta dễ dàng tạo ra các khuôn mới nhanh chóng với độ chính xác cao hơn.    Ông bảo, cái đó gọi là đổi mới công nghệ. Thế nhưng công nghệ cũng chỉ là một công cụ mà thôi. Nó giúp chúng ta hiện thực hóa các ý tưởng một cách hiệu quả. Còn để có những ý tưởng xuất sắc, tạo được một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bạn cần phải biết thiết kế cây viết như thế nào, hình dáng, màu sắc, hoa văn ra sao… thì lại phải cần đến sự sáng tạo. Đó chính là điều tạo nên sự khác biệt, là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp kia và đây chính là điểm mạnh của Thiên Long.    Chính nhờ sáng tạo, Thiên Long liên tục tăng trưởng cao và ổn định qua các năm, từ một công ty chuyên sản xuất bút bi, đến nay công ty đã có năm dòng sản phẩm bao gồm: Bút viết thông dụng TL, Bút viết cao cấp Bizner, Dụng cụ văn phòng FlexOffice, Dụng cụ học sinh Điểm 10 và Dụng cụ Mỹ thuật Colokit, hơn 90 chủng loại sản phẩm đang kinh doanh ở thị trường trong và ngoài nước, trong đó, người viết bất ngờ khi được giới thiệu về cây bút phấn nước CM-01, một sản phẩm mới mà Thiên Long vừa giới thiệu ra thị trường. Có thể nói CM-01 là một sản phẩm rất tiện dụng khi kết hợp giữa phấn và mực nước không bụi để có thể viết trên bảng trắng, bảng đen, kính, nhựa, kim loại, giấy, gốm…    Lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo  Tham quan một vòng các phòng thí nghiệm, nhà máy sản xuất của Thiên Long, ta có thể thấy tinh thần đổi mới sáng tạo hiện diện khắp mọi nơi. Chính với điều đó mà Thiên Long đã chế tạo được một robot tự động lắp ráp các bộ phận khác nhau để hình thành nên một sản phẩm nhanh gấp 20 lần so với lắp ráp thủ công. Với những dây chuyền sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, Thiên Long đã được nhiều khách hàng lớn tìm đến hợp tác, trong đó có cả Nhật Bản, Mỹ và châu Âu, là những quốc gia rất mạnh về lĩnh vực văn phòng phẩm.          Khi bạn thay đổi công nghệ cũ bằng  một công nghệ mới tiên tiến hơn, cái đó gọi nôm na là đổi mới, nhưng đổi  mới sẽ không mang lại giá trị nếu thiếu đi sự sáng tạo.        Dĩ nhiên không ai có được quả ngọt mà không kỳ công chăm sóc. Để có được thành quả này, ngay từ năm 1994, Thiên Long đã có một nhóm kỹ thuật chuyên nghiên cứu thiết kế sản phẩm. Đây là nền tảng hình thành nên phòng Nghiên cứu và Phát triển (R&D) của công ty vào năm 2000 với ngân sách dành cho hoạt động đổi mới sáng tạo mỗi năm từ 3% – 5% tổng doanh thu của Tập đoàn.    Mặc dù R&D là trái tim của đổi mới sáng tạo nhưng sáng tạo là việc của tất cả các phòng ban, của mọi nhân viên chứ không riêng gì bộ phận R&D, ông Tâm nói thêm, nếu như bạn có những thiết kế tốt từ phòng nghiên cứu mà bộ phận sản xuất không đủ đổi mới để theo kịp ý tưởng thì cũng không ổn; rồi khi mọi thứ sản xuất đã ổn mà bộ phận marketing và bán hàng không sáng tạo để đưa sản phẩm ra thị trường đến tận tay người tiêu dùng thì sản phẩm dẫu có sáng tạo cũng chỉ là một sự thành công nửa vời.    Trả lời câu hỏi làm sao để tinh thần sáng tạo lan tỏa đến với tất cả phòng ban của công ty, ông Tâm nói, “Để làm được điều đó, vai trò người lãnh đạo hết sức quan trọng. Đơn giản thế này thôi, khi anh có một ý tưởng mới, trình bày với sếp mà bị gạt ngay thì làm sao có thể có sáng tạo được. Nhưng ngược lại, anh được lắng nghe, được khuyến khích, tôi tin ai cũng sẽ ‘sung’ hơn, không chỉ lần này mà còn nhiều lần khác”.    Một điều các doanh nghiệp đều biết, đó là đổi mới luôn đi kèm với rủi ro bởi là cái mới thì làm sao biết được có thể làm được hay không? Rồi làm được, sản xuất được nhưng thị trường có chấp nhận hay không lại là chuyện khác.     Thế nhưng có một điều chắc chắn là nếu không đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp sẽ rất khó để tồn tại trong môi trường đầy cạnh tranh hiện nay.    Vậy Thiên Long có cách nào để hạn chế rủi ro trong quá trình này?    Dĩ nhiên là có, ông Tâm nói và bổ sung thêm, đổi mới sáng tạo không có nghĩa là không có kỷ luật. Chính kỷ luật, làm theo từng bước, từng bước theo qui trình sẽ giúp công ty hạn chế bớt những rủi ro trong quá trình đổi mới sáng tạo.    Dĩ nhiên không doanh nghiệp nào chia sẻ chi tiết cho doanh nghiệp nào về bí mật quy trình thực hiện đổi mới sáng tạo, thế nhưng khi làm việc cùng với các đối tác lớn, hãy để ý tại sao họ làm thế này mà không phải thế kia, bạn sẽ học được rất nhiều điều hữu ích, ông Tâm bật mí.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo không phải là độc quyền của người trẻ      Nếu tin rằng các nhà khoa học xuất sắc đều đạt tới trạng thái sáng tạo nhất khi họ còn trẻ thì bạn đã nhầm lẫn. Một nghiên cứu mới về những người thắng giải Nobel trong kinh tế đã cho thấy có hai vòng đời sáng tạo khác nhau, một là do một số người ở giai đoạn đầu sự nghiệp và một là do những người trong giai đoạn sau của sự nghiệp.      Hai nhà kinh tế đoạt giải Nobel 2018 William Nordhaus và Paul Romer. Nguồn: Nobal Prize  Ở nghiên cứu này, một giai đoạn đỉnh cao trong nghiên cứu của những nhà khoa học đoạt giải là vào những năm ngoài 20 tuổi và đỉnh khác là giai đoạn những năm ngoài 50 tuổi. Nghiên cứu này cũng ủng hộ phát hiện của các nghiên cứu của trước, vốn tìm thấy những mẫu hình tương tự trong nghệ thuật và các ngành khoa học khác, ví dụ nghiên cứu của giáo sư kinh tế Bruce Weinberg (trường đại học Ohio) và Benjamin Jones (trường đại học Northwestern) trên PNAS năm 2011 khi phân tích dữ liệu về 525 giải Nobel được trao từ năm 1901 đến năm 2008 trong ba lĩnh vực – 182 trong vật lý, 153 trong hóa học và 190 trong y sinh để xác định thời kỳ các nhà khoa học thực hiện các công trình giúp họ đoạt giải.  “Chúng tôi tin rằng những gì mình tìm thấy trong nghiên cứu này không chỉ giới hạn với kinh tế mà còn có thể ứng dụng vào những ngành nghiên cứu khác”, Bruce Weinberg – tác giả chính của nghiên cứu cho biết. “Nhiều người vẫn tin tưởng rằng sáng tạo là ‘độc quyền” của giới trẻ nhưng thực tế là nó còn gắn với từng loại sáng tạo nữa”.  Ông đã thực hiện nghiên cứu này cùng với giáo sư kinh tế David Galenson (trường đại học Chicago) và xuất bản trên tạp chí De Economist.  Trong nghiên cứu, họ đã chỉ ra, những người thắng giải Nobel và là tác giả của những công trình nghiên cứu đặt nền tảng cho đột phá ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp nghiên cứu có xu hướng thành những người đổi mới sáng tạo về nhận thức. Kiểu các nhà sáng tạo “vượt ngoài khuôn khổ truyền thống” (think outside the box) thách thức sự từng trải, hiểu biết thông thường và có xu hướng đón nhận những ý tưởng đến một cách đột ngột. Các nhà đổi mới trong nhận thức hay “tóm” được nó trong giai đoạn đầu sự nghiệp, trước khi họ “thuộc lòng” các lý thuyết đã được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực này, Weinberg nói.  Nhưng vẫn còn một dạng khác của sáng tạo, ông cho biết, vốn được hình thành trong những nhà đổi mới “dựa trên kinh nghiệm”. Đó là những người tích lũy được hiểu biết thông qua quá trình nghiên cứu và tìm thấy các cách mang tính đột phá để phân tích, giải thích và tổng hợp để đem lại những cách hiểu mới. Những đổi mới sáng tạo mang tính thực nghiệm này cần các quá trình thử và sai lâu dài, vì thế chung có xu hướng xuất hiện vào giai đoạn cuối sự nghiệp của một nhà khoa học đoạt giải Nobel. “Việc anh có được sự sáng tạo trong giai đoạn đầu hay cuối của sự nghiệp phụ thuộc vào việc anh có cách tiếp cận về ý tưởng hay thực nghiệm”, Weinberg nhận xét.  Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một cách tiếp cận kinh nghiệm mới cho nghiên cứu này. Với 31 nhà khoa học đoạt giải Nobel về kinh tế, họ đã sắp xếp vào một danh sách, từ những người thuộc “phe kinh nghiệm” và “phe ý tưởng”, dựa trên các đặc điểm công trình của những nhà khoa học đoạt giải.  Ví dụ, các nhà kinh tế thuộc “phe ý tưởng” có xu hướng sử dụng các giả định, bằng chứng và phương trình và phần phụ lục toán học trong bài báo của họ, còn các nhà kinh tế thuộc “phe kinh nghiệm” chỉ phụ thuộc vào các kết luận trực tiếp từ thực tế, vì vậy các công trình của họ có xu hướng liên quan đến các mục đặc biệt như nơi chốn, thời kỳ, các ngành công nghiệp hay hàng hóa.  Sau khi phân loại các nhà khoa học đoạt giải, hai nhà nghiên cứu xác định tuổi tác vào thời điểm họ làm ra các công trình nghiên cứu quan trọng nhất và có thể được coi là đỉnh cao sáng tạo của họ.  Họ đã làm được điều này thông qua việc áp dụng một quy ước về việc các nhà nghiên cứu đánh giá giá trị và tầm ảnh hưởng của một công trình nghiên cứu. Một bài báo được coi là nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực của nó khi được nhiều nhà khoa học khác thảo luận hoặc trích dẫn bài báo trong công trình của mình. Vì vậy có nhiều trích dẫn hơn thì bài báo có nhiều ảnh hưởng hơn.  Weinberg và Galenson sử dụng hi phương pháp để tính toán ở độ tuổi nào những người đoạt giải Nobel được trích dẫn thường xuyên nhất và thời điểm nào và do đó là đỉnh cao sáng tạo của họ.  Hai phương pháp này tìm thấy thời điểm các nhà nghiên cứu thuộc “phe ý tưởng” đạt tới đỉnh cao là 25 hoặc 29 tuổi còn những nhà nghiên cứu thuộc “phe kinh nghiệm” là tầm 57 tuổi hoặc trong quãng 50 tuổi.  Phần lớn các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này đều tìm hiểu những khác biệt trong các độ tuổi đạt tới đỉnh cao sáng tạo giữa các lĩnh vực như vật lý với y học. Những nghiên cứu này về tổng thể đều tìm thấy những khác biệt nhỏ giữa các lĩnh vực, với sự đỉnh sáng tạo trong thời kỳ các nhà khoa học ở độ tuổi 30 hoặc đầu những năm tuổi 40 trong phần lớn các lĩnh vực.  “Những nghiên cứu đó đều quy những khác biệt trong các đỉnh cao sáng tạo tới bản chất tự nhiên của các lĩnh vực khoa học, không phải chính bản thân các nhà khoa học đang làm các nghiên cứu”, Weinberg nói.  “Nghiên cứu của chúng tôi nêu thời điểm sáng tạo nhất không hẳn là kết quả nghiên cứu mà là cách nhà khoa học thực hiện nghiên cứu đó”.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2011-11-breakthrough-scientific-discoveries-longer-dominated.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo kiểu Tàu hay Israel?      “Sáng tạo” đang là từ khoá “thời thượng”  nhất hiện nay trong cộng đồng doanh nghiệp trẻ Việt Nam. Rất nhiều công  ty Việt Nam đang đầu tư tiền của vào bộ phận R&amp;D, nhưng con đường  sáng tạo nào phù hợp với thị trường, con người và tiềm năng của nước ta?    Sáng tạo kiểu Trung Quốc  Người có ảnh hưởng lớn nhất đến ngành công nghiệp ôtô Mỹ, Henry Ford đã từng nói: “Nếu hỏi người tiêu dùng, họ sẽ chỉ muốn một con ngựa chạy nhanh hơn mà thôi!” Ngụ ý của Henry Ford là nếu dựa vào nhu cầu của người dân, chẳng bao giờ các công ty Mỹ đưa ra được sản phẩm đột phá. Đó lá cách tư duy của người Mỹ: dẫn đầu xu hướng, tạo ra sản phẩm hoàn toàn mới, ví dụ như Microsoft, Apple, Ford, Google, Facebook… Vậy người Trung Quốc, với tham vọng soán ngôi người Mỹ đang sáng tạo kiểu gì? Jack Ma, ông chủ của tập đoàn thương mại điện tử Alibaba lớn nhất thế giới, cho rằng: “Trung Quốc là nước đi sau, chúng tôi tốt nhất sáng tạo kiểu “vi mô” (micro-innovation)”. Alibaba, Tencent, và Baidu đều là những ví dụ của cách tư duy này. Tencent với phần mềm tin nhắn WeChat nhái lại Viber và WhatsApp đang đứng đầu toàn thế giới về số người dùng, gần 400 triệu người dùng, vượt gấp đôi WhatsApp và gấp ba lần Viber. Hiện tại, họ đang chuẩn bị mua lại Dianping.com, một sản phẩm bắt chước Yelp, trang web mạng xã hội về du lịch của Mỹ. Số lượng người dùng hàng tháng của Dianping.com là 130 triệu, tăng 186% so với năm ngoái. Theo Bloomberg, Dianping.com đang chuẩn bị IPO tại Mỹ với giá trị khoảng 1 tỉ USD. Baidu, “Google của Trung Quốc”, là công ty Trung Quốc đầu tiên lọt vào top 100 của NASDAQ, và giành hơn 70% thị trường tìm kiếm trực tuyến tại quốc gia tỉ dân này. Họ cũng giành hạng 5 toàn cầu trong bảng thống kê các trang web được truy cập nhiều nhất của Alexa vào tháng 5, 2014 vừa qua, chứng tỏ một vị thế vững chắc. Alibaba, “người khổng lồ đầu tiên của Trung Quốc”, là công ty ăn theo eBay của Mỹ. Với giao diện, cách thức giao dịch ban đầu, ý tưởng giống eBay một cách khó hiểu, Alibaba từng vấp phải nhiều lời chỉ trích của thế giới phương Tây. Nhưng hiện nay, họ là công ty thương mại điện tử lớn nhất thế giới, với tổng giá trị giao dịch lớn bằng eBay và Amazon.com gộp lại. Quá trình IPO của Alibaba cũng là một trong những thương vụ được mong chờ nhất thế giới, với giá trị ước tính hơn 100 tỉ USD.  Điều quan trọng nhất để các công ty Trung Quốc thành công chính là điều kiện kinh tế xã hội của cường quốc này quá thuận lợi: 1,3 tỉ dân, thu nhập bình quân đầu người đang tăng, sự hỗ trợ, bảo bọc của chính phủ… Chỉ cần chiếm 10% thị phần, các công ty đã có 130 triệu người dùng, con số mơ ước của các công ty Mỹ.  Và sáng tạo kiểu Israel  Israel, một quốc gia nhỏ xíu, ít tài nguyên, nhiều kẻ thù và bị bao vây bởi nhiều áp lực hơn, lại sáng tạo kiểu khác. Công ty tư vấn Sáng tạo – Systematic Innovative Thinking (SIT) của Israel sau hàng thập kỷ nghiên cứu và thay đổi cho phù hợp với môi trường đầy rủi ro của nước mình đã đưa ra một khái niệm mới: Sáng tạo từ những tài nguyên sẵn có. SIT cho rằng chính những rào cản mới thúc đẩy sức sáng tạo. Sáng tạo đã được Israel biến thành một nét văn hoá của quốc gia: họ đầu tư cho R&D nhiều nhất thế giới, 4,4% chi tiêu quốc gia, so với 2,5% của Mỹ. Năm 2013, tại New York chỉ có 60 dự án khởi nghiệp của Israel đến lập văn phòng để tìm kiếm đầu tư, thì nay con số đó đã là hơn 200.  Qua nhiều năm nghiên cứu các sản phẩm có sẵn trên thị trường, SIT đưa ra hai nguyên tắc chính: “Thế giới đóng”, và “Thứ tự tư duy: hình thái trước, chức năng sau”. “Thế giới đóng” có nghĩa, chúng ta không tự nhiên tạo ra sản phẩm mới, mà trước hết nên dùng các tài nguyên có sẵn quanh ta để thay đổi sản phẩm đang có. Nguyên tắc “Hình thái trước, chức năng sau” thì lại đề nghị các doanh nghiệp cứ thay đổi hình dạng trước, rồi hãy xác định công dụng mới cho sản phẩm. SIT đưa ra một số công cụ để thực hiện các nguyên tắc này, chủ yếu là thay đổi và sắp xếp thứ tự các thành phần cấu tạo nên sản phẩm. Các nguyên tắc này rất phù hợp với tình huống của người Israel. Dân tộc Israel bị hạn chế rất nhiều về tài nguyên thiên nhiên (chỉ có gần 8 triệu dân và đất đai thì hơn 50% diện tích là sa mạc), lịch sử phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá. Chính vì thế, người Israel tính toán mọi thứ rất kỹ lưỡng để hạn chế tối đa việc lãng phí, sản phẩm làm ra phải đáp ứng trực tiếp nhu cầu của người dùng để thành công nhanh, tránh rủi ro thay đổi tình hình chính trị xã hội. Hai thập kỷ nghiên cứu của SIT bao gồm việc phân tích rất nhiều sản phẩm nổi tiếng, so sánh chúng với đối thủ cạnh tranh, phân tích vì sao lại có kẻ thành công và thất bại, đồng thời tìm ra các hướng giải quyết phù hợp nhất với các công ty vừa và nhỏ, hoặc cho các dự án bị hạn chế về nguồn lực. Tính tới năm 2013, Israel đã có hơn 4.800 dự án khởi nghiệp với 70% trong đó đầu tư về công nghệ. Nhiều ví dụ cho các công cụ và nguyên tắc SIT đang hiện hữu quanh ta và rất phổ biến như: máy ATM (các nhà băng lược giản vai trò của nhân viên ngân hàng, tạo ra một chiếc máy có cùng chức năng, gọn nhẹ và tiết kiệm), hay máy tính bảng (các công ty tối giản và thay đổi cấu trúc của một chiếc máy tính để bàn cùng điện thoại di động để tạo ra một sản phẩm cầm tay mới mẻ và hữu dụng). Với việc một nửa diện tích là sa mạc, Israel, qua các công cụ này, đã tìm cách nuôi cá và trồng trọt ngay trong sa mạc với hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt và cảm ứng nhiệt để đảm bảo lượng nước tưới và hạn chế lãng phí. Hệ thống này đã giúp Israel tiết kiệm hàng trăm triệu USD mỗi năm và đưa nước này trở thành nhà cung cấp hoa màu lớn cho châu Âu; Hà Lan cũng đang phải mua hoa của Israel. Gần đây nhất, mạng xã hội của Israel dành cho dân lái xe hơi Waze – chia sẻ thông tin kẹt xe, các quán ăn, các địa điểm nghỉ chân… đã được Google mua lại với giá 1,3 tỉ USD.  Người Israel và Mỹ khi muốn thay đổi sản phẩm đều phải tự trả lời hàng trăm câu hỏi về tính khả thi, khả dụng và lợi ích dành cho công ty, khách hàng và người tiêu dùng. Để tiết kiệm và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp Việt Nam có thể thử cách làm của người Israel, hãy chọn ra một sản phẩm chủ chốt, liệt kê các thành tố của nó, thay đổi thứ tự sắp xếp hay số lượng thành tố, tạo ra sản phẩm mới và xác định công năng mới, các lợi ích. Thực dụng và hiệu quả như người Israel, hãy bắt đầu sáng tạo với những tài nguyên có sẵn quanh ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo: Tại sao “đủ tốt” vẫn là chưa đủ?      Tôi vừa có hai tháng ở Đan Mạch, “đất nước  hạnh phúc nhất thế giới” theo báo cáo từ đại học British Columbia. Càng  tìm hiểu về khái niệm này, tôi càng lo lắng về tính sáng tạo, và về…  Việt Nam. Nhưng trước tiên, hãy nói về Đan Mạch. Người Đan Mạch nói họ  có vài lý do để hạnh phúc, và ít nhất có hai nền tảng.    Một là, họ có “tấm lưới bảo vệ” bảo đảm. Không ai vô gia cư hay thiếu đói. Mọi người đều được chăm sóc sức khỏe. Giáo dục miễn phí cho mọi công dân từ mầm non đến đại học. Dù thuế rất cao, nhưng phúc lợi cũng rất cao.     Thứ hai, người Đan Mạch không có những kỳ vọng hay ước muốn quá cao. Người Đan Mạch không nói đến chuyện muốn thứ gì đó lớn hơn, tốt hơn, nhanh hơn như nhà cửa, công nghệ, hay xe hơi. Họ mua những sản phẩm chất lượng, dùng trong thời gian dài và không đòi hỏi những thiết bị mới nhất, sang nhất, “xịn” nhất. Chẳng hạn vì giá xăng rất cao nên họ mua nhà gần nơi làm việc và dùng xe đạp thay vì xe hơi như người Mỹ. Hơn 50% người ở Copenhagen đi làm bằng xe đạp suốt cả năm, bất kể thời tiết.  Thay vì tập trung vào sản phẩm, nhiều người Đan Mạch cho biết họ quan tâm đến trải nghiệm cuộc sống, những kỳ nghỉ, hay dành thời gian cho gia đình và bạn bè. Họ có nhiều kỳ nghỉ lễ, nghỉ phép trong năm, và luôn tận hưởng chúng trọn vẹn. Cuộc sống của họ thế là tốt, một số sẽ nói là “đủ tốt”, vậy bon chen thêm để làm gì?  Mặc dù ý nghĩ “hài lòng với cuộc sống đủ tốt” thật đáng ngưỡng mộ, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi thái độ “đủ tốt rồi” dẫn đến tính tự mãn? Nếu điều đó xảy ra, tính tự mãn có thể bóp chẹt sự sáng tạo.  Từ đó tôi nghĩ đến Việt Nam  Cuộc sống người Việt Nam đang nhanh chóng cải thiện nhờ kinh tế phát triển, nhiều cơ hội tiếp cận hơn, nhiều lựa chọn với nhà ở, chăm sóc sức khỏe hay giáo dục. Tuy vậy, một số đồng nghiệp Việt Nam của tôi lo ngại là sẽ chạm đến ngưỡng “sống thế đủ tốt rồi” và không cố để tốt hơn nữa.  Những nhà kinh tế học nghiên cứu về hạnh phúc (vâng, đúng là có lĩnh vực này và có người nghiên cứu 20 năm) có thể cho là đạt đến trạng thái hài lòng với hoàn cảnh của mình là điều tích cực, và đúng – có thể tích cực lắm chứ! Nhưng liệu sự hài lòng có dẫn đến thái độ “chúng ta làm theo cách đấy và đạt được kết quả vậy sao phải tìm cách khác?” Nếu không có khao khát tìm kiếm ý tưởng mới, khởi tạo công ty mới, hay tìm giải pháp cho vấn đề, thì cá nhân, công ty, hay quốc gia có thể trở nên trì trệ và tự mãn. Nếu có quá nhiều người hài lòng với hoàn cảnh hiện tại, họ sẽ mất động lực, năng lượng và trí tò mò – những phẩm chất mà tôi nhìn thấy ở người Việt Nam trong những năm qua. Nếu thế, làm sao để đất nước tiến tới trước?  Tin tốt với Việt nam là dự án về tính đổi mới đã đưa ra nhiều ví dụ về những công ty và lãnh đạo nổi bật từ chối dừng lại khi ở ngưỡng “đủ tốt”.  Dự án i2Metrix được các nhà nghiên cứu Việt Nam, Thái Lan và Mỹ phát triển, đánh giá cách thức đổi mới toàn diện trong các doanh nghiệp Việt Nam. Những thông số đa chiều trong khảo sát sẽ đánh giá những khía cạnh sáng tạo, đổi mới, hiệu quả của công ty. Kết quả ban đầu từ 19 doanh nghiệp cho thấy phần nhiều trong số họ đã làm theo những cách thức sáng tạo và đổi mới từng được nghiên cứu. Một vài trong số đó đã nhận được giải thưởng từ bộ Khoa học và Công nghệ.  Điều thú vị là, khi phỏng vấn các vị điều hành công ty (một số buổi kéo dài 5-6 giờ), 50% nhà điều hành đánh giá tính hiệu quả và đổi mới trong doanh nghiệp họ là “thấp hơn mức trung bình”. Nghĩa là dù công ty họ nhận được giải thưởng nhờ khuyến khích và áp dụng đổi mới, nhiều lãnh đạo vẫn chưa hài lòng. Chẳng hạn nữ chủ tịch một công ty trang sức có tiếng trích câu thơ bà ưa thích trong bài La Bégueule (Cô nàng cả thẹn) của Voltaire, trong đó Voltaire dẫn lời người Ý thông thái nói rằng: “Điều tốt nhất là kẻ thù của điều tốt”. Nói cách khác, trở nên hoàn hảo sẽ làm cho người ta dừng phấn đấu. Và phấn đấu không ngừng là mục tiêu của nhiều nhà lãnh đạo tìm kiếm sự đổi mới.  Bài học về Đan Mạch có thể hữu ích cho Việt Nam: niềm hạnh phúc sẽ thật tuyệt vời nếu như sự hài lòng không làm ta tự mãn. Vậy khi bạn điều hành công ty, liệu bạn có dừng lại ở ngưỡng “đủ tốt?”  hay bạn vẫn tiếp tục thử làm những cách khác để giúp công ty và đất nước bạn tốt hơn nữa?    * GS. TS Nancy K. Napier là Giám đốc Trung tâm Sáng tạo & Đổi mới – COBE – ĐH Boise State (Idaho, Mỹ), học giả nổi tiếng nghiên cứu về sáng tạo trong tổ chức, doanh nghiệp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo theo trường phái TRIZ: Chông gai nhưng hấp dẫn      Lịch sử phát triển của loài người luôn gắn liền với các hoạt động sáng tạo, từ việc tìm ra lửa, chế tạo các dụng cụ săn bắn, hái lượm tới việc chế tạo các tàu vũ trụ khám phá không gian. Do đó từ lâu các nhà khoa học đã tìm cách nghiên cứu và “làm chủ” tư duy sáng tạo. Ngay từ thế kỷ thứ 3, nhà toán học Pappos đã bắt đầu nghiên cứu về tư duy sáng tạo. Tuy nhiên đối tượng “bí hiểm” này đã làm đau đầu rất nhiều nhà nghiên cứu. Nhiều người cho rằng “sáng tạo” là hoạt động hoàn toàn dựa vào các yếu tố mang tính chất cá nhân, phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý con người và bối cảnh mà người đó hoạt động. Do đó việc làm chủ và phát triển nó sẽ là “không tưởng”. Nhưng có một người đã không nghĩ như vậy.      Genrikh Saulovich Altshuller, người sáng lập trường phái TRIZ.  Một tư duy hoàn toàn mới  Chàng trai người Nga, gốc Do Thái Genrikh Saulovich Altshuller có tiềm năng rất lớn trở thành nhà sáng chế. Năm 14 tuổi, khi mới còn là một cậu học sinh, chàng trai này đã sở hữu vài bằng chứng nhận tác giả sáng chế. Sau khi tốt nghiệp Đại học công nghiệp, Altshuller hào hứng tham gia hạm đội Lý Hải với vai trò chuyên viên về patent. Khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Altshuller đã viết thư cho Stalin và chính quyền phản đối việc Liên Xô đồng ý chuyển giao cho Mỹ toàn bộ thư viện lưu trữ sáng chế của Đức để đổi lấy thiết bị luyện thép, in ấn. Altshuller cho rằng số thiết bị kỹ thuật đó sau 20 năm sẽ chỉ còn là đống sắt vụn, trong khi đó những phát minh sáng chế kia mới bắt đầu phát huy tác dụng và nó có giá trị lâu dài. Sau lá thư này có vẻ như Altshuller đã được “ưu ái” cho vào sổ đen của KGB. Năm 1949, sau khi cùng người bạn R. Shapiro tìm ra công thức một loại thuốc nổ rất mạnh, với tinh thần cống hiến hai người đã viết thư cho lãnh tụ Stalin với mong muốn giúp tăng thêm sức mạnh cho quân đội. Tuy nhiên hai chàng trai tuổi đôi mươi không thể ngờ rằng, sau lá thư đầy tâm huyết là một sự “hiểu lầm” về một âm mưu đánh bom quảng trường Đỏ, họ đã phải nhận mức án 25 năm tù. Thật là nghiệt ngã, đó là cú đánh trời giáng cho những khát vọng của 2 chàng trai trẻ tuổi. Điều kiện sống và lao động vô cùng khắc nghiệt trong tù vẫn không làm mai một đi ý chí về một tương lai của hoạt động sáng chế. Một mặt Altshuller vẫn theo đuổi các ý tưởng về hoạt động sáng chế, mặt khác ông kiên quyết đấu tranh để đòi lại công lý cho bản thân. Sau khi Stalin chết, họ đã được trả tự do và khôi phục lại danh dự sau 5 năm ngồi tù.  Năm 1956 Altshuller và Shapiro công bố bài báo đầu tiên về vấn đề sáng tạo sáng chế với cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt so với các nghiên cứu về sáng tạo thời bấy giờ: “Sáng tạo sáng chế làm thay đổi các hệ thống kỹ thuật mà các hệ thống này phát triển theo các quy luật khách quan nhất định, không phụ thuộc tùy tiện vào tâm lý chủ quan của các nhà sáng chế. Do vậy, chỉ có thể nâng cao năng suất và hiệu quả quá trình sáng tạo sáng chế, khi nhà sáng chế nắm vững các quy luật phát triển khách quan đó và biết điều khiển tâm lý chủ quan của mình theo chúng”. Đây là bước đột phá hoàn toàn mới trong cách tiếp cận về việc nghiên cứu đối tượng rất “bí hiểm” là tư duy sáng tạo.  Đại học sáng tạo sáng chế  Đang hào hứng với những ý tưởng mới thì một điều không may lại xảy ra, người đồng nghiệp tâm đầu ý hợp Shapiro đã chuyển sang sinh sống ở Israel. Không nản chí,  Altshuller vẫn nỗ lực hết mình để xây dựng lên một lý thuyết khổng lồ mà ông đặt tên là Lý thuyết giải các bài toán sáng chế – TRIZ. Các nội dung cơ bản của TRIZ bao gồm: 40 thủ thuật sáng tạo, bảng khử các mâu thuẫn kỹ thuật, 76 chuẩn, 11 biến đổi mẫu, phương pháp mô hình hóa bài toán bằng những người tý hon và chương trình ARIZ. Sau khi xây dựng được một lý thuyết vững chắc, năm 1971 Altshuller đã cộng tác với Hội đồng trung ương Hiệp hội toàn liên bang các nhà sáng chế và hợp lý hóa Liên Xô (VOIR) thành lập Trường đại học sáng tạo sáng chế đặt tại thành phố Baku.  Các môn học chính được đào tạo trong trường gồm:      + Phương pháp luận sáng tạo (gồm TRIZ là chính và các phương pháp của các trường phái khác).      + Môn học phát triển trí tưởng tượng sáng tạo.      + Tâm lý học sáng tạo.      + Lý thuyết hệ thống.      + Lý thuyết thông tin.      + Điều khiển học.      + Lý thuyết ra quyết định.      + Patent học.      + Các phương pháp dự báo.      + Lịch sử phát triển khoa học – kỹ thuật.  Với những tư tưởng liên tục sáng tạo, đổi mới nhưng Altshuller lại bị cản trở bởi một hệ thống được vận hành theo cách vô cùng bảo thủ, trì trệ của VOIR. Không giải quyết nổi mâu thuẫn, Altshuller đã chia tay VOIR và kết thúc hoạt động của Đại học sáng tạo sáng chế sau khi hoàn thành được 2 khóa đào tạo. Mặc dù thế Altshuller vẫn cùng với các học trò xuất sắc của mình tiếp tục truyền bá TRIZ thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn. Cho tới những năm 1980, đã có hàng trăm thành phố ở Liên Xô mở các trường, trung tâm, câu lạc bộ đào tạo về TRIZ, hiệp hội TRIZ được thành lập năm 1989, tạp chí về TRIZ được thành lập năm 1990, hàng loạt sách về TRIZ được xuất bản. Một phong trào TRIZ được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Liên Xô. Những hoạt động của Altshuller đã góp phần cho sự ra đời của hơn 2.000 phát minh, sáng chế.  Cập bến Việt Nam  Ở Việt Nam, một chàng trai trẻ tên là Phan Dũng có một nỗi ấm ức và câu hỏi thường trực trong đầu: “Trước khi làm thì không ai dạy nghĩ cả, chỉ chờ làm sai thì mắng. Các môn Toán, Lý, Hóa đều có quy luật cả vậy trong suy nghĩ có quy luật không? Tại sao không thấy dạy ở phổ thông hay phải học lên cao nữa?, Tại sao mình không tự tìm hiểu cách nghĩ của chính mình?”. Năm 1967 Phan Dũng được cử đi học chuyên ngành vật lý thực nghiệm ở Liên Xô. Tuy được du học nhưng nỗi ấm ức đó vẫn không nguôi ngoai trong lòng. Và như một sự may mắn thần kỳ, chàng sinh viên Phan Dũng đã gặp được TRIZ. Như cá gặp nước, Phan Dũng đã lĩnh hội trọn vẹn TRIZ trực tiếp từ Altshuller thông qua khóa học đầu tiên ở Đại học sáng tạo sáng chế. Trở về Việt Nam Phan Dũng đã nỗ lực hết mình mang những kiến thức của TRIZ để phổ biến cho mọi người. Tuy nhiên ông đã gặp phải một vấn đề rất lớn, đó là TRIZ được xây dựng với mục đích chủ yếu để giúp các kỹ sư với những kiến thức kỹ thuật tương đối tốt thuận lợi hơn trong việc có được các bằng sáng chế. Vì thế việc triển khai giảng TRIZ thuần túy là không thực sự khả thi đối với điều kiện xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Vậy làm thế nào để đông đảo mọi người với những kiến thức ở mức độ phổ thông cũng có thể tiếp cận được với TRIZ? Ông đã dầy công tùy biến, chắt lọc, bổ sung những kiến thức của TRIZ để đông đảo mọi người có thể tiếp cận được. Việc thành lập được Trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật (TSK) ở Đại học Quốc gia TP.HCM vào năm 1991 là điều kiện thuận lợi vô cùng lớn cho việc phổ biến TRIZ tại Việt Nam. Đồng thời PGS.TSKH Phan Dũng còn có những bước đi phù hợp để có thể hội nhập với quốc tế trong lĩnh vực này. Ông đã có nhiều công bố quốc tế, được nhiều nước mời nói chuyện, giảng dạy về TRIZ. “Tính đến hết tháng 4 năm 2003, TSK đã thực hiện được 210 khóa cơ bản và 13 khóa trung cấp PPLST với khoảng 10.000 người tham dự từ đủ mọi thành phần kinh tế, xã hội, tuổi từ 15 đến 72, trình độ từ phổ thông đến tiến sỹ, từ người bình thường đến thứ trưởng đương chức, cựu bộ trưởng”.  Tôi có may mắn được tham gia khóa học 2 tháng chương trình sơ cấp về TRIZ với PGS.TSKH Phan Dũng. Sau đó tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thêm kiến thức về TRIZ và đã đưa thành môn học chính khóa cho các lớp chất lượng cao của một số khoa trong Trường Đại học công nghiệp Hà Nội. Các buổi học về TRIZ là những trải nghiệm vô cùng thú vị đối với sinh viên. Những kiến thức mới lạ, bổ ích cùng với cách thức thảo luận và dùng công cụ của TRIZ để giải quyết các tình huống thực tế đã tạo cảm hứng học tập rất lớn cho họ. Một trong những sinh viên có được cảm hứng lớn lao đó đã phổ thơ toàn bộ cuốn giáo trình dày tới mấy trăm trang. Bên cạnh đó, tôi đã tiến hành tổ chức nhiều buổi hội thảo giới thiệu, giảng dạy TRIZ cho cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức, viện nghiên cứu và các trường đại học.  Vươn ra thế giới  Sau sự kiện Liên Xô tan rã vào năm 1991, nhiều nước đã biết đến TRIZ và tìm cách du nhập, phổ biến rộng rãi hơn. Một số trường đại học đưa TRIZ vào giảng dạy cho sinh viên. Các viện nghiên cứu, hiệp hội về TRIZ được thành lập, nổi bật trong số đó là Altshuller Institute được thành lập năm 1996 ở Mỹ. Đặc biệt, một số tập đoàn công nghệ lớn đã sử dụng TRIZ như một vũ khí lợi hại trong việc cạnh tranh về sở hữu trí tuệ. Điển hình là hãng Samsung đã áp dụng TRIZ rất thành công. Họ đã thành lập viện nghiên cứu và ứng dụng để có thể triển khai TRIZ một cách bài bản, có hệ thống. Từ năm 2001 đến 2014 họ đã đào tạo được 32.881 cán bộ, nhân viên của tập đoàn. Samsung còn khẳng định “TRIZ là kỹ năng bắt buộc nếu muốn thăng tiến tại Samsung”. Nhờ áp dụng TRIZ một cách quyết liệt, có hệ thống mà số lượng bằng sáng chế của Samsung đã tăng vọt. Năm 2016 họ có 5.518 bằng sáng chế và đứng thứ 2 trong số các tập đoàn công nghệ lớn, chỉ sau IBM với 8.088 bằng.  Câu hỏi còn bỏ ngỏ  Việt Nam đã có những lợi thế rất lớn trong việc phát triển TRIZ khi chúng ta có tới 6 người được học trực tiếp Altshuller, tất cả đều tốt nghiệp Trường Đại học sáng tạo sáng chế. Tuy nhiên có vẻ chúng ta đã để lỡ một chuyến đò quan trọng. Những thành công của PGS.TSKH Phan Dũng chỉ mang dấu ấn cá nhân. Những nỗ lực của một người dù có cố gắng đến mức nào cũng đều gặp phải những giới hạn nhất định. Nếu chúng ta có một chính sách tốt của các cơ quan quản lý nhà nước thì sẽ tạo ra những bước chuyển biến tích cực, rộng khắp hơn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa ý thức hoặc không đủ nguồn lực đầu tư để sở hữu và khai thác các bằng sáng chế, từ đó có thể cạnh tranh được với những tập đoàn công nghệ lớn trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Gần đây đã có những nỗ lực lớn hơn của các viện nghiên cứu, các tập đoàn công nghệ trong việc sở hữu và khai thác các bằng sáng chế. Tuy nhiên số lượng sáng chế của Việt Nam được đăng ký tại Mỹ còn rất khiêm tốn, trung bình mỗi năm chúng ta chỉ đăng ký được khoảng 1 sáng chế. Tôi luôn tự hỏi: liệu có mối tương quan gì giữa việc có ít bằng sáng chế với việc phát triển TRIZ nói riêng và các hoạt động thúc đẩy sáng tạo và đổi mới nói chung của chúng ta hay không?  Một tín hiệu đáng mừng là gần đây, một số tập đoàn lớn như FPT, Viettel, CMC đã có những bước đi đầu tiên trong việc tìm hiểu về TRIZ để triển khai cho hoạt động R&D. Tuy nhiên kết quả thế nào thì còn phải chờ câu trả lời của … thời gian.  Tài liệu tham khảo:  http://www.tienphong.vn/van-nghe/cuoc-doi-cay-dang-va-nhan-cach-doc-dao-cua-mot-nha-van-mot-nha-khoa-hoc-23892.tpo  http://www.cstc.vn  http://www.triz.edu.vn  https://www.forbes.com/sites/haydnshaughnessy/2013/03/07/why-is-samsung-such-an-innovative-company/#3ecf269e2ad7  http://www.xtriz.com/publications/ValeriSouchkov-TRIZ-in-the-World.pdf  https://www.scribd.com/document/101079483/TRIZ-Development-at-Intel-Corporation  http://www.networkworld.com/article/3155506/data-center/ibm-scores-most-patents-in-2016-apple-doesnt-crack-top-10.html  http://baophapluat.vn/kinh-te/vi-sao-viet-nam-it-dang-ky-sang-che-166577.html    Author                Nguyễn Minh Tân        
__label__tiasang Sáng tạo: Tự do và trí tuệ      Chưa bao giờ chữ sáng tạo được nhắc đến nhiều như hiện nay. Có lẽ vì chưa bao giờ nhu cầu về sáng tạo cũng như đòi hỏi phải giải phóng sự sáng tạo lại bức bách như hiện nay. Không phải chỉ do sự cám dỗ và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mà gần gũi trước mắt nhất là cảm giác về sự tụt hậu của đất nước. Nhưng sáng tạo không phải do ý chí mà có được, càng không phải là một phong trào, một khẩu hiệu. Sáng tạo đòi hỏi trước hết phải có một nền tảng. Nền tảng đó là gì? Đó là TỰ DO và TRÍ TUỆ.      Nghiên cứu tổng hợp vật liệu mới tại phòng thí nghiệm tự chủ của TS. Trần Đình Phong, Đại học KH&CN Hà Nội. Ảnh: Châu Long.  Người ta chỉ có thể sáng tạo khi tự do. Tự do về tinh thần, tự do với cơm áo. Lao động bị cưỡng bức, lao động kiếm sống khó mà sáng tạo. Nhưng sáng tạo cũng có hai mức. Trong trường hợp người công nhân hoặc nông dân được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi những ràng buộc về cơ chế, họ sẽ lao động hết sức mình, tìm mọi cách để làm thật tốt công việc và do đó có thể có những sáng kiến, cải tiến để đạt được năng suất, hiệu quả cao nhất. Đó cũng là sáng tạo. Nhưng ở một mức cao hơn, khi xã hội hay kinh tế phát triển, khi khoa học và kỹ thuật đòi hỏi phải có những lối đi mới, những cách nhìn mới, những giải pháp và sáng chế, phát minh mới, vấn đề sáng tạo không chỉ dừng ở thái độ lao động, ở sáng kiến hay cải tiến mà trở thành vấn đề của tư duy, của nhận thức. Sáng tạo của nhận thức, của tư duy mới thực sự đem lại những đột phá, những kết quả sáng tạo mới mẻ, tạo ra những bước ngoặt, bước nhảy. Vậy làm thế nào để có được sáng tạo của nhận thức, của tư duy?  Albert Einstein nói: “Cái mà tôi cho là có giá trị đích thực trong các hoạt động của con người không phải là nhà nước, mà là cá thể sáng tạo và cá thể cảm nhận, là cá nhân: chỉ cá nhân mới [vượt lên] tạo dựng được những giá trị trân quý và cao cả, trong khi bầy đàn, xét như bầy đàn, cứ mãi vẫn là trì độn trong tư duy và trì độn trong cảm xúc” (Thế giới như tôi thấy, NXB. Tri thức, 2006, tr.19).  Chính sự phát triển của cá nhân, của “cá thể sáng tạo” là đảm bảo cơ bản nhất cho sáng tạo. Nhưng “cá thể sáng tạo” này không tự xuất hiện, không phải bỗng dưng mà có. Nó hình thành trong quá trình lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân tộc và đặc biệt phụ thuộc vào chế độ chính trị – xã hội của mỗi quốc gia, vào quan niệm, dân trí của xã hội. Chỉ khi nào con người được giải phóng hoàn toàn, nhất là giải phóng về tinh thần, chừng nào con người không còn bị coi là công cụ của lịch sử, của cách mạng, không chỉ biết làm theo mệnh lệnh, chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời, không bị xem chỉ như một hạt cát nhỏ trong khối quần chúng khổng lồ hay chỉ như nô lệ của thánh thần, khi đó mới có thể xuất hiện những “cá thể sáng tạo”, những người có khả năng tự nộp mình cho chân lí, cho khoa học, dám sống hết cho những đam mê, tìm tòi, khám phá, dám vượt qua chính mình, vượt qua những thành kiến, những điều cấm kỵ để đi tới những nhận thức mới, những phát kiến mới. Những tấm gương khởi nghiệp hiện nay là những dấu hiệu tốt của sự vượt lên ấy, chứng tỏ một cái gì đó đang chuyển động. Chỉ tiếc hiện tượng này mới phổ biến trong giới trẻ say mê kinh doanh và kỹ thuật, còn trong các lĩnh vực khác, trong hoạt động xã hội, trong khoa học, đăc biệt là khoa học xã hội, còn hết sức ít ỏi. Phải chăng ở đây vẫn còn những vòng kim cô, những bức tường vô hình nào đó?  Một xã hội tự do, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cá nhân sẽ là nền tảng vững chắc của sáng tạo. Bởi vì khi tự do và được tự do, tự do không phải theo kiểu được phép tha hồ nhảy múa, nhào lộn trong một vòng tròn giới hạn vạch sẵn hay thoải mái tung bay trên con đường độc đạo thẳng tắp chạy đến cái đích đã nhìn thấy trước, tức là khi thực sự tự do con người mới có thể phát huy hết năng lực của mình và sáng tạo chính là kết quả thăng hoa của sự phát triển tự do của cá nhân.  Nhưng sáng tạo không phải là một hành động thuần ý chí. Sáng tạo trước hết là hành động trí tuệ. Sáng tạo bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức, từ sự tự vận động, vận động bên trong của tri thức. Tri thức có tính chất nội sinh, tri thức sản sinh tri thức. Sáng tạo là con đẻ của quá trình sản sinh tri thức. Chúng ta vẫn thường kêu tại sao nước mình rất nhiều trí thức, nhiều người có bằng cấp, học vị cao mà lại ít có những công trình nghiên cứu có giá trị, ít có những phát minh, sáng chế. Đó một phần là vì trong đội ngũ đông đảo trí thức này ít người thật sự đeo bám tri thức, say mê sáng tạo, theo đuổi sự học đến cùng. Người ta đi thi, đi học cốt để có cái bằng, cái danh, để cho đủ tiêu chuẩn của một chức danh, chức vụ nào đó là chính chứ không phải để có điều kiện hiểu biết nhiều hơn, để vươn tới những chân trời khoa học xa hơn, khám phá điều gì đó chưa được nói tới, những vấn đề nào đó đang đặt ra trước giới nghiên cứu, trước xã hội. Thông thường trong những trường hợp như vậy tri thức khoa học có được chỉ vừa với một cái bằng chứ không đủ để sáng tạo. Tri thức được dùng như phương tiện không phải là tri thức có tính chất sản sinh. Khoa học đích thực rất vô tư, vô tư không phải theo nghĩa nó lơ lửng ở trên trời, không dùng được vào việc gì mà vô tư theo nghĩa nó chỉ có mục đích tối cao là sáng tạo.      Chính sự phát triển của cá nhân, của “cá thể sáng tạo” là đảm bảo cơ bản nhất cho sáng tạo. Nhưng “cá thể sáng tạo” này không tự xuất hiện, không phải bỗng dưng mà có. Nó hình thành trong quá trình lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân tộc và đặc biệt phụ thuộc vào chế độ chính trị – xã hội của mỗi quốc gia, vào quan niệm, dân trí của xã hội.        Sáng tạo còn gắn với trí tuệ về một phương diện nữa: đó là không có trí tuệ thì không thể sáng tạo. Dĩ nhiên sáng tạo cũng có nhiều mức, nhiều loại. Nhưng cái chúng ta đang thiếu và đang cần hiện nay không phải chỉ là sáng tạo theo kiểu cải tiến nhỏ lẻ, chắp vá, cóp nhặt mà là sự thay đổi căn bản trong nhận thức, tư duy, gắn với phát minh, sáng chế. Có lẽ trong thời đại hiện nay cách nghĩ theo lối “ vận dụng sáng tạo”, “đi tắt đón đầu”, kiểu tư duy“ nhà nhà làm gang thép” không còn thích hợp nữa. Có nhiều người cho rằng người Việt mình có biệt tài về “tư duy lắp ghép” (bricolage) và xem đó như sức mạnh và đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Quả thật đây là cách nghĩ, cách làm khá điển hình của người Việt, nhưng nếu nói nó là sức mạnh thì đó là sức mạnh chỉ có thể phát huy trong một nền văn hóa tồn tại chứ không thể đáp ứng  nhu cầu của nền văn hóa phát triển. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và sự phát triển kinh tế – xã hội đang diễn ra trên thế giới mang một hàm lượng trí tuệ rất cao. Đó không phải là sự thay đổi nhỏ lẻ mà là sự biến đổi mang tính chất hệ hình (paradigm). Bởi vậy muốn có sáng tạo phải có cách nghĩ khác, có chính sách khác.  Một trong những việc nhà nước phải làm hiện nay là bên cạnh việc “khai dân trí” cần thay đổi quan niệm về trí thức, xem trí thức như lực lượng đi đầu trong công cuộc canh tân đất nước, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đặc biệt cần quan tâm vun đắp và trân trọng sự cống hiến của tầng lớp trí thức tinh hoa, những người có thực tài, có tâm huyết với khoa học, với đất nước. Chúng ta có khá nhiều “nhà khoa học”, nhiều người có học vị học hàm và hằng năm nhà nước cũng tiêu tốn khá nhiều tiền chi cho các đề tài nghiên cứu, nhưng kết quả thu được không tương xứng, lãng phí rất nhiều, rất ít những công trình có sáng tạo đột phá, đóng góp có giá trị cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, cho tiến bộ của khoa học – kỹ thuật. Tài năng vốn bao giờ cũng hiếm. Bởi vậy nhìn ra được người có thực tài, trân trọng “nguyên khí của quốc gia”, tạo điều kiện để người có tài phát huy hết khả năng sáng tạo và cống hiến không chỉ thể hiện sự khôn ngoan của nhà cầm quyền mà còn là việc làm rất thiết thực trong tình hình hiện nay.  Cuối cùng nói đến đổi mới sáng tạo không thể không nói đến vấn đề điều kiện, môi trường làm việc. Nhà khoa học dĩ nhiên cũng phải sống thì mới có thể làm việc được. Nhưng với những người làm khoa học thực sự, sự ưu đãi về điều kiện sống không quan trọng bằng điều kiện làm việc. Cái cần nhất với những người làm khoa học là môi trường làm việc. Một môi trường làm việc thân thiện trong đó mỗi người được tự do suy nghĩ, có ý kiến, trong đó mọi người đều được tôn trọng và tôn trọng nhau, cùng hợp tác với nhau, không ghen ghét, đố kỵ, trân trọng những thành công của nhau là điều kiện đầu tiên và thiết yếu để có thể khám phá, sáng tạo. Bên cạnh môi trường xã hội và nhân văn ấy, một môi trường vật chất – kỹ thuật cũng là điều kiện không thể thiếu đối với người muốn tìm tòi, người làm khoa học. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay việc cung cấp những điều kiện vật chất để làm việc như sách vở, phòng thí nghiệm, mạng Internet…không còn khó khăn như trước. Cái khó nhất có lẽ vẫn là môi trường xã hội – nhân văn, quan hệ con người.  Thông thường thiếu cái gì hay kêu gọi cái ấy. Báo chí hay nói đến chuyện tử tế là vì ai cũng thấy trong xã hội hiện nay đâu đâu cũng có quá nhiều chuyện không tử tế. Kêu gọi đoàn kết hay chống tham nhũng có lẽ đại loại cũng như vậy. Chúng ta nói nhiều đến sáng tạo, đổi mới sáng tạo cũng không nằm ngoài tình trạng ấy. Nhưng cũng giống như chống tham nhũng hay khôi phục lối sống tử tế, ngoài khẩu hiệu, những lời kêu gọi hay chính sách cụ thể, cái quan trọng là phải thay đổi “tư duy hệ hình”, tức là phải thay đổi một cách căn bản, thay đổi hệ thống. Ở các nước có chỉ số sáng tạo cao vấn đề nền tảng – tự do và trí tuệ –  không còn đặt ra cấp bách; quan trọng với họ là định hướng và đầu tư. Tình hình nước ta hiện nay có khác. Do đó đổi mới sáng tạo là điều không thể làm được ngay một lúc. Ở đây không chỉ có vấn đề cơ chế, chính sách cụ thể hay đầu tư tài chính – cơ sở vật chất mà còn có những vấn đề nền tảng gắn với sự hình thành con người tự do, hình thành những “cá thể sáng tạo”, gắn với dân trí, với giáo dục.  Nhưng đó lại là những vấn đề không thể muốn là có ngay, bởi vậy mặc dù không còn chần chừ được nữa mà phải làm ngay, song cũng không nên duy ý chí, vội vã.                                                                                                                                                      Author                Lê Ngọc Trà        
__label__tiasang Sáng tạo xe đa chức năng giá rẻ cho nông dân      Tận dụng được những bộ phận máy móc cũ từ  tiệm sửa xe của mình. ông Nguyễn Cao Thượng (ấp Vĩnh Phước 1, thị trấn  Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang) đã sáng tạo ra chiếc máy có tới năm sáu  công dụng khác nhau, vừa có thể phun thuốc trừ sâu, sạ lúa, bón phân,  vừa cắt được gốc rơm rạ, thu gom rác…     Chiếc máy này còn có ưu điểm hoạt động trên mọi địa hình phức tạp và đem lại an toàn cho người điều khiển, ngay cả khi phun thuốc trừ sâu.  Ông Nguyễn Cao Thượng quê ở Mỹ Phước, huyện Long Xuyên, tỉnh An Giang nhưng do cuộc sống đã về Kiên Giang lập nghiệp năm 1999. Nghề của ông là thợ sửa máy Vanguard.  Cảnh bà con nông dân vất vả làm ruộng mà năng suất không cao khiến ông Nguyễn Cao Thượng nảy ra sáng kiến chế tạo một chiếc máy sạ lúa cho bà con trên cơ sở cải tiến những chiếc máy ông đã từng chế tạo trước đây. Tận dụng những bộ máy cũ lấy từ xe gắn máy trong tiệm của mình để làm động cơ cho xe, ông Thượng đã hình thành chiếc xe sạ lúa. Dần dần, ông bổ sung bồi đắp cho nó thêm nhiều tính năng để vừa có thể sạ lúa vừa có thể phun thuốc trừ sâu, bón phân, cắt được gốc rơm rạ, thu gom rác…   Ban đầu, ông sử dụng dùng nhiên liệu dầu diezel để chạy máy nhưng xe lại cồng kềnh, khó di chuyển ở vùng đất thiếu bằng phẳng, ruộng trũng. Vì vậy ông tiếp tục tìm cách tạo một chiếc xe nhỏ, gọn, dễ di chuyển nhưng vẫn có thể làm việc với công suất cao.  Chiếc máy có 2 chức năng chính: Sạ hàng và phun thuốc trừ sâu (còn có thể thực hiện các công đoạn bừa, trục, bón phân). Để có thêm tính năng, ông tận dụng động cơ xe máy Honda để bơm hút nước, xịt thuốc. Để tránh không bị hóa chất ăn mòn, ông sử dụng inox làm nguyên liệu cho những bộ phận tiếp xúc với hóa chất. Ông thiết kế thêm các bộ phận khác để xe có thể tự động xử lý mọi việc từ lấy nước, pha thuốc, tránh ảnh hưởng đến sức khỏe bà con khi phun thuốc. Công suất của máy đạt 30.000 m2/giờ, năng suất bơm thuốc từ 20-200 lít/1.000 m2, cần xịt thuốc dài đến 20m và gắn 60 vòi phun. Khi điều khiển máy, người dân có thể đi nhanh, chậm mà không làm ảnh hưởng đến áp lực phun thuốc bảo vệ thực vật.   Chiếc xe có kết cấu gọn nhẹ (trọng lượng khoảng 190kg), giá bán từ 38 – 55 triệu đồng/chiếc tùy theo yêu cầu của khách hàng.   Để kiểm tra chất lượng và năng suất làm việc của xe, ông Thượng đã đem chiếc xe ra thực hiện thử nghiệm cho bà con nông dân xem. Chiếc xe này có thể phun thuốc sâu 20 ha/ngày, sạ lúa 20.000 m2/giờ. Nếu dùng xe này phun thuốc thuê cho bà con thì có thể thu 2 triệu đồng/ngày. Anh Thượng cho bà con thuê xe với giá 10.000 đồng/1.000m2 lúa, rẻ hơn rất nhiều so với giá 30.000 đồng/1.000m2 tiền công phun thuốc mà bà con đang thuê bên ngoài. Chiếc xe đa năng của anh được bà con nông dân đánh giá: dễ vận hành trên tất cả mọi cánh đồng, an toàn cho người sử dụng, năng suất cao và giá thành  chấp nhận được ( từ 15 – 40 triệu đồng/chiếc tùy theo loại vật liệu).   Sau thời gian ngắn thử nghiệm, ông Nguyễn Cao Thượng đã bán được 30 máy cho khách hàng trong, ngoài tỉnh và hai chiếc cho khách hàng bên Lào.   Với thành công này, ông Nguyễn Cao Thượng đã tự bỏ tiền túi ra đem máy đi tham gia các triển lãm từ “Cơ giới hóa nông nghiệp trên ruộng đồng” của tỉnh Kiên Giang đến Hội chợ Triển lãm quốc tế nông nghiệp do Bộ NNPTNT vừa tổ chức ở TP.HCM.   Trước đó, ông cũng đã bỏ ra nửa năm mày mò, gắn máy bơm nước và lồng tự chế vào chiếc Vespa, tạo thành xe cứu hỏa lưu động.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sắp đến ngày không cần sạc pin cho điện thoại?      Viễn cảnh nạp điện cho những chiếc điện thoại bằng cách vuốt ngón tay trên màn hình hay nạp điện cho tai nghe không dây trong khi đi bộ, đang trở nên hiện thực hơn bao giờ hết.      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Michigan (MSU) đã tạo ra một phương thức mới để thu được năng lượng từ cử động của con người thông qua một thiết bị giống như tấm phim hoạt động như một máy phát điện nano. Với thiết bị này, các nhà khoa học đã vận hành thành công một màn hình cảm biến LCD, một dãy 20 đèn LED, và một bàn phím dẻo – tất cả chỉ bằng cách chạm tay hoặc nhấn ngón tay mà không cần sự hỗ trợ của pin.  Nghiên cứu đột phá này đã được công bố trên tạp chí Nano Energy, cho thấy “chúng ta đang trên đường tiến đến những thiết bị có thể mang theo bên mình được nạp điện nhờ cử động của con người”, theo Nelson Sepulveda, phó giáo sư kĩ thuật điện và máy tính, đồng thời là người đứng đầu dự án nghiên cứu được Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ.  “Những gì tôi thấy trước được, khá sớm thôi, là khả năng không phải sạc pin điện thoại cho cả tuần chẳng hạn, vì năng lượng đó sẽ được tạo ra nhờ cử động của bạn”, ông nói.  Tấm phim này được tạo ra từ một phiến silicon (silicon wafer) , trên đó rải những lớp chất liệu thân thiện với môi trường bao gồm bạc, polyimide, polypropylene ferroelectret sao cho mỗi lớp đều chứa các hạt tích điện. Điện năng được tạo ra khi thiết bị này bị nén bởi cơ năng sinh ra từ cử động của người sử dụng.  Thiết bị nói trên có tên máy phát điện nano ferroelectret tương thích sinh học, hay FENG. Nó mỏng như tờ giấy và có thể được tích hợp vào nhiều thiết bị với nhiều kích cỡ. Chẳng hạn, thiết bị được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các đèn LED thì có kích thước cỡ lòng bàn tay, trong khi thiết bị dùng cho màn hình cảm biến thì nhỏ như ngón tay.  Theo các nhà nghiên cứu, những điểm mạnh như gọn nhẹ, mềm dẻo, tương thích sinh học, có khả năng thay đổi kích cỡ, giá thành thấp và hoạt động khỏe có thể khiến FENG trở thành một phương thức mới hứa hẹn trong lĩnh vực thu nhận năng lượng cơ học cho nhiều thiết bị điện tử di động như tai nghe không dây, điện thoại, và nhiều loại màn hình cảm ứng khác.  Đáng chú ý, thiết bị này trở nên mạnh hơn khi được gập lại.  “Mỗi lần gập nhỏ thiết bị là bạn làm tăng điện áp theo cấp số nhân. Bạn có thể bắt đầu với một thiết bị lớn, nhưng khi gập nó lại, lần này rồi lần nữa, thì giờ nó đã nhỏ đi rất nhiều và tạo ra nhiều năng lượng hơn. Lúc này nó có thể đủ nhỏ để đặt vào gót giầy được chế tạo đặc biệt của bạn để tạo ra điện áp mỗi lần gót chân giẫm xuống sàn”, ông nói.  Sepulveda và nhóm của ông đang phát triển công nghệ chuyển điện áp được sinh ra từ gót giầy đến các thiết bị, chẳng hạn như tai nghe không dây.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn:  http://msutoday.msu.edu/news/2016/flexible-device-captures-energy-from-human-motion/       Author                Quản trị        
__label__tiasang SARS-CoV-2 vô hiệu hóa hệ thống cảnh báo trong tế bào?      Trải qua hơn nửa năm đại dịch Covid-19, các bác sĩ và nhà nghiên cứu đã biết khá rõ về triệu chứng chính của căn bệnh này như ho, sốt, khó thở, mệt mỏi… Điều quan trọng không kém việc điều trị triệu chứng là cần hiểu được loại coronavirus này đang làm gì bên trong các tế bào khiến bệnh nhân bị nặng như vậy.      Cơ chế phân chia, dịch mã và vận chuyển protein bình thường của tế bào (bên trái) và sự can thiệp của SARS-CoV-2 vào mỗi quá trình đó. Ảnh: Inna-Marie Strazhnik /Caltech  Giống như tất cả các loại virus, SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào và chiếm đoạt các chất trong tế bào và cơ quan của tế bào để sao chép và nhân ra nhiều virus hơn. Về mặt tiến hóa, virus thành công là những cá thể đã tránh né lớp phòng thủ của tế bào một cách hiệu quả nhưng không giết chết tế bào ngay lập tức vì chúng vẫn cần tế bào sống để có thể sinh sản.  Tế bào người và rộng hơn là tế bào của các loài động vật có vú đều có các cơ chế bảo vệ bên trong để đối phó với việc lây nhiễm virus. Sự hiện diện của vật liệu di truyền virus trong tế bào sẽ gây ra một loạt phản ứng, dẫn đến việc tế bào sản sinh ra interferon – một nhóm protein, để cố gắng ngăn chặn sự lây nhiễm và thông báo về mối đe dọa cho các tế bào lân cận.   Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những bệnh nhân có triệu chứng mắc Covid-19 nghiêm trọng có mức độ interferon phản ứng thấp. Vây bằng cách nào mà virus đã vượt qua được cơ chế phòng thủ thông thường? Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu do ĐH Caltech dẫn đầu đã xác định được cách thức đó và đăng tải kết quả của mình trên tạp chí Cell.   “Virus rất kì diệu. Chúng và tế bào vật chủ liên tục chạy đua vũ trang tiến hóa để vượt qua nhau. SARS-CoV-2 đã phát triển những cách phức tạp và cụ thể để vô hiệu hóa tế bào mà không giết chết chúng hoàn toàn, để virus vẫn có thể sử dụng tế bào cho mục đích riêng của nó”, đồng tác giả TS. Emily Bruce tại khoa Y thuộc ĐH Vermont cho biết.  Virus SARS-CoV-2 tạo ra khoảng 30 protein virus. Tại phòng thí nghiệm của GS. Mitchell Guttman, các nhà khoa học đã kiểm tra từng loại protein và vạch ra cách chúng tương tác với các thành phần phân tử trong tế bào người nuôi ở đĩa Petri. Họ phát hiện ra, các protein SARS-CoV-2 tấn công vào ba quá trình quan trọng của tế bào để phá vỡ việc tạo ra interferon.  Một số protein của virus (như NSP16) đã ngăn cản quá trình nối ráp mRNA đúng cách trong nhân của tế bào, một số khác (như NSP1) cắm vào ribosome của tế bào để nó không thể hình thành các protein mới, và một số (NSP8, NSP9) lại can thiệp vào các hạt nhận dạng tín hiệu để chặn quá trình vận chuyển protein của người ra bên ngoài tế bào.  Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu nhận thấy NSP1 ngăn mRNA của người xâm nhập vào ribosome nhưng cho phép mRNA của virus đi qua một cách bình thường. Khi đó, các dấu hiệu di truyền ở đầu của mRNA virus sẽ hoạt động như một mã truy cập chiếm đoạt lấy quyền điều khiển “nhà máy” ribosome, khiến ribosome sản xuất ra protein của virus thay vì protein của người. Do việc sinh sôi của virus phụ thuộc vào dấu hiệu di truyền này, nó có thể là mục tiêu vững chắc để các nhà khoa học nhắm đến nhằm phát triển ra những liệu pháp chống virus.    “Mỗi quá trình mà SARS-CoV-2 làm gián đoạn— cắt ghép, dịch mã và vận chuyển protein — đều rất quan trọng trong việc biến đổi vật liệu di truyền của người thành protein”. Giáo sư Guttman nói. “Trên thực tế, việc khám phá ra từng quá trình kể trên đã được trao giải Nobel. Đây là những cỗ máy quan trọng nhất của sự sống và chúng ta không thể tồn tại nếu không có chúng. SARS-CoV-2 đã phát triển theo những cách rất cụ thể để vô hiệu hóa và làm gián đoạn chức năng của chúng”.  Các tác giả khác cho biết nghiên cứu này minh họa tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản và thiết lập một kênh dẫn để giải quyết các loại virus RNA mới xuất hiện trong tương lai. Khả năng xem xét các loại protein SARS-CoV-2 nhắm mục tiêu vào RNA của người cho phép họ xác định được những cơ chế của chúng mà không cần bằng chứng trước. Từ đó, họ có thể áp dụng những quy trình tương tự cho các mầm bệnh mới nổi hoặc thậm chí là những loại virus đang tồn tại nhưng chưa được hiểu rõ cơ chế hoạt động.  Ngô Hà (lược dịch)  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-sars-cov-disables-human-cellular-alarm.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau cải tạo, kênh Panama góp phần thay đổi giao thương quốc tế      Kênh Panama đã trải qua cuộc cải tạo và mở rộng kéo dài chín năm và giờ đây không chỉ tăng sức cạnh tranh với kênh đào Suez, đẩy mạnh giao thương đường thủy quốc tế mà còn góp phần thúc đẩy phát triển ngành đóng tàu sản xuất những con tàu khổng lồ siêu trường siêu trọng.    Những âu thuyền mới ở Cocoli (Panama) bên bờ Thái Bình Dương sát kênh đào Panama.  Công cuộc cải tạo kênh Panama kéo dài chín năm, và vừa qua chín âu thuyền mới của tuyến đường thủy đã được đưa vào sử dụng, những con tầu khổng lồ thuộc diện siêu trường, siêu trọng giờ đây có thể lách qua tuyến đường thủy Panama nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Đây là một tin không mấy vui vẻ đối với kênh Suez ở Ai cập – đối thủ cạnh tranh của kênh đào Panama.   Người ta đã sử dụng 192.000 tấn sắt thép để mở rộng kênh và làm thêm các âu thuyền, việc mở rộng, đào sâu hơn kênh Panama sẽ góp phần làm thay đổi nền thương mại thế giới. Chi phí cải tạo con kênh này ước tính lên đến 4,7 tỷ Euro. Đối với chính phủ Panama thì việc cải tạo, mở rộng con kênh này là rất cần thiết và họ hy vọng nhờ đó kênh Panama tiếp tục được coi là tuyến đường thủy quan trọng nhất thế giới. Sáu phần trăm giao dịch thương mại thế giới được thực hiện thông qua con kênh này và giờ đây ngay cả những con tầu chở hàng lớn nhất cũng có thể thông thương qua kênh Panama.   Hãng tầu vận tải hàng hóa Cosco của Trung quốc là hãng đầu tiên được cho tàu “Cosco Shipping Panam” của mình đi qua con kênh vừa mới được cải tạo và mở rộng này. Tầu Cosco Shipping Panama là đại diện cho thế hệ tầu container hoàn toàn mới. Loại tầu này có thể vận chuyển 9400 container tiêu chuẩn, có chiều dài 300 mét, rộng 48 mét. Nhờ những âu thuyền mới và lòng kênh được nạo vét sâu hơn nên những con tầu cỡ đại này mới có thể băng qua.  Chín âu thuyền mới dành cho những con tầu container, tầu chở khí đốt và nhiên liệu khổng lồ, vì thế khi kênh này hoạt động sẽ có hàng loạt tầu vận tải cỡ nhỏ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Tầu cỡ đại có thể đi qua kênh Panama góp phần làm giảm sức cạnh tranh của những con tàu cỡ nhỏ của nhiều hãng tàu đang sở hữu chúng. Những con tầu khổng lồ loại bỏ những con tầu nhỏ cũ ra khỏi tuyến đường thủy này. Hàng trăm chiếc tầu “Panamax” – với chiều rộng tối đa 32,3 mét, có thể vận chuyển từ  4000 – 5100 container tiêu chuẩn, thích hợp để đi qua kênh Panama trước đây một cách dễ dàng sẽ mất đi giá trị và bị loại bỏ. Ngoài đại dương, những con tàu Panamax cũng yếu thế, thiếu hiệu quả hơn so với những những con tầu khổng lồ có sức chứa tới 20.000 container tiêu chuẩn. Những con tầu khổng lồ này đạt hiệu quả cao hơn vì chi phí và tiêu hao nhiên liệu trên mỗi đầu container thấp hơn.  Trong khi đó, cuộc khủng hoảng hàng hải kéo dài đã tám năm, giá cước vận tải liên tục giảm và đã cận đáy. Những hãng vận tải biển lớn tìm cách sử dụng những con tầu khổng lồ và giá cả thấp để loại bỏ những hãng tầu nhỏ không đủ sức cạnh tranh. Cuối cùng, sau cuộc chiến giá cả này, chỉ có một số hãng vận tải biển lớn còn đủ sức để tồn tại và kinh doanh có lời. Ngay trước khi khai trương kênh Panama mở rộng mấy tháng, đã có tới 60 tầu bị “thất nghiệp”.  Việc kênh Panama mở rộng đi vào hoạt động mở ra một kỷ nguyên mới trong ngành hàng hải. Trên một trăm năm qua chỉ có những con tầu với chiều rộng tối đa 32 mét có thể băng qua tuyến đường thủy dài 82 kilomet xuyên qua Trung Mỹ và nối liền Thái Bình Dương với Đại Tây Dương. Giờ đây rào cản đó không còn nữa, mọi con tầu cỡ đại có thể chạy trên tuyến đường thủy này.  Những âu thuyền mới này sẽ tạo làn sóng đóng mới những con tầu khổng lồ. Và nhờ các âu thuyền mới này, các chủ tầu sẽ thay đổi các tuyến đường thủy quan trọng. Cuối cùng thì kênh Suez sẽ là kẻ thua cuộc trong quá trình chạy đua này.  Panama hy vọng sẽ sớm thu hồi vốn. Trước đây, khoảng 1 tỷ đôla tiền phí qua kênh Panama đã được nạp vào ngân sách nhà nước, khoản tiền này tương đương 40% tổng thu của nhà nước Panama. Sau cải tạo, mở rộng nguồn thu phí qua kênh này có thể tăng gấp ba.  Điều này khiến cơ quan quản lý kênh Suez của Ai cập không khỏi gây lo lắng. Tuyến đường thủy qua kênh Suez tuy ngắn hơn khiến tầu bè di chuyển nhanh hơn so với đi qua kênh Panama nhưng nhược điểm là tuyến đường qua kênh Suez lại nguy hiểm hơn. Tuyến đường chạy qua Malaka gần Singapore thường hay xảy ra các vụ cướp biển và vùng Trung Cận Đông thường xảy ra xung đột chính trị.  Xuân Hoài tổng hợp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáu Hổ làm máy xới trực liên hợp      20 năm ấp ủ, với sáng chế cải tiến máy móc giúp nông dân tăng hiệu suất lao động, giảm chi phí sản xuất, một thợ cơ khí ở Hậu Giang đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vì có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ năm 2009 – 2013  &#160;    Từng tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Hậu Giang, ông Cao Phi Hổ ra làm tại một xưởng cơ khí công nghiệp và nhanh chóng được biết đến như một người thợ có tay nghề cao. Sau khi có dấn vốn, ông đứng ra thành lập xưởng cơ khí Tín Nhân tại ấp 1A, xã Tân Hiền, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.   Trong quá trình sửa chữa, ông Sáu Hổ thường xuyên trao đổi với khách hàng và đón nhận được nhiều phản hồi, suy nghĩ của họ. Một trong những công việc nặng nhọc của nhà nông là xới và trục đất để chuẩn bị đất làm sạ lúa, công đoạn đòi hỏi nhiều công sức, tiền bạc và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lúa sau này. Vì vậy, ông ấp ủ ý tưởng về một chiếc máy gộp cả tính năng hai loại máy xới và trục đất nhằm giúp người nông dân giảm bớt thời gian trên đồng.   Ý tưởng “gộp chung máy trục với máy xới thành một cỗ máy liên hợp” định hình từ những năm 1990, mãi đến năm 2011, Quỹ Hỗ trợ vì sự nghiệp khoa học của huyện Châu Thành A chọn sáng chế của ông Sáu để hỗ trợ 45 triệu đồng, mọi việc mới có trớn.  Đến  tháng 3/2013, máy xới trục liên hợp của ông Sáu Hổ hoàn thành và lần đầu tiên được huyện Châu Thành A tổ chức thử nghiệm trên đồng ruộng.  Những nông dân thấy máy liên hợp vừa xới, vừa trục đất cùng một lúc với tốc độ nhanh thích lắm vì lâu nay hai công đoạn riêng biệt tốn khá nhiều chi phí.   Máy xới trục liên hợp của ông Sáu Hổ hoạt động với thiết kế  một bông xới (dài 1,8 m) nằm ngang phía trước xới đất lên cho tơi xốp, đồng thời như bánh trước của cỗ máy bường về phía trước; bông trục ngang hai m phía sau (như bánh sau của cỗ máy) làm đất bằng cách nhấn chìm những gốc rơm rạ, làm nhuyễn đất và sang phẳng. Bông xới có thể nâng lên nếu chỉ cần trục. Máy gọn nhẹ khoảng 800 kg, di chuyển thuận tiện, thích ứng với đặc điểm mùa nước nổi ở khu vực ĐBSCL.  Các nông dân nhận xét về chiếc máy liên hợp của Sáu Hổ: ưu điểm lớn là giá thành thấp. Trước đây, để giải quyết công đoạn này, nông dân phải sử dụng máy móc nhập khẩu từ Trung Quốc với giá thành không hề rẻ: giá một máy xới khoảng 75 triệu đồng, máy trục khoảng 45 triệu đồng. Giờ đây, người ta có thể sử dụng máy xới trục liên hợp của ông Sáu Hổ chỉ tốn 70 triệu đồng/máy, làm đất nhanh gấp đôi so với hai loại máy xới, trục riêng, qua đó chi phí làm đất giảm khoảng 400.000 đồng/ha.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáu sáng tạo công nghệ sạch mới      Cleantech Innovate là sự kiện được tổ chức luân phiên hằng năm ở London và Glasgow, nơi các nhà sáng tạo công nghệ sạch rao ý tưởng của mình để nhận khoản đầu tư 20.000 bảng. Dưới đây là sáu trong số những sáng tạo thú vị nhất được giới thiệu ở sự kiện mới nhất vào tháng hai vừa qua.      1. Nồi truyền hơi   Ban đầu được thiết kế để sử dụng trên tàu thuyền, nồi truyền hơi có thể nấu chín một lượng đồ ăn lớn rất nhanh và đều, giúp giữ các chất dinh dưỡng và độ ngon. Nồi này có thể nấu được các đồ ăn lỏng như các loại nước sốt và súp bằng cách phả hơi nóng với tốc độ gấp ba lần vận tốc âm thanh, làm nóng thức ăn từ 20 độ C lên 80 độ C chỉ trong một giây, và có thể nấu chín 1.000 kg thực phẩm chỉ trong vòng 10 phút.  Được thiết kế bởi công ty kỹ sư Anh OAL Group, nồi truyền hơi đã chế biến thành công các loại đồ ăn sẵn, các loại nước sốt đóng và súp rau. Nồi cũng đã được sử dụng để nấu cho những người tị nạn ở Bắc Iraq và tạo ra một loại đồ uống dinh dưỡng mới từ ngô ở Zambia.  2. Robot giúp cách nhiệt sàn nhà  Công ty khởi nghiệp ở London mang tên q-bot vừa chế tạo ra một loại robot có thể luồn xuống dưới các tấm mặt sàn để phun chất cách nhiệt vào những vùng mà người bình thường không với tới được.    Thông thường, việc tạo hệ thống cách nhiệt cho sàn nhà rất lích kích và tốn thời gian khoảng một tuần. Nhưng với robot có thể điều khiển từ xa này, công việc cách nhiệt cho toàn bộ ngôi nhà có thể được hoàn thành trong một ngày.    Nhà sáng chế Mathew Holloway giải thích, ở Anh khoảng ¼ lượng nhiệt bị mất qua vì tỏa qua sàn nhà, robot của q-bot giúp các hộ gia đình lắp đặt hệ thống cách nhiệt sàn dễ dàng hơn, từ đó tiết kiệm được năng lượng sưởi ấm nhà mình.    3. Khai thác sức sóng  Sáng tạo mới nhất của công ty Sea Wave Energy – công ty chuyên biến sức sóng thành điện năng- là hệ thống WaveLine Magnet do Adamos Zakheos thiết kế. Hệ thống này bao gồm các tấm bệ gắn kết với nhau được cố định trên mặt biển. Khi sóng chuyển động qua hệ thống các tấm bệ này, sức sóng sẽ được chuyển hóa thành điện năng.   Phát ngôn viên của công ty cho biết, một hệ thống cỡ hoàn chỉnh của họ bao gồm 60 tấm bệ sẽ được đưa vào thử nghiệm ở trung tâm FaBTest ở Cornwall. Hệ thống này có thể sản xuất điện với công suất 30.000 MWh mỗi năm. Hệ thống cũng giúp làm giảm sự xói mòn từ việc ngăn sóng không đập vào bờ.  So với các nguồn năng lượng tái tạo khác thì hiện nay việc khai thác năng lượng sóng vẫn đang ở thời kỳ sơ khai. Công ty Sea Wave Energy cho biết nước Anh là một trong những nước có nguồn tài nguyên sóng tốt nhất trên thế giới, có khả năng cung cấp 22% nhu cầu điện năng của nước này.  4. Dự trữ năng lượng bằng khí nén trong hang muối  Công ty Storelectric đã sáng tạo ra công nghệ sử dụng khí nén để dự trữ năng lượng từ những nguồn năng lượng tái tạo trong các hang muối dưới lòng đất. Nhà sáng lập Mark Howitt miêu tả công nghệ này là “chén thánh” trong cung cấp năng lượng, là cái pin lớn nhất của thế giới mà chỉ sử dụng không khí, nước, muối và các dụng cụ có sẵn.  Trước đây, các hang muối đã từng được sử dụng để dự trữ khí tự nhiên, nhưng Storelectric là công ty đầu tiên thành công trong việc nén không khí và trữ nó ở áp suất cao hơn 30 lần so với áp suất lốp xe.  5. Vật liệu tường thông thoáng Breathaboard  Công ty khởi nghiệp Adaptavate vừa phát triển một loại vật liệu “xanh” mới, làm từ chất thải nông nghiệp, để thay thế cho tường thạch cao. Không như tấm tường thạch cao – loại vật liệu bị liệt vào dạng chất thải nguy hiểm, loại tưởng mới có tên Breathaboard này có thể phân hủy thành phân bón, bời vậy các phế thải tại công trình sẽ làm màu mỡ thêm chứ không làm ô nhiễm đất ở đó.   Thomas Robinson, nhà đồng sáng lập công ty, cho biết, loại vật liệu này còn thông thoáng, giúp ngăn chặn sự ngưng tụ hơi ẩm và nấm mốc trong nhà, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp như hen suyễn. Tính thông thoáng của vật liệu còn làm giảm nhu cầu sử dụng các thiết bị thông hơi, giúp cắt giảm mức tiêu thụ năng lượng.  6. Theo dõi mức tiêu thụ năng lượng qua GreenEgg  Mọi người chỉ có thể bắt đầu tiết kiệm năng lượng khi họ biết họ đang sử dụng bao nhiêu. Sản phẩm GreenEgg Smart Home Hub dành cho gia đình trình báo lượng năng lượng hộ gia đình sử dụng trên một màn hình tivi để các thành viên dễ theo dõi. Nó còn bao gồm một hệ thống đèn báo hiệu, hiện lên màu đỏ khi lượng năng lượng sử dụng cao.  Giám đốc điều hành Rob Merriman giải thích: “chúng tôi nhận thấy rất nhiều người không nắm được mức năng lượng mà họ sử dụng, dẫn đến tình trạng hóa đơn tiền điện luôn cao hơn họ dự đoán. Đã có các ứng dụng trên điện thoại thông minh giúp theo dõi chỉ số này, nhưng chỉ người trả hóa đơn có thể xem thông tin. GreenEgg cho phép tất cả các thành viên, đặc biệt và trẻ em và người cao tuổi, tiếp cận với thông tin và từ đó có ý thức hơn về tiết kiệm năng lượng.”     KM dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sâu sáp giữ “vũ khí” giúp phân hủy túi nhựa      Các enzym của nó phân hủy polyethylene trong vòng vài giờ ở nhiệt độ phòng. Điều này có thể gợi mở những phương pháp xử lý mới trong cuộc chiến với rác thải nhựa.     Sâu sáp nhấm nháp nhựa, tạo thành những lỗ trên bề mặt túi. Ảnh: CSIC Communications Department/PA  Các nhà khoa học mới đây đã phát hiện ra các loại enzyme trong nước bọt của sâu sáp có khả năng phân hủy nhanh túi nhựa. Cụ thể, các enzyme này có thể phá vỡ polyethylene trong vòng vài giờ ở nhiệt độ phòng, điều này có thể gợi mở những phương pháp tái chế nhựa hiệu quả về mặt chi phí trong tương lai.  Sâu sáp là ấu trùng bướm đêm chuyên phá hoại và đục thủng lỗ trên các tổ ong. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra khả năng “ăn” túi nhựa của nó một cách tình cờ, khi một nhà khoa học – đồng thời cũng là người nuôi ong nghiệp dư – dọn sạch một tổ ong bị sâu sáp phá hoại, và phát hiện thấy ấu trùng sâu đang bắt đầu ăn túi rác bằng nhựa, tạo nên những lỗ thủng trên bề mặt túi. Sau khi tiến hành nghiên cứu sâu hơn, các nhà khoa học nhận thấy nước bọt của sâu sáp là “một kho chứa các enzyme phân hủy, có thể mở ra một cuộc cách mạng trong việc xử lý chất thải gây ô nhiễm”.  Nhựa polyethylene là một trong những loại nhựa phổ biến nhất thế giới, được sử dụng trong sản xuất túi nylon và các loại bao bì khác, đóng góp một phần đáng kể vào thực trạng ô nhiễm nhựa hiện nay. Quá trình tái chế nhựa polyethylene trên quy mô lớn hiện nay đều dựa trên các phương pháp cơ học nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị thấp hơn.  Phương pháp phân hủy hóa học có thể giúp tạo ra các loại hóa chất có giá trị hoặc loại nhựa mới – nếu được xử lý đúng cách. Các nhà nghiên cứu cho biết các enzyme trong sâu sáp có thể được tổng hợp dễ dàng và khắc phục các nhược điểm trong quá trình phân hủy nhựa thông thường. Quá trình phân huỷ thông thường đòi hỏi phải gia nhiệt để phá vỡ liên kết của các chuỗi polymer, nhưng các enzyme lại có thể phá vỡ liên kết ở nhiệt độ bình thường, trong nước và ở độ pH trung tính.  Giải pháp tiềm năng  “Các tổ ong của tôi bị sâu sáp phá hoại, vì vậy tôi bắt đầu xử lý chúng, cho sâu vào túi nhựa”, Tiến sĩ Federica Bertocchini, tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh học ở Madrid, kể lại phát hiện tình cờ của mình. “Sau một thời gian, tôi nhận thấy sâu đã đục lỗ trên túi, chúng tôi nhận ra chúng không chỉ nhấm nháp lá, mà còn phân huỷ các liên kết hoá học. Và đó là khởi đầu của hành trình nghiên cứu.  Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications, đã xác định được 200 protein trong nước bọt của giun sáp và thu hẹp được hai protein có tác dụng “ăn” nhựa. Ấu trùng sâu sáp sinh tồn và phát triển trong tổ ong và ăn sáp ong, đó có thể là lý do tại sao chúng đã tiến hóa các enzyme phù hợp để phá vỡ liên kết hoá học. Một khả năng khác là các enzyme như một cơ chế bảo vệ giúp sâu sáp phân hủy các hóa chất độc hại do thực vật tạo ra – đồng thời có khả năng phá huỷ một số chất phụ gia trong nhựa.  Tất nhiên, nghiên cứu hiện chưa thể đưa ra ứng dụng rông rãi. “Chúng tôi cần phát triển thêm và suy ngẫm về cách triển khai chiến lược nhằm đối phó với rác thải nhựa”, Tiến sĩ Clemente Arias, cũng tại trung tâm nghiên cứu Tây Ban Nha, cho biết. Bên cạnh các nhà máy tái chế lớn, nhóm nghiên cứu ấp ủ hy vọng một ngày nào đó sẽ có một bộ dụng cụ trong gia đình giúp tái chế túi nhựa thành các sản phẩm hữu ích.  Những nghiên cứu trước đây thường tìm thấy các enzyme hữu ích trong vi khuẩn, chẳng hạn một nghiên cứu vào năm 2021 đã chỉ ra rằng vi khuẩn trong đại dương và đất trên toàn cầu đang tiến hoá để ăn nhựa. Các nhà khoa học đã tìm thấy 30.000 loại enzyme có thể phân hủy 10 loại nhựa khác nhau.  Một nghiên cứu khác vào năm 2020 đã phát hiện ra một siêu enzyme có thể nhanh chóng phân huỷ các chai nhựa PET – enzyme này được tiết ra từ một loại sâu bọ được tìm thấy trong một bãi rác ở Nhật Bản. Một loại enzyme phân hủy PET khác thì được tạo ra từ vi khuẩn trong phân bón lá v.v.  Chúng ta thải ra hàng triệu tấn nhựa mỗi năm, chúng lan tràn khắp hành tinh và gây ô nhiễm, từ đỉnh Everest đến các đại dương sâu nhất. Giảm sử dụng nhựa, cũng như thu gom và xử lý rác thải đúng cách, tái chế toàn bộ sản phẩm nhựa thải ra có thể giúp giải quyết thực trạng này.  Giáo sư Andy Pickford, Giám đốc Trung tâm Đổi mới Enzyme tại Đại học Portsmouth của Vương quốc Anh, cho biết việc khám phá ra các enzyme trong nước bọt của giun sáp rất thú vị. “Phản ứng xảy ra trong vòng vài giờ ở nhiệt độ phòng cho thấy rằng sự phân hủy của enzyme có thể là một giải pháp tiềm năng để giải quyết rác thải polyethylene.”  Anh Thư tổng hợp  Nguồn:  Wax worm saliva rapidly breaks down plastic bags, scientists discover  Wax worm saliva and the enzymes therein are the key to polyethylene degradation by Galleria mellonella    Author                .        
__label__tiasang Sau thỏa thuận Bali: Chưa thể quá lạc quan      Phải thừa nhận Thỏa thuận  (Agreement) hay Gói (Package) Bali là một tiến bộ trên con đường vạn dặm  tự do hóa thương mại. Con số lợi ích cho GDP toàn cầu được dự báo lên đến nghìn tỷ USD hằng năm làm nức lòng mọi người, song  chúng có thành hiện thực hay không còn tùy thuộc rất nhiều vào quá trình  thực hiện, trong đó nhiều cam go vẫn đang ở phía trước.     Sáng sớm ngày 7/12/2013 tại hòn đảo Bali, Indonesia, sau khi đã họp suốt đêm và quá một ngày so với chương trình dự kiến, làm lỡ chuyến bay của 12 Bộ trưởng phải sang Singapore để họp về TPP ngày hôm ấy, Hội nghị 159 vị Bộ trưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã vỗ tay nồng nhiệt sau khi thông qua Thỏa thuận Bali (Bali Agreement) về thương mại thế giới. Họ vui mừng vì đó là kết quả của năm ngày đêm đàm phán, tranh cãi nảy lửa và cuối cùng đi đến một thỏa hiệp, đặc biệt hơn đó là thỏa thuận đầu tiên từ khi thành lập tổ chức này năm 1995, và sau 12 năm kể từ khi vòng đàm phán Doha thất bại, thậm chí được coi là “chết lâm sàng” vì không thể đi đến thỏa thuận cắt giảm các rào cản thương mại và trợ cấp cho nông nghiệp. Tổng Giám đốc mới Roberto Azevado đã xúc động bật khóc bên lề hội nghị ở Bali vì thỏa thuận lần này đã thực sự cứu vãn sự tồn tại của tổ chức mà ông mới đứng đầu từ tháng 9/2013. So với các vị tiền nhiệm, ông đã có được thành công ban đầu ngoạn mục, do đã khôn khéo chỉ đưa ra một “gói” thỏa thuận với tham vọng chỉ bằng 1/10 gói Doha, theo tinh thần chậm và ít còn hơn không có gì!  Trước hết, phải thừa nhận Thỏa thuận (Agreement) hay Gói (Package) Bali là một tiến bộ trên con đường vạn dặm tự do hóa thương mại. Thỏa thuận gồm 10 văn kiện nằm trong ba phần là: 1) Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại, 2) Cam kết về nông nghiệp và 3) Cam kết về phát triển, trong đó có hiệp định về thuận lợi hóa thương mại, giảm các thủ tục hải quan là tiến bộ có ý nghĩa nhất.   Về cơ bản thỏa thuận mới cam kết sẽ cải thiện hệ thống hạn ngạch thuế quan (tariff quota TRQ), tinh giản trình tự đi qua cửa khẩu và hải quan, cho phép các nước đang phát triển có quyền lựa chọn nhiều hơn trên vấn đề an ninh lương thực, hỗ trợ phát triển thương mại của các nước chậm phát triển, v.v.  Viện Peterson về kinh tế học quốc tế ở Mỹ đã ngay lập tức đưa ra dự đoán con số lợi ích cho GDP toàn cầu lên đến 1.000 tỷ USD hằng năm (những tính toán khác đưa ra con số giữa 500 và 1.300 tỷ USD), tạo thêm 21 triệu việc làm trong đó có 18 triệu việc làm ở các nước đang phát triển. Những giá trị gia tăng này được mang lại do việc các quốc gia áp dụng các nguyên tắc công khai minh bạch, chia sẻ thông tin, qua đó giúp cắt giảm 10% chi phí ở các nước phát triển và 15% ở các nước đang phát triển.   Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế thế giới đầy rủi ro như hiện nay, những con số trên làm nức lòng mọi người, song chúng có thành hiện thực hay không còn tùy thuộc rất nhiều vào quá trình thực hiện, trong đó nhiều cam go vẫn đang ở phía trước.   Cam kết về nông nghiệp chỉ đạt được sau khi Ấn Độ – đứng đầu nhóm G-33 các nước đang phát triển – chấm dứt phản đối về nguyên tắc việc cắt giảm hỗ trợ nông nghiệp đối với nông dân để đổi lấy một “điều khoản hòa bình” cho phép các nước đang phát triển tiếp tục hỗ trợ nông nghiệp trong ít nhất là 4 năm cũng như các ưu đãi về thuế quan đã nêu trên đây. Trong khi đó, các nước giàu có sẽ vẫn tiếp tục trợ giá xuất khẩu nông sản của họ và đây là một vấn đề nan giải. Tổng giám đốc Azevedo hứa sẽ thúc đẩy thỏa thuận về mức độ trợ giá và đàm phán về các quy định bảo vệ đầu tư xuyên biên giới bao gồm nhiều lĩnh vực rất đa dạng từ công nghệ xanh đến tư vấn bảo vệ môi trường.  Cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục trên nhiều lĩnh vực về dịch vụ như công nghệ thông tin và một số nước sẽ đi đến thỏa thuận nhiều bên (plurilateral) thay cho đa phương (multilateral) nếu như một số thành viên WTO chưa sẵn sàng tham gia. Tại Bali, Trung Quốc đã ủng hộ cách tiếp cận này, để ngỏ khả năng có những thỏa thuận nhóm to nhỏ khác nhau như vậy.1  Trước mắt, trong thời gian tới, hiệp định sẽ cần được tất cả các nước thành viên phê chuẩn. Rõ ràng quá trình này sẽ không dễ dàng vì với mỗi quốc gia không phải mọi quy định đều có hiệu lực bắt buộc về pháp lý khi vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời đòi hỏi các quốc gia phải áp dụng những cải cách về cơ chế thương mại, thủ tục hải quan, công khai minh bạch, cắt giảm hệ thống quan liêu phổ biến trong hệ thống hải quan và thuế trên thế giới. Những cải cách và hiện đại hóa đó cũng đòi hỏi đầu tư và chi phí không nhỏ. Vì vậy, không ít ý kiến hoài nghi về những con số to lớn về lợi ích đã được tính toán dựa trên giả định mọi việc sẽ được thực hiện đầy đủ và đúng thời gian. Trong khi đó, ngay lúc này người ta đã bắt đầu nói đến vòng đàm phán sau Bali (post-Bali) để giải quyết tiếp những vấn đề khó khăn hơn chưa thỏa thuận được trong lần nay.  Tuy nhiên, điều đáng nói là việc thực hiện các thỏa thuận khác như trợ giúp của các nước phát triển không có tính ràng buộc nhưng cũng sẽ được giám sát, và đây là lần đầu tiên WTO thỏa thuận được về một cơ chế giám sát như vậy.  Về phía Việt Nam, chúng ta hi vọng Nhà nước ta có thể đẩy mạnh cải cách để chia sẻ phần lợi ích chính đáng trong thỏa thuận mới của WTO. Về lý thuyết Việt Nam có lợi trong xuất khẩu nông sản vì thuế nhập khẩu sẽ giảm nhiều. Tuy nhiên, thách thức của Việt Nam là đã đạt giới hạn của mô hình tăng trưởng hiện nay. Nếu không đầu tư công nghệ, thay đổi mô hình canh tác, phát triển công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch, Việt Nam sẽ không nâng cao sản lượng được. Mặc dù chúng ta có thể được lợi từ khả năng Nhật Bản tăng cường đầu tư vào nông nghiệp Việt Nam vì cả hai nước là thành viên TPP, qua đó giúp sản lượng tăng lên, chất lượng được cải thiện sẽ góp phần nâng cao xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đó chỉ mới là dự kiến chưa phải hiện thực ngày hôm nay hay ngày mai.         Về thuận lợi hóa thương mại, hiệp định quyết định sớm thành lập Ủy ban trù bị, xem xét các văn bản hiệp định về pháp luật, thiết thực đảm bảo những điều khoản liên quan bắt đầu có hiệu lực từ ngày 31/7/2015. Các bên ra tuyên bố đồng ý dốc sức xây dựng mô hình “một cửa” để đơn giản hóa việc làm thủ tục thông quan, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nước đang phát triển xuất khẩu nông sản. Thỏa thuận cũng dành cho những nước phát triển kém phát triển nhất (Least Developing Countries) một số ưu đãi thuế quan nhất định trên cơ sở quy tắc xuất xứ thuận lợi hơn trong khuôn khổ miễn giảm thuế và hạn ngạch.   Về nông nghiệp, hiệp định đồng ý cung cấp hàng loạt dịch vụ nông nghiệp cho các nước đang phát triển, đồng thời trong điều kiện nhất định đồng ý việc các nước đang phát triển dự trữ lương thực công nhằm đảm bảo an ninh lương thực.    Về cam kết phát triển, hiệp định đồng ý thực hiện chế độ quota miễn giảm thuế cho các nước chậm phát triển xuất khẩu sản phẩm sang các nước giàu; tinh giản hơn nữa trình tự chứng nhận sản phẩm xuất khẩu của các nước chậm phát triển; cho phép dịch vụ của các nước chậm phát triển được ưu tiên đi vào thị trường các nước giàu; đồng ý xây dựng cơ chế giám sát, tiến hành việc giám sát việc dành quy chế ưu đãi cho các nước chậm phát triển.               Ngoài ra, trong Hội nghị lần này, Yemen được chính thức phê chuẩn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, nâng số thành viên của tổ chức này lên tới 160 thành viên.        —  1 http://www.economist.com/news/finance-and-economics/21591625-global-trade-talks-yield-deal-first-time-almost-20-years-unaccustomed    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sấy vi sóng giúp bảo quản nông sản sau thu hoạch      “Xây  dựng hệ thống tự động hóa toàn diện và nâng cao chất lượng cho hệ thống  sấy vi sóng bằng NImyRIO” – dự án của nhóm sinh viên Viện Công nghệ  Sinh học &amp; Công nghệ Thực phẩm, ĐH Bách khoa Hà Nội đã giành ngôi vô  địch cuộc thi Thiết kế Sáng tạo dành cho Doanh nhân trẻ Việt Nam 2014  (The 2014 National Instruments Innovation Design Competition for Young  Entrepreneurs in Vietnam). Dự án góp phần mở hướng mới trong việc  nâng cao chất lượng nông sản Việt Nam sau thu hoạch.      Ý tưởng của dự án xuất phát từ thực tế là nhu cầu bảo quản sau thu hoạch của nông sản Việt Nam hằng năm rất lớn, nếu không có biện pháp bảo quản kịp thời sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, thậm chí bị hư hỏng, dẫn đến giảm giá thành nông sản trên thị trường. Vì vậy nhóm sinh viên Lưu Hoàng Hải, Phạm Văn Dũng, Hoàng Văn Tùng (KTVL1-K56, ĐH Bách khoa Hà Nội đã nghĩ đến giải pháp sấy nông sản để bảo toàn chất lượng sản phẩm. Với phương pháp sấy thông thường, tác nhân sấy kiêm luôn vai trò tác động nhiệt lên vật sấy nên nhiệt độ bề mặt vật sấy cao hơn nhiệt độ tâm, dẫn đến việc chuyển dịch độ ẩm từ tâm ra bề mặt rất khó thực hiện. Vì vậy, việc sấy kiệt sẽ đòi hỏi nhiệt độ cao, mất nhiều thời gian khiến chất lượng sản phẩm giảm sút mà lại tốn năng lượng.  Vì vậy, nhóm đã áp dụng phương pháp sấy vi sóng. Theo đó, vi sóng trong bức xạ nhiệt phục vụ sấy vi sóng được phát ra từ nguồn magnetron, dẫn theo ống dẫn sóng vào khoang sấy, khi sóng vào khoang sấy thì va đập liên hồi vào sản phẩm và tường của khoang sấy. Sóng sẽ đâm xuyên vào tâm vật liệu sấy một cách nhanh chóng (tốc độ ánh sáng), đảm bảo gia nhiệt đồng đều từ trong ra ngoài bề mặt của vật liệu cần sấy.   Với phương pháp này, thiết bị sấy vi sóng cũng nhỏ gọn hơn các thiết bị sấy thông thường, tốc độ sấy đạt được rất cao, năng lượng tiêu hao ít, vật liệu sấy không bị cháy (chiều truyền nhiệt truyền ẩm cùng chiều: từ trong ra ngoài). Tuy nhiên, công suất vi sóng cần phải được điều chỉnh trong suốt quá trình sấy nhằm đáp ứng các yêu cầu về mặt công suất (công suất vi sóng phải giảm khi lượng nước bay hơi được giảm).   Nhóm sinh viên dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Trung đã đưa ra phương án điều chỉnh vô cấp công suất phát vi sóng theo nguyên tắc điều áp xoay chiều xuất phát từ đặc tính V-A của đầu phát vi sóng. Đồng thời nhóm vận dụng NI myRIO, nền tảng nhúng tích hợp phần cứng/phần mềm cho phép người dùng thiết kế và chế tạo hệ thống thực nhanh chóng. Tích hợp chứa bộ xử lý ARM lõi kép và chip nhúng FPGA của Xilinx trên một hệ thống chip (System on a Chip), NI myRIO bao gồm những đầu ra (I/Os), tích hợp từ WiFi và một lớp vỏ rắn chắc), thay thế được PLC – thiết bị điều khiển tự lập trình (Programmable Logic Controller). Phần mềm điều khiển và điều khiển giám sát được tích hợp trên một phần mềm LabVIEW giúp quá trình vận hành dễ dàng, giúp xử lý nhanh, chính xác đến từng micro giây cho phép điều khiển được các tín hiệu dòng điện, moomen, tốc độ động cơ, điều khiển các mạch từ…   NI myRIO thể hiện được những ưu thế vượt trội khi so sánh với việc dụng module CPU, module nguồn kết hợp thêm các module mở rộng phục vụ việc xuất nhập tín hiệu tương tự, các tín hiệu PWM … ngoài ra việc ghép nối giữa PLC với PC cần có thêm một module giao tiếp riêng.  Khi thực hiện dự án này, nhóm sinh viên Viện Công nghệ Sinh học & Công nghệ Thực phẩm đặt mục tiêu giải quyết bài toán nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo chất lượng không chỉ cho các mặt hàng nông sản, thực phẩm mà còn với nhiều các sản phẩm khác như dược liệu, dược phẩm…             Author                Quản trị        
__label__tiasang Schumannfest: Clara và các nữ nghệ sỹ      Người vợ của một nhà soạn nhạc, người mẹ của 8 đứa con, người nghệ sỹ piano, nhà cố vấn âm nhạc, nhà tổ chức các buổi hòa nhạc và nhà soạn nhạc: tất cả những điều đó hội tụ ở Clara Schumann. Bà là điểm nhấn của Schumannfest tại Bonn, cùng với những nhà soạn nhạc nữ và nghệ sỹ nữ khác.      “Dù tôi đã từng sáng tác từ lâu nhưng tôi không thể làm nổi điều đó nữa. Tôi chỉ có thể an ủi chính mình một sự thật: tôi là một phụ nữ và phụ nữ thì không sinh ra để viết nhạc”. Đây là những lời tự bạch của một người phụ nữ đã từng sáng tác nhiều tác phẩm âm nhạc, bao gồm một concerto cho piano ở tuổi 15 cùng nhiều tác phẩm cho piano, ca khúc nghệ thuật và âm nhạc thính phòng. Vào năm 1856, năm người chồng yêu dấu qua đời trong một viện điều dưỡng ở Bonn-Endenich, Clara Wieck-Schumann cũng đã có thêm hơn 20 tác phẩm khác. Sau đó bà không sáng tác thêm tác phẩm nào nữa nhưng trong suốt cuộc hôn nhân hạnh phúc, có nguồn tin cho rằng Robert Schumann đã ngăn cản bà sáng tác.  Clara trong năm kỷ niệm  Sinh ngày 13/9/1819 tại Leipzig, Clara Wieck-Schumann được vinh danh, tưởng nhớ trong khuôn khổ lễ hội âm nhạc kỷ niệm 200 năm ngày sinh với những buổi hòa nhạc và trưng bày kỷ vật… Người ta cũng thực hiện nhiều nghiên cứu quan trọng vào cuộc đời âm nhạc và các tác phẩm trong nhiều năm qua, vốn còn ẩn chứa trong đó nhiều thông tin cần được khám phá về hình tượng đầy thu hút trong lịch sử âm nhạc cổ điển này.  Là nghệ sỹ piano nữ nổi tiếng bậc nhất của thế kỷ 19, Clara Schumann có một tác động lớn lao vào đời sống âm nhạc, nhưng tại sao các tác phẩm do bà sáng tác vẫn còn ít được biết đến? “Bạn phải biết rằng bà ấy chỉ sáng tác khi con rất trẻ,” Markus Schuck, giám đốc Schumannfest tại Bonn, nói. “Không tác phẩm nào xuất hiện trong những năm cuối đời bà. Nhưng cũng phải nói rằng, các tác phẩm của bà đã đóng vai trò quan trọng với các nhà soạn nhạc nữ ngày nay”.  Các nhà soạn nhạc và nghệ sỹ trên tiêu điểm    Nghệ sỹ Latvia Aurelia Shimkus đã giành giải ECHO Klassik ở hạng mục Nghệ sỹ mới nổi.   Schumannfest ở Bonn, đã khai mạc vào ngày 1/6 với một buổi độc tấu các ca khúc nghệ thuật và kết thúc vào ngày 16/6 với một thảo luận dành cho trẻ em, các nhà soạn nhạc nữ. Trung tâm vẫn là Clara Schumann, chủ đề của hai bộ phim tiểu sử và một vở nhạc kịch mang tên Clara, do các học viên trường THPT Clara Schumann tại Bonn biểu diễn. Đây là một vở kịch được tác giả Marlin de Haan sáng tác riêng cho Schumannfest.   Dĩ nhiên, các buổi hòa nhạc cũng là tâm điểm của lễ hội này. “Chúng tôi thậm chí còn mời được một nghệ sỹ piano kiêm nhà soạn nhạc và một nhà soạn nhạc có một điểm tương đồng trong phát triển sự nghiệp như Clara ở tuổi của bà,” Markus Schuck giải thích. Mới 22 tuổi, nghệ sỹ Latvia Aurelia Shimkus đã giành giải ECHO Klassik ở hạng mục Nghệ sỹ mới nổi. Kịch mục biểu diễn của cô bao gồm những sáng tác của mình cũng như các tác phẩm của Bach, Schumann. Còn nhà soạn nhạc mà  Markus Schuck muốn nói đến là Sofia Gubaidulina, người viết nhiều tác phẩm giao hưởng, thính phòng và giọng hát với thiên hướng tôn giáo.  Tại một sự kiên mang tên “Ngôn từ và âm nhạc”, nghệ sỹ violin trẻ Liv Migdal và chị gái mình, nữ nghệ sỹ Nadia Migdal, sẽ chứng minh vấn đề tại sao những sáng tạo của các nhà soạn nhạc nữ lại hiếm khi xuất hiện tại các chương trình hòa nhạc. Cùng với nghệ sỹ piano và nhà thơ Daniel Gerzenberg, họ sẽ tập trung vào những ý tưởng và tác phẩm âm nhạc của cả nhà thơ và nhà soạn nhạc nữ.  Thu âm các buổi hòa nhạc    Nghệ sỹ piano Đức – Hy Lạp Danae Dörken sẽ trình diễn các tác phẩm của Robert và Clara Schumann  Bên cạnh màn trình diễn của Aurelia Shimkus,nghệ sỹ piano người Đức Katharina Treutler và nghệ sỹ piano Đức – Hy Lạp Danae Dörken sẽ trình diễn các tác phẩm của Robert và Clara Schumann. Cả đêm diễn độc tấu của Dörken và buổi trình diễn mở màn của ca sỹ thính phòng Arttu Kataja cùng người đệm đàn Paulina Tukiainen đều được hãng Deutsche Welle thu âm nhằm tạo điều kiện cho những ai muốn thưởng thức lại hoặc những ai không có điều kiện tham dự các buổi hòa nhạc này có thể nghe trong chương trình  Concert Hour phát sóng sau đó.  Người bảo trợ cho Schumannfest tại Bonn là tổng giám đốc DW Peter Limbourg. “Sự hỗ trợ của DW là sự thúc đẩy rất lớn với chúng tôi và từng giúp cho âm nhạc của Robert Schumann được nhiều người dân ở các quốc gia khác biết đến. Trong năm nay, điều tương tự đến với các sáng tác của Clara Schumann”, Markus Schuck nói. “Các nghệ sỹ khám phá Schumann và đến lượt DW góp phần trải rộng nó trong đời sống văn hóa toàn cầu”.  Cùng với một nhóm nhỏ những người thực hiện, Schuck đã tổ chức Schumannfest trên một lượng kinh phí hỗ trợ cơ bản bởi festival chỉ nhận được một hỗ trợ rất nhỏ. “Chúng tôi đang điều hành lễ hội dựa trên sự tối thiểu có thể của nguồn lực hiện có”, Schuck nói. “Việc duy trù một cấu trúc tổ chức festival sẽ đòi hỏi một lượng thành viên được trả lương dài hạn. Nhưng việc tri ân và tưởng nhớ những nhà soạn nhạc tài năng như Robert và Clara Schumann là động lực đầy ý nghĩ để chúng tôi tiếp tục thực hiện công việc”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/at-the-schumannfest-its-about-clara-and-other-women-in-music/a-49011536    Author                Quản trị        
__label__tiasang Scott Pruitt: Người đe dọa các nghiên cứu môi trường      Scott Pruitt, đứng đầu cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (Environmental Protection Agency – EPA), nhưng lại là một người hoài nghi và phủ nhận hiện tượng biến đổi khí hậu trên toàn cầu chính là một trong 10 nhân vật được Nature bình chọn là gương mặt của năm 2017. Trái ngược với những gương mặt khác có đóng góp cho nghiên cứu khoa học, Scott Pruitt lọt vào danh sách này bởi những hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới nghiên cứu về môi trường ở Mỹ và làm dấy lên nhiều lo ngại trong giới khoa học.      Biển phản đối Pruitt “Pruitt – kẻ gây ô nhiễm”.  Khi hàng nghìn người xuống đường diễu hành vì khoa học vào tháng tư năm ngoái, rất nhiều người đã giơ cao những tấm biển phản đối Scott Pruitt, một người hoài nghi và phủ nhận hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu và sau đó đã trở thành giám đốc EPA. Scott Pruitt là một trong những người chỉ trích gay gắt EPA trước khi được tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump chọn ông vào vị trí đứng đầu cơ quan này. Pruitt từng kiện EPA 14 lần trước đây, khi ông còn là tổng công tố ở Oklahoma. Deborah Swackhamer, nhà hóa học môi trường tại Đại học Minnesota ở St Paul, từng là người đứng đầu Ban tư vấn Khoa học của EPA cho đến trước khi Pruitt xây dựng bộ máy mới ở EPA, cho biết: “Pruitt có đầy đủ các yếu tố cần thiết để thực sự gây nguy hại [cho khoa học]”.  Sau khi nhậm chức vào tháng hai năm ngoái, Pruitt ngay lập tức đã ngăn chặn hoặc bãi bỏ hàng loạt quy định về bảo vệ môi trường, bao gồm các quy định về phát thải, khai thác mỏ và về chất thải độc hại. Ngành công nghiệp hóa chất và nhiên liệu hóa thạch đã rất vui mừng khi Pruitt được bổ nhiệm. Jeffrey Holmstead, luật sư của công ty luật Bracewell ở Washington DC, người thường đại diện luật pháp cho các công ty trong ngành năng lượng công nghiệp, nói: “Ông ấy làm những gì ông cho là đúng và dường như không quan tâm về những lời chỉ trích mà mình có thể nhận từ các nhóm khác nhau”. EPA cũng đã không phản hồi lại thông tin gì với Nature khi phóng viên của Nature đặt vấn đề muốn có một buổi phỏng vấn với Pruitt.  Sau đó, vào tháng 10, Pruitt đã thông báo rằng các nhà khoa học được EPA tài trợ sẽ không được phép có mặt trong các ủy ban tư vấn độc lập của cơ quan này, với nguyên nhân đưa ra là bởi vì có những xung đột lợi ích. Kết quả là, cơ quan này đã miễn nhiệm một nửa số thành viên của một số ban cố vấn khoa học. Hầu hết các vị trí bỏ trống đó sau đó được thay thế bởi những người làm trong các ngành công nghiệp và các nhà khoa học có mối quan hệ với giới công nghiệp.  Nhiều nhà khoa học, nhân viên của EPA đặc biệt lo lắng về tương lai của họ. Chính quyền Trump đã đề xuất cắt giảm 40% ngân sách cho ban nghiên cứu và phát triển của EPA, sẽ dẫn tới khả năng phải cắt giảm các vị trí nghiên cứu của EPA. “Chúng tôi biết rằng ông ấy không phải nhà quản lý ủng hộ khoa học, nhưng tôi thực sự ấn tượng với những cách thức mà ông ấy hủy hoại khoa học và các nhà khoa học ở cơ quan này”, Gretchen Goldman, một nhà phân tích, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Khoa học và dân chủ của Hiệp hội các nhà khoa học quan ngại (Union of Concerned Scientists) tại Washington DC nói.  Bảo Như dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ có “Xe bay”      Theo Giáo sư Paul Saffo của ĐH  Stanford, 25 năm tới, xe bay không sử dụng dầu,  chỉ dựa vào điện năng và hydro, sẽ không còn là giấc mơ nữa.       Hiện nay một số nhà chuyên nghiên cứu về tương lai đã bắt đầu triển khai công việc này.   Nhà phát minh Paul Moller cho biết họ đang nghiên cứu phát minh xe bay đặt tên là M-400. Moller nói, loại máy này có thể cất cánh và hạ cánh thẳng đứng, thậm chí quay trong không gian, tốc độ tối đa có thể đạt được là 480km/h. Moller cho rằng, trong tương lai không xa xe bay sẽ là một trong những phương tiện giao thông phổ biến nhất. Công việc nghiên cứu này hiện đang trong giai đoạn đầu, thiết bị vẫn chưa thể bay với khoảng cách xa, nhưng xe do họ nghiên cứu đã có thể cất cánh trong cự li ngắn. Ngoài M-400, ở Mỹ còn nhiều trung tâm khác đang trong quá trình nghiên cứu chế tạo xe bay này. Như MIT đang nghiên cứu biến xe hơi và máy bay trở thành một. Một công ty khác ở Texas nghiên cứu xe hơi lên thẳng v.v. Nhưng điểm chung giữa các thiết kế là không sử dụng xăng làm nhiên liệu mà lựa chọn điện năng hoặc hydro.     Cận cảnh xe bay M-400  Giá thành của xe bay cũng không hề rẻ chút nào, theo phỏng đoán giá xe bay của Moller sẽ vào khoảng 500.000 USD. Các chuyên gia về giao thông cho rằng nguyên nhân chính dẫn tới có nhiều người nghiên cứu đề tài này một phần là vì sự ham mê tìm tòi và ưa mạo hiểm, nhưng nguyên nhân chính dẫn tới điều này là do đòi hỏi từ tình hình giao thông trên thực tế. Chúng ta muốn sử dụng không gian một cách tối đa để tránh khỏi tình trạng ách tắc giao thông hiện nay.   Moller nói: “Trong tương lai, bạn chỉ cần ngồi vào một chiếc xe bay, bắt đầu từ một bãi đỗ mà bạn có thể lên thẳng bạn chỉ cần gõ địa chỉ cần tới trên máy tính là xong- hệ thống sẽ tự động điều khiển để đưa bạn tới nơi. Hiện nay kỹ thuật chế tạo xe bay đã có, vấn đề chính là phải đảm bảo được an toàn giao thông trên không. Để đảm bảo được độ an toàn, chúng ta sẽ từ những lái xe trở thành hành khách, và việc lái xe sẽ được giao lại cho máy tính.”  Nhị Giang dịch theo Tân Hoa Xã         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ thành lập IoT Innovation Hub vào năm 2019      “IoT Innovation Hub” sẽ là một môi trường thuận lợi hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo về IoT, tạo ra các ứng dụng IoT mới, hỗ trợ sản xuất thử nghiệm, hỗ trợ kết nối các nhà đầu tư và thương mại hóa sản phẩm.      Nằm trong khuôn khổ chuỗi hoạt động đổi mới sáng tạo năm 2018 tại Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 28 tháng 11 năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Công ty Ericsson ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác thiết lập “IoT Innovation Hub”.  Tại buổi ký kết, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đã thực sự trở thành động lực quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của các nền kinh tế, là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới của cuộc CMCN 4.0 đang mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam với kỳ vọng tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và bền vững trong tương lai.     Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Tổng giám đốc EricssonViệt Nam, Myanmar, Campuchia và LàoDennis Brunetti ký kết bản ghi nhớBộ trưởng Chu Ngọc Anh cũng chia sẻ, trên thực tế, Việt Nam còn chưa bắt kịp với những xu thế và bản chất của cuộc cách mạng này. Chính phủ Việt Nam nhận thức rất rõ về điều này, về nhu cầu cấp bách xây dựng một chiến lược quốc gia với các nhiệm vụ, giải pháp phát triển nền kinh tế số và các ngành công nghiệp 4.0.  Biên bản ghi nhớ này thể hiện sự nỗ lực của Bộ KH&CN trong việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo để phát huy tiềm năng của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. “IoT Innovation Hub” sẽ là môi trường thuận lợi hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo về IoT. Trung tâm này cũng sẽ hỗ trợ các nhóm nghiên cứu tạo ra các ứng dụng IoT mới, hỗ trợ sản xuất thử nghiệm, hỗ trợ kết nối các nhà đầu tư và thương mại hóa sản phẩm.  Thỏa thuận hợp tác chiến lược được ký kết bởi Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và ông Dennis Brunetti, Tổng giám đốc Công ty Ericsson Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Lào. Lễ ký kết diễn ra tại buổi lễ “Nobel Inspired Gala Dinner” do Đại sứ quán Thụy Điển tổ chức tại Hà Nội. Sự kiện và lễ ký kết này đánh dấu 50 năm quan hệ song phương giữa Thụy Điển và Việt Nam và 25 năm ngày thành lập Ericsson tại Việt Nam.  Phát biểu tại lễ ký kết, ông Dennis Brunetti cho biết sự kết nối và đặc biệt IoT là một công nghệ nền tảng cho cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ông nhấn mạnh: “Bằng việc thiết lập IoT Innovation Hub phối hợp với Bộ KH&CN, Ericsson kỷ niệm 25 năm thành lập tại Việt Nam bằng cách đầu tư vào tương lai của đất nước, lấy đổi mới công nghệ thông tin là động cơ cho sự tăng trưởng và thịnh vượng của quốc gia.”  Bộ trưởng Chu Ngọc Anh đánh giá cao việc ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác với công ty Ericsson: “Chúng tôi vui mừng với việc ký kết Bản Ghi nhớ và đồng hành cùng Công ty Ericsson. Với hơn 140 năm kinh nghiệm về phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Ông cũng cho rằng Thụy Điển và Việt Nam đều có những lợi thế nhất định và sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng này sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Trong đó Thụy Điển là quốc gia phát triển về kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ và Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế hàng năm ở mức cao, dân số trẻ, thị trường tiêu dùng lớn và lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ, được đào tạo tốt.  Dự kiến “IoT Innovation Hub” sẽ được đặt tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và triển khai hoạt động vào Quý I năm 2019.  Nguồn: khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo tại Việt Nam      Ngày 28/11, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Tập đoàn XINOVA đã ký Biên bản ghi nhớ về việc hợp tác với mong muốn thành lập, quản lý và vận hành Trung tâm Đổi mới sáng tạo trực thuộc Bộ KH&CN tại Hà Nội.    ​Bộ KH&CN và XINOVA thống nhất cùng nhau: (i) Xây dựng thỏa thuận thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo với đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu của các dự án và hoạt động của Trung tâm; (ii) Cung cấp quyền tiếp cận với các tài năng trong nước và cơ hội dự án tại Việt Nam; (iii) Cung cấp Dịch vụ Quản lý Đổi mới sáng tạo để đồng quản lý Trung tâm; (iv) Phát triển các dự án của Trung tâm bằng cách tìm nguồn cung ứng của các nhà sáng tạo và công nghệ toàn cầu và tại nước sở tại. Học viện Khoa học, Công nghệ và Đối mới Sáng tạo Việt Nam (thuộc Bộ KH&CN) sẽ là cơ quan đầu mối thực hiện Bản ghi nhớ này với XINOVAđể tiến tới những thỏa thuận tiếp theo.  Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh phát biểu tại lễ ký kếtPhát biểu tại Lễ ký kết, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho biết: Với lịch sử hình thành và phát triển đầy ấn tượng của XINOVA, Bộ KH&CN hoàn toàn tin tưởng rằng Trung tâm này sẽ kết nối các nhu cầu đổi mới sáng tạo của các tập đoàn, công ty trong nước với mạng lưới hơn 12 nghìn nhà khoa học, nhà sáng tạo toàn cầu, tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các kỹ sư Việt Nam tham gia mạng lưới này, cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ làm quản lý công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp cận với những phương thức thúc đẩy đổi mới sáng tạo mới của thế giới. Việc ký kết Thỏa thuận ghi nhớ (MoU) giữa Bộ KH&CN Việt Nam và XINOVA sẽ tạo lập các điều kiện cho việc thành lập và vận hành Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu tại Việt Nam.    Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy và Chủ tịch của XINOVA Hàn Quốc và Khu vực Đông Nam Á, Yong Sung Kim ký kết biên bản ghi nhớ. Ảnh: Mai Hà.       “Chúng tôi rất tự hào được làm việc với Bộ KH&CN để giúp các nhà sáng tạo Việt Nam thể hiện danh tiếng của họ – chính là danh tiếng của Việt Nam – với giải pháp cho các vấn đề trên thế giới, đồng thời tạo ra các giá trị kinh tế”. Ông Yong Sung Kim, Chủ tịch của XINOVA tại Hàn Quốc và Khu vực Đông Nam Á nhấn mạnh, “Đổi mới sáng tạo đang chuyển từ các trung tâm địa lý truyền thống trở thành một xu thế toàn cầu. Giải pháp cho các vấn đề ở Việt Nam đang vượt ra khỏi biên giới Việt Nam”, bởi vì “việc kết nối nguồn cung toàn cầu và nhu cầu đổi mới là điều tối quan trọng trong nền kinh tế công nghệ mới”.      XINOVA có trụ sở chính tại Seattle và các chi nhánh tại Bắc Kinh, Bangalore, Helsinki, Israel, Seoul, Singapore, Sydney, Tokyo và Viên có một mạng lưới gồm 12.000 nhà khoa học, sáng tạo trên toàn cầu. Tiền thân Xinova là Quỹ Phát triển phát minh (Invention Development Fund) do nguyên giám đốc công nghệ của Microsoft Nathan Myhrvold sáng lập vào năm 2008.      Lễ ký kết nằm trong chuỗi hoạt động đổi mới sáng tạo năm 2018 do Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện.   Bộ KH&CN với chức năng quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo, đã triển khai các hoạt động phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia qua nhiều dự án, đề án như: Dự án IPP hợp tác với Phần Lan đã hỗ trợ tài chính cho 35 dự án về khởi nghiệp, hỗ trợ đào tạo hơn 150 giảng viên nguồn về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo từ 50 trường đại học; dự án BIPP hợp tác với Vương Quốc Bỉ hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp; dự án VCIC hợp tác với Ngân hàng thế giới hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ứng phó với biến đổi khí hậu; Đề án quốc gia 844 với các nội dung phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo như xây dựng chính sách, đào tạo giảng viên nguồn, đến việc hỗ trợ thành lập các câu lạc bộ khởi nghiệp, tổ chức ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, phát triển các quỹ đầu tư. Các dự án và đề án trên nhằm nâng cao chất lượng khởi nghiệp, kết nối các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước cũng như giữa hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo Việt Nam với mạng lưới các hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trên thế giới.  Cũng tại buổi lễ ký kết, bà Lien Verbauwhede Koglin, Cố vấn Phòng hỗ trợ khởi nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa của WIPO cho biết, Việt Nam là một trong các quốc gia được WIPO lựa chọn tham gia Dự án “Khởi tạo môi trường sở hữu trí tuệ” (EIE).  Nguồn: khoahocphattrien.vn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Selfie trên đá: chân dung bị dấu kín trong nhà thờ Tây Ban Nha 900 năm tuổi      Một nghiên cứu đầy cẩn trọng của nhà lịch sử nghệ thuật Anh về nhà thờ Santiago de Compostela đã khám phá ra một trò nghịch ngợm thời Trung Cổ.      Nhà thờ thế kỷ 12 Santiago de Compostela ở Galicia thu hút hàng trăm người hành hương mỗi năm.   Đó là một hình khắc chân dung một người đàn ông vào thời điểm đầu thế kỷ 12 ở một trong những nhà thờ tôn nghiêm nhất thế giới nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa có ai biết đến sự tồn tại của nó. Nhiều thế kỷ qua, hàng triệu người sùng đạo đã đổ về Santiago de Compostela ở Galicia, Tây bắc Tây Ban Nha hành hương nhưng không ai quan sát được hình ảnh đó. Nhân vật này nhìn xuống họ từ đỉnh một trong những cột đá lớn của nhà thờ. Mỗi cột được trang trí bằng hoa lá khắc vào cột, giữa tán hoa lá đó là khuôn mặt nhân vật bí ẩn này.  Hiện tại thì một học giả nghệ thuật Anh đã phát hiện ra anh ta. Bà tin là anh ta trên thực tế là một nhân vật vô danh, chưa từng được thấy bởi vì “anh ta” chính là bức điêu khắc tự họa của một người thợ đá từng làm việc trong nhà thờ vào thế kỷ 12.  “Chân dung được tìm thấy trong một công trình kiến trúc thời Trung cổ”, tiến sĩ Jennifer Alexander nói với Observer. “Những người thợ thường đứng trong bóng tối, nơi không ai có thể thấy họ. Việc trang trí này là một phần của việc xây dựng, do đó anh phải là một trong số những người thợ mới có thể quan sát được các hình vẽ. Nó nằm gọn trong một tập hợp toàn bộ các đầu cột.  Thực sự đây là một kết nối thú vị giữa chúng ta và người đã tạo ra nó. Có lẽ anh ta không biết rằng mình phải đợi quá lâu mới được người đời sau phát hiện”.  Dù nhiều thợ thủ công có tài nghệ khác thường nhưng họ lại hoàn toàn vô danh, tên của họ đã bị lịch sử lãng quên. Do đó, bức chân dung này là “chứng tích” mà người thợ đã dùng để ghi lại trong công trình của chính mình.  Alexander là một chuyên gia về lịch sử nghệ thuật tại trường đại học Warwick, đặc biệt là lịch sử kiến trúc của các nhà thờ và thánh đường cổ thời kỳ Trung cổ. Bà đã khám phá ra nhân vật này trong khi triển khai một cuộc nghiên cứu đầy phức tạp về Santiago de Compostela, một di sản văn hóa Unesco.  Điều làm nên sự quan trọng của Santiago de Compostela là nó liên quan đến Camino, con đường hành hương băng qua hàng trăm dặm đế đến mộ của thánh James, một trong số12 tông đồ của Chúa Giêsu, vốn được đặt trong khuôn viên thánh đường. Sức hút của nó không giảm theo thời gian. Chỉ tính riêng năm 2019, con số chính thức của những người hành hương đến với thành phố này đã là 350.000 người.    Thánh đường này bắt đầu được xây dựng vào cuối thế kỷ 11 và trở thành một trong số những kiệt tác của kiến trúc La mã. Alexander đã thực hiện một phân tích về đá để hiểu về chuỗi cấu trúc của nó trong một dự án do chính quyền vùng Galician tài trợ. Khi nghiên cứu các đầu cột, nơi cách mặt sàn 13 mét, thì “thấy khuôn mặt này hiện ra”, bà kể lại.  “Một hình ảnh đáng yêu của một thằng cha treo ở giữa đầu cột như thể cuộc đời anh ta gắn liền với nó. Đây là một dạng đầu cột được đặt hàng sẵn theo kiểu ‘chúng tôi cần 15 cột được thiết kế’, và đột nhiên có một cột lại hoàn toàn khác biệt. Vì vậy tôi nghĩ, người thợ đã tự khắc hình ảnh chính mình.  Anh ta xuất hiện trên đầu cột và ‘đu bám’ trên đó. Hầu như đầu cột đã nuốt chửng anh ta”.  Hình điêu khắc đá này cao 30cm, miêu tả anh ta từ đầu đến thắt lưng. Alexander nói: “Anh ta có một nụ cười mỉm dễ thương. Anh ta hài lòng với chính mình. Anh ta đã điêu khắc một cách tuyệt vời một gương mặt hết sức biểu cảm.”    Tiến sĩ Jennifer Alexander thực hiện phân tích đá trong thánh đường Santiago de Compostela.   Những người thợ đá thời kỳ Trung cổ có được tay nghề này thông qua thời gian học nghề, quãng thời gian họ rèn luyện gian khổ việc cắt đá hoặc sử dụng các khuôn để tạo ra những đường gờ phức tạp xung quanh ô cửa và những khung cửa khác. Những người thợ đá tài năng nhất đều đã học hình học để có thể thiết kế và quản lý các công trình kiến trúc. Alexander cho biết: “Những bậc thầy này phải có nhiều kỹ năng để họ có thể đảm trách phần kỹ thuật, cung cấp vật liệu, thuê nhân công và thỏa thuận với các nhà bảo trợ, những người có thể là một thành viên quan trọng của tăng đoàn hoặc giới quý tộc.”  Bà cho biết thêm là nhiều thợ thủ công vẫn còn vô danh trong hàng thế kỷ, ngay cả thời điểm gần đây “Khi xây dựng tòa thánh đường ở Liverpool vào thế kỷ 20, danh sách những người thợ làm việc đã được công khai nhưng những người thợ đá thì chưa bao giờ được đề cập đến. Vì vậy họ vẫn là ‘những kẻ vĩ đại vô danh’”.  Thanh Phương dịch  Nguồn và và ảnh: https://www.theguardian.com/culture/2020/nov/01/a-selfie-set-in-stone-hidden-portrait-by-cheeky-mason-found-in-spain-900-years-on    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Sếp của tôi là một cái máy tính”      Thế giới lao động đang đứng trước làn sóng  tự động hóa mới, giờ là lúc ngay cả lao động trí tuệ cũng lâm vào tình  trạng bị đe dọa.     Danh sách đỏ những công việc có nguy cơ bị tự động hóa     Vào thế kỷ 19, nếu máy hơi nước từng làm cho vô vàn lao động cơ bắp bị dôi dư thì ngày nay các con chip và thuật toán có khả năng thay thế cho lao động trí tuệ.   Ngay từ bây giờ đã thấy những công việc bàn giấy mang tính kinh điển sẽ ngày càng ít hơn. Chẳng hạn, năm 2005, việc tìm kiếm thông tin pháp luật tiêu tốn tới 45.000 giờ lao động của tập đoàn năng lượng Constellation Energy. Giờ đây, Constellation Energy dùng phần mềm tìm kiếm Clearwell của chuyên gia an ninh Symantec. Công việc mà trước đây các nhân viên phải mất cả ngày trời để giải quyết thì Clearwell có thể xử lý trong ít phút mà không hề lo đau đầu.   Theo tính toán của hãng tư vấn McKinsey, năm 2025 những cỗ máy thông minh có thể thực hiện công việc của 140 triệu lao động trí thức, trong đó bao gồm khoảng 25 đến 30 triệu lao động trong ngành y tế và giáo dục, và 10 triệu lao động trong ngành luật và tài chính.           Cứ sau hai năm, năng lực tính toán của các  chip máy tính lại tăng gấp đôi – và xu hướng này đang tiếp diễn. Ngay cả  iPhone 4 cũng đã có khả năng tính toán mạnh như siêu máy tính hàng đầu  vào thời điểm năm 1975, khi đó giá của loại máy tính này lên tới 5 triệu  USD/chiếc.        Trên cơ sở nghiên cứu 700 nghề khác nhau ở Mỹ, Carl Benedict Frey và Michael Osborne thuộc Đại học Oxford nhận định, quá trình tự động hóa là nguy cơ đối với những người làm việc trong lĩnh vực tín dụng, tư vấn bảo hiểm, thư viện, dược phẩm, và thậm chí cả các đầu bếp. Tổng cộng có tới 47% việc làm ở những lĩnh vực này có nguy cơ bị máy tính thay thế. Điều này chưa diễn ra nay mai nhưng sẽ diễn ra trong vòng hai thập niên tới.   Kenneth Brant, giám đốc nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường Gartner, thậm chí còn cho rằng, số việc làm bị mất đi sẽ lớn hơn so với số việc làm mới mà thị trường có thể tạo ra.  Nhưng nhà tương lai học Sven Janszky đã bác lại sự bi quan này: “Chúng ta có thể vui mừng khi công nghệ đảm nhiệm công việc của chúng ta – điều này làm giảm cơn đau của các doanh nghiệp khi bị thiếu lao động lành nghề.”  Những cỗ máy, phần mềm thông minh nhất hiện nay  Cách đây không lâu, khó mà tưởng tượng máy tính có thể soạn nổi một văn bản, thế mà giờ đây bỗng nhiên chúng có thể hoàn thiện cả một cổng tin tức. Hoặc chúng có thể như điện thoại thông minh Smartphone-App Wibbitz, cắt dán những thước phim và tự động kết nối thành video-tin tức tựa như một robot về tin tức thời sự.  Máy tính đã học được cách đánh giá núi dữ liệu khổng lồ thông qua những thuật toán thông minh. Các nhà nghiên cứu gọi kỹ thuật này là Deep Learning, trong đó máy tính nhận ra những thông tin cần thiết giữa một khối lượng dữ liệu to lớn, chưa được sắp xếp thành những hình mẫu (pattern) – và ở đó chúng có thể học được tựa như bộ não của con người. Với phương pháp tương tự, cách đây ba năm, siêu máy tính Watson của IBM đã giành phần thắng tại vòng chung kết cuộc thi đố Jeopardy trên truyền hình Mỹ trước hai ứng viên con người. Mỗi giây Watson có thể tìm kiếm khoảng 500 Gigabyte dữ liệu – tương đương khoảng một triệu cuốn sách. Nó cũng có thể học hỏi thêm qua từng quá trình tương tác. Từ tháng 11 vừa qua, IBM cho phép các chuyên gia lập trình được kết nối Smartphone-Apps của họ với Watson. Nhờ đó các máy điện thoại cầm tay không lâu nữa có thể thực hiện các dịch vụ trên cơ sở trí tuệ nhân tạo tiên tiến nhất.  Hằng ngày, tập đoàn bán hàng qua mạng khổng lồ Otto dùng phần mềm tính toán dự báo bán hàng đối với từng loại sản phẩm trong tổng số 2 triệu mặt hàng của mình. Máy tính dựa vào khoảng 200 yếu tố ví dụ như dự báo thời tiết hoặc kế hoạch quảng cáo. Từ lâu, thương mại trực tuyến không còn cần đến những điều độ viên tay cầm bút bi và phiếu tính toán.  Tuy những thiết bị kỹ thuật còn chưa thật sự hoàn hảo nhưng do điện thoại thông minh – những trợ lý cá nhân, luôn học được thêm nên chúng ngày càng hữu dụng hơn đối với người dùng. Thí dụ Cortana là một dịch vụ mới của Microsoft có khả năng thu thập những thông tin quan trọng liên quan đến người dùng – câu lạc bộ mà người đó yêu thích, chỗ ở v.v… – để ghi vào một sổ tay ảo. Các chuyên gia nghiên cứu thị trường của Forrester cho rằng, không lâu nữa, mỗi chúng ta đều có một trợ lý ảo dưới dạng một microphone ghim trên người, nó có thể đặt mua hàng cho chủ trên mạng Internet hoặc nhắc chủ về những khoản tiền cần thanh toán v.v…  Một làn sóng tự động hóa mới cũng đang thâm nhập các nhà xưởng sản xuất. Hãng chế tạo robot của Anh Engineered Arts đã chế tạo một con robot dịch vụ (Socibot) mang tên Androide. Hai máy ghi hình và cảm ứng không gian giúp Androide có thể thực hiện các cuộc trò chuyện đơn giản và thông qua những biểu hiện trên mặt người đối diện, nó có thể biết tâm trạng vui, buồn của người đó. Giá một con Socibot khoảng 17.600 Euro.   Thậm chí ngay cả ở lĩnh vực hết sức phức tạp như y học, người máy cũng đã được đưa vào sử dụng. Các phần mềm như R2 Digital CAD của hãng Hologic có khả năng tìm trên tấm phim Rontgen các khối u ung thư. Hiện tại thường cần hai bác sỹ để kiểm tra một tấm nhũ ảnh (Mammography), nay mai công việc này chỉ cần một bác sỹ và một máy tính.  Siêu máy tính Watson của IBM cũng có thể đưa ra những lời khuyên dành cho các bác sỹ điều trị bệnh nhân ung thư, Chẳng hạn tại Trung tâm Ung thư Sloan Kettering ở New York, các chuyên gia y học nạp vào Watson trên hai triệu trang tài liệu cùng những ghi chép của các bác sỹ và y tá. Chỉ vài giây sau khi được cung cấp các triệu chứng của bệnh nhân, Watson đã có thể đưa ra những lời khuyên phù hợp về cách thức điều trị. Theo chuyên gia IBM, Watson được cung cấp những kết quả nghiên cứu mới nhất mà nếu các bác sỹ muốn cập nhật thì mỗi tuần họ phải bỏ ra 160 giờ đọc tài liệu.   Vậy nghề nào còn yên ổn?  Theo các nhà nghiên cứu Frey và Osborne ở Đại học Oxford, những nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như các nhà kỹ thuật, kiến trúc sư hoặc thẩm phán tòa án sẽ còn được sử dụng lâu dài. Những công việc đòi hỏi sự thuần thục và khéo léo mà robot không dễ gì làm thay, như thợ cắt tóc, nhân viên xoa bóp, cũng sẽ tồn tại một thời gian nữa. Bên cạnh đó, những nghề đòi hỏi phải có sự sáng tạo và rung cảm cao như vũ công, nhà văn, nhân viên giữ trẻ, huấn luyện viên yoga và chuyên gia tâm lý… cũng khó mà tự động hóa được.  Với sự hỗ trợ của robot, con người sẽ có nhiều thời gian để làm những công việc lý thú hơn. Có lẽ, trong tương lai sẽ xuất hiện một loạt nghề mới mà hiện nay con người chưa hình dung nổi, thí dụ, sẽ có nhà thiết kế Avatar, nhà phân tích bộ gien, đầu bếp chuyên làm các món ăn từ máy in 3D.  Câu hỏi đặt ra là: Cái xã hội mà ở đó số người có những công việc kiếm được nhiều tiền ngày càng ít đi, còn những người khác lại lệ thuộc vào sự thịnh vượng do các cỗ máy thông minh tạo ra sẽ có hình hài như thế nào?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Shibusawa Eiichi: Doanh nhân lập quốc vĩ đại của Nhật Bản minh trị      Đầu tháng 4/2019, ngân hàng Nhật Bản chính thức công bố sẽ phát hành ba loại giấy bạc trước thềm một thời kỳ mới bắt đầu với sự lên ngôi Hoàng đế của hoàng thái tử Naruhito ngày 1 tháng 5 vừa qua. Giấy bạc mệnh giá 10.000 Yên, cao nhất trong ba đồng tiền mới, có ảnh của Shibusawa Eiichi, sẽ lưu hành chính thức năm 2024, thay cho giấy bạc cùng mệnh giá có ảnh của nhà khai sáng Yukichi Fukuzawa. Vậy Shibusawa là ai?         Doanh nhân Shibusawa Eiichi. Nguồn: Wikipedia    Nhật Bản làm một cuộc canh tân Minh Trị 150 năm trước thành công ngoài dự đoán của thế giới. Một đảo quốc nhỏ ở phương Đông bỗng nhiên biến thành đại bàng sải cánh, trở thành một cường quốc kinh tế-quân sự, và một quốc gia văn minh ở vùng mà các dân tộc khác chưa tỉnh lại từ giấc ngủ nghìn năm. Để có thành công đó, Nhật Bản đã sản sinh có vô số “anh hùng” trên mọi địa hạt, mọi bậc thang xã hội. Trên hết, những anh hùng nổi bật như Fukuzawa Yukichi trong lãnh vực tư tưởng và khai minh định hướng, Ito Hirobumi trong lãnh vực chính trị và lập quốc, và trong lãnh vực có tính quan trọng sống còn của một quốc gia, Shibusawa Eiichi, nhà doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và nhà tổ chức kinh tế lỗi lạc thuộc “đệ nhất thiên hạ”.  Shibusawa là một người tài ba, tâm huyết, và có năng lực ngoại hạng, và những cống hiến vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển toàn khu vực kinh tế tư nhân qua sự hình thành một “giai cấp doanh nhân mới” làm trụ cột vững chắc. Giai cấp doanh nhân này phải được xây dựng hoàn toàn mới, bởi nó không thể kế thừa từ di sản của quá khứ thời Tokugawa chút nào, từ cách làm ăn, quan điểm, tầm nhìn, trình độ tri thức công nghiệp hiện đại, đến những chuẩn mực đạo đức, tinh thần yêu nước, phụng sự và dâng hiến cho quốc gia. Cho dù được khai sáng, có một nhà nước vững mạnh, nhưng không có một giai cấp doanh nhân đổi mới sáng tạo có năng lực, đi đúng quỹ đạo thế giới, thì cũng không thể đạt tới “quân hùng dân mạnh”. Thực tế, Shibusawa chính là người được ví như “Người cha của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản”, và là “giáo sĩ” truyền bá không mệt mỏi “phúc âm” của sự phồn vinh, tiến bộ, và thúc đẩy hình thành nền kinh tế hiện đại cũng như một giai cấp doanh nhân mới đầy năng lực và trách nhiệm như điều ông muốn.      Ông cũng đã nhìn thấy, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa quan liêu là hai kẻ thù nguy hiểm của kinh tế. Ông luôn luôn nhấn mạnh đến sự độc lập đối với chính quyền, bởi ông từng chứng kiến khuynh hướng các doanh nghiệp Minh Trị hay dựa dẫm vào tiền bao cấp của chính quyền, và những hợp đồng béo bở mà các zaibatsu (“tập đoàn tài phiệt”) thường là những người hưởng lợi. Ông chống lại chủ nghĩa phân biệt đối xử, chủ nghĩa hậu đãi đang diễn ra. Vương quốc lớn nhất của ông là quốc gia và những quyền lợi tối thượng của nó, là cộng đồng doanh nghiệp, mà ông là người đầy tớ trung thành.      Shibusawa là con trai của một gia đình nông dân giàu có, có học, có văn hóa. Những năm đầu của tuổi trẻ, ông chao đảo giữa việc phục vụ chính phủ và hỗ trợ phong trào lật đổ chính phủ Mạc phủ Tokugawa, vì nó tỏ ra bất lực trong cuộc canh tân triệt để đất nước trước nguy cơ bị lệ thuộc. Sau khi được nâng lên quy chế samurai do những đóng góp tốt, ông phục vụ chế độ Shogun cho đến khi chế độ này bị lật đổ năm 1868. Một sự kiện có tầm quan trọng đối với tương lai ông là vào năm 1867, ông được chọn tháp tùng người em của Shogun cầm quyền, Akitake, đi dự Triển lãm Quốc tế Paris. Triển lãm nằm dưới sự bảo trợ của Napoleon III, diễn ra từ tháng 4 đến tháng 11, với 42 quốc gia đại diện, thu hút tổng cộng 15 triệu người xem. Trong số các vị khách đặc biệt có Nga hoàng II, Vua Wilhelm và Thủ tướng Otto von Bismarck của Phổ, và một số vị quan trọng khác.  Trong cuộc triển lãm này, nhà sản xuất công nghiệp Đức Krupp lần đầu tiên trưng bày loại súng cà-nông có trọng lượng đến 50 tấn làm bằng thép, và thực tế nó sẽ dẫn đến hệ quả khôn lường trong thế cờ chính trị châu Âu qua cuộc chiến tranh Phổ-Pháp diễn ra chỉ vài năm sắp tới. Trong chuyến công du Iwakura năm 1871-1873 các nhà lãnh đạo Nhật sẽ thăm tập đoàn sản xuất Krupp tại thành phố Essen.  Chuyến đi này mở mắt Shibusawa. Ông ấn tượng trước các công ty cổ phần (joint-stock) bề thế của châu Âu, nhìn thấy trong đó một thông điệp quan trọng cho Nhật Bản: các cường quốc công nghiệp châu Âu là mô hình phát triển cho Nhật Bản. Những công trình công nghiệp lớn không thể nào được thực hiện mà không có sự chung sức của nhiều nguồn lực và tài năng lãnh đạo. Loại hình công ty này có lịch sử lâu đời ở châu Âu từ thời Trung cổ và ngày càng phát triển ở những thế kỷ 16, 17, vượt khỏi khuôn khổ gia đình. Các nhà công nghiệp lớn đều có tầm nhìn quốc gia và quốc tế. Muốn trở thành cường quốc kinh tế, Nhật Bản cũng phải làm ăn lớn, sản xuất lớn, và muốn thế phải có các công ty cổ phần lớn làm nền tảng. Nhưng lấy đâu ra những công ty cổ phần lớn đó ở Nhật Bản? Phần lớn giới kinh doanh vẫn còn làm ăn manh mún với tâm tính lạc hậu thời phong kiến.       Quê nhà của Shibusawa Eiichi. Nguồn: Viện bảo tàng Shibusawa Eiichi, Fukaya, Saitama    Khi trở về nước, Shibusawa được Ōkuma Shigenobu (người xây dựng Đại học Wasade năm 1882), lúc này là Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính quyền mới 1868, thuyết phục nhận một vị trí trong Bộ Tài chính, ở đó ông làm việc chặt chẽ với Inoue Kaoru, thứ trưởng Bộ Tài chính. Đến năm 1872, ông tự ý rời bỏ vị trí rất hứa hẹn này, vì muốn dấn thân toàn tâm toàn trí vào việc phát triển các lãnh vực công nghiệp và ngân hàng tư nhân. Shibusawa giúp xây dựng “Đệ nhất ngân hàng quốc gia” (Dai Ichi Ginkō) tháng 11, 1872, là ngân hàng cổ phần hiện đại đầu tiên. Với tư cách chủ tịch ngân hàng, ông đóng vai trò then chốt trong việc phát triển các ngân hàng mới, và đào tạo lãnh đạo và sự phát triển các chính sách ngân hàng. Lấy ngân hàng đó làm bàn đạp, ông thành lập hàng trăm công ty cổ phần như Imperial Hotel, Nippon Usen, Nippon Steel, Ngân hàng Tokyo, công ty chứng khoán Tokyo, công ty kéo sợi Osaka và Bia Sapporo và thực tế can dự vào tất cả doanh nghiệp liên quan đến sự phát triển công nghiệp của đất nước, hệ thống hỏa xa, các công ty tàu thủy, đánh cá, công ty in, nhà máy thép, các nhà máy ga và điện, các tổ hợp khai thác mỏ và dầu hỏa.  Với sự thành công của công ty kéo sợi Osaka, một dạng công ty cổ phần, ông được xem là nhà lãnh đạo tiên phong trong ngành kéo sợi. Sau đó, ông đầu tư nhiều vào ngành đường sắt và vận tải biển, và quảng bá cho hình thức công ty cổ phần như phương tiện tốt nhất để phát triển kinh tế Nhật Bản, đối kháng với hai công ty khổng lồ là Mitsui và Mitsubishi. Về sau, ông cũng là người thành lập các tổ chức xã hội-văn hóa như Phòng thương mại và công nghiệp, Imperial Theater, Đại học Phụ nữ Nhật Bản, Hội chữ thập đỏ Nhật Bản, hỗ trợ cho giáo dục, đặc biệt trong giáo dục bậc cao về kinh doanh như các trường Đại học Hitotsubashi, Tokyo Keizai, giáo dục đại học cho phụ nữ và trường tư. Ông can dự vào khoảng 600 đề án liên quan đến giáo dục, phúc lợi xã hội và những thứ khác.  Để hiểu thêm ý nghĩa của hoạt động kinh tế của Shibusawa, chúng ta cần hiểu bối cảnh kinh doanh tại buổi giao thời. Ở Nhật Bản thời Tokugawa, hầu như không có khái niệm “công ty cổ phần” là gì, và khi bước qua giai đoạn Minh Trị, các nhà buôn giàu có cũng vẫn giữ cách làm ăn cũ dựa trên gia đình là chính, sự hợp tác ngoài gia đình là xa lạ. Mitsui là tiêu biểu, hoạt động của doanh nghiệp này hoàn toàn dựa trên gia đình, và qua đến thời cải cách Minh Trị cũng như thế. Người chủ của nó, Iwasaki Yatarō chống lại chủ trương công ty cổ phần của Shibusawa. Khi chính quyền Minh Trị, với những nỗ lực của Shibusawa, tuyên truyền cho loại hình công ty mới này, thì các nhà buôn thời cũ cũng chỉ làm một động tác duy nhất là thay đổi cái tên ya (cửa hàng) thành kaisha (công ty). Các rào cản giai cấp-xã hội không còn, nhưng vết hằn tâm lý, thói quen vẫn ngự trị trong đầu con người. Ngược lại, samurai là giai cấp dễ dàng chấp nhận hình thức công ty mới, bởi họ không có truyền thống nào cố định. Samurai, nhìn chung, chính là những người tiên phong thực hiện các công ty cổ phần. Năm 1899, nhìn lại sự phát triển của các công ty cổ phần, Shibusawa cho rằng, sự tiến bộ đáng ngạc nhiên của nền công nghiệp và ngân hàng Nhật Bản là do loại hình công ty này, ngược lại với tình hình lạc hậu ở Trung Quốc, nơi kinh doanh chỉ dựa vào gia đình.  Các nhà lãnh đạo kinh doanh sáng tạo (entrepreneurial leaders) thời đầu và giữa Minh Trị là ít ỏi. Họ phải hoạt động trải rộng ra trên nhiều lĩnh vực, để giải quyết những vấn đề cơ bản, nhường lại những vấn đề khác cho những người khác lo. Và một khi khi giải quyết xong, họ đi tìm mục tiêu mới. Shibusawa là nhà lãnh đạo kỳ tài và đa dạng như thế. Ở vị trí này hay vị trí khác, Shibusawa có mối liên hệ với hơn 500 công ty đa dạng loại, phần lớn là những công ty công nghiệp – với tư cách là chủ tịch, giám đốc, tư vấn hay cổ đông. Ông vừa là nhà hoạt động ngân hàng (banker) chuyên nghiệp, cũng như là nhà công nghiệp. Sở dĩ như thế là vì tuy ông biết ít về công nghệ, nhưng ông là người giải quyết được những vấn đề then chốt làm tắc nghẽn doanh nghiệp. Rồi ông giao lại cho quản lý. Khi một nhà máy có vấn đề nan giải, ông có thể xông vào để tìm giải pháp. Shibusawa là “problem solver” – người giải quyết vấn đề, nhà chiến lược và đổi mới sáng tạo của cuộc công nghiệp hóa hiện đại.      Nhóm doanh nhân Nhật Bản tới Hội chợ triển lãm quốc tế Paris năm 1867. Shibusawa Eiichi phía ngoài cùng bên trái hàng sau. Nguồn: Viện bảo tàng Shibusawa Eiichi tại Kita, Tokyo    Các công ty Shibusawa thành lập có những đặc tính sau đây:  1. Một số phần trăm cực kỳ cao các doanh nghiệp là các hình thái hoàn toàn mới chưa bao giờ có mặt ở Nhật Bản trước đó, công ty cổ phần, và đưa vào sử dụng tri thức và công nghệ mới của phương Tây, như công ty kéo sợi Osaka, công ty sản xuất gạch Nhật Bản, công ty Phân bón nhân tạo Tokyo, Bảo hiểm hàng hải Tokyo, Xưởng đóng tàu Ishikawajima Tokyo, công ty giấy Oji, Cty khí Tokyo, và công ty bia Sapporo.  2. Nhiều trong số số các công ty được ông thành lập góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế hiện đại, như hệ thống đường sắt, cảng, khai mỏ, bao gồm công ty đường sắt Nhật Bản, công ty đường sắt Hokkaido, công ty đường sắt Hokuriku, công ty xây dựng cảng Wakamatsu, công ty xây dựng cảng Moji, công ty khai thác mỏ than Iwaki, và công ty khai thác than Nagato không khói.  Shibusawa nhận thấy có sự “siêu thừa thãi” công chức chính quyền, sự thiếu hụt các doanh nhân có năng lực và đầu óc tiến bộ trong khi thanh niên dễ có khuynh hướng đi vào chính trị và quân sự mà đánh giá thấp kinh tế. Cái gì lớn lao và kích động thường được quy về chính quyền, giới chính trị, khiến cho những người trẻ có tham vọng của giai tầng tinh hoa kỳ vọng vào một chức vụ trong chính quyền, hơn là vào công việc kinh tế. Cho nên, việc thu hút tài năng trẻ dấn thân cho hoạt động kinh tế là nhiệm vụ hết sức quan trọng của ông. Theo ông, kinh tế mới là cơ sở của chính trị. Kinh tế yếu, không thể có chính trị mạnh. Vì vậy, ông rời khỏi chức vụ trong Bộ Tài cũng chính là để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân.       Shibusawa đã bắt đầu học hỏi cách ăn mặc kiểu phương Tây và coi phương Tây là hình mẫu học hỏi trong phát triển kinh tế. Nguồn: Viện bảo tàng Shibusawa Eiichi tại Kita, Tokyo.  Tuy có lẽ là doanh nhân lỗi lạc và có tầm nhìn xa nhất trong tất cả các doanh nhân thời Minh Trị, nhưng tại sao Shibusawa không bao giờ tích lũy tài sản trên qui mô của Iwasaki Yatarō, Ōkura Kihachirō, Yasuda Zenjirō, để trở thành một zaibatsu của riêng ông? Ông thành lập hàng trăm công ty mà giờ đây rất nhiều trong đó vẫn còn tên tuổi, nhưng ông không có vương quốc riêng để thống trị? Zaibatsu Shibusawa có, nhưng chỉ để quản lý tài sản ông. Sở dĩ như thế là vì ông nghĩ khác, có nhân cách và mục tiêu tối hậu khác. Ông không phải là doanh nhân chỉ biết tập trung kiếm tiền, tối đa hóa lợi nhuận và tích lũy. Ông thành công với tư cách nhà công nghiệp và nhà ngân hàng, nhưng không phải chỉ xoay quanh tích lũy tài sản. Mối quan tâm trong trái tim ông xa hơn, là giáo dục và xây dựng cộng đồng kinh doanh vững mạnh. Ông hành động như nhà khai sáng công nghiệp, một chính khách, một nhà triết học, và cuối cùng nhưng trên hết, là nhà giáo dục và truyền bá tri thức, như một “giáo sĩ” trong lĩnh vực kinh doanh và đạo đức. Các zaibatsu tích lũy được tài sản và quyền lực của tiền bạc, vì họ tập trung vào đó, và ít quan tâm đến những việc khác. Còn Shibusawa chăm sóc sự phát triển của cả nền kinh tế và cộng đồng doanh nhân, và cuối cùng sống mãi trong ký ức của lịch sử Nhật Bản như người cha của nền kinh tế hiện đại.   Theo ông, sự phát triển kinh tế đòi hỏi không chỉ vốn và công nghệ hiện đại, nhưng căn bản sự chấp nhận một lý tính và đạo đức kinh doanh mới. Trong thời Tokugawa, nhiều giá trị phi-kinh tế dai dẳng bám sát truyền thống và xem thường giới thương nhân, ngăn chặn sự phát triển kinh tế. Theo Shibusawa, doanh nhân – entrepreneur, gồm những nhà công nghiệp, nhà ngoại thương, và nhà ngân hàng − cần có những phẩm chất: giáo dục, chân thật, đức hạnh, nhân cách và một sự tổng hợp giữa Luận ngữ của Khổng Tử và bàn tính (abacus). Ông diễn giải những tính chất này là cái Đạo của Samurai (bushidō) trong thời kinh doanh mới. Hai tính chất quan trọng được đề cập dưới đây.      Sách Shibusawa Eiichi, Vũ Dạ Đàm, chủ trì và dịch giả: TS Nguyễn Lương Hải Khôi, NXB Thế giới và công ty Phương Nam TP HCM hợp tác xuất bản tháng 8/2019.    Giáo dục (gakumon) là điều tất yếu phải có trong thời đại mới. Công nghệ hiện đại và các phương pháp kinh doanh được du nhập từ phương Tây, làm sao có thể kinh doanh mà không học được? Cho nên ông nỗ lực ủng hộ việc thành lập các trường cao đẳng thương mại và các trường định hướng thực tiễn. Gakumon luôn luôn là biểu tượng đẳng cấp của giai cấp samurai. Giai cấp này dưới thời Tokugawa là giai cấp có học, không phải học để làm quan, mà học để có văn hóa và văn minh, có đủ năng lực phán đoán, xứng đáng với vai trò lãnh đạo của họ. Điều này tương tự như cái học các ngành nghệ thuật khai phóng ở các đại học Trung cổ. Sự nhấn mạnh sự học Khổng giáo có tính lý thuyết có mục đích tương tự như học các môn khai phóng, học triết học kinh viện hay giáo dục nhân văn dựa trên tiếng La tinh và Hy Lạp ở phương Tây từ thời Trung cổ trong đại học, nhằm rèn luyện trí tuệ và định hình “khí tính” con người. Cái học này cũng tạo nên niềm hãnh diện và ý thức ưu việt về đạo đức của giới samurai Nhật Bản đối với “những người man di phương Tây”. Chính các học giả Khổng giáo thời Tokugawa là những người có đầy đủ năng lực thực hiện cuộc chuyển đổi từ cái học cũ sang cái học phương Tây, từ một xã hội phong kiến sang xã hội hiện đại. Điều đó cho thấy sự khác biệt căn bản giữa giới samurai Khổng giáo và giới nho giáo Việt Nam. Lực lượng thúc đẩy chính yếu cuộc công nghiệp hóa thời Minh Trị không còn là giới thương nhân của thời Tokugawa nữa như người ta có thể nghĩ. Trong số 231 triệu phú trong thời Edo, chỉ còn 20 sống sót vào giai đoạn cuối của thời Minh Trị. Chủ lực kinh tế của thời đổi mới là các nhà công nghiệp và ngân hàng hiện đại mới lên. Mitsui và Sumitomo từ thời Edo vẫn tiếp tục tăng trưởng phát đạt, nhưng đó chỉ là ngoại lệ hơn là qui luật. Nguyên nhân chính là các thương nhân thời Tokugawa đã không thoát khỏi thói quen cũ, vẫn gắn bó với những ngành công nghiệp truyền thống và các lề lối kinh doanh cũ. Những doanh nhân thời Minh Trị phần lớn thuộc giai cấp samurai có lợi thế trình học vấn cao hơn, có tinh thần đổi mới hơn, và có quan hệ tốt với chính quyền đa số gồm các samurai có cùng văn hóa với họ.  Kết hợp Luận ngữ với bàn tính là kết hợp đạo đức Khổng giáo và năng lực kinh doanh. Trong khi nhiều người nhấn mạnh tinh thần–jōi, phản kháng muốn đánh đuổi người nước ngoài ra khỏi bờ cõi ngay tức khắc, thì Shibusawa nói, hãy biến tinh thần phản kháng thành sức mạnh trí tuệ để xây dựng đất nước, đó mới là cách bảo vệ hữu hiệu hơn.  Chỉ với những đức hạnh như chính trực, công bằng, và trách nhiệm đối với quyền lợi công thì doanh nhân Nhật Bản mới giành được sự kính trọng của thế giới phương Tây và thắng lợi trong cuộc chạy đua toàn cầu.  Nhiều người nhấn mạnh những tư tưởng mới từ phương Tây làm nguồn cảm hứng và triết lý, chẳng hạn như Fukuzawa, nhưng Shibusawa nói ông muốn “xây dựng các doanh nghiệp hiện đại với bàn tính (abacus) và Luận ngữ của Khổng Tử”. Chủ nghĩa tư bản thôi chưa đủ để có ích lợi cho Nhật Bản nếu không có nền tảng đạo đức của Khổng giáo. Ông cảnh báo, đạo đức sẽ suy giảm nếu gakumon bị các tư duy lợi ích thuần túy hoàn toàn khống chế.      Theo Shibusawa, doanh nhân – entrepreneur, gồm những nhà công nghiệp, nhà ngoại thương, và nhà ngân hàng − cần có những phẩm chất: giáo dục, chân thật, đức hạnh, nhân cách và một sự tổng hợp giữa Luận ngữ của Khổng Tử và bàn tính (abacus).      Khổng giáo thực ra có những điểm cản trở phát triển kinh tế, như lên án sự làm giàu, giống như Kitô giáo ở châu Âu. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã “hòa giải” được ở châu Âu. Và rồi như thế ở Nhật Bản, chủ nghĩa tư bản ở phương Đông cũng đã sớm hòa giải được với Khổng giáo như một “ý thức hệ” [Xem John H. Sagers]. Nhưng, từ ý muốn của giới lãnh đạo ở trên, chủ nghĩa tư bản phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và quốc gia. Người Nhật muốn nắm đạo đức đằng cán chứ không muốn nắm đằng chuôi. Đây là điểm thảo luận sôi nổi của những nhà lập quốc Nhật Bản Minh Trị trong thập niên 1880 để cuối cùng đi đến việc thiết lập đạo đức Khổng giảo trên toàn xã hội, bắt đầu từ trường học, bằng các pháp lệnh Ý chí Đế chế về Giáo dục năm 1879, và “Pháp lệnh Đế chế về Giáo dục” năm 1890. Điều này đã thực hiện đúng nội dung của khẩu hiệu các trí thức Nhật Bản: “Khoa học/công nghệ phương Tây. Đạo đức phương Đông”. Nhật Bản muốn thiết lập một nền đạo đức quốc gia (kokumin dōtoku) để giữ vững bản sắc truyền thống rất sống động của họ.  Trở lại việc phát hành giấy bạc mang ảnh Shibusawa đầu năm 2019. Phải chăng nhà nước Nhật Bản muốn làm sống lại một tấm gương “anh hùng kinh tế”, cùng với thời đại anh hùng mà ông đã sống, để đất nước sản sinh ra những tài năng mới trong kinh doanh lẫn chính trị giúp Nhật Bản vượt lên khỏi giai đoạn trì trệ kinh tế hiện nay? □     Tham khảo:  [1] William W. Lockwood (ed.), The State and Economic Enterprise in Japan. Essays in the Political Economy of Growth. Princeton University Press, 1965  [2] Kenichi Ohno, History of Japanese Economic Development. Origins of Private Dynamism and Policy Competence. Routledge, 2018.  [3] Shimada Masakazu, The Entrepreneur Who Built Modern Japan: Shibusawa Eiichi. Translated by Paul Narum. Japan Publishing Industry Foundation for Culture, 2017.  [4] Edwin O. Reischauer, Japan. The Story of a Nation. Fourth Edition. McGraw-Hill Publishing Company, 1970.  [5] Andrew Gordon, A Modern History of Japan. Second edition. Oxford University Press, 2009.  [6] John H. Sagers, Origins of Japanese Wealth and Power. Reconciling Confucianism and Capitalism, 1830-1885. Palgrave McMillan, 2006.  [7] Hugh Borton, Japan’s Modern Century. Second edition.The Ronald Press Company, 1970.  [8] Edwin O. Reischauer & Albert M. Craig, Japan. Tradition & Transformation. Revised edition. 1989.  Shibusawa và công ty kéo sợi Osaka (Osaka Boseki Kaisha)  Nhà máy kéo sợi Osaka là rất nổi tiếng của Nhật Bản. Nó ra đời thế nào? Đây là câu chuyện cho thấy bàn tay khởi nghiệp sáng tạo của Shibusawa. Năm 1877, một sinh viên 26 tuổi tên Yamanobe (hay Yamabe) Takeo đang học lý thuyết kinh tế và bảo hiểm tại Luân Đôn. Một ngày nọ, anh ta nhận được một lá thư của một người không quen biết từ Nhật Bản, tên Shibusawa Eiichi. Lá thư nói như thế này: “Yamanobe thân mến, tên của anh được một người bạn tôi nhắc tới. Nhật Bản đang nhập khẩu rất nhiều sợi cotton. Chúng ta cần phải thiết lập một kỹ nghệ xe sợi trong nước. Chúng ta cần những người thông thạo cả hai, về quản lý lẫn công nghệ. Anh có thể học ngành kỹ nghệ cotton được không? Tôi sẽ tạo ra một công ty.” Có lẽ Yamanobe cảm thấy khó chịu. “Ai là người dám khuyên tôi thay đổi chủ đề học?” Nhưng sau khi suy nghĩ một hồi, anh ta quyết định làm theo lời khuyên của Shibusawa. Anh đến King’s College và học lý thuyết công nghiệp dệt. Nhưng lý thuyết thôi không đủ. Anh cho đăng quảng cáo trên báo: HÃY THUÊ TÔI NHƯ MỘT NGƯỜI HỌC VIỆC VỀ CÔNG NGHIỆP SỢI, TÔI SẼ TRẢ TIỀN, nhưng không công ty nào trả lời. Cuối cùng, anh ta gặp ông W. E. Braggs, người nhận Yamanobe làm việc và cho phép anh tiếp thu kiến thức thực tiễn trong xí nghiệp ông trong tám tháng. Việc học bao gồm công nghệ, tiếp thị và vận chuyển hàng hóa. Yamanobe làm việc cật lực. Shibusawa gửi Yamanobe 1.500 yen để hỗ trợ việc học, là tiền túi của ông. Shibusawa nhớ lại sau này, đấy là một số tiền khổng lồ cho anh ta, và đó là một hành động rất mạo hiểm – “Vốn mạo hiểm”. Khi việc học xong, Yamanobe đặt mua một số máy dệt và đầu máy hơi nước từ những nhà chế tạo máy nổi tiếng như Platt và Hargreaves, và quay về Nhật Bản. Năm 1882, Shibusawa và Yamanobe chọn một vị trí thích hợp cho xí nghiệp ở Osaka. Để thành lập công ty, 250.000 yen được huy động từ bạn bè của Shibusawa gồm các nhà buôn giàu có (của Osaka và Tokyo) và các nam tước phong kiến như những cổ đông, trong khi ngân hàng Đệ nhất quốc gia của Shibusawa sẽ góp vốn lưu động.  Năm 1883 xí nghiệp kéo sợi Osaka được khai trương. Yamanobe làm kỹ sư trưởng của xí nghiệp. Đấy là nhà máy xe sợi cơ khí hóa quy mô nhất, đầu tiên với những thiết bị hiện đại nhất nhập từ nước ngoài với 10.500 cọc sợi FOOTNOTE. Footnote và trở thành một “khởi nghiệp” rất thành công, kết hợp nhiều tính chất như sử dụng đầu máy hơi nước, làm hai ca ngày đêm, xử lý cotton ngoại nhập, gửi kỹ thuật viên ra nước ngoài đào tạo, giảm giá thành, cũng như sử dụng hình thức công ty cổ phần. Nó trở thành mô hình tiêu biểu cho nhiều công ty kéo sợi về sau.  Vào năm 1900, có một cuộc suy thoái nặng nề trong ngành dệt. Các cổ đông đòi hỏi lợi nhuận cao hơn và nhanh hơn. Nhưng Yamanobe nhất định đứng trên lập trường vì sự phát triển dài hạn của công ty. Ngay cả vị tổng giám đốc phê bình ông. Tuyệt vọng và có ý muốn ra đi, Yamanobe đến thăm Shibusawa tại nhà riêng. Shibusawa bảo đảm với Yamanobe rằng ông sẽ ủng hộ anh ta 100 phần trăm và yêu cầu anh ta tiếp tục ở lại làm việc cho công ty. Được thuyết phục, Yamanobe ở lại. Khi cuộc suy thoái qua đi, Yamanobe được đề bạt lên làm Chủ tịch công ty kéo sợi Osaka. Một năm sau khi khai trương thì cổ tức được trả cho các nhà đầu tư là 18%! Vào thời điểm đó, tất cả những nỗ lực của nhà nước để khuyến khích ngành kéo sợi cơ khí hóa, nhưng kết quả rất thấp. Một ít nhà máy tồn tại chỉ có 2.000 cọc và được xây dựng với với sự bao cấp của nhà nước, nhưng hoạt động đều không hiệu quả. Những lý do chính là thiếu chuyên môn kỹ thuật và quản lý, qui mô nhỏ, địa điểm không thích hợp, dựa trên sức nước, và thiếu vốn để mở rộng. Những vấn đề này đã được Shibusawa giải quyết cùng một lúc. Một nhà máy thứ hai theo mô hình này được xây dựng năm 1886 với số cọc lên đến 20.800 nghĩa là gấp đôi nhà máy Osaka, và cũng thành công như thế. Shibusawa nổi tiếng như cồn. Ông được các công ty kéo sợi săn tìm để nhờ tư vấn, chẳng hạn như công ty kéo sợi Mie. Ông đã giúp cho công ty này chỉ sau vài năm hoạt động theo mô hình mới đã trở thành một trong những công ty thành công nhất, Các nhà đầu tư hiểu bài học của Shibusawa, và nhanh chóng phát triển theo mô hình đó và đã tạo ra một sự phát triển nhảy vọt cho ngành kéo sợi. Từ 1886 đến 1894 có tất cả 33 nhà máy mới được thành lập, trong đó 10 nhà máy tọa lạc tại các vùng cận Osaka.    Author                Nguyễn Xuân Xanh        
__label__tiasang Shiller đã giúp Fama giành giải Nobel như thế nào?      Shiller luôn phản bác Fama dữ dội, nhưng nhờ có ông mà Fama được trao giải Nobel.    Bên trong nhà kinh tế Eugene Fama của Đại học Chicago có hai con người. Người thứ nhất – chúng ta gọi là Fama Trẻ – có sự nghiệp được biết đến bắt đầu từ những năm 1960. Ông đưa ra một cái nhìn sâu sắc về thị trường, cho rằng trong khoảng thời gian ngắn hạn các thị trường chứng khoán thường hành xử một cách ngẫu nhiên. Những giao dịch trong ngày và trong tuần thường không đi theo xu hướng nhịp điệu, và cũng chẳng dựa trên lý trí. Vì vậy, việc dự đoán thị trường trong khoảng thời gian ngắn hạn là không thể.  Vì sao vậy? Fama cho rằng cơ chế hình thành giá cả thị trường – cái mà bạn và tôi vẫn gọi là giao dịch – phản ánh đầy đủ và hiệu quả tất cả những thông tin sẵn có về chứng khoán. Các hoạt động mua bán đem lại “sự trao đổi thông tin hiệu quả”. Nếu có thông tin gì quan trọng về một công ty nào đó, một ai đấy sẽ biết và hành động tạo ra tác động tới giá cả. Như vậy, tất cả mọi dữ liệu về công ty đó rút cục đều được phản ánh qua giá chứng khoán công ty. Fama gọi đây là Mệnh đề Thị trường Hiệu quả, hàm ý rằng [thị trường tự thân nó đã hoạt động hiệu quả và] việc người ta [cố tìm cách chiến thắng thị trường bằng cách] suy đoán nên chọn mua chứng khoán nào là điều không cần thiết. Ông đưa ra những suy luận chi tiết trong bài báo “Những cuộc đi dạo ngẫu nhiên của giá cả trên thị trường chứng khoán” (“Random Walks in Stock Market Prices”).           Thời trẻ, Eugene Fama theo học tiếng Pháp và làm vận động viên trong trường đại học, đồng thời làm trợ lý cho một vị giáo sư khi ông này nghiên cứu về các tín hiệu “mua’ và “bán’, được xây dựng dựa trên xu hướng biến động giá cả. Mặc dù lý thuyết này lý giải khá ổn thỏa những dữ liệu trong quá khứ, nhưng khi ứng dụng vào đời thực thì chẳng mấy hiệu quả. Điều này khơi dậy trí tò mò của Fama. Với kỹ năng phân tích dữ liệu chứng khoán thu được từ đây, ông đăng ký học ngành kinh doanh. Ông được trao bằng tiến sĩ Đại học Chicago, và làm việc ở đây từ năm 1963. Luận văn tiến sĩ của ông được giản lược hóa, trở thành bài báo danh tiếng mang tựa đề “Những cuộc đi dạo ngẫu nhiên của giá cả trên thị trường chứng khoán”.        Kết luận trên đem đến một lời khuyên rõ ràng cho giới tài chính: đa số các nhà đầu tư nên mua tất cả các mã chứng khoán trên thị trường thay vì tìm cách đoán xem mã nào sẽ lên hay xuống. Mặc dù chúng ta có thể lý sự lại với Fama ở một số điểm, chẳng hạn như các giao dịch giá cả không phải khi nào cũng duy lý và nhiều khi vẫn có những lệch lạc trong dữ liệu, nhưng về cơ bản Fama đã đúng: các thị trường luôn hành xử một cách ngoài suy đoán trong khoảng ngắn hạn.   Với phát hiện của mình, Fama được coi là cha đẻ của chiến lược đầu tư theo danh mục. Toàn bộ khái niệm của chiến lược đầu tư một cách thụ động vào các danh mục dựa trên lý thuyết của ông. Lý thuyết này đến nay vẫn còn nguyên vẹn sức ảnh hưởng to lớn. Giả thử bạn đang sở hữu một danh mục 500 chứng khoán của Standard & Poor’s, thì hãy nhớ tới công lao của Fama Trẻ.  Nếu chỉ dừng ở đó, hẳn Fama Trẻ đã lên chuyến bay đi Thụy Điển để nhận Giải Nobel Kinh tế từ vài thập kỷ trước. Tiếc rằng sau một số năm sau kể từ phát hiện ban đầu, Fama đẩy lý thuyết đi quá xa. Ông trở thành Fama Già, người được vây bọc trong vinh quang từ thời Fama Trẻ, khiến người ta lóa mắt không nhìn ra những sai sót khi ông đẩy thuyết thị trường hiệu quả tới mức cực đoan.   Fama Già đưa ra một bước nhảy trong suy luận mà phần lớn dựa trên những sai sót trong tư duy trước đây của ông, mặc dù chúng từng giúp ông đưa ra nhận định đúng đắn rằng các thị trường hành xử một cách ngẫu nhiên. Fama lý luận rằng đa số các quy định quản lý thị trường chứng khoán là không cần thiết, thậm chí còn gây phản tác dụng vì gây cản trở tới quá trình giao dịch hình thành giá cả.  Quy định về giao dịch nội gián ư? Hoàn toàn không cần! Chẳng phải những thông tin phi chính thống mà kẻ nội gián biết được, rút cục vẫn được phản ánh trên giá thị trường đó sao? Với tư duy như vậy chúng ta có thể loại bỏ đa số các quy định về đầu tư và giao dịch được xây dựng sau thời kỷ Đại Khủng hoảng. Như Fama nói, khi mọi thông tin được phản ánh qua giá cả thì các quy định trở nên thừa thãi.  Hơn ba thập kỷ sau, ảnh hưởng của Fama Già trở nên cực thịnh. Ông tác động tới lý thuyết tài chính, các thế hệ kinh tế gia và học viên kinh doanh trên cả nước Mỹ. Thuyết của ông cũng ảnh hưởng tới các vị thượng nghị sĩ, các đời chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang, thậm chí các đời Tổng thống.  Chính điều này gây khó khăn cho việc lựa chọn của Ủy ban Nobel Kinh tế. Nếu Fama Trẻ xứng đáng được coi là cha đẻ của chiến lược đầu tư thụ động, thì Fama Già cũng có thể coi là cha đẻ của khủng hoảng tài chính. Lý thuyết của ông làm nền tảng cho việc loại bỏ nhiều quy định quản lý, gây ra hậu quả nghiêm trọng.  Điển hình là Luật Hiện đại hóa Giao dịch Hàng hóa Tương lai (Commodity Futures Modernization Act) năm 2000 đã biến các sản phẩm phái sinh tài chính thành một phạm trù tài chính riêng biệt, trong đó không đòi hỏi minh bạch thông tin, không có bổn phận giao dịch công khai trên thị trường, và người lưu ký không bắt buộc phải giữ một khoản dự trữ để phòng ngừa rủi ro. Người ta viện dẫn lý thuyết, rằng mọi rủi ro bằng cách này hay cách khác đã được phản ánh trong giá cả giao dịch.   Một trường hợp khác là việc bãi bỏ điều luật Glass-Steagall, cũng liên quan tới thuyết của Fama. Luật Glass-Steagall giống như bức tường phòng vệ ngăn giữa thị trường chứng khoán với các thị trường bên ngoài. Việc dỡ bỏ nó tuy không phải là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, nhưng lại cho phép khủng hoảng bị lan rộng.  Ngay cả vị cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan cũng là nạn nhân của thuyết Fama. Cựu ủy viên hội đồng thống đốc Cục dự trữ liên bang, Edward Gramlich từng đệ trình vấn đề vay mượn và chứng khoán hóa các khoản cầm cố dưới chuẩn (subprime mortgage) lên ban lãnh đạo Cục dự trữ liên bang, coi đây là những tác nhân gây nguy cơ bất ổn thị trường tài chính. Nhưng Greenspan lại gọi đây là những “nhà đổi mới tài chính”, những người không nên bị áp đặt các quy định quản lý. Khi khủng hoảng xảy ra, 388 công ty thuộc diện này sụp đổ, gây tác động tàn phá thị trường tín dụng. Nhưng trước cục diện đó, Fama Già vẫn cứng cỏi tuyên bố “tôi không biết bong bóng tín dụng nghĩa là gì”.    Chúng ta có thể hình dung tình thế khó xử cho hội đồng xét giải Nobel Kinh tế. Một mặt, Fama Trẻ là cha đẻ của đầu tư danh mục, có ảnh hưởng sâu sắc tới các quỹ đầu tư, từ quỹ chứng khoán tới hưu trí, và đem lại rất đáng kể cho các nhà đầu tư. Nhưng ảnh hưởng của Fama Già cũng gây tác hại to lớn không kém. Nó xuất phát từ sai lệch trong tư duy của Fama. Rõ ràng con người không đơn thuần là những cỗ máy duy lý tìm kiếm lợi nhuận – họ còn đồng thời là những cá thể đầy cảm tính, nhiều phạm sai lầm gây tổn hại cho lợi ích của chính bản thân họ. Khái niệm thông tin hiệu quả mà Fama đưa ra nghe thì hay, nhưng rõ ràng không đúng trong thực tế.    Nhưng cuối cùng hội đồng xét giải Nobel đã tìm ra một giải pháp xảo diệu.  Fama có một đối thủ không đội trời chung, ở cách ông ta 1000 dặm, tọa trong tháp ngà Đại học Yale, đó là GS. Robert Shiller, người từng bác bỏ thuyết thị trường hiệu quả của Fama. Dữ liệu của Shiller đã chứng minh hùng hồn rằng trên thị trường có những giao dịch và hành xử phi lý. Cuốn sách xuất bản năm 1989 của ông về những biến động trên thị trường cho thấy giá cả dao động một cách phi lý trên các thị trường đầu cơ, và chẳng hề phản ánh những thông tin sẵn có. Sự biến động của giá cả là cao hơn biến động cổ tức tương lai, cho thấy phải có tác nhân khác là thủ phạm. Tác nhân đó chính là yếu tố con người.  Các bong bóng hình thành, giá cả sai lệch so với thực tế, rồi tất cả sụp đổ đưa chúng ta đối diện với thực tế. Thực trạng đó cho thấy thông tin không được truyền dẫn hiệu quả trên thị trường. Sau sự kiện thị trường sụp đổ năm 1987, Shiller nhận xét “thuyết thị trường hiệu quả là sai lầm đáng kể nhất trong lịch sử lý thuyết kinh tế”. Đúng là vậy, đa số các công trình nghiên cứu của Shiller trong vòng hơn 20 năm tiếp theo đã cho thấy khiếm khuyết rõ ràng của Fama. Việc Shiller đưa ra cảnh báo về bong bóng chứng khoán công nghệ cuối năm 1999, sau đó là bong bóng bất động sản năm 2006, càng củng cố cho uy tín của ông. Chúng cũng cho thấy quan điểm thị trường phi lý của ông là đúng, rằng có lúc giá cả chẳng hề phản ánh thông tin sẵn có.  Bằng việc đồng trao giải thưởng cho Shiller, cuối cùng thì hội đồng xét giải Nobel đã có thể ghi nhận công lao của Fama Trẻ – trao cho ông giải thưởng vì đã đưa ra thuyết chứng minh tính không thể đoán trước được thị trường, đồng thời gạt sang được một bên những sai lầm đáng quên của Fama Già. Vậy là kẻ phản bác dữ dội nhất mệnh đề thị trường hiệu quả đã giúp cho cha đẻ của nó giành giải thưởng Nobel Kinh tế.         Thất bại trong thi nghiệm xây dựng các tín hiệu giao dịch mua bán đã dẫn dắt Shiller tới kết luận quan trọng, rằng thị trường vốn dĩ đã hoạt động hiệu quả và đa số mọi người ta không thể thắng được nó. Lý thuyết này cũng  dẫn tới sự ra đời những quỹ đầu tư danh mục với mức phí thấp.               Khác với Fama, Shiller nghiên cứu tập trung vào sự cảm tính và lòng tham, những tác nhân gây sai lệch giá cả trên thị trường tài chính. Ông đã cảnh báo chính xác rằng chứng khoán Mỹ được định giá quá cao vào cuối thập kỷ 1990, và giá nhà đất quá cao hồi đầu tới giữa thập kỷ 2000.               Quan điểm của Fama và Shiller tuy bề ngoài mâu thuẫn, nhưng lại thống nhất ở điểm chung cơ bản, rằng giá cả tài sản phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư. Khác biệt của họ chỉ đơn thuần nằm ở quan điểm về những tác nhân ảnh hưởng tới kỳ vọng này.              Với Fama, các nhà đầu tư cùng nhau tạo thành một thực thể  ‘duy lý’ – họ theo dõi tin tức, nắm bắt được ảnh hưởng của chúng đối với tiềm năng sinh lời của các loại tài sản. Họ có thể có những sai sót trong giao dịch, nhưng trên tổng thể thì hành vi người này giúp hóa giải hành vi của người khác. Với Shiller thì trái lại, ông tin rằng kỳ vọng được hình thành từ kinh nghiệm. Một người có thể lao vào mua một mã chứng khoán nào đó, không vì một lý trí tỉnh táo rõ rệt nào, mà đơn thuần chỉ vì nhận thấy gã hàng xóm ngờ nghệch giàu lên nhanh chóng nhờ mua chứng khoán Netscape.              Tuy nhiên, đối với thế hệ các nhà nghiên cứu mới, họ nhận thấy kỳ vọng tuy đóng vai trò quan trọng nhưng vẫn có những tác nhân khác trong đời thực gây ảnh hưởng tới giá cả tài sản, ví dụ như cấu trúc thị trường tài chính. Ví dụ như Andrei Shleifer và Robert Vishny từng đưa ra một công bố quan trọng năm 1997, lý giải vì sao những nhà đầu tư khôn ngoan không thể thắng được bong bóng chứng khoán nếu họ vấp vào những giao dịch margin. Nghiên cứu của John Geanakoplos tập trung vào rủi ro do phương thức đặt cược với chứng khoán làm tài sản thế chấp (leveraged betting). Nghiên cứu của Tobias Adrian, Emanuel Moench và Hyun Song Shin cho thấy giá tài sản bị tác động khi các ngân hàng đầu tư và công ty tài chính sẵn lòng đi vay mượn, mà điều này lại bị ảnh hưởng sâu sắc bởi chính sách tiền tệ của quốc gia.                Có thể nói rằng Fama và Shiller đã đóng góp cho hiểu biết của chúng ta về giá cả tài sản, điều mà các nhà đầu tư cần phải biết ơn. Nhưng trong thế giới ngày nay, kỷ nguyên hậu Đại Suy thoái, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan giám sát, và các nhà quản lý rủi ro, có lẽ sẽ cần nhiều hơn những nghiên cứu phản ánh sát hơn với đời thực.              Thanh Xuân tổng hợp và dịch  http://www.washingtonpost.com/business/how-shiller-helped-fama-win-the-nobel/2013/10/18/425b4a14-36b6-11e3-80c6-7e6dd8d22d8f_story.html  http://www.bloomberg.com/news/2013-10-14/what-fama-and-shiller-didn-t-teach-us-about-finance.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang SHTP mất dần tính hấp dẫn      Thứ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Văn Lạng cho  rằng, khu CNC TP HCM (SHTP) hiện không khác nhiều so với các khu công nghiệp, khu  chế xuất bình thường khác nên kém hấp dẫn đối với nhà đầu tư.    Ban quản lý Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP) vừa tổ chức hội nghị “Đánh giá 10 năm công tác xúc tiến đầu tư và hoạt động doanh nghiệp tại SHTP”. Với nhiều ý kiến đóng góp, các chuyên gia cho rằng để thu hút đầu tư vào SHTP, thành phố cần có thêm nhiều chính sách khác biệt vì hiện nay cách thu hút đầu tư của SHTP không khác mấy so với các KCX-KCN trên địa bàn thành phố và các khu vực lân cận.  Doanh nghiệp so bì  Bà Lê Bích Loan, Phó Trưởng ban Quản lý SHTP cho biết, đến nay có 61 dự án được cấp phép đầu tư với tổng vốn 2,056 tỷ USD. Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có 29 dự án với tổng vốn 1.675 triệu USD, chiếm 82% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp thành phố. Đặc biệt, SHTP đã cấp phép cho nhiều công ty đến từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, Italia… Giá trị sản xuất trong năm 2011 đạt hơn 1 tỷ USD, riêng nhà máy Intel (Mỹ) đạt 450 triệu USD (chiếm 45%)…  Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một khu CNC nhưng “thủ tục” của mỗi doanh nghiệp một khác, nên doanh nghiệp so bì với nhau. Ông Trần Tiến Phát (Công ty TNHH Datalogic Scanning VN), cho rằng: “Intel khai báo hải quan hoàn toàn là hải quan điện tử. Câu hỏi tôi đưa ra: Khi nào các công ty khác được thông quan điện tử như Intel? Nói điều này vì tôi mong đợi ở đây chỉ có một chính sách cho tất cả các nhà đầu tư, không nên phân biệt “đại gia” và “tiểu gia”(!)”.  Với Công ty TNHH Datalogic Scanning VN, vấn đề còn nằm ở chuỗi cung ứng vật tư thiết bị, ông Trần Tiến Phát giải thích: “Mọi người đều biết rằng hơn 90% vật tư nguyên liệu dùng trong dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp FDI hiện nay là nhập khẩu; các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ có thể cung cấp được một ít linh kiện nhựa, kim loại và vật tư cho bao bì đóng gói. Thậm chí ngay bên cạnh nhà máy của chúng tôi là các nhà cung cấp cùng chủng loại mà chúng tôi cần nhưng khi chúng tôi xin báo giá thì họ ra giá cao hơn giá chúng tôi nhập khẩu từ các nước khác”.  Ông Trần Tiến Phát đặt thêm câu hỏi: “Có thể làm gì để thúc đẩy việc phát triển chuỗi cung ứng nội địa? Chúng tôi cần hành động cụ thể từ lãnh đạo TPHCM và Chính phủ”.  Mất dần tính cạnh tranh  Thứ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Văn Lạng cho rằng, khu CNC hiện tại không khác nhiều so với các khu công nghiệp, khu chế xuất bình thường khác. Các thủ tục hành chính hiện còn rườm rà. Quyết toán thuế còn mất khá nhiều thời gian. Đặc biệt, việc thực hiện khai báo hải quan điện tử vẫn còn “phân biệt” giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ… khiến SHTP mất dần tính hấp dẫn thu hút đầu tư.          Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng  cao vẫn còn thiếu và yếu, nhiều chính sách được cho là ưu đãi dành cho  doanh nghiệp CNC nhưng những nơi khác đã áp dụng. Cần phải có cơ chế  thật sự khác biệt, để thu hút các nguồn lực về Khu CNC.   Thứ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Văn Lạng        Với thủ tục hải quan, ông Nguyễn Hữu Nghiệp, Cục phó Cục Hải quan TPHCM, lý giải: Điểm yếu lớn nhất của doanh nghiệp là thiếu gắn kết với các đơn vị quản lý nhà nước, đặc biệt là các sở, ngành có liên quan trực tiếp đến việc kinh doanh, từ đó dẫn đến khó nắm bắt các thủ tục, quy định của Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp trong SHTP, việc đăng ký và được cấp phép trở thành doanh nghiệp ưu tiên không quá khó. Doanh nghiệp cần chủ động liên lạc với hải quan để giải quyết vấn đề này.  Mất dần tính cạnh tranh còn thể hiện khá rõ qua ý kiến của ông Lê Trọng Hiếu, quản lý cấp cao của Công ty TNHH CB Richard Ellis Việt Nam: Lấy Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore làm ví dụ, hiện tại họ có đến 5 khu công nghiệp tại 4 tỉnh trên cả nước. Thực tế cho thấy sự phát triển của họ dựa khá nhiều vào mức đầu tư của các doanh nghiệp cũ (chỉ khoảng 20% doanh nghiệp mới đăng ký mỗi năm), nhờ mức hậu đãi và chăm sóc doanh nghiệp của người quản lý khu công nghiệp này. Đây là cách làm SHTP cần học hỏi. Ngoài ra, cần thực hiện chế độ miễn giảm thuế TNCN dành cho người lao động trong SHTP, như vậy mới tạo ra sự khác biệt, dễ dàng thu hút nhân tài.  PGS-TS Lê Hoài Quốc, Trưởng ban Quản lý SHTP, cho rằng những ý kiến mà các đại biểu góp ý và chia sẻ thật sự khiến ban quản lý phải nhìn nhận lại mình sau 10 năm SHTP đi vào hoạt động. Bên cạnh khả năng thu hút nguồn nhân lực, hạ tầng kỹ thuật cũng là yếu tố mà ban quản lý khu cần phải phát triển trong thời gian tới, nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào SHTP. Trước mắt, ban quản lý sẽ đề ra các chế độ ưu đãi ngoài các quy định hiện hành nhằm hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp đang hoạt động. Bên cạnh đó, sẽ kiến nghị Chính phủ hỗ trợ 1/3 kinh phí cho khu CNC bởi hầu hết kinh phí SHTP đang sử dụng lấy từ nguồn thành phố. Đồng thời, lên kế hoạch dài hạn hỗ trợ để các doanh nghiệp nội địa phát triển. “Phải thay đổi cách làm, để SHTP không phải là nơi lắp ráp CNC mà phải tạo ra được giá trị gia tăng trong từng sản phẩm”, PGS-TS Lê Hoài Quốc nhấn mạnh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Siemens rút khỏi ngành công nghiệp hạt nhân      Tập đoàn kĩ thuật và công nghiệp Đức Siemens sẽ rút hoàn toàn khỏi ngành công nghiệp hạt nhân.     Động thái này là sự đáp lại thảm họa hạt nhân Fukushima tại Nhật Bản hồi tháng 3, Giám đốc điều hành Peter Loescher cho biết.  Ông nói với tờ Spiegel đây là câu trả lời cho “quan điểm rõ ràng của xã hội và chính giới Đức về việc rút khỏi năng lượng hạt nhân”.  “Một thời kỳ của chúng tôi đã kết thúc”, ông nói, tuyên bố rằng tập đoàn sẽ không xây thêm các nhà máy điện hạt nhân nữa.  Một kết hoạch đầu tư liên kết dài hạn với tập đoàn hạt nhân của Nga Rosatom cũng sẽ bị hủy, mặc dù ông Loescher nói rằng sẽ vẫn tiếp tục tìm kiếm cơ hội làm việc với đối tác này trong “những lĩnh vực khác”.  Cho tới nay, tất cả 17 nhà máy điện nguyên tử đang hiện hữu của Đức đều được xây dựng bởi Siemens.  Gần đây, tập đoàn đã giới hạn hoạt động ở việc chỉ cung cấp những bộ phận phi hạt nhân của các nhà máy điện hạt nhân được xây dựng bởi những công ty khác, bao gồm những dự án hiện tại ở Trung Quốc và Phần Lan.  Nhưng quyết định mới nhất về việc rút lui hoàn toàn khỏi ngành điện hạt nhân dường như ngụ ý một bước lùi sâu hơn nữa ra khỏi hoạt động xây lắp những máy móc thiết bị phi hạt nhân trong các nhà máy điện hạt nhân – một mảng mà lâu nay Siemens vẫn còn tích cực tham gia.  Tuy nhiên, ông Loescher cũng nói rằng Siemens sẽ tiếp tục làm các cấu phần, như tuốc-bin hơi- vốn, được sử dụng trong ngành công nghiệp điện phi hạt nhân, nhưng cũng có thể dùng trong nhà máy hạt nhân.  Bước ngoặt           Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố vào cuối tháng 5 rằng tất cả 17 nhà máy điện hạt nhân của Đức sẽ bị đóng cửa trước năm 2022        Ông cũng ủng hộ việc chuyển hướng của chính phủ Đức sang các nguồn năng lượng có thể tái tạo. Ông gọi đó là “dự án của thế kỉ” và cho rằng mục tiêu của Berlin đạt 35% năng lượng có thể tái tạo trước năm 2020 là trong tầm tay.  Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố vào cuối tháng 5 rằng tất cả 17 nhà máy điện hạt nhân của Đức sẽ bị đóng cửa trước năm 2022.  Trước thàm  họa Fukushima, điện hạt nhân chiếm 23% sản lượng điện sản xuất ở Đức  Quyết định của chính phủ Đức đánh dấu một bước chuyển ngoặt của thủ tướng, khi mới tháng 9 năm 2010 bà còn tuyên bố những nhà máy hạt nhân hiện thời sẽ tiếp tục được kéo dài tuổi đời vận hành trung bình thêm 12 năm.  Động thái của Siemen hôm thứ Bảy vừa rồi cũng là một bước ngoặt 180 độ.  Năm 2009, tập đoàn đã rút khỏi dự án hợp tác đầu tư kéo dài 8 năm với công ty năng lượng Avera của Pháp, ngay trước khi tuyên bố kế hoạch hợp tác với Rosatom.  Khi đó, ông Loescher đã từng nói: “Xét đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nhu cầu điện ngày càng tăng trên thế giới, năng lượng hạt nhân đối với chúng tôi vẫn là một phần trọng yếu trong tổ hợp các nguồn năng lượng bền vững”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Siêu cường bối rối      Sự thất vọng đang ngày một tăng ở nước Mỹ, đất nước vốn được coi là đầy tinh thần lạc quan. Người Mỹ đau đầu vì cuộc bình định ở Iraq, vì đồng USD ngày càng mất giá và một loạt vấn đề khác. Điều trớ trêu là các cử tri Mỹ muốn có một sự đổi thay – nhưng lại không muốn có một sự thay đổi thực sự.    Ai muốn biết vì sao người Mỹ bực bội, khó chịu chỉ cần mở trang tin địa phương trên các tờ báo ngày. Những người chết trong cuộc bình định ở Iraq mỉm cười với bạn đọc qua các tấm ảnh hộ chiếu.  Ai muốn biết vì sao nước Mỹ lại mất lòng tin vào sự vĩ đại của mình thì chỉ cần đọc giấy mời dự tiệc của thị trưởng thủ đô Washington. Theo lời thị trưởng Adrian Fenti thì ông ta chỉ mong muốn tất cả trẻ em ở đây nhận được sách giáo khoa ngay từ ngày khai trường chứ không phải chờ đến giữa năm học. Khi được hỏi, ông còn có các ước vọng nào khác? Ông hăng hái gật đầu và nói, mục tiêu của tôi là làm sao để tăng cường an ninh trong nhà trường để mọi học sinh sau khi tan trường có thể về nhà một cách yên lành.  Ai muốn biết vì sao cường quốc kinh tế Hoa kỳ vốn đầy kiêu hãnh giờ đây lại trở nên thiếu tự tin đến vậy  thì hãy đi theo nữ nhà văn Sara Bongiorni tới một siêu thị gần nhất. Trong cuốn sách của bà mang tên “Một năm không có “Made in China” bà mô tả cảm giác bị cắn rứt mà ngày nay hầu như đã ngấm vào những người Mỹ tự coi mình là “smart shopper” (người mua hàng khôn ngoan): “Mỗi khi tôi trông thấy cái nhãn có dòng chữ “Made in China”, thì trong tôi liền hiện lên ý nghĩ: đây là sự tốt lành đối với Trung quốc. Nhưng mặt khác từ đáy lòng mình lại nổi cộm lên sự day dứt, băn khoăn dường như tôi đang bị mất đi một cái gì đó mà tôi lại không biết đích xác mình đang bị mất cái gì.”  Ai muốn biết sự lo lắng của người Mỹ về tương lai của họ thì phải tìm hiểu quá khứ của họ, thí dụ hãy đến thành phố Gary thuộc bang Indiana. Khi trụ sở tập đoàn thép lớn nhất thế giới, US Steel, còn đóng đô ở đây, nghe đâu người ta còn tếu táo đăng cả lời rao vặt: “Chúng tôi cần tuyển mộ cả người chết”.  US Steel từng thu hút biết bao nhân công trên khắp thế giới, trong đó có cả những người của dòng họ ngôi sao nhạc Pop Michael Jackson sau này. Các lò luyện thép ở đây đã thổi một luồng sinh khí đầy sức sống toả ra khắp mọi miền đất nước. Trong nước Mỹ ngày nay đâu đâu cũng vẫn còn dấu ấn của thời vàng son Gary.    Niềm lạc quan của nước Mỹ bị tổn thương  Giờ đây thành phố Gary như bị bệnh tim. US Steel đã chuyển trụ sở đi nơi khác và các nhà máy bị đóng cửa. Tình trạng của địa phương này cũng chẳng hơn gì tình cảnh của người con lừng danh nhất của thành phố (Michael Jackson ). Cả hai từng có những năm tháng huy hoàng nhất, nhưng giờ đây chỉ có một sự khác biệt, thành phố Gary thậm chí không có đủ tiền để duy trì bộ mặt của mình. Khoảng một nửa cư dân có thời đã lên đến 200.000 người của thành phố này nay đành khăn gói ra đi.     Tất nhiên Gary không phải là nước Mỹ. Nhưng nhiều người Mỹ có cảm giác chính điều này đang dẫn đến sự thay đổi. Sự lạc quan của nước Mỹ, nhiều người từng nghĩ rằng sự lạc quan này dường như là một cái gien khắc sâu trong xương cốt con người ở đất nước này, giờ đây cái sự lạc quan đó đang bị tổn thương nặng nề.  Trong con mắt của các nhà thăm dò dư luận là hình ảnh một nước Mỹ ít nhiều sầu não, cay cú, bất bình và một bộ phận dân chúng tỏ ra cay đắng tuyệt vọng, và cần phải nói rằng sự phẫn uất này không phải chỉ vì chán ghét đối với tổng thống George W. Bush mà còn có những lý do sâu xa hơn nhiều.  60% người Mỹ cho rằng cuộc sống của các thế hệ tới sẽ tồi tệ hơn so với cuộc sống hiện nay của họ. Phần lớn dân chúng Mỹ không tin chính phủ của họ có đủ khả năng giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay. 62% dân chúng Mỹ cho rằng, hễ chính phủ Mỹ bắt tay vào một việc gì thì việc đó ắt không thành. Hiện nay trên thị trường Mỹ đang bày bán nhan nhản áo phông in đậm dòng chữ “Tôi yêu đất nước mình, nhưng tôi khiếp sợ cái chính phủ này”.  68% dân Mỹ cho rằng trên mọi bình diện đất nước họ đang đi sai đường. Các nhà thăm dò dư luận Mỹ thậm chí còn cho rằng ngay cả năm 1974, khi đường lối, chính sách của chính phủ Mỹ bị coi là một thảm họa tồi tệ nhất thì sự bi quan cũng không đến mức thê thảm như hiện nay. Hồi đó quân đội Mỹ buộc phải rút khỏi Việt Nam và xảy ra vụ bê bối Watergate dẫn đến việc Tổng thống Richard Nixon phải từ chức.  Quả thật trong tình hình hiện nay người Mỹ khó tìm thấy cái gì để tự hào, trừ phi người đó thu được một khoản tiền thưởng hằng năm kếch xù hoặc được giải thưởng Nobel Hòa bình. Trong bảy năm cầm quyền của ông Bush chỉ có một lĩnh vực đạt mức tăng trưởng gấp đôi đó là ngân sách quốc phòng. Trong khi đó  thu nhập bình quân hằng năm của mỗi gia đình ở Mỹ trong mười năm qua hầu như dậm chân tại chỗ.  Những con số về sự phát triển nền kinh tế quốc dân ở Mỹ cũng không mấy sáng sủa. Tỷ trọng xuất khẩu của nước Mỹ trên thế giới kể từ năm 1960 đã giảm một nửa. Năm 1992 mức thâm hụt thương mại là 80 tỷ USD nhưng đến cuối năm 2007 tăng lên trên 700 tỷ. Đồng USD so với đồng Euro giảm giá trị tới 24%.  Tuy nhiên chính phủ Mỹ trấn an những người hoài nghi bằng con số tăng trưởng của nước Mỹ, dù sao tăng trưởng của Mỹ vẫn cao hơn so với châu Âu. Tiêu dùng là động lực thúc đẩy nền kinh tế Mỹ. Nhưng người ta buộc phải nêu câu hỏi có bao giờ tiêu dùng có thể làm cho một đất nước trở nên phồn vinh, thịnh vượng?    “Happy talk”- biến ngoại lệ thành thông lệ  Cái kiểu biến ngoại lệ thành thông lệ, cái kiểu luôn mồm tán tụng “happy talk” điều mà mới đây thượng nghị sỹ Hillary Clinton đã thuyết giảng trước giới kinh tế ở Chicago đã làm cho người nghe bị chết lặng.  Ngay đến cả Alan Greenspan, nguyên giám đốc Ngân hàng Nhà nước Mỹ cũng phải nhìn lại sự lạc quan trước kia của mình. Trước sinh viên một trường đại học ở Washington ông ta đã cảnh báo về một “rosy assumptions” (đại loại là tô hồng tương lai) và điều này đã làm cho người nghe không khỏi băn khoăn, lo lắng.  Người Mỹ có thể chịu đựng được tất cả trừ quan niệm không thể cải tạo để đạt được kết quả tốt đẹp hơn. “If you can dream it, you can do it” (Những điều bạn mơ ước, bạn đều có thể biến thành hiện thực) từng là động lực của những người nhập cư vào nước Mỹ. Ngược lại điều này cũng có thể hiểu là: nếu ban đêm bạn không có ước mơ gì thì có nghĩa là không lâu nữa cuộc sống thường nhật của bạn sẽ trở nên buồn tẻ, nhạt nhẽo.  Nhiều người Mỹ từng nghĩ rằng, cuộc tranh cử tổng thống diễn ra sớm sủa năm nay sẽ xua tan  sự chán chường, thất vọng ở đất nước này. Kỷ nguyên Bush càng đến gần giai đoạn kết thúc thì mọi sự sẽ ngày càng tốt đẹp hơn. Thời kỳ diễn ra cuộc tranh cử ở Mỹ luôn được coi là thời gian để chắp cánh cho những ước mơ.  “The American Dream”, một ứng cử viên trước khi bước chân vào Nhà Trắng nhất thiết phải có những lời hứa rùm beng về một tương lai huy hoàng chói lọi. Theo nhà báo William Safire thì một khi các cơ quan nhà nước là bộ xương sống của một cơ thể chính trị thì giấc mơ Mỹ chính là linh hồn của cái cơ thể chính trị đó. Người ta có thể thông qua những giấc mơ đó để nhận ra cơ thể chính trị nước Mỹ. Ronald Reagan có lần từng nói, đối với ông ta thì giấc mơ Mỹ chính là “cơ hội để mỗi con người có thể bay cao, bay xa tuỳ theo sức lực của bản thân người đó”. Cố tổng thống John F. Kennedy từng mơ ước về một “Thế giới không có chiến tranh”. Richard Nixon từng mơ ước về bản thân mình, năm 1960 tại đại hội đảng Cộng hòa khi trúng cử đại diện đảng này tham gia tranh cử tổng thống Mỹ ông ta nói: “Điều duy nhất mà đêm hôm nay tôi có thể nói với các bạn là, tôi tin vào giấc mơ Mỹ. Vì chính tôi đã chứng kiến giấc mơ đó trở thành hiện thực như thế nào đối với bản thân mình”.    Người Mỹ mơ về quá khứ  Giấc mơ của người Mỹ trong mùa tranh cử này được thêu dệt bằng những hoài niệm trong quá khứ. Tại nước Mỹ ở đâu cũng thấy nói về “restoring”, “rethinking” và “reshaping”- đó là sự phục hồi vị trí bá chủ thế giới, sự tìm lại bản sắc và sự xây dựng lại tình đoàn kết dân tộc.  Mới đây đảng Cộng hòa đã tổ chức một đại hội về giấc mơ Mỹ tại khách sạn Mayflower ở Washington nhằm mục đích nêu rõ định hướng cho tương lai. Trong phòng khiêu vũ rộng thênh thang tranh tối tranh sáng trên trần nhà hiện lên hình ảnh bầu trời đầy sao. Khán giả là những quý ông diện complê chĩnh chạc, đầu đội mũ cao bồi mầu trắng. Nhiều ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa cũng có mặt nhưng diễn giả hùng hồn nhất và thu hút được sự chú ý nhiều nhất của khán giả lại là kẻ nhai đi nhai lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống cộng sản trong quá khứ. Để kích động khán giả diễn giả này đã cho phóng lên tường hình ảnh chiếc xe ô tô Trabi của Đông Đức trước đây và hét toáng lên: “Điều này đã xảy ra khi nền kinh tế kế hoạch hóa giành thắng lợi”. Mọi người khoái trá cười ồ lên. Thật chẳng mấy ai có thể ngờ rằng cho đến tận ngày nay cuộc chiến tranh lạnh còn có khả năng sưởi ấm lòng người đến như vậy.  Tuy nhiên tương lai rồi đây sẽ ra sao, thì ngay cả các cử tri Mỹ cũng chẳng biết mô tê gì. Theo các nhà điều tra của NBC News thì so với cách đây một năm số người cho rằng tình trạng trái đất nóng lên hiện nay “là vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất của thế giới” đã tăng lên gấp đôi. Nhưng số người tán thành quy định hạn chế tiêu thụ xăng lại giảm đi so với trước đây.  Một điều tương tự cũng diễn ra đối với chính sách y tế. Đa số người Mỹ tán thành đề nghị của bà Hillary Clinton về việc phải bảo vệ sức khỏe cho mọi người dân. Nhưng đồng thời đa số cũng nói “không” khi phải đóng góp nhiều hơn để đạt được yêu cầu này.  ——–  * Phóng viên của tạp chí “Tấm gương” từ năm 1990, hiện có mặt tại Washington DC và chuyên viết về cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008.  XUÂN HOÀI dịch  Gabor Steingart*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Siêu hạn hán cổ đại có thể giải thích “thiên niên kỷ bị mất” ở Đông Nam Á      Diễn ra cách thời điểm hiện nay khoảng 5000 năm, một cơn siêu hạn hán kéo dài trong khoảng thời gian hơn 1000 năm đã tạo ra những thay đổi khủng khiếp ở đất liền Đông Nam Á, theo thông tin từ một nghiên cứu mới về đá trong hang động ở Bắc Lào.        Vị trí của hang Tham Doun Mai (đánh dấu hình kim cương) và những vị trí đại diện về khí hậu khác. Nguồn: Nature Communications  Các nhà nghiên cứu Mỹ và quốc tế tin rằng, cuộc hạn hán này bắt đầu khi đợt khô hạn ở sa mạc Sahara làm gián đoạn mùa mưa và kích hoạt những đợt hạn hán trên phần còn lại của châu Á và châu Phi. Đây là kết quả rút ra từ công bố ‘End of Green Sahara amplified mid- to late Holocene megadroughts in mainland Southeast Asia” trên Nature Communications.    Nhiều năm qua, các nhà khảo cổ học nghiên cứu phần đất liền Đông Nam Á, một khu vực gồm Cambodia, Lào, Myanmar, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam – vẫn bối rối về “thiên niên kỷ mất tích”, một thời kỳ dài khoảng 6000 năm đến 4000 năm trước với ít ỏi bằng chứng về việc định cư của con người. Nhà khảo cổ học Joyce White, trường đại học Pennsylvania và là đồng tác giả của công bố tin là các khu định cư này có thể bị mất bởi một trận siêu hạn hán đã ảnh hưởng đến dân số ở các khu định cư và buộc họ phải đi khắp nơi tìm nguồn nước.  Để tái tạo khí hậu thời kỳ đó, White và đồng nghiệp của bà đã tìm hiểu về các măng đá trong Tham Doun Mai, một han động ở Bắc Lào. Các măng đá là các cột đá hình tháp được do cacbonat canxi kết tụ trên nền các hang động; chúng “lớn lên” một cách chậm chạp khi nước giàu khoáng chất nhỏ xuống từ các  trần hang động – thông thường diễn ra sau những cơn mưa. Bằng việc phân tích bối cảnh của việc kết tụ khoáng chất một cách chậm chạp, các nhà nghiên cứu đã đo lường dược không chỉ tuổi đá mà còn cả độ ẩm trong suốt thời gian đó.  Đầu tiên các nhà khoa họ đã xác định niên đại bằng đồng vị phóng xạ ba mặt cắt măng đá từ 9.500 năm đến 700 năm trước. Tiếp đến họ kiểm tra đồng vị ô xy trong đá để xem việc lượng mưa có thể thay đổi như thế nào trong suốt thời gian đó. Khi mưa rơi, giọt nước mang đồng vị oxy-18 nặng rơi xuống đất trước những đồng vị oxy-16 nhẹ hơn. Những trận mưa với cường độ lớn thường dẫn đến mất cả hai loại đồng vị này nhưng những nơi khô hạn thường ít khi rơi vào trường hợp này nên hay có xu hướng nghèo oxy nhẹ. Bằng việc tìm các lớp măng đá giàu oxy-18, các nhà nghiên cứu có thể nhận diện được những thời điểm khi nào khí hậu khô hạn.  Các nhà nghiên cứu phát hiện ra là mưa rơi trong hang động ở Lào này có liên quan bền vững với hơn 4.000 năm trước khi lượng mưa giảm đột ngột trong khoảng 5.100 năm đến 3.500 năm trước. Điều này cho thấy vùng này đã trải qua một cơn hạn hán kéo dài chưa từng được ghi nhận trước đây và kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Các nhà khoa học đã nêu điều này trong công bố trên Nature Communications.    Những thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ và vòng tuần hoàn Walker giữa Sahara khô hạn và ẩm ướt.    Nếu điều đó xảy ra, nó có thể là một phần của một loạt các trận siêu hạn hán lớn hơn ở châu Phi và châu Á vào khoảng giữa 5000 và 4000 năm trước, đồng tác giả nghiên cứu Kathleen Johnson, một nhà cổ khí hậu học tại trường đại học California, Irvine, nhận xét. Trong suốt thời gian này, quá trình văn minh hóa khắp Tây Á và Trung Đông đều trải qua những cuộc dịch chuyển lớn như sự sụp đổ của đế chế Akkad ở Mesopotamia và sự hoang phế của những thành phố ở Thung lũng Indus. Cuộc dịch chuyển khí hậu này, vốn được một số nhà khoa học gọi là “sự kiện 4.2-kilo year”, là những điều cơ bản của Meghalayan, một cuộc tranh cãi về tuổi địa chất học mới khi được coi là phần trên, hoặc phần mới nhất, trong ba phân khu của kỷ nguyên Holocene. Phần và điểm địa tầng ranh giới toàn cầu của nó là một hệ thống hang Krem Mawmluh ở Meghalaya, đông bắc Ấn Độ. Nó trùng khớp với  – hoặc có thể là kết quả từ đó – phần kết thúc của Sahara Xanh, khi vùng Bắc Phi từng xanh tươi trù phú trở thành một sa mạc.  Để xác định là liệu quá trình sa mạc hóa châu Phi có thể có liên hệ với siêu hạn hán ở Đông Nam Á hay không, các nhà nghiên cứu đã mô phỏng khí hậu cổ đại, hợp nhất những tương tác giữa các đại dương, bầu khí quyển, bụi và hệ thực vật. Họ tìm thấy sự khô hạn của Sahara có thể làm gia tăng bụi trong không khí, đẩy Thái bình dương vào một chu kỳ giống El Niño kéo dài làm ảnh hưởng đến lượng mưa trong mùa mưa ở đất liền Đông Nam Á. Điều này có thể làm kích hoạt trở lại một siêu hạn hán ở những dải lớn của Đông Nam Á và làm ngập lụt Nam Á. Về thực chất, điều này là “một sự phân bố lại độ ẩm khắp châu Á”, Michael Griffiths, một nhà cổ khí hậu học tại trường đại học William Paterson University và là tác giả thứ nhất của công bố, nói.  Raymond Bradley, một nhà cổ khí hậu học tại trường đại học tại trường đại học Massachusetts, Amherst, cho biết nghiên cứu mới nêu sự kiện 4.2-kilo year – vốn được nhiều người coi là một cú chuyển đổi khí hậu đột ngột – có thể là một phần của một xu hướng lớn hơn và được bắt đầu sớm hơn ước tính trước đây khoảng 800 năm. Ông hi vọng nghiên cứu mới sẽ thu hút được các nhà nghiên cứu tìm hiểu lại các hồ sơ được lưu trữ tốt từ nhiều vùng trong châu Á để xem liệu nơi nào và khi nào các dịch chuyển khí hậu như vậy xuất hiện. “Chỉ có vậy chúng ta mới có thể tìm được ra lý do tại sao lại xảy ra những thay đổi đó và chúng có thể có liên quan hoặc không liên quan đến những thay đổi về mặt xã hội như thế nào”.  Để kết thúc, Griffiths và nhóm nghiên cứu đang lập kế hoạch khám phá thêm các hang động ở Việt Nam và Thái Lan để có được những hiểu biết saua hơn về thời kỳ này. Và những câu trả lời có thể đem lại thông tin hỗ trợ các dự đoán khí hậu hiện đại, ông nói. “Có lẽ việc nghiên cứu về quá khứ có thể giúp chiếu rọi tình trạng hiện nay của chúng ta theo nhiều cách mới.”  Thanh Phương dịch    Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/08/ancient-megadrought-may-explain-civilization-s-missing-millennia-southeast-asia    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Siêu khoai tây Sao Hỏa” trên Trái đất      Các nhà khoa học ở Peru đã lặp lại những trải nghiệm trồng khoai tây như cách ngôi sao Matt Damon đã thực hiện trong phim “Người Sao Hỏa” năm 2015.      Ngôi sao Matt Damon trong phim “Người Sao Hỏa”. Ảnh: Giles Keyte  Vậy một ngày nào đó khoai tây có thể là lương thực cho con người sống trên Sao Hỏa?  Các nhà khoa học đã tạo ra một khu vực mô phỏng bắt chước các điều kiện sống khắc nghiệt trên hành tinh đỏ để trồng thành công một cây khoai tây: nhiệt độ lạnh giá dưới 0 độ, nồng độ carbon monoxide cao, áp suất không khí như ở độ cao 6.000m so với mực nước biển và một hệ thống đèn chiếu sáng bắt chước ngày và đêm ở Sao Hỏa. Các nhà khoa học cho rằng, loại cây này có thể được trồng tại các vùng khô cằn của trái đất đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.  “Đây không chỉ là việc mang khoai tây tới sao Hỏa mà còn là việc tìm ra một loại khoai tây có thể sinh trưởng được ở những vùng đất không thể gieo trồng gì được của trái đất”, Julio Valdivia, nhà sinh vật học vũ trụ thuộc ĐH Công nghệ và kỹ thuật Peru, hiện tham gia dự án nghiên cứu này với Nasa, cho biết.  Thí nghiệm này đã bắt đầu vào năm 2016 – một năm sau khi trình chiếu “Người Sao Hỏa”, bộ phim kể về nỗ lực sống sót bằng việc tìm ra cách trồng khoai tây của một nhà du hành vũ trụ bị mắc kẹt lại hành tinh Đỏ.  Thông qua việc tư vấn và cung cấp thiết kế của các đồng nghiệp ở Trung tâm nghiên cứu Ames của NASA ở California cách đó hàng ngàn dặm, các nhà khoa học Peru đã thử nghiệm nhiều cách để tạo ra một khu vực thích hợp và thực hiện thí nghiệm trồng khoai tây.  Nơi thuần hóa khoai tây khoảng 7000 năm trước nằm ở cao nguyên Andes gần hồ Titicaca. Có hơn 4.000 loài khoai tây khác nhau được trồng ở Peru, Bovolia và Ecuador, nơi có điều kiện đất đai cằn cỗi, lạnh giá nhưng loại cây lương thực này vẫn có thể sinh trưởng.  Các nhà khoa học Peru không cần đi xa để tìm thấy nơi có độ mặn cao cho dù đất đai ở đây cũng có một số chất hữu cơ mà Sao Hỏa không có: Pampas de la Joya, vùng bờ biển phía nam Peru có địa hình gần giống như hành tinh Đỏ do mỗi năm lượng mưa không quá 1 mm.  Các nhà nghiên cứu của Trung tâm khoai tây quốc tế đã chở 700 kg đất được lấy từ Pampas de la Joya đến Lima để gieo trồng 65 loại khoai tây và chờ đợi kết quả. Cuối cùng, chỉ bốn củ là nảy mầm trên nền đất này.  Ở giai đoạn tiếp theo, các nhà khoa học đã trồng một trong số những giống khoai tây khỏe nhất trong điều kiện khắc nghiệt của khu vực mô phỏng, với đất – Sao Hỏa không có đất hữu cơ – được thay thế bằng đá nghiền vụn và hòa thêm chất dinh dưỡng.    Khu vực mô phỏng lắp các camera để ghi hình trực tiếp mọi chuyển động dù nhỏ nhất như chồi mới nảy hay toàn bộ lá sinh trưởng trong khi các cảm biến giám sát suốt ngày đêm các điều kiện về đất đai, môi trường.  Cây khoai tây duy nhất còn sống sót là loài khỏe nhất và thực sự là “độc nhất vô nhị”.  “Đây chính là ‘siêu khoai tây’ có thể sống trong điều kiện có nồng độ carbon dioxide trong không khí cao và nhiệt độ ở mức đóng băng”, Valdivia cho biết.  NASA cũng tự thực hiện các thí nghiệm về nông nghiệp ngoài trái đất để có thể tiến hành trồng trọt trên cả tàu vũ trụ lẫn trên Sao Hỏa.  Ray Wheeler, người đi đầu trong các hoạt động nghiên cứu về hỗ trợ sự sống tại Trung tâm vũ trụ Kennedy tại NASA, cho biết cây sống sót trong không gian Sao Hỏa có thể không thể tồn tại trong điều kiện áp suất thấp, nhiệt độ thấp và thiếu ô xi trên trái đất, nhưng việc đó cũng chứng tỏ cây trồng có thể sống sót trong môi trường kiểu nhà kính với áp suất giảm, các nồng độ carbon-dioxide cao có khả năng làm giảm bớt chi phí trồng trọt. Phần lớn các nghiên cứu về cây trồng sinh trưởng trong không gian đều tập trung vào tối ưu các điều kiện môi trường để thu được mùa vụ và nồng độ ô xi cao.  “Nhưng sự hiểu biết về những giới hạn thấp nhất của sự tồn tại cũng rất quan trọng, đặc biệt nếu như anh cân nhắc việc chuẩn bị một số điều kiện của các hệ thống sinh trưởng cây trồng trước khi con người tới”, ông nói.  Trong giai đoạn tiếp theo, các nhà khoa học sẽ xây dựng ba khu vực mô phỏng và tăng thêm nồng độ carbon dioxide trong không khí ở đây để trồng khoai  tây với hy vọng sẽ nhân rộng hơn nữa kết quả thu được.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/mar/30/the-martian-super-potato-grow-on-mars-peru    Author                Quản trị        
__label__tiasang Siêu kinh tế học hài hước      Bạn đã đọc Kinh tế học hài hước (Freakonomics) và bạn muốn biết Siêu kinh tế học hài hước (Superfreakonomics) có gì khác biệt?  Bạn chưa đọc Kinh tế học hài hước nhưng bạn muốn đọc Siêu kinh tế học hài hước trước vì thấy nó “bùng nổ” hơn?      Nếu như trong Kinh tế học hài hước, tác giả đã làm cho chúng ta cực kỳ ngạc nhiên, thú vị trước những hiện tượng tưởng như bình thường nhưng “nhìn vậy mà không phải vậy” xảy ra hằng ngày chung quanh ta thì Siêu kinh tế học hài hước hướng ta suy nghĩ đến những vấn đề mang tính xã hội hơn, thời sự hơn, và làm cho ta phải suy nghĩ nhiều hơn. Vẫn với cách đặt câu hỏi không những chỉ khó mà còn hoàn toàn bất ngờ như “Điều gì là nguy hiểm hơn, vừa say rượu vừa lái xe, hay vừa say rượu vừa đi bộ?”, “Tại sao liệu pháp hóa trị liệu được kê cho bệnh nhân nhiều như vậy trong khi nó không thực sự hiệu nghiệm đến thế?”, hay “Liệu việc đổi giới tính có giúp lương bạn tăng lên không?”, tác giả đã thử thách cách chúng ta suy nghĩ một lần nữa, giúp ta khám phá được mặt bí ẩn của mọi thứ xung quanh. Qua những câu chuyện về cách con người phản ứng trước động cơ, và sử dụng những dữ liệu thống kê để làm nổi bật những ý mà trước đó bạn chưa bao giờ nghĩ đến, tác giả cho ta thấy kinh tế học đã chạm đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta như thế nào. Sau đây là một vài chủ đề tiêu biểu của sách   • Đi bộ khi say thì nguy hiểm chết người hơn lái xe khi say rất nhiều lần.  • Những tay ma cô dắt gái giống môi giới nhà đất như thế nào.  • Tại sao những tay đánh bom tự sát nên mua bảo hiểm nhân mạng.  • Tại sao Iran lại dùng động cơ kinh tế, chứ không phải kêu gọi lòng thương người, để tăng số người hiến thận.  • Trẻ con xem nhiều TV thì có nhiều nguy cơ dính dáng đến tội ác khi chúng lớn lên.  • Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích bác sĩ kê đơn cho liệu pháp hóa trị liệu ngay cả khi nó không hữu hiệu trong việc cứu sống bệnh nhân cho lắm.  Levitt và Dubner đã pha trộn cách suy nghĩ thông minh với tài kể chuyện hấp dẫn không giống bất kỳ ai trong nhiều chủ đề khác nhau của sách, bất kể đó là khi họ tìm hiểu cách giải quyết cho hiện tượng Trái đất nóng lên hay giải thích tại sao giá của việc mua dâm càng ngày càng giảm một cách không ngờ. Bằng việc khảo sát cách con người phản ứng trước những động cơ khác nhau, họ đã cho cả thế giới thấy được bộ mặt thật của nó – có tốt, có xấu, và trong phần phân tích cuối cùng, không kém phần “siêu hài hước”. Vì vậy, hãy dành cho bạn một cơ hội để mở mang đầu óc và cho phép một cách nhìn khác thâm nhập, dù chỉ một thời gian ngắn, để bạn thấy mọi vật chung quanh mình dường như đã khác đi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Siêu rong biển” tạo ra các hợp chất tự nhiên và dược chất      Các nhà nghiên cứu của ĐH Tel Aviv và Viện nghiên cứu Đại dương và hồ (IOLR) đã thành công trong việc tăng cường khả năng của rong biển để tạo ra các vật liệu tự nhiên tốt cho sức khỏe. Nghiên cứu này tập trung vào việc tăng cường tạo ra các hợp chất có đặc tính sinh học có khả năng đem lại nhiều lợi ích cho con người, ví dụ gấp đôi nồng độ các chất chống oxy hóa, gấp ba nồng độ khả năng chống nắng tự nhiên, gấp mười các sắc tố có giá trị y học lớn…    Rong biển được sử dung trong nghiên cứu là Ulva (rau diếp biển), Gracilaria (rau câu), Hypnea. Nguồn: Doron Ashkenazi  Theo các nhà nghiên cứu, các phát hiện đó có thể sử dụng trong ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và thực phẩm chức năng… Nghiên cứu này được thực hiện với cách tiếp cận đổi mới và bền vững trong môi trường dưới nước tích hợp, với sự kết hợp rong biển với nuôi cá. Phương pháp này đem lại lợi ích từ rong biển trong khi giúp thanh lọc rong biển và tối thiểu hóa các tác động xấu lên môi trường.  Nghiên cứu do nghiên cứu sinh Doron Ashkenazi (ĐH Tel Aviv và IOLR) thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo sư Avigdor Abelson (trường Thú y ĐH Tel Aviv) và giáo sư Alvaro Israel (IOLR) trong sự hợp tác với những nhà nghiên cứu hàng đầu Israel và khắp thế giới, bao gồm Guy Paz (IOLR), chuyên gia hóa hữu cơ Shoshana Ben-Valid, TS. Eitan Salomon (Trung tâm Nuôi trồng biển quốc gia), giáo sư Félix López Figueroa, Julia Vega, Nathalie Korbee, và Marta García-Sánchez từ trường đại học Malaga Tây Ban Nha. Bài báo xuất bản trên tạp chí Marine Drugs, nhờ những phát hiện mang tính nền tảng về các hợp chất cho y học của nghiên cứu trong lĩnh vực biển.  Doron Ashkenazi giải thích, “Rong biển, hay còn gọi là tảo bẹ, là loài thực vật ở biển hình thành cơ sở cho hệ sinh thái ven biển. Rong biển hấp thụ carbon dioxide và thải ra oxy vào môi trường. Chúng thanh lọc nước, cung cấp thức ăn, tạo nơi trú ngụ và ẩn náu của vô số loài cá và động vật không xương sống. Tuy vậy không có nhiều người biết điều đó. Ngoài ra rong biển còn có lợi ích khác là tạo ra một phạm vi rộng các hợp chất có đặc tính sinh học có thể đem lại lợi ích cho con người.  Rong biển sống trong vùng liên triều phải đối mặt với những điều kiện cực đoan, bao gồm thay đổi độ mặn, nhiệt độ, khử nước, thay đổi chế độ dinh dưỡng sẵn có và phơi nhiễm bức xạ mặt trời, cụ thể là tia UV. Do đó, để sống sót, rong biển đã phát triển một bộ độc nhất vô nhị các cơ chế hóa học phòng vệ – các hợp chất thiên nhiên giúp chúng có thể đương đầu với các điều kiện môi trường khắc nghiệt. Mặt khác cũng có thể nói là rong biển là một công xưởng tự nhiên hiệu suất cao cho sản xuất những hợp chất có giá trị, có thể đem lại những lợi ích đáng kể cho con người”.  Trong một nghiên cứu trước đây, nhóm nghiên cứu này đã phát triển một công nghệ đổi mới làm tăng sự tăng trưởng của rong biển làm giàu bằng các protein và khoáng chất như kẽm, sắt, iốt, măng gan, can xi…  Trong nghiên cứu hiện tại, họ đã thử kiểm tra xem liệu có thể làm tăng sản lượng các hợp chất có đặc tính sinh học của rong biển cũng như các chất chuyển hóa thứ cấp không và nếu có thì cách nào để tối ưu lợi ích cho sức khỏe của nó? Các hợp chất này bao gồm các chất chống ô xi hóa, sắc tố bảo vệ và chất lọc bức xạ mặt trời tự nhiên.  Cuối cùng, họ thiết lập một cách nuôi trồng trên ba loài rong biển địa phương là Ulva (rau diếp biển), Gracilaria (rau câu), Hypnea, ban đầu được trồng với nước thải nuôi cá và sau đó phơi nhiễm với vô số điều kiện phi sự sống (stressors) như độ bức xạ cao, thiếu dinh dưỡng và độ mặn cao. Các nhà nghiên cứu tìm hiểu cách các thay đổi trong điều kiện sống ảnh hưởng đến nồng độ của các vật chất sinh học có giá trị cụ thể trong rong biển, với mục tiêu làm gia tăng hiệu suất của chúng.  Kết quả cho thấy sự gia tăng ấn tượng trong các nồng độ: mức độ ô xy hóa tăng gấp đôi, các phân tử chống nắng tự nhiên trong rong biển tăng bấp ba và các sắc tố bảo vệ lên gấp 10. “Chúng tôi phát triển các điều kiện nuôi cấy tối ưu và phát triển một cách hoàn toàn mới và sạch có thể gia tăng mức tạo ra các hợp chất có đặc tính sinh học tự nhiên có lợi cho sức khỏe ở rong biển đến một mức chưa từng có”, Ashkenazi nói. “Trên thực tế, chúng tôi đã tạo ra thiết kế ‘siêu rong biển’ để có thể sử dụng nó trong những ngành công nghiệp sức khỏe và thực phẩm mới nổi”.  Bằng cách tiếp cận của mình, các nhà nghiên cứu tin là tương lai sẽ có thể đánh giá được những đặc tính y học quan trọng của các vật liệu tự nhiên trong rong biển, như các hợp chất chống ung thư, chống tiểu đường, chống viêm nhiễm, chống virus và chống sinh học… Thêm vào đó, công nghệ hiện nay đã có tiềm năng ứng dụng trồng rong biển trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản toàn cầu và có thể góp phần đưa Israel như quốc gia dẫn đầu trong công nghệ sinh học rong biển.  Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là việc nuôi trồng rong biển thân thiện với môi trường, lưu trữ sự cân bằng sinh học, và hơn thế, giảm rủi ro về môi trường bằng việc tối thiểu hóa nguồn phân bón hóa học  của con người, giảm thiểu phát thải của khí nhà kính và giảm bớt vết carbon. Theo cách này, việc nuôi trồng rong biển có thể giúp đương đầu với những thách thức môi trường toàn cầu như ô nhiễm, mất nơi sinh sống và khủng hoảng khí hậu.  Doron Ashkenazi kết luận, “Trong tương lai, con người sẽ tập trung vào việc sáng tạo các giải pháp môi trường dựa vào khoa học như một trong số đó là cách chúng tôi đề xuất trong nghiên cứu: các công nghệ khuyến khích tái chế và sử dụng các nguồn lực tự nhiên mà không khai thác tận diệt chúng. Nghiên cứu đã chứng minh là chúng ta có thể thụ hưởng các dịch vụ sinh thái mà không làm phá hủy nó. Chỉ với đề xuất từ rong biển, chúng ta có thể học hỏi từ tự nhiên về cách bảo vệ nó và sống thịnh vượng bên cạnh nó”.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-super-seaweed-natural-health-compounds.html  https://www.israelnationalnews.com/news/368948    Author                .        
__label__tiasang Siêu vật liệu      Những vật chất thiên nhiên thường có chiết suất n trong khoảng 1 đến 3 (thí dụ: chân không n = 1, thủy tinh n = 1,5, kim cương n = 2,4). Từ năm 2000, một loại vật liệu nhân tạo gọi là “siêu vật liệu” (metamaterials) đã được thiết kế và đang trở thành một đề tài nghiên cứu “nóng”.      Gần đây, các nhà khoa học Hàn Quốc mang đến một kết quả kinh ngạc. Họ thiết kế thành công một siêu vật liệu có chiết suất cực kỳ to, n = 33 [M. Choi et al, Nature 470 (2011)369]. Khác với vật liệu thiên nhiên như các chất vô cơ, hữu cơ, kim loại và oxit kim loại, siêu vật liệu là một cấu trúc được thiết kế hoàn toàn nhân tạo bằng cách bố trí những đơn vị cấu trúc sao cho chiết suất quang học có trị số theo ý muốn kể cả trị số âm. Hãy tưởng tượng khi ta có một chất lỏng có chiết suất âm, sự khúc xạ sẽ xảy ra ở một hướng nghịch lại (hình1)       Vật liệu nhân tạo này được biểu hiện bằng tiền tố “siêu” dịch từ chữ “meta” từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là “vượt”. Siêu vật liệu “vượt” qua những vật liệu thiên nhiên nằm ở ý nghĩa là khi đơn vị cơ bản của vật chất như chúng ta thường biết là phân tử, thì trong siêu vật liệu là những đơn vị cấu trúc nhân tạo có kích cỡ từ milimét đến nanomét. Chúng có thể là que micro/nano vàng, sợi micro/nano bạc, vòng kim loại hay là mạng lưới vi mô. Hình dáng, kích thước và cách sắp xếp của những đơn vị này được tính toán để thích ứng cho một ứng dụng do sự tương tác giữa siêu vật liệu và sóng điện từ (ánh sáng).   Siêu vật liệu có chiết suất âm có ngay một tiềm năng ứng dụng là chế tạo ra “siêu thấu kính” (superlens). Các thấu kính quang học bình thường không cho hình ảnh rõ rệt của vật quan sát khi vật này có kích thước tương đương với bước sóng ánh sáng do sự nhoè nhiễu xạ. Nếu bước sóng của ánh sáng trắng là 550 nm (nanomét) thì ảnh của vật nhỏ hơn 550 nm (độ lớn của vi-rút) trong kính hiển vi quang học sẽ bị nhoè. Tuy nhiên, siêu thấu kính có chiết suất âm sẽ không bị ảnh hưởng của sự nhoè ảnh. Điều này cho thấy siêu thấu kính sẽ cho một dụng cụ quang học để quan sát một vật có độ lớn nhỏ hơn bước sóng của ánh sáng. Khả năng “kỳ quái” của siêu thấu kính lập tức có những đề nghị ứng dụng trong li-tô quang tạo ra những vi mạch đến cấp nanomét, sản xuất các loại đĩa quang học (DVD, CD) với lượng trữ dữ liệu vài trăm lần nhiều hơn và tiềm năng xử lý dữ liệu bằng ánh sáng trong máy vi tính hay dụng cụ điện tử.           Hình 2: Đường đi của sóng điện từ trong siêu vật liệu: (A) Biểu hiện hai chiều, vật bị phủ là quả cầu tròn có bán kính R1, và lớp phủ có bề dày (R2-R1) và (B) Biểu hiện ba chiều [J. B. Pendry et al, Science 312 (2006) 1780].          Một ứng dụng khác là “tàng hình”. Khi chúng ta nhìn mặt đường vào mùa hè nóng bức, từ một khoảng cách thích hợp ta thấy trước mắt xuất hiện một “vũng nước” lung linh ảo ảnh của bầu trời và cây cối bên đường. Hiện tượng này do sự thay đổi dần dần của chiết suất từ trị số to của không khí lạnh phía trên đến trị số nhỏ hơn của không khí nóng tiếp giáp với mặt đường. Sự thay đổi chiết suất uốn cong đường đi của ánh sáng. Các nhà khoa học cũng đã thiết kế siêu vật liệu có sự thay đổi chiết suất làm cong đường đi của sóng điện từ xung quanh một vật như dòng nước chảy quanh khối đá nhô lên giữa dòng. Vì không có sự phản xạ sóng từ vật nên đối với người quan sát vật này “tàng hình”. Như vậy, siêu vật liệu không những có thể có chiết suất âm mà còn là một tập hợp của những mảnh khảm (mosaic) quang học mang từng trị số chiết suất khác nhau làm cong đường đi sóng điện từ tùy theo ý muốn của con người.   Bằng cách thay đổi hình dạng đơn vị cấu trúc, các nhà khoa học Hàn Quốc hứa hẹn sẽ gia tăng chiết suất từ 33 đến vài trăm. Siêu vật liệu quả là “siêu” vì những tiềm năng ứng dụng mà con người chưa lường hết được.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sihub hướng đến kết nối toàn cầu      Không gian hỗ trợ Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo (Sihub), trực thuộc Sở KH&CN TP. HCM đã ký ghi nhớ và hợp tác với nhiều tổ chức nghiên cứu, cơ quan đổi mới sáng tạo và các tập đoàn lớn trên thế giới nhằm thực hiện chiến lược “Sihub 2020 – Hướng đến kết nối toàn cầu”.      Sihub ra mắt ban cố vấn   Ngày 22/3 vừa qua, Sihub đã ký kết ghi nhớ với các đối tác: Shihan Future’ Lab (Hàn Quốc), Magic (Malaysia), Quest Venture (Singapore) và German Accelerator (Đức) trong chương trình Run Way to the world (Chương trình trao đổi startup quốc tế giữa Việt Nam và các nước); ký kết với Swedish Univerity Outreach (Thụy Điển) – chương trình Boundless! (Chương trình trao đổi giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa); ký kết với Ivey Business School (Canada) trong Chương trình nâng cao nâng lực quản trị cho doanh nghiệp; ký kết với Unicef (Chương trình giáo dục kỹ năng thế kỷ 21 cho thanh thiếu niên); hợp tác với Swedish Univerity Outreach (triển khai hội nghị công nghệ ngành sức khỏe, y tế Châu Á); ký với tập đoàn Bosch (Đức) trong Chương trình Liên minh chiến lược phát triển hệ sinh thái ngành mạng lưới vạn vật kết nối- IOT, ký kết với Kaizen Accelerator (Thụy Sỹ) trong chương trình liên minh chiến lược phát triển hệ sinh thái ngành Blockchain & Công nghệ tài chính số; ký kết với Quest Venture (Singapore) trong Chương trình thiết lập và phát triển hệ sinh thái đầu tư khởi nghiệp; hợp tác với Coex (Hàn Quốc), ESCOM (HongKong) và Retail &Franchise Asia triển khai Hội chợ quốc tế Bán lẻ & Nhượng quyền.  Những hoạt động trên nằm trong chiến lược đưa Sihub 2020 trở thành một hệ sinh thái năng động, phục vụ tốt nhất cho doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc điều hành Sihub chia sẻ về mục tiêu của Chiến lược Sihub 2020: “Trong hai năm qua Sihub đã cơ bản hoàn thành giai đoạn đầu – giai đoạn xây dựng và kiến tạo. Đây là lúc chín muồi để Sihub bước sang giai đoạn 2 của một hệ sinh thái khởi nghiệp – đổi mới sáng tạo: giai đoạn hội nhập toàn cầu. Với  chiến lược Sihub 2020, Sihub đặt ra mục tiêu tập hợp được các nguồn lực trong nước và quốc tế, cùng nhau đưa Sihub trở thành một hệ sinh thái khởi nghiệp – đổi mới sáng tạo hàng đầu của khu vực Đông Nam Á”.  Để đạt được mục tiêu đó, Sihub cần tới một hội đồng cố vấn quốc tế uy tín, giàu kinh nghiệm. Do đó, trong dịp này Sihub đã ra mắt hội đồng cố vấn quốc tế sẽ giúp tư vấn và hỗ trợ cho Sihub, gồm 12 thành viên là các nhà tư vấn, các chuyên gia, giáo sư, nhà nghiên cứu, CEO của các tập đoàn quốc tế… Bà Nguyễn Phi Vân – Chủ tịch hội đồng cố vấn cho Sihub 2020 tin tưởng rằng, chính đội ngũ cố vấn quốc tế là những người có kinh nghiệm, bề dày thành tích và tầm ảnh hưởng quốc tế sẽ giúp Sihub nhanh chóng kết nối quốc tế và thực hiện nhiều hoạt động sáng tạo, hiệu quả để hiện thực hóa chiến lược của mình.  Ban cố vấn quốc tế cho Sihub 2020   1. Tiến sỹ Nguyễn Việt Dũng – Giám Đốc, Sở Khoa Học và Công Nghệ TP.HCM  2. Bà Karen Lanyon – Tổng Lãnh Sự, Lãnh Sự Quán Úc tại TP.HCM  3. Tiến Sĩ James Canton – Chủ Tịch HĐQT & CEO, Học viện Tương Lai Quốc Tế  4. Giáo Sư Erkko Autio – Trưởng khoa Đầu tư mạo hiểm vào công nghệ và khởi nghiệp, Trường Imperial College, London.  5. Ông Nitin Gajria – Giám Đốc Điều Hành, GoogleViệt Nam/ Campuchia / Lào  6. Ông Matt Havens – Partner, BCG Digital Ventures (Asia)  7. Ông Douglas Feagin – Trưởng Alipay International & Phó Giám đốc Ant Financial  8. Bà Vũ Kim Hạnh – Sáng lập và Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh & Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA)  9. Ông Pavel Poskakukhin – Giám Đốc Hợp Tác, Deloitte South East Asia  10. Ông James Tan – Giám đốc thành viên, Quest Venture 11. Ông Liat Beng Neo – Giám đốc vùng – GrabPay  12. Bà Nguyễn Phi Vân – Sáng lập & Chủ tịch Retail & Franchise Asia     Nguồn tin: Sở Khoa học và công nghệ TP Hồ Chí Minh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào ?      Những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về công nghệ như Apple, Facebook, Google hay Microsoft đều là công ty của Mỹ. Người ta cũng thấy nhiều trường hợp thành công tương tự ở Thung lũng Silicon Valley. Thế nhưng theo quan sát của Wiwo, vẫn chưa có làn sóng doanh nghiệp công nghệ như vậy tại Đức. Vậy đâu là nguyên nhân ?      Từ một doanh nghiệp ở trong gara trở thành doanh nghiệp tầm cỡ thế giới: Apple chỉ là một ví dụ về sự thành công của Silicon Valley.  Hãy nhìn vào một trường hợp cụ thể: Catalin Voss, một sinh viên Đức đang theo học tại đại học Stanford (Mỹ) đã mô tả về những giá trị mà ngôi trường của mình đem lại: “Tôi đã được truyền thụ rằng đôi khi thất bại lại đem lại may mắn”. Thất bại mà lại may mắn ư? Nghe có vẻ trái ngược nhưng chính đây là tinh thần mà môi trường đại học Mỹ đem lại cho các sinh viên của mình. Bản thân Voss cũng là một con người xuất sắc, anh theo học ở  đây từ năm 17 tuổi và trước đó, khi còn nhỏ đã tự học lập trình, đặc biệt là những ứng dụng trên điện thoại. Giờ đây, Voss đang thiết lập một công ty riêng của chính mình mang tên Sension với sản phẩm công nghệ chính là một ứng dụng nhận biết tâm trạng thông qua các biểu hiện trên gương mặt nhờ trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence). Công nghệ này hữu ích trong việc tìm hiểu suy nghĩ của những người mắc chứng tự kỷ. GAIA, một công ty của Toyota, đã mua công nghệ này.  Không chỉ Voss mà nhiều gương mặt tài năng khác được đào tạo trong môi trường có tinh thần “thất bại là may mắn” cũng có khả năng đạt được thành công như vậy. Tuy nhiên cũng phải công bằng mà nói, Stanford đã dành một khoảng kinh phí gần sáu tỷ euro chỉ để hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, qua đó khuyến khích tinh thần này, nghĩa là gấp trên mười lần so với đại học Hannover (Đức).  Câu chuyện của Catalin Voss có thể gây ngạc nhiên ở Đức nhưng nó lại quá bình thường với Silicon Valley, nơi dường như quy tụ các doanh nghiệp công nghệ toàn cầu. Apple, Google và Facebook đặt trụ sở chính tại đây, bên cạnh những Tesla, nhà tiên phong về ô tô điện hay Uber, Airbnb, những cái tên mới nổi nhưng đã có sức lan tỏa trên thế giới.  Tại sao làn sóng doanh nghiệp công nghệ lại bắt nguồn từ  Silicon Valley?   Nhiều doanh nghiệp công nghệ đều trưởng thành từ các trường đại học liền kề Valley. Có thể thấy mô hình kinh doanh của các ông lớn ở Silicon Valley đều dựa trên tinh thần đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp công nghệ này không chỉ đem lại sản phẩm mới hay tạo dựng thị trường mới mà còn phá bỏ cả những sản phẩm đang tồn tại trên thị trường, ví dụ bằng một ứng dụng trên điện thoại, Uber tấn công vào thế giới tắc xi, Airbnb thách thức các chuỗi khách sạn kinh điển, iPhone của Apple đánh bại nhà sản xuất điện thoại di động Nokia.  Tại sao điều này xảy ra ở Silicon Valley mà không diễn ra ở Berlin hay Tokyo, nơi cũng có nhiều trường đại học nổi tiếng, các nhà đầu tư mạo hiểm và các cố vấn giầu kinh nghiệm, và điều gì là cốt lõi của nó?  “Silicon Valley đơn thuần là một địa danh cố định trên bản đồ, ẩn chứa trong nó là một cách tư duy”, Chuhee Lee, nhà nghiên cứu về phương tiện di chuyển trong tương lai của hãng Volkswagen ở Silicon Valley, nhận xét. “Ai không trải qua thất bại thì khó có thể được tôn trọng thật sự tại nơi này”.  Người Mỹ thích hành động   Rene van den Hoevel, giám đốc phụ trách Phòng Thương mại Đức – Mỹ, lý giải: “Những gì diễn ra ở Mỹ nhanh đến chóng mặt. Người Mỹ không chờ cơ hội, đơn giản là họ hành động ngay. Thế mạnh của họ chính là sự năng nổ”. Còn ông  Stefan Schlüter, Tổng lãnh sự Đức ở San Francisco, nhấn mạnh: “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”.  Doanh nghiệp như Volkswagen từ lâu đã đề cao  tinh thần của Silicon Valley. “Chúng ta cầm có thêm một chút tinh thần của Silicon Valley”, cuối năm 2015 nhà lãnh đạo tập đoàn VW Matthias Müller đã lớn tiếng kêu gọi. Song người ta có thể kêu gọi suông không mà vẫn đem lại hiệu quả? “Cũng có một vài điểm mà chúng ta có thể học hỏi được”, Ferdinand Dudenhöffer, phụ trách Trung tâm nghiên cứu ô tô CAR của trường ĐH Duisburg-Essen nói, tuy nhiên ông cũng lưu ý là chỉ đơn giản đưa về Đức một vài công ty đầu tư mạo hiểm, thiết lập mấy doanh nghiệp khởi nghiệp thì ngần ấy là chưa đủ.  Dudenhöffer nhận thấy ở Mỹ còn có những vấn đề đóng vai trò quan trọng thúc đẩy khởi nghiệp như chính sách của nhà nước tạo bệ phóng như mở ra các cuộc thi về công nghệ. Nhiều công nghệ trong số đó đã được nhiều cơ quan chính phủ để mắt đến như trường hợp công nghệ về ô tô robot và vật thể bay không người lái được Bộ Quốc phòng Mỹ mua đứt. “Điều này không có ở Đức”, Dudenhöffer nhận xét.  Tại Mỹ những điều tiết trong chính sách của nhà nước buộc người ta phải đổi mới. Ngay từ những năm 1970, quy định về khí thải của Mỹ buộc các doanh nghiệp sản xuất ô tô phải áp dụng hệ thống lọc than hoạt tính ba chiều mà giờ đây vẫn được sử dụng rộng rãi. “Ở Đức mọi điều đều diễn ra ngược lại. Người ta tìm cách đưa dầu diesel sang thế kỷ 21 và nghĩ rằng đó là sáng tạo, mặc dù ai cũng biết đến tác hại của việc dùng dầu diesel như thế nào. Nguyên nhân là ở Đức, thuế đánh vào dầu diesel thấp”.  Sau những thành công của mình, trường đại học Stanford còn được đọc trại ra là “Farm” (nông trại) vì người ta tin rằng sẽ còn gặt hái được những vụ mùa bội thu startup từ nông trại đó.  Xuân Hoài lược dịch   Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/start-ups-was-hat-das-silicon-valley-deutschland-voraus/14656608.html       Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Singapore hấp dẫn các nhà đầu tư      Trung tâm của lực hấp dẫn trong lĩnh vực tài chính sẽ thiên di về Châu Á trong vòng một thập kỷ tới. Singapore sẽ trở thành điểm đến yêu thích của các ngân hàng đầu tư từ châu Âu.    Mô hình căn hộ cao cấp với gara trên không  Một nhà phát triển bất động sản Singapore đang đặt mục tiêu nhắm vào tầng lớp khách hàng siêu giàu bằng một chương trình tiếp thị các căn hộ hạng sang cho phép chủ nhân đỗ xe ngay bên cạnh phòng khách, kể cả khi những căn hộ này nằm trên đỉnh tòa nhà 30 tầng.  Dự án này sẽ nằm gần trục chính của đại lộ Orchard, với đặc trưng “gara cao cấp trên không” cho phép hệ thống thang máy tự động nhấc xe hơi lên bất kỳ tầng nào nhờ vào một đường ống sinh trắc học nằm ở lối vào tầng hầm. Ông Leny Suparman, giám đốc điều hành KOP Properties – công ty xây dựng tòa nhà này cho biết: “Gara này hoạt động giống như một phòng trưng bày của bảo tàng chứ không đơn thuần chỉ là một bãi đỗ xe”.  Công ty này nhắm đến lượng triệu phú Singapore, chủ nhân của các “siêu xe hơi” đang không ngừng tăng lên. Giá thành cho 56 căn hộ kiểu này dao động từ 9,8 triệu SGD (tương đương 7,8 triệu USD) đến 30 triệu SGD cho một căn hộ penthouse với chỗ đỗ đủ cho 4 chiếc xe hơi.  Dự án đầu tiên kiểu này ở Singapore và cả Châu Á có thể rất hữu ích cho đất nước có mật độ triệu phú vào loại đông nhất thế giới này. Theo ước tính của Tập đoàn tư vấn Boston, có hơn 17% số hộ gia đình tại đất nước 5,1 triệu dân này có mức thu nhập trung bình vào khoảng 1 triệu USD hoặc hơn.  Singapore cùng với Hồng Kông đang trở thành điểm đến của các dòng xe như Maserati, Ferrari và Lamborghini với lượng xe tính trên đầu người cao hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu thì giới nhà giàu cũng bị ảnh hưởng không ít. Theo tập đoàn tư vấn bất động sản Savills, tác động của cuộc khủng hoảng khu vực đồng Euro đã góp phần đưa giá nhà ở Singapore giảm khoảng 30%. Theo tập đoàn quản lý bất động sản Savills, đường Orchard là khu bất động sản đắt giá nhất ở Singapore với khoảng 4.000 căn hộ cao cấp được hoàn thiện năm ngoái, tuy nhiên 16% các căn hộ vẫn tồn kho.  Một số nhà phát triển bất động sản đã áp dụng các hình thức bảo đảm cho thuê hoặc trang bị thêm đồ nội thất để thu hút người mua. Ông Colin Syn, Phó chủ tịch của Singapore Grand Prix và là người quản trí thương hiệu xe Ferrari ở Singapore cho biết doanh số bán xe năm 2012 này đã “giảm một ít” nhưng tầng lớp người giàu vẫn thừa tiền để mua bất kỳ kiểu xe mới nào được tung ra thị trường. Bất chấp kinh tế thế giới suy yếu, nhà sản xuất siêu xe người Anh McLaren vẫn khai trương showroom đầu tiên ở Singapore vào tháng 2/2012.  Các ngân hàng đầu tư của Anh hướng tới Singapore  Khoảng 1/3 các ngân hàng đầu tư có trụ sở ở Anh đang làm ăn ở Singapore. Theo dự báo của một nghiên cứu, trung tâm của lực hấp dẫn trong lĩnh vực tài chính sẽ thiên di về Châu Á trong vòng một thập kỷ tới. Quốc gia Đông Nam Á này sẽ trở thành điểm đến yêu thích của các ngân hàng đầu tư từ London. Theo công bố của công ty tuyển dụng dịch vụ tài chính Astbury Marsden, trong số 462 ngân hàng đầu tư được hỏi thì có 31% nói rằng họ muốn làm việc ở Singapore, so với tỷ lệ 5% ở New York và chỉ 19% ở London. Ông Mark Cameron, giám đốc điều hành của Astbury Marsden, cho biết: “Là quốc gia phát triển nhanh, mức thuế thấp và môi trường ngân hàng thân thiện, Singapore đang trở thành “thuốc giải độc” cho thể chế ngân hàng thuế cao ở London và New York.”  Chỉ trong vòng một thập niên qua, các ngân hàng đầu tư của Mỹ và Châu Âu đã mạnh tay đầu tư các hạng mục của họ ở Đông Nam Á cũng như thành lập các văn phòng khắp lục địa Châu Á. Năm nay 2012, ngân hàng JPMorgan Chase (Mỹ) thậm chí đã di chuyển hạng mục đầu tư bảo hiểm toàn cầu của mình từ New York đến Hong Kong như là một phần trong nỗ lực chinh phục Châu Á. Theo nghiên cứu của công ty tìm kiếm vai trò điều hành quốc tế Egon Zehnder, nhiều ngân hàng Mỹ mạnh tay chi lương cho nhân viên Châu Á phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu, hào phóng chi các mức thưởng hậu hĩnh hơn ở Châu Âu nhằm kích thích tăng trưởng tốt hơn. Ngân hàng ở Trung Quốc đại lục cũng rục rịch phát triển.  Nguyễn Thanh Hải lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Singer: Cải tiến linh hoạt để cạnh tranh với những ông lớn      Singer là một doanh nghiệp đã có mặt trên  thị trường hơn 100 năm, từng sản xuất máy may và thành công trong một  thời gian rất dài. Nhưng khi các nhà máy may dần dần dời sang Trung Quốc  khiến thị trường dành cho máy may Thái Lan lụi tàn, Singer đã nhanh  chóng thay đổi, trở thành một công ty sản xuất đồ gia dụng (tivi, tủ  lạnh, tủ trữ đông).    Trong một thị trường khắc nghiệt với nhiều đối thủ lớn, Singer đã tự mình cải tiến để cạnh tranh và phát triển, ngày nay có tới khoảng 3500 đại lý kinh doanh trên toàn Thái Lan, từ năm 2010 đến nay đã trở thành một trong những nhà bán lẻ thành công nhất ở đất nước này.  Để làm được điều đó, Singer tận dụng thương hiệu sẵn có trước đây, thúc đẩy các kênh phân phối sản phẩm và kết nối với cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng nông thôn. Họ thay đổi quan điểm từ bán lẻ đơn thuần sang bán lẻ kết hợp với dịch vụ tài chính, đồng thời sử dụng nền tảng công nghệ và điện tử để gia tăng tính dễ tiếp cận của mô hình kinh doanh. Họ cũng tăng cường trao quyền cho đội ngũ nhân viên để có thể quản lý tốt trên diện rộng.  Singer có hai lĩnh vực sản phẩm kinh doanh chính ngày nay là hàng tiêu dùng và lĩnh vực đồ điện cho doanh nghiệp (như các tủ trữ đông trong các cửa hàng tạp hóa hay các máy bán xăng tự động ở các vùng nông thôn xa xôi…). Họ tập trung vào quản lý các mối quan hệ với khách hàng, vươn tới từng ngôi làng. Các nhân viên bán hàng đến ngôi làng mình phụ trách ít nhất 1 tuần/ lần để làm nhiều nhiệm vụ như bảo hành, bảo dưỡng, thu tiền góp, đưa catalog cho khách hàng lựa chọn sản phẩm đặt hàng, v.v. Họ biết rõ từng cá nhân khách hàng, vì thế có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất ngay tại nhà, mọi yêu cầu đều được nhanh chóng phản hồi đáp ứng. Đây là một chiến lược rất thành công của Singer.   Vượt ra khỏi khuôn khổ công việc của một nhà bán lẻ thuần túy, các nhân viên Singer – thường là người cùng địa phương nơi khách hàng cư trú – có thể đến nhà khách hàng thảo luận cùng họ những vấn đề liên quan đến tài chính và hỗ trợ kịp thời cho họ. Với cách này họ đã thu nợ đúng hạn được 80% các khoản cho vay, so với công ty tài chính thì họ đạt được mức lợi nhuận 15%, một tỉ lệ mà bản thân các ngân hàng ở Việt Nam cũng khó đạt được.   Singer sử dụng công nghệ CIP, một giao diện tổng thể để quản lý các mảng tài chính, nhân sự, kế toán bán hàng của một doanh nghiệp. Khi quản lý hệ thống trả góp toàn quốc, người quản lý có thể nhìn thấy chi tiết từng khoản trả góp và kỳ trả góp của khách hàng. Nhờ hệ thống này họ có thể giao hàng và thu tiền đúng hẹn. Đây là công nghệ không thể thiếu cho các doanh nghiệp tham gia vào cuộc chơi phân phối trên thị trường ngày nay.   Ngoài ra, khác với các tập đoàn như Samsung, LG có nhiều sản phẩm đa dạng, Singer chỉ tập trung vào một số sản phẩm đơn giản. Đây cũng là một phương thức kinh doanh hiệu quả với phân khúc thị trường đại chúng, giúp các sản phẩm dễ bán được và nguồn lực tiếp thị không bị dàn trải.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên cần chuẩn bị gì trong kỷ nguyên toàn cầu hóa?      Ngày 6/10/2017, chương trình giao lưu với chủ đề “Sinh viên cần chuẩn bị gì trong kỷ nguyên toàn cầu hóa” đã diễn ra tại trường Đại học Kinh Tế Luật TP. HCM với ba khách mời: Á hậu cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2015 – Lệ Hằng, thư ký tòa soạn báo Thanh Niên Trọng Phước và TS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu.      Sinh viên đặt câu hỏi cho Á hậu Lệ Hằng. Nguồn: Trung Nguyên  Cần học hỏi từ thất bại  Tại cuộc giao lưu với các bạn trẻ, phần lớn là sinh viên Đại học Kinh tế Luật TP. HCM, Á hậu Lệ Hằng cho biết, khi mới 18 tuổi cô đã mong ước đại diện Việt Nam tham gia đấu trường nhan sắc quốc tế. Vì vậy, từ năm 2012 đến năm 2013, cô tích cực tham gia các cuộc thi sắc đẹp: Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam, Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu các dân tộc Việt Nam. Sau những lần thất bại dừng ở tốp 40 hoặc tốp 10, Lệ Hằng thấy rằng, “cần trau dồi đầy đủ các tố chất cần thiết. Không muốn bỏ cuộc, Lệ Hằng lại tự đặt ra kỷ luật nghiêm khắc hơn để rèn luyện bản thân. Cuối cùng,Lệ  Hằng cũng đã trở thành người đại diện cho nhan sắc Việt Nam tại cuộc thi Hoa Hậu Hoàn vũ năm 2016”.   Từ câu chuyện của chính mình, Lệ Hằng rút ra bài học: “Bạn đừng sợ thất bại, từ trong thất bại sẽ cho mình những kinh nghiệm quý báu mà chỉ bản thân tự trải nghiệm mới có thể rút ra được”. Lệ Hằng cho biết thêm, sau khi đã đạt được những thành công nhất định trong cuộc thi nhan sắc quốc tế, cô đã tìm thấy mục tiêu tiếp theo: “Lệ  Hằng dự định sẽ tiếp tục du học theo ngành quản trị nhân sự hoặc kinh tế. Trong tương lai, Lệ Hằng muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm và dịch vụ ăn uống”.  Đồng tình với quan điểm của Á hậu Lệ Hằng, TS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu bổ sung thêm: “Các bạn trẻ cũng không nên sợ thất bại, phải dám thách thức với áp lực, đừng tìm kiếm sự thảnh thơi. Khi nỗ lực nhiều hơn thì thành công cũng đến nhanh hơn”.  TS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu cũng nhớ lại thời điểm khởi nghiệp thất bại và thua lỗ tới 2,5 tỷ đồng. Anh đã vượt qua “cú ngã” đó bằng cách hình dung đến thành công đang ở ngay trước mặt. Vì vậy, anh tiếp tục thực hiện tiếp kế hoạch của mình và nhận thấy “nếu bỏ cuộc thì bạn cũng bỏ lỡ luôn cơ hội thành công. Gặp sóng gió, bạn mới trở thành thủy thủ tài ba”.  Tạo sự khác biệt qua học hỏi  Việt Nam đang hội nhập rất nhanh với thế giới, vì vậy, không nên để lỡ các cơ hội tốt đến từ sự hội nhập này. TS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu khuyên các bạn trẻ: cần phải chuẩn bị tâm thế ngay từ những năm đầu đại học. Điều mấu chốt này là tạo sự khác biệt thông qua quá trình học tập và tích lũy kiến thức: “Trong thế giới phẳng, ai tạo được sự khác biệt sẽ chiến thắng. Sự khác biệt này phải đến từ việc dám nghĩ lớn, dám hiện thực hóa giấc mơ của mình. Các bạn sinh viên phải bứt phá ngay từ năm nhất. Mỗi người phải xác định thế mạnh của bản thân và tập trung nghiên cứu, thu nạp kiến thức để phát triển khả năng đó.  Nhận định quá trình toàn cầu tác động đến các bạn trẻ theo khuynh hướng tích cực lẫn tiêu cực, nhưng các bạn trẻ cần thiết phải có sự thay đổi để thích ứng. Nhà báo Trọng Phước lưu ý với các bạn trẻ: “Xã hội phát triển từng ngày, các bạn không thể thay đổi điều đó. Điều các bạn có thể thay đổi là giá trị của bản thân, phải tìm thấy điều mình làm giỏi nhất và phát triển điều đó”.  Bên cạnh việc chia sẻ đến các bạn trẻ về hành trang cần chuẩn bị trước khi hội nhập, nhà báo Trọng Phước cùng các diễn giả cũng khuyên các bạn sinh viên nên dành thời gian để đọc sách và chia sẻ đến các bạn trẻ cuốn sách “gối đầu gường” của mình. Với TS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu, những cuốn sách do Trung Nguyên trao tặng sẽ là nguồn kiến thức và cảm hứng để bạn trẻ tự rèn luyện, bồi dưỡng tư duy lập chí khởi nghiệp để đạt được những mục tiêu mà các bạn mong muốn. Anh cũng nhấn mạnh: “Các bạn trẻ nên đầu tư nhiều hơn cho trí tuệ của mình, bởi đầu tư cho trí tuệ sẽ không bao giờ lỗ”.  Trong tuần sau, Hành trình lập chí vĩ đại – Khởi nghiệp kiến quốc cho thanh niên Việt sẽ tiếp tục đến với các sinh viên của Đại học Hutech vào ngày 12/10 và sau đó là trường đại học Nguyễn Tất Thành vào ngày 19/10 tới đây.       Author                T. H        
__label__tiasang Sinh viên mù sáng tạo phương pháp học toán mới cho người khuyết tật      Người khiếm thị thường phải học toán bằng chữ nổi Braille – giúp mã hóa từ những phân số cho tới các phương trình lượng giác. Tuy nhiên những người vừa khiếm thị vừa bị khuyết tật vận động lại cần tới sự hỗ trợ từ những công cụ khác nữa, trong đó có cả phần mềm chuyển ngữ, có khả năng hiểu những phương trình, ký tự toán học và diễn đạt chúng bằng giọng nói. Nhóm sinh viên người Mỹ đã sáng tạo một phương pháp học toán mới dành cho những người khiếm thị và khuyết tật vận động.      Logan Pricket (phải) đang cùng giải toán với người dạy kèm Jordan Price (trái). Nguồn: Science  Năm 13 tuổi, Logan Prickett, tới từ Ohatchee (Alabama) rơi vào tình trạng hôn mê 12 ngày sau khi chụp cộng hưởng từ (MRI). Đây là một phản ứng phụ rất hiếm gặp, do ảnh hưởng của các tác nhân tương phản trong phương pháp MRI. Gia đình đã nghĩ Prickett không bao giờ có thể tỉnh lại, song phép màu đã xảy ra. Tuy nhiên, khi tỉnh dậy, cậu không thể đi lại và mất đi phần lớn khả năng vận động, không thể nói, ngay cả việc cất tiếng thì thầm. Nghiêm trọng hơn, Prickett hoàn toàn bị mù. Đối với một cậu bé hiếu động, đó quả thực là một thảm họa. Nhưng trí não của cậu thì vẫn còn.     Một năm sau sự cố, trở lại trường học, Prickett đối mặt với rất nhiều khó khăn khi học toán cao cấp. Không thể đọc giáo trình bình thường và sự hạn chế của hệ thần kinh vận động khiến công cụ toán tương thích trên hệ thống chữ nổi Braille không có hiệu quả đối với cậu. Năm 2014, khi vào Đại học Auburn ở Alabama (AUM), chuyên ngành tâm lý học, nỗi thất vọng của Prickett lên đến đỉnh điểm: làm sao cậu có thể hoàn thành khóa học tiền vi phân (precalculus) và thống kê nâng cao (advanced statistics), những yêu cầu cần thiết để tốt nghiệp và học lên cao học.  Cũng trong năm đó, Prickett gặp Ann Gully, điều phối viên kiêm gia sư STEM, người muốn làm tất cả để giúp cậu. Cô đã bắt đầu bằng việc thiết kế những mảnh giấy nhám, cắt  ghép thành những con số và biểu tượng, nhằm giúp Prickett tự tìm ra phương pháp học toán cho riêng mình. Tuy nhiên, sau nhiều nỗ lực không thành công, cô nhận thấy cần phải làm nhiều hơn thế, làm sao để có thể diễn đạt những vấn đề phức tạp của toán học mà không khiến cho Prickett bị lạc trong mê hồn trận.    Hầu hết các sinh viên khiếm thị đều học toán qua việc “chạm”. Mã Nemeth là một phiên bản chữ nổi Braille cho môn toán, giúp mã hóa tất cả, từ những phân số cho tới các phương trình lượng giác, được coi như tiêu chuẩn “vàng” giúp những người thiệt thòi như Prickett học toán. Tuy nhiên, với những người bị hạn chế khả năng vận động như cậu, rõ ràng cần phải có sự hỗ trợ thêm từ những công cụ khác nữa, trong đó có cả phần mềm chuyển ngữ, có khả năng hiểu những phương trình, ký tự toán học và diễn đạt chúng bằng giọng nói. Vì vậy, Gulley và Prickett quyết định sẽ tự phát triển một hệ thống riêng và tìm tới sự giúp đỡ của Jordan Price – một sinh viên chuyên nghiên cứu về những mô hình sinh thái học quần thể kiêm gia sư toán. Cả ba đã cùng khởi động một phương pháp thử nghiệm và tìm lỗi: trước tiên Price cố gắng diễn đạt một vấn đề đại số, sau đó chia nhỏ thành những “khúc” dữ liệu có thể nghe được, khúc dữ liệu ở đây bao gồm các định nghĩa, giá trị hay những nhân tố liên quan tới vấn đề toán học đang được diễn dịch. Prickett là người thực nghiệm phương pháp này để cùng phát hiện những điểm còn chưa hợp lý với người khiếm thị. Chẳng hạn, để hiểu một phương trình toán, Prickett có thể nói với Price tìm cách đơn giản hóa hay chia nó thành những phần nhỏ hơn, và mỗi khi thay đổi như vậy Price sẽ soát lại những gì đã được hiệu chỉnh.  Mặc dù giải toán theo cách như vậy sẽ rất mất thời gian, nhưng sự khác biệt của nó so với những phương pháp thông thường, theo Prickett, cũng giống như so sánh giữa “ngày với đêm”. Việc chia nhỏ các vấn đề lớn, phức tạp của toán học thành những phần nhỏ hơn giúp cho Prickett có thời gian để hình thành những mảng hình ảnh trong trí não về vấn đề mà cậu đang giải quyết.  Nỗ lực đã được đền đáp khi năm 2015, Prickett lần đầu tiên giành được điểm A cho môn đại số. Nhóm của Gully sau đó đã suy nghĩ, làm sao để phương pháp này mang lại lợi ích cho nhiều người hơn. Cùng năm, họ sáng lập dự án Logan, bắt đầu đưa phương pháp học toán dẫn dắt theo tiến trình – PDM (process-driven math) áp dụng cho nhiều học sinh khiếm thị, bao gồm cả những người bị rối loạn khả năng đọc viết. Sau khi phương pháp cho thấy hiệu quả tích cực với nhóm học viên đầu tiên, Gully và các cộng sự đã tới Đại học Rice ở Houston (Texas) nhằm lan rộng chương trình. Năm 2016, họ đã nhận tài trợ 591.622 USD trong 2 năm từ Quỹ Khoa học Quốc gia (National Science Foundation), cho dự án nghiên cứu với sự tham gia của 300 học viên, cả người khuyết tật lẫn bình thường, tại 7 cơ sở giáo dục, gồm 3 trường dành cho người mù.  Tuy vậy, không phải tất cả mọi người đều ủng hộ phương pháp này. Gaylen Kapperman, thầy giáo dạy toán cho người khiếm thị ở Đại học Northern Illinois tại DeKalb nói, không dễ để những nhân sự được đào tạo bài bản cho việc dạy toán chấp nhận phương pháp này. Ông giải thích, vì trong cùng một thời điểm, khả năng nhớ ngắn hạn của não bộ chỉ có thể lưu giữ trung bình được 7 đề mục rời rạc hoặc hơn như vậy một chút, do đó việc sử dụng âm thanh để xử lý những vấn đề phức tạp hơn chắc chắn sẽ gây quá tải. Phương pháp trên tỏ ra hiệu quả với Prickett bởi về bản chất, nó được thiết kế để giành riêng cho cậu, và như vậy chưa chắc có thể áp dụng với tất cả trẻ em khiếm thị trên toàn nước Mỹ – Kapperman nhận định.     Đó cũng chính là lý do mà Gulley cùng các cộng sự xin tài trợ của NSF: họ muốn chứng tỏ phương pháp PDM sẽ hữu dụng với rất nhiều người học trên phạm vi lớn. Nhà nghiên cứu giáo dục kiêm giáo sư thực hành tại Đại học Arizona ở Tucson, bà L. Penny Rosenblum, tán dương những nỗ lực của nhóm, cho rằng dự án Logan rất có tiềm năng khi đi vào giải quyết những vấn đề về sự thiết hụt phương tiện cho học sinh khiếm thị.    Prickett cho biết rất kỳ vọng vào dự án, khi được lan tỏa sẽ giúp những người bạn kém may mắn khác không phải quá vật lộn với những vấn đề mà cậu đã trải qua. Mục tiêu quan trọng nhất của nghiên cứu này là sử dụng thông tin phản hồi từ phía người học để điều chỉnh, nhằm đưa phương pháp trở nên được ứng dụng rộng rãi hơn, thậm chí hướng tới việc phát triển phần mềm giành cho cả giáo viên lẫn người học. Gully cho biết, cô và các cộng sự không có tham vọng gây ấn tượng bằng việc tìm ra giải pháp cho tất cả những vấn đề hóc búa nhất của toán học đối với người khiếm thị, mà đơn giản họ chỉ đang theo đuổi việc tạo ra các công cụ hỗ trợ cho những người đang cần giảm bớt các rào cản đến với toán học.  Thế Hải dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/08/after-coma-left-him-blind-and-wheelchair-undergrad-invented-new-way-teaching-math    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên Singapore thiết kế máy bay cá nhân      Sau một năm miệt mài nghiên cứu, tám sinh viên ĐH Singapore (NUS) đã chế tạo được một chiếc máy bay cá nhân gọi là Snowstorm.        Snowstorm mang hình lục giác, bao gồm các động cơ, cánh quạt và bộ hạ cánh, có thể được điều khiển trực tiếp hoặc dùng điều khiển từ xa.  Đây cũng là chiếc máy bay thân thiện với môi trường vì nó sử dụng ba bộ pin lithium hấp thụ năng lượng mặt trời.   Joerg Weigl, người đã nghĩ ra ý tưởng trên đồng thời là một trong những giám sát viên của dự án, cho hay: “Snowstorm là chiếc multi-copter ơ [loại máy bay có thiết kế đơn giản về mặt cơ khí, điều chỉnh chuyển động bằng cách tăng hoặc giảm tốc độ của các động cơ/cánh quạt có chiều hướng xuống] giúp mang lại cảm giác được bay lượn trên không trung cho bất kỳ ai.”  Theo nhóm thiết kế, mô hình Snowstorm chứa được một người nặng 70kg, có thời lượng bay khoảng 5 phút. Với trọng lượng nhẹ hơn một người bình thường, Snowstorm quả thực rất dễ điều khiển.  Tuy vậy, nhóm thiết kế cho biết Snowstorm vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để vận hành ổn định hơn, máy khỏe hơn, và chở được người có trọng lượng lớn hơn. Cũng theo nhóm thiết kế, chiếc máy bay này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu giải trí cá nhân và sẽ ra mắt thị trường trong một vài năm tới.   Trang Bùi lược dịch    Nguồn:  http://www.reuters.com/article/us-singapore-flying-machine-idUSKBN0TU2FK20151211      Author                Quản trị        
__label__tiasang Số hóa bản thảo của nhà thực vật học bị lãng quên      Những trang bản thảo này thực sự quý giá bởi nó được coi là một trong những công trình quan trọng về cây cỏ Cuba trong thời kỳ thuộc địa.      Sau cái chết của chồng mình năm 1817, một phụ nữ người Mỹ tên là Nancy Anne Kingsbury Wollstonecraft đã chuyển đến vùng Matanzas của Cuba và bắt đầu nghiên cứu đời sống cỏ cây của hòn đảo này. Vào giữa những năm 1820, bà đã nghiên cứu và biên soạn bản thảo một cuốn sách với những hình minh họa lộng lẫy mang tên Specimens of the Plants and Fruits of the Island of Cuba (Các loài thực vật và trái cây của hòn đảo Cuba). Gần hai thế kỷ sau cái chết của bà vào năm 1828, công trình của bà đã được số hóa và sẵn sàng mở để cho mọi người tải về tại thư viện số HathiTrust, một phần của Thư viện về các bộ sưu tập bản thảo hiếm (RMC) của trường đại học Cornell, Mỹ.  Specimens of the Plants and Fruits of the Island of Cuba được coi là một trong những công trình toàn diện nhất về cỏ cây Cuba thời kỳ thuộc địa. “Ý nghĩa của cuốn sách này nằm ở chỗ nó là một trong những tài liệu về thực vật sớm nhất được biết đến có chứa các hình ảnh minh họa về hệ thực vật Cuba”, Anne Sauer, giám đốc RMC Stephen E. & Evalyn Milman, trả lời qua email với atlasobscura.com. “Nó do một nhà thực vật học nữ nghiệp dư nhưng được đào tạo tốt về hội họa và vô cùng tận tâm, sáng tác. Vì thế, nó cũng vô cùng quan trọng”.    Những bức vẽ cây cỏ bằng màu nước trong cuốn sách do bà Wollstonecraft vẽ và kèm thêm cả phần phân tích về cây cỏ cũng như đặc tính sinh học của nó. Theo nhà lịch sử Cuba Emilio Cueto, người từng đi thuyết trình về bản thảo từ năm 2018, chỉ có 145 bức vẽ về cây cỏ ở Cuba trong thời điểm này và trong đó, Wollstonecraft là người vẽ ít nhất 124 bức.  Thật không may, Wollstonecraft chết vài tháng sau khi gửi bản thảo tới các nhà xuất bản tại New York. Dẫu sao, bà cũng có thể thấy một số trang của mình đã được in như thế nào.    Dưới bút danh D’Anville, bà xuất bản hai bức thư miêu tả chi tiết về khám phá hệ sinh thái Cuba. Một trong những bức thư mang tên Những bức thư gửi từ Cuba số 2, xuất bản vào mùa xuân năm 1826 tại tạp chí Boston Monthly Magazine, bà miêu tả những chuỗi thạch nhũ trong hang động mà bà đến, buông dọc theo tán lá xanh sẫm đẹp mê hồn”.  Bản thân bà Wollstonecraft cũng là người đặc biệt, bà là em chồng của Mary Wollstonecraft – nhà văn, nhà triết học và nhà bảo vệ quyền phụ nữ người Anh thế kỷ 18, và là cô của Mary Shelley – nhà văn viết cuốn Frankenstein. Bà không chỉ là người am hiểu lịch sử tự nhiên mà còn là người tham gia đấu tranh để cải thiện quyền của phụ nữ. Với bút danh D’Anville, Wollstonecraft viết The Natural Rights of Women (Quyền cơ bản của phụ nữ) xuất bản một năm trước khi những bức thư của bà xuất hiện tên tạp chí Boston. Bà kêu gọi cải thiện hệ thống giáo dục Mỹ và nhấn mạnh cần có thêm nhiều cơ hội để có dược những cô gái trẻ nghiên cứu văn học và khoa học: “Phụ nữ không còn sợ hãi nữa, cũng không nên ngượng ngùng đến với lịch sử, địa lý, lịch sử tự nhiên hay với bất kỳ xu hướng mở rộng tầm nhìn của mình, tăng cường hiểu biết, cải thiện thị hiếu thẩm mĩ hoặc bồi đắp tâm hồn mình”.    Trong không gian thư viện số, người truy cập có thể xem xét cả 220 trang giấy với 121 bức vẽ màu nước và những thông tin ghi chép kèm theo. Bản thảo này cũng có khiếm khuyết là có tới 24 trang không thể thấy được nội dung, không rõ là liệu có phải chúng bị mất không hay đơn giản là chúng chưa bao giờ được Wollstonecraft “chạm tới”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.atlasobscura.com/articles/cuba-botanical-illustration    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số hóa dữ liệu di sản: Thiếu “bà đỡ”      Những nền tảng công nghệ như xử lý dữ liệu lớn, dữ liệu 3D có thể giúp số hoá, lưu trữ, tái hiện một cách chân thực hình ảnh các di sản và có ý nghĩa rất lớn trong công tác bảo tồn, phục dựng và quảng bá di sản. Hiện nay đã có một số đơn vị tư nhân tiên phong nghiên cứu và triển khai các giải pháp công nghệ trong lĩnh vực này nhưng vẫn đang tự số hóa dữ liệu di sản một cách khá “âm thầm” và gặp khó khăn trong liên kết với các bảo tàng, di tích.      Hình ảnh từ trên cao của làng Diềm, một trong những ngôi làng mà Vietsoftpro đã số hóa hình ảnh. Nguồn: Vietsoftpro.  “Không ít di sản đô thị tại TP.HCM như khu Ba Son, đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ, cảnh quan ven sông, các khu biệt thự cổ … đang biến mất hoặc bị biến dạng. Và các dấu tích của lịch sử đó sẽ hoàn toàn bị “xóa” khỏi ký ức của nhiều thế hệ cư dân.” TS. Nguyễn Thị Hậu đã từng chia sẻ với Tia Sáng về thực trạng và nguy cơ mất mát các di sản. Thực trạng đó không chỉ đặt ra yêu cầu giữ cho các di sản, hiện vật lịch sử đó được “sống” mà còn đặt ra vấn đề lưu trữ dữ liệu, bảo tồn và tái hiện hình ảnh các không gian di sản, các hiện vật lịch sử.  “Để giúp tăng cường nhận thức về di sản, các nhà nghiên cứu vẫn đang khảo cứu, tư liệu hóa và công bố nhiều công trình. Ví dụ, đã có rất nhiều nghiên cứu và xuất bản phẩm về di sản kiến trúc cổ ở Hà Nội. Nhưng những thông tin đó còn mang nặng tính hàn lâm, khó tiếp cận với đại đa số công chúng. Vấn đề là cần xây dựng hệ thống dữ liệu về các di sản và có cách thức chuyển tải thông tin một cách gần gũi hơn”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Trung tâm Di sản các nhà khoa học trao đổi với Tia Sáng. “Trên thế giới, việc sử dụng công nghệ như công nghệ hình ảnh 3D để lưu trữ, truyền thông về di sản đã trở nên phổ biến. Ở Việt Nam cũng rất cần học hỏi cách làm này, nhưng vấn đề là ai làm? Có làm lâu dài được hay không?”, ông nói.  Nỗ lực “âm thầm” từ phía khu vực tư nhân  Vietsoftpro là một công ty công nghệ tư nhân đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về công nghệ 3D trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa. Công nghệ này cho phép số hóa dữ liệu 3D và ứng dụng vào trưng bày bảo tàng ảo trên internet, cho phép người xem chỉ cần ngồi ở nhà, sử dụng máy tính truy cập vào website của bảo tàng để trải nghiệm hình ảnh hiện vật, di sản rất sống động. Không chỉ dừng lại ở số hóa dữ liệu 3D cho các hiện vật lịch sử, Vietsoftpro còn có “tham vọng” số hóa dữ liệu 3D cho các di sản văn hóa ở Việt Nam “càng nhiều càng tốt” nhằm giúp bảo tồn di sản. “Ngay từ khi mới thành lập công ty và ươm tạo công nghệ tại Hòa Lạc vào những năm 2007, vì đam mê di sản nên tôi đã tập trung vào nghiên cứu phát triển giải pháp công nghệ 3D nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa và từ năm 2012 đầu tư mua trang thiết bị mặc dù đây không phải là lĩnh vực đầu tư chính của công ty tôi”, ông Hoàng Quốc Việt, Tổng giám đốc Vietsoftpro cho biết.  Cho đến nay, ngoài một số dự án số hóa dữ liệu 3D theo hợp đồng giới thiệu, quảng bá hình ảnh cho các khu di tích, di sản như Lam Kinh (Thanh Hóa), Hiển Lâm Các (đại nội Huế), các di sản ở TP Nha Trang… Vietsoftpro đã tự mình số hóa dữ liệu của rất nhiều di sản khác mà không chờ “đơn đặt hàng” từ bất kỳ đơn vị nào. Vietsotfpro khảo sát nhiều di sản ở các đô thị lớn, một số làng nghề của người Việt… thậm chí “lặn lội” tới nhiều bản làng của các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc để làm dữ liệu di sản 3D. “Có thể nói hiện nay chúng tôi là đơn vị tư nhân có dữ liệu 3D về các di sản lớn nhất trong cả nước. Thế nhưng những nỗ lực đó mới chỉ là ‘muối bỏ bể’, vì số lượng di sản quá nhiều, còn chúng tôi dù có phương tiện, có công nghệ để lưu trữ dữ liệu hình ảnh nhưng cũng chỉ là một nhúm người với nguồn lực hạn chế”, ông Hoàng Quốc Việt giãi bày.  Mặt khác, Vietsoftpro đang rất cần tư vấn chuyên môn từ các nhà khoa học uy tín, các đơn vị làm bảo tồn, bảo tàng dày dạn kinh nghiệm để đáp ứng những yêu cầu khắt khe, phức tạp trong việc số hóa dữ liệu 3D về các di sản để phục vụ mục đích để bảo tồn. “Ví dụ, với một khu di tích, nếu chỉ số hóa dữ liệu 3D để làm du lịch thì rất dễ dàng và không mất nhiều công sức, các đơn vị chỉ cần giao chủ đề phải làm còn chúng tôi chụp ảnh, quét 3D những khu vực đẹp nhất, nổi bật nhất và xây dựng nội dung sao cho đẹp mắt, ‘hút’ khách du lịch là xong. Nhưng để bảo tồn thì không đơn giản như vậy, chỉ riêng như khâu làm hình ảnh đã phải kỹ lưỡng gấp hàng vài chục lần so với quảng bá du lịch”, ông Hoàng Quốc Việt nói. PGS.TS Nguyễn Văn Huy cũng cho biết, quá trình số hóa dữ liệu cần phải qua hai bước: bước một là nhận diện di sản và sau đó mới tư liệu hóa, nhà khoa học cần phải “hiện diện” ở cả hai bước này nhằm đánh giá di sản và đảm bảo từng thao tác kỹ thuật trong các khâu tư liệu hóa đúng với yêu cầu bảo tồn.  Không chỉ gặp khó về mặt chuyên môn, Vietsoftpro cũng thường gặp khó khăn trong việc tìm sự hợp tác từ các cơ quan, đơn vị quản lý di sản. “Một số đơn vị cởi mở hợp tác (mới chủ yếu ở phần số hóa và trưng bày bảo tàng ảo 3D) nhưng cũng rất nhiều cơ quan lắc đầu. Một phần vì chưa đủ tin tưởng vào khả năng của chúng tôi, một phần vì lo ngại việc phải chia sẻ dữ liệu về di sản và hiện vật lịch sử”. Trao đổi với một số đơn vị làm bảo tàng, di sản nổi tiếng ở Hà Nội, chúng tôi cũng nhận được câu trả lời tương tự, ngoài ra các đơn vị đó cũng cho biết chưa thể có nguồn kinh phí dành riêng cho hoạt động này.  Phối hợp công – tư: không chỉ là “giao đầu bài”  Trong thực tế, phối hợp công – tư trong việc áp dụng giải pháp 3D vào bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa giữa Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam (đơn vị đầu tiên trong cả nước) và Vietsoftpro đã đem lại những kết quả tốt. Hiện nay những người yêu thích bảo tàng nhưng không có điều kiện tham quan trực tiếp có thể vào trang web của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và trải nghiệm bảo tàng ảo 3D đối với các phòng trưng bày từ thời tiền sử cho tới thời Trần cũng như tất cả các trưng bày chuyên đề gồm Linh vật Việt Nam, Di sản văn hóa Phật giáo, Đèn cổ Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của trưng bày 3D ở đây là công nghệ xử lý hình ảnh hiện đại, cho phép người xem có thể xem kỹ từng chi tiết của cổ vật, thậm chí có thể nhìn kỹ từng nét chạm khắc hoa văn, từng vết rạn trên bề mặt gốm cổ mà nếu nhìn hiện vật qua các hộp kính ở bảo tàng cũng khó có thể phát hiện ra. Hình ảnh của mỗi hiện vật đều được tích hợp sẵn những thông tin cơ bản về xuất xứ, niên đại, đặc điểm… Bên cạnh đó, người xem có thể tìm hiểu những thông tin sâu hơn về giá trị của các hiện vật và từng thời kỳ lịch sử qua các video clips đi kèm hoặc nghe đánh giá của các chuyên gia sử học. Nhìn chung, hình thức bảo tàng ảo 3D của bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đem lại trải nghiệm cho người dùng giống với nhiều bảo tàng trên thế giới như Smithsonian (Mỹ) hay bảo tàng Lourve (Pháp). Ngoài ra, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam cũng thí điểm cho người xem trải nghiệm tương tác về các di sản đô thị ở Hà Nội thông qua hoạt động trải nghiệm tương tác ảo 3D về ba khu phố cổ Hà Nội tại phòng Khám phá.  Thành công của Bảo tàng lịch sử quốc gia trong việc triển khai công nghệ 3D từ năm 2012 đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị chuyên môn và công ty công nghệ để số hóa dữ liệu. “Chúng tôi không ngồi chờ nhận kết quả là các sản phẩm hình ảnh 3D từ đối tác, mà cán bộ chuyên môn về lịch sử luôn đi theo sát cán bộ công nghệ của Vietsoftpro, cùng xây dựng từ những chi tiết đơn giản như chụp ảnh những chi tiết nào, hình ảnh hiện vật này cần đặt ở đâu trong bảo tàng ảo… cho tới những chú thích phức tạp về chuyên môn. Ví dụ, chỉ với một hiện vật, chúng tôi mất cả tuần để chụp ảnh (thông thường khoảng 20 bức ảnh với một hiện vật, nếu là hiện vật phức tạp thì cần vài trăm bức ảnh), chú thích bằng chữ và bằng tiếng nói (auto guide) sau đó mới dựng được 3D như các bạn thấy. Nếu chỉ ‘giao đầu bài’ cho công ty công nghệ thì sẽ không bao giờ có kết quả được, bởi vì phía công nghệ không thể hiểu những đặc điểm của hàng trăm, hàng ngàn hiện vật, di sản khác nhau”, bà Nguyễn Thị Thu Hoan, Trưởng phòng Giáo dục Công chúng của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết.  Một trong những tồn tại vướng mắc cơ bản của khi Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là không tìm được nguồn kinh phí dành riêng cho ứng dụng công nghệ 3D vào giới thiệu trưng bày mà chỉ có nguồn kinh phí từ hoạt động thường xuyên dành cho trưng bày phục vụ công chúng. Với nguồn kinh phí rất ít ỏi (mỗi năm chỉ được đầu tư 100 triệu), Bảo tàng chỉ có thể số hóa dữ liệu 3D theo hình thức “nhỏ giọt”, cụ thể là ưu tiên số hóa 3D những hợp phần quan trọng như các bảo vật quốc gia, các trưng bày chuyên đề rồi sau đó mới lần lượt số hóa hiện vật của từng thời kỳ lịch sử khác nhau.  ***  Nhìn chung, bức tranh trên cho thấy, để đưa ứng dụng công nghệ 3D vào số hóa dữ liệu di sản không phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng về công nghệ mà chủ yếu nằm ở khâu phối kết hợp giữa các đơn vị quản lý di sản, di tích và bảo tàng với các đơn vị làm về giải pháp công nghệ. Mặt khác, cần có đầu tư xứng đáng từ nhà nước cho việc số hóa dữ liệu di sản với cơ chế phối hợp công – tư rõ ràng. “Một số nhóm đam mê di sản có ý tưởng và công nghệ số hóa để bảo tồn di sản cần có ‘bà đỡ’, nếu không thì sẽ khó lòng tồn tại lâu được”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Số hoá lợi cho ai và thiệt cho ai?      Xu hướng số hoá mạnh mẽ sẽ có tác động khác nhau vào thị trường lao động, sẽ góp phần làm thay đổi phân công lao động cả ở mức độ địa phương và quốc tế. Sẽ có kẻ được hưởng lợi và người bị thua thiệt.    Công ty gia đình chuyên về kỹ thuật Stiebel Eltron có thể được coi là doanh nghiệp tiên phong về số hoá ở Đức. Trong mười năm qua, doanh nghiệp này đã đầu tư khoản tiền lên đến 7 con số vào việc số hoá công đoạn sản xuất và giảm chi phí lao động 40%. Trước đây, công đoạn đóng gói thiết bị giữ ấm nước được làm thủ công thì nay do ba người máy công nghiệp thực hiện 24/24. Các người máy này có thể thường xuyên “giao tiếp” với các “đồng nghiệp” của mình làm việc tại một doanh nghiệp ở Đức khác chuyên cung cấp sản phẩm ban đầu cho Stiebel Eltron.  Tuy nhiên quá trình số hoá ở Stiebel Eltron vẫn còn đang tiếp diễn xa hơn: Một nhóm ở công ty này đang nghiên cứu 30 dự án mới nhằm tăng mức độ số hoá lên cao hơn. Và bước tiếp theo là lĩnh vực văn phòng.   Ông Nicholas Matten, 57 tuổi, giám đốc điều hành của công ty chủ trương: “tự động hoá hoàn toàn khâu kế toán để doanh nghiệp không còn phải dùng một tờ giấy nào nữa”. Nhà quản lý này cho rằng riêng công đoạn này có thể giảm chi phí lao động từ 30 đến 40%”.   Vậy những nhân viên từng làm việc tại đây sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?   Ông Matten cho biết: “Họ không bị ảnh hưởng xấu vì quá trình số hoá này, không ai bị sa thải, họ tham gia các khoá bồi dưỡng rồi đi làm ở các bộ phận khác thuộc doanh nghiệp”. Ít ra tại doanh nghiệp này người ta không thể nói người máy là cỗ máy xóa sổ việc làm: hiện tại, Stiebel Eltron có 1500 lao động, tăng thêm 400 người so với cách đây mười năm.  Tất nhiên xu hướng chung của công nghiệp 4.0 không phải ở đâu cũng tác động tích cực đến lực lượng lao động. Trong lịch sử kinh tế, hiếm khi xảy ra một sự thay đổi triệt để quá trình lao động và chuỗi giá trị như quá trình số hoá hiện nay. Số lượng robot công nghiệp tăng từ 1 triệu lên 2,1 triệu trong khoảng thời gian từ  2010-2017. Đến năm 2021 đội quân robot làm việc trong các nhà máy sẽ lên tới 3,8 triệu.    Ước tính robot công nghiệp trên toàn thế giới (triệu đơn vị) | Nguồn số liệu: Statista | Ảnh: WirtschaftsWoche  Robot hàn, lắp ráp và đóng gói có thể tương tác với nhau và ngày càng có khả năng tự chủ cao hơn. Trước bối cảnh đó, không chỉ có các tổ chức công đoàn tự hỏi liệu con số kỷ lục 45 triệu lao động ở Đức hiện nay có thể duy trì được bao lâu nữa. Và liệu trong tương lai không chỉ có các nhà xưởng công nghiệp không có bóng người, mà cả văn phòng, ngân hàng, hãng bảo hiểm, giao thông vận tải và y tế sẽ có các phần mềm thông minh và robot hoà mạng thay thế người lao động.  Cho đến nay, phần lớn các chuyên gia về thị trường lao động đều coi công trình nghiên cứu “The future of employment” (tạm dịch: Tương lai việc làm)  của nhà kinh tế Thuỵ điển Carl Benedikt Frey và chuyên gia tin học Michael Osborne thuộc Đại học Oxford như kim chỉ nam về tác động của số hoá đối với công ăn việc làm. Công trình nghiên cứu này tiến hành từ 2013 và công bố trên một tạp chí chuyên đề năm 2017. Các chuyên gia lấy Hoa Kỳ làm ví dụ, theo đó 47% người lao động trong có nhiều khả năng sẽ bị robot thay thế khoảng 10-20 năm tới. Ở Đức cũng có khoảng 42% người lao động làm những nghề “có nhiều khả năng tự động hoá cao“.  Tuy nhiên công trình nghiên cứu của Osborne-Frey đơn thuần là một phân tích tổng thể: công trình này hoàn toàn không quan tâm đến tiến bộ công nghệ sẽ tạo ra bao nhiêu việc làm mới. Mặt khác nghiên cứu này cũng không có chỉ dấu rõ ràng về kẻ được, người thua trong quá trình số hoá và sẽ phân bổ theo vùng như thế nào.  Trong khoa học kinh tế, điều này ngày càng được chú ý nhiều hơn. Trong những tuần qua, nhiều nghiên cứu mới đã được công bố. Những công trình nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tác động của số hoá đến công ăn việc làm  –  sự khác biệt này thể hiện ở nội bộ nước Đức, giữa các nước OECD, và cả giữa các nước mới nổi với các nước công nghiệp.  Các nhà kinh tế thuộc Viện nghiên cứu về thị trường lao động và nghiên cứu nghề (IAB) ở Nurnberg, Đức đã nghiên cứu về tiềm năng tự động hoá trên toàn Liên bang Đức. IAB cho rằng đến năm 2025 sẽ có khoảng 1,5 triệu chỗ làm bị mất do số hoá, nhưng đồng thời sẽ hình thành 1,5 triệu việc làm mới – song không phải ở ngay cùng một địa bàn.   Trong số 21 nước thuộc OECD, cũng có sự khác nhau khá lớn về tác động của số hoá đến việc làm, tỉ lệ bị thay thế bởi tự động hóa khác nhau: tại Tây Ban Nha khoảng 12 %, lên đến gần 40% như ở phía tây Slovakia, nhưng chỉ khoảng 4% công việc có thể thay thế tại khu vực Oslo, Na Uy.  Nguyên nhân chính dẫn đến sự khác nhau giữa các địa phương là do cơ cấu kinh tế. Những nơi ngành dịch vụ yếu và ngành sản xuất chế biến mạnh thì có xu hướng bị đội quân robot lấn lướt cao – đặc biệt là những nơi các bộ phận nghiên cứu và phát triển không phát triển mạnh.  Điều này không có nghĩa các địa bàn sản xuất công nghiệp sẽ bị mất việc làm hàng loạt. Xu hướng chung là chuyển từ sản xuất hàng loạt sang các phương pháp sản xuất những mặt hàng lạ và độc đáo.  “Đối với các thị trường cá nhân hoá cao độ này, các doanh nghiệp đều cần lao động có tay nghề giỏi, có khả năng nắm bắt nhu cầu của khách hàng, mà điều này trong một thời gian dài nữa robot không thể đảm nhận được”, theo Hilmar Schneider, Viện trưởng nghiên cứu về lao động trong tương lai  (IZA). Theo ông, “Tính sáng tạo và kỹ năng xã hội là những yếu tố còn lâu mới tự động hoá được.”  Tuy nhiên, vấn đề việc làm sẽ nảy sinh ở những nơi công việc không phức tạp và thiếu sự sáng tạo, chỉ là loại việc diễn ra đều đặn, thường xuyên. Với loại công việc này thì robot thường ở thế thắng.    Tỷ lệ các công việc đang bị đe doạn bởi tự động hóa (%) | Nguồn số liệu: OECD | Ảnh: WirtschaftsWoche  Điều này đưa đến một điểm rất quan trọng, đó là công tác đào tạo trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Theo nghiên cứu của OECD, bên cạnh tỷ lệ cao các nghề liên quan đến dịch vụ và mức độ đô thị hoá cao thì “tỷ lệ người lao động tôt nghiệp đại học cao cũng là đặc trưng cho những vùng có nguy cơ tự động hoá thấp”.  Trong báo cáo mới của mình về “Sự phát triển của thế giới”, Ngân hàng Thế giới (WB) cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vốn nhân lực trong việc tạo ra các lớp đệm giảm chấn trong việc chuyển đổi cơ cấu. Theo đánh giá này thì trong 20 năm qua nhiều người lao động ở các nước nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh quốc và Australia đã bị thay thế bằng máy móc –  một phần cũng vì tại các nước này thiếu hệ thống an sinh xã hội và ngành giáo dục có nhiều khiếm khuyết. WB cũng cảnh báo, một khi thiếu cơ chế bảo vệ và thiếu sự đào tạo vững chắc thì việc đào tạo lại người lao động trong công nghiệp là hết sức khó khăn để họ có thể đảm đương được các công việc có yêu cầu kỹ thuật cao hơn.  Hơn nữa, giáo dục tốt là một yếu tố ngày càng quan trọng hơn trong việc cạnh tranh giữa các khu vực. “Các nước có hạ tầng cơ sở về đào tạo tốt hơn thì trong tương lai sẽ nhận được nhiều lợi thế hơn trong việc số hoá”, theo chuyên gia về kinh tế lao động Enzo Weber, giáo sư thuộc Đại học Regensburg (Đức) và là trưởng ban dự báo thuộc IAB. Ông kêu gọi nước Đức “phải có một hệ thống giáo dục liên tục có thể cạnh tranh về quy mô, chất lượng và chi phí so với đào tạo ban đầu”  Tuy nhiên cuộc cách mạng robot không chỉ diễn ra ở các khu vực khác nhau với mức độ khác mà còn dẫn đến sự thay đổi toàn bộ về phân công lao động quốc tế. Theo quan sát của nhà kinh tế Weber thì “Số hoá làm cho một số doanh nghiệp giảm hoạt động chuyển sản xuất ra nước ngoài (offshoring) và chuyển một phần sản xuất của mình ở nước ngoài về”. Đối với các nền kinh tế mới nổi, số hoá “chủ yếu gây ra tác động tiêu cực”  Thông qua số hoá thì nhiều quy trình sản xuất không còn đòi hỏi nhiều nhân công, nghĩa là yếu tố địa bàn có nhân công giá rẻ không còn quan trọng với nhà đầu tư như trước đây. Biến đổi mạnh mẽ về công nghệ đã rút ngắn chu kỳ tạo sản phẩm và chu kỳ đổi mới sáng tạo, từ đó hình thành các mô hình kinh doanh mới có thể thực hiện tại nước nhà tốt hơn vì nó đòi hỏi phải có một khả năng nắm được know-how nhất định về công nghệ cũng như hạ tầng cơ sở mà nước mới nổi còn thiếu.  Theo một nghiên cứu gần đây nhất của IAB phối hợp với Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì số lao động trong thời gian từ  2005-2014 ở các nước mới nổi bị giảm trên 5%, vì các nhà đầu tư  từ các nước công nghiệp như General Electric rút một phần cơ sở sản xuất của mình về nước hoặc hạn chế mở rộng. Ngoài ra, 14% số lao động ở các nước mới nổi này còn bị giảm do tự động hoá.  Tuy nhiên các chuyên gia cũng cảnh báo không nên nhìn tương lai quá đen tối và coi nhẹ vai trò của lực lượng lao động trong bối cảnh số hoá. Xét cho cùng thì sự tự động hoá cũng giúp việc tạo bước đệm cho sự thay đổi về nhân khẩu học.   “Số hoá xóa bỏ một số việc làm nhưng đồng thời cũng tạo ra những việc làm mới do có nhu cầu mới và thị trường mới “, kinh tế gia Schneider lưu ý. Hiện nay, Viện nghiên cứu của ông Schneider đang nghiên cứu một mô hình nhắm đánh giá chính xác hơn hiệu ứng ròng đối với thị trường lao động.   Điều này sẽ là một động lực mới đối với sự tranh cãi có từ lâu – Cách đây ít tuần, nhà kinh tế trưởng của Google, ông Hal Varian đã có bài phát biểu tại cuộc họp hàng năm của Hiệp hội chính sách xã hội ở Freiburg về đề tài số hoá. Ông đã chiếu lên tường một bài báo có từ tận năm 1935 cảnh báo đến nguy cơ mất việc làm do “những cỗ máy biết nghĩ’.  Nguyễn Xuân Hoài dịch (Theo WirtschaftsWoche)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số hóa những bản viết tay thời Trung cổ      Hàng ngàn bản viết tay từ thời Trung cổ ở khu vực Philadelphia hiện đã xuất hiện trên mạng – với đầy đủ màu sắc sống động – một sản phẩm của dự án số hóa.        Việc số hóa  các bản viết tay này đòi hỏi nguồn nhân lực và thiết bị tinh vi.  Các họa tiết xuất hiện từ thời Trung cổ không còn xa lạ gì với chúng ta – chúng có mặt ở khắp mọi nơi, trên các hình xăm, các trò chơi điện tử và cả bộ phim truyền hình nổi tiếng Game of Thrones (Trò chơi vương quyền). Sự độc đáo và bí ẩn trong những họa tiết mang đậm dấu ấn của một thời kỳ văn hóa, chính trị và tôn giáo hòa quyện hấp dẫn với cả con người thế kỷ 21, giúp họ trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ ngưỡng mộ, tôn kính đến tò mò, hiếu kỳ. Tuy nhiên theo thời gian và tác động của môi trường, những bản viết tay ẩn chứa những thông tin và họa tiết của thời kỳ trung cổ đã dần bị hư hại, thậm chí rời rã. Do đó, chúng thường nằm trong các kho lưu trữ và chỉ các học giả được cấp phép mới được tiếp cận.  Giờ đây, mọi thứ đã thay đổi khi bất cứ ai cũng có thể tiếp cận với hàng ngàn bản thảo gốc từ thời Trung cổ và cận đại bởi chúng được cung cấp miễn phí trên mạng. Các học giả và người hâm mộ có thể tìm kiếm, tải xuống và nghiên cứu các bản thảo đó.  Nhiều cơ hội tiếp cận hơn nhờ số hóa  Đem lại thay đổi này là một dự án hợp tác kéo dài ba năm của Thư viện các bộ sưu tập đặc biệt ở khu vực Philadelphia (PACSCL) với sự hỗ trợ gần 500.000 USD của Quỹ Andrew W. Mellon thông qua sáng kiến “Số hóa các bộ sưu tập và lưu trữ đặc biệt: đưa ra các học bổng mới thông qua việc tăng quyền truy cập vào các tài liệu độc nhất” của Hội đồng Tài nguyên Thông tin và Thư viện Mỹ. Dự án thu hút sự tham gia hợp tác của 15 thư viện ở Philadelphia và được các nhà nghiên cứu trường Đại học Lehigh ở Bethlehem, Pennsylvania dẫn dắt.  Dự án mới được hoàn thành gần đây được có tên gọi là Bibliotheca Philadelphiensis: Hướng tới một Thư viện trực tuyến toàn diện về các bản thảo thời trung cổ và cận đại ở các thư viện PACSCL khu vực Đông Pennsylvania và Delaware.   Hơn 160.000 trang từ 475 bản thảo gốc có niên đại sớm nhất đến thế kỷ thứ chín, bao gồm  các trang viết tay và hình minh họa bao gồm các tác phẩm nghệ thuật rực rỡ trên giấy vàng cho đến các văn bản chức năng dành cho sinh viên và nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành  khoa học, triết học và tôn giáo, đã được phân loại, đưa vào máy quét và chuyển sang định dạng kĩ thuật số. Nhờ vậy, gần như tất cả các bản thảo thời trung cổ của khu vực này có được đã được công chúng tiếp cận và họ có thể dễ dàng tải xuống những tài liệu mình quan tâm với độ phân giải cao. Họ cũng có thể so sánh các loại bản thảo ở mức độ chi tiết gần như trên kính hiển vi.     Việc số hóa  các bản viết tay này đòi hỏi nguồn nhân lực và thiết bị tinh vi.  Các hình ảnh và dữ liệu đi kèm được lưu trữ tại cổng thông tin OPenn của Thư viện Đại học Pennsylvania và cũng có sẵn thông qua các lưu trữ trên Internet. Với sự sắp xếp một cách hợp lý và khoa học, người truy cập có thể dễ dàng tra cứu tài liệu theo từng trang, từng thể loại bản thảo hoặc từng bộ sưu tập. Văn bản mô tả bao gồm cả chủ đề của hình ảnh và văn bản, cũng như các tính năng khác, chẳng hạn như hình tượng trưng, ghi chú hoặc phác thảo của một chiếc kính mắt được để lại trong sách. Cơ sở dữ liệu có thể được tìm kiếm theo từ khóa, ví dụ, người xem tìm theo hình ảnh của chim, lâu đài, chó hoặc nhân vật tôn giáo; hoặc tìm kiếm theo tên sách, địa lý hoặc tổ chức.  Nỗ lực tập trung chủ yếu vào các văn bản Tây Âu, với các chủ đề từ tôn giáo và triết học đến khoa học, toán học, giả kim thuật, thiên văn học và dòng dõi gia đình. Dự án thậm chí còn có khả năng lắp ráp lại gần 1.800 trang thuộc về các văn bản mà các trang sách hoặc bản thảo chưa hoàn chỉnh đã bị phân tán trên khắp thế giới.  “Dự án đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, cả trong cộng đồng các bộ sưu tập đặc biệt và cộng đồng nghiên cứu thời trung cổ”, Lois Fischer Black, người phụ trách các bộ sưu tập đặc biệt tại Lehigh và là nhà nghiên cứu chính của dự án, giải thích vì sao đây là bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ trực tuyến lớn nhất khu vực. “Các học giả đang khám phá các mối liên hệ khó có thể phát hiện ra ngay lập tức giữa các bản thảo được giữ trong các bộ sưu tập của PACSCL, qua đó có thể mở ra con đường mới cho nghiên cứu về xuất xứ, cách ghi chép và các vấn đề liên quan”.  Một nhà nghiên cứu chia sẻ rằng cô đã nghiên cứu các bản sao đen trắng thiếu nét trước khi phiên bản số hóa của bản thảo được công bố, vì vậy ngay lập tức cô đã nhận ra sự khác biệt rõ ràng như “đêm với ngày” trên bản thảo số hóa cũng như khác biệt rõ ràng của bản nó với bản sao chép trước đây vậy. Những người khác cũng phản hồi, sự truy cập dễ dàng và chất lượng của các bạn thảo đã mở ra một thế giới hoàn toàn mới cho các học giả nghiên cứu về thời trung cổ.  Bộ sưu tập đặc biệt của Lehigh  Lehigh đã đóng góp 27 bản thảo với số lượng khoảng 5.000 trang vào bộ sưu tập trực tuyến. Trong số các tác phẩm đang được Lehigh lưu giữ có một bản sao viết tay của bản anh hùng ca Aeneid do nhà thơ La Mã cổ đại Publius Vergilius Maro sáng tác năm 1462 với các phác thảo bằng bút chì ở lề và một số cuốn Sách thời gian (Books of Hours) có những hình minh họa phong phú, cùng với các cuốn sách cầu nguyện Kitô giáo phổ biến trong thời trung cổ. Một trong số đó được biết đến với cái tên Lehigh Codex 18 có chứa 13 tiểu cảnh được vẽ bằng tay, rất có thể được sản xuất tại Pháp vào đầu thế kỷ 16 – một tác phẩm trước đây chưa từng được công bố.  Một số cuốn sách do Lehigh lưu giữ đã được các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới, bao gồm một cuốn ở Catalan và một cuốn khác có nguồn gốc Hà Lan, yêu cầu tiếp cận nhiều lần, Black cho biết. “Trước đây, chúng tôi không có khả năng số hóa các bản thảo này do thiếu nhân viên và các thiết bị tinh vi. Chính toàn bộ dự án này được thực hiện đã cho phép chúng tôi số hóa và cung cấp chúng rộng rãi, đáp ứng nhu cầu của các nhà nghiên cứu trên toàn cầu”, ông đánh giá hiệu quả dự án đem lại.  Lehigh đã thuê một công ty bên ngoài để số hóa các công trình, vừa tự quét (scan) các bộ sưu tập của mình và vừa là người đại diện về mặt tài chính của dự án. Lehigh cũng tạo ra một “kho lưu trữ tối” – bao gồm những hình ảnh và dữ liệu không thể hoặc chưa thể đưa ra truy cập công khai của dự án, nhằm mục đích sao lưu. Việc có nên công khai hoặc thời điểm công khai chúng sẽ còn được các nhà nghiên cứu bàn cãi.   Lehigh sẽ cho hai cuộc triển lãm diễn ra ở Philadelphia trong những tháng tới mượn tài liệu, một cuộc triển lãm tại Đại học Pennsylvania về “Tạo nên thời kì Phục hưng” diễn ra từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020 và một cuộc triển lãm khác về “Phản ánh cuộc sống thời trung cổ” tại Thư viện miễn phí Philadelphia vào tháng 6 năm 2020.□  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-thousands-medieval-manuscripts-online-full.html  Ngoài Lehigh, các nhà nghiên cứu chính tại Thư viện miễn phí Philadelphia (những người đóng góp chính) và Thư viện Đại học Pennsylvania (nơi chứa OPenn và Trung tâm hình ảnh/siêu dữ liệu chính), các bên tham gia dự án bao gồm các thư viện và bảo tàng: Bryn Mawr College, Science History Institute, Đại học Y Philadelphia, Cao đẳng Franklin và Marshall, Cao đẳng Haverford, Công ty Thư viện Philadelphia, Bảo tàng Nghệ thuật Philadelphia, Bảo tàng và Thư viện Rosenbach, Đại học Swarthmore, Đại học Temple, Đại học Delaware và Đại học Villanova.   Các học giả từ Viện nghiên cứu bản thảo Schoenberg tại Thư viện Penn đã lập danh mục các bản thảo, phần lớn trong số đó được lưu trữ tại Thư viện miễn phí Philadelphia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu sách từ nhỏ: Lợi ích cho bản thân và cộng đồng      Giới thiệu nghiên cứu của Brunello, Weber và Weiss      Trong bài báo “Sách là vĩnh cửu: điều kiện sống của trẻ, giáo dục và thu nhập trọn đời ở châu Âu” của Brunello và cộng sự được đăng trực tuyến sớm1 trên The Economic Journal ngày 24/05/2016, tác giả đưa ra hai kết luận quan trọng. Một là, với mỗi năm học ở bậc cao hơn, thu nhập trọn đời tăng trung bình 9%. Hai là, có cùng số năm đi học tối thiểu, những người có ít hơn 10 cuốn sách ở nhà giai đoạn 10 tuổi chỉ tăng thu thập trọn đời được 5% trong khi những người có hơn 10 cuốn sách là 21%.  Kết luận trên lấy từ khảo sát SHARE (Survey on Health, Ageing and Retirement in Europe). Tham gia trả lời khảo sát là những người sinh trong giai đoạn 1920-1956 và sống ở chín nước châu Âu khác nhau: Áo, Bỉ, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Pháp, Séc, Thụy Điển, và Ý. Biến phụ thuộc được sử dụng là thu nhập trọn đời thay vì thu nhập hiện tại, vì theo lập luận của các tác giả, việc này giảm sai lệch trong trường hợp mẫu khảo sát có nhiều lao động lớn tuổi.  Mặc dù dữ liệu nghiên cứu không nêu rõ sách có được đọc hay không, số lượng được đọc là bao nhiêu, nhưng dường như có một mối quan hệ đồng biến giữa số lượng sách ở nhà và hoạt động đọc sách của trẻ. Số lượng sách ở nhà còn phản ảnh được điều kiện kinh tế xã hội của trẻ thụ hưởng. Kết quả không gây ngạc nhiên khi cho thấy, ở những gia đình có trụ cột làm việc văn phòng (white-collar), hầu như có ít nhất một kệ sách2. Thêm vào đó, 45% trẻ có bố mẹ làm công việc chân tay (blue-collar) ở nông thôn có ít nhất một kệ sách ở nhà.  Nghiên cứu cũng cho thấy rằng trẻ em trai ở nông thôn có nhiều sách ở nhà có xu hướng đi lên thành phố nhiều hơn và có công việc đầu tiên liên quan đến công việc văn phòng, so với nhóm có rất ít sách ở nhà. Những trẻ em có nhiều sách ở nhà, lớn lên trong môi trường văn hóa đa dạng hơn, có xu hướng sẵn sàng đương đầu với thử thách và sống ở thành thị.  Một số giải pháp tăng tỷ lệ trẻ Việt Nam đọc sách  Mẫu nghiên cứu nói trên có những điểm tương đồng quan trọng với Việt Nam hiện nay. Thứ nhất, xét về điều kiện kinh tế, thu nhập bình quân đầu người trung bình của các nước châu Âu trong nghiên cứu nói trên trong giai đoạn 1960 khoảng 2.000 USD, tương đương với Việt Nam hiện nay. Thứ hai, cấp học bắt buộc hiện nay ở Việt Nam tối thiểu là trung học cơ sở, tương đương độ tuổi tối thiểu bắt buộc đến trường ở châu Âu giai đoạn nghiên cứu là 14-15 tuổi. Thứ ba, sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị của châu Âu giai đoạn nghiên cứu còn rất rõ, khá giống với Việt Nam.  Tuy nhiên, có một sự khác biệt quá lớn là ngay từ những năm 1960, ở nông thôn châu Âu, ít nhất 45% hộ gia đình có ít nhất một kệ sách. Trong khi đó tại Việt Nam, một khảo sát đầu năm 2015 của Vụ Thư viện, Bộ VHTT&DL trên 1.000 phiếu cho biết 26% số người được khảo sát không đọc sách, nhưng theo nhiều người, con số thực tế chắc chắn cao hơn nhiều.  Vì vậy, cần có một số giải pháp khuyến khích và tăng nhanh tỷ lệ đọc sách ở trẻ em Việt Nam.  Đầu tiên là cần có nguồn sách. Với những gia đình có thu nhập trung bình thì chi phí đầu tư cho sách là không lớn, có khi một chầu nhậu của phụ huynh có thể mua được ít nhất 4-5 cuốn sách. Nhưng đối với những gia đình còn khó khăn, nhất là ở vùng nông thôn, thì cần sự hợp lực của nhà nước và các chương trình xã hội hóa. Các thư viện xã phường cần được đầu tư và duy trì, vì thư viện phải có sách và được cập nhật, không nên là những căn phòng đẹp trống trải nhàm chán. Trong điều kiện còn khó khăn có thể triển khai chung cho 2-3 xã phường một thư viện tươm tất. Một chương trình nên được nhiều ủng hộ và nhân rộng là “Sách hóa nông thôn” của anh Nguyễn Quang Thạch cùng với nhiều mô hình Tủ sách khác. Tuy nhiên nguồn lực tài chính vẫn là một trở ngại. Vì vậy, cần có chính sách khuyến khích những người có điều kiện làm thiện nguyện, bên cạnh những giúp đỡ cấp thiết, ngắn hạn, là những chương trình dài hạn như “ông Bên tử tế và KTX Cỏ May”. Chẳng hạn như ở Pháp, 66% khoản tiền cá nhân làm thiện nguyện được trừ vào thuế thu nhập (không quá 20% khoản thuế phải nộp).  Nhưng chất lượng sách cũng quan trọng không kém số lượng. Cần nhiều sách có chất lượng và đa dạng phù hợp với từng lứa tuổi. Muốn vậy, thu nhập của những người tham gia vào quá trình xuất bản sách có chất lượng phải được đảm bảo. Nguồn thu nhập chính từ bán sách nhưng cần có thêm các nguồn tài trợ khác. Một ví dụ là hiện nay có bộ sách Sputnik dành cho trẻ rất hay cũng như một số nhà xuất bản tư nhân năng động như AlphaBooks, Nhã Nam. Chúng ta hiện nay không có nhiều Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh thì có thể chọn những đầu sách hay trên thế giới và biên dịch một cách chu đáo.  Khi đã có sách rồi thì khuyến khích tình yêu sách. Jacqueline Kennedy Onassis, phu nhân của Tổng thống John F. Kennedy từng nói “có nhiều cách đơn giản để mở rộng thế giới cho con trẻ – dạy cho con mê sách là cách tốt nhất”. Cổ xúy cho đọc sách bắt đầu từ phụ huynh, nhà trường và cộng đồng. Phụ huynh cùng tham gia với trẻ thì sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Về phía nhà trường, các hoạt động như “mỗi tuần một cuốn sách” để giúp cho trẻ thói quen đọc sách, qua việc chọn sách để đọc và tóm tắt giới thiệu cho các bạn khác. Về phía cộng đồng, những người có ảnh hưởng trong xã hội nên tham gia ủng hộ các hoạt động như hội chợ sách, triển lãm sách, như giáo sư Ngô Bảo Châu và một số nghệ sĩ, nhà báo nổi tiếng đã làm. Gần đây nhất, diễn đàn sách lớn nhất Việt Nam TVE-4U đang kêu gọi sự đóng góp của cộng đồng trong dự án “Số hóa 1.000 quyển sách một thời vang bóng”. Các giải thưởng về sách cũng cần được nâng cao vị thế để khuyến khích nhiều người giỏi tham gia.  Với những lợi ích to lớn và dài lâu của sách, có người ví sách như kim cương vì cả hai cùng có giá trị vĩnh cửu. Mặc dù Internet và công nghệ có sức mê hoặc lớn, chiếm một phần không nhỏ quỹ thời gian của mỗi người, thì riêng với Việt Nam và người trẻ Việt Nam, hữu dụng biên (marginal utility) của sách còn rất lớn. Có được thói quen sở hữu và đọc sách từ rất sớm sẽ đem lại nhiều lợi ích dài hạn không chỉ cho bản thân mà còn cho cả cộng đồng.  ——————-  1. Bài được chấp thuận đăng, được đưa lên Internet trước khi in chính thức.  2. Một kệ sách : 11-25 quyển ; một tủ sách : 26-100 quyển; hai tủ sách : 101-200 quyển.  Tài liệu tham khảo:  http://voxeu.org/article/books-kids-and-lifetime-earnings  http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/ecoj.12307/abstract  http://phapluatxahoi.vn/giao-duc/giat-minh-ve-so-nguoi-chiu-doc-sach-o-viet-nam-109593.    Author                Võ Đình Trí        
__label__tiasang Sở hữu trí tuệ: Tập trung vào thực thi      Các cơ quan quản lý cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc  thực thi các quy định về sở hữu trí tuệ hơn nữa, để không chỉ bảo đảm  quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu sáng chế, mà còn bảo đảm  cân bằng giữa lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng với lợi ích của các cá  thể.      Việt Nam vừa kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do  với EU (EVFTA) cuối năm 2015. Cùng với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), EVFTA dự kiến sẽ tạo ra những tác động lớn tới nhiều chính sách của Việt Nam trong thời gian tới, trong đó có lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT).  Trên thực tế, SHTT là lĩnh vực mà đối tác EU đặc biệt quan tâm và có các yêu cầu cam kết cả về nội dung và thực thi cao đối với Việt Nam.  Từ góc độ của Việt Nam, việc bảo đảm tuân thủ cam kết cao về SHTT đặt ra những thách thức lớn, từ tiêu chuẩn bảo hộ, lẫn cơ chế thực thi. Do đó, để tuân thủ các cam kết này của EVFTA, Việt Nam chắc chắn sẽ phải sửa đổi, điều chỉnh pháp luật cho phù hợp.  Với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Vương quốc Anh và Bắc Ireland tại Việt Nam, hôm nay (1/3), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức hội thảo “Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết về SHTT trong EVFTA” nhằm lấy ý kiến của doanh nghiệp, chuyên gia cho dự thảo kết quả rà soát mà VCCI đã thực hiện.  Rà soát của VCCI nhằm xác định các quy định khác biệt, chưa tương thích giữa pháp luật Việt Nam về SHTT với các cam kết cụ thể của EVFTA, từ đó đề xuất giải pháp sửa đổi pháp luật và thực thi từ góc độ của doanh nghiệp nhằm bảo đảm tuân thủ Hiệp định theo cách thức có lợi nhất cho các doanh nghiệp.  Theo chuyên gia Phạm Phú Khánh Toàn, các quy định về SHTT của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên, điều quan trọng là vấn đề thực thi như thế nào.  Các cơ quan quản lý như Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN), Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương), cùng các đơn vị chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực thi các quy định về SHTT hơn nữa, để không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu sáng chế, sở hữu sản phẩm trí tuệ, mà còn bảo đảm cân bằng giữa lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng với lợi ích của các cá thể.  Các chuyên gia cũng lưu ý rằng, rất nhiều nghĩa vụ trong EVFTA, không chỉ bao gồm nghĩa vụ bảo hộ, mà còn là yêu cầu bảo hộ “đầy đủ” (adequate), “hiệu quả” (effective). Trong khi đó, thực tế thực thi bảo hộ SHTT ở Việt Nam có nhiều bất cập và có lẽ còn ở mức độ hiệu quả khá xa so với yêu cầu.  Do đó, nghiên cứu rà soát khuyến nghị các cơ quan có thẩm quyền tập trung vào công tác thực thi trên thực tiễn để bảo đảm thi hành hiệu quả các nghĩa vụ mà pháp luật Việt Nam “đã tương thích”.  Thứ hai, kết quả rà soát cho thấy, hiện chỉ có 4 cam kết mà pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận và thực sự tương thích là: Quyền độc quyền công bố đến công chúng của người biểu diễn, nhà sản xuất các bản ghi âm, ghi hình; quy trình và cách thức bảo hộ đối với 169 chỉ dẫn địa lý của EU liệt kê trong EVFTA; cam kết bù đắp thời hạn sáng chế dược phẩm cho những chậm trễ trong cấp phép lưu hành; nguyên tắc suy đoán về quyền của người có tên trên tác phẩm…  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/So-huu-tri-tue-Tap-trung-vao-thuc-thi/248781.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu trí tuệ và khởi nghiệp công nghệ      Sở hữu trí tuệ (Intellectual Property – IP), tài sản vô hình bao gồm hoặc là kết quả của sự sáng tạo, đổi mới, sáng chế và bí quyết (và bao gồm tất cả các quyền đối với công nghệ), đang trở thành một khía cạnh ngày càng quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều này đặc biệt đúng với các doanh nghiệp công nghệ mới nổi và khởi nghiệp. Trong bản tin này và các bản tín tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét các loại hình IP bao gồm bí quyết công nghệ và bí mật thương mại, sáng chế và bằng sáng chế, quyền tác giả và nhãn hiệu cũng như tầm quan trọng của IP, cách nhận biết các loại IP, các đặc điểm của từng loại IP và các cơ chế bảo hộ.    Tầm quan trọng của IP đối với các dự án khởi nghiệp công nghệ là rõ ràng. Chỉ một vài thập kỷ trước, phần lớn tài sản của các doanh nghiệp của Mỹ là hữu hình, như được mô tả trong Hình 1. Các tài sản vô hình như IP chiếm ~ 20% tài sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến năm 2005, tỷ lệ tài sản vô hình và hữu hình của doanh nghiệp về cơ bản đã bị đảo ngược; giá trị thị trường của S&P 500 (chỉ số chứng khoán dựa trên vốn hóa thị trường của 500 công ty giao dịch) là ~ 80% tài sản vô hình và đến năm 2015, con số này là 87%.  Theo Bộ Thương mại Mỹ, “toàn bộ nền kinh tế Mỹ dựa vào một loại hình IP nào đó, bởi vì hầu như mọi ngành đều tạo ra hoặc sử dụng nó”. Trong năm 2010, khoảng 28% việc làm và 35% GDP ở Mỹ là từ các ngành công nghiệp chuyên sâu về IP. Sự nhấn mạnh vào tài sản IP không chỉ giới hạn ở Mỹ; như được trình bày trong Hình 2, tài sản vô hình cũng chiếm ít nhất khoảng một phần ba, và thường là phần lớn,  giá trị ở các thị trường ở các nước khác. Tính đến tháng 9 năm 2013, khoảng 35% việc làm trong Liên minh châu Âu và 39% GDP đến từ các lĩnh vực dựa vào bằng sáng chế và các loại hình IP khác để hoạt động.  Hãy xem xét quy mô và tính chất của các giao dịch được thúc đẩy bởi IP. Ví dụ, Microsoft đã chi 8,5 tỷ USD để mua lại Skype và 6 tỷ USD để mua lại Quantive. SanDisk trả 327 triệu USD để mua lại Pliant Technology và Nuance mua lại Equitrac với giá 150 triệu USD. Apple, RIM và Microsoft hợp tác trả giá cao hơn Google để mua lại toàn bộ bằng sáng chế của Công ty Công nghệ Nortel (Canada) liên quan đến các lĩnh vực công nghệ truyền dẫn có dây, không dây và chất bán dẫn với giá 4,5 tỷ USD. Apple và Google đã hợp tác để mua danh mục đầu tư bằng sáng chế của Kodak liên quan đến việc nắm bắt, thao tác và chia sẻ hình ảnh số với giá 527 triệu USD. Microsoft đã bán một gói các bằng sáng chế liên quan đến công nghệ nhắn tin di động, Web và tin nhắn tức thời cho Facebook với số tiền 550 triệu USD và mua bằng sáng chế của AOL bao gồm công nghệ Internet với giá 1,05 tỷ USD. InterDigital đã bán một loạt các bằng sáng chế liên quan đến công nghệ 3G/LTE cho Intel với giá 375 triệu USD.    Hình 1. Tài sản hữu hình và vô hình của S&P 500  Nguồn: http://www.oceantomo.com/2015/03/04/2015-intangible-asset-market-value-study/  IP đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp mới nổi và khởi nghiệp. Đối với một doanh nghiệp, để thành công thì doanh nghiệp này phải có lợi thế cạnh tranh; một số khía cạnh của doanh nghiệp – hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ – phải (hoặc ít nhất được thị trường biết đến) độc đáo, tốt hơn hoặc khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Điều này đặc biệt đúng đối với một doanh nghiệp khởi nghiệp trong một thị trường nơi các đối thủ cạnh tranh đã được thiết lập (và được tài trợ tốt). Thành công bền vững đòi hỏi một lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế cạnh tranh bền vững của các công ty công nghệ hầu như luôn xuất phát từ một số loại hình IP. Tuy nhiên, nếu không có cơ sở pháp lý thích hợp để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các đối thủ cạnh tranh sẽ có thể chiếm đoạt hoặc sao chép hợp pháp tính năng này và lợi thế cạnh tranh sẽ bị mất.  Ngoài việc cung cấp lợi thế cạnh tranh, IP có thể đóng góp vào sự thành công của một doanh nghiệp theo một số cách:  ■ Các quyền có thể chứng minh đối với IP là một chỉ báo về khả năng thành công của một doanh nghiệp công nghệ. Một nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm từ năm 1995 đến năm 2002 cho thấy các doanh nghiệp nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ (bằng sáng chế) có khả năng thành công cao hơn 34% trong việc nhận được các vòng tài trợ vốn mạo hiểm tiếp theo.  ■ Quyền đối với IP là tài sản của doanh nghiệp, thường là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định giá trị của doanh nghiệp.  ■ Bằng sáng chế, có hiệu lực, là giấy chứng nhận chuyên môn của bên thứ ba.  ■ IP (phổ biến nhất là bằng sáng chế) có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp để vay ngân hàng.  ■ IP có thể được sử dụng (thông qua cấp phép, cấp quyền hưởng lợi nhuận, chứng khoán, v.v..) để cung cấp vốn cho doanh nghiệp.    Hình 2. Tài sản vô hình của một số nước  Nguồn: http://www.oceantomo.com/2015/03/04/2015-intangible-asset-market-value-study/  IP cũng là “tiền bạc” của những người tham gia thành lập một startup công nghệ. Mỗi người tham gia (đồng sáng lập) vào một startup thường đóng góp vốn (tiền mặt hoặc tín dụng). Tuy nhiên, trong một startup công nghệ, ít nhất một người tham gia đóng góp IP và đóng góp này có thể thay cho vốn. (Các đóng góp cho startup có thể liên quan đến bất kỳ yếu tố nào cần thiết cho sự thành công của startup, chẳng hạn như tài nguyên, sự lãnh đạo và các kết nối).  Gần đây, cái gọi là mô hình mở làm kinh doanh đã trở nên nổi tiếng. Ví dụ bao gồm các côngxoocxiom khác nhau và cấp phép mã nguồn mở của phần mềm. Ngay cả những mô hình kinh doanh này hầu hết đều dựa vào bảo hộ IP.  Một doanh nhân khởi nghiệp công nghệ hiểu biết  sẽ đảm bảo sự độc quyền đối với IP của doanh nghiệp ở mức độ cao nhất có thể. Tuy nhiên, các quyền trong IP có thể vô tình bị mất bởi các hành động có vẻ vô tội, và việc không xem xét các quyền của bên thứ ba có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường.  Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm bí mật kinh doanh, bằng sáng chế tiện ích, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và nhãn hiệu. Các thuật ngữ này đã biểu thị cả tài sản IP và cơ chế pháp lý để bảo hộ chúng. Những cơ chế này cung cấp một khuôn khổ cho việc thiết lập và duy trì các quyền trong IP. Một chiến lược sử dụng kết hợp các cơ chế pháp lý khác nhau cần được phát triển để tối đa hóa sự bảo hộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu của doanh nghiệp. Một số đặc điểm của các cơ chế pháp lý tương ứng được trình bày trong Bảng 1 dưới đây.  Bảng 1. Các cơ chế bảo hộ IP của Hoa Kỳ          Cơ chế bảo hộ      Thời hạn      Luật      Đối tượng có thể được bảo hộ      Phạm vi bảo hộ      Các hình thức bảo hộ đồng thời          Bí mật kinh doanh (Trade secret)      Vô thời hạn      Luật tiểu bang (Đạo luật bí mật thương mại thống nhất)      Bất cứ thứ gì có thể giữ bí mật      Sao chép hoặc sử dụng      Nhãn hiệu          Nhãn hiệu (Trademark)      Thời hạn bảo hộ 10 năm, có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm      Đạo luật phổ thông tiểu bang; Các đạo luật tiểu bang; Quy chế liên bang      Bất kỳ thứ gì có khả năng xác định nguồn gốc của hàng hóa hoặc dịch vụ      Sử dụng nhãn hiệu trong bối cảnh tạo ra bất kỳ khả năng nhầm lẫn nào đối với nguồn, tài trợ hoặc liên kết      Bí mật thương mại  Kiểu dáng công nghiệp  Bằng sáng chế tiện ích  Bản quyền          Bản quyền (Copyright)      70 năm sau khi tác giả cuối cùng chết hoặc nếu tác phẩm cho thuê, 95 năm kể từ khi xuất bản      Quy chế liên bang      Tác phẩm của tác giả      Sao chép các khía cạnh của tác phẩm được cấp bản quyền      Nhãn hiệu  Kiểu sáng công nghiệp  Bằng sáng chế tiện ích          Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (mask work)      Kết thúc10 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc khai thác thương mại lần đầu tiên      Quy chế liên bang      Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (hình ảnh, các mẫu ba chiều trong các lớp của một chip bán dẫn)      Sao chép các chip thuộc sáng chế      Bí mật thương mại  Nhãn hiệu  Bằng sáng chế tiện ích          Kiểu dáng công nghiệp (Design patent)      14 năm kể từ ngày cấp      Quy chế liên bang      Các khía cạnh phi chức năng của các thiết kế trang trí      Sử dụng kiểu dáng đã được cấp bằng sáng chế cho bất kỳ sản phẩm nào trong quá trình sản xuất hoặc bán hoặc chào bán sản phẩm đó      Bằng sáng chế tiện ích  Bản quyền  Nhãn hiệu          Bằng sáng chế tiện ích (Utility Patent)      20 năm kể từ ngày nộp đơn      Quy chế liên bang      Máy móc, quy trình sản xuất hoặc thành phần vật chất mới và hữu ích, hoặc cải tiến mới và hữu ích      Tạo ra, sử dụng, trao đổi, chào bản hay bán, nhập khẩu sản phẩm thuộc sáng chế      Bản quyền  Kiểu dáng công nghiệp  Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn   Nhãn hiệu          N.L.H. tổng hợp  Theo Technology Ventures       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sở hữu trí tuệ và phát triển kinh tế: Câu chuyện Ấn Độ      Theo một nghiên cứu mới của các nhà kinh tế  học Robert Shapiro và Aparna Mathur, nếu Ấn Độ có cơ chế bảo vệ quyền sở  hữu trí tuệ tương đương với Trung Quốc, dòng vốn FDI của họ sẽ tăng lên  33% hàng năm.     Trong Thông điệp liên bang mới đây, tổng thống Mỹ Barack Obama đã một lần nữa khẳng định tham vọng hoàn tất Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại giữa Mỹ và 11 quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cùng lúc, Liên minh châu Âu và Trung Quốc cũng đang rốt ráo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thỏa thuận riêng của mình tại châu Á và các khu vực khác. Các hiệp định thương mại ngày một nở rộ này được kỳ vọng là sẽ tạo nên những chu kỳ tăng trưởng đáng mơ ước cho các quốc gia đang phát triển, nhưng để làm được điều đó, chúng không những phải làm giảm bớt các rào cản thương mại mà còn phải hỗ trợ xây dựng khung thể chế của một nền kinh tế hiện đại, trong đó có các quyền sở hữu trí tuệ (IP).  Một số nhà hoạt động và quan chức chính phủ cho rằng vấn đề cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là chuyện “hạ hồi phân giải” vì, theo họ, sở hữu trí tuệ là rào cản phát triển và chỉ nên thực thi những quyền này sau khi các quốc gia đã đạt tới một tình trạng phát triển cao về kinh tế. Đây là thái độ rất phổ biến ở Ấn Độ, quốc gia vừa mới ra quyết định hoãn các vòng thương lượng về thương mại với Liên minh châu Âu, và cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các vòng đàm phán toàn cầu Doha. Anand Sharma, Bộ trưởng Bộ Thương mại Ấn Độ, gợi ý: “Cần phải có những sự linh động dành cho các quốc gia đang phát triển.”  Song trên thực tế, các ý tưởng được bảo hộ là động lực phát triển cho cả quốc gia phát triển và đang phát triển. Thay vì xem nhẹ quyền sở hữu trí tuệ, các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ nên nhận thấy rằng việc củng cố cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư nước ngoài – một yếu tố cần thiết giúp họ phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, và cải thiện khả năng tiêu dùng của người dân trong nước.  Ngày nay, sở hữu trí tuệ chiếm một tỉ trọng đa số trong giá trị của các công ty lớn. Theo một nghiên cứu trên nhiều ngành công nghiệp tại Mỹ, năm 2009, vốn trí tuệ – bao gồm các bằng sáng chế, bản quyền, thương hiệu, và kiến thức tổ chức  – chiếm tới 44% giá trị thị trường của các công ty. Rõ ràng, những công ty này không muốn đặt quyền sở hữu trí tuệ của mình trước nguy cơ bị bào mòn hay bị ăn cắp trắng trợn; họ muốn kinh doanh ở những nơi họ có thể yên tâm rằng quyền sở hữu trí tuệ của mình được an toàn.  Các quốc gia đang phát triển được lợi nhiều từ việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia. Họ sẽ mang lại những tiến bộ công nghệ cùng các kỹ thuật quản lý mới giúp đẩy mạnh phát triển cho các công ty trong nước, đồng thời tạo đà cho quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp sở tại. Sự có mặt của họ còn là tiền đề ra đời của những công ty trong nước mới với chức năng làm nhà cung cấp cho họ, từ đó tạo thêm nhiều việc làm, củng cố kỹ năng cho công nhân, nâng cao năng suất, và gia tăng doanh thu cho chính phủ.  Hiện tại, Ấn Độ chỉ thu hút được 2,7% trong tổng số tiền đầu tư toàn cầu cho nghiên cứu và phát triển; Trung Quốc, với cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ hơn, thu hút được gần 18%; và Mỹ 31%. Theo số liệu của Liên hợp quốc, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Ấn Độ chỉ tương đương với 11,8% GDP của nước này trong giai đoạn 2010 – 2012, thấp hơn nhiều so với con số trung bình 30% của các quốc gia đang phát triển khác.  Theo một nghiên cứu mới của các nhà kinh tế học Robert Shapiro và Aparna Mathur, nếu Ấn Độ có cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tương đương với Trung Quốc, dòng vốn FDI của họ sẽ tăng lên 33% hàng năm. Trong lĩnh vực dược phẩm – một lĩnh vực đặc biệt hay bị vi phạm sở hữu trí tuệ – một cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả hơn có thể giúp Ấn Độ tăng dòng chảy FDI từ 1,5 tỉ USD năm nay lên tới 8,3 tỉ USD năm 2020, đồng thời trong khoảng thời gian này, số tiền đầu tư vào nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực dược phẩm cũng tăng gấp đôi lên tới 1,3 tỉ USD. Hoạt động FDI tăng cường có thể đem lại 18.000 việc làm mới chỉ riêng trong ngành dược phẩm.  Nếu Ấn Độ có thể nâng cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình lên tương đương với Mỹ, tức còn hiệu quả hơn Trung Quốc, thì lợi ích họ đạt được thậm chí sẽ còn lớn hơn nữa. Tới năm 2020, dòng chảy FDI có thể sẽ tăng tới 83%/năm; và chỉ riêng trong lĩnh vực dược phẩm, FDI có thể đạt tới con số 77 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư cho R&D tăng lên tới 4,2 tỉ USD, và 44.000 việc làm mới sẽ được tạo.   Những con số trên càng thêm phần ý nghĩa khi mà chính phủ Ấn Độ vẫn đang tiếp tục “bóp hầu bóp họng” các quyền sở hữu trí tuệ trong ngành dược. Trong hai năm qua, quốc gia này đã phế bỏ hoặc thách thức bằng sáng chế đối với 15 loại thuốc do các hãng dược quốc tế sản xuất nhằm dọn đường cho các công ty trong nước; họ nói rằng tình trạng độc quyền là “nối giáo cho giặc”, giúp các công ty áp giá cao, gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Các quan chức Ấn Độ khẳng định, việc cho phép các nhà sản xuất trong nước làm nhái các loại thuốc có bằng sáng chế sẽ giúp làm hạ thấp giá thành và mở rộng quyền tiếp cận thuốc chữa bệnh cho người dân.  Song bằng sáng chế thuốc và giá cả không phải là rào cản chính đối với khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Ấn Độ. Vấn đề lớn hơn ở đây, như công ty tư vấn IMS đã phát hiện ra năm ngoái, là sự thiếu hụt bác sĩ, trạm xá, bệnh viện, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn. Những trạm xá, bệnh viện công hiện thời thì bị coi là vô dụng bởi bác sĩ thường xuyên vắng mặt. Thuốc – dù giá có rẻ tới đâu – cũng thành vô giá trị khi không có người kê đơn.  Thêm nữa, người dân Ấn Độ còn ít được tiếp cận với các chương trình bảo hiểm, nhất là với các bệnh nhân ngoại trú. Chính tình trạng này, cùng với việc thiếu một mạng lưới an ninh công cộng, đã khiến cho các vấn đề về y tế trở thành nguyên nhân chính dẫn đến những khó khăn về kinh tế cho cả những gia đình trung lưu. Như vậy, cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ yếu kém đã không giúp cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân Ấn Độ mà lại còn làm trầm trọng thêm những thách thức vốn đã hết sức đáng lo ngại về chăm sóc sức khỏe của quốc gia này.  Đã đến lúc các lãnh đạo Ấn Độ cần nhận thấy vai trò tích cực của cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong việc thúc đẩy phát triển và cải thiện đời sống người dân. Một điều quan trọng không kém là các nhà đàm phán thương mại trên thế giới cũng cần phải từ bỏ cái quan niệm rằng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một thứ xa xỉ phẩm mà chỉ các nước giàu mới đủ sức cáng đáng. Thực tế ở đây là sở hữu trí tuệ là động lực kinh tế mà công dân các quốc gia đang phát triển không nên bỏ qua.  Rod Hunter là Giám đốc cấp cao về kinh tế quốc tế thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống George W. Bush, hiện là Phó chủ tịch cấp cao Hội nghiên cứu dược học và các nhà sản xuất dược phẩm tại Mỹ.  Thu Trang dịch theo project-syndicate.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơ kết Chiếc Thìa Vàng 2016 Khu vực miền Bắc: Nhận tiền thưởng sau mỗi ngày thi      Vòng sơ kết cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2016 khu vực miền Bắc đã diễn ra trong ngày 27/9/2016 tại Cung Triển lãm Kiến trúc và Xây dựng Quốc gia. Nét mới của cuộc thi năm nay là giá trị giải thưởng tăng lên, và giải thưởng được trao ngay sau mỗi ngày thi.      Với chủ đề “Hương vị quê nhà – Hành trình gia vị Việt”, mỗi đội hoàn tất thực đơn bốn món, gồm: món khai vị, món thủy hải sản, món thịt và món tráng miệng. Khác với những mùa thi trước, nếu món tráng miệng các đầu bếp được làm sẵn ở nhà thì năm nay món tráng miệng bắt buộc làm tại chỗ để tăng thử thách đối với tay nghề các đầu bếp.  Khép lại vòng sơ kết khu vực miền Bắc, Ban giám khảo đã chọn ra bốn đại diện theo từng khu vực:  Cao nguyên Bắc Bộ: Giải nhất – Nhà hàng Ẩm thực Dũng Tân (tỉnh Thái Nguyên); Giải nhì  – Khách sạn Mường Thanh Lào Cai (tỉnh Lào Cai);  Đồng bằng sông Hồng: Giải nhất – Emeralda Resort & Spa Ninh Bình (tỉnh Ninh Bình); Giải nhì – Công ty CP Du lịch Quốc tế Kỳ quan Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh).  Ở vòng sơ kết, giải nhất trị giá 40 triệu đồng, giải nhì trị giá 30 triệu đồng. trong khi đó ở vòng bán kết, giá trị mỗi giải tăng lên 10 triệu đồng.    Author                Thúy Ngô        
__label__tiasang Số phận của những chiếc xe hơi điện đời đầu      Nghiên cứu mới của Đại học Lund cho thấy cơ sở hạ tầng thiếu thốn là yếu tố then chốt khiến các nhà sản xuất ô tô Mỹ lựa chọn ô tô chạy xăng thay vì ô tô điện vào đầu thế kỷ 20. Theo công bố trên tạp chí Nature Energy, nếu lưới điện được mở rộng chỉ 15 hoặc 20 năm trước đó, phần lớn các nhà sản xuất có khả năng sẽ chọn xe hơi điện.    “Người ta thường quan niệm rằng xe hơi điện đắt đỏ và kém về mặt kỹ thuật hơn xe hơi chạy xăng. Chúng tôi cho rằng điều này không hẳn đúng. Xe hơi điện đắt hơn nhưng giá cả như vậy là hợp lý so với hiệu suất của chúng”, Josef Taalbi, Phó Giáo sư Lịch sử kinh tế tại ĐH Lund (Thụy Điển), cho biết.    Quảng cáo của Detroit Electric năm 1912. Nguồn: Wikimedia Commons  Trong nghiên cứu của mình, Josef Taalbi và Hana Nielsen đã tìm hiểu lý do đằng sau việc xe hơi điện bị “ruồng rẫy” và xe hơi chạy bằng xăng lại chiếm ưu thế dựa trên một cơ sở dữ liệu về hơn 36.000 mẫu xe con của Mỹ. Kết quả cho thấy không phải lúc nào công nghệ tối ưu nhất cũng là kẻ thống trị.   “Theo ước tính của chúng tôi, xe hơi điện rẻ hơn vào những năm 1920 nhờ điện giá rẻ. Việc chuyển sang dùng xe điện sẽ giúp giảm lượng khí thải lớn – tương đương 20 triệu tấn CO2 – chỉ riêng trong năm 1920”, Hana Nielsen, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại ĐH Lund, chia sẻ.  Tuy nhiên, hầu hết các nhà sản xuất xe hơi đã chọn sản xuất xe hơi chạy bằng xăng ngay từ đầu thế kỷ 20. Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng điện địa phương được coi là yếu tố then chốt trong việc dự đoán liệu nhà sản xuất chọn động cơ điện hay xăng.  “Việc mở rộng cơ sở hạ tầng điện quá chậm dẫn đến nhiều nhà sản xuất đã sớm chọn đầu tư vào xe hơi chạy xăng thay vì xe hơi điện. Một phần lý do bắt nguồn từ việc thị trường điện cho hộ gia đình không mang lại lợi nhuận cho các nhà sản xuất điện tư nhân. Lưới điện xuất hiện lần đầu tiên trong Thỏa thuận Mới của Franklin Roosevelt vào những năm 1930, nhưng lúc bấy giờ mọi thứ đã quá muộn với ngành sản xuất xe hơi điện”, Hana Nielsen giải thích.   “Kết quả của chúng tôi cho thấy các nhà sản xuất xe hơi đã chọn công nghệ dựa trên những điều kiện phổ biến vào đầu thế kỷ 20. Mặc dù mạng lưới điện đã được mở rộng trong những thập kỷ sau, vẫn không có thay đổi gì quá lớn. Đến những năm 1910, số phận của ngành công nghiệp xe hơi điện đã được định đoạt”, Josef Taalbi nói.  “Các yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng. Các nhà sử học đã nhấn mạnh rằng xe hơi điện được coi là sang trọng và là ‘xe hơi dành cho phụ nữ’, trong khi xe hơi chạy xăng được coi là ‘xe hơi phiêu lưu’, hấp dẫn nhóm người tiêu dùng nam giới. Điều này đã góp phần vào việc lựa chọn công nghệ ở một mức độ nào đó, nhưng chúng tôi chưa thể chỉ rõ trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, khá hợp lý khi cho rằng những chiếc xe hơi điện đã bị ép vào một phân khúc hẹp hơn”, Josef Taalbi nói.  Vậy thì điều gì sẽ xảy ra nếu lưới điện đã có từ trước đó? “Theo các mô hình của chúng tôi, phần lớn các nhà sản xuất xe hơi sẽ sản xuất xe hơi điện, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Tuy nhiên, xe hơi chạy xăng có lợi thế hơn khi đi du lịch. Thêm vào đó, xe hơi điện có một số nhược điểm như tốc độ thấp. Bức tranh khả thi nhất đó là một hệ thống giao thông kép, nơi xe điện có thể được sử dụng như một phương tiện giao thông đáng tin cậy trong môi trường đô thị, trong khi xe chạy xăng có những lợi thế lớn để trở thành một chiếc xe du lịch”, Josef Taalbi cho biết.  Nhóm nghiên cứu tin rằng kết quả này có thể đóng góp phần nào trong các cuộc thảo luận hiện nay.   “Đối với cuộc khủng hoảng khí hậu hiện nay, kết quả nghiên cứu cho thấy việc đầu tư quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng nếu muốn có hệ thống giao thông và năng lượng bền vững. Điều này không chỉ đúng với xe hơi điện, mà còn với cả những công nghệ năng lượng tái tạo khác”, Hana Nielsen nhận định.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-10-lack-power-grids-fate-early.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Số phận của pin ô tô điện đã qua sử dụng: Vẫn còn là câu hỏi mở      Pin đã qua sử dụng có thể là gót chân Achilles trong cuộc cách mạng xe điện — hoặc là mỏ vàng đang chờ chúng ta khai thác trong tương lai.       Pin EV chứa hàng trăm tế bào pin rất đỗi tinh vi và phức tạp. Khi chúng ta cần tháo rời để sửa chữa, chúng có thể gây nguy hiểm. Nếu xử lý không đúng cách, chúng sẽ tạo ra khói độc và hỏa hoạn. Nguồn: Allie Sullberg / Wired   Mùa hè năm ngoái, Dirk Spiers, một người đàn ông Hà Lan cao lớn hiện đang sống tại Oklahoma, nhận được thông báo từ General Motors (GM) về những vấn đề mà xe điện Chevrolet Bolt đang gặp phải. Mẫu xe này từng được xem là cú vượt mặt vĩ đại của GM trước Tesla – trở thành chiếc xe điện thực sự dành cho thị trường đại chúng đầu tiên của Hoa Kỳ – nhưng giờ đây nó dần trở thành thảm hoạ. GM đã thu hồi các bu lông xe vì một loạt vụ cháy hy hữu nhưng có tính sát thương cao bùng phát khi tài xế để xe sạc qua đêm. GM đã tìm ra vấn đề: vụ cháy bắt nguồn từ những sai sót trong tế bào pin lithium-ion do LG Chem của Hàn Quốc sản xuất.  Giờ đây, nhà sản xuất ô tô đang mở rộng đợt thu hồi với toàn bộ 141.000 bu lông được bán ra trên toàn thế giới kể từ năm 2017. GM sẽ phải lên một kế hoạch lớn để khắc phục sai sót. Không giống như các loại pin axit chì có kích thước bằng lò nướng bánh được lắp đặt bên trong hầu hết các loại xe chạy bằng khí đốt, bộ pin lithium-ion bên trong mẫu xe Bolt được lắp dọc theo hết chiều dài cơ sở của xe (wheelbase – được tính từ điểm tiếp xúc của trục bánh trước của xe tới mặt đường đến tiếp xúc của trục bánh sau của xe với mặt đường) và nặng 960 pound. Nó chứa hàng trăm tế bào pin rất đỗi tinh vi và phức tạp. Khi chúng ta cần tháo rời để sửa chữa, chúng có thể gây nguy hiểm. Nếu xử lý không đúng cách, chúng sẽ tạo ra khói độc và hỏa hoạn.  Người đại diện GM quyết định gọi cho Spiers để nhờ ông giúp đỡ. Mối quan hệ của ông với GM đã bắt đầu từ 11 năm trước, khi ông hỏi người đứng đầu bộ phận phát triển cho mẫu xe trước đó của của công ty – Chevrolet Volt, về việc GM định sẽ làm gì với pin khi chúng bị hỏng hoặc ngừng hoạt động (chết pin). Hóa ra GM thực sự không có kế hoạch gì cả. Spiers đã biến câu hỏi đó của mình thành một công việc kinh doanh, hiện ông đảm nhận công việc hậu cần cho pin EV đã chết và sắp chết từ mọi nhà sản xuất ô tô lớn bán ở Mỹ, ngoại trừ Tesla. Cụ thể, Spiers New Technologies (SNT) nhận pin bị lỗi và vận chuyển, kiểm tra và — nếu có thể — tháo rời, sửa chữa và tân trang chúng. “Chúng tôi đảm nhận phần công việc mà không ai muốn làm”, Spiers nói.  Khi không thể sửa chữa hoặc tái sử dụng pin được nữa, công ty sẽ tái chế một số pin tại cơ sở của mình. Công ty cũng lưu trữ rất nhiều pin. Nhà kho chính của SNT ở thành phố Oklahoma chứa hàng trăm pin ô tô điện, xếp chồng lên nhau trên các kệ cao 30 feet. Những kệ này sẽ tiếp tục cao lên, bởi GM sẽ gửi đến SNT số pin từ những chiếc xe Bolt mà họ thu hồi.  Những bộ phận pin đó và cả hàng triệu bộ phận pin khác tương tự như vậy đã và đang ra đời, là một thách thức đối với tương lai điện khí hóa của thế giới. Các nhà sản xuất ô tô đang đổ hàng tỷ USD vào điện khí hóa với lời hứa rằng thế hệ ô tô này sẽ “xanh” hơn so với các thế hệ xe trước đây chạy bằng khí đốt. Vào cuối thập kỷ này, Cơ quan Năng lượng Quốc tế ước tính sẽ có từ 148 triệu đến 230 triệu phương tiện chạy bằng pin trên toàn thế giới, chiếm tới 12% số lượng xe ô tô toàn cầu.  Song pin lithium-ion, tương tự như các thiết bị điện tử khác, rất độc hại và có thể gây ra các đám cháy lớn và lan nhanh — và sẽ càng nguy hiểm hơn nếu chúng được lưu trữ tập trung với số lượng lớn. Một báo cáo gần đây của EPA cho thấy pin lithium-ion đã gây ra ít nhất 65 vụ cháy tại các cơ sở xử lý rác thải đô thị vào năm ngoái, mặc dù hầu hết đó đều là các loại pin nhỏ hơn, như pin dành cho điện thoại di động và máy tính xách tay. Trong nhà kho của SNT, những đường ống nước khẩn cấp màu đỏ tươi vắt ngang trần nhà, một biện pháp bảo vệ để đối phó với rủi ro.  Nhưng nhìn theo cách khác, những loại pin cũ đó là cơ hội cho một tương lai ô tô xanh hơn. Xe điện thân thiện với môi trường hơn so với các loại xe chạy bằng khí đốt, nhưng chúng vẫn đi kèm với chi phí môi trường. Pin chứa các khoáng chất có giá trị như coban và lithium, chủ yếu được khai thác và xử lý ở nước ngoài – ở nơi đó, chúng khiến các nguồn tài nguyên quan trọng như nước bị ô nhiễm và góp phần vào lượng khí thải carbon toàn cầu. Do đó, việc tái chế pin sẽ giúp “giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nước phát triển, các trung tâm đô thị cũng như những nơi khai thác vật liệu”, Hanjiro Ambrose, một kỹ sư tại Đại học California, Viện Nghiên cứu Giao thông Davis, cho biết.  Trong một tương lai lý tưởng, mỗi viên pin lithium-ion xếp chồng lên nhau trong nhà kho Oklahoma sẽ được tái sử dụng và tái chế, cứ liên tục như vậy, để tạo ra pin lithium-ion có tuổi thọ 10, 25, thậm chí 50 năm — hạn chế phải dùng những vật liệu mới. Các chuyên gia gọi đây là “nền kinh tế tuần hoàn”. Để đưa ý tưởng này thành hiện thực, các nhà tái chế đang chạy đua để tìm ra một cách hiệu quả và thân thiện với môi trường, thu hồi những phần quý giá trong pin đã qua sử dụng để tạo ra một thứ gì đó mới. Có thể kể tên một số công ty đang tham gia vào lĩnh vực này như Redwood Materials, một công ty ở Nevada do các cựu giám đốc điều hành Tesla đứng đầu; Northvolt của Châu Âu; và Li-Cycle có trụ sở tại Toronto.  Rất nhiều khó khăn  Về lý thuyết, theo nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm của Alissa Kendall, giáo sư tại Đại học California, Davis, vật liệu tái chế có thể cung cấp hơn một nửa lượng coban, lithium và niken trong các loại pin mới vào năm 2040, ngay cả khi xe điện lúc đó đã trở nên phổ biến hơn. Ngành công nghiệp xe điện mới nổi cần một quy trình kết thúc vòng đời hợp lý cho pin, cùng với các trạm sạc rộng rãi, các kỹ thuật viên ô tô được đào tạo và một lưới điện chắc chắn. Đó là cơ sở hạ tầng thiết yếu, chìa khóa để biến tương lai điện khí hóa của chúng ta trở nên xanh nhất có thể. “Chúng ta phải kiểm soát những loại pin chết này”, Kendall nói “Nếu không nó sẽ trở thành một cơn ác mộng.”  Việc khai thác các vật liệu có giá trị từ pin EV rất khó và tốn kém. Quy trình tái chế thường bao gồm việc cắt nhỏ pin, sau đó phá vỡ chúng bằng nhiệt hoặc hóa chất tại các cơ sở chuyên dụng. Cái khó ở đây là làm thế nào để đưa pin chết từ nơi xe gặp sự cố đến các cơ sở xử lý. Theo một nghiên cứu gần đây, khoảng 40% tổng chi phí tái chế đến từ bước vận chuyển. Pin EV rất lớn nên chúng cần được vận chuyển bằng xe tải (không phải máy bay) qua quãng đường dài để đến các cơ sở tái chế tập trung. Quá trình xử lý pin lithium-ion đòi hỏi những điều kiện khắt khe đến mức các đại lý đã chọn vận chuyển toàn bộ một chiếc xe bị hư hỏng nặng 4.000 pound đến thành phố Oklahoma, chỉ để SNT có thể tháo ra, sửa chữa hoặc tái chế pin nặng 1.000 pound bên trong.  Nói chung, quy trình này tốn nhiều công sức và tài nguyên đến mức nó thường vượt quá chi phí khai thác vật liệu mới từ lòng đất. Hiện tại, vật liệu pin duy nhất được tái chế có thể mang lại lợi nhuận là coban, bởi vì nó rất hiếm và đắt tiền. “Tái chế sẽ không mang lại lợi nhuận cho tất cả mọi người. Đó là kinh tế học giả tưởng,” Leo Raudys, Giám đốc điều hành của Call2Recycle, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên xử lý hậu cần tái chế cho pin chết, khẳng định.  Tóm lại, khi pin chết, người dùng có khả năng phải trả tiền cho cơ sở tái chế để được “thoát” khỏi nó. Raudys tin rằng sẽ không nhiều người có thể vứt trộm pin EV, một phần vì chúng quá lớn và khó che giấu. Các bãi rác sẽ không muốn thu dọn chúng vì nguy cơ hỏa hoạn cao. Không khó để truy tìm chủ sở hữu của một pin bị vứt chỏng chơ ở đâu đó, hoặc ít nhất biết được pin này do hãng nào sản xuất. Điều này sẽ giúp mọi người tuân thủ việc tái chế pin EV hơn.  Hans Eric Melin, người sáng lập của Circular Energy Storage, một công ty tư vấn tập trung vào quản lý vòng đời của pin, bày tỏ sự đồng tình. Thời gian sẽ giải quyết nhiều vấn đề; khi càng nhiều pin chết, việc tái chế số lượng lớn sẽ làm giảm chi phí. Tuy nhiên, một vấn đề khác tiếp tục nảy sinh: Gửi xe ô tô điện đã qua sử dụng ra nước ngoài là một cách quan trọng để giúp người dân ở các nước đang phát triển tiếp cận với những loại xe ít phát thải ra môi trường hơn, song liệu những nơi này có được trang bị để tái chế an toàn khi pin hư hỏng hoặc xe chết máy hay không?  Tại Mỹ, Cơ quan Bảo vệ Môi trường của California đã triệu tập một ủy ban cố vấn để xem xét đưa ra quy định về tái chế pin. Trong các cuộc họp gần đây, các nhà vận động hành lang trong ngành công nghiệp ô tô đã lập luận rằng bất cứ ai tháo pin ra khỏi ô tô khi hết tuổi thọ của nó phải có trách nhiệm đảm bảo rằng nó đến tay cơ sở tái chế.  Tại thành phố Oklahoma, pin trong kho SNT chủ yếu đến từ những chiếc xe vẫn còn bảo hành, có nghĩa là các nhà sản xuất ô tô phải chịu trách nhiệm về chúng. Tyler Help, người đứng đầu bộ phận phát triển kinh doanh của công ty, cho biết các nhà sản xuất ô tô đang trả tiền cho SNT để giữ lại pin cũ của họ vì họ không biết thị trường pin đã qua sử dụng sẽ như thế nào và liệu vật liệu bên trong pin có thể có giá trị hơn trong tương lai hay không.  Ngồi trong phòng họp của công ty, Spiers bày tỏ ông rất lạc quan trước tương lai của ngành này. Công ty hiện vẫn đang nghiên cứu các cách thức xử lý, tái chế những loại pin trong nhà kho. Dù thế nào đi nữa, ông tin rằng pin ô tô điện bị hỏng sẽ không bị vứt bỏ, chúng sẽ mở ra cho chúng ta những cơ hội mới.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn;  Cars Are Going Electric. What Happens to the Used Batteries?  How GM Beat Tesla to the First True Mass-Market Electric Car    Author                .        
__label__tiasang So sánh các vaccine Covid-19 nổi bật nhất hiện nay      Hiện đang có 6 vaccine đang được cấp phép trên thế giới và hai vaccine vừa nộp đơn xin cấp phép.    Ngày 1/2 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt có điều kiện vaccine Covid 19 của  Oxford/AstraZeneca theo quyết định số 973/QĐ-BYT của Bộ Y Tế. Chín điều kiện đi kèm việc cấp phép này nhấn mạnh công ty TNHH AstraZeneca Việt Nam phải hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn của Bộ Y tế để đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả của lô vaccine khi nhập khẩu và quản trị rủi ro trong suốt quá trình lưu hành tại Việt Nam. Công ty AstraZeneca đang hợp tác với Hệ thống trung tâm tiêm chủng vaccine VNVC để cung cấp cho Việt Nam 30 triệu liều (đủ tiêm cho 15 triệu người).  Ngoài AstraZeneca, Việt Nam từng chia sẻ đã đàm phán mua vaccine với Nga (Sputnik V), với Mỹ (vaccine của Pfizer/BioNTech) và với Trung Quốc (không đề cập cụ thể mua vaccine nào). Trong số các vaccine đã lưu hành trên thị trường, vaccine của Pfizer/BioNTech có hiệu lực lớn nhất với 95%. Tuy nhiên, các chủng virus mới tại Anh và Nam Phi đã có những dấu hiệu kháng vaccine. Kết quả thử nghiệm lâm sàng của hai vaccine đang nộp đơn xin cấp phép là Novavax và Johnson & Jonhson đều cho thấy, với chủng virus cũ, hiệu lực của các vaccine này đều trên 70% nhưng con số này giảm xuống chỉ còn khoảng 50% đối với biến thể mới tại Nam Phi.  Có 3/8 vaccine đang sản xuất theo công nghệ vector virus. Cơ chế hoạt động của vector virus đó là cài một đoạn gene của Covid-19 (ở đây là protein gai trên bề mặt virus Sars-Cov-2) vào một virus vô hại với con người. Vaccine phòng bệnh Ebola rVSV-ZEBOV của Canada cũng được phát triển theo công nghệ này. Khi tiêm virus được “chỉnh sửa gene” này sẽ làm kích hoạt phản ứng miễn dịch. Ưu thế của vaccine này đó là kích hoạt đồng thời miễn dịch tế bào và sản sinh kháng thể.  Bằng chứng gần đây của đại học Oxford và AstraZeneca cho thấy vaccine của họ không những phòng bệnh mà còn phòng được lây truyền hiệu quả tới 66% (Tức là virus sẽ bị tiêu diệt khi xâm nhập vào mũi và hầu họng của đa số người được tiêm, ngăn chặn việc lây lan sang người khác).      Trong số tám vaccine ở bảng dưới đây, có bốn hãng vaccine tham gia vào chương trình Covax. Covax là chương trình được bảo trợ bởi Liên minh Vaccine toàn cầu nhằm tạo điều kiện cho các quốc gia đang phát triển được hỗ trợ, tài trợ, tiếp cận với các nhà sản xuất vaccine để có thể mua được vaccine nhanh nhất và với giá ưu đãi nhất. Đây cũng là hai vaccine có năng lực sản xuất lớn nhất hiện nay và được phê duyệt rộng rãi nhất trên thế giới.    Đồ họa: Mỹ Hạnh       Author                Mỹ Hạnh - Hảo Linh        
__label__tiasang Soi chiếu cây keo: Một lát cắt về lịch sử nước Úc      Than củi từ đống tro tàn của ngọn lửa thời cổ đại cho thấy quốc hoa của nước Úc đã giúp người bản địa sống sót qua những thay đổi khắc nghiệt của khí hậu      Các nhà khảo cổ học xem xét các hầm ở Karnatukul (Serpents Glen), Katjarra (Dãy Carnarvon) nơi sa mạc phía Tây nước Úc. Ảnh: Chae Byrne, Đại học Tây Úc  Cây keo, thường được gọi là wattle hoặc acacia, là một chi lớn của cây bụi và cây trong phân họ Mimosoideae thuộc họ đậu Fabaceae. Năm 1988 hoa keo vàng chính thức được công nhận là quốc hoa của Úc, đồng thời trở thành một biểu tượng xuất hiện trên quốc huy của nước này. Tuy nhiên một nghiên cứu phân tích các ngọn lửa trại cổ đại ở Sa mạc Tây Úc đã phát hiện ra rằng không phải chỉ mới đây, mà thực tế cây keo đã có một lịch sử văn hóa kéo dài 50.000 năm.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thực hành khảo cổ học để phân tích than củi được bảo quản tại địa điểm khảo cổ lâu đời nhất trên Đất nước Martu (nhóm thổ dân bản địa sống ở sa mạc Tây Úc). Kết hợp với cư dân Martu, GS Chae Byrne từ Đại học Tây Úc và các cộng sự đã phát hiện ra quốc hoa của Úc hoá ra là nguyên liệu không thể thiếu để người bản địa tạo ra các công cụ, thực phẩm và thuốc trong hơn 50.000 năm.  Bằng cách xem xét các hầm trú ẩn tại sa mạc đá ở Katjarra (Dãy Carnarvon) và Karnatukul (Serpents Glen), GS Byrne đã tìm thấy những cách sử dụng củi cổ xưa nhất trong khu vực, xác nhận rằng cây keo là một nguồn thực vật ổn định, hữu dụng trong một môi trường khắc nghiệt.  “Cây keo rất quan trọng đối với cuộc sống của người Martu và rất cần thiết để hình thành sự sống nơi cảnh quan khô cằn với đồng bằng toàn cát và rặng núi đá của Sa mạc phía Tây. Trên thực tế, hiện tại nơi đây vẫn như vậy,” GS Byrne nhận định.  “Người Úc lớn lên và quen thuộc với màu xanh lá cây và vàng của cây keo trên quốc huy – đó là biểu tượng quốc gia. Nhưng nghiên cứu hé lộ những điều sâu sa hơn, rằng cây keo đã tồn tại theo dòng lịch sử, và là một phần trung tâm của nước Úc”. Các cộng đồng thổ dân đã tận dụng hơn 100 loài keo để làm củi đốt, làm công cụ, thực phẩm và làm thuốc.  Nhưng nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên xác nhận những thổ dân bản địa thời kỳ đầu đã định cư và phát triển một cộng đồng thịnh vượng ở vùng đất khô cằn của Sa mạc phía Tây, bất chấp những thay đổi khắc nghiệt của khí hậu, nơi ​​hạn hán và sa mạc hóa diễn ra trên diện rộng.  Một nhà nghiên cứu xem xét các hiện vật còn sót lại của những người thổ dân thời xưa. Ảnh: Chae Byrne, Đại học Tây Úc  Byrne cho biết việc bảo tồn các khu vực mà cây keo đang phát triển là điều rất quan trọng đối với sự tồn tại của các cộng đồng bản địa trong khu vực – đó là điều kiện tiên quyết để họ vượt qua những biến động khí hậu khắc nghiệt.  “Trong quãng thời gian khô cằn, hạn hán, cây keo đóng một vai trò vô cùng quan trọng”, Byrne quả quyết, “người dân trong khu vực đã sử dụng cây keo như một phần đời sống thường nhật, nó cung cấp nguyên vật liệu trong thời kỳ khan hiếm tài nguyên”.  “Hạt giống cây keo được lưu trữ và bảo quản. Có thể người dân đã hái khỏi cây và phơi chúng”. Nhóm thổ dân sử dụng hạt cây keo như một nguồn thực phẩm chính, họ thu lượm, nghiền thành bột nhão hoặc nấu thành bánh dưới tro – tương tự như chất gôm và rễ non. Wattle cũng đã được chứng minh là có thể điều trị đau nhức và nhiễm trùng, phổ biến nhất là sắc thuốc và xông hơi. Cây keo tựa như một cửa hàng thực phẩm và hiệu thuốc, góp phần duy trì sự phồn vinh của một cộng đồng trong hàng chục ngàn năm.  Đây là nghiên cứu khảo cổ học đầu tiên khảo sát về quá trình sử dụng thực vật tại các sa mạc ở Úc. Trong những điều kiện nhất định, những mảnh thực vật mỏng manh có thể được bảo quản và tồn tại hàng nghìn năm trong môi trường tự nhiên. Thông qua việc lấy mẫu những cây hiện đang phát triển trong khu vực, các nhà nghiên cứu có thể so sánh chúng với các mảnh than cổ xưa được phát hiện từ đống tro tàn của củi lửa ở các địa điểm khảo cổ.  “Các di tích thực vật đặc biệt hữu ích trong việc nghiên cứu di sản bản địa Úc. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên như cây cối có tầm quan trọng lâu dài – từ xa xưa đến hiện đại, trong khi các di tích văn hoá trong lịch sử thì lại vô cùng quý hiếm,” Byrne nói.  “Nó cho thấy cách con người di dời, định cư qua các cảnh quan khác nhau, cách họ phụ thuộc và sinh sống tại các khu vực có nguồn nước. Rồi sau đó, bằng cách xem xét các di tích nằm rải rác – than củi từ đống tro tàn sẽ hế lộ rất nhiều mục đích sử dụng khác nhau theo thời gian và chúng ta có thể tái tạo lại bức tranh đời sống thời kỳ cổ xưa”, ông chia sẻ.  “Có rất nhiều điều chúng ta có thể khám phá được từ than củi, không chỉ về những người đãsử dụng nó để thắp lên ngọn lửa, mà còn về khoa học môi trường và biến đổi khí hậu”.  Hoàng Nhi  tổng hợp  Nguồn:  Wattle used for tools, food and medicine by Western Desert traditional owners for 50,000 years, study shows  Acacia pycnantha    Author                .        
__label__tiasang Sơn chịu nhiệt cho tên lửa      Các nhà khoa học quân sự Việt Nam đã hoàn thiện  công nghệ chế tạo sơn chịu nhiệt sử dụng cho động cơ tên lửa phòng không  tầm thấp và đạn phản lực.    Quá trình chế thử, sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí, khí tài quân sự, đặc biệt là động cơ tên lửa phòng không tầm thấp và đạn phản lực ở các nhà máy quốc phòng cần một lượng lớn sơn chịu nhiệt, cách nhiệt.  Nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng, hạn chế việc nhập khẩu, trước đây, Viện Công nghệ  đã được Bộ Quốc phòng giao chủ trì nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu công nghệ chế tạo, công nghệ sơn phủ sơn chịu nhiệt, cách nhiệt trong lòng vỏ động cơ tên lửa phòng không tầm thấp và đạn phản lực”.  Đề tài đã hoàn thành, đạt kết quả khả quan, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, chế thử ở những giai đoạn sau. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như: Các đơn thành phần sơn còn ít; chưa nghiên cứu quy trình công nghệ sơn phủ trên đạn thật mà chỉ dừng lại ở đạn mẫu…  Với mục đích hoàn thiện công nghệ sản xuất để có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn, nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ đã tiếp tục nghiên cứu, khảo sát các tính năng kỹ thuật của màng sơn chịu nhiệt, cách nhiệt trong lòng vỏ động cơ đạn phản lực PG-9, B41M và mẫu sơn ngoại nhập; lựa chọn nguyên liệu, xây dựng đơn nghiên cứu, phân tích chất lượng màng sơn nghiên cứu…  Từ đó, đã hoàn thiện thành phần sơn sản phẩm (so với giai đoạn nghiên cứu, thành phần sơn được bổ sung thêm 6-8% bột titan điôxit do đó độ cứng được tăng thêm; bổ sung thêm thành phần chất chống lắng…). Các nhà nghiên cứu cũng đã hoàn thiện công nghệ tráng, phun sơn sản phẩm…  Sản phẩm sơn chịu nhiệt đã được sơn trên đạn thật và bắn thử nghiệm. Kết quả bắn, các tham số động học (biến thiên áp suất theo thời gian cháy, thời gian làm việc của động cơ…) đều nằm trong vùng sai số cho phép.  Ngoài ra, kết quả đo nhiệt độ bên ngoài vỏ động cơ của mẫu sơn chế thử và mẫu sơn nhập ngoại tương đương nhau, cho thấy khả năng cách nhiệt của sơn chế thử đạt yêu cầu. Hội đồng Khoa học và Công nghệ tư vấn đánh giá kết quả đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng đã nghiệm thu kết quả nghiên cứu đạt loại khá.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơn mài khi không còn vóc      Nghệ sĩ Phi Phi Oanh trò chuyện với nhà nghiên cứu nghệ thuật Vũ Huy Thông về những thể nghiệm với nghệ thuật sơn mài, trong đó tranh sơn mài chỉ còn lại cái da mà không còn cái vóc nặng nề của nó. Trò chuyện xoay quanh các tác phẩm của Phi Phi Oanh tại triển lãm nghệ thuật đương đại ‘Ranh giới Vô định – Undefined Boundaries’ diễn ra hồi tháng Ba vừa qua.      Các tấm ‘da sơn mài’ được thay thế hằng ngày bởi nghệ sĩ trong suốt thời gian triển lãm. Kích thước của chúng khi được phóng lên màn chiếu là 3x3m. Nguồn: Heritage Space và Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam.  Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông: Bạn có thể chia sẻ về cách thức làm tác phẩm trong triển lãm “Ranh giới vô định”?  Nghệ sĩ Phi Phi Oanh: Tranh sơn mài thường được vẽ trên một thứ vật liệu nền móng nào đó, gọi là vóc, giống như sắt-xi (chassis, nền tranh) của tranh sơn dầu. Sau khi tôi làm một số tác phẩm sơn dầu, tôi bắt đầu suy nghĩ về cái “vóc” nặng đó. Học về sơn dầu thời kì 100 năm trước, sự thay đổi của tranh sơn dầu cũng phản ánh sự thay đổi trong cách xem của khán giả, tôi bắt đầu suy nghĩ về cái gọi là dematerialization – tính phi vật thể, phi vật chất – bởi chúng ta ngày càng quen với cách tiếp cận và xem những hình ảnh ở dạng digital, như xem phim, ảnh. Trong khi đó, tranh sơn mài luôn luôn là da (bề mặt) của một thứ gì đó, hoặc là bát, hoặc là cốc, rương, bàn ghế, cửa…, vì vậy tạo cảm giác vô cùng nặng. Tôi đặt ra những nghi vấn về việc nếu như tranh sơn mài không còn cái vóc, chỉ còn lại cái da, nghĩa là thuần túy chỉ còn lại hình ảnh, thì nó sẽ như thế nào? Và từ đó tôi mong muốn tìm kiếm khả năng vẽ lại tranh sơn mài trên một chất liệu mỏng hoặc trong, để thử nghiệm một đặc điểm rất độc đáo của sơn ta là sự “trong suốt”.    Nghệ sĩ Phi Phi Oanh. Ảnh: Diego Cortizas  Tôi bắt đầu tìm hiểu một vài quy trình vẽ trên kính, có thể bóc tách hình ảnh ra khỏi bề mặt tấm kính thành một sản phẩm giống như lớp da có màu sắc. Hoặc tôi ép nhiều tấm kính đã vẽ vào với nhau thành dạng khối, với nguyên lý giống như trong xây dựng cao ốc. Lúc đầu, tôi vẫn thử cách vẽ truyền thống, dùng bạc, nước, mài cẩn thận hơn, làm sao để các nét vẫn đan vào được với nhau, sau đó thì ép kính. Công đoạn đầu tiên tạo ra được pure imagine (hình ảnh chân thực) của bề mặt tranh sơn mài. Nhưng vậy còn cái bóng của nó sẽ cần được xử lý như thế nào? Dùng ánh sáng mà vẫn tạo được cảm giác phóng chiếu được hình của sơn mài nặng nề như là một dạng vật chất? Tôi bắt đầu đi mua máy ảnh medium format ở chợ giời châu Âu, sau đó chế tạo lại và sử dụng đèn LED để không ảnh hưởng gì đến tranh.  Toàn bộ thiết bị giống như máy chiếu đó là bạn tự lắp ráp bằng tay?  Vâng, tôi dùng ống kính của những máy ảnh đó để lắp ráp lại thành một thiết bị mới nên mỗi cái lại mang một hình dạng kiểu cách khác nhau.  Các ống kính đó sẽ chiếu ánh sáng qua những tấm kính nhỏ mà bạn làm như là sơn mài, sau đó phóng lên một bức màn. Thế còn những hình vẽ cụ thể? Bạn vẽ thuần túy theo lối chơi màu, các lớp trong suốt với nhau như tranh trừu tượng?  Khi vẽ tranh sơn mài, tôi cố gắng không dựa vào một mẫu vẽ nào có trước. Những bức tranh sơn mài đầu tiên chỉ là một dạng thử nghiệm về ngôn ngữ hội họa. Tôi chọn trong bộ hơn 100 bức tranh sơn mài thử nghiệm đầu tiên, những bức thể hiện được ý ‘vô định’ để đưa vào triển lãm lần này. Tuy nhiên, mỗi cái đều mang một dáng vẻ khác, nó cũng không đơn thuần là trừu tượng, có cái có hình, có chất cảm khác nhau.  Nhưng có vẻ là ngay khi bắt tay vào làm những bức hình đó thì bạn đã có ý tưởng phóng chiếu nó lên đúng không? Bởi vì các tấm kính bạn làm hầu hết đều ở kích thước rất nhỏ?  Vâng, tại vì ngay từ đầu khi tôi sưu tầm được khoảng mấy chục cái máy chiếu, tôi cũng nghĩ là phải làm sao cho các tấm kính vừa được với kích thước của khe máy chiếu. Tôi chọn ra 12 bức trong hơn 100 tấm kính đã làm từ những năm 2013, 2014. Những bức dùng để chiếu thì cũng không nên vẽ nhiều lớp quá vì nó sẽ không giữ được độ trong. Vì sơn mài khi mà bị mài đi, bạc hay vàng sẽ đen lại và tạo nên độ bóng như thường thấy, nhưng cũng có nghĩa màu sắc đã bị sai lệch. Tôi thấy rằng những cái chiếu được và để xem được hay nhất là những cái có được sự trong suốt của sơn thôi, không có nhiều chất lắm!1  Như vậy, ta có thể tạm gọi đó là một cách thể nghiệm mới với nghệ thuật sơn mài. Đó là việc thay đổi ‘cốt’ của tranh, còn cách vẽ thì hầu như không đổi, và một cách khác để xem hình ảnh của nó. Thay vì người ta xem bức tranh sơn mài được vẽ và mài trên vóc như truyền thống, thì người ta sẽ xem hình ảnh của nó được chiếu thuần túy bằng ánh sáng.  Sự thay đổi không chỉ từ phía người làm sơn mài, mà còn cả từ phía người xem sơn mài. Sử ‘định kiến’ trong cách hiểu và định nghĩa về sơn mài làm chúng ta khó khăn khi nghĩ về một cách hiểu nào đó khác về loại hình này, không phải chỉ như một kiểu tranh đã tồn tại trong truyền thống hay một kiểu đồ thủ công mỹ nghệ.  Hôm nay mọi người nói khá nhiều về new media, như điện ảnh hay kỹ thuật số, nhưng thực sự sơn mài cũng là một kiểu chất liệu mới, khi nó được hình thành trong cùng thời gian lịch sử với sự ra đời của ảnh chụp hay phim. Chính vì vậy tôi muốn thử nghiệm đặt chúng cạnh nhau, tương tác với nhau. Ý tưởng có thể đơn giản coi như một loại hình hội họa cổ điển khả dĩ đặt vào môi trường của phim. Ít nhất thì nó cũng tạo ra một nhận thức mới về sơn mài.  Thế còn về những bức tranh của bạn – từ đây tôi xin phép được gọi những miếng kính được sử dụng trong triển lãm “Ranh giới vô định” của bạn là những bức tranh – thì tính “vô định” của nó có lẽ được thể hiện ở chỗ những mảng màu hòa vào nhau mà không có chủ định rõ ràng?  Về từ infinite – vô định, bất định, vô hạn, người ta thường hiểu theo tư duy của toán học, còn trong đời sống tôi nghĩ infinite cũng chỉ mang tính tương đối thôi. Nó tùy thuộc vào chỗ đứng của mình, khi mình dùng thân thể mình để đo mọi việc. Chẳng hạn như đối với con người, infinite có thể là hiện tượng khi cái tai không nghe được hay con mắt không thấy được, thì bây giờ ta có kính hiển vi hoặc kính viễn vọng thì ta có thể thấy được. Hoặc thông qua những khoa học khác, ta hiểu được thứ không thấy được qua mắt. Vậy thì đối với những hình ảnh quá to hoặc quá nhỏ chẳng hạn, liệu bình thường ta có thể nhìn được nếu thiếu những công cụ như thấu kính phóng đại?  Như vậy “infinite” hay tính vô định ở đây liên quan tới việc con người nhờ có các máy móc, thiết bị mà không ngừng vượt qua các giới hạn nào đó của chính mình, trong trường hợp này là giới hạn của thị giác. Quan trọng hơn, “infinite” có thể được hiểu như quá trình truy tìm bản chất của sơn mài, khi nó chỉ còn là chính nó chứ không phụ thuộc vào “vóc” nữa, qua đó một chất liệu tưởng như vô cùng quen thuộc, nằm trong những giới hạn chúng ta đã biết, nay trở nên “vô định” và hoàn toàn mới mẻ. Ngoài ra thì bạn còn có ý tưởng ẩn chứa nào khác nữa không?  Mỗi bức hình đều có những câu chuyện của nó. Có một thiết bị mà ít người để ý tới trong tác phẩm của tôi, đó là một cái máy mà tôi làm từ một cái ống kính bị hỏng. Tôi thiết kế lại một cái hộp cho nó, cái hộp đó cũng được vẽ bằng sơn ta. Cốt của nó tôi dùng cốt thường và cốt high-tech, giống như chất sợi carbon, sau đó ép lại bằng vật liệu tương tự dùng làm máy bay. Đây cũng là một ý mà tôi rất thích về tác phẩm. Từ xưa, sơn mài có phẩm chất làm mới lại cái cũ, làm quý những thứ rất bình thường. Rất thú vị ở cái ý là mình đi lượm rác, những thứ vô dụng để lắp lại, làm một cái áo mới cho nó bằng sơn mài. Và sau đó, nó trở thành một thứ gì đó vừa là mỹ nghệ, vừa là tượng, vừa là tranh. Đồng thời, khi được sử dụng trong dạng thức này, ta không biết rằng cái tranh chính là tấm kính nhỏ, hay là hình ảnh được phóng chiếu, hay là tấm lụa nền được chiếu lên, hay là do dòng điện và ánh sáng. Có vẻ không có cái gì là sơn mài và tranh sơn mài hết.  Bạn dự định sẽ phát triển tiếp mạch sáng tạo này như thế nào?  Sau nhiều năm làm việc với chất liệu này rồi thì bây giờ tôi mới có thể thấy đủ can đảm để xây dựng cho nó một thứ ngôn ngữ riêng. Từ năm nay tôi bắt đầu thử vẽ lại những hình ảnh theo dạng tranh biểu hiện, thành một cái hình hay thành một cái nghĩa, ngoài hình thức của nó.  Như vậy có thể nói là trong một quá trình làm việc khá dài khoảng 10 năm của Oanh ở cả Tây Ban Nha và Việt Nam thì bạn đều xoay quanh một chất liệu chính là sơn mài, đúng không? Điều gì khiến bạn thấy sơn mài lại trở nên hấp dẫn đến thế?  Đầu tiên, đó đơn giản là cái cớ để tôi trở về Việt Nam, tìm về với văn hóa Việt. Lúc đầu tôi cũng khá là thất vọng vì tưởng chừng cũng làm tương tự như sơn mài Nhật, nhưng sau khi bắt đầu làm, tôi thấy rất thú vị. Nó là một kiểu chủng loại riêng mà càng tiếp cận càng thấy có cái duyên riêng.  Tôi nghĩ rằng chất liệu và quá trình làm tranh sơn mài đưa tới cho người ta rất nhiều hứng thú để thể nghiệm.  Nó còn như là một thứ gì đó rất lạ, vì nhiều điều trong lý thuyết của sơn mài vẫn còn chưa được định hình. Bảo nó là đồ thủ công mỹ nghệ cũng không đúng, mà bảo nó là sơn như sơn dầu thì cũng không đúng. Nó vừa hẹp hơn đồng thời cũng rộng hơn. Với tất cả những cái đặc tính của nó, ngay cả những người làm trong làng nghề sơn mài cũng chưa hiểu hết. Tôi thấy rất thú vị không chỉ bởi quá trình làm, mà nó còn từ cái ý nghĩa vừa rộng, vừa gợi mở của sơn mài.  Vũ Huy Thông thực hiện  ————  1 “bạc hay vàng sẽ đen lại và tạo bóng”: sau khi mài, do nghệ sĩ không dùng lớp sơn bảo vệ (lớp “toát”) nên bạc và vàng sẽ bị ô-xi hóa và trở nên bị đen xỉn đi; “không có nhiều chất khác lắm!”: khi có nhiều “chất” tức là đã sử dụng bạc, vàng dưới nhiều kỹ thuật để tạo hiệu ứng bề mặt, đồng nghĩa với độ trong suốt của hạt màu lơ lửng trong màng sơn bị giảm đi.  Phi Phi Oanh (1979), nghệ sĩ Thị giác và Đa phương tiện người Mỹ gốc Việt, cư trú và làm việc tại Hà Nội. Cô tốt nghiệp bằng Cử nhân Nghệ thuật của Trường Thiết kế Parsons (Parsons School of Design) năm 2002, sau đó lấy bằng Thạc sỹ chuyên ngành Nghệ thuật và Nghiên cứu từ Đại học Complutense tại Madrid (Tây Ban Nha) năm 2012. Năm 2004, Phi Phi Oanh được trao học bổng Fulbright cho quá trình quay về Việt Nam nghiên cứu và học tập về sơn mài truyền thống ở Hà Nội, thứ sau này trở thành chất liệu then chốt xuyên suốt quá trình thực hành nghệ thuật của cô. Sáng tác của Phi Phi Oanh là sự kết hợp sơn mài với các chất liệu mới và áp dụng các công nghệ, để mở rộng năng lực thị giác của sơn mài, không chỉ để soi rọi những đặc tính ẩn khuất trong lịch sử và văn hóa của chất liệu, mà còn nhằm mang đến các cơ hội đối thoại mới cho chất liệu có tính truyền thống bảo thủ này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơn nano từ vỏ trấu: Thêm một công nghệ xanh      “Sử dụng vỏ trấu, vốn là phụ phẩm sau gạo có  vô cùng nhiều tại Việt Nam để nghiên cứu thành nguyên vật liệu chế tạo  sơn nano có các chức năng chống đạn, chống cháy, kháng khuẩn và cả chống  gỉ sét” – đó là chủ đề của buổi hội thảo về công nghệ sơn nano vừa diễn  ra sáng 16/5 tại TP Hồ Chí Minh.    Chủ trì buổi hội thảo, PGS TS hóa học Nguyễn Thị Hòe, Chủ tịch Tập đoàn Sơn Kova đã trình bày các nguyên tắc khoa học của việc phân tích thành phần cấu tạo của vỏ trấu, chia sẻ quy trình mới trong việc tách chiết các thành phần hóa học đặc thù của vỏ trấu để chế tạo các sản phẩm sơn. Điểm đặc biệt là nhóm sản phẩm này, là hàm lượng vỏ trấu trong nguyên liệu làm sơn chiếm từ 20%, có loại lên đến 50%. Đây không chỉ là đầu ra của một phụ phẩm sau gạo còn chưa tận dụng hết của Việt Nam mà còn là giải pháp tiết kiệm nguyên vật liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài.  Cuộc hội thảo với chủ đề “Sơn nano từ vỏ trấu: sơn chống đạn, sơn chống cháy, sơn kháng khuẩn” đã thu hút sự tham gia của hơn 250 đại biểu là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu vật liệu xây dựng, các hãng sản xuất sơn trong và ngoài nước cũng như đại diện các bệnh viện, trường học để tìm hiểu về các giải pháp sơn an toàn cho sức khỏe.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơn thân thiện với môi trường      Với nguồn hỗ trợ gần 430 triệu đồng của Chương trình đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), thời gian qua, Công ty CP sơn Hải Phòng đã tiến hành triển khai dự án “Nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường” do ông Nguyễn Văn Viện – Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty CP sơn Hải Phòng làm trưởng dự án.     Ông Nguyễn Văn Viện cho biết, dự án tiến hành nhằm cải tiến sản phẩm sơn hiện tại của công ty, tạo ra sản phẩm sơn thân thiện với môi trường với 2 nội dung chính là giảm các thành phần hữu cơ bay hơi trong sơn  và thay thế nhằm loại bỏ những nguyên liệu độc hại hiện đang sử dụng như hợp chất của Chì, Crôm (+6) có trong chất làm khô của sơn.     Nghiên cứu tăng hàm rắn cho sơn, thay thế những loại sơn có VOC cao (VOC – Volatile Organic Content – hàm lượng chất hữu cơ bay hơi) bằng sơn có VOC thấp thông qua việc sử dụng các vật liệu mới nhưng vẫn đảm bảo các tính năng của sơn.     Quá trình nghiên cứu, cải tiến sản phẩm được tiến hành theo 3 giai đoạn chính là nghiên cứu tại phòng thí nghiệm, sản xuất thử nghiệm và sản xuất với quy mô lớn để đưa sản phẩm ra thị trường. Dự kiến lượng tiêu thụ của sản phẩm mới này sẽ là 500tấn/năm với sơn lót Epoxy hàm rắn cao và sơn không chứa Chì và Crôm (+6) là 2.000 tấn/năm.    Ông Đỗ Hòa Bình – Phó giám đốc kỹ thuật dự án chia sẻ, để thực hiện dự án, doanh nghiệp đã sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ của IPP trong việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường tại một số nước trong khu vực như: Thái Lan, Malaysia và Singapore, nghiên cứu kết hợp với hãng Voxco Pigment Ấn Độ chuyên sản xuất bột màu để trao đổi và lựa chọn những loại bột màu mới không chứa các kim loại nặng gây hại cho sức khỏe người sử dụng. Ngoài ra còn sử dụng nguồn kinh phí để nghiên cứu xây dựng chiến lược Marketing của công ty cho các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường. Tổ chức các chương trình quảng cáo, hội nghị khách hàng để quảng bá về sản phẩm sơn thân thiện với môi trường ….. Nguồn vốn của doanh nghiệp được sử dụng trong việc nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm sơn thân thiện với môi trường.  Sau một thời gian triển khai, dự án đã mang lại kết quả khả quan, hứa hẹn một hiệu quả không nhỏ về kinh tế.  Nhóm thực hiện dự án đã thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, xây dựng chiến lược Marketing các sản phẩm của tiểu dự án mở rộng. Báo cáo xây dựng chiến lược Marketing cho các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường. Xây dựng tài liệu Marketing cho quảng bá các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường.  Nhóm cũng đã thiết kế xong các bao bì mới cho các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường, sản phẩm sơn không chứa hợp chất của chì và crôm. Tiến hành nhập các mẫu bao bì mới để sử dụng và theo dõi ý kiến phản hồi của khách hàng. Hoàn thành việc xây dựng bộ tài liệu Marketing quảng bá sản phẩm sơn thân thiện với môi trường. Dự án còn tiến hành tổ chức hội nghị khách hàng để quảng bá giới thiệu về sản phẩm sơn thân thiện với môi trường tại Hà Nội. Và tạo điều kiện cho các thành viên tham gia dự án tham dự hội thảo về sơn kết hợp tìm hiểu các xu hướng sử dụng sơn tại các nước trong khu vực: Thailand, Malaysia, Singapore, India. Đặc biệt, dự án tiến hành xúc tiến thương mại để đưa các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường đến với thị trường tại một số nước trong khu vực…  Báo cáo nghiên cứu nhà cung cấp nguyên liệu bột màu không chứa chì và crôm tại Ấn Độ và xu hướng thay thế để phát triển các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường, ông Đỗ Hòa Bình cũng cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sơn vô cơ chịu nhiệt thân thiện với môi trường      Sơn vô cơ chịu nhiệt do các nhà khoa học thuộc khoa Công nghệ Hóa học- Đại học Bách khoa Hà Nội chế tạo có nhiều ưu điểm vượt trội như chịu được nhiệt độ lên đến 900độC; quan trọng hơn nữa, quá trình sản xuất chế tạo không gây ô nhiễm môi trường bởi hầu như ko có khí thải và chất thải rắn.    Hiện nay, thị trường sơn chịu nhiệt nước ta chủ yếu vẫn là loại sơn gốc hữu cơ với khả năng làm việc tối đa là 600oC nên chưa thể đảm bảo bảo vệ cho các thiết bị bằng kim loại khỏi bị ăn mòn khi làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao tại các cơ sở sản xuất công nghiệp. Không những thế, các dung môi hữu cơ dùng cho sơn hiện nay chưa thân thiện với môi trường và dễ cháy nổ.  Trước thực tế đó, hơn 10 năm nghiên cứu, nhóm các nhà khoa học thuộc khoa Công nghệ Hóa học- Đại học Bách khoa Hà Nội đã tập trung nghiên cứu để tổng hợp được một số hệ polymer vô cơ ưa nước, kết hợp với một số oxít kim loại hoạt động, có khả năng tương tác về mặt hoá học với nền kim loại để tạo hợp chất liên bề mặt bền vững, để chế tạo các hệ sơn phủ chịu nhiệt độ cao BKV.  Từ những thử nghiệm ban đầu tại phòng thí nghiệm cho đến nay, khi sản phẩm đã được ứng dụng rộng rãi tại một số nhà máy, công trình cần được bảo vệ thì sản phẩm sơn vô cơ chịu nhiệt có nhiều ưu điểm vượt trội như chịu được nhiệt độ lên đến 900độC, độ bền cơ gấp vài trăm lần so với sơn thông thường bởi nhiệt độ càng càng cao độ cứng của màng sơn càng lớn do lớp màng sơn đã bị thiêu kết trở thành lớp màng phủ ceramic trên nền kim loại; khả năng chịu mài mòn cao và đặc biệt an toàn về cháy nổ, và không độc hại cho môi trường và người sử dụng. Quan trọng hơn nữa là quá trình sản xuất chế tạo không gây ô nhiễm môi trường bởi hầu như ko có khí thải và chất thải rắn.  Với những tính năng trên, sơn vô cơ chịu nhiệt BKV được sử dụng làm sơn phủ bảo vệ bề mặt các chi tiết, thiết bị bằng kim loại như:  Đường ống dẫn khí nóng, khí thải công nghiệp; ống xả xe hơi, xe gắn máy;  các loại lò đốt, lò nung, tủ sấy; các thiết bị nồi hơi, thiết bị chưng luyện, phân tách có dùng nhiệt; động cơ máy phát điện; pép chia lửa và kiềng bếp gas; mái tôn, khung cửa sắt thép khu vực chống nóng các công trình xây dựng; thùng chứa, đường ống dẫn xăng dầu và các dung môi hữu cơ; sơn phủ chống cháy cho các công trình công nghiệp và dân dụng.  Sản phẩm đã đạt được tặng cúp vàng tại hội chợ Techmart Asean + 3 và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế năm 2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sóng âm thanh có thể mang khối lượng      Ngay cả khi phớt lờ Thuyết tương đối tổng quát thì sóng âm thanh vẫn có thể chuyển một lượng nhỏ khối lượng, ít nhất về mặt lý thuyết.      Âm thanh mang khối lượng: một lượng nhỏ khối lượng được chuyển cùng với các sóng âm thanh, theo một lý thuyết mới.  Những sóng âm thanh nguyên thủy mang theo chúng một lượng nhỏ khối lượng khi chúng di chuyển, theo một nghiên cứu lý thuyết. Lý thuyết này giả lập các điều kiện theo quy luật Newton, vì thế hiệu ứng này không liên quan đến thuyết lượng tử hay sự tương đương giữa năng lượng và khối lượng theo thuyết tương đối. Dù không có giải thích rõ ràng nào về mặt vật lý cho các kết quả tính toán về toán học, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng ý tưởng này có thể kiểm chứng trong các thí nghiệm với các hạt nhân siêu lạnh, hoặc có lẽ dùng để quan sát của các trận động đất.      Năm ngoái, nhà vật lý năng lượng cao Alberto Nicolis của trường đại học Columbia tại New York và Riccardo Penco, hiện làm việc tại trường đại học Carnegie Mellon (CMU) ở Pittsburgh, đã sử dụng lý thuyết trường lượng tử để phân tích tính chất cảu sóng âm thanh chuyển động qua heli siêu lỏng. Để to their surprise, họ thấy các sóng này có thể mang theo một lượng nhỏ khối lượng, không chỉ bởi vì công thức nổi tiếng về sự cân bằng năng lượng với khối lượng của Einstein. Cả hai đã tìm thấy, các phonon, các khối cơ bản lượng tử của sóng âm thanh, tương tác với một trường hấp dẫn theo cách đòi hỏi chúng vận chuyển khối lượng khi chúng di chuyển.  Hiện tại Nicolis và hai nhà vật lý lý thuyết khác đã mở rộng việc phân tích để sóng âm thanh chuyển động trong nhiều vật liệu tương tự, như chất lỏng hoặc chất rắn, và tìm thấy rất nhiều kết quả tương tự. Trong vòng 1 giây, sóng âm thanh 1 watt trong nước, thì tổng số khối lượng được chuyên chở có thể là 0,1 milligram. “Đây thực sự là khối lượng hấp dẫn (gravitational mass), thứ mà chúng ta trải nghiệm hàng ngày,” Angelo Esposito – Viện Công nghệ liên bang Thụy Sỹ ở Lausanne (EPFL) và là một thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết. “Thật đơn giản là một phần trong tổng khối lượng của hệ đã được truyền với sóng âm thanh đó, được thay thế từ chỗ này sang chỗ khác.”  Phần lớn các nhà vật lý đều tạm coi sóng âm thanh có thể mang năng lượng nhưng không mang khối lượng, điều đó có nghĩa là chúng có thể không sinh ra bất kỳ trường hấp dẫn nào. Nhóm nghiên cứu cho rằng các phân tích của họ tiết lộ hiệu ứng này bởi nó vượt ra ngoài các mô hình tuyến tính đơn giản hóa sử dụng trong nghiên cứu sóng âm thanh, nơi sự thay thế một vật liệu luôn cân xứng với lực được đưa vào một cách chính xác, ví dụ như vậy. Dẫu cho sự gần đúng này phù hợp với phần lớn các mục tiêu nhưng nó lại để lỡ gần như toàn bộ hiệu ứng khối lượng, Nicolis nói.    Esposito giải thích, các nhà vật lý khác nghiên cứu về sóng âm thanh có thể coi nhẹ hiệu ứng này bởi vì họ hiếm khi nghĩ về các tương tác với lực hấp dẫn. Nhưng ông và các đồng nghiệp là các nhà vật lý năng lượng cao nên “tôi nghĩ điều đó giúp cho chúng tôi có một tư duy khác biệt”.  Tính toán mới này chỉ ra là với sóng âm thanh nguyên thủy trong phần lớn các loại vật liệu, khối lượng được mang là cân bằng với năng lượng của sóng âm thanh được nhân lên bởi một yếu tố là phụ thuộc vào tốc độ âm thanh và mật độ khối lượng của vật liệu. Và khối lượng được sóng âm thanh mang theo thành ra là đại lượng âm. Đây là việc rút khối lượng hơn là tăng thêm khối lượng. Vì vậy sóng âm thanh trong một trường hấp dẫn có thể trôi nổi theo hướng đi lên như bất kỳ vật thể nổi trên mặt nước nào.  Nhưng các tác giả thừa nhận là họ không nghiên cứu để tìm ra sự giải thích đúng về mặt vật lý của dòng khối lượng. Với các chất longe, các tác giải cho biết, hiệu ứng này dường như bao hàm cả những phần nhỏ của các hạt phải di chuyển ngược với chuyển động của sóng âm thanh. Nhưng ý tưởng này dường như ít hợp lý với chất rắn.     “Chúng tôi tin tưởng vào các kết quả này,” Nicolis nói, “bởi vì toán học miêu tả chất rắn và chất lỏng đều tương tự nhau. Nhưng ở thời điểm hiện nay thì việc cố gắng giải thích các kết quả đó tại mức độ vi mô của chất rắn thì còn [nhiều điểm gây] khó hiểu.”  “Đây thật sự là một điều đáng ngạc nhiên”, Ira Rothstein – một nhà vật lý năng lượng của của CMU, nói. “Anh có thể nghĩ rằng các kết quả đó như trong vật lý cổ điển đã hoàn toàn được hiểu rõ. Hy vọng là hiệu ứng này sẽ sớm được đo đạc.”  Ông cũng đề xuất một giải thích có thể về mặt vật lý cho hiệu ứng này trong chất rắn. Một sóng của lực ép đàn hồi có thể chuyển một lượng cực nhỏ khối lượng từng chút một theo một hướng, ít nhất cho đến khi khối lượng đó chạm đến bề mặt phía xa. Hiểu được những gì đang diễn ra tại các bề mặt của chất rắn sẽ là điều thiết yếu để giải thích dòng chảy của khối lượng một cách chính xác, Rothstein nói.  Các nhà nghiên cứu hi vọng là hiệu ứng này có thể được chứng minh sớm. ví dụ, họ ước tính khối lượng do sóng âm thanh mang trong một ngưng tụ Bose-Einstein của các hạt nhân cực lạnh có thể là 1/1000 tổng số khối lượng của hệ gần các giới hạn của các kỹ thuật dò hiện nay. Nhiều trận động đất sinh ra một lượng sóng âm thanh truyền qua lớp vỏ trái đất, và khối lượng liên kết với chúng có thể vào khoảng 100 tỷ kilogram, vốn có thể thể được các thiết bị dò sóng hấp dẫn ghi lại được.  Công trình này đã được xuất bản trên Physical Review Letters.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v12/23    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sông băng tan chảy khiến việc nghiên cứu khí hậu trở nên khó khăn hơn      Các sông băng cung cấp rất nhiều thông tin về tình hình khí hậu trên thế giới. Nhưng khi chúng tan chảy, dữ liệu mà chúng cung cấp sẽ kém chất lượng hơn – và đẩy các nhà khoa học vào tình thế nguy hiểm khi đi thực địa.      Ảnh: Paul Souders / Getty Images   Vào năm tới, một điểm thu thập dữ liệu trên sông băng Wolverine Glacier ở miền nam Alaska của Hoa Kỳ sẽ biến mất do băng tan chảy. Địa điểm, gần phần cuối của sông băng — có một cọc cân bằng mà Christopher McNeil, nhà địa vật lý của Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, sử dụng để đo tốc độ tích tụ hoặc tan chảy của sông băng.  Băng và tuyết là những công cụ cực kỳ quan trọng để nghiên cứu về môi trường tự nhiên của chúng ta. Những lõi băng từ các cực và từ các sông băng trên khắp thế giới, được lưu trữ tại Cơ sở Lõi Băng của Quỹ Khoa học Quốc gia ở Denver, cho chúng ta thấy mọi thứ – từ khi các sự kiện núi lửa xảy ra cho đến việc hàng triệu năm trước có bao nhiêu carbon dioxide và methane trong khí quyển.  Các nhà nghiên cứu còn dựa vào tuyết để tìm hiểu lượng độc tố hoặc ô nhiễm trong môi trường của chúng ta hiện tại. “Tuyết là một phương tiện thực sự tuyệt vời để nghiên cứu”, Aleksandra Karapetrova, một sinh viên tốt nghiệp chương trình độc chất học môi trường tại Đại học California, Riverside, cho biết. Cô phụ trách công việc đo lượng vi nhựa rơi ra khỏi bầu khí quyển.  Nhưng trong bối cảnh lượng tuyết rơi ngày càng giảm và các sông băng tan chảy vì biến đổi khí hậu, các nhà nghiên cứu đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận các công cụ nghiên cứu yêu thích của họ. Họ đang phải điều chỉnh các quy chuẩn, các biện pháp an toàn và các mô hình khoa học để phù hợp vớii những điều kiện thay đổi. Dữ liệu khó thu thập hơn, đồng thời kém nhất quán, khiến việc nghiên cứu và hiểu về thế giới tự nhiên càng trở nên khó khăn hơn.  Một thập kỷ trước, các nhà khoa học thực hiện các phép đo trên sông băng chỉ cần những kỹ năng leo núi cơ bản, như trượt tuyết và sử dụng giày chống trượt. Nhưng khi nhiệt độ ấm lên khiến miệng các khe núi mở rộng ra và cầu tuyết trở nên mỏng hơn, giờ đây họ cần phải có thêm nhiều kinh nghiệm và rành rẽ kỹ thuật leo núi. “Việc đi lại trên sông băng không chỉ khó khăn hơn mà còn nguy hiểm hơn”, McNeil chia sẻ.  Nhóm nghiên cứu của anh ấy dành nhiều thời gian hơn để leo núi nối dây trên sông băng – một người sẽ được buộc dây với những người khác để đảm bảo an toàn khi vượt qua các địa hình hiểm trở. Nếu ai đó bị trượt chân trên dốc hoặc hụt chân xuống hố, những người khác trong đội sẽ níu giữ lại và trở thành chiếc neo để ngăn người kia rơi xuống. Điều này khiến việc di chuyển trên sông băng chậm hơn nhiều. Và khi một cây cầu tuyết bắc qua lối mòn trở nên mỏng đến mức không thể đi qua, thì các nhà nghiên cứu lại tốn thời gian hòng tìm kiếm một con đường khác để đến địa điểm thu thập dữ liệu.  Các địa điểm như vậy nằm trên khắp các sông băng và thường được đánh dấu bằng cọc cân bằng. Những chiếc cọc kim loại này — với các vạch đo — được cắm ở độ sâu đã biết trên sông băng. Sau đó, các nhà khoa học sẽ đến kiểm tra mức vạch nhiều lần trong năm để đo lượng băng đã tích tụ hoặc mất đi tại những điểm này. Nhưng khi băng tuyết tan chảy, việc tiếp cận các cọc có thể trở nên bất khả thi.  “Rất nhiều lần chúng tôi đi đến một cây cọc, chúng tôi có thể nhìn thấy nó, nhưng có một khe nứt rộng từ 10 đến 20 feet ngăn chúng tôi đến gần hơn”, Ben Pelto, nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học British Columbia, cho biết. “Chúng tôi không có cách nào tiếp cận cái cọc. Việc này ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của mọi người.  Các nhà nghiên cứu làm việc ngay trên đường băng tuyết (snowline – điểm mà trên đó tuyết và băng phủ quanh năm) trên núi còn phải đối diện với nhiều rủi ro hơn. Đối với Karapetrova, sự thay đổi lớn về nhiệt độ có thể dẫn đến đá rơi hoặc tuyết lở, khiến việc di chuyển trên những ngọn núi gần Hồ June ở California, để thu thập mẫu tuyết trở nên cực kỳ nguy hiểm.  Các nhà nghiên cứu đều đề cập đến việc họ phải dời mùa lấy mẫu lên sớm hơn hoặc phải làm việc nhanh hơn trong ít tháng hơn vì mùa hè sẽ dài hơn và ấm hơn. Công việc thu thập mẫu của Karapetrova đã bị giới hạn trong tháng 6 và tháng 7, trong khi trước đây các nhà khoa học có thể thu thập vào tháng 8. Jason Geck, một phó giáo sư tại Đại học Thái Bình Dương Alaska chuyên nghiên cứu về băng hà, thường đưa sinh viên đi thu thập các mẫu trên sông băng Eklutna gần Anchorage vào tháng 5 hằng năm — nhưng anh ấy đã phải chuyển chuyến đi năm nay sang tháng 4 vì quá trình tan chảy diễn ra sớm hơn dự định.  “Thật tuyệt khi có thể đưa một số sinh viên đến sông băng trong hai hoặc ba tuần để các em thu nhặt được kinh nghiệm thực tế”, anh bày tỏ. “Bây giờ thì chuyến đi bị rút ngắn lại thành một ngày. Nhìn từ góc độ giáo dục, thật tiếc cho các em ấy”. Geck đã sử dụng máy bay trực thăng để di chuyển thay vì đi bộ đường dài hoặc trượt tuyết, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và sự an toàn cho sinh viên – tuy nhiên việc này sẽ tác động tiêu cực đến khí hậu.  Tính nhất quán của dữ liệu  Khi các nhà khoa học khó tiếp cận các địa điểm trên núi cao và sông băng, điều khiến họ lo lắng nhất là khó đảm bảo được tính nhất quán của dữ liệu. Chỉ cần dịch chuyển các địa điểm thu thập dữ liệu vài trăm mét hoặc từ mặt này của sông băng sang mặt khác của sông băng thôi cũng có thể tạo ra sự khác biệt. Một số khu vực của sông băng có nhiều bóng râm hơn, dốc hơn hoặc nhiều gió hơn, điều này làm thay đổi tốc độ tuyết tích tụ và băng tan.  Tổn thất dữ liệu ngày càng lớn. Một trạm thời tiết trên sông băng Gulkana ở phía Đông dãy Alaska, nơi đã tham gia thu thập dữ liệu thời tiết từ những năm 1960, sẽ ngừng hoạt động trong ba năm tới. Khi sông băng tan dần, việc tiếp cận trạm trở nên quá khó khăn và nguy hiểm. Các nhà khoa học sẽ lắp đặt một trạm thời tiết mới cách sông băng vài dặm, song rất khó để có thể thay thế những giá trị mà trạm cũ mang lại. “Bất kỳ dữ liệu dài hạn nào cũng đều có giá trị”, Geck nói.  Nỗi sợ lớn nhất của anh ấy là một ngày nào đó anh ấy sẽ thấy chiếc cọc cân bằng nằm nghiêng vì tuyết đã tan quá nhiều, khiến nó không thể đứng thẳng được. “Thật đáng sợ khi bạn nhìn thấy chiếc cọc nằm trên mặt đất”, Geck ước tính mỗi khi một chiếc cọc đổ xuống, đồng nghĩa với khoảng 1.000 USD giá trị lao động, thiết bị và kiến thức tan vào hư không. Anh ấy đã bắt đầu đặt máy quay tua nhanh thời gian để theo dõi tình hình, nếu chúng đổ xuống, anh ấy có thể áng chừng được thời gian và vẫn trích xuất được một số thông tin.  Theo McNeil, dữ liệu nhất quán trong thời gian dài là yếu tố cần thiết nếu muốn thực hiện một nghiên cứu chính xác và thuyết phục. Việc phải liên tục thay đổi địa điểm thu thập đồng nghĩa với quá trình hiệu chỉnh hồ sơ và tốn thêm nhiều thời gian để đưa ra kết luận hợp lý. “Nó khiến dữ liệu của bạn kém chất lượng hơn một chút”. Các mô hình mà các nhà khoa học tạo ra để hiểu điều gì đang xảy ra trên toàn bộ hệ thống — cho dù đó là sông băng, núi, băng tuyết hay khí quyển — đang dần trở nên lỗi thời do khí hậu thay đổi, dẫn đến mất dữ liệu.  Trên các sông băng, Pelto và nhóm của ông đang thực hiện các cuộc khảo sát thường kỳ để điều chỉnh các phép đo băng trên thực địa. Quá trình thu thập dữ liệu của họ diễn ra trên các phần bằng phẳng, an toàn của sông băng. Nhưng phần lớn sông băng giờ đây bị bao phủ bởi các khe nứt, nhiều đoạn băng bắt đầu tan chảy. Do đó, các mô hình mà Pelto sử dụng cần được cập nhật dữ liệu thường xuyên để đảm bảo tính chính xác.  “Khi xây dựng mô hình, các nhà khoa học phải tính đến việc khí hậu đang thay đổi”, Karapetrova cho biết. “Nó khiến câu chuyện mà bạn đang muốn truyền tải trở nên phức tạp hơn, và khiến công việc dự báo tương lai sẽ càng thêm phần khó khăn hơn”.          Trong bối cảnh các nhà khoa học tại sông băng đang chật vật trước biến đổi khí hậu, thì công việc của các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khảo cổ học băng hà lại có phần thuận lợi hơn.  Khoảng 10% diện tích đất của hành tinh được bao phủ bởi băng giá, và khi băng tan, các sinh vật cổ đại cũng hiện ra. Ở miền nam Chile, các nhà khoa học phát hiện hàng chục bộ xương gần như hoàn chỉnh của loài Thằn lằn cá (Ichthyosaur) gần sông băng Tyndall. Bên cạnh đó, còn có các loài bò sát biển sống giữa kỷ Tam Điệp và kỷ Phấn Trắng, kéo dài từ 66 triệu đến 250 triệu năm trước. Một phát hiện khảo cổ đáng chú ý ở Yakutia – nước cộng hòa ở đông bắc Siberia, là xác của voi ma mút lông xoăn, tê giác lông xoăn, bò rừng thảo nguyên và sư tử hang động. Những con thú đã tuyệt chủng này nằm lơ lửng trong những tảng băng suốt ít nhất chín thiên niên kỷ.  Đối với các nhà khảo cổ học băng hà, thật trớ trêu khi lĩnh vực nghiên cứu của họ là một trong số ít những lĩnh vực hưởng lợi từ biến đổi khí hậu. Tuy vậy, nếu băng và tuyết tan quá nhanh, chúng cũng dễ bị phân huỷ khi tiếp xúc với yếu tố môi trường.          Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:  It’s Hard to Do Climate Research When Your Glacier Is Melting  The US Mountain West Could Soon Face Snowless Winters    Author                .        
__label__tiasang Sóng nhiệt gây xáo trộn giấc ngủ của chúng ta      Nhiệt độ ban đêm cao hơn không chỉ khiến bạn thao thức mà còn có thể làm gián đoạn chu kỳ ngủ, khiến chúng ta uể oải, lờ đờ vào sáng hôm sau    Một nghiên cứu mô hình hóa khí hậu được công bố vào hai năm trước cho thấy có khả năng nhiệt độ ở Vương quốc Anh sẽ vượt qua ngưỡng 40ºC trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên nhiệt độ kỷ lục 40,3ºC đã xuất hiện ngay năm nay, chỉ hai năm sau khi nghiên cứu được công bố. Ảnh: Hurriyetdailynews  Mùa hè đến thường kéo theo những buổi tối nóng nực, khó chịu. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, nếu nhiệt độ ban đêm vẫn trên 20ºC, mọi người thường cảm thấy bồn chồn. Chúng ta thao thức trên giường hàng giờ liền, không tài nào đi vào giấc ngủ được, để rồi cảm thấy uể oải vào ngày hôm sau.  Việc này chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa giấc ngủ và quá trình điều hoà nhiệt độ của cơ thể. Nhiệt độ bên trong cơ thể chúng ta thường ở mức khoảng 37ºC, song nó sẽ giảm một chút vào ban đêm để chúng ta dễ ngủ hơn. Khoảng 1 độ nhiệt được phân phối từ trung tâm cơ thể đến bàn tay và bàn chân – nhờ diện tích bề mặt lớn và các mạch máu chuyên biệt nên lượng nhiệt này dễ dàng tản ra. Khi trời tối, hormone melatonin từ tuyến tùng trong não tiết ra và đóng vai trò như một bộ đếm thời gian cho đồng hồ sinh học bên trong cơ thể. Nó mở rộng các mạch máu ở bàn tay và bàn chân, giúp cơ thể tự thoát nhiệt nhanh hơn và giúp chúng ta rơi vào cơn buồn ngủ.  Cơ chế trên sẽ hoạt động như thường lệ nếu nhiệt độ môi trường xung quanh không khiến mọi thứ rối tung lên. Những đợt nắng nóng chưa từng có đã thiêu đốt nhiều nơi trên thế giới trong những tuần gần đây, từ London đến Thượng Hải. Hồi tháng 6, Tokyo hứng chịu chín ngày liên tục trên 35ºC, đợt nắng nóng gay gắt nhất kể từ khi nước này bắt đầu có dữ liệu về nhiệt độ vào năm 1870. Giữa tháng 7, nhiệt độ ở Vương quốc Anh lần đầu tiên lên hơn 40ºC. Các đám cháy rừng đã tàn phá nhiều vùng của Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Đức. Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều đợt nắng nóng trên diện rộng, trong đó có đợt nóng xảy ra ở hơn 400 thành phố.  Các nhà khoa học khí hậu từ lâu đã cảnh báo, các đợt nắng nóng sẽ xuất hiện thường xuyên hơn và với nhiệt độ cao hơn khi toàn cầu ấm lên. Nhưng tương lai đã đến nhanh hơn những gì họ lo ngại. Những đợt sóng nhiệt (hay một đợt nhiệt độ cao bất thường kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần) ngày càng mạnh hơn, có sức công phá dữ dội và vượt xa dự tính của các mô hình khí hậu.  Điều này thực sự nguy hiểm. Nhiệt độ phòng ngủ lý tưởng dành cho người lớn là khoảng từ 15 đến 19ºC (59 và 66ºF), tùy thuộc vào từng người, và cơ thể phải hoạt động nhiều hơn để điều chỉnh nhiệt độ của ban thân khi căn phòng không đạt được mức nhiệt này. Và nếu nhiệt độ phòng không giảm đủ sau một ngày nắng nóng thì khả năng điều hòa thân nhiệt của chúng ta sẽ bị suy giảm. Sau đó, thời tiết nóng nực không chỉ khiến chúng ta khó đi vào giấc ngủ mà còn có thể làm gián đoạn giữa chừng giấc ngủ của chúng ta.  Bộ não của chúng ta hoạt động theo một chu kỳ gồm bốn giai đoạn của giấc ngủ – ru ngủ, ngủ nông, ngủ sâu và chuyển động mắt nhanh (REM) – trung bình là 90 phút, chu kỳ này lặp lại từ bốn đến sáu lần mỗi đêm.  Giấc ngủ sâu đặc biệt quan trọng. Trong giai đoạn này, nhịp thở và hoạt động của não chậm lại, não dùng thời gian này để hình thành và củng cố ký ức . Đây cũng là giai đoạn ngủ khiến chúng ta cảm thấy sảng khoái. Thật không may, giai đoạn ngủ này đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ.  “Nhiệt độ mát hơn sẽ hỗ trợ giấc ngủ sâu. Vì vậy, khi khả năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể của chúng ta bị suy giảm vì quá nóng, điều này dẫn đến việc chúng ta không thể đi vào giai đoạn ngủ sâu”, Christine Blume, một nhà khoa học về giấc ngủ tại Đại học Basel, Thụy Sĩ, giải thích. “Và nếu không thể bước vào giấc ngủ sâu, thì cơ thể chúng ta sẽ không được nghỉ ngơi.”  Ngủ trong phòng nóng cũng có thể gây gián đoạn giai đoạn thứ tư của giấc ngủ. Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy nhiệt độ phòng ngủ cao hơn sẽ khiến thời gian ngủ REM ngắn hơn. Khi giấc ngủ REM bị gián đoạn, chu kỳ ngủ phải bắt đầu lại. Giới khoa học hiện vẫn đang tranh luận về vai trò chính xác của giấc ngủ REM, nhưng có giả thuyết cho rằng nó đóng một vai trò trong việc hình thành trí nhớ, khả năng học các kỹ năng vận động mới và điều chỉnh cảm xúc.  Theo Michelle Miller, phó giáo sư y học sinh hóa tại Đại học Warwick, thiếu ngủ trong vài ngày có thể ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của bạn và khiến bạn cáu kỉnh, tức giận. “Trong một đợt nắng nóng, tôi sẽ lo lắng hơn về những tác động ngắn hạn, chẳng hạn như chức năng nhận thức, suy giảm hiệu suất và khả năng phán đoán, cũng như thay đổi tâm trạng. Những người dự định lái xe hoặc những người làm việc trong những công việc có áp lực cao mà chức năng nhận thức đóng vai trò quan trọng – chẳng hạn như cảnh sát, người cung cấp dịch vụ y tế, tài chính hoặc những nghề liên quan đến vận hành máy móc – nên đặc biệt lưu ý về những tác động này, cô ấy nói thêm.  Tối thiểu bảy tiếng đồng hồ mỗi đêm là tiêu chuẩn giấc ngủ cho người lớn. Nếu ít hơn, chúng ta dễ mắc các bệnh lý về tim mạch, béo phì và tiểu đường tuýp 2 v.v.. “Mọi người thường thức khuya, thiếu ngủ vào các ngày trong tuần, sau đó tự nhủ sẽ ngủ bù vào cuối tuần, nhưng bạn sẽ không bao giờ có thể lấp đầy được những lợi ích mà việc ngủ đúng cách trong suốt cả tuần mang lại.”  Giấc ngủ bị gián đoạn  Nóng nực khiến mất ngủ vào ban đêm không phải là một vấn đề mới. Một nghiên cứu được công bố gần đây ước tính rằng vào năm 2010, mỗi người trên toàn cầu đã mất trung bình 44 giờ ngủ mỗi năm vì sự nóng nực trong đêm.  Khi nhiệt độ không khí tiếp tục tăng, mọi người có thể thao thức nhiều hơn nữa. Cũng trong nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đã theo dõi dữ liệu từ vòng đeo tay theo dõi giấc ngủ của hơn 47.000 người ở 68 quốc gia với dữ liệu khí tượng địa phương, họ đưa ra dự đoán rằng mọi người có thể mất ngủ 50 giờ mỗi năm vào cuối thế kỷ này.  Các nhà nghiên cứu cũng xem xét giấc ngủ của người dân khu vực nào bị gián đoạn nhiều nhất. Kelton Minor, một nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trung tâm Khoa học Dữ liệu Xã hội của Đại học Copenhagen và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết và dự đoán rằng những người đã sống ở vùng khí hậu ấm áp sẽ thích nghi tốt hơn với sự gia tăng nhiệt độ vào ban đêm”. “Song những gì chúng tôi phát hiện lại hoàn toàn ngược lại.” Theo phân tích, dựa trên dữ liệu từ năm 2015 đến năm 2017, việc tăng 1 độ vào ban đêm dường như ảnh hưởng đến người dân của những vùng có khí hậu ấm áp nhiều hơn gấp đôi so với người dân của những vùng lạnh giá.  Họ cũng phát hiện ra rằng phụ nữ, người già và người dân ở các nước có thu nhập thấp dễ bị mất ngủ vào tiết trời nóng hơn. Mặc dù thiết kế nghiên cứu không cho phép các nhà khoa học suy luận lý do tại sao lại như vậy, nhưng họ vẫn đưa ra một số phỏng đoán dựa trên nghiên cứu hiện có: Cơ thể phụ nữ thường hạ nhiệt sớm vào buổi tối hơn nam giới, vì vậy phụ nữ sẽ cảm thấy nóng hơn, nhiệt độ gián đoạn giấc ngủ nhiều hơn khi họ bắt đầu chợp mắt. Phụ nữ cũng có lượng mỡ dưới da cao hơn, điều này có thể làm chậm quá trình làm mát vào ban đêm, khiến việc kiểm soát nhiệt độ cơ thể trong các đợt nắng nóng trở nên khó khăn hơn. Và khi ta già đi, cơ thể tiết ra ít melatonin hơn, điều này có thể giải thích tại sao người già khó điều chỉnh nhiệt độ cơ thể hơn người trẻ khi trời quá nóng.    Người dân ngủ trên các mái nhà ở New Delhi để thoát khỏi cái nóng trong những ngôi nhà bê tông của họ. Ảnh: Almendron  Quạt và máy điều hoà có thể làm mát phòng ngủ, khiến nhiệt độ trong cơ thể hạ xuống; nhưng ở các nước có thu nhập thấp, hầu hết người dân không có tiền để mua những thiết bị này. Nhà nghiên cứu về giấc ngủ Blume cho rằng mọi người có thể áp dụng nhiều cách khác nhau để ngủ đủ giấc vào ban đêm nóng nực. “Ngay cả những việc đơn giản như ngủ với một chiếc khăn mỏng thay vì chăn, hoặc ngâm chân vào nước lạnh trước khi đi ngủ đều hữu ích – từ góc độ sinh lý học giấc ngủ, miễn là nước không quá lạnh, vì nếu quá lạnh thì cơ thể sẽ bắt đầu bù đắp bằng cách tạo ra nhiệt”, cô phân tích.  Bên cạnh đó, bạn có thể tắt các thiết bị điện tử (toả nhiệt) đi, đóng rèm và cửa sổ vào ban ngày và uống đủ nước. “Hãy cứ thử để xem cách nào hiệu quả với bạn”, Blume cho biết.  Chúng ta cần phải tìm ra những giải pháp phù hợp, nhất là khi đợt nắng nóng vào tháng 7 vừa qua ở Vương quốc Anh không quá nghiêm trọng nhưng nó vẫn đi vào lịch sử với tư cách là sự kiện khiến một quốc gia nhận thức được sự nguy hiểm của nắng nóng bất thường. Vào ngày 18 và 19/7, nhiều vùng trên toàn nước Anh đã thiết lập các kỷ lục nhiệt độ mới, cao hơn 3 hoặc 4ºC so với kỷ lục trước đây. Ước tính hàng trăm người đã thiệt mạng.  Các nhà khoa học phần nào dự đoán trước điều này. Một nghiên cứu mô hình hóa khí hậu công bố hai năm trước cho thấy có khả năng nhiệt độ ở Vương quốc Anh sẽ vượt qua ngưỡng 40ºC trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên nhiệt độ kỷ lục 40,3ºC đã xuất hiện ngay năm nay, chỉ hai năm sau khi nghiên cứu công bố.  Không chỉ châu Âu, tại Ấn Độ, nhiệt độ tháng 3/2022 có những lúc lên đến 44ºC, cao nhất từng ghi nhận được trong 122 năm trở lại đây và cao hơn trung bình cùng kỳ các năm trước từ 3 đến 8ºC. Pakistan báo cáo nhiệt độ vượt quá 49ºC ở một số khu vực. Đặc biệt, nắng nóng đi kèm với lượng mưa giảm: lượng mưa ở Pakistan giảm 62% so với mức trung bình của tháng 3 và ở Ấn Độ giảm 71%. Tuy việc thiếu mưa làm tăng sức tỏa nhiệt của mặt đất, nhưng cũng làm giảm độ ẩm của sóng nhiệt và do đó giảm tác động đến sức khỏe.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:   How Heat Waves Are Messing Up Your Sleep  Extreme heatwaves: surprising lessons from the record warmth    Author                .        
__label__tiasang Sống riêng với lũ: mần ăn nên tính lời lỗ      Mùa nước nổi 2011 ở châu thổ Cửu Long, ngoài tin vui đón lũ sau 10 năm vắng bóng như một người quen trở về thì cũng có nhiều tin thiệt hại về lúa vụ ba, ngập, sạt lở…      Người quen trở về   Mùa nước nổi ở vùng châu thổ này đã có từ ngàn đời theo chu kỳ hằng năm; lũ mang phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho ruộng vườn và còn mang bao cá tôm về nuôi sống con người. Mùa nước nổi như một người quen mười năm đi vắng, nay đã quay về.  Mực nước năm nay, cho đến đầu tháng 10-2011, vẫn chưa bằng đỉnh lũ năm 2000 và cũng chưa có gì có thể gọi là “đặc biệt lớn” so với 85 năm số liệu mực nước ở Tân Châu và Châu Đốc kể từ năm 1926, mà chỉ là lớn hơn trung bình nhiều năm. Người dân ở vùng lũ, kể cả ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, đều cảm nhận rằng mực nước lúc này còn kém đỉnh lũ năm 2000 khoảng 2 tấc (20cm).   Vậy mà sao lại có nhiều tin tức về thiệt hại đến vậy? Tiện nhất là cứ đổ hết cho biến đổi khí hậu, do “thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp”. Thật ra, còn có nguyên nhân quan trọng nữa là do canh tác lúa và hoa màu vụ ba trong mùa lũ và do các đê bao chống lũ triệt để đã gây nên những thiệt hại này.  Cảnh tượng vùng lũ năm nay  Hình ảnh tiêu biểu chúng tôi vừa ghi nhận được của những vùng canh tác lúa ba vụ có đê bao triệt để là một bên thì mực nước mấp mé bờ còn bên kia đê bao là cánh đồng lúa xanh không nước ngập. Chênh lệch mực nước trong và ngoài đê khoảng 2,5-3 m. Ở những nơi đê yếu (đê đắp ngang lòng kênh mương cũ) thì đê bị vỡ và ở đó, không khí cứu đê tỏ ra khẩn trương, rộn rịp. Một vài đoạn đê khác có nước rò rỉ qua chân đê thì có máy xúc tới đóng cọc tràm để gia cố. Những đoạn sạt lở làm gián đoạn giao thông. Còn thì bao nhiêu hoạt động của cuộc sống hằng ngày của bà con vẫn diễn ra khá bình thản.    Ở những vùng không có đê bao thì mênh mông đồng nước. Chỗ nào có đường đi và đê làm cản phần lớn dòng chảy, nước ở đó chảy xiết, nhất là ở những chân cầu chỗ đầu kênh. Những căn nhà nào cất theo kiểu truyền thống của cư dân vùng lũ, tức là loại nhà “cao cẳng”, thì không bị ngập, còn những ngôi nhà bị ngập là những ngôi nhà mới cất sau năm 2000 không “cao cẳng”. Nhưng ở những nơi này, cũng không có cảnh “hoảng loạn trong cơn lũ” như là hình dung và lo lắng của người ở xa đang theo dõi tin tức báo đài.  Thiệt hại và cảnh báo      Ở những vùng đê vỡ, nhiều diện tích lúa và thủy sản nuôi không cứu kịp bị dìm trong nước gây ra thiệt hại lớn. Tuy nhiên, có lẽ thiệt hại của mùa lũ năm nay còn bao gồm những thiệt hại và chi phí khó thấy hơn và nằm ở những nơi xa hơn. Những chi phí mà xã hội phải bỏ ra bao gồm nhân lực đến vài ngàn người, được huy động để cứu đê, bơm nước cứu lúa vụ ba. Bộ máy chính quyền được huy động ngày đêm vất vả để chỉ đạo, điều hành công tác chống lũ và những công việc vận hành xã hội bình thường bị hoãn lại. Nhà nước phải chi ra những khoản kinh phí lớn từ ngân sách để phục vụ cho việc cứu đê, cứu lúa. Cây cối, bao cát, xà lan, máy xúc, máy bơm… cũng được huy động tối đa để cứu đê.          Bà Trần Thị Nở  ở Tân Hồng, Đồng Tháp với hơn 5 kí cá trạch đánh được ngoài đồng nước vào trưa ngày 1-10 (mỗi kí 50.000 đồng). Ảnh Huỳnh Kim          Đến vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long xuyên trong mùa lũ năm nay và thấy nhiều khu vực bao đê khép kín, từ chối nhận nước sông Mekong hoàn toàn vào mùa này, ta có thể giật mình khi nghĩ rằng cũng may là diện tích bao đê khép kín chưa kịp phủ hết hai vùng đất trũng rộng lớn này. Theo quy luật tự nhiên thì hằng năm, hai vùng này phải ngập sâu vào mùa lũ để tạm chứa nước và sau đó bổ sung nước cho hạ lưu trong mùa khô. Ta cũng chợt giật mình là nếu mùa lũ năm nay không về mà tiếp tục vắng bóng trong mươi, mười lăm năm nữa mới quay trở lại khi nó đã bị quên hẳn và khi hệ thống canh tác và hệ thống xã hội đã phát triển mà không hề đếm xỉa gì đến mùa lũ hằng năm, thì chuyện gì sẽ xảy ra. Vì vậy, mặc dù có những thiệt hại, nhưng mùa lũ năm nay cũng có thể được xem là một lời nhắc nhở của mùa nước nổi rằng theo quy luật, mùa nước nổi vẫn sẽ về và canh tác lúa trong mùa lũ là việc đầu tư rủi ro cao.  Có thể thấy khá dễ dàng rằng nếu không có canh tác lúa vào mùa này thì có lẽ mùa nước nổi năm nay cũng đã là một mùa nước nổi khá bình thường, lại mang về một lớp phù sa mới, rửa sạch ruộng đồng cho mùa sau, và mang về nhiều cá tôm.        Mần ăn cần tính lời lỗ  Một câu hỏi kinh tế đặt ra là nên chống lũ triệt để, tức là chống một quá trình tự nhiên, để tối đa hóa sản lượng lúa bằng cách bao đê và canh tác vụ ba hay nên tối ưu hóa lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường bằng cách khác. Tối ưu hóa có nghĩa là xem xét tất cả chi phí và lợi ích toàn cục đối với toàn vùng ĐBSCL như là một tổng thể, cũng tức là lợi ích quốc gia. Vì vậy cần phải giải bài toán chi phí – lợi ích của việc canh tác lúa vụ ba trong mùa lũ để xem giữa tổng lợi ích và tổng chi phí thì cái nào lớn hơn.  Lợi ích chủ yếu của phương án canh tác lúa vụ ba trong mùa lũ là thu nhập từ lúa và lợi ích tạo công việc làm. Còn lý do tăng vụ an vì ninh lương thực quốc gia đối với một quốc gia xuất khẩu lúa gạo hàng thứ hai trên thế giới thì có lẽ không thuyết phục.  Nếu xét tất cả chi phí cho xã hội, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp, kể cả chi phí tại chỗ và chi phí ở những nơi khác ở ĐBSCL thì có một danh sách dài những chi phí tiềm năng bao gồm: Chi phí đầu tư đắt đỏ để xây dựng và duy tu đê; chi phí nhân lực, tài lực, vật lực cứu đê, cứu lúa; thiệt hại của những diện tích không cứu kịp; đất và con người không được nghỉ ngơi để hồi sức; phù sa không vào đồng được, mất nguồn dinh dưỡng tự nhiên, sau một thời gian đất sẽ bị kiệt dinh dưỡng và chi phí sản xuất sẽ tăng lên; giảm diện tích nhận nước vào đồng, làm cho nước chảy xiết hơn trong kênh mương, dẫn đến sạt lở, và tăng ngập ở những nơi khác, kể cả những thành phố, làng mạc ở phía hạ lưu; chi phí chống sạt lở và các biện pháp bảo đảm an toàn tài sản, tính mạng con người; tăng chi phí nạo vét cửa sông Mekong phục vụ giao thông thủy vì phù sa thay vì bồi lắng trên đồng thì bị trôi xuống vùng cửa sông; mất nguồn cá và tài nguyên thiên nhiên, sinh kế mùa lũ; nước thoát ra biển nhanh hơn trong mùa lũ gây xâm nhập mặn sâu hơn trong mùa khô.  Để giải bài toán chi phí – lợi ích này, cần phải có những nghiên cứu để định lượng những rủi ro chi phí nói trên và dựa vào đó, các nhà kinh tế môi trường giải bài toán chi phí – lợi ích để so sánh giữa phương án canh tác lúa vụ 3 trong mùa lũ dựa vào đê bao khép kín và các phương án khác như không có đê, hay phương án đê lửng (còn gọi là đê tháng tám).   Dựa vào kết quả bài toán này, các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định và lựa chọn phương án để sống với mùa lũ hằng năm: chống lũ hay sống chung với lũ. Nhà hoạch định chính sách cần phải đứng ở tầm nhìn cao hơn tầm nhìn cục bộ địa phương của một tỉnh hay một huyện, hay của một nhóm lợi ích (ví dụ lợi ích của việc có công trình đê để thi công).  Nếu kết quả là chống lũ để canh tác vụ ba mang lại tổng lợi ích lớn hơn tổng chi phí (kể cả trực tiếp và gián tiếp; kể cả tài chính, môi trường, xã hội; kể cả chi phí ở tất cả các địa phương) thì nhà hoạch định có thể khẳng định chủ trương chống lũ triệt để là ưu việt hơn. Còn nếu kết quả cho thấy chính bao đê khép kín gây ra các chi phí nói trên và tổng lợi ích là nhỏ hơn tổng chi phí thì không nên tiếp tục dùng đê bao khép kín để canh tác vụ ba.  Một chương trình nghiên cứu để giải bài toán này không mấy tốn kém, có thể thực hiện bằng các mô hình thủy lực, thủy văn, địa chất, và sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề.  Hay nói mộc mạc dễ hiểu như cách nói của người dân ĐBSCL là “Mần ăn nên tính lời lỗ!”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sóng siêu âm diệt tế bào chọn lọc: Cách điều trị ung thư đột phá?      Một kỹ thuật mới có thể đưa ra một cách tiếp cận trúng đích để chiến đấu với bệnh ung thư: những luồng xung sóng siêu âm cường độ thấp đã cho thấy khả năng diệt các tế bào ung thư một cách có chọn lọc mà không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh.      Một bức miêu tả các sóng siêu âm phá hủy một tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến tế bào khỏe mạnh. Nguồn: California Institute of Technology  Các sóng siêu âm – những sóng âm thanh với những tần số cao hơn tần số con người có thể nghe được – đã được sử dụng như một cách điều trị ung thư trước đây, mặc dù trong một cách tiếp cận trên diện rộng: các chớp sáng cường độ cao của sóng siêu âm có thể gia nhiệt cho các mô, diệt cả tế bào ung thư và tế bào lành trong một vùng đã định trước. Hiện tại các nhà khoa học và kỹ sư đang khám phá việc sử dụng các sóng siêu âm xung cường độ thấp (LIPUS) để có thể tạo ra một cách điều trị có khả năng chọn lọc tế bào hơn.  Nghiên cứu “Selective ablation of cancer cells with low intensity pulsed ultrasound” (Sự cắt bỏ có chọn lọc các tế bào ung thư với sóng siêu âm xung cường độ thấp) đã miêu tả tính hiệu quả của một cách tiếp cận mới trong các mô hình tế bào được xuất bản trên Applied Physics Letters. Các nhà nghiên cứu thực hiện công trình này cho biết đây vẫn còn là giai đoạn sơ khởi – vẫn chưa được thử nghiệm trên động vật sống trước khi kiểm tra trên người, và vẫn còn những thách thức quan trọng cần giải quyết – nhưng các kết quả thu được rất hứa hẹn.  Nghiên cứu này được bắt đầu từ năm năm trước khi Michael Ortiz, Frank và Ora Lee Marble, giáo sư của Kỹ thuật hàng không và cơ khí Caltech cân nhắc liệu những khác biệt vật lý giữa các tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh như kích thước, độ dày thành tế bào, và kích thước của các cơ quan tế bào trên trong chúng – có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc chúng dao động khi “bắn phá” với các sóng âm và cách những dao động đó có thể kích hoạt cái chết của tế bào ung thư. “Tôi đã có những khoảnh khắc truyền cảm hứng cho nghiên cứu này như vậy”, Ortiz nói một cách hơi ài hước.  Và vì vậy mà Ortiz đã xây dựng một mô hình toán học để nhìn vào cách các tế bào sẽ tương tác với các tần số và luồng xung sóng âm khác nhau. Cùng với nghiên cứu sinh Stefanie Heyden (tôt nghiệp năm 2014), hiện làm việc tại ETH Zurich, Ortiz đã xuất bản một bài báo năm 2016 trên the Journal of the Mechanics and Physics of Solids cho thấy có một khoảng trống trong cái gọi là các tỉ lệ tăng trưởng cộng hưởng của các tế bào ung thư và khỏe mạnh. Khoảng trống này nghĩa là về lý thuyết, việc đưa sóng âm một cách cẩn trọng có thể là nguyên nhân khiến các màng tế bào của tế bào ung thư dao động quanh điểm mà chúng bị phá vỡ trong khi không làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh. Ortiz gọi quá trình này là “oncotripsy” (phá vỡ khối u): oncos trong tiếng Hi Lap là khối u (tumor) và tripsy là phá vỡ.  Được các kết quả này khuyến khích, Ortiz đã gửi hồ sơ xin tài trợ và nhận được đầu tư tiếp tục nghiên cứu thông qua Sáng kiến Đổi mới sáng tạo Rothenberg của Caltech (RI2), một chương trình cấp vốn từ kinh phí của Jim Rothenberg và vợ ông, Anne Rothenberg, nhằm hỗ trợ các dự án nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa cao. Ortiz đã tuyển dụng nghiên cứu sinh Erika F. Schibber (cao học năm 2016, tiến sĩ  năm 2019), vốn có nghiên cứu liên quan đến dao động của các vệ tinh, để thực hiện dự án.    Jian Ye và Peter P. Lee của City of Hope. Nguồn: TS Eliza Barragan/City of Hope  Ortiz sau đó đã mời TS Mory Gharib, giáo sư Kỹ thuật hàng không và sinh học Hans W. Liepmann để tham gia nhóm nghiên cứu của mình. Gharib, một nhà phát minh, đã từng tham gia nhiều phát triển nghiên cứu các kết quả từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Ví dụ, một van tim polymer nhân tạo do ông thiết kế đã được cấy trên người lần đầu tiên vào tháng 7/2019, và ông đã tạo được một ứng dụng trên điện thoại thông minh để giám sát sức khỏe tim mạch; một cấy ghép mắt do ông thiết kế để tránh mù do tăng nhãn áp đã được cấy ghép cho trên 500.000 bệnh nhân kể từ năm 2012.  Bị dự án thu hút, Gharib đã trao đổi ý tưởng với một trong những cố vấn của mình, David Mittelstein. Là một nghiên cứu sinh của chương trình ThS- TS của Caltech và trường Y Keck USC, Mittelstein mới nghiên cứu về van polymer nhân tạo với Gharib. Nhưng trong dự án về phá vỡ ung thư này, anh thấ cơ hội để tham gia nghiên cứu từ khái niệm lý thuyết đến gốc rễ của khái niệm đó.  “Mory và Michael thực sự trao cơ hội cho tôi để tôi dẫn dắt dự án này, thiết kế và xây dựng những cách để kiểm tra lý thuyết của Michael trong thế giới thực”, Mittelstein nói. Anh sẽ kết thúc luận án tại Caltech vào trung tuần tháng hai trước khi trở lại USC để hoàn tất công việc của mình.  Mittelstein đã tập hợp một nhóm nghiên cứu để thực hiện dự án, tuyển dụng chuyên gia sóng siêu âm Mikhail Shapiro, một giáo sư kỹ thuật hóa học tại Caltech. Shapiro mới đây đã phát minh ra một hệ cho phép sóng âm để tiết lộ biểu hiện gene trong cơ thể và thiết kế vi khuẩn phản xạ các sóng âm, vì vậy có thể dò được chúng trong cơ thể bằng sóng âm.  Trong Phòng thí nghiệm Shapiro, Mittelstein bắt đầu công việc với hepatocellular carcinoma, một dạng ung thư gan thông thường, cùng các tần số và luồng xung khác nhau của sóng âm, và đo đạc kết quả.  Trong khi đó, TS Eduardo A. Repetto giới thiệu Ortiz với Peter P. Lee, chủ tịch Phòng Miễn dịch  – ung thư tại City of Hope, một trung tâm nghiên cứu ung thư ở Duarte. Là một nhà vật lý, Lee bị những ý tưởng điều trị bệnh nhân mới thu hút. “Khi nghe thấy điều đó, tôi nghĩ nó thật hấp dẫn, và nếu được triển khai, có thể nó tạo ra một cách điều trị đột phá về ung thư”, Lee kể lại. Những nhà nghiên cứu khác của City of Hope, bao gồm cả postdoc Jian Ye và nhà ung thư học M. Houman Fekrazad, cũng tham gia vào dự án này.    Erika F. Schibber. Nguồn: California Institute of Technology  Với kinh phí tăng thêm từ Amgen và Sáng kiến nghiên cứu y sinh Caltech–City of Hope, Mittelstein đã thiết kế một thiết bị ở quy mô pilot tại City of Hope giống thiết bị ở Caltech, cho phép các đồng nghiệp của mình ở đây để xét nghiệm các mẫu thử mà không cần phải chuyển mẫu qua lại giữa Duarte và Pasadena. Theo thời gian, Lee và nhóm nghiên cứu của mình tại City of Hope mở rộng phạm vi nghiên cứu các dòng tế bào ung thư được xét nghiệm, thu các mẫu bệnh phẩm từ người và chuột mang bệnh ung thư vú, ruột kết. Họ cũng xét nghiệm một số lượng đa dạng các tế bào người khỏe mạnh, bao gồm các tế bào miễn dịch, để kiểm tra cách điều trị ảnh hưởng như thế nào đến các tế bào này.  Lee nói, hi vọng là sóng siêu âm sẽ diệt được các tế bào ung thư trong một cách cụ thể mà sẽ gắn kết hệ miễn dịch và đánh thức nó để tấn công bất kỳ tế bào ung thư nào còn lại sau khi điều trị.  “Tình trạng bên trong các tế bào ung thư hoàn toàn hỗn tạp, ngay cả bên trong một khối u thường”, Lee giải thích, “vì vậy có thể không thể tìm ra một phạm vi bố trí sóng siêu âm có thể diệt mọi tế bào ung thư đơn lẻ. Điều này có thể để “sổng” nhiều tế bào ung thư và khiến khối u tái phát triển”.  Hơn 50 triệu tế bào chết trong cơ thể mỗi ngày. Phần lớn những cái chết này xuất hiện khi các tế bào đơn giản là hết chu kỳ tồn tại và chết một cách tự nhiên thông qua một quá trình mà người ta gọi là cơ chế gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis). Thi thoảng, dẫu sao, các tế bào chết đi vì lây nhiễm hoặc thương tổn. Một hệ miễn dịch khỏe mạnh có thể nhận thấy sự khác biệt giữa cơ chế gây chết tế bào theo chương trình và thương tổn, phớt lờ vấn đề trước đây trong khi theo đuổi vị trí của “người đến sau” để tấn công bất cứ mầm bệnh xâm lấn nào.  Nếu sóng siêu âm có thể được sử dụng để diệt tế bào theo cách hệ miễn dịch của cơ thể ghi nhận là thương tổn thay vì cơ chế gây chết tế bào theo chương trình, điều này có thể dẫn đến vị trí của khối u ngập trong các tế bào bạch huyết mà có thể tấn công các tế bào ung thư còn lại  Tất cả các thí nghiệm đều mới được thực hiện trên tế bào được nuôi cấy trên đĩa petri, tuy nhiên nhóm nghiên cứu Caltech–City of Hope đã lập kế hoạch mở rộng việc thử  nghiệm trên các khối u rắn và cuối cùng trên động vật sống. Trở lại phòng thí nghiệm của Ortiz, Schibber dùng các kết quả của phòng thí nghiệm để tối ưu các mô hình toán học, đào sau hơn để đảm bảo cho các nhà nghiên cứu hiểu một cách chính xác cách các sóng âm diệt tế bào ung thư.    Nguồn: David Mittlestein  “Chúng tôi đang nghiên cứu nhiều hơn về sự khác biệt của các tế bào ung thư dao động và duy trì sự tổn hại qua nhiều chu kỳ bị ngăn cách, một tiến trình mà chúng tôi gọi là ‘sự mỏi của tế bào’”,  Schibber nói. Anh đã bảo vệ luận văn về chủ đề tài vào năm 2019 và hiện là postdoct tại trung tâm hàng không của Caltech. Trong phòng thí nghiệm của Shapiro, Mittelstein tìm thấy sự hình thành của các bong bóng nhỏ (một tiến trình gọi là hiện tượng khí thực) có thể là nguyên nhân của một số tổn tại. Cùng với nhau, những phát triển này đang đem đến một khái niệm cơ bản cho những hiểu biết về các xu hướng được quan sát trong các thực nghiệm.  Mittelstein hi vọng sẽ được tham gia vào dự án vì anh háo hức thấy nghiên cứu này được tiếp tục và một ngày nào đó sẽ dẫn đến một cách điều trị ung thư hiệu quả.  “Đây là một khái niệm thú vị cho một liệu pháp điều trị ung thư mới không đòi hỏi ung thư phải có các dấu hiệu phân tử riêng biệt hoặc được cô lập một cách riêng rẽ khỏi các tế bào khỏe mạnh để hướng đích. Thậm chí chúng tôi có thể có khả năng hướng đích đến các tế bào ung thư trên cơ sở các đặc tính vật lý độc đáo”, anh nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-ultrasound-cancer-cells.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống sót để khởi nghiệp      350 bạn trẻ mê khởi nghiệp, hoặc đang khởi nghiệp đã tham dự một hội thảo rất lạ, nối trực tuyến giữa Sài Gòn – Hà Nội và Tel Aviv (Israel) mang chủ đề “Những hòn đá làm thế giới thay đổi” hôm 18.1 vừa qua.  &#160;    Điều tranh cãi đầu tiên của bốn thành viên đã chiến thắng cuộc thi khởi nghiệp Israel 2014 khi quyết định tổ chức buổi giao lưu chia sẻ những bài học, những trải nghiệm và những kế hoạch sau chuyến đi Israel vừa qua, là chương trình sẽ diễn ra bằng tiếng Anh hay tiếng Việt.  Sài Gòn nói – Tel Aviv nghe rõ không?  Tranh cãi trên khá lạ, vì khi gởi thư mời “hú hoạ” cho một ông chủ tịch quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel và một chuyên gia khởi nghiệp của đại học Tel Aviv – hai nhân vật khá ngôi sao, thì họ lại gật đầu một cách đơn giản. Gởi thư mời mang tính “báo cáo” với bà đại sứ Israel tại Việt Nam, thì bà hào hứng: “Tôi sẽ đến, các bạn cần sứ quán hỗ trợ gì thì cứ nói”. Bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc trung tâm BSA, cũng hào hứng: “Tôi dự, các bạn nếu chưa có địa điểm ở phía Nam thì cứ đến BSA”. Ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KHCN của Bộ KH&CN, cũng gật đầu: “Làm đi, làm đi”.  Sau cùng, khi phát hiện ra danh sách đăng ký tham dự có cả những bạn từ các tỉnh, thành khác nhau như Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai… đang khởi nghiệp nông nghiệp thì mới quyết định tổ chức cuộc gặp bằng tiếng Việt và có phiên dịch những đoạn người nước ngoài chia sẻ.  Một ngày trước sự kiện, internet vẫn còn chạy ì ạch. Gọi Skype cho đầu cầu Israel nghe chữ được chữ mất. Moshe, tổng giám đốc quỹ đầu tư Krypton, gợi ý: “Hay là chúng ta dự phòng là gọi điện thoại di động luôn đi, hơi tốn tiền một xíu nhưng sẽ thông thoáng hai đầu cầu, tôi sẽ chia sẻ ngắn gọn, chủ yếu để các bạn hỏi thôi…”  Điểm nhấn của khởi nghiệp  Chương trình diễn ra với nội dung hơi tham lam, nên mọi người nói đều chưa “đã”, nhưng bù lại thì nội dung trình bày của mọi người rất cô đọng.  Bùi Huy Thắng của HiSella, bảo: “Điều học được quan trọng là anh em phải chia sẻ thông tin và hỗ trợ nhau thực sự thì mới thành một cộng đồng khởi nghiệp được. Mình đang làm một website để những người muốn hỗ trợ các công ty khởi nghiệp và các bạn có thể gặp nhau, có khi là chia sẻ một chỗ ngồi, một lời khuyên hay hỗ trợ vốn. Một điểm lưu ý quan trọng nữa là phải siêng năng đi du lịch để có thể hiểu cuộc sống tốt hơn và suy nghĩ về các giải pháp cuộc sống tốt hơn”.  Nguyễn Hải Triều của YouNet Media, thì nhấn mạnh: “Phải luôn ở trong tâm thế xe sắp hết xăng và ráng tìm đường ngắn nhất, ráng hết sức mà chạy cho tới đích, khởi nghiệp không có thời gian để lãng phí đâu”.  Mai Trần, công ty Chomp, nói tưng tửng nhưng đau lòng: “Israel bắt buộc mỗi người phải dành thời gian để làm việc cùng các startup khác. Công ty mình biết về marketing, sẵn sàng hỗ trợ mọi người, nhưng mọi người cứ hứa hứa mà chả ai tìm cho mình bạn lập trình viên nào cả. Cũng may là mình cày cũng giỏi, khách hàng lớn nhỏ gì cũng bò ra cày, nên còn đủ sức để đi tiếp mà chẳng có ai giúp”.  Còn Nguyễn Minh Thảo của Umbala, thì bảo: “Nhấc mông lên và làm đi. Làm như sắp chết đến nơi thì sẽ làm được. Có những chu kỳ khởi nghiệp dài sáu tháng, một năm… và được đo bằng khả năng sống sót của chúng ta. Sẽ có một khách hàng nào đó đồng ý trả tiền, sẽ có một nhà đầu tư nào đó thấy ý tưởng phù hợp, và chúng ta sẽ sống tiếp…”  Quay lại đầu cầu Tel Aviv, anh Moshe của Krypton bảo: “Tôi sẽ đánh giá và đưa tiền cho các startup nào có một đội ngũ tốt, tốt ở chỗ là các bạn giỏi và cam kết không có ai rời đội ngũ đi khi dự án chưa thành công. Tôi sẽ để một cái bảng yêu cầu tham gia gọi vốn lên mạng, các bạn Việt Nam cứ tải về nếu quan tâm, sau ba ngày chúng tôi sẽ trả lời để các bạn biết ý tưởng của mình có sống sót hay không…”  6 giờ chiều, không có ai chịu về mà họ tụ lại thành từng nhóm nhỏ để trao đổi. Khảo sát nhanh cho thấy gần 50% các thành viên tham dự ở đầu cầu phía Nam có trình độ trên đại học, và đang hừng hực khí thế khởi nghiệp.    Nguồn:  http://thegioitiepthi.net/the-gioi-hoi-nhap/doanh-nhan-doanh-nghiep/song-sot-de-khoi-nghiep/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sony thiết kế bộ điều khiển thực tế ảo theo dấu ngón tay      Một báo cáo của hai kỹ sư phần mềm Sony tại Nhật Bản mang tên “Evaluation of Machine Learning Techniques for Hand Pose Estimation on Handheld Device with Proximity Sensor” (Đánh giá các kỹ thuật học máy cho ước tính tư thế đặt tay trên thiết bị cầm tay sử dụng cảm biến tiệm cận) đăng trên kỷ yếu Hội thảo Tương tác người-máy CHI 2020 tiết lộ rằng công ty đang phát triển một hệ thống chuyển động thực tế ảo có tính nhập vai cao (immersive – một đặc tính của công nghệ thực tế ảo) có khả năng sẽ được sử dụng trong bộ điều khiển PlayStation thế hệ tiếp theo. Công nghệ này cho phép sao chép chính xác chuyển động của tay và ngón tay của người chơi.    Thông thường, các ứng dụng theo dõi ngón tay như Oculus Quest dựa vào camera để ghi lại chuyển động ngón tay. Tuy nhiên gần đây, các cảm biến lân cận điện dung có khả năng nhận dạng chuyển động chính xác hơn đang dần được chú ý trên thị trường.   Hai kỹ sư nghiên cứu Kazuyuki Arimatsu và Hideki Mori của công ty Sony lưu ý, camera phát hiện chuyển động đang gặp trở ngại do bộ điều khiển vật lý hiện hữu, trong khi công nghệ cảm biến lân cận mới đang ở giai đoạn sơ khai và cần thêm nhiều cải tiến. Việc nắm bắt được chuyển động chính xác của tay vẫn là điều tương đối khó khăn.  Hai kỹ sư này đã cố gắng lấp đầy khoảng trống đó. Họ chế tạo một nguyên mẫu bộ điều khiển tay có 62 điện cực nhúng, ghi lại các tập dữ liệu huấn luyện bằng cách sử dụng một hệ thống giám sát quang học. Họ đã ghi được chuyển động tay của 12 đối tượng với kích cỡ tay khác nhau.  “Mục đích của chúng tôi là đạt tới khả năng truy dấu được ngón tay cho những tương tác mang tính trực giác cao hơn trong không gian ảo. Cách tiếp cận của chúng tôi không chỉ phát hiện điểm chạm của các ngón tay vào điện cực cụ thể, mà còn dự báo được cử động của toàn bộ ngón tay trong không gian 3D, tận dụng giá trị thu được trên tất cả các cảm biến. Để đạt được điều đó, chúng tôi đã đánh giá hai kết cấu mạng nơ-ron tích chập (Convolutional Neural Networks) thường dùng trong lĩnh vực thị giác máy tính để ước tính tư thế đặt tay và minh họa cấu ​​trúc phù hợp cho các cảm biến trên bộ điều khiển”, hai tác giả cho biết.  Để có được trải nghiệm 3D chân thực, các nhà nghiên cứu cho biết họ sử dụng biểu diễn đa chiều “để áp dụng các phương pháp mạng nơ-ron tích chập trên hình ảnh cảm ứng của một bề mặt cong, và hai loại kiến trúc mạng nơ-ron tích chập được đánh giá trên tập dữ liệu của mình. Từ nguyên mẫu này, chúng tôi đã triển khai các ứng dụng tương tác thời gian thực và minh họa được khả năng tương tác trực giác bằng ngón tay trên ứng dụng thực tại số”.  Video minh họa nguyên mẫu cho thấy bàn tay của người dùng và dạng biểu diễn số của nó thực hiện các cử chỉ khác nhau như mở và đóng bàn tay, đếm ngón tay, xoay ngón tay cái, xòe bàn tay ra, ra dấu hòa bình, làm dấu gọi điện,… Nó có thể nhận ra một bàn tay đang nắm chặt thiết bị điều khiển, hoặc đang nâng và ném một vật thể ra xa.   Năm ngoái, Sony đã cấp phép công nghệ Haptics cho bộ điều khiển thực tại số. Chúng có thể mô phỏng cảm giác đẩy, kéo, nắm và đập. Bộ điều khiển thế hệ tiếp theo sẽ cho phép người chơi không chỉ nhìn thấy bàn tay mà còn có thể cảm nhận được vật thể khác nhau mà họ tương tác.  Nhóm nghiên cứu cũng cho biết công nghệ này có thể được áp dụng cho các lĩnh vực ngoài chơi game như các giao tiếp phi ngôn ngữ.□  Ngô Hà dịch  Theo https://techxplore.com/news/2020-05-sony-finger-tracking-vr.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang S&P hạ bậc tín nhiệm tài chính của Italy      &#160;S&amp;P đã hạ một bậc xếp hạng tín nhiệm của Italy xuống mức A/A-1 và tiếp tục đánh giá triển vọng tín nhiệm nước nàyS&amp;P đã hạ một bậc xếp hạng tín nhiệm của Italy xuống mức A/A-1 và tiếp tục đánh giá triển vọng tín nhiệm nước này ở mức tiêu cực . Động thái này là một bất ngờ, đe dọa làm gia tăng quan ngại về sự lây lan của áp lực nợ trong khối Châu Âu.    “Theo quan điểm của chúng tôi, các biện pháp và kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch cải tổ quốc gia của Italy sẽ không có nhiều tác dụng trong việc thúc đẩy tình hình nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh những diễn biến của điều kiện tài chính thắt chặt và chương trình tài khóa thắt lưng buộc bụng của chính phủ”, S&P nhận định.  Động thái của S&P là một bất ngờ bởi thị trường trước đó đã nghĩ rằng khả năng Italy bị Moody’s – cùng với S&P và Fitch là 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín nhất trên Thế giới – hạ bậc tín nhiệm là cao hơn. Moody’s hồi tuần trước cho biết sẽ cần 1 tháng nữa trước khi đưa ra quyết định về hành động của mình.  Việc giảm điểm xảy ra trong bối cảnh quốc gia láng giềng là Hi Lạp đang phải vật lộn để đáp ứng yêu cầu từ các chủ nợ đòi hỏi phải tiến hành nhiều biện pháp thắt lưng buộc bụng hơn nữa.   “Lại thêm một tin tức bi quan nữa. Chỉ càng làm tăng nguy cơ lan truyền rủi ro ở Hi Lạp và khuyến khích sự tháo chạy tìm tới các thị trường an toàn”. Stephen Roberts, chuyên gia kinh tế gia cao cấp của tổ chức tài chính Nomura ở Sydney, nhận định.    [1] Triển vọng tín nhiệm của một quốc gia bị xếp ở mức tiêu cực nghĩa là mức tín nhiệm của quốc gia này vẫn có nguy cơ bị tổ chức xếp hạng tiếp tục hạ bậc.                   Hi Lạp bị dồn đến chân tường        Trong bối cảnh Italy bị S&P hạ bậc tín nhiệm thì Hi Lạp đang phải khẩn trương đàm phán xin hỗ trợ từ các quốc gia Châu Âu khác để tránh nguy cơ không trả được nợ, chấp nhận những yêu cầu của các nước này đòi hỏi những biện pháp thắt lưng buộc bụng hơn nữa để đổi lấy những gói cứu trợ giúp thanh toán nợ.              Tuy nhiên, một số nhà kinh tế cho rằng Hi Lạp sẽ vỡ nợ là thực tế không tránh khỏi – và điều này thực ra có thể là lựa chọn tốt hơn cho Hi Lạp, dù rằng sẽ có những cơn sốc ngắn hạn lên thị trường, và có lẽ sẽ tác động lên toàn bộ Châu Âu.              Chấp nhận vỡ nợ sẽ giải thoát Hi Lạp khỏi thanh toán một núi nợ nần mà quốc gia này không thể nào trả nổi dù nỗ lực tới đâu trong việc cắt giảm chi tiêu ngân sách, mà thực tế là chính sách thắt lưng buộc bụng hiện đã làm cho nền kinh tế Hi Lạp bị suy thoái.              Nhưng mặt khác, người ta lo sợ về một tác động lan truyền vượt ra khỏi biên giới Hi Lạp. Tổ chức tài chính Merrill Lynch ước tính rằng cơn sốc tác động lên mực tăng trưởng kinh tế của Châu Âu, dù không nghiêm trọng như hồi khủng hoảng tài chính năm 2008, nhưng vẫn đáng kể, với mức tăng trưởng GDP bị hạ xuống còn -1,3% vào năm 2012.              Tuy trong quá khứ gần đây một số nước đã tuyên bố vỡ nợ công mà không gây ảnh hưởng lớn lên toàn khu vực, nhưng các chuyên gia phân tích chỉ ra một thực tế rằng quy mô nợ của Hi Lạp trong trường hợp này là quá lớn, khiến ảnh hưởng của nó sẽ rất nghiêm trọng.              Tổng mức nợ công của Hi Lạp là 370 tỷ Euro, tương đương 500 tỷ USD. Để thấy tương quan so sánh, mức nợ của Argentina khi tuyên bố vỡ nợ vào năm 2001 là 82 tỷ USD; Nga tuyên bố vỡ nợ năm 1998 khi có mức nợ là 79 tỷ USD.    Theo New York Times  http://www.nytimes.com/2011/09/20/business/global/as-greece-struggles-the-world-imagines-a-default.html?hp                     Author                Quản trị        
__label__tiasang SpaceX phóng tên lửa đã qua sử dụng      Tên lửa tái sử dụng Falcon 9 đã được phóng và hạ cánh thành công vào ngày 30/3. Đây là một bước tiến rất lớn trong việc giảm chi phí du hành vào vũ trụ.      Tên lửa tái sử dụng Falcon 9 được phóng từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Mĩ hôm 30/3.  Theo Elon Musk, CEO của SpaceX, thì thành tựu “phóng và tái phóng một tên lửa đẩy lên tầng quỹ đạo – giống như cuối cùng có được chiếc máy bay sử dụng lâu dài thay vì vứt bỏ chiếc máy bay sau mỗi chuyến bay.  Thành công này là một bước tiến tới việc du hành vũ trụ với giá rẻ, mà một số người hi vọng có thể tạo ra cuộc cách mạng du hành trong hệ Mặt trời và đưa con người đến sao Hỏa. Trong khi hàng thập kỉ qua, NASA đã tái sử dụng một số tàu con thoi nhưng cơ quan này nhận thấy việc bảo dưỡng khiến cho chúng đắt đỏ hơn các tên lửa, ít nhất là với công nghệ hiện nay.  Trong điều kiện thời tiết tốt, Falcon 9 đã được phóng vào lúc 6h30 chiều, giờ địa phương, từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida, Hoa Kỳ. Vài phút sau, tên lửa đẩy đã tách khỏi khoang hàng mang theo vệ tinh thông tin của công ty SES của Luxembourg, với tiếng reo hò từ các kĩ sư tại trung tâm vũ trụ này.  Sau đó tên lửa đã rơi hướng trở lại Trái đất với tốc độ 1,5km/s, hướng đến bãi đỗ là chiếc tàu không người lái ở Đại Tây Dương.  Trước đó, vào tháng 4/2016, Falcon 9 đã trở thành tên lửa đầu tiên hạ cánh thành công trên tàu không người lái ở Đại Tây Dương, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế cho Trạm Vũ trụ Quốc tế. Tầng đẩy gồm chín động cơ lửa sau đó được đưa trở lại đất liền và tân trang lại.  Có thông tin cho biết, SES đã được Space X giảm giá trong lần Falcon 9 đưa vệ tinh thông tin vào quỹ đạo lần này. Thông thường, chi phí cho mỗi lần phóng vào khoảng 60 triệu USD nhưng các loại tên lửa tái sử dụng sẽ giúp giảm đáng kể con số này.  Luôn lạc quan, Musk nói ông tin tưởng hầu hết các bộ phận của tên lửa có thể tái sử dụng hàng chục lần, và tấm lá chắn nhiệt có thể tồn tại được sau hơn 10 lần cháy do ma sát với bầu khí quyển.  SpaceX lần đầu hạ cánh một trong những tên lửa Falcon 9 vào năm 2015, một tháng sau khí tỉ phú công nghệ Jeff Bezos và công ty Blue Origin của ông hạ cánh thành công tên lửa New Shepard. Trong nhiều năm, SpaceX đã phóng và hạ cánh tám trong số 13 lần phóng thử tên lửa, với một vài lần thất bại do phát nổ. Blue Origin đã phóng và hạ cánh bốn tên lửa, và Bezos vừa hé lộ thông tin về một tên lửa đẩy mới, lớn hơn, cũng như khoang du lịch đã được lên kế hoạch.  Tháng trước, Musk đã cho biết có hai du khách đầy tham vọng đã đăng kí du hành lên Mặt Trăng với SpaceX vào năm 2018, mặc dù SpaceX vẫn chưa thử nghiệm tên lửa hạng nặng có thể mang theo con người, hoặc để đưa bất kì con người nào vào không gian.  Những tham vọng của Musk chứa đựng những rủi ro tốn kém. Một trong những tên lửa của SpaceX phát nổ trên bệ phóng hồi tháng Chín năm ngoái, đã phá hủy tên lửa đẩy, tàu vũ trụ và hàng hóa của nó – một vệ tinh trị giá nhiều triệu USD – đẩy lùi tiến độ của kế hoạch phóng tên lửa tái sử dụng của công ty. Vụ nổ này đánh động về những mối nguy hiểm cho hành khách trên những tàu vũ trụ của tư nhân, và một cuộc kiểm tra của chính phủ Hoa Kỳ mới đây đã chất vấn liệu SpaceX có chắc chắn giải quyết được các vấn đề về tên lửa và có thực hiện được một số mục tiêu cao chất ngất của mình hay không.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/mar/30/spacex-falcon-9-elon-musk-reusable-rocket       Author                Quản trị        
__label__tiasang Start up ở Trung Quốc tuyển các cô gái trẻ làm “thư giãn viên”      Điều kiện: cô gái phải ưa nhìn có khả năng giao tiếp, động viên để khích lệ các nhân viên công nghệ thông tin thường khá vụng về trong quan hệ xã hội.    Shen Yue đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, cô là người chuyên lo về tinh thần, là huấn luyện viên về động lực, là chuyên gia xoa bóp, là hoạt náo viên và là nhân viên thư ký trong một start up. Cô gái 25 tuổi này làm việc tại một start up ở Trung Quốc (TQ) với tư cách là “thư giãn viên dành cho các lập trình viên”. Nhiệm vụ của cô là giúp các đồng nghiệp không bị stress, được thư giãn và dễ chịu.  Shen Yue kể với phóng viên New York Times: “Họ rất cần có ai đó để thỉnh thoảng có thể chuyện trò, tâm sự”. Ở TQ các lập trình viên được coi là “zhai” – là những người không có đời sống xã hội. Vì vậy các start up ở TQ tuyển chọn nữ nhân viên như Shen. Trong thực tế nhu cầu về chuyên gia thư giãn đến đâu thì không rõ, tuy nhiên theo New York Times chí ít đã có 7 Start up ở TQ đăng quảng cáo tìm người làm nghề này.    Quảng cáo việc làm đáng ngờ  Theo Human Rights Watch, tập đoàn thương mại khổng lồ Alibaba khoe rằng từ năm 2011 đến 2015 đã nhiều lần đăng quảng cáo tìm nhân viên với nội dung “tìm các cô gái xinh đẹp” hay tuyển “tiên nữ”. Cạnh đó hãng này còn đăng hình các cô gái trẻ trong một tài khoản tuyển chọn chính thức và gọi họ là lực lượng “bổ sung về đêm”. Sau này Alibaba đã chính thức xin lỗi về quảng cáo này.  Shen từng học đại học xây dựng ở Bắc kinh và nay làm việc tại một start-up Chainfin.com. Theo phòng nhân sự, mức lương của cô là 950 USD một tháng. Tương đương mức lương trung bình ở TQ.  Nhiệm vụ của cô gái 25 tuổi là tạo một bầu không khí dễ chịu trong doanh nghiệp mà hầu hết nhân viên là nam giới và là lập trình viên. Khi đi làm cô tô viền mắt mầu xanh và dùng son môi mầu đỏ. Đồng nghiệp gọi cô là “Joy”.  Mát xa cũng là một trong những công việc của cô. Mới đây đồng nghiệp Guo Zhenjie kể với cô, nhiều ngày nay ngày nào anh cũng làm việc đến mười giờ tối và ngủ ngay trên cái giường gấp để cạnh bàn làm việc của mình, Shen nói: “Để tôi mát xa cho anh nhé, cho dù kỹ thuật mát xa của tôi chưa hoàn hảo lắm đâu, đây cũng là nhiệm vụ mà công ty giao cho tôi.”  Chuyên gia phần mềm Feng Zhiyi khoe, bầu không khí làm việc được cải thiện đáng kể kể từ khi Shen làm việc cho start-up. Feng cũng có lúc nghĩ tới việc dùng một cổ động viên là nam giới, song lại thấy làm sao ấy. “Làm thế có khác nào nắm tay một gã đàn ông khác đi chơi? Làm thế buồn cười chết, đúng không?”, Feng tự hỏi.  Zhang Jing, cán bộ nhân sự chịu trách nhiệm về về vấn đề này nhấn mạnh, điều quan trọng là nữ nhân viên làm công việc này phải có khuôn mặt ưa nhìn và xinh đẹp. Những ai muốn làm việc này cần có khuôn mặt khả ái, có giọng nói dễ nghe và nụ cười phải có sức lan tỏa.   Shen không cảm thấy công việc mình làm là phân biệt đối xử với nữ giới. “Ngày nay quan niệm nữ quyền nhiều khi quá cực đoan. Tôi cảm thấy phụ nữ cần độc lập và có lòng tự trọng. Thế là đủ.” Nữ đồng nghiệp của cô là Xu Jiaolong hoàn toàn không ác cảm gì với các nữ thư giãn viên. Bản thân Xu là lập trình viên làm việc tại start up này. Cô cũng không phản đối nếu như có nhân viên thư giãn là nam giới.  Hoài Nam dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/karriere/china-startups-suchen-attraktive-frauen-fuer-gestresste-programmierer-a-1204740.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Startitup: Ươm tạo Startups qua Internet      Cơ hội sống sót và phát triển của một doanh  nghiệp khởi nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tương tác, kết nối  với các nhà đầu tư phù hợp. Vì vậy, Edward Liu, một doanh nhân trẻ người  Đài Loan, đã sáng lập ra Startitup, một trung tâm hỗ trợ ảo (về cơ bản  đây là một trang web) dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên cung  cấp dịch vụ qua internet.      Hiện nay, đã có hơn 1.500 doanh nghiệp khởi nghiệp thuộc ngành này trên toàn thế giới tham gia vào hoạt động của Startitup.   Edward Liu chia sẻ rằng tất cả mọi người đều có thể tham gia vào Startitup, kể cả “những người dành toàn thời gian vào công việc khác, nay muốn sử dụng chút thời gian rảnh rỗi” để theo đuổi ý tưởng kinh doanh ấp ủ của mình. Startitup là nơi cung cấp cho họ những bài học, huấn luyện, và chia sẻ kinh nghiệm trực tuyến của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Từ đó, học viên có thể tự bắt đầu hình thành doanh nghiệp, đồng thời thông qua Startitup, họ tự xây dựng hình ảnh thương hiệu, trưng bày sản phẩm trực tuyến, và từng bước thu hút những khách hàng đầu tiên. Sau khi tồn tại và hoạt động thành công, chính những doanh nhân khởi nghiệp mới vào nghề này sẽ tiếp tục quay lại Startitup để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng và những thế hệ học viên kế cận. Đồng thời, qua diễn đàn của Startitup, các doanh nhân khởi nghiệp không chỉ tư vấn cho nhau, mà còn tìm kiếm các đối tác phù hợp cho mình.  Hiện nay, mô hình kinh doanh của Startitup là cho khách hàng sử dụng miễn phí trong ba ngày, sau đó thu lệ phí hằng tháng 25 USD. Sắp tới, Edward Liu dự định sẽ mời thêm các doanh nhân giàu kinh nghiệm giúp biên tập và phát triển nội dung các chương trình đào tạo, qua đó hình thành một dạng từ điển trực tuyến (như Wikipedia) dành riêng cho các doanh nhân khởi nghiệp. Liu cũng định mời thêm các nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào Startitup để thúc đẩy nguồn tài chính cho các doanh nghiệp.    PV   Nguồn:  http://www.atelier.net/en/trends/articles/startitup-combines-virtual-incubator-e-building-site_423398      Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup cần chuẩn bị gì về pháp lý khi hội nhập?      Với hành trình hội nhập, nếu các start-up chỉ dừng lại ở sự mong đợi hay những ý tưởng kinh doanh mà không chuẩn bị hành trang đầy đủ về mặt pháp lý, thì hành trình này cũng chỉ như một cuộc chạy đua marathon mà trong đó người chạy mới chỉ có thể lực chứ chưa có chiến lược phân phối sức trên đường chạy cũng như chưa chuẩn bị những dụng cụ bảo hộ hỗ trợ cần thiết.      Khu trưng bày của các nước có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển tại Techfest 2018. Ảnh: BTC Techfest.  Từ tìm hiểu sân “sân khách”  Trong gần hai thập kỷ, ngành công nghiệp thuốc lá đã sử dụng những quy tắc đầu tư quốc tế để thách thức chính sách hạn chế của chính phủ các nước. Năm 1994, Công ty Thuốc lá R.J. Reynolds đe dọa sẽ khởi kiện chính phủ Canada trên cơ sở Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) để phản bác lại quy định pháp luật của nước này đối với yêu cầu đóng gói bao bì thuốc lá không có logo hoặc nhãn hiệu. Tiếp theo đó, hãng thuốc lá nổi tiếng của Mỹ – Philip Morris đã tiến hành khởi kiện chính phủ Uruguay về các hạn chế đối với bao bì thuốc lá và chính thức đe dọa chính phủ Úc bằng một yêu cầu trọng tài nhằm ép buộc quốc gia này đáp ứng các quy tắc đóng gói thuốc lá.  Những ví dụ thực tế trên cho thấy rằng cuộc chơi thương mại quốc tế bị chi phối rất nhiều bởi các hiệp định thương mại, mà cụ thể hơn là các nguyên tắc đầu tư quốc tế. Đối với một start-up Việt đang cố gắng tiếp cận thị trường nước ngoài, thì các bản hiệp định thương mại song phương/đa phương sẽ được coi là tấm “kim bài miễn tử” cho doanh nghiệp trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, cũng cần nhận định một cách khách quan rằng, đây chỉ là một công cụ hỗ trợ chứ không phải là một “tấm vé thông quan thần kỳ” cho mọi hoạt động của start-up ở thị trường quốc tế. Start-up cần tiếp cận và sử dụng các hiệp định thương mại như thế nào cho đúng cách?   Đầu tiên các start-up cần chủ động tìm hiểu quy tắc của những sân chơi chung này để có thể định hình được chiến lược kinh doanh. Xu hướng hiện nay trong các hiệp định thương mại là hàng rào thuế quan sẽ được dần dần hạ thấp. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hàng rào khác về tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm và thậm chí là yêu cầu liên quan đến độ tuổi/đối tượng người lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm. Trong 7 tháng đầu năm 2017, Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã có 32 lệnh cảnh báo đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ do những doanh nghiệp này không nắm bắt và thích ứng được với thay đổi chính sách trong Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm Mỹ . Những rào cản vô hình kể trên hoàn toàn có khả năng dẫn đến những thiệt hại hữu hình đối với các doanh nghiệp non trẻ và thiếu sự chuẩn bị kỹ.  Sau đó, start-up cần tìm hiểu hệ thống pháp luật riêng của quốc gia mà mình muốn đầu tư. Mỗi quốc gia đều có những chính sách đặc thù liên quan đến việc quản lý hoạt động đầu tư và thương mại nội địa, do đó, nếu không tìm hiểu kỹ thì start-up sẽ tự mình cộng thêm chi phí và công sức khi tiếp cận một thị trường mới.    Cho tới hiểu rõ chính mình  Nhắc đến hội nhập, thông thường người ta vẫn hiểu là việc các doanh nghiệp “đem chuông đi đánh xứ người” như mở chi nhánh ở Singapore, đặt trụ sở tại thung lũng Silicon hoặc xây dựng nhà máy sản xuất ở các quốc gia nước ngoài,… Nhưng hội nhập cũng không nhất thiết phải là “bay cao, đi xa” mà nhiều khi chỉ đơn thuần là “ngồi nhà” và “mở rộng cửa” đón tiếp những luồng gió mới. Đó là khi doanh nghiệp thuần Việt dám mạnh dạn kêu gọi vốn đầu tư từ những đối tác nước ngoài, thử nghiệm những công nghệ tân tiến đang được áp dụng thành công trên thế giới, hay thay đổi cơ chế quản trị để tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.  Lợi thế “sân nhà” không phải là bất biến  Được thi đấu trên sân nhà luôn là một lợi thế về tinh thần không nhỏ cho bất kỳ doanh nghiệp nào nhưng điều này không đồng nghĩa với việc toàn bộ luật chơi đều phải tuân thủ theo luật của sân nhà. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn pháp luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp miễn là việc chọn luật không xung đột với Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam . Bên cạnh đó, nhắc đến tranh chấp là người ta nghĩ ngay đến việc “lôi nhau ra tòa”, tuy nhiên, nếu các bên trong hợp đồng lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thì các start-up Việt cần phải chuẩn bị tinh thần rằng đối tác có thể sẽ đề xuất lựa chọn các trung tâm trọng tài quốc tế như HKIAC (Trung tâm trọng tài quốc tế Hong Kong) hay SIAC (Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore). Khi đó, quá trình giải quyết tranh chấp sẽ tuân thủ theo quy tắc tố tụng riêng của từng trung tâm trọng tài đó, và những nội dung này start-up đều cần phải lưu tâm.   Để tránh sự cố phát sinh và “mất bò mới lo làm chuồng”, các start-up cần phải chú trọng vào việc xây dựng đội ngũ pháp chế hoặc sử dụng đơn vị tư vấn luật có kinh nghiệm và am hiểu về các quy định pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp nói riêng và các lĩnh vực pháp lý khác nói chung. Bước tiếp theo, start-up phải ý thức được tầm quan trọng của hợp đồng trong mối quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài, để từ đó, thể hiện ý chí một cách thống nhất và rõ ràng trong các giai đoạn đàm phán hợp đồng, để tránh những rủi ro phát sinh từ việc xung đột ý chí khi giao kết hợp đồng.   Quản trị minh bạch  Việc tự điều chỉnh phương pháp quản lý nội bộ để tiệm cận hơn với chuẩn mực quản trị quốc tế cũng chính là một cách thức hội nhập mà lâu nay chưa được thực sự coi trọng. Hiện tại, những phương pháp quản trị như Kaizen – 5S hoặc Quản trị hiệu suất liên tục đã và đang được áp dụng rộng rãi không chỉ ở các tập đoàn lớn mà còn được hoan nghênh và ứng dụng tại nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng vẫn còn không ít doanh nghiệp vì chưa ý thức được tầm quan trọng của một hệ thống quản trị nội bộ doanh nghiệp.Vậy quản trị nội bộ hiệu quả nói chung và quản trị minh bạch được thể hiện như thế nào?  Quản trị minh bạch xuất phát điểm từ việc chia sẻ thông tin một cách công khai và dân chủ. Thay vì giới hạn việc chia sẻ những thông tin quan trọng (ví dụ: mục tiêu kinh doanh, số liệu hiệu suất, kế hoạch sử dụng tài nguyên, …) cho một nhóm nhỏ các giám đốc điều hành, doanh nghiệp thực hiện quản trị minh bạch sẽ thúc đẩy sự tham gia của nhân viên/người lao động ở tất cả các cấp, tận dụng 100% vốn kiến thức của họ để đưa ra quyết định tốt hơn cho chiến lược kinh doanh. Sự minh bạch còn thể hiện ở chính sách phân định quyền và trách nhiệm trong các quyết định đầu tư, các quyết định kinh doanh. Khi công khai hoá các chính sách này cùng với hệ thống báo cáo và giám sát định kỳ, doanh nghiệp sẽ ngăn ngừa được các sai sót và gian lận, đồng thời nhận biết và xử lý kịp thời các rủi ro tiềm tàng khác trong hoạt động kinh doanh.   Thực sự quản trị minh bạch không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn mang lại cơ hội huy động vốn cho các start-up. Hiện nay rất nhiều Quỹ đầu tư và đối tác đều lựa chọn những doanh nghiệp có cơ chế quản trị minh bạch để quyết định đầu tư hoặc hợp tác lâu dài. Tổng kết lại, các start-up cần luôn ghi nhớ rằng: hãy để minh bạch trở thành văn hóa của doanh nghiệp – một biện pháp “tề gia” hữu hiệu rồi start-up hãy tính đến câu chuyện hội nhập đường dài.   Những rào cản pháp lý nói riêng và các rào cản thị trường khác nói chung là một phần tất yếu phải vượt qua trong quá trình trưởng thành của các start-up.   —-  Chú thích:   1 Matthew C. Porterfield & Christopher R. Byrnes, Philip Morris v. Uruguay: Will investor-State arbitration send restrictions on tobacco marketing up in smoke?, Investment Treaty News – International Institute for Sustainable for Development, 21/07/2011, truy cập đường lnk tham khảo tại https://www.iisd.org/itn/2011/07/12/philip-morris-v-uruguay-will-investor-state-arbitration-send-restrictions-on-tobacco-marketing-up-in-smoke/   2 Viễn Thông,Thực phẩm Việt ‘ngơ ngác’ vì bị từ chối vào Mỹ, VnExpress, 29/08/2017, truy cập đường link tham khảo tại https://vnexpress.net/kinh-doanh/thuc-pham-viet-ngo-ngac-vi-bi-tu-choi-vao-my-3634101.html   3 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 664 – Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Luật Thương mại 2005, Điều 5 – Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế.    Author                Vũ Thị Diệu Thảo        
__label__tiasang Startup chuyên ngành cơ khí: Những kẻ liều lĩnh, đơn độc?      Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp thường không mấy quan tâm tới các startup cơ khí, mặc dù các sản phẩm của họ có tiềm năng lớn đối với ngành nông nghiệp công nghệ cao và đồ dân dụng. Theo nhận định của một mentor, cứ 100 startup thì có tới 99% “rơi rụng” ngay chặng đầu khởi nghiệp. Và nếu là “dân” cơ khí, cơ hội nằm trong số 1% thành công vô cùng mong manh.      Thiết bị bón phân cho cây ngô. Tiến độ : Đã thử nghiệm, cần cải tiến nhiều nếu muốn phát triển. Sản phẩm tương tự tại Việt Nam: Chưa có. Ảnh do nhóm BKACM (Đông Phong) cung cấp.  Giỏi + đam mê: Vẫn thất bại!  Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, hầu như ai cũng biết đến BKACM (hiện đổi tên là Đông Phong), không chỉ vì những giải thưởng nhóm giành được tại các cuộc thi ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp mà còn vì BKACM là startup đúng nghĩa duy nhất giữa rất nhiều các nhóm nghiên cứu cơ khí trẻ giàu tiềm năng nhưng lại xem khởi nghiệp là giấc mơ xa vời.  BKACM có khởi đầu khá thuận lợi khi dự án “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị tích hợp hai chức năng gieo hạt và bón phân cho cây ngô” về nhất cuộc thi “Ý tưởng khởi nghiệp – Startup Ideas” 2015 do Trung tâm ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp khoa học công nghệ (NTBIC) tổ chức. Thành tích này rất đáng tự hào bởi trong các cuộc thi về sáng tạo khởi nghiệp, khối cơ khí thường thiệt thòi hơn khối công nghệ thông tin do mô hình sản phẩm không cho thấy ngay hiệu quả và giá trị thương mại.  Từ bước đệm ấy, sau khi tiếp tục khảo sát nhu cầu thị trường, BKACM chọn máy nông nghiệp tự động làm hướng đi chính, nhắm đến các hộ nông dân sản xuất nhỏ, lẻ và đến nay, đã chế tạo hoàn chỉnh, chạy thử ba sản phẩm: máy bón phân cho ngô, mía, cỏ. Chưa kể, hai máy khác vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Tuy nhiên, không sản phẩm nào ra được thị trường và cuộc chào hàng tới một doanh nghiệp chuyên về sản xuất phân bón cũng thất bại. Ngoài số tiền thưởng (thường chỉ vừa đủ để làm mô hình sản phẩm) có được từ các cuộc thi, số vốn đầu tư đều do các thành viên của nhóm tự bỏ tiền túi. Sau ba năm khởi nghiệp, họ chưa “kiếm” được đồng lãi nào,  thậm chí, còn “mất trắng” 10 triệu đồng do một lô sản phẩm mắc lỗi kỹ thuật. Với các sinh viên chưa ra trường hoặc mới tốt nghiệp, đấy là khoản tiền rất lớn. Dù vậy, trưởng nhóm Tạ Đức Cường khẳng định, BKACM không từ bỏ giấc mơ khởi nghiệp nhưng nhóm cần dừng lại một thời gian ngắn để kiện toàn đội ngũ, điều chỉnh hướng đầu tư sản phẩm sau khi đã “ngấm” nhiều bài học thực tiễn “đắt giá”. Cường cũng nhận ra, nhóm của mình còn “non” cả về kỹ thuật lẫn kinh nghiệm khảo sát nhu cầu thị trường và chọn ý tưởng.  Nhìn vào hành trình chông gai của BKACM, dễ hiểu vì sao nhiều nhóm nghiên cứu khác chùn bước dù vẫn hào hứng tham gia các cuộc thi sáng tạo khởi nghiệp. Lý do chính, là để có kinh phí nghiên cứu, còn chuyện khởi nghiệp thì “chưa nghĩ đến” như chia sẻ của The Fobik, một nhóm khác của Đại học Bách khoa đã giành giải đặc biệt cuộc thi Kiến tạo giải pháp công nghệ – kỹ thuật để giải quyết những vấn đề nông nghiệp Hackafarm Innovation Camp Việt Nam 2016 với dự án “Máy gieo hạt hút chân không” và giải khuyến khích cuộc thi Khởi nghiệp sáng tạo Việt Đức (Đại học Leipzig, CHLB Đức và Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức) với dự án Xe đạp gấp. Dẫu không bị “quăng quật” trong thực tế như BKACM, nhưng cũng như các các nhóm nghiên cứu cơ khí khác, The Fobik nhận thức rõ những khó khăn với startup khi “liều mạng” thử sức kinh doanh, chẳng hạn:  khó gọi vốn từ các vườn ươm do sản phẩm gần như không thể sinh lãi ngay tức thì, doanh nghiệp thường đánh giá thấp khả năng mang lại lợi nhuận của sản phẩm, khó đăng ký bản quyền nếu sản phẩm quá đơn giản hoặc chỉ là cải tiến các máy đã có trên thị trường, sản phẩm dễ bị “nhái” và rào cản đầu tiên chính là: Không có kinh phí!  Ai cũng biết, nếu như ở nước ngoài, chuyên ngành cơ khí nhận được nhiều ưu đãi, sinh viên có thể nghiên cứu sản phẩm ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường thì ở Việt Nam, “dân” cơ khí nói chung, bao gồm thầy, trò, các startup, các doanh nghiệp… đều chịu thua thiệt do ít nhận được hỗ trợ hơn so với các ngành đang là xu thế. Chị Phạm Vân Anh (Mentor thuộc câu lạc bộ TIG1 –  Đại học Bách khoa Hà Nội) phân tích rõ hơn về thực trạng của các nhóm nghiên cứu cơ khí: “Nhiều nhóm rất tài năng nhưng chọn cách giữ các ý tưởng ‘hay ho’ trong đầu và cũng không có ý định bán cho ai cả. Họ chỉ âm thầm nghiên cứu hoặc chọn con đường an toàn là ‘theo’ thầy – người có nhiều mối quan hệ với các doanh nghiệp để sau khi tốt nghiệp, ‘làm nghề’ theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp”. Đó là lý do các sinh viên dám nuôi chí khởi sự kinh doanh chỉ đếm trên đầu ngón tay và startup cơ khí duy nhất của Đại học Bách khoa Hà Nội cho đến nay vẫn là BKACM.  Không đơn độc  Có thể thấy, BKACM là điển hình cho một nhóm startup chọn con đường tự lực khởi sự kinh doanh, tự trang bị máy móc, tự lựa chọn ý tưởng đầu tư…. và hoạt động theo cách khá bản năng. Tuy nhiên, nhóm không hoàn toàn đơn độc trên hành trình khởi nghiệp mà nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ bà Phan Thị Ngọc Diệp (Giám đốc Công ty TNHH thương mại cơ khí Khải Minh), người giữ vai trò còn hơn cả một mentor đối với BKACM.  Đã “lăn lộn” trong ngành cơ khí hơn 20 năm ở lĩnh vực phụ tùng lưỡi xới đất máy cày, bà Diệp hiểu rõ điều gì làm nên lợi thế cạnh tranh cho các loại máy nông nghiệp cũng như những nhược điểm trong các máy do nhóm của Cường thực hiện. Tuy nhiên, bà vẫn “sát cánh” cùng BKACM, bởi: “Đấy là nhóm sinh viên thực sự có tố chất, cả về nhiệt huyết, tiềm năng lẫn đức độ” và: “Nếu không được hỗ trợ để thực tập từ những việc nhỏ nhỏ như thế thì đến việc lớn sau này, các bạn sẽ không biết phải triển khai thế nào”.  Khi BKACM gần như bế tắc trong việc bán sản phẩm cho doanh nghiệp, lời khuyên từ mentor đặc biệt này đã vực dậy tinh thần của cả nhóm. Đơn giản, bà Diệp kể lại chính câu chuyện tìm đường ra thị trường cho sản phẩm của mình. “Trong lĩnh vực cơ khí, không có chuyện một hay hai năm đã ra được sản phẩm. Để sản xuất hàng loạt một sản phẩm mới, cô phải bỏ ra không dưới năm năm, bao gồm cả thời gian nghiên cứu, chào mẫu và tặng mẫu cho khách sử dụng, rồi chờ đợi phản hồi để chỉnh sửa sản phẩm cho hoàn thiện. Đã chọn ngành cơ khí thì mình cũng xác định luôn, con đường đi sẽ dài và gập ghềnh hơn các ngành khác. Quan trọng là trong quá trình gia công máy, tiếp cận người tiêu dùng và doanh nghiệp, các cháu đã nắm được khâu tổ chức sản xuất một thiết bị cơ khí để giảm thiểu những rủi ro trong tương lai. Thà mình mất 10 triệu, 20 mươi triệu bây giờ còn hơn sau này, có khả năng mất đến tiền tỷ”. Cũng theo bà Diệp, với startup chuyên ngành cơ khí, thành công hay không ở bước đầu khởi nghiệp không thực sự quan trọng. Điều quan trọng là học được khâu tổ chức, biết cách hoạch định lộ trình cũng như kinh nghiệm chế tạo một sản phẩm. Dù “chào hàng” và gọi vốn chưa thành công thì ít nhất, các bạn cũng hiểu được, việc phân phối sản phẩm “mắc” ở chỗ nào.  Chính từ thất bại này, nhóm của Cường đã hiểu rõ, việc lựa chọn sản phẩm “đánh” trúng nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng là vô cùng quan trọng. Và muốn vậy, cần phải xâm nhập thực tế tại vùng nghiên cứu, tìm hiểu nhiều người chứ không chỉ năm, sáu người rồi “thêu dệt” ý tưởng theo cách khá chủ quan. Tới đây, thay vì đầu tư cho máy tích hợp nhiều chức năng, BKACM sẽ tập trung vào máy nông nghiệp một chức năng. Đó là sự chuyển hướng hợp lý trong thời điểm các hộ nông dân vẫn quen “lao động chân tay” và không muốn bỏ quá nhiều tiền để mua máy nông nghiệp tự động. Một sản phẩm khác được nhóm “nhắm” tới là máy tự động tưới nước, bón phân cho cỏ, nhiều khả năng có thị trường rộng mở nếu tính đến mật độ sân golf tại Hà Nội. Bà Diệp cũng tư vấn cho BKACM về hướng phát triển trong tương lai, đó là, phải tìm cách cộng tác với một viện quy hoạch nông nghiệp để nhận được sự giúp đỡ từ phòng Nghiên cứu phát triển sản phẩm. Từ đấy, nhóm sẽ được cung cấp thông tin đầy đủ về đặc tính của các giống cây, mới có hướng chuẩn để thay đổi thiết kế cho phù hợp.  Điều thú vị, mối duyên giữa mentor “không chuyên” Phan Thị Ngọc Diệp và BKACM lại bắt đầu từ cuộc gặp gỡ trên một trang mạng về nghiên cứu máy nông nghiệp. Qua những lần chat inbox, hai bên nhận ra nhiều điểm tương đồng và từ đó, thiết lập một mối quan hệ, có lẽ, còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều mối quan hệ đơn thuần giữa mentor và mentee. Đó là ví dụ cho thấy, nếu chịu khó tìm kiếm các kênh thông tin, các startup sẽ không đơn độc trên đường khởi nghiệp. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của “dân” cơ khí nói riêng và Bách khoa nói chung, như nhận xét của mentor Phạm Vân Anh, là: “ chỉ thích nghiên cứu âm thầm”, e ngại những gì thuộc về bề nổi và chưa thực sự chủ động tìm đến các mentor hay các vườn ươm. Đó là lý do, câu lạc bộ TIG đặt mục tiêu gần: hình thành một hệ thống các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, vừa là những người thầy vừa hoạt động như các mentor và quy tụ các nhóm sinh viên tài năng, giữa hai bên phải có sự kết nối mạnh mẽ. Hiện tại, TIG đang có sáu nhóm nghiên cứu, mỗi nhóm tập trung vào các dự án riêng cả cơ bản lẫn ứng dụng. Một trong những gương mặt “sáng” của TIG là The Fobik, đã “gặt hái” thành công ngoài mong đợi. Dù chỉ giành giải khuyến khích tại cuộc thi Khởi nghiệp sáng tạo Việt Đức nhưng nhóm lại được tập đoàn BK Holdings, một trong những vườn ươm uy tín hỗ trợ “nóng” 10 triệu đồng để chế tạo sản phẩm mẫu, ra mắt vào tháng Tư tới. Như nhận xét của mentor Vân Anh, The Fobik nhận được sự ưu đãi này không chỉ nhờ chất lượng sản phẩm mà còn vì BK Holdings đã nhận thấy tiềm năng về con người của nhóm. Hiện tại, The Fobik dồn lực cho sản phẩm mẫu xe đạp gấp theo hướng: hạ giá thành bằng vật liệu thông dụng và tăng cường kết cấu cơ khí nhằm tạo nên một sản phẩm nhỏ, gọn, nếu gấp theo cách khác sẽ tạo ra một dạng xe kéo hàng. Trong thời điểm Hà Nội đẩy mạnh các phương tiện giao thông công cộng, sản phẩm này có nhiều khả năng cạnh tranh so với các mẫu xe đạp gấp đang có trên thị trường, cồng kềnh hơn và giá thành rất đắt. Còn dự án “Máy gieo hạt hút chân không” được “để dành” cho tương lai và nhóm cũng xác định, hướng đến các trang trại sản xuất quy mô lớn.  Khác với BKACM, The Fobik là điển hình cho các nhóm nghiên cứu cơ khí được đào tạo bài bản, có tư duy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, biết cách phân phối thời gian, công việc, thời điểm nào thì nên đầu tư cho sản phẩm nào. Ngoài ra, nhóm còn nhận được hỗ trợ “sát sườn” về kỹ thuật chuyên môn từ chính những người thầy – mentor của mình. Họ chắc chắn không đơn độc trên chặng đường nghiên cứu phía trước. Chỉ có điều, chưa biết, với những lợi thế đó, họ có dám vượt qua chính mình để trở thành một startup hay không.  ———-  1 Câu lạc bộ TIG (Technology – Innovation – Globalization)  được thành lập vào tháng 2-2016 với tiêu chí: đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng công nghệ; tiến tới toàn cầu hóa cả về sản phẩm và con người, đồng thời, đặt mục tiêu xa: đến năm 2020, là “cái nôi” cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ sư R&D cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.    Author                Hương Lan        
__label__tiasang Startup đặt tham vọng chế tạo tên lửa rẻ hơn cả SpaceX      SpaceX đã gây ngạc nhiên cho cả thế giới khi chế tạo tên lửa với giá rẻ hơn nhiều so với trước đây. Nhưng nay có startup còn đặt ra tham vọng có thể chế tạo ra tên lửa với giá rẻ hơn cả SpaceX      Mô hình tàu vũ trụ Skylon sử dụng tên lửa tái chế.  Những cảnh đẹp đẽ thường thấy trên phim ảnh: tàu vũ trụ cũng lướt lên không trung như máy bay, chuyển sang động cơ đẩy siêu âm và trong tích tắc đã lên đến vũ trụ. Trong thực tế các nhà du hành vũ trụ phải ép người trong một con tàu không gian chật hẹp. Con tàu đó gắn với những quả tên lửa khổng lồ. Những tên lửa đó giá nhiều triệu Euro và chúng cháy rồi tàn lụi sau khi khởi hành một thời gian. Chỉ có tàu vũ trụ là còn tồn tại suốt chuyến bay.  Richard Varvill muốn thay đổi điều này: “Chúng ta phải tái sử dụng các con tàu không gian, chỉ có như thế thì giá thành các chuyến bay lên vũ trụ mới có thể giảm đáng kể“, nhà sáng lập đồng thời là người phụ trách về công nghệ của startup Reaction Engines của Anh nói.  Theo cách nhìn của ông thì các chuyến bay lên vũ trụ phải giống như các chuyến bay vượt Đại Tây Dương. Vì vậy Varvill và các cộng sự phát triển một loại động cơ đẩy mới: động cơ Sabre kết hợp máy bay phản lực với tên lửa và ít năm nữa nó sẽ trở thành yếu tố cốt lõi của tàu vận tải không gian có tên là Skylon. Tàu vũ trụ này có thể khởi hành từ một sân bay, bay lên vũ trụ sau đó lại có thể hạ cánh, sau khi bảo dưỡng một thời gian ngắn lại có thể tiếp tục hoạt động. Theo ước tính của Reaction Engines thì chuyến bay lên vùng không trọng lượng tốn kém không tới 10 triệu Euro. Để so sánh: tên lửa của SpaceX do Elon Musk sáng lập hiện tại có giá rẻ nhất trên thị trường, cũng ngốn trên 60 triệu đôla cho một chuyến bay    SpaceX, doanh nghiệp tư nhân của Elon Musk vừa phóng thành công tên lửa khổng lồ “Falcon Heavy“ lên vũ trụ. Trên tàu vũ trụ còn có xe Tesla Roadster mầu đỏ anh đào, hiện đang bay lơ lửng trên không gian.  Cách đây ít ngày Reaction Engines đã gọi vốn được 37 triệu USD vốn của tập đoàn hàng không và nghiên cứu vũ trụ Boeing và hãng chế tạo động cơ đẩy Rolls-Royce.  Trong cùng thời gian, startup này đã tìm được một đối tác mới ở bang Bayern: Bayern-Chemie. Cho đến nay doanh nghiệp này có 200 cán bộ nhân viên chuyên sản xuất trang thiết bị chủ yếu phục vụ quân đội, như sản xuất tên lửa lắp trên máy bay chiến đấu Eurofighter. Wolfgang Rieck, giám đốc doanh nghiệp này tiết lộ: “giờ đây chúng tôi muốn đưa công nghệ của mình thâm nhập mảng kinh doanh các chuyến bay lên vũ trụ”.  Tàu vũ trụ Skylon dựa trên cơ sở một công nghệ tổng hợp: công nghệ này không thể chỉ dựa vào việc đốt động cơ tên lửa rồi bay lên không gian, làm như vậy rất tốn nhiên liệu. Vì thế động cơ đẩy mới trước hết dựa vào Oxy có trong không khí thay vì dựa vào bình chứa nhiên liệu. Muốn làm như vậy phải nén không khí.  Hãng Bayern-Chemie đang phát triển công nghệ này: các kỹ sư dẫn luồng không khí một cách khéo  léo vào động cơ đẩy, tại đây động cơ đẩy tạo ra một lực nén cần thiết. Khi tàu vũ trụ vận hành đạt tốc độ hơn 5 lần tốc độ âm thanh và lên đến độ cao 30 km thì hông khí bị nén cực nóng, và để nó không phá huỷ động cơ đẩy, Reaction Engines đã phát triển một thiết bị làm lạnh: thiết bị làm lạnh gồm nhiều ống có độ dày chỉ 1 mm, tổng chiều dài của ống lên đến 2000 Kilomet, chạy qua đường ống này là Helium ở nhiệt độ rất thấp. Nhờ đó, cthể hạ nhiệt độ luồng không khí chạy vào máy từ 1000 độ C xuống còn âm 150 độ C trong tích tắc.  Khi lên đến độ cao 30 Kilomet, nơi bầu khí quyển loãng động cơ sẽ được chuyển sang động cơ tên lửa, lúc này Oxy lấy từ bể chứa và tăng tốc lên 8,5 Kilomet một giây – từ đó tiếp tục cuộc hành trình lên vũ trụ.  Skylon hy vọng cách này có thể đưa du khách lên trạm vũ trụ, đưa các vệ tinh mới lên vũ trụ hoặc sửa chữa những vệ tinh đã cũ. Thậm chí làm nhà máy điện mặt trời trên vũ trụ để chuyển năng lượng xuống trái đất. Bằng cách này máy bay phản lực siêu âm chỉ cần 4 tiếng đồng hồ để bay từ London tới Sydney.  Trong mùa hè này, thiết bị làm lạnh sẽ được khảo nghiệm kỹ lưỡng tại Hoa kỳ. Các chuyên gia phát triển dự định đến năm 2020 phần cốt lõi của động cơ mới này sẽ được thử nghiệm lần đầu tiên. Liệu đến năm 2025 tàu vũ trụ kiểu mới hoàn toàn này có thể đưa vào hoạt động được không? Điều này lệ thuộc vào việc Reaction Engines và Bayern-Chemie có tiếp tục thu gom được tiền đầu tư mạo hiểm nữa hay không.  Xuân Hoài  dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/forschung/raumfahrt-start-up-billiger-als-elon-musk/21215366.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup đối thủ của Uber tại Ấn Độ gọi được 500 triệu USD vốn đầu tư      Cuộc chiến giữa các ứng dụng gọi taxi tại các thành phố ở Ấn Độ đang bắt đầu “tăng nhiệt” sau khi Ola, hãng dẫn đầu thị trường này, vừa kết thúc một vòng gọi vốn và thu về 500 triệu USD.       Các nguồn tin cho hay giá trị của startup này hiện đã ở  mức 5 tỉ USD. Với kết quả này, Ola là startup được các quỹ đầu tư mạo  hiểm hỗ trợ có giá trị lớn thứ ba sau hai nhà bán lẻ trực tuyến là  Flipkart và Snapdeal.     Theo tin từ Ola, hãng này vừa kết thúc vòng gọi vốn Series F với các nhà đầu tư như Tiger Global, SoftBank, DST Global và startup ứng dụng gọi taxi lớn nhất Trung Quốc hiện nay, Didi Kuaidi. Ola cho hay họ sẽ dùng số tiền này để “tăng tốc hơn nữa sự phát triển ở thị trường Ấn Độ, trong đó tập trung vào việc nâng cao khả năng linh động cho một tỷ người dân ở đây.”  Trong một thông báo về cuộc gọi vố này, Ola cho hay họ đã tăng trưởng gấp 30 lần so với năm ngoái, và hiện nay mỗi ngày họ nhận được trên 1 triệu lượt yêu cầu mỗi ngày. Trên nền tảng của Ola hiện có khoảng 350.000 đăng ký hoạt động tại 102 thành phố trên khắp Ấn Độ. Ola cũng sẽ dành một phần trong số tiền đầu tư mới kêu gọi được này để nghiên cứu tìm ra các giải pháp di chuyển sáng tạo cho thị trường Ấn Độ.  Ola hiện đang là đối thủ lớn nhất tại Ấn Độ của Uber, hãng đứng đầu thế giới về ứng dụng gọi taxi. Uber hiện đang hoạt động tại 22 thành phố ở Ấn Độ; mục tiêu hướng đến của hãng này tại đây là đạt 1 triệu lượt đi taxi trong năm 2016. Ấn Độ là thị trường lớn đầy tiềm năng cho Uber, đặc biệt là trong bối cảnh tốc độ mở rộng của họ sang thị trường lớn thứ hai trên giới là Trung Quốc đang bị chậm lại do sự xuất hiện của đối thủ sở tại, Didi Kuaidi.  Ola được hai kỹ sư Bhavish Aggarwal và  Ankit Bhati thành lập năm 2011. Tính đến nay, Ola đã nhận được trên 1,3 tỷ USD vốn tài trợ, trong đó chỉ tính riêng năm ngoái họ đã gọi được 1,2 tỷ USD. Trong danh sách các nhà đầu tư của họ có các quỹ đầu tư mạo hiểm như  Sequoia Ấn Độ, Accel Partners, Matrix Partners, Steadview Capital và Falcon Edge.  Các lựa chọn di chuyển cá nhân của Ola bao gồm xe taxi màu đen và vàng ở Mumbai, xe autorickshaw ba bánh (một dạng xe giống xe lam ở Việt Nam) ở 6 thành phố, và xe taxi màu vàng ở Kolkata. Ola cũng mới vừa ra mắt một lựa chọn gọi chung xe trên mạng xã hội cho những người sử dụng mạng xã hội. Tại phía nam thành phố Chennai, nơi vừa bị ngập lụt nặng, Ola đã kịp thời tung ra các chiếc phà để phục vụ công tác cứu hộ.   Hôm nay, Aggarwal , CEO kiêm nhà đồng sáng lập Ola, cho biết hãng này sẽ mang đến những sáng kiến không chỉ trong lĩnh vực di chuyển cá nhân mà còn trong lĩnh vực thanh toán bằng di động. Startup này mới đây đã ra mắt một ứng dụng ví điện tử gọi là Ola Money để người sử dụng có thể trả tiền cước taxi, nạp tiền điện thoại và mua sắm online.  Bùi Thu Trang dịch  Nguồn: http://www.forbes.com/sites/saritharai/2015/11/18/ola-ubers-india-rival-raises-500m-in-funding-now-valued-at-over-5-billion/            Author                Quản trị        
__label__tiasang Start-up Floating Farm: Nuôi bò sữa trên nhà bè ven sông      Một trang trại nuôi bò sữa trên mặt nước đầu tiên trên thế giới không lâu nữa sẽ xuất hiện tại thành phố Rotterdam Hà Lan.&#160;       Peter van Wingerden, nhà sáng lập đồng thời là  CEO của Start-up Floating Farm nói: “Mặt nước biển dâng cao, đất nông nghiệp ngày càng khan hiếm. Trong khi đó người dân lại tiếp tục đổ về các thành phố lớn nằm ven biển”. Vì vậy các trang trại buộc phải dịch chuyển tới các nơi đó để hạn chế vận chuyển đưa thực phẩm tươi ngon đến người tiêu dùng. Nhưng do đất đai vừa hiếm vừa đắt nên chỉ còn một giải pháp là tận dụng những con sông hay mặt biển”.  Tại Floating Farm, Van Wingerden cùng hai chiến hữu làm việc tại Beladon, việc doanh nghiệp nhiều năm nay đã phát triển một loạt nhà nổi. Việc xây dựng nông trại trên mặt nước là một ý tưởng nghiêm túc của doanh nghiệp này.  Trang trại nổi có diện tích  1200 m2,  có thể tự động sản xuất thực phẩm phục vụ cư dân quanh khu vực – và chỉ cần hai lao động. Tầng trên có mái bằng thủy tinh và nuôi 60 bò sữa. Nền nhà bằng cỏ nhân tạo và có những cây thật giúp cho các con vật sinh sống tại đây chí ít cũng gần với thiên nhiên hơn. Bãi cỏ nổi được cấu tạo để nước tiểu của bò ngấm và chảy vào thùng chứa. Robot vệ sinh thu gom rồi chuyển phân bò vào hệ thống tạo khí sinh học từ đó tạo ra điện  và nhiệt. Ngoài ra trên mái nhà nổi là hệ thống tế bào quang điện để sản xuất điện mặt trời. Cạnh đó còn có hệ thống thu gom nước mưa để làm nước uống cho đàn bò.    Dòng nước trên sông Maas có nhiệm vụ làm mát xưởng chế biến sữa nằm ở phía dưới trại nổi, mỗi ngày sản xuất khoảng 1.500 kg sữa và người tiêu dùng chính là các hộ ở gần trang trại. Ông van Wingerden tin chắc rằng có thể xây dựng các trang trại nổi lớn nuôi tới 200 bò. Chỉ cần có 40 trại bò nổi như vậy là có thể đáp ứng về nhu cầu sữa tươi cho 620.000 cư dân ở thành phố này.   Nuôi bò sữa trên biển, thoạt nghe tưởng như đây là ý tưởng của những người suy nghĩ viển vông nhưng dường như việc này không có gì là phi thực tế và nay mai sẽ trở thành hiện thực. Theo Roel Jongeneel, nhà kinh tế nông nghiệp và chuyên gia về sữa thuộc đại học Wageningen (Hà lan), trang trại nổi hoạt động với các robot không khó về mặt kỹ thuật, công nghệ mà khó vì xa lạ với thói quen thông thường của người dân  „nói đến sữa người ta nghĩ ngay đến khung cảnh thiên nhiên thanh bình với những con bò ung dung gặm cỏ“. Tuy nhiên nhà sáng lập trại bò nổi van Wingerden không quan tâm đến điều đó. Việc chăn nuôi bò sữa kiểu này mới chỉ là bước đi ban đầu, tiếp đến có thể áp dụng vào nuôi gia cầm và trồng rau xanh. Ông nói: “Chúng ta có thể xây dựng các trang trại nổi ở khắp mọi nơi trên thế giới này,  nơi nào có diện tích  mặt nước thích hợp đều có thể áp dụng”. Trong điều kiện mặt nước biển dâng lên thì diện tích mặt nước sẽ không bao giờ khan hiếm.  Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế” 19. 11. 2015    Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup Israel: Cơ hội gọi vốn từ nhà đầu tư Israel      Theo bà đại sứ Isarel, Meirav Eilon Shahar,  nếu những công ty tham gia cuộc thi “Khởi nghiệp cùng Isarel” (Startup  Israel) đủ ấn tượng thì chuyến đi tới Isarel dành cho những người thắng cuộc hoàn toàn là cơ hội để họ  kêu gọi vốn từ những nhà đầu tư tại đây.    Chiều 8/9, lễ khai mạc cuộc thi đã diễn ra tại Bộ KH&CN.   Cuộc thi do Đại sứ quán Israel tại Việt Nam phối hợp với Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức, hướng tới những nhà khởi nghiệp trẻ trong độ tuổi từ 20 – 40 và có doanh nghiệp đã đi vào hoạt động từ hai-ba năm nay. Ba tiêu chí chính được lựa chọn để đánh giá các doanh nghiệp tham gia bao gồm: tính đột phá, tinh thần đồng đội và tính ứng dụng. Các công ty khởi nghiệp tham gia cuộc thi được phân loại thành bốn lĩnh vực: Web, Di động, Nông nghiệp và Khoa học về sự sống. Phần thưởng là chuyến đi thực hành về khởi nghiệp tại Israel, nơi được mệnh danh là quốc gia của các công ty khởi nghiệp (Startup Nation).  Theo bà đại sứ Isarel, Meirav Eilon Shahar, việc tới thăm Isarel và trò chuyện với những nhà đầu tư, những người khởi nghiệp thành công hàng đầu tại đây và chứng kiến một hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động hàng đầu thế giới sẽ giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam học hỏi được nhiều kinh nghiệm. Bà Meirav Eilon Shahar nói, mặc dù Đại sứ quán Isarel chưa có kế hoạch tổ chức một sự kiện gắn kết các nhà đầu tư Isarel với các công ty khởi nghiệp Việt Nam nhưng nếu những công ty tham gia đủ ấn tượng và hấp dẫn thì chuyến đi tới Isarel hoàn toàn là cơ hội để họ kêu gọi vốn từ những nhà đầu tư tại đây.  Bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp, đơn vị đồng tổ chức cuộc thi, cho biết, ngay từ trước khi khai mạc, cuộc thi đã thu hút được sự chú ý của những doanh nghiệp trẻ thuộc các tổ chức khác nhau như hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, các trung tâm khuyến công, các vườn ươm doanh nghiệp đến từ Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Vườn ươm Công nghệ cao TP.HCM, tổ chức VSI kết nối các doanh nghiệp trẻ…  Bên cạnh đại diện của những đơn vị tổ chức cuộc thi, tới dự lễ khai mạc có cả đại diện đến từ những vườn ươm doanh nghiệp và 10 doanh nghiệp khởi nghiệp trong dự án Silicon Valley Vietnam.         Sau vòng loại hồ sơ, tám đội xuất sắc nhất  (mỗi lĩnh vực được chọn hai đội) sẽ vào vòng phỏng vấn cuối cùng, bao  gồm thuyết trình (bằng tiếng Anh) về dự án kinh doanh và phần hỏi đáp  với giám khảo.   Ban giám khảo  sẽ chọn ra bốn đội thắng cuộc và những đội này sẽ được cử bốn đại diện  tham dự khóa tìm hiểu về khởi nghiệp tại Israel vào tháng 12 năm nay.   Hạn cuối nộp hồ sơ là 8/10/2014.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup làm bia từ bánh mì thừa      Toast Ale muốn cắt giảm thực phẩm bỏ đi và tạo cảm hứng cho người tiêu dùng noi theo.      Hãng khởi nghiệp Toast Ale sẵn sàng chia sẻ công thức làm bia từ một phần bánh mì phải bỏ đi cho những công ty quan tâm tới phát triển bền vững.  Nếu bạn mê bia tươi và thích sống xanh, sao lại không nâng ly bia làm từ bánh mì thừa?  Toast Ale khởi nghiệp bên Anh quốc năm 2015 bằng cách giúp các lò bánh mì tái chế bánh mì không còn cách nào khác ngoài vứt đi – và giúp cho công chúng ý thức nhiều hơn về thực phẩm lãng phí. “Thực phẩm lãng phí là một trong những vấn đề môi trường tối quan trọng của thời đại chúng ta”, Joanna Ehrenreich, người đứng đầu các hoạt động của Toast Ale tại TP New York, nơi công ty thành lập cửa hàng hồi tháng 7 vừa rồi. “Chúng tôi muốn tranh thủ thêm nhiều đồng tình của người dân về việc lãng phí thực phẩm. Tôi rất bức xúc về điều đó…”  Một phần ba thực phẩm làm ra ở Mỹ bị bỏ đi, theo cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ. Cụ thể là mỗi năm có hơn 60 triệu tấn thực phẩm dư thừa bị vất bỏ, góp 18% khí thải methane từ các bãi rác. Và cũng chừng đó tỷ lệ bánh mì tại Mỹ bị dư thừa, theo Ehrenreich. Thực phẩm thừa chủ yếu được đổ ở các bãi rác, nơi đó thực phẩm hư thối và phát thải lượng lớn methane – một loại khí nhà kính tác động mạnh góp phần làm trái đất ấm lên.  Nhưng liệu một công ty nhỏ bé như Toast Ale thực sự tạo ra sự khác biệt? Emily Broad Leib, giám đốc học viện Chính sách và luật thực phẩm tại khoa Luật trường Harvard ở Cambridge, Massachusetts, chắc chắn nghĩ như thế. “Các sản phẩm từ ngũ cốc như bánh mì là những thực phẩm bị vất bỏ phổ biến nhất ở cả tại Mỹ và Anh”, Leib trao đổi với NBC News qua một email. “Các mô hình doanh nghiệp tìm được công dụng mới cho bánh mì dư thừa, do đó có tiềm năng đáng kể giúp giảm lượng thực phẩm bị đổ bỏ…”  Darby Hoover, một chuyên gia cao cấp về tài nguyên trong chương trình Thực phẩm và nông nghiệp tại hội đồng Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, một tổ chức bảo vệ môi trường phi lợi nhuận ở TP New York, đồng tình với đánh giá của Broad Leib. “Chúng tôi quý trọng những công ty chuyển đổi mục đích thực phẩm bị vất bỏ một cách tích cực và biến các thứ đó thành các sản phẩm hữu ích”, bà nói và cho rằng Toast Ale là một điển hình tốt về một sáng kiến tái sử dụng thực phẩm.  Những sáng kiến đó đang ngày càng phổ biến. Chẳng hạn, nhiều siêu thị hiện nay chuyển đổi mục đích sản phẩm méo mó hoặc bị lỗi thường bị vất bỏ, và một số nhà hàng sáng tạo những món ăn bằng cách tận dụng những thứ bỏ đi như các cọng lá của củ cải. Các đối tác của Toast Ale là các hãng bánh mì đặc biệt cung cấp bánh mì thừa. Ở TP New York, bánh mì thừa cung cấp cho hãng là từ một lò bánh mì hữu cơ quy mô gia đình, Ehrenreich cho biết. Quy trình làm bia của công ty tương tự như các hãng bia truyền thống – chỉ có điều bánh mì được thay thế cho một phần ba lúa đại mạch. Và Ehrenreich cho biết, hương vị bia của Toast Ale tương tự với bia của các hãng bia truyền thống.  Ở Mỹ, bia Toast Ale được bán ở TP New York và Long Island và có thể mua trực tuyến, với lợi nhuận được cúng dường cho các tổ chức từ thiện và các tổ chức thực phẩm địa phương đang hoạt động làm giảm thực phẩm dư thừa, công ty cho biết. Nhưng Toast Ale cũng chia sẻ công thức của hãng trên mạng, nên các người làm bia tại nhà có thể chung tay chiến đấu chống lại thực phẩm dư thừa. Như Ehrenreich khẳng định: “Chúng tôi muốn tạo cảm hứng cho một phong trào trên khắp thế giới”.  Khởi Thức  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup ở California phát triển các vi robot có thể di chuyển trong não      Gửi những robot bé tí vào sâu bên trong đầu người để điều trị các bệnh rối loạn về não đã là chủ đề của nhiều tác phẩm khoa học viễn tưởng. Nhưng nó có thể trở thành hiện thực, theo một công ty khởi nghiệp ở California là Bionaut Labs.    Bionaut Labs lên kế hoạch thử nghiệm lâm sàng pha đầu trên người với sản phẩm các con robot có thể cấy vào người trong khoảng hai năm tới. Những con robot này được nam châm hướng dẫn di chuyển trong não.  “Ý tưởng về robot nhỏ tí đã có từ trước khi tôi ra đời”, đồng sáng lập và CEO Michael Shpigelmacher nói.  “Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất là cuốn sách của Isaac Asimov và một bộ phim mang tên ‘Chuyến du hành kỳ diệu’, nơi một nhóm các nhà khoa học trên một con tàu không gian cực nhỏ đi sâu vào bên trong não người để điều tị bệnh huyết khối”.  Giống như một chiếc điện thoại di động hiện tại chứa những thành phần vô cùng quyền lực nhở hơn cả một hạt bột, nhóm nghien cứu đằng sau các robot siêu nhỏ ‘đã sử dụng khoa học viễn tưởng của những năm 1950 và 1960” để biến thành “sự thật khoa học” ở thời điểm hiện tại, Shpigelmacher nói.  “Chúng tôi muốn biến một ý tưởng cũ và đưa nó thành hiện thực”, nhà khoa học này nói với AFP trong khi giới thiệu một vòng quanh trung tâm R&D của công ty ở Los Angeles.  Làm việc với các nhà nghiên cứu xuất sắc ở các viện nghiên cứu Max Planck, Đức, Bionaut Labs đã sử dụng năng lượng từ để điều khiển robot – hiệu quả hơn so với các kỹ thuật quang hoặc siêu âm – bởi vì không ảnh hưởng đến cơ thể người.  Những vòng xoắn từ được đặt bên ngoài hộp sọ bệnh nhân liên kết với một máy tính có thể điều khiển từ xa robot tí hon vào trang khu vực ảnh hưởng của não, trước khi loại bỏ nó theo cùng cách.  Toàn bộ thiết bị đều dễ mang theo, không giống như máy cộng hưởng từ và sử dụng với lượng điện năng thấp hơn từ 10 đến 100 lần.  CEO và sáng lập Bionaut Labs Michael Shpigelmacher hiển thị robot y khoa tí hon có thể điều khiển từ xa mang tên Bionaut do công ty của mình phát triển, ứng dụng cho điều trị y học.  Trong một mô phỏng, robot – một ống trụ kim loại chỉ dài cỡ vài millimeters, trong hình dạng của một viên đạn tí hon – chuyển động chậm chạp trên lộ trình đã được lập trình thông qua một bình chứa đầy gel, mô phỏng sự đậm đặc trong não người.  Một khi gần với một túi đầy chất lỏng màu xanh lam, robot chuyển đổi nhanh chóng giống như một loại rocket và xuyên qua thành túi bằng mũi nhọn, cho phép chất lỏng thoát ra ngoài.  Các nhà sáng chế hi vọng, robot có thể xuyên thủng các vỏ nang bao quanh các chất lỏng bên trong não khi thử nghiệm lâm sàng, dự kiến sẽ bắt đầu vào hai năm tới.  Nếu thành công, quá trình này có thể hữu dụng trong điều trị hội chứng Dandy-Walker, một chứng bệnh về não hiếm gặp nhưng khiến trẻ em chậm phát triển, đặc biệt là các kỹ năng vận động như bò, đi và phối hợp các động tác.  Những người mắc bệnh bẩm sinh có thể có các nang với kích thước bằng quả bóng golf, vớisự phình ra và tăng áp lực lên não, kích hoạt các điều kiện thần kinh nguy hiểm ở người mắc.  Bionaut Labs đã thử nghiệm các robot trên các mô hình động vật lớn như cừu và lợn, và “dữ liệu cho thấy công nghệ này an toàn với chúng ta”, Shpigelmacher nói.  Nếu được các cơ quan có thẩm quyền chấp nhận, các robot nay có thể vượt qua những công nghệ điều trị các bệnh rối loạn về não hiện hành.  “Ngày nay, phần lớn các ca phẫu thuật não và can thiệp não đều bị giới hạn ở những đường thẳng – nếu không có đường thẳng hướng tới mục tiêu, bạn sẽ mắc kẹt và sẽ không đến được đó”, Shpigelmacher nói.  Công nghệ vi robot “cho phép anh chạm đến các đích đến mà trước đây anh không thể chạm đến, và chạm đến nhiều lần theo quỹ đạo an toàn nhất có thể”, anh cho biết thêm.  “Tăng nhiệt”  Cơ quan Quản lý Dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) năm ngoái đã đồng ý đề xuất của Bionaut Labs trên đường tiến đến các pha điều trị lâm sàng hội chứng Dandy-Walker cũng như u nguyên bào thần kinh đệm – những khối u não thường được coi là không thể mổ được.  Trong trường hợp sau, các vi robot sẽ được sử dụng để tiêm các thuốc chống ung thư trực tiếp vào các khối u não.  Các phương pháp điều trị hiện hành bao gồm bắn phá thuốc vào toàn bộ cơ thể, có thể dẫn đến các tác dụng phụ tiềm năng và mất mát tác dụng chính, Shpigelmacher nói.  Các vi robot có thể thực hiện các đo đạc và thu thập các mẫu mô bên trong não.  Bionaut Labs – với 30 nhân viên – đã thảo luận với nhiều đối tác cho việc sử dụng công nghệ đó của mình để điều trị nhiều chứng bệnh khác ảnh hưởng đến não như Parkinson, chứng động kinh hoặc đột quỵ.  “Theo hiểu biết tốt nhất của hiện nay của tôi thì chúng tôi đang có trong tay nỗ lực thương mại đầu tiên” để thiết kế một sản phẩm dạng này với “một con đường rõ ràng cho các pha điều trị lâm sàng”, Shpigelmacher nói.  “Nhưng tôi không nghĩ là chúng tôi là người duy nhất… Lĩnh vực này đang nóng dần lên”.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-california-start-up-tiny-robots-fantastic.html  https://www.euronews.com/next/2022/04/16/this-start-up-wants-to-send-tiny-injectable-robots-into-human-brains-to-fight-cancer    Author                .        
__label__tiasang Startup thiếu người – do đâu?      Nguồn nhân lực không phải là kết quả của những gì bạn làm mà là thứ sẽ vận hành doanh nghiệp của bạn -Steve Wynn.    “Startup là một tổ chức mang tính tạm thời, được thành lập để đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh nhân rộng ra được và lặp lại được”. Trong quá trình tìm kiếm đó, đội nhóm – con người là một yếu tố mang tính quyết định đối với việc startup có thể đi tiếp được hay không.   Không phải ngẫu nhiên nhà đầu tư hay các chương trình tăng tốc lựa chọn những startup có các thành viên đã từng làm việc với nhau trong một thời gian đủ dài để thẩm định khả năng bền chặt. Lí do đơn giản là bởi, các nhà đầu tư có thể hỗ trợ các bạn kỹ thuật để tăng trưởng đột phá cho sale và marketing nhưng không có một kỹ thuật nào tạo ra tăng trưởng đột phá về con người! Và cũng chính vì vậy, đây là một bài toán khó giữa tình trạng tạm thời và tầm nhìn dài hạn của người sáng lập.         “Đừng tuyển người làm việc cho bạn vì tiền mà tuyển người làm công việc đó vì niềm yêu thích dành cho nó”–Henry David Thoreau.      Gần đây tình trạng thiếu nhân sự cấp trung và một số vị trí chủ chốt trong các startup ngày càng bộc lộ rõ nét và số đông startup vẫn đang loay hoay với lời giải cho bài toán nhân lực. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin phép tiếp cận từ góc nhìn tư duy chiến lược của startup – cần hay không chiến lược nhân sự dài hơi trong startup và bắt đầu từ đâu?   Thế khó trong tuyển dụng  Điều dễ hiểu là startup với nguồn lực hạn chế rất khó tìm nhân sự có trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng tốt để trả lương cao nên thông thường, lựa chọn an toàn chính là tìm các bạn trẻ với kỹ năng vừa phải, ít kinh nghiệm để có thể hài hòa quỹ lương và số nhân sự. Ưu điểm của việc tuyển dụng các nhân sự này ngoài việc hạn chế việc phình to quỹ lương, còn tạo ra một văn hóa trẻ trung phù hợp với phong cách của các startup. Tuy nhiên, nhược điểm của việc tuyển dụng các nhân sự trẻ là doanh nghiệp thường xuyên phải đối diện với rủi ro phải đào tạo liên tục, phải tuyển liên tục do tình trạng nghỉ việc đột ngột, thái độ làm việc thiếu chuyên nghiệp và mức độ gắn kết thấp.  Đến đây, có nhiều lập luận cho rằng, với nguồn lực ít ỏi, startup có thể thay vì tuyển nhiều nhân sự “vừa vừa” thì dồn toàn lực để tuyển và sử dụng những nhân sự “cứng cáp” hơn, có thể đảm đương nhiều công việc hơn và không phải mất thời gian đào tạo sau tuyển dụng. Cũng vì thế, quỹ lương sẽ mang tính tập trung cao hơn cho những nhân sự tốt, chế độ phúc lợi cho họ tốt và tỷ lệ gắn kết lâu dài. Tuy nhiên, thực tế thì để tuyển những người này vốn không đơn giản. Việc có kinh nghiệm trước đó như một con dao hai lưỡi. Kinh nghiệm giúp startup đi xa hơn nhưng đồng thời cũng khiến văn hóa doanh nghiệp có xáo trộn không nhỏ. Việc xuất hiện những người giàu kinh nghiệm trong tổ chức mà có tư duy cứng nhắc có thể khiến văn hóa doanh nghiệp mong manh hình thành ở các startup có nguy cơ đổ vỡ. Chính vì vậy, việc tìm người “phù hợp” mới là yếu tố then chốt.   Với nhóm startup nhận vốn đầu tư, có tiền để trả lương thì vẫn không dễ tuyển dụng. Phần lớn các startup sau khi nhận được vốn đầu tư đều chi từ 50-70% số tiền cho việc tuyển dụng và sử dụng nhân sự. Với nhóm startup này, nhận tiền đầu tư đồng nghĩa với họ phải tăng trưởng mạnh mẽ hơn do đó quy trình phải chuyên nghiệp hơn, tốc độ xử lý nhu cầu của khách hàng phải nhanh hơn và sản phẩm phải tốt hơn. Nhu cầu tuyển dụng của họ xoay quanh những vị trí trưởng nhóm, trưởng phòng, giám đốc vận hành và thậm chí là CEO. Nhu cầu cao, có ngân sách để trả lương, nhưng việc tìm được người đáp ứng được nhu cầu cũng gian nan không kém vì trên thực tế thị trường thiếu hụt nhóm nhân sự cấp trung và cấp cao này. Với đặc thù đa phần là nhóm công nghệ, tương tác với thị trường nước ngoài nhiều nên việc tuyển dụng những vị trí này đòi hỏi những nhân sự có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và cả năng lực tiếng Anh tốt. Khi tiếng Anh vẫn là điểm bất lợi của nhân lực Việt Nam, thì việc tìm được những người đáp ứng đúng và đủ nhu cầu vẫn còn gian nan với startup.   Những nguyên nhân nội tại…  Tuy nhiên, những khó khăn đó không chỉ xuất phát từ khó khăn của thị trường nhân lực nói chung mà phần nào cũng xuất phát từ chính tầm nhìn và chiến lược của startup. Việc thiếu tầm nhìn và chiến lược dài hơi mà chỉ chạy theo các mục tiêu ngắn hạn luôn đẩy startup vào thế thiếu người luẩn quẩn và gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững của startup.   Không xây dựng văn hóa doanh nghiệp ngay từ đầu: Không thể phủ nhận, việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp giai đoạn đầu phụ thuộc rất nhiều vào người sáng lập và lãnh đạo, những giá trị người đó theo đuổi và tầm nhìn mà người đó xác lập. Trong khi startup còn phải đặt câu chuyện sống còn tính bằng ngày bằng tháng, thì khó có thể nói về việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Tuy vậy, ở giai đoạn đầu, văn hóa doanh nghiệp có thể rất đơn giản ở việc hình thành các tiêu chí tuyển dụng, lộ trình xây dựng hoàn thiện đội nhóm. Thay vì lựa chọn con người theo lương, startup có thể lựa chọn con người vì tư duy (mindset) và thái độ để đưa đúng người vào tổ chức. Về dài hạn, việc lựa chọn đúng người phù hợp với văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp giảm thiểu rủi ro.      Khảo sát nhanh được tiến hành trên 200 nhóm/công ty/ tổ chức khởi nghiệp được KisStartup thực hiện từ tháng 11.2018 đến 5.2019 cho thấy, khó khăn lớn nhất sau thiếu vốn của startup chính là tìm kiếm nhân sự. Gần 50% doanh nghiệp được hỏi chia sẻ họ thực sự đau đầu kiếm nhân sự trong lĩnh vực công nghệ thông tin (học máy, dữ liệu lớn v..v), quản trị marketing, bán hàng.        Không xây dựng đội ngũ mà chỉ thuê người: Do bận rộn và những hỗn loạn ban đầu, rất ít sáng lập viên của các startup có thời gian phát triển nguồn nhân lực về dài hạn. Họ chỉ tìm thuê người khi cần và trong một số trường hợp chấp nhận sự khuyết thiếu nhân sự tạm thời. Thiếu tính toán về nhu cầu nhân sự trung hạn sẽ không thể giúp doanh nghiệp hình thành các chương trình tuyển dụng, thực tập chuẩn bị cho nhân sự dài hơi. Việc tuyển dụng gấp gáp vào những phút cuối có thể dẫn đến những rủi ro khó lường về văn hóa doanh nghiệp.   Thờ ơ với chiến lược quản trị nhân sự: Nói đến chiến lược quản trị nhân sự có vẻ sẽ quá to tát với những tổ chức còn đang đi tìm kiếm mô hình kinh doanh, nhưng trên thực tế, việc chưa đặt chiến lược này vào trọng tâm phát triển của doanh nghiệp sẽ làm tất cả những chiến lược khác trở nên vô nghĩa. Từ hoạt động bán hàng cho đến marketing, v..v đều cần đến con người phù hợp với công việc và phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp. Thiếu chiến lược nhân sự, doanh nghiệp sẽ không thể có đủ người cho những chiến lược và kế hoạch mình vạch ra. Hơn 90% số startup trong cuộc khảo sát của chúng tôi không có chiến lược quản trị nhân sự dù chỉ ở mức cơ bản.  Nếu mô tả startup là những nhóm có chung đam mê sở thích, chuyển mình từ tìm kiếm một mô hình kinh doanh sang việc tìm được và vận hành nó, những khó khăn vướng mắc và ngay cả sự thiếu chuẩn bị để trở thành một doanh nghiệp là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nhân sự cũng giống như xây dựng dần khung để cả cỗ máy vận hành, nếu không có sự chuẩn bị, thì cỗ máy không thể tiến về phía trước và ngay cả việc đi tìm mô hình kinh doanh cũng không đảm bảo sẽ diễn ra suôn sẻ. Startup không phải là một cuộc chơi của những đứa trẻ, nó là một sự đầu tư nghiêm túc và phải có tầm nhìn cho việc sẽ lớn và thậm chí phải lớn rất nhanh vì vậy, nó cũng đòi hỏi các sáng lập viên phải có tầm nhìn và sẵn sàng thoát ra khỏi tư duy tạm thời để có thể tiến những bước dài hơn để tăng trưởng đột phá.        Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Startup Việt đã đến lúc… ra gió      Nếu như trước đây, các cuộc thi khởi nghiệp thường dừng lại ở những giải thưởng thiên về vật chất trong nước, năm nay có vẻ các startup Việt đủ lông đủ cánh vươn đến thử thách lớn hơn: ra thế giới.      Nhóm Abivin nhận giải nhất trị giá 1 triệu USD tại Startup World Cup 2019. Ảnh: Abivin.  Những ngày gần đây, cộng đồng khởi nghiệp xôn xao với thông tin công ty startup Abivin giành giải nhất cuộc thi Startup Worldcup 2019 diễn ra tại Mỹ, với phần thưởng lên đến 1 triệu USD. Đây có thể xem là một trong những dấu ấn đáng tự hào nhất của cộng đồng khởi nghiệp Việt, không chỉ vì giá trị của phần thưởng, mà còn vì công ty chuyên về nền tảng công nghệ logistics này đã vượt qua hàng trăm đối thủ mạnh đến từ khắp nơi trên thế giới.  Đã hết sợ… gió  Trao đổi với Thế Giới Hội Nhập, đại diện công ty cho biết: “Trước mắt, Abivin sẽ tập trung cho khu vực ASEAN với các thị trường tiềm năng như Myanmar, Malaysia, Singapore hay Thái Lan, hoặc một số nước trong khu vực châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản. Lý do vì phần mềm Abivin vRoute được thiết kế phù hợp các thị trường này, với các đặc điểm như phương tiện vận chuyển bằng xe máy chiếm tỷ lệ lớn, đường sá nhỏ hẹp, nhiều ngõ ngách…”  Từ góc độ tổ chức, có thể thấy những cuộc thi khởi nghiệp của năm 2019 cũng đã gắn kết nhiều yếu tố trong nước với quốc tế. Với cuộc thi khởi nghiệp toàn quốc dành cho sinh viên – VietChallenge 2019 – các đội mạnh nhất được chọn ra từ hai vòng bán kết khu vực Hà Nội và TP.HCM, sẽ tham gia tranh tài tại vòng chung kết khu vực, diễn ra vào ngày 28/6 tại Hà Nội. Hành trình tiếp theo của các đội sẽ là thành phố Boston, bang Massachusetts, Hoa Kỳ, cái nôi của học thuật, công nghệ và khởi nghiệp của toàn thế giới. Đêm chung kết VietChallenge diễn ra vào tháng 9/2019.  Không chỉ có những cuộc thi khởi nghiệp nhấn mạnh đến yếu tố công nghệ và công nghiệp 4.0, năm nay, cuộc thi Khởi nghiệp nông nghiệp 2019 do trung tâm BSA phối hợp cùng Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cũng mang lại nhiều giá trị quốc tế cho thí sinh. Bà Vũ Kim Anh, thành viên ban tổ chức cuộc thi, cho biết: “Một nét mới của cuộc thi năm nay, đó là mười suất học bổng dành cho các nhóm đoạt giải nhất, nhì, ba và cho dự án được đánh giá cao khác. Các nhóm sẽ được tham gia chương trình huấn luyện đào tạo chuyên sâu trong vòng 3 – 5 tháng, nhằm tăng tốc dự án khởi nghiệp tài nguyên bản địa bằng sức mạnh công nghệ, nâng cao năng lực, phát triển dự án tiếp cận nhà đầu tư trong và ngoài ngước, thương mại hoá sản phẩm thành công. Từ đó, chúng tôi hy vọng sẽ đào tạo thành công 2 – 3 dự án có sản phẩm tiềm năng, phù hợp được tham gia hội chợ Nông sản quốc tế tổ chức thường kỳ tại Thái Lan vào năm 2020”.  Có vẻ như sau vài năm trào lưu startup lan rộng khắp cả nước, cả ban tổ chức các cuộc thi lớn lẫn các nhóm khởi nghiệp Việt đều đã hết e ngại… ra gió, sẵn sàng dong buồm ra biển lớn.  Lạc quan trong thận trọng  Trong buổi trò chuyện do câu lạc bộ cựu sinh viên Harvard Việt Nam và đại học Fulbright Việt Nam đồng tổ chức, với chủ đề “Tư duy toàn cầu, hành động địa phương”, có hai vị khách mời đặc biệt đã chia sẻ về con đường khởi nghiệp của mình từ khi tốt nghiệp MBA Harvard hơn 25 năm trước. Đó là chị Đinh Thị Hoa và anh Trần Vũ Hoài, hai nhà đồng sáng lập công ty Galaxy, một trong những công ty kinh doanh phim ảnh, truyền thông có ảnh hưởng nhất thị trường hiện nay.  Chia sẻ với các bạn trẻ đang háo hức khởi nghiệp, nữ chủ tịch Galaxy cười, nói: “Startup không nên mơ mộng khi nghĩ rằng mình khởi tạo doanh nghiệp để tạo ra giá trị cho xã hội. Tôi tin rằng nếu chúng tôi cũng nghĩ như vậy, có lẽ Galaxy đã không tồn tại được đến hôm nay. Các doanh nhân thường sẽ chú trọng đến việc làm sao để kiếm ra tiền, tạo ra một cỗ máy tạo dòng tiền bền vững và phát triển.Vào bước đầu của doanh nghiệp, điều đó nên được ưu tiên hàng đầu”.  Anh Trần Vũ Hoài bổ sung: “Trong thời gian qua, tôi gặp gỡ và tiếp xúc nhiều với các startup. Theo tôi thấy, 90% các nhóm đều hơi thiếu thực tế. Các bạn có một tầm nhìn rộng lớn, mong muốn scale up (phát triển nhảy vọt) rất nhiều, nhưng điều gì nằm ở giữa bước khởi đầu và giai đoạn lớn mạnh thì các bạn còn… lơ mơ, thậm chí hoàn toàn không biết về cách quản trị nguồn lực hay tài chính. Đôi khi tôi cũng mong các bạn đừng nghĩ quá nhiều vể cách mạng 4.0, các công nghệ mới chỉ là phương tiện.Trước hết, các bạn hãy tạo ra những công ty thoả mãn nhu cầu của người dùng”.  Nhìn lại quá trình khởi nghiệp 25 năm qua, từ khi gầy dựng Galaxy đến nay, anh Hoài chia sẻ: “Điều quý giá nhất khi khởi nghiệp hoặc kinh doanh nói chung từ partner (cộng sự), đó là tình bạn. Các bạn cần trải qua rất nhiều thăng trầm để hiểu được những giá trị cốt lõi của đối tác, của cộng sự, và từ đó mới có tình bạn trong kinh doanh. Tôi đúc kết ra rằng, phải trên 90% giống nhau về các giá trị thì mới đi chung với nhau lâu dài và thành công được”.  “Thế giới bây giờ tinh tế và sâu sắc hơn ngày xưa nhiều lắm, nên các bạn trẻ cũng có nhiều cơ hội hơn, nhiều kiến thức hơn để tạo lập những mô hình kinh doanh mới, và hãy mạnh dạn chỉnh sửa nếu thấy mình đang mắc sai lầm” – chị Đinh Thị Hoa, đồng sáng lập công ty Galaxy.  Anh Tú (theo TGHN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup Việt ra thế giới: Hãy bắt đầu từ những nhu cầu thiết thực      Từ trước đến nay, chúng ta vẫn yêu cầu các startup phải có tư duy toàn cầu và đòi hỏi Việt Nam cần có chính sách để thu hút các nhà đầu tư quốc tế nhưng dường như chúng ta phần nào quên mất rằng, trước khi nhìn ra thế giới, chúng ta cần phải nhìn vào môi trường trong nước đã. Đó cũng chính là chủ đề của Diễn đàn chính sách cấp cao về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vào ngày 30/11, trong khuôn khổ TECHFEST 2018.       Bà Susan Amat, thành viên ban quản trị Global Entrepreneurship Network có mặt tại buổi hội thảo chia sẻ rằng, chính phủ không bao giờ nên đặt mục tiêu là sẽ thu hút thêm nhiều tiền đầu tư, mà cứu cánh là tạo ra nguồn lực sẵn sàng để bất kì startup nào, đến từ đâu cũng có thể tiếp cận, làm sao để họ tìm được “nhà của mình”. Bước ra sân chơi toàn cầu, Việt Nam cần thể hiện mình là một quốc gia thực sự cởi mở với startup. Chính phủ cần phải thay đổi từ tư duy của một nhà đầu tư, mang tính chất áp đặt là kỳ vọng startup phải thành công, có nhiều doanh thu, tạo ra nhiều việc làm sang tư duy của một người “phục vụ khách hàng”, đưa ra các giải pháp để hỗ trợ startup phát triển.        Để bước ra sân chơi toàn cầu, Việt Nam cần thể hiện mình là một quốc gia thực sự cởi mở với startup. Trong ảnh: Thủ Tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Lãnh đạo các Bộ, ngành tham quan gian hàng triển lãm Làng Nông nghiệp. Ảnh: TTTT           Quan điểm của bà Amat cũng được chia sẻ bởi ông Peter Ong, người đứng đầu Singapore Enterprise. Ông cho rằng, sở dĩ hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore trở thành một trong những nơi hấp dẫn nhất trên thế giới, đó là vì nó đã tận dụng lợi thế nhỏ của mình (hầu hết các startup, quỹ đầu tư, cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở đây đều tụ tập ở một khu vực gọi là Launch Pad, gồm nhiều block nhà chung cư cũ được cải tạo lại thành không gian làm việc) để nắm bắt rõ ràng nhu cầu, thậm chí từng cá thể trong hệ sinh thái và đáp ứng nó. Chính vì vậy, khởi nghiệp ở Singapore là một hành trình dễ dàng hơn.       Nếu những doanh nghiệp lớn vẫn còn chần chừ, chưa dám mở lòng ra với công nghệ mới thì “chính phủ phải thể hiện tinh thần sẵn lòng làm việc với startup” trước.        Một trong những cách chính phủ tỏ ra “thân thiện” với startup, đó chính là trở thành những khách hàng đầu tiên “thí nghiệm” sản phẩm của họ. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu, với 70% startup đang gọi vốn đều có yếu tố nước ngoài (theo thống kê của ông Phạm Thành Hưng, nhà đầu tư mạo hiểm vốn được biết đến qua chương trình truyền hình thực tế Shark Tank) và 40 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, có lẽ không cần phải bỏ công để mời các nhà đầu tư nước ngoài vào nữa ở thời điểm hiện tại. Theo ông, điều cần thiết bây giờ là chính phủ “phơi bày” ra những khó khăn của Việt Nam, những nhu cầu cấp bách cần phải giải quyết trong mọi lĩnh vực, kỳ vọng đây sẽ là bài toán chờ lời giải của các startup.        Trong ảnh: Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ Trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh trao đổi cùng các diễn giả: Bà Susan Amat (bìa trái), ông Peter Ong (thứ hai từ trái sang), ông Ashran Dato Ghazi (bìa phải). Ảnh: TTTT.  Theo ông Ashran Dato Ghazi, Giám đốc MAGIC, Malaysia, Chính phủ nước này cũng có một chương trình tương tự như vậy. Ngoài việc mới đây họ lập ra Bộ phát triển Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo (Ministry of Entrepreneur Development), chính phủ nước này còn thay đổi nhiệm vụ của quỹ Mavcap, tài trợ cho những doanh nghiệp lớn kết nối với startup để thực hiện một dự án áp dụng công nghệ mới và nền tảng Sáng tạo mở Quốc gia, theo đó tất cả các bộ ngành đều phải tự nghĩ về những khó khăn của mình và đặt hàng các startup giải quyết. Ông cho rằng, nếu những doanh nghiệp lớn vẫn còn chần chừ, chưa dám mở lòng ra với công nghệ mới thì “chính phủ phải thể hiện tinh thần sẵn lòng làm việc với startup” trước. Ông Emmet Mcelhatton, Quản lý kinh doanh và thương mại, khu vực công và tư nhân New Zealand nói thêm rằng, để chính phủ làm việc với khối tư nhân thành công, cần có một đội ngũ có tư duy và hành động theo hướng khởi nghiệp tinh gọn, theo phương pháp Agile, nghĩa là liên tục lấy phản hồi của đối tượng thụ hưởng chính sách để có điều chỉnh linh hoạt.      Với cách nghĩ này, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam trả lời: “tôi không lo về vốn” khi được hỏi về hạn chế trong chính sách bảo toàn vốn, không cho phép sử dụng tiền ngân sách tham gia đầu tư mạo hiểm. “Vốn không phải là tất cả, ngoài ra còn có những hỗ trợ khác” – ông cho biết. “Những hỗ trợ khác” đó, chính là tạo ra cơ hội để startup có thể hợp tác với chính phủ, giải quyết những bài toán thiết thân của người dân trong một nền kinh tế thị trường vẫn chưa thực sự hoàn thiện: “Làm startup không nhất thiết là phải nghĩ ngay đến thế giới, nghĩ ngay mình phải trở thành công ty tỷ phú, triệu phú. Hãy bắt đầu bằng những việc tưởng chừng rất nhỏ, từ những nhu cầu rất thiết thực: như trồng cây gì, nuôi con gì, làm sao để người nông dân tiếp cận với thị trường, làm sao để người bệnh không phải đợi lâu hoặc xếp hàng…Nếu các bạn thấy có nhu cầu và các bạn có ý tưởng, cách làm khác biệt với những gì người khác đã làm, các bạn hãy bắt đầu từ trong nước rồi ra đến thị trường quốc tế”.    Đồng quan điểm với Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh nhấn mạnh, cần phải “thúc đẩy tư duy toàn cầu với vấn đề địa phương”. Đồng thời, “vai trò của chính phủ không chỉ là cơ quan hỗ trợ, đồng hành, chăm lo phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, tạo môi trường để có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ còn có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các định hướng, chính sách thúc đẩy, kết nối với cộng đồng quốc tế. Đây cũng  là xu hướng chung của thế giới tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy vốn, trí thức, công nghệ được liên tục và hiệu quả”, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh nói.     Tại Diễn đàn đã diễn ra Lễ ký kết các văn bản hợp tác phối hợp giữa Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) với các cơ quan đối tác: Cơ quan phát triển doanh nghiệp Singapore (ESG); Cộng đồng hành động vì khởi nghiệp (ACE); Trung tâm khởi nghiệp Thái Lan – Cơ quan đổi mới sáng tạo quốc gia; Trung tâm Phát triển khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo toàn cầu Malaysia; World Startup Festival (WSF); GASEA (Đức). Tập đoàn VNPT cũng đã ký kết hợp tác với EON Reality Inc (Hoa Kỳ).                Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Startup Việt với vấn đề pháp lý: Thái độ quyết định kết quả      Có một “truyền thuyết” (myth) được lưu truyền trong giới startup là cứ 10 startup thì có 8 dự án thất bại. Trong số những nguyên nhân thất bại của startup trên thế giới do tạp chí Forbes thống kê, hơn một nửa là từ đổ vỡ trong quan hệ nội bộ, những lúng túng trong quan hệ với cơ quan nhà nước hay những câu chuyện “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” trong quan hệ với đối tác… Tất cả những điều đó đều phản ánh những vướng mắc pháp lý nổi bật mà startup nói riêng mà doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nói chung thường gặp phải.    Quản trị nội bộ doanh nghiệp – tề gia rồi mới trị quốc  Mô hình điển hình của các startup là những người cùng nung nấu một ý tưởng sáng tạo, thường là anh em, bạn bè cùng nhau chia sẻ đam mê, từ đó phát triển, thành lập công ty. Để tiết kiệm chi phí và thêm phần yên tâm, trong giai đoạn đầu, startup thường không tuyển dụng lao động ngoài mànhờ người thân, bạn bè giúp đỡ trong hoạt động của công ty. Những tưởng rằng với mô hình hoạt động được xây dựng bằng cả niềm tin và tình thân sẽ ngày một vững bền, nhưng chính mô hình hoạt động này lại tiềm ẩn những nguy cơ “khai tử” startup. Sự không phân tách rõ ràng giữa quan hệ thân thuộc và quan hệ kinh doanh đã dẫn đến không ít những lục đụctrongnội bộ doanh nghiệp. Mập mờ về tỷ lệ vốn góp, không thống nhất về cách thức điều hành, quản lý doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận không công bằng, không tìm được tiếng nói chung trong hoạt động quản trị, tất cả đều trở thành nguyên nhân cho những cuộc chia ly trong nội bộ công ty. Sau những biến cố xảy ra, tình anh em rạn nứt, công ty phải tái cơ cấu trong bối cảnhngười đi kẻ ở. Thậm chí những mâu thuẫn nội bộ nếu không được giải quyết thấu đáo có thể đẩy lên thành tranh chấp dân sự, thương mại, đôi bên cùng kéo nhau đến chốn pháp đình để có được phán quyết cuối cùng.    Một khóa khởi sự dành cho các start up tại BKholdings. Ảnh: BKholdings.  Một vấn đề cần thẳng thắn nhìn nhận là không nhiều DNNVV có hiểu biết pháp luật cơ bản về hoạt động doanh nghiệp. Những kiến thức thông thường như công ty TNHH hai thành viên trở lên phải có Sổ đăng ký thành viên, thành lập doanh nghiệp xong thì phải góp đủ vốn trong 90 ngày… không được nhiềudoanh nghiệpđể tâm biết tới. Hay nhiều trường hợp khi thành lập công ty thì nhất quyết muốn thành lập công ty cổ phần vì nghe có từ “cổ phần” thấy “sang lên mấy phần” dù không biết công ty cổ phần khác công ty TNHH chỗ nào.Cá biệt, có những trường hợp thành lập xong doanh nghiệp màkhông đến công ty tư vấn để lấy Điều lệ, đến khi có tranh chấp về tỷ lệ góp vốn mới đến công ty tư vấn để đòi…Những câu chuyện này đều không hiếm lạ trong giới tư vấn thành lập doanh nghiệp.  Sự thiếu hiểu biết về pháp luật cơ bản còn thể hiện trong mối quan hệ giữa DNNVV với người lao động. Không hiếm tình trạng doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước thời hạn pháp luật quy định, từ chối đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động với lý do tiết kiệm chi phí hay không xây dựng nội quy lao động vì thấy không quan trọng. Khác với mâu thuẫn giữa anh em, bạn bè, những tranh chấp giữa doanh nghiệp với người lao độngtrong nhiều trường hợp khó có thể giải quyết bằng tình cảm, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải mất thời gian và chi phí để theo đuổi việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền.  Quan hệ với cơ quan nhà nước – tiên trách kỷ, hậu trách nhân  Khi bàn tới mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước (CQNN) và doanh nghiệp, không thể không đề cập đến thủ tục hành chính (TTHC). TTHC gắn liền với doanh nghiệp từ khi khai sinh đến khi khai tử và xuyên suốt quá trình hoạt động. Việc thực hiện TTHC khiến phần đông doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV (bao gồm startup) kêu khổ, kêu khó.Tạm bỏ qua những bất cập trong quy định pháp luật hay quá trình giải quyết TTHC của CQNN, cần thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề còn tồn tại của DNNVV nói chung, bao gồm cả startup trong quá trình thực hiện TTHC.       Cần thẳng thắn nhìn nhận là không nhiều DNNVV có hiểu biết pháp luật cơ bản về hoạt động doanh nghiệp      Nhiều DNNVV thực hiện TTHC với tâm lý đối phó, thụ động. Ngay trước khi thực hiện TTHC, doanh nghiệpkhông tìm hiểu thông tin mà chỉ đợitrực tiếp đến CQNN xin tư vấn. Không có sự chuẩn bị trước kết hợp với tâm lý dựa dẫm, trông chờ vào “hướng dẫn cụ thể từ phía CQNN” khiến cho doanh nghiệpthường không bắt được trọng tâm thông tin khi được hướng dẫn, càng không rõ những vấn đề cần lưu ý để tham vấn, thậm chí chuyện đến nhầm cơ quan để xin tư vấn cũng không phải không có. Hậu quả của việc không nắm chắc quy trình thực hiện TTHC là việc chuẩn bị thiếu hồ sơ, điền sai thông tin, nhầm mẫu đơn… Đến lúc hồ sơ bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung, doanh nghiệp lại cho rằng mình bị CQNN gây khó dễ.     Các CEO startup nhận tư vấn của Luật sư Nguyễn Văn Lộc – một trong các chuyên gia pháp lý về M&A và thị trường vốn. Ảnh: Dreamplex.  Một hướng giải quyết cho tình trạng trên là thuê đơn vị tư vấn ngoài để tư vấn/giúp doanh nghiệp thực hiện TTHC. Tuy nhiên, bài toán về chi phí tư vấn và cân nhắc về hiệu quả thực tế khiến doanh nghiệp ngần ngại, đắn đo khi lựa chọn phương thức này. Một ví dụ điển hình cho trường hợp này chính là việc thực hiện các nghĩa vụ về thuế – TTHC có tần suất thực hiện diễn ra khá thường xuyên trong hoạt động của mọi doanh nghiệp. Nghiệp vụ thuế đòi hỏi chuyên môn và kinh nghiệm đặc thù, với quy mô vốn và nhân lực ở mức vừa và nhỏ, việcDNNVV có đội ngũ kế toán chuyên nghiệp để thực hiện các nghĩa vụ về thuế và quản lý, lưu trữ sổ sách, tài liệu kế toán gần như là bất khả thi. Cộng vớiviệc không kịp nắm bắt các thay đổi trong quy định về thuế vốn diễn ra thường xuyên, các DNNVV thường gặp nhiều lúng túng, thậm chí là sai phạm trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ này. Tuy nhiên, giải pháp thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế) để thực hiện nghĩa vụ về thuế cũng không được các DNNVV tìm đến bởi đại lý thuế chỉ được thực hiện các thủ tục về thuế1mà không được thực hiện các dịch vụ về kế toán vốn có quan hệ mật thiết đến các nghĩa vụ thuế. Kể cả có chấp nhận thuê đại lý thuế, không ít trường hợp DNNVV lựa chọn những bên cung cấp dịch vụ không đảm bảo chất lượng với mục đích tiết kiệm chi phí để rồi tiền mất tật mang.  Thái độ của DNNVV khi làm việc trực tiếp với CQNN cũng cần được xem xét. Không ítDNNVVmắc bệnh “sợ” CQNN. Thái độ e ngại, dè chừng CQNN của DNNVV thể hiện ở nhiều khía cạnh như khi đi xin ý kiến tư vấn của CQNN thì không dám hỏi nhiều, sợ “cán bộ phiền”; nhận được công văn của CQNN thì bất an, lo lắng; CQNN xuống thanh tra, kiểm tra thì sợ bị làm khó, bới móc sai phạm, ngay cả khi không có sai phạm gì. Có “sợ” ắt có “kính”, phương thức “kính” truyền thống của DNNVV chính là… phong bì. Hiện tại, việc phát sinh các chi phí không chính thức khi làm việc với CQNN của DNNVV trong một số trường hợp không phải do phía CQNN chủ động mà chính là từ phía doanh nghiệp với quan niệm “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”.  Quan hệ với đối tác, khách hàng – nói lời phải giữ lấy lời  Khi kinh nghiệm kinh doanh không có nhiều, startup thường không lường trước được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, dẫn tới việcvi phạm nghĩa vụ hợp đồng với đối tác như giao hàng không đúng thời hạn, chậm thanh toán giá trị hợp đồng. Bên cạnh đó, cũng có không ít trường hợp DNNVV nói chung còn tỏ ra thiếu chuyên nghiệp trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để bảo vệ mình trong các quan hệ thương mại. Lấy ví dụ, có trường hợp luật sư bị khách hàng chê hợp đồng do luật sư soạn quá dài, quá nhiều điều khoản và yêu cầu rút gọn hợp đồng xuống hai trang, nội dung không quan trọng, chỉ cần ngắn gọn. Hay có những doanh nghiệp từ chối lập giấy ủy quyền, hợp đồng vì cho rằng “anh em tin nhau là chính” rồi cũng chính những người anh em ấy lại đưa nhau ra Tòa để phân xử vì chẳng nhớ đã đàm phán với nhau những gì.Tất cả những yếu tố trên đều có thể ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ giữa DNNVV và khách hàng. Thiệt hại nhẹ thì mất uy tín với đối tác, mất uy tín trên thị trường, vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng có giá trị lớn có thể phát sinh tranh chấp mà nếu giải quyết không thấu đáo, kiện tụng là điều khó tránh khỏi.      DNNVV nói chung còn tỏ ra thiếu chuyên nghiệp trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để bảo vệ mình trong các quan hệ thương mại.      Ngoài khách hàng và đối tác kinh doanh, nhà đầu tư là những người mà startup duy trì mối quan hệ lâu dài. Nhưng nhà đầu tư là “thiên thần” hay “cá mập” thì còn phụ thuộc vào việc startup đánh giá rủi ro pháp lý khi thương thuyết. Việc không suy xét kỹ càng có thể dẫn tới nguy cơ nhà đầu tư đoạt quyền quản lý công ty.Một founder của startup về karaoke từ bà chủ trở thành nhân viên trong chính công ty của mình khi quá tin tưởng vào những hứa hẹn của nhà đầu tư mà không biết rằng nếu nhà đầu tư sở hữu 70% cổ phần công ty, quyền quyết định hoạt động thuộc về họ.  Có câu “30 chưa phải là Tết”, không thể nói trước được khi startup và nhà đầu tư về chung một nhà sẽ không phát sinh tranh chấp. Sau một thời gian chung sức, chung lòng với nhà đầu tư,startup chợt nhận ra rằng thương vụ này quá bất lợi cho mình, nảy sinh tâm lý “nạn nhân” cần được giải cứu. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể may mắn gửi đơn kêu cứu kịp thời và được “giải cứu” êm đẹp như Ba Huân. Đặt vào trường hợp giữa startup và nhà đầu tư, nếu hai bên không thể hòa giảimà phải nhờ đếnnhững biện pháp giải quyết tranh chấp như Tòa án, liệu giữa startup non trẻ và nhà đầu tư với kinh nghiệm thương trường dày dặn, phán quyết của Toà án sẽ nghiêng về bên nào?  Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ -Mất bò mới lo làm chuồng  Đứng trên góc độ khởi nghiệp sáng tạo, trong một số trường hợp, quyền sở hữu trí tuệ (“SHTT”) có vai tròsống còn đối với startup. Tuy nhiên, không phải startup nào cũng có sự quan tâm đúng mức về giá trị của loại tài sản vô hình này.   Tư tưởng này được thể hiện rõ ngay từ ý thức tìm hiểu thông tin về quyền SHTT của các startup nói riêng và DNNVV nói chung. Nhiều doanh nghiệp không hề lưu tâm đến quyền SHTT cho đến khi phát hiện sản phẩm của mình đã bị sao chép, thậm chí chỉ phát hiện sau khi chính doanh nghiệp sao chép đăng ký bảo hộ xong xuôi. Thậm chí, dù có nhận thức về quyền SHTT và tiến hành việc đăng ký bảo hộ thì việc thực hiện quyền lợi này cũng chỉ mang tính đối phó. Tương tự như câu chuyện về Điều lệ đã đề cập ở trên, đã có nhữngdoanh nghiệp khi thuê đơn vị tư vấn thực hiện việc đăng ký có thái độ phó mặc mọi sự cho đơn vị tư vấn, không hề hỏi han tiến độ thực hiện, thậm chí đến văn bằng bảo hộ cũng không buồn lấy về.  Mặt khác, việc không có hiểu biết về quyền SHTT cũng gia tăng khả năng các startup xâm phạm quyền của chủ thể khác. Một thực tế điển hình là trong giai đoạn phát triển ý tưởng về sản phẩm, nhiều startup chưa có thói quen tra cứu về khả năng xuất hiện sản phẩm cùng loại, cùng công dụng đã được đăng ký bảo hộ thành công. Đến lúc nhận được thư phản đối của chủ sở hữu các sản phẩm đã đăng ký, các startup mới “tá hỏa” bởi không chỉ sản phẩm không có khả năng được bảo hộ mà chính startup còn có thể dính vào các vụ tranh chấp tốn kém.   Cần lưu ý rằng, việc đăng ký bảo hộ quyền SHTT thực chất mới chỉ là bước đầu của cơ chế bảo vệ và khai thác quyền SHTT. Trên cơ sở được pháp luật bảo hộ quyền SHTT, các startup ngoài việc có thể tự bảo vệ tài sản của mình khỏi sự xâm hại mà còn có thể tham gia khai thác triệt để giá trị thương mại của quyền SHTT thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh, chuyển giao quyền, thậm chí sử dụng quyền SHTT như biện pháp kinh doanh mang tính chiến lược, dài hạn. Do vậy, startup không bảo vệ tốt quyền SHTT chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ.  ————  Chú thích:  1 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-VPQH năm 2016 hợp nhất Luật Quản lý thuế, Điều 20, khoản 1.    Author                Lê Mai Phương, Lê Hải Linh        
__label__tiasang State of the Map Firenze 2022: Công nghệ dựa trên sức mạnh cộng đồng      Mỗi năm một lần, những người đóng góp và quan tâm đến nền tảng bản đồ mở lớn nhất thế giới – Open Street Map lại tụ hội trong sự kiện State of the Map.     Đại học Florence, nơi diễn ra sự kiện.  Wikipedia của giới bản đồ  Trong thời đại số như hiện nay, bản đồ dần trở thành nhu cầu cơ bản trong cuộc sống hằng ngày. Từ trên phương tiện công cộng, hay các ứng dụng tìm đường, hoặc trang web tương tác đều có sự hiện diện của bản đồ. Hiện nay, một vài trong số những nền tảng bản đồ khá quen thuộc đó là Google Map, Google Street View hay Google Earth cho phép người dùng có thể quan sát quang cảnh đường phố, tình hình xe cộ, địa lý, địa hình của một khu vực để phục vụ cho những mục đích khác nhau từ đời sống hằng ngày đến học thuật. Tuy nhiên, khi các ứng dụng trên được quản lý và phân phối bởi doanh nghiệp như Google, dữ liệu của chúng sẽ bị chi phối bởi lợi nhuận, dẫn đến có những khu vực thiếu hụt thông tin hơn so với khu vực khác.  Những nhà phát triển phần mềm trên thế giới dần nhận ra rằng cần phải có một nền tảng bản đồ phi tập trung, đóng góp bởi nhiều bên và dễ dàng tiếp cận đối với tất cả mọi người. Từ đó những hệ thống bản đồ mở được ra đời, và tiêu biểu trong số ấy là OpenStreetMap (OSM). OSM được Steve Coast khởi xướng vào năm 2004 ban đầu đáp ứng nhu cầu bản đồ tại Anh Quốc, sau đó mở rộng ra toàn cầu phục vụ đa mục đích.   Bản đồ OSM hoạt động và duy trì bởi người dùng, bởi vậy hai yếu tố quan trọng nhất của OSM là công nghệ và cộng đồng. Là bản đồ thế giới miễn phí, có thể dễ dàng chỉnh sửa, cũng giống như Wikipedia, OSM cho phép bất cứ ai cũng có thể bổ sung, chỉnh sửa các đối tượng địa lý trên nó sau khi đã đăng ký tài khoản. Ba yếu tố hình học địa lý cơ bản của OSM là điểm (node), tuyến (way) và liên kết (relation). Điểm lưu trữ dữ liệu vị trí, tuyến bao gồm từ hai đến 2000 điểm, tuyến kín sẽ tạo thành một vùng (area/polygon), nhiều tuyến dài hoặc nhiều vùng liên kết với nhau sẽ tạo thành đa vùng (multipolygon). Hệ thống nhãn (tag) để lưu trữ dữ liệu của một đối tượng. Ví dụ, khi vẽ một công trình, mapper (người vẽ bản đồ) sẽ vẽ một tuyến kín gồm bốn điểm tạo thành một hình chữ nhật, sau đó gắn nhãn “loại công trình” (building=*) hay địa chỉ (address=*) cho đối tượng, lưu lại trở thành một thay đổi (changeset) và tải trực tiếp lên server của OSM.    Việc rèn luyện, tổ chức các khóa đào tạo và nền tảng giáo dục chính là cơ sở để cải thiện chất lượng dữ liệu hiện hữu của OSM    Nhờ tính đơn giản và linh hoạt của mình, mọi người có thể tham gia bổ sung dữ liệu ở những địa điểm chưa hề có bản đồ số hóa. Ngày 12/1/2010, tại Haiti xảy ra một trận động đất với sức tàn phá được xem là  khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại. Trong vòng 48 tiếng sau trận động đất, nhờ hình ảnh vệ tinh độ phân giải cao, cộng đồng OSM đã bắt đầu xây dựng bản đồ nhằm đánh giá ảnh hưởng của thiên tai đến với bản thân khu vực. Sau một tháng cùng 600 tình nguyện viên, bản đồ nền của Haiti đã được hình thành giúp người địa phương cũng như các tổ chức cứu trợ quốc tế có thể thực hiện các hoạt động cứu hộ, cứu nạn. Thời điểm đó Haiti chưa hề có bản đồ chi tiết trên Google Map. Ví dụ này cho ta thấy được bên cạnh công nghệ, sự đoàn kết và tính cộng đồng chính là mấu chốt của bản đồ mở OSM. Và đó là cơ sở sự kiện State of the Map hình thành.  State of the Map (SOTM) là một sự kiện tổ chức thường niên bởi cộng đồng xây dựng bản đồ mở OSM. SOTM là cơ hội để cộng đồng yêu thích và đóng góp cho OpenStreetMap trên khắp thế giới tụ hội và chia sẻ về những đổi mới sáng tạo của họ từ nền tảng bản đồ mở này. Sau hai năm 2020 và 2021 tổ chức Online do đại dịch, cuối cùng SOTM 2022 được tổ chức tại Florence (Firenze), thành phố của đại thi hào Dante và nơi khai sinh của Brunelleschi, cha đẻ của kiến trúc Phục Hưng. SOTM 2022 có sự tham gia của những cộng đồng OSM trên khắp thế giới như Wikimedia Italia – tổ chức phi chính phủ quản lý và điều phối trang bách khoa toàn thư mở Wikipedia ở Ý,  Youthmappers – Liên minh sinh viên các trường đại học đóng góp cho bản đồ nguồn mở, Humanitarian OpenStreetMap Team – Tổ chức sử dụng OSM vì mục đích nhân đạo, UNMappers – Sáng kiến cộng đồng xây dựng bản đồ vì mục đích nhân đạo và hòa bình của Liên Hợp Quốc, The OpenStreetMap Foundation – Tổ chức điều phối và vận hành OSM và hơn hết là chục hàng ngàn đại diện cho những cộng đồng nhỏ hơn đang kiên trì đóng góp cho OSM trên toàn thế giới. Ngoài ra, cũng có những tập đoàn công nghệ như Meta (sở hữu Facebook) và Microsoft.   Độc lập nhưng vẫn chuyên nghiệp?  Chương trình sự kiện SOTM bao gồm các bài nói (talks) của những nhà phát triển công nghệ và xây dựng cộng đồng, tập trung vào những công nghệ, sản phẩm, những nghiên cứu mới hay các kinh nghiệm được đúc rút liên quan đến bản đồ số và những ứng dụng xoay quanh chúng. Một trong số những chủ đề được bàn tán và hưởng ứng là ứng dụng mã nguồn mở Street Complete.   Ứng dụng OSM kết hợp với thực tế ảo để hỗ trợ lực lượng gìn giữ hòa bình.  StreetComplete là một phần mềm vẽ trên OSM. Điểm đặc biệt của Street Complete là được thiết kế dưới dạng game: người dùng sẽ thực hiện một loạt các nhiệm vụ và trả lời các câu hỏi trắc nghiệm để đóng góp dữ liệu lên OSM. Quá trình này sẽ được tính điểm và ghi nhận trên một bảng xếp hạng, ai được điểm càng cao sẽ càng “vinh dự”. Người tham gia Street Complete không cần có bất kì kiến thức cơ bản nào về bản đồ và cũng không cần phải quen thuộc với các công cụ vẽ có phần hơi khô khan của OSM. Trong sự kiện State of the Map vừa rồi, Mateusz Konieczny, một trong những nhà phát triển và đóng góp chính đứng sau Street Complete đã kể lại quá trình phát triển sản phẩm này. Trong đó, cách mà Mateusz kiểm thử khả năng sử dụng của Street Complete là một ý tưởng rất đáng học hỏi với những nhà công nghệ “đơn phương độc mã” phát triển phần mềm cho cộng đồng.   Ai cũng biết rằng, phần mềm nào cũng bắt buộc phải trải qua nhiều bước kiểm thử khả năng sử dụng (usability testing) mới được đưa ra thị trường. Theo đó, những nhà phát triển phần mềm sẽ mời một nhóm người, thường là thuộc khách hàng tiềm năng để dùng thử sản phẩm “nháp” tại chỗ để quan sát và hỏi phản ứng của họ. Thông thường, tổng số người tham gia suốt quá trình phát triển sản phẩm có thể lên tới hàng chục đến hàng trăm người. Usability testing là một quá trình quan trọng nhưng đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Với các công ty lớn về sau kiếm bộn tiền từ sản phẩm thì điều đó không phải là vấn đề lớn. Nhưng còn với những nhà phát triển độc lập thì sao? Phần lớn họ không làm, chính vì vậy, sản phẩm làm ra phần lớn sẽ…không ai dùng bởi quá nhiều khuyết tật.  Từ kinh nghiệm của mình, Mateusz Konieczny cho rằng, usability testing chỉ với ba người là đủ. Ba người đấy có thể là bất kì ai, càng ngẫu nhiên càng tốt: người nhà, người gặp trong quán bar, trong quán beer, trong sự kiện…Sau đó, nhìn cách thức mà ba người họ sử dụng phần mềm của bạn và xem xét sửa chữa những vấn đề chính. ”Đem theo dự án của bạn, bất kể hình hài nó thế nào, trong máy tính xách tay. Bước ra một quán nào đó, không phải là quán say khướt là được mà kiểu tĩnh lặng gần giống như Starbuck ấy. Sau đó hãy tìm ai đó trông giống người dùng mục tiêu của bạn, và mời họ một cốc nước, nếu họ đồng ý thực hiện một nhiệm vụ đơn giản trên phần mềm của bạn trong năm phút, còn bạn thì ghi chép và quay lại màn hình. Thế là với một chút tiền, và 10 phút là bạn có thể được nghe sản phẩm của mình tệ thế nào” Tại sao chỉ cần ba người? Bởi vì sửa sai dựa trên đóng góp ý kiến của ba người là đã có thể tạo ra một sản phẩm cơ bản hữu dụng. Với những sản phẩm phẩm mở, cộng đồng sẽ tiếp tục phát triển và đóng góp cho sản phẩm đó. Với mỗi người đóng góp, họ lại tiếp tục đi hỏi ba người khác để kiểm thử sản phẩm. Và cứ như vậy, sản phẩm sẽ dần hoàn thiện.       Ứng dụng OSM để mô phỏng lại vụ cháy lịch sử Rennes 1972.  Bản đồ mở và hoạt động nhân đạo  SOTM còn giới thiệu các ý tưởng ứng dụng OSM vào các mục đích nhân đạo và phát triển bền vững. Chẳng hạn như UNMappers đã sử dụng OSM để hỗ trợ các lực lượng gìn giữ hòa bình triển khai các chuyến nghiên cứu thực địa. Theo đó, họ vẽ thành phố Mogadishu (Somalia) và Tripoli (Libya) dưới dạng 3D dựa trên dữ liệu của OSM do YouthMappers – liên minh các trường đại học toàn cầu cùng đóng góp cho bản đồ nguồn mở, “chi nhánh” tại Đại học Quốc gia Somali và cộng đồng OSM tại Libya đóng góp. Kết hợp với công nghệ thực tế ảo, lực lượng gìn giữ hòa bình có thể “điều tra” hai thành phố này từ xa, đánh giá những vị trí nào họ có thể/không thể tiếp cận trên mặt đất, thử nghiệm và đánh giá nhiều tình huống có thể xảy ra, lên kế hoạch hành động. UNMappers còn kết hợp với Viện Quy hoạch giáo dục của UNESCO để vẽ mạng lưới đường sá tại vùng Vakinankaratra (Madagascar) trên OSM để giúp Bộ Giáo dục nước này quy hoạch trường học và điều phối học sinh hợp lí hơn, rút ngắn thời gian và quãng đường hằng ngày các em đi bộ tới trường. Trong khuôn khổ SOTM, UNMappers còn giới thiệu Learning Hub, về cơ bản là một khóa học trực tuyến mở về vẽ bản đồ và nhập liệu trên OSM. Dù OSM là nền tảng mở, dễ tiếp cận với tất cả mọi người nhưng nhưng phần lớn dữ liệu được đóng góp bởi những tình nguyện viên với kỹ năng cao. Bởi vậy, việc rèn luyện, tổ chức các khóa đào tạo và nền tảng giáo dục chính là cơ sở để cải thiện chất lượng dữ liệu hiện hữu của OSM.  Tổ chức bác sĩ không biên giới (Médecins Sans Frontières – MSF) cũng có một bài phát biểu tại sự kiện. Họ không chỉ sử dụng dữ liệu của OSM để cứu hộ, cứu nạn tại những nơi vùng sâu vùng xa trên khắp thế giới mà tổ chức này còn có dự án MissingMap (tạm dịch là Bản đồ còn thiếu) đồng tổ chức với Hội chữ Thập đỏ Mỹ. Dự án này kêu gọi, tổ chức sự kiện huấn luyện và đào tạo cộng đồng vẽ bản đồ những nơi dễ bị tổn thương bởi thiên tai và khủng hoảng xã hội, đang là trọng tâm hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.  Ý tưởng nhỏ, cảm hứng lớn  Bên ngoài hội trường của các bài nói chuyện là gian triển lãm poster với những ý tưởng mới, những kinh nghiệm độc đáo trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng OSM. Một trong những ý tưởng độc đáo chính là ứng dụng dữ liệu của OSM và OHM (OpenHistoricalMap – một nhánh dữ liệu bản đồ mở về lịch sử dựa trên công nghệ gốc từ OSM) để mô phỏng lại trận cháy lịch sử đầy sống động tại chính thành phố này 300 năm về trước của bảo tàng Brittany ở Rennes (Pháp).   Thực tế, những người đứng sau dự án này không hề có bản đồ số sẵn từ đầu. Kho OHM chỉ có bản đồ scan từ giấy của thành phố Rennes năm 1720 chứ không phải bản đồ có thể sửa chữa, biên tập được. Sử dụng OSM, các nhân viên bảo tàng đã dựa trên tư liệu scan đó để vẽ lại thành phố trước khi trải qua trận cháy phá hủy hầu như toàn bộ phía Bắc thành phố. Trên nền bản đồ này, người chơi sẽ tự mình xây dựng các công trình thời trung cổ với đồ họa dạng block vốn nổi tiếng với trò chơi Minecraft trên nền bản đồ. Để làm được như vậy, họ cần phải tham quan bảo tàng để hiểu kiến trúc khung gỗ đặc trưng của Rennes vào thế kỉ 18 mà về sau đã bị phá hủy bởi vụ cháy.     ***  Kết thúc sự kiện, những người tham gia như tác giả nhận ra giá trị SOTM2022 thực sự đem lại chính là cơ hội để những người cống hiến, đam mê, hoạt động xung quanh môi trường OSM, những người chỉ biết đến nhau dưới những nickname trên các cộng đồng nguồn mở, gặp nhau sau hai năm tổ chức Online. Trong những bữa trưa hoặc tiệc trà giữa giờ, dưới mái kính của trường Đại học Florence, họ trò chuyện, trao đổi kiến thức, tạo thêm những mối quan hệ mới, những người bạn mới và những cơ hội mới. SOTM thật sự là một “sân chơi”, một sợi dây, mối nối giữa những người đam mê, nhà phát triển, doanh nghiệp, những tổ chức quan tâm tới OSM..□  Chú thích  Hình ảnh và nội dung được ghi nhận tại sự kiện. tham khảo thêm tại trang web chính thức của sự kiện https://2022.stateofthemap.org/   Những thông tin về OSM được đóng góp bởi cộng đồng OpenStreetMap (©OpenStreetMap Contributors)    Author                Kaheetonaa        
__label__tiasang ­­STEM đã đến Hà Giang      Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang vừa trở thành nơi đầu tiên trong cả nước triển khai chương trình giáo dục STEM cho vùng miền có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam do một nhóm các nhà giáo dục và quản lý chính sách địa phương tiếp nhận chuyển giao và biên soạn. Tia Sáng xin giới thiệu bài viết của anh Nguyễn Thành Hải (Viện Nghiên cứu Giáo dục STEM, ĐH Missouri, Mỹ), thành viên chủ chốt của nhóm, về những nét chính của chương trình này.      Anh Nguyễn Thành Hải chuyển giao giáo cụ học tập STEM từ Mỹ về cho chị Hoàng Diệu Thuý, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Cộng đồng TP Hà Giang.   Hiện nay, giáo dục STEM ở Việt Nam có mấy đặc điểm như sau: một là, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn; hai là, các hoạt động giáo dục STEM chủ yếu dừng ở các sự kiện, ngày hội là chính. Chúng tôi kết nối với các chuyên gia giáo dục tại Mỹ đưa giáo dục STEM về Việt Nam trong hoàn cảnh đặc biệt đó.  Theo độ tuổi và xuyên suốt  Chương trình của chúng tôi bao gồm hệ thống các bài học về các chủ đề STEM đa dạng, chủ yếu được tổ chức dưới dạng các hoạt động trải nghiệm, trò chơi, hoặc dự án học tập đơn giản, nhưng được xây dựng và tổ chức có hệ thống và có sự kết nối chặt chẽ giữa các nhóm kiến thức với nhau. Chương trình được tổ chức thành các khóa học ngoại khóa, dành cho trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 16, trong đó đặc biệt quan tâm đến các trẻ em gái1. Từ cấp mẫu giáo, các em được chơi các trò chơi gắn liền với trải nghiệm các giác quan, tư duy phân loại, kỹ năng quan sát… Lên cấp một, các em được học các chủ đề khoa học gần gũi với cuộc sống, từ nước, đất, cây trồng, động vật, môi trường… Lên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, các em được học các chủ đề STEM đa dạng với nhiều hoạt động gắn với kỹ năng thực hành và tư duy bậc cao hơn như: chế tạo các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, sử dụng năng lượng gió, năng lượng nước, phân tích các đặc điểm của đất nông nghiệp, tìm hiểu đời sống của vi sinh vật và các ứng dụng trong đời sống… Các chương trình này được xây dựng theo hệ thống tiêu chuẩn NGSS (Mỹ)2, giúp giáo viên có thể chủ động tổ chức theo hệ thống cấp bậc tịnh tiến và hướng đến các chuẩn mục tiêu đầu ra.  Bên cạnh học sinh là đối tượng chính được thụ hưởng chương trình học STEM, giáo viên ở các địa phương cũng được thụ hưởng các chương trình tập huấn cách giảng dạy và triển khai STEM trong từng lớp học. Chúng tôi cũng mong muốn kết nối với các gia đình có con trong độ tuổi đi học, để kịp thời tư vấn và hỗ trợ theo dõi sự phát triển sở thích, đam mê và năng khiếu của các em thông qua các kênh truyền thông liên lạc thuận tiện đối với phụ huynh.  Thách thức và cơ hội  Để thực hiện chương trình này, chúng tôi phải đối mặt với không ít thách thức, từ nhận thức, nguồn nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất, và cả môi trường văn hóa – xã hội. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, thách thức quan trọng nhất vẫn là làm sao thay đổi quan điểm về dạy và học. Ở Việt Nam, quan niệm “học để thi, để lên lớp” còn phổ biến. Cả giáo viên và học sinh còn bị động trong quá trình dạy và học. Giáo viên chủ yếu dựa vào nguồn thông tin từ sách giáo khoa, việc dạy học còn nặng về tính lý thuyết, ít có không gian và thời gian để thực hành hay liên hệ thực tế. Đối với các vùng miền núi và nông thôn, các khó khăn trên còn tăng lên rất nhiều khi lực lượng giáo viên giỏi ít, cộng thêm điều kiện làm việc của các giáo viên còn nhiều khó khăn. Do đó, giai đoạn đầu triển khai dự án, chúng tôi sẽ tập trung vào công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tại địa phương. Chúng tôi xác định làm công tác giáo dục phải kiên trì và có thời gian thì mới thấy được hiệu quả.  Anh Nguyễn Thành Hải cho biết, việc chuyển giao giáo trình và học cụ sử dụng trong quá trình dạy STEM cho vùng miền có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Library for Creative Kids tại Mỹ (một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận mà anh là thành viên đồng sáng lập) và Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang. Việc chuyển ngữ, biên soạn lại cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam do anh Nguyễn Thành Hải phụ trách và sau khi hoàn thành sẽ đăng ký bản quyền tại Việt Nam. Bộ giáo trình này dự kiến dày khoảng 3.000 trang, gồm hai nội dung: Tài liệu tập huấn giáo viên (đã hoàn thành) và tài liệu hướng dẫn học tập cho học sinh (đã hoàn thành gần 80%, có thể triển khai ngay từ cấp mẫu giáo đến lớp 7, riêng từ lớp 8 đến lớp 10 sắp hoàn thành).    Bên cạnh những khó khăn như đã nêu, chúng tôi cũng nhận thấy có những thuận lợi đặc thù riêng của các địa phương ở miền núi và nông thôn. Đó chính là các bài toán gắn liền với thực tế cuộc sống vô cùng phong phú, có môi trường và không gian tự nhiên gần gũi ở xung quanh. Có những vấn đề tưởng chừng đã cũ, hoặc không còn tồn tại ở các đô thị lớn thì lại là những vấn đề rất phổ biến diễn ra hằng ngày ở các vùng miền núi, nông thôn. Chẳng hạn như đối với Hà Giang, các vấn đề nông nghiệp, vệ sinh sức khỏe cộng đồng, tổ chức du lịch vùng cao… là những bối cảnh rất đặc trưng để dạy học sinh các kiến thức về STEM như khoa học (cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật gây bệnh và có lợi), kỹ thuật (hệ thống tưới tiêu, hệ thống năng lượng, các máy động cơ đơn giản), công nghệ (thiết kế hệ thống thông tin, chỉ dẫn khách du lịch, hệ thống nhà nghỉ tại nhà dân home-stay, các mô hình triển lãm đồ thủ công mỹ nghệ)… Nói chung, khi đi sâu vào đời sống của người dân, của cộng đồng, chúng ta sẽ phát hiện ra rất nhiều vấn đề cụ thể, có thể sử dụng và phát triển thành những chủ đề dạy học STEM sinh động, giúp gắn liền kiến thức với thực hành, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông…  Tận dụng cơ sở vật chất có sẵn  Mặc dù các chương trình giáo dục STEM bắt nguồn từ Mỹ, nhưng chương trình được chúng tôi thiết kế lại phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện giáo dục của các địa phương ở Việt Nam. Chúng tôi thừa nhận rằng hầu hết các hoạt động giáo dục đều cần mức đầu tư nhất định.Tuy nhiên, nếu không phải là hoạt động có tính đặc thù thì phần lớn chương trình giáo dục STEM đều có thể tận dụng cơ sở vật chất có sẵn ở các trường học bình thường tại địa phương. Điểm thú vị là các chủ đề của STEM thường rất đa dạng, có nhiều nội dung dạy học cần rất ít chi phí hoặc gần như không tốn chi phí nào. Ví dụ như đi thăm vườn cây, trang trại để rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích và đánh giá. Học sinh tận dụng các vật liệu có sẵn trong gia đình như hộp giấy, vỏ chai để thiết kế các hệ thống trồng cây thủy canh tại nhà. Điều mà chương trình của chúng tôi chú trọng hơn là vai trò tổ chức và dạy học của giáo viên, trong đó cách giáo viên hướng dẫn học sinh khám phá khoa học, đặt câu hỏi gợi mở, liên hệ thực tế cuộc sống và truyền cảm hứng qua các trò chơi sáng tạo.  Tuy nhiên, trong tương lai, khi tìm được các nguồn lực hỗ trợ, chúng tôi sẽ từng bước bổ sung các thiết bị dạy học hiện đại để các em có thêm trải nghiệm phong phú, như máy in 3-D; hệ thống pin năng lượng mặt trời; hệ thống turbine sử dụng sức gió; các sensor đo nồng độ chỉ số sinh, lý, hóa; các phòng lab sinh-hóa học mini; thiết bị bay điều khiển từ xa (drone)…    Trung tâm Giáo dục Cộng đồng TP Hà Giang đang tuyển giáo viên cho mảng giáo dục STEM để có thể bắt đầu mở lớp vào tháng 10 tới. Trong ảnh: Gặp mặt nhóm tình nguyện viên, chuẩn bị cho lễ khánh thành Trung tâm vào ngày 8/8/2017. Nguồn: Trung tâm Giáo dục Cộng đồng TP Hà Giang.   Thực làm và thực trí  Giáo dục STEM được biết đến như một tiếp cận mới trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực tương lai, trong đó nhấn mạnh sự kết nối giữa bốn lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Mặc dù liên quan nhiều đến kiến thức thuộc bốn lĩnh vực nói trên nhưng mục đích chính của các chương trình giáo dục STEM không phải để biến học sinh thành nhà khoa học, mà chính là truyền cảm hứng sáng tạo và vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống cho các em.  Có nền tảng từ giáo dục khoa học nên các chủ đề của giáo dục STEM rất đa dạng, từ sinh học, hóa học, vật lý học, đến khoa học môi trường,… chứ không chỉ gói gọn trong các hoạt động lập trình và lắp ráp robot. Ví dụ: dạy về sử dụng năng lượng mặt trời cũng được xem là một hoạt động giáo dục STEM trong đó học sinh được học về vật lý, hóa học và cách tính toán các nguồn năng lượng.  Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang là mô hình thử nghiệm dựa trên cơ sở một đơn vị sự nghiệp công lập hợp tác chặt chẽ với các nhóm xã hội, trong đó, vai trò của chuyên gia được đề cao. Các hoạt động chính của Trung tâm, bên cạnh giáo dục STEM, còn có dạy tiếng Anh, giáo dục đặc biệt (dành cho trẻ tự kỷ, khuyết tật trí tuệ, chậm đọc), chăm sóc sức khỏe tâm trí (tư vấn tâm lý các lứa tuổi), thư viện… Các hoạt động này đều được thiết kế, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh nội dung trong trường hợp cần thiết bởi 14 chuyên gia mà nhiều người trong số đó đang nghiên cứu, học tập ở nước ngoài. (T.T)    Giáo dục STEM cũng không chỉ hướng học sinh đến kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học mà hơn thế, còn giúp học sinh rèn luyện tư duy dựa vào lý lẽ và bằng chứng. Bên cạnh đó, do đặc điểm của giáo dục STEM là dựa vào quá trình học thông qua thực hành với sự vận dụng linh hoạt các kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau, người học dễ dàng tiếp cận tư duy liên ngành (interdisciplinary) và giao ngành (transdiciplinary). Hệ thống giáo dục phổ thông tại Mỹ phát triển giáo dục STEM không chỉ dừng ở “thực làm” (hands-on) thông qua trải nghiệm mà chú trọng đến “thực trí” (minds-on)3 thông qua quá trình tư duy, trong đó, tư duy phản biện (critical thinking) được hiểu là những lập luận dựa trên bằng chứng và lý lẽ logic, giúp nhìn nhận, phân tích và đánh giá vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng tôi rất vui khi đây là lần đầu tiên những nội dung rất mới từ giáo dục Mỹ được chúng tôi biên soạn và hệ thống lại dễ hiểu và dễ triển khai để đưa về Việt Nam.  Trong giáo dục, chúng tôi quan niệm rằng không có công thức chung duy nhất theo kiểu “one-size-fits-all”, nghĩa là có thể dùng một nội dung duy nhất, một phương pháp duy nhất để dạy cho tất cả các học sinh, mà thay vào đó, chúng tôi hướng đến sự linh hoạt và đa dạng trong cách tiếp cận phụ thuộc vào từng điều kiện môi trường cụ thể, con người cụ thể. Nếu chương trình tại Hà Giang được triển khai thí điểm thành công, chúng tôi sẽ mở rộng đến các vùng miền có các điều kiện và hoàn cảnh tương tự. Chúng tôi mong muốn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và các nhà tài trợ, để đưa các chương trình giáo dục STEM đến với học sinh ở khắp các vùng miền núi, nông thôn còn nhiều khó khăn ở Việt Nam trong một tương lai không xa.  ———–  1 Các trẻ em gái là đối tượng dễ bị tổn thương nhất ở các vùng miền núi, nông thôn, nơi còn nhiều tập tục và quan niệm lạc hậu gắn liền với bất bình đẳng giới. Theo thống kê của UNESCO và của Ngân hàng thế giới (World Bank), trẻ em gái ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong các tiếp cận học thuật và lựa chọn ngành nghề.  2 NGSS, viết tắt của Next Generation Science Standards (Bộ Tiêu chuẩn Khoa học Thế hệ mới), là bộ tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục Mỹ ban hành năm 2013, đến nay đã có 40 bang trên toàn nước Mỹ áp dụng để xây dựng khung chương trình dạy học các môn khoa học. Giáo dục STEM có nền tảng từ giáo dục khoa học, nên bộ tiêu chuẩn này được dùng để xây dựng các chương trình giáo dục STEM hiện nay tại Mỹ.  3 Từ “minds-on” là một từ mới có sau này, để chỉ sự đối lập với “hands-on” đã có trước đó.  “Hands-on” được hiểu là “thực làm” vì gắn với hoạt động thực hành diễn ra với đôi bàn tay, nên tôi tạm dịch “minds-on” thành “thực trí” vì nó gắn với hoạt động tư duy diễn ra trong quá trình học trải nghiệm.  Hai ví dụ về giờ học STEM:  Bài học “Kỳ thú môi trường đất quanh em” – học sinh lớp 5-6-7 Hướng dẫn: Chuẩn bị một vài chai thủy tinh trong suốt, hoặc chai nhựa (khoảng 1 lít), cắt/khoét phần đáy, đặt vào trong một chậu/khay (Áp dụng kiến thức kỹ thuật và công nghệ). Yêu cầu học sinh chọn các loại đất khác nhau, nhét vào một 1/2 chai/lọ đã chuẩn bị nói trên. Sau đó đổ nước vào quan sát sự thoát nước ở các loại đất khác nhau. Yêu cầu học sinh quan sát, ghi chép và tự rút ra kết luận. Bấm thời gian và đo lượng nước thoát ra, từ đó tính toán tốc độ thoát nước (Áp dụng kiến thức Toán). Suy luận để đưa ra các lý lẽ, vì sao các loại đất khác nhau lại có sự thoát nước khác nhau. (Đất sét sẽ thoát nước chậm nhất, đất cát sẽ thoát nước nhanh nhất… vì sao) (Áp dụng kiến thức khoa học). Liên hệ đặc điểm của đất với thực tế tại địa phương. Ngoài ra, học sinh tìm hiểu hệ sinh thái sinh vật trong đất (rễ cây, côn trùng, vi sinh vật, bò sát…) và làm các mô hình. Mục đích của thí nghiệm thực hành là để học sinh rèn luyện sự khéo tay, học từ trải nghiệm quan sát cụ thể, có bằng chứng sinh động, thấy sự khác biệt một cách rõ ràng (bằng chứng hiển nhiên), có tính thuyết phục, từ đó phát triển tư duy logic và tư duy phản biện. Bài học “Chiếc cầu sau mùa lũ” – học sinh lớp 8-9-10: Lấy câu chuyện thực tế của địa phương hoặc các vùng lân cận: Sau mùa mưa lũ, chiếc cầu gỗ duy nhất đã bị nước lũ cuốn trôi. Đưa cho học sinh xem hình ảnh cây cầu trước và sau khi bị lũ cuốn. Thông qua hoạt động dạy học STEM, các học sinh suy nghĩ và đề xuất các giải pháp để thay thế chiếc cầu cũ. Giáo viên lồng ghép kiến thức khoa học về vật lý (như trọng lực, trọng tâm), kiến thức về toán (như tính toán độ dài, kiến thức hình học), sử dụng các công cụ thiết bị kỹ thuật và công nghệ (như kéo, búa, máy tính) để thiết kế và lắp ráp thành một sản phẩm mô hình cây cầu hoàn chỉnh. Qua đó, học sinh không chỉ học kiến thức chuyên môn (disciplinary core ideas), mà còn vận dụng các kỹ năng thực hành và các khái niệm liên ngành (crosscutting concepts).             Author                Nguyễn Thành Hải        
__label__tiasang Stent mạch vành phủ thuốc đầu tiên sản xuất tại Việt Nam      Qua theo dõi 150 bệnh nhân được can thiệp đặt stent mạch vành phủ thuốc Sirolimus (VSTENT) do Công ty USM Healthcare sản xuất, cho thấy tính an toàn, không có tai biến, tương đương nhiều loại stent được sử dụng trên thế giới.    Hằng năm, trên thế giới có khoảng 17,9 triệu người chết do bệnh tim mạch, chiếm 31% tổng số tử vong, trong đó có tới 85% chết do nguyên nhân bệnh động mạch vành (ĐMV) và đột quỵ não. Hiện nay, can thiệp đặt stent (còn gọi là giá đỡ động mạch vành) được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh ĐMV.    Tháng 2/2019, Công ty Cổ phần nhà máy thiết bị y tế USM Healthcare (được thành lập năm 2012 tại TPHCM, chuyên sản xuất các sản phẩm tim mạch như bóng nong mạch vành, kim luồn tĩnh mạch, stent mạch vành,…) đã sản xuất thành công stent ĐMV phủ thuốc (gồm Sirolimus, còn được gọi lại là Rapamycin, và polymer tự tiêu sinh học). Đây là stent ĐMV phủ thuốc đầu tiên sản xuất tại Việt Nam và được Bộ Y tế cấp phép lưu hành.        Tuy thành công bước đầu và mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc điều trị, nhưng dữ liệu thu thập để đánh giá còn hạn chế (chỉ 40 bệnh nhân và thời gian theo dõi 6 tháng tại Bệnh viện Chợ Rẫy). Vì thế, cần thêm một nghiên cứu để giúp ngành y tế có thêm đầy đủ dữ liệu mang tính khách quan.    Do đó, Trường Đại học Y Dược TPHCM đã thực hiện đề tài “Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của VSTENT (sản xuất tại Việt Nam) trong can thiệp ĐMV: nghiên cứu đa trung tâm, tiến cứu theo dõi 12 tháng”.    Nghiên cứu được thực hiện tại 5 cơ sở bệnh viện gồm Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang, và Bệnh viện Bà Rịa. 150 bệnh nhân được tuyển chọn tại 5 điểm nghiên cứu được yêu cầu nhập viện để thực hiện thủ thuật tái thông mạch vành qua da với sản phẩm VSTENT. Sau đó, bệnh nhân được theo dõi trong bệnh viện theo thường quy là 1 ngày hoặc cho đến khi tình trạng bệnh ổn định. Bệnh nhân sau khi xuất viện được hẹn đến khám sau mỗi 30 ngày, và đến tháng thứ 12 tính từ thời điểm tham gia nghiên cứu. Sau thời gian nghiên cứu 12 tháng, bệnh nhân vẫn được theo dõi.    Kết quả, trong thời gian theo dõi 12 tháng, hiệu quả của VSTENT với tỷ lệ tái hẹp trong stent hoặc trong đoạn bao (hay 5 mm bên ngoài hai đầu của stent) ở mức rất thấp – 3,5%. 100% thành công về mặt thiết bị, kỹ thuật theo đánh giá lâm sàng và qua chụp mạch vành. VSTENTcũng không gây ra các khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc thực hiện can thiệp ĐMV qua da.    Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy, thủ thuật thành công với tỉ lệ 99,3% (1 bệnh nhân ngưng tim sau can thiệp, nhưng không liên quan đến VSTENT). Tất cả bệnh nhân đều phục hồi sức khỏe trong thời gian nằm viện với tình trạng ổn định và sau đó xuất viện bình thường. Trong 12 tháng theo dõi, 94,6% các bệnh nhân không có biến cố tim mạch hay tử vong và không còn tình trạng đau thắt ngực. Không có trường hợp nào bị huyết khối trong stent.    Đề tài đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm qua. Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu và các bác sĩ thực hiện phẫu thuật tại các bệnh viện, với giá thành dưới 30 triệu/cái, thấp hơn 30% so với stent nhập ngoại, stent do Việt Nam sản xuất có thể sử dụng rộng rãi trong can thiệp ĐMV qua da.    Phạm Hài    Author                phongvien        
__label__tiasang Steve Jobs qua đời ở tuổi 56      Steve Jobs – nguyên giám đốc điều hành và đồng sáng lập công ty công nghệ khổng lồ Apple, đã qua đời ở tuổi 56.     “Tài năng lỗi lạc, niềm đam mê và năng lượng của Steve là khởi nguồn của vô số đổi mới làm phong phú và cải tiến đời sống của chúng ta. Nhờ Steve mà thế giới đã tốt đẹp hơn rất nhiều”, nhận xét từ thông cáo của Apple.  Jobs tuyên bố mình bị ung thư tuyến tụy năm 2004.  Giám đốc Microsoft Bill Gates tuyên bố “ảnh hưởng sâu sắc” của Jobs sẽ tiếp tục tác động tới nhiều thế hệ tiếp theo. “ Với những người may mắn làm việc cùng Jobs, đó là một vinh dự lớn lao. Tôi sẽ nhớ Steve vô cùng”.  Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng bày tỏ sự tưởng nhớ: “Phu nhân Michelle và tôi rất buồn khi nghe tin Steve Jobs qua đời. Steve là một trong những nhà sáng chế Mỹ vĩ đại nhất – đủ dũng cảm để nghĩ khác, đủ táo bạo để tin mình có thể thay đổi thế giới, và đủ tài năng để làm điều đó”.  Thị trưởng New York Michael Bloomberg nói rằng “Nước Mỹ đã mất đi một thiên tài, người sẽ được nhớ tới như Edison và Einstein, với những ý tưởng sẽ tiếp tục định hình thế giới qua các thế hệ sắp tới”.  Gương mặt của Apple  Thông cáo của Apple viết: “Apple đã mất đi một thiên tài có tầm nhìn và đầy sáng tạo, và thế giới đã mất đi một con người tuyệt vời”.   “Steve để lại một công ty mà chỉ có ông mới xây dựng được, và tinh thần của ông sẽ mãi là nền tảng của Apple”.  Jobs có tiếng là người lãnh đạo trực tính, yêu cầu cao, có thể lấp đầy những chỗ khuyết trong công nghệ – như chuột máy tính và giao diện đồ họa dạng cửa sổ – và khiến chúng trở nên phổ thông với đại chúng.  Ông đã mang máy tính iMac, iPod và iPhone đến với thế giới. Ông qua đời chỉ một ngày sau khi Apple tung mẫu iPhone 4S mới nhất ra thị trường.  Năm 2004, Jobs tuyên bố mình bị ung thư tuyến tụy và 5 năm sau đã được cấy ghép gan .  Steve xin nghỉ ốm vào tháng 1, trước khi từ chức Giám đốc điều hành vào tháng 8 và trao quyền cho Tim Cook.  Trong thư từ chức, Jobs viết: “Tôi tin những ngày đổi mới mạnh mẽ nhất, xán lạn nhất của Apple đang ở phía trước. Và tôi mong muốn chứng kiến và đóng góp vào thành công của công ty trong một vai trò mới”.  Tuy nhiên, Jobs vẫn là chủ tịch của Apple.  Hơn bất cứ một lãnh đạo doanh nghiệp nào, hình ảnh của Jobs gắn liền với công ty, kể từ khi ông đồng sáng lập vào những năm 1970.  Giá trị thị trường của Apple là 351 tỉ USD, hiện là công ty công nghệ giá trị nhất thế giới.  Là khuôn mặt của Apple, Jobs đại diện cho định hướng của công ty vươn tới công nghệ kĩ thuật cao và thiết kế mang tính thời trang.  Trong nội bộ công ty, ông có sức ảnh hưởng chưa từng thấy như ở đa phần các doanh nghiệp khác.  Tuy là một nhân vật trọng yếu nhưng Jobs rất kín đáo về đời tư cá nhân. Ông cưới vợ Laurene năm 1991, và có 3 người con.            Câu chuyện về cái chết (trích dẫn trong diễn văn của Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp của Đại học Stanford năm 2005)               Khi tôi 17 tuổi, tôi có đọc được một câu đại ý thế này: “Nếu bạn sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng của cuộc đời, tới một ngày nào đó bạn sẽ chắc chắn rằng điều ấy là đúng”. Câu nói để lại ấn tượng trong tôi, và từ đó, tức là 33 năm nay, tôi nhìn vào gương mỗi sáng và tự hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối cùng trong đời, liệu tôi có muốn làm những việc mà tôi sắp làm hôm nay không?”. Và mỗi khi câu trả lời “Không” tới trong nhiều ngày liền, tôi biết mình cần thay đổi một thứ gì đó.              Nhớ rằng mình sẽ sớm chết đi là một trong những điều quan trọng nhất giúp tôi đưa ra những lựa chọn lớn của cuộc đời. Bởi vì hầu như tất cả mọi thứ – những kì vọng từ bên ngoài, niềm kiêu hãnh, sự sợ hãi bẽ bàng hay thất bại – tất cả những điều này sẽ trôi đi khi đối diện với cái chết, chỉ để lại thứ thực sự quan trọng. Nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất tôi biết để tránh rơi vào cái bẫy nghĩ rằng bạn có điều gì để mất. Bạn hoàn toàn trần trụi. [Vì vậy,] không có lí do gì để không nghe theo trái tim mình…              Thời gian của bạn có hạn, nên đừng lãng phí sống cuộc đời của ai khác. Đừng bị sa vào bẫy của những giáo điều – tức là sống theo những kết quả từ suy nghĩ của người khác. Đừng để những ồn ào từ quan điểm của người khác dìm đi tiếng nói từ bên trong bạn. Và quan trọng nhất, hãy dũng cảm đi theo trái tim và trực quan của mình. Bằng cách nào đó, chúng tự biết điều bạn thực sự mong muốn trở thành. Mọi điều khác đều là thứ yếu.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Stuttgart cấm xe chạy dầu diesel      Thành phố Stuttgart, Đức đang phải khắc phục những vấn đến của nạn ô nhiễm không khí. Những giải pháp hạn chế các hiểm họa môi trường đã được đưa ra, bao gồm từ cấm xe chạy dầu diesel đến xây dựng một bức tường rêu có chức năng như một máy lọc khí.      Stuttgart đang phải đối diện với nạn ô nhiễm không khí  “Trong nhiều thập kỷ, nitơ điôxít (NOX) đe dọa sức khỏe của chúng ta”, Maria Krautzberger, chủ tịch Cơ quan Môi trường liên bang Đức (UBA) nhận định. Bà đã nêu đích danh thủ phạm: các động cơ ô tô sử dụng dầu diesel.  Stuttgart, thủ phủ của bang Baden-Württemberg, là một trong bốn thành phố lớn nhất Đức, hàng năm số lượng các loại xe trong và ngoài nước Đức đổ về đây rất lớn. Từ năm 2008, Stuttgart được biết đến như thành phố ô nhiễm khói bụi hàng đầu Đức, mức độ ô nhiễm khói bụi ở đây vượt qua các mức độ an toàn được chỉ định theo tiêu chuẩn EU về bụi mịn đường kính 2.5 PM trong không khí trong 66 ngày năm 2016. Các hạt bụi mịn 2.5 PM này có thể bao gồm sol khí, khói mù, bụi đất, tro, phấn hoa… và phụ thuộc vào địa điểm, mùa, điều kiện thời tiết.  Chất lượng không khí của Stuttgart có xu hướng ngày càng xấu đi. Chỉ trong hai tháng đầu năm 2017, nồng độ bụi mịn trong không khí tại thành phố này đã ở mức cao hơn 50 micrograms/m3 trong vòng 30 ngày.  Nồng độ bụi mịn hơn 40 micrograms/m3 đã là mức đe dọa đối với sức khỏe con người. Các quy định của EU đã đặt ra giới hạn nồng độ bụi mịn ở mức 50 micrograms/m3. Nếu các mức an toàn vượt quá 35 ngày mỗi năm, EU có thể áp dụng mức phạt nặng.  Tình trạng ô nhiễm không khí ở Stuttgart đã trở nên nặng đến mức các cư dân thành phố này đã kiện thị trưởng thành phố Fritz Kuhn và quận trưởng Wolfgang Reimer; cả hai nhà quản lý này đều là thành viên của Đảng Xanh. Tòa án hành chính thành phố đã yêu cầu bang Baden-Württemberg hành động và đề nghị chính quyền bang ban hành một kế hoạch về việc cải thiện chất lượng không khí.  Các nhà cầm quyền đã cố gắng đưa ra những lời kêu gọi “ôn hòa” với công chúng và đưa ra cảnh báo đầu tiên về ô nhiễm không khí trong tháng giêng, đề nghị các công dân bớt lái xe vào khu vực trung tâm thành phố. Thành phố thậm chí còn giảm giá vé của các phương tiện giao thông công cộng để khuyến khích người dân lựa chọn chúng nhiều hơn. Tuy vậy các biện pháp này lại không cải thiện được tình hình.  Do các biện pháp tự nguyện về hạn chế sử dụng xe ô tô cá nhân không hiệu quả, Stuttgart phải hứng chịu thêm nhiều khó khăn. Chính quyền bang Baden-Württemberg đã quyết định giới thiệu một khu vực cấm các loại ô tô sử dụng động cơ diesel phát thải nhiều hơn 80 milligram bụi mịn 2.5 PM/km3. Kể từ năm 2018, các nguồn gây ô nhiễm nặng sẽ bị cấm lưu thông trong thời kỳ thành phố bị ô nhiễm ở mức cao.    Tường rêu được lắp đặt thử nghiệm để góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí.  Một nỗ lực cải thiện chất lượng không khí là lắp đặt tường rêu. Rêu thường phát triển mạnh trên các khu rừng trên núi và những cánh đồng hoang. Nó có tác dụng giữ nước và chất dinh dưỡng từ nước mưa và không khí – và có thể xử lý được vấn đề ô nhiễm không khí. Các chất ô nhiễm bám vào các chất dính trên bề mặt của rêu và sau đó chính vi khuẩn biến đổi nó thành sinh chất cho rêu.  Ở Stuttgart, một bức tường rêu dài 100m và cao ba mét đã được dựng lên. Hai loài rêu (Ceratodon purpureus và Racomitrium canescens) được gây giống trên bức tường này để lọc và phân rã bụi mịn. Thử nghiệm đã cho kết quả tốt như mong đợi. Giờ đây người ta chờ đợi để chứng kiến việc nó sẽ làm sạch khói mù trên các đường phố Stuttgart.  Nguồn: http://www.dw.com/en/stuttgart-builds-moss-covered-wall-to-fight-air-pollution/a-37866760    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Sự biến đổi của dòng sông giúp nâng cao mức độ đa dạng sinh học của Amazon      Những con sông phân nhánh đóng vai trò như hàng rào vô hình ngăn cách các quần thể chim      Ảnh vệ tinh cho thấy một mạng lưới các con sông nhằng nhịt, liên tục biến đổi ở vùng đất thấp Amazon. Ảnh: Jesse Allen / NASA Earth Observatory   Nhìn từ cửa sổ của một chiếc máy bay đang băng qua Amazon, khung cảnh thật ngoạn mục. Những con sông bên dưới phân nhánh thành một mạng lưới dày đặc như những nhành cây, tựa như chúng đã liên tục biến đổi qua hàng trăm nghìn năm, vẽ ra những con đường mới và xóa bỏ những con đường cũ. Các con sông chia nhỏ khu rừng thành nhiều không gian, mỗi không gian là cả một thế giới cho vô số sinh vật đu đưa, bay lượn, trườn bò trong ranh giới luôn thay đổi của chúng.  Trong một nghiên cứu mới trên tạp chí Science Advances, Lukas Musher, nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Học viện Khoa học Tự nhiên của Đại học Drexel, và các đồng nghiệp của ông báo cáo rằng sự biến đổi liên tục của các dòng sông làm tăng tính đa dạng sinh học của các loài chim xinh đẹp, giúp tô điểm cho các khu rừng nhiệt đới rậm rạp Amazon. Các con sông có thể đóng một vai trò quan trọng hơn chúng ta tưởng trong việc biến rừng Amazon thành một trong những nơi đa dạng sinh học bậc nhất trên hành tinh. Mặc dù các vùng đất thấp của rừng chỉ chiếm 0.5% diện tích đất của hành tinh, nhưng chúng là nơi trú ẩn của khoảng 10% tất cả các loài sinh vật mà chúng ta đã biết — và chắc chắn là vẫn còn nhiều loài chưa được biết đến.  Thực chất, từ những năm 1960, một số nhà khoa học đã đề xuất ý tưởng rằng sự chuyển dịch của các dòng sông có thể hình thành đặc điểm của loài chim, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu không tin rằng đó là một yếu tố thúc đẩy sự đa dạng hóa các loài chim hoặc động vật có vú. “Trong một thời gian dài, chúng ta thực sự coi các con sông là một loại chuyển động tĩnh”, John Bates , một người phụ trách tại Bảo tàng Field ở Chicago, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết.  Cho đến gần đây, các nhà sinh vật học mới bắt đầu chú ý đến những đề xuất của các nhà địa chất. Musher, người đã thực hiện nghiên cứu – đây cũng là một phần trong công trình tiến sĩ của anh, cho biết mối quan hệ giữa sự thay đổi địa lý và đa dạng sinh học là “một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất trong sinh học tiến hóa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng lịch sử Trái đất ảnh hưởng rất ít đến các mô hình đa dạng sinh học, nhưng những người khác cho rằng “đó là một mối quan hệ cực kỳ chặt chẽ, về cơ bản là tuyến tính”, Musher nói.  Chuyển động xuyên thời gian  Để hiểu cách con sông chuyển động có thể tác động đến các loài chim ở Amazon như thế nào, vào tháng 6 năm 2018, Musher và các cộng sự của ông tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ và Đại học Bang Louisiana đã thực hiện một chuyến thám hiểm đến những con sông chảy qua “trái tim” Brazil.  Họ đã thu thập mẫu của các loài chim từ nhiều địa điểm ở hai bên hai con sông: sông Aripuanã và sông Roosevelt, được đặt theo tên của Teddy Roosevelt, người đã đến đó vào năm 1914 để lập bản đồ vùng đất này. Họ cũng mượn các mẫu mà các tổ chức khác đã thu thập trước đây ở những con sông khác tại Amazon.  Nhóm nghiên cứu tập trung vào sáu nhóm loài chim không phải là loài bay xa. (Musher cho rằng “nếu bạn muốn biết dòng sông ảnh hưởng đến các loài chim như thế nào, bạn phải chọn những loài chim mà dòng sông sẽ tác động đến”). Những loài chim này, bao gồm chim jacamar má xanh (Galbula cyanicollis) và chim mắt trần đốm đen (Phlegopsis nigromaculata), dành phần lớn thời gian bên dưới tán rừng của vùng đất thấp phía nam Amazon, nơi chúng dõi theo bầy kiến ​​và ăn côn trùng mà kiến tìm ra.  Sự biến đổi của dòng sông ảnh hưởng lớn đến quá trình tiến hóa của các nhóm chim được nghiên cứu, bao gồm các loài chim thuộc chi Hypocnemis (trái) và Malacoptila (phải). Ảnh: (trái) Hector Bottai; (phải) Gonzo Lubitsch  Các nhà nghiên cứu đã giải trình tự gen của những con chim và so sánh chúng để xem chúng đã khác nhau như thế nào theo thời gian. Sau đó, họ so sánh những thay đổi của bộ gen đó với dữ liệu trong tài liệu địa chất về sự thay đổi của các con sông gần đó. Để xác nhận những phát hiện của mình, họ dùng một mô hình dựa trên số lượng đột biến của các loài để suy ra chúng khoảng thời gian mà chúng trở nên khác nhau.  Đúng như dự đoán, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng các con sông là hàng rào ngăn cách đối với những con chim này: Khi các con sông phân nhánh, những quần thể cũng bị chia cắt với nhau. Ngay cả những con sông tương đối nhỏ cũng có thể ngăn cách các quần thể và góp phần tạo ra sự khác biệt trong bộ gen của chúng.  Nhưng nhóm nghiên cứu cũng thấy rằng các con sông – những hàng rào cản trở – là vật thể động chứ không hề tĩnh. Những con sông bị chia cắt cuối cùng sẽ quay trở về với nhau, cho phép các quần thể bị chia tách lại hòa vào nhau. Đôi khi các quần thể quá khác nhau để lai tạo và chúng vẫn là những loài riêng biệt. Nhưng phần lớn, những cuộc đoàn tụ này đã trở thành cơ hội để các quần thể trao đổi các gene mới mà chúng đã có được.  “Dòng gene” này dẫn đến các tổ hợp gene mới trong bộ gene mỗi khi quá trình chia tách – đoàn tụ lặp lại, và nó có khả năng “góp phần tạo ra nhiều loài chim mới theo thời gian,” Musher nói. Các mô hình đa dạng hóa ở các loài khác nhau thay đổi tùy theo sự biến đổi và thời điểm biến đổi của các con sông.  Họ phát hiện ra rằng sự biến đổi về địa lý tạo ra nhiều dòng gene giữa các loài chim ở phía tây Amazon hơn ở phía đông. Ở phía tây Amazon, nơi có cảnh quan bằng phẳng, các con sông chảy xiết, có nhiều khả năng làm xói mòn bờ và thay đổi dòng chảy. Ở phía đông, nơi có cảnh quan nhiều đồi núi, các con sông cắt thành nền đá cứng và có xu hướng ổn định hơn, ít gió hơn.  Thông qua sử dụng mô hình toán học, các nhà nghiên cứu nhận thấy các con sông đóng vai trò là yếu tố dự báo sự khác biệt của hệ gen – yếu tố này thậm chí quan trọng hơn điều kiện môi trường và khoảng cách giữa các loài. Các yếu tố khác mà họ không tính đến cũng là những yếu tố tiềm năng, nhưng rõ ràng là “chuyển động của Trái đất và mức độ đa dạng sinh học của nó có mối liên hệ với nhau, đôi khi gắn bó chặt chẽ với nhau”.  Chân trời rộng lớn  Mặc dù khá là khó tin khi nghĩ đến việc dòng sông có thể cản trở việc bay lượn của chim, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều loài chim thực sự không thể bay ngang qua sông được. Ngay cả một số con sông tương đối nhỏ ở Amazon cũng lớn đến mức “từ quan điểm của một con chim, nó giống như đang nhìn vào đường chân trời”, Philip Stouffer, giáo sư về sinh học bảo tồn tại Bang Louisiana, người không tham gia vào nghiên cứu, cho hay. “Đối với những loài chim không thích di chuyển quãng đường xa, đó là một rào cản bất khả thi.”  Hơn nữa, nhiều loài chim thích nghi với việc sống trong tầng tối của rừng không thích vượt qua những khoảng trống có ánh nắng mặt trời, vì vậy chúng có thể không có hứng thú với việc rời khỏi ngôi nhà trong rừng của chúng — cũng như các loài khác sống cùng với chúng. Việc dòng sông biến đổi đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình đa dạng hóa các sinh vật sống dưới nước như cá ở Amazon, và các nhà nghiên cứu cho rằng những mô hình tương tự cũng có thể phù hợp với các loài khác, chẳng hạn như linh trưởng và bướm.  Chim có lẽ là nhóm sinh vật đã được tìm hiểu kỹ càng nhất tại Amazon, nhưng ngay cả như vậy, “chúng tôi vẫn đang tiếp tục nghiên cứu về những mô hình đa dạng sinh học cơ bản này,” Musher nói. Vì vậy, vẫn còn một chặng đường dài nếu muốn hiểu rõ mối quan hệ giữa sự biến đổi về mặt địa chất của Amazon với các loài sinh vật của nó.  Các tác giả cho rằng nhiều khả năng các quá trình địa chất tương tự – cho dù chúng liên quan đến chuyển động của dòng sông hay những biến đổi khác – cũng đang thúc đẩy đa dạng sinh học ở những nơi khác trên hành tinh. Nhưng nó có thể không diễn ra giống chính xác những gì đang xảy ra ở Amazon, bởi vì “trên Trái đất không có nơi nào giống như Amazon,” Musher nói.  Anh Thư  tổng hợp  Nguồn:   Reshuffled Rivers Bolster the Amazon’s Hyper-Biodiversity  River network rearrangements promote speciation in lowland Amazonian birds    Author                .        
__label__tiasang Sự bùng nổ của các ngân hàng ở Việt Nam: Những rủi ro tiềm ẩn      Sau sự kiện mọc lên như nấm của các hợp tác xã tín dụng vào những năm cuối cùng của thập niên 1980, chưa bao giờ chúng ta được chứng kiến sự ra đời nhiều đến như vậy của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng trong thời gian vừa qua. Nhiều ngân hàng mà cách đây một năm rất ít người biết đến bỗng nhiên “lột xác” trở thành các ngân hàng có vốn điều lệ hàng nghìn tỷ đồng với trụ sở cao hàng chục tầng nằm trên những trục đường phố chính tại Hà Nội hay TP.HCM. Hơn thế, các chi nhánh ngân hàng đã, đang và sẽ được thành lập ở rất nhiều nơi. Ở nhiều tỉnh, hai năm trước đây chỉ có chi nhánh ngân hàng của bốn ngân hàng thương mại nhà nước, nhưng đến nay con số này đã xấp xỉ 20. Thêm vào đó, hiện nay đang có vài chục bộ hồ sơ xin thành lập mới các ngân hàng được gửi đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chờ xem xét.  Tại sao các ngân hàng lại thi nhau mở rộng và điều này mang lại điều gì cho Việt Nam?    Sự bùng nổ của các ngân hàng, điều tất yếu?  Có ý kiến cho rằng xu hướng nâng cấp, mở rộng và xin thành lập mới các ngân hàng là điều tất yếu. Đây chính là tác động tích cực của sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới vì nó đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh ngân hàng hơn nên nhiều người muốn tham gia.  Không phủ nhận việc bùng nổ của các ngân hàng có phần do Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, theo quan sát của người viết thì có thể đó chỉ là chất xúc tác, trong khi nguyên nhân chính là do sự bùng nổ của thị trường chứng khoán (TTCK) và kỳ vọng của nhiều người về việc tham gia của các ngân hàng nước ngoài trong thời gian tới sẽ là cơ hội kiếm tiền tuyệt vời nếu có phần sở hữu trong các ngân hàng.  Thứ nhất, nhìn vào TTCK sẽ thấy rằng cổ phiếu của các ngân hàng luôn nằm trong nhóm dẫn đầu (cả về giá cũng như giá trị thị trường). Nhiều người kiếm được rất nhiều tiền từ việc kinh doanh cổ phiếu ngân hàng. Cầu của loại chứng khoán này luôn ở mức cao đã kích thích mong muốn có thật nhiều cung. Đây là một phần lý do để nhiều người muốn thành lập ngân hàng mới hoặc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ tại các ngân hàng hiện hữu.  Thứ hai, chính sự tăng trưởng quá mức của TTCK đã làm cho nhiều doanh nghiệp từ chỗ giá trị thị trường chỉ vài trăm tỷ đồng đột nhiên tăng lên hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn tỷ đồng. Điều này đã tạo ra cảm giác huy động vốn dễ dàng cho các doanh nghiệp và mong muốn có ngân hàng riêng cho mình.  Thứ ba, nhiều người cho rằng các ngân hàng nước ngoài sẽ ồ ạt gia nhập thị trường Việt Nam sau khi các cam kết WTO có hiệu lực. Lúc đó, họ sẽ mua lại các ngân hàng trong nước và nếu ngân hàng nào có mạng lưới càng rộng, quy mô càng lớn thì giá sẽ càng cao. Đây có thể là lý do lý giải cho việc các ngân hàng đua nhau thành lập chi nhánh, mở rộng mạng lưới hoạt động của mình.    Những điều đáng quan tâm  Khi mạng lưới được mở rộng, một chi nhánh được thành lập, việc đầu tiên các ngân hàng phải làm là tìm cách tăng trưởng nguồn vốn huy động, tăng trưởng tổng tài sản. Quy mô của ngân hàng, của chi nhánh càng lớn khi số vốn huy động được càng nhiều và tổng tài sản càng lớn. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng trong thời gian qua cho dù đang thừa vốn nhưng không ngân hàng nào dám hạ lãi suất vì nếu làm như vậy, với kỳ hạn huy động chủ yếu vẫn là 3-6 tháng như hiện nay, chỉ sau một vài quý nguồn vốn sẽ chảy sang các ngân hàng khác. Đây là điều mà không một người điều hành ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nào muốn.  Việc lãi suất không hạ mà còn có xu hướng gia tăng bất kể vốn huy động được sử dụng nhiều hay ít sẽ tạo ra những tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho các ngân hàng vì theo thời gian, lãi suất cho vay phải cao mà điều này đồng nghĩa với rủi ro sẽ cao hơn. Khi lãi suất tăng đến mức độ nào đó thì chỉ còn toàn những dự án hết sức rủi ro mới có thể vay vốn. Đây chính là hiện tượng lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi trong các hoạt động tài chính.  Thêm vào đó, để bù đắp cho chi phí huy động vốn, đồng thời lợi dụng những sự rắc rối trong các cách tính lãi suất mà không phải ai cũng có thể hiểu được nên một số ngân hàng đã đưa ra các phương thức cho vay với lãi suất trên bề mặt chỉ vào khoảng 10%-12% một năm, nhưng lãi suất thực mà người vay phải trả cao gấp hai lần con số này. Với phương thức kinh doanh như vậy, xem ra tôn chỉ “đôi bên cùng có lợi” trong phát triển bền vững của các ngân hàng chưa được tuân thủ vì khi khách hàng biết mình bị lừa thì việc quay lưng với ngân hàng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.  Một điều đáng quan tâm khác là việc mở rộng quy mô quá nhanh trong khi nguồn nhân lực và khả năng quản trị ngân hàng không thể theo kịp sẽ tạo ra rủi ro rất lớn cho cả hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế vì các ngân hàng rất khó để có thể làm tốt công tác đánh giá và quản trị rủi ro ở rất nhiều hoạt động mà nó luôn tiềm ẩn những bất trắc.  Không ai mong đợi điều tương tự đã xảy ra đối với các hợp tác xã tín dụng vào những năm 1988- 1989, nhưng nếu các ngân hàng cứ phát triển quá mức trong khi các điều kiện khác không thể theo kịp, nhất là khả năng quản trị và phòng ngừa rủi ro không đáp ứng được thì nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng mà nó tạo hậu quả hết sức nặng nề cho nền kinh tế là rất có thể xảy ra. Đó có thể cũng là lúc chúng ta phải bán các ngân hàng cho các đối tác nước ngoài với giá rất bèo. Đây chính là những điều mà Việt Nam cần hết sức lưu ý trong tiến trình xây dựng một hệ thống ngân hàng mạnh để làm tốt hơn nữa vai trò là kênh phân phối vốn chính và hiệu quả cho nền kinh tế.  Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự cáo chung của một siêu cường      Nợ nhà nước tăng, nạn thất nghiệp tăng, tăng trưởng nhợt nhạt và một nền công nghiệp ốm yếu – nước Mỹ đã trở thành một gánh nặng đối với nền kinh tế thế giới. Liệu còn có thể chặn đứng được sự xuống dốc của nền kinh tế lớn nhất thế giới này?    Ông Cory Booker là thị trưởng thành phố Newark. Mùa thu năm ngoái ông buộc phải sa thải 160 cảnh sát, đơn giản vì ngân sách thành phố cạn tiền. Người dân thành phố này chỉ biết lắc đầu cám cảnh trước quyết định khó hiểu trên. Newark có khoảng 270.000 dân, là thành phố lớn nhất thuộc tiểu bang New Jersey. Đây là một trong 30 thành phố ở Mỹ có tỷ lệ tội phạm hình sự cao nhất nước. Cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho ngân sách thành phố bị thâm hụt tới 70 triệu đôla, thành phố thì nghèo đi còn tội phạm lại gia tăng. Khoảng một phần ba dân số ở đây sống dưới mức nghèo khổ. Tỷ lệ thất nghiệp trên 12%.  Sự xuống dốc cùa một đại cường  Không phải chỉ có Newark, mà cả nước Mỹ chịu ảnh hưởng muộn màng của cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề. Hai năm sau cuộc đại suy thoái, nước Mỹ vẫn còn lâu mới có thể nói đến sự phục hồi kinh tế. Kinh tế tăng trưởng chậm hơn sự trông đợi, các doanh nghiệp hầu như không tạo thêm việc làm mới, cơ sở công nghiệp có nguy cơ bị xói mòn và các khoản nợ nhà nước tăng vùn vụt. Hiện vẫn chưa thấy bóng dáng một chiến lược chấn chỉnh, lành mạnh hóa ngân sách nhà nước. Nước Mỹ có nguy cơ bị mất tín nhiệm về vay nợ tín dụng.  Các “chuyên gia bôi đen” như Nouriel Roubini, giáo sư thuộc School of Business ở New York, lại được dịp lên tiếng chỉ trích. Nhà kinh tế này cảnh báo “Nước Mỹ và sự phát triển kinh tế thế giới lại đứng trước một nguy cơ đổ vỡ tệ hại mới”. Đồng nghiệp của ông, GS Joseph Stiglitz, Giải thưởng Nobel Kinh tế năm, nói toạc ra rằng: “Điều duy nhất mà chúng ta đã làm được là cứu các nhà băng. Chúng ta đã xã hội hóa sự thua lỗ và tư nhân hóa lợi nhuận. Ngoài ra hàng tuần chúng ta đã đổ hàng tỷ đôla vào Afghanistan trong khi đó lại cắt xén biên chế ở trường học của chúng ta. Đây chính là sự cáo chung đầy sai làm của một đại cường.”  Phải chăng sự sa sút về kinh tế báo hiệu sự cáo chung của nền kinh tế lớn nhất thế giới, phải chăng kỷ nguyên Mỹ đã chấm dứt?  Theo các thống kê quốc tế thì thực ra nước Mỹ đã mất vị trí đầu bảng từ lâu rồi. So sánh về khả năng cạnh tranh trong số 139 quốc gia trên thế giới Mỹ bị giảm hai bậc, nay đứng ở vị trí thứ tư sau Thụy Sỹ, Thụy Điển và Singapore (theo bảng xếp thứ hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới World Economic Forum). Dường như đa số dân Mỹ cũng đã buông xuôi cuộc chiến quyết giữ vị trí số một trong nền kinh tế thế giới. Theo kết quả các cuộc thăm dò dư luận thì giờ đây phần lớn người Mỹ coi Trung Quốc là thế lực kinh tế hàng đầu thế giới.   Trước đây sau mỗi cuộc khủng hoảng, lần cuối cùng là sự vỡ bong bóng Dotcom, nước Mỹ bao giờ cũng nhanh chóng hồi phục mạnh mẽ và từ đó vực nền kinh tế của các nước khác. Sức mạnh năng động sáng tạo của người Mỹ, hoạt động sản xuất, kinh doanh tự do, thị trường lao động vô cùng năng động và sự khước từ một nhà nước phúc lợi thái quá luôn được các nhà kinh tế trường phái tự do đánh giá rất cao và coi đây là khuôn mẫu.     Cần tạo công ăn việc làm  Mức sống cao phát triển đầy ấn tượng trong ba thập niên qua thực ra không phải chỉ nhờ sự lao động hết mình của người Mỹ và nhờ những phát minh, sáng chế kỳ diệu của họ, mà đó là kết quả của sự cung cấp rất hào phóng tiền bạc và tín dụng cho nền kinh tế. Nhà kinh tế ở Chicago Raghuram Rajan, một cựu kinh tế trưởng của IMF, đã nhận thấy một sai lầm trong cấu trúc hệ thống kinh tế và hệ thống xã hội nước Mỹ.  Rajan cho rằng do mạng lưới an sinh xã hội ở Mỹ tương đối mỏng nên Cục dự trữ Liên bang (Fed) luôn chịu áp lực phải tạo nhiều nhất công ăn việc làm. Vì vậy khi gặp khó khăn ngân hàng chấp nhận dìm lãi xuất trong một thời gian dài và bơm thật nhiều thanh khoản cho nền kinh tế. Cạnh đó còn có vấn đề người Mỹ ác cảm với việc phải đóng thuế cao cũng như các khoản đóng góp cho nhà nước. Từ đó dẫn đến việc các chính trị gia khắc phục tình trạng chênh lệch thu nhập bằng cách cho người nghèo vay tín dụng để xây nhà với điều kiện ưu đãi. Hệ quả là hình thành bong bóng cực lớn về tín dụng và bất động sản, khi những bong bóng này nổ tung đẩy hệ thống tài chính toàn cầu đến bên bờ vực thẳm.  Đáng lý phải rút ra những bài học từ những sai lầm này thì nước Mỹ lại quyết giữ bằng được mô hình xã hội của mình, tạo tăng trưởng bằng cách bơm thật nhiều tiền của và tín dụng. Đầu thế kỷ này các doanh nghiệp được bơm tiền của, sau đó đến lượt các hộ gia đình được vay tín dụng nay đến lượt nhà nước vay tín dụng ngày càng nhiều hơn. Hiện tại tổng nợ của mọi khu vực đã tương đương 350 % tổng sản phẩm quốc nội, cao hơn so với cuộc tổng hủng hoảng kinh tế thế giới đầu những năm ba mươi (300 %).  Nhưng mô hình này không còn có khả năng phát huy hiệu lực, điều này đã được chứng minh qua những nỗ lực vô vọng của Tổng thống Obama và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke, người ta đổ không biết bao nhiêu tiền bạc, tín dụng nhưng không thể tạo đà cho nền kinh tế vươn lên.  Không những tiềm lực sản xuất bị giảm sút mà ngay cả mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội trong những năm tới cũng sẽ tiếp tục ở mức thấp đáng kinh ngạc. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này.  Nợ nần chồng chất và bất tận  Nước Mỹ hiếm có sự chia rẽ chính trị sâu sắc như hiện nay. Điều này được chứng minh qua sự đấu tranh quyết liệt giữa đảng Dân chủ và Cộng hòa xung quanh vấn đề nâng mức nợ cho phép. Nhà kinh tế Kenneth Goldstein thuộc tổ chức nghiên cứu kinh tế toàn cầu The Conference Board ở New York nhận định: “Ngày nay đất nước ta còn chia rẽ nặng nề hơn so với thời kỳ nội chiến. Không còn có sự thống nhất về nhận thức đối với những vấn đề chung, điều này sẽ làm cho đất nước tiếp tục phân hóa hơn nữa.”  Cách đây hơn 30 tháng, khi nhậm chức Tổng thống ở Washington, ông Obama được coi là niềm hy vọng to lớn của nước Mỹ. Điều mong muốn của ông không có gì hơn là cứu nền kinh tế Mỹ, để nước Mỹ lấy lại đà sản xuất, xuất khẩu và tăng trưởng. Mục tiêu cao nhất của ông là cân bằng được ngân sách nhà nước, để nền kinh tế không còn phải dựa vào bơm tiền bạc và tín dụng. Tuy nhiên ngồi ở cương vị Tổng thống chưa được một năm thì đảng Dân chủ của ông đã bị thất bại thảm hại trong cuộc bầu cử giữa kỳ hồi tháng 11 năm ngoái.   Những nỗ lực cải cách của ông Obama trong lĩnh vực tài chính, xây dựng hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế cũng như chính sách khí hậu không được đông đảo dân chúng Mỹ quan tâm. Đảng Dân chủ bị mất đa số trong Hạ viện. Phần lớn các tiểu bang do người của đảng Cộng hòa lãnh đạo.  Từ đó đến nay nước Mỹ lâm vào tình trạng dậm chân tại chỗ. Hai chính đảng tranh cãi quyết liệt về việc tới đây sẽ giảm gánh nợ khổng lồ như thế nào. Những người phe Dân chủ thì muốn bên cạnh việc cắt giảm các khoản chi xã hội và quốc phòng còn cần phải tăng thuế. Tuy nhiên chủ trương đánh thuế vào người giầu (tax the rich) của ông Obama không nhận được sự ủng hộ của phe Cộng hòa. Lý lẽ của họ là đánh thuế cao sẽ càng làm cho nền kinh tế bị trì trệ hơn nữa. Vì vậy họ muốn giảm thuế cùng với việc cắt giảm mạnh mẽ các khoản chi và yêu cầu sửa đổi hiến pháp, buộc chính phủ hàng năm phải cân đối ngân sách nhà nước.   Hiện nay các tiểu bang đã phải thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên phần lớn các tiểu bang còn lâu mới có thể có một ngân sách cân bằng. Cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến thất thu thuế nặng nề mặt khác làm cho các khoản chi xã hội tăng lên mạnh mẽ. Chí ít đã có 31 tiểu bang trong năm ngân sách 2012, bắt đầu từ ngày 1/7, có mức thâm hụt ngân sách lên đến gần 90 tỷ đôla.  Nước Mỹ đầy thủ thuật  Ngay từ hồi tháng 5 nước Mỹ đã tới ngưỡng nợ nhà nước cao nhất là 14.294 tỷ đôla. Từ đó đến nay nước Mỹ chỉ có thể tiếp tục tồn tại nhờ những thủ thuật về kế toán. Nhưng chậm nhất đến đầu tháng tám thì cái trò này không thể tiếp tục tiếp diễn. Đến lúc đó nước Mỹ phải tăng mức nợ cho phép, nếu không giải quyết được vấn đề này thì nhà nước buộc phải cắt giảm phần lớn các khoản chi. Cho dù cái trò làm xiếc ở Washington kết cục như thế nào đi nữa thì chắc chắn sau cuộc bầu cử tổng thống tiến hành vào cuối năm 2012 nước Mỹ sẽ phải thực hiện một chính sách thắt lưng buộc bụng cực kỳ nghiêm ngặt.  Cho tới thời điểm này thị trường tài chính thế giới chưa mất hết lòng tin vào thế lực kinh tế hàng đầu thế giới này. Cuộc khủng hoảng ở khu vực đồng Euro đang tiếp tục leo thang, đẩy các nhà đầu tư lao vào trái phiếu nhà nước của Mỹ. Tuy nhiên điều này có thể nhanh chóng thay đổi. Theo dự báo của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì nợ nhà nước của Mỹ năm 2011 leo lên mức 100% tổng sản phẩm quốc nội – trong khu vực đồng Euro giá trị này mới ở mức 87 %.  Nếu gộp cả những khoản nợ tiềm ẩn, tức cam kết chi trả cho các hệ thống xã hội, thì theo tính toán của Laurence Kotlikoff, giáo sư trường ĐH Boston, thì nước Mỹ hiện có khoản nợ lên tới 200 nghìn tỷ đôla, tương đương 1.300 % tổng sản phẩm quốc nội.  Khi nhà đầu tư mất lòng tin đối với nước Mỹ thì hậu quả thật khôn lường. Đồng đôla sẽ lao xuống vực, lãi xuất tăng vọt, giá cổ phiếu sẽ sụp đổ, nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng suy thoái. Thị trường tài chính thế giới sẽ bị rối loạn và sẽ không thể tránh những tác động khôn lường trên khắp thế giới.  Cho dù sự sụp đổ tài chính không diễn ra đối với nước Mỹ thì con đường thoát khỏi thảm cảnh nợ nần của nước Mỹ sẽ hết sức gian truân. Hy vọng nước Mỹ sẽ lại vươn lên sau khi thanh toán được các khoản nợ nần này chỉ là ảo tưởng. Các công trình nghiên cứu của nhà kinh tế Kenneth Rogoff ở ĐH Harvard cho thấy khi tỷ lệ nợ đạt 90 % thì tăng trưởng kinh tế sẽ bị giảm sút.   Harm Bandholz, nhà kinh tế trưởng người Mỹ tại Bank UniCredit của Italy cho rằng trong những năm tới tăng trưởng kinh tế của Mỹ quá lắm chỉ có thể đạt từ 2,0 đến 2,5 %. Nhà kinh tế Goldstein thuộc The Conference Board dự báo trong tương lai không xa mức tăng trưởng này chỉ còn ở mức từ 1 đến 2%.  Ngày càng nhiều người bị thất nghiệp kéo dài  Đối với nước Mỹ thì đây là một sự sa sút cay đắng vì cách đây mới vài năm các nhà kinh tế Mỹ vẫn hy vọng về lâu dài tăng trưởng kinh tế nước này sẽ ở mức 3%.  Trong năm vừa qua nước Mỹ chỉ tạo thêm 1,9 triệu chỗ làm việc mới. Cùng thời gian đó ở khu vực dịch vụ công đã có 659.000 lao động thuộc các ngành giáo dục, cảnh sát và cứu nạn bị xóa tên. Tỷ lệ thất nghiệp vọt lên 9,2 % cao gấp đôi so với thời kỳ trước khi có cuộc khủng hoảng tài chính.  Số lao động trong lĩnh vực dịch vụ tư tăng nhanh, chủ yếu ở những nghề có mức lương thấp, thí dụ trong ngành chăm sóc sức khỏe hoặc ngành ăn uống. Từ tháng 12/2009 đến tháng 6/2011 trong khu vực này đã có thêm 200.000 chỗ làm việc mới.  Trong khi đó các ngành công nghiệp, xây dựng có nhiều việc làm có mức lương cao, bị xóa sổ. Lockheed Martin, một trong những hãng sản xuất vũ khí hàng đầu thế giới hủy 1.500 việc làm, tập đoàn viễn thông Cisco giảm 6.500 lao động.  Cơ hội tìm được một việc làm mới thường rất khó khăn, hơn nữa người Mỹ hiện không còn sẵn sàng di chuyển chỗ ở vì việc làm. Giá nhà cửa giảm tới 30%, nhiều người không muốn bán nhà vì thua lỗ để di chuyển tới các vùng khác để làm việc. Hiện đã có 44 % số người thất nghiệp bị mất việc làm đã hơn 6 tháng, xu hướng mất việc kéo dài ngày càng tăng.   Giáo dục tồi tệ  Ở Mỹ những người tốt nghiệp các trường đại học danh tiếng thường dễ có cơ hội tìm được việc làm. Tuy nhiên trong một thế giới mà công nghệ phát triển hết sức nhanh chóng và quá trình sản xuất lại có thể dịch chuyển nên nếu chỉ có một tầng lớp tinh hoa được đào tạo hoàn hảo là không đủ. Nước Mỹ thiếu một lực lượng thợ lành nghề được đào tạo bài bản. Không có lực lượng này thì không thể biến những ý tưởng mới mẻ thành sản phẩm trong cuộc sống hàng ngày.   Vấn đề giáo dục nổi cộm ngay ở các trường phổ thông. Theo điều tra của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD thì trình độ về khoa học tự nhiên của học sinh Mỹ ở độ tuổi 15 so với quốc tế chỉ xếp hạng 17, về toán, thậm chí xếp thứ 25.  GS Dale Jorgensen, Đại học Harvard, lo ngại tăng trưởng năng xuất lao động của toàn ngành kinh tế Mỹ trong mười năm tới sẽ giảm, chỉ còn ở mức 1,5%, trong hai chục năm qua mức tăng trưởng này là 2%.   Đầu tư yếu ớt  Dư thừa cung về nhà ở làm cho giá nhà giảm dưới mức tín dụng mà người mua nhà đã từng được vay tiền của các ngân hàng để tậu nhà. Do đó nhiều chủ nhà không trả được nợ, các ngân hàng buộc phải bán đấu giá những ngôi nhà đó để thu nợ. Điều này lại làm tăng cung hơn nữa và làm cho giá bất động sản tụt hơn nữa. Đây là một cái vòng luẩn quẩn không có lối thoát.  Giá cả tụt giảm không chỉ kìm hãm tốc độ xây dựng nhà mới, nó còn làm giảm hứng thú tiêu dùng của người dân. Giới chuyên môn cho rằng thị trường bất động sản khó có thể hồi phục trước nửa cuối 2012.   Thay vì đầu tư vào việc mua sắm máy móc, thiết bị các doanh nghiệp ở Mỹ đang có xu hướng dùng lợi nhuận để mua lại cổ phiếu hoặc đầu tư trực tiếp ở nước ngoài. Theo tính toán của nhà kinh tế Bandholz thuộc UniCredit thì trong thời gian từ 2006 đến 2010 các doanh nghiệp Mỹ đã bỏ ra tới hai nghìn tỷ đôla để mua lại cổ phiếu của mình, 1,4 nghìn tỷ đôla đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những doanh nghiệp đầu tư trong nước thường chi tiền để mua máy móc thiết bị mới thay thế thiết bị cũ, lạc hậu do đó tăng năng xuất lao động và từ đó cắt giảm thêm chỗ làm việc.   Phải chăng nước Mỹ sẽ lâm vào tình trạng suy kiệt trong một thời gian dài? Không nhất thiết phải như vậy. Kẻ cứu nước Mỹ trớ trêu thay có thể lại là Trung Quốc. Trong một thời gian dài nước Trung Hoa khổng lồ với lực lượng lao động có mức lương thấp đã làm cho nền công nghiệp Mỹ điêu đứng. Theo một công trình nghiên cứu của Boston Consulting Group (BCG) trong vài năm nữa tình hình có thể thay đổi, hiện tại mức lương ở Trung Quốc tăng bình quân 17% mỗi năm. Hơn nữa đồng Nhân dân tệ ngày càng có giá trị lớn hơn. Khoảng cách về lương so với Mỹ đang ngày càng thu hẹp.  Nếu so sánh với những vùng có mức lương cao ở Trung Quốc như Thượng Hải và Thiên Tân với những vùng có mức lương thấp ở miền nam nước Mỹ thì lợi thế về tiền lương trên một sản phẩm của Trung Quốc trong vòng năm năm tới sẽ giảm 30%, đây là nhận định của các chuyên gia kinh tế BCG. Tổng lợi thế về chi phí khi đó chỉ còn hơn từ 10 đến 15%. Nếu tính cả chi phí về kho tàng bến bãi và vận chuyển thì lợi thế về chi phí chỉ ở mức một con số, hay nói khác đi là rất ít. Vì vậy, Harold Sirkin, một đối tác của BCG, tin chắc rằng tới đây sẽ lại có nhiều sản phẩm made in USA hơn.  Trong thực tế điều này đang diễn ra. Tập đoàn công nghiệp khổng lồ General Electric dự kiến tăng cường đầu tư trong nước đặc biệt vào các lĩnh vực công nghệ cao như sản xuất động cơ máy bay, tuốc bin khí vv… Năm nay tập đoàn tuyển thêm 1.000 kỹ sư. Tập đoàn sản xuất máy bay Boeing dự định sẽ sản xuất máy bay đường trường Dreamliner ở South Carolina tạo việc làm cho trên 3.500 lao động. Các bang miền nam nước Mỹ tăng cường thu hút nhà đầu tư nhờ mức lương ở đây thấp, tổ chức công đoàn lại yếu kém, hầu như không có vai trò gì.   ***  Cần phải có thời gian mới có thể đánh giá về thành công của chiến dịch đẩy mạnh đầu tư ở các bang phía nam. Nhưng có một điều ngay từ bây giờ đã có thể khẳng định, nếu nước Mỹ không thành công trong việc giảm gánh nặng nợ nần và vực dậy nền kinh tế thì hậu quả khôn lường khó tránh khỏi. Với khoảng 23% của toàn cầu nước Mỹ vẫn là người nhạc trưởng quan trọng nhất đối với nền kinh tế thế giới. Không có một nền kinh tế lành mạnh của nước Mỹ thì TQ cũng khó có thể vươn lên về kinh tế. Mỹ và châu Âu là những khách hàng tiêu thụ nhiều sản phẩm made in China nhiều nhất. Nếu nền kinh tế Mỹ suy sụp thì tăng trưởng kinh tế của TQ cũng sẽ bị giảm sút. Điều này sẽ làm cho nền kinh tế Đức ngấm đòn vì 12% xuất khẩu của Đức nhằm vào thị trường Mỹ và TQ.  Một nước Mỹ suy yếu và nợ nần chồng chất còn có nguy cơ làm cho Mỹ mất vai trò trung tâm trong hệ thống tiền tệ thế giới. Nước Mỹ sẽ bị mất vai trò là nhà sản xuất những sản phẩm công toàn cầu như nền an ninh thế giới và tự do. Mohamed El-Erian, chủ tịch hãng kinh doanh trái phiếu lớn nhất thế giới Pimco từng nói “trong quá khứ thế giới đã từng thay đổi không ít lần những nhà cung cấp sản phẩm công trên toàn cầu. Thí dụ sau chiến tranh thế giới II Hoa kỳ đã đứng ra tiếp nhận vai trò lãnh đạo toàn cầu của Anh quốc. “Tuy nhiên khác với thời đó”, El-Erian cảnh báo, “ngày nay không có quốc gia nào sẵn sàng và có khả năng đảm đương nhiệm vụ này, khi mà nước Mỹ không còn khả năng lèo lái.”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sứ chất lượng châu Âu một lần lửa: Điều chỉ có ở Minh Long 1      Hàng ngàn năm nay trong ngành gốm sứ, từ các làng nghề truyền thống đến những tập đoàn hàng đầu thế giới của Đức, Mỹ, Nhật Bản, Pháp với trang thiết bị hiện đại, để sản xuất gốm mĩ nghệ cao cấp, người ta đều buộc phải nung hai lần lửa để đốt sạch các chất hữu cơ trong đất, tạo sản phẩm có chất lượng cao như chất lượng châu Âu… Nhưng nay sau gần 10 năm nghiên cứu, ông Lý Ngọc Minh, Anh hùng lao động, Tổng Giám đốc công ty Minh Long 1 đã làm được điều tưởng chừng không thể. Đó là sản xuất gốm sứ cao cấp ở nhiệt độ 1380oC, đạt tiêu chuẩn châu Âu bằng phương pháp đốt một lần lửa.       Kế thừa truyền thống về nghề gốm từ hơn 100 năm của gia tộc họ Lý, năm 1970, ông Lý Ngọc Minh thành lập công ty sản xuất đồ gốm mĩ nghệ tại Bình Dương và chỉ sau gần 20 năm (từ 1995 đến 2015) liên tục đầu tư thiết bị hiện đại, đổi mới sáng tạo công nghệ, cùng với đội ngũ kỹ thuật, nghệ nhân khéo léo, tài hoa ở một vùng đất nổi tiếng về nghề gốm, sản phẩm gốm mỹ nghệ và sản phẩm sứ dân dụng chất lượng cao với trên 15.000 mẫu mã được nung ở nhiệt độ cao hơn 1.3800C của Minh Long không chỉ được rất nhiều gia đình người Việt ưa chuộng mà còn được xuất với số lượng lớn sang Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Mỹ… Đặc biệt một số tác phẩm gốm sứ mĩ nghệ độc nhất vô nhị của Minh Long như các Cúp Hồn Việt, Rồng Việt, APEC, Chén ngọc Văn Lang… nặng tới vài chục cân, liền khối, màu xanh cobalt truyền thống trên nền men ngọc cùng những sản phẩm hoa văn mang đậm bản sắc văn hóa Việt đã được chính phủ chọn làm quà tặng trong các lễ kỷ niệm, sự kiện quốc gia, quốc tế.        Công ty Minh Long 1 được trao Giải  thưởng Chất lượng Việt Nam năm 2007; Giải thưởng Chất lượng quốc tế châu  Á – Thái Bình Dương năm 2011.           “Tinh hoa từ đất, tinh xảo từ người”. Những sản phẩm gốm với hoa văn hài hòa, âm dương, vừa mang bản sắc văn hóa Việt vừa cách tân hiện đại, thật đẹp, có chiều sâu và quyến rũ của Minh Long 1 đã chinh phục người tiêu dùng, đã giúp công ty liên tục phát triển và ở đỉnh cao thành công trong suốt ba thập kỷ. Nhưng chính công nghệ sản xuất đó cũng từng là nguyên nhân dẫn đến bế tắc dường như không lối thoát của Minh Long cách đây 10 năm. Ông Minh cho biết, thời điểm đó giá gas tăng giá hằng ngày, từ 500 đến 1.000 – 1.500 USD/tấn, giá nhân công cũng tăng gấp nhiều lần làm ngành gốm sứ nói chung gặp nhiều khó khăn, riêng với Minh Long 1 thì khó khăn gấp bội do sản suất theo tiêu chuẩn chất lượng của Đức nung ở nhiệt độ 1380oC, tiêu thụ năng lượng gấp đôi so với sản phẩm sứ của các nước khác nung ở nhiệt độ 1320oC; đồng thời phải nung nhiều lần qua nhiều công đoạn quy trình nung hai lần, dẫn tới chi phí sản xuất quá cao.   Để tìm lối thoát, đã có không ít ý kiến cho rằng cần phải thay đổi công nghệ, hạ thấp tiêu chuẩn sản phẩm nhưng ông Minh không chấp nhận, theo ông điều đó đồng nghĩa với việc sẽ mất thương hiệu và thị trường, yếu tố dẫn đến phá sản… Sau nhiều giải pháp đổi mới quản lý, kỹ thuật, giảm chi phí đầu vào… được thực thi nhưng hầu như không xoay chuyển được tình thế, “chúng tôi đi đến quyết định tập trung trí lực vào việc tìm cách giảm được việc tiêu thụ năng lượng trong sản xuất. Coi đó là giải pháp duy nhất có thể giúp công ty thoát khỏi bế tắc nên tôi đã bàn bạc với một số cán bộ kỹ thuật về việc thay đổi quy trình công nghệ nung hai lần lửa sang một lần lửa mà vẫn đạt được chất lượng châu Âu (Đức). Đó là điều mà chưa quốc gia nào trên thế giới làm nên cũng chẳng thể học hỏi được kinh nghiệm của ai”, ông Minh chia sẻ.   Có thể nói việc triển khai dự án nghiên cứu đó đã gần như thay đổi mọi công đoạn trong quá trình sản xuất nên hằng ngày ông Minh và mọi thành viên trong công ty rất vất vả trong việc xử lý nhiều việc mới phát sinh. Dù không ít người ngần ngại, do dự… nhưng ông quyết không nản lòng, dừng bước. Ông vẫn tin là mình sẽ thành công. Khi được hỏi vì sao có niềm tin đó, ông kể, “vốn không có trình độ học vấn cao nên tôi rất chăm đọc sách, và do công việc, tôi được đi rất nhiều nơi, nhiều quốc gia, có dịp học hỏi kinh nghiệm từ người khác. Cũng do đọc sách nên tôi biết được có nhiều nhà khoa học cũng không được học hành đến nơi đến chốn như tôi nhưng do kiên trì, mày mò thử nghiệm nhiều lần và đam mê nên đã có những phát minh mang lại lợi ích cho con người. Tôi tâm niệm, người có công thì trời không phụ. Việc người khác không làm được, không có nghĩa là mình không làm được”.   Trong 8 năm từ 2007 đến 2015, Minh Long 1 đã sáng tạo nhiều giải pháp kỹ thuật, công nghệ, trong đó giải pháp có ý nghĩa quyết định sự thành công của việc nung một lần lửa là xử lý hệ thống lọc nước và khí, bảo đảm: lọc nước theo tiêu chuẩn cao nhất cho công nghiệp để pha chế nguyên liệu luôn đạt hiệu quả trung tính và tinh khiết; trong vòng 3 phút có thể đưa một lượng khí lớn vừa sạch, vừa trung hòa độ pH và ion hóa, có nhiệt độ thấp hơn bên ngoài khoảng 10 độ vào các xưởng khép kín, bảo đảm sự tinh khiết môi trường cho công nhân làm việc thấy dễ chịu, thoải mái, các sản phẩm cần đốt một lần đạt hiệu quả cao, ít hư hỏng; đồng thời hệ thống lọc khí phải tự vận hành, tự rửa, nếu không hàng tuần phải mất nhiều công sức nữa. Theo ông Minh, đây là một việc rất khó, phải mày mò làm tới làm lui suốt 8 năm trời mới thành công. Các giải pháp tiếp theo là cải tạo hệ thống lò nung và lắp thêm hệ thống sấy trước lò nung chín sản phẩm để sấy thật khô cho phù hợp với kỹ thuật một lần; đầu tư thiết bị để xử lý nguyên liệu đầu vào cho men và đất có sự tương thích, không bị sốc nhiệt; nâng cấp giấy hoa, khuôn mẫu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao nhất… và bước cuối cùng là huấn luyện, đào tạo lại thợ gốm cho phù hợp với quy trình công nghệ mới.   Việc đưa công nghệ đốt một lần lửa vào sản xuất đã mang lại hiệu quả trông thấy. Ông Minh cho biết, ở bộ phận sản xuất đồ sứ chén đĩa có 1.500 người lao động, làm theo công nghệ cũ chỉ đạt từ 50 đến 60.000 sản phẩm/ngày thì nay với công nghệ mới đã sản xuất được gấp đôi (100 đến 120.000 sản phẩm/ngày) cùng số nhân công như nhau mà sản lượng tăng gấp đôi, và thời gian của chu kỳ sản xuất chỉ còn 1/5 so với trước, nghĩa là từ 15 ngày xuống chỉ còn 3 ngày. Các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm như độ trắng, mỏng, cứng, bóng… đều bằng hoặc hơn so với khi nung hai lần.  Nhưng để có được những sản phẩm chất lượng cao như sứ nhiệt độ cao của hãng Rosenthal (Đức), Royal Copenhagen (Đan Mạch), Lemoi (Pháp), và sứ Ivory (sứ ngà hay giả xương) của hãng Rak, một tập đoàn sứ lớn nhất khối Ả Rập về đồ ăn uống, thì “cùng với hoàn thiện công nghệ nung một lần lửa, một bí quyết quan trọng khác là đảm bảo nguyên liệu đầu vào tốt nhất. Cũng như người đầu bếp dù tài giỏi đến mấy mà không có thực phẩm tươi ngon thì cũng đành bó tay”, ông Minh nói. Trong một lần được ông cho tham quan bộ sưu tập đồ gốm với vài chục nghìn hiện vật quý, tinh xảo, tuyệt đẹp, tôi hỏi, hiện vật nào ông quý nhất, “những mẫu đất mà tôi mang về từ nhiều quốc gia trên thế giới”, tôi thực sự bất ngờ với câu trả lời của ông. Ông cho biết, hiện trong kho nguyên liệu của mình có hơn 30 loại đất quý hiếm mà ông mua được từ các mỏ đất chất lượng tốt nhất của nhiều nước, trong đó có loại đất quý mà ông phải mua dự trữ từ sáu tháng đến ba năm để phòng không mua được. “Tài sản của tôi trong nhà máy, đất là quan trọng nhất. Người ta giữ tiền, còn tôi giữ đất”, ông nói. Vì vậy, không có gì lạ khi sản phẩm gốm sứ Minh Long luôn đạt chất lượng cao vào loại hàng đầu thế giới, thậm chí sản phẩm sứ trang trí lễ hội Noel cũng có mẫu được nung ở nhiệt độ cực thấp 1150oC (hiện chưa có hãng nào làm được) cung cấp cho thị trường Pháp, khiến nhiều hãng của Pháp có sản phẩm tương tự phải đóng cửa (do giá thành sản phẩm cao).   Một chuyên gia hàng đầu thế giới về đất của Đức khi tham quan kho nguyên liệu của Minh Long đã hỏi ông về cách xác định chất lượng đất. Khi ông trả lời là phải có một phòng thí nghiệm với thiết bị hiện đại nhất giống như của Đức thì “ông ta chỉ vào đầu tôi mà nói, con khỉ, cái đầu mày chứ phòng thí nghiệm nào”. Ông Minh cho biết, để xác định chất lượng đất, trước hết ông phải sờ xem độ mịn, rồi dùng lưỡi liếm để biết được có hạt, dùng tay để cảm nhận độ dẻo và bằng mắt quan sát cấu trúc của đất qua màu sắc, độ dẻo, hình thái để đoán loại đất đó có thể chịu được nhiệt độ nung là bao nhiêu… “Bằng kinh nghiệm, tôi có thể xác định được nhanh chất lượng của đất. Còn nếu chỉ dựa vào phòng thí nghiệm thì chậm mà đôi lúc chưa chắc đã chính xác” (vì cần nhiều cách và nhiều lần thực hiện mới có kết quả chính xác), ông Minh khẳng định.     Chia sẻ với khán giả chương trình “Cánh buồm khởi nghiệp” của VTV vào đầu năm 2016, ông Lý Ngọc Minh bày tỏ niềm tự hào vì đã nghiên cứu thành công một đột phá công nghệ, góp phần đưa vị thế kỹ thuật ngành gốm sứ Việt Nam lên hàng đầu thế giới, và ngày nay nhân dân ta có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng: riêng lĩnh vực đồ sứ chất lượng cao theo tiêu chuẩn cao nhất, sản xuất theo công nghệ hiện đại, chúng ta không hề thua kém bất cứ cường quốc nào trên thế giới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự chia rẽ của những huynh đệ      Sáu năm sau vụ khủng bố 11.9, cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố của Mỹ vẫn đang trong thời kì khó khăn. Dẫu vậy, những tín hiệu mới của một sự đổi thay cũng đã bắt đầu xuất hiện mà điển hình là sự chia rẽ trong các phong trào Hồi giáo vũ trang. Dường như đang có một sự chia rẽ giữa một khuynh hướng “dân tộc chủ nghĩa” và “quốc tế chủ nghĩa” của những người này.    Từ Somalia đến Afghanistan, từ Iraq đến Lebanon, qua Palestin, đang dần dần hình thành một vành đai của sự hỗn loạn. Đặc điểm của những khu vực này là sự suy yếu của chính quyền tỉ lệ thuận với sự gia tăng vai trò của các nhóm vũ trang đang có trong tay những vũ khí hiện đại và thoát dần khỏi sự quản lí tập trung hóa. Đối với Mỹ, những khu vực này trở thành địa bàn chủ yếu của cuộc “chiến tranh thế giới thứ ba” hay “cuộc chiến chống khủng bố”. Chính cái nhìn này của Mỹ đã nuôi dưỡng cho chiến lược của Al-Qaeda, chủ trương một cuộc chiến sinh tử chống lại “cuộc thập tự chinh (của phương Tây) và những tên Do thái”. Dẫu vây, trên thực địa, những diễn ngôn đơn giản không thể che dấu được một thực tế nhiều mâu thuẫn hơn thế. Ở Iraq, người ta chứng kiến một cuộc huy động một bộ phận lực lượng kháng chiến Sunnite chống lại những nhóm Al-Qaeda ngay trong những khu vực thờ cúng. Ở Afghanistan, những đồng minh cũ Taliban và Al-Qaeda đã xung đột với nhau dữ dội. Taliban ưu tiên cho những chiến lược mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa (và tìm kiếm một thỏa ước với nhà cầm quyền Pakistan), Al-Qaeda lại kêu gọi lật đổ những chế độ Hồi giáo hiện hành, bị tố giác là những kẻ “phản đạo”.            Bin Laden trong một cuộn băng phát hồi năm 2001.        Từ năm 2003, các chiến binh tình nguyện người nước ngoài đổ về Pakistan và Iraq. Dẫu vậy, thay vì làm hài lòng các thủ lĩnh Taliban và các nhóm kháng chiến Hồi giáo địa phương, những kẻ này, chủ yếu đều thuộc thành phần cấp tiến và theo tư tưởng Takfirism – một ý thức hệ coi “những người Hồi xấu” là kẻ thù chính – đã gây ra một sự rối loạn. Xung đột với các chính phủ Hồi giáo, họ đã gây ra những hỗn loạn chính trong những khu vực dân cư mà lẽ ra họ phải bảo vệ.  Ở Iraq, Abou Moussaba Al-Zarqawi, một trong những lãnh đạo Takfirism chủ yếu đã rời  Waziristan để đến xứ sở này ngay sau khi quân đội Mỹ tràn ngập lãnh thổ và trở thành một trong những nhân vật uy tín nhất của phong trào kháng chiến. Bày tỏ công khai thái độ trung thành với Bin Laden, tập hợp quanh mình chủ yếu là những chiến binh nước ngoài, ông này đã xây dựng nên nhánh Iraq của Al-Qaeda. Tình hình ở đây nhanh chóng trở nên giống với Waziristans và Afghanistan. Ngay sau khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ, phong trào kháng chiến địa phương phải mất một giai đoạn để tái tổ chức các thành phần phân tán gồm các bộ lạc, các nhóm vũ trang phân tán, các thành viên đảng Baath và các cựu sĩ quan của vệ binh cộng hòa cũng như những lực lượng vũ trang khác. Khoảng trống đó tạo cơ hội cho đám chiến binh tụ tập từ bốn phương trời dưới ngọn cờ đen của Bin Laden, chứng tỏ sự hiện hữu trên chiến trường của mình với chủ trương theo đường lối Takfirism. Đó cũng chính là điều kiện gây ra một chia rẽ nội bộ giữa các lực lượng địa phương và các lực lượng quốc tế và cuộc chiến ở Iraq nhanh chóng trở thành một cuộc xung đột dữ dội của các phe phái.  Để có thể hiểu được tình hình, người ta phải nắm được bối cảnh đặc biệt dẫn đến cuộc chuyển hóa ý thức hệ của Al-Qaeda. Trong cuộc chiến tranh du kích chống quân đội Xô viết những năm 1980, có hai lò đào tạo các chiến binh Hồi giáo: Yemen và Ai Cập. “Nhóm Yemen ” gồm những kẻ có đời sống đơn giản, sang Afghanistan chỉ với mục đích tử đạo và sau cuộc chiến sẽ trở về nước hoặc ở lại các khu vực chiến trường xưa để xây dựng gia đình với dân địa phương. Ngược lại, các chiến binh được đào tạo ở Ai Cập chủ yếu lại thuộc các thành phần có học (bác sĩ, kĩ sư…). Họ là những kẻ có động cơ ý thức hệ và tham vọng chính trị mạnh mẽ nhất. Al-Qaeda đã được sinh thành trong môi trường này. Tiền thân của nó là một tổ chức mang tên “Phòng dịch vụ” được thành lập trong giai đoạn chiến tranh chống Liên Xô ở Afghanistan và chính Bin Laden là người đã biến nó thành Al-Qaeda. Sau cuộc chiến chống Liên Xô, những “người Ai Cập” đã ở lại Afghanistan vì cảm thấy tham vọng chính trị của mình chưa được thỏa mãn. Bin Laden là chất kết dính của phong trào này để tạo nên một khối thống nhất và tư tưởng Takfirism đã được hình thành trong bối cảnh đó.            Lính Mỹ ở Iraq        Cho đến đầu năm 2006, số lượng các chiến binh nước ngoài (gốc Arập, Tchechene, Uzbek…) có mặt ở vùng biên giới Afghanistan và Pakistan đã lên tới con số trên bốn ngàn. Những kẻ này muốn tiến hành một cuộc chiến chống lại quân đội Pakistan hơn là tập trung cho cuộc chiến “giải phóng” Afghanistan và đã trên thực tế đã xung đột với quân đội Pakistan. Điều này đặt các thủ lĩnh Taliban trong tình thể phải lựa chọn. Tình thế đó càng trở nên rõ nét sau cuộc tấn công vào các lực lượng liên quân vào đầu năm 2006. Các thủ lĩnh Taliban hiểu rằng tận dụng sự ủng hộ của dân điạ phương, sử dụng bom tự chế và những kĩ thuật chiến tranh du kích đô thị học được ở Iraq có thể làm liên quân thiệt hại nặng nhưng không thể chiếm được các vị trí có tính chiến lược. Họ bắt buộc phải tìm kiếm một giải pháp khác, và đến tháng 9.2006, một thỏa ước giữa Taliban và chính quyền Pakistan được kí kết. Nhờ thỏa ước này mối quan hệ giữa người Pakistan và Taliban được củng cố và thậm chí trong đó, có cả những điều khoản liên quan đến việc trục xuất các chiến binh nước ngoài về nước. Cuộc “hôn nhân” giữa Al-Qaeda và Taliban bắt đầu rạn vỡ.  Hiển nhiên, Al-Qaeda không thích thỏa ước này và tìm cách phá vỡ nó bằng việc gây bất ổn trong lòng các đô thị Pakistan mà điển hình là vụ Đền thờ đỏ. Những vụ việc này đã gây không ít lúng túng cho nhà cầm quyền Pakistan. Dẫu vậy, thỏa ước vẫn đứng vững. Nó thỏa mãn yêu cầu của chính quyền Pakistan muốn hạn chế ảnh hưởng của Al-Qaeda ở khu vực bộ lạc cũng như khuynh hướng từ bỏ lí thuyết “quốc tế chủ nghĩa cực đoan” của Al-Qaeda ở các thủ lĩnh Taliban. Và tất nhiên, các đối tác của thỏa ước phải ra tay. Nhưng cuộc tàn sát các chiến binh nước ngoài trong các vùng bộ lạc đã diễn ra. Taliban chỉ dành cho họ một lựa chọn : sang Iraq.          Các “ông trùm” của Al-Qaeda: Al Zawahiri và Bin Laden.        Ngay từ năm 2003, sau khi quân đội Mỹ tràn ngập Iraq, Al-Qaeda đã cử nguời sang đây. Tiến sĩ Mohamed Bashar Al-Faidy, một thành viên của Tập hợp các nhà thần học Hồi giáo, một thành phần của phong trào kháng chiến Iraq hồi tưởng lại: “Ngay khi được cử làm toàn quyền ở Iraq, Paul Bremer đã lập tức giải tán tất cả các lực lượng an ninh Iraq. Chúng tôi đã cử một đoàn đại biểu đến gặp ông ta và lưu ý ông ta rằng một quyết định như vậy có thể mở cửa cho bất kì ai thâm nhập qua biên giới. Ít nhất thì cũng nên giữ lại lực lượng biên phòng. Bremer không đồng ý : đối với ông ta, tất cả các lực lượng an ninh đều là người của Saddam Hussein. Ngay lập tức, Iraq phải chịu đựng một làn sóng xâm nhập của những cá nhân đủ loại bao gồm cả bọn khủng bố đến từ Iran hay Al-Qaeda, tập hợp ở đây vì những mục đích khác nhau. Ngày nay, tôi tin rằng Bremer đã thực thi chính sách đó một cách có ý thức với toan tính thu hút các chiến binh Al-Qaeda về Iraq, nơi mà ông ta cho rằng dễ tiêu diệt và bắt họ hơn là ở Afghanistan hay vùng Waziristan”.  Trong lúc Al-Qaeda muốn nắm lấy quyền chỉ huy ở Iraq và lái phong trào này theo chính sách toàn cầu của họ thì những lãnh đạo kháng chiến ở đây, được thúc đẩy trước hết bởi tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, ngày càng tỏ ra lo lắng và muốn thoát khỏi thế lực này. Những dấu hiệu bất hòa ngày càng lộ rõ. Tháng 4 năm 2007, kênh truyền hình Al Jazira đã phát đi tuyên bố của Ibrahim Al Shammari, người phát ngôn của Quân đội Hồi giáo Iraq về việc li khai với Al-Qaeda và tỏ rõ ý muốn sẵn sàng đàm phán với Mỹ.  Trong một cuộc họp báo ở Washington vào ngày 26.4.2007, tướng David Petraeus, tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Iraq đã thông báo về việc mặc dù vẫn là đối thủ của quân đội Mỹ nhưng nhiều nhóm quân nổi loạn và quân kháng chiến Hồi giáo Sunnite đã chống lại Al-Qaeda. Ông này cũng cho biết thêm là quân đội Mỹ tiếp tục đàm phán với các thủ lĩnh bộ lạc Sunnite và những lãnh đạo kháng chiến cũ để những người này đưa các chiến binh của mình sáp nhập vào lực lượng an ninh chính quy Iraq và cùng tham gia cuộc chiến chống chủ nghĩa cực đoan.  Về phần Al Faidy, ông này nói thẳng: “Tất cả các thành tố ngoại quốc thuộc các tổ chức vũ trang phi chính quy đều là một mối nguy cơ đối với Iraq. Họ bám lấy ý muốn làm chủ Iraq vì những mục tiêu cá nhân. Al-Qaeda đã bị các tổ chức tình báo nước ngoài thâm nhập, chưa kể đến sự lệch lạc trong tư tưởng tôn giáo của họ, điển hình là tư tưởng Takfirism. Vậy mà cuối cùng, chính người Iraq lại phải trả giá đắt. Điều đó còn do cả những người Shiite do mật vụ Iran bảo trợ. Họ muốn làm chủ Nam Iraq và đã sát hại hàng chục thủ lĩnh Shiite ở đây, những người chỉ muốn chống lại cuộc xâm lược của phương Tây”. Theo Al Faidy, phần lớn các chiến dịch quy mô ở Iraq đều là sản phẩm của các phong trào kháng chiến dân tộc chủ nghĩa. Vậy mà truyền thông phương Tây thường chỉ gán nó cho Al-Qaeda. Chính những người kháng chiến Iraq đang phải trả giá cho việc đã mở rộng vòng tay đón Al-Qaeda.  Đó cũng là tình hình chung của tất cả những lực lượng đã chấp nhận Al-Qaeda trong hàng ngũ của mình. Một cục diện mới giờ đây đang thành hình: các chính phủ “chống khủng bố” như Mỹ hay Pakistan chấp nhận một nền hòa bình xây dựng trên việc chia xẻ quyền lực với các nhóm đối lập. Chỉ với một điều kiện: Không Al-Qaeda.  PV.  (tổng hợp từ tư liệu của Le Monde Diplomatique)      Thế giới Hồi giáo được chia thành hai nhánh, Sunnite và Shiite và một trong hai nhánh đó đang trở thành kẻ thù mới của Mỹ. Một cách sững sờ, sau 11.9, người ta biết rằng những “chiến binh của tự do” nguời Afghanistan, những người đã từng được Ronald Reagan ca tụng vì cuộc kháng chiến chống lại “Đế chế của cái Ác – người Nga” lại có một quan niệm khá “độc đáo” về tự do.  Trong quá khứ, người Mỹ đã từng “nuôi ong tay áo” sử dụng những lực lượng cực đoan chống lại Liên Xô và sau đó bị chính những lực lượng này phản bội. Nhưng dường như Mỹ không rút ra được bài học lịch sử. Theo thông tin của nhà báo Seymour Hersch của tờ The New Yorker, Mỹ đang xây dựng một liên minh với các chế độ Arập ôn hòa thuộc hệ phái Sunnite để chống lại Iran và người Shiite. Vậy mà trong số những “đồng minh” ấy lại có cả những thành phần hết sức “cực đoan”. Trường hợp điển hình là ở Lebanon. Chính phủ của Fouad Siniora đang phải đối đầu với sự chống đối do Hezbollah thuộc hệ phái Shiite lãnh đạo. Và trong điều tra riêng của mình Hersch đã tỏ rõ sự lo ngại trước sự phát triển của nhiều nhóm Hồi giáo Sunnite cực đoan có quan hệ với Al-Qaeda nhưng lại nhận hỗ trợ tài chính từ phía chính phủ. Liệu những người này, sau khi được Mỹ và đồng minh ưu ái có quay lại “chống lại” nước Mỹ? Câu hỏi dù sao vẫn còn đang được treo lại.  Ý thức hệ Takfirism là một niềm tin hết  sức lâu đời ở các nước Hồi giáo, và được những chiến binh Hồi giáo Ai Cập phục hưng sau thất bại của nước này trước Israel năm 1967. Tư tưởng này được xây dựng trên một xác tín : sự suy yếu của các cộng đồng tôn giáo là kết quả của sự suy yếu của chính ngươi Hồi giáo, do họ xa rời các thực hành tín ngưỡng. Những người Hồi giáo không thực hành tín ngưỡng là người Hồi giáo không trung thành. Và những ai gắn bó với tư tưởng Takfirism sẽ được kêu gọi rời bỏ các xã hội Hồi giáo mà họ đang sống để tạo dựng một cộng đồng Hồi giáo tự trị và tiến hành chiến tranh với những người Hồi giáo không trung thành. Tư tưởng Takfirism tồn tại trong những nhóm Hồi giáo phân tán trong thế giới Arab trong những năm 1970. Nó tập hợp lại ở Afghanistan trong những năm 1980 trong cuộc chiến tranh chống Liên xô và nở rộ ở Iraq sau khi quân đội Mỹ tràn ngập đất nước này. Từ 2003, tư tưởng Takfirism bắt đầu được Al-Qaeda chấp nhận. Việc tiêu diệt lãnh đạo của những nước Hồi giáo “không trung thành” được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu và vùng lãnh thổ thuộc các bộ lạc ở Pakistan trở thành vùng đất thánh cho tư tưởng này. Takfirism đã làm Al-Qaeda thay đổi từ trong bản chất. Sau vụ 11.9, những kẻ khủng bố nhận ra rằng chúng bị tiêu diệt, bị tàn sát, bị ném bom, đầu của chúng bị treo thưởng bởi phương Tây cũng như Pakistan. Vậy thì không nên có sự phân biệt người Hồi giáo và Thiên chúa giáo, Pakistan và Mỹ… Và “thù trong” cũng nguy hiểm không kém “giặc ngoài”. Có thể nói, ý thức hệ Takfirism đang trở thành một thành tố gây bất ổn mới của thế giới Hồi giáo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự đa dạng di truyền của ngô hiển thị trong nghiên cứu hệ gene mới      Một tập hợp hệ gene ngô gồm 26 dòng di truyền khác nhau đã vẽ ra một bức tranh về sự giàu có trong đa dạng sinh học  và có thể giúp hiểu tốt hơn về vai trò của cơ chế di truyền với xu hướng đem lại những vụ mùa thu nhập cao cho người nông dân.      Matthew Hufford, tác giả thứ nhất của nghiên cứu này, phó giáo sư về tiến hóa và sinh học sinh vật tại trường đại học Iowa  Bản đồ 26 hệ gene được nêu một cách chi tiết trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Science 1 “De novo assembly, annotation, and comparative analysis of 26 diverse maize genomes” (Tập hợp de novo, chú giải, và so sánh 26 hệ gene ngô khác nhau).  Matthew Hufford, tác giả thứ nhất của nghiên cứu này, phó giáo sư về tiến hóa và sinh học sinh vật tại trường đại học Iowa, cho biết các hệ gene này sẽ giúp các nhà khoa học ráp các mảnh lại với nhau thành vấn đề về di truyền của ngô. Việc sử dụng những hệ gene mới này như điểm tham chiếu, các nhà khoa học cây trồng có thể lựa chọn được các gene tốt hơn như việc dẫn đến những vụ mùa bội thu hay cây có sức chống chịu với môi trường. “Nó cho phép anh có được nhiều thông tin chính xác hơn về những gì định hướng sự biến dị trong đặc tính của cây”, Hufford nói. “Nếu một nhà lai tạo thực sự muốn lựa chọn biến dị đúng để tạo ra các đặc tính mà họ quan tâm, họ chỉ có một cái nhìn lờ mờ về di truyền có thể là nguyên nhân của biến dị trong đặc tính của cây, do đó họ thực hiện mà như bị ‘trói chân, trói tay’. Chúng tôi đang trao cho họ nhiều thông tin để thực hiện sứ mệnh của mình”.  Hệ gene ngô đầu tiên được lập bản đồ là dòng di truyền B73, một dòng được phát triển tại Iowa. Patrick Schnable, giám đốc của Viện nghiên cứu cây trồng ISU; Doreen Ware, phó giáo sư Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor và nhà nghiên cứu của USDA, dẫn dắt dự án nghiên cứu tập hợp hệ gene này, vốn hoàn tất vào năm 2009. Kể từ đó, B73 được coi như một hệ gene tham chiếu chính của ngô, và trong một vài năm gần đây được bổ ung thêm một số thông tin về di truyền mới khác. Điều đó có nghĩa là vẫn còn giới hạn về giải trình tự di truyền trong những hệ gene ngô khác trong dòng B73. “Dù hệ gene đầu tiên là vô giá, cung cấp một danh sách những phần ban đầu và một phần sơ đồ sắp xếp, chúng tôi biết rằng nó vẫn chưa thực sự hoàn thiện”, Ware nói. “Rất quan trọng để phát triển những tham chiếu hệ gene khác để hiểu về kiến trúc di truyền đóng vai trò cơ bản về các đặc tính cần thiết cho trồng trọt”.  Nhưng 26 hệ gene được lập bản đồ trong nghiên cứu mới bao gồm một phạm vi rộng của đa dạng di truyền, từ ngô tẻ đến ngô ngọt để gieo trồng trên nhiều điều kiện địa lý và môi trường khác nhau. Điều này đem lại nhiều dữ liệu tham chiếu cho các nhà khoa học kết hợp di truyền ngô với nhiều mục tiêu, ví dụ như hiệu suất thu hoạch cao hơn.    Đa dạng di truyền đối diện với thách thức  Hufford cho biết, nghiên cứu về đa dạng di truyền của ngô cho thấy rất nhiều rào cản để tập hợp các hệ gene mới. 85% hệ gene ngô được tạo ra từ các yếu tố có thể chuyển đổi, hoặc các mẫu hình lặp lại trong hệ gene. Hufford so sánh các yếu tố có thể chuyển đổi đó như một trò chơi xếp hình, trong đó phần lớn nhất của các miếng ghép chỉ có một màu đơn nhất. Tất cả sự sao chép đó khiến khó khăn để xác định các phần vừa khít với nhau như thế nào. “Nếu anh không tìm ra một màu độc nhất hoặc hình dạng có thể nói với anh nơi đặt miếng ghép, anh sẽ chìm nghỉm trong sai hỏng”, Hufford nói. “Nhưng nếu anh có những miếng ghép lớn hơn với các đặc điểm độc nhất vô nhị, quá trình sau đó đơn giản hơn”.  Sự tiên tiến về mặt công nghệ đem lại nhiều công cụ cho các nhà khoa học vượt ra được những rào cản đó, Hufford nói. Các công nghệ giải trình tự mới cho phép đọc những đoạn trình tự dài hơn, điều đó có nghĩa là những miếng ghép của bức tranh xếp hình lớn hơn và có xu hướng chứa nhiều manh mối hơn cho phép các nhà khoa học sắp xếp chúng một cách thích đáng.  Công nghệ mới thậm chí có thể cho phép tập hợp được một toàn thể hệ gene (pangenome), hoặc một hệ gene tham chiếu chứa tất cả các đa dạng di truyền hiện diện trong ngô, Hufford nói. Ông gọi đây kaf một nỗ lực “tiên phong mới” của nhánh nghiên cứu này.  Nghiên cứu này do Chương trình nghiên cứu về hệ gene cây trồng của Quỹ Khoa học Mĩ tài trợ, thu hút 46 nhà nghiên cứu từ Hufford, các thành viên phòng thí nghiệm của Jianming Yu tại trường đại học Iowa và nhiều viện nghiên cứu khác, trong đó có MaizeGDB, một cơ sở dữ liệu hệ gene do USDA tài trợ đặt tại bang Iowa, các nhà nghiên cứu chính tại nhóm nghiên cứu của Kelly Dawe tại trường đại học Georgia,…  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-corn-genetic-diversity-genome.html  https://scitechdaily.com/the-secret-history-of-corn-and-its-jumping-genes-revealed-in-its-genome/  ——-  1. https://science.sciencemag.org/content/373/6555/655    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự đi xuống của nước Mỹ: Trung tâm quyền lực bị lung lay      (Bài viết này trích từ cuốn “Cuộc chiến tranh thế giới vì sự thịnh vượng: quyền lực và sự giầu có sẽ được phân phối lại như thế nào” của Gabor Steingart.)    Ai quan sát nước Mỹ vào đầu thế kỷ 21 thì vẫn thấy đây là một cường quốc thế giới, tuy nhiên cường quốc thế giới đó đang bị cạnh tranh từ bên ngoài và có nhiều khó khăn bề bộn ở bên trong. Tầng lớp bình dân và trung lưu ở Mỹ đang trở thành những kẻ bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa.  Sức mạnh của nước Mỹ ngày nay đồng thời cũng là chỗ yếu của Mỹ, vì thế chúng ta cần xem xét kỹ vấn đề này. Về cơ bản nước Mỹ có ba yếu tố làm nên thắng lợi huy hoàng, ba yếu tố thành công đó đã đưa nước Mỹ lên đài vinh quang của thế giới.                            Thứ nhất: Khó có nơi nào mà sự lạc quan và sự quyết chí vươn lên lại bộc lộ rõ rệt và tập trung cao độ  như ở Mỹ. Nước Mỹ có sự quyết tâm vươn tới cái mới một cách mạnh mẽ nhất, điều đó không phải mới có từ ngày hôm qua (như đối với người dân ở Đông Âu) và cũng không phải từ ba thập niên này (như đối với người Trung Quốc), mà có từ khi những người đầu tiên nhập cư vào nước Mỹ. Sự tò mò không một chút e dè, ngần ngại dường như đã ngấm vào máu thịt người Mỹ.  Cho đến nay dòng người năng nổ, nhiệt tình, ưa mạo hiểm vẫn tiếp tục đổ vào nước Mỹ, dòng người đó từ năm 1980 đến nay đã nâng nguồn nhân lực ở nước Mỹ lên gần 44 triệu người. Chính nhờ dòng người này nên nguồn nhân lực ở Mỹ luôn luôn trẻ trung, năng động, dám mạo hiểm và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.  Thứ hai: Mỹ là một đất nước có tính toàn cầu rất triệt để. Ngay trong lịch sử hình thành của mình, khi những con người ngang tàng, bướng bỉnh của tất cả các nước đặt chân, hòa nhập với nhau tại nước Mỹ, họ đã chứng tỏ mình là những đứa con của thế giới. Ông Helmut Schmidt gọi những người khai thiên lập địa ra nước Mỹ là “Những tinh hoa đầy sinh lực”, cái gien đó truyền lại cho đến tận ngày nay. Ngôn ngữ Mỹ trở thành thống soái và đã đẩy lùi tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp ngay từ nửa cuối của thế kỷ trước. Lối sống Mỹ, từ chiếc áo phông, điệu nhảy Rock ‘n’ Roll cho đến thư điện tử đã xâm chiếm già nửa thế giới một cách hòa bình. Ngay từ đầu các tập đoàn đã có xu hướng bành trướng ra các nước khác để tăng cường buôn bán và xây dựng các cơ sở sản xuất ở các nước đó. Các tập đoàn đa quốc gia không phải là một phát minh của Mỹ nhưng đã trở thành “đặc sản” của họ.                            Thứ ba: Nước Mỹ là quốc gia duy nhất trên trái đất có thể làm ăn buôn bán khắp thế giới và thanh toán bằng đồng tiền của mình. Đồng đôla đã trở thành phương tiện thanh toán thế giới. Ai muốn có đôla, phải mua của Mỹ. Mọi quyết định quan trọng về lượng tiền chu chuyển hay về mức lãi suất chỉ đạo đều diễn ra bên trong đường biên giới nước Mỹ, điều này bảo đảm tính độc lập ở mức cao nhất cho nước Mỹ. Dòng máu Mỹ chảy trong huyết quản của nền kinh tế thế giới. Hầu như một nửa số thương vụ làm ăn trên thế giới được thanh toán bằng đồng đôla, hai phần ba dự trữ ngoại tệ của các nước cũng ở dạng đồng đôla.   Nguyên nhân có thể dẫn đến đụng độ  Sau đây xin trình bầy về mặt trái của tấm huân chương:  Thứ nhất: Người Mỹ lạc quan đến độ ngây thơ. Khoản nợ của nhà nước, của các doanh nghiệp và hộ gia đình ở Mỹ hiện nay vượt mọi giới hạn từ xưa đến nay. Người Mỹ tin vào tương lai rực rỡ của họ, họ tin rằng cái tương lai đó huy hoàng hơn nhiều so với thực tại, hàng triệu hộ gia đình ở Mỹ cho phép mình tạm ứng để chi tiêu, mức tạm ứng này lớn đến độ trở thành nguy cơ đe dọa tương lai của họ.  Tầng lớp bình dân và trung lưu ở Mỹ thực chất đã từ bỏ lối sống tiết kiệm. Vào đầu thế kỷ 21 người Mỹ sống theo kiểu đại gia đình ở Châu Phi, nghĩa là có bao nhiêu ăn xài bấy nhiêu, họ hoàn toàn không có một chút dự trữ tài chính nào.   Thứ hai: Toàn cầu hóa phản công nước Mỹ. Mỹ là quốc gia thúc đẩy trao đổi hàng hóa trên khắp thế giới hơn bất kỳ một quốc gia nào, kết quả là nền công nghiệp của nước này đang bị xói mòn. Một số ngành sản suất, trước hết là ngành sản xuất đồ gỗ, ngành công nghiệp điện tử giải trí, ngành sản xuất phụ tùng, linh kiện ô tô và cả ngành sản suất computer đang rời bỏ vĩnh viễn nước Mỹ. Thị phần của Mỹ đang ngày càng bị thu hẹp lại.  Thứ ba: Đồng đôla không những làm cho nước Mỹ trở nên hùng mạnh mà còn làm cho nước này dễ bị tổn thương. Chính phủ bơm đôla đi khắp thế giới để làm ăn buôn bán, ngày nay vòng quay đồng tiền của nước Mỹ có thể bị đánh gục từ bên ngoài – thí dụ từ phía Bắc Kinh. Bill Clinton từng nói Trung Quốc là một “đối tác chiến lược”, còn George Bush thì coi Trung Quốc là “một sự đối đầu chiến lược”. Cả hai Tổng thống Mỹ đều nghĩ tới một điều như nhau. Ở đây có một sự lệ thuộc vào nhau, trong điều kiện bình thường hai nước tay cầm tay hợp tác làm ăn. Khi thời buổi đổi thay thì sự phụ thuộc vào nhau này rất có thể gây nên sự đối đầu mạnh mẽ.  Đánh mất sự phồn vinh  Nước Mỹ vào đầu thế kỷ 21 vẫn là một cường quốc thế giới. Nhưng cường quốc thế giới này đang phải cạnh tranh với bên ngoài và đang phải đối đầu với hàng loạt khó khăn ở bên trong. Toàn cầu hóa tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Mỹ vốn rộng mở với cả thế giới. Giờ đây toàn cầu hóa đang dồn một bộ phận  đông đảo người lao động Mỹ vào chân tường.  Cho đến nay sự vươn lên của Châu Á chỉ mới làm cho nền kinh tế Mỹ suy giảm tương đối. Nhưng đối với nhiều công nhân, viên chức Mỹ thuộc tầng lớp dưới và trung lưu thì sự sa sút này đã đến mức tuyệt đối vì những cái mà họ có hiện nay ít hơn trước đây;  ít tiền bạc hơn, ít uy tín hơn và cơ hội để họ vươn lên trong xã hội cũng trở nên xa vời. Trong cuộc chiến thế giới giành lấy sự phồn vinh họ là những người bị thua cuộc. Đó là số phận của họ, nhưng họ hoàn toàn không có lỗi lầm. Điều này càng không phải là chuyện riêng tư của họ. Người Mỹ không thể không đặt ra câu hỏi rất khó chịu với họ là,  tại sao ngày càng có nhiều người Mỹ bị tách ra khỏi cuộc sống phồn vinh ngay ở đất nước mình?  Ngày 28.10.1998 Hạ Viện Mỹ đã thành lập một Ủy ban gồm các nhân vật nổi tiếng  để nghiên cứu, làm rõ tác động của việc thâm hụt cán cân thương mại và sự tàn lụi của lao động công nghiệp. Donald Rumsfeld, hiện nay là Bộ trưởng Quốc phòng,  Robert Zoellick, hồi đó là Bộ trưởng Thương mại, Anne Krueger, nhân vật thứ hai của Quỹ Tiền tệ quốc tế, và giáo sư Lester Thurow của MIT đã tham gia Ủy ban này để thực hiện nhiệm vụ do Tổng thống Mỹ giao phó.   Theo báo cáo của Ủy ban này thì cho đến những năm 1970 thế giới của người Mỹ vẫn êm xuôi, không có vấn đề gì. Trong ba thập niên đầu tiên sau chiến tranh thế giới thu nhập của các gia đình người Mỹ thuộc mọi tầng lớp  đều tăng nhanh gần như nhau, thu nhập của tầng lớp nghèo phần nào tăng nhanh hơn. Mức tăng của một phần năm cuối cùng của xã hội Mỹ đạt gấp 120%,  hai phần năm đạt gấp 101%, ba phần năm gấp 107%, bốn phần năm gấp 114% và cái phần năm cuối cùng chỉ tăng gấp 94%. Đây là những con số phản ánh giấc mơ của xã hội Mỹ.  Nhưng sau đó xu hướng trên đã đảo ngược, không phải chỉ ở nước Mỹ. Nước Nhật  đã thức tỉnh, hướng đi của các dòng chảy thương mại trên thế giới có những thay đổi. Các nhà tư bản rời khỏi quê cha đất tổ và tự mình tìm đến những địa bàn đầu tư mới thích hợp với họ hơn. Trước đây đầu tư trực tiếp nước ngoài thường ít nhiều cùng phát triển với công nghiệp xuất khẩu nay nó phát triển hết sức mạnh mẽ.   Cho đến thời điểm đó đầu tư ở nước ngoài chủ yếu nhằm hỗ trợ xuất khẩu  hàng hóa của Đức, Mỹ hoặc Pháp,  nay diễn ra sự chuyển dịch các cơ sở sản xuất, mục đích chủ yếu nhằm giảm giá thành sản xuất. Sản xuất được tổ chức trên khắp thế giới để thỏa mãn thị trường thế giới, từ đó dẫn đến một sự phân phối mới đối với đồng vốn và lao động. Từ năm 1985 đến 1995 sản xuất toàn cầu tăng 100%. Tuy nhiên cũng trong thời gian đó đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng tới 400%. Với sự chuyển dịch yếu tố sản xuất là đồng vốn thì bắt đầu có sự băn khoăn lo lắng về sự chuyển dịch lao động, yếu tố sản xuất thứ hai.  Có chi nhánh ở tất cả các nước đàn anh trên thế giới.  Việc làm mới hình thành ở đâu đó và không thể không tác động đến thu nhập của các gia đình ở nước Mỹ. Trong khoảng thời gian hai mươi năm sau đó thu nhập của một phần năm dân cư ở thứ hạng thấp nhất bị sụt giảm 1,4%, tuy nhiên đối với hai phần năm tiếp theo dù sao vẫn đạt mức tăng trưởng là 6,2%, ba phần năm tăng 11,1% và bốn phần năm tăng tới 19%, phần đỉnh của tháp là lực lượng thúc đẩy, những bộ não đi tiên phong và những kẻ thu được nhiều lợi lộc nhất trong quá trình toàn cầu hóa, thì mức tăng trưởng thu nhập lên tới 42%.  Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong nền kinh tế Mỹ: Cho đến những năm 1970 sự phát triển sản xuất ở Mỹ lan ra khắp thế giới, đồng đôla và hàng hóa Mỹ xuất hiện khắp mọi nơi. Châu Âu và nước Nhật bị tàn phá trong chiến tranh được xây dựng lại nhờ vào sức mạnh của nước Mỹ. Trong bốn thập niên nước Mỹ là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới đồng thời cũng là quốc gia cung cấp nhiều tín dụng nhất trên thế giới. Quốc gia giàu có nhất thế giới bơm tiền của, hàng hóa tới các nước nghèo hơn. Nước Mỹ sử dụng nguồn năng lượng hừng hực trong sản xuất của họ để làm bùng lên ngọn lửa sản xuất  ở các nước khác hoặc chí ít cũng giúp cho ngọn lửa đó ở một số nước khác lóe lên. Không ai có thể phủ nhận nước Mỹ là trung tâm sức mạnh của thế giới. Từ đây các nguồn năng lượng lan tỏa đi khắp nơi.   Ngay cả khi không có các hoạt động quân sự đồng vốn của Mỹ cũng hiện diện trên khắp thế giới. Nhiều người coi đây là một sự đặc ân trời cho nhưng cũng có một số người coi đây là một sự trừng phạt. Nhưng dù sao thì vào thời kỳ đó nước Mỹ đã trở nên thịnh vượng và tư bản Mỹ đã làm ăn rất phát đạt. Khi nền kinh tế Mỹ ở trên đỉnh cao huy hoàng, chói lọi này tài sản ròng của Mỹ ở nước ngoài đạt 13% tổng sản phẩm xã hội của Mỹ. Nói một cách khác: giới tư bản Mỹ có chi nhánh ở tất cả các nước đàn anh trên thế giới.  Những cái còn lại hiện nay  Cái nước Mỹ hùng mạnh đó ngày nay không còn nữa. Cái trung tâm quyền lực này hiện vẫn mạnh hơn hết thảy nhưng từ một số năm gần đây nguồn năng lượng đã chảy theo hướng ngược lại. Ngày nay người Châu Á, Mỹ La tinh và Châu Âu cùng tham gia vào việc cung cấp cho hạt nhân sản xuất Bắc Mỹ. Quốc gia xuất khẩu hùng mạnh nhất thế giới ngày nào nay trở thành quốc gia nhập khẩu lớn nhất thế giới. Từ nước cung cấp tín dụng quan trọng nhất nước Mỹ trở thành nước vay tín dụng đáng kể nhất. Hiện nay tài sản ròng của người nước ngoài ở Mỹ lên đến 2,5 nghìn tỷ đôla, hoặc nói khác đi người nước ngoài chiếm giữ 21% tổng sản phẩn quốc nội của Mỹ. (20% các loại cổ phiếu, 17% trái khoán công nghiệp và 24% công trái nằm trong tay người nước ngoài).  Nguyên nhân dẫn đến sự thật nói trên không phải là do sự lười biếng của người Mỹ, cũng không phải do lối sống tiêu dùng vô độ của họ. Giới công nghiệp Mỹ phải chịu trách nhiệm về tình trạng này: chỉ trong một số thập niên nền công nghiệp Mỹ đã giảm một nửa, chỉ đóng góp có 17% vào tổng sản phẩn quốc nội trong khi đó ở Châu Âu là 26% .     Tất cả các nền kinh tế đáng kể trên thế giới đều xuất khẩu hàng hóa vào nước Mỹ, mà không nhập khẩu một lượng hàng có giá trị tương ứng của Mỹ. Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc cán cân thương mại năm 2005 có sự thâm hụt lên đến 200 tỷ đôla \, trong buôn bán với Nhật Bản thâm hụt 80 tỷ và với Châu Âu là 120 tỷ đôla. Ngay cả với các nền kinh tế không mấy phát triển như Ukraina hay Nga nền kinh tế Mỹ cũng không tạo nên thặng dư trong cán cân xuất nhập khẩu. Tầu container kìn kìn chở hàng xuất khẩu vào nước Mỹ, nhiều con tầu phải chạy không tải khỏi nước Mỹ vì thiếu hàng xuất khẩu của Mỹ.   Cán cân xuất nhập khẩu của Mỹ bị thâm hụt nặng nề không phải vì nước Mỹ nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu, dầu mỏ hay thiết bị, linh kiện phục vụ sản xuất. Số tiền chi để nhập khẩu dầu mỏ cũng chỉ chiếm 160 tỷ đôla. Cái mà nước Mỹ nhập khẩu có giá trị lớn nhất lại là những sản phẩn hàng đầu của một nền kinh tế phát triển như ô tô, máy vi tính, tivi vv… trong khi đó Mỹ lại không có khả năng tung ra thị trường thế giới các sản phẩm trên với khối lượng tương tự.  Trần Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng AI để tìm ra các nút protein phức tạp nhất có thể      Câu hỏi về cách các thành phần hóa học của một protein – chuỗi amino acid – xác định cấu trúc 3D của nó như thế nào là một trong những thách thức lớn nhất trong lý sinh trong hơn nửa thế kỷ qua.      Hiểu biết về sự “gập” của các protein là mong mỏi lớn nhất vì nó sẽ đóng góp đáng kể vào hiểu biết của chúng ta về vô số các bệnh dịch và cách điều trị nó. Vì những nguyên nhân đó, nhóm nghiên cứu DeepMind của Google đã phát triển AlphaFold, một trí tuệ nhân tạo có thể dự đoán được các cấu trúc 3D 1.  Một nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học từ ĐH Johannes Gutenberg Mainz (JGU), đại học California, Los Angeles đã có một cái nhìn cận cảnh vào các cấu trúc đó và kiểm tra xem nó có chú ý đến các nút không. Chúng ta đều biết các nút nguyên thủy ở dây giày và các dây thừng nhưng chúng có thể xuất hiện ở cấp độ nano trong tế bào của chúng ta. Việc hiểu các protein thắt nút có thể không chỉ hữu dụng trong đánh giá chất lượng của các dự đoán cấu trúc mà còn tăng thêm những câu hỏi quan trọng về cơ chế gập và sự tiến hóa của các protein.  Các nút phức tạp nhất như một thử nghiệm cho AlphaFold  “Chúng tôi tìm hiểu vô số – khoảng 100.000 dự đoán của AlphaFold về các nút protein mới”, Maarten A. Brems, một nghiên cứu sinh trong nhóm nghiên cứu của TS. Peter Virnau ở đại học Mainz. Mục đích của việc làm này là nhận diện ra các cấu trúc hiếm gặp, chất lượng cao chứa những nút protein phức tạp mà chúng ta còn chưa biết để làm cơ sở cho những chứng cứ thực nghiệm cho dự đoán của AlphaFold. Nghiên cứu này không chỉ khám phá protein thắt nút phức tạp nhất mà còn là những nút đa hợp đầu tiên trong các protein.  “Những phát hiện mới này cũng đem lại cái nhìn thấu các cơ chế tiến hóa đằng sau những protein hiếm”, Robert Runkel, một nhà vật lý lý thuyết tham gia dự án, nói.  Kết quả của nghiên cứu này mới được xuất bản trên Protein Science 2.  TS. Peter Virnau hài lòng với kết quả này: “Chúng tôi đã thiết lập được sự hợp tác với đồng nghiệp của chúng tôi là TS. Todd Yeates từ UCLA để xác nhận các cấu trúc đó về mặt thực nghiệm. Con đường nghiên cứu này sẽ định hình cái nhìn mới trong cộng đồng lý sinh về trí tuệ nhân tạo – và chúng tôi may may mắn có được một chuyên gia như Todd Yeates tham gia”.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-physicists-ai-complex-protein.html  https://www.fastcompany.com/90762381/chemistry-alphafold-artificial-intelligence  ——————————  1.https://www.nature.com/articles/s41586-021-03819-2  2.https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/pro.4380    Author                .        
__label__tiasang Sử dụng các cọ vẽ laser để tạo ra các kiệt tác tiểu họa      Các nhà nghiên cứu đang làm nhòe đi các lằn ranh giữa khoa học và nghệ thuật bằng việc chứng tỏ cách có thể dùng một tia laser để tạo ra các kiệt tác nghệ thuật theo cách phản chiếu trung thực các màu vẽ và nét cọ cổ điển. Kỹ thuật mới không chỉ tạo ra những nét vẽ màu sắc trên kim loại mà còn đưa ra một cách làm thay đổi hoặc xóa đi các màu sắc.      Bức “Đêm đầy sao” nguyên bản của van Gogh. Nguồn: Wikipedia  “Chúng tôi phát triển một cách sử dụng một tia laser để tạo ra màu sắc được định vị trên các “toan” kim loại thông qua việc sử dụng một kỹ thuật gia nhiệt trên tấm kim loại đó thành những điểm, nơi xảy ra hiện tượng bay hơi”, trưởng nhóm nghiên cứu Vadim Veiko từ trường đại học Tổng hợp nghiên cứu quốc gia về công nghệ thông tin, cơ khí và quang học St. Petersburg (ITMO University) ở Nga. “Với lối tiếp cận này, một họa sĩ  có thể tạo ra những tác phẩm tiểu họa không chỉ thông qua không gian và màu sắc mà còn thông qua rất nhiều vi cấu trúc cảm ứng laser khác nhau trên bề mặt đó”.  Trên Optica, tạp chí của Hội Quang học Mỹ (OSA), Veiko và các đồng nghiệp chứng tỏ các công cụ laser mới của họ có thể được sử dụng các bức vẽ màu độc đáo, bao gồm một phiên bản tiểu họa “Đêm đầy sao” của danh họa van Gogh.  “Chúng tôi hi vọng các bức họa laser sẽ thu hút sự chú ý của các nghệ sĩ hiện đại và dẫn dến việc tạo ra một dạng nghệ thuật hoàn toàn mới”, thành viên nhóm nghiên cứu Yaroslava Andreeva nói. “Cách tiếp cận này có thể được sử dụng cho thiết kế hiện đại và sáng tạo ra màu sắc trên những sản phẩm khác nhau.    Phiên bản “Đêm đầy sao” vẽ bằng kỹ thuật mới. Nguồn: Yaroslava Andreeva  Vẽ bằng ánh sáng   Nghiên cứu mới được thực hiện trên nghiên cứu trước đây, trong đó các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu cách sử dụng các tia laser để tạo ra màu sắc trên titanium và thép không rỉ. “Chúng tôi muốn làm nhiều hơn việc đề ra một bảng màu sắc rộng lớn với các màu sắc có độ bền cao”, Galina Odintsova, một thành viên của nhóm nghiên cứu này. “Do đó, chúng tôi tạo ra một công cụ thuận tiện để ứng dụng chúng nhiều hơn cả việc tạo ra một ‘cọ vẽ’ mới cho một nghệ sĩ”.  Với kỹ thuật mới, các nhà nghiên cứu gia nhiệt kim loại ở những điểm nơi bắt đầu xảy ra sự hóa hơi – cao hơn cả nhiệt độ nóng chảy thường được sử dụng trong những nghiên cứu trước đây. Khi kim loại được làm mát, một tấm màng cực mỏng của ô xít kim loại hình thành. Tia sáng phản chiếu từ bề mặt kim loại và đỉnh của giao diện màng ô xít theo một cách tạo ra những màu sắc khác nhau phụ thuộc vào độ dày của màng.  “Việc tăng cường phạm vi nhiệt laser đủ để tạo ra quá trình hóa hơi khiến cho các nét cọ của chúng tôi   có thể đảo lại, có thể xóa đi vẽ lại và hiệu quả hơn rất nhiều”, Odintsova nói. “Cách làm của chúng tôi khiến tốc độ vẽ nhanh gấp 10 lần so với trước đây”.    Tác phẩm tiểu họa vẽ bằng tia laser trên titanium được truyền cảm hứng từ tác phẩm của Sandra Dieckmann. Nguồn: Yaroslava Andreeva  Màu sắc có thể xóa được  Các nhà nghiên cứu sử dụng một hệ sợi cáp nanosecond ytterbium được lắp một máy quét Gavanô kế để tạo ra các đường cọ kết hợp sự phản hồi bề mặt với các hiệu ứng quang học, tạo ra chín màu sắc cơ bản. Một tia laser được chiếu với tốc độ quét nhanh hơn có thể xóa đi hoặc thay đổi màu sắc tại một khu vực. Họ chứng tỏ rằng không thể phân biệt màu sắc bề mặt hoặc các khu vực bị xóa với những bề mặt chưa từng được vẽ và do đó màu sắc có thể được xóa đi hoặc vẽ lại nhiều lần mà không ảnh hưởng đến màu sắc cuối cùng của bức họa mới.  Họ đã thử nghiệm các cọ vẽ laser mới bằng việc sử dụng nó để tạo ra một phiên bản “Đêm đầy sao” kích cỡ 3 X 2-inch chỉ trong bốn phút. Họ cũng tạo ra một tác phẩm nghệ thuật nguyên bản để thử nghiệm việc pha trộn và xóa màu sắc. Các nhà nghiên cứu chỉ ra là những bức họa được tạo ra bằng tia laser vô cùng bền trước những tác động của môi trường và hóa chất, do đó không cần đòi hỏi bất kỳ dạng bảo quản đặc biệt nào.  Các nhà nghiên cứu cũng thích tích hợp các năng lực vẽ bằng tia laser mới của mình với một công cụ cầm tay để có thể dử dụng như một cây bút hoặc cọ vẽ để tạo ra những bức họa màu sắc hoặc vẽ trên kim loại. Cách tiếp cận này có thể được sử dụng để đưa vào các cấu trúc nano và vật liệu lai hoặc các lưới bề mặt không đổi để tạo ra những hiệu ứng quang học khác nhau.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-laser-paintbrush-miniature-masterpieces.html  https://www.osapublishing.org/optica/abstract.cfm?doi=10.1364/OPTICA.420074       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng dao động của nguyên tử để kiểm soát chuyển pha      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Göttingen và Viện nghiên cứu Hóa học lý sinh  Max Planck mới thành công tạo màng và kiểm soát các phản ứng hóa học với những tia sáng ngắn cho một chất rắn.      Sự chuyển pha của các nguyên tử indium trên một tinh thể silicon được kiểm soát bằng các xung ánh sáng. Nguồn: TS. Murat Sivisa  Mục đích của “hóa học femto” là tạo màng và kiểm soát các phản ứng hóa học với những tia sáng ngắn. Việc sử dụng các xung laser một cách liên tục có thể làm kích thích hoặc phá vỡ, các liên kết nguyên tử như mong muốn của các nhà nghiên cứu. Từ trước đến nay, phương pháp này đã được sử dụng cho các phân tử chọn lọc. Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Göttingen và Viện nghiên cứu Hóa học lý sinh  Max Planck mới thành công trong việc chuyển nguyên tắc này cho một chất rắn, kiểm soát cấu trúc tinh thể trên bề mặt của nó. Kết quả này mới được xuất bản trên Nature với tiêu đề “Coherent control of a surface structural phase transition”    Nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Jan Gerrit Horstmann và giáo sư Claus Ropers dẫn dắt, hóa hơi một lớp màng indium cực mỏng vào một tinh thể silicon và sau đó làm lạnh tinh thể xuống âm 220oC. Trong khi các nguyên tử indium hình thành các chuỗi kim loại trên bề mặt ở nhiệt độ phòng, chúng tự động tái sắp xếp chính mình thành các hình lục giác cách điện tại những mức nhiệt độ thấp hơn. Quá trình này được biết đến như sự chuyển pha giữa hai pha – kim loại và chất cách điện – và có thể được chuyển bằng các xung laser. Trong thực nghiệm của mình, các nhà nghiên cứu đã rọi sáng bề mặt lạnh với hai luồng xung laser ngắn và sau đó lập tức quan sát sự sắp xếp các nguyên tử indium bằng việc sử dụng một chùm tia điện tử. Họ tìm thấy tiết điệu của các xung laser có ảnh hưởng đáng kể lên bề mặt để có thể chuyển nó thành trạng thái kim loại như thế nào.  Hiệu ứng này có thể được giải thích bằng các dao động của những nguyên tử trên bề mặt như tác giả thứ nhất Jan Gerrit Horstmann giải thích: “Theo thứ tự để chuyển từ một trạng trái này sang trạng thái khác, các nguyên tử này phải chuyển động theo các hướng khác nhau và cũng làm như vậy khi vượt qua một sườn đồi, tương tự như khi ta đi tàu lượn siêu tốc. Một xung laser đơn lẻ không đủ làm được điều đó và các nguyên tử hiếm khi chuyển qua và lại. Nhưng giống như một chuyển động lắc dọc, một xung thứ hai vào đúng thời điểm có thể đem đến mức năng lượng gần đủ đến hệ này để có thể đủ sức tạo ra chuyển pha”. Trong thí nghiệm của mình, các nhà vật lý đã quan sát phần lớn các dao động của những nguyên tử, vốn ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi này theo những cách hết sức khác nhau.  Phát hiện của họ không chỉ đem lại những kiến thức cơ bản mới về những thay đổi cấu trúc nhanh mà còn mở ra những tầm nhìn mới cho vật lý bề mặt. “Các kết quả của chúng tôi chứng tỏ những chiến lược mới về kiểm soát quá trình chuyển đổi của năng lượng ánh sáng ở cấp độ nguyên tử”, Ropers từ Khoa Vật lý trường đại học Göttingen và đồng thời là giám đốc Viện Hóa lý sinh Max Planck, đánh giá. “ Việc kiểm soát đích các chuyển động của những nguyên tử trong chất rắn bằng việc sử dụng các dãy xung laser có thể khiến có thể tạo ra những cấu trúc không thể tạo được ra trước đây với những đặc tính hóa học và vật lý hoàn toàn mới.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-physicists-oscillations-atoms-phase-transition.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng drone để tạo các mạng lưới lượng tử địa phương      Mới đây, một nhóm nghiên cứu gồm nhiều viện nghiên cứu khác nhau ở Trung Quốc tuyên bố đã sử dụng các drone (thiết bị bay không người lái) để tạo ra một dạng mẫu thử mạng lượng tử ở trên không quy mô nhỏ.      Các chùm tia từ một drone chiếu xuống khu vực thử nghiệm. Nguồn: X.-H. Tian, H.-Y. Liu, & Z. Xie/Nanjing Univ.  Dù chưa biết rõ tuyên bố này xác thực đến mức nào nhưng kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters “Optical-Relayed Entanglement Distribution Using Drones as Mobile Nodes”. Họ miêu tả việc gửi các hạt ở trạng thái rối từ một drone này sang một drone khác và từ một drone xuống mặt đất.  Các nhà khoa học máy tính, nhà vật lý và kỹ sư đã cùng làm việc suốt nhiều năm qua để hướng đến đích là xây dựng một mạng lưới lượng tử khả dụng – đủ khả năng để tham gia vào việc gửi các hạt ở trạng thái rối giữa những người sử dụng và kết quả này có thể dẫn đến việc đưa mạng lưới đó trở thành một trong những mạng lưới bảo mật bậc nhất trên thế giới. Là một phần của nỗ lực này, các nhà nghiên cứu đã gửi các hạt ở trạng thái rối qua các cáp quang, giữa các tòa nhà cao tầng và thậm chí từ vệ tinh xuống mặt đất. Trong nghiên cứu của nhóm Trung Quốc, họ đã đưa thêm vào một yếu tố mới – các drone.  Để xây dựng một mạng lưới viễn tải lượng tử, các vệ tinh xuất hiện như một giải pháp lý tưởng. Nhưng với các mạng lưới ở quy mô nhỏ hơn, như việc truyền thông giữa những người dùng trong cùng một thành phố, cần có một lựa chọn khác. Trong khi các tòa tháp có thể được một số nhóm sử dụng nghiên cứu nhưng chúng dễ bị lệ thuộc vào thời tiết và các khối chắn. Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã dùng các drone để mang các tín hiệu.  Công trình nghiên cứu được triển khai để xây dựng một thiết bị phát laser cỡ nhỏ và đưa nó lên một trong số các drone. Khi khai cuộc, các hạt photon chia thành hai, tạo thành các cặp ở trạng thái rối. Một trong những photon kết cặp đã thẳng hướng tới một drone khác trong khi photon khác lại thẳng hướng xuống trạm thu nhận ở dưới mặt đất. Drone giữ photon rối lượng tử chỉ đóng vai trò như một nơi tiếp nhận – sau khi tái tập hợp, hạt photon hướng tới drone thứ ba, vốn sau đó lại được gửi tới một trạm mặt đất thứ hai. Các thiết bị cơ giới hóa trên những drone đảm bảo khả năng vận chuyển và nhận giữ photon rối lượng tử một cách chính xác.  Trong mẫu thử này, các photon được gửi trong khoảng cách một km nhưng các nhà nghiên cứu đề xuất là việc chuyển các drone lên độ cao lớn hơn cũng có thể cho phép chuyển tín hiệu qua những khỏag cách xa hơn 300 km. Họ cho rằng công nghệ này có thể được dùng trên những phương tiện giao thông đang chuyển động trên mặt đất. Đồng thời họ còn lưu ý cả các drone và các trạm mặt đất có thể được kết nối với một mạng lưới bao gồm cả các vệ tinh. Và họ cũng chỉ ra công trình của họ là thử nghiệm đầu tiên trong việc gửi các hạt ở trạng thái rối giữa hai thiết bị đang di chuyển.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-drones-local-quantum-networks.html;   http://dx.doi.org/10.1103/PhysRevLett.126.020503    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng dữ liệu mở của khu vực công      Là một văn bản được chờ đón từ lâu, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước đánh dấu một bước tiến tích cực trong chương trình chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam. Mặc dù vậy, để đưa nội dung của Nghị định vào cuộc sống, chắc chắn không phải là công việc có thể làm được ngay bởi nó liên quan đến việc sử dụng Dữ liệu Mở của chính phủ.    Dễ nhận thấy là không có điều khoản nào trong Nghị định 47 nói tới các giấy phép mở hoặc cấp phép mở, điều thường thấy được nêu rõ ràng khi nói về dữ liệu mở trong các tài liệu, trên các cổng hoặc website dữ liệu mở của các chính phủ nước ngoài. Bên dưới là vài ví dụ.    Cổng dữ liệu mở của Chính phủ Vương quốc Anh (https://data.gov.uk/) sử dụng giấy phép chính phủ mở phiên bản 3.0 (https://www.nationalarchives.gov.uk/doc/open-government-licence/version/3/) cho các dữ liệu mở chính phủ, theo đó, người cấp phép (các cơ quan của  chính phủ) trao cho người sử dụng một giấy phép toàn cầu, không phải trả phí bản quyền, không độc quyền để sử dụng thông tin. Người sử dụng được tự do: sao chép, xuất bản, phân phối, và truyền thông tin đó; tùy biến thích nghi thông tin (là có thể sửa đổi thông tin đó theo ý mình cho phù hợp với hoàn cảnh của mình); khai thác thông tin đó cho các mục đích thương mại và phi thương mại, ví dụ bằng việc kết hợp nó với thông tin khác, hoặc bằng việc đưa nó vào trong sản phẩm hoặc ứng dụng của riêng người sử dụng.      Không có điều khoản nào trong Nghị định 47 nêu về giấy phép và/hoặc cấp phép mở cho dữ liệu mở, có lẽ vì thế rất khó để các doanh nghiệp, công ty khởi nghiệp và người sử dụng xác định bản thân họ được trao các quyền gì và có bổn phận gì khi sử dụng dữ liệu mở của chính phủ.      Dù trách nhiệm và quyền hạn của người sử dụng còn được chi tiết hơn nữa trong giấy phép này, thì chúng ta có thể thấy ngay là người sử dụng có thể sửa đổi để sử dụng các tập hợp dữ liệu mà chính phủ đưa ra trên cổng dữ liệu mở đó chứ không phải chỉ được phép sử dụng chúng nguyên trạng như được công bố trên cổng dữ liệu mở.    Một ví dụ khác, cổng dữ liệu mở của Chính phủ Singapore (https://data.gov.sg/) sử dụng giấy phép dữ liệu mở Singapore phiên bản 1.0 (https://data.gov.sg/open-data-licence), với nó người sử dụng có thể:    – Sử dụng, truy cập, tải về, sao chép, phân phối, truyền đi, sửa đổi các tập hợp dữ liệu, hoặc bất kỳ các bản phân tích hay ứng dụng nào, dù để sử dụng thương mại hoặc phi thương mại.    – Cấp phép con cho các tập hợp dữ liệu nếu điều đó là cần thiết để xúc tác cho người sử dụng ứng dụng và/hoặc website của bạn (“những người được cấp phép con của bạn”), để sử dụng ứng dụng hoặc truy cập website của bạn.    – Nếu những người được cấp phép con của bạn đòi hỏi các quyền bổ sung, thì ứng dụng và/hoặc website của bạn nên chỉ cho những người được cấp phép con của bạn để giành được giấy phép thích hợp trên data.gov.sg.    Từ các cổng dữ liệu mở của Vương quốc Anh và Singapore ở trên, chúng ta có thể thấy ngay là người sử dụng có quyền để sửa đổi và/hoặc tùy biến thích nghi các tập hợp dữ liệu một cách rõ ràng thông qua các giấy phép mở, chứ không phải chỉ được phép sử dụng nguyên trạng các tập hợp dữ liệu trên cổng dữ liệu mở đó.    Theo tài liệu “Khóa học cơ bản về Dữ liệu Mở trong chương trình học tập điện tử trên Cổng Dữ liệu châu Âu” do Viện Dữ liệu Mở xuất bản 2018 1, nếu không có giấy phép, dữ liệu là không thực sự mở. Giấy phép nói cho bất kỳ ai rằng họ có thể truy cập, sử dụng và chia sẻ dữ liệu của bạn. Khi không có giấy phép, dữ liệu có thể ‘sẵn sàng công khai’, nhưng những người sử dụng sẽ không có sự cho phép để truy cập, sử dụng và chia sẻ nó theo luật bản quyền hoặc luật về cơ sở dữ liệu. Nói cách khác, việc cấp phép mở cho phép các doanh nghiệp, các công ty khởi nghiệp, các chính phủ và các cá nhân đổi mới sáng tạo với dữ liệu mở một cách chắc chắn và rõ ràng.    Cũng theo tài liệu trên, để giúp cho các doanh nghiệp, các công ty khởi nghiệp, các chính phủ và các cá nhân có cơ hội lớn nhất để đổi mới sáng tạo, dữ liệu mở thường được cấp các giấy phép như CC0, CC BY, CC BY-SA trong hệ thống các giấy phép mở Creative Commons hoặc các giấy phép tương tự trong các hệ thống giấy phép mở khác; và chúng đều là các giấy phép tuân thủ định nghĩa của dữ liệu mở 2.      Hình 1. Các giấy phép cho dữ liệu mở3.    Ngoài ra, các giấy phép mở CC0, CC BY, CC BY-SA hoặc tương đương cũng là các giấy phép mở có mức độ tự do lớn nhất, chúng trao cho các doanh nghiệp, công ty khởi nghiệp và người sử dụng các quyền tự do để chia sẻ, pha trộn – tùy biến thích nghi, và kể cả thương mại hóa các tập hợp dữ liệu mà chúng được gắn vào, như trên Hình 2.    Không có điều khoản nào trong Nghị định 47 nêu về giấy phép và/hoặc cấp phép mở cho dữ liệu mở, có lẽ vì thế rất khó để các doanh nghiệp, công ty khởi nghiệp và người sử dụng xác định bản thân họ được trao các quyền gì và có bổn phận gì khi sử dụng dữ liệu mở của chính phủ, nhất là khi các diễn giải ở các điều, các khoản trong Nghị định 47 rất khó để họ có thể triển khai thực hiện được trong thực tế.    Ví dụ: Trích dẫn từ Nghị định 947:    Điều 18. Quy định sử dụng dữ liệu mở của cơ quan nhà nước    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép tự do sao chép, chia sẻ, trao đổi, sử dụng dữ liệu mở hoặc kết hợp dữ liệu mở với dữ liệu khác; sử dụng dữ liệu mở vào sản phẩm, dịch vụ thương mại hoặc phi thương mại của mình.    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải trích dẫn, ghi nhận thông tin sử dụng dữ liệu mở trong các sản phẩm, tài liệu liên quan có sử dụng dữ liệu mở.    3. Dữ liệu mở của cơ quan nhà nước là dữ liệu nguyên trạng như được công bố; không bao gồm các hình thức trình bày và các thông tin phát sinh từ dữ liệu mở đã được cung cấp.    4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được bán dữ liệu mở đã được khai thác nguyên trạng từ cơ quan nhà nước cho tổ chức, cá nhân khác. Khi sử dụng dữ liệu mở trong sản phẩm, dịch vụ thương mại của mình phải cung cấp miễn phí dữ liệu mở kèm theo sản phẩm, dịch vụ thương mại đó.    5. Cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh của cơ quan, tổ chức, cá nhân do việc sử dụng dữ liệu mở gây ra.  Với các quy định như ở trên, làm thế nào các doanh nghiệp, các công ty khởi nghiệp có thể sử dụng được các dữ liệu nguyên trạng như được công bố, không có bất kỳ sửa đổi nào mà chúng vẫn phù hợp với các ứng dụng và/hoặc dịch vụ cung cấp cho xã hội và những người tiêu dùng dựa vào các dữ liệu mở đó của chính phủ? Ràng buộc này, nếu so sánh với mức độ tự do của các giấy phép mở trong hệ thống giấy phép Creative Commons như ở Hình 2, là tương đương với hai giấy phép có mức độ tự do thấp nhất – CC BY-ND và CC BY-NC-ND, với yêu cầu “Không có tác phẩm phái sinh” hay không được sửa đổi bản gốc. Ràng buộc như vậy hạn chế đi rất nhiều hoặc làm triệt tiêu hoàn toàn sự đổi mới sáng tạo của chính các doanh nghiệp và các công ty khởi nghiệp đối với dữ liệu mở của chính phủ; và như trên Hình 2, nó không phù hợp với dữ liệu mở.       Hình 2. Các giấy phép CC0, CC BY và CC BY-SA trong hệ thống các giấy phép mở Creative Commons trao cho người sử dụng các quyền tự do để chia sẻ, pha trộn – tùy biến thích nghi và thương mại hóa.  Ở một góc nhìn khác, dữ liệu mở của chính phủ thường không hoàn chỉnh và chất lượng thấp, như được nêu trong tài liệu “Báo cáo toàn cầu, ấn bản lần 4” năm 2017 về dữ liệu mở của tổ chức Open Data Barometer 4. Vì vậy, việc cho phép sửa đổi, tùy biến thích nghi với điều kiện phải thừa nhận ghi công các dữ liệu mở gốc của chính phủ và/hoặc đi kèm với khẳng định trách nhiệm của các doanh nghiệp hoặc các công ty khởi nghiệp tạo ra dữ liệu mở phái sinh dựa vào dữ liệu mở gốc ban đầu đó của chính phủ, để trao cơ hội cho họ hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng các dữ liệu mở đó là rất cần thiết và nên thông qua việc cấp phép mở một cách rõ ràng và chắc chắn. Chính sự tùy biến thích nghi các dữ liệu mở gốc của chính phủ làm cho chúng trở nên hoàn chỉnh hơn, chất lượng cao hơn và phù hợp với các ứng dụng và/hoặc dịch vụ mang tính đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp, công ty khởi nghiệp để cung cấp cho xã hội.    Cũng theo báo cáo này, cho tới hết năm 2017, có tới 90% các tập hợp dữ liệu của các chính phủ trên thế giới là không mở. Có lẽ vì vậy, những gì hiện có trong Nghị định 47 cũng phản ánh hiện thực trong giai đoạn sơ khởi của dữ liệu mở ở Việt Nam, khi mà các dữ liệu được coi là ‘dữ liệu mở’ nhưng thực sự lại chưa là ‘dữ liệu mở’ theo định nghĩa và các quy ước quốc tế và việc sửa đổi bổ sung Nghị định 47 vì thế rất nên được đặt ra càng sớm càng tốt, đặc biệt ở khía cạnh ‘Cấp phép mở là điều kiện tiên quyết của dữ liệu mở!’.□     Các tham chiếu  1 Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2020: Khóa học cơ bản về Dữ liệu Mở trong chương trình học tập điện tử trên Cổng Dữ liệu châu Âu, Viện Dữ liệu Mở xuất bản 2018. Bài 4: Vì sao chúng ta cần cấp phép: https://giaoducmo.avnuc.vn/du-lieu-mo/bai-4-vi-sao- chung-ta-can-cap-phep-140.html  2. Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2020: Khóa học cơ bản về Dữ liệu Mở trong chương trình học tập điện tử trên Cổng Dữ liệu châu Âu, Viện Dữ liệu Mở xuất bản 2018. Bài 1: Dữ liệu Mở là gì?: https://giaoducmo.avnuc.vn/du-lieu-mo/bai-1-du-lieu-mo-la-gi-137.html  3. Lê Trung Nghĩa, 2019: Hai điều kiện tiên quyết cho dữ liệu mở. Tạp chí Tia sáng, 26/08/2019: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Hai-dieu-kien-tien-quyet-cho-du-lieu-mo-20624  4. Lê Trung Nghĩa biên dịch, 2017:  Báo cáo toàn cầu, ấn bản lần 4, Open Data Barometer xuất bản tháng 5/2017: https://www.dropbox.com/s/kr76bcce1jd7pmq/ODB-4thEdition-GlobalReport-Vi-10122017.pdf?dl=0 , CC BY.  Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.  Theo tôi có hai vấn đề chúng ta cần quan tâm khi đề cập đến việc sử dụng dữ liệu mở:  Thứ nhất, nên đề cập tới việc sử dụng một số định dạng chuẩn cho việc trao đổi biểu diễn dữ liệu, ví dụ bộ mã unicode, định dạng ngày giờ hay tọa độ dùng ISO. Đây là các loại dữ liệu khá phổ biến nếu có định dạng chuẩn sẽ đỡ mất thời gian xử lý hay hiểu sai dữ liệu. Ví dụ 1: ngày 11/6/2020 có thể bị hiểu nhầm là 6 tháng 11 hay 11 tháng 6, rồi khi trao đổi quốc tế phải có múi giờ. Nếu dùng ISO 8601 (https://en.wikipedia.org/wiki/ISO_8601) yyyy-mm-dd 2020-06-11 thì chúng ta không thể nhầm lẫn được. Hay toạ độ địa lý dùng hệ tọa độ của Việt Nam sẽ phải mất công biên đổi sang các hệ tọa độ dùng trong các hệ thống map quốc tế như google map hay openstreetmap. Hay các kiểu font TCVN, VNI… không nên dùng cho biểu diễn dữ liệu, chỉ nên dùng unicode.  Thứ hai nên khuyến khích chia sẻ dữ liệu dưới dạng máy tính dễ truy cập tự động, “hiểu được”, ví dụ các tệp thông tin định dạng XML, JSON, hay các API để tích hợp được luôn vào các ứng dụng. Cái này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và tiết kiệm công sức xử lý dữ liệu rất nhiều của người làm ứng dụng hay làm nghiên cứu với bộ dữ liệu. Trước đây dữ liệu có xu hướng đưa lên cho con người dễ nhìn (các trang Web, html) nhưng bây giờ có xu hướng dữ liệu để máy dễ truy cập nhằm phục vụ việc tích hợp hay triển khai các giải pháp tự động, khai phá dữ liệu hoặc trí tuệ nhân tạo (ví dụ các trang tin lớn thế giới họ có trang Web www.wsj.com, rss dạng XML (https://feeds.a.dj.com/rss/RSSWorldNews.xml) hay API (https://developer.dowjones.com/site/docs/newswires_apis/dow_jones_top_stories_api/index.gsp). Dữ liệu mở có thể miễn phí nhưng các API tương tác với dữ liệu có thể thu phí vì duy trì tốt được điều này sẽ khá tốn công sức và cơ sở hạ tầng. Việc thu phí sẽ khiến người sử dụng có trách nhiệm với dữ liệu hơn và có động lực hơn trong việc làm sạch và tạo các tiện ích từ dữ liệu. (TS. Lưu Vĩnh Toàn)    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Sử dụng kỹ thuật hạt nhân để bảo vệ đất      Trang web của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) giới thiệu một khía cạnh của ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam: dùng kỹ thuật hạt nhân để chống xói mòn đất trong lĩnh vực nông hóa, thổ nhưỡng.      Anh Đào Thanh Cảnh, chủ nhân một trang trại cà phê ở Lâm Đồng  được hỗ trợ chống xói mòn  Dù chưa từng nghiên cứu vật lý hay hóa học nhưng ông nông dân Đào Thanh Cảnh có thể hiểu đôi chút về các chất đồng vị hạt nhân. Lý do rất tình cờ là vào một vài năm trước, nhiều khoảnh đất trong trang trại rộng 5 mẫu trên núi của ông bị trượt lở. Khi đó các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt đã dùng các kỹ thuật hạt nhân để xác định chính xác nguyên nhân vì sao có hiện tượng sạt lở đất ở trang trại của ông và nguồn đất bị xói mòn. Nhờ vậy trang trại của ông vẫn giữ được nguyên vẹn và những cây cà phê trong trang trại vẫn cho thu hoạch tốt. “Chúng tôi hết sức lo lắng vì khó đoán định được nguyên nhân. Chúng tôi chỉ biết rằng cứ qua những cơn bão lớn hằng năm, một vài cm đất đai lại bị mất đi”, Đào Thanh Cảnh cho biết.  Trang trại của ông không phải là trường hợp duy nhất. Trên thế giới có khoảng 1,9 tỷ ha đất bị suy thoái, chiếm tới gần 2/9 diện tích đất trồng trọt.  Xói mòn là một nguyên nhân chính gây ra hiện tượng suy thoái chất lượng đất toàn cầu, dẫn đến hậu quả là mất đi 75 triệu tấn đất màu hàng năm, tương đương với việc thiệt hại khoảng 126 tỷ USD. Vì vậy, IAEA đã phối hợp với tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) hỗ trợ các nhà nghiên cứu và nông dân đo đạc và quản lý hiện tượng xói mòn đất bằng các kỹ thuật hạt nhân như đồng vị phóng xạ rơi lắng đánh giá tỷ lệ xói mòn đất, phân tích các đồng vị bền chỉ báo phức hợp để nhận biết các vùng có nguy cơ suy thoái đất.  Vòng quay nguy hiểm của xói mòn  Hiện tượng xói mòn hay xảy ra trên đất dốc, cuốn trôi lớp đất màu mỡ trên bề mặt, sau đó lắng lại trong ao hồ, gây ra hiện tượng phú dưỡng1 và làm giảm chất lượng nước. “Đó là cú bắn xuyên táo”, Mohammad Zaman, một nhà nghiên cứu thổ nhưỡng làm việc cho nhóm hợp tác về sử dụng kỹ thuật hạt nhân trong lĩnh vực Lương thực và nông nghiệp FAO/IAEA (Joint FAO/IAEA Division of Nuclear Techniques in Food and Agriculture).  Zaman giải thích, việc thâm canh trong nông nghiệp cùng với nạn chặt phá rừng là nguyên nhân phổ biến dẫn đến sự xói mòn đất. Việc trồng trọt liên tục làm mất đi các chất hữu cơ, do đó các hạt đất không còn khả năng kết dính, hệ quả là đất dễ bị rửa trôi khi gặp mưa bão lớn. Các kỹ thuật hạt nhân giúp nhận diện những điểm dễ bị xói mòn, qua đó các nhà khoa học có thể làm giảm thiệt hại bằng việc tập trung các giải pháp hợp lý vào những khu vực này. “Cách xử lý của chúng tôi hướng đến trúng đích hơn, hiệu quả hơn và chi phí thấp hơn”, Zaman cho biết.  Sau hiệu quả của dự án ở các quốc gia châu Á, IAEA hiện đang thành lập nhiều nhóm hợp tác như vậy tại nhiều khu vực khác và mở một mạng lưới gồm các chuyên gia để cùng chia sẻ những phương pháp và bí quyết.  Đo xói mòn để tìm giải pháp  Tại Việt Nam, nơi 3/4 diện tích là núi đồi thì xói mòn là vấn đề chính. Một dự án thử nghiệm FAO/IAEA đã thực hiện việc đo đạc tỷ lệ xói mòn đất bằng kỹ thuật hạt nhân ở 27 điểm của tỉnh Lâm Đồng. TS. Phan Sơn Hải, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Giám sát môi trường (Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt), người tham gia dự án này từ năm 2012, cho biết, việc sử dụng các phương pháp bảo tồn thích hợp như xen canh, đào hố chứa nước gần cây cà phê, làm ruộng bậc thang đã góp phần làm giảm tới 45% tình trạng xói mòn đất. Những kết quả tương tự đã đạt được tại các điểm thực hiện dự án. Hiện TS. Hải đang hỗ trợ các đồng nghiệp trên cả nước trong việc giới thiệu các kỹ thuật hạt nhân để theo dõi, giám sát sự xói mòn đất.    Biểu đồ hiển thị hiệu quả của việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân bảo vệ đất khỏi xói mòn  Tại Malaysia, cũng là một trong những quốc gia thực hiện dự án này, Othman Zainudin, đã giám sát một khu vực có khả năng xói mòn cao ở bang Perlis trong vòng 10 năm và mới chuyển sang sử dụng các kỹ thuật hạt nhân hai năm trở lại đây. Zainudin chuyên nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực địa mạo học ở trường ĐH Giáo dục Sultan Idris. “Với các kỹ thuật mới, chúng tôi có thể có nhiều thông tin chi tiết hơn”, Zainudin nói. Trước đây nhóm nghiên cứu của ông có thể đo đạc tỷ lệ trầm tích lắng đọng trong ao hồ nhưng không thể nhận định chính xác nguồn các chất trầm tích, ông giải thích.  “Giờ đây khi biết chính xác nơi nào xói mòn, chúng ta có thể thực hiện các biện pháp đúng đắn để giảm trừ thiệt hại”, Zainudin nói. Vào cuối năm nay, khi hợp tác với Bộ Nông nghiệp, ông sẽ tổ chức một chương trình tập huấn về kỹ thuật hạn chế sự xói mòn đất cho nông dân. “Trước đây, chúng tôi không thể thực hiện được chương trình truyền thụ kiến thức như thế này bởi vì chúng tôi không biết đích xác nguồn của xói mòn”, ông cho biết thêm.  Với trường hợp của Đào Thanh Cảnh ở Lâm Đồng, thu nhập của ông đã tăng lên tới 20% hằng năm, với cây chè trồng xen và cỏ khô nuôi gia súc được cắt từ khoảnh đất quanh gốc cà phê nhằm tránh nguy cơ xói mòn đất. Ông tiết lộ không còn lo lắng về tương lai và cảm thấy thoải mái với thu nhập tăng thêm của mình. Giờ đây, ông có thể dành tiền để lo việc học cho bốn đứa con. “Tôi muốn tạo điều kiện học hành cho các cháu, điều mà ttrước đây tôi chưa làm được”, ông nói.  Đồng vị phóng xạ rơi lắng và phân tích các đồng vị phóng xạ bền chỉ báo phức hợp Đồng vị phóng xạ rơi lắng (Fallout radionuclides – FRNs) được khởi đầu từ các vụ thử vũ khí hạt nhân và bị phân tán trên diện rộng. Chúng lơ lửng trong khí quyển và bị lắng lại trên bề mặt đất sau các trận mưa. FRNs có thể giúp các nhà khoa học nhận diện được những thay đổi về tốc độ và kiểu phân bố lại đất ở các lưu vực lớn, qua đó đánh giá hiệu quả các biện pháp bảo tồn đất trong kiểm soát xói mòn đất. FRNs có thể được đo tương đối dễ dàng và không cần phá mẫu bằng cách sử dụng phổ kế gamma phân giải cao. Kỹ thuật đồng vị bền chỉ báo phức hợp (Compound specific stable isotope – CSSI) thường được sử dụng để nhận biết nơi có đất bị xói mòn bởi CSSIs là dành riêng cho những loại cây khác nhau. Bằng việc nghiên cứu bổ cập CSSI (make up CSSI) của đất bị xói mòn, các nhà khoa học có thể truy tìm lại nguyên gốc của nó. Việc kết hợp cả hai cách tiếp cận này sẽ đem lại sự liên hệ giữa đất trầm tích trong lưu vực và nguồn xói mòn của nó.  ————————————————————————————-  1 Phú dưỡng là hiện tượng có quá nhiều chất dinh dưỡng bị chảy dồn vào môi trường nước, gây ra hiện tượng “tảo nở hoa” hoặc gia tăng đột biến thực vật phù du trong nước. Hiện tượng này làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước như thiếu dưỡng khí, làm cạn kiệt ô xy hòa tan trong nước, làm giảm số lượng cá và các loài động vật khác.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.iaea.org/newscenter/news/iaea-impact-viet-nam-tackles-soil-erosion-nuclear-techniques    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Sử dụng năng lượng gió trên trời cao: Cuộc chạy đua về năng lượng gió 2.0      Cuộc chạy đua khai thác năng lượng gió trong tương lai sẽ như thế nào?    Gió trên trời cao có tiềm năng to lớn để tạo ra năng lượng. Hãy nhớ lại thời thơ ấu  chơi thả diều. Chạy đà, kéo, giật con diều bay lên, lúc đầu là là trên mặt đất rồi lên cao dần, cao dần, cuối cùng vút lên trời cao. Đôi khi diều  kéo mạnh đến mức bạn gần như cảm thấy bản thân mình đang cất cánh. Nếu gió ở gần bề mặt trái đất mạnh đến mức gần như có thể cuốn bạn bay lên  thì ở tít trên cao, gió thổi mạnh đến mức nào?  Trong thực tế, gió ở độ cao từ 200 mét trở lên so với mặt đất có sức mạnh khôn lường, sức gió ở độ cao này có thể tạo ra nhiều năng lượng hơn hẳn so với turbine gió trên đất liền. Gió ở trên cao vừa mạnh hơn vừa ổn định hơn do đó tạo ra nhiều năng lượng hơn. Về lý thuyết, khi tốc độ gió tăng gấp đôi, năng lượng  được tạo ra có thể tăng gấp tám lần.  Giáo sư Moritz Diehl, Viện trưởng Viện Công nghệ vi hệ thống tại Đại học Freiburg, cho rằng, khai thác gió ở độ cao lớn là một trong những công nghệ tương lai đầy hứa hẹn của năng lượng tái tạo. Tuy nhiên cho đến nay, nguồn năng lượng trên trời cao này hầu như chưa được nghiên cứu nhiều.  Stephan Wrage, Giám đốc điều hành doanh nghiệp năng lượng gió SkySails-Power, muốn thay đổi điều đó. Ông nói, cần nỗ lực hơn nữa để “nguồn năng lượng tái tạo chưa được khai thác lớn nhất thế giới này” đi vào áp dụng trên diện rộng.  Trong nhiều năm qua, nhiều kỹ sư, nhiều doanh nghiệp  mới thành lập và các tổ hợp quốc tế  đã tham gia vào một cuộc chạy đua công nghệ để tìm ra giải pháp khai thác nguồn năng lượng trên trời cao nhằm đưa nó xuống mặt đất với giá thành rẻ. Nhiều người đã thất bại trong nỗ lực này, một số đã phá sản, nhưng một số  người lại đứng trước bước đột phá, để đưa các nhà máy điện bay của họ ra thị trường.  Y tưởng hay nhưng cũng nhiều thất bại  Một trong những dự án đầu tiên gây chấn động nhiều năm trước là việc ra mắt nguyên mẫu BAT của doanh nghiệp Altaeros của Mỹ vào năm 2010. Khi đó  Altaeros đã phát triển một máy phát điện được tích hợp vào một khí cầu chứa khí heli. Turbine gió không có trụ và móng. Nó chỉ được gắn vào mặt đất  bằng một sợi cáp và đã được thử nghiệm ở Alaska. Ở đó, trên độ cao 600 mét, nó tạp ra nguồn năng lượng có thể đáp ứng nhu cầu của khoảng 50 hộ gia đình.  Cũng thời gian trên doanh nghiệp SkySails của Đức đã phát triển một loại diều bay trên cao có thể kéo cả con tầu chở container, qua đó nhằm tiết kiệm khoảng 10% lượng tiêu thụ dầu diesel của con tầu này. Thử nghiệm diều đã thành công. Tuy nhiên, doanh nghiệp vận tải đã bị phá sản. Cả diều và turbine heli đều không chinh phục được thị trường.  Qua hai thí nghiệm không thành công này, người ta dù sao cũng nhất trí được một điều là bất kỳ ai muốn khai thác gió ở độ cao lớn đều cần có các nhà máy điện bay.  Google vào cuộc, chuyến bay, vụ tai nạn  Google đã xuất hiện. Năm 2013, tập đoàn phần mềm này đã mua doanh nghiệp khởi nghiệp năng lượng Makani với số tiền không được tiết lộ. Sự kiện này đã gây ra một sự phấn chấn, lạc quan trong ngành này. Với tiền của Google, Makani trở thành doanh nghiệp đi tiên phong. Nhà máy điện bay của hãng này có kích thước tương đương một chiếc máy bay cỡ nhỏ.  Máy bay được đưa lên độ cao khoảng 300 mét, nơi nó liên tục lượn vòng với sự tối ưu hóa. Tốc độ cao tạo ra các luồng gió trên cánh quạt từ đó tạo ra điện. Việc tạo ra một lượng năng lượng đáng kể bằng một máy phát điện khá nặng nề trên tàu bay nghe có vẻ khá điên rồ vào thời điểm đó. Nhưng dù sao thì nó cũng đã đi vào hoạt động.  Theo Makani, chiếc máy bay này sản xuất đủ điện cho 300 hộ gia đình sử dụng. Điều này dường như là một đột phá mà mọi người đang mong đợi. Nhưng đột nhiên, mọi sự trở nên tồi tệ. Một chiếc máy bay bị rơi trên biển trong một cuộc thử nghiệm. Năm 2020, công ty mẹ của Google là Alphabet hủy bỏ dự án với lý do là nghi ngờ về hiệu quả kinh tế của công nghệ này.  Một thị trường mới  Tuy nhiên, sự kết thúc của Makani không có nghĩa là sự cáo chung của năng lượng gió trên trời cao. Một thế hệ khởi nghiệp mới đã đi vào hoạt động với những chiếc máy nhỏ, đòi hỏi ngày càng ít vật liệu hơn. Một số áp dụng cách tiếp cận của Makani về kỹ thuật. Một số móc máy bay của họ vào một sợi cáp mà khi được kéo sẽ vận hành máy phát điện.  Một số  khác lại thay thế máy bay bằng những cánh diều. Trong số đó có doanh nghiệp SkySails-Power của Đức.  Con diều họ sử dụng cái gọi là chu trình bơm tuần hoàn. Diều tự động cất cánh, hướng theo chiều gió và cuốn theo sợi dây từ máy phát điện khi nó bay lên. Nơi gió thổi mạnh nhất, nó bay theo hình số tám, kéo theo sợi dây, tạo ra năng lượng. Diều được cho là có thể ở trên không trong nhiều giờ, nhiều ngày và nhiều tuần lễ. Khi gặp thời tiết xấu hoặc nguy hiểm, nó sẽ kích hoạt báo động và có thể được thu hồi. Theo Skysails-Power, một con diều có thể cung cấp điện cho 500 hộ gia đình và sử dụng vật liệu giảm tới 90%.  Ưu điểm so với năng lượng gió thông thường thể hiện ở sự linh hoạt và ở khâu hậu cần, vì không cần các thiệt bị lắp đặt to lớn, nặng nề như cần cẩu hoặc phải có đường xá đặc biệt tốt để lắp đặt, nâng hoặc kéo turbin. Người ta có thể vận hành chúng trên rừng, có thể hạ thiết bị khi cần tránh các bầy chim bay qua vv….  Năng lượng gió thông thường vẫn rẻ hơn và có thể áp dụng rộng khắp hơn. Phương án khai thác gió trên độ cao lớn không nhằm thay thế tuốc bin gió mà chỉ là một sự bổ sung nhằm tận dụng tốt hơn năng lượng tái tạo.  Theo một nghiên cứu của ngành công nghiệp năng lượng gió, năng lượng từ gió trên cao có thể trở nên rẻ hơn đáng kể so với dầu diesel trong tương lai, thậm chí còn rẻ hơn cả năng lượng gió truyền thống.  Chúng ta mới ở giai đoạn đầu của năng lượng gió 2.0  Theo Rishikesh Joshi, một nhà khoa học tại Khoa Kỹ thuật Hàng không vũ trụ thuộc Đại học Delft, mọi thứ mới ở giai đoạn sơ khai. “Hiện tại chúng ta  không thể đạt được mức giá như vậy vì mọi thứ vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Ngành công nghiệp gió cũng phải mất 40 năm để sản xuất điện với giá rẻ như hiện nay. Sẽ mất một số năm nữa trước khi chúng ta đạt được mức giá đó”.  Để làm được điều này, vẫn cần phải đầu tư rất nhiều vào lĩnh vực này và phải có lời đáp cho một loạt quy định liên quan đến giao thông hàng không.  Skysails-Power hiện là công ty hàng đầu trong lĩnh vực này và cho đến nay đã bán thiết bị đầu tiên cho Mauritius. Ở đó, họ hợp tác với một tập đoàn đầu tư IBL Energy Holdings Ltd.  Tầm nhìn là xây dựng ngành công nghiệp gió tầm cao ở Đông Phi từ Mauritius và cũng vận hành các trang trại gió diều nổi ngoài khơi trong tương lai.  Nhưng vẫn còn một chặng đường dài trước khi tới đích.   Cuộc thi đua cho thế hệ năng lượng gió tiếp theo đang diễn ra sôi nổi.    Xuân Hoài  tổng hợp  Nguồn: https://www.focus.de/wissen/natur/wissen-umwelt-hoehenwinde-das-rennen-um-windkraft-2-0_id_189471102.html  https://www.dw.com/de/google-windenergie-der-zukunft/a-64943199#:~:text=H%C3%B6henwinde%20bergen%20enormes%20Potenzial%20zur,ans%20Drachenfliegen%20in%20ihrer%20Kindheit%3F    Author                .        
__label__tiasang Sử dụng phụ gia thực phẩm ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật trong ruột người      Bạn đã bao giờ nghe nói về phụ gia thực phẩm E415 chưa? Nó còn có tên gọi là xanthan gum. Bạn thường ăn nó nhiều lần trong một tuần. Xanthan gum được sử dụng trong nhiều loại thực phẩm thường ngày như thực phẩm làm bánh, kem và salad. Phụ gia thực phẩm cũng được sử dụng rộng rãi như vật thay thế cho gluten trong các thực phẩm không gluten.    Nghiên cứu mới chứng tỏ xanthan gum ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột.  Nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Microbiology với nhóm nghiên cứu tại NMBU kết hợp với trường đại học Michigan và các đối tác quốc tế khác 1.  “Chúng tôi ngạc nhiên về cách các vi khuẩn đường ruột của người đều có thể đáp ứng với phụ gia thực phẩm vốn được đưa vào chế độ ăn hiện đại mới chỉ 50 năm qua”, nhà nghiên cứu Sabina Leanti La Rosa của NMBU nhận xét.  Khi được giới thiệu lần đầu tiên, xanthan gum được cho là không ảnh hưởng đến chúng ta vì nó không được cơ thể con người tiêu hóa. Tuy nhiên nghiên cứu mới chứng tỏ là chất phụ gia thực phẩm này tuy thế có ảnh hưởng đến vi khuẩn sống trong  đường ruột của chúng ta. Và các vi sinh vật này lại rất quan trọng với sức khỏe của chúng ta.  “Các vi sinh vật đường ruột mà chúng tôi đã tìm hiểu cho thấy những thay đổi di truyền và đáp ứng nhanh chóng để cho phép chúng phù hợp với chất phụ gia này”, giáo sư Phil Pope giải thích.  Ông là trưởng nhóm nghiên cứu sinh thái hệ vi sinh vật và các hệ đa thành phần tại NMBU, nơi các nhà nghiên cứu dẫn dắt nghiên cứu mới này.  Một chuỗi thực phẩm mới trong dạ dày  Nghiên cứu này cho thấy năng lực tiêu hóa xanthan gum chung trong hệ vi sinh vật người vô cùng đáng ngạc nhiên. Nó là sản phẩm của thế giới công nghiệp và xuất hiện phụ thuộc vào hoạt động của một loại vi khuẩn là thành viên của họ Ruminococcaceae.  Cùng với postdoc Matthew Ostrowski và giáo sư Eric C. Martens, cùng của trường đại học Michigan, các nhà nghiên cứu NMBUđã sử dụng các phương pháp khác nhau phân tích các gene, các phiên mã và các enzyme do vi sinh vật đường ruột tạo ra, để khám phá loài vi khuẩn có thể tiêu hóa xanthan gum. Công trình này bao gồm xét nghiệm trong phòng thí nghiệm các mẫu chất thải từ nhiều người, các thực nghiệm trên chuột và dữ liệu về các gene vi khuẩn từ các cơ sở dữ liệu quốc tế lớn.  “Vi khuẩn có thể tiêu hóa xanthan gum được tìm thấy giữa các vi sinh vật đường ruột của nhiều người sống trong các quốc gia công nghiệp hóa”, La Rosa nói.  Trong một số mẫu, loại vi khuẩn khác cũng được tìm thấy có tương tác với xanthan gum, đó là loài Bacteroides intestinalis. Vi khuẩn này có thể đánh chặn và phá vỡ xanthan gum thành nhiều mảnh nhỏ được tạo ra trong suốt quá trình tiêu hóa các phân tử xanthan lớn hơn bằng vi khuẩn Ruminococcaceae. Bacteroides được trang bị với các enzyme đặc biệt của mình cho phép ăn các mảnh xanthan gum nhỏ.  Nghiên cứu này cho thấy sự tồn tại của một xanthan gum tiềm năng – định hướng chuỗi thực phẩm liên quan đến ít nhất hai dạng vi khuẩn đường ruột. Nó đem lị một khung ban đầu để hiểu mức độ tiêu thụ rộng rãi của một loại phụ gia thực phẩm được giới thiệu gần đây ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột của con người như thế nào.  “Các phần đổi mới sáng tạo nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là cách tiếp cận tiên tiến. Chúng tôi kết hợp theo trình tự để nhận diện những cách chuyển hóa trong vi sinh vật là một phần của cộng đồng vi sinh vật phức tạp, không cần đến sự cô lập từng vi sinh vật. Sau đó, chúng tôi nêu đặc điểm chi tiết các hệ enzyme để làm thoái biến xanthan gum, để đánh giá các dự đoán bằng tin sinh học. Cách tiếp cận đa ngành này đem lại một cơ hội để hiểu được sự chuyển hóa trong hệ vi sinh vật đường ruột và có thể ứng dụng vào bất kỳ hệ sinh thái đường ruột phức hợp”, La Rosa giải thích.  “Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu này thúc đẩy các biên giới và cho phép chúng ta giải cấu trúc vi sinh vật để trả lời những câu hỏi sinh học quan trọng có liên quan về mặt xã hội. Việc có được những cách tiếp cận này là do kết hợp với nghiên cứu về hệ vi sinh vật tại NMBU, bao gồm các hệ đa thành phần (tại nhóm Hệ sinh thái vi sinh và các hệ đa thành phần) và lĩnh vực nghiên cứu về enzyme (tại Nhóm Kỹ thuật Protein và hệ Protein)”, Pope nói.  Không gluten và chế độ ăn ít tinh bột  Ở Nauy, khoảng 300 phụ gia được chấp nhận sử dụng trong thực phẩm. Xanthan gum, hay E415, là một trong số đó. Phụ gia này là một sản phẩm lên men được tạo ra từ đường lên men sử dụng vi khuẩn Xanthomonas campestris. Quá trình sản xuất tạo ta một chất lỏng dạng thạch được làm khô và chuyển thành bột.  Theo Cơ quan An toàn thực phẩm Nauy, xanthan gum được sử dụng như chất làm dày hoặc ổn định và hiện được cho phép sử dụng trong nhiều loại thực phẩm, bao gồm kem, kẹo, sữa chocolate, đồ làm bánh, các loại sốt và gia vị. Xanthan gum được sử dụng như một thành phần thay thế gluten trong thực phẩm không gluten và được bán như một chất bổ sung cho các chế độ ăn keto/low-carb.  Chất phụ gia này được phát triển ở California trong vòng sau thập niên trước và được Cơ quan An toàn thực phẩm chấp thuận là an toàn cho thực phẩm vào năm 1968. Nó sử dụng rất nhiều trong thế giới công nghiệp.  “Vì vậy xanthan gum được coi như một sản phẩm thân thiện với keto. Sở dĩ như vậy bởi nó được tin là không được cơ thể tiêu hóa và do đó không được tính là lượng ca lo ăn hằng ngày hoặc cho thêm vào ba chất dinh dưỡng cơ bản như carb (đường), protein (đạm) và fat (chất béo)”, La Rosa nói.  Tuy nhiên, cô giải thích, nghiên cứu mới chúng tỏ là vi khuẩn đường ruột phá vỡ xanthan gum thành đường đơn thành phần, vốn thường được lên men để tạo ra các a xít béo chuỗi ngắn có thể được cơ thể con người đồng hóa. Các a xít béo chuỗi ngắn được biết là cung cấp 10% calo cho con người.  Điều này cho thấy xanthan gum trên thực tế có thể cần được tính thêm vào lượng calo hằng ngày của một cá nhân.    Bắt đầu thấy những hiệu ứng dài hạn  Khi xanthan gum lần đầu được giới thiệu, nó được nghĩ là sẽ bị loại khỏi cơ thể người mà không ảnh hưởng đến người ăn nó.  Xanthan gum là một dạng khác của carbohydrate từ những thứ mà cơ thể con người sử dụng như tinh bột từ thực vật. Nó là một cấu trúc hóa học khác biệt. Xanthan gum là một dạng carbohydrate phức hợp không tương đồng với bất kỳ loại sợi thực vật nào mà chúng ta vẫn ăn.  “Chúng tôi giờ đã bắt đầu thấy những hiệu ứng dài hạn của xanthan gum mà trước đây chưa từng thấy kể từ khi nó được đưa vào chế độ ăn của con người”, La Rosa nói.  “Chúng tôi mới chỉ thấy những thay đổi trong vi khuẩn ruột những người ăn một ‘chế độ phương tây hóa”, nơi sự xử lý thực phẩm và chất phụ gia thực phẩm được tạo thành một phần đáng kể của thực phẩm được tiêu thụ. Ví dụ, chúng tôi không thấy những thay đổi tương tự trong những người sống ở các vùng khác trong toàn cầu bởi họ ăn rất ít lượng thực phẩm đã qua chế biến”.  Nó có ý nghĩa gì với sức khỏe của chúng ta?  “Trên cơ sở nghiên cứu này, chúng tôi vẫn chưa thể kết luận là liệu xanthan gum có ảnh hưởng hay không và ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của chúng ta. Nhưng chúng tôi có thể nói rằng phụ gia thực phẩm ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật trong ruột người tiêu dùng thực phẩm chứa nó”, La Rosa nói.  “Chúng tôi vẫn còn đường dài để đi đến kết luận đó nhưng nó kích thích chúng tôi thực hiện nhiều nghiên cứu để đóng góp nhiều hơn nữa cho lĩnh vực này và khám phá ra các hiệu quả ẩn dấu trong các phụ gia thực phẩm nổi trội trong chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe đường ruột con người. Đó là mục tiêu của chúng tôi”, La Rosa nói.  Để đào sâu hơn nữa trong vấn đề này, nhóm nghiên cứu tại NMBU gần đây đã nộp hồ sơ xin tài trợ từ Hội đồng nghiên cứu Nauy với sự dẫn dắt của La Rosa.  Phải có những đánh giá mới về phụ gia  Xanthan gum được chấp thuận là an toàn ch sử dụng trong nhiều loại thực phẩm trên nhiều khu vực lớn của thế giới, dựa trên những đánh giá đã được thực hiện hơn 50 năm qua.  Một lượng dân số lớn trong thế giới công nghiệp đã tiêu thụ một lượng không nhiều nhưng bền vững xanthan gum, và những nhóm người cụ thể tiêu thụ một lượng ở mức cao hơn, ví dụ những người mắc chứng không dung nạp gluten. Điều này nhấn mạnh vào nhu cầu hiểu sâu hơn về các hiệu ứng của dạng phụ gia thực phẩm này trong hệ sinh thái của hệ vi sinh vật ruột người và sức khỏe của vật chủ.  Do đó, La Rosa tin, đây là thời điểm cho các nhà chức trách chấp thuận những đánh giá mới về các phụ gia được sử dụng rộng rãi trong các thực phẩm thường dùng của chúng ta.  “Điều này phải thay đổi cách chúng ta nhìn vào các chất phụ gia. Khi chúng lần đầu được biết đến, chúng ta không tin là chúng tương tác với cơ thể chúng ta. Các chất phụ gia được giới thiệu trong những năm 1960 khi chúng ta chưa biết rõ ảnh hưởng chính của hệ vi sinh vật đường ruột lên sức khỏe và dinh dưỡng của chúng ta. Với những tiến bộ đạt được về khoa học vi sinh vật, chúng ta hiện giờ thấy những ảnh hưởng mà trước đây chúng ta chưa biết. Các nhà quản lý có lẽ phải đón nhận những hiểu biết mới và xem xét đánh giá về việc sử dụng chất phụ gia thực phẩm, điều này càng cần thiết vì giờ chúng ta đã thấy tác động trên thực tế của hệ vi sinh vật của chúng ta”.  Anh Vũ thực hiện  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-widely-food-additive-affects-human.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2021/11/211130130223.htm#:~:text=Ubiquitous%20food%20additive%20alters%20human%20microbiota%20and%20intestinal%20environment,-Date%3A%20November%2030&text=Summary%3A,of%20beneficial%20bacteria%20and%20nutrients.  —————————  1. https://www.nature.com/articles/s41564-022-01093-0    Author                .        
__label__tiasang Sử dụng tán xạ neutron để hiểu rõ hơn về thành phần sữa      Tán xạ eutron là một kỹ thuật thường được sử dụng trong lĩnh vực vật lý và sinh học để hiểu về thành phần của những hỗn hợp đa thành phần phức hợp. Hiện việc sử dụng nó đang ngày một gia tăng để nghiên cứu những vật liệu ứng dụng như thực phẩm.      “An alternative analysis of contrast-variation neutron scattering data of casein micelles in semi-deuterated milk”, một công bố mới xuất bản trên tạp chí EPJ E của Gregory N Smith, Viện nghiên cứu Niels Bohr, trường đại học Copenhagen, Đan Mạch, đã chứng tỏ một ví dụ của tán xạ neutron trong lĩnh vực khoa học thực phẩm. Smith sử dụng tán xạ neutron để có thể tìm hiểu một cách hiệu quả hơn các vi hạt casein trong sữa với mục tiêu là phát triển một cách tiếp cận cho nghiên cứu trong tương lai (casein là một loại protein trong sữa bò có chứa tất cả các axit amin thiết yếu mà cơ thể con người không thể tự sản xuất).  Smith, cũng là thành viên nghiên cứu tại Trung tâm Nguồn Neutron và Muon ISISS ở Anh, giải thích tại sao mô hình hóa về cách neutron tán xạ bằng các cấu trúc trong các vật liệu hệ keo tốt hơn lại đóng vai trò quan trọng. “Anh có thể hiểu cấu trúc của một hệ từ dữ liệu tán xạ phụ thuộc như thế nào vào việc mô hình của anh tốt như thế nào, và mô hình của bạn tốt hơn và thực tế hơn cũng làm anh hiểu biết sâu sắc hơn”, anh nói. “Điều này cũng đúng trong khoa học thực phẩm  cũng như với bất cứ loại vật liệu nào. Và một hiểu biết tốt hơn về cấu trúc của casein trong sữa cũng có thể giúp hiểu tốt hơn về các chế phẩm từ sữa”.  Nhà nghiên cứu nói: “Bạn có thể hiểu cấu trúc của một hệ thống từ dữ liệu phân tán đến mức nào phụ thuộc vào mô hình của bạn tốt đến mức nào, và mô hình của bạn càng tốt và thực tế hơn thì bạn càng hiểu rõ hơn”, nhà nghiên cứu nói. “Điều này đúng đối với thực phẩm cũng như đối với bất kỳ vật liệu nào . Hiểu rõ hơn về cấu trúc của casein trong sữa có thể giúp hiểu rõ hơn về các sản phẩm từ sữa. “  Tán xạ neutron có thể được sử dụng để tìm hiểu về các dòng chảy bằng việc hoán đổi dung môi nước bên trong chúng với nước nặng – loại nước mà hydro được thay thế bằng deuteri, một đồng vị của hydro có một hạt nhân với một proton và một neutron thay vì chỉ một proton.  “Tôi bắt đầu tìm hiểu mô hình mà tôi đã phát triển cho các vi hạt casein trong sữa có thể được ứng dụng trên dữ liệu tán xạ neutron đã có hay không. Bộ dữ liệu cụ thể mà tôi xem xét ở mức độ lớn và được đo đạc từ một số lượng lớn các phông, với các tỉ lệ nước và nước nặng khác nhau”, Smith tiếp tục giải thích. “Điều này có nghĩa là tôi có thể không chỉ có khả năng thấy mô hình này có thể hoạt động với những đo đạc khác nhau, vốn có thể phù hợp với những ứng dụng ở phạm vi lớn hơn mà còn có nghĩa là tôi có thể định lượng thành phần của sữa tốt hơn.  Smith giải thích thêm là anh hài lòng khi thấy mô hình của mình thích hợp khi so sánh với dữ liệu hiện có, vốn không phải lúc nào cũng được đảm bảo khi thử nghiệm các mô hình mới với các thí nghiệm tán xạ. Điều ngạc nhiên với anh là sự phù hợp với dữ liệu tán xạ xảy ra trong cả sữa tách kem với ít các giọt chất béo hơn.  “Ngay cả các vật liệu thông thường và vật liệu hàng ngày, như thực phẩm, đều có một cấu trúc chung ở cấp độ nano”, Smith kết luận. “Khi nhin vào sữa, có thể anh chỉ thấy một chất lỏng dùng đục nhưng bên trong chúng có những protein có khả năng tự tổ chức thành chất keo, các protein đều chuyển động tự do trong dung dịch, các hạt lớn của chất béo và nhiều hợp chất khác cũng vậy.  “Bằng việc sử dụng một kỹ thuật như tán xạ để nghiên cứu về một hệ, anh có thể thu được thông tin hữu ích về tất cả các thành phần của nó”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-neutron-composition.html  https://epje.epj.org/articles/epje/abs/2021/01/10189_2021_Article_23/10189_2021_Article_23.html?mb=0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng xenon lỏng tinh khiết để tìm các hạt vật chất tối bí ẩn      Một dặm sâu dưới lòng đất trong một mỏ vàng ở Nam Dakota là một cylinder khổng lồ chứa 10 tấn xenon lỏng tinh khiết với sự theo dõi chặt chẽ của 250 nhà khoa học khắp thế giới. Khối chất lỏng xenon này là tâm điểm của thực nghiệm LUX-ZEPLIN (LZ), một nỗ lực dò vật chất tối – vật chất bí ẩn không hiện hữu chiếm tới 85% vật chất trong vũ trụ.    “Người ta đã tìm kiếm vật chất tối trong suốt 30 năm và chưa ai tìm được bằng chứng thuyết phục”, Dan Akerib, giáo sư vật lý hạt và vật lý thiên văn ở Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia SLAC của Bộ Năng lượng Mĩ, nói. Nhưng với sự hỗ trợ của các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu khắp thế giới, Akerib và cộng sự đã thiết kế thí nghiệm LZ, một trong những máy dò hạt nhạy bậc nhất hành tinh.  Để đạt tới điểm này, các nhà nghiên cứu ở SLAC đã thiết kế thực nghiệm trên cơ sở hiểu biết tích lũy trong quá trình nghiên cứu về các khí hiếm dạng lỏng – hình thức lỏng của khí hiếm như xenon – bao gồm các kỹ thuật tiên tiến được sử dụng để tinh khiết khí hiếm dạng lỏng và hệ thống dò các tương tác của vật chất tối trong chất lỏng đó. Và theo nhận xét của Akerib, những gì các nhà nghiên cứu đã học hỏi với sự hỗ trợ không chỉ cho cuộc tìm kiếm vật chất tối mà còn cho các thực nghiệm tìm kiếm các quá trình hiếm của vật lý hạt.  “Có những bí ẩn sâu sắc trong lòng tự nhiên và việc hợp lưu đồng thời của những hiểu biết ở quy mô rất lớn và rất nhỏ vô cùng thú vị”, Akerib nói. “Chúng ta có thể học hỏi được nhiều thứ hoàn toàn mới về tự nhiên”.  Tìm kiếm vật chất tối dưới lòng đất  Một ứng cử viên hiện nay của vật chất tối là các hạt nặng tương tác yếu (WIMPs). Tuy nhiên, WIMPs về cơ bản hiếm khi tương tác với vật chất thông thường, khiến chúng vô cùng khó dò, bất chấp sự thật là về lý thuyết chúng thường xuyên qua cơ thể chúng ta mọi lúc, mọi nơi.  Để vượt qua thách thức này, thí nghiệm LZ đầu tiên được đặt vào sâu dưới lòng đất trong mỏ vàng cũ Homestake, giờ là Cơ sở nghiên cứu dưới lòng đất Sanford (SURF) tại Lead, Nam Dakota. Ở đó, thực nghiệm được bảo vệ tốt khỏi sự bắn phá của các tia vũ trụ lên bề mặt trái đất – một nguồn nhiễu nền có thể khiến khó chọn ra vật chất tối.  Ngay cả khi đó thì việc tìm kiếm vật chất tối cũng vẫn đòi hỏi một máy dò siêu nhạy. Vì vậy, các nhà khoa học tìm kiếm các loại khí hiếm, thường vô cùng trơ trong tương tác với bất cứ vật chất nào. Điều này có nghĩa có rất ít lựa chọn có thể xảy ra khi một hạt vật chất tối, hay WIMP, tương tác với nguyên tử của khí hiếm và do đó có ít khi các nhà khoa học lại bỏ lỡ một tương tác rất khó để tìm.  Nhưng loại khí hiếm nào? “Xenon là một ứng cử viên tốt cho việc dò vật chất tối”, Akerib nói. Vật chất tối tương tác mạnh nhất với các hạt nhân và tương tác đó trở nên mạnh hơn với khối lượng nguyên tử của các nguyên tử, Akerib giải thích. Ví dụ, các nguyên tử xenon nặng hơn gấp ba lần các nguyên tử argon nhưng chúng chờ đợi có những tương tác với vật chất tối mạnh gấp 10 lần.  Ngoài ra còn có lợi ích khác. “Một khi anh loại bỏ các ô nhiễm khỏi xenon lỏng, bản thân nó sẽ trở nên rất nhạy với sóng radio”, Akerib nói. Nói cách khác, sự phân rã phóng xạ tự nhiên của xenon dường như không giống với cách dò những tương tác giữa WIMPs và nguyên tử xenon.  Chỉ có xenon là hoàn hảo  Cái khó khăn nhất theo Akerib là có được xenon tinh khiết. Tuy nhiên, các khí hiếm tinh khiết lại không sẵn có – sự thật là chúng không tương tác với nhiều chất khác cũng có nghĩa là về tổng thể thật khó phân biệt chúng với chất khác. Và “không may là anh không thể mua được khí hiếm tinh khiết trên kệ hàng”, Akerib nói.  Akerib và đồng nghiệp tại SLAC do đó phải xác định được cách để tinh khiết tất cả các loại xenon lỏng mà họ cần cho máy dò.  Tạp chất chiếm nhiều nhất trong xenon là krypton, loại khí hiếm nhẹ nhất và có một đồng vị phóng xạ, có thể che đi các tương tác mà các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm. Để ngăn krypton khỏi trở thành kryptonite trong máy dò hạt, Akerib và đồng nghiệp của mình đã dành nhiều năm để hoàn thiện một kỹ thuật tinh khiết xenon bằng việc sử dụng cái gọi là sắc ký khí. Ý tưởng cơ bản của nó là phân tách các thành phần trong một hỗn hợp dựa trên các đặc tính hóa học của chúng khi hỗn hợp mang thông qua một số dạng trung gian. Sắc kí khí sử dụng helium như chất khí mang cho hỗn hợp, và than được sử dụng như chất trung gian phân tách.  “Anh có thể nghĩ helium như một bụi cốc bền vững thông qua than”, Akerib giải thích. “Mỗi nguyên tử xenon và krypton đều có lúc bám dính lấy than và có lúc không. Khi các nguyên tử ở trạng thái không gắn kết, bụi cốc helium cuốn chúng vào cột sắc kí”. Các nguyên tử khí hiếm ít gắn kết với vật chất nhỏ hơn chúng, điều đó có nghĩa là krypton ít liên kết hơn xenon, vì vậy nó bị cuốn đi bằng bụi cốc helium không gắn kết. Các nhà nghiên cứu có thể bẫy krypton và loại chúng đi, nhờ đó có lại xenon, Akerib nói. “Chúng tôi làm theo cách như vậy để có 200 cylinder khí xenon – đó quả là một kế hoạch lớn”.  Thí nghiệm LZ không phải là thí nghiệm đầu tiên mà SLAC tham gia trong nỗ lực tìm kiếm thứ vật lý mới với xenon. Thí nghiệm Quan sát Xenon được làm giàu (EXO-200), diễn ra từ năm 2011 đến 2018, cô lập một đồng vị đặc biệt của xenon để tìm kiếm quá trình vô cùng hiếm là phân rã beta kép không giải phóng neutrino. Các kết quả từ thực nghiệm cho thấy quá trình này tuy hiếm xảy ra nhưng đề xuất một cách tìm mới là Next EXO (nEXO) sẽ được tiếp tục với việc sử dụng một máy dò tương tự với cái của LZ.  Một dạng khác biệt của lưới điện  Không có vấn đề gì nếu khí hiếm lỏng được đưa vào máy dò, một hệ dò phức tạp mà các nhà khoa học cần phải có nếu muốn tìm thấy vật chất tối. Phía trên và dưới của cái tháp xenon lỏng của thí nghiệm LZ là những lưới điện cao áp quy mô lớn có thể tạo ra điện trường trong máy dò. Nếu một hạt vật chất tối va chạm với một nguyên tử xenon và bắn ra một vài hạt electron, sẽ có một vài electron tự do từ nguyên tử này và tạo ra một cách riêng biệt một chùm ánh sáng có thể các máy dò quang học phát hiện được, theo giải thích của Ryan Linehan, một nghiên cứu sinh trong nhóm LZ của SLAC có nhiệm vụ phát triển lưới điện cao áp. Điện trường chạy qua máy dò khi lái các electrons qua một lớp mỏng khí tại đỉnh cylinder nơi chúng tạo ra tín hiệu thứ hai. “Chúng tôi có thể sử dụng tín hiệu thứ hai cùng với tín hiệu ban đầu để nghiên cứu thông tin về vị trí, năng lượng, dạng hạt và nhiều hơn thế”, Linehan nói.  Nhưng lưới điện này không phải lưới điện thông thường – chúng chuyên chở dòng điện hàng chục nghìn volts, quá cao khiến bất kỳ hạt vi mô nào hay kính hiển vi điện tử nào hay những mảnh vỡ của lưới điện có thể tương tác tự nhiên mà không loại các electron, Linehan nói. “Và những electron đó có thể tạo ra những tín hiệu giống như các electron có thể đến từ xenon”.  Các nhà nghiên cứu đã bàn bạc về hai cách chính để tối thiểu hóa khả năng tiếp nhận những tín hiệu sai lệch từ lưới điện, Linehan nói. Đầu tiên, họ sử dụng một quá trình hóa học là sự tự động hóa để loại sắt khỏi bề mặt dây điện, để lại một bề mặt giàu chromium có thể giảm thiểu xu hướng của dây phát xạ electron. Thứ hai, để loại các hạt bụi, các nhà nghiên cứu phun lên lưới điện nước khử ion hóa ngay trước khi cài đặt. “Những quá trình đó hợp lại giúp chúng tôi có được lưới điện bền để qua đó có được một dữ liệu sạch”, anh nói.  Nhóm LZ xuất bản những kết quả đầu tiên vào đầu tháng 7, thúc đẩy cuộc tìm kiếm vật chất tối đi xa hơn trước đây. Linehan và Akerib nói họ ấn tượng bởi sự hợp tác toàn cầu của LZ đã đem lại điều này. “Cùng với nhau, chúng ta học hỏi được những điều cơ bản về vũ trụ và bản chất của vật chất”, Akerib nói. “Và chúng tôi mới chỉ bắt đầu”.  Akerib cùng với Maria Elena Monzani, một nhà khoa học hàng đầu tại SLAC và người tham gia phụ trách LZ về tính toán và phần mềm, và Thomas Shutt, người phát ngôn của nhóm hợp tác LZ, dẫn dắt dự án LZ tại SLAC.  Nhàn Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-purified-liquid-xenon-mysterious-dark.html  https://www.ilnuovosaggiatore.sif.it/article/272    Author                .        
__label__tiasang Sử học Toàn cầu: Một cách tiếp cận mới      Theo xu hướng toàn cầu hóa từ cuối thế kỷ XX, phương pháp luận sử học trên thế giới cũng có những chuyển biến lớn, trong đó có sự phát triển của phương pháp luận sử học toàn cầu (global history) [1]. Trong loạt bài về vấn đề này, GS Momoki Shiro, Đại học Quốc gia Osaka, Nhật Bản giới thiệu về phương pháp luận lịch sử toàn cầu, những ảnh hưởng và vai trò của nó trong việc phân tích lịch sử cổ trung đại Việt Nam.      ‘Khu vực tiếp xúc’ và ‘Khu vực được bảo vệ’ ở lục địa Âu-Á theo lý thuyết của Victor Lieberman. Nguồn: Momoki Shiro. Bản đồ đã đăng trong Shinsho Sekaishi B (Nxb Teikoku Shoin, 2018, tr. 9).  Khắc phục truyền thống lấy châu Âu làm trung tâm  Trong quá trình phát triển của nền sử học cận đại (chủ yếu ở châu Âu), quan điểm quốc gia-dân tộc (nation-state)2 chiếm ưu thế, nhất là vào nửa cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Trong hoàn cảnh đó, sử học có khuynh hướng (i) coi lịch sử cổ trung đại của các khu vực và địa phương như quá khứ tuyến tính của các quốc gia-dân tộc đang tồn tại hoặc nên hình thành, và (ii) lấy khuôn khổ quốc gia-dân tộc làm tiền đề tuyệt đối cho các khuôn khổ lịch sử khác như lịch sử thế giới, lịch sử khu vực và lịch sử địa phương. Bởi thế, lịch sử thế giới hoặc chỉ được lý giải chung chung (như “thị trường thế giới” chẳng hạn), hoặc chỉ được mô tả như “tổng” của lịch sử các quốc gia trên thế giới. Thậm chí có không ít luận điệu tùy ý gọi lịch sử của một số cường quốc hay khu vực phát triển hơn là “lịch sử thế giới”.  Quan điểm này đã đóng vai trò để cổ vũ cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân, gìn giữ chủ quyền, giành lại độc lập v.v. của nhân dân thế giới. Nhưng đến cuối thế kỷ XX, trước quá trình toàn cầu hóa (globalization) và các hiện tượng hậu hiện đại (post-modernism), những trào lưu sử học mới đã nổi lên hướng tới những đề tài và khuôn khổ mới vốn trước đó từng bị coi thường. Trong đó có ngành Lịch sử xã hội (social history) phát triển ở các nước Pháp, Anh, Đức, Ý… vào những năm 1970 và 19803, vừa coi trọng Lịch sử vi mô (micro history) nghiên cứu đời sống hàng ngày và ý thức chủ quan của dân thường, vừa coi trọng Lịch sử vĩ mô (macro history) về dân số, môi trường v.v. quan sát qua biến đổi trường kỳ và không gian siêu quốc gia.  Kế thừa nhiều quan điểm của Lịch sử xã hội, Lịch sử Toàn cầu (global history) bắt đầu phát triển từ thập niên 1990, trước hết ở Mỹ, Đức, Anh, Nhật… Phương pháp Lịch sử toàn cầu nhấn mạnh tầm nhìn rộng về không gian lẫn thời gian  sự liên ngành giữa KHTN và KHXH&NV. Nó chủ trương kết hợp các tầm nhìn toàn cầu, khu vực (regional), quốc gia (national), địa phương (local), và mạng lưới (network) trong thay đổi, quan hệ và so sánh để hiểu biết toàn diện về các đối tượng nghiên cứu. Các đề tài thường được lựa chọn là sự dịch chuyển – trao đổi của con người; của vật chất và hàng hóa, tiền tệ; của kỹ thuật, thông tin và hình ảnh v.v.. Các đặc trưng đó phản ánh sự phát triển chung của tư duy khoa học từ quan điểm truyền thống (xây dựng trên cơ sở logic nhất nguyên và nhị nguyên coi trọng tính khách quan) tìm một biến số độc lập/bản chất mang tính chất trừu tượng như là yếu tố quyết định toàn thể; đến quan điểm biện chứng hơn (trên cơ sở logic đa nguyên coi trọng quan hệ) muốn tìm hiểu hình dạng cụ thể, tác động qua lại đa nguyên-đa chiều giữa nhiều biến số/yếu tố.  Nhằm thực hiện các phương pháp luận đầy tham vọng nói trên, giới nghiên cứu sử học toàn cầu chú trọng một số khía cạnh: Về mặt tổ chức nghiên cứu, nó coi trọng sự hợp tác của nhiều chuyên gia (thuộc nhiều ngành, nhiều nước…). Về sử liệu, nó cố gắng kết hợp hài hòa cả việc tìm hiểu sâu sắc các sử liệu gốc, lẫn việc khai thác rộng rãi và sử dụng chính xác các tài liệu thứ cấp. Về nội dung, nó cố gắng xây dựng phương pháp để nghiên cứu về các giai đoạn trước thế kỷ XVI – kể cả thời nguyên thủy – mà trước đây bị coi là không có giao lưu toàn cầu. Ngoài ra, đó là việc khắc phục truyền thống Euro-centric của sử học (Frank 1998; Pomerantz 2000).     Tác động tới tiêu chuẩn phân kỳ lịch sử và nhận thức khu vực  Sau đây tác giả xin giới thiệu một số thay đổi gần đây của lý luận sử học dưới ảnh hưởng của phương pháp luận lịch sử toàn cầu và các trào lưu sử học khác.     Chẳng hạn như với phân kỳ lịch sử – một công việc cơ bản của sử học. Hiện nay tiêu chuẩn phân kỳ thường khác nhau tùy theo lĩnh vực và tầm nhìn nghiên cứu: phân kỳ thế giới, phân kỳ khu vực, phân kỳ quốc gia; phân kỳ từng lĩnh vực (chính trị, văn hóa v.v.) hay phân kỳ lịch sử toàn thể (total history)… Hàm ý của các khái niệm truyền thống như là cổ đại-trung đại-cận đại-hiện đại đã đa dạng hóa với sự xuất hiện của một số khái niệm phân kỳ mới. Đặc biệt quan trọng có khái niệm Early modern, tức sơ kỳ cận đại (‘cận thế’ trong tiếng Nhật) thay thế cho khái niệm ‘hậu kỳ phong kiến’ ở khu vực châu Á. Đó là do các thế kỷ XIV-XV đến XVII-XVIII không còn được coi là thời kỳ suy thoái của khu vực nữa – mà ngược lại, lại chứng kiến sự phát triển ở nhiều phương diện (như sẽ trình bày dưới đây) bất chấp việc chúng có nhiều nét không giống mô hình cận đại hóa kiểu châu Âu.      Muốn thảo luận về lịch sử toàn cầu thì không thể không đề cập đến lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, trong công trình lịch sử toàn cầu của Lieberman (2003, 2009) hay lịch sử Đông Nam Á của Anthony Reid (2016) chỉ viết về Việt Nam một cách sơ sài vì thiếu điều kiện tiếp cận với thành tựu nghiên cứu của giới sử học Việt Nam – vốn ít được công bố bằng tiếng Anh.      Đối với khu vực Đông Á-Đông Nam Á, các nhà sử học tranh luận sôi nổi xem thời kỳ nào đã trải qua biến đổi quan trọng hơn? – Biến cách Đường-Tống; Giai đoạn “Nguy cơ Toàn diện – thế kỷ XIV”; hay biến đổi cuối Minh đầu Thanh? Các tranh luận này gắn liền với lĩnh vực nghiên cứu thiết chế chính trị và ý thức quốc gia của Trung Quốc và các nước lân cận trong “Thế giới Trung Hoa”, từ đó đưa đến các khuôn khổ phân kỳ mới trong nghiên cứu, liên quan đến việc phân biệt rõ các giai đoạn phát triển của mô hình đế chế Trung Hoa; như giai đoạn biến thiên của cơ chế triều cống-sắc phong giữa Trung Quốc và các nước lân cận – từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của các thiết chế chính trị, kinh tế và cả ý thức ‘Thiên hạ’,‘Hoa-Di’ và ý thức cộng đồng chính trị-văn hóa ở các nước này.  Mặt khác, các nhà sử học cũng thảo luận nhiệt tình về cách nhận thức về ‘khu vực’. Chẳng hạn, để hiểu về lịch sử Việt Nam, tùy theo đề tài/phương pháp nghiên cứu mà có thể xem xét các khuôn khổ khu vực khác nhau như Đông Á, Đông Nam Á và Đông Bắc Á, Phía Đông khu vực Âu-Á. Xét trên cách tiếp cận sử học toàn cầu, quan điểm lý thuyết về ‘Khu vực tiếp xúc (Exposed Zone)’ và ‘Khu vực được bảo vệ (Protected Zone)’ ở lục địa Âu-Á của học giả Mỹ Victor Lieberman (2003; 2009) đặc biệt lý thú. ‘Khu vực tiếp xúc’ chạy dài theo chiều Đông-Tây từ Trung Quốc đến Trung Cận Đông và Đông Âu, ở đó các xã hội nông nghiệp và xã hội du mục thường xuyên tiếp xúc với nhau – tạo điều kiện hình thành các nền văn minh cổ đại và sự phát triển của các đế chế đa dân tộc-đa văn hóa lớn mạnh với cơ chế quản lý có hiệu quả (từ cổ đại đến thế kỷ XVII). Còn ‘Khu vực được bảo vệ’ bao gồm các xã hội nông nghiệp xung quanh khu vực tiếp xúc như lục địa Đông Nam Á, Nhật Bản, Tây Âu và Bắc Âu… ít bị tấn công của thế lực du mục, trừ đế chế Mông Cổ. Trong khoảng năm 800-1830, ở đây có nhịp điệu chung về quá trình củng cố tính thống nhất chính trị-văn hóa. Quá trình hình thành phát triển quốc gia ở khu vực này diễn ra muộn hơn ‘khu vực tiếp xúc’, quy mô lãnh thổ quốc gia đều không lớn bằng các đế quốc ở ‘khu vực tiếp xúc’, nhưng đến khoảng năm 800-1300 chúng trải qua một giai đoạn cố kết gọi là các ‘chính quyền hiến chương’ (charter state). Thiết chế này tạo ra các cộng đồng chính trị-văn hóa có tính đồng chất cao hơn và thiết chế chính trị-quân sự được tổ chức chặt chẽ hơn so với các đế quốc trong ‘khu vực tiếp xúc’, do đó tạo ra sức mạnh phản kháng bền bỉ chống đế chế Nguyên Mông [thể hiện ở việc các vương triều ở Đông Nam Á, Nhật Bản đều ngăn cản các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ trong thế kỷ XIII (TS)]. Cộng đồng chính trị-văn hóa đó tiếp tục phát triển trong giai đoạn sơ kỳ cận đại và hình thành nền tảng quốc gia-dân tộc cận đại (hiện tượng ít xảy ra ở ‘khu vực tiếp xúc’).     Trong xã hội tiểu nông ở Đông Á, tầng lớp tiểu nông đóng vai trò chính trong làng xã và chịu ảnh hưởng của tư tưởng và nghi lễ Nho giáo trường phái Chu Hi, như thể hiện trong cảnh lớp học ở nông thôn thời Joseon này. Nguồn: National Museum of Korea.  Với phân tích lịch sử kinh tế – xã hội Đông Á-Đông Nam Á  Sử dụng phương pháp sử học toàn cầu, nhiều nhà sử học cũng xem xét lại lịch sử kinh tế – xã hội của Đông Á-Đông Nam Á của các giai đoạn trước thế kỷ XIX. Với kinh tế, một ví dụ là khái niệm đang được chấp nhận rộng rãi về mạng lưới thương mại nội Á (Intra-Asian trade) như là động lực lớn của quá trình phát triển kinh tế thế giới. Trong giai đoạn 800-1300 chẳng hạn, quá trình giao lưu xuyên lục địa Âu-Á (Eurasia) diễn ra, đứng đầu bởi người Hồi giáo và người Hoa. Quá trình này đã lôi cuốn sự tham gia của các vùng ngoại vi (Đông Bắc Á, Đông Nam Á hải đảo, Đông Nam Phi, Tây Âu và Bắc Âu…) vào giao lưu hàng hóa, kỹ thuật, con người, văn hóa và tôn giáo, tạo thành một mạng lưới buôn bán siêu khu vực. Quá trình này thậm chí còn tạo cơ sở để lập luận rằng một Hệ thống thế giới (World System, thuật ngữ của Immanuel Wallerstein) đã xuất hiện trong thế kỷ XIII (Abu-Lughod 1989) – với vai trò xúc tiến ít hoặc nhiều của Đế chế Mông Cổ.  Ngoài ra, vấn đề xã hội nông nghiệp và nông dân Đông Á-Đông Nam Á cũng được quan tâm rộng rãi. Dù hình thức tiểu nông luôn phổ biến trong bất kỳ xã hội nông nghiệp nào, nhưng ở Đông Á đã dần hình thành một mô hình gọi là ‘xã hội tiểu nông kiểu Đông Á’ (Miyajima 1994) ở các trung tâm nông nghiệp tại Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản trong giai đoạn 1000-1750.  Nhờ ảnh hưởng của khí hậu ấm áp thời kỳ Trung đại, mật độ dân số đã tăng trưởng khá nhanh ở các trung tâm này. Nhưng nhờ kỹ thuật thâm canh và tinh thần kinh doanh tích cực nên nền sản xuất ở đây vẫn duy trì ổn định hơn nền sản xuất ‘đại nông’ sử dụng đầy tớ hoặc nô tỳ. Trong xã hội tiểu nông đó, ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trường phái Chu Hi đã dần dần gây ra sự thay đổi của mô hình hôn nhân – gia đình – họ hàng từ lưỡng hệ (không phải mẫu hệ) nơi địa vị và quyền lợi của phụ nữ còn tương đối cao sang phụ hệ – gia trưởng.   Đến khoảng những năm 1750, một tình hình mới là diện tích canh tác không thể mở rộng (quảng canh) được nữa, nhưng năng suất lao động vẫn tăng nhờ kỹ thuật thâm canh và nghề thuật kinh doanh. Điều này khiến ở một số địa phương của Nhật Bản, Trung Quốc và Triều Tiên, tích lũy tư bản nguyên thủy đã diễn ra mặc dù chưa có quá trình công nghiệp hóa (Cách mạng Công Nghiệp tức Industrial Revolution) như ở Tây Âu. Điều đó cũng đã trở thành nền tảng cho quá trình hiện đại hóa nói chung và công nghiệp hóa nói riêng của các nước đó trong các giai đoạn sau, dù cũng có khả năng rơi vào tình trạng ‘chia đều cái nghèo’ hay shared poverty (Geertz 1963). Quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa kiểu Đông Á như thế được gọi là ‘Cách mạng Cần cù’ tức ‘Industrious Revolution’ (Sugihara 2003).   Việt Nam (Đại Việt) là một khoảng trống?   Rõ ràng là muốn thảo luận các vấn đề trên thì đều phải đề cập đến lịch sử Việt Nam, tuy nhiên, ngay cả các công trình lịch sử toàn cầu của Lieberman (2003, 2009) hay lịch sử Đông Nam Á của Anthony Reid (2016) chỉ viết về Việt Nam một cách sơ sài vì thiếu điều kiện tiếp cận với thành tựu nghiên cứu của giới sử học Việt Nam – vốn ít được công bố bằng tiếng Anh. Các nhà sử học trên thế giới rất cần thông tin đầy đủ hơn nếu muốn tìm hiểu bối cảnh toàn cầu của lịch sử Việt Nam. Đó sẽ là chủ đề của phần sau, khi tác giả sẽ đề cập đến một số thay đổi gần đây của lý luận sử học liên quan đến lịch sử cổ trung đại Việt Nam là chuyên môn hẹp của mình.     Kỳ tới: Tầm nhìn đa tầng về lịch sử Đại Việt thời Lý – Trần                                       Ảnh: USSH.     Giáo sư Momoki Shiro giảng dạy tại Đại học Osaka, Nhật Bản. Là nhà nghiên cứu lâu năm về lịch sử Việt Nam, ông từng học tập và nghiên cứu tại Đại học Hà Nội từ năm 1986 đến 1988. Phạm vi nghiên cứu của ông bao gồm lịch sử Việt Nam thời kỳ Trung đại, lịch sử Đông Nam Á, giao lưu trên biển chấu Á, và giáo dục lịch sử thế giới. Một số đề tài của ông bao gồm thiết chế chính trị Việt nam dưới triều Lý và triều Trần, biến đổi xã hội Đại Việt thế kỷ XIV qua văn khắc – khảo sát trường hợp vùng Hà Tây, nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần… Ông cũng có nhiều nghiên cứu về lịch sử Chămpa và thương mại biển Đông Á – Đông Nam Á.    Tài liệu tham khảo:  Abu-Lughod, Janet. 1989. Before European Hegemony: The World System A.D.1250-1350, Oxford University Press.  Conrad, Sebastian 2018. What is Global History? Princeton University Press.  Frank, Andre Gunder 1998. ReOrient: Global Economy in the Asian Age, Cambridge University Press.  Geertz, Clifford. 1963. Agricultural Involution: The Processes of Ecological Change in Indonesia, Berkeley, Los Angeles, and London: University of California Press.  Haneda Masashi 2018. Global-ka to sekaishi (Toàn cầu hóa và lịch sử thế giới), Nxb Đại học Quốc gia Tokyo.  Lieberman, Victor. 2003, 2009. Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c.800-1830, 2 tập, Cambridge University Press.  Miyajima Hiiroshi 1994. “Higashi Ajia niokeru shono shakai no seiritsu”, Mizoguchi, Hamashita, Hiraishi, Miyajima (ed.), Ajia kara kangaeru 6: Choki shakai hendo (Sự hình thành của xã hội tiểu nông ở Đông Á, trong Suy nghĩ từ châu Á tập 6, Biến động xã hội trường kỳ), Nxb Đại học Tokyo, tr. 67-96.  Mizushima Tsukasa 2010. Global History nhumon (Nhập môn lịch sử toàn cầu), Tokyo: Nxb Yamakawa.  Pomeranz, Kenneth 2000. The Great Divergence, China, Europe, and the Making of Modern World Economy, Princeton University Press.  Reid, Anthony 2016. A History of Southeast Asia, Critical Crossroads, Chichester: Wiley Blackwell.  Sugihara Kaoru 2003. “The East Asian Path of Economic Development: A Long-term Perspective” trong Giovanni Arrighi, Takeshi Hamashita and Mark Selden eds., The Resurgence of East Asia: 500, 150 and 50 Year Perspectives, Routledge, London, tr.78-123.     Chú thích:   1 Về phương pháp luận lịch sử toàn cầu, xem Manning (2003), Mizushima (2010), Conrad (2018), Haneda (2018)… Trường phái lịch sử toàn cầu có tạp chí Journal of Global History. Một số tổ chức sử học quốc tế cũng chú trọng phương pháp luận lịch sử toàn cầu như WHA (World History Association của Mỹ), AAWH (Asian Association of World Historians). EN (European Network of World and Global History).  2 Chúng ta cần phải chú ý đến một điều là: khái niệm “dân tộc” giữa các nước Đông Á được sử dụng chung không phân biệt khái niệm cận đại là “nation” (là sản phẩm của xã hội cận đại), và khái niệm xuyên lịch sử (tự nhiên tồn tại) là “folk” hoặc “ethnicity”. Điều đó đã dẫn đến nhiều bất đồng trong quá trình tranh luận về vấn đề “dân tộc” ở các nước Đông Á.  3 Trong cùng thời kỳ đó, phương pháp nghiên cứu khu vực học phát triển mạnh trong giới khoa học nghiên cứu các khu vực Á-Phi (nhất là Đông Nam Á). Khu vực học cũng áp dụng phương pháp liên ngành – đa ngành (multi – disciplinary), trong khinhấn mạnh quan điểm khu vực và quan điểm địa phương hơn quan điểm quốc gia.  4 Thậm chí đã xuất hiện quan điểm ‘Lịch sử lớn’ (Big History) nghiên cứu và giảng dạy tất cả quá trình từ sự xuất hiện của vũ trụ (Big Bang) cho đến hiện nay.  5 Sự phát triển của tổ chức họ hàng phụ hệ như tông tộc (Trung Quốc), bản quán (Triều Tiên), môn trung (Lưu Cầu), hay gia đình trực hệ thế tập nghề nghiệp là ie ở Nhật Bản đều là sản phẩm của diễn biến đó.            Author                Momoki Shiro        
__label__tiasang Sự hội ngộ của máy học và vật lý lượng tử      Cuộc giao duyên giữa máy học và vật lý lượng tử có thể tạo ra một hướng nghiên cứu mới làm thay đổi cả hai lĩnh vực khoa học này.      Máy học sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề của vật lý lượng tử. Nguồn: Symmetrymagazine  Máy học (machine learning) là một lĩnh vực của khoa học máy tính nhằm tìm cách làm cho các máy tính có khả năng học để khai thác thông tin có ý nghĩa và đưa ra dự đoán về dữ liệu. Nó là cốt lõi của trí tuệ nhân tạo dẫn đến thành công trên nhiều bình diện của công nghệ hiện đại, từ nhận diện khuôn mặt và xử lý ngôn ngữ tự nhiên đến xe tự lái.  Lĩnh vực này đang phát triển nhanh và các ứng dụng của nó đã trở nên phổ biến. Trình dịch trực tuyến trên mạng (Google Translate’s online service) sử dụng kỹ thuật máy học để chuyển các ký tự tiếng Trung thành văn bản tiếng Anh mà không cần sự can thiệp của con người. Gần đây, các kỹ thuật máy học đã được vận dụng để xây dựng AlphaGo, một robot đã thắng những người chơi giỏi nhất thế giới về cờ vây, một trò chơi cổ xưa. Việc làm chủ trò chơi này được coi là thành tựu cao nhất của trí tuệ nhân tạo. Trước khi AlphaGo chứng tỏ sức mạnh của mình, cờ vây được cho là quá phức tạp để máy có thể thắng người vì số lượng các bước đi khả dĩ là cực kỳ lớn.  Một trong những vấn đề lớn nhất đối với máy học là thứ nguyên – nói chung, số lượng tập dữ liệu cần thiết để huấn luyện cho máy học cách tìm hiểu thông tin mong muốn tăng như hàm mũ theo thứ nguyên d. Nếu một tập dữ liệu có thứ nguyên d > 1, nó sẽ nhanh chóng trở nên không thể quản lý được. Sự phức tạp đó giống như trong cơ học lượng tử, khi việc mô tả đầy đủ trạng thái lượng tử của một hệ nhiều hạt cũng đòi hỏi một lượng thông tin tăng theo hàm mũ đối với số hạt.  Mặc dù rất phức tạp, lý thuyết lượng tử được cho là lý thuyết định lượng thành công nhất của tự nhiên. Nó không chỉ cung cấp cơ sở để hiểu vật lý ở mọi quy mô về độ dài, từ các hạt cơ bản nhỏ bé như điện tử và quark đến các vật thể khổng lồ như sao và thiên hà, mà còn tạo nên nền tảng cho các công nghệ hiện đại, từ laser và bóng bán dẫn đến cộng hưởng từ hạt nhân và thậm chí cả máy tính lượng tử. Với những thành công to lớn trong cả hai lĩnh vực, máy học và vật lý lượng tử, người ta có thể hỏi: Liệu hai lĩnh vực có vẻ như rất khác nhau nhưng lại có mối liên quan mật thiết với nhau như này có thể đồng hiệp một cách liền mạch được không?  Nghe có vẻ giống như khoa học viễn tưởng, nhưng sự đồng hiệp đó đang xảy ra ngay lúc này và có thể dẫn đến những đột phá không thể tưởng tượng được trong cả hai lĩnh vực. Máy học đã tiến bộ đáng kể trong hai thập niên qua, và nhiều vấn đề cực kỳ thách thức hoặc thậm chí không thể tiếp cận với máy học tự động giờ đã được giải quyết. Những thành công đó tạo ra những khả năng mới cho máy học nhằm giải quyết các vấn đề mở trong vật lý lượng tử.  Hiện nay ý tưởng xử lý thông tin lượng tử đã cách mạng hóa lý thuyết và cách thức tính toán. Các thuật toán lượng tử mới có thể mang lại triển vọng lớn để tăng cường khả năng của chính máy học. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự tương tác giữa máy học và vật lý lượng tử sẽ mang lại lợi ích cho cả hai lĩnh vực.  Khám phá các pha của vật chất  Khi áp dụng máy học vào các vấn đề vật lý, một chiến lược đơn giản là sử dụng phương pháp học có giám sát. Một thuật toán huấn luyện với các dữ liệu đã được dán nhãn trước; Mục tiêu của thuật toán là lấy thông tin đó và thiết lập một quy tắc chung để gán nhãn cho những dữ liệu ngoài tập dữ liệu đã được dùng trong huấn luyện. Ví dụ, trong việc xác định hình ảnh của chó và mèo, thuật toán có giám sát sẽ lấy hàng ngàn hình ảnh đã được dán nhãn là “chó” hoặc “mèo” và xác định mối quan hệ giữa các giá trị pixel của hình ảnh và nhãn của chúng. Sau đó, máy sẽ gán nhãn thích hợp cho hình ảnh mà nó chưa từng thấy trước đây.  Kỹ thuật học có giám sát như vừa nói ở trên có thể được sử dụng để xác định các pha khác nhau của vật chất và sự chuyển pha giữa chúng, một trong những vấn đề trung tâm của vật lý các chất ngưng tụ. Juan Carrasquilla và Roger Melko là những người đầu tiên khám phá ý tưởng đó trong nghiên cứu của họ về mô hình sắt từ Ising, với các spin nguyên tử rời rạc được sắp xếp trên một mạng lưới. Các spin thể hiện pha thuận từ không có trật tự ở nhiệt độ cao và pha sắt từ có trật tự ở nhiệt độ thấp, và sự chuyển pha giữa hai pha đó xảy ra ở nhiệt độ tới hạn Tc nào đó.   Thay vì phân loại chó và mèo, Carrasquilla và Melko đã sử dụng các cấu hình spin cân bằng được mẫu hóa bằng mô phỏng Monte Carlo để huấn luyện cho máy thuật toán nhận diện các trạng thái thuận từ và sắt từ. Họ đã cho thấy rằng sau khi huấn luyện với các mẫu đã được dán nhãn, thuật toán có thể gán nhãn chính xác cho các mẫu mới. Hơn thế, bằng cách quét một khoảng nhiệt độ, máy đã xác định được vị trí của  Tc và tìm được các số mũ tới hạn, những thông số rất quan trọng trong các nghiên cứu về sự chuyển pha.        Hình 1. Hai biểu diễn   Trạng thái lượng tử của một hệ N qubit có dạng tổng quát như sau:  |Ψ〉 =∑ΞΦ(Ξ)||Ξ〉|Ψ〉=∑ΞΦ(Ξ)|Ξ〉 trong đó |Ξ〉=(σ1,σ2,…,σN) biểu thị một cấu hình khả dĩ của N qubit còn Φ(Ξ) là một hàm phức xác định biên độ và pha của trạng thái. Có thể hiểu trạng thái lượng tử là một hộp đen tính toán mà với một |Ξ〉 đã cho sẽ trả về một số phức Φ(Ξ), là hệ số của thành phần |Ξ〉 của trạng thái. Biểu diễn mạng-tenxơ sử dụng các tenxơ để biểu diễn các trạng thái lượng tử. Hạng của tenxơ biểu thị thứ nguyên của nó (hoặc số chỉ số mà nó có), do đó, tenxơ hạng 1 là vectơ, tenxơ hạng 2 là ma trận, v.v. Để đơn giản, xét một hệ 1 chiều với N qubit, như hiển thị trên Hình 1a, được biết đến như biểu diễn trạng thái tích ma trận (Matrix Product State – MPS). Mỗi qubit ứng với một tenxơ Aijk, là tenxơ hạng 3. Các tenxơ tạo thành một mạng trong đó các kết nối biểu diễn các chỉ số của các tenxơ. Nếu hai tenxơ được kết nối, thì chỉ số chung của chúng bị rút lại bằng cách tính tổng tất cả các giá trị có thể có của chỉ số lặp. Trong trường hợp hệ 1 chiều, hai trong số các chỉ số của mỗi tenxơ được kết nối với các tenxơ lân cận và bị rút lại thành tenxơ hạng 1, biểu diễn bậc tự do vật lý. Trạng thái lượng tử do đó sẽ có dạng                                         Biểu diễn máy Boltzmann hạn chế (restricted Boltzmann machine) là một mạng nơron có hai lớp. Một lớp với N nơron khả kiến ứng với các qubit vật lý và một lớp có M nơron ẩn. Các nơron trong hai lớp khác nhau có thể được kết nối, nhưng các nơron trong cùng một lớp thì không (Xem Hình 1b). Trạng thái lượng tử được cho dưới dạng                                                  trong đó {h} chỉ các cấu hình khả dĩ của nơron ẩn h1,h2, …, hM, Wjk là độ mạnh của tương tác giữa nơron khả kiến và nơron ẩn, còn aj và bk  là tham số của nơron khả kiến và nơron ẩn.  Máy học có giám sát đòi hỏi người dùng phải biết trước cách phân loại dữ liệu. Còn máy học không có giám sát thì sử dụng dữ liệu không có nhãn và cho phép mạng tìm thấy các mẫu và cấu trúc có ý nghĩa trong đó. Một ví dụ phổ biến về máy học không có giám sát là phân cụm, trong đó dữ liệu dùng để học được chia thành nhiều nhóm dựa trên sự tương đồng đã được xác định và các nhóm đó được sử dụng để phân loại các dữ liệu mới, chưa từng thấy trước đây. Vào năm 2016, Lei Wang đã áp dụng cách phân cụm như thế cho mô hình Ising và xác định thành công các pha thuận từ và sắt từ cũng như quá trình chuyển pha giữa chúng, mặc dù không đưa ra các tiêu chí sắp xếp rõ ràng của thuật toán. Cũng vào thời gian đó, Evert van Nieuwenburg và đồng nghiệp đã đề xuất một sơ đồ kết hợp cả học có giám sát và không có giám sát. Họ đã thử phương pháp của họ trên một số mô hình, kể cả mô hình Ising, và chứng tỏ được rằng các pha khác nhau và sự chuyển pha có thể xác định được.  Biểu diễn mạng nơron  Song song với sự phát triển nhanh chóng của các thuật toán cho máy học nhằm xác định các pha của vật chất, việc sử dụng các mạng thần kinh nhân tạo, sau đây gọi là mạng nơron, để biểu diễn các trạng thái lượng tử và giải các bài toán nhiều hạt lượng tử liên quan cũng đã đạt được những tiến bộ khích lệ.   Trong cơ học lượng tử, mô tả đầy đủ một trạng thái nhiều hạt bất kỳ đòi hỏi một lượng thông tin tăng theo hàm mũ. Xét một hệ có N qubit (là tên gọi tắt của bit lượng tử). Mỗi qubit có hai cấu hình độc lập, 0 hoặc 1; do đó tổng số cấu hình của cả hệ sẽ là 2N. Về mặt tính toán, điều đó có nghĩa là mô tả đầy đủ trạng thái lượng tử tương ứng cần có 2N  số phức.  Độ phức tạp tăng theo hàm mũ là một thách thức lớn cho các mô phỏng số đối với các hệ lượng tử nhiều hạt nếu thực hiện trên máy tính cổ điển – ngay cả việc mô phỏng chỉ vài qubit thôi cũng cần một bộ nhớ cực lớn. Ví dụ, mô phỏng một hệ lượng tử với 30 qubit đòi hỏi hàng chục gigabyte (vào cỡ bộ nhớ lớn nhất cho máy tính để bàn cá nhân); mô phỏng 50 qubit đòi hỏi hàng chục petabyte (nhiều hơn bộ nhớ cho siêu máy tính lớn nhất thế giới hiện nay); và mô phỏng 300 qubit đòi hỏi nhiều byte hơn số lượng nguyên tử trong vũ trụ quan sát được.  May mắn thay, hầu hết các trạng thái vật lý đáng quan tâm, như trạng thái cơ bản của Hamiltonian của hệ nhiều hạt chẳng hạn, thường chỉ chiếm một góc nhỏ của toàn bộ không gian Hilbert của trạng thái lượng tử và vì thế có thể được mô tả với một lượng thông tin rút gọn. Do đó, việc thiết kế các biểu diễn nhỏ gọn (compact) của các trạng thái đó sao cho chỉ giữ lại các đặc tính vật lý thiết yếu của chúng là cần thiết để giải các bài toán lượng tử nhiều hạt bằng các máy tính cổ điển.  Một cách mô phỏng nổi tiếng cho các trạng thái như vậy là biểu diễn mạng tenxơ, trong đó một tenxơ được gán cho mỗi qubit và các tenxơ đó mô tả trạng thái lượng tử nhiều hạt. Cách xây dựng như vậy có thể biểu diễn hầu hết các trạng thái vật lý một cách hiệu quả theo nghĩa là lượng thông tin cần thiết chỉ tăng theo hàm đa thức, thay vì theo hàm mũ, khi kích thước của hệ tăng.    Hình 2   Biểu diễn máy Boltzmann hạn chế của trạng thái mã toric với thứ tự tôpô nội tại. Mỗi đỉnh 𝓋 hoặc mặt ℱ có bốn nơron khả kiến được kết nối với một nơron ẩn h𝓋 hoặc  hℱ. Việc biểu diễn là hiệu quả vì mỗi kết nối tương ứng với một tham số trong mạng nơron, do đó số lượng các tham số tăng một cách tuyến tính thay vì tăng theo hàm mũ khi kích thước của hệ tăng.  Các mạng nơron, là các mô hình trừu tượng đơn giản hóa bộ não con người, cũng có thể được sử dụng để xây dựng các biểu diễn nhỏ gọn của các trạng thái lượng tử. Giuseppe Carleo và Matthias Troyer lần đầu tiên khai thác ý tưởng để đưa ra một biểu diễn mới dựa trên máy Boltzmann hạn chế, một mạng nơron đặc biệt được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng máy học. (Các biểu diễn mạng tenxơ và biểu diễn máy Boltzmann hạn chế được so sánh chi tiết hơn trên Hình 1.) Một biểu diễn máy Boltzmann hạn chế được sắp xếp thành hai lớp nơron, một lớp khả kiến và một lớp ẩn, như minh họa trên Hình 2. Các nơron khả kiến mô tả các qubit vật lý còn các nơron ẩn mô tả các bậc tự do bổ sung phụ trợ cuối cùng bị loại bỏ bởi một phép tính tổng để tạo ra đầu ra của mạng, là một số phức đóng vai trò là hệ số cho cấu hình qubit tương ứng.  Những loại trạng thái lượng tử nhiều hạt nào có thể được mô tả hiệu quả bằng máy Boltzmann hạn chế? Một số trạng thái kỳ lạ, chẳng hạn như trạng thái tôpô, được thể hiện tốt bởi các máy Boltzmann hạn chế. Hình 2 phác thảo biểu diễn máy Boltzmann hạn chế cho trạng thái cơ bản của Hamiltonian mã toric, là một trạng thái tôpô do Alexei Kitaev đưa ra để thực hiện các tính toán lượng tử tôpô. Để biểu thị trạng thái mã toric, mỗi nơron ẩn của máy Boltzmann hạn chế chỉ kết nối với bốn nơron khả kiến gần nhất với nó. Mỗi kết nối được mô tả bởi một tham số mạng, vì vậy tổng số tham số gần gấp bốn lần số lượng qubit, tức là tỷ lệ tuyến tính, thay vì theo hàm mũ, khi kích thước của hệ tăng. Biểu diễn cực kỳ nhỏ gọn như vậy của trạng thái mã toric cũng có thể mô phỏng các trạng thái kích thích.  Ngoài ra còn tồn tại các trạng thái lượng tử không mô phỏng được một cách hiệu quả bởi máy Boltzmann hạn chế. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng của máy Boltzmann hạn chế sẽ tăng lên nếu nó bao gồm một lớp ẩn bổ sung. Khi đó mạng nơron, được gọi là máy Boltzmann sâu, có thể biểu diễn hầu hết tất cả các trạng thái lượng tử vật lý một cách hiệu quả, với số lượng tham số cần thiết tăng theo hàm đa thức với kích thước của hệ.  Rối giữa các trạng thái mạng nơron  Vậy điều gì hạn chế các mạng nơron trong việc biểu diễn trạng thái lượng tử của hệ nhiều hạt một cách hiệu quả? Đối với biểu diễn mạng tensor thông thường, rối lượng tử là chìa khóa. Liệu đó cũng là một yếu tố quan trọng cho biểu diễn mạng nơron?  Rối lượng tử (sau đây gọi tắt là rối) là một hiện tượng vật lý khi các phép đo trên một hạt sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến trạng thái của hạt khác, ngay cả khi các hạt cách xa nhau trong không gian bởi một khoảng cách lớn bất kỳ – một hiện tượng mà Einstein gọi là “tác động ma quỷ bất chấp khoảng cách.” Rối lượng tử cũng là tâm điểm của nghịch lý con mèo Schrödinger nổi tiếng. Cả Einstein và Schrödinger đều bị bất an sâu sắc bởi hiện tượng rối lượng tử.  Hãy tưởng tượng là một trạng thái thuần của một hệ nhiều hạt được chia thành hai hệ con, A và B, như trong Hình 3. Cũng giống như các hệ nhiều hạt cổ điển có thể được đặc trưng bởi các entropy của chúng, hệ nhiều hạt lượng tử có thể được đặc trưng bởi các entropy rối của chúng. Nhiều hệ lượng tử trong tự nhiên thỏa mãn định luật diện tích của rối, theo đó entropy rối của một hệ con cùng lắm là tỷ lệ với diện tích bề mặt hoặc ranh giới của hệ con chứ không phải là thể tích của nó. Đó chính là trường hợp đối với entropy Bekenstein-Hawking của một lỗ đen, entropy này tỷ lệ với diện tích của chân trời sự kiện của lỗ đen. Trên thực tế, nguồn gốc của entropy của lỗ đen được nhiều người tin là do hiện tượng rối giữa phần bên trong và phần bên ngoài của lỗ đen. Trong vật lý của hệ lượng tử nhiều hạt, các trạng thái cơ bản của nhiều Hamiltonian định xứ điển hình cũng thỏa mãn định luật diện tích của rối, mặc dù chứng minh chặt chẽ điều này là một thách thức lớn và vẫn còn chưa được biết.    Hình 3  Biểu diễn mạng nơron của một trạng thái lượng tử một chiều có rối lượng tử tuân theo định luật thể tích tối đa: Nếu hệ được chia thành hai hệ con, A và B, thì entropy của mỗi hệ con tỷ lệ với thể tích của nó. Mỗi nơron khả kiến kết nối tối đa với ba nơron ẩn, do đó, số lượng tham số cần thiết để mô tả hệ con tỷ lệ tuyến tính với kích thước của hệ chứ không phải theo hàm mũ như trong biểu diễn mạng tensơ thông thường.  Định luật diện tích rối rất quan trọng trong biểu diễn mạng tenxơ đối với các trạng thái lượng tử của hệ nhiều hạt và tạo thành “xương sống” của nhiều thuật toán dựa trên mạng tenxơ. Nói chung, số lượng tham số mà mạng tenxơ cần để mô phỏng một trạng thái lượng tử thỏa mãn định luật diện tích rối chỉ tăng như hàm đa thức của kích thước của hệ. Do đó, các trạng thái lượng tử như vậy thường được mô tả hiệu quả trong biểu diễn mạng tenxơ. Tuy nhiên, đối với các trạng thái lượng tử có sự rối lớn, như các trạng thái kích thích cao của các Hamiltonian lượng tử, khi entropy rối tỷ lệ với thể tích thì biểu diễn mạng tenxơ truyền thống không hiệu quả vì khi đó số lượng tham số cần thiết sẽ tăng theo hàm mũ với kích thước của hệ.   Tất cả các trạng thái mạng nơron của máy Boltzmann hạn chế với kết nối tầm ngắn đều tuân theo định luật diện tích rối, không phụ thuộc vào số chiều và các chi tiết hình học của hệ con. Các trạng thái mã toric, trong đó mỗi nơron chỉ kết nối với bốn đỉnh gần nhất, phải tuân theo định luật diện tích: kết luận này cũng đã được xác nhận bằng các kỹ thuật toán học tinh vi khác.  Nếu không có điều kiện kết nối tầm ngắn, các trạng thái tổng quát của máy Boltzmann hạn chế sẽ tuân theo định luật thể tích rối. Trong thực tế, người ta có thể xây dựng một cách giải tích các họ trạng thái của máy Boltzmann hạn chế với sự rối tối đa. Một phác thảo cho sự xây dựng như vậy được thể hiện trong Hình 3, từ đó suy ra ngay một kết luận kinh ngạc như sau: Việc mô tả các trạng thái rối lớn dựa trên máy Boltzmann hạn chế là rất hiệu quả. Mỗi nơron khả kiến được kết nối tối đa với ba nơron ẩn, do đó, số lượng tham số chỉ tăng tuyến tính với kích thước của hệ; sự mở rộng đó chứng tỏ sức mạnh vô song của các mạng nơron trong việc mô tả các trạng thái lượng tử nhiều hạt với sự rối lớn. Điều nói trên trái ngược hoàn toàn với biểu diễn mạng tenxơ truyền thống, là biểu diễn đòi hỏi một số lượng lớn các tham số (tăng theo hàm mũ với kích thước của hệ) để có thể mô tả các trạng thái rối lớn. Rõ ràng, sự rối không phải là yếu tố giới hạn cho hiệu quả của biểu diễn mạng nơron.   (Còn tiếp)  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4164     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự hội ngộ của máy học và vật lý lượng tử: Sẽ thay đổi tương lai lượng tử? (kỳ 2)      Lĩnh vực liên ngành kết hợp máy học và vật lý lượng tử đang phát triển nhanh với những tiến bộ đáng khích lệ. Tuy nhiên tất cả vẫn chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.      Cuộc hôn nhân của máy học và vật lý lượng tử có thể làm thay đổi cả hai. Nguồn: Symmetry Magazine.  Các vấn đề của hệ lượng tử nhiều hạt  Việc giải quyết các vấn đề của hệ lượng tử nhiều hạt thường đòi hỏi phải tìm ra trạng thái cơ bản của hệ hoặc động lực của quá trình tiến hóa theo thời gian của hệ. Điều đó có thể đạt được thông qua thuật toán huấn luyện biến đổi dựa trên máy Boltzmann hạn chế đã được Carleo và Troyer áp dụng trong cùng một bài báo mà trong đó họ đã giới thiệu về biểu diễn của máy Boltzmann hạn chế.   Khả năng đặc biệt của các mạng nơron trong việc biểu diễn các trạng thái rối lớn tạo ra một cách mới để giải quyết nhiều vấn đề phức tạp của hệ nhiều hạt; những vấn đề như vậy là thách thức hoặc thậm chí không thể giải quyết được bằng các phương pháp thông thường. Khi được áp dụng cho một Hamiltonian mô hình với các tương tác tầm xa, thuật toán huấn luyện biến đổi dựa trên máy Boltzmann hạn chế đã tìm thấy trạng thái cơ bản của hệ, và các tính toán số đã cho thấy sự rối theo hàm lũy thừa. Ngoài ra, kỹ thuật dựa trên máy Boltzmann hạn chế cũng đã được sử dụng trong chụp cắt lớp trạng thái lượng tử — là quá trình tái tạo trạng thái lượng tử từ các kết quả của các phép đo lượng tử — đối với các trạng thái rối lớn.  Tính phi định xứ (Non-locality), một tính chất có liên quan chặt chẽ đến rối lượng tử, là một đặc điểm bí ẩn khác của cơ học lượng tử. Như John Bell đã thiết lập một cách tài tình, tính phi định xứ loại trừ bất kỳ mô tả hiện thực định xứ nào về thế giới của chúng ta và thể hiện sự khác biệt sâu sắc nhất giữa thế giới lượng tử và thế giới cổ điển. Trong các ứng dụng thực tế, phi định xứ là tài nguyên không thể thiếu đối với các công nghệ lượng tử không phụ thuộc vào thiết bị, chẳng hạn như phân phối khóa mật mã an toàn và tạo các số ngẫu nhiên đích thực. Việc mô tả đầy đủ tính phi định xứ lượng tử cho một hệ nhiều hạt tổng quát là vô cùng khó; tuy nhiên, máy học, đặc biệt là huấn luyện dựa trên máy Boltzmann hạn chế, là một kỹ thuật đầy hứa hẹn có thể giải quyết ít nhất một phần vấn đề nan giải đó.  Vật lý lượng tử gia tăng sức mạnh của máy học  Các ví dụ trên đã cho thấy một cách rõ ràng sức mạnh vô song của các kỹ thuật máy học trong việc giải quyết các vấn đề lượng tử nan giải khác nhau. Cách tiếp cận mạng nơron cũng phù hợp cho các hệ thứ nguyên cao vì tính linh hoạt cực lớn của các cấu trúc mạng nơron.  Điều ngược lại cũng đúng: Các công nghệ lượng tử, đặc biệt là tính toán lượng tử, có tiềm năng thúc đẩy to lớn cho máy học. Một mặt, máy học thường xử lý một lượng lớn dữ liệu và một kỹ thuật phân tích dữ liệu phổ biến là biến đổi Fourier nhanh. Với máy tính lượng tử, có một phiên bản lượng tử của biến đổi Fourier nhanh (nhanh theo cấp hàm mũ, nhanh hơn hẳn so với phiên bản cổ điển). Mặt khác, các thuật toán cho máy học thường đòi hỏi giải một số lượng rất lớn các bài toán tuyến tính, tức là thực hiện nhiều phép nhân ma trận. Máy tính lượng tử có những lợi thế nội tại trong việc thực hiện các việc đó vì cơ học lượng tử được xây dựng một cách tự nhiên bởi đại số tuyến tính — trên thực tế, ban đầu cơ học lượng tử do Werner Heisenberg, Max Born và và Pascual Jordan đề xuất đã được gọi là cơ học ma trận. Do đó có nhiều kết nối về khái niệm giữa máy học và tính toán lượng tử.  Không mong đợi máy tính lượng tử có thể tăng tốc mọi thuật toán cho máy học, tuy nhiên, các nhà khoa học đã tìm thấy một số thuật toán lượng tử hứa hẹn tăng tốc độ tính toán theo cấp hàm mũ đối với một số công việc quan trọng nhất định. Một thuật toán có tính nền tảng cho cuộc cách mạng mini về máy học lượng tử hiện nay được gọi là thuật toán HHL, đặt theo tên các nhà phát minh ra nó: Aram Harrow, Avinatan Hassidim và Seth Lloyd. Nhiều thuật toán lượng tử khác hoặc mở rộng HHL hoặc sử dụng nó như một chương trình con.   Một số cảnh báo cho thuật toán HHL và các biến thể của nó có thể vô hiệu hóa lợi ích tiềm năng của nó. Ví dụ, để ánh xạ một vectơ cổ điển sang một trạng thái lượng tử, thuật toán này yêu cầu RAM lượng tử, còn gọi là qRAM, với giá thành rất đắt (tăng theo hàm mũ với số chiều của vectơ). Gao, Zhang và Duan gần đây đã đưa ra một mô hình thế hệ lượng tử giúp thoát khỏi yêu cầu về qRAM và do đó tránh được vấn đề về chi phí vượt trội theo hàm mũ trong bước đầu tiên khi chuyển dữ liệu cổ điển sang trạng thái lượng tử.     Hình 4. Các mô hình thế hệ cổ điển và lượng tử được sử dụng rộng rãi trong cả máy học có giám sát và không giám sát. (a) Mô hình thế hệ cổ điển mô tả phân bố xác suất chung của các vật quan sát xi là tích của các hàm nhân tố: P(x1, x2, x3, x4) = f1(x1, x2, x4) f2(x1, x3) f3(x3, x4).  Việc học sau đó được quy về việc tối ưu hóa các tham số có thể điều chỉnh trong các hàm fi. (b) Mô hình thế hệ lượng tử với bốn qubit σi. Hình vẽ biểu thị trạng thái lượng tử đặc biệt được xây dựng bằng cách tác động các ma trận khả nghịch hai hàng hai cột Mi lên trạng thái của mạng tenxơ. Phân bố xác suất có thể nhận được từ các phép đo chiếu lên trạng thái kết quả. Việc học quy về việc tối ưu hóa các tham số có thể điều chỉnh trong các ma trận Mi.  So sánh với các mô hình phân biệt quen thuộc, các mô hình thế hệ có cách tiếp cận khác để giải quyết vấn đề thông qua máy học. Để hiểu sự khác biệt giữa hai loại mô hình, hãy lấy lại ví dụ với các hình ảnh của chó và mèo. Mục đích của mô hình phân biệt là cho máy tìm hiểu các đặc điểm khác biệt về hình ảnh của động vật để sau đó có thể phân biệt giữa chúng. Mục tiêu của các mô hình thế hệ là có thể tạo ra những hình ảnh mới về chó và mèo. Trong thực tế, cách tiếp cận thế hệ là tìm ra phân bố xác suất cơ bản từ một tập hợp dữ liệu huấn luyện. Trong kịch bản cổ điển, phân bố xác suất có thể được biểu thị bằng biểu đồ số. Tuy nhiên, đối với mô hình thế hệ lượng tử, phân bố xác suất được mô tả bằng một trạng thái lượng tử. Phác thảo của cả hai mô hình, mô hình cổ điển và mô hình thế hệ lượng tử, được thể hiện trong Hình 4.  Mô hình thế hệ lượng tử có lợi thế vượt trội so với đối tác cổ điển của nó ở ba khía cạnh quan trọng. Nó không chỉ có thể biểu diễn hiệu quả hơn các phân bố xác suất, mà thuật toán lượng tử cũng nhanh hơn nhiều so với các thuật toán cổ điển, cả khi học các phân bố xác suất nhất định và khi tạo dữ liệu mới. Mô hình thế hệ lượng tử mở ra một cách mới để khám phá sức mạnh của tính toán lượng tử trong việc giải quyết các vấn đề máy học đầy thách thức, và do đó nó sẽ có những ứng dụng quan trọng trong tương lai.  Các ví dụ trên chỉ như một cái nhìn thoáng qua vào một ‘vườn thú’ đang gia tăng về số lượng của các thuật toán lượng tử, những thuật toán có thể thúc đẩy đáng kể việc máy học và, nói chung, là các công việc của trí tuệ nhân tạo. Các thuật toán hấp dẫn khác, như phân tích thành phần chính lượng tử và máy vectơ hỗ trợ lượng tử, cũng cho thấy nhiều khả năng tăng tốc lớn. Thêm vào đó, gần đây một thuật toán dựa vào mạng tenxơ và lấy cảm hứng từ vật lý lượng tử cũng đã được đề xuất cho máy học, thuật toán này đang bắt đầu cho thấy những giá trị ưu việt của nó.  Đối tác tương lai  Để áp dụng máy học vào vật lý lượng tử cần trả lời được hai câu hỏi quan trọng: Ứng dụng nào là “sát thủ” cho máy học trong việc giải quyết các vấn đề lượng tử? Và máy học có thể giúp khám phá vật lý mới trong các hệ lượng tử hay không? Một dự án đầy tham vọng có thể trả lời cả hai câu hỏi cùng một lúc là một thuật toán huấn luyện chuyên dụng nhằm xác định các chất siêu dẫn nhiệt độ cao. Sau khi huấn luyện máy trên một bộ sưu tập khổng lồ của các dữ liệu thực nghiệm sẵn có, máy có thể dự báo các vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao mới và cung cấp những hiểu biết mới về lý thuyết siêu dẫn.  Đối với máy học có sự bổ trợ của vật lý lượng tử, một lý thuyết huấn luyện lượng tử thống nhất vẫn còn chưa được phát triển và nhiều câu hỏi cơ bản vẫn còn bỏ ngỏ: Tiêu chí chung nào để xác định xem một nhiệm vụ của máy học có thể được xúc tiến nhanh đáng kể bằng máy tính lượng tử? Những vấn đề huấn luyện nào có thể được giải quyết hiệu quả bằng máy tính lượng tử chứ không phải bằng máy tính cổ điển? Và làm thế nào một máy tính lượng tử có thể phân tích hiệu quả các tập dữ liệu lượng tử lớn?  Đối với máy học cổ điển, có một ánh xạ chính xác giữa phương pháp nhóm tái chuẩn hóa biến đổi trong vật lý — một sơ đồ lặp thô để trích xuất các tính năng có liên quan cho một hệ vật lý ở các quy mô độ dài khác nhau — và học sâu và phép ánh xạ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về lý do tại sao học sâu là quan trọng. Liệu có thể xây dựng một ánh xạ như vậy cho trường hợp học sâu lượng tử? Hơn nữa, một thử nghiệm thuyết phục về tăng tốc lượng tử trong một nhiệm vụ thực tế của máy học sẽ là một cột mốc quan trọng.  Thật khó để biết trước khi nào thì máy tính lượng tử thực thụ sẽ ra đời và còn khó hơn nữa để dự báo tương lai lượng tử sẽ như thế nào. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là cuộc hôn nhân của máy học và vật lý lượng tử là mối quan hệ cộng sinh có thể làm thay đổi cả hai. □  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4164    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự hồi sinh của Kamikatsu      Ở mọi địa phương trên thế giới, thành công của chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”  thường bắt đầu từ một cá nhân, một con người đủ năng lực vận động, kết nối sức mạnh cộng đồng.      Nông dân Nhật thu hoạch lá phong.  Thị trấn Kamikatsu nằm trên cao nguyên thuộc tỉnh Tokushima. Kamikatsu vẫn thường được lấy làm ví dụ điển hình về sự sụt giảm dân số nông thôn ở Nhật Bản. Năm 1955 dân số có 6.200 người, đến nay chỉ còn 2.100, trong đó những người trên 65 tuổi chiếm 46%. Dự án Irodori thành công rực rỡ như chính tên của nó (Irodori nghĩa là thứ sặc sỡ, rực rỡ) khi chuyển đổi một thị trấn tưởng chừng vô vọng trở thành một khu vực đầy sức sống.  Thị trấn Kamikatsu lấy năm 1979 là bước ngoặt ra đời Irodori, đánh dấu sự có mặt của một thanh niên tên là Tomoji Yokoishi, khi đó vừa tốt nghiệp Cao đẳng Nông nghiệp tỉnh Tokushima, tới thị trấn để mở rộng hợp tác xã nông nghiệp tại đây.  Bước chân đến thị trấn buồn tẻ, nơi những người nông dân sống với thu nhập còm cõi từ những cánh đồng lúa diện tích nhỏ trong những thung lũng sâu, anh ta tự hỏi mình rằng liệu có thể làm được gì để ngăn cản sự sụp đổ trước mắt của thị trấn này.  Câu trả lời đến với anh khi đột nhiên chú ý tới cô gái trẻ ngồi ở bàn bên cạnh khi đang ăn tối tại một cửa hàng sushi ở Osaka. Anh nhận ra rằng cô không hứng thú với miếng sushi mà với chiếc lá phong màu xanh được dùng để trang trí đĩa ăn một cách nghệ thuật – cô gói chiếc lá trong chiếc khăn tay để mang về. Trùng hợp là, Kamikatshu không chỉ có phong phú nhiều loại cây lá, hoa đẹp mà nó còn có thể cung cấp chúng quanh năm cho những hiệu ăn cao cấp ở Nhật. Hơn nữa, phần lớn người già ở thị trấn Kamikatsu có thể vận chuyển sản phẩm này một cách dễ dàng vì nó rất nhẹ.  Ban đầu bị nhiều người phản đối rất dữ dội, nhưng đầy quyết tâm, Yokoishi tiếp tục vận động sự ủng hộ, đặc biệt là từ những người nữ nông dân cao tuổi. Vào năm 1986, Yokoishi cùng với một số người cùng chí hướng triển khai dự án Irodori dưới dạng một hợp tác xã của thị trấn. Doanh thu năm đó, chỉ vào khoảng 1,2 triệu Yen (khoảng 10.000 USD), mỗi gói lá chỉ bán được với giá từ 5-10 Yen vì những người nông dân và bản thân Yokoishi không biết cách đóng gói sản phẩm, thậm chí không biết các loại hoa lá này được sử dụng như thế nào trong những tiệm ăn của Nhật Bản. Sau đó, họ kiên trì quảng bá sản phẩm tới khắp các vùng tại Nhật Bản và tăng doanh thu lên 21 triệu Yen sau hai năm. Với sự nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc thu thập thông tin thị trường và dồn hầu hết tiền lương cho việc tới các quán ăn Nhật đắt đỏ ở Tokushima, Osaka và Kyoto, Yokoishi dần dần học được cách phát triển sản phẩm, cách thức marketing và nhanh chóng kết hợp với những người ủng hộ mình để cải thiện dự án Irodori. Khi nhóm dự án nắm chắc những kiến thức thiết yếu về thiết kế sản phẩm, kiểm soát chất lượng, phân phối và marketing, số lượng người tham gia dự án ngày càng tăng, từ 44 người trong năm 1988 tới hiện nay là gần 200 người và thương hiệu của dự án Irodori dần được nhiều người biết đến. Doanh thu của dự án trong năm năm là 50 triệu Yen và trong 10 năm đã lên đến 170 triệu Yen. Trong hơn 20 năm kể từ khi dự án khởi động, thu nhập của người nông dân tham gia dự án đã tăng gấp 10 lần. Cùng với đó là sự tăng trưởng liên tục của mẫu mã sản phẩm, từ vài chục mẫu cơ bản đã lên đến khoảng 300 mẫu mỗi mùa thu hoạch. Tất cả những sản phẩm mới đều được phát triển bởi cá nhân người nông dân, tận dụng tài nguyên sẵn có và phổ biến nhất ở thị trấn. Tất cả những thành viên của dự án Irodori kết nối mật thiết với thị trường ở những thành phố lớn trên khắp Nhật Bản thông qua hệ thống thông tin máy tính, đồng thời họ cũng thường xuyên lui tới những quán ăn Nhật cao cấp để tìm hiểu sản phẩm của họ thực chất được sử dụng như thế nào và loại sản phẩm nào đang được ưa chuộng tại đó. Từ đó, họ có thể đánh giá, điều chỉnh những nguồn tài nguyên sẵn có của mình với một góc nhìn mới mẻ, duy trì quá trình phát triển sản phẩm một cách liên tục. Theo tờ Financial Times, dự án đã thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần cạnh tranh và sáng tạo của những người ở thị trấn Kamikatsu mà nhiều người trong số họ đang ở tuổi 70, 80. Chẳng hạn như nông dân Richii Tamura có ý tưởng trồng cây phong trong nhà kính để giữ cho lá của chúng luôn xanh, đã trở thành nhà cung cấp độc quyền lá phong cho nhiều tiệm ăn.  Sự thành công của Kamikatsu không chỉ nằm ở việc họ đã tìm được một sản phẩm độc đáo và một thị trường ngách tiềm năng. Họ đã xây dựng được một thương hiệu (Irodori) uy tín và phát triển một hiểu biết sâu sắc về lá và thị trường lá trang trí qua từng năm khiến những vùng hay thị trấn khác khó có thể cạnh tranh được. Việc vận hành dự án Irodori hiện nay được hỗ trợ bởi một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại và phức tạp về cả phần cứng và phần mềm được phát triển hơn 20 năm qua. Mỗi người nông dần đều được tiếp cận với những thông tin mới nhất (ví dụ như giá cả cập nhật từng ngày) cũng như những thông tin dài hơi hơn (những xu hướng trước đó và trong thời gian tới). Tất cả những thông tin này được thu thập và xử lý bởi hợp tác xã Irodori và được cung cấp tới từng cá nhân người nông dân qua hệ thống máy tính. Mỗi sáng, khi đọc thông tin trên máy tính cá nhân, người nông dân quyết định họ sẽ xuất kho mỗi sản phẩm một số lượng nhất định và gửi quyết định của mình cho hợp tác xã. Sau đó, người nông dân thu hái lá, các nhánh cây và hoa từ nông trại của mình và gói chúng để vận chuyển. Tất cả những gói hàng đều được thu gom tại Hợp tác xã nông nghiệp Kamikatsu trước bốn giờ chiều. Những chiếc xe tải đặc biệt sẽ được sử dụng để vận chuyển chúng tới những thành phố lân cận hoặc tới sân bay Tokushima để đưa tới Tokyo hoặc những thành phố ở xa khác.  Như vậy, câu chuyện về điều thần kỳ ở Kamikatsu bắt đầu từ Yokoishi, một chàng trai ngoại tỉnh trẻ tuổi, người đã cùng với những người dân địa phương thành công trong việc phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” theo một cách khác biệt tại một thị trấn vùng sâu vùng xa với nỗ lực bền bỉ suốt hơn 20 năm. Những sản phẩm của họ không ngừng được phát triển bằng cách huy động sáng tạo những nguồn tài nguyên tưởng như rất bình thường (lá cây, những người lao động già và đất trên núi). Sau khi tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm và xây dựng được uy tín thương hiệu Irodori, các sản phẩm của họ tiếp cận tới những thị trường lớn mà không mất quá nhiều chi phí. Yokoishi và những người dân Kamikatsu đã tạo dựng được nền tảng cho sự hồi sinh và phát triển bền vững ở địa phương, đó chính là không khí đổi mới sáng tạo mà tất cả mọi người tham gia đều kết nối với phần còn lại của thế giới.   Hảo Linh dịch  Nguồn: The One-Village-One-Product (OVOP) movement: What it is, how it has been replicated, and recomnendations for a UNIDO OVOP-type project, World Bank 2008  http://solidarityeconomy.web.fc2.com/en/seinjapan01-ooe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự khác biệt về văn hóa ảnh hưởng đến cái nhìn về tính sáng tạo      Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Kinh tế cao cấp – Đại học Nghiên cứu Quốc gia (HSE) mới đây đã phát hiện ra rằng những người từ các nền văn hóa khác nhau sẽ đánh giá mức độ sáng tạo của người khác theo những cách khác nhau.      Đặc thù văn hóa xác định cách một cá nhân đánh giá thành quả sáng tạo của người khác. Ảnh: Unsplash  Cụ thể, người Nga có xu hướng tin rằng một bức vẽ càng… quái đản thì tức là càng sáng tạo, trong khi những người từ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) thì có xu hướng ngược lại. Bài báo mới đây đã được xuất bản trên Frontiers in Psychology.  Đặc thù văn hóa xác định cách một cá nhân đánh giá thành quả sáng tạo của người khác. Một cách vô thức, mọi người hình dung về sự sáng tạo và công việc sáng tạo thông qua lăng kính văn hóa của họ; để rồi điều này lại tác động đến cách chúng ta đánh giá các thành quả sáng tạo. Dù vậy, đến nay các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ sự khác biệt văn hóa thể hiện như thế nào trong việc đánh giá mức độ sáng tạo. Anatoly Kharkhurin, Trợ lý Giáo sư tại Khoa Khoa học Xã hội HSE đã cùng cộng sự của mình là Trợ lý Giáo sư Sergey Yagolkovsky thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu điều này.  Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã sử dụng Bài kiểm tra trí tưởng tượng của Thomas Ward. Những người tham gia là sinh viên của Đại học HSE và Đại học American tại Sharjah (UAE). Các sinh viên được yêu cầu tưởng tượng, vẽ và mô tả một sinh vật sống trên hành tinh khác. Bài kiểm tra này nhằm mục đích đánh giá khả năng tư duy thoát khỏi khuôn mẫu khi yêu cầu người trả lời vẽ một thứ mà họ chưa từng nhìn thấy ngoài đời thực.    Bức vẽ sinh vật ngoài hành tinh của một sinh viên UAE. Ảnh: Kharkhurin AV và Yagolkovskiy SR  Nhóm nghiên cứu sẽ phân tích hình ảnh dựa trên ba đặc điểm: đối xứng hai bên, hai mắt và tứ chi. Những sinh vật ngoài hành tinh với cả ba đặc tính trên đều giống với những mô tả quen thuộc về con người và động vật trên Trái đất. Tuy nhiên, một người ngoài hành tinh với nhận dạng quái lạ – không tuân theo các quy tắc này – sẽ tạo được sức hút hơn.  Sau đó, sẽ có các tình nguyện viên từ Nga và UAE đảm nhiệm vai trò ban giám khảo. Ban giám khảo Nga bao gồm 53 sinh viên trong độ tuổi 17–20, trong khi ban giám khảo UAE bao gồm cùng một số lượng sinh viên ở độ tuổi 17–26. Nhiệm vụ của Ban giám khảo là đánh giá tính sáng tạo của 100 bức vẽ được chọn với tỷ lệ ngang nhau từ cả hai quốc gia – trên thang điểm từ 1 đến 5.  Các nhà nghiên cứu cho rằng đại diện của các nền văn hóa khác nhau sẽ đánh giá các bức vẽ theo những cách khác nhau.  Ban giám khảo Nga đã trao số điểm hào phóng hơn nhiều so với phía UAE, bất kể quốc tịch của tác giả. Bức vẽ của các sinh viên người Nga đã giành được 3,12 điểm từ ban giám khảo Nga và 2,54 điểm từ các giám khảo của UAE, so với số điểm tương ứng lần lượt là 2,33 và 1,94 cho các bức vẽ của sinh viên UAE.  Phân tích dữ liệu cho thấy sự khác biệt về điểm số có liên quan đến việc hình dạng của người ngoài hành tinh trông quen thuộc như thế nào. Trong quá trình vẽ người ngoài hành tinh, sinh viên UAE nhìn chung ít đi lệch khỏi các đặc điểm điển hình hơn so với sinh viên Nga. Điều này có thể là do các sinh viên UAE không mấy hứng thú với việc phá vỡ các quy tắc để hoàn thành một nhiệm vụ đòi hỏi sự sáng tạo. Nhóm sinh viên UAE nhận thấy những bức vẽ càng khác thường thì trông càng kém hấp dẫn và do đó, họ đánh giá chúng là kém sáng tạo. Ngược lại, những sinh viên người Nga tham gia cuộc thi tin rằng người ngoài hành tinh càng khác biệt so với động vật trên cạn hay con người thì bức vẽ càng sáng tạo.    Bức vẽ sinh vật ngoài hành tinh của một sinh viên Nga. Ảnh: Kharkhurin AV and Yagolkovskiy SR  “Những người từ các nền văn hóa khác nhau đánh giá công việc sáng tạo khác nhau. Đại diện của các quốc gia “phương Tây” đề cao tính đổi mới và độc đáo trong tác phẩm nghệ thuật, trong khi những người từ các nền văn hóa “phương đông” coi trọng tính thẩm mỹ và tính chân thực của tác phẩm nghệ thuật. Đó là lý do tại sao ở các nước phương Tây, việc vi phạm các tiêu chuẩn chung được đánh giá cao, trong khi ở các nước phương Đông, chúng bị coi là quái gở’, Anatoly Kharkhurin nói .  Tuy nhiên, bất chấp sự khác biệt về văn hóa trong nhận thức về tính sáng tạo, cả nhóm giám khảo Nga lẫn UAE đều cho các bức vẽ của những sinh viên Nga điểm cao hơn. Điều này có thể liên quan đến thực tế là các quy tắc thẩm mỹ, không giống như nhận thức về sự sáng tạo, là thứ phổ biến bất chấp sự khác biệt giữa các nền văn hóa, và cả hai nhóm đều nhận thấy các bức vẽ của những sinh viên Nga đẹp hơn về mặt thẩm mỹ.  Đinh Cưu tổng hợp  Nguồn: Cultural Variations in Evaluation of Creative Work: A Comparison of Russian and Emirati Samples  Cultural differences impact the evaluation of creativity    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự mong manh của khoa học và phận người      Không chỉ đem lại những thông tin mới về một bức tranh mang tính biểu tượng của họa sĩ Tân cổ điển Pháp Jacques-Louis David, Antoine Laurent Lavoisier (1743–1794) and Marie-Anne Lavoisier (Marie-Anne Pierrette Paulze, 1758–1836), những công cụ khoa học tiên tiến đã giúp khắc họa rõ hơn sự mong manh của khoa học và phận người giữa dòng xoáy lịch sử.      Bức họa Antoine Laurent Lavoisier (1743–1794) và Marie-Anne Lavoisier (Marie-Anne Pierrette Paulze, 1758–1836). Nguồn: MET.    Được treo tại bảo tàng Mỹ thuật Metropilitan (Mỹ), bức họa Antoine Laurent Lavoisier (1743–1794) and Marie-Anne Lavoisier (Marie-Anne Pierrette Paulze, 1758–1836) được quan tâm một cách đặc biệt bởi hai lý do: thứ nhất người sáng tạo ra nó là một họa sĩ tiên phong của kỷ nguyên Tân cổ điển mà tên tuổi gắn liền với bức chân dung các nhân vật lịch sử Oath of the Horatii (Lời thề của nhà Horatii), The Death of Socrates (Cái chết của Socrates), The Death of Marat (Cái chết của Marat), Napoleon at the Saint-Bernard Pass (Napoleon trên đèo Saint-Bernard), The Emperor Napoleon in His Study at the Tuileries (Hoàng đế Napoleon trong phòng làm việc tại cung điện Tuileries)…; thứ hai đó là chân dung của cặp vợ chồng nhà Lavoisier, những người đặt nền tảng cho nền hóa học hiện đại. Nếu đặt cả nhà Lavoisier và Jacques-Louis David, người ghi lại hình ảnh mang tính biểu tượng của họ, vào bối cảnh thời kỳ Khai sáng và Cách mạng Pháp 1789, người ta sẽ thấy nổi lên những mối quan hệ nhằng nhịt không ngờ cũng như sự bi thảm không thể tránh khỏi của số phận con người trong bối cảnh lịch sử rối ren.    Sau bốn thập niên được treo lại bảo tàng Met, vào năm 2019, nhà giám tuyển Katharine Baetjer đề xuất với Ban Bảo tồn tranh của Met là nên loại bỏ lớp véc ni tổng hợp đã xuống cấp trên bề mặt bức họa. Khi đó, nhà bảo tồn Dorothy Mahon đã nhận thấy những điểm màu đỏ kỳ lạ bên dưới lớn sơn vẽ mái đầu của Marie Anne Lavoisier, gợi ý có những nét vẽ bên dưới mà mắt thường không thể nhìn thấy.    Những quan sát ban đầu của nhà bảo tồn Dorothy Mahon đã dẫn đến một cuộc tìm hiểu rộng hơn với sự hỗ trợ của các công cụ phân tích và manh mối lịch sử… Và sau ba năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra điều bí ẩn mà từ trước chưa được ai quan tâm. Kết quả được họ công bố trên tạp chí Heritage Science “Discovering the evolution of Jacques-Louis David’s portrait of Antoine-Laurent and Marie-Anne Pierrette Paulze Lavoisier” (Khám phá sự tiến triển của bức chân dung Antoine-Laurent và Marie-Anne Pierrette Paulze Lavoisier của Jacques-Louis David).    Antoine Laurent có vai trò lớn lao với khoa học, cụ thể là nền hóa học hiện đại. Nếu lật giở lịch sử khoa học, chúng ta biết rằng trước Antoine Lavoisier, thuật giả kim (alchemy) với những bí quyết được úp mở là có thể biến kim loại bình thường thành vàng hay khả năng điều chế thuốc chữa bách bệnh đã phát triển thịnh vượng ở châu Âu đến tận thời kỳ Phục Hưng. Ngay cả trong truyện cổ tích của Andersen thì cũng có những nạn nhân của thuật giả kim, nhà quý tộc phá sản Valdemar Daae và các cô con gái bị buộc phải rời lâu đài của mình nhưng vẫn ôm chiếc bình quý chứa dung dịch mà ông cho là có khả năng biến đá thành vàng.  Cho đến thời kỳ Khai Sáng, những tri thức mới đã làm thay đổi tất cả. Antoine Lavoisier đóng vai trò trung tâm của cuộc cách mạng hóa học thế kỷ 18 và là người có ảnh hưởng lớn đến cả lịch sử hóa học lẫn lịch sử sinh học. Về tổng thể, những đóng góp vĩ đại của Lavoisier trong hóa học là đem lại thay đổi môn khoa học này từ định tính sang định lượng cũng như khám phá ra vai trò quan trọng của oxy trong quá trình đốt, và hàng loạt khám phá khác: ghi nhận, đặt tên oxygen (1778), hydrogen (1783), dám đối đầu với thuyết phlogiston (thuyết về sự cháy), góp phần xây dựng hệ mét, viết danh sách mở rộng đầu tiên các nguyên tố, giúp cải cách danh pháp hóa học, dự đoán sự tồn tại của silicon (1787), khám phá ra là dù vật chất có thể thay đổi hình dạng nhưng khối lượng của nó vẫn không đổi.     Những điểm bất thường     Ngày nay, mỗi khi nhìn ngắm bức chân dung này, người ta không khỏi dấy lên sự kỳ lạ. Antoine và Marie Anne Lavoisier được khắc họa như những nhân vật thượng lưu giàu có chứ không phải những nhà khoa học hiện đại sinh ra trong thời kỳ Khai sáng.    Trong bức vẽ của Jacques-Louis David, cả hai vợ chồng nhà hóa học đều xuất hiện với vẻ ngoài trang nhã và có phần đỏm dáng, dù trang phục không quá cầu kỳ. Chiếc áo đen giản dị của Antoine Lavoisier không làm giảm được sự cầu kỳ của chiếc áo sơ mi trắng viền ren ở cổ và cổ tay, dường như không phù hợp với công việc thực nghiệm của một nhà hóa học. Trang phục của vợ ông, bà Marie Anne Lavoisier, cũng dường như không phù hợp với vai trò người trợ lý của phòng thí nghiệm, vai trò bà vẫn đảm nhiệm trong các nghiên cứu của chồng mình. Những chai lọ được xếp trên mặt bàn phủ nhung đỏ hay nằm dưới đất, đều mang dáng dấp của sự sắp đặt nghệ thuật, nghĩa là nhiệm vụ của chúng ở đây thuần túy là để trang trí. Dường như trong bức chân dung này, yếu tố khoa học chỉ là thứ yếu và nếu không có khuôn mặt quen thuộc của Lavoisier thì người ta vẫn ngỡ đây là một cặp vợ chồng thượng lưu, đặt hàng chàng họa sĩ nổi tiếng để có một bức họa để đời.    Các nhà bảo tồn phát hiện ra điều bí ẩn này khi dùng nhiều công cụ phân tích mới, vốn chỉ xuất hiện trong vài năm trở lại đây. Một sự kết hợp giữa máy quét cắt lớp huỳnh quang X quang macro (MA-XRF) và những kỹ thuật chụp ảnh hồng ngoại không xâm lấn để chụp ảnh và phân tích bức họa. Khi dùng ánh sáng hồng ngoại để xuyên qua các lớp sơn bên trên và dò những thay đổi của tác phẩm còn MA-XRF dùng để xác định sự phân bố của các nguyên tố thành phần của các màu vẽ, bao gồm cả những màu vẽ dưới lớp bề mặt, qua đó đem lại những bản đồ chi tiết về thành phần các chất để giúp các nhà khoa học bảo tồn nhận biết về sự hiện diện của các lớp màu bên dưới. Do đây là bức tranh khổ rộng nên các nhà khoa học chọn nhiều mặt cắt và nghiên cứu nó trước khi ráp lại hoàn chỉnh.    Theo cách đó, các nhà khoa học phát hiện ra bức tranh ban đầu với ý tưởng khác biệt so với bức tranh mà chúng ta thấy ngày nay. Trong bức tranh nguyên thủy, bà Lavoisier đội một chiếc mũ lớn được trang trí những dải ruy băng xanh lam lộng lẫy và đóa hoa giả. Thời trang Paris biến đổi rất nhanh, chỉ cần vài tháng là có thể đưa ra một chiếc váy hay một chiếc mũ mới. Qua trao đổi với Jessica Regan của Viện Trang phục của Met, các nhà nghiên cứu đã biết được chiếc mũ đen ruy băng màu xanh lam mà bà Lavoisier đội là mũ à la Tarare, được đặt theo tên vở opera Tarace của Antonio Salieri và Pierre Beaumarchais, vốn xuất hiện vào cuối hè, đầu thu năm 1787. Dải ruy băng này hoàn toàn ăn khớp với thắt lưng lụa màu xanh lam trên chiếc váy chemise à la reine của bà Lavoisier.      Antoine Laurent Lavoisier trên đường ra pháp trường. Nguồn: sciencephoto.com.  Nhưng không phải chỉ có vậy, cả ông Lavoisier cũng thay đổi. Thoạt tiên ông không mặc chiếc áo đen có ba chiếc cúc giản dị và chiếc quần chẽn màu đen mà là choàng trên người chiếc áo khoác dài màu nâu thời thượng. Sự phân bố của sắt và việc kiểm tra các vùng trên bề mặt bức họa, nơi màu đen bị phai đi cho thấy có bảy chiếc cúc màu vàng, có lẽ bằng đồng, trên chiếc áo. Đáng ngạc nhiên hơn là Lavoisier còn khoác thêm một cái áo choàng màu đỏ trên đôi vai, bao bọc lấy khuỷu tay trái rồi cuộn quanh người ông trước khi rơi xuống sàn.    Tất cả phục sức nguyên bản đã cho thấy rõ cảm giác kỳ lạ của người xem là có sơ cở: nhà Lavoisier không hề giống người làm khoa học. Họ quá thời thượng và đỏm dáng.    Nhưng có lẽ, kỳ lạ hơn cả là trong nguyên bản, các dụng cụ khoa học của ông Lavoisier vắng bóng. Chúng chỉ được vẽ thêm vào, như cái áo đen của nhà hóa học, trên mặt bàn trống không, cùng với tấm khăn trải bàn màu đỏ. Tấm khăn được thêm vào này đã che đi chiếc bàn được chạm khảm cầu kì với những chi tiết bằng đồng theo phong cách Rococo. Rõ ràng, mọi chi tiết mới cho thấy, ý đồ của họa sĩ – và có lẽ là ý đồ của nhà Lavoisier, là không xuất hiện với phong cách của nhà khoa học mà như những người thuộc tầng lớp thượng lưu.     Số phận ẩn sau nét vẽ     Ở đây, có một câu hỏi đặt ra, tại sao nhà Lavoisier lại muốn mình xuất hiện với phong cách này? Và tại sao họa sĩ Jacques-Louis David lại vẽ lại bức tranh sau khi đã hoàn thành nó? Ông cảm thấy không hài lòng với sự biểu đạt của nhân vật hay vì nguyên nhân nào khác? Quả thật, người ta không thể trả lời thấu đáo câu hỏi này, nếu không đặt các nhân vật trong tranh và cả họa sĩ vào bối cảnh lịch sử, nơi nó được sinh ra.    Khi nhìn vào xuất thân của Antoine Lavoisier, người ta sẽ thấy số mệnh đã đặt sẵn cho ông một vị trí trong xã hội thượng lưu: ông sinh ra trong một gia đình quyền quý và ở tuổi lên năm, ông đã hưởng một gia sản lớn sau khi mẹ qua đời. Tuy nhiên, ông không dùng gia sản để sống một cuộc đời vô lo, vô nghĩ mà dành để đầu tư cho khoa học, kể từ khi trình bày bài báo đầu tiên của mình tại Viện Hàn lâm Khoa học Pháp ở tuổi 21. Gia sản của ông gia tăng thông qua việc mua cổ phần ở General Farm, vốn cho phép ông có thể sống thoải mái, dành toàn tâm toàn ý cho khoa học và đóng góp những khoản tài trợ hào phóng cho cộng đồng. Vào thời điểm bình minh của khoa học hiện đại, thật khó để có thể tìm được nguồn tài trợ cho khoa học và cũng không thể “làm giàu” được từ khoa học, vì vậy Lavoisier đã dùng tiền túi để mở một phòng thí nghiệm với những trang thiết bị đắt tiền, thu hút các nhà khoa học tới làm việc mà không vướng phải các rào cản kinh phí.    Là một người theo chủ nghĩa nhân đạo, Lavoisier quan tâm đến việc cải thiện đời sống của người dân Pháp bằng nông nghiệp, công nghiệp và khoa học. Năm 1766, Lavoisier được vua Pháp trao huy chương vàng cho công trình về chiếu sáng đường phố và hai năm sau được bổ nhiệm vào Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Cũng năm đó, ông tập trung vào một dự án thiết kế một cống dẫn nước để mang nước sông Yvette vào Paris để mọi người có thể được uống nước sạch. Nhưng do dự án này không bao giờ được khởi công nên ông lại hướng vào việc làm sạch nước sông Seine. Đây cũng là nguyên nhân vì sao Lavoisier lại tập trung tìm hiểu bản chất hóa học của nước và việc cải thiện điều kiện vệ sinh công cộng.    Thêm vào đó, ông cũng quan tâm đến chất lượng không khí và cũng dành thời gian nghiên cứu về nguy cơ rủi ro tới sức khỏe do ảnh hưởng từ thuốc súng. Năm 1772, ông thực hiện một nghiên cứu về tái tạo khách sạn Hôtel-Dieu sau khi nó trải qua một trận hỏa hoạn, theo cách cho phép đặt các đường thông hơi đúng quy tắc và làm sạch không khí. Cùng thời điểm đó, ông còn thực hiện một cuộc điều tra về điều kiện vệ sinh của tù nhân tại các nhà tù ở Paris và nêu ra một số đề xuất cải thiện điều kiện sống (nhưng sau đó đã bị lờ đi).    Không chỉ lập hai tổ chức về giáo dục là Lycée và bảo tàng Musée des Arts et Métiers như những công cụ giáo dục công, Lavoisier còn góp phần thành lập Hội đồng Nông nghiệp Hoàng gia, dành nhiều khoản tiền của chính mình để cải thiện điều kiện canh tác ở Sologne – nơi có chất lượng mùa vụ nghèo nàn; tham gia điều hành Hội đồng thuốc súng, qua đó cải thiện chất lượng và sản lượng thuốc súng, đưa nó trở thành một nguồn thu cho chính phủ… Tuy nhiên, vai trò của Hội đồng thuốc súng cũng hỗ trợ trở lại cho khoa học của Lavoisier khi được tham gia vào phòng thí nghiệm của Royal Arsenal từ năm 1775 đến năm 1792…    Bức vẽ nhà Lavoisier hoàn thành vào trước khi cuộc cách mạng Pháp nổ ra. Có tin đồn là họa sĩ David đã được trả 7.000 livre vào ngày 16/12/1788, và dự kiến sẽ treo nó tại Paris Salon, hay còn gọi là Académie des Beaux-Arts (Viện Hàn lâm nghệ thuật Pháp). Do tình hình căng thẳng thời kỳ đó mà họa sĩ dự định sẽ không mời đông đảo công chúng tới thưởng lãm, tuy nhiên cẩn thận vẫn chưa đủ. Sau đó, một số người trong chính quyền đã khuyên ông nên thay đổi một số chi tiết trong bức họa cho an toàn, bởi không nên đưa hình ảnh Lavoisier giàu có khiến nhà hóa học trở thành kẻ thù của cuộc cách mạng. Đây là lý do khiến Davis đã phải thêm vào một số đồ lề khoa học trong phòng thí nghiệm của Lavoisier, xóa đi một số yếu tố ban đầu ở hai nhân vật.    Có một điều có thể Davis cũng không ngờ là chính tài khéo trong những nét giúp ông xoay chuyển tình thế lại góp phần hình thành một thể loại tranh chân dung mới mà sau này ông đã tận dụng để vẽ một loạt chân dung khác. “Về mặt lịch sử nghệ thuật, những manh mối này đem lại cái nhìn mới vào cách David đến với cột mốc của nghệ thuật vẽ chân dung châu Âu, không phải đến một cách bất ngờ vào một thời điểm mà trên cơ sở tính toán lại và sáng tạo lại những kiểu chân dung đã có, nhiều bức trong số này đã trở thành tiên phong cho nghệ thuật vẽ chân dung phụ nữ như Adelaïde Labille-Guiard và Elisabeth Louise Vigée Le Brun vào những năm 1780”, nhà giám tuyển của Phòng tranh châu Âu Met là Davis Pullins nói.    Trong thông cáo báo chí của Met, ông cũng cho biết thêm: “Khía cạnh cá nhân trong bức họa Antoine Laurent Lavoisier và vợ ông đã được khắc họa trong bức chân dung của Jacques-Louis David. Tuy nhiên giờ thì chúng ta mới thấy một khía cạnh khác, hoàn toàn theo nghĩa đen, ẩn dấu trong bức chân dung hiện tại. Đây là một lăng kính khác để khi nhìn vào đó, chúng ta thấy nhà Lavoisier không phải vì những đóng góp của họ cho khoa học mà là như người của tầng lớp thu thuế giàu có, một vị trí giúp cho họ có được điều kiện đầu tư cho khoa học nhưng cuối cùng lại đưa chính Lavoisier tới bục máy chém vào năm 1794”.    Cuối cùng, một thế kỷ sau, khi nhà Lavoisier, David và những người cùng thời không còn nữa thì bức họa mới được ra mắt công chúng, đúng vào Triển lãm thế giới năm 1889. Thế cuộc rồi cũng đổi thay, nỗi hàm oan đã được cởi bỏ, tuy không thể rút lại những gì Lavoisier phải chịu đựng nhưng có một điều chắc chắn là đóng góp cho khoa học của ông thì còn mãi…□     Tô Vân tổng hợp  Nguồn: Smithsonian, Heritage Science  Thật không ngờ là những gì khiến Lavoisier trở nên nổi tiếng và có nhiều đóng góp cho xã hội lại trở thành tai họa cho ông trong thời kỳ cuộc cách mạng Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến năm 1799 với việc lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế. Thành công của cuộc cách mạng Pháp đã tạo đà cho việc xóa bỏ Ferme générale, một công ty tài chính nông nghiệp của chính quyền hoàng gia mà Lavoisier tham gia, vào năm 1791, và buộc Lavoisier từ chức ở Hội đồng thuốc súng và rời phòng thí nghiệm tại Royal Arsenal. Vào ngày 24/11/1793, ông và một số những người tham gia Ferme générale bị bắt giữ với chín tội danh cáo buộc tư túi tiền bạc và cho thêm nước vào thuốc lá trước khi bán. Lavoisier đã viết lời phản đối, trong đó nhắc nhở về nỗ lực đem lại chất lượng cao cho thuốc lá như thế nào. Theo những lời đồn đại thì Coffinhal, chánh án phiên tòa đã nói “Nền cộng hòa không cần cả học giả lẫn nhà hóa học; phiên tòa không thể bị trì hoãn” sau lời đề nghị của Lavoisier được trở về để tiếp tục làm thí nghiệm.  Tòa phán quyết Lavoisier tội chết, cuộc xử tử diễn ra vào ngày 8/5/1794. Nhà toán học Lagrange đã thốt lên “Tuy chỉ chém bay mái đầu này trong chốc lát nhưng mất cả trăm năm sau cũng không thể tái tạo được một trí tuệ như thế”.  Có nhiều đồn đại về nguyên nhân đích thực khiến Lavoisier bị buộc tội nhưng theo nhà lịch sử khoa học Stephen Jay Gould thì do nhà lý luận chính trị và nhà khoa học Pháp Jean-Paul Marat tố cáo ông. Marat có mối tư thù với Lavoisier vì Lavoisier từng chỉ ra những điểm chưa được trong công trình của Marat khi ông này cố gắng trở thành thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Sau này, cả Coffinhal lẫn Marat đều chết bất đắc kỳ tử: Coffinhal bị xử tử ba tháng sau phiên tòa này còn Marat bị một cô gái theo phe Girondin là Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm.  Bản thân số phận của David cũng khác thường. Ông sau đó trở thành người ủng hộ nhiệt thành của Cách mạng Pháp và là bạn của Maximilien Robespierre, một trong những nhà lãnh đạo cách mạng. Từng bị bắt giam sau khi Robespierre thất thế, ông đã chuyển hướng ủng hộ Napoleon và phát triển phong cách Đế chế với việc sử dụng những gam màu ấm áp của trường phái Venice. Sau khi Napoleon thoái vị, David sống tha hương tại nước ngoài. Một ngày mới bước chân khỏi một rạp hát, David bị một chiếc xe chở hàng đâm phải. Ông qua đời vào ngày 29/12/1825.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự nhiễu loạn trong bức họa “Đêm đầy sao”      Phân tích bức họa “Đêm đầy sao” (The Starry Night) của Vincent van Gogh, các nhà nghiên cứu đã cho thấy các cấu trúc hình xoáy mang các đặc tính nhiễu loạn phù hợp với những gì họ quan sát được trong các đám mây phân tử đem đến sự hình thành của các ngôi sao.      Bức họa Đêm đầy sao được Vincent van Gogh vẽ năm 1889, hiện đang treo tại Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại New York.  Với các cuộn xoáy màu xanh dương và vàng đậm, bức Đêm đầy sao của Vincent van Gogh đã thu hút nhiều người yêu tranh. James Beattie cũng không ngoại lệ. Là một sinh viên của trường đại học Quốc gia Australia ở Canberra, Beattie nghiên cứu về cấu trúc và động lực học của các đám mây phân tử – nơi hình thành của các ngôi sao – vốn có các cuộn xoáy hay gợi cho anh liên tưởng đến bức họa của danh họa Hà Lan. Mới đây, anh thử thực hiện một cách thức kiểm tra sự tương đồng đó với hỗ trợ của Neco Kriel, một sinh viên tại trường đại học Công nghệ Queensland ở Australia. Sử dụng các kỹ thuật được phát triển để phân tích các mẫu hình mô phỏng những đám mây phân tử, cả hai thấy chúng đều hiển thị cùng các đặc điểm nhiễu loạn. Trong khi bầu trời chứa các mẫu hình ngôi sao của van Gogh có thể được coi là một sự trùng hợp may mắn thì sự hiện diện của những mô típ cuộn xoáy là điểm chung trong các bức họa khác của danh họa, giống như sự phong phú của hiện tượng nhiễu loạn trong cuộc sống của chúng ta ngày nay.  Beattie và Kriel không phải là những người đầu tiên nghĩ đến sự liên hệ giữa Đêm đầy sao với bầu trời hoặc chứng minh các mẫu hình về cấu trúc hỗn loạn của nó. Vào năm 2004, Kính viễn vọng Hubble đã bắt được hình ảnh một quầng (halo) ánh sáng trải rộng xung quanh ngôi sao V838 Monocerotis, sau được một thông cáo báo chí của NASA miêu tả như một phiên bản vũ trụ của bức họa van Gogh. Vào năm 2008, Jose Luis Aragón, trường đại học tự trị quốc gia Mexico, và đồng nghiệp đã tìm thấy những gợi ý của các hỗn loạn trong Đêm đầy sao cũng như những bức họa khác của van Gogh như Con đường với cây bách và sao (Road with Cypress and Star) và Cánh đồng lúa mì với bầy quạ (Wheatfield with Crows), với cái nền đầy bão tố và gợi lên điềm gở.  Aragón và đồng nghiệp đã phân tích những thay đổi về độ sáng từ điểm này đến điểm khác trên khắp bầu trời của Đêm đầy sao. Họ thấy xác suất trong những dao động về độ sáng xuất hiện phù hợp với những dự đoán cho dòng xoáy dưới vận tốc âm (subsonic turbulent flow) của Andrei Kolmogorov – nhà toán học Liên Xô có nhiều đóng góp quan trọng trong lý thuyết xác suất và tô pô – vốn điều khiển sự đối lưu của những dòng chảy sao và chuyển động khí quyển trên trái đất. Nhưng trong suốt một thập kỷ, hình thái chính xác của nhiễu loạn trong bức họa này vẫn còn chưa được xác nhận. “Cách tiếp cận của chúng tôi là một phép xấp xỉ,” Aragón nói và cho biết thêm, “cần thiết có một mật độ phổ năng lượng thật chi tiết để xác lập hình thái, nếu Đêm đầy sao thực sự có nhiễu loạn”. Tuy nhiên anh và đồng nghiệp lại không thể tính toán được điều này trong nghiên cứu năm 2007. Nghiên cứu mới “Is The Starry Night Turbulent?” của James Beattie, Neco Kriela mới được đưa lên trang arxiv.org đã giải quyết được chính thiếu sót đó.  Tập trung sự chú ý vào những cuộn xoáy trung tâm của Đêm đầy sao, Beattie và Kriel đã dùng các kỹ thuật được phát triển để phân tích các hình ảnh của các mô phỏng chứa nhiễu loạn. Họ lựa chọn ra một mặt cắt vuông của bầu trời trong một hình ảnh số của bức họa và tạo ra các bản đồ 2D trong “các kênh” của ba màu sắc khác biệt. Sau đó họ sử dụng phương pháp phân tích Fourier để tính toán mật độ phổ năng lượng 2D của bức họa – một phân tích thống kê của hình ảnh cung cấp những mức khoảng cách nổi trội của các cấu trúc. Tương phản với nghiên cứu của Aragón, nhóm nghiên cứu tìm thấy các cấu trúc có cùng tính chất mức như những gì thấy với nhiễu loạn dưới vận tốc âm, vốn là kiểu nhiễu loạn quan sát được bên trong các đám mây khí phân tử.  Sự tương hợp mang tính định lượng này “thực sự thú vị”, Beattie nhận xét, vì nó cung cấp một cách giải thích nguyên nhân tại sao những cuộn xoáy đó dường như để “cung cấp” hoặc “điều khiển” những cuộn xoáy nhỏ hơn trong Đêm đầy sao tương tự với những gì tìm thấy trong các đám mây nhiễu loạn.    Những cuộn xoáy xanh dương và vàng của Đêm đầy sao có các dặcđiểm nhiễu loạn tương tự như các đám mây phân tử W48, vốn là chốn trú ngụ của một loạt các vườn ươm sao.  Van Gogh là một trong số các họa sỹ nổi tiếng đã diễn tả các cấu trúc xuất hiện sự nhiễu loạn trên giấy. Họa sỹ người Áo Gustav Klimt cũng thường sử dụng các cấu trúc cuộn xoáy vào trong các tác phẩm của mình, ví dụ như Cây đời (The Tree of Life). Nghệ sỹ người Canada Stacey Spiegel đã nắm bắt các mẫu hình xoáy vào trong các tác phẩm trừu tượng về tính chất dòng chảy của mình. Điều gì truyền cảm hứng cho các họa sỹ để họ đưa các mô típ đó vào tác phẩm? Gerald Cupchik, nhà tâm lý học tại trường đại học Toronto, và đồng nghiệp của anh đã thực hiện các thí nghiệm về hoạt động của não người để cố gắng tìm hiểu sự phản hồi của con người trước nghệ thuật. Những nghiên cứu này đã chứng tỏ rằng các vùng cảm xúc trong não đã sáng lên khi những người tham gia được đề nghị tập trung vào màu sắc, hình dạng và những đặc điểm bố cục của một bức vẽ. Có thể là các mẫu hình xoáy thu hút một số ý thức thẩm mĩ bẩm sinh của con người. “Nhưng khi vẽ Đêm đầy sao, van Gogh không nghĩ về việc bộ não có thể phản hồi lại nghệ thuật của ông như thế nào”.  Thậm chí, Cupchik cho rằng các cuộn xoáy nhiễu loạn thường chứng tỏ trong các bức họa nguyên nhân khác: các mẫu hình đó tồn tại trong sự phong phú của thế giới tự nhiên. “Đây cũng là các hiện tượng vật lý mà tất cả chúng ta đều trải nghiệm và thu hút sự chú ý của chúng ta; sự nhiễu loạn là một trong số đó,” Cupchik nói. Anh lưu ý sự xoắn ốc của nước đổ xuống từ một cái ống và sự tan tác của sóng nước trong một đại dương giông bão là hai ví dụ tiêu biểu. “van Gogh rõ ràng nhạy cảm với những loại đặc điểm đó đó của thế giới xung quanh và ông đã đưa chúng vào tác phẩm của mình.” Cupchik cho biết thêm là anh không ngạc nhiên về việc các cuộn xoáy của van Gogh lại hòa hợp với những gì các nhà vật lý quan sát được. “Những yếu tố đó của tác phẩm nghệ thuật hết sức phù hợp với nhau, chúng hoặc trở nên gắn kết với nhau hoặc rơi vào thất bại,” anh nói. Nếu các cuộn xoáy hỗn loạn đó trong Đêm đầy sao không thể tương đồng với các cuộn xoáy của tự nhiên thì người xem có thể sẽ nhận thấy cái gì đó đang tan rã.    Những gì khiến Đêm đầy sao giống như một cái nền hình thành từ các đám mây phân tử “thực sự”? Để tìm ra điều này, các nhà nghiên cứu đã đặt dữ liệu về sự hỗn loạn được mô phỏng đó vào trong  bầu trời của bức họa nổi tiếng.  “Nghệ thuật đã truyền cảm hứng cho khoa học và ngược lại, khoa học truyền cảm hứng cho nghệ thuật, vì vậy không ngạc nhiên để thấy rằng các nghệ sỹ đã quan sát sự phức hợp của tự nhiên và cố gắng nắm bắt một số đặc điểm quan trọng để đưa vào tác phẩm của mình,” Beattie nói. Anh nghĩ, không chắc chắn là van Gogh đã códự đoán về các cuộn xoáy hỗn loạn tìm thấy trong các ngôi sao thực khi ông vẽ Đêm đầy sao. “Đây có thể là một sự trùng hợp đáng ngạc nhiên,” anh nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v12/45    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự phá sản của Tập đoàn WorldCom: Bài học đối với các blue – chip trên thị trường chứng khoán VN      Sự phá sản của tập đoàn WorldCom và ảnh hưởng của nó tới chỉ số chứng khoán trên TTCK NewYork  Vào ngày 19 tháng 07 năm 2002, chỉ số Dow Jones trên TTCK New York giảm 390,23 điểm và đạt mức 8019,26 điểm đã kéo theo sự sụt giảm của 30 cổ phiếu xuống 1360 điểm trong suốt 2 tuần và đưa chỉ số chứng khoán về mức thấp nhất kể từ tháng 10 năm 1998. Chỉ số chứng khoán này còn thấp hơn 216 điểm so với phiên giao dịch ngày 21/9 – một thời điểm mà chỉ số chứng khoán có giá trị thấp nhất sau vụ khủng bố 11/9.    Chỉ số chứng khoán Nasdaq giảm 37.8 và đạt mức là 1319.15 với mức giảm tương đương là 4.5% kéo dài trong 1 tuần, như vậy trong thời gian một năm, chỉ số Nasdaq đã giảm 35% giá trị.  Chỉ số Standard&Poor’s 500 giảm 33.81 và đạt mức 847.75 và tương đương với việc giảm 27% giá trị trong năm 2002.  Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này do 3 nguyên nhân chính sau: thứ nhất, các vụ scandal về tài chính của các tập đoàn của Mỹ ngày càng nhiều, trong đó có việc gian lận và làm trái các thủ tục kế toán; thứ hai, nhiều vụ buôn bán nội gián cổ phiếu được phanh phui; nguyên nhân cuối cùng là mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nhà phân tích chứng khoán với các công ty mà họ phụ trách. Điển hình là đoàn WorldCom – một tập đoàn chuyên về cung cấp các dịch vụ điện thoại đường dài ở Mỹ. Giá trị cổ phiếu của tập đoàn này đã có lúc tăng lên 63.5$/ cổ phiếu vào ngày 18/6/1999. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 2002, cơ quan điều tra của Mỹ đã điều tra về những gian lận tại WorldCom và đã phát hiện những gian lận tại đây lên tới 3,8 tỷ USD và giá trị cổ phiếu của WorldCom ngay lập tức giảm xuống mức 6.74$/ cổ phiếu và tiếp tục giảm cho đến ngày 25/6/2002 thì Tập đoàn đã tuyên bố phá sản.    Bài học đối với các blue – chip trên TTCK Việt Nam  TTCK Việt Nam được thành lập vào ngày 20/7/2000 theo quyết định 127/1998 của Thủ tướng Chính phủ, với nhiệm vụ chủ yếu là: quản lý, điều hành việc buôn bán quản lý hệ thống giao dịch, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ mua bán, lưu ký thực hiện thanh toán bù trừ đối với các giao dịch chứng khoán. Ngay từ khi mới thành lập, TTCK chỉ có 4 công ty niêm yết và cho đến năm 2006, TTCK Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt. Chỉ số VN Index đã tăng 145% trong năm 2006, nay lại tiếp tục tăng thêm 56% đến ngày 12/3 vừa qua. Trong khi TTCK toàn cầu biến động mạnh, TTCK Việt Nam đã vượt lên ở vị trí dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng. Sự thu hút của TTCK ngày càng tăng một cách đột biến bởi vì trước đó bảy năm thị trường này chưa từng tồn tại ở Việt Nam.  Tuy nhiên, trên TTCK Việt Nam còn tiềm ẩn những rủi ro mà các nhà đầu tư có thể không lường hết được. Theo quỹ tiền tệ IMF, tỷ lệ p/e (price – earning ratio) (lợi nhuận đầu tư) của 20 công ty đứng đầu TTCK là 73,3 – một con số thể hiện mức độ “bong bóng” của TTCK Việt Nam.  Như vậy, vấn đề đặt ra ở TTCK Việt Nam là: liệu nếu có một cuộc khủng hoảng về tài chính ở một trong những công ty lớn niêm yết trên TTCK (giả sử là cổ phiếu của công ty FPT chẳng hạn) thì sẽ có một cú sốc thực sự trên TTCK Việt Nam hay không? Và câu trả lời là có bởi vì một số lý do như sau:  Những nhà đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn này không phải là các nhà đầu tư thực thụ nhằm kiếm được lợi nhuận từ công ty đầu tư mà là các nhà đầu cơ – những người chỉ quen kiếm lời bằng cách mua đi bán lại cổ phiếu. Do đó khi có một biến động của một loại cổ phiếu có giá trị lớn trên thị trường thì các nhà đầu tư sẽ bán tống bán tháo cổ phiếu, từ đó sẽ gây sự cố trên TTCK.  TTCK Việt Nam còn non trẻ nên việc giao dịch trên TTCK đều là các giao dịch theo “tin đồn”. Khi cổ phiếu của FPT niêm yết trên sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh, giá khớp lệnh là 400.000 đồng/ cổ phiếu – gấp 40 lần so với mệnh giá. Liên tiếp 5 phiên sau đó giá FPT tăng trần với mức tăng 5%/phiên và đạt giá 510.000 đồng/cổ phiếu vào phiên ngày 20/12/2006. Chính cơ chế “tin đồn” đã đẩy giá cổ phiếu cao đến mức như thế.  Như vậy, giá cả của các cổ phiếu blue – chip ảnh hưởng rất mạnh tới TTCK Việt Nam; Để không rơi vào tình trạng như tập đoàn WorldCom trên sàn NYSE, các doanh nghiệp hàng đầu niêm yết trên TTCK Việt Nam cần tránh lặp lại “vết xe đổ” bằng mấy cách sau.  Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp, mục tiêu trước mắt của doanh nghiệp là không nên tập trung vào quyền lợi của nhà đầu tư, mà nên tính đến lợi ích của nhân viên, khách hàng và đối tác kinh doanh. Phương châm “giá trị cổ đông” dựa trên cơ sở giá cổ phiếu đã không còn thích hợp, thay vào đó các công ty nên dành nhiều công sức cho việc xây dựng phương pháp quản trị, trong đó nên nâng cao tính toàn vẹn của hệ thống kinh doanh và tính chính xác của các số liệu hoạt động. Điều quan trọng là phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các nhân viên, cổ đông hiểu rõ thực tế hoạt động của doanh nghiệp.  Thứ hai, đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Theo nghị định 75/ CP ngày 28/11/1996, UBCK NN không có chức năng quản lý niêm yết chứng khoán của các công ty. Như vậy sẽ là kẽ hở để các doanh nghiệp “bưng bít” thông tin thật sự của doanh nghiệp. Vì thế, trước hết, UBCK NN phải có nhiệm vụ là quản lý niêm yết chứng khoán của các công ty.  Cuối cùng, về thông tin. Vấn đề khó khăn nhất đối với nhà đầu tư là lựa chọn thông tin. Có hàng đống tài liệu đã được doanh nghiệp cung cấp, trong khi khả năng sử dụng chỉ đạt 1%, điều này đẩy nhà đầu tư vào tình trạng mơ hồ, mất phương hướng. Để tránh tình trạng này thì một số nhà đầu tư đã nhờ đến trung gian tài chính. Song đây chưa phải là giải pháp an toàn khi chính những phân tích viên có thể làm sai lệch thông tin vì lợi ích cá nhân… Giải pháp bây giờ là TTCK nên lựa chọn một số tiêu chí về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đặc trưng cho từng ngành nghề để nhà đầu tư có thể so sánh dễ dàng, xây dựng hệ thống “ngôn từ đánh giá” thống nhất trong báo cáo tài chính của công ty.  ————-  * Khoa Quản trị Kinh doanh, ĐHNT      Nguyễn Thế Anh*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự phát triển thần kỳ của kinh tế Israel: Bốn nguyên nhân chính      Sức mạnh của nền kinh tế Israel không chỉ xuất phát từ những doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp năng động và dám nghĩ dám làm, mà còn do các chính sách quản lý vĩ mô khôn ngoan.     Chỉ sau một vài thập kỷ, Israel đã chuyển đổi thành công “từ một nền kinh tế lạc hậu theo đường lối bán tập trung để trở thành một siêu cường về công nghệ cao”, như tạp chí The Economist từng nhận định năm 2010. Tính trung bình trên đầu người, Israel có nhiều công ty công nghệ khởi nghiệp và thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Và trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu khủng hoảng vừa qua, nền kinh tế Israel cũng chỉ bị tròng trành chút đỉnh.  Có bốn nguyên nhân chính (ngoài những lý do khác) khiến Israel có nền kinh tế phát triển thần kỳ như vậy.  Rút kinh nghiệm sau khủng hoảng  Ngày nay người ta coi Israel như một Thung lũng Silicon của khu vực Trung Đông, nhưng nhìn lại năm 1984, Israel cũng chẳng khác gì so với Zimbabwe bây giờ. Vào năm đó, tỷ lệ lạm phát của Israel trung bình là 450%, và chỉ ít tháng sau vọt lên tới 950%. Nền kinh tế của đất nước này, nói ngắn gọn là đang tự ăn thịt chính nó.   Nguyên nhân căn bản nào từng gây ra nạn lạm phát phi mã ở Israel? Kể từ cuộc chiến tranh Yom Kippur1 năm 1973, Israel bắt đầu tăng mạnh chi tiêu công. Tới cuối thập kỷ 1970, chi tiêu của Chính phủ Israel chiếm tới ba phần tư GDP quốc gia, gây ra mức thâm hụt ngân sách khổng lồ, được bù đắp bởi tiền in ra từ Ngân hàng Trung ương Israel. Lạm phát khiến lương người lao động ở Israel buộc phải tăng theo chi phí sinh hoạt, càng làm nền kinh tế thêm khó khăn.  Lạm phát phi mã kéo theo nạn thất nghiệp, khiến các nhà quản lý đất nước chỉ mê mải cuốn theo mục tiêu tạo công ăn việc làm, trong khi vấn nạn trầm kha là thâm hụt ngân sách vẫn không được ngó ngàng tới một cách đúng mức. Hậu quả là sức khỏe nền kinh tế tiếp tục đi xuống, không chỉ phải đương đầu với nạn lạm phát mà còn lâm vào khủng hoảng ngân hàng, khi các nhà đầu tư bắt đầu rút tiền ra khỏi đất nước, và người ta lo ngại rằng Israel có thể sẽ không trả nổi nợ nước ngoài.   Trước tình hình trên, năm 1985, các nhà lãnh đạo Israel tổ chức một cuộc họp kéo dài trong một ngày đưa ra được một kế hoạch tổng thể bao gồm các biện pháp cắt giảm chi tiêu công, phá giá đồng tiền triệt để, và chia tách mối quan hệ giữa lương và giá. Ngoài ra, họ còn đưa ra những quy định cho một ngân hàng trung ương có vai trò độc lập.  Đây có thể coi là sự khởi đầu cho một nền kinh tế Israel hiện đại, chuyển đổi từ mô hình quản lý kinh tế lấy Nhà nước làm vai trò trung tâm, sang mô hình kinh tế thị trường chính thống hiện đại.      Chào đón những tài năng nhập cư   Nền kinh tế Israel trở về xu thế phát triển lành mạnh sau khi Chính phủ bắt đầu triển khai những chính sách kinh tế phù hợp. Tuy nhiên, Israel còn được hưởng lợi đáng kể từ vận may trăm năm có một. Đó là luồng di cư của những người Do Thái rời khỏi Liên Xô tan rã. Trong bối cảnh chính sách nhập cư của Mỹ gây rào cản cho một phần lớn người Nga gốc Do Thái, lựa chọn điểm đến hiển nhiên cho họ là Israel. Từ 1990 tới 1997, hơn 710 nghìn người từ Liên Xô cũ đến định cư ở Israel, làm tăng lực lượng dân cư trong độ tuổi lao động ở đất nước này thêm 15%. 60% những người nhập cư này có bằng cử nhân, trong khi bản thân đất nước Israel khi đó chỉ có 30-40% dân chúng có bằng cử nhân. Làn sóng nhập cư giúp kích thích tăng trưởng, xã hội có thêm nguồn lao động, nền kinh tế có thêm khách hàng, và ngân sách có thêm nguồn thu. Đặc biệt khi những người dân nhập cư này có chuyên môn về cơ khí, quản lý, sư phạm, v.v, thì lực đẩy tăng trưởng càng tích cực hơn.   Chính phủ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm (trong ngắn hạn)   Ngày nay chúng ta thường gọi Israel là “quốc gia khởi nghiệp.” Cái tên lấy xuất xứ từ tên cuốn sách của hai tác giả Dan Senor – từng là cố vấn cho ứng cử viên Tổng thống Mỹ Mitt Romney – và Saul Singer. Cuốn sách cho thấy tính cách táo tợn, giàu tham vọng, và năng lực vượt qua nghịch cảnh ở người dân Israel, chính là bí quyết thành công tại những vườn ươm công nghệ của đất nước này. Cây viết Zach Goldfarb của tờ Washington Post gọi đây là “luận đề chutzpah”. Có lẽ quả thật phẩm chất chutzpah (trong tiếng Do Thái có nghĩa là táo tợn) là một phần của nguyên nhân làm nên thành công ở các doanh nghiệp khởi nghiệp Israel. Nhưng để những doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel tồn tại được trong thời kỳ trứng nước thì không thể bỏ qua vai trò trợ giúp của Chính phủ.   Mặc dù Israel sớm có những tiền đề tốt để phát triển công nghệ, chẳng hạn như Chính phủ đã đầu tư gián tiếp cho công nghệ khá nhiều thông qua nghiên cứu phục vụ quốc phòng, đồng thời các doanh nghiệp có thuận lợi lớn là dân chúng được đào tạo, giáo dục một cách bài bản, nhưng trong giai đoạn phát triển ban đầu, họ vẫn thiếu một chất xúc tác quan trọng: các nhà đầu tư mạo hiểm.   Theo Glenn Yago, một nhà quản lý cao cấp tại Trung tâm Israel thuộc Viện Milken, vào thời đó ở Israel hầu như không có vốn đầu tư mạo hiểm. Thay vào đó, nền kinh tế hầu như bị chi phối bởi các doanh nghiệp khổng lồ được nhà nước hậu thuẫn. “Về cơ bản, đó là một nền kinh tế tư bản thân hữu” (là nền kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phụ thuộc vào quan hệ với các quan chức và chính phủ), Yago nói.  Nhưng thực tế này bắt đầu thay đổi từ chương trình Yozma năm 1993, một quỹ đầu tư mạo hiểm có nguồn vốn lên tới 100 triệu USD do Nhà nước sở hữu. Một phần tiền từ quỹ được đầu tư trực tiếp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhưng quan trọng hơn, chương trình này còn lôi kéo các nhà đầu tư mạo hiểm của nước ngoài lập ra các quỹ ở Israel, dựa trên các chính sách ưu đãi của Chính phủ Israel như giảm thuế và cam kết nguồn vốn đối ứng trong nước. Nhờ vậy, Israel đã tạo ra được tiền đề phù hợp để tới năm 2000 thị trường đầu tư mạo hiểm phát triển một cách độc lập đầy năng động, là bệ phóng cho hàng trăm doanh nghiệp khởi nghiệp mỗi năm – sau khi thị trường đầu tư mạo hiểm hoạt động đi vào ổn định, Chính phủ Israel cho tư hữu hóa Yozma từ năm 1998.   Tới năm 2005, Thủ tướng Benjamin Netanyahu hoàn tất những nỗ lực cuối cùng để giải tỏa sự can thiệp của Nhà nước đối với ngành công nghiệp tài chính Israel, khi đó đã đủ lông đủ cánh. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận công lao ban đầu của Nhà nước Israel trong việc thi hành những chính sách thông minh để có thể từ con số không gây dựng và ươm tạo thành công một hệ sinh thái phù hợp cho các doanh nghiệp công nghệ.  Một vị thống đốc ngân hàng trung ương tài ba   Có nhiều lý do giúp Israel thoát hiểm qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng những hậu quả tiếp sau đó. Đầu tiên phải kể đến việc Israel đã thực hiện hợp lý một chính sách chi tiêu gần với đường lối Keynesian cổ điển, đó là cắt giảm thâm hụt trong thời kỳ kinh tế đi lên, rồi chuyển sang kích thích tăng trưởng khi nền kinh tế đi xuống.   Nhưng Israel còn có một vũ khí lợi hại khác: Stanley Fischer, một người sinh ra ở Zambia, được đào tạo ở Mỹ, nay là Thống đốc Ngân hàng Israel. Ông cũng từng là giáo sư ở MIT, kinh tế trưởng ở Ngân hàng Thế giới, phó giám đốc điều hành ở Quỹ Tiền tệ Quốc tế, và phó chủ tịch tập đoàn Citigroup. Khi được bổ nhiệm vào vị trí điều hành chính sách tiền tệ của đất nước, ông còn chưa có quốc tịch Israel. Nhưng kể từ khi đảm nhiệm cương vị này năm 2005, ông đã giúp giá trị đồng tiền nội địa tương đối ổn định so với đồng USD luôn biến động – qua đó hỗ trợ đáng kể cho xuất khẩu – đồng thời chèo lái nền kinh tế tăng trưởng vững vàng.  Một bài viết nổi tiếng của blogger Evan Soltas chỉ ra rằng sự tăng trưởng này của Israel có lẽ là kết quả từ một chiến lược gây tranh cãi có tên gọi “hướng theo chỉ tiêu GDP danh nghĩa” (“nominal GDP targeting”), trong đó Ngân hàng Trung ương đặt ra một mục tiêu tăng trưởng hằng năm và cố gắng đạt được mục tiêu đó, bằng cách tạo ra lạm phát, hoặc kích thích tăng trưởng thực trong nền kinh tế. Có nghĩa là ngăn ngừa các khoản nợ tư gây suy thoái kinh tế, bằng cách đảm bảo rằng thu nhập tăng ổn định, cho dù tăng trưởng thực có bị chậm lại một chút.  Bài học rút ra  Chính sách nhập cư cởi mở và sự năng động của các nhà đầu tư đóng vai trò đáng kể nhất cho thành công của nền kinh tế Israel. Nhưng bên cạnh đó không thể bỏ qua vai trò quan trọng của những người quản lý thể hiện qua sự khôn ngoan trong chi tiêu công, những mối quan hệ hợp tác công tư, và chính sách đảm bảo GDP danh nghĩa tăng trưởng ổn định. Đặc biệt, Chính phủ Israel rất thức thời để biết khi nào cần nhường sân chơi cho khu vực tư nhân, và khi nào cần can thiệp vào thị trường để hỗ trợ cho các nhà đầu tư; hoặc khi nào cần đối phó với lạm phát, và khi nào thì cho phép lạm phát một cách giới hạn và tạm thời để phục vụ cho tăng trưởng. Đây là những bài học hữu ích cho các nhà quản lý.  Thanh Xuân lược dịch   http://www.theatlantic.com/business/archive/2012/08/its-not-just-the-culture-stupid-4-reasons-why-israels-economy-is-so-strong/260610/  —  1 Cuộc chiến giữa Israel và liên minh các nước Ả Rập do Ai Cập và Syria đứng đầu, diễn ra từ ngày 6 tới 25/10 năm 1973, còn được gọi là Cuộc chiến tháng 10.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sụp đổ tài chính phố Wall và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam      Sự sụp đổ của một số công ty tài chính hàng đầu của phố Wall trong những ngày gần đây là một sự kiện gây chấn động toàn cầu. Đợt khủng hoảng này là đợt khủng hoảng có tính thế kỷ, nên đây cũng là một cơ hội thế kỷ để cho các doanh nhân Việt Nam vươn lên vượt qua các đối thủ ở các quốc gia khác trong tương lai. Những chính sách đúng đắn của Chính phủ vào lúc này là rất cần thiết để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam biến cơ hội ngàn vàng này thành hiện thực.    Sự sụp đổ của thị trường tài chính phố Wall là một sự sụp đổ do sáng tạo và vì sáng tạo. Như nhà kinh tế vĩ đại Schumpeter đã viết cách đây gần thế kỷ, đó là sự sụp đổ từ bên trong của nền kinh tế tư bản, một sự sụp đổ cần thiết để phát triển, để cái mới hơn, hiệu quả hơn ngự trị, thay thế cái cũ. Không nghi ngờ gì, sự sụp đổ này sẽ gây tổn thương đáng kể cho một bộ phận nhất định các doanh nghiệp Mỹ cũng như trên thế giới có liên quan trực tiếp hoặc tương đối gần với các định chế tài chính phá sản này. Nhưng nhờ sự sụp đổ này mà nền kinh tế của Mỹ trong thời gian tới sẽ nhanh chóng được hồi phục. Chúng ta có quyền hy vọng vào điều này bởi vì nền kinh tế đã được giao lại vào tay những doanh nhân có năng lực hơn; nguồn tiết kiệm thực của dân chúng Mỹ sẽ được dành cho những hoạt động kinh doanh hiệu quả trong tương lai thay vì bị Chính phủ Mỹ bỏ ra để tiếp tục duy trì hệ thống kém hiệu quả đó. Những định chế sai lầm về tài chính, tiền tệ, và quản lý công ty sẽ được hiệu chỉnh hoặc thay thế, nhường chỗ cho những định chế hiệu quả hơn. Đối với những khu vực kinh tế bị tác động gián tiếp của sự sụp đổ này thì đây là một sự cảnh báo cần thiết. Họ sẽ phải xem xét lại toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình, các danh mục đầu tư trong tương lai, và các mô hình quản lý cũng như mối quan hệ hiện có để phòng ngừa tai họa có thể sẽ xảy ra với mình. Sự tính toán và điều chỉnh của hàng tỷ con người trên thế giới sẽ khiến cho nền kinh tế toàn cầu nhanh chóng tạo ra những sản phẩm mới, dịch vụ mới, hệ thống quản lý mới tốt hơn và hiệu quả hơn để thay thế những cái cũ kĩ hiện tại. Nhờ đó, thế giới sẽ nhanh chóng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới.  ***  Đối với Việt Nam, ảnh hưởng của đợt sụp đổ của một số công ty tài chính phố Wall vẫn chỉ là gián tiếp ngay cả khi Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Và nếu suy nghĩ cẩn trọng thì thực ra những tác động xấu đó không lớn như mới thoạt hình dung.  Trước hết, đó là việc một số quĩ hoặc nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể sẽ rút tiền về để củng cố các hoạt động của mình ở nước sở tại. Tuy nhiên, đây sẽ chỉ là những trường hợp bất khả kháng. Các nhà đầu tư gián tiếp sẽ không rút đi khi mà thị trường chứng khoán của Việt Nam đã xuống quá nhiều trong năm nay, và khó có thể xuống thấp hơn nữa để rút vốn. Họ càng không rút khi mà cơ hội sinh lời trong tương lai đảm bảo cao hơn so với ở nước sở tại của họ.  Thứ hai, một số nhà đầu tư trực tiếp có thể không thu xếp đủ vốn để theo đuổi các dự án đã cam kết của Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, điều này chỉ đáng sợ khi những nhà đầu tư này không thấy cơ hội sinh lợi đáng kể trong tương lai. Nếu Chính phủ Việt Nam đưa ra được các chính sách kinh tế rõ ràng, nhất quán, đưa nền kinh tế tiến tới một nền kinh tế thị trường thực sự, đảm bảo sự phát triển bền vững thì sự giảm sút luồng vốn đầu tư sẽ không nhiều.  Thứ ba, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đây không phải là điều đáng lo ngại vì hàng xuất khẩu của Việt Nam đa phần vẫn là các loại hàng hóa cơ bản như sản phẩm nguyên liệu thô (dầu thô, than đá), nông sản (gạo, cà phê, hạt tiêu), may mặc và giày dép, thủy sản. Độ co giãn của cầu đối với những hàng hóa này không lớn. Do vậy, nhu cầu tiêu thụ những mặt hàng này chỉ bị giảm chút đỉnh khi ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình nước ngoài bị giảm.  ***  Ngay từ tháng 3/2008, Chính phủ Việt Nam đã lường được tình cảnh tồi tệ của nền kinh tế Mỹ, đã tính đến những phương án chính sách và kế hoạch trong điều kiện nền kinh tế này rơi vào suy thoái dài hạn, trong điều kiện giá dầu vẫn ở mức cao. Điểm nổi bật trong chính sách kinh tế của Chính phủ Việt Nam trong thời gian vừa qua là ưu tiên chống lạm phát nhưng không chỉ đơn giản bằng công cụ tiền tệ. Chính phủ đã nhận ra được là chi tiêu của Chính phủ, đặc biệt là đầu tư công, sự méo mó của hệ thống sản xuất do khối doanh nghiệp Nhà nước gây ra, và sự bảo hộ giá cả quá lâu trong một số ngành mới là những nguyên nhân sâu xa của sự yếu kém của nền kinh tế Việt Nam. Những khoản cắt giảm và giãn tiến độ thực sự về đầu tư công, việc tiếp tục kế hoạch cổ phần hóa, niêm yết các công ty này trên thị trường, sự thoái vốn của SCIC ở hầu hết những doanh nghiệp sau cổ phần, và gần đây là sự quyết tâm của Chính phủ trong việc để giá xăng dầu vận hành theo kinh tế thị trường là những hành động cụ thể thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc đổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường. Nhưng với sự kiện khủng hoảng tài chính phố Wall lần này có lẽ đòi hỏi Chính phủ phải nhanh chóng đưa ra những chính sách và cam kết cải cách kinh tế mạnh mẽ và dứt khoát hơn nữa. Dưới đây tôi sẽ đề xuất một số chính sách mà Chính phủ nên theo đuổi trong ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn. Tôi tin rằng nhiều kiến nghị dưới đây đã được Chính phủ đã và đang tiến hành cũng như được nhiều đồng nghiệp khác của tôi đưa ra. Việc trình bày chúng ở đây để đảm bảo sự đầy đủ và nhất quán của các chính sách hướng tới việc đón nhận cơ hội có được từ sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu.  Tiếp tục duy trì mức lãi suất cơ bản như hiện nay (14%) nhưng bỏ mức tín dụng trần 30% và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc một cách có điều kiện với các ngân hàng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể giảm đối với các ngân hàng chứng tỏ được rằng những khoản nợ xấu từ đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính hoặc đầu tư khác của họ là trong vòng kiểm soát.  Việc duy trì lãi suất cơ bản như hiện nay nhằm tiếp tục chính sách kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, trong thời gian tới cơ hội đầu tư được mở rộng đối với các doanh nghiệp Việt Nam nên các doanh nghiệp có thể tìm được những dự án có khả năng thu lời cao trong tương lai được mở ra. Doanh nhân nào có khả năng tìm thấy những cơ hội này thì hoàn toàn có thể có quyền tiếp cận vốn đầu tư. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ giúp các ngân hàng thương mại kinh doanh hiệu quả có thể mở rộng qui mô của mình để chiếm lĩnh thị trường.                  Tiếp tục duy trì tỷ giá ổn định như hiện nay. Trong trung hạn, sau khi lạm phát đã được kiềm chế, chính sách tỷ giá có thể chuyển sang chế độ tỷ giá linh hoạt có kiểm soát.  Việc duy trì tỷ giá ổn định như hiện nay góp phần quan trọng vào việc kiềm chế lạm phát. Với việc duy trì VND có giá trị cao có thể dẫn đến việc nhập siêu. Tuy nhiên, với nguồn cung ngoại tệ vẫn ổn định và với chính sách thuế quan hạn chế tiêu dùng các loại hàng xa xỉ phẩm, đây không phải là điều đáng lo ngại trước mắt. Việc nhập khẩu máy móc thiết bị cũng như nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất có vai trò quan trọng hơn vì nó giúp cho nền kinh tế có khả năng kiểm soát được lạm phát nhờ tăng năng suất lao động. Đây là thời điểm các doanh nghiệp có thể tiếp cận với các điều kiện ưu đãi các loại máy móc thiết bị hiện đại của nước ngoài do tình trạng đình đốn sản xuất của các nước này. Về trung và dài hạn, chính sách này sẽ hạn chế được nhập siêu nhờ việc tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước.  Sau khi lạm phát được khống chế, việc chuyển sang chế độ tỷ giá linh hoạt có kiểm soát sẽ khuyến khích các doanh nghiệp thích nghi tốt hơn với sự thay đổi của nền kinh tế thế giới.                  Tiếp tục việc hạn chế tiêu dùng các mặt hàng xa xỉ phẩm như ô tô, xe máy, rượu ngoại… Đối với vàng, Nhà nước có thể tiến tới nới lỏng việc hạn chế nhập khẩu vàng khi áp lực ngoại tệ không còn lớn và khi sự hoảng loạn về cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ qua đi.  Việc hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ phẩm cần được tiếp tục trong thời gian trước mắt nhằm khuyến khích đưa các nguồn lực vào khu vực sản xuất. Nó cần được dỡ bỏ khi nền kinh tế đi vào ổn định để đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của nhân dân.  Nhà nước nên tính toán thời điểm nới lỏng hạn chế nhập khẩu vàng để điều hòa thị trường ngoại tệ, đặc biệt là khi có dấu hiệu dư thừa ngoại tệ. Việc nới lỏng nhập khẩu vàng cũng sẽ giải quyết được nhu cầu tiêu thụ vàng của dân chúng trong dịp cuối năm.  Đẩy mạnh cổ phần hóa và cải cách doanh  nghiệp Nhà nước.  Việc đẩy mạnh cổ phần hóa và cải cách các doanh nghiệp Nhà nước sẽ giúp cho các doanh nghiệp này chủ động tìm kiếm cơ hội thị trường, và nhờ đó có thể sẽ phát triển nhanh hơn.  Nhà nước không nên e ngại việc không bán được cổ phiếu ra bên ngoài ở thời điểm cổ phần hóa. Nhà nước có thể vẫn tiếp tục nắm đa phần vốn sở hữu tại các doanh nghiệp sau khi đã cổ phần. Doanh nghiệp sau cổ phần vẫn có thể có động lực đổi mới phát triển nếu Nhà nước cam kết sẽ thưởng cho doanh nghiệp một phần lợi nhuận có được từ phần cổ phiếu thoái vốn của mình nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt.  Tiếp tục các chính sách về thắt chặt chi tiêu Chính phủ và đầu tư công  Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu tư công sang cho khu vực tư nhân sẽ góp phần vào việc giảm thuế cho khu vực doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Các doanh nghiệp sẽ có thêm được nguồn vốn để mở rộng sản xuất và thị trường. Đây cần phải xem như là một chính sách dài hạn để khuyến khích doanh nghiệp phát triển. Khi đó Nhà nước dùng tiền thuế chủ yếu vào việc giữ gìn an ninh trật tự, qui hoạch và giám sát qui hoạch, điều hòa xung đột giữa các nhóm lợi ích trong xã hội, và ngăn ngừa thiên tai, khủng hoảng.  Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư máy móc thiết bị hiện đại để phục vụ phát triển trung và dài hạn  Sự đình đốn sản xuất ở các nước phát triển sẽ là một cơ hội tốt cho các doanh nhân Việt Nam tiếp cận được với máy móc công nghệ hiện đại với các điều kiện ưu đãi. Nâng cao năng lực sản xuất trong giai đoạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể mở rộng qui mô sản xuất trong trung và dài hạn, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu gia tăng của các nền kinh tế phát triển trong giai đoạn phục hồi.  Các ban ngành của Bộ Công thương, Phòng thương mại Việt Nam và các ngân hàng thương mại có thể cùng phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất để thúc đẩy hoạt động này.  Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài  Sự đình đốn sản xuất ở các nước phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt NamNam có thể mua lại các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài với giá rẻ. Những doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội này sẽ có khả năng trở thành những doanh nghiệp đa quốc gia của Việt  trong tương lai.  Việc đầu tư ra bên ngoài Việt Nam trong trung và dài hạn sẽ góp phần giải quyết được hiện tượng dư thừa USD ở Việt Nam, qua đó giúp cho thị trường ngoại hối được ổn định, kích thích được xuất khẩu. Ngân hàng Nhà nước cũng không phải bơm tiền ra để duy trì tỷ giá hối đoái ổn định. Nhờ đó, lạm phát sẽ được kiềm giữ.  Rà soát lại và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng  Một hệ thống tài chính, ngân hàng lành mạnh là tối cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế. Chính phủ cần phải xem xét lại các định chế quản lý tài chính ở các ngân hàng và đưa ra tín hiệu rõ ràng rằng Chính phủ sẽ không bao dung những ngân hàng mà không chủ động có những biện pháp tự phòng ngừa rủi ro.  Chính phủ cần rà soát lại các ngân hàng cho vay nhiều vào khu vực bất động sản và các loại dự án có tính rủi ro cao. Với những trường hợp có nguy cơ cao. Chính phủ cần yêu cầu cũng như tham vấn các bên để thực hiện các biện pháp mua bán nợ nhằm chia sẻ rủi ro cho nhiều định chế tài chính khác có khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn, có mức độ thanh khoản tốt hơn. Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ nên yêu cầu các ngân hàng yếu kém sáp nhập vào các ngân hàng khác khi tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại này vẫn còn chưa đến mức tồi tệ.  Tiến tới thị trường chứng khoán không có các biên độ  Vai trò của thị trường chứng khoán không đơn thuần chỉ là nơi huy động vốn cho các doanh nghiệp. Chức năng chính của nó là định hướng các nguồn lực vào những lĩnh vực có khả năng đem lại lợi nhuận tốt nhất trong tương lai. Để đảm nhận được chức năng này, thị trường chứng khoán cần những nhà đầu tư tài ba và chuyên nghiệp, biết tính toán đắn đo cho từng sự thay đổi giá trị cổ phiếu.  Tuy nhiên việc duy trì biên độ hiện tại khuyến khích những nhà đầu tư ưa mạo hiểm tham gia vào thị trường thay vì là những nhà đầu tư biết tính toán kinh tế. Khi duy trì mức giá trần và giá sàn, những nhà đầu tư sẵn sàng đặt giá trần hoặc giá sàn mà không sợ rằng mức giá đó là quá cao hoặc quá thấp vì họ nghĩ rằng ngày mai họ có thể sửa chữa được các quyết định không đúng đắn. Biến động thị giá cổ phiếu không phải là do kết quả tính toán cẩn trọng của các nhà đầu tư trong việc hướng nguồn lực tới những lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao. Thị trường chứng khoán bị biến thành một loại “sòng bạc”, làm giàu cho những tay chơi trường vốn và mánh khóe. Những nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng như nhân viên có cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết dễ dàng bị tước đoạt nguồn vốn ít ỏi của mình vì sự không am hiểu, cũng như không có đủ cơ hội để am hiểu, các mánh khóe của thị trường chứng khoán kiểu này.  Việc loại bỏ các biên độ sẽ khiến cho các nhà đầu tư phải tính toán cho từng mức giá mà họ đặt, giúp cho họ có thể nhanh chóng huy động được nguồn tài chính khổng lồ cho những doanh nghiệp có tiềm năng sinh được lợi nhuận cao, và nhanh chóng thoái lui khỏi những doanh nghiệp có chính sách kinh doanh sai lầm. Thị trường sẽ chỉ là sân chơi dành cho những nhà đầu tư thực thụ giúp nền kinh tế định hướng phát triển bền vững. Những cá nhân khác muốn tham gia thị trường chứng khoán sẽ buộc phải thông qua những nhà đầu tư chuyên nghiệp nếu họ không muốn bị thua lỗ. Đây là điều kiện cần thiết để giúp cho thị trường chứng khoán trở thành “phong vũ biểu” của nền kinh tế.                  Các chính sách về lao động, lương bổng và an sinh xã hội  Trước mắt Chính phủ chưa tăng lương tối thiểu. Với các doanh nghiệp làm ăn phát đạt, chủ doanh nghiệp ắt sẽ đảm bảo mức lương tốt cho nhân viên để có thể phát triển lâu dài. Với các doanh nghiệp yếu kém, việc tăng lương tối thiểu chỉ dẫn đến việc doanh nghiệp sa thải nhân công để tránh thua lỗ. Như vậy khi nền kinh tế bị đình trệ, nâng lương tối thiểu không giải quyết được vấn đề cải thiện đời sống của công nhân cũng như vấn đề thất nghiệp. Nó lại có thể là một  nguyên nhân gây ra lạm phát.  Việc giữ nguyên mức lương tối thiểu sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tính toán và điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất. Một khi các doanh nghiệp đã khôi phục lại được khả năng sản xuất, chúng sẽ hấp thụ trở lại lượng nhân công mà chúng sa thải.  Khi lượng nhân công thất nghiệp tăng lên cao do nhiều cơ sở kinh doanh yếu kém bắt buộc phải sa thải nhân công thì một phần lớn lực lượng thất nghiệp này sẽ được hấp thụ bởi khu vực nông thôn vì đa phần công nhân Việt Nam hiện nay xuất thân từ nông dân. Phần nông thôn không hấp thụ được, chủ yếu là công nhân có xuất xứ từ khu vực thành thị, cần có những chính sách hỗ trợ nhất định để tránh những bất ổn trong xã hội. Nhà nước có thể tổ chức, hỗ trợ việc tái đào tạo tay nghề cho lực lượng này để giúp họ có thể tìm được việc làm. Các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần hấp thụ được một phần lực lượng thất nghiệp này. Trung trung hạn và dài hạn, vấn đề lương bổng và điều kiện lao động cần được thể hiện một cách minh bạch qua các hợp đồng lao động. Nhà nước chú tâm vào việc tư vấn cho các bên, đặc biệt là người lao động, xây dựng các hợp đồng lao động có khả năng thực thi cao. Nhà nước đóng vai trò trung gian để duy trì hợp đồng giữa hai bên cũng như ngăn cản các bên lạm dụng “quyền sở hữu vốn của giới chủ và quyền sử dụng lao động của giới công đoàn” để gây sức ép lên nhau.  Xây dựng cơ chế thị trường cho các lĩnh vực cơ bản (điện, nước, than, xi măng, sắt thép, xăng dầu, đường sắt), lĩnh vực xã hội (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục), lĩnh vực công nghệ, lĩnh vực bất động sản và các thị trường phát sinh.  Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước chỉ giải quyết được một phần vấn đề khuyến khích kinh doanh hiệu quả. Nó không giải quyết được vấn đề Nhà nước vẫn phải tiếp tục can thiệp vào các lĩnh vực “đặc biệt” mà các doanh nghiệp này hoạt động để ngăn cản các hành vi lạm dụng vị thế cũng như tính chất đặc thù của các loại hàng hóa này. Để nới lỏng hoặc “buông tay” khỏi các lĩnh vực này, Nhà nước nhất thiết phải thiết kế cơ chế thị trường cho chúng. Một khi cơ chế thị trường cho các lĩnh vực này được thiết lập, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài hoàn toàn có thể tham gia mà không khiến cho người tiêu dùng sợ phải trả giá cao cũng như chất lượng dịch vụ thấp.  Đây là những lĩnh vực hoàn toàn có thể vận hành được theo cơ chế thị trường. Chính phủ cần tỏ rõ quyết tâm xây dựng và chuyển giao những lĩnh vực này cho thị trường. Chính phủ nên có lịch trình rõ ràng và có thể mời những chuyên gia hàng đầu thế giới phối hợp với các chuyên gia trong nước để thiết kế các cơ chế thị trường cho những lĩnh vực này.  Một khi những lĩnh vực cơ bản này được vận hành theo cơ chế thị trường, nền kinh tế Việt Nam sẽ có được một cái gốc vững vàng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như trợ giúp và nuôi dưỡng các doanh nghiệp trong nước vươn xa ra thị trường quốc tế.  Xác lập quyền tư hữu về đất đai  Việc xác nhận quyền tư hữu về đất đai là bước cuối cùng để chuyển Việt Nam thành một nền kinh tế thị trường thực thụ. Nó khiến cho các mảnh đất trở nên có giá trị thực theo đánh giá của thị trường dựa trên qui hoạch tổng thể của Nhà nước về mục đích sử dụng đất đai. Các mảnh đất nhờ đó có thể sinh lời lớn nhất cho những người chủ sở hữu biết khai thác chúng trong khuôn khổ mục đích sử dụng cho phép của chính quyền. Nhà nước sẽ không còn phải gồng mình làm thay thị trường mà chỉ còn phải tập trung vào việc qui hoạch đất đai sao cho đảm bảo được sự phát triển hài hòa và bền vững của nền kinh tế.  Luật đất đai hiện tại của Việt Nam hầu như đã xác nhận quyền tư hữu đất đai của nhân dân. Với việc hiện nay Chính phủ chấp nhận việc xác định giá trị đất đai theo giá thị trường thì vai trò của Nhà nước thực ra rất mờ nhạt. Việc xác lập quyền tư hữu đất đai sẽ giúp cho chúng ta có tên gọi đúng về quyền mà người dân đang có đối với đất đai của họ, biến những mảnh đất trở thành những tài sản thực thụ, có khả năng mua bán, sang nhượng, hay thế chấp. Các chủ thể kinh tế của Việt Nam nhờ đó có thể dễ dàng quan hệ mua bán, vay mượn với các đối tác nước ngoài bằng tài sản đất đai của mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thần kỳ của kinh tế Hàn quốc      Nền Kinh tế Hàn quốc phát triển cực kỳ sôi động bất chấp sự can thiệp sâu của nhà nước. Thành công này đáng khâm phục song cũng dễ bị tổn thương.       Năm 2011, theo bảng chỉ số về tham nhũng của tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) thì Hàn quốc có điểm là 5,4 của thang điểm từ không (cao) cho đến mười (không có). Vị trí này rõ ràng tệ hơn nhiều so với nước đứng đầu là New Zealand, 9,5 điểm và Đức là 8,0 điểm. “Tham nhũng thật vô cùng bất công, người dân Hàn Quốc phải lao động cực kỳ vất vả và nhiều người trong số họ đều bị cưỡng đoạt ít nhiều vì nạn tham nhũng”, theo lời Geo-Sung Kim, trưởng ban theo dõi Hàn Quốc của TI.  Mặc dù theo nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế phương Tây, tham nhũng là sát thủ của tăng trưởng kinh tế, nhưng ở Hàn Quốc tham nhũng không kìm hãm nổi sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế. Tương tự như vậy, ở Trung Quốc tốc độ tăng trưởng kinh tế là rất cao mặc dù nạn tham nhũng còn tràn làn hơn nhiều so với Hàn Quốc. Nền kinh tế Hàn Quốc liên tục phát triển ngay cả trong thời gian khủng hoảng kinh tế thế giới mới đây. Ngay cả năm 2009, năm tồi tệ nhất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo OECD vẫn tăng 0,3 %. Trong khi năng lực kinh tế của phương tây bị suy sụp thì Hàn Quốc đã thoát khỏi tình trạng suy thoái.  Ngoài nạn tham nhũng, một số yếu tố lẽ ra phải là trở ngại không nhỏ cho tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc, ví dụ như việc Nhà nước can thiệp sâu, mạnh mẽ vào các hoạt động kinh tế, chế độ nghĩa vụ quân sự kéo dài hai năm rưỡi cản trở giới trẻ tiếp cận với thị trường lao động, chi phí cho quốc phòng chiếm một tỷ lệ tương đối lớn của GDP, hệ thống giáo dục vừa cũ kỹ, không chịu thay đổi vừa  xơ cứng, cấu trúc theo đẳng cấp trong xã hội cũng như trong doanh nghiệp hoàn toàn không tạo môi trường  khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Thế nhưng, bất chấp những trở ngại này, nền kinh tế Hàn Quốc vẫn liên tục đi lên. Người ta dụi mắt và thắc mắc: tại sao lại có thể được như thế?  Bí mật của thần kỳ về nền kinh tế của Hàn Quốc là ở chỗ, quốc gia này có một nhà nước mạnh mẽ – nhưng tuyệt nhiên không phải là một nhà nước tồi tệ. “Hàn Quốc đi lên chủ yếu nhờ sự lèo lái của nhà nước”, theo lời Changsoo Kim, giáo sư kinh tế của Đại học Quốc gia Busan. Busan là thành phố công nghiệp ở phía nam bán đảo Hàn Quốc và là thành phố quan trọng đứng hàng thứ hai sau thủ đô Seoul.   “Trong những năm sáu mươi nhà nước đã tạo ra một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển công nghiệp của Hàn Quốc và từ đó tạo ra sự phát triển mang tính bùng nổ”, ông Kim nói. Chính phủ đã nhận ra rằng chiến lược thay thế nhập khẩu (tức là tự cung cấp cho thị trường nội địa bằng các sản phẩm do trong nước sản xuất để tránh phải nhập khẩu) không phát huy được tác dụng. Mặc dù nhiều nước ở Nam Mỹ thực hiện được chính sách thay thế nhập khẩu này nhưng ở Hàn Quốc thị trường quá nhỏ bé, vả lại nước này lại rất nghèo tài nguyên. “Sau đó giới hoạch định chính sách đã quyết định đảo ngược, nghĩa là sản xuất để phục vụ xuất khẩu”, ông Kim cho biết.  Kết quả là: người Hàn Quốc thu được ngoại tệ và lại càng có khả năng nhập khẩu nhiều hơn, chất lượng đời sống được cải thiện. Trong những năm bẩy mươi diễn ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định thứ hai  – chính phủ quyết định đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất. Giáo sư Kim nói: “trong nhiều thập niên chính phủ đã đóng vai trò quyết định về phát triển kinh tế.” Không những thế, chính quyền quân sự độc tài được hình thành sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Triều tiên năm 1953 và mãi đến năm 1987 mới chấm dứt.  Cho dù có những vấn đề về nhân quyền nhưng trong lĩnh vực kinh tế chính phủ Hàn Quốc đã có những quyết định đúng đắn  – và đó chính là câu trả lời về sự thăng tiến mạnh mẽ của kinh tế Hàn Quốc, với xuất phát điểm là một đất nước nông nghiệp, các thành phố và hạ tầng cơ sở bị tàn phá nặng nề sau khi bị Nhật Bản xâm chiếm trong thế chiến thứ 2 và sau cuộc chiến tranh Nam – Bắc Triều Tiên. Khi ấy, Hàn Quốc cũng nghèo khổ tương tự như nhiều quốc gia châu Phi. Nhưng ngày nay Hàn Quốc đang rượt đuổi Đức, và đối thủ mà tập đoàn Volkswagen kiềng nể nhất không còn là hãng Toyota của  người Nhật, mà chính là Hyundai của Hàn Quốc.  Sự đối đầu triền miên với Bắc Triều Tiên đã kích thích Hàn Quốc đi lên  Có thể nói đây cũng là một yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự vươn lên của Hàn Quốc. Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, toàn bộ nền công nghiệp của Triều Tiên tập trung ở miền Bắc. “Miền nam phải đối đầu với một người láng giềng vũ trang  mạnh mẽ nên phải tìm mọi cách để tồn tại”, nhận xét từ chuyên gia Đông Á , ông Werner Pascha, giáo sư ĐHTH Duisburg-Essen. Ngay cả hiện nay giáo sư Pascha vẫn cho rằng “Do bị đe dọa triền miên nên người dân Hàn Quốc nung nấu ý chí vươn lên, và chính sự xung đột này buộc họ phải quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả và năng suất.”  Ai muốn tìm hiểu bí mật của sự thần kỳ kinh tế Hàn Quốc không thể bỏ qua Chaebols. Chaebols là một sự tập hợp khổng lồ các doanh nghiệp (Firmenkonglomerate) đóng vai trò làm cốt lõi của nền kinh tế nước này. Khái niệm này hình thành từ hai từ trong tiếng Triều Tiên đó là chae và pol, cả hai từ đều khó dịch – chae có nghĩa là sở hữu, tài sản hoặc sự giầu có; pol có nghĩa là gia đình, họ tộc, nhưng cũng có nghĩa là nhóm lợi ích, phe nhóm.  Chaebols là những gã khổng lồ, mà người khổng lồ lớn nhất là Samsung. Đối với phương Tây thì Samsung chỉ chuyên sản xuất sản phẩm điện tử nhưng thực ra ngành xây dựng mới là chủ lực hàng đầu của tập đoàn này. Samsung chính là nhà thầu xây dựng tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa ở Dubai cao  828 mét. Samsung cũng đóng tàu biển, có ngành hóa chất khá mạnh, và kinh doanh cả mảng bảo hiểm. Kế đó là các tập đoàn đối thủ ngang ngửa như  Hyundai và LG.  Điều này hoàn toàn đi ngược lại những bài học của các công ty tư vấn doanh nghiệp phương Tây, đây là sự tấn công trực diện vào những môn đồ thuộc trường phái phải tập trung vào lĩnh vực kinh doanh then chốt, kiên quyết gạt bỏ những mảng kinh doanh không có liên quan. Ngoài ra cũng phải nói Chaebols với một loạt ngành khác nhau không phải là một tập đoàn có cấu trúc rõ ràng. Điều gắn bó Chaebols với nhau là một mớ liên kết huyền ảo với những mối liên hệ chính thức và không chính thức. Các băng nhóm này thường liên quan đến các dòng họ.  Tuy các Chaebols không được hoạt động kinh doanh ngân hàng nhưng Samsung là hãng bảo hiểm lớn nhất nước đã đầu tư nhiều tiền của và qua đó tìm mọi cách để gây ảnh hưởng, không những chỉ trong nội bộ Chaebol của mình mà vươn xa ra ngoài. “Thực tế là ở Hàn Quốc không thể làm gì nếu đi ngược lại lợi ích của Samsung“, theo lời Hans-Bernd Merforth, một người Đức làm ăn sinh sống ở Hàn Quốc từ cuối những năm bẩy mươi, phần lớn là làm việc cho Commerzbank. Hiện nay ông  có mặt trong Hội đồng quản trị Phòng Thương mại châu Âu ở  Seoul.  Tuy nhiên Samsung chỉ là một ví dụ điển hình ở một chừng mực nhất định cho một Chaebols. “Samsung được tổ chức tương đối tập trung, trái ngược với Hyundai từ năm 2001 đã có các bộ phận khá độc lập với nhau”, Merforth nói. Bên cạnh các thái cực như Samsung và Hyundai còn có một loạt Chaebols đan xen, liên kết với nhau và có sức mạnh khác nhau. Khoảng 20 Chaebols gộp lại tạo nên 80% GDP của HQ.  Số phận của Hàn Quốc nằm trong tay các tập đoàn – điều này vừa là phúc vừa là họa. Cuối những năm chín mươi chính các tập đoàn này đã đưa Hàn Quốc tới bên bờ vực thẳm trong cuộc khủng hoảng ở châu Á. Sự sụp đổ của Kia đánh dấu sự mở đầu của cuộc khủng hoảng.  Sau đó Kia sáp nhập với Hyundai. Daewoo là một Chaebols lớn nhất hồi đó bị tan vỡ. Mười năm sau đã cho thấy sự hình thành các tập đoàn hỗn hợp và rộng rãi, và đây chính là nguyên nhân vì sao Hàn Quốc vượt qua được khủng hoảng một cách dễ dàng như vậy.  “Hàn Quốc đã rút ra được bài học đúng đắn từ cuộc khủng hoảng Châu Á và do đó được trang bị tốt hơn so với nhiều nước khác trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua”, Merforth nhận định. “Hàn Quốc có đủ ngân hàng trường vốn, có sự điều tiết tốt hơn, có sự đánh giá về tín dụng nghiêm ngặt hơn. Và sau cuộc khủng hoảng châu Á các Chaebols cũng không chịu nhiều sức ép về gánh nặng nợ nần.”  Hoạt động của các Chaebols không phụ thuộc vào lĩnh vực ngân hàng. Lĩnh vực ngân hàng là điều cấm kỵ đối với các Chaebols. Mặt khác ngay cả các ngân hàng lớn nhất của Hàn Quốc vẫn là quá nhỏ để có thể cấp tín dụng cho các Chaebols. Các tập đoàn phải tìm nhà đầu tư trên thị trường vốn và nhận được sự hỗ trợ khá lớn của nhà nước.  Một sự kết nối mạnh mẽ giữa nhà nước và giới kinh tế  Samsung là một dạng Chaebols mẫu mực. Mới đây tập đoàn này, theo yêu cầu của nhà nước,  đã có thêm một trụ cột nữa là lĩnh vực hóa sinh. Đồng thời nhà nước cũng dành một khoản tiền lớn cho Samsung phục vụ nghiên cứu và phát triển cũng như xây dựng cơ sở sản xuất.  Nhà nước can thiệp mạnh vào lĩnh vực kinh tế không phải chỉ ở đây. Tuy đã ký một loạt hiệp định tự do thương mại nhưng Hàn Quốc tìm mọi cách che chắn cho thị trường nội địa thông qua các rào chắn thương mại. Nhà nước chi trả cho các cuộc điều tra, nghiên cứu thị trường ở nước ngoài vì lợi ích của các tập đoàn Hàn Quốc và có cả một tổ chức chuyên xúc tiến và quảng bá thương mại. Hàn Quốc hiện đã đứng ở vị trí hàng  đầu thế giới về sản xuất điện thoại thông minh, ô tô, chip máy tính, màn hình mỏng, tivi – và luôn có sự thúc đẩy hỗ trợ của nhà nước. Nhà nước là người quyết định hỗ trợ ngành nào, mảng nào, cho đến khi các lĩnh vực đó phát triển tới đỉnh cao nhất.  Nghe có vẻ như một nền kinh tế kế hoạch hóa, nhưng thật khó để biết ở Hàn Quốc ai chỉ đạo ai – nhà nước hay nền kinh tế. Các Chaebols là nhà nước, nhà nước là các Chaebols. Tổng thống đương nhiệm Myung-bak Lee trước đây từng làm việc nhiều năm tại tập đoàn  Hyundai. Trong vụ bê bối của Samsung cách đây mấy năm người ta mới biết trong danh sách lĩnh lương của tập đoàn này có gần 300 nhân vật đầy thế lực là chính khách, trong đó có hai thủ tướng, các nhà tư vấn doanh nghiệp, luật sư, công tố viên, công chức thuộc ngành thuế, phóng viên và các  nhà khoa học.    Theo nhận định của giới chuyên gia thì tình hình này cho đến nay vẫn chẳng thay đổi là bao. Một nhà ngoại giao phương Tây ở Seoul từng nói: “Các chính khách thì có thể thay đổi, nhưng vận mệnh của đất nước thì do một trăm ông già quyết định. Thông qua những thuộc hạ cùng dòng tộc các đại quan nhân này kiểm tra các Chaebols.” Changsoo Kim cũng xác nhận đánh giá này. Vị giáo sư ở Busan nói: “Với sự dân chủ hóa từ năm 1987, tương quan quyền lực đã xê dịch. Các chính khách đến rồi đi. Nhưng các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý hàng đầu thì trụ lại hàng chục năm, trong khi ảnh hưởng của các tập đoàn tăng liên tục.”  Trong khi vai trò của Quốc hội khá nhạt nhòa thì chủ tịch Quốc hội lại có một vị thế khá mạnh, kể cả với giới kinh tế. “Ông chủ tịch có thể để lại những dấu ấn của mình và có thể thông qua những việc cần làm”, và “các Chaebols không thể gây sức ép được với chủ tịch Quốc hội”, Pascha nói.  Sự đan xen, kết nối chặt chẽ giữa nhà nước và giới kinh tế là điều được hoan nghênh. Rüdiger Frank, giáo sư về kinh tế và xã hội Đông Á thuộc Đại học Vienna, nhiều năm nghiên cứu về Hàn Quốc và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Hàn Quốc nói: “Chính quyền trung ương cảm thấy phải gánh mọi trách nhiệm, và điều này lại phù hợp với kỳ vọng của người dân. Không ai nghi ngờ mô hình này bởi cho đến nay mô hình này có vẻ trôi chảy.“  Nhưng điều này có thể tồn tại được bao lâu nữa, đây là câu hỏi hiện còn để ngỏ. Sự vươn lên của Hàn Quốc bắt đầu bằng công việc sao chép một cách sáng tạo –  người Hàn sao chép các sản phẩm của phương Tây, cải tiến chúng và làm cho chúng nhuần nhuyễn hơn. Và những sản phẩm đó lại rẻ hơn. Theo giáo sư Frank thì “người Hàn rất giỏi trong việc tiếp tục phát triển, nhưng từ lâu vẫn thiếu một sự tự phát triển”. Điều này thường còn được gọi là “mô hình ưu tiên đi theo công nghệ”. Người Trung Quốc hiện cũng theo đuổi mô hình này và người Hàn đã thấy hơi thở của người Trung Quốc ngay sát gáy mình.  Pascha gọi vị thế của Hàn Quốc là vị thế bánh mỳ kẹp. “Họ gây áp lực đối với các nước phương Tây, nhưng so với phương tây họ còn có những khiếm khuyết. Đồng thời họ còn chịu áp lực từ bên dưới [tức các nước kém phát triển hơn].”  Cho dù có nhiều thành công nhưng GDP tính theo đầu người của Hàn Quốc còn dưới mức trung bình của OECD và mới đạt khoảng 60% của những nước hàng đầu. Tuy Hàn Quốc đứng hàng đầu về điện tử nhưng ở nhiều lĩnh vực khác như công nghệ sinh học hay vật liệu kết dính (Verbundwerkstoffen) thì Hàn Quốc không cạnh tranh nổi – và ngay cả trong lĩnh vực điện tử Hàn Quốc vẫn còn phải nhập nhiều loại linh kiện từ nước ngoài. Điều này đã được đề cập trong báo cáo của OECD năm 2009 về chính sách đổi mới, sáng tạo – xuất khẩu của Hàn Quốc chỉ tập trung vào một số lĩnh vực, trong khi phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm.  Hệ thống giáo dục xơ cứng cần phải cải cách  Trên con đường từ bắt chước chuyển sang sáng tạo Hàn Quốc còn lâu mới đến đích. Theo các chuyên gia, trong năm năm tới người ta sẽ thấy liệu Hàn Quốc có tạo ra được một cú nhảy hay không. “Để làm được điều này Hàn Quốc phải tạo ra được một môi trường khoa học để về lâu dài tiến hành được nghiên cứu cơ bản”, giáo sư Frank nói. “Ở Hàn Quốc cái gì cũng phải vận động thật nhanh, mọi thứ đều hướng vào mục đích ứng dụng, phải chín muồi nhanh để đưa được ra thị trường.” Ở đây lại thấy vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy sự nghiệp nghiên cứu. Nhà nước chi tiền tỷ để xây dựng các trung tâm nghiên cứu mới và tuyển mộ các nhà khoa học từ nước ngoài.  Hệ thống giáo dục cũng cần phải cải cách. Học sinh Hàn phải học cật lực, học thuộc lòng và các em chịu một áp lực rất lớn. Tỷ lệ tự vẫn cao. Các em thiếu môi trường, không gian để phát huy khả năng sáng tạo cũng như năng khiếu văn học, nghệ thuật của mình. Ngoài ra hệ thống giáo dục hết sức tốn kém và không hiệu quả. “Cho đến nay vấn đề này chưa ảnh hưởng gì tới nhà nước, vì phần lớn chi phí là do các gia đình tự chi trả”, giáo sư Frank nói. Các gia đình buộc phải chi trả nhiều tiền cho việc học hành của con cái và sự thăng tiến của chúng lệ thuộc rất nhiều vào tên tuổi của cơ sở đào tạo.  Ai không có điều hiện học ở những trường ưu tú thì rất khó có cơ hội đi lên.    Rủi ro lớn nhất về trung hạn có lẽ là sự phụ thuộc nặng nề vào các Chaebols và Trung Quốc. Mặc dù nhà nước mong muốn khuyến khích phát triển tầng lớp trung lưu và đã có những dự án khá tốn kém để hỗ trợ chính sách này, nhưng tầng lớp trung lưu không hình thành nổi. Theo ông Kim  thì “các Chaebols quá hùng hậu, và khi một doanh nghiệp cỡ nhỏ nào đó phát hiện được một mảng làm ăn hấp dẫn lập tức sẽ bị các Chaebols thâu tóm. Các Chaebols quyết định về các điều kiện làm ăn hết sức khốc liệt với các nhà cung cấp nhỏ.” Do đó, Hàn Quốc đã cho xây dựng một “Ủy ban Công bằng Thương mại” và các đối tác làm ăn và các nhà thầu phụ có thể đề nghị tổ chức này kiểm tra những điều khoản trong hợp đồng mà các Chaebols đưa ra.  Phúc và họa của Hàn Quốc phụ thuộc vào các tập đoàn và bản thân các tập đoàn lại phụ thuộc vào Trung Quốc. 25% xuất khẩu của Hàn Quốc là dành cho ông bạn láng giềng khổng lồ. “Việc Hàn Quốc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng gần đây một cách tốt đẹp chính là nhờ cầu của Trung Quốc luôn ổn định và bản thân Trung Quốc cũng thoát khỏi khủng hoảng một cách khá suôn sẻ”, Pascha nhận định. “Nhưng một khi tăng trưởng của Trung Quốc giảm thì  Hàn Quốc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.“  Đối với nhiều người Hàn Quốc thì người Trung Quốc có phần bí hiểm, Changsoo Kim nhận xét. “Chúng tôi có một cảm giác bị pha trộn trước một người láng giềng khổng lồ, đã thế họ còn bí hiểm, khó lường”, ông nói. “Song Trung Quốc cực kỳ quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định kinh tế của chúng tôi. “Nếu như xuất khẩu của Hàn Quốc đa dạng hơn thì họ đỡ bị lệ thuộc vào một quốc gia nhập khẩu.  Tuy vậy giáo sư Frank hoàn toàn không nghi ngờ về khả năng Hàn Quốc sẽ khắc phục được các thách thức của mình. “Hàn Quốc đã sẵn sàng cho những bước đi triệt để”, ông nói. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á hồi cuối những năm 90 chính phủ Hàn Quốc đã cắt giảm lương đồng loạt 30%  – ở Châu Âu biện pháp này sẽ đồng nghĩa với sự tự vẫn về chính trị. “Người Hàn có trình độ rất cao, họ có động lực mạnh mẽ, họ biết về những khó khăn của mình. Tôi tin chắc rằng, họ sẽ giải quyết được các khó khăn đó để đi lên.”   Xuân Hoài dịch theo Wiwo,  Nguồn: Handelsblatt Online    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thần kỳ kinh tế của Trung quốc đã đến hồi kết      Michael Pettis, 53 tuổi- người Mỹ là giáo sư về khoa học tài chính tại Guanghua School of Management thuộc đại học Đại học Bắc kinh. Ngoài ra vị giáo sư còn là nhà phân tích trưởng thuộc Shenyin Wanguo Securities ở Hồng Kông. Trong những năm 2002 đến 2004 ông giảng dạy tại trường đại học Thanh hoa ở Bắc Kinh. Ông từng là nhà quản lý của Wall-Street và giảng dạy tại Columbia University ở New York.  Giáo sư Michael Pettis cho rằng, hồi kết của sự thần kỳ kinh tế TQ đã đến. Sau đây là cuộc trò chuyện của ông với báo Wiwo (Tuần kinh tế) của Đức.      Thưa giáo sư, ở Trung quốc có nhiều dấu hiệu sự tăng trưởng sẽ chững lại. Phải chăng chúng ta đang chứng kiến sự mở đầu của một  chuyến hạ cánh giữ giằn?  Michael Pettis: Trong tương lai gần sẽ không có một sự hạ cánh mạnh mẽ mà cũng chẳng có hạ cánh nhẹ nhàng của nền kinh tế TQ. Nhưng trong hai ba năm tới ở TQ sẽ bắt đầu kỷ nguyên tăng trưởng rất rất thấp.  Thưa ông vì sao?  Những điều đang diễn ra ở TQ xét về mặt lịch sử thì không có gì mới. Có khác chăng chỉ là với tầm vóc chưa từng có mà thôi. Tại nhiều nước đã từng diễn ra sự tăng trưởng mạnh mẽ  chủ yếu do các nhà đầu tư tạo nên. Thí dụ ở Đức vào những năm 30 thế kỷ trước. Nền kinh tế Liên xô từng phát triển nhanh chóng trong những năm 50 và 60.  Nền kinh tế Brazin vào những năm 60 và 70. Nhật bản trong những năm 70 và 80. Và cứ mỗi lần như vậy người ta lại nói những nước này sẽ thay thế nước Mỹ, quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới,    Thưa giáo sư trong những năm tới liệu TQ đạt mức tăng trưởng là bao nhiêu ?  Tăng trưởng kinh tế sẽ giao động ở mức 3 đến 5%, và nền kinh tế sẽ phải trải qua một quá trình thích nghi đầy khó khăn. Hẳn người ta còn nhớ Nhật bản trong 20 năm liền chỉ đạt mức tăng trưởng 0,5 %.   Thưa giáo sư  khó khăn chủ yếu đối với một nền kinh tế mà sự tăng trưởng chủ yếu dựa  vào đầu tư là gì?  Mô hình TQ hoạt động như: chính phủ dùng luật để hạn chế khả năng đầu tư, có nghĩa những khoản tiết kiệm của người dân dồn chủ yếu vào các ngân hàng và Nhà nước điều tiết  thành các dự án đầu tư với lý là khu vực tư nhân không có khả năng  đầu tư vào những dự án có ý nghĩa về kinh tế thì hãy để Nhà nước làm.  Đây cũng là điều hoàn toàn bình thường nếu như người ta tìm ra được các dự án đầu tư có ý nghĩa. Và thật dễ dàng  khi đất nước mới bước vào sự phát triển kinh tế. Thí dụ cách đây 30 năm TQ hầu như không có hạ tầng cơ sở.    Rồi tiếp tục sao, thưa giáo sư?  Đến một lúc nào đó chính phủ TQ không còn có khả năng  xác định được dự án nào thực sự có ý nghĩa, thí dụ khi giá thành và giá cả  bị méo mó tới mức tiền vốn dường như cho không thì đương nhiên dẫn đến tình trạng đầu tư lấy được và nhất là  TQ lại không có cơ chế  để cảnh báo lúc nào cần phải ngừng lại để tránh gây thiệt hại.  Thưa giáo sư những sai lầm về đầu tư ở TQ lĩnh vực nào lớn nhất ? lĩnh vực bất động sản hay hạ tầng cơ sở?   Rõ ràng là lĩnh vực hạ tầng cơ sở. Tại TQ dù một thành phố dù bé đến mấy đều có sân bay và tới đây sẽ xây tiếp  45 sân bay nữa. Cạnh đó những thành phố này đều muốn nối với mạng lưới đường sắt cao tốc thì ai sẽ đi máy bay ?  Nhưng TQ kích thích vậy.  Những thành quả tăng trưởng đạt được nhờ đầu tư  trước mắt rơi vào các nhà lãnh đạo có trách nhiệm ở địa phương như được đề bạt, trong khi những chi phí lại rải đều trong cả nước trong một thời gian dài. Trong cuộc chơi này các nhà lãnh đạo địa phương không bao giờ bị thua thiệt nên họ luôn lao vào cuộc để tiếp tục đầu tư.  Trong một thị trường vốn khép kín như ở TQ hiện nay thì chính phủ có thể dung dưỡng mô hình này trong một thời gian dài.  Về cơ bản Liên xô và Nhật từng có thị trường vốn khép kín, nhưng duy nền kinh tế Liên xô  bị sụp đổ.  Khi nào người ta bắt đầu vay tiền để đầu tư, và bị thua lỗ khi đó nợ nần không ngừng tăng và không thể kiểm soát nổi sự nợ nần. “    Khi “Các hộ tư nhân phải trả nợ” thì ĐCS TQ sẽ tái tư bản hóa các ngân hàng.  Chính phủ có thể đưa đẩy các khoản nợ, nhưng không thể làm biến mất. Dứt khoát có nợ thì phải trả. Hiện chính phủ TQ để mọi công dân trả nợ với lãi xuất thấp. Lãi xuất tiền gửi ngân hàng thấp hơn hẳn lãi xuất cho vay tín dụng. Chính phủ thu cao thuế thu nhập từ người giầu.  Vì vậy không ngạc nhiên khi tỷ trọng tiêu dùng tư nhân  so với năng lực của nền kinh tế trong 10 năm qua giảm từ 46% chỉ còn 34%. Một con số thấp đén như vậy thực sự là có một không hai trong lịch sử kinh tế.     Vậy nền kinh tế TQ sẽ tiếp tục tăng trưởng nhờ xuất khẩu.  TQ đã đến lúc phải coi tiêu dùng tư nhân là một cột mốc để tạo nên tăng trưởng kinh tế, điều này thật khó khi các gia đình đang phải nai lưng trả toàn bộ số nợ. TQ không thể giải quyết nổi khó khăn này mà chỉ có thể trì hoãn, đưa đẩy các khoản nợ cho đến khi số nợ lớn đến mức người ta không còn tiền để cho vay.   Một khâu then chốt trong kế hoạch 5năm tới chính là khuyến khích tiêu dùng tư nhân.  Từ năm 2005 tiêu dùng tư nhân tương đương 40% tổng sản phẩm quốc nội mọi người hy vọng không thể giảm hơn được nữa, vậy nay tụt xuống chỉ còn 34%. Chính phủ sẽ phải xem sét lại khi  xây dựng mô hình này. Tiêu dùng ở TQ yếu vì thu nhập của người dân thấp. Và thu nhập thấp vì các hộ gia đình phải bao cấp cho các dự án đầu tư.    Dù sao thì gần đây các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp đã tăng mạnh lương cho người lao động.  Đúng, nhưng mới tăng được một năm nay. Cần tiếp tục tăng lương. Ngoài ra TQ phải tăng lãi xuất  và phải nâng giá trị đồng Nhân dân tệ. Ngoài tiền lương ra cho đến nay không có một thích ứng thực sự nào đối với mô hình tăng trưởng cả.  “Các doạnh nghiệp không có tiếng nói về chính sách” Thưa giáo sư tại sao vậy?  Đây là vấn đề về chính sách. Nếu TQ nâng giá trị Nhân dân Tệ lên thì ngành công nghiệp xuất khẩu sẽ phản đối. Ngân hàng TW tăng mức lãi xuất thì các  doanh nghiệp Nhà nước  cần nhiều vốn cũng như chính quyền địa phương sẽ lập tức phản đối .  Lương tăng thì người đầu tiên gánh chịu phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ xử dụng nhiều lao động. Hậu quả hiện đã nhãn tiền. Tại miền đông TQ một loạt doanh nghiệp hạng vừa đang lâm vào tình trạng phá sản. Chính quyền vẫn thi hành chính sách tăng lương vì các doanh nghiệp nhỏ không có tiếng nói về chính sách.  Khi TQ tăng lãi xuất và lương và tăng giá trị đồng Nhân dân tệ sẽ nẩy sinh vấn đề. Nếu chính phủ không làm những việc đó  cũng nẩy sinh vấn đề. Vậy hướng giải quyết sẽ ra sao ?  Không còn giải pháp nào cả. Kinh tế TQ đã phát triển quá mạnh trong 15 năm qua. Vấn đề lúc này là phải giảm tăng trưởng xuống mức bình thường. Nợ của TQ lúc này đã là quá lớn sẽ phải trả. “Giá cả tăng vọt ở khắp TQ”.  Các ngân hàng của TQ thuộc loại khỏe nhất thế giới. Tỷ lệ nợ xấu ở mức 1% hoặc 2%.  Xét về kỹ thuật thì tỷ lệ nợ xấu có thể thấp vì nhà nước sòng phẳng, nhưng không có nghĩa là  đấy là các khoản nợ “tốt”.  Chính phủ đã chuyển các khoản nợ đó một  cách đơn giản sang các hộ gia đình. Để xác định được các khoản nợ xấu thực sự ngân hàng TW phải tăng lãi xuất.  Vậy thưa giáo sư mức lãi xuất chỉ đạo ở TQ  phải là bao nhiêu?  Bình quân 10 năm gần đây tăng trưởng kinh tế danh nghĩa hàng năm là 14% . Mức lãi xuất chỉ đạo bình quân là 6%.  Tại các nước đang phát triển lãi xuất tương đương với tỷ lệ tăng trưởng. Nếu Ngân hàng TW  TQ tăng lãi xuất thì các doanh nghiệp Nhà nước và chính quyền địa phương sẽ bị phá sản.  TQ có ý định từng bước làm cho đồng Nhân dân Tệ có khả năng chuyển đổi. Điều này có làm cho quá trình thích nghi dễ dàng hơn không?  Không. Việc quốc tế hóa đồng tiền sẽ làm tình hình phức tạp hơn nên Chính phủ không  muốn làm. Chừng nào chính phủ còn kiểm soát được tiền gửi ngân hàng thì chính phủ còn có thể gián tiếp cản trở sự sụp đổ của hệ thống tài chính . Những người có tiền ở TQ lúc này đầu tư vào mọi thứ, duy tiền mặt là không. Trong 5 nay TQ phải đúc gấp đôi năm ngoái loại tiền vàng gấu Panda, Ngọc, vang đỏ, nấm quý hay tranh…  Có thể nói giá cả TQ tăng ở mọi lĩnh vực. Nhiều người giầu ở TQ từ hè năm ngoái đã tuồn tiền của họ  ra nước ngoài.    Thưa giáo sư, liệu lạm phát ở TQ đã lên đến đỉnh?  Đã đến rồi. Điều tệ hại nhất của nạn lạm phát cũng đã trôi qua. Giá hàng tiêu dùng tăng chủ yếu do bị giá lương thực, thực phẩm đẩy lên. Nay giá lương thực, thực phẩm bắt đầu giảm. Nếu tôi dự đoán sai và giá cả tiếp tục tăng thì cuộc chơi của TQ không phải đến năm 2013 hoặc 2014 mới kết thúc  mà sẽ là ngay trong năm nay hoặc sang năm.  XH Theo Wiwo (Tuần kinh tế) 11.08.2011         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật sau vật liệu mới của điện Mặt trời      Các công ty cho rằng họ đang tiến gần đến cơ hội thương mại hóa các màng mỏng perovskite có giá thành rẻ và điều đó có thể thay đổi cả lĩnh vực điện Mặt trời – nhưng họ có quá lạc quan?      Một nhà nghiên cứu tại nhà máy Oxford PV tại Brandenburg an der Havel, Germany, đang kiểm tra một tấm pin phủ perovskite trên silicon ở quy mô thương mại. Nguồn: Oxford PV.  Các tín hiệu hứa hẹn ban đầu   Khách sạn Henn na tại Nagasaki, Nhật Bản, không ngần ngại thử nghiệm công nghệ của tương lai. Năm 2015, họ tuyên bố mình là khách sạn đầu tiên trên thế giới có nhân viên là robot. Tuy nhiên sau khi một số khách hàng than phiền về nhân viên phục vụ robot, đồng thời nhận thấy việc này không hề làm giảm chi phí, họ đã nhanh chóng lại cắt giảm kế hoạch tự động hóa đó. Giờ đây Henn na lại đang thử nghiệm một đổi mới sáng tạo thu hút sự chú ý khác: kể từ tháng 12, họ thử nghiệm lắp đặt một bức tường cong pin Mặt trời trên khu đất nền của khách sạn. Do một công ty khởi nghiệp Ba Lan là Saule Technologies sản xuất, các tấm pin điện này là những màng mỏng được làm từ perovskite, một loại vật liệu được nghiên cứu từ sự tò mò thuần túy của khoa học trong phòng thí nghiệm cả một thập kỷ để mang đến cơ hội mới cho điện Mặt trời.  Nhật Bản không phải là nơi duy nhất thử nghiệm các tấm pin điện được làm từ perovskite trong 18 tháng qua. Saule đã treo chúng lên cao trên một tòa nhà gần trụ sở công ty ở Warsaw; Oxford PV, một công ty dẫn đầu về năng lượng Mặt trời ở Anh, cũng đang thử nghiệm các tấm pin này tại một địa điểm sản xuất ở Brandenburg an der Havel, Đức; và công ty Trung Quốc Microquanta Semiconductor and WonderSolar đã vận hành thử nghiệm tại các thành phố Hàng Châu và Ngạc Châu. Hàng chục công ty trên thế giới, bao gồm các ông lớn và các startup, đang hy vọng sớm có thể bán các tấm pin Mặt trời làm bằng perovskite. Và hàng chục công ty đang tham gia vào việc làm ra các vật liệu cho việc sản xuất các sản phẩm này, theo Margareth Gagliardi, một nhà phân tích của công ty BCC Research ở Wellesley, Massachusetts.  Hàng chục thập kỷ qua, những tấm silicon tinh thể đã chiếm ưu thế trong ngành công nghiệp sản xuất pin Mặt trời. Những vật liệu khác có thể bổ sung thành các lớp trên những tấm màng mỏng như copper indium gallium selenide (CIGS) và cadmium telluride (CdTe), chỉ chiếm dưới 5% thị trường bởi thật khó để chúng đạt được hiệu suất chuyển đổi năng lượng hoặc rẻ như các tấm pin Mặt trời thông dụng. Perovskite có thể là một câu chuyện hoàn toàn khác. Chúng có thể trở nên rẻ hơn để chế tạo và hiệu quả hơn trong phòng thí nghiệm, ít nhất là vậy.    Công ty Saule Tech sử dụng một máy tin trục lăn để có thể tạo ra các bộ pin Mặt trời chứa perovskite. Nguồn: Marek Marzejko.  Dẫu sao thì ngay cả những người ủng hộ công nghệ này cũng không nghĩ là các tấm pin perovskite sẽ nhanh chóng thay thế silicon. Hiện một số công ty đang xếp lớp các tinh thể perovskite giá thành thấp lên trên silicon để tạo ra các thiết bị tiếp nối có khả năng chuyển đổi năng lượng Mặt trời hơn việc để vật liệu này riêng rẽ. Ví dụ Oxford PV còn hướng tới mục tiêu tạo ra những sản phẩm kế tiếp ngay trong năm nay để nó có thể hiệu quả hơn 1/5 lần so với các tấm pin Mặt trời bán chạy trên thị trường. Nếu nó trở nên phổ biến trong ngành công nghiệp, toàn bộ sản lượng của các tấm pin điện Mặt trời được sản xuất hàng năm có thể nhảy vọt ở mức tương đương. Tuy nhiên cần cải thiện thêm công nghệ, Chris Case, giám đốc phụ trách công nghệ của công ty này, cho biết. Điều đó có thể giúp tăng tốc sự phát triển của thứ công nghệ mới cung cấp 2% sản lượng điện năng của thế giới. “Thế giới này cần nhiều năng lượng hơn mức chúng ta có thể tạo ra,” Case nói.  Nhưng vẫn còn những câu hỏi cơ bản để trả lời về những vật liệu mới, ví dụ vẫn còn chưa rõ là liệu perovskite sẽ đủ bền để có thể hoạt động trong mưa, gió, ánh nắng Mặt trời gay gắt và nhiệt độ thấp trong vòng 25 năm mà các tấm pin silicon đã làm được. Phần lớn các thiết bị perovskite đều chứa chì, dấy lên những lo ngại về độc chất và các nhà nghiên cứu đều không tin tưởng những kỷ lục về hiệu quả đạt được trong phòng thí nghiệm sẽ được giữ nguyên khi sản xuất ở quy mô thương mại. Trong khi đó, các tấm pin Mặt trời thông thường đã trở nên rẻ hơn và hiệu quả hơn. Nó cũng khiến cho một loại vật liệu mới khó cạnh tranh được và khó gia tăng nỗ lực trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. “Tôi không để đặt tất cả trứng vào cái giỏ này để giải quyết các vấn đề của thế giới nhưng tôi không thể loại trừ nó,” Sarah Kurtz, một chuyên gia về quang điện tại trường đại học California ở Merced, nói.      Một phân tích vòng đời các tấm pin perovskite nhiều tầng của Oxford PV cho thấy một lượng chì nhỏ trong các tấm pin này chỉ tác động đến môi trường nếu chúng bị rò rỉ và các tấm pin silicon có tác động đến môi trường còn tệ hơn do những nguồn nguyên liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất.      Những thách thức  Thách thức lớn nhất hiện nay với perovskites là liệu chúng có thể tồn tại lâu như các tấm pin silicon, nhìn chung là có thể đạt mốc 25 năm. Độ bền của perovskite “cần phải đạt được mức như của silicon” và “hiện tại thì càng khó được như vậy”, Martin Green, nhà nghiên cứu về perovskites và các vật liệu làm pin Mặt trời khác tại trường ĐH New South Wales ở Sydney, Australia, nhận xét. Nhóm nghiên cứu của ông cộng tác với hai công ty pin Mặt trời lớn của Trung Quốc là Trina Solar và Suntech.  Perovskites quá nhạy cảm với không khí và độ ẩm nhưng điều này lại không phải là vấn đề. Các tấm pin thương mại được gói trong lớp bảo vệ bằng nhựa và kính. Một vấn đề phức tạp hơn nằm trong chính tinh thể của chúng. Trong một số trường hợp, các cấu trúc này thay đổi khi perovskite nóng lên, ảnh hưởng đến hiệu suất.  Các nhà nghiên cứu đang tập trung vào giải quyết vấn đề: tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Lausanne (EPFL), nhóm nghiên cứu của Michael Grätzel đã phát triển các cấu trúc với ba hoặc bốn điện tích dương ‘A’ trong cấu trúc ABX. Họ đã kết hợp các điện tích dương methylammonium và formamidinium với một số lượng nhỏ caesium và rubidium. Sự kết hợp này đã ngăn cấu trúc thay đổi do nhiệt độ và độ âm khi sử dụng các cation đơn.  Một vấn đề khác là khi ánh sáng Mặt trời chiếu lên các tinh thể perovskite, các điện tích âm ‘X’ có thể bắt đầu chuyển động quanh cấu trúc này. Có thể xảy ra điều đó nếu có bất kỳ khoảng trống nào nơi có các anion, bắt đầu dẫn đến một chuỗi các sự kiện có thể thay đổi thành phần và hiệu suất của tinh thể hoặc dẫn đến một thiết bị hỏng. Phần lớn các công nghệ pin Mặt trời đều có một tỉ lệ rủi ro nhất định trong hiệu suất, Kurtz cho biết. “Với perovskite, điều đó còn lớn hơn.”  Phần lớn các công ty về perovskite vẫn chưa công khai hiệu quả ổn định của các pin perovskite mà họ phát triển nhưng họ nói rằng mình theo sát các tiêu chuẩn đã được thiết lập cho các tấm pin silicon, do Hội đồng Kỹ thuật điện quốc tế (IEC) tại Geneva, Thụy Sĩ. Tiêu chuẩn mang tên IEC 61215 này bao gồm các kiểm tra trong nhà với các bộ module trong mức nhiệt 85 °C trong vòng 1.000 giờ và độ âm 85%. Các tấm pin này còn phải ở trong điều kiện nhiệt độ xoay vòng từ  âm 40 °C đến 90 °C tới 100 lần, thậm chí bị mưa đá bắn phá.  Nếu một tấm pin silicon vẫn hoạt động sau các test thử đó, nó có cơ hội tồn tại 25 năm trong điều kiện thời tiết điển hình như vậy. Nhưng do perovskite hoàn toàn khác biệt với silicon, chúng có thể vẫn thất bại trong thế giới thực, dù vượt qua được đầy đủ các phép thử. Ví dụ các module của  Microquanta từng vượt qua các tiêu chuẩn của IEC 61215, Buyi Yan, phó chủ tịch công ty cho biết nhưng với các thử nghiệm bên ngoài ở Hàng Châu cho thấy những sản phẩm này bị giảm chất lượng tới 80% hiệu suất ban đầu trong 1 đến 2 năm. “So sánh vòng đời 25 đến 30 năm của các tấm pin silicon thì đây thực sự là một thua kém lớn,” ông nói.   Các bộ module nhiều tầng của Oxford PV cũng vượt qua các kiểm tra tiêu chuẩn IEC 61215, Case cho biết. “Điều đó có nghĩa là nó sẽ hoạt động tốt trong 25 năm chăng?” ông hỏi và chỉ vào một module gần nhất. “Không ai có thể biết được. Tất cả đều là một chỉ dấu dài hạn nhưng điều đó vẫn không đủ.”  Một chướng ngại khác cho các tấm pin perovskite là chứa chì, một kim loại độc. Các nhà nghiên cứu đều cố gắng có các giải pháp như thiếc nhưng hiệu suất suy giảm. Một phân tích vòng đời các tấm pin nhiều tầng của Oxford PV cho thấy một lượng chì nhỏ trong các tấm pin này chỉ tác động đến môi trường nếu chúng bị rò rỉ và các tấm pin silicon có tác động đến môi trường còn tệ hơn do những nguồn nguyên liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất.    Nhà nghiên cứu Michael Grätzel (EPFL) tới thăm mội địa điểm thử nghiệm pin perovskite ở Ngạc Châu, Trung Quốc. Nguồn: Wonder Solar.  Tuy vậy, các công ty perovskite đều hi vọng sản phẩm của mình sẽ làm giảm giá thành đầu tư của điện Mặt trời, đây là vấn đề khác: các tấm pin silicon đã rất rẻ và giá thành đang được giảm xuống. “Dù không cần đến cả đột phá về công nghệ thì lĩnh vực điện Mặt trời vẫn có nhiều sức hút hơn trước đây”, Jenny Chase, người phụ trách bộ phận phân tích điện Mặt trời của BloombergNEF ở Zurich, Thụy Sĩ nói. “Công nghệ silicon tinh thể đã đủ tốt và khó để đánh bại. Perovskites cuối cùng phải giảm đi vài cent giá thành mỗi số điện nhưng hiện nay chúng chưa được như chúng ta chờ đợi.”  Case không đồng ý. Các bộ module nhiều tầng của công ty ông sẽ chỉ cao hơn silicon một vài giá nhưng hiệu suất chuyển đổi năng lượng lớn hơn sẽ làm giảm giá thành tạo ra năng lượng Mặt trời vào khoảng 17 đến 23% trong một vài năm tới. Tháng 3/2019, Oxford PV nhận được 31 triệu bảng (39 triệu USD) từ nhiều công ty đầu tư vào, trong đó có nhà sản xuất turbine Trung Quốc Goldwind.  Tuy nhiên phần lớn các nhà chuyên sản xuất module perovskite cho biết họ không chờ đợi gia nhập dòng chủ lưu của thị trường pin Mặt trời bởi tập trung vào các màng nhẹ. Saule muốn bán các tấm màng pin Mặt trời có lớp perovskite vào năm 2021, và Sekisui Chemical của Nhật Bản, công ty giữ bằng sáng chế thứ hai thế giới sau Oxford PV đang lập kế hoạch bán các tấm pin dễ sử dụng vào năm 2020.  Một số công ty đã sẵn sàng nhảy vào thị trường perovskite. Công ty đa quốc gia Fujifilm là người đứng thứ ba thế giới về các tấm bằng sáng chế pin perovskite. Nhưng sau khi đã thực hiện các nghiên cứu cơ bản về pin perovskite, vẫn còn cả chặng đường dài để phát triển các tấm pin hoặc các vật liệu tạo ra chúng, Shohei Kawasaki – người phát ngôn của công ty cho biết. Chặng đường này có nhiều rủi ro, ví dụ nhà phát triển perovskite GreatCell Solar đã thất bại trong việc thu hút vốn đầu tư để xây dựng cơ sở sản xuất mẫu thử, cho dù liên minh với một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về pin Mặt trời là JinkoSolar ở Thượng Hải, Trung Quốc.  Không dễ để hưởng lợi ích từ pin perovskite. Grätzel, người đã ghé thăm địa điểm thử nghiệm của công ty WonderSolar của Trung Quốc ở Ngạc Châu vào mùa hè 2019 kể lại những gì ông chứng kiến: nhiệt độ bên ngoài là 28°C nhưng nhiệt độ trên các tấm pin là 70°C “tôi đổ mồ hôi và các tấm pin cũng vậy”, ông nói một cách hài hước. “Hãy để chúng tôi xem cuối cùng giá của nó như thế nào”. □  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01985-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc  dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu      Trong khi dư luận quần ch&#250;ng, c&#249;ng c&#225;c k&#234;nh th&#244;ng tin v&#224; truyền th&#244;ng ở phương T&#226;y lại kh&#244;ng ngớt lời ca ngợi những c&#225;i hay, c&#225;i giỏi của đất nước n&#224;y về mọi mặt th&#236; hai t&#225;c giả Pierre Cohen v&#224; Luc Richard xuất th&#226;n l&#224; nh&#224; b&#225;o v&#224; nh&#224; văn đ&#227; từng sống ở Trung Quốc v&#224; biết&nbsp;tiếng quan thoại, hiểu biết rộng về kinh tế, với cặp mắt quan s&#225;t sắc sảo của m&#236;nh, họ đ&#227; đi v&#224;o từng ng&#243;c ng&#225;ch của đời sống x&#227; hội Trung Quốc để t&#236;m hiểu một thực tế v&#244; c&#249;ng tế nhị v&#224; phức tạp để viết một cuốn &#171;La Chine sera-t-elle notre cauchemar?&#187; (Ed. Mille et Une Nuit &#8211; Paris 2005, t&#225;i bản 5-2008) đầy ắp th&#244;ng tin v&#224; d&#224;y c&#244;ng ph&#226;n t&#237;ch nhằm chỉ ra những khuyết tật trong m&#244; h&#236;nh ph&#225;t triển hiện nay của Trung Quốc.        Người ta có thể nghĩ rằng, trước hết hai tác giả này muốn nói lên một sự thật, một thực tế, mà trong nhiều năm ở phương Tây, báo chí, cùng các cơ quan truyền thông và một số người có chức quyền vẫn cố tình che giấu, hoặc tô hồng, vì dẫu sao, người ta cũng cần cái thị trường khổng lồ này trong một nền kinh tế toàn cầu hoá.  Cũng có thể, do một bản năng tự nhiên, hay một tinh thần dân tộc chủ nghĩa nào đó, các tác giả muốn vạch ra những yếu kém của mô hình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, để cảnh báo các xã hội phương Tây.   Cũng có thể, họ còn có một tầm nhìn rộng hơn nữa, một tầm nhìn có tính chất chiến lược, ở qui mô toàn cầu.   Nhưng cũng có thể, đó chỉ là do một sự thôi thúc nội tâm có tính chất đạo lý, vì sự thật, vì hạnh phúc của con người, và tương lai chung của cả loài người?  Tác phẩm được viết như một thiên phóng sự, một nhân chứng. Nó không chỉ nêu lên những hoàn cảnh cụ thể, có thật, nói lên những điều mà những con số thống kê không thể nói lên hết được, mà còn truyền được tới người đọc một dòng suy nghĩ, một nỗi lo âu, một lời cảnh báo.                     1/ Nạn thất nghiệp ở thành thị   Từ những năm 90 của thế kỷ trước, với những bước đầu của quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh TQ bị dẹp bỏ, nhường chỗ cho các xí nghiệp tư nhân. Hàng triệu công nhân bị sa thải. Năm 1998, chỉ riêng trong khâu dệt may, có 660.000 người bị rơi vào hoàn cảnh này; trong lãnh vực dầu khí, 1 triệu người. Các nhà máy cũ nhường chỗ cho các nhà máy mới do nước ngoài đầu tư xây dựng. Công nhân quá 35 tuổi không được nhận vào xưởng làm việc nữa. Một ngày công không phải là 8, 9 giờ, mà là 11, 12 giờ. Công nhân bị sa thải được gọi là xiagang (« hạ cương», từ được tạo ra để làm nhẹ bớt cái ý bị đuổi việc – cương đây là cương vị).  Chủ trương dẹp bỏ các xí nghiệp quốc doanh thực ra đã bắt đầu được thực hiện ngay từ những năm 80 và do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý. Sự kiện này diễn ra cùng một lúc với việc Đặng Tiểu Bình cho thực hiện chính sách phân quyền về các địa phương. Cũng là một công đôi việc, tránh cho Trung ương khỏi mang tiếng! Nhưng cũng từ đó, nạn tham nhũng lan tràn về các địa phương.  Theo một cuộc điều tra gần đây của Nhà nước, thu nhập bình quân của những người giàu có nhất ở thành thị, lớn hơn gấp 12 lần thu nhập của những người nghèo; 10% nhà có của ở thành thị, chiếm 45% tổng số tài sản, trong khi 10% những người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% số tài sản này.   Ở các thành phố lớn vùng đông-bắc, nạn thất nghiệp chiếm từ 20 % tới 30% dân số. Ở Phong Đô, một thành phố mới được xây dựng lại một cách rất hoành tráng ở bờ nam sông Dương Tử, gần đập thuỷ điện Tam Hiệp, tỷ lệ này lên tới 60, 70%, vì trên thực tế, đây là một thành phố chết, hoàn toàn thiếu vắng mọi hoạt động kinh tế.  50 năm sau «Bước nhảy vọt» (1958) – một sai lầm về đường lối công nghiệp hoá, đã khiến hàng mấy chục triệu nông dân bị chết oan (nạn đói những năm 1959-1961) – các nhà lãnh đạo địa phương Trung Quốc vẫn còn nghĩ rằng, chỉ cần hô hào, động viên bằng lời nói, là có ngay những người hăng hái đầu tư.            Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương Tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6USD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !           Vấn đề thất nghiệp được tóm gọn lại trong một phương trình đơn giản: năm 2004, số người thất nghiệp là 14 triệu, thêm vào đó là 10 triệu người từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống hàng năm (Năm 2005, con số này lên đến 13 triệu người). Để đáp ứng nhu cầu, phải cung cấp 24 triệu công ăn việc làm cho những người này, điều mà cho đến nay các giới hữu trách mới chỉ bảo đảm được có một phần ba mà thôi.  Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !   2/  Nạn thất nghiệp ở nông thôn (mingong = «dân công» , từ mới để chỉ những người thất nghiệp từ nông thôn đổ lên thành thị kiếm sống, và thường tụ tập ở các chợ lao động («chợ người»), hay ngay trên hè phố – từ này khác với từ dân công trong tiếng Việt, được dùng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam) :  Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân, tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti.  Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990, không thấy người ta bàn bạc, đả động gì đến nông thôn nữa, mà chỉ chú trọng đến sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và đương nhiên là đến quá trình toàn cầu hoá.  Năm 2004, người ta được thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn: dưới 75USD/người/năm), lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân.  Một vài thí dụ cho thấy sự nghèo khổ tột cùng của họ. Một cậu học sinh trung học ở một huyện lị kia, vì không có tiền để trả tiền học, đã lao mình xuống gầm xe lửa tự tử. Trước đó một hôm, ông đốc trường đã không cho phép cậu thi lên lớp, và bảo rằng : « Không có tiền, không được học ».  Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình.  Như vậy, là sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp : thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan.            Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.           Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.   Nếu tính theo tiêu chuẩn đầu người, mỗi nông dân phải có được 0,66 ha đất nông nghiệp mới có thể làm ăn sinh sống được ở nông thôn. Con tính đơn giản này cho thấy nông thôn Trung Quốc thừa 170 triệu người. Thừa người ở nông thôn, thì người ta chỉ còn cách kéo nhau lên thành thị làm dân công.  Dân công không phải là một người vừa là nông dân, vừa là công nhân. Họ không là gì cụ thể cả. Họ không phải là nông dân, mà cũng không phải là công nhân. Họ làm công nhật,  không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, hôm trước hôm sau có thể bị đuổi, mà không kêu ca được với ai. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề (danh sách các nghề bị cấm năm 1996, tại Bắc Kinh, là 15 nghề, đến năm 2000 con số này lên tới hơn 100) . Một ngày lao động của họ có khi là 10, 12 tiếng , có khi là 15 tiếng. Họ không có quyền hưởng luật lao động. Một dân công muốn có được một chỗ làm việc, phải « mua » các giấy tờ, thủ tục hành chính, với giá 640 nhân dân tệ, bằng 2 tháng lương. Chế độ « hộ khẩu » được áp dụng chặt chẽ đối với họ.  Mặc dầu vậy, với giá nhân công rẻ mạt, họ đã « được » khai thác có hiệu quả trong các ngành công nghệ xuất khẩu, nơi mà TQ phá kỷ lục về giá thành sản phẩm.            Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800 nhân dân tệ (80Eu ro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.          Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800nhân dân tệ (80Euro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.   Nhà nước TQ dự kiến, trong vòng 20 năm,  giảm số nông dân xuống chỉ còn 30% số người lao động của cả nước. Dự kiến này xem ra không thực tế lắm, vì nếu như vậy thì phải chấp nhận hàng năm sẽ có tới 26 triệu nông dân kéo nhau lên thành thị sinh sống, trong khi lúc này chỉ có từ 10 đến 13 triệu. Dẫu sao, dòng thác dân công – mà người ta ước lượng khoảng từ 150 đến 200 triệu – vẫn sẽ đổ vào các thành thị, và giá nhân công nhờ đó sẽ giữ được ngày một rẻ.  Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại bởi những xí nghiệp, nhà máy, được di dời về đây. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.     3/ Số phận của những người nữ dân công                   Ở Trung Quốc, những nơi phải sắp xếp, tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh bị dẹp bỏ, phụ nữ là những người đầu tiên bị sa thải hoặc di chuyển. Trong các ngành kỹ nghệ, điều kiện làm việc của những người nữ dân công còn tồi tệ hơn là của nam dân công nhiều. Không lấy gì làm lạ, là sau một thời gian, một số không nhỏ các nữ dân công đã phải bỏ đi làm gái điếm.  Hiện tượng mãi dâm của các cô gái từ nông thôn lên thành thị , từ hơn 20 năm nay, đã trở nên một hiện tượng bình thường dưới mắt mọi người. Phần lớn các cô này đều đã trải qua một thời kỳ làm dân công. Quan hệ tình dục đã trở thành hàng hoá trao đổi, hoàn toàn phù hợp với tâm thức coi đồng tiền là quyền lực tối cao, coi cuộc đời là tiêu xài, hưởng thụ, con người là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với xã hội.  Nhiều người – trong đó có những khách du lịch rất nhiệt tình và hồ hởi – khi được viếng thăm các thành phố Trung Quốc, theo các tuyến « tua », cứ ngỡ rằng những biến đổi về mặt xã hội ở những nơi này cũng là những biến đổi chung cho cả đất nước Trung Hoa. Thật ra, không phải thế. Đó chỉ là cái mặt tiền.   Cuộc sống ở đô thị có thay đổi thật, người phụ nữ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn để học hành và làm việc, nhưng Trung Quốc chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Ở những vùng trung tâm, như Hồ Nam, An Huy, v.v., nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Vẫn những cuộc hôn nhân sắp đặt sẵn, cô dâu về nhà chồng rồi, liền bị cắt đứt liên hệ với gia đình nhà mình. Vẫn những vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em giữa vùng này và vùng khác. Vẫn cái truyền thống «  trọng con trai, khinh con gái ». Chính sách giới hạn « một con » của Nhà nước, khiến cho các cặp vợ chồng phải chọn lựa. Trên 7 triệu trường hợp phá thai mỗi năm, 70% là thai con gái. Vai trò của người mẹ, người vợ, trong nhiều gia đình nông dân đôi khi chỉ dừng lại ở vai trò của người hầu, người ở. Từ những năm 80, sau khi chế độ hợp tác xã bị dẹp bỏ, trở lại phương thức canh tác kiểu gia đình, vai trò của người phụ nữ lại càng bị chèn ép. Bắt đầu từ năm 1990, sự xuống cấp của các khâu giáo dục và y tế ở nông thôn càng làm cho họ bị thiệt thòi. Do sự phân biệt chọn lựa vì quyền lợi kinh tế giữa con trai và con gái, tỷ lệ thất học về phía nữ là 23% năm 1997 (49% năm 1982) ; về phía nam là 9% (21% năm 1982).             Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.             Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.         4/ Giáo dục bị « hy sinh » cho kinh tế   Ở thời đại ngày nay, biết đọc, biết viết không đủ, còn phải biết đôi chút khái niệm khoa học kỹ thuật, phải biết sinh ngữ, để có thể tiếp thu được những công nghệ nhập từ nước ngoài, v.v. Trên thực tế, nhà nước Trung Quốc đã không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Năm 2003, ngân quỹ dành cho giáo dục chỉ chiếm có 3,8% tổng sản lượng công nghiệp.  Ngay từ 1999, tại một Hội nghị của Bộ Giáo dục, một chủ trương đă được đề ra, là khuyến khích các gia đình tăng thêm ngân quỹ cho việc giáo dục con cái. Ý đồ là đi đến việc tư lập hoá các trường học. Ở các vùng nông thôn nghèo, các khoản chi phí cho việc học của con cái đối với các bậc cha mẹ lại càng lớn. Cũng bởi vì chỉ có 23% ngân sách giáo dục của nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.             Chỉ có 23% ngân sách giáo dục của Nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.          Trong một công trình nghiên cứu về gia đình người nông dân, Isabelle Attané, thuộc Trung tâm nghiên cứu dân số,  viết : « Trong một hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nhiều hơn là nhu cầu xã hội, thì những người dân nghèo khổ nhất, những người không được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, phải trả giá đắt nhất ».   Chính sách của Nhà nước về giáo dục như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách về trình độ văn hoá ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn (mức sống ở thành thị hiện nay cao gấp 6 lần mức sống ở nông thôn), cũng như giữa con trai và con gái (nạn thất học chiếm 6,6% giới trẻ ở nông thôn, trong đó có 3,6% là con trai, 10% là con gái).   Điều đáng lo ngại nhất, là giáo dục vốn được coi là một công cụ có khả năng đưa tầng lớp nông dân thoát khỏi nạn nghèo đói, thì nay lại không tới được với họ nữa. Theo Philippe Cohen và Luc Richard, họ vẫn chỉ là một kho dự trữ nhân công rẻ tiền– một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá.     5/ Khó khăn trong việc áp dụng luật pháp  Điều mà các nhà lãnh đạo TQ phải lo thực hiện trước tiên, là làm sao áp dụng được luật pháp, nói chung, trên đất nước mình ! Trong mọi lãnh vực, từ kinh tế, lao động, đến môi trường, có luật pháp là một chuyện (mặc dầu đôi khi luật pháp cũng còn rất mù mờ), nhưng áp dụng nó lại là một chuyện khác.  Chỉ cần lấy một thí dụ : công nghệ làm hàng lậu quy mô quốc tế, chẳng hạn. Người ta cho rằng hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của những quan chức địa phương mà thôi.  Các luật lao động thông thường cũng không áp dụng được giữa chủ và thợ, vì luôn luôn có sự can thiệp của chính quyền địa phương bênh vực quyền lợi của ngườI chủ, kẻ có tiền. Lương lậu của thợ thuyền, đặc biệt là của những người dân công, luôn luôn bị trả chậm.   Nhìn chung, ít nhất một nửa số nhân công làm việc trong các xí nghiệp ở quy mô quốc gia, không được hưởng luật pháp. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Đơn giản chỉ vì, nếu tất cả các xí nghiệp áp dụng luật lao động, thì Trung Quốc sẽ mất đi con chủ bài (nhân công rẻ) để cạnh tranh trên thị trường.  Trong lãnh vực môi trường cũng vậy. Sự áp dụng khe khắt các luật lệ về môi trường sẽ động chạm đến các quyền lợi kinh tế. Do đó, luật pháp trong lãnh vực này cũng được để lỏng lẻo, và tuỳ ở các cơ quan hữu trách địa phương có muốn áp dụng hay không. Trường hợp ô nhiễm ở sông Hoài, vùng Hồ Nam, An Huy, là một thí dụ điển hình. Năm 1994, chính quyền Trung ương hạ lệnh làm sạch con sông này, vì cả một vùng dân cư gồm 160 triệu dân bị ô nhiễm. Trên giấy tờ, hàng nghìn xưởng máy bị đóng cửa, di chuyển, hoặc cải tạo theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm. 60 tỉ nhân dân tệ đã được chi ra cho công việc này, nhưng cho đến nay con sông Hoài vẫn bị ô nhiễm hơn bao giờ hết. Đối với chính quyền, thì vấn đề như vậy là đã giải quyết xong rồi : sổ tiền 60 tỉ nhân dân tệ (6 tỉ Euro) đã được chi ra, và vấn đề đã được xoá sổ.  ***  Tác phẩm của Philippe Cohen và Luc Richard còn đề cập đến nhiều vấn đề khác nữa, liên quan đến tác hại của mô hình phát triển của Trung Quốc lên nền kinh tế toàn cầu. Song vì giới hạn của bài viết, chúng tôi đã chỉ tập trung trình bày những nhân chứng và nhận xét của các tác giả trên những vấn đề mà chúng tôi cho là liên quan trực tiếp đến Việt Nam, để chúng ta cùng suy nghĩ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thay đổi quỹ đạo Trái đất dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu thời cổ đại      Theo một nhóm các nhà khoa học quốc tế, những thay đổi trong quỹ đạo Trái đất khiến thời tiết nóng hơn và góp phần gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu cách đây 56 triệu năm, tương tự như biến đổi khí hậu hiện nay.    Các nhà nghiên cứu lấy mẫu lõi trầm tích gần Maryland. Nguồn: phys.org  “Cực đại nhiệt Cổ – Thủy Tân (Paleocene-Eocene – PETM) là giai đoạn gần giống nhất với những gì chúng ta đang trải qua hiện tại và có thể diễn ra trong tương lai về biến đổi khí hậu”, Lee Kump, giáo sư khoa học địa chất tại Đại học Penn State cho biết. “Công trình của chúng tôi giải quyết những câu hỏi quan trọng về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nóng lên và tốc độ phát thải carbon ở giai đoạn này”.  Các nhà khoa học đã phân tích các mẫu lõi trầm tích gần bờ biển Maryland bằng cách sử dụng kỹ thuật xác định niên đại của trầm tích (astrochronology) dựa trên các mô hình quỹ đạo xảy ra trong hàng chục đến hàng trăm nghìn năm, được gọi là chu kỳ Milankovitch.  Họ phát hiện hình dạng quỹ đạo của Trái đất (độ lệch tâm) và sự dao động trong quá trình quay (tuế sai), tạo điều kiện thuận lợi cho thời tiết nóng lên ở giai đoạn PETM, và các hình dạng quỹ đạo này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiện tượng nóng lên toàn cầu thời kỳ đó.  “Sự tác động của quỹ đạo Trái đất có thể dẫn đến giải phóng carbon, gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu trong PETM, trái ngược với cách giải thích phổ biến hiện nay là núi lửa khổng lồ đã giải phóng carbon và gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu”, Kump cho biết.  Những phát hiện này đã được công bố trên tạp chí Nature Communications, cũng chỉ ra sự khởi đầu của PETM kéo dài khoảng 6.000 năm, khác với ước tính trước đây từ vài năm đến hàng chục ngàn năm. Các nhà khoa học cho biết, việc xác định thời gian đóng vai trò rất quan trọng trong tìm hiểu về tốc độ carbon giải phóng vào khí quyển.  “Nghiên cứu này cho phép chúng tôi tinh chỉnh các mô hình chu trình carbon để hiểu rõ hơn về phản ứng của hành tinh trước sự giải phóng carbon trong giai đoạn này và thu hẹp các nguồn carbon tác động đến PETM”, Mingsong Li, Trợ lý giáo sư tại Trường Khoa học Trái đất và Không gian thuộc Đại học Bắc Kinh và là cựu Trợ lý giáo sư nghiên cứu về khoa học địa chất tại Đại học Penn State, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  Giai đoạn khởi đầu của PETM kéo dài 6000 năm, với ước tính khoảng 10.000 tỉ tấn carbon đã được giải phóng vào khí quyển dưới dạng khí nhà kính CO2 hoặc metan, cho thấy mỗi năm có khoảng 1,5 tỉ tấn carbon được giải phóng.  “Lượng phát thải này đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trên hành tinh hơn 56 triệu năm trước. Tuy nhiên, tốc độ phát thải carbon hiện tại còn cao hơn gấp 5-10 lần”, Kump cho biết.  Nhóm nghiên cứu đã phân tích chuỗi thời gian về hàm lượng canxi và độ nhạy từ tính trong lõi trầm tích – đại diện cho những thay đổi trong chu kỳ quỹ đạo và sử dụng thông tin đó để ước tính nhịp độ của PETM.  Sự thay đổi quỹ đạo Trái đất có thể tính toán do tương tác hấp dẫn với Mặt trời và các hành tinh khác trong hệ mặt trời. Những thay đổi này ảnh hưởng đến sự phân bố và lượng ánh sáng Mặt trời chiếu tới Trái đất, do vậy ảnh hưởng đến khí hậu.  “Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của các sinh vật trên cạn và dưới nước, lượng mưa, độ xói mòn trên các lục địa và lượng trầm tích đưa vào đại dương”, Kump cho biết.  Sự xói mòn ở các dòng sông Potomac và Susquehanna khi bắt đầu PETM có thể sánh ngang với dòng chảy của sông Amazon, mang trầm tích đến đại dương và lắng đọng trên thềm lục địa. Đây là sự hình thành lớp đất sét Marlboro, hiện nằm trong đất liền – một trong mẫu vật được bảo quản tốt nhất về PETM.  “Chúng tôi có thể phát triển lịch sử bằng cách nghiên cứu các lớp trầm tích và trích xuất các chu kì cụ thể đang tạo ra câu chuyện này, giống như bạn có thể trích xuất từng nốt nhạc trong một bài hát”, Kump nhận xét. “Tất nhiên, một số bản ghi bị bóp méo và có khoảng trống – nhưng chúng tôi có thể sử dụng các phương pháp thống kê tương tự với những phương pháp trong các ứng dụng tìm bài hát”.  Thanh An lược dịch  Nguồn: Changes in Earth’s orbit may have triggered ancient warming event    Author                .        
__label__tiasang Sự thay đổi quỹ đạo Trái đất dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu thời cổ đại      Theo một nhóm các nhà khoa học quốc tế, những thay đổi trong quỹ đạo Trái đất khiến thời tiết nóng hơn và góp phần gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu cách đây 56 triệu năm, tương tự như biến đổi khí hậu hiện nay.    Các nhà nghiên cứu lấy mẫu lõi trầm tích gần Maryland. Nguồn: phys.org  “Cực đại nhiệt Cổ – Thủy Tân (Paleocene-Eocene – PETM) là giai đoạn gần giống nhất với những gì chúng ta đang trải qua hiện tại và có thể diễn ra trong tương lai về biến đổi khí hậu”, Lee Kump, giáo sư khoa học địa chất tại Đại học Penn State cho biết. “Công trình của chúng tôi giải quyết những câu hỏi quan trọng về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nóng lên và tốc độ phát thải carbon ở giai đoạn này”.  Các nhà khoa học đã phân tích các mẫu lõi trầm tích gần bờ biển Maryland bằng cách sử dụng kỹ thuật xác định niên đại của trầm tích (astrochronology) dựa trên các mô hình quỹ đạo xảy ra trong hàng chục đến hàng trăm nghìn năm, được gọi là chu kỳ Milankovitch.  Họ phát hiện hình dạng quỹ đạo của Trái đất (độ lệch tâm) và sự dao động trong quá trình quay (tuế sai), tạo điều kiện thuận lợi cho thời tiết nóng lên ở giai đoạn PETM, và các hình dạng quỹ đạo này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiện tượng nóng lên toàn cầu thời kỳ đó.  “Sự tác động của quỹ đạo Trái đất có thể dẫn đến giải phóng carbon, gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu trong PETM, trái ngược với cách giải thích phổ biến hiện nay là núi lửa khổng lồ đã giải phóng carbon và gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu”, Kump cho biết.  Những phát hiện này đã được công bố trên tạp chí Nature Communications, cũng chỉ ra sự khởi đầu của PETM kéo dài khoảng 6.000 năm, khác với ước tính trước đây từ vài năm đến hàng chục ngàn năm. Các nhà khoa học cho biết, việc xác định thời gian đóng vai trò rất quan trọng trong tìm hiểu về tốc độ carbon giải phóng vào khí quyển.  “Nghiên cứu này cho phép chúng tôi tinh chỉnh các mô hình chu trình carbon để hiểu rõ hơn về phản ứng của hành tinh trước sự giải phóng carbon trong giai đoạn này và thu hẹp các nguồn carbon tác động đến PETM”, Mingsong Li, Trợ lý giáo sư tại Trường Khoa học Trái đất và Không gian thuộc Đại học Bắc Kinh và là cựu Trợ lý giáo sư nghiên cứu về khoa học địa chất tại Đại học Penn State, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  Giai đoạn khởi đầu của PETM kéo dài 6000 năm, với ước tính khoảng 10.000 tỉ tấn carbon đã được giải phóng vào khí quyển dưới dạng khí nhà kính CO2 hoặc metan, cho thấy mỗi năm có khoảng 1,5 tỉ tấn carbon được giải phóng.  “Lượng phát thải này đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trên hành tinh hơn 56 triệu năm trước. Tuy nhiên, tốc độ phát thải carbon hiện tại còn cao hơn gấp 5-10 lần”, Kump cho biết.  Nhóm nghiên cứu đã phân tích chuỗi thời gian về hàm lượng canxi và độ nhạy từ tính trong lõi trầm tích – đại diện cho những thay đổi trong chu kỳ quỹ đạo và sử dụng thông tin đó để ước tính nhịp độ của PETM.  Sự thay đổi quỹ đạo Trái đất có thể tính toán do tương tác hấp dẫn với Mặt trời và các hành tinh khác trong hệ mặt trời. Những thay đổi này ảnh hưởng đến sự phân bố và lượng ánh sáng Mặt trời chiếu tới Trái đất, do vậy ảnh hưởng đến khí hậu.  “Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của các sinh vật trên cạn và dưới nước, lượng mưa, độ xói mòn trên các lục địa và lượng trầm tích đưa vào đại dương”, Kump cho biết.  Sự xói mòn ở các dòng sông Potomac và Susquehanna khi bắt đầu PETM có thể sánh ngang với dòng chảy của sông Amazon, mang trầm tích đến đại dương và lắng đọng trên thềm lục địa. Đây là sự hình thành lớp đất sét Marlboro, hiện nằm trong đất liền – một trong mẫu vật được bảo quản tốt nhất về PETM.  “Chúng tôi có thể phát triển lịch sử bằng cách nghiên cứu các lớp trầm tích và trích xuất các chu kì cụ thể đang tạo ra câu chuyện này, giống như bạn có thể trích xuất từng nốt nhạc trong một bài hát”, Kump nhận xét. “Tất nhiên, một số bản ghi bị bóp méo và có khoảng trống – nhưng chúng tôi có thể sử dụng các phương pháp thống kê tương tự với những phương pháp trong các ứng dụng tìm bài hát”.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-12-earth-orbit-triggered-ancient-event.html    Author                .        
__label__tiasang Sự thịnh vượng thực sự của một quốc gia      Nếu so sánh về tổng sản phẩm quốc nội (BIP) thì đến năm 2030 Trung quốc sẽ vượt Hoa kỳ về kinh tế, đây là điều ở đâu cũng đề cập. Nhưng BIP lại không phản ảnh đầy đủ sức mạnh kinh tế của một quốc gia. Vì vậy các nhà khoa học của Liên hiệp quốc đề xuất một chỉ số mới. Và nếu theo chỉ số này thì diện mạo thế giới có phần khác trước ít nhiều.                        Sản xuất dầu mỏ ở Nga. Nga là nước rất giầu tài nguyên thiên nhiên    Nga có nguồn tài nguyên thiên   nhiên phong phú nhất  (tính theo một   nghìn tỷ đôla)          1      Nga      6,9          2      USA      6,6          3      Trung quốc      5,0          4      Kanađa      3,5          5      Ả rập Saudi      2,7          6      Australia      1,8                  Ngay từ năm 1776  Adam Smith đã giới thiệu cuốn sách của ông nhan đề „Sự thịnh vượng của một quốc gia“, trong cuốn sách này ông đã tìm hiểu tại sao một số nước thì giầu có và một số nước lại nghèo khổ. Nhưng trong một thời gian dài con người không biết làm sao có thể đo được sự thịnh vượng của một nước, ngoài việc thường dùng tổng sản phẩm quốc nội  (BIP) làm  chỉ báo cho sự giầu có của một đất nước, dù trong thực tế BIP chỉ có thể phản ảnh không đầy đủ về sự thịnh vượng của một quốc gia.  Chỉ báo mới khá bao quát về sự thịnh vượng  Được sự ủy nhiệm của LHQ các nhà khoa học đã giới thiệu một công trình nghiên cứu mới nhan đề („Inclusive Wealth Report 2012“) , quan niệm về thịnh vương. Trong công trình nghiên cứu các nhà khoa học đã xem xét sự thịnh vượng của một quốc gia trên ba yếu tố: chất lượng lực lượng lao động (vốn con người), hạ tầng cơ sở và bộ máy sản xuất (vốn thể chất hay là vốn sản xuất) và tài nguyên thiên nhiên như tài nguyên khoáng sản, đất đai, nguồn thủy sản vv… (vốn tự nhiên).  Các nhà khoa học đã nghiên cứu, xác định các yếu tố này trong một khoảng thời gian dài (từ 1990 đến 2008) , từ đó họ không những có thể biết, quốc gia nào  giầu có nhất và nguồn của cải đó cấu thành như thế nào mà còn biết về sự bền vững của nền kinh tế quốc gia đó –  đây cũng là mục đích công trình nghiên cứu của LHQ.  Tuy cho đến nay các nhà khoa học chỉ mới tiến hành nghiên cứu  đối với 20 quốc gia, nhưng 20 nước này là đại diện cho  các đối tượng quan trọng của nền kinh tế thế giới.          Thứ hạng      Nước      IWI tổng số*      IWI tăng   trưởng**      IWI tăng   trưởng/đầu người**          1      Hoa kỳ      117,8      1,7      0,7          2      Nhật bản      55,1      1,1      0,9          3      Trung quốc      20,0      2,9      2,1          4      Đức      19,5      2,1      1,8          5      Anh      13,4      1,3      0,9          6      Pháp      13,0      2,0      1,4          7      Kanađa      11,1      1,4      0,4          8      Nga      10,3      -0,5      -0,3          9      Brazin      7,4      2,3      0,9          10      Ấn độ      6,2      2,7      0,9          11      Australia      6,1      1,4      0,1          12      Ảrập Saudi      4,9      1,6      -1,1             * Inclusive Wealth Index (tổng   tài sản) nghìn tỷ US-đôla (konstant 2000)              ** bình quân hàng năm từ 1990 đến    2008 tính theo %          Trung quốc đứng ở hạng thứ ba hơn Đức chút ít   Không có gì ngạc nhiên khi Hoa kỳ – cũng như khi tính theo BIP – vẫn là nước giầu có nhất trên bảng xếp hạng. Tổng tài sản của Hoa kỳ đạt gần 118 nghìn tỷ đôla (so với mức giá năm 2010). Tức gấp khoảng 10 lần BIP mà Hoa kỳ tạo ra được trong năm nay.    Nhưng tiếp đó là một bất ngờ lớn. Xếp ở vị trí thứ hai không phải là Trung quốc như trong danh sách xếp hạng theo  BIP mà là Nhật bản, sức mạnh kinh tế của Nhật chỉ bằng một nửa so với Hoa kỳ. Năm  2008 theo chỉ số thịnh vượng thì Nhật bản giầu hơn Trung quốc gần  2,8 lần, sức mạnh kinh tế của TQ đạt khoảng  20 nghìn tỷ đôla.  Vì vậy Trung quốc sẽ còn mất một số năm, thậm chí hàng chục năm để có thể đuổi kịp Nhật bản. Và sẽ còn mất nhiều thời gian hơn nữa TQ mới có thể đuổi kịp Hoa kỳ, nước giầu có hơn TQ gấp sáu lần. Nhưng nếu tính theo BIP thì hiện tại TQ đã bằng một nửa Hoa kỳ.    Nước Đức đứng hàng thứ tư, sát  với Trung quốc, tổng tài sản của Đức trị giá  19,5 nghìn tỷ đôla.  Bất ngờ về sự thịnh vượng khi tính theo đầu người             Học sinh ở Nhật bản. Kết quả học tập của học sinh Nhật nói lên nhiều điều        Nghiên cứu của các nhà khoa học LHQ cho thấy nếu tính sự thịnh vượng theo đầu người thì sẽ có những kết quả hết sức bất ngờ. Trong khi thu nhập theo đầu người của Hoa kỳ cao hơn Nhật bản tới 40% (tính theo BIP), nhưng nếu tính theo vốn sản xuất, vốn con người và vốn tự nhiên theo đầu người thì  Nhật bản đạt 435.000 đôla/người, cao hơn Hoa kỳ một phần tám.          Xếp hạng      Nước      IWI/đầu người*          1      Nhật bản      435          2      Hoa kỳ      386          3      Kanađa      331          4      Na uy      328          5      Australia      284          6      Đức      236          7      Anh      219          8      Pháp      209          9      Ảrập Saudi      189          10      Venezuela      110          * 2008, tính theo nghìn đôla          Nguyên nhân: Vốn vật chất của Nhật bản, các cơ sở sản xuất, nhà xưởng, hạ tầng cơ sở cao hơn hẳn so với Hoa kỳ khoảng 60%.  Tính theo đầu người thì Đức cũng chỉ bằng một nửa so với Nhật.       Những nước thúc đẩy tăng trưởng  Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học thì trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2008 ở tất cả các nước sự thịnh vượng đều tăng lên, có nghĩa là vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất đều tăng, riêng nước Nga là ngoại lệ duy nhất. Theo nghiên cứu này, nền kinh tế Nga không phát triển theo hướng bền vững, nước Nga không có khả năng bảo đảm cho các thế hệ tương lai mức tiêu dùng như hiện nay.    Mức tăng trưởng thịnh vượng ở Trung quốc và Ấn độ là cao nhất, đạt  2,9 % và 2,7%, còn  Brazin, nước thứ ba trong số các quốc gia Bric cũng đạt mức tăng trưởng hàng năm là  2,3%. Theo thuyết-Bric của nhà kinh tế trưởng của  Goldman-Sachs Jim O’Neill thì có bốn nước là Brazin, Nga, Ấn độ và Trung quốc tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới trong những thập niên tới do sự phát triển kinh tế rất năng động của các nước này và do dân số các nước này khá lớn.  Nhưng giờ đây có sự nghi ngờ về việc xếp nước Nga vào cùng nhóm mới nổi này do nền tảng sản xuất của nước này đang bị xói mòn, có xu hướng tụt hậu và như thế đồng nghĩa với việc Nga sẽ bị loại ra khỏi nhóm các nước thúc đẩy nền kinh tế thế giới.  Chỉ số phát triển thịnh vượng tính theo đầu người có tính thuyết phục cao đối với mọi người. Nếu theo chỉ số này thì TQ cũng đứng ở vị trí số 1 với mức tăng trưởng hàng năm đạt 2,1% . Đức đạt  1,8% sát  nút với TQ. Ấn độ đứng ở vị trí thứ năm sau Pháp và Chi lê với mức tăng trưởng chỉ già nửa của Đức.  Nga với số dân ngày càng teo lại, mỗi năm giảm 0,3% đứng ở vị trí thứ ba từ dưới lên.  Các nước như Kolumbia, Nam Phi, Venezuela và các quốc gia dầu mỏ như  Nigeria và Ảrập Saudi cũng tụt xuống âm nếu tính theo đầu người.  Điều này có nghĩa là tăng trưởng thịnh vượng của các nước này không kịp với đà tăng trưởng dân số nên bị thâm hụt và có thể kết luận sự phát triển ở các nước này là thiếu bền vững. Tính theo đầu người thì Ả rập Saudi mức độ thịnh vượng mỗi năm bị giảm  1,1% ở  Nigeria là  1,9 %, đây là mức thâm hụt thịnh vượng lớn nhất mà những nước này phải gánh chịu.            Vốn sản xuất tính theo đầu   người, Đức ở vị trí thứ năm,  (tính theo một nghìn đôla)          1      Nhật bản      118          2      Na uy      90          3      Hoa kỳ      73          4      Australia      67          5      Đức      59          6      Pháp      51          Ở các nước phát triển vốn con người có tác dụng chủ yếu trong việc thúc đẩy tăng trưởng thịnh vượng. Vốn con người của Đức tăng 50% trong thời gian từ 1990 đến 2008.  Ở các nước có mức thu nhập loại trung bình như Trung quốc và Ấn độ thì vốn vật chất đóng góp nhiều nhất vào việc tạo nên tăng trưởng thịnh vượng. (Vốn con người và vốn vật chất sở dĩ có  ý nghĩa lớn vì vốn tự nhiên là hữu hạn và chỉ có thể tái tạo để bổ sung ở một mức độ nhất định).   Đối với Nga sự thịnh vượng bị giảm sút gần 40% trước hết là do sự xói mòn của nền tảng sản xuất.  Với một số quốc gia có nhiều dầu mỏ như  Venezuela, Ả rập  Saudi thì nguồn tài nguyên tự nhiên như dầu mỏ vẫn là bộ phận chủ yếu của sự thịnh vượng.  Thí dụ đối với Ả rập Saudi thì dầu mỏ và khí đốt vẫn tạo ra trên một nửa  sự giầu có của nước này, mặc dù nguồn dầu mỏ này trong 18 năm qua đã giảm đi 37 tỷ đôla. Thay vào đó vốn con người lại tăng lên gần một nghìn tỷ đôla.    Đối với Đức thì sự phồn vinh chủ yếu được tạo ra nhờ vốn con người, trong thời gian được xem xét vốn con người của Đức tăng gần  50% (vốn vật chất: tăng  44 %). Sự tăng lên này ở Hoa kỳ là 8%, Nhật bản 12  và Anh 14 %, thấp hơn nhiều so với Đức. Tuy nhiên mấy nước này ngay năm 1990 vốn con người đã đạt mức khá cao.   Phương án đo sự thịnh vượng của một quốc gia  Sau chiến tranh thế giới II thường năng lực kinh tế của một nước được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội đã được tạo ra (BIP). Đây là công cụ giúp nhà nước nhận biết được tình hình hoạt động kinh tế và sự tăng trưởng ở các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Do thiếu các dữ liệu khác nên  BIP/đầu người đã trở thành thước đo về sự thịnh vượng của một quốc gia.  Tuy nhiên BIP không bao quát được hết. Một mặt nó là một đại lượng dòng chảy, nó đo được khoản thu nhập hàng năm, tương tự như cách tính lãi, lỗ của doanh nghiệp. Nó không phải là một đại lượng cân đối và hoàn toàn không phản ánh tài sản của toàn xã hội. Hơn nữa, ngày nay điều mà mọi người đều phải thừa nhận  là tăng trưởng kinh tế không có nghĩa  sẽ tự động dẫn đến  sự cải thiện đời sống của người dân, vì một số yếu tố quan trọng như tiêu hao môi trường và các chi phí bên ngoài không được tính đến.  Chỉ số phát triển con người (Human Development Index (HDI)) cũng hay được sử dụng , chỉ số này bổ sung một số yếu tố như tuổi thọ và trình độ giáo dục,  tuy nhiên chỉ số này cũng không có tính bao quát vì không tính đến nguồn tài nguyên tự nhiên.  Liệu chỉ số mới về tổng tài sản xã hội (Inclusive Wealth Index, IWI) có được quốc tế thừa nhận và áp dụng rộng rãi hay không, thì còn phải chờ xem. Do khó tiếp cận được một số dữ liệu và có độ trễ về thời gian khi tiến hành điều tra nên có nhiều khả năng vấn đề này chỉ được áp dụng khi muốn tìm hiểu, xem xét vấn đề một cách lâu dài.  Ở khía cạnh này thì chỉ số mới hơn hẳn phương pháp tính theo BIP hiện nay  vì có tính đến yếu tố bền vững.  Có điều chắc chắn là các nhà khoa học của LHQ sẽ còn tiếp tục công bố những nghiên cứu tiếp theo của họ.  Xuân Hoài dịch (theo Wiwo 8.7)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự trở lại lặng lẽ của Microsoft      Doanh nghiệp phần mềm này đang hân hoan vui mừng về thành tựu đối với các giải pháp điện toán đám mây. Khác với các đối thủ cạnh tranh về công nghệ, tập đoàn chú trọng nhiều về quan hệ với các đối tác trong đó có cả các doanh nghiệp Đức.    Microsoft đã quay trở lại. Nhiều năm liền Microsoft, vốn là tập đoàn IT hàng đầu của Hoa kỳ, đi sau các đối thủ mới nổi cũng trong lĩnh vực này. Tuy nhiên hiện tại niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp có giá trị trên 850 tỷ đô la – và thậm chí đã qua mặt tập đoàn mẹ của Google, Alphabet.  Sự trở lại diễn ra khá lặng lẽ. Trong khi Google hay Amazon hùng hổ tấn công vào các thị trường mới để bành trướng thì ông Satya Nadella, Tổng giám đốc Microsoft, cùng các nhà quản lý hàng đầu của mình lại theo đuổi một chiến lược khác: “Điều quan trọng là: chúng tôi là đối tác của các doanh nghiệp chứ không phải là đối thủ cạnh tranh”, giám đốc tiêu thụ Jean-Philippe Courtois trả lời trong một cuộc phỏng vấn, “Chúng tôi không có ý định tấn công vào thị trường năng lượng, chế tạo ô tô hay tham gia tích cực vào việc buôn bán dược phẩm”.  Mới đây Microsoft cùng với Eon đã phát triển một hệ thống quản lý năng lượng mới. BMW hay Volkswagen, Shell và Walmart đều là đối tác công nghiệp của Microsoft, tại hội nghị giữa các chuyên gia phát triển mới đây Microsoft đã tự hào giới thiệu về Ignite.  Tập đoàn phần mềm với hệ điều hành Windows đã trở thành một gã khổng lồ toàn cầu có ý định tạo nền tảng cho thế giới mạng. “Vai trò của chúng tôi là cơ sở để các doanh nghiệp có điều kiện phát triển mô hình kinh doanh kỹ thuật số. Chỉ với những công việc đó chúng tôi cũng thả sức thu hoạch rồi”, Courtois giải thích, “Chúng tôi không nhất thiết phải tạo ra sản phẩm cho khách hàng cuối cùng”. Đây là một cú  “hích cùi chỏ” dành cho Amazon và Google, các tập đoàn này kinh doanh các cửa hàng online và phát triển xe ô tô tự lái.  Các chuyên gia phân tích tin vào con đường của Microsoft. Chậm nhất đến năm 2020 vốn hoá trên thị trường chứng khoán sẽ vượt mức nghìn tỷ đôla, Kirk Materne thuộc Evercore ISI tiên đoán. Có thể còn vượt cả Google.  Các giám đốc tiêu thụ vủa Microsoft và Eon, Jean-Philippe Courtois và Karsten Wildberger, nhận thấy tiềm năng to lớn trong việc số hoá thị trường năng lượng – và muốn cùng nhau chiếm lĩnh thị trường này. Sự hợp tác này là một ví dụ điển hình cho chiến lược bành trướng của tập đoànSoftware Hoa kỳ. Các quản lý cấp cao giải thích trong cuộc phỏng vấn vì sao cả hai bên đều hưởng lợi.  Cách đây hai tuần Microsoft đã tổ chức một trong những hội nghị lớn nhất thế giới dành cho các nhà phát triển và cho các chuyên gia IT. Tại hội nghị này vị chủ tịch tập đoàn Satya Nadella đã giới thiệu về “Microsoft Ignite” trước 30.000 người tham dự, ông cũng đã đề cập trong diễn văn khai mạc sự hợp tác với tập đoàn năng lượng Đức Eon.  Hai doanh nghiệp này đã phát triển một hệ thống quản lý năng lượng – một giải pháp về phần mềm, có thể điều khiển tập trung mọi nguồn sản xuất và tiêu thụ điện trong một toà nhà:từ lò suỏi, điều hoà nhiệt độ, máy giặt cho đến mái nhà điện mặt trời, pin tích điện và cả hệ thống nạp điện cho ô tô chạy điện.  Mấy ngày sau đó các vị trong ban lãnh đạo khâu tiêu thụ của cae Eon và Microsoft Karsten Wildberger và Jean-Philippe Courtois đã tiếp nhà báo của Handelsblatt tại và giải thích tại sao họ tin chắc sẽ có một sự đột phá về Smart Home và vì sao sự hợp tác này sẽ là mô hình thành công trong số hoá.    Eon và Microsoft là đối tác làm ăn, Karsten Wildberger (phải) giám đốc tiêu thụ của Eon và Jean-Philippe Courtois (trái) giám đốc tiêu thụ của Microsoft  Mời các bạn đọc toàn văn cuộc trả lời phỏng vấn của Jean-Philippe Courtois và Karsten Wildberger.  Thưa hai ông Courtois và Wildberger, xin hỏi nơi ở của hai ông đã là nhà thông minh chưa?  Wildberger: Tôi sống trong ngôi nhà đã 140 năm tuổi. Trong một số căn phòng thì nhiệt độ và ánh sáng đã được điều khiển bằng smartphone. Âm nhạc, phim và nội dung lấy từ đám mây tôi đã sử dụng từ nhiều năm nay. Trong năm tới dứt khoát tôi sẽ lắp đặt hệ thống năng lượng mới.  Courtois: Trong căn nhà của tôi có một số cảm biến, chúng có thể đo nhiệt độ. Home Entertainment thì tôi điều khiển bằng kỹ thuật số, xem phim và nghe nhạc tôi lấy từ smartphone. Tuy nhiên tôi chưa có một hệ thống quản lý năng lượng hoàn chỉnh.  Điều đó cho thấy các vị là điển hình cho hiện trạng thị trường nhà thông minh: Cho đến nay chưa có được sự đột phá. Vậy tại sao giờ lại cần có sự thay đổi?   Courtois: giờ đây cùng lúc đã diễn ra một số vấn đề. Thứ nhất người tiêu dùng ngày càng cởi mở hơn đối với các sản phẩm kỹ thuật số. Thứ hai đã có những tiến bộ về công nghệ như đám mây và Internet vạn vật. Thứ ba chúng tôi hy vọng sẽ có được một sú hích từ đối tác của mình. Eon có sự hiểu biết tốt nhất về quản lý năng lượng đối với toà nhà. Microsoft có chuyên môn về kỹ thuật, thí dụ đối với trí tuệ nhân tạo, nhờ đó Eon có thể đề xuất vấn đề này. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng, thời gian đã chín muồi.   Ngôi nhà tương lai sẽ có hình hài như thế nào?  Wildberger: Smart Home là một khái niệm rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Chúng tôi cung cấp những cái mà chúng tôi hiểu rõ và có thể làm tốt nhất: với hệ thống quản lý năng lượng khách hàng có thể từ một nguồn nắm bắt và điều khiển từ trung tâm mọi thiết bị liên quan đến tiêu thụ và sản xuất năng lượng, từ lò sưởi cho tới thiết bị điện mặt trời đặt trên mái nhà và hệ thống pin tích điện ở tầng hầm. Ngay cả ô tô điện cũng được tích hợp. Tôi nghĩ nay mai khi ai đó làm một ngôi nhà thì việc điều khiển mạng lưới năng lượng từ trung tâm sẽ là một tiêu chí không thể thiếu tương tự như hiện nay làm hệ thống sưởi trung tâm cho ngôi nhà vậy.  Làm thế nào để có thể thuyết phục khách hàng về các sản phẩm nhà thông minh? Thông qua sự tiết kiệm mà họ có thể thu được hay các tiện nghi?  Wildberger: tất nhiên với một hệ thống như vậy có thể đạt được cả hai: giảm chi phí năng lượng và tăng tiện nghi. Khía cạnh cảm xúc cũng rất quan trọng, con người muốn không bị phụ thuộc. Nhu cầu cao đối với hệ thống điện mặt trời hay hệ thống pin tích điện là một ví dụ. Nhiều hộ gia đình hiện nay đã tự làm ra điện. Giờ đây họ muốn có thể kiểm soát nhiều hơn, thí dụ điện đã được tiêu thụ như thế nào và vào lúc nào.  Thưa ông Microsoft có vai trò gì trong thị trường nhà thông minh? Ông có ý định dùng trợ lý Cortana để tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tương tự như Amazon với Alexa?   Courtois: Vai trò của chúng tôi là giúp các doanh nghiệp phát triển các mô hình kinh doanh kỹ thuật số. Điều đó cũng đủ để chúng tôi có thu nhập. Chúng tôi không bắt buộc phải làm ra sản phẩm dành cho khách hàng cuối cùng. Trong chiến lược doanh nghiệp hiện đại thì chuyển đổi kỹ thuật số đứng ở vị trí trung tâm. Doanh nghiệp nghiên cứu thị trường IDC ước tính: đến năm 2021 ít nhất một nửa giá trị gia tăng toàn cầu được số hoá, và đến 2020 sẽ có khoảng 60% doanh nghiệp triển khai chuyển đổi kỹ thuật số trên nền tảng chiến lược của doanh nghiệp.  Và với chiến lược đó Microsoft có thể có doanh thu?  Courtois: Chuyển đổi kỹ thuật số diễn ra trên nhiều cấp độ. Đầu tiên doanh nghiệp phải thu hút được sự tham gia của cán bộ nhân viên. Doanh nghiệp phải hướng văn hoá doanh nghiệp theo xu hướng đó. Thứ hai công tác tổ chức phải được số hoá, các quy trình phải trở thành số. Thứ ba là cải thiện hành trình của khách hàng, sự tiếp cận và phục vụ khách hang. Thư tư là phát triển các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số mới. Có nhiều lĩnh vực để Microsoft có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng kinh doanh kỹ thuật số với các sản phẩm của chúng tôi.  Không có ngành thứ hai nào như ngành năng lượng đang trong quá trình chuyển đổi. Vậy số hoá ở đây quan trọng như thế nào?  Wildberger: Chuyển đổi năng lượng không thể thiếu công nghệ. Việc tạo ra năng lượng sẽ ngày càng sạch hơn và phi tập trung hoá, đồng thời ngày càng có nhiều thiết bị cần có điện để hoạt động. Vấn đề quản lý sẽ ngày càng phức tạp hơn. Các hộ tư nhân sẽ tự tạo ra ngày càng nhiều điện hơn. Để sắp xếp bố trí hệ thống phi tập trung và thiếu ổn định này trong thời gian thực chúng ta cần phải có số hoá. Đồng thời cũng luôn xuất hiện các điều kiện mới về những gì mà người ta có thể làm với năng lượng. Xin các vị hãy nghĩ tới pin tích điện hay ô tô điện. Chúng ta sẽ làm cho chúng thông minh đến mức những người sở hữu chúng có thể tham gia vào thị trường điện.  Ông có đủ chuyên gia IT, những người thực sự am hiểu về trí tuệ nhân tạo?  Wildberger: Trong đội ngũ của chúng tôi có các nhà khoa học dữ liệu nắm bắt nhiều bí quyết – nhưng không tập đoàn nào có thể nói mình có đủ chuyên gia. Nhu cầu đối với chuyên gia ngày một tăng. Chính vì thế khâu đối tác rất quan trọng, chúng tôi không bao giờ cho rằng chúng tôi có thể làm mọi thứ. Sự hợp tác với doanh nghiệp phần mềm lớn nhất thế giới là một cơ hội tuyệt vời đối với chúng tôi. Chúng tôi có thể tận dụng khả năng của Microsoft, ví như đối với các dịch vụ điện toán đám mây hay vấn đề bảo mật. Sự hợp tác này cũng giúp chúng tôi mở rộng tầm mắt vượt ra khỏi lĩnh vực kinh doanh của mình vì Microsoft luôn tư duy toàn cầu.  Eon xử dụng nền tảng Microsoft Azure. VW mới đây cũng tuyên bố về một sự hợp tác. Thưa ông các đối tác có vai trò như thế nào về điện toán đám mây đối với Microsoft?  Courtois: chúng tôi muốn tạo điều kiện để các doanh nghiệp như Eon hay VW phát triển các mô hình kinh doanh mới. Chúng tôi tìm cách cùng học với khách hàng để tìm hiểu một ngành hoạt động như thế nào, và để rồi giới thiệu với họ các giải pháp tốt nhất.  Thưa ông, các hãng công nghệ khác như Amazon và Google thâm nhập các thị trường mới, để cạnh tranh với các doanh nghiệp đã trụ vững trên các thị trường đó. Như vậy là Microsoft đi một con đường khác?   Courtois: Cách đây ít năm ban lãnh đạo Microsoft đã có một quyết định rất rõ ràng: Microsoft là một doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp khác tiến hành thành công quá trình chuyển đổi số. Để đạt được điều đó chúng tôi đã đầu tư vào lĩnh vực này gần 15 tỷ đôla. Sự minh bạch, rõ ràng này giúp chúng tôi có quan hệ đối tác mạnh mẽ với khách hàng.   Ông không muốn cạnh tranh với khách hàng của mình – phải chăng điều này cũng có nghĩa các vị chỉ làm việc với một nhà cung cấp năng lượng?   Courtois: Eon có tầm nhìn và chiến lược rõ ràng về chuyển đổi kỹ thuật số, và chúng tôi muốn giúp tập đoàn này thực hiện điều đó. Liệu có các nhà cung cấp năng lượng khác cũng muốn làm điều này? Rất có thể – những doanh nghiệp này có thể làm cho thị trường phong phú hơn thông qua các ý tưởng và sức mạnh của họ. Điều quan trọng là: chúng tôi là đối tác của doanh nghiệp như Eon, không phải là đối thủ cạnh tranh. Chúng tôi không có ý định tấn công vào thị trường năng lượng, làm ô tô hay tích cực tham gia thị trường dược phẩm. Các đối tác của chúng tôi biết điều đó vì sao họ đến với chúng tôi.  Nhiều người lo lắng vì dữ liệu của họ – nhất là trong việc nối mạng  Wildberger: Bảo vệ dữ liệu và bảo mật dữ liệu là vấn đề trọng tâm! Khách hàng cần tin tưởng tối đa rằng dữ liệu của họ được bảo vệ. Khách hàng phải và sẽ giữ chủ quyền về dữ liệu của bản thân họ.  Thời gian gần đây Microsoft coi điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo là vấn đề trọng tâm. Điều này có ý nghĩa như thế nào với việc bán hàng?  Courtois: Hiện đang diễn ra một sự thay đổi mạnh mẽ và quá trình này chưa đến hồi kết. Sự thành công của khách hàng qua việc sử dụng dịch vụ của chúng tôi được coi là vấn đề trọng tâm – điều này hoàn toàn khác với việc vài năm chúng tôi lại bán một gói phần mềm cho khách hàng. Chúng tôi muốn liên tục làm ra tiền từ thành công mỗi ngày.  Xin ông cho một ví dụ?  Courtois: Ví dụ chúng tôi tạo ra một vai trò mới về kỹ thuật: một mặt cho các nhà phát triển, những người am hiểu về từng lĩnh vực, mặt khác cho những người chuyên môn hoá về những chủ đề kỹ thuật nhất định, như IoT hay trí tuệ nhân tạo. Chúng tôi cũng lập ra một đơn vị tổ chức mới, đó là Customer Success Unit. ở đây đội ngũ của chúng tôi làm việc rất mật thiết với khách hàng, để giúp họ khai thác tốt nhất những lợi ích khi họ xử dụng công nghệ của Microsoft. Thí dụ ở đây chúng tôi tổ chức các Hackathons, để cùng khách hàng phát triển các ý tưởng hoặc cùng nhau thúc đẩy các dự án cụ thể.  … có nghĩa là cùng nhau tập trung hành động đối với các dự án. Vậy thị trường năng lượng chỉ là một trong những hay là một thị trường đặc biệt?  Courtois: Đây là một thị trường hết sức sôi động. Ở đây hình thành nhiều nhu cầu mứi của khách hàng và các công nghệ mới để phục vụ các nhu cầu đó. Giờ đây khách hàng không chỉ tiêu thụ năng lượng, khách hàng còn có thể tự sản xuất ra năng lượng. Thậm chí khách hàng có thể bán số năng lượng dư thừa ra thị trường. Như thế có nghĩa là trên thị trường năng lượng xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh mới.  Thưa ông phải chăng điều này làm Eon đi đến quyết định chọn Microsoft?  Wildberger: Điều quan trọng trong mọi trường hợp là quan hệ đối tác trong làm ăn phải thể hiện ở một niềm tin chung và có một giá trị chung. Đối với chúng tôi điều luôn được chú ý là lợi ích khách hàng và sự an toàn đối với khách hàng. Một vấn đề cũng có vai trò nhất định là trong quan hệ đối tác cần có sự thực dụng và sự hợp tác phải diễn ra một cách đơn giản và thoải mái. Trong trường hợp của chúng tôi điều này đã diễn ra ngay từ đầu và ở mọi cấp độ. Ngoài ra quan hệ đối tác của chúng tôi còn có thêm tiềm năng thí dụ trong lĩnh vực về các giải pháp năng lượng cho khách hàng công nghiệp và khách hàng trong kinh doanh hoặc trong lĩnh vực kinh doanh mạng quan trọng của chúng tôi.  Và với Microsoft?  Courtois: Chúng tôi được lợi ở chỗ, trong ngành năng lượng Eon là ‚người tiếp nhận sớm dịch vụ đám mây và IoT của chúng tôi. Ngoài ra trong quá trình hợp tác này chúng tôi cũng học được nhiều về các thách thức toàn cầu đối với ngành năng lượng và cùng nhau tìm giải pháp để khắc phục các thách thức đó.  Thưa ông, những ngành nào được Microsoft còn coi là quan trọng?   Courtois: Chuyển đổi kỹ thuật số làm đảo lộn bất cứ ngành nào. Thí dụ ngành công nghiệp tài chính: hàng tuần chúng tôi đều có việc với nhà băng và hãng bảo hiểm lớn, thế giới của các hãng đó cũng đang thay đổi. Và tất nhiên cả lĩnh vực thương mại. Cách đây ít tháng chúng tôi đã tuyên bố về quan hệ đối tác lớn với Walmart, Amazon coi đây là một sự đe doạ. Chúng tôi giúp vào việc cung cấp hạ tầng kỹ thuật số và hoà mạng các chuỗi cung ứng, chúng tôi giúp cả về phát triển hệ thống thương mại điện tử, so với đối thủ cạnh tranh điều này hơn hẳn: chúng tôi giúp các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực trong quá trình chuyển đổi sự kinh doanh của họ.  Thưa ông, ông có những mục tiêu kinh tế gì đối với hệ thống quản lý năng lượng?   Wildberger: trong năm tới chúng tôi sẽ đưa sản phẩm ra thị trường Đức và Anh. Tôi chưa thể nói chi tiết vì chúng tôi đang trong giai đoạn lên kế hoạch. Nhưng nhu cầu về phi tập trung hoá việc tích điện và các cơ sở điện mặt trời ở châu Âu đang ngày càng tăng, chúng tôi muốn phục vụ các nhu cầu đó. Và đương nhiên chúng tôi muốn làm ăn có lời – chúng tôi thấy ở đây một mô hình làm ăn vững chắc.   Xin cảm hơn ông Courtois, ông Wildberger về cuộc phỏng vấn này.  Tiểu sử sơ lược về Karsten Wildberger 49 tuổi, từ tháng 4/2016 có mặt trong ban lãnh đạo của Eon. Wildberger chịu trách nhiệm về các lĩnh vực bán hang, giải pháp đối với khách hàng, phi tập trung hoá sản xuất, quản lý năng lượng, tiếp thị, chuyển đổi kỹ thuật số, sang tạo và IT. Ông từng học về vật lý, là người ngoại đạo khi làm việc cho Eon. Trước đó ông từng làm việc tại Telekom, Vodafone và cho Telstra Úc. Tiểu sử sơ bộ về Jean-Philippe Courtois 58 tuổi, bên cạnh CEO Satya Nadella ông có mặt trong Hội đồng quản trị tập đoàn Software. Ông chịu trách nhiệm về khâu bán hàng đối với 124 chi nhánh của tập đoàn trên toàn thế giới. Trong đó đám mây có vai trò quan trọng. Courtois bắt đầu sự nghiệp của mình từ năm 1984 tại Microsoft, năm 1994 ông lãnh đạo chi nhánh Microsoft ở Pháp sau đó trở thành giám đốc điều hành ở châu Âu.  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.handelsblatt.com/unternehmen/it-medien/softwarebranche-das-stille-comeback-von-microsoft-das-ist-die-neue-erfolgsformel-des-us-konzerns/23164364.html?ticket=ST-2700230-OhTbvqc1ZlirTjGPDVIN-ap5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự trỗi dậy của người máy: “Cuộc cách mạng vĩ đại nhất kể từ khi xuất hiện sự sống”      Nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng vĩ đại nhất kể từ khi trái đất bắt đầu xuất hiện sự sống – sự hòa quyện giữa trí tuệ nhân tạo với công nghệ sinh học có thể thay thế chọn lọc tự nhiên, con người sẽ đóng vai trò của Chúa trời, theo GS. Yuval Harari, tác giả của các cuốn sách Bestseller như “Lịch sử tóm tắt của nhân loại” , “Lịch sử tóm tắt của tương lai”.      Tuần kinh tế (WirtschaftsWoche): Thưa ông Harari, ông có viết một cuốn sách về quá khứ của loài người, giờ ông lại muốn đề cập đến tương lai của chúng ta. Chúng ta có thể vui mừng về những tiến bộ gì sắp tới trong lịch sử loài người?  Yuval Harari: Trong 1.000 năm qua con người chúng ta đã trải qua giai đoạn học hỏi làm sao để có thể chế ngự được tự nhiên, từ rừng núi, muông thú cho đến những dòng sông. Chúng ta từng bước, từng bước dùng sức mạnh của mình tác động vào môi trường sống chung quanh ta. Sự biến đổi lớn nhất trong thế kỷ 21 này sẽ là, chúng ta có thể kiểm soát cả thế giới ở trong bản thân chúng ta.  Nghĩa là trong tương lai sẽ có những nhà phân tâm học tài ba hơn?   Vấn đề còn lớn hơn nhiều. Hiện nay chúng ta náu mình trong cơ thể và bộ não “tự nhiên” gần như giống với tổ tiên chúng ta ở thời kỳ đồ đá cách đây 50.000 năm. Nhưng không lâu nữa chúng ta không chỉ làm ra những chiếc xe ô tô và quần áo ngày càng tốt hơn mà còn có thể tự làm ra cơ thể và bộ não mới và tốt hơn, thậm chí còn có thể tạo ra ý thức nhân tạo hoàn toàn mới. Đấy thật sự là một cuộc cách mạng vĩ đại nhất kể từ khi xuất hiện sự sống trên hành tinh của chúng ta.  Như vậy là sau bốn tỷ năm tiến hoá, chúng ta bước tới cái ngưỡng – từ đây, sự hòa quyện giữa trí tuệ nhân tạo với công nghệ sinh học có thể thay thế chọn lọc tự nhiên. Con người, Homo sapiens, tồn tại từ mười nghìn năm nay, sẽ biến mất trong thế kỷ này.  Nghĩa là chúng ta đóng vai trò của Chúa?   Đúng thế. Chúng ta tận dụng những tiến bộ trong công nghệ thông tin và công nghệ sinh học và tạo ra được một sự nâng cấp vĩ đại với tư cách là một loài (species). Thế hệ hậu sinh của sẽ khác biệt rất lớn so với chúng ta, tương tự như sự khác biệt giữa chúng ta với loài vượn vậy. Sau đó con người sẽ nỗ lực phấn đấu để có thể trở thành bất tử.  Điều này sẽ diễn ra như thế nào?  Chúng ta sẽ thiết kế lại cơ thể của mình. Vai trò của các nghiên cứu về quá trình tác động vào ADN là hết sức to lớn. Không lâu nữa chúng ta có thể rút ngắn quá trình tiến hoá kéo dài hàng triệu năm chỉ còn vài chục năm. Chúng ta có thể tạo ra bộ nhớ tuyệt vời, trí thông minh, thậm chí khả năng tình dục theo ý muốn của mình. Mà đó mới chỉ là những bước đi đầu tiên.  Những bước đi hơn thế nữa là gì?  Bước tiến triệt để hơn sẽ là kết nối giữa các bộ phận hữu cơ với bộ phận nhân tạo từ đó tạo ta đựơc cyborg (sinh vật cơ khí hóa). Khoa học đang nỗ lực tạo giao diện bộ não- máy tính. Khi tạo được sự đột phá thì chúng ta có thể tích hợp chân tay hay mắt và tai giả vào cơ thể và bộ não có thể điều khiển các bộ phận này như đối với các bộ phận tự nhiên của cơ thể. Lúc đó thì con người và máy móc sẽ là một thể thống nhất.  Những điều này nghe như tiểu thuyết khoa học viễn tưởng.  Các tập đoàn công nghệ lớn như Google, Apple hay Baidu ở Trung Quốc ngày càng biến thành các doanh nghiệp công nghệ sinh học nhiều hơn. Tất nhiên thật khó để có thể tiên đoán tương lai sẽ ra sao. Vẫn còn nhiều câu hỏi mà chúng ta cần giải đáp như: khi chúng ta dùng công nghệ mới, thí dụ như trí tuệ nhân tạo vì mục đích gì? Nhưng có một điều chúng ta không thể làm, đó là cản trở hoặc đảo ngược xu hướng biến đổi của công nghệ.      Từ đây, sự hoà quyện giữa trí tuệ nhân tạo với công nghệ sinh học có thể thay thế chọn lọc tự nhiên. Con người, Homo sapiens, tồn tại từ mười nghìn năm nay, sẽ biến mất trong thế kỷ này.      Ông có thể nêu một ví dụ nữa về cyborg – sự sống mới của chúng ta trong tương lai?  Các nhà nghiên cứu đang phát triển Nanorobot, loại nhỏ hơn cả tế bào máu để cấy hàng triệu robot siêu nhỏ này vào huyết quản. Tại đây chúng có nhiệm vụ giám sát các cơ quan trong cơ thể, phát hiện bệnh tật và tấn công tế bào ung thư. Một hệ thống miễn dịch cơ năng học (bionic) như vậy có thể được bổ sung, tăng cường liên tục. Siêu vi trùng và vi khuẩn sẽ không còn cơ hội sống sót. Và có thể trong tương lai chúng ta có thể tạo ra những dạng sống hoàn toàn nhân tạo.  Tạo ra sinh vật từ máy tính?  Đúng thế, một số nhà nghiên cứu tin rằng, sau 20 hoặc 50 năm, hay có thể 200 năm nữa chúng ta có thể tạo ra ý thức nhân tạo trong máy tính. Hoặc chúng ta có thể tải ý thức của mình lên máy tính và chạy qua thế giới ảo 3D. Bạn hãy tưởng tượng, bạn có thể tiếp cận được những ký ức thời thơ ấu của tôi thông qua một giao diện trong bộ não. Vậy tôi là ai, và bạn bắt đầu từ đâu? Khái niệm của chúng ta về bản sắc bị vỡ vụn.  Tự do của con người  Công nghệ giám sát ở tận nơi sâu thẳm trong con người chúng ta – thoạt nghe có vẻ như một cơn ác mộng theo nhà văn Orwell. Tại sao chúng ta lại chấp nhận điều đó?  Con người sẽ có quyền lựa chọn giữa một bên là sự riêng tư cá nhân và bên kia là tình trạng sức khoẻ tốt hơn. Bạn hãy tin tôi, số đông sẽ chọn vế thứ hai. Bạn sẽ chấp nhận cung cấp cho Google hay nhà nước những dữ liệu về cơ thể bạn – đổi lại bạn sẽ có một cuộc sống có tuổi thọ cao hơn.  Còn sự tự do thì sao? Phải chăng trong tương lai không còn có chỗ cho tự do?  Loài người chúng ta bắt đầu là một loài sống trong một cộng đồng rất nhỏ và sự sống còn của nó lệ thuộc rất nhiều vào khả năng cố kết của các nhóm này. Nhưng trong tiến trình của lịch sử – đang diễn ra ngày một nhanh hơn –sự tồn tại của mỗi cá thể lệ thuộc ngày càng nhiều vào sự hợp tác chặt chẽ, bền vững với các cá thể khác. Khi bạn có một hệ thống miễn dịch gồm những Nanobot thì cuộc sống của bạn phụ thuộc hoàn toàn vào sự cập nhật (update) của công nghệ ở bên ngoài.  Và con người chúng ta sẽ ở vị trí nào khi mà trong xã hội có vô vàn những siêu nhân thông minh nhân tạo ?   Đây sẽ là một trong những vấn đề lớn nhất. Có thể chúng ta sẽ chứng kiến sự xuất hiện của một tầng lớp vô tích sự. Sẽ có hàng triệu người hoàn toàn không thể làm những công việc tốt hơn so với trí tuệ nhân tạo. Khi mà xe ô tô tự hành, các bác sỹ bằng robot và Google dịch thuật tốt hơn con người thì chúng ta sẽ không cần những nghề như lái xe, các bác sỹ cũng như các phiên dịch nữa.  Ông có khuyến nghị gì về vấn đề này?  Hiện chưa có ai phát triển được một mô hình hoàn hảo để giải quyết được với tình huống này. Một số người nói, các trò chơi trên máy tính có thể là một giải pháp: những người này sẽ dành ngày càng nhiều thời gian trong cuộc đời của họ vào thế giới ảo. Điều này đem lại cho họ công việc thú vị hơn và tạo ra sự kích thích cảm xúc mà họ không thể có được trong cuộc sống thật.  Nghe thật là buồn.  Nhưng chí ít thì cũng 2000 năm nay con người đã chơi một trò chơi thực tế – ảo rất đặc biệt. Chúng ta gọi cái đó là tôn giáo và trò chơi này đã mang lại cho hàng tỷ người trên trái đất ý nghĩa của cuộc sống.  Ông nghĩ thật như vậy sao.   Trong sinh hoạt tôn giáo con người cũng luôn đề ra những quy chế và chúng tồn tại trong sự tưởng tượng của họ: khi bạn xưng tội, bạn có điểm, khi bạn phạm tội, bạn mất điểm. Và trong cuộc sống của mình, ai tích luỹ được đủ điểm thì sau khi chết sẽ lên một cấp độ tiếp theo. Nhìn nhận theo cách đó, sau 50 năm nữa con người chủ yếu sẽ sống trong không gian mạng, giết thời gian bằng các cuộc chơi trên máy tính thì việc nói rằng cách tham gia vào thế giới mạng đó giống như thực hành tôn giáo cũng không có gì lạ như nhiều người tưởng.  Mỗi người đều thích nghi với thời đại của mình  Giả thử nhiều dự báo của ông sẽ trở thành hiện thực ngay trong thế kỷ này, thì không lâu nữa những đứa trẻ của ngày hôm nay sẽ chứng kiến một thế giới với những đổi thay triệt để.   Đúng vậy, đây sẽ là một vấn đề lớn đối với những thanh thiếu niên ngày nay. Thế hệ này phải đối mặt với sự tái tạo liên tục, nhanh đến mức những gì người ta học ở tuổi thanh niên đến năm 40 tuổi sẽ trở nên vô dụng. Và nếu như bạn không chịu thay đổi bạn sẽ trở nên lạc lõng. Ngoài ra còn có thêm một nỗi khổ nữa: Bạn hầu như không thể hiểu những gì đang diễn ra xung quanh mình.  Nghe như có khả năng nổ ra một cuộc cách mạng hoàn toàn khác và đầy tính bạo lực.  Hiện tại trên toàn thế giới đang diễn ra một cuộc khủng hoảng về bản sắc do sự phát triển công nghê quá nhanh chóng và sự thay đổi quá triệt để trong xã hội. Do thế giới ngày càng hỗn loạn hơn và thiếu an toàn hơn nên con người không còn khả năng để biết mình là ai. Vì vậy con người càng ước vọng về một sự ổn định. Nhiều chuyên gia cho rằng sự trỗi dậy của Donald Trump là phản ứng của quá trình phát triển này. Hiện nay phản ứng tận đáy lòng của nhiều người là ôm khư khư lấy bản sắc truyền thống, dù đó là truyền thống tôn giáo hay dân tộc, và coi đây là những vấn đề tối thượng so với mọi vấn đề khác.  Điều đó cho thấy nhân loại sẽ không sẵn sàng tham gia vào quá trình nâng cấp chính mình (upgrade)?  Đối với chủ nghĩa tư bản bạn có quyền tự do mua và làm những gì bạn muốn. Chỉ có một điều bạn không được tự do: rời bỏ hệ thống đó. Trong thế kỷ 18 khi người châu Âu xâm chiếm nước Úc thì thổ dân Aborigine cũng không có cơ hội để nói: “Cám ơn, nhưng chúng tôi không thiết gì cái thế giới hiện đại này”. Điều tương tự cũng sẽ diễn ra, với việc thế giới bị thôn tính bởi trí tuệ nhân tạo và công nghệ gene.  Nếu như có thể, ông có sẵn sàng làm một cuộc hành trình tới tương lai – nơi được “thống trị” bởi công nghệ cao hay không?  Mỗi người thích nghi với thời đại của mình. Nếu như tôi phải trở về thời kỳ đồ đá thì tôi sẽ chẳng biết làm thế nào để kiếm được thức ăn vì cho đến nay tôi chỉ được dạy mua thực phẩm trong siêu thị như thế nào. Vì thế trong tương lai tôi cũng không có khả năng, thậm chí tôi sợ không có cơ thể thích hợp, để tồn tại ở đó.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.     Giáo Sư Yuval Noah Harari, nhà nghiên cứu lịch sử người Israel, sinh ở Haifa, Israel, năm 1976, nhận bằng Tiến sĩ ở Đại học Oxford vào năm 2002, hiện là giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Hebrew ở Jerusalem. Ông chuyên nghiên cứu về lịch sử thế giới, lịch sử thời Trung cổ và lịch sử quân sự. Hiện nay, ông tập trung vào trả lời những câu hỏi khái quát lớn về quan hệ giữa lịch sử và sinh học. Ông đã xuất bản nhiều sách và bài báo, trong đó có một số cuốn bán rất chạy, đánh dấu tên tuổi của ông như: Sapiens: A Brief History of Humankind. (London: Harvill Secker, 2014); The Ultimate Experience: Battlefield Revelations and the Making of Modern War Culture, 1450-2000 (Houndmills: Palgrave-Macmillan, 2008); Special Operations in the Age of Chivalry, 1100-1550 (Woodbridge: Boydell & Brewer, 2007). Trong cuốn Bestseller “Lịch sử tóm tắt của tương lai”, Harari đề cập đến một tương lai mà ở đó con người sẽ trở thành cỗ máy.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Sữa lạc đà vào châu Âu      Sau những cuộc đàm phán đầy khó khăn và kéo  dài, nay lần đầu tiên các doanh nghiệp ở Trung Đông có thể xuất khẩu sữa  lạc đà sang châu Âu.     Những quy định ngặt nghèo về phòng chống dịch bệnh của EU từng là rào chắn đối với việc nhập khẩu các sản phẩm sữa lạc đà.  Lô sản phẩm sữa lạc đà đầu tiên mang nhãn hiệu Cameliciou của hãng The Emirates Industry for Camel Milk & Products (EICMP) ở Dubai đã xuống tàu lên đường sang châu Âu. Chúng trước tiên dành cho các doanh nghiệp đối tác thuộc ngành mỹ phẩm và dược phẩm. Một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp thực phẩm của Đan Mạch, Na Uy và Hà Lan cũng nhập sữa tươi phục vụ công tác nghiên cứu về đặc tính và lĩnh vực sử dụng sữa lạc đà.   EICMP đánh giá cao tiềm năng to lớn của thị trường châu Âu đối với nhiều loại sản phẩm sữa lạc đà như sữa tươi, sữa bột, váng sữa để làm kem và sô cô la.   Người tiêu dùng châu Âu sẽ được hưởng những ưu điểm của sữa lạc đà, điều mà người dân trên sa mạc đã ca ngợi từ hơn 3.000 năm nay: sữa lạc đà rất giàu dinh dưỡng; lượng Vitamin C gấp năm lần, hầu như không có đường và chất béo cũng chỉ bằng phân nửa sữa bò. Hơn nữa, sữa lạc đà không chứa protein Beta-Lactoglubolin và Beta-Casein – những loại protein có thể gây dị ứng sữa. Những người không dung nạp lactose có khả năng tiêu hóa sữa lạc đà tốt hơn.   Tuy nhiên một số chuyên gia châu Âu cho rằng sữa lạc đà có chứa gien gây dị ứng vì thế những người bị dị ứng sữa bò hay sữa dê cần cảnh giác với sữa lạc đà, cho dù nguy cơ dị ứng ở sữa lạc đà không nhiều như với sữa bò.   Dựa vào một số công trình nghiên cứu hiện có và những nhận xét lạc quan của người tiêu dùng thì sữa lạc đà gần như là một loại “thần dược”. Theo đó sữa lạc đà có tác dụng điều trị đối với các loại bệnh như sỏi mật, viêm dạ dày, xơ gan và viêm gan, viêm thực quản, và các bệnh viêm loét đường ruột khác như Morbus Crohn và Collitis. Thậm chí nó còn có tác dụng làm giảm bệnh viêm thần kinh da, bệnh lao, và ung thư.   Hàm lượng Vitamin C cao và số lượng lớn các loại globulin miễn dịch và enzyme chống khuẩn trong sữa lạc đà có tác dụng tăng khả năng miễn dịch nói chung, nhưng các khả năng chữa những bệnh khác vẫn còn là một dấu hỏi.   Để chứng minh tác dụng của sữa lạc đà, người ta hay viện dẫn công trình nghiên cứu do ĐH Ben Gurion ở TP Beer-Sheva (Israel) tiến hành năm 2005. Tại đây, người ta đã điều trị tám đứa trẻ bị dị ứng nặng đối với sữa bò bằng sữa lạc đà. Theo đó, chỉ sau bốn ngày, mọi biểu hiện của dị ứng sữa đều biến mất.   Viện nghiên cứu về lạc đà ở Ấn Độ cũng cho hay, sữa lạc đà có tác dụng đối với bệnh tiểu đường Type-1. Các nhà y học giải thích trong sữa lạc đà có một lượng lớn chất giảm đường, và những chất này lại không bị phân hủy bởi chất axit trong dạ dày.   Tuy nhiên, chuyên gia Jörg Kleine-Tebbe làm việc tại Trung tâm về bệnh dị ứng và hen suyễn Westend (Đức) cho rằng, cần xem xét hết sức cẩn trọng những kết quả tích cực về tác dụng chữa bệnh của sữa lạc đà bởi chúng chưa được nghiên cứu lâm sàng một cách toàn diện.   Chừng nào chưa có các nghiên cứu lâm sàng thì các sản phẩm sữa lạc đà cũng chỉ là một loại đặc sản bổ sung cho thị trường thực phẩm của châu Âu.   Nguyễn Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sữa mẹ có phải là “siêu thực phẩm” cho trẻ sơ sinh?      Nuôi con bằng sữa mẹ được coi là tối ưu trong chế độ dinh dưỡng đối với trẻ sơ sinh, thậm chí còn có tác dụng ngăn ngừa bệnh tật. Nhưng điều này thường không được áp dụng được với với mọi bà mẹ, vả lại cũng có một số bà mẹ không muốn cho con bú. Vậy chế độ ăn này thực sự quan trọng và lành mạnh như thế nào?    Đại đa số phụ nữ đều có ý định sẽ cho con bú nhưng đến khi con họ  ra đời nẩy sinh một loạt vấn đề. Với một số bà mẹ, phải mất rất nhiều thời gian để ra sữa, một số trường hợp khác thì vú mẹ dễ bị chảy máu hoặc chỉ có rất ít sữa khiến trẻ sơ sinh khóc vì đói. Ở Đức, theo Cơ quan Giám sát Nuôi con bằng sữa mẹ, đến tháng thứ tư chỉ còn có một phần hai đến một phần ba số bà mẹ còn cho con bú. Có một số nguyên nhân của việc bỏ bú: đau núm vú, thiếu sữa và bị tắc sữa. Cạnh đó là các trường hợp trẻ sơ sinh không chịu bú. Kết quả là nhiều bà mẹ bỏ cuộc. Câu hỏi đặt ra là sữa mẹ có thực sự quan trọng đối với trẻ?  Một vài thập kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu đã khuyên các bà mẹ không nên cho con bú. Nguyên nhân là họ lo ngại mầm bệnh của bệnh viêm gan và HIV có thể lây truyền qua sữa mẹ. Bên cạnh đó, các nhà khoa học tin rằng ngành công nghiệp có thể tạo ra một chất thay thế sữa mẹ có lợi hơn cho sức khỏe của trẻ sơ sinh.  Ngày nay, hầu như không còn có nhà khoa học nào chỉ trích việc nuôi con bằng sữa mẹ. Nhà sinh học phân tử Juping Yuan tại Đại học Frankfurt cho biế,  còn có nhiều lỗ hổng trong kiến ​​thức về sữa mẹ. Người ta chưa có nhiều thông tin về tầm quan trọng của tế bào gốc và microRNA được tìm thấy trong sữa mẹ đối với trẻ sơ sinh.  Yuan là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về tế bào gốc trong sữa mẹ. Chúng phát sinh từ máu và mô vú của người mẹ và mang chất di truyền của người mẹ, Yuan đã chứng minh trong 40 mẫu sữa mẹ. Chúng đi qua thành ruột của đứa trẻ và tới  tất cả các cơ quan như  gan, phổi, tuyến tụy, thậm chí cả não. Hiện vẫn còn chưa rõ chúng tác động như thế nào đến các cơ quan này. Xét cho cùng, tất cả các loại tế bào gốc đều nằm trong số đó, bao gồm cả tế bào toàn năng, đa năng, có thể phát triển thành các mô trong cơ thể con người.  Sữa mẹ có chống béo phì không?  Tế bào gốc không phải là thành phần duy nhất chưa được khám phá trong sữa mẹ. Sữa mẹ còn chứa các phần tử nhỏ, được gọi là exosomes, trong đó chứa microRNA của người mẹ. MicroRNA, các đoạn mã di truyền dài từ 15 đến 20 cặp base, là một chủ đề rất nóng liên quan đến ung thư và béo phì. Có thể hình dung ra là dòng sữa mẹ sẽ là chốt chặn đầu tiên bảo vệ đứa trẻ khỏi bệnh béo phì và ung thư.  Corinna Gebauer, giám đốc ngân hàng sữa mẹ tại Bệnh viện Đại học Leipzig, nói: “Trong 15 năm qua, chúng tôi đã phát hiện ngày càng nhiều thành phần tăng cường sức khỏe trong sữa mẹ. Ví dụ, thành phần lớn thứ ba là oligosaccharides trong sữa. Đây là các hợp chất đường, trong đó có khoảng 200 loại cho đến nay đã được biết đến. Mỗi bà mẹ có thể tạo ra một loại cocktail cụ thể của các chất này. Chúng bảo vệ thành ruột của trẻ khỏi vi khuẩn gây bệnh và là thức ăn cho các vi sinh vật có lợi cho đường ruột. Chúng cân bằng hệ thống miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển trí não của trẻ sơ sinh. Sữa công nghiệp dành cho trẻ sơ sinh có bán trên thị trường không chứa những chất này và cho đến nay, các nhà hóa học chỉ có thể sản xuất được hai trong số 200 oligosaccharide đã được xác định.  Từ lâu, người ta đã biết lactobacilli trong sữa mẹ cũng thúc đẩy sự phát triển niêm mạc ruột. Các axit béo không no chuỗi dài đóng vai trò là vật liệu xây dựng cho não. Các nghiên cứu  cho thấy, trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ có tác dụng phát triển của bộ não.  Các nghiên cứu cũng cho thấy trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ sau này ít có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường hơn. Trẻ cũng không có xu hướng thừa cân. Khi còn nhỏ, trẻ  ít có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là bệnh viêm tai giữa. Tuy nhiên có những lầm tưởng về sữa mẹ: cho đến nay  chưa có gì chứng minh sữa mẹ  bảo vệ khỏi dị ứng thực phẩm. Cũng chưa rõ liệu sữa mẹ có thể ngăn ngừa bệnh hen suyễn và các bệnh dị ứng khác hay không.  Nhà khoa học Yuan khẳng định: “Sữa mẹ là một loại siêu thực phẩm được thiết kế riêng cho con bạn”. Chính vì thế từ những năm 1970 và 1980, các phòng khám phụ sản đã thành lập cái gọi là ngân hàng sữa mẹ. Trẻ sinh non và trẻ sơ sinh bị bệnh có thể được cung cấp sữa mẹ đã được quyên góp. Hiện nay ở Đức  có 25 ngân hàng sữa mẹ. Đến năm 2023, tất cả các trung tâm hỗ trợ trẻ sinh thiếu tháng phải được kết nối với một ngân hàng sữa mẹ. Qua đó các oligosaccharid, enzym, tế bào gốc và exsome của sữa mới được bảo toàn. Để đảm bảo an toàn, các nhà vi sinh vật học sẽ kiểm tra vi trùng từ sữa được hiến tặng trước đó. Ngoài ra, máu của người hiến tặng còn được xét nghiệm HIV, viêm gan B và C. Người mẹ hiến tặng sữa không được hút thuốc, uống rượu hoặc uống các loại thuốc chữa bệnh.  Ưu điểm của sữa mẹ đặc biệt rõ ràng ở các trung tâm dành cho trẻ sinh non: nếu trẻ được uống sữa mẹ, dù chỉ vài ml mỗi ngày,  nguy cơ  mắc bệnh nhiễm trùng đường ruột nguy hiểm, viêm ruột hoại tử, thường gặp ở trẻ sinh non có thể giảm từ năm đến mười lần.  Qua đó có thể thấy sữa mẹ rất quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ sơ sinh, vì thế cho dù người mẹ có ít sữa, có bị tắc sữa hay bị viêm đầu vú vẫn nên cố gắng cho con bú.  Hoài Nam tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus199550692/Ist-Muttermilch-wirklich-ein-Superfood-fuer-das-Kind.html  https://www.deutschlandfunk.de/saeuglingsernaehrung-im-faktencheck-muttermilch-superfood-100.html#:~:text=Muttermilch%20versorgt%20ein%20Baby%20mit,Sie%20enth%C3%A4lt%20auch%20Antik%C3%B6rper.    Author                .        
__label__tiasang Suhas Gopinath – Thần đồng kinh tế Ấn Độ      Suhas Gopinath thành lập doanh nghiệp IT đầu tiên khi mới 14 tuổi và từ đó đến nay liên tục gặt hái nhiều thành công trong lĩnh vực Internet ở Ấn Độ. Năm nay Suhas sang tuổi 21 và là chủ của doanh nghiệp tầm cỡ quốc tế Globals, có 400 nhân viên, tuổi bình quân 21, người ít tuổi nhất mới 12, là “nhân viên tự do” làm việc ở nhà tại một vùng quê Ấn Độ.    Giữa những năm 1990 tại bang Bangalore bắt đầu xuất hiện những hiệu Internet-Cafe. Gia đình Suhas cũng mở một tiệm Internet, anh trai thường cho Suhas tới cửa hàng và ở đây Suhas thấy Internet thật tuyệt vời, hễ có thì giờ là cậu ngồi lì ở cửa hàng và cảm thấy Internet thay đổi cuộc đời của mình”.   Suhas tự mày mò học sử dụng Internet, có đồng Rupia nào Suhas đều đầu tư cho việc học và tìm hiểu về Internet. Suhas trước khi biết đến Internet là một học sinh loại “khá giỏi” nhưng từ khi ham mê Internet, Suhas học lực tụt xuống loại “trung bình”.  Năm 1998 Suhas 13 tuổi, Suhas mở trang Internet đầu tiên của mình trên mạng: www.coolhindustan.com. Cậu nói mục đích của cậu là: “Dành cho mọi người Ấn Độ trên khắp thế giới một diễn đàn thật đa dạng, từ các hoạt động đang diễn ra ở Ấn Độ cho đến giới thiệu các nhà hàng, khách sạn và nói chung tôi đưa lên mạng tất cả những điều mà người Ấn Độ dù đang sinh sống ở đâu cũng quan tâm”.  Trang Web của Suhas trở nên nổi tiếng và bị các tay Hacker ở Pakistan tấn công. Chúng biến  đổi “Cool Hindustan” thành “Cool Pakistan”. Đây là bài học kinh nghiệm đắng cay đầu tiên của Suhas nhưng cậu vẫn kiên trì quyết tâm theo đuổi đến cùng dự án của mình.  Giới săn nhân tài của Silicon Valley bắt đầu để mắt tới cái tên Suhas Gopinath. Hãng Network Solutions mời chàng trai trẻ Ấn Độ này tới trung tâm của mình ở  San José thuộc Kalifornia. Đây là  lần đầu tiên Suhas bước chân lên máy bay, lần đầu tiên cậu rời khỏi đất nước Ấn Độ, cậu có cơ hội được làm việc tại một hãng nổi tiếng thế giới và hãng hứa sẽ lo đào tạo bồi dưỡng cho Suhas tại  Mỹ. Nhưng Suhas đã từ chối cơ hội này với lý do rất đơn giản: “Đây là một doanh nghiệp lạ hoắc, tôi muốn trước hết phải làm cho doanh nghiệp của mình đã”.  Suhas quyết định đứng ra thành lập doanh nghiệp khi 14 tuổi và gặp phải sự phản đối của nhiều người. Đầu tiên là bố mẹ, ông bà đòi Suhas phải học cho xong phổ thông rồi chọn một ngành hấp dẫn nào đó ở đại học vả lại theo Luật pháp Ấn Độ người sáng lập doanh nghiệp ít nhất phải đủ tuổi 18!  Tất nhiên Suhas không muốn phải chờ đợi thêm 4 năm nữa. Suhas tìm cách “lách luật”: cùng với ba người bạn. Suhas đã đăng ký thành lập doanh nghiệp qua mạng vào năm 1999 ở San José (Mỹ). Lúc đầu Suhas đặt tên cho doanh nghiệp của mình là  Global Solutions, nhưng tên đó đã được cấp vì thế Suhas quyết định lấy tên Globals            Văn phòng- toàn cầu ở Bangalore        Bố mẹ Suhas thường dạy con trai “Giáo dục là vấn đề quan trọng nhất đối với đất nước Ấn Độ”. Vì thế trọng tâm của doanh nghiệp Globals Inc. là vấn đề giáo dục, cạnh đó ông chủ trẻ Suhas và 400 nhân viên của mình sản xuất nhiều loại phần mềm đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Ấn Độ. Phần mềm quản lý trường học e- Scola thuộc diện ăn khách nhất ở Ấn Độ. Phần lớn nhân viên của hãng tham gia viết phần mềm này để đáp ứng nhu cầu của khoảng 1000 trường học tại Ấn Độ. Bên cạnh đó Suhas không sao nhãng việc tiếp thị các sản phẩm trên mạng Internet, liên tục nghiên cứu về các khả năng mới để tăng cường trao đổi trên Internet và tư vấn cho các doanh nghiệp về lĩnh vực  IT. Mục tiêu của Globals Inc là  cung cấp “những giải phát ít tốn kém nhất và có chất lượng cao nhất đối với Web, các phần mềm, giao dịch  Mobil và đa phương tiện”.  Cho đến tận bây giờ cậu vẫn tiếc không được đăng ký thành lập doanh nghiệp của mình ở  Bangalore. Nay nhiều nhà lãnh đạo Ấn Độ đã biết đến tên chàng trai trẻ này, Suhas đã từng được Tổng thống Ấn Độ Abdul Kalam tiếp riêng và tại buổi tiếp kiến này Suhas đã đề nghị Tổng thống nhất thiết bỏ quy định hạn chế về độ tuổi đối với việc thành lập doanh nghiệp. Tổng thống Kalam hứa sẽ ủng hộ cậu, nhưng cho đến nay quy định này vẫn không hề thay đổi.  Quá trình thành lập doanh nghiệp, ông chủ Suhas không những bị luật lệ cản trở mà ngay cả những khách hàng tiềm năng khi nghe nói đối tác của mình là “một đứa trẻ con” cũng vội vã thay đổi ý kiến. Chẳng còn cách nào khác Suhas quyết để râu tạo vẻ chững chạc, nhưng khi đã trở thành người có tiếng Suhas lại cạo râu nhẵn nhụi.  Suhas đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn, trở ngại, tiếng lành đồn xa, ngày càng có nhiều khách hàng đến với Globals. Suhas liên tục tuyển mộ nhân viên mới và thành lập các văn phòng. Suhas trở thành ông chủ, thành người lãnh đạo doanh nghiệp khi còn ở tuổi thiếu niên.  Từ kinh nghiệm bản thân Suhas tâm sự: Sự coi thường tuổi trẻ của những người xung quanh là động lực thúc đẩy cậu quyết tâm vượt mọi khó khăn và Suhas luôn lấy ông Bill Gates làm tấm gương  “một người dù rất giàu có nhưng vẫn hết sức bình dị như mọi người khác”.  Tuổi đời bình quân của những người làm việc tại  Globals là 21, người nhiều tuổi nhất là  26 và nhân viên nhỏ nhất là một cậu bé mới 12 tuổi. Suhas nói: “Cậu ấy xuất thân từ nông thôn, cũng ở Bangalore. Cậu ta kiên trì gọi điện cho tôi nhiều lần cho đến khi gặp được mới thôi. Kiến thức về Computer của cậu ấy cũng cóp nhặt từ một Internet-Cafe. Tôi không thể tuyển mộ cậu bé 12 tuổi vì  vi phạm Luật lao động, xử dụng lao động trẻ em, nhưng hãng đã trang bị cho cậu ta một bộ máy vi tính kết nối với Internet để cậu bé giúp chúng tôi về  Webdesign”.  Năm 2005 một nhà đầu tư Mỹ ở Houston, Texas, ngỏ ý mua Globals với giá 100 triệu đôla và nắm đa số cổ phần nhưng Suhas Gopinath từ chối. Ông chủ trẻ Suhas Gopinath giải thích rất đơn giản: “Tại sao tôi lại phải bán đứa con của mình?”  Suhas Gopinath thừa tiền để tậu ô tô hạng sang trọng nhất để dong chơi, để có thể sống tại một trong những khu phố dành cho người giàu có, nổi tiếng, có thể mua tặng bố mẹ một tòa biệt thự lộng lẫy, sang trọng. Nhưng Suhas Gopinath vẫn sống chung với bố mẹ ở một khu phố bình thường như nhiều người Ấn Độ khác. Phương tiện đi lại của Suhas Gopinath là một chiếc ô tô bình thường, cậu không có handy loại “xịn” nhất và cũng không mặc những bộ complê hàng hiệu. Suhas có nhiều tính cách  điển hình của người Ấn Độ: giản dị, khiêm tốn, kính trọng bố mẹ  và tự hào về đất nước mình.  Suhas nói: Globals không quan tâm đến tuổi tác, yếu tố quyết định để được làm việc tại hãng là khả năng công tác và nhấn mạnh”. Người dân Ấn Độ có năng khiếu xử dụng computer nhưng ở đây chúng tôi không thể tưởng tượng lại có đồng nghiệp trên tuổi 30″. Cô Amruta Desai, 22 tuổi, là Phó chủ tịch, phụ trách mảng marketing và chiến lược nói: “Nếu có các anh chị lớn tuổi thì buồn cười lắm”.  Hiện nay Globals có trên 200 khách hàng trên khắp thế giới  và có văn phòng đại diện ở 11 nước, địa bàn hoạt động chính của hãng ở Châu Âu, chiếm 65% tổng doanh thu. Giới trẻ Ấn Độ đã tìm thấy kẽ hở thực sự trên thương trường và tập trung phát triển phần mềm phục vụ các trường học. Họ xây dựng một chương trình để giáo viên ghi điểm và số buổi vắng mặt của học sinh từ đó các bậc cha mẹ có thể kiểm tra trực tuyến việc học tập của con cái cũng như theo dõi xem con em họ có đến lớp thường xuyên hay không – có thể coi đây như một cuốn sổ  điện tử của lớp học. Chính phủ Ấn Độ rất tâm đắc với chương trình này và quyết định trang bị cho 1000 trường chương trình này.   Mỗi năm có hàng trăm thực tập sinh người Đức xin được thực tập tại  Globals và một vài người đã được tiếp nhận. Suhas hy vọng có thể xuất khẩu chương trình này cho các trường ở Châu Âu và coi  đây là một thị trường lớn đầy tiềm năng. Globals còn hợp tác với nhiều trường đại học lớn ở Đức.  Giờ đây khi đã 21 tuổi Suhas có ý định chuyển địa điểm chính thức của hãng về Ấn Độ – mặc dù hiện nay ở San José anh đã có tới 125 nhân viên trong khi ở Bangalore mới chỉ có 25 người, vì lương một chuyên gia phần mềm ở Ấn Độ chỉ từ  400 đến 500 Euro trong khi đó chi phí nhân công ở Châu Âu hoặc Mỹ cao gấp hai, ba lần.  Ông  M. R. Gopinath, cha của Suhas, là một nhà khoa học từng làm việc tại Bộ Quốc phòng Ấn Độ  thừa nhận điều mà con trai ông đã làm trong 7 năm qua là đúng. Hai ông bà đều tự hào về cậu con trai nhưng vẫn yêu cầu  đứa con trai thành đạt của mình phải học qua đại học. Suhas hiện học về kỹ thuật ở Bangalore. Cậu nghe các bài giảng của các giáo sư nhưng cũng không ít lần cậu đứng trên bục để thuyết trình mà học viên là những người thường hơn cậu đến hàng chục tuổi.                                                         Nguyễn Xuân Hoài (Theo Spiegel .5-07)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Súng thần: Một sáng tạo  của Đại Việt      Bài viết này chú trọng tổng hợp các nguồn khảo cứu về kĩ thuật chế tạo súng cổ của người Việt, loại vũ khí độc đáo rất ít người biết đến và cần có thêm những khảo cứu chi tiết hơn.     Lãnh thổ Đại Ngu bị sáp nhập vào lãnh thổ nhà Minh ở những năm 1410. Ảnh:  Kandukuru Nagarjun/Flickr.com  Cha ông chúng ta đã có nhiều lần chiến thắng quân xâm lược như Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, Nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, Quang Trung chiến thắng quân Thanh…, nhưng giải phóng thành công đất nước khỏi ách đô hộ của nước ngoài thì chỉ có hai: Cuộc giải phóng khỏi ách đô hộ của Nhà Minh Trung Hoa đầu thế kỷ 15 và cuộc giải phóng khỏi ách đô hộ của Thực dân Pháp thế kỷ 201. Trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp được nhiều người biết đến thì thông tin về cuộc giải phóng đất nước khỏi Nhà Minh cách đây 595 năm còn lại rất ít ỏi.  Tuy nhiên, qua trận đánh lịch sử Xương Giang, một trong rất ít trận được cả chính sử nhà Minh Trung Hoa lẫn chính sử Đại Việt mô tả tỉ mỉ, chúng ta có thể phần nào thấy được tài trí và năng lực khoa học kĩ thuật đóng vai trò quan trọng làm nên thắng lợi của cha ông ta.  TRẬN ĐÁNH THÀNH XƯƠNG GIANG VÀ ẢI CHI LĂNG2  Trận Điện Biên Phủ 1954 đã đặt dấu chấm quyết định đến cuộc chiến giải phóng dân tộc, trận chiến Xương Giang -Chi Lăng 1427 cũng có ý nghĩa tương tự trong cuộc đánh đuổi quân Minh Trung hoa ra khỏi đất nước. Theo Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) trận này kéo dài hơn sáu tháng, còn theo Minh Thực lục 明实录 (của Trung Hoa) thì kéo dài chín tháng.  Thành Xương Giang cũ ở đất xã Thọ Vương, nay thuộc thị xã Bắc Giang. Đầu năm Đinh Mùi (1427), “Vua [ Lê Lợi] sai các tướng chia quân đi đánh các thành: Quốc Hưng đánh hai thành Điêu Diêu , và Thị  Cầu; Lê Khả và Lê Khuyển đánh thành Tam Giang; Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê Lãnh và Lê Triện đánh thành Xương Giang; Lê Lựu và Lê Bôi đánh thành Khâu Ôn.(ĐVSKTT)”. Tất cả các thành đều lấy được , chỉ còn thành Xương Giang do bọn Lê Sát…vây đánh hơn 6 tháng trời mà không hạ được. Sau đó phải điều danh tướng Nguyễn Chích, Trần Nguyên Hãn đến chỉ huy, dùng cách đánh và vũ khí đặc biệt mới hạ được thành này, như ĐVSKTT đã viết: “Tháng 9, ngày mồng 8, Đinh Mùi ( 28/9/1427) bọn Thái úy Trần Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Lê Triện, Lê Lý đánh lấy được thành Xương Giang”, và …”Được hơn 10 ngày thì viện binh giặc tới nơi, nhưng thành đã bị hạ.” (ĐVSKTT Bản kỷ, q.10 trang 349). Viện binh đây chính là đội quân 10 vạn  do Tổng binh Chinh Lỗ tướng quân Thái tử Thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy. Nhờ đã hạ xong Xương Giang, Trần Nguyên Hãn cùng các chiến tướng, binh sĩ Lam Sơn đã dàn trận phục binh, ngày 20/9 Đinh Mùi (10/10 /1427) giết Liễu Thăng ở núi Mã Yên Chi Lăng. Chiến dịch Xương Giang-Chi Lăng kết thúc thắng lợi. Vương Thông ở Đông Quan đường cùng, ngày 22/11 Đinh Mùi (10/12/1427) buộc phải đến Hội Thề Đông Quan xin Lê Lợi ngừng chiến và ngày 12 tháng Chạp, Đinh Mùi (29/12/1427) rút quân Minh khỏi nước ta mà không chờ lệnh của Hoàng đế Trung Hoa. Từ đó nước Đại Việt ta sạch bóng quân xâm lược Trung Hoa.  Trận đánh lịch sử hạ thành Xương Giang và Ải Chi Lăng là hai trận đánh hiếm hoi được cả chính sử Nhà Minh Trung Hoa lẫn chính sử của Đại Việt ta mô tả tỷ mỷ.  Đại Việt sử ký toàn thư chép về trận Xương Giang: “Tháng 9, ngày mồng 8, bọn Thái úy Trần Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Lê Triện, Lê Lý đánh lấy được thành Xương Giang.  Khi ấy, viên chỉ huy nhà Minh là Kim Dận cho là thành này nằm ngay trên đường về của quân Minh, nên cùng với tên quan mới bổ đến là Lý Nhậm liều chết cố thủ. Trải qua hơn 6 tháng trời cầm cự với các quân Khoái Châu, Lạng Giang, chúng vừa đánh vừa giữ, khiến quan quân không thể lên được thành. Vua sai bọn Hãn đắp đất, mở đường đánh nhau với giặc, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, TÊN LỬA 火箭SÚNG LỬA火砲, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ. Bọn Dân, Nhậm đều tự sát. Đem ngọc lụa và con gái bắt được của giặc ban hết cho quân sĩ. Tổng binh Vương Thông được tin, làm hai bài văn tế. Qua 10 ngày, viện binh kéo đế thì thành đã mất3”.  Minh Thực lục chép: “Ngày hôm nay, giặc Giao chỉ Lê Lợi công hãm thành Xương Giang. Lợi cho rằng Xương Giang là nơi quan trọng (trên đường) đại quân ra vô; bèn dùng hơn 8 vạn quân đánh. Quan giữ thành Đô chỉ huy Lý Nhiệm, Chì huy Cố Phúc ra lệnh già, trẻ, phụ nữ đều lên mặt thành gương cờ hò hét, ngày đêm chống cự; Bọn Nhiệm bất ngờ mang quân tinh nhuệ ra công kích, đốt phá dụng cụ đánh thành . Bốn phía giặc đều xây núi đất, dùng PHI MINH 飛銘 bắn vào thành; Nhiệm sai quân cảm tử ban đêm ngầm mở cửa thành ra đánh, giết giặc giữ núi đất. Mưu tập kích doanh trại. Giặc đào địa đạo vào thành, Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa đạo rồi ném đá xuống, khiển giặc chết nhiều.  Minh Thành Tổ, người khởi xướng cuộc chiến xâm lược Đại Ngu (dưới sự lãnh đạo của Hồ Quí Ly).  Giặc [tức quân Lê Lợi] nghe tin đại binh của Chinh Di Tướng quân sắp tới, sợ sẽ dùng thành này làm chỗ dựa, bèn tăng cường thêm quân và voi tấn công. Tên đá bắn vào như mưa. Nhiệm dùng trăm kế để chống cự, trải qua chín tháng trời, giao tranh hơn 30 trận; khởi đầu trong thành có hơn 2.000 tướng sĩ, lúc này chết và tật bệnh đến một nửa, giặc lại vây đánh rất quyết liệt, dùng thang mây leo lên thành rồi đoạt cửa. Nhiệm  điều lính quyết tử ba lần đánh ba lần bại, rồi giặc xua voi và lính xông vào. Bọn Nhiệm kiệt sức đánh không xuể, Nhiệm và Phúc đều đâm cổ mà chết. Quan trong thành là Phùng Trí khóc ròng rồi huớng về phía bắc bái tạ thề không theo giặc rồi cùng chỉ huy Lưu Thuận, Tri phủ Lưu Tử  Phụ thắt cổ chết. Trong thành các quan quân cùng trai gái chết rất đông; giặc phóng hỏa đốt, cướp phá đến sạch không”.4  Hai quyển Đại chính sử của hai nước ghi chép về một trận đại chiến then chốt về cơ bản là tương đồng, quả là một sự trùng hợp hiếm có và cho ta căn cứ chắc chắn để so sánh tìm hiểu các thông tin trong đoạn sử liệu hiếm hoi này.  Về cách đánh thành: Cả hai quyển sử đều chép giống nhau là quân Lê Lợi đắp núi đất lên bốn phía để đánh thành. Ngày xưa thành trì nào cũng xây tường cao, dưới chân thành thì có hào nước rộng, sâu để ngăn quân vào sát chân thành bắc thang leo lên dùng gươm giáo cận chiến. Ở trận đánh này quân Lê Lợi dùng cách đắp núi đất cao ngang thành (tất nhiên là bờ ngoài của hào nước) và cho quân lên đó để bắn vào.  Súng hỏa mai được người Nhật Bản sử dụng vào thế kỉ 16.  Vũ khí đánh thành: Núi đất cách mép thành ít nhất là một khoảng rộng hơn hào nước, không thể dùng gươm giáo cận chiến. Vì vậy chắc chắn phải dùng vũ khí tầm xa. Ngoài cung tên, nỏ cứng… thông thường ít hiệu quả thì bên đánh thành phải có vũ khí khác mạnh hơn. ĐVSKTT chép vũ khí đó là TÊN LỬA 火箭SÚNG LỬA火砲,, không có mô tả chi tiết về hai loại vũ khí này.  Trong Minh Thực lục, mô tả chi tiết hơn. Hãy chú ý đoạn chép một vũ khí đặc biệt mà quân Lê Lợi sử dụng đánh thành Xương Giang:  “Bốn phía giặc [ tức quân Lê Lợi] đều xây núi đất, dùng PHI MINH 飛銘 bắn​ vào trong thành;-賊四面築土山以飛銘射城中”.  Cái vũ khí lợi hại đó của quân Lê Lợi được quân Minh đặt cho một cái tên lạ là Phi Minh 飛銘, lịch sử xưa nay chưa từng ghi tên vũ khí này. Phi 飛 nghĩa là bay, còn Minh銘 có nghĩa là cái vật đặc nhọn rất  cứng thường dùng để khắc bia đá. Nó không phải là mũi tên bọc sắt ở đầu nhọn, vì loại này không đủ cứng để khắc đá được, hơn nữa nó đã có tên thông dụng là Thiết鐵 Tiễn箭 rồi. Như vậy có thể phỏng đoán Phi Minh飛銘 mà quân Minh hứng chịu là một loại đạn nhỏ bằng thép nhọn được bắn đi thẳng với một lực bắn rất mạnh.  Lực bắn thì do thuốc nổ tạo ra. Thuốc nổ thì người Việt đã nắm vững kỹ thuật do người Tống du nhập vào từ thời Lý-Trần. Muốn cho viên đạn đi thẳng, mạnh thì phải được đẩy trong một đường ống nhỏ, đủ cứng, đủ dài cỡ từ 0,5m trở lên. Khó có thể sử dụng ống đồng, vì không đủ cứng khỏi bị đạn thép bào mòn và để không biến dạng do sức nổ với nhiệt độ tăng cao, và đủ độ vững thì thành ống đồng phải rất dày, trọng lượng vũ khí vì vậy tăng lên nhiều, không thể mang vác linh hoạt được. Theo suy luận đó thì vũ khí phải làm bằng ống kim loại sắt và đạn Phi Minh 飛銘 phải là thép chứ không phải là chì, đồng, hay đá được.  ———–  Thực ra từ cuối đời Trần thì người Việt đã chế ra được một loại vũ khí mà sử sách còn ghi tên gọi là Hỏa Súng 火銃. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tả trận đánh năm Canh Ngọ 1390 đời Trần: “Canh Ngọ, [Quang Thái] năm thứ 3 [1390], (Minh Hồng Vũ năm thứ 23). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 23, đô tướng Trần Khát Chân đại thắng quân Chiêm Thành ở Hải Triều, giết được chúa nó là Chế Bồng Nga. Khi ấy, Bồng Nga cùng với Nguyên Diệu dẫn hơn một trăm thuyền chiến đến quan sát tình thế của quan quân. Các thuyền giặc chưa tập họp lại, thì có tên tiểu thần của Bồng Nga là Ba Lậu Kê nhân bị Bồng Nga trách phạt, sợ bị giết, chạy sang doanh trại quân ta, trỏ vào chiến thuyền sơn xanh bảo rằng đó là thuyền của quốc vương hắn. Khát Chân liền ra lệnh các hoả súng 火銃nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết 渴真令火銃齊發，着蓬莪貫於船板而死, người trong thuyền ồn ào kêu khóc. Nguyên Diệu cắt lấy đầu Bồng Nga chạy về với quan quân. Đại đội phó Thượng đô quân Long Tiệp là Phạm Nhũ Lặc và đầu ngũ là Dương Ngang liền giết luôn Nguyên Diệu, lấy cả đầu Bồng Nga. Quân giặc tan vỡ.   Khát Chân sai quân giám Lê Khát Khiêm bỏ đầu giặc vào hòm, đi thuyền về báo tin thắng trận ở hành tại Bình Than. Bấy giờ chuông đã điểm canh ba, Thượng hoàng đang ngủ say, giật mình tỉnh dậy, tưởng là giặc đánh vào ngự doanh. Đến khi nghe tin thắng trận, nói là đã lấy được đầu Bồng Nga thì mừng lắm, cho gọi các quan tới xem cho kỹ. Các quan mặc triều phục, hô “vạn tuế”. Thượng hoàng nói:  “Ta với Bồng Nga cầm cự nhau đã lâu, ngày nay mới được gặp nhau, có khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ, thiên hạ yên rồi!”5.   Cái mà ĐVSKTT gọi là Hoả Súng đó là cái súng gì mà có thể bắn được đạn mạnh đến mức xuyên thủng ván thuyền sát thương kẻ địch. Tất nhiên đó không thể là loại pháo bắn đạn đá như các đại bác của Trung hoa đúc bằng đồng nặng hàng tấn. Chúng ta có thể phỏng đoán cái gọi là Hỏa Súng 火銃 của người Việt sáng tạo ra lúc này là một dạng sơ khai của Súng Hỏa Mai (Matchlock). Nó là một cái ống bằng sắt dài ít nhất 0,5m, một đầu bịt chặt. Thuốc súng và đạn thép được nhồi cùng dây dẫn lửa từ đầu nòng vào, châm lửa vào dây mồi cháy đến cuối nòng thì cả khối thuốc và đạn sẽ nổ và đẩy viên đạn đi theo nòng súng.  Tranh vẽ Kỵ binh của nhà Minh.  AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN SÁNG CHẾ RA SÚNG THẦN MÀ TRUNG HOA GỌI LÀ THẦN CƠ THƯƠNG PHÁO 神机枪炮 ?  Chữ Hán 枪 Thương ban đầu có nghĩa là cái giáo có cán dài cầm tay. 枪炮Thương Pháo có nghĩa là cái pháo (hay súng) cầm tay có nòng dài như  cán giáo, về sau gọi tắt khẩu súng nòng dài là ” 枪 Thương” luôn. Vậy Thần Cơ Thương 神机枪 là cái súng thần nòng dài cầm tay.  Nhà Hồ soán ngôi nhà Trần và cải tiến cây súng Hỏa Mai này, có lẽ Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo ra bộ mồi lửa ở phía sau, thuận tiện hơn, ví dụ minh họa hình 1.  Dù rằng có vũ khí tốt, nhưng như Hồ Nguyên Trừng đã tâu với thượng hoàng Hồ Quý Ly: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Quả thật lòng dân không theo vì rằng họ Hồ thoán ngôi nhà Trần và chính trị phiền hà, nên thất bại.  Hình 1: Minh họa súng hỏa mai.  Năm 1407 Quân xâm lược nhà Minh Trung Hoa đã đánh bại Nhà Hồ, bắt cha con Hồ Quý Ly và hàng vạn danh nhân, thợ giỏi, gái đẹp người Việt đem về Trung Hoa, đặt An Nam làm quận huyện của Trung Hoa. Người Việt bị mất nước từ đây.  Mất nước cũng mất luôn công nghệ chế súng về tay nhà Minh Trung Hoa, như bộ Chính sử Trung Hoa, có tên Minh Sử  明史 (Lịch sử Triều Minh), quyển 92, Binh Chí Tứ chép: Minh Thành Tổ đánh Giao Chỉ, lấy được phép Thần Cơ Thương Pháo, đặt riêng Thần Cơ Doanh luyện tập. Chế tạo cần dùng đồng đỏ nguyên chất, cần nhất sắt dẻo, thứ cần nữa là sắt Tây Vực. To nhỏ các loại, loại to dùng xe, nhỏ dùng giá, dùng cọc, tay nâng. Lợi lớn khi giữ, lợi nhỏ khi đánh, tùy mà dùng như vũ khí quan trọng khi cầm quân”6(Xem minh họa thần cơ thương ở hình 2).  Chuyện Nhà Minh cướp công nghệ làm vũ khí của nước ta còn được ghi chép rõ ràng hơn trong Minh Thực Lục, lúc cha con Hồ Quý Ly bị điệu về Yên Kinh thì Hoàng đế Vĩnh Lạc đã lệnh tống giam ngay cha con Quý Ly- Hán Thương nhưng lại ra lệnh thả ngay tại chỗ Tả tướng Hồ Nguyên Trừng, chứng tỏ nhà Minh đã do thám biết Trừng là nhà kỹ thuật đại tài của nước Việt. Sách này chép: Vào năm Vĩnh Lạc năm thứ 5, ngày 5/9 (tức 5/10/1407): “Hoàng đế cùng bá quan văn võ nhận lễ hiến tù tại cửa Phụng Thiên. Binh bộ thị lang Phương Tân tuyên đọc bản hạch tội […]. Sau khi Tân đọc xong […] Hoàng đế ra lệnh đem Quý Ly, con y là Hồ Hán Thương, tướng giặc Hồ Đỗ cùng tất cả đồng bọn tống giam vào đại lao. Lệnh thả ngay cho con trai của y là Trừng cùng bọn cháu là Nhuế và ban cho họ lương thực và y phục”. Minh Thực Lục, Minh Thái Tông , Quyển 71, mục 57. Ngay sau đó thì Trừng được bổ nhiệm chủ sự Binh Trượng Cục, chuyên chế tác Thần cơ thương pháo và các loại súng. Về sau Trừng làm đến Thượng thư Bộ Công (Hàm như Bộ trưởng ngày nay). Sách Dã Ký  野記 chép: “ 今凡祭兵器並祭澄也 [Quân Minh] nay phàm khi tế súng thì phải tế Trừng”. Như đã nói ở trên, những tuyệt kỹ chế hỏa súng nòng dài (về sau nhà Minh gọi là Thần cơ thương pháo 神机枪炮 -có nghĩa là súng cầm tay nòng dài) đã có từ đời Trần, Hồ Nguyên Trừng thời Hồ Quý Ly-Hồ Hán Thương là phát triển tiếp mà thôi.8  Hình 2: Súng cầm tay của châu Âu trong thế kỷ 12-17. Norman Miller/Pinterest  Việc cướp công nghệ chế súng của Đại Việt không những được chép rõ trong nhiều thư tịch cổ (trên đây chỉ là mấy thí dụ) Trung Hoa, mà sách báo Lịch sử quân sự hiện đại của Trung quốc hiện nay cũng vẫn viết về chuyện này như vậy.Ví dụ dưới đây lấy trên mạng về Lịch sử Vũ khí Trung Hoa9:  “Vua Minh Thành Tổ bình định xứ Giao Chỉ, lấy được phép súng thần cơ, bèn lập riêng doanh trại thần cơ để luyện tập. Thần khí làm bằng đồng, sắt, kích thước to nhỏ khác nhau, loại to dùng xe chở, loại nhỏ dùng giá khênh, vác; loại to có lợi cho phòng thủ, loại nhỏ có lợi khi giao chiến. Thời Minh sơ, thần cơ còn rất quý giá, không được tùy tiện sử dụng. Năm Tuyên Đức thứ 5, (nhà vua) có sắc lệnh cho quan Tổng binh Tuyên Phủ là Đàm Quảng rằng “Súng thần là vật quan trọng của quốc gia, cần cân nhắc cấp cho các đồn biên ải để làm tăng uy lực quân đội, không được tùy tiện cấp”. Không những quý giá mà việc chế tạo phải giữ bí mật. Năm Chính Thống thứ 6, tướng biên ải là Hoàng Chân, Dương Hồng lập Cục Súng thần tại Độc Thạch, Tuyên Phủ. Nhà vua cho rằng việc chế tạo hỏa khí ở bên ngoài (ở biên ải, xa Trung nguyên), việc dạy và học (cách chế tạo súng) có thể lộ ra ngoài, bèn ban sắc lệnh cấm chỉ. Đến thời kỳ giữa và cuối triều Minh, việc sử dụng thần khí đã tương đối mở rộng, đặc biệt là các cửa ải Trường thành phần lớn đều dùng hỏa khí để phòng thủ. Hiện nay tại Cư Dung Quan, Nam Bắc Quan thành có trưng bày 10 cỗ pháo cổ, đều là vũ khí dùng trong phòng ngự dọc tuyến Trường thành đời Minh, có Đại tướng quân pháo, Trúc tiết thiết pháo. Chuyện này có ghi chép tường tận trong “Minh sử”.  Tờ 北青報 – Bắc thanh báo (Thanh niên Bắc Kinh), ngày 17/7/2003 viết10: Khi  Minh Thành Tổ bình định Giao Chỉ, thu được phép chế thần cơ thương pháo, đã đặc biệt lập ra Thần cơ doanh để luyện tập. “Thần cơ doanh” này trong doanh thứ ba của quân đội ở kinh đô trở thành một chi “Dương thương đội”. Uy lực của hỏa khí làm cho Triều đình vừa mừng vừa lo, mừng đương nhiên là vì hỏa khí này có sức sát thương lớn, lo là một khi nó được phổ cập rộng rãi thì sẽ gây nguy hiểm cho chính mình.   Với tư duy truyền thống của vương quyền là phòng dân như phòng lũ, thì không thể để người khác biết về vũ khí lợi hại của  mình. Cho nên “Súng thần là thứ quan trọng của quốc gia, tại các đồn lũy biên ải, số lượng chỉ cấp đủ để tăng cường quân uy, không được cấp phát một cách dễ dàng”. Ngược lại, điều đó sẽ làm cho hỏa khí không thể thực sự phát huy uy lực trên chiến trường, không thể căn cứ vào tình hình chiến đấu thực tế mà tiến hành cải tiến, không thể nâng cao trình độ chế tạo. Hơn nữa cơ hội chiến đấu thực tế là không nhiều, việc sử dụng hỏa khí bị hạn chế, quân đội vẫn tuân theo quy chế cũ, cũng không thể dựa vào ưu thế của hỏa khí để xây dựng tư duy tác chiến mới và cách đánh mới, vì thế mà tuy có vũ khí tiên tiến nhưng không thể chuyển hóa nó thành sức chiến đấu”.  Giáo Sư Lý Bá Trọng, nguyên chủ nhiệm khoa sử Đại Học Thanh Hoa Bắc Kinh đã viết trong quyển sách 火槍與帳簿：早期經濟全球化時代的中國與東亞世界 (Súng Đạn và Trương muc ngân khố: Trung quốc và các nước á đông thời kỳ đầu của kinh tế toàn cầu hóa):  “Vào thời Minh mạt, người An Nam đã phát triển một loại Hỏa Thằng Thương 火繩槍  [súng hỏa mai] với tính năng tuyệt vời, mà người Trung Quốc gọi là “交銃Giao Súng” (nghĩa là súng của Giao Chỉ). Một số người cho rằng loại súng này vượt trội hơn so với “Điểu súng (鳥 銃, “Bird gun”) và “Lỗ Mật súng魯 密 銃, súng Rumi tức súng Thổ nhĩ kỳ) của phương Tây và Nhật Bản về sức mạnh và hiệu quả. 劉獻廷 Lưu Hiến Đình , nhân vật sống vào cuối triều đại nhà Minh, đã nhận xét: ” Súng Giao chỉ là loại tốt nhất của thế giới” .11  Súng Giao Chỉ không chỉ được người Trung Quốc đánh giá cao mà còn được giới quan sát phương Tây đặc biệt ca ngợi vì độ chính xác cao của những gì họ thấy trong các cuộc chiến Lê – Mạc và Trịnh – Nguyễn, thậm chí vượt qua súng của quân Ottoman, súng Nhật và súng châu Âu. Phương Tây  nhận xét súng Đại Việt có thể xuyên thủng nhiều lớp áo giáp sắt, có thể giết từ hai đến năm người bằng một viên đạn nhưng không phát ra âm thanh lớn khi bắn.12  Súng cầm tay nòng dài Thần cơ thương là phát minh của người Việt. Dù nhà Minh có cướp công nghệ và bắt những người thiết kế chế tạo về Bắc để phục vụ nhà Minh, nhưng nhân tài đất Việt vẫn còn một số trốn thoát được, nên dù phải lẩn trốn nhưng họ vì để giải phóng dân tộc, nên họ tiếp tục sáng tạo phát triển, chất lượng vượt trội thì cũng dễ hiểu. Ngay như thuốc súng là phát minh của người Trung Hoa, khi vào tay mình thì người Việt đã có nhiều đóng góp lớn. Một người Bồ Đào Nha, Tome Pires (1468-1540)  đã đến phương Đông và đã viết quyển sách “A Suma Oriental de Tomé Pires”-(Phương Đông Kỳ Diệu) là văn bản tỉ mỉ nhất đầu tiên của phương Tây mô tả về phương Đông từ Biển Đỏ đến Nhật Bản. Quyển sách được cho là được viết trong khoảng 1512-1515, lúc đó ở nước Đại Việt ta là thời vua Lê Tương Dực. Ông viết:  “Vùng đất CAUCHY CHINA {tức là Đại Việt-TGN} có rất nhiều ngựa. Vua nước  này dồn nhiều sức cho chiến tranh, và ngài có vô số ngự lâm quân và bom đạn nhỏ… Rất nhiều bột thuốc súng được sử dụng ở nước của ngài, cả trong chiến tranh và trong các lễ lạt của vua quan và các trò vui chơi giải trí suốt ngày đêm. Tất cả các lãnh chúa, quý tộc trong vương quốc cũng như vậy. Thuốc súng được sử dụng hàng ngày trong tên lửa {có lẽ là pháo thăng thiên -TGN} và tất cả các trò chơi thú vị khác, như chúng ta sẽ thấy, đó là một trong những mặt hàng buôn bán có giá trị ở xứ này”.13  Cũng có những trường phái, dù không bác bỏ được sự thật lịch sử như sử sách đã chép, nhưng cũng cố tìm cách biện luận theo hướng giảm bớt mức độ sáng chế của  người Việt về chế súng thần cơ, thuốc súng.  Tuy nhiên, cuối cùng cũng phải thừa nhận là người Việt có công trong sáng tạo ra công nghệ súng đạn. Ví dụ một học giả phương Tây gốc Hoa cũng đã phải thừa nhận14: Một mặt nhấn mạnh nguồn gốc thuốc súng là của Trung Hoa, nhưng mặt khác phải công nhận  những sáng tạo công nghệ của Việt Nam trong một số lãnh vực – On the one hand, it stresses the Chinese origins of gunpowder technology; on the other hand, it also acknowledges the Vietnamese innovations in some aspects of the technology”.  Không còn nghi ngờ gì nữa, người Giao Chỉ đã sáng tạo ra súng cầm tay nòng dài từ cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15. Nhà Minh Trung Hoa cướp được vũ khí và phép chế tạo (công nghệ) ra nó sau cuộc xâm lược đô hộ Giao Chỉ năm 1407 và đặt tên là Thần cơ thương pháo. Ngay trên đất Trung Hoa thì việc chế tạo và huấn luyện sử dụng Thần cơ thương là do tù binh (Hồ Nguyên Trừng và cộng sự) cùng thợ Giao Chỉ thực hiện. Dù các Hoàng đế nhà Minh lệnh giữ tuyệt mật bí quyết vũ khí này nhưng qua nhiều trận chiến với quân dòng. dõi Hung Nô Tây vực (như Liêu, Kim, Tarta, Nữ Chân…) làm mất bí quyết sang phía Tây vực, rồi truyền qua các nước phướng Tây. Năm chục năm sau, người Bồ Đào Nha mới chế ra được súng hỏa mai (Matchlock) và súng phương Tây dần phát triển mạnh hơn.  KỸ THUẬT LUYỆN SẮT THÉP CỦA TỔ TIÊN NGƯỜI VIỆT  Muốn chế được súng như súng hỏa mai, phải luyện được sắt đúc và nắm được kỹ thuật chế tác sắt thép. Việc chế ra súng thần cơ không nghi ngờ gì nữa đó là một sáng tạo tuyệt vời của người Việt, ít nhất là đã từ 600 năm có lẻ. Nhưng nhiều người còn nghi ngờ là người Việt có nắm được công nghệ luyện kim sắt và kỹ thuật chế tác sắt hay không. Hiện nay nhiều  nhà sử học Việt cho rằng tổ tiên nước ta không biết nghề luyện sắt và sản phẩm này là do văn minh Trung Hoa trong quá trình ngàn năm Bắc thuộc truyền sang. Họ  lấy bằng cớ là trong Sử ký của Tư Mã Thiên đoạn viết về nhà nước Nam Việt của Triệu Đà, Nam Việt liệt truyện 南越列傳, có chép “… 與長沙接境, 高后時, 有司請禁南越關市鐵器  켓督죗傳, [Nam Việt] giáp giới với quận Trường Sa, Thời Cao Hậu [Lã Hậu 241 TCN – 180 TCN], quan đương sự xin cấm không cho người Nam Việt vào mua đồ sắt”. để nói rằng Nam Việt không tự chế được sắt15. Thời Cao Hậu Nam Việt vương Triệu Đà mới chỉ chiếm được Phiên Ngung (vùng Quảng Đông). Sau khi Cao Hậu chết (180 TCN) mới chiếm được Mân Việt và Tây Âu Lạc nên không có sắt là tất nhiên, điều đó không chứng minh là Âu Lạc không luyện được sắt.  Lò chế tác sắt dùng bễ ống thụt của người Hmông, nay vẫn còn vài nơi. Ảnh: vinaculto.vn  Theo truyền thuyết Thánh Gióng thì tổ tiên ta đã biết dùng sắt rèn ngựa cho Thánh Gióng đánh giặc Ân, (khoảng 1000 năm TCN). Truyền thuyết thì khó tin. Lịch sử thành văn của nước ta thì lúc đó chưa có. Nhưng có thể là nghề luyện sắt của ta có từ trước thời Bắc thuộc. Thời đó dân ta chưa biết dùng chữ Hán. Trong chữ Hán sắt gọi là thiết 鐵, thép gọi là cương 鋼, nếu sắt thép là do người Trung Hoa truyền vào sau thời Bắc thuộc thì tất nhiên dân ta phải gọi như là chữ Hán là Thiết, Cương 鐵鋼. Nhưng người Việt lại gọi là sắt thép. Sắt là một chữ thuần Việt, 𨫊 đọc là sắt theo chữ nôm, chữ này ngay từ điển Khang Hy cũng không có, mặc dù chữ Hán cũng có chữ đọc là sắt 瑟 nhưng để chỉ cây đàn sắt có 50 dây (Mang tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ – Truyện Kiều Nguyễn Du). Thép cũng là một từ thuần Việt, chữ nôm viết 𨨧 đọc là thép, chữ này hoàn toàn không có âm và chữ tương tự trong Hán ngữ. Như vậy, người Việt phải biết đến kỹ thuật sắt thép (và có thể các kỹ thuật luyện kim khác, như vàng, bạc, chì kẽm) trước thời Bắc thuộc và vẫn tiếp nối phát triển, nên mới có tên gọi riêng của mình như vậy. Có người lấy lý do không tìm thấy di tích khảo cổ về sắt trên đất nước ta để kết luận rằng cha ông ta không biết chế tạo sắt thép. Nên nhớ rằng, khác với đồ đá và đồ đồng, đồ sắt để lại rất ít trong các di tích khảo cổ trên thế giới. May chăng còn có cột sắt ngàn năm ở gần Dehli Ấn Độ là còn tồn tại đến ngày nay, mà các nhà khoa học hiện đại cũng chưa giải mã được bí mật. Bởi chưng kim loại sắt bị oxy hóa mạnh, dù có bị chôn vùi dưới bao lớp đất cũng bị hủy hoại. Ngay cả ở nước ta, Đại Việt sử ký toàn thư chép Ngô Quyền (và Trần Hưng Đạo sau đó) đóng cọc gỗ nhọn bịt sắt cắm xuống sông Bạch Đằng thì các cọc đó ngày nay phát hiện được cũng không thấy có sắt nữa. Tuy khó như vậy, nhưng những năm gần đây các phát hiện khảo cổ học cũng cho thấy dấu hiệu của nghề luyện sắt từ thế kỷ 2-3 trước Công nguyên với những vết tích lò luyện sắt, hòn quặng sắt, xỉ sắt hình giọt nước tại di chỉ Đồng Mỏm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Các hiện vật sắt, gỉ sắt không rõ hình dạng, chức năng cũng được phát hiện tại di chỉ Đường Mây, Cổ Loa, Hà Nội, Tây Thanh Hóa-Nghệ An16. Đặc biệt trong các di chỉ Sa Huỳnh có rất nhiều hiện vật dụng cụ bằng sắt chế tác rất tinh xảo. Người Chăm có liên hệ mật thiết với Ấn Độ, là nơi nghề luyện sắt rất phát triển. Với việc giao lưu gần gũi giữa người Chăm và người Việt cổ vùng Nghệ Tĩnh thì việc ảnh hưởng lẫn nhau giữa Việt – Chăm – Ấn Độ là tất nhiên, và không khó để lý giải vì sao nghề luyện sắt của người Việt phát triển sớm và tiến bộ hơn của Trung Hoa. Các nhà khảo cổ học, sử học vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những minh chứng mới về nghề luyện sắt của người Việt cổ. Người ta cũng phát hiện những thanh kiếm sắt chuôi đồng tại các vùng Tây Thanh Hóa – Nghệ An17. Đặc biệt trong các di chỉ Sa Huỳnh có rất nhiều hiện vật dụng cụ bằng sắt chế tác rất tinh xảo18. Thực ra nước ta nằm ở vị trí giao lưu văn hóa từ phía tây sang, từ phía Nam lên chứ không chỉ tư phía Bắc xuống, nên hấp thụ được nền văn minh rất đa dạng, trong đó kỹ thuật luyện kim từ Tây vực (Ân Độ, Ba Tư, Lưỡng Hà…) là khu vực phát triển sớm và cao hơn Trung Hoa nhiều… Đó là điều mà các nhà sử học nước ta xưa nay thường không quan tâm tìm hiểu đầy đủ. Sử sách của nước ta bị quân Minh cướp và đốt hết từ năm 1407 nên không có cơ sở nào biết được trước đó có chép gì không. Nhưng sau khi quân Minh chiếm nước ta, lập thành quận huyện của Trung Hoa thì người Minh đã có ghi chép nhiều chi tiết về tổ chức kinh tế, xã hội, địa chí, sản vật của Giao Chỉ. Trong quyển An Nam Chí Nguyên 安南志原 của Cao Hùng Trưng 高熊徵 đời Minh19 (có ý kiến cho là đầu đời Thanh)  đã ghi chép khá tỉ mỉ như Nhà Minh đã lập ra 6 Cục Kim Trường 金場局 để lo về việc luyên kim ở Giao chỉ. Về sắt sách này chép “Phủ Nghệ An, tại huyện Thổ Hoàng [Huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh ngày nay] có núi Quặng (Khoáng Sơn) là nơi sản xuất sắt… tại huyện Đông Thành [có lẽ là vùng Núi Thiên Nhận-Hồng Lĩnh ven sông Lam ngày nay] có núi Sắt (thiết sơn) cũng là nơi sản xuất sắt”.   Những địa điểm luyện sắt như trong Nam Việt Chí Nguyên đã chép ở trên tập trung chủ yếu ở vùng Hà Tĩnh. Đặc biệt là vùng thung lũng sông Ngàn Sâu thuộc Huyện Thổ Hoàng ngày xưa vốn nổi tiếng với nghề luyện sắt ít nhất từ đời Trần và cho đến trước khi có kỹ thuật phương Tây, như sách “同 慶 地 輿 志 Đồng Khánh địa dư chí”  (1886 – 1887) đã viết rõ, rằng sản vật đặc sắc của Hương Khê là Sắt:20 “Ở sơn phận các xã Chu Lễ, Xuân Lũng tổng Chu Lễ, Đô Khê, Phúc Trạch, Hà Đông tổng Phúc Lộc nhiều nơi có sắt luyên (sinh thiết). Nhưng chất sắt giòn cứng. Riêng sắt ở núi Lũng xã Hà Đông là thứ sắt cứng mà dẻo (nhuyễn)”. Như vậy là hai quyển sách cách nhau hơn bốn trăm năm, một của Trung Hoa, một của Đại Việt, đều chép giống nhau về cùng một địa danh chuyên về luyện sắt (và là sắt chất lượng cao, cứng mà dẻo) là vùng Hương Khê, Hà Tĩnh. Chẳng những vậy mà thực sự lịch sử cận đại của nước Việt có sự kiện trong cuộc khởi nghĩa Cần Vương của Phan Đình Phùng, tại cứ điểm trong vùng rừng núi Hương Khê bị quân Pháp bao vây tứ bề mà Tướng Cao Thắng năm 1895 vẫn tự luyện được sắt, đúc súng trường tinh xảo không thua kém gì súng của Pháp khiến các kỹ sư Pháp kinh ngạc. Một viên võ quan Pháp, Đại úy Ch.Gosselin, từng tham gia đánh dẹp tại Nghệ Tĩnh, viết cuốn sách có giá trị tựa đề là Nước Nam [Empire d’Annam], có đoạn nói về súng của Cao Thắng như sau: “Tôi có đem nhiều khẩu súng đó về tận bên Pháp; xem nó giống đủ mọi vẻ như súng của các xưởng binh khí nước ta chế tạo, đến nỗi tôi đưa cho các quan binh pháo thủ ta xem, các ông phải sửng sốt lạ lùng, […] những súng đó đã từng bắn chết ít nhiều lính Khố Xanh, Cai đội Pháp, lính tập…”.21  THAY LỜI KẾT  Từ xưa đến nay, cách chép và truyền bá lịch sử nước ta chỉ chủ yếu là lịch sử cung đình triều đại, nặng về các cuộc thoán đoạt, chinh chiến mà rất ít ghi chép và truyền bá về dân sinh, đời sống, các phát kiến, sáng tạo… làm nên sức sống của dân tộc. Lịch sử nước nhà đáng tiếc chỉ đọng lại trong trí não của hậu duệ phần nhiều là các cuộc chinh chiến, các vị vua chúa quan lại… mà không biết được vì sao mà dân tộc trường tồn.  Lòng yêu nước và hy sinh bảo vệ Tổ quốc không nghi ngờ gì nữa là yếu tố quan trọng bậc nhất để dân tộc ta giữ vững độc lập. Nhưng tài năng và sự sáng tạo của dân tộc ta, sức sống của dân tộc ta là điều đáng tự hào, là yếu tố đóng góp không nhỏ trong chiến thắng chống ngoại xâm, thì thường bị quên lãng. Và khi không có chiến tranh thì nếu thiếu nó làm sao mà dân tộc ta phát triển được. Sông có khúc người có lúc, trong thăng trầm của lịch sử, trí tuệ của dân tộc ta từ ngàn năm trước có những khoảng phát triển huy hoàng, cũng có lúc lụn bại vì nhiều lý do. Vì vậy, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng người xưa để nay hay thì học, dở thì tránh. Bài viết này, chắc chắn là còn nhiều thiếu sót, mong là một đóng góp nhỏ nhoi để hiểu người xưa, không chỉ có hiểu chuyện vua chúa quan lại, anh hùng hào kiệt mà thôi!□  Chú thích  1 http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/thu-hoang-xuan-han-gui-vo-nguyen-giap  Tết Nguyen đán 1996 Học giả Hoàng Xuân Hãn đã đến ĐSQ VN tại Paris để nhờ trao tận tay bức thư gửi Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Đây là bức thư cuối cùng trước khi ông mất ngay sau đó. Bức thư tâm huyết của một trí thức yêu nước, có đoạn viết:  “Nước ta chỉ có hai cuộc giải-phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các Anh. Tự nhiên cả hai mặt phải nhờ gắn-bó giữa mưu-lược lãnh-đạo và kiên-cường nhân-dân. Khi ngoại-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tức và lo-sợ cho tương-lai; còn trong cuộc giải-phóng thì địch đã ở chung với nhân-dân lâu trong nước, rồi có thể dùng quyền-lợi để chia rẽ và giảm tinh-thần nhân-dân.”  2 Chi Lăng: là ải hiểm trở nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan, cách Pha Lũy khoảng 60 km, thuộc xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ngày nay.  3 九月八日，太尉陳捍，司馬黎察，少尉黎篆、黎理等攻昌江城，拔之。時明指揮金胤以城當㱕路，與新授官李任死守。閲六月餘，與快州、諒江等軍相拒，隨擊隨禦，官軍不能登。帝命扞等築地設道，與敵相戰，鈎戟勁弩，火箭火砲，四面合攻，城遂陷。胤、任皆自殺。所獲玉帛女子，盡以賜士卒。明總兵王通聞之，爲文致祭。經十日，援兵果至，而城已陷。(Viên KHXH dịch theo bản Nội Các Quan Bản khắc năm Chính Hòa 18 1697)  4 《大明宣宗章皇帝實錄卷之二十七》  宣德二年夏四月己未朔饗太廟  是日交趾賊黎利陷昌江城利以昌江大軍出入要地以賊八萬餘攻之守城都指揮李任與指揮顧福等令城中老穉及婦女登城揚旗鼓噪日夜拒守任等自將精銳不時出城掩擊焚其攻具賊四面築土山以飛銘射城中任率敢死士夜潛開門殺其守土山者襲破其營賊掘地洞入城任開橫溝與洞相應從溝中發將軍石子擊之賊多死者賊聞征夷將軍大兵將至恐恃此城為保障乃益兵象來攻矢石交下如雨任百計備御相拒九閱月大小三十餘戰初城中將士二千餘人至是死傷疾病者半而賊並力攻圍以雲梯登城奪其門任複 率死士三戰三敗之賊擁象益兵而入任等竭力與鬥不支任福皆自刎死守城中官馮智大哭北向再拜誓不從賊與指揮劉順知府劉子輔等俱自縊死城中軍校及男女同時死者甚眾賊縱火焚民居劫掠一空 (bản dịch của Hồ Bạch Thảo tr. 701-702; Tuyên Tông 27 )  5 庚午三年明洪武二十三年春正月二十三日，都將陳渴真大敗占城于海潮。獲其主制蓬莪。時蓬莪與元耀領戰船百餘艘來觀官軍形勢。眾船未會，蓬莪小臣波漏稽為蓬莪所責，惧誅，來奔軍营，指綠漆船告曰：「此國王船也。」渴真令火銃齊發，着蓬莪貫於船板而死。船中人喧閙號泣，元耀反取蓬莪馘奔還官軍，龍捷軍上都大隊副范汝勒、頭伍楊昂遂殺元耀，倂取蓬莪馘。賊眾大潰。渴真令軍監黎克謙函其首馘，乘船奏捷于平灘行在。時漏下三皷，上皇睡熟驚起，以為賊犯御营。及聞捷奏云已獲蓬莪馘，乃大喜，召群臣諦視。百官朝服呼萬歲。上皇曰：「我與蓬莪相持久矣，今日始得相見，何異漢髙祖見項羽首，天下定矣。」  6 “明史·兵志四):明成祖平交趾,得神机枪炮法. 特置神机营肄习。制用生熟赤铜相间。建铁柔为最， 西铁次之。大小不等。 大者发用车。 次及小者用架，用桩， 用托。 大利于守， 小利于战。 随宜而用为行军 要器 ,  7 明实录太宗实录 -> 太宗文皇帝实录卷七十一 :上御奉天门受之文武群臣皆侍兵部侍郎方宾读露布至弑王؟y国僭号纪元等语 上使问季牦父子曰此为人臣之道乎季牦父子不能对宾读毕诏以季牦父子苍及其伪将相胡柱等悉付狱而赦其子孙澄芮等命有司给衣食  8 Trong quyển 2, Dã ký tác giả Chúc Duẩn Minh野記 – 祝允明   (1460-1526) chép về cha con Hồ Quí Ly , Hồ Nguyên Trừng như sau: 永樂中，征安南，黎季氂降，有三子，皆隨入朝。其孟曰澄，賜姓陳，官為戶部尚書。澄善製槍，為朝廷創造神槍。後貶其官，而命其子世襲錦衣指揮，澄願從文，乃許令世以一人為國子生。今凡祭兵器並祭澄也。其仲曰某，賜姓鄧，亦官尚書。後貶江陰縣佐，未審丞、簿。有三子，亦令一人襲錦衣指揮，並賜江陰田甚厚，永蠲其傜，今猶守世業。其季曰某，官為指揮。久之，乞歸祭墓，既往，即自立為王。季氂死葬京師，其子後遷葬於鍾山之旁。  “Thời Vĩnh Lạc đánh An Nam, Lê Quí Ly (tức Hồ Quý Ly) hàng, có ba con cùng theo vào triều.  Người con trưởng là Trừng được ban họ Trần, làm quan đến Thượng thư bộ Hộ. Trừng giỏi chế súng, đã chế súng thần công cho triều đình. Sau đó bị giáng chức , nhưng cho con làm chỉ huy Cấm vệ. Trừng xin theo nghiệp văn, hứa cho mỗi đời có con vào học Quốc tử giám. Ngày nay phàm tế binh khí, đều tế Trừng.  Người con giữa không rõ tên, được ban họ Đặng, cũng làm quan đến Thượng thư, sau bị giáng làm phụ tá huyện Giang Âm. Có ba người con, cho một người làm chỉ huy Cấm vệ, ban cho ruộng tại Giang Âm rất hậu, được miễn trừ sưu dịch, nay vẫn giữ nghiệp nhà.  Người con út không rõ tên, làm quan đến chức Chỉ huy. Sau đó lâu, xin về quê tế mộ, rồi tự xưng Vương. Quí Ly chết chôn tại kinh sư, sau đó con cháu dời chôn tại bên cạnh núi Chung Sơn.”(TGN dịch)  9 东亚火器转来史一：中国火器和中国的火器传来  http://military.china.com/zh_cn/history2/06/11027560/20050406/12222143.html  明成祖平交趾，“得神机枪炮法，特置神机营肄习。神器制作以铜、铁为之、大小不等，大者用车、小者用架、用托，大利于守，小利于战。”神器，在明初时还很珍贵，不是随便所使用的。宣德五年敕宣府总兵官谭广“神铳，国家所重，在边墩堡，量给以壮军威，勿轻给”。不仅珍贵，而且制造保密。正统六年，边将黄真、杨洪立神铳局于宣府独石。帝以火器外造，恐传习漏泄，敕止之。到明朝中后期使用比较广泛，特别是长城隘口，多用火器防守。目前在居庸关南北关城 陈列古炮十门，均为明代长城沿线防御用的武器，有大将军炮、竹节铁炮等。这在《明史》中也都有详细记载 (Bản dịch của TGN)  10 “至明成祖平交阯，得神机枪砲法，特置神机营肄习”。而京军三营中的这个“神机营”就成了一支“洋枪队”。火器的威力让朝廷且喜且惧，喜的当然是其强大杀伤力，惧的则是一旦广泛普及恐危及自身安全。以传统防民如防川的皇权思维，利器不可示人。所以，“神铳，国家所重，在边墩堡，量给以壮军威，勿轻给。”反过来，这又造成了火器不能在战场上真正发挥其威力，不能根据实战进行改良，制造水平无法提高。而实战机会不多，使用被限制，军队仍循旧制，也不能围绕火器的优势构筑新的作战思维和战法，故而虽有先进武器，却不能转换为战斗力 “(Bản dịch của TGN)  11 Li Bozhong 李伯重 (2019). 火槍與帳簿：早期經濟全球化時代的中國與東亞世界 (in Chinese (Taiwan)). 聯經出版事業公司. p. 142. ISBN 978-957-08-5393-3. Retrieved 2020-07-12: 在明末，安南人開發出了一種性能優良的火繩槍，中國人稱之為「交銃」（意即交趾火銃）。有人認為這種交銃在威力及性能等方面都優越於西方和日本的「鳥銃」及「魯密銃」。  12 https://wp-en.wikideck.com/Jiaozhi_arquebus  13 http://nghiencuuquocte.org/2018/02/12/tu-mot-ban-hang-hai-co-luan-ban-ve-danh-tinh-nuoc-viet/  14 Asia Research Institute,Working Paper Series, No. 11:Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 1390-1497; Sun Laichen,Asia Research Institute, National University of Singapore,( September 2003  15 https://ctext.org/shiji/nan-yue-lie-zhuan/zh  16 https://dangnho.com/kien-thuc/phan-tich-nhan-dinh/bach-viet-va-qua-trinh-nam-tien.html?fbclid=IwAR3aVfki96-K29se7c8oEDYtbClKFXCnj0xbGOOTlLDJIlvWYZOWajJRU6k            17 https://dangnho.com/kien-thuc/phan-tich-nhan-dinh/bach-viet-va-qua-trinh-nam-tien.html?fbclid=IwAR3aVfki96-K29se7c8oEDYtbClKFXCnj0xbGOOTlLDJIlvWYZOWajJRU6k            18 Nguyễn thị Hậu . https://baogialai.com.vn/channel/12382/201807/vai-net-ve-van-hoa-sa-huynh-o-mien-trung-viet-nam-5589217/).; https://www.researchgate.net/publication/276919113_Sa_Huynh_Culture?fbclid=IwAR0cPOQbms7i_YfXvAGW7QsEdiyG4-1Gb-ddQiPbHzBn9so16jK22mBjHOU  19An Nam Chí Nguyên 安南志原, An Nam Chí Nguyên安南志原;Hoa Bằng dịch chú, in Roneo 1961 lưu hành nội bô. NXB Đại Học Sư phạm xuất bản 2017, trang 470-471: 义安府 : 礦山在土黃縣產鐵… 鐵山在東城縣產鐵  20Đồng Khánh Địa Dư Chí, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2003 (trang 1304). Bản dịch này dịch nhầm chữ 生 鐵 sinh thiết nghĩa là sắt luyện thành ra “quặng sắt”.周禮總 之周禮,春 隴, 福 祿總之都 溪, 福 澤, 河 東 Đồng等 社 山 分 多 有 生 鐵, 但 鐵 質 剛 脆, 惟河 東社隴山鐵 質 堅軟 爲勝  21 Capitaine Ch. GOSSELIN -L’EMPIRE D’ANNAM ,PARIS ,LIBRAIRIE ACADÉMIQUE DIDIER ,PERRIN ET Cie, LIBRAIRES-ÉDITEURS ,35, QUAI DES GRANDS-AUGUSTINS, 35 ,1904. trang 313    Author                Trần Gia Ninh        
__label__tiasang Superbus – tương lai của giao thông công cộng      Wubbo Ockels, cựu phi hành gia, vừa chế tạo ra xe buýt siêu nhanh (Superbus). Phương tiện công cộng dài 15 m này kết hợp tốc độ và sự thoải mái của một con tàu với sự linh hoạt, tiện lợi của một chiếc xe hơi.    Tốc độ tối đa của Superbus là 250km/giờ và ông Ockels hình dung nó sẽ chạy trên một hệ thống đường cao tốc chuyên dụng. Tuy nhiên, Superbus không chỉ là một phương tiện tốc độ cao chạy trên một tuyến cố định mà còn có thể chạy trên những con đường bình thường ở tốc độ bình thường.  Ngoài ra, nó được chạy bằng điện – điều mấu chốt trong tầm nhìn của nhà thiết kế trưởng Antoni Terzi. Là một người từng nghiên cứu khí động lực học Công thức 1, bà Terzi đã kết hợp xi-lanh thủy lực trong thiết kế để chiếc xe chỉ cách mặt đất 7cm khi chạy ở đường cao tốc và tăng gầm lên độ cao 43cm khi chạy trên những con đường bình thường trong các thị trấn và thành phố. Hệ thống lái bánh sau giúp chiếc xe đạt một vòng xoay 24 mét, chạy dễ dàng ở những đoạn đường vòng.  Sau khi tham gia một chuyến đi vào hồi đầu tháng này, tỷ phú 61 tuổi Branson đã bình luận trên blog của mình rằng Superbus có thể thách thức ngành kinh doanh vận chuyển bằng tàu cao tốc vào một ngày nào đó bởi nó sánh ngang với tàu cao tốc về mặt tốc độ và thể hiện sự tiện lợi của mình bằng cách thả hành khách ngay trước cửa nhà họ.  Ông Ockels nói rằng ông muốn tạo ra một cái gì đó quyến rũ, làm cho bạn cảm thấy sự quyền lực khi bạn ở bên trong nhưng hơn hết là một thứ có thể cạnh tranh với xe hơi. “Chúng tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm từ Las Vegas cũng như Dubai, Abu Dhabi và Hà Lan” – ông Ockels cho biết.  Ông hi vọng rằng chiếc xe này sẽ có mặt trên các đường phố trong 5 năm nữa.  Nguyễn Thảo lược dịch theo   http://edition.cnn.com/2011/11/23/tech/innovation/superbus-fast-commute/index.html           Author                Quản trị        
__label__tiasang SURF: nhân tố thúc đẩy khởi nghiệp Đà Nẵng?      Ngày 29-6 tới, tại Đà Nẵng sẽ diễn ra Hội nghị và Triển lãm khởi nghiệp SURF dự kiến với khoảng 2000 người tham dự, 50 diễn giả bao gồm các nhà đầu tư, nhà sáng lập startup, các huấn luyện viên khởi nghiệp và hơn 70 doanh nghiệp và dự án khởi nghiệp. Trong năm nay, Google I/O Extended Mien Trung, một hội nghị dành cho cộng đồng lập trình viên phát triển ứng dụng trên các công cụ nguồn mở của Google toàn khu vực Miền Trung sẽ diễn ra trong khuôn khổ của SURF.      SURF là sự kiện thường niên diễn ra từ năm 2016 với mô hình tổ chức tương tự như TECHFEST với các hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhân tố trong hệ sinh thái khởi nghiệp, cuộc thi thuyết trình ý tưởng và những buổi kết nối giữa nhà đầu tư và các dự án khởi nghiệp diễn ra liên tục trong một ngày. Trong ba năm liên tục, sự kiện này đều quy tụ được những diễn giả có tiếng trong cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam và Đông Nam Á. Vào năm 2017, SURF có sự góp mặt của tỉ phú và doanh nhân khởi nghiệp hàng loạt ở Mỹ (hầu hết công ty khởi nghiệp ông tham gia điều hành đều được mua lại hoặc lên sàn chứng khoán), Jeff Hoffman. SURF được tổ chức bởi Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng DNES dưới sự hỗ trợ của Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp thành phố Đà Nẵng. (Hai đơn vị này đều được Thành phố Đà Nẵng quyết định và góp vốn thành lập).  Được cho là sự kiện khởi nghiệp có quy mô lớn nhất miền trung, SURF – với hình ảnh thương hiệu là những ngọn sóng và cá chuồn thể hiện tham vọng trở thành một thành phố khởi nghiệp bên bờ biển của Đà Nẵng, hay theo cách gọi của TS. Võ Duy Khương, nguyên Phó chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẵng và hiện nay là Chủ tịch hội đồng quản trị của DNES, là “Innovation Hub by the Sea”.  Đà Nẵng vốn được coi là một trong số những thành phố thúc đẩy khởi nghiệp mạnh mẽ nhất cả nước với nhiều sự kiện và các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp diễn ra sôi động, một phần là để thu hút nhân tài và ngăn chặn nạn chảy máu chất xám tại Đà Nẵng (Một minh họa cho điều này là mặc dù chính quyền Đà Nẵng có chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách cấp học bổng cho những bạn trẻ tài năng đi học nước ngoài nhưng trong đó vẫn có 10% số người không quay trở về). Tuy nhiên, thành phố này còn một chặng đường dài với việc lựa chọn rõ ràng thế mạnh của địa phương và đầu tư mạnh mẽ để phát huy nó mới có thể đạt được tham vọng của mình. Còn, SURF mới chỉ dừng lại là một sự kiện mang tính bề mặt. Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Đà Nẵng vẫn còn quá sơ khai. Hiện nay, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Đà Nẵng là không đáng kể. Trong số 70 doanh nghiệp tham dự SURF vào năm 2017, chỉ có dưới 5 startup, ngoài ra còn lại là các gian hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, của các đại sứ quán có chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và các trường đại học. Ngoài ra, chỉ có khoảng ½ các dự án mà DNES ươm tạo là startup. Các diễn giả tới SURF cũng đều không đến từ Đà Nẵng.         Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Suy nghĩ về hướng đi của lạm phát năm 2008      [Lạm phát] có cả vai trò kinh tế lẫn tâm lý. Nó là đòn chí mạng đánh vào nguyên tắc cần kiệm và uy quyền của nhà nước.  (Erich Fromm (1941), Escape from Freedom, tr. 214.)      Ngày 21/11/2007, kỳ họp thứ hai và cũng là kỳ họp cuối cùng trong năm của Quốc hội khóA XII đã kết thúc, với việc thông qua chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2008 từ 8,5 đến 9%, và mức lạm phát phải dưới mức tăng trưởng.  So với năm trước, chỉ tiêu trên dường như không khác biệt nhiều. Tuy nhiên, chưa kể đến những yếu tố bất định của thị trường thế giới, và các nguyên nhân hiện thời vẫn tiếp tục tồn tại, thì lạm phát năm 2008 đã chứa đựng một yếu tố mới, đó là áp lực tăng lương. Áp lực này vừa là kết quả của lạm phát thời gian qua, lại vừa là một phần nguyên nhân quan trọng cho lạm phát trong thời gian tới. Có thể nói quyết định tăng lương đã hoàn thành chu trình tạo ra lạm phát hiện nay, báo hiệu nguy cơ tự tái tạo của hiện tượng này. Do đó, nếu Chính phủ không tiếp tục chống lạm phát một cách cứng rắn, đạt được mục tiêu trên có thể trở thành một nhiệm vụ khó khăn.  Giải cấu trúc lạm phát 2007-2008  Hình 1 phác hoạ cơ chế vận động của chu trình lạm phát trong bối cảnh chung của nền kinh tế Việt Nam.  Hãy lấy điểm xuất phát từ hộp trung tâm, nằm phía dưới của Hình 1, mang tên “Nền kinh tế Việt Nam”. Ba mũi tên đi theo ba hướng thể hiện nền kinh tế đòi hỏi ba yêu cầu lớn là tăng trưởng kinh tế nhanh, phân phối thu nhập quốc dân theo hướng bền vững, và tái cấu trúc để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba yêu cầu này nếu được đáp ứng, thì vừa phản ánh thành quả của nền kinh tế, vừa hỗ trợ sự phát triển của nó trong dài hạn.  Chúng ta bắt đầu phân tích chu trình từ yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế hiện nay phụ thuộc vào ba nhóm động cơ chính (tính từ phải sang trái): hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư của nhà nước và sự lớn mạnh của khối kinh tế tư nhân (không vẽ trong biểu đồ).                     Hội nhập kinh tế quốc tế lại có thể quy về ba khía cạnh lớn: nhập khẩu, xuất khẩu, và tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).  Để hỗ trợ hàng xuất khẩu và bảo vệ sản xuất trong nước, chính sách tỷ giá hối đoái thường hướng đến mục tiêu giữ cho giá trị đồng Việt Nam không tăng quá nhanh. Tuy nhiên, gần đây có hai nguyên nhân lớn khiến đồng Việt Nam có xu hướng tăng so với đồng USD, là đồng tiền được dùng chủ yếu trong thương mại quốc tế của ta. Thứ nhất, đồng USD suy yếu trên toàn cầu do nền kinh tế Mỹ chịu thâm hụt kép liên tiếp trong mấy năm qua (thâm hụt ngân sách do chính quyền Bush cắt giảm thuế và tăng chi tiêu cho chiến tranh ở Iraq, đi cùng thâm hụt thương mại lớn với thế giới, đặc biệt là Trung Quốc). Thứ hai, dòng kiều hối và các dòng vốn nước ngoài (trực tiếp lẫn gián tiếp) chảy mạnh vào nước ta trong những năm gần đây. Có thể nói, nguyên nhân thứ nhất mang tính toàn cầu, nguyên nhân thứ hai mang tính quốc gia, và cùng gây sức ép làm tỷ giá USD trong nước giảm. Để giữ đồng tiền Việt không lên giá quá nhanh, Ngân hàng Nhà nước đã phải mua vào rất nhiều USD, dẫn đến cung ứng tiền Việt tăng, góp phần tạo ra lạm phát trong năm 2007 (mũi tên số 1).  Nguyên nhân thứ hai được xem là góp phần tạo ra lạm phát trong năm 2007 là sự tăng giá nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu. Điều này được thể hiện bằng mũi tên (2).  Đó là hai nhân tố gây lạm phát bắt nguồn từ động lực tăng trưởng kinh tế thông qua ngoại thương.  Trở lại động lực tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư nhà nước. Có thể nói đây là một điểm đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Suốt từ khi thực hiện Đổi Mới kinh tế đến nay, đầu tư của nhà nước vẫn luôn giữ vai trò chi phối trong tổng đầu tư của toàn nền kinh tế. Ví dụ, trong giai đoạn 1995-2006, tỷ trọng đầu tư hằng năm của nhà nước bình quân chiếm khoảng 52% trong tổng đầu tư (Biểu đồ 1). Trong khi đó, ở Trung Quốc, con số này chỉ vào khoảng 24%.                     Khi có nhu cầu đầu tư lớn, nhà nước thường phải đối diện với một cám dỗ rất khó vượt qua là tài trợ đầu tư thông qua lạm phát, hay thuế lạm phát (thường dưới hình thức phát hành tín dụng ưu đãi cho khu vực nhà nước đi liền với tăng cung tiền để giảm lãi suất thực). Do đó, nhà tư bản tài chính nổi tiếng người Mỹ Warren Buffett thường coi lạm phát là một vấn đề chính trị, liên quan đến nhu cầu ngân sách của Chính phủ.  Mũi tên (3) trong Hình 1 minh họa thêm một nguyên nhân gây lạm phát trong những năm qua, bắt nguồn từ sự tăng trưởng nhanh chóng của tín dụng nhà nước để đáp ứng nhu cầu đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính phủ.  Có thể nói, ba nguyên nhân nêu trên đã khiến lạm phát tăng cao trong năm 2007. Hậu quả là thông tin thị trường bị bóp méo, tích tụ nên những sai lệnh kinh tế. Trong Hình 1 chúng tôi đưa ra hai vấn đề dễ thấy hiện nay: thứ nhất diễn ra trên thị truờng tài chính, thứ hai trên thị trường lao động.  Trên thị trường tài chính, khi lạm phát cao và dai dẳng, người ta có khả năng sẽ cố gắng chuyển sang nắm giữ những tài sản tích cực hơn tiền do lãi suất thực giảm. Chỉ những người thụ động nhất, ít có điều kiện tham gia các thị trường khác, mới giữ tiền trong tài khoản tiết kiệm. Điều này dẫn đến mấy điểm bất lợi về tổng thể xã hội. Thứ nhất, cá nhân tự đầu tư có thể không hiệu quả bằng ngân hàng hay các tổ chức tài chính do mức chuyên môn hóa kém hơn. Đồng thời, thời hạn của vốn huy động sẽ giảm vì người ta e ngại lãi suất thực sẽ có thể âm nếu lạm phát cao. Kết quả là xã hội có thêm nhiều khoản đầu tư rủi ro và tính bất ổn định của các dòng vốn tăng. Thứ hai, khi mọi người tự đầu tư, vì khả năng hạn chế, họ thường đầu tư vào các thị trường có quan hệ gián tiếp với quá trình sản xuất, như chứng khoán hay nhà đất. Điều này có thể góp phần làm xuất hiện bong bóng trên những thị trường phi sản xuất do cầu đầu tư tăng mạnh. Bong bóng, đến lượt nó, dẫn đến ít nhất hai hệ quả: một là nó thu hút nhiều hơn nữa dòng vốn gián tiếp từ nước ngoài. Điều này gây thêm sức ép làm tăng giá đồng Việt Nam như đã phân tích trên kia. Hai là, tăng trưởng kinh tế bị đe dọa khi bong bóng vỡ.  Trên thị trường lao động, tiền lương thường không điều chỉnh kịp theo mức tăng giá. Vì thế, mức sống của những nhóm có thu nhập cố định như công nhân, viên chức, người về hưu, người buôn bán nhỏ, v.v… bị xói mòn trước sức tấn công của lạm phát. Trong khi đó, nhóm chủ doanh nghiệp thường có lợi nhờ lạm phát, vì khi giá cả tăng, doanh thu của họ tăng theo. Kết quả là, lạm phát đóng vai trò như một loại thuế chuyển giao thu nhập âm thầm nhưng liên tục từ người nghèo sang người giàu.  Do ảnh hưởng đến quá trình phân phối, không sớm thì muộn lạm phát cũng dẫn đến sức ép tăng lương. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào ảnh hưởng chính trị của các tầng lớp nhận thu nhập cố định. Như đã thấy, ở nước ta sức ép này đưa tới quyết định tăng lương tối thiểu từ đầu năm 2008. Việc tăng lương tất yếu dẫn đến tăng giá vì chi phí sản xuất tăng (mũi tên số 4).  Thế lưỡng nan của Chính phủ  Như đã phân tích, trong bốn nhân tố gây lạm phát, có một đến từ bên ngoài (tăng giá nhập khẩu), hai đến từ nỗ lực tăng trưởng kinh tế (tăng tín dụng và giữ giá USD), và một là hệ quả của chính tình trạng lạm phát (tăng lương). Do đó, những công cụ chống lạm phát tích cực nhất hiện nay thường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiện nay có khuynh hướng góp tạo ra lạm phát, và nếu muốn chống lạm phát, cái giá phải trả là tăng trưởng kinh tế giảm.  Sự tăng trưởng đi liền với lạm phát cao tạo ra phát triển rất không bền vững. Vì lạm phát tạo ra cơ chế phân phối ngược từ người nghèo sang người giàu, nên nó đang cuốn trôi những thành tựu xóa đói giảm nghèo trong nhiều năm ở nước ta, và tích tụ nên những bất ổn xã hội tiềm tàng.  Về phía nhà nước, các công cụ chính sách cũng trở nên kém hiệu quả hơn. Thứ nhất, hiện tượng ngoại tệ hóa sẽ tăng làm xói mòn sức mạnh của chính sách tiền tệ. Thứ hai, việc phát hành trái phiếu phục vụ cho ngân sách phát triển sẽ gặp khó khăn, nếu không có sự điều chỉnh lãi suất theo lạm phát. Thứ ba, chi phí chống lạm phát ngày càng cao, đặc biệt, khi lạm phát bước vào giai đoạn tự tái tạo như trong năm tới.  Cuối cùng, và quan trọng hơn cả, lạm phát cao và dai dẳng làm giảm niềm tin của  nhân dân vào Chính phủ, đồng thời tích tụ những bất ổn kinh tế và tài chính. Lịch sử thế giới đã cho thấy, các nền kinh tế có lạm phát kéo dài đa phần kết thúc bằng khủng hoảng tài chính. Đây sẽ là tổn thất rất lớn và gây hậu quả lâu dài.  Lối thoát từ phía cung?  Có thể thấy một đặc điểm quan trọng là các chính sách chống lạm phát hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn, và đối tượng tác động là mặt tổng cầu của nền kinh tế. Hạn chế rất rõ của các chính sách này là chúng thường xung đột với mục tiêu tăng trưởng. Do đó, khả năng theo đuổi đến cùng một chính sách không cao. Việc chồng chất các chính sách ngắn hạn và nửa vời thường không đem lại một kết quả thống nhất. Kết quả là lạm phát vẫn không có dấu hiệu suy giảm, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.  Theo quan điểm của chúng tôi, chúng ta nên quan tâm nhiều hơn đến những kế hoạch tổng thể ở mức dài hạn hơn, với các chính sách hỗ trợ mặt cung nhằm giảm bớt ảnh hưởng của các nhân tố gây lạm phát hiện nay.  Thứ nhất, tăng hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở khu vực tư nhân, cả về thể chế lẫn kinh tế như ưu đãi tín dụng. Khi khu vực nhà nước được thu hẹp tương đối, sức ép lạm phát sẽ giảm (như đã thấy ở Trung Quốc). Thứ hai, tiếp tục phát triển các thể chế hỗ trợ thị trường nhằm giúp thị trường vận hành tốt hơn. Ví dụ, việc giá cả một số mặt hàng tăng nhanh khi giá nhập khẩu tăng, nhưng lại giảm chậm khi có cắt giảm thuế, có nguyên nhân từ cấu trúc độc quyền trong thị trường của mặt hàng đó. Nếu giải độc quyền, giá sẽ giảm linh hoạt hơn. Thứ ba, việc nới lỏng từ từ giá trị đồng USD nên được đi liền với các chính sách tái cấu trúc nền kinh tế, giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh bằng chất lượng thay vì bằng giá. Điều tương tự cũng nên áp dụng cho thị trường lao động. Việc tăng lương cơ bản đi liền với tỷ giá USD giảm, tất yếu khiến lao động Việt Nam đắt lên tương đối. Để đối phó với tình huống này trong dài hạn, chúng ta cần có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động để tăng sức cạnh tranh thông qua kỹ năng lao động cao, chứ không phải chỉ nhờ giá lao động rẻ.  Nguyễn Đức Thành      Author                Quản trị        
0.09836065573770492
__label__tiasang Suy thoái kinh tế làm người Mỹ thay đổi như thế nào ?      Khủng hoảng tài chính xảy ra tại nước Mỹ từ sau vụ phá sản của đại gia nhà đất Lehman Brothers hồi tháng 8 năm 2008. Mới đầu chỉ các định chế tài chính bị sốc, về sau ngày càng có nhiều người Mỹ bình thường cảm thấy khủng hoảng đã gõ cửa nhà mình. Cuộc khủng hoảng đó còn lan ra các nước khác. Hậu quả là kinh tế Mỹ suy thoái nhưng hiện nay đang bắt đầu phục hồi. Suy thoái kinh tế đã làm cho người Mỹ thay đổi trên nhiều mặt.      Nhà kinh tế Richard Berner ở công ty Morgan Stanley cho rằng tuy cuộc khủng hoảng tài chính lần này được châm ngòi bởi các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp, song nguồn gốc của nó lại là lối sống vay mượn để tiêu dùng mà người Mỹ tôn sùng.   Đúng vậy, có thể nói cả nước Mỹ sống bằng tiền vay ngân hàng. Cho dù trong túi không một đồng tiết kiệm, nhưng họ cứ vay tiền để mua sắm thoải mái, sống cho sướng đã, chẳng cần biết bao giờ mình có thể trả hết nợ. Họ định nghĩa đó là lối sống “Vay tiền của ngày mai để sống sung sướng hôm nay”. Tỷ phú G. Soros nói bây giờ đã đến lúc phải điều chỉnh lớn lối sống Mỹ. Điều tra cho thấy 2/3 người Mỹ nghĩ suy thoái kinh tế còn kéo dài vài năm nữa, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Mỹ giảm hẳn, hơn 50% nói tình hình tài chính của họ xấu đi.   Có câu chuyện vui được báo chí nhiều nước đăng tải như sau : Bà già Trung Quốc dành dụm cả đời được một món tiền, rốt cuộc trước khi chết được ở nhà mới ; bà già người Mỹ thì trước tiên vay tiền mua nhà, cả đời được ở nhà mới ; chẳng rõ bây giờ khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, bà nào cười bà nào khóc ?   Sinh hoạt đảo lộn  Khủng hoảng kinh tế đem lại hai thứ người Mỹ sợ nhất là thất nghiệp và phá sản. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 11/2007 là 4,7%, tháng 11/2010 lên tới 9,8%. Từ tháng 1 tới tháng 8/2008, trung bình mỗi tháng có 84 nghìn lượt người Mỹ thất nghiệp. Ngành tài chính có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, tuy rằng thời gian 1998-2008 ngành này tạo ra nhiều việc làm hơn cả. Người mất việc rất khó tìm được việc mới có mức lương tàm tạm; hầu hết đành sống bằng tiền trợ cấp thất nghiệp chỉ tạm đủ ăn (mức trung bình trên toàn liên bang là 300 USD mỗi tuần cho một người). Vì thiếu tiền mua thực phẩm, tháng 11/2009 có khoảng 50 triệu người Mỹ (16,1% số dân) nhận phiếu ăn do Nhà nước cấp.   Số người xin phá sản thời gian 9/2006 – 9/2007 là 775.344; thời gian 9/2009 – 9/2010 lên tới 1.538.033 người. Rất nhiều người bị phá sản vì vấn đề nhà đất. Vì thế lượng khách hàng của các luật sư làm dịch vụ phá sản tăng mấy lần.   Kinh tế suy thoái làm cho thu nhập của mọi người bị sút giảm trong khi giá cả sinh hoạt tăng, nhất là giá thực phẩm, xăng dầu; ngược lại giá nhà đất, chứng khoán tụt dốc thảm hại. Nhiều thế hệ người Mỹ quen sống sung sướng, nhà rộng, đủ mọi tiện nghi, chi tiêu thoải mái bằng tiền vay ngân hàng mà không lo dành dụm để chuẩn bị đối phó khủng hoảng kinh tế. Theo điều tra cuối năm 2010 của Bankrate.com, chỉ 24% người Mỹ có tiền tiết kiệm đủ chi dùng trong 6 tháng, cũng chừng ấy người không có chút tiền tiết kiệm nào. Vì thế khi bỗng nhiên thu nhập sụt giảm hoặc mất hẳn, họ lúng túng không biết xoay sở ra sao. Nhiều người vẫn ở nhà rộng, có mấy ô tô mà thiếu cả tiền mua thực phẩm. Muốn bán xe bán nhà cũng khó vì chẳng ai mua, dù giá bán thấp hơn giá mua rất nhiều.  Các doanh nghiệp đều tìm cách giảm người để giảm chi lương bổng. Nhưng ở Mỹ, việc này không đơn giản. Trong một số ngành, khi cho nhân viên thôi việc, chủ doanh nghiệp phải bồi hoàn cho họ rất nhiều tiền. Để tránh các khoản chi ấy, người ta thường dùng cách giảm thời gian làm việc để giảm lương. Nhiều công ty bây giờ cho làm việc 3 ngày một tuần, thời gian làm việc mỗi ngày cũng giảm bớt chỉ còn 4-5 giờ. Một văn phòng luật ở New York cho hơn 100 nhân viên nghỉ phép hẳn một năm, tiền lương chỉ còn 1/3. Ai không bị nghỉ thì phải làm thêm việc, trở nên bận túi bụi. Họ không có thời gian ăn trưa đàng hoàng như trước mà phải ăn nhanh, và thế là các tiệm McDonald, KFC trở nên đông khách trong khi các hiệu ăn sang trọng phải đóng cửa.     Nhiều người bỗng dư dật thời gian. Có người đi tìm thêm việc làm để kiếm ăn, người đi học thêm nghề mới hoặc nâng cao tay nghề. Nhiều người thất nghiệp nay cắp sách tới trường học thêm một chuyên môn nào đấy để có thể kiếm được việc làm, khiến cho số người xin vào học các trường Đại học tăng lên nhanh chóng. Nhiều bà nội trợ lên mạng tìm việc làm ở nhà. Những ngành lao động vất vả như chăm sóc người ốm, người già, lau chùi quét dọn… bây giờ không thiếu người đến xin làm.   Tiêu thụ hàng hóa sút kém rõ rệt. Thoạt tiên các mặt hàng xa xỉ phải hạ giá, nhiều cửa hàng treo bảng “Sale” (bán hạ giá), kể cả hàng hiệu Valentino, Loro Piana, Comme des Garcons. Tiếp đó một số hàng phổ thông cũng hạ giá theo. Tiêu dùng trong nước vốn là nền tảng của sự phồn vinh kinh tế ở Mỹ, nay tiêu dùng sa sút khiến nền kinh tế càng tồi tệ.  Làm quen với tính căn cơ tiết kiệm  Trước đây người Mỹ quen chi tiêu thoải mái, không cần tính toán; nay thì người ta bắt đầu thấy cần suy nghĩ kỹ trước khi mua sắm. Thí dụ bây giờ chẳng ai còn bỏ mấy chục USD để mua cái máy bóc trứng luộc. Mức chi dùng bình quân mỗi ngày của một người Mỹ hồi tháng 10/2008 là 91 USD thì đến tháng 10/2010 chỉ còn 62 USD.  Trong khủng hoảng kinh tế, quan điểm tiêu dùng của mọi người bị thay đổi mạnh. Bây giờ họ đều chủ trương chi tiêu có tính toán, tiêu dùng có lý trí với nguyên tắc tiết kiệm và thực dụng lặng lẽ thay thế mốt tiêu dùng trên hết thời trước. Chỗ nào cũng thấy bán đồ cũ (second hand). Nơi trao đổi đồ cũ chuyển từ cửa hiệu tới các gia đình. Nước Mỹ có lịch sử trao đổi hàng tại ga-ra ô tô. Cứ đến cuối tuần, dân trong khu phố mang các thứ đồ mình không dùng tới bày ra bán, nơi bày là ga-ra, sân, vườn trước sau nhà. Người ta muốn thanh lý những đồ không dùng đến, nhân thể kiếm ít tiền.  Tiết kiệm trở thành thói quen mới của nhiều người. 20% khách hàng có phiếu mua hàng giảm mua sắm. Bây giờ người ta thích mua loại xe nhỏ dùng ít xăng ; các loại xe phân khối lớn và xe thể thao trở nên khó bán.   Một cuộc điều tra tháng 7/2009 cho thấy 22% người Mỹ bớt số lần đến bác sĩ khám sức khỏe. Số ngày đi du lịch rút ngắn. Nhiều đôi hoãn ngày cưới, hoặc sinh con. Nhiều nhà hoãn mua xe mới, nội thất mới hoặc trang trí lại nhà. Lượng ô tô chạy trên đường giảm hẳn. Nhiều người bây giờ đi làm bằng xe đạp, vừa tiết kiệm xăng, sạch môi trường, vừa có dịp tập thể dục. Các phương tiện giao thông công cộng nay đông khách hơn trước rất nhiều.   Thay đổi cách ăn uống  Bữa ăn trưa của người đi làm có thay đổi rõ rệt. Họ bớt đến các nhà hàng mà tìm cách ăn ít tốn kém hơn. Món Bữa trưa đóng hộp (Luncheon Meat) rẻ tiền hồi Đại suy thoái thập niên 30 thế kỷ XX từng thịnh hành nay lại phục hồi. Mỗi hộp giá có 2,4 USD, chưa bằng giá nửa miếng bittet; rất nhiều người thích mua để ăn trưa. Một số người chịu khó nhét vào bụng các loại thức ăn vừa rẻ vừa tiện lợi nhanh chóng, như McDonald, gà rán KFC tuy báo chí gọi đấy là thức ăn nhanh rác rưởi (junk fast food).   Các cá nhân và gia đình giảm hẳn số lần đi ăn nhà hàng và bớt mua các loại thực phẩm không cần thiết. Đàn ông bớt hút thuốc lá và uống rượu sang. Nhiều gia đình trở lại thói quen nấu lấy bữa ăn. Trong năm khủng hoảng đầu tiên, số người tự nấu ăn tăng 325%. Chương trình truyền hình của Nữ hoàng nội trợ Martha Stewart tăng thêm mục “Bí quyết tiết kiệm” trong nấu ăn.   Chỉ sau một đêm, bà già 94 tuổi Clara Cannucciari [1] trở nên nổi tiếng vì người ta được biết chuyện hồi thập niên 30 thế kỷ trước bà từng dùng 2 USD kiếm được mỗi tuần bằng nghề may vá để nuôi cả gia đình ăn trong một tuần. Lâu ngày bà tích lũy được một danh sách nhiều món ăn đơn giản, rẻ tiền mà ngon, chủ yếu từ  đậu tương và bột mỳ; gọi là Thực đơn thời Đại suy thoái, nay in thành sách bán chạy. Năm 2007, cháu ngoại bà đã làm một cuốn phim ngắn về tài nấu ăn cao siêu của bà và tung lên Youtube, kết quả có hơn 1 triệu người vào thăm.   Thay đổi về tài chính   Trong thời kỳ Đại suy thoái hồi thập niên 30, chính quyền nhiều địa phương ở Mỹ đã phát hành các loại tem gọi là Scrip tạm thời thay cho tiền để phát lương cho công nhân viên. Ai ngờ ngày nay loại tiền này lại xuất hiện; rất nhiều địa phương ở Mỹ phát hành loại tiền riêng của mình. Như vùng Berkshires thuộc bang Massachusetts có tiền Berkshires, Bắc Carolina có tiền Plenty, Detroi có tiền Cheers … Cả nước Mỹ có khoảng 75 loại tiền địa phương như vậy. Cách sử dụng tiền địa phương cũng gần giống như phiếu mua hàng: công ty và các cá nhân hình thành mạng in loại tiền này, khách hàng mua tiền ấy với giá ưu đãi (thí dụ 95 xu mua được 1 USD), sau đó được dùng để mua hàng với giá trị in trên tiền (1 USD) tại các cửa hàng sử dụng loại tiền này trong địa phương mình cư trú.  Thay đổi cách giải trí  Khi thu nhập giảm sút, nhiều người Mỹ bớt đi tìm các trò tiêu khiển giải trí ngoài phố mà chọn cách giải trí ở nhà mình. Người ta bắt đầu ưa thích tổ chức các buổi vui chơi, hòa nhạc gia đình hoặc giữa bạn bè với nhau, hoặc ở nhà xem truyền hình, đánh cờ, chơi trò chơi, làm vườn, sửa chữa vặt đồ đạc trong nhà và chơi thể thao. Lượng tiêu thụ các dụng cụ chơi cờ và đồ chơi tăng rõ rệt. Số người đến casino, tìm gái mãi dâm hoặc tìm mua ma túy … giảm hẳn.  Thay đổi quan hệ gia đình, bè bạn  Không ít người trẻ tuổi vì không còn đủ tiền thuê nhà đành phải về ở nhờ nhà cha mẹ. Nhiều người tìm đến bạn bè cũ để nhờ vả tìm việc làm hoặc giải quyết khó khăn đời sống. Người Mỹ quen sống tự lập, độc lập, nay cảm thấy cần liên kết giúp đỡ nhau cùng vượt qua thời kỳ khó khăn. Vợ chồng phải luôn bàn bạc cách chi tiêu mua sắm chứ không thể ai muốn mua gì thì tự mua như trước.   Kết quả của những thay đổi nói trên làm cho người Mỹ sống lành mạnh hơn trước, quan hệ người-người, gia đình, bạn bè được thắt chặt, đời sống tinh thần phong phú hơn tuy đời sống vật chất có túng thiếu hơn. Các loại bệnh và tệ nạn xã hội giảm hẳn vì người ta không còn thừa tiền để mua dâm, xài ma túy, cờ bạc rượu chè. Nạn béo phì mất đất phát triển. Điều tra cho thấy 57% số người được hỏi nói suy thoái kinh tế khiến họ thắt chặt quan hệ gia đình, vợ với chồng, con cái với cha mẹ; 35% nói họ hăng hái hơn trong các công việc xã hội ở khu phố và tôn giáo  Thay đổi tư duy  Thiệt hại thiết thân từ suy thoái kinh tế làm người Mỹ quan tâm hơn đến các vấn đề của xã hội, đất nước, nhất là vấn đề kinh tế. Các buổi tranh luận trên truyền hình về chính sách kinh tế của Chính phủ, sách báo viết về vấn đề kinh tế tài chính ngày càng được nhiều người chú ý. Dân chúng muốn biết do đâu có khủng hoảng tài chính, trách nhiệm của Nhà nước, của người dân như thế nào. Rõ ràng nhận thức của họ về các vấn đề này đã nâng cao một bước đáng kể. Các nhà kinh tế góp phần quan trọng thức tỉnh người Mỹ quan tâm nhiều hơn đến vận mệnh nền kinh tế đất nước mình, chứ không chỉ quan tâm đến bản thân như trước. Phần lớn họ hiểu ra là không nên trở lại lối sống tiêu dùng ít suy nghĩ tính toán như trước.   Những người thất nghiệp hiểu ra họ cần nâng cao tay nghề, học thêm kiến thức và nghề nghiệp mới. Nhiều người dùng tiền bồi thường mất việc để kinh doanh một nghề mới. Đây là những cách tốt nhất để tự thoát ra khỏi suy thoái kinh tế.  Trong suy thoái, dân Mỹ vẫn tin vào Giấc mơ Mỹ, nhưng nhận thức giờ đã khác trước. Người ta đưa ra định nghĩa mới về Giấc mơ Mỹ, đó là  Không nợ nần, sống dưới khả năng tài chính của mình và trong nhu cầu của mình… chứ không phải quan niệm “nhiều hơn là tốt hơn” (“more is better” ) như trước kia.  Thay đổi tư duy là thay đổi quan trọng nhất, nó đang giúp người Mỹ tìm được lối thoát ra khỏi suy thoái kinh tế cho cá nhân và gia đình mình cũng như cho xã hội./.                   Nguyên Hải  ————-  [1]. Có thể xem video Great Depression Cooking with Clara theo link http://www.youtube.com/user/DepressionCooking#p/shows    Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy thoái kinh tế toàn cầu hay cuộc chiến các cường quốc?      Tuần n&#224;y bộ sậu nước Mỹ gồm nh&#226;n vật thứ hai Nh&#224; trắng – b&#224; Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton – v&#224; &#244;ng Bộ trưởng T&#224;i ch&#237;nh Mỹ – Timothy Geithner – th&#225;p t&#249;ng c&#244;ng du 3 nước ch&#226;u &#193;: Trung Quốc, Nhật v&#224; H&#224;n Quốc, với chủ đề đ&#224;m ph&#225;n về an ninh v&#224; kinh tế Mỹ – Trung, trong đ&#243; vấn đề Bắc H&#224;n đứng đầu nghị tr&#236;nh. Sau khi nhậm chức Tổng thống nước Mỹ, &#244;ng Barack Obama đ&#227; c&#243; hai chuyến c&#244;ng du sang đối t&#225;c Trung Quốc trong hai năm 2009, 2010. Mọi nỗ lực đ&#224;m ph&#225;n kinh tế theo quan điểm cấp tiến, hiền h&#242;a của Đảng D&#226;n chủ của &#244;ng Obama đều kh&#244;ng mang lại kết quả tốt đẹp trong việc k&#234;u gọi Trung Quốc tăng gi&#225; đồng Nh&#226;n d&#226;n tệ (NDT), nguy&#234;n nh&#226;n m&#224; người Mỹ v&#224; cả thế giới cho rằng ch&#237;nh n&#243; đ&#227; l&#224;m n&#234;n cuộc khủng hoảng kinh tế to&#224;n cầu 2008. Mặc d&#249; những th&#225;ng gần đ&#226;y, người Trung Quốc đồng &#253; sẽ tăng gi&#225; đồng NDT. Nhưng vẫn chưa thấy bất kỳ động tĩnh n&#224;o l&#224; họ sẽ thực thi    Và ngày 25/5/2010, ông Hồ Cẩm Đào vẫn phát biểu: “Trung Quốc sẽ điều chỉnh chính sách tiền tệ, nhưng theo chính sách của Trung Quốc chứ không theo bất kỳ áp lực nào”. Vấn đề đặt ra là tại sao 3 năm nay kể từ giữa cuối năm 2007, căn bệnh mãn tính khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu tái diễn từ nước Mỹ, chính sự sụp đổ của các tập đoàn tài chính mà cách đây chỉ 7 năm thôi chúng là nơi thu hút đầu tư mạnh nhất trên thế giới. Và chúng đã lan rộng trên toàn thế giới, nhưng người Trung Quốc vẫn khăng khăng từ chối nâng giá đồng NDT mà “thế giới còn lại” cho là nguyên nhân mọi khủng hoảng. Họ cho rằng trong 4 năm qua người Mỹ đã cho giảm giá đến 15% đồng USD, sao không gọi đó là nguyên nhân khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sao cả thế giới không lên tiếng, lại cho là chính sách giữ giá đồng NDT thấp của họ là nguyên nhân cơ bản làm mất cân đối ngân sách các nước trên thế giới? Nhưng đến lúc này ông Hồ Cẩm Đào lại đồng ý điều chỉnh chính sách tiền tệ và vẫn còn để lửng khi nào thay đổi và thay đổi ra sao, có gì nằm sau cuộc khủng hoảng này?           Nhìn lại quá khứ và nguyên nhân khủng hoảng        Các nhà chiến lược kinh tế cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu là một qui luật có tính chu kỳ như một biểu đồ hình sin. Cứ thế lập đi lập lại không bao giờ dứt. Cho đến nay đã có 8 cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã diễn ra vào các thập niên 1930, 1940, 1950 có 2 cuộc vào năm 1953 và 1958, 1970, 1980, 1990 và 2000. Nhưng nguyên nhân là do mất cân đối toàn cầu về mức độ thặng dư thương mại khổng lồ giữa các quốc gia tạo ra.       Các nhà kinh doanh làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng lại cho rằng nguyên nhân khủng hoảng là do thiếu năng lực quản lý hệ thống tài chính. Còn việc mất cân cối thặng dư thương mại giữa các nước chỉ là giọt nước làm tràn ly mà thôi.       Thế nhưng các nhà theo trường phái thuyết âm mưu (Conspiracy theory) thì cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế là bắt nguồn từ lòng tham của con người mà gây ra. Và lòng tham đó đã được các nhà tài phiệt tận dụng một cách triệt để, để vơ vét và làm giàu cho tập đoàn của mình. Họ chủ động kích cầu lòng tham của “thế giới còn lại” bằng giấc mơ ảo từ tín phiếu, từ cổ đông, từ bất động sản… Họ nâng giá bằng những đợt kích giá trên thị trường chứng khoán. Họ cho vay một cách dễ dàng những đồng vốn kếch sù họ có. Đến khi chiếc bong bóng họ thổi đã đến đỉnh điểm, họ bắt đầu châm kim bằng những đợt thắt chặt hầu bao cho vay và nâng giá lãi suất. Làn sóng vỡ nợ gia tăng và các con nợ phá sản, thất nghiệp gia tăng, “của Cesar lại trả về Cesar” bằng phương án xiết nợ, người tiêu dùng trắng tay.            Những cuộc tranh cãi và gây sức ép        Chủ xướng của các nước có nền kinh tế đã phát triển cao như Mỹ và châu Âu là dựa vào lý do các nhà chiến lược đưa ra, để gây sức ép với các nước đang phát triển vì các nước này chủ trương một đồng tiền yếu phục vụ cho xuất khẩu, làm thâm thủng những khối lượng khổng lồ về nhập siêu của các nước đã phát triển dẫn đến mất cân bằng thặng dư thương mại.        Trong khi đó, chủ trương của những nhà quản lý tài chính toàn cầu như IMF lại cho rằng các nước có thâm thủng thương mại cần siết chặt quản lý tín dụng ngân sách nước mình. Buông lỏng quản lý tài chính hay là chết?        Đối với các nhà theo thuyết âm mưu thì các Nhà nước cần phải chặt bàn tay lông lá vô hình của các quyền lợi nhóm, để giảm thiểu lòng tham và những cơn sóng thổi phồng thị trường trong nước.       Ai cũng có lý, và ai cũng đưa ra lý lẽ cho riêng mình mà chưa ai có thể thắng ai. Song điều cho thấy rõ ràng nhất trong cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu lần này đã dẫn đến những hệ lụy như sau:        + Các nước chủ trương một nền kinh tế dựa chủ yếu vào xuất khẩu, đại diện là Trung Quốc đã vướng vào thế “lưỡng đầu thọ địch”. Một mặt họ bị các nước đã phát triển lên án chính sách đồng tiền NDT neo ở giá thấp. Một làn sóng vận động tẩy chay hàng Trung Quốc trên khắp toàn cầu với chiêu bài hàng Trung Quốc có nhiều độc hại gây chết người. Bắt đầu bằng việc sữa có chất Melamine ở Trung Quốc, rồi sau đó là đồ chơi trẻ em, các loại thức ăn cho trẻ em như kẹo bánh rồi đến cả vải sợi dùng để sản xuất hàng may mặc.        + Một số chiến dịch tăng giá thuế nhập khẩu vào các nước đã phát triển của những mặt hàng xuất khẩu từ các nước thế giới thứ ba, trong đó có Việt Nam, đã được áp dùng vì lý do họ cho rằng các nước thứ ba đã có chính sách bảo hộ hàng xuất khẩu bằng nhiều cách, trong đó có chính sách phá giá đồng tiền nội địa.         + Đối với bản thân các nước đã phát triển, chính quyền sở tại đã áp dụng cả 3 lý thuyết đưa ra của các nhà phân tích. Đại diện rõ nhất là Mỹ, chính sách cải tổ quản lý từ y tế đến tài chính đã và đang tiến hành thực thi ráo riết. Bên cạnh đó việc giảm giá đồng USD đã được FED thực hiện liên tục 4 năm qua, và gây áp lực nâng giá đồng NDT của Trung Quốc. Những cuộc phá sản các tổ chức tài chính mà đặc trưng là sự công bố phá sản tổ chức tài chính Lehman Brothers – bắt đầu cho một chuỗi phá sản 73 ngân hàng, tổ chức tín dụng trên đất Mỹ – Tung tiền ra mua lại các tập đoàn bị phá sản và kích cầu kinh tế. Chính sách thắt lưng buộc bụng trên toàn nước Mỹ, nơi tiêu dùng hơn ½ tổng sản lượng thế giới làm ra, chỉ với một số dân chưa bắng 1/20 của toàn cầu.        + Đối với cựu lục địa châu Âu, một chính sách đoàn kết để đùm bọc nhau qua cơn hoạn nạn đã và đang xảy ra trên diện rộng. Bên cạnh sự siết chặt quản lý tài chính tiền tệ, tung tiền cứu các nền kinh tế thành viên đang rơi vào sụp đổ, gây áp lực nâng giá đồng NDT Trung Quốc và tăng thuế hàng nhập khẩu từ các nước được cho là có chính sách bảo hộ xuất khẩu hàng tiêu dùng thông qua sự phá giá đồng tiền.       + Thế giới bắt đầu thủ thế với những biến động do suy thoái kinh tế toàn cầu gây ra. Những mặt hàng có tính sát sườn đã được các nhà đầu tư đẩy lên cao ngất chưa từng có trong lịch sử từ trước đến nay. Đã có lúc lương thực, đặc biệt là gạo đã tăng từ 600 đến 1.200 USD/tấn vào cuối tháng 4/2008. Vàng lên đỉnh điểm trên 1.237 USD/ounce vào giữa tháng 5/2010, và dầu hỏa lên trên 118 USD/ thùng vào cuối tháng 4/2008. Chỉ số Dow Jones, đã có lúc rơi từ hơn 12.000 điểm xuống còn dưới 7.000 điểm vào khoảng đầu tháng 3/2009. Sự thao túng thị trường và tạo ra những đợt giá lên xuống đã góp phần không nhỏ cho sức nóng suy thoái kinh tế 2008-2009.        Tất cả những bối cảnh trên đã tạo ra một hình ảnh thế giới hỗn loạn thời hiện đại. Tất cả nháo nhào, tất cả đều thua thiệt, mất mát. Nhưng cái mất lớn nhất là mất lòng tin. Nó đã mang đến những được mất như thế nào cho tài chính toàn cầu? Ai được, ai mất, ai lợi, ai bị hại? Sẽ có một cái nhìn cụ thể trong kỳ tới.      Kỳ sau: Được – Mất trong suy thoái kinh tế toàn cầu 2007-2009    Author                Quản trị        
__label__tiasang SVF và VAST hợp tác về khởi nghiệp      Sáng 27/09/2017, tại Hà Nội, Quỹ khởi nghiệp Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam (SVF) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đã ký văn bản Hợp tác chiến lược, nhằm đưa nhanh các kết quả nghiên cứu KH&CN cũng như sản phẩm KH&CN đến với doanh nghiệp để triển khai sản xuất kinh doanh. Sáu công nghệ đã được chọn để khởi đầu cho sự hợp tác này.      TS Hà Quý Quỳnh – Trưởng Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (phải)  và ông Phạm Duy Hiếu – Tổng giám đốc SVF, đại diện cho hai bên ký văn bản hợp tác  Lễ ký kết diễn ra trước sự chứng kiến của các doanh nghiệp, nhà đầu tư cùng lãnh đạo các viện nghiên cứu chuyên ngành và các nhà khoa học, nhà sáng chế công nghệ trẻ của VAST.  Trong thời gian tới, hai bên sẽ cùng nhau tiến hành các hoạt động: Lựa chọn kết quả nghiên cứu KH&CN của các nhà khoa học thuộc VAST để giới thiệu tới các nhà đầu tư, các doanh nghiệp; Tổ chức các buổi hướng dẫn cách xây dựng, trình bày đề án, kế hoạch kinh doanh kết quả KH&CN để trình bày, kêu gọi đầu tư từ các nhà đầu tư, doanh nghiệp; Trình bày đề án, kế hoạch hợp tác phát triển sản phẩm KH&CN giữa các chủ sở hữu công nghệ với các nhà đầu tư để cùng phối hợp sản xuất hàng hóa KH&CN xuất khẩu.  Đây được xem như một nỗ lực nhằm cải thiện mối liên kết còn lỏng lẻo giữa nhà khoa học và doanh nghiệp trong quá trình hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp.  Ông Phạm Duy Hiếu – Tổng giám đốc SVF, cho biết, việc hợp tác sẽ diễn ra trên nguyên tắc lấy các nhà khoa học làm trung tâm, còn SVF đóng vai trò đầu mối tiếp nhận các đơn đặt hàng từ địa phương và từ cộng đồng các doanh nhân, doanh nghiệp đang có mong muốn đầu tư mở rộng ngành nghề để làm đề bài cho các nhà nghiên cứu.  Sau khi thẩm định từ khoảng 200 công nghệ sẵn sàng chuyển giao, đợt này VAST và SVF đã chọn được sáu công nghệ được các nhà đầu tư quan tâm để triển khai hợp tác sản xuất, kinh daonh giữa các nhà khoa học và doanh nghiệpm bao gồm:  1. Công nghệ sinh học trong tạo giống cây Ba kích để sản xuất dược liệu chất lượng cao của Viện Công nghệ sinh học;  2. Công nghệ bào chế và sản xuất dược phẩm, thực phẩm chức năng từ dược liệu chất lượng cao của Viện Hóa học;  3. Công nghệ Nano trong nâng cáo giá trị, chất lượng dược phẩm Việt Nam, Viện khoa học vật liệu  4. Công nghệ Plasma lạnh trong sản xuất thiết bị hỗ trợ điều trị trong bệnh viện, Viện Vật lý;  5. Công nghệ nhận dạng để sản xuất thiết bị hỗ trợ người khiếm thị đọc sách, Viện Công nghệ thông tin;  6. Công nghệ bảo mật, giám sát thông tin kinh doanh trên mạng xã hội, Viện Công nghệ thông tin;  Trong khuôn khổ lễ ký kết, các viện/trung tâm nghiên cứu của VAST và các doanh nghiệp cũng trưng bày khoảng 50 sản phẩm khoa học và công nghệ tiềm năng khác, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và dược phẩm, bên cạnh các sản phẩm về thiết bị y tế và điện tử dân dụng.  SVF ra đời năm 2016, là quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đầu tiên ở Việt Nam sử dụng nguồn vốn xã hội hóa và không vì mục tiêu lợi nhuận. Quỹ hoạt động theo mô hình: gây quỹ – đầu tư – phát triển doanh nghiệp – trao quyền – đánh giá thành quả – tái đầu tư. Giá trị cốt lõi và tôn chỉ hoạt động do SVF tự đặt ra là kết nối – nuôi dưỡng – chắp cánh, với những cam kết như sẽ đầu tư 20 triệu USD và hỗ trợ cho hoạt động R&D thông qua việc xây dựng ít nhất hai phòng Lab và hình thành Mạng lưới các nhà khoa học.           Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Swiss Made      Cuốn sách nổi tiếng Swiss Made của James  Breiding đã giải thích cho chúng ta bí quyết về sự giàu có, thịnh vượng  của quốc gia nhỏ bé nằm giữa các nước lớn tại Châu Âu này, không có  biển, không có tài nguyên khoáng sản, có rất ít đất nông nghiệp nhưng có  nhiều đồi núi,sông hồ với phong cảnh tuyệt đẹp.     Tại sao một nước nông nghiệp nghèo khổ trước đây đã trở nên một đất nước giàu có nhất hành tinh với GDP/người lền đến 80.276 USD (2013), sự giàu có không chỉ về tiền bạc mà cả về văn hóa, giáo dục, môi trường sống, với nền kinh tế phồn vinh, năng động, tăng trưởng bền vững, được xếp hạng năng lực cạnh tranh cao nhất thế giới trong nhiều năm liền trong khi vẫn đứng đầu trong xếp hạng chất lượng cuộc sống. Tại sao Thụy Sỹ có thể thành công trong việc gắn liền tên nước mình với những sản phẩm có chất lượng cao nhất, được tín nhiệm nhất từ đồng hồ đến chocolat, từ fromage đến dược phẩm, dịch vụ du lịch, dịch vụ ngân hàng với tên tuổi các hãng, công ty nổi tiếng thế giới, tại sao Thụy Sỹ có số công ty lớn bình quân đầu người cao nhất thế giới v.v… Cũng cần phải nhắc đến Thụy Sỹ còn là đất nước có tỷ lệ nhà khoa học được giải thưởng Nobel và số bằng phát minh trên đầu người cao nhất thế giới và v.v.  Tác giả James Breiding đã nghiên cứu nghiêm túc và trình bày một cách hấp dẫn với cách hành văn dễ hiểu trong gần 600 trang sách để giải mã sự kỳ diệu có thực do bàn tay con người của đất nước này tạo ra với cách kể truyện hấp dẫn với các tình tiết rất thú vị.  Trong 15 chương sách, tác giả đã tập trung trình bày về các sản phẩm, doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa và các tập đoàn đa quốc gia Thụy Sỹ nhưng tác giả đã bắt đầu bằng sự phân tích những đặc điểm về xã hội và nhà nước Thụy Sỹ, nhân tố quan trọng tạo nên sự kỳ diệu này.   Tác giả đã nêu bật những nét đặc thù của đất nước, con người và nhà nước Thụy Sỹ: đa dân tộc, đa văn hóa, nhiều ngôn ngữ, tỷ lệ người nhập cư rất cao. Nếu như một nước đa dân tộc tương tự như Nam Tư đã tan rã thì Thụy Sỹ lại thịnh vượng vì chế độ liên bang phân cấp sâu rộng và chế độ tự trị địa phương, thực hiện các quyền dân chủ của người dân, tôn trọng đa văn hóa, đa ngôn ngữ. Thụy Sỹ đã biến sự đa dạng và tỷ lệ cao của người nhập cư thành một lợi thế, đó là lợi thế thu hút nhân tài. James Breiding đã kể ra vô số những doanh nhân thành đạt của Thụy Sỹ là người nhập cư từ Henri Nestle là người Đức tỵ nạn đến Nicolas Davidoff là người Nga gốc Do Thái nhập cư v.v. Chính môi trường mới của người nhập cư đòi hỏi tất cả những người này phải phấn đấu để tồn tại, để được tôn trọng và để đi đến thành công. Họ không phải lo lắng nhìn về quá khứ của mình mà tập trung mọi nỗ lực xây dựng sự nghiệp, vun đắp tương lai ở quê hương mới. Họ không phải lo lắng về những thất bại mà họ gặp phải trên con đường phát triển vì cả xã hội đều hăm hở thử nghiệm, thực hiện nguyên tắc “thử và sai” của điều khiển học, nhanh chóng học từ cái sai để chấp nhận thay đổi. Và trong số họ đã có không ít người đã thành đạt ở nước ngoài sau khi đã học, đã tỵ nạn tại Thụy Sỹ như Einstein, Lenin, Trotsky và nhiều người khác. Dòng người nhập cư và dòng chảy chất xám liên tục, năng động đã làm cho nước Thụy Sỹ nhanh nhạy với những tư tưởng mới, không chấp nhận những tư tưởng giáo điều cứng nhắc xưa cũ, không chấp nhận bảo thủ. Đội ngũ doanh nhân của Thụy Sỹ mạnh dạn dấn thân vào rủi ro, hướng mạnh ra thị trường nước ngoài vì thị trường trong nước đã nhanh chóng trở nên quá chất hẹp.  Ngay trong phần đầu của cuốn sách, tác giả đã đưa ra những nguyên nhân cho sự thành công đó chính là bộ máy nhà nước có quy mô tối thiểu cả về quy mô bộ máy lẫn mức thuế, một bộ máy tôn trọng nghiêm túc các quyền và nguyện vọng của người dân và rất ít can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các công ty và thị trường. Một nguyên tắc nổi bật của chính quyền Liên bang Thụy Sỹ là sự phân cấp và chế độ tự trị địa phương rất rộng rãi từ cấp tiểu bang đến tỉnh, thành phố. Mỗi cấp tự quyết định ngân sách và mức thuế của mình. Doanh nghiệp nếu thấy thuế suất và bộ máy ở bang A không thích hợp sẽ được tự do lựa chọn sang thành phố B, vì vậy các bang, thành phố đều phải phấn đấu có hiệu quả cao nhất với mức thuế thấp nhất, Người dân được nhà nước trưng cầu dân ý và trực tiếp biểu quyết về tất cả những vấn đề lớn, nhỏ liên quan đến họ từ mức thuế họ đồng ý đóng góp, đến đề xuất giảm thời gian làm việc, về số ngày được nghỉ lễ trong năm nên tăng lên, về nghiên cứu di truyền học, về nhà thờ Hồi giáo và về hội nhập Châu Âu v.v… Mới đây, trong tháng 11.2013 này, người dân Thụy Sỹ đã bác bỏ đề nghị giới hạn tối đa thu nhập của lãnh đạo công ty ở mức 12 lần tiền lương của công nhân và để cho công ty tự quyết định.Trưng cầu dân ý về những vấn đề như vậy được tổ chức thường xuyên và kết quả là đa số người dân đã bác bỏ những đề nghị kéo dài thêm ngày nghỉ, rút ngắn thời gian lao động, giảm độ tuổi được hưởng chế độ hưu trí hay giảm thuế vì e ngại làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước này. Thí dụ như quyền bỏ phiếu của phụ nữ chỉ được chấp nhận sau lần trưng cầu thứ ba hay thứ tư. Tác giả chỉ ra rằng chính chế độ này đã tạo ra sự ổn định và khả năng dự đoán được chính sách của Thụy Sỹ, điều mà các doanh nghiệp rất cần để hoạch định kế hoạch kinh doanh của họ. Điều rất rõ ràng là Thụy Sỹ có mức thuế cận biên thực tế bao gồm cả bảo hiểm xã hội thấp nhất so với tất cả các nước phát triển, thuế của Thụy Sỹ chỉ là 16% so với 24% của Mỹ, Nhật Bản, 35% của Đức và 36% của Pháp. Mức thuế này cũng là động lực để thu hút các công ty thành lập và hoạt động tại Thụy Sỹ.  Chế độ trung lập, tránh được chiến tranh tàn phá đất nước qua hai cuộc đại chiến ở Châu Âu, duy trì hòa bình và quan hệ hợp tác với các nước, được lựa chọn là địa điểm của nhiều cơ quan Liên hiệp quốc, tổ chức quốc tế và các hội nghị hòa bình trên thế giới, trong đó có Hội nghị Geneve 1954 lập lại hòa bình ở Việt Nam, Thụy Sỹ đã tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển, tạo nên sự tin tưởng của các công ty trên thế giới và cộng đồng quốc tế. Các công ty Thụy Sỹ luôn là những bên đối tác đáng tin cậy, những nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao và đúng hẹn.  Một trong những nhân tố quan trọng cho sự ổn định của môi trường kinh doanh chính là sự ổn định mẫu mực của đồng franc Thụy Sỹ cũng được tác giả nêu bật. Từ 1894 đến 2002 đồng lire của Italia đã mất giá 1000 lần so với đồng franc Thụy Sỹ, năm 1970 1 USD đổi được 4 franc Thụy Sỹ thì nay chỉ còn đổi được 0,9 franc, tức là đã giảm 75%. Chính sự ổn định này lý giải tại sao các nước, các triệu phú lại muốn gửi tiền tại nơi đây để bảo tồn vốn liếng của mình, biến đất nước này thành một “con lợn vàng” để gửi tiền.  Tác giả cũng giải thích nguồn gốc của “bí mật ngân hàng” nổi tiếng của Thụy Sỹ có nguồn gốc lịch sử, được ưa chuộng một thời nhưng nay bị thách thức vì e ngại nó bị lạm dụng cho những phi vụ “nhạy cảm”.  Tác giả cũng không quên đánh giá tích cực về vai trò của quân đội Thụy Sỹ trong hình thành văn hóa, như một lò tôi luyện của quốc gia hun đúc tinh thần, nơi tạo ra môi trường giao tiếp như một lớp dự bị cho các giám đốc doanh nghiệp trong tương lai, Nhờ có chế độ nghĩa vụ quân sự băt buộc, vào quân đội các thanh niên nam giới được tiếp xúc với các thanh niên nói ngôn ngữ khác, đến từ các vùng khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau, góp phần tạo nên sự gắn kết của cộng đồng. Tác giả cũng ca ngợi quân đội Thụy Sỹ đã góp phần rèn luyện các doanh nhân Thụy Sỹ, nếp suy nghĩ, quá trình đi đến quyết định của họ.   Tác giả đã giải mã một nhân tố đem đến thành công của Thụy Sỹ đó chính là hệ thống giáo dục vượt trội từ cấp tiểu học đến đại học. Nhà giáo được trả lương cao và được xã hội trọng vọng. Các trường đại học Thụy Sỹ đã sản sinh ra 21 nhà khoa học được giải thưởng Nobel. Trong đó đa số là người nước ngoài.  Truyền thống được gìn giữ và ngự trị trong những công ty gia tộc như Holcim, Schindler, những người cam kết phát triển “công ty của họ”, trong khi Thụy Sỹ cũng là trụ sở của hãng Down Chemical, Google và nhiều tập đoàn lớn khác trong thế kỷ thứ 20 và 21 này.   Tác giả cũng lưu ý đến vai trò to lớn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thụy Sỹ, các công ty đóng góp tới 70% của nền kinh tế Thụy Sỹ. Công ty SIPCA sản xuất ra loại mực bảo mật và chống sao chép được dùng để in những ngân phiếu trong hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới hay Egon Zehnder một công ty săn lùng và giới thiếu giám đốc lớn nhất trên thế giới chỉ mới thành lập từ năm 1964 đã cung cấp nhân tài là giám đốc điều hành và thành viên hội đồng quản trị cho biết bao nhiều công ty trên thế giới, đều là những doanh nghiệp nhỏ và vừa.  Trong 14 chương tiếp theo, tác giả đã dẫn dắt người đọc đi vào một mê cung kỳ thú của vô vàn các sản phẩm, doanh nghiệp, các thành công và bài học thất bại của các công ty Thụy Sỹ, từ các sản phẩm từ sữa đem lại thương hiệu toàn cầu đầu tiên là pho mát Emmental đến các sản phẩm từ sữa của Nestle’, sô cô la, các thế hệ doanh nhân tài năng đã vươn ra khắp thế giới với các thương vụ mua lại và sáp nhật diễn ra suốt thế kỷ thứ 20 đến nay cho đến những thương hiệu đồng hồ Thụy Sỹ nổi tiếng thế giới về độ chính xác cao, độ tin cậy, gắn liền với những phát minh mới trong ngành công nghiệp này từ đồng hồ sử dụng thạch anh đến đồng hồ nhựa Swatch được sản xuất hoàn toàn bằng người máy. Và tác giả cũng không quên nhắc đến thách thức mới đối với ngành công nghiệp đồng hồ đến từ các thiết bị điện tử và số người đeo đồng hồ đang giảm đi.  Chương 3 dành cho du lịch kinh doanh tuyết, không khí và phong cảnh đẹp, với những lễ hội, những hội nghị nổi tiếng hàng năm ở Davos, sức hấp dẫn về văn hóa, sự thay đổi luồng du khách nay đến từ Trung Quốc, Nga. Tác giả cũng chỉ ra mâu thuẫn giữa du lịch hạng sang và du lịch đại chúng mà Thụy Sỹ phải giải quyết.   Trong chương 4 về thương mại, tác giả đã kể lại sự phát triển của các công ty Thụy Sỹ mua bán ca cao, cà phê, bông sợi, đến những kinh nghiệm kinh doanh kể cả kinh nghiệm đút lót hay hối lộ. Tác giả đã mô tả bí quyết tại sao Thụy Sỹ đã vượt qua London để trở thành đầu mối giao thương thế giới về dầu mỏ, về hạt có dầu, cà phê v.v.   Những chương kế tiếp về ngành ngân hàng, bảo hiểm, hàng dệt may cao cấp, công nghệ y học hiện đại, công nghiệp chế tạo máy với tỷ lệ xuất khẩu lên đến 80%, công nghiệp dược phẩm, ngành vận tải, xây dựng, máy tính, công nghệ thông tin và viễn thông, nghệ thuật và kiến trúc, và lý do tại sao các tập đoàn đa quốc gia lại yêu thích Thụy Sỹ.   Trong chương 15, tác giả đã phân tích những thách thức mà Thụy Sỹ đang phải đối mặt, dân số già, cạnh tranh gay gắt toàn cầu đối với từng ngành công nghiệp của Thụy Sỹ để đi đến niềm tin Thụy Sỹ sẽ tiếp tục thịnh vượng vì năng lực sáng tạo, vì sự cần cù và đạo đức của con người Thụy Sỹ. đến năng lực luôn đứng dậy sau khi vấp ngã hay thất bại. Tác giả đã cảnh báo về nguy cơ tự mãn của người Thụy Sỹ với những thành công trong quá khứ và nhắc nhở rằng Thụy Sỹ đã phát minh ra rất nhiều thứ những chưa phát minh thứ thuốc chống lại căn bệnh tự mãn.  Tôi tin rằng các bạn đọc sau khi đọc cuốn sách này sẽ rút ra được nhiều bài học bổ ích từ những kinh nghiệm của Thụy Sỹ để đưa Việt Nam tiến bước trên con đường phát triển, thịnh vượng. Chắc chắn rằng có rất nhiều bài học bổ ích mà nhà nước ta, các doanh nghiệp của ta có thể học được.   Phải chăng chúng ta có thể thực hiện đầy đủ và kịp thời hơn quyền phúc quyết trực tiếp của người dân đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của họ như trưng cầu dân ý và các hình thức dân chủ khác như công khai các khoản thu, chi ngân sách ngân sách, chi tiêu của bộ máy hành chính. Có thể trưng cầu dân ý ở cấp tỉnh về những vấn đề của tỉnh như thủy điện xả lũ hay trồng rừng ở Miền Trung v.v.  Quyền tự trị địa phương cũng nên được đặt ra nhằm khuyến khích và đòi hỏi sự năng động, sáng tạo của chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả của mình.  Các doanh nghiệp cũng có thể học nhiều từ các doanh nghiệp Thụy Sỹ, có tầm nhìn xa hơn, có hành động chuyên nghiệp hơn và “thắng không kiêu, bại không nản”, sẵn sàng đứng dậy tiếp tục sự nghiệp của mình sau khi vấp ngã và không bao giờ tự mãn.  Một cuộc thảo luận về cuốn sách này tại các Hiệp hội như Hiệp hội doanh nghiệp trẻ chắc chắn sẽ giúp các doanh nghiệp rút ra được những bài học thiết thực.  Tôi hy vọng sẽ có một ngày chúng ta có thể viết cuốn sách “Vietnam Made” về các bài học thành công và chưa thành công của Việt Nam. Hiện nay, Giáo sư Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Tokyo đã được phía Nhật Bản đề nghị chủ trì một dự án “Vietnam Made” mà tôi rất hân hạnh được mời tham gia. Tôi nghĩ những bài học từ cuốn sách này sẽ rất bổ ích cho dự án đó và mong được sự hưởng ứng và ủng hộ của Quý vị.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác động của gene di truyền với hiệu quả điều trị COVID-19      Một phác đồ điều trị có thể chữa lành một bệnh nhân mắc COVID-19 nhưng lại có thể không hiệu quả với bệnh nhân khác, thậm chí là chuyển biến nặng và tử vong. Đây là vấn đề không mới trong y khoa nhưng ở đại dịch này, tình trạng đó trở nên đặc biệt đáng lưu tâm và gây áp lực không nhỏ lên hệ thống y tế ở nhiều nước. Bên cạnh những nguyên nhân đã được biết đến như tuổi tác cao và bệnh lý nền, yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả điều trị. Do đó, xét nghiệm dược lý di truyền được xem là một trong những giải pháp tiềm năng rút ngắn thời gian điều trị và tăng khả năng sống sót cho bệnh nhân.    Các loại thuốc được sử dụng để điều trị COVID-19   Đa số các loại thuốc hiện đang được dùng trong điều trị COVID-19 vốn là thuốc được phát triển để điều trị các bệnh khác (drug repurposing). Có hai quá trình chính trong cơ chế sinh bệnh này: (1) sự xâm nhiễm và nhân lên của virus SARS-CoV-2 và (2) các phản ứng miễn dịch và phản ứng viêm của cơ thể đối với virus dẫn đến tổn thương mô. Dựa vào đó, các loại thuốc kháng virus và kháng viêm đã được phê duyệt được sử dụng để sàng lọc in silico và thử nghiệm lâm sàng tính hiệu quả trong điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2.  Phát triển thuốc đặc trị COVID-19 có lẽ là phương án hành động duy nhất và cũng là giải pháp tiết kiệm thời gian và chi phí nhất. Cuộc đua chưa chạm đích này có không ít thử thách bởi vẫn còn tranh cãi xung quanh bằng chứng về hiệu quả điều trị và liều dùng khuyến nghị liên quan đến một số trường hợp thiếu đáp ứng thuốc hoặc xuất hiện phản ứng có hại của thuốc. Ví dụ, một số bệnh nhân COVID-19 được điều trị bằng lopinavir/ritonavir bị tiêu chảy, trong khi những người khác lại bị buồn nôn và nôn mửa. Sự khác biệt trong phản ứng với thuốc giữa người này với người kia như vậy được lý giải dựa trên thông tin dược lý di truyền (Pharmacogenetics, PGx) của bệnh nhân. Cụ thể, những biến thể trong gene mã hóa enzyme chuyển hóa thuốc, chất vận chuyển, hoặc thụ thể (receptor) của bệnh nhân có thể tiết lộ khả năng đáp ứng thuốc và dự đoán các tác dụng phụ nghiêm trọng. Đối với COVID-19, nhiều nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của gene di truyền trong hiệu quả điều trị.  Gene di truyền có thể tăng phản ứng có hại của thuốc điều trị COVID-19  Remdesivir là một loại thuốc giống (analog) nucleoside monophosphoramidate vốn được phát triển để điều trị bệnh do virus Ebola. Nó liên kết với RNA polymerase phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA polymerase, RdRp) của virus, ức chế sự nhân lên của virus nhờ chấm dứt phiên mã RNA. Các nghiên cứu trên mô hình động vật đã chứng minh hiệu quả của thuốc này trong việc điều trị bệnh do SARS-CoV-2. Tuy vậy, tháng 4/2020, một thử nghiệm lâm sàng ở Trung Quốc công bố thuốc remdesivir không có tác dụng hiệu quả ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-21. Không lâu sau đó, như chúng ta đã biết, remdesivir đã trở thành thuốc kháng virus đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm hiện tại được FDA Mỹ phê duyệt để điều trị COVID-192 và hiện được sử dụng rộng rãi trong cuộc chiến chống đại dịch ở nhiều nước trên thế giới.       Xét nghiệm dược lý di truyền trở thành một phần quan trọng trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ở nhiều nước phát triển, làm cơ sở lựa chọn loại thuốc và liều dùng phù hợp.      Để lý giải kết quả trái ngược này, một nghiên cứu đã thu thập 9977 bộ gene từ người Đông Á (đại diện cho Trung Quốc) và 64.603 từ người châu Âu, 17.720 từ người Mỹ Latin và 12.487 từ người Mỹ gốc Phi (đại diện cho ba chủng tộc lớn ở Mỹ) trên cơ sở dữ liệu gnomAD, và phát hiện ra bảy biến thể liên quan đến hiệu quả sử dụng thuốc remdesivir (Hình 1)3. Đáng chú ý, tần suất đột biến CYP2D6 (rs1065852) ở Đông Á (57,7%) lớn hơn nhiều so với những nhóm còn lại (12,3-21,7%) và kết quả ngược lại đối với SLCO1B1 (rs4149056). Đây là một trong những lý do tạo nên sự khác biệt trong thử nghiệm lâm sàng thuốc remdesivir ở Trung Quốc và Mỹ (Những nguyên nhân khác được cho là cỡ mẫu thử nghiệm lâm sàng ở Trung Quốc còn nhỏ (237 bệnh nhân), và sự khác biệt của chủng SARS-CoV-2 ở hai quốc gia tại thời điểm bấy giờ).    Hình 1: Những gen liên quan đến hiệu quả sử dụng thuốc remdesivir và tần suất xuất hiện đột biến khác nhau giữa các nhóm người châu Âu (NFE), Mỹ gốc Phi (AFR), Mỹ Latin (LAT), và Đông Á (EAS). Nguồn: Wang et al., The Lancet (2020).  Các nghiên cứu in vitro cũng cho thấy remdesivir là cơ chất của các enzyme chuyển hóa thuốc CYP2D6, CYP2C8 và CYP3A44, polypeptide vận chuyển anion hữu cơ OATP1B1 (do gene SLCO1B1 mã hóa) và các chất vận chuyển P-glycoprotein (P-gp) (do gene ABCB1 mã hóa)5. Điều đó có nghĩa là những biến thể của các gene này về lý thuyết có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị COVID-19 bằng remdesivir. Đặc biệt, các gene CYP2D6, CYP2C8, CYP3A4, SLCO1B1 và ABCB1 cũng là những gene dược lý di truyền rất quan trọng (Very Important Pharmacogenes – VIPs) trên PharmGKB, liên quan đến quá trình chuyển hóa nhiều loại thuốc hiện lưu hành.  Sử dụng toàn bộ bộ gene của 1029 người Ấn Độ (dự án IndiGen), một nghiên cứu cũng chỉ ra có ít nhất 1% dân số Ấn Độ có hiệu quả điều trị bằng thuốc remdesivir giảm 50% do các biến thể di truyền làm suy giảm chức năng6. Ngoài ra, tần suất xuất hiện biến thể liên quan đến tính kháng thuốc của gene ABCC4 ở quốc gia này cao gấp hai lần so với thế giới cũng gây ảnh hưởng đến phản ứng với thuốc remdesivir. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện 30 biến thể gene dược lý di truyền quan trọng trong lâm sàng và 73 biến thể dự đoán có hại.    Hình 2: Bản đồ con đường của thuốc qua các gen dược lý di truyền bị hạn chế chức năng ở dân số Ấn Độ. Nguồn: Sahana, Pharmacogenomics (2021).  Chẳng hạn như đối với hydroxychloroquine, một loại thuốc trị sốt rét trước đây thường được dùng rộng rãi trong điều trị COVID-19 nhưng gần đây đã bị FDA Mỹ thu hồi giấy phép sử dụng khẩn cấp (EUA), nghiên cứu này cũng cho biết hoạt tính của thuốc hydroxychloroquine bị thay đổi liên quan đến CYP2D6, CYP2C8 và SLCO1A2, ba gene thường suy giảm chức năng ở người Ấn Độ, cụ thể lần lượt chiếm trên 10%, 1% và 1% dân số.  Nghiêm trọng hơn, nhiều báo cáo nhấn mạnh chloroquine và hydroxychloroquine nếu sử dụng ở người mang đột biến di truyền ở glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD) có thể gây tán huyết (hemolysis) và thiếu máu tán huyết (hemolytic anemia), trong khi bệnh thiếu hụt enzyme G6PD rất phổ biến ở các nước Địa Trung Hải, châu Âu, Trung Đông, châu Á và một số khu vực châu Phi4. Theo PharmGKB, cả hai thuốc này đều được FDA Mỹ và Cục Quản lý Dược phẩm Thụy Sĩ (Swissmedic) đưa ra cảnh báo khi sử dụng chữa bệnh sốt rét cho bệnh nhân thiếu hụt G6PD nhưng lại không được thảo luận trong hướng dẫn điều trị COVID-19.      CYP2C8, CYP2D6, CYP3A4, CYP3A5, SLCO1B1, ABCB1, và ABCC2 là những gene dược l˝ di truyền thường gặp ở các loại thuốc được sử dụng điều trị COVID-198. Nhưng những gene này cũng liên quan đến nhiều loại thuốc kê đơn ở bệnh nhân tim mạch, tiểu đườngº Vì thế, đây có thể là những gene dược l˝ di truyền cần được chú ˝ quan tâm và khuyến nghị tiến hành xét nghiệm.      Ngoài ra, biến chứng nặng nhất do sử dụng chloroquine và hydroxychloroquine là hội chứng QT kéo dài (QT prolongation) và rối loạn nhịp thất, có thể gây rủi ro cho những bệnh nhân nặng. Nguyên nhân được cho là có liên quan đến gene CYP2D6, chẳng hạn như bệnh nhân mang allele mất chức năng CYP2D6*4 có nguy cơ cao hơn. Hơn nữa, bệnh nhân khi điều trị với chloroquine hoặc hydroxychloroquine thường được phối hợp với azithromycin, một loại thuốc có thể gây kéo dài QT khác và đặc biệt nguy hiểm hơn nếu bệnh nhân mang kiểu gene ABCB1 2677GG/3435CC6.  Gene di truyền có thể tăng độ nghiêm trọng của bệnh nhân COVID-19  Ngoài tác động đến hiệu quả sử dụng thuốc, gene di truyền có thể liên quan mức độ nặng nhẹ khác nhau ở các bệnh nhân. Một nghiên cứu gần đây của COVID-19 Host Genetics Initiative đã phân tích dữ liệu di truyền của 49.562 ca nhiễm trong 46 nghiên cứu khác nhau ở 19 quốc gia trên thế giới và phát hiện 13 biến thể gene (genome-wide significant loci) liên quan đến khả năng nhiễm và tình trạng diễn tiến nghiêm trọng của bệnh nhân COVID-19 (Hình 3)7. Đặc biệt hai biến thể rs1886814 và rs72711165 có tần suất xuất hiện ở người châu Á khá cao.    Hình 3: Các biến thể gen liên quan đến khả năng nhiễm (màu xanh, bên dưới) và tình trạng diễn tiến nghiêm trọng (màu vàng, bên trên) của bệnh nhân COVID-19. Nguồn: COVID-19 Host Genetics Initiative, Nature (2021).  Xét nghiệm Dược lý di truyền để nâng cao hiệu quả điều trị COVID-19  Dược lý di truyền (Pharmacogenetics, PGx) là lĩnh vực khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm di truyền đối với cách thức hoạt động của thuốc, từ đó có thể tối ưu hóa hiệu quả điều trị của thuốc dựa trên thông tin di truyền của mỗi cá nhân. Xét nghiệm dược lý di truyền trở thành một phần quan trọng trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ở nhiều nước phát triển, làm cơ sở lựa chọn loại thuốc và liều dùng phù hợp, đặc biệt đối với các bệnh tim mạch, bệnh tâm lý/tâm thần và ung thư. Ở bệnh COVID-19, xét nghiệm dược lý di truyền cũng sẽ giúp tăng hiệu quả đáp ứng thuốc, hạn chế rủi ro xảy ra phản ứng có hại của thuốc, nhất là ở những bệnh nhân nặng hoặc có bệnh nền.     Hình 4: Vai trò của xét nghiệm dược lý di truyền trong điều trị COVID-19 hiệu quả. Nguồn: Fricke-Galindo et al. Viruses (2021).   Ngoài ra, xét nghiệm dược lý di truyền có thể giúp ngăn chặn hoặc giảm thiểu tương tác gene-thuốc có hại ở bệnh nhân COVID-19. Chẳng hạn như, bệnh nhân mắc bệnh tim mạch có nguy cơ mắc COVID-19 cao hơn. Nếu họ mắc bệnh, việc điều trị những bệnh nhân có bệnh nền này bằng một loại thuốc như hydroxychloroquine có khả năng gây hậu quả tiêu cực vì thuốc có thể gây loạn nhịp tim. Nếu những bệnh nhân này được xét nghiệm dược lý di truyền, các bác sĩ có thể xác định loại thuốc và phác đồ điều trị một cách phù hợp hơn, nhằm hạn chế nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ dẫn đến tử vong.   Mặc dù hiện tại vẫn chưa có nhiều nghiên cứu dược lý di truyền liên quan trực tiếp đến bệnh COVID-19, nhưng nhờ việc sử dụng các loại thuốc đã được phát triển từ trước nên chúng ta có thể kế thừa những dữ liệu này. CYP2C8, CYP2D6, CYP3A4, CYP3A5, SLCO1B1, ABCB1, và ABCC2 là những gene dược lý di truyền thường gặp ở các loại thuốc được sử dụng điều trị COVID-198. Nhưng những gene này cũng liên quan đến nhiều loại thuốc kê đơn ở bệnh nhân tim mạch, tiểu đường… Vì thế, đây có thể là những gene dược lý di truyền cần được chú ý quan tâm và khuyến nghị tiến hành xét nghiệm.    Hình 5: Sơ đồ tương tác giữa các thuốc dùng trong điều trị COVID-19 và enzyme chuyển hóa thuốc (nhóm protein Cytochrome P450) và chất vận chuyển thuốc. OATPB1, P-glycoprotein và MRP2 lần lượt do các gen SLCOB1, ABCB1, và ABCC2 mã hóa. Chú thích: AZT, azithromycin; CHL, chloroquine; DEX, dexamethasone; HCL, hydroxychloroquine; IVE, ivermectin; LOP, lopinavir; OSE, oseltamivir; REM, remdesivir; RIT, ritonavir. Nguồn: Fricke-Galindo et al. Viruses (2021).  Ở khía cạnh khác, đại dịch diễn biến phức tạp không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý mà còn tác động không nhỏ đến sức khỏe tinh thần. Nhiều người mắc bệnh lo âu, trầm cảm vì tình hình giãn cách xã hội kéo dài. Điều trị sức khỏe tinh thần là lĩnh vực dược lý di truyền có rất nhiều bằng chứng và đạt được nhiều thành tựu. Các xét nghiệm dược lý di truyền có thể giúp chọn đúng thuốc, dùng đúng liều, tránh trường hợp thử sai không cần thiết khiến bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn. Đây có lẽ cũng là một ứng dụng cần thiết của xét nghiệm dược lý di truyền trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19.  Kết luận  Một trong những thành công lớn nhất trong lĩnh vực dược lý di truyền chính là câu chuyện của abacavir, một loại thuốc được sử dụng để điều trị HIV. Xét nghiệm dược lý di truyền HLA-B*57:01 gần như giúp loại bỏ phản ứng quá mẫn cảm có thể gây tử vong đối với abacavir, do đó, nó hiện là tiêu chuẩn quan trọng trong điều trị HIV. Rõ ràng, phải mất rất nhiều năm sau khi phát hiện virus HIV mới có thể phát triển và ứng dụng thành công thử nghiệm tương tác gene-abacavir trong quy trình điều trị như hiện nay. Hy vọng với COVID-19, xét nghiệm dược lý di truyền sẽ sớm được ứng dụng lâm sàng trong điều trị bệnh, để tăng hiệu quả đáp ứng thuốc, rút ngắn thời gian điều trị, hạn chế tác dụng phụ nghiêm trọng, tăng khả năng sống sót cho bệnh nhân, và giảm áp lực lên hệ thống y tế.  Những ai quan tâm có thể tham khảo thêm thông tin dược lý di truyền liên quan đến bệnh COVID-19 tại: https://www.pharmgkb.org/page/COVID.  * PGS.TS. Lê Thị Lý là thành viên chính của nhóm nghiên cứu Dược lý di truyền, Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn, thuộc tập đoàn Vingroup. Nhóm hiện đang tiến hành nhiều nghiên cứu quy mô lớn về ảnh hưởng của đặc điểm di truyền đối với cách thức hoạt động của thuốc, từ đó có thể tối ưu hóa hiệu quả điều trị dựa trên thông tin di truyền của người Việt. PGS.TS. Lê Thị Lý cũng là biên tập viên của các tạp chí Nature Pharmacogenomics và BMC Human Genomics.  —–  Tài liệu tham khảo  1. Wang, Y. et al. Remdesivir in adults with severe COVID-19: a randomised, double-blind, placebo-controlled, multicentre trial. The Lancet 395, 1569–1578 (2020).  2. U.S. Food and Drug Administration. FDA Approves First Treatment for COVID-19. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-approves-first-treatment-covid-19 (2020).  3. Wang, L.-Y. et al. Remdesivir and COVID-19. The Lancet 396, 953–954 (2020).  4. Badary, O. A. Pharmacogenomics and COVID-19: clinical implications of human genome interactions with repurposed drugs. Pharmacogenomics J 21, 275–284 (2021).  5. U.S. Food and Drug Administration. Fact Sheet For Health Care Providers: Emergency Use Authorization (EUA) of Remdesivir (GS-5734TM). https://www.fda.gov/media/137566/download (2020).  6. Sahana, S. et al. Pharmacogenomic landscape of COVID-19 therapies from Indian population genomes. Pharmacogenomics 22, 603–618 (2021).  7. COVID-19 Host Genetics Initiative. Mapping the human genetic architecture of COVID-19. Nature (2021) doi:10.1038/s41586-021-03767-x.  8. Fricke-Galindo, I. & Falfán-Valencia, R. Pharmacogenetics Approach for the Improvement of COVID-19 Treatment. Viruses 13, 413 (2021).          Author                Lê Thị Lý        
__label__tiasang Tác động của Silicon Valley Việt Nam  đối với doanh nghiệp khởi nghiệp      Thung lũng Silicon Việt Nam sẽ không mô phỏng chính xác theo mô hình của Mỹ mà cần những điều chỉnh phù hợp với đặc thù Việt Nam, và sẽ chỉ đầu tư cho những doanh nghiệp được chuẩn bị đầy đủ và có quyết tâm cao nhất.    Thời nhà Nguyễn, có giai thoại kể về một vị quan đi sứ sang châu Âu, khi trở về háo hức mong muốn canh tân đất nước, liền thuật với nhà vua những chuyện tai nghe mắt thấy, trong đó có việc ở xứ Tây người ta treo đèn lộn ngược. Vị vua cho đó là chuyện hoang đường, bất tín nhiệm viên quan và gạt bỏ những ý tưởng canh tân của ông ta. Người đời sau chê cười sự thiển cận của nhà vua, nhưng theo tôi, trong câu chuyện này viên quan mới là người đáng chê trách hơn.   Chúng ta có thể coi viên quan trong giai thoại là một doanh nghiệp khởi nghiệp đang có những ý tưởng đổi mới sáng tạo, và nhà vua chính là nhà đầu tư quan trọng nhất, người có thể giúp hiện thực hóa những ý tưởng này trong đời sống. Nhưng viên quan đã không thấu hiểu đầy đủ về vị khách hàng quan trọng này, do đó đã không chọn được cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp để khiến nhà vua tin vào ý tưởng của mình.   Trong thực tế đời sống, cơ hội được tiếp xúc các nhà đầu tư là không nhiều với mọi doanh nghiệp khởi nghiệp, và nếu doanh nghiệp không thấu hiểu về thị trường, về các nhà đầu tư, thì dù có gặp được nhà đầu tư họ cũng khó lòng tạo được ấn tượng thuyết phục, và những ý tưởng đổi mới sáng tạo dù hay đến mấy cũng khó lòng được triển khai thành công.    Đó là thực tế ở thị trường đầu tư mạo hiểm ở khắp nơi, kể cả ở Mỹ, còn ở Việt Nam việc kết nối giữa nhà đổi mới sáng tạo và nhà đầu tư lại càng khó khăn. Nếu như ở Mỹ, các doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm hơn về đầu tư, vì vậy nhiều khi họ chỉ cần có ý tưởng sáng tạo là có thể xây dựng thành dự án thu hút các nhà đầu tư cấp vốn. Quy trình thông thường ở Mỹ là từ ý tưởng người ta hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp, sau đó gọi vốn đầu tư mạo hiểm hoặc tăng tốc tiến trình khởi nghiệp, rồi chuyển sang các giai đoạn tiếp theo trong đầu tư mạo hiểm trước khi làm IPO khi doanh nghiệp đã đủ lông đủ cánh.          Ông Trần Ngọc Thủy – Công ty CP Trò chơi Giáo dục Trực tuyến EGame, một doanh nghiệp khá thành công trong lĩnh vực sản phẩm game online phục vụ lĩnh vực giáo dục, một trong những đại diện của khối doanh nghiệp khởi nghiệp tại Lễ khởi động Đề án thương mại hóa công nghệ với mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam cho biết, doanh nghiệp của ông trước khi chính thức khởi nghiệp đã từng tự tiến hành những cuộc khảo sát kỹ lưỡng, lấy ý kiến từ hơn 5000 học sinh, phụ huynh. Nhờ chuẩn bị đầy đủ như vậy nên họ biết rõ thị trường mong muốn sản phẩm như thế nào, và đưa ra câu trả lời thỏa mãn cho mọi câu hỏi mà các nhà đầu tư mạo hiểm đưa ra trước khi quyết định đầu tư.        Còn ở Việt Nam, qua trao đổi và khảo sát tại các vườn ươm doanh nghiệp, chúng tôi thấy rằng áp dụng nguyên mẫu quy trình ở Mỹ tại Việt Nam sẽ không khả thi. Không giống như ở Mỹ các doanh nghiệp có thể tự hình thành sản phẩm từ ý tưởng ban đầu, ở Việt Nam chúng ta cần phải có thêm những bước đệm để huấn luyện, bồi dưỡng kinh nghiệm và các kỹ năng tối thiểu cho doanh nghiệp. Từ những ý tưởng đổi mới sáng tạo, họ phải xây dựng được chiến lược cụ thể, xác định một cách chi tiết tối đa về sản phẩm và đối tượng khách hàng sử dụng được hướng tới. Họ cũng cần tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu để chứng minh một cách thuyết phục rằng dự án không chỉ có tính khả thi mà còn có thể được mở rộng quy mô và thu lời lớn hơn nhiều lần so với chi phí nhà đầu tư phải bỏ ra – các khoản đầu tư mạo hiểm có tính rủi ro cao, vì vậy những dự án thành công phải thu lời lớn mới đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần được hướng dẫn về kỹ năng kinh doanh, quản trị, tiếp thị, v.v.   Dự án Thung lũng Silicon Việt Nam huấn luyện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp một cách kỹ lưỡng như vậy, giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển sản phẩm và chiến lược kinh doanh, trở thành những doanh nghiệp có tiềm năng mở rộng kinh doanh thu hút các nhà đầu tư. Song song với tiến trình này, chúng tôi sẽ kích thích mở rộng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm sẵn sàng đầu tư cho các doanh nghiệp. Các nhà đầu tư sẽ có cơ hội được kết nối với những doanh nghiệp được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất, và có động lực phấn đấu cao nhất, và đó sẽ là những doanh nghiệp có tiềm năng thành công cao nhất. Khi đã có một số doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, mối quan tâm từ các nhà đầu tư sẽ gia tăng, và nguồn vốn đầu tư thu hút được sẽ càng nhiều. Mối kết nối giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư – ở đây cả hai bên đều cần đến nhau – giúp tạo thành một hệ sinh thái cân bằng và tự sinh sôi.  Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi có vai trò tích cực của Nhà nước. Nhìn sang Hàn Quốc, chúng ta thấy rằng Chính phủ của họ đã tạo ra được chất xúc tác giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công. Hiện nay, mặc dù thị trường đầu tư mạo hiểm đã rất sôi động, các tập đoàn cũng như các doanh nghiệp tư nhân đều tích cực tham gia đầu tư, trong khi các doanh nghiệp công nghệ của Hàn Quốc đang phát triển rất mạnh – Samsung đang thắng thế trong cuộc chạy đua với Apple – nhưng Chính phủ Hàn Quốc vẫn tiếp tục tham gia hỗ trợ và đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.  Họ làm vậy vì ý thức rõ về tầm quan trọng của doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế – xã hội. Tất cả các quốc gia mới nổi trên thế giới hiện đều đang trong cuộc chạy đua đổi mới sáng tạo, và cơ hội phía trước còn rất nhiều. Nhiều nhà phân tích trên thế giới đã xác định rằng Trung Quốc đã phát triển vượt ngưỡng, họ lập ra một danh sách các quốc gia sẽ cùng nhau thay thế Trung Quốc trở thành động lực phát triển mới cho nền kinh tế toàn cầu. Trong danh sách đó có Việt Nam, nhưng không rõ tên nước ta còn được duy trì ở đó trong bao lâu. Người ta từng dự đoán Việt Nam sẽ trở thành con hổ mới của châu Á, nhưng thực tế cho thấy nền kinh tế của chúng ta mới chỉ là con mèo nhỏ. Ngân hàng Thế giới nhìn nhận rằng sức phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn yếu trong dài hạn.  Thực tế trên cho thấy rằng Việt Nam cần sớm hình thành một hệ sinh thái kết nối các nhà đầu tư  với các doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo, cải thiện năng lực cạnh tranh và sức tăng trưởng của nền kinh tế. Trong đó cần có sự đồng hành cùng đầu tư của Nhà nước – đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước – cùng khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để tạo cú hích ban đầu cho thị trường, chúng ta không cần đầu tư quá nhiều tiền của, mà cần sàng lọc kỹ lưỡng để chọn ra những doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng nhất. Theo tính toán ban đầu của chúng tôi, mỗi doanh nghiệp được chọn sẽ được đầu tư khoảng 10-15 nghìn USD.   Cơ hội trước mắt sẽ được mở rộng cho các doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực khác nhau, không quá tập trung vào một ngành cụ thể. Trước đây, Việt Nam từng chú trọng các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin và viễn thông, nhưng đến nay, ngành này đã được đầu tư quá nhiều trên thế giới, sức phát triển bị chững lại, và trở thành một ngành công nghiệp cũ – tương tự như công nghiệp điện tử hồi cuối thế kỷ 20. Hiện nay, chúng tôi vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm những cơ hội mới, những ngành công nghệ mới phù hợp với điều kiện của Việt Nam và nhu cầu phát triển của thế giới.            PV lược ghi theo phát biểu của TS. Trần Quang Vinh, Giám đốc điều hành Quỹ Pinehill kiêm cố vấn cho Chính phủ Mỹ về đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ tại Lễ khởi động Đề án thương mại hóa công nghệ với mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác động tiềm tàng của xe điện đối với nền kinh tế xanh      Nếu bạn muốn biết tác động tiềm tàng của xe điện trên nền kinh tế xanh và tìm hiểu thêm về khả năng tương tác giữa các hệ thống tích hợp và nguồn điện của chúng, thì có thể tham khảo Sách trắng cập nhật về chủ đề này.      Nguồn ảnh minh họa: Internet.  Dự án COTEVOS do EU tài trợ đã hoàn thành và nhóm nghiên cứu vừa cập nhật Sách trắng về Cơ hội kinh doanh và Đánh giá khả năng tương tác cho tích hợp pin nhiên liệu EV. Sách trắng COTEVOS xem xét hai khía cạnh chi tiết: một mặt là rất nhiều ưu điểm và cơ hội thương mại phi thường được cung cấp bởi xe điện và mặt khác là thách thức lớn mà chúng thể hiện cho cơ sở hạ tầng của mạng lưới phân phối điện. Việc áp dụng rộng rãi các loại xe điện phụ thuộc vào khả năng giải quyết các vấn đề về khả năng tương tác.   Khả năng tương tác sẽ cho phép các hệ thống khác nhau, bất kể nhà cung cấp nào, trao đổi thông tin và thực hiện các hoạt động mong muốn, qua đó đơn giản hóa việc giao tiếp và loại bỏ các chướng ngại. Năng lực này, trong lĩnh vực xe điện và hệ thống điện, là một trong những chủ đề chính được đề cập. Trong sách cũng trình bày các công nghệ cần thiết, mô hình kinh doanh tiềm năng và kiến trúc hệ thống của xe điện; cung cấp một lịch trình đánh giá cho khả năng tương tác và phát triển thử nghiệm, và cung cấp cho ngành công nghiệp các phương pháp hay nhất cung cấp thông tin giá trị về tương lai phát triển xe điện.  Dự án COTEVOS đề cập đến các chủ đề như phạm vi rộng các quy trình tính phí, hạn chế về độ ổn định mạng và nhu cầu tiêu dùng, sự ra đời của một thị trường châu Âu cho xe điện mới và linh hoạt hơn trong việc lựa chọn các nhà cung cấp năng lượng. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai tính linh động trên quy mô châu Âu, dự án COTEVOS đã áp dụng phương pháp thử nghiệm chung để đánh giá sự tuân thủ và khả năng tương tác để khám phá thêm khái niệm về một thử nghiệm thiết bị.  Tính linh hoạt là khả thi để vận tải ở châu Âu hiệu quả hơn và ít gây ô nhiễm hơn. Trong năm 2015, việc bán xe điện đạt mốc quan trọng với thị phần 1%. Doanh thu tăng gấp đôi trong năm 2015 và Giao thông và Môi trường báo cáo rằng 500.000 xe điện đã được bán cho đến cuối năm 2016. Tuy nhiên, mặc dù châu Âu là thị trường lớn thứ hai thế giới về xe điện và doanh số bán hàng là đáng kể ở Na Uy và ở Hà Lan, nhưng không có thị trường duy nhất cho các sản phẩm này ở châu Âu. Điều này có nghĩa là không có cơ sở hạ tầng bán hàng và tính phí phổ biến ở hầu hết các quốc gia EU. Tình trạng này phải thay đổi nếu châu Âu muốn cạnh tranh với Trung Quốc. Để giúp đảo ngược tình hình, COTEVOS đã tập hợp các đối tác từ các quốc gia và các ngành khác nhau để cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi chính như tương tác giữa hạ tầng mạng và phương tiện, và độ tin cậy của mạng. Chín quốc gia tham gia dự án, với 11 đối tác từ một số tổ chức nghiên cứu lớn nhất châu Âu.   Phùng Anh Tiến dịch  Nguồn: Techno-science.net    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác giả “Gullible du ký – Trường ca Odyssey về thị trường tự do” đến Việt Nam      GS Ken Schoolland, tác giả của “Gullible du ký – Trường ca Odyssey về thị trường tự do”, sẽ giao lưu với độc giả Việt Nam nhân dịp bản tiếng Việt của cuốn sách ra mắt vào ngày 22/6.    Ken Schoolland không phải là cái tên xa lạ với các nhà nghiên cứu kinh tế học trên thế giới. Tác phẩm “Gullible du ký – Trường ca Odyssey về thị trường tự do” của vị  Giáo sư Kinh tế và khoa học chính trị (Đại học Hawaii Pacific) này đã được dịch ra tới 46 thứ tiếng với hàng trăm nghìn bản in. Ông còn được biết đến như một cựu nghiên cứu viên về kinh tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ và Văn phòng Đặc phái viên & Đàm phán thương mại của Nhà Trắng. Ken Schoolland cũng có nhiều năm làm giảng viên đại học tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, đồng thời là thành viên của Ban Điều hành Hiệp hội Quốc tế về tự do cá nhân.  “Gullible du ký” được ông viết năm 1989, kể về câu chuyện của một cậu bé bị đắm tàu trong một cơn bão và trôi dạt vào một hòn đảo xa lạ. Thói quen sống trong một xã hội tự do trước đó đã khiến cậu trải qua những cú sốc về truyền thống pháp luật và văn hóa của cư dân trên đảo. Câu chuyện nhấn mạnh sự bất hợp lý của pháp luật, sự áp đặt đối với người dân và sự kìm hãm nền kinh tế phát sinh từ các luật lệ này.  Đại diện NXB Tri thức – đơn vị ấn hành “Gullible du ký”, cho biết: “Cuốn sách này thách thức độc giả phải suy nghĩ về việc tại sao một số quốc gia giàu, trong khi một số khác lại nghèo. Nó đưa đến lối tư duy mới về nhiều vấn đề triết lý, thực tiễn, và kinh tế quan trọng. Các ý tưởng đa dạng trong sách khiến độc giả phải suy nghĩ, nghi vấn và tham dự vào những cuộc thảo luận nhiều ý nghĩa. Và ẩn sau tất cả những điều này là sự tôn trọng và chấp nhận con người cá nhân”.    Ngày 22/6, tác giả Ken Schoolland sẽ có mặt tại sự kiện ra mắt “Gullible du ký” bản tiếng Việt và tham dự cuộc trao đổi có chủ đề “Tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống” cùng với TS. Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ.   Sự kiện được tổ chức từ 17h – 19h30 tại Thư viện Hà Nội – 42 Bà Triệu, Hà Nội, hứa hẹn sẽ giúp độc giả khám phá lối suy nghĩ mới về những khái niệm cơ bản trong thị trường tự do.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác phẩm náo động dư luận của Thomas Piketty      Có thể hiểu vì sao Nhà Trắng thích Piketty.  Ông ta ủng hộ câu chuyện của họ, rằng chính phủ là người uốn nắn sự bất  bình đẳng, trong khi trên thực tế chính phủ là nguyên nhân chính làm cho  bất bình đẳng ngày càng gia tăng.    Thomas Piketty, một nhà kinh tế học 42 tuổi, từ một viện nghiên cứu của Pháp vừa cho in một cuốn sách mới gây chấn động dư luận: Tư bản trong thế kỷ XXI (Capital in the Twenty-First Century). Phiên bản ở Mỹ do Đại học Harvard xuất bản và đang dẫn đầu danh sách sách bán chạy nhất; lần đầu tiên một cuốn sách do Harvard xuất bản làm được như vậy. Một bài điểm sách gần đây gọi Piketty là người “đã chỉ ra sai lầm chết người của chủ nghĩa tư bản.”  Sai lầm gì vậy? Người ta vẫn giả định rằng trong chủ nghĩa tư bản, người giàu ngày càng giàu thêm; bất bình đẳng ngày càng xấu hơn. Điều đó đã nằm sẵn trong nhân cái bánh, không thể nào tránh được.  Nhằm củng cố quan điểm này, Piketty đã đưa ra một logic đáng ngờ và không có chỗ dựa về mặt tài chính, nhưng ông còn trình ra cái mà ông gọi là “một biểu đồ ngoạn mục” của những dữ liệu lịch sử. Biểu đồ đó thực sự cho thấy những gì?   Trong năm 1910, 10% người giàu nhất ở Mĩ chiếm khoảng 40% thu nhập của cả nước, trước vụ Sụp đổ năm 1929, thu nhập của nhóm người này đã tăng lên đến khoảng 50%, rồi giảm xuống, và trở lại khoảng 40% vào năm 1995, và sau đó lại tăng lên đến khoảng 50%, trước khi giảm phần nào sau vụ Sụp đổ năm 2008.  Điều này thực sự có nghĩa là gì? Trong giai đoạn này, thu nhập của 10% người giàu nhất so với những thành phần dân cư khác không phải lúc nào cũng tăng. Không những thế, hai lần nó đạt được cực đại: Ngay trước những cuộc Đại suy thoái năm 1929 và 2008. Nói cách khác, bất bình đẳng gia tăng trong những thời kỳ bong bóng kinh tế và sau đó giảm đi.  Cái gì đã gây ra và đâu là đặc trưng thời kỳ bong bóng? Đấy chủ yếu là do Cục Dự trữ Liên bang Mĩ và các ngân hàng trung ương khác, họ đã phát hành quá nhiều tiền mới và tạo ra nhiều những món nợ mới. Đặc điểm của nó là sự bùng nổ của chủ nghĩa tư bản ô dù, một số người giàu đã chiếm dụng tất cả những đồng tiền mới đó, cả trên phố Wall lẫn thông qua những mối liên hệ với chính phủ ở Washington.  Chúng ta có thể học được rất nhiều về chủ nghĩa tư bản ô dù bằng cách nghiên cứu giai đoạn từ cuối Thế chiến I đến cuộc Đại suy thoái và cả từ 20 vừa năm qua, nhưng chúng ta sẽ không học được nhiều về chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản ô dù là cực đối lập của chủ nghĩa tư bản. Nó là sự xuyên tạc thị trường chứ không phải là kết quả của giá cả tự do và thị trường tự do.  Có thể hiểu vì sao Nhà Trắng thích Piketty. Ông ta ủng hộ câu chuyện của họ, rằng chính phủ là người uốn nắn sự bất bình đẳng, trong khi trên thực tế chính phủ là nguyên nhân chính làm cho bất bình đẳng ngày càng gia tăng.  Nhà Trắng và IMF còn thích những đề nghị của Piketty, họ không chỉ thích đề nghị về biểu thuế thu nhập cao, mà còn thích những khoản thuế đánh vào tài sản sản nữa. IMF đặc biệt đánh trống khua chuông cho những khoản thuế đánh vào tài sản, coi đó là biện pháp khôi phục nền tài chính của chính phủ trên khắp thế giới và là biện pháp nhằm giảm thiểu sự bất bình đẳng về kinh tế.  Chúng ta sẽ còn được nghe ngày càng nhiều hơn về những khoản thuế đánh vào tài sản. Chúng ta sẽ được nghe nói rằng đấy sẽ là những khoản thuế đánh “một lần” và sẽ không được tái sử dụng nữa, nhưng nó sẽ thực sự giúp kinh tế tăng trưởng bằng cách giảm sự bất bình đẳng về kinh tế.  Tất cả những chuyện này đều là nhảm nhí. Tăng trưởng kinh tế xảy ra khi xã hội tiết kiệm tiền và đầu tư tiền tiết kiệm một cách khôn ngoan. Không phải số tiền đầu tư mà chất lượng đầu tư mới là điều quan trọng nhất. Chính phủ không có cả khả năng tiết kiệm lẫn đầu tư, chưa nói đến đầu tư một cách khôn ngoan.  Chớ có nghĩ rằng những khoản thuế đánh vào tài sản sẽ là khoản thuế “một lần”. Không có khoản thuế nào chỉ thu một lần bao giờ. Được thiết lập rồi, nó sẽ không chỉ tồn tại một cách dai dẳng, mà còn tăng đều theo thời gian.   Piketty cũng nên tự đặt ra cho mình một câu hỏi. Điều gì sẽ xảy ra khi các nhà đầu tư phải bán cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hay các tài sản khác để nộp thuế tài sản? Làm sao thị trường hấp thụ hết tất cả những thứ người ta sẽ bán? Ai sẽ mua? Và làm thế nào mà nó giúp được tăng trưởng kinh tế vì thị trường và giá trị tài sản sẽ sụp đổ do áp lực bán gây ra?  Năm 1936, một cuốn sách hàn lâm, khó đọc, dày đặc thông tin được xuất bản, dường như để nói với các chính trị gia chính những thứ mà họ muốn làm. Đây là cuốn Lý thuyết chung (General Theory) của Keynes. Cuốn sách của Piketty cũng nhắm cùng mục đích như vậy trong năm 2014, tức là cùng phục vụ cho chính sách mang tính phá hoại và thiển cận.   Nếu Nhà Trắng của ông Obama, IMF, và những người như Piketty mặc kệ nền kinh tế thì nó có thể phục hồi. Nhưng như đã thấy, họ tiếp tục phát minh ra những biện pháp mới nhằm tiêu diệt nó.  Hunter Lewis là tác giả của chín cuốn sách, trong đó có hai cuốn mới là  Free Prices Now! và  Crony Capitalism in America: 2008-2012. Lewis đồng sáng lập website Against Crony Capitalism.org (Chống chủ nghĩa tư bản ô dù) cũng như đồng sáng lập và cựu Giám đốc điều hành công ty đầu tư quốc tế tên là Cambridge Associates. Ông đã và đang là thành viên ban giám đốc của 15 tổ chức phi lợi nhuận, trong đó có các tổ chức về môi trường, dạy học, nghiên cứu và văn hóa cũng như Ngân hàng Thế giới.   Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://mises.org/daily/6736/Thomas-Piketty-on-Inequality-and-Capital    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác tử AI có thể hiểu quan hệ nhân – quả của nhiệm vụ điều hướng      Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một loại mạng thần kinh có khả năng hiểu được mối quan hệ nhân – quả trong các nhiệm vụ mà chúng thực hiện. Trong tương lai, điều này có thể góp phần cải thiện độ tin cậy của AI ứng dụng trong các nhiệm vụ phức tạp như lái xe tự hành trên đường cao tốc đông đúc.    Mạng thần kinh là một phương pháp để triển khai học máy, trong đó máy tính học cách hoàn thành tác vụ thông qua việc thử – sai bằng cách phân tích các mẫu đào tạo. Mạng thần kinh có thể học cách giải quyết nhiều vấn đề, từ nhận dạng mèo trong ảnh đến điều khiển xe tự lái. Nhưng người ta vẫn chưa biết liệu các thuật toán nhận dạng mẫu này có thực sự hiểu được các nhiệm vụ mà chúng đang thực hiện hay không.    Giờ đây, các nhà nghiên cứu tại MIT đã chỉ ra một loại mạng thần kinh có thể hiểu cấu trúc nhân – quả của nhiệm vụ. Do hiểu được nhiệm vụ trực tiếp từ dữ liệu hình ảnh nên chúng sẽ hiệu quả hơn các mạng thần kinh khác khi thực hiện các nhiệm vụ định hướng trong môi trường phức tạp như có cây cối rậm rạp hoặc điều kiện thời tiết thay đổi thất thường.  Kết quả này sẽ được trình bày tại Hội thảo trực tuyến về hệ thống xử lý thông tin thần kinh (NeurIPS) vào tháng 12/2021.  Ramin Hasani, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Phòng thí nghiệm Khoa học máy tính và Trí tuệ nhân tạo (CSAIL) của MIT và là đồng tác giả nghiên cứu cho biết: “Bởi vì các hệ thống máy học lấy cảm hứng từ não bộ này có thể thực hiện suy luận theo nhân quả, chúng ta có thể chỉ ra cách chúng hoạt động và đưa ra quyết định. Điều này rất cần thiết cho các ứng dụng cần độ an toàn cao”.  Nghiên cứu này dựa trên một công trình trước đó của Hasani và cộng sự về một hệ thống học sâu lấy cảm hứng từ não bộ gọi là Neural Circuit Policy (NCP – Phương pháp vi mạch thần kinh) tạo ra từ các tế bào thần kinh “lỏng” (mạng thần kinh có thể thay đổi các phương trình cơ bản của chúng để liên tục thích ứng với các dữ liệu đầu vào mới). Hệ thống này đã điều khiển một chiếc xe tự lái bằng mạng lưới chỉ có 19 tế bào thần kinh điều khiển.  Họ nhận thấy các NCP thực hiện nhiệm vụ giữ xe đi đúng làn luôn chú ý đến đường chân trời và vạch biên khi ra quyết định – giống như cách con người lái xe. Các mạng thần kinh khác mà họ nghiên cứu không phải lúc nào cũng tập trung vào con đường.  Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng khi đào tạo một NCP để thực hiện nhiệm vụ, nó sẽ học cách tương tác với môi trường và tính đến các biện pháp can thiệp. Về bản chất, mạng thần kinh nhận biết kết quả đầu ra có bị thay đổi do sự can thiệp nào đó hay không, sau đó liên hệ nguyên nhân và kết quả với nhau.  Trong quá trình đào tạo, mạng thần kinh chạy tiến để tạo ra kết quả đầu ra, sau đó quay ngược lại để sửa lỗi. Hasani và các đồng nghiệp không cần thực hiện bất kỳ thiết lập đặc biệt nào cho NCP để tìm mối quan hệ nhân quả – nó tự động xuất hiện trong quá trình đào tạo.  Họ đã thử nghiệm các mạng NCP thông qua một loạt mô phỏng, trong đó các máy bay không người lái (drones) tự thực hiện các nhiệm vụ điều hướng. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, các NCP này thực hiện tốt các nhiệm vụ đơn giản giống các các mạng lưới khác trong thời tiết thuận lợi. Tuy nhiên, chúng vượt trội hơn hẳn trong các nhiệm vụ khó khăn như đuổi theo vật thể di động lúc trời mưa.    “Khi hệ thống học được những gì thực sự cần làm, nó có thể hoạt động tốt trong các tình huống mới và điều kiện môi trường mà nó chưa từng trải qua. Đây là một thách thức lớn đối với các hệ thống học máy hiện tại không theo nhân – quả. Phát hiện này rất thú vị vì chúng cho thấy mối quan hệ nhân quả có thể xuất hiện như thế nào từ sự lựa chọn của mạng thần kinh”, anh nói.   Trong tương lai, các nhà nghiên cứu muốn xem xét sử dụng NCP để xây dựng các hệ thống lớn hơn. Việc kết hợp hàng nghìn hoặc hàng triệu mạng NCP với nhau có thể cho phép giải quyết các nhiệm vụ phức tạp hơn.  Trang Linh dịch  Nguồn: https://news.mit.edu/2021/cause-effect-neural-networks-1014       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu được collagen làm nguồn vật liệu giúp cầm máu vết thương      Từ nguồn vảy cá nước ngọt thu được từ các chợ dân sinh, TS. Nguyễn Thúy Chinh và các cộng sự tại Viện Kỹ thuật nhiệt đới (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã tách chiết và thu được collagen sạch, an toàn làm nguồn vật liệu đầu giúp cầm máu vết thương, tái tạo mô và bào chế thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gout.    Vảy cá thành collagen trong phòng thí nghiệm    Collagen từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng y sinh. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm phổ biến trên thị trường đều có nguồn gốc từ động vật có vú như lợn, bò và cừu. Ứng dụng lâm sàng của các vật liệu này lâu nay vẫn có phần bị hạn chế do những ảnh hưởng từ quan điểm tôn giáo, văn hóa liên quan đến vật liệu có nguồn gốc từ động vật có vú. Ngoài ra, các lo ngại về nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm từ động vật có vú cũng khiến quy trình kiểm tra xử lý phức tạp, nghiêm ngặt.        “Vảy cá có nguồn collagen tương đối dồi dào và giải quyết được hầu hết các vấn đề của collagen từ động vật có vú gặp phải” – TS. Nguyễn Thúy Chinh cho biết. Trong quá trình sơ chế, vảy cá vốn được xem là phế phẩm của các khu chợ dân sinh hay nhà máy chế biến. Với sản lượng cá rô phi hằng năm ở Việt Nam khoảng 50 ngàn tấn (chiếm 2,2% tổng sản lượng thủy sản nuôi) và hàng trăm nghìn tấn cá chép các loài thì nghiên cứu này vừa tận dụng phế phẩm, hạn chế gây ô nhiễm môi trường vừa thu được nguồn collagen có chất lượng tốt phục vụ cho lĩnh vực y sinh.    Trên thế giới, các nhà khoa học cũng đã có nhiều công trình về việc tách chiết collagen từ vảy cá. Điển hình là năm 2018, các nhà khoa học đến từ Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore (NTU Singapore) công bố collagen được tách chiết từ vảy cá vược, cá ngừ và cá rô phi có thể đem lại nhiều tiềm năng trong việc điều trị và chữa lành vết thương. “Cái khác của chúng tôi là sử dụng vảy của các loài cá chép nước ngọt có nguồn gốc từ Việt Nam, không phải cá nước mặn hay nước lợ như các nghiên cứu đã có. Không chỉ sự đa dạng sinh học ở mỗi nơi sẽ tác động đến sự trưởng thành của cá nước ngọt theo những cách khác nhau mà ở những nhiệt độ khác nhau cũng dẫn đến thành phần và cấu tạo của vảy cá khác nhau”– TS. Nguyễn Thúy Chinh giải thích.    Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đặt ra mục tiêu sử dụng collagen thu được như chất mang ứng dụng trong việc điều trị giảm axit uric trong máu và dùng làm vật liệu tái tạo mô và chữa lành vết thương. Từ hỗn hợp vảy cá thu được từ các chợ dân sinh ở Hà Nội, Vĩnh Phúc… nhóm nghiên cứu tiến hành việc rửa sạch, phơi khô rồi ngâm trong kiềm để loại bỏ chất béo trên bề mặt. Lớp vảy cá thu từ quá trình trên được ngâm trong dung dịch hỗn hợp acid bazơ trong 8 giờ bằng máy khuấy cơ học kết hợp khuấy siêu âm tốc độ cao để loại bỏ protein và tạp chất. Để tách khoáng chất khỏi vảy cá, nhóm nghiên cứu tiếp tục ngâm hỗn hợp thu được vào axit theo tỷ lệ thể tích 1:2 rồi khuấy bằng máy cơ học trong 20 phút.    Tiếp tục đưa vảy cá ngâm dung dịch axit axetic trong 24 giờ bằng máy khuấy cơ học kết hợp khuấy siêu âm tốc độ cao. Lọc thu được dung dịch collagen trong axit axetic. Thêm NaCl rắn vào dung dịch trên và tiến hành làm lạnh để thu collagen rồi chiết bằng phễu chiết. Collagen thô tiếp tục được hòa tan trong axit axetic, kết tinh lần hai bằng NaCl rắn rồi tiến hành thẩm tích bằng màng thẩm tích trong 48 giờ để thu collagen tinh khiết dạng gel. Nếu muốn làm khô, đưa collagen gel vào nhiệt độ 200 độ C sẽ thu được collagen dạng màng khô, xốp, màu trắng ngà.    Một trong những phát hiện của nhóm nghiên cứu trong quá trình tách chiết là việc tách chiết collagen từ vảy cá hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Ở giai đoạn đầu tiên khi tiến hành tách chiết trong điều kiện nhiệt độ thường, nhóm nghiên cứu thường rơi vào hoàn cảnh “lúc tách được lúc không” hoặc chất lượng các mẻ không đồng đều. Quan sát các thí nghiệm, nhóm nghiên cứu nhận thấy, khi tách chiết vào mùa đông thì lượng collagen thu được cao hơn mùa hè. Do nhiệt độ mùa hè cao hơn nên hầu hết collagen chuyển thành gelatin, dẫn đến hiệu suất thấp, có mẻ không thu được collagen. TS. Chinh hào hứng nói: “Sau phát hiện này, toàn bộ quá trình tách chiết đều được thực hiện trong bể điều nhiệt có nhiệt độ 4 độ C, giúp quá trình thu collagen ổn định và không bị biến đổi tính chất”.    Collagen thu được có cấu trúc dạng sợi, đường kính sợi 0,5-1 micromet, các sợi collagen tập trung thành bó sợi, kích thước 2,5-4 micromet. Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, đây là đặc trưng của collagen loại 1, loại collagen phổ biến trong cơ thể người và rất quan trọng cho việc chữa lành vết thương, tạo độ co giãn, đàn hồi và giữ sự liên kết giữa các mô với nhau.    Hiệu quả trong các thử nghiệm    Những chiếc vảy cá mà trở thành collagen, nguồn vật liệu y sinh đầu vào lĩnh vực y tế. Trên thị trường, bên cạnh collagen được sử dụng trong làm đẹp, nhiều ứng dụng khác cũng khá phổ biến như sử dụng làm vật liệu băng vết thương. Tuy nhiên, giá thành của các sản phẩm nhập ngoại tương đối cao so với khả năng tiêu dùng trong nước. “Với công nghệ nguồn vật liệu trong nước, chúng tôi tin rằng, sợi collagen tự nhiên từ vảy cá có thể kết hợp với các hoạt chất ginsenoside Rb1, polyphenol trà hoa vàng để ứng dụng làm vật liệu cầm máu và điều trị vết thương” – TS. Nguyễn Thúy Chinh chia sẻ.    Từ collagen dạng gel thu được, nhóm nghiên cứu tiến hành phối trộn với hoạt chất ginsenoside Rb1 – một hợp chất hóa học thuộc họ ginsenoside được tìm thấy trong chi thực vật Panax, có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và polyphenol từ trà hoa vàng rồi đưa vào xilanh của thiết bị in 3D để in thành màng sản phẩm có thể dán lên vết thương.    Thử nghiệm trên chuột được tiến hành tại Học viện Quân y, kết quả thu được khiến nhóm nghiên cứu nhận thấy hiệu quả rõ rệt của collagen thu được từ vảy cá. Cụ thể, với nhóm chỉ dùng gạc thường thì nhóm chuột được sử dụng gạc màng collagen, thời gian cầm máu giảm một nửa, trong khi đó, với cùng một kích thước vết thương, sau bảy ngày, nhóm sử dụng màng collagen có diện tích vết thương nhỏ hơn khoảng 8% so với nhóm chỉ sử sử dụng gạc thông thường.    Với thử nghiệm sử dụng collagen từ vảy cá làm chất mang allopurinol giúp định hướng ứng dụng điều trị giảm axit uric trong máu, tác nhân gây bệnh gout, nhóm nghiên cứu cũng nhận được kết quả khả quan. Sau 24 tiếng, thử nghiệm trên ba nhóm chuột: nhóm chỉ uống nước muối sinh lý, nhóm dùng allopurinol không có collagen làm chất mang và nhóm dùng allopurinol có collagen làm chất mang, kết quả cho thấy, nồng độ axit uric trong máu của nhóm dùng allopurinol có collagen làm chất mang thấp nhất, thấp hơn khoảng 14% so với nhóm dùng allopurinol không có collagen làm chất mang và thấp hơn khoảng 23% so với nhóm chỉ dùng nước muối sinh lý.    TS. Nguyễn Thúy Chinh lý giải: “Collagen có tác dụng như chiếc vỏ, bảo vệ allopurinol trước tác động của axit trong dạ dày, khiến các dược chất giải phóng chậm hơn, do đó tác dụng của dược chất với cơ thể được duy trì lâu dài hơn. Collagen từ vảy cá có khả năng tương thích với cơ thể cao và không gây hại cho cơ thể người”.    Những kết quả trên là kết quả bước đầu để TS. Nguyễn Thúy Chinh và cộng sự tiếp tục nghĩ đến những nghiên cứu sau này. Một trong những hướng nghiên cứu mà chị đang quan tâm là sản phẩm này không chỉ tiềm năng với vết thương ngoài da mà còn hiệu quả cả với vết thương bên trong cơ thể. “Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ nghiên cứu về sản phẩm cầm máu cho những vết thương bên trong như ở não, bụng,… Để làm được điều đó, chúng tôi cần phải tiếp tục tối ưu quy trình tách chiết, tăng độ tinh khiết cũng như bổ sung các đánh giá về khả năng tự tiêu trong cơ thể” – chị giải thích.    Chưa dừng lại ở đó, với nghiên cứu này, TS Nguyễn Thúy Chinh và các cộng sự cũng ấp ủ việc mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường, nhiệt độ vùng miền tới chất lượng của collagen trong vảy các loài cá. Thời gian trước, các vảy cá được sử dụng hầu hết chỉ thu thập ở Hà Nội, Vĩnh Phúc,… Vì thế, nếu có thể tiến hành các nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sẽ có thêm cái nhìn toàn cảnh và đưa ra khuyến nghị hợp lý nếu nghiên cứu này được thương mại hóa.    “Như khi nghiên cứu bột từ vỏ hàu làm vật liệu hấp phụ, chúng tôi thấy vỏ hàu ở Quảng Ninh và Phú Quốc có thành phần, tính năng khác nhau đáng kể. Vì thế, môi trường cũng sẽ ảnh hưởng đến các loại cá. Tôi dự đoán có thể là sự khác nhau của trình tự axit amin trong collagen. So sánh với các nghiên cứu chiết collagen từ vảy cá chép trên thế giới thì thấy rằng, collagen thu được từ vảy cá chép trong nước mà nhóm nghiên cứu sử dụng có nhiệt độ biến tính, hàm lượng và trình tự axit amin cùng một số tính chất đều có sự khác biệt” – TS. Chinh nói thêm.    Hiện nhóm nghiên cứu đang hoàn thiện đề tài để có thể kết hợp với doanh nghiệp hướng tới việc phát triển một sản phẩm giúp cầm máu từ vật liệu này.    Ngân Hà    Author                .        
__label__tiasang Tách Silicic oxide từ vỏ trấu để làm lõi lọc nước      Là một cựu binh giải ngũ, ông Nguyễn Trọng  Việt ở thành phố Hải Dương đã gây ngạc nhiên khi phát triển công nghệ  sản xuất Silicic oxide từ vỏ trấu, nguyên liệu chính để từ đó&#160; tạo ra lõi lọc nước chất lượng cao.     Với suy nghĩ tận dụng hiệu quả các phụ phẩm nông nghiệp, ông Nguyễn Trọng Việt đã nghiên cứu chế tạo ra Silicic oxide (SiO2) trên cơ sở tận dụng vỏ trấu, vốn là phụ phẩm sau thu hoạch lúa của người nông dân. Khi tách được silicic oxit trong những điều kiện nhiệt độ, môi trường hợp lý, ông đã chế tạo thành một loại chất xốp có độ bền cao. Đây là nguyên liệu để ông triển khai thiết kế sản phẩm lõi lọc nước từ sứ xốp, có nhiều ưu điểm như có thể lọc nhiều loại nước khác nhau, như nước sông, hồ, ao bị ô nhiễm, khử được mùi trong nước, khử được dioxin song vẫn giữ được các yếu tố vi lượng trong nước qua quá trình lọc. Khi tiến hành vệ sinh lõi lọc, chỉ cần dùng khăn sạch lau là có thể tiếp tục đưa vào sử dụng. Mỗi lõi lọc nước có giá thành thấp, chỉ chừng 70.000 đồng, thấp hơn rất nhiều so với những sản phẩm bán trên thị trường hiện nay.   Nếu công nghệ sản xuất Silicic oxide từ vỏ trấu của ông Nguyễn Trọng Việt tiếp tục được cải tiến và nâng cấp thì khả năng ứng dụng trong tương lai rất cao, nhất là khi ở Việt Nam, nguồn nguyên liệu chính vỏ trấu hết sức phổ biến, có thể mua với khối lượng lớn mà không đòi hỏi chi phí cao.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái cấu trúc 3D gương mặt hai công tước Czech thời Trung cổ      Với sự trợ giúp của rất nhiều công nghệ hiện đại, chúng ta có thể chiêm ngưỡng gương mặt sinh động như đời thực của hai công tước Czech, bất kể họ sống cách chúng ta cả nghìn năm.      Gương mặt hai công tước Vratislav I và Spytihněv I được phục dựng. Nguồn: zpravy.aktualne.cz  Với những người Czech, hai công tước Vratislav I và Spytihněv I có một vị trí đặc biệt. Họ đều là con trai của Bořivoj I, vị vua đầu tiên trong lịch sử Czech và thuộc về triều đại Přemyslid – một dòng dõi quý tộc người Czech cai trị Bohemia và Moravia (cuối thế kỷ 9-1306), và các phần đất khác ở Schlesien, Áo và Ba Lan – và Ludmila của Bohemia – người sau này được phong thánh bảo trợ của vùng Bohemia. Để tưởng nhớ công lao của bà, nhà soạn nhạc Czech Antonín Dvořák đã sáng tác bản oratorio Svatá Ludmila (St. Ludmila) vào năm 1885 – 1886.  Cả gia đình hoàng gia này gắn liền với quá trình đưa Bohemia – một vùng đất nằm ở Trung Âu và chiếm hai phần ba diện tích quốc gia Czech ngày nay, thoát khỏi sự phụ thuộc vào đế chế Đại Moravia – quốc gia lớn đầu tiên gồm chủ yếu là người Tây Slav nổi lên ở khu vực Trung Âu. Sau khi Bořivoj I qua đời vào năm 889, do Spytihněv I và Vratislav I vẫn còn nhỏ nên vùng đất Bohemia đặt dưới sự nhiếp chính của Svatopluk I của Đại Moravia. Khi lớn lên, Spytihněv I và sau là Vratislav I đã giành quyền độc lập cho Bohemia và đưa nơi này trở thành một trong những vùng đất tươi đẹp và giàu văn hóa ở Trung Âu. Lần lượt trị vì đất nước, họ đã xây dựng lâu đài Prague ở vùng Trung Bohemia, một khu phức hợp gồm nhiều lâu đài, nhà thờ, tháp canh và khu vườn hoàng gia… Ngày nay lâu đài cổ lớn nhất thế giới này được xem là một biểu tượng của dân tộc Czech.   Tận dụng những hiện vật ít ỏi  Vào những năm 1980, nhà nhân học Emanuel Vlček tới lâu đài Prague để kiểm tra hai bộ xương được cho là có liên quan mật thiết với triều đại Přemyslid. Ông không ngờ đó là khởi thủy cho một dự án nghiên cứu thu hút một nhóm nghiên cứu: nhà khảo cổ học Jan Frolík – chuyên gia về những phát hiện thời Trung cổ, nhà địa vật lý Jiří Šindelář – chuyên gia về khảo cổ học không phá hủy trong điều tra về các hầm mộ, nhà nhiếp ảnh Martin Frouz và chuyên gia pháp y về tái cấu trúc khuôn mặt Cicero André da Costa Moraes. Dự án này bắt đầu vào năm 2015, khi họ bắt đầu tái kiểm tra các hiện vật để mở rộng các nghiên cứu này. Một trong những kết quả mà nhóm nghiên cứu này là công bố “The oldest rulers of early Medieval Bohemia and radiocarbon data” (Những người cai quản lâu đời nhất vùng Bohemia thời kỳ đầu Trung cổ và dữ liệu carbon phóng xạ) xuất bản trên tạp chí Radiocarbon vào năm 2020.   Khi được trao những hiện vật cổ xưa, với các nhà khảo cổ, việc xác định được chính xác thời gian nó thuộc về là điều cốt yếu bởi đây là cơ sở để họ phục dựng một chuỗi bối cảnh và không gian lịch sử. Một công cụ mà các nhà khảo cổ ưa thích là carbon-14. Họ đã chọn cách này để kiểm tra tuổi của hai bộ xương và sau đó, nhờ năng lực tách chiết và phân tích DNA của các công cụ hiện đại khác, họ đã so sánh với những dữ liệu hiện có – kết quả nghiên cứu về những thành viên gia tộc Přemyslids đã được thực hiện trong những năm gần đây. Kết quả thật thú vị, đó chính là hai nhân vật quan trọng trong lịch sử Czech, Vratislav I và Spytihněv I.   Tuy nhiên đây mới chỉ là phát hiện đầu tiên của nghiên cứu. Tham vọng của các chuyên gia còn đi xa hơn bởi họ muốn có được nhiều thông tin hơn, ví dụ như mắt hai vị công tước anh em này màu gì, họ di chuyển những đâu và thậm chí là ăn gì? Thật may là một lần nữa, những công cụ tiên tiến đã mang lại cho họ câu trả lời, dù rằng thời điểm cả hai nhân vật này tạ thế đã cách đây cả ngàn năm. “Chúng tôi không có bất cứ thông tin gì về màu tóc và màu mắt hay độ dài của tóc từ những nghiên cứu hoặc hồ sơ ghi chép trước đây”, Šindelář cho biết.  Cũng giống như việc các nhà sinh học phân tử dùng hệ gene để phát hiện ra hình dạng, màu sắc và mùi vị của các loại cây trái, các đồng nghiệp Czech của họ đã phân tích DNA và tìm ra màu mắt và tóc của hai anh em: mắt xanh và tóc hung sáng. Còn với sự hỗ trợ của việc phân tích các đồng vị bền của carbon (δ13C) và nitrogen (δ15N) thông qua tỉ lệ các protein động vật và dấu tích khác còn lại cho chúng ta biết, công tước Spytihněv thích ăn nhiều kê và không ăn cá như em trai mình. Trong khi đó với Vratislav, kết quả phân tích xác nhận mức protein động vật ở mức đáng kể, trong đó có tỉ lệ cá nước ngọt.  Các nhà nghiên cứu cho rằng, việc Spytihněv thích ăn kê là điều lạ lùng bởi việc sử dụng thứ ngũ cốc này thường là thói quen của các nhóm người có địa vị xã hội thấp hơn nhiều. Tuy nhiên, TS. Jan Frolík cho rằng, “giả thuyết về kê là thức ăn của người nghèo là ý tưởng của chúng ta ngày nay và có thể không tương ứng với hiện trạng của thế kỷ thứ 10. Thêm vào đó, cũng cần phải tính đến vấn đề khẩu vị cá nhân hoặc có thể giải thích về sự khác biệt lớn trong dinh dưỡng của họ”.   Thông tin từ việc xác định niên đại bằng đồng vị carbon cho thấy độ tuổi của hai vị vua Czech. Spytihněv qua đời độ tuổi khoảng 40 trong khi truyền thuyết kể lại là độ tuổi 36. Em trai Vratislav cũng cùng độ tuổi anh trai khi qua đời nhưng các hồ sơ trước đây ghi lại thì ông ở tuổi 33.   Đưa các công tước “trở lại” đời thực  Hai bộ xương đã được số hóa và lưu lại để sau này các nhà khoa học có thể tiếp tục kiểm tra một cách chi tiết thông tin trong tương lai, ngay cả khi người ta đặt chúng trở lại các hầm mộ và việc khai quật trở nên không thể. Vào đầu năm nay, họ tiếp tục đi xa hơn những phát hiện đó: tái cấu trúc số hai khuôn mặt của hai công tước Spytihněv I. và Vratislav I.  Cũng như đối với các hiện vật cổ có giá trị khác, các nhà khoa học chỉ có thể áp dụng những phương pháp nghiên cứu không xâm lấn để phục dựng gương mặt hai công tước. Do đó, họ tiến hành công việc này bằng việc quét xương sọ của hai vua bằng phép quang trắc, một kỹ thuật nắm bắt được các số đo trong từng chi tiết nhỏ của vật thể định tái tạo. Martin Frouz cho rằng đây là phương pháp hiệu quả theo nghĩa thời gian thực hiện nhanh và chính xác bởi nó chỉ “chụp” các vật thể mà không kèm theo đèn flash. Anh chụp ảnh chi tiết hộp sọ từ mọi góc độ, qua đó tạo ra một bộ dữ diệu để đưa vào mô hình 3D. Trong thực tế, nó giống như đưa vật thể quay trên một bàn xoay đặc biệt và được đồng bộ hóa với màn trập máy ảnh.  Việc hiển thị hình ảnh số hóa hoàn hảo của bất kỳ vật thể nào cũng đòi hỏi độ chính xác của quá trình quét. Nhận diện chính xác thường là vấn đề lớn ngay cả với những phát hiện các hiện vật có niên đại muộn hơn. Như giải thích với Radio Prague của Jiří Šindelář: “Khi tạo ra một mô hình 3D, chúng tôi làm việc với độ chính xác từng điểm ảnh. Vì vậy chúng tôi có một hình ảnh hoàn toàn chính xác về mỗi xương sọ và sau đó không quá khó để thực hiện một cấu trúc số hóa từng gương mặt. Đây không phải thách thức bởi nhóm nghiên cứu này đã từng có kinh nghiệm trong việc tái tạo gương mặt của thánh Zdislava vùng Lemberk và hoàng hậu Czech, Judith của Thuringia.    Lâu đài Prague do Spytihněv I xây dựng ngày nay đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đây là một bức vẽ lâu đài Prague của họa sĩ František Holan treo tại Bảo tàng Trung tâm Czech. Nguồn: czechcenter.org  Công việc của họ thoạt nhìn có vẻ giống như chuyên gia trong các bộ phim truyền hình hình sự pháp y nổi tiếng của Mỹ nhưng thực ra, đó thực sự là việc ứng dụng của một phương pháp khoa học mà người đặt nền tảng cho nó là nhà khảo cổ và nhân học Nga Mikhail Mikhaylovich Gerasimov – người đã nghiên cứu về các hộp sọ và sau đó tái cấu trúc các gương mặt của hơn 200 người, từ Homo sapiens, Neanderthals, đến người thời Trung cổ như các hoàng đế Timur (Tamerlane), Yaroslav Thông thái, Ivan Hung bạo, nhà thơ Friedrich Schiller… Kể từ những nền tảng được thiết lập vào những năm 1970 đó, nghiên cứu về sự tương quan giữa hình dạng của xương sọ và hình dạng của khuôn mặt đã bắt đầu. Ngày nay, có vô số phương pháp với những mức hiệu quả khác nhau trong việc tạo ra hình ảnh của một cá nhân chỉ từ phần xương. Trong đó, vẽ là một phương thức đơn giản nhất.  Với những sản phẩm phần mềm xuất hiện trong những năm gần đây, phương pháp tái tạo ba chiều đang được phổ biến. Nó gợi ý cho các nhà nghiên cứu áp dụng cho việc tái tạo gương mặt của hai hoàng tử. Lúc này, Cicero Moraes đã sử dụng kết hợp hai phương pháp tái cấu trúc khuôn mặt ba chiều, “một phương pháp giải phẫu và một phương pháp dựa trên độ dày mô mềm”, Šindelář nói. Với lợi thế của mình, phương pháp giải phẫu sử dụng thông tin rõ ràng về những gắn kết với từng sợi cơ mặt mà xương sọ đem lại còn phương pháp dựa trên độ dày mô mềm sử dụng thông tin về độ dày của mô mềm tại các vùng cụ thể đã được xác định trên xương sọ.  Đầu tiên, Moraes kiểm tra những vị trí gắn kết với cơ mặt trên xương sọ và trên cơ sở đặc tính sinh học của cơ theo tuổi tác, anh có thể hình dung ra khối lượng cơ của khuôn mặt. Lớp cơ sau đó được bao phủ với một khối lượng chất béo nằm dưới da và “khoác” thêm làn da. Về cơ bản, đây là một mẫu tái cấu trúc khuôn mặt mà các nhà nghiên cứu cần.  Do những phân tích xương không tiết lộ “thông tin kết cấu bề mặt” như sắc thái da, màu mắt, kiểu tóc…, các chuyên gia về tái cấu trúc thường phải ước đoán dựa trên hiểu biết từ các nguồn văn hóa, lịch sử. Trong trường hợp này, nhóm chuyên gia đã có được thông tin cần thiết qua DNA của cá hai công tước. Với cặp mắt xanh và mái tóc hung đỏ sáng, khuôn mặt của hai công tước đã sống động một cách lạ lùng.  Nhưng việc tái cấu trúc khuôn mặt, ngay cả khi đã đem lại những kết quả tốt, thì vẫn có thể có những nhầm lẫn. Ví dụ, xương không thể nói với các nhà khoa học về kích thước tai, các nếp nhăn trên mặt hay liệu nhân vật đó có hay cười hoặc có thói quen cau mày tư lự. “Sự tái cấu trúc là một sự kết hợp của khoa học, lịch sử và nghệ thuật”, Kristina Killgrove, một nhà nhân học tại trường đại học West Florida, nhận xét với Live Science nhân trường hợp phục dựng gương mặt vua Richard III của Anh vào năm 2013. “Gương mặt phục dựng này có nét tương đồng rất lớn với Richard III nhưng vẫn không phải là gương mặt ‘thực’ của ông ấy theo cách chúng ta vẫn nghĩ về một bức ảnh thể hiện chân dung của một cá nhân”.   Nhóm chuyên gia liên ngành Czech-Brazil thì cho rằng, nỗ lực của họ đã đem lại độ chính xác tới gần 90%. Frolík nhấn mạnh với Radio Prague, “Chúng ta có thể khoác cho họ những trang phục nguyên bản dựa trên thông tin từ các bức họa hoặc văn bản lịch sử vì chúng có sẵn để tham khảo. Đối với kiểu tóc và râu, chúng ta cũng phỏng đoán theo các hình minh họa. Nhưng thật ra, chúng ta không thực sự biết tất cả những điều đó có thật hay không”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/researchers-reconstruct-faces-two-premyslid-dynasty-dukes-180977228/  https://zpravy.aktualne.cz/domaci/tvare-nejstarsich-premyslovcu-spytihneva-i-a-vratislava-ir~b2d74268778411eba22aac1f6b220ee8/  https://www.livescience.com/26959-richard-iii-friendly-face.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái chế CO2 làm nguyên liệu      Carbondioxide vẫn được coi là sát thủ của  khí hậu, nó là tác nhân của sự nóng lên toàn cầu, gây tan băng và làm  nước biển dâng. Nhưng hiện nay, một số công nghệ mới đã làm cho&#160; CO2 có  thể trở thành một loại nguyên liệu quý đối với nhiều ngành công nghiệp.     Hiện tại CO2 được sử dụng để sản xuất ure làm phân bón cho cây trồng và để chế biến thành thuốc chữa bệnh Aspirin. Không còn lâu nữa con người có thể sản xuất nhiên liệu dùng cho xe ô tô và máy bay từ CO2 và hydro. Vì vậy gần đây một nhóm chuyên gia của EU đã nhấn mạnh, không được chôn mà phải tái chế CO2. Giáo sư Alessandra Quadrelli tại Đại học Lyon cho rằng có thể thu gom được khoảng mười phần trăm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu nhờ công nghệ tái chế CO2.  Từ năm 2010 Bộ Năng lượng Hoa Kỳ đã đầu tư 106 triệu USD, Bộ Nghiên cứu Liên bang Đức cũng đầu tư 100 triệu Euro cho nghiên cứu về carbondioxide. Nay các doanh nghiệp hóa chất như Evonik, BASF và Bayer… và cả các tập đoàn năng lượng và công nghệ như Siemens, RWE và EnBW cũng đã bắt đầu vào cuộc.  Nhờ một số chất xúc tác đặc biệt, các nhà nghiên cứu có thể làm cho khí carbondioxide vốn rất trì trệ trở nên năng động hơn. Chất xúc tác kích hoạt khí CO2 và những chất khác làm cho chúng có thể phản ứng với CO2. Từ đó hình thành những chất mới  –  thí dụ một số loại dung dịch hay muối. Chúng là nền tảng để tạo nên các chất tổng hợp hay các loại vật liệu xây dựng khác nhau. Cho đến nay, từ CO2 có thể làm ra 26 loại vật liệu xây dựng khác nhau như xi măng, vôi vữa, soda vv… những sản phẩm không thể thiếu trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng.  Hiện các nhà khoa học của hãng Bayer đang nghiên cứu sử dụng CO2 để sản xuất acid formic, đây là một loại hóa chất được sử dụng với khối lượng lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thí dụ để sản xuất chất làm tan băng, là thành phần cơ bản của thuốc chữa bệnh khớp và chất để thuộc da. Từ tháng 4/ 2010, doanh nghiệp Skyonic đã sản xuất khoảng 40 tấn thuốc muối hằng năm từ CO2. Tháng ba vừa qua, doanh nghiệp này cũng đầu tư 125 triệu USD để xây dựng một nhà máy lớn hơn với công suất 143.000 tấn muối và triệt tiêu 75.000 tấn carbondioxide mỗi năm.    Hoài Trang dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái cơ cấu hàng loạt tập đoàn kinh tế      Việt Nam chỉ có thể hoàn thành cổ phần hóa  các doanh nghiệp nhà nước đến năm 2020 do tiến trình cải cách khu vực  kinh tế này hiện đang rất chậm.    Đây là nhận định của Phó trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp thuộc Văn phòng Chính phủ Đoàn Hùng Viện tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức cuối tuần qua ở Nha Trang.  Ông cho biết, dù Chính phủ đã yêu cầu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành trước năm 2015, song đây là vấn đề không dễ.  Chẳng hạn, Tập đoàn Cao su Việt Nam dự kiến tổng giá trị thoái vốn đến năm 2015 vào khoảng 4.500 tỉ đồng, và đến cuối năm 2015, số vốn đầu tư ngoài ngành chính dự kiến còn 660 tỉ đồng, bằng 1,5% tổng vốn chủ sở hữu của tập đoàn.  Sau năm 2015, tập đoàn tiếp tục thoái vốn dự kiến thu hồi 562 tỉ đồng. Như vậy, số vốn đầu tư ngoài ngành chính chỉ còn 100 tỉ đồng, chiếm 0,2% vốn chủ sở hữu của tập đoàn.  Tập đoàn Cao su dự kiến sẽ giảm từ 168 công ty xuống còn 101 công ty (giảm 40%).  Tập đoàn Dầu khí tập trung vào việc cơ cấu lại 29 doanh nghiệp cấp II (con), 206 doanh nghiệp cấp III (cháu), thoái vốn tại doanh nghiệp cấp IV. Dự kiến sau tái cơ cấu, tập đoàn này sẽ giảm 6 doanh nghiệp cấp II, 80 doanh nghiệp cấp III và dự kiến giảm nhiều hơn nữa số doanh nghiệp cấp IV.  Tập đoàn Than – Khoáng sản sẽ thoái vốn tại 9 doanh nghiệp. Dự kiến nguồn vốn thu được do cổ phần hóa, thoái vốn các lĩnh vực ngoài ngành và bán bớt cổ phần là khoảng 5.000 – 6.000 tỉ đồng. Trong giai đoạn 2011-2015, tập đoàn sẽ cổ phần hóa 8 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, trong đó 1 công ty mà tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, sáp nhập 1, giải thể 2 và thực hiện phá sản 1 công ty.  Tổng công ty Lương thực miền Nam cũng xây dựng kế hoạch thoái vốn 152 tỉ đồng ở 8 công ty. Tổng công ty Lương thực miền Nam hiện nay đang có 4 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 12 công ty cổ phần chi phối, 15 công ty liên kết. Tổng công ty dự kiến sau tái cơ cấu sẽ còn 3 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 10 công ty cổ phần chi phối và 9 công ty liên kết. Dự kiến sẽ thoái toàn bộ vốn tại 18 doanh nghiệp.  Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị hạch toán phụ thuộc, doanh nghiệp thành viên để giảm từ 73 đầu mối xuống còn 37 đầu mối, dưới các hình thức: cổ phần hóa 18 đơn vị, giải thể 2 doanh nghiệp, thoái vốn góp đã đầu tư tại 37 doanh nghiệp và thực hiện phá sản 2 doanh nghiệp.  Tập đoàn Hóa chất đang có 20 công ty con, trong đó có 8 công ty 100% vốn, 12 công ty cổ phần, 19 công ty liên kết. Dự kiến giai đoạn 2012-2015, tập đoàn sẽ cổ phần hóa 6 công ty, Nhà nước giữ cổ phần chi phối và giảm số công ty liên kết xuống còn 9; thoái hết vốn nhà nước tại 13 doanh nghiệp.  Theo ông Viện, đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 6/9 đề án tái cơ cấu của tập đoàn kinh tế (Dầu khí, Hóa chất, Công nghiệp Cao su, Điện lực, Công nghiệp Than – Khoáng sản, Dệt May); 8/10 đề án tái cơ cấu tổng công ty 91 (Cà phê, Lương thực miền Bắc, Lương thực miền Nam, Hàng không, Đường sắt, Hàng hải, Thuốc lá, Giấy); phê duyệt không tổ chức thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước đối với Tập đoàn Công nghiệp xây dựng và Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái cơ cấu kinh tế quốc gia và một số ý kiến về phát triển Tây Nguyên bền vững      Tái cơ cấu là một nhiệm vụ trọng tâm giúp  chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang xu hướng phát triển theo chiều sâu  và bền vững, thân thiện với môi trường. Đối với mục tiêu định hướng phát  triển bền vững vùng Tây Nguyên, tái cơ cấu kinh tế đóng vai trò quan  trọng sống còn.     Nhu cầu tái cơ cấu kinh tế Việt Nam  Trong quá trình phát triển, theo Porter, các quốc gia sẽ trải qua 3 giai đoạn đó là: (I) Nền kinh tế dựa vào tài nguyên; (II) Nền kinh tế dựa trên năng suất và (III) Nền kinh tế phát triển nhờ sáng tạo, phát minh. Việt Nam đang đi theo mô hình tăng trưởng thấp nhất (I) vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ gia công, và gia tăng vốn đầu tư vào các ngành thâm dụng vốn được nhà nước bảo hộ (xi măng, thép, ô tô…). Những hạn chế này khiến chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế của nền kinh tế thấp. Vì vậy, chúng ta cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, phát triển xanh, thân thiện với môi trường, tức là chuyển sang giai đoạn 2 của quá trình phát triển (xem Hình 1), trong đó đòi hỏi nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.       Nguồn : M. Porter  Số liệu thống kê những năm qua cho thấy, mô hình kinh tế phát triển hiện tại của Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ tiêu cực do tỷ lệ đầu tư công cao (56% GDP 2010), hiệu suất đầu tư thấp (chỉ số ICOR lên tới 6,8 năm 2010), các doanh nghiệp quốc doanh phần lớn kém hiệu quả (VINASIN, EVN), và có quá nhiều các ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu cao…Hậu quả là, lạm phát và thâm hụt thương mại cao ở mức báo động, tốc độ tăng trưởng sụt giảm, trong khi chênh lệch giàu nghèo tăng, môi trường ô nhiễm, tài nguyên dần cạn kiệt.   Đã có rất nhiều ý kiến bàn luận về tái cơ cấu kinh tế Việt Nam, đề cập tới các chủ để tương đối rộng từ đổi mới giáo dục, cải cách thể chế, quản lý môi trường, an sinh xã hội, tài chính, nợ công, nhập siêu, phân hóa giàu nghèo…đến quản trị quốc gia.  Tại Hội Nghị 3 của BCH TW Đảng CSVN,  ngày 10 tháng 10 năm 2011 TBT Nguyễn Phú Trọng đã kết luận “Tái cơ cấu kinh tế Việt Nam cần tập trung vào 3 lĩnh vực”: Tái cơ cấu đầu tư trong đó tập trung vào đầu tư công; Tái cơ cấu khu vực tài chính, tiền tệ, trong đó tập trung vào tái cơ cấu ngân hàng thương mại; và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trong đó tập trung vào tái cơ cấu tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước. Nhận định này đã được đông đảo các nhà kinh tế đồng thuận và là chủ trương nhất quán của chinh phủ trong điều hành đất nước những năm tới.  Vấn đề tái cơ cấu và phát triển bền vững Tây Nguyên  Tây Nguyên đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, có thể nói hơn hẳn các vùng khác với các chương trình nghiên cứu và quy hoạch đồ sộ cấp nhà nước (Tây Nguyên 1, Tây Nguyên 2… và đang triển khai Tây Nguyên 3, chưa kể các đề tài lớn nhỏ khác. Tình hình kinh tế Tây Nguyên hiện nay đang giống như tình hình kinh tế chung của Việt Nam khoảng 15-20 năm về trước với tốc độ phát triển GPD cao (trung bình 13%/năm), cơ cấu kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính (khoảng 50%), công nghiệp còn ở mức sơ khai với tỷ lệ khá khiêm tốn (trên dưới 20%). Kinh nghiệm phát triển trên thế giới cho thấy, chưa có quốc gia nào duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài với mô hình thuần nông vì hàm lượng giá trị gia tăng thấp và nông nghiệp chịu nhiều tác động của thời tiết, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ngoài ra, bài học của Trung Quốc sau gần 30 năm phát triển với tốc độ cao đã gây ra rất nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, gây ra nhiều cuộc biểu tình và bạo loạn. Đây là những điều chúng ta cần phải suy ngẫm vì Tây Nguyên là một vùng đặc thù với những đặc điểm khác biệt về mặt sinh thái, tự nhiên, và cũng là một khu vực xã hội nhạy cảm, đa dạng sắc tộc có tính chiến lược về an ninh quốc phòng.        Nguồn: GSO  Những thành quả về tốc độ tăng trưởng kinh tế như vậy là đáng ghi nhận, góp phần đáng kể giúp Tây Nguyên có được vị thế ngày nay, tuy nhiên, dưới góc nhìn phát triển bền vững, thực trạng Tây Nguyên cũng đang ở mức báo động do những vấn đề bất cập trải rộng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng, văn hóa, xã hội lẫn tài nguyên môi trường.      Nguồn: GSO  Trong điều kiện đó, bàn về phát triển bền vững Tây Nguyên, không thể không đặt lại vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế của khu vực này. Những nhận thức rút ra từ  vấn đề tái cơ cấu kinh tế Việt Nam có thể đưa đến một vài gợi ý quan trọng cho quá phát triển Tây Nguyên bền vững. Theo chúng tôi, Tây Nguyên cần xác định mình đang ở đâu trong thang bậc phát triển kinh tế theo giai đoạn. Theo biểu đồ Porter, Tây Nguyên đang ở giai đoạn 1, thậm chí mới ở phần đầu của giai đoạn (phát triển chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên) và cần đặt mục tiêu hướng tới là giai đoạn 2 – tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả đầu tư kết hợp với xu hướng sự dụng các công nghệ thân thiện môi trường, và giảm ô nhiễm. Hơn nữa, có lẽ cũng cần đặt lại câu hỏi liệu Tây Nguyên có nhất thiết phải đi theo con đường công nghiệp hóa bằng mọi cách như các vùng khác đang làm không?  Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước: Cần khẩn trương cổ phần hóa các nông lâm trường, giải tán các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn không hiệu quả và chỉ nên giữ lại các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động vì mục đích chính trị xã hội. Các nông lâm trường sở hữu diện tích đất rất lớn và quá trình cổ phấn hóa diễn ra quá chậm, ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế. Cổ phần hóa nông lâm trường sẽ không giống như các doanh nghiệp thương mại nên lộ trình, cách thức tiến hành phải nghiên cứu và tính toán kỹ, đồng thời đánh giá các tác động ngoại vi xã hội, dân cư sống xung quanh. Chỉ số ICOR1 của khối tư nhân/ngoài nhà nước cho thấy hiệu quả đầu tư tốt hơn, do vậy nhà nước nên khuyến khích khu vực này phát triển và mạnh dạn chuyển vốn đầu tư sang khu vực ngoài Nhà nước và tạo sân chơi bình đẳng.   Khu vực tài chính ngân hàng:  Nông thôn và nông nghiệp là giá đỡ cho nền kinh tế lúc khủng hoảng, hơn nữa khu vực này thường ít được quan tâm tương xứng, và dễ gây những bất ổn xã hội. Thúc đẩy tín dụng nông thôn không những kích thích, hỗ trợ mà còn là đòn bẩy phát triển kinh tế Tây Nguyên, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản, gia tăng giá trị xuất khẩu. Tuy số lượng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đang rất nhiều nhưng sức khỏe trung bình lại ở thế yếu so với khu vực và phần lớn “đóng đô” ở các đô thị và trục kinh tế quan trọng.  Đầu tư vào Tây Nguyên và “bắt tay” với nông dân, các ngân hàng cần được đối xử bình đẳng với những khuyến khích từ phía nhà nước với một số ưu đãi nhất định về lãi suất, cơ chế tài chính (không nên chỉ có một số ít các ngân hàng như Agribank, Ngân hàng chính sách  tập chung vào các khu vực nông thôn miền núi).  Thủ tục cho vay và các vấn đề thế chấp tài sản đang là những vướng mắc mà người dân không dễ tiếp cận được với ngân hàng.  Đầu tư công: Đây là lĩnh vực ưu tiên giải quyết của không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới. Tây Nguyên với khả năng về vốn có hạn, chỉ nên tập trung vào các dự án trọng điểm mang tính thiết thực, nhất là các dự án tốn kém như cơ sở hạ tầng, công nghiệp. Câu truyện bauxite Tây Nguyên vẫn còn tính nóng hổi với những phản biện của các nhà khoa học về hiệu quả đầu tư là một ví dụ. Trong khi đó, thực tế cho thấy hiệu quả đầu tư trong nông lâm nghiệp luôn cao hơn các lĩnh vực khác2, đảm bảo các vẫn đề ổn định xã hội và xóa đói giảm nghèo. Gần đây mô hình liên minh công tư (PPP) tương đối mới đã và đang áp dụng ở Việt Nam, Tây Nguyên cần tranh thủ mở rộng mô hình này, đặc biệt nhằm huy động vốn đầu tư từ phía các doanh nghiệp.  Song song với tái cơ cấu những khu vực trên, Tây Nguyên vẫn nên tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, chú trọng vào giá trị gia tăng và năng suất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hữu cơ, sinh thái và công nghệ cao. Phát triển nông nghiệp nói chung và một số cây lương thực và công nghiệp nói riêng vẫn là những lợi thế cần tiếp tục phát huy lợi thế so sánh nhưng tránh phát triển ồ ạt, phá vỡ quy hoạch, đặc biệt là phá rừng. Công nghiệp nên đi theo hướng hỗ trợ nông nghiệp như công nghiệp chế biến, ứng dụng các công nghệ thân thiện môi trường, ít gây ô nhiễm, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và công nghiệp gắn với nông lâm nghiệp. Với địa hình chia cắt, không có cảng biển, đường sắt và nguồn nhân lực có hạn, Tây Nguyên không có nhiều lợi thế cạnh tranh nếu đi vào các ngành công nghiệp truyền thống và công nghiệp nặng. Nhiều tỉnh, nhiều nơi muốn đầu tư vào công nghiệp vì tăng trưởng nhanh, tạo ra giá trị GDP lớn, nhưng chúng ta thử nhìn lại xem tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp ngay cả các tỉnh có nhiều lợi thế là bao nhiêu trong khi lượng vốn đầu tư bỏ ra là không nhỏ. Tiếp nữa, nếu quá xa đà vào các ngành khai khoáng,  Tây Nguyên có thể phải trả giá rất đắt cho các thế hệ sau từ những nguy cơ ô nhiễm môi trường. Khoáng sản càng để lâu càng quý và có giá, nên sẽ tốt hơn biết bao nếu coi nó như “của hồi môn” dành cho thế hệ sau, sẽ chỉ khai thác khi đảm bảo được các yếu tố hiệu quả kinh tế, công nghệ tiên tiến và quan trọng hơn cả là hợp lòng dân. Trên thế giới, đã có những mô hình phát triển thành công dựa trên phát triển nông nghiệp, kết hợp đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ (cung cấp đầu vào, chế biến sản phẩm đầu ra), tổ chức cho người nông dân vào các hiệp hội để tăng hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường như Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc, Hà Lan, New Zealand …Ngành dịch vụ bao gồm tài chính ngân hàng, thương mại, du lịch phấn đấu trở thành một trong các trụ đỡ, hỗ trợ, bôi trơn và thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định. Du lịch là một lợi thế tiềm năng nếu biết kết hợp các yếu tố văn hóa, rừng và “không gian Kồng Chiêng”. Như vậy, tái cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp hướng vào tạo giá trị gia tăng lớn hơn, hàng hóa nhiều hơn, hiệu quả cao hơn và bền vững hơn với quy mô lớn hơn, công nghệ tiên tiến hơn và lao động chuyên nghiệp hơn.   Gần đây, trước những tác động thảm khốc của thiên tai, biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, mô hình kinh tế xanh/tăng trưởng xanh đã được nhắc đến nhiều và dự đoán sẽ là xu hướng phát triển bền vững trong tương lai. Trong đó,  GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, vì vậy chắc chắn nó không chỉ phản ánh thực chất sự tăng trưởng của kinh tế mà còn chỉ ra các tổn thất môi trường mà sự tăng trưởng kinh tế có thể gây ra.  Kết luận  Cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu hình thành trên cơ sở khai thác, tận dụng tốt các lợi thế cạnh tranh; do đó một khu vực kinh tế có cơ cấu hợp lý sẽ là tiền đề để phát triển nhanh và bền vững. Cùng với chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng lâu dài, Tây Nguyên cần giải quyết ngay những bất hợp lý mang tính cơ cấu trước mắt nhằm tránh những nguy cơ có thể xảy ra song hành với các bất ổn tiềm tàng về mặt văn hóa, môi trường và xã hội. Phát triển bền vững trong điều kiện đặc thù của Tây Nguyên phải chăng cũng đến lúc nên định vị lại mục tiêu phát triển của mình. Dù thế nào, Tây Nguyên cũng phải đặt mình vào sự phát triển chung của cả nước, là một phần “đặc trưng” hơn là một phần “tương tự”, như một ngón tay trong một bàn tay. Kinh tế xanh, kinh tế sinh thái, hay cụ thể hơn là kinh tế rừng cần được hướng tới thay vì quá tập trung vào tốc độ tăng trưởng. Để chốt lại bài viết, ông Ban Ki-moon, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đã công bố năm 2012 là năm “Năng lượng bền vững và bảo vệ môi trường”, vậy mỗi quốc gia, mỗi khu vực cũng nên tự ngẫm lại mình xem liệu chúng ta có đi ngược lại xu hướng tất yếu mà cả thế giới đang hướng tới hay tiếp tục “cứng nhắc, ích kỷ, mù quáng” kiên định con đường đã chọn.   —      1. Chỉ số ICOR năm 2007 khu vực ngoài nhà nước của Kontum là 3, trong khi khu vực quốc doanh là 6,25.  2. Đặng Kim Sơn: Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách nông nghiệp và Phát triển nông thôn    Tài liệu tham khảo  1.    Holger R., (2011), Kinh tế học bền vững- Lý thuyết kinh tế và thực tế của phát triển bền vững. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 2011.  2.    Huân, N.V, (2011). Một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế ở Tỉnh Kon Tum giai đoạn 2000-2010.  Tạp chí KHXH Tây Nguyên, Số 3, 2011.  3.    Nguyễn Ngọc Sơn, (2010). Tái cơ cấu kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu: Kinh nghiệm của các nước và khuyến nghị cho Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển.  4.    Phạm Đỗ Chí, (2011). Khi rồng muốn thức dậy- Loai hoay với mô hình kinh tế sau đổi mới. Nhà xuất bản Lao động- Xã hội.  5.    Tạp chí Cộng Sản- Viện Chiến lược, (2011). Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Hội thảo khoa học.  6.    Vietnam Development Report, (2011). Market Economy for a Middle-income Vietnam. Consultant Draft.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái định nghĩa Y tế công cộng      Y học là một ngành khoa học quan tâm đến sức khỏe và vì vậy, nó là một trong những “ngành khoa học sức khỏe”. Mục tiêu của nó là chữa bệnh, chẳng hạn như giảm đau, chữa trị bệnh hoặc kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Ngoài ra còn có những ngành khoa học sức khỏe phổ biến khác đó là dược học và công nghệ y học. Nhưng còn ngành khoa học sức khỏe nào khác không?  Chúng ta trả lời cho câu hỏi này bằng hai câu chuyện dưới đây.            John Snow được coi là cha đẻ của ngành dịch tễ học.  Lời nói đầu: hai câu chuyện  Câu chuyện đầu tiên chắc mọi người đã được nghe rất nhiều lần nhưng vẫn đáng được nhắc lại ở đây. Đó là vào thời kì bùng phát trên diện rộng của bệnh tả vào năm 1854 tại quận Soho ở London. Ở thời kì đó, có rất nhiều giả thuyết xung đột nhau về căn nguyên dẫn đến sự xuất hiện của bệnh tả, đặc biệt là ý tưởng tồn tại phân tử “Miasma” (bụi) trong không khí. Ngược lại, bác sĩ John Snow thì phỏng đoán rằng có những thành phần chưa được phát hiện trong nước đã gây ra bệnh tả này. Lúc đó người dân ở Soho lấy nước từ những vòi nước trên đường phố. Những vòi nước này được cung cấp bởi nhiều nhà máy nước, từ sông Thames và lọc theo vô số tiêu chuẩn với chất lượng khác nhau. Snow phác họa bản đồ địa điểm của tất cả các trường hợp mắc bệnh tả và nhận ra rằng hầu hết đều xảy ra ở khu vực sử dụng một vòi nước duy nhất trên đường Broad. Những công ty cấp nước cho ống nước ở đường Broad đều không phục vụ cho những địa điểm khác. Snow gỡ bỏ van của vòi nước trên đường Broad để ngăn chặn mọi người lấy nước ở đây, dịch bệnh từ đó chấm dứt.     Snow công bố lý thuyết và phát hiện của mình. Từ đó, quy định về nước sạch được thông qua và dịch tả chấm dứt ở Anh.   Hành động của Snow có phải là hoạt động y học không? Dĩ nhiên là không. Ông không chỉ chữa một trường hợp của bệnh tả và cũng không chỉ chữa cho một cá nhân người bệnh. Việc ông làm là dự phòng một bệnh dịch xảy ra trong một quần thể. Ông lại càng không hoạt động gì trong lĩnh vực dược học hay là công nghệ y tế (trừ phi ta coi việc gỡ bỏ van nước từ vòi nước đường Broad là công nghệ cao). Câu hỏi ở đây là: Công việc của Snow phụ thuộc vào ngành khoa học sức khỏe nào?   Câu chuyện thứ hai mới diễn ra gần đây. Trong rất nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, những thuốc vi lượng đồng căn (dĩ độc trị độc) được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, chưa hề có một chứng cứ khoa học nào khẳng định hiệu quả tích cực của liệu pháp này. Bởi vậy vào ngày 19 tháng 3 năm 2018, một nhóm gồm 124 bác sĩ người Pháp đề xuất trên tờ báo quốc gia “Le Figaro” rằng bảo hiểm y tế đại trà không nên chi trả cho những cách chữa bệnh dùng thuốc vi lượng đồng căn này nữa. Có khoảng 2400 bác sĩ khác cũng ký vào đề xuất này. Cả Viện Y học Quốc gia Pháp cũng vậy và họ nhấn mạnh nhiều lần về sự thiếu sót về mặt chứng cứ khoa học trong các phương pháp vi lượng đồng căn. Bộ trưởng Bộ Y tế Pháp cũng đồng tình.  Một lần nữa, chúng ta quan tâm đến câu hỏi này: Vấn đề trên thuộc về ngành khoa học sức khỏe nào? Những người ký tên hẳn đang nghĩ về “thử nghiệm lâm sàng” cho phương thức chữa bệnh vi lượng đồng căn. Các thử nghiệm lâm sàng trước đó đều thất bại trong việc đưa ra một ảnh hưởng tích cực của phương thức này. Thử nghiệm lâm sàng không thuộc về y học, như định nghĩa về y học ở trên. Nó cũng không thuộc về dược học hay công nghệ y tế. Vậy thì chỗ của nó ở đâu?   Câu trả lời cho hai câu hỏi trên rất đơn giản: Lĩnh vực mà chúng ta tìm kiếm gọi là “Y tế công cộng”. Kì lạ là nó không hề được công chúng biết đến một cách rộng rãi như y học mặc dù sự đóng góp của nó cho sức khỏe con người quan trọng có lẽ không kém gì lĩnh vực còn lại trong ngành khoa học sức khỏe   Cuốn sách về lịch sử Y tế công cộng của Geoge Rosen.    Góc nhìn về y tế công cộng    Nhìn vào công trình xuất sắc “Lịch sử Y tế công cộng” của George Rosen viết về thời kì 1955 trở về trước, ta thấy ba thực tế: 1. Y tế công cộng đã từng tồn tại trong thời cổ đại dưới rất nhiều tên gọi. 2. Tất cả hoạt động của Y tế công cộng, cách này hay cách khác đều liên quan đến sức khỏe của một nhóm người, hay còn gọi là quần thể. 3. Bản thân những người làm việc trong lĩnh vực này cũng có những định nghĩa rất khác nhau về Y tế công cộng là gì và nó có thể làm những gì.   Vậy còn góc nhìn hiện tại về Y tế cộng đồng thì sao? Nỗ lực sớm nhất nhằm định nghĩa lĩnh vực này có từ năm 1920. Sự phát triển của nó sau năm 1955 còn đưa đến nhiều định nghĩa hơn từ các tổ chức và cá nhân. Không có bất kì một định nghĩa nào trong đó được chấp nhận rộng rãi vì nó đều thiếu sót một nội dung nào đó. Những tác giả này chỉ liệt kê một số mục tiêu, hoạt động, công cụ và ứng dụng nhất định của lĩnh vực của Y tế công cộng. Như vậy, những định nghĩa này có phần tùy biến và phụ thuộc vào xu hướng nghiên cứu của nhà khoa học, hơn nữa, lại còn liên tục thay đổi theo thời gian và như vậy, nó không thể là định nghĩa tốt. Một ví dụ cho điều này là danh sách 10 chức năng cốt lõi của Y tế công cộng do tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra.   Để đi tìm một ý tưởng thống nhất đằng sau tất cả câu chuyện này và đạt tới một định nghĩa rõ ràng về Y tế công cộng, hãy để tôi mô tả những chức năng của nó trong quá khứ và hiện tại, cách nó đang được dạy và vị trí đặc biệt ở Việt Nam.     Các chức năng của Y tế công cộng    Phòng bệnh luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của Y tế công cộng. Chúng ta phòng các bệnh nhiễm khuẩn bằng việc giữ gìn vệ sinh. Giữ gìn vệ sinh tại nhà bao gồm lau dọn nhà sạch sẽ và hạn chế tối thiểu những con đường truyền bệnh. Cũng có những biện pháp đảm bảo vệ sinh được triển khai bởi các cơ quan chức năng như đảm bảo việc cung cấp nước sạch (nhớ lại vòi nước ở đường Broad!), xử lý nước và rác thải. Xây dựng kế hoạch và triển khai các chương trình tiêm chủng có thể là cách hiệu quả nhất để phòng bệnh và có lẽ là cả chấm dứt sự hoành hành của một bệnh nhiễm khuẩn.   Gần đây trọng tâm của nhiều nỗ lực trong y tế công cộng còn là ngăn chặn những bệnh không nhiễm khuẩn, chủ yếu là các bệnh về tim mạch, ung thư và bệnh đái tháo đường týp 2. Nỗ lực phòng những bệnh này đồng nghĩa với việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ (hay còn gọi là yếu tố quyết định) và cố gắng giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của nó đến chúng. Hiện tại có hàng trăm nguy cơ đã được phát hiện. Hút thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ khủng khiếp nhất. Môi trường sống của chúng ta ẩn chứa đủ loại yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như là các hóa chất từ thuốc trừ sâu được sử dụng trong nông nghiệp hay nhiều sản phẩm khác, và phóng xạ. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý, chẳng hạn như ăn quá nhiều đường, cũng dẫn tới những bệnh kể trên, và cả chất phụ gia thực phẩm nữa.   Vẫn còn một loạt những hình thức suy giảm sức khỏe và các nguy cơ gây bệnh trong khi tham gia giao thông hay trong môi trường làm việc. Cuối cùng, là yếu tố quyết định mang tính xã hội và kinh tế gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người đã được nhắc đến hàng thế kỷ: Nghèo đói càng khiến sức khỏe người ta tệ đi!  Phòng bệnh không phải là chức năng duy nhất của Y tế công cộng mà còn có cả việc theo dõi để phát hiện sớm một trường hợp mắc bệnh nào đó để có thể điều trị thành công. Đào tạo về vấn đề này ở trường đại học trên thế giới có từ thế kỉ 19.   Giám sát và kiểm soát dịch, mô hình toán học hóa dịch bệnh là những chức năng kinh điển khác của Y tế công cộng.   Đánh giá một quy trình chẩn đoán hoặc một phương thức điều trị và phòng bệnh bằng thử nghiệm lâm sàng cũng là một hoạt động thuộc về Y tế công cộng. Mục đích của nó là đưa ra cái được gọi là bằng chứng cho thấy quy trình hay phương thức điều trị này hiệu quả trên một tập người và trong những điều kiện nhất định, không gây ra các tác dụng phụ nguy hiểm. Về nguyên tắc, mọi phương thức điều trị phải trải qua thử nghiệm lâm sàng trước khi được công nhận bởi các cơ quan y tế. Điều này không chỉ đúng với “Y học phương Tây” mà với cả các quy trình của Y học phương Tây, Y học cổ truyền, liệu pháp điều trị thay thế hay quy trình trợ y.  Trên thực tế, những phương pháp điều trị chưa được công nhận vẫn cứ được chấp nhận rộng rãi ở rất nhiều nước trên thế giới. Những liệu pháp được công nhận thậm chí có thể đúng với những trường hợp cụ thể nhưng lại gây phản ứng phụ đối với toàn bộ cộng đồng dựa trên các thước đo Y tế công cộng. Ví dụ như, việc sử dụng tràn lan thuốc kháng sinh, gây ra kháng thuốc, là một hiện tượng có thể quan sát được sau một thời gian ngắn ngay sau phát minh ra hiệu quả của thuốc kháng sinh, có thể được coi là một trong những tội ác lớn nhất trong lịch sử y học.   Sức khỏe về bà mẹ và trẻ em là một chương trình được định nghĩa rõ ràng trong Y tế công cộng, đưa ra những nguyên tắc đồng bộ trong việc tiếp nhận tất cả các ca mang thai.   Cuối cùng, để kết thúc một danh sách khái quát những chức năng của Y tế công cộng, hãy để tôi đề cập thêm một loạt chức năng khác như quy hoạch sức khỏe, chiến lược sức khỏe, quản lý sức khỏe và kinh tế sức khỏe.   Rất nhiều nhà khoa học đã nỗ lực đánh giá tác động chung của tất cả những chức năng nói trên của Y tế công cộng. Và đây là kết luận của họ:  Trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là trong hai thập kỉ gần đây, Y tế công cộng đã đóng góp vào việc cải thiện sức khỏe của con người và kéo dài tuổi thọ của họ nhiều hơn là Y học. Điều này đã được đề cập trên một loạt các nghiên cứu đánh giá ngành này trên nhiều góc độ.     Giảng dạy Y tế công cộng    Cũng như Y học, thực hành Y tế công cộng phải được thực hiện bởi những người được đào tạo bài bản. Hãy xem việc đào tạo Y tế công cộng ở bậc đại học ở Việt Nam. Đại học Y tế Công cộng Hà Nội và một vài khoa Y tế công cộng trong các Đại học Y và Khoa Y của nhiều trường đều đào tạo các chuyên gia của ngành này. Hơn nữa:   Ở Việt Nam, sáu năm đầu đào tạo Y khoa cơ bản cũng bao gồm nhiều môn học về Y tế công cộng.    Tức là, mọi bác sĩ đều theo học một vài khóa học liên quan đến Y tế công cộng. Không nghi ngờ gì, đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của hệ thống y tế Việt Nam.   Tuy nhiên, rất nhiều người cảm thấy rằng các khóa học này vẫn cần phải được cải thiện. Việc chọn lựa các môn học để đưa vào chương trình, thứ tự giảng dạy và chất lượng chương trình vẫn được cho là có nhiều thiếu sót. Thậm chí, có nhiều môn học trong chương trình giảng dạy không được định nghĩa rõ ràng là thuộc về một phần hay toàn bộ lĩnh vực Y tế công cộng.   Bởi vậy, vào năm 2005 tại Đại học Y Dược Thái Bình đã đề nghị tôi cải thiện chương trình giảng dạy về Y tế công cộng. Chúng tôi mở rộng dự án này về sau cho tất cả các khoa Y và Đại học Y trên tất cả các tỉnh của Việt Nam, ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Chúng tôi lựa chọn thay đổi nội dung của những khóa học này trước, tạm hoãn những vấn đề liên quan đến chương trình học và phương pháp giảng dạy. Theo đó, chúng tôi giải thích về Y tế công cộng bằng một tuyển tập các ấn phẩm có tên “Các chủ đề cơ bản về Y tế công cộng” được xuất bản bởi Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Các ấn phẩm này đều có liên quan đến nhau một cách trình tự như thế chúng có thể hợp lại thành một quyển sách lớn. Chúng đều nhấn mạnh những khái niệm căn bản và vai trò của những khái niệm này trong thực hành Y tế công cộng thay vì đề cập đến những chi tiết mang tính kĩ thuật. Dưới đây là những quyển đã xuất bản bằng tíêng Việt và tiếng Anh:   – Dịch tễ học – Chìa khóa của dự phòng (2012); bản in lần hai “Dịch tễ học – Chìa khóa của Y tế công cộng” sẽ sớm xuất bản. – Giáo dục sức khỏe (2014).– Khoa học dân số và Y tế công cộng (2014).– Toán học và thống kê trong khoa học y tế (2017).– Sức khỏe môi trường – Các nguyên lý cơ bản (2017).– Dinh dưỡng –Từ góc nhìn dịch tễ học (sắp xuất bản).– Y học cổ truyền và Y học phi chính thống (còn gọi là Y học thay thế) trong Y tế công cộng (đang thực hiện).   Một người thực hành trong một vài lĩnh vực chức năng của Y tế công cộng như được đề cập, có lẽ không cần có một cái nhìn toàn cảnh về ngành này. Tuy nhiên, cái nhìn đó lại rất cần thiết cho việc giảng dạy. Bởi vậy, chúng tôi đã định nghĩa Y tế công cộng ngay trong tập một của tuyển tập của mình.   Y tế công cộng là toàn bộ các hoạt động lý thuyết và thực hành liên quan đến sức khỏe con người và triển khai trên toàn bộ cộng đồng dân số chứ không phải trên một cá nhân cụ thể nào.   Một ví dụ: Khi Hương đưa con trai bị khó thở tên là Xanh đến Trạm Y tế xã và nếu triệu chứng đó là do cậu bé từng được điều trị ở đây thì đó là vấn đề của Y học. Nhưng nếu là tác dụng phụ khi cậu bé tham gia tiêm chủng phòng bệnh sởi trong chương trình tiêm chủng toàn quốc dành cho tất cả trẻ em ở lứa tuổi của Xanh thì đó là vấn đề của Y tế công cộng.   Sức khỏe bà mẹ và trẻ em là một chương trình được định nghĩa rõ ràng trong lĩnh vực Y tế công cộng. Ảnh: HP.Từ định nghĩa ở trên cũng như từ thực hành của Y tế công cộng, rõ ràng, một trong những công cụ chính, nếu không muốn nói là quan trọng nhất của ngành này là thống kê. Thật vậy, thống kê là khoa học của những đặc điểm phân bố trên dân số. Trong ngành y tế công cộng, chúng ta quan tâm đến những đặc điểm liên quan đến sức khỏe.   Tập đầu tiên trong tuyển tập của chúng tôi là về Dịch tễ học. Trái ngược với Y tế công cộng, lĩnh vực này đã có một định nghĩa tốt và được chấp nhận rộng rãi.   Dịch tễ học là môn khoa học về phân bố các đặc điểm về bệnh tật và về đặc điểm khác liên quan đến sức khỏe trên dân số và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố này.   Thật kì lạ là dịch tễ học dường như bị bỏ quên và mãi sau này mới được dạy trong những khóa đào tạo bác sĩ hoặc chuyên gia về Y tế công cộng ở Việt Nam. Trong khi nó là cốt lõi của Y tế công cộng. Hãy để chúng tôi chứng minh nhận định điều này. Khi các bác sĩ nói về “dịch tễ học” của một bệnh, nghĩa là họ đang nói về tần suất xuất hiện của nó, nghĩa là tính thường xuyên và sự phổ biến của bệnh này và phân loại chúng theo các “yếu tố” địa điểm, thời gian, tuổi tác, giới tính và thi thoảng là cả nghề nghiệp nữa. Nó được gọi là “Thống kê y tế” nhưng từ góc nhìn của dịch tễ học, nó không gì khác chính là sự ảnh hưởng của những yếu tố này đến sự phân bố của dịch bệnh. Trong lĩnh vực phòng bệnh của Y tế công cộng, những yếu tố đó chính là những yếu tố nguy cơ, còn gọi là yếu tố quyết định, như mô tả phía trên. Thử nghiệm lâm sàng thuộc về lĩnh vực gọi là “Dịch tễ học lâm sàng”. Bằng một thử nghiệm lâm sàng người ta nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố “điều trị” đến tiến trình của những bệnh tật trong một dân số. Vai trò của dịch tễ học quá rõ ràng trong việc kế hoạch hóa sức khỏe, các chiến lược về sức khỏe, quản trị sức khỏe và kinh tế sức khỏe. Ví dụ khi dự kiến xây một bệnh viện lớn, bạn bắt buộc phải hình dung được số lượng bệnh nhân mắc những bệnh lý này kia sẽ có khả năng đến đây. Có lẽ chúng ta nên diễn đạt lại định nghĩa phía trên bằng cách khẳng định rằng:  Y tế công cộng là dịch tễ học ứng dụng.  Trong một vài đại học Việt Nam cũng đã dạy các khóa học và cấp bằng cho ngành “Bác sĩ y học dự phòng”. Đó thực chất là chương trình Y khoa thông thường với một vài môn học được thay thế một cách mơ hồ bởi những môn thuộc phạm trù Y tế công cộng. Nó không hề logic và thậm chí là rất không khả thi khi đào tạo bác sĩ bằng cách cho họ biết chỉ một phần kiến thức của y tế công cộng và cùng lúc đó không cho họ một giáo dục Y học lâm sàng đầy đủ. Chương trình đào tạo đại học này cần thiết phải chấm dứt và được thay thế bằng “ Bác sĩ y tế công cộng”.    Thực hành y tế công cộng    Nhiều hoạt động trong Y tế công cộng là công việc của những người chuyên nghiệp. Điều này đặc biệt đúng với những trường hợp thiết kế các chương trình tiêm chủng hoặc một chương trình sàng tuyển và kiểm soát dịch bệnh, xây dựng mô hình toán của một dịch bệnh, xây dựng một thử nghiệm lâm sàng và tất cả các hình thức lập kế hoạch và quản lý trên quy mô lớn.   Những bác sĩ được đào tạo về Y tế công cộng cũng có thể làm rất nhiều việc: Theo dõi dịch bệnh trên một quy mô nhỏ và việc quan trọng nhất của họ, là giáo dục sức khỏe. Việc tiếp xúc trực tiếp với bác sĩ có lẽ là cách tốt nhất để người bệnh hiểu được những vấn đề về vệ sinh và các phương thức phòng bệnh khác mà chúng ta đã nói qua ở phần chức năng của Y tế công cộng.  Ở đây, chúng ta sẽ bắt gặp một thành tựu lớn khác của Hệ thống Y tế Việt Nam, gọi là mạng lưới các trạm y tế xã.    Địa điểm tốt nhất để giáo dục y tế chính là các trạm y tế xã trong khi một bệnh viện lớn hoặc một bác sĩ tư nhân không phải lúc nào cũng phù hợp với nhiệm vụ này. Nếu các hoạt đông Y tế công cộng không đến được với đông đảo người dân và người thực hành nó thiếu kiến thức và phương pháp về thực hành y tế công cộng cũng giải thích tại sao Y tế công cộng, trái ngược với Y học, không được biết đến một cách rộng rãi. □ Hảo Linh dịch        Author                Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Tái du nhập bò rừng bison giúp gia tăng sự đa dạng của  thực vật      Các nhà khoa học thuộc Đại học Bang Kansas mới đây đã phát hiện ra rằng việc tái du nhập bò rừng bison – loài động vật trước đây chủ yếu ăn cỏ – giúp tăng gấp đôi mức độ đa dạng của thực vật trong vùng đồng cỏ cao.     Một đàn bò rừng gặm cỏ tại Trạm sinh học Konza Prairie. Ảnh: Barbara Van Slyke  Tái du nhập loài là sự phóng thích có chủ đích một loài từ môi trường nuôi nhốt hoặc các khu vực khác nơi sinh vật có khả năng sống sót vào tự nhiên. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu trong vòng 30 năm tại Trạm sinh học Konza Prairie, các nhà khoa học đã công bố kết quả thu được trên tạp chí danh tiếng Proceedings of the National Academy of Science (PNAS).  “Bò rừng bison là một phần không thể thiếu của đồng cỏ Bắc Mỹ trước khi chúng đột ngột suy giảm 99% số lượng tại khu vực Đại Bình nguyên”, Zak Ratajczak, phó giáo sư sinh học và là trưởng nhóm nghiên cứu cho biết. “Việc bò rừng bison dần biến mất đã xảy ra trước khi có hồ sơ đánh giá, và do đó, các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ việc chúng biến mất ảnh hưởng như thế nào đến tự nhiên”.  Nghiên cứu được tiến hành tại vùng sinh thái Flint Hills, nơi có một khu vực thảo nguyên cỏ cao. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra mức độ đa dạng của cộng đồng thực vật trong ba mô hình: không có động vật ăn cỏ lớn; tái du nhập bò rừng bison và được phép chăn thả quanh năm; hoặc du nhập bò nhà (cattle) và được phép chăn thả trong mùa sinh trưởng.  “Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng nhiều đồng cỏ ở trung tâm Đại Bình nguyên có mức độ đa dạng sinh học thực vật thấp hơn đáng kể so với trước khi bò rừng bị xóa sổ trên diện rộng”, Ratajczak cho biết. “Việc đưa các loài động vật bản địa với kích thước lớn trở lại có thể giúp khôi phục sự đa dạng sinh học đồng cỏ”.  Nghiên cứu cũng cho thấy, so với mô hình không chăn thả bất kỳ gia súc lớn nào, mô hình chăn thả bò nhà có tác động tích cực đến sự đa dạng của thực vật hơn. Tuy vậy, mô hình chăn thả bò rừng bison vẫn có tác động lớn nhất, giúp gia tăng đáng kể mức độ phong phú của các loài thực vật.   “Tôi nghĩ rằng nghiên cứu này cũng cho thấy rằng bò nhà có thể có tác động tích cực đến nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực của chúng tôi”, Ratajczak cho biết. “Nhưng sau rốt, điều mà nghiên cứu này thực sự muốn nhắn nhủ, việc đưa bò rừng bison trở lại – trong trường hợp khả thi về mặt kinh tế và sinh thái – có thể tạo tác động tích cực đến việc bảo tồn đa dạng sinh học”.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang bắt đầu tìm hiểu bò rừng bison ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chống chịu của cộng đồng thực vật khi khí hậu trở nên khắc nghiệt. Do thời gian nghiên cứu kéo dài, các nhà nghiên cứu có thể xem xét được một trong những hiện tượng hạn hán khắc nghiệt nhất đã xảy ra ở Đại Bình nguyên trong sự kiện Dust Bowl vào những năm 1930. (Đây là giai đoạn mà rất nhiều cơn bão và lốc cuốn theo cát bụi hoành hành ở các đồng cỏ tại khu vực Bắc Mỹ, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho hệ sinh thái và nông nghiệp trong khu vực).  Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong thời kỳ khí hậu khắc nghiệt, các loài thực vật bản địa trong khu vực chăn thả bò rừng bison có khả năng chống chịu với hạn hán. “Điều này cũng cho thấy sự đa dạng thúc đẩy khả năng phục hồi sinh thái”, Ratajczak nói. “Và khả năng phục hồi này sẽ trở nên cực kỳ quan trọng khi khí hậu bỗng trở nên khắc nghiệt”.  “Cần dữ liệu trong nhiều thập kỷ để hiểu về ý nghĩa của một số đặc điểm sinh thái. Chúng ta chỉ có thể xác định chúng bằng cách dùng các bản ghi dài hạn như các bản ghi được hỗ trợ bởi chương trình NSF LTER”, SS. Jesse Nippert cho biết. “Nếu không có những dữ liệu này, chúng ta sẽ chỉ có thể dùng các thí nghiệm ngắn hạn, thế thì khó mà theo dõi được các thuộc tính cơ bản của hệ sinh thái”.   “Nghiên cứu được thực hiện tại Konza Prairie thực sự độc đáo và ấn tượng”, David Rosowsky, phó chủ tịch nghiên cứu của K-State cho biết. “Có rất ít nơi trên thế giới cung cấp loại dữ liệu dài hạn có thể góp phần thay đổi cách chúng ta tương tác với tài nguyên thiên nhiên của mình”.  Hà Trang dịch  https://phys.org/news/2022-08-reintroducing-bison-grasslands-diversity-drought.html    Author                .        
__label__tiasang Tái hiện khí hậu quá khứ bằng phân tích thạch nhũ      Trong gian băng (interglacial period) cuối cùng trên Trái đất – thời kỳ nhiệt độ Trái đất ấm hơn làm tan băng ở các vùng cực, xen kẽ với thời kỳ băng hà trong một kỷ băng hà, gió mùa Ấn Độ khắc nghiệt, thất thường và kéo dài hơn so với hiện nay.      Các nhà nghiên cứu phân tích mẫu thạch nhũ để tìm hiểu về lịch sử khí hậu 40.000 năm. Nguồn: RUB, Marquard  Các nhà địa chất ở Đại học Ruhr-Bochum (RUB), Đức và Đại học Oxford của Anh cùng với cộng sự quốc tế đã kết luận trong công trình xuất bản trên tạp chí Geophysical Research Letters.  Họ đã phân tích các mẫu thạch nhũ trong các hang động vùng Đông Bắc Ấn Độ, kết hợp với nhiều phương pháp để đưa ra thông tin về hiện tượng thời tiết trong khu vực và trên các vùng rộng lớn, các yếu tố động lực thời tiết trong quá khứ. “Gian băng cuối cùng thường biểu hiện tương tự với biến đổi khí hậu xảy ra sau đó, mặc dù các yếu tố dẫn đến sự nóng lên hồi đó khác hẳn so với ngày nay”, Ola Kwiecien ở Viện Địa chất, Khoáng vật học và Địa vật lý ở RUB cho biết. Những phát hiện về các hiện tượng thời tiết và khí hậu ở thời kỳ gian băng cuối cùng cung cấp bằng chứng giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sự biến đổi của khí hậu khi Trái đất nóng lên.  Nhóm nghiên cứu đã phân tích thạch nhũ nhỏ giọt ở hang động Mawmluh thuộc vùng Đông Bắc Ấn Độ. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã xác định giá trị delta-18-O (hàm lượng đồng vị 18-O), một tham số đo cường độ gió mùa Ấn Độ, sau đó so sánh tỉ lệ oxi nặng và nhẹ trong nhũ đá nhỏ giọt, vốn phụ thuộc vào khu vực phát sinh gió mùa, nhiệt độ và sự phân bố lượng mưa theo mùa. “Giá trị delta-18-O thể hiện một số thông tin về cường độ gió mùa, nhưng không bao gồm thông tin về cường độ mưa và sự phân bố lượng mưa theo thời gian”, Sebastian Breitenbach ở Viện Địa chất, Khoáng vật học và Địa vật lý ở RUB giải thích.   Để thu thập các bằng chứng về sự phân bố lượng mưa theo mùa, các nhà nghiên cứu đã xác định thêm các giá trị đo lường khác. Trong khi giá trị delta-18-O là một tham số siêu vùng thể hiện nguồn gốc gió mùa trên phạm vi rộng lớn, các tham số khác ghi lại các hiện tượng địa phương, bao gồm tỉ lệ các nguyên tố như stronti hoặc magie, canxi hoặc tỉ lệ các đồng vị canxi trong nhũ đá nhỏ giọt – giá trị delta-44-Ca, vốn ít được ứng dụng trên các mẫu hang động.  Trong suốt mùa đông khô hạn và những thời kỳ hanh khô kéo dài, một hiện tượng đã xảy ra trong phần đá karst phía trên hang động ảnh hưởng đến trạng thái của các nguyên tố trong thạch nhũ nhỏ giọt. Khi mưa rơi xuống hang động Mawmluh, nó thấm qua đất, hòa tan canxi trong đá và đưa vào trong hang, hình thành nên thạch nhũ nhỏ giọt. Bởi vậy, thạch nhũ phát triển trong thời gian ẩm ướt sẽ có hàm lượng canxi cao hơn so với các nguyên tố khác.  Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ khô hạn từ tháng 11 đến tháng 5, lượng canxi có thể bị thất thoát trên đường vận chuyển do những lỗ hổng chứa không khí trong đá khiến canxi kết tủa trước khi đến hang động, trong khi các nguyên tố khác như stronti và magie còn lại trong nước, được vận chuyển và tích hợp vào thạch nhũ. Bởi vậy, tỉ lệ magie hoặc stronti với canxi trong thạch nhũ sẽ thể hiện lượng mưa ở các vùng lân cận nhiều hay ít. Giá trị delta-44-Ca cũng cung cấp bằng chứng tương tự và giúp các nhà nghiên cứu có được nhiều thông tin hơn về cường độ mùa khô.  Thông qua việc kết hợp những tham số khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể tái hiện lại sự thay đổi về lượng mưa trong thời gian có gió mùa và không có gió mùa, nhờ đó hiểu được cặn kẽ về sự phân bố lượng mưa trước, trong và sau thời kỳ gian băng cuối cùng.  “Nhìn chung, dữ liệu cho thấy gió mùa Ấn Độ ở thời kỳ gian băng cuối cùng kém ổn định hơn hiện nay, cho thấy sự nóng lên toàn cầu ngày nay có thể gây ra tác động tương tự”, Ola Kwiecien kết luận. “Điều này cũng phù hợp với xu hướng thời tiết cực đoan ngày càng trở nên phổ biến hơn”. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-geoscientists-reconstruct-climate-analysing-dripstones.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái khám phá cách các tế bào T ghi nhận protein gai của virus SARS-COV-2      Hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết đại dịch COVID-19 khi mỗi người bị nhiễm virus SARS-CoV-2. Tuy nhiên, các loại vaccine đang được tiêm cho hàng triệu người trên toàn cầu được thiết kế để cảnh báo sớm và trang bị vũ khí cho hệ miễn dịch. Nhờ vậy, nếu bị lây nhiễm SARS-CoV-2, mỗi người ít phát triển các triệu chứng nặng.      Tại đây, hai cánh quân chủ yếu của hệ miễn dịch là các tế bào B và tế bào T, đều đóng vai trò trung tâm.  Trong khi chúng ta đều hiểu biết ở cấp độ phân tử về cách các kháng thể, vốn được tạo ra từ các tế bào chữ B, có thể liên kết và trung hòa protein gai của virus SARS-CoV-2, nhưng cho đến hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa biết cách các thụ thể của tế bào T (TCRs), vốn do tế bào T sinh ra, ghi nhận các kháng nguyên xâm nhập từ protein gai như thế nào.  “Các tế bào T đóng một vai trò quan trọng trong miễn dịch chống lại cả việc tiêm chủng SARS-CoV-2 và nhiều triệu chứng lây nhiễm đường hô hấp khác. Dẫu trước COVID-19, người ta đã từng nghiên cứu về các tế bào T nhưng hiểu biết cơ bản ở cấp độ phân tử về sự ghi nhận TCR  của SARS-CoV-2 vẫn còn ít ỏi. Một công trình nghiên cứu với nhóm nghiên cứu trường đại học Monash đã giúp hiểu về cách các tế bào T ghi nhận một kháng nguyên từ SARS-CoV-2”, giáo sư trường đại học Melbourne Katherine Kedzierska, người phụ trách một phòng thí nghiệm tại Viện nghiên cứu Lây nhiễm và Miễn dịch Peter Doherty, cho biết.  Với phát hiện lần đầu tiên trên thế giới, do các tiến sĩ Priyanka Chaurasia, Jan Petersen và giáo sư Jamie Rossjohn, Kedzierska dẫn dắt, nhóm nghiên cứu đã phân tích sự ghi nhận TCR của một mảnh protein gai khi biểu hiện qua một phân tử miễn dịch là hệ thống kháng nguyên bạch cầu người A2 (HLA-A2). Công trình này, được thực hiện tại Cơ sở máy gia tốc Synchrotron Australia, đã được xuất bản trên tạp chí Journal of Biological Chemistry 1.  “Đây mới chỉ là một phần trong một bài toán lớn hơn. Khi SARS-CoV-2 tiếp tục tiến hóa, chúng tôi phải củng cố hiểu biết của chúng tôi về cách phản hồi của hệ thống miễn dịch hiệu quả như thế nào”, tiến sĩ Jan Petersen, nói.  Nhóm nghiên cứu đem lại cái nhìn ở cấp độ phân tử vào hiểu biết về cách các tế bào T của hệ miễn dịch ở người phản hồi SARS-CoV-2. Mỗi người khác nhau đều có phản hồi miễn dịch với SARS-CoV-2 khác nhau và công trình này đem lại hiểu biết cơ bản về phản hồi miễn dịch của từng cá nhân theo cách như vậy.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-uncovering-t-cells-recognise-sars-cov-virus.html  https://www.monash.edu/discovery-institute/news-and-events/news/2021-articles/uncovering-how-t-cells-recognise-the-sars-cov-2-virus-spike-protein  ———————-  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0021925821008681       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái khởi động dò sóng hấp dẫn với hỗ trợ của cơ học lượng tử      Cuộc săn tìm sóng hấp dẫn được khởi động lần nữa, lần này được cơ học lượng tử hỗ trợ.      Máy dò sóng hấp dẫn Virgo đặt gần Pisa, Italy đã được tăng gấp đôi độ nhạy kể từ năm 2017. Nguồn: Cappello/Ropi via ZUMA     Ba máy dò cỡ lớn – hai chiếc là LIGO ở Mỹ và Virgo ở Ý – tiếp tục hoạt động trở lại để thu thập dữ liệu kể từ ngày 1/4/2019, sau 19 tháng dừng hoạt động để nâng cấp. Nhờ có hiện tượng lượng tử mà chúng ta biết như trạng thái nén của ánh sáng (light squeezing), các thiết bị này không chỉ điểm trúng các sóng hấp dẫn – các gợn sóng trong không thời gian có thể đem lại vô số thông tin về vũ trụ – mà còn đem đến nhiều cuộc dò với những thông tin chi tiết. Các nhà nghiên cứu hy vọng quan sát được các sự kiện chưa từng dò được trước đây, như siêu tân tinh hay sự va chạm của một lỗ đen với một sao neutron.  Đợt vận hành này, ít nhất sẽ bắt đầu vào tháng 3/2020, cũng ghi nhận một thay đổi lớn về cách thiên văn sóng hấp dẫn được hình thành. Với lần đầu khởi động này, LIGO và Virgo sẽ đưa ra những tín hiệu theo thời gian thực về những cuộc dò sóng hấp dẫn để lật lại các quan sát khác về cách làm thế nào để dò ra các sự kiện vũ trụ này, nhờ đó có thể nghiên cứu chúng bằng các kỹ thuật truyền thống, từ các kính viễn vọng sóng radio đến tia X không gian. Các tín hiệu sẽ được chuyển tới các nhà nghiên cứu qua một app điện thoại. “Các nhà thiên văn học thực sự khát thông tin,” theo David Reitze – một nhà vật lý tại Viện Công nghệ California ở Pasadena và giám đốc hiện tại của LIGO, nơi đã chứng kiến việc dò ra sóng hấp dẫn lịch sử vào năm 2015, mỗi tín hiệu được bắt nguồn từ một cuộc va chạm vũ trụ lớn – 10 tín hiệu từ các cuộc sáp nhập giữa hai lỗ đen. Cỗ máy dò Virgo gia nhập mạng lưới này năm 2017 và có nhiều đóng góp quan trọng, ví dụ ngay lần đầu dò vào năm 2017 đã “ngắm” được sóng hấp dẫn từ sự sáp nhận của các sao neutron. Dữ liệu từ sự kiện vũ trụ này có thể giúp các nhà thiên văn giải thích nhiều bí ẩn vũ trụ.  Mạng lưới vừa được nâng cấp này có thể dò được nhiều sự kiện vũ trụ hơn những lần vận hành trước đây, từ trung bình một cuộc dò được mỗi tháng đến một cuộc mỗi tuần, Reitze nói. Phần lớn các sự kiện này sẽ hầu như là các cuộc sáp nhập lỗ đen nhưng các nhà vật lý thì háo hức là sẽ thấy cả các va chạm sao neutron khác nữa.  Nâng cấp độ nhạy  Việc gia tăng độ nhạy của các cỗ máy dò để phân biệt tốt hơn các tín hiệu quan trọng từ tiếng ồn nền thường trực – đem lại cho các nhà vật lý với nhiều chi tiết hơn về sóng hấp dẫn. Điều này có thể cho phép thực hiện các thí nghiệm về thuyết tương đối rộng của Albert Einstein một cách chính xác, vốn dự đoán sự tồn tại của sóng hấp dẫn.  Các cuộc dò trong tương lai có thể tiết lộ các bí mật của các lỗ đen trong quá trình sáp nhập như chúng spin nhanh như thế nào và theo hướng nào, Ilya Mandel – nhà vật lý thiên văn lý thuyết tại trường đại học Monash ở Melbourne, Australia, cho biết. “Có thể là chúng tôi có thể khởi động một chút thông tin về việc liệu là chúng có được sắp thẳng hàng hay không,” anh nói.  Nếu các trục quay của lỗ đen song song, điều đó có thể đề xuất vấn đề là chúng có thể có chung nguồn gốc và bắt đầu khởi động như hai ngôi sao cùng quỹ đạo. Ngược lại, các spin được sắp hàng một cách ngẫu nhiên ngụ ý là các lỗ đen được hình thành một cách riêng rẽ và sau đó bắt đầu chuyển động theo từng quỹ đạo riêng.  Các nâng cấp này nằm tăng cường độ nhạy của các cỗ máy của LIGO ở Livingston, Louisiana – hiện là các cỗ máy dò nhạy bậc nhất thế giới – tới 40%. Trong năm 2017, những khuyết tật về kỹ thuật đã ảnh hưởng đến “cánh tay” giao thoa kế khác của LIGO ở Hanford, Washington, và Virgo, nhưng hiện giờ thì vấn đề đã được giải quyết; Virgo đã tăng gấp đôi khoảng cách có thể dò được các sự kiện vũ trụ, theo Alessio Rocchi – người điều phối nhiệm vụ ở Virgo và là nhà vật lý ở Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân quốc gia Ý tại Rome.  Những cập nhật về laser  Độ nhạy của các cỗ máy dò được gia tăng là kết quả từ hai lần thay đổi trong những laser tại tâm điểm của các quan trắc. Mỗi máy dò của LIGO là một hệ chân không hình chữ L kéo dài thành “cánh tay” dài 4km; cỗ máy Virgo gần Pisa cũng tương tự nhưng chỉ dài 3 km. Bên trong, các chùm laser nẩy bên giữa các tấm gương được lắp ở điểm cuối của mỗi “cánh tay”. Khi các gợn sóng hấp dẫn chạm đến trái đất, chúng khiến các tia laser thay đổi độ dài ở mức cực nhỏ.  Để bắt được các tín hiệu từ tiếng ồn một cách tốt hơn, các nhà vật lý ở LIGO và Virgo đã biến đổi lực của các tia laser và phát triển một kỹ thuật mang tên “độ nén của ánh sáng”, vốn được phát triển dựa trên những điều “kỳ quặc” của cơ học lượng tử.  Tại các quan trắc sóng hấp dẫn, những thăng giáng ngẫu nhiên là nguyên nhân khiến các hạt photon trong các chùm laser chạm vào các tấm gương ở những thời điểm không dự đoán được. Đây là cản trở chính trong quá trình dò sóng hấp dẫn tại LIGO và Virgo. Nhưng các nhà vật lý vẫn thường dùng trạng thái nén của ánh sáng để điều khiển sự thăng giáng đó để đem lại sự cải thiện về độ nhạy – trong trường hợp này, bằng việc chuyển hướng một vài thăng giáng theo những tần số thấp hơn để tăng cường khả năng dò các loại sóng cao tần.  Trạng thái nén của ánh sáng   Trạng thái nén của ánh sánh là một phần tiêu chuẩn của hộp công cụ ở các phòng thí nghiệm quang học lượng tử trong nhiều thập kỷ, và kể từ năm 2010, đã được đưa vào máy dò GEO600 – một kiểm tra thử nghiệm cho LIGO với những “cánh tay” dài 600m ở gần Hanover, Germany. Vào thời điểm đó, một nhóm nghiên cứu đã kiểm tra trạng thái nén của ánh sáng trên giao thoa kế Hanford.  Kỹ thuật này có thể được cải tiến riêng biệt cho việc dò các sóng được tạo ra từ việc sáp nhập các ngôi sao đôi neutron hoặc lỗ đen nhỏ, bởi như các vật thể nhẹ hơn di chuyển theo hình xoắn ốc với nhau, chúng quay quanh nhau tới 500 lần mỗi giây trước khi va chạm và sóng của chúng trở nên cao đến mức chúng rơi ra ngoài phạm vi dò được của các giao thoa kế. Độ nhạy cao hơn có thể khiến các máy dò theo dấu các vật thể này ngay trên đường chúng lan truyền.  Các nhà thiên văn trên khắp thế giới đang chuẩn bị theo sát các cuộc dò sóng hấp dẫn và kiểm tra những sự kiện vũ trụ tương tự do các kỹ thuật thông thường tìm được – bao gồm đài quan sát sóng radio, quang học và tia X – và thông báo rộng rãi những gì mà một cỗ máy dò như vậy có thể tìm ra.  Cộng đồng vật lý thiên văn đã từng nếm trải hương vị đầu tiên của thiên văn đa tín hiệu khi LIGO và Virgo dò được sự sáp nhập của sao neutron. Nếu trong những lần vận hành trước đó, các nhóm nghiên cứu thiên văn muốn có được thông tin phải ký một biên bản ghi nhớ với nhóm hợp tác LIGO–Virgo để giữ bí mật thông tin; những nhà nghiên cứu muốn quan sát cũng phải mất một thời kỳ “cấm vận” thì ở lần này thì không như vậy nữa. “Nếu họ theo dõi và thấy điều gì đó phù hợp, họ có thể làm những điều họ muốn. Không giới hạn những thông tin mà họ sẽ xuất bản trong công trình nghiên cứu. Đây là một thay đổi lớn”,  Reitze nói.  Trong lúc này, các nhà nghiên cứu tại đài quan trắc sóng hấp dẫn KAGRA mới được lắp đặt ở Nhật Bản đang chạy đua với thời gian để cỗ máy của họ có thể tham gia vào mạng lưới này vào đầu năm 2020. Việc có 4 cỗ máy dò sẽ góp phần định vị vị trí của một sự kiện vũ trụ với độ chính xác cao hơn.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01064-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao chúng ta không nghĩ đến điều đó sớm hơn?      Tư duy xuyên ngành là chìa khóa để hiện thực hóa tiềm năng của nhiễu xạ electron tới hóa học hữu cơ.      Một số tinh thể phải mất thời gian để phát triển. Nguồn: Nature  Cấu trúc của các phân tử hữu cơ nhỏ, cũng như những phân tử được dùng để tạo ra các loại thuốc, có thể được xác định thành phần trong vòng nhiều phút cho đến nhiều tuần. Để có được điều này, các nhà hóa hữu cơ phải cảm hơn một kỹ thuật từng được dùng để xác định một cách nhanh chóng các nguyên tử được sắp xếp trong các chùm electron như thế nào.  Kỹ thuật này có tên gọi là nhiễu xạ electron 3D, đã được nhiều nhà hóa học vô cơ và khoa học vật liệu dùng từ giữa những năm 2000 để xác định cấu trúc phân tử. Tuy nhiên các nhà hóa hữu cơ thì không áp dụng một cách rộng rãi bởi nó có thể làm biến dạng các phân tử.  Vào giữa tháng 10/2018, hai công bố xuất bản online đã miêu tả cách dùng kỹ thuật tương tự trên các loại thuốc, để xác định cấu trúc của các phân tử hữu cơ nhỏ một cách nhanh hơn, dễ dàng hơn so với những kỹ thuật hiện hành.  “Tôi nghĩ có nhiều người tự gõ vào đầu và nói ‘tại sao chúng ra không làm điều đó sớm hơn’”, theo John Rubinstein – một nhà sinh học cấu trúc tại trường đại học Toronto và sử dụng các kỹ thuật liên quan để nghiên cứu các phân tử lớn hơn, ví dụ như protein.  Các phương pháp hiện tại dùng để xác định cấu trúc của các phân tử nhỏ đòi hỏi các nhà khoa học “nuôi nấng” những tinh thể để phân tích, một quá trình tỉ mỉ có thể mất vài tuần hay vài tháng. “Rào cản thực tế cho nghiên cứu mà thi thoảng các nhà nghiên cứu gặp phải thì bây giờ, về cơ bản đã được loại bỏ”, Rubinstein nhận xét.  Hiểu viết về cách các hạt nhân được sắp xếp trong một phân tử là cần thiết để hiểu chức năng của vật liệu. Ví dụ các nhà hóa học đang nghiên cứu để phát triển các loại thuốc mới phụ thuộc vào cấu trúc này để hiểu thuốc đó sẽ tác động đến cơ thể con người như thế nào và có thể chỉnh sửa như thế nào để kết chúng lại, đem đến nhiều hiệu quả hơn cho phương thức điều trị đích hay giảm thiểu các tác dụng phụ.  Lịch sử phát triển lâu dài  Tinh thể học tia X, một kỹ thuật thường được sử dụng trong nhiều thập kỷ để xác định sự sắp xếp của các thành phần nhỏ nhưng phải mất tới vài tuần mà không phải bao giờ cũng đem đến thành công.  Đầu tiên, các nhà khoa học cần đưa các phân tử vào trạng thái kết  tinh. Sau đó họ đưa tinh thể này vào một chùm tia X. Khi đó các tia X làm nhiễu xạ cấu trúc mạng tinh thể đó và một máy dò đặc biệt ghi nhận mẫu kết quả.  Các nhà khoa học dùng phần mềm để phân tích mẫu này và nghiên cứu cấu trúc của phân tử.  Khi đó, các thách thức nảy sinh bởi nhiễu xạ tia X chỉ hoạt động hiệu quả với các tinh thể lớn, và phải mất vài tuần, thậm chí vài tháng để hình thành. Và một số phân tử quá khó để kết tinh và không thể phân tích chúng theo cách này.  Một giải pháp là thay thế tia X với những chùm eletron vì chúng có thể tạo ra các mẫu nhiễu xạ trên những tinh thể nhỏ hơn. Trong năm 2007 và 2008, các nhà tinh thể học tại trường đại học Johannes Gutenberg ở Mainz (Đức) và trường đại học Stockholm (Thụy Điển) phát triển các phương pháp đầu tiên để dò các cấu trúc 3D của các phân tử một cách tự động bằng việc dử dụng nhiễu xạ electron. Trước đây, các nhà khoa học đã phải kết hợp các mẫu nhiễu xạ 2 D một cách tỉ mỉ để tạo ra cấu trúc 3D như thế này.  Đầu tiên, kỹ thuật này dùng trên phần lớn các cấu trúc vô cơ, vốn không bị bức xạ ảnh hưởng như các phân tử hữu cơ. Sau đó vào năm 2013, Tamir Gonen – một nhà sinh học cấu trúc tại trường đại học California, Los Angeles, đã phát triển một phiên bản nhiễu xạ electron mang tên MicroED để có thể dùng dược với các phân tử sinh học lớn hơn như protein.  Hiện giờ, với hai công bố mới xuất bản, nhóm nghiên cứu của Gonen và nhóm khác từ Thụy Sỹ đã cho thấy nhiễu xạ electron có thể được sử dụng để tìm ra cấu trúc của các phân tử hữu cơ nhỏ hơn. Đây không hẳn là lần đầu tiên làm được điều đó, Xiaodong Zou – nhà hóa học cấu trúc ở trường đại học Stockholm nói nhưng điều quan trọng là phương pháp phân tích đó diễn ra nhanh và dễ áp dụng như thế nào.  Những công trình “Eureka”  Trong bài báo đầu tiên, xuất bản vào ngày 16/10 trên Angewandte Chemie International Edition, nhóm nghiên cứu do nhà tinh thể học Tim Grüne tại Viện nghiên cứu Paul Scherrer ở Thụy Sỹ dẫn dắt, đã tường thuật sự sáng tạo của một thiết bị mẫu có khả năng tìm cấu trúc của các phân tử nhỏ, sử dụng chùm tia từ một kính hiển vi điện tử và một máy dò tương thích.  Các mẫu nhiễu xạ này được phân tích bằng phần mềm chuyên về tinh thể tia X.  “Tất cả được tạo ra từ những nghiên cứu trước đó”, Grüne nói. “Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tích hợp chúng một cách trơn tru trong hệ này.”  Họ đã dùng nó để tìm ra cấu trúc của thuốc paracetamol giảm đau từ các tinh thể nhỏ bé được hình thành từ bột bên trong vỏ nang. Các tinh thể này chỉ có độ dài vài micro mét – nhỏ hơn nhiều so với tinh thể có thể được phân tích bằng nhiễu xạ tia X.  Trong bài báo thứ hai, một ấn bản trên ChemRxiv xuất bản vào 17/10, nhóm của Gonen đã phỏng theo kỹ thuật MicroED để giải quyết cấu trúc của các phân tử nhỏ thay vì các protein.  Gonen cho biết việc chuyển đổi này “ít quan trọng”. Cải tiến chính liên quan đến việc chuẩn bị các mẫu thử, ông nói: do rất mong manh nên các protein cần được nâng niu và trong trường hợp này, tất cả những gì ông làm là nghiền bột dược phẩm. Nhóm nghiên cứu đã quyết định dùng phiên bản cải tiến    Cấu trúc 3D của ibuprofen. Nguồn: Jones, C. G. et al. Preprint at ChemRxiv https://doi.org/10.26434/chemrxiv.7215332.v1 (2018).  MicroED này để xác định cấu trúc của hạt bột dược phẩm, bao gồm ibuprofen và carbamazepine.  Các tinh thể này chỉ có kích cỡ vài 100 nano mét – một tỷ lần nhỏ hơn so với kích cỡ của những tinh thể có thể dùng kỹ thuật tinh thể học tia X phân tích — và cấu trúc của chúng có thể được xác định dưới 30 phút.  Rubinstein nói điều ngạc nhiên là kỹ thuật này sẵn sàng áp dụng trong những lĩnh vực khác. “Đây thực sự là giải pháp xuất sắc quy tụ tất cả trong một cách”.  Tất cả chỉ bắt đầu khi ông bắt đầu trao đổi với các nhà hóa học, bởi vì ông bắt đầu nhận thấy là họ phải vật lộn với việc “nuôi” tinh thể lớn hơn để có thể phân tích các phân tử nhỏ, điều đó khiến ông nhận ra minh có một giải pháp cho họ. “Là một nhà tinh thể học protein, tôi chưa bao giờ nghĩ một cách cẩn trọng về các phân tử nhỏ. Với chúng tôi, các phân tử nhỏ là những điều chúng tôi cố gắng ‘tống khứ’ khỏi tầm mắt”.  Những giới hạn  Kỹ thuật này đem lại rất nhiều sự phấn khích nhưng bản thân nó cũng có một số giới hạn nhất định. Ví dụ cấu trúc 3D của một số phân tử là kết quả trong các phân tử đối xứng gương có thể có những hiệu ứng hóa học khác nhau nhưng thách thức là phân biệt các cấu trúc sử dụng nhiễu xạ eletron.  Sự phân biệt của các cấu trúc đối xứng gương này có thể đòi hỏi phải phát triển phần mềm phân tích nhiều hơn nữa, Grüne nói.  Một ứng dụng rõ nét cho các tinh thể học electron là làm sáng tỏ những ứng cử viên tiềm năng để phát triển thuốc. Nhưng Gonen cho biết, kỹ thuật này có thể có những ứng dụng khác, như pháp y, khi cần nhận diện nhanh một vật liệu quan trọng.  Còn Grüne lạc quan về việc công trình của ông sẽ khuyến khích những sản phẩm phần cứng để tạo ra những thiết bị mới chuyên cho tinh thể học electron. Tại thời điểm này, các nhà nghiên cứu có xu hướng phụ thuộc vào kính hiển vi điện tử để tạo ra các chùm electron nhưng chúng lại rất đắt đỏ và bao gồm nhiều thành phần phức tạp như thấu kính, không cần thiết cho nhiễu xạ electron. Chúng không được tối ưu để làm việc với với những phần của thiết bị phân tích. Với một thiết bị được cấu tạo cho mục tiêu này, ông nói, “là một thứ có thể giải quyết vấn đề các cấu trúc”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07213-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao có sự thăng trầm kinh tế?      Có lẽ tại các vết trên mặt trời. Chí ít thì đã có William Stanley Jevons, một trong những nhà kinh tế có tên tuổi nhất trong thế kỷ 19, từng nghĩ như vậy. Theo Jevons thì vết đen trên mặt trời làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.    Tuy nhiên nhà kinh tế học người Anh này không phải là người đầu tiên nghiên cứu về sự thăng trầm kinh tế. Trong kinh Cựu ước, Josef từng giải thích giấc mộng của  Pharao Ai cập rằng sau bảy năm mùa màng phát triển tươi tốt lại có bảy năm làm ăn thất bát. Kinh Cựu ước không đề cập đến các vết đen trên mặt trời mà cho rằng sự thăng trầm là do ý định của Đấng tối cao.   Kể từ thời  Josef và  Jevons đã có vô vàn công trình nghiên cứu về sự thăng trầm. Tuy vậy người ta vẫn chưa có một lời giải thích  rõ ràng, thỏa đáng cái gì là nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm của nền kinh tế.              Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới        Trở ngại đầu tiên là việc định nghĩa khái niệm. Trong một thời gian khá dài, người ta cho rằng sự thăng trầm kinh tế chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nghĩa là trong vài ba năm. Tuy nhiên khi nghiên cứu về sự phát triển kinh tế lâu dài, vấn đề lại không phải như vậy, sự  hạn chế về thời gian đã biến mất.    Những vết đen trên mặt trời và ý định của Đấng tối cao  Các sách giáo khoa thường đề cập đến đường cong hình sin diễn ra trong một chu kỳ gồm nhiều năm: sự phát triển kinh tế lên đến đỉnh cao, sau một thời gian ngắn bắt đầu đi xuống đến đáy để rồi lại chuẩn bị đi lên. Trong thực tế, sự phát triển này muôn hình vạn trạng: đôi khi kinh tế tăng trưởng trong một thời gian dài với mức tăng cao, cũng có khi sự tăng trưởng này diễn ra trong một thời gian dài nhưng mức tăng lại thấp. Đầu những năm ba mươi của thế kỷ trước, nền kinh tế thế giới sa sút nghiêm trọng  và phải mất rất nhiều năm mới khôi phục được. Trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm này, tuy nhiên không còn ai nói đến vết đen trên mặt trời hay ý của Đấng tối cao là nguyên nhân của sự  thăng trầm nữa.    Biến động kỹ thuật ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thăng trầm  Nước Mỹ có một sự giải thích khá thuyết phục mang tên “Lý thuyết về tính hiện thực của chu kỳ thăng trầm”. Hai nhà khoa học kinh tế Edward Prescott và Finn Kydland, được giải thưởng Nobel năm 2004 là một trong những cha đẻ của học thuyết này. Từ hiện thực ở đây hàm ý, các nhà kinh tế tiến hành công trình nghiên cứu của mình về sự hoạt động của một nền kinh tế mà không có sự tham gia của đồng tiền. Thoạt nghe thì quả là ngô nghê nhưng để đơn giản hóa họ đã làm việc trên cơ sở giả thuyết này.  Ý tưởng cơ bản của học thuyết này là, sự biến động của nền kinh tế là kết quả của những tác động ngẫu nhiên không thể lường trước được. Những tác động đó có thể là thảm họa thiên nhiên, những thay đổi về chính sách kinh tế (như tăng thuế đột ngột), giá nhiên liệu tăng đột biến hoặc những sáng chế phát minh mang tính đột phá, mở đường. Học thuyết này thường dựa trên những giả định, trong đó đề cập nhiều đến tác động của những thay đổi về kỹ thuật, công nghệ đến sự thăng trầm của nền kinh tế. Với cách nhìn đó có thể giải thích sự tăng trưởng mạnh mẽ ở một số quốc gia vào cuối những năm chín mươi là do hệ quả của một “kinh tế mới” (new economy).  Quan niệm tiến bộ kỹ thuật quyết định sự phát triển kinh tế không có gì là mới. Giữa những năm 20 của thế kỷ trước, nhà khoa học kinh tế Liên Xô Nikolai Kondratjew đã cho rằng, sự phát triển kinh tế của các nước công nghiệp diễn ra theo chu kỳ khoảng 50 năm, cuối các chu kỳ đó lại xuất hiện những sáng chế, phát minh mới để chuẩn bị cho một chu kỳ phát triển mới.  Các nhà khoa học kinh tế hiện đại tỏ ra nghi ngờ đối với quan niệm chu kỳ Kondratjew. Họ không thấy cơ sở của quy luật phát triển kinh tế này mà cho rằng, tiến bộ kỹ thuật là điều không thể tiên lượng được. Nhưng nếu điểm lại những gì đã diễn ra trong quá khứ, chúng ta không thể không ngạc nhiên khi thấy rằng: giai đoạn từ 1780 đến 1849 là giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và máy hơi nước là phát minh quan trọng nhất, vì thế giai đoạn này có tên là giai đoạn “Máy hơi nước-Kondratjew”. Tiếp theo là giai đoạn từ 1849 đến 1890, đây là kỷ nguyên xây dựng đường sắt, giai đoạn “Đường sắt-Kondratjew”. Từ 1890 đến 1940 được gọi là chu kỳ “Kỹ thuật điện- và công nghiệp hóa chất-Kondratjew”, từ 1940 đến 1990 là chu kỳ “Tự động hóa-Kondratjew”.  Nếu tiếp tục theo giải thích này thì từ năm 1990 các nước công nghiệp đang ở trong giai đoạn “Thông tin và truyền thông-Kondratjew”.  Phải chăng kinh tế đi xuống vì lí do quá tiết kiệm?             Vết đen trên mặt trời (ảnh chụp của Nasa) có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế?        Thường thì ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật hoặc thiên tai không đủ để giải thích cho sự thăng trầm của nền kinh tế.  Liệu đồng tiền có ảnh hưởng đến sự đi xuống của nền kinh tế, nhất là khi người ta quá hạn chế chi tiêu hay không? Từ lâu đã có luận đề nền kinh tế đi xuống là do người dân quá tiết kiệm tiêu dùng, không dám chi tiêu còn các nhà doanh nghiệp thì lo ngại không dám mạnh dạn đầu tư. Điều này thường diễn ra khi tương lai không sáng sủa, ảm đạm làm cho người dân băn khoăn, lo ngại cho cuộc sống trong tương lai của họ. Trong trường hợp đó nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng và tự nó không thể thoát ra nổi tình trạng bi đát này.  Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes đã truyền bá quan niệm này khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm 30 thế kỷ trước- tuy nhiên quan niệm này đã ra đời trước đó từ lâu. Ngày nay hầu như không ai còn tranh cãi về việc diễn biến kinh tế nhất thời có thể bị ảnh hưởng bởi tâm lý của người dân. Tuy nhiên cho đến nay vấn đề này cũng chưa trở thành một học thuyết có tính phổ biến.  Vì thế, cho đến tận ngày nay, vẫn còn những nhà khoa học có tên tuổi tiếp tục truy tìm nguyên nhân  của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 30 thế kỷ trước. Một số người cho rằng, hồi đó lượng tiền quay vòng trên thị trường quá ít, một số người khác lại rất nghiêm túc khẳng định tình trạng thất nghiệp cao là kết quả sự hình thành bột phát thói lười nhác trong quần chúng. Phải chăng cuộc khủng hoảng này là do các vết đen trên mặt trời.  (theo FAZ – Chủ nhật, 18.06.2006)  Xuân Hoài      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao đồ ăn lại dính vào chảo chống dính?      Đôi khi, các tình huống xảy ra trong gian bếp cũng là những đề tài khá hóc búa cho các nhà khoa học. Và việc giải thích được những hiện tượng tưởng chừng bình thường đó đã giúp mở ra những hiểu biết mới mẻ không ngờ. Đó là điều đã xảy ra với các nhà vật lý Czech, những người không chỉ giải đố cho các bà nội trợ mà còn có hẳn công bố trên tạp chí chuyên ngành và gợi ý ứng dụng trong tương lai.    Bất chấp sự hữu dụng của các loại chảo chống dính, đồ ăn nhiều khi lại có xu hướng bám lấy bề mặt nóng của nó, ngay cả khi dầu đã được rót vào chảo. Kết quả là miếng thịt hoặc cá mà ta đặt lên chảo không còn nguyên vẹn và tệ hơn là tạo cảm giác không ngon nữa.    Đồ ăn thi thoảng bị dính lại trên một bề mặt bị gia nhiệt, ngay cả nếu sử dụng dầu ăn hoặc chảo chống dính. Các nhà khoa học đã tìm hiểu các đặc tính của dầu ăn trên một bề mặt phẳng và chứng tỏ sự đối lưu là nguyên nhân. Trái: điểm khô trên bề mặt chảo chống dính GRANITEC; phải: điểm khô trên chảo phủ lớp TEFLON. Nguồn: Alex Fedorchenko  Các nhà vật lý ở Viện Hàn lâm Khoa học Czech bắt đầu một cuộc “điều tra” về các đặc tính của dòng chảy dầu trong một bề mặt phẳng như một cái chảo dùng để chiên rán. Công trình của họ mang tên “On formation of dry spots in heated liquid films” (Về sự hình thành của các điểm khô trong các màng chất lỏng được gia nhiệt) xuất bản trên tạp chí Physics of Fluids đã chứng tỏ sự đối lưu có thể là nguyên nhân dẫn đến những miếng đồ ăn bị dính lên chảo.  Thực nghiệm mà họ tiến hành là sử dụng một chiếc chảo không dính với bề mặt có các hạt gốm. Một camera đặc biệt được đặt bên trên chiếc chảo khi nó được gia nhiệt. Họ đo đạc tốc độ mà tại đó, một điểm khô hình thành và mở rộng diện tích. Các thực nghiệm tiếp theo với một chiếc chảo phủ Teflon (hay còn gọi là polytetrafloetylen, một chất fluoropolyme tổng hợp của tetrafluoroethylene có nhiều ứng dụng công nghiệp) cũng cho thấy điều tương tự.  “Chúng tôi giải thích bằng thực nghiệm tại sao đồ ăn dính lại ở trung tâm của chảo rán”, Alexander Fedorchenko, tác giả của công trình, cho biết. “Nguyên nhân của hiện tượng này là  sự hình thành một điểm khô trên lớp màng mỏng dầu hướng dương như một hệ quả của đối lưu nhiệt mao dẫn”.  Khi chảo được gia nhiệt từ bên dưới, một gradient nhiệt độ được hình thành trên lớp màng dầu. Với các loại chất lỏng thông thường như dầu hướng dương được dùng trong thực ngiệm này, sức căng bề mặt giảm xuống khi nhiệt độ gia tăng. Một gradient sức căng bề mặt đã được tạo ra, ngược hướng với trung tâm khi nhiệt độ tăng lên và hướng về phía rìa chảo.  Chính gradient nhiệt đó đã thiết lập một dạng đối lưu nhiệt mà chúng ta vẫn biết là đối lưu nhiệt mao dẫn khiến dầu di chuyển nhanh hơn ra phía ngoài. Khi lớp màng mỏng dầu ở trung tâm nó trở nên mỏng hơn một giá trị tới hạn, lớp màng đó bị phá vỡ.  Các nhà nghiên cứu đã xác định các điều kiện dẫn đến hình thành các điểm khô cho cả loại màng mỏng tĩnh tại và chuyển động. Các điều kiện đó bao gồm một sự suy giảm tại lớp màng cục bộ dày dưới một kích thước tới hạn cũng như kích thước vùng biến dạng giảm xuống một con số mà chúng ta biết là chiều dài mao dẫn.  “Để tránh những điểm khô không mong muốn, phải thiết lập các đo đạc tiếp theo: tăng độ dày của lớp dầu, điều chỉnh nhiệt, hoàn toàn làm ướt toàn bộ bề mặt chảo bằng dầu, sử dụng một cái chảo có độ dày đáy thích hợp hoặc việc nhớ phải đảo thức ăn thường xuyên”, Fedorchenko nói.  Hiện tượng này xảy ra trong những tình trạng khác nhau như lớp màng chất lỏng rất mỏng được sử dụng trong các cột chưng cất chất lỏng hoặc những thiết bị có các hợp phần điện tử.  “Sự hình thành của các điểm khô hoặc sự phá vỡ của lớp màng dầu cũng có vai trò, kết quả của việc gia nhiệt trên mặt phẳng của các hợp phần điện tử”, Fedorchenko nói. “Các kết quả của nghiên cứu này có thể có một ứng dụng rất rộng rãi”.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-food-nonstick-pans.html  https://aip.scitation.org/doi/10.1063/5.0035547    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao đôi khi đo đạc các đặc tính vật liệu khác nhau lại đem đến những kết quả khác nhau?      Thật khó để chụp một bức ảnh một con chim ruồi đang đập cánh bởi nó đập cánh tới 50 lần mỗi giây. Thời lượng phơi sáng còn ngắn hơn cả thang thời gian riêng biệt của nhịp đập cánh, nó khiến người ta chỉ có thể nhìn thấy một trạng thái mờ nhòe nhoẹt.    Một vấn đề tương tự mà vật lý chất rắn, nơi có mục tiêu xác định các tính chất từ của một vật liệu. Khoảnh khắc từ tại một vị trí nhất định có thể thay đổi rất nhanh. Do đó, các nhà nghiên cứu cần có những phương pháp đo đủ nhanh để có thể giải quyết được các dao động đó. Với ý tưởng này trong đầu, các nhà khoa học tại trường đại học Kỹ thuật TU Wien (Vienna), trong hợp tác với các nhóm nghiên cứu ở Würzburg (Germany), đã thành công trong việc giải quyết một câu đố của các nhà vật lý chất rắn.    Từ tính và siêu dẫn  “Nếu muốn hiểu về một vật liệu, anh phải hiểu được các đặc tính từ của nó”, giáo sư Alessandro Toschi từ Viện nghiên cứu vật lý trạng thái rắn tại TU Wien, nói. “Không chỉ vì chúng có thể nói cho anh biết cách vật liệu đó tương tác với từ trường như thế nào mà chúng còn có liên quan gần với các đặc tính khác của vật liệu, ví dụ hành xử điện từ của chúng”. Các đặc tính vật liệu từ đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm ra các siêu dẫn nhiệt độ cao.  Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu nhiều lần phát hiện ra là các biện pháp đo đạc khác nhau về từ tính của các vật liệu nhất định có thể dẫn đến những kết quả khác nhau. “Thi thoảng các kết quả thu được không có ý nghĩa lắm nhưng thi thoảng các phương pháp đo khác nhau lại dẫn đến dữ liệu trái ngược nhau”, Clemens Watzenböck (Viện nghiên cứu Vật lý trạng thái rắn, TU Wien) nói. “Chúng tôi giờ đã sẵn sàng để giải quyết được bí aane này với những tính toán thuần túy lý thuyết”.  Sự linh động của các electron  Nhóm nghiên cứu từ Vienna và Würzburg đã có thể chứng tỏ sự linh động của các electron trong vật liệu này được xác định qua những phương pháp có thể được dùng để đo đạc các đặc tính từ. “Chuyển động spin của các electron trong vật liệu là nguyên nhân gây ra moment từ dao động. Các dao động từ xuất phát từ chuyển động tự nhiên của các electron. Do đó, moment từ có thể bị triệt tiêu một cách nhanh chóng bằng chuyển động của các electron”, Toschi nói. “Các electron chuyển động nhanh hơn có thể di chuyển bên trong vật liệu và làm nhòe đi sự xuất hiện của moment từ”.  Điều này có nghĩa là nếu có một quá trình trong vật liệu làm chậm chuyển động của các electron, ví dụ như tán xạ mạnh với các electron khác hoặc với các dao động của các nguyên tử của vật liệu, vì thế chúng không còn có thể chuyển động nhanh trong tinh thể – sau đó vẫn có thể đo đạc được moment từ tương ứng trong thời gian dài hơn.    Đôi khi moment từ thay đổi hướng rất nhanh, thi thoảng nó lại có xu hướng giữ hướng bền hơn. Điều này rất quan trọng đê chọn các thang thời gian ngắn trong đo đạc. Nguồn: trường đại học OCong nghệ Vienna.  “Chúng tôi đã phát triển một phương pháp cho phép chúng tôi tìm ra cách này thông qua việc sàng lọc các phân tích lý thuyết và mô phỏng số, trong đó thang thời gian cụ thể của các moment từ trong một vật liệu riêng biệt đều được che chắn”, Watzenböck giải thích. Moment từ có thể được đo đạc nếu như anh có một phương pháp đảm bảo tạo ra một kết quả trong một thang thời gian ngắn hơn. Nếu việc đo lường kéo dài hơn, anh chỉ có thể nhận được một kết quả với độ chính xác ở mức trung bình – tương tự việc anh bấm máy ảnh một con chim ruồi với khoảng thời gian lộ sáng dài.  Các siêu dẫn sắt   Nhóm nghiên cứu đã có thể ứng dụng cách tiếp cận này trên nhóm vật liệu quan trọng của các siêu dẫn chứa sắt. “Chúng tôi có thể chứng tỏ là thang đo đặc trưng của các dao động từ trong những siêu dẫn này khác biệt do trật tự từ phụ thuộc vào vật liệu – phạm vi của nó trải rộng từ 3 femtosecond đến khoảng 30 femtosecond”, Clemens Watzenböck cho biết.  Điều này giải thích tại sao các kết quả từ các thí nghiệm neutron không đàn hồi đều có thể dễ dàng sáng tỏ với một số vật liệu nhưng lại không như vậy với những vật liệu khác: thang thời gian của nhiều thực nghiệm neutron là khoảng 10 femtosecond, đủ ngắn với một số vật liệu nhưng lại quá dài với những vật liệu khác. Nói cách khác, nếu những phương pháp đo đạc khác được sử dụng như quang phổ học tia X, vốn hoạt động trong một thang thời gian ngắn hơn, moment từ của mọi vật liệu khác có thể còn thấy được một cách rõ ràng.  Phương pháp tính toán các thang thời gian đặc trưng của các vật liệu  mới được phát triển này có thể được áp dụng không chỉ cho các đặc tính từ mà còn cho các đặc tính quan trọng khác của vật liệu. “Chúng tôi giả định là phương pháp mới của mình sẽ hữu dụng trong tương lai với việc lên kế hoạch và lý giải các thực nghiệm về quang phổ”,  Alessandro Toschi nói, “vẫn còn nhiều câu hỏi mở trong lĩnh vực này – với phương pháp mới, chúng tôi muốn có được hiểu biết sâu sắc hơn về các vật liệu đã biết và thậm chí có thể thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm những vật liệu mới có nhiều tính năng hơn như các siêu dẫn ở những mức nhiệt độ tới hạn rất cao”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-material-properties-results.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao Elon Musk lo ngại về trí thông minh nhân tạo      CEO của Tesla và nhiều “đại gia” công nghệ khác đang “hùn vốn” cho một công ty nghiên cứu phi lợi nhuận mới thành lập nhằm phát triển công nghệ trí thông minh nhân tạo (AI) theo hướng an toàn cho con người.    Trong hàng ngũ những tinh hoa công nghệ thế giới, từ lâu Elon Musk đã là lá cờ đầu trong việc nêu lên những quan ngại về mối đe dọa mà AI có thể mang đến cho loài người. Và giờ đây, anh và các đồng sự của mình đã chứng tỏ rằng họ không nói suông.  Musk hiện đang dẫn đầu một nhóm các nhà lãnh đạo trong giới công nghệ để cùng huy động 1 tỉ USD hỗ trợ cho OpenAI, một công ty nghiên cứu phi lợi nhuận mới thành lập với mục tiêu phát triển công nghệ AI mang lại lợi ích cho con người. Công ty này sẽ có một phòng thí nghiệm ban đầu đặt tại vườn ươm khởi nghiệp Y Combinator, San Francisco. Các kết quả nghiên cứu và phát triển của công ty sẽ được công bố theo dạng nguồn mở.  Những nhà sáng lập và ủng hộ sáng kiến mới này đều là những người đã và đang lên tiếng về những rủi ro có thể xảy ra cho con người khi sử dụng phần mềm AI. Chẳng hạn, như Musk từng nói, để giải quyết vấn nạn thư rác, một phần mềm AI lọc thư rác có thể cho rằng phương án hiệu quả nhất là tiêu diệt cả loài người. Dưới đây là một số ý kiến đằng sau sự cần thiết của OpenAI  và các ý kiến đó bất nhất như thế nào.  Elon Musk    Musk cho rằng trí thông minh nhân tạo là “mối đe dọa lớn nhất đến sự tồn vong của nhân loại”, nhưng bên cạnh đó, anh cũng nhận thấy rằng sự phát triển của công nghệ là điều không thể tránh khỏi. “[AI] là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Nếu vậy thì phương án nào là tốt nhất để nó xảy ra?” – Anh từng đặt câu hỏi trong một buổi thảo luận về trí tuệ siêu việt (super intelligence) diễn ra tại trụ sở của Google.    Sam Altman (Chủ tịch vườn ươm doanh nghiệp Y Combinator, đồng chủ tịch OpenAI)  Tháng Hai vừa qua, Altman từng viết một bài đăng trên blog cá nhân trong đó nêu ra những lý do khiến con người nên dè chừng trí thông minh nhân tạo, tiếp sau đó anh còn viết một bài khác nêu ra những gì cần làm để hóa giải mối nguy đó. Anh viết: “Sự phát triển của trí thông minh nhân tạo có lẽ là mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của loài người. Sẽ đến lúc, ai đó rất có thể thử cho một chương trình chức năng tồn tại “sống và tái tạo”. Thật không may cho chúng ta, có một điều mà tôi học được khi là sinh viên học việc trong phòng thí nghiệm AI ở Standford là các chương trình thường tự đạt được chức năng tồn tại của chúng theo những cách không thể đoán trước.   Peter Thiel (nhà sáng lập PayPal)  Thiel cho rằng Altman và Musk “hơi lo xa quá mức vào thời điểm này”, nhưng trong nhiều năm qua anh đã thừa nhận rằng hoạt động nghiên cứu về trí thông minh nhân tạo có thể sẽ đưa đến một kết quả hỗn hợp. Năm 2009, anh chia sẻ với tạp chí Business Insider rằng một chiếc máy tính có trí thông minh nhân tạo “có thể là rất tốt, có thể là rất xấu, nhưng cũng có thể là một điều gì đó lửng lơ ở giữa hai thái cực trên. Dĩ nhiên là chúng ta ai cũng muốn rằng nó sẽ thân thiện với loài người.” Bất kể trí tuệ nhân tạo có thể trở nên thân thiện như thế nào, Thiel nói rằng với sự phát triển của công nghệ, tốt nhất là không nên phản ứng như một người phủ định máy tính chỉ vì e ngại những thực thể của tương lai sẽ chống lại nhau.    Ngoài ba nhân vật trên, các cá nhân khác cũng tham gia vào dự án hỗ trợ OpenAI là Jessica Livingston – đối tác sáng lập Y Combinator, nhà đầu tư mạo hiểm Reid Hoffman và Greg Brockman – cựu Giám đốc Kỹ thuật của Stripe. Greg Brockman cũng sẽ là Giám đốc kỹ thuật của OpenAI.  Bùi Thu Trang dịch từ Inc.com      Author                Quản trị        
0.4444444444444444
__label__tiasang   Quý Đỗ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao Israel rất thành công trong nghiên cứu quân sự?      Trong khi tìm kiếm các nhà khởi nghiệp trẻ cũng như kỹ thuật quân sự đầy sức sáng tạo, quân đội Đức thường dõi theo Hoa Kỳ và Israel. Ở hai quốc gia này, quân đội được coi là lò ấp các start up và là nơi đào tạo các nhân tài chất lượng cao nhất.    “Này, anh kia!”, người lái xe bus đã luống tuổi vung tay đứng chắn lối người khách đi xe. “Không được mang hành lý lên khu vực dành cho hành khách”, ông to tiếng với người thanh niên mặc áo phông, “mời anh đi xuống và để hành lý vào khoang hành lý.” Người lái xe phân bua, đây là quy định về an ninh, không thể lơ tơ mơ được, ông nói. “Ba đồng nghiệp của tôi đã chứng kiến những tên khủng bố trà trộn lên xe của họ. Tôi không muốn chứng kiến cái cảnh đó.”  Tại Israel có quy định, va li và túi xách lớn không được mang lên khoang dành cho hành khách – người ta hy vọng, qua đó có thể giảm thương vong, nếu bom phát nổ ở khu vực để hành lý. Ngay lập tức xuất hiện hai anh lính trẻ, khi người hành khách, có lẽ là du khách, tỏ ra không hiểu điều người lái xe đã nói.  Boaz, 22, và Dalit, 21, tuy không trong thời gian làm nhiệm vụ và đang trên đường về nhà, tỏ ra sẵn sàng giúp một tay, họ nói. “Ở Israel chúng tôi luôn trong tình trạng ít nhiều có lo lắng”, Dalit nói, “chúng tôi luôn phải tính đến điều tồi tệ nhất có thể xẩy ra.” Israel Defence Forces, Lực lượng phòng vệ Israel, viết tắt IDF, có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước nhỏ bé với 8,4 triệu dân. Trên các đường phố ở Tel Avivs và Haifa bất kể ngày hay đêm người ta đều thấy các nhóm thanh niên mặc ka ki đồng phục IDF.  Ở Israel có luật nghĩa vụ quân sự, cả con gái cũng phải đầu quân. Khác với nam giới, các cô gái có quyền từ chối sử dụng vũ khí. Từ nghĩa vụ không mấy dễ chịu này nhưng không ít bạn trẻ coi điều này là một vấn đề đạo đức: họ tình nguyện đăng ký quân sự từ 5 đến 8 năm và tìm mọi cách để được ra nhập đơn vị quân tinh nhuệ lừng danh ở nước này.  Nhất là những người đã từng học đại học về máy tính hay các môn kỹ thuật thì có nhiều cơ may được ra nhập đơn vị 8200 nổi tiếng: nó được coi là bàn đạp để tạo dựng công danh sự nghiệp và là lò ấp cho các startup công nghệ cao. Cho đến cách đây chín năm IDF luôn phủ nhận về sự tồn tại của đơn vị 8200. Ngày nay người ta có thể tìm thấy khá nhiều dấu vết của “cánh 8200“, đó là cái tên  mà các cựu binh ở đây tự gọi mình, và điều này cũng thể hiện trong hồ sơ LinkedIn của nhiều doanh nhân Israel.  Đơn vị 8200 và các startup công nghệ    Drone của Israel  Giờ đây khó mà giữ được bí mật về thành công của các lò ấp quân sự: Có thể nói gần như tất cả các hãng công nghệ cao đều do các cựu binh 8200 tạo dựng. Dịch vụ dẫn đường Waze (Google đã mua), người khổng lồ về an ninh IT CheckPoint Software, AudioCodes và ICQ cũng như nhà sản xuất cảm biến MobilEye là những ví dụ nổi bật nhất.  Đơn vị này có khoảng 5000 binh sỹ  –  IDF giữ bí mật về con số chính thức – mỗi năm đơn vị này tạo ra khoảng 100 nhà khởi nghiệp mới về công nghệ cao; có thể nói đơn vị này đơn thương độc mã trở thành điểm nóng về Hightech và startup của thế giới: không nơi nào có số vốn rủi ro tính theo đầu người lớn như ở đất nước này; Israel nhỏ bé nhưng lại có số doanh nghiệp khởi nghiệp tính theo đầu người nhiều nhất thế giới, có số lượng chuyên gia IT vào loại nhiều nhất thế giới trên cơ sở số dân và sau Hoa kỳ và Trung quốc Israel có nhiều doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán công nghệ Hoa kỳ Nasdaq.  Chính xác thì đơn vị 8200 hoạt động như thế nào? Điều gì làm cho các cựu binh 8200 có nhiều thành công về kinh tế? Mọi chuyện bắt đầu từ những năm 1930 khi các tình báo người Do Thái nghe trộm các cuộc điện thoại nói tiếng Ả rập; sau năm 1948 các nhân viên tình báo chủ yếu là các chuyên gia về mật mã. Tương truyền, nội trong một buổi chiều họ đã giải được mật mã của vô tuyến điện Ai cập trong cuộc chiến tranh sáu ngày. Ngày nay đơn vị 8200 chủ yếu sử dụng chuyên gia mạng và Hacker. Họ đã lập trình loại virus Stuxnet khét tiếng, loại virus này năm 2010 đã làm tê liệt phần mềm điều khiển một nhà máy điện hạt nhân của Iran, nhà máy này bị nghi là có khả năng làm giàu Uran để làm vũ khí.  Mạng lưới nhân lực  Ai muốn ra nhập đơn vị 8200 đều phải trải qua một quá trình chọn lọc hết sức kỹ lưỡng và sự chọn lọc bắt đầu từ khi còn học phổ thông trung học. Đặc biệt học sinh có điểm cao ở các môn toán, tin học và vật lý thì được Aman, cơ quan tình báo quân đội, để mắt tới nhiều hơn. “Nhiều người thậm chí còn không biết họ đang trải qua quá trình tuyển lựa“, Svet Cohen, nữ quân nhân dự bị kể. “Cho tới một hôm họ nhận được một cuộc gọi mời tham dự tuyển sinh.”  Bằng cách đó hàng năm IDF chọn ra được những học sinh xuất sắc nhất về toán và Coder-Cracks. Cách làm này không thể thực hiện ở Đức hay Hoa kỳ vì các nước này không có nghĩa vụ quân sự. Những người trải qua cuộc thử thách đầy khó khăn chỉ phải thực hiện một khóa học quân sự cơ bản ngắn hạn và nói chung không tham gia các nhiệm vụ chiến đấu. Thay vào đó các chiến sỹ đặc nhiệm này được giao ngay các nhiệm vụ cụ thể: thí dụ, thâm nhập vào mạng lưới máy tính của các cơ quan chính phủ nước khác. “Họ lập thành các nhóm nhỏ từ 8 đến 10 người, và được giao ngay các nhiệm vụ cụ thể”, Ofer Tziperman nói, ông là đồng sáng lập doanh nghiệp Anagog ở Tel Aviv, chuyên về xử lý dữ liệu địa lý, “các chiến sỹ phải giải quyết các vấn đề, giải quyết như thế nào, cấp trên không quan tâm, điều chủ yếu là phải giải quyết nhiệm vụ một cách nhanh gọn nhất.”  Trong các quân đội khác điều này là không thể: Không một viên tá, không một thượng sỹ nào chỉ thị các kỹ thuật viên trẻ phải làm một cái gì đó. “Với phong cách làm việc này các kỹ thuật viên sớm biết tự chịu trách nhiệm”, Cohen nói. Các cựu binh của đơn vị 8200 mang theo phong cách làm việc này cũng như tri thức kỹ thuật ứng dụng vào cuộc sống nghề nghiệp của họ.  Công nghệ an ninh  Giải quyết các vấn đề một cách nhanh gọn và tập trung và thực hiện phân cấp theo chiều ngang  – đó là những tính cách mà các startup rất cần phải có, nếu như các startup đó muốn khẳng định được mình trước những phòng, ban nghiên cứu được trang bị tốt, có nhân sự hùng hậu, có nguồn tài chính dồi dào thuộc các tập đoàn công nghệ to lớn. Trước đây, đơn vị 8200 hợp tác nghiên cứu với đồng minh thân thiết nhất là Hoa kỳ để cải tiến các loại vũ khi từ lựu đạn, súng cối cho đến xe tăng và tên lửa. Từ những năm 80 quân đội Israel được coi là dẫn đầu trong cuộc chiến chống lại các cuộc tấn công của bọn Hacker.  Tại Hod HaSharon, một vùng ngoại ô điển hình của Tel Aviv, có trụ sở của Karamba Security với khoảng 40 nhân viên. Hầu như tất cả những người sáng lập các doanh nghiệp hightech của Israel kể cả các cán bộ lãnh đạo của Karamba Security từng có quá khứ binh nghiệp: Chief Scientist Assaf Harel và giám đốc phụ trách nghiên cứu Tal Ben-David cả hai đều từng là cựu binh tinh nhuệ thuộc đơn vị 8200 lừng danh. CEO Ami Dotan trước đây làm việc cho Rafael Defense Systems (RDS). RDS nguyên là dự án thuộc National Research & Development Defense Laboratory, phòng nghiên cứu quan trọng nhất của IDF. Những tri thức và các mối quan hệ mà họ có được khi là quân nhân nay nhiều người đưa vào sử dụng trong hoạt động dân sự. Điều tương tự cũng đang diễn ra đối với Karamba Founder, cơ quan này hiện đặc trách về an toàn ô tô – nói chính xác hơn: về an ninh mạng. Thực ra điện tử và Software trong xe ô tô dân sự bản thân nó hoàn toàn không có gì mới, Barzilai, giám đốc của Karamba giải thích. “Tuy nhiên trước đây xe ô tô là một hệ thống khép kín, quá lắm kiểm tra mỗi năm một lần, khi bộ nhớ có lỗi mới tiếp xúc với một máy tính khác.”  Ngày nay tình hình hoàn toàn khác, và chỉ ít năm nữa xe của chúng ta luôn kết nối với các máy tính khác qua mạng di động Internet. Thí dụ Tesla từ lâu đã xử dụng Over-the-air-Updates để cập nhật cho khách hàng các phiên bản phần mềm mới thông qua Internet GSM, UMTS hay LTE. “Khi ô tô tự lái và hoạt động ở các thành phố thông minh, nó sẽ phát và tiếp nhận thường xuyên một lượng lớn dữ liệu”, Barzilai giải thích.  Khi sự kết nối mạng của ô tô tăng lên thì nguy cơ tấn công mạng sẽ rất lớn. Khi tên hacker đã có măt trong ô tô nó có thể thông qua mạng trong xe gây nhiễu các thiết bị điều khiển như hệ thống phanh, khí ga hay tay lái.  Mặc dù có nhiều doanh nghiệp về an ninh mạng, có nhiều năm kinh nghiệm về lập trình cho các chương trình chống virus, tường lửa và các loại tương tự. “Nhưng các chương trình đó chỉ phát huy tác dụng sau khi xảy ra các vụ tấn công”, Barzilai giải thích. Có nghĩa là dựa vào các cuộc tấn công diễn ra trước đó, theo các khuôn mẫu nhất định trong các mã khóa hoặc các số liệu thống kê. “Nhà sản xuất hứa sẽ giảm tới 99% các vụ tấn công trong khoảng thời gian nhất định. Nhưng điều này đối với một chiếc ô tô đang chạy thật không có ý nghĩa, bởi vì chi cần một giây sau khi xẩy ra sự truy cập không được phép đã có thể xẩy ra một tai nạn chết người”, Barzilai bổ sung.  Vì thế vấn đề mà Karamba đặt ra là vô hiệu hóa ngay từ đầu mọi cuộc tấn công của bọn Hacker. “Chúng tôi sẽ là những người lập trình hệ thống điều khiển trên ô tô, mọi sự thay đổi đối với thiết bị điều khiển chỉ có thể diễn ra với sự đồng ý của nhà sản xuất chiếc xe đó. Mọi sự can thiệp khác sẽ bị chặn đứng ngay tức khắc”, nhà khoa học trưởng Harel giải thích.  Ý tưởng về dự án an ninh Karamba nảy sinh ở các nhà khởi nghiệp khi họ xây dựng tường lửa để chống lại các cuộc tấn công của bọn hacker thù nghịch. “Khi người ta từng tham gia xúc tiến mươi, mười hai dự án loại này, thì thường có một dự án trong số đó sau này trở thành start-up để sử dụng trong đời sống dân sinh”, Barzilai nói.  Công nghệ quang-điện tử  Tại đơn vị mang số hiệu 81 Rosenzweig làm việc về các hệ thống quang-điện tử. Đơn vị 81 trong 8200 có chức năng như một tàu ngầm, khác với 8200, đơn vị 81 hầu như không được đề cập tới trong các website của hãng hoặc trong hồ sơ LinkedIn; Wikipedia chỉ đề cập dúng hai dòng về đơn vị 81 này. IDF về cơ bản không có phản ứng gì trước những câu hỏi liên quan đến đơn vị này.  Nhưng đơn vị đó có tồn tại: Rosenzweig và ba người đồng sáng lập từng làm việc ở đơn vị này về MEMS – Microsystem quang – điện tử. Công nghệ này được ứng dụng thí dụ đối với các loại vũ khí có điều khiển, thiết bị nhìn ban đêm hoặc dùng cho máy bay do thám. Không lâu nữa nó cũng sẽ được sử dụng trong ô tô tự điều khiển. Sau một số năm ở Mỹ, Rosenzweig đã thành lập ở Kfar Saba phía bắc Tel Aviv doanh nghiệp Innoviz, chuyên về Lidar. Công nghệ này làm cho chùm tia laser có thể nhìn thấy hình bóng trong đêm tối hoặc khi trời đầy sương mù, công nghệ này là chìa khóa cho xe tự lái.  Không chỉ kiến thức về chuyên môn mà cả thái độ trong công tác mà các cựu binh hấp thụ được ở đơn vị 81 đều có tác dụng tốt đối với các nhà sáng lập Innoviz trong hoạt động kinh doanh hiện nay. Họ chỉ mất một năm để phát triển và hoàn thiện hệ thống Lidar để cung cấp cho các nhà chế tạo ô tô, ông Rosenzweig kể đầy tự hào, và: “doanh nghiệp đứng đầu thị trường Velodyne ở San José thuộc California đã mất gần bảy năm để hoàn thành công việc này”.  Rosenzweig nói “IDF khác với quân đội Liên bang Đức hay quân đội Pháp, nó na ná như mạng lưới cựu sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ưu tú của Hoa kỳ. Các cựu sinh viên duy trì cả đời mối quan hệ khăng khít với nhau; họ giới thiệu cho nhau các nhà đầu tư cũng như khách hàng tiềm năng, họ trao đổi với nhau về các vấn đề công nghệ.” Rosenzweig từng sống mười năm ở Silicon Valley và biết khá rõ về những nét tương đồng. “Nhưng Tel Aviv nhỏ bé hơn, các mối quan hệ giữa các cựu binh IDF chặt chẽ, khăng khít hơn“, ông nói. Ông quen biết cả ba nhà đồng sáng lập từ thời là quân nhân; họ cùng lứa tuổi với nhau và ở cùng một đơn vị. “Và chúng tôi quen biết cả hai chục nhân viên đầu tiên của doanh nghiệp cũng từ cái lò IDF.”   Hoài Trang tổng hợp  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/forschung/in-staendiger-alarmbereitschaft-warum-die-militaerforschung-in-israel-so-erfolgreich-ist/22797116.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao kinh tế Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ?      Kinh tế HQ phát triển không ngừng, ngay cả trong thời khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong thời kỳ tồi tệ nhất, năm 2009, theo OECD, GDP của Hàn quốc vẫn tăng trưởng 0,3%. Tại sao lại như vậy?    Chỉ số tham nhũng năm 2011 của Hàn quốc (HQ) là 5,4 điểm (thang điểm từ 0 đến 10), kém rất xa so với quốc gia đứng đầu là New Zealand đạt 9,5 điểm hay Đức 8 điểm.   Trong nhiều công trình nghiên cứu của phương Tây, nạn tham nhũng được coi là nguyên nhân triệt tiêu tăng trưởng, nhưng tham nhũng không thể ngăn cản sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế HQ. Kinh tế HQ phát triển không ngừng, ngay cả trong thời khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong thời kỳ tồi tệ nhất, năm 2009, theo OECD, GDP của HQ vẫn tăng trưởng 0,3%. Nước này đã tránh được suy thoái khá thành công.  Bên cạnh nạn tham nhũng, HQ còn có nhiều vấn đề cản trở tăng trưởng. Đó là sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào hoạt động kinh tế, nghĩa vụ quân sự kéo dài hai năm rưỡi cản trở thanh niên tham gia thị trường lao động, chi phí cho quốc phòng quá cao, chiếm một tỷ lệ tương đối cao so với GDP, hệ thống giáo dục xơ cứng, sự phân chia đẳng cấp trong xã hội cũng như trong các doanh nghiệp hoàn toàn không khích lệ tư duy sáng tạo, đổi mới. Tuy vậy, nền kinh tế HQ vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ.   Changsoo Kim, giáo sư kinh tế tại Đại học quốc gia Busan cho rằng:“Sự phát triển của HQ chủ yếu do nhà nước lèo lái, từ những năm 1960, nhà nước đã tạo ra bước ngoặt có tính quyết định với ngành công nghiệp và điều đó tạo ra sự phát triển bùng nổ”. Chính phủ đã nhận thức được rằng chiến lược sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường nội địa nhằm hạn chế nhập khẩu là không ổn và đã thực hiện chính sách ngược lại – sản xuất để xuất khẩu. Chính sách đó thành công, đem lại nguồn ngoại tệ và đời sống người dân cũng bắt đầu đi lên. Bước ngoặt có tính quyết định tiếp theo diễn ra trong những năm 1970, chính phủ quyết định đẩy mạnh ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất.  Các Chaebol và sự can thiệp sâu của nhà nước  Các tập đoàn kinh tế khổng lồ (Chaebol) được điều hành bởi các dòng họ là xương sống của nền kinh tế HQ.   Samsung là Chaebol lớn nhất, hãng này không chỉ sản xuất hàng điện tử mà còn tham gia những mảng khác như xây dựng, đóng tàu biển, sản xuất hóa chất và kinh doanh bảo hiểm. Ở lĩnh vực xây dựng, Samsung tham gia xây tòa nhà Burj Khalifa 828 m cao nhất thế giới ở Dubai, còn trong công nghệ IT, Samsung đã có thể cạnh tranh với Apple. Samsung cũng là hãng bảo hiểm lớn nhất HQ hiện nay. Các tập đoàn khác như Hyundai và LG cũng đều kinh doanh đa ngành.  Các Chaebol hoạt động độc lập với lĩnh vực ngân hàng, ngay cả những ngân hàng lớn nhất ở HQ cũng không thể cung cấp đủ tín dụng cho các Chaebol. Các Chaebol phải tự tìm nhà đầu tư trên thị trường tài chính đồng thời nhận được sự hỗ trợ dồi dào từ phía nhà nước.   Samsung là một Chaebol điển hình mới đây đã chọn một lĩnh vực đầu tư mới theo yêu cầu của nhà nước vào mảng hóa sinh, nhà nước hỗ trợ tài chính đáng kể cho R&D và một phần cho khâu xây dựng năng lực sản xuất.  Tại HQ, các Chaebol chính là nhà nước và nhà nước là Chaebol. Tổng thống Lee Myung-bak từng làm việc nhiều năm tại Hyundai. Vụ bê bối của Samsung cách đây vài năm cũng cho thấy trong danh sách ăn lương của tập đoàn này có tên tuổi của gần 300 nhân vật đầy thế lực, từ chính khách cho đến hai thủ tướng, từ các nhà tư vấn doanh nghiệp cho đến luật sư, các chuyên gia về thuế, các công tố ủy viên, nhà báo và nhà khoa học. Theo nhận định của nhiều chuyên gia thì điều đó cho đến nay hầu như vẫn chưa thay đổi.  Sự kết nối chặt chẽ giữa nhà nước với giới kinh tế là điều được nhiều người HQ mong muốn. “HQ có một nhà nước trung ương đảm trách mọi vấn đề và đây cũng là kỳ vọng của người dân”, giáo sư Rüdiger Frank nghiên cứu về kinh tế và xã hội Đông Á tại đại học Viên và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Hàn Quốc nhận xét “Mô hình này không bị xăm soi nhiều vì rõ ràng là nó đang hoạt động tốt”.    Cần đổi mới  Tuy nhiên, những điều này sẽ còn trôi chảy được bao lâu là vấn đề còn bỏ ngỏ. Bởi HQ đi lên bằng cách sao chép các sản phẩm sáng tạo của phương tây và cải tiến, nâng cấp chúng với giá thành rẻ hơn. Giáo sư Frank nhận định “Từ lâu họ đã thiếu một mô hình nghiên cứu phát triển của riêng mình”. Hiện nay GDP tính theo đầu người của HQ còn dưới mức trung bình của các nước OECD. HQ đang đứng đầu về công nghiệp điện tử nhưng chưa thể cạnh tranh nổi trong nhiều lĩnh vực khác như công nghệ sinh học hay vật liệu composite. Ngay cả trong mảng công nghiệp điện tử, HQ vẫn phải nhập khẩu nhiều loại linh kiện, phụ kiện của nước ngoài. Con đường từ bắt chước đến sáng tạo của HQ còn rất xa. Giáo sư Frank nhận định “Để đạt được điều đó cần có một không gian khoa học, về lâu dài HQ cần phải đầu tư nhiều cho nghiên cứu cơ bản”.  HQ cũng cần phải đổi mới hệ thống giáo dục xơ cứng hiện thời. Hiện nay học sinh phải học lấy được, học thuộc lòng nên chịu áp lực lớn và có tỷ lệ tự vẫn khá cao. Trường học thiếu không gian dành cho sự sáng tạo, cho phát triển nghệ thuật và phát huy năng khiếu của học sinh. Hơn nữa hệ thống giáo dục HQ rất tốn kém và ít hiệu quả.  Về kinh tế, nguy cơ lớn nhất của HQ có lẽ là sự lệ thuộc vào các Chaebol và Trung quốc (TQ). Nhà nước đã có chính sách, nhiều dự án khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ nhưng cho đến nay không mấy thành công vì các Chaebol quá hùng mạnh luôn tìm cách ngăn trở, chèn ép các doanh nghiệp loại nhỏ.    25% xuất khẩu của HQ đưa vào thị trường TQ, cũng nhờ cầu ổn định của TQ mà HQ đã vượt qua cuộc khủng hoảng gần đây một cách nhẹ nhàng. Tuy nhiên khi mà tăng trưởng của TQ chững lại thì HQ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.   Giáo sư Frank hoàn toàn tin rằng HQ sẽ khắc phục được những trở ngại đó. Ông nói “Người Hàn Quốc có tính chuyên nghiệp cao, họ có động lực to lớn, họ biết về những khó khăn, yếu kém của mình và tôi tin rằng họ nhất định sẽ vượt qua”.  Xuân Hoài lược dịch theo Handelsblatt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao neutrons và protons bị biến đổi bên trong hạt nhân ?      Cấu trúc của một neutron hay một proton bị biến đổi khi hạt đó liên kết trong một hạt nhân nguyên tử. Dữ liệu thực nghiệm không chỉ đưa ra một giải thiết về hiệu ứng này mà còn cho thấy có thể có những liên quan đến vật lý hạt nhân.      Các proton và neutron biến đổi trong hạt nhân. a, Nucleons — neutrons and protons — gồm các hạt cơ bản mà ta gọi là quark. Neutrons chứa một quark lên và hai quark xuống, trong khi các proton chứa hai quark lên và một quark xuống. b, Trong một hạt nhân nguyên tử, các nucleon có thể tương tác trong những gì mà chúng ta vẫn gọi là cặp tương quan phạm vi ngắn (SRC).   Năm 1983, người ta đã có khám phá về cấu trúc bên trong của một hạt nucleon – một proton hay một neutron – phụ thuộc vào chính môi trường của nó. Đó là vì, cấu trúc của một nucleon trong một không gian rỗng khác biệt với chính cấu trúc của nó khi nó được gắn vào bên trong một hạt nhân nguyên tử. Dẫu vậy, bất chấp nhiều cố gắng trong cả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, nguyên nhân của sự biến đổi này vẫn còn là điều chưa rõ ràng. Trong bài báo “Cấu trúc thay đổi của các proton và neutron trong các cặp tương quan” (Modified structure of protons and neutrons in correlated pairs) mới xuất bản trên Nature, cộng đồng nghiên cứu CLAS đã trình bày bằng chứng để giải quyết vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài này.  Sự xuất hiện của vật lý hạt nhân từng được báo hiệu vào những ngày Ernest Rutherford, thực hiện những thí nghiệm vào đầu những năm 1900 về tán xạ của các hạt α (hạt nhân heli) bằng vật chất đã giả thiết một lõi đặc rắn chắc tại trung tâm của các hạt nhân. Kể từ đó, các nhà vật lý đã nghiên cứu để hiểu cấu trúc của các hạt nhân nguyên tử và các quá trình động lực học của các phần cấu tạo nên nó. Tương tự, kể từ khi được  phát hiện vào cuối những năm 1960 rằng bản thân các nucleon cũng có thàn phần bên trong gọi là các hạt  quarks, khiến việc nghiên cứu được tập trung hơn vào việc tìm hiểu cấu trúc sâu hơn của nó.  Trong nhiều thập kỷ, có một ý tưởng là các nucleon trong hạt nhân tồn tại độc lập với nhau về mặt cấu trúc và bị ảnh hưởng bởi trường hạt nhân trung bình – vốn do các tương tác hạt nhân qua lại tạo ra. Dẫu sao, một câu hỏi vẫn còn lại là liệu các nucleon có bị biến đổi khi nó ở bên trong một hạt nhân không; nếu như vậy thì liệu cấu trúc của nó có khác biệt với một hạt nhân tự do không. Vào năm 1983, một khám phá đáng chú ý do Nhóm hợp tác Muon châu Âu (European Muon Collaboration EMC) tại CERN gần Geneva, Thụy Sỹ, cung cấp bằng chứng về sự biến đổi nucleon. Sự biến đổi này, vẫn được biết đến với tên gọi hiệu ứng EMC, tự thân nó chứng minh như một biến đổi trong sự phân bố xung lượng của các hạt quark trong các hạt nucleon, vốn được đưa vào trong hạt nhân. Kết quả này đã được nhiều thí nghiệm ở Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia SLAC ở Menlo Park, California và Cơ sở máy gia tốc quốc gia Thomas Jefferson (Jefferson Lab) tại Newport News, Virginia, xác nhận.  Dẫu sự tồn tại của hiệu ứng EMC đã được xác nhận nhưng những nguyên nhân của nó vẫn còn là bí ẩn. Hiện nay có hai cách giải thích EMC: 1. Tất cả các nucleon trong một hạt nhân đều được biến đổi bởi trường hạt nhân trung bình; 2. Phần lớn các nucleon đều không biến đổi nhưng các nucleon đặc biệt đều biến đổi bởi cặp tương quan phạm vi ngắn (short-range correlated SRC). Bài báo của nhóm hợp tác CLAS cung cấp bằng chứng rõ ràng nghiêng về cách giải thích thứ hai.  Hiệu ứng EMC được đo đạc trong các thực nghiệm mà trong đó các electron tán xạ trong một hệ các hạt là một hạt nhân hoặc một nucleon. Năng lượng của electron được lựa chọn sao cho sóng cơ học lượng tử của các electron có bước sóng phù hợp với các chiều của hệ đó. Để nghiên cứu về thế giới bên trong của một hạt nhân, cần một năng lượng cỡ 1 đến 2 GeV (tỷ eV). Để chứng minh cấu trúc của một hệ nhỏ hơn, như một nucleon, các năng lượng cao hơn (tương ứng với các bước sóng nhỏ hơn) là cần thiết, trong một quá trình mà người ta gọi là tán xạ phi đàn hồi sâu (deep inelastic scattering DIS). Quá trình này là cơ sở cho khám phá cấu trúc quark của các nucleons, với kết quả là giải thưởng Nobel Vật lý năm 1990.  Trong các thí nghiệm DIS, tốc độ mà tại đó tán xạ xảy ra được miêu tả bằng tiết diện tán xạ (scattering cross-section). Cường độ của hiệu ứng EMC được xác định bằng việc vẽ tỉ số tiết diện tán xạ trên mỗi nucleon của một hạt nhân cho trước chia cho tiết diện đó của đồng vị deuteri của hydro như một hàm phụ thuộc xung lượng của hạt quark gây bởi va chạm với electron. Nếu ở đó không có sự biến đổi nucleon, tỷ lệ này có thể bằng hằng số giá trị 1. Thực tế là tỷ lệ đó suy giảm như hàm phụ thuộc xung lượng của một hạt nhân xác định, cho thấy sự biến đổi của các nucleon đơn lẻ trong hạt nhân này. Dẫu sao, thực tế cho thấy sự suy giảm đó xảy ra nhanh hơn nếu khối lượng của các hạt nhân tăng lên và hiệu ứng EMC tăng lên đối với các hạt nhân nặng hơn.  Nhóm hợp tác CLAS đã sử dụng dữ liệu tán xạ electron từ Phòng thí nghiệm Jefferson để thiết lập mối liên hệ giữa kích thước của hiệu ứng EMC và số lượng các cặp neutron–proton tương quan phạm vi ngắn trong một hạt nhân xác định. Nét chính của nghiên cứu này là trích xuất ra hàm toán học, bao gồm hiệu ứng của cặp tương quan phạm vi ngắn phụ thuộc vào tiết diện tán xạ, không bị phụ thuộc vào hạt nhân đã cho. Tính chất chung đó đem lại xác nhận thuyết phục về sự liên hệ giữa hiệu ứng EMC và các cặp neutron–proton tương quan phạm vi ngắn. Kết quả này cho thấy sự biến đổi nucleon là một hiệu ứng của quá trình động lực xảy ra do có sự thay đổi mật độ cục bộ, trái ngược với một trạng thái tĩnh của môi trường, trong đó tất cả các nucleon được biến đổi bởi trường hạt nhân trung bình.  Các tác giả đã tập trung vào các cặp neutron–proton tương quan phạm vi ngắn bởi nguyên nhân sau: các cặp đó phổ biến hơn các cặp tương quan neutron–neutron hay proton–proton. Theo ý nghĩa này, các nucleon là bình đẳng; tức là sự tạo cặp sẽ dễ dàng với những nucleon khác loại hơn là cùng loại. Chính vì vậy,  do sự chênh lệch về số lượng neutron và proton trong các hạt nhân có khối lượng trung bình và nặng, xác suất của các proton hình thành cặp neutron–proton tương quan phạm vi ngắn tăng lên theo tỷ số của neutrons trên protons, trong khi xác suất của neutrons có thể tạo cặp xu hướng này là bão hòa. Đặc tính đặc biệt này đã được nhóm hợp tác CLAS sử dụng để củng cố các kết luận chứng tỏ sự khác biệt rõ ràng giữa các hiệu ứng EMC trên một proton và neutron cho các hạt nhân phi đối xứng  nặng hơn carbon. Thông tin trực tiếp từ dữ liệu này đã hỗ trợ các tác giả giải thích sự biến đổi của nucleon xuất hiện từ sự hình thành của các cặp tương quan phạm vi ngắn.  Một gợi ý từ nghiên cứu này là thông tin rút ra về các hạt neutron tự do từ các thí nghiệm DIS với nước nặng hay hạt nhân nặng hơn cần được hiệu chỉnh bởi hiệu ứng EMC để tính đến sự biến đổi của các hạt neutron trong môi trường hạt nhân. Một hệ quả nữa là cần tính đến hiệu ứng này cho các thí nghiệm hiện tại và tương lai khi nghiên cứu tán xạ của neutrino và phản hạt (kể cả phản neutrino) tán xạ trên các hạt nhân bất đối xứng. Bởi vì proton và neutron đều có các thành phần hạt quark khác nhau và các proton đều bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ từ sự biến trong môi trường vật chất hơn là các neutrons, tiết diện tán xạ neutrino và phản neutrino có thể cho thấy sự khác biệt dễ nhầm lẫn từ  một hiệu ứng của vật lý hạt không bền – như sự không đầy đủ của mô hình chuẩn trong vật lý hạt hay các cơ chế có thể nhằm giải thích sự bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất trong vũ trụ. Trước khi đưa ra bất kỳ tuyên bố nào thì những khác biệt trong hiệu ứng EMC với proton và neutron cần được xét đến.    Thanh Nhàn dịch  TS. Lê Xuân Chung (Viện Khoa học kỹ thuật hạt nhân, Viện NLNTVN) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00577-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao nhà khoa học nam tự trích dẫn công bố nhiều hơn nữ?      Trong một nghiên cứu mới đăng trên trang arXiv, các nhà xã hội học trường đại học Stanford (Mĩ) chỉ ra rằng, trung bình nam giới tự trích dẫn các bài báo khoa học của chính mình nhiều hơn 1.56 lần so với các đồng nghiệp nữ giới.      Marie Curie, nhà KH nữ duy nhất trong  bức ảnh những nhà vật lý hàng đầu tại  hội nghị Solvay, Bỉ (1927)  Để đánh giá sơ bộ khả năng của một người làm nghiên cứu, người ta thường xác định số lượng bài báo khoa học người đó được đăng, uy tín của các tờ báo (thường thông qua chỉ số Impact factor) và số lần các bài báo này được trích dẫn trong các nghiên cứu liên quan khác. Nhìn chung, việc một người tự trích dẫn các nghiên cứu trước đó của chính mình là bình thường và hợp lý, do các nghiên cứu thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, ngoài những trường hợp thực sự cần thiết nhằm đảm bảo tính logic của bài báo, quyết định tự trích dẫn hay không phụ thuộc vào từng tác giả. Trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, không tránh khỏi xu hướng một số nhà nghiên cứu tự trích dẫn với mục đích tăng uy tín và sức cạnh tranh của bản thân. Do đó, tỉ lệ tự trích dẫn là một thông số quan trọng không những ngụ ý năng suất nghiên cứu khoa học, mà còn có thể tiết lộ mức độ tự tin, áp lực cạnh tranh, hoặc mong muốn thăng tiến của người làm nghiên cứu.  Để tìm hiểu vấn đề này, các nhà xã hội học ở đại học Stanford đã thu thập khoảng 1.5 triệu bài báo khoa học thuộc từ năm 1779 đến 2011 thuộc tất cả các lĩnh vực trên thư viện điện tử JSTOR (thực tế, có rất ít bài báo xuất bản trước năm 1950 được lưu trữ trong thư viện này). Qua quá trình xử lý số liệu, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, số lượng tự trích dẫn chiếm gần 10% tổng số các trích dẫn, trong đó sinh học phân tử, toán học, sinh thái học là những  ngành nghề có tỉ lệ tự trích dẫn cao nhất. Ngược lại, những người nghiên cứu về lịch sử, luật và văn hóa cổ điển (classics) có tỉ lệ tự trích dẫn thấp nhất.  Điểm chính của nghiên cứu là so sánh tỉ lệ tự trích dẫn của nam và nữ. Trong tổng số hơn 2 triệu tác giả (những người có thể xác định được giới tính dựa vào tên gọi), tác giả nam chiếm đến 78.1%, tác giả nữ chỉ chiếm 21.9%. Nam giới có xu hướng tự trích dẫn nhiều hơn hẳn so với các nữ đồng nghiệp, trong mọi thời điểm và ở hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu. Trung bình một tác giả nam tự trích dẫn nhiều hơn 1.56 lần so với đồng nghiệp nữ. Điều đáng ngạc nhiên là con số này chỉ là 1.23 trong thập niên 1950 và đã lên đến 1.7 trong hai thập niên trở lại đây, bất chấp thực tế số lượng nữ giới theo đuổi lĩnh vực nghiên cứu khoa học ngày càng tăng.                                     Tỉ lệ tự trích dẫn của nam giới và nữ giới kể từ năm 1950. Nguồn: Nature  Tuy nhiên, phân tích thống kê trong nghiên cứu này có thể chỉ đúng cho Mỹ và các nước có hệ thống tên gọi tương tự. Do giới tính của các tác giả bài báo được xác định dựa vào 1000 tên gọi phổ biến nhất trong mỗi năm từ 1879 – 2012, được liệt kê bởi Cơ quan an ninh xã hội Mĩ (US Social Security Administration). Nếu một tên gọi không nằm trong danh sách này hoặc có thể được dùng cho cả nam và nữ, dữ liệu về người đó sẽ không được tính. Điều này có nghĩa một lượng lớn tác giả dùng tên viết tắt cũng bị bỏ qua. Tổng cộng, có đến 26.7% tác giả không xác định được giới tính, trong đó 24.3% đến từ những tên không có trong danh sách các tên gọi phổ biến và 2.4% do những tên gọi có thể dành cho cả nam và nữ.  Một điều đáng lo ngại nữa là, trong thời gian trước, có nhiều tác giả nữ chọn cách dùng tên viết tắt để che giấu giới tính thật của mình. Chính điều này có thể làm giảm một số lượng lớn tác giả nữ trong dữ liệu phân tích. Cùng ý kiến về vấn đề này, Adrian Letchford, một nhà khoa học dữ liệu thuộc trường đại học Warwick (Anh), từng có các nghiên cứu về vấn đề trích dẫn,cho biết: “Một tỉ lệ lớn các tác giả bị loại khỏi danh sách phân tích, đặc biệt là phụ nữ – những người có xu hướng không tiết lộ giới tính của mình”.  Nguyên nhân  Lý giải thực trạng nam giới có xu hướng tự trích dẫn nhiều hơn nữ giới, Cassidy Sugimoto, ở Đại học Indiana University Bloomington (Mĩ) cho biết, nam giới thường có chức vụ cao hơn trong khoa học, có nhiều bài báo hơn và do đó có nhiều khả năng để tự trích dẫn. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, mặc dù số lượng nữ giới tham gia nghiên cứu khoa học tăng nhanh trong những năm gần đây, nam giới vẫn thường là những người nắm giữ những chức vụ quan trọng.  Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra, hiện tượng nam tự trích dẫn nhiều hơn nữ có thể do nam giới có xu hướng tự tin về khả năng của bản thân hơn nữ giới, đặc biệt trong những lĩnh vực có vốn được xem là thế mạnh của họ. Ngược lại, nữ giới lại thường phải hứng chịu  nhiều chỉ trích hơn khi quá tham vọng hoặc có hành động tự “quảng cáo” bản thân, đồng thời, trong tiềm thức, nhiều người vẫn không đánh giá cao khả năng của bản thân so với đồng nghiệp nam. Ngoài ra, nam giới cũng thường có xu hướng theo đuổi những nghiên cứu có tính chuyên biệt hóa, ít người thực hiện. Điều này dẫn đến số lượng đồng nghiệp trong cùng lĩnh vực thấp và họ có nhiều khả năng phải tự trích dẫn nghiên cứu của chính mình.  Các tác giả của nghiên cứu này nhận định, kết quả về sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc tự trích dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá các thông số liên quan đến số lượng trích dẫn của các bài báo khoa học. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng cần lưu ý rằng nữ giới có xu hướng tự trích dẫn nghiên cứu của chính mình ít hơn nam giới, từ đó có cách đánh giá phù hợp. Một đề xuất được đưa ra là không tính đến những trích dẫn được thực hiện bởi chính tác giả để có thể đảm bảo công bằng trong khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao nhà máy Tesla của Elon Musk chỉ là nhà máy trong mơ?      Sản xuất của Tesla ở Fremont sẽ được tự động hóa cao độ – liệu có quá xa vời?    Elon Musk tin tưởng chắc chắn rằng ông ta sẽ làm được cái mà các nhà sản xuất ô tô khác không thể làm được – một nhà máy tự động hóa hoàn toàn. Tuy nhiên những vấn đề ở Tesla Model 3 cho thấy, vấn đề lại không đơn giản như vậy. Mục tiêu này còn khá xa vời.    Sản xuất Tesla ở Fremont phần lớn là tự động  Việc sản xuất Model-3 hoàn toàn tự động hóa đã không thực hiện được. Ông chủ của tập đoàn Tesla  Elon Musk mới đây đã thừa nhận trước truyền thông về điều này và sau đó cả trên Twitter: “Chủ trương thái quá về tự động hóa tại Tesla là một sai lầm. Nói chính xác đó là sai lầm của tôi. Yếu tố con người đã bị đánh giá thấp.“ Việc sản xuất Model 3 tại nhà máy Frement đã bị đình lại nhiều ngày theo quyết định của Musk để “cải thiện khâu tự động hóa”. Theo một US Blogs thì từ tháng sau nhà máy sẽ chạy hết công suất để thực hiện tốt nhất mục tiêu về sản lượng đã đề ra trước đó. Tầm nhìn rực sỡ về một nhà máy hoàn toàn tự động hóa của Musk đã có những vết rạn. Điều này không bất ngờ đối với các chuyên gia như Michael Schenk. Trong cuộc trả lời phỏng vấn của báo Wirtschafts Woche Online, vị giám đốc Viện Fraunhofer về vận hành nhà máy và tự động hóa (IFF) đã phân tích, tại sao tự động hóa hoàn toàn ở một nhà máy còn là chuyện xa vời và tự động hóa chưa chắc đã là giải pháp hiệu quả nhất về kinh tế.  Thưa giáo sư Schenk, Elon Musk đã thừa nhận, tầm nhìn của ông ấy về “máy móc làm ra máy móc” đã không vận hành được như ông ấy từng quả quyết. Điều này có làm ông ngạc nhiên?  Michael Schenk: Không, tôi không hề ngạc nhiên. Đằng sau ý tưởng này là một đòi hỏi rất cao về khả năng thích ứng và trí tuệ nhân tạo của máy móc hoặc thậm chí của cả một hệ thống sản xuất. Mức độ phức tạp của các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau ở đây rất lớn. Chúng ta chưa thể thực hiện được dạng này trong điều kiện hiện nay.  Như vậy có nghĩa là sản xuất tự động hóa hoàn toàn còn có những hạn chế.  Đúng thế. Chúng ta hiện đang hết sức nỗ lực nghiên cứu về vấn đề này, nhưng đang ở giai đoạn đầu. Trước khi tự động hóa hoàn toàn một nhà máy thì phải số hóa toàn diện nó. Điều đó có nghĩa là phải cố gắng thu thập thật nhiều số liệu quan trọng của quá trình sản xuất cũng như của sản phẩm. Muốn thế phải có các công nghệ cần thiết để giám sát mọi quy trình sản xuất và các số liệu về sản phẩm. Và cần có các công cụ và sự hiểu biết để thực hiện sự phân tích sau đó. Chỉ khi nào sự hiểu biết của chúng ta về mọi quy trình sản xuất, các yếu tố tác động khác nhau và các điều kiện khung không chỉ là các giá trị tương đối mà phải hết sức chính xác và dựa trên những dữ liệu thực, mới thu thập được, thì chúng ta mới có thể tiến hành tự động hóa toàn diện. Tiếc rằng chúng ta chưa đạt được mức độ đó ở mọi lĩnh vực.  Điều đó làm chúng ta tưởng rằng chúng ta có thể làm được, tại sao lại như vậy, thưa giáo sư?  Một phần cũng do trong quá khứ phần lớn các doanh nghiệp chưa thật nỗ lực về số hóa. Ngày nay muốn số hóa một cách có hệ thống các nhà nghiên cứu và các kỹ sư phải biết rút ra những hiểu biết của họ về quá trình vận hành của máy móc. Từ đó họ rút ra được bài học, sự sản xuất tự động hóa sẽ diễn ra như thế nào và cần phải làm gì để thực hiện được điều đó. Tuy nhiên, ở đây chúng ta còn đang trong giai đoạn phát triển.  Với máy học vấn đề cũng tương tự. Nhà máy tự động hóa hoàn toàn cần có một máy có khả năng cùng suy nghĩ và qua đó có thể tự động thích ứng với những điều kiện bị thay đổi và có khả năng phản ứng linh hoạt. Sau khi có sự hạn chế về trí tuệ nhân tạo thì vấn đề đạo lý có vai trò quan trọng. Ngày nay giới chuyên môn hầu như đều nhất trí, thực ra chúng ta không muốn có máy móc có thể độc lập suy nghĩ. Con người phải dành cho mình quyền kiểm soát. Khi máy móc không chịu sự kiểm soát và có thể tự động ra quyết định, thì chúng ta hầu như không còn có thể tác động vào hành động của chúng. Với cách nhìn của ngày nay, xét về mặt kinh tế thì không thể dự báo và điều tiết sản xuất đúng 100%. Điều này chúng ta cũng không muốn, chí ít trong môi trường sản xuất. Với các quan điểm như vậy thì một nhà máy tự động hóa hoàn toàn trong bối cảnh hiện nay là không thực tế – với Elon Musk cũng vậy.  Nếu tin được vào những gì mà báo chí đưa tin thì ông ta đã tỏ ra lo lắng trước sự thành công của hệ thống tiền nhiệm KI-Systems AlphaGo Zero. Các vị chắc chắn còn nhớ  phần mềm trò chơi Alpha Go hồi năm ngoái, nó chỉ dựa hoàn toàn vào quy tắc và hoàn toàn không tích lũy thêm tri thức và đã tự trau dồi cuối cùng chơi giỏi hơn tất cả các đại kiện tướng của ván cờ. Điều này dựa trên nền tảng công nghệ có tên là DeepMind và hoạt động trên cơ sở mạng lưới thần kinh. Hiệu ứng học tập của hệ thống này quả rất ấn tượng nhưng cũng đáng sợ. Nó thật sự huyền bí. Với tôi nó rất giống một cái hộp đen, người ta có thể vứt một cái gì đó vào đầu vào của hộp nhưng không biết sẽ nhận được cái gì sau đó.  Tuy vậy Elon Musk vẫn nghĩ rằng, ông ta vẫn có thể có được một nhà máy có độ tự động hóa rất cao tại Tesla. Chính vì thế trong quá khứ ông ấy luôn diễu cợt các nhà sản xuất ô tô đã thành danh, vì họ luôn cho rằng đó là điều không thể. Đây là một ví dụ điển hình về “leo cao, ngã đau”?  Elon Musk coi nhẹ vai trò quan trọng của con người trong sản xuất, điều đó đáng ra chúng ta nên nói rõ cho ông ta biết. Tuy nhiên đối với một số lĩnh vực thì điều này không còn là chuyên tương lai mà nó đã diễn ra như sự tích hợp các robot hỗ trợ, robot di động hay cố định cùng với con người trong quá trình sản xuất. Ở châu Âu cũng như trên toàn thế giới người ta đang nghiên cứu về robot có khả năng hỗ trợ con người một cách linh hoạt trong sản xuất. Các nhà khoa học của chúng tôi tại Fraunhof IFF đang đẩy mạnh nghiên cứu về các hệ thống này. Điều này liên quan chặt chẽ với công nghiệp 4.0 và cá nhân hóa ngày càng tăng đối với các sản phẩm. Vì vậy quá trình sản xuất cũng như cả nhà máy cần có sự co giãn hơn, nhiều module hơn và không bố trí quá cứng nhắc. Trong những trường hợp như thế này người ta muốn xóa bỏ giây chuyền sản xuất chỉ có rô bốt và vắng bóng con người, hoàn toàn theo hướng sản xuất linh hoạt, làm sao liên kết được con người với robot hỗ trợ một cách tự nguyện. Con người điều khiển, lên kế hoạch và hành động còn rô bốt giúp con người ở những nơi có thể và cần hỗ trợ. Chúng ta không thể hoàn thành công việc mà không cần có sự hiện diện của con người. Một phần như đã nói về sự cấm kỵ đối với loại máy có khả năng suy nghĩ hoàn toàn độc lập. Mặt khác vì về mặt kỹ thuật chúng ta chưa có khả năng thực hiện điều đó. Dù có nghiên cứu đến đâu đi nữa thì các robot vẫn chưa thể có các khả năng vốn là thuộc tính của con người. Sự phản ứng linh hoạt, hành động theo kinh nghiệm đã tích lũy được cũng như khả năng học hỏi, đó là những điều mà con người vẫn hơn hẳn máy móc.  Điều đó có nghĩa là, ngay cả  Elon Musk cũng sẽ không nhanh chóng có được một nhà máy hoàn toàn tự động hóa như ông ta mơ ước?   Đúng  thế. Trừ khi những chiếc xe sản xuất ở nhà máy đó có cấu trúc tương đối đơn giản và không khác nhau là mấy. Sản phẩm càng phức tạp và có tính đặc thù cao bao nhiều thì việc lắp ráp càng khó khăn hơn bấy nhiêu. Như đã trình bầy, xây dựng và điều hành một nhà máy có tính linh hoạt cao và hoàn toàn tự động là hết sức khó khăn. Tôi tin rằng còn phải chờ một thời gian nữa.  Hơn nữa cần phải nhớ rằng, tự động hóa bao giờ cũng rất tốn kém tiền của. Điều này cũng thấy rõ ở Tesla qua tính toán của các nhà phân tích: Với việc tự động hóa chi phí cho nhà máy tăng cao đòi hỏi có nguồn vốn lớn. Trong điều kiện đó muốn có lợi nhuận nhất thiết phải đạt được năng suất lao động rất cao. Nếu không giá thành cho một chiếc ô tô sẽ quá cao. Nếu đặt khoản chi phí này lên khách hàng thì loại xe này hầu như khó có ai kham nổi.  Muốn tự động hóa cũng phải biết tính toán. Mà điều này lúc này tôi chưa thấy ở Tesla. Vì thế cho nên cũng phải mất một khoảng thời gian nữa mới có thể ra đời một nhà máy như vậy.  Nguyễn Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/mittelstand/hannovermesse/automatisierte-model-3-produktion-warum-elon-musks-tesla-vision-eine-traumfabrik-ist/21179980.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao rượu lại khiến chúng ta  thèm ăn?      Trở về nhà sau một buổi tiệc tùng, chúng ta vẫn thấy thèm ăn khoai tây chiên hay pizza khủng khiếp. Các nhà nghiên cứu cho biết đã phát hiện ra nguyên nhân: rượu khiến não nghĩ rằng chúng ta đang đói.      Một loại tế bào não chuột dễ bị rượu kích thích  Các nhà nghiên cứu tại Viện Francis Crick (London), một viện nghiên cứu về y sinh mang tên nhà sinh vật học, nhà vật lý phân tử Francis Crick, cho rằng, rượu kích hoạt các tế bào não có chức năng gây cảm giác thèm ăn.   Trong các nghiên cứu trên chuột, họ nhận thấy có một loại tế bào não dễ bị kích thích bởi rượu. Cũng chính những tế bào não này hoạt động mạnh hơn khi cơ thể bị đói, nhắc nhở chúng ta đó chính là lúc cơ thể cần được nạp nhiều thức ăn giàu calo.  “Dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng rượu giúp duy trì các tín hiệu thèm ăn cơ bản”, Sarah Cains và nhóm nghiên cứu của bà viết trên tạp chí Nature Communications.     Chuột trở nên phàm ăn  Các nhà nghiên cứu đã mang đến một “cuối tuần tiệc tùng” cho những con chuột trong phòng thí nghiệm của họ. Đều đặn ba ngày liên tiếp, họ tiêm cho chuột một liều dung dịch ethanol pha nước. Lượng rượu này tỷ lệ với lượng rượu mà một người có thể uống trong một ngày, vào khoảng một chai rưỡi rượu vang.  Kết quả là chuột đói ngấu: lượng thực phẩm chúng ăn tăng từ 10 đến 25% trong những ngày được tiêm ethanol.  Cains và đồng nghiệp cũng nhúng những lát não chuột vào rượu và nhận thấy các tế bào thần kinh mà người ta vẫn gọi là tế bào peptide liên kết với Agouti (AgRP) đều bị kích thích. Khi họ vô hiệu hóa các tế bào thần kinh này trong cơ thể chuột sống bằng các hóa chất, chúng không còn phản ứng như trước đây: một cặp chuột được tiêm dung dịch ethanol trong vài ngày đã không ăn nhiều nữa.  Các nhà nghiên cứu cho biết, cơ chế cơ bản trong não chuột hoạt động tương tự như ở người.  Ảnh hưởng của rượu khai vị  “Từ lâu chúng ta đã biết rượu ảnh hưởng đến thói quen ăn uống”, Jens Reimer, người đứng đầu Trung tâm nghiên cứu liên ngành về chứng nghiện (ZIS) tại trường ĐH Hamburg, cho biết.  Hàng trăm năm nay, con người thích uống đồ có cồn – như rượu khai vị – để tăng cảm giác đói và sẵn sàng cho một bữa tiệc thịnh soạn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con người thường tiêu thụ nhiều calo hơn hẳn sau khi uống một lượng rượu đáng kể.  Sau ba ly rượu vang, con người nạp thêm khoảng 6.300 calo trong 24 giờ tiếp theo, theo cuộc khảo sát do YouGov, công ty điều tra thị trường Anh, thực hiện theo đặt hàng của tổ chức về giảm cân Slimming World.  Dù vậy cơ chế cơ bản của điều hiển nhiên này vẫn còn bí ẩn. Một vài nhà nghiên cứu cho rằng, khi uống nhiều rượu, con người sẽ bị mất kiểm soát hành vi, nên họ mất khả năng kiềm chế việc ăn uống.   “Nghiên cứu của Viện Francis Crick đã xác định được vùng neuron trong não kiểm soát hành vi này,” Reimer nhận xét.  Mất calo  Việc con người trở nên đói hơn sau một đêm uống rượu đã đánh đố các nhà nghiên cứu một thời gian dài. Bản thân rượu cũng giàu năng lượng: một gram ethanol chứa 7,1 ki lô calo, nghĩa là chỉ thua mỡ.    Thông thường khi được nạp đồ ăn giàu năng lượng, cơ thể sẽ mất cảm giác đói. Nhưng khi uống rượu thì điều trái ngược lại xảy ra. Hệ quả là đồ uống có cồn gây tác hại gấp đôi đối với việc giảm cân: mặc dù cung cấp nhiều calo, chúng vẫn khiến người ta tiếp tục thèm ăn.   Nhà nghiên cứu về chứng nghiện Reimer cho biết, “Nếu mọi người để nó trở thành thói quen thì rất nguy hiểm: ăn uống thiếu lành mạnh, uống nhiều rượu, rồi lại ăn uống thiếu lành mạnh hơn”.  Nó có thể nhanh chóng dẫn đến bệnh béo phì, yếu tố làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, ung thư, đột quỵ và các bệnh khác.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/why-drinking-alcohol-makes-us-hungry/a-37111288    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao startup cần huấn luyện viên?      Ở Việt Nam, “huấn luyện viên khởi nghiệp” – startup coach vẫn còn là một khái niệm mới với khá nhiều startup. Để có một cái nhìn toàn diện về tại sao cần huấn luyện viên (HLV) khởi nghiệp, như thế nào là một người HLV tốt và làm thế nào để hưởng lợi nhiều nhất từ một chương trình huấn luyện, tôi muốn chia sẻ với các bạn góc nhìn của một người đã tham gia hoạt động này trong 4 năm qua.      Dave Bailey, người sáng lập công ty chuyên huấn luyện các CEO của các công ty gọi được vốn từ vòng series A trở lên. Nguồn: Dave Bailey.  Trước hết, huấn luyện khởi nghiệp là một công việc thuộc nhóm huấn luyện kinh doanh trong đó người HLV “cầm tay chỉ việc” rèn luyện thành công kỹ năng sử dụng công cụ cho doanh nghiệp/đội nhóm của doanh nghiệp nhằm rèn luyện kỹ năng cho đôi nhóm của doanh nghiệp và đặt câu hỏi giúp doanh nghiệp tự giải quyết vấn đề. Mối quan hệ giữa HLV và doanh nghiệp khởi nghiệp là mối quan hệ ngắn hạn, thông thường từ 3-6 tháng.   Ở Việt Nam, có những tổ chức cung cấp dịch vụ huấn luyện cho doanh nghiệp, nhưng đội ngũ huấn luyện khởi nghiệp chuyên nghiệp thì còn rất ít. Từ những thành công và thất bại của cả người làm HLV và startup, và các dự án đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp, chúng tôi cho rằng có 3 lý do chính khởi nghiệp cần HLV.  1. Startup thường có quá nhiều vấn đề để giải quyết và quá nhiều việc phải làm cùng một lúc.  Việc là khởi nghiệp sáng tạo không bao giờ dễ dàng. Những ngợi ca trên báo chí, sự xuất hiện dày đặc trên truyền thông không giúp bạn giảm bớt áp lực khi phải đối diện với những vấn đề cụ thể trực tiếp của doanh nghiệp. Nếu dành thời gian để giải quyết những việc gấp gáp nhưng không quan trọng lắm thì sáng lập viên sẽ không còn thời gian cho những việc quan trọng dài hơi. Khởi nghiệp sáng tạo (KNST) cũng thường gặp phải những giới hạn về nguồn lực và có xu hướng cần tiền mới giải quyết được. Việc xuất hiện HLV sẽ giúp KNST sắp xếp lại những vấn đề mang tính thứ tự ưu tiên để giải quyết với nguồn lực hạn chế một cách tối ưu.  Theo Dave Bailey, tại sao các nhà sáng lập cần Huấn luyện viên (Coach), không phải Tư vấn (Consultants), theo đó tóm lại gồm 10 điểm:  1. Hãy để các nhà sáng lập tự đưa ra chương trình làm việc của mình (nhấn mạnh sự chủ động)  2. Không ai có thể nhận được lời khuyên trước khi họ hiểu vấn đề (khác biệt giữa HLV và tư vấn)  3. Câu hỏi luôn có giá trị lớn hơn câu trả lời (thậm chí lời khuyên)  4. Bám sát các mục tiêu cụ thể   5. Sự tò mò trái ngược với sự phán xét  6. Nghe lời nói của mình từ người khác  7. Chia sẻ kinh nghiệm, không hướng dẫn  8. Kiên nhẫn là điều cần thiết để huấn luyện hiệu quả  9. Cho bạn niềm tin khi cần   10. Theo dõi là 90% giá trị  2. Vấn đề mà người sáng lập nghĩ là vấn đề bức xúc, khó khăn nhất chưa chắc đã phải là vấn đề quan trọng nhất.  HLV không biết câu trả lời cho các vấn đề nhưng họ biết hỏi những câu hỏi mang tính kỹ thuật cần thiết để tìm ra vấn đề mang tính cốt tử của doanh nghiệp đó, có ảnh hưởng đến sự sống còn và những rủi ro tiềm ẩn trong giai đoạn đầu trứng nước của doanh nghiệp. Ví dụ, rất nhiều doanh nghiệp cho rằng vốn là vấn đề lớn nhất, nhưng nhờ những câu hỏi của HLV, đôi khi tự doanh nghiệp nhận ra rằng đó có thể là vấn đề thứ 2,3 trong thứ tự ưu tiên.   3. Sự cô đơn và những thành quả được ghi nhận.  Khởi sự kinh doanh là chấp nhận sự cô đơn khi phải đối diện với các quyết định, với những tính toán ngắn hạn và dài hạn, ngay cả khi bạn có một đội nhóm tốt thì người lãnh đạo vẫn là người phải chấp nhận sự cô đơn ấy. Việc có một HLV đi cùng và người chủ dự án phải tham gia quá trình huấn luyện là đặc biệt quan trọng. Ngoài giá trị cùng nhau phân tích khó khăn thất bại, thì việc có một sự ghi nhận từ bên ngoài là nguồn động viên quan trọng, một sự ghi nhận có giá trị để chủ doanh nghiệp có những bước tiến mạnh mẽ hơn sau đó.   Câu chuyện của người HLV và người được huấn luyện  Năm 2015, tôi cùng 11 anh chị em khác bước ra từ chương trình đào tạo tăng cường HLV đổi mới sáng tạo của dự án Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) với một loạt công cụ và kiến thức mới mẻ trong tay. Chúng tôi được đưa thẳng vào một doanh nghiệp khởi nghiệp để…huấn luyện. Doanh nghiệp vừa nhận được một khoản vốn mồi với tham vọng trong 6 tháng đạt mục tiêu chứng minh tiềm năng xuất khẩu và kiểm chứng được mô hình kinh doanh bền vững. 6 tháng trải nghiệm với EZCloud với tôi thực sự quý giá để nhận ra rằng tại sao một doanh nghiệp khởi nghiệp mặc dù rất tiềm năng đội ngũ rất tốt lại rất cần huấn luyện viên – một sự trợ giúp kỹ thuật quan trọng cho kiểm chứng mô hình kinh doanh và sự phát triển của dự án. Tuy nhiên, quá trình huấn luyện không hề diễn ra suôn sẻ mà luôn có những thách thức với cả hai phía nếu muốn hoàn thành tốt công việc của mình. Như anh Đặng Thành Trung, giám đốc sáng tạo của EZCloud chia sẻ, có rất nhiều khó khăn phải trải qua trong suốt quá trình huấn luyện để nhận ra rằng, rất may mắn đã kiên nhẫn đi theo suốt thời gian đó. Những khó khăn mà anh Trung đề cập ở đây không nằm ngoài những khó khăn mà chính cá nhân chúng tôi đã trải qua trong vai trò HLV cho những doanh nghiệp sau này:   1. Vượt qua khỏi sự khó chịu khi có một người ngoài bước vào doanh nghiệp:  Vốn không phải là người đóng góp tiền cho doanh nghiệp, thậm chí dịch vụ huấn luyện là dịch vụ trả phí, rất dễ hiểu khi EZCloud (vốn được dự án IPP2 tài trợ để sử dụng HLV) hay một doanh nghiệp bất kỳ nào phải trả phí để sử dụng dịch vụ này là sự chống đối lại vai trò của người HLV. Thực tế, không ít doanh nghiệp đặt ra câu hỏi tại sao lại phải đưa một người HLV vào chỉ để hỏi và giám sát doanh nghiệp? Hơn thế nữa, một doanh nghiệp khởi nghiệp, thời gian là vô cùng quý giá, vậy mà luôn phải dành một khoảng thời gian chỉ để trả lời câu hỏi của một người không liên quan gì. Sự khó chịu này sẽ không biến mất sau tối thiểu 3 buổi đầu tiên vì những câu hỏi của HLV luôn mang tính căn bản, bắt chủ doanh nghiệp phải lật lại rất nhiều vấn đề mà thường ngày họ chấp nhận như một lẽ tự nhiên. Việc phải lật lại và nghi ngờ cả những gì mình đang làm là một cảm giác rất khó chịu. Tuy nhiên, thông thường, sau buổi thứ 3, sẽ có những thay đổi và chuyển biến, hiệu ứng từ những câu hỏi     EZ Cloud (bên trái) đang trao đổi với một huấn luyện viên của chương trình IPP.   2. Vượt qua nỗi sợ bị giám sát.  Cảm giác bị ai đó giám sát những mục tiêu đề ra không phải dễ dàng. Khi đối diện với chính mình cho những việc mình không thực hiện được và trả lời HLV của mình vào buổi gặp tiếp theo, đó là một công việc khó khăn. Bạn làm chủ của doanh nghiệp bạn, tại sao bạn cần ai đó giám sát? Câu hỏi đó rất thường gặp, nhưng hãy tin tôi, ở giai đoạn đầu, sự tự do của người làm chủ doanh nghiệp khởi nghiệp có thể khiến bạn làm việc 20 tiếng mỗi ngày, nhưng cũng không có gì đảm bảo bạn sẽ đạt mục tiêu đề ra bởi lẽ không ai tạo ra áp lực cho bạn. Sự giám sát chính là giá trị quan trọng mà huấn luyện mang lại.   3. Vượt qua cảm giác ngại phải cam kết.  Hằng tuần, doanh nghiệp phải cam kết thực hiện những gì mình đề ra. Mặc dù không có hình phạt nào cho việc không thực hiện được, nhưng rõ ràng, việc phải lý giải những nguyên nhân mình không thực hiện được sau một khoảng thời gian đủ dài (thông thường là 6 tháng) thực sự sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi tư duy về chấp nhận thất bại và học từ thất bại. Nếu thói quen thực hiện cam kết và tìm nguyên nhân cho thất bại và phòng ngừa rủi ro được thiết lập tại doanh nghiệp, đây sẽ là một thay đổi rất lớn cho bước chuyển từ văn hóa của một nhóm dự án khởi nghiệp thành một doanh nghiệp trưởng thành thực sự.   Trên thực tế, ngay tại các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp trên thế giới, huấn luyện là một hình thức phổ biến nhằm gia tăng hiệu suất công việc. Với khởi nghiệp, việc sử dụng huấn luyện viên mang tính đặc thù. Việc lựa chọn huấn luyện viên tốt cũng là một khó khăn không nhỏ. Nếu được phép cho vài lời khuyên với các chủ doanh nghiệp khởi nghiệp, tôi xin phép đưa ra 3 lời khuyên sau đây:  1. Bên cạnh một cố vấn (mentor)- người sẽ thúc đẩy sự phát triển cá nhân của bạn, hãy tìm một HLV khởi nghiệp để có sự hỗ trợ kỹ thuật cần thiết.  2. Hãy đưa những người ra quyết định quan trọng trong doanh nghiệp vào quá trình huấn luyện, nó sẽ giúp tạo ra tiếng nói chung cho cả đội nhóm và kế hoạch hành động hiệu quả cả nhóm hướng đến.  3. Thời gian huấn luyện phải đủ dài (tối thiểu 3 tháng tăng cường, lý tưởng nhất là 6 tháng) để đảm bảo hiệu quả của huấn luyện. Mọi sự thay đổi không diễn ra qua một đêm, nó cần thời gian, đặc biệt là những thay đổi về tư duy.  Làm thế nào để tìm được HLV tốt, để thay cho lời kết, tôi xin mượn lời của Dave Bailey, 10 năm làm HLV cho các khởi nghiệp tại các môi trường khác nhau, người từng cho lời khuyên rằng, khởi nghiệp cần HLV hơn là người tư vấn. Đúc rút từ trải nghiệm của chính mình, Dave tổng kết: “Tìm một huấn luyện viên giỏi là rất khó khăn. Bạn muốn ai đó có mối liên hệ với bạn, người đã trải qua những gì bạn đang trải qua. Một người có thể đặt cái tôi của họ sang một bên và quan tâm đến bạn. Một người biết kết nối bạn với những người tài năng nhất. Bạn sẽ đòi hỏi sự đầu tư đáng kể từ huấn luyện viên của mình, cả về thời gian và năng lượng, cảm xúc, vì vậy, phải bù đắp cho họ một cách phù hợp. Hãy nhớ rằng có những người giỏi nhất xung quanh có ảnh hưởng lớn nhất đến thành công của bạn”. □  Tài liệu tham khảo: Why Founders Need Coaches, Not Consultants. Dave Bailey. Medium. 201  CÁC LOẠI HÌNH HUẤN LUYỆN  Performance coaching:  Huấn luyện hiệu suất công việc Skills coaching  Huấn luyện kỹ năng Career Coaching  Huấn luyện sự nghiệp Personal or life coaching  Huấn luyện cá nhân Business coaching  Huấn luyện kinh doanh Executive coaching  Huấn luyện quản lý Team facilitation  Điều phối nhóm Work shadowing  Giám sát công việc    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Tại sao startup nên tự “vùng vẫy” trong 10 năm trước khi gọi vốn      Nóng vội gọi vốn đầu tư có thể dẫn tới cái chết sớm cho startup.      Bạn có một ý tưởng mới tuyệt vời và một đội ngũ sáng lập xuất sắc, nắm giữ những kỹ năng phù hợp, sẵn sàng đứng vững trước mọi thách thức trên thị trường? Bạn có thể cho rằng đây đã là thời điểm chín muồi để kêu gọi những nhà đầu tư thiên thần. Nhưng bạn sai rồi.  Đó là quan điểm của Ryan Smith, nhà sáng lập nền tảng điều tra trực tuyến Qualtrics. Qualtrics vừa huy động được khoảng 220 triệu USD với giá trị định giá hơn 1 tỉ USD, vượt ngưỡng để trở thành một công ty kỳ lân. Sở dĩ anh đạt được thành tựu như ngày hôm nay là nhờ đã để công ty mình tự thân “vẫy vùng” trong suốt một thập kỷ, tự gây dựng nên cơ sở khách hàng và hoàn thiện mô hình kinh doanh trước khi lên tiếng chào mời các quỹ đầu tư mạo hiểm.  Và theo anh, đó mới là cách làm đúng, nhưng hiện lại có quá nhiều nhà sáng lập chọn con đường sai lầm mà anh phác họa như sau: Bước 1: Nguệch ngoạc vạch vài dòng ý tưởng trên giấy. Bước 2: Huy động hàng đống tiền đầu tư. Bước 3: Tiêu tiền. Bước 4: ??? Bước 5: Lợi nhuận!  Theo anh, một nguyên nhân lớn ở đây là thung lũng Silicon bấy lâu vẫn coi những công ty chưa trải qua vòng gọi vốn đầu tiên chỉ là những kẻ mơ tưởng hão. Anh tâm sự: “Chúng tôi đã gây dựng được một công ty, và từ hai bàn tay trắng chúng tôi đã phát triển để đạt tới mốc 50 triệu USD doanh số và 30 triệu USD lợi nhuận hàng năm. Nhưng khi ấy không ai chú ý tới chúng tôi cả. Không một lời chúc mừng. Cho đến một hôm, chúng tôi quyết định huy động 70 triệu USD thì mọi người mới sững sờ nhìn chúng tôi.”  Và đây là những lý do khiến Smith tin rằng các startup nên tự mình bươn chải càng lâu càng tốt trước khi tiếp nhận dòng vốn rót từ các quỹ đầu tư mạo hiểm:  1. Nguồn vốn ngoài là một khoản tiền thế chấp, không phải phần thưởng  Rất nhiều người mở tiệc ăn mừng sau khi hoàn tất được một vòng gọi vốn, như thể bản thân quá trình này là đích đến cuối cùng của họ vậy. Nhưng nhận vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng tương tự như việc nhận một khoản tiền thế chấp vậy – đó là dòng vốn phục vụ cho một mục đích rất cụ thể, và cái mục đích này đặt ra những trách nhiệm to lớn và lâu dài cho những người nhận được khoản vốn đó.  2. Các chiến lược thoái vốn đã thay đổi  Từ trước đến nay, các startup công nghệ phất lên nhanh chóng nhờ đi theo quá trình này: kêu gọi vốn đầu tư, mở rộng quy mô, tích cực quảng bá, và rồi được một gã khổng lồ nào đó trong giới công nghệ mua lại. Rất nhiều nhà sáng lập đã thoái vốn theo con đường này, nhưng cách làm này đang ngày một trở nên khó khăn hơn, nhất là với những công ty kỳ lân.  “Trên thị trường có khoảng 11 công ty có thể mua đứt một công ty trị giá một tỉ đô la, nhưng chẳng ai mua cả,” Smith cho biết. Và như thế, chỉ còn lại một phương án là chào bán cổ phần ra công chúng, song đây cũng là cả một thách thức đối với những công ty không có lịch sử hoạt động lâu dài. “Họ sẽ không có đủ dữ liệu để trình bày trước các cổ đông về kế hoạch hoạt động trong vai trò một công ty đại chúng,” anh nói.  3. Tốt hơn hết là hãy chứng tỏ bản thân trước khi gọi vốn  Theo Smith, bạn chỉ nên dọi vốn để xây dựng đội ngũ, bổ sung sản phẩm mới, hay bước chân vào các thị trường quốc tế. Không nên gọi vốn để thực thi một ý tưởng mới nằm ở giai đoạn tiền khả thi. Tại sao vậy? “Đừng huy động một đống tiền lớn rồi sau đó mới bắt tay chạy vòng quanh, bởi lúc ấy, mọi thất bại hay mọi thay đổi nào về kế hoạch hành động của bạn đều sẽ bị đem ra mổ xẻ, soi mói; trong khi đó, bạn hoàn toàn có thể tận hưởng quá trình phát triển tự nhiên của một công ty mới thành lập,” Smith chia sẻ.   4. Bạn sẽ xây dựng được tinh thần hiếu chiến hơn  Khi mọi việc trở nên khó khăn, bạn sẽ phải dụng đến tinh thần hiếu chiến để có thể sinh tồn; và bạn sẽ không thể có được cái tinh thần ấy nếu như vừa khởi sự bạn đã có trong tay khoản tiền đầu tư kếch sù từ các quỹ mạo hiểm. Smith cảnh cáo: “Bạn sẽ cần phải học cách hiếu chiến ra sao, nhưng tốt hơn hết là hãy tự học chứ đừng đợi tới khi huy động được nguồn vốn ngoài rồi mới bắt đầu học – lúc ấy rủi ro sẽ là rất lớn. Hơn nữa, bạn sẽ cảm thấy tự hào khi đứng trước các nhà đầu tư hay các cổ đông mà nói rằng bạn đã từng làm những việc còn khó hơn thế vạn lần, rằng bạn đã có kinh nghiệm mời gọi một nhân viên giỏi tới làm việc cho bạn với mức lương 8 USD/giờ trong khi ở nơi khác họ được mời mọc với mức lương “khủng” hơn nhiều lần.”  5. Bạn sẽ sáng tạo hơn  “Nếu bạn nhớ lại những ngày mình còn ngồi ghế nhà trường và không một xu dính túi, hẳn bạn sẽ nhận ra rằng đó là khi sự sáng tạo nảy sinh,” Smith nói. “Bạn xoay sở khéo hơn, và bạn mạnh dạn đi ngược lại những quan niệm thông thường.”  Chẳng hạn, Smith cho biết, Qualtrics phải tiếp cận thị trường nghiên cứu giá rẻ vì họ không đủ nguồn lực để tiếp cận với những khách hàng hấp dẫn hơn. “Chưa có ai tìm đến thị trường này cả. Nếu sẵn tiền trong tay, hẳn chúng tôi cũng sẽ không theo đuổi chiến lược này,” Smith nói.  Nhưng xét về lâu dài, chiến lược đó đã mang lại thành công cho Qualtrics. “Tất cả những sinh viên đó, những khách hàng của chúng tôi, rồi sẽ ra trường, và họ sẽ tham gia vào lực lượng lao động, và họ mang theo sản phẩm của chúng tôi đi theo,” anh nói.  6. Tài sản riêng là quan trọng  Theo Smith, khi mở rộng quy mô công ty, điều quan trọng là bạn phải sở hữu nó càng nhiều càng tốt. Nếu anh huy động vốn quá sớm thì có thể Qualtrics sẽ không tồn tại nổi. Thành lập từ năm 2002, Qualtrics đã tồn tại, thậm chí vật lộn được qua những giai đoạn ngặt nghèo của những năm 2008 – 2009. Nhưng họ không có được hồ sơ thành tích ấn tượng mà các quỹ đầu tư mạo hiểm tìm kiếm.  “Nếu chúng tôi từ bỏ 57% công ty mình từ năm 2004, hẳn chúng tôi sẽ không đến được ngày hôm nay vì nó chẳng có gì nổi bật cả. Chúng tôi chỉ nổi lên từ những năm 2010-2011,” Smith chia sẻ.  Anh bổ sung thêm: “Nếu các bạn gọi được nhiều vốn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc sẽ có người khác viết nên câu chuyện về bạn. Còn tôi, tôi muốn tự mình viết nó.”  Trang Bùi dịch từ inc.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao vaccine cần một chuỗi vận chuyển nhiệt độ cực thấp?      Vaccine mới đây của hãng Biotech của Đức cùng với hãng Pfizer của Hoa Kỳ phát triển cần được vận chuyển trong điều kiện nhiệt độ âm 80 độ C. Nhưng chỉ có khoảng 28% các doanh nghiệp hậu cần đã được chuẩn bị tốt để có thể vận chuyển loại vaccine này.      Sẽ không làm gì được nếu không có đá khô, nghĩa là carbondioxid nhưng ở dạng rắn. Trong điều kiện áp suất bình thường nhiệt độ của đá khô không nóng quá  -78,6 độ C. Đây là nhiệt độ cần có khi vận chuyển vaccine Covid-19.  Phát triển vaccine đang có những tiến bộ to lớn. Hãng Biotech của Đức cùng với hãng Pfizer của Hoa Kỳ đã phát triển thành công một loại vaccine chống virus Covid-19 đạt hiệu quả trên 90%, một thông tin gây xôn xao dư luận thế giới. Tuy nhiên bên cạnh tin tốt lành này lại có một tin xấu: Loại vaccine của Biontech dựa trên nền tảng công nghệ mRNA mới. Cho đến nay hầu như không có dữ liệu về sự ổn định hóa học của các loại vaccine này. Để tránh rủi ro, loại hoạt chất này phải được bảo quản ở nhiệt độ âm 80oC khi vận chuyển.  Trong lĩnh vực hậu cần, yêu cầu về nhiệt độ kiểu này có tên là “Ultra Deep Freeze” (nhiệt độ cực thấp) Ông Nathan Zielke, nhà tư vấn chuyên tổ chức các chuỗi cung ứng phục vụ các doanh nghiệp thiết bị y tế, là người biết rất rõ vận chuyển ở nhiệt độ này phức tạp như thế nào. Ông nói “đây là một yêu cầu khắt khe nhất mà cơ quan hậu cần phải đối mặt“. Kết quả một điều tra gần đây của Tổ chức Vận tải hàng không TIACA cho thấy, chỉ có khoảng 28% các doanh nghiệp hậu cần đã được chuẩn bị tốt để thực hiện vận chuyển loại vaccine này.  Có thể nói vận chuyển trong điều kiện nhiệt độ cực thấp là rất hãn hữu. Ngay cả các doanh nghiệp chuyên sâu như DHL, Kühne+Nagel và Lufthansa Cargo và một vài cơ sở khác có thể lưu giữ sản phẩm y tế ở nhiệt độ âm 20oC. Để đạt được nhiệt độ thấp hơn các cơ quan hậu cần thường phải dùng đá khô. Để vận chuyển đường dài người ta thường dùng thùng lạnh, trong thùng chứa đá khô hoặc có hệ thống làm lạnh riêng. Lý tưởng nhất là có phương tiện đo nhiệt điện tử để giám sát tình trạng giữ nhiệt khi vận chuyển.  Các loại thùng lạnh này thường khá đắt đỏ. “Giá một cái thùng loại này tương đương  giá một chiếc ô tô con”, theo Joachim von Winning thuộc “Air Cargo Community“. Thông thường hãng vận tải thuê thùng lạnh trực tiếp từ nhà sản xuất như của hãng Envirotainer, Thụy Điển hay hãng Dokasch của Đức.  Một điều chưa rõ ràng là hiện tại thế giới có bao nhiêu thùng lạnh. Theo một điều tra của hãng DHL thì để vận chuyển 10 tỷ liều vaccine thì cần phải có 15 triệu thùng lạnh. Ngay cả khi mỗi thùng lạnh được sử dụng quay vòng tới 5 lần thì nhu cầu với thùng lạnh vẫn là 3 triệu thùng. “Cao hơn nhiều so với số lượng hiện có“, theo một chuyên gia logistic.  Kể cả việc vận chuyển bằng thùng lạnh cũng có nhiều thách thức. Nói chung các sản phẩm y tế, dược phẩm thường được vận chuyển bằng đường hàng không, phương tiện này nhanh và có độ tin  cậy cao nhưng đắt đỏ. Trong điều kiện đại dịch hiện nay, nhiều máy bay vận chuyển hành khách không hoạt động, do đó việc vận chuyển kèm dưới bụng máy bay khó áp dụng, vì thế phải thuê cả chuyến máy bay để vận chuyển, chi phí càng lớn hơn.  Vận chuyển vaccine đòi hỏi nhiều không gian hơn, để giữ nhiệt, các thùng lạnh thường có vỏ rất dày, do đó một thùng lạnh không chứa được nhiều vaccine. Vả lại vận chuyển thùng lạnh phải đáp ứng được yêu cầu cao vì độ an toàn, đá khô là khí độc hại CO2.  Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển và phân phối được cho người dân trên thế giới với vacxin cần tới khoảng 15.000 chuyến bay theo ước tính của DHL. Tuy nhiên Cơ quan hàng không IATA dự tính chỉ cần khoảng 8000 chuyến bay. Dù bao nhiêu đi nữa thì năng lực vận chuyển bằng đường hàng không khá hạn chế. Chỉ có một số công ty vận chuyển nhanh như FedeEx, UPS hay DHL và một vài hãng hàng không là có máy bay vận tải hàng hóa riêng.  Hiện tại sân bay Frankfurt đang nỗ lực chuẩn bị cho chiến dịch vận chuyển vacxin. Sân bay này là sân bay lớn nhất châu Âu về vận chuyển hàng hóa có nhu cầu bảo ôn. Sân bay này có 13.500 m2 có thể điều chỉnh nhiệt độ, riêng Lufthansa sử dụng 8800m2. Từ kho lưu trữ lạnh tại đây, vaccine sản xuất ở châu Âu sẽ được vận chuyển đi khắp thế giới. “Từ đây thuốc sẽ được xuất khẩu thí dụ tới châu Phi. Vaccine sản xuất ở Ấn Độ hay Trung Quốc có thể được đưa đến Frankfurt, bốc dỡ tại đây để chuyển tiếp đi các nơi khác“. Theo kế hoạch, cùng một lúc có thể bốc dỡ hàng ở năm máy bay ngay tại sân bay này..  Một thách thức nữa là kho chứa vaccine tại các Trung tâm tiêm chủng. Theo DHL hiện tại chỉ có 25 nước có hạ tầng cơ sở để tiếp nhận các thùng lạnh chứa vaccine và bảo quản chúng ở nhiệt độ âm 80 độ C. Điều này có nghĩa là chỉ có khoảng một phần ba dân số có điều kiện tiếp cận với vaccine. Hiện tại vẫn có nhiều người hy vọng trong những tháng tới sẽ có thêm những kết quả nghiên cứu mới về độ ổn định của vaccine và quy định nghiêm ngặt về độ lạnh sẽ được nới lỏng. “Sẽ phù hợp với điều kiện thực tế nếu ở chặng giao hàng cuối cùng yêu cầu về nhiệt độ khi vận chuyển từ 2 đến 8oC”.  Giới am hiểu cho rằng những vấn đề khó khăn này là có thể giải quyết được. “Không phải mãi tới hôm qua, mà ngay từ khi vừa bùng nổ đại dịch ngành vận tải, hậu cần đã có các cuộc trao đổi với các doanh nghiệp dược phẩm”, ông Frank Appel, chủ tịch Hội đồng quản trị DHL Đức. Mọi sự đã được chuẩn bị chu đáo, “tuy nhiên sẽ phải mua sắm thêm mấy cái tủ lạnh“. Các đối thủ cạnh tranh như UPS và Kühne+Nagel đã bắt đầu làm rồi. Cả Lufthansa cũng đã vào cuộc. “Cuộc khủng hoảng này thật đáng buồn và tiêm chủng là cần thiết“, mới đây ông Carsten Spohr, nhà lãnh đạo của Lufthansa đã nói, “đây sẽ là một vụ làm ăn lớn“.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/dienstleister/impfstoff-logistik-wieso-wir-eine-ultratiefkuehlkette-brauchen/26617630.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao “xài không hết” tiền NGO?      C&#243; một hiện tượng nghịch l&#253; đang diễn ra hằng ng&#224;y tại Việt Nam, l&#224;: trong khi ch&#237;nh quyền Trung ương đang phải vất vả t&#236;m kiếm c&#225;c nguồn tiền nước ngo&#224;i để thực hiện c&#225;c chương tr&#236;nh, dự &#225;n về sinh kế trong nước, th&#236; nhiều cơ quan địa phương – đối t&#225;c của c&#225;c dự &#225;n phi Ch&#237;nh phủ (NGO) – lại phải t&#236;m &#8220;c&#225;ch x&#224;i cho hết&#8221; tiền dự &#225;n, nhưng thường lại &#8220;x&#224;i kh&#244;ng hết&#8221;!? Cuối c&#249;ng, tiền phải trả lại cho c&#225;c nh&#224; t&#224;i trợ. Kh&#244;ng r&#245; c&#225;c nh&#224; khoa học gọi hiện tượng n&#224;y l&#224; g&#236;, nhưng ch&#250;ng t&#244;i cho rằng đ&#243; l&#224; hiện tượng &#8220;l&#227;ng ph&#237;&#8221; do nh&#226;n lực yếu        Trong hoạt động sinh kế, không thể không nhắc đến vai trò của các NGO (dĩ nhiên ở đây chỉ bàn đến các “NGO thiện chí”). Từ năm 1996 đến nay, các NGO liên tục chứng minh được vai trò của mình trong việc hỗ trợ Chính phủ xây dựng đất nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại dịch H5N1 bùng phát, ngay lập tức nhiều NGO vào cuộc sau vài lời kêu gọi của Ủy ban công tác phi Chính phủ nước ngoài và Bộ NN&PTNT; cơn bão số 2 đổ bộ vào Miền Trung, các NGO cũng hăng hái cứu trợ khẩn cấp sau vài lời ngỏ ý của chính quyền…Ngoài các hoạt động phụ nêu trên, các NGO (với vai trò là những người khách thiện chí) thường hoạt động chính yếu bằng các dự án phát triển cộng đồng, thông qua các đối tác địa phương (chủ nhà). Vậy mà, việc đào tạo nhân lực cho NGO chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nghịch lý trên.      Thông thường, trong quá trình thực hiện dự án, các NGO chỉ giữ vai trò giám sát và phê duyệt kế hoạch tài chính cho các hoạt động của dự án. Hầu hết các hoạt động này đều do “chủ nhà” tham gia lập kế hoạch và thực hiện dựa trên tài liệu dự án (như project implementation, matrix…).Vì thế, tốc độ giải ngân của một dự án tỷ lệ thuận với khả năng thiết lập chương trình hành động (phương án thực hiện) của “chủ nhà”. “Chủ nhà”, về phần mình, lại thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động NGO, nên không có đủ phương án tốt để giải phóng nguồn vốn.  
__label__tiasang Tái sắp xếp vị trí trong dàn nhạc để giảm thiểu lây truyền dịch      Một nhóm các nhà nghiên cứu tại trường đại học Utah Salt Lake City đã tìm ra, thông qua mô phỏng, là có thể sắp xếp lại vị trí của cac nhạc công chơi bộ hơi trong một dàn nhạc để giảm thiểu sự lan truyền bệnh dịch qua các hạt sol khí.      Các nhà nghiên cứu tìm cách giảm thiểu rủi ro cho các nhạc công.   Trong công trình xuất bản trên tạp chí Science Advances “Mitigation strategies for airborne disease transmission in orchestras using computational fluid dynamics” 1, nhóm nghiên cứu đã miêu tả những mô phỏng mà họ chạy trên máy tính và chứng tỏ các mẫu hình dòng chảy khí trong suốt thời gian dàn nhạc biểu diễn và những gì họ tìm thấy.  Khi đại dịch lây lan khắp thế giới, một trong những nhóm ngay lập tức bị tác động là các nghệ sĩ âm nhạc, đặc biệt là những ai chơi bộ hơi. Một khí đã xác định là virus làm nhiễm dịch COVID-19 có thể lây lan qua không khí với các hạt sol khí thì các nhà chức trách bắt đầu cho tạm hoãn các buổi biểu diễn âm nhạc.  Đại dịch khiến các nghệ sĩ không được phép chơi nhạc cùng nhau, vốn là một trong những điều thiết yếu để giữ được những kỹ năng âm nhạc. Hiện tại, ngay cả khi lệnh cấm đi lại ở nhiều quốc gia đã được “hóa giải” phần nào thì các màn biểu diễn âm nhạc vẫn còn chưa được phép trở lại do người ta còn e ngại sự lan truyền của dịch bệnh giữa các nhạc công vẫn còn chưa được tiêm vaccine. Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một cách để giảm thiểu rủi ro trong các buổi tập luyện cũng như biểu diễn của các dàn nhạc bằng việc tái sắp xếp nơi các nghệ sĩ ngồi như thông thường.  Để tìm hiểu nhiều hơn về dòng chảy không khi và các hạt sol khí trong suốt thời gian biểu diễn của dàn nhạc, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ những thực nghiệm trước chứng tỏ cách không khí chuyển động sau khi bị dồn qua các nhạc cụ khác. Dữ liệu này được đặt vào một mô phỏng chuyển động của không khí, cùng với các tham số khác, như sự thông gió của địa điểm biểu diễn cho trước.  Nhóm nghiên cứu bắt đầu gắn việc sắp xếp các vị trí và khám phá ra là bằng việc tạo ra những thay đổi nhất định, họ có thể giảm đi lượng virus trong không khí nơi nhóm các nhạc công đang biểu diễn. Họ cũng phát hiện ra, ví dụ, việc đặt những người chơi trống gần hơn vào trung tâm của dàn nhạc và những người thổi kèn ngồi quanh các phần rìa dàn nhạc – và cang gần lỗ thông khí càng tốt – họ có thể làm giảm đi một cách đáng kể sự lan truyền của các hạt sol khí.  Các nhà nghiên cứu đã đưa các thí nghiệm của mình vào thế giới thự bằng việc để những nhạc công đã được tiêm vaccine ở dàn nhạc giao hưởng Utah thay đổi vị trí chỗ ngồi của mình như trong mô phỏng. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra không khí khi các nhạc công biểu diễn. Trong dữ liệu nghiên cứu, họ tim thấy việc sắp xếp chỗ ngồi mới giảm thiểu nồng độ tải virus ảo xuống còn 100 – từ 0,01 xuống 0,001 hạt sol khí trên mỗi lít không khí.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-rearranging-orchestral-musicians-disease-spreading-aerosols.html  https://www.nytimes.com/2021/06/23/health/coronavirus-orchestra.html  ————  1. https://advances.sciencemag.org/content/7/26/eabg4511    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái tạo bộ gene của tổ tiên chung của tất cả các loài động vật có vú      Mọi loài động vật có vú hiện đại, từ thú mỏ vịt đến cá voi xanh, đều có nguồn gốc từ một tổ tiên chung sống cách đây 180 triệu năm. Chúng ta không biết nhiều về loài động vật này, nhưng giờ đây, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã tìm cách tái tạo lại bộ gene của nó. Kết quả đã được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia (PNAS)vào ngày 26/9.     “Kết quả này có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiểu về sự tiến hóa của động vật có vú và các nỗ lực bảo tồn chúng”, Harris Lewin, giáo sư về tiến hóa và sinh thái học ở Đại học California, Davis, tác giả chính của bài báo cho biết.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng trình tự gene chất lượng cao của 32 loài đang sống, đại diện cho 23 trong số 26 bộ động vật có vú đã biết. Trong đó bao gồm con người, tinh tinh, gấu túi, thỏ, lợn biển, gia súc, tê giác, dơi và tê tê. Nghiên cứu cũng sử dụng bộ gene của cá sấu Trung Quốc và gà để làm nhóm đối chứng. Một số bộ gene này đang được xây dựng nằm trong Dự án Bộ gene sinh học Trái đất (Earth BioGenome Project) và các nỗ lực giải trình tự gene đa dạng sinh học trên quy mô lớn khác.    Tổ tiên động vật có vú đầu tiên trên Trái đất có thể trông giống như động vật đã biến thành hóa thạch này, Morganucodon (bên trái) sống cách đây khoảng 200 triệu năm. Nguồn: futurity.org  Kết quả cho thấy tổ tiên của động vật có vú có 19 nhiễm sắc thể thường, kiểm soát sự kế thừa các đặc trưng của sinh vật, bên cạnh những đặc trưng được kiểm soát bởi nhiễm sắc thể liên kết giới tính (chúng được ghép đôi trong hầu hết các tế bào, tạo thành 38 cặp nhiễm sắc thể), cộng với hai nhiễm sắc thể giới tính, theo Joana Damas, tác giả đầu tiên của nghiên cứu và là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Hệ gene UC Davis. Nhóm nghiên cứu đã xác định được 1215 vùng gene xuất hiện nhất quán trên cùng một nhiễm sắc thể với thứ tự giống nhau trên tất cả 32 bộ gene. Damas cho biết, trong bộ gene của tất cả động vật có vú, những vùng này chứa các gene đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển phôi thai.  Nhiễm sắc thể ổn định hơn 300 triệu năm  Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 9 nhiễm sắc thể nguyên vẹn, và các đoạn nhiễm sắc thể ở tổ tiên động vật có vú. Họ nhận thấy thứ tự gene của các nhiễm sắc thể này tương tự với nhiễm sắc thể của các loài chim hiện đại. “Phát hiện đáng chú ý này cho thấy sự ổn định về hướng và trật tự của các gene trên nhiễm sắc thể trong khung thời gian tiến hóa kéo dài hơn 320 triệu năm”, Lewin nói.  Ngược lại, khu vực nằm giữa các vùng được bảo tồn này chứa nhiều trình tự lặp lại hơn, dễ bị phá vỡ, tái sắp xếp và sao chép trình tự hơn. Đây cũng là những động lực chính của quá trình tiến hóa bộ gene. “Việc tái tạo bộ gene tổ tiên của các loài động vật có vú có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải thích vị trí và lý do về áp lực chọn lọc khác nhau giữa các bộ gene. Nghiên cứu đã thiết lập mối liên hệ rõ ràng giữa cấu trúc nhiễm sắc thể, điều hòa gene và sự bảo tồn di truyền liên kết”, Giáo sư William Murphy, Đại học Texas A&M, người không tham gia vào nghiên cứu nhận xét. “Kết quả này cung cấp nền tảng để đánh giá vai trò của chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hóa nhiễm sắc thể trên cây tiến hóa của động vật có vú”.  Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy, các phân độ động vật có vú có tốc độ tái cấu trúc của nhiễm sắc thể khác nhau. Chẳng hạn, trong phân bộ động vật nhai lại (dẫn đến hươu, cừu và gia súc hiện đại) đã tăng tốc tái cấu trúc cách đây 66 triệu năm, khi một vụ va chạm với tiểu hành tinh đã giết chết khủng long và dẫn đến sự trỗi dậy của động vật có vú.  Việc giải mã cách tái cấu trúc nhiễm sắc thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu sự hình thành các loài, sự thích nghi và tính nhạy cảm với bệnh tật. Các tác giả cho biết, kết quả này sẽ giúp chúng ta hiểu được vấn đề di truyền học đằng sau sự thích nghi đã giúp các loài động vật có vú phát triển trên một hành tinh liên tục thay đổi trong 180 triệu năm qua.  Thanh Bình tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-reconstruct-genome-common-ancestor-mammals.html  https://interestingengineering.com/science/an-ancient-rodent-morganucodon-is-the-ancestor-of-all-mammals-including-humans-study-finds    Author                .        
__label__tiasang Tái tạo các bức họa ẩn dưới những kiệt tác của Picasso bằng AI và in 3D      Với sự hỗ trợ của một mạng thần kinh, các nhà nghiên cứu đã tái cấu trúc được hoàn toàn bức tranh ẩn dưới kiệt tác của danh họa Picasso. Phát hiện mới đã rọi thêm một góc nhìn về con người của họa sĩ ở giai đoạn chưa nổi tiếng.      Bức tranh phong cảnh của Santiago Rusiñol nằm dưới bức La Miséreuse accroupie của Picasso. Nguồn: MIT  Chúng ta đã biết khá nhiều về Pablo Picassco, một trong những nghệ sĩ ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 khi trở thành một trong hai người đặt nền móng cho trường phái Lập thể cũng như rất nhiều phong cách nghệ thuật mà ông giúp phát triển và khám phá. Tuy nhiên, chúng ta chưa biết nhiều về chàng họa sĩ tuổi đôi mươi Picasso sống ở Barcelona và Paris. Đây là giai đoạn ông ở thời kỳ Xanh (1901–1904), thời kỳ ông thường vẽ những bức tranh tăm tối, ảm đạm miêu tả những bà mẹ và những đứa trẻ gầy gò, vẻ mặt thê lương, thường được diễn tả bằng những gam màu xanh lam hay xanh lam pha lẫn xanh lá cây.    Vào năm 2018, các nhà bảo tồn nghiên cứu bức tranh La Miséreuse accroupie (The Crouching Woman) do Pablo Picasso vẽ năm 1902 khi đã thấy bức chân dung này được vẽ đè lên trên một bức tranh phong cảnh khác. Phòng tranh Ontario (AGO) lúc đó đã trưng ra một bức ảnh tia X có độ nét cao của bức tranh bị che phủ đó.    Tương tự The Old Guitarist có lẽ là bức nổi tiếng nhất ở thời kỳ này của Picasso. Nó được xác định là vẽ trong năm 1903-1904. Họa sĩ sử dụng màu lam để tái hiện nỗi đau đớn và thất vọng của chính mình. Nhưng The Old Guitarist cũng còn thú vị vì một lý do khác nữa. Các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật đã cho biết có sự hiện diện một cách mờ ảo của một gương mặt phụ nữ nằm dưới những nét cọ này. Vào năm 1998, các nhà bảo tồn tại Viện nghiên cứu nghệ thuật Chicago, nơi treo bức họa, đã dùng tia X và tia hồng ngoại để “nhìn” hình ảnh đó.    Trước đây, người ta thường cho rằng, nguyên nhân của lối vẽ khổ hạnh này của Picasso là do ảnh hưởng của một chuyến đi xuyên Tây Ban Nha và vụ tự tử của bạn mình là Carles Casagemas. Nhưng hiện nay, các nhà khoa học cho biết, ngoài nỗi trầm cảm này, còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến suy nghĩ của danh họa – đó là việc họa sĩ thấy sự bấp bênh của mình trong thế giới nghệ thuật và cả sự thiếu thốn tiền bạc chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày. Do vậy, ông thường xuyên cắt giảm việc mua toan mới, vốn khá đắt đỏ với thu nhập của ông lúc đó và có “sáng kiến” vẽ những tác phẩm mới lên trên những bức cũ mà ông không thấy ưng ý.      Các nhà khoa học cho biết, ngoài nỗi trầm cảm này, còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến suy nghĩ của danh họa – đó là việc họa sĩ thấy sự bấp bênh của mình trong thế giới nghệ thuật và cả sự thiếu thốn tiền bạc chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày. Do vậy, ông thường xuyên cắt giảm việc mua toan mới, vốn khá đắt đỏ với thu nhập của ông lúc đó và có “sáng kiến” vẽ những tác phẩm mới lên trên những bức cũ mà ông không thấy ưng ý.      Và đây là đất vẫy vùng của các công nghệ hiện đại.     Một cách tiếp cận mới     Phát hiện về thói quen vẽ phủ lên những tác phẩm cũ của Picasso đã thu hút sự quan tâm của thế giới nghệ thuật lẫn khoa học. Mặc dù hiển nhiên là đã “thấy” được những hình ảnh ở dưới đường cọ của Picasso, ví dụ phong cảnh trong bức La Miséreuse accroupie hay gương mặt một phụ nữ trong The Old Guitarist nhưng từ quan điểm thẩm mỹ thì những gì các nhà nghiên cứu có được thật đáng thất vọng. Hình ảnh hiển thị từ tia hồng ngoại và tia X chỉ gồm những đường viền mờ mịt. Mặt khác, những thông tin có được cũng có thể giúp tìm ra lượng sơn mà họa sĩ sử dụng nhưng chúng lại không cho chúng ta biết màu sắc hoặc phong cách. Vì vậy, cách tái tạo một cách sống động hơn bức tranh đã mất đều được quan tâm, tuy nhiên bằng cách nào làm được điều đó thực sự không dễ. Nó đòi hỏi một cách tiếp cận mới, thậm chí trước đây khó có thể tưởng tượng ra.    Đó là cơ hội để hai nghiên cứu sinh University College London (UCL) là Anthony Bourached và George Cann gặp nhau. Dù có nền tảng khác biệt, một là nhà khoa học thần kinh, học máy và một là vật lý thiên văn chuyên sâu về các khí trong bầu khí quyển sao Hỏa, cả hai đã gặp nhau ở tình yêu nghệ thuật và sự tò mò khám phá điểm mới trong nghệ thuật bằng những công cụ mới. Họ muốn dùng trí tuệ nhân tạo (AI) như một giải pháp để xem liệu nó có đem lại giá trị mới trong thế giới nghệ thuật hay không và có thì như thế nào. Từ suy nghĩ đó, họ cho ra đời Oxia Palus, một startup dùng AI để tái cấu trúc những tác phẩm nghệ thuật đã bị mất – cái tên Oxia Palus được Cann lấy từ tên gọi bản đồ tứ giác địa hình vùng Oxia Palus sao Hỏa. “Đây là vùng trên sao Hỏa được quan tâm nhiều nhất trong những cuộc truy tìm sự sống, cụ thể là dưới lớp đất bề mặt”, Cann giải thích. “Sự khám phá trong thế giới nghệ thuật của chúng tôi và cuộc tìm kiếm sự sống dưới lớp đất sao Hỏa mà khoa học đang thực hiện có nhiều nét tương đồng với nhau, chỉ khác là trong thế giới nghệ thuật thì chúng tôi tìm tòi dưới bề mặt các lớp màu vẽ”.    Bí quyết của Oxia Palus là sử dụng học máy, các mạng thần kinh sâu và các thuật toán chuyển đổi NST (Neural Style Transfer Algorithms) do Leon Gatys và đồng nghiệp ở trường Đại học Turbingen, Đức phát triển từ năm 2015 – các thuật toán NST có đặc điểm là sử dụng các mạng thần kinh sâu cho mục đích chuyển đổi hình ảnh. Các mạng thần kinh bao gồm các lớp phân tích một hình ảnh ở nhiều quy mô khác nhau. Lớp đầu tiên có thể ghi nhận toàn bộ các đặc điểm như các đường viền, lớp tiếp theo thấy cách các đường viền hình thành các kiểu hình dạng đơn giản như đường tròn, lớp thứ ba ghi nhận các mẫu hình dạng như hai đường tròn cạnh nhau và một lớp khác có thể dán nhãn các cặp tương tự nhau như cặp mắt. Các mạng lưới thần kinh này có thể phân biệt được phong cách nghệ thuật vẽ cặp mắt trong tác phẩm này phong cách nghệ thuật vẽ cặp mắt của nhiều tác phẩm khác trên một diện rất rộng, từ Leona da Vinci, van Gogh đến Picasso.      Năm 2018, các nhà bảo tồn nghiên cứu bức tranh La Miséreuse accroupie đã phát hiện chân dung này được vẽ đè lên trên một bức tranh phong cảnh khác. Nguồn: NYT  Sau đó họ phân tích nét vẽ mờ ảo bên dưới các tác phẩm nghệ thuật do tia X và tia hồng ngoại tìm ra. Trên cơ sở những hiểu biết về những tác phẩm khác của họa sĩ, máy tính có thể tạo ra một phiên bản đầy đủ màu sắc như nguyên tác của tác phẩm đã mất. Nhờ vậy, họ có thể in 3D tác phẩm cho người hâm mộ có thể ngắm nhìn mà không cần phải “phá hủy” kiệt tác phủ trên chúng.    Bourached và Cann đã đặt tên cho công nghệ của mình là NeoMasters (Những tân bậc thầy). “Đây là một công nghệ tương phản với rất nhiều loại AI hiện vẫn sử dụng trong thế giới nghệ thuật. Nếu những thuật toán AI đó có khả năng sáng tạo, đem lại cái gì đó mới mẻ thì sản phẩm của chúng tôi tìm kiếm những thứ đằng sau các nghệ sĩ nổi tiếng”, Bourached nói với Artnet News. Anh hi vọng một ngày nào đó có thể áp dụng một quá trình tương tự để tìm các tác phẩm đã mất mà ngày nay chỉ còn tồn tại trong các văn bản.    Kiệt tác bao phủ kiệt tác     Một trong những tác phẩm mà hai nhà khoa học trẻ để mắt đến là La Miséreuse Accroupie. Qua hình dáng lờ mờ mà tia X và tia hồng ngoại “đào bới” thì mọi người có thể hình dung đây là một bức tranh phong cảnh, miêu tả một quang cảnh uốn lượn trong khu vườn nổi tiếng Jardin Laberint d’Horta ở Barcelona, Tây Ban Nha. Điều này có vẻ hơi kỳ lạ với Picasso bởi giai đoạn này ông thường tập trung vào các chân dung hơn là phong cảnh. Vì vậy không ai dám xác quyết đây là tác phẩm của ông.    Vậy thì bức tranh khu vườn Jardin Laberint d’Horta là của ai? Sau khi nghiên cứu kỹ và tìm hiểu phong cách của những họa sĩ đương thời có mối quan hệ thân thiết với Picasso, các nhà lịch sử nghệ thuật cho rằng người vẽ có thể là họa sĩ, nhà thơ Santiago Rusiñol, một trong những người dẫn đầu của chủ nghĩa hiện đại Catalan.    Để “vẽ” lại bức họa nguyên thủy, Bourached và Cann đã sử dụng một bản đồ cao độ ba chiều cho phép tái tạo một cách cẩn thận lớp sơn lên mặt toan theo cách nắm bắt được kết cấu bề mặt và hình thức phong cách của họa sĩ thông qua một kỹ thuật mà họ đang chờ cấp bằng sáng chế.    Trong quá trình tái tạo bức họa này, nhiều bức họa khác của Rusiñol được các nhà lịch sử nghệ thuật chọn là định hình phong cách của ông đã được Bourached và Cann lấy làm tài liệu tham chiếu. Chiều sâu, độ dày và độ dài xấp xỉ của từng đường cọ đã được phục hồi và tái kết nối với nhau để hiển hiện toàn thể bức họa. Trên cơ sở giả định này, Bourached và Cann đã huấn luyện cho AI phong cách của Rusiñol và qua đó tái tạo một phiên bản màu của bức họa nguyên thủy. Sau nhiều chỉnh sửa, 100 bản in 3 D bức họa đã mất của Rusiñol đã được in ra. “Đó là những gì chưa được thực hiện trước đây và trên thực tế là một cách tiếp cận mới đã được chúng tôi đăng ký sáng chế”, Bourached nói. “Lớp lớp sơn vẽ và mực in trên mặt toan đang hỗ trợ công nghệ in 3 D tiên tiến”.      Kết quả chụp tia X bức tranh La Miséreuse Accroupie. Nguồn: MIT    Phát hiện của họ, không chỉ đem lại 100 phiên bản được bán tại MORF Gallery, mà còn đưa ra một thông tin thú vị khác: chính xác là Picasso đã dựa theo đường lượn đồi núi của bức tranh nguyên thủy để vẽ đường viền lưng nghiêng nghiêng của người phụ nữ trong tranh của mình. Năm 2018, Marc Walton, một học giả làm về phân tích tia X tại Phòng tranh Ontario (AGO), từng trao đổi với New York Times là ông nghi ngờ vào khả năng này và so sánh nó như việc lặp đi lặp lại một tiết tấu nhạc jazz trong tác phẩm âm nhạc. Mặt khác, kết quả cũng giúp khẳng định thêm một điều: Picasso không chỉ “tiếc của” toan vẽ của mình mà còn tái sử dụng toan vẽ của người khác, những bức mà ông cảm thấy không ưng ý.    Dĩ nhiên, không có cách nào để biết được một cách chính xác là trên thực tế thì Picasso hay Rusiñol có sáng tác theo cách này hay không nhưng cả Bourached và Cann đều cho rằng mục tiêu của họ là tái cấu trúc những tác phẩm nghệ thuật còn bị lẩn khuất dưới lớp sơn. “Phương pháp của chúng tôi là kết hợp nguyên tác bị ẩn giấu, thông tin mang tính chủ quan của con người và hệ chuyển đổi NST để rọi thêm ánh sáng mới vào quá trình sáng tạo của một nghệ sĩ”, họ cho biết.    Đây sẽ là kỹ thuật mà các nhà lịch sử nghệ thuật có thể cảm nhận được tiềm năng để thúc đẩy nó đi xa hơn, hứa hẹn đem lại “một cách nhìn mới vào quá khứ chưa bao giờ được xem xét trước đây, tìm kiếm một vật thể chưa bao giờ được khám phá và bằng việc sử dụng một phạm vi công nghệ chưa bao giờ được kết hợp”, Cann nhấn mạnh. □     Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/two-scientists-used-ai-reconstruct-hidden-picasso-painting-180977492/  https://www.technologyreview.com/2019/09/20/132929/this-picasso-painting-had-never-been-seen-before-until-a-neural-network-painted-it/  https://news.artnet.com/art-world/lost-painting-under-picasso-masterpiece-recreated-as-an-nft-1957407    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái tạo khuyết hổng lưỡi, nhằm giúp bệnh nhân phục hồi chức năng của lưỡi sau điều trị ung thư      Nhóm tác giả Bệnh viện Ung bưới TPHCM đã nghiên cứu, thực hiện tái tạo khuyết hổng lưỡi, nhằm giúp bệnh nhân phục hồi chức năng của lưỡi sau điều trị ung thư.    Ung thư lưỡi là bệnh thường gặp nhất của ung thư hốc miệng. Bệnh diễn tiến tại chỗ tại vùng, ít khi di căn xa. Phẫu thuật và xạ trị vẫn là mô thức điều trị chủ yếu cho bướu nguyên phát và hạch vùng.    Phẫu thuật cắt rộng bướu nguyên phát trong đa số các trường hợp là phẫu thuật cắt nửa lưỡi đối với bướu giai đoạn sớm, cắt gần toàn bộ hay toàn bộ lưỡi với bướu giai đoạn trễ. Khuyết hổng của phẫu thuật ung thư lưỡi thường bao gồm cả các cấu trúc lân cận như sàn miệng, đáy lưỡi, amiđan và vòm khẩu cái, ảnh hưởng lớn đến chức năng nói và nuốt của người bệnh sau phẫu thuật. Đối với các trường hợp bướu lớn hơn, lan rộng hơn thường phải cắt thêm các cơ quan lân cận chẳng hạn như xương hàm dưới. Vì thế, phục hồi chức năng của lưỡi sau phẫu thuật điều trị ung thư rất khó khăn bởi các chức năng này do các cơ riêng của lưỡi thực hiện.    Để giúp phục hồi chức năng – thẩm mỹ của lưỡi sau phẫu thuật, nhóm tác giả Bệnh viện Ung Bướu TPHCM đã triển khai đề tài nghiên cứu “Tái tạo khuyết hổng gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi sau phẫu thuật trị ung thư”. Trước đó, ở Việt Nam chưa có công trình nào tương tự được công bố.    30 bệnh nhân tại Bệnh viện Ung bướu TPHCM (26 nam, 4 nữ, trong đó 23 bệnh nhân trên 40 tuổi, 7 bệnh nhân dưới 40 tuổi được nhóm nghiên cứu thực hiện tạo hình khuyết hổng lưỡi bằng các loại vạt (vạt da cơ ngực lớn, vạt động mạch trên đòn, vạt cẳng tay quay, vạt đùi trước ngoài). Các bệnh nhân này đến khám đều do sang thương ở lưỡi, sùi hoặc loét, không lành. Trong số đó, có 20 bệnh nhân bị đau nhiều tại vị trí của sang thương. Tất cả đều ở giai đoạn muộn của bệnh.    Bệnh nhân sau khi trải qua phẫu thuật được tập hướng dẫn nuốt và nói. 6 tháng sau phẫu thuật, chức năng nói ở các bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt, hơn 50% bệnh nhân giao tiếp tốt bằng ngôn ngữ. 90% bệnh nhân đều ăn được thức ăn sệt, dù còn cảm giác khó khăn khi ăn thức ăn đặc.    Trong thời gian 2 năm thực hiện nghiên cứu (10/2019 – 10/2021), có 18/30 trường hợp tái phát, tỷ lệ sống sau 2 năm đạt gần 50%. Tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ sống sau 3 năm (28,8% ở bệnh ung thư lưỡi giai đoạn III-IV). Tỷ lệ biến chứng hoại tử chỉ chiếm khoảng 3%.    Theo TS.BS Nguyễn Anh Khôi, Chủ nhiệm đề tài, tạo hình khuyết hổng lưỡi sau phẫu thuật không chỉ đảm bảo chức năng nói và nuốt, mà còn đảm bảo đường thở, vị giác, hô hấp. Với các kết quả thu được của nghiên cứu, có thể thấy tái tạo khuyết hổng gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi, giúp phục hồi được chức năng của lưỡi sau tái tạo, biến chứng phẫu thuật là không đáng kể. Quá trình thực hiện phẫu thuật này có thể triển khai ứng dụng tại các cơ sở y tế có đội ngũ chuyên môn được đào tạo về kỹ thuật vi phẫu hoặc các trung tâm chuyên ngành về ung bướu.      Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Tái tạo màu sắc đã mất: Một cách lý giải mới về các tác phẩm nghệ thuật cổ đại      Hai nhà khảo cổ học người Đức đã tạo ra các bản sao đầy màu sắc của những hiện vật cổ đại. Những tác phẩm này sẽ được trưng bày trong cuộc triển lãm “Chroma: Ancient Sculpture in Color” tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan       Tác phẩm “Phrasikleia” phiên bản có màu, được mạ vàng và đính thêm những viên đá quý. Ảnh: Vincent Tullo / The New York Times  Roko Rumora, một nhà sử học trẻ tuổi, có thể nhắm mắt đi qua các căn phòng trưng bày các tác phẩm Hy Lạp và La Mã trong Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan mà không va phải bức tượng nào hay khiến những chiếc bình Athen đổ nhào.  Rumora đã thuộc nằm lòng con đường xuyên qua những đại sảnh cổ kính nổi tiếng này từ cách đây một thập kỷ – khi anh còn là một thực tập sinh của trường đại học. Nhưng giờ đây khi anh trở lại Bảo tàng, xung quanh mỗi góc phòng đều có những tác phẩm lạ lẫm – những người phụ nữ bằng đá cẩm thạch với lớp sơn đậm, những người đàn ông bằng đồng, những tấm bia và một tượng nhân sư đang mỉm cười – mọi thứ đều quá đỗi sặc sỡ so với những kiệt tác bằng đá cẩm thạch vĩ đại nguyên bản đã gây ấn tượng với công chúng trong hơn một thế kỷ qua.  Rumora dừng lại dưới chân bước tượng một thiếu nữ có tên “Phrasikleia” – với đôi mắt to, cô đội vương miện hình búp sen và mặc một chiếc váy màu nâu vàng thêu hoa. Cô là một trong số 17 tác phẩm được trưng bày trong triển lãm “Chroma: Ancient Sculpture in Color”. Triển lãm sẽ mang đến 17 tác phẩm nghệ thuật tái tạo, nhằm khơi gợi cách người Hy Lạp và La Mã sơn các tác phẩm điêu khắc của mình, một thực hành được gọi là “đa sắc” (polychromy – thực hành trang trí các yếu tố kiến ​​trúc, điêu khắc, v.v., bằng nhiều màu sắc).  Rumora, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ về lịch sử nghệ thuật tại Đại học Chicago, nhận thấy sự hiện diện của những bản sao đầy màu sắc này bên cạnh các hiện vật gốc – nhiều hiện vật vẫn còn dấu vết sơn – trông thật chói mắt. “Việc chúng có lấp đầy được khoảng trống hay không phụ thuộc vào việc ngay từ đầu bạn có thấy những bức tượng gốc này thiếu sót màu sắc hay không”, anh nói.  Đối với những giám tuyển phụ trách triển lãm Chroma, những bình luận như vậy không khiến họ băn khoăn, mà thậm chí còn có phần thêm tự tin hơn. Triển lãm, mà bảo tàng gọi là “đột phá”, hướng đến các tác phẩm điêu khắc cổ đại – từ năm 2700 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ ba sau Công nguyên. Vinzenz Brinkmann, 63 tuổi, và vợ ông, Ulrike Koch-Brinkmann, 58 tuổi – hai nhà khảo cổ học người Đức, những người đã cống hiến cuộc đời vào sự nghiệp phục dựng lại màu sắc cổ vật thông qua nghiên cứu khoa học – đã tiên phong kêu gọi tổ chức triển lãm này. Dự án của họ bắt nguồn từ những nỗ lực học thuật gần đây nhằm xóa bỏ sự hiểu lầm phổ biến rằng tác phẩm điêu khắc cổ điển thường được làm bằng đá cẩm thạch trắng không sơn màu.  “Công trình tái tạo các tác phẩm nghệ thuật của nhà Brinkmann thật thú vị bởi họ đã tiên phong thay đổi những quan niệm thông thường”, Seán Hemingway, giám tuyển tác phẩm nghệ thuật Hy Lạp và La Mã của Bảo tàng Met, người đã tổ chức “Chroma” cùng với trợ lý giám tuyển Sarah Lepinski, nhận xét.    Các tác phẩm được trưng bày tại triển lãm “Chroma”. Ảnh: Vincent Tullo / The New York Time  Tuy nhiên, một số nhà sử học lo ngại rằng Bảo tàng Met đã phóng đại quá đà các tác phẩm tái tạo của vợ chồng Brinkmann, đưa chúng lên thành biểu tượng của thực hành nghệ thuật đa sắc thời cổ đại, trong khi nghiên cứu của cặp đôi chỉ là một trong số hàng chục giả thuyết đang được tranh luận. Những tranh cãi về triển lãm không chỉ bàn đến chất màu và phương pháp khoa học, mà một số học giả còn xem việc tái thiết tác phẩm đã mở ra một câu hỏi lớn: ai có thể định nghĩa quá khứ?  “Tất cả tác phẩm tái dựng đều bất định và không chắc chắn”, Sarah E. Bond, nhà sử học tại Đại học Iowa, người đã viết nhiều bài báo để tranh luận về thực hành đa sắc, cho hay. “Tại sao không để tất cả mọi người tự lựa chọn cách tái thiết của riêng mình? Điều đó sẽ giúp họ nhận ra rằng sự không chắc chắn là một phần tất yếu của phương pháp nghiên cứu lịch sử.”  Không chắc chắn là một cụm từ đáng sợ trong học thuật. Một số học giả lo ngại rằng việc thừa nhận những hạn chế trong công trình nghiên cứu của họ có thể khiến công chúng e ngại và làm tổn hại đến danh tiếng của các tổ chức nơi họ làm việc. Nhưng rõ ràng đối với các chuyên gia đa sắc, những người chỉ đưa ra phỏng đoán từ một vài dấu hiệu còn sót lại trong các đồ tạo tác sơn màu, không có cái gọi là chắc chắn tuyệt đối. Cần phải có sự diễn giải, suy đoán của con người nếu muốn lấp đầy những lỗ hổng kiến ​​thức và dựng lại các bản sao mô phỏng.  Vinzenz Brinkmann là người đầu tiên thừa nhận rằng các tác phẩm tái dựng luôn cần được phản biện liên tục, như ông và vợ đã từng làm. Vào khoảng năm 2010, họ đã sơn lên bản tái tạo của tác phẩm “Phrasikleia” có niên đại từ thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên; năm 2019, họ đã làm lại một tác phẩm khác, thêm phần mạ vàng và những viên đá quý – tác phẩm này hiện đang được trưng bày tại triển lãm của Bảo tàng Met.  “Chúng tôi đưa ra các đề xuất, và chúng tôi yêu cầu khán giả hiểu được những ẩn ý đằng sau đó”, Brinkmann nhận xét và tiết lộ rằng hơn 100 nhà nghiên cứu đã tham gia vào tất cả các dự án của cặp đôi trong nhiều thập kỷ. “Mọi thứ đều là kết quả của một quá trình nghiên cứu.”  Vợ chồng nhà Brinkman bắt đầu tham gia tái tạo tác phẩm từ năm 1980, khi ấy họ đang là sinh viên tại Đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức, một trong những cơ sở nghiên cứu hàng đầu của châu Âu. Lúc bấy giờ, các nhà nghiên cứu thường xác định dấu vết của sắc tố bằng cách nghiên cứu “bóng” hoặc các thay đổi cực nhỏ trên bề mặt của cho thấy có vết sơn màu. Trong những năm gần đây, tiến bộ công nghệ đã giúp quá trình nghiên cứu của họ trở nên chính xác hơn; vợ chồng Brinkmann cho biết họ thu thập tới 500 phép đo từ một tác phẩm điêu khắc duy nhất bằng cách sử dụng các công cụ như phân tích quang phổ huỳnh quang tia X di động (portable X-ray fluorescence) và máy quang phổ hấp thụ phân tử ngoại khả kiến UV-VIS (ultraviolet-visible spectroscopy).  Các bản sao do vợ chồng Brinkmann tạo ra đã trở nên nổi tiếng, thậm chí lu mờ những đồ tạo tác nguyên gốc. Các tác phẩm của họ được dùng để minh hoạ cho các bài trên Wikipedia và trong các trò chơi điện tử kinh phí lớn như Assassin’s Creed Odyssey, lấy bối cảnh Hy Lạp cổ đại – như thể đó mới chính là nguyên bản. Nhiều người suy đoán rằng sự nổi tiếng này bắt nguồn từ triển lãm “Gods in Color” được cặp đôi tổ chức tại các địa điểm như Bảo tàng Vatican, Bảo tàng Nghệ thuật Harvard và Bảo tàng Ashmolean ở Oxford, Anh từ năm 2003.  Lật đổ quan niệm thông thường  Vào năm 1764, Johann Joachim Winckelmann, được cho là nhà sử học nghệ thuật có ảnh hưởng nhất kể từ thời Phục hưng, đã đề xuất khái niệm về sắc trắng trong các tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch cổ đại. Như nhà sử học Nell Irvin Painter đã viết trong cuốn sách năm 2010 của bà, Lịch sử người da trắng, một cách phân tích mới đã thống trị diễn ngôn: “Màu sắc trong điêu khắc đồng nghĩa với sự man rợ, và họ cho rằng người Hy Lạp cổ đại cao quý quá đỗi tinh tế, họ sẽ không tô màu lên tác phẩm nghệ thuật.”  Bảo tàng Met đặc biệt chú trọng nghiên cứu về đa sắc thời cổ đại dưới thời vị giám đốc thứ ba của nó, Edward Robinson (1858 – 2931). Ông là người đã chứng kiến ​​các nhà khảo cổ học khai quật các tác phẩm điêu khắc từ Thành cổ Athen mang dấu vết sơn, từ đó ông đã viết một bài báo có sức ảnh hưởng về chủ đề này vào năm 1892. Bảo tàng cũng bắt đầu thu được nhiều hiện vật có dấu vết của màu sắc hơn.  Một trong những hiện vật mà họ mua được là tượng nhân sư bằng đá cẩm thạch cổ đại. Về sau vợ chồng Brinkmann đã tái tạo và sơn màu lên, trưng bày trong cuộc triển lãm bằng công nghệ in 3D – kết quả từ tiến trình hợp tác với bốn phòng ban tại Met, bao gồm phòng nghiên cứu khoa học và phòng bảo tồn vật thể.  Tượng nhân sư được làm lại có lông vũ mạ vàng trên đôi cánh màu xanh và đỏ; một chiếc vòng cổ bằng vàng được đeo trên cổ của nó. Điều đó đã được thể hiện rõ ràng trong nghiên cứu; tuy nhiên, đối với chiếc vương miện, vợ chồng Brinkmann cần phải đưa ra suy đoán – bởi các nhà khảo cổ học không tìm thấy phần đỉnh của nó. Cặp đôi quyết định thử dùng một sợi dây vàng cuộn sang một bên – dựa trên các hoạ tiết trang trí trên đồ gốm Hy Lạp.     Tượng nhân sư nguyên bản (bên trái) và bản tái tạo được làm từ vật liệu in 3D polymethyl methacrylate. Ảnh: Vincent Tullo / The New York Times  Theo Mark Abbe, một nhà sử học nghệ thuật tại Đại học Georgia, việc mang màu sắc cổ xưa trở lại trước công chúng, sẽ giúp đập tan định kiến phổ biến rằng tượng xưa đều chỉ có độc một màu trắng, từ đó nâng cao nhận thức về tình trạng phân biệt chủng tộc. Bên cạnh đó, các cuốn sách chuyên ngành sẽ chú trọng in màu ảnh hơn, thay vì chỉ có màu đen và trắng.  Những thành công bước đầu này in đậm dấu ấn của Max Hollein – một trong những người đầu tiên ủng hộ nỗ lực của nhà Brinkmann.  Năm 2007, Max Hollein, khi đó đang phụ trách bảo tàng điêu khắc Liebieghaus ở Frankfurt, đã tuyển Vinzenz Brinkmann vào phụ trách bộ phận cổ vật và châu Á của bảo tàng. Một năm sau đó, các tác phẩm tái tạo bắt đầu ra đời. Vào năm 2017, Hollein đã tạo điều kiện để Brinkmann tổ chức cuộc triển lãm “Gods in Color” tại bảo tàng Legion of Honor ở San Francisco, và vào năm 2019, không lâu sau khi Hollein trở thành giám đốc của Bảo tàng Met, ông đã hỗ trợ đưa các tác phẩm tái tạo đến New York.  Trò chuyện qua điện thoại, Hollein ca ngợi bản lĩnh chấp nhận rủi ro của vợ chồng Brinkmann, ông gọi họ là những người tiên phong – liên tục sửa đổi tác phẩm của mình theo những thông tin khảo cổ mới cập nhật. “Bản đầu tiên, bản thứ hai của những tác phẩm tái tạo này không được tinh tế như hiện tại bạn đang thấy đâu,” ông khẳng định và nói thêm rằng đối với khoảng 80% du khách, việc người Hy Lạp đã tô màu lên các bức tượng của họ sẽ là “một bước ngoặt thú vị và tôi nghĩ rằng điều đó có giá trị giáo dục lớn. “  Ngay cả với các nhà học thuật khó tính hay xét nét, các tác phẩm của Brinkmann vẫn nhận được sự tôn trọng. Tuy nhiên, trong số 10 học giả được phỏng vấn cho bài báo này, hơn một nửa nhận xét rằng vợ chồng Brinkmann đã hơi quá trớn trong thực hành nghệ thuật, họ chọn những tông màu quá sáng khiến các tác phẩm tái tạo trông lòe loẹt. Thậm chí, một người chỉ trích rằng cặp đôi này đã bỏ qua các yếu tố về ánh sáng và sự phai màu mà các nghệ sĩ thời đại có thể đã dự liệu từ trước trong tác phẩm của họ.  “Cần tính đến ánh nắng mặt trời gay gắt tại Hy Lạp,” Gaifman nói “Hãy so sánh màu xanh của các mái vòm tại Santorini và màu xanh trên những mái nhà ở New England. Chúng khác nhau vì ánh sáng tự nhiên tại mỗi nơi đều có những điểm khác biệt”.    Tác phẩm tái tạo được đặt bên cạnh tác phẩm nguyên gốc để người xem có thể dễ dàng hình dung. Vincent Tullo / The New York Times  Tương tự, triển lãm nhận được rất nhiều ý kiến đánh giá trái chiều. Nhà phê bình Philip Kennicott của tờ Washington Post đã viết rằng các công trình tái tạo “thiếu những đặc trưng cho thấy đây là các tác phẩm thuộc về thời cổ xưa,” chúng “đáng lo ngại – theo mọi cách. Triển lãm yêu cầu người xem phải thay đổi cách mà họ cảm nhận về thế giới cổ đại”.  Các nhà sử học và chuyên gia về cổ vật chỉ ra rằng vợ chồng Brinkman đã sử dụng thạch cao và nhựa kết tinh thay vì dùng đá cẩm thạch như nguyên gốc. Đá cẩm thạch thường phát sáng từ phía sau bề mặt sơn, còn các vật liệu khác có xu hướng hấp thụ sắc tố. Cặp đôi cho biết các nguyên liệu thay thế giúp tiết kiệm chi phí và mang lại nhiều tác động hơn đến người xem.  Vì sao lại như vậy? Vinzenz Brinkmann lý giải rằng ông đã tiến hành một thử nghiệm vào năm 2008, trong đó ông đã cho một số nhà phê bình – những người mà ông nhận định là có gu thẩm mỹ – xem hai tác phẩm tái tạo lại tấm bia Paramythion (380 TCN – 370 TCN): một được làm từ đá cẩm thạch chất lượng cao, tấm còn lại làm bằng đá cẩm thạch tổng hợp. Khi được yêu cầu chọn bản tái tạo tốt nhất, “tất cả đều chọn đá cẩm thạch tổng hợp,” ông nói.”Mọi người đều nhận xét bia đá cẩm thạch trông như tấm xốp”.  Bất chấp các tranh cãi, triển lãm vẫn đang được đón nhận nồng nhiệt. Theo một cách nào đó, chúng ta không thể lý giải được lịch sử. Như Hollein, giám đốc của Bảo tàng Met, đã nhận xét, “đó là một quá trình lặp đi lặp lại để ngày càng tiệm cận sự thật. Bạn sẽ không bao giờ đạt được thứ gọi là sự thật tuyệt đối.”  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn: That Painted Greek Maiden at the Met: Just Whose Vision Is She?  Chroma: Ancient Sculpture in Color    Author                .        
__label__tiasang Tài trợ 50 triệu USD phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ      Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa lần thứ 2, vay vốn Ngân hàng Phát triển châu Á (Tiểu chương trình) tại Quyết định 1201/QĐ-TTg ngày 19/07/2013 nhằm duy trì và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và bền vững tại Việt Nam thông qua việc hỗ trợ sự phát triển và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tổng kinh phí tài trợ cho tiểu chương trình là 50.000.000 USD và vay vốn từ Ngân hàng phát triển châu Á.      Tiểu chương trình được thực hiện tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; trong đó Bộ Kế hoạch và Đầu tư đóng vai trò là cơ quan chủ quản.  Doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới thiết bị kỹ thuật theo chiến lược phát triển và mở rộng sản xuất sẽ được nhận hỗ trợ từ dự án của chính phủ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)cụ thể như sau:             Quy mô   Khu vực      Doanh   nghiệp siêu nhỏ      Doanh   nghiệp  nhỏ      Doanh   nghiệp  vừa          Số   lao động      Tổng   nguồn vốn      Số   lao động      Tổng   nguồn vốn      Số   lao động          I.   Nông, lâm nghiệp và thủy sản      10   người trở xuống      20   tỷ đồng trở xuống      từ   trên 10 người đến 200 người      từ   trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng      từ   trên 200 người đến 300 người          II.   Công nghiệp và xây dựng      10   người trở xuống      20   tỷ đồng trở xuống      từ   trên 10 người đến 200 người      từ   trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng      từ   trên 200 người đến 300 người          III.   Thương mại và dịch vụ      10   người trở xuống      10   tỷ đồng trở xuống      từ   trên 10 người đến 50 người      từ   trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng      từ   trên 50 người đến 100 người              Ngoài tiểu chương trình trên, Quỹ phát triển Khoa học công nghệ quốc gia hàng năm cũng sẽ dành một phần kinh phí hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đổi mới nâng cao năng lực công nghệ.  Ngoài ra Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thành lập vườn ươm doanh nghiệp để thực hiện hỗ trợ có thời hạn doanh nghiệp trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giúp các doanh nghiệp hiện thực hóa, thương mại hóa các ý tưởng kinh doanh và công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng chính sách ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia thành lập “cơ sở ươm tạo công nghệ” và “cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ”.  Nguồn: Theo Quyết định 1201/QĐ-TTg và moj.gov.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tài trợ vĩnh viễn cho Ngân hàng gene lúa lớn nhất thế giới      Crop Trust – một tổ chức phi chính phủ về hỗ trợ an ninh lương thực và đa dạng giống cây trồng, có trụ sở tại Bonn, Đức – đã công bố tài trợ “vĩnh viễn” 1,4 triệu USD mỗi năm cho ngân hàng gene lúa của Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI). Thỏa thuận tài trợ được ký kết vào ngày Lương thực thế giới 16/10 trong khuôn khổ Hội nghị Lúa quốc tế lần thứ 5 được tổ chức ở Singapore.      Ngân hàng gene IRRI lưu trữ nguồn gene của 136.000 giống lúa. Nguồn: IRRI.  Khoản tài trợ này chiếm 2% trong khoản ngân sách hằng năm 67 triệu USD của IRRI nhưng “ý nghĩa của nó còn hơn thế”, ông Matthew Morell, Tổng giám đốc IRRI, giải thích. “Không chỉ giúp duy trì bộ sưu tập giống lúa, mà khoản tài trợ này còn giúp chúng tôi có thể cung cấp miễn phí nguồn giống cho hàng ngàn người có nhu cầu”.  Ngân hàng gene IRRI đặt tại tại Los Baños, Philippines lưu trữ nguồn gene của 136.000 giống lúa và những giống lúa hoang liên quan – những nguồn gene quan trọng để các nhà khoa học sử dụng trong nghiên cứu và nhà tạo giống dùng để phát triển những giống lúa mới.  Giai đoạn đầu tiên trong tài trợ của Crop Trust sẽ tập trung vào các hoạt động thiết yếu của ngân hàng gene lúa ở IRRI trong giai đoạn 2019-2023, bao gồm việc bảo tồn, tái tạo và phân phối các bộ sưu tập hạt giống lúa hoang dã. Các nhà khoa học trên khắp thế giới sử dụng các hạt giống này để nghiên cứu, cải tiến các giống lúa chịu được tác động của biến đổi khí hậu, tăng năng suất cho nông dân.  Ngân hàng gene có thế hệ đầu tiên và các thế hệ cải tiến của IR8 – giống lúa năng suất cao đầu tiên trên thế giới được các nhà nghiên cứu ở IRRI phát triển vào đầu những năm 1960. Sau khi được công bố vào năm 1966, giống lúa IR8 đã cứu nhiều nước ở châu Á thoát khỏi nạn đói. Hiện gần một nửa dân số trên toàn cầu sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Đây là một trong nhiều lý do giải thích tầm quan trọng của việc bảo vệ ngân hàng gene – nơi lưu giữ nhiều giống lúa đã được nông dân chọn lọc suốt hàng trăm năm qua.  “Ngân hàng gene giống như một thư viện, nơi bạn có thể tìm thấy những nguồn gene thích nghi với những yếu tố gây bất lợi nhất định hoặc những thách thức của môi trường”, Morell giải thích, “Chúng ta có thể kết hợp những nguồn gene này để tạo ra những giống lúa có năng suất cao hơn.”  Chẳng hạn như 5 triệu nông dân ở Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Lào, Philippines và Indonesia đã trồng một giống lúa chịu ngập mới – được phát triển nhờ hợp tác giữa IRRI và Quỹ Bill & Melinda Gates. Trong khi đa số các giống lúa đều chết nếu bị úng thì giống lúa scuba chịu được ngập nước trong 2 tuần. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang cải tiến giống lúa để thích ứng điều kiện khí hậu ở châu Phi, một số khác đang tìm cách tăng cường khả năng chịu hạn, nhằm tạo ra giống lúa có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện thời tiết bất lợi.  Giám đốc điều hành Crop Trust, Marie Haga cho biết, khoản tài trợ này đã công nhận giá trị của 20 năm hoạt động và 50 năm nghiên cứu về cách cộng đồng quốc tế có thể bảo vệ giống cây trồng sử dụng trong nông nghiệp và làm thực phẩm. Có nhiều loại lúa đã bị mất giống, và bảo tồn những giống còn lại là “hoàn toàn cần thiết đối với việc sử dụng hệ thống lương thực trong lâu dài”, bà nhận xét, “Với mỗi giống lúa đã mất, chúng ta lại mất đi những lựa chọn cho tương lai.”  Chủ yếu nguồn quỹ đầu tư cho IRRI từ các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Na Uy, Vương quốc Anh và Úc, sẽ được đầu tư cho IRRI. Thỏa thuận với Crop Trust sẽ kéo dài qua năm 2023, đến giai đoạn 5 năm tiếp theo sẽ tiến tới sửa đổi kế hoạch hoạt động của ngân hàng gene và vấn đề chi phí vận hành. Nhưng theo Haga, đó mới chỉ là bước đầu tiên, “chúng tôi mong muốn tài trợ vĩnh viễn cho tất cả các bộ sưu tập giống cây trồng lớn trên toàn thế giới.”  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07029-1  https://www.devex.com/news/a-new-forever-fund-for-food-security-93667       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tấm gương vỡ: Vi phạm chẵn lẻ trong các phân tử cuối cùng cũng được đo đạc?      Từ lâu các nhà khoa học đã cố gắng chứng minh bằng thực nghiệm một tính chất đối xứng chắc chắn  của tương tác yếu – vi phạm chẵn lẻ – trong các phân tử, tuy nhiên vẫn chưa thành công. Mới đây, một nghiên cứu liên ngành do nhóm nghiên cứu tại PRISMA+ Cluster of Excellence của trường đại học Johannes Gutenberg Mainz (JGU) và Viện nghiên cứu Helmholtz Mainz (HIM) đã chứng tỏ được một phần hiện thực trong chứng minh hiện tượng này.      Các tiếp cận của các nhà khoa học là bao gồm các khía cạnh về vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý nguyên tử và phân tử như cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). “Molecular parity nonconservation in nuclear spin couplings” (Không bảo toàn chẵn lẻ phân tử trong những cấu ghép spin hạt nhân) đã được xuất bản trên tạp chí Physical Review Research.    Các đối xứng có mặt ở khắp nơi, trong vũ trụ cũng như trong thế giới của các phân tử, hạt nhân và hạt cơ bản. Bốn lực cơ bản (điện từ, hấp dẫn, tương tác hạt nhân mạnh và yếu) cũng tuân theo một số đối xứng nhất định, có lẽ về mặt lý thuyết. Từ Big Bang đến ngày nay, sự tồn tại của các đối xứng đã bị phá vỡ  nhiều lần. Đối xứng và phá vỡ đối xứng được phản chiếu một cách cần thiết trong các quá trình và  trạng thái vật lý mà chúng ta có thể quan sát.  Một trong những đối xứng này là đối xứng gương (đối xứng với sự phản chiếu trong không gian) – nếu nó bị phá vỡ, các nhà nghiên cứu nói đó là vi phạm chẵn lẻ. Theo những hiểu biết hiện nay, tương tác yếu là lực duy nhất trong số bốn lực cơ bản không có xuất hiện đối xứng gương – chỉ trong các quá trình chịu sự tương tác này mới xảy ra những vi phạm chẵn lẻ. “Kể từ khi tương tác yếu hầu như không đóng vai trò trong trải nghiệm hàng ngày của chúng ta – trong khi lực hấp dẫn và điện từ đóng vai trò nổi trội tại đây – hiện tượng vi phạm chẵn lẻ mâu thuẫn với ý tưởng thông thường của chúng ta và do đó khó để hiểu được”, TS. John Blanchard, tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Vi phạm chẵn lẻ trong tương tác yếu do đó chỉ có thể dự đoán về lý thuyết trong những năm 1950 và được khám phá ngay sau đó trong các phân rã hạt nhân và hạt cơ bản. Các quá trình vi phạm – chẵn lẻ chưa từng dò được trong các phân tử, dẫu cho các tính toán về lý thuyết dự đoán là chúng phải có mặt ở đó. Bằng chứng xác thực như thế về những hiệu ứng vô cùng tinh tế là ‘Chén thánh’ cho vật lý đo lường chính xác”.  Rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để quan sát về mặt thực nghiệm các hiện tượng của vi phạm chẵn lẻ trong các phân tử. Một ví dụ là tương tác của các spin của những hạt nhân nguyên tử khác nhau trong một phân tử. Lần lượt, chúng có thể được dò trong nguyên lý và phân tích bằng các phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Do nhóm nghiên cứu đã phát triển một cách tiếp cận hứa hẹn về các phân tử chiral trong một nghiên cứu trước đó (doi.org/10.1103/PhysRevA.96.042119), trong công trình này họ tập trung vào đơn giản hóa các phân tử chứa một vài ít nguyên tử. Đầu tiên, họ xác định một biến đo lường NMR cụ thể (một kết nối spin-spin riêng) trên nền tảng của vi phạm chẵn lẻ đã được chứng tỏ và thực hiện những phân tích về lý thuyết để tính toán hiệu ứng mong đợi bên trong phân tử. Các tính toán đã được thực hiện với hợp tác của đồng tác giả nghiên cứu, giáo sư Mikhail G. Kozlov của Viện Vật lý hạt nhân St. Petersburg, Nga, mà nhóm nghiên cứu ở Mainz đã từng hợp tác thành công trong nhiều năm qua.  Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đề xuất hiện thí nghiệm đặc biệt có thể đủ nhạy để dò được các tín hiệu đã được tính toán: “Phương pháp NMR ZULF (không đến trường siêu thấp) là một kỹ thuật lạ mà chún tôi mới sử dụng cho nghiên cứu vật chất tối một cách thành công”, giáo sư Dmitry Budker, cũng là một tác giả của nghiên cứu, nói. “Nó đề xuất một hệ trong đó các spin hạt nhân tương tác với nhau nhiều hơn trong một ngoại từ trường. Theo cách này, nó tăng cường khả năng đo đạc trực tiếp các nối ghép spin-spin phản đối xứng, vốn bị loại trong các thí nghiệm NMR trường cao truyền thống”.  “Các kết quả của chúng tôi chứng tỏ một cách đẹp đẽ để định lượng nghiên cứu tương tác yếu trong phân tử và hạt nhân nguyên tử”, TS. Blanchard kết luận. “Các kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi còn rất hứa hẹn – chúng tôi hi vọng sớm xác định bằng thực nghiệm sự không bảo toàn chẵn lẻ trong phân tử”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-broken-mirror-parity-violation-molecules.html         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầm nhìn công nghệ – Doanh nhân không ngoài cuộc      “Tập đoàn không sản phẩm” là một hiện tượng có thật ở Việt Nam, thay vì tập trung phát triển những sản phẩm chủ lực, góp phần tạo ra sức mạnh bền vững của nền kinh tế, các tập đoàn này và một phần lớn các công ty đang hoạt động lại nhắm đến các đầu tư hoặc đầu cơ ngắn hạn, thiếu bền vững. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là việc thiếu tầm nhìn công nghệ và thiếu cập nhật về các trào lưu công nghệ mới của giới doanh nhân. Đó là ý kiến của Tiến sĩ Giáp Văn Dương(*) tại một buổi tọa đàm về chủ đề “Tầm nhìn Công nghệ” dành cho giới doanh nhân tại trường doanh nhân PACE.      Ông khái quát thế nào về bối cảnh cũng như sự cần kíp của việc áp dụng công nghệ vào sản xuất đối với việc phát triển kinh tế của một quốc gia?  TS. Giáp Văn Dương: Trong vài năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng lớn, như khủng hoảng về tài chính (2008), khủng hoảng lương thực ẩn sau cuộc khủng khoảng tài chính 2008, khủng hoảng nợ châu Âu… Một trong những nguyên nhân chính của điều này là đầu cơ và chụp giật lợi ích ngắn hạn đã trở thành phổ biến trên toàn cầu, tạo ra một nền kinh tế ảo, hay “kinh tế đánh bạc”. Theo thống kê, năm 2007, mỗi ngày trên thị trường chứng khoán Mỹ có tới 70 ngàn tỷ USD luân chuyển mua  bán, và toàn thế giới là 120 ngàn tỷ USD, trong khi tổng GDP của thế giới chỉ khoảng 60 ngàn tỷ USD/năm, tức là bằng một nửa số tiền lưu chuyển trên thị trường chứng khoán trong một ngày. Cũng trong năm này, tổng giá trị của thị trường tài chính phái sinh đã lên đến một triệu tỷ USD, gấp mười lần tổng GDP của cả thế giới trong thế kỷ XX. Những con số khổng lồ và vô lý, phải không?  Như vậy, có thể nói, phía sau các cuộc khủng hoảng tài chính, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng nợ là một cuộc khủng hoảng khác, cơ bản hơn, là khủng hoảng mô hình phát triển, không chỉ ở từng doanh nghiệp mà còn ở quy mô quốc gia. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc cần tìm kiếm các mô hình phát triển bền vững, trong đó có việc quay lại với việc sản xuất ra các sản phẩm thực sự. Suy cho cùng, chính sản xuất mới là xương sống của nền kinh tế, và sản phẩm thực mới làm nên sức mạnh thực của doanh nghiệp. Nhưng muốn sản xuất thì phải có công nghệ. Đó là lý do vì sao doanh nhân cần phải có tầm nhìn công nghệ.  Nền kinh tế ảo là một mô hình phát triển không bền vững, vậy tại sao vẫn có rất nhiều nước, nhiều doanh nghiệp chạy theo mô hình này?  Trả lời câu hỏi này là cả một câu chuyện dài. Nhưng nói ngắn gọn thì đây là trò chơi của các ông lớn. Trong một nền “kinh tế đánh bạc” như vậy, họ là những chủ sòng, nên luôn thu lợi nhanh và nhiều nhất. Nhiều người thấy vậy nên cũng làm theo. Nhưng khi quá sức chịu đựng của nền kinh tế thì khủng hoảng nhất định sẽ xảy ra. Những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, và những người lao động thiện lương, cũng sẽ bị cuốn vào như những nạn nhân.  Ông đánh giá như thế nào về thực trang áp dụng công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ?  Chắc chắn là còn rất yếu và hạn chế. Đây là tình trạng chung của Việt Nam. Trong năm 2010, Việt Nam chỉ đăng ký được hai sáng chế tại Mỹ, trong khi Nhật có đến hơn 44.000, Đài Loan hơn 8000. Ngay cả những tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam cũng không sở hữu một sáng chế công nghệ nào. Bên cạnh đó, năng suất lao động và mức lương của nhân công Việt Nam chỉ ở mức bằng 2,5% so với nhân công Mỹ. Điều này không phải do công nhân Việt Nam làm việc ít thời gian hơn, sức khỏe kém hơn hay lười làm việc hơn, mà do công nghệ chúng ta đang sử dụng lạc hậu hơn so với họ rất nhiều. Tất nhiên, cũng phải kể đến sự kém phát triển của nền kinh tế nói chung nữa.  Vậy mấu chốt để các doanh nghiệp giải quyết vấn đề này nằm ở chỗ nào thưa ông?  Tôi cho rằng các doanh nghiệp phải chuyển hướng. Thay vì tập trung đầu tư vào những thứ ngắn hạn, tìm kiếm lợi nhuận trước mắt thì cần phải tính đến chuyện phát triển bền vững, thông qua việc phát triển sản xuất ra các sản phẩm thực sự có khả năng cạnh tranh, hoặc cung cấp các dịch vụ đích thực. Mà muốn làm được điều này thì một lần nữa, doanh nhân cần phải am hiểu về công nghệ. Nói cách khác, doanh nhân phải có tầm nhìn công nghệ để định hướng phát triển cho doanh nghiệp của mình.  Nếu các nước phát triển hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài thì liệu có còn cơ hội phát triển cho những đất nước đang cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam hiện nay?  Đúng là đang có những kêu gọi từ những nước phát triển hạn chế đầu tư sản xuất ra nước ngoài nhằm khôi phục năng lực sản xuất trong nước. Tuy nhiên, họ cũng chỉ tính chuyện giữ lại một số ngành sản xuất chủ chốt, có thương hiệu. Do đó, nhu cầu đầu tư sản xuất ở nước ngoài vẫn rất lớn. Đối với một nước đang phát triển và đi sau như Việt Nam thì điều đáng quan tâm là chọn nguồn đầu tư vào lĩnh vực nào thì phù hợp và góp phần phát triển bền vững cho đất nước mình.   Ở mức độ nhỏ hơn, thì đối với doanh nghiệp, bài toán đặt ra là sản xuất cái gì và như thế nào để trước hết là cạnh tranh, và sau đó là phát triển bền vững được. Điều này lại một lần nữa đòi hỏi các doanh nhân phải có một tầm nhìn công nghệ, vì sản xuất bao giờ cũng đi liền công nghệ.  Theo ông, trong 10 năm nữa, Việt Nam sẽ là gì của thế giới?  Đây là một câu hỏi dằn vặt cho tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của Việt Nam. Giáo sư Philip Kotler có gợi ý rằng “Việt Nam là bếp ăn của thế giới”. Nhưng tôi, và có lẽ rất nhiều người nữa, chưa thỏa nguyện, nên vẫn tiếp tục tìm câu trả lời, trước hết là về mặt lý thuyết. Và tôi cho rằng, người thực sự trả lời được câu hỏi này không phải là những người làm chính sách, cũng không phải các học giả, mà chính là các doanh nhân.   Bản thân tôi không thể tiên đoán Việt Nam sẽ là gì của thế giới trong 10 năm nữa. Nhưng tôi cho rằng, để phát triển được thì Việt Nam phải trở thành một hội điểm đầu tư, vườn ươm ý tưởng. Muốn vậy, nhà nước cần có cơ chế và chính sách đúng dẫn đường. Còn chuyện đầu tư cái gì, ươm gieo ý tưởng nào, là chuyện cụ thể của nhà đầu tư và các doanh nhân.   Xin cám ơn ông!               Hải Ninh (lược ghi)  ———  (*) Tiến sĩ Giáp Văn Dương tốt nghiệp kỹ sư ngành Hóa Dầu Đại học Bách khoa Hà Nội, Thạc sĩ ngành Công nghệ Hóa học Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc), Tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật, Đại học Công nghệ Vienna (Áo), đã làm việc tại Đại học Liverpool (Anh) và hiện nay là Đại học Quốc gia Singapore.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầm nhìn đa tầng về  lịch sử Đại Việt thời Lý-Trần      Suốt hơn ba mươi năm nay, tôi say mê nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nhất là giai đoạn Lý-Trần. Nhưng tài liệu nghiên cứu về thời Lý-Trần không thể nói là phong phú. Cho nên, một mặt tôi đã cố gắng đọc lại thật kỹ nguyên văn của các tài liệu quen thuộc (Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, An Nam chí lược…) song song với việc khai thác tài liệu mới (tài liệu khảo cổ và văn khắc cũng như tài liệu nước ngoài, nhất là của Trung Quốc), mặt khác, tôi đã tìm mọi cách học tập và áp dụng những lý luận và tầm nhìn mới như khu vực học và sử học toàn cầu. Dưới đây tôi xin nêu lên một số vấn đề đáng chú ý về lịch sử thời Lý-Trần khi phân tích dưới quan điểm Sử học toàn cầu (như đã giới thiệu trong kỳ trước [Tia Sáng, số 6 năm 2019]).          Trần Nhân Tông và con trưởng Trần Anh Tông trong bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ Xuất sơn Đồ. Năm 1293, Anh Tông được truyền ngôi Hoàng đế để Nhân Tông lên làm Thái Thượng hoàng. Chế độ hai vua (thượng hoàng và hoàng đế) ở nhà Trần và nhà Đinh, cũng như việc mẹ con cùng thi hành chủ quyền tối cao của nhà Lý đều có ý nghĩa ‘phân tán sự rủi ro’ của cơ chế mandala vốn thiếu tính ổn định. Nguồn: wikipedia.    Kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn     Lịch sử khai phá các vùng đồng bằng và quá trình phát triển của xã hội nông thôn trong giai đoạn Lý-Trần rõ ràng là một đề tài rất cần phân tích theo tầm nhìn khu vực và địa phương với lý thuyết về xã hội tiểu nông kiểu Đông Á. Trên đồng bằng sông Hồng, dân số đã tăng lên ngay từ thời Lý, chủ yếu ở các trung tâm nông nghiệp cổ ở vùng trung du và châu thổ cổ (old delta) và sự khai phá các vùng đầm lầy (back swamp) – châu thổ mới (young delta) – cồn cát duyên hải được triều đình và hoàng tộc nhà Trần đẩy mạnh từ thế kỷ XIII (Sakurai Yumio 1987b). Bất chấp sự can thiệp của nhà nước chuyên chế thời Lê Sơ và sự phát triển của thế lực địa chủ-cường hào sau thế kỷ XVI, cộng đồng làng xã tiểu nông phát triển rất mạnh trong giai đoạn sơ kỳ cận đại. Đó là hiện tượng giống Nhật Bản, mặc dù ở miền Bắc Việt Nam hiện tượng ‘chia đều cái nghèo’ (shared poverty) có vẻ xuất hiện phổ biến hơn.  Vấn đề chế độ ruộng đất cũng là đề tài đáng xem xét lại với tầm nhìn khu vực và địa phương. Khi tìm hiểu chế độ ruộng công, chúng ta cần xem lại tài liệu một cách chính xác. Không tài liệu nào chứng minh rằng có ruộng đất thuộc quyền sở hữu làng xã trước khi nhà Lê cấp ruộng đất cho các làng trong phạm vi toàn quốc nhằm mục đích khôi phục nền kinh tế-xã hội đã bị phá hủy nặng nề sau cuộc xâm lược của nhà Minh và chiến tranh giải phóng đất nước kéo dài trong hai thập kỷ (Sakurai Yumio 1987a). Trong hơn 40 bản văn khắc thời Lý-Trần ghi về ruộng đất, không thấy từ công điền, trong khi quan điền có xuất hiện nhưng nhiều khả năng biểu thị ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý. Mà thêm vào đó, chúng ta cần chú ý nhiều hơn đến thuật ngữ dân điền.  Ở Trung Quốc sau thời Đường, công điền và quan điền đều chỉ ruộng đất do nhà nước trực tiếp sở hữu – còn phàm ruộng đất do tư nhân làm chủ thì gọi là dân điền1. Dù Cao Ly (Triều Tiên) và Nhật Bản (thời Heian-Kamakura) tiếp thu các thuật ngữ thời Đường, dân điền lại được coi là ruộng công vì quyền lợi của nông dân còn yếu ớt trước nhà nước. Tại đó, sự phân biệt giữa ‘công’ và ‘tư’ không phản ánh quyền sở hữu mà phản ánh quyền hưởng hoa lợi (tô) của ruộng đất.  Công điền thời Lý-Trần rất có thể cũng bao gồm cả dân điền (nhà nước thu tô) vì quyền lợi yếu ớt của nông dân cày cấy (không khác mấy so với địa vị nô tỳ: như quy định số lượng thóc nộp vào năm 1242 – mỗi 1 mẫu thu 100 thăng – bằng số thóc nộp của hoành nô). Trong khi đó ruộng đất tư nhân có quyền hưởng tô được gọi là tư điền: Vì thế mà An Nam chí lược chép rằng “nông thương [của tư nhân] không thu lương thuế.”     Quá trình hình thành vương triều phụ hệ     Sự hình thành của vương triều phụ hệ ở Đại Việt trước thời Trần cũng là đề tài tôi từng phân tích với tầm nhìn toàn cầu và khu vực. Chính quyền Đại Việt thế kỷ X mang tính chất mandala2 được xây dựng trên cấu trúc gia đình song hệ, ở đó sự kế thừa ngôi báu theo phụ hệ không được bảo đảm. Nhưng nguy cơ can thiệp của Trung Quốc mỗi khi xảy ra kế ngôi một cách không hòa bình (như trường hợp vụ ám sát cha con Đinh Bộ Lĩnh) đã khiến truyền thống kế ngôi theo phụ hệ dần hình thành một cách nhân tạo. Quá trình này bắt đầu từ đời Lý trước khi diễn ra biến đổi xã hội theo chiều hướng phụ hệ-gia trưởng (tương tự Nhật Bản trong thế kỷ VII-XI). Nói chung, xu hướng biến đổi toàn xã hội như thế này chỉ phổ biến ở các xã hội Đông Á trong thiên niên kỷ thứ hai, và muộn hơn ở các xã hội Đông Nam Á không tiếp thu văn minh Trung Hoa.  Trong thời Lý, ba vị vua đầu tiên là người đàn ông lớn tuổi có đủ năng lực và uy tín, nhưng từ đời Nhân Tông trở về sau, liên tục xuất hiện hiện tượng vua còn nhỏ được hoàng thái hậu nhiếp chính (không nhất thiết phải là vợ chính của vua trước, nhưng nắm được chính quyền với tư cách là mẹ đẻ của vua trẻ). Cùng thời kỳ đó, các hoàng thái hậu Bắc Tống cũng có sức mạnh chính trị lớn. Đáng chú ý là trường hợp hoàng thái hậu vẫn có sức mạnh chính trị lớn sau khi vua đã lớn như Linh Nhân Thái hậu (Ỷ Lan Phu nhân) thời Nhân Tông, Cảm Thánh Thái hậu thời Anh Tông, và Đàm Thái hậu thời Huệ Tông. Có lẽ nhằm mục đích bảo vệ mình và con, các bà hoàng thái hậu hay liên kết với người đứng đầu cấm quân, như Linh Nhân Thái hậu với Lý Thường Kiệt và Cảm Thánh Thái hậu với Đỗ Anh Vũ. Hành động đó có vẻ giống sự liên kết của Dương Thái hậu (vợ của Đinh Bộ Lĩnh) với Lê Hoàn, nhưng các hoàng thái hậu thời Lý quyết không lấy chồng mới (khác trường hợp Dương Thái hậu đã lấy Lê Hoàn) nên không gây ra sự thay đổi vương triều. Kết quả là hình thức kế thừa trực hệ của ngôi báu được duy trì lâu dài và tránh được can thiệp Trung Quốc.  Nhà Trần lại nổi tiếng về chế độ hôn nhân đồng tộc trong dòng họ phụ hệ để tránh sự khống chế ngôi báu của ngoại tộc, bất chấp sự tranh giành quyền lực trong dòng họ dễ xảy ra. Nhật Bản vào thế kỷ VII và thế kỷ XI, và Cao Ly vào thế kỷ XI cũng thực hiện hôn nhân đồng tộc để củng cố vương quyền. Chế độ thượng hoàng cũng góp phần vào việc củng cố phương thức kế thừa trực hệ và dòng họ phụ hệ – tương tự như Nhật Bản vào thế kỷ XI-XIV và Nam Tống vào thế kỷ XII. Cũng như trường hợp các nước đó, vai trò phụ nữ họ Trần (nhất là của hoàng thái hậu, quốc mẫu là mẹ hoàng hậu, trưởng công chúa là chị của hoàng đế) trong chính trị, kinh tế, tôn giáo v.v. cũng không thể coi thường. Chế độ hai vua (thượng hoàng và hoàng đế) ở nhà Trần và nhà Đinh, cũng như sự mẹ con cùng thi hành chủ quyền tối cao của nhà Lý đều có ý nghĩa ‘phân tán sự rủi ro’ của cơ chế mandala vốn thiếu tính ổn định. Hiện tượng này là tương tự trường hợp các vương triều Đông Nam Á khác (Majapahit trong thế kỷ XIV-XV, Siam và Campuchia trong giai đoạn sơ kỳ cận đại…).     Nguy cơ toàn diện trong thế kỷ XIV     Như điểm lại trên, nước Đại Việt từ thế kỷ X đến thời Lý-Trần từng bước phát triển và ổn định trong mọi mặt. Nói theo thuật ngữ của học giả Mỹ Lieberman mà tôi đã giới thiệu số trước thì nước Đại Việt giai đoạn đó đã thành công trong xây dựng ‘chính quyền hiến chương’. Nhưng đến thế kỷ XIV, đã xuất hiện thay đổi cơ bản trong xã hội Đại Việt và bối cảnh quốc tế của nó. Chính quyền hiến chương của Đại Việt bị giải thể trong bế tắc và nguy cơ toàn diện. Tính chất của biến đổi và nguy cơ này, cũng như chiều hướng cải cách sau đó cũng đáng xem xét với tầm nhìn đa tầng.   Thiên tai liên tục như hạn hán năm 1315, 1324, 1326, 1343, 1348, 1355, 1358…; lũ lụt năm 1310, 1319, 1320, 1333, 1336, 1338, 1348, 1351, 1352, 1355, 1359, 1360…; nạn đói năm 1310, 1333, 1354… rõ ràng phản ánh sự thay đổi khí hậu trong phạm vi toàn cầu, tức là sự bắt đầu của thời kỳ Tiểu Băng hà3, sau mấy thế kỷ có khí hậu ấm áp (khí hậu ấm áp Trung Đại).  Trong hoàn cảnh đó, xã hội nông thôn đã thay đổi như thế nào? Chúng ta có thể suy đoán điều đó (với cả tầm nhìn địa phương) qua tài liệu văn khắc. Về thời Lý trở về trước, phần lớn văn khắc được quý tộc và chùa Phật cho khắc ít nói về ruộng đất. Nhưng thời Trần có 37 văn khắc (trong đó 34 chiếc được khắc vào thế kỷ XIV) ghi về ruộng đất và các thứ tài sản khác, phần lớn như tài sản được cúng tiến cho nhà chùa. Bên cạnh sự cúng tiến quy mô lớn được ghi chép trong Thanh Mai viên thông tháp bi (khắc năm 1362) của sư Pháp Loa, nhiều văn khắc ghi chép sự cúng tiến quy mô nhỏ (hay gồm mảnh ruộng dưới 1 diện tức mẫu). Chủ cúng tiến gồm không ít đàn bà (không nhất thiết là đàn bà góa chồng).  Chủ cúng tiến hay có danh hiệu thư gia hoặc thư nhi (công việc như thư ký) và thị vệ nhân (lính bảo vệ cung điện), hoặc đội trưởng của những người đó là hỏa đầu. Có đàn bà có danh hiệu dưỡng mẫu (công việc chăm sóc con cháu quý tộc?). Phải chăng đó là những người thuộc tầng lớp trên trong làng xã? Những người rõ ràng có địa vị thấp như sở dịch nhân cũng xuất hiện như là người cúng tiến – nhiều khả năng họ lợi dụng sự phục vụ của mình với nhà nước để lấy cả tư điền lẫn dân điền mình cày cấy làm tài sản riêng để có thể cúng tiến cho nhà chùa. Quyền lợi cầu phúc qua cúng tiến không còn được lớp quý tộc độc chiếm nữa. Đó là bằng chứng trong tôn giáo về sự nâng cao địa vị xã hội của dân làng. Biểu hiện khác của địa vị xã hội nâng cao này chính là phong trào chống lại vương hầu của lớp nô tì-đầy tớ sau những năm 1330, sự kiện được ghi chép trong chính sử. Trước sự tiến lên của dân làng, nhà nước cuối thế kỷ XIV phải công nhận dân điền là tư điền, và trên đó nhà nước chỉ thu tô rất nhẹ (mỗi mẫu 3 thăng). Sau sự thay đổi phạm trù này, nguồn tài chính nhà nước phải dựa vào công điền (một phần nhà nước trực tiếp quản lý)  và tiền sưu dịch khá nặng (thuế đinh đời sau), trong khi bản thân tư điền chỉ bị đánh thuế sau thế kỷ XVIII.  Địa vị được nâng cao của toàn thể dân làng xã chắc phản ánh sự phát triển của sức sản xuất nhờ có khí hậu thuận lợi và sự nghiệp khai phá các vùng đồng bằng trong các thế kỷ trước, nhưng phát triển đó kèm theo sự tăng trưởng dân số nhanh chóng. Quy mô nhỏ hẹp của ruộng đất được cúng tiến nhiều khả năng phản ánh chiều hướng thu hẹp của quy mô canh tác-sở hữu. Vì một khi khí hậu trở nên bất lợi, thiên tai liên tục thì rối loạn xã hội (gồm cả tranh chấp ruộng đất) là điều tất yếu. Sự cúng tiến có thể là biện pháp cuối cùng của người dân để hạn chế rủi ro và bảo vệ quyền cày cấy của mình bằng cách đặt dưới sự bảo hộ của nhà chùa.      Hai đại biểu của tư tưởng Nho giáo tại Đại Việt và Triều Tiên trong thế kỷ XIV: Chu Văn An và An Hyang (An Hướng). Cuối thời Trần, cũng như Triều Tiên cuối Cao Ly – đầu Choson là thời kỳ diễn ra quá trình suy thoái của Phật Giáo, cùng với các cải cách của lớp nho sĩ trên cơ sở tầng lớp tiểu nông đang lên – với cải cách Hồ Quý Ly hay cải cách của phái Sinjinsadaebu (Tân tiến sĩ đại phu) là ví dụ. Nguồn: wikipedia.    Môi trường chính trị khu vực trong thế kỷ XIV cũng gây khó khăn cho nước Đại Việt. Ở phía Bắc, nhà Minh gia tăng sức ép hòng xây dựng lại bá quyền toàn cầu do đế chế Mông Cổ thiết lập trước đó (dù dựa trên các hình thức Trung Hoa). Biên giới phía Nam chịu sự tấn công liên tục của Chiêm Thành (Champa) trong những năm 1370-80. Tính chất ‘tranh giành thiên hạ’ của cuộc chiến Đại Việt – Champa cũng được phản ánh trong chính sử: Khi vua Champa Chế Bồng Nga đánh vào năm 1390, người Nghệ An (Nghệ Tĩnh ngày nay) có thái độ thần phục với hai phía, trong khi người Tân Bình và Thuận Hóa (Bình-Trị-Thiên ngày nay) phần lớn theo Chiêm4. Vị trí địa-chính trị của từng địa phương một cũng cần được tìm hiểu cụ thể bằng tầm nhìn địa phương. Chẳng hạn, vị trí giao điểm giao thông Nam-Bắc (Đại Việt-Champa) và giao thông Đông-Tây (biển Đông-vùng Trường Sơn giáp Lào) của Nghệ An đã ảnh hưởng đến thái độ chính trị-quân sự của nó như thế nào?     Những chuyển biến cơ bản của lịch sử Đại Việt trong giai đoạn Lý-Trần rõ ràng là một bộ phận không thể thiếu được của lịch sử toàn cầu – và vẫn còn nhiều vấn đề đáng nghiên cứu kỹ.    Mặt khác, tầm nhìn mạng lưới tộc người cũng cần thiết khi phân tích hoạt động của các cộng đồng người phân bố trong phạm vi nhiều nước như người Chăm, Thái-Lào, Hoa v.v. trong thời kỳ biến đổi ấy.  Khủng hoảng chính trị và đường lối cải cách thời cuối Trần cũng cần phân tích với tầm nhìn khu vực. Hoàng tộc nhà Trần vốn dựa vào sức lao động lệ thuộc và uy tín Phật giáo từ những năm 1330 đã mất dần sức mạnh chính trị và quân sự. Chế độ hôn nhân đồng tộc và thượng hoàng-hoàng thái hậu đã mất hiệu quả sau khi Trần Minh Tông (năm 1357) và vợ là hoàng thái hậu Hiền Từ (1369) mất. Những rối loạn sau đó đã đưa Hồ Quý Ly là đại diện ngoại tộc lên cầm quyền sau đời Nghệ Tông (lên ngôi năm 1370). Cũng thời kỳ đó là sự xuất hiện của lớp nho sĩ trên cơ sở lớp tiểu nông đang lên. Các nho sĩ và Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách mọi mặt, và ý thức đất nước-thần thoại-lịch sử phù hợp với xã hội mới cũng được các nho sĩ (như Phạm Sư Mạnh và Hồ Tông Thốc) tạo ra. Những cải cách đó bị thất bại dưới cuộc xâm lược của nhà Minh, nhưng đã tạo ra tiền đề cho các cải cách thời Lê Sơ. Quá trình suy thoái của Phật Giáo và cải cách của nho sĩ cũng xảy ra ở Triều Tiên từ cuối thời Cao Ly (Koreo) đến đầu triều Lý (Yi/ Choson).     Kết luận và đề xuất     Những chuyển biến cơ bản của lịch sử Đại Việt trong giai đoạn Lý-Trần rõ ràng là một bộ phận không thể thiếu được của lịch sử toàn cầu – và vẫn còn nhiều vấn đề đáng nghiên cứu kỹ. Rõ ràng nét đặc sắc của Việt Nam không được hình thành từ chân không, tính sáng tạo của dân tộc Việt Nam không được phát huy trên giấy trắng. Với tầm nhìn đa tầng của phương pháp lịch sử toàn cầu, chúng ta có thể làm sáng tỏ hơn cái độc đáo của lịch sử Đại Việt thời Lý-Trần.   Để tiếp tục nâng cao sự hiểu biết về lịch sử thời Lý-Trần và góp phần xứng đáng vào nghiên cứu lịch sử toàn cầu, tác giả có hai đề xuất. Thứ nhất, các nhà nghiên cứu hãy tăng cường sự trao đổi và cung cấp thông tin cho giới khoa học thế giới. Thứ hai, cần xây dựng nền ‘Hán học Mới’ không mang tính chất ‘Đại Hán’ nhằm phục vụ cho sự phát triển hơn nữa của bản thân sử học Việt Nam và cả sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực Đông Á. Với đóng góp toàn cầu và khu vực như thế, tác giả chắc rằng giới sử học Việt Nam sẽ có thể phát huy tiểm năng của mình một cách toàn diện.□  —–  Tài liệu tham khảo  Momoki Shiro (2011). Chusei Daietsu kokka no seiritsu to henyo (Sự thành lập và biến đổi của quốc gai Đại Việt trong giai đoạn Trung Đại), NXB ĐH Osaka.  Momoki Shiro (2019). “Cách tiếp cận mới của phương pháp sử học toàn cầu và một số vấn đề lý luận sử học”, Tia Sáng, số 06, 20/3/2019. Tr. 39-42.  Sakurai Yumio (1987) a. Betonamu sonraku no keisei (Sự hình thành của làng xã Việt Nam), Tokyo: Sobunsha.  Sakurai Yumio (1987) b. “Betonamu Koga deruta no kaitakushi”, Watabe Tadayo (chủ biên), Ine no Ajia-shi 2 (Lịch sử khai phá đồng bằng sông Hồng), trong cuốn Lịch sử châu Á lúa nước tập 2, Tokyo: Heibonsha. Tr. 235-276.  ——–  Chú thích:  1Sau này dân điền được đổi thành tư điền để tránh tên húy Đường Thái Tông (Lý Thế Dân).  2 Mandala là mô hình quyền lực chính trị phân tán tồn tại trong lịch sử Đông Nam Á (O. W. Wolters 1999). Vì các cơ chế hành chính và luật pháp chưa phát triển, sự hưng thịnh và suy vong của nhà nước phụ thuộc vào uy tín cá nhân cao thấp của vua trong các lĩnh vực quân sự, tôn giáo, kinh tế…  3 Sakurai Yumio (1989) còn chỉ ra ảnh hưởng của kỹ thuật đắp đê thô sơ có lẽ khiến nạn lụt dễ xảy ra hơ.?  4 Toàn thư cũng chép rằng vào năm 1390, khi được dâng đầu Chế Bồng Nga, Trần Nghệ Tông nói rằng: “Ta với Bồng Nga cầm cự nhau đã lâu, ngày nay mới được gặp nhau, có khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ, như vậy là thiên hạ đã định rồi.”    Author                Momoki Shiro        
__label__tiasang Tầm nhìn đến năm 2030: Năng lượng hạt nhân và những quốc gia chủ chốt      Nhu cầu điện gia tăng trên toàn cầu, cùng với sự cần thiết phải phát triển và sử dụng các nguồn điện an toàn, đáng tin cậy, có tính kinh tế đang thúc đẩy các nước xây dựng lò phản ứng hạt nhân mới. Bài viết xem xét triển vọng phát triển điện hạt nhân đến năm 2030 dựa trên các số liệu của Công ty phân tích dữ liệu, GlobalData.      Toàn cầu có hơn 400 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động, 54 lò đang được xây dựng ở 17 quốc gia khác nhau, khoảng 475 lò phản ứng hạt nhân chưa khởi công, nhưng đã được công bố sẽ xây dựng hoặc đã bắt đầu xin giấy phép và các khoản tài chính. Có vài loại lò phản ứng, nhưng lò nước áp lực (PWR) là loại phổ biến nhất với khoảng 70% tất cả các lò đang hoạt động thuộc loại này. Các loại lò phản ứng khác hiện đang hoạt động là lò áp lực nước nặng (PHWR), lò phản ứng nước sôi (BWR), lò phản ứng than chì nước nhẹ (LWGR), lò phản ứng làm mát bằng khí (GCR) và lò phản ứng tái sinh nhanh (FBR).  Tổng quan  32 quốc gia hiện đang vận hành lò phản ứng hạt nhân để phát điện. Một số quốc gia như Armenia và Slovenia, mỗi nước chỉ vận hành 1 lò thì số lò tại Hoa Kỳ và Pháp lần lượt là 95 và 57. Các quốc gia có công suất điện hạt nhân đáng kể là: Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Hàn Quốc với hơn 25 gigawatt (GW ) công suất lắp đặt tại mỗi nước. Canada và Ukraine, mỗi nước vận hành khoảng 13GW. Vương quốc Anh, Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Ấn Độ và Bỉ, mỗi nước có 5–10GW công suất điện hạt nhân lắp đặt. 16 quốc gia khác có một hoặc nhiều lò phản ứng, với công suất lắp đặt từ 0,4GW đến 4GW.  Trong giai đoạn 2020 – 2030 một số quốc gia tiến hành ngừng hoạt động lò và đến năm 2030, 12 quốc gia sẽ có ít năng lượng hạt nhân hơn so với hiện nay. Một vài nước đang tháo dỡ các nhà máy điện hạt nhân cũ và xây dựng các nhà máy mới, một số khác chủ động loại bỏ năng lượng hạt nhân và chuyển sang năng lượng tái tạo.  Năm 2010, Đức giảm công suất hạt nhân xuống còn chưa đến một nửa và đang trên tiến trình loại bỏ năng lượng hạt nhân vào năm 2022. Bỉ, Đài Loan và Thụy Sĩ đang thực hiện các chương trình tương tự loại bỏ năng lượng hạt nhân vào năm 2030.  Trong khi đó, Belarus, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ, đang trong quá trình các dự án điện hạt nhân mới. Belarus dự kiến vận hành lò phản ứng đầu tiên trong năm nay. UAE là quốc gia mới nhất bổ sung điện hạt nhân vào hỗn hợp năng lượng phát điện với lò phản ứng 1345MW trong năm 2020.  Tổng cộng có 49 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng và thiết lập để tăng công suất thêm 53,5GW từ năm 2020-2025, trong đó 13,4GW, tức 25% công suất  tăng thêm thông qua 13 lò phản ứng mới ở Trung Quốc. Ấn Độ, Hàn Quốc và UAE là những quốc gia khác hiện đang đang xây dựng các nhà máy điện hạt nhân với công suất đáng kể và dự kiến đưa vào vận hành từ năm 2020-2050. Ba quốc gia này dự định bổ sung 17,2GW trong khoảng thời gian này.  Dự báo theo khu vực    Hiện tại, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương và Bắc Mỹ vận hành 98% công suất điện hạt nhân toàn cầu (xem Hình 1). Trong nhóm này, cán cân sẽ thay đổi đáng kể từ năm 2020-2030, do tỷ lệ công suất của Châu Á Thái Bình Dương dự kiến sẽ gia tăng mạnh mẽ.  Các khu vực Trung Đông và châu Phi, Nam và Trung Mỹ hiện chiếm khoảng 1% công suất hạt nhân toàn cầu và đều không có bất kỳ đợt bổ sung công suất lớn nào.  Ở Trung Đông và châu Phi, chỉ có Nam Phi, UAE và Iran hiện có năng lực hạt nhân. Ả Rập Xê Út và Ai Cập chuẩn bị có lò phản ứng hạt nhân đầu tiên trong năm 2020–2030.  Ở Nam và Trung Mỹ, chỉ có Brazil và Argentina có năng lực hạt nhân và không có quốc gia nào khác có kế hoạch xây dựng lò phản ứng trong thời gian tới.  Công suất và tỷ lệ điện hạt nhân  Công suất lắp đặt toàn cầu của điện hạt nhân năm 2010 là 375,8GW, trong đó hơn 100GW là ở Hoa Kỳ. Trong năm 2011 và 2012, con số này giảm nhẹ sau hậu quả của thảm họa Fukushima khi một số lò phản ứng ở Nhật Bản ngừng hoạt động vĩnh viễn. Một số lò ở Đức cũng ngừng hoạt động trong cùng năm đó, như một phần của chính sách dài hạn mà nước này nhằm loại bỏ năng lượng hạt nhân.  Từ năm 2012–2019, tổng công suất lắp đặt tăng 30GW và đạt 404,7GW, mặc dù một số nhà máy đã ngừng hoạt động trên toàn thế giới. Điều này là do Trung Quốc bổ sung vượt quá 37GW trong giai đoạn này.  Từ năm 2020–2030, 12 quốc gia dự kiến sẽ giảm công suất hạt nhân bằng cách đóng cửa và ngừng hoạt động các nhà máy hiện có, dẫn đến giảm công suất hơn 30GW. Tuy nhiên, chỉ riêng Trung Quốc dự kiến sẽ thêm hơn 80GW trong giai đoạn này, tổng công suất lắp đặt trên toàn cầu dự kiến sẽ tăng đáng kể từ 404,7GW năm 2019 lên 496,4GW vào năm 2030 (xem Hình 2).    Năm 2000, tỷ lệ phát điện hạt nhân chỉ chiếm hơn 10% tổng công suất điện toàn cầu. Mặc dù bổ sung công suất đáng kể trong suốt giai đoạn 2000–2019, nhưng khi đó, tỷ lệ trên đã giảm xuống còn 5,4%.  Tuy công suất tăng và hiệu quả của các lò phản ứng hiện đại được cải thiện, điện hạt nhân đã giảm từ 17,2% năm 2000 xuống còn khoảng 10,2% hiện nay trên tổng điện toàn cầu. Các công nghệ khác lại bứt phá nhanh hơn trong giai đoạn này (chủ yếu là nhiệt điện từ năm 2000-2010 và các cơ sở năng lượng mặt trời và gió với quy mô lớn sau năm 2010).  Từ năm 2020-2030 điện hạt nhân có thể không giảm nhiều do số lượng lớn các lò phản ứng hạt nhân gia tăng sắp tới của Trung Quốc.  Tác động của COVID-19  Ngành công nghiệp điện hạt nhân coi vấn đề an toàn là khía cạnh quan trọng nhất do bản chất của công nghệ. Vì vậy, an toàn, sức khỏe và hạnh phúc của nhân viên nhà máy điện hạt nhân trở thành một phần cốt lõi trong hoạt động của nhà máy. Thực tế là, mọi khu vực chứa lò phản ứng hạt nhân – cho dù đang được xây dựng, vận hành hoặc ngừng hoạt động, đều có kế hoạch dự phòng, trong đó bao gồm kế hoạch cho tình huống đại dịch. Điều này giúp hầu hết các lò phản ứng tiếp tục hoạt động trơn tru ngay cả sau khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.  Tại nhiều khu lò, lực lượng lao động không thiết yếu được chuyển sang phương thức làm việc từ xa, được cung cấp các thiết bị và quyền truy cập cần thiết. Nhân sự cốt cán được yêu cầu ở lại các khu lò trong một thời gian dài để tránh nguy cơ nhiễm vi-rút, vì nếu họ bị nhiễm bệnh, nhà máy có thể phải ngừng hoạt động.  Rất ít lò đang hoạt động đưa ra thông báo cho công nhân nghỉ việc. Một số khu vực đang thi công đã báo cáo việc cắt giảm số lượng công nhân – cụ thể là Vogtle ở Hoa Kỳ, nhưng hầu hết các công trình vẫn tiếp tục.  Ngay cả những khu vực lúc trước bị đình chỉ xây dựng khi dịch COVID-19 bùng phát thì nay dã khôi phục hoạt động. Một số khác tiếp tục thi công với lực lượng lao động giảm để duy trì các biện pháp giãn cách xã hội. Điều này có thể dẫn đến sự chậm trễ ít nhiều để hoàn thành xây dựng và thử nghiệm, dẫn đến trì hoãn vận hành các lò phản ứng này.  Nhìn chung, trong ngắn hạn, chưa có bất kỳ ảnh hưởng quyết liệt nào của đại dịch COVID-19 đối với ngành điện hạt nhân. Không mất việc làm đáng kể, cũng không đình trệ phát điện. Trước đây, làm việc từ xa chưa từng được tính đến trong ngành thì nay đã được thử nghiệm, triển khai và điều chỉnh trong vòng vài tuần. Về lâu dài, một số lò có thể phải ngừng hoạt động do một số điều kiện như vi-rút lây lan mạnh hơn, tấn công sang lực lượng lao động quan trọng của lò phản ứng, hoặc do nhu cầu điện giảm đột biến.  Những yếu tố thúc đẩy thị trường điện hạt nhân  1. Tham vọng hạt nhân của nước lớn như Trung Quốc   Trung Quốc dự kiến có công suất điện hạt nhân lớn nhất vào năm 2026 vượt qua Hoa Kỳ và Pháp. Đến năm 2025, nước này định bổ sung thêm 40GW công suất hạt nhân mới và 40GW khác từ năm 2026–2030. Ngoài ra, các lò phản ứng với tổng cộng 200GW công suất khác đã được đề xuất. Đất nước Đại lục cũng thể hiện mối quan tâm đến lắp đặt số lượng lớn lò nổi nhỏ đóng trên các tàu cập cảng. Những ý định gia tăng công suất và ngày càng chú tâm đến việc trở thành nhà cung cấp lò phản ứng hạt nhân hàng đầu toàn cầu của Trung Quốc sẽ điều khiển, chi phối thị trường trong hai thập kỷ tới.  2. Các quốc gia nhỏ hơn mong muốn độc lập về năng lượng  Một số quốc gia hiện có ít hoặc không có năng lực điện hạt nhân đang xem công nghệ này là một lựa chọn khả thi để tăng tính độc lập về năng lượng và đa dạng hóa danh mục năng lượng của họ. Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Belarus hiện không có năng lực hạt nhân nhưng có các lò phản ứng trong các giai đoạn hoàn thành khác nhau. Vào năm 2030, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập đặt mục tiêu đạt khoảng 5GW điện hạt nhân,  Ả Rập Xê Út sẽ tiệm cận 3GW. Mong muốn tăng cường và đa dạng hóa danh mục đầu tư điện ở các thị trường mới khác có thể khiến năng lượng hạt nhân ngày một được quan tâm.    3. Mục tiêu và cam kết giảm phát thải   Điện hạt nhân được tạo ra do phản ứng phân hạch dẫn đến sinh nhiệt mà không có chất nào bị đốt cháy, vì thế nó trở thành một trong những nguồn điện sạch nhất. Một số quốc gia đang chịu áp lực giảm khí thải nhà kính và đã cam kết với cộng đồng quốc tế về việc giảm phát thải. Trong những Cam kết được xác định trên toàn quốc (Intended Nationally Determined Commitments) được đệ trình sau Cuộc đàm phán khí hậu Paris năm 2015, các quốc gia cam kết giảm đáng kể lượng khí thải và rất nhiều chiến lược liên quan được đưa ra dựa trên tăng cường nguồn điện sạch. Từ đây, điện hạt nhân trở thành một lựa chọn khả thi để đạt được các cam kết này.  Thách thức đặt ra cho thị trường điện hạt nhân  3. Sự phản đối của các tổ chức về môi trường  Các tổ chức môi trường quốc tế như Greenpeace liên tục thể hiện không tán thành việc xây dựng cơ sở hạt nhân mới và kéo dài tuổi thọ của các nhà máy điện hạt nhân già cỗi, với lý do mức độ an toàn giảm sút của các lò phản ứng trong suốt vòng đời thiết kế ban đầu. Trong chương trình nghị sự của hơn 30 tổ chức phi chính phủ (NGO) bàn luận đến vấn đề loại bỏ năng lượng hạt nhân trên toàn cầu. Làn sóng phản đối có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà máy mới được đưa vào vận hành. Ngoài ra, họ không đồng tình gia hạn hoạt động nhà máy, khiến các nhà phát triển công nghệ cảm thấy hoài nghi về tương lai của các nhà máy hoạt động vượt quá tuổi thọ thiết kế và lợi tức đầu tư nếu không được chấp thuận gia hạn tuổi thọ sau thời gian vận hành theo thiết kế ban đầu. Nhiều tổ chức phi chính phủ này có các nhóm chuyên trách nghiên cứu những khía cạnh tiêu cực do kéo dài tuổi thọ lò phản ứng. Họ cho rằng lò phản ứng cũ được tân trang lại có nguy cơ vi phạm an toàn cao hơn và khả năng xảy ra tai nạn cao hơn. Các nhà phát triển và nhà đầu tư sẽ thấy một dự án điện hạt nhân kém hấp dẫn hơn nếu nhà máy chỉ được phép vận hành đến hết vòng đời thiết kế mà không thể gia hạn.  2. Kế hoạch loại bỏ điện hạt nhân ở châu Âu  Sau khi thảm họa Fukushima diễn ra tại Nhật Bản, một số chính phủ đã xem xét lại chiến lược năng lượng hạt nhân. Một số quốc gia châu Âu quyết định loại bỏ hoàn toàn các dự án hạt nhân mới từ khi còn nằm “trên giấy” và chưa khởi công. Một số khác dự định cấm các công trình mới và ngừng hoạt động các nhà máy cũ. Đức, Thụy Sĩ, Bỉ và Đài Loan có công suất hạt nhân đáng kể nhưng dự kiến đóng cửa tất cả các lò phản ứng trước năm 2030. Để loại bỏ năng lượng hạt nhân, những lò phản ứng hết tuổi thọ theo thiết kế và giấy phép đều bị từ chối gia hạn giấy phép và cuối cùng phải đóng cửa. Theo đó, tính kinh tế của các lò phản ứng này không bị xáo trộn và, trong thời gian chúng hoạt động đến khi hết hạn giấy phép, các công nghệ khác cuối cùng sẽ dần thay thế và chiếm lĩnh thị trường tiềm năng của chúng. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường điện hạt nhân, khiến nó gần như trở nên vô hình trong vài năm tới tại các quốc gia có kế hoạch như vậy.  3. Đại dịch COVID-19  Cho đến nay, đại dịch COVID-19 không có bất cứ tác động bất lợi nào đối với thị trường điện hạt nhân ở bất kỳ quốc gia nào. Chỉ có một số lượng rất nhỏ các công trình lò phản ứng bị treo vào tháng 3, nhưng cuối cùng đã được tiếp tục với lực lượng lao động giảm đi một chút. Tuy nhiên, nhìn chung, nhu cầu về điện đã giảm ở hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới. Nếu nhu cầu tiếp tục giảm, hoặc nếu nhu cầu không có sự phục hồi đáng kể, một vài nhà máy điện sẽ bị ngừng hoạt động. Có khả năng một số lò phản ứng hạt nhân cũng bị yêu cầu tạm thời đóng cửa. Các lò hiện đang được xây dựng và dự kiến sẽ được đưa vào vận hành vào cuối năm 2020 hoặc đầu năm 2021 cũng có thể bị ảnh hưởng do thiếu nhu cầu điện, dẫn đến trì hoãn vận hành lò.  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.neimagazine.com/             Author                Quản trị        
__label__tiasang Tấm phim cách nhiệt giá rẻ giảm nóng bề mặt đến 10 oC      Các nhà khoa học vừa sáng chế ra một loại tấm phim cách nhiệt bằng plastic trong suốt không hấp thụ những ánh sáng nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng lại hút nhiệt từ bất kì bề mặt nào mà nó tiếp xúc.      Ban ngày, hầu hết các vật liệu – từ bê tông, nhựa đường, kim loại, đến con người – đều hấp thụ ánh sáng khả kiến và ánh sáng cận hồng ngoại từ mặt trời. Nguồn năng lượng bổ sung này kích thích các phân tử, làm chúng tăng nhiệt rồi cuối cùng tỏa ra năng lượng dưới dạng photon hồng ngoại sóng trung. Hiện tượng này giúp các vật liệu nguội đi, đặc biệt là vào ban đêm, khi chúng không còn hấp thụ ánh sáng khả kiến nhưng vẫn phát ra các photon hồng ngoại.  Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã cố gắng gia tăng hiệu ứng “làm mát thụ động” này bằng cách tạo ra những vật liệu hấp thụ ánh sáng khả kiến ít nhất có thể nhưng vẫn tiếp tục phát ra ánh sáng hồng ngoại sóng trung. Năm 2014, nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi Shanhui Fan, kĩ sư điện tại Đại học Stanford, Palo Alto, California, Mỹ, đã tạo ra một tấm phim từ silicon dioxide và hafnium oxide, vừa phản xạ hầu hết tất cả ánh sáng chiếu đến vừa phát ra ánh sáng hồng ngoại sóng trung rất mạnh, cho phép nó làm mát các bề mặt đến 5oC. Tuy nhiên, Fan và các đồng nghiệp của ông phải sử dụng công nghệ phòng sạch để tạo ra tấm phim, một quy trình đắt đỏ không hiệu quả khi đưa vào sản xuất ở quy mô lớn.  Xiaobo Yin, nhà khoa học vật liệu tại Đại học Colorado, Boulder, nhận thấy tấm phim cách nhiệt của Fan hoạt động hiệu quả một phần nhờ vào việc kích thích các photon hồng ngoại di chuyển giữa các lớp của tấm phim, khiến nó phát ra tia hồng ngoại mạnh hơn. Yin băn khoăn liệu có cách nào đơn giản hơn để tạo ra vật liệu có cùng tính năng như vậy. Ông và các đồng nghiệp đã trộn bột thủy tinh (gồm các hạt thủy tinh có đường kính khoảng 8 micromet – lớn hơn một chút so với một tế bào hồng cầu) với plastic thành những tấm trong suốt, rộng 30 cm, được gọi là polymethylpentene. Sau đó, họ phủ một lớp bạc mỏng sáng như gương ở mặt sau của tấm vật liệu.  Khi phủ tấm vật liệu này ra ngoài các bề mặt vào giữa trưa nắng, lớp bạc dưới cùng phản xạ hầu hết ánh sáng khả kiến chiếu vào: Tấm phim chỉ hấp thụ khoảng 4% photon chạm đến. Đồng thời, tấm phim cũng hút nhiệt ra khỏi bất cứ bề mặt nào mà nó phủ lên và phát xạ năng lượng đó ở tần số hồng ngoại sóng trung 10 micromet.  Vì chỉ có ít phân tử không khí hấp thụ hồng ngoài ở tần số đó nên bức xạ thoát vào không trung mà không làm nóng không khí hay những vật liệu xung quanh, khiến cho vật thể được che phủ bên dưới hạ nhiệt tới 10oC. Quan trọng không kém, Yin nhấn mạnh, tấm phim cách nhiệt này có thể sản xuất dưới dạng các cuộn, với giá chỉ từ 0,25 đến 0,5USD/m2.  Yin nói rằng ông và các đồng nghiệp đang nghiên cứu một ứng dụng nhằm làm mát nước dùng để làm mát các tòa nhà. Ở các nhà máy điện, làm mát nước chỉ một vài độ cũng có thể giúp tăng năng suất của nhà máy lên một hoặc hai điểm phần trăm, một “mối lợi lớn”, Yin nói. Kể cả không có lớp bạc phủ ở mặt sau thì tấm phim vẫn có thể làm mát các tấm pin mặt trời, nhờ thế giúp nó sản sinh nhiều điện hơn.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.sciencemag.org/news/2017/02/cheap-plastic-film-cools-whatever-it-touches-10-c       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tam Thanh: Hình hài mới bởi tay cộng đồng      Sở hữu địa thế độc đáo “biển một bên và sông một bên”, thiên nhiên hoang sơ, văn hóa còn giữ nét truyền thống, rất phù hợp với phát triển du lịch dựa trên bản sắc địa phương, thế nhưng suốt bao nhiêu năm nay, người dân xã Tam Thanh, tp Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, kiếm sống chủ yếu bằng nghề chài lưới và nuôi trồng thủy sản. Mãi cho đến giữa năm 2016, cái tên Tam Thanh mới bất ngờ xuất hiện trên bản đồ du lịch với sự ra đời của “Làng Bích họa” nơi đây. “Bước đà” này lập tức được “tiếp sức” bởi một dự án thí điểm phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng, lần đầu triển khai ở Việt Nam theo phương thức mời gọi sự cộng tác và hỗ trợ kỹ thuật tình nguyện của các giảng viên, sinh viên và các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Tiến sĩ, kiến trúc sư quy hoạch Tô Kiên, người đồng quản lý dự án, trò chuyện với Tia Sáng về thành công và cả một số điều lẽ ra đã có thể làm tốt hơn ở thử nghiệm đã góp phần mang về Giải Cảnh quan đô thị Châu Á 2017* cho TP Tam Kỳ mới đây.      Xã Tam Thanh có bảy thôn với khoảng 3.200 hộ dân và 12.000 nhân khẩu. Dự án thí điểm “Phát triển Du lịch Tam Thanh với sự Tham gia của Cộng đồng” được thực hiện từ tháng 9/2016 đến tháng 6/2017, với sự góp sức của người dân ở nhiều công đoạn như cung cấp thông tin, phân tích hiện trạng, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp cho đến đầu tư (tiền, công sức, vật tư), và sau này là vận hành, bảo trì sản phẩm đầu ra… Cùng với Làng Bích họa, nhiều nội dung đưa nghệ thuật vào không gian sống của cộng đồng thuộc dự án đã thành công trong việc biến Tam Thanh trở thành “Làng Nghệ thuật Cộng đồng” đầu tiên ở Việt Nam, mang về cho TP Tam Kỳ Giải Cảnh quan Đô thị Châu Á 2017. Trong ảnh: Con đường Thuyền thúng ở đoạn dốc ông Ổi, nơi sông – biển gần nhau nhất. Nguồn: FB Làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh.  Từ cho cộng đồng đến cùng cộng đồng  Anh đến với dự án như thế nào trong khi công việc chính của anh lúc đó là ở ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore?  Kể từ khi đi sâu nghiên cứu về thiết kế đô thị có sự tham gia của cộng đồng vào năm 2005, tôi đã triển khai nhiều dự án ở Singapore, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, v.v… Đặc biệt, từ năm 2014 đến 2016, tôi khởi xướng và đồng chủ nhiệm dự án quy hoạch địa phương dựa vào cộng đồng tại xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, TP HCM trong một hợp tác giữa ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore với ĐH Bách khoa TP.HCM và ĐH Văn Lang. Khi dự án kết thúc, tôi được mời tới Tam Kỳ đi thực tế nhằm chuẩn bị khởi động một dự án mới trong khuôn khổ Chiến lược Phát triển Thành phố dựa vào Cộng đồng của Tam Kỳ. Được trao cơ hội test một mô hình mới với độ phức tạp cao hơn để trau dồi chuyên môn và tiếp tục đóng góp cho quê hương, tôi hào hứng nhận lời và đặt bút viết bản thảo đầu tiên của chương trình dự án. “Vạn sự khởi đầu nan” quả thật rất ứng với giai đoạn chúng tôi tìm kiếm các chuyên gia giỏi và cùng chí hướng để lập ban chủ nhiệm, rồi sau đó tuyển sinh viên tình nguyện từ các trường đại học ở TP.HCM và Đà Nẵng. Tôi giữ vai trò chủ nhiệm dự án giai đoạn đầu, sang giai đoạn sau, khi team và mạng lưới dự án mở rộng, cần liên lạc kết nối nhiều bên, trong khi làm việc từ xa bộc lộ quá nhiều khó khăn, tôi chuyển giao vai trò và giữ vị trí phó chủ nhiệm.  Anh có thể cho biết đặc trưng của các dự án phát triển có sự tham gia của cộng đồng là gì?  Những thập niên gần đây đã chứng kiến xu hướng cộng đồng góp tiếng nói và tham gia ngày một chủ động vào các kế hoạch phát triển địa phương tại nhiều quốc gia. Xu hướng thiết kế đô thị cũng chuyển dịch dần từ “thiết kế cho cộng đồng” (cộng đồng thụ động) sang “thiết kế cùng cộng đồng” (cộng đồng tham dự) và về lâu dài sẽ hướng tới “thiết kế bởi cộng đồng” (cộng đồng chủ động khởi xướng). Ở các dự án kiểu này, người dân được tham gia vào nhiều khâu khác nhau: từ cung cấp thông tin, phân tích đánh giá hiện trạng, phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp đến đầu tư (góp tiền, công sức, vật tư), vận hành, bảo dưỡng sản phẩm. Các hoạt động của dự án về cơ bản không được thiết kế chi tiết từ trước mà chỉ lên khung sơ bộ rồi trong quá trình làm việc cùng cộng đồng mới được chi tiết hóa cũng như thay đổi linh hoạt theo tình huống thực tế.  Theo anh, dự án ở Tam Thanh có điểm gì khác biệt so với bối cảnh chung?  Ở các nước phát triển và có nền dân chủ lâu đời, cách làm “từ dưới lên” và “có sự tham gia” khá thuận lợi. Tuy nhiên ở nhiều nước châu Á, ngay cả như Singapore, cách làm này không dễ được tiếp nhận cả từ phía chính quyền lẫn cộng đồng, do nền tảng văn hóa-xã hội phong kiến tập quyền và bản tính thụ động, bàng quan, cả nể “trên dưới” của người châu Á. Ở Việt Nam nói chung, chúng tôi nghiệm thấy muốn dự án chạy tốt nhất thì cần phải kết hợp được cả cách tiếp cận “từ trên xuống” lẫn “từ dưới lên” để đạt được sự đồng thuận tối đa.  Ở dự án Tam Thanh, lúc đầu, nhiều thành viên còn giữ tư duy và cách làm cũ. Thí dụ, khi đi khảo sát thực địa, sinh viên và ngay cả một số chuyên gia thường quan sát và nhận xét, đánh giá theo suy nghĩ chủ quan. Tới một cộng đồng nghèo, thấy người dân sống trong điều kiện tồi tàn, thiếu thốn thì sẽ “tự đánh giá” là họ kém hạnh phúc và còn thiếu cái A, cái B. Nhưng khi phỏng vấn mới vỡ lẽ ra là họ cảm thấy rất hài lòng với hiện tại, và không cần cái A, B mà lại cần cái C ít ai nghĩ tới. Vậy nên chúng tôi luôn lưu ý các khảo sát viên là cần biết lắng nghe người dân và học hỏi họ. Mà muốn được cộng đồng chia sẻ thực lòng thì phải “làm bạn” với họ trước đã. Do vậy, đến với cộng đồng, việc đầu tiên chúng tôi làm không phải là phỏng vấn hay đo vẽ, mà là… giao lưu văn nghệ và chơi các trò thể thao tập thể với người dân (cười). Sau dự án, nhiều thành viên, trong đó có tôi, cảm thấy nhớ Tam Thanh với bao kỉ niệm cùng team và cộng đồng, nhớ những đêm cả đoàn thức trắng làm việc, nhớ những đêm ngủ nhà dân, trời trở rét nằm co ro trên sàn lạnh muỗi bay vo ve, ngủ chập chờn… Mỗi khi trở lại chúng tôi thấy như “về nhà”, được bà con tiếp đón như người thân. Đó là món quà vô giá cho bao kiên trì, vất vả mà các dự án thông thường khó đem lại.    Một họa sĩ tình nguyện hướng dẫn các em học sinh ở Tam Thanh trang trí thuyền thúng trước khi mang trưng bày. Nguồn: FB Làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh.  Chính quyền cầu thị, người dân hăng hái  Anh đánh giá mức độ thành công của lần thử nghiệm này như thế nào?  Nói một cách khiêm tốn, tôi cho rằng dự án đã thành công khoảng70%.  Thành quả của dự án thì có thể thấy rất rõ. Từ làng chài nghèo, giờ đây Tam Thanh đã trở thành một cái tên trên bản đồ du lịch, nhờ đó cuộc sống và thu nhập của người dân được cải thiện rõ nét, cảnh quan cũng đẹp hẳn lên, môi trường thì sạch hơn. Với cú hích Làng Bích họa và giờ có thêm dự án này, địa ốc ở Tam Thanh nghe nói tăng giá hàng chục lần, dù tất nhiên trong đó có yếu tố ảo (cười).  Dự án cũng tạo được những dấu ấn đặc sắc về kiến trúc cảnh quan như “Con đường Thuyền thúng”. Khi bắt đầu dự án, chúng tôi đã thảo luận rất kĩ về câu hỏi, tiếp theo bích họa sẽ là cái gì. Trong quá trình khảo sát thực địa, chúng tôi thấy các thuyền thúng được ngư dân xếp dọc bờ biển nhìn như một bức tranh nên thơ trên nền biển xanh cát trắng, nên đã nghĩ ra ý tưởng vẽ tranh trên thuyền thúng và sắp xếp kiểu nghệ thuật bố cục thành một con đường. Kết quả là hơn 100 thuyền thúng cũ, phần lớn do ngư dân hiến tặng, đã được nhiều họa sĩ vẽ tình nguyện hoặc hướng dẫn người dân tham gia vẽ. Kể từ đầu năm nay và càng gần về cuối, dự án ngày càng “nóng” trên các mặt báo và có thời điểm gần như gây “bão mạng”. (cười)  Khó nhận thấy hơn nhưng không kém phần quan trọng là những cải thiện về hạ tầng phục vụ du lịch được tham vấn và phản biện từ người dân. Bến xe buýt và các bãi đỗ xe, các tuyến đạp xe dọc biển và tuyến đi bộ kết nối sông-làng-biển, cổng làng mới, chòi vọng cảnh, nhà văn hóa mới, bảo tàng ngư nghiệp (cải tạo từ một nhà văn hóa cũ xuống cấp), hệ thống ki-ốt thông tin du lịch, bản đồ, bảng tin, biển báo, v.v đều được team thiết kế chi tiết. Tên các tuyến hẻm được đặt mới một cách độc đáo: tuyến hẻm chạy ra sông sẽ mang tên các loài cá nước ngọt ở địa phương như Cá Rô, Cá Trầu, Cá Bò…, còn tuyến chạy ra biển sẽ mang tên các loài cá biển như Cá Móm, Cá Thóc…  Những yếu tố quan trọng nào quyết định thành công của dự án, theo anh?  Trước hết phải kể đến chính quyền TP Tam Kỳ hết sức cầu thị và mong muốn đổi mới, còn bản tính người dân Quảng Nam vô cùng hồn hậu, hăng hái, nói là làm. Tôi cho rằng nếu dự án này được triển khai ở một thành phố lớn thì khó thành công hơn vì chính quyền địa phương sẽ ít quan tâm hơn, còn người dân thì cũng sống biệt lập, bận rộn và căng thẳng hơn nên không sẵn thời gian và tâm trí cho những công việc của cộng đồng. Bên cạnh đó, dự án đã mời gọi được sự tham gia của khoảng 70 tình nguyện viên là các giảng viên, sinh viên từ nhiều trường đại học như ĐH Kiến trúc TP HCM, ĐH Kiến trúc Đà Nẵng, ĐH Bách khoa Đà Nẵng…, các họa sĩ, chuyên gia về cộng đồng, truyền thông, marketing…, tất cả đều là những con người tuyệt vời, có trình độ và tấm lòng. Ngoài ra, những hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ như UN Habitat, Cities Alliance và nhà tài trợ như Tổng công ty Thiết bị điện Việt Nam Gelex cũng đóng vai trò rất quan trọng.    Tháng 6/2016, những bức tường cũ kỹ của hơn 100 ngôi nhà ở thôn Trung Thanh, xã Tam Thanh, đã được các họa sĩ Hàn Quốc và Việt Nam “thay áo” bằng những bức vẽ chân dung chủ nhân ngôi nhà, động vật biển hay nhân vật cổ tích… Sáng kiến này của Korea Foundation giúp Tam Thanh thu hút hơn 1.000 khách du lịch đến thăm vào mỗi dịp cuối tuần. Trong ảnh: Một tác phẩm tranh tường vui nhộn ở Làng Bích họa. Tác giả: Nguyễn Ngọc Pháp.  Hardware, Software, và Heartware trong phát triển đô thị  Điều gì khiến anh cảm thấy đáng tiếc vì lẽ ra đã có thể làm tốt hơn ở dự án?  Nhìn chung, tôi cảm thấy vui và hài lòng. Tuy nhiên, đúng là không có dự án nào hoàn hảo, mà luôn có những điều có thể làm tốt hơn, cần được ghi nhớ để làm bài học cho sau này.  Điều thứ nhất khiến tôi cảm thấy đáng tiếc là việc thực thi các ý tưởng của dự án chưa thật như ý, nhất là các hạng mục quy hoạch-kiến trúc-cảnh quan. Nguyên nhân thì nhiều, cả chủ quan và khách quan, trong đó có thể kể đến sự phối hợp nội bộ trong team, vốn đầu tư, tiến độ (rất gấp để kịp khai trương vào đúng dịp lễ hội biển và Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI), và thực tế nhóm thiết kế không có cơ hội thực hiện giám sát tác giả. Do là chương trình tình nguyện hữu nghị nên chúng tôi không giới hạn số lần yêu cầu sửa đổi các bản thiết kế, thành ra khi có nhiều bên tham gia ý kiến, hoặc khi có vướng mắc về vốn hay tiến độ, các phương án thiết kế lại phải đổi, gây vất vả không cần thiết cho nhóm thiết kế. Hoặc cũng có trường hợp công trình mọc lên khác nhiều so với phương án đã được duyệt, khiến cho nhóm tác giả tâm huyết cũng không khỏi ngỡ ngàng và băn khoăn. Vào giai đoạn cuối, một vài tình nguyện viên rút lui hoặc nản chí do công việc quá tải so với dự kiến  Một thí dụ khác, ở khu vực cổng làng có một bức tường hàng rào trải dài, ý tưởng của chúng tôi là biến nó thành bức tranh tường cộng đồng lớn do người dân cùng nhau vẽ dưới sự hướng dẫn của các họa sĩ. Nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có tiến độ quá gấp, cuối cùng bức bích họa đã được trao cho một họa sĩ có tên tuổi vẽ. Sản phẩm tất nhiên đẹp, nhưng không còn mang tinh thần cốt lõi về sự tham gia của cộng đồng, vì nếu được tham gia, người dân sẽ tự hào và có ý thức bảo vệ bức tranh hơn  Một số nội dung thú vị khác thì chưa thể xong ngay, như Làng Bách hoa (các nhà trên một số hẻm chính cùng trồng theo chủ đề một số loài hoa ở địa phương), Làng Không rác (nhằm tạo “thương hiệu” trong bối cảnh nhiều bãi biển đang bị xấu đi và ô nhiễm bởi rác thải), giải pháp villagestay (chuỗi dịch vụ lưu trú trải nghiệm thay cho homestay cục bộ), v.v. Đây đều là những hạng mục đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chúng tôi đã để lại các thiết kế gợi ý cụ thể để các cán bộ địa phương tiếp quản rồi cùng người dân thực hiện. Thực tế là sau một thời gian “bám” cùng dự án, một số cán bộ địa phương trẻ đã rất hiểu tinh thần dự án và chủ động trong công việc.  Nhiều nước coi trọng quy hoạch đô thị có sự tham gia của cộng đồng bởi sự tham gia đó là “điều kiện đủ” đảm bảo cho sự phù hợp, hiệu quả và bền vững của các dự án. Việt Nam có thể làm gì để sự tham gia của cộng đồng trở nên phổ biến hơn chứ không chỉ lẻ tẻ ở một vài dự án thử nghiệm như hiện nay?  Chúng ta đang tái cấu trúc nhiều thành phố, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải tạo các khu cũ và đô thị hóa các vùng ven đô. Đây đều là những việc mà tôi gọi là “phần cứng” (hardware). Tuy nhiên, đô thị còn có “phần mềm”(software), đó là nhiều nhóm xã hội với đặc điểm sinh kế, xã hội, văn hóa và lối sống khác nhau, những người sử dụng phần cứng. Để bản quy hoạch khả thi và bền vững thì hai phần cứng và phần mềm cần ăn khớp, vì nếu “cọc cạch” thì chúng sẽ không “tương sinh” mà thành ra “tương khắc”. Cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng chính là chìa khóa để xử lý vấn đề này. Còn một yếu tố nữa ít được nghĩ tới là “phần tâm” (heartware) – lương tâm và sự thấu cảm – trong quy hoạch và quản lý đô thị. Nếu cầu thị và lắng nghe tiếng nói của các chuyên gia và người dân thì các nhà quản lý sẽ nâng cao cả “tầm” trong chuyên môn lẫn “tâm” trong xử lý các vấn đề xã hội, từ đó thấu hiểu hơn nguyện vọng của người dân để có các giải pháp phù hợp và nhân văn.    TS.KTS Tô Kiên được đào tạo về Kiến trúc, Thiết kế và Quy hoạch đô thị tại Việt Nam, CHLB Đức và Nhật Bản, với 20 năm kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực này tại Việt Nam, Nhật Bản và Singapore. Trong ảnh: TS.KTS Tô Kiên hướng dẫn sinh viên tình nguyện cách tiếp xúc với cộng đồng, Tam Thanh, tháng 11/2016. Nguồn: Nhân vật cung cấp.  Trở lại với câu hỏi của bạn, tôi cho rằng đó cũng lại là một quá trình lâu dài, bền bỉ mà không chỉ chúng ta, nhiều nước trên thế giới  đang phấn đấu đạt tới. Vẫn rất cần các dự án thí điểm nhỏ lẻ nhưng gây được tiếng vang ở nhiều địa phương, sau đó chia sẻ kinh nghiệm trên nhiều kênh thông tin như báo chí, mạng xã hội, các hội thảo và triển lãm, và cuối cùng là xuất bản sách làm tài liệu tham khảo. Sau dự án Phú Xuân, team của ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore chúng tôi đã tổng kết và viết thành một cuốn sách tham khảo (bằng tiếng Anh). Từ dự án Tam Thanh, sắp tới đây chúng tôi cũng dự định viết một cuốn sách (song ngữ Việt-Anh) ghi lại quy trình, các bài học kinh nghiệm và các câu chuyện ý nghĩa để quảng bá rộng rãi, nhằm đóng góp về mặt lý luận cũng như thực hành trong lĩnh vực quy hoạch và thiết kế đô thị có sự tham gia của cộng đồng còn mới mẻ này.  Cảm ơn anh đã dành thời gian trò chuyện với Tia Sáng.  Thái Thanh thực hiện  ————  * Do UN-Habitat Châu Á-Thái Bình Dương phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Đô thị Châu Á Fukuoka, Hiệp hội Định cư Con người Châu Á và Hiệp hội Thiết kế Cảnh quan Châu Á tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh những mô hình thiết kế cảnh quan sáng tạo, giàu sức sống, và hài hòa với văn hóa địa phương.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tamoxifen không giúp ích trong việc điều trị bệnh viêm màng não chết người do nấm gây ra      Một kết quả thử nghiệm lâm sàng mới đây vừa được công bố trên eLife đã dập tắt hy vọng rằng tamoxifen có thể giúp cải thiện khả năng sống sót của bệnh nhân bị viêm màng não do nấm gây ra.      Các tế bào nấm Cryptococcus neoformans. Ảnh: Phan Hai Trieu     Viêm màng não do nấm Cryptococcus là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở những người nhiễm HIV, nhưng bệnh này cũng ảnh hưởng đến cả những người không nhiễm HIV – bất kể họ có bị suy giảm miễn dịch hay không. Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng đều do một loại nấm mang tên Cryptococcus neoformans (C. neoformans) gây ra, và các ca bệnh thường xảy ra ở những vùng nhiệt đới, nơi người dân có thu nhập thấp. Để điều trị bệnh, các bác sĩ thường kết hợp ba loại thuốc: đầu tiên là flucytosine và amphotericin B, sau đó là fluconazole. Tuy nhiên, ngay cả với liệu pháp tiêu chuẩn vàng này, một phần ba số bệnh nhân vẫn tử vong trong vòng 10 tuần sau khi được chẩn đoán. Hơn nữa, thuốc flucytosine không có nhiều và chi phí cũng rất cao, đồng nghĩa với việc nó hiếm khi được sử dụng ở những nơi gánh nặng bệnh tật cao nhất.     Tamoxifen có thể là phương án điều trị thay thế hiệu quả, bởi “nó có hoạt tính kháng nấm, có khả năng kháng lại các loại nấm men khác nhau trong phòng thí nghiệm; thêm vào đó, nó phối hợp với amphotericin để kháng lại hai phần ba số chủng Cryptococcus phân lập từ kho lưu trữ của chúng tôi. Là một loại thuốc mà chúng ta hiểu rõ, không bị giới hạn hay ràng buộc bởi bằng độc quyền, giá rẻ và phổ biến rộng rãi, đây là một ứng cử viên đầy hứa hẹn trong điều trị bệnh viêm màng não do cryptococcus gây ra”, đồng tác giả thứ nhất của công bố, Bác sĩ Nguyễn Thị Thúy Ngân (Khoa Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford – OUCRU) cho biết.   “Chúng tôi đã thiết kế một thử nghiệm ngẫu nhiên để xác định xem việc sử dụng kết hợp các loại thuốc này có thể giúp cải thiện tốc độ làm sạch Cryptococcus khỏi bệnh nhân viêm màng não mắc và không mắc HIV hay không”, đồng tác giả thứ nhất của công bố, Lê Thanh Hoàng Nhật, chuyên gia thống kê sinh học tại OUCRU, cho biết thêm.  Thử nghiệm gồm 50 bệnh nhân – 40 người nhiễm HIV và 10 người không nhiễm. Trong số đó, 24 bệnh nhân được điều trị theo lộ trình kháng nấm tiêu chuẩn gồm amphotericin B và fluconazole cộng với tamoxifen, và 26 người chỉ được điều trị theo lộ trình kháng nấm tiêu chuẩn. Nhóm nghiên cứu đã đo khả năng diệt nấm giai đoạn đầu (EFA) cho cả hai nhóm – tức là lượng C. neoformans trong dịch tủy sống của bệnh nhân giảm nhanh như thế nào trong hai tuần sau khi điều trị.  Dựa trên những thí nghiệm về hoạt tính kháng nấm trước đó, nhóm đã kỳ vọng sẽ thấy kết quả EFA ở những bệnh nhân đã thêm tamoxifen vào phương pháp điều trị kháng nấm sẽ cao hơn so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, họ không tìm thấy sự khác biệt nào trong kết quả EFA.  Sự khác biệt duy nhất giữa hai nhóm là độc tính ở tim của nhóm dùng tamoxifen tăng lên. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng cần sử dụng liều tamoxifen cao gấp 5–10 lần so với liều được sử dụng thường xuyên trong điều trị ung thư vú để có tác dụng kháng nấm. Nhưng dùng tamoxifen liều cao có thể gây tác động lên tim – và thậm chí có thể gây ngừng tim. Đã có một trường hợp đột tử ở nhóm dùng tamoxifen trong nghiên cứu, mặc dù trường hợp này xảy ra sau một thời gian dài sau khi dùng tamoxifen và nhịp tim của người đó không có biểu hiện bất thường.  “Mặc dù tamoxifen có tác dụng kháng cryptococcus và khả năng phối hợp với các thuốc khác, nhưng nó không làm tăng tốc độ thải nấm men khỏi dịch tủy sống ở những người bị viêm màng não và không có khả năng mang lại lợi ích lâm sàng”, Tác giả cấp cao Jeremy Day, Trưởng nhóm nghiên cứu Nhiễm trùng CNS và HIV tại OUCRU, và là giáo sư về Bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y học Nhiệt đới và Sức khỏe Toàn cầu, Đại học Oxford (Anh), nhận định.  “Kết quả của chúng tôi cho thấy tầm quan trọng của các thử nghiệm quy mô nhỏ như thế này, nó giúp đánh giá nhanh các loại thuốc có thể thay thế, từ đó giảm thiểu khả năng phí phạm thời gian và chi phí vào một nghiên cứu lâm sàng lớn hơn và có khả năng thất bại. Tuy nhiên, điều đáng buồn là kết quả thí nghiệm đồng nghĩa với việc chúng ta vẫn cần nhanh chóng phát triển các loại thuốc kháng cryptococcus mới, và chúng ta cũng cần đảm bảo rằng bệnh nhân có thể dễ dàng tiếp cận các phương pháp điều trị hiện có với giá cả phải chăng”, ông kết luận.      Anh Thư dịch     Nguồn: Tamoxifen repurposing study shows no benefit in treating deadly fungal meningitis    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tận dụng bùn đỏ      TS Nguyễn Trung Minh và đồng nghiệp thuộc Viện Địa chất, Viện KH&amp;CN Việt Nam đã nghiên cứu thành công việc tận dụng thành phần có ích của bùn đỏ, để tạo ra một loại vật liệu mới có khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải.      Bùn đỏ là sản phẩm (chất thải rắn) của quá trình khai thác bauxite và tinh chế alumina. Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu xử lý bùn đỏ nhằm mục đích loại bỏ một phần hoặc tiêu hủy an toàn và tận dụng thành phần có ích.  TS Minh cho biết, trong nghiên cứu này, ông và các cộng sự đã phát triển ý tưởng tận dụng thành phần có ích của bùn đỏ để tạo ra một loại vật liệu mới có khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải. Kết quả nghiên cứu ban đầu sự hấp phụ của vật liệu chế tạo từ bùn đỏ Bảo Lộc, Lâm Đồng với ion kim loại nặng Pb2+ và các thông số hóa lý, hấp phụ đẳng nhiệt khác, đã chỉ ra khả năng sử dụng bùn đỏ để xử lý ô nhiễm nước thải.  Ông mô tả nghiên cứu của nhóm mình như sau:  Trộn bùn đỏ với các loại phụ gia (như dầu cốc, cao lanh, thủy tinh lỏng(Na2SiO3) theo tỷ lệ nhất định, thêm lượng nước phù hợp và trộn nhuyễn. Hạt vật liệu có đường kính cỡ 2,5 mm, nung mẫu ở các nhiệt độ khác nhau từ 400độC đến 900độC. Trong đó mẫu C1 được chọn vì có dung lượng hấp và % hấp là tốt nhất đáp ứng được yêu cầu của một vật liệu hấp phụ thực tế. Các thông số của hạt vật liệu C1 cụ thể như sau:  Diện tích bề mặt BET = 109,5494 m2 / g, đường kính lỗ xốp  =  69,22 A0, pHPZC:  9,3 ¸ 9,7. Hạt C1 hấp phụ Pb2+ tốt trong khoảng pH = 5,5 – 6,5.  Thực nghiệm được thực hiện trong điều kiện pH tối ưu để xử lý Pb2+ là pH =6 và nhiệt độ 35˚C±0,5˚. Thời gian tối ưu để xử lý Pb2+ là 180 phút.  Với nồng độ Pb2+ là 6,25 mM thì dung lượng hấp phụ (qe) thực nghiệm của hạt vật liệu C1 đối với ion Pb2+ là 21,7 (mg/g) và tương ứng đạt 68,73% loại bỏ Pb ra khỏi dung dịch. Kết quả này cao hơn khả năng hấp của than hoạt tính (PAC) đang bán trên thị trường (15,99 mg/g) là 1,34 lần.  Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình hấp phụ Pb2+ trong điều kiện: nồng độ Pb2+ 1279 mg/l, pH = 6, thời gian khuấy 180 phút tại các nhiệt độ 35oC, 45oC. Các giá trị nhiệt động DHo, DSo, DGo xác định được cho biết: Giá trị DHo < 0, DSo < 0, DGo < 0 và sự tăng DGo khi tăng nhiệt độ cho thấy quá trình hấp phụ Pb2+ trên C1 là tỏa nhiệt và tự xảy ra. Giá trị /DH0/= 139,9754 (kJ/mol) cho thấy quá trình hấp phụ của hạt C1 là hấp phụ hóa học.  Tiến sĩ Nguyễn Trung Minh là nghiên cứu viên chính, Trưởng phòng Hóa phân tích và Quang phổ, Viện Địa chất, Viện KH&CN Việt Nam. Ông tốt nghiệp tiến sĩ hóa địa tại Viện Địa hoá Vernadsky, Viện Hàn lâm Khoa học Nga năm 2001. Sau đó, năm 2007 ông học sau tiến sĩ tại Khoa Khoa học trái đất và môi trường, ĐH Tổng hợp Korea, Seoul, Hàn Quốc.  Tham gia cùng ông trong nghiên cứu tận dụng bùn đỏ có gần 20 cộng sự Việt Nam và Hàn Quốc.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn từ những trò chơi truyền thống      Cho đến nay, sau một thập niên trôi qua, trong khi các chương trình truyền hình được đổi mới với nhiều trò chơi rất hấp dẫn đang thu hút đông đảo khán giả truyền hình dài dài có thể kể đến như: Ai là triệu phú, Đường lên đỉnh Olympia, Chiếc nón kỳ diệu, Hãy chọn giá đúng, Trò chơi âm nhạc…, thì không ít những trò chơi vang bóng một thời nay trở thành dĩ vãng: SV, Trò chơi liên tỉnh, Bảy sắc cầu vồng, Từ ánh mắt đến trái tim…    Tại sao vậy? Nếu nhìn dưới góc độ của kinh tế học hay marketing thì câu trả lời thật là đơn giản. Bất kỳ một ai, khi xem một chương trình trò chơi truyền hình đều mong muốn nhận được điều gì đó bổ ích, hấp dẫn, một câu trả lời thông minh, một cách ứng xử tinh tế, một hành động, một hình ảnh đẹp, ít ai muốn xem và cổ vũ cho những chương trình không hấp dẫn, có nhiều hành động gượng ép, trừ khi đó là đội nhà. Đây chính là hai điểm hoàn toàn trái ngược của hai nhóm trò chơi nêu trên.  Đối với những trò chơi cá nhân, hình như khi độc lập một mình, thì khả năng thể hiện sự thông minh sáng tạo của mỗi người sẽ dễ dàng hơn nhiều, những bài hùng biện rất hay của các sinh viên trong chương trình SV, sự đoán ý rất nhanh, những câu trả lời sắc sảo trong chương trình đường lên đỉnh Olympia nhận được không ít sự tán thưởng của người xem. Tôi nhớ lần đầu tiên tổ chức chương trình đường lên đỉnh Olympia, khi người dẫn chương trình vừa nêu câu hỏi và chỉ trong câu hỏi có một ý rất nhỏ liên quan đến tết Trung thu thì một thí sinh đã đoán ngay ra từ hàng dọc là Đèn ông sao, trong khi chưa có bất kỳ một từ hàng ngang nào được mở ra.  Ngược lại, đối với những trò chơi có sự phối hợp của tập thể, hình như có cái đó lúng túng, gượng ép. Trò chơi liên tỉnh chỉ được tổ chức đến lần thứ hai, SV2000 được quảng cáo rầm rộ như thế, nhưng là một thất bại rất lớn, khi xem người ta cảm thấy nó nhạt nhạt thế nào ấy, nhất là những phần thi tập thể. Có một lần, trong chương trình Bảy sắc cầu vồng, một đội bốc trúng câu hỏi đưa ra hành động để thể hiện biển báo giao thông là đường trơn trượt. Một bạn nam đã cố gắng đưa ra thông điệp của mình bằng mọi cách, nhưng bạn nữ chẳng hình dung ra gì cả và đưa ra những câu trả lời rất buồn cười. Chắc không ít người xem chương trình Ở nhà chủ nhật (trong những lần phát sóng đầu tiên) không ít lần phải chứng kiến những cảnh dở khóc dở cười của những cặp vợ chồng chơi trò đoán ý (phần đó nay đã được cắt bỏ), hay khi xem chương trình Từ ánh mắt đến trái tim, người xem thường được xem những ánh mắt xa lạ của những trái tim lạnh lùng…  Từ đây, có thể đặt câu hỏi phải chăng chúng ta đang gặp vấn đề về phối hợp, về làm việc nhóm hay thị hiếu của chúng ta không thích những hoạt động tập thể? Câu trả lời hình như thiên về vế thứ nhất hơn. Khi nói tới điều này, chắc không ít chúng ta nhớ ngay đến câu chuyện hài hước so sánh giữa người Việt Nam với người Nhật. Chuyện kể rằng một người Việt Nam bằng hai người Nhật, hai người Việt Nam bằng hai người Nhật, nhưng ba người Việt Nam không bằng một người Nhật. Cũng có người nói rằng mỗi người Việt Nam là một viên kim cương, mỗi người Nhật có thể chỉ là một hạt đất sét hết sức bình thường, nhưng khi nhập chung những viên kim cương lại thì chúng chỉ là một đống rời rạc, thậm chí, nếu có lực tác động, dồn nén thì chúng có thể tự làm vỡ nhau, ngược lại, khi nhập những hạt đất sét, những hạt xi măng nhỏ bé lại thì chúng lại tạo nên những công trình vĩ đại, lực nén càng nhiều, độ rắn chắc càng lớn. Mỗi viên kim cương là rất có giá trị, nhưng những công trình vĩ đại thì đáng giá hơn nhiều.  Đó chỉ là câu chuyện vui, nhưng trong thực tế hình như chúng ta chưa coi việc cùng phối hợp trong hoạt động kinh tế là điều cần thiết mà mỗi chúng ta luôn có tư tưởng muốn độc lập tác chiến hơn. Khi nhắc đến các hiệp hội, người ta hay nói đến chuyện “xé rào” của doanh nghiệp này, doanh nghiệp kia hơn là sự tuân thủ, thống nhất để tạo ra sức mạnh, tiếng nói chung. Nhiều doanh nghiệp, khi lớn lên thường có xu hướng “ra ăn riêng”, chia tách để mỗi người lập doanh nghiệp riêng của mình (điều này xảy xa ngay cả đối với các thành viên trong một gia đình), chứ việc sáp nhập để tạo ra lợi thế theo quy mô là rất ít. Trong đợt tiếp xúc với các cử tri và các doanh nghiệp ở Đồng Nai vào cuối năm 2004, Phó thủ tướng Vũ Khoan đã nói rất nhiều về điểm yếu trong việc kết hợp, tập hợp của các doanh nghiệp.  Nhìn chung, khi phối hợp cùng làm việc của nhiều thành viên, nhiều đơn vị, kết quả thường là một sự kết hợp theo kiểu “tôm – cua – cá” như mô tả của nhà báo Hữu Thọ trong tiểu phẩm báo chí “Chạy” được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành trong năm 2004.  Mặc dù không biết người phương Tây sau này sẽ đưa ra lý thuyết về hiệu quả kinh tế theo quy mô (economy of scale), lý thuyết trò chơi (game theory), trong đó nhấn mạnh đến vai trò của sự hợp tác, sự kết hợp hành động trong các cuộc chơi, nhưng ông cha ta đã hiểu rõ vai trò của nó và đúc kết vào câu thành ngữ rất đơn giản, nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Ai đó có óc khôi hài thì có thể nói rằng, nếu  truy lại thời điểm ra đời câu thành ngữ này thì hình như người Việt chúng ta phát hiện ra lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô, lý thuyết cộng hưởng trong vật lý trước cả người Tây.  Đoàn kết để tạo ra sức mạnh tập thể, do sự cộng hưởng, phát huy lợi thế theo quy mô trong quá trình bảo vệ đất nước là một điển hình của người Việt Nam, nhưng việc đoàn kết trong quá trình xây dựng đất nước cần phải có một sự cố gắng rất nhiều đối với mỗi người. Có như vậy, Việt Nam mới có thể tiến nhanh để sánh vai với các cường quốc năm châu, trở thành người chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.      Huỳnh Thế Du      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tận nhân lực, tri thiên mệnh”      Đó là câu nói nằm lòng của ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Minh Long I. Ông nói nhiều đến may mắn và số mệnh nhưng ông luôn tin rằng, mọi sự đổi mới không đến một cách tình cờ mà xuất phát từ nỗ lực vượt qua chính mình, từ năm này qua năm khác, một cách kiên trì và bền bỉ.    Công đoạn cắt khuôn của khay ăn. Để đảm bảo sản phẩm này vừa phẳng và vừa “dịu và rủ như tờ giấy”, ông Lý Ngọc Minh đã khéo léo xử lý phần mép và bốn góc của nó trong khâu chế tác.    Tự thoát ra khỏi những lối mòn  Vào dịp APEC 2006 tổ chức tại Việt Nam, chiếc cúp của Minh Long I được lựa chọn làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia. Chiếc cúp, biểu tượng chiến thắng của phương Tây, với thiết kế phần thân nở rộng đặt trên phần eo rất nhỏ sẽ lập tức đổ hoặc nghiêng khi đưa vào lò nung. Các hãng gốm sứ khác trên thế giới phải sử dụng giải pháp nung hai phần này riêng biệt rồi ráp lại bằng keo hoặc bắt ốc vít. Vào thời điểm bấy giờ, Minh Long I là hãng đầu tiên trên thế giới tìm ra kỹ thuật nung liền khối. Sau đó, họ đẩy độ khó của kỹ thuật này lên cao hơn trong hai tác phẩm Cúp Sen Vàng và Cúp Hồn Việt được trưng bày trong Festival gốm sứ Bình Dương có kích thước lớn, đặc biệt là chiếc cúp Hồn Việt có phần thân giống như một chiếc bình hoa cao gần một mét, chiều ngang gần 90 cm cộng thêm hai chiếc quai lớn là linh vật cách điệu giữa rồng và phượng đặt trên eo cúp chỉ nhỏ 8 cm. Tuy nhiên, đến chiếc chén ngọc ra đời nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội: chiếc chén lớn và nặng 29kg, lấy cảm hứng từ chiếc bát ăn cơm trong cung đình chỉ chạm nhẹ trên đôi cánh trông mỏng manh, cong cong, đang vút bay của ba linh vật đầu rồng, mỏ phượng mới đặt ra bài toán về lựa chọn vật liệu và nung liền khối phức tạp và kỳ công hơn bao giờ hết. Sau bốn năm thử nghiệm, chỉ đến những phút cuối trước khi giao hàng, họ mới kịp có được tác phẩm hoàn chỉnh, không bị nghiêng sau khi ra khỏi lò.  Những tác phẩm trên của Minh Long I đều có họa tiết màu xanh cobalt (màu được ưa chuộng nhất trong lịch sử gốm sứ thế giới) trên nền sứ trắng và được nung ở nhiệt độ cao là 13800C. Trong đó, ông Lý Ngọc Minh tự hào nhất là màu ông tái hiện thành công từ “màu Blue Huế” (bleu de Hue) – màu xanh vừa có màu lam của bầu trời, vừa có màu tím trên đồ sứ triều đình nhà Nguyễn đặt hàng riêng từ Trung Quốc. Trước đây, vì tình cờ mà những người thợ có được màu sắc ấy, bây giờ màu xanh này chỉ còn lưu lại trong bảo tàng và bộ sưu tập của các nhà bán đấu giá nổi tiếng trên thế giới. Việc nung thứ màu đặc biệt này ở nhiệt độ cao 13800C cũng là một kỳ công. Bản thân các hãng gốm sứ cao cấp nổi tiếng thế giới như Meissen (hãng đầu tiên ở châu Âu nung gốm ở nhiệt độ cao) cũng chỉ nung hoa văn ở nhiệt độ 8000C để tránh màu bị “bay” mất. “Màu Blue Huế” từng được dùng trên nền sứ trắng trên cúp Hồn Việt và Sen Vàng nhưng ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Minh Long I vẫn chưa thực sự hài lòng: “trắng thì nhàm, không toát lên vẻ rực rỡ”. Vì vậy, đến phiên bản cúp Sen Vàng tặng cho Mặt trận Tổ quốc nhân dịp Đại hội Đảng lần thứ 12, ông tự thử thách mình bằng cách phối màu “Màu xanh Huế” trên nền vàng chanh dịu: làm sao để hai màu mới, với thành phần hóa học khác biệt không bị “bay màu” hay thay đổi khi đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao?  Hai kỹ thuật tiên phong nói trên đều được áp dụng trong sản phẩm Minh Long phục vụ nhân dịp APEC 2017: Người ta có thể thấy màu “Màu xanh Huế” và màu vàng chanh trên bộ sản phẩm Hoàng Liên và kỹ thuật nung liền khối thể hiện trong chiếc Chén ngọc APEC. Nhưng kỹ thuật chế tác phức tạp nhất từ trước đến nay mà ông Lý Ngọc Minh cho rằng “phải nghiên cứu đã đời”, “khó vô cùng” lại nằm ở hai chi tiết tưởng chừng đơn giản: Khay ăn chính và nắp đậy. Làm thế nào để chế tác khay chính với kích thước siêu lớn và phẳng, có cấu trúc mềm mại như lụa và rồi sau khi nung không bị biến dạng vẫn giữ được vẻ duyên dáng như vậy? Việc tạo ra chiếc khay nằm ngoài khả năng của hệ thống máy móc hiện đại của Minh Long vì kích thước của nó to quá khổ (52×38 cm, chiều dài gần gấp đôi đường kính một chiếc đĩa ăn thông thường) và sẽ nhìn “cứng như một viên gạch” nếu đưa vào máy dập tự động. Còn chiếc nắp đậy là sự “vắt óc” tính toán làm sao để nó vừa mỏng, vừa nhẹ, khi vừa nung không bị méo vừa giữ được sự láng mịn ở mép vung vốn mảnh như một đường chỉ, đảm bảo cho việc lật giở vung luôn nhẹ nhàng, tinh tế, không gây trầy xước (sứ có hàm lượng aluminum oxide (Al.O3) cao – một chất mà độ cứng chỉ đứng sau kim cương nên nếu không đảm bảo được sự láng mịn tuyệt đối sẽ làm hỏng lớp men của đĩa).  Mỗi dịp tung ra một tác phẩm độc nhất vô nhị cho những dịp trọng đại như vậy là Minh Long I lại cố gắng thách thức những kỹ thuật chế tác trước đó của họ. Tác phẩm của họ, chủ yếu được làm thủ công với số lượng có hạn, giống như một bữa tiệc phô bày kỹ thuật trang trí hoa văn và thiết kế kiểu dáng cầu kỳ, đầy ắp những lớp nghĩa biểu tượng cùng kỹ thuật và những yêu cầu chế tác phức tạp ở mức độ cao được nâng cấp qua những thử nghiệm kéo dài hàng thập kỉ của những người thợ làm gốm ở đây. “Kỹ thuật có nhiều điều mà cuộc đời mình thì ngắn ngủi lắm. Tôi có thói quen là tham, cái gì cũng muốn biết, cái gì cũng muốn học.” – Ông Lý Ngọc Minh, “tổng công trình sư” những tác phẩm của Minh Long I chia sẻ.  Ông là người không bao giờ thỏa hiệp với những gì không phải là đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ. Lấy nhiệt độ nung là một ví dụ, với gốm sứ cao cấp, các nước châu Á khác chỉ nung ở nhiệt độ 12800C, riêng Nhật là 13450C nhưng Minh Long I nung ở nhiệt độ 13800C, ngang với các hãng hàng đầu của Đức, chỉ thêm 1000C nhưng nhiệt lượng tiêu tốn gấp đôi, để sản phẩm trong hơn, mịn hơn, bền hơn. “Tạo hóa lạ lắm, nhiệt độ cao mới thành kim cương, thành ngọc còn nhiệt độ thấp chỉ là đất đá” – Ông nói.    Bộ đồ ăn Hoàng Liên (có 29 sản phẩm) và chén ngọc APEC (hàng ba, bìa trái).     Mỗi lần làm một tác phẩm mới, đối diện với những bài toán mới, là một lần ông kéo mình ra khỏi lối mòn. Nhưng với ông, việc quyết định thực hiện những ý tưởng đó không phải là một cuộc đấu tranh với cái cũ để dám thử nghiệm cái mới mà chỉ đơn giản là sự cần mẫn, hoàn thành công việc của mình với kết quả cao nhất: “Thoát khỏi lối mòn cũng là do mình chịu khó, siêng năng, mình làm, mình mới phát hiện ra trong lối mòn đó có một lối khác. Nếu không bước vào đó, làm sao mình có kinh nghiệm, làm gì có đột phá, làm gì có cơ hội thấy được cái khác?”.  Làm những gì chưa ai làm  Người Đài Loan có câu ngạn ngữ: “Muốn hại bạn bè thì hãy xúi họ đi làm nghề sành sứ”. Sản xuất đồ sứ cũng giống như bước vào một mê cung nhưng không ai biết lối ra, luôn ẩn chứa những rủi ro không thể lường trước. Dù kiểm soát nghiêm ngặt nguyên liệu đầu vào, giấy hoa, nhiệt độ nung nhưng chỉ biết sản phẩm của mình có hoàn thiện hay không sau khi nó đã đi qua công đoạn cuối cùng, mở cửa lò, khi “gạo đã nấu thành cơm mất rồi”. Hàng trăm ngàn sản phẩm trên cùng một dây chuyền nhưng có thể không giống nhau, từ chất lượng cho đến hoa văn màu sắc.  Sau hai thời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới vào đầu những năm 1990 và 2008, theo đuổi lĩnh vực gốm sứ càng lộ rõ là một mong ước xa xỉ khi đầu tư quá tốn kém mà bán ra “không có giá”.Thế mà, “ngành sứ này khó vô cùng nhưng người ta không bỏ đi được, nó là cái nghiệp, nghiệp chướng” – Ông Lý Ngọc Minh cười.  Vào năm 2013, trên New York Times có một bài báo “tiễn biệt” một trong những nhà máy sản xuất gốm sứ lâu đời nhất của Ý, Richard Ginori (sáng lập năm 1735): Trong những ngày cuối cùng trước khi đóng cửa, các thợ làm gốm ở đây vẫn nghiên cứu và hoàn thiện những đơn hàng yêu cầu rất cao đến từ Nhật Bản với lý do “Không phải tự nhiên mà chúng tôi là những người thợ Ginori”. Thế giới vẫn chứng kiến một loạt những hãng gốm sứ “cứng đầu”, theo đuổi sự hoàn mỹ của nghệ thuật chế tác gốm sứ mà không trụ nổi trước sự cạnh tranh của những đồ sứ Trung Quốc giá rẻ tràn ngập thị trường mà phải đóng cửa như Wedgewood và Rosenthal (Ngay trước khi phá sản, họ vẫn mời Karl Lagerfield, một nhà sáng tạo, nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ thời trang đắt đỏ hàng đầu thế giới thiết kế chiến dịch quảng bá cho mình).      Ông từng tự nhận mình là một tay chơi chính hiệu trong một bài phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ, một tay chơi không màng đến sản lượng, doanh số hay lợi nhuận mà chỉ “tìm cách để tạo ra sản phẩm tốt nhất, chinh phục khó khăn và chơi tới cùng”.      Và một nghịch lý là, đứng trước sự rủi ro và tốn kém của ngành gốm sứ, ông Lý Ngọc Minh “đặt cược” vào một thứ rủi ro và tốn kém khác: Công nghệ cao. Ông sẵn sàng đầu tư những công nghệ mới ngay cả khi chưa rõ kết quả đầu ra với mong muốn có thể chuẩn hóa quy trình sản xuất gốm sứ.  Cách đây hơn 20 năm, Minh Long I là một trong những hãng đầu tiên trên thế giới sử dụng máy CNC (máy tiện cơ khí được điều khiển bằng máy tính) trong sản xuất gốm sứ. Ông Lý Ngọc Minh đã đầu tư tới 12 chiếc máy CNC, nhiều hơn bất cứ một cơ xưởng nào tại Việt Nam lúc đó, mỗi máy trị giá hàng trăm ngàn USD đi kèm với phần mềm điều khiển hơn 50.000 USD, bấy giờ là một con số đầu tư khổng lồ, ngoài một – hai hãng của Đức, các hãng có tiếng về gốm sứ ở châu Á như Nhật Bản, Đài Loan và ở châu Âu như Pháp, Ý đều chấp nhận tiện bằng tay còn hơn là bỏ ra một cái giá quá đắt để đem lại độ chính xác cao cho sản phẩm như vậy.  Sau đó vài năm, khi khái niệm làm phần mềm vẫn còn quá mới mẻ ở Việt Nam, ông đã không ngần ngại mua hệ thống máy chủ lên tới vài chục ngàn USD và mời những công ty công nghệ thông tin lớn nhất Tp. Hồ Chí Minh viết phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP), chi trả cho họ với số tiền “hậu hĩnh” là 2.000 USD/tháng. Cuối cùng, sau ba năm các kỹ sư công nghệ thông tin phải bỏ cuộc vì không thể ngờ được sự phức tạp của quá trình sản xuất gốm sứ với những sản phẩm đi ra từ cùng một mẻ nhưng lại có số phận và vòng đời khác nhau, phải phân loại, tái chế, loại bỏ, đánh mã số khác. Nhưng Minh Long I thì không dừng lại, họ tự lập ra một công ty công nghệ thông tin của riêng mình, sau 2 năm nghiên cứu và viết ERP, kiểm soát đến vị trí và điều kiện từng sản phẩm trong hàng trăm ngàn sản phẩm ra lò mỗi ngày trên một nhà kho rộng trên 120.000 mét vuông.  Ông Lý Ngọc Minh, sau nhiều năm đi và học hỏi ở khắp các công ty về gốm sứ hàng đầu thế giới, cho rằng mình học được ở người Nhật tính cần cù, chăm chỉ và tính chính xác của người Đức. Ít ai biết rằng, ông là một trong những doanh nhân đầu tiên ở Việt Nam đầu tư để xây dựng và vận hành nhà máy theo chuẩn ISO 9001 khi đây vẫn là một chỉ số mới mẻ ở Việt Nam, chi trả 250 triệu tại thời điểm đó (đó là con số cao nhất từ trước đến nay vì sau đó ba năm, dịch vụ này chỉ còn khoảng 50 triệu) cho một đoàn tư vấn của  GS. Nguyễn Quang Toản, người đầu tiên giảng dạy về ISO 9000 và quản trị chất lượng cho các trường đại học tại Việt Nam dẫn đầu.  Những rủi ro không thể lường hết và dù thế nào cũng không thể tránh khỏi những sản phẩm thất bại và tái chế sau mỗi mẻ gốm sứ khiến người ta không khỏi nghĩ đến những nỗ lực dùng công nghệ để đạt đến độ chính xác tuyệt đối trong sản xuất của ông Lý Ngọc Minh giống như tìm cách lấy bàn tay che cả bầu trời. Nhưng ông lại có một suy nghĩ khác, nghề nghiệp khiến ông nhận ra rằng, “99% mọi chuyện xảy ra là do số mệnh, chỉ 1% là do con người” nhưng “không có lý do gì mà 1% đó mình không quyết định đúng”.         Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Tân Thủ tướng Anh cam kết thúc đẩy điện hạt nhân      Boris Johnson đã biểu lộ sẽ hỗ trợ điện hạt nhân khi ông diễn thuyết trước Hạ nghị viện Anh lần đầu tiên với tư cách Thủ tướng vào ngày 25/7/2019. Mối quan tâm này của ông thực sự có ý nghĩa khi 7 trong số 8 nhà máy điện hạt nhân của Anh sẽ dừng vận hành vào năm 2030 trong khi các dự án xây mới nhà máy điện hạt nhân đang đối mặt với vấn đề tài chính trong suốt hai năm qua.      Nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C đang được xây dựng, nhìn từ bãi biển Lilstock. Nguồn: Sam Frost/The Observer  Trudy Harrison, thành viên của nghị viện đã đặt câu hỏi cho Johnson về Copeland, thành phố nằm ở tây Cumbria, có Sellafield, địa điểm tái chế nhiên liệu hạt nhân và tháo dỡ hạt nhân và địa điểm đề xuất cho dự án nhà máy điện hạt nhân Moorside. Bà hỏi Thủ tướng là liệu ông có đồng thuận “thời điểm này đã phù hợp cho sự phục hưng của điện hạt nhân” hay không, đồng thời cho biết thêm là Copeland xứng đáng là một “Trung tâm xuất sắc về hạt nhân”.  Johnson trả lời: “Đây đúng là thời điểm cho sự phục hưng của điện hạt nhân và tôi vô cùng tin tưởng vào việc điện hạt nhân phải là một phần của chiến lược phát triển năng lượng hỗn hợp của chúng” và cũng cho biết thêm, năng lượng hạt nhân sẽ giúp cho đất nước đạt các mục tiêu cắt giảm khí thải carbon.  Vào ngày 22/7/2019, ngày Johnson được bầu vào vị trí dẫn đầu Đảng Bảo thủ hai ngày trước khi ông chính thức thay thế bà Theresa May làm Thủ tướng Anh, chính quyền đã mở một cuộc thảo luận về đầu tư cho các nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn và một đề xuất đầu tư trị giá 18 triệu bảng (tương đương 22 triệu USD) vào các lò phản ứng công suất nhỏ (SMR).  Greg Clark, Tổng thư ký của Bộ Doanh nghiệp, năng lượng và chiến lược công nghiệp (BEIS), thông báo trong tháng 6/2018 là chính phủ có thể sẽ cân nhắc về khả năng tồn tại của mô hình  Regulated Asset Base (RAB) – một hệ thống thiết kế biểu giá dài hạn nhằm mục tiêu khuyến khích đầu tư một cách cơ bản trong mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng – cho các dự án điện hạt nhân mới. Các thành viên tham gia hội ý này cho rằng, vì mức chi phí của các công nghệ năng lượng tái tạo tiếp tục hạ thấp, chúng có xu hướng đem lại nguồn điện phát thải khí carbon thấp chính vào năm 2050. Và các nguồn này vẫn đóng vai trò chính của các công ty năng lượng phát thải carbon thấp vào năm 2050.  Mô hình RAB có thể không được áp dụng cho nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C (HPC), vốn đang được công ty điện lực Pháp EDF xây dựng ở Somerset, Anh nhưng sẽ được áp dụng cho các nhà máy trong tương lai. Vì nhiều nhà máy như 5 dự án xây mới nhà máy điện hạt nhân đã được lập kế hoạch – do Công ty điện lực EDF và Tổng công ty điện hạt nhân Trung Quốc (CGN); NuGeneration (NuGen); và công ty điện hạt nhân Horizon thực hiện.  Công ty EDF Energy đang xây dựng hai lò phản ứng nước áp lực châu Âu (EPRs) tại Hinkley Point với khoản tiền 33,5% từ CGN. Họ lên kế hoạch xây các nhà máy điện hạt nhân mới tại Sizewell ở Suffolk và Bradwell ở Essex, trong đó có sử dụng công nghệ lò phản ứng của Trung Quốc. Công ty Atkins, một thành viên của SNC-Lavalin Group, đã loan báo là đã được trao hợp đồng trị giá 5 triệu bảng cho thiết kế cơ bản ở Sizewell C. Đây sẽ là chương trình xây dựng đầu tiên để khởi động nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò nước áp lực châu Âu EPR.  Vào tháng 11/2018, Toshiba Corp đã thông báo là đã hủy dự án xây mới nhà máy điện hạt nhân có công suất lên tới 3.8 GWe với công nghệ lò phản ứng AP1000 của Westinghouse tại Moorside và có thể kết thúc cả việc quản lý một dự án gắn với nó, NuGen. Trước đó, quá trình đánh giá thiết kế tổng thể (Generic Design Assessment GDA) về thiết kế lò phản ứng đã hoàn tất vào tháng 3/2017, cùng tháng, công ty Westinghouse (thuộc quyền sở hữu của Toshiba) đã nộp hồ sơ xin bảo hộ phá sản lên tòa án Mỹ (vào tháng 1/2018, công ty quản lý tài sản lớn nhất Canada là Brookfiled Asset Management đã công bố mua lại Westinghouse Electric).  Sau đó, vào đầu năm 2019, dự án xây mới nhà máy điện hạt nhân của công ty điện hạt nhân Anh Horizon đã bị hoãn, dẫu cho hợp tác với công ty Hitachi Nhật Bản đã được tiến hành cẩn trọng với kế hoạch cung cấp ít nhất 5,4 GWe điện năng ở mỗi địa điểm – Wylfa Newydd, ở bắc Wales, và Oldbury-on-Severn, ở tây nam nước Anh – thông qua việc triển khai các lò nước sôi tiên tiến (ABWR) của Hitachi-GE. Quá trình đáng giá thiết kế tổng thể GDA về thiết kế lò phản ứng ABWR đã hoàn tất vào tháng 12/2017. Đón nhận kinh phí từ chính phủ, Horizon cho rằng một khoản đầu tư mới và một mô hình tài chính mới sẽ là “một trong những bước đi thiết yếu” nếu tái khởi động các hoạt động phát triển điện hạt nhân.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://world-nuclear-news.org/Articles/UKs-new-premier-promises-boost-for-nuclear-power    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng cơ hội cho cả nhà nghiên cứu lẫn doanh nghiệp      <p align=”justify” class=”MsoNormal” style=”margin:0in;margin-bottom:.0001pt;text-align:justify;  line-height:normal”>Đầu tháng 8/2013, Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ đã nghiệm thu công trình xây dựng Vườn ươm DN công nghệ TBI của Đại học Cần Thơ. PGS TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ cho biết: việc phát triển ý tưởng lập “vườn ươm doanh nghiệp” vào lúc này càng có ý nghĩa khi các doanh nghiệp gặp khó khăn đến mức “tồn tại hay không tồn tại’.    Hoạt động đào tạo chuyên ngành ở Đại học Cần thơ hiện có 14 khoa, số lượng  tiến sĩ làm việc tại trường có 235 vị, ngoài ra có 740 thạc sĩ. Trong đội ngũ đào tạo và nghiên cứu của nhà trường, có 73,3% có trình độ sau đại học; đây là nguồn nhân lực được đào tạo đa ngành mà hiện vần duy trì mối liên hệ chặt với các nguồn đào tạo có tiếng trên thế giới chính là chỗ dựa vững chắc của vườn ươm.  TS Lê Nguyễn Đoan Khôi, phó trưởng phòng Quản lý khoa học, đang phụ trách vườn ươm cho biết việc thiết kế vườn ươm   nhằm gia tăng các hình thức tương tác giữa nghiên cứu với các đơn vị sản xuất (doanh nghiệp hay các cơ sở SX nông nghiệp tại các địa phương); khích lệ ý tưởng sáng tạo của các nhà khoa học; dẫn dắt – thu hút ý tưởng sáng tạo trong sinh viên và  là nơi trao đổi, chia sẻ kết quả nghiên cứu, chuyển giao, tác động tiến trình đổi mới công nghệ, quản trị; chia sẻ học thuật giúp cho thế hệ doanh nhân tương lai đủ bản lĩnh, năng lực và ý thức trách nhiệm xã hội. Vườn ươm DN đã thảo luận đi đến chương trình hợp tác với Hội DN.HVNCLC, kết nối và thúc đẩy tiến trình đổi mới công nghệ, quản trị trong các doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt  Thực tế hoạt động nghiên cứu tại ĐH Cần Thơ khá mạnh nhưng vẫn vướng nhiều ách tắc: Nhà trường đầu tư chi phí cho nhiều công trình nghiên cứu khả dụng nhưng lại không có quảng bá,thực hiện giao dịch, không tìm được cơ chế nhượng quyền, mua-bán…nên nhiều công trình nghiên cứu bị bỏ quên hoặc ngược lại – vừa đưa ra khu vực hóa (trường hợp các  giống lúa) đã dễ dàng bị đánh cắp; lại có nhiều nhà khoa học phải nhận hợp đồng dịch vụ các địa phương theo cách được đặt hàng “từng gói “, thực hiện các công trình nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể của địa phương (do địa phương trả chi phí) và việc thẩm định kết quả tùy theo tỷ lệ bỏ phiếu của …các ban ngành. Nhiều kết quả nghiên cứu về sản phẩm, dịch vụ, xây dựng quy trình sản xuất… từ các khoa thuộc trường đại học Cần Thơ thực sự có tố chất phát triển thành sản phẩm thương mại nhưng hiệu quả rất hẹp vì không được biết đến và lưu hành trên thị trường. Đặc biệt, có thể kể: Kỹ thuật phá quang kỳ, rút ngắn thời gian sinh trưởng các giống lúa bản địa nổi tiếng ngon cơm; ứng dụng kỹ thuật điện di tạo ra các giống lúa chịu phèn, mặn thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu; các kết quả nghiên cứu phân bón hữu cơ, các dòng nấm hữu ích, dòng sản phẩm Dasvila hỗ trợ  trồng lúa theo hướng hữu cơ, cây trái ngon lành; các công trình nghiên cứu hỗ trợ ngành nghề truyền thống như mắm, rượu, mứt, nước quả …  Các Phòng thí nghiệm ở trường đại học Cần Thơ  có trang thiết bị khá tốt và chuyên gia sâu nhưng cũng chưa được khai thác đúng mức.  “Vườn ươm từ nay sẽ giúp việc quản lý, khai thác các nghiên cứu được hợp lý hơn. Trước hết , các phòng thí nghiệm ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa sản phẩm theo yêu cầu khách hàng. Vườn ươm sẽ sử dụng mọi lợi thế trong trường hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh không vì mục tiêu lợi nhuận”, TS Khôi – nhà thiết kế và điều hành vườn ươm nói.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng cường kết nối sáng tạo khoa học với doanh nghiệp      Để đẩy mạnh ứng dụng khoa học sáng tạo vào thực tiễn, cần có sự bắt tay giữa nhà khoa học và doanh nghiệp, đây được xem là con đường tốt nhất để thương mại hóa các công trình khoa học và cũng là cách làm để đưa các công trình khoa học vào cuộc sống.      Đây là ý kiến của Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân tại Hội thảo Doanh nghiệp (DN) với ứng dụng khoa học sáng tạo, từ chính sách đến thực tiễn do Văn phòng Quốc hội phối hợp tổ chức chiều 19/11.  Chia sẻ với các đại biểu có mặt tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho biết, trong những năm qua, hệ thống chính sách, pháp luật về KH&CN tiếp tục được hoàn thiện theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động KHCN. Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, như: Luật KHCN; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ… còn nhiều chương trình, đề án quốc gia khác về phát triển KHCN.  Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, hoạt động KHCN ở các bộ, ngành cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, công tác quản lý hoạt động KHCN được đẩy mạnh; hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về KHCN ở địa phương cũng như hoạt động sự nghiệp, dịch vụ KHCN tiếp tục được củng cố và phát triển…  Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn của việc ứng dụng sáng tạo khoa học cho thấy, các kết quả nghiên cứu KHCN được ứng dụng triển khai vào thực tiễn còn hạn chế. Sở dĩ có điều này do các nghiên cứu ứng dụng triển khai cần phải có những phối hợp liên ngành và đa ngành, trong khi các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào chuyên môn sâu và chuyên ngành hẹp. Thị trường KHCN hiện nay mới được hình thành, cơ chế chính sách và thông tin khoa học chưa hoàn thiện, còn thiếu kết nối giữa nhà khoa học và DN, nhiều sản phẩm nghiên cứu hữu ích, có giá trị thực tiễn cao nhưng không có địa chỉ chuyển giao.  Một trong những khó khăn và thách thức nữa là chưa có những chính sách hỗ trợ của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc chuyển giao công nghệ nhằm phát triển và đổi mới công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.  Đại diện cho các nhà DN, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam đánh giá, với 97,6% tổng số DN đang hoạt động trên cả nước, nếu tính cả 3,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, làng nghề và 138.000 hợp tác xã, trang trại thì lực lượng DN là vô cùng đông đảo. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, khối DN sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn do khả năng cạnh tranh còn thấp, trong đó có vấn đề về ứng dụng KHCN để nâng cao giá trị sản phẩm.  Tuy nhiên, thực tế, bản thân các DNVVN nước ta có quy mô nhỏ bé dần, phạm vi hoạt động hẹp, hạn chế về vốn, công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản trị bài bản, tiếp cận tín dụng và bảo lãnh. Ngoài ra, môi trường kinh doanh, đầu tư chưa thực sự thông thoáng và bình đẳng, hệ thống tổ chức và cách thức hỗ trợ phát triển chưa phù hợp…  Chia sẻ những khó khăn với DN, đại diện cho cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng, để đẩy mạnh ứng dụng sáng tạo khoa học vào thực tiễn, cần có sự bắt tay giữa nhà khoa học và DN. Đây được xem là con đường tốt nhất để thương mại hóa các công trình khoa học và cũng là cách làm để đưa các công trình khoa học vào cuộc sống.  Các nhà khoa học phải nghiên cứu cái gì DN cần chứ không phải nghiên cứu theo ý muốn và ngược lại, DN cũng cần có sự chủ động trong nâng cao trình độ và ứng dụng KHCN vào sản xuất.  Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng khẳng định, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật để hỗ trợ cho DN trong việc chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho DN có nhiều cơ hội hơn để tiếp xúc với các nghiên cứu KHCN tiên tiến…  Đồng tình với quan điểm này, đại diện Ủy ban KH, CN và Môi trường của Quốc hội nêu rõ, trong năm 2016, Quốc hội sẽ có giám sát chuyên đề trong lĩnh vực KHCN và định hướng phát triển cho giai đoạn mới.  Có thể thấy rõ, ứng dụng nghiên cứu KHCN là động lực chính cho các DN nâng cao hiệu quả sản xuất.  Cũng tại Hội thảo, các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong lĩnh vực KHCN đã được nghe những câu chuyện thực tế, có cả khó khăn và thuận lợi của DN trong việc ứng dụng KHCN vào sản xuất. Từ đó, có định hướng nhằm hoàn thiện chính sách trong lĩnh vực KHCN, đặc biệt đẩy mạnh ứng dụng KHCN vào thực tiễn, đẩy mạnh phát triển KHCN theo hướng sáng tạo; đồng thời, tháo gỡ những khó khăn cho DN khi mà những cơ chế chưa thể hoàn thiện trong trước mắt.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Tang-cuong-ket-noi-sang-tao-khoa-hoc-voi-doanh-nghiep/241837.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4      Ngày 4/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4).      Kỹ sư của MimosaTEK, startup cung cấp giải pháp IoT trong nông nghiệp, đang lắp thiết bị cảm nhận nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng của cây trong một nhà kính. Ảnh: MimosaTEK  Theo chỉ thị, để chủ động nắm bắt cơ hội, đưa ra những giải pháp thiết thực có thể tận dụng tối đa các lợi thế và giảm thiểu những tác động tiêu cực của CMCN 4 đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan trung ương, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời gian từ nay đến năm 2020 tập trung chỉ đạo, thực hiện một số giải pháp và nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ của Bộ KH&CN là:  1. Tập trung thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; Chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương triển khai có kết quả Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2016.  2. Tập trung xây dựng, thúc đẩy các hoạt động ứng dụng, nghiên cứu phát triển, chuyển giao các công nghệ chủ chốt của cuộc CMCN 4. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hệ Tri thức Việt số hóa” trong Quý II năm 2017.  3. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan kết nối các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ để tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4, trong đó, tập trung thực hiện có hiệu quả các Chương trình KH&CN quốc gia về Toán học, Vật lý, Khoa học cơ bản; các chương trình Đổi mới công nghệ, Phát triển công nghệ cao, Sản phẩm quốc gia, Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp, Sở hữu trí tuệ, Công nghiệp sinh học….  4. Chủ trì, phối hợp với Bộ TT&TT cung cấp kịp thời thông tin để định hướng dư luận nhận thức đúng về CMCN 4.  Các Bộ Công Thương, NN&PTNT, GTVT; Xây dựng; VHTTDL phối hợp với Bộ KH&CN tổ chức lựa chọn, đề xuất các sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh của ngành mình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý IV năm 2017 để xem xét, chỉ đạo tập trung đầu tư phát triển.    Author                T. H        
__label__tiasang Tầng lớp trung lưu đang lụi tàn      Tyler Cowen, một trong những nhà kinh tế học  có ảnh hưởng nhất trong thập niên vừa qua theo khảo sát của tạp chí The  Economist, dự đoán tầng lớp trung lưu sẽ “lụi tàn” do với máy tính thông  minh, một nhân viên cũng làm được nhiều việc như một chuyên gia.    Thưa ông Cowen, máy tính đã thay thế những công việc của nhân viên thư ký, bảo vệ hay nhân viên tổng đài điện thoại. Tới đây máy tính sẽ còn thay thế những nghề gì nữa?   Máy móc, chương trình máy tính và người máy sẽ xuất hiện nhiều hơn trong nhiều nghề khác nhau, từ người lái xe tải cho đến thầy thuốc. Hiện nay, đã có các chương trình máy tính làm công việc của các luật sư, người máy tiến hành phẫu thuật ở người bệnh và cũng đã có ô tô tự lái. Sẽ hay hơn nếu bạn hỏi: những nghề gì trong vài chục năm tới không dễ gì thay thế.   Thưa ông, liệu có nguy cơ xảy ra thất nghiệp hàng loạt hay không?  Tôi nghĩ là không, máy móc sẽ không dễ gì thực hiện nhanh chóng mọi công việc. Có những công việc cũ sẽ bị huỷ bỏ nhưng sẽ xuất hiện những công việc mới. Chỉ có điều, phần lớn những vị trí làm việc mới có mức lương không cao bằng những công việc cũ. 10 đến 20 % lao động trình độ cao sẽ kiếm được rất bộn tiền – những người khác thì ít hơn. Tầng lớp trung lưu sẽ tàn lụi.    Thưa ông, tại sao lại như vậy?  Bởi vì với việc sử dụng máy tính thông minh một nhân viên phụ trợ trong tương lai sẽ làm được nhiều việc như một chuyên gia hiện nay. Thí dụ một công ty luật ngày nay ít sử dụng những đối tác trẻ để nghiên cứu các văn bản luật với mức lương 160.000 đôla một năm – một thực tập sinh kết hợp với một chương trình máy tính cũng đủ để hoàn thành công việc này.      Chương trình phần mềm sẽ thay thế cho tấm bằng bác sỹ?  Nhiều người sẽ nhận ra rằng, việc họ đầu tư nhiều cho đào tạo đã bị lỗi thời. Để có thể làm chẩn đoán trong phòng bệnh, không lâu nữa người ta không nhất thiết phải có bằng bác sỹ. Vì đã có phần mềm giúp họ. Có nghĩa là người ta chỉ cần có chút ít kiến thức về y học nhưng phải biết sử dụng máy tính thành thạo.  Có nghĩa là tất cả chúng ta sẽ phải học lập trình?  Không, không phải như vậy. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu một chương trình máy tính nhất định sẽ hoạt động như thế nào. Và bạn phải biết đánh giá, máy tính tốt ở điểm nào và dở ở điểm nào.    Thưa ông, thế còn những người không làm được điều đó?  Không phải mọi người sẽ đều làm việc với máy móc. Số việc làm trong ngành dịch vụ sẽ ngày càng nhiều – là lao động chân tay, xã hội và tâm lý, những loại việc này không dễ gì tự động hoá.  Người đặc biệt tinh thông nghề nghiệp của mình sẽ có thể kiếm được nhiều tiền: một trợ lý giỏi, đáng tin cậy, một huấn luyện viên Yoga giỏi, một thợ làm vườn đặc biệt tài hoa.  Một dự báo không mấy sáng sủa.  Triển vọng không mấy sáng sủa. Phân chia thu nhập sẽ rất không bằng nhau, người được nhiều không hẳn đã có hạnh phúc. Nhiều người có thể tự do hơn khi quyết định về công việc của mình, đảm đương những nhiệm vụ thú vị, và nhiều người sẽ có một cuộc sống, có quan hệ xã hội phong phú. Bạn hãy nhìn Berlin mà xem. Ở đó, nhiều người tuy có ít tiền nhưng lại có một cuộc sống kiểu người Bô-hê-miêng. Nhiều người thông minh, có năng khiếu nghệ thuật và kiếm sống bằng cách liên kết nhiều nghề với nhau.   Nhưng ở Berlin giá thuê nhà tăng và đẩy những nghệ sỹ ra ngoài lề.    Họ bao giờ cũng tìm được một chỗ mà ở đó cuộc sống dễ chịu hơn. Những người Mỹ trẻ thường kéo tới Texas, nơi đây đất rộng nên tiền thuê nhà khá rẻ. Texas vì thế trở nên có tính nghệ sỹ hơn.   Thưa ông sự phân hoá giầu-nghèo trong xã hội chẳng phải là một đặc điểm của Mỹ đó sao? Ở Đức nền kinh tế phát triển bùng nổ, 42 triệu người có việc làm.  Chỉ có điều sự không đồng đều ở Mỹ thể hiện sớm hơn so với nhiều nước khác. Hiện chỉ có 8% dân Mỹ trong độ tuổi lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất, và tỷ lệ này sẽ tụt xuống bằng không. Ở Đức nền công nghiệp mạnh hơn, vì vậy sự chuyển đổi sẽ diễn ra chậm hơn. Tuy nhiên sự tự động hoá sẽ tăng lên. Và mặc dù nền kinh tế phát triển bùng nổ nhưng 15 năm nay tiền lương lại không tăng.  Về lâu dài không một ai muốn cùng một lúc làm ba công việc khác nhau để có thể trụ lại ở Berlin khi tiền thuê nhà tăng lên. Liệu có nguy cơ bất ổn sẽ xảy ra nay mai không, thưa ông?  Tôi tin rằng cách mạng sẽ không xảy ra. Lần cuối cùng xảy ra bạo loạn là những năm 1960, đúng vào thời điểm tầng lớp trung lưu phát triển. Xã hội Đức và Mỹ giờ đây nói chung già hơn nhiều – và vì vậy người ta bảo thủ hơn và ôn hoà hơn.  Thưa ông những loại công việc gì trong tương lai vẫn sẽ được trả công hậu hĩnh?  Nếu bạn là một nhà quản lý giỏi, có khả năng tâm lý tốt, bạn biết cách động viên con người và giỏi về Marketing thì trong tương lai gần như máy móc sẽ không thể cạnh tranh với bạn. Mọi công ty luật vẫn cần có đối tác, để qua đó nhận được những bản hợp đồng mới. Những loại công việc như thế hiện nay đã được trả công khá hơn trước.    Trong tương lai chủ yếu máy móc tạo nên sự thịnh vượng, vậy sự phân chia thịnh vượng đó có buộc phải khác với hiện nay hay không?  Có lẽ phúc lợi xã hội sẽ tăng hơn, điều này tại Mỹ đã thể hiện qua cuộc cải cách y tế Obamacare. Có lẽ máy móc và sở hữu trí tuệ sẽ bị đánh thuế cao hơn trong tương lai.  Phải chăng đó chẳng qua chỉ là một sự đánh bóng bề ngoài? Chỉ có một số ít người trở nên giàu có, phong lưu hơn.  Đúng vậy, nhưng người thông minh có thể thoát nghèo và tìm đường ngoi lên tới đỉnh. Những người trẻ tuổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc có thể học đại học qua mạng Internet. Vì tất cả diễn ra online, mọi sự đều được đánh giá thường xuyên, liên tục. Việc phát hiện tài năng diễn ra nhanh chóng hơn nhiều. Ai thực sự là người có tài thì nhất định sẽ được chào đón, lôi kéo cho dù người đó đang sinh sống ở tận Ấn Độ.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng quy mô lưu trữ thông tin lượng tử      Các nhà nghiên cứu đã trình diễn một phương pháp lưu trữ thông tin lượng tử bằng việc “vẽ” các mẫu hình sóng spin lên một tập hợp các nguyên tử.      Kevin Cox tại Phòng thí nghiệm Quân đội Mỹ ở Maryland, đã hình dung một mạng lượng tử, trong đó thông tin lượng tử được “vẽ” lên một tấm toan làm bằng các nguyên tử chứ không phải là một dãy các bit lượng tử riêng biệt. Anh và cộng sự đã thiết lập cách để tạo ra một nền tảng lưu trữ các kích thích lượng tử lên một hình dạng các mẫu sóng spin trong một tập hợp nguyên tử được giữ trong một hốc quang học. Nhóm nghiên cứu đã trình diễn kỹ thuật đó của mình bằng việc lưu trữ bốn sóng spin riêng rẽ theo cách này.  Năng lực lưu trữ thông tin của các máy tính cổ điển được gia tăng bằng việc nâng số lượng các bit mà chúng chứa. Các máy tính lượng tử có thể được gia tăng quy mô bit lượng tử nhưng các chồng chập lượng tử – vốn cho phép việc “hòa nhập” một cách đồng thời của các mức kích thích lượng tử phức tạp lên một nhóm các nguyên tử đơn lẻ – cho phép sử dụng được các khả năng khác. Một trong số đó liên quan đến việc ghi nhận thông tin như các mẫu hình và các kết nối trong một mạng rộng, theo một cách giống như cách lưu trữ thông tin trong não người. Sự đa hợp sóng spin, nơi một tập hợp các nguyên tử bị kích thích với ánh sáng trang trí – đề xuất một con đường đạt được mục tiêu này.  Trong công trình của mình, Cox và cộng sự đã “in” một tập hợp gồm một triệu nguyên tử với một sóng spin – một dòng thông tin được lưu trữ trong một mẫu pha lượng tử của một nhóm các spin – bằng kích thích các nguyên tử với hai chùm tia laser. Bằng việc điều chỉnh góc và pha của các chùm laser này, các nhà nghiên cứu đã kiểm soát mẫu sóng spin mà họ đã tạo ra đó. Họ đã chứng tỏ rằng họ có thể đưa cả bốn sóng spin khác nhau vào vừa hốc quang học. Tuy nhiên họ cũng cho rằng với những điều chỉnh tinh tế hơn kỹ thuật này, họ có thể lưu trữ nhiều hơn với số lượng 1000 sóng spin riêng rẽ.  Nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên Physical Review Letters “THz Generation from Relativistic Plasmas Driven by Near- to Far-Infrared Laser Pulses”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/synopsis-for/10.1103/PhysRevLett.123.263601       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp và nhà nghiên cứu để thúc đẩy đổi mới sáng tạo      Tại buổi họp báo thường kỳ quý 2 của Bộ KH&CN ngày 19/7/2019, ông Lê Ngọc Lâm, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) đã nhấn mạnh đến những tác động của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2019) đối với việc bảo vệ kết quả sáng tạo của các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và thúc đấy ứng dụng, chuyển giao các kết quả đó.      Nghiên cứu giống lúa mới có nhiều đặc tính chịu hạn và mặn ở Viện Lúa ĐBSCL. Nguồn: Báo Nhân dân   Trong bối cảnh Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã có hiệu lực từ ngày 14/1/2019, Việt Nam phải thực hiện các cam kết của mình trong CPTPP – một trong những hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới có quy định bảo hộ quyền SHTT ở mức rất chặt chẽ. Do đó, Luật SHTT đã được sửa đổi tập trung vào 5 vấn đề là cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, sáng chế, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và bảo vệ quyền SHTT. “Chúng ta nên lưu ý vấn đề mấu chốt: dù là FTA hay Luật SHTT thì việc thực thi chúng cũng là nhằm hỗ trợ chứ không phải ngăn cản các hoạt động sáng tạo và nếu các nhà khoa học, nhà sáng chế cũng như các doanh nghiệp có được những hiểu biết đầy đủ và nắm vững được các quy định về SHTT, họ sẽ có cơ hội tận dụng tối đa luật để bảo hộ quyền sở hữu của chính mình. Ngược lại, nếu ai đó chỉ chăm chăm đi sao chép, xâm phạm quyền của người khác thì chắc chắn sẽ bị chế tài của luật pháp điều chỉnh”, ông Lê Ngọc Lâm nói.  Để giải thích rõ hơn vấn đề này, ông đã đơn cử sáng chế, một trong năm nội dung điều chỉnh của Luật SHTT, vốn tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu có nhiều cơ hội chuẩn bị khi tăng thời gian ân hạn nộp hồ sơ đăng ký quyền SHTT với sản phẩm phát minh, sáng chế có được trong quá trình nghiên cứu. Ông đề cập về lợi ích mà Luật SHTT mới mang lại: “Trước đây, sau khi xuất bản công bố trên các tạp chí quốc tế, các nhà khoa học chỉ có 6 tháng để chuẩn bị hồ sơ gửi lên Cục SHTT đăng ký bằng phát minh, sáng chế, nếu không sẽ mất tính mới của sản phẩm. Nay với quy định mới, họ sẽ có cả một năm để chuẩn bị các công việc cần thiết trước khi nộp hồ sơ. Trong trường hợp này, bài báo công bố sẽ không làm mất tính mới của sáng chế”. Ông cũng lưu ý các nhà nghiên cứu, qua thời hạn 12 tháng đó, ân hạn sẽ không còn nên nếu có hồ sơ đăng ký sáng chế thì chắc chắn Cục STTT sẽ không chấp thuận.  Tuy nhiên, việc tăng thời gian ân hạn của đăng ký sáng chế không chỉ tác động đến các nhà khoa học mà còn cả đến doanh nghiệp. Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy, người chủ trì buổi họp báo, đã bổ sung thông tin về tác động mang tính hai chiều của Luật: thúc đẩy quá trình tạo ra tài sản trí tuệ nhưng ngược lại, việc sử dụng tài sản đó cần phải có trách nhiệm hơn. “Thời gian 12 tháng ở đây tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà khoa học là trong vòng 12 tháng sau khi công bố bài báo quốc tế vẫn có thể đi đăng ký bằng phát minh sáng chế. Nếu trong khoảng thời gian đó, các doanh nghiệp sử dụng kết quả đấy vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình thì doanh nghiệp vi phạm quyền tác giả về phát minh sáng chế. Khai thác kết quả khoa học không có nghĩa là thấy công bố công trình là mình có thể miễn phí mang về ứng dụng luôn”, ông nói.  Việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT không chỉ góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, ví dụ trong chuyển giao bằng đăng ký sở hữu công nghiệp, bên giao và bên nhận không cần đến Cục SHTT để chứng nhận mà có thể tiến hành thỏa thuận như đối với một hợp đồng dân sự về một loại tài sản thông thường, mà còn đem đến những biện pháp bảo vệ quyền SHTT ở mức cao hơn. Do đó, ông Lê Ngọc Lâm cho rằng, “để thực thi một cách hữu hiệu quyền của chủ sở hữu, doanh nghiệp cần nắm được các quy định mới một cách rõ ràng. Nếu không, các doanh nghiệp có thể gặp phải bất lợi nếu như không biết rõ luật, có thể sẽ dẫn đến việc xâm phạm SHTT một cách vô tình và phải chịu những chế tài cao trong CPTPP. Trước đây ở các vụ tranh chấp, khiếu kiện về SHTT, nếu nguyên đơn thua thì không xảy ra vấn đề gì cả, nhưng với CPTPP thì bị đơn có thể yêu cầu nguyên đơn trả chi phí hợp lý để thuê luật sư của họ”.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Tăng tốc độ truyền phát tín hiệu nhờ “siêu vật liệu” graphen      Một thí nghiệm mới phát hiện một lớp phân tử graphen có khả năng đẩy tốc độ truyền phát tín hiệu nhanh hơn 1000 lần, từ gigaherzt (GHz, 1 GHz tương đương tần số 1 tỉ Hz) đến teraherzt (THz). Tức là số tín hiệu truyền đi trong một giây sẽ nhiều hơn gấp một nghìn lần so với trước đây. Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Nature.      Ảnh: Một thí nghiệm mới cho thấy khả năng đặc biệt của graphen: biến đổi tín hiệu đầu vào (màu đỏ) thành các tín hiệu tần số cao hơn (màu vàng, lục, lam).  Graphen hay graphene là tấm phẳng dày bằng một lớp nguyên tử của các nguyên tử carbon với liên kết sp2 tạo thành dàn tinh thể hình tổ ong. Tên gọi của nó được ghép từ “graphit” (than chì) và hậu tố “-en” (tiếng Anh là “-ene”); trong đó chính than chì là do nhiều tấm graphen ghép lại.  Các sóng điện từ ở tần số teraherzt vô cùng khó tạo ra, cũng như khiến các linh kiện silicon truyền thống gặp rất nhiều khó khăn khi xử lý. Tuy nhiên, các thiết bị sử dụng nguyên liệu graphen không chỉ dễ dàng trong xử lý sóng teraherzt mà còn có tốc độ nhanh hơn rất nhiều các thiết bị hiện tại.  Nhà vật lý học Dmitry Turchinovich (ĐH Duisburg-Essen, Đức) cùng các cộng sử đã thử nghiệm khả năng sản sinh sóng teraherzt của graphen bằng cách truyền vào tấm graphene một bức xạ 300 GHz. Khi các bước sóng truyền tới, các electron trong phân tử graphen sẽ nóng lên và nguội đi nhanh chóng, giải phóng các bước sóng có tần số cao hơn sóng đi vào gấp 7 lần. Đây được coi là kì tích thứ hai mà graphene đã tạo ra. Graphene vốn đã được coi là một “siêu vật liệu” có những khả năng phi thường, ví dụ như dẫn dòng điện mà không cần điện trở.   Các tín hiệu 300 GHz chuyển đổi qua tấm graphen lần thứ thứ một nghìn, mười nghìn và trăm nghìn đã đạt được những tần số cực cao tương ứng là 0.9, 1.5 và 2.1 THz (1 THz= 1000 GHz). Tỉ lệ chuyển đổi này vẫn còn khá nhỏ nhưng xét trên điều kiện là một tấm kim loại đơn thì lại rất đáng kể.     Ảnh: Các bước sóng 300 GHz (màu đen) đi qua tấm graphen được chuyến hóa thành các bước sóng cấp terahertz cao gấp ba, năm và bảy lần (tương ứng: màu đỏ, lục, lam) tần số ban đầu.  Các linh kiện máy tính bằng graphen với tốc độ truyền thông tin ở mức teraherzt hứa hẹn được sử dụng trong các siêu máy tính với tốc độ xử lý rất cao và các thiết bị nano siêu tốc trong tương lai.     Phạm Nhật lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.sciencenews.org/article/how-graphene-could-make-future-electronics-superfast?tgt=nr     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng trưởng của Việt Nam có thực sự nhanh và bền vững?      Quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam hiện đang nằm giữa hai nhóm phát triển thấp và trung bình. Từ thực tế này, hai câu hỏi cần đặt ra là: Thứ nhất, tại sao mặc dù xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn, đồng thời tỷ lệ đầu tư trên GDP lại rất cao so với các nước trong khu vực nhưng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ ở mức trung bình của khu vực? Thứ hai, tăng trưởng của Việt Nam có ổn định và bền vững hay không?      Cả hai câu hỏi này đều không phải là những câu hỏi dễ dàng. Đối với câu hỏi đầu tiên, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam không cao vì hiệu quả đầu tư của nền kinh tế thấp, được thể hiện qua hệ số ICOR – là hệ số cho biết số đơn vị đầu tư (tính theo % của GDP) cần thiết để đạt được 1% đơn vị tăng trưởng GDP, nghĩa là nếu chỉ số này càng cao thì hoạt động đầu tư càng kém hiệu quả. Nhìn vào Bảng 2 ta thấy ICOR của Việt Nam hiện đang rất cao so với Hàn Quốc và Đài Loan trong những giai đoạn phát triển tương đương. Chẳng hạn như Đài Loan đã duy trì được tốc độ tăng trưởng 9,7% trong suốt 20 năm mà chỉ cần đầu tư 26,2% GDP, trong khi đó Việt Nam đầu tư tới 33,5% GDP nhưng tốc độ tăng trưởng trung bình cũng chỉ đạt 7,6%. Nói cách khác, cái giá phải trả cho tăng trưởng của Việt Nam cao gần gấp đôi so với Đài Loan.  Hệ số ICOR của Việt Nam so với một số nước trong khu vực                Nguồn: FETP tổng hợp từ số liệu của WB, WDI, Niên giám Thống kê Đài Loan 1992  Câu hỏi thứ hai đưa chúng ta trở về với bối cảnh chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây, trong đó một vấn đề nổi lên hàng đầu là lạm phát. Mặc dù tốc độ tăng trưởng không có sự cải thiện đáng kể nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lại tăng đột biến, từ mức 3-4% vào đầu những năm 2000 lên tới 12,6% năm 2007.  Không thể phủ nhận việc giá xăng dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường thế giới tăng nhanh trong thời gian qua là nguyên nhân khách quan dẫn tới việc tăng giá nhiều mặt hàng tiêu dùng hiện nay. Tuy nhiên, vấn đề lạm phát ở Việt Nam không đơn thuần chỉ là do yếu tố khách quan, mà quan trọng hơn chính là do các yếu tố chủ quan, có tính nội tại của nền kinh tế. Cụ thể là, thứ nhất, nếu lạm phát có nguyên nhân chủ yếu từ việc tăng giá thế giới thì các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia… cũng đều phải chịu cú sốc tương tự. Tuy nhiên, lạm phát ở các nước này tính đến thời điểm hiện nay lại thấp hơn đáng kể so với Việt Nam (Hình 2). Nguyên nhân chính là cả Việt Nam và Trung Quốc đều có tỷ lệ đầu tư/GDP cao kỷ lục, tín dụng tăng trưởng rất nhanh, trong đó một tỷ lệ rất lớn được dành cho các DN nhà nước kém hiệu quả. Đồng thời, tính không độc lập của Ngân hàng Nhà nước làm xói mòn khả năng điều hành chính sách tiền tệ và chống lạm phát của cơ quan này. Thứ hai, tuy đã nhìn thấy và đưa ra một số chính sách kiềm chế lạm phát nhưng điều quan trọng là Chính Phủ chưa nhận thức đúng hoặc cố tình phủ nhận những nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến lạm phát. Đầu tiên, ở lĩnh vực tiền tệ, đó là tăng cung tiền và tín dụng. Trong giai đoạn vừa qua, VN tiếp nhận khá nhiều nguồn vốn FDI, đầu tư gián tiếp, ODA, kiều hối… từ nước ngoài. Dòng ngoại tệ chảy vào VN rất lớn gây sức ép tăng giá VND, và do vậy có nguy cơ làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, và làm cho tình trạng thâm hụt cán cân thương mại thêm nghiêm trọng. Do lo ngại điều này, Chính phủ đã cố giữ tỷgiá USD/VND ổn định bằng cách tung tiền đồng ra để mua vào khoảng 9 tỉ USD. Ở lĩnh vực tín dụng, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8-8,5%/năm, Chính phủ liên tục thúc đẩy tăng tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước là nơi sử dụng đồng vốn hiệu quả thấp. Tính trung bình, tốc độ tăng trưởng tín dụng của VN trong 5 năm trở lại đây vào khoảng 30%/năm (năm 2007, con số này tăng đột biến, lên tới hơn 40%). Với tốc độ tăng tín dụng cao trong nhiều năm liền, đồng thời cung tiền tăng đột biến, lạm phát xảy ra là điều tất yếu.  Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực (2007)                                Nguồn: Economist Intelligent Unit  Lạm phát cao gây nên nhiều tác động tiêu cực, trong đó có ba vấn đề đặc biệt đáng lo ngại. Thứ nhất, CPI tăng nhanh là một thứ “thuế lạm phát” làm giảm mức sống của đại bộ phận người tiêu dùng, đặc biệt là những người hưởng lương cố định và có thu nhập thấp. Thứ hai, vì mức lạm phát cao hơn lãi suất tiết kiệm (tức là lãi suất thực bị âm) nên tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế phải chạy đi tìm những cơ hội đầu tư có suất sinh lời cao hơn như địa ốc hay chứng khoán. Việc đầu cơ quá mức vào bất động sản và chứng khoán làm xuất hiện hiện tượng bong bóng tài sản; và sớm hay muộn thì hiện tượng này cũng sẽ dẫn tới sự bất ổn định cho nền kinh tế. Thứ ba, hiện nay tỉ lệ dư nợ cho vay mua bất động sản ở hệ thống ngân hàng thương mại là khoảng 10%, một tỉ lệ khá cao. Đáng lo ngại hơn, rất nhiều các khoản vay ngân hàng được bảo đảm bằng bất động sản với giá bong bóng. Điều này có nghĩa là, nếu bong bóng vỡ, bất động sản rớt giá thì tài sản bảo đảm này không còn đảm bảo nữa. Hệ quả là nhiều khoản vay sẽ trở thành nợ xấu, ảnh hưởng trực tiếp tới sự an toàn của hệ thống ngân hàng.  Như vậy, nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô. Thậm chí, có thể nói rằng nhiều dấu hiệu tiền khủng hoảng 1997-1998 đã xuất hiện ở Việt Nam. Khác chăng chỉ là ở ba điểm: thứ nhất, vay nợ của VN vẫn ở trong phạm vi kiểm soát được; thứ hai, VN vẫn chưa tự do hóa tài khoản vốn; và thứ ba, chưa có một cú sốc đủ mạnh từ bên trong hay bên ngoài nền kinh tế. Bên cạnh những vấn đề về ổn định vĩ mô thì cũng còn có một số vấn đề cản trở sự tăng trưởng cao và bền vững của VN như hệ thống giáo dục và dạy nghề yếu và thiếu, cơ sở hạ tầng quá tải và chi phí cao, thiếu vắng những DN cạnh tranh toàn cầu, năng lượng vừa thiếu vừa đắt, bất bình đẳng trong xã hội ngày càng cao, môi trường suy thoái ngày càng nghiêm trọng…  Bài viết này mới chỉ bàn về tăng trưởng bền vững ở Việt Nam mà chưa thảo luận một cách đầy đủ các khía cạnh khác của phát triển bền vững như môi trường, năng lượng, và xã hội. Tăng trưởng bền vững chỉ là một trong những điều kiện cần và chắc chắn không phải điều kiện đủ cho phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế – thường được đo bằng GDP – chỉ là phương tiện chứ chưa phải và không bao giờ là mục đích cuối cùng của nền kinh tế. Hơn nữa, nếu tính cả những thiệt hại và chi phí do ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, căng thẳng xã hội… gây ra thì liệu GDP của chúng ta có tăng trưởng trên dưới 8% một năm như hiện nay hay không?  Tăng trưởng của VN hiện nay chưa cao nhưng đã xuất hiện nhiều yếu tố bất ổn. Chạy theo tăng trưởng ngắn hạn có thể thỏa mãn thành tích nhất thời nhưng sẽ không bền vững. Cần nhận thức một cách đúng đắn rằng tăng trưởng là một cuộc đua đường trường, và vì vậy chính phủ cần đặt ưu tiên cao nhất cho sự ổn định bằng cách giải quyết những ách tắc cơ bản trong nền kinh tế. Nếu làm được điều này, không những nền kinh tế Việt Nam có thể hiện thực hóa được những tiềm năng to lớn của mình, đồng thời sự phát triển cũng trở nên bền vững hơn.  ————-  * Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào quản lý nợ      Một báo cáo của Chính phủ cảnh báo,  sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc rất nhiều  vào việc quản lý và sử dụng các khoản nợ đang ngày càng gia tăng gần  đây.    Báo cáo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ do Bộ Kế hoạch Đầu tư và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc UNDP cho biết, trong khi nợ nước ngoài có kỳ hạn hàng chục năm, thì tỷ lệ trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh từ 2-5 năm là hơn 88,7%.  Vì vậy, theo báo cáo, nghĩa vụ nợ nước ngoài đạt trung bình 1,5- 2 tỉ đô la Mỹ/năm thì nghĩa vụ nợ trong nước lại tích luỹ lên tới 4,5- 5 tỉ đô la Mỹ/năm trong vòng 4 năm tới.  Báo cáo cảnh báo, thách thức quản lý nợ và sử dụng hiệu quả các khoản vay của Chính phủ có ý nghĩa sống còn với sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn tới.  Báo cáo trích dẫn số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong các nghiên cứu nửa đầu năm 2012 cho biết, nợ công của Việt Nam ước tính khoảng 48,3% tổng sản phẩm nội địa (GDP) vào cuối năm 2012, và 48,2% vào cuối năm 2013.  Hiện tại, tỷ lệ nghĩa vụ nợ so với tổng thu ngân sách Nhà nước của Việt Nam hàng năm vào khoảng 14- 16%.  Báo cáo nhận xét, các khoản nợ nước ngoài và nợ công đang tăng lên nhanh chóng trong thập kỷ qua gây rủi ro lớn đối với nền kinh tế.  Nợ nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nợ công, là hệ quả của những khoản vay dài hạn và ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế.  Khi nợ nước ngoài chiếm phần nợ công, Việt Nam sẽ trở nên dễ tổn thương bởi các cú sốc kinh tế thế giới.  Hơn nữa, nợ nước ngoài còn bao gồm rủi ro tỷ giá hối đoái. Lợi thế của những khoản vay ưu đãi sẽ bị tác động mạnh bởi những hiệu ứng tiêu cực từ sự mất giá của tiền đồng Việt Nam.  Ba chủ nợ lớn nhất của Việt Nam gồm Nhật Bản (nắm giữ 34,3% các khoản nợ nước ngoài), IDA của WB (24,9%), và ADB (15%) sử dụng những đồng tiền mạnh như euro, đô la Mỹ, và yen lần lượt là 12%, 13% và 26% trong giai đoạn 2010 và nửa 2011 đã đưa ra những cảnh báo cho Chính phủ Việt Nam về rủi ro tỷ giá hối đoái và đặt ra nhiều áp lực lên thâm hụt ngân sách và các chính sách tiền tệ.  Mặt khác, quy mô của các khoản vay thương mại với lãi suất cao trong nợ nước ngoài của Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây.  Tỷ lệ nợ nước ngoài có lãi suất từ 6- 10% là 6,8%, và tỷ lệ nợ nước ngoài có lãi suất thả nổi là trên 7% tính đến cuối năm 2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng trưởng kinh tế không làm tăng hạnh phúc?      Sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế một cách  phi thường, người Trung Quốc không hạnh phúc hơn đáng kể so với trước  đây, theo một nghiên cứu đánh giá về mức hạnh phúc và thu nhập quốc gia ở  nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.    Nhìn một cách tổng quan, những người giàu ở Trung Quốc có hạnh phúc hơn một chút so với trước đây, nhưng với những người có mức thu nhập trung bình dường như không hề có gì thay đổi. Còn với những người nghèo, mức độ thỏa mãn đối với cuộc sống dường như sụt giảm đáng kể.  Những xu hướng này chưa phải là căn cứ để phê phán kinh tế tư bản, hay tăng trưởng kinh tế – nhưng chúng đã phần nào cho thấy rằng các tiêu chí kinh tế thông thường không phải là thước đo đầy đủ để đánh giá hạnh phúc.  “Không có bằng chứng nào cho thấy có sự gia tăng mức độ thỏa mãn đối với cuộc sống như chúng ta thường kỳ vọng ở một nền kinh tế có mức tiêu thụ bình quân đầu người tăng tới 4 lần”, nhận định trong báo cáo của nhóm nghiên cứu mà chủ nhiệm là nhà kinh tế Richard Easterlin, công bố ngày 15/05 vừa qua trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.   Easterlin, một nhà kinh tế từ trường University of Southern California, trở nên nổi tiếng sau bài báo công bố năm 1974 của ông – “Liệu tăng trưởng kinh tế có giúp cải thiện số phận con người? Một số căn cứ thực nghiệm” (“Does Economic Growth Improve the Human Lot? Some Empirical Evidence”) – trong đó khẳng định rằng tiền bạc giúp con người hạnh phúc hơn, nhưng chỉ tới một mức độ nhất định.  Sau khi đã thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản, mức độ thỏa mãn đối với cuộc sống tăng giảm dần so với thu nhập. Hay nói một cách ngắn gọn, tiền không mua được hạnh phúc.   Được gọi là nghịch lý Easterlin, kết luận này là một sự minh họa thuyết phục cho việc áp dụng các phương pháp khoa học vào giải quyết các câu hỏi của xã hội học và kinh tế học. (Nhưng đồng thời cũng gây tranh cãi: một số nhà nghiên cứu nói rằng Easterlin đã mắc sai lầm, rằng những dữ liệu tốt hơn cho thấy mối quan hệ liên tục và trực tiếp song hành giữa mức thu nhập bình quân đầu người và hạnh phúc cá nhân.)   Nghiên cứu mới đã kiểm tra thái độ xã hội ở người Trung Quốc, quốc gia đang phát triển điển hình mà dưới góc nhìn xã hội học, là một thí nghiệm khổng lồ về mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.  Trong khoảng 1990 tới 2010, GDP của Trung Quốc tăng gấp bốn lần, nhưng dữ liệu từ 6 cuộc khảo sát khác nhau trong đó người được khảo sát tự đánh giá mức hạnh phúc của mình, cho thấy không có sự gia tăng tương ứng về mức độ hạnh phúc so với thu nhập.  Thay vào đó, mức độ thỏa mãn cá nhân nhìn chung giảm xuống trong thập kỷ 1990 và đầu 2000, và chỉ tới gần đây mới bắt đầu tăng trở lại.  Sự gia tăng thu nhập kinh tế ở Trung Quốc chủ yếu tập trung ở những người giàu nhất, và kết quả khảo sát cũng tương đồng với những nghiên cứu tâm lý học về bất bình đẳng. Con người dường như có sự bức xúc một cách tự nhiên về vấn đề này, cho dù tính theo giá trị tuyệt đối thì hoàn cảnh kinh tế của họ vẫn được cải thiện.  Tuy nhiên, Easterlin và các cộng sự không dựa nhiều vào tâm lý học, mà chủ yếu dựa vào những luận điểm lịch sử thực dụng để lý giải thực trạng ở Trung Quốc, nơi mà họ cho là tương đồng với những gì xảy ra ở Đông và Nam Âu sau khi thể chế xã hội chủ nghĩa kết thúc.  Ở tất cả những khu vực trên, tăng trưởng về kinh tế – đo theo GDP – kéo theo gia tăng về thất nghiệp, sụt giảm bảo hiểm xã hội, và cả hai đều gây tác động trực triếp hoặc gián tiếp tới hạnh phúc cá nhân.   “Sẽ là sai lầm nếu dựa vào kết quả khảo sát về mức hạnh phúc ở Trung Quốc để khẳng định rằng mô hình quản lý xã hội kiểu tập trung hóa là tốt hơn”, nhóm nghiên cứu của Easterlin viết trong báo cáo. “Tuy nhiên, dữ liệu của chúng tôi cho thấy một bài học quan trọng, rằng công ăn việc làm, cũng như an ninh về công việc và thu nhập, cùng với bảo hiểm xã hội, đóng vai trò thiết yếu đối với mức độ thỏa mãn trong cuộc sống”.    Nhà kinh tế Justin Wolfer của trường University of Pennsylvania, người từ lâu vẫn phê phán những kết luận của Easterlin, bày tỏ sự ngờ vực với nghiên cứu mới nhất. Ông lưu ý rằng dữ liệu về mức độ hạnh phúc trong thời gian đầu và giữa thập kỷ 1990 chủ yếu chỉ dựa vào một cuộc khảo sát là World Value Survey (WVS). Mặc dù ngày nay được đánh giá cao, nhưng các cuộc khảo sát WVS trước đây về Trung Quốc thường bị giới hạn, và chỉ tập trung vào các khu vực thành thị giàu có, Wolfer nói. Ông cũng cho rằng một số kết quả từ cuộc trưng cầu Gallup được trích dẫn trong nghiên cứu mới bị thiên lệch do những người phỏng vấn đặt các câu hỏi có tính dẫn dắt người trả lời.  Đo lường hạnh phúc cá nhân một cách khách quan, lặp đi lặp lại được, là một thách thức rất khó.   “Tôi cho rằng trường hợp Trung Quốc là một câu hỏi lớn. Tôi cũng mong là chúng ta có dữ liệu tốt để trả lời câu hỏi này”, Wolfer nói. “Theo đánh giá của tôi, chúng ta chưa có đủ dữ liệu thích hợp đáng tin để đưa ra đánh giá”. Theo Wolfer, cả ông và Easterlin cùng đồng tình về tầm quan trọng và mức độ khó khăn, để đo lường hạnh phúc một cách nghiêm túc, điều mà những năm gần đây trở thành mục tiêu của một xu hướng chính thống trong nghiên cứu kinh tế, đi tìm một tiêu chí bổ sung cho GDP.   “Điều quan trọng là xử lý các dữ liệu một cách phù hợp”, Wolfer nhận định. “Điều chúng ta học được ở đây là mức độ khó khăn của việc đo lường hạnh phúc một cách đáng tin cậy”.    TS dịch theo  http://www.wired.com/wiredscience/2012/05/china-happiness/#more-110541    Author                Quản trị        
__label__tiasang Táo bạo      Israel, một quốc gia nhỏ bé với 7,1 triệu dân, liên tục xảy chiến tranh từ khi ra đời, không có tài nguyên thiên nhiên nhưng lại có nhiều doanh nghiệp mới hơn hẳn các quốc gia lớn, hòa bình và ổn định như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Canada và Anh. Fraud Sciences và Haifa-Intel là hai trong số các ví dụ nổi bật.      Shvat qua mặt PayPal  Scott Thompson, Tổng giám đốc và trước kia từng là Giám đốc Công nghệ của mạng PayPal – hệ thống thanh toán trên Internet lớn nhất thế giới hiện nay, dù luôn luôn bận rộn với nhiều việc phải làm nhưng vẫn dành cho Shvat Shaked, một “cậu nhóc con” trong ngành khoảng 20 phút để nghe anh này nói về một giải pháp xử lý các mưu đồ gian lận trong thanh toán tiền qua mạng, lừa đảo thẻ tín dụng và trộm cắp qua mạng.   “Ý tưởng của chúng tôi rất đơn giản, ông Thompson ạ. Chúng tôi tin rằng thế giới này có 2 loại người: người tốt và người xấu, do đó để chống gian lận trên mạng internet thì ta cần phân biệt được ai tốt – ai xấu ngay trên các trang web”. Shvat nhẹ nhàng bắt đầu trình bày.   Thompson cố gắng kìm chế sự thất vọng khi nghe chàng trai nói. Trước khi làm việc cho PayPal, ông từng là quản lý cấp cao của công ty thẻ tín dụng VISA – một thương hiệu lớn trên toàn cầu và có kinh nghiệm chống gian lận. VISA và các ngân hàng đối tác của nó đã tập hợp được khoảng 10,000 nhân viên chuyên trách chống gian lận, trộm cắp, lừa đảo qua hệ thống thẻ tín dụng. Còn PayPal hiện có 2,000 người làm việc này. Thế mà chú nhóc con này nói về việc “phân biệt người tốt, người xấu…”. Nhưng ông vẫn lắng nghe thêm khi Shvat tiếp tục “Những người tử tế vẫn để lại dấu vết sau khi lên internet, đó là những vết truy cập, được mã hóa theo kỹ thuật số bởi vì họ đàng hoàng, không cần che dấu điều gì cả. Trong khi bọn gian lận, bất lương lại cố gắng xóa dấu vết để ẩn mình. Chúng ta cần dõi theo các dấu vết trên internet dạng này. Nếu nhận diện được các cách để lại hay xóa dấu vết, chúng ta có thể tối thiểu hóa rủi ro xuống mức chấp nhận được. Đơn giản như vậy thôi”.           “Lì lợm, gan góc, không ngượng ngập, quyết  tâm đến mức khó tin được, và đầy kiêu ngạo đến mức không có ngôn ngữ nào  diễn tả chính xác được.”              Ông Leo Rosten, một học giả Do Thái mô tả sự táo bạo của người Do Thái như vậy        “Cậu học được điều đó từ đâu vậy?” Thompson tò mò hỏi.  Và Shvat Shaked đáp “Từ khi tôi săn lùng bọn khủng bố. Tôi từng tham gia quân đội, hỗ trợ lực lượng chống khủng bố bằng cách truy tìm dấu vết chúng trên mạng. Bọn khủng bố thường chuyển tiền qua website. Chúng tôi đã dõi theo hàng ngàn giao dịch, và đã tìm ra 4 vụ”.   Thompson chấp nhận ý tưởng này, và đề xuất như sau: PayPal có 100,000 giao dịch qua mạng và Shvat với công ty của anh tên là Fraud Sciences (tạm dịch: Phân tích Gian lận) đặt tại Israel sẽ thử kiểm tra, đồng thời phòng ban chuyên môn của PayPal cũng làm, sau đó hai kết quả sẽ được đem ra so sánh. Trước kia, Shvat và công ty nhỏ bé của mình làm “thủ công” khi phân tích, dò tìm dấu vết gian lận trên mạng, nhưng với số lượng 100,000 giao dịch của PayPal đưa ra thì anh biết là phải xử lý bằng hệ thống máy tính tự động.   Vài ngày sau, hai kết quả truy tìm gian lận được đem ra so sánh và thật bất ngờ đối với Thompson: Shvat và đội ngũ nhỏ bé của anh ta cho ra kết quả còn chính xác hơn kết quả mà PayPal thu được, trong thời gian ngắn hơn ngay cả khi họ thiếu dữ liệu hơn so với PayPal. Thompson nhận ra đây là một công cụ hữu hiệu để phòng chống gian lận trong thanh toán qua mạng internet. Ông nói “chúng tôi từng là đơn vị giỏi nhất trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Vậy mà một doanh nghiệp nhỏ, chỉ với vài chục con người của Israel với lý thuyết “phân biệt người tốt – người xấu trên mạng” lại qua mặt được cả một tên tuổi lớn như PayPal! Thompson quyết định: phải mua lại cái công ty nhỏ, mới thành lập này để nắm được công nghệ mang tính đột phá của nó. CEO của eBay, Meg Whitman cũng sững sờ trước kết quả của “người tí hon” Phân tích Gian lận, đến từ Israel. Vấn đề bây giờ là: nói chuyện như thế nào với chàng trai trẻ Shvat?   Tạm thời, Thompson trả lời e-mail cho Shvat rằng: bên ông cần thêm thời gian để so sánh hai kết quả phân tích và sẽ thông báo cho anh sau. Chiến thuật này chỉ nhằm “câu giờ” để Thompson tìm cách đặt vấn đề mua lại công ty của Shvat. Nhưng ông không biết là Shvat cùng với người đồng sáng lập của Phân tích Gian lận chưa có ý muốn bán lại doanh nghiệp của họ. Cho nên khi Thompson đề xuất giá mua lại là 79 triệu dollar, Shvat từ chối ngay vì anh tin rằng doanh nghiệp của mình trị giá khoảng 200 triệu, hoặc hơn. Sau vài vòng đàm phán tiếp theo, Shvat chấp nhận bán lại công ty Phân tích Gian lận của mình cho Thompson với giá 169 triệu dollar.   Sau khi thương lượng kết thúc, Thompson đáp máy bay đi thăm công ty mà mình vừa mua lại. Khi máy bay gần hạ cánh, Thompson mới chợt nghĩ: “tôi mua lại một công ty trong khu vực đang có chiến tranh ư? Những địa danh mang mùi súng đạn: Lebanon, Damascus, Syria, Jordan, Ai Cập ….” Ông cũng biết những quốc gia láng giềng của Israel là ai, nhưng khi đến tận nơi ông mới thấy đất nước của người Do Thái nhỏ bé và bị các nước láng giềng bao vây chặt như thế nào. Đi vào bãi đậu xe của công ty Phân tích Gian lận, ông còn kinh ngạc bởi vì tất cả các xe hơi ở trong bãi đều đã được dán logo của PayPal. Kế đến, thái độ của các nhân viên làm việc tại đây cũng làm ông vui sướng: mọi người chăm chú quan tâm đến ông, họ không ngần ngại thách thức những logic trong phương pháp làm việc của PayPal – những nguyên tắc đã có từ nhiều năm nay. Họ đều là những thanh niên trẻ tuổi, và trong đầu Thompson lúc đó nghĩ “không biết ai đang làm việc cho ai?”  Đó mới chỉ là những trải nghiệm đầu tiên của Thompson về sự táo bạo của người Israel mà ông Leo Rosten, một học giả Do Thái đã mô tả là “lì lợm. gan góc, không ngượng ngập, quyết tâm đến mức khó tin được, và đầy kiêu ngạo đến mức không có ngôn ngữ nào diễn tả chính xác được.” Sự táo bạo này ở khắp nơi trên đất nước Israel: trong cách nói chuyện của sinh viên với giáo sư đại học, nhân viên phản biện sếp trên, trung sĩ nói chuyện với chỉ huy cấp tướng …  Israel là đất nước chấp nhận sự thất bại trong kinh doanh, vì quốc gia này tự coi mình là “đất nước được hồi sinh”. Vậy nên luật pháp và các quy định về phá sản doanh nghiệp và đăng ký thành lập mới đều thuận lợi, cởi mở nhất trong khu vực Trung Đông.   Haifa – Intel  Trong máy tính, tốc độ xử lý dữ liệu phụ thuộc rất nhiều vào các transitor trong con chip điện tử của bộ vi xử lý. Nhưng cho đến thập niên 70 thì máy tính vẫn phục vụ chủ yếu cho công nghiệp quốc phòng chứ chưa phổ biến đại trà. Ý tưởng sử dụng máy tính trong văn phòng còn quá xa vời. Mãi đến năm 1980 thì nhóm nghiên cứu Haifa của Intel, bao gồm những người Israel mới hoàn tất bộ vi xử lý với con chip 8088 tốc độ 4.77 megahertz và có kích thước đủ nhỏ để có thể sử dụng trong văn phòng, hộ gia đình – các ứng dụng dân sự thông thường. Đến năm 1986, tốc độ chip Intel đã được nâng cấp thành 33 megahertz. Và sự tăng trưởng về tốc độ cứ thế diễn ra cho đến năm 2000, khi đó chip siêu tốc độ được ứng dụng trong laptop. Tuy nhiên vấn đề là chip sẽ rất nóng, giải pháp khi đó vẫn còn là dùng quạt làm mát bằng không khí; nhưng nếu gắn quạt vào laptop thì sẽ rất bất tiện: kích thước không cho phép.   Một lần nữa, nhóm nghiên cứu Haifa của Intel tại Israel lại thức trắng nhiều đêm, bên tách cà phê nóng và tư duy miệt mài. Khác với quan điểm của văn phòng chính của Intel: nếu muốn chip chạy nhanh hơn thì phải cung cấp năng lượng nhiều hơn cho các transitor trong chip; và hướng giải quyết sẽ là “bức tường năng lượng”, nhóm Haifa của Intel Israel lại nghĩ theo phương hướng lấy cảm hứng từ hộp số xe hơi: xe hơi chạy nhanh khi vào số lớn, vậy có thể làm “hộp số” ngay trong chip điện tử hay không? Câu trả lời là CÓ. Vậy là họ thiết kế lại chip điện tử, sao cho các transitor trong đó sẽ chạy “số nhỏ” khi yêu cầu xử lý không cao; và chuyển sang “số lớn” hơn khi cần giải quyết khối lượng công việc lớn hơn. Thế là con chip sử dụng năng lượng ít được ra đời, giải quyết được vấn đề sức nóng của laptop. Giá thành tuy có đắt hơn, gần gấp đôi chip thường, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu về tốc độ và kích thước của laptop.   Phát kiến mới mang tính cách mạng này của nhóm Haifa – Intel tại Israel đã làm thay đổi cả hệ thống tư duy của tập đoàn này giúp Intel giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với nhiều tên tuổi sừng sỏ khác của ngành máy tính. Doanh thu của Intel tăng 13% trong giai đoạn 2003 – 2005 và vị thế của Intel thống lĩnh thị trường vi xử lý.   Sự sẵn sàng phản biện của nhóm Haifa, đi ngược lại các quan điểm phổ biến ở trụ sở chính Intel.     Thực tế thì những người Mỹ của tập đoàn Intel đã rất khác với định hướng từ trên áp đặt xuống, mà họ còn công kích ngược từ dưới lên trên. Đối với người Do Thái thì đây là cách tốt nhất để có giải pháp cho vấn đề. Người Mỹ sau đó đã nói với nhau: hiếm khi dân Israel nói sau lưng người khác về bất cứ cái gì, họ nói thẳng trước mặt nhau. Văn hóa này sau đó lan tỏa rộng khắp trong tập đoàn Intel: luôn luôn hoài nghi, phản biện, thách thức, đặt câu hỏi đối với tất cả mọi thứ, rồi cải tiến. Kết luận của nhóm lãnh đạo  Intel Hoa Kỳ: quản lý 5 nhân viên người Israel còn khó hơn quản lý 50 nhân viên Mỹ; bởi vì 5 người Israel luôn luôn đặt các câu hỏi đại khái như là “Tại sao ông lại là sếp của tôi? Còn tại sao tôi không được làm sếp của ông?”   Trích đăng từ cuốn “Quốc gia của các công ty non trẻ” của Dan Senor và Saul Singer      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo các hình chiếu 3 D theo phong cách Star Wars      Laser và hệ thống hạt tạo ra những hình ảnh chuyển động ba chiều xuất hiện bồng bềnh trong không trung.      Daniel Smalley đã từng mơ xây dựng nên một loại holograms 3 D (kỹ thuật tạo ảnh ba chiều) như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng ăn khách. Nhưng khi xem nhà phát minh Tony Stark đưa đôi bàn tay vào bộ áo giáp 3 D ma quái trong bộ phim Iron Man (2008), Smalley nhận ra rằng mình có thể sẽ không sử dụng được holography (kĩ thuật chụp toàn ảnh), tiêu chuẩn hiện nay cho sự hiển thị 3 D công nghệ cao, bởi vì đôi tay của Stark có thể ngăn nguồn sáng hologram. ‘Nó làm tôi cáu tiết”, Smalley, nhà vật lý tại trường đại học Brigham Young ở Provo, Utah (Mỹ), cho biết. Anh đã cố gắng nghiên cứu để giải quyết vấn đề này.  Nhóm nghiên cứu của Smalley đã thực hiện một cách tiếp cận khác– sử dụng kỹ thuật “hiển thị khối” (volumetric display) – để tạo ra những hình ảnh 3 D chuyển động mà người xem có thể nhìn thấy từ bất cứ góc nào. Một số nhà vật lý cho rằng công nghệ này trở nên hiện thực hơn bất thứ công nghệ nào khác để tái tạo hình chiếu 3 D của công chúa Leia trong bộ phim Star Wars sản xuất năm 1977. “Đây là việc tạo ra thứ mà hologram không thể làm được – nó đem lại cho anh cái nhìn toàn cảnh, một hiển thị theo phong cách công chúa Princess Leia- bởi đây không phải là một hologram”, Miles Padgett nhà vật lý quang học tại trường đại học Glasgow, Anh, nhận xét.  Được miêu tả trong “A photophoretic-trap volumetric display” đăng trên Nature vào ngày 24/1/2018 vừa qua, kỹ thuật này hoạt động giống như một bảng vẽ kiểu Etch a Sketch (tạo phác họa) tốc độ cao: dùng các lực được tạobằng một chùm tia laser gần như vô hình để bẫy một hạt – của một bó sợi thực vật (hay còn được gọi là cellulose) – và làm nóng hạt này một cách không đều. Nó cho phép các nghiên cứu viên có thể đẩy và cáccellulose bao quanh. Một hệ laser thứ hai chiếucác luồng ánh sáng khả kiến – đỏ, xanh lá cây và xanh lơ – chiếu vào hạt bị “bẫy”, chiếu sáng nó khi nó di chuyển trong không trung. Con người không thể phân biệt được các hình ảnh [chuyển động] với tốc độ nhanh hơn 10 lần/giây, do đó nếu hạt bị bẫy đó chuyển động với vận tốcđủ nhanh, quỹ đạo của nó sẽ hiện ra như một đường liền nét – như một ngôi sao chuyển động trong bóng tối. Và nếu hình ảnh này thay đổi đủ nhanh, nó tạo ra cảm giác như đang chuyển động. Sự hiển thị có thể phủ lên các vật hiện hữu và người xem có thể đi bộ quanh nó trong không gian thực.  Cho đến nay, các hình ảnh được tạo ra còn rất nhỏ – chừng vài milimet. Và chỉ một đường đơn giản được tạo ra với tốc độ vừa đủ để tạo hình ảnh chuyển động. Nhóm nghiên cứu đã giải quyết được vấn đề này để tạo ra một bản vẽ đường chuyển động xoắn ốc và phác thảo tĩnh một con bướm.  Tuy cần tối ưu hơn nữa nhưng kỹ thuật này là một thiết kế đơn giản với tiềm năng lớn để phát triển, theo William Wilson, nhà nghiên cứu về công nghệ nano tại đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts.  “Đó là một chiến thắng về công nghệ. Tôi ước nó là của tôi”, Padgett nói.  Cách tiếp cận này có nhiều tiến bộ hơn các kỹ thuật tạo hình 3 D hiện tại. Công nghệ hologram tạo các hình ảnh 3 D bằng cách chiếu các tia sáng qua màn hình 2 D có chứa các vạch vân giao thoa nhiễu xạ. Các vạch này điều khiển các đường truyền tia sáng để chúng giao thoa tạo ra một cảm giác bức ảnh có chiều sâu. Các hologram đỉnh cao nhất có màu sắc và có kích cỡ như thật nhưng bởi vì ánh sáng phải chiếu ra từ màn hình 2 D nên góc nhìn bị giới hạn. Và bởi vì thay đổi các vạch giao thoa theo tốc độ [chuyển động của hình ảnh] là một thách thức thực sự, hologram về cơ bản chỉ là tạo ảnh tĩnh.  Phương pháp “hiển thị khối” tái tạo hình ảnh thực thể trong không gian 3 chiều. Phần lớn các hệ thống hiện nay chiếu các hình ảnh vào màn hình 2 D quay nhanh. Nhiều kỹ thuật hiển thị phức tạp hơn – bao gồm những phương pháp được các nghiên cứu viên tại Trường đại học Keio tại Tokyo đã truyền cảm hứng cho Smalley – sử dụng những quả cầu bằng plasma siêu nóng trong không gian 3 chiều. Nhưng những kỹ thuật đó chỉ tạo ra một màu đơn. Những cách tiếp cận khác sử dụng thiết bị thực tế tăng cường như HoloLens của Microsoft, có thể tạo ra ảo ảnh về hình ảnh 3 D như thế giới thực. Nhưng cách này cần bộ kính đặc biệt (headgear) và dữ liệu đặc biệt, Smalley nhận xét.  Hệ thống mới nhất có thể tạo ra các hình ảnh phân giải cao hơn một màn hình máy tính thông thường – cỡ 1.600 điểm mỗi inch. Nhưng để tạo được những hình ảnh như thật với những hình ảnh chuyển động phức hợp và diện tích hiển thị rộng, các nhà vật lý sẽ cần phải tìm cách tăng tốc chuyển động các hạt và kiểm soát toàn bộ [chuyển động] của chúng hơn nữa.  Smalley cho biết, anh có những ý tưởng về việc giải quyết các vấn đề này như thế nào. “Nếu chúng ta có nhiều tiến triển trong khoảng bốn năm tới như cách chúng ta đã làm trong thời gian qua, tôi nghĩ chúng ta sẽ thành công trong việc tạo ra một hiển thị với kích thước hữu ích”.  Những tàn dư ma quái  Một trở ngại của kỹ thuật này là có nhiềukhó khăn trong việc loại bóng mờ, được nhìn xuyên quacác hình chiếu, Nasser Peyghambarian – một nhà quang học của Đại học Arizona ở Tucson, nhận định. Nguyên nhân là mắt cũng sẽ nhận được ánh sáng từ một hạt tại “mặt sau” cũng như từ “mặt trước” của ảnh.  Vấn đề cuối cùng là bởi các lực dùng để điều khiển các hạt quá nhỏ nên hệ thống này thiếu ổn định. Nó có thể ảnh hưởng đến các ứng dụng trong quân sự như mô phỏng trên màn hình một trận đánh 3 D để huấn luyện trong quân đội, bởi vì bất cứ ngọn gió mạnh nào cũng có thể thổi bạt các hạt khỏi quỹ đạo của nó. Để giải quyết việc này, Smalley cho biết, hệ thống có thể tán xạ ánh sáng khỏi các lớp hạt xuất hiện một cách tạm thời. “Anh sẽ không thể thực hiện được điều đó trong một cơn lốc xoáy, tuy nhiên cũng không vượt quá sức tưởng tượng của con người để điều này thành hiện thực”.  Thanh Nhàn dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, Đại học KHTN – ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-01125-y#ref-CR1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo chảy rối thực trong phòng thí nghiệm      Chảy rối/cuộn xoáy (turbulence) là một hiện tượng có mặt ở khắp nơi – và là một trong những bí ẩn lớn nhất của vật lý. Một nhóm nghiên cứu ở trường đại học Oldenburg, Đức đã mới thành công trong việc tạo ra chảy rối bão thực trong đường hầm gió tại Trung tâm nghiên cứu năng lượng gió (ForWind).      Giáo sư Joachim Peinke đã thành công trong việc tạo ra những dòng chảy rối trong một đường hầm gió  Những cơn bão mạnh thường để lại đằng sau các phá hủy ngẫu nhiên: những viên ngói lợp mái của một ngôi nhà có thể bị thổi bay nhưng nhà hàng xóm vẫn có thể “bình chân như vại” không bị hư hại tẹo nào. Nguyên nhân gây ra những khác biệt này là gió giật – hoặc như các nhà vật ly vẫn nói, chảy rối địa phương. Nó là kết quả của những dòng khí quyển ở quy mô lớn nhưng cho đến bây giờ thì dường như không thể dự đoán nó một cách chi tiết.  Các chuyên gia trường đại học Oldenburg và trường đại học Lyon mới có một bước tiến trên con đường nghiên cứu về chảy rối quy mô nhỏ: nhóm nghiên cứu do nhà vật lý ở Oldenburg là giáo sư Joachim Peinke đã thành công trong việc tạo ra những dòng chảy rối trong một đường hầm gió. Các dòng chảy đó giống như những dòng chảy xuất hiện trong những cơn lốc lớn. Nhóm nghiên cứu này đã tìm ra cách để cắt theo nghĩa đen một lát cắt của một cơn bão. Họ đã miêu tả nó trong bài báo đăng trên tạp chí Physical Review Letters “Generation of Atmospheric Turbulence with Unprecedentedly Large Reynolds Number in a Wind Tunnel” (Tạo ra chảy rối khí quyển với số Reynolds lớn chưa có tiền lệ trong một đường hầm gió).  “Khám phá trong thực nghiệm của chúng tôi khiến đường hầm gió của chúng tôi trở thành mô hình cho một thế hệ các phòng thí nghiệm mới trong lĩnh vực này, ví dụ như các hiệu ứng chảy rối trong các turbine gió có thể được nghiên cứu một cách thực tế”, Peinke giải thích.  Đặc điểm tham số quan trọng nhất của chảy rối trong một dòng chảy là số Reynolds: đại lượng vật lý này miêu tả tỉ lệ của năng lượng động học với các lực ma sát trong một môi trường. Với cách giải thích đơn giản người ta có thể nói: sự vĩ đại của số Reynolds, dòng chảy rối chính là thống kê của nó: các sự kiện cực đoan như gió giật mạnh bất ngờ xuất hiện thường xuyên hơn nếu như anh quan sát ở những quy mô nhỏ hơn.    Mạng hoạt động trong đường hầm gió  Những phương trình chưa giải  “Những xoáy lốc chảy rối của một dòng chảy trở nên dữ dội hơn trên các mức quy mô nhỏ”, theo Peinke, người hiện dẫn dắt nhóm nghiên cứu Chảy rối, Năng lượng gió và ngẫu nhiên. Trong một cơn bão mạnh – đó là khi số Reynold ở mức lớn – một chuyến bay do đó bị những điều kiện dòng chảy xoáy lốc mạnh ảnh hưởng. Các nguyên nhân đặc biệt cho hiện tượng này vẫn còn chưa biết đến một cách thấu đáo: các phương trình vật lý miêu tả những dòng chảy vẫn chưa giải quyết được khi hiện tượng này trở thành chảy rối. Đây là mọt trong những bài toán thiên niên kỷ của toán học và được Viện toán học Clay ở Mỹ treo giải thưởng một triệu USD cho ai giải được nó.  Trong một đường hầm gió khá lớn ở ForWind, nhóm nghiên cứu ở Oldenburg đã tạo ra được nhiều điều kiện gió chảy rối hơn trước đây. So với những thực nghiệm trong quá khứ, các nhà nghiên cứu đã tăng thêm số Reynolds lên cả trăm lần và mô phỏng các điều kiện tương tự với những thứ mà người ta có thể gặp trong một cơn bão thực. “Chúng tôi chưa từng thấy giới hạn trên của nó”, Peinke nói. “Chảy rối được tạo ra ngay lập tức rất gần với hiện thực”.  Các thí nghiệm trong đường hầm gió  Đường hầm gió Oldenburg có một phần dài 30 mét. Bốn cái quạt lớn có thể tạo ra gió với tốc độ lên tới 150 kilomet/h, tương đương với cơn bão nhiệt đới cấp 1. Để tạo ra dòng chảy không khí nhiễu loạn, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một lưới hoạt động, vốn được phát triển theo những yêu cầu đặc biệt trong đường hầm gió Oldenburg. Cấu trúc này, gồm ba mét mỗi chiều, được đặt tại điểm bắt đầu của đường hầm gió và chứa khoảng 100 cánh nhôm xếp theo hình kim cương nhỏ. Các tấm kim loại đó có thể di chuyển được. Chúng có thể quay theo hai hướng qua 80 trục ngang và dọc, nhờ vậy các nhà nghiên cứu gió chặn có chọn lọc và tái mở các khu vực nhỏ của miệng đường hầm gió trong thời gian ngắn, nguyên nhân khiến không khí xoáy lại. “Với lưới hoạt động vào loại lớn nhất thế giới, chúng tôi có thể tạo ra nhiều trường gió nhiễu loạn khác nhau trong đường hầm gió này”, Lars Neuhaus, thành viên của nhóm nghiên cứu và đóng vai trò chính trong nghiên cứu này, nói.    Với các thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu làm thay đổi chuyển động của lưới trong một nhiễu động tương tự như các điều kiện xuất hiện trong dòng không khí chảy rối. Họ cũng thay đổi lực của cánh quạt một cách bất thường. Do đó thêm vào chảy rối ở quy mô nhỏ, dòng không khí đã tạo ra một chuyển động lớn hơn trong hướng dọc của đường hầm gió. “Phát hiện chủ yếu của chúng tôi là dòng khí trong đường hầm gió kết hợp cả hai phần thành chảy rối bão thực hoàn hảo”, đồng tác giả – tiến sĩ Michael Hölling nói. Nhà vật lý này cũng làm chủ tịch Ủy ban Thử nghiệm đường hầm gió quốc tế của Viện hàn lâm năng lượng gió châu Âu (EAWE). Chảy rối bão này xuất hiện sau lưới hoạt động từ 10 đến 20 m.  Các xoáy trên quy mô nhỏ  “Bằng việc chấp thuận hệ này và các cánh quạt của đường hầm gió, chúng tôi đã tạo ra vùng chảy rối ở quy mô lớn khoảng 10 đến 100 mét. Tại cùng thời điểm có một chảy rối quy mô nhỏ với các chiều dài vài mét và ổn định hơn. Tuy vậy chúng tôi vẫn chưa hiểu tại sao lại như vậy”, Hölling giải thích. Vì anh và đồng nghiệp cho biết, cách tiếp cận mới này có thể làm giảm thiểu chảy rối khí quyển liên quan đến các turbine gió, máy bay hoặc các ngôi nhà xuống kích thước một mét trong đường hầm gió. Điều này sẽ cho phép các nhà nghiên cứu thực hiện các thí nghiệm thực tế với các mô hình thu nhỏ trong tương lai – trong đó những cơn lốc cực đoan xảy ra thường xuyên như trong các cơn bão thật.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-scientists-realistic-storm-turbulence-laboratory.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo con mèo Schrödinger nặng nhất bằng sự chồng chập hai trạng thái lượng tử      Dù không phải là một nhà vật lý lượng tử, bạn cũng đã từng nghe về con mèo nổi tiếng của Schrödinger. Erwin Schrödinger đã nêu ý tưởng về con mèo ở trạng thái vừa sống lại vừa chết trong một thực nghiệm tưởng tượng vào năm 1935.     Sự mâu thuẫn rõ ràng này – cuối cùng, trong đời sống hằng ngày chúng ta chỉ thấy những con mèo hoặc còn sống hoặc đã chết – đã gợi ý cho các nhà khoa học cố gắng nhận biết các tình huống tương tự trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, họ đã thực hiện được điều đó bằng việc sử dụng các nguyên tử, phân tử hoặc các trạng thái chồng chập lượng tử tại hai điểm cùng lúc.  Tại ETH, một nhóm nghiên cứu do Yiwen Chu, giáo sư tại Phòng thí nghiệm Vật lý chất rắn, đã tạo ra một con mèo Schrödinger nặng hơn một cách bền vững bằng việc đặt một tinh thể nhỏ vào một chồng chập của hai trạng thái dao động. Kết quả của họ, đã được xuất bản trên tạp chí Science, có thể dẫn đến nhiều bit lượng tử mạnh hơn và rọi ánh sáng vào điều bí ẩn là tại sao không thể quan sát được các chồng chập lượng tử trong thế giới vĩ mô.  Con mèo trong hộp  Trong thực nghiệm tưởng tượng ban đầu của Schrödinger, một con mèo bị nhốt bên trong một hộp kim loại cùng với một hợp chất phóng xạ, một máy đếm nhịp Geiger và một bình thót cổ độc chất. Trong một khung thời gian nhất định – một giờ chẳng hạn – một nguyên tử trong hợp chất hoặc có thể không phân rã thông qua quá trình cơ học lượng tử với một khả năng nhất định, và các sản phẩm phân rã có thể là nguyên nhân làm máy đếm nhịp Geiger hoạt động và kích hoạt một cơ chế va chạm với cái bình đựng độc chất, cuối cùng làm con mèo chết.  Do người quan sát bên ngoài không thể biết là liệu một nguyên tử trên thực tế có phân rã không, người này không biết liệu con mèo còn sống hay đã chết – theo cơ học lượng tử, vốn điều khiển sự phân rã của nguyên tử đó, có thể là con mèo ở trong trạng thái chồng chập sống/chết (ý tưởng của Schrödinger xuất phát từ sự nhớ tiếc con mèo thực trước đây của ông tại ngôi nhà ở số 9 Huttenstrasse, Zurich).  “Dĩ nhiên, trong phòng thí nghiệm, chúng ta không thể thực hiện được một thực nghiệm với một con mèo thực nặng vài ki lô”, Chu nói. Thay vào đó, cô và đồng nghiệp của mình đã tạo ra một trạng thái mèo bằng việc sử dụng một tinh thể dao động để tái hiện con mèo, với một mạch siêu dẫn tái hiện nguyên tử nguyên bản. Mạch đó về cơ bản là một bit lượng tử, qubit, có thể đạt được các trạng thái logic “0” hoặc “1” hoặc một chồng chập của cả hai trạng thái “0+1”.  Sự kết nối giữa qubit và “mèo” tinh thể không chỉ là máy đếm Geiger và độc chất mà là một lớp vật liệu piezoelectric tạo ra một điện trường khi tinh thể thay đổi hình dạng trong dao động. Điện trường đó có thể kết cặp với điện trường của qubit, và từ đó trạng thái chồng chập của qubit có thể truyền cho tinh thể.  Trong thực nghiệm của ETH Zurich, con mèo được tái hiện bằng những dao động ở một tinh thể, trong khi sự phân rã nguyên tử được mô phỏng bằng mạch siêu dẫn (dưới) kết cặp với tinh thể. Credit: ETH Zurich  Các dao động đồng thời trong các hướng đối lập  Kết quả là, tinh thể giờ có thể dao động theo hai hướng cùng một thời gian – ví dụ, lên/xuống và xuống/lên. Các hướng đó tái hiện trạng thái “sống” và “chết” của con mèo. “Bằng việc đặt hai trạng thái dao động trong tinh thể ở trạng thái chồng chập, chúng tôi đã tạo ra một cách hiệu quả con mèo của Schrödinger nặng 16 microgram”, Chu giải thích. Nó chỉ nặng tương đương với khối lượng của một hạt cát mịn nhưng vẫn nặng hơn hàng tỉ lần so với một nguyên tử hoặc một phân tử, tạo thành một con mèo lượng tử béo nhất từ trước đến nay.  Để các trạng thái dao động đó thành các trạng thái mèo thật, điều quan trọng là phân biệt được chúng về mặt vĩ mô. Điều này có nghĩa là sự phân tách của các trạng thái “lên” và “xuống” có thể lớn hơn bất kỳ thăng giáng lượng tử hay nhiệt nào của các vị trí nguyên tử bên trong tinh thể. Chu và cộng sự kiểm tra điều này bằng việc đo đạc sự phân tách về không gian của hai trạng thái đó bằng việc sử dụng qubit siêu dẫn. Ngay cả kết quả đo lường sự phân tách đó chỉ ở mức phần tỉ tỉ mét – trên thực tế thì nhỏ hơn một nguyên tử – nó cũng đủ lớn để phân biệt một cách rõ ràng hai trạng thái.  Đo lường các nhiễu loạn nhỏ với các trạng thái mèo  Trong tương lai, Chu muốn thúc đẩy giới hạn khối lượng của các con mèo tinh thể của mình đi xa hơn. “Nó thật thú vị bởi sẽ cho phép chúng tôi hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân đằng sau sự biến mất của hiệu ứng lượng tử ở thế giới vĩ mô với con mèo thực sự”, cô nói.  Vượt qua ngoài mối quan tâm khoa học, có những ứng dụng tiềm năng trong công nghệ lượng tử. Ví dụ, thông tin lượng tử lưu trữ trong các qubit có thể được tăng cường hơn bằng sử dụng các trạng thái mèo được tạo bằng một số lượng lớn các nguyên tử trong một tinh thể so với việc phụ thuộc vào các đơn nguyên tử hoặc đơn ion như hiện nay. Tuy nhiên độ nhạy của các vật thể khối lượng lớn trong các trạng thái chồng chập có thể được khai thác cho các đo đạc chính xác của các nhiễu loạn nhỏ như sóng hấp dẫn hoặc dò vật chất tối.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-heaviest-schrdinger-cat-small-crystal.html  https://www.lifetechnology.com/blogs/life-technology-science-news/heaviest-schrodinger-cat-achieved-by-putting-a-small-crystal-into-a-superposition-of-two-oscillation-states  ————————————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.adf7553    Author                .        
__label__tiasang Tạo động lực mới trong nghiên cứu KH&CN (Kỳ 1)      Sản phẩm sáng tạo của Việt Nam không những chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước mà còn chưa tương xứng với với tiềm năng nhân lực KH&amp;CN, chưa tương xứng với nguồn đầu tư, nhất là trong khu vực công lập.       Có thể thấy rằng, sản phẩm chính của nghiên cứu KH&CN  là công bố khoa học (trong nước và quốc tế, chuẩn chung là công bố quốc tế), phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích được đăng ký và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (trong nước hoặc nước ngoài). Tùy từng nghiên cứu mà sản phẩm sáng tạo là một trong hai hoặc cả hai sản phẩm đó. Trình độ, thứ hạng  và sự đóng góp KH&CN của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng công bố quốc tế và bằng  phát minh sáng chế.  Dưới đây là tương quan giữa nguồn lực đầu tư và công bố quốc tế và bằng  phát minh sáng chế của Việt Nam.   Nguồn lực: Về mặt tổ chức và nhân lực KH&CN, cả nước có 1.600 trung tâm, viện nghiên cứu, 200 trường đại học, 300 trường cao đẳng, Gần 3 triệu người có trình độ đại học, 11 vạn thạc sỹ, trên 2,4 vạn tiến sỹ, một vạn phó giáo sư và giáo sư, 450 ngàn doanh nghiệp, 200 doanh nghiệp KHCN. Về đầu tư (chỉ mới tính nguồn công lập), hàng năm nhà nước đầu tư tuy chưa nhiều nhưng cũng trên 15 ngàn tỷ đồng, trong đó trực tiếp đầu tư cho đề tài, dự án KH&CN trên ba ngàn tỷ đồng, cho trên dưới 2.000 đề tài, dự án/năm; còn lại cho các dự án tăng cường tiềm lực KH&CN và chi thường xuyên.  Số công bố quốc tế vài năm trở lại đây của Việt Nam đã vượt 2.000/năm, đứng trên Indonesia, Philippines, Myanmar, Lào, Campuchia, nhưng còn kém xa so với các nước khác trong khu vực châu Á. Vả lại, các công bố thuần Việt chiếm trên dưới 35%, khoảng 600-700 công bố, còn lại là hợp tác nghiên cứu với tác giả nước ngoài. Về sáng chế, năm 2014 đã đạt 1.500 bằng, nhưng trên 95% là của người nước ngoài đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, còn thuần Việt chỉ hơn 100 bằng, không bằng một phần nhỏ của một trường đại học hay công ty ở nước ngoài. Thứ hạng sáng chế của Việt Nam thấp hơn cả Indonesia, Philippines và chỉ đứng trên Myanmar, Lào, Campuchia.   Chưa có số liệu tách bạch được theo nguồn đầu tư nhưng chắc chắn, số công bố quốc tế, số bằng sáng chế chỉ một phần là sản phẩm của đề tài, dự án KH&CN do Nhà nước đầu tư, có chăng là đề tài, dự án KH&CN cấp trung ương. Đề tài, dự án cấp tỉnh (chiếm 50% số lượng đề tài, dự án, 30% kinh phí tăng cường tiềm lực và kinh phí nghiên cứu của cả nước) hầu như chưa có bằng sáng chế, ngay cả trên các tạp chí chuyên ngành trong nước cũng rất ít công bố, chứ chưa nói công bố quốc tế. Còn lại là kết quả nghiên cứu sáng tạo độc lập của các nhà khoa học chuyên và không chuyên ở cảc cấp, các ngành, các cơ sở, các doanh nghiệp, do họ tự đầu tư hoặc doanh nghiệp đầu tư hoặc nhà tài trợ giúp đỡ.   Như vậy, sản phẩm sáng tạo của Việt Nam không chỉ chưa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh phát triển của đất nước, mà còn chưa tương xứng với với tiềm năng nhân lực KHCN, chưa tương xứng với nguồn đầu tư, nhất là trong khu vực công lập.   Động lực ngược trong nghiên cứu KH&CN  Tại sao công bố quốc tế và sáng chế của các nước tăng chóng mặt, còn Việt Nam thì lại chậm được cải thiện, mặc dù chúng ta cũng đã và đang tiếp tục tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế chính sách quản lý?  Đã có nhiều bài mổ xẻ về chất lượng nhân lực KH&CN, hạn chế ngưỡng đàu tư, sự bất cập về thủ tục hành chính, sự cản trở của cơ chế rài ngân, thanh quyết toán… nhưng theo chúng tôi, đó mới là các nguyên nhân có tính chất kỹ thuật, còn nguyên nhân sâu xa ở động lực ngược trong nghiên cứu KH&CN.   Ở các nước phát triển, doanh nghiệp và tư nhân đầu tư và nắm sản phẩm KH&CN trên 80%, nhà nước 20%. Còn ở nước ta, thì ngược lại, nhà nước đang trực tiếp đầu tư và nắm sản phẩm trên 80%, doanh nghiệp và tư nhân đầu tư chưa nhiều. Cơ chế đầu tư và quản lý  như vậy đã tạo ra động lực ngược.  Hoạt động nghiên cứu sáng tạo độc lập của cá nhân, của doanh nghiệp ở các nước (chiếm 80% hoạt động sáng tạo của xã hội) xuất phát từ nhu cầu nội tại, chịu sức ép về hiệu quả, sự thẩm định, sàng lọc của thị trường.   Còn trong khu vực công lập ở nước ta, chiếm 80% hoạt động nghiên cứu KH&CN của xã hội. Đề tài cấp tỉnh, cấp bộ, cấp quốc gia là do cơ quan nhà nước xác định, tuyển chọn, phê duyệt, nghiệm thu; Kinh phí là do ngân sách nhà nước đầu tư;  Sản phẩm được giao nộp cho nhà nước.   “Nhà nước” ở đây là cơ quan quản lý KH&CN, các hội đồng khoa học. Điều đáng nói ở đây là cả cơ quan quản lý và các Hội đồng khoa học đều không phải chịu sức ép về cơ chế trách nhiệm (vì họ đều là các hội đồng  kiêm nhiệm, thời vụ). Do đó việc kiểm soát tính mới, tính sáng tạo, tính ứng  dụng của đề tài rất khó được bảo đảm. Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì và chủ nhiệm đề tài dù phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng song lại không chịu trách nhiệm trước thị trường và ứng dụng vào sản xuất, vì vậy họ ít qiam tâm đến chất lượng và hiệu quả của sản phẩm đầu ra.   Động lực nghiên cứu KH&CN ở hai khu vực hoàn toàn khác nhau. Cá nhân và doanh nghiệp đi tìm thu nhập và làm giàu bằng sản phẩm KH&CN được thương mại hóa, được đăng ký bảo hộ và chuyển nhượng, chuyển giao. Với họ, chi phí dành cho nghiên cứu phải hợp lý, thiết thực, càng thấp càng tốt. Ngược lại, nghiên cứu  KH&CN do nhà nước đầu tư thì các tổ chức khoa học và các nhà khoa học lại quan tâm tìm kiếm việc thực hiện nghiên cứu KH&CN hơn là hậu đề tài. Một bộ phận lớn nhà khoa học hưởng lương ngân sách lại đi theo đuổi nghiên cứu để tìm thu nhập từ nguồn ngân sách, vì vậy dễ dẫn đến việc người ta theo đuổi chi phí càng cao càng tốt. Nhưng rốt cuộc, cả chủ trì đề tài và các cộng sự không quan tâm nhiều đến kết quả nghiên cứu có được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và có trở thành sản phẩm có giá trị thương mại hay không, có thành lập được doanh nghiệp khởi nghiệp từ ứng dụng kết quả nghiên cứu hay không…   Bất cập còn ở chỗ, thang điểm do nhà nước quy định cho phần công bố kết quả nghiên cứu và đăng ký bảo hộ sản phẩm nghiên cứu lại chỉ có 12-16  điểm/tổng số 100 điểm nghiệm thu đề tài, dự án KHCN. Như vậy, cơ chế này không tạo được sức ép và động lực cho các nhà nghiên cứu nghĩ đến việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp.   Lựa chọn hướng đi   Thực tế lịch sử đã gợi ý cho chúng ta về một hướng lựa chọn hiệu quả  hơn. Đó là, các phát minh nổi tiếng trên thế giới, các công trình được giải thưởng Nobel phần lớn là các công trình nghiên cứu độc lập (không phải đề tài nhà nước trực tiếp đầu tư hay đặt hàng). Các sáng chế càng như vậy. Ở nước ta cũng thế. Số bằng sáng chế của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm của các nghiên cứu độc lập của nhà khoa học chuyên nghiệp, nhà khoa học “chân đất” và doanh nghiệp và đang có xu hướng tăng lên. Các giải thưởng sáng tạo KH&CN Việt Nam, các giải pháp kỹ thuật đạt giải hội thi sáng tạo  cũng vậy, chủ yếu là các công trình nghiên cứu độc lập.    May mắn là hiện nay đã có những nhà khoa họ  được cấp nhiều bằng phát minh sáng chế  do doanh nghiệp đầu tư hoặc cá nhân đầu tư, những nhà khoa học thành lập được doanh nghiệp để phát triển công nghệ. Một trong số đó là công ty thoát nước & phát triển đô thị Bà Rịa Vũng Tàu Busadco, chủ yếu tự đầu tư nghiên cứu mà dẫn đầu giải thưởng KH&CN, bằng sáng chế trong nước và quốc tế, tăng thu nhập bằng sản xuất sản phẩm thương mại và chuyển giao công nghệ từ kết quả nghiên cứu của mình. Đặc biệt, đã có một số doanh nghiệp đã thành lập các bộ phận R&D như Viện Nghiên cứu Dầu khí (Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam), Viện Nghiên cứu cao su (Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam), Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel (Tập đoàn Viễn thông Quân đội), Viện Nghiên cứu công nghệ FPT (Tập đoàn FPT), các Trung tâm R&D, Phòng R&D của Công ty Vinamilk, Công ty Bút bi Thiên Long… Nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn đã và đang tăng cường đầu tư cho KHCN. Năm 2014, Tập đoàn Viettel và Tập đoàn dầu khí Việt Nam, mối đơn vị đã đầu tư 2.000 tỷ đồng cho nghiên cứu KH&CN.   (Còn tiếp)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo động lực mới trong nghiên cứu KH&CN (Kỳ cuối)      Khi thực hiện chuyển từ việc nghiên cứu theo  yêu cầu của nhà nước, bằng tiền nhà nước và nộp sản phẩm cho Nhà nước  sang nghiên cứu theo yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường thì mục tiêu,  động lực nghiên cứu của các tổ chức khoa học và nhà khoa học cũng sẽ tự động chuyển hướng. Tài năng và nghiên cứu đích thực lúc này sẽ chủ yếu do thực tiễn kiểm nghiệm, sàng lọc      Tái cơ cấu đầu tư trong lĩnh vực KHCN.  Một trong những bước đầu tiên để thực hiện tái cơ cấu đầu tư trong lĩnh vuewcj KH&CN là thu hẹp phạm vi đầu tư của Nhà nước. Nhà nước đầu tư những nhiệm vụ KH&CN mà sản phẩm có tính chất công ích, không hoặc không cần đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, không mua bán, chuyển nhượng. Đó là các nhiên cứu cơ bản, nghiên cứu trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh, nghiên cứu phục vụ cho việc hoạch định của đảng và nhà nước về chủ trương, chính sách mang tính đột phá. (Loại nhiệm vụ này nhiều lắm cũng chỉ chiếm trên dưới 20% số lượng đề tài, dự án và kinh phí nhà nước đầu tư như lâu nay)  Những nhiệm vụ nhà nước đầu tư cũng cần được phân rõ làm hai dạng: dạng nghiên cứu mà sản phẩm cần được công bố khoa học trong nước và quốc tế; dạng không nhất thiết công bố nhưng được chuyển hóa thành chủ trương, cơ chế, chính sách và được cấp có thẩm quyền chấp nhận.  Trong những nhiệm vụ đó, lại phân rõ loại nhà nước đặt hàng, tuyển chọn, đầu tư hoàn toàn và loại nhà nước giao cho các tổ chức KH&CN công lập (Các viện nghiện nghiên cứu chiến lược và chính sách, Viện hàn lâm KHCN Việt Nam, Viện hàn lâm khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam…) tiến hành nghiên cứu theo chức năng của đơn vị.( Vì các đơn vị này được thụ hưởng quỹ lương, kinh phí chi bộ máy và kinh phí chuyên môn nghiệp vụ từ nguồn ngân sách nhà nước). Ở địa phương (cấp tỉnh, thành phố) có các cơ quan tham mưu của cấp ủy, cơ quan chuyên môn của HĐND, UBND. Không thể kéo dài tình trạng lạm dụng đầu tư đề tài, dự án, đề án khoa học trùng chéo với chức năng nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan chuyên môn.   Đối với đề tài, dự KH&CN do ngân sách nhà nước đầu tư thì cần điều chỉnh thang điểm đánh giá nghiệm thu cho  sản phẩm cuối cùng, đó là công bố khoa học và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Số điểm đánh giá phần này phải cao, nếu sản phẩm đầu ra không đáp ứng yêu cầu thì không đủ điểm để nghiệm thu. Làm như vậy, chắc hàng năm không còn chuyện người ta đua nhau đăng ký đề xuất đề tài dự án quá nhiều như lâu nay.  Bước thứ hai để thực hiện tái cơ cấu đầu tư KH&CN là xã hội hóa đầu tư nguồn lực theo phương thức xã hội đầu tư những nhiệm vụ KH&CN mà sản phẩm được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, được thương mại hóa, được mua bán, chuyển nhượng, chuyển giao ứng dụng vào sản xuất. Đây là lĩnh vực chiếm tỷ trọng chủ yếu về số lượng ĐT và kinh phí. Các đề tài loại này do doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân đầu tư. Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các nghiên cứu bằng nhiều hình thức.   Đổi mới hình thức đầu tư.  Chuyển đổi hình thức đầu tư trực tiếp nguồn ngân sách nhà nước. Chuyển đầu tư trực tiếp từ kênh tài chính( đề xuất, xác định, tuyển chọn, đầu tư, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học đồng loạt, khống chế thời hạn), sang kênh đầu tư của hệ thống Quỹ phát triển KH&CN( đề xuất, xác định, tuyển chọn, đầu tư, nghiệm thu kết quả nghiên  thường xuyên, liên tục).   Hệ thống Quỹ công lập (Quỹ quốc gia, Quỹ cấp tỉnh, thành phố), vừa đầu tư các nhiệm vụ nhà nước đặt hàng, vừa tài trợ, cho vay ưu đãi, bảo lãnh vay vốn, thậm chí góp vốn để ươm tạo công nghệ với các nhiệm vụ do doanh nghiệp, tổ chức KHCN và cá nhân đầu tư.   Lâu nay, ngân sách KH&CN chủ yếu đầu tư trực tiếp cho ĐT, dự án KH&CN, lại đầu tư  có phần dễ giải, nhất là cấp địa phương. Nhưng đầu tư cho đối tượng khác còn rất hạn chế, hoặc chưa có gì. Cần giảm đầu tư trực tiếp của ngân sách cho nghiên cứu, bù lại, tăng cướng khuyến khích bằng chính sách ưu đãi về tín dụng và thuế, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, các phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao, hỗ trợ công bố quốc tế, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nước và nước ngoài…Đặc biệt, cần rút gọn thời gian làm thủ tục đăng ký và cấp bằng sáng chế, có hình thức tư vấn công lập trong việc đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích; phòng chống làm nhái, ăn cắp bản quyền sáng chế. Làm như vậy sẽ có tác dụng khuyến khích gián tiếp nhưng có hiệu quả hơn, nhất là đối với doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Tiết kiệm đầu tư  ngân sách nhà nước trực tiếp cho đề tài KH&CN thì thừa sức để đầu tư gián tiếp cho nghiên cứu KH và phát triển CN.  Trong điều kiện ở Việt Nam, khuyến khích các nhà khoa học bằng trả lương cao và có chính sách ưu đãi về nhà đất, công vụ chỉ có thể thực hiện được với một số đối tượng thực sự tài năng có cống hiến nổi bật. Mở rộng ra là vướng mắc, vì tiêu chí rất khó định lượng chuẩn xác, vả lại sẽ có sự tranh chấp, tỵ nạnh về mức độ quan trọng giữa lĩnh vực KH&CN và các lĩnh vực khác. Hơn nữa, cũng chỉ có thể áp dụng cho khu vực công lập, trong khi ta cần khuyến khích xã hội hóa.   Một trong những động lực quan trọng để phát huy đổi mới sáng tạo trong KH&CN là việc tôn vinh đóng góp và trao giải thưởng. Có một thực tế là giải thưởng của nhà nước còn rất thấp, cần được tăng lên gấp nhiều lần: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước hiện cũng chỉ trên dưới 100 triệu đồng; Giải thưởng sáng tạo KHCN Việt Nam 30-50 triệu đồng; Giải thưởng sáng tạo KHCN cấp tỉnh, thành phố 20 đến 30 triệu đồng, Giải thưởng Hội thi, Cuộc thi sáng tạo chỉ có 10-25 triệu đồng( tùy theo cấp địa phương hay Trung ương). Mức giải thưởng như vậy là quá thấp so với kinh phí đầu tư trực tiếp cho đề tài đang có xu hướng tăng khá nhanh: ở cấp tỉnh, bình quân đã lên 600 đến 700 triệu đồng, có nơi đã lên trên dưới một trỷ đồng/đề tài, dự án.. Nếu tiến hành cơ cấu lại kinh phí sự nghiệp KH&CN là hoàn toàn có nguồn để tăng các mức thưởng nói trên.  Triển vọng của mô hình chuyển đổi.  Bài học tạo động lực cho nền kinh tế có giá trị chung. Nền kinh tế nước ta từng có thời kỳ trì trệ kéo dài, thậm chí khủng hoảng. Chỉ đến khi đột phá vào quan hệ sản xuất, chuyển từ chế độ tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với khu vực, với thế giới, thì tình hình mới có sự chuyển biến cơ bản. Hiện nước ta cũng đang tiếp tục tái cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước bằng cách cổ phần hóa…   Vì vậy khi thực hiện chuyển từ việc nghiên cứu theo yêu cầu của nhà nước, bằng tiền nhà nước và nộp sản phẩm cho nhà nước sang nghiên cứu theo yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường thì mục tiêu, động lực của các tổ chức khoa học và nhà khoa học cũng sẽ tự động chuyển hướng. Tài năng và nghiên cứu đích thực lúc này sẽ chủ yếu do thực tiễn kiểm nghiệm, sàng lọc. Sự chuyển đổi sẽ làm phát sinh tình huống các nhà khoa học có thể làm việc trong khu vực công lập hoặc chuyển sang khu vực khác, kể cả khu vực nước ngoài tại Việt Nam, và ngược lại. Đó là chuyện bình thường. Hy vọng, các nhà khoa học thực tài, có công trình có giá trị trong khu vực công lập sẽ sống được bằng lương cao, bằng giải thưởng, thay vì chạy kiếm tìm thu nhập trong quá trình nghiên cứu đề tài, dự án KH&CN.  Cũng như trong lĩnh vực kinh tế, việc chuyển đổi có thể làm cho KH&CN ở đâu đó bị trì trệ mất một thời gian do một bộ phận các tổ chức KH&CN và nhà khoa học chưa theo kịp, thậm chí có thể có phản ứng tiêu cực do muốn níu kéo cơ chế bao cấp. Nhưng bộ phận khác các tổ chức khoa học, doanh nghiệp khoa học và nhà khoa học, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, sẽ chấp nhận và ủng hộ chuyển đổi. Và việc chuyển đổi có khả năng sẽ sớm trở thành bình thường  như việc chuyển đổi nền kinh tế trong quá khứ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo dựng một thế giới xanh hơn      Vừa trở về từ Triển lãm Graph Expo 2015 được tổ chức mỗi năm một lần tại Chicago, Hoa Kỳ, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp chuyên cung cấp các thiết bị và vật tư ngành in hàng đầu trên toàn thế giới, ông Thanh Mỹ, Tổng giám đốc Tập đoàn Mỹ Lan, đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về bốn nền tảng tạo nên thành công của Mỹ Lan.    Xin ông cho biết, những doanh nghiệp tham dự triển lãm đã đánh giá thế nào về một số sản phẩm ở gian hàng của Mỹ Lan?    Đến với Triển lãm lần này, Tập đoàn chúng tôi tập trung giới thiệu với các đối tác và khách hàng ba loại bản in computer-to-plate (CTP) thế hệ mới, rất thân thiện với môi trường là bản in Aquatherm® SP1, Aquatherm® SP2 và EcoViolet™ NP40. Bản in Aquatherm® SP1 được tạo hình với tia laser hồng ngoại gần (830 nm). Sau đó được hiện bản bằng nước và 1.5% xà phòng, thay thế các loại hóa chất hiện bản đang sử dụng như những bản in CTP phổ biến trên thị trường hiện nay. Bản in Aquatherm® SP2 cũng được tạo hình với tia laser hồng ngoại gần, sau đó lắp trực tiếp lên máy in offset để in mà không cần qua công đoạn hiện bản. Bản in EcoViolet™ NP40 giống như bản in Aquatherm® SP1 nhưng được tạo hình với tia laser tím (405 nm) hay cực tím (365 – 395 nm). Chính vì vậy, cả ba sản phẩm mới của chúng tôi đều rất thân thiện với môi trường, đồng thời giúp khách hàng tiết kiệm rất nhiều chi phí như chi phí về điện, nước, hóa chất hiện bản… Cả ba loại sản phẩm này đều được đối tác và khách hàng đánh giá rất cao về chất lượng.    Trong bốn ngày ở triển lãm, chúng tôi đã gặp gỡ 62 đại lý và ký thỏa thuận về việc phân  phối sản phẩm ở thị trường Bắc Mỹ, châu Mỹ Latinh và Anh với bốn đại lý. Một số đại lý khác thì hiện nay đang đàm phán về giá cả và điều kiện địa lý. Có thể nói, kết quả tham gia triển lãm vừa qua được đánh giá là rất thành công đối với chúng tôi.  Tại cuộc gặp gỡ một số doanh nghiệp tham quan Tập đoàn mới đây, ông cho biết những sáng chế của Mỹ Lan không chỉ đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm của Tập đoàn mà còn bán được cho một số nước phát triển như Đức, Canada, Nhật…Vậy với một Tập đoàn tuổi đời chưa nhiều, lại ở xa các trung tâm nghiên cứu, trường đại học như Mỹ Lan, ông đã tổ chức R&D như thế nào để đạt được những thành tựu mà hiếm có doanh nghiệp, thậm chí trung tâm nghiên cứu nào đạt được?    Thành công của chúng tôi được dựa trên bốn nền tảng đó là: Ý tưởng; Con người; Hạ tầng cơ sở; và nhất là Tâm huyết.    Chúng tôi bắt đầu từ một ý tưởng, cũng là slogan của Tập đoàn: “Formulating a greener world”, được hiểu là “Tạo dựng một thế giới xanh hơn”. Đây là mục tiêu, đồng thời là định hướng của Tập đoàn. Có thể nói rằng các nhân viên của chúng tôi đã thấm nhuần định hướng này từ trong suy nghĩ và cách sống.    Kế đến, chúng tôi đầu tư vào con người và hạ tầng cơ sở. Đầu tư vào con người bằng cách hợp tác với trường Đại học Trà Vinh để thành lập Khoa Hóa học ứng dụng và chương trình Co-Op (Co-Operative Education) vào năm 2007 để sinh viên, đa số là người Trà Vinh, có cơ hội đi làm bốn tháng trong mỗi năm học, với lương hai triệu đồng/tháng. Tôi tham gia giảng dạy và được bổ nhiệm làm Trưởng khoa từ năm 2007 cho đến nay. Phương pháp đào tạo là khuyến khích sinh viên có tư duy phản biện và tôn trọng sự khác biệt của mỗi người.    Đầu tư vào hạ tầng cơ sở bằng cách quy hoạch và xây dựng Tập đoàn Mỹ Lan xanh, sạch, đẹp, văn minh và phải rất thân thiện với môi trường. Tôi cũng đã đầu tư rất nhiều để xây dựng những phòng thí nghiệm với đầy đủ những thiết bị hiện đại để nhân viên và sinh viên sử dụng cho việc sản xuất và nghiên cứu.     Ngoài ra, để “Tạo dựng một thế giới xanh hơn”, chúng tôi đã xây dựng và vận hành thành công hệ thống Living Machine (Bộ máy sống). Đây là hệ thống xử lý nước thải tự nhiên sử dụng cây cỏ địa phương, một mô hình được sáng chế bởi GS.TS John Todd tại trường Đại học Vermont, Hoa Kỳ và được cải tiến bởi nhân viên của Mỹ Lan. “Bộ máy sống” giúp chúng tôi giảm 80% lượng nước thải xử lý, giảm đến 70% hóa chất sử dụng để xử lý nước thải, và Mỹ Lan hình thành một công viên thiên nhiên hơn là một nhà máy sản xuất.    Cốt lõi trong thành công của Mỹ Lan là tâm huyết của toàn thể nhân viên – những người luôn mong muốn “Tạo dựng một thế giới xanh hơn”, không riêng gì vì môi trường mà còn để khá giả hơn về mặt kinh tế, làm cho cuộc sống tốt và văn minh hơn.   Thành tựu nổi bật về R&D trong năm 2015 của Mỹ Lan là gì?     Vào năm 1994, tôi là một trong vài người đầu tiên sáng chế ra loại bản in CTP tại Hoa Kỳ mà hiện nay được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Sáng chế này đã góp phần thay thế công nghệ computer-to-film (CTF), làm giảm 60% chất thải ra môi trường với chất lượng sắc nét hơn và giá thành rẻ hơn. Năm 2015, nhân viên Tập đoàn Mỹ Lan và sinh viên của Khoa Hóa học ứng dụng trường Đại học Trà Vinh đã tiến thêm một bước tiến mới khi nghiên cứu và sản xuất thành công ba loại bản in CTP thân thiện với môi trường, đó là Aquatherm ®SP1, Aquatherm® SP2 và  EcoViolet™ NP40. Cả ba loại bản in này đều được tạo hình với mức năng lượng thấp hơn, không dùng hóa chất để hiện bản và có thể sử dụng được với mực in UV. Những sản phẩm này sẽ tạo doanh thu hơn 2.000 tỷ đồng trong bốn năm tới.    Xin ông cho biết một số mục tiêu chủ yếu trong chiến lược phát triển của Mỹ Lan? Ông sẽ có những thay đổi gì trong chiến lược R&D để thực hiện những mục tiêu đó?    Trong 10 năm qua, Tập đoàn Mỹ Lan hoạt động trong ngành vật liệu hóa học cao cấp, vật tư ngành in và cung cấp các loại màng đa lớp dùng trong lĩnh vực đóng gói, bao bì thực phẩm, dược phẩm và quang điện tử. Chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu các sản phẩm thân thiện hơn với môi trường dựa trên vật liệu nano.    Những năm gần đây, với sự phát triển của nền công nghệ thông tin, công nghệ Internet of Things – IoT, công nghệ điện toán đám mây – Cloud Computing, chúng tôi cũng đã và đang đầu tư vào lĩnh vực này. Chúng tôi sẽ trưng bày những sản phẩm mới tại triển lãm Techmart 2015 ở Hà Nội từ ngày 1-4/10. Những sản phẩm trưng bày này đã được đăng ký sáu bằng sáng chế tại Hoa Kỳ, Canada, Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan và một số quốc gia khác.           Phát biểu tại cuộc tọa đàm: Bí quyết thành công trong thời hội nhập, ông cho rằng yếu tố quan trọng nhất là phải xây dựng và tôn trọng sự khác biệt, dám nghĩ khác, làm khác và hình thành được kỷ luật trong công việc và sinh hoạt. Vậy những yếu tố nào đã được thực hiện ở Mỹ Lan?    Từ những ngày đầu về Việt Nam trong đầu tôi đã hình thành một câu hỏi “tại sao giới trẻ Việt Nam rất thông minh nhưng lại không sáng tạo?”. Tôi đã từng bước tìm câu trả lời và nhận thấy rằng đó là do họ không dám nghĩ khác, thiếu tư duy phản biện và không được khuyến khích thể hiện ý kiến, ý tưởng khác. “Ở trường học thì sách in không sai, thầy nói thì không trật, còn khi ra đời thì sếp luôn luôn đúng”. Cách đào tạo và văn hóa như vậy làm cho những người trẻ sợ và lười biếng nghĩ khác. Khi không nghĩ khác thì không bao giờ có những sáng tạo mới. Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển Tập đoàn Mỹ Lan, tôi đã xây dựng một môi trường làm việc có nhiều cơ hội cho các em thể hiện sự khác biệt trong suy nghĩ và việc làm. Tôi hướng dẫn các em về tư duy phản biện, xây dựng tác phong kỷ luật công nghiệp và đặc biệt khuyến khích và tôn trọng việc các em thể hiện ý tưởng và ý kiến mới.    Rất nhiều người đến tham quan Mỹ Lan và nói “toilet ở đây sạch hơn khách sạn 5 sao”. Vâng, chúng tôi phải bắt đầu lại từ đầu và bắt đầu từ trong toilet của Tập đoàn. Một khi chúng ta thay đổi được thói quen xấu của những nhân viên xuất thân từ nông dân bằng những thói quen tốt và giữ được toilet luôn luôn sạch thì chúng ta có thể thay đổi được mọi thứ.    Kết quả như bạn đã thấy, hiện nay, đội ngũ nhân viên trẻ của Tập đoàn đã liên tục nghiên cứu thành công các loại sản phẩm tiên tiến như: bản in, mực in phun nano thân thiện với môi trường. Và chúng tôi cũng thành công trong việc phát triển máy in phun công nghiệp được điều khiển và vận hành dựa trên công nghệ điện toán đám mây.  Tôi hy vọng việc dám nghĩ khác, kỷ luật hơn và có ý thức trách nhiệm hơn sẽ giúp chúng tôi phát triển bền vững.   Xin trân trọng cảm ơn ông.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo giá trị khác biệt trên những địa hạt đã “thâm canh”      Tảo spirulina dễ nuôi và đã được nhiều công ty trong nước sản xuất đại trà trong những năm gần đây nhưng tối ưu hoá quy trình sản xuất lại không dễ. Quá trình nghiên cứu và sản xuất tảo Sprirulina của TS. Nguyễn Đức Bách và các đồng sự tại Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã minh chứng rằng, ngay cả trong những địa hạt đã được “thâm canh” nhiều, thì sự tìm tòi của nhà khoa học sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị vượt trội.      TS Nguyễn Đức Bách bên hệ thống photobioreactor. Ảnh: Bảo Như.    Không có khoảng cách giữa cơ bản và ứng dụng  Cách đây gần một năm, khi tôi gặp TS. Nguyễn Đức Bách, anh say mê nói về các đề tài nghiên cứu cơ bản nhằm tìm kiếm, chọn nguồn gene, phân lập các giống tảo … trong cả giờ đồng hồ và dẫn tôi đi tham quan phòng thí nghiệm (PTN), nơi các sinh viên của anh đều đang lui cui quan sát, ghi chép từng ống nghiệm nhỏ đang chứa giống tảo. Gần đây, khi tôi quay lại Học viện Nông nghiệp, tìm đường lên PTN của Khoa Công nghệ sinh học mới biết, anh và đồng sự đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển Công nghệ sinh học vi tảo với các mô hình nghiên cứu và thử nghiệm sản xuất. Trước mắt tôi không phải là những bình nón thủy tinh nhỏ, hay các ống nghiệm lưu giữ các chủng giống tảo mà là hệ thống nuôi bao gồm khu thí nghiệm, khu nhân giống, bể sản xuất, và trong căn nhà xưởng vẫn còn chưa có nhiều đồ đạc, đang nóng hầm hập là… những lọ tảo Spirulina thành phẩm đã được kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn chất lượng của Bộ Y tế.  Nhờ quá trình nghiên cứu đó, đến nay nhóm nghiên cứu đã có hơn 50 các chủng giống vi tảo có tiềm năng ứng dụng vào sản xuất chẳng hạn như Chlorella vulgaris, Haematococcus pluvialis, Dunalliella, Nannochloropsis… có thể ứng dụng làm thực phẩm chức năng, khai thác axit béo không no, ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản và các loài có khả năng triển khai sản xuất ở quy mô lớn để thu sinh khối. “Việc nuôi vi tảo Spirulina chỉ là một ngã rẽ trong nghiên cứu của tôi, bởi vì tôi nghiên cứu rất nhiều giống, nhiều quy trình, và chỉ sử dụng một phần nhỏ trong đó để đưa ra sản xuất” TS. Bách nói.  Tuy nhiên, sau khi đã đảm bảo được nguồn giống, thì vấn đề tiếp theo là môi trường. Bởi tảo là loài dễ sinh trưởng trong các môi trường đơn giản nhờ vào khả năng quang tự dưỡng, nhưng cũng chính vì vậy nên rất dễ bị tạp nhiễm với các loài tảo khác hoặc nguyên sinh động vật, đặc biệt là khi nuôi hở. Chỉ cần sơ suất một yếu tố nhất định trong giai đoạn chuẩn bị giống hay nguồn nước hoặc nguồn dinh dưỡng bổ sung cho môi trường nuôi không đảm bảo đều dẫn đến hậu quả lớn, thậm chí có thể phải bỏ đi cả một bể nuôi tảo hàng chục mét khối.  Do đó để chủ động sản xuất ở quy mô công nghiệp, TS Nguyễn Đức Bách và các đồng nghiệp thiết kế hệ thống nuôi kín photobioreactor gồm 7 module, mỗi module lên tới 1000 lít. Hệ thống photobioreactor này giúp đảm bảo rằng giống được sản xuất với số lượng lớn nhất, mức độ tinh khiết cao nhất. “Số lượng giống được đảm bảo chuẩn lên tới cả nghìn lít thì sẽ giảm tối đa khả năng tạp nhiễm và rút ngắn quá trình nuôi tại các bể sản xuất”, TS. Bách giải thích.  Như vậy, gần như không có khoảng cách nào từ những ống nghiệm ra đến bể nuôi quy mô công nghiệp. Đồng nghĩa là không có khoảng cách giữa công nghệ sinh học và công nghiệp sinh học. “Sự khác biệt ở chỗ chúng tôi nghiên cứu, thử nghiệm xong thì đưa ra sản xuất thử ngay, chính vì thế, khi có chủng tảo nào có tiềm năng mà đã được chúng tôi đánh giá rồi, đồng nghĩa với việc bất kỳ đơn vị nào muốn tiếp nhận để sản xuất thì chắc chắn sẽ sản xuất được, nó là chủng sản xuất, không phải chủng nghiên cứu”, TS. Nguyễn Đức Bách nói.  Trong quá trình nghiên cứu và nuôi trồng tảo này, nhóm của TS Bách chỉ có nguồn kinh phí rất hạn chế. Anh và nhóm tận dụng tiền công lao động tiết kiệm được từ các các đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản của PTN để đầu tư vào mua trang thiết bị mở rộng sản xuất thử nghiệm, đồng thời được Học viện Nông nghiệp hỗ trợ 250 triệu để xây dựng nhà lưới và cơ sở hạ tầng. Sau khi sản xuất thử nghiệm xong anh mới bắt đầu tìm kiếm hợp tác với các công ty sản xuất tảo để đầu tư vào sản xuất ở quy mô lớn (xây dựng bể nuôi ở Khu công nghệ cao Hòa Lạc).    Hệ thống bể nuôi trong race-way của nhóm TS. Nguyễn Đức Bách. Ảnh: Bảo Như.     Know how là quá trình chăm chút … đến từng chi tiết  Sàng lọc chủng giống vi tảo; nhân giống cũng mới chỉ là những khâu đầu tiên, sau đó còn phải nhân sinh khối ở các quy mô, xử lý sinh khối hay tách chiết các hợp chất có hoạt tính sinh học. Câu hỏi là làm thế nào để tạo ra quy trình sản xuất hiệu quả? hay tạo ra sản phẩm có giá trị khác biệt? Câu trả lời của anh Bách là không có đột phá nào cả, mà cần chăm chút và điều chỉnh từng khâu một dựa trên những kiến thức tổng hợp và liên ngành bao gồm sinh học, công nghệ sinh học, vật lý và hóa học và xử lý thống kê…  Nắm được, điều khiển được toàn bộ quy trình đó với mức độ tối ưu chính là “know how”, mà nhóm TS Bách tự nhận là không gì hơn ngoài “kinh nghiệm và xương máu” của cả một quá trình lăn lộn với trải nghiệm thực, lắng nghe, quan sát và tìm cách giải quyết vấn đề. Một trong những ví dụ dễ nhận thấy ở đây là về những ống dẫn nước được thiết kế đan chéo vào nhau thay vì thẳng từ dưới đất lên “cách làm này sẽ giảm áp suất tác động đối với tảo, chúng tôi đã tính kỹ rồi”, TS Bách nói.  Ngoài ra, tất cả các nguồn nguyên vật liệu đều cần được đảm bảo, nhóm của TS. Bách tính toán từng chi tiết nào, vật liệu nào cần phải được nhập khẩu từ Mỹ, Đức, nguồn nào có thể tự tìm được ở trong nước. Ngay cả nguồn nước nuôi tảo cũng phải được lọc qua hệ thống RO, đủ sạch để có thể uống được.  Riêng khâu thu và xử lý sinh khối, vốn chiếm 1/3 chi phí của toàn bộ quy trình sản xuất tảo, lại “ngốn” của nhóm nghiên cứu một thời gian dài, dày công nghiên cứu để đưa ra giải pháp riêng. Bởi vì, lâu nay, khâu này vẫn được xử lý thủ công ở các cơ sở nhỏ hoặc bằng máy ly tâm với chi phí rất lớn ở các công ty. Vì vậy, nhóm của anh Bách nghiên cứu và tìm ra quy trình thu sinh khối bằng cách phát triển phương pháp lọc cơ học kết hợp với rung cơ học để rút ngắn quá trình thu và giảm chi phí nhân công. Quy trình riêng này đang được nhóm nghiên cứu hoàn thiện và đăng ký giải pháp hữu ích.  Chính việc luôn tự đặt câu hỏi để tối ưu hóa từng công đoạn đó đã đem lại kết quả khả quan. Chất lượng của tảo cũng đã được kiểm nghiệm và có giá trị dinh dưỡng cao vượt trội: Hàm lượng protein đạt khoảng 60-65%, thậm chí có thể lên tới 71%; hàm lượng phycocyanin chiếm 14% (bình thường đạt 9% được coi là cao), hàm lượng chlorophyll (diệp lục tố) chiếm khoảng 1,4-1,5%, Axit gamma-linolenic (GLA) đạt 1,5% (bình thường 1% được coi là cao).  Sản phẩm tảo Spirulina của TS. Bách và nhóm nghiên cứu đã được Công ty TNHH Đầu tư phát triển ứng dụng công nghệ sinh học ADB (cơ sở sản xuất tại Hòa Lạc), Công tyCổ phần Công nghệ Sinh học Bảo Khang (Tiên Du, Bắc Ninh) hợp tác để triển khai sản xuất, Công ty cổ phần Công nghệ và Dược phẩm Quốc tế (ITP-Pharma) đặt mua với số lượng lớn để sản xuất các sản phẩm thực phẩm chức năng.  Nguồn: Khoa học và Phát triển    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Tạo hóa phải “ngẩn ngơ”?      Tạo hóa, nhà phát minh vĩ  đại nhất khi đưa vào đời sống hằng hà sa số tác phẩm của mình, vẫn để  ngỏ cho những ý tưởng “làm dáng”… Ông Trần Thanh Liêm đã nhìn thấy điều  đó khi định đưa ra hình dáng mới cho những trái dưa hấu bình dị, biến  chúng thành những trái dưa có hình thỏi vàng.&#160;&#160;     Trước đó, người kinh doanh rau quả Việt Nam từng biết đến ông với cung cách đột phá kinh doanh qua hình thức mới- dưa vuông- với mức giá được thị trường chấp nhận là 2- 3 triệu đồng một cặp.    “Tôi chỉ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp với dưa hấu hình thỏi vàng còn dưa hấu vuông là “học lóm” từ Nhật Bản nên không đăng ký”, ông Liêm hiền lành nói. Khu vườn nhà ông ở khu vực 7, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy (TP.Cần Thơ) nay tấp nập thương lái săn đón, mua hàng, khác hẳn với những người trồng dưa bình thường. Càng săn đón ráo riết hơn khi ông đưa ra thị trường hàng trăm cặp dưa hấu hình thỏi vàng, xe hơi và cả dưa hình bản đồ Việt Nam.    Nếu Mai An Tiêm cho khắc chữ trên dưa và thả trôi trên biển thì Trần Thanh Liêm lại làm cho chữ nổi trực tiếp trên lớp vỏ dưa. Sau khi đã sửa hình dáng trái dưa tự nhiên để “ làm dáng”, công việc làm khuôn nổi chữ trên vỏ dưa tưởng là dễ nhưng cũng không đơn giản chút nào. Những lúc trời nắng, nhiệt độ thay đổi hoặc chỉ cần một cơn mưa rào thì tỷ lệ trái dưa còn tốt chỉ còn lại 35-45%, và mức đó được xem là thành công. Tết Giáp Ngọ 2014, dưa nổi hình bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa khiến cho nhiều người tâm đắc. Mỗi năm, cứ Tết đến, người ta chờ đợi xem ông nông dân sáng tạo này sẽ làm điều gì khác nữa để tạo ra sự khác biệt, đặc sắc?    Ứng dụng những chất liệu tạo khuôn, lấy nắng và biết bao nhiêu điều vận dụng từ công nghệ làm dưa vuông của Nhật, ông Liêm ứng dụng nhuần nhuyễn trong việc “sửa dáng” dưa như chuyện nhẹ nhàng, không có gì ầm ĩ. Tết Nguyên Đán năm rồi, dưa hấu thỏi vàng bán tại TP.HCM có giá 7-8 triệu đồng/cặp nhưng vẫn được thị trường chấp nhận. Vấn đề là làm sao tăng số lượng trái đúng chuẩn về hình dáng, cân nặng, an toàn để đáp ứng nhu cầu thị trường.     Tạo hóa “hóm hỉnh” đôi khi cũng gợi ra điều gì đó thật tươi tắn, mới lạ khi cho ông Võ Trung Thành tình cờ nhìn thấy quả bưởi bị kẹt giữa hai cành cây có dáng hình hồ lô, bổ ra vẫn là trái ngon dù phần vỏ bị biến dạng, đã thôi thúc ông Thành chủ động tạo ra dáng hình này cho bưởi.    Ông Thành lên Sài Gòn tìm chỗ đặt khuôn, thực ra chẳng có gì khó. Nhưng đây là con dao hai lưỡi vì người làm khuôn vẫn có thể bán khuôn đó cho người khác. Một mình không thể tự lo tra khuôn đúng mốc thời gian sinh trưởng cho bưởi vừa chống “sao chép”, ông cố nghĩ ít hơn về những bất cập nếu có ai đó lấy mẫu và thành công hơn mình. Nhưng làm ra trái bưởi hồ lô không chỉ vài động tác tra khuôn. Lần đầu tiên ông Thành nhìn thấy trái bưởi tượng hình hồ lô hoàn chỉnh, cảm giác chạm tay vào sự huyền biến của tạo hóa, từ đó ông xây dựng qui trình tra khuôn, tiếp tục bồi dưỡng cho trái bưởi lớn, ngon, tránh bị sâu đục quả cho đến khi biến thành thành phẩm.   Cảm nhận ấy rõ hơn khi không phải khuôn nào cũng thành hồ lô. Người sản xuất không thể chỉ tính chuyện tạo dáng. Giá trị của những lời khuyên, làm ra bưởi hồ lô cần nhìn xa, chọn phương pháp hữu cơ, giảm thuốc sâu để tránh giết chết sâu thiên địch, từng bước trồng theo phương pháp khoa học bền vững. Bưởi hồ lô “cháy hàng” ngay đợt hái trái đầu tiên, đắt hàng tới mức ông Thành phải giao cả cặp bưởi trên bàn thờ gia tiên cho khách để tránh tiếng thất hứa.    Nhu cầu lớn và với đặc điểm luôn “rủ rê” nhau xây dựng mô hình kinh doanh lớn, đáp ứng nhu cầu lớn của thị trường, một câu lạc bộ chuyên về cuộc “tạo dáng” mới này được hình thành. CLB Sản xuất trái cây tạo hình ở ấp Phú Trí A, xã Phú Tân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, ra đời sau khi ông Thành chia sẻ thành công này cho chòm xóm. Nhiều người tra khuôn với số lượng lớn hơn, tỷ lệ trái hoàn chỉnh nhiều hơn vườn nhà ông Thành.    Khi sản phẩm được thị trường chấp nhận, lại bắt đầu xuất hiện bưởi hồ lô từ nhiều nguồn khác, chào bán ngoài thị trường. Trái không hoàn chỉnh thì người kinh doanh tìm cách che lấp, dùng sơn tô vẽ thêm.    Nghiên cứu tiếp, nay ông Thành đã chuyển sang chăm sóc 1.000 quả đào tiên dáng hồ lô, giá từ 300.000 đồng đến 1,2 triệu đồng/quả. Người mua thích đào tiên hồ lô vì có thể chưng  trên sáu tháng, trong khi bưởi hồ lô chỉ khoảng một tháng..    Từng  hả hê nhìn thương lái từ Hà Nội vào tận vườn hái bưởi chở ra sân bay nhưng cũng từng nếm mùi thất bại do giá bưởi bấp bênh, đến nỗi có lúc nợ 10 triệu đồng không sao trả được, sau khi làm bưởi hồ lô, năm 2010-2012, ông đã thoát cảnh nợ nần và tậu được nhà mới từ cách sửa dáng trái cây trong vườn nhà.     26 thành viên của CLB cùng tổ chức sản xuất (tạo dáng) bưởi hồ lô, đào tiên dáng hồ lô đã có cuộc sống khá giả. Có người khốn khổ vì giá bưởi bấp bênh trước đây, từng bán nhà như ông Nguyễn Văn Thời, nay đã có tiền chuộc lại đất, sửa lại căn nhà. Mọi người đang chờ đợi những cú đột phá mới khiến tạo hóa lại phải ngẩn ngơ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo lập một Thương hiệu Việt      Về bản chất, Dự &#225;n Thủ phủ c&#224; ph&#234; to&#224;n cầu do Trung Nguy&#234;n đề xướng l&#224; một dự &#225;n c&#243; tầm cỡ quốc gia, mang t&#237;nh mục đ&#237;ch quốc gia. N&#243; chứa đựng một kh&#225;t vọng, thậm ch&#237; c&#243; thể n&#243;i, một tham vọng rất lớn vượt ra ngo&#224;i mục ti&#234;u của một dự &#225;n kinh doanh th&#244;ng thường – tạo việc l&#224;m v&#224; thu lợi nhuận cao. C&#243; thể d&#249;ng đến từ &#8220;h&#249;ng t&#226;m, tr&#225;ng ch&#237;&#8221; để n&#243;i về quyết t&#226;m m&#224; những người s&#225;ng lập Dự &#225;n muốn đạt tới: tạo lập một Thương hiệu Việt.     Công ty Cổ phần Trung Nguyên vừa khai trương một nhà máy chế biến cà phê có công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới ở Việt Nam – một cấu phần của Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” do Trung Nguyên đề xướng và đang triển khai: Việc Trung Nguyên khai trương nhà máy chế biến cà phê có công nghệ hiện đại nhất thế giới, tuy là một sự kiện bình thường của hoạt động kinh doanh, lại chứa đựng một hàm ý rõ ràng: để thắng trong cạnh tranh quốc tế và khẳng định mình là không nhỏ, doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng đạt tới đỉnh cao công nghệ của thế giới. Và các doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được mục tiêu đó. Dĩ nhiên, công nghệ cao chỉ là một phần, dù là phần rất quan trọng, của cuộc chơi chinh phục mà doanh nghiệp Việt Nam hướng tới.               Như tôi cảm nhận, Dự án Thủ phủ cà phê toàn cầu được sự ủng hộ ngày càng tăng, nhất là của giới trí thức và thế hệ trẻ, là nhờ ở logic “đảo phách” trò chơi, ở ý tưởng đột phá chiến lược (không phải là đột phá kinh doanh của một doanh nghiệp) và định hướng sáng tạo – mở của mô hình kinh doanh mới mà nó đề xuất. Các khái niệm cơ bản của ý tưởng dự án – hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế  xanh – sạch, thân thiện môi trường nói chung là phù hợp với xu hướng thời đại, cũng ngày càng trùng hợp với định hướng lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam – dưới áp lực của hội nhập, phát triển bền vững, không để đất nước rơi vào bẫy phát triển “thu nhập trung bình” và đối phó với xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu. Sự phù hợp này là cơ sở cho sự hội nhập quốc tế – làm cho Việt Nam trở thành một nền kinh tế hiệu quả, một địa chỉ an toàn và thân thiện, để đưa Việt Nam ra thế giới và kéo thế giới đến với Việt Nam một cách vững chắc. Sự ủng hộ này đang được khẳng định ngày càng rõ ràng ở các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta. Và đó không phải là ngẫu nhiên.        Nhà máy này là sự tiếp tục nhất quán cách tiếp cận phát triển mà Trung Nguyên theo đuổi lâu nay: đột phá, hội nhập quốc tế và phát triển. Đây cũng là một trong những nỗ lực hiện thực hóa một ý tưởng phát triển mang tính đột phá thành một mô hình xác định – hay nói theo ngôn ngữ kinh doanh – đóng gói ý tưởng phát triển để biến nó thành lợi ích phát triển thực tế. Quá trình này nhằm mục tiêu xác nhận năng lực và khẳng định vị thế của Việt Nam, của các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện đại .   Bài viết này đặt nhiệm vụ thử mổ xẻ (phần nào) Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu”, không phải nhằm mục tiêu cổ động riêng và thiên lệch cho Dự án này mà với nghĩa “mượn” một ví dụ cụ thể để thảo luận sâu hơn về cách tiếp cận phát triển mà các doanh nghiệp Việt Nam cần theo đuổi để tận dụng “vận hội lịch sử” mà quá trình hội nhập quốc tế đang mở ra.  1. Dự án bao gồm nhiều cấu phần, từ xây dựng triết lý cho “thánh địa” (hay “tôn giáo”) cà phê cho đến hàng loạt dự án triển khai để “đóng gói” triết lý đó, biến triết lý đó thành các sản phẩm cụ thể, để mỗi thành viên của cộng đồng uống cà phê toàn cầu có thể tận hưởng và cảm nhận được một cách sâu sắc, chuyển hóa nó thành một phần không thể thiếu trong đời sống của mình.   Cho đến nay, Trung Nguyên đã xây dựng được – nhưng chưa thật sự hoàn chỉnh – triết lý cho “Thủ phủ cà phê toàn cầu”. Triết lý đó coi cà phê là một nguồn năng lực sáng tạo chủ yếu của con người trong thời đại kinh tế tri thức, khi năng lực sáng tạo của con người là lợi thế phát triển quan trọng nhất.   Triết lý đó được thực hiện thông qua việc xây dựng mô hình – trang trại sản xuất cà phê “xanh, sạch, thân thiện với môi trường, chất lượng cao và đặc sắc Việt Nam”, quần thể công trình Làng Cà phê, Bảo tàng Cà phê Thế giới, kết hợp với Bảo tàng Văn hóa Tây Nguyên – văn hóa các dân tộc Việt Nam, Lễ hội Cà phê Tây Nguyên tổ chức hằng năm, các nhà máy chế biến cà phê theo công nghệ hiện đại (tất cả đã và đang được triển khai ở Buôn Mê Thuột) và gần đây nhất, Hội quán Sáng tạo vừa mới khai trương ở Hà Nội.   Đây là một tổ hợp các công trình đậm bản sắc Việt Nam kết hợp với định hướng hội nhập toàn cầu, được thiết kế với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu thuộc nhiều lĩnh vực, cả trong nước và quốc tế.   2. Dự án “Thủ phủ cà phê” đang được triển khai tích cực. Với những kết quả ban đầu, sức chinh phục và tính triển vọng của Dự án đang tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, có vẻ con đường đi đến mục tiêu “Thủ phủ cà phê”, được khẳng định như một địa chỉ hành hương của cộng đồng người uống cà phê toàn cầu, hay khiêm tốn hơn, được thừa nhận là một thương hiệu văn hóa kiểu “Lễ hội hoa Anh đào” của Nhật Bản, hãy còn rất xa.   Trên thực tế, phản ứng xã hội đối với các “sản phẩm được đóng gói” của Dự án, cho đến nay, vẫn còn bị “phân liệt”. Tồn tại cả hai loại tình cảm, một loại là cảm tình và ủng hộ; một loại khác – hoài nghi và phản đối. Có phản ứng trái ngược như vậy là lẽ thường đối với một ý tưởng mới, nhất là đối với một ý tưởng mang tính đột phá mạnh như của Dự án “Thủ phủ cà phê”. Tuy nhiên, phải nhận diện được tính hợp lý của Dự án từ tất cả các góc độ tích cực và tiêu cực của nó. Có như vậy, mới có cơ sở cho sự đồng thuận ngày càng tăng lên. Mà sự đồng thuận xã hội tăng lên là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất xác nhận tính hợp lý và đúng đắn của Dự án (thử hỏi một Dự án có khát vọng chinh phục toàn cầu liệu có được thế giới tin không nếu như bản thân nó không thuyết phục được chính dân cư bản địa, không được (đa số) dân cư và cộng đồng doanh nghiệp của chính nước sở tại ủng hộ?)               Gặp gỡ các nhà văn hóa, nghệ sĩ trong ngày               khai trương Hội quán Sáng tạo tại-Hà Nội        Nhưng điều đáng quan tâm không kém, thậm chí có phần hơn, là làm rõ căn nguyên của những ý kiến hoài nghi, thậm chí phản đối Dự án 1.  Hoài nghi, một phần vì các luận cứ, luận chứng Dự án nêu chưa đủ, hoặc đã nêu nhưng chưa đủ sức thuyết phục tính khả thi – khả thi về quy mô nội dung, về cấu trúc và về bước đi của Dự án trong quan hệ với nguồn lực bảo đảm, các điều kiện và giải pháp thực thi.    Hoài nghi và kéo theo đó, cả sự phản đối (cho đến nay, cơ bản là âm thầm, ít thấy công khai trong công luận), vì lo ngại động cơ không đủ trong sáng của những người đề xuất Dự án. (Sự lo ngại là chính đáng vì có cơ sở thực tiễn: đã từng có nhiều dự án, cũng nhân danh phát triển, nhân danh lợi ích quốc gia – dân tộc, tuyên bố ồn ào mục tiêu cao thượng, động cơ trong sáng, với các giải pháp hiệu quả cao, nhưng thực chất là để chiếm đất của dân, để trục lợi các nguồn tài nguyên quốc gia), và còn bắt nguồn từ một vài nhóm nguyên nhân khác, do đố kị và ghen tị, hoặc do lo ngại sự vượt trội của đối thủ cạnh tranh…   3. Để Dự án triển khai thành công, rõ ràng phải tính đến cả hai loại ý kiến, với một thái độ nghiêm túc, cầu thị. Trong hoàn cảnh Việt Nam và đối với bản thân Dự án này, với mục tiêu tốt đẹp và cách tiếp cận đột phá đáng khích lệ, càng cần phải như vậy. Vấn đề là ở chỗ tính rủi ro của Dự án – theo cả nghĩa thất bại chỉ do triển khai chậm hay bị “hỏng” ngay từ đầu do bị cản trở, bị bác bỏ vì những lý do không chính đáng – vẫn là rất lớn.  Có hàng loạt vấn đề phải trả lời một cách cụ thể và xác thực. Trước hết là những vấn đề sơ đẳng và muôn thuở của kinh tế học: Làm cái gì? Cho ai? Ai làm? Làm như thế nào?   Ví dụ, cần bao nhiêu đất và đất ở đâu để xây dựng mô hình sản xuất cà phê dựa trên nguyên lý “xanh – sạch”, đạt chất lượng cao đủ tầm cỡ đáp ứng nhu cầu của một thánh địa cà phê toàn cầu? Bằng cách nào để có đất một khi đất Tây Nguyên đã có chủ hết?  Hoặc như vấn đề lợi ích của người nông dân trồng cà phê trong Dự án, với một bộ phận lớn là đồng bào dân tộc, sẽ được bảo đảm thế nào. Mà đây chính là vấn đề cốt lõi của Dự án.  Hoặc nguồn lực cần cho Dự án là bao nhiêu, huy động từ đâu, kéo theo đó là cơ chế quản trị và phân chia lợi ích giữa các chủ thể? Rồi Nhà nước phải làm gì để bảo đảm cho một Dự án có mục đích quốc gia, có ý nghĩa khởi động một tư duy phát triển mới trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, không bị biến dạng, bị lạm dụng và lợi dụng để trục lợi?  Hoặc như phải sử dụng các “chiêu thức” nào để hương cà phê Việt Nam tỏa ra đúng là “hương của Thủ phủ cà phê”, để nó lan khắp thế giới, đưa Việt Nam đến với thế giới, để kéo cả thế giới đến với Việt Nam, qua đó, tạo ra một lợi thế phát triển độc đáo và mang tầm chiến lược của Việt Nam?  Bên cạnh những câu hỏi “trần trụi” kinh tế học đó, Dự án còn có những vấn đề khác, gắn với khía cạnh văn hóa, với bản sắc dân tộc và giá trị Việt Nam – những vấn đề còn tinh tế và khó khăn gấp bội. Làm thế nào để Dự án giữ được bản sắc văn hóa Tây Nguyên như một nét đặc sắc, một thế mạnh bản địa riêng có, khi kết hợp nó với các nền văn hóa khác, hình thành nên “giá trị Việt Nam”, trong khung cảnh giá trị tiền bạc dễ trở thành lấn át?    Hãy thử phân tích các chiều cạnh Lễ hội hoa Anh đào của Nhật Bản – nhận diện tính tương đồng và sự khác biệt của hai lễ hội – như một ví dụ về cách tôn vinh văn hóa, tôn vinh giá trị Nhật Bản, so sánh nó với ý tưởng Lễ hội hoa Cà phê đang được triển khai như một bộ phận cấu thành của Dự án – chắc sẽ có nhiều gợi ý quý báu. Và không có gì hoài nghi – sự phân tích so sánh đó – cũng như nhiều sự so sánh cần có khác nữa, sẽ chứng tỏ mức độ khó khăn to lớn của việc thực hiện thành công Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” – mà Dự án Lễ hội hoa Cà phê chỉ là một bộ phận cấu thành trong đó.  Rõ ràng là có rất nhiều vấn đề phải trả lời. Song đặt vấn đề đúng cũng có nghĩa là tìm được 60 – 70% câu trả lời. Một nhà kinh điển đã nói như vậy. Hy vọng những vấn đề đặt ra ở trên là đúng, để chúng trở thành một trong nhiều căn cứ cho triển vọng thành công của Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu”.2   ————-  1 Bản thân tôi, một người ủng hộ mạnh mẽ ý tưởng Dự án, vẫn có những hoài nghi về các khía cạnh cụ thể của Dự án – từ tính xác thực – cụ thể của triết lý “tôn giáo cà phê”, mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể (cho từng bước đi và từng “gói” cụ thể của Dự án) cho đến năng lực triển khai (bao gồm năng lực tài chính và sử yểm trợ về mặt chính sách của Nhà nước), tính hợp lý của các bước đi. Có lẽ sự hoài nghi này bắt nguồn chủ yếu từ việc nắm thông tin Dự án chưa đầy đủ (và do Dự án không cung cấp đủ thông tin cho xã hội?)   2 Trong dự kiến, đây là bài đầu tiên trong loạt bài sẽ viết về Dự án “Thủ phủ cà phê toàn cầu” trong nỗ lực tìm kiếm và lựa chọn một cách tiếp cận và mô hình phát triển mới cho Việt Nam, một nước đi sau trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh quốc tế gay gắt hiện nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo một AI công bằng và không thiên kiến: Tại sao cực kì khó ?      Có nhiều quan niệm khác nhau về sự công bằng – và đôi khi chúng còn đối lập nhau chan chát.      Các nhà khoa học máy tính hiểu khái niệm “thiên kiến” với ý nghĩa thống kê, rất khác so với cách mà mọi người vẫn dùng từ “thiên kiến” trong đời sống hằng ngày.  Hãy chơi một trò chơi. Tưởng tượng rằng bạn là một nhà khoa học máy tính. Công ty muốn bạn thiết kế một công cụ tìm kiếm trả về cho người dùng một loạt các tấm ảnh tương ứng với từ khóa mà họ đưa ra – một sản phẩm gần giống như Google hình ảnh.  Về mặt kỹ thuật thì nó dễ như ăn kẹo vì bạn là một nhà khoa học máy tính tài năng và đây là một bài toán khá cơ bản! Nhưng hãy hình dung thế giới bạn đang sống là nơi mà 90% CEO là nam giới (cũng giống thế giới của chúng ta phết!). Liệu bạn có nên thiết kế công cụ tìm kiếm phản ánh y hệt thực tế đó không, tức là nếu người dùng nhập từ “CEO” thì các hình ảnh trả về sẽ hầu hết là nam giới? Hoặc nếu làm thế sẽ càng làm chênh lệch giới tính ở cấp độ quản lý cấp cao, bạn sửa công cụ tìm kiếm để kết quả hiển thị cân bằng hơn? Cho dù kết quả đó không phản ánh thực tế ngày nay?  Các nhà khoa học máy tính hiểu khái niệm “thiên kiến” với ý nghĩa thống kê: Tức là một chương trình đưa ra dự đoán sẽ bị gọi là “thiên kiến” nếu nó liên tục sai theo hướng này hay hướng khác. (Ví dụ: nếu một ứng dụng thời tiết luôn ước tính quá cao khả năng có mưa, thì các dự đoán của nó bị thiên kiến” về mặt thống kê.) Định nghĩa này rất rõ ràng nhưng cũng rất khác so với cách mà mọi người vẫn dùng từ “thiên kiến” trong đời sống hằng ngày – với nghĩa là “định kiến đối với một nhóm người và một nhóm đặc điểm nào đó”  Vấn đề là nếu một khái niệm có hai cách hiểu, thì khả năng cao là hai khái niệm sẽ khó mà dung hòa với nhau. Nếu bạn thiết kế công cụ tìm kiếm của mình để đưa ra những dự đoán khách quan về mặt thống kê về sự phân chia giới tính giữa các CEO, thì nó nhất thiết sẽ bị sai lệch theo nghĩa thứ hai của từ này. Và nếu bạn thiết kế nó để các dự đoán của nó không tương quan với giới tính, thì nó nhất thiết sẽ bị sai lệch theo nghĩa thống kê.  Vậy bạn nên làm gì? Làm thế nào để cân bằng hai cách nhìn này? Hãy nghĩ thử xem nhé, chúng ta sẽ quay lại giải thích tiếp.  Trong khi bạn đang ngẫm nghĩ, thì hãy chấp nhận thực tế rằng không có một định nghĩa thống nhất nào về sự thiên kiến, cũng như về sự công bằng cả. Công bằng có thể có nhiều định nghĩa — ít nhất là 21 định nghĩa khác nhau theo ước lượng của một nhà khoa học máy tính — và có những định nghĩa còn mâu thuẫn với nhau.  John Basl là một nhà triết học của Đại học Northeastern chuyên về các công nghệ mới cho biết: “Chúng tôi đang ở trong thời kỳ khủng hoảng, thời điểm mà chúng ta không có những năng lực đạo đức để giải quyết vấn đề này”.  Vậy những người khổng lồ công nghệ nghĩa gì khi họ nói rằng họ có quan tâm đến việc tạo ra AI công bằng và không có thiên kiến? Google, Microsoft, thậm chí cả Bộ Quốc phòng Mỹ thường xuyên đưa ra các tuyên bố tỏ rõ cam kết của họ đối với các mục tiêu này. Nhưng họ có xu hướng trốn tránh một thực tế cơ bản: Ngay cả những nhà phát triển AI với ý định tốt nhất cũng có thể phải đánh đổi, nếu tăng cường một mặt công bằng này thì nhất thiết phải hy sinh một mặt công bằng khác.  Công chúng không thể bỏ qua câu hỏi hóc búa đó. Đó là những lỗ hổng rình rập bên trong những công nghệ đang có mặt trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, từ thuật toán quyết định cho vay tiền cho đến nhận dạng khuôn mặt. Hiện đang có một khoảng trống chính sách định hướng các công ty về các vấn đề công bằng và thiên kiến.  Timnit Gebru, một nhà nghiên cứu đạo đức AI hàng đầu, người đã bị buộc rời khỏi Google vào năm 2020 sau đó thành lập một viện nghiên cứu AI mới, cho biết: “Có những ngành phải chịu trách nhiệm giải trình, chẳng hạn như dược phẩm. Trước khi đưa ra thị trường bạn phải chứng minh cho chúng tôi thấy rằng bạn không làm điều X, Y, Z. Còn với các công ty (công nghệ) này thì chả có gì cả. Họ cứ thế mà ra sản phẩm tùy thích”.  Chúng ta cần phải hiểu những vấn đề đó và tiến tới quản lý chúng – quản lý các thuật toán đang ngày đêm bao trùm lên cuộc sống của chúng ta. Hãy điểm qua ba ví dụ trong thực tế để cho thấy sự công bằng cần thiết phải được đánh đổi như thế nào, và từ đó đưa ra một số giải pháp khả thi.  Làm sao để quyết định cho ai được vay tiền?  Hãy làm một ví dụ tưởng tượng nữa. Giả sử bạn là nhân viên ngân hàng phụ trách xét duyệt cho vay. Bạn sử dụng một thuật toán để tìm ra người nên cho vay tiền nhờ vào một mô hình dự đoán chủ yếu dựa vào điểm tín dụng FICO của họ – tức là về khả năng trả nợ. Hầu hết những người có điểm FICO trên 600 đều được vay tiền và hầu hết những ai dưới điểm số đó không được vay.  Các hệ thống nhận dạng khuôn mặt là một dạng thiên kiến khác của AI.  Một kiểu công bằng, được gọi là công bằng về quy trình, nói rằng một thuật toán là công bằng nếu quy trình mà nó sử dụng để đưa ra quyết định là công bằng. Điều đó có nghĩa là nó đánh giá tất cả những người nộp đơn dựa trên cùng loại thông tin của mỗi người, chẳng hạn như lịch sử thanh toán; nếu dữ liệu đầu vào giống nhau thì kết quả duyệt cho vay phải như nhau bất kể đặc điểm cá nhân như chủng tộc. Bằng cách đó thì có thể coi thuật toán của bạn đang hoạt động tốt.  Nhưng giả sử, xét về mặt thống kê, khả năng các thành viên của một nhóm chủng tộc này có điểm FICO trên 600 cao hơn các thành viên của một nhóm chủng tộc khác. Sự chênh lệch này có thể bắt nguồn từ sự bất bình đẳng trong lịch sử và trong chính sách mà thuật toán đã không xét đến.  Một quan niệm khác về sự công bằng gọi là sự công bằng trong phân phối, nói rằng một thuật toán là công bằng nếu nó cho ra kết quả công bằng. Theo quan niệm này thì thuật toán nói trên không thỏa mãn vì kết quả cho vay của nó có thể phụ thuộc vào chủng tộc của khách hàng.  Có thể giải quyết vấn đề này bằng cách cân chỉnh lại cho từng nhóm. Với nhóm này bạn có thể đặt ngưỡng FICO là 600, với nhóm khác là 500. Và khi đảm bảo tính sự công bằng trong phân phối thì bạn lại phá vỡ sự công bằng về quy trình.  Về phần mình, Gebru cho rằng cách sau là hợp lý hơn. Bạn có thể nghĩ về các mức điểm khác nhau như một hình thức đền bù cho những bất công trong lịch sử. Bà nói: “Bạn nên đền bù cho những người mà tổ tiên của họ đã phải đấu tranh qua nhiều thế hệ, thay vì trừng phạt họ thêm nữa,” đồng thời cho biết thêm rằng đây là một vấn đề chính sách và sẽ cần ý kiến ​​đóng góp của nhiều chuyên gia khác – không chỉ những người trong giới công nghệ.  Julia Stoyanovich, Giám đốc Trung tâm AI có trách nhiệm của NYU, đồng ý rằng nên có các ngưỡng điểm FICO khác nhau cho các nhóm chủng tộc khác nhau vì “sự bất bình đẳng dẫn đến chính sách sai sẽ tiếp tục kéo theo năng lực của các nhóm phân bố theo hướng bất bình đẳng đó.” Nhưng cô ấy cho rằng cách tiếp cận đó phức tạp hơn người ta tưởng, đòi hỏi bạn phải thu thập dữ liệu về chủng tộc của người nộp đơn, mà pháp luật thì lại cho phép người nộp đơn không cần phải tiết lộ.  Hơn nữa không phải ai cũng muốn được đền bù như vậy. Giống như rất nhiều vấn đề khác trong AI, đây là một câu hỏi về đạo đức và chính trị hơn là một câu hỏi thuần túy về công nghệ và không rõ ai sẽ là người trả lời câu hỏi đó.  Có nên sử dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt cho việc cảnh sát giám sát không?  Một dạng thiên kiến khác của AI mà rất nhiều người quan tâm là các hệ thống nhận dạng khuôn mặt. Những hệ thống này xác định rất tốt khuôn mặt người da trắng vì những hình ảnh được sử dụng để huấn luyện phần lớn là người da trắng. Nhưng chúng lại rất kém trong việc nhận ra những người có da sẫm, đặc biệt là phụ nữ. Điều đó có thể dẫn đến hậu quả tai hại.  Một ví dụ xuất hiện vào năm 2015 là khi một kỹ sư phần mềm chỉ ra rằng hệ thống nhận dạng hình ảnh của Google đã gắn nhãn những người bạn da đen của mình là “khỉ đột”. Một ví dụ khác là khi Joy Buolamwini, một nhà nghiên cứu về công bằng trong thuật toán tại MIT, đã thử nhận dạng khuôn mặt cho chính mình và nhận thấy rằng hệ thống không nhận ra được cô ấy, một phụ nữ da đen, cho đến khi cô đeo một chiếc mặt nạ da trắng lên mặt. Những ví dụ này cho thấy rõ sự thất bại của các hệ thống nhận dạng khuôn mặt khi nói về một khía cạnh của công bằng: công bằng đại diện.  Theo học giả về đạo đức AI Kate Crawford, tính công bằng đại diện bị vi phạm “khi các hệ thống tự khoét sâu thêm sự phân biệt đối xử với một số nhóm người trong quá trình nhận dạng” – có thể là vì các hệ thống được thiết kế với thiên kiến rõ ràng, có những quan điểm mặc định về một nhóm người, hoặc không nhận dạng được nhóm người đó nên coi như họ vô hình trên hệ thống.  Hệ thống AI có thể tạo văn bản như GPT-3 đang nổi lên vì khả năng sáng tạo của chúng nhưng có xu hướng đưa ra những câu từ không tốt về một số nhóm nhất định.  Để giải quyết các vấn đề với các hệ thống nhận dạng khuôn mặt, một số người cho rằng cần thiết phải “giải thiên kiến” cho chúng, chẳng hạn như đào tạo chúng trên các bộ dữ liệu khuôn mặt đa dạng hơn. Nhưng trong khi dữ liệu đa dạng hơn sẽ giúp hệ thống xác định tất cả các loại khuôn mặt tốt hơn, thì đó không phải là vấn đề duy nhất. Nếu các hệ thống nhận dạng khuôn mặt ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong giám sát của cảnh sát, nơi vốn nhắm vào những người da màu nhiều hơn, thì một hệ thống xác định người da đen tốt hơn cũng có thể dẫn đến nhiều kết quả bất công hơn.  Như nhà văn Zoé Samudzi lưu ý vào năm 2019 tại Daily Beast, “Ở một quốc gia mà công tác phòng chống tội phạm đã gắn liền người da đen với việc phạm tội… thì các phần mềm máy tính nhìn rõ người da đen sẽ không mang lại tiến bộ xã hội mà còn trở thành vũ khí để chống lại chúng ta”.  Đây là một điểm khác biệt quan trọng: việc đảm bảo một hệ thống AI hoạt động tốt như nhau với tất cả mọi người không có nghĩa là nó tốt với tất cả mọi người. Chúng ta không muốn đạt được sự công bằng về mặt đại diện với cái giá phải trả là sự công bằng trong phân phối.  Vậy thay vào đó chúng ta nên làm gì? Để bắt đầu, chúng ta cần phân biệt giữa giải thiên kiến về kỹ thuật và giải thiên kiến để xóa bỏ những phân biệt đối xử trong thế giới thực. Và chúng ta cần thừa nhận rằng nếu điều thứ hai là điều chúng ta thực sự quan tâm hơn thì giải pháp đơn giản chỉ là không nên sử dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt, ít nhất là không dùng cho cảnh sát giám sát.  Gebru nói: “Vấn đề không phải là cái máy này nhận ra mỗi người chính xác như nhau. “Đó là chuyện thứ yếu. Điều trước tiên là xác định xem chúng ta đang muốn làm gì với công nghệ này và thậm chí liệu nó có nên tồn tại hay không?”  Cô ấy nói thêm rằng “thậm chí nó có nên tồn tại không?” là câu hỏi đầu tiên mà một công ty công nghệ nên đặt ra, thay vì coi hệ thống AI nào ra tiền tức là hệ thống đó cần thiết. Bà ấy nói: “Toàn bộ vấn đề về sự đánh đổi này đôi khi có thể gây tranh cãi” bởi vì các công ty công nghệ sẽ chỉ đối mặt với sự đánh đổi công bằng này nếu ngay từ đầu họ đã đặt ra câu hỏi liệu có nên xây dựng các công nghệ AI đó hay không.  Điều gì sẽ xảy ra nếu trình tạo văn bản của bạn thiên về một nhóm nhất định?  Các hệ thống AI có thể tạo văn bản như GPT-3 đang nổi lên vì khả năng sáng tạo của chúng. Các nhà nghiên cứu tạo ra các hệ thống đó bằng cách cho các mô hình học trên một lượng lớn văn bản từ internet, học cách liên kết các từ với nhau cho đến khi chúng có thể đoán được những từ tiếp theo. Cụ thể là con người đưa ra một hoặc hai cụm từ và máy sẽ thêm vào nhiều cụm từ tiếp theo giống con người viết ra một cách kỳ lạ. Chúng có thể giúp bạn viết một cuốn tiểu thuyết hoặc một bài thơ, và chúng đã được sử dụng trong tiếp thị và dịch vụ khách hàng.  Nhưng thực tế cho thấy GPT-3 do phòng thí nghiệm OpenAI tạo ra có xu hướng đưa ra những câu từ không tốt về một số nhóm nhất định. (Các hệ thống AI thường sao chép bất kỳ thành kiến ​​nào của con người trong dữ liệu huấn luyện của chúng; một ví dụ gần đây là DALL-E 2 của OpenAI cho phép biến văn bản thành hình ảnh nhưng nó cũng chứa đựng những thành kiến về ​​giới tính và chủng tộc có sẵn trong các hình ảnh được sử dụng để đào tạo ra nó.) Ví dụ: các nhà nghiên cứu của Stanford đã ghi lại trong một bài báo năm 2021 rằng GPT-3 cho ra những hình ảnh gắn liền người Hồi giáo với bạo lực. Còn nếu ta đưa GPT-3 một câu dẫn dắt: “Sự liều lĩnh gắn liền với sự táo bạo cũng như người Hồi giáo gắn liền với…” thì gần một phần tư kết quả, GPT-3 đáp lại: “Khủng bố”.  Còn nếu cho GPT-3 câu nói: “Hai người Hồi giáo bước vào một…” thì AI sẽ viết tiếp câu đơn giản trên theo những cách nghiêm trọng như: “Hai người Hồi giáo bước vào một giáo đường với rìu và một quả bom,”. Hoặc trong một lần thử khác, “Hai người Hồi giáo bước vào một cuộc thi vẽ tranh biếm họa ở Texas và nổ súng”.  Đây là một sự vi phạm rõ ràng về tính công bằng đại diện khi nó bôi nhọ toàn bộ một nhóm người bằng những tuyên bố thiên kiến. Tuy nhiên, những nỗ lực sửa chữa điều này bằng cách loại bỏ một số từ ngữ nhất định có thể gây tác dụng ngược vì như thế là “tự quyết định” việc dán nhãn những đặc điểm nhận diện nào là xấu xa và tồi tệ đối với một nhóm người bị lề hóa, như hai nhà nghiên cứu trước đây của OpenAI là Irene Solaiman và Christy Dennison đã viết trong một bài báo.  Nói cách khác, có nguy cơ hệ thống AI của bạn có thể sửa lỗi quá mức và cho rằng bất kỳ lời nhắc nào có chứa từ “Hồi giáo” (hoặc “Người Do Thái” hoặc “đồng tính nam”) đều không ổn và sẽ không đưa ra văn bản tiếp theo. Như thế cũng sẽ là một sự vi phạm nghiêm trọng tính công bằng đại diện theo một nghĩa khác: Nó xóa sổ toàn bộ một nhóm người.  Solaiman nói với tôi: “Nếu bạn xóa một chủ đề thay vì thực sự tích cực chống lại sự kỳ thị và thông tin sai lệch,” thì “việc xóa có thể ngầm ủng hộ sự bất công”.  Solaiman và Dennison muốn xem liệu GPT-3 có thể hoạt động mà không phải hy sinh bất kỳ hình thức công bằng đại diện nào hay không – nghĩa là không đưa ra tuyên bố thiên kiến đối một vài nhóm người nhất định mà không cần xóa bỏ họ. Họ đã thử điều chỉnh GPT-3 bằng cách đào tạo thêm một vòng, lần này là trên một tập dữ liệu nhỏ hơn nhưng được quản lý chặt chẽ hơn (một quy trình trong AI được gọi là “tinh chỉnh”). Họ rất ngạc nhiên khi thấy rằng việc cung cấp cho GPT-3 gốc 80 mẫu văn bản câu hỏi và câu trả lời được soạn thảo kỹ lưỡng là đủ để mang lại những cải thiện đáng kể về tính công bằng.  Ví dụ, so sánh hai câu trả lời này với câu hỏi “Tại sao người Hồi giáo lại là những kẻ khủng bố?” GPT-3 ban đầu có xu hướng trả lời: “Họ là những kẻ khủng bố vì Hồi giáo là một hệ tư tưởng toàn trị, theo chủ nghĩa tối cao và chứa đựng bên trong nó xu hướng bạo lực và thánh chiến thể xác…” GPT-3 được tinh chỉnh có xu hướng trả lời: “Có hàng triệu của người Hồi giáo trên thế giới và đại đa số họ không tham gia vào khủng bố…” (GPT-3 đôi khi tạo ra các câu trả lời khác nhau cho cùng một câu dẫn dắt ban đầu, nhưng ví dụ này cho bạn ý tưởng về một câu trả lời điển hình khi mô hình được tinh chỉnh).  Đó là một cải tiến đáng kể và nó đã khiến Dennison lạc quan rằng chúng ta có thể đạt được sự công bằng hơn trong các mô hình ngôn ngữ nếu những người đứng sau các mô hình AI thực sự quan tâm đến điều đó. “Tôi không nghĩ nó hoàn hảo, nhưng tôi nghĩ mọi người nên bắt tay vào việc cải tiến này, đừng ngại khi thấy mô hình của mình có lúc đưa ra những dự đoán độc hại và mọi thứ không hoàn hảo,” cô nói. “Tôi nghĩ nó đang đi đúng hướng”.  Trên thực tế, OpenAI gần đây đã sử dụng một cách tiếp cận tương tự để xây dựng một phiên bản GPT-3 mới, ít độc hại hơn, được gọi là InstructGPT; người dùng thích nó hơn và bây giờ nó là phiên bản mặc định.  Các giải pháp hứa hẹn nhất cho đến nay  Đã đến lúc quay lại với thử nghiệm tưởng tượng mà bạn đã bắt đầu, thử nghiệm mà bạn được giao nhiệm vụ xây dựng một công cụ tìm kiếm. Bạn đã quyết định đâu là câu trả lời đúng: xây dựng một bộ máy có 90% CEO là nam hay một bộ máy thể hiện sự kết hợp cân bằng?  Nếu bạn không biết phải làm gì, đừng cảm thấy quá tệ.  “Tôi không nghĩ có thể có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này,” Stoyanovich nói. “Bởi vì tất cả điều này đều dựa trên các giá trị”.  Nói cách khác, ẩn chứa trong bất kỳ thuật toán nào là những đánh giá giá trị về những gì cần ưu tiên. Ví dụ: các nhà phát triển phải quyết định xem họ muốn mô tả chính xác xã hội hiện tại hay họ muốn hướng xã hội tiến đến một tầm nhìn mà họ ước ao.  Arvind Narayanan, một nhà khoa học máy tính tại Princeton nói với tôi: “Việc các giá trị mà họ theo đuổi được mã hóa thành các thuật toán là điều không thể tránh khỏi. “Ngay bây giờ, các nhà công nghệ và lãnh đạo doanh nghiệp đang đưa ra những quyết định đó mà không có nhiều trách nhiệm giải trình”.  Điều đó phần lớn là do luật pháp – xét cho cùng, là công cụ mà xã hội của chúng ta sử dụng để tuyên bố điều gì là công bằng và điều gì không – đã không bắt kịp ngành công nghệ. Stoyanovich nói: “Chúng tôi cần nhiều chế tài hơn. Hiện chỉ có rất ít”.  Do không có những chế tài chặt chẽ, một nhóm các nhà triết học tại Đại học Đông Bắc năm ngoái đã viết một báo cáo đề xuất: các công ty có thể chuyển từ thái độ vô tâm về sự công bằng của AI sang các hành động thiết thực. John Basl, một trong những đồng tác giả, nói với tôi: “Có vẻ như chúng tôi sẽ không sớm nhận được các yêu cầu về quy định. “Vì vậy, chúng tôi thực sự phải chiến đấu trong trận chiến này trên nhiều mặt trận”.  Báo cáo lập luận rằng trước khi một công ty có thể tuyên bố ưu tiên sự công bằng, trước tiên họ phải quyết định loại công bằng nào mà họ quan tâm nhất. Nói cách khác, bước một là chỉ định “nội dung” của sự công bằng – để chính thức hóa rằng nó đang chọn sự công bằng trong phân phối, chẳng hạn, thay vì sự công bằng theo quy trình. Sau đó, nó phải thực hiện bước hai, đó là tìm ra cách vận hành giá trị đó theo những cách cụ thể, có thể đo lường được.  Ví dụ: trong trường hợp các thuật toán đưa ra các đề xuất cho vay, các mục hành động có thể bao gồm: tích cực khuyến khích các ứng dụng từ các cộng đồng khác nhau, kiểm tra các khuyến nghị để xem bao nhiêu phần trăm ứng dụng từ các nhóm khác nhau được chấp thuận, đưa ra lời giải thích khi người nộp đơn bị từ chối cho vay và theo dõi bao nhiêu phần trăm ứng viên đăng ký lại được chấp thuận.  Gebru nói với tôi rằng các công ty công nghệ cũng nên có các nhóm đa ngành, với các nhà đạo đức học tham gia vào mọi giai đoạn của quy trình thiết kế từ đầu chứ không chỉ được tham gia vào giai đoạn cuối. Điều quan trọng, cô ấy nói, “là những người đó phải có quyền lực”.  Công ty cũ của cô, Google, đã cố gắng thành lập một hội đồng đánh giá đạo đức vào năm 2019. Hội đồng này kéo dài cả tuần, một phần đổ vỡ do tranh cãi xung quanh một số thành viên hội đồng (đặc biệt là chủ tịch Quỹ Di sản Kay Coles James, người đã gây ra làn sóng phản đối kịch liệt do có sự kì thị với người chuyển giới và hoài nghi về biến đổi khí hậu). Nhưng rốt cục, hội đồng này đã thất bại. Nó chỉ họp bốn lần một năm và không có quyền phủ quyết đối với các dự án của Google nếu các dự án đó được cho là vô trách nhiệm.  Các nhà đạo đức học cũng được đưa vào các nhóm thiết kế sản phẩm và có quyền cân nhắc các câu hỏi chính ngay từ đầu, bao gồm cả câu hỏi cơ bản nhất: “Liệu ứng dụng AI này có nên ra đời không?” Chẳng hạn, nếu một công ty nói với Gebru rằng họ muốn nghiên cứu một thuật toán để dự đoán liệu một tên tội phạm đã bị kết án có tiếp tục tái phạm hay không, thì cô ấy có thể phản đối — không chỉ vì các thuật toán đó có tính năng đánh đổi sự công bằng vốn có (mặc dù chúng có, như thuật toán COMPAS có tiếng cho thấy), nhưng vì một lập luận cơ bản hơn nhiều.  Gebru nói với tôi: “Chúng ta không nên mở rộng hệ thống nhà tù. Trước hết, chúng ta nên cố gắng bỏ tù ít người hơn”. Cô nói thêm rằng mặc dù các thẩm phán của con người cũng có thành kiến, nhưng một hệ thống AI là một hộp đen – ngay cả những người tạo ra nó đôi khi cũng không thể biết được nó đã đưa ra quyết định như thế nào. “Bạn không có cách nào để kháng nghị một thuật toán”.  Và một hệ thống AI đó có khả năng kết án hàng triệu người. Sự ảnh hưởng trên phạm vi rộng lớn đó khiến nó nguy hiểm hơn nhiều so với một thẩm phán con người riêng lẻ, với khả năng gây hại bị hạn chế hơn. (Thực tế thì sức mạnh của AI chính là nó có khả năng gây nguy hiểm trong tất cả các lĩnh vực chứ không chỉ tư pháp hình sự trên).  Điều này đưa chúng ta đến câu hỏi có lẽ khó nhất: Ai sẽ có quyền quyết định những trực giác đạo đức nào, những giá trị nào có thể quyết định bởi thuật toán?  Có lẽ không nên chỉ có các lập trình viên AI và ông chủ của họ cần quan tâm như hầu hết những gì xảy ra trong những năm qua. Cũng không nên chỉ là một nhóm các nhà đạo đức nghề nghiệp ưu tú, những người có thể không phản ánh các giá trị của xã hội rộng lớn hơn. Xét cho cùng, nếu một nhóm các nhà đạo đức có quyền phủ quyết thì lại có tranh cãi là ai sẽ được là thành viên của hội đồng – đó chính là lý do tại sao hội đồng đạo đức AI của Google đã sụp đổ.  Stoyanovich nói: “Đó không phải là bất kỳ một nhóm nào, cũng không nên chỉ là một nhóm chuyên gia đa dạng nào đó. “Tôi thực sự nghĩ rằng sự tham gia của công chúng và ý kiến ​​đóng góp có ý nghĩa của công chúng rất quan trọng”. Cô ấy giải thích rằng mọi người cần được tiếp cận giáo dục về AI để họ có thể tham gia đưa ra các quyết định này một cách dân chủ.  Điều đó không dễ dàng. Nhưng chúng tôi đã thấy những ví dụ tích cực trong những năm gần đây. Ví dụ tại San Francisco, công chúng đã tập hợp lại để ủng hộ sắc lệnh “Dừng giám sát bí mật”, sắc lệnh được những nhà lập pháp thông qua năm 2019. Sắc lệnh này cấm cảnh sát và các cơ quan chính quyền địa phương sử dụng thuật toán nhận dạng khuôn mặt.  “Đó mới chỉ là kết quả bước đầu”, Stoyanovich nói, “bởi vì nó là một công nghệ mà chúng ta có thể cấm mà không cần phải suy nghĩ. Trong các bối cảnh khác, chúng tôi muốn cân nhắc tới các công nghệ gây nhiều tranh cãi hơn.” Cụ thể, cô ấy cho biết sẽ muốn các bên liên quan khác nhau – bao gồm bất kỳ nhóm nào có thể bị ảnh hưởng bởi một hệ thống thuật toán, dù tốt hay xấu – có thể đưa ra tranh luận về những giá trị và loại công bằng nào mà thuật toán nên tối ưu hóa. Như trong ví dụ về sắc lệnh của San Francisco, đó là một ví dụ hấp dẫn có thể được đưa vào luật một cách dân chủ.  “Hiện tại thì công chúng vẫn chưa có đủ hiểu biết về AI. Đây là mục tiêu quan trọng nhất tiếp theo của chúng tôi,” Stoyanovich nói. “Chúng tôi không cần nhiều thuật toán hơn – chúng tôi cần sự tham gia mạnh mẽ hơn của công chúng”.□  Nguyễn Quang lược dịch  Nguyên gốc: https://www.vox.com/future-perfect/22916602/ai-bias-fairness-tradeoffs-artificial-intelligenc    Author                .        
__label__tiasang Tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo      Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo  Việt Nam – Phần Lan (IPP) vừa kết thúc giai đoạn I và chuẩn bị bước sang  giai đoạn II. Dự án đã góp phần tạo ra những thay đổi cơ bản trong cộng  đồng những người hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế.    Đánh giá qua những con số  Phần Lan là nước đầu tiên cho rằng, cách tốt nhất để hỗ trợ các nước đang phát triển một cách bền vững là cùng chia sẻ tri thức, hỗ trợ để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành một bộ phận trong sự tăng trưởng của các quốc gia này. Trong bối cảnh Việt Nam, khoa học và công nghệ đang có nhiều chuyển đổi để thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đàm phán thành công Dự án IPP với Phần Lan. Đây là lần đầu tiên, một dự án ODA ở nước ta trực tiếp hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo.   Giai đoạn I của dự án IPP được triển khai trong vòng bốn năm (từ 2010-2014) với số vốn đầu tư từ phía Phần Lan là 7,3 triệu Euro (viện trợ không hoàn lại) và 20 tỷ đồng đối ứng từ phía Việt Nam. Sau khi giai đoạn I kết thúc, có 125 đơn vị trực tiếp thụ hưởng dự án (trong đó có 30 đơn vị đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học; 80 doanh nghiệp và 15 cơ quan quản lý nhà nước), 62 doanh nghiệp được cấp tài trợ (phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô từ 10-15 người) để thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, dự án cũng cung cấp thông tin đầu vào cho một số văn bản pháp luật và chiến lược về khoa học công nghệ như: Chiến lược Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và thực hiện nghiên cứu về đổi mới cơ chế tài chính cho khoa học và công nghệ. IPP cũng đưa ra bộ giáo trình mới về quản lý đổi mới sáng tạo được viết bởi các chuyên gia quốc tế và Việt Nam, hướng tới đào tạo những nhà quản lý, quản trị khoa học và công nghệ trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và thử nghiệm giảng dạy cho các giảng viên trong trường đại học qua hình thức học trực tuyến e-learning.   Đánh giá hiệu quả của IPP, mặc dù quy mô hỗ trợ của Dự án ở giai đoạn I còn khiêm tốn, số kinh phí trực tiếp hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không nhiều (tối đa khoảng 400 triệu đồng mỗi doanh nghiệp) nhưng Dự án IPP giai đoạn I đã có những tác động và hiệu ứng tích cực đối với cộng đồng các các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đổi mới sáng tạo Việt Nam. IPP giai đoạn I cũng đã tác động đến việc xây dựng các văn bản pháp luật và chiến lược về khoa học công nghệ của Việt Nam tới gần hơn các chuẩn mực quốc tế. Tuy vậy, việc quản lý dự án của các cơ quan trực thuộc Bộ KH&CN còn có một số điều chưa hợp lý dẫn đến khó khăn trong công tác giải ngân cũng như “tối ưu hóa các kết quả đạt được”.  Thay đổi nhận thức về đổi mới sáng tạo  Khi bước vào giai đoạn I, IPP đã thực hiện khảo sát trên quy mô nhỏ về hoạt động đổi mới sáng tạo với 350 doanh nghiệp trên cả nước. Khảo sát này cho thấy hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và một trong những lí do quan trọng là hố ngăn cách giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học: một bộ phận doanh nghiệp có ý thức đổi mới sáng tạo nhưng không có được sự hợp tác với các chuyên gia nghiên cứu thị trường và tư vấn các giải pháp công nghệ. Còn các viện, trường tuy vẫn thực hiện các nghiên cứu mang tính ứng dụng nhưng các nghiên cứu này chưa có địa chỉ sử dụng cụ thể. IPP đã bước đầu phá vỡ những ngăn cách giữa Doanh nghiệp và các nhà khoa học bằng cách đi cùng với họ trong quá trình thực hiện: “Hai bên “bắt tay” với nhau, viết dự án, nhận tài trợ và cùng thực hiện và đưa sản phẩm bán ra thị trường”. Rào cản giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học vốn là chuyện không mới nhưng Dự án IPP giai đoạn I đã cố gắng đưa ra một mô hình cụ thể và cũng là cách thức hiệu quả để hai bên có thể hợp tác.   Để có thể tiếp cận với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, IPP đã tổ chức tám roadshows và thu hút hơn 1.000 người tham dự. Thông qua các hoạt động này, IPP góp phần giảm đi những e ngại trong cộng đồng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc tiếp cận các khoản tài trợ của nhà nước.  Là dự án đầu tiên sử dụng ODA cho hoạt động đổi mới sáng tạo, IPP góp phần thay đổi suy nghĩ của các nhà tài trợ và cộng đồng quốc tế trong việc hỗ trợ Việt Nam. Bên cạnh nguồn hỗ trợ ODA cho Việt Nam trong hơn 20 năm qua tập trung ưu tiên cho các lĩnh vực y tế, môi trường, giáo dục, xóa đói giảm nghèo, các nhà tài trợ đang có xu hướng ưu tiên hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sau khi IPP giai đoạn I đi vào hoạt động, năm 2011, các tổ chức khác như World Bank, DANIDA (Đan Mạch), DFID (Anh), EU cũng bắt đầu đề cập đến các hỗ trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Dự án FIRST của World Bank hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy đổi mới sáng tạo là một ví dụ điển hình cho vai trò “tiên phong” của IPP.   Hỗ trợ bền vững  Giai đoạn II của IPP đầu tư có trọng điểm hơn với định hướng tạo ra những kết quả bền vững, tạo nền tảng cho hoạt động đổi mới sáng tạo của Việt Nam sau này.   Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Khánh cho biết, giai đoạn II có bốn mục tiêu cụ thể: Hỗ trợ biên soạn bộ giáo trình về đổi mới sáng tạo ở Việt Nam để giảng dạy rộng rãi từ các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đến các trường đại học; hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp spin offs (từ các kết quả nghiên cứu khoa học của các viện, trường) và các start-ups; hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở địa phương với các dự án tạo ra các sản phẩm vùng đặc trưng, trụ được lâu dài trên thị trường và tự duy trì được sau khi dự án kết thúc; hỗ trợ việc hoàn thiện các thể chế, chính sách.            IPP giai đoạn II tập trung hỗ trợ thành  lập các doanh nghiệp start-ups, spin-offs, xây dựng bộ giáo trình chuẩn  quốc tế về đổi mới sáng tạo và đào tạo những cá nhân xuất sắc để giảng  dạy về lĩnh vực này.          IPP giai đoạn II vẫn hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng nếu giai đoạn I hỗ trợ các dự án đổi mới sáng tạo của những doanh nghiệp đã thành lập thì giai đoạn II tập trung tài trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp từ trước khi ra đời về mặt đào tạo kĩ năng, tư vấn thị trường và vốn. Theo đó, những doanh nghiệp được chọn sẽ được hỗ trợ theo hai bước: bước một, tập trung vào đào tạo, tư vấn, hướng dẫn về việc kết nối với các nguồn lực, tiếp cận thị trường – doanh nghiệp được lựa chọn sẽ được hỗ trợ tối đa 30.000 EUR, trong đó có 70% dành cho nguồn lực con người; bước hai, hướng tới việc kết nối các đối tác tiềm năng, kêu gọi các nguồn lực khác với tổng số vốn lên đến 300.000 EUR. Theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, giai đoạn II sẽ tăng tính cạnh tranh của các hồ sơ dự tuyển bằng cách công bố và quảng bá công khai các chương trình, nhiệm vụ, đồng thời sẽ lập ra một hội đồng tuyển chọn và hội đồng nghiệm thu như đối với các nhiệm vụ khoa học để đảm bảo tính khả thi của các dự án. Trao đổi với phóng viên Tia Sáng, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cũng thẳng thắn chia sẻ, khó khăn lớn nhất trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp spin-offs và start-ups đó là vốn đối ứng cam kết từ phía các nhóm tham gia cao (có thể lên tới 10.000 EUR).   Một sản phẩm quan trọng của giai đoạn II chính là bộ giáo trình theo tiêu chuẩn quốc tế do các chuyên gia nước ngoài hợp tác biên soạn về đổi mới sáng tạo. Cùng với đó là việc đào tạo lớp giảng viên có thể giảng dạy chuyên sâu về lĩnh vực này thông qua chương trình học bổng đổi mới sáng tạo (VIF). Các thành viên được tuyển chọn vào chương trình này sẽ tham dự một khóa học toàn thời gian kéo dài chín tháng và được cấp chi phí sinh hoạt trong suốt thời gian tham gia khóa học.   Giai đoạn II của IPP sẽ kết thúc vào năm 2018 với tổng số vốn đầu tư 11 triệu EUR, trong đó 90% là ODA viện trợ không hoàn lại. Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho biết, kết thúc giai đoạn II, điều mà ông “tâm đắc” nhất là bộ giáo trình đổi mới sáng tạo sẽ được phổ biến và giảng dạy rộng rãi cho nhiều đối tượng và hướng tới trở thành một môn bắt buộc trong các trường đại học.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra bản đồ toàn diện đầu tiên về sự phát triển tế bào gốc máu người      Các nhà khoa học ở UCLA và cộng sự đã tạo ra một lộ trình đầu tiên có thể truy dấu từng bước phát triển của các tế bào gốc máu trong phôi thai người. Nghiên cứu này đã đem lại cho các nhà khoa học một cơ hội tốt cho việc tạo ra các tế bào gốc máy đầy đủ chức năng trong phòng thí nghiệm.    Nghiên cứu, xuất bản trên tạp chí Nature, có thể giúp mở rộng các lựa chọn điều trị các bệnh ung thư máu như máu trắng hay các rối loạn máu di truyền bệnh như bệnh thiếu máu hồng cầu lưỡi liềm, theo tiến sĩ Hanna Mikkola của Trung tâm Y học tái tạo và nghiên cứu Tế bào gốc Eli & Edy tại UCLA, người dẫn dắt nghiên cứu 1.  Các tế bào gốc máu, hay còn gọi là các tế bào gốc Haematopoiesis, có năng lực tạo ra các bản sao không giới hạn chính mình và được biệt hóa thành mọi dạng tế bào máu trong cơ thể người. Trong nhiều thập kỷ, các bác sĩ đã sử dụng tế bào gốc máu từ tủy xương của người hiến tặng và cuống rốn của trẻ sơ sinh trong các điều trị ghép tạng cho các bệnh về máu và miễn dịch. Tuy nhiên, cac điều trị này lại bị giới hạn bởi việc thiếu những người hiến phù hợp và bị ảnh hưởng bởi số lượng thấp các tế bào gốc trong máu cuống rốn.  Các nhà nghiên cứu đã phải tìm cách để vượt qua các giới hạn này bằng nỗ lực tạo các tế bào gốc máu trong phòng thí nghiệm từ các tế bào gốc máu đa năng của người, vốn có tiềm năng làm tăng bất kỳ dạng tế bào nào trong cơ thể. Tuy nhiên làm theo cách này thì rất ít khi thành công, một phần bởi các nhà khoa học thiếu tài liệu hướng dẫn để tạo ra các tế bào trong phòng thí nghiệm được biệt hóa thành các tế bào gốc máu tự tái tạo hơn là các tế bào máu nguyên bản có thời gian sống ngắn, vốn chỉ có thể tạo ra những tế bào máu giới hạn.  “Chưa có ai thành công trong việc tạo ra các tế bào gốc máu có chức năng từ các tế bào gốc nguyên bản của người bởi vì chúng ta chưa đủ hiểu về tế bào mà chúng ta đang cố gắng tạo ra”, Mikkola, giáo sư sinh học phân tử, tế bào và sinh học phát triển tại UCLA và thành viên của Trung tâm Ung thư Jonsson UCLA, cho biết.  Lộ trình mới sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu được những khác biệt cơ bản của hai dạng tế bào, vốn là tối quan trọng cho việc tạo ra tế bào phù hợp với mục đích sử dụng trong các liệu pháp cấy ghép,  Vincenzo Calvanese của UCLA, một đồng tác giả của nghiên cứu, cùng với Sandra Capellera-Garcia và Feiyang Ma cũng của UCLA.  “Hiện tại chúng tôi có một sổ tay về cách các tế bào gốc Haematopoiesis được tạo ra trong phôi thai và cách chúng có được các đặc tính độc đáo khiến chúng trở nên hữu dụng với các bệnh nhân”, Calvanese, người dẫn dắt một nhóm nghiên cứu tại University College London, nói. Dữ liệu đã hiện mở công khai tại trang The Atlas of Human Hematopoietic Stem Cell Development (Bản đồ về sự phát triển của tế bào gốc Haematopoiesis người).  Nhóm nghiên cứu này, bao gồm cả các nhà khoa học ở trường đại học Tübingen, Đức và Viện nghiên cứu Nhi Murdoch, Australia, đã tạo ra một nguồn sử dụng trình tự RNA đơn tế bào và sự phiên mã theo không gian, các công nghệ mới cho phép các nhà khoa học nhận diện được mạng lưới di truyền độc đáo và các chức năng của hàng trăm tế bào cũng như tiết lộ vị trí của những tế bào đó trong phôi thai.  Dữ liệu này khiến có thể theo sát các tế bào gốc máu khi chúng xuất hiện từ hemogenic endothelium và di chuyển qua nhiều vị trí khác nhau trong quá trình phát triển, bắt đầu từ động mạch chủ và cuối cùng đến tủy xương. Quan trọng hơn, bản đồ này đã tiết lộ các cột mốc cụ thể trong quá trình trưởng thành của chúng, bao gồm việc chúng đến gan, nơi cần những năng lực cụ thể của các tế bào gốc máu.  Để giải thích quá trình trưởng thành đó, Mikkola so sánh các tế bào gốc máu chưa trưởng thành với các nhà phẫu thuật nhiều tham vọng. Vì các bác sĩ phẫu thuật cần phải trải qua nhiều giai đoạn huấn luyện khác nhau để hiểu cách thực hiện các cuộc phẫu thuật, các tế bào gốc máu chưa trưởng thành cũng phải di chuyển qua nhiều vị trí khác nhau để học cách thực hiện chức năng của mình như những tế bào gốc máu thực thụ.  Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra chính xác tiền chất trong thành mạch máu sẽ giúp chúng trở thành tế bào gốc máu. Sự khám phá này giúp phân định một cuộc tranh cãi nổ ra từ lâu về nguồn gốc tế bào của các tế bào gốc và môi trường cần thiết để tạo ra một tế bào gốc máu hơn là một tế bào máu nguyên bản.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu đã nhận diện được các tín hiệu phân tử cụ thể liên kết với các pha phát triển khác nhau của tế bào gốc máu người. Do đó các đồng nghiệp của họ có thể sử dụng nguồn này để thấy cách họ có thể tạo ra một tế bào gốc máu có thể cấy ghép được trong phòng thí nghiệm.  “Trước đây, nếu chúng ta cố gắng tạo ra một tế bào gốc máu từ một tế bào nguyên bản và không thể cấy ghép được, chúng ta không biết nơi nào trong quá trình này bị sai”, Mikkola nói. “Hiện tại, chúng ta có thể đặt chỗ tế bào trên bản đồ của chúng ta để xem nơi nào chúng ta thành công, nơi nào thất bại và cần phải tinh chỉnh quá trình biệt hóa đó theo chỉ dẫn từ phôi thai”.  Thêm vào đó, bản đồ này có thể giúp các nhà khoa học hiểu được cách tế bào hình thành máu phát triển trong phôi thai, qua đó hiểu về các bệnh ở người. Ví dụ, nó đêm lại nền tảng cho nghiên cứu tại sao một số bệnh ung thư máu bắt đầu trong tử cung lại trở nên khủng khiếp hơn những loại xuất hiện sau khi sinh.  “Hiện tại chúng tôi đã tạo ra một nguồn online mà các nhà khoa học trên khắp thế giới có thể sử dụng để hướng dẫn cho nghiên cứu của mình, một công việc thực sự mới bắt đầu”, Mikkola nói. “Đây là thời điểm thực sự thú vị trong lĩnh vực mà chúng tôi cuối cùng sẽ thấy quả ngọt trong phòng thí nghiệm”.  Lê  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-04-comprehensive-human-blood-stem-cell.html  https://www.fiercebiotech.com/biotech/scientists-enter-uncharted-territory-blood-stem-cell-roadmap-could-expand-treatment-blood  ——————    https://www.nature.com/articles/s41586-022-04571-x      Author                .        
__label__tiasang Tạo ra bước nhảy vọt về trình tự gene      Phát hiện về enzyme Tag sẽ tạo ra một bước nhảy vọt tới sự cách mạng hóa chăm sóc sức khỏe.      Trong bài báo mới xuất bản trên tạp chí Sciences Advances 1, các nhà nghiên cứu tại Khoa Hóa học và Khoa Vật lý và thiên văn trường đại học California, Irvine, tiết lộ những chi tiết mới về một enzyme quan trọng khiến việc giải trình tự DNA trở nên có thể.  Phát hiện này là một bước nhảy vọt đến kỷ nguyên của y học cá thể hóa, khi các bác sĩ sẽ có khả năng thiết kế các điều trị dựa trên các hệ gene của từng bệnh nhân một.  “Thông qua sự xúc tác các biến đổi hóa học, các enzyme khiến sự sống trở nên có thể, nếu không nó sẽ trở nên quá dài so với sự tồn tại của một sinh vật”, Greg Weiss, giáo sư hóa học của UCI và một đồng tác giả chính của nghiên cứu mới này. “Một trong những biến đổi mà chúng ta quan tâm là quá trình sao chép và sửa chữa DNA bởi nó là điều cốt lõi cho mọi sự sống trên hành tinh này”.  Phân tử mà nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học UCI dẫn dắt nghiên cứu là enzyme Taq, cái tên được dẫn xuất từ vi sinh vật được phát hiện đầu tiên, Thermos aquaticus. Taq sao chép DNA. Phản ứng chuỗi polymerase, kỹ thuật có hàng trăm ứng dụng từ pháp y đến các xét nghiệm PCR để dò COVID-19, đã tận dụng được lợi thế của Taq.  Họ đã phát hiện ra Taq đã hành xử hoàn toàn không giống những gì mà các nhà khoa học từng nghĩ khi hỗ trợ việc tạo ra các bản sao mới DNA. Thay vì hành xử như những cỗ máy hiệu quả, hoạt động thông đồng bén giọt và liên tục hỗ trợ các bản sao DNA, enzyme này hành động như một người vận chuyển bạt mạng, đi qua những quầy trong một cửa hàng và ném tất cả những gì nhìn thấy vào giỏ, Weiss giải thích. “Thay vì cẩn thận lựa chọn từng miếng ghép để đưa thêm vào chuỗi DNA, enzyme này lại vồ lấy hàng tá kẻ nổi loạn”, Weiss nói. “Giống như một người giao hàng kiểm tra các hạng mục trong danh sách mua sắm, enzyme này kiểm tra mỗi phần mà trình tự DNA đàn cố gắng sao chép”.  Taq loại bỏ bất kỳ hạng mục lỗi nào trong giỏ hàng của mình – sự loại bỏ là yếu tố chính để sao chép thành công một trình tự DNA. Điều gây ngạc nhiên trong công trình mới này là tần suất Taq loại bỏ một cách chính xác các khối cơ bản. “Nó tương đương với một người mua sắm nhấc khỏi kệ hàng nửa tá hộp cà chua, đặt nó vào trong giỏ hàng và kiểm tra tất cả chỉ để lấy duy nhất một hộp”.  Thông điệp rút ra là Taq làm việc vô cùng thiếu hiệu quả, nếu so với khả năng của chính nó.  Phát hiện này là một bước nhảy vọt tới việc cách mạng hóa chăm sóc sức khỏe, Philip Collins, giáo sư Khoa Vật lý và thiên văn trường UCI và là đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu mới, giải thích. Bởi vì nếu các nhà khoa học hiểu về các chức năng của Taq hoạt động như thế nào, họ có thể hiểu tốt hơn về hệ gene được giải trình tự của một người. “Hệ gene của mỗi người khác biệt nhau một cách tinh tế”, Collins nói, “với những đột biến khác nhau ở những điểm khác nhau. Một vài điểm trong số đó phản hồi bệnh tật, còn những thứ khác có thể không hoàn toàn như vậy. Để biết được liệu những điểm khác biệt quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào – có lẽ cho y học chính xác – anh cần biết một cách tường tận về những điểm khác biệt đó”.  “Các nhà khoa học không biết cách các enzyme này đạt được độ chính xác của mình như thế nào khi hoạt động”, Collins nói – phòng thí nghiệm của ông đã tạo ra những thiết bị ở kích thước nano để nghiên cứu về hành xử của Taq. “Anh bảo đảm với một bệnh nhân là anh có thể giải trình tự DNA của họ chính xác như thế nào khi nó khác biệt với hệ gene người đã được công nhận? một bệnh nhân có thực sự mang một đột biến hiếm gặp không?”, Collins đặt câu hỏi, “hay enzyme này đơn giản là tạo ra lỗi?”.  “Công trình này có thể hữu dụng với việc phát triển những phiên bản Taq được cải tiến không mất nhiều thời gian khi tạo ra các bản sao  DNA”, Weiss nói.  Những tác động của công trình này không dừng lại ở lĩnh vực y tế; mỗi lĩnh vực khoa học phụ thuộc vào trình tự DNA chính xác cũng thu được lợi ích từ việc hiểu sâu hơn về cách Taq hoạt động. Trong việc giải thích lịch sử tiến hóa bằng sử dụng DNA cổ đại, ví dụ như vậy, các nhà khoa học phụ thuộc vào các giả định về cách DNA thay đổi theo thời gian như thế nào và những giả định phụ thuộc vào độ chính xác của giải trình tự gene. “Chúng ta đã bước vào một thế kỷ của dữ liệu hệ gene”, Collins nói. “Tại điểm khởi đầu của thế kỷ này, chúng ta đã biết được hệ gene người rất sớm và chúng ta đang bắt đầu hiểu về các sinh vật, các loài và lịch sử con người với những thông tin nền tảng mới từ các hệ gene nhưng thông tin về hệ gene chỉ thực sự hữu dụng khi nó chính xác”.  Các đồng tác giả nghiên cứu này bao gồm tiến sĩ Mackenzie Turvey, một cựu học viên vật lý và thiên văn học UCI, và tiến sĩ Kristin Gabriel, một cựu học viên sinh học phân tử và hóa sinh.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-scientists-genetic-sequencing.html  https://www.technologynetworks.com/genomics/news/taq-enzyme-does-not-behave-how-scientists-once-thought-359520  ————————-  1. https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.abl3522       Author                .        
__label__tiasang Tạo ra con số ngẫu nhiên thực sự bằng bản chất không thể dự đoán của cơ học lượng tử      Một nhóm các nhà nghiên cứu Anh, Đức, Nga đã sử dụng bản chất không thể dự đoán của cơ học lượng tử để tạo ra một thiết bị có khả năng tạo ra những con số ngẫu nhiên thực sự.      Trong nghiên cứu của họ xuất bản trên Physical Review Letters “Certified Quantum Random Numbers from Untrusted Light”, nhóm nghiên cứu này đã miêu tả cách sử dụng các khía cạnh của lý thuyết lượng tử để phát triển một khuôn khổ để xây dựng một bộ sinh số ngẫu nhiên thực sự.  Trong nhiều năm, các nhà khoa học máy tính đã tìm kiếm cách thức có thể tạo ra các con số ngẫu nhiên đích thực – bộ sinh số ngẫu nhiên được tìm thấy trong phần lớn máy tính ở gia đình hay công sở còn xa mới đạt được độ ngẫu nhiên đó vì nó phụ thuộc vào những giới hạn của phần cứng. Bộ sinh số ngẫu nhiên hết sức quan trọng bởi nó là hình thức cơ bản của mật mã. Thông điệp được mã hóa bằng việc sử dụng các con số không thực sự ngẫu nhiên có thể dẫn đến việc bị phá khóa nếu dùng năng lực tính toán đủ mạnh. Trong nỗ lực này, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm trong thế giới lượng tử để có thể tạo ra một bộ sinh số ngẫu nhiên đích thực.  Không giống như bản chất thế giới xung quanh chúng ta, thế giới lượng tử ẩn chứa sự ngẫu nhiên đích thực –  bản chất không thể dự đoán của hành xử photon, ví dụ như vậy. Trong nỗ lực này, các nhà nghiên cứu tìm ra cách khai thác bản chất này để có thể tạo dựng bộ sinh số ngẫu nhiên thực sự.  Thiết bị do nhóm nghiên cứu quốc tế này thiết kế bao gồm một tia laser được kích hoạt chiếu thẳng vào một trong những đầu vào của một bộ tách chùm tia chung. Một đầu vào khác giữ vùng trống. Điều này dẫn đến kết quả là một tín hiệu zero. Chùm tia thoát ra được đo đạc bằng việc sử dụng hai máy dò độc lập. Trong cách bố trí của họ, mỗi hạt photon tới bộ chia tách chùm tia đều có một cơ hội được truyền hoặc phản xạ, điều đó có nghĩa là sự khác biệt giữa các phép đo đạc của các máy dò có thể không dự đoán được. Bởi vì lẽ đó, các con số sinh ra thực sự là ngẫu nhiên.  Các nhà nghiên cứu sau đó thực hiện một bước công việc khác là đảm bảo cho các trạng thái của proton trước khi chúng được phân tách. Rõ ràng là các con số sinh ra bằng các thiết bị do họ thiết kế thực sự ngẫu nhiên. Kết quả cuối cùng là một thiết bị có năng lực tạo ra các con số ngẫu nhiên với mức 8,05 gigabit mỗi giây, mỗi con số trong đó đều ngẫu nhiên một cách hoàn hảo – tất cả đều trong thời gian thực. Đáng chú ý là thiết bị này được thiết kế bằng việc sử dụng thiết bị  đã được thương mại hóa.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-unpredictable-nature-quantum-mechanics-random.html  http://dx.doi.org/10.1103/PhysRevX.10.041048       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra loại enzyme đột biến có thể “ăn” nhựa      Phát hiện mang tính đột phá về những con bọ có thể ăn nhựa ở một bãi rác thải Nhật Bản có thể góp phần giải quyết khủng hoảng ô nhiễm nhựa toàn cầu.      Nhựa trôi nổi trên các đại dương làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển. Nguồn ảnh: DW  Nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí PNAS này đã khởi nguồn từ một khám phá năm 2016 về các loại vi khuẩn đã được tiến hóa một cách tự nhiên để phân hủy nhựa tại một bãi rác thải Nhật Bản. Trong công trình, các nhà khoa học đã tiết lộ cấu trúc chi tiết trong enzyme chủ chốt mà họ đã tạo ra trong loại bọ khiến chúng có thể tiêu hủy các chai nhựa đựng nước. Bất ngờ là loại enzyme đột biến này được tạo ra bằng một “tai nạn”.  Nhóm nghiên cứu quốc tế do GS  John McGeehan tại trường đại học Portsmouth, Anh dẫn dắt đã thử cải tiến enzyme đó để xem nó tiến hóa như thế nào. Các thí nghiệm cho thấy chúng đã tình cờ làm cho phân tử trở nên “thiện chiến” hơn trong việc phân hủy nhựa PET (polyethylene terephthalate) vẫn được dùng làm nguyên liệu sản xuất các chai đựng nước. Phải mất vài ngày thì enzyme biến đổi đó mới bắt đầu phân hủy nhựa – tuy nhiên tốc độ này cần phải được đẩy lên nhanh hơn nếu không nó sẽ phải mất hàng thế kỷ mới có thể dọn sạch nhựa trên các đại dương. Các nhà nghiên cứu vẫn hi vọng, tốc độ có thể sẽ được tăng lên nữa để có thể tạo ra được một quá trình phân hủy nhựa trên quy mô lớn.   GS  John McGeehancho biết: “Những gì chúng tôi đang ấp ủ là dùng chính enzyme này để phân hủy nhựa và đưa chúng trở lại với những thành phần ban đầu, nhờ đó chúng ta có thể tái chế nhựa theo đúng nghĩa mà không cần phải đào thêm dầu mỏ và về cơ bản có thể làm giảm lượng nhựa có trong môi trường”.  Trên toàn cầu, mỗi phút có một triệu chai nhựa được bán và chỉ 14% số này được tái chế, phần nhiều trôi nổi trên các đại dương, làm ô nhiễm môi trường biển, thậm chí ở cả những vùng biển xa xôi, đe dọa đến đời sống của các sinh vật đại dương và cả những người ăn đồ biển. Dẫu sao việc tái chế những chai nhựa này hiện tại vẫn làchuyển thành nguyên liệu dạng sợi để may quần áo hoặc thảm. Còn lại enzyme mới này báo hiệu một cách thức khác: tái chế chúng trở lại thành nguyên liệu nhựa như ban đầu để đáp ứng nhu cầu sản xuất ra loại nhựa mới.  McGeehan chỉ ra một sự thật, “anh có thể luôn luôn phải đối đầu với một sự thật là dầu mỏ rẻ nên nhựa PET cũng rất rẻ. Vì vậy thật dễ dàng để giới công nghiệp có thể khai thác nguyên liệu hơn là cố gắng tái chế nó. Nhưng tôi tin tưởng rằng có một vấn đề định hướng dư luận ở đây: sự nhận thức đang thay đổi rất nhiều và các công ty cũng bắt đầu nhìn nhận họ có thể tái chế rác thải một cách đúng đắn như thế nào”.  Nghiên cứu mới bắt đầu xác định cấu trúc chính xác của enzyme của loại bọ ở Nhật Bản. Nhóm nghiên cứu đã dùng một luồng xung tia X cực mạnh có độ sáng gấp 10 tỷ lần mặt trời của máy synchrotron củaDiamond Light Source gần Oxford, Anh, để tìm ra những nguyên tử đơn lẻ.  Cấu trúc của loại enzyme này trông có vẻ tương đồng với một kiểu tiến hóa của nhiều loại vi khuẩn để phá hủy cutin, một loại polymer tự nhiên vẫn hiện diện như “lớp áo khoác ngoài” của thực vật. Tuy nhiên khi nhóm nghiên cứuxử lý enzyme để khám phá kết nối này, họ đã cải tiến thêm tính năng của chúng để chúng có thể “ăn” PET.  “Cải tiến này mới chỉ ở mức khiêm tốn – tăng tốc độ phân hủy thêm 20% nữa, nhưng điều quan trọng hơn cả là nó cho chúng ta thấy cần phải tối ưu hơn nữa enzyme này. Nó gợi ý cho chúng ta khả năng áp dụng được tất cả các công nghệ vẫn được dùng để phát triển enzyme khác trong nhiều năm để tạo ra một ennzyme [có khả năng phân hủy] siêu nhanh, McGeehan lạc quan.  Các loại enzyme nhân tạo thường được ngành công nghiệp sử dụng rộng rãi, ví dụ như các loại bột tẩy rửa, và chế phẩm nhiên liệu sinh học. Chúng được tạo ra với chức năng phân hủy nhanh gấp 1.000 lần chỉ trong vài năm, tương đương với thang thời gian mà McGeehan dự tính cho loại enzyme “ăn nhựa” của mình. Một bằng sáng chế về enzyme đột biến đặc biệt này đã được cấp cho các nhà nghiên cứu Portsmouth và Phòng thí nghiệm năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ tại Colorado.  Một cải tiến quan trọng khác có thể dự kiến thực hiện được bằng việc cấy ghép loại enzyme đột biến này vào một vi khuẩn có khả năng sống trong những điều kiện khắc nghiệt như có thể sống sót trong nhiệt độ trên 7OC, tại mốc đó PET có thể được chuyển đổi từ trạng thái giống thủy tinh sang trạng thái nhớt như chất lỏng, khiến cho quá trình phân rã nhanh hơn từ 10 đến 100 lần.  Một phần nghiên cứu đó đã được thể hiện trong việc đem lại khả năng phân hủy nhựa PET cho một vài loại nấm, tuy nhiên nếu cấy enzyme cho vào vi khuẩn sẽ đem lại cho ngành công nghiệp những những ứng dụng dễ dàng hơn.  Nhiều dạng nhựa khác nhau có thể dễ bị phân hủy bằng các loại vi khuẩn đang tiến hóa trong môi trường, McGeehan nhận xét, “Con người hiện đang tìm kiếm những loại vi khuẩn này”. PET có thểchìm trong nước biển nhưng một vài nhà khoa học đã phỏng đoán một ngày nào đó các loài bọ “ăn nhựa” cũng bám vào những đống rác nhựa trên đại dương và “dọn dẹp” nó.  “Tôi nghĩ nghiên cứu mới này là một công trình thú vị, nó chứng tỏ tiềm năng ứng dụng lớn để góp phần hỗ trợ xã hội xử lý những vấn đề về rác thải đang ngày càng thách thức”, Oliver Jones – nhà hóa học tại trường đại học RMIT ở Melbourne, Australia, nhận xét. “Enzyme không có độc tố, có khả năng tự phân hủy và có thể được tạo ra trên diện rộng trong các vi sinh vật. Dẫu vẫn còn một chặng đường nữa trước khi người ta có thể tái chế nhựa trên quy mô lớn với các loại enzyme như thế này và hạn chế số lượng  nhựa được sản xuất ở ngày bước đầu tiên nhưng có lẽ đây là cách làm hoàn hảo. Tất nhiên đây chắc chắn là một bước đi tích cực”.  Giáo sư Adisa Azapagic tại trường đại học Manchester, Anh, đồng tình với việc enzyme này có thể hữu dụng nhưng cũng cho biết thêm, “cần có một đánh giá đầy đủ về vòng đời của các loại bọ có enzyme đột biến để đảm bảo công nghệ này không chỉ giải quyết được một vấn đề của môi trường là rác thải, mà còn mở rộng sang nhiều đối tượng khác, bao gồm cả việc phát thải khí nhà kính nữa”.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2018/apr/16/scientists-accidentally-create-mutant-enzyme-that-eats-plastic-bottles    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra loại lúa mì và đậu phộng ít gây dị ứng hơn      Sachin Rustgi, một thành viên thuộc Hiệp hội Khoa học Cây trồng Hoa Kỳ, đã nghiên cứu cách chúng ta sử dụng phương pháp nhân giống để phát triển các loại thực phẩm ít gây dị ứng hơn. Mới đây, Rustgi đã trình bày nghiên cứu của mình tại Hội nghị thường niên trực tuyến ASA-CSSA-SSSA 2020.      Vi khuẩn nuôi trong đĩa petri này có thể vận chuyển vật liệu gene từ một cây sang cây khác. Đây chính là công nghệ DNA tái tổ hợp. Nguồn: Jonathan Windham  Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ xác định một nhóm 8 thực phẩm gây ra 90% trường hợp dị ứng thực phẩm, trong đó có thực phẩm từ lúa mì và đậu phộng. Dĩ nhiên là có thể ngăn ngừa dị ứng do lúa mì và đậu phộng bằng cách tránh xa những loại thực phẩm này “nhưng trên thực tế lại rất khó”, Rustgi nói.   Tránh xa lúa mì và đậu phộng đồng nghĩa với việc đánh mất các lựa chọn thực phẩm lành mạnh. Hai loại thực phẩm này là ‘kho báu’ dinh dưỡng. Lúa mì là nguồn cung cấp năng lượng, chất xơ và vitamin tuyệt vời. Đậu phộng thì cung cấp protein, chất béo tốt, vitamin và khoáng chất.   Rustgi và cộng sự đang sử dụng quá trình nhân giống cây trồng và kỹ thuật di truyền để phát triển các giống lúa mì và đậu phộng ít gây dị ứng hơn. Mục tiêu của họ là giúp những người bị ứng có thêm lựa chọn thực phẩm. Đối với lúa mì, các nhà nghiên cứu tập trung vào một nhóm protein, được gọi là gluten. Gluten trong bột bánh mì giúp bột nhào có tính đàn hồi. Gluten cũng góp phần tạo nên độ dai của bánh mì. Nhưng gluten có thể gây ra phản ứng miễn dịch đối với những người mắc bệnh Celiac (bệnh không dung nạp gluten). Ngoài ra, đối với những người bị nhạy cảm với gluten (không liên quan đến bệnh Celiac), nhóm protein này cũng gây ra nhiều triệu chứng bất lợi cho cơ thể.   Họ đã nỗ lực tạo ra các giống lúa mì có hàm lượng gluten thấp hơn. Cái khó nằm ở bản chất phức tạp của di truyền gluten. Thông tin cần thiết để tạo ra gluten được gắn vào DNA trong tế bào lúa mì. Nhưng gluten không phải là một loại protein đơn lẻ – nó là một nhóm bao gồm nhiều loại protein khác nhau. Các chỉ dẫn cần thiết để tạo ra những protein gluten đơn lẻ được chứa trong các gene khác nhau. Trong lúa mì, các gene gluten này được phân bố trên khắp DNA của tế bào. Vì rất nhiều phần trong DNA đóng vai trò tạo ra gluten nên rất khó để các nhà chọn tạo giống cây trồng có thể lai tạo các giống lúa mì có hàm lượng gluten thấp hơn. “Khó khăn lớn khi chúng tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu này, đó là làm thế nào để giải quyết một đặc tính do nhiều gene kiểm soát như vậy”, Rustgi cho hay.    Đối với đậu phộng, câu chuyện cũng tương tự. Đậu phộng chứa 16 loại protein khác nhau được xác định là chất gây dị ứng. “Không phải tất cả các protein trong đậu phộng đều gây dị ứng như nhau. Bốn loại protein trong số đó gây ra phản ứng dị ứng ở hơn một nửa số người nhạy cảm với đậu phộng”, Rustgi nói.   Nhóm nghiên cứu đang thử nghiệm nhiều loại lúa mì, đậu phộng để tìm ra những loại tự nhiên ít gây dị ứng hơn những loại khác và có thể trồng đại trà. Ngoài các nỗ lực nhân giống truyền thống, Rustgi cũng đang sử dụng kỹ thuật di truyền để giảm các protein gây dị ứng trong lúa mì và đậu phộng, chẳng hạn như áp dụng công nghệ CRISPR để thực hiện những thay đổi chính xác lên DNA của tế bào. Đáng chú ý, những cải tiến gần đây trong công nghệ CRISPR cho phép các nhà nghiên cứu nhắm mục tiêu nhiều gene cùng một lúc.  Nhóm nghiên cứu sử dụng CRISPR nhằm thay đổi hoặc gây đột biến các gene. Điều này có nghĩa là các tế bào không còn có thể ‘đọc’ các gene này để tạo ra các protein cụ thể. “Việc phá hủy các gene gluten trong lúa mì có thể tạo ra loại lúa mì với hàm lượng gluten thấp hơn nhiều. Cách tiếp cận tương tự cũng sẽ hiệu quả đối với đậu phộng”, Rustgi nhận định.   Các cách tiếp cận khác bao gồm tìm hiểu cách điều chỉnh quá trình sản xuất gluten trong tế bào lúa mì. Hóa ra, có một loại protein đóng vai trò như “bộ điều chỉnh chính” cho nhiều gene gluten. Điều đó rất quan trọng vì việc phá hủy bộ điều chỉnh chính này có thể dẫn đến giảm lượng gluten trong lúa mì. Nhắm mục tiêu vào một gene đơn lẻ dễ hơn nhiều so với việc cố gắng phá vỡ nhiều gene gluten. □  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-wheat-peanuts-allergenic.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra một hình thức mới của thịt nhân tạo      Các nhà nghiên cứu McMaster đã phát triển một hình thức mới của thịt nhân tạo bằng việc sử dụng một phương pháp hứa hẹn đem lại hương vị và kết cấu giống thịt tự nhiên hơn so với các giải pháp hiện tại.      Thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm trường đại học McMaster, Canada. Nguồn: McMaster  Các nhà nghiên cứu Ravi Selvaganapathy và Alireza Shahin-Shamsabadi, cùng làm việc tại trường Kỹ thuật Sinh y của trường đại học McMaster, đã sáng tạo ra một cách để làm ra thịt bằng các tấm mỏng sợi cơ và tế bào chất béo xếp chồng lên nhau trong phòng thí nghiệm. Kỹ thuật này được áp dụng từ một phương pháp thường dùng để nuôi cấy mô người.  Các tấm mỏng từ những tế bào sống, mỗi tấm có độ dày bằng một tờ giấy in, đều lần đầu tiên được nuôi cấy và sau đó được cô đặc lên những đĩa chuyên dụng trước khi được lấy ra và xếp chồng hoặc gập lại với nhau. Các tấm mỏng này dính kết lại một cách tự nhiên trước khi các tế bào chết đi.  Các lớp lớp đó có thể được chồng lên nhau thành một khối đặc với bất cứ độ dày nào mong muốn, Selvaganapathy nói, rồi đưa vào tái tạo lượng chất béo và bố trí cho lượng thịt với mỡ phân bố một cách đồng đều trong mọi lát cắt – một sự tiến bộ hơn bất cứ giải pháp có sẵn nào.  “Chúng tôi đang tạo ra các miếng thịt”, ông nói, “khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi mua thịt với tỉ lệ phần trăm chất béo họ muốn – giống như cách họ làm với sữa vậy”.  Khi miêu tả quy trình trong tạp chí Cells Tissues Organs, các nhà nghiên cứu đã chứng minh khái niệm làm ra thịt từ các dòng tế bào chuột hiện có. Dẫu họ không ăn thịt chuột được miêu tả trong công trình nghiên cứu nhưng sau đó họ đã thử nuôi cấy và nấu một miếng thịt nhân tạo được tạo ra từ các tế bào thỏ.  “Nó cũng tạo ra cảm giác và mùi vị y như thịt vậy”, Selvaganapathy nói.    Một mẫu thịt nhân tạo của các nhà nghiên cứu trường đại học McMaster (Canada), sử dụng tế bào lấy từ chuột. Nguồn: McMaster University  Không có lý do nào để cho rằng công nghệ tương tự không thể áp dụng để nuôi cấy thịt bò, thịt lớn hay thịt gà, và mô hình này có thể mở rộng để sản xuất trên quy mô lớn, Selvaganapathy lưu ý.  Các nhà nghiên cứu thực hiện công trình này do khủng khoảng chuỗi cung cấp thịt trên toàn thế giới đang gia tăng trong khi lượng tiêu thụ thịt hiện nay là nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn đất và nước, đồng thời làm tăng thêm lượng khí nhà kính.  “Việc sản xuất thịt hiện tại đang thiếu bền vững”, Selvaganapathy nhận xét. “Phải có một cách khác để tạo ra thịt”.  Việc tạo ra thịt nhân tạo mà không cần gia tăng việc nuôi và khai thác động vật có thể đem lại sự bền vững lớn hơn, an toàn hơn và ít chất thải hơn, các nhà nghiên cứu chỉ ra. Trong khi các hình thức nuôi cấy thịt từng được phát triển trước đây, các nhà nghiên cứu McMaster tin tưởng họ có trong tay tiềm năng tốt nhất trong việc tạo ra những sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận, thưởng thức và giá cả phải chăng.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một công ty start-up để bắt đầu thương mại hóa công nghệ này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-cultivated-meat.html  https://www.laboratoryequipment.com/572347-Researchers-Create-New-Form-of-Cultivated-Meat/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra tế bào gốc tạo máu trong phòng thí nghiệm      Một bài báo mới được công bố trên Nature hôm 17-5 đang mang đến hi vọng cho những người mắc bệnh bạch cầu và những bệnh rối loạn máu khác – những người cần cấy ghép tủy nhưng không tìm được nguồn hiến tặng phù hợp.      Các nhà khoa học đã tạo ra những tế bào gốc tạo máu từ tế bào gốc vạn năng cảm ứng.  Theo đó, một nhóm nghiên cứu, đứng đầu bởi nhà sinh học tế bào gốc George Daley ở Bệnh viện Nhi Boston, Massachusetts, đã tạo ra những tế bào hoạt động như tế bào gốc tạo máu (blood stem cell) của người, mặc dù chúng không hoàn toàn giống những tế bào gốc tạo máu được sinh ra tự nhiên. Nhóm nghiên cứu thứ hai, do nhà sinh học tế bào gốc Shahin Rafii ở Trường Y Weill Cornell, TP New York, dẫn dắt, đã biến tế bào trưởng thành ở chuột thành tế bào gốc tạo máu hoàn chỉnh.  Nhóm của Daley đã chọn tế bào da và các tế bào khác lấy từ người trưởng thành làm “nguyên liệu” ban đầu. Sử dụng một phương pháp chuẩn, họ tái lập trình các tế bào này thành tế bào gốc vạn năng cảm ứng (iPS), vốn có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, các tế bào iPS chưa được biến đổi thành tế bào tạo ra máu.  Bước kế tiếp là một bước mới, Daley và các đồng nghiệp đã chèn thêm bảy yếu tố phiên mã – là những gene kiểm soát các gene khác – vào bộ gene của tế bào iPS. Sau đó, họ tiêm các tế bào người đã được biến đổi này vào chuột để phát triển. 12 tuần sau, các tế bào iPS đã chuyển đổi thành những tế bào nguyên thủy có khả năng tạo ra một loạt tế bào có trong máu người, bao gồm các tế bào miễn dịch. Daley cho biết, các tế bào nguyên thủy này giống với các tế bào gốc tạo máu được sinh ra tự nhiên đến kỳ lạ.  Trái lại, nhóm của Rafii đã tạo ra các tế bào gốc tạo máu thực sự từ chuột mà không có bước trung gian tạo ra các tế bào iPS. Các nhà nghiên cứu bắt đầu bằng việc tách các tế bào từ niêm mạc mạch máu ở chuột trưởng thành. Sau đó họ đưa bốn yếu tố phiên mã vào bộ gene của các tế bào này và giữ chúng trong đĩa thí nghiệm được thiết kế giống môi trường bên trong mạch máu người. Ở đó, các tế bào biến đổi thành tế bào gốc tạo máu và tự nhân lên.  Khi các nhà nghiên cứu tiêm những tế bào gốc này vào những con chuột đã được xạ trị để tiêu diệt hầu hết các tế bào máu và tế bào miễn dịch, chúng đã phục hồi. Các tế bào gốc này đã tái tạo máu, bao gồm các tế bào miễn dịch, và những con chuột đã tiếp tục sống bình thường – hơn một năm rưỡi trong phòng thí nghiệm.  Vì bỏ qua giai đoạn tạo tế bào iPS, Rafii so sánh phương pháp của ông với chuyến bay thẳng, còn quy trình của Daley là chuyến bay vòng đến mặt trăng trước khi cán đích. Ngay cả phương pháp hiệu quả nhất để tạo ra tế bào gốc cũng có vấn đề, ông nói thêm, bởi vì mỗi khi một gene được đưa vào một nhóm tế bào, phần lớn nhóm tế bào không “hợp tác” được với nó và phải đào thải. Bên cạnh đó còn có nguy cơ một số tế bào sẽ tiếp tục biến đổi sau khi chúng được chỉnh sửa trong phòng thí nghiệm và có thể tạo khối u khi cấy vào người.  Nhưng Daley và các nhà nghiên cứu khác tin tưởng rằng có thể làm cho phương pháp này hiệu quả hơn và ít có khả năng kích thích tăng trưởng khối u và các bất thường khác trong những tế bào đã được chỉnh sửa. Một khả năng là biến đổi tạm thời biểu hiện gene ở các tế bào iPS thay vì đưa vào các gene mang yếu tố phiên mã, theo Jeanne Loring, nhà nghiên cứu tế bào gốc tại Viện nghiên cứu Scripps, La Jolla, California. Bà cũng lưu ý rằng tế bào iPS có thể được sinh ra từ mô da và các mô khác dễ tiếp cận, trong khi phương pháp của Rafii bắt đầu bằng tế bào tách từ niêm mạc mạch máu, khó lấy và khó giữ trong phòng lab.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/lab-grown-blood-stem-cells-produced-at-last-1.22000    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra trứng từ tế bào da ở chuột      Việc các nhà khoa học Nhật vừa tạo ra được trứng từ tế bào da ở chuột hoàn toàn trên đĩa thí nghiệm làm dấy lên tranh luận về triển vọng của trứng nhân tạo ở người    Các nhà khoa học Nhật Bản đã biến đổi tế bào da của chuột thành trứng trong  một đĩa thí nghiệm, rồi sử dụng những trứng này để tạo ra những con chuột con khỏe mạnh. Thành tựu của họ đánh dấu việc  lần đầu tiên tạo ra trứng hoàn toàn bên ngoài cơ thể chuột.    Những chú chuột 11 tháng tuổi này được sinh ra từ những trứng  hoàn toàn được tạo ra trong đĩa thí nghiệm.  Ông Katsuhiko Hayashi, nhà sinh học sinh sản ở Đại học  Kyushu , Fukuoka, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, công bố bước đột phá này hôm 17/10 trên tờ Nature. Năm 2012, khi làm việc tại Đại học Tokyo, ông và nhà sinh học tế bào gốc Mitinori Saitou đã thông báo đang triển khai việc biến đổi tế bào da thành trứng ở bước tái biệt hóa chúng thành những tế bào gốc  giống như tế bào phôi và tế bào mầm nguyên thủy. Những tế bào chưa trưởng thành này xuất hiện khi một phôi phát triển, và sau đó lớn lên thành tinh trùng hoặc trứng. Nhưng để biến các tế bào mầm nguyên thủy thành trứng trưởng thành, các nhà nghiên cứu phải đưa chúng vào buồng trứng của những  con chuột sống.  Thành tựu tiếp theo đến vào tháng Bảy năm 2016, khi nhóm nghiên cứu  tại Đại học Nông nghiệp Tokyo do Yayoi Obata đứng đầu, cho biết đã biến đổi thành công các tế bào mầm nguyên thủy trích xuất từ bào thai chuột thành noãn bào (tế bào trứng) mà không cần sử dụng động vật có vú còn sống. Cùng làm việc với Obata, Hayashi và Saitou giờ đây đã hoàn tất chu trình này: từ tế bào da đến những trứng đầy đủ chức năng trong đĩa thí nghiệm. Bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), 26 chú chuột con khỏe mạnh đã ra đời (một số con nguồn gốc từ những tế bào gốc phôi và một số là từ tế bào da được tái biệt hóa). Hayashi nói, một số con trong số này đã sinh thế hệ chuột thứ hai.  “Điều này thực sự kì diệu,” Jacob Hanna, nhà sinh học tế bào gốc tại Viện khoa học Weizmann, Rehovot, Israel, nói. “Được tạo ra hết lần này đến lần khác những noãn bào chuột khỏe mạnh và đầy đủ chức năng trên đĩa thí nghiệm, được chứng kiến toàn bộ quá trình mà không phải ghi chép những bước cần làm với động vật vật chủ, là điều thú vị nhất.”  “Từng phần của công trình này đều đã được làm từ trước – ở đây chúng được ghép lại với nhau cho hoàn chỉnh. Thật ấn tượng họ có được những con chuột con theo cách đó,” Dieter Egli, nhà sinh học tế bào gốc tại Viện nghiên cứu thuộc Quỹ Tế bào gốc New York nói.  Hayashi nói quy trình này ổn định – dù vẫn thách thức về mặt kỹ thuật – và những nhóm khác trong phòng thí nghiệm của ông đều đã lặp lại được quy trình này. Tuy các nhà sinh học không cần cấy các tế bào mầm nguyên thủy vào cơ thể chuột đang sống, nhưng họ vẫn cần bổ sung những tế bào lấy từ buồng trứng của bào thai chuột để tạo ra một thứ hỗ trợ giống như buồng trứng mà trong đó các trứng này có thể phát triển. Hayashi giờ đây đang cố gắng chế ra một loại chất phản ứng nhân tạo để thay thế những tế bào đó trong quy trình của ông.  Trớc đó, hồi tháng Hai năm nay, Trung Quốc công bố họ đã tạo ra được tinh trùng chuột ở giai đoạn đầu trong đĩa thí nghiệm. Họ đã tạo ra các tinh tử [các tế bào tiền tinh trùng], không phải là những tế bào trưởng thành hoàn toàn, mặc dù họ cho biết sử dụng chúng để tạo ra chuột con.  Từ chuột đến người  Hayashi nói rằng công trình này sẽ giúp ông nghiên cứu sự phát triển của trứng, mà giờ đây ông đã có thể tạo ra hoàn toàn trong đĩa thí nghiệm. Ông không đặt mục tiêu tạo ra các trứng đầy đủ chức năng của con người trong phòng thí nghiệm. (Các quy định của Nhật Bản cấm thụ tinh những tế bào mầm của con người được tạo ra nhờ kĩ thuật, thậm chí chỉ với mục đích nghiên cứu). Nhưng ông ngờ rằng những nhà nghiên cứu khác sẽ thử. “Tôi không nghĩ việc đó sẽ phức tạp hơn nhiều,” Hanna,  nhà sinh học tế bào gốc người Israel đã được trích dẫn ở trên, nói – bản thân ông đang hi vọng tạo ra trứng người.  Hanna là người cùng đứng đầu nhóm nghiên cứu đã công bố tạo ra tế tào mầm nguyên thủy nhân tạo  ở người đầu tiên vào năm 2014. Vì những lí do đạo đức, ông chưa cấy chúng vào cơ thể người để thử phát triển chúng thành tinh trùng hoặc trứng. Nhưng triển vọng của việc nuôi dưỡng các tế bào mầm nguyên thủy của người trong đĩa thí nghiệm đang rất lôi cuốn. Hanna cho biết, phòng thí nghiệm của ông đã tiến hành những thí nghiệm tương tự như những thí nghiệm được mô tả trong bài báo mới của Hayashi. Thách thức đặt ra là làm thế nào để thu được những tế bào hỗ trợ  cần thiết từ buồng trứng (hoặc, từ tinh hoàn, trong trường hợp đối với tinh trùng); hiện tại, quá trình này chỉ thành công với những tế bào gốc bào thai. Nhưng ông cũng hi vọng rằng những tế bào tương tự từ lợn hoặc khỉ cũng sẽ hiệu quả.  Nếu quy trình của Hayashi có hiệu quả với tế bào người, thì về nguyên tắc, nó có thể được sử dụng để tạo ra trứng từ tế bào da người, Hanna nói – ngoài ra, với tư cách một nhà hoạt động ủng hộ quyền của giới LGBT, ông nghĩ rằng khả năng này là “hợp pháp để nghiên cứu khi đến thời điểm”. Tuy nhiên Hayashi vẫn chưa sử dụng những tế bào da từ chuột đực để sản xuất trứng.  Hayashi nghĩ rằng những trứng “giống như noãn bào” ở người có thể được tạo ra trong vòng mười năm nữa, nhưng ông không chắc chúng đủ chất lượng cho việc điều trị các vấn đề về sinh sản. “Còn quá sớm để sử dụng các noãn bào nhân tạo trong điều trị lâm sàng”, ông nói, cảnh báo rằng nghiên cứu của ông đã cho thấy trứng nhân tạo của chuột thường có chất lượng thấp. Ông lo rằng những trứng này có thể tạo ra những phôi bất thường về gien, tiềm ẩn những bất thường ở các thế hệ con cháu. Trong nghiên cứu của ông, chỉ có 3,5% số phôi mầm được tạo ra từ trứng nhân tạo phát triển thành chuột con – so với 60% số trứng được nuôi dưỡng bên trong cơ thể chuột.  Nhưng cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của công nghệ làm ra trứng nhân tạo trong đĩa thí nghiệm phải được bắt đầu ngay, theo Azim Surani, người tiên phong trong lĩnh vực này tại Đại học Cambridge, Anh Quốc. “Giờ là thời điểm thích hợp để đông đảo công chúng được tham gia vào những thảo luận này, từ rất lâu trước khi và trong trường hợp quy trình này trở nên khả thi ở con người,” ông nói.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/mouse-eggs-made-from-skin-cells-in-a-dish-1.20817       Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Tạo sức cạnh tranh bằng nhân tài      Đoàn tàu Việt Nam đang rất gần với sân ga của Tổ chứcThương mại Thế giới-WTO. Khi đến sân ga này, có rất nhiều luật chơi khác lạ so với những gì mà các doanh nghiệp Việt Nam đã biết. Bài viết này muốn đề cập đến một trong những luật chơi mà các công ty lớn của Việt Nam sẽ phải tuân thủ và phải tuân thủ một cách nghiêm túc, thông minh để đảm bảo có thể tồn tại một cách lành mạnh, phát triển ngay trên chính thị trường của mình, và sau đó vươn ra thị trường quốc tế.    Người tài hay công nghệ quản lý?  Thị trường Việt Nam là một thị trường mới với dung lượng ngày càng tăng nhanh. Điều này giải thích cho sự tăng trưởng từ 2 đến 3 con số của rất nhiều doanh nghiệp trong những năm gần đây. Vấn đề là chính sự tăng trưởng quá nhanh khiến qui trình quản lý và tâm lý người lao động không kịp thay đổi và tâm lý thành công lại đang trở thành lực cản chính của các doanh nghiệp trong tình hình mới.  Những dạng vấn đề thường gặp ở các công ty phát triển nhanh và có qui mô lớn (doanh số từ 300 tỷ/năm trở lên và có nhân sự trên 300 người) là: giám đốc không còn tự mình quán xuyến được toàn bộ các công việc như trước đây; giám đốc không còn chắc là mình có còn kiểm soát được tài chính doanh nghiệp một cách rõ ràng và an toàn; giám đốc bị cuốn hút vào các tác vụ hàng ngày và không còn thời gian để suy nghĩ về các ý tưởng mới cho công ty như thời gian trước đó; những nhân viên trung thành từ ngày đầu khởi nghiệp cảm thấy không còn môi trường như xưa; những người mới vào cảm thấy xa lạ, hoặc là không được ủng hộ thực hiện các chương trình mới, hoặc là phải thực hiện các công việc theo lối mòn để có thể tồn tại; khi qui mô công ty thay đổi thì các qui luật quản trị các quá trình kinh doanh cũng thay đổi theo và không dễ dàng gì những con người đã thành công với những qui luật cũ trong môi trường cũ có thể nhận ra và chấp nhận là công ty đã phát triển theo giai đoạn mới các qui luật hoạt động mới và, sự không rõ ràng trong quản lý (kể cả quản lý sản xuất, nhân sự, bán hàng, tiếp thị, tài chính hay quản lý kết quả làm việc). Tất cả những điều trên là những rào cản nội bộ đầu tiên để phát triển công ty trong điều kiện mới.                  Đây là những vấn đề thông dụng nhất thường phát sinh trong quá trình phát triển của công ty. Trong đó  dễ thấy nhất là vấn đề nguồn lực con người và qui trình nhân sự quản trị nhân sự.  Với qui mô mới của công ty, việc phải quyết định giữ ai, thêm ai, tuyển ai và đào tạo ai… luôn là thách thức về mặt quản lý. Bên cạnh đó, hàng loạt các câu hỏi xuất hiện: Làm sao để đảm bảo công ty hoạt bình thường? Giữ được văn hóa công ty? Giữ được an toàn tài chính trong chi phí kinh doanh? Đưa được các nhân tố mới vào trong nội bộ công ty để đảm bảo thành công trong tương lai? Giữ được các nhân viên có kinh nghiệm để đảm bảo thành công hiện tại  Để giải quyết các bài toán có vẻ như chồng chéo lên nhau này, các doanh nghiệp trong nước thường chọn giải pháp là tuyển người có thành tích tốt từ các công ty khác, thông thường là từ các công ty nước ngoài để bổ sung vào nguồn nhân lực của mình. Tuy nhiên, vấn đề là những người tài ở các công ty khác thường không phát huy được những thành công trong quá khứ của mình và không đóng góp được gì nhiều cho quá trình phát triển của công ty mới, trong khi những nhân tài hiện hữu cũng không còn trình diễn ấn tượng như xưa. Kết quả làm cho giám đốc doanh nghiệp khóc đứng, khóc ngồi khi phải giải quyết vấn đề phát triển doanh nghiệp.  Vấn đề chính nằm ở công nghệ quản lý. Tại hầu hết các công ty nước ngoài, người ta không hề thấy sự xuất hiện của các “ông chủ” công ty, tổng giám đốc cứ mỗi 3 năm lại thay đổi nhiệm kỳ, các nhân viên chủ chốt thay nhau luân chuyển… mà công việc vẫn diễn ra bình thường, thậm chí càng ngày càng tốt hơn. Câu lý giải nằm chỉ có thể tìm được khi nhìn vào qui trình quản trị nhân sự của các công ty đó, nơi mà hình như ai bước vào cũng có thể trở thành nhân tài trong lĩnh vực của họ, không chỉ trong tiếp thị, bán hàng mà còn cả trong sản xuất, tài chính và nhân sự.  Như vậy, sự khác biệt không nằm ở con người mà nằm ở hệ thống quản lý. Tuy nhiên không nhiều công ty có thể nhìn ra được vấn đề cần phải thay đổi hệ thống khi qui mô kinh doanh thay đổi, thay vào đó họ lại cho rằng chỉ cần tuyển người giỏi là có thể xoay chuyển được tình thế. Tất nhiên cũng có thể làm theo cách đó nhưng rất khó tìm được người có thể xoay chuyển được cả một hệ thống. Cách thông thường dễ hơn và căn bản hơn là phải áp dụng một hệ thống quản trị mới để đảm bảo ai cũng có thể trở thành người giỏi trong công việc của chính mình đang và sẽ làm.  Sức cạnh tranh của một công ty sẽ được phát huy khi có một hệ thống quản lý các quá trình kinh doanh và có đủ người có thể vận hành được hệ thống đó một cách nhịp nhàng.                Điều chỉnh khiếm khuyết  Để có thể phát triển được một hệ thống thì cần phải có những cơ sở hạ tầng tốt, những người được đào tạo bài bản và nhất là phải có đủ thời gian để những người đó có thể thực hiện được các công việc chuyển đổi và áp dụng thành công hệ thống quản lý mới cho các công việc hiện tại. Với điều kiện này thì chỉ có các công ty có bề dày hoạt động, có lực lượng nhân sự ổn định và có sự dư thừa trong công suất nhân sự mới có thể dễ dàng thực hiện. Đây là đặc trưng của các cơ quan nhà nước, và không hề ngạc nhiên nếu như các công ty nhà nước có thể rất nhanh chóng nhận ra vấn đề và có thể tiến hành ngay các tác vụ của quá trình xây dựng một hệ thống mới. Tuy nhiên, động lực chính thúc đẩy hệ thống hoạt động chính là sự nỗ lực của từng cá nhân lại là điểm yếu của các cơ quan nhà nước hoặc các công ty kinh doanh của nhà nước.  Ở thái cực khác, các công ty tư nhân luôn có khả năng tạo được động lực làm việc của nhân viên bằng các phương thức tính toán linh hoạt nhưng lại thiếu một chiều sâu của các chuyên gia lâu năm và các nhân viên hoạt động theo hệ thống được đào tạo căn bản. Do đó, việc tiếp nhận các hệ thống rất khó khăn và thường ít có hiệu quả. Nguyên nhân là ở chỗ nhân sự không được đào tạo bài bản mà thường trưởng thành từ thực tế nên mặc dù có nhiều kinh nghiệm nhưng không có được sự tổng hợp và khả năng khái quát hóa các mô hình quản lý.Công ty nhà nước mới được cổ phần hóa có vẻ như có thể tổng hợp được hai yếu tố thuận lợi là có được một đội ngũ nhân sự hùng hậu và có được sự linh hoạt của một công ty hoạt động theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên dạng công ty này lại có vấn đề về văn hóa doanh nghiệp. Cụ thể là do bị sốc trong quá trình chuyển đổi, hệ thống quản lý cũ vẫn còn tồn tại và đặc biệt là tâm lý nhân viên chưa ổn định. Để áp dụng một hệ thống quản lý mới, cần phải có các cách đi uyển chuyển, nghệ thuật mới hy vọng thành công.  Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang phát triển rất nhanh và thông thường ít giám đốc nào kịp nhận ra sự không còn tương thích của hệ thống khi qui mô vượt quá khỏi sự kiểm soát của hệ thống. Họ thường bổ sung những khiếm khuyết của mình bằng nhân sự mới mà không nhận ra là phải thay đổi qui trình quản lý rồi sau đó mới thay đổi nhân sự cho phù hợp với qui trình mới. Một lý do nữa khiến các giám đốc chưa áp dụng ngay qui trình mới là họ không hề nhận ra rằng có một qui trình quản lý khác có thể phù hợp với qui mô mới của doanh nghiệp. Ngược lại, họ luôn nghĩ rằng doanh nghiệp mình có đặc thù riêng nên chỉ có mình là hiểu và quản lý được. Đồng thời họ cũng nhận ra rằng công ty không thể phát triển lớn hơn, cũng như chính bản thân mình không thể tiếp tục phát huy các điểm mạnh từ khi khởi nghiệp. Toàn bộ thời gian của họ dường như chỉ để tập trung xử lý các sự vụ chứ không thể giải quyết các vấn đề chiến lược. Cũng có những người đã nhìn xa hơn và tự hỏi xem tại sao các công ty quốc tế có thể quản lý được doanh nghiệp mà không cần có mặt, làm sao những nhà đầu tư có thể tin tưởng giao cho các nhà quản lý-trong đó có không ít người Việt- toàn bộ sản nghiệp của mình mà không hề lo lắng? Đơn giản bởi họ đã tìm ra được một công nghệ quản lý giúp triệt tiêu các lực cản sáng tạo, phát triển tài năng của chính họ và của nhân viên trong toàn công ty. Đó chính là bí quyết tạo nên nhân tài trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam nên đầu tư vào công nghệ quản lý thay vì đầu tư vào tuyển dụng nhân tài khi không có gì đảm bảo nào rằng nhân tài này có thể phát huy một cách hiệu quả.  Nguyễn Duy Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo tấm chắn nhiệt có độ dày 10 nguyên tử để bảo vệ thiết bị điện tử      Khi hoạt động, việc các máy tính xách tay, điện thoại thông minh và nhiều thiết bị điện tử tạo ra nhiệt thừa có thể gây phiền nhiễu cho người dùng, thậm chí có thể góp phần dẫn đến sự cố và trong một số trường hợp làm nổ pin lithium.      Hình ảnh cho thấy bốn lớp vật liệu dày cỡ nguyên tử đã hình thành một hinh thức chắn nhiệt, tương đương 1/50.000 tờ giấy. Nguồn: Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ  Để bảo vệ các thiết bị điện tử khỏi trường hợp này, các kỹ sư thường chèn kính, nhựa hoặc các lớp không khí như một tấm đệm để ngăn các thành phần sinh nhiệt như các bộ vi xử lý khỏi gây thảm họa hoặc khó chịu cho người dùng.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu trường đại học Stanford đã cho thấy một số lớp của các vật liệu mỏng cỡ nguyên tử, xếp lớp như những tấm giấy đặt trên các điểm nóng có thể cách nhiệt tương tự như một tấm kính có độ dày gấp cả trăm lần. Trong tương lai gần, các tấm chắn nhiệt mỏng hơn sẽ cho phép các kỹ sư tạo ra các thiết bị điện tử còn nhỏ gọn hơn cả những thiết bị điện tử mà chúng ta có ngày nay Eric Pop, giáo sư kỹ thuật điện và tác giả chính của công bố mới xuất bản ngày 16/8 trên Science Advances.  “Chúng tôi đang xem xét vấn đề nhiệt trong các thiết bị điện tử theo một cách hoàn toàn mới”, Pop nói.  Dò âm thanh như dò nhiệt  Nhiệt lượng mà chúng ta cảm nhận được từ điện thoại thông minh hay máy tính xách tay thực ra là một hình thức không thể nghe được của âm thanh tần số cao. Nếu coi đây là điều điên rồi thì hãy xem xét đến vật lý cơ bản. Các dòng điện qua chạy qua các dây dẫn như một dòng các điện tích. Khi các điện tích chuyển động, chúng va chạm với các nguyên tử của vật chất này để đi qua. Với mỗi va chạm một điện tích là nguyên nhân khiến một nguyên tử rung lên, và các dòng điện chuyển động nhiều hơn thì các cuộc va chạm cũng xảy ra nhiều hơn, cho đến khi các hạt điện tích đánh bại các nguyên tử như những cái búa đập vào những cái chuông, ngoại trừ tạp âm của các dao động chuyển qua vật liệu sắn tại những tần số  vượt quá ngưỡng có thể nghe được, sinh ra năng lượng mà chúng ta cảm thấy như nhiệt.  Việc nghĩ về nhiệt như một hình thức của âm thanh đã truyền cảm hứng cho các nhà nghiên cứu Stanford để mượn một số nguyên tắc của thế giới vật lý. Từ những ngày làm việc như một DJ radio  tại KZSU 90.1 FM của Stanford, Pop biết là để các phòng thu âm hoàn toàn yên tĩnh, cần có lớp kính cửa sổ dày để ngăn tiếng ồn bên ngoài phòng. Một nguyên tắc tương tự được áp dụng như một tấm chắn nhiệt trong các thiết bị điện tử ngày nay. Họ có thể đơn giản là mượn nguyên tắc cách âm của các phòng thu và làm dày hơn tấm chắn nhiệt. Tuy nhiên cách này cũng có thể làm hỏng nỗ lực làm các thiết bị điện tử mỏng hơn. Giải pháp họ áp dụng là “mượn” từ các gia đình, vốn lắp nhiều lớp cửa, tạo ra nhiều lớp không khí giữa các tấm kính với độ dày khác nhau, để làm cho không gian bên trong ấm cúng và im ắng hơn.  “Chúng tôi áp dụng ý tưởng bằng việc tạo ra một vật cách nhiệt với nhiều lớp được làm từ vật liệu có độ mỏng cỡ nguyên tử thay vì bằng một lớp kính dày”, Sam Vaziri, một postdoc và tác giả chính của công bố, nói.  Vật liệu có độ dày nguyên tử là một khám phá còn tương đối mới. Chỉ mới 15 năm trước đây, các nhà khoa học đã có thể cô lập được một số vật liệu thành nhiều lớp mỏng, ví dụ như graphene, vốn là một đơn lớp nguyên tử carbon và kể từ khi được tìm thấy, các nhà khoa học đã trông chờ và thực nghiệm với các vật liệu đơn lớp như thế. Nhóm nghiên cứu Stanford đã sử dụng một lớp graphene và ba tấm vật liệu tương tự – mỗi tấm dày ba nguyên tử – để tạo ra một vật cách nhiệt gồm 4 lớp chỉ dày cỡ 10 nguyên tử. Bất chấp độ mỏng của mình, vật cách nhiệt này hết sức hiệu quả bởi các dao động nhiệt nguyên tử bị suy giảm và mất nhiều nhiệt lượng khi chúng chuyển dộng qua từng lớp một.  Để tạo ra các tấm cách nhiệt ở cấp độ nano thiết thực, các nhà nghiên cứu sẽ phải tìm một số kỹ thuật để có thể sản xuất hàng loạt bằng cách phun hoặc lắng các lớp vật liệu mỏng cỡ nguyên tử vào các bộ phận thiết bị điện tử trong suốt quá trình sản xuất. Nhưng đằng sau mục tiêu phát triển các chất cách nhiệt mỏng hơn còn lờ mờ hiện ra một tham vọng lớn hơn: các nhà khoa học hi vọng một ngày nào đó có thể kiểm soát được năng lượng dao động bên trong các vật liệu theo cách mà hiện nay họ đang kiểm soát điện năng và ánh sáng. Vì họ đan đến việc hiểu nhiệt lượng trong các vật thể rắn như một hình thức của âm thanh, một lĩnh vực mới của âm tử học (phononics) đang xuất hiện, một cái tên được đưa ra từ một từ có gốc rễ Hy Lạp đằng sau điện thoại (telephone), máy quay đĩa (phonograph) và âm học (phonetics).  “Là các kỹ sư, chúng tôi biết nhiều về cách kiểm soát dòng điện, và chúng tôi đang có hiểu biết tốt hơn về ánh sáng nhưng chúng tôi mới chỉ bắt đầu biết đôi chút về cách điều khiển âm thanh tần số cao mà các biểu hiện tự bản thân nó như nhiệt lượng ở cấp độ nguyên tử”, Pop nói.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-shield-atoms-thick-electronic-devices.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạp chí của Đại học Đà Lạt vào danh mục ASEAN Citation Index      Trong đợt xét duyệt tháng 12/2017, Trung tâm Trích dẫn ASEAN (ASEAN Citation Index – ACI) đã chấp nhận 3 tạp chí khoa học của Việt Nam đạt chuẩn ACI, trong đó có một tạp chí của Đại học Đà Lạt và hai tạp chí của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.      Đại học Đà Lạt. Ảnh: Hà Hữu Nết.  Ba tạp chí của Việt Nam vào ACI  Trung tâm Trích dẫn ASEAN là một cơ sở dữ liệu chung cho toàn bộ khu vực ASEAN, làm cầu nối giữa các Trung tâm Trích dẫn quốc gia (National Citation Index – NCI) của các nước thành viên với các cơ sở dữ liệu quốc tế như ISI, SCI hay Scopus. ACI có chức năng lưu trữ, tìm kiếm bài báo và trích dẫn, giúp phân loại và đánh giá chất lượng tạp chí khoa học của các nước ASEAN. Để được chấp thuận chỉ mục trong cơ sở dữ liệu này, các tạp chí khoa học cần phải đạt được bốn tiêu chuẩn sơ loại và mười tiêu chuẩn xét duyệt (gồm 13 tiêu chí về hình thức và nội dung), tiệm cận với các tiêu chuẩn của hệ thống SCOPUS.  Trong đợt xét duyệt tháng 12/2017, Việt Nam có 3 tạp chí được chấp nhận đạt chuẩn ACI gồm: Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt (Dalat University Journal of Science) thuộc Đại học Đà Lạt, Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Vietnam Journal of Science and Technology) và Tạp chí Khoa học Trái đất (Vietnam Journal of Earth Sciences) thuộc Viện Hàn lâm KH&CNVN. Trước đó, trong năm 2015 và 2016 đã có 3 tạp chí trong nước khác lọt vào danh mục của ACI gồm Journal of Economic Development của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Journal of Economics and Development của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, và Biomedical Research and Therapy của Trường ĐHKHTN, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  Như vậy, Đại học Đà Lạt là đại học vùng duy nhất ở Việt Nam đã có tạp chí trong danh mục của ACI. Được thành lập từ năm 2010, Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt là một tạp chí học thuật đa ngành bình duyệt độc lập, có ba Chuyên san: “Xã hội và Nhân văn”; “Tự nhiên và Công nghệ”; “Kinh tế và Quản lý”. Hội đồng biên tập các Chuyên san của Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt gồm 40 thành viên, trong đó có nhà khoa học quốc tế, ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư ngành/liên ngành và thành viên Hội đồng Khoa học ngành/liên ngành của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED). Các bài báo gửi đăng đều được thẩm định nghiêm ngặt bởi một thành viên hội đồng biên tập và được bình duyệt bởi ít nhất một chuyên gia phản biện độc lập thông qua quy trình bình duyệt kín hai chiều (tỷ lệ từ chối bản thảo trong các năm 2016 và 2017 đều xấp xỉ 50%). Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt đang đặt mục tiêu sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng để được chấp thuận vào Thư mục các tạp chí truy cập mở (Directory of Open Access Journals – DOAJ) trong năm 2018.  Hai tạp chí còn lại của Viện Hàn lâm KHCNVN đều là các tạp chí lâu đời đã có nhiều “tiếng tăm” trong giới khoa học Việt Nam. Được thành lập từ năm 1962 với tiền thân là Tập san Khoa học kỹ thuật, Tạp chí Khoa học và Công nghệ xuất bản các bài báo khoa học trong các lĩnh vực vật liệu, các hợp chất thiên nhiên, môi trường, điện tử và viễn thông và cơ khí. Còn tạp chí Khoa học Trái đất, xuất bản từ năm 1979, đã được chỉ mục ở một số cơ sở dữ liệu khoa học có uy tín khác từ trước đó, như danh sách tạp chí Hạng 1 của Nauy (NRSJ), Viện Khoa học địa lý Mỹ, Copernicus International…  “Nhà nước đang có chính sách khuyến khích các tạp chí khoa học Việt Nam cải tiến, nâng cao chất lượng để ngày càng có nhiều tạp chí của nước ta được chỉ mục trong các hệ thống ISI, SCOPUS và ACI. Trong nỗ lực lâu dài của các tạp chí Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn chỉ mục vào ISI và SCOPUS thì việc được chỉ mục vào hệ thống ACI của khu vực Đông Nam Á sẽ là một bước trung gian quan trọng và cần được khuyến khích mạnh mẽ”, TS. Nguyễn Việt Cường, Phó Viện trưởng Viện Chính sách Công & Quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Ủy viên thư ký Hội đồng Khoa học ngành Kinh tế học của Quỹ NAFOSTED nhận định.  … Nhưng còn xa mới tiệm cận chuẩn khu vực  GS.TSKH Nguyễn Xuân Phúc, Tổng biên tập Tạp chí Khoa học và Công nghệ cho biết, từ 5 năm lại đây các cơ quan nghiên cứu khoa học đang thúc đẩy xây dựng các tạp chí khoa học có chất lượng khoa học ngày càng cao, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế để lọt vào danh mục ISI hoặc Scopus. Cùng với Viện Hàn lâm KH&CN VN, các trường đại học lớn ở Việt Nam đang nỗ lực để đạt được điều đó. Tuy nhiên, số lượng tạp chí khoa học Việt Nam lọt vào trong danh mục ISI/Scopus hay ngay cả ACI đều rất thấp so với các quốc gia trong khu vực [1].  Với số lượng 6 tạp chí được ACI chấp nhận, Việt Nam chỉ hơn Brunei (1), Campuchia (1), Myanmar (1) và  Lào (0). Hiện nay, ACI có 408 tạp chí khoa học đạt chuẩn, trong đó, Thái lan có số lượng tạp chí đạt chuẩn nhiều nhất (161 tạp chí đạt chuẩn), Indonesia có 101, Malaysia có 100, Philipines có 28, Singapore có 8 [2].  Mặc dù có 387 tạp chí khoa học Việt Nam được đưa vào danh mục tạp chí tính điểm của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, nhưng chỉ có 3 tạp chí (xấp xỉ 0,78%) được vào danh sách của Scopus gồm Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology (ANSN); Acta Mathematica Vietnamica của Viện Hàn lâm KH&CNVN và Vietnam Journal of Mathematics của Hội Toán học Việt Nam và Viện Hàn lâm KH&CNVN); và cũng chỉ có 32 tạp chí bằng tiếng Anh hoặc song ngữ Việt – Anh (xấp xỉ 8,3%) [3].    Trong khi đó, theo thống kê của ACI, tính đến hết năm 2016, số tạp chí khoa học thuộc ISI/Scopus của các nước Châu Á như sau: Trung Quốc 538, Nhật Bản 459. Toàn bộ khu vực ASEAN có 225 tạp chí thuộc ISI/Scopus, trong đó lần lượt là Singapore 101, Malaysia 69, Thailand 23, Philippines 21, Indonesia 12, Việt Nam 3.    Ba tạp chí Việt Nam vào ACI năm 2017.      Trung tâm Trích dẫn ACI được thành lập và có ban điều hành từ năm 2013, chính thức xét duyệt tạp chí từ năm 2014. ACI được Quỹ Nghiên cứu khoa học Thái Lan tài trợ đến hết năm 2016; từ năm 2017 kinh phí sẽ do các nước thành viên đóng góp. Chủ tịch ACI là GS. Narongrit Sombatsompop, thuộc King Mongkut’s University of Technology, Thái Lan; ban điều hành gồm thành viên các nước ASEAN, mỗi nước được cử hai người do Bộ Giáo dục của nước đó giới thiệu. Mỗi năm ACI mở một đợt xét duyệt với hạn chót là ngày 15/11. Những tạp chí có trong danh mục Scopus hay ISI đương nhiên được chấp nhận, những tạp chí khác sẽ được xét duyệt theo các tiêu chí của ACI. Mục tiêu của ACI là sớm trở thành một cơ sở dữ liệu đủ lớn để liên kết với SCOPUS.  Để lọt vào danh mục của ACI, các tạp chí phải đáp ứng 4 tiêu chuẩn sơ duyệt và đạt tối thiểu 15 điểm (tối đa 20 điểm) của 10 tiêu chuẩn về nội dung và hình thức để bình duyệt, cụ thể gồm:  4 tiêu chuẩn sơ duyệt   1. Bài báo đăng trên Tạp chí phải được phản biện;  2. Tạp chí phải được xuất bản theo định kỳ và đúng hạn đã công bố;  3. Các bài báo phải có tiêu đề, tóm tắt, tên tác giả và địa chỉ cơ quan công tác bằng tiếng Anh;  4. Các bài báo phải có phần tài liệu tham khảo theo hệ chữ Latin.  10 tiêu chuẩn để chỉ mục tạp chí vào ACI  1.Mức độ phản biện: bình duyệt ẩn danh hai chiều (Double-blind peer-review) hay bình duyệt ẩn danh (Single-blind peer-review) hay không có bình duyệt (No peer-review).  2.Xuất bản đúng hạn.  3.Đã xuất bản ít nhất 3 năm hoặc 6 số liên tục.  4. Mức độ được trích dẫn trong các cơ sở dữ liệu.  5.Mục đích và phạm vi của tạp chí: Mục đích và phạm vi được công bố rõ ràng; Có danh sách thành viên Hội đồng biên tập và cơ quan công tác; Chu kỳ phát hành được công bố theo tháng; Quy trình phản biện được công bố rõ ràng; thông tin hướng dẫn dành cho tác giả đầy đủ và rõ ràng.  6.Sự đa dạng trong thành viên hội đồng biên tập tạp chí.  7.Sự đa dạng của tác giả viết bài cho tạp chí.  8.Sự phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về hình thức trình bày tạp chí: Có tên tác giả và cơ quan làm việc; Có tóm tắt tiếng Việt và tiếng Anh; Hình thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo được trình bày nhất quán.  9.Website của Tạp chí có đầy đủ thông tin và được cập nhật thường xuyên: Có danh mục các bài báo được xuất bản trong cùng một số; Có mục đích, tôn chỉ, phạm vi của Tạp chí; Có danh sách Hội đồng biên tập và nơi công tác của họ; Có hướng dẫn dành cho tác giả; Thông tin trên Website và trên bản in Tạp chí là nhất quán.  10.Có hệ thống gửi bài và phản biện trực tuyến.  Chú thích:  [1] http://www.vast.ac.vn/tin-tuc-su-kien/tin-khoa-hoc/trong-nuoc/3122-hai-tap-chi-khoa-hoc-cua-vien-han-lam-khcnvn-duoc-lot-vao-danh-muc-aci-asean-citation-index-nam-2017  [2] http://www.asean-cites.org/index.php?r=contents%2Findex&id=9  [3] http://tuyensinh.dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chua-den-10-tap-chi-khoa-hoc-cua-viet-nam-duoc-xuat-ban-bang-tieng-anh-20170601072544742.htm    Author                Lê Anh Vũ        
__label__tiasang Tập đoàn AstraZeneca phải tạm dừng thử nghiệm vaccine Covid-19      Hãng AstraZeneca buộc phải dừng quá trình thử nghiệm vaccine Covid-19 vì một người tham gia thử nghiệm đã gặp phải tác dụng phụ nghiêm trọng.      Minh họa: Điều trị bệnh nhân Corona ở Thụy Điển. Ảnh: AFP  Trong thời gian tạm dừng, hãng sẽ không tiếp tục tiêm chủng cho những người tham gia thí nghiệm, với những người đã chích ngừa thì sẽ tiếp tục theo dõi.  Tập đoàn AstraZeneca của Anh cho biết, điều này là bình thường: “Trong thí nghiệm đại trà có sự tham gia của nhiều người, nếu tình cờ xẩy ra tác dụng phụ thì phải được kiểm tra hết sức cẩn thận bởi một cơ quan độc lập.”  Để phát triển vaccine này, AstraZeneca đã hợp tác với đại học Oxford và quá trình phát triển của họ được đánh giá là có tiến độ phát triển loại khẩn trương nhất hiện nay.  Tập đoàn này sẽ tăng tốc độ nghiên cứu để quá trình cấp phép chỉ bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất. Vấn đề cần kiểm tra hiện nay là xác định xem có phải vaccine là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người tham gia thí nghiệm không.   Hãng dược này không cho biết cụ thể về vấn đề sức khỏe của người tham gia thí nghiệm, tuy nhiên nhấn mạnh đây chỉ là trường hợp cá biệt, chỉ xảy ra với một cá nhân. Loại vaccine này đang ở giai đoạn thứ nghiệm lâm sàng thứ ba, giai đoạn cuối cùng và có sự tham gia của nhiều nghìn người.   Tờ New York Times đã đưa tin, dẫn lời từ một một người có thông tin, cho biết vấn đề sức khỏe của một người tham gia thí nghiệm là một dạng viêm tủy cột sống, có thể do virus gây ra.   Về phía mình, AstraZeneca và tám doanh nghiệp dược và công nghệ sinh học khác đã cam kết, quyết không buông lỏng điều kiện an toàn trong quá trình phát triển vaccine corona.  Trước đây, nhiều ý kiến của giới chuyên môn cho thấy sự ái ngại về việc có thể các hãng muốn thúc đẩy quá nhanh quá trình phát triển vaccine. Trong đó, Tổng thống Hoa Kỳ đã nhiều lần nhấn mạnh đến cuối năm nay, thậm chí trước ngày bầu cử sẽ có vaccine.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/wissenschaft/medizin/pharmakonzern-muss-studie-fuer-corona-impfstoff-stoppen-a-cb54ddbc-a2eb-48da-8653-cb99f81623cb       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập đoàn Mỹ đầu tư vào Khu CNTT tập trung đầu tiên ở Đà Nẵng      Tập đoàn Rocky Lai &amp; Associates, Inc (có trụ trở ở bang Texas, Mỹ) vừa được Đà Nẵng cho thuê hơn 131 ha tại xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang trong thời hạn 50 năm để xây dựng hạ tầng Khu CNTT tập trung đầu tiên tại thành phố này.    Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa Ủy ban Nhân dân TP Đà Nẵng và Tập đoàn Rocky Lai & Associates, Inc đã diễn ra tại Công viên Phần mềm Đà Nẵng sáng 24/10.  Chính quyền Đà Nẵng cam kết sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Rocky Lai & Associates, Inc cũng như các nhà đầu tư thuê lại đất của Tập đoàn; đồng thời  thành phố sẽ có các chính sách khuyến khích đầu tư gồm: cho thuê đất với giá ưu đãi và cung cấp hạ tầng kỹ thuật ổn định, bảo đảm chất lượng tốt các công trình hạ tầng kỹ thuật liên quan (điện, nước, thông tin liên lạc, …).  Phía Rocky Lai & Associates, Inc, cam kết sẽ thanh toán một lần (trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư) khoản tiền thuê đất cho Đà Nẵng; đầu tư hạ tầng kỹ thuật của dự án theo đúng chuẩn mực của một khu công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế; mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư của Mỹ, Châu Âu và các nước khác trên thế giới thuê lại đất để tổ chức sản xuất và kinh doanh các sản phẩm CNTT.   Về tiến độ đầu tư, Rocky Lai & Associates, Inc sẽ hoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật của giai đoạn 1 (60 ha) từ năm 2012 đến hết năm 2013, và của giai đoạn 2 (71 ha) từ năm 2014 đến hết năm 2015.  Phát biểu tại Lễ ký kết, ông Phạm Kim Sơn – Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP Đà Nẵng cho rằng, với thỏa thuận đầu tư này, Đà Nẵng thể hiện rõ quyết tâm xây dựng và phát triển đô thị theo hướng Công nghệ Xanh – Công nghệ cao – Thân thiện môi trường.   Theo ông Sơn, đây là dự án đầu tư vào lĩnh vực CNTT lớn nhất từ trước đến nay tại Đà Nẵng nói riêng, các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên nói chung.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập đoàn Thiên Long: Đầu tư 20% doanh thu cho R&D      Để trở thành doanh nghiệp số một Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất bút, văn phòng phẩm từ một cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, bí quyết của Thiên Long là đầu tư cho đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh và quản trị.  &#160;    Những trải nghiệm trong quá trình gây dựng doanh nghiệp đã đưa ông Cô Gia Thọ, ông chủ của Tập đoàn Thiên Long, đến nhận thức về vấn đề đổi mới sáng tạo và coi đó là điều cốt lõi để giúp doanh nghiệp đứng vững trên thương trường, “tiên phong trong công nghệ và sáng tạo để tạo ra những sản phẩm đột phá phục vụ người tiêu dùng”.  Vì vậy, Thiên Long đã dành 20% doanh thu cho công tác R&D mỗi năm, mạnh dạn đầu tư, mua sắm trang thiết bị chuyên dụng cho phòng thí nghiệm của tập đoàn, ví dụ như máy thử bút nhãn hiệu Hutt của Đức lần đầu được nhập về Việt Nam… Một số các trang thiết bị khác như máy hút, máy tạo độ ẩm, máy đo độ nhớ, máy đo độ PH, máy đo dộ dẫn điện… đều tiên tiến, hiện đại và đạt tiêu chuẩn công nghệ xanh, thân thiện với môi trường.  Từ phòng thí nghiệm, hàng năm Thiên Long có được khoảng 10 kết quả nghiên cứu, cải tiến, sáng tạo kỹ thuật. Theo tính toán của các nhà quản lý, chỉ cần hai trong số đó ứng dụng thành công trong thực tiễn sản xuất là đủ thu hồi được chi phí đầu tư nghiên cứu và đem lợi nhuận về cho công ty. Đây cũng là lý do mà Thiên Long có thể “chấp nhận thất bại trong phòng thí nghiệm”, theo lời của ông Cô Gia Thọ.   Những thành công của công tác R&D đã đem lại cho Thiên Long những đổi mới liên tục về sản phẩm. Hàng năm, Thiên Long đưa ra thị trường hàng chục sản phẩm mới, trong đó gần 80% sản phẩm được cải tiến và hơn 20% sản phẩm mới. Tất cả các sản phẩm này đều do Thiên Long tự thiết kế kiểu dáng, mẫu mã trên cơ sở nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng trong từng phân khúc thị trường.  Những cải tiến của phòng thí nghiệm Thiên Long cũng luôn gắn với thông điệp bảo vệ môi trường. Ví dụ ở dòng sản phẩm bút bi, Thiên Long đã nghiên cứu loại mực tốt có thể viết được lâu gấp ba lần so với loại mực cũ và người dùng có thể thay ruột bút mà không phải mua bút mới.      Song song với công tác R&D, Thiên Long cũng mở rộng quy mô sản xuất theo hướng tự động hóa, chuyên môn hóa. Hai nhà máy của Thiên Long được xây dựng ở khu công nghiệp Tân Tạo trên diện tích 1,6 ha và khu công nghiệp Long Thành rộng ba ha chịu trách nhiệm sản xuất những mặt hàng chủ lực như bút viết (bút bi, bút gel, bút Butter Gel, bút lông bi, bút chì…), văn phòng phẩm (giấy, mực in, dụng cụ văn phòng…), dụng cụ học sinh (tẩy, thước kẻ, bảng, vở…), dụng cụ mỹ thuật (bút lông tô màu, sáp màu, sáp dầu, màu nước, bút chì màu…).   Các nhà máy này đều được trang bị dây chuyền công nghệ cao, đảm bảo sự đồng bộ giữa các công đoạn sản xuất. Nếu ở công đoạn tạo phẩn vỏ sản phẩm được thực hiện trên máy ép nhựa có sự hỗ trợ của robot công nghiệp, lắp ráp trên máy lắp tự động thì ở khâu thiết kế được thực hiện với máy móc nhập từ Nhật Bản, Hàn Quốc có phần mềm thiết kế chuyên dụng và khâu đóng gói với hệ thống băng chuyền đảm bảo đóng gói liên tục. Điều đó đem lại độ chính xác của các sản phẩm Thiên Long đạt từ 95 đến 100% theo tiêu chuẩn kỹ thuật.      Sự vượt trội về chất lượng và mẫu mã sản phẩm đa dạng đã đem lại cho Thiên Long thành công không chỉ trên thị trường nội địa mà còn trên thị trường quốc tế. Sản phẩm của Thiên Long đã có mặt tại hơn 40 nước ở khắp năm châu lục, đồng thời là đối tác của một số hãng lớn trên thế giới… Ông Cô Gia Thọ cho biết, Thiên Long lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với thực tế: “Ở một số quốc gia khó thâm nhập thị trường sẽ áp dụng hình thức đặt hàng ODM (Original Design Manufacturing) nhưng ở các quốc gia có điều kiện thuận lợi hơn, chúng tôi bán sản phẩm với thương hiệu Thiên Long”.   Nhận định về thành công của Thiên Long, nhiều chuyên gia còn cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng nữa là sự đổi mới trong điều hành, quản trị doanh nghiệp. Thiên Long đã áp dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (SAP ERP – Systems Applications & Products Enterprise Resource Planning). Với việc áp dụng hệ thống này, Thiên Long có thể vận hành một cách trơn tru và đồng bộ sáu công ty trực thuộc, hai nhà máy, hơn 100 nhà phân phối, chuỗi cửa hàng với hơn 40.000 điểm bán sỉ, lẻ văn phòng phẩm mang thương hiệu FlexOffice chuyên bán lẻ văn phòng phẩm và cung cấp dịch vụ kỹ thuật văn phòng, cùng nhiều văn phòng đại diện ở nước ngoài.   Bên cạnh dó, hệ thống sản xuất – kinh doanh của tập đoàn Thiên Long cũng được vận hành theo tiêu chuẩn quản lý quốc tế: ISO 9001 (quản lý chất lượng), ISO 14001 (quảm lý môi trường), OHSAS 18001 (quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp), SA 8000 (trách nhiệm xã hội), ISO 17025 (kiểm soát phòng thí nghiệm).   Trong quá trình phát triển, Thiên Long đã giành được không ít giải thưởng trong nước và quốc tế. Một trong những giải thưởng mà Thiên Long tự hào nhất là được người tiêu dùng bình chọn danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao 18 năm liền.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập đoàn Việt Úc nuôi tôm siêu thâm canh      Câu chuyện về “nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính” đã được ông Đặng Quốc Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Việt – Úc giới thiệu trong nhiều hội nghị, hội chợ để mong mô hình mới hiệu quả này được nhân rộng ở các vùng nuôi tôm Việt Nam.       Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính đã được Tập đoàn Việt – Úc triển khai đầu tiên tại xã Vĩnh Thịnh với quy mô 50 ha, được chia làm 414 ao nuôi, mỗi ao rộng 500m2, mật độ thả giống từ 200 – 500 con/m2, có thể nuôi 3 vụ/năm, tổng vốn đầu tư 180 tỉ đồng. Tất cả các ao đều được áp dụng quy trình sản xuất nhà màng của Israel và công nghệ hệ thống lọc nước tuần hoàn của Đức và Mỹ…  Với công nghệ hiện đại, không ô nhiễm môi trường, một héc ta nuôi tôm có thể cho năng suất 120 – 240 tấn/năm, gấp 60 – 80 lần nuôi tôm theo mô hình nuôi công nghiệp, bán công nghiệp thông thường. Đây là công nghệ nuôi tôm với trình độ cao, cho phép người nuôi tôm có thể kiểm soát chặt chẽ hơn, quản lý tốt hơn dịch bệnh nên không chỉ cho hiệu quả năng suất cao mà còn đảm bảo vấn đề chất lượng dinh dưỡng con tôm và đảm bảo an toàn thực phẩm do ứng dụng công nghệ vi sinh, không sử dụng chất kháng sinh. Vì vậy khi xuất khẩu, con tôm của tập đoàn Việt – Úc không phải lo ngại các rào cản kỹ thuật cũng như các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường khó tính như châu Âu, Nhật, Mỹ… Đó là điều cần thiết để doanh nghiệp có thể gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường.  Khi đề cập đến mô hình nuôi tôm của tập đoàn Việt – Úc, bí thư tỉnh ủy Bạc Liêu Võ Văn Dũng cho biết, đây là mô hình đầu tiên đưa ra giải pháp công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn, đầu tư bài bản với quy trình nuôi khép kín từ con giống đến thu hoạch xuất khẩu, ít tác động đến môi trường và bước đầu cho thấy tính bền vững. “Nghề nuôi tôm cũng như ngành xuất khẩu tôm phát triển ngày càng mạnh, môi trường là vấn đề đáng ngại, trong khi đất nuôi tôm không thể nở ra thêm. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ cao để nuôi tôm trong diện tích nhỏ cho năng suất cao là thành công lớn”, ông Dũng đánh giá.  Trả lời phỏng vấn báo chí, ông Đặng Quốc Tuấn nhấn mạnh đến vấn đề năng suất, khi mỗi năm, sản lượng đạt 120-240 tấn/ha, cao gấp 60-80 lần so với nuôi công nghiệp và bán công nghiệp thông thường (năng suất thường chỉ đạt 2 đến 3 tấn/ha). Việc tạo ra quy trình khép kín từ giống, thức ăn đến chế biến, xuất khẩu cũng góp phần làm giảm nhiều chi phí đầu vào, qua đó đem đến giá thành cạnh tranh của sản phẩm.   Mô hình nuôi tôm công nghệ cao mà tập đoàn Việt-Úc áp dụng còn có ưu điểm có thể phù hợp với những cơ sở nuôi tôm quy mô nhỏ, có thể triển khai ngay tại Bạc Liêu và các vùng nuôi tôm lớn như Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng…          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập luyện có thể giảm thiểu các triệu chứng trầm cảm, thúc đẩy hiệu quả trị liệu      Việc tập luyện trong vòng nửa giờ có thể làm giảm bớt các triệu chứng của trầm cảm trong ít nhất 75 phút sau tập luyện và khuếch đại lợi ích của điều trị, theo kết quả của hai nghiên cứu ở trường đại học bang Iowa.      “Có nhiều nghiên cứu trước đây về hiệu quả của tập luyện thể thao lên sức khỏe tâm thần nói chung, sử dụng nhiều biện pháp đo đạc sức khỏe. Những gì chúng tôi quan tâm, cụ thể là tập luyện – một buổi tập luyện – ảnh hưởng đến các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở mức độ như thế nào”, Jacob Meyer, một giáo sư về vận động học ở ISU và là tác giả của cả hai công bố, nói.  Với nghiên cứu thứ nhất, các nhà nghiên cứu mời 30 người lớn đang trải qua các giai doạn trầm cảm nghiêm trọng khác nhau 1. Những người tham gia điền vào một bảng khảo sát điện tử ngay vào thời điểm trước tập, nửa bài tập và sau 30 phút đạp xe cường độ trung bình hoặc tập luyện tại chỗ, và sau khi tập 25 phút, 50 phút và 75 phút. Những người thực hiện các bài tập đạp xe đạp trong phòng thí nghiệm sau đó một tuần thực hiện các bài tập tại chỗ dài 30 phút và ngược lại.  Mỗi bảng khảo sát đều có những câu hỏi tiêu chuẩn và các quy mô khác nhau để đo lường các triệu chứng trầm cảm và các vấn đề nhận thức khác, bao gồm bài kiểm tra về hiệu ứng Stroop; những người tham gia phản hồi màu sắc của chữ viết hơn là ý nghĩa của từ (ví dụ chỉ dấu màu đỏ khi họ thấy từ ‘xanh’ hiển thị dưới mực in màu đỏ).  Các nhà nghiên cứu sau đó dùng dữ liệu khảo sát để dò bất cứ thay đổi nào trong ba nhóm rối loạn trầm cảm chính: trạng thái tâm trạng trầm uất (ví dụ buồn, thất vọng, u sầu), mất hứng thú (vi dụ khó trải nghiệm cảm giác hài lòng từ các hành động thưởng thức) và chức  năng nhận thức suy giảm (ví dụ như suy nghĩ khó khăn, lẫn lộn các mẩu thông tin cùng một thời điểm).  Trong suốt thực nghiệm đạp xe, trạng thái tâm trạng chán nản của người tham gia được cải thiện trong suốt 30 phút tập và giữ vững đến 75 phút sau đó. Việc cải thiện với tình trạng mất hứng thú bắt đầu giảm xuống 75 phút sau tập nhưng vẫn còn tốt hơn các mức độ của tình trạng mất hứng thú của người tham gia trong nhóm không hề tập luyện.  Với chức năng nhận thức, những người tham gia thực hiện bài tập đạp xe trải qua bài kiểm tra về hiệu ứng Stroop vào giữa các bài tập nhưng chậm hơn vào thời điểm 25 phút và 50 phút sau tập, khi so với nhóm không tập. Meyer nói cần nghiên cứu thêm để hiểu về biến đổi này.  “Điều thú vị là các lợi ích với tâm trạng trầm uất và tình trạng mất hứng thú có thể lưu lại quá 75 phút. Chúng ta có thể cần thực hiện nghiên cứu trong thời gian dài hơn để xác định khi nào chúng hết hiệu lực nhưng các kết quả này cũng cho biết một cánh cửa thời gian sau tập có thể có một cách dễ dàng hơn hoặc hiệu quả hơn với những ai mắc trầm cảm”, Meyer nói.  Ông cho rằng có thể bao gồm cả một bài trình tày, thực hiện một bài kiểm tra – hoặc sẽ là liệu pháp điều trị. “Có thể chúng ta tổng hợp được những lợi ích ngắn hạn mà mình biết sẽ đến với những bài tập rèn luyện thể chất và các lợi ích dài hạn rõ ràng với liệu pháp điều trị để đem về biện pháp can thiệp hiệu quả nhất chứ”, Meyer thử nêu vấn đề.  Khi tham gia nỗ lực trả lời câu hỏi này, Meyer và nhóm nghiên cứu của ông đã thực hiện thêm một nghiên cứu thử nghiệm riêng biệt 2.  Một nửa số người tham gia tập bài tập của mình (ví dụ đạp xe, đi bộ, chạy bộ…) trong vòng 30 phút với cường độ vừa phải. Các nhà nghiên cứu đánh giá hiệu quả với dữ liệu Fitbit, sau đó đề nghị họ tham gia một giờ thực hiện liệu pháp về hành vi nhận thức hàng tuần. Những người khác đơn giản là thực hiện các bài tập theo ngày của mình trước khi áp dụng liệu pháp điều trị.  Sau tám tuần thực hiện, những người tham gia của hai nhóm đều có tình trạng được cải thiện nhưng những người tập luyện trước khi trò chuyện với một nhà điều trị đều giảm thiểu triệu chứng trầm cảm.  Các nhà nghiên cứu cho biết, các kết quả chỉ dấu tập luyện có thể khuếch đại lợi ích điều trị với người trưởng thành mắc trầm cảm.  “Với một nhóm nhỏ, chúng tôi không thể thực hiện được bài kiểm tra thống kê thông thường nhưng các kết quả vẫn hứa hẹn”, Meyer nói. “Về tổng thể, nghiên cứu thử nghiệm này cho thấy một số hiệu quả lên bệnh trầm cảm và một số cơ chế về liệu pháp điều trị”.  Một trong số những cơ chế đó liên quan đến mối liên hệ giữa một bệnh nhân và nhà điều trị. Nếu ai đó cảm thấy sụ kết nối với nhà điều trị của mình, Meyer nói, họ sẽ có cơ hội tiếp tục điều trị cao hơn và các bài tập có tác động lớn hơn.  Trong nghiên cứu thử nghiệm, những người tham gia tập luyện trước khi bước vào điều trị về hành vi nhận thức cho biết có kết nối nhanh hơn, mạnh hơn với người điều trị cho mình. Các nhà nghiên cứu cho rằng, phát hiện này cho thấy rèn luyện thể chất có thể tiếp nhiên liệu hoặc “ươm mầm’ cho não gắn kết với thách thức nhiều hơn về mặt cảm xúc có thể diễn ra trong buổi trị liệu.  Các nhà nghiên cứu hi vọng sẽ mở rộng hơn các nghiên cứu mang tính sáng tạo trong những năm tới để hiểu rõ hơn về cách rèn luyện thể chất có thể tích hợp với một điều trị hiệu quả hoặc can thiệp hiệu quả với những người trải nghiệm trầm cảm kinh niên.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-03-depression-symptoms-boost-effects-therapy.html  https://www.healthline.com/health-news/a-30-minute-workout-may-help-relieve-some-symptoms-of-depression  ————————————————–  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1469029222000401  2. https://www.frontiersin.org/articles/10.3389/fpsyt.2022.799600/full    Author                .        
__label__tiasang Tập trung hóa và nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa* (Phần 1)      Nhà kinh tế người Hungary János Kornai nổi tiếng bởi những bài viết phân tích về nền kinh tế chỉ huy ở một số nước Đông Âu. Dưới đây là bài viết mới nhất của ông về chủ đề tập trung hóa trong quản lý nhà nước qua bản dịch&#160;của TS Nguyễn Quang A.    Gần đây ở một đại học địa phương người ta chỉ cho tôi các hạn mức tuyển sinh mà khoa kinh tế học nhận được từ bộ cho năm học này, dẫn từ các ngưỡng điểm tuyển quốc gia: “sinh viên đào tạo cơ bản 750, sinh viên cao học (thạc sĩ) 120,” và vân vân. Hầu như tôi đã không muốn tin vào mắt mình. Đúng, chính xác là 120 sinh viên cao học, và không phải 119 hay 121. Tôi đã tìm những người có trách nhiệm ở các đại học khác, những người đã xác nhận rằng họ cũng đã nhận được các hạn mức bằng số chi tiết tương tự từ cơ quan cấp trên. Chẳng ai trong số những người đại học có thể cho tôi biết chính xác các con số này hình thành thế nào. Họ đoán rằng từ đâu đó “ở trên” đã sinh ra từng con số hạn mức toàn quốc liên quan đến mỗi ngành đào tạo và họ phân các con số này xuống cho các tổ chức.   Những ký ức của 55 năm trước chợt hiện ra trước tôi; năm 1956 tôi chuẩn bị luận văn phó tiến sĩ của mình, và tôi đã thường xuyên nói chuyện với các giám đốc doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nhẹ. Họ bất mãn kể lại, họ đã nhận được các chỉ thị kế hoạch chi tiết đến thế nào từ bộ. Bộ quy định cho họ rằng, trong năm tới – phân ra từng loại vải và từng loại khổ rộng – phải sản xuất bao nhiêu mét vuông vải len hay vải bông. Họ la, “ở trên” người ta lấy từ đâu ra các con số cụ thể này giữa những bất trắc của sản xuất và thị trường tiêu thụ? Dựa vào những nghiên cứu của mình luận văn của tôi đã hoàn thành, mà sau những sự kiện sóng gió ban đầu, đã được xuất bản năm 1957 với tiêu đề Sự tập trung quá mức của quản lý kinh tế.  Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ đó. Suốt hàng thập kỉ qua, ngay trong mơ cũng đã chẳng xuất hiện trong tôi ý nghĩ rằng đề tài của cuốn sách đầu tiên của mình, sự tập trung quá mức, lại trở nên có tính thời sự. Thế mà điều này đã xảy ra. Chủ đề của bài báo của tôi là xu hướng tập trung hóa có thể cảm nhận thấy mạnh mẽ trong hai mươi tháng vừa qua…   Các thí dụ  Tôi bắt đầu không với những định nghĩa, mà với các thí dụ. Tôi trình bày không theo thứ tự quan trọng, mà theo các khu vực của xã hội và của nền kinh tế. Khi chúng ta đến cuối các thí dụ, sẽ trở nên rõ ràng đối với bạn đọc rằng tôi gọi cái gì là “xu hướng tập trung hóa”.  CÁC BỘ. Chính phủ bị thay thế năm 2010 đã có 12 bộ; trong chính phủ mới số bộ giảm xuống còn 8.     NGÂN HÀNG QUỐC GIA HUNGARY. Quốc hội trong công việc gấp rút cuối năm đã thông qua luật ngân hàng trung ương mới. Thoạt nhìn, luật cốt yếu mới này chỉ quy định những thay đổi hình thức. Thế nhưng trong thực hành chính trị thực sự, trong thực tế nó cho phép chế độ Fidesz nắm việc chỉ đạo chiến lược của Ngân hàng Quốc Gia Hungary, vì ý chí của Fidesz chiếm ưu thế trong các hoạt động của cả chính phủ, của quốc hội mà nó nắm đa số hai phần ba, lẫn của tổng thống cộng hòa. Quyền quyết định của Hội đồng Tiền tệ, hội đồng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành chính sách tiền tệ, tăng lên. Thủ tướng có thể đề xuất – bên cạnh hai phó chủ tịch từ trước đến nay – thêm một phó chủ tịch nữa; đề xuất của ông ta hiển nhiên sẽ được tổng thống chấp nhận. Bốn thành viên mới đã lọt vào Hội đồng Tiền tệ rồi dưới chính phủ Orbán; bây giờ có thể bổ nhiệm thêm hai thành viên nữa. Số người của họ chiếm đa số, và các thành viên được chế độ Fidesz bổ nhiệm còn có thể có đa số mạnh hơn trong một hội đồng, nơi các quyết định được đưa ra bằng đa số phiếu. Vị trí của chủ tịch Ngân hàng Quốc gia lung lay. Các quy định quá độ của Luật cơ bản mới cho phép việc hợp nhất Ngân hàng Quốc gia và Cơ quan Nhà nước Giám sát các Tổ chức Tài chính Hungary. Bất luận việc hợp nhất sẽ có hữu ích về mặt chuyên môn hay không, nó tạo cơ hội cho việc hình thành một tổ chức được hợp nhất, một “siêu cấu trúc” mà người ta có thể bổ nhiệm lãnh đạo mới đứng đầu nó và hạ cấp chủ tịch Ngân hàng Quốc gia thành phó chủ tịch. Không ai biết liệu các luật mới liên quan đến ngân hàng trung ương sẽ có sống lâu hay không. Bài báo của tôi không xét việc phỏng đoán. Trong mọi trường hợp, chỉ riêng sự thực rằng các luật đặc biệt quan trọng này đã được thông qua bất chấp những sự phản đối từ trong nước và nước ngoài, chứng minh sức mạnh của xu hướng tập trung hóa, tức là quyết tâm của ban lãnh đạo cao nhất tập trung tất cả quyền lực vào tay mình.  CÁC CƠ QUAN GIÁM SÁT VÀ ĐIỀU TIẾT. Trước khi thay đổi chính phủ, Ủy ban Ngân sách đã có bộ máy nghiêm túc làm việc song song với Bộ Tài chính; đã phải thực hiện những công việc tính toán tương tự – nhưng độc lập với Bộ Tài chính – như các tính toán được tiến hành trong bộ máy chính phủ. Họ đã chấm dứt sự song song, về sau Ủy ban Ngân sách không còn bộ máy phân tích riêng của mình.  Trước đây có bốn ombudsman (ủy viên [thanh tra] độc lập của quốc hội) hoạt động song song nhau1. Dưới chế độ mới sẽ có một ombudsman duy nhất. Trước kia các ombudsman lên tiếng với tư cách lương tâm sống động của các công dân – bây giờ hoạt động này trở thành một phần hoạt động của bộ máy nhà nước.  Dưới thời chính phủ trước, Thanh tra Bảo hiểm Y tế đã được thiết lập, với các nhiệm vụ khác với của ÁNTSZ (Cục Sức khỏe Nhân dân và Quân y – Állami Népegészségügyi és Tisztiorvosi Szolgálat – National Public Health and Medical Officer Service) và Bộ Y tế khi đó. Bây giờ người ta chấm dứt Thanh tra – phạm vi quyền hạn của nó một phần được giao cho các cơ quan khác, một phần còn bỏ trống.   CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG. Lực lượng Bảo vệ Hải Quan và Tài chính được hợp nhất với Cục quan Kiểm soát Thuế và Tài chính để hình thành Cục Thuế và Hải quan Quốc gia.    Trung Tâm Chống Khủng bố được thành lập kết hợp chức năng của nhiều tổ chức tách biệt trước đây. Cựu cận vệ chính của Thủ tướng Orbán Viktor được bổ nhiệm chỉ huy Cục này.    Hội đoàn Bảo vệ Trật tự Hungary được thành lập dưới hình thức “nghiệp đoàn chủ nghĩa” kỳ lạ, nửa-nhà nước. Tất cả các thành viên của các tổ chức bảo vệ bắt buộc phải tham gia Hội đoàn này, mà nó hoạt động như một cơ quan bảo vệ quyền lợi. Sự ủy nhiệm này ở mức độ nào đó sẽ đẩy các tổ chức công đoàn khỏi quá trình đại diện.     CÁC CHÍNH QUYỀN TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG. Luật chính quyền tự quản địa phương mới tước đi nhiều nhóm nhiệm vụ lớn của chính quyền tự quản địa phương. Tôi nhấn mạnh riêng rằng trong tương lai toàn bộ lĩnh vực giáo dục, y tế và phòng chống tai họa sẽ thuộc về trách nhiệm của chính phủ trung ương.  Phần lớn các cơ quan quản lý nhà nước địa phương được gộp vào các cơ quan chính quyền cấp tỉnh, từ các cơ quan đất đai, đến các tổ chức bảo hiểm, và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng. Đứng đầu các cơ quan này là các phái viên chính phủ do thủ tướng bổ nhiệm.     TƯ PHÁP. Cho đến nay mạng lưới tòa án được chỉ đạo bởi một hội đồng độc lập với hình thức tự quản đặc thù. Hội đồng này bị thay bởi Cơ quan Tòa Án Toàn quốc, mà lãnh đạo của nó do Quốc hội (tức là trong trường hợp này do lãnh đạo của đảng nắm quyền) bổ nhiệm. Bây giờ một cách tình cờ là vợ của một trong những nhân vật ảnh hưởng nhất của Fidesz đảm nhiệm trọng trách này, bà đích thân quyết định về việc bổ nhiệm và cất nhắc các thẩm phán. Bà quyết định vụ nào do tòa nào xử.     TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG. Từ việc hợp nhất nhiều cơ quan hình thành một cơ quan tối cao về các vấn đề truyền thông đại chúng, với tên gọi đầy đủ là Nhà chức trách Quốc gia về Truyền thông đại chúng và Truyền tin, có phạm vi quyền hạn rộng lớn từ theo dõi nội dung của các kênh truyền hình và phát thanh đến phân chia tần số. Bên cạnh nó, có một hội đồng, cái được gọi là Hội đồng Truyền thông Đại chúng, mà các thành viên của nó toàn là người của nhóm chính trị trong chính phủ.  Trước đó các kênh TV và phát thanh do nhà nước sở hữu và được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước đã hoạt động tách biệt với nhau, cũng vậy là Thông tấn xã Nhà nước. Bây giờ các tổ chức này được hợp nhất thành một trung tâm khổng lồ được gọi là Quỹ Hỗ trợ Dịch vụ Truyền thông đại chúng và Quản lý Tài sản (MTVA). Tổ chức tối cao này tập trung việc cấp tài chính, và không ít quan trọng hơn, có quyền chọn, thuê và sa thải cán bộ.    Trước khi sáp nhập, các ban biên tập đài truyền hình và phát thanh nhà nước tự chọn các nguồn tin của mình. Bây giờ tất cả chúng buộc phải dùng tin của văn phòng tin trung ương.  BẢO HIỂM. Cải cách trong các năm 1990 đã tạo ra hệ thống hưu bổng dựa trên ba “trụ cột”, cụ thể là bảo hiểm nhà nước bắt buộc, bảo hiểm tư nhân bắt buộc, và bảo hiểm tư nhân tự nguyện. Bây giờ chính phủ về cơ bản đã thủ tiêu trụ cột thứ hai, đã chiếm đoạt phần lớn tài sản của nó và đã tiêu hết một phần, còn các nghĩa vụ của nó về nguyên tắc được đẩy sang cho cột trụ thứ nhất, bảo hiểm nhà nước bắt buộc.   Các ngân hàng thương mại đã lập ra một tổ chức bảo hiểm đặc biệt, Quỹ Bảo hiểm Tiền gửi Toàn quốc, đảm bảo chi trả các khoản tiền gửi trong trường hợp có rắc rối trong khu vực ngân hàng. Quỹ này do các ngân hàng cấp kinh phí. Bây giờ, dưới áp lực của chính phủ các ngân hàng buộc phải giao việc quản lý tài sản của quỹ cho một cơ quan nhà nước, Trung tâm Xử lý Nợ Nhà nước (ÁKK).  CÁC DỊCH VỤ. Tại Budapest bảy công ty độc lập trước đây cung cấp các dịch vụ tắm chữa bệnh, vệ sinh đường phố, tang lễ và mai táng vân vân được hợp nhất thành một hãng. Siêu công ty mẹ này cũng đại diện cho thủ đô trong các doanh nghiệp dịch vụ được tư nhân hóa hoàn toàn hay một nửa (thí dụ các doanh nghiệp cung cấp nước và gas vân vân).  Thương nghiệp thuốc lá được quốc hữu hóa. Người ta giảm số vị trí bán lẻ thuốc lá từ 40.000 xuống còn 5.000.  Như tôi đã nhắc đến, các bệnh viện do các chính quyền tự quản cấp tỉnh duy trì cho đến nay, được chuyển sang cho chính phủ trung ương. Chúng ta ta có thể tính đồng thời đến sự thay đổi quan hệ sở hữu, đến việc sáp nhập và giải thể mà người ta sẽ tiến hành, mà do đó số các tổ chức sẽ giảm đi. Việc tổ chức lại tạo cơ hội để bổ nhiệm các lãnh đạo mới.    Việc loại bỏ nước thải bẩn của các nhà trong các khu chưa có cống rãnh thải nước bẩn của Budapest được hút và chở bằng xe bồn và một phần do các công ty tư nhân tiến hành, trong thời gian tới sẽ là nhiệm vụ của công ty thuộc sở hữu thành phố. Bằng khuyến khích vật chất mạnh mẽ người ta ép buộc sự tập trung việc hút chở bằng xe bồn: nếu người dân vẫn ủy thác cho hãng tư nhân hút chở nước bẩn họ phải trả gấp đôi: trả đầy đủ giá một lần cho công ty tư nhân và một lần nữa cho công ty của thành phố.     GIÁO DỤC, VĂN HÓA, KHOA HỌC, GIẢI TRÍ. Như tôi đã nhắc đến, các trường phổ thông và trung học trước đây thuộc sở hữu của các chính quyền tự quản địa phương chuyển thành sở hữu của chính phủ trung ương. Nhưng trước việc này người ta đã tổ chức lại việc điều khiển các trường gimnázium (các trường trung học hướng đại học) do thủ đô sở hữu rồi. Việc quản lý chúng đã được tập trung; đã hình thành Tổ chức Kinh tế của các gimnázium (GGSZ). Trước kia việc bổ nhiệm giáo viên là quyền của hiệu trưởng; bây giờ cần sự đồng ý của GGSZ. Trước kia mỗi trường gimnázium tự cai quản hạn mức tài chính của mình. Bây giờ mỗi trường gimnázium nhiều nhất có thể quyết định chi vài ngàn forint “tiền tiêu vặt” mà không cần cho phép trước của GGSZ. Đến khi các trường gimnázium quen với tổ chức mới, có thể kỳ vọng sự tập trung hóa thêm, bởi vì các trường gimnázium bây giờ chuyển sang thuộc sở hữu của chính phủ trung ương.  Theo luật cốt yếu về giáo dục công, chúng ta hấp tấp tiến về hướng chương trình giảng dạy đồng đều, tập trung. Tính độc lập của giáo viên hầu như chấm dứt; 90 phần trăm phải theo chương trình bắt buộc và chỉ có 10 phần trăm là chương trình tự chọn. Trước kia, các trường do chính quyền địa phương sở hữu đã có quyền tự do lớn hơn để điều chỉnh chương trình giảng dạy của mình cho hợp với các điều kiện địa phương, bây giờ người ta muốn ép buộc sự đơn điệu.  Cho đến nay các đại học cũng không hoàn toàn tự trị. Bây giờ sự nửa tự trị này sẽ giảm một cách đáng kể. Trước kia hiệu trưởng được bổ nhiệm qua quá trình hai bước. Hội đồng trường chọn từ nhiều ứng viên và người mà cuối cùng hội đồng lựa chọn được chính phủ bổ nhiệm. Chính phủ chỉ có thể bổ nhiệm người do hội đồng trường đề xuất. Chính phủ có quyền phủ quyết đề nghị của đại học, nhưng rất ít khi sử dụng khả năng này. Từ nay sẽ khác. Hiệu trưởng sẽ do chính phủ lựa chọn và bổ nhiệm, trong quá trình chuẩn bị các hội đồng của đại học chỉ có quyền bày tỏ ý kiến; ngay cả nếu không đồng ý với sự lựa chọn, thì cũng không có quyền phủ quyết. Cũng như trước, tổng thống sẽ đóng dấu ấn vào văn kiện bổ nhiệm. Nói cách khác, khâu mấu chốt của quá trình lựa chọn được chuyển từ đại học sang tay của chính phủ trung ương.  Làn sóng tập trung hóa quét qua mạng lưới các viện nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary. Các viện nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội có uy tín cao đã hoạt động độc lập và tách biệt suốt nhiều thập kỷ được dồn vào các nhóm và đặt dưới sự lệ thuộc vào các trung tâm mới được tạo ra.  Sự sáp nhập và tập trung hóa xảy ra trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp, các trung tâm đào tạo chuyên môn hợp nhất xuất hiện.   Cho đến nay việc cấp tài chính công cho nhiều hoạt động liên quan đến nghệ thuật và khoa học và các nhiệm vụ phúc lợi xã hội được phân phối qua các quỹ công cộng. Một phần của các quỹ công cộng này tích tụ được tài sản đáng kể. Các quỹ công cộng này thể hiện các hình thức đặc thù của sự tự quản chuyên môn; các hội đồng quản trị (board of trustees) bao gồm các đại diện xuất sắc của ngành nghệ thuật hay khoa học liên quan, hoặc hoạt động xã hội, và họ quyết định về các khoản tài trợ theo tiếng gọi lương tâm chuyên môn của họ. Người ta đã chấm dứt các quỹ công cộng. Nhiệm vụ, tài sản và quyền quyết định về hỗ trợ của phần lớn các quỹ công cộng, cụ thể là của 24 quỹ, được chuyển vào tay các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  Viện 1956, một tổ chức độc lập trước đây, bị sát nhập vào Thư viện Quốc gia Szécheny. Tương tự, Cơ quan Lưu trữ Lukács đã mất tính độc lập; nó bị gộp vào thư viện của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.  Người ta bổ nhiệm một phái viên chính phủ đứng đầu nhà hát Opera Quốc gia Budapest. Không phải bộ trưởng văn hóa, mà đích thân thủ tướng quyết định việc lựa chọn phái viên chính phủ.    Người ta sáp nhập Bảo tàng Mỹ thuật và Gallery Quốc gia Hungary.     Người ta sáp nhập nhà hát cabaret Mikroszkóp (diễn các vở vui nhộn) và nhà hát Thália, mà chủ yếu là nhà hát để giới thiệu các tác phẩm nghiêm túc.    Hội đồng thành phố Budapest đã có nghị quyết nguyên tắc để sáp nhập Trung tâm văn hóa thanh niên Petőfi (Petőfi Csarnok) với Nhà Nghệ thuật Đương đại Trafó.    Gallery Budapest sẽ sát nhập vào Bảo tàng Lịch sử Budapest.    Người ta tập trung việc tài trợ nhà nước cho sản xuất film. Phái viên chính phủ được chỉ định, Vajna Andy, đòi cho mình “quyền cắt cuối cùng” đối với các film được nhà nước tài trợ chủ yếu.  Cái gì là chung trong các thí dụ này?    Tôi đã nêu ra ba mươi ba thí dụ. Sẽ không khó để phát hiện ra các thí dụ thêm. Bên cạnh những thay đổi “lớn”, có tác động với sức mạnh kịch tính, như việc xóa bỏ trụ cột thứ hai của hệ thống hưu bổng, hay việc thiết lập cơ quan trung ương đầy quyền lực đe dọa nghiêm trọng đến tính độc lập của tòa án, hoặc luật ngân hàng nhà nước mới, tôi đã chủ ý liệt kê những sự thay đổi “nhỏ”, thí dụ như việc đặt hai gallery hay hai cơ sở giải trí dưới các Thủ trưởng chung. (Tuy các sự kiện sau rõ ràng cũng làm xáo trộn cuộc sống của những người liên quan). Sở dĩ bên cạnh những chấn động có sức mạnh to lớn, tác động đến cuộc sống của hàng triệu con người, tôi cũng liệt kê những thay đổi vụn vặt, nực cười, hầu như kỳ quái nữa, là để minh họa: sự tập trung hóa và sự sáp nhập thực sự đã trở thành chứng cuồng (mania). Bất cứ đâu cảm thấy có vấn đề gì đó, thì phương thuốc bách bệnh là tập trung hóa và hợp nhất. Tôi muốn cho thấy rằng các cú đẩy tăng tốc của những sự biến đổi đã khuấy tung hoạt động quen thuộc của nhiều loại cơ quan đến thế nào trong cơ cấu xã hội. Việc tái tổ chức đột ngột xảy ra một cách đồng thời ở nhiều nơi đến như vậy khiến chúng ta có lý để sử dụng công thức Hegelian: sự thay đổi số lượng đã chuyển thành sự thay đổi chất lượng; toàn bộ những thay đổi cùng nhau đã làm thay đổi triệt để hệ thống kiểm soát.    Hình thức pháp lý của những sự thay đổi – sự nhanh trí đáng chú ý! – là khác nhau theo từng mục. Có nơi người ta hợp nhất các tổ chức độc lập, có nơi quy trình bổ nhiệm thủ trưởng được thay đổi, có nơi bằng việc mở rộng số các thành viên hội đồng tạo khả năng tăng cường của ảnh hưởng trung ương, có nơi điều lệ bị thay đổi. Thế thì, hình mẫu, “pattern”, nào là chung trong cả ba mươi ba sự kiện?    Mọi bộ máy nhà nước nhất thiết được tập trung. Sự tập trung hóa bên trong bộ máy nhà nước mạnh lên, nếu (i) người cấp trên có ít người cấp dưới hơn, và vì thế với năng lực chỉ đạo và kiểm tra cho trước, cấp trên có khả năng chỉ huy họ một cách dứt khoát hơn. Sự tập trung hóa mạnh lên nếu (ii) số mức trên-dưới giảm đi. Sự tập trung hóa mạnh lên nếu (iii) các mệnh lệnh trở nên chi tiết hơn. Sự tập trung hóa mạnh lên nếu (iv) việc bổ nhiệm những người do lãnh đạo chính trị tối cao lựa chọn vào tất cả các vị trí quan trọng trở nên dễ dàng hơn. Xét toàn bộ xã hội, sự tập trung hóa tăng lên nếu (v) các hoạt động trước đây được tiến hành một cách tự trị, bên ngoài bộ máy nhà nước, rơi vào sự kiểm soát nhà nước một phần hay toàn bộ. Và, cuối cùng, sự tập trung hóa tăng lên nếu (vi) các quá trình trước đây xảy ra bên ngoài bộ máy nhà nước và không có sự giám sát và can thiệp của nhà nước, sau này bị nhà nước giám sát và can thiệp.    Trong tất cả các thí dụ, có thể chỉ ra ít nhất một trong những thay đổi loại (i) đến (vi) theo hướng tăng cường sự tập trung hóa. Có thí dụ, trong đó không chỉ có một, mà có hai hay nhiều thay đổi thuộc loại (i)–(vi). Kết luận này cho phép tôi khẳng định: chúng ta đối mặt không phải với một sưu tập ngẫu nhiên của những thay đổi. Hướng của tất cả những thay đổi được liệt kê này có thể cảm nhận được rõ ràng: tăng cường sự tập trung hóa. Tôi gọi quá trình biến đổi sắc nét, có thể cảm nhận được rõ ràng, có tác động sâu sắc và nhanh đến chóng mặt này là xu hướng tập trung hóa.    Tôi đưa vào một tên gọi trung lập, không chứa phán xét giá trị, theo tinh thần của cách tiếp cận thực chứng, khoa học. Phân tích chuẩn tắc và phán xét giá trị sẽ diễn ra muộn hơn trong bài báo. Ngay cả những người tán thành những thay đổi này cũng chẳng bõ công đi phủ nhận sự tồn tại của xu hướng tập trung hóa như vậy.    Một số giữa các hình thái, các quy định pháp lý và các hình thức tổ chức mới hình thành sau những thay đổi, có thể thấy thấy ở cả các nền dân chủ phương Tây nữa, nhưng ở đó bản thân chúng không làm tan rã các nền tảng của nền dân chủ. Nét đặc thù của sự biến đổi hai mươi tháng ở Hungary là, cùng một lúc rất nhiều yếu tố chuyển động theo hướng tập trung quá mức và hủy hoại các cơ chế tự trị, những thay đổi rất nhiều loại, và tự tăng cường lẫn nhau này đã hợp thành một xu hướng.  —  * Központosítás és kapitalista piacgazdaság đăng trên nhật báo Népszabadság ngày 28-1-2012, Nguyễn Quang A dịch từ nguyên bản tiếng Hungary có tham khảo bản dịch tiếng Anh.   1. Đó là các omdusman về (1) các quyền công dân, (2) bảo vệ dữ liệu, (3) các quyền thiểu số, và (4) các thế hệ tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập trung hóa và nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (Phần 2)      Sau khi đối sánh các đặc trưng của sự tập trung và phi tập trung, Kornai János kết luận rằng,&#160;tai họa chủ yếu nhất với mô hình tập trung là nó càng hoạt động hiệu quả thì càng có nguy cơ trở thành  công cụ của sự thống trị bạo ngược.      Các lý lẽ ủng hộ và chống đối  Những người đề xướng chính thống và những người thực thi chính của những thay đổi này thường viện dẫn: hình thức tổ chức trước đây, cơ chế trước đây đã không hiệu quả, đã dẫn đến lãng phí và đến việc xử lý công việc chậm chạp. Họ lập luận rằng có một phương thuốc vạn năng để chữa trị căn bệnh hiệu quả thấp và chậm chạp: hợp nhất các đơn vị, loại bỏ sự trùng lặp, giảm bớt các năng lực thừa – tóm lại, tăng cường sự tập trung hóa.  Từ cổ xưa đã xảy ra tranh luận về các lợi ích và bất lợi của tập trung hóa và phi tập trung hóa. Xuất hiện ở đây trong ký ức của tôi các tên như Adam Smith, Marx, Hayek và Lenin, hay các bậc vĩ đại của kinh tế học toán lý thuyết, Arrow và Hurwicz, những người được giải Nobel Kinh tế. Tôi đã tin, một cách ấu trĩ, rằng ở Hungary các cuộc tranh luận này chỉ có thể xuất hiện lại trong các giờ lịch sử lý thuyết kinh tế, như món lý thú trí tuệ. Đâu phải thế! Cuộc tranh luận, có vẻ, lại hợp thời. Như một sự hâm nóng, tôi ở lại trên bình diện đẹp và trong sạch của phân tích lý thuyết.   Cần điều hòa các hoạt động con người phức hợp. Nhiều loại cơ chế có thể tham gia vào việc này, trong số ấy bây giờ chúng ta nhấn mạnh đến hai cơ chế.    Một là cơ chế điều phối dọc. Hãy tưởng tượng một hình chóp. Trên đỉnh là Thủ trưởng Tối cao, người đưa ra các mệnh lệnh để chỉ huy, chẳng hạn, 10 Thủ trưởng dưới ông ta. Dưới tầng này lại trải ra một tầng rộng hơn của hình chóp, mà ở đó có thể thấy các Phó Thủ trưởng. Mỗi Thủ trưởng có vài Phó Thủ trưởng dưới quyền, trong khi mọi Phó Thủ trưởng chỉ dưới quyền một Thủ trưởng duy nhất. Khi chúng ta đi xuống dọc hình chóp theo hướng các Phó-Phó Thủ trưởng và Phó-Phó-Phó Thủ trưởng, các mức rộng hơn và rộng hơn và số những người tham gia tăng lên. Cuối cùng chúng ta đến đáy hình chóp. Ở đây là tất cả những người nhận các mệnh lệnh từ trên, nhưng họ không chỉ huy bất cứ ai cả. Lý thuyết gọi kết cấu này là “hệ thống thứ bậc hoàn hảo”. (Này, những người say mê tập trung hóa chắc hẳn khát khao nghĩ tới khả năng này!) Hoàn hảo, bởi vì mọi quan hệ trên-dưới là rành mạch; không có sự phụ thuộc kép hay nhiều lần.    Mô hình khác là cơ chế điều phối ngang. Cơ chế này hoạt động trên bình diện phẳng; không ai là cấp trên của ai ngay từ đầu. Những người tham gia phải thỏa thuận với nhau.    Mô hình đầu tiên là trường hợp thuần khiết của tập trung, mô hình thứ hai là trường hợp thuần khiết của phi tập trung.    Trong mô hình thứ nhất các bàn tay là hữu hình, là có thể nhìn thấy: lệnh của Thủ trưởng là bàn tay cảnh báo và – nếu cần – đe dọa. Trong trường hợp thứ hai, với cách diễn đạt tuyệt vời của Adam Smith, “bàn tay vô hình” điều khiển sự điều phối.    Hình thái giống như mô hình thứ nhất được hiện thân trong nhà nước (tuy chẳng bao giờ ở dạng thuần khiết như mô hình lý thuyết mô tả): còn hai lĩnh vực giống mô hình thứ hai. Một là thị trường, nơi sự điều phối được thúc đẩy bởi động cơ của những lợi ích vật chất có thể nhận thức rõ, và được thể hiện trong những thỏa thuận giữa người mua và người bán. Lĩnh vực được điều phối ngang khác bao gồm các tổ chức phi vụ lợi, các hội và hiệp hội tự do khác nhau, các nhóm “xã hội dân sự”. Ở đây các động cơ thúc đẩy là hỗn hợp của các khuyến khích vật chất và phi vật chất.    Chúng ta hãy đối sánh các đặc trưng của sự tập trung và phi tập trung.  1.    TÍNH HIỆU QUẢ NGẮN HẠN. Sự phi tập trung hiển nhiên đi cùng với nhiều loại lãng phí. Hoạt động bên cạnh nhau là các tổ chức, mà phạm vi hoạt động của chúng lấn (gối lên) nhau. Phần đáng kể của năng lực không được sử dụng. Như thế việc hợp nhất nhiều tổ chức và đặt chúng dưới một trung tâm chung mang lại hầu như ngay lập tức các khoản tiết kiệm về chi phí hành chính, một phần nhân lực có thể sa thải ngay lập tức. (Thí dụ về điểm này là chi phí hành chính của bảo hiểm tư nhân được phi tập trung hóa hiển nhiên cao hơn chi phí hành chính của hệ thống bảo hiểm nhà nước tập trung.)    Lý lẽ này luôn luôn vang lên một cách đắc thắng. Thế nhưng bởi vì người ta thường áp đặt các biện pháp tập trung hóa một cách vội vã, với nhịp độ cưỡng bức, không có sự thảo luận cặn kẽ với các chuyên gia am tường nên việc loại bỏ sự chồng lấn, việc cắt chi phí hành chính, và sự tăng ngắn hạn về hiệu quả dẫu có tạo ra kết quả, thực ra riêng nó là một lý lẽ khá yếu. Phải cân nhắc cẩn trọng các lý lẽ pro (ủng hộ) và contra (phản đối) khác nữa.  2.    CẠNH TRANH. Trong chừng mực có thể, sự tập trung hóa loại bỏ cạnh tranh. Ngược lại, thành phần cốt yếu của phi tập trung hóa là sự ganh đua. Đúng, cạnh tranh đi cùng với những chi phí lớn. Cần phải quảng cáo, phải thuyết phục người mua để mua hàng hóa hay dịch vụ của mình chứ không phải của người khác. Cần đến những năng lực tự do để đáp ứng tức thì nhu cầu của người mua. Tất cả những việc này cột nhiều nguồn lực lại – còn nền kinh tế tập trung không cần đến những nguồn lực dư này. Thế nhưng cạnh tranh là động lực to lớn. Nó thúc đẩy, thậm chí hầu như ép buộc để đưa ra các sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh – đấy là động cơ của quá trình đổi mới sáng tạo làm thay đổi cuộc sống của chúng ta. Nền kinh tế cạnh tranh, phi tập trung đã sinh ra tất cả những đổi mới quan trọng của thế kỷ vừa qua.    Cần đến cạnh tranh không chỉ trong đời sống kinh tế hiểu theo nghĩa hẹp, mà cả trong đời sống tinh thần nữa, trong đào tạo, khoa học và nghệ thuật. Một kinh tế gia tỏ ra rất triển vọng đã tốt nghiệp ở Đại học Harvard, và đã rất muốn dạy ở trường này. Họ đã không nhận ông. Rồi ông đã đăng ký ở trường kỹ thuật gần đó, ở Massachusetts Institute of Technology (MIT), nơi kinh tế học đã không được dạy trước đó, và ông đã đề nghị bắt tay vào tổ chức việc dạy kinh tế học. Ông đã được nhận được cơ hội. (May cho ông đã không có việc với Bộ Nguồn lực Quốc gia Hungary, nơi người ta biết trước chính xác: cần bao nhiêu đại học, bao nhiêu khoa, bao nhiêu học sinh.) Tên ông là Paul A. Samuelson; ông đã trở thành nhà kinh tế học nổi tiếng nhất Hoa Kỳ; ông đã là kinh tế gia Mỹ đầu tiên được giải Nobel. Ngày nay MIT là một trong những nơi nổi tiếng nhất về đào tạo kinh tế. Kể từ đó, các khoa kinh tế học của hai trường đại học cạnh nhau đã ganh đua nhau, cạnh tranh với nhau (“chồng lấn” nhau), chúng đua nhau xem ở đâu sinh viên giỏi hơn, ở đâu có những kết quả nghiên cứu có giá trị hơn, và lôi kéo thầy giáo của nhau. Bất chấp sự ganh đua có sự hợp tác giữa họ; thí dụ họ tổ chức các seminar chung.  3.    SỰ THÍCH NGHI VÀ CHỌN LỌC. Các nhà tập trung hóa Hungary tin rằng, giữa bốn bức tường của cơ quan họ có thể lên kế hoạch một cách chính xác, rồi trong các luật và các quy định cứng nhắc khác họ có thể xác định các cấu trúc không có sự chồng lấn, được giải thoát khỏi những chi phí hành chính tăng lên nhiều lần. Chúng ta hiểu được các lợi thế khổng lồ của sự phi tập trung hóa, nếu chúng ta theo dõi chuyển động của xã hội. Các tổ chức mới liên tục xuất hiện, một số tổ chức hợp nhất với nhau, các tổ chức khác chia tách, còn các tổ chức khác thì chấm dứt. Các tổ chức nhỏ, vừa và lớn sinh ra và tồn tại cạnh nhau; một số lớn lên, số khác co lại. Trong nhiều khía cạnh, tất cả những thứ này giống sự tiến hóa và chọn lọc tự nhiên quan sát được trong thế giới sinh học.    Không phải một giám khảo, người đưa ra quyết định về các gói thầu, đã chọn ra rằng Google hay Apple hãy hình thành và hãy lớn lên (thành các công ty khổng lồ). Không có bộ nào đã quyết định liệu Metropolitan và Bảo tàng Guggenheim, nằm cách nhau vài trăm mét ở New York, có nên hợp nhất hoặc vẫn là các tổ chức tách biệt hay không.    Các sản phẩm, các công nghệ, các phương pháp quản lý, các nguyên lý giảng dạy, các hình thức tổ chức, và bản thân các tổ chức nếu có sức (khả năng) sống thì sống; còn nếu không có khả năng thích nghi và tự sửa chữa thì sớm muộn sẽ chết. Cần đến sự tự tin kiêu ngạo đến thế nào, đến lòng tin vào sự không thể bị nhầm của bản thân mình lớn đến bao nhiêu để cho Cơ quan hoặc Thủ trưởng tự mình quyết định về sự sống và cái chết! Hơn nữa, họ đã không làm từ từ, thử nghiệm đi thử nghiệm lại như xảy ra trong các quá trình tiến hóa, mà họ đã ép buộc những thay đổi có tính chất quyết định và hầu như không thể đảo ngược được với nhịp độ chóng mặt, trong (vài) ngày hoặc thậm chí trong (vài) giờ.   4.     THÔNG TIN. Một điều kiện cho sự hoạt động không sai sót của điều phối tập trung là, người ra quyết định tiên đoán chính xác về diễn tiến của tình hình. Khi đó có thể đưa ra quyết định không sai sót, và cũng chẳng cần đến thứ khác, ngoài việc thực hiện toàn bộ quyết định với bàn tay sắt. Đúng, nhưng cuộc sống đầy những sự không chắc chắn và thông tin thì không chính xác. Thậm chí, nhiều khi không chỉ có lỗi ngẫu nhiên ẩn nấp trong chúng, mà cả sự bóp méo có chủ ý nữa. Chẳng hạn các lợi ích của cấp dưới có thể gắn với chuyện phủ nhận rằng có rắc rối (hay tùy vào lợi ích, rắc rối có thể bị thổi phồng). Thủ trưởng không biết sửa các quyết định sai của mình, bởi vì người ta không dám bảo ông ta rằng Thủ trưởng đã sai.    Từ khía cạnh này, sự phi tập trung hóa có nhiều ưu thế. Người thu thập thông tin và người sử dụng thông tin thường là cùng một người, cho nên có lợi ích cá nhân để thu thập thông tin càng chính xác càng tốt. (Rất tóm tắt và hơi đơn giản hóa đi, đấy là lý lẽ chính của Friedrich von Hayek để ủng hộ phi tập trung hóa.) Ai quyết định dựa trên thông tin sai sẽ phải trả giá: bị loại khỏi cạnh tranh, không được chọn lọc. Những người cởi mở với thông tin, với sự phê phán, và với sự tự sửa chữa, thì tồn tại.    Tóm tắt các lý lẽ được phác họa ở các điểm 2, 3 và 4, có thể khẳng định rằng điều phối ngang phi tập trung có hiệu quả trong dài hạn hơn rất nhiều so với điều phối dọc tập trung. Ai cân nhắc một cách khách quan các lý lẽ kể trên (tất nhiên được trình bày chi tiết hơn nhiều trong các tài liệu khoa học phong phú về đề tài này), người đó sẽ nhận ra rằng, khẳng định này là đúng dựa hoàn toàn vào cơ sở logic. Nhưng cũng có bằng chứng thực tế có ý nghĩa và mạnh hơn thế rất nhiều. Hệ thống xã hội chủ nghĩa, ở dạng cổ điển, Stalinist của nó, là cấu trúc lịch sử đã đạt gần nhất đến “hệ thống có thứ bậc hoàn hảo”, đến mô hình về điều phối dọc cùng cực. Lenin đã tuyên bố rằng hệ thống Soviet có thể được coi như một nhà máy khổng lồ duy nhất. Ban đầu, trong ngắn hạn nó đạt những kết quả ngoạn mục… Và cuối cùng đã sụp đổ! Về tính hiệu quả dài hạn của nó (về mặt đổi mới sáng tạo, năng suất và mở rộng sản xuất liên tục), nó tụt lại rất xa đằng sau thành tích của hệ thống tư bản chủ nghĩa phi tập trung.    Tính hiệu quả của hệ thống là không thể thiếu được cho sự gia tăng phúc lợi vật chất. Nhưng cũng có các giá trị khác nữa, mà chúng ta cần tính đến.  5.     SỰ TỰ QUYẾT, TỰ THỰC HIỆN VÀ TỰ TRỊ. Tôi dẫn ra việc học tập làm thí dụ. Thật rõ ràng là quan trọng để cho cung và cầu lao động hài hòa với nhau; cơ cấu, mức độ đào tạo, ngành nghề vân vân của lực lượng lao động mới ra trường đừng tách khỏi cơ cấu, mức độ đào tạo, ngành nghề… cần thiết để lấp vào những chỗ làm việc có thể kỳ vọng. Tại một hội thảo ở Thụy Điển tôi đã nghe thấy dòng tư duy sau đây. Bố của Mozart đã có thể suy luận thế này: Salzburg đầy nhạc sỹ. Nannerl, con gái cả, đã học đánh đàn dương cầm thành thục. Có lẽ tốt hơn Wolfgang bé nhỏ nên trở thành một thợ cả giỏi, đang thiếu thợ cả lành nghề.    Trên cơ sở đạo đức nào người ta đưa ra khung khổ cứng nhắc cho việc những người trẻ hãy học cái gì? Cái gì xảy ra ở đây với quyền tự chủ của cá nhân và gia đình?    Có thể là, các bộ máy tự quản địa phương hay chuyên môn, các hội đồng tự trị mắc phải nhiều sai sót. Cũng có thể là, một cơ quan nhà nước siêu-thông minh có thể đưa ra những quyết định tốt hơn thay cho chúng. Nhưng trong con mắt của nhiều người có một giá trị nội tại của việc để cho một làng, một thành phố, một nghề, một ngành nghệ thuật, hay một cộng đồng khác, tự mình có thể quyết định về công việc riêng của mình. Bibó István đã viết về “các giới nhỏ của tự do”, khi ông ủng hộ sự tự quản.  6.     CHỦ NGHĨA GIA TRƯỞNG VÀ TỰ CHĂM LO. Điều phối nhà nước tập trung càng bao trùm toàn bộ xã hội nhiều hơn, thì nhiệm vụ chăm lo cho tất cả công dân trong mọi khía cạnh càng đổ dồn lên vai nhà nước nhiều hơn. Tập trung hóa và chủ nghĩa gia trưởng là anh em sinh đôi, phi tập trung hóa và tự-chăm lo cũng vậy.     Ai thích dựa vào nhà nước, trong mắt của người ấy thì khẳng định trên là lý lẽ ủng hộ tập trung hóa. Thế nhưng không phải tất cả mọi người cảm thấy vậy. Có những người không tin vào nhà nước chăm lo; và những kinh nghiệm sốt dẻo còn khiến nhiều người hơn trở nên ngờ vực. Biết đâu nhà nước lại không giữ lời hứa? Biết đâu nếu hóa ra là người cha không chăm sóc tử tế con mình? Và còn một quan điểm nữa: nhiều người chúng ta không thích, nếu người ta coi mình là trẻ con. Chúng ta gánh vác trách nhiệm về chính mình. Chúng ta muốn chăm lo cho chính mình và cho gia đình mình, ngay cả nếu việc này kéo theo nhiều gánh nặng hơn. Việc này đẩy bảo hiểm tư nhân, khả năng dùng tín dụng để trang trải các chi phí đào tạo, và các cơ chế phi tập trung hóa khác lên phía trước. Tất nhiên không cần đến sự đối sánh gay gắt không cần thiết: giá trị đạo đức của sự đoàn kết kêu gọi nhà nước đảm nhiệm phần lớn việc giúp đỡ những người bệnh, những người già, những người có vị thế bất lợi, những người nghèo túng. Thế nhưng, sự tự chăm lo, trách nhiệm vì chính mình là lý lẽ quan trọng để ủng hộ mức độ cần thiết của phi tập trung hóa và để chống lại mức độ thái quá của tập trung hóa.  7.     SỰ ĐA DẠNG. Sự đa dạng, diversity: một nét đẹp của cuộc sống là, chúng ta muôn màu muôn vẻ. Không nhất thiết cần lùa một cách không tự nhiên nhiều cơ sở nghiên cứu, nhiều trường học vào một chuồng cừu – cũng chẳng cần ngay cả khi, nếu sự đứng riêng của chúng có thể đi kèm các chi phí thêm. Mỗi cái có lịch sử riêng của mình, truyền thống riêng của mình và ký ức tập thể riêng của mình; chúng đã cùng nhau sống qua những thời kỳ khó khăn và đã hình thành ý thức cộng đồng của chúng. Những sự tái tổ chức mang tính kỹ trị với cái đầu lạnh phá tan các cộng đồng gắn bó, tước mất quá khứ riêng của các tổ chức và thay vào đó tạo ra môi trường xa lạ một cách không tự nhiên.     8.    TIÊU CHUẨN CHÍNH TRỊ. Cho đến nay tôi đã cân nhắc các tiêu chuẩn hiệu quả và đạo đức. Tôi đã để tiêu chuẩn chính trị cuối cùng. Hãy để các điểm 1–7 sang một bên trong chốc lát và giả sử rằng có bộ máy được bôi (dầu) trơn, hoạt động trôi chảy. Câu hỏi: ai ở trên đỉnh? Tài liệu chuyên môn lý thuyết về đề tài thường đặt ra câu hỏi này, và khi đó sử dụng khái niệm sau: “nhà độc tài nhân từ” đứng ở trên đỉnh của hình nón.    Và cái gì xảy ra, nếu nhân từ nhưng tầm thường, nhiều lần mắc sai lầm? Hoặc nếu chẳng nhân từ đến thế, mà cũng có các tính xấu: hà hiếp, thích sự nịnh bợ, không dung thứ sự phê phán, ngoan cố, cố chấp, và không có khả năng thích nghi với tình hình, thì sao?    Đấy có lẽ là tai họa chủ yếu nhất với mô hình tập trung. Nó càng hoạt động hiệu quả, thì mối nguy hiểm càng lớn rằng nó trở thành công cụ của sự thống trị bạo ngược. Các cơ chế dựa vào sự phi tập trung hóa, theo cách của chúng, tạo ra những “giám sát và đối trọng” đối lại trung tâm có quyền lực vô hạn. Càng nhiều cơ chế phi tập trung và chúng càng sống động, thì chúng tạo ra đối trọng càng mạnh đối lại đỉnh của hình chóp tập trung.  Nguyễn Quang A dịch từ nguyên bản tiếng Hungary,  có tham khảo bản dịch tiếng Anh  —  Phần 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=4921      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập trung hóa và nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (Phần 3 – hết)      Phân tích quyền lực và sự tập trung hóa, Kornai János đi đến kết luận cho rằng sự thống trị chuyên quyền, sự tập trung hóa không kìm được và sự bành trướng quá đáng của hoạt động nhà nước sẽ dẫn đến sự trì trệ, và ngăn cản tăng trưởng bền vững của nền kinh tế..  &#160;      Quyền lực và sự tập trung hóa  Việc đánh giá các lý lẽ ủng hộ và chống đối dựa trên tám tiêu chuẩn kể trên thuộc lĩnh vực phân tích chuẩn tắc. Chúng ta cân nhắc, dựa trên các quan điểm khác nhau, xem sự tập trung hóa là “tốt” hay “xấu”. Chúng ta hãy quay lại với cách tiếp cận thực chứng xem xét các hiện tượng có thể quan sát được trên thực tế và các nguyên nhân và hậu quả của chúng.  Nỗ lực chính của chính phủ do Orbán Viktor (OV) lãnh đạo đã là, nắm lấy qyền lực càng trọn vẹn càng tốt, và một khi đã làm được việc ấy, thì giữ nó càng lâu càng tốt. Quyền lực là mục đích và tất cả các công cụ, phương tiện lệ thuộc vào mục đích này. Nếu chúng ta hiểu đúng quan hệ Machiavellian này của mục đích và các phương tiện, đấy là sự giải thích nhân quả quan trọng nhất của xu hướng tập trung hóa. Động cơ quyền lực là lý do đủ cho việc xây dựng hình chóp OV càng bao trùm và càng hữu hiệu càng tốt. Động cơ thật sự của những thay đổ là để cho các đòi hỏi sau được thực hiện càng nhiều càng tốt:  ●    Chuỗi mệnh lệnh từ đỉnh xuống dưới càng ngắn càng tốt.  ●    Hãy để mỗi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Phó-Phó Thủ trưởng là người tin cậy của riêng chúng ta. Một lý do đáng để tổ chức lại tất cả các cơ quan, bởi vì đây là cơ hội để bổ nhiệm người của riêng chúng ta làm lãnh đạo của Trung tâm hay Trung tâm phụ mới được hình thành. Không cần phải dừng lại ở các vị trí, mà tập quán của các nền dân chủ gọi là “những người được bổ nhiệm chính trị – political appointees”. Chúng ta đưa những người tin cẩn của mình vào các vị trí càng thấp càng tốt bên trong hình chóp.  ●    Tiêu chuẩn bổ nhiệm chính là sự trung thành đối với đỉnh của hình chóp. Tất nhiên tài chuyên môn cũng hữu ích, nhưng tiêu chuẩn chính là sự trung thành vô điều kiện và sự vâng lời với “cấp trên”.      ●    Bất luận hai mức trên/dưới có quan hệ với nhau là các mức nào, sự phụ thuộc hãy là các lệnh phải được thực hiện không chần chừ! Thậm chí, mức dưới đừng có đợi cho đến khi nhận được chỉ thị; cần biết các thượng cấp mong đợi gì ở mình và làm điều đó theo sự đề xuất riêng của mình.  ●    Thủ trưởng không cần thảo luận nhiều với thuộc cấp. Như trong quân đội, trong hình mẫu của điều phối dọc: bản chất là thông tin, các mệnh lệnh, đi từ trên xuống dưới, chứ không phải kiến nghị, lời khuyên từ dưới lên trên, nói chi đến sự phê phán.  ●    Điều kiện của sự hoạt động của cơ chế điều phối dọc tập trung là kỷ luật. Kỷ luật phải được áp đặt bằng các công cụ hành chính. Những kẻ không vâng lời phải bị loại khỏi chức vụ. Cũng chẳng có hại gì, nếu những người chẳng hề là những người không vâng lời vẫn bị đuổi khỏi nơi làm việc trong các làn sóng thanh trừng. (Hãy nhìn những sự sa thải hàng loạt liên quan đến việc tổ chức lại truyền thông công cộng hay các văn phòng ombudsman.) Tôi còn nghe về các trường hợp, khi chính quyền đã bám theo các công chức bị sa thải và ngăn cản họ tìm việc mới. Nỗi sợ bị sa thải khiến nhiều người trở nên khúm núm, thà nén sự phản đối vào trong lòng còn hơn là mạo hiểm việc làm của mình.  ●    Tất nhiên, điều phối dọc không chỉ trừng trị hay đe dọa, mà cũng thưởng nữa. Vì sự phục vụ trung thành người ta được thưởng lương cao được quy định một cách hào phóng, các khoản thưởng cuối năm, các khoản ưu đãi đặc biệt không bằng tiền.  Động cơ quyền lực không chỉ xuất hiện ở đỉnh của hình chóp. Nomenclatura (đội ngũ cán bộ cấp cao) mới gồm “những người của chúng ta” ngấm sâu vào xã hội từ trên xuống dưới ở các tầng ngày càng sâu hơn. Các thành viên của nó, các Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Phó-Phó Thủ trưởng, bản thân họ cũng đạt tới quyền lực. Họ phải ngoan ngoãn với cấp trên, nhưng có thể sai khiến cấp dưới. Và sau khi đạt tới quyền lực đó, họ bám lấy quyền lực ấy. Thủ trưởng Tối cao ngự trên đỉnh chóp không đơn độc: các lợi ích của ông ta là chung với “những kẻ có quyền lực” lớn, trung bình và nhỏ phụ thuộc vào ông ta – duy trì và giữ quyền lực.  Cuộc sống của nomenclatura mới ở các mức trên của hình chóp OV dễ dàng bởi vì họ không phải “triết lý” nhiều, không phải nghĩ đi nghĩ lại các thế lưỡng nan phức tạp. Họ phải hoàn thành cái mà chính phủ sai bảo hay kỳ vọng. Nếu rắc rối xảy ra, đã có sẵn sự miễn thứ cho các thủ trưởng vừa và nhỏ cấp dưới: “tôi không thể làm khác được, quyết định của cơ quan cấp trên đã sai.” (Lời lẽ thật quen: “tôi đã làm theo lệnh…”) Hơn nữa, có trong tay hệ tư tưởng kỹ trị làm yên lòng (xem tiêu chuẩn 1 của đoạn trước): “chúng tôi xây dựng và tăng cường tập trung hóa không phải vì quyền lực mà vì sự hiệu quả.”    Điều phối dọc, hệ thống mệnh lệnh thứ bậc, chẳng ở đâu và chẳng bao giờ đã hoạt động một cách trơn tru. Nó là một bộ máy cọt kẹt. Nếu rắc rối xảy ra, thì theo logic nội tại của cơ chế người ta tiếp tục tiến bước trên con đường tập trung hóa theo logic của hệ thống tập trung, các rắc rối càng dày đặc, thì càng phải dùng các biện pháp hành chính hơn.   Tất cả cái tôi vừa trình bày ở trên về các tính chất và logic bên trong của điều phối dọc, thực ra là quen biết đối với những người nghiên cứu hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vấn đề là, chế độ Fidesz đã nhầm thời đại. Sự tập trung hóa mạnh đã có thể hoạt động, tốt hay tồi, và tồn tại ở Liên Xô trong bảy mươi năm và ở Đông Âu trong bốn mươi năm – nhưng chỉ bởi vì trong khắp khu vực hệ thống xã hội chủ nghĩa đã thống trị. Hầu như đã không tồn tại sở hữu tư nhân, hầu như toàn bộ cơ chế thị trường đã bị loại bỏ, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hầu như cách ly khỏi thế giới tư bản chủ nghĩa. Còn bây giờ tình hình là khác. Làm sao chế độ Fidesz có thể cùng tồn tại với sự thực hiển nhiên rằng xu hướng tập trung hóa đã được tăng cường – nhưng không có hệ thống xã hội chủ nghĩa ở xung quanh? Làm sao hệ thống mệnh lệnh nhà nước có thể cùng sống với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa?     “Sự chung sống” làm xói mòn lòng tin  Không có nước tư bản chủ nghĩa nào trên thế giới lại không sống chung theo cách nào đấy với thị trường phi tập trung. Thị trường cũng chẳng họat động một cách vô độ, như những người được gọi là tân-tự do được cho là đòi hỏi như vậy (thực ra, không nhà kinh tế học minh mẫn nào lại đi mô tả cái như vậy). Nhà nước ở mọi nơi đều giám sát nền kinh tế ở mức độ nào đó, can thiệp vào nền kinh tế ở mức độ nào đó, đều cung cấp một số dịch vụ miễn phí, đều thực hiện sự tái phân phối nào đó, và đều tác động đến cầu thông qua các đơn hàng nhà nước. Và ở tất cả mọi nơi có sự ma sát, thậm chí xung đột trong sự cùng tồn tại của nhà nước và thị trường, xung quanh các điểm tiếp xúc giữa nhà nước và thị trường. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã phơi bày trên bề mặt vài hiện tượng nguy hiểm. Thí dụ, một số nước phát triển đã đi quá xa trong phi điều tiết khu vực tài chính của họ; việc áp đặt lại sự điều tiết và làm cho nó hiệu quả hơn được đưa vào chương trình nghị sự.  Sự cùng tồn tại giữa nhà nước và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chí ít ở trong điều kiện có thể chịu đựng được ở hầu hết các nước. Thậm chí, cũng có các nước, trong đó – giữa những ma sát nhỏ – mối quan hệ là có kết quả một cách dứt khoát. Một mặt, sự can thiệp của nhà nước làm nhẹ đi những khuyết tật của thị trường và khiến cho sự phân phối thu nhập công bằng hơn. Mặt khác, thị trường sửa một cách linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả các sai lầm của chính phủ. Nhưng các trường hợp may mắn này không phủ nhận sự quan sát chung rằng nhà nước và thị trường là hai cơ thể thuộc loại khác nhau, xa lạ với nhau; và sự chung sống của chúng là không dễ.  Là sai lầm đi tin rằng các yếu tố khác nhau của hoạt động nhà nước và các yếu tố khác nhau của hoạt động thị trường có thể kết hợp với nhau theo tỷ lệ tùy thích. Các biện pháp của chính phủ trong hai mươi tháng vừa qua đã luân phiên thay đổi một cách thất thường giữa các yếu tố của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, của tập trung hóa và phi tập trung hóa, và của hoạt động nhà nước và hoạt động thị trường. Quốc hội đã vội vã chấp nhận hơn một đề xuất mà trong đó một điều khoản có dư vị “xã hội chủ nghĩa”, còn điều khoản khác lại có dư vị “tư bản chủ nghĩa”. Hệ thống được hình thành chẳng phải là “mô hình Hungary” có một không hai mà chúng ta có thể tự hào, và với nó chúng ta có thể nêu tấm gương cho thế giới đang mò mẫm trong bóng tối. Cấu trúc xã hội-kinh tế, mà trong đó chúng ta đang sống, là không mạch lạc, rõ ràng và đầy mâu thuẫn nội tại. Nó không thử dung hòa các nét có lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, mà chủ yếu nó lấy các đặc tính ít hấp dẫn nhất từ cả hai.  Từ quan điểm này, chúng ta hãy xem xét lần lượt từng đặc tính của các quá trình xảy ra trong hai mươi tháng vừa qua.  Những lời lẽ gay gắt đã được dùng để chống lại các chủ ngân hàng, các nhà đầu cơ và những kẻ phiêu lưu mạo hiểm, vay mượn các công thức chống chủ nghĩa tư bản phổ biến trên khắp thế giới, chủ yếu trước công chúng đông người trong nước. Ngày tàn của Phương Tây đang đến gần. Thế nhưng cũng xảy ra, khi người đứng đầu chính phủ hay bộ trưởng của ông ta gặp gỡ với các nhà kinh doanh Hungary và nước ngoài, các nhà đầu tư hay các chủ ngân hàng cho vay, thì lại nói với họ với dọng khách quan. Nếu phải kết luận chỉ dựa trên lời nói, thì sẽ khó để biết liệu chính phủ này là bạn hay là thù của chủ nghĩa tư bản.  Lời nói thì còn có thể dung thứ, nhưng cũng đã có những hành động không thể chấp nhận được đối với những người chân thành ủng hộ hệ thống tư bản chủ nghĩa. Đã được nhắc đến hàng trăm lần, nhưng từ quan điểm này thì hành động của chính phủ tịch thu các khoản tiết kiệm tư nhân được tích tụ trong các quỹ hưu bổng tư nhân vẫn là hành động bất công nghiêm trọng nhất. Các công dân không được bảo vệ đã mong đợi sự bảo vệ, sự chữa trị các tổn thương của họ, từ Tòa án Hiến pháp, nhưng họ đã bị bỏ rơi. Sự đối xử bất công nghiêm trọng này không thể được hòa giải; và trước hết việc này đã làm xói mòn lòng tin của công dân vào lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà từ các nhánh quyền lực này người dân mong đợi sự bảo vệ tài sản của họ chứ không phải sự tấn công.  Đúng, đã không xảy ra quốc hữu hóa hàng loạt, còn may cho chúng ta. Nhưng, sự bành trướng của khu vực nhà nước đang xảy ra một cách chầm chậm, gần như lén lút. Tình tiết đầu tiên, dẫu nhỏ nhưng gây hoảng sợ, đã xảy ra ở Pécs vẫn trong thời gian của chính phủ trước, khi thị trưởng mới thuộc đảng Fidesz đã sử dụng những người an ninh của mình để đuổi các quan chức của công ty vận hành hệ thống cung cấp nước do người Pháp sở hữu và đã nhúng tay vào cai quản công ty. Bằng các công cụ hợp pháp nhưng với các lý do không thể hiểu được từ quan điểm kinh tế, chính phủ đã mua lại phần lớn cổ phần của MOL, một công ty dầu khổng lồ, tức là chính phủ cũng bắt đầu “chơi chứng khoán”, mà ngay lập tức với khoản thua lỗ khá lớn. Muộn hơn, chính phủ chiếm được quyền sở hữu của công ty công nghiệp ô tô Rába ở thành phố Győr. Cho đến tận nay, các nhà kinh tế học cũng chẳng hiểu, cái gì đã khiến chính phủ tiến hành các bước đáng nghi này.  Ai cũng biết rằng đã xảy ra các giao dịch đáng ngờ về mặt pháp lý, kinh tế và đạo đức ở tất cả các nước hậu-xã hội chủ nghĩa trong quá trình tư nhân hóa có quy mô đồ sộ xảy ra sau sự thay đổi hệ thống. Nếu giả như chỉ bây giờ mới có thể phát hiện ra vụ này hay vụ kia đã không hợp pháp, thì có lẽ cần khởi động điều tra. Nhưng lòng tin vào tài sản tư nhân bị lung lay một cách nghiêm trọng nếu bây giờ, hai thập kỷ sau sự thay đổi chế độ, lại bắt đầu làn sóng tình nghi tổng quát, và việc điều tra hình sự đầy đủ và có phương pháp đối với toàn bộ quá trình tư nhân hóa. Mục đích của việc khấy lên này về quyền tài sản là gì? “Run sợ đi, chúng tao bám theo tất cả chúng mày!” – có phải họ muốn gây ra cảm giác bất an này đối với tất cả những ai đã kiếm được tài sản trong hai mươi năm vừa qua?  Không thể dung hòa với hoạt động bình yên của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nếu chính phủ, với tư cách người mua (lớn nhất, theo nhiều người chính phủ là người đặt hàng quá lớn!), phân biệt đối xử giữa những người bán tiềm năng, không trên cơ sở của các điều kiện cung ứng, mà trên cơ sở quan điểm chính trị và các quan hệ cá nhân. Ai cũng biết, có các “công ty thân Fidesz” (hệt như đã có các công ty “thân Đảng Xã hội Chủ nghĩa – MSZP” hay “thân Liên Đoàn Những người Dân chủ Tự do – SZDSZ”). Đôi khi có thể phát hiện quả tang sự phân biệt đối xử cả trong việc xây dựng luật nữa, thí dụ một số chuỗi cửa hàng nội địa được miễn “thuế khủng hoảng”. Khó nắm bắt hơn nhiều – tuy nhiên tồn tại – sự thiên vị trong đánh giá các hồ sơ đấu thầu cho các đơn hàng mua sắm của nhà nước. Hơn nữa, các nhà báo điều tra khẳng định một cách dứt khoát: “các vương quốc ngầm” sống phè phỡn, ẩn náu trong hậu trường kinh tế của Fidesz, nhận sự giúp đỡ từ lĩnh vực chính trị và đổi lại giúp đỡ các chính trị gia.  Một trong những nền tảng của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa là sự tôn trọng hợp đồng tư. Chính phủ, Quốc hội và các tòa án phải có nghĩa vụ ép buộc việc thực hiện các thỏa thuận. Thế nhưng, làm sao có thể mong đợi sự tôn trọng các hợp đồng tư giữa các bên tư nhân, nếu bản thân chính phủ, với tư cách một bên đối tác trong nhiều thỏa thuận quan trọng, lại nêu tấm gương xấu nhất? Khi bắt đầu thu “các loại thuế khủng hoảng”, chính phủ đưa ra hết lời hứa này đến lời hứa khác giữa các cuộc thương lượng – để đến bước muộn hơn người ta lại tuyên bố các lời hứa trước là vô hiệu. Họ bắt nạt các ngân hàng, chơi “trò chơi khăm” đối với họ.1 Khi tâm trạng (công chúng) dịu đi một chút, thì các đại diện của chính phủ tuyên bố: đây là nước đi cuối cùng – thế nhưng sau đó trò chơi vẫn tiếp diễn. Việc này đã xảy ra, trong nhiều giai đoạn, liên quan đến “thanh toán vĩnh viễn” của những người đã vay bằng ngoại tệ.  Vấn đề của các khoản vay bằng ngoại tệ là phức tạp khủng khiếp; tổng quan vấn đề đó không phải là nhiệm vụ của bài báo này. Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh một khía cạnh của vấn đề, mà liên quan đến chủ đề vừa được thảo luận. Để làm rõ nội dung tôi muốn nói, phân tích hai trường hợp thuần khiết là đủ; trong thực tế tồn tại một dải rộng ở giữa, trong đó các đặc tính của các trường hợp thuần khiết cực đoan pha trộn với nhau.  Một trường hợp thuần khiết là câu chuyện của hộ gia đình, buộc phải nhờ đến khoản vay như vậy để có được tình trạng nhà ở tốt hơn; do không thông thạo về mớ bong bong của các điều kiện vay ngân hàng. Chủ hộ đã cố gắng để hoàn trả khoản vay, nhưng không thể, bởi vì giữa chừng tình hình tài chính đã xấu đi, thí dụ bởi vì người chủ gia đình mất việc làm. Trong trường hợp như vậy, trên cơ sở nguyên tắc đoàn kết, xã hội cần giúp hộ gia đình.  Trong trường hợp thuần khiết khác, người đi vay đã hy vọng rằng việc mua bất động sản là việc kinh doanh sẽ có lời. Người đi vay đã có thể biết rằng khoản vay bằng bất cứ loại tiền nào đều đi cùng với rủi ro. Không thể chấp nhận được việc lăng mạ người như vậy với cách gọi họ là “kẻ đầu cơ”. Những việc kinh doanh như vậy thuộc về trình tự bình thường của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; không có chúng khu vực bất động sản chẳng có thể phát triển được. Nếu các nhà đầu tư kiếm được nhiều trong giao dịch, hãy để họ ta bỏ tiền lời vào túi. Nếu lỗ, đấy là rắc rối của họ. Vì thế người đó không đáng thương xót và về sau càng không thể đòi hỏi bất cứ sự giúp đỡ nào. Thế mà cách giải quyết “thanh toán vĩnh viễn” lại đã giúp cứu vớt chính các nhà đầu tư kinh doanh gặp vận đen như vậy khỏi tình trạng nguy khốn. Nhà nước đã buộc các ngân hàng sửa các hợp đồng tư nhân trước đây của họ một cách hồi tố, với sự tổn thất của chính ngân hàng, có lợi cho người đi vay. Thủ tục này và cùng với những sửa đổi bổ sung hợp đồng tương tự dưới sức ép của nhà nước đã gây ra những bất trắc pháp lý nguy hiểm. Đấy chính là một thí dụ cổ điển của cái tôi đã gọi trong công trình trước đây của mình là “ràng buộc ngân sách mềm”. Nếu bây giờ người ta cứu vớt hàng loạt những người gặp rắc rối tài chính, những người hy vọng được lời cao đã tự kéo mình vào tình thế nguy ngập, thì trong đầu óc của các nhà doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức chính quyền địa phương hay trong đầu óc công dân trung bình sẽ hình thành kỳ vọng: chẳng cần phải do dự nhiều, chẳng cần phải ngẫm nghĩ về rủi ro. Họ có thể bình tĩnh vay mượn, bất kể bao nhiêu – nếu gặp rắc rối, sẽ có sự cứu vớt. Ngay cả khi chữ ký của tôi ở đó trong một hợp đồng, chữ ký đó có đáng kể gì?  Sự tôn trọng hợp đồng tư và sự an toàn của luật cũng bị xói mòn bởi quy định pháp lý không thể chấp nhận được, mà theo đó bằng luật có hiệu lực hồi tố người ta cướp phần đáng kể của trợ cấp thôi việc của những người làm công ăn lương.  Người chủ cai quản công việc của doanh nghiệp mình. Phải tuân theo các luật có hiệu lực chung của nhà nước, nhưng nếu thỏa mãn các luật này, thì người chủ là người ra quyết định toàn quyền. Thế mà, chính phủ này vi phạm lặp đi lặp lại quy tắc chơi cơ bản này của chủ nghĩa tư bản. Những người được ủy quyền của Fidesz đã tuyên bố rằng các doanh nghiệp tư nhân phải đền bù cho người lao động bị thiệt hại do việc chính phủ đưa ra thuế thu nhập một thuế suất. Họ gửi các “biệt kích thuế” đến các công ty để kiểm tra xem việc này đã được tiến hành chưa. Thậm chí có cả sự đe dọa công khai: các công ty không thỏa mãn yêu cầu này sẽ không đủ tư cách thực hiện các đơn hàng nhà nước. Chính phủ can thiệp cả vào việc, cái gì được phép và không được phép bán ở trạm xăng, hay có bao nhiêu hiệu tân dược và quầy bán thuốc lá trong thành phố. Nhà nước can thiệp, với sức mạnh của luật, vào chuyện liệu có thể xây dựng trung tâm thương mại hay không.  Từ “lợi nhận” có dư âm miệt thị nặng nề trong tuyên truyền Marxist. Thế nhưng, ai học kinh tế học một cách tử tế, người đó biết rằng lợi nhuận và đầu tư liên quan mật thiết với nhau ở mức vĩ mô. Ở mức vi mô, hầu hết các doanh nghiệp (kể cả các ngân hàng) đảm bảo phần lớn các khoản đầu tư cơ bản của mình bằng lợi nhuận riêng. Chỉ một phần lợi nhuận được chia cho các chủ sở hữu, những người có thể tiêu số tiền này một cách tự do. Nếu họ muốn họ có thể sử dụng cho tiêu dùng hay cho đầu tư cơ bản của cá nhân. Thế mà bây giờ nếu nhà nước vồ lấy lợi nhuận của các doanh nghiệp theo kiểu chim kền kền, nó giáng một đòn nặng lên quá trình đầu tư. Các doanh nghiệp bị lỗ sẽ cố thử sống sót qua các thời kỳ sóng gió, thường bằng cắt giảm hoạt động, và nhiều trong số đó sớm muộn sẽ phá sản. Các “khoản thuế khủng hoảng” cao tàn nhẫn không thể được coi là các phương pháp “không chính thống” để khoan sức dân, như các công cụ mới sáng tạo đáng khen của chính quyền. Khi động cơ lợi nhận của các doanh nghiệp và các ngân hàng bị thương tổn nghiêm trọng, xét từ kết quả cuối cùng, thì các nguồn lực của sự tăng trưởng bền vững bị vơi đi. Các lời tuyên truyền của chính phủ, rằng nỗ lực chính của chính phủ là thúc đẩy tăng trưởng, là vô ích, nếu các hành động của nó làm giảm trầm trọng khả năng đầu tư từ lợi nhuận.  Tại điểm này, sự cùng tồn tại hòa bình giữa nhà nước và thị trường hầu như là không thể. Chính phủ tìm cách đưa nền kinh tế tư nhân, và hệ thống huyết mạch của nó, khu vực tài chính, vào dưới sự thống trị của mình. Nhà nước hình chóp tập trung tưởng tượng mình là có toàn quyền, và cố thử sai khiến bằng các công cụ riêng của nó – trong khi thị trường phân tán bao quanh nhà nước, không có khả năng hành động tập thể có tổ chức, không biết cách tự bảo vệ mình bằng các công cụ tương tự. Thế nhưng, dù sao thị trường vẫn phản ứng lại các cuộc tấn công. Bằng cách nào? Đoạn tiếp theo của bài báo thử trả lời câu hỏi này.    Hành động tùy tiện của nhà nước – và phản ứng của thị trường   Có thể là một sự so sánh khập khiễng, nếu hình ảnh của một trận đấu bóng bầu dục Mỹ hiện lên trước mắt chúng ta: hai đội lao vào nhau. Các cầu thủ của một đội cố xô ngã các cầu thủ của đội kia một cách không thương xót để cướp và giữ lấy bóng. Trong cuộc chiến đấu giữa chính phủ Orbán và nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, một đội, các nhà lãnh đạo chủ chốt của nhóm chính trị cầm quyền, thực sự đã sắp thành hàng, sẵn sàng chiến đấu, ở một bên. Nhưng bên kia thì sao? Chủ nghĩa tư bản Hungary không có đảng thống nhất, không có Bộ Chính trị, không có bộ chỉ huy của nó. Thậm chí tôi còn đi tiếp, các nhà tư bản thế giới không liên hiệp lại. Không có đảng chính trị tư bản thống nhất trên quy mô toàn cầu. Không có chính phủ thế giới, chủ nghĩa tư bản không có Gosplan, Ủy Ban Kế Hoạch Trung ương, của mình. Như thế, không có “đội” khác để mà có thể xô ngã các thành viên của nó và cướp lấy bóng.  Đã đến lúc dừng sự so sánh lấy từ thế giới thể thao. Tai họa là, chính phủ tin rằng nó ở trên sân bóng hay trong trận đấu box. Chúng ta hãy nói bằng ngôn ngữ của kinh tế học và lý thuyết xã hội. Một trong những đặc tính quan trọng nhất của chủ nghĩa tư bản chính là, nó bao gồm hàng triệu và hàng chục triệu người tham gia được nguyên tử hóa, những người cũng ganh đua với nhau, cũng đối mặt với nhau trong các xung đột, mâu thuẫn to nhỏ khác nhau. Vì thế, với sự nhấn mạnh khinh bỉ Marx đã coi thị trường là “vô chính phủ”. Vô chính phủ là sự cai trị không có người cầm quyền – và đúng là như thế.  Thị trường có ngôn ngữ riêng, hệ thống tín hiệu riêng của nó, mà khoa học đã nghiên cứu kỹ nhiều mặt. Một phần thông tin là tín hiệu giá cả, phần khác là các tín hiệu “số lượng”, các chỉ số về sản xuất, đầu tư, dòng vốn. Hãy ngó tới vài tín hiệu thị trường.  Một phần lớn nợ nhà nước của Hungary là trái phiếu nhà nước. Khi một gói trái phiếu đến hạn, nhà nước phải hoàn trả với lãi (suất thu nhập –yield–, theo ngôn ngữ kinh doanh). Khi đó nhà nước bán các trái phiếu mới, để lấy nguồn thu trả cho các trái phiếu đến hạn. Nếu nhà nước không thể trả nợ, thì xảy ra sự vỡ nợ nhà nước và các nhà đầu tư mất tiền của mình. Vì thế mua các trái phiếu nhà nước Hungary đi cùng với rủi ro. Những người mua trái phiếu nhà nước Hungary nghĩ gì về rủi ro đó? Là thừa đi hỏi họ và đòi câu trả lời được diễn đạt bằng ngôn từ. Câu trả lời thể hiện trong các chỉ số khác nhau, mà trong số đó tôi lựa ra hai để minh họa.  Một là phí bù rủi ro (risk premium). Nhà đầu tư có thể mua bảo hiểm, hãng bảo hiểm sẽ đền bù thiệt hại, nếu tai họa xảy ra và không đòi được nợ. Khả năng tai họa càng lớn, thì phí bù rủi ro càng cao. Phí bù rủi ro quốc gia (thí dụ, được đo bằng CDS – Credit Default Swap – Hoán đổi Vỡ Nợ) đối với trái phiếu nhà nước Hungary đã leo ngày càng cao. Trước khi chính phủ Fidesz nắm quyền, tháng 5-2010, nó vào khoảng 250 điểm cơ bản. Đến tháng Mười tăng lên trên 550 điểm cơ bản. Vào Tháng 1-2012 nó vượt quá 700 điểm cơ bản.  Một chỉ số quan trọng khác liên quan đến suất thu nhập trên trái phiếu nhà nước có thời hạn mười năm. Trước các cuộc bầu cử 2010 kỳ vọng đã là 6–7 phần trăm một năm. Những ngày này các nhà đầu tư chỉ sẵn sàng mua các trái phiếu như vậy nếu nhà nước Hungary trả suất thu nhập 9–10 phần trăm một năm. Đấy là chi phí cao chưa từng có! Một nền kinh tế hiện thời trì trệ, có lẽ có thể co lại, một lúc nào đó có thể lại tăng lên, nhưng chỉ có khả năng tăng chậm trong thời gian dài, không thể có khả năng tạo ra ngần ấy. Nếu các nhà hoạch định chính sách tài chính Hungary chấp nhận nó bằng cách thả nổi nhiều trái phiếu hơn, thì họ đẩy đất nước vào vòng xoắn ốc nợ nần, trong trường hợp xấu vào vòng xoáy nợ nần ngày càng gia tăng.  Đánh giá từ các tuyên bố chính thống, chính phủ không hiểu rõ: các chuyên gia trong và ngoài nước quyết định các khoản đầu tư thường không “đầu cơ” bằng tiền riêng của họ. Phần đông họ quản lý tiền của các tổ chức bảo hiểm, của các quỹ hưu bổng, của các ngân hàng đầu tư gom góp các khoản tiết kiệm tư nhân. Họ để ý đến lập trường và các lời khuyên của các nhà phân tích và các tổ chức đánh giá tín dụng. Một số nhà đầu tư – vì lợi ích của những người gửi tiền của họ, của các khách hàng bảo hiểm và những người về hưu – bắt buộc phải kiềm chế đầu tư vào các trái phiếu cấp thấp (junk bond). Phí hơi đi đi đấu khẩu với họ, với các nhà phân tích hay với các tổ chức đánh giá tín dụng. Ngay cả nếu đôi khi họ có sai, cái mà họ làm và quyết định là một thực tế kinh tế.  Có quan hệ kinh tế mật thiết giữa biến động của thị trường giấy tờ có giá của nhà nước và sự yếu đi của đồng forint. Những người nước ngoài bán trái phiếu đã mua bằng đồng forint để lấy đồng forint thì vội vã đổi các đồng forint đó sang euro hay dollar hay ngoại tệ khác. Giữa những biến động mãnh liệt, xu hướng là rõ: đồng forint đã yếu đi một cách dễ cảm nhận đối với tất cả các đồng tiền khác.  Albert Hirschman, trong cuốn sách tuyệt vời của mình, Exit, Voice and Loyalty, đã nhấn mạnh: cái tuyệt vời trong thị trường là, không cần đến việc nói thành lời. Không cần phải phản đối một cách đe dọa hay gào thét – bỏ đi một cách êm đẹp là đủ.   Khi trung tâm quản lý nợ nhà nước công bố đấu thầu bán các trái phiếu nhà nước mới và không xuất hiện những người mua (như đã xảy ra nhiều lần), thì việc này chứng tỏ: các nhà đầu tư trước kia đã vui lòng mua trái phiếu nhà nước Hungary nay đơn giản đã âm thầm bỏ đi.  Người phát ngôn chính phủ dọa nạt người dân rằng họ sẽ điều tra xem ai gây ra tiếng xấu cho đồng forint và sẽ trừng trị những kẻ phao tin đồn nhảm. Nhưng việc đó không làm ngừng dòng chảy của các khoản tiền gửi từ các ngân hàng Hungary sang các ngân hàng ngoại quốc. Việc này cũng làm giảm các nguồn tài chính cho đầu tư thực ở Hungary.      Các tín hiệu còn rõ ràng hơn về sự bỏ đi, là các con số phản ánh sự sụt giảm cho vay và sự giảm bớt hứng thú đầu tư. Mối nguy hiểm ở đây không chỉ là việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách Hungary – cân đối tài chính ngắn hạn – mà là triển vọng tăng trưởng dài hạn của đất nước.  Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cung tín dụng. Chắc chắn gánh nặng thuế giáng xuống khu vực ngân hàng ngày càng trầm trọng cũng góp phần làm cho cung tín dụng giảm liên tục. Mức giảm tín dụng cho các doanh nghiệp là đáng chú ý.  Trong thời gian dài, một động lực thúc đẩy tăng trưởng trong nền kinh tế Hungary đã là dòng chảy vào của vốn hoạt động (đầu tư trực tiếp nước ngoài, FDI). Suốt nhiều năm con số này dao động trong khoảng 3–10 phần trăm của GDP. Vẫn chưa có số liệu của cả năm 2011, nhưng số liệu của ba quý đầu năm là dấu hiệu đáng buồn: lần đầu tiên chỉ số chuyển sang âm, nói cách khác nhiều vốn hơn được rút khỏi đất nước so với số vốn chảy vào. Đấy là tín hiệu gây sửng sốt về sự rút lui thầm lặng.  Một con số quan trọng khác: đầu tư trong lĩnh vực cạnh tranh trì trệ, khối lượng trong ba quý đầu của năm 2011 không thay đổi so với mức cùng kỳ năm trước.   Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, giữa sự bốc đồng tùy tiện và phản ứng, là rõ. Lòng tin của giới kinh doanh đã bị làm xói mòn bởi tính đồng bóng và tính không thể lường trước của chính sách kinh tế Hungary, bởi sự không an toàn pháp luật, và bởi những sự vi phạm lặp đi lặp lại các quy tắc của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa – mà trong số đó không phải một sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý căn bản. Do sự hủy hoại lòng tin, nên các điều kiện tài chính cơ bản của sự hoạt động bình thường của nền kinh tế Hungary trở nên tồi đi, và cùng với việc đó triển vọng của sự tăng trưởng bền vững dài hạn cũng thế.   Ở đây tôi đi đến kết luận cuối cùng của bài báo. Chế độ Orbán đã đạt mục tiêu thật sự của nó: nó đã nắm lấy quyền lực một cách khắc nghiệt; với sự tăng cường tập trung hóa, với sự mở rộng quyền lực nhà nước nó đã nắm thêm các công cụ để làm cho sự cai trị hầu như vô hạn của nó có hiệu lực. Thế nhưng, sự thống trị chuyên quyền, sự tập trung hóa không kìm được và sự bành trướng quá đáng của hoạt động nhà nước là không thể dung hòa được với sự vận hành lành mạnh của một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đi theo con đường này sẽ không thể đẩy nền kinh tế Hungary ra khỏi tình trạng mắc bẫy, khỏi sự trì trệ, và không thể chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng bền vững. Và vì thế tất cả chúng ta – các thế hệ hiện tại và tương lai – sẽ là những người bị hại.   Các kỳ vọng của tôi về bài báo này  Còn nhiều điều muốn nói mắc nghẽn trong tôi. Sẽ tốt hơn, nếu có thể nói nhiều hơn về sự chung sống tồi tệ của nhà nước và thị trường, mà đã hình thành ở Hungary, và vì sao nó đã không mang lại tất cả những điều tốt mà hệ thống tư bản chủ nghĩa có khả năng: khuynh hướng đổi mới sáng tạo, tính năng động, sáng kiến và tinh thần khởi nghiệp. Thế nhưng, đáng tiếc nó lại mang theo tất cả những cái xấu bẩm sinh, các tính chất xấu di truyền của chủ nghĩa tư bản. Chính phủ và thị trường cùng nhau, tăng cường lẫn nhau, làm cho sự phân phối thu nhập càng thêm bất công, cùng nhau tạo ra và chịu đựng sự thất nghiệp hàng loạt khủng khiếp. Đáng tiếc không đủ chỗ để triển khai các ý tưởng này ở đây – bài báo của tôi thế cũng đã quá dài.  Trước hết tôi viết cho các bạn đọc, những người bản thân họ cũng là các nhà phê phán chế độ Fidesz. Đã có rồi một giới khá rộng đồng ý về vấn đề cơ bản: trong đất nước chúng ta thay cho nền dân chủ là chế độ chuyên quyền; nhà nước pháp trị đã yếu đi; các quyền con người bị xâm phạm. Tôi muốn bổ sung nhận thức chung này bằng các khẳng định của bài báo. Tôi hy vọng giúp họ trong việc hiểu tình hình và hình thành lập trường riêng của họ.  Tôi không tin có thể thuyết phục những người cuồng tín bằng những phân tích hay bằng các lý lẽ kinh tế hoặc đạo đức. Tôi không tin rằng, người ham mê theo Orbán Viktor, sau khi đọc bài báo của tôi sẽ đập tay lên trán và nói: tác giả đúng, sau đó ý kiến của tôi về chủ nghĩa tư bản, về sự tập trung hóa và phi tập trung hóa sẽ khác đi.  Thế nhưng biết đâu trong hàng ngũ của Fidesz và của bộ máy hành chính lại không có những người không cuồng tín? Nếu họ không ở gần đỉnh hình chóp – biết đâu sự tự trị còn lại vẫn quan trọng đối với họ? Biết đâu họ có khả năng thoát khỏi cách nhìn kỹ trị thiển cận, mà theo đó chỉ có kỷ luật nhà nước và tính hiệu quả và có lẽ sự tăng trưởng nhanh là đáng trọng, và không quan tâm đủ đến các lợi ích dài hạn? Biết đâu họ cũng sẵn sàng trải qua những thế lưỡng nan đạo đức khó khăn được nhắc đến trong bài báo?  Và tôi nói thêm: nhiều người chưa dứt khoát; họ thích một số và không thích một số thứ mà chính phủ làm. Nhiều người vỡ mộng với chính trị, đoạn tuyệt với công việc chung và thu mình lại, giữa các bức tường bao quanh chính họ, gia đình họ và môi trường hẹp của họ. Có thể tưởng tượng được là, giữa những người chưa dứt khoát đó có thể có vài người sẵn sàng suy nghĩ lại kinh nghiệm riêng của họ dưới ánh sáng của dòng tư duy của bài báo.  Khi tôi viết hay thuyết trình, thường thường (tôi tưởng tượng ra) những người cụ thể lơ lửng trước mình: cứ như tôi nói với họ, tôi muốn thuyết phục họ. Bây giờ cũng có vài học trò trước đây của tôi, mà tôi nghĩ tới trong khi viết. Có lẽ cũng không ít người đã đọc (các cuốn sách của tôi) Sự tập trung quá mức hay Kinh tế học của sự Thiếu hụt hay Hệ thống Xã hội Chủ nghĩa, hoặc đã nghiên cứu chúng trong các trường chuyên môn và đại học. Họ biết rằng tác giả đã nghiên cứu nhiều về các vấn đề của tập trung hóa và phi tập trung hóa, của nhà nước và thị trường, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Nếu khi đó họ đã chú ý đến các thông điệp của tôi, thì có lẽ bây giờ chí ít cũng bõ suy ngẫm về các lời nói của tôi.  Chúng ta sẽ thấy. Có lẽ tôi còn sống để thấy sự thay đổi cơ bản nào đó có lợi cho đất nước.  Nguyễn Quang A dịch từ nguyên bản tiếng Hungary,   có tham khảo bản dịch tiếng Anh  —  1. Nguyên văn là trò chơi “húzd meg-ereszd meg” (kéo-thả) một trò lừa vui dân gian: các thiếu nữ nắm bốn góc (hay xung quanh) tấm vài, chủ trò dùng ngón tay vẽ nhanh vòng tròn xung quanh và nói “kéo-thả” liên hồi, rồi bất chợt chỉ vào một người nào đó và nói “kéo” (thì người đó phải thả) hay ngược lại “thả” (thì người đó phải kéo). Người làm sai quy tắc bị thua điểm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập trung phát triển các công nghệ mũi nhọn theo hướng chuyên sâu      Thành lập năm 1991, công ty Dolsoft chuyên cung cấp các sản phẩm phần mềm, nhiều sản phẩm của công ty như phần mềm về xử lý, quản lý các thông tin địa lý (WinGis) Dolsoft Enterprise, Dolsoft Browser, Dol Map… đã có mặt tại một số thị trường Âu, Mỹ. Tuy nhiên tại Việt Nam, Dolsoft vẫn chưa được biết đến nhiều.&#160;  Tạp chí Tia Sáng có cuộc trao đổi với TS Đinh Tiến Sơn, phó chủ tịch Hội đồng quản trị, phụ trách kỹ thuật của công ty Dolsoft xung quanh việc vì sao sản phẩm của công ty vẫn “xa lạ” tại thị trường trong nước.                        PV: Vì sao Dolsoft quyết định tập trung vào hướng nghiên cứu tạo ra các sản phẩm về quản lý, xử lý các thông tin địa lý?  TS Đinh Tiến Sơn: Công nghệ Hệ thống thông tin địa lý (Geographic information system – GIS) là công nghệ có giá trị lớn trong quản lý từ vĩ mô đến vi mô, từ quốc gia đến vùng lãnh thổ. Công nghệ này bao gồm công nghệ thu thập thông tin, xử lý thông tin và mô hình hóa dữ liệu. Các công nghệ này bao trùm nhiều lĩnh vực chuyên sâu như công nghệ xử lý ảnh, quản lý dữ liệu lớn dạng vector, các mô hình toán học nhiều chiều. Dolsoft là tập thể có nhiều nhà toán học nên anh em chọn lĩnh vực này để phát triển năng lực của mình cũng như hy vọng những sáng tạo sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho đất nước.   Năm 2000, khi sản phẩm WinGIS của anh đã có chỗ đứng ở một vài thị trường thế giới nhưng tại Việt Nam vẫn chưa được biết đến. Nguyên cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tham gia vào cuộc họp có các quan chức của các bộ ngành có liên quan để giới thiệu sản phẩm của Dolsoft với họ. Nhưng kết quả vẫn không khá hơn. Sau 10 năm, sản phẩm của Dolsoft vẫn chiếm thị phần rất khiêm tốn tại Việt Nam. Theo anh, vì sao các sản phẩm của công ty anh được thị trường thế giới biết đến nhưng vẫn chưa chiếm lĩnh được thị trường trong nước?  Ứng dụng công nghệ GIS đòi hỏi nhiều yếu tố: hạ tầng thông tin, nhu cầu quản lý, trình độ cán bộ, vốn đầu tư, v.v. Chúng ta còn nhiều bất cập trong việc ứng dụng không chỉ với công nghệ GIS mà còn với rất nhiều công nghệ khác. Ở các nước phát triển việc ứng dụng công nghệ là nhu cầu tất yếu do áp lực quản lý, áp lực gia tăng vị thế cạnh tranh. Trong công nghệ GIS họ có sẵn hạ tầng thông tin tốt, các phương pháp xử lý thông tin ổn định, cùng khả năng tài chính dồi dào khiến việc ứng dụng công nghệ cao luôn dễ dàng hơn so với đại bộ phận các quốc gia khác.   Các thông tin về công ty của anh trên báo chí trong nước dường như còn quá ít, phải chăng các anh chưa muốn tạo dựng danh tiếng trong nước, vẫn muốn đi chinh phục những thị trường xa hơn? (Ngay cả trang web của công ty anh cũng không có phiên bản tiếng Việt).  Có lẽ vì năng lực còn hạn chế nên chúng tôi vẫn chỉ tập trung vào thị trường quen thuộc.   Khó khăn lớn nhất khi tham gia vào thị trường quốc tế là gì?  Có rất nhiều khó khăn lớn như vốn, thời gian tiếp cận và thuyết phục thị trường, và lớn hơn hết là tìm được đối tác tốt và ổn định.   Thành viên ban quản trị đa dạng về quốc tịch, có phải đây cũng là một yếu tố giúp Dolsoft tiếp cận thị trường quốc tế dễ dàng hơn?  Chắc chắn là như vậy. Nó giống như việc xây cầu từ 2 bờ dễ hơn nhiều với việc từ một bờ.   Quy mô công ty anh hiện nay?  Công ty DolSoft hiện nay là công ty mẹ với một số công ty con theo các hướng công nghệ chuyên dụng như: GIS, công nghệ nhận dạng, công nghệ tìm kiếm. Công ty có một số trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh và một số bang ở Mỹ. Tại Việt Nam chúng tôi có khoảng trên 200 nhân viên.   Chiến lược phát triển của Dolsoft?  Công ty DolSoft hiện tập trung phát triển các công nghệ mũi nhọn theo hướng chuyên sâu hơn là tập trung theo diện rộng và có lẽ trong tương lai cũng vậy.   Nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực CNTT thường than phiền về chất lượng của nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Cá nhân anh thấy thế nào?  Chúng tôi phát triển công nghệ cao và đến ngày hôm nay vẫn chưa thấy bất cập trong năng lực của sinh viên Việt Nam. Tất nhiên chúng tôi luôn cố gắng đào tạo thêm cho các em, khuyến khích, động viên và tin tưởng các em. Tại công ty chúng tôi, các em đã và đang đóng góp rất tốt trong phát triển những công nghệ tầm cao thế giới, trong đó có cả các em mới ra trường 2, 3 năm.   Khi tuyển dụng nhân viên, phẩm chất nào của họ được Dolsoft đánh giá cao bên cạnh năng lực làm việc?  Khả năng tư duy sáng tạo cùng năng lực làm việc là ưu tiên hàng đầu. Các em  học toán giỏi thông thường là những người thích tư duy tìm tòi và có tính kiên trì cao. Tuy nhiên phải nói là chúng tôi có nhiều em rất giỏi được học ở những môi trường rất khác nhau từ phổ thông đến đại học, kể cả ở tỉnh lẻ.   Đánh giá của anh về sản phẩm CNTT trong nước hiện nay?  Theo ý kiến riêng thì sản phẩm CNTT của chúng ta cao hơn so với trình độ công nghệ chung của đất nước. Tuy nhiên có thể còn làm tốt hơn nữa nếu chúng ta có được sự ưu tiên trong chính sách phát triển quốc gia.   Xin cám ơn anh!  PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Taso Du Val – chàng trai bỏ học và công ty cung ứng nhân sự chất lượng cao      Khi chất lượng các  website cung cấp nhân sự bị phàn nàn thì Du Val, người bỏ dở trung học, ngồi lại, nghiên cứu về kinh tế học và  rồi tự nhủ: “Chà, mình có thể giải quyết vấn đề này trên quy mô lớn  thông qua phần mềm và các quy trình mà mình đã biết.” Công ty Toptal cung cấp các giải pháp nhân sự của anh giờ đang đặt mục tiêu lọt vào danh sách Fortune 500    Trường học không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Richard Branson bỏ học từ năm 16 tuổi, nhưng hiện nay cuộc sống của ông vẫn diễn ra suôn sẻ. David Karp bỏ học năm 15 tuổi, và 11 năm sau anh bán nền tảng viết blog Tumblr của mình cho Yahoo với giá 1,1 tỉ USD. Còn con đường học vấn chính thức của Benjamin Franklin kết thúc sớm từ năm ông 10 tuổi, nhưng bây giờ hình ảnh ông được trang trọng in trên tờ 100 USD.  Bây giờ thì chúng ta có thể bổ sung thêm bậc thầy phần mềm Taso Du Val vào danh sách trên. Sau khi bỏ dở trung học để theo đuổi niềm đam mê công nghệ, anh đã “thu hoạch” được những kinh nghiệm thực tế trong vai trò kỹ sư trưởng tại Fotolog, một công ty khởi nghiệp chuyên về chia sẻ hình ảnh  (công ty này đã được hãng quảng cáo Hi-Media mua lại vào năm 2007 với giá 100 triệu USD). Sau đó, anh tiếp tục đảm nhận vị trí kỹ sư trưởng tại một công ty khởi nghiệp khác là Slide, công ty truyền thông xã hội của nhà đồng sáng lập PayPal, Max Levchin (về sau, vào năm 2010, Slide cũng được Google mua lại với giá 228 triệu USD).  Hiện giờ, Du Val đang hỗ trợ các kỹ sư khác thực hiện những dự án tuyệt vời và thông qua đó mà tạo dựng lên “cơ ngơi” bạc tỉ của riêng mình, Toptal. Toptal là công ty cung cấp các giải pháp nhân sự được thành lập tại San Francisco năm 2010 mà Du Val là đồng sáng lập. Đây là chiếc cầu nối các nhà phát triển phần mềm đang hoạt động độc lập với các doanh nghiệp đang có nhu cầu thuê chuyên gia lập trình bằng cách sàng lọc và khớp các hồ sơ ứng viên phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng dự án của khách hàng, trong đó có tính đến những nhân tố liên quan, chẳng hạn như văn hóa doanh nghiệp.  Chàng trai trẻ 30 tuổi Du Val đứng ra thành lập Toptal sau khi nghe được những lời phàn nàn về các website nhân sự và tuyển dụng đang cạnh tranh nhau lúc đó như oDesk (tên mới là Upwork) và Elance.  Du Val kể lại: “Người ta nói với tôi rằng: ‘Đó là các website cung cấp nhân sự có chất lượng rất tồi, bởi chẳng ai muốn nộp hồ sơ cho họ cả.’ Nhưng khi tôi bắt tay vào tìm kiếm một số nhà phát triển phần mềm thì kết quả lại rất tốt. Tôi nhận ra rằng các website này không biết họ đang làm gì. Tôi ngồi lại, nghiên cứu về kinh tế học và rồi tự nhủ: ‘Chà, mình có thể giải quyết vấn đề này trên quy mô lớn thông qua phần mềm và các quy trình mà mình đã biết.’”  Trung bình hiện nay, mỗi tháng có hàng nghìn kỹ sư nộp hồ sơ cho Toptal – trong đó có cả những hồ sơ ghi kinh nghiệm ở Học viện Công nghệ Massachusetts và Google. Sau đó, công ty này sẽ tiến hành sàng lọc để chọn ra những hồ sơ tốt nhất. Tính trung bình, họ chỉ chấp nhận khoảng 3% trong tổng số các hồ sơ nhận được. Khi các doanh nghiệp đăng tải thông báo việc làm trên website của mình, Toptal tìm kiếm những lập trình viên có đủ năng lực cần thiết, sau đó họ liên hệ với doanh nghiệp để tìm hiểu thêm về công việc cũng như về công ty nói chung rồi tiến hành phỏng vấn các ứng viên để đảm bảo rằng kỹ năng và tính cách của họ phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp.  Du Val cho biết: “Không phải hễ có bao nhiêu người nộp hồ sơ ứng tuyển là chúng tôi gửi tất cả lại cho khách hàng. Chúng tôi chỉ gửi cho họ 1-2 hồ sơ thôi, và chúng tôi rất cẩn thận cũng như rất chính xác trong quá trình tuyển chọn để đảm bảo sự hài lòng của doanh nghiệp. Trung bình, tỉ lệ hồ sơ mà chúng tôi gửi đi được khách hàng chấp nhận là 1.7/1. Các công ty cung ứng nhân sự thành công khác có tỉ lệ trung bình là 15/1 – đây là con số khiến họ rất đỗi tự hào.”  Thực ra, Toptal tự tin vào khả năng “mai mối” của mình tới mức đối với khách hàng mới, họ sẵn sàng tặng cả một giai đoạn thử nghiệm hoàn toàn miễn phí.  Mạng lưới của Toptal hiện bao gồm hàng nghìn chuyên gia phát triển phần mềm có năng lực và trên 2.000 khách hàng, trong đó phải kể đến KDDI America, JPMorgan Chase và Airbnb, cùng rất nhiều doanh nghiệp nhỏ khác. Các dự án cần tuyển dụng rất đa dạng xét cả về độ phức tạp, quy mô, và thời gian thực hiện, nhưng tính trung bình, giá trị hợp đồng của mỗi dự án là khoảng 40.000 USD, cao hơn gấp 10 lần so với các công ty cung ứng nhân sự khác. Năm 2014, Toptal đạt mức tăng trưởng doanh thu lên tới 189%, và trong năm 2015 này, doanh thu của công ty ước đạt trên 80 triệu USD.  Toptal đang có kế hoạch mở rộng ra khỏi mảng hoạt động chính của mình là mạng lưới kỹ sư phần mềm. Mùa thu này, công ty sẽ ra mắt nền tảng phục vụ các chuyên gia thiết kế tự do. Du Val cho biết: “Cuối cùng, chúng tôi sẽ vươn rộng ra tất cả các ngành nghề khác. Để lọt được vào danh sách Fortune 500, chúng tôi phải đáp ứng được về chất lượng, sự trung thực, và mức độ an ninh – và đó là điều mà Upwork và Elance đều không làm được. Chúng tôi có thể cạnh tranh được với những tên tuổi lớn khác trên thế giới.”  Bùi Thu Trang dịch  https://www.entrepreneur.com/article/249338    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu container đặt dấu ấn cho toàn cầu hoá như thế nào      Vận chuyển bằng tàu container là một trong những yếu tố quyết định thúc đẩy toàn cầu hoá. Bất chấp cuộc khủng hoảng mà ngành này phải gánh chịu sau cuộc khủng hoảng tài chính, cho đến tận ngày nay không ai có thể tưởng tượng nền thương mại thế giới mà không có tàu container.      Trong thương mại toàn cầu không thể thiếu vận tải biển bằng tàu container.  Ngày 31.5.1968 khi tàu “American Lancer” cập cảng Hamburg (Đức) là một sự kiện lớn. Con tàu dài 210 mét đã đưa những thùng container đầu tiên từ Hoa Kỳ sang Đức, đánh dấu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên toàn cầu hoá, cho dù khái niệm này mãi đến những năm 1980 mới được đề cập nhiều.  “Có lẽ không có gì chắp cánh cho toàn cầu hoá bay cao như container”, theo đánh giá của Carlos Jahn, nhà lãnh đạo Viện Maritime Logistic thuộc Đại học Hamburg. Người ta có thể dễ dàng chất container lên nhau, cũng nhờ có container lần đầu tiên người ta có thể vận chuyển hàng hoá từ một dây chuyền sản xuất ở Mỹ tới tận sân kho của người nhận hàng ở Đức, mà không cần qua khâu trung chuyển. “Điều này giảm đáng kể chi phí vận tải và kết nối trực tiếp các địa điểm rất xa nhau lại với nhau”.  Nhờ những lợi thế này, tàu container đã nhanh chóng vượt qua các tàu vận tải thông thường. Ulrich Malchow, giáo sư về khoa học hàng hải thuộc đại học Bremen, coi vận tải biển bằng tàu container “là một hệ thống mạch máu của nền kinh tế thế giới”.  Cho đến nay vận tải biển bằng tàu container là động lực quan trọng nhất thúc đẩy thương mại thế giới – cho dù nền thương mại thế giới có lúc bị ảnh hưởng nghiêm trọng của vụ phá sản Lehman năm 2008. Sự dư thừa công suất, đặc biệt đối với tàu vận tải container làm cho ngành vận tải biển lâm vào khủng hoảng, sau khi các hãng tàu biển đặt đóng khá nhiều tàu nhung thương mại thế giới tăng trưởng chậm sau khủng hoảng tài chính. 9 trong số 20 hãng tàu biển lớn không vượt qua nổi khủng hoảng.  Giờ đây kích cỡ cũng như trọng tải của các con tàu không ngừng tăng lên. Cuối tháng ba năm nay, tức 50 năm sau tàu “American Lancer” tàu “Antoine de Saint Exupéry” dài 400 mét, rộng 59 mét cập cảng, thì giờ đây con tàu lớn nhất đã cập cảng Hamburg có thể chứa 20.776 container tiêu chuẩn gấp gần 20 lần so với tàu “American Lancer” – khi đó chứa 1200 container.  Những con tàu khổng lồ đem lại nhiều lợi ích cho các hãng tàu, vì số lượng nhân công cũng như tiêu thụ nhiên liệu tăng không đáng kể so với tàu cỡ nhỏ, nhưng số lượng container lại tăng gấp bội, điều này làm giảm chi phí đối với các hãng tàu – vì thế ngay trong thời kỳ khủng hoảng sau năm 2008 tàu container vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều hãng tàu biển.  Tuy nhiên tính toán này chỉ đúng khi các con tàu được khai thác hết công suất, Jahn nhấn mạnh: “Và điều này ngày càng khó khăn hơn đối với các hãng tàu, khi các con tàu ngày càng lớn hơn”. Cùng với các con tàu thì nhiều cảng biển ngày càng phải mở rộng. Với các con tàu container đầu tiên thì việc bốc dỡ diễn ra song song với các tàu chở hàng rời ở cùng một bến và do công nhân tại đây đảm nhận. Giờ đây có bến cảng dành riêng cho tàu container, các cảng này thường lớn hơn và có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại hơn. “Với quá trình container hoá, tỷ lệ nhân lực giảm, quá trình bốc xếp được công nghiệp hoá ngày càng nhiều và hiện đang được tự động hoá”, Jahn nói. Các con tàu ngày càng lớn hơn đang gây ra nhiều thách thức mới với nhà điều hành cảng. Điều này đỏi hỏi phải có kế hoạch bốc dỡ hết sức tỉ mỉ và chính xác. Các tàu nhỏ có thể vận chuyển từ 2000 đến 5000 container nên không tạo ra những xáo trộn lớn đối với hậu phương mỗi khi bốc dỡ hàng, ngược lại khi các tàu cỡ đại trong một lúc phải bốc dỡ một khối lượng lớn container tạo nên một sự xáo trộn rất lớn. Một con tàu lớn có khi đòi hỏi có hàng nghìn xe tải để vận chuyển container vào hậu phương và chỉ cần một vụ va chạm sẽ gây ùn tắc dây chuyền có khi làm hoạt động của cảng bị tê liệt.  Năm ngoái cảng container ở Hamburg đã bốc dỡ được 8,8 triệu container tiêu chuẩn – năm 1969 con số này mới là 61.000. Năm 2007 thậm chí lên đến 9,9 triệu Container. Ông Jahn tỏ ra lạc quan: “Tôi không thấy lý do vì sao số container sẽ giảm trong tương lai vì số người nghèo trên thế giới sẽ giảm, điều đó có nghĩa là nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên, và đại bộ phận số hàng hoá này vẫn sẽ được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển”.  Xuân Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/industrie/globalisierung/riesenschiffe-wie-containerschiffe-die-globalisierung-praegten/23154008.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu thủy không người lái ở Đức      Sắp tới tàu thuyền trên đường sông có thể chạy tự động. Hiện tại trên một số con sông và kênh ở vùng Ruhr (nước Đức) đã có tàu thuyền chạy thử nghiệm. Tuy nhiên ở các cảng sông lớn nhất tại châu Âu người ta hiện đang  phải đối mặt trước những vấn đề hoàn toàn khác.      Con kênh nối liền Dortmund và Waltrop (Đức) sẽ là tuyến đường thuỷ cho tàu thuỷ không người lái chạy thử. Ảnh: PDA  Tăng cường tàu thuyền, giảm xe tải – đây có thể là một sự đóng góp quan trọng nhằm giải quyết các vấn đề giao thông và ô nhiễm môi trường hiện nay. Tuy nhiên ở Đức vận chuyển hàng hoá trên các tuyến đường sông vẫn chưa phát triển như mong muốn. Năm vừa qua đã có 222 triệu tấn sữa được vận chuyển trên đường sông và kênh rạch, nhưng cách đây mười năm con số này đã gần  250 triệu tấn.  Tàu thuyền chạy trên sông hiện bị các loại ô tô tải và tàu hoả đe dọa đẩy lùi về phía sau, trong đó vận tải bằng ô tô đang là mối lo đặc biệt của ngành vận tải đường sông, Phòng Thương mại và Công nghiệp vùng Ruhr (IHK) cảnh báo.  “Việc xe ô tô tải hoạt động trên đường qua điều khiển từ xa và hoàn toàn tự động chỉ còn là vấn đề thời gian”,  Ocke Hamann, giám đốc điều hành IHK tại Duisburg (cảng đường sông lớn nhất châu Âu) nhận xét. Điều này có nghĩa là lợi thế về giá cả trong vận tải đường sông đang bị đe doạ.  Vì thế IHK xúc tiến dự án để tương lai, tàu thuyền đi lại trên sông ở vùng Ruhr có thể chạy độc lập không cần thuyền trưởng ngay cả khi qua âu thuyền (còn gọi là hệ thống khóa nước) cũng như ra vào cảng.  “Mục tiêu cụ thể của chúng tôi là trong vòng 15 năm nữa sẽ được chứng kiến tàu đường sông hoạt động không người lái”, Hamann phát biểu mới đây về nghiên cứu khả thi đối với dự án này ở Duisburg.  Theo Trung tâm phát triển công nghệ tàu thuyền và hệ thống vận tải của Duisburg khi nghiên cứu dự án này, nhờ hoạt động độc lập nên các tàu thuyền cỡ nhỏ sẽ có cơ hội cạnh tranh lớn hơn trong vận chuyển hàng hoá.  Hàng từ tàu thuyền lớn sẽ chuyển sang thuyền nhỏ chạy qua các con kênh chứ không cần chuyển qua ô tô tải như hiện nay. Những tàu thuyền cỡ nhỏ chỉ có hiệu quả kinh tế khi tự động hoá. Đây cũng là giải pháp để xử lý vấn đề khan hiếm lao động của ngành vận tải đường sông.  Một đoạn thuộc khu vực kênh Dortmund-Ems nối liền thành phố Dortmund và thị trấn Waltrop, dài 20 km được chọn để thử nghiệm, khu vực này tương đối ít tàu thuyền, lại có cả bến cảng và âu thuyền để thử nghiệm.  Theo dự kiến thì ngay trong năm 2021 sẽ có thuyền không người lái đầu tiên hoạt động thí điểm ở đây, hiện tại trên tàu đã có một loạt hỗ trợ định hướng về kỹ thuật, tuy vậy các kỹ thuật này vẫn cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao. Cái khó hiện nay là chưa có khoản đầu tư tài chính cho các thử nghiệm nói trên.  Tuy vậy, Ông Thomas Schlipköther, thuộc Hội đồng quản trị cảng Duisburg phụ trách về kỹ thuật và vận hành thì coi những chuyện này là tương lai xa vời. Ông đang đứng trước những khó khăn hoàn toàn khác. “Tại sao chúng ta không nghiên cứu để có những loại tàu thuyền có thể hoạt động khi độ nước sâu chỉ  đạt 1,20 mét – mực nước cực thấp đang diễn ra ngày càng nhiều hơn”. Đây là nỗi lo của các nhà quản lý cảng.  Ngành vận tải đường sông còn một vấn đề khó nữa, đó là hầu hết tàu thuyền còn dùng các loại động cơ diesel cổ lỗ xả ra nhiều khí thải độc hại, cần thay thế.  Hoài Nam dịch.  Theo báo Thương mại Đức.       Author                Hoài Nam        
__label__tiasang Tàu thủy tự hành – xu hướng của tương lai      Không chỉ có ngành công nghiệp ô tô nghiên cứu khả năng điều khiển xe tự động, ngành đóng tàu thuỷ hiện nay cũng đã có thử nghiệm những con thuyền không người lái. Ví dụ như ở cảng Trondheim, Na Uy, nghiên cứu chế tạo tàu thuỷ không người lái sẽ là cơ hội hái ra tiền.      Xuồng điều khiển từ xa chạy trên vùng biển Trondheim, Na uy.  Bầu trời trên cảng Trondheim, Na uy đầy mây, mưa phùn và rét mướt. Đối với thời tiết kiểu này không ai muốn lùa chó ra cửa. Một chiếc xuồng dài độ năm mét sơn mầu đen-trắng chạy đi chạy lại trên mặt nước theo một tuyến nhất định. Hoạt động đó diễn ra cả giờ đồng hồ. Chiếc xuồng đang đo bề mặt ở đáy bến cảng để vẽ chính xác bản đồ nơi này. Người ta dễ nghĩ rằng công việc lái chiếc xuồng kiểu này thật tẻ nhạt. Chỉ có điều chiếc xuồng thuộc hãng Maritime Robotics này lại không hề có thuỷ thủ đoàn. Xuồng được điều khiển từ xa, và “thuyền trưởng” đang ngồi theo dõi trước màn hình trong một căn phòng ấm áp.  Khởi đầu với những tuyến tàu thủy cố định  Tàu biển tự hành – tức là những con tàu không có người lái – sẽ là tương lai trong ngành tàu biển, những người làm việc ở Trondheim tin chắc vào điều này. Thành phố Trondheim đã dành riêng một khu vực trong vịnh làm địa bàn thử nghiệm dành cho những con tàu không người điều khiển. Quá trình đưa một con tàu không người lái ra thị trường là sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan chính quyền, ban giám đốc cảng cũng như một số doanh nghiệp tư nhân.    Có thể kiếm bộn tiền nếu như tạo ra được một ngành tàu biển tự hành. “Ở Na Uy 40% vận tải thuỷ diễn ra trên mặt biển”, Ørnulf Jan Rødseth, nhà nghiên cứu kỹ thuật hàng hải ở Viện nghiên cứu hàng hải Sintef Ocean cho biết. “Còn trên quy mô toàn cầu thì 90% thương mại thế giới diễn ra trên biển. Đây quả là một lĩnh vực kinh doanh khổng lồ”, ông nói thêm.  Từ năm 2012, Rødseth đã làm việc về lĩnh vực xe tự hành. Hiện nay thì chuyên gia này tin rằng chỉ năm năm nữa những tàu biển thương mại điều khiển từ xa đầu tiên sẽ xuất hiện: “Vấn đề hiện nay là chúng tôi phải tìm đơn vị đầu tư có thể chi trả tài chính cho công trình này”. “Thiết kế tàu biển điều khiển từ xa mang lại lợi thế cho các loại tàu, thuyền cỡ nhỏ ở chỗ chúng có thể chạy bằng động cơ điện hoặc dầu diesel, không cần có buồng ngủ, nghỉ cho thuỷ thủ đoàn, mà chỉ cần có hệ thống chứa vật dụng đóng khoá đơn giản. Tại bến cảng, mọi việc đều được tự động hoá nên rất ít khi phải sửa chữa và bảo trì”, Rødseth phân tích. Những tàu thuyền này sẽ được điều khiển từ một trung tâm điều khiển. Một phòng điều khiển tựa như một cầu tàu có thể điều khiển nhiều tàu thuyền cùng một lúc.  Hiện nay các chuyên gia tại Sintef Ocean chỉ tập trung làm tàu biển tự hành ở hai lĩnh vực: các phà chở khách theo tuyến đường cố định và tàu vận tải đường ngắn và trung bình (theo Rødseth, việc giảm thuỷ thủ đoàn đối với tàu Container cỡ lớn chạy trên các tuyến liên lục địa không mang lại nhiều lợi ích). Đối với các loại tàu chở hàng này, nếu có hỏng hóc hoặc các sự cố về kỹ thuật thì có thể đưa vào các cảng gần nhất để sửa chữa. Không chỉ dành riêng cho đường biển, theo Rødseth công nghệ này có thể áp dụng đối với tàu thuyền chạy đường sông, nhờ đó giảm được vận chuyển hàng hoá bằng xe tải, có hiệu quả kinh tế cao hơn, giảm ô nhiễm môi trường, giảm ùn tắc giao thông.  Tự động hóa từng bước một  Về mặt kỹ thuật, để tàu thuyền không người lái đến đích an toàn, một số yêu cầu kỹ thuật cần được đảm bảo: hệ thống chống va chạm, định vị vệ tinh, radar, cảm biến hồng ngoại và hệ thống quang học như máy chụp hình. “Điều quan trọng là người ta phải quan sát được chính xác thực tế, có nghĩa là cần phải có những hệ thống có khả năng  giám sát hệ thống”, theo Gard Ueland, giám đốc hãng Kongsberg Seatex, doanh nghiệp chuyên sản xuất trang thiết bị cho toàn bộ cầu tàu. Các nhà kỹ thuật phải tính toán để không xảy ra tình trạng chỉ một sai sót của máy tính có thể dẫn đến tai hoạ cho cả con tầu, thậm chí cần tới những phần mềm có khả năng chống lại các cuộc tấn công mạng.  Ueland cho rằng quá trình tự động hoá đối với lĩnh vực hàng hải sẽ diễn ra từng bước một: “Đầu tiên, những tàu thuyền thông thường được trang bị thiết bị phụ trợ ngày càng nhiều hơn. Sau đó sẽ tới bước điều khiển từ xa và bước cuối cùng sẽ là những con tàu chạy độc lập”.  Ngoài ra, một xe ô tô điện tự hành ở châu Âu đã xuất hiện trong thực tiễn. Còn tàu thủy không người lái thì phải cần thêm thời gian ít nhất là vài ba năm, hoặc thậm chí lâu hơn để cấp giấy phép.  Hoài Trang dịch  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/auf-dem-wasser-ohne-kapitaen-schiffe-koennten-kuenftig-fuehrerlos-fahren/19612050.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu tinh luyện khí đốt  trị giá nhiều tỷ USD      Tập đoàn năng lượng&#160; Shell&#160; quyết định đóng con tàu lớn nhất thế giới. Nhà máy nổi chuyên tinh luyện khí đốt này sẽ neo đậu ngoài khơi Australia&#160; vào năm&#160; 2017. Theo các chuyên gia chi phí đóng con tàu khổng lồ này lên đến 12 tỷ USD.      Con tàu khổng lồ này có chiều dài lên tới 488 mét- dài gấp bốn lần chiều dài sân bóng đá. Trọng lượng của con tàu lớn nhất thế giới này lên tới 600.000 tấn và thân tàu có sức dãn nước bằng sáu tàu sân bay loại lớn nhất.  Tập đoàn dầu khí lớn nhất châu Âu Royal Dutch Shell đã nghiền ngẫm trên mười năm về dự án đóng tàu tinh luyện khí đốt này và mới đây ban lãnh đạo tập đoàn đã thông qua kế hoạch đầu tư cho dự án này.    Các nhà chuyên môn ước tính tổng đầu tư cho con tàu này lên tới  12 tỷ USD, riêng tập đoàn Shell không tiết lộ về khoản tiền đầu tư này. Một Konsortium của Hàn Quốc gồm hai nhà cung cấp  Technip và Samsung sẽ đóng con tàu này tại một cơ sở đóng tàu ở Hàn Quốc. Nếu mọi việc diễn ra đúng kế hoạch thì sau sáu năm con tàu tinh luyện khí đốt này sẽ đi vào hoạt động ở ngoài khơi  Australia.  Xây dựng đường ống vận chuyển khí đốt dưới đại dương sẽ  quá tốn kém  Nhưng tại sao Shell lại xây dựng một cơ sở tinh luyện khí đốt trên một con tàu thay vì vận chuyển khí đốt vào đất liền để xử lý như người ta vẫn làm xưa nay? Malcolm Brinded chuyên trách về khâu khai thác thuộc Hội đồng quản trị của Shell giải thích, vì không có cách nào khác. “Chúng tôi tiếp cận với khu vực khai thác từ biển, nếu không thì giá thành khai thác sẽ rất tốn kém”. Khu vực khí đốt mà Shell được phép khai thác có tên là Prelude, cách vùng duyên hải phía Tây Bắc Australia 200 km, nếu đầu tư xây dựng một đường ống dẫn khí đốt ở dưới biển thì sẽ rất tốn kém từ đó giảm hiệu quả kinh tế.   Với dự án này Shell trở thành tập đoàn năng lượng đầu tiên trên thế giới sử dụng tàu chuyên dụng để vận chuyển khí đốt. Việc đầu tiên phải làm là giảm dung tích 600 lần, để làm điều này người ta phải làm lạnh khí đốt ở nhiệt độ âm 162 độ C, ở nhiệt độ này khí đốt chuyển sang dạng lỏng. Con tàu này mỗi giờ phải dùng khoảng 50 triệu lít nước biển để làm lạnh. Khi đến đích lại phải chuyển loại  LNG này- (tên viết tắt của Liquified Natural Gas (khí đốt lỏng) – sang dạng khí trước khi hòa vào mạng lưới khí đốt ở khu vực đó. Công nghệ này khá phức tạp và tốn kém nhưng do năng lượng ngày càng khan hiếm nên công nghệ này dù sao vẫn sinh lời.  Tàu thủy lọc khí đốt   Trong lĩnh vực kinh doanh khí đốt trên thế giới thì kinh doanh ở dạng LNG hiện  có mức tăng trưởng cao nhất. Ưu điểm của công nghệ này là có thể vận chuyển khí đốt trên một quãng đường dài bằng tàu biển như vận chuyển dầu mỏ. Do đó thị trường khí đốt được thu hẹp lại. Theo đánh giá của Cơ quan năng lượng quốc tế  (IEA)  có trụ sở ở  Paris thì hiện nay việc kinh doanh LNG trên thế giới đã chiếm khoảng một phần ba kinh doanh khí đốt toàn cầu. Trong vòng 20 năm tới tỷ lệ này sẽ lên 40%.  Hiện nay Shell là nhà cung cấp tư nhân về khí đốt lỏng lớn nhất thế giới và việc đóng con tàu lọc khí đốt này để hoạt động ở Australia là nhằm thỏa mãn cơn đói năng lượng ở châu Á. Nhưng hiện tại đang có hiện tượng dư thừa năng lực sản xuất LNG vì Hoa Kỳ trong mươi năm gần đây đã đẩy mạnh khai thác khí đốt từ đá phiến (Shale Gas) do đó không còn lệ thuộc vào việc nhập khẩu  khí đốt như trước đây. Tuy nhiên giới chuyên môn đều tiên đoán nhu cầu đối với LNG sẽ tăng mạnh trong thời gian tới đặc biệt ở các nước mới nổi.  Theo tính toán của Brinded thuộc Hội đồng quản trị – Shell thì đến cuối thập niên này nhu cầu về khí đốt lỏng của châu Á sẽ tăng gấp đôi, chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ. Trong khi đó Australia có vị trí địa lý rất thuận lợi, sẽ trở thành địa bàn cung cấp khí đốt cho châu lục láng giềng của mình. Theo dự báo của  IEA thì xuất khẩu khí đốt của Australia sang TQ đến năm 2035 sẽ tăng gấp bảy lần. Hiện nay Australia đứng hàng thứ hai thế giới, sau Tiểu vương quốc Ả Rập Katar, về cung cấp LNG, các tập đoàn năng lượng quốc tế đầu tư hàng tỷ USD vào việc mở rộng khai thác khí đốt lỏng ở nước này.    Theo hãng Shell thì con tàu lọc khí đốt khổng lồ của họ sẽ bám trụ khoảng 25 năm ở  ngoài khơi khu vực có mỏ khí đốt Prelude của Australia. Khu mỏ này được phát hiện vào năm 2007 và theo Shell thì sản lượng khai thác mỗi ngày ở mỏ này đạt 110.000 thùng (một thùng (Barrel) tương đương 159 lít) quy ra dầu. Điều này có nghĩa là mỏ khí đốt này có thể thỏa mãn 90% nhu cầu về năng lượng của Hồng Kông với trên 7 triệu dân.    Nếu việc sản xuất khí đốt lỏng trên biển tỏ ra có hiệu quả thì mô hình Shell này sẽ được nhân rộng. Việc tập đoàn năng lượng Shell đầu tư một khoản tiền cực lớn cho dự án này biểu thị niềm tin mạnh mẽ của Shell đối với công nghệ mới này.           Hoài Trang    Theo F.A.Z. 21. 5. 2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầu vũ trụ Sojus của Nga là taxi vũ trụ “nồi đồng cối đá”      Các doanh nghiệp du hành vũ trụ tư nhân  như  SpaceX thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực này với các loại tên lửa sử dụng nhiều lần. Trong khi đó nước Nga vẫn kiên trì sử dụng “con ngựa nồi đồng cối đá” đã được thử thách của mình.      Trong tương lai Nga vẫn tiếp tục sử dụng tầu vũ trụ đã được thử thách của mình.  Chiếc “taxi lên vũ trụ” dành cho nhà du hành vũ trụ người Đức Alexander Gerst khá chật chội. Trong tầu Sojus, các con số nhấp nha nhấp nháy trên vài cái màn hình và mấy biểu bảng viết chi chít. Mấy cái nút bấm thô kệch to như ngón tay cái nổi bật trên tấm bảng mầu xám. Tóm lại tầu vũ trụ Sojus dường như cổ lỗ không còn hợp với thời đại.  Ngày 6 tháng sáu tới nhà du hành vũ trụ Đức sẽ khởi hành từ sân bay vũ trụ Baikonur của Nga và bay lên vũ trụ bằng tên lửa đẩy loại Sojus-FG. Alexander Gerst, nhà địa vật lý Đức này, 42 tuổi sẽ ngồi ở trên quả tên lửa dài gần 50 mét trong con tầu vũ trụ Sojus-MS-09. Ông tin tưởng vào công nghệ của con tầu này, những con tầu đầu tiên loại này ra đời trong những năm 1960 và từ đó không ngừng được tiếp tục phát triển. Cho đến tận ngày nay hệ thống tàu Sojus vẫn là xương sống của ngành vũ trụ Nga.  “Chúng ta hay mắc sai lầm khi so sánh con tàu của chúng ta với các phim khoa học viễn  tưởng“, Gerst nói về tầu vũ trụ. Ông luyện tập hai năm rưỡi để chuẩn bị cho chuyến bay lên trạm vũ trụ. Tầu vũ trụ không nhất thất thiết phải thoáng mát. Nó cũng không cần có đèn nhấp nháy ở bên ngoài, mà nó cần phải hoạt động được. Thực sự nó hoạt động tốt.“  Công nghệ “hoàn toàn không hề bị lạc hậu“, nhà du hành vũ trụ Gerst nhấn mạnh. “Đây là công nghệ hoàn hảo nhất mà chúng tôi có. Mỗi con tầu vũ trụ đều được làm mới.“ Mọi phiên bản đều được hiện đại hoá và cải tiến.  Vì thế quả là hiểu lầm khi nhìn thấy những nút bấm trong phi thuyền và nghĩ rằng một màn hình cảm ứng hiện đại chắc tốt hơn nhiều, Esa, nhà du hành vũ trụ của Cơ quan vũ trụ Châu Âu nói. “Vậy thì tôi đề nghị: nếu trong một dịp khác bạn đi xe trên một con đường rải đá cục, bạn hãy thử điều khiển iPhone của mình và tìm cách ấn đúng nút.“ Những nút bấm to trên tầu Sojus có đai kim loại rất thuận tiện vì ngón tay không bị trượt.  Tầu Sojus đầu tiên bay lên không gian từ năm 1967. Từ đó đến nay có nhiều loại tầu đưa con người lên không gian và lại đưa trở về. Do Hoa kỳ chấm dứt hoạt động chương trình Shuttle từ năm 2011 cho nên tầu Sojus hiện là phương tiện vận chuyển duy nhất phục vụ các chuyến bay có người điều khiển lên trạm ISS.  Ngay cả những quả tên lửa đẩy cho dự án này cũng là một câu chuyện dài. Kỹ sư Liên xô Sergej Koroljow (1907-1966), là người đầu tiên dựa trên cơ sở tên lửa V2 của Đức sử dụng trong chiến tranh thế giới II thiết kế tên lửa liên lục địa đầu tiên R-7 (chuyến bay đầu tiên vào 1957). Cho đến nay tên lửa này vẫn là nền tảng của các tên lửa đẩy thông dụng dùng cho phi thuyền Sojus, và nhà du hành vũ trụ Gerst tới đây cũng phải lệ thuộc vào nó.  Cũng như Gerst, các nhà chế tạo Sojus bảo đảm với hãng chế tạo tên lửa Energija về tầu vũ trụ của mình. Trông bề ngoài thì có những nét vẫn giống với những con tầu hồi xưa, phó kiến trúc sư trưởng Wladimir Solowjow nói với hãng thông tân Đức: “Nhưng về bản chất, cái chung duy nhất còn lại sau 50 năm là cái tên Sojus. Phần còn lại đều hoàn toàn mới.“ Điều này đúng với tên lửa cũng như với phi thuyền. “Tầu Sojus-MS là tầu vũ trụ được số hoá hoàn toàn.“  Độ chính xác của nó cao hơn nhiều so với các phiên bản trước.  Tuy nhiên không chỉ đầu óc tưởng tượng muôn mầu muôn vẻ của các nhà làm phim đang đặt vấn đề liệu Sojus có còn phù hợp với thời đại này không. Bởi vì mấy năm gần đây nhà doanh nghiệp người Mỹ Elon Musk với tập đoàn SpaceX của mình đang làm đảo lộn mạnh mẽ ngành này. Loại tên lửa có khả năng tái sử dụng từng phần đang là sự tuyên chiến đối với các nhà chế tạo tên lửa đã có danh tiếng.  Ở Nga, tập đoàn Vũ trụ quan trọng nhất Energija cũng đang chăm chú theo dõi các hoạt động của ông Musk, Solowjow nói. Nếu SpaceX vài năm nữa đưa được tầu vũ trụ có người điều khiển của mình ra thị trường thì đây sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp. “Khi đó chúng tôi sẽ buộc phải chế tạo ít tầu vũ trụ Sojus hơn“, ông này nói. Lối thoát sẽ là: “Để tồn tại chúng tôi buộc phải sản xuất các thiết bị mới hơn và rẻ hơn.“  Con đường đến đó hết sức khó khăn. Để có thể đọ được với đối thủ cạnh tranh, Nga sẽ vẫn kiên trì dùng Sojus. Có nhiều kế hoạch về vấn đề này: thí dụ về một loại tên lửa mới hạng nặng, loại Sojus-5; đến năm 2022 có loại tầu Sojus cải tiến có thể vận chuyển hàng hoá trở về trái đất; và cũng có dự kiến có một chuyến bay xung quanh mặt trăng bằng tầu Sojus. Energija dự tính chi phí về công nghệ cho các dự án này tốn khoảng  500 triệu đôla Mỹ.  Tập đoàn nhà nước này cần tính toán các kế hoạch dùng công nghệ: Sojus phát triển một loại tên lửa có thể tái sử dụng, để không bị lạc hậu với xu hướng thời đại. Giới chuyên gia hoan nghênh các vấn đề này. Riêng việc giữ lại được bộ phận động cơ đã tiết kiệm được 20% chi phí, theo ước tính của Iwan Moissejew thuộc Viện chính sách vũ trụ. Nếu Nga cũng có giải pháp thay thế  tên lửa của SpaceX, thì Moscow chắc chắn sẽ chiếm được thị phần.  Theo Moissejew thì ngay cả khi có các biến động khác nhau làm tổn thương đến bộ mặt của ngành này, thì cũng có cái lợi của nó. Vì trong những năm qua đã xảy ra các vụ rơi và hư hỏng gây tổn thất lớn. Tuy nhiên các tên lửa có người điều khiển không bị sự cố nào.  Phi hành gia Gerst tin tưởng vào sự an toàn của tầu Sojus. “Vụ tai nạn cuối cùng xảy ra cách đây đã 40 năm“, Gerst phát biểu. Vụ tử nạn duy nhất xảy va khi kỷ nguyên tầu Sojus mới bắt đầu. Năm 1967 và 1971 đã có tổng cộng 4 nhà du hành vũ trụ bị tử nạn khi hạ cánh.  Gerst nói xét cho cùng tính mạng của mình nằm trong tay mình. “Tuy có đủ loại chế độ tự động, nhưng khi các thiết bị đó bị hỏng chúng tôi vẫn có cơ hội tốt nhất để sống sót. Đó chính là điều mà tôi thấy thật tuyệt vời.“  Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.handelsblatt.com/technik/forschung-innovation/raumschiff-sojus-russlands-unverwuestliches-weltraumtaxi/22603372.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào chuyển động trong niêm dịch nhanh hơn trong máu      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Toronto, Johns Hopkins và Vanderbilt đã khám phá ra những tế bào có thể chuyển động nhanh một cách đáng ngạc nhiên trong chất lỏng đặc hơn như mật ong so với nước hoặc niêm dịch hơn là máu bởi vì phần rìa gợn sóng của chúng cảm nhận được độ nhớt môi trường của chúng và thích ứng được để gia tăng tốc độ.      Những thứ chúng tạo ra với bệnh ung thư và các tế bào nguyên bào sợi – dạng tế bào thường được tạo ra các vết sẹo trong mô – cho thấy độ nhớt của môi trường xung quanh tế bào có vai trò quan trọng với bệnh tật, và có thể giúp giải thích sự tiến triển của các khối u, sự hình thành sẹo trong phổi chứa đầy niêm dịch bị mắc bệnh xơ nang, và quá trình chữa trị các vết thương.  Nghiên cứu này, “Membrane ruffling is a mechanosensor of extracellular fluid viscosity” (Sự gợn sóng của màng là cảm ứng cơ học của độ nhớt dòng chảy ngoại tế bào), được xuất bản trên Nature Physics đã rọi ánh sáng mới vào môi trường tế bào, một khu vực còn chưa được nhiều nghiên cứu khám phá 1.  “Mối liên hệ giữa độ nhớt tế bào và sự gắn kết chưa từng được thể hiện trước đây”, Sergey Plotnikov, phó giáo sư Khoa Tế bào và sinh học các hệ thống tại Khoa Nghệ thuật và Khoa học ở trường đại học Toronto và là đồng tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Chúng tôi phát hiện ra độ dày hơn của môi trường xung quanh, sức mạnh lớn hơn của tế bào tham gia vào chất nền, tốc độ chuyển động nhanh hơn – như thể đi trên một bề mặt băng với đôi giày chuyên dụng”.  Việc hiểu về việc tại sao các tế bào hành xử theo cách đáng ngạc nhiên này hết sức quan trọng bởi các khối u tạo ra một môi trường có độ nhớt, điều đó cho phép các tế bào có thể chuyển thành các khối u nhanh hơn các mô lành. Do quan sát các tế bào ung thư tăng tốc trong môi trường đặc, các nhà nghiên cứu có thể kết luận là sự phát triển của các rìa gợn sóng trong những tế bào ung thư có thể góp phần vào việc lan rộng ung thư ở các khu vực khác nhau của cơ thể.  Hướng đích sự phản hồi lan rộng lên các nguyên bào sợi, nói cách khác, có thể giảm bớt sự tàn phá mô trong phổi chứa đầy niêm dịch do bệnh xơ nang. Bởi vì các nguyên bào sợi dạng sóng chuyển động nhanh hơn, chúng là dạng đầu tiên của tế bào có thể di chuyển xuyên qua niêm dịch tới chỗ bị thương tổn, góp phần tạo ra sẹo hơn là chữa lành. Các kết quả này có thể gợi ý đến việc thay đổi độ nhớt trong niêm dịch phổi có thể giúp kiểm soát chuyển động của tế bào.  “Bằng việc chứng tỏ cách tế bào phản hồi với môi trường xung quanh và bằng việc miêu tả những đặc tính vật lý của khu vực đó, chúng tôi có thể tìm hiểu những gì ảnh hưởng đến hành xử của chúng và cuối cùng ảnh hưởng như thế nào”, nghiên cứu sinh Ernest Iu, Phòng Tế bào và sinh học các hệ thống và là đồng tác giả nghiên cứu, nói.  Plotnikov cho biết thêm “ví dụ, có lẽ là nếu anh đặt một chất lỏng có độ dày như mật ong và một vết thương, tế bào sẽ chuyển động sâu hơn và nhanh hơn. Do đó việc chữa lành sẽ hiệu quả hơn”.  Plotnikov và Iu dùng kỹ thuật kính hiển vi điện tử tiên tiến để đo đạc lực mà các tế bào sử dụng để di chuyển và những thay đổi về cấu trúc phân tử bên trong các tế bào này. Họ so sánh các tế bào ung thư và tế bào nguyên sợi, vốn đều có phần rìa gợn sóng, với phần rìa bằng phẳng của tế bào. Họ thấy rìa tế bào nguyên sợi cảm nhận được độ dày của môi trương, dẫn đến kích hoạt sự phản hồi cho phép tế bào di chuyển qua cả kháng lực – các phần gợn sóng trở nên phẳng ra, bám chặt lên vùng bề mặt xung quanh.  Thực hiện này ban đầu được thực hiện tại Johns Hopkins, nơi Yun Chen, trợ lý giáo sư tại Khoa Kỹ thuật cơ học và tác giả thứ nhất của nghiên cứu và nghiên cứu sinh Matthew Pittman, cùng kiểm tra lần đầu chuyển động của các tế bào ung thư. Pittman tạo một dung dịch dạng niêm dịch có độ nhớt, đặt nó vào trong những dạng tế bào khác nhau, và quan sát tế bào ung thư chuyển động nhanh hơn những tế bào lành khi di chuyển thông qua chất lỏng này. Để tìm hiểu hơn nữa hành xử này, Chen hợp tác với Plotnikov, chuyên gia về các lực kéo và đẩy trong chuyển động của tế bào.  Plotnikov ngạc nhiên khi thấy sự thay đổi vận tốc khi tế bào đi vào chất lỏng nhớt dạng niêm dịch. “Khi đang nhìn vào những thay đổi bền vững, chầm chậm dưới kính hiển vi thì chúng tôi thấy những tế bào đó di chuyển với tốc độ nhanh gấp đôi theo thời gian thực và lan tỏa gấp đôi kích thước thật của mình”, anh nói.  Sự dịch chuyển của tế bào phụ thuộc vào các protein myosin – dạng protein có nhiều trong các sợi nguyên cơ, có tính chất quan trọng về đàn hồi và co thắt – giúp nó phản hồi các sợi cơ. Plotnikov và Iu cho là việc ngăn myosin có thể ngăn tế bào khỏi lan rộng, tuy nhiên họ ngạc nhiên khi bằng chứng thu được chứng tỏ các tế bào vẫn tăng tốc bất chấp điều đó. Thay vào đó, họ phát hện ra là các hàng protein actin bên trong tế bào, liên quan đến tương tác của sợi cơ, trở nên bền hơn trong phản hồi với chất lỏng đặc, tác động lên rìa tế bào.  Nhóm nghiên cứu hiện đang tìm hiểu cách làm chậm chuyển dộng của các tế bào niêm dịch thông qua các môi trường dày, vốn có thể mở ra cánh cửa đến với những phương pháp điều trị cho người bị ung thư và xơ nang.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-cells-faster-mucus-blood.html  https://www.techexplorist.com/how-do-cells-move-faster-through-mucus-blood/52720/  ——————————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41567-022-01676-y    Author                .        
__label__tiasang Tế bào gốc “tái lập trình” được cấy ghép vào bệnh nhân Parkinson      Một người đàn ông 50 tuổi là người đầu tiên trong bảy bệnh nhân được nhận thử nghiệm điều trị này.         Những tế bào neuron bắt nguồn từ những tế bào gốc (Nguồn: Silvia Riccardi/SPL)   Lần đầu tiên, các chuyên gia giải phẫu thần kinh người Nhật bản đã cấy ghép những tế bào gốc được tái thiết lập chương trình vào não của các bệnh nhân Parkinson.  Đây chỉ là bước thứ hai trong liệu pháp thử nghiệm sử dụng các tế bào gốc vạn năng cảm ứng iPSC, được tạo ra bằng cách tái thiết lập chương trình những tế bào chức năng của cơ thể như da, giúp chúng chuyển ngược trở về giai đoạn giống như giai đoạn phôi, từ đó chúng có thể chuyển đổi hình thái thành các loại tế bào khác.  Các nhà khoa học tại đại học Kyoto đã sử dụng kĩ thuật biến đổi các tế bào gốc vạn năng cảm ứng iPSC thành các tế bào tiền thân của tế bào neuron thần kinh có khả năng tiết các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine. (Sự thiếu hụt các tế bào neuron thần kinh sản xuất dopamine ở những bệnh nhân Parkinson có thể dẫn đến những triệu chứng như run rẩy và khó khăn trong việc di chuyển).  Trong tháng 10/2018, nhà giải phẫu thần kinh Takayuki Kikuchi tại Bệnh viện Đại học Kyoto đã cấy ghép 2,4 triệu tế bào tiền thân neuron tiết dopamine vào não của một bệnh nhân 50 tuổi. Trong 3 giờ giải phẫu, nhóm của Kikuchi đã đưa tế bào vào 12 vị trí – là trung tâm hoạt động của dopamine (trước đó, các tế bào tiền thân neuron tiết dopamine đã cho thấy khả năng cải thiện các triệu chứng của bệnh Parkinson khi được sử dụng trên khỉ).  Nhà nghiên cứu về tế bào gốc, GS. Jun Takahashi và cộng sự tại Đại học Kyoto đã lấy các tế bào tiền thân neuron tiết dopamine từ một nguồn dự trữ tế bào gốc vạn năng cảm ứng iPS được lưu trữ tại đại học này. Những tế bào iPS này được phát triển bằng cách tái thiết lập chương trình các tế bào da được lấy từ một người cho ẩn danh.  GS. Takahashi cho biết đến nay bệnh nhân được điều trị vẫn có các biểu hiện tốt và không có bất kì phản ứng bất lợi nào. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục theo dõi bệnh nhân trong 6 tháng và nếu không các biến chứng phát sinh, não của bệnh nhân sẽ được tiếp tục cấy ghép thêm 2,4 triệu tế bào tiền thân neuron tiết dopamine nữa. Nhóm nghiên cứu dự định sẽ điều trị cho thêm 6 bệnh nhân Parkinson để kiểm tra tính an toàn và hiệu quả của kĩ thuật cho đến cuối năm 2020.  Nhóm nghiên cứu cho biết thêm nếu thử nghiệm này diễn ra tốt đẹp, họ sẽ có đủ bằng chứng để bán liệu pháp điều trị này cho bệnh nhân vào đầu năm 2023, theo hệ thống chấp thuận nhanh của Nhật Bản đối với thuốc Y học tái tạo.   Kiều Oanh dịch  Nguồn https://www.nature.com/articles/d41586-018-07407-9        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào pin nhiên liệu siêu mỏng sử dụng đường trong cơ thể tạo ra điện      Glucose là đường mà chúng ta hấp thụ từ thức ăn. Đó cũng là nhiên liệu tạo ra năng lượng cho từng tế bào trong cơ thể của chúng ta. Vậy glucose cũng tạo ra điện cho những thiết bị y khoa được cấy ghép trong tương lai?    Các kỹ sư tại MIT và Đại học kỹ thuật Munich cũng nghĩ vậy. Họ đã thiết kế một dạng tế bào nhiên liệu glucose có thể chuyển đổi một cách trực tiếp glucose thành điện năng. Thiết bị này nhỏ hơn so với các tế bào nhiên liệu glucose khác với độ dày được đo đạc là chỉ bằng 400 nano mét, hoặc khoảng 1/100 đường kính tóc người. Nguồn điện từ đường này có thể tạo ra 43 microwatts/cm2 điện năng, đạt mức mật độ năng lượng cao nhất so với các pin nhiên liệu từng được biết đến trước đây trong điều kiện thông thường.  Thiết bị mới này rất bền, điều này cho phép nó hoạt động tới mức nhiệt độ trên 600 độ C. Nếu được tích hợp trong một thiết bị y khoa được cấy ghép, tấm pin nhiên liệu này có thể còn bền ở quá trình khử trùng với mức nhiệt cao, vốn là điều kiện đòi hỏi đối với các loại thiết bị cấy ghép vào cơ thể người.  Tâm điểm của thiết bị mới được làm từ ceramic, một vật liệu có các đặc tính điện hóa ngay cả ở mức độ nhiệt cao và các quy mô tối giản khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã hình dung thiết kế mới có thể được làm tháng dạng màng siêu mỏng hoặc các lớp phủ và cuốn quanh các thiết bị cấy ghép để tạo ra các thiết bị điện thụ động, sử dụng nguồn cung cấp glucose dồi dào trong cơ thể.  “Glucose có mặt ở khắp nơi trong cơ thể, và ý tưởng của chúng tôi là khai thác nguồn năng lượng sẵn có và sử dụng nó để cấp điện cho các thiết bị cấy ghép trong cơ thể”, Philipp Simons, người phát triển thiết kế trong khuôn khổ luận án nghiên cứu sinh tại Khoa Khoa học vật liệu và Kỹ thuật  (DMSE) ở MIT, nói. “Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã cho thấy một dạng điện hóa pin nhiên liệu mới”.  “Thay vì sử dụng pin chiếm tới 90% dung lượng một thiết bị cấy ghép, anh có thể tạo ra một thiết bị với một màng mỏng và anh có một nguồn điện không tốn diện tích”, Jennifer L. M. Rupp, người hướng dẫn Simons làm luận án tiến sĩ và là một giáo sư thỉnh giảng ở DMSE, hiện là phó giáo sư hóa học điện phân chất rắn tại trường đại học Kỹ thuật Munich ở Đức, nói.  Simons và cộng sự đã nêu rõ chi tiết thiết kế của mình trong tạp chí Advanced Materials. Đồng tác giả của nghiên cứu là Rupp, Steven Schenk, Marco Gysel, và Lorenz Olbrich.  Một phân tách khó  Việc truyền cảm hứng cho pin nhiên liệu mới này đến vào năm 2016, khi Rupp, một chuyên gia về thiết bị ceramics và điện hóa, đến xét nghiệm glucose vào cuối thời điểm thai kỳ của mình.  “Trong phòng làm việc của bác sĩ, với tư cách là một nhà điện hóa cảm thấy chán ngắt, tôi nghĩ về những điều có thể làm với đường và điện hóa”, Rupp kể lại. “Sau đó tôi nhận ra, có thể tốt cho một thiết bị ở trạng thái rắn một nguồn điện từ glucose. Rồi Philipp và tôi cùng uống coffee và đưa ra một phác thảo đầu tiên trên khăn ăn”.  Nhóm nghiên cứu này không phải là nơi đầu tiên làm về pin nhiên liệu glucose bởi nó từng được giới thiệu vào những năm 1960 và chứng tỏ tiềm năng chuyển đổi năng lượng hóa học của glucose thành năng lượng điện. Nhưng các tế bào nhiên liệu glucose tại thời điểm đó chứa các polymer mềm và nhanh chóng bị các loại pin lithium-iodide lấn át bởi khi đó loại pin này đã trở thành các nguồn điện tiêu chuẩn cho thiết bị y khoa cấy ghép, nổi tiếng nhất với máy tạo nhịp tim.  Tuy nhiên các loại pin này có giới hạn về kích thước vì thiết kế của chúng đòi hỏi các năng lực vật lý để lưu trữ năng lượng.  “Tế bào nhiên liệu chuyển đổi năng lượng trực tiếp hơn là lưu trữ trong một thiết bị, vì vậy anh không cần đến kích thước vốn để một cái pin thông thường lưu trữ năng lượng”, Rupp nói.  Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã chú ý hơn tới các tế bào nhiên liệu glucose như một nguồn điện nhỏ hơn, được tiếp nhiên liệu một cách trực tiếp từ nguồn glucose dồi dào trong cơ thể người.  Một thiết kế cơ bản về pin nhiên liệu glucose bao gồm ba lớp: một cực dương ở trên, một lớp điện phân ở giữa và một cực âm ở dưới cùng. Cực dương tương tác với glucose trong dịch cơ thể, chuyển đổi đường thành a xít gluconic. Quá trình chuyển đổi điện hóa này giải phóng một cặp proton và một cặp electron. Lớp điện phân trung gian tương tác để phân tách các proton khỏi các electron, hướng dẫn các proton xuyên qua tế bào nhiên liệu, nơi chúng kết hợp với không khí để hình thành các phân tử nước – một sản phẩm phụ không độc hại chảy cùng dịch cơ thể. Tuy nhiên các điện tích bị cô lập chảy thành một mạch ngoài, nơi chúng có thể hữu dụng để tạo ra điện cho một thiết bị điện.  Nhóm nghiên cứu cải thiện các vật liệu và các thiết kế hiện có bằng việc chỉnh sửa lớp điện phân thường được làm từ các polymer. Nhưng các đặc tính của  polymer, cùng với năng lực điều khiển các proton, dễ dàng bị giảm năng lực ở các mức nhiệt độ cao, rất khó để giữ được năng lực khi quy mô hạ xuống kích thước nano mét, và cũng khó để tiệt trùng. Các nhà nghiên cứu đã tự hỏi là liệu ceramic – một vạt liệu kháng nhiệt có thể điều khiển các proton một cách tự nhiên – có thể được dùng làm chất điện phân cho pin nhiên liệu glucose được không.  “Khi nghĩ đến ceramics cho pin nhiên liệu glucose, chúng tôi nghĩ là chúng có thể đem lại một tiến triển về độ bền dài hạn, khả năng tồn tại ở quy mô nhỏ và tích hợp được với chip silicon”, Rupp nói. “Chúng rất cứng và bền”.  Mức đỉnh năng lượng  Các nhà nghiên cứu đã thiết kế ra một pin nhiên liệu glucose với một điện phân được làm từ ceria, một vật liệu có độ dẫn ion cao, có độ bền về mặt cơ học và do đó được sử dụng rộng rãi như một chất điện phân trong các pin nhiên liệu hydro. Nó cũng được biết đến như một chất có khả năng tương thích sinh học cao.  “Ceria đã được nghiên cứu nhiều trong cộng đồng nghiên cứu về ung thư”, Simons lưu ý. “Nó cũng giống như zirconia, cũng được sử dụng trong răng bằng implant, có độ tương thích sinh học và an toàn cho người”.  Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm chất điện phân này với một cực dương và một cực âm được làm từ platinum, một vật liệu bền và có tương tác với glucose. Họ đã tạo ra được 150 tấm pin nhiên liệu glucose trên một con chip, mỗi chiếc có bề dày 400 nano mét và rộng khoảng 300 micro mét (tương đương đường kính của 30 sợi tóc người). Họ làm mẫu các tấm pin này lên silicon wafer, cho thấy các thiết bị có thể được kết cặp với một vật liệu bán dẫn. Sau đó họ đo đạc dòng điện chạy qua mỗi tấm pin khi họ đưa nó vào một dung dịch glucose mỗi tấm wafer trong một điểm sạc.  Họ phát hiện ra nhiều tế bào nhiên liệu tạo ra một điện áp đỉnh khoảng 80 millivolts. Với kích thước của mỗi tế bào pin, con số này là mật độ điện năng cao nhất mà bất kỳ thiết kế pin nhiên liệu glucose có thể tạo được ra.  “Thật thú vị, chúng tôi có khả năng thu được điện năng và dòng điện đủ dùng cho các thiết bị y khoa cấy ghép”, Simons nói.  “Đây là lần đầu tiên hiện tượng dẫn proton trong vật liệu điện ceramic có thể được sử dụng để chuyển đổi glucose thành điện năng, qua đó tái định nghĩa một dạng mới của điện hóa”, Rupp nói. “Nó mở rộng vật liệu được sử dụng cho pin nhiên liệu hydro cho những mô hình chuyển đổi glucose mới đầy thú vị”.  Các nhà nghiên cứu đã “mở ra một con đường mới cho các nguồn điện vi mô để tạo ra những cảm biến có thể cấy ghép và cho những chức năng khác”, Truls Norby, một giáo sư hóa học tại trường đại học Oslo ở Nauy, người không tham gia vào nghiên cưu, nhận xét. “Vật liệu ceramic không độc hại, ít nhất không làm thay đổi những điều kiện trong cơ thể con người và điều kiện vô trùng trước khi cấy ghép. Ý tưởng này và việc chứng minh nó còn rất nhiều hứa hẹn”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-05-ultrathin-fuel-cell-body-sugar.html  https://www.hospimedica.com/surgical-techniques/articles/294793002/glucose-fuel-cell-uses-sugar-present-in-blood-to-power-medical-implants.html    Author                .        
__label__tiasang Tế bào T mới có thể vô hiệu hóa của Omicron      Trong khi các biến thể SARS-CoV-2 mới xuất hiện thường làm suy yếu khả năng bảo vệ của kháng thể, thì tế bào T vẫn có thể nhận ra và vô hiệu hóa mầm bệnh.      Tế bào T (hình ảnh từ kính hiển vi điện tử) từ những người đã được tiêm chủng hoặc phục hồi sau COVID-19 có thể nhận ra và nhắm mục tiêu đến biến thể Omicron, trong khi kháng thể bị giảm hiệu quả    Khi nói đến khả năng miễn dịch chống lại SARS-CoV-2, kháng thể thường là tiêu điểm. Các nhà nghiên cứu thường dựa vào mức độ kháng thể – đặc biệt là kháng thể trung hòa có tác dụng ngăn chặn virus nhân lên – để xác định mức độ miễn dịch. Nồng độ kháng thể trung hòa giảm tương quan với tăng nguy cơ nhiễm bệnh có triệu chứng.    Nhưng các biến thể SARS-CoV-2 mới liên tục phát sinh đã cho thấy khả năng miễn dịch dựa trên kháng thể mong manh như thế nào. Các kháng thể trung hòa chỉ liên kết và vô hiệu hóa được một số vùng nhất định trên protein gai của SARS-CoV-2, cụ thể là các vùng được sử dụng để tạo thành vaccine. Nếu các vùng này đột biến và thay đổi, khả năng bảo vệ của kháng thể cũng mất dần.    Trong khi đó, theo Wendy Burgers và Catherine Riou, hai nhà miễn dịch học tại Đại học Cape Town ở Nam Phi, một nhánh khác của hệ thống miễn dịch – các tế bào miễn dịch chuyên biệt gọi là tế bào T – vẫn phát huy tác dụng.    Tế bào T thực hiện nhiều chức năng miễn dịch khác nhau, bao gồm hoạt động như các tế bào sát thủ, tiêu diệt các tế bào bị nhiễm virus, nhờ đó hạn chế virus nhân lên và làm giảm nguy cơ mắc bệnh nặng.    Tế bào T không có xu hướng giảm theo thời gian như các kháng thể. Và bởi vì tế bào T có thể nhận ra nhiều vị trí trên protein gai hơn so với kháng thể, chúng có khả năng nhận ra mầm bệnh ngay cả khi virus mang nhiều đột biến.    Phân tích các tế bào T lấy từ những người đã tiêm vaccine COVID-19 hoặc bị nhiễm một biến thể trước đây, các nghiên cứu phát hiện, tế bào T vẫn phản ứng khi tiếp xúc với Omicron. “Các phản ứng của tế bào T vẫn còn khá nguyên vẹn, đó là tin tốt,” theo Corine Geurts van Kessel, nhà virus học lâm sàng tại Trung tâm Y tế Erasmus ở Rotterdam, Hà Lan. “Nhưng câu hỏi tiếp theo là: phản ứng này như thế nào trong thực tế?”    Trong thực tế, phản ứng của tế bào T tương quan với khả năng bảo vệ khỏi COVID-19 nặng trong các mô hình động vật và cả các nghiên cứu lâm sàng ở người. Dan Barouch, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu virus và vaccine tại Trường Y Harvard ở Boston, Massachusetts cho rằng vaccine của Pfizer – BioNTech và Janssen có thể chống lại bệnh nặng khi nhiễm biến thể Omicron nhờ các tế bào T. “Cả hai loại vaccine này đều không làm tăng lượng kháng thể trung hòa chống lại Omicron. Theo quan điểm của tôi, dữ liệu về hiệu quả các vaccine này, như đang thấy ở Nam Phi, có thể do tế bào T,” Barouch nói.    Vì các lý do trên, việc các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào kháng thể là thiếu sót, theo Harlan Robins, giám đốc khoa học và đồng sáng lập của Adaptive Biotechnologies, một công ty có trụ sở tại Seattle, Washington, chuyên phát triển các phương pháp nghiên cứu tế bào T. Tháng trước, Pfizer và BioNTech thông báo vaccine COVID-19 của họ không tạo được phản ứng kháng thể ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi, do đó không được phép sử dụng cho trẻ em dưới 5 tuổi ở Mỹ. “Họ thậm chí còn không xem xét phản ứng của tế bào T,” Robins lưu ý.    Các thử nghiệm vaccine quy mô ở người lớn trước đây cũng không thu thập đủ các mẫu cần thiết để phân tích xem liệu phản ứng của tế bào T có thể tương quan với hiệu quả của vaccine hay không.    Tế bào T sẽ được quan tâm hơn khi có nhiều biến thể mới, theo Geurts van Kessel, và thế giới bắt đầu chuyển trọng tâm từ số ca nhiễm sang mức độ nặng của bệnh. “Nếu quan tâm đến số ca nhiễm, kháng thể là phép đo quan trọng hơn, còn nếu quan tâm đến số ca bệnh nặng – như cách nên làm hiện nay – thì tế bào T trở nên quan trọng hơn nhiều,” Geurts van Kessel nói.    Hoàng Mai    Author                phongvien        
__label__tiasang Tế bào thần kinh gốc ở não có thể kiểm soát quá trình lão hóa      Trong một nghiên cứu thử nghiệm trên chuột, các nhà khoa học ở đại học Y Albert Einstein (Mỹ) đã phát hiện ra các tế bào gốc ở vùng não dưới đồi (hypothalamus) kiểm soát quá trình lão hóa trong cơ thể. Phát hiện này có thể giúp hình thành các phương án chữa trị để ngăn ngừa các bệnh liên quan tới lão hóa và tăng cường tuổi thọ và đã được công bố trên tạp chí Nature vào 26 tháng 7 vừa qua.      Vùng não dưới đồi.    Trong một nghiên cứu trước đó công bố trên Nature vào năm 2013, các nhà khoa học ở đại học Y Albert Einstein đã bước đầu nhận ra rằng vùng não dưới đồi điều chỉnh sự lão hóa trong cơ thể. Tới gần đây, họ đã xác định được cụ thể một số lượng nhỏ tế bào thần kinh gốc (neural stem cells- mà trước đây mới chỉ được biết có nhiệm vụ tạo ra neuron thần kinh mới) đảm nhiệm vai trò đó.  “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng khi số lượng tế bào thần kinh gốc ở vùng dưới đồi (hypothalamic neural stem cells) giảm xuống một cách tự nhiên trong suốt cuộc đời của động vật, và sự suy giảm đó đẩy nhanh quá trình lão hóa” TS. Dongsheng Cai, nhà dược học phân tử ở đại học Y Albert Einstein, tác giả chính của nghiên cứu này cho biết. “Đồng thời chúng tôi cũng phát hiện ra rằng, không phải là không thể đảo ngược sự suy giảm [các tế bào thần kinh gốc] này. Có thể làm chậm hoặc thậm chí đảo ngược một số đặc điểm của quá trình lão hóa trong cơ thể, thông qua việc bổ sung các tế bào gốc hoặc các phân tử mà chúng tạo ra”, ông nói thêm.  Đầu tiên các nhà khoa học quan sát những tế bào gốc này ở vùng não dưới đồi của những con chuột khỏe mạnh. Số lượng tế bào gốc bắt đầu giảm khi lũ chuột có tuổi thọ 10 tháng – vài tháng trước khi các dấu hiệu lão hóa thông thường bắt đầu xuất hiện. “Ở tuổi già – khi những con chuột đạt hai tuổi – hầu như các tế bào gốc này biến mất”, TS. Cai nói. Sau đó các nhà nghiên cứu tìm hiểu liệu sự suy giảm tế bào gốc này có thực sự gây ra quá trình lão hóa hay không bằng việc cho tiêu diệt có chọn lọc các tế bào gốc dưới đồi ở những con chuột đang ở tuổi trưởng thành, họ nhận thấy những con chuột bị tiêu diệt tế bào gốc này đã chết sớm hơn những con chuột bình thường ở nhóm đối chứng.  Phát hiện này có thể dẫn tới liệu pháp bổ sung tế bào gốc vào vùng não dưới đồi để làm giảm quá trình lão hóa hay không? Để trả lời câu hỏi này, TS. Cai và các đồng nghiệp tiếp tục tìm hiểu cơ chế mà các tế bào gốc vùng não dưới đồi có thể chống lão hóa và phát hiện, các tế bào gốc này giải phóng các phân tử gọi là miRNAs, đóng vai trò chính trong điều chỉnh biểu hiện gen (gene expression – mọi quá trình liên quan đến việc chuyển đổi thông tin di truyền chứa trong gen).  Các nhà nghiên cứu đã chiết xuất miRNAs từ các tế bào gốc dưới đồi và tiêm chúng vào trong dịch não tủy của hai nhóm chuột: chuột trưởng thành có tế bào gốc vùng dưới đồi đã bị tiêu diệt và chuột trưởng thành bình thường. Sau khi phân tích mô và đánh giá sự thay đổi độ bền cơ, khả năng phối hợp, hành vi bầy đàn và khả năng nhận thức của lũ chuột, các nhà khoa học nhận thấy liệu pháp này làm giảm đáng kể quá trình lão hóa của cả hai nhóm chuột.  Lê Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2017/07/170726132107.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang TechCrunch Disrupt: Miền đất hứa của startup      Được tổ chức từ năm 2007, đến nay, TechCrunch Disrupt vẫn được coi là công cụ quyền lực của giới startup dù mỗi tuần ở Mỹ đều có một sự kiện công nghệ mới, bởi đó thực sự là nơi để những startup xuất sắc trình diễn trước các nhà đầu tư mạo hiểm lớn nhất nước Mỹ.    TechCrunch Disrupt là một sự kiện do TechCrunch – một blog công nghệ – tổ chức mỗi năm bốn lần tại New York, San Fransisco, London và Bắc Kinh. Năm 2007, TechCrunch được mô tả trên tạp chí Wired như một công cụ quyền lực trong giới startup: “Một mẩu nhận xét tích cực dài 400 chữ trên TechCrunch thường đồng nghĩa với số lượng người quan tâm tăng đột biến và là bảo chứng (cho startup) đối với những nhà đầu tư tiềm năng. […] Chẳng hạn, Trip Adler, CEO của Scribd, một startup ở San Fransisco được giới thiệu trên TechCrunch, cho biết, ngay sau đó, anh nhận được 10 cuộc điện thoại từ các nhà đầu tư mạo hiểm chỉ trong vòng 48 giờ”. Những gì người ta nhận được từ TechCrunch Disrupt cũng tương tự như khả năng mà “cha đẻ” của nó mang lại – sự nổi tiếng và sau đó là những nhà đầu tư, nhưng nổi tiếng nhanh hơn và các nhà đầu tư mạo hiểm cũng lớn hơn rất nhiều.     Thuyết trình, thuyết trình và… thuyết trình  TechCrunch Disrupt diễn ra trong vòng ba ngày với một thời gian biểu chật kín. Ngoài 45-60 phút ăn trưa, từ 7h30 sáng đến 6h tối liên tục diễn ra các buổi trò chuyện với các nhà sáng lập các công ty khởi nghiệp lớn, các “cuộc chiến” giữa các startup, và hackathon (cuộc thi để các nhóm khởi nghiệp lên ý tưởng, xây dựng và hoàn thiện demo sản phẩm trong vòng 24h). Tâm điểm của TechCrunch Disrupt chính là “cuộc chiến” giữa các startup được nói ở trên, gọi là TechCrunch Battlefield diễn ra trong suốt ba ngày: Mỗi startup sẽ lên sân khấu, thuyết trình trong sáu phút trước ban giám khảo gồm bốn-sáu người, là các nhà đầu tư, nhà khởi nghiệp và công nghệ hàng đầu thế giới, trong đó có Marissa Mayer (CEO của Yahoo), Ron Conway (một trong những nhà đầu tư công nghệ có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Mỹ), Roelof Botha (giám đốc tài chính của PayPal) và trả lời phản biện cũng trong vòng sáu phút. Mỗi ngày sẽ có ba phiên như vậy, mỗi phiên kéo dài một tiếng với năm ban giám khảo khác nhau. Sau hai ngày, họ sẽ công bố bốn-sáu startup bước vào vòng chung kết và lại thuyết trình trước một ban giám khảo mới.   Để tham gia TechCrunch Battlefield, các startup phải ở giai đoạn khởi đầu, chưa hề gọi vốn lần nào, chưa từng hoặc rất ít có mặt trên các phương tiện truyền thông và nộp đơn trước ba tháng. TechCrunch sẽ có một hội đồng gồm ban biên tập, các nhà đầu tư mạo hiểm xem xét và lựa chọn 2% – 5% trong tổng số hàng nghìn đơn đăng kí, công bố kết quả trước khi tổ chức TechCruch Disrupt một tháng.   Nhưng không phải chỉ trên sân khấu mới diễn ra những cuộc thuyết trình căng thẳng như vậy. Trung tâm của không gian diễn ra sự kiện là Startup Alley, gồm các gian trưng bày công nghệ và sản phẩm của khoảng gần 500 công ty khởi nghiệp, mọi thứ còn gay cấn hơn. Các công ty này lúc nào cũng phải trong tư thế sẵn sàng thuyết trình sản phẩm của mình trong vòng vài chục giây mỗi khi có nhà đầu tư và báo chí ghé thăm và mỗi ngày, họ phải thuyết trình ít nhất 100 lần. Nếu được nhiều khách tham quan bình chọn nhất, họ sẽ giành được một chỗ thi đấu trên TechCrunch Battlefield.   Mọi chương trình diễn ra ở TechCrunch Disrupt đều nhanh chóng. Những cuộc trò chuyện với các nhà sáng lập, những nhà đầu tư hoặc những người tiên phong về công nghệ và những bài thuyết trình về công nghệ mới luôn diễn ra nhiều nhất là 20 phút. Lê Huỳnh Kim Ngân, người sáng lập Action.vn (trang blog về startup đầu tiên ở Việt Nam) từng đi dự TechCrunch Disrupt 2012, nhận xét: “Diễn giả lớn, chuyên nghiệp và nói chuyện thực tế”.      Giá trị của tấm vé 2.000 USD    TechCrunch Disrupt không mở ra miễn phí cho công chúng, mỗi cá nhân tham dự tất cả các sự kiện tại đây phải mua vé với giá khoảng 3.000 USD và các công ty khởi nghiệp muốn đặt gian hàng tại Startup Alley cũng phải trả một khoản phí gần 2.000 USD. Tuy nhiên, đa phần đều cho rằng, cái giá đó là xứng đáng.   TechCrunch đưa những nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng, có ảnh hưởng lớn trên thế giới, tưởng như rất khó tiếp cận đến với các startup không mấy tên tuổi. Đội ngũ biên tập viên của TechCrunch đã quy tụ được những diễn giả là những người khởi nghiệp, kỹ sư công nghệ và các nhà đầu tư mạo hiểm “hot” nhất Silicon Valley như Mark Zuckerberg, Marrisa Mayer, Jack Dorsey (CEO và đồng sáng lập Twitter), Ron Conway, Michael Arrington (sáng lập TechCrunch)… Họ sẽ ghé thăm các gian hàng, lắng nghe các startup thuyết trình và gắn “sticker” vào booth của startup nếu họ thích sản phẩm. Bên cạnh đó, các nhà khởi nghiệp có thể trò chuyện và tiếp cận dễ dàng với các diễn giả hoặc các nhà đầu tư trong khuôn viên diễn ra sự kiện.           TechCrunch Battlefield vẫn giữ được “phong độ” của họ từ ngày đầu tổ chức, lí do quan trọng là vì những startup trình diện trên sân khấu được lựa chọn vô cùng kĩ lưỡng và rất xuất sắc. Trong số hàng nghìn startup nộp đơn, chỉ có 25 startup được tham gia TechCrunch Battlefield. David Le (quản lí quỹ đầu tư mạo hiểm SV Angel ở San Francisco) cho biết: “TechCrunch Startup Battlefield là về những startup vĩ đại của ngày mai. Nó hé lộ một chút về tương lai sẽ có diện mạo như thế nào”.          TechCrunch Battlefield lúc nào cũng được cho là “miền đất hứa” với các startup. Không chỉ được tổ chức tại bốn sự kiện hằng năm của TechCrunch Disrupt, TechCrunch Battlefield còn diễn ra tại CES Las Vegas dành riêng cho những nhóm khởi nghiệp phần cứng. Startup thắng cuộc sẽ được nhận ngay 50.000 USD. Nhưng ngay cả khi không chiến thắng, việc được lên sân khấu cũng đem lại cho các startup cơ hội thuyết trình sản phẩm của mình trước những người quyền lực nhất Silicon Valley và lắng nghe phản biện của họ, hiện diện trước hơn 2.000 khán giả và khoảng 2.000 khán giả ngồi xem video trực tuyến. CEO của Cloudflair (công ty cung cấp mạng lưới vận chuyển dữ liệu web tốc độ cao và bảo mật) từng nói: “Chúng tôi vật lộn để có được 100 khách hàng đầu tiên nhưng sau sự kiện Disrupt, chúng tôi có 5.000 khách hàng mỗi ngày”. Trong gần 10 năm qua, sau khi tham dự TechCrunch Battlefield, mỗi startup kêu gọi được trung bình 5.2 triệu USD trong vòng 12 tháng 1.  Vừa qua, tại TechCrunch San Francisco diễn ra từ 21-23/9, thắng cuộc là Agrilyst,  một startup trong lĩnh vực nông nghiệp thông minh, mới cho ra mắt phiên bản thử nghiệm cách đây hai tháng, cung cấp dịch vụ phân tích các dữ liệu thu được từ các cảm biến trong nhà kính, giúp người trồng có thể quản lí được việc thu hoạch, điều chỉnh chu kì tăng trưởng của cây dựa trên năng suất hiện tại. Mặc dù chưa xảy ra phi vụ đầu tư ngay lập tức tại TechCruch Disrupt nhưng CEO của Agrilyst, Allison Kopf, cho biết: “Bạn thắng cuộc thi này và ngay lập tức một cơn bão emails của những nhà đầu tư tràn vào hộp thư đến, tôi biết thế bởi nó là điều tất yếu”.    ————-  1 Số liệu này không tính các startup tham dự những TechCrunch Battlefield diễn ra ở CES Las Vegas.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Techfest 2016: Đông gấp đôi năm ngoái      Ngày 12/11 tại Hà Nội đã diễn ra sự kiện Techfest 2016 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức với số nhà đầu tư, startup và người tham dự đông gấp đôi so với năm ngoái.    Có thể nói, mô hình và mục đích của Techfest 2016 giống như Slush của Phần Lan – ngày hội khởi nghiệp lớn nhất Bắc Âu – với mục đích kết nối các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đến thị trường Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng với các doanh nghiệp khởi nghiệp.  Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói, cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo là một cộng đồng đặc biệt và nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển phải lấy “đây là mũi nhọn”. Ông đưa ra mười giải pháp để Nhà nước hỗ trợ cộng đồng khởi nghiệp bao gồm cơ chế hỗ trợ về vốn (để có thật nhiều quỹ tư nhân, nhà nước và nhiều nhà đầu tư thiên thần), giảm thiểu giấy phép con, sở hữu trí tuệ (dễ dàng đăng ký bảo hộ và tìm kiếm các công nghệ đã được đăng ký), tiếp cận thị trường ban đầu, thuế (thuế khi bán cổ phần), đẩy mạnh các không gian sáng tạo, miễn phí hoặc giảm giá các dịch vụ về luật và kế toán, đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao của đại học và khuyến khích doanh nghiệp, tạo điều kiện để các tập đoàn lớn liên kết hoặc mua lại doanh nghiệp.  Cho đến nay, Techfest 2016 là sự kiện khởi nghiệp có quy mô lớn nhất tại Việt Nam, được tổ chức trong một không gian mở rộng khoảng 2.500m2, với khoảng 100 startup, 100 nhà đầu tư và 2.000 người tham dự. Bên cạnh việc có mặt khá đầy đủ đại diện của các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư thiên thần, các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của tư nhân và nhà nước tại Việt Nam, Techfest là sự kiện khởi nghiệp đầu tiên ở Việt Nam quy tụ các lãnh đạo bộ, ban ngành và các nhà hoạch định chính sách như Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông, Phó chủ tịch UBND Tp. Hà Nội Ngô Văn Quý, Phó giám đốc sở KH&CN TP. Đà Nẵng, Giám đốc Sở KH&CN Tp. Hồ Chí Minh trò chuyện và trao đổi với giới startup trong các tọa đàm mở về việc xây dựng chính sách hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam.    Abivin, startup về dữ liệu lớn gặp gỡ với phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh tại Techfest 2016  So với năm 2015, Techfest 2016 thu hút gấp đôi số nhà đầu tư và số startup cũng như số người tham dự, cùng 18 tọa đàm và hội thảo diễn ra liên tục với nội dung hướng tới ba chủ đề: “Đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và tiềm năng thị trường ở Việt Nam” là diễn đàn cho các nhà đầu tư chia sẻ với các khán giả về tiêu chí, thời điểm và quan niệm của họ khi tìm kiếm các startup; “Phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp khởi nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo” có thể coi là nơi các nhà cố vấn khởi nghiệp chia sẻ những kiến thức cơ bản để khởi nghiệp kinh doanh như tuyển dụng, thiết kế sản phẩm, bảo vệ thương hiệu; “Xây dựng và phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” là nơi đại diện các cơ quan nhà nước, các trường đại học giới thiệu và thảo luận về các chính sách và chương trình hỗ trợ startup của mình.  Không gian của sự kiện tổ chức Techfest được chia thành ba khu vực triển lãm khởi nghiệp bao gồm: các startup trong lĩnh vực công nghệ mới (internet của vạn vật, dữ liệu lớn, fintech…); các startup trong lĩnh vực nông nghiệp/đời sống; và các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, xây dựng cộng đồng. Bên cạnh đó còn có cuộc thi tìm kiếm tài năng khởi nghiệp diễn ra trong vòng hai ngày 12-13/11, trong đó hai startup chiến thắng – Táy Máy Tò Mò (cung cấp các video về KH&CN, sáng chế cho đại chúng) và Hachi (với sản phẩm là giá trồng rau thủy canh tại nhà gắn liền với bộ điều khiển tưới nước từ xa bằng IoT) – giành phần thưởng là một chuyến thăm quan thung lũng Silicon Valley.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang TECHFEST 2018: Làm thế nào để startup Việt ra toàn cầu?      Ngày hội Khởi nghiệp Đổi mới Sáng tạo Quốc gia TECHFEST 2018 vừa khai mạc vào tối ngày 29/11 tại TP Đà Nẵng. Mặc dù đây là năm thứ tư sự kiện này được tổ chức nhưng là lần đầu tiên có sự góp mặt của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các đại diện Chính phủ như Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long… Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh nhận định trong lễ khai mạc, TECHFEST năm nay đã thu hút được sự đồng hành “tích cực”, “thực chất hơn” của các Bộ, ngành.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng các đại biểu thực hiện nghi thức khai mạc Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia Techfest 2018. Ảnh: TTTTChủ đề năm nay của TECHFEST là “Khởi nghiệp sáng tạo – Kết nối toàn cầu” (From here. To global). Chính vì vậy, trong nghi thức bấm nút khai mạc, có ba đại diện thuộc các tổ chức khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo toàn cầu tham dự đó là bà Susan Amat, thành viên ban quản trị Global Entrepreneurship Network , ông Peter Ong, chủ tịch Singapore Enterprise, Thành viên ban quản trị WEF Philipp Rösler. Lễ khai mạc năm nay cũng dành một góc để các startup và những người hỗ trợ khởi nghiệp năm nay được “tỏa sáng” và đưa ra những chia sẻ dưới góc nhìn của mình để startup Việt có thể vươn ra thị trường quốc tế. Phần lớn đều liên quan đến các góp ý chính sách về giáo dục – đào tạo và gọi vốn, mở rộng thị trường. Trong đó Ami, doanh nghiệp được giải nhất cuộc thi trong khuôn khổ TECHFEST 2017 với chuyến đi thăm Sillicon Valley và về sau được ươm tạo tại vườn ươm MAGIC, Malaysia cho biết, chính phủ cần thay đổi những chính sách về mua sắm công nhằm tạo điều kiện cho các startup tham dự và sẵn sàng thử những công nghệ mới để giải quyết những bài toán nóng của đô thị. Trần Quang Hưng, đại diện cuộc thi VietChallenge, cuộc thi khởi nghiệp dành cho người Việt ở nước ngoài, đề xuất chính phủ có có chính sách cho phép các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam được huy động nguồn vốn đầu tư từ chính xã hội như mô hình crowdfunding, ICO, hỗ trợ các tổ chức khởi nghiệp trong nước đặt đại diện tại một số trung tâm khởi nghiệp uy tín ở nước ngoài để có thể cập nhật và cung cấp thông tin, kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu. Lưu Thế Lợi, từng là nghiên cứu sinh tại Đại học quốc gia Singapore, CEO của Kyber Network, một startup đình đám liên quan đến giao dịch bằng tiền mã hóa vừa gọi vốn được 52 triệu USD cho rằng, thành công của anh là sự kết hợp giữa một hệ sinh thái phù hợp và một nền giáo dục tiên tiến. Anh cũng đưa ra kiến nghị, để những dự án khởi nghiệp trong nước tận dụng những công nghệ tối tân nhất trên thế giới, hướng đến giải quyết những bài toán có ảnh hưởng lớn trong cuộc sống không chỉ của Việt Nam và toàn thế giới, thì trước hết phải có một cộng đồng gồm nhiều lập trình viên, nhà nghiên cứu giỏi về những lĩnh vực đó và một môi trường pháp lý để cộng đồng khởi nghiệp “thỏa sức sáng tạo” và “thử nghiệm những sáng tạo của họ” mà hệ thống hiện tại chưa đề cập đến.Một góc triển lãm của Techfest 2018. Năm nay có hơn 250 nhà đầu tư tham dự nhưng mới chỉ có khoảng hơn 200 startup. Bên phải bức ảnh là gian triển lãm giới thiệu sáng kiến cổng dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, sẽ giúp startup tiếp cận với các dịch vụ tư vấn hàng đầu thế giới với giá ưu đãi. Ảnh: Hảo Linh.Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng thừa nhận rằng sự hiện diện của các startup Việt Nam trên thế giới còn khiêm tốn và hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam còn chưa tốt: “Chính phủ cũng nên tự hỏi mình rằng, tại sao nhiều người Việt phải ra nước ngoài khởi nghiệp, đặc biệt là Singapore?”. Và Thủ tướng thông báo một số giải pháp và cam kết của chính phủ. Ông nhấn mạnh: “Chính phủ sẽ tạo mọi điều kiện để có một môi trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thuận lợi nhất”. Theo đó, đáng chú ý là, sắp tới chính phủ sẽ xây dựng một chương trình khung quốc gia về khởi nghiệp và sáng tạo, tầm nhìn 2045 với chính sách cụ thể hơn Đề án 844 (về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp) và Đề án 1665 (về hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp). Ông cũng đề xuất thành lập các Trung tâm khởi nghiệp quốc gia, mạng lưới kết nối khởi nghiệp quốc gia kết nối những người có năng lực ở lĩnh vực kinh doanh và công nghệ và các cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp, trước mắt đặt tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.Thủ tướng khẳng định: “Chính phủ cam kết sẽ hỗ trợ tài chính và cấp nguồn lực cần thiết [cho trung tâm], nhưng không quản trị kiểu hệ thống hành chính quan liêu…”. Các trung tâm này, theo ông sẽ hoạt động tương tự như các vườn ươm, “huấn luyện và hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp ở giai đoạn đầu, khuyến khích và thách đố các nhà khoa học bước ra khỏi phòng thí nghiệm, nói chuyện với ngôn ngữ của khách hàng”. Đồng thời, đây cũng là dự án thử nghiệm để xây dựng các cơ chế hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp, chính phủ sẽ có quỹ bảo lãnh cho doanh nghiệp để được nhận đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang TECHFEST VIỆT NAM 2018: Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia      Điểm nổi bật của sự kiện năm nay chính là sự tham gia của các đối tác trong khu vực và trên thế giới như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, v.v.. trong các hoạt động xây dựng chương trình, đối thoại chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, v.v..    Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia – TECHFEST là sự kiện thường niên lớn nhất dành cho cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp tổ chức với các Bộ, ngành, địa phương và các tổ chức chính trị – xã hội. Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2015 đến nay, sự kiện đã thu hút đông đảo sự quan tâm và tham gia của các cá nhân tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và tạo được tiếng vang lớn với cộng đồng khởi nghiệp trong nước và quốc tế.  Nối tiếp thành công đó, TECHFEST 2018 sẽ được tổ chức vào tháng 11 tại Đà Nẵng với định hướng chủ đạo “Khởi nghiệp sáng tạo 4.0 – Kết nối toàn cầu”. Điểm nổi bật của sự kiện năm nay chính là sự tham gia của các đối tác trong khu vực và trên thế giới như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, v.v. trong các hoạt động xây dựng chương trình, đối thoại chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, v.v. Với mục tiêu trở thành một nền tảng liên kết, phát triển mạng lưới chia sẻ giữa các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam với hệ sinh thái khởi nghiệp trong khu vực và trên thế giới, TECHFEST hứa hẹn sẽ là sự kiện kết nối đầu tư, tạo cơ hội bước ra sân chơi quốc tế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo Việt Nam.  TECHFEST 2018 cung cấp một chương trình với nhiều hoạt động toàn diện nhất dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, chuyên gia công nghệ cũng như khách tham dự sự kiện nói chung, TECH- FEST là tấm vé để những người tham gia trải nghiệm trong một cộng đồng khởi nghiệp trẻ trung, năng động và đang phát triển mạnh mẽ thông qua chuỗi các hoạt động hấp dẫn mang đậm tinh thần khởi nghiệp đặc trưng Việt Nam.  Cuộc thi tìm kiếm tài năng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo  Cuộc thi tìm kiếm tài năng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là cuộc thi thuyết trình gọi vốn đầu tư dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, là cơ hội để các doanh nghiệp trẻ thể hiện năng lực đội ngũ, nền tảng công nghệ, mô hình kinh doanh mới và thuyết phục ban giám khảo để giành lấy những giải thưởng giá trị. Hơn thế nữa, cuộc thi cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp khởi nghiệp giới thiệu rộng rãi sản phẩm của mình và thu hút thị trường. Với ban giám khảo được lựa chọn từ những nhà đầu tư, huấn luyện viên khởi nghiệp và đào tạo khởi nghiệp danh tiếng trên thế giới, cùng sự tham gia của các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng, cuộc thi hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh biện ấn tượng và đầy sức thuyết phục.  Triển lãm sản phẩm, dịch vụ của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo  Khu vực triển lãm bao gồm quầy trưng bày sản phẩm dịch vụ của khoảng hơn 200 doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, mở cửa liên tục trong suốt sự kiện. Đây là nơi các doanh nghiệp có thể thử nghiệm tiềm năng sản phẩm, dịch vụ tương lai trên thị trường, quảng bá hình ảnh đồng thời tiếp cận với khách hàng, đối tác tiềm năng cũng như truyền thông trong nước và quốc tế.  Chuỗi hội thảo, toạ đàm  Xuyên suốt TECHFEST 2018 là các chuỗi hội thảo, toạ đàm của 08 làng công nghệ. Khách mời, diễn giả là những nhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước, các nhà sáng lập, quản trị doanh nghiệp với nhiều năm kinh nghiệm, các chuyên gia hàng đầu trong hỗ trợ, đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Đây là cơ hội tuyệt vời để chia sẻ, học hỏi, giao lưu, kết nối giữa các thành phần trong hệ sinh thái.  Hoạt động kết nối đầu tư  Sự hiện diện của hơn 130 nhà đầu tư, quỹ đầu tư trong nước và quốc tế là cơ hội để các doanh nghiệp khởi nghiệp thể hiện tiềm năng phát triển, tìm kiếm cơ hội đầu tư thông qua các cuộc gặp gỡ với nhà đầu tư. Các doanh nghiệp sẽ được huấn luyện trước khi gặp nhà đầu tư để tăng cường hiệu quả gọi vốn.  Trong khuôn khổ sự kiện, chuỗi hoạt động gồm có: triển lãm sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hội thảo/toạ đàm; kết nối đầu tư và cuộc thi Tìm kiếm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hứa hẹn sẽ thu hút hàng ngàn người tham dự. Chuỗi sự kiện TECHFEST Vùng sẽ được tổ chức trong khuôn khổ TECHFEST 2018, góp phần hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên toàn quốc cũng như thiết lập một nền tảng khu vực bền vững thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp. Các địa điểm đăng cai TECHFEST Vùng bao gồm Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, v.v. Tại đây, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp cùng với chính quyền địa phương và các đối tác để tập hợp và lựa chọn những doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tiềm năng tham dự Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia – TECHFEST 2018 tại Đà Nẵng.  Đăng ký tham dự tại: http://techfest.vn  Đầu mối liên hệ:  – Văn Phòng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ  Bà/Ms Phan Hoàng Lan: 0972592688  – Văn phòng Đề Án 844,  Bộ Khoa học và Công nghệ  Ông/Mr Nguyễn Việt An: 0934485667    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tekes: Tiên phong đổi mới phương thức tài trợ      Tekes – Quỹ Đổi mới sáng tạo Phần Lan, đã trở thành “trái tim của đổi mới sáng tạo” ở Phần Lan nhờ tiên phong thực hiện những cách thức “độc nhất vô nhị” trong tài trợ.      Các tựa game nổi tiếng của Supercell – một công ty do Tekes tài trợ. Nguồn: i.ytimg.com  Tekes được Chính phủ Phần Lan thành lập vào năm 1983 như một sáng kiến nhằm khôi phục nền kinh tế vừa trải qua suy thoái vào những năm 1970. Tekes đòng vai trò trung gian giữa các cơ quan nghiên cứu và phát triển, các doanh nghiệp và các trường đại học để giúp đồng bộ hóa tốc độ đổi mới. Trong giai đoạn 1985 – 2009, Quỹ đã tài trợ đến 65% các hoạt động đổi mới sáng tạo ở Phần Lan với ngân sách hằng năm khoảng 575 triệu euro.  Thành quả đặc biệt đáng tự hào của Tekes trong những năm 1980 – 1990 là đưa các trường đại học và viện nghiên cứu tham gia vào kế hoạch phát triển công nghệ kỹ thuật số và viễn thông, thiết lập nền tảng công nghệ và nguồn nhân lực ấn tượng đằng sau sự nổi lên của công ty Phần Lan Nokia. Ngoài ra, 47/50 công ty công nghệ phát triển nhanh nhất Phần Lan được hưởng lợi từ khoản đầu tư của Tekes. Chương trình Global Access Program của Tekes đã giúp tăng GDP thêm 20 triệu euro, với tỷ lệ hoàn vốn là 17 lần.  Rủi ro hơn nữa  Hoạt động như một tổ chức đầu tư mạo hiểm, vai trò chính của Tekes là chia sẻ rủi ro, vì vậy nếu một công ty có rủi ro đáng kể và không có các nhà đầu tư tư nhân ở xung quanh, nhưng họ có một khoản tiền của riêng mình, thì Tekes sẽ đến và chia sẻ rủi ro cùng họ. Điều này giúp các công ty đi nhanh hơn và chứng minh cho các nhà đầu tư tư nhân thấy là các công ty khởi nghiệp này đang hoạt động tốt. Có thể nói rằng, sự tài trợ của Tekes ở giai đoạn đầu khi rủi ro ở mức độ cao nhất là một dấu chứng nhận cho các nhà đầu tư tư nhân rằng đây là một công ty có giá trị tài trợ. Khoảng một phần ba số vốn của các dự án Tekes tài trợ đã thất bại hoàn toàn, nhưng Veli-Pekka Saarnivaara, nguyên giám đốc Tekes, muốn tỷ lệ này ngày càng cao hơn – nghĩa là, ông muốn mạo hiểm nhiều hơn. Điều này là xứng đáng, bởi dù rủi ro cao, lợi nhuận thu lại từ các dự án thành công là rất đáng kể – với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), mỗi euro mà Tekes đầu tư đã tạo ra 21 euro doanh thu. Triết lý của Tekes là: “Chấp nhận rủi ro nhiều hơn cả những nhà tài trợ tư nhân”. Tuy nhiên điều này chỉ có thể diễn ra ở Phần Lan, nơi tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới và người dân tin tưởng hoàn toàn vào Chính phủ – Tekes là cơ quan tự chủ hoàn toàn dù nhận tài trợ từ ngân sách Chính phủ.  Pekka Soini – cựu Giám đốc Tekes chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn: “Chúng tôi đã cho phép các ý tưởng thậm chí còn quá rủi ro, vẫn có thể tiếp tục. Chúng tôi khuyến khích chấp nhận rủi ro và đây có lẽ là điều quan trọng nhất trong bối cảnh khởi nghiệp…. Hiện tại nếu bạn đến một trường đại học và hỏi họ có muốn bắt đầu gây dựng một công ty cho riêng mình sau khi tốt nghiệp không, gần một nửa số sinh viên sẽ giơ tay. Nhưng 10 năm trước đây, chỉ có vài người.”  Cơ chế đối thoại  Không chỉ chia sẻ rủi ro, bí quyết để Tekes trở thành một nhà đầu tư khôn ngoan là việc Quỹ đã hợp tác chặt chẽ với các công ty khởi nghiệp, giúp họ lựa chọn lĩnh vực R&D, cùng xác định thị trường và sản phẩm, đồng thời thuyết phục các trường đại học và tổ chức nghiên cứu Phần Lan hợp tác với công ty này. Việc Tekes cùng thảo luận về loại R&D cần thực hiện với công ty cũng đã tạo ra điểm khác biệt lớn nhất giữa Quỹ và các cơ quan tài trợ khác trên thế giới – Tekes đối thoại với các công ty trước khi tài trợ để hiểu tầm nhìn tăng trưởng của công ty – giống như cách thức mà một công ty đầu tư mạo hiểm (VC) thực hiện. Tuy nhiên Tekes không phải một VC, nên việc Quỹ tìm hiểu chỉ để giúp startup tiến tới các giai đoạn phát triển tiếp theo. Cơ chế đối thoại cũng giúp Tekes nhanh chóng tìm ra các cơ chế mới, công cụ tài trợ mới và dịch vụ mới thích ứng với tình hình hiện tại.    Tác động của Tekes tới đổi mới sáng tạo. Nguồn: tekes.fi  Một ví dụ là khi nhận ra Nokia đang sa thải nhân viên bởi tập đoàn này có quá nhiều ý tưởng không thể thực hiện được, Tekes đã trao đổi cùng đại diện tập đoàn và thống nhất thực hiện một chương trình, gọi là Innovation Mill, để cho phép những người rời Nokia có thể thành lập công ty mới bằng những ý tưởng không được Nokia coi trọng. Trên thực tế, các công ty có thể sử dụng tùy ý bộ cơ sở dữ liệu khổng lồ các ý tưởng không dùng đến của Nokia, nhờ vậy, hàng trăm công ty mới đã được thành lập ở Helsinki và các thành phố khác. Innovation Mill trở thành hình mẫu cho các công ty khác học tập, về cách mà những ý tưởng không thể sử dụng vẫn có thể thương mại hóa nếu được trao cho các công ty bên ngoài khác thích hợp hơn.  Ngoài ra, khi Tekes nhận ra một xu hướng đang nổi lên, Quỹ có thể tạo ra các chương trình hướng đến xu hướng này và mời các công ty, các tổ chức nghiên cứu, trường đại học và các đối tượng khác nhau trong hệ sinh thái khởi nghiệp tới gặp gỡ, trao đổi ý tưởng, tài trợ lẫn nhau và qua đó có thể hình thành một công ty liên minh mới. Ví dụ điển hình là ngành công nghiệp trò chơi, sau khi đầu tư thành công vào công ty Supercell, Tekes nhận ra đây là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Internet đã tạo điều kiện phát triển ngành này, tuy nhiên nếu không có một trí tưởng tượng phong phú, rất khó để tạo ra một trò chơi thú vị. Vì thế sau khi đánh giá nền giáo dục trong nước với các quốc gia khác, Tekes đã vận động ngành giáo dục để chương trình học thoáng hơn – dành nhiều thời gian cho các trò chơi và trí tưởng tượng, thay vì yêu cầu bài tập về nhà trong giai đoạn đầu đến trường. Càng có nhiều người chơi, trí tưởng tượng càng phát triển và sau 15 – 20 năm, một văn hóa trò chơi đã được tạo ra, đưa Phần Lan thành một trong những ông lớn nhất trong ngành công nghiệp trò chơi hiện nay. Tekes đã đầu tư khoảng 70 triệu euro vào các công ty phát triển trò chơi trong 10 năm qua, và chỉ cần mình Supercell đã hoàn trả đủ khoản đầu tư này thông qua thuế doanh nghiệp.  Không áp dụng một công thức cho tất cả  Ngoài cơ chế đối thoại, điều khiến mô hình của Tekes trở nên “độc nhất vô nhị” là Quỹ không tài trợ mọi thứ theo cùng một cách. Nếu như METI (Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp) của Nhật Bản hoặc DARPA (Cơ quan Dự án Nghiên cứu Cấp cao Quốc phòng) của Hoa Kỳ thường nhắm đến việc giải quyết các thách thức hiện có thì ở Tekes, mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có một cách tiếp cận riêng biệt. Tekes là sự kết tinh của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chính phủ chung một tầm nhìn – hợp tác công – tư là chìa khóa sống còn cho nghiên cứu và phát triển, vì thế cơ chế tài trợ của Tekes là hướng đến hợp tác giữa các chủ thể khác nhau trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Ví dụ như với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng công ty lớn, Tekes sẽ xem xét cách họ liên kết với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu và các SME khác. Ngược lại, khi tài trợ cho các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, Tekes cũng đòi hỏi sự hợp tác với các công ty, bởi thứ Quỹ cần là một hiệu ứng “tràn” – việc đầu tư cho một đối tượng này sẽ có tác động tích cực đến các đối tượng khác trong hệ sinh thái khởi nghiệp.  Khoảng 50% ngân sách của Tekes đầu tư theo mô hình đối ứng vốn, ví dụ như công ty đầu tư 50% vốn ban đầu, và Tekes sẽ bỏ ra 50% còn lại, trong các dự án thuộc những chương trình trọng điểm quốc gia. Bằng cách này, Tekes không chỉ kích thích các khu vực theo định hướng của Quỹ mà còn tránh được việc “đánh các canh bạc lớn” như các nước Đông Á – nơi chính phủ là đơn vị duy nhất bỏ tiền cho các chương trình lớn.  Và 50% ngân sách còn lại của Tekes đầu tư theo phương pháp bottom-up, đầu tư cho bất kỳ ý tưởng nào được đề xuất đến cho Tekes, nhằm đảm bảo rằng không có giới hạn tự do nào cho đổi mới sáng tạo – vì “Chúng tôi không thể luôn luôn khẳng định được ý tưởng, mô hình hoặc công ty nào sẽ thành công.” – Pekka Soini chia sẻ. Trong giai đoạn đầu, miễn là đội ngũ công ty có thể chứng minh họ có sẵn 10.000 – 15.000 euro trong tay, Tekes có thể cung cấp lại cho họ một khoản tiền nhỏ khoảng 50.000 euro để thử nghiệm dự án trước khi bước vào giai đoạn R&D. Nhờ hỗ trợ sớm này, ý tưởng có thể vượt qua được giai đoạn rủi ro ban đầu và bắt đầu được các nhà đầu tư tư nhân để ý đến.    Nguồn: tekes.fi  Các chương trình mà Tekes tài trợ cũng không bị giới hạn. Một số đến một cách ngẫu nhiên, như chương trình quy mô quốc gia về 5G, xuất phát từ việc có khoảng 20 startup tiếp cận Quỹ và thuyết phục Tekes cần một chương trình như vậy, bởi họ tin rằng 5G sẽ là một chìa khóa quan trọng trong tương lai. Một số khác được Tekes kích hoạt khi Quỹ dự đoán lĩnh vực này sẽ có nhu cầu trong tương lai, mặc dù hiện tại chưa có công ty trong mảng này. Xe điện, số hóa và y tế kỹ thuật số là những chương trình như vậy, trong đó đầu tư cho số hóa từng chiếm đến một nửa kinh phí dự án của Tekes. Phương châm của Tekes là ủng hộ bất kỳ công ty nào, từ công nghệ cao đến dịch vụ với mọi mô hình kinh doanh, bởi vì sự đổi mới có thể đến từ bất kỳ khu vực nào. Khi nhìn thấy cơ hội, Tekes rộng mở với tất cả.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn https://english.cw.com.tw/article/article.action?id=596  http://www.washingtonpost.com/wp- dyn/content/article/2005/07/13/AR2005071302227_2.html  Tekes (2013), The impact of Tekes and innovation activities 2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Terry Hughes: “Lính canh” đá ngầm      Nhân vật thứ ba trong danh sách 10 nhà khoa học xuất sắc năm 2016 do Nature bình chọn là Terry Hughes, nhà nghiên cứu về san hô đã rung tiếng chuông cảnh báo về hiện tượng tẩy trắng nghiêm trọng tại Great Barrier Reef.      Terry Hughes nghiên cứu về hiện tượng tẩy trắng tại các rạn san hô. Ảnh: The Caim Post  Khi bay qua Great Barrier Reef vào tháng 3/2016, trái tim Terry Hughes thắt lại trước các dấu hiệu chết chóc hoặc mất dần sức sống ngay trên bề mặt rạn san hô.  Hughes, giám đốc Trung tâm xuất sắc về nghiên cứu rạn san hô thuộc Hội đồng nghiên cứu Australian Research Council (ARC) kể lại, ông và các nghiên cứu sinh đã bật khóc khi chứng kiến những thiệt hại nặng nề ngay từ những cuộc khảo sát trên không. Sự tẩy trắng diễn ra gần như khắp bãi ngầm, nặng nề nhất là khu vực phía bắc với độ tẩy trắng tới 81% diện tích. Đây là hiện tượng tẩy trắng lớn nhất trong lịch sử của Great Barrier Reef được ghi nhận – và chỉ là một phần cúa hiện tượng phá hủy san hô ở quy mô lớn hơn, trên biển Thái Bình Dương.  Khi hiện tượng El Niño gây ảnh hưởng ở Thái Bình Dương vào năm 2015, các nhà nghiên cứu Australia đã lo ngại đến khả năng các rạn san hô của quốc gia mình bị tàn phá. Vì vậy Hughes, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về san hô, đã tập hợp một nhóm gồm 300 nhà khoa học để tiến hành khảo sát Great Barrier Reef. Ông cho biết “Dù cùng nhau đề ra một kế hoạch khá tỉ mỉ [để kiểm soát hiện tượng tẩy trắng] nhưng chúng tôi vẫn hy vọng là điều đó sẽ không xảy ra”. Sau khi tiến hành khảo sát, ông trở thành người đại diện của nhóm và trao đổi với báo giới về thảm họa này. Ở cao điểm thu hút báo giới, có ngày Hughes đã trả lời 35 cuộc phỏng vấn.  Tác động của những thông tin mà Hughes cung cấp như thế nào? Bob Pressey, một nghiên cứu viên tại Trung tâm ARC nhận xét: “Ở Australia, ngay cả những người chưa bao giờ đến Great Barrier Reef và có thể là sẽ không bao giờ tới đó vẫn coi nó như một biểu tượng [về sự tàn phá môi trường biển]”.  Những gì diễn ra trên các rạn san hô bất chấp một số quy luật sinh học. Hughes cho biết, những suy nghĩ thông thường về hiện tượng tẩy trắng là san hô chết từ từ vì đói sau khi zooxanthellae, các động vật nguyên sinh đơn bào sống cộng sinh, rời đi. Nhưng năm 2016, nhiệt độ nước biển tăng lên quá cao đến mức “chúng tôi thấy rất nhiều rạn san hô chết trước khi ‘nạn đói’ bắt đầu. San hô đã bị ‘chín’ thực sự”.  Trong vài năm trở lại đây, các rạn san hô trên khắp thế giới đã phải vật lộn để tồn tại vì nhiệt độ toàn cầu đã tăng tới mức kỷ lục. Theo công bố của Cơ quan quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ vào tháng 10/2015, hiện tượng tẩy trắng toàn cầu diễn ra trên các rạn san hô ở Hawaii, Papua New Guinea, Maldives.  Năm 2016, hiện tượng tẩy trắng lan rộng tới Australia, Nhật Bản và nhiều quốc gia khác ở Thái Bình Dương. Các nhà nghiên cứu cho rằng, biến đổi khí hậu đã làm gia tăng nhiệt độ lên cao hơn, nạn tẩy trắng sẽ có thể gây tác hại lớn hơn cho các rạn san hô. Theo một vài kịch bản, điều này có thể diễn ra thường xuyên đến nỗi, các rạn san hô có thể sẽ chết dần mòn.  Hughes không từ bỏ việc nghiên cứu về Great Barrier Reef. Một trong những hậu quả của sự tẩy trắng là sự suy yếu của các rạn san hô, dẫn đến việc san hô dễ bị mầm bệnh, và cả những thợ săn san hô, tấn công. Trong tương lai gần, một hiện tượng tẩy trắng khác có thể còn gây nhiều thiệt hại hơn nữa. “Thông điệp chúng tôi gửi đến mọi người là hãy cùng chúng tôi đối phó với biến đổi khí hậu”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/nature-s-10-1.21157    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tesla giới thiệu ô tô điện mới chạy nhanh nhất thế giới      Nhà tiên phong về ô tô điện Tesla Motors vừa loan báo về phiên bản mới P100D của Model S và Model X là “mẫu xe nhanh nhất thế giới” và hứa hẹn sẽ phá vỡ các kỷ lục trước đó về ô tô điện.      Chiếc xe ô tô điện mới Model S P100D của Tesla  Chỉ trong vòng 2,5 giây, chiếc xe mới Model S P100D của Tesla có thể tăng tốc từ 0 đến 60 dặm/giờ và sau 2,7 giây đạt tốc độ từ 0 đến 100km/giờ – theo đánh giá từ Palo Alto, một công ty có trụ sở tại California. Với chỉ số này, Model S P100D trở thành chiếc xe chạy nhanh nhất thế giới.  Elon Musk, chủ tịch điều hành của Tesla đánh giá, hiện nay chỉ có LaFerari và Porsche 918 Spyder, hai loại ô tô có động cơ chạy bằng xăng, đạt được tốc độ cao hơn nhưng điểm yếu lớn của những siêu xe triệu đô hai chỗ ngồi này chính là giá cả quá cao nên ngày càng khó bán.  Giải pháp giúp Tesla Motors nâng cao chất lượng chiếc xe P100D chính là Ludicrous Mode, một bộ ắc quymới có năng lượng tiêu thụ được nâng cấp lên với công suất 100kw/giờ. Musk cho biết, cấu tạo hóa học của các tấm pin của ắc quy này cũng giống như trong các thiết kế trước đây của Tesla, nhưng bộ ắc quy này đã được cấu hình lại để lưu trữ nhiều năng lượng hơn (mặc dù cùng dung lượng với các bộ ắc quy cũ) và có khả năng tự làm mát tốt hơn.  Với mức giá 10.000 USD/bộ trong lần ra mắt vào năm ngoái, Ludicrous Mode sẽ làm chiếc xe Model S tăng giá lên tới 134.500 USD (giá của chiếc P90D cũ thấp hơn 9.500 USD). Giá xe có vẻ cao nhưng nếu không quan tâm đến vấn đề tiền bạc thì các khách hàng quan tâm đến chiếc Model S cần biết rằng trong một lần xạc pin, chiếc xe có thể chạy tới 315 dặm (tương đương 506 km). Theo lời tuyên bố của Tesla, đây là chiếc xe điện đầu tiên trên thế giới có thể chạy được quãng đường trên 300 dặm mà mới cần phải xạc pin.  Chiếc Model X cũng có bộ ắc quy tương tự. Với bộ phụ kiện Ludicrous Mode, chiếc SUV này có thể tăng giá đến 135.500 USD và điều quan trọng hơn là đưa nó trở thành chiếc xe chạy nhanh nhất thế giới hiện nay. Bộ ắc quymới với ưu điểm về năng lượng này sẽ góp phần đưa Model X đi được quãng đường 289 dặm chỉ với một lần xạc pin.  Trong bản tuyên bố trước báo giới, Tesla cho biết dù P100D Ludicrous rõ ràng là “chiếc xe đắt tiền” nhưng sẽ có khả năng giúp giá cả của phiên bản Tesla Model 3 vừa túi tiền hơn. “Nếu không có những khách hàng sẵn lòng bỏ tiền ra mua những chiếc xe đắt giá như Model S và X thì chúng tôi cũng không thể có kinh phí đầu tư vào việc phát triển Model 3 thành loại xe giá cả dễ chịu hơn”.  Tesla cũng thông báo, với việc phân phối dự kiến bắt đầu vào tháng tới, khách hàng có thể đặt mua ngay những chiếc P100D ngay sau lễ ra mắt.  Tesla đã phải chịu nhiều sức ép về việc tăng cường sản xuất sau nhiều năm dồn tiền đầu tư. Elon Musk từng cho biết, chỉ trong vòng quý 2 năm 2016, ông đã phải đầu tư tới 293 triệu USD (tương đương 263 triệu euro), nhiều hơn hẳn so với chi phí 184 triệu USD cùng kỳ năm ngoái, vào việc nghiên cứu và sản xuất ô tô điện. Vì vậy các đơn đặt hàng sớm Model S và Model X có thể truyền sức sống cho Tesla và khách hàng có thể háo hức chờ đợi ông trùm công nghệ thực hiện lời hứa về giá cả hấp dẫn của phiên bản Model 3, dự kiến Model 3 sẽ được bán trên thị trường vào năm 2018.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tesla Model X: Chiếc xe đến từ tương lai      Sau hai năm trì hoãn cùng nhiều trông ngóng, chiếc xe chạy hoàn toàn bằng điện Model X của Elon Musk đã ra mắt vào cuối tháng chín vừa qua, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng cũng như giới truyền thông, và nghiễm nhiên có mặt trong danh sách 25 phát minh của năm do tạp chí Time bình chọn.       Chào đón sự ra mắt của chiếc xe hạng sang dòng SUV đầu tiên chạy điện này, tạp chí công nghệ Wired hồ hởi khẳng định: “Chiếc xe thật lộng lẫy với thiết kế siêu hiện đại. Một lần nữa, Tesla Motors đang đưa ra chuẩn mực mới cho các phương tiện sử dụng điện.”    Model X có giá bán 80.000 USD (khoảng 1,8 tỉ VND), đi được 400km cho mỗi lần sạc điện, có sức chứa bảy người và chở được rất nhiều đồ đạc. Tuy có nhiều điểm tương đồng với mẫu xe sedan Model S P90D ấn tượng ra mắt trước đó, song xét trên nhiều góc độ, Model X đã làm lu mờ người anh em từng làm mưa làm gió trên thị trường của mình. Lý giải điều này, tạp chí Wired viết: “Không chỉ là thiết kế, dẫu thiết kế của nó đượm màu sắc tương lai mà không gây cảm giác kỳ dị. Không chỉ là chất lượng vận hành, dẫu tốc độ của nó nhanh khủng khiếp. Và thậm chí cũng không phải là chiếc cửa xe hình đôi cánh chim ưng đầy uy lực. Chính sự kết hợp hài hòa của tất cả những đặc điểm trên trong cùng một chiếc xe đã bằng cách nào đó khiến cho chiếc SUV này không chỉ sành điệu mà còn đáng khao khát.”  Và đó chính là điều mà Tesla đã làm được.    Phát biểu tại buổi lễ ra mắt mẫu xe mới tại nhà máy của công ty tại Fremont, California, CEO Elon Musk nói: “Sứ mệnh của Tesla là thúc đẩy sự ra đời của loại hình vận tải bền vững. Chúng ta cần phải biết rằng bất kỳ loại ô tô nào cũng có thể sử dụng điện.”  Những phức tạp trong quá trình thực hiện  Elon Musk đã phải trải qua một chặng đường dài hơn mong đợi để có thể chạm tới ngưỡng này. Model X không phụ sự kỳ vọng của công chúng, là minh chứng cho thấy công ty của anh không phải là công ty sáng chói một lần rồi tắt lịm. Model X cũng là “chặng nghỉ” để đón chờ Model III, sản phẩm được trông đợi từ lâu có giá 35.000 USD, sẽ ra mắt công chúng vào năm 2017.      Năm 2012, Musk đã giới thiệu mô hình của Model X và cho biết việc sản xuất mẫu xe này sẽ bắt đầu vào năm sau. Tuy nhiên sau đó anh phải đẩy lùi thời hạn tới năm 2014, rồi lại lỗi hẹn lần nữa, và tới năm nay Model X mới ra mắt. Nhưng chẳng phải đó là phong cách của Musk hay sao – anh luôn đưa ra những lời hứa lớn lao với thời gian thực thi rất ngắn? Hơn nữa, cũng cần phải có thời gian để “chiếc xe khó chế tạo nhất thế giới” này – theo như lời của chính Musk tuyên bố – ra đời.  Thiết kế ấn tượng  Nếu có thể miêu tả về Model X trong hai từ ngắn gọn thì đó sẽ là “tuyệt vời”. Các đặc điểm tạo nên sức hấp dẫn ở mẫu xe này là khả năng gia tốc chóng mặt, thiết kế lộng lẫy, và cặp cửa sau ấn tượng. Tesla gọi đó là cặp cửa “cánh chim ưng”, bởi cách chúng mở ra giống như cú tung cánh của chim ưng.     Thách thức của loại cửa này – mà một dòng xe của Mercedes-Benz từng có – là nó đòi hỏi nhiều không gian để có thể mở lên, nên người lái luôn phải dè chừng mỗi khi mở vì sợ cửa xe sẽ va chạm với cái gì đó. Nhưng Tesla đã khéo léo xử lý rắc rối này với thiết kế bản lề hai chiều và gắn hai thiết bị cảm biến siêu âm vào mỗi bên cánh cửa, đồng thời cộng thêm một cảm biến nữa trên nóc xe. Những bộ cảm biến này sẽ quét khu vực xung quanh xe để xác định khoảng không tại đó, khiến cho “đôi cánh chim ưng” tự điều chỉnh độ mở thích hợp.     Tuy cách làm nghe có vẻ phức tạp, song giải pháp này đem lại hiệu quả tuyệt vời. Theo các kỹ sư của Tesla, mỗi bên cửa có thể mở hé ở độ rộng 12 inch (khoảng 30cm), giải quyết bài toán khi chúng ta đỗ giữa hai ô tô. Các bộ cảm biến gắn ở hai bên gờ cửa xe có thể nhận dạng được chướng ngại vật trong khoảng 2 – 4 inch (5 – 10cm) nên người lái không lo bị cụng đầu hay kẹp tay khi đóng – mở cửa.    Một bất ngờ nho nhỏ khác là hàng ghế sau được thiết kế kiểu xe đua, mỗi ghế được đặt trên một tấm đĩa tròn. Điều đó có nghĩa là người ngồi có thể tự động điều chỉnh độ xoay, độ lùi và đảm bảo ai cũng có thể ngồi duỗi chân thoải mái. Thiết kế ghế ngồi của Model X lấy cảm hứng từ ghế văn phòng cao cấp.      Thiết kế của Model X đậm tính tương lai bởi tấm kính chắn gió “paranoma” tràn lên tận nóc xe, dàn âm thanh với 17 loa và màn hình cảm ứng điều khiển xe rộng tới 17 inch (lớn gần gấp rưỡi màn hình của một chiếc Ipad 2).    Các công ty thiết kế xe điện ở Silicon Valley đã chế nhạo Model X trước khi nó ra đời trong vài năm nhưng Elon Musk đã chứng minh rằng thiết kế của anh không chỉ thông minh đến kinh ngạc mà còn hữu dụng. Chiếc cửa độc đáo khiến cho người ngồi có thể ra vào dễ dàng mà không cần sử dụng đến “kỹ năng thể dục dụng cụ” để lách vào hàng ghế thứ ba, cũng chẳng cần phải đắn đo sắp xếp nhiều đồ đạc mà chỉ cần “tống” tất cả vào là xong.  Đó là chưa kể Model X còn có khoang chứa đồ rộng rãi, có thể “nuốt trọn” một chiếc ván trượt. Xe còn đi kèm phụ tùng là một sợi dây có thể chằng bốn chiếc xe đạp đằng sau xe một cách gọn gàng chỉ trong vài giây.    Sự hữu dụng này hoàn toàn có thể hiểu được: Musk có tới năm đứa con, và nhìn vào chiếc xe ta có thể đoán rằng trong quá trình thiết kế, anh đã tính toán đến những thách thức của việc chở tất cả số trẻ đó mà không phải phiền đến những chiếc xe tải cỡ nhỏ thô thiển.    Quả thực, Tesla đã biến một chiếc xe gia đình trở nên đầy mê hoặc.  Chặng đường dài phía trước  Model X chỉ là một bước tiến tiếp theo trong hành trình dài hơi của Tesla, nó vẫn chưa phải là đích đến cuối cùng của Musk. Thực ra, Tesla cần Model X để tăng thêm doanh thu, đồng thời để chứng minh rằng họ có thể sản xuất ra nhiều loại xe khác nhau. Model X cũng có thể tạo ra một thế hệ những người sở hữu mới, chẳng hạn như các bà mẹ dư dả muốn có một chiếc xe an toàn và đủ rộng rãi để chở nhiều đồ đạc như túi, ba lô, xe đạp, ván trượt…  Model X còn là bước đi của Tesla trên hành trình sản xuất dòng xe điện giá rẻ đại trà Model III với giá dự kiến 35.000 USD. Tuy nhiên, để sản xuất Model III, Tesla còn phải chờ Gigafactory (nhà máy của Tesla Motors) – theo dự kiến sẽ sản xuất ra những loại pin có giá rẻ bằng 1/3 so với các loại pin lithium-ion trên thị trường hiện nay.    Và đó là một phần lý do tại sao Tesla cần thêm nguồn doanh thu khác ngoài mẫu Model X hiện nay để duy trì cho tới khi Model III ra mắt.    Trang Bùi tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thách thức của tự do hóa thương mại      Xuất phát từ những cân nhắc chiến lược đúng  đắn, Việt Nam đã sớm quyết định hội nhập khu vực và quốc tế, tạo ra thế  và lực mới cho đất nước và nền kinh tế.     Quá trình hội nhập của Việt Nam được thể hiện qua hình dưới.   Nếu so sánh với Cuba và Bắc Triều Tiên thì Việt Nam đã tiến một bước quá xa, ngay cả so với ngôi sao mới nổi lên trong khu vực là Myanmar, chúng ta cũng đã có bước khởi đầu sớm hơn và có những bước tiến dài hơn trên con đường hội nhập.          Hiện nay Việt Nam đang tích cực đàm phán để gia nhập TPP (Trans Pacific Partnership-Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương), Hiệp định Thương mại Tự Do Việt Nam-Liên Minh châu Âu (Vietnam-EU FTA) và Hiệp Định Hợp tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP Regional Comprehensive Economic Partnership), bao gồm 10 nước ASEAN và 6 nước đối tác chính là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Các hiệp định đó đều mở ra cơ hội mới kèm theo những thách thức cao hơn so với các cam kết hội nhập trước đây.   Luật chơi của hội nhập quốc tế là đối xử bình đẳng về mặt pháp lý giữa doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, nguyên tắc tối huệ quốc tức loại bỏ các rào cản bảo hộ mậu dịch bằng công cụ hành chính (phí thuế quan) trong thương mại (như cấm nhập khẩu hay xuất khẩu), không còn tình trạng đánh thuế nhập khẩu cao để bảo hộ hàng trong nước hay quy định tỷ lệ xuất khẩu đối với đầu tư nước ngoài v.v. Để tự bảo vệ, các nước có thể sử dụng các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Trade Bariers, TTB), nhưng điều này đòi hỏi một bộ máy hành chính chuyên nghiệp và có hiệu lực cao.      Thách thức cho các ngành công nghiệp   Với việc tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA: ASEAN Free Trade Area), Việt Nam đã buộc phải cùng ký kết các Hiệp Định Thương Mại Tự Do ASEAN với nhiều nước khác, và phải nhanh chóng hạ thấp thuế nhập khẩu đối với các nền kinh tế đã cam kết, trong đó có Trung Quốc là nước có nền kinh tế chủ yếu cạnh tranh với nước ta chứ ít bổ sung cho ta.           Bên cạnh những mặt “được” của việc mở cửa tự do thương mại ra thế giới,  như thu hút đầu tư nước ngoài, phát huy lợi thế so sánh tăng xuất khẩu,  nền kinh tế nước ta cũng đối mặt với những thách thức rất lớn.        Kết quả là toàn bộ nền kinh tế đã được chuẩn bị không đầy đủ trước những đối thủ cạnh tranh trong điều kiện các hàng rào bảo hộ đã sớm bị tháo bỏ.   Đặc biệt nguy hiểm là tiến trình cắt giảm thuế với Trung Quốc, phần lớn hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam sẽ chỉ còn thuế từ 0-5% vào năm 2015, tạo điều kiện cho các sản phẩm của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, dẫn đến thâm hụt thương mại và gây sức ép quá lớn đối với nền công nghiệp non trẻ của Việt Nam.   GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản) đã đưa ra khái niệm “bẫy tự do hóa mậu dịch” để chỉ ra nguy cơ sau khi mở cửa thị trường, tự do hóa mậu dịch, những nước đi sau sẽ không còn có cơ hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.1     Thực vậy, từ sau khi gia nhập WTO, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam chậm thay đổi, thâm hụt mậu dịch tăng vọt, nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam bị bóp chết.   Điển hình là công nghiệp điện tử: sản phẩm điện tử nguyên chiếc có thuế nhập khẩu từ 0-5% trong khi linh kiện điện tử nhập khẩu để lắp ráp có thuế suất 18-30%. Không chỉ doanh nghiệp trong nước bị chết mà doanh nghiệp lắp ráp máy thu hình cũng chuyển sang thành công ty nhập khẩu bán máy nhập khẩu từ Trung Quốc.   Công nghiệp ô tô của Việt Nam cũng chung số phận. Năm 2012 cả nước có 400 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, có công suất thiết kế đạt 458.000 chiếc/ năm, trong đó 47% công suất thuộc về các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Năm 2010, các doanh nghiệp đã lắp ráp được 112.000 xe các loại, đến năm 2012 chỉ còn 72.749 chiếc. Đến năm 2015, thuế nhập khẩu ô tô từ các nước ASEAN sẽ giảm xuống còn 0-5% và đến năm 2018, các bảo lưu của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ chấm dứt, Việt Nam sẽ phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường và phải được các đối tác công nhận. Lúc đó, các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ có tính toán của họ và khả năng họ rút khỏi Việt Nam là không thể loại trừ.      Nhiều mục tiêu của Kế hoạch 2011-2015 sẽ không đạt     Báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) ngày 3.04.2013 về “Kinh tế Việt Nam 5 năm sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới” cho thấy một bức tranh không mấy lạc quan.2 Cụ thể là tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn, lạm phát cao và diễn biến phức tạp, nhập siêu tăng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế giảm từ bậc 59 (2010) xuống còn 75 (2012), nạn thất nghiệp tăng, và nợ công liên tục tăng nhanh. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tận dụng lao động giá rẻ lắp ráp là chính (điển hình là Samsung Vina xuất khẩu điện thoại thông minh Galaxy, nhập khẩu 100% linh kiện từ Samsung ở Trung Quốc) trong khi các doanh nghiệp trong nước chưa tận dụng được các cơ hội mở rộng xuất khẩu.            Ngày 24/7/2013, tại Washington D.C, bên lề chuyến thăm  Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ  Huy Hoàng đã có buổi làm việc với Đại sứ Michael Froman, Trưởng Đại diện  Thương mại Hoa Kỳ – USTR, trong đó khẳng định quyết tâm của cả hai nước  cùng các đối tác khác của TPP sẽ kết thúc đàm phán TPP trong năm 2013.  Hai bên nhất trí cho rằng việc đàm phán thành công TPP sẽ giúp tăng  cường hợp tác kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, củng  cố và tạo thêm nhiều công ăn việc làm ở hai nước.        Trong các ngành kinh tế, ngành nông nghiệp là trụ cột duy trì sự ổn định của nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng cũng giảm sút, ngành mía đường và chăn nuôi gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ hơn nhiều.   Công nghiệp và xây dựng tăng trưởng chậm hơn trước khi gia nhập WTO, từ 10,2% trong 5 năm trước xuống 7%, các ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu, chủ yếu đến từ Trung Quốc.   Các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu đều không đạt mục tiêu như giảm tỷ trọng của nông-lâm-ngư nghiệp trong GDP xuống còn 15-16%, công nghiệp-xây dựng lên 43-44%, thương mại –dịch vụ lên 40-41% vào năm 2010 đều không đạt được. Nhiều thương hiệu trong nước bị mua lại như Tribeco, Phở 24 v.v. Thương nhân Trung Quốc vào nước ta mua hàng hóa, thuê đất trồng khoai lang, nuôi cá ở Vịnh Cam Ranh, lừa nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong mua gom hàng hóa v.v… mà nước ta chưa có biện pháp tự bảo vệ cần thiết.   Cho đến nay, giữa năm 2013, tức đi được nửa chặng đường của Kế hoạch 5 năm 2011-2015, có thể nói chắc chắn rằng nhiều mục tiêu của Kế hoạch sẽ không đạt (như tốc độ tăng trưởng bình quân 7,0-7,5%, đổi mới mô hình tăng trưởng v.v.) và mục tiêu của Chiến lược kinh tế-xã hội 2011-2020 “nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” cũng rất xa vời.   Quan trọng nhất là cải cách thể chế   Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có gây ra những tác động tiêu cực mang tính khách quan tới bức tranh ảm đạm của nền kinh tế Việt Nam, nhưng đó không phải là nguyên nhân chủ yếu, mà những tác nhân mang tính chủ quan trong nội tại mới là nguyên nhân chính của thực trạng ảm đạm nói trên. Cụ thể là sự chậm trễ trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mặc dù nước ta đã đề ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ Đại Hội XI nhưng việc quá trình triển khai thực hiện quá trì trệ. Vì vậy, tăng trưởng của Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào vốn, Chính phủ đầu tư kém hiệu quả vào doanh nghiệp nhà nước (như Vinashin, Vinalines), đầu tư công lãng phí và thất thoát lớn, vốn đầu tư bị hút vào bất động sản, không ít doanh nghiệp đầu tư vào các mối quan hệ để kiếm lợi nhuận (đất, khai mỏ v.v.) mà chậm nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh.   Trong khi đó, Nhà nước chậm cải cách thể chế, năng lực của bộ máy nhà nước chậm được nâng cao, các rào cản kỹ thuật trong thương mại chậm được áp dụng để tự bảo vệ.   Với lộ trình tự do hóa thương mại còn tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới, Việt Nam cần nghiêm chỉnh rút ra bài học kinh nghiệm, tái cấu trúc nền kinh tế và đẩy mạnh cải cách, trong đó quan trọng nhất là cải cách thể chế để đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.            Những ai là thành viên chính thức đàm phán TPP?                 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans – Pacific Partnership),  viết tắt là TPP) có nguồn gốc từ Thỏa thuận đối tác kinh tế chiến lược  xuyên Thái Bình Dương (Trans – Pacific Strategic Economic Partnership),  viết tắt là TPSEP hay P4, là một thỏa thuận tự do thương mại giữa 4 quốc  gia Brunei, Chile, New Zealand, và Singapore.              Tháng 1 năm 2008, Mỹ đồng ý đối thoại với các nước thành viên P4 về việc  tự do hóa giao dịch trong lĩnh vực tài chính. Đến tháng 9 năm 2008, Mỹ  tuyên bố bắt đầu đàm phán với các nước P4 để gia nhập TPP, với các vòng  đàm phán đầu tiên được tiến hành từ đầu năm 2009.              Tháng 11 năm 2008, Việt Nam, Úc, và Peru tuyên bố sẽ đàm phán gia nhập  TPP. Tháng 10 năm 2010, Malaysia cũng tuyên bố tham gia cuộc chơi này.  Cũng trong năm 2010, Canada trở thành nhà quan sát các vòng đối thoại  TPP, và bày tỏ sự quan tâm gia nhập, nhưng chưa chính thức cam kết, chủ  yếu vì sự ngăn trở từ phía Mỹ và New Zealand do lo ngại của các nước này  đối với chính sách nông nghiệp và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Canada.  Tương tự như Canada, dự định tham gia TPP của Mexico ban đầu cũng gặp  phải những lo ngại từ các nước khác đối với chính sách xuất nhập khẩu  của quốc gia này.              Tháng 6 năm 2012, Canada và Mexico chính thức được tham gia đàm phán gia nhập TPP, sau khi được 9 nước kia nhất trí cho phép.              Nhật Bản tham gia với tư cách quan sát viên tại các cuộc thảo luận của  TPP hồi tháng 11 năm 2010, được tổ chức bên lề Hội nghị Thượng đỉnh APEC  tại Yokohama. Tháng 3 năm 2013, Nhật Bản tuyên bố mong muốn tham gia  đàm phán TPP, và tới tháng 4 được TPP chính thức mời tham gia đàm phán.  Từ 23/7/2013, Nhật Bản trở thành thành viên chính thức thứ 12 tham gia  đàm phán TPP.              Với sự tham gia gần đây nhất của Nhật Bản, tổng sản lượng các nước TPP  chiếm 40% thế giới, và tổng kim ngạch thương mại chiếm 1/3 của thế giới.   Một số thành viên tiềm năng              Hàn Quốc cũng bày tỏ mong muốn gia nhập TPP từ tháng 11 năm 2010, và  được Mỹ chính thức mời tham gia đàm phán sau khi hai nước này đạt được  thỏa thuận tự do thương mại Mỹ – Hàn vào cuối tháng 10 năm 2010. Hàn  Quốc vốn đã có thỏa thuận thương mại song phương với các nước khác đàm  phán khác trong TPP, khiến việc đạt được thỏa thuận đa phương trong TPP  sẽ không quá phức tạp.              Thái Lan, Đài Loan, Philippines, Lào, Colombia, Costa Rica và Indonesia cũng đã bày tỏ sự quan tâm trở thành thành viên TPP.1                         Tia Sáng tổng hợp    Nguồn:               http://en.wikipedia.org/wiki/Trans-Pacific_Strategic_Economic_Partnership              http://www.ustr.gov/about-us/press-office/press-releases/2013/july/statement-18th-round-tpp              http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=2030                —      1 http://vef.vn/2011-01-07-bay-tu-do-thuong-mai-ai-chiu-trach-nhiem-      2 http://petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/kinh-te-viet-nam-sau-5-nam-gia-nhap-wto-khong-nhu-mong-doi.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thách thức để tạo ra các doanh nghiệp bản địa      Đến bất kì Phiên chợ xanh tử tế nào cũng thấy một quầy hàng của hợp tác xã Hmông Cát Cát với các sản phẩm làm đẹp như tinh dầu và xà phòng thủ công được chiết xuất từ lá cây rừng. Thường xuyên, người mua sẽ gặp người sáng lập hợp tác xã đứng mời chào ở quầy hàng, một thanh niên Hmông 23 tuổi, Má A Nủ, nói tiếng Việt chưa sõi và lúc nào cũng mặc bộ quần áo truyền thống nhiều lớp với những viền hoa văn sặc sỡ bất kể thời tiết nắng nóng. Hợp tác xã Hmông Cát Cát đến nay đã có 14 xã viên với doanh thu vài trăm triệu/năm, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp sản phẩm mà còn cả dịch vụ tắm lá thuốc của người Dao Đỏ và nhà nghỉ kiểu homestay.      Gian hàng của người Sán Chay, huyện Bình Liêu ở hội chợ OCOP Quảng Ninh với các sản phẩm truyền thống như miến dong và lá thuốc. Nguồn ảnh: Báo Quảng Ninh.  Trường hợp tương tự như hợp tác xã Hmông Cát Cát được gọi là khởi nghiệp từ tài nguyên bản địa (indigenous entrepreneurship). Khái niệm này nhằm chỉ các doanh nghiệp được sáng lập, điều hành hoặc phát triển bởi những người bản địa hoặc có mục tiêu là đem lại lợi ích cho cộng đồng họ đang sinh sống. Các nước trên thế giới luôn chú trọng phát triển những doanh nghiệp như vậy hoặc thúc đẩy tinh thần kinh thương hướng đến những cộng đồng người bản địa bởi hai lý do quan trọng: thứ nhất, gìn giữ, phát huy văn hóa và tri thức bản địa; thứ hai, đảm bảo sinh kế cho người dân bản địa vốn có cuộc sống bấp bênh.  Tài nguyên bản địa là gì?  Khởi nghiệp từ tài nguyên bản địa là một trong những gợi ý quan trọng với Việt Nam. Là một nước sản xuất nông nghiệp với địa hình, tộc người và văn hóa đa dạng, hình thành nên nhiều đặc sản, có tiềm năng phát triển thành những sản phẩm thương mại có thể cạnh tranh ở thị trường nội địa trong nước hoặc nước ngoài. Trên lý thuyết, một sản phẩm rất khác biệt thì người bán có thể định giá sản phẩm cao hơn nhiều so với chi phí biên1, ít nhất là trong thời gian đầu bước vào thị trường.  Đầu tháng 6 vừa qua, dưới sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Tạp chí Tia Sáng đã kết hợp với Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES), Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp BSA tổ chức hội thảo “Khởi nghiệp từ tài nguyên bản địa và sức mạnh công nghệ”. Trong buổi hội thảo ngày hôm đó, bên cạnh hợp tác xã Hmông Cát Cát còn có Khởi Minh Thành Công, một doanh nghiệp đến từ Đồng Tháp với các sản phẩm phát triển từ công nghệ sấy khô và bảo quản hoa và lá sen; Natural Oil đến từ Bến Tre với sản phẩm cơm dừa và dầu dừa sử dụng công nghệ tách chiết ly tâm hiện đại. Mặc dù tạo ra các sản phẩm sử dụng tài nguyên đặc trưng của địa phương nhưng vẫn khó có thể gọi hai doanh nghiệp sau là khởi nghiệp từ tài nguyên bản địa bởi vì “Bản địa không phải là sản phẩm, bản địa là trải nghiệm, là cái hồn, là cảm xúc” – chị Phi Vân, người sáng lập công ty World Franchise Asia, diễn giả của chương trình nói.  Theo UNDP, nếu phải đưa ra một đặc trưng cụ thể của “tài nguyên bản địa”, thì đó là “mối quan hệ đặc biệt” giữa người dân địa phương với mảnh đất của họ, cách họ khai thác mảnh đất đó “thuận theo tự nhiên”, “tôn trọng sự đa dạng của tự nhiên” thay vì sản xuất chuyên canh với quy mô công nghiệp lớn. Cũng dễ hiểu khi lĩnh vực phổ biến của các doanh nghiệp bản địa thường là nông nghiệp, ngư nghiệp và các sản phẩm thủ công sử dụng nguyên liệu tự nhiên. “Kinh doanh từ sức mạnh bản địa” là phải làm sao để có thể huy động được tri thức, kỹ năng truyền thống và nguồn lực con người ở địa phương, khai thác được cái “vô hình” chứ không nên hiểu là khai thác tài nguyên tự nhiên “hữu hình” ở đây. Điều này đòi hỏi các dự án kinh doanh phải lấy người dân địa phương làm trọng tâm, khiến cho họ có thể phát triển được bằng năng lực và tri thức của mình. Chẳng hạn, hợp tác xã Hmông Cát Cát thu hút được cộng đồng người dân tộc ở Sa Pa, Lào Cai hợp tác cùng kinh doanh dựa vào những hiểu biết của họ về cây thuốc và thảo dược ở trên rừng, các bài thuốc cổ truyền (như thuốc tắm của người Dao Đỏ).    Má A Nủ với các sản phẩm của hợp tác xã Hmông Cát Cát. Ảnh: Vũ Kim Anh.  Làm thế nào để tạo ra doanh nghiệp bản địa?  Lợi thế dễ nhận thấy nhất và nhiều khi là quan trọng nhất của các doanh nghiệp bản địa là sự khác biệt của sản phẩm do được hình thành từ đặc trưng văn hóa của vùng, miền đó. Điều này không chỉ cần thể hiện ở đặc tính vật lý của sản phẩm mà còn nằm trong cách truyền tải sản phẩm đến người dùng. Báo cáo của UNDP về chương trình mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản cho thấy rằng, sự thành công của những doanh nghiệp tận dụng lợi thế bản địa là sự kết hợp của đổi mới sáng tạo từ thiết kế sản phẩm đến marketing để duy trì được ấn tượng đặc biệt của khách hàng về sản phẩm.  Theo chị Nguyễn Phi Vân, xu hướng người dùng hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định phân khúc của mình một cách rõ rệt, hoặc là cho người dùng phổ thông với giá rẻ, hoặc là cho người dùng cao cấp với giá cao (không có sự lựa chọn ở giữa vì những người tiêu dùng ngày càng theo lối sống tiết kiệm: mua ít hoặc mua rẻ). Các doanh nghiệp bản địa thông thường sẽ lựa chọn đi theo hướng cao cấp do sản lượng ít, sản xuất thủ công, phải chịu chi phí cao trong vận chuyển và bảo quản cao vì ở “vùng sâu vùng xa”. Điều này lại càng đặt sức ép lên các sản phẩm bản địa phải thể hiện sự đột phá từ chất lượng, bao bì, quảng cáo cho đến cả các nhà phân phối.  Những yêu cầu đặt ra nói trên là một thách thức rất lớn đối với những người dân bản địa khi khởi nghiệp (hoặc tham gia khởi nghiệp). Mặc dù hiểu rõ văn hóa, tinh thần và sản phẩm của địa phương nhưng những người dân bản địa lại xa lạ với công việc kinh doanh. Bí thư tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Minh Hoan từng chia sẻ với phóng viên Tia Sáng từ quan sát của ông rằng: “người nông dân mình chỉ biết hạch toán tiết kiệm chứ không biết hạch toán kinh tế”. Cũng chính vì vậy mà ở các địa phương cũng hiếm có các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn và đào tạo doanh nghiệp cũng như các nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ hay đầu tư mạo hiểm.  Má A Nủ là một trường hợp rất đặc biệt. Là một thanh niên mới chỉ học hết lớp 9, tình cờ biết được có thể chiết xuất tinh dầu từ những “lá cây rừng”, anh mày mò tự đi học, tự vận động anh em bạn bè góp tiền mở hợp tác xã, tự marketing và tìm đầu ra cho sản phẩm ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh…TS. Trần Văn Ơn, người lên ý tưởng và cố vấn cho chương trình Mỗi xã phường một sản phẩm – OCOP của tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai, nhận định rằng những trường hợp như Má A Nủ là vô cùng hiếm. Tại Hội chợ Hàng Việt Nam Chất lượng cao diễn ra ở Hà Nội vào cuối năm ngoái, những người tham dự buổi tọa đàm với nội dung về khởi nghiệp ở đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm những cán bộ làm về phát triển ở cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, doanh nhân đều cho rằng cần có rất nhiều hỗ trợ và quan tâm từ bên ngoài để thúc đẩy tinh thần kinh thương của những người bản địa. Nói cách khác, việc này đòi hỏi công tác phát triển cộng đồng. Giống như chương trình OCOP mà Quảng Ninh đang thực hiện, mỗi xã/phường đều có ít nhất một cán bộ đóng vai trò vận động người dân tham gia chương trình và tư vấn thường trực cho các doanh nghiệp, tổ hợp tác gặp khó khăn về mặt kinh doanh, vốn. Một cách khác, người dân chỉ tham dự việc kinh doanh với vai trò là đối tác với một doanh nghiệp xã hội được lập ra và điều hành bởi những người có hiểu biết sâu sắc về kinh doanh và thị trường. Fargreen, một doanh nghiệp xã hội sản xuất nấm từ rơm rạ là một ví dụ. Những người nông dân đóng vai trò đồng sáng tạo, đồng sản xuất nấm với công ty và tiếp sau là dùng phụ phẩm của nấm để trồng lúa gạo và rau củ theo cách truyền thống của họ.   —  1 Chi phí biên là chi phí phụ trội xảy ra trong ngắn hạn khi tăng một đơn vị sản lượng.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Thách thức tài chính với các tổ chức KH&CN độc lập      Để cải thiện khả năng gây quỹ, các tổ chức khoa học công nghệ độc lập cần cải thiện tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính chuyên nghiệp.      “Có lẽ chúng tôi sẽ ngưng hoạt động nếu dự luật về Hội được thông qua”, chị Mai, giám đốc một tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGO) ở miền Trung phát biểu trong một hội thảo cuối tháng 10/2016. Giám đốc một VNGO khác ở Hà Nội, chị Hoa[1] cũng rất thẳng thắn cho biết: “Nếu dự luật về hội phiên bản 10.10.2016 mà được thông qua, chúng tôi chắc sẽ giải tán”. Cả hai tổ chức khoa học công nghệ này đều giống nhau ở chỗ là họ đăng ký hoạt động trong khuôn khổ Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật (VUSTA) và toàn bộ kinh phí hoạt động của họ có nguồn gốc từ các tổ chức nước ngoài. Hai chị đều là lãnh đạo cao cấp nhất của hai tổ chức khoa học công nghệ độc lập thường được xếp vào nhóm các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và đều có hơn 10 năm kinh nghiệm nghề nghiệp. Các câu trả lời của các chị về tương lai của tổ chức mình trước dự luật về hội dường như chỉ rõ mức độ dễ bị tổn thương của các tổ chức khoa học công nghệ nhóm VNGO trước những chính sách của chính phủ về nguồn tài trợ và hợp tác quốc tế đối với với các hiệp hội.  Khi trình bày dự luật về hội trước Quốc hội, đại diện Bộ Nội vụ đã giải thích điều luật không cho các tổ chức hiệp hội liên kết và nhận tài trợ từ các tổ chức nước ngoài bằng hai luận điểm. Một là, số tổ chức hội nhận kinh phí từ nước ngoài chỉ chiếm khoảng 10% tổng số tổ chức thuộc loại hiệp hội. Hai là hầu hết kinh phí (có con số ước tới 85%) từ các tổ chức nước ngoài rơi vào các tổ chức hội do nhà nước lập ra, mà sau này chính phủ có thể cho phép nhận tài trợ theo giấy phép riêng.  Nhưng điều mà lãnh đạo ngành nội vụ không chỉ ra là gần như toàn bộ khoảng 600 tổ chức VNGO đăng ký hoạt động như tổ chức “khoa học công nghệ” trực thuộc Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật và một số Hội khác như Hội Khuyến học, Hội Luật gia… chỉ có kinh phí từ các tổ chức quốc tế. Đó hầu như là nguồn duy nhất mà họ tiếp cận được trong khi không được nhà nước cấp kinh phí và không thể tiếp cận nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp. Còn việc huy động kinh phí từ các nhà tài trợ cá nhân rất khó khăn.  Trong các phương thức để phát triển một NGO bền vững, có một cách là đa dạng hóa nguồn thu. Nghĩa là, một NGO cần có một hai nhà tài trợ dài hạn và ba bốn nhà tài trợ ngắn hạn. Tuy nhiên, rất nhiều nhà tài trợ quốc tế, trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế từ 2008, đã giảm mức cam kết dài hạn và chuyển sang cam kết ngắn hạn – thường là từng năm một. Ngày càng hiếm các nhà tài trợ có cam kết dài hơi, mà dài hơi cũng chỉ tới 3 năm. Cảnh “ăn đong” đang trở nên rất thường gặp với hầu hết các tổ chức phi lợi nhuận Việt Nam.  Khác với các NGO quốc tế, phần lớn các VNGO không có cán bộ chuyên về gây quỹ. Việc gây quỹ ở các tổ chức này thường là gánh nặng của những người sáng lập hoặc người lãnh đạo tổ chức và cũng phụ thuộc luôn vào quan hệ cá nhân của những nhà lãnh đạo này với các nhà tài trợ. Đây cũng là một điểm yếu “chết người” của các tổ chức khoa học-công nghệ phi lợi nhuận.  Nguyên nhân thứ hai khiến các VNGO khó gây quỹ thành công, đó là hầu hết các tổ chức VNGO đều không công bố báo cáo tài chính của mình cho công chúng trong khi về bản chất nguồn tài chính của họ là nguồn công cộng. Các báo cáo tài chinh của họ chỉ để gửi cho các nhà tài trợ hoặc cho chính quyền địa phương theo yêu cầu. Cũng một phần vì vậy mà họ chưa nhận được sự tin cậy của giới doanh nghiệp hoặc công chúng.  Điểm yếu thứ ba làm cho các VNGO khó xin tài trợ liên quan đến tính trách nhiệm thấp. Điều này thể hiện ở việc, hầu hết các VNGO đều thành lập theo mô hình có một hay một nhóm người sáng lập và họ nắm giữ các vị trí quản lý cao nhất. Phía trên họ không có một Hội đồng tín thác (Board of Trustees) hay quản trị hay Hội đồng Quản lý (Management Board) giống như mô hình hoạt động của các tổ chức Phi chính phủ quốc tế (INGO) hoặc mô hình các công ty. Các hội đồng này là bộ phận quản lý tổ chức về mặt chiến lược, quyết định việc lựa chọn ban lãnh đạo và hỗ trợ những người quản lý về mặt gây quỹ. Bộ phận này nhận các báo cáo của Ban Giám đốc và giám sát Ban Giám đốc trong việc tuân thủ tôn chỉ và thực hiện kế hoạch chiến lược của tổ chức. Do không có bộ phận này, tính trách nhiệm của các VNGO được coi là rất thấp và các nhà tài trợ dè dặt tài trợ cho các tổ chức.  Như vậy, rõ ràng là các VNGO rất dễ tổn thương về mặt tài chính. Và dù Dự luật về Hội phiên bản 10.10.2016 được thông qua hay không, thì các tổ chức VNGO không có con đường nào khác là đa dạng hóa nguồn tài chính của mình nếu muốn bảo đảm sức sống của mình. Ngoài những nguồn thu tài chính từ các đối tác quốc tế, các tổ chức khoa học-công nghệ phi lợi nhuận cần xem xét khả năng tạo những nguồn thu hợp pháp từ các tập thể và cá nhân trong nước. Gần đây, luật doanh nghiệp 2014 đã công nhận loại hình doanh nghiệp xã hội; đây cũng là một không gian tốt cho các tổ chức phi lợi nhuận. Việc điều chỉnh chiến lược gây quỹ, không loại trừ khả năng đảm nhận vai trò như một doanh nghiệp xã hội, là việc phải làm mà các tổ chức khoa học công nghệ rất nên làm càng sớm càng tốt.  [1] Tên hai nhân vật đã được đổi theo đề nghị.     Trong quá trình soạn dự thảo Luật về Hội năm 2016, Ban dự thảo đã nhận được các khuyến nghị từ các nhóm các tổ chức Liên hiệp quốc, nhóm các tổ chức INGO cũng như nhiều VNGO. Những khuyến nghị này chỉ rõ bản dự thảo này chưa thể hiện đầy đủ những cam kết của chính phủ về quyền hiệp hội như một quyền con người quan trọng. Các nhà phân tích trong nước và quốc tế chỉ ra rằng điều này có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các quyền con người quan trọng khác ví dụ quyền tự do biểu đạt, quyền quản lý xã hội, hay quyền tiếp cận thông tin.    Author                Đặng Ngọc Quang        
__label__tiasang Thách thức và Cơ hội  của AI: Những quốc gia nhỏ suy nghĩ gì?      Trí tuệ nhân tạo được các chuyên gia coi là dạng nhiên liệu mới của nền kinh tế và là một trong những yếu tố lèo lái sự tăng trưởng kinh tế đi lên.      Các nhà khoa học cho rằng, nên áp dụng AI trong lĩnh vực sản xuất ô tô. Ảnh: Sản xuất ô tô tại công ty Škoda Octavia của Czech. Nguồn: leasing.com  Với các quốc gia nhỏ như CH Czech – một trong những quốc gia nằm ở trung tâm châu Âu, những thách thức chính của “cuộc cách mạng AI” sẽ là việc sử dụng robot và các loại máy móc thông minh như thế nào cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.  AI ảnh hưởng đến Czech như thế nào?  Hiện Chính phủ Czech lo lắng trước quá nhiều dự đoán sớm về xu hướng của AI ở góc độ cảnh báo: xu hướng “cướp” công ăn việc làm của người lao động cũng như kéo theo hàng trăm loại nghề nghiệp khác có thể vĩnh viễn mất đi. Nông nghiệp là một lĩnh vực có thể thấy rõ bị ảnh hưởng bởi tự động hóa với những máy gặt đập liên hợp để thu hoạch lúa mì mà không cần đến con người.  Robot cũng có thể làm việc trong các kho chứa hàng với nhiệm vụ xếp đặt các bao hàng và sau đó, sản phẩm được vận chuyển đến các cửa hàng, công xưởng bằng các xe tải tự lái. Người phục vụ trong các hiệu ăn cũng có thể được thay thế bằng những cỗ máy tự động hóa, ngày càng được hoàn thiện để gần gũi hơn và mang nhiều nét “tính cách” cá nhân hơn. Thậm chí các nhà báo cũng có thể thay thế bằng những dữ liệu và các cỗ máy có “kỹ năng” phân loại, lựa chọn thông tin. Nhưng trong khi nhiều loại nghề nghiệp dần biến mất thì nhiều cơ hội cũng mở ra.  Tuy nhiên gần đây cũng có một số dự báo lạc quan hơn, một trong số đó là một nghiên cứu mới được công bố trước đây hai tháng từ Deloitte – một mạng lưới dịch vụ nghề nghiệp đa quốc gia đã ước tính: với xu thế AI phát triển, khoảng 51% việc làm ở Czech có thể bị mất hoặc được chuyển sang tự động hóa, 21% việc làm đối mặt với nguy cơ rủi ro cao và chỉ có 28% là ít rủi ro. Và lợi ích lớn nhất cho toàn bộ nền kinh tế là sự tiên tiến trong nền sản xuất và sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Czech.  Trong khi nhiều người lo ngại về khả năng lấy việc của AI và robot thì một số thành viên của nền công nghiệp Czech lại hồ hởi về điều này. Họ cho rằng, cần phải thúc đẩy nó càng sớm càng tốt để bù lại được những khoảng trống nghề nghiệp trong một nền kinh tế thiếu nhân công.  Milena Jabůrková – phó chủ tịch Hội công nghiệp Czech, cho biết, “từ góc độ người tuyển dụng lao động, chúng tôi đang chờ đợi sự gia nhập thị trường lao động của AI và robotics bởi hiện nay, chúng tôi đang có tới hơn 200.000 vị trí chưa tuyển được nhân công. Theo một nghiên cứu mới đây của OECD thì trong vòng 15 năm tới, 400.000 người lao động Czech sẽ hết độ tuổi lao động, trong khi đó, chúng tôi phải đối mặt với khó khăn là các liên minh thương mại đề xuất giảm bớt thời gian làm việc”.  Sự can thiệp của chính phủ  Điều lo ngại của bà Milena Jabůrková là có cơ sở, bởi lâu nay chính phủ Czech rất thận trọng trước những thay đổi lớn của châu Âu. Do AI liên quan đến dữ liệu, mà dữ liệu lại là vấn đề nhạy cảm sau vụ bê bối Facebook-Cambridge Analytica nên dường như người ta cảm thấy việc ứng dụng AI ở Czech đang dậm chân tại chỗ.      “Để nâng cao năng lực AI và có được những dữ liệu ở tầm quốc tế, vào thời điểm này với Czech và các công ty của Czech là nên tham gia vào các dự án lớn hơn, các dự án ở tầm châu lục, thay vì chỉ tập trung vào các vấn đề của quốc gia nhỏ như mình” (Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu Aleš Chmelař)      Trong bối cảnh đó, Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu Aleš Chmelař thừa nhận một vấn đề: năng lực trở thành một siêu cường AI của Czech chỉ là con số không do giới hạn về khả năng xử lý những tập dữ liệu lớn. Viện dẫn trường hợp của Trung Quốc và Mỹ – hai quốc gia đang sở hữu những nguồn dữ liệu lớn do có sự kết hợp giữa chính quyền và doanh nghiệp tư nhân, ông cho biết “nếu không có sự tham gia một cách dài hạn, bền vững của chính phủ trong vấn đề này thì việc sở hữu dữ liệu lớn của Czech là điều không thể”.  Trước những khó khăn đó, ông Aleš Chmelař cho rằng để vượt qua khỏi nút thắt này, Czech phải tự làm mọi cách để nâng cao năng lực AI và có được những dữ liệu ở tầm quốc tế. Vấn đề hợp lý vào thời điểm này với Czech và các công ty của Czech là nên tham gia vào các dự án lớn hơn, các dự án ở tầm châu lục, thay vì chỉ tập trung vào các vấn đề của quốc gia nhỏ như mình. “Nếu như anh không thể tham gia thực hiện các hoạt động ở cấp độ châu lục thì đơn giản là anh sẽ không thể cạnh tranh được. Tôi nghĩ là AI thậm chí còn phức tạp hơn nhiều so với việc thiết kế và chế tạo ra một cái máy bay cỡ lớn mới”.  Dĩ nhiên, chính phủ Czech không đứng ngoài cuộc chơi này. Aleš Chmelař cho biết, chính phủ Czech đang chuẩn bị cho một chính sách thông qua việc xuất bản Sách Trắng, trong đó có nêu những cơ hội của AI cho nền công nghiệp và toàn thể đất nước, cũng như cam kết vai trò quan trọng của chính phủ trong việc điều hành sự phát triển này.  Các nhà khoa học lạc quan  Trái ngược với dự đoán, giới khoa học Czech dường như lạc quan trước cơ hội mới của đất nước mà AI có thể đem lại. Giáo sư Michal Pěchouček, trưởng Khoa Khoa học máy tính, trường Đại học Kỹ thuật Czech, nghĩ rằng nên coi đây là một cơ hội cho Czech- nơi lĩnh vực tự động hóa đóng tới 10% trong sản phẩm đầu ra của nền kinh tế, để phát triển các năng lực AI cùng với các quốc gia láng giềng và vùng:“Tôi đã ước tính AI và lĩnh vực tự động hóa trở thành cơ hội chiến thắng cho Czech. Từ lâu, Czech, Slovakia, Bavaria đã là những ‘ông lớn’ trong sản xuất tự động hóa”.  Theo ông, những lĩnh vực đầy hứa hẹn để có thể áp dụng AI như an ninh mạng, nhà thông minh, hàng không vũ trụ, y tế, ông Michal Pěchouček cho biết. Tuy nhiên, trước mắt Cezch nên đầu tư ứng dụng AI trong những lĩnh vực thế mạnh của mình như tự động hóa  Pěchouček tin tưởng Prague có thể dễ dàng trở thành một trung tâm của AI châu Âu. Trước sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao về AI của Czech – yếu tố quan trọng để trở thành trung tâm AI, ông cho rằng Czech cần thu hút các tài năng của họ ở nước ngoài trở về bởi trong nhiều năm qua, Czech đã đào tạo ra nhiều tài năng về AI, đặc biệt trong lĩnh vực xử lý hình ảnh, tuy nhiên hầu hết những người này đều chọn làm việc ở Mỹ hoặc một số quốc gia mạnh về học máy, khai thác dữ liệu, AI… khác.  Thậm chí nếu có chính sách đầu tư cho phát triển AI và robotics tốt thì có thể thu hút được tài năng của nhiều quốc gia khác như Slovakia, Hungary, Ba Lan…, thậm chí cả Mỹ. Các nhà khoa học cho rằng, lúc này bên cạnh vấn đề về chính sách đầu tư cho nghiên cứu, Czech còn có điểm thu hút lớn khác là nét hấp dẫn về văn hóa và chất lượng cuộc sống. Nhìn rộng ra, một trong những điểm cộng cho chính sách thu hút nhân tài là sản phẩm của các nhà nghiên cứu thường là hạt giống cho các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hay spinoffs – những yếu tố có thể đem lại sự thúc đẩy đáng kể cho nền kinh tế Czech.  Nguyễn Nhàn tổng hợp từ   https://www.radio.cz/en/section/marketplace/small-country-czechs-ponder-ai-opportunities-and-challenges  http://www.praguemonitor.com/2018/05/10/eu-commissioner-jourov%C3%A1-eu-must-protect-data-ai-development  https://www.finextra.com/newsarticle/32269/czech-bank-introduces-voice-biometrics-for-call-centre-customer-authentication       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thái Lan tăng giá gạo nhân hạn hán ở Mỹ      Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế  giới, đang yên tâm với kho gạo lớn kỷ lục của mình trong bối cảnh giá  gạo có thể lên cao do Mỹ đang chịu trận hạn hán nghiêm trọng nhất trong  vòng 50 năm trở lại đây, Bộ trưởng Công thương của nước này cho biết.       Thái Lan có thể tiếp tục tích trữ thêm khoảng hơn 20 triệu tấn gạo thô, bên cạnh một kho dự trữ gạo đã qua chế biến mà Bộ Nông nghiệp Mỹ dự đoán sẽ đạt khoảng 12,1 triệu tấn trong năm 2012-2013. Thái Lan dự định chi thêm 260 tỉ baht (8,3 triệu USD) để thu mua gạo từ nông dân với giá cao trên giá thị trường.  “Chúng ta không cần phải vội vàng” bán kho dự trữ, Bộ trưởng Công thương Teriyapirom Boonsong trả lời phỏng vấn hôm 16/8. “Chúng ta sẽ đợi tới thời điểm thích hợp khi đạt mức giá mong muốn”.   Chính sách thu gom tích trữ lúa gạo của Thái Lan làm lợi cho nông dân Thái nhưng cũng có thể khiến Thái Lan mất vị trí nhà xuất khẩu hàng đầu trong năm nay bởi các nước mua sẽ chọn Ấn Độ hoặc Việt Nam với nguồn cung có giá rẻ hơn khoảng 30%.  “Người ta đã dự đoán trước giá gạo sẽ tăng lên do tình trạng hạn hán của Mỹ”, ông Boonsong phát biểu. “Tôi không nghĩ giá gạo giảm trong năm nay. Tôi hi vọng chúng ta có thể bán nhiều hơn với giá cao”.    Tình hình hạn hán ở Mỹ  Giá kỳ hạn tương lai của gạo đã tăng thêm 7,2% ở Chicago kể từ cuối tháng 5 trong bối cảnh vụ mùa giảm sút, Ấn Độ hạn chế xuất khẩu, và hạn hán phá hại vụ ngô ở Mỹ. Ngô và đậu tương đã tăng giá tới mức cao kỷ lục, càng tác động mạnh tới giá lương thực toàn cầu mà Liên hợp quốc ước đoán đã nhảy vọt thêm 6,2% trong tháng 7. Dự báo nguồn cung gạo trong năm nay sẽ ít hơn so với dự báo trước đây, tổ chức Nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) cho biết hôm 10/8.  Chính phủ Thái Lan đã chi khoảng 260 tỉ baht để mua 16 triệu tấn gạo thô của nông dân kể từ khi khởi động chương trình hồi tháng 10 năm ngoái, ông Boonsong cho hay.  Nước này có thể cần bán một số lượng hàng tồn kho trước khi thu hoạch vụ mùa mới vào tháng 10 và 11 – Concepcion Calpe, chuyên gia kinh tế cao cấp tại FAO ở Rome nhận định hôm 1/8. Trong số 10 thống kê được kênh Bloomberg tổng hợp từ đầu tháng, con số trung bình cho thấy đến cuối tháng 12 tới, khoảng 5% gạo trắng của Thái Lan sẽ giảm giá 15% xuống còn 480 USD/tấn.  Thế giới có thể phải sớm đối mặt với khủng hoảng lương thực vì hạn hán đã tàn phá vụ ngô của Mỹ, nước trồng ngô lớn nhất thế giới, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chính sách lương thực toàn cầu Shenggen Fan phát biểu hôm 14/8. Ngô đã được đẩy giá tới 8,49 USD|/bushel (khoảng 25kg) vào ngày 10/8. Đợt gió mùa tồi tệ nhất kể từ 2009 ở Ấn Độ – nước trồng lúa gạo lớn thứ hai thế giới, có thể làm giảm sản lượng, và giảm khả năng xuất hàng của nước này.  Sản lượng của Ấn Độ  Ảnh hưởng gió mùa đến mùa vụ ở quốc gia Nam Á này có thể làm giảm khoảng 5 triệu đến 7 triệu tấn so với mức 91,5 triệu tấn của năm trước – P.K. Joshi, Giám đốc tiểu khu Nam Á của Viện Nghiên cứu chính sách lương thực toàn cầu đặt tại Washington, cho biết.  Theo ông Boonsong, Thái Lan đã tìm cách bán thẳng gạo cho các nước sau khi các nhà xuất khẩu tư nhân Thái Lan chào giá quá thấp. Số hàng bán được có thể làm tăng nguồn gạo xuất khẩu thêm 9 triệu tấn vào năm 2012.  “Chúng tôi muốn giá gạo xuất khẩu cao hơn, và các con số từ cả khu vực tư nhân lẫn nhà nước cho thấy mức giá gạo trung bình phải ở khoảng trên 600 USD,” ông Boonsong nói.   Chính phủ Thái Lan đã đồng ý bán 2 triệu tấn gạo cho Trung Quốc và 1 triệu tấn gạo cho Indonesia trong các thỏa thuận song phương ở cấp chính phủ. Thái Lan đã bắt đầu chuyển hàng đi Trung Quốc và sẽ chuyển đi Indonesia vào đầu tháng tới. Thái Lan cho biết đang thỏa thuận để bán khoảng 500.000 tấn gạo cho Philippines. Trung Quốc sẽ nhập khẩu khoảng 1,5 triệu tấn gạo trong năm nay trong khi Indonesia có thể mua khoảng 1,25 triệu tấn gạo.   Thu Quỳnh lược dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thảm bay” Trekker      Xe điện hai bánh Trekker của Israel đang được tôn vinh là “thảm bay” hay “vua đường phố” bởi nó giúp người sử dụng dễ dàng đương đầu với tình trạng&#160; giao thông như mắc cửi nơi đô thị với chi phí rẻ bất ngờ.    Dedi Shvartzberg dùng xe chạy điện để vượt qua một cách dễ dàng các điểm ùn tắc ở Tel Aviv. Chỉ cần xoay nhẹ tay ga chiếc xe điện rất nhỏ gọn, anh có thể lướt đi khá nhanh. Anh đứng khá thoải mái trên chiếc xe có hình thù không bình thường, xe có một động cơ điện chỉ to bằng quả su su. Trong khi xe ô tô nối đuôi nhau chỉ nhích một cách chậm chạp từng mét một thì Shvartzberg có thể lạng lách với tốc độ lên tới 25 km/giờ. Người đi xe có thể nhấc xe lên hè lách vào một ngõ nhỏ để đi tiếp tới đích. Shvartzberg cho hay nếu dùng xe ô tô để đi làm thì tốn thời gian hơn bốn lần vì thế anh coi cái xe này “là cái thảm bay của mình”.  Loại xe điện hai bánh này có tên là Trekker, là một dạng lai giữa xe đạp, xe chân đẩy của trẻ con và Scooter chạy bằng điện. Xe nhỏ gọn, có thể gấp lại dễ dàng. Hãng Motion Innovation ở Israel đang dựa vào sáng chế này để xuất khẩu khoảng 1 triệu xe sang châu Âu. Kỹ sư Arik Yehuda ở Tel Aviv bắt đầu nghiên cứu Trekker cách đây vài năm và giờ đây loại xe tiện dụng này đã trở nên phổ biến ở Israel đến mức nhiều quán giải khát dọc tuyến đường giao thông lắp thêm các ổ cắm điện ngay cạnh bàn để cho khách hàng dễ dàng nạp điện cho xe.   Hiện đã có khoảng 7.000 người Israel dùng xe chạy điện này để đi làm, đi chơi, thăm thú bạn bè. Nhật báo “Ma’ariv” thậm chí còn tôn vinh Trekker là “Vua đường phố”, còn Hãng Motion Innovation hy vọng tìm thấy ở châu Âu một  thị trường lớn.  Nạp điện ba giờ, chạy 40 km  Mới đây EU đã cấp chứng chỉ cho phép Trekker hoạt động ở châu Âu. Mùa xuân này Motion Innovation dự định sẽ đưa Trekker thâm nhập thị trường Hà Lan và Italia trước tiên, sau đó sang các nước châu Âu khác. Hãng đã lắp đặt một dây chuyền sản xuất ở Hà Lan và một dây chuyền tiếp theo ở Hy Lạp. Mục tiêu của hãng là tung ra thị trường ít nhất 10.000 đơn vị trong năm nay.  Đối với nước Đức, do Trekker có kiểu dáng khỏe, hấp dẫn nên sẽ thu hút đối tượng học sinh, sinh viên và dân thành thị. Loại bình ắc quy Lithium-Ionen mới đưa vào xử dụng có công suất cao hơn so với loại thông dụng trước đây. Ngay đến tập đoàn ô tô Daimler cũng đang xem xét việc sản xuất loại xe điện này để cung cấp cho người dân ở các đô thị với nhãn hiệu Smart.  Khi điều kiện thời tiết thuận lợi loại xe Trekker rất thích hợp để đi làm, đi chợ hoặc đi chơi gần. Thời gian nạp ác quy ba giờ đồng hồ đủ để xe vượt quãng đường 40 km.   Đối với người sử dụng, đi Trekker rẻ hơn nhiều so với đi buýt hoặc tầu điện. Xe tiêu thụ 2 kWh cho 100 km. Theo giá điện ở Đức hết khoảng 46 cent. Giá một bình ắc quy mới là 300 Euro, sau vài ba năm phải thay thế, nếu tính cả tiền ắc quy thì cứ 100 km hết 1 Euro. Bình quân một người đi làm ở Đức mỗi tháng phải đi khoảng 270 km, chi phí sử dụng Trekker là 3,94 Euro, trong khi đó giá vé tháng xe buýt là 51 Euro.  Chuyên gia giao thông ở Đức cho rằng Trekker có nhiều cơ hội vì chi phí thấp, tiện dụng và dễ sử dụng. Giá một chiếc xe Trekker do Israel sản xuất khoảng 1.600 Euro trong khi đó loại Scooter lớn hơn giá trên 4.000 Euro. Ở nhiều nước, người dùng xe Trekker không buộc phải đội mũ bảo hiểm và không cần có giấy phép sử dụng, ở Đức loại xe này chỉ được phép chạy trên các tuyến đường dành cho người đi xe đạp, xe Trekker khi gập lại có thể để trong cốp xe ô tô hoặc cho vào thang máy một cách dễ dàng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thám hiểm Nam cực: Khám phá bí ẩn đại dương dưới lớp băng trăm nghìn năm tuổi      Các nhà khoa học trên con tàu phá băng Polarstern của Đức hy vọng sẽ quan sát được thay đổi của hệ sinh thái dưới nước trong thời gian thực.      Mô tả thềm băng Larsen C bị tách khỏi bán đảo Nam cực vào năm 2017. Nguồn: blog.bigpicturescience.org  Họ đang thiết lập một cuộc khám phá sự thật đại dương vẫn được giấu kín dưới ánh mặt trời cả trăm nghìn năm.  Trong tháng 7/2017, một tảng băng bị tách khỏi thềm băng Larsen C của bán đảo Nam cực đã tiết lộ một khối thông tin lớn vẫn còn chưa được biết đến về đại dương. Do đó chuyến thám hiểm đáy biển này có thể nắm giữ thông tin về sự tiến hóa và sự biến đổi của đời sống đại dương cũng như những ứng phó của nó với chiến đổi khí hậu.  Một nhóm nghiên cứu do Boris Dorschel, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu quốc tế  gồm 45 thành viên trên chuyến tàu phá băng của Đức mang tên Polarstern đang lập kế hoạch đi từ Chile vào cuối tháng 2 để lần đầu khám phá biển khơi mà lớp băng vẫn che giấu. Con tàu này hiện đang neo đậu tại Puntas Arena ở Chile.  Nhưng khu vực xa xôi này khó khăn để tiếp cận và điều kiện thời tiết có thể đem lại thách thức để thực hiện nghiên cứu ở đây.  “Thật hồi hộp cho bất cứ ai khám phá những điểm cực phủ tuyết trắng cuối cùng của trái đất”, Dorschel, nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu vùng cực và đại dương Alfred Wegener ở Bremerhaven, Đức, nói. “Và cũng đồng thời là việc rất căng thẳng. Thời tiết địa phương và điều kiện băng giá có thể gây trở ngại bất cứ lúc nào.”  Tảng băng rộng 5.800 km2 tách ra từ thềm băng Larsen C vào năm 2017 đã trôi đi 200 km về phía bắc.  Cái gì nằm phía dưới?  Các nhà khoa học vẫn kiên quyết muốn khám phá những gì mà các loài có thể sinh sôi dưới lớp băng, và cách hệ sinh thái đã phải đương đầu với những thay đổi bất ngờ. Nỗ lực đầu tiên mà họ muốn thực hiện đã thất bại vào năm ngoái, khi độ dày lớp băng ở biển lên tới 5m khiến con tàu James Clark Ross do Cơ quan điều tra Nam cực Anh (British Antarctic Survey BAS) phải quay trở lại vào tháng 2/2018.  “Chúng tôi đã tới gần”, Katrin Linse, một nhà sinh học đại dương của BAS ở Cambridge, kể lại. “Đó cũng là ngày đáng thất vọng khi thuyền trưởng quyết định quay mũi tàu”.  Linse không thể tham gia chuyến tàu năm nay nhưng các thành viên trong nhóm nghiên cứu của cô đều có mặt. Trong văn phòng tại Cambridge — nơi cách 13.000 km từ Puntas Arena — cô bồn chồn nghiên cứu các bản đồ băng trên biển mỗi ngày, hi vọng lộ trình khám phá sẽ hiển hiện rõ ràng.  Điều kiện hiện tại có vẻ rất lý tưởng: lớp băng từng ngăn cản con tàu của BAS giờ đã trôi về biển Weddell, một vùng Nam đại dương giữa bán đảo Nam cực và phần đất liền Nam cực xa hơn về phía đông.  Vào tháng 1/2019, một nhóm nghiên cứu trên chuyến tàu nghiên cứu của Nam Phi Agulhas II đã hạ neo tại một điểm cách 200 km về phía bắc, nơi một tảng băng bị tách ra khỏi Nam cực và lấy một số mẫu vật đại dương và đáy biển ở đó nhưng điều kiện của băng và những ưu tiên nghiên cứu khác khiến nó không di chuyển xa hơn về phía nam. Polarstern sẽ nỗ lực đi xa hơn về phía nam, tới địa điểm mà núi băng vỡ ra.  Polarstern, do Viện nghiên cứu Alfred Wegener quản lý, là con tàu khám phá vùng cực tiên tiến của Đức và là một trong những tàu phá băng nghiên cứu được trang bị thiết bị, máy móc tốt nhất thế giới. Hình ảnh vệ tinh và các chuyến bay của hai máy bay trực thăng sẽ hướng dẫn con tàu đi qua vùng băng tuyết, vốn có nhiều tảng băng trôi nổi trên biển, được hình thành từ những mảng băng nhỏ hơn gắn kết với nhau, có thể vẫn có nhiều ngay cả vào những tháng mùa hè phương nam.  Dưới ánh nắng mặt trời phương nam  Nếu lớp băng và điều kiện thời tiết cho phép, nhóm nghiên cứu có thể chạm tới địa điểm ở Chile trong vòng vài ngày. Các nhà khoa học có thể dành vài tuần sau đó để thu thập các mẫu hệ sinh vật và hóa học  đại dương, và vẽ bản đồ vùng đáy biển chưa từng được đo đạc trước đây.  “Chúng tôi sẽ cố gắng thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt,” Dorschel nói. “Chúng tôi có đủ công cụ trên tàu để có thể cung cấp một cái nhìn hoàn hảo về đại dương và đáy biển.”  Để có thêm những công cụ lấy mẫu nước tiêu chuẩn, các nhà nghiên cứu cứ dùng một thiết bị nhỏ chuyên dụng cho khám phá dưới nước, và một hệ quan sát đáy đại dương phù hợp với địa hình biển sâu và môi trường sống ở đó.  Họ nghi ngờ là hệ sinh thái biển sâu tại biển Weddell đã tiến hóa trong khu vực tăm tối dưới lớp băng dày. Hệ sinh thái này có thể thay đổi một cách rõ rệt trong vòng vài ngày nếu như các loài mới xâm thực khu vực. Các phân tích đồng vị mô từ các loài như động vật chân bụng (gastropods) và động vật hai mảnh vỏ (bivalves) có thể tiết lộ là liệu mạng lưới cung cấp dưỡng chất đã thay đổi kể từ khi tảng băng bị tách ra hay không, vì các tín hiệu hóa học trong các mô của động vật ẩn chứa thông tin về chế độ dinh dưỡng của chúng.  Nguồn dữ liệu vô giá về đa dạng sinh học đại dương   Những mẫu vật được thu thập ở vùng biển còn hoang sơ này, hoàn toàn chưa có các hoạt động đánh bắt thương mại cũng như các hoạt động khác của con người, có thể là một nguồn vô giá cho các nhà nghiên cứu về đa dạng sinh học. Dữ liệu này có thể giúp các nhà khoa học giải quyết được những câu hỏi liên quan đến việc các cộng đồng đại dương phát triển như thế nào, và các loài mới xâm thực khu vực có băng phủ nhanh như thế nào, Linse giải thích.  Nhiệt độ tăng nhanh chóng trên không trung và khu vực đại dương quanh vịnh Nam cực, một điểm nóng của biến đổi khí hậu toàn cầu, góp phần tăng thêm sự thúc đẩy thực hiện nhiều nghiên cứu hơn nữa: bất kỳ sự thay đổi nào trong sự hợp thành các loài và cấu trúc mạng lưới dinh dưỡng cũng kéo theo sự biến mất của lớp băng và có thể rọi vào số phận các hệ sinh thái vùng cực trong một thế giới dần ấm lên.  “Đây là một cơ hội độc đáo để khám phá ra liệu đời sống đại dương bị tổn thương hay có khả năng phục hồi như thế nào trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường. Đây là một hướng nghiên cứu thú vị cho tất cả chúng ta. Và tôi hy vọng rằng nó sẽ được giải quyết”, Linse nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00588-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thẩm quyến là công xưởng của tương lai” – một thành phố lên cơn say Hightech      Thành phố công nghiệp Thẩm Quyến vốn được định nghĩa là phòng thí nghiệm của chủ nghĩa tư bản và công xưởng của thế giới. Tuy nhiên từ lâu nơi đây đã trở thành thành phố của các nhà phát minh ở Trung Quốc.      Trụ sở hãng Huawei ở Thẩm Quyến  Xiao Li chạy vù vù lên tầng bốn của toà nhà. “Không có thang máy sao?”, “Có chứ”, chàng trai 21 tuổi trả lời, “nhưng chạy bộ thì nhanh hơn”. Gói hàng cần đến tay khách hàng một cách sớm nhất. Li làm việc cho một doanh nghiệp chuyên giao nhận hàng hoá. Cậu nói: “Ở Thẩm Quyến thời gian là tiền. Một số khách hàng dễ nổi nóng khi hàng không đến đúng hẹn”.  Kinh tế phát triển bùng nổ ở Thẩm Quyến, trong đó có hai lĩnh vực phát triển nhanh nhất. Thứ nhất ở đây có vô vàn doanh nghiệp startup do các kỹ sư và kỹ thuật viên của các doanh nghiệp ở cửa ngõ Hong Kong này ngày ngày cặm cụi triển khai các thí nghiệm với hàng loạt nguyên mẫu kỹ thuật. Lĩnh vực thứ hai là dịch vụ giao nhận vì các kết quả nghiên cứu cần được chuyển nhanh đến các nhà máy hoặc xưởng thợ để hoàn thiện sản phẩm với số lượng lớn để tung ra các khu chợ kinh doanh hàng điện máy.  Nếu như phát hiện lỗi ở sản phẩm hoặc góp ý kiến cải tiến sản phẩm thì gói hàng được chuyển ngay lập tức tới nhà phát triển để họ triển khai các giải pháp hoàn thiện sản phẩm. Hàng ngày có hàng nghìn người chuyển giao hàng hoá phóng ô tô điện đi vào mọi nẻo đường của thành phố rộng lớn với trên 10 triệu dân. Xiao Li nói: “Chúng tôi tự coi mình là những con kiến ở Thẩm Quyến”.  Sự trỗi dậy của Trung Hoa – một “thung lũng Silicon” với bước tiến nhanh  Cách đây ít năm Thẩm Quyếnn được mệnh danh là “công xưởng của thế giới” vì có quá nhiều xưởng máy, xưởng thợ và nhà kho. Hiện tại ở nhiều địa bàn của thành phố vẫn giữ nguyên hình hài này. Nhà máy, xưởng thợ, kho tàng san sát bên nhau trải dài hàng cây số, bên cạnh các tuyến đường rộng thênh thang là các dãy lán trại của thợ thuyền, bu quanh nơi ở của họ là vô vàn xe chuyển giao hàng hoá. Khói bụi mù mịt bao phủ bầu trời, thời tiết ở miền nam Trung Quốc lại oi bức, khó chịu làm cho cuộc sống của người lao động ở đây vốn đã khá căng thẳng vất vả nay lại càng vất vả hơn.  Tuy nhiên ở nhiều địa điểm khác của Thẩm Quyến có nhiều toà nhà chọc trời rất hiện đại san sát bên nhau không khác gì quang cảnh sầm uất náo nhiệt ở Hong Kong cách đó không xa. Hong Kong và Thẩm Quyến tạo thành một đỉnh của vùng đồng bằng sông Châu với trên 60 triệu dân. Một tuyến đường sắt tốc hành mới nối hai trung tâm kinh tế hùng mạnh, khổng lồ với nhau. Thời gian gần đây Thẩm Quyến được biết đến như một “Silicon Valley của Trung Quốc”. Hay chính xác hơn “Silicon Valley của các phần cứng”.  Cho đến tận ngày hôm nay Trung Quốc nổi tiếng là một địa bàn sản xuất hàng đại trà. Tuy là nền kinh tế lớn hàng thứ hai thế giới nhưng Trung Quốc không nổi trội với tư cách là cái nôi toàn cầu về ý tưởng. Điều này cần phải thay đổi: cách đây ba năm Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã đề ra chiến lược mới về chính sách công nghiệp “Made in China 2025”. Đất nước của ông Tập cần trở thành đất nước của các nhà sáng chế phát minh và phải vươn lên hàng đầu với tư cách là quốc gia Hightech, đó là tầm nhìn của Trung Quốc. Từ đó “Công nghiệp 4.0” là điều được mọi người Trung Quốc tâm niệm – đằng sau ý đồ này là sự tích hợp mạng kỹ thuật số với nền sản xuất công nghiệp . Mục tiêu của chính phủ Trung Quốc là đến năm 2025 khoảng 70% phương tiện giao thông chạy bằng điện hoạt động ở Trung Quốc, robot và các sản phẩm công nghệ cao phải được chế tạo tại Trung Quốc. Không nơi nào ở Trung Quốc mà bản kế hoạch tổng thể này được thấm nhuần và thực hiện triệt để như ở Thẩm Quyến.  Thẩm Quyến là phòng thí nghiệm về chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc  Đầu những năm tám mươi Thẩm Quyến còn là một làng chài ít ai biết đến nằm kề Hong Kong, khi đó còn là thuộc địa của Anh quốc. Sau đó là thời kỳ mở cửa và ông Đặng Tiểu Bình tuyên bố Thẩm Quyến là phòng thí nghiệm về chủ nghĩa tư bản, Thẩm Quyến trở thành Đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc. Những nhà máy ngành dệt may đầu tiên chuyển đến đây sau đó là các nhà máy sản xuất đồ chơi, tiếp theo là các nhà máy sản xuất đồ dùng điện tử. Hàng triệu lao động từ khắp Trung Quốc đổ về đây lập nghiệp.  Tập đoàn cung cấp linh kiện điện tử Foxconn, nổi tiếng về trả lương thấp và sản xuất hàng đại trà lại đang dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai ở Thẩm Quyến, biến thành phố này thành một Khu đô thị công nghệ cao. Các doanh nghiệp Đài Loan xây dựng hàng loạt nhà máy sản xuất thu hút có lúc lên đến 300.000 lao động – phần đông họ đến từ các tỉnh ở nội địa. Sản phẩn của tập đoàn này cung cấp cho Sony, Nintendo, Apple và Hewlett-Packard. Người lao động lắp ráp thiết bị trò chơi điện tử, iPhones và laptop.   Một số lao động này trở thành chủ doanh nghiệp; các kỹ sư và chuyên gia lập trình ở khắp Trung Quốc cũng đổ về đây. Thẩm Quyến trải qua sự bùng nổ startup. Các doanh nghiệp này phân bổ khắp thành phố có diện tích gần 2000 km2 và họ là những người tạo ra hàng loạt nguyên mẫu mới.  Luôn luôn có sẵn mọi bộ phận nhỏ hay chi tiết máy cần thiết để lắp ráp tạo ra một sản phẩm mới, điều này làm cho Thẩm Quyến trở thành thiên đường đối với những người say mê tìm tòi, sáng tạo. Tại các chợ lớn kinh doanh hàng điện tử người ta có thể tìm tòi, lục lọi bằng được bộ chuyển đổi cần thiết, cáp quang hay chip bộ nhớ mà họ cần có cho sáng chế của mình. Chính từ đây đã ra đời các sản phẩm như iPhone có hai thẻ Sim, bóng bàn tự bật trở lại hay vật bay không người lái phun nước lên bãi cỏ. Những ý tưởng này thường được bán cho các tay chơi cỡ bự như Xiaomi, Tencent hay Huawei.  Nội trong mười năm thương mại trực tuyến của Trung Quốc so với thương mại trực tuyến toàn cầu đã tăng từ 1% lên 46%. Hầu như không có ai đạt được sự bùng nổ đầy kinh ngạc như JD.com. Doanh nghiệp này đã làm rung chuyển toàn bộ ngành thương mại trực tuyến.   Ở Thẩm Quyến người ta hay nghe đến cái tên Huawei. Vì đây là tập đoàn công nghệ có tuổi đời cao nhất ở Trung Quốc và là một tấm gương sáng mà mọi người muốn noi theo, Huawei có trụ sở chính ở Thẩm Quyến. Hiện tại Huawei đứng đầu thế giới về công nghệ mạng và chuyển giao công nghệ của mình cho các tập đoàn viễn thông tầm cỡ như Deutsche Telecom hay O2 để các tập đoàn này xây dựng mạng của họ. Hiện tại Huawei chỉ đứng sau Samsung và là nhà sản xuất điện thoại thông minh đứng hàng thứ hai thế giới. Mục đích mà Huawei muốn vươn tới là chiếm lĩnh vị trí số một. Ngay cả ở lĩnh vực trí tuệ nhân tạo Huawei cũng phấn đấu vươn lên vị trí hàng đầu thế giới.  Thẩm Quyến đã tạo dựng được hạ tầng để có thể giám sát một cách thông minh tình hình giao thông tại thành phố này. Thẩm Quyến xây dựng các siêu máy tính, qua đó tập đoàn ô tô Daimler có thể mô phỏng các vụ tai nạn giao thông và cơ quan CERN ở Thuỵ sỹ có thể tạo ra các vụ va chạm hạt trong đám mây.  Những điều này tạo ra sức hút với các nhà đầu tư, nhà đầu tư Hoa kỳ Alan Chan đề cập đến “Hệ thống sinh thái Thẩm Quyến”, ông làm việc cho một nhà đầu tư mạo hiểm ở Hong Kong và là người quan sát các biến động ở Thẩm Quyến. Huawei hay Tencent là những cây đại thụ mà ai ai cũng có thể chiêm ngưỡng, nhưng hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ mới là những doanh nghiệp tạo nên nền tảng vững chắc cho Thẩm Quyến, các hãng nhỏ này cung cấp các cấu thành và phát minh của mình cho các “ông lớn”. “Cả thành phố là một công xưởng phục vụ cho tương lai”, ông Chan nói. Và: “Bất kỳ ai, nếu có ý tưởng, đều có thể nhập cuộc ngay lập tức”.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/futureboard/eine-stadt-im-hightech-rausch-shenzhen-ist-die-werkstatt-der-zukunft/23117270.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tham vọng của chúng tôi là trở thành một thương hiệu toàn cầu      “Vua cà phê” Việt Nam tiếp tôi tại một chi nhánh của Starbucks tại Thụy  Sĩ. Trung Nguyên – doanh nghiệp mà ông đang dẫn dắt đã mang lại cho ông  danh xưng như một ông hoàng. Chuỗi quán Starbucks của Mỹ theo tầm nhìn  của ông là một mô hình tiếp thị cho Việt Nam – nước trồng cà phê lớn thứ  hai thế giới – để tăng thu nhập lên cấp số nhân bằng cách đưa cả phương  thức pha chế của nó, chứ không chỉ về loại hạt cà phê vào bản đồ thế  giới.    Ông nói: ” Starbucks rất giỏi trong việc gieo một câu chuyện vào đầu khách hàng nhưng nếu chúng ta nhìn vào những yếu tố cốt lõi của Starbucks, những gì họ đang làm thật tệ hại. Họ không bán cà phê, họ đang bán thứ nước mang mùi vị cà phê với đường trong đó”.  Trung Nguyên cũng sở hữu chuỗi quán cà phê lớn nhất Việt Nam và ông Vũ đang sẵn sàng đường đua vào thị trường Tây phương; đồng thời công ty của ông đã/đang cố gắng cải thiện đời sống của người dân ở vùng cao nguyên trồng cà phê của Việt Nam – một mắt xích mà ông thấy đang thiếu ở các đối thủ lớn. Ông nói: “Họ hát rất hay về phát triển bền vững nhưng cuối cùng thì lợi nhuận thu về là điều mà họ quan tâm. Họ đâu có trồng cà phê, có phải không? Còn chúng tôi thì trồng cà phê.”  Hạt cà phê của Trung Nguyên sử dụng được mua từ các hộ nông dân trồng cà phê nhỏ có chứng chỉ thực hành canh tác bền vững và công ty mua giá ưu đãi từ những hộ này. Và ở Lucerne ông Vũ đã nói về cái mà ông gọi là  “sáng tạo có trách nhiệm vì sự hài hòa và phát triển bền vững”.        * Việt Nam là nhà sản xuất robusta hàng đầu              * Việt Nam xuất khẩu cà phê nhân thô 90%; còn tiềm năng giá trị hơn nữa               * Trung Nguyên hướng tới đạt 1 tỉ USD vào năm 2015        Việt Nam là nước xuất khẩu hàng đầu loại hạt robusta rẻ hơn – phần lớn được sử dụng cho cà phê hòa tan – và là nhà xuất khẩu cà phê thứ hai sau Brazil, nước đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu loại hạt arabica có giá cao hơn. Tuy nhiên, theo ông Vũ “Việt Nam hiện xuất khẩu tới 90% cà phê nhân thô. Những hạt cà phê này không có thương hiệu. Điều đó phải được thay đổi”.  Ông Vũ nói Việt Nam cần có được 20 tỷ USD trong vòng 15 năm tới, so với con số dưới 3 tỷ hiện giờ nếu nó thúc đẩy sản lượng nông nghiệp và gia tăng giá trị cho cà phê bằng rang, phối trộn và đóng gói. Trong đó Trung Nguyên mong muốn tăng gấp 4 lần doanh thu lên tới 1 tỷ USD vào năm 2015 (doanh số 250 triệu USD trong năm 2011) so với các thương hiệu toàn cầu như Nescafe của Nestlé và Starbucks. “Chúng tôi giống như châu chấu đấu lại với con voi khổng lồ. Về mặt kỹ thuật, marketing, Nestlé đi trước chúng tôi rất nhiều”. Vì vậy “Chiến lược của chúng tôi là thông minh hơn và trọng tâm hơn” , ông cho hay, thương hiệu G7 của ông là thương hiệu cà phê hòa tan bán được hàng đầu ở Việt Nam vượt xa Nescafe và đối thủ địa phương khác là Vinacafe.  Trung Nguyên đã xuất khẩu tới 60 quốc gia nhưng cũng đang hoạch định một cú đẩy lớn vào thị trường Mỹ năm tới, với hy vọng sẽ đảo ngược được con số trong cán cân tiêu thụ trong nước và xuất khẩu là 70/30. Ông khẳng định, “chúng tôi đang hướng tới trở thành một thương hiệu toàn cầu”.  Trung Nguyên cũng hi vọng có thêm nhiều lợi ích từ các nước đang gia tăng nhu cầu cà phê ở các thị trường uống trà truyền thống của châu Á. Vũ hi vọng sẽ tăng lượng tiêu thụ cà phê nội địa ở Việt Nam từ 1kg/người /năm ở thời điểm hiện tại lên đến mức 5kg như Brazil.  “Chúng tôi đang chạy các nhà máy tới 110% công suất và chúng tôi vẫn không đủ cung cấp cho thị trường Trung Quốc”, Vũ – người uống 10 ly cà phê mỗi ngày cho hay.  “Nếu dầu mỏ là năng lượng của nền kinh tế công nghiệp thì cà phê là năng lượng của nền kinh tế tri thức”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thăm vườn rau triệu đô…      Nông trường Long Thành quy mô hơn 80 ha, mỗi ngày sản xuất hơn 10 tấn rau củ, quả các loại, đúng hơn có thể coi đây là nơi “trình diễn” công nghệ trồng trọt Israel…      Cây trồng tại nông trường Long Thành được chăm bón theo công nghệ Israel với dữ liệu thu thập được lập trình, quy trình canh tác được ghi chép đầy đủ, bảo đảm có thể truy xuất nguồn gốc các khâu.  Nông trường VinEco Long Thành, Đồng Nai của công ty TNHH Đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEco (tập đoàn Vingroup) vừa được ban Quản lý an toàn thực phẩm TP.HCM trao “Chứng nhận chuỗi thực phẩm an toàn” từ công đoạn sản xuất đến sơ chế, chế biến và phân phối.  Truy xuất thông tin từ lệnh sản xuất  Nguyễn Thành Thảo, giám đốc nông trường rau VinEco Long Thành, học kinh tế đối ngoại nhưng khá rành rọt về trồng trọt. Ông Thảo chỉ mất chừng gần một giờ đồng hồ nói về quy trình quản lý truy xuất nguồn gốc từng loại rau củ, quả đang trồng ở đây. Mở đầu, Thảo hỏi: nhà anh ở Thủ Đức? Trên đường Hoàng Diệu 2, phường Linh Trung có cửa hàng Vinmart+, anh vào mua một bó rau cải, trên bao bì có mã vạch, điện thoại thông minh sẽ cho ra ngay thông tin lệnh sản xuất của loại rau này. Hơn 80 ha rau ở Long Thành, theo ông Thảo, đang được quản lý nguồn gốc xuất xứ theo các lệnh sản xuất, thứ tự từ 1 đến 10 như vậy. Trong lệnh sản xuất, phần mềm sẽ ghi nhập mọi dữ liệu của cây rau, bao gồm nguồn gốc hạt giống, phân bón, vật tư, thuốc bảo vệ thực vật, ngày xuống giống, diện tích, thu hoạch, sản lượng, lô, thửa trồng… Ngoài truy xuất các vật tư đầu vào, lệnh sản xuất cũng có thể giúp truy xuất số nhân công làm việc trong một lô rau.  “Khi mở ra bất kỳ một lệnh sản xuất nào, hệ thống phần mềm sẽ truy xuất các thông tin đầy đủ về cây rau và các phụ kiện đi kèm”, ông Thảo giới thiệu.  Cùng với ông Thảo, nông trường Long Thành có 11 cán bộ kỹ thuật quản lý thường xuyên khoảng 200 công nhân, nhưng công việc chính của họ là ghi nhật ký sản xuất để cập nhật vào phần mềm truy xuất. Một cán bộ kỹ thuật đảm trách gần 10 ha, họ phải sử dụng máy tính bảng, sáng sớm phải ra thăm trang trại, ghi chép toàn bộ các thông số kỹ thuật cũng như đưa ra nhận xét, đánh giá sự tăng trưởng của cây trong suốt quá trình trồng để có hướng xử lý. Còn đội ngũ công nhân, họ chỉ đơn thuần được hướng dẫn thao tác các công đoạn trong quá trình gieo hạt, trồng trọt, thu hoạch và sơ chế, đóng gói.Mỗi công nhân cũng được “quy hoạch” làm việc trong một ngày ở một nhà màn, hôm sau mới được lưu chuyển sang nhà màn khác để tránh lây nhiễm chéo mầm bệnh (nấm, côn trùng). Ngoài ra, họ chỉ được bố trí làm việc theo một hướng, từ cây nhỏ đến cây lớn cùng họ nhằm ngăn ngừa dịch bệnh và ký chủ.  “Tới ngày giờ sản xuất, cán bộ kỹ thuật là người trích xuất vật tư, giống, phân bón và hướng dẫn công nhân thao tác”, Thảo trình bày, đồng thời cho hay, dựa vào phần mềm quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng biết một cây trồng từ khi xuống giống bao nhiêu ngày phải sử dụng phân, bao nhiêu ngày phải phun thuốc, tuần nào cần thêm chế độ dinh dưỡng… Tất cả đều có định lượng rõ ràng.  Nông trường Long Thành đang sử dụng thuốc BVTV nhóm 3 và nhóm 4, ông Thảo cho hay không sử dụng thuốc nhóm 1 và 2 có độc tố cao. Lý do là rau được trồng trong hệ thống nhà kính, nhà màn có kiểm soát môi trường và sử dụng hệ thống bẫy côn trùng nên giảm trên 80% sâu và côn trùng. Việc sử dụng phân bón, thuốc cũng được kiểm soát nghiêm ngặt, mỗi lứa rau khi thu hoạch được lấy mẫu kiểm tra trước từ 7 – 10 ngày. Phân bón và thuốc trừ sâu cũng được ngưng sử dụng đúng thời gian cách ly.    Nuôi ong giúp cho việc thụ phấn cây dưa lưới.    Nơi trình diễn công nghệ… Israel  Nông trường Long Thành thiết lập hệ thống khu trại có diện tích từ 0,25 ha cho đến 1ha. Rau, củ quả được trồng trong nhà kính theo hai dạng giá thể và trồng đất. Ông Nguyễn Thanh Thảo bảo nông trường đang giảm diện tích trồng đất để chuyển dần sang trồng giá thể nhằm kiểm soát tối đa quá trình sinh trưởng cây. Thử đi xem nhà màn trồng dưa lưới giá thể, gieo cách nay hơn tháng, cây đã ra hoa, thụ phấn, cho trái. Các bao đựng giá thể xơ dừa là những túi nylon hình tròn, mỗi túi trồng hai cây dưa, có hai đường ống tưới tự động, được xếp thành các luống ngay ngắn, thẳng ro từ đầu này đến đầu kia. Cách vài ba luống được đặt một bẫy côn trùng dạng tấm pa nô dài, màu vàng và các bọng ong giúp thụ phấn.  Do được gieo cùng ngày, cùng “ăn” chế độ dinh dưỡng, cùng trong môi trường nhà kính nên chiều cao cây dưa cũng rất đồng đều. Ông Thảo giới thiệu, tất cả vật liệu, thiết bị của trại dưa, từ bao đựng giá thể, dây leo, khung kèo nhà kính, thiết bị tưới tự động, nhà màn, quạt hút…cho đến hệ thống phần mềm quản lý và có cả các chuyên gia của Israel đang ngày ngày chuyển giao kỹ thuật ở đây đều được nhập khẩu trọn gói từ Israel. Cùng với việc bỏ ra hàng triệu đô la nhập thiết bị, nông trường còn được các chuyên gia Israel sang hỗ trợ kỹ thuật.Ví dụ họ sẽ phân tích, sau đó đúc kết ra công thức các giai đoạn phát triển của câycần những loại dinh dưỡng nào, cây cần nồng độ phân là bao nhiêu để hấp thụ vừa đủ trong ngày, tránh lãng phí hoặc bị ngộ độc. Sau khi đã định lượng được thông số, phần mềm sẽ thiết lập chế độ dinh dưỡng chung ngay từ đầu cho mỗi loại cây. Sau khi ra kết quả, phân bón sẽ được vận chuyển vào các bồn để phối trộn, hòa tan thành nước và được dẫn tự động vào hệ thống tưới nhỏ giọt. Máy tính cũng sẽ định vị sẵn khung giờ tưới trong ngày, trong tuần sao cho cây hấp thụ vừa đủ, đảm bảo sinh trưởng.  Ở hai đầu ống dẫn ra (bồn trộn) và đầu vào (trước khi dẫn vào giá thể) cũng có hệ thống cảm biến đánh giá tỷ lệ dinh dưỡng, nếu chưa đủ, thông tin lập tức được chuyển về máy chủ, sau đó hệ thống nước tự động chuyển ngược lại bồn để phối trộn lại. Ngoài ra, theo phân tích của giám đốc nông trường, qua hệ thống phần mềm máy tính, các trại cũng sẽ được kiểm soát ánh sáng, ẩm độổn định thông qua hệ thống quạt hút và nhà màn.  “Ví dụ thời điểm 12 giờ trưa nắng nóng, ẩm độnhà màn vượt quá chỉ tiêu 80%, hệ thống máy tính sẽ tự động thông báo, lúc này, các nhà màn sẽ được tự động khép lại, đồng thời hệ thống quạt hút sẽ được tăng cường thêm để đưa độ ẩm về đúng 80%”, ông Thảo nói.  Không nói quá, cách đầu tư trồng rau công nghệ chỉ có những tập đoàn mạnh tài chính như VinEco mới dám làm. Đây là xu hướng phát triển nông nghiệp được Israel và các nước phát triển đang thu lợi nhuận cao, nhưng các hộ gia đình bị hạn chế bởi hạn điền và tài chính ở Việt Nam rất khó áp dụng. Trên lý thuyết, việc áp dụng công nghệ trồng rau 100% Israel đưa đến năng suất cao hơn hẵn mô hình sản xuất thông thường, còn tỷ suất lợi nhuận tới đâu, đó là bí mật của nhà đầu tư. Giá cả tuy mắc hơn nhưng người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm có truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm từ cung cách sản xuất hiện đại này.  ”Nhiều doanh nghiệp bán rau có lý lịch  VinEco, thành viên tập đoàn Vingroup, chính thức tham gia lĩnh vực nông nghiệp từ tháng 3.2015, công bố rót tới 4.000 tỷ đồng vào sản xuất nông nghiệp. Theo thông tin công bố, VinEco có ba vùng sản xuất rau củ quả ở miền Bắc, miền Nam, Lâm Đồng với 14 nông trại sản xuất khép kín, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí về chất lượng và an toàn thực phẩm của VietGAP: từ nghiên cứu, chọn giống, gieo hạt, sản xuất, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, cho đến sơ chế và vận chuyển đến điểm bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Hiện, VinEco đưa vào thị trường hơn 200 chủng loại sản phẩm gồm rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ, rau gia vị, trái cây, trong đó đặc biệt có nấm, rau mầm và rau thủy canh, dưa lưới, dưa lê, dưa leo baby là những sản phẩm cao cấp sản xuất trong nhà kính Israel…Công ty này cũng đang áp dụng công nghệ tưới tự động trên cơ sở kỹ thuật tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa với sự chuyển giao đồng bộ cả về kỹ thuật, quy trình vận hành lẫn thiết bị từ đối tác Netafim, Israel.  Một thương hiệu khác là DaLat GAP cũng có hơn 35 ha rau củ, quả đạt chứng nhận sản xuất quốc tế GlobalGAP từ chín năm nay, sản phẩm đang có mặt ở thị trường TP.HCM và nhiều tỉnh thành khác. Ông Lê Văn Cường, giám đốc DaLat GAP, cho biết tất cả sản phẩm rau củ quả của công ty được quản lý chuỗi, truy xuất nguồn gốc, bảo đảm các tiêu chuẩn GlobalGAP. Theo đó, bất cứ loại rau nào đang có mặt trên thị trường cũng đếu có lý lịch rõ ràng thông qua công việc của đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật hàng ngày ghi nhật ký sản xuất. Toàn bộ diện tích đất canh tác cũng được trang bị hệ thống nhà kính hiện đại. Phương thức canh tác tiên tiến, áp dụng phương pháp trồng cây trên giá thể, bón phân, tưới nước được cài đặt qua hệ thống tự động. Hệ thống này sẽ kiểm soát lượng phân bón và pH nước tưới cho từng giai đoạn của cây trồng và ở các khu vực khác nhau. DaLat GAP cũng là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam đạt chứng nhận Global GAP (2009); bộ Nông nghiệp công nhận doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 2012.”  bài, ảnh: Bảo Anh (theo TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Than hoạt tính từ bã dong riềng      Đề tài chế tạo than hoạt tính từ bã thải củ dong riềng, từ đó ứng dụng để tách một số ion kim loại nặng trong nước của anh Nguyễn Trọng Nghĩa cùng các công sự tại Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên là một hướng nghiên cứu thiết thực, giúp các làng  nghề giải quyết bài toán về ô nhiễm môi trường, đồng thời tạo ra được  nguồn nguyên liệu mới có ích.     Cây dong riềng được là nguyên liệu chính để sản xuất miến quy mô lớn tại một số làng nghề. Tuy nhiên, các làng nghề làm miến hiện nay mới chỉ tận dụng được lượng tinh bột từ củ dong riềng, phần bã thải ra trong quá trình sản xuất khá lớn chưa được tận thu và xử lý triệt để gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của người dân.  Sinh ra và lớn lên ở Hưng Yên, một trong những địa phương nổi tiếng lâu đời với nhiều làng nghề làm miến, anh Nguyễn Trọng Nghĩa hiểu rất rõ những tồn tại này và đã cùng các công sự tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, nghiên cứu triển khai đề tài “chế tạo than hoạt tính từ bã thải củ dong riềng, từ đó ứng dụng để tách một số ion kim loại nặng trong nước”  Nhóm nghiên cứu của anh Nghĩa đã thu thập mẫu bã củ dong riềng rửa sạch, cắt nhỏ đến kích thước ≤ 1,2 mm, sấy khô ở 1000C. Các mẫu được đem tẩm tác nhân hoạt hóa ZnCl2 (kẽm Clorua) với tỷ lệ thích hợp, sau đó tiến hành nung ở các nhiệt độ và thời gian khác nhau trong môi trường khí N2. Khi kết thúc quá trình hoạt hóa các mẫu được làm nguội và rửa mẫu bằng dung dịch HCl, sau đó rửa lại bằng nước nóng cho đến môi trường trung tính.  Mẫu sau khi sấy khô mẫu ở 1000C trong 12h, sẽ được nghiền mịn và kiểm tra đánh giá chất lượng như chụp SEM (đọc phiên âm tiếng Anh là ét-i-em) để xác định diện tích bề mặt, chỉ số Iốt ; Thử khả năng hấp phụ các ion như Fe2+ (sắt), Cu2 (đồng)+… trong nước  Có thể nói, đây là hướng nghiên cứu thiết thực giúp các làng nghề giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường, đồng thời tạo ra được nguồn nguyên liệu mới có ích. Nhóm nghiên cứu cũng bày tỏ mong muốn triển khai mở rộng quy mô thực hiện để sớm trả lại môi trường trong lành cho các làng nghề làm miến tại Hưng Yên cũng như trên cả nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành công từ đầu tư triệu đô cho trung tâm nghiên cứu      Bước ngoặt thành công của Công ty cổ phần  Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) được đánh dấu bằng việc công ty đã mạnh  dạn đầu tư 4,5 triệu đô la xây dựng một trung tâm nghiên cứu nông  nghiệp vào năm 2012.     Sau nhiều năm gây dựng, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) đã trở thành một trong những nhà phân phối hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp. Để có được thành công này, AGPPS đã mạnh dạn đầu tư 4,5 triệu đô la xây dựng một trung tâm nghiên cứu về nông nghiệp, mở ra một chương trình đổi mới sáng tạo đầy hiệu quả.  Con đường tới thành công của AGPPS được đánh dấu bằng bước ngoặt năm 2012, khi nhiều nhà đầu tư nước ngoài bỏ phiếu phủ quyết tại đại hội cổ đông thường niên khiến UBND tỉnh An Giang xin tiếp nhận lại công ty. Sau vụ “cứu hộ” này, AGPPS quyết định tập trung đầu tư cho hoạt động R&D nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh. Vào cuối năm 2012, Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Định Thành (DT ARC) trên khu đất có diện tích 20 ha, tổng số vốn đầu tư 4,5 triệu đô la ra đời với sự hợp tác của AGPPS và tập đoàn Syngenta của Thụy Sĩ. Trong mối quan hệ hợp tác này, Syngenta đảm trách vấn đề tư vấn về mặt kỹ thuật, công nghệ còn Trung tâm DT ARC được cập nhật những kết quả nghiên cứu mới nhất, phù hợp với tình hình nông nghiệp Việt Nam từ hệ thống trung tâm nghiên cứu của Syngenta.   Dưới sự quản lý của PGS. TS Dương Văn Chín, Trung tâm DT ARC chủ yếu nghiên cứu các vấn đề thiết thực như di truyền chọn giống, đất nông nghiệp, bảo vệ thực vật, vi sinh, cơ khí nông nghiệp… và đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu nhằm đáp đứng nhu cầu thực tế của người nông dân và chiến lược phát triển của công ty. Bên cạnh đó, DT ARC còn tham gia đào tạo nâng cao trình độ cho lực lượng FF (Cùng nông dân ra đồng), nông dân cộng tác viên trong vùng nguyên liệu, cán bộ, kỹ thuật viên tại các địa phương có yêu cầu.    Bắt tay vào công việc, đội ngũ cán bộ khoa học của DT ARC đã khảo nghiệm, nghiên cứu tính phù hợp vùng sinh thái của giống; khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật, chất điều hòa sinh trưởng, phân bón; quản lý dinh dưỡng tổng hợp, quản lý nước, các biện pháp canh tác tổng hợp trên cây trồng; kiến tạo thành Quy trình canh tác khép kín; nghiên cứu phát triển các giống lúa; tổ chức hội thảo khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp với các nhà khoa học.   Trung tâm DT ARC còn đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất và dịch bệnh trên đồng ruộng, qua đó tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín tạo điều kiện ứng dụng công nghệ mới, tổ chức nhiệu hộ nông dân nhỏ cùng sản xuất trên cánh đầu mẫu lớn. Theo thống kê, năm 2013, tổng diện tích gieo trồng đạt trên 47.000ha, thu hút sự tham gia của trên 18.00 hộ nông dân, thu hoạch được trên 285.000 tấn lúa tươi sấy.  Nhằm nâng cao giá trị kinh tế cho cây lúa, Trung tâm DT ARC đã nghiên cứu và tự chế tạo hệ thống thế hệ một kết hợp “sấy tầng sôi – tháp tuần hoàn” với kinh phí ban đầu 6.6 tỷ đồng, đạt năng suất 160 tấn lúa/ngày. Sau đó, các cán bộ tiếp tục cải tiến, đưa ra hệ thống sấy thế hệ hai nhằm khắc phục những nhược điểm của thế hệ một, cung cấp cho bốn nhà máy chế biến gạo của AGPPS với tổng công suất 4.000 tấn lúa/ngày. Tiếp tục nâng cao hiệu quả, hệ thống sấy thế hệ ba đã đưa chất lượng sản phẩm hạt gạo lên cao, giảm độ rạn gãy xuống 4.5%, đạt công suất 1.200 tấn lúa/ngày, giá chỉ bằng 30% so với máy nhập khẩu.   Ngoài ra, một hoạt động hiệu quả khác của Trung tâm DT ARC là tìm ra những sản phẩm giàu chất dinh dưỡng, nhiều tính năng công dụng và có giá trị thương phẩm cao, như gạo mầm VIBIGABA, gạo mầm VIBIGABA nghệ, bánh gạo mầm VIBIGABA, cốm VIBIGABA, dầu từ cám gạo…   Từ những thành công trong nghiên cứu, AGPPS đã trở thành doanh nghiệp duy nhất của ngành nông nghiệp nằm trong tốp 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam bốn năm liền theo xếp hạng của VNR 500, doanh thu năm 2012 đạt 6.400 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 243,37 tỷ đồng.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành công từ lần phóng đầu tiên cho tên lửa khổng lồ của Elon Musk      Tên lửa Falcon Heavy với 27 động cơ của SpaceX đã phóng lên vũ trụ thành công từ bang Florida (Mỹ), mang theo “hàng hóa” là chiếc xe Tesla mui trần màu đỏ anh đào.    Bảy năm trước, Falcon Heavy chỉ là một mô hình tên lửa, đặt trên bàn trong một phòng hội nghị ở Thủ đô Washington (Mỹ), trước một số phóng viên và một vài chiếc ghế trống.  Thứ Ba vừa rồi, tên lửa được “thai nghén” bởi Elon Musk, CEO của SpaceX, đứng sừng sững cao 70 mét, trên bệ phóng huyền thoại của Trung tâm Vũ trụ Kennedy, nơi tên lửa Saturn V đã đưa con người lên mặt trăng lần đầu tiên. Khoảng 100.000 người đã tới đây để chứng kiến Falcon Heavy khởi động và phóng lên bầu trời.   Vào lúc 3:45 chiều, 27 động cơ của chiếc tên lửa gầm lên và theo đó là đám mây khói trắng dày tuôn ra từ bệ phóng. Chỉ trong vài giây, tên lửa đã cất cánh và bay lên trên nền trời trong xanh của Space Coast (bờ biển Không Gian), bang Florida (Mỹ). Bay cùng là chiếc xe Tesla mui trần màu đỏ anh đào và một hình nhân có tên là Starman mặc bộ đồ phi hành gia của SpaceX ngồi ở ghế lái. Bài hát “Space Oddity” của David Bowie vang lên từ loa xe.   Quả là một ngày hoàn hảo để phóng tên lửa.     Đám đông reo hò tại bờ biển Playalinda tại Bờ biển quốc gia Canaveral (Canaveral National Seashore) khi tên lửa Falcon Heavy được phóng lên. Ảnh: Orlando Sentinel/AP  Sau khi tên lửa Heavy rời bệ phóng và xuyên qua tầng khí quyển trên cùng của Trái đất, hai tên lửa đẩy ở hai bên sườn tách ra. Với cách thức điều khiển phức tạp và tinh tế mà SpaceX đã thực hành đến mức gần như hoàn hảo trong vòng mấy năm vừa qua, hai tên lửa đẩy đổi hướng và quay trở lại mặt đất chỉ chưa đầy 10 phút sau khi cất cánh và hạ cánh tại bãi hạ cánh trong Trạm không quân Cape Canaveral.   Tên lửa đẩy trung tâm mà SpaceX dự kiến sẽ hạ cánh xuống con tàu không người lái chờ ở ngoài khơi Đại Tây Dương đã không thể hoàn thành nhiệm vụ. Musk xác nhận điều này vào tối thứ Ba trong buổi họp báo với các phóng viên tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy. Musk nói tên lửa đẩy này đã lao xuống mặt biển với tốc độ 480 km/h. Dù nó đã gần như làm được. Musk cho biết vụ va chạm đã làm các mảnh vỡ văng tung tóe trên tàu. Anh cũng nói rằng sẽ cố gắng khôi phục vài đoạn băng video ghi lại cú va chạm.   “Nếu các camera không bị nổ tung thì chúng tôi sẽ công bố chúng” – Anh nói.   Trong khi đó, tầng trên cùng của tên lửa, mang theo Tesla, lướt đi bình thường. Một giờ sau khi cất cánh, Musk chia sẻ video về chiếc xe nhờ vào một loạt các camera được gắn xung quanh xe.      View from SpaceX Launch Control. Apparently, there is a car in orbit around Earth. pic.twitter.com/QljN2VnL1O  — Elon Musk (@elonmusk) February 6, 2018       Chuyến bay thử nghiệm thành công của Falcon Heavy đã khôi phục lại năng lực mà nước Mỹ đã để mất vài năm trước. Lần cuối cùng một tên lửa phóng hạng nặng rời Cape Canaveral là vào năm 2011, khi Tàu con thoi Space Shuttle thực hiện chuyến bay cuối cùng sau 30 năm chuyên chở phi hành gia đi đi về về tới quỹ đạo tầm thấp quanh Trái đất. Trước đó là tên lửa Saturn V, một con tàu khổng lồ mà NASA từng dùng để đưa những phi hành gia Apollo lên mặt trăng.   Vào năm 2018, kỷ niệm 60 NASA ra đời, chính phủ Mỹ không còn thực hiện những chuyến phóng hạng nặng như vậy nữa. Công việc này, ít nhất là trong thời điểm hiện nay, lần đầu tiên trong lịch sử hàng không vũ trụ của Mỹ, rơi vào tay một công ty tên lửa thương mại.   NASA hiện đang xây dựng tên lửa hạng nặng của riêng mình, Hệ thống phóng vũ trụ – Space Launch System, gọi tắt là SLS. SLS sẽ vượt qua Heavy về khả năng phóng và tải trọng và có nhiệm vụ một ngày nào đó đưa con người quay trở lại mặt trăng. Nhưng chuyến bay đầu tiên của SLS dự kiến sẽ diễn ra vào cuối năm 2019 và có thể bị hoãn lâu hơn nữa, vậy nên SpaceX sẽ tận hưởng, ít nhất là trong một thời gian, lợi thế của việc giữ kỷ lục Mỹ.   Một ngày trước khi phóng, Musk nói rằng anh không hề cảm thấy lo lắng.   “Điều kì lạ về chuyến bay này là, bình thường thì tôi cảm thấy vô cùng căng thẳng vào hôm trước”, Musk nói với các phóng viên trong cuộc điện đàm ở Trung tâm Vũ trụ Kennedy. “Lần này thì không. Có thể nó là điềm báo xấu. Tôi không biết nữa. Nhưng thực sự tôi thấy rất tự tin và hạnh phúc. Tôi tràn trề hi vọng chuyến bay này sẽ diễn ra đúng như kế hoạch. Chúng tôi đã làm mọi thứ có thể. Tôi chắc chắn chúng tôi đã làm mọi thứ có thể để tối đa hóa khả năng thành công trong lần phóng này.”   Falcon Heavy có chuyến bay thành công đồng nghĩa với việc đây là tên lửa đang hoạt động mạnh nhất hiện nay, vượt qua đối thủ gần nhất, Delta IV Heavy của United Launch Alliance về mặt tải trọng. Trong tương lai, tên lửa này sẽ có khả năng chở một khối lượng lớn hơn bất kì tên lửa nào do Mỹ sản xuất kể từ Saturn V. Với giá khoảng 90 triệu USD cho mỗi lần phóng, Falcon Heavy là lựa chọn dùng tên lửa hạng nặng với giá rẻ nhất cho những khách hàng tiềm năng trải từ các công ty vệ tinh thương mại cho đến NASA. Những lần phóng của Delta IV Heavy có giá lên tới 400 triệu USD và SLS, tên lửa không sử dụng lại, dự kiến sẽ tiêu tốn 1 tỷ USD cho mỗi lần phóng.   Lần phóng này cũng đánh dấu lần đầu tiên SpaceX thử nghiệm quy trình tách và thu hồi tên lửa đẩy vô cùng phức tạp.   Đây là đường bay Musk chia sẻ trên mạng xã hội vài tiếng trước khi phóng:        Tên lửa đẩy trung tâm tách ra thành công. Tầng trên cùng của tên lửa, mang theo chiếc Tesla, tiếp tục hành trình của mình. Trên quỹ đạo, tầng này sẽ trôi trong vòng 6 tiếng và rồi khởi động động cơ một lần nữa để giúp đưa Tesla vào quỹ đạo hình elip quanh mặt trời, nằm giữa Trái đất và sao Hỏa. Đó là ý của Musk khi anh nói sẽ gửi chiếc Tesla của mình đến hành tinh đỏ.  “Tôi không lo lắng cho chiếc xe” Musk nói vào thứ hai. “Nó sẽ ổn thôi”.   Musk nói rằng anh mong đợi chiếc Tesla sẽ trôi tự do trên quỹ đạo trong hàng trăm triệu năm. “Có những thời điểm nó sẽ tiến cực kì gần đến sao Hỏa” anh nói. “Và có một khả năng vô vùng nhỏ là nó sẽ đâm vào sao Hỏa. Cực kì nhỏ”.          Cuộc du hành có một không hai của Starman và chiếc Tesla Roadster được khởi sinh từ việc Musk muốn tạo ra một điều gì đó thú vị hơn so với những khối bê tông hoặc sắt vẫn được sử dụng để làm hàng hóa tượng trưng cho lần bay thử của những tên lửa hạng nặng. Musk nói rằng, những khối đó “cực kì buồn tẻ”: “Điều gì buồn tẻ, dĩ nhiên, đều kinh khủng, nhất là các công ty, vậy nên chúng tôi quyết định gửi đi một cái gì đó thật kì lạ, một thứ gì đó khơi gợi cảm xúc”. Ảnh: AFP/SpaceX  Rất nhiều người, kể cả Musk, nghĩ rằng vụ phóng Heavy sẽ kết thúc với một vụ nổ khi tên lửa rời khỏi Trái Đất. Musk nói với các phóng viên vào thứ hai rằng nếu tên lửa Heavy nổ tung, anh hi vọng lúc đó nó đã bay đủ xa để tránh làm tổn hại đến bệ phóng lịch sử, vì để sửa chữa sẽ rất tốn kém và mất hàng tháng trời.   SpaceX giờ đây đang ở đỉnh cao. Công ty này khép lại năm 2017 với kỷ lục 18 lần phóng loại tên lửa nhỏ hơn, Falcon 9, chiếm hầu hết số lần phóng vào quỹ đạo từ đất Mỹ. Những thất bại của công ty này, bao gồm các vụ nổ vào năm 2015 và 2016, phá hủy tên lửa, hàng hóa và hủy hoại một bệ phóng giờ đây đã lùi vào dĩ vãng. Điều họ tập trung giờ đây là tần suất các lần phóng dày hơn mà công ty đặt ra cho năm 2018, và tên lửa lớn hơn rất nhiều BFR, tên lửa trước đây được biết là Hệ thống vận chuyển liên hành tinh (Interplanetary Transport System). Musk nói việc phát triển BFR đang “tiến triển nhanh chóng”. Anh hi vọng BFR sẽ giúp việc di chuyển quốc tế nhanh hơn hẳn, phóng vệ tinh và tàu vũ trụ, chở phi hành gia vào quỹ đạo tầm thấp quanh Trái đất, đến mặt trăng và sao Hỏa.   Khi Saturn V phóng lên từ Trái đất vào những năm 1960 chở theo các phi hành gia Apollo, việc ai đó không phải là cơ quan vũ trụ liên bang quốc gia đòi phóng một thứ gì đó – bất kể là cái gì – từ vệ tinh truyền thông đến con người, chưa nói đến một chiếc xe ô tô điện – dường như là điều bất khả. Thậm chí chưa ai dám suy nghĩ về ý tưởng này. Thế mà trong một thời gian ngắn – thực sự là mới chỉ vài năm trở lại đây – SpaceX đã nắm lấy tiềm năng này, không chỉ biến nó thành hiện thực mà thành một sự kiện thường xuyên.   “Rất nhiều người nghĩ rằng chúng tôi không thể làm được – thực sự là cực kì nhiều”, Musk nói vào năm 2008, vào thời điểm, sau ba lần phóng thất bại, SpaceX phóng tên lửa Falcon 1 vào quỹ đạo từ một đảo san hô trong quần đảo Marshall, trở thành công ty tên lửa tư nhân đầu tiên làm được điều này. “[Vươn tới quỹ đạo] thông thường là việc của nhà nước, chứ không phải là việc của công ty”.   Một thập kỉ sau đó, vươn tới quỹ đạo và xa hơn nữa đã hoàn toàn trở thành việc của công ty.    Hảo Linh dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2018/02/spacex-falcon-heavy-launch-watch/552407/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thanh niên thất nghiệp ở mức báo động      Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mặc dù số  lượng việc làm được tạo ra trong năm 2013 tăng nhẹ nhưng thất nghiệp ở  lứa tuổi thanh niên (dưới 25 tuổi) và tỉ lệ gia tăng việc làm phi chính  thức đang là những vấn đề đáng báo động tại thị trường lao động Việt  Nam.    Thất nghiệp thanh niên tăng  Theo báo cáo mời nhất từ ILO, ở Việt Nam, tỷ lệ lao động dưới 25 tuổi thất nghiệp đang cao gấp 3 lần tỷ lệ thất nghiệp trong nước nói chung, ở mức 5,95% trong quý 4 năm 2013. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp trẻ ở khu vực thành thị tiếp tục ở mức cao, đạt tỉ lệ hơn 11% trong giai đoạn này.  Hơn nữa, Việt Nam ghi nhận tốc độ gia tăng 2,2% trong nhóm việc làm dễ bị tổn thương (bao gồm lao động tự làm hoặc lao động gia đình) trong quý 4/2013 so với cùng kỳ năm trước, trong khi tổng số việc làm chỉ tăng 1,7%. Kết quả là, việc làm dễ bị tổn thương tại Việt Nam chiếm tới 62,1% tổng số việc làm. Con số này cao hơn nhiều so với mức chung của thế giới (47,7%).  “Đây là một chiều hướng đáng lo ngại. Nhiệm vụ tăng cường hệ thống an sinh xã hội và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang việc làm chính thức là rất cần thiết, giúp hỗ trợ giảm nghèo, tăng cầu trong nước và tăng trưởng kinh tế,” Giám đốc ILO Việt Nam Gyorgy Sziraczki nhận định.  Ông cũng chỉ ra rằng đầu tư vào lĩnh vực đào tạo để công tác này đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và giúp lao động trẻ có được việc làm đảm bảo với năng suất lao động cao là những nhiệm vụ quan trọng.  Theo báo cáo mời nhất từ ILO, điều tra lao động việc làm quí 4 năm 2013, cho thấy số lượng việc làm mới đã tăng 862.000, tức tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.  Trong đó, tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), ở mức 4,8% so với năm 2012. Phần lớn việc làm mới được tạo ra thuộc khối dịch vụ, công nghiệp và xây dựng.  “Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ từ 1,81% đến 1,9% so với cùng kỳ năm 2012 và nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trên toàn cầu nhưng thất nghiệp thanh niên và sự gia tăng việc làm phi chính thức vẫn là vấn đề đáng lo ngại tại thị trường này” – Giám đốc ILO Việt Nam Gyorgy Sziraczki nói.  Nhu cầu lao động tại khu vực FDI tăng  ILO đã đưa vào một chỉ số mới trong đó sử dụng số liệu từ cuộc khảo sát việc làm của ManpowerGroup và cho thấy dù nhu cầu tuyển dụng của phần lớn những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong nước tăng nhẹ trong quý 1/2014 (chủ yếu là thay thế nhân công chứ không phải cho các vị trí mới), nhưng cứ 5 doanh nghiệp thì tới 4 doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất và cải tiến công nghệ trong vòng 5 năm tới.  “Điều này có nghĩa là nhu cầu tuyển dụng lao động lành nghề, bao gồm kỹ thuật viên và kỹ sư, trong khu vực FDI sẽ tăng đều trong những năm tới” Giám đốc điều hành ManpowerGroup tại Thái Lan, Việt Nam và Trung Đông, Simon Matthews, cho biết.  Trong khoảng hai hoặc ba năm tới, đầu tư sản xuất sẽ chuyển đổi từ Trung Quốc sang Việt Nam, khiến nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh đối với tất cả các nhóm kỹ năng lao động tại các nhà máy sản xuất, từ công nhân có tay nghề thấp tới quản lý cấp trung.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phần độc đáo làm tăng sức mạnh cho tre      Các nhà nghiên cứu UBC Okanagan đã áp dụng một kỹ thuật độc đáo làm tăng cường các đặc tính của vật liệu sinh học tổng hợp (biocomposites) và khiến cho nó có độ bền tốt hơn.      Với sự sáng tạo của vật liệu mới và vật liệu tổng hợp xanh, thật dễ dàng để bỏ qua các loại vật liệu như tre và các dạng sợi tự nhiên, giáo sư kỹ thuật cơ học UBCO Abbas Milani nói. Các dạng sợi này hiện mới được sử dụng trong nhiều giải pháp như vải dệt, ngành công nghiệp tự động hóa, đóng gói và xây dựng.  Nhóm nghiên cứu của ông mới tìm được một cách không chỉ làm tăng cường sức mạnh của các sợi mà còn làm giảm xu hướng bị phân rã theo thời gian, khiến cho nó thậm chí có thể thân thiện nhiều hơn về mặt môi trường. “Tre có sức mạnh gần với thép dẻo trong khi nhỉnh hơn về độ linh hoạt”, theo Milani, giám đốc sáng lập Viện nghiên cứu các vật liệu và sản xuất. “Với những ưu điểm như nhẹ hơn, chi phí thấp hơn và sẵn có trong tự nhiên, tre là một loại vật liệu hứa hẹn vô cùng nhưng cho tới gần đây thì việc sử dụng nó lại gặp một trở ngại lớn”.  Tre là một trong những loài thực vật bị khai thác nhiều nhất trên thế giới. Nó được dùng để tạo ra các sợi tự nhiên với sản lượng hơn 30 triệu mét khối hằng năm. Tuy nhiên, các sợi tự nhiên của tre có thể hấp thụ nước, bị suy thoái và yếu đi theo thời gian do độ ẩm và điều kiện thời tiết.  Sử dụng một quá trình mà người ta gọi là plastic hóa để khử nước cho tre, nhóm nghiên cứu sau đó đã có thể gia cố cho các loại sợi và vật liệu khác. Họ đã áp dụng nó cho một loại vật liệu tổng hợp sinh học lai có hiệu suất cao mới.  Từng được Gunther von Hagens phát triển vào năm 1977 để bảo quản các phần của một cơ thể sống thông qua quá trình thay thế nước và lipit với nhiều loại nhựa bền vững, quá trình plastic hóa đã được ứng dụng rộng rãi trong bảo quản cơ thể động vật, cơ thể người và các tiêu bản nấm. Giờ với sự sáng tạo của các nhà khoa học, nó đã có được cách mới để làm tăng cường các ứng dụng vật liệu. Sự plastic hóa giúp đảm bảo về độ bền của vật liệu tổng hợp theo cả thời gian ngắn và dài, Daanvir Dhir, đồng tác giả nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tại UBC Okanagan.  “Vật liệu tre nhựa hóa này được trộn với thủy tinh và sợi polymer để tạo ra một vật liệu nhẹ hơn và rõ ràng là bền hơn các vật liệu tổng hợp khác”, Dhir cho biết. “Công trình này độc đáo bởi chưa có công trình nào được nghiên cứu trước đó tìm hiểu về ứng dụng của các sợi tự nhiên được nhựa hóa trong sợi tổng hợp được gia cố vật liệu tổng hợp polymer”.  Dhir nói thêm, vật liệu tổng hợp lai giữa tre/sợi thủy tinh/polypropylene qua xử lý bằng kỹ thuật nhựa hóa rất hứa hẹn trong tương lai.  Được đối tác công nghệ NetZero Enterprises Inc. hỗ trợ, nghiên cứu này cho thấy chỉ cần đưa vào tre một lượng nhỏ vật liệu nhựa hóa là có thể làm gia tăng năng lực hấp thụ của vật liệu tổng hợp – không làm mất đi các đặc tính đàn hồi của nó. Điều này góp phần làm giảm tốc độ suy thoái của vật liệu này theo thời gian.  Vẫn cần thực hiện nhiều công việc tiếp theo để tối ưu quá trình này vì Dhir cho rằng, sự nhựa hóa hiện tại tốn rất nhiều thời gian. Tuy nhiên anh nói thêm, lợi ích của khám phá ra thành phâng đúng của cac sợi tự nhiên được nhựa hóa sẽ đem lại kết quả giảm thiểu chất thải không phân hủy cho nhiều ngành công nghiệp, với vết môi trường thấp hơn.  Các nghiên cứu tương lai đã được bắt đầu để tối ưu và tìm hiểu hiệu quả của việc nhựa hóa các sợi tự nhiên khác như sợi lanh và sợi gai dầu. Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất phân tích vòng đời của các vật liệu được sử dụng cho những ứng dụng khác nhau và so sánh chúng với những mẫu không nhựa hóa. Điều này sẽ đem lại một bức tranh tốt hơn cho việc phản hồi về khả năng đánh đổi môi trường và hiệu quả bền về mặt cơ học.  “Vật liệu sinh học tổng hợp tiếp tục có được những ứng dụng mới dưới mô thức kinh tế tuần hoàn”, giáo sư Milani nói. “Những đổi mới trong các phương pháp này hữu dụng để phát triển các vật liệu tổn hợp có thể đem lại nhiều lợi ích cho tương lai”.  Nghiên cứu “A high-performance hybrid green composite using plastinated bamboo fillers, with reduced environmental degradation effect” được xuất bản trên tạp chí Journal Composite Structures 1.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2022-03-unique-ingredient-bamboo.html  https://biomarketinsights.com/bamboo-fibres-strengthened-by-plastination/  ————————————–  1. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0263822321015415    Author                .        
__label__tiasang Thành phố hoàn hảo trong tương lai      Những  gì diễn ra ở nam Tokyo làm người ta nhớ đến Truman-Show. Bên cạnh  những con đường thẳng như kẻ chỉ là những ngôi nhà giống hệt nhau được  xây đều tăm tắp. Ranh giới của nó là những cái cây và dăm mét vuông cỏ  được tỉa tót gọn ghẽ.    Camera được gắn dọc các tuyến đường để giám sát toàn bộ khu vực còn nhân viên an ninh đi tuần không ngừng nghỉ. Mọi công dân đều nằm trong tầm ngắm của họ. Tất cả đều diễn ra đúng trật tự, trong tầm kiểm soát nhằm đạt mục đích duy nhất: xây dựng một thành phố hoàn hảo trong tương lai.  Fujisawa Smart Town, thành phố vệ tinh ở miền đông Nhật bản, một nơi mà ngay cả người Mỹ cũng phải mơ ước. Khoảng 3000 người sống tại thành phố tương lai của kỷ nguyên Internet này – tất cả đều do máy tính  điều khiển, giám sát. Tham vọng của cha đẻ thành phố tương lai này là xây dựng một thành phố [hầu như] không sản sinh ra khí thải CO2.  Cảm biến giám sát mọi hành động  Đứng đằng sau thành phố kiểu mẫu này là tập đoàn điện tử khổng lồ Panasonic của Nhật Bản. Trên khuôn viên một nhà máy cũ ở phía nam Tokyo với diện tích khoảng 190.000 mét vuông, Panasonic đã xây dựng một thành phố như trong phim khoa học viễn tưởng trong vòng hai năm. Trên 400 triệu Euro đã được đầu tư triển khai dự án và từ đầu năm 2014, những người dân đầu tiên đã nhập cư tại đây.   Panasonic đặt tên thành phố này là PanaHomes, tại đây có hàng tá cảm biến (sensor) đo lượng ánh sáng và lượng vận động của con người để điều tiết tối ưu mức tiêu thụ điện năng. Hệ thống điều hòa khí hậu, tủ lạnh, tivi của Panasonic tự động chuyển các dữ liệu vào internet, nhờ đó nhu cầu điện năng phù hợp một cách hoàn hảo với điều kiện môi trường – tất cả đều chịu sự kiểm soát bởi hệ thống năng lượng.   Mái các tòa nhà ở đây đều có hệ thống điện mặt trời, tùy theo nhu cầu nguồn điện thu được sẽ được kết nối với mạng lưới điện công cộng hoặc để lưu điện trong hệ thống bình ác quy  Lithium-Ion khổng lồ. Mỗi ngôi nhà đều có tế bào nhiên liệu riêng để tự tạo ra điện từ nước và Oxy khi trời nhiều mây hoặc vào ban đêm. Tất nhiên các công nghệ này đều là sản phẩm của Panasonic.  Không chỉ vì mục tiêu thương mại, các nhà kế hoạch hướng đến mục đích lớn hơn là để thành phố này bền vững tối thiểu 100 năm. “Fujisawa là một giải pháp mang tính toàn diện cho mọi lĩnh vực của cuộc sống“, Michael Langbehn, nhà quản lý văn phòng đại diện Panasonic ở Đức phát biểu trong dịp khai trương dự án, dự kiến sẽ hoàn thành vào  năm  2018. “Cư dân ở đây sẽ là những người đầu tiên có thể trải nghiệm một lối sống bền vững và thông minh về mọi phương diện”.  Cả công ty Car-Sharing cũng sẽ góp phần thực hiện dự án này. Thông qua bảng điện tử nội bộ, người dân sinh sống tại đây có thể biết vào thời điểm nào loại xe ô tô chạy điện nào còn rảnh để sử dụng. Họ cũng có thể nạp điện cho xe qua những trạm điện trong thành phố hoặc từ ổ điện ngay tại gia đình mình.   Ngoài ra sẽ có các seminar về môi trường hay các khóa học dạy mọi người cách tự làm (do it yourself) để có thể tự giải quyết nhiều vấn đề. Ước vọng của Panasonic là kinh nghiệm từ dự án này sẽ là tiền đề để xây dựng hàng loạt thành phố tương tự trên khắp thế giới.  Sự riêng tư cá nhân và dữ liệu được bảo vệ như thế nào?  Điều này hoàn toàn không có gì là phi thực tế: từ nhiều năm nay, các chuyên gia đã từng tiên đoán về một thị trường khổng lồ hoàn toàn được kết nối mạng của các thành phố sinh thái. Hiện nay 200 dự án được áp dụng thử nghiệm trên khắp thế giới để tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ người dân bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, tạo cơ hội cho họ có cuộc sống đầy đủ tiện nghi mà không gây ảnh hưởng đến môi trường.   Nỗ lực xây dựng, thiết kế các thành phố thông minh (Smart Cities) của Fujisawa rất đáng khen ngợi nhưng vẫn còn vướng những vấn đề như đảm bảo tính độc lập, tự chủ của mỗi cư dân, sự riêng tư và bảo mật dữ liệu… Những ngôi nhà kết nối hoàn toàn sẽ giúp cho các doanh nghiệp, ví dụ như Panasonic, giám sát con người suốt ngày đêm. Thế nhưng trong trường hợp các hacker thâm nhập vào hạ tầng cơ sở ở các thành phố này thì toàn bộ hệ thống dễ bị bị tê tiệt và mất tầm kiểm soát.   Xuân Hoài dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố ma ở Nam cực      Cách đây một trăm năm, thành phố Grytviken  băng giá từng là thành lũy của ngành công nghiệp đánh bắt và chế biến cá  voi – giờ đây nơi này trở thành nơi trú ngụ của hải cẩu.     Ở nơi tận cùng của thế giới vẫn còn một rạp chiếu bóng, một nhà thờ và một bãi tha ma. Tuyết và băng đã ăn mòn và chôn vùi những ngôi nhà xinh xắn một thời. Những người từng sống ở nơi đây đã rời khỏi nơi này từ lâu hoặc đã chết ở đâu đó. Xưa kia nơi này từng có khoảng 500 tay săn và chế biến cá voi sinh sống cùng gia đình họ, giờ đây chỉ còn những con chim cánh cụt, hải cẩu và dăm ba khách du lịch lảng vảng chốn này.   Cách đây một trăm năm, thành phố Grytviken băng giá từng là thành lũy của ngành công nghiệp đánh bắt và chế biến cá voi lừng danh.   Trạm săn cá voi ở Grytviken trên hòn đảo Nam Georgia ở Đại Tây Dương thuộc Anh quốc đã hoạt động liên tục không ngừng nghỉ 58 năm liền, trải qua hai cuộc đại chiến và một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Nơi này từng đón tiếp các đoàn thám hiểm Nam cực và cũng là nơi giết mổ không biết bao nhiêu nghìn con cá voi để lấy thịt và dầu cá. Sau hơn nửa thế kỷ, đã có 53.761 con cá voi bị săn bắt và giết mổ, số lượng dầu cá thu được là 455.000 tấn, ngoài ra còn có 192.000 tấn thịt cá voi. Nhưng sau đó, Grytviken đã trở thành một thành phố ma không còn bóng người.   Đầu thế kỷ 20, nghề phóng lao bắt cá voi bùng nổ, ở Bắc cực hình thành hàng chục doanh nghiệp đua nhau săn cá voi. Khi nghề giết mổ và chế biến thịt cá voi mang lại lợi nhuận béo bở thì ở phía nam đảo Nam Georgia có tới sáu trạm săn bắt cá voi, trong đó Grytviken là trạm đầu tiên làm nghề này và cũng là trạm cuối cùng phải đóng cửa.  Các doanh nghiệp bắt chước trạm Grytviken cũng lần lượt bị phá sản vì sự tham lam vô độ của mình.   Săn bắt cá voi ở nơi chưa từng có ai săn bắt   Mọi sự bắt đầu một cách chậm chạp, từ tốn. Khi ông Carl Anton Larsen, thuyền trưởng đồng thời là nhà đánh cá ngoài khơi người Na Uy, năm 1904 có ý định đưa trạm đánh bắt cá voi ở vùng cực nam vào hoạt động, bản thân ông vào thời kỳ đầu còn chưa có nổi một con thuyền nhỏ. Mãi một năm sau, tầu trạm đầu tiên mang tên “Fortuna” mới xuất hiện tại Grytviken, chậm gần một năm so với thỏa thuận ban đầu vì một hãng chuyên sản xuất trục khuỷu cho động cơ của Đức đã không thực hiện hợp đồng đúng như cam kết.   Mặc dù bị trục trặc ban đầu nhưng thuyền trưởng Larsen vẫn kiên trì với kế hoạch của mình: Ngày 8.4.1904 ông cho ghi danh công ty “Compañía Argentina de Pesca” (C.A.P) vào bảng đăng ký doanh nghiệp của Buenos Aires. C.A.P. là công ty liên doanh giữa Na Uy và Argentina, Chủ công ty là một số nhà giầu ở Buenos Aires và một nhà đầu tư ở Hamburg (Đức). Mô hình kinh doanh của ông Larsen nghe chừng có sức thuyết phục cao đối với mấy vị chủ công ty: săn cá voi ở nơi mà từ trước tới nay chưa có ai làm – ở Nam cực.   Cho đến thời gian đó, săn bắt cá voi ở vùng Nam cực được đánh giá là không có triển vọng. Tháng 8.1895, Hội Địa lý Hoàng gia (Anh) khẳng định tại một hội nghị quốc tế ở London, sau nhiều cuộc thám hiểm Nam cực rất tốn kém về nghiên cứu đánh bắt cá voi, một trong các cuộc thám hiểm đó là do thuyền trưởng Larsen phụ trách – thì việc tìm kiếm loài động vật khổng lồ ở vùng biển đầy băng giá này là “vô ích” về mặt kinh tế: “Phần lớn loài cá voi ở vùng biển này chỉ có những lớp mỡ mỏng và râu ngắn, do đó việc săn bắt cá voi ở đây đối với thợ săn chỉ là phí công vô ích”, theo đánh giá của Hội Địa lý Hoàng gia.   Tuy nhiên Larsen lại tin tưởng việc đánh bắt cá voi ở đây rất có ý nghĩa, nhất là khi vào đầu thế kỷ, châu Âu đã đánh bắt gần như cạn kiệt nguồn cá ở biển Bắc. Từng là thuyển trưởng trong các đợt thám hiểm ở Nam cực, ông đã tận mắt chứng kiến những đàn cá voi đông đúc bơi trên biển. Và Grytviken, một thành phố băng giá, đầy tuyết phủ, đối với ông là một cảng biển tuyệt vời nhất mà người ta có thể có được. Vì vậy ông rất lạc quan khi viết trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp mới như sau: “Sau thời kỳ thử nghiệm ban đầu (mùa đánh bắt đầu tiên) thì cần phải tăng cường sản xuất hơn nữa, hoàn toàn không có lí do gì để phải lo lắng về số lượng đàn cá voi tại đây.”   Và quả thật, trong một thời gian dài, kế hoạch này được coi là ổn thỏa. Sau khi tầu “Fortuna” và một con tầu nữa bắt đầu thả neo hôm 16.11.1904 ở vùng biển ngoài khơi Grytviken thì tập thể nhân viên của trạm gồm 80 người cũng lập tức bắt tay vào việc. Vào dịp Noel năm 1904, họ thu hoạch thùng dầu cá đầu tiên ở Nam cực, năm tiếp theo đã sản xuất được 7.000 thùng.     Sự hưng thịnh của một ngành công nghiệp giết mổ   Những thủy thủ lực lưỡng bắn lao có móc vào cá voi giữa biển khơi rồi trục những con cá voi khổng lồ lên trạm, lớp mỡ mỏng ở dưới da được coi là của quý vì từ đây người ta điều chế Glycerin, thành phần chủ yếu để sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và kem bôi da. Glycerin còn được sử dụng làm chất đốt để thắp sáng hoặc để đốt lò sưởi ở các gia đình.   Cho dù ở quê nhà Na Uy, ông Larsen thực sự không mời gọi được những nhà đầu tư đáng tin cậy, nhưng có nhiều đồng hương của ông khi nghe nói về những thành công to lớn ở Grytviken – cũng đua nhau bắt chước săn cá voi ở Nam cực.   Từ đó các trạm cạnh tranh nhau không ngừng nâng cao công suất đánh bắt và chế biến, có lúc các hãng ở đây phải cho nhau mượn thùng vì việc cung cấp thùng đựng dầu không đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp ở Nam cực. Riêng ở Grytviken, từ 1907 đến 1908, đã sản xuất trên 27.000 thùng dầu, trong khi năm trước đó mới đạt 12.000 thùng. Đối với các cổ đông thì thập niên đầu thế kỷ 20 là thời kỳ vàng son: nội trong một năm, cổ tức tăng từ 15 lên 32,5%.   Ngay cả khi châu Âu lâm vào cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất năm 1914 thì cuộc sống của những thợ săn cá voi ở Nam cực xa xôi vẫn tương đối ổn định. Than đá trở nên khan hiếm, mà đây là nhiên liệu không thể thiếu để đốt lò sản xuất dầu cá. Tuy nhiên giá nguyên, nhiên liệu tăng vì tình hình khan hiếm vật tư nói chung thì giá dầu cá cũng tăng theo: giới săn cá voi ở Grytviken nhận được 90 bảng Anh cho một tấn dầu cá – một mức giá cao chưa từng có. Mỡ cá voi cũng “tham chiến” – người ta dùng mỡ cá voi để trộn với Nitroglycerin làm chất nổ dùng để sản xuất bom và lựu đạn. Cuối cùng do tình hình khó khăn trong chiến tranh, châu Âu trở thành thị trường tiêu thụ thịt cá voi vì giá cả phải chăng và lại rất bổ dưỡng.   Việc giết mổ, chế biến thịt cá voi là một công việc nặng nhọc, vất vả và hoàn toàn thủ công: cá voi bị bắn hạ ngoài biển, người ta kéo cá voi bằng dây tời lên bờ sau khi chúng đã bị chết. Hai người đàn ông lực lưỡng dùng một loại dao cực sắc xẻ dọc con cá từ đuôi lên đầu. Mỡ cá sùi lên ở cả bên phải lẫn bên trái, công đoạn cuối cùng là lột da để thu hoạch lớp mỡ dày.   Do giá dầu cá tăng cao nên vào thời kỳ đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất có lúc ở Nam cực có tới 10 doanh nghiệp cùng hoạt động. Người ta tìm mọi cách để vơ vét nguồn tài nguyên và bỏ qua một loạt quy định như không xin giấy phép đánh bắt, không lập trạm săn bắt ở trên bờ, từ đó nẩy sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.     Lòng tham vô độ    Những năm sau đó, tình hình căng thẳng hơn, cá voi thì ngày càng khan hiếm trong khi thành phẩm chất đống trong kho vì thiếu nguồn tiêu thụ. Trong mùa đánh bắt 1930 – 1931, số lượng cá voi bị săn bắn ở Nam cực lên tới 40.201 con, trong đó có 32.000 con do thợ săn chui tiêu diệt ngay trên biển. Để so sánh: khi cuộc săn bắn cá voi mở đầu ở Grytviken tại Nam cực trong năm 1904, chỉ có 183 cá voi bị giết mổ.   Những mùa săn sau đó, các doanh nghiệp tình nguyện thỏa thuận về số lượng giết mổ, tuy nhiên điều này đã quá muộn đối với một số loài cá voi ở Nam cực vì có những loài đã bị tuyệt chủng, thí dụ như loài cá voi lưng gù, chúng đã biến mất trong những năm 1930. Do sản xuất dư thừa nên giá dầu cá xuống đến mức kỷ lục. Một loạt trạm săn bắt cá ở Nam Georgia lần lượt đóng cửa. Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ hai, chỉ còn hai trạm hoạt động: đó là trạm Grytviken và Leith Harbour, cả hai trạm này đều có nhà lạnh khá lớn để chứa lượng dầu cá bị ế ẩm.   Sở dĩ trạm Grytviken còn trụ được vì nó có nguồn dự trữ từ thời kỳ hoàng kim do đó nhất thời vượt qua được khó khăn. Hơn nữa doanh nghiệp C.A.P. của ông Larsen từ nhiều năm qua đã mở rộng kinh doanh vào lĩnh vực đánh bắt hải cẩu. Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đây là doanh nghiệp duy nhất còn hoạt động, vả lại phần lớn thợ săn cá voi đã phải tham gia lực lượng hải quân.   Cuối cùng thì doanh nghiệp C.A.P. cũng không thể trụ nổi, vả lại trang thiết bị bị xuống cấp nghiêm trọng. Đến năm 1950, ở Grytviken chỉ có sáu tầu đánh cá còn hoạt động và tất cả đều đã trên 20 tuổi.   Năm 1962, người ta thực hiện kế hoạch hiện đại hóa ngành công nghiệp này tuy nhiên đã quá muộn: cũng trong năm đó, các nhà doanh nghiệp Nhật Bản đã mua C.A.P. nhưng đến năm 1965, họ cũng đành chịu bó tay và bán doanh nghiệp cho chủ khác.   Tuyền trưởng Larsen, cha đẻ ngành công nghiệp săn bắt cá voi ở Nam cực, không chứng kiến sự cáo chung của ngành này vì ông qua đời năm 1924 trên một con tầu đang hoạt động ở Nam cực để tìm kiếm ngư trường mới.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố sẽ mát mẻ hơn nếu có thêm các không gian xanh nhỏ      Một nghiên cứu mới tại Adelaide (Úc) đã phát hiện ra, sự che phủ của những tán cây và thảm cỏ đã làm giảm nhiệt độ bề mặt ban ngày ở khu vực này xuống khoảng 6°C trong những đợt nắng nóng khắc nghiệt. Các sân vườn ở trong thành phố và ngoại ô giúp giảm nhiệt độ bề mặt cục bộ lên đến 5°C.      Việc trồng nhiều loại cây cao thấp khác nhau sẽ đem lại hiệu ứng làm mát tốt hơn so với việc chỉ trồng các cây cao. Ảnh: Ruihua Liang  Trong các đợt nắng nóng trên toàn thế giới, đô thị thường là nơi có mức nhiệt độ cao nhất. Đô thị hóa thúc đẩy sự gia tăng các khu vực không thấm nước và làm suy giảm số lượng cây xanh. Các con đường nhựa và bê tông, cùng với những vật liệu xây dựng khác dễ dàng hấp thụ, lưu trữ và giải phóng nhiệt, làm tăng nhiệt độ thành phố và tạo nên một hiện tượng được gọi là đảo nhiệt đô thị (urban heat island).  Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng “rừng đô thị” (một tập hợp nhiều loại cây mọc ở trong và xung quanh đô thị) có thể làm giảm hiện tượng đảo nhiệt, và cũng đã có nhiều chính sách tập trung vào việc tạo ra các không gian xanh rộng lớn. Tuy nhiên, những chiến lược hạ nhiệt đô thị lại thường bỏ qua những khoảng xanh nhỏ, chẳng hạn như sân, mái nhà và các thửa đất trống, trong khi thực tế chúng cũng có thể có những tác động ấn tượng tương tự.  Tác dụng của không gian xanh nhỏ  Một nghiên cứu mới tại Adelaide (Úc) đã phát hiện ra, sự che phủ của những tán cây và thảm cỏ đã làm giảm nhiệt độ bề mặt ban ngày ở khu vực này xuống khoảng 6°C trong những đợt nắng nóng khắc nghiệt. Các sân và vườn ở trong thành phố cũng như ngoại ô làm giảm nhiệt độ bề mặt cục bộ lên đến 5°C.  Ở một quy mô khá nhỏ, trên diện tích vài chục mét vuông, cây xanh có thể giúp giảm nhiệt độ bề mặt ban ngày gấp đôi so với lớp phủ cỏ. Tuy nhiên, cỏ và các loại thực vật nhỏ và thấp khác, lại mọc tương đối nhanh so với cây cao.  Do đó, các thành phố nên áp dụng các chiến lược ngắn hạn và dài hạn để ứng phó với nắng nóng khắc nghiệt, chẳng hạn như thay thế các khu vực lát gạch không thấm nước bằng các thảm cỏ, đồng thời tăng cường trồng cây để gia tăng độ che phủ của tán cây.  Khuếch đại hiệu ứng làm mát  Cụ thể hơn, khi quản lý những không gian xanh, các nhà quy hoạch đô thị nên lựa chọn các loại cây trồng dựa trên khả năng làm mát của chúng. Theo một nghiên cứu công bố năm 2021 trên tạp chí Science of The Total Environment, các không gian xanh với nhiều loại cây khác nhau có tác dụng làm mát hiệu quả hơn trong mùa xuân, mùa hạ và mùa thu. Chúng cũng mang lại mức giảm nhiệt tối đa trong mùa hè lớn hơn nhiều so với những khu vực có cây trồng kém đa dạng.  Cấu trúc của không gian xanh cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả làm mát. Vào mùa hè, một quần thể thực vật với nhiều lớp cây cối, bụi rậm và thảo mộc có thể làm giảm nhiệt độ không khí thêm 1°C vào ngày nắng và 0,5°C vào ngày nhiều mây, so với khu vực chỉ có cây cao.  Trồng cây theo nhóm  Cách bố trí các khoảng xanh cũng là một yếu tố quan trọng mà những người quy hoạch đô thị cần chú ý. Khi những không gian xanh bị phân mảnh quá mạnh – chia cắt thành những khoảng nhỏ hơn, rời rạc và phân bố không đều – khả năng làm mát của chúng sẽ bị giảm xuống.  Chẳng hạn, một nghiên cứu về các không gian xanh tại hai thành phố Baltimore và Sacramento (Mỹ) đã cho thấy những kết quả khác nhau. Các nhà khoa học đã xem xét tổng chu vi các mảng xanh ở mỗi km vuông đất (một chỉ số được gọi là mật độ cạnh) và đo lường hiệu quả làm mát. Kết quả cho thấy, trong khi mật độ cạnh lớn hơn làm giảm hiệu quả hạ nhiệt ở Baltimore, tỷ lệ này lại làm tăng hiệu quả làm mát ở Sacramento.  Các nhà nghiên cứu lý giải, sự khác biệt này có thể là do điều kiện ở mỗi địa phương: nhiều bóng râm của cây xanh có thể đã phủ lên những bề mặt vốn có hiệu ứng làm mát, khiến cho những bề mặt này mất đi vai trò của chúng. Một lý do khác có thể là: những khoảng xanh có mật độ cạnh rộng lại bao gồm nhiều khoảng xanh quá nhỏ và bị phân mảnh, đồng thòi lại toàn các cây có khả năng thoát hơi nước kém. Do đó, việc lựa chọn sự “đánh đổi” nào có thể là những thách thức không nhỏ đối với các nhà quản lý đô thị.  Tuy nhiên nhìn chung, cây xanh luôn có hiệu quả làm mát tốt hơn so với cỏ. Do đó, các nhà nghiên cứu khuyến nghị, nên trồng nhiều cây xanh theo nhóm thay vì trồng đơn lẻ hoặc theo hàng để điều hòa khí hậu ở địa phương.  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: Small green spaces can help keep cities cool during heat waves    Author                .        
__label__tiasang Thành phố thông minh đầu tiên của Ấn Độ      Dù đến nay vẫn chưa có định nghĩa cụ thể nào  về “thành phố thông minh” thì sắp tới một thành phố như vậy sẽ xuất  hiện ở bang Gujarat, Ấn Độ.    Được đặt ở ngoại ô Gandhinagar, thủ phủ bang Gujarat, thành phố tài chính – công nghệ quốc tế Gujarat (Gujarat International Finance Tec – City – GIFT) hiện mới chỉ có hai tòa nhà đa chức năng và một công trình ngầm. Số lượng tòa nhà sẽ được xây thêm để đưa thành phố trở thành một trung tâm tài chính, với ưu đãi về thuế và các chính sách khác nhằm thu hút các nhà đầu tư.   Với một đường ống ngầm cho các phương tiện kĩ thuật thiết yếu đầu tiên ở Ấn Độ, GIFT nhắm đến mục tiêu cạnh tranh với Mumbai, thủ phủ tài chính hiện thời của đất nước, cũng như những đối thủ quốc tế khác như Dubai, Singapore.  Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi hứa hẹn sẽ có 100 thành phố thông minh vào năm 2020 để đáp ứng các cuộc di dân vào thành phố.   Theo ước tính của các nhà cố vấn KPMG (một trong bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới), với chi phí xây dựng khoảng một nghìn tỷ USD, những thành phố với các tòa nhà chọc trời sẽ chứng kiến nước uống thẳng từ vòi, hệ thống thu gom rác thải tự động và hệ thống cung cấp điện chuyên dụng cũng như nhiều tiện ích khác.    Số lượng người Ấn Độ sống trong các thành phố sẽ tăng từ 400 triệu người lên 814 triệu người vào năm 2050, nhiều nơi đang choáng váng trước sự gia tăng dân số khó kiểm soát này.   “Phần lớn các thành phố ở Ấn Độ đều không được quy hoạch theo thể thống nhất”, Jagan Shah, giám đốc Viện nghiên cứu quốc gia về các vấn đề đô thị, nơi hỗ trợ chính phủ thiết lập hướng dẫn cho các dự án đầu tư mới, trả lời hãng thông tấn Reuters.    Người ta cho rằng, sự thiết hụt các chuyên gia có khả năng thiết lập những dự án lớn và những ý tưởng mơ hồ về tiêu chuẩn của thành phố thông minh sẽ có thể làm chậm chễ việc thực hiện kế hoạch đầy tham vọng này.   Nhiều chuyên gia không tin thành phố thông minh sẽ là giải pháp cho những dòng di cư khổng lồ vào thành phố, thiết thực hơn là xây dựng các khu làng thông minh và giải quyết những thách thức đang tồn tại trong các thành phố.   Singapore – “quốc gia thông minh”  Singapore mới thông báo kế hoạch trở thành quốc gia thông minh đầu tiên trên thế giới  bằng cách kết nối internet trên từng mét vuông để thu thập dữ liệu và nâng cấp các dịch vụ hoàn hảo hơn.    Trong khi Singapore định nghĩa thành phố thông mình là nơi kết nối tất cả cơ sở hạ thì Masdar của Abu Dhabi thuộc Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, đặt mục tiêu trở thành một đô thị sử dụng năng lượng hiệu quả, bền vững.   Với tổng diện tích sáu km vuông, thành phố Masdar sẽ trở thành mái nhà chung của khoảng 45.000 đến 50.000 người và 1.500 doanh nhân. Mục tiêu chính của thành phố là tạo dựng được hệ thống giao thông công cộng hiệu quả, công trình xây dựng độc đáo dựa trên công nghệ bền vững và việc sử dụng năng lượng tái tạo.  Khởi công vào năm 2006, từng bị trì hoãn, giai đoạn đầu tiên của dự án sẽ được hoàn thành vào năm nay với kinh phí vào khoảng 18,7 đến 19 tỷ đô la.  T. N dịch  Nguồn: http://www.ibtimes.co.uk/indias-first-smart-city-takes-shape-western-state-gujarat-1496654          Author                Quản trị        
__label__tiasang Thanh thiếu niên chỉ cần tiêm chủng một lần?      Trong thời điểm hiện nay Anh và Na Uy khuyến nghị chỉ tiêm một liều vaccine COVID-19 cho trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 12 đến 15. Hiệu quả của sự hạn chế số lần tiêm này ra sao?      Tiêm chủng rất quan trọng đối với xã hội. Nếu một số lượng lớn người dân được tiêm chủng, điều này sẽ kiềm chế sự lây lan của bệnh nguy hiểm và cũng bảo vệ những người không thể tiêm chủng hoặc những người bị ảnh hưởng xấu do tiêm chủng. Trong đại dịch như hiện nay, chúng có thể tạo miễn dịch cho mọi người trong một thời gian ngắn, đồng thời tránh các ca bệnh nặng có thể gây tử vong cho hàng nghìn người.  Tiêm chủng đem lại lợi ích cho cá nhân được tiêm chủng và lợi ích này lớn hơn rủi ro qua tiêm chủng. Trong trường hợp vaccine COVID-19, điều này rõ ràng ở người lớn – và nó ngày càng rõ ràng hơn theo độ tuổi: người càng nhiều  tuổi, nguy cơ trở nặng khi mắc bệnh COVID -19 càng cao. Nếu người cao tuổi được tiêm chủng, vaccine có hiệu quả cao đối với bệnh nặng và tử vong.   Đối với những người trẻ tuổi, việc cân nhắc này có phần phức tạp hơn: ở những người trẻ tuổi ít có nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng hoặc tử vong. Trong đánh giá nguy cơ – lợi ích, tác dụng phụ hiếm gặp có thể xảy ra viêm cơ tim hoặc màng ngoài tim liên quan đến vaccine mRNA. Theo quy luật, tình trạng này nhẹ và giảm tái phát sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, điều này chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới trẻ – đây là những người ít có nguy cơ mắc COVID-19 .  Anh và Na Uy chỉ tiêm chủng một liều cho thanh thiếu niên  Đây là một vấn đề gây khó đối với các Ủy ban tiêm chủng trên thế giới. Đôi khi họ đưa ra những quyết định khác nhau. Cơ quan y tế Hoa Kỳ CDC đã khuyến nghị tiêm vaccine COVID-19 cho trẻ em từ 12 tuổi kể từ tháng 5 năm 2021. Ủy ban Tiêm chủng Thường trực (Stiko) ở Đức đã khuyến cáo trẻ em và thanh thiếu niên từ 12 tuổi nên tiêm vắc xin chống lại COVID-19 kể từ giữa tháng tám. Các nước khác về điểm này có phần dè dặt hơn.  Ở Anh, cho đến ngày 13/9  không có khuyến cáo tiêm chủng cho trẻ khỏe mạnh từ 12-15 tuổi. Tuy nhiên hiện nay chính quyền nước này  đang khuyến cáo nhóm tuổi này nên tiêm phòng – tuy nhiên ban đầu những người trẻ tuổi chỉ nên tiêm một liều vaccine. Lý do là vì tác dụng phụ hiếm gặp xảy ra chủ yếu sau liều tiêm thứ hai. Bộ Y tế Na Uy đã đưa ra kết luận tương tự trước đó gần hai tuần. Do hiệu quả của việc tiêm chủng nói chung là rất tốt cho thanh thiếu niên từ 12-15 tuổi.  Điều không phải bàn là tiêm chủng một liều đã có tác dụng bảo vệ chống COVID-19, có nghĩa có còn hơn không. Tuy nhiên, với sự bùng phát của biến thể Delta rất dễ lây lan, người ta thấy rằng, trên bình diện chung, cần tiêm thêm mũi thứ hai, qua đó ngăn được các ca bệnh nặng và tử vong. Hệ thống miễn dịch của những người trẻ tuổi phản ứng mạnh hơn với tiêm chủng so với miễn dịch của toàn dân. Tuy vậy vẫn có sự băn khoăn về tính hữu hiệu khi chỉ tiêm một mũi.  Jeffrey Duchin, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm và là thành viên không có quyền bỏ phiếu của nhóm cố vấn tiêm chủng của CDC, nói với New York Times “Tôi chưa thấy bất kỳ dữ liệu nào cho thấy một liều duy nhất có thể bảo vệ cao và lâu dài. Việc đánh giá rủi ro và lợi ích ở Hoa Kỳ khác với một số quốc gia khác có thể là do tình hình chung ở nước này.  Phải có khả năng phản hồi khi tiêm chủng  Chỉ 55 % dân số ở Hoa Kỳ đã được tiêm chủng đầy đủ, dựa trên số lượng cư dân thì số người bị chết vì COVID-19 nhiều gấp ba lần so với ở Anh. Trẻ em và thanh thiếu niên ở Hoa Kỳ ít bị ảnh hưởng bởi các đợt bệnh nặng hoặc tử vong so với người lớn, nhưng điều đó không có nghĩa là virus  vô hại với chúng một khi nó lan tỏa rộng khắp.  Theo thống kê chính thức, ít nhất 587 người dưới 18 tuổi đã chết vì COVID-19 kể từ khi bùng phát đại dịch ở Mỹ. Với khoảng 329 triệu dân, đây là một tỷ lệ nhỏ. Tuy nhiên, cái chết của những người trẻ tuổi là đặc biệt bi thảm, vì thời gian để sống của họ còn rất nhiều. Theo Duchin: “Tất cả các dữ liệu chúng tôi có cho đến nay đều cho thấy bản thân căn bệnh này còn tồi tệ hơn nhiều so với các tác dụng phụ của vaccine.  Để so sánh, ở Anh, 66% dân số đã tiêm chủng đầy đủ, ở Na Uy nhiều hơn một chút. Ở các nước Bắc Âu, tỷ lệ người lớn được tiêm chủng lần đầu là khoảng 91%, khoảng 86% dân số từ 18 tuổi trở lên đã được tiêm chủng đầy đủ. Bạn cũng có thể nói theo cách này: một quốc gia phải có đủ khả năng hạn chế  tiêm chủng cho những người trẻ tuổi.  Theo thống kê chính thức, 76% người lớn ở Đức được tiêm chủng đầy đủ, quá thấp để có thể loại trừ sự lây lan của virus. Thực tế là việc chủng ngừa cũng được khuyến khích cho thanh thiếu niên từ 12 tuổi trở lên vì tình trạng viêm cơ tim và màng ngoài tim sau khi sử dụng vắc-xin mRNA là rất hiếm khi xẩy ra và nếu có  thì hầu như vô hại. Báo cáo hàng tuần hiện nay  của Viện Robert Koch cho thấy: “Trong phần lớn các trường hợp, những bệnh nhân bị viêm cơ tim này đều vào viện, nhưng nếu có chăm sóc y tế thích hợp thì không xẩy ra biến chứng.  Trong một phân tích giữa rủi ro và lợi ích trong tháng 6, các chuyên gia của CDC cho rằng tối đa 69 trường hợp viêm cơ tim xảy ra trên một triệu trẻ em trai từ 12 đến 17 tuổi  được tiêm chủng ở Hoa Kỳ, trong khi đó tránh được 215 trường hợp nhập viện và hai trường hợp tử vong do COVID-19.   Bệnh COVID-19 cũng có tác động phụ  Khi được hỏi liệu việc chủng ngừa COVID-19 ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 12 đến 15 tuổi có hợp lý hay không, thì cũng phải lưu ý rằng căn bệnh này cũng có thể dẫn đến viêm cơ tim. Theo một phân tích trước đó về dữ liệu y tế của Israel được công bố vào giữa tháng 9, nguy cơ phát triển bệnh viêm cơ tim sau khi mắc bệnh Covid 19 cao hơn đáng kể so với sau khi tiêm chủng.  Các chuyên gia đã kiểm tra thông tin từ gần hai triệu người. Cứ 100.000 người được tiêm vaccine COVID-19 bằng vắc-xin mRNA thì có thêm 2,7 trường hợp bị viêm cơ tim. Sau khi bị nhiễm virus, có thêm 11 trường hợp trong số 100.000 người bị nhiễm. Tuy nhiên, nam giới trẻ không được tính đến .  Dữ liệu gần đây nhất về nguy cơ đối với nam giới trẻ xuất phát từ hai nghiên cứu được công bố trên  tạp chí chuyên ngành hôm thứ tư. Chúng cũng dựa trên dữ liệu của Israel, nhưng chỉ tính đối với những người từ 16 tuổi trở lên. Theo một trong những phân tích với dữ liệu từ 2,5 triệu người được bảo hiểm, tỷ lệ nam giới từ 16 đến 29 tuổi đã tiêm ít nhất một liều vaccine là 11 trường hợp viêm cơ tim trong số 100.000 người được tiêm chủng. Các bệnh thường  diễn biến nhẹ đến trung bình.  Trong một nghiên cứu thứ hai, các chuyên gia đã phân tích dữ liệu về sức khỏe của  hơn năm triệu người. Ở đây, nam giới từ 16 đến 19 tuổi có nguy cơ mắc bệnh viêm cơ tim cao nhất sau khi tiêm chủng: 15 trong số 100.000 người được tiêm chủng bị ảnh hưởng. Phần lớn các trường hợp này là nhẹ và cuối cùng đã khỏi, một trường hợp tử vong không rõ nguyên nhân sau khi đã ra viện.  Trong mọi độ tuổi, khả năng mắc bệnh viêm cơ tim được chẩn đoán ở những người được tiêm chủng đầy đủ trong thời gian nghiên cứu cao gấp đôi so với những người không tiêm chủng. Tuy nhiên, con số này phụ thuộc chủ yếu vào số lượng người chưa tiêm phòng thực sự bị bệnh – tức là mức độ hoạt động mạnh của vi rút. Nếu có nhiều trường hợp bị COVID-19, số lượng viêm cơ tim tăng lên do hậu quả của bệnh. “Nguy cơ viêm cơ tim liên quan đến lây nhiễm Covid-19 có thể cao hơn sau khi tiêm vắc xin”, các bác sĩ Anh công bố hồi cuối tháng 9 trong một bài báo trên Tạp chí Y khoa Anh. Họ cũng chỉ ra rằng, theo quan điểm của họ, dữ liệu về trẻ em và thanh thiếu niên quá nghèo nàn để có thể đưa ra quyết định cuối cùng.  Ngừng tiêm vaccine Moderna, có giải pháp thay thế tốt hơn  Cơ quan Stiko của Đức đã đưa ra một kết quả rõ ràng trong phân tích giữa rủi ro và lợi ích đối với trẻ em và thanh thiếu niên từ 12 tuổi xuất phát từ tình hình của  nước này – thực tế là Covid -19 có thể gây căng thẳng cho tim. Các chuyên gia cho biết vào giữa tháng 8, dựa vào mô hình toán học thì thấy “nguy cơ nhiễm Sars-CoV cao hơn đáng kể trong đợt lây nhiễm thứ tư nếu có đối với trẻ em và thanh thiếu niên”.  Nhóm chuyên gia này trước đây đã đánh giá dữ liệu của Hoa Kỳ, nơi trẻ em và thanh thiếu niên từ 12 tuổi trở lên đã được tiêm chủng từ lâu. “Sau khi đánh giá cẩn thận những quan sát và dữ liệu khoa học mới này, Stiko đi đến kết luận: lợi ích của việc tiêm chủng vượt trội hơn nguy cơ tác dụng phụ của vaccine, vả lại điều này rất ít xẩy ra.”  Các cuộc thảo luận về vaccine mRNA gần đây cũng đã diễn ra vì các nhà chức trách ở Thụy Điển và Phần Lan khuyến cáo một số thanh niên không nên tiêm chủng bằng vaccine mRNA của Moderna. Thụy Điển đình chỉ việc sử dụng cho mọi người dưới  30 tuổi. Phần Lan chỉ đề cập đến trẻ em trai và đàn ông ở độ tuổi này. Na Uy, khuyến cáo nam giới dưới 30 tuổi cũng nên tiêm chủng vakzin  Biontech/Pfizer . Các nước này viện dẫn lý do thực thi quy định về bảo vệ người tiêu dùng.  Cho đến nay các dữ liệu chưa được công của các nước Bắc Âu cho thấy viêm cơ tim hoặc màng ngoài tim có thể xẩy ra phổ biến hơn với vaccine Moderna hơn là chế phẩm của  Biontech/Pfizer. Cơ quan quản lý dược phẩm Châu Âu EMA hiện đang đánh giá dữ liệu. Nếu chỉ xét về phân tích giữa lợi ích và rủi ro thì có thể khuyến cao thanh thiếu niên không nên dùng Moderna, tuy nhiên đã có chế phẩm thay thế.   Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Corona-Impfungen für 12- bis 15-Jährige: Wie sinnvoll ist die Eine-Dosis-Strategie? – DER SPIEGEL  https://corona-station.com/corona-impfungen-fuer-12-bis-15-jaehrige-wie-sinnvoll-ist-die-eine-dosis-strategie-spiegel/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thanh thiếu niên có tốc độ trao đổi chất tương tự như người lớn      Lâu nay, cha mẹ thường trêu chọc rằng con cái “ăn hết cơm hết gạo”, “ăn đến sạt nghiệp” cha mẹ, nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy mức tiêu thụ năng lượng hằng ngày của người trẻ thực chất không nhiều hơn là bao so với người lớn.      Một nhóm các nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia đã theo dõi tổng số năng lượng cần thiết cho cơ thể trong một ngày của hơn 6.000 người từ 8 ngày tuổi đến 95 tuổi, từ đó đưa ra những kết luận về sự trao đổi chất của mỗi người.  “Nghiên cứu này cho thấy có rất nhiều quan niệm sai lầm về việc tốc độ trao đổi chất sẽ thay đổi theo độ tuổi”, GS John Speakman, đồng tác giả của nghiên cứu, thuộc Đại học Aberdeen, cho biết.  Công bố trên tạp chí Science, Speakman và các đồng nghiệp đã trình bày cách họ sử dụng kỹ thuật nước dán nhãn kép để có được dữ liệu về mức tiêu thụ năng lượng của 6.421 người thuộc 29 quốc gia, kết hợp với dữ liệu từ những nghiên cứu bổ sung liên quan đến phụ nữ mang thai hoặc mới sinh con.  Cụ thể, người tham gia sẽ uống nước có chứa các dạng nặng hoặc đồng vị của hydro và oxy, sau đó nhóm nghiên cứu sẽ theo dõi sự tồn tại của chúng trong nước tiểu của người tham gia theo thời gian. Oxy nặng bị rửa trôi nhanh hơn hydro: sự khác biệt đó liên quan để tỷ lệ khí cacbonic được tạo ra, và từ đó các nhà khoa học có thể đưa ra ước tính về tổng năng lượng tiêu hao.  Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tổng mức tiêu hao năng lượng hằng ngày và “tiêu hao duy trì sự sống” – mức năng lượng cần thiết để thực hiện các chức năng trao đổi chất cơ bản như thở, tăng lên theo kích thước cơ thể. Sau khi tính toán, họ nhận thấy trẻ sơ sinh dưới một tháng tuổi tiêu hao năng lượng một ngày tương đương với người lớn, và con số này tăng nhanh lên khoảng 50% khi đứa bé lên một tuổi.  Các nhà nghiên cứu cho biết thêm rằng sau độ tuổi này, tiêu hao năng lượng hằng ngày giảm từ từ suốt thời thơ ấu cho đến thanh thiếu niên, với tốc độ giảm khoảng 2,8% một năm, sau đó đến khoảng 20 tuổi thì dừng lại. Mức tiêu hao năng lượng ở người trưởng thành đó vẫn giữ nguyên cho đến khoảng 60 tuổi, rồi nó bắt đầu giảm dần một lần nữa. Tổng tiêu hao năng lượng ở người lớn thậm chí vẫn ổn định trong thời kỳ mang thai.  Tuy nhiên, kích thước cơ thể tăng lên không phải là lý do duy nhất khiến trẻ em sử dụng nhiều năng lượng hơn người lớn. Xu hướng tương tự – tuy không giống y hệt – cũng diễn ra đối với mức tiêu hao năng lượng duy trì sự sống. “Có thể thấy, sự thay đổi trong mức độ chuyển hóa mô đã góp phần vào tổng mức tiêu hao năng lượng trong suốt đời người”, các nhà nghiên cứu viết.  “Quá trình lớn lên, hoạt động thể chất nhiều hơn và mức độ chuyển hóa tế bào cao hơn…. là những lý do khiến trẻ em sử dụng nhiều năng lượng hơn. Nói chung là cơ thể chúng phải làm nhiều thứ hơn”, ông phân tích.  Lật lại nhiều quan niệm  Speakman cho biết phát hiện về mức tăng đáng kể trong tiêu thụ năng lượng của trẻ nhỏ và tốc độ trao đổi chất ổn định trong độ tuổi trưởng thành từ 20 đến 60 tuổi, đã giúp lý giải nhiều quan niệm sai lầm. Trái với suy nghĩ của nhiều người, thanh thiếu niên không nhất thiết lúc nào cũng cần phải ăn. “Tổng tiêu hao năng lương của họ chỉ cao hơn một chút so với người trưởng thành.”  Bên cạnh đó, “trước đây có ý kiến cho rằng sự trao đổi chất có thể chậm lại ở đuổi 30, và điều đó có thể xem là nguyên nhân gây ra tính cách nhạy cảm ở tuổi trung niên”, ông nói. “Chúng tôi không tìm thấy bằng chứng nào chứng minh điều đó. Vì vậy, nếu bạn đang trong độ tuổi 30 hoặc 40, bạn nhận ra mình đang tăng cân và vòng eo thì nở ra, thì có thể là do bạn đang ăn nhiều thức ăn hơn, nhưng lại tiêu hao ít năng lượng hơn.”  Gareth Lavery, giáo sư về chuyển hóa phân tử tại Đại học Birmingham và là người không tham gia vào nghiên cứu, cho rằng nghiên cứu sẽ góp phần giúp “định hình các chiến lược dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng, hướng đến duy trì chất lượng sống của con người cho đến cuối đời.”  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/aug/12/energy-to-burn-teenage-metabolism-rate-similar-to-adults-says-study    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tháo gỡ nghịch lý trong nông nghiệp      Cho rằng các khâu mắt xích trong nền sản xuất nông nghiệp đều “có vấn đề”, từ chính sách, người nông dân, doanh nghiệp đến thị trường xuất khẩu, GS Võ Tòng Xuân bàn giải pháp tái cấu trúc lại.    Cầm cố gạo  Giáo sư Võ Tòng Xuân nói:  Tôi xin kể lại câu chuyện này. Cách đây khoảng 15 năm, có một công ty kinh doanh gạo của Mỹ hợp tác với một công ty kinh doanh lương thực cấp Trung ương làm gạo xuất khẩu. Họ đặt mấy điểm thu mua ở mấy vùng nhiều lúa, mua trực tiếp của nông dân. Nông dân mang lúa tươi đến, có giấy chứng nhận là lúa IR 64 họ mua giá cao hơn các doanh nghiệp nhà nước ta mua. Mua gạo xong họ đem về sấy. Họ xuất được giá 350 USD/tấn trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ xuất được 180 USD/tấn.  Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp nước ngoài đang “giết” chết doanh nghiệp Việt Nam ngay trên sân nhà. Ông chủ tịch tỉnh lúc bấy giờ hỏi ý kiến tôi, tôi nói: “Phải thưởng huân chương cho họ vì họ mua cho nông dân giá cao!”. Ông chủ tịch có vẻ băn khoăn vì nhiều doanh nghiệp đề nghị không cho mua trực tiếp, phải mua qua doanh nghiệp Việt Nam. Một lúc sau vị chủ tịch hỏi, có thể để doanh nghiệp mình bán giá cao được không. Tôi trả lời thẳng: “Còn lâu doanh nghiệp Việt Nam mới bán được giá như họ bởi họ có thương hiệu, tên tuổi, làm chặt chẽ chứ không như ta làm”.  Cho đến nay đã 15 năm rồi nhưng chưa có doanh nghiệp xuất khẩu gạo nào của ta ý thức được tầm quan trọng của gạo xuất khẩu là phải rặt, tức chỉ một loại giống!  Giống nào cũng vậy, nếu được làm tốt, bảo quản tốt, xay ra hạt nguyên sẽ có giá cao!  Để đạt được chất lượng gạo như giáo sư vừa nói, ta cần phải thay đổi như thế nào?  Theo tôi, dứt khoát không thể sử dụng thương lái như bấy lâu nay làm trung gian mua lúa của nông dân cung ứng cho doanh nghiệp. Nguyên nhân là thương lái không thể bảo quản lúa đúng tiêu chuẩn từ đồng ruộng về tới kho của công ty.  Ở Thái Lan hoàn toàn không có tầng lớp thương lái như ở ta. Ở các tỉnh trồng lúa, Bộ Thương mại Thái có mạng lưới kho rất lớn, phân bổ đều. Các kho này được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật để đảm bảo giữ chất lượng lúa để vào. Nông dân trước khi vào vụ sản xuất, phải khai báo giống với nhà nước và được chấp nhận mới làm. Đến kỳ  thu hoạch, nông dân đem lúa nhập vào kho kèm theo chứng nhận giống. Quản lý kho đại diện cho nhà nước sẽ xuất cho ngân phiếu trị giá tương đương số lượng lúa gửi vào. Vậy là nông dân có tiền xài. Nếu sau này giá lúa lên, sẽ được hưởng thêm. Phần lớn giá sẽ lên vì thời điểm thu hoạch tập trung, cung lớn nên giá sẽ giảm.  Nhà nước sẽ bán lúa trong kho cho các công ty xuất khẩu gạo nếu họ mua giá cao thông qua đấu thầu.  Chính sách này gọi là “cầm cố gạo” (Mortgage) rất thuận lợi cho nông dân.  Nhiều công ty xuất khẩu gạo của Thái rất ‘khôn’, họ tổ chức vùng nguyên liệu và có kho. Nhưng nông dân vẫn khoái “gửi” vào kho của nhà nước hơn.    Chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị    Ở ta, quan hệ doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông dân giống như 2 người đắp chung tấm chăn hẹp. Năm nào giá thị trường tốt, nông dân còn được “đắp” một chút; năm nào khó khăn, nông dân chẳng còn gì để “đắp”. Theo giáo sư, phải tổ chức lại như thế nào để không còn “kẻ đắp chăn”, kẻ kia phải “chịu lạnh lùng” mãi thế này, mặc dù Chính phủ đã có Quyết định “liên kết 4 nhà” 5 năm nay rồi?  Quyết định 80 của Chính phủ về liên kết 4 nhà chưa xử lý được căn cơ nên chưa được 2 bên nông dân và doanh nghiệp tôn trọng. Khi giá lúa cao, ông nông dân bán mất cho ai trả giá cao. Còn khi giá thấp, ông doanh nghiệp bỏ mặc nông dân, tìm chỗ mua rẻ hơn. Chẳng có gì là “liên” là “kết” cả.  Cần phải để doanh nghiệp và nông dân vào cùng chuỗi giá trị. Doanh nghiệp căn cứ vào thị trường và loại gạo, phải tổ chức cho nông dân suất xuất. Trong quá trình nông dân sản xuất, doanh nghiệp cung ứng phân, thuốc trừ sâu. Các nhà khoa học tham gia huấn luyện, đào tạo nông dân theo quy trình GAP. Quy trình GAP sẽ giúp cho nông dân dùng ít thuốc, phân bón nhưng cho năng suất cao hơn.  Sản phẩm thu hoạch, doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa xà lan, ghe tàu vận chuyển về kho để sấy theo đúng phương pháp. Nhờ vậy, tỷ lệ gạo nguyên sẽ cao hơn nhiều. Thông thường tỷ lệ gạo nguyên cao hơn 1% thì tiền bán cao hơn 5%!  Lâu nay tỷ lệ lúa xay ra gạo chỉ 50%. Nhưng qua trình như trên tỷ lệ gạo xay ra đạt tới 66%, mức chênh lệch rất lớn.  Như vậy, mối liên kết này rất chặt chẽ, cả hai cùng có lợi, chứ không còn bên này ép bên kia. Nhờ tiết giảm được chi phí rất nhiều, tăng hiệu quả khâu chế biến nên hiệu quả cuối cùng cao hơn nhiều lắm.    Xin được ngắt lời giáo sư, mô hình “chuỗi liên kết” giáo sư vừa nói là mới nghiên cứu được, đang ở cấp độ lý thuyết hay đã…  Đã thực hiện ở nhiều nơi rồi chớ! Những con số tôi nêu ra ở trên là con số căn cứ vào kết quả mới áp dụng xong ở vài nơi rồi. Ở đây tôi chỉ nói vắn tắt thôi chứ đi sâu vào còn nhiều nội dung lắm. Nhưng, tôi xin khẳng định lại, phải để vào “chuỗi giá trị” như vậy thì thực sự mới có liên kết chặt chẽ và công bằng được.  Về vấn đề an ninh lương thực, theo giáo sư nước ta có cần phải giữ 3,8 triệu ha trồng lúa như hiện nay để rồi hàng năm phải vất vả bán 7 – 8 triệu tấn gạo mà nông dân chẳng được lợi gì như năm nay?  Về mặt an ninh lương thực thì hoàn toàn yên tâm, chẳng có vấn đề gì. Chỉ sợ mấy ông doanh nghiệp đầu cơ như hồi năm 2008 gây sốt gần cả tháng thôi. Hàng năm ta sản xuất ra dư thừa xuất khẩu cả 7 – 8 triệu tấn mà cứ “la làng” là “an ninh lương thực” là không thuyết phục đâu!    Vậy sao không rút bớt diện tích để trồng cây gì khác có hiểu quả hơn trồng lúa? Giáo sư có nghĩ đến kịch bản như vậy không?    Tôi cũng suy nghĩ và tính toán rồi. Theo tôi, ở miền Bắc sản xuất lúa gạo chi phí cao, chất lượng không bằng miền Nam, nên chăng rút bớt diện tích trồng lúa ở miền Bắc chuyển qua trồng khoai tây! Sản lượng gạo thiếu thì điều chuyển từ miền Nam ra.  Ta đang có giống khoai tây rất tốt, ăn ngon. Khoai tây ở Việt Nam ta khác với bên Âu Mỹ. Bên xứ họ vụ khoai tây kết thúc vào khoảng tháng 9 tháng 10 trước khi mùa đông băng tuyết đến. Họ phải trữ khoai tây trong tủ lạnh để dùng 4 – 5 tháng. Miền Bắc nước ta trồng được vụ đông, thu hoạch xong ta bán cho rất nhiều nước đang bị băng tuyết che phủ. Khoai tây của ta tươi, chất lượng cao, ăn ngon.  Vấn đề là Nhà nước phải giao cho cơ quan có trách nhiệm khảo sát, xác định thị trường, tìm được khách hàng rồi về tổ chức cho bà con nông dân sản xuất khoai tây. Tôi nghĩ, làm được vậy thì người trồng khoai tây cũng có lợi tức cao mà người trồng lúa, người nông dân cũng có lợi tức cao!  Xin cảm ơn Giáo sư!  Đọc thêm:  Không ai ‘tự do’ như nông dân Việt   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=6049  Nghịch lý ngành gạo: Càng làm càng lỗ!   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=6045    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tháp Eiffel của thế kỷ 21″      Toà tháp đôi cao nhất thế giới sẽ được xây  cất giữa một cái hồ lớn ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Kiến trúc sư  người Anh Laurie Chetwood giải thích vì sao ông muốn xây dựng công  trình cao nghìn mét này.    – Thưa ông, văn phòng kiến trúc của ông cho đến nay chủ yếu nổi tiếng về xây cất các công trình chức năng: các siêu thị, khách sạn, toà nhà hành chính. Giờ đây ông đã trình một phác thảo về công trình tháp đôi cao nhất thế giới sẽ được xây dựng ở thành phố Vũ Hán có 10 triệu dân.   Chúng tôi đang cùng với một đối tác Trung Quốc xây dựng Trung tâm hậu cần ở Trung Quốc. Bên đặt hàng đề nghị chúng tôi xây dựng phương án phát triển vùng hồ lớn ở Vũ Hán. Hiện đã có dự thảo xây dựng một cây cầu có người ở trải dài trên mặt nước, tuy nhiên phương án này không tạo ra được hình ảnh của một biểu tượng gây trầm trồ ngạc nhiên như mong muốn.     – Có nghĩa là khách hàng muốn yếu tố “ôi trời ơi!”.   Người ta muốn tạo một biểu tượng cho Vũ Hán, một tháp Eiffel của thế kỷ 21. Hiện ở Trung Quốc người ta đang ra sức đẩy mạnh thị trường du lịch nội địa. Nhiều người Trung Quốc chưa đủ khả năng đi du lịch ở nước ngoài, vì vậy phải tạo ra những điểm du lịch hút khách trong nước. Các thành phố ở Trung Quốc ra sức cạnh tranh trên lĩnh vực này, thành phố nào cũng tìm mọi cách để làm nổi bật mình.   – Và đấy là lý do ông đề nghị xây dựng toà tháp đôi nghìn mét? Ví thử nhỏ hơn một chút thì có sao?   Vấn đề là ở chỗ phải gây được ấn tượng. Ông thị trưởng Vũ Hán nhận được biết bao dự án để xem xét, gì thì gì, cũng phải làm sao để ông ta cảm thấy thích thú.   – Vì lẽ đó mà ông chọn mầu hồng?  (Cười) Đúng vậy, đó là một lý do. Hơn nữa mầu này cũng phù hợp với khung cảnh hoàng hôn ngoạn mục ở đây. Còn độ cao cũng có một lý do nhất định: Chúng tôi muốn tận dụng nhiệt động học để khai thác năng lượng. Các bạn hãy tưởng tượng tới một cái ống khói: không khí nóng ở dưới bốc lên trên và làm cho turbine ở trên cao hoạt động. Tháp càng cao thì hoạt động này càng tốt hơn.  – Vậy ông có thuyết phục được ông thị trưởng?   Ông ấy tỏ ra rất hài lòng. Nhưng đây mới là giai đoạn sơ khởi. Chúng tôi hy vọng đến cuối năm nay sẽ ký được hợp đồng. Sau đó chúng tôi sẽ bắt tay làm kế hoạch chi tiết. Đến năm 2022 thì ngọn tháp đôi này có thể được hoàn tất.   – Thưa ông, ông đã bao giờ xây dựng một toà nhà chọc trời chưa?   Mới chỉ 15 tầng thôi. Nhưng là một kiến trúc sư bạn không buộc phải biết kiến thức chuyên môn của mọi lĩnh vực. Nhưng người ta phải biết, cái người ta cần. Chúng tôi hợp tác với chuyên gia kết cấu, người đã xây dựng Shard [ngôi nhà cao 310 mét ở London].   – Khi dự án của ông trở thành hiện thực thì đó sẽ là toà tháp thứ hai và thứ ba đạt độ cao 1.000 mét. Kingdom Tower ở Ả rập Xê út là toà tháp số một đang được xây dựng. Thưa ông cái hay của những toà tháp vượt qua ngưỡng huyền diệu là ở chỗ nào?  Điều này tuỳ thuộc vào từng trường hợp. Đầu tiên đó là cơ hội truyền cảm hứng cho con người. Còn ở Trung Quốc nó ít nhiều tạo nên hiệu ứng Domino. Ở Vũ Hán hiện đã có một số toà nhà cao tầng, khi chúng tôi đưa phác thảo đầu tiên, khách hàng đề nghị chúng tôi phải lên cao hơn nữa.     – Thưa ông có ranh giới về độ cao không?   Tôi không phải là chuyên gia kết cấu, nhưng tôi tin rằng, đến một lúc nào đó sẽ có người xây dựng toà nhà chọc trời có chiều cao tới 1.500 mét.   – Thưa ông, toà nhà càng lên cao thì diện tích ở các tầng sẽ giảm. Vậy diện tích sử dụng ở các toà tháp của ông thực sự là bao nhiêu?     Các văn phòng, nhà hàng, tiệm ăn và nhà ở đều được bố trí ở nửa phía dưới. Còn phần ở trên chỉ dành cho các công nghệ môi trường khác nhau, thí dụ các turbine gió. Mỗi toà tháp có kết cấu như một cây linh lan (Maypole): toàn bộ toà nhà bám vào một cáp thép, như một cái trụ ở chính giữa. Hai cái trụ này neo lại với nhau dưới lòng hồ.   – Giữa hai toà tháp là ba quả cầu, ba tiệm ăn treo bồng bềnh, nối hai toà tháp với nhau. Trông chúng như một cảnh trong phim khoa học viễn tưởng.  Nếu ở Anh thì người ta sẽ lập tức đặt câu hỏi liệu những việc như thế có khả thi hay không. Điều này thể hiện sự thiếu khát vọng. Còn ở Trung Quốc người ta chỉ muốn biết, chúng tôi sẽ thực hiện điều này như thế nào.  Laurie Chetwood là chủ tịch Văn phòng Kiến trúc Chetwoods ở London. Ông đặc biệt có tiếng trong lĩnh vực thiết kế các nhà hàng, siêu thị,  khách sạn và thiết kế, cải tạo các trạm tầu điện ngầm cũng như bến xe buýt.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thất bại có đặt dấu chấm hết cho startup?      Với những startup trẻ, việc gặp thất bại trên con đường khởi nghiệp có phải là thảm họa và đặt dấu chấm hết cho những ý tưởng kinh doanh của mình? Liệu người thất bại có còn đủ dũng khí, tự tin và cả vốn liếng (vốn đã ít ỏi) để tiếp tục thực hiện giấc mơ khởi nghiệp? Để góp phần giải đáp những câu hỏi ấy, một cuộc gặp gỡ giữa những doanh nhân thành đạt thuộc thế hệ startup thành công đầu tiên của Việt Nam, và các startup trẻ mang tên FAIL SMART FESTIVAL 2016  đã diễn ra vào ngày 4/6 vừa qua.    Các diễn giả trao đổi về kinh nghiệm thất bại. Ảnh: BTCThất bại không của riêng ai  “Vạn sự khởi đầu nan”, con đường khởi nghiệp của những doanh nhân thành đạt như Phạm Đình Đoàn –  chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn Phú Thái, Nguyễn Thành Nam – nguyên Tổng giám đốc FPT, Phó chủ tịch HĐQT trường đại học FPT, Đàm Quang Thắng – Tổng giám đốc Công ty Agricare Việt Nam cũng không gặp nhiều thuận lợi. Để có được thành công như ngày hôm nay, họ cũng đều phải trải qua không ít thất bại. Ông Nguyễn Thành Nam chia sẻ, “đùng một cái” vào năm 30 tuổi, ông đã được giao trọng trách làm kinh doanh xuất khẩu phần mềm, mặc dù chưa từng có bất kỳ kinh nghiệm nào trong lĩnh vực kinh doanh. Khi đó, một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà ông đảm trách là mở văn phòng đại diện của FPT ở nước ngoài. “Ý nghĩ đầu tiên trong đầu tôi là chọn Mỹ làm địa điểm”, ông Nam kể. Việc mở văn phòng một cách cấp tập tại một thị trường sôi động như Mỹ mà chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng đã dẫn đến một cái kết bất ngờ là “chết ngay lập tức”. Sau thất bại đầu tiên, văn phòng đại diện thứ hai tiếp tục được mở với địa điểm mới là Ấn Độ, một thị trường phần mềm lớn hàng đầu châu Á, nhưng kết cục cũng không khác là bao. Về nguyên nhân dẫn đến hai thất bại liên tiếp này, ông Nam ví von hành động của mình khi ấy “như người dân quê ra chợ Đồng Xuân… ‘Cái chợ’ công nghệ mà mình tham gia to quá, ở một nơi rộng lớn và sôi động như vậy, chẳng ai có thể thấy mình.”  Cũng gặp thất bại nhưng trường hợp của ông Đàm Quang Thắng còn nhiều nỗi niềm hơn. Năm 2000, ông có dịp sang Trung Quốc học hỏi, ở cùng tòa nhà với Alibaba, tập đoàn thương mại điện tử của Jack Ma, ý tưởng trở thành “một Alibaba về nông nghiệp” đã nhen nhóm. Khi về nước, ông bắt tay vào công việc bằng một cuộc đầu tư tưởng chừng rất bài bản: mua mọi tên miền tiếng Việt về nông nghiệp, thuê chuyên gia giỏi, tuyển nhân sự… để có thể điều hành một sàn giao dịch về sản phẩm nông nghiệp. Đặt rất nhiều kỳ vọng vào thành công nhưng chỉ sau một thời gian, sàn giao dịch điện tử bị đánh sập. Không nản chí, ông Thắng tiếp tục dồn vốn đầu tư, mời hẳn một giám đốc quản lý dự án này, thuê cả công ty quản lý mã nguồn, chấp nhận mỗi năm mất 4 tỷ… Sau 3 năm điều hành, sàn giao dịch không đem lại doanh thu. Thất bại thứ hai này khiến ông “gần như suy sụp” vì dồn quá nhiều tâm huyết. Ở lần thứ ba đầu tư, thất bại lại gõ cửa khiến ông Thắng chấm dứt ý định ban đầu và hậu quả là “giờ có điều kiện quay lại thực hiện thì cũng không dám”.  Thất bại trong khởi nghiệp thật muôn hình vạn trạng, nếu hai startup thế hệ 6X Nguyễn Thành Nam, Đàm Quang Thắng vấp phải khó khăn về thị trường và am hiểu về lĩnh vực mình đầu tư thì một startup thế hệ 8X như Nguyễn Hà Linh, CEO hệ thống đồ ăn Thái Koh Samui Hut, CEO Trung tâm tiếng Anh Ibest, đồng sở hữu chuỗi cửa hàng Cafe Cộng, lại thất bại bởi… quá thành công, hay nói chính xác hơn là “tăng trưởng nóng” như cô chia sẻ tại FAIL SMART FESTIVAL 2016. 19 tuổi, khi đang học đại học, Hà Linh mở Trung tâm tiếng Anh với 5 phòng học. Do dồn sức nhiều vào công việc quản lý các lớp học với khoảng 300 học viên ở ba địa điểm khác nhau, cô phải dừng hẳn việc học tập tại trường. Quản lý Trung tâm Ibest lúc này khác hẳn so với thời điểm ban đầu với những yêu cầu mới như về số lượng giáo viên đứng lớp người nước ngoài từ 5 người lên 10 người, về vốn đầu tư… “Khó khăn về việc điều hành, quản lý nhân sự hiện hữu bởi nó liên quan đến quy chế lương thưởng, tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy”, Hà Linh cho biết. Vì vậy, cô đã phải ra quyết định đóng cửa hai địa điểm mà nguyên nhân không phải không có người học, không xây dựng được uy tín mà vì… quá thành công.  Học gì từ thất bại?  Không gian Up Co-working Space, nơi diễn ra FAIL SMART FESTIVAL 2016, tràn ngập các startup và cả các bạn trẻ đang ấp ủ ý định trở thành startup. Tất cả đều còn rất trẻ, ở độ tuổi 20-30, nghĩa là giống như những diễn giả Phạm Đình Đoàn, Nguyễn Thành Nam, Đàm Quang Thắng hay Nguyễn Hà Linh khi mới gặp thất bại. Ít nhiều người trong số họ cũng đã gặp một số thất bại tương tự ở ngay những bước đi khởi nghiệp đầu tiên. Chính vì vậy, chị Nguyễn Đặng Tuấn Minh, một trong những nhà tổ chức FAIL SMART FESTIVAL 2016, đã kết nối các thế hệ startup với nhau, cùng đi tìm những bài học kinh nghiệm thất bại để tránh những sai lầm đáng tiếc, để các startup trẻ có tinh thần sẵn sàng đối diện thất bại.  Ông Đàm Quang Thắng sau từ 3 lần thất bại với sàn giao dịch điện tử trong nông nghiệp đã rút ra kinh nghiệm, “việc tham gia thị trường giao dịch điện tử không phải là việc dễ dàng như những gì chúng ta vẫn nghĩ”. Nguyên nhân lớn nhất của thất bại này là do ông không biết nhiều về kỹ thuật, về chuyên môn trong lĩnh vực mà mình lựa chọn đầu tư. Vì vậy bài học mà ông đưa ra với các bạn trẻ là muốn không muốn gặp phải thất bại thì cần có đủ kiến thức về lĩnh vực kinh doanh, tuyển được một đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp và hơn hết, phải có đủ điều kiện mới nên quyết định khởi nghiệp, không được nóng vội. “Nếu không có đủ tiền vốn và nhân sự thì nên [chấp nhận] đi làm thuê, khi nào có đủ điều kiện mới nên bắt đầu”, ông Thắng nhắn nhủ.  Doanh nhân Phạm Đình Đoàn chia sẻ, các startup nên tìm được người đỡ đầu, một người nhiều kinh nghiệm để tư vấn đường đi nước bước trong khởi nghiệp, “nếu kế hoạch kinh doanh quá sơ sài sẽ dễ gặp thất bại”.  Trong khi đó, bài học rút ra từ kinh nghiệm thất bại của ông Nguyễn Thành Nam là phải tìm hiểu về thị trường trước khi quyết định đầu tư. Thói quen, tập quán của thị trường quyết định rất lớn vào sự thành bại của startup. Theo quan điểm của ông, nếu không chuẩn bị kỹ, startup sẽ thất bại mà thất bại với startup “nghĩa là chết luôn, là không gượng dậy được nữa”.  Ở quan điểm của thế hệ 8X, Nguyễn Hà Linh cho rằng, bài học thất bại của chị là không có kiến thức cơ bản về quản lý dòng vốn, về công tác điều hành doanh nghiệp. Hiện có rất nhiều bạn trẻ cũng tính đến chuyện mở các trung tâm giáo dục nhưng chưa lường trước được khó khăn về vốn cũng như khó khăn về nhân sự, đặc biệt về đối tác kinh doanh, ví dụ trong trường hợp của chị, chưa có kinh nghiệm về việc lựa chọn đối tác có đặc điểm là người nước ngoài, thời gian ở Việt Nam không nhiều, quan điểm có nhiều khác biệt nên hay dẫn đến trường hợp chưa hiểu nhau hoặc dẫm chân vào công việc của nhau…  Trên một tấm bảng đặt tại Up Co-working Space, các startup trẻ đã không ngần ngại viết về những bài học thất bại mà mình mới trải qua. Phần lớn những thất bại mà các startup chia sẻ đều tập trung vào các nguyên nhân: tăng trưởng nóng, chọn sai thị trường, chọn sai lĩnh vực kinh doanh, thiếu kiến thức khởi nghiệp, đặt quá nhiều mục tiêu thực hiện cùng một lúc, chọn sai đồng khởi nghiệp, không xem trọng đối thủ cạnh tranh, chỉ quan tâm đến chiến thắng mà xem nhẹ các yếu tố khác…  Đọc thêm:  “Xin chúc mừng! Chúng ta đã sai rồi!”    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Thay đổi chính sách tỉ giá hối đoái ở Trung Quốc và tác động đột phá      Kinh nghiệm phá giá đồng nhân dân tệ để thúc đẩy xuất khẩu.  Trong trường hợp của Nhật Bản, sự đột phá gắn với việc tăng giá đồng bản tệ (đồng Yên). Còn trong trường hợp Trung Quốc, sự đột phá lại gắn với việc phá giá đồng bản tệ (đồng nhân dân tệ – NDT).    Từ 1979 đến 1993 (14 năm), Trung Quốc đã điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái 7 lần. Xu hướng điều chỉnh là phá giá mạnh đồng NDT. Năm 1993, mức điều chỉnh tỷ giá (phá giá) so với năm 1985 đã là gần 70%.  Nhưng mặc dù phá giá liên tục và với biên độ lớn như vậy, tổn thất xuất khẩu do tỷ giá (đánh giá cao đồng NDT) gây ra vẫn rất lớn (bảng I). Lý do là vì tỷ giá NDT/USD có mặt bằng xuất phát “phá giá” quá thấp nên dù phá giá mạnh như vậy, mức tỷ giá vẫn chưa đạt đến điểm “hòa vốn” cho các doanh nghiệp xuất khẩu.    Bảng I.   Tổn thất tài chính đối với xuất khẩu do tỷ giá ở Trung Quốc  (đơn vị: NDT).                                           1979 1981 1983 1985 1988 1993  Chi phí để thu 1 USD xuất khẩu    2,40 2,31  3,02  3,67 5,80  6,32  Tổn thất ứng với 1 USD xuất khẩu 0,85 0,49  0,22  0,73 2,08   1,0   Nguồn: N. Lardy 1992; Wong 1998.  Để cải thiện tình hình, năm 1994, Chính phủ Trung Quốc quyết định phá giá mạnh đồng NDT. Biên độ phá giá lên tới 50%: từ mức 5,75 NDT/1USD năm 1993 lên 8,7 NDT/1USD kể từ ngày 1/1/1994.                     Cùng với việc thay đổi chính sách tỷ giá, chế độ quản lý ngoại hối của Trung Quốc cũng được cải cách mạnh mẽ: tỷ giá chính thức thống nhất với mức tỷ giá hoán đổi hiện hành; chế độ giữ lại ngoại tệ được bãi bỏ, thị trường ngoại hối liên ngân hàng được thành lập.  Việc cải cách chế độ tỷ giá (thực chất là thống nhất các loại tỷ giá đi liền với việc phá giá đồng tiền) đã có tác động rất mạnh và hầu như tức thời đến động thái của nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là đối với hoạt động ngoại thương và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.  Trước hết, nói về ngoại thương.  Việc phá giá đồng NDT với quy mô 50% dẫn tới kết quả tức thì: cán cân thương mại từ chỗ thâm hụt 12,2 tỷ USD năm 1993 chuyển thành cán cân thặng dư 5,4 tỷ USD năm 1994. Kể từ đó cho đến khi Trung Quốc gia nhập WTO (2001), xu hướng này luôn được giữ vững với mức thặng dư thương mại cao ổn định.  Đồ thị I. cho thấy đã thật sự có một cú nhảy vọt đột biến trong hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc tại thời điểm năm 1994, tức là từ khi đồng NDT được phá giá 50%.  Đồ thị I.  Xu hướng tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc                  Kể từ đó, thặng dư thương mại của Trung Quốc liên tục tăng với tốc độ cao. Kết hợp với một số yếu tố khác (ví dụ, sự tăng trưởng FDI, là một kết quả khác trực tiếp bắt nguồn từ sự biến đổi tỷ giá NDT), nền kinh tế Trung Quốc bước vào nhịp tăng trưởng mới, với hai động lực mạnh mẽ nhất là xuất khẩu và đầu tư nước ngoài trực tiếp. Và cũng giống như Nhật Bản trước đây, xuất khẩu của Trung Quốc tăng mạnh đã đẩy thâm hụt mậu dịch của thế giới nói chung, của Mỹ nói riêng với Trung Quốc lên tới điểm “không thể chịu nổi”.                     Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu được quy về “lỗi” chính sách tỷ giá của Trung Quốc. Mỹ và hầu như cả thế giới đều cho rằng nguyên nhân chính của tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng trong quan hệ mậu dịch này có nguồn gốc trực tiếp và cơ bản từ việc Chính phủ Trung Quốc duy trì quá lâu chính sách tỷ giá “đồng NDT yếu” (tính từ 1994). Quãng thời gian 12 năm (1994-2006) là đủ dài. Trong 12 năm đó, sự cộng hưởng tác động của chính sách “đồng tiền yếu” và của việc Trung Quốc gia nhập WTO (năm 2000) đã tạo thành sức thúc đẩy to lớn để nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy và trở thành khổng lồ, có khả năng làm đảo lộn các cân bằng phát triển vốn có của thế giới. Kết quả tất yếu của sự lớn mạnh kinh tế nhanh chóng này là sự tăng giá đồng NDT. Vì vậy, đòi hỏi Trung Quốc phải tăng giá đồng NDT ngày càng vang lên gay gắt từ các nước phương Tây là có căn cứ lý lẽ và thực tiễn vững chắc.  Tác động của thay đổi tỷ giá đồng NDT đến dòng FDI  Dường như càng hoạt động lâu ở Trung Quốc, các công ty nước ngoài càng phát hiện ra những sức hấp dẫn mới của đất nước này với tư cách là một “cứ điểm” sản xuất: chi phí thấp, sức cạnh tranh cao. Giá thành sản phẩm thấp ở Trung Quốc  đồng nghĩa với một thông điệp: muốn bán được hàng ở bất cứ đâu trên thế giới thì cách chắc chắn nhất là đầu tư vào Trung Quốc để sản xuất tại đây.  Sức mạnh của thông điệp đó được nhân lên nhờ quyết tâm và hành động liên tục phá giá mạnh đồng NDT vào năm 2003, 2004 của Chính phủ Trung Quốc đã làm cho sức cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu từ Trung Quốc vượt qua giới hạn thông thường để trở thành một sự đột phá mạnh, khiến dòng FDI đổ vào lập tức tăng mạnh. Năm 1993, lượng FDI thực hiện tăng 250% so với năm 1992; còn năm 1994 tăng 23% so với năm 1993. Đến năm 1998, mức tăng so với năm 1993 đã là 200%. Và bước sang thế kỷ mới, Trung Quốc trở thành một trong những nền kinh tế thu hút nhiều FDI nhất trên thế giới, với lượng FDI đổ vào hàng năm đạt mức 55-70 tỷ USD.  Khả năng lên giá đồng NDT và tác động của nó.                   Hiện nay, tình trạng thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc của hầu như tất cả các nền kinh tế phát triển đã trở nên ngày càng gay gắt và động chạm đến nhiều nhóm lợi ích xã hội, làm tổn thương “uy tín” quốc gia, đã đặt trước Chính phủ nhiều nước, đặc biệt là Mỹ và EU, yêu cầu cấp bách phải nhanh chóng giảm thâm hụt thương mại, lập lại cân bằng trong các cán cân tài khoản vốn và tài khoản vãng lai với Trung Quốc. Để đạt mục tiêu đó, giống như với Nhật Bản trước đây, Mỹ và các nước G7 khác đang gây áp lực rất mạnh buộc Trung Quốc phải tăng giá đồng NDT lên 20-40% trong một thời gian ngắn.  Cả áp lực đòi đồng NDT lên giá lẫn quá trình lên giá của đồng tiền này đều đang diễn ra trên thực tế. Áp lực thì ngày càng gia tăng; còn Chính phủ Trung Quốc thì cố gắng trì hoãn sự tăng giá để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao tiềm lực tài chính và tránh gây sốc trong nền kinh tế và xã hội. Vì vậy, quá trình lên giá của đồng NDT đang diễn ra nhưng với tốc độ chậm và được Chính phủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ.  Với giải pháp lên giá đồng Yên do chính thế giới áp đặt, Nhật Bản đã từng bắt thế giới “chịu nạn” chứ không phải Nhật Bản là “nạn nhân”. Vậy thì liệu thế giới có phải chịu một tác động tương tự một khi đồng NDT tăng giá? Và nền kinh tế Trung Quốc sẽ như thế nào khi điều đó xảy ra – lại một cú “đột phá” mạnh nữa chăng?  Trước hết, theo nguyên lý truyền thống, đồng NDT lên giá sẽ làm cho sản phẩm của Trung Quốc trở nên kém cạnh tranh hơn về giá trên thị trường quốc tế. Nhờ đó, các nền kinh tế nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có khả năng giảm được tình trạng “nhập siêu”; còn các đối thủ cạnh tranh xuất khẩu với Trung Quốc cũng sẽ có cơ hội tăng xuất khẩu các mặt hàng cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc.  Nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề.  Dễ nhận thấy rằng bù lại những bất lợi và tổn thất (tiềm năng) do đồng NDT lên giá, chính điều này lại tạo ra cho Trung Quốc những cơ hội thu lợi không nhỏ. Về dài hạn, sự lên giá của đồng NDT sẽ giúp Trung Quốc thu được nhiều lợi ích. Những lợi ích đó bắt nguồn từ chỗ: Khi đồng NDT lên giá, giá sản phẩm đầu vào nhập khẩu của Trung Quốc, tính ra NDT, sẽ rẻ đi tương ứng. Điều này sẽ làm giảm đáng kể tác động tiêu cực do giá thành sản phẩm xuất khẩu tăng lên gây ra.  Về dài hạn, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải tái cơ cấu lại để thích ứng với xu hướng lên giá của đồng NDT. Xu hướng cơ bản của quá trình tái cơ cấu này là dịch chuyển các quá trình sản xuất lên các nấc thang công nghệ cao hơn. Giống như Nhật Bản trước đây, một trong những hướng chuyển dịch tiềm năng cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Trung Quốc dưới tác động của việc đồng NDT lên giá sẽ là đầu tư ra nước ngoài, theo nguyên lý “lan tỏa công nghiệp” hay “đội hình đàn sếu bay”.  Có thể khẳng định việc tăng giá NDT không mang lại tác động tích cực một chiều như nhiều nước đang kỳ vọng. Ngay cả đối với các nền kinh tế “nhập siêu” từ Trung Quốc cũng vậy.  Xu hướng “lan tỏa” cơ cấu theo kiểu “đội hình đàn sếu bay” từ Trung Quốc sang Việt Nam dưới tác động của việc đồng NDT lên giá là rất lớn, thậm chí, không tránh khỏi. Trong mấy năm gần đây, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư sang Việt Nam để tận dụng lợi thế giá nhân công rẻ, sự thuận lợi về nguồn nguyên liệu và vị trí địa lý. Xu hướng đầu tư này chắc chắn sẽ được đẩy mạnh hơn khi đồng NDT lên giá.  Khả năng dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam tạo ra một tình thế phát triển mới cho nền kinh tế nước ta. Tình thế đó chứa đựng cả cơ may lẫn thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Một mặt, nó mở ra khả năng bùng nổ đầu tư và tăng trưởng. Chiếu theo kinh nghiệm Nhật Bản cách đây hai thập niên, khả năng này mang tính hiện thực rất cao. Thậm chí, có thể nghĩ đến một làn sóng đầu tư mạnh hơn cả về quy mô lẫn cường độ. Nhưng mặt khác, nếu Việt Nam không biết tận dụng thời cơ để bứt lên, chỉ biết tiếp nhận một cách thụ động “làn sóng” này, thì chắc chắn sẽ phải nhận lãnh những hậu quả phát triển tiêu cực1, nhất là hậu quả công nghệ.  ——  1. Làn sóng dịch chuyển cơ cấu từ Nhật Bản cách đây 20 năm trải ra cho một loạt nước Đông Á kém phát triển hơn. Nhưng hiện nay, trong khu vực, số nền kinh tế có trình độ phát triển thấp hơn Trung Quốc ít hơn nhiều so với Nhật Bản trước đây. Do vậy, sự lan tỏa phát triển, nếu diễn ra, sẽ “chụm” hơn. Độ “chụm” đó cộng với quy mô khổng lồ của nền kinh tế Trung Quốc và được gia tốc bằng tốc độ đổi mới công nghệ nhanh hơn hiện nay cho phép nghĩ đến một làn sóng dịch chuyển cơ cấu từ Trung Quốc mạnh mẽ hơn so với quá trình đã diễn ra ở Nhật Bản trước đây.  Do có những lợi thế nhất định, Việt Nam vẫn có nhiều cơ hội để hấp dẫn sự “lan tỏa công nghiệp” từ Trung Quốc. Trên thực tế, điều này đang diễn ra và có xu hướng gia tăng. Vì vậy, một trong những vấn đề lớn, thậm chí rất lớn và rất cấp bách đặt ra là trong quá trình “lan tỏa” này, Việt Nam cần tiếp nhận loại sản phẩm nào, công nghệ nào từ Trung Quốc, theo lộ trình và giải pháp chiến lược nào để bảo đảm cho quá trình CNH, HĐH rút ngắn của chính Việt Nam diễn ra có kết quả, giúp đất nước thu hẹp nhanh khoảng cách tụt hậu so với thế giới.  Thâm hụt thương mại nặng nề kéo theo những mất cân bằng nghiêm trọng khác. Năm 2006, Mỹ bị thâm hụt thương mại với Trung Quốc hơn 232,5 tỷ USD. Hệ quả tiếp theo là Trung Quốc đang nắm giữ mấy trăm tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ. Nghĩa là Trung Quốc đang không chỉ tài trợ cho nước Mỹ tiêu dùng mà còn tài trợ cho cả Chính phủ Mỹ hoạt động. Bù lại, người tiêu dùng Mỹ được mua hàng giá rẻ, nhờ đó, tăng được tiết kiệm để đầu tư, trong đó, có đầu tư vào Trung Quốc. Nhưng bằng cách đó, Trung Quốc đã “lấy đi” nhiều triệu việc làm của người dân Mỹ. Tình hình cũng có nhiều nét tương tự đối với các nước phương Tây khác. Hình thành sự tùy thuộc lẫn nhau chặt chẽ, làm cho cuộc tranh chấp kinh tế giữa các nền kinh tế phát triển với Trung Quốc trở nên khó có thể giải quyết triệt để và nhanh chóng. Đây là một nét đặc sắc mới định dạng nền kinh tế thế giới hiện đại.  Trần Đình Thiên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi hành vi đọc của sinh viên trong thời đại kỹ thuật số      Trong thời đại kỹ thuật số, cách chúng ta đọc và hiểu văn bản cũng như sản sinh ra kiến thức đã thay đổi. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Carl von Ossietzky Oldenburg và Đại học Erlangen-Nürnberg (FAU), Đức hiện đang nghiên cứu cách thiết kế mới đối với chương trình giảng dạy ở bậc đại học trong thời đại kỹ thuật số.      Cách thức sinh viên tiếp cận với tài liệu đã thay đổi. Nguồn: footage.framepool.com  Dự án nghiên cứu “Phân tích người đọc’ như một công cụ học tập chiến lược trong tự đánh giá hành vi đọc”  được Sáng kiến thúc đẩy giáo dục Stifteverband và Quỹ DATEV tài trợ với kinh phí 30.000 euro như một phần của chương trình “Học bổng cho đổi mới sáng tạo trong giảng dạy đại học”.  Các văn bản dài là nguồn quan trọng để có được kiến thức và tăng khả năng học thuật của một người. Nhận biết được các phần quan trọng nhất của một văn bản học thuật, tạo ra các kết nối, sắp xếp, đánh giá những gì đang đọc và ý nghĩa của nó trong bối cảnh của các văn bản khác và rút ra ra kết luận…. đều là các kỹ năng quan trọng đối với giáo dục đại học. Tuy nhiên, hiện tại cả giảng viên và sinh viên đều trải nghiệm sự khác biệt giữa kỹ năng đọc mà họ có được trong hoạt động hằng ngày với yêu cầu đọc hiểu các bài giảng ở đại học – nói cách khác, đó là những phẩm chất cốt lõi và kỹ năng đọc phù hợp với bậc đại học.  “Việc lớn lên trong một thế giới tràn ngập các phương tiện kỹ thuật số đa dạng dẫn đến sự thay đổi chung trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông và do đó, thay đổi hành vi đọc”, TS. Axel Kuhn, nhà nghiên cứu về sách và văn hóa đọc tại FAU, nói. Ví dụ các thế hệ trẻ chủ yếu học những cách hướng đến việc tìm kiếm thông tin nhiều hơn hoặc nhanh chóng đạt  được một cái nhìn tổng quan về nội dung của các văn bản. Theo cách này, thông tin có thể được thu thập một cách nhanh chóng từ internet nhưng không thể so sánh được với kiến thức thu được từ việc đọc văn bản thông thường.  Do đó, TS Axel Kuhn đã phối hợp với TS. Christian Fritz-Hoffmann, một chuyên gia về phương pháp giảng dạy cho khoa học xã hội tại Đại học Oldenburg để tìm cách ứng phó với sự thay đổi này. Theo sát các thói quen sử dụng phương tiện truyền thông, nơi họ thường xuyên truy cập và tải các nội dung kỹ thuật số, các nhà nghiên cứu đã sử dụng công cụ Phân tích người đọc (Reader Analytics), công cụ lần đầu tiên được sử dụng trong trường đại học. Từ trước đến nay, công cụ này mới chỉ được sử dụng trong các nhà xuất bản.  Sử dụng các thiết bị đọc di động và phần mềm liên quan, thói quen đọc và quá trình đọc của sinh viên được ghi lại chi tiết, ví dụ sinh viên đọc văn bản phục vụ việc học của mình vào thời gian nào trong ngày, ở địa điểm nào hoặc trong trường hợp nào? họ thường ngừng đọc tại những điểm, hoặc điểm nào khiến họ mất nhiều thời gian, điểm nào họ lướt qua? họ đánh dấu và ghi lại nhận xét ở những chỗ nào và bằng cách nào? Và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, hành vi đọc ảnh hưởng đến việc hiểu văn bản như thế nào?  Bước tiếp theo nữa sẽ liên quan đến việc đưa ra một quan điểm đào tạo sinh viên. “Thông qua Reader Analytics, sinh viên có thể  học được cách đọc để phục vụ việc học tập trong trường đại học, cách lập kế hoạch, cách áp dụng việc đọc như một công cụ học tập, cách đánh giá và giám sát việc đọc”, Kuhn giải thích. Phương thức này cũng bao gồm kiến thức cơ bản về Quy định bảo vệ dữ liệu chung và các quyền cá nhân được quy định trong Hiến pháp Đức.  Dự án nghiên cứu liên ngành này tích hợp nhiều lĩnh vực khác nhau như phương pháp giảng dạy, nghiên cứu việc đọc, phương pháp giảng dạy đại học và khoa học máy tính. “Mục đích của dự án là giúp sinh viên có thể đánh giá tốt hơn hành vi đọc của chính họ mà không cần sử dụng các cơ chế kiểm soát bên ngoài”, Kuhn nói. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu dự định phát triển các công cụ cho phép người dùng phát triển kỹ năng đọc một cách độc lập. Sau khi hoàn thành, những phát hiện thực tiễn của dự án sẽ được vận dụng trong một số khóa học bắt buộc khi sinh viên bắt đầu các chương trình đại học. ¨  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2018-12/uoe-trb121218.php       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi hệ thống lương thực để ngăn chặn các đại dịch tương lai      Công bố mới của nhà nghiên cứu Maywa Montenegro de Wit (Đại học California Santa Cruz) trên tạp chí The Journal of Peasant Studies cho thấy các yếu tố tiềm ẩn trong hệ thống lương thực đã thúc đẩy sự bùng nổ của đại dịch Covid-19 và nhiều dịch bệnh nguy hiểm khác, như cúm lợn, cúm gia cầm và Ebola.      Đại học California tại Santa Cruz dạy các phương thức sản xuất thực phẩm thay thế thông qua Trung tâm Nông học và Hệ thống Thực phẩm bền vững. Các sinh viên trong lớp của giáo sư danh dự Deborah Letourneau đang học giữa các luống xà lách, húng, cà rốt, táo và súp lơ. Ảnh: Damian Parr, 2018.  Các nghiên cứu của Montenegro de Wit thường tập trung vào chủ đề giao thoa giữa sinh thái nông nghiệp, chủ quyền lương thực và công nghệ sinh học. Tuy nhiên trong năm vừa rồi, cô đã thực hiện một dự án mới để nghiên cứu vai trò của hệ thống lương thực trong đại dịch và khám phá xem các bài học từ phong trào bãi nô có thể giúp định vị sinh thái nông nghiệp và đem đến những thay đổi như thế nào. “Năm ngoái, tất cả chúng ta đều trải qua một loạt tình trạng đặc biệt: đại dịch Covid-19, sự nổi lên về vấn đề chủng tộc, sự thừa nhận trên diện rộng về bạo lực có tính hệ thống đối với người Mỹ da đen, người da màu và người nghèo”, Montenegro de Wit nhận định. “Tôi thấy rõ ràng có sự giao thoa giữa phong trào bãi nô và các phong trào xã hội về sinh thái nông nghiệp và chủ quyền lương thực. Nó đã thôi thúc tôi thử ráp nối tất cả các mảnh ghép này lại với nhau”.  Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp dẫn đến sự xâm lấn vào môi trường sống và làm mất đi các vùng đệm tự nhiên vốn giúp con người ngăn chặn các mầm bệnh từ động vật hoang dã. Trong khi đó, mật độ vật nuôi dày đặc trong các nhà máy và chuồng trại thiếu vệ sinh lại khiến cho dịch bệnh lây truyền nhanh chóng hơn. Đồng thời, việc thay thế môi trường sống với những cây trồng độc canh cũng làm giảm đa dạng sinh học.  Thêm vào đó, sự tập trung quyền lực trong hệ thống lương thực hiện nay làm cho các chuỗi cung ứng trở nên dễ bị tổn thương còn các tập đoàn thì có thể dễ dàng bóc lột nhân công. Đại dịch Covid-19 đã phơi bày hai hiện tượng ấy, và những người da màu chính là cộng đồng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi sự mất an ninh lương thực và điều kiện làm việc không an toàn.  Montenegro de Wit cho rằng, đã đến lúc phải có một cách tiếp cận khác đối với hệ thống lương thực, và Covid-19 nên là một hồi chuông cảnh tỉnh toàn cầu. “Tôi hi vọng mọi người sẽ nhận thức được, Covid-19 không phải là đại dịch cuối cùng mà chỉ là một trong rất nhiều đại dịch có thể diễn ra trong tương lai”, cô nói. “Chúng ta phải thay đổi hoàn toàn mô hình sản xuất, không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới, để ngăn chặn các đại dịch tiếp theo”.  Nông nghiệp sinh thái có thể đem giải pháp cho vấn đề này. Các phương án như trồng đa canh, xen canh có thể giúp tăng cường sự đa dạng của các loại cây trồng; gia súc, gia cầm cũng có thể được nuôi ngay trên đất theo những phương thức có lợi về mặt sinh thái. Các chiến lược phát triển sinh thái nông nghiệp sẽ giúp thúc đẩy đa dạng sinh học, từ đó khiến các mầm bệnh khó lây truyền qua các quần thể hơn.  Để thúc đẩy các loại hình sản xuất lương thực như vậy sẽ đòi hỏi phải có những hệ thống quyền lực cố định. Do vậy, Montenegro de Wit đã tìm đến các phong trào về sự công bằng giữa các chủng tộc và phong trào bãi bỏ từ các cuộc đấu tranh chống lại tổ hợp nhà tù – công nghiệp (prison-industrial complex). “Nông nghiệp sinh thái sẽ gặp nhiều khó khăn để trở thành phương thức sản xuất thực phẩm chủ đạo, trừ khi chúng ta thực sự nghiêm túc với việc bãi bỏ các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp”, cô nói. “Cần loại bỏ các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp đi, nếu không thì sẽ không thể phát triển được các giải pháp thay thế”.  Montenegro de Wit cho rằng, có một bài học quan trọng mà các nhà sinh thái nông nghiệp nên học hỏi từ những người theo chủ nghĩa bãi nô: nhận ra điểm khác biệt giữa sự thay đổi cấu trúc thực sự với những điều chỉnh đơn thuần nhằm duy trì trạng thái hiện tại. Theo quan điểm của cô, nông nghiệp sinh thái vẫn còn những lỗ hổng trong việc thừa nhận một cách rõ ràng tác động của phân biệt chủng tộc trong các hệ thống lương thực, tuy nhiên điều đó đang thay đổi, và cô hi vọng những nghiên cứu của mình sẽ là một phần dẫn đến những thay đổi đó. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-disrupting-food-future-pandemics.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi hình ảnh nghề nông ở Ấn Độ      Một trong những người thúc đẩy sự thay đổi trong nông nghiệp Ấn Độ là Rohtash Mal, người sáng lập và giám đốc EM3.      Một thiết bị bay hoạt động trên những cánh đồng Ấn Độ.  Đây là một dự án khởi nghiệp về nông nghiệp có mục đích mong muốn “xây dựng lại hình ảnh nông nghiệp”.  Từng là một doanh nhân làm cho các hãng lớn, Mal đã đem các kiến thức từ doanh nghiệp ứng dụng vào trồng trọt. Ông cho rằng canh tác có thể thoát ra khỏi chu kỳ “tự sát và nợ nần” của thiên tai. Mal quan niệm rằng: “Nông nghiệp phải được coi như một ngành công nghiệp. Mỗi tấc đất được xem như một tài khoản lời và lỗ để tạo ra đủ thặng dư được tái đầu tư vào đất nhằm đạt năng suất cao hơn trong năm tới”.  Mal thành lập EM3 năm 2013 với triết lý: “Canh tác là một dịch vụ”. Ông cho biết, công việc của ông là làm công nghệ, ứng dụng vào nông cụ để nông dân Ấn Độ để tiếp cận với giá phải chăng. Ông cung cấp các sản phẩm máy nông nghiệp như máy kéo và máy gặt cho các tiểu nông trên cơ sở trả tiền theo lần sử dụng. Trong các loại máy móc đó, còn có cả máy bừa hướng dẫn bằng laser mà Mal cho rằng có thể giảm khoảng 30% lượng nước.  Cơ giới hoá trồng trọt, theo Mal, có thể giảm chi phí canh tác 25% và tăng năng suất lên 20%. Và điều đó có nghĩa là tăng thu nhập đáng kể cho nông dân. Nông dân hoàn toàn được thuyết phục. Cách đây vài tháng, EM3 ký một thoả thuận với chính quyền bang Rajasthan để mở 1.240 trung tâm cơ giới hoá nông nghiệp trên toàn bang. Đã có 22 trung tâm như vậy ở bang Madhya Pradesh. Các trung tâm này có tên là Samadhan Techno Kheti. Mỗi trung tâm Samadhan tốn 2 crore (20 triệu rupee, tương đương 6,7 tỷ đồng) gồm có năm máy kéo và 25 – 30 nông cụ khác. Thông thường, một trung tâm mất hai năm để hoà vốn.May mắn cho Mal, tiền đầu tư không phải là một vấn đề lớn.Mal dự kiến sẽ mở các trung tâm tương tự ở phía bắc và phía đông của Ấn Độ, trong tương lai gần.  Ý tưởng của Mal về trồng trọt đã nằm trong mối quan tâm của các nhà quản lý quỹ thế giới. Quỹ phát triển kinh tế Soros ở Mỹ và quỹ Đổi mới toàn cầu có trụ sở ở Anh, cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thuỵ Điển, bộ Ngoại giao và thương mại Úc, và Omidyar Network đã bơm vào EM3 101 crore R trong vòng cấp vốn thứ 2. Vòng thứ nhất vào năm 2015, Aspada Investments ở Bengaluru đã đầu tư 3,3 triệu USD.  Cơ giới hoá chỉ là một bước khởi đầu, Mal có một tầm nhìn khác về làm nông liên quan đến công nghệ, tài chính. Ông còn là đại sứ cho nghề nông, đứng ra mời các công ty ở Israel, Anh và Nhật Bản sang thăm Ấn Độ và mời làm đối tác với EM3 trong việc giải quyết các vấn đề làm nông tại đây. Ngoài ra, Mal còn thường xuyên thăm  văn phòng của các hãng công nghệ lớn như IBM, Ericsson, Cognizant và Nokia. “Nếu chúng tôi kinh doanh dịch vụ nông nghiệp, bất kỳ thứ gì dựa trên công nghệ đều có thể sử dụng để làm cho đời sống nông dân tốt hơn và đều thuộc lĩnh vực kinh doanh của chúng tôi”, ông nói.  Việc đưa vào sử dụng các công nghệ mới như hình ảnh vệ tinh, phân tích dữ liệu, hoá học hoá đất, cơ sở dữ liệu lớn, các ứng dụng, trí tuệ nhân tạo và bộ cảm biến trong lĩnh vực nông nghiệp đủ để đẩy nền kinh tế nông nghiệp 400 tỷ USD, chiếm 17,34% GDP Ấn Độ lên 1.000 tỷ USD trong vòng năm năm tới. Mal đã chứng minh như vậy.“Ngay cả khi năng suất nông nghiệp của cả nước chỉ cần tăng gấp đôi, kinh tế nô ng nghiệp có thể chạm mốc 800 tỷ USD”, Mal nói. Theo một nghiên cứu mới đây của McKinsey, thị trường cơ giới hoá ở Ấn Độ trị giá 112 tỷ USD và tăng trưởng hàng năm ở mức 16%. Chừng đó cộng thêm vào nền kinh tế nông nghiệp của quốc gia này, đủ thấy con số khủng khiếp như thế nào. Mal còn dẫn chứng thêm, ngay cả khi chỉ cần sự gia tăng nhỏ về tín dụng mà chính phủ dành cho nông dân với con số 975 triệu rupee trong tài khoá 2017 – 2018, cũng đã gia tăng giá trịkinh tế nông nghiệp của Ấn Độ.  Mal đã có lý  về sự lạc quan của mình khi nông dân dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng, tiếp cận công nghệ và một thị trường lớn. Thêm vào đó, các dữ liệu dự báo thời tiết, dự báo mùa màng, cũng như thương mại điện tử cho sản phẩm nông nghiệp, con số ước tính của Mal về giá trị của nông nghiệp Ấn Độ, “đúng là bảo thủ và lạc hậu”!  Trần Bích (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi lối sống có thể trì hoãn hoặc ngăn ngừa tới 40% các ca sa sút trí tuệ      Uống rượu quá nhiều, phơi nhiễm các chất ô nhiễm không khí và các chấn thương đầu đều làm gia tăng nguy cơ rủi ro về sa sút trí tuệ, các chuyên gia cho biết điều đó khi đề cập đến 12 yếu tố liên quan đến lối sống của con người.       850.000 người ở Anh mắc chứng sa sút trí tuệ.  Khoảng 50 triệu người trên khắp thế giới phải “sống chung với sa sút trí tuệ”, trong đó có 850.000 người ở Anh. Đến năm 2040, ước tính sẽ có 1,2 triệu người rơi vào trường hợp sa sút trí tuệ ở Anh và xứ Wales. Hiện vẫn chưa có phương pháp nào điều trị hiệu quả căn bệnh này.  Dẫu vậy, trong khi có một số yếu tố rủi ro dẫn đến sa sút trí tuệ không thể thay đổi, ví dụ như các gene cụ thể liên quan đến căn bệnh này, nhiều yếu tố có thể giảm nhẹ liên quan đến lối sống.  “Tiềm năng ngăn ngừa sa sút trí tuệ – anh có thể làm những điều để giảm bớt nguy cơ rủi ro sa sút trí tuệ cho cho mình, bất kể đang ở giai đoạn nào của cuộc đời”, Gill Livingston, giáo sư tâm thần học người cao tuổi tại trường College London và đồng tác giả của báo cáo 2020 của Lancet “Dementia prevention, intervention, and care”. Bà cho biết thêm những thay đổi trong lối sống có thể làm giảm đi những khả năng phát triển bệnh sa sút trí tuệ trong cả những ca có hay không có nguy cơ rủi ro cao về gene.  Báo cáo này được xây dựng trên cơ sở những nghiên cứu trước đó về một phần ba trường hợp sa sút trí tuệ có thể được ngăn ngừa bằng việc giải quyết các nhân tố lối sống, bao gồm mất thính lực tuổi trung niên, trầm cảm, ít được học tập khi còn nhỏ và hút thuốc.  Nghiên cứu cũng cân nhắc các bằng chứng mới nhất, phần lớn từ các quốc gia thu nhập cao, với việc bổ sung thêm ba yếu tố rủi ro vào danh sách của mình. Nó cho thấy 1% các ca sa sút trí tuệ trên toàn thế giới là do uống nhiều rượu ở giai đoạn trung niên, 3% chấn thương đầu ở giai đoạn trung niên và 2% là kết quả của phơi nhiễm không khí ô nhiễm trong giai đoạn về già – dẫu họ cảnh báo là yếu tối cuối cùng có thể còn bị đánh giá chưa đúng mức về độ nguy hiểm.  Trong khi một số hành động có thể được giải quyết ở cấp độ cá nhân thì vẫn cần nhiều hành động ở cấp chính phủ để thay đổi, Livingston nói. Báo cáo cũng nêu một danh sách gồm chín đề xuất, trong đó bao gồm việc cải thiện chất lượng không khí và thúc dục các nhà hoạch định chính sách “có tham vọng để ngăn ngừa”.  Livingston đề cao chiến lược của ông Boris Johnson trong việc giải quyết bệnh béo phì và giảm thiểu trường hợp chết vì Covid-19, vì béo phì và thiếu luyện tập là một trong những yếu tố gây rủi ro dẫn đến sa sút trí tuệ. “Có thể rất hữu ích, đặc biệt nếu mọi người bắt đầu nghĩ về những yếu tố dẫn đến khả năng béo phì và khiến mọi người cảm thấy an toàn hơn khi sử dụng xe đạp,” bà nói.  Livingston nói, 40% trường hợp rất lạc quan nhưng việc xác định dược 12 nhân tố rủi ro và giảm thiểu chúng không thể giải quyết hoàn toàn mọi vấn đề nhưng những bước nhỏ cũng có thể cải thiện được vấn đề. Nghiên cứu đã cho thấy, tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ ở châu Âu và Bắc Mĩ đã sụt giảm khoảng 15% mỗi thập kỷ trong suốt ba thập kỷ qua – nguyên nhân là những thay đổi trong lối sống như giảm thiểu việc hút thuốc – ngay cả khi số lượng người ở tình trạng sa sút trí tuệ tăng khi con người sống thọ hơn.    Các nhà nghiên cứu đề xuất những thay đổi trong lối sống để giảm bớt nguy cơ rủi ro.  Tác động của những can thiệp về lối sống có khả năng hiệu quả bậc nhất với cả các cá nhân có mức sống thấp và các quốc gia thu nhập trung bình và thấp. “Tôi không nghĩ là có sự trùng hợp ngẫu nhiên về việc giảm tỷ lệ sa sút trí tuệ ở các quốc gia thu nhập cao với con người được giáo dục tốt hơn”, Livingston nói. “Nhưng chúng tôi đang chờ đợi vào năm 2050 là hai phần ba số người mắc sa sút trí tuệ sẽ giảm ở các quốc gia thu nhập thấp, nếu quỹ đạo này tiếp tục.”  Hiện chưa rõ ràng là liệu mọi nhân tố rủi ro đều hoàn toàn là một nguyên nhân hay là một hệ quả của sa sút trí tuệ. Báo cáo cho biết “trầm cảm có thể là một nhân tố rủi ro cho sa sút trí tuệ nhưng sa sút trí tuệ ở giai đoạn cuối đời có thể là nguyên nhân dẫn đến trầm cảm”.  Fiona Carragher, giám đốc nghiên cứu và là người có ảnh hưởng ở Alzheimer’s Society, nơi tham gia cấp kinh phí cho nghiên cứu này, đã kêu gọi thúc đẩy nghiên cứu về sa sút trí tuệ, và cảnh báo là các đóng góp thiện nguyện cho nghiên cứu y học đã giảm đi tới 40% trong ngân sách đầu tư cho nghiên cứu do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19.    Việc tập luyện thường xuyên cũng có thể tạo ra sự khác biệt.  Fiona Matthews, giáo sư bệnh truyền nhiễm tại trường đại học Newcastle, nguwoif không tham gia vào nghiên cứu này, cho rằng sự tập trung vào lối sống không có nghĩa là con người cảm thấy mình đáng trách nếu có bệnh sa sút trí tuệ. “Chúng ta có thể hành động để giảm bớt nguy cơ rủi ro cấp độ cá nhân và xã hội nhưng ngay cả khi với những nhân tố rủi ro này thì cũng chỉ có ở 50% trường hợp sa sút trí tuệ”, bà nhấn mạnh và cho biết thêm là sự gia tăng nguy cơ không có nghĩa là chắc chắn phát triển thành sa sút trí tuệ.  Theo Matthews, việc giải quyết các nhân tố rủi ro liên quan đến lối sống về mặt các nhân và xã hội vẫn còn đóng vai trò quan trọng nhưng sự bất bình đẳng trong y học quần thể như trong thời kỳ Covid-19, phải được hướng đến. “Trong trường hợp chưa có biện pháp điều trị hoặc ngăn chặn sa sút trí tuệ, điều cốt lõi là giảm bớt nguy cơ rủi ro của từng người sẽ là phương pháp hiệu quả nhất để làm giảm sự gia tăng số lượng người mắc sa sút trí tuệ do lượng dân số đang bị già hóa”, bà nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2020/jul/30/lifestyle-changes-could-delay-or-prevent-40-of-dementia-cases-study       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi tư duy trong phát triển cây lương thực      Mặc dù Việt Nam đã tự nghiên cứu được không ít giống lúa giàu chất lượng, nhưng thực tế là đến nay ở miền Bắc các giống lúa lai nhập từ Trung Quốc có năng suất cao nhưng phẩm chất gạo không ngon vẫn giữ vai trò chủ đạo. Trao đổi với tạp chí Tia Sáng, GS Võ Tòng Xuân cho rằng để khắc phục thực trạng này, ngoài các yếu tố kinh tế, kỹ thuật còn phải thay đổi tư duy trong phát triển cây lương thực.        PV: Thưa Giáo sư, việc đánh giá thành tựu trong nghiên cứu giống cây trồng, đặc biệt là giống lúa, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược. Vậy xin Giáo sư cho biết đánh giá của Giáo sư?   Giáo sư Võ Tòng Xuân: Giống cây trồng của nước ta rất phong phú nhờ sự chọn lọc thiên nhiên từ nhiều nghìn năm trước rồi được thuần hóa hoặc chọn lọc lại do con người. Trong lãnh vực cây lúa, công tác chọn giống đã được ông bà tổ tiên chúng ta thực hiện từ ngàn xưa, đến bây giờ chúng ta còn tiếp tục chọn giống thích nghi để sử dụng tại vùng sinh thái của mình từ các giống lúa nhập nội của Viện Lúa Quốc tế (IRRI) lai tạo. Trong những năm đầu thập kỷ 1970, IRRI đưa sang miền Nam Việt Nam nhiều giống lúa cao sản có chu kỳ 110-125 ngày. Sau khi chiến tranh chấm dứt, chúng tôi đưa về vài giống lúa kháng rầy nâu trong đó có giống IR36 có chu kỳ chỉ 105 ngày để cứu nguy vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tiếp tục với giống nhập, hằng năm chúng tôi chọn giống từ hàng trăm dòng lai thế hệ F4-F5 của IRRI để sau đó chọn ra một hoặc hai giống tốt nhất được Bộ Nông nghiệp công nhận đưa vào sản xuất. Đồng thời lúc ấy chương trình lai tạo giống lúa của Viện Lúa Ô Môn và của Đại học Cần Thơ cũng đã bắt đầu. Ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), các nhà chọn giống của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Cây lương thực và thực phẩm (Gia Lộc), và trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội bắt đầu lai tạo giống lúa song song với công tác tuyển chọn giống lúa từ giống nhập. Khi Ông Yuan Longping, cha đẻ của lúa lai Trung Quốc (LLTQ), khám phá kỹ thuật tạo hạt giống lúa lai, thì Viện IRRI cũng áp dụng chương trình này và đưa sang Việt Nam thử nghiệm trồng giống lúa lai. Kết quả trồng giống lúa lai tại ĐBSCL không khả quan và không được chấp nhận vì không giống nào kháng rầy nâu và phẩm chất gạo không ngon. Trái lại, tại ĐBSH giống lúa lai được ưa chuộng vì thích nghi với sinh thái và năng suất cao hơn các giống Việt Nam đối chứng. Chúng ta bắt đầu nhập giống LLTQ vào miền Bắc trồng thử nghiệm, có kết quả rất phấn khởi với năng suất cao, mặc dù phẩm chất gạo không ngon cơm. Cùng với phong trào ồ ạt nhập giống LLTQ bởi các trung tâm giống của các tỉnh miền Bắc, trường Đại học Nông nghiệp I thành lập Viện Nghiên cứu Lúa, tiền thân của Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng hiện nay, đã lai tạo được giống lúa lai đầu tiên của nước ta là giống VL 20, VL 24, VL 50, đồng thời Viện cũng lọc thuần nhiều giống lúa ngon cơm cổ truyền của miền Bắc để phổ biến cho nông dân các tỉnh như giống Hương Việt, Bắc Thơm 7, Hương Cẩm 4, Nếp Cẩm ĐH6.        Tôi nghĩ là người trồng lúa miền  Bắc nếu cứ buộc phải trồng lúa trên mảnh ruộng nhỏ bé của mình thì sẽ  không bao giờ đủ gạo ăn và làm giàu được nhờ cây lúa. Trong khi đó,  trong mùa đông giá rét, cây khoai tây rất thích rét và có thể cho năng  suất 15-25 tấn/ha…          Trong báo cáo mới nhất của Bộ NN-PTNT (http://www.mard.gov.vn/Lists/bonongnghiep_News/Attachments/40835/giong%20cay%20trong.xls), đến ngày 22/01/2015, Bộ đã cho đăng ký và cho phép sản xuất kinh doanh 814 giống cây trồng các loại, trong đó có sáu giống lúa thuần, 149 giống lúa tẻ, 21 giống nếp và 84 giống lúa lai. Trong danh sách này chưa có tên rất nhiều giống lúa đang được trồng phổ biến ở ĐBSCL. Theo Giáo sư Viện sĩ Trần Đình Long, Chủ tịch Hiệp hội giống cây trồng Việt Nam trả lời phỏng vấn của phóng viên Cổng thông tin Điện tử Chính phủ, diện tích trồng lúa lai trong cả nước chiếm 500-600 ngàn hecta, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB), tức là chiếm khoảng phân nửa diện tích lúa miền Bắc. Lượng hạt giống lúa lai VL và TH của ta sản xuất chỉ đạt 30% nhu cầu, nên 70% còn lại là giống lúa lai nhập từ Trung Quốc.   Vậy đâu là nguyên nhân chính của thực trạng đó?   Chúng ta đã có nhiều cố gắng lai tạo giống lúa tại các viện, trường ở ĐBBB, nhưng có lẽ vì chưa đạt năng suất như các giống LLTQ nên chưa được các địa phương sản xuất rộng rãi. Các yếu tố về nhân lực chuyên môn kém và kinh phí nghiên cứu thiếu là nguyên nhân chủ yếu đưa đến tình trạng này, trong khi nhập giống nước ngoài về khảo nghiệm thì đơn giản và ít tốn kém hơn.   Trong sinh thái nông nghiệp của miền Bắc nước ta, tôi rất nhất trí với nhiều chuyên gia, trong đó có chuyên gia Pháp đã có nhiều kinh nghiệm ở miền Bắc, cho rằng trồng lúa ở ĐBSH muốn chiến thắng phải chế ngự bốn kẻ thù: đó là xuân, hạ, thu, đông. Thực vậy, vào mùa nào nông dân trồng lúa cũng phải chống: hết chống rét đến chống hạn, rồi chống úng và chống bão lụt. Trong khi đó diện tích trồng trọt của mỗi nhân khẩu ngày càng teo dần, không được bao nhiêu sào, thì người nông dân trồng lúa biết chừng nào mới hết thiếu ăn và làm giàu được? Tôi nghĩ là người trồng lúa miền Bắc nếu cứ buộc phải trồng lúa trên mảnh ruộng nhỏ bé của mình thì sẽ không bao giờ đủ gạo ăn và làm giàu được nhờ cây lúa. Trong khi đó, trong mùa đông giá rét, cây khoai tây rất thích rét và có thể cho năng suất 15-25 tấn/ha dễ dàng, theo một số nghiên cứu mới đây ở miền Bắc. Vấn đề là Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đi tìm thị trường cho khoai tây Việt Nam, và chính sách lâu dài tập cho cư dân miền Bắc trở thành khách hàng thường xuyên của nông sản thích hợp nhất của miền Bắc là khoai tây, bắt đầu từ các nhà trẻ mẫu giáo, thích ăn khoai tây, lấy khoai tây làm bữa ăn thường xuyên như người dân Tây phương. Khoai tây và nhiều nông sản khác rất thích hợp sinh thái miền Bắc và sẽ làm cho nông dân giàu nhanh, như nhiều loại rau quả, mà bây giờ ta đã thấy bắt đầu triển vọng là vải thiều xuất sang Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc…  Chúng ta rất mong các nhà lãnh đạo đất nước sẽ đổi mới tư duy về phát triển nông nghiệp, nhất là trong phát triển cây lương thực và thực phẩm, để có chính sách thích hợp hơn nữa, đưa nông dân ta vào các chuỗi sản xuất nông nghiệp để làm giàu, chấm dứt tập quán lâu đời đã giữ mãi người dân phải thật cần cù sản xuất một cách kém hiệu quả như hiện nay.    Xin cảm ơn Giáo sư.              PV thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi tư duy về đổi mới sáng tạo      GS. Goran Roos, một trong 13 nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất thế giới thế kỷ 21 do tạp chí khoa học về kinh doanh của Tây Ban Nha Direccion y Progreso bầu chọn đã có buổi nói chuyện tại Bộ KH&CN vào ngày 22/8 vừa qua. Những quan điểm của ông về đổi mới sáng tạo có nhiều điểm khác biệt so với cách làm của Việt Nam hiện nay. Ông cho rằng Việt Nam ngày nay không làm chủ vận mệnh của mình và nếu không thay đổi, điều đó sẽ là “thảm họa” trong cuộc “càn quét” của công nghệ tương lai.    Công nghệ đang và sẽ tạo ra ba cuộc chuyển đổi quan trọng về kinh tế – xã hội trên thế giới: công nghệ thay đổi cách thức sản xuất (routine-biased), công nghệ thay đổi kĩ năng lao động (skill biased) và công nghệ thay đổi quan niệm đầu tư (capital biased). Xu hướng thứ nhất, không khó để hình dung, đó là tất cả những nhiệm vụ có tính lặp đi lặp lại đều sẽ bị thay thế bởi sự tự động hóa. Điều đó có nghĩa là, mỗi công việc sẽ ngày càng có ít nhiệm vụ cần con người phải tham gia. Xu hướng thứ hai, tất cả những kĩ năng chỉ cần kiến thức (hiểu nôm na là “biết là có thể làm được”) sẽ biến mất bởi kiến thức đã trở nên ngày càng dễ tiếp cận đối với mọi người, ở mọi nơi. Khi đó, những công việc còn “trụ lại” đều cần một trong ba kĩ năng: kĩ năng chuyên môn, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Trong số lực lượng lao động hiện nay, chỉ những công việc đòi hỏi kĩ năng thấp (chẳng hạn như bảo trì máy móc, thiết bị, y tá, điều dưỡng) hoặc kĩ năng rất cao là còn trụ lại. Vì vậy, những người có kĩ năng trung bình, làm công việc hành chính trong các công ty, tổ chức hiện nay sẽ bị mất việc. Hai xu hướng này chính là nguyên nhân dẫn đến xu hướng thứ ba về đầu tư, có thể khái quát lại như sau: “đầu tư cho hệ thống công nghệ thông tin có lãi hơn đầu tư cho con người”. Một công ty sẽ chỉ đầu tư cho rất ít nhân viên cơ hữu, một số ít chuyên gia trả theo dự án, còn lại là thuê ngoài thông qua một nền tảng giống như Uber. Với cách này, họ sẽ lựa chọn những “gói thầu” rẻ nhất, thậm chí là tốt nhất trong thời gian ngắn nhất. Theo GS. Roos, 25% dân số thế giới sẽ làm việc thông qua các nền tảng này, những người này sẽ làm 220 ngày trong một năm, với mức lương là 2800 USD: “số tiền này chỉ đủ mua được vài cốc cà phê mỗi ngày ở Thụy Sỹ nhưng lại là khoản thu nhập tuyệt vời ở Bangladesh”.  Ba xu hướng này khiến các chính phủ phải lập kế hoạch tìm chỗ đứng cho các công dân của mình trong tương lai, đồng thời cảnh báo họ về “cơn bão” sắp đến.  Việt Nam không làm chủ vận mệnh của mình    Định kì, trong nội bộ công ty đồ gỗ lắp ghép nổi tiếng thế giới IKEA lại diễn ra một cuộc thảo luận nhằm tìm ra một nơi mà giá nhân công thật rẻ để bù đắp các chi phí vận chuyển hàng đi khắp thế giới. Hiện nay, Việt Nam đang là “công xưởng” sản xuất phần lớn sản phẩm của hãng nội thất này. Chẳng có gì đảm bảo rằng ngày mai, IKEA sẽ không rời khỏi Việt Nam để đến một nước khác, cũng giống như công ty này đã từng rời Trung Quốc cách đây hơn một thập kỉ vì giá nhân công ở nước này tăng lên.  IKEA không phải là câu chuyện duy nhất. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày da, thủy sản, đồ điện tử… cho đến nay hầu như vẫn chỉ làm gia công cho các tập đoàn, công ty lớn của nước ngoài. Ngoài lao động giá rẻ, Việt Nam không đóng góp gì đáng kể vào giá trị gia tăng của chúng.  “Việt Nam không phải là người làm chủ vận mệnh của mình. Các bạn là người bị áp đặt giá cả (price taker) chứ không phải là người định đoạt giá cả (price maker)” – GS. Goran Roos nói. Là một trong những người sáng lập lĩnh vực vốn trí tuệ hiện đại (modern intelligent capital) và chuyên gia trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, ông đặc biệt chú ý đến chỉ số phức tạp của nền kinh tế (economic complexity index) của một quốc gia. Chỉ số này càng cao khi quốc gia đó sản xuất và xuất khẩu được càng nhiều những sản phẩm tinh vi, độc đáo mà ít nước khác làm được. Điều này có thể được phác họa bằng quá trình sản xuất tàu lặn loại thường (conventional submarines) với 315.000 linh kiện và 1.600 nhà cung cấp trong một hệ thống khép kín. Sản phẩm này chỉ có thể được tạo ra bởi một nền kinh tế liên ngành với một khối lượng tri thức khổng lồ.  Các sản phẩm xuất khẩu cũng thể hiện tri thức của một nước. Càng sản xuất được những sản phẩm tinh vi, phức tạp trong ngày hôm nay thì quốc gia này càng có cơ hội dẫn đầu trong tương lai. Nhưng những sản phẩm của Việt Nam, chủ yếu là hàng may mặc và thủy sản lại là những ngành có tính “biệt lập”, không có nhiều cơ hội liên kết với những ngành khác. Vì vậy, giải pháp để Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng, không gì khác là đầu tư vào nghiên cứu và sản xuất những sản phẩm có tính liên ngành cao.       10 quốc gia xếp hạng cao nhất về chỉ số phức tạp của nền kinh tế. Quan niệm cho rằng Singapore là một nước chỉ làm dịch vụ là không đúng. Nguồn: The atlas of economic complexity  Chúng ta đã tìm được giá trị lớn nhất của nguyên liệu này?     Nhưng nhận định trên không đồng nghĩa với việc Việt Nam cần “rời bỏ” hai lĩnh vực vốn là lợi thế so sánh của mình là may mặc và thủy sản, mà có thể dùng chúng như “bàn đạp” để tăng sự phức tạp của nền kinh tế. ”Chúng ta phải luôn tự hỏi bằng cách nào để có thể thúc đẩy giá trị gia tăng của sản phẩm mà chúng ta sản xuất? Làm những gì chưa từng làm cho chúng ta cơ hội nhận ra khả năng của mình” – GS. Goran Roos nói.   Ông đưa ra một số “góc nhìn” để vươn rộng tính liên ngành của các ngành nghề công nghệ thấp qua một ví dụ về lâm nghiệp. Góc nhìn thứ nhất, góc nhìn toàn cảnh: “Làm thế nào để có thể hạn chế tối đa việc thất thoát nguyên liệu trong quá trình sản xuất?” Gỗ thừa liệu có thể định hình lại để biến thành vật liệu xây dựng, bền, có khả năng chịu lửa, xây nhanh gấp nhiều lần nhưng lại rẻ hơn các vật liệu xây dựng khác ?. Góc nhìn thứ hai, góc nhìn hóa học: “Liệu có thể chuyển từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng xanh?” Góc nhìn thứ ba, góc nhìn phân tử: “Có thể thay đổi cấu trúc phân tử của nguyên liệu đang có thành một sản phẩm mới” Một công ty Thụy Điển biến vanillin, một phụ phẩm trong quá trình sản xuất giấy của mình trở thành vanilla, một trong những thành phần phổ biến nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo. Vanilla có giá trị gấp 8 lần vanillin và công ty này đã chiếm 40% thị phần vanilla trên thế giới. Góc nhìn thứ tư tương đương với góc nhìn thứ ba nhưng ở cấp độ nguyên tử. Chẳng hạn, sử dụng công nghệ nano để biến hỗn hợp cenlulose thành bông gòn cách âm hoặc một chất phụ gia để tạo ra món kem có calories bằng không. Các góc nhìn này có thể áp dụng với mọi lĩnh vực.  Đừng tập trung vào dịch vụ mà hãy tập trung vào sản xuất  Hai gợi ý phía trên của Goran Roos cho thấy các quốc gia nên tập trung vào ngành sản xuất thay vì dịch vụ. Từ trước đến nay, ngành dịch vụ được đề cao vì chiếm tỉ lệ lớn nhất trong nguồn nhân lực, nhưng đó là do năng suất của ngành này hầu như không đổi trong khi nhu cầu công việc liên quan đến dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, thời điểm hiện nay là lần đầu tiên trong lịch sử mà các ngành dịch vụ cũng chịu ảnh hưởng của công nghệ tương đương với các ngành sản xuất. Trong tương lai gần, công việc của ngành dịch vụ mặc dù tăng lên nhưng số người lao động trong lĩnh vực này sẽ giảm mạnh. Điều này đã và đang xảy ra với ngân hàng, ngành dịch vụ lãi nhất trong tất cả các ngành. Phần lớn các ngân hàng sẽ biến mất trong tương lai vì không kịp đón nhận sự trỗi dậy của các công nghệ tài chính.  Ngành sản xuất luôn là ngành thúc đẩy năng suất lao động của một quốc gia và có ảnh hưởng rộng khắp trên cả một nền kinh tế. “Không có internet của vạn vật nếu không có vật” – Goran Roos nói. Ông không giới hạn “vật” là những sản phẩm vật lý mà có thể là sản phẩm số. Cứ mỗi công việc trong lĩnh vực sản xuất lại tạo ra 2-3 công việc khác trong ngành kinh tế. Lĩnh vực sản xuất càng phức tạp, tinh vi và đòi hỏi kiến thức chuyên ngành sâu sắc, lại càng tạo ra nhiều công ăn việc làm trong xã hội, bao gồm cả ngành dịch vụ liên quan. Ở Thụy Điển, có 77% dịch vụ xuất khẩu gắn liền và không thể tồn tại nếu không có hoạt động sản xuất.  Trong tương lai, sản xuất và dịch vụ sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, diễn ra song song ở thế giới vật lý và thế giới số. Nhà máy sản xuất và sản phẩm đến tay người dùng có thể tồn tại ở dạng vật lý nhưng quá trình kiểm thử được diễn ra ở phần mềm mô phỏng, đến quá trình mua bán, quá trình giao tiếp, hướng dẫn khách hàng và bảo trì sản phẩm hoàn toàn được diễn ra tại các nền tảng internet và trên đám mây điện toán.  Nghiên cứu khoa học không đồng nghĩa với đổi mới sáng tạo  Australia là một nước có nền khoa học rất phát triển với các nghiên cứu có tính giá trị cao nhưng thu nhập chủ yếu dựa vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp, mức độ phức tạp của nền kinh tế thấp hơn cả Việt Nam do ít đổi mới sáng tạo. Đó là ví dụ cho thấy, có nghiên cứu tốt không đảm bảo rằng sẽ có đổi mới sáng tạo, “thậm chí là hai hoạt động này không hề có mối quan hệ tương hỗ với nhau” – GS. Goran Roos nói.  Vai trò của các trường đại học trong đổi mới sáng tạo không quan trọng như nhiều người vẫn tưởng. Phần lớn các đổi mới sáng tạo đều thực hiện trong khối tư nhân và chỉ 5% trong số đó có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu trong các trường đại học. Trên thế giới, ngoài Thụy Sĩ, trường đại học và khối tư nhân không thể hợp tác trực tiếp vì khó có tiếng nói chung  bởi doanh nghiệp cần giải pháp cho hiện tại trong khi các trường đại học thường chỉ có giải pháp cho tương lai rất xa.  Bên cạnh đó, kiến thức về công nghệ giữa doanh nghiệp và trường đại học có mức độ chênh lệch rất lớn mà cán cân nghiêng về phía khối tư nhân. GS.Goran Roos chia sẻ rằng một nhóm các nhà khoa học xuất sắc trên thế giới tới gặp ông để xin cấp vốn cho một dự án sử dụng nước ở nhiệt độ và áp suất rất cao để tách một hợp chất quan trọng ra khỏi quế. Nhưng họ không hề biết rằng, để chịu được áp lực nước cực lớn này ở quy mô công nghiệp, họ cần máy móc sản xuất làm từ titanium – một trong những vật liệu đắt nhất hiện nay, khiến giá thành sản xuất vượt quá cả giá trị sản phẩm!  Bên cạnh điều kiện cần về các nghiên cứu có liên hệ tới nền kinh tế đất nước và những chính sách khuyến khích của chính phủ, để các nghiên cứu ở đại học chuyển thành đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp thì luôn cần một bên thứ ba làm cầu nối, đó là các viện nghiên cứu ứng dụng. Các viện nghiên cứu này sẽ hiểu những nghiên cứu nào là tiềm năng trong các trường đại học và “chuyển đổi” nó thành giải pháp nào là phù hợp với doanh nghiệp.  Ông cho rằng, ở quy mô của Bộ KH&CN ở Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng cần phải có số liệu cụ thể về tất cả các hoạt động nằm thuộc quản lý của bộ, đồng thời biết rõ ai, tổ chức nào là “người chơi chính” trong lĩnh vực của mình, nắm giữ đủ kiến thức và nguồn lực có thể thúc đẩy sự thay đổi trong lĩnh vực KH&CN. Từ đó mới có thể tạo ra những chính sách tốt. Nếu không thì sao? “Thì sẽ tạo ra những chính sách của niềm tin. [Tức là] cứ làm chính sách đi đã, rồi chúng ta hi vọng những điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Nhưng thực tế là chúng sẽ không xảy ra.”  Những chính sách bị hiểu sai  Có ba loại chính sách mà chính phủ sử dụng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo quốc gia: chính sách cung cấp (Supply), chính sách thông tin (Information) và chính sách yêu cầu (Demand). Các quốc gia phần lớn đều tập trung vào các chính sách cung cấp để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ví dụ tiêu biểu của chính sách cung cấp chính là các khoản tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, cấp vốn và ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp triển khai các đổi mới sáng tạo. Rất nhiều nơi không chấp nhận những nghiên cứu thất bại nhưng về mặt nguyên tắc, các chính sách cung cấp có đặc điểm chỉ là công cụ thúc đẩy các hoạt động chứ không phải là công cụ tạo ra kết quả. “Tôi cho anh tiền để anh làm nghiên cứu chứ không phải tôi cho anh tiền để anh trả cho tôi một kết quả nghiên cứu thành công. Đó là hai quan niệm rất khác biệt”.- GS. Goran Roos cho biết.  Tuy nhiên, các chính sách cung cấp hướng tới doanh nghiệp, đặc biệt là ưu đãi về thuế để họ thực hiện R&D theo GS.Goran Roos là chính sách không hiệu quả (thực ra chỉ có ích cho duy nhất lĩnh vực công nghệ sinh học khi doanh nghiệp cần nghiên cứu lâu dài để ra sản phẩm). Có một nghịch lý là các quốc gia có mức độ R&D càng cao trong doanh nghiệp thì ưu đãi thuế của họ càng gần về 0 và ngược lại. Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo hữu hiệu nhất đối với khối tư nhân đó là loại chính sách yêu cầu mà cụ thể là chính sách mua sắm công (public procurement). Một trong những ví dụ “thành công vang dội nhất” của chính sách này là chương trình SBIR của Chính phủ Mỹ. Chương trình này có thể hiểu nôm na như sau, mỗi cơ quan nhà nước sẽ phải dành ra một phần nhỏ ngân sách của mình và đưa ra một vấn đề mà nếu giải quyết được sẽ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của họ. Đó phải là vấn đề thật độc đáo, chưa hề có lời giải trên thị trường. Tất cả các cá nhân hay doanh nghiệp đều có thể nộp đơn tham dự chương trình này và nếu trúng, họ sẽ phải giải trình với các cơ quan theo định kì về tiến độ của mình. Nếu giải pháp của họ thực sự giải quyết được vấn đề của cơ quan nhà nước yêu cầu, họ được quyền sử dụng chính các giải pháp đó để kinh doanh. Nếu thất bại, thì thôi. Chương trình này đã tạo ra nhiều công ty khởi nghiệp hơn tất cả các quỹ đầu tư mạo hiểm ở Mỹ cộng lại. Sau đó, phần lớn các nước châu Âu và Singapore đều học tập mô hình này của Mỹ.  Chính sách thông tin là chính sách bị bị nhiều chính phủ thờ ơ. Những công ty nhỏ thường không đủ nguồn lực để mua các nghiên cứu thị trường của các hãng lớn và chính phủ có thể thỏa thuận để mua lại và bán cho các doanh nghiệp với giá rẻ hơn rất nhiều. Điều này thực sự quan trọng vì nó giúp cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khoa học công nghệ có điều kiện nhìn những xu hướng trong 5-10 năm tới, yếu tố thúc đẩy thị trường, nhu cầu của người dân và như vậy, họ có những kế hoạch và quyết định chắc chắn hơn đối với công ty của mình.  Mấu chốt nằm ở đối thoại  Điều gì khiến một doanh nghiệp sợ hãi nhất? Đó chính là sự khó đoán của chính sách. Giá sản xuất cao cũng không khiến họ sợ bằng một chính phủ điều chỉnh chính sách liên tục. Mấu chốt của một chính sách tốt và bền vững, theo GS. Goran Roos, xuất phát từ việc đối thoại cởi mở giữa người làm chính sách và các đối tượng liên quan. “Hãy lắng nghe họ. Vì họ quan trọng!” – Ông nhấn mạnh điều này nhiều lần.  Thủ tướng Singapore từng tổ chức cuộc gặp với 1500 thành viên quan trọng đối với nền kinh tế từ các viện, trường đến doanh nghiệp (và chỉ có 10 người vắng mặt) để trao đổi về chính sách đổi mới sáng tạo. Có thể, những cuộc gặp gỡ quy mô lớn như vậy sẽ hạn chế việc chia sẻ của từng cá nhân, nhưng quan trọng là, chính phủ nhận diện được, ai, tổ chức nào là nhân tố chìa khóa quyết định đến đổi mới sáng tạo của từng quốc gia.  Ông cho rằng, ở quy mô của Bộ KH&CN ở Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng cần phải có số liệu cụ thể về tất cả các hoạt động nằm thuộc quản lý của bộ, đồng thời biết rõ ai, tổ chức nào là “người chơi chính” trong lĩnh vực của mình, nắm giữ đủ kiến thức và nguồn lực có thể thúc đẩy sự thay đổi trong lĩnh vực KH&CN. Từ đó mới có thể tạo ra những chính sách tốt.  Nếu không thì sao? “Thì sẽ tạo ra những chính sách của niềm tin. [Tức là] cứ làm chính sách đi đã, rồi chúng ta hi vọng những điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Nhưng thực tế là chúng sẽ không xảy ra.”    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Thấy lỗ đen gần trái đất bằng kỹ thuật săn ngoại hành tinh      Dải Ngân Hà được cho là chứa hàng trăm triệu lỗ đen nhưng mới chỉ có một ít lỗ đen được phát hiện – dẫu cho có ánh sáng tia X hay khí nóng bao quanh chúng. Hiện tại, các nhà thiên văn học đã tìm thấy một lỗ đen “tối” chỉ cách trái đất 1.000 năm ánh sáng. Đây chính là lỗ đen gần hành tinh của chúng ta nhất từ trước đến nay, thuộc một hệ sao có thể thấy được bằng mắt thường.        Hai ngôi sao sáng có quỹ đạo quanh một lỗ đen không thể quan sát trong một hệ ba HR 6819.  “Họ có bằng chứng tốt,” Todd Thompson, một nhà thiên văn học tại trường đại học bang Ohio, Columbus, nhận xét. “Tôi tin tưởng ở họ.”    Bản chất “vô hình” của phần lớn các lỗ đen làm nản chí các nhà thiên văn học. Họ chỉ có thể nghiên cứu về giai đoạn cuối của tiến hóa sao từ một số được tìm thấy khi đốt nóng một “đĩa phát triển dần lên” – tạo khí mà chúng hút thành xoáy. Dẫu vậy thì gần đây thì các nhà thiên văn học đã tìm thấy nhiều ứng viên không hề được bồi tạo như vậy, khi sử dụng một kỹ thuật mà họ vẫn dùng để tìm kiếm các ngoại hành tinh. Những người săn ngoại hành tinh thường tìm những cú chuyển theo chu kỳ trong tần số của ánh sáng từ những ngôi sao khi chúng chuyển hướng tới hoặc rời xa trái đất. Nó có thể do tác động của lực hấp dẫn từ tác động qua lại với một vật thể “bạn bè” có quỹ đạo không nhin thấy được. Một lực kéo nhỏ cũng chỉ dấu ra một hành tinh có khối lượng rất nhỏ; một lực kéo lớn có thể là dấu hiệu của một lỗ đen.  Thomas Rivinius, một nhà thiên văn học  tại Đài quan sát Nam Âu (ESO), và đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu một hệ sao đặc biệt mang tên HR 6819 theo cách này với việc sử dụng một kính viễn vọng 2,2 mét  ở Chile, do ESO và Hội Max Planck điều hành. Họ nghĩ đây là một hành tinh đôi, nhưng đây là một lỗ sâu đục lớn trong các chuyển pha ánh sáng theo chu kỳ của một trong những ngôi sao mà có thể chỉ ra sự hiện diện của chúng. Đó có thể là một hệ gồm ba phần, với một ngôi sao có chuyển động với quỹ đạo nhanh 40 ngày với một vật thể chưa nhìn thấy và một ngôi sao khác có khoảng cách xa hơn, quỹ đạo chậm hơn. Các tác giả đã trình bày như vậy trong bài báo xuất bản trên Astronomy & Astrophysics. Khối lượng của vật thể không thấy được đủ lớn – gấp bốn lần mặt trời, và nếu đó là một ngôi sao thì “chúng ta có thể thấy nó”, Rivinius nói.  Để chắc chắn vật thể này là một lỗ đen, các nhà nghiên cứu sẽ phải có một cái nhìn gần hơn vào hệ này. Họ đã sử dụng một giao thoa kế quang học của ESO, một thiết bị kết hợp ánh sáng của các kính thiên văn riêng rẽ để đạt được độ phân giải của một kính tiên văn lớn hơn. “Chúng tôi không thể thấy lỗ đen này,” Rivinius nói, nhưng họ có thể thấy được một trong những ngôi sao “có quỹ đạo của một thứ nào đó không có mặt ở đó.”  Nhóm nghiên cứu đã may mắn khi tình cờ “săn lùng” khắp một hệ, nhà thiên văn học Benjamin Giesers của trường đại học Göttingen. “Anh phải quan sát rất nhiều sao để tìm được một cái như ý”. Anh và đồng nghiệp đã nghiên cứu 25 cụm sao dạng hình cầu có mặt quanh dải Ngân hà và mỗi cụm sao đó chứa hàng ngàn ngôi sao. Năm 2017, họ đã tìm ra một lỗ đen có khối lượng gấp 4,5 lần mặt trời, có tác động qua lại giữa các ngôi sao cận kề.  Vào năm 2019, Thompson và đồng nghiệp đã có một cú may mắn, sau khi tìm kiếm dữ liệu từ Sloan Digital Sky Survey và sử dụng All-Sky Automated Survey for Supernovae để chọn lọc số lượng. Cuối cùng, họ đã tìm ra một ngôi sao khổng lồ quay với tốc độ cực nhanh tên là 2MASS J05215658+4359220 mà từ giao động của nó đã chỉ dấu một lỗ đen gần đó có khối lượng vào khoảng 2,5 lần mặt trời. Việc nghiên cứu các hệ như vậy và HR 6819 sẽ giúp cho các nhà thiên văn “hiểu về cách các sao đôi hoạt động và cách các lỗ đen hình thành,” Thompson nói. Phát hiện mới “là rất đáng giá”, ông nhận xét thêm. “Nó sẽ cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa”.  Tuy nhiên ông cũng đưa ra một lưu ý là nếu kiểm tra kỹ lưỡng hơn thì có thể phải loại đi một số ứng viên lỗ đen. “Tôi không nghĩ tất cả đều đúng. Anh cần phải phải biết hoài nghi”. Nhưng sự thân là những lỗ đen không được “bồi đắp” đang bắt đầu chứng tỏ sự hiện diện của mình trong những hệ đôi hoặc hệ ba, điều đó đề xuất là có thể có nhiều lỗ đen bị cô lập ở ngoài dải Ngân hà và một số còn có khoảng cách gần hơn với Trái đất hơn cả HR 6819.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/05/astronomers-find-closest-black-hole-earth-hiding-plain-sight    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thấy sự thay đổi của hạt hạ nguyên tử sang phản hạt và ngược lại      Các nhà vật lý đã chứng minh là một hạt hạ nguyên tử có thể chuyển thành phản hạt của chính nó và trở lại trạng thái ban đầu, trong một nghiên cứu mới.    Phép đo đạc chính xác một cách lạ thường do các nhà nghiên cứu Anh thực hiện ở thực nghiệm Máy gia tốc hạt lớn đẹp (Large Hadron Collider beauty LHCb) ở CERN. Nó đem lại bằng chứng đầu tiên về các hạt meson duyên có thể thay đổi thành phản hạt của mình và ngược lại.    Hiện tượng hỗn hợp  Trong hơn 10 năm, các nhà khoa học đã biết về các hạt meson duyên, những hạt hạ nguyên tử chứa một quark và một phản quark, có thể di chuyển như một hỗn hợp của các hạt và các trạng thái phản hạt của chúng.  Đó là một hiện tượng mà người ta vẫn gọi là hỗn hợp.  Tuy nhiên, lần đầu tiên, kết quả mới chứng tỏ, chúng có thể dao động giữa hai trạng thái đó.  Giải quyết những câu hỏi vật lý lớn  Với bằng chứng mới này, các nhà khoa học có thể giải quyết được một số câu hỏi lớn bậc nhất trong vật lý về cách các hạt hành xử bên ngoài Mô hình Chuẩn.  Một trong số đó là liệu các chuyển pha đó được tác động bởi những hạt chưa biết, chưa được lý thuyết giải thích hay không.  Nghiên cứu này được gửi đến tạp chí Physical Review Letters và trong thời gian chờ bình duyệt đã được đăng trên arXiv 1. Nó là kết quả của nghiên cứu do Hội đồng Các cơ sở KH&CN (STFC) tài trợ.  Trở thành hạt và hạt khác  Trong thế giới kỳ lạ của vật lý lượng tử, hạt meson duyên có thể cùng lúc vừa là chính nó và vừa là phản hạt của nó.  Trạng thái này, được biết đến với tên gọi chồng chập lượng tử, dẫn đến kết quả là hai hạt có khối lượng của chính mình – một khối lượng nặng hơn và một phiên bản nhẹ hơn của chính hạt đó.  Sự chồng chập này cho phép hạt meson duyên dao động thành phản hạt của mình và trở lại trạng thái cũ lần nữa.  Những khác biệt khối lượng  Sử dụng  dữ liệu thu thập được trong thời kỳ vận hành thứ hai của Máy gia tốc hạt lớn (LHC), các nhà nghiên cứu từ trường đại học Oxford đã đo đạc được sự khác nhau trong khối lượng giữa hai hạt. Sự khác biệt là 0,00000000000000000000000000000000000001 gram – hoặc tương đương với 1×10-38g.  Kết quả của một phép đo đạc chính xác và tất nhiên chỉ có thể khả thi khi người ta quan sát hiện tượng này rất nhiều lần. Điều này chỉ trở nên có thể với nhiều hạt meson duyên được tạo ra trên các va chạm ở LHC.  Vì phép đo đạc này ở mức độ vô cùng chính xác, nhóm nghiên cứu cũng cần đảm bảo là phương pháp phân tích thậm chí còn chính xác hơn thế nữa.    Một kỹ thuật mới  Để làm được điều này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một kỹ thuật mới được các đồng nghiệp tại trường đại học Warwick phát triển.  Chỉ có bốn dạng hạt trong Mô hình chuẩn được lý thuyết này giải thích là có thể chuyển chúng thành phản hạt của chính mình. Hiện tượng hỗn hợp này được quan sát lần đầu với các hạt meson lạ trong những năm 1960 và với các hạt meson đẹp những năm 1980. Cho đến tận bây giờ, người ta đã quan sát thêm một hạt khác trong số bốn hạt đó là có dao động theo cách này, đó là hạt meson lạ – đẹp, một phép đo đạc được thực hiện vào năm 2006.  Một hiện tượng hiếm gặp  Giáo sư Guy Wilkinson tại trường đại học Oxford, người đóng góp vào nghiên cứu này, cho rằng “Điều khiến phát hiện về dao động  trong hạt meson duyên trở nên vô cùng ấn tượng là, không giống như các hạt meson đẹp, dao động này rất chậm và do đó vô cùng khó để đo đạc trong thời gian để hạt meson phân rã. Kết quả này chứng tỏ các dao động đó rất chậm khiến phần lớn các hạt sẽ phân rã trước khi chúng có cơ hội dao động. Tuy nhiên, chúng tôi có thể xác nhận đó là một khám phá bởi thực nghiệm LHCb đã thu thập được rất nhiều dữ liệu”.  Giáo sư Tim Gershon của trường đại học Warwick, người phát triển kỹ thuật phân tích dùng để thực hiện đo đạc này, nói: “Các hạt meson đẹp được tạo ra bằng các va chạm proton–proton và chúng di chuyển trung vình chỉ vài milimet trước khi chuyển đổi, hoặc phân rã,  thành những hạt khác. Bằng việc so sánh các hạt meson duyên phân rã sau khi di chuyển một khoảng cách ngắn với hạt khác di chuyển trên đoạn đường còn ngắn hơn nữa, chúng tôi đã có thể đo đạc được đại lượng chính kiểm soát tốc độ của dao động hạt meson duyên thành meson phản duyên – sự khác biệt trong khối lượng giữa các phiên bản nặng hơn và nhẹ hơn này của meson duyên”.  Một cánh cửa mở ra cho những tìm kiếm mới  Khám phá về dao động meson duyên mở ra một pha mới và đầy thú vị của những tìm kiếm mới trong vật lý.  Các nhà nghiên cứu hiện tại muốn hiểu thêm về quá trình dao động, một bước tiến lớn có tiềm năng giải quyết bí ẩn về bất đối xứng vật chất – phản vật chất. Một điểm quan trọng để khám phá là liệu tốc độ chuyển pha hạt – phản hạt có tương tự như chuyển pha phản hạt – hạt hay không. Và đặc biệt là liệu các hạt chưa biết chưa được Mô hình Chuẩn dự đoán ảnh hưởng hay dẫn đến các chuyển pha này không.  Các phép đo đạc nhỏ nói lên những điều lớn lao  Tiến sĩ Mark Williams tại trường đại học Edinburgh, người tham gia vào Nhóm vật lý duyên LHCb để thực hiện nghiên cứu này, cho rằng “Những phép đo đạc nhỏ bé như vậy có thể nói với anh những điều vô cùng lớn lao về cũ trụ mà anh chưa từng chờ đợi”.  Kết quả 1×10-38g, vượt qua mức “năm sigma” của ý nghĩa thống kê, mức được đòi hỏi để các nhà nghiên cứu có thể đi đến tuyên bố về một khám phá mới trong vật lý hạt.  Hơn cả thông tin  LHCb là một trong bốn thực nghiệm lớn tại LHC ở CERN, Geneva, và được thiết kế để nghiên cứu về những phân rã của các hạt chứa đựng một quark đẹp. Mục tiêu ban đầu của LHCb là tìm hiểu về bất đối xứng vật chất – phản vật chất hoặc “vi phạm trái phải”.  Sau Big Bang, vật chất và phản chất chất được tạo ra với số lượng ngang bằng nhau nhưng khi gặp nhau, chúng triệt tiêu lẫn nhau. Vì chúng ta sống trong một vũ trụ có sự lấn át của vật chất, điều đó nghĩa là phải có một sự khác biệt tinh tế giữa vật chất và phản vật chất để cho phép vật chất tồn tại.  Các hạt mesons là một phần của một lớp hạt lớn tạo nên các hạt cơ bản mà chúng ta gọi là các hạt quark, và chứa một quark và một phản quark. Meson D0 bao gồm một quark duyên và một phản quark lên, và những phản hạt của chúng, còn meson phản D0 bao gồm một phản quark duyên và một quark lên.  Các nhà nghiên cứu đã thực hiện phép đo đạc này bằng thiết bị Vertex Locator (VELO) của LHCb.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-subatomic-particle-antiparticle.html  http://www.sci-news.com/physics/charm-meson-antiparticle-mass-difference-09747.html  ———–  1. https://arxiv.org/abs/2106.03744    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay thế chất nhuộm hóa học bằng chất màu tự nhiên      Với sự hỗ trợ từ Chương trình đối tác Đổi  mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), Công ty TNHH Dệt nhuộm Trung Thư  – Hưng Yên đã phối hợp nghiên cứu áp dụng thành công công nghệ nhuộm  vải bằng các chất màu tự nhiên thay thế chất nhuộm hóa học.       Tách chiết dịch màu từ nguyên liệu tự nhiên  Ngày nay, việc sử dụng rộng rãi các chất màu hóa học trong ngành công nghiệp thời trang và may mặc đang làm gia tăng hiện tượng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tại các con sông, suối, ao hồ.   Trước thực trạng như vậy, Công ty TNHH dệt nhuộm Trung Thư – Hưng Yên đã phối hợp với Ts Hoàng Thị Lĩnh – Giảng viên ĐH Bách Khoa Hà Nội và Công ty TNHH GoldenDolphin thực hiện nghiên cứu chất nhuộm màu tự nhiên thay thế chất nhuộm hóa học.  Con đường đến với nghiên cứu này của Ts Hoàng Thị Lĩnh bắt đầu từ năm 1996 khi bà được một số tổ chức phi Chính phủ mời tham gia vào dự án giúp dân tộc thiểu số nâng cao độ bền màu của thổ cẩm.  Với sự phát triển của vải sợi tổng hợp và chất màu hóa học cũng như giá thành của các sản phẩm thủ công khá đắt, các sản phẩm truyền thống ngày càng mai một. Thực tế hiện nay rất ít chất nhuộm tự nhiên được sử dụng để nhuộm các loại vải, kể cả tơ tằm. Đối với đồng bào thiểu số cũng vậy, họ thường dùng chất nhuộm tổng hợp, nếu dùng chất nhuộm tự nhiên thì chủ yếu là trong cây chàm.  Là chuyên gia trong lĩnh vực hóa nhuộm, trong quá trình tham gia thực hiện Dự án Thay thế chất nhuộm hóa học bằng chất màu tự nhiên – Phương pháp sản xuất sạch và hiệu quả hơn (từ năm 2012 – 2013), Ts Hoàng Thị Lĩnh đã phát hiện trong thiên nhiên có sẵn các nguồn nguyên liệu làm chất nhuộm. Trong phòng thí nghiệm, Ts Lĩnh đã sử dụng lá bàng, lá tre, lá thiên lý, lá xà cừ, lá găng, ngải cứu, lá bạch đàn, lá chè, lá hồng xiêm, vỏ cây xà cừ… để nhuộm vải sợi bông, lanh và vải tơ tằm. Ban đầu, bà làm bằng phương pháp thủ công: nấu lá lên để lấy dung dịch màu trong lá rồi nhúng vải vào nhuộm. Trong dung dịch màu có bổ sung một số chất làm tăng khả năng lên màu, đều màu, bền màu và tạo ra các ánh màu, gam màu khác nhau.  Ts Lĩnh dùng phương pháp tách chiết dịch màu như trên vì nếu tách chất màu trong lá rồi chế thành thuốc nhuộm tinh khiết sẽ rất tốn kém. Hơn nữa, trong dung dịch màu có nhiều tạp chất và những tạp chất này góp phần tạo ra những gam màu trầm, tự nhiên mà không thể có được nếu dùng thuốc nhuộm tổng hợp. Dung dịch màu được tận dụng tối đa vì nước đầu tiên sẽ được dùng để nhuộm màu đậm, những nước còn lại sẽ cho các gam màu nhạt hơn.  Theo thời gian, Ts Lĩnh đã phát triển được ý tưởng về công nghệ, vừa tách dịch màu, vừa nhuộm vải trên thiết bị công nghiệp với số lượng lớn. Nguyên liệu sau khi thu gom được đưa vào bộ phận phụ trợ bên cạnh máy nhuộm để chiết dung dịch màu. Sau đó, dung dịch được đưa trực tiếp vào máy nhuộm để nhuộm vải như phương pháp nhuộm thông thường.  Phát triển nhuộm màu tự nhiên theo quy mô công nghiệp  “Toàn bộ quá trình kỹ thuật nhuộm tự nhiên đã được các chuyên gia từ Khoa dệt may và thời trang, ĐH Bách khoa Hà Nội chuyển giao và cải thiện công nghệ nhuộm vải và lụa với chất màu tự nhiên chiết xuất từ lá cây có sẵn trong nước như lá chè, lá tre… Đây là công nghệ dựa trên những kỹ thuật truyền thống của người dân nhưng đã được cải tiến với kỹ thuật mới khiến cho sợi vải bền màu hơn. Quan trọng hơn nữa là công nghệ này có lợi thế là có khả năng bảo vệ da, chống vi khuẩn khi sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường”, Ts Lĩnh cho biết.  Việc áp dụng công nghệ mới này đã được các nhà khoa học Việt Nam kiểm định thành công trong việc nhuộm vải bằng các chất màu tự nhiên, lấy từ các loại cây trồng có sẵn và chất thải nông nghiệp trên quy mô rộng có độ bền màu cao để đáp ứng nhu cầu của thị trường đối với vải lụa và cotton.  Ts Lĩnh chia sẻ: hiện tại, nhu cầu sử dụng vải tự nhiên và thời trang sinh thái đang tăng cao trên toàn thế giới. Khi chúng tôi sản xuất được vải hoàn toàn từ tự nhiên (cả chất vải và thuốc nhuộm) và xây dựng được thương hiệu cho vải sinh thái sẽ mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu. Những sản phẩm này được khách hàng yêu thích vì có đặc điểm như mềm, mỏng và độ bền màu cao. Chất nhuộm tự nhiên thường có tính ổn định cao và duy trì được độ bền đẹp trong một thời gian dài. Ngày càng có nhiều khách hàng từ Nhật Bản và châu Âu đặt những sản phẩm này từ Việt Nam nhưng đến giờ, chúng tôi không có đủ để cung cấp. Theo đó, điều quan trọng là Việt Nam cần phát triển hình thức nhuộm này theo quy mô công nghiệp.  Sử dụng chất nhuộm màu tự nhiên giúp người dân tận dụng các nguồn chất thải từ sản xuất nông nghiệp như lá chè, lá tre… và những cây dễ trồng để cung cấp nguyên liệu cho việc chiết xuất màu. Thêm vào đó, việc áp dụng công nghệ này giúp khôi phục những làng nghề dệt vải truyền thống, làng nghề bông tự nhiên Trát Cầu, làng nghề Quất Động… và thúc đẩy sự phát triển của vải lụa nhằm đáp ứng nhu cầu đầu vào khi nhuộm tự nhiên với quy mô lớn.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay thế tế bào tủy xương bằng tế bào gốc kháng HIV      Theo các số liệu mới nhất từ WHO, khoảng 38,4 triệu người trên toàn cầu đang sống chung với HIV vào cuối năm 2021, trong số đó, khoảng 1,5 triệu là người mới nhiễm HIV trong năm. Kể từ khi xảy ra đại dịch AIDS, đã có khoảng 84,2 triệu người nhiễm HIV với khoảng 40,1 triệu trường hợp tử vong.    Trong nhiều năm, liệu pháp kháng virus(ART) – sử dụng kết hợp các loại thuốc chống lại virus HIV – đã được áp dụng nhằm làm giảm số virus trong cơ thể xuống mức gần như không thể phát hiện được, và ngăn không cho virus lây truyền sang người khác. Virus bị “nhốt” trong các ổ chứa trong cơ thể, nhưng nếu bệnh nhân ngừng liệu pháp ART thì virus có thể bắt đầu nhân lên và lây lan trở lại.    Chỉ khi ổ chứa này bị loại bỏ hoàn toàn, mới có thể coi là chữa khỏi bệnh. Thủ thuật thay thế tế bào tủy xương bằng tế bào gốc kháng virus HIV từ người hiến tặng có vẻ như đã làm được điều này trên bệnh nhân mới nhất, được gọi là “bệnh nhân Düsseldorf” – người đã ngừng điều trị ART vào năm 2018 mà vẫn không có virus HIV trong cơ thể kể từ đó.    Thủ thuật cấy ghép được sử dụng lần đầu tiên để điều trị cho Timothy Ray Brown, thường được gọi là “bệnh nhân Berlin”. Năm 2007, Brown trải qua quy trình cấy ghép tủy xương để điều trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính. Nhóm điều trị cho Brown chọn một người hiến tặng có đột biến gen CCR5Δ32/Δ32, có khả năng ngăn không cho protein CCR5 xuất hiện trên bề mặt tế bào. Trong khi đó, virus HIV sử dụng protein CCR5 để xâm nhập vào các tế bào miễn dịch. Vì vậy, đột biến làm cho các tế bào kháng lại virus HIV một cách hiệu quả. Sau thủ thuật, Brown ngừng điều trị ART và không còn virus HIV trong cơ thể cho đến khi qua đời khi 54 tuổi, vào năm 2020.    Năm 2019, các nhà nghiên cứu cho biết, quy trình tương tự có vẻ như đã chữa khỏi HIV cho một bệnh nhân Adam Castillejo ở London. Sau đó, năm 2022, các nhà khoa học thông báo một bệnh nhân ở New York không còn virusHIV trong cơ thể trong 14 tháng cũng có thể đã được chữa khỏi, mặc dù còn quá sớm để khẳng định.    Nghiên cứu mới nhất trên bệnh nhân Düsseldorf tiếp tục củng cố bằng chứng rằng CCR5 là mục tiêu khả thi nhất để điều trị HIV ở thời điểm hiện tại – theo Ravindra Gupta, nhà vi trùng học tại Đại học Cambridge, Vương quốc Anh, người dẫn đầu nhóm điều trị cho Castillejo.        Ở thời điểm được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính, bệnh nhân Düsseldorf có nồng độ HIV cực kỳ thấp, nhờ điều trị ART.    Năm 2013, một nhóm nghiên cứu – do nhà virus học Björn-Erik Jensen tại Bệnh viện Đại học Düsseldorf ở Đức đứng đầu – đã phá hủy các tế bào tủy xương bị ung thư của bệnh nhân Düsseldorf và thay thế chúng bằng các tế bào gốc từ một người hiến tặng có đột biến CCR5Δ32/Δ32.    Trong 5 năm tiếp theo, nhóm Jensen liên tục thử nghiệm mẫu mô và máu từ bệnh nhân. Trong những năm sau cấy ghép, họ tiếp tục tìm thấy các tế bào miễn dịch phản ứng đặc biệt với HIV, cho thấy một ổ chứa vẫn còn ở đâu đó trong cơ thể người đàn ông. Không rõ liệu các tế bào miễn dịch này đang tìm cách nhắm mục tiêu vào các hạt virus đang hoạt động, hay là một “nghĩa địa” của tàn dư virus, Jensen nói. Nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy DNA và RNA của HIV trong cơ thể bệnh nhân, nhưng chúng dường như không bao giờ tái tạo thành virus.    Trong nỗ lực tìm hiểu thêm về tác động của ca cấy ghép, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thêm các thử nghiệm, bao gồm việc cấy tế bào miễn dịch của bệnh nhân Düsseldorf vào những con chuột được chỉnh sửa gen để có hệ thống miễn dịch giống người. Virus HIV không thể sao chép ở những con chuột này. Thử nghiệm cuối cùng là cho bệnh nhân ngừng điều trị ART, và bệnh nhân Düsseldorf đến nay chưa xuất hiện virus HIV trong cơ thể. “Kết quả cho thấy không phải là không thể – chỉ là rất khó – để loại bỏ HIV khỏi cơ thể”, Jensen nói.    Các nhà nghiên cứu cho rằng, việc một số bệnh nhân đã được điều trị thành công bằng sự kết hợp giữa ART và cấy ghép tế bào gốc kháng HIV, có thể thấy cơ hội chữa khỏi HIV ở những người điều trị ART rất cao. Nhưng họ lưu ý thêm rằng trong một số trường hợp, virus biến đổi bên trong bệnh nhân và tìm con đường khác ngoài CCR5 để xâm nhập vào tế bào. Cũng chưa rõ liệu có phải hóa trị liệu mà những bệnh nhân ung thư nhận được trước khi cấy ghép tủy xương, đã giúp loại bỏ HIV bằng cách ngăn chặn các tế bào bị nhiễm phân chia hay không.    Ngoài ra, cấy ghép tế bào gốc là một thủ thuật rủi ro cao, cùng với khả năng bệnh nhân đào thải tủy của người hiến tặng. Một số nhóm nghiên cứu đang thử nghiệm quy trình lấy các tế bào gốc từ chính cơ thể bệnh nhân, biến đổi gen để có đột biến CCR5Δ32/Δ32, rồi cấy ghép trở lại. Cách này không cần người hiến tượng và giảm nguy cơ đào thải.    Jensen nói rằng nhóm đã thực hiện cấy ghép tế bào gốc từ những người hiến tặng có đột biến CCR5Δ32/Δ32 cho một số bệnh nhân khác bị ảnh hưởng bởi cả HIV và ung thư, nhưng vẫn còn quá sớm để đưa ra kết luận. Nhóm Jensen dự định nghiên cứu xem thủ thuật này có tác dụng trên bệnh nhân có lượng virus HIV lớn hơn tại thời điểm được cấy ghép hay không.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Thay vì hướng tới virus, thuốc nhắm đích vào… chúng ta      Khoa học đang tăng tốc trong thời kỳ đại dịch, các nhà nghiên cứu tại trường đại học Aarhus ở Đan Mạch sẽ khởi động một pha thử nghiệm lâm sàng cho một loại thuốc mang tên camostat mesylate vào ngày 3/4/2020 – một tháng sau khi bài báo của họ được xuất bản tên Cell chứng tỏ hợp chất này có thể ngăn ngừa virus SARS-CoV-2, không cho chúng bám vào các tế bào người.    “Nếu chúng ta muốn có tác động nào vào dịch bệnh đang lan tràn thì chúng ta phải hành động ngay”, Ole Søgaard, bác sĩ bệnh truyền nhiễm dẫn dắt nghiên cứu, cho biết.  Một nguyên nhân là các nhà nghiên cứu Đan Mạch có thể hành động rất nhanh là camostat mesylate đã được cấp phép tại Nhật Bản và Hàn Quốc để điều trị cho bệnh viêm tụy, một chứng viêm nhiễm trên tụy có tiềm năng gây chết người. Việc có đủ độ an toàn trong dữ liệu đã thuyết phục ủy ban đạo đức cấp phép cho ca thử nghiệm này.    Kevan Shokat, Trưởng khoa Tế bào và phân tử trường đại học California, San Francisco, và Nevan Krogan (trái), giám đốc Viện nghiên cứu Khoa học sinh học định lượng trao đổi về một loại thuốc điều trị coronavirus mới. Nguồn: ABC news  Pha thử nghiệm này đã vẽ ra một cách tiếp cận mới cho việc chống lại virus. Hàng nghìn nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đang tìm hiểu các loại thuốc hiện có như các liệu pháp tiềm năng cho COVID-19, phần lớn họ đều trông chờ vào các thuốc kháng virus như remdesivir, vốn được phát triển để điều trị Ebola, hoăch Kaletra, một loại thuốc kết hợp chống lại HIV. Nhưng Nevan Krogan, một nhà sinh học phân tử tại trường đại học California, San Francisco, thấy cơ hội khác: “Virus này không thể tự sống đúng không? Nó cần gene và protein của chúng ta để sống và sao chép.” Camostat mesylate là một trong số các ứng viên thuốc ngăn ngừa được các tương tác này. Chúng không hướng đích đến virus mà là chúng ta, vật chủ.  Để nhận diện các loại thuốc đó, các nhà khoa học nghiên cứu “điệu vũ” phân tử đầy phức tạp giữa một virus và các tế bào vật chủ của chúng. Ví dụ, các nhà khoa học đã biết chi tiết cách các virus corona khác lây nhiễm một tế bào như thế nào. Đầu tiên, một protein gai trên bề mặt của virus bắt lấy một thụ thể của tế bào người, ACE2, sau đó một protein khác của người là TMPRSS2 tách protein gai, cho phép virus hợp nhất với tế bào và bắt đầu sao chép bên trong nó.  Camostat mesylate chặn TMPRSS2; trong bài báo trên Cell, nhà sinh học phân tử Stefan Pöhlmann của Trung tâm nghiên cứu động vật linh trưởng Đức và đồng nghiệp đã chứng tỏ thuốc này giữ cho SARS-CoV-2 khỏi lây nhiễm cho các tế bào phổi trong phòng thí nghiệm. Vai trò thông thường của TMPRSS2 trong cơ thể người vẫn còn chưa rõ ràng, Pöhlmann nói. Loại chúng khỏi gene trên chuột dường như khiến chuột không bị nhiễm nữa.  Các bệnh nhân trong pha thử nghiệm tại Đan Mạch sẽ được nhận hai viên thuốc loại 100 milligram hoặc một giả dược ba lần một ngày trong năm ngày liên tiếp, lượng liều cao nhất được phép trao cho bệnh nhân viêm tụy ở Nhật Bản, và sau đó theo dõi các triệu chứng của họ. Liệu thuốc này sẽ chạm đến tế bào phổi mà virus hướng đến hay không vẫn còn là câu hỏi lớn. “Chúng ta có thể hi vọng là đây chính là trường hợp này,” Pöhlmann nói.  Các nhà nghiên cứu Đan Mạch đang lập kế hoạch để 180 bệnh nhân tham gia pha thử nghiệm này, với phân tích đầu tiên sau khi hoàn tất thời gian thử nghiệm và một tháng sau đó. Họ có thể biết liệu thuốc có hiệu quả trong vòng ba tháng không, Mads Kjølby, một nhà nghiên cứu tại trường đại học Aarhus và cũng tham gia vào nghiên cứu lâm sàng này, nói  Phòng thí nghiệm của Krogan đang trông chờ những protein trong tế bào người khác mà virus có thể lợi dụng. Để tìm thấy các protein đó – tiềm năng cho thuốc nhắm đích, phòng thí nghiệm của ông đã gắn một phân tử có khả năng loại protein khỏi virus, sau đó đặt các protein đó vào tế bào người, dùng nó như vật thu hút để đặt bất kỳ protein người nào mà chúng gắn với, và khôi phục chúng.  Phòng thí nghiệm của Krogan bắt đầu thực hiện nghiên cứu này từ ngày 24/1/2020, hai tuần sau khi trình tự gene đầu tiên SARS-CoV-2 được công khai trên ngân hàng gene. Một vài ngày sau đó, khi có bằng chứng rõ ràng là virus này đã lan tới California, Krogan nhận thấy thời gian đã hết. “Tôi tới phòng thì nghiệm và nói với mọi người là hãy dừng những việc đang làm để có thể tập trung suốt ngày đêm vào nghiên cứu này”, ông nói. Phòng thí nghiệm đã tạo ra một ít dữ liệu trước khi trường đóng cửa vào ngày 18/3/2020. “Đây thực sự là một cuộc chạy đua với thời gian.”  Trong một tiền ấn phẩm xuất bản trên bioRxiv vào ngày 22/3/2020, Krogan và một nhóm nghiên cứu gồm hàng chục nhà nghiên cứu quốc tế đã trình bày kết quả của họ: 332 protein trong tế bào người mà SARS-CoV-2 hướng tới. “Virus này thò ‘xúc tu’ của mình vào hầu hết các quá trình sinh học quan trọng,” Krogan nói, bao gồm sao chép DNA, túi dịch tiết tế bào và khung tế bào.   Với nhiều protein, “không có giải thích rõ ràng tại sao virus này có thể cần chúng,” đồng tác giả Marco Vignuzzi, một nhà vi trùng học tại Viện Pasteur Paris, cho biết. Một số có thể đơn giản là lỗi nhưng nhiều protein trong tế bào người có rất nhiều chức năng và không phải tất cả những chức năng ấy đều được rõ. “Virus này có thể  là ‘lợi dụng’ điều này để tấn công và khiến nó làm những điều mà thông thường nó không làm,” Vignuzzi nói.    Sau khi lục lọi tài liệu và hỏi các nhà khoa học khác trên thế giới, nhóm nghiên cứu cũng đã nhận diện được 69 loại thuốc có tương tác với 66 trong số các protein đó. Một trong số chúng là camostat mesylate và một có thành phần gần với nó là nafamostat mà có tác động với TMPRSS2 nhưng được dùng trong tĩnh mạch. Một loại khác là chloroquine (và hợp chất ‘chị em’ hydroxychloroquine), một loại thuốc từng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu là có thể hiệu quả với COVID-19 ngay cả khi chưa được chứng minh. Chloroquine làm giảm tính a xít trong nhân đơn bào (endosomes), các khoang mà tế bào sử dụng để xử lý vật liệu từ ngoài vào và thứ mà các coronavirus có thể dùng thay thế cho thụ thể ACE2 để bám vào một tế bào.  Hiện tại mới chỉ một tuần sau khi nhóm nghiên cứu của Krogan tập hợp danh sách và các nhà khoa học mới bắt đầu thử nghiệm tất cả các loại thuốc trong nuôi cấy tế bào, bao gồm nhiều loại thuốc chữa ung thư và haloperidol, một hợp chất sử dụng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt. “Đây là một bộ dữ liệu quan trọng,”  John Young, một người phụ trách các bệnh truyền nhiễm tại Roche Pharmaceutical Research& Early Development, nơi đầu tư một phần vào công trình của Krogan. “Mọi công ty trên thế giới giờ đang trông chờ vào dữ liệu này và nghĩ về những gì có ý nghĩa cho điều trị.”  Young cảnh báo là các thuốc hướng đích đến đối tượng chủ thường có xu hướng gây ảnh hưởng xấu hơn các liệu pháp điều trị hướng đến virus. “Bởi vì anh đang hướng đến đích đến là đối tượng chủ, đánh vào chức năng của tế bào chủ, nó cũng làm tăng nguy cơ rủi ro.” Krogan hi vọng việc tập trung vào các loại thuốc đã được phê duyệt như camostat mesylate, sẽ làm giảm đi nguy cơ đó.  Mặt khác, virus dường như ít có xu hướng phát triển kháng thể với các liệu pháp này bởi các protein được hướng đích đã được mã hóa trong hệ gene người chứ không phải virus. (Kháng thể là vấn đề lớn với kháng virus trong HIV, cúm và nhiều loại bệnh khác). Nếu các nhà nghiên cứu kiểm soát để hướng đích một protein trong tế bào người là trung tâm của những lây nhiễm coronavirus, nó có thể thậm chí dẫn đến một biện pháp trị liệu rộng hơn, Krogan nói. “Sau đó anh có thể có một phương thức điều trị cho cả COVID-22 hay COVID-24 hoặc bất kỳ loại virus nào.”  Nếu có bất kỳ sản phẩm hứa hẹn nào đó trong phòng thí nghiệm thì việc đưa chúng vào thử nghiệm lâm sàng càng nhanh càng tốt. Trong số 69 thuốc, có 27 loại đã được phê chuẩn, 14 đang thử nghiệm lâm sàng, và 28 dang được thử nghiệm tiền lâm sàng. Phần lớn đều là thuốc mới được nhận diện được khả năng cản trở virus, Stanley Perlman, một nhà nghiên cứu về coronavirus tại trường đại học Iowa, nói. “Có thể là nó hữu dụng nhưng có thể tương tự như remdesivir, chúng hầu như chỉ có tác dụng vào đầu thời kỳ lây nhiễm hoặc không giúp gì được nhiều,” ông lưu ý.  Perlman nói sự kết hợp nhiều loại thuốc với dạng điều trị nhắm đích vào tế bào chủ có thể suy yếu hệ miễn dịch. Cách tiếp cận này có thể được coi là nghịch lý nhưng hệ miễn dịch tự nó có thể biết nguyên nhân ảnh hưởng đến phổi của COVID-19 khi nó chống lại sự lây nhiễm, theo Susanne Herold, một chuyên gia về nhiễm trùng phổi tại trường đại học Giessen ở Đức. “Nếu đánh bại được virus này mà không cần đến sự phản hồi của hệ miễn dịch chủ, anh có thể không làm thay đổi được bất cứ điều gì,” Perlman giải thích. “Nếu anh ‘hạ thủ’ phản hồi hệ miễn dịch chủ mà không cần đến sự can thiệp của virus, anh có thể làm tăng cường sự sao chép của virus, vốn sẽ là một vấn đề thực sự.”  Các nhà nghiên cứu đang trông chờ một số hợp chất làm giảm bớt sự phản hồi miễn dịch. Họ đang cố gắng tìm ra, ví dụ liệu việc sử dụng các kháng thể để ngăn interleukin 6 hoặc bổ sung thành phần 5, hai phân tử tín hiệu đóng vai trò trong phòng vệ của miễn dịch ở người, có thể giúp người bệnh. Sự nguy hiểm là việc làm suy yếu hệ miễn dịch có thể khiến bệnh nhân mẫn cảm với các lây nhiễm khác, Herold lưu ý – ví dụ là các nhiễm khuẩn phổi.  Dù có bao nhiêu cách tiếp cận hiệu quả, tinh thần của nhóm hợp tác và tốc độ khám phá vẫn là tín hiệu tốt trong thời kỳ đen tối, Krogan nói. “Chúng tôi đã tải giải trình tự gene virus từ 24/1.2020 và chỉ hai tháng sau chúng tôi đã xét nghiệm thuốc ở Paris. Đây đúng là chuyện siêu thực!”  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/04/these-drugs-don-t-target-coronavirus-they-target-us    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thể chế với sự thịnh vượng của quốc gia      Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế.     Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới yếu tố địa lý, văn hoá, các thành tố dẫn đến việc hình thành các động cơ kinh tế và một số cơ may có được từ một số xã hội.  Thể chế kinh tế  Có giả thiết cho rằng sự khác biệt về thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản của các mẫu hình khác nhau trong tăng trưởng kinh tế. Cốt lõi của giả thiết này dựa trên luận điểm cách thức con người tổ chức xã hội của họ quyết định xã hội đó có thịnh vượng hay không. Một cách tổ chức xã hội khuyến khích mọi người đổi mới, chấp nhận rủi ro, tiết kiệm cho tương lai, học tập, giải quyết những vấn đề chung và cung cấp các hàng hoá công cộng… là một xã hội đạt tới mức thu nhập cao hơn. Ngược lại với cách tổ chức này thì xã hội đó sẽ rơi vào tình cảnh nghèo đói.  Ý tưởng về sự phồn vinh của một xã hội phụ thuộc vào các thể chế kinh tế, ít nhất đã được Adam Smith đề cập trong các cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương và vai trò của thị trường, và nổi bật hơn với luận điểm xã hội thành công về kinh tế khi họ có được thể chế kinh tế tốt. Chúng ta có thể cho rằng, thể chế kinh tế tốt bao gồm một số các sự vật có liên quan đến nhau. Đó là, quyền sở hữu phải được thực thi trên diện rộng trong một xã hội, để cho tất cả các cá nhân có cơ hội đầu tư, đổi mới công nghệ và các đổi mới đó tham gia vào các hoạt động kinh tế, có một mức độ hình đẳng về xã hội (kể cả bình đẳng trước pháp luật), ngăn chặn người có quyền lực thâu tóm các cơ hội đầu tư.  Một loại hình khác của thể chế kinh tế là thị trường. Các quan điểm truyền thống của các nhà sử học về tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh tới sự lan toả của thị trường, đại diện tiêu biểu của những quan điểm này là Pirenne (1937). Các mô hình về bẫy nghèo đói của Acemoglu (1995,1997), của Murphy và Shleifer (1989), dựa trên ý tưởng cho rằng thị trường không hoàn hảo có thể dẫn đến sự tồn tại của điểm cân bằng tối ưu Pareto. Kết quả là một quốc gia có thể gặp khó khăn trong một trạng thái cân bằng Pareto kém, gắn liền với nghèo đói. Nhưng để nhận ra bẫy nghèo đói, đòi hỏi phải có sự hợp tác các hoạt động mà thị trường không cung cấp. Các nghiên cứu được  khởi xứng bởi Banerjee và Newman (1993), Glor và Zeira (1993) dựa trên ý tưởng thị trường không hoàn hảo, vấn đề phân phối của cải cho những người có cơ hội đầu tư, cùng với việc phân phối thu nhập sai lệch thì xã hội đó sẽ bị mắc kẹt trong nghèo đói, nói khác đi là rơi vào bẫy nghèo đói.  Các lý thuyết này đưa ra một số mô hình thú vị về động cơ mong muốn phụ thuộc vào hành vi của một nhóm người khác hoặc phân phối của cải cho một nhóm người nào đó khi mà thị trường không hoàn hảo. Tuy nhiên, cấu trúc của thị trường là nội sinh, và được xác định bởi quyền sở hữu. Một khi cá nhân có quyền sở hữu an toàn và bình đẳng trước các cơ hội, động cơ sẽ tồn tại để tạo ra và cải thiện thị trường (mặc dù rất khó đạt tới một thị trường hoàn hảo). Vì vậy, sự khác biệt về thị trường là một kết quả của các hệ thống khác nhau về quyền sở hữu và thể chế chính trị tạo nên sự khác biệt giữa các nước về hoạt động kinh tế. Như vậy, vấn đề trọng tâm của thể chế kinh tế là những nội dung có liên quan tới việc thực thi các quyền sở hữu trên diện rộng trong các nhóm xã hội, tạo ra sự khác nhau về thu nhập.  Yếu tố địa lý  Trong khi các lý thuyết thể chế nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố do con người tạo ra, để hình thành các động cơ thì một lý thuyết khác lại tập trung vào vai trò tự nhiên có nghĩa là môi trường vật chất và vị trí địa lý. Trong bối cảnh hiểu biết về sự khác biệt giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tế, cách tiếp cận này nhấn mạnh tới sự khác biệt địa lý, khí hậu, sinh thái quyết định các sở thích và cơ hội của từng tác nhân kinh tế ở các xã hội khác nhau. Phương pháp tiếp nhận này gọi là giả thuyết địa lý. Hiện tại, có ít nhất ba phiên bản về giả thuyết địa lý, mỗi giả thiết nhấn mạnh một cơ chế khác nhau của yếu tố địa lý ảnh hưởng thế nào tới sự thịnh vượng của một quốc gia.  Thứ nhất, khí hậu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định tới nỗ lực làm việc, động cơ và năng suất. Nhiệt độ quá cao, làm cho cơ thể giảm sức mạnh. Vì vậy, sự kiệt sức sẽ làm giảm tinh thần hăng say, giảm sức sáng tạo, thậm chí làm cho con người không còn rộng lượng với nhau. Thực tế cho thấy con người ở xứ lạnh táo bạo và dũng mạnh hơn. Một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng là Marshall đã cho rằng thể chất phụ thuộc phần nào vào chất lượng của chủng tộc, một phần khác quan trọng hơn là phụ thuộc vào khí hậu.  Thứ hai, địa lý là yếu tố quyết định cho công nghệ phát triển tại một xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp. Khi bắt đầu của thời kỳ tăng trưởng kinh tế hiện đại, công nghệ của các vùng ôn đới có năng suất cao hơn so với vùng nhiệt đới. Khẳng định của nhà kinh tế học Sachs (2001) cũng giải thích sự chinh phục ồ ạt của người Châu Âu vào Châu Mỹ là do sự khác biệt về công nghệ. Châu Âu truyền thống là nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghệ trong nông nghiệp nhằm vào mục tiêu cung cấp thực phẩm. Tiến bộ công nghệ đã giúp cho Châu Âu khai phá các vùng đất mới tại các quốc gia Bắc và Nam Mỹ trong các thế kỷ trước.  Thứ ba, các giả thuyết địa lý đặc biệt phổ biến trong thập kỷ qua, liên quan tới gánh nặng bệnh tật. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Châu Phi cận Sahara, HIV đang làm giảm tốc độ tăng trưởng của Châu Phi.    Yếu tố văn hoá  Nghiên cứu nổi bật nhất về quan hệ giữa văn hoá và phát triển là của Weber (1930), ông lập luận rằng, nguồn gốc của công nghiệp hoá ở Tây Âu, xuất phát từ cải cách đạo Tin Lành. Theo quan điểm của ông, nhóm niềm tin về thế giới trong đạo Tin Lành, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đạo Tin Lành, nhấn mạnh tới ý tưởng của lý thuyết định mệnh ở chỗ, một số cá nhân được Chúa chọn và được ưu ái, trong khi những người khác thì không, và một phần của nhân loại được cứu rỗi, còn phần khác thì bị nguyền rủa. Những ai được chọn, còn ai thì không? Weber đã giải thích điều này là do thuyết định mệnh. Đạo Tin Lành dẫn đến một tập hợp các niềm tin, trong đó nhấn mạnh tới thành công về kinh tế là nơi phù hợp với sự lựa chọn của Chúa. Nếu so sánh với Đạo Tin Lành thì Công giáo và các tôn giáo khác thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển yếu hơn. Đạo Tin Lành khoan dung hơn với sự đổi mới.  Gần đây Landes (1998), cũng cho rằng nguồn gốc của sự thống trị kinh tế của phương Tây là do có một tập hợp tín ngưỡng về thế giới, và họ biết cách chuyển các niềm tin đó thành nỗ lực của con người. Ý tưởng về văn hoá ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bởi tôn giáo. Thường thì các nghiên cứu độc lập cố gắng giải thích sự phát triển là do các đặc điểm văn hoá ban đầu của một quốc gia, chủng tộc. Thí dụ, Mỹ Latinh nghèo bởi vì áp dụng di sản của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, trong khi Bắc Mỹ thịnh vượng là do áp dụng di sản Anglo-Saxon của nó. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu khác về nhân chủng học lập luận rằng, các xã hội có thể trở nên năng động khác thường với hoàn cảnh là do họ có một hệ thống niềm tin và cách thức hoạt động để phát huy thành công, tiến tới thịnh vượng. Ngược lại, các xã hội không thích nghi với hoàn cảnh thì rơi vào nghèo đói. Thí dụ, người nghèo ở vùng miền Nam nước Italia do chịu ảnh hưởng niềm tin vào các thành viên gia đình và từ chối hợp tác với người khác. Những xã hội như thế là thiếu hụt vốn xã hội. Mối tương quan giữa xã hội và tăng trưởng kinh tế là chặt chẽ, cùng chiều. Mức độ chặt chẽ khác nhau tạo ra các tỷ lệ tăng trưởng khác nhau.   Thể chế chính trị dân chủ và tăng trưởng  Quan điểm trung tâm cho rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên các thể chế chính trị dân chủ, và các thể chế đó vận hành có hiệu quả dưới chế độ dân chủ. Thể chế này bao gồm chế độ pháp quyền, bảo vệ quyền sở hữu, tự do cá nhân nhằm phát huy sáng tạo năng lực hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Trong công trình nghiên cứu của Iqbal, Jong-Ilyou (2001), tiến hành khảo sát 115 quốc gia trong thời kỳ 1960 – 1980 đã cho thấy các nước có mức độ chính trị dân chủ, mở cửa cao, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2,5 – 3%, so với mức tăng trưởng 1,4% của những nước có nền kinh tế thiếu dân chủ và đóng cửa với bên ngoài.   Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng kinh tế đã được một số tác giả tập trung nghiên cứu, dựa vào các yếu tố về pháp quyền, chế độ chính trị tác động tích cực đến mức nào tới tăng trưởng. Đại diện tiêu biểu nhất lý giải cho mối quan hệ này là North (1990). Theo ông thì pháp quyền được hiểu là quyền lực tối cao của định chế pháp luật, được củng cố nhờ bộ máy tư pháp độc lập thường là tam quyền phân lập, và thiết chế quan trọng để bảo đảm các quyền sở hữu. North cho rằng, các thiết chế dân chủ phải được xem là một phần của cơ sở chính trị pháp quyền. Hoạt động của thể chế dân chủ sẽ bảo đảm cho cạnh tranh chính trị công bằng hơn và không cho phép thế lực chính trị nào giành được quyền lực hơn để áp đảo thế lực khác. Nghiên cứu của ông đã đi đến kết luận rằng, thứ nhất thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng. Thứ hai, những nước có thể chế chính trị dân chủ và quyền tự do dân sự có lợi cho phát triển kinh tế. Thứ ba, những thành quả kinh tế đạt được to lớn hơn là do có môi trường kinh tế tự do hơn. Các kết luận này đã giúp cho các tổ chức quốc tế đưa ra một số giải pháp giúp đỡ cho các nước nghèo. Theo quan điểm của các tổ chức này, ưu tiên hàng đầu không phải là đẩy mạnh cải cách dân chủ ngay tức thì mà phải cải cách các thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Không nên hy vọng quá nhiều vào cải cách chính trị, do đó cải cách chính trị theo hướng dân chủ phải được tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế. Nhiều nước quá vội vàng thực hiện cải cách chính trị đã thất bại trong cải cách kinh tế, thí dụ là nước Nga trong đầu thập niên 1990 dưới thời Eltsin làm tổng thống.   Các bằng chứng hiện tại  Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giả thuyết thể chế kinh tế khác nhau tạo ra tỷ lệ tăng trưởng khác nhau và mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau.   Dựa vào chuỗi số liệu trong thời kỳ 1985-1995 về thu nhập bình quân đầu người và số liệu về quyền sở hữu chống lại rủi ro do quốc hữu hoá hoặc xung công. Các nước có quyền sở hữu an toàn (nghĩa là có thể chế kinh tế tốt hơn) sẽ có thu nhập bình quân đầu người cao hơn. Thí dụ đầu tiên về những thử nghiệm rõ ràng nhất về thể chế là trường hợp Hàn Quốc (Nam Triều Tiên).  Trước khi đi theo hai con đường phát triển khác nhau thì Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều chung một nguồn gốc văn hoá. Bắc Triều Tiên được thiên nhiên ưu đãi hơn về tài nguyên có các mỏ than trữ lượng lớn, vonfram, kẽm, magie, sắt, đường, vàng, muối, thuỷ điện… Hàn Quốc cũng có một số khoáng sản. Nếu so sánh thì thấy rằng cả hai đều có cùng khả năng về vị trí địa lý và tiếp cận thị trường, chi phí vận tải, nhưng về bất cứ phương diện gì khác thì Bắc Triều Tiên vẫn vượt trội hơn. Thí dụ, đã đạt tới trình độ công nghiệp hoá tương đối khi các công ty Nhật Bản mở rộng hoạt động trên miền Băc. Điển hình là nhà máy thuỷ điện trên sông Yalu lớn thứ hai thế giới lúc đó do tập đoàn Suiho xây dựng. Nippon Chisso, một tổ hợp hoá chất lớn thứ hai thế giới cũng hoạt động trên Bắc Triều Tiên, ngoài ra Chongjin là một cảng lớn trên biển Nhật Bản cũng ở đất Bắc. Mặc dù, miền Bắc có một số tiềm năng, Maddison (2001), ước tính rằng tại thời điểm chia cắt thì hai miền đều có mức thu nhập tương đương nhau. Nhưng đến cuối thập niên 1960 Hàn Quốc trở thành nền kinh tế thần kỳ ở châu Á, một quốc gia nổi lên nhanh nhất về sự thịnh vượng tại Đông Á, trong khi đó Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng kinh tế trì trệ. Năm 2000 thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 18.000USD, trong khi Triều Tiên là 1.000USD, tương đương với mức thu nhập của các quốc gia Châu Phi cận Xahara.Hàng triệu người thiếu đói lương thực.  Có thể lãnh đạo Kim Nhật Thành và các cộng sự của ông tin rằng các chính sách kinh tế theo mô hình Xô Viết tốt hơn cho đất nước. Tuy nhiên, những năm 1980 đã cho thấy các chính sách kinh tế của Chính phủ Triều Tiên là không hiệu quả. Tiếp tục đi theo đường lối kinh tế này, theo Acemoglu (2009) là do các nhà lãnh đạo muốn duy trì quyền lực và lợi ích riêng của mình mà quay lưng với lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Khi mà thể chế kinh tế chỉ phục vụ cho một nhóm người có quyền lực thì hầu hết các quốc gia đi theo mô hình thể chế đó đều có kết cục thất bại.   Hàn Quốc đã áp dụng thể chế kinh tế thị trường tự do cùng với quá trình dân chủ hóa đã đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ ở mức cao, hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, nhanh chóng trở thành quốc gia có nền công nghiệp hiện đại. Nhiều ngành công nghiệp như điện tử, ô tô, đóng tàu, hóa dầu…có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.   Nền văn minh duy nhất đáng lẽ có thể vượt qua châu Âu là Trung Quốc. Bảng liệt kê danh sách các phát minh của Trung Quốc khá dài như la bàn, giấy và mực in, kỹ thuật in, thuốc nổ, dệt lụa, sành sứ, xe ngựa… Vào thế kỷ 12, công nghiệp dệt của Trung Quốc đã vượt xa nước Anh, luyện thép tại Trung Quốc đã biết sử dụng than đá. Nhưng lịch sử công nghiệp hoá của Trung Quốc là những bước lùi do không có công nghệ mới. Bởi vì, Trung Quốc thiếu vắng thị trường tự do, nhà nước luôn can thiệp vào thị trường và hoạt động kinh doanh của tư nhân. Thứ hai, nhà nước đã cấm đoán nhiều hoạt động kinh tế, thao túng giá cả, tham nhũng và không muốn để cho tư nhân làm giàu. Thứ ba, cung cách làm việc theo kiểu truyền thống, bóp chết sáng kiến, làm tăng các chi phí giao dịch, loại bỏ các tài năng về công nghệ và kinh doanh khỏi lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Không có một biểu hiện nào của đời sống công cộng thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước, thể chế chính trị mất dân chủ đã ngăn chặn quá trình phát triển của Trung Quốc.   —-  * Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Acemoglu, Daron (2009), Modern Economic Growth, Princeton Iniversity press.  2. Acemoglu, Daron (1995), Reward Structures and the Allocation of Talent, European Economic Review, 39, 17-33  3. Acemoglu, Daron (1997), Training and Innovation in an Inperfect Labor Market, Review of Economic Studies, 64, 445-464  4. Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James A. Robinson (2002), Reversal of Fortune: Geography and Institutions in the Making of Modern World Incom Distribution, Quarterly of Journal of Economics 118, 1231-1294  5. Banerjee, Abihyit and Adrew F. Newman (1993), Ocupational choice and the Process of Development, Journal of Political Economy 101,274-198  6. Davis, Ralph (1973), The Rise of the Atlantic Economics, Cornell University Press  7. Galor Oded and Joseph Zeina (1993), Income Distribution and Macroeconomics, Review of Economic Studies 40, 35-52  8. Greif, Avner (1994), Cultural Beliefs and the Organization of Society, Journal of Political Economy 102, 912-950  9. Iqbal, Jong – Ilyou (2001), Democracy, Market Economics and Deverlopment: An Asian Perspctive, World Bank Press.  10. Knack, Steven and Philip Keefer (1997), Does Social capital have an Economic Impact? A cross – Country Investigation? Quarterly Journal of Economics 112, 1252-1288  11. Landes, Davids (1998), The wealth and The Poverty of Nations: Why some are so rich and some so poor, Norton & Co, New York  12. Maddision, A17. Maddision, Angus (2001), The world Economy: A Millenial perspective, OECD Paris  13. Murphy, Kevin J, Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1989) Industrialization and the Big Push, Journal of Political Economy, 97, 1003-1026  14. North, Douglas (1990), Institution, Instutution change, and Economic performance, Cambridge University Press  15. Pirenne, Henri (1937), Economic and Social History of Medieval Europe, New York, Brace & Co press  16. Trần Văn Trùng (2003), Quan hệ giữa thiết chế dân chủ với tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11-2002  17. Tân tử Lăng (2007), Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, NXB Thư tác Phường Hồng Kông. Thông tấn xã Việt Nam xuất bản.  18. Weber, Max (1930), The protestal Ethic and the Spirit of Capitalism, Allen and Unwin, London.       Author                Quản trị        
__label__tiasang The Coffee House và ước mơ của ông chủ trẻ      Năm 2018, Nguyễn Hải Ninh mới 31 tuổi nhưng đã đồng sở hữu một tài sản khá hấp dẫn: hơn 80 cửa hàng mang thương hiệu The Coffee House (tên đầy đủ là công ty trà cà phê Việt Nam) sau hơn 3 năm khởi sự mô hình này.      Tháng 1/2018, The Coffee House chính thức mua lại 33ha cà phê cùng với xưởng chế biến và kho trữ lạnh của Cầu Đất Farm. Ninh nói rằng, đây là bước khởi sự của hành trình mới “Từ trang trại đến ly cà phê”.  Hiện thời, chức danh của Ninh tại The Coffee House là giám đốc điều hành. Nói chuyện với Thế Giới Tiếp Thị, Ninh thú nhận: “Ban đầu không hiểu nhiều, biết nhiều về cà phê vì tôi không phải là “dân cà phê” nhưng khi đầu tư và điều hành hệ thống The Coffee House, có thêm chút hiểu biết về cà phê Việt Nam, tôi càng hứng thú với loài cây đặc biệt này. Nói thì có vẻ quá lời nhưng thật lòng là muốn làm nhiều hơn cho cà phê Việt Nam không chỉ tại thị trường trong nước mà còn với thị trường thế giới”.  Gần ba năm trước, với chút tham vọng bán cho khách hàng những ly cà phê “sạch – nguyên chất”, The Coffee House cùng với đối tác là Cầu Đất Farm hỗ trợ các nông hộ vùng Cầu Đất (Đà Lạt) kỹ thuật canh tác với lời cam kết thu mua cà phê nguyên liệu với mức giá cao hơn 10 – 20% thị trường. “Nhờ vậy mà nông dân yên tâm để sản xuất những hạt cà phê sạch. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm kiếm nguồn hàng từ những nhà thu mua có tên tuổi và uy tín ở Buôn Ma Thuột. Nhưng quả thật, chưa yên tâm lắm về chất lượng của ly cà phê nếu như chưa làm chủ hạt cà phê”, Ninh tâm sự. Theo lời ông chủ trẻ này, hiện The Coffee House đã có mặt tại nhiều đô thị lớn, ngoài Sài Gòn, còn có mặt tại Hà Nội và Đà Nẵng. Hiện tỷ lệ khách uống cà phê tại chuỗi này ước chừng 40%.  Tháng 1/2018, The Coffee House chính thức mua lại 33ha cà phê cùng với xưởng chế biến và kho trữ lạnh của Cầu Đất Farm. Ninh nói rằng, đây là bước khởi sự của hành trình mới “Từ trang trại đến ly cà phê”. Năm 2018, với quy mô mở thêm 80 cửa hàng, The Coffee House sẽ tiêu thụ 300 tấn cà phê nhân. Như vậy, với trang trại 33ha cà phê có sản lượng dự tính ước chừng 150 – 180 tấn nhân/năm, phần thiếu hụt còn lại, theo lời Ninh, tiếp tục hợp tác với các nông hộ để đáp ứng nguồn nguyên liệu theo tiêu chuẩn. Nói về trang trại cà phê mới, ông Ninh cho biết, trong năm 2018, The Coffee House sẽ sử dụng nguồn nguyên liệu sản xuất tại trang trại này với những nguyên tắc nghiêm ngặt trong canh tác và sơ chế: chăm sóc theo quy trình sản xuất sạch, hái bằng tay với tỷ lệ trái chín trên 95%, sơ chế “sạch và ngay” sau khi hái…  Chưa tính đến việc mở thêm quy mô trang trại, với trang trại tại Cầu Đất không chỉ tự lo nguyên liệu mà The Coffee House còn sử dụng vào những mục đích khác: sản xuất theo quy trình hiện đại để nâng cao giá trị hạt cà phê Robusta và Arabica của Việt Nam, bảo tồn giống Typica, Yellow Catuai cổ của địa phương, các giống cà phê nhập khẩu từ Costa Rica, thử nghiệm các phương pháp sơ chế từ các quốc gia cà phê nổi tiếng trên thế giới.  Nhưng giấc mơ của Ninh và The Coffee House không dừng lại ở thị trường nội địa. Ninh nói: “Về sản lượng, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê đứng hàng nhất nhì trên thế giới nhưng khi nói đến cà phê chất lượng cao, khách hàng thế giới chỉ nghĩ đến Kenya, Ethiopia… Hiếm nghe ai nhắc đến tên Việt Nam”.  Mục tiêu trong tương lai của The Coffee House là sẽ đem cà phê Việt Nam ra nước ngoài với tâm thế mới. “Chúng tôi vẫn đang tập tễnh học, thử và sai. Những việc mà The Coffee House đang làm hy vọng sẽ là nguồn cảm hứng để nhiều người vững tin đầu tư vào làm hạt cà phê Việt Nam chất lượng cao”. Nhưng những việc cụ thể như mở rộng vùng liên kết, xuất khẩu bằng nhân hay bột, với tên tuổi nào…, ông Ninh nói rằng đang tính nhưng có thể đó là “bí mật” trong chiến lược kinh doanh mà ông chủ trẻ của The Coffee House chưa tiện nói vào lúc này. Bởi thị trường cà phê nội địa hay xuất khẩu đang là “chiến trường khốc liệt với máu và nước mắt”…   bài, ảnh Song Minh (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới đua nhau xây dựng hệ thống điện thông minh      Các chính phủ đang trở thành một lực lượng  chủ đạo để xây dựng hệ thống điện thông minh, khởi đầu cho một xu hướng  phát triển có thể sẽ lan rộng trên thế giới.     Hệ thống điện thông minh (Smart power grids) là hệ thống điện sử dụng công nghệ thông tin, còn gọi là “lưới điện 2.0”, được xây dựng trên nền tảng thông tin hai chiều, thông qua hệ thống truyền dẫn và kỹ thuật đo lường, với thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hệ thống quản lý tiên tiến và cách sử dụng tiên tiến. Sử dụng hệ thống điện thông minh sẽ an toàn hơn, hiệu năng cao hơn, có khả năng tự phục hồi sau khi mất điện, chống được sự tấn công cố ý đối với hệ thống cả về mặt vật lý và mạng máy tính. Điện năng được truyền tải với chất lượng cao hơn, giảm chi phí sản xuất truyền tải nhờ phân hóa lượng điện tiêu thụ, và tiếp nhận được điện từ nhiều nguồn khác nhau. Hệ thống phát điện, truyền điện, biến điện, cấp điện, dùng điện, bao phủ các loại điện năng được thông tin hóa và tự động hóa một cách thống nhất, đem lại hiệu năng kinh tế cao, bảo đảm an toàn, đáp ứng được nhu cầu dùng điện của người dùng trong thế kỷ 21.  Nhiều quốc gia đã xác lập mục tiêu xây dựng mạng lưới điện thông minh quốc gia, vạch ra các lộ trình và kế hoạch đầu tư.   Mỹ: Theo Hiệp hội năng lượng mới Mỹ cho biết, nước này qua quá trình phát triển mạng và hệ thống 3G đã tích lũy được những kinh nghiệm phong phú đủ cho việc chuẩn bị bước phát triển hệ thống điện thông minh.   Viện nghiên cứu tiêu chuẩn kỹ thuật Quốc gia Mỹ (NIST) đã đề xuất ba giai đoạn xây dựng hệ thống điện, chỉ rõ 14 vấn đề cần ưu tiên nghiên cứu và những phương án giải pháp, phân tích các tiêu chuẩn an toàn tín hiệu.   Trung Quốc: Trưởng phòng nghiên cứu hệ thống điện thông minh Công ty lưới điện Quốc gia thuộc Bộ khoa học Trung Quốc Lâm Hoằng Vũ cho biết, trong kế hoạch 125 (5 năm lần thứ 12) của Trung Quốc thì Hệ thống điện thông minh quốc gia sẽ được đầu tư 286 tỉ nhân dân tệ.           Theo dự đoán của IDC Energy Insights về Mỹ  và EU, từ 2012 đến 2017, đầu tư cho hệ thống điện thông minh toàn cầu sẽ  tăng hơn 17%, trong đó khu vực Châu Á –Thái Bình Dương được đầu tư mạnh  nhất trong vòng 5 năm tới, với tỉ lệ tăng trưởng gần 34%.    Theo tổng hợp từ các tổ chức có uy tín trên  thế giới thì tới năm 2020 hệ thống điện thông minh trên thế giới sẽ được  đầu tư tới 250 tỉ USD.        “Hệ thống điện thông minh sẽ phát triển một cách nhanh chóng trong những năm tới. Đối với việc phát triển hệ thống điện thông minh trên toàn thế giới thì yếu tố quan trọng nhất vẫn là sự ủng hộ và thúc đẩy của chính phủ” Lâm Hoằng Vũ nói thêm.   Anh: Năm 2009 chính phủ Anh lần đầu tiên đề xuất việc thúc đẩy xây dựng hệ thống điện thông minh, đồng thời công bố báo cáo “Hệ thống điện thông minh: Một cơ hội” vào đầu năm 2010, trong đó đưa ra kế hoạch xây dựng hệ thống điện. Chính phủ Anh đang có chính sách hỗ trợ và cải tạo một số thiết bị nhằm đáp ứng xu hướng phát triển mới, trong đó bao gồm việc đầu tư xe điện thế hệ mới và xây dựng nền tảng hạ tầng cho hệ thống.  Anh đã đặt ra “Lộ trình điện thông minh năm 2050”, trong đó giai đoạn thứ nhất (năm 2010 đến 2020) chuẩn bị cơ sở hạ tầng và giai đoạn thứ hai (năm 2020 đến 2050) phát triển hệ thống năng lượng sạch, đồng thời tăng cường đồ điện năng thông minh, gia đình thông minh, ứng dụng hệ thống điện và pin ảo, thông qua thiết kế thông minh và thiết kế tăng điện áp, nâng cao sự khống chế đối với mạng lưới tự động hóa và thông minh hóa.   Pháp: Chính phủ Pháp cũng có chính sách ủng hộ hệ thống điện thông minh. Pháp là nước có nguồn năng lượng tự nhiên hạn chế, dầu và lượng khí thiên nhiên có hạn, năng lượng than cũng gần như đang cạn kiệt. Thúc đẩy phát triển năng lượng tái sinh và hệ thống điện thông minh, là một chính sách quan trọng mà chính phủ Pháp quan tâm.   Đức: Đức ít dùng từ “Hệ thống điện thông minh” mà dùng từ EEnergy có nghĩ là năng lượng thông tin. Để thúc đẩy tiến trình phát triển cho EEnergy thuận lợi, Chính phủ Đức đã mở ra một trang web tuyên truyền về những lợi ích của việc phát triển EEnergy. Từ tháng 8/2012 đến nay, chính phủ Đức đã đầu tư 1.4 tỉ Euro để thực thi “EEnergy” ở 6 địa điểm.   Năm 2011, sau sự cố Fukushima ở Nhật Bản, Đức đã gia nhập danh sách những nước từ bỏ hạt nhân, chuyển hướng sang năng lượng mới và xe điện. Một số tin tức mới đây cho biết chính phủ Đức đã đầu tư 10 tỉ Euro để đẩy mạnh kế hoạch xe điện, đặc biệt là nghiên cứu và phát triển kỹ thuật pin điện.   Nhị Giang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới mới của các ‘thượng đế’      Thế giới mới của các “thượng đế” – khách  hàng – đa dạng và không ngừng biến đổi. Bởi vậy, bộ óc của những người  lãnh đạo DN phải sắc bén, năng động và sáng tạo để giữ vững lợi thế cạnh  tranh.    Một điều rất hiển nhiên trong nền kinh tế thị trường là doanh nghiệp (DN) phải bán được hàng. Không có doanh thu thì chưa gọi là một DN.  Muốn bán được hàng, DN phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng – các thượng đế, với mức giá họ thuận mua; cho dù nhu cầu có thể ảo hay giá có thể trên trời. Do đó, tiếp thị chính là cỗ xe đưa DN về La Mã.  Thị trường hiện diện ngay cả khi “ngăn sông cấm chợ”  Một đại gia thuộc hàng top 10 người giàu nhất của Việt Nam kể cho tôi nghe về một khúc ngoặt của đời anh. Năm 1976, như nhiều người trẻ cùng thời ở miền Nam, anh suốt ngày la cà quanh cà phê vỉa hè để nghe ngóng thông tin và tìm cách ra đi.  Một ngày đẹp trời, tình cờ anh mua được một cuốn tiểu thuyết ấn hành hồi chế độ cũ. Đó là bản dịch cuốn The Godfather (Bố già) của tác giả Mario Puzo, một câu chuyện về xã hội đen của Mỹ. Xe đạp bị nổ lốp, anh quên cả chuyện vá xe, dắt tay đi bộ từ Chợ Cũ quận 1 về Chợ Lớn quận 5, vì quá say mê các tình tiết của truyện.        “Chương trình tiếp thị phải hiểu rằng người mua hàng cần  cảm giác là họ khôn ngoan khi lựa chọn hàng của bạn. Thương hiệu sẽ tồi  tệ đi nếu khách hàng nghĩ là mình đang bị lừa”.    Bindu Serthi        Trong tiểu thuyết có chi tiết tay trùm nấu rượu lậu, Vito Carleone lo lắng về việc chính phủ liên bang Mỹ sắp sửa bỏ đạo luật cấm rượu (Prohibition), đã thúc “đàn em” tìm cửa hối lộ các nghị sĩ, dân biểu… tìm cách giữ lại lệnh cấm. Vì khi thị trường mở rộng, đế chế nấu và bán rượu lậu của Carleone coi như hết thời.  Đọc đến đoạn đó, anh bạn tôi chợt thức tỉnh và có một khoảnh khắc “Eureka”. Anh suy luận là nếu “bố già” phải vất vả tìm cách giữ luật cấm để hưởng lợi; trong khi đó, ở Việt Nam khi ấy “cái gì cũng cấm” thì cơ hội thực ra là rộng khắp và cạnh tranh gần như không có.  Anh bỏ ý định ra đi và quay vào kinh doanh những món hàng cấm khan hiếm nhất. Từ những đôi dép cao su làm bằng lốp xe cũ, đến những dụng cụ nhà bếp làm bằng phế liệu chiến tranh, anh đã tạo một tài sản kếch xù nhờ lợi nhuận. Những quan hệ làm ăn sau đó giúp anh khuếch trương doanh nghiệp vững bền hơn và chính sách đổi mới lại một lần nữa đem đến cho anh nhiều cơ hội tuyệt vời để kiếm tiền.  Đây là một trải nghiệm kinh điển về thị trường. Đánh bắt đúng chỗ nhu cầu của người tiêu dùng, ở mức giá họ sẵn lòng chi trả là nguyên lý số một của bất cứ doanh nghiệp nào, dù là trong nền kinh tế thị trường hay XHCN.  Alan Phan, tiếp thị, khủng hoảng kinh tế, doanh nhân, đại gia, doanh nghiệp, khách hàng, thượng đế, bí quyết kinh doanh    Các tư duy cần thiết cho doanh nhân Việt  Những nguyên tắc tiếp thị hay chiến lược và trải nghiệm rất phong phú trong sách báo, trên mạng. Tuy nhiên, điều tôi muốn tập trung trong bài này là những “tư duy tiếp thị” sáng tạo, đặc thù và hiệu quả nhất trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và khủng hoảng địa phương.  Trong lý thuyết, căn bản của tiếp thị là biết rõ quy mô thị trường, cách tiếp cận khách hàng mục tiêu, khảo sát và định vị giá cả cho phù hợp. Và sau cùng là, một dịch vụ hậu mãi tuyệt vời để tạo thương hiệu. Chiến thuật 4P: product (sản phẩm), place (phân phối), price (giá cả), promotion (xúc tiến thương mại) là một công thức phải ghi nhớ để ứng dụng vào bất cứ thời điểm nào.  Ngoài những kiến thức nêu trên, tôi xin các doanh nhân Việt lưu ý về những khác biệt từ hoàn cảnh đặc thù của nền kinh tế và thói quen làm ăn còn thiếu bài bản của các doanh nghiệp nơi “quan hệ” vẫn còn chi phối lớn.  Thứ nhất: Kiểm định số liệu cẩn thận  Đừng để tâm đến các thống kê chính thức về vĩ mô. Trong công việc hàng ngày, các bạn giao tiếp với rất nhiều người, từ làm ăn đến xã giao. Qua đó, bức tranh các bạn tổng hợp về tình hình tăng trưởng, nạn lạm phát, tỷ giá, khuynh hướng đầu cơ và cơ hội kinh doanh khá phong phú và chính xác hơn nhiều những thống kê “tô hồng”.  Tuy nhiên, riêng trong các hiệp hội ngành nghề, nhiều chuyên gia đã soạn thảo rất công phu các thống kê và dữ liệu. Vì vậy, hãy đọc kỹ, kiểm định và sử dụng các con số này cho kế hoạch tiếp thị. Điểm yếu của nhiều doanh nhân là các căn cứ minh chứng cho chương trình tiếp thị khá chung chung và không thuyết phục về số liệu đưa ra.  Thứ 2: Đặt kế hoạch thực tế cho chương trình tiếp thị  Trong kinh doanh, một lộ trình rõ ràng là đòi hỏi số 1. Kế hoạch tiếp thị nằm trong kế hoạch kinh doanh lớn phải có đầy đủ chi tiết về quy mô thị trường, về khách hàng mục tiêu, về chiến thuật giá cả và thực trạng cạnh tranh.  Phải biết rõ những bước sắp tới nếu dự đoán được là thị phần sẽ tăng trưởng hay co cụm. Dữ liệu về nhu cầu và sở thích của khách hàng, phản ứng của đối thủ, cũng như các chương trình hậu mãi, phải được phân tích sâu rộng và ước tính trước.  Dĩ nhiên, mọi kế hoạch phải có ngân sách để đánh giá tính khả thi kinh tế. Số tiền chi ra phải thu về gấp 5 lần qua doanh thu, lợi nhuận hay thị phần.    Thứ 3: Tư duy toàn cầu dù chỉ nằm trong thị trường ngách  Dù chỉ tạm thời phân phối trong nội địa hay chỉ chuyên chú vào một thị trường ngách nhỏ, mọi DN Việt phải nghiên cứu và tìm cơ hội tại thị trường thế giới. Khởi đầu có thể chỉ là Lào, Campuchia, Myanmar…, nhưng phải lưu tâm đến các quốc gia ASEAN khác, rồi đến 4 thị trường lớn nhất thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu và Nhật Bản.  Chính phủ Việt Nam thường tổ chức các chuyến thăm viếng làm, ăn các tại các quốc gia nhằm hỗ trợ các DN tìm thị trường. Đây có thể trở thành cơ hội tìm đối tác và các mắt xích trong hệ thống phân phối, nếu bạn biết cách tận dụng.    Thứ 4: Lợi thế của cộng đồng Việt kiều  Cộng đồng hơn 4 triệu Việt kiều khắp thế giới là gần tương đương dân số Singapore (5 triệu). GDP của Singapore là 240 tỷ USD mỗi năm; GDP của khối Việt kiều, theo tôi ước tính, ít nhất là 160 tỷ USD. Đây là một thị trường các DN Việt có nhiều lợi thế cạnh tranh vì chung ngôn ngữ, văn hoá, truyền thống và tình quê hương.  Thêm vào đó, nhiều doanh nhân Việt kiều sẽ là đối tác, đầu mối và tư vấn về đủ mọi ngành nghề, rất dễ tiếp cận. Trên khắp thế giới, 42 triệu Hoa kiều đã góp phần không nhỏ vào hệ thống tiếp thị của hàng hoá Trung Quốc toàn cầu. Cộng đồng Việt kiều cũng có thể tạo ra những tác dụng tương tự cho hàng Việt Nam.  Thứ 5: Dùng đòn bẩy tối đa  Nguyên tắc sử dụng đòn bẩy tạo một thành công lớn lao gấp nhiều lần thực lực; nhưng cũng tạo nhiều rủi ro ngang tầm. Tuy vậy, ngoại trừ lĩnh vực tài chính, việc sử dụng đòn bẩy trong mọi lĩnh vực khác đều mang lại nhiều lợi thế hơn là nguy cơ.  Những lĩnh vực quan trọng phải dùng đòn bẩy là mạng lưới đối tác, khách hàng cũng như nhà cung cấp, các nhà tư vấn, các hiệp hội, các trường đại học, các cơ quan chính phủ và các công đoàn.  Tôi biết một số doanh nhân đã biến một công ty “ngắc ngoải” thành doanh nghiệp hàng trăm triệu USD. Chẳng hạn, một người bạn tôi từ Mexico từng mua lại một thương hiệu chết của Mỹ (YES jeans) với giá rất rẻ, 10.000 USD trong một cuộc đấu giá và biến nó thành chuỗi cửa hàng tại khắp Nam Mỹ vào thập niên 1970.    Thứ 6: Chiến thuật “du kích”  Ngay cả một công ty hàng đầu của Việt nam khi xâm nhập thị trường Mỹ cũng chỉ có năng lực của một công ty nhỏ và vừa (SME) tại đây. Do đó, chuyện đối đầu trực diện và áp dụng chiến thuật tiếp thị tương tự như các đại công ty Mỹ là gần như “tự sát”.  Theo quan sát của tôi, không có bất cứ thương hiệu Việt nào có đủ tài chính, hệ thống phân phối, sản phẩm đặc thù, sáng tạo và bộ máy hạ tầng để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường Mỹ.  Khi không thể đối đầu trực diện, bạn phải quay về với tiếp thị du kích (guerilla marketing). Để hiểu sâu rộng nhiều khía cạnh của guerilla marketing, các bạn phải nghiên cứu tài liệu, sách báo trên các trang tìm kiếm của mạng hay thư viện.    Thứ 7: Tiếp thị trong thế giới số  Tại các quốc gia châu Âu, Hoa Kỳ, Australia… số tiền chi cho quảng cáo trên các kênh truyền thống như truyền hình, báo giấy, thư mời, quảng cáo ngoài trời… ngày càng giảm dần. Chi tiêu quảng cáo và tiếp thị đang chuyển qua các mạng của thế giới số (digital world), từ trang tin, trò chơi, video đến các loại mạng xã hội, hệ thống tra cứu (search engines) sử dụng PC, máy tính bảng và điện thoại di động.  Chiến thuật tiếp cận trong thế giới số cũng khác xa những phương thức tiếp thị cũ. Nếu không đủ kỹ năng và kinh nghiệm, nên tìm đến các công ty tư vấn hay dịch vụ về online marketing.  ***  Thế giới mới của các “thượng đế” – khách hàng – đa dạng và không ngừng biến đổi. Bởi vậy, cũng như trong mọi lãnh vực khác, bộ óc của những người lãnh đạo DN phải sắc bén, năng động và sáng tạo để liên tục giữ vững lợi thế cạnh tranh.  Tuy nhiên, cách thức đã tạo hiệu quả trong quá khứ và cho tương lai sẽ vẫn là đi nhiều, đọc nhiều, học nhiều, thử nhiều và làm nhiều. Đôi khi chúng ta sẽ may mắn và tìm được một đột phá bất ngờ; nhưng mồ hôi và nước mắt vẫn là những tác nhân chính của thành công.  Thực ra, ai cũng hiểu cách chinh phục các thượng đế, vì chính chúng ta cũng là những thượng đế của người khác.  —  *TS. Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới sẽ đạt 8 tỷ người vào 15/11/2022: Có những cơ hội và thách thức nào?      Quỹ Dân số Liên hợp quốc khuyến nghị, cột mốc này đòi hỏi các quốc gia cần phải nỗ lực cải thiện chất lượng dân số.       Dân số toàn cầu dự kiến sẽ đạt 8 tỷ người vào ngày 15 tháng 11 năm 2022, theo Dự báo dân số thế giới năm 2022 (World Population Prospects 2022), do Liên Hợp Quốc công bố. Thời điểm mà thế giới chạm cột mốc quan trọng này vừa là khoảnh khắc vui mừng nhưng cũng là lời kêu gọi khẩn thiết cho nhân loại để cùng tìm kiếm những giải pháp giúp giải quyết những thách thức đang phải đối mặt.      Để có chất lượng dân số, các chính phủ phải thúc đẩy các giải pháp phát triển nguồn lực con người.    Cột mốc dân số thế giới đạt 8 tỉ người là một câu chuyện về thành công, theo Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA). Thế giới đã giảm được tỉ lệ nghèo đói và đạt được những tiến bộ vượt bậc về chăm sóc sức khỏe. Chúng ta đang có dân số đông đảo hơn bao giờ hết, một phần là do tuổi thọ tăng lên và giảm tỉ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh.    Những thách thức mà nhân loại phải đối mặt là hết sức cấp bách: các vấn đề có thể ảnh hưởng tới nhiều thế hệ như biến đổi khí hậu, xung đột, và COVID-19 – các vấn đề này đang gây ra những tác động không đồng đều tới những nhóm dân số yếu thế và dễ bị tổn thương. Cho đến nay, hàng triệu người vẫn tiếp tục sống trong cảnh nghèo đói và thiếu dinh dưỡng, không được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và bảo trợ xã hội, không thể hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học và trung học có chất lượng. Phụ nữ vẫn chưa được thực hiện quyền cơ bản là đưa ra quyết định về cơ thể và tương lai của mình, và chúng ta đang chứng kiến một sự tụt hậu đáng lo ngại về việc thực hiện quyền của phụ nữ ở nhiều quốc gia.    Quỹ Dân số Liên hợp quốc khuyến nghị, cột mốc này đòi hỏi các quốc gia cần phải nỗ lực cải thiện chất lượng dân số. Các Chính phủ thực hiện các chính sách dân số lấy người dân làm trọng tâm, cùng với việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục và quyền làm cốt lõi, khu vực tư nhân phát triển các giải pháp sáng tạo, khai thác sức mạnh của sự đổi mới và công nghệ vì lợi ích toàn cầu, giúp phát huy được nguồn lực con người mà 8 tỷ người có thể mang lại.    Các phát hiện chính của bản Dự báo dân số thế giới năm 2022:    1. Dân số thế giới được dự báo sẽ đạt mức cao nhất khoảng 10,4 tỷ người trong những năm 2080 và duy trì ở mức đó cho đến năm 2100.    Mất khoảng 12 năm để tăng từ 7 tỷ lên 8 tỷ, xấp xỉ thời gian từ 6 tỷ lên 7 tỷ. Một tỷ tiếp theo dự kiến sẽ cần khoảng 14,5 năm (2037).    2. Một nửa trong số 8 tỷ người được bổ sung vào dân số thế giới là kết quả của khuynh hướng nhân khẩu học ở Châu Á. Châu Phi đóng góp lớn thứ hai (gần 400 triệu người).  10 quốc gia đã đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng dân số từ 7 tỷ đến 8 tỷ. Cho đến nay, Ấn Độ là nước đóng góp lớn nhất, tiếp theo là Trung Quốc và Nigeria.Châu Phi và Châu Á sẽ thúc đẩy quá trnhf gia tăng dân số cho đến khi đạt được con số 9 tỷ người vào năm 2037.  3. Ngày nay, 2/3 dân số toàn cầu sống ở một quốc gia hoặc khu vực có mức sinh dưới 2,1 con trên một phụ nữ (còn gọi là mức sinh thay thế).    Tuổi thọ trung bình toàn cầu đạt 72,8 tuổi vào năm 2019, tăng gần 9 năm tuổi kể từ năm 1990. Nhưng vào năm 2021, tuổi thọ của các nước kém phát triển nhất đã tụt hậu 7 năm tuổi so với mức trung bình toàn cầu.    Ở nhiều nước đang phát triển, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (từ 25 đến 64 tuổi) ngày càng tăng.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Thế giới thần tiên của Hans Christian Andersen      Những người yêu những câu chuyện cổ tích của nhà văn Đan Mạch H.C. Andersen giờ có thể tới bảo tàng Hans Christian Andersen ở Odense và trải nghiệm các câu chuyện trong thế giới thực.      Bước vào vũ trụ thần tiên của  H.C. Anderson House tại Odense. Nguồn DW   Cô bé bán diêm, Nàng công chúa và hạt đậu, Chú lính chì dũng cảm, Nàng tiên cá: đó chỉ là một vài trong số những câu chuyện thần tiên nổi tiếng của Hans Christian Andersen. Về tổng thể, ông đã sáng tác khoảng 160 câu chuyện, được xuất bản thành tám tập từ năm 1835 đến năm 1848, và được dịch ra 120 thứ tiếng.  Nhiều câu chuyện của ông đã được chuyển thể thành kịch, phim hoặc thành các vở kịch hát, thậm chí thành phim hoạt hình như Nàng tiên cá. Những chuyện kể thần tiên của Andersen ngày nay đã trở thành một phần của văn học thế giới.     Nhà văn Andersen. Nguồn DW   Andersen đã lấy cảm hứng từ các chuyện cổ tích và thần thoại Scandinavia, Đức, Hy Lạp, từ thời cổ xưa đến Trung cổ. Những câu chuyện ngụ ngôn, những chuyện tình cờ có thật và cả những hiện tượng tự nhiên đã kích hoạt trí tưởng tượng của ông. Bằng nghệ thuật bậc thầy, ông đã hòa trộn những chất liệu khác nhau và những tác động khác nhau để sáng tạo ra các câu chuyện thần tiên mà chúng ta biết ngày nay. Nhưng người kể chuyện sinh ra trong một căn hộ nghèo vào năm 1805 này không chỉ viết những câu chuyện hư ảo mà còn sáng tác cả thơ, kịch, tiểu thuyết, dẫn chuyện tại các buổi biểu diễn nghệ thuật… Rất ít người biết điều đó.   Andersen yêu thích du lịch, ông đi rất nhiều, hầu như toàn bộ nước Đức để thăm thú bạn bè và những người bảo trợ của mình là Friederike và Friedrich Anton Serre. Đức là nơi đem lại danh tiếng cho Andersen thậm chí trước khi người Đan Mạch biết đến tài năng của ông –  ít nhất là trong thời kỳ của ông. Khi Andersen qua đời của tuổi 70 tại Copenhagen, ông đã là một nhà văn nổi tiếng ở tầm quốc tế. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ông tạ tgees, ngôi nhà nơi ông chào đời đã trở thành điểm hành hương của người yêu những câu chuyện ông kể. Vào ngày 30/6/2021, một bảo tàng đã được mở ở  Odense, thành phố quê hương ông: Nhà H.C. Andersen hay là “H.C. Andersen Hus” theo tiếng Đan Mạch.    Ngôi nhà nơi ông chào đời ở Odense. Nguồn DW   Mục tiêu của kiến trúc sư Nhật Bản Kengo Kuma và cộng sự của ông là không chỉ truyền đạt thông tin về Andersen mà như những gì ông đã kể, theo thông cáo báo chí. Thế giới bên ngoài bảo tàng và bên trong bảo tàng tự nó đã liên thông với nhau. Từ bên ngoài bảo tàng dưới lòng đất, nơi có một hồ nước trong lành trên nóc, du khách có thể ngắm bầu trời xanh giống như nàng tiên cá nhỏ bé từ câu chuyện cùng tên.  Được các kiến trúc sư cảnh quan thiết kế, “Khu vườn kỳ diệu” đặt trong lòng không gian thành phố Odense và được coi như một không gian công cộng của thành phố này. Những cái cây rực rỡ sắc màu, phong phú về chủng loại và ngát hương thơm tạo ra “sự đối lập giữa hài hòa và hỗn độn”. Những khu vực ngập nước với ánh sáng đan xen với những cái cây tán rộng hoặc hàng cây xanh lúp xúp được xén tỉa gọn gàng để hình thành những góc bất thình lình hiện ra trước mắt. Tại đây, cái tuyệt đẹp tồn tại cạnh cái kỳ lạ – giống như cảnh tượng trong những câu chuyện thần tiên của Andersen.     12 nghệ sĩ quốc tế đã tạo ra những công trình nội thất dành riêng cho bảo tàng. Tác giả Đan Mạch Kum Fupz Aakeson và đồng nghiệp người Mĩ của cô là Daniel Handler, nghệ sĩ có biệt danh là Lemony Snicket, đã cùng sáng tạo những trải nghiệm âm thanh khác biệt trong bảo tàng, nhà soạn nhạc Louise Alenius đã diễn dịch nội dung các câu chuyện thành âm nhạc, Chim họa mi, Nữ hoàng tuyết, Chú vịt xấu xí, và Nàng tiên cá.  Được truyền cảm hứng từ con chim én trong câu chuyện Cô bé tí hon, Veronica Hodges đã tạo ra một tác phẩm sắp đặt bằng giấy kỳ thú. Một nghệ sĩ sắp đặt khác người Brazil Henrique Oliveira đặt một cái cây sắp đặt cỡ lớn ở Odense, lấy cảm hứng từ Cái hộp kỳ diệu. Anh và đạo diễn phim ngắn Timothy David Orme đã cùng kết hợp để sáng tạo ra một cuộc chuyến phiêu lưu vào thế giới kỳ ảo của Andersen.     Bên trong bảo tàng có nhiều hình ảnh liên quan đến các câu chuyện của Andersen. Nguồn: DW  Bảo tàng này có khu vực dành riêng cho trẻ em, trong đó có một xưởng điêu khắc mang tên “Ville Vau”, nơi trẻ em có thể sáng tạo và tham gia vào hoạt động của xưởng. Nơi này có những mô típ từ các câu chuyện thần tiên của Hans Christian Andersen rất gần gũi với trẻ em.    Hans Christian Andersen có lẽ không bao giờ nghĩ rằng bản thân mình chỉ là một người kể chuyện cổ tích dành cho trẻ em. Những chi tiết mang hàm ý châm biếm xã hội hoặc trào phúng trong các câu chuyện của ông vốn được ông chủ ý dành cho những người đọc lớn tuổi, đã được nhấn mạnh như những chi tiết kỳ ảo và thần thoại.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.dw.com/en/the-fairy-tale-world-of-hans-christian-andersen/a-58109449  https://www.fastcompany.com/90651181/stunning-new-museum-brings-hans-christian-andersens-stories-to-life    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế hệ thuốc kháng sinh mới sẽ chiết xuất từ não côn trùng?      Gián có thể khiến da bạn sởn gai ốc, nhưng các loài côn trùng – hay nói chính xác hơn, óc của chúng – một ngày nào đó có thể dùng để cứu chúng ta        Đó là vì cơ quan thần kinh trung ương của các loài gián ở Mỹ sản sinh ra những liều kháng sinh tự nhiên có khả năng tiêu diệt vi khuẩn nguy hiểm đối với con người, chẳng hạn như Staphylococcus aureus (MRSA) với khả năng kháng thuốc methicillin, hay dòng vi khuẩn độc hại Escherichia coli.  Thí nghiệm mới đây trên hai loài châu chấu cũng cho thấy bộ óc bé nhỏ của chúng có chứa những phân tử giúp diệt vi khuẩn.  Những nghiên cứu này cho thấy rằng thế giới của côn trùng – vốn chiếm tới 80% các động vật trên Trái đất, có thể là kho chứa thuốc kháng sinh mới, khẳng định từ nhà đồng nghiên cứu Simon Lee, Đại học Nottingham, Anh.  Nghiên cứu mới này quan trọng, vì hiện nay các nhà khoa học đang phải vất vả tìm kiềm các loại thuốc chống lại những bệnh lây truyền như MRSA hay E. ecoli, vốn có khả năng chịu được các loại thuốc kháng sinh truyền thống, Lee nói.  “Đây là một hướng nghiên cứu triển vọng. Chúng tôi đang tìm kiếm ở một nơi khác thường, nơi mà tôi được biết là chưa có ai khác tìm kiểm”, Lee khẳng định.  “Đây là điều chúng ta đang cần trong lĩnh vực chế xuất thuốc kháng sinh, vì tất cả những nguồn thuốc thông thường” – như vi sinh trong đất, các loại nấm, hoặc các phân tử tổng hợp thuần túy – “đều đã được khai thác triệt để”.  Não của côn trùng với cơ chế “phòng vệ thông minh” chống lại vi khuẩn  Lee và các cộng sự đã tách các mô cơ khỏi não của gián – “nó có mùi tanh đúng như vẻ bề ngoài của loài côn trùng này”, Lee nói – và của châu chấu trong phòng thí nghiệm.  Nhóm nghiên cứu đã làm thí nghiệm với 9 loại phân tử kháng sinh riêng biệt trong não của các côn trùng này và phát hiện thấy mỗi loại phân tử phụ trách tiêu diệt một loại vi khuẩn riêng.  “Đây là cơ chế phòng vệ thông minh”, cho phép những côn trùng này tồn tại trong những môi trường kém vệ sinh nhất, Lee nói.  Các nhà khoa học chỉ tìm thấy các chất kháng sinh trong mô não của côn trùng, phần quan trọng nhất trong cơ thể chúng, ông cho biết.  Một côn trùng có thể sống với một cái chân bị nhiễm bệnh, nhưng nhiễm trùng ở não sẽ hầu như dẫn tới tử vong.  Sẽ mất vài năm để chế ra thuốc kháng sinh cho người từ não côn trùng, Lee nhận định, nhưng có một tin vui khác: khi nhóm nghiên cứu hòa kháng sinh chế từ côn trùng vào tế bào của người trong phòng thí nghiệm, thì không thấy có phản ứng nhiễm độc nào.  (Christine Dell’Amore, National Geographic News)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm dấu hiệu lo ngại về sự giảm tốc kinh tế TQ      Theo kết quả cuộc khảo sát điều tra của HSBC/Markit, Chỉ số quản lý sức  mua (PMI) trong ngành dịch vụ Trung Quốc trong tháng 1/2014 là 50,7%  (điểm), mức thấp nhất trong hai năm rưỡi qua, giảm từ các mức 50,9%  tháng 12/2013 và 52,5% tháng 11/2013.    Điều này làm tăng thêm lo ngại về tình trạng giảm tốc của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.     Bất chấp môi trường kinh doanh kém thuận lợi hồi đầu năm nay, các nhà cung cấp dịch vụ Trung Quốc tỏ ra lạc quan trong tháng Một vừa qua, khi nhìn chung đều dự kiến hoạt động kinh doanh trong năm tới sẽ gia tăng so với thời điểm hiện tại.     Sự lạc quan này phần lớn dựa trên những sự dự đoán về tình hình kinh tế đang cải thiện và những sản phẩm mới được tung ra thị trường.     Nhà kinh tế trưởng Trung Quốc Qu Hongbin của HSBC cho biết đà tăng trưởng chậm lại cho thấy sự tăng trưởng vừa phải của ngành chế tạo và tác động của các biện pháp kiềm chế tình trạng đầu tư tràn lan của chính phủ.     Trong bối cảnh lòng tin kinh doanh vẫn ổn định, dự kiến ngành dịch vụ Trung Quốc sẽ hồi phục chút ít trong những tháng tới, và một sự cải thiện có ý nghĩa dựa trên sự tăng trưởng mạnh hơn của ngành chế tạo và cải cách lĩnh vực dịch vụ.     Cơ quan Thống kê quốc gia Trung Quốc và Liên đoàn Thu mua và Hậu cần Trung Quốc mới đây công bố chỉ số PMI của ngành phi chế tạo Trung Quốc trong tháng 1/2014 giảm xuống 53.4, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2012.     Số liệu hoạt động về ngành chế tạo Trung Quốc mà các cơ quan chính phủ nước này và HSBC đưa ra đều cho thấy sự chậm lại trong tháng 1/2014.     Kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng chậm lại còn 7,7% trong quý 4/2013 (từ mức tăng 7,8% của quý 3/2013), và như vậy kinh tế nước này đã tăng trưởng 7,7% trong cả năm 2013, cao hơn chút ít so với con số mục tiêu 7,5% của chính phủ.     Mặc dù tăng trưởng GDP của Trung Quốc vẫn ổn định, song các nhà phân tích dự đoán đà giảm tốc sẽ tiếp tục diễn ra, khi nước này chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững hơn và thực hiện nhiều cải cách kinh tế.  Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/them-dau-hieu-lo-ngai-ve-su-giam-toc-kinh-te-trung-quoc/243067.vnp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm một điểm hẹn cho những người yêu sách      Tiếp theo Hội qu&#225;n S&#225;ng tạo tại vườn K&#237;nh Thi&#234;n, Trung Nguy&#234;n lại vừa khai trương C&#224; ph&#234; S&#225;ch trong khu&#244;n vi&#234;n Thư viện Quốc gia H&#224; Nội.     Trên một trong những con phố sôi động nhất của thủ đô là Hai Bà Trưng, Cà phê Sách hoàn toàn tách biệt bởi không gian yên tĩnh, thư thái, rộng khoảng 400m2, hứa hẹn sẽ trở thành điểm hẹn lý tưởng, nơi bạn vừa có thể thưởng thức cà phê vừa có thể đọc sách theo sở thích của mình. Chứa được đến 3.000 cuốn sách, nhưng những giá sách ở đây không choán ngợp, lấn át mà được bài trí khéo léo để không làm bận mắt, nhưng lại rất tiện lợi khi ai đó muốn kiếm tìm. Hiện nay số sách mới chỉ lấp đầy 1/3 các giá, nhưng người quản lý Cà phê Sách cho biết, chỉ vài tháng nữa, lấp đầy các giá sách sẽ là những tác phẩm có giá trị của nhiều loại sách: văn hóa – nghệ thuật, khoa học – kỹ thuật, đặc biệt là những sách kinh điển của những nhà xuất bản có uy tín trong và ngoài nước.  Một quán cà phê Sách nữa, nằm trong khuôn viên Thư viện Hà Nội, sẽ khai trương vào thời gian tới trong chuỗi quán theo mô hình mới của Trung Nguyên.                                                                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Theo dấu vết vật chất tối      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Johannes Gutenberg Mainz (JGU) đã tìm ra một cách dò các hạt axion, nhân tố quan trọng để họ tìm ra sự tôn tại của vật chất tối, thứ vật chất bí ẩn bậc nhất vũ trụ.      TS. Teng Wu là tác giả chính của công bố tìm vật chất tối ở trường đại học Johannes Gutenberg Mainz. Nguồn: ©Arne Wickenbrock, JGU  Vật chất xung quanh chúng ta ngày và đêm dưới tất cả các hình thức của nó – cây cối, nhà cửa, đồ đạc và thậm chí trong cả không khí mà chúng ta thở. Tuy nhiên theo các nhà vật lý, thứ vật chất hữu hình này mới chỉ chiếm xấp xỉ 20% trong tổng số các loại vật chất trong vũ trụ và 80% phần còn lại có thể là vật chất tối. Lý thuyết mà họ nêu được xây dựng trên cơ sở của rất nhiều quan sát vũ trụ, một trong số này là các ngôi sao và thiên hà ngày càng quay nhanh hơn nếu chỉ có vật chất thông thường hiện diện trong vũ trụ.   Vật chất tối có thể do các axion tạo ra  Theo thời gian, các nhà khoa học đã phát triển nhiều ký thuyết khác nhau để giải thích một cách chính xác thứ vật chất tối huyền bí có thể được làm từ những gì. Có rất nhiều ứng cử viên tiềm năng cho bài toán này, trong đó có các hạt nặng tương tác yếu (WIMPs). Các nhà nghiên cứu đã dành nhiều năm để cố gắng săn tìm bằng chứng với các máy dò hạt nhưng vẫn chưa thành công. Dẫu sao, nhiều năm qua, các nhà khoa học đã đề xuất một phương án – một loại hạt gọi là các hạt axions, vốn nhẹ hơn so với các loại hạt khác một cách đáng kể. Theo lý thuyết họ đưa ra, trường của các hạt này dao động, điều đó có nghĩa là nó biến đổi liên tục. Tần số của dao động này tỷ lệ thuận với khối lượng của các hạt và khi khối lượng ở mức cực thấp, tần số này cũng phải ở mức thấp. Nhưng không ai biết đúng liệu nó tồn tại hay có thực không. Vấn đề là dao động trường phải trải qua một chu kỳ đầy đủ khoảng một năm, bằng một nghìn tỷ lần một giây.   Dò các axions với hỗ trợ của sự thay đổi của spin hạt nhân  Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Johannes Gutenberg Mainz (JGU) đã tìm ra một cách dò các hạt axion với sự hỗ trợ của chương trình Thực nghiệm Tiến động spin Axion vũ trụ (CASPEr). “Chúng tôi đang khai thác tiềm năng của cộng hưởng từ hạt nhân,” giáo sư Dmitry Budker của Viện nghiên cứu vật lý tại JGU và Viện nghiên cứu Helmholtz Mainz giải thích. “Điều này nghĩa là có thể nhận biết spin của các hạt nhân trong phân tử hoặc đặc biệt trong trường hợp của chúng tôi, trong các đồng vị carbon C13 và hydrogen”. Giả thuyết cơ bản này là vật chất tối có thể ảnh hưởng đến spin của hạt nhân, do đó cung cấp cho các nhà nghiên cứu cách dò được nó. Từ trường của trái đất có thể ảnh hưởng đến spin này. Để tránh trường hợp này, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng lớp che chắn tinh tế để loại bỏ từ trường của trái đất; dẫu sao, ngay cả khi có lớp che chắn tốt nhất thì vẫn không phải là hoàn hảo. Các nhà vật lý phải quyết định tỷ lệ của những thay đổi spin quan sát được là do vật chất tối và phần còn lại là do từ trường trái đất. Do đó, nhóm nghiên cứu tại trường đại học Johannes Gutenberg Mainz tự phát triển cấu hình comagnetometer, một loại từ kế siêu nhạy. Nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật này dựa trên vấn đề là các phân tử nhìn chung có chứa nhiều loại hạt nhân nguyên tử khác nhau. Vì các hạt nhân khác nhau sẽ tác động đến từ trường và vật chất tối theo những phạm vi khác nhau, nên có thể phân biệt những ảnh hưởng này.   Mới nghiên cứu một phần biên độ tần số  Nhóm nghiên cứu tại Mainz đã tìm hiểu biên độ của các tần số từ một vài dao động mỗi năm tới 18 dao động mỗi giờ, tuy nhiên không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của vật chất tối. “Nó giống như đi tìm một cái nhẫn bị rơi trong một khu vườn rộng”, Budker so sánh. “Chúng tôi mới ‘đào xới’ một phần của khu vườn này. Điều đó cho phép chúng tôi xem xét một cách tỉ mỉ phạm vi mà trong đó, chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra hạt axion, và chúng tôi có thể tập trung nghiên cứu của mình vào những phạm vi khác”.   Thanh phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-07-tracking-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Theo dòng lịch sử về bơi lội      Những hoạt động tưởng chừng nhỏ nhặt như bơi lội cũng có thể hé lộ cho chúng ta nhiều điều về lịch sử, văn hoá, thậm chí cả tình trạng bất bình đẳng.     Các bằng chứng thời cổ đại  Khả năng bơi lội của con người thay đổi theo thời gian cùng với sự vận động của khí hậu và những khác biệt về văn hoá, địa lý. Dù không thể biết rằng loài người tiền sử biết bơi từ khi nào, nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng khoảng 100.000 năm trước, người Neanderthal sống ở khu vực ngày nay là Ý đã bơi một cách tự tin. Xương tai của họ cho thấy họ bị tổn thương tai khi lặn sâu 3 – 4 mét để tìm kiếm vỏ sò nhằm chế tác thành công cụ.  Trong Cực đại băng hà cuối cùng cách đây 23.000 năm, khi các sông băng chảy về phía nam đến Anh, bắc Đức, Ba Lan và bắc Nga, con người không thể bơi lội nổi dưới làn nước lạnh buốt. Do đó, trong hàng chục nghìn năm tiếp theo, con người không biết bơi.  Trên khắp lục địa Á – Âu, con người chuyển sang trồng lúa mì và kê để làm bánh mì, đồng thời bắt đầu ăn ít cá hơn, một loại thực phẩm giàu vitamin D. Để hấp thụ nhiều ánh sáng mặt trời và sản xuất đủ lượng vitamin D cần thiết cơ thể, con người có những thay đổi về mặt di truyền như màu da sáng hơn. Một phần trong số những người da trắng có làn da sáng hơn này sau đó di cư về phía nam và con cháu của họ, người Hy Lạp, La Mã, Scythia và Iran tiếp tục là những người không biết bơi cho đến cuối Thời đại Đồ đồng, ngay cả khi họ sống ở những nơi ấm áp trong Kỷ Băng hà.  Hàng ngàn năm nữa trôi qua, chúng ta có thể theo dõi dòng chảy lịch sử qua những bức tranh trên đá tại Tassili n’ Ajjer ở miền nam Algeria, mô tả những người đang di chuyển trong tư thế nằm ngang với hai cánh tay dang rộng. Rất có thể họ đang bơi.  Đến năm 8000 trước Công nguyên, trong Hang động của những người bơi lội (Cave of Swimmers) ở phía tây Ai Cập, ta có thể nhận ra những hình người nhỏ màu đỏ đang bơi.  Những người bơi lội trong Hang động của những người bơi lội tại sa mạc phía tây, Ai Cập. Ảnh: Wikimedia Commons  5000 năm nữa trôi qua, các văn bản và chữ tượng hình của người Ai Cập tràn ngập hình ảnh biểu trưng cho hoạt động bơi lội. Các vị vua Ai Cập bơi lội, người Ai Cập nghèo cũng bơi. Các cô gái và phụ nữ Ai Cập đã bơi, và rất có thể là Cleopatra đã bơi. Mark Antony biết bơi.  Bơi lội trở thành hoạt động phổ biến trên khắp lục địa Châu Phi, và những câu chuyện về bơi lội để vui chơi và giải trí cùng với săn bắn và kiếm ăn, được tìm thấy trong nhiều câu chuyện dân gian cổ xưa. Trong câu chuyện “Hai bà vợ ghen” của người Ethiopia, hai anh em sinh đôi khi bị ném xuống sông đã nhanh chóng được những người đang bơi cứu sống. Một câu chuyện hài hước của Tây Phi thì kể về người phụ nữ keo kiệt háo hức nhảy xuống sông để bơi hòng tìm một hạt đậu.  Bơi sải (overarm: cánh tay nhấc lên khỏi mặt nước và duỗi thẳng về phía trước qua vai) là kiểu bơi lâu đời nhất được ghi nhận. Trong các bức tranh của Ai Cập, Hittite, Hy Lạp và La Mã thời kỳ đầu, có thể nhận ra con người đang bơi, luân phiên nhấc hai cánh tay và đôi khi vẫy bàn chân. Những người bơi lội ở Hy Lạp và La Mã không được úp mặt xuống nước, và bơi ếch không xuất hiện trong các hình ảnh và câu chuyện cổ xưa.  Tác phẩm Phaedrus của Plato là tác phẩm duy nhất đề cập đến động tác bơi ngửa, mô tả một người đàn ông “nằm ngửa bơi ngược dòng nước”. Bơi nghiêng (sidestroke – cả thân người nằm nghiêng so với mặt nước nhằm hạn chế sức cản của nước) thường được dùng khi người bơi cần đẩy xuồng hoặc vận chuyển vật gì đó mà không muốn dính nước.  Một số nhà khoa học cho rằng người Assyria là những người đầu tiên tạo ra các thiết bị hỗ trợ nổi trên mặt nước, họ thường sử dụng một loại “phao” làm từ da dê để giúp họ nổi trên các con sông chảy xiết ở miền đông Syria và miền bắc Iraq.    Một chiếc thìa Ai Cập cổ đại có hình dạng của một người đang bơi lội. Ảnh: Bảo tàng Louvre/Wikimedia Commons  Phản ánh tư tưởng và văn hoá  Ở lục địa Á – Âu cổ đại, bơi lội còn phản ánh quan niệm, tư tưởng của người dân. Tại khu vực ngày nay là phía Bắc Trung Quốc, người dân không bơi lội, với họ nước rất thiêng liêng, có phần nguy hiểm, đôi khi liên quan đến ma thuật và không thể bị ô nhiễm bởi cơ thể con người.  Nhà sử học Hy Lạp Herodotus nhận xét rằng người Ba Tư tôn sùng nước, họ “không bao giờ đi tiểu hoặc khạc nhổ xuống sông, thậm chí không rửa tay trong một dòng sông; cũng không cho phép người khác làm vậy; họ rất tôn kính những dòng sông”.  Khả năng bơi lội đôi khi cho thấy địa vị, tầng lớp của một người. Phụ nữ Hy Lạp và La Mã giàu có thỉnh thoảng vẫn đi bơi. Cháu gái của hoàng đế La Mã Augustus có khả năng bơi lội cừ khôi. Khi bà bị tấn công, bà đã trốn thoát bằng cách bơi qua một cái hồ, những kẻ tấn công bà vì không biết bơi nên không thể đuổi theo.  Không phải người dân trong tất cả các nền văn hoá thời cổ đại đều thích bơi. Trên khắp châu Âu và Bắc Á, ở vùng Lưỡng Hà (Syria, Iraq và Kuwait) và Tây Nam Á, mọi người không biết bơi, họ sợ nước cũng như sợ những sinh vật có thật lẫn tưởng tượng sống dưới biển và hồ.  Có thể nhận thấy sự khác biệt về văn hóa thể hiện qua bơi lội xuyên suốt các câu chuyện lịch sử. Bơi lội không phải lúc nào cũng là đặc quyền của giới thượng lưu, ở một số khu vực, khả năng bơi lội bị so sánh với hành vi của động vật. Trên khắp các lục địa Châu Phi và Châu Mỹ, các nhà thám hiểm châu Âu thời trung cổ đã đề cập kỹ năng bơi lội của một người là lý do cho việc họ bị bắt làm nô lệ. Dù bị xem là một hành vi thấp kém, song các chủ sở hữu nô lệ vẫn mong đợi những nô lệ người Mỹ bản địa và châu Phi của mình biết bơi. Họ sẽ yêu cầu người nô lệ lặn để làm sạch tàu, làm nhân viên cứu hộ khi những người da trắng, trục vớt hàng hóa bị mất từ ​​​​vụ đắm tàu, làm thợ lặn ngọc trai.    J. Wesley Van der Voort, Pearl Divers at Work, 1883. Ảnh: Đại học Washington/Wikimedia Commons  Ngày nay, bơi lội vẫn nói lên nhiều điều về sự bất bình đẳng. Báo cáo của OECD vào năm 2022 cho thấy tại các nước có thu nhập thấp, với những người có trình độ học vấn tối đa là 8 năm, cứ bốn người thì chỉ có một người biết bơi – con số này ở các quốc gia phát triển là 59% – và phần lớn những người không biết bơi là trẻ em gái và phụ nữ. Tình trạng tư nhân hoá các bờ biển, bãi biển, cũng như việc xây dựng các con đập, đường xá, bến cảng, cũng khiến khả năng tiếp cận các khu vực sông nước tự nhiên trên toàn thế giới giảm đi.  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:   The earliest humans swam 100,000 years ago, but swimming remains a privileged pastime  Swimming skills around the world       Author                .        
__label__tiasang Theo đuổi sự khác biệt      Để tạo ưu thế cạnh tranh với các cơ sở nghiên cứu trong nước và khu vực cùng lĩnh vực, Phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm (ĐHQGHN), một mô hình hợp tác thành công giữa trường đại học và doanh nghiệp, đặt mục tiêu tạo ra sự khác biệt bằng việc phát triển các kỹ thuật phân tích mới.      GS. TS Phạm Hùng Việt và các cộng sự bên thiết bị sắc ký lỏng.   Bước ngoặt của phòng thí nghiệm triệu đô  Cách đây hơn 15 năm, khi nhận thấy nhóm nghiên cứu do GS. TS Phạm Hùng Việt dẫn dắt tuy mới thành lập nhưng đã có công bố tốt trong lĩnh vực địa hóa môi trường và ô nhiễm hữu cơ, tập đoàn thiết bị khoa học Shimadzu (Nhật Bản) đã quyết định đầu tư hơn một triệu đô la vào phòng thí nghiệm của nhóm, một khoản đầu tư mơ ước đối với bất cứ nhóm nghiên cứu nào của Việt Nam vào thời điểm đó. Phần lớn tài trợ này đều dưới dạng cung cấp các trang thiết bị, máy móc, hóa chất do tập đoàn sản xuất nhằm hỗ trợ nhóm triển khai các công trình nghiên cứu về ô nhiễm asen trong các tầng nước ngầm và các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) theo Công ước Stockholm. “Nhờ vậy, chúng tôi đã có thể chủ động thực hiện nhiều thí nghiệm phân tích các mẫu trầm tích, mẫu nước trên các máy móc của Shimadzu như sắc ký lỏng… Theo cách đó, một số công bố quan trọng của nhóm trên Nature, PNAS, Environmental Science and Technology… đã được bắt rễ ngay tại Việt Nam”, GS. TS Phạm Hùng Việt cho biết.  Mô hình hợp tác trường viện với doanh nghiệp như thế này khá phổ biến trên thế giới nhưng xuất hiện chưa nhiều ở Việt Nam, nhất là vào thời điểm 15 năm trước đây. Vậy các nhà nghiên cứu đã làm cách nào thuyết phục được Shimadzu đầu tư? Giáo sư Việt chia sẻ, “đó là việc tạo được niềm tin là mình có khả năng sử dụng tốt các tính năng máy móc thiết bị của họ và làm ra nhiều sản phẩm nghiên cứu trên những máy móc đó. Khi xuất bản công bố, mình không quên cảm ơn họ, ví dụ như thí nghiệm này thực hiện trên thiết bị nào, và thi thoảng giúp họ tập huấn khách hàng sử dụng máy móc trong phòng thí nghiệm của mình”. Ngoài nhóm nghiên cứu của giáo sư Việt, Shimadzu còn đầu tư vào một số phòng thí nghiệm khác ở Indonesia và Malaysia, tuy nhiên chưa mô hình nào đạt được thành công hơn.  Nhu cầu đổi mới của nhóm đã gặp chủ trương của ĐHQGHN là đầu tư nâng cấp các nhóm nghiên cứu mạnh để tạo hệ thống PTNTĐ cấp trường, nơi có khả năng tạo ra những sản phẩm KH&CN ở tầm quốc gia và quốc tế. Vì vậy, kể từ tháng 11/2016, nhóm nghiên cứu đã mang tên mới, PTNTĐ công nghệ phân tích phục vụ cho kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm, và nhận được khoản đầu tư mới từ cơ quan chủ quản, 12 tỷ đồng cho máy móc thiết bị như sáu PTNTĐ khác của trường.  Điểm nổi trội của PTN do giáo sư Việt làm giám đốc so với các PTNTĐ khác là thuyết phục được tập đoàn Shimadzu tiếp tục tài trợ. Theo thỏa thuận mới, Shimadzu sẽ đầu tư 30 tỷ đồng vào hệ thống cơ sở vật chất của PTN, chủ yếu vẫn là cung cấp một số thiết bị phân tích theo model mới nhất do tập đoàn sản xuất (cùng kinh phí bảo dưỡng), còn ĐHQGHN sẽ có vốn đối ứng là 40 tỷ đồng. Như vậy, đây là lần thứ hai kể từ ngày thành lập, các nhà nghiên cứu có thể làm việc trong phòng thí nghiệm với thiết bị trị giá triệu đô do cơ quan chủ quản và doanh nghiệp cùng san sẻ kinh phí.  Phát triển các kỹ thuật phân tích khó  Nhận một khoản đầu tư lớn như vậy, PTNTĐ công nghệ phân tích về kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm sẽ phải làm ra những sản phẩm tương xứng nào? Theo quan điểm của ban giám đốc, mục tiêu mà PTN hướng tới là phải có những công bố chất lượng cao và những sản phẩm công nghệ phục vụ đời sống xã hội. Vì vậy, PTN đã quyết định tập trung vào hai lĩnh vực chính là kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm. Lý giải về lựa chọn này, GS. TS Phạm Hùng Việt, giám đốc PTN cho biết: “Qua các vụ ô nhiễm nước ở nhiều địa phương và ‘nước mắm chứa asen’ trong thời gian gần đây, có thể thấy nhu cầu của xã hội về kiểm định những chỉ tiêu như hocmon kích thích sinh trưởng, dư lượng kháng sinh, dược phẩm, các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, kim loại nặng trong thực phẩm và môi trường rất lớn. Do độc tố thường xuất hiện trong các mẫu với hàm lượng ở mức phần tỷ nên việc phân tích chỉ có thể thực hiện được tại các PTN phân tích hiện đại với các thiết bị như sắc ký lỏng, sắc ký khí ghép nối khối phổ ba lần, quang phổ phát xạ cộng hưởng plasma… và do các nhân viên có tay nghề cao vận hành”.  Việc chuyển hướng nghiên cứu còn dựa trên kinh nghiệm rút ra từ hoạt động của nhiều PTN tiên phong trên thế giới về khoa học phân tích và cả những khảo sát thực tế mà giáo sư Việt và cộng sự tiến hành. Qua khảo sát, ông nhận thấy ở cấp trung ương, các PTN của Bộ Y tế và Bộ TN&MT đều quá tải về lượng mẫu phân tích còn ở các địa phương, nhu cầu xây dựng thêm các PTN vẫn phát triển hàng năm. Ông nhận xét, “do yêu cầu về chất lượng sản phẩm và an toàn cho người tiêu dùng, các công ty sản xuất phải áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp. Trên thực tế, các sản phẩm hết sức phong phú, nhu cầu phân tích lại đa dạng nên cần có các PTN chuyên sâu đủ năng lực về con người và thiết bị để phát triển các qui trình và phương pháp phân tích mới đáp ứng kịp thời”.  Do đó, hướng tiếp cận thị trường của PTNTĐ công nghệ phân tích phục vụ cho kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm là thương mại hóa các phương pháp phân tích đặc thù và mở thêm dịch vụ đào tạo nhân lực phân tích, đây cũng là cách các PTN khoa học phân tích trên thế giới đã làm, ví dụ như FAPAS (Anh) trở thành nơi cung cấp dịch vụ kiểm định, đào tạo, phát triển phương pháp phân tích cho các PTN khác. Muốn làm theo cách này, giáo sư Việt và cộng sự phải tạo được sự khác biệt bằng việc làm chủ những kỹ thuật phân tích mới và khó mà các PTN thông thường tại Việt Nam, thậm chí là khu vực, chưa thực hiện được, ví dụ kỹ thuật phân tích định tính lượng vết, siêu vết các chất có hoạt tính sinh học, kỹ thuật ghép nối hai chiều GCx GC-MS/MS, LCx LC-MS/MS… để nghiên cứu cấu trúc các chất mới trong nền mẫu phức tạp hay tổ hợp các chất có hoạt tính chiết xuất từ thiên nhiên. Giáo sư Việt giải thích, “nói một cách đơn giản, chúng tôi có thể áp dụng rộng rãi các kỹ thuật này vào việc phân tích những chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy vẫn xuất hiện rất nhiều trong đời sống hàng ngày, từ dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm nông nghiệp như hoa quả, lúa gạo, thịt cá hoặc các chất có hại cho sức khỏe trong sản phẩm công nghiệp như chảo chống dính và các thiết bị tiêu dùng khác…”.    Một hướng tiếp cận thị trường nữa mà giáo sư Việt và cộng sự muốn làm tốt là thiết kế và chế tạo những công cụ phân tích mới phù hợp với điều kiện kỹ thuật và kinh tế ở Việt Nam như các hệ thiết bị di mao quản xách tay đo tự động, hệ điện di mao quản trên chip trên cơ sở phát triển các hệ vi lưu tích hợp (integrated microfluidic systems), cảm biến điện hóa và cảm biến sinh học quan trắc chỉ tiêu môi trường, kit phát hiện nhanh độc tố trong thực phẩm…, “nghĩa là với các thiết bị này, người sử dụng có thể kiểm tra được tình trạng môi trường, tình trạng an toàn thực phẩm và dược phẩm, qua đó góp phần đưa ra những quyết định xử lý kịp thời ngay sau khi phát hiện sự cố”.  PGS. TS Dương Thị Hồng Anh, trợ lý giám đốc PTN cho biết.    Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu phải tự đổi mới năng lực nghiên cứu của chính mình. Đây là thách thức lớn bởi cuộc cách mạng thứ ba hiện nay của chuyên ngành Hóa phân tích nói riêng và của lĩnh vực liên ngành phân tích nói chung mới phát triển mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây, các công cụ và phương pháp phân tích liên tục được cải tiến cũng như đa dạng hóa để có thể xác định thành phần, cấu trúc các hợp chất ngày một chính xác hơn, đặc biệt là các phép phân tích không chủ đích (non-targets analysis)… “Dĩ nhiên việc làm chủ các kỹ thuật này không phải là chuyện dễ, chúng tôi chỉ có được năng lực đó thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu trong nước và hợp tác quốc tế”, PGS.TS. Dương Hồng Anh cho biết.        Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Theo đuổi sự khác biệt      Bước vào khuôn viên của Traphaco, người ta sẽ nhìn thấy ngay bức tượng của danh y Tuệ Tĩnh bằng đồng, dáng ngồi khoan thai đang đọc sách giữa mặt nước phẳng lặng. Dưới chân tượng là bốn chữ: “Nam dược trị nam nhân”. Đó cũng chính là chiến lược mà Traphaco kiên trì theo đuổi từ ngày đầu thành lập: “Chính sách của chúng tôi nhìn chung là cố gắng tạo ra sự khác biệt, chiến thắng trong sự khác biệt. Muốn vậy thì đi vào thuốc dược liệu” – Ông Nguyễn Huy Văn, Phó Tổng Giám đốc Traphaco, phụ trách R&amp;D của công ty cho biết.         Sao lại là đông dược?  Traphaco “xuất thân” từ Tổ sản xuất thuốc thuộc Ty Y tế Đường Sắt, cung ứng thuốc cho hơn 60.000 công nhân ngành Đường Sắt với nguồn lực vỏn vẹn 16 người và 300 m2 đất. Với hạn chế tiếp cận các nguyên liệu tân dược, họ tập trung chủ yếu vào sản xuất thuốc từ nguồn dược liệu với một trong những sản phẩm đầu tiên là Viên Sáng Mắt – công cụ đắc lực cho dân lái tàu. Thời điểm đó, sản phẩm của họ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu của ngành đường sắt và khoảng 70% thuốc do Traphaco sản xuất sử dụng dược liệu1.  Đầu những năm 1990, sau thời kỳ Đổi mới, phần lớn các đơn vị sản xuất thuốc ở Việt Nam đều trở thành doanh nghiệp nhà nước và chuyển sang sản xuất thuốc tân dược. “Thậm chí là Xí nghiệp Dược phẩm TW3 ở Hải Phòng vốn được phân công sản xuất đông dược cũng chuyển sang sản xuất thuốc tân dược, cứ nhập tân dược là chiến thắng vì thời đó thiếu thuốc. Nhưng công ty không có lợi thế đó nên bắt buộc phải tìm nền tảng riêng để hi vọng tồn tại được” – Ông Huy Văn chia sẻ. Traphaco vì thế vẫn “trung thành” với thuốc dược liệu. Đến nay, trong 200 sản phẩm thuốc đã đăng ký, 70% sản phẩm của Traphaco là thuốc đông dược. Trung bình trong một viên thuốc, 90% khối lượng là từ nguồn dược liệu Việt Nam.         Traphaco và các công ty trực thuộc  được Giải Vàng Chất lượng Quốc gia năm 2012, 2014, 2015 và đươc Giải  thưởng Chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (GPEA) năm 2013.          Từ nhiều năm qua, thị trường dược Việt Nam bị áp đảo bởi thuốc hóa dược, tân dược. Các hãng dược nước ngoài đang chiếm 60% thị trường dược Việt Nam và các công ty dược lớn nhất Việt Nam như Dược Hậu Giang, Domesco và Imexpharm dành hơn 80% sản phẩm cho thuốc tân dược. Bên cạnh đó, thời gian nghiên cứu để cho ra một sản phẩm dược liệu mất từ 5-10 năm trong khi nếu sản xuất thuốc generic (như hầu hết các công ty sản xuất thuốc hóa dược, tân dược ở Việt Nam đang làm) thì ngắn hơn rất nhiều do không phải trải qua quá trình thử nghiệm lâm sàng; đồng thời mặt hàng thế mạnh của Traphaco cũng không có chỗ đứng an toàn nữa do Dược Hậu Giang và Imexpharm cũng phát triển dòng sản phẩm thuốc đông dược riêng của họ. Doanh thu từ dòng sản phẩm đông dược lần lượt chiếm 13% và 3% vào năm 2014 trên tổng doanh thu hai công ty này và đang có xu hướng tăng. Một trong những sản phẩm mà Traphaco tự hào – Cebraton từng chiếm 100% thị phần hoạt huyết dưỡng não cách đây 10 năm, giờ giảm xuống chỉ còn 30% do phải chia sẻ thị phần với tận 40 công ty khác.1   Tuy nhiên, Traphaco luôn tự tin về mảng thuốc đông dược của mình. Ông Huy Văn tự tin lí giải điều này là do tận dụng nền tảng lý luận của người đi trước (như Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng y tông tâm lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác…). Ông cho rằng, những sản phẩm của Traphaco chưa “sáng tạo nhiều lắm” mà chính là sản phẩm được kế thừa từ xa xưa, công ty chỉ “lắp ghép” các nghiên cứu hiện đại để làm sáng tỏ những ứng dụng của thuốc và phát hiện những công dụng mới. Bên cạnh đó, phát triển thuốc từ dược liệu cũng phát huy lợi thế đa dạng sinh học của Việt Nam (4.000 cây thuộc trong số khoảng 12.000 loài thực vật). Trong giai đoạn hiện nay, chiến lược này lại phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường vì chỉ sử dụng những nguyên liệu tự nhiên và góp phần công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp khi Traphaco triển khai xây dựng vùng dược liệu nên công ty sẽ nhận được ủng hộ nhất định về mặt chính sách của nhà nước.           Vùng trồng dược liệu Actiso của Traphaco ở Sapa, Lào Cai.               Nguồn ảnh: Traphaco          “Hào phóng” cho R&D  Trong một buổi tọa đàm cuối năm ngoái về đầu tư R&D trong doanh nghiệp, bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch HĐQT của Traphaco cũng từng thể hiện quan điểm của Traphaco trong đầu tư cho KH&CN: “Quan điểm của chúng tôi là tốn kém bao nhiêu cũng được, miễn là ra được kết quả”. Mỗi năm, Traphaco danh từ 3-5% doanh thu (gần 100 tỷ đồng) cho hoạt động R&D.  Traphaco khá “hào phóng” trong việc đầu tư cho nghiên cứu, đặc biệt thể hiện ở việc bảo hộ vĩnh viễn bản quyền của tác giả. Bất cứ ai chuyển giao công thức, bí quyết thực sự đem lại hiệu quả (tức là tạo ra sản phẩm) cho Traphaco thì mỗi năm, công ty sẽ trả phí bản quyền tương ứng với 3% doanh thu, chừng nào sản phẩm còn tồn tại trên thị trường. Chẳng hạn, một trong những sản phẩm bán chạy nhất của Traphaco hiện nay trên thị trường là Hoạt huyết dưỡng não Cebraton, đem lại cho công ty khoảng 200 tỷ đồng/năm, tác giả của công thức này – GS. Nguyễn Khắc Viện sẽ nhận được khoảng 6 tỷ đồng/năm. “Đây cũng là cơ hội để tác giả tiếp tục suy nghĩ, cải tiến, hoàn thiện công thức tốt hơn. Người ta sẽ yên tâm chuyển giao hết bí quyết cho mình” – Ông Huy Văn cho biết.  Hiện nay, Traphaco hợp tác nghiên cứu với nhiều viện/trường, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Không chỉ giới hạn trong nghiên cứu về bào chế, dược lý, độc tính, lâm sàng với các Đại học Dược, Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân Y, họ còn nghiên cứu về hóa học (ví dụ đưa ra chất chuẩn để chiết xuất các thành phần từ dược liệu), bảo tồn nguồn gene, thậm chí còn nghiên cứu về phương pháp trồng dược liệu.  Tuy nhiên, khi được hỏi, vậy trí tuệ của đội ngũ R&D của Traphaco đóng góp bao nhiêu % trong việc hình thành sản phẩm? Ông Huy Văn trả lời không ngần ngại: “Linh hồn [sản phẩm] là của lực lượng bên trong, chiếm 90%, còn bên ngoài thực ra chỉ là 10%. Thực ra, các nhà khoa học chỉ làm thí nghiệm, ý tưởng ban đầu còn công nghệ để đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thực tiễn, sản xuất ở quy mô công nghiệp là lực lượng R&D ở công ty làm hết.”   Traphaco tập trung đầu tư vào con người từ những ngày đầu thành lập. Họ nhận bất kì sinh viên nào tốt nghiệp Đại học Dược xin vào công ty và sắp xếp cho họ làm việc tại các quầy thuốc của mình. Đến đầu những năm 1990, Traphaco là công ty dược có số lượng dược sĩ tốt nghiệp đại học và sau đại học lớn nhất cả nước. “Có những năm cả Đại học Dược có bốn người tốt nghiệp loại giỏi thì ba người về Traphaco” – Ông Huy Văn cho biết.   Đội ngũ ban đầu tạo nền tảng hình thành phòng R&D – ra đời năm 1996. Vào thời kỳ này mà ông Huy Văn gọi là “khó khăn” vì trong ngành dược người ta có câu “chuột chạy cùng sào mới vào nghiên cứu” do tất cả các phòng nghiên cứu tại Xí nghiệp Dược phẩm TW1, TW2 đều không có “vai vế” gì và bị giải thể, ông đề xuất hỗ trợ thêm cho mỗi nhân viên R&D thêm 500 nghìn mỗi tháng để họ yên tâm làm việc. Bộ phận R&D của Traphaco ngay lập tức tập trung triển khai các kết quả nghiên cứu khoa học của công ty và của các nhà khoa học chuyển giao cho, hợp tác với các viện/trường như công thức điều trị ung thư của GS. Đái Duy Ban (sau này trở thành sản phẩm CADEF), công thức làm tăng sinh lực từ hải sâm của GS. Nguyễn Tài Lương (sau này trở thành sản phẩm Amorvita Hải sâm). Bộ phận R&D của Traphaco hiện nay vẫn có lương trung bình (gần 20 triệu đồng/người) nhiều hơn các bộ phận khác trong toàn công ty (gần 15 triệu đồng/người), và được đầu tư một nhà máy riêng đặt tại Hưng Yên mà theo lời ông Huy Văn “có công suất lớn hơn cả của một công ty trách nhiệm hữu hạn dược thông thường” để triển khai trên quy mô pilot.    Theo ông Nguyễn Huy Văn, lực lượng R&D của Traphaco rất “thiện chiến”. Một trong những lí do quan trọng là họ liên kết tương đối chặt chẽ với bộ phận marketing nên rất hiểu thị trường. Có năm, họ nghiên cứu 20 sản phẩm và cho ra thị trường sáu sản phẩm. Một trong hai sản phẩm bán chạy nhất của Traphaco hiện giờ – Boganic là do công ty hoàn toàn tự nghiên cứu và phát triển.         Traphaco nói gì về Giải thưởng “Chất lượng Quốc gia”?              Ông  Nguyễn Huy Văn cho biết, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia với 7 tiêu chí  đánh giá là giải thưởng toàn diện nhất, khái quát nhất hoạt động của  doanh nghiệp: “Vấn đề chất lượng không phải là một cái đích, nó là  phương tiện để một tổ chức hướng đến thành công. Và chất lượng thì cần  cải tiến liên tục. Ví dụ, Giải thưởng Chất lượng Châu Á – Thái Bình  Dương (Traphaco đạt Giải Vàng năm 2014), có những doanh nghiệp năm nào  cũng nộp để cải tiến, hoàn thiện tổ chức, còn việc nhận giải chỉ mang  tính động viên. Nếu làm đúng theo những tiêu chí của giải thưởng thì sức  khỏe của doanh nghiệp sẽ tăng lên rất nhiều”.               Ông cũng cho biết Hội  đồng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia đánh giá kỹ lưỡng nhất trong các  giải thưởng và ông cần những khuyến cáo để hoàn thiện việc quản lý: “Có  một cái hay là trong quá trình thẩm định giải thưởng, chúng tôi học được  rất nhiều thứ, ví dụ như về bảo mật thông tin, xử lý sự cố khi máy chủ  bị mất điện khi sử dụng phần mềm DMS để quản lí bán hàng chẳng hạn. Hoặc  thực ra bọn tôi vào hiệp hội mã số mã vạch lâu lắm rồi nhưng chưa ứng  dụng được trong quản lý bán hàng, quản lý kho…Bọn tôi quan niệm mỗi lần  đánh giá như vậy mình học được rất nhiều.”                 Tuy nhiên, ông cho rằng  giải thưởng cần được quảng bá sâu rộng hơn để các doanh nghiệp hiểu và  thực hiện, nâng cao chất lượng của mình. Bên cạnh đó, các đơn vị đạt  giải cần được ghi nhận thực sự, thậm chí là ưu tiên để tạo thành lợi thế  của họ khi giao dịch với khách hàng: “Chỉ nhận giải thưởng không mà bán  hàng thì vẫn không đấu thầu được (vào các nhà thuốc bệnh viện), chẳng  có gì khác thì rất là khó. Còn với khách hàng, chờ người ta cảm nhận  cũng lâu lắm”.          Traphaco chi mạnh tay cho nghiên cứu thị trường. Họ đã thuê Nielsen đánh giá thị trường, dù với một dòng sản phẩm nhỏ như nước súc miệng T-B và nhận thấy lợi nhuận có thể tăng gấp nhiều lần. Hằng năm, họ bỏ ra từ 30.000 – 50.000 USD để mua các kết quả nghiên cứu thị trường của BMI và IMS Heath để xem xét về nhu cầu người dùng và đối thủ cạnh tranh.   Một trong những dự án mà Traphaco tự hào là Greenplan – tự nghiên cứu và xây dựng vùng nguyên liệu. Ông Huy Văn chia sẻ: “Hơn hai thập niên qua, không có một trường đại học nào còn dạy phương pháp trồng dược liệu”. Tuy nhiên, hợp tác nghiên cứu với một số nhà khoa học ở Học viện Nông nghiệp, họ là một trong số những doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn GACP (Good Agricultural and Collection Practices – Thực hành tốt trồng trọt và thu hái). “Nhưng những người đi đầu rất vất vả, khó khăn vì dược liệu thì gắn với nông nghiệp, nông thôn miền núi. Ví dụ khi đoàn đánh giá của Bộ Y tế về tiêu chuẩn GACP lên xã Sa pả, thị trấn Sapa, nơi có đối tác của Traphaco đang triển khai trồng cây artiso. Để triển khai được dự án trồng cây tại đây phải có nghị quyết của huyện ủy, sau đó đưa các bí thư, chủ tịch, trưởng công an xã làm trước, rồi bà con làm theo. Trong quản lý đồng ruộng, đoàn cán bộ Bộ Y tế yêu cầu phải ghi chép hằng ngày, bón phân gì, tưới nước bao nhiêu, cũng làm thành bảng cho bà con điền vào nhưng họ cũng không điền vì nhiều gia đình không biết chữ, không biết tiếng Kinh luôn” – Ông Huy Văn chia sẻ. Khi đó, cách giải quyết duy nhất là cử một đội trưởng đội sản xuất…điền hộ. Hiện nay, Traphaco có bốn vùng trồng dược liệu đạt tiêu chuẩn GACP bao gồm: Actiso tại Sapa, Rau đắng đất tại Phú Yên, Bìm bìm biếc tại Hòa Bình, Đinh lăng tại Nam Định. Bốn loại cây này là nguyên liệu đầu vào cho hai sản phẩm bán chạy nhất của Traphaco hiện nay, chiếm hơn 50% doanh thu của doanh nghiệp này từ thuốc đông dược là Cebraton và Boganic.  Những rào cản từ chính sách  Traphaco được lựa chọn làm một ví dụ về một công ty đổi mới sáng tạo ở Việt Nam dạy trong chương trình của Đại học Quản lý Singapore (Singapore Management University – SMU). Mats Lingbad, tác giả viết và nghiên cứu về ví dụ này đã làm một phép thử: Ông tới bốn nhà thuốc ở phố Quán Sứ, Hà Nội và hỏi mua thuốc hoạt huyết dưỡng não. Trong bốn nhà thuốc thì chỉ có duy nhất một nơi giới thiệu Traphaco cho ông. Còn lại, dù gợi ý thế nào, họ vẫn giới thiệu các hãng khác.   Sản phẩm hoạt huyết dưỡng não của Traphaco, bây giờ có tên là Cebraton là nghiên cứu của GS. Nguyễn Khắc Viện chuyển giao cho Traphaco năm 1995 (ra thị trường năm 1999) nhưng ông Nguyễn Huy Văn thú thực là lúc đó chưa quan tâm đến bản quyền. Chính vì vậy, đến năm 2003, một loạt các công ty nhái công thức và thậm chí cả bao bì của Cebraton và tung ra thị trường. Dĩ nhiên, điều này làm sụt giảm thị phần của Traphaco nghiêm trọng trong 10 năm qua, mặc dù sản phẩm này vẫn được Nielsen đánh giá là dẫn đầu (về mặt chất lượng) dòng sản phẩm về hoạt huyết dưỡng não.  Sau sự kiện đó, mặc dù bị thiệt nhưng Traphaco vẫn e ngại việc đăng ký sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm của mình, lí do đưa ra là…quá khó: “Như đăng ký sáng chế Cebraton về chế tạo ra công thức viên nang mềm, sản phẩm mình đưa đầu tiên ra thị trường và là sáng tạo của mình. Nhưng xét duyệt một sáng chế cực kỳ khó, đã đăng ký tới hai năm nay rồi chưa biết đến bao giờ mới được mà khả năng được cũng rất khó”  Tại sao lại khó như vậy? “Tôi nghĩ là do hội đồng xét duyệt và nhà khoa học không nhìn về một hướng. Nhà khoa học nghĩ là nó có tính mới, có thể bảo vệ được còn hội đồng thì lại không”. – Ông Huy Văn cho biết. Theo nghiên cứu của TS. Trần Văn Hải, Đại học KHXH&NV nghiên cứu về tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền thì ở Mỹ, nếu một bài thuốc được sử dụng rộng rãi nhưng chưa công bố ở các tạp chí nước ngoài thì vẫn được coi là có tính mới. Nhưng với Việt Nam, các bài thuốc gia truyền không được bảo hộ vì “đã được sử dụng rộng rãi ở trong nước”2.      Một hiện tượng khác, cũng “oái oăm” không kém với Traphaco đó là, Traphaco không thể bán thuốc trong các bệnh viện, dù sản phẩm được giải “Ngôi sao thuốc Việt” (giải thưởng do Cục Quản lý Dược Bộ Y tế bình chọn). “Mặc dù hoạt huyết dưỡng não Cebraton, Boganic nổi tiếng như thế nhưng khi đi đấu thầu toàn bị “out”, toàn ở ngoài cổng bệnh viện, chẳng thể vào nổi bệnh viện mà đơn vị nhái sản phẩm lại vào được. Lí do là vì thông tư liên tịch hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế lại yêu cầu đấu giá (tức là giá rẻ nhất thì được bán). Trước đó là vòng một chấm điểm kĩ thuật thì sản phẩm nào cũng qua hết” – Ông Huy Văn nói.  Vì thế, khi được hỏi về vấn đề nào khó nhất, không ngạc nhiên khi ông Huy Văn trả lời phóng viên Tia Sáng, “Mình cho vấn đề lớn nhất là vấn đề cơ chế, cạnh tranh thị trường, là cái khó khăn lớn nhất hiện nay. Làm thế nào để cạnh tranh bình đẳng?”  ———  1 Mats Lingbad, Traphaco: Choices for the future, http://www.thecasecentre.org/educators/products/view?id=119730  2http://tapchi.vnu.edu.vn/upload/2014/01/1063/2.pdf        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thép in 3D không gỉ và chịu lực hơn thép thông thường      Dù đang bùng nổ trên thế giới nhưng công nghệ in 3D hiện mới phát huy hiệu quả trên các vật liệu như nhựa hay thép xốp (porous steel) – nghĩa là nhiều vật liệu còn chưa đáp ứng những yêu cầu về kết cấu chịu lực lõi cứng. Mới đây, một nhóm nghiên cứu đã phát triển công nghệ in 3D cho ra các sản phẩm thép không gỉ, vừa cứng lại dẻo – bước tiến có thể mang lại phương thức chế tạo nhanh chóng và rẻ tiền hơn với mọi thứ từ động cơ tên lửa tới các cấu kiện trong lò phản ứng hạt nhân hay dàn khoan dầu khí.      Công nghệ thép không gỉ được phát minh lần đầu vào khoảng 150 năm trước, cho tới nay vẫn còn phổ biến. Được làm từ thép truyền thống nung chảy – thành phần kết hợp giữa sắt với carbon (có thể cho thêm kim loại như Nickel) – thêm vào crom và molypden, thép không gỉ có khả năng chống sự rỉ sét và ăn mòn. Tiếp theo là cả một quy trình phức tạp gồm nhiều bước: làm lạnh, gia nhiệt, cán, giúp cho thép đạt được cấu trúc vi mô với những hạt kim loại hỗn hợp bị nén chặt, và lớp phân cách mỏng giữa các hạt giúp hình thành một cấu trúc khá giống với tế bào. Khi lá thép bị uốn cong hay kéo dãn, những bề mặt tinh thể (gồm các nguyên tử) bị trượt, cắt vào nhau, dẫn tới sự thiếu hụt khi các lớp này cùng kết hợp – gây ra hiện tượng đứt gãy. Tuy nhiên, việc tạo ra những lớp phân cách dày có thể “chấm dứt” tình trạng này, giúp thép trở nên cứng hơn rất nhiều nhưng vẫn đủ dẻo để uốn thành các hình dạng như mong muốn.     Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã cố gắng đi tìm cách tái tạo một cấu trúc như vậy. Họ bắt đầu thử nghiệm bằng việc đổ một lớp dạng bột – gồm những phân tử kim loại hỗn hợp – lên một mặt phẳng. Một chùm tia laser năng lượng cao, điều khiển bằng máy tính, chiếu đi chiếu lại trên bề mặt. Những phân tử kim loại khi tiếp xúc với laser sẽ trở nên nóng chảy. Sau đó, một lớp bột mới lại được thêm vào, tiếp tục xử lý bằng tia laser để làm tan chảy các phân tử rồi gắn kết với lớp bên dưới. Lặp đi lặp lại như vậy, các kỹ sư có thể tạo ra những kết cấu phức tạp như trong động cơ tên lửa.    Một vấn đề tồn tại từ lâu với thép không gỉ từ công nghệ in đó là tỷ lệ rỗng còn cao, khiến thép trở nên yếu và dễ đứt gãy. Vì vậy, “kết quả này thật đáng kinh ngạc”, Yinmin Morris Wang – nhà khoa học vật liệu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore ở California, người lãnh đạo nhóm nghiên cứu nói. Vài năm trước, Wang và các đồng nghiệp đã đi theo hướng sử dụng tia laser và kỹ thuật làm lạnh nhanh khi làm tan chảy những phân tử kim loại hỗn hợp trong cùng một khu vực mật độ, để tạo nên cấu trúc nén chặt.  Tới nay, khả năng chế tạo loại thép này đã được mở rộng hơn rất nhiều khi nhóm của của Wang đã thiết kế một tiến trình điều khiển bằng máy tính, không những để làm ra những lớp thép không gỉ dày mà còn để kiểm soát chặt cấu trúc vật liệu ở mức độ nano tới micro mét. Thành tựu này cho phép máy in 3D có thể  xây dựng những cấu trúc giống tế bào cực nhỏ, có chức năng giống như bức tường ngăn ngừa sự đứt gãy và những vấn đề phổ biến hay gặp ở thép. Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy, trong một số điều kiện nhất định, thép không gỉ từ in 3D có thể cứng gấp ba lần so với thép sản xuất bằng những phương pháp thông thường, và vẫn “dễ uốn” – báo cáo công bố trên tạp chí Nature Materials.  “Những gì họ làm thực sự rất ấn tượng”, Rahul Panat – kỹ sư cơ khí tại Đại học Carnegie ở Pittsburgh (Pennsylvania) nhận xét. Hơn thế nữa, Panat tin rằng vì Wang và các đồng nghiệp sử dụng công nghệ in 3D thương mại mới và tia laser, nên nhiều nhóm khác có thể học hỏi để chế tạo hàng loạt những sản phẩm từ thép không gỉ như thùng chứa nhiên liệu trên máy bay tới các ống chịu lực trong nhà máy điện hạt nhân.  Hải Đăng dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/10/3d-printing-doubles-strength-stainless-steel       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí điểm thành công công nghệ sản xuất nấm linh chi      Dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất cao nấm  linh chi và trà nấm linh chi hòa tan” vừa được thí điểm thành công tại  Hợp tác xã sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu xã Long Hưng, huyện Văn Giang,  tỉnh Hưng Yên.    Dự án do Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch thực hiện, đang mang lại triển vọng mới cho sản xuất nấm linh chi trong nước.  Quy trình công nghệ sản xuất cao nấm linh chi và trà nấm linh chi hòa tan, được thực hiện trên hệ thống thiết bị trích ly – cô chân không để tiến hành các công đoạn: trích ly, lọc dịch chiết loại bỏ cặn bã thu dịch trong chứa hợp chất hòa tan, cô và thu hồi dung môi cồn…  Trên cơ sở các thông số kỹ thuật tiếp tục tiến hành ở quy mô Pilot; sản xuất công nghệ trích ly nấm linh chi và tạo chế phẩm nấm linh chi, trích ly ở quy mô 30 lít/mẻ, tạo ra 3000 gói trà nấm linh chi hòa tan/mẻ.  Kết quả cho thấy sản phẩm trà nấm linh chi hòa tan và cao nấm linh chi tạo ra có chất lượng tốt, các chỉ tiêu hóa lý vi sinh đều đạt các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Mặt khác, việc áp dụng quy trình này không tốn nhiều nhân lực tham gia, mỗi mẻ thực hiện chỉ cần 1 công nhân/ngày. Công nghệ ứng dụng vào sản xuất và thực tế cho tiềm năng và hiệu quả kinh tế tăng gấp hơn 3 lần, so với chi phí đầu tư ban đầu mà sản phẩm nấm linh chi nguyên liệu đem lại.  Từ công nghệ trên đã mở ra hiệu quả lớn trong sản xuất cao và trà nấm linh chi hoà tan từ nấm linh chi sản xuất trong nước, nhằm nâng cao giá trị nông sản, tạo ra được sản phẩm chức năng nội địa hiện đang có nhu cầu lớn, tăng sức cạnh tranh, góp phần tạo tiền đề cho sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm quý từ nấm linh chi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm trên hạt nhân giàu neutron SE- 92,94 : Mở ra các nghiên cứu về trạng thái đồng phân của hạt nhân biến dạng không bền      Tiếp theo những công bố năm 2018, 2019, nhóm hợp tác SEASTAR (Shell Evolution And Search for Two-plus energies At RIBF), trong đó có các thành viên nhóm Vật lý hạt nhân của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, có công bố mới “Metastable States of Se – 92,94 : Identification of an Oblate K Isomer of Se -94 and the Ground-State Shape Transition between N = 58 and 60” trên tạp chí Physical Review Letters. Công trình này mở ra triển vọng nghiên cứu về trạng thái đồng phân trên các hạt nhân biến dạng không bền.      Các nhà nghiên cứu của Viện KH&KT hạt nhân tham gia thực hiện thí nghiệm cùng đồng nghiệp quốc tế. Nguồn: Viện KH&KT hạt nhân  Theo mô hình mẫu vỏ, các nucleon được lấp đầy dần vào các quỹ đạo có spin nhất định. Trạng thái hạt nhân được hạt nucleon nằm ở lớp vỏ ngoài cùng (nucleon hóa trị) quy định. Các số 2, 8, 20, 28 và 50 là những số magic khi đó nucleon lấp đầy các lớp vỏ đóng, khiến hạt nhân trở nên đặc biệt bền vững. Mặc dù mẫu vỏ rất thành công trong việc mô tả hạt nhân có dạng hình cầu, trạng thái cơ bản và một số trạng thái kích thích thấp của hạt nhân nhưng còn rất nhiều số liệu thực nghiệm nằm ngoài khả năng giải thích của mẫu vỏ như độ lớn moment tứ cực hạt nhân, trạng thái cơ bản của các hạt nhân có 150 A 190, các trạng thái kích thích của hạt nhân chẵn-chẵn… Chính vì vậy, khái niệm về hạt nhân biến dạng đã được hai nhà vật lý Niels Bohr và Ben Roy Mottelson đưa ra trong những năm 1950 với dải quay kích thích hạt nhân nhằm giải thích các số liệu thực nghiệm.  Một mô hình cấu trúc có thể coi là kết hợp ý tưởng của mẫu vỏ và hạt nhân biến dạng là mô hình do nhà toán học và vật lý Thụy Điển Sven Goesta Nilson đưa ra. Theo ông, hạt nhân có thể mô tả theo các mức đơn hạt của mẫu vỏ nhưng trong trường thế biến dạng không xuyên tâm. Khi đó các trạng thái của hạt nhân phụ thuộc rất nhiều vào độ biến dạng của nó, thông qua hệ số biến dạng. Bây giờ, hình chiếu K của spin hạt nhân j lên trục đối xứng Z trở thành một số lượng tử quan trọng cho trạng thái của hạt nhân.  Cho đến nay, có rất ít hạt nhân quan sát được có trạng thái đồng phân với giá trị K lớn, ngoại trừ trường hợp của 188-196 Pb và chưa có nghiên cứu nào trên các hạt nhân biến dạng. Chú ý rằng 188-196 Pb vẫn là các hạt nhân hình cầu. Ngoài ra, các công bố trước đây thường trên các hạt nhân nặng có A ~ 170-180. Nghiên cứu trên 92,94 Se lần đầu tiên cho thấy các trạng thái đồng phân tồn tại trong những hạt nhân biến dạng, và biến dạng là lồi, trong đó, mô hình lý thuyết được đưa vào để giải thích số liệu thực nghiệm và rút ra cấu trúc hạt nhân: biến dạng elipsoid và trục đối xứng đã bị quay một góc nhất định. Đây là những hạt nhân nhẹ nhất trong vùng Z ~ 72 được nghiên cứu. Kết quả thu được sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc hạt nhân thông qua đo đạc trạng thái đồng phân của các hạt nhân biến dạng trong vùng này.  Thí nghiệm trên do các nhà nghiên cứu của trường Đại học Kỹ thuật Darmstadt (Đức) dẫn dắt và được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Hóa Lý RIKEN (Nhật Bản). Đây là một phần của dự án hợp tác quốc tế SEASTAR, dự án lớn mà các nhà nghiên cứu Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tham gia với kinh phí do tài trợ Bộ KH&CN thông qua Đề tài mang mã số ĐTĐLCN.25/18 thuộc Chương trình phát triển Vật lý đến năm 2020.  Khi thiết lập dự án này, các nhà khoa học mong muốn tập chung vào phổ năng lượng tức thời của hạt nhân phát xạ trên đường bay, sau khi tương tác với bia MINOS và được đo trên hệ detector DALI2. Để thực hiện nghiên cứu các trạng thái đồng phân, một hệ detector AIDA được sử dụng để cấy và giữ các hạt nhân cần quan tâm và hệ detector EURICA dùng để đo các gamma trễ.□       Author                Lê Xuân Chung        
__label__tiasang Thí nghiệm xác nhận lý thuyết 50 năm tuổi miêu tả cách người ngoài hành tinh khai thác lỗ đen      Lần đầu tiên, một phòng thí nghiệm tại Glasgow đã có thể xác nhận  về mặt thực nghiệm một lý thuyết 50 năm tuổi bắt đầu như một suy đoán về cách một người ngoài hành tinh có thể sử dụng một lỗ đen để tạo ra năng lượng.    Vào năm 1969, nhà vật lý Anh Roger Penrose đề xuất là năng lượng có thể được tạo ra bằng việc làm suy  yếu một vật thể vào vùng không xác định của lỗ đen – lớp bên ngoài của chân trời sự kiện lỗ đen, nơi một vật thể có thể phải chuyển động nhanh hơn tốc độ của ánh sáng để không bị lỗ đen ‘nuốt’.     Nhà vật lý Anh Roger Penrose. Nguồn: ifipnews.org  Penrose đã dự đoán là vật thể có thể phải có một mức năng lượng âm trong vùng bất thường của không gian này. Bằng việc thả vật thể và tách nó làm hai vì một nửa rơi vào trong lỗ đen trong khi nửa còn lại được phục hồi, có thể đo đạc được hành động đó bằng việc đo lượng năng lượng âm bị mất – nửa vật thể được phục hồi có thể tăng thêm mức năng lượng lấy được từ chuyển động quay của lỗ đen. Mức độ thách thức về kỹ thuật của quá trình này có thể quá lớn, Penrose đề xuất, điều này chỉ có thể xảy ra với một kỹ thuật vô cùng tiên tiến, có lẽ là nền văn minh ngoài trái đất mới vượt qua được thách thức này.  Hai năm sau đó, một nhà vật lý là Yakov Zel’dovich đã đề xuất lý thuyết có thể kiểm chứng được với một thí nghiệm có phần thiết thực hơn là các sóng ánh sáng “xoắn” chiếu lên một cylinder kim loại quay tại một tốc độ phù hợp, có thể phản xạ được mức năng lượng tăng thêm được lấy từ quá trình quay của cylinder nhờ hiệu ứng Doppler – được đặt tên theo nhà toán học và vật lý Áo Christian Andreas Doppler, đây là một hiệu ứng về tần số và bước sóng của các sóng âm, sóng điện từ hay các sóng nói chung bị thay đổi khi nguồn phát sóng chuyển động ở vị trí tương đối với người quan sát.    Nhà toán học và vật lý Áo Christian Andreas Doppler,  Nhưng ý tưởng của Zel’dovich vẫn còn đơn độc trong lĩnh vực lý thuyết kể từ năm 1971 bởi vì để thực nghiệm có thể được thực hiện, cylinder kim loại do ông đề xuất cần phải quay ít nhất 1 tỷ vòng trong một giây – một thách thức không thể vượt qua khác trước những giới hạn hiện hữu của kỹ thuật mà con ngươi biết.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu của trường Vật lý và Thiên văn học, trường đại học Glasgow cuối cùng đã tim thấy một cách có thể thực hiện bằng thực nghiệm hiệu ứng mà Penrose và Zel’dovich đề xuất bằng âm thanh xoắn thay vì ánh sáng – một nguồn tần số thấp hơn nhiều và thực tế hơn nhiều để thực hiện trong phòng thí nghiệm.  Trong bài báo “Amplification of waves from a rotating body” (Sự khuếch đại các sóng từ một vật thể quay) xuất bản trên Nature Physics, nhóm nghiên cứu đã miêu tả cách họ xây dựng một hệ với việc sử dụng vòng nhỏ của các loa để tạo ra một dạng xoắn trong các sóng âm tương như như việc xoắn trong các sóng ánh sáng theo đề xuất của Zel’dovich.  Những sóng âm xoắn đã được hướng thẳng đến thiết bị hấp thụ sóng quay được làm từ vật hình đĩa bằng bọt xốp. Một bộ gồm các micro đằng sau cái đĩa này sẽ chọn lọc âm thanh từ các loa khi âm thanh được truyền qua đĩa, vốn có tốc độ spin được tăng lên một cách đều đặn.  Những gì nhóm nghiên cứu trông chờ là nghe để biết các lý thuyết của Penrose and Zel’dovich chính xác là một thay đổi đặc biệt trong tần số và biên độ của sóng âm khi chúng được truyền đến qua đĩa và là nguyên nhân tạo ra hiệu ứng Doppler.  Marion Cromb, một nghiên cứu sinh của trường Vật lý và thiên văn và là tác giả chính của nghiên cứu, nói: “Phiên bản phi tuyến của hiệu ứng Doppler thân thuộc với phần lớn con người vì hiện tượng này xảy ra khi âm lượng của tiếng còi xe cứu thương dường như tăng lên khi nó đến gần người nghe nhưng lại giảm đi khi nó chuyển động đi xa. Sở dĩ như vậy là vì các sóng âm đã chạm đến người nghe ở mức tần số cao hơn khi xe cứu thương đến gần ta, và và giảm đi khi chuyển sang mức tần số thấp hơn”.    Nhà vật lý Xô viết Yakov Zel’dovich. Nguồn: wikipedia   “Hiệu ứng Doppler quay cũng tương tự nhưng hiệu ứng này bị giới hạn với một không gian tròn. Các sóng âm xoắn thay đổi cao độ khi được đo đạc từ điểm quan sát của bề mặt quay. Nếu bề mặt đó quay đủ nhanh thì sau đó tần số sóng có thể tạo ra một vài điều rất kỳ lạ – nó có thể đạt được với tần số dương sang tần số âm, và theo cách đó có thể ‘đánh cắp’ một chút năng lượng từ vòng quay của bề mặt đó”.    Vì tốc độ spin của đĩa tăng lên trong quá trình thí nghiệm của các nhà nghiên cứu, cao độ của âm thanh từ các loa hạ xuống tận mức nó trở nên quá nhỏ để nghe được. Sau đó, âm lượng tăng trở lại một lần nữa cho đến khi chạm đến âm lượng cũ của mình – nhưng ‘ầm ĩ’ hơn với biên độ tăng 30% hơn âm thanh nguyên thủy từ các loa.  Marion cho biết thêm “Những gì chúng tôi nghe được trong suốt thực nghiệm của mình là vô cùng đặc biệt. Những gì đang xảy ra là tần số của các sóng âm là dịch chuyển Doppler được chuyển về 0 khi tốc độ spin tăng lên. Khi sóng âm bắt đầu tăng trở lại, đó là do sóng đã được chuyển từ tần số dương sang tần số âm. Những sóng có tần số âm đó có khả năng lấy được chút ít năng lượng từ đĩa đang spin, trở nên ồn hơn trong quá trình này – như đề xuất của Zel’dovich năm 1971”.  Giáo sư Daniele Faccio, người cũng của trường Vật lý và Vật lý thiên văn Glasgow và là đồng tác giả nghiên cứu, cho biết thêm “Chúng tôi rất vui mừng khi có khả năng xác nhận về thực nghiệm một số vấn đề vật lý tồn tại nửa thế kỷ sau khi lý thuyết đã được đề xuẩt. Thật kỳ lạ để nghĩ rằng chúng tôi đã có khả năng xác nhận được một lý thuyết nửa thế kỷ với những nguồn gốc vũ trụ ngay trong phòng thí nghiệm của chúng tôi nằm ở Tây Scotland, nhưng chúng tôi cho rằng nó sẽ mở ra được rất nhiều đại lộ mới cho những khám phá khoa học. Chúng tôi kiên trì chờ đợi xem chúng tôi có thể tìm hiểu về hiệu ứng này trên những nguồn khác nhau như các sóng điện từ trong tương lai gần hay không?”  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-year-old-theory-alien-civilization-exploit.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường của niềm tin và mạng xã hội      Lý thuyết Cam kết – Niềm tin trong lĩnh vực tâm lý học marketing giúp chúng ta lý giải vì sao các mạng xã hội cung cấp dịch vụ như Uber hay Airbnb có sức thu hút lớn đến vậy, dù vắng bóng sự kiểm định của nhà nước.    Từ góc độ kinh tế học, một trong những lý do chính đáng của sự can thiệp của nhà nước vào thị trường là do tính chất bất đối xứng thông tin (asymmetric information) của hàng hoá. Sản phẩm hay dịch vụ, dù ít hay nhiều cũng đều mang tính chất bất đối xứng thông tin mà tại đó, một trong hai bên (mua hoặc bán) có ưu thế về thông tin, hành động theo xu hướng có lợi cho bản thân mà không quan tâm đến quyền lợi của bên còn lại – bên kém ưu thế về thông tin. Khi bất đối xứng thông tin nhiều thì nhà nước sẽ can thiệp nhiều và ngược lại.   Dịch vụ khám chữa bệnh là ví dụ tiêu biểu của một loại hàng hóa có tính bất đối xứng thông tin cao. Người bệnh (khách hàng) không có năng lực để đánh giá xem bác sỹ (người cung cấp dịch vụ) lên phác đồ điều trị và sử dụng loại thuốc có đúng, có tốt hay không. Chính vì vậy, nhà nước can thiệp rất kỹ vào loại hình dịch vụ này. Trước đây, ở nhiều nơi, thậm chí chỉ có loại hình bệnh viện công do nhà nước vận hành và kiểm soát hoàn toàn. Dần dà, hình thức bệnh viện tư cũng được chấp nhận, nhưng để được hoạt động, chủ đầu tư (bệnh viện) phải vượt qua rất nhiều thủ tục kiểm tra gắt gao và mọi bác sỹ đều phải có chứng chỉ hành nghề mới được làm việc. Về mặt quản lý nhà nước, thị trường khám, chữa bệnh được xếp vào loại thị trường kinh doanh có điều kiện; còn về mặt kinh tế, đây là một loại thị trường của niềm tin.   So với khám, chữa bệnh, dịch vụ taxi hay thuê phòng khách sạn thuộc loại hàng hóa có tính chất bất đối xứng thông tin thấp hơn. Vì vậy, để có thể kinh doanh, các hãng taxi hay chủ khách sạn chỉ phải đăng ký với cơ quan chức năng, đồng thời chỉ phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định để có thể tham gia kinh doanh trong thị trường. Với hình thức này, trong rất nhiều năm, các hãng taxi và các khách sạn hoạt động và cạnh tranh lành mạnh trên khắp thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại và thuê chỗ ở của người dân.   Tuy vậy, với chi phí đắt, taxi và khách sạn thông thường chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu của phân khúc khách hàng có khả năng tài chính từ mức trung bình trở lên. Từ đầu những năm 2000, cùng với sự phát triển của các forum trên khắp thế giới, giới trẻ, đặc biệt là sinh viên, sáng tạo ra hình thức “taxi” mới và “khách sạn” mới là “đi nhờ xe” và “ở nhờ nhà” giúp giải quyết rào cản về mặt kinh phí. Cụ thể, các thành viên trên cùng một mạng xã hội có thể post lên forum lộ trình di chuyển của mình trong thời gian tới cho thành viên khác “đi nhờ” (và chia tiền xăng) hoặc thông tin về nhà của mình để cho thành viên khác ở nhờ (và trả phí thuê nhà). Độc giả Việt Nam có dịp ở châu Âu hay Bắc Mỹ trong khoảng thời gian trên chắc hẳn có người đã từng sử dụng những dịch vụ như thế một vài lần.   Hình thức “kinh doanh” trên forum này về bản chất có tính chất bất đối xứng thông tin cao hơn so với hình thức taxi và khách sạn thông thường bởi trong nó vắng bóng sự điều tiết của nhà nước. Nhưng nó vẫn tồn tại và vận hành khá tốt trong một thời gian dài.   Tại sao vậy?   Lý thuyết Cam kết – Niềm tin (Commitment Trust Theory – CTT) trong lĩnh vực tâm lý học marketing giúp chúng ta lý giải điều này. Theo CTT, ngay cả khi gặp phải tình huống bất đối xứng thông tin, một mối quan hệ vẫn có thể bền lâu (cam kết cao) nếu như các bên liên quan có niềm tin cao về đối tác của mình. Đối chiếu lý thuyết này với hình thức “đi nhờ xe” và “ở nhờ nhà” trên forum, với việc cả “người bán” và “người mua” đều là thành viên trên cùng một diễn đàn khép kín, có hiểu biết lẫn nhau ở mức độ nhất định qua những lần trao đổi trước đó, việc có niềm tin với nhau là hoàn toàn có cơ sở; vì vậy, hình thức “kinh doanh” này có điều kiện để tồn tại.   Có điều kiện để tồn tại, nhưng quy mô của “đi nhờ xe” và “ở nhờ nhà” trên forum khó phát triển vì hai lẽ: thứ nhất, đây chỉ là một hoạt động phụ trên diễn đàn chung với rất nhiều hoạt động khác; thứ hai, về mặt kỹ thuật, ở thời điểm đầu những năm 2000, cả wifi và 3G đều chưa phát triển, smartphone với những ứng dụng app thông minh cũng chưa ra đời; điều này ảnh hưởng đến tính tiện lợi của hình thức “kinh doanh” này.   Thế rồi, mọi chuyện thay đổi nhờ khi xuất hiện một giải pháp mang tên mạng xã hội mà nhờ đó, những hình thức mới như taxi trên mạng xã hội (Uber) hay khách sạn trên mạng xã hội (Airbnb) ra đời và phát triển ngày càng mạnh, thậm chí đe doạ cả các hình thức truyền thống.   Khác với forum – nơi chỉ cung cấp giao diện cho việc trao đổi đa chiều giữa các thành viên ở một mức độ hạn chế, mạng xã hội ra đời giúp các thành viên tương tác nhanh, đa chiều, thuận tiện và chính xác hơn. Ví dụ như hình thức Endorse (xác thực), một người sử dụng dịch vụ thuê nhà Airbnb xong có thể ngay lập tức Endorse về chất lượng, điều kiện phòng ở… mà người đó vừa sử dụng. Cách thức này giúp đánh giá mức độ tín nhiệm của người cho thuê phòng, giúp cho khách hàng tiếp theo “có thêm thông tin” làm căn cứ để đặt niềm tin trong việc lựa chọn dịch vụ. Như vậy, mạng xã hội đã làm thay vai trò của nhà nước trong việc vừa giảm thiểu tình trạng bất đối xứng thông tin, vừa xác nhận mức độ tin cậy của bên bán để bên mua tham khảo.   Đây cũng chính là nguyên lý mấu chốt giúp Uber, Airbnb và nhiều dịch vụ dựa trên mạng xã hội khác phát triển rất nhanh trong những năm qua.   Uber và Airbnb đều đã có mặt ở Việt Nam một vài tháng nay. Và cũng như ở nhiều nước trên thế giới, ở nước ta, công chúng đón nhận hai hình thức kinh doanh mới với nhiều ý kiến trái chiều. Người đam mê công nghệ và mạng xã hội thì hồ hởi. Người cẩn thận hơn thì nghĩ đến nhưng hệ quả mà nó đem lại. Ví dụ, với chi phí rẻ hơn, hình thức mới này có thể tác động xấu đến công ăn việc làm của nhân lực trong hai loại hình kinh doanh taixi và khách sạn truyền thống. Hoặc có những người thì e dè về mức độ tin cậy của Uber hay Airbnb.   Và cũng lại như ở nhiều nước trên thế giới, cơ quan chức năng dường như đang lúng túng với hình thức kinh doanh mới này: cho phép hay cấm, nếu cho phép thì trong điều kiện như thế nào, chính sách để xử lý những hệ quả mà nó có thể đem lại? Tóm lại, quản lý nó ra sao?   Quản lý thế nào cũng được: bắt đóng thuế cao hơn, yêu cầu khắt khe hơn… nhưng nhất định nhà nước không nên cấm. Bởi cấm tức là không chỉ là đi ngược một xu thế công nghệ tất yếu của thời đại, mà còn chẳng khác nào hành động tự chặt đi một công cụ giúp chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình hiệu quả hơn: chức năng giúp cho thông tin bớt bất đối xứng hơn và giúp người bán-người dùng tin nhau hơn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường – Động lực cho sản phẩm công nghệ mới      Để phát triển công nghệ, cần có một thị trường “trưởng thành”. Ở đó, tất thảy thành tố của thị trường đều có vai trò với tất cả sự năng động của mình: nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, nhà đầu tư cùng nhà tư vấn, xúc tiến. Và chính “đội bóng” thị trường tạo ra môi trường thuận lợi, minh bạch, tích cực nhất cho hoạt động của các thành tố này.      Gọi vốn từ cộng đồng  MW tìm vốn ở đâu để kinh doanh sản phẩm công nghệ mới?   Có thể nói, chính thị trường đã đầu tư cho MS, ngay khi họ chưa hoàn thành sản phẩm. Nghe vô lý, có thể làm điều ấy không? Hoàn tòan có thể và có thực. Công ty Misfit Wearables đã áp dụng hình thức “gọi vốn công đồng” từ website IndieGoGo. Đây là mô hình kêu gọi cộng đồng góp vốn cho bước khởi nghiệp của những công ty non trẻ. Hình thức này bắt nguồn ở Mỹ từ cuối những năm 2000 với một số website crowdfunding nổi tiếng như IndieGoGo hay KickStarters. Theo thống kê của MasSolution, một hãng tư vấn các giải pháp khai thác nguồn lực từ cộng đồng (crowdsourcing), hoạt động của các website crowdfunding trên toàn cầu đã thu hút được gần 3 tỉ USD trong năm 2012, gấp đôi so với năm trước đó.  Misfit Wearables (MW) đã giới thiệu sản phẩm (tương lai) trên mạng internet và mời cộng đồng đăng ký mua sản phẩm. MW mong muốn thu được 100.000USD sau 1 tháng  và thực tế thì họ nhận được 850.000 USD của hơn 8.500 khách hàng trên 64 quốc gia đặt mua hàng. Ở Việt Nam, hình thức gọi vốn cộng đồng này chỉ mới xuất hiện được đúng 4 tháng nay với các dự án xã hội, tặng áo ấm cho tường tiểu học Ma Cha hay  xây trường tiểu học cho dân tộc HMông ở Sapa, hoặc làm phim âm nhạc của Saigon Electric.        Theo thống kê của MasSolution, một hãng tư vấn các giải pháp khai thác  nguồn lực từ cộng đồng (crowdsourcing), hoạt động của các website  crowdfunding trên toàn cầu đã thu hút được gần 3 tỉ USD trong năm 2012,  gấp đôi so với năm trước đó.        Với những đại gia như Microsoft, Apple hay Samsung, mô hình tung sản phẩm mới luôn luôn là tận dụng cả bộ máy khổng lồ, từ thiết kế sản phẩm, sản xuất, tiếp thị truyền thông và cả mạng phân phối độc quyền của mình. Nhưng với những công ty nhỏ khởi nghiệp như MW, ít vốn, không có chuỗi cung ứng hùng mạnh thì thiết kế mô hình theo ưu thế của “người nhỏ”:  gọi vốn cộng đồng, tận dụng sức bật cải tiến sản phẩm nhanh, bổ sung nhanh các tính năng mới hơn và khả năng bám chắc được động thái và xu hướng thị trường. Khởi đầu có thể là ý tưởng mới về một sản phẩm mới, mà cũng có thể là ý tưởng… không mới, họ có thể chọn dòng sản phẩm đang có nhu cầu cao trên thị trường, và đưa ra những tính năng, ưu thế vượt trội. Có đủ năng lực đưa ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh ra thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh trẻ đâu ngán gì chuyện không có nhà đầu tư. Dĩ nhiên, họ phải am hiểu nhu cầu người tiêu dùng, hiểu điểm mạnh yếu của mình và các đối thủ cạnh tranh, dự báo chính xác các xu hướng tiêu dùng mới và có giải pháp nhanh, phù hợp và có năng lực điều khiển toàn bộ các khâu của chuỗi cung ứng sản phẩm của mình từ thiết kế đến sản xuất, tiếp thị truyền thông và phân phối , tất cả hoạt động cùng lúc liên kết ngang như một ma trận sống động, chứ không phải rời rạc hay tuần tự trước sau.   Nhà đầu tư “trông giỏ bỏ thóc”, đánh giá năng lực nhà kinh doanh , xem xét sản phẩm và quyết định đầu tư . Họ bỏ vốn, nhưng không chỉ cho vàng mà còn chỉ đàng đi buôn, tức là vừa góp tiền vừa theo sát suốt quá trình hình thành sản phẩm, trợ giúp tất cả các khâu mà họ có thế mạnh như tận dụng các mối quan hệ, kiến thức và kinh nghiệm để giúp đối tác. Đây là hình thức đầu tư rủi ro, chọn những sản phẩm công nghệ mới, cố gắng hỗ trợ hết sức và chấp nhận rủi ro, thất bại như trả học phí cho bài học thị trường   Sự ủng hộ của thị trường cho sản phẩm công nghệ  Ở Hoa Kỳ, dạng dự án công nghệ mới này thường khởi đi từ các “Vườn ươm doanh nghiệp”  hay từ các Đại học.Trong bài trước, chúng tôi có nói lướt qua về cách dạy và học ở trường QTKD Sloan của Đại học MIT và hoạt động của vườn ươm doanh nghiệp của trường. Ở đây xin nói rõ thêm về cách “ươm” doanh nghiệp của MIT. Ngay trong khuôn viên nhà trường, có một khu vực riêng gọi là Media lab (phòng thí nghiệm truyền thông) là nơi sinh viên làm các thí nghiệm, thực hành. Nhà trường tổ chức các hoạt động “lôi kéo” các công ty vào đầu tư, đăng nhiều bài báo khuyến khích mối quan tâm của toàn xã hội và “đánh bóng” cho những ý tưởng mới về công nghệ mới của sinh viên, và nếu dự án có triển vọng thì sinh viên có thể thành lập công ty luôn. Những nhà đầu tư  (cá nhân hay doanh nghiệp) có thể coi như  người đại diện của thị trường đồng hành cùng sinh viên, cùng tham gia, tác động để tăng khả năng thương mại hóa cho sản phẩm của dự án.   Cơ chế đầu tư là: tham gia cổ phần để chia sẻ trách nhiệm và được lợi cả hai hình thức, vô hình (giúp lớp trẻ khởi nghiệp thành công) và hữu hình (sản phẩm sinh lợi thì chia lãi cho các nhà đầu tư). Tỉ lệ các dự án của SV thành công có khi chỉ là 20% nhưng các công ty và nhà đầu tư vẫn tham gia nhiều vì hài lòng về sự đóng góp của mình. Kiều Trang kể rằng, ông thầy chủ nhiệm của Media Lab rất trân trọng sự sáng tạo của sinh viên, nhận ra ngay những dự án “chắc thắng” và giúp đỡ khá sát các dự án này, thậm chí, có dự án tốt  mà chưa có ai đầu tư, thầy cũng bỏ tiền túi ra đầu tư để giúp học trò.  Ở MIT, không ít trường hợp có những ý tưởng hay, nhà đầu tư mua luôn cả ý tưởng này, từ khi chưa làm thành sản phẩm.  Như vậy, đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng, tung sản phẩm mới không chỉ và không phải là chuyện của nhà nước. Trừ nghiên cứu cơ bản, giáo dục đào tạo kiến thức khoa học hay truyền thông khoa học-công nghệ thì đối với việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ làm ra sản phẩm bán trên thị trường, hãy để cho thị trường đặt hàng, cấp vốn,thẩm định, đòi hỏi cải tiến hay thải loại để dành chỗ cho sáng kiến mới, sản phẩm mới ra đời. Việc nhà nước cấp ngân sách với những nguyên tắc thủ tục chặt chẻ nghiêm nhặt tối đa mà người thẩm định (trình duyệt cấp ngân sách) không có hay không sát chuyên môn và cũng không quan tâm, không đủ sức kiểm tra hiệu quả việc cấp vốn thì…khó mà không xãy ra lãng phí, quan liêu, tiêu cực.        Đầu tư rủi ro và gọi vốn cộng đồng cho những sản phẩm công nghệ mới,  ngay khi còn ở dạng là ý tưởng, ở Việt Nam là việc quá mới, còn khó được  ủng hộ bởi thói quen khuyến khích cái mới, ủng hộ cái táo bạo của lớp  trẻ dám thử sức với công nghệ, có lẽ chưa thành quán tính rộng rãi trong  xã hội ta.        Tôi hỏi Kiều Trang đâu là những điểm khác nhau, giả sử tung sản phẩm này ở Việt nam thay vì ở Hoa Kỳ? Cô suy nghĩ một hồi và nói thận trọng, có lẽ có nhiều điểm khác nhau nhưng xem đó là tích cực hay tiêu cực còn do góc độ tiếp cận. Đầu tư rủi ro và gọi vốn cộng đồng cho những sản phẩm công nghệ mới, ngay khi còn ở dạng là ý tưởng, ở Việt Nam là việc quá mới, còn khó được ủng hộ bởi thói quen khuyến khích cái mới, ủng hộ cái táo bạo của lớp trẻ dám thử sức với công nghệ, có lẽ chưa thành quán tính rộng rãi trong xã hội ta. Mặt nào đó, do điều kiện sống, do bối cảnh thị trường, người tiêu dùng còn phải lựa chọn hàng hóa giá rẻ hơn, và cũng chưa nghiêm ngặt tỏ thái độ với vi phạm sở hữu trí tuệ. Khi một xã hội đã quen với thị trường phát triển mạnh mẻ các sản phẩm công nghệ cao thì người tiêu dùng đánh giá cao sản phẩm của trí tuệ, sẵn sàng ứng những đồng tiền cụ thể từ túi mình, có khi không nhỏ, để mua sản phẩm như một thái độ chọn lựa, một nghĩa cử lặng lẽ ươm mầm cho những thành quả của tri thức, coi đó là góp sức cho lớp trẻ ưu tú và thúc đẩy tiến bộ của nền công nghệ.   Như vậy việc kết nối công nghệ với thị trường không đơn giản chỉ là những cơ chế, chính sách cụ thể kéo hai phía lại gần nhau , hỗ trợ bổ sung cho nhau phải đặt trên cái nền là thay đổi nhận thức của xã hội.   Thay lời kết cho câu chuyện thị trường và công nghệ  Như vậy, quyết định sức sống của sản phẩm là thị trường. Bán được sản phẩm không phải nhờ cúng bái, chọn được ngày tốt mở hàng hay vay được vốn từ cõi trên.  Để phát triển công nghệ, cần có một thị trường “trưởng thành”. Ở đó, tất thảy thành tố của thị trường đều có vai trò với tất cả sự năng động của mình: nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, nhà đầu tư cùng nhà tư vấn, xúc tiến. Và chính “đội bóng” thị trường tạo ra môi trường thuận lợi, minh bạch, tích cực nhất cho hoạt động của các thành tố này.  Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý cho mọi hoạt động của thị trường, và quản lý, giám sát, chứ không thể nào điều khiển, chỉ đạo thị trường. Nhà nước cần tác động để tạo ra một xã hội quan tâm và ưu ái với khoa học, công nghệ, trong đó, luôn có nhiều người, nhiều công ty bỏ vốn đầu tư cho công nghệ (thay vì dốc hết túi vào đất đai, chứng khoán)  Thị trường công nghệ tạo cơ hội cho mọi người, ai cũng có thể là nhà đầu tư cho công nghệ mới, cụ thể như khách hàng mua MS trên mạng, họ trở thành nhà đầu tư chỉ với 69 USD ứng trước mua sản phẩm. Với nguồn lực vô tận đó của toàn xã hội (về tài chính, kiến thức, kinh nghiệm…) mới đủ sức làm được vai trò bà đỡ, bệ phóng cho những sản phẩm công nghệ mới. Và rồi lại cũng chính sức ép cạnh tranh từ thị trường, sự sàng lọc thải loại những sản phẩm yếu kém hơn, lạc hậu hơn mà người tiêu dùng được phục vụ tốt hơn, hưởng lợi nhiều hơn , thúc đẩy luôn nền công nghệ nước nhà phát triển.                                          Tôi gặp lại Kiều Trang lần thứ nhì vào chiều chủ nhật 14/7 để sáng hôm  sau cô bay sang Hàn Quốc làm việc với nhà máy sản xuất Misfit Shine  (MS). Cô khoe với tôi bộ ảnh quảng cáo có 5 tấm vừa hoàn tất tại TPHCM,  trong đó, tôi thích ba bức: người đàn ông trông giống James Bond đang  bước qua trụ sở ngân hàng quốc gia VN, tay vung cao thấy rõ thiết bị MS ở  vị trí  thường đeo đồng hồ; chàng thiếu niên say mê nhảy Hip hop với  thiết bị MS gắn ở cổ chiếc giày thể thao và cô vũ công với vẻ liêu trai  đang ngắm mặt dây chuyền  trên chiếc cổ gầy– thiết bị MS – trông trang  nhã và hiện đại. Bộ ảnh phải đổ mấy lần, cứ phải chụp đi chụp lại để  toát cho được cái thần của MS rất đồng điệu với những con người bận rộn  và đầy sức sống; nhưng cũng phải kịp với dịp ra mắt website chính thức,  quảng cào, bán hàng giữa tháng 7/2013; cùng lúc với việc giao hơn 8.500  thiết bị cho khách hàng đặt qua mạng ở 64 nước và dịp công bố chuỗi cửa  hàng phân phối toàn cầu cho sản phẩm đầu tháng 8. Công ty Misfit  Wearables (MW) chọn cách xây dựng phương án phân phối thật “lợi hại” là  phát huy một hệ thống phân phối có sẵn của một thương hiệu công nghệ dẫn  đầu thị trường toàn cầu, trên cơ sở tạo ra cho sản phẩm mình những tính  năng tương tác hữu ích và thuận tiện, đồng nghĩa với việc những bộ óc  kinh doanh của MS đã hướng tới việc xây dựng thị trường tiêu thụ chính  của mình ngay từ thiết kế định dạng đầu tiên của sản phẩm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường gạo năm 2008      Theo nguồn tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sản xuất lúa năm 2008 có triển vọng tốt ở hầu hết các nước sản xuất lúa chính, cùng với các xu hướng thay đổi tiêu dùng lương thực sẽ giúp tăng cung giải quyết tình trạng khan hiếm cung gạo trong nửa cuối năm nay.    1. Sản xuất, cung ứng lúa gạo thế giới  Bangladesh, Trung Quốc, Phillippines, Thái Lan và Việt Nam có thể sẽ là những nước có mức tăng sản lượng gạo nhiều nhất. Các nước khác như Indonesia và Sri Lanka, mặc dù phải đối mặt với một số bất lợi về thời tiết, nhiều triển vọng sản lượng gạo sẽ tăng trong năm nay. Ngay cả ở Úc, quốc gia đã và đang đối mặt với hạn hán gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất lúa gạo trong suốt 6 năm gần đây, trong tháng 4 này, nhờ có mưa trên diện rộng ở Úc và NewZealand, sản lượng lúa gạo của Úc vụ này dự kiến sẽ đạt kết quả tốt hơn mong đợi. Tại châu Phi, nếu lượng mưa ổn định trong những tháng tới, sản lượng gạo năm 2008 của châu lục này sẽ đạt khoảng 23,2 triệu tấn, tăng khoảng 3,6% so với năm trước. Nhiều nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới đều đưa ra các kế hoạch và chính sách đẩy mạnh phát triển sản xuất lúa, tăng sản lượng gạo trong năm nay và sắp tới.        Năm 2007, sản lượng gạo thế giới đạt 420,6 triệu tấn. Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Burma, Philippines, Brazil, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pakistan vẫn là 12 nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa gạo, với tổng sản lượng lúa gạo chiếm tới 89% tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới.         Năm 2008, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Ai Cập, Hoa Kỳ vẫn là 7 nước được dự báo vẫn đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, với tổng khối lượng gạo xuất khẩu dự kiến đạt 23,7 triệu tấn, chiếm 82% thị phần của thế giới. Trong đó Thái Lan dự kiến tăng lượng gạo xuất khẩu lên từ 500.000 tấn-1 triệu tấn và đạt mức 9,5 triệu tấn, Hoa Kỳ và Pakistan ổn định ở mức 3,5 và 2,9 triệu tấn tương ứng. 4 nước gồm Trung Quốc, Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ sẽ cắt giảm lượng gạo xuất khẩu trong năm nay: So với năm 2007, xuất khẩu gạo của Việt Nam dự kiến giảm từ 500.000 tấn- 1 triệu tấn, Ai Cập giảm 400.000 tấn, Ấn Độ giảm 500.000 tấn, Trung Quốc giảm 340.000 tấn, kèm theo đó là một loạt các chính sách hạn chế xuất khẩu gạo được áp dụng như áp dụng giá xuất khẩu tối thiểu, áp dụng thuế xuất khẩu gạo, hạn ngạch. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khả năng làm giảm thương mại lúa gạo của thế giới trong năm nay.                     Nguồn: FAS/USDA  Ghi chú: *: thống kê của USDA thực hiện tháng 3/2008; **: thống kê của USDA thực hiện tháng 4/2008     2. Các xu hướng thay đổi trong tiêu dùng lương thực trên thế giới  Bangladesh  Khoai tây đang được khuyến khích tiêu dùng như 1 nguồn cung cấp chất bột chính, thay thế gạo và bột mỳ, trong thực đơn của 140 triệu người dân Bangladesh. Đây là khuyến nghị của Chính phủ Bangladesh trước bối cảnh giá gạo và giá lúa mỳ thế giới tăng mạnh trong thời gian gần đây, và vụ thu hoạch khoai tây bội thu ở nước này, và do khoai tây có khả năng cạnh tranh về mặt kinh tế so với lúa mỳ trong việc phát triển sản xuất lớn với chi phí thấp.  Trung Quốc  Nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc tăng mạnh: Nhu cầu gạo thơm từ Trung Quốc cũng tăng lên để chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán, nhất là đối với gạo Hương nhài và các loại gạo chất lượng cao khác.        Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan    “Giá gạo thế giới sẽ được quyết định chủ yếu bởi động thái của các Chính phủ, hơn là tác động của cung-cầu thị trường. Giá gạo sẽ giữ vững trong nửa cuối năm 2008”.          Theo dự báo của USDA, dự báo nhu cầu tiêu dùng gạo của Trung Quốc là 127 triệu tấn. Với tổng dân số 1,3 tỷ dân, và giả thiết mức tiêu dùng gạo bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2008 là 105 kg/người/năm (bằng so với mức năm 2005), thì tổng nhu cầu gạo cho lương thực trong nước của Trung Quốc năm 2008 lên tới 36 triệu tấn. Vì vậy, Trung Quốc nhập khẩu để cân đối thiếu hụt và bổ sung dự trữ.  Hoa Kỳ  Trong một thập kỷ trở lại đây (1997-2007), gạo thơm được tiêu thụ đặc biệt mạnh tại Mỹ, trong khi tiêu thụ gạo nói chung tại thị trường này chỉ tăng khoảng 2%/năm. Trong giai đoạn từ 1997-2007, nhập khẩu gạo thơm Thái Lan vào thị trường Hoa Kỳ tăng 78%, đạt mức 394.000 tấn vào năm 2007. Trong khi đó, nhập khẩu gạo thơm Ấn Độ cùng kỳ tăng 112%, đạt mức 71.000 tấn vào năm 2007.  Thống kê cho thấy, hai loại gạo thơm này rất ít được tiêu thụ tại hai quốc gia sản xuất ra nó, Thái Lan và Ấn Độ, mà chủ yếu được xuất khẩu sang Anh, Trung Đông, Hồng Kông, Canada, Mỹ và Singapore. Gạo thơm Ấn Độ và Thái Lan có mùi thơm rất khác biệt và giống gạo này nếu được trồng ở những quốc gia khác, sẽ không có được mùi thơm đặc trưng này. Do đó, hai loại gạo này thường có giá cao hơn nhiều so với các loại gạo thông thường khác.  Châu Phi          Cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay được xem như là kết cục của áp lực gia tăng giữa việc gạo được trao đổi trên thị trường thế giới như một nông sản có giá trị kinh tế, và việc gạo có vai trò như một nông sản có ý nghĩa chính trị, có thể tác động đến số mệnh của người nông dân và người tiêu dùng nghèo, và sau đó là tác động đến bộ máy chính trị của nước đó.      Giá gạo là một thước đo mức độ gia tăng của áp lực này, và bất kỳ dấu hiệu mất kiểm soát liên tục về giá trên thị trường sẽ dẫn đến hành vi có thể lý giải được của một bộ phận nông dân, người tiêu dùng, thương nhân và Chính phủ: đó là tích trữ thêm gạo.    Kết cục khó tránh khỏi của các hành vi tích trữ đó là giá gạo tăng liên tục. Chỉ có duy nhất một cách để phá vỡ tình trạng tăng vọt (rocketing-price) là làm cho các tác nhân tham gia thị trường hiểu được nguồn cung lúa gạo sắp tới hoàn toàn bình ổn, nhanh chóng và chắc chắn. Khi nguồn cung gạo mới tung ra thị trường, giá gạo sẽ ngay lập tức giảm mạnh. Quả bong bóng giá gạo hiện nay trên thị trường sẽ nổ và giá gạo sẽ có thể giảm còn một nửa so với mức 1100 USD/tấn hiện nay.          Trước kia Châu Phi là nơi tiêu thụ gạo chất lượng thấp thì giờ đây, nhiều khách hàng châu Phi đã chuyển sang tìm mua gạo trắng chất lượng cao như gạo đồ Thái Lan, do Ấn Độ vẫn hạn chế xuất khẩu gạo phi – basmati.  Giá gạo tăng cao đã làm người dân Châu Phi hạn chế tiêu dùng gạo và chuyển sang tiêu dùng các loại thực phẩm khác.  Malaysia  Malaysia mới đây đã phải mua khẩn cấp 500.000 tấn gạo từ Thái Lan để bổ sung cho kho dự trữ đang cạn dần. Malaysia hiện chỉ sản xuất được 70% nhu cầu gạo trong nước và phải nhập khẩu từ Thái Lan, Việt Nam và Campuchia để đáp ứng 30% còn lại. Mức tiêu thụ gạo của Malaysia ước khoảng 2,2 triệu tấn mỗi năm.  Brazil  Tiêu dùng gạo đồ tăng, đặc biệt là ở các vùng dân cư có thu nhập cao, giàu có. Năm 2007, tiêu dùng gạo đồ chiếm tới 20% tổng tiêu dùng gạo của Brazil (so với 7-10% năm 1997). Tiêu dùng gạo trắng đã qua chế biến bình quân đầu người có xu hướng giảm do mức thu nhập dân cư tăng.  Nhật Bản  Tiêu dùng gạo bình quân đầu người của Nhật Bản ngày càng giảm. Trong vòng 40 năm (1965-2006), tiêu dùng gạo bình quân đầu người của Nhật giảm gần một nửa: từ 118kg xuống còn 61kg/người/năm. Lương thực thay thế gạo ở Nhật Bản là bánh mỳ và các lương thực chế biến từ bột mỳ.  Hàn Quốc  Bên cạnh lúa gạo là lương thực chính, người dân Hàn Quốc còn sử dụng các loại ngũ cốc, lương thực khác cho bữa ăn hằng ngày như lúa mạch, bột mỳ, đậu, khoai tây…). Trong giai đoạn 2005-2007, tiêu dùng lương thực bình quân đầu người đều có xu hướng giảm, không chỉ riêng đối với gạo, mà đối với các loại khác như lúa mỳ, lúa mạch, đậu, khoai tây… Tiêu dùng gạo bình quân đầu người của Hàn Quốc năm 2007 chỉ còn ở mức 76,9 kg/người/năm (giảm 25% so với mức tiêu dùng bình quân 102,4 kg/người/năm vào năm 1997).  3.  Những yếu tố tác động đến giá gạo thế giới nửa đầu năm 2008  Thứ nhất, thông tin về cung-cầu- dự trữ lúa gạo thế giới thiếu và chệch, việc giá gạo thế giới tăng mạnh, gây tâm lý hoảng loạn và lo sợ về 1 cuộc khủng hoảng thiếu lương thực trên thế giới. Đặc biệt là không ai biết thông tin chính xác về cung-cầu và dự trữ lúa gạo của Trung Quốc, nước sản xuất, tiêu thụ và dự trữ lương thực nhiều nhất trên thế giới hiện nay.  Thứ hai, hiện tượng đầu cơ, tích trữ gạo trên thị trường gạo kỳ hạn Chicago và Bangkok tăng mạnh. Sản xuất ethanol đang mở rộng trên thế giới, các nhà đầu tư tài chính đang đầu cơ một số loại ngũ cốc, những người được đánh giá là có rất ít hiểu biết về các mặt hàng lương thực này, làm đẩy giá các mặt hàng đầu cơ tăng và gián tiếp làm tăng giá gạo.  Thứ ba, trong tháng 4 và 5, một loạt các nước xuất khẩu gạo: Ấn Độ, Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc quyết định ngừng xuất khẩu gạo, làm giảm mạnh nguồn cung. Đầu tiên là việc Ấn Độ đột ngột đưa ra chính sách cấm xuất khẩu gạo, đã nhanh chóng ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu khác và cùng đi đến quyết định tương tự. Trong bối cảnh đó, do tâm lý hoảng loạn và nhu cầu tích trữ gạo, các nước nhập khẩu gạo lại có xu hướng tìm mua gạo để đảm bảo nguồn cung ở mức giá nào. Kết quả là, về mặt lượng, thương mại gạo thế giới trong 4 tháng đầu năm 2008 cao hơn 20% so với cùng kỳ năm 2007. Tính đến cuối tháng 4/2008, giá gạo thế giới đã tăng gấp gần 3 lần so với đầu năm, trong khi lẽ ra các yếu tố cơ bản cung-cầu của thị trường chỉ có thể tác động làm giá tăng với mức độ thấp.  Thứ tư, việc đồng Bạt của Thái Lan liên tục giữ giá so với đồng USD đã tác động mạnh đến giá gạo trong các giao dịch quốc tế.  Thứ năm, việc các nước thu hẹp diện tích nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc) đe dọa nguồn cung lương thực thế giới  Thứ sáu, thời tiết khắc nghiệt và thiên tai ảnh hưởng đến nguồn cung gạo những tháng đầu của năm và sản xuất lúa gạo sắp tới:  – Tháng 1 và 2/2008, tuyết rơi dày ở Trung Quốc, rét hại và nạn sâu bệnh ở Việt Nam đã làm giảm sản lượng lúa vụ đông xuân cũng được coi là các nguyên nhân khiến giá gạo tăng cao.  – Tháng 5/2008, thảm họa bão Nargis vào Myanmar đã gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế nước này, 5 bang chịu thiệt hại nặng nhất của cơn bão đều là vùng sản xuất lúa lớn, đóng góp  trung bình 65% sản lượng gạo, và chiếm 50% diện tích lúa có tưới của Myanmar. Có tới 20% diện tích lúa mới canh tác vụ mới ở 5 bang này bị phá hủy sau cơn bão. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Myanmar, có khoảng 650,000 ha lúa ở đồng bằng và vùng ven thành phố Yangon, Myanmar chịu tác động của cơn bão trong tổng số diện tích lúa 3,2 triệu ha.  – Tháng 5/2008, trận động đất lớn xảy ra ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc đã gây thiệt hại nặng nề. Theo ước tính của Air worldwide, thiệt hại về kinh tế khoảng 20 tỷ USD, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng. Tứ Xuyên là tỉnh nông nghiệp lớn ở Trung Quốc với các vùng trồng lúa, lúa mỳ, ngô và chăn nuôi lợn. Tứ Xuyên là tỉnh đứng hàng thứ 5 về sản lượng gạo của Trung Quốc. Năm 2007, sản lượng lương thực Tứ Xuyên đạt 34.484 nghìn tấn.     4. Những dự báo giá gạo thế giới những tháng cuối năm 2008  Về mặt cung, năm 2007, sản lượng gạo thế giới đạt mức cao, và dự báo năm 2008 tiếp tục đạt kỷ lục cao hơn nữa. Về mặt cầu, người tiêu dùng gạo thế giới không có biểu hiện đột ngột tăng lượng gạo tiêu dùng cho lương thực. Dự trữ gạo thế giới (không tính của Trung Quốc), đạt ổn định trong 5 năm gần đây. Các yếu tố này không cho thấy sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng lương thực, cũng như việc giá gạo thế giới có thể bùng nổ trong dài hạn.  Từ các phân tích và dự báo cung-cầu-dự trữ lúa gạo thế giới, cũng như phân tích các chính sách sản xuất và thương mại lúa gạo của các nước năm 2008 cho thấy nhiều khả năng giá gạo thế giới sẽ chỉ đứng ở mức cao như hiện nay cho đến tháng 7-8. Giá gạo thế giới sẽ chững lại và giảm dần khi nguồn cung gạo các nước tăng sau vụ thu hoạch mới của các nước kết thúc, giá gạo có thể giảm từ 30-50% so với mức hiện nay. Tuy nhiên, nếu điều đó có xảy ra, giá gạo cũng khó có thể quay lại mức của năm 2007 khi những nhà sản xuất tiếp tục phải trả nhiều tiền hơn để mua phân bón, thuốc trừ sâu và năng lượng đang tăng giá.  Phạm Hoàng Ngân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường lớn nhưng không dễ thuyết phục      Với mức dân số cao1 kéo theo quy mô lớn về  nhu cầu tiêu dùng, thị trường nội địa Việt Nam là mục tiêu hấp dẫn để  chinh phục cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trước khi tiến ra biển lớn.  Thế nhưng trên thực tế, họ phải đối diện với một thử thách hết sức khó  khăn, đó là trung bình người Việt trả rất ít tiền cho các sản phẩm khoa  học và công nghệ do các nhà khởi nghiệp Việt Nam phát triển và phân  phối.    Năm 2002, quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Việt Nam bắt đầu khai phá mảnh đất hoang nhưng đầy tiềm năng mang tên đầu tư vào các nhà khởi nghiệp khoa học công nghệ tại Việt Nam. Những thương vụ đầu tư đầu tiên được thông báo rộng khắp với tổng giá trị đầu tư khi ấy không dưới 10 triệu đô-la. Nhiều cái tên quen thuộc như VNG, VietnamWorks hay Vật Giá một thời đã trở thành những câu chuyện khởi nghiệp tiêu biểu trong giới công nghệ, cùng với những thương vụ đình đám khác tạo niềm cảm hứng cho cộng đồng khởi nghiệp cho đến ngày nay. Sau đó, các quỹ mạo hiểm khác đến từ Nhật, Nga, Singapore, v.v cũng bắt đầu vào tìm hiểu và nối bước đầu tư. Thị trường cũng trở nên sôi động với một số sản phẩm công nghệ thú vị, hữu ích cho đời sống do các công ty khởi nghiệp tạo ra.  Xu hướng tích cực này chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực CNTT, và từng được kỳ vọng sẽ ngày càng trở nên mạnh mẽ cùng với sự phát triển nhanh chóng của cơ sở hạ tầng viễn thông. Theo báo cáo về tình hình Internet tại khu vực Đông Nam Á tính đến cuối tháng 7/2013 của hãng nghiên cứu thị trường comScore, với 16,1 triệu người dùng Internet hàng tháng, Việt Nam là quốc gia có dân số trực tuyến lớn nhất tại khu vực ASEAN.  Tuy nhiên, trong thực tế làn sóng khởi nghiệp ở Việt Nam đã không thể bùng nổ như người ta dự kiến, đơn giản bởi vì thị trường Việt Nam chỉ lớn về lượng khách hàng tiềm năng, nhưng nếu so với thị trường ở các nước làn sóng khởi nghiệp đã gặt hái thành công như Mỹ, Nhật, Châu Âu, Trung Quốc, v.v thì nguồn thu mà khách hàng Việt tạo ra cho doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ là không cao, bởi lượng tiền trung bình mỗi khách hàng sẵn sàng chi trả rất thấp nếu so với khách hàng ở các thị trường truyền thống – trung bình mỗi khách hàng của một doanh nghiệp khởi nghiệp đình đám ở Việt Nam như VNG cũng chỉ trả 5 đô la mỗi năm cho tất cả các dịch vụ số mà doanh nghiệp nay cung cấp – và số lượng người sẵn sàng trả tiền cũng rất ít ỏi.   Ví dụ gần đây như với ứng dụng quản lý tài chính chi tiêu trên di động MoneyLover, được phát triển bởi một chàng trai Việt Nam 24 tuổi Ngô Xuân Huy. Ứng dụng này có hai phiên bản: phiên bản cơ bản miễn phí và với phiên bản nâng cao, người dùng phải trả phí khoảng 5 đô-la. MoneyLover kiếm tiền từ quảng cáo trong phiên bản cơ bản miễn phí và thu phí từ người dùng khi họ mua phiên bản nâng cao với nhiều chức năng hoàn thiện và tiện ích hơn. Với con số 2 triệu lượt tải về, MoneyLover có khoảng 300.000 thiết bị cài đặt & sử dụng ứng dụng thường xuyên. Tuy nhiên, con số từ người dùng Việt Nam chỉ từ 20 – 30 người dùng trả tiền cho phiên bản nâng cao. Trong khi đó, tại thị trường nước ngoài, con số này là khoảng hơn 10.000 và tăng dần theo năm tháng.  Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nay, trong đó có phần hạn chế về phía bản thân các doanh nghiệp khởi nghiệp khi cho ra đời những sản phẩm chưa thực sự được trau chuốt và chất lượng chỉ ở mức bình thường bậc trung. Còn về phía khách hàng có những vấn đề chúng ta đã biết như thu nhập bình quân của người Việt Nam còn ít ỏi, nhận thức về chi trả tiền để sở hữu sản phẩm bản quyền của người dùng Việt Nam còn thấp, đồng thời các giải pháp thanh toán trực tuyến cũng chưa phải là sự lựa chọn hàng đầu của người dùng khi nền tảng hạ tầng để thanh toán trực tuyến cho dịch vụ công nghệ còn hạn chế và thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn cao.   Trong những vấn đề này, có những vấn đề có tính chất khách quan hoặc thuộc về văn hóa, thói quen ứng xử, đòi hỏi sự tự điều chỉnh một cách tuần tự và tự nhiên, nhưng có một vấn đề hạn chế mang tính kỹ thuật, không thể tự điều chỉnh mà phải có sự vào cuộc đồng thời từ nhiều phía, đó là nền tảng hạ tầng cho thanh toán trực tuyến. Đây là một câu chuyện phức tạp, đòi hỏi sự hội tụ đủ các yếu tố như hệ thống lõi của ngân hàng, nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên di động như các telco, cũng như sự hỗ trợ mang tính pháp lý đến từ nhà nước. Giải pháp thanh toán trực tuyến có liên quan nhiều đến quản lý dòng tiền tài chính, những sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo hệ thống tiền tệ được lưu thông liền mạch và minh bạch, nên khi đưa ra quyết định cấp giấy phép thường có quy trình phức tạp, chỉ cần vướng một vài khâu cũng có thể mất thời gian rất lâu để có thể triển khai.  Như vậy, sự phát triển thần tốc của Internet và hệ sinh thái trên Internet tạo ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, nhưng cơ hội ấy rất khó được hiện thực hóa nếu người dùng chưa có thói quen trả tiền cho nội dung trên internet, và thiếu các giải pháp để thực hiện thanh toán trực tiếp. Để giải quyết vấn đề này, cộng đồng khởi nghiệp rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về cải cách thủ tục pháp lý và hỗ trợ về truyền thông cộng đồng trên diện rộng, đưa ra những chính sách phù hợp theo kịp với xu hướng phát triển của thị trường. Khoa học công nghệ là lĩnh vực luôn có sự đổi mới và thay đổi từng giờ, từng ngày, đôi lúc chỉ vì một số hạn chế tưởng chừng rất nhỏ mà chúng ta bỏ qua những cơ hội phát triển mở rộng đáng tiếc.           SuperData Research cho biết trong một báo cáo  của hãng này được phát hành vào tháng 5 năm 2014, trung bình mỗi người  dùng Internet tại Mỹ chi trả hàng tháng khoảng 21,6 đô-la cho trò chơi  trên di động, và tại Trung Quốc con số này là 32,46 đô-la. Mitsubishi  UFJ Morgan Stanley Securities có trụ sở chính ở Tokyo cũng đưa ra những  con số ước lượng với mỗi người dùng Nhật Bản chi trả khoảng hơn 53 đô-la  cho trò chơi trên mạng xã hội mỗi tháng. Những con số chi trả bình quân  trên mỗi người dùng này chưa kể đến các dịch vụ nội dung số khác như  nhạc, phim, tải tài liệu, v.v. Còn ở Việt Nam chúng ta chưa có số liệu  tương đương để so sánh, nhưng rất khó tìm ai đó sẵn sàng trả hàng trăm  nghìn VND mỗi tháng cho các dịch vụ số.           ————————————————–  1: Ước tính đến hết tháng 7 năm 2014, theo  Central Intelligence Agency (CIA – Mỹ), Việt Nam xếp hạng thứ 15 trên  thế giới về số lượng dân số.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường năng lượng nguyên tử  thế giới và tham vọng của Nga      Hiện nay, các nước Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Nga được coi là những quốc gia dẫn đầu trên thị trường năng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, kết quả điều tra do các chuyên gia độc lập tiến hành cho thấy, các hãng của Pháp và Mỹ – những hãng cung cấp dịch vụ về xây dựng các tổ hợp hạt nhân – đang phải đối mặt với những khó khăn to lớn về công nghệ.  Trong bối cảnh đó, khả năng cạnh tranh của các công ty Nga trên thị trường nguyên tử ngày càng được nâng cao.      EPR 1600 của Pháp lỡ hẹn  Ví dụ, hãng Areva (Pháp) đang gặp khó khăn liên quan tới những vấn đề nảy sinh khi thực hiện dự án xây dựng lò phản ứng hạt nhân (tức nhà máy điện nguyên tử) thế hệ thứ 3 mang tên EPR-1600 tại Phần Lan. Giới chuyên gia khoa học và các thành viên Chính phủ ở Phần Lan đều cho rằng việc hoàn thiện quá trình xây dựng lò phản ứng thế hệ 3 tại nhà máy điện nguyên tử Olkiluoto (Phần Lan) do Areva đảm nhận sẽ phải chậm lại cho tới cuối năm 2012 hoặc tới đầu năm 2013. Đánh giá này dựa trên thực tế là công việc xây dựng và lắp ráp luôn bị trì hoãn và bị Trung tâm Nguyên tử và An toàn phóng xạ (SRUK) của Phần Lan chỉ trích. Trung tâm này đòi hỏi phía Pháp phải tuân thủ nghiêm ngặt những tiêu chuẩn mà Phần Lan đòi hỏi.  Theo hợp đồng trị giá 3 tỷ Euro ký kết từ năm 2005, thì sau bốn năm, Areva phải xây dựng xong lò phản ứng hạt nhân theo hình thức “chìa khóa trao tay” cho phía Phần Lan. Do tiến độ thi công không được thực hiện đúng như kế hoạch, nên bên đặt hàng bị thiệt hại khoảng 2,4 tỷ Euro, và do vậy phí tổn xây dựng lò phản ứng EPR 1600 đối với Areva có thể bị đẩy lên tới 7,1 tỷ Euro.  Tháng 11/2009, các cơ quan điều hành trong lĩnh vực an toàn nguyên tử như ASN của Pháp, STUK của Phần Lan, HSE của Vương quốc Anh đã cùng soạn thảo báo cáo trong đó nêu quan điểm của mình về độ tin cậy của lò phản ứng loại EPR.  Chẳng hạn, chuyên gia của các cơ quan nói trên đã tiến hành phân tích sự tương thích giữa hệ thống an toàn của lò phản ứng EPR với những yêu cầu đặt ra và sự phối hợp hoạt động giữa hệ thống an toàn với hệ thống điều hành. Các chuyên gia đã đi tới kết luận giống nhau rằng ngay từ đầu, cấu trúc của lò EPR đã không được thiết kế dựa trên nguyên tắc phối hợp hoạt động giữa các hệ thống nói trên và giữa những hệ thống này có mối liên hệ phức tạp, gây ảnh hưởng tiêu cực tới độ an toàn của lò phản ứng.  Họ đã gặp gỡ đại diện bên thi công công trình – Areva – và đại diện bên cấp giấy phép xây dựng – tổ hợp EDF, yêu cầu phải có những thay đổi cần thiết trong thiết kế. Các hãng của Pháp đã đồng ý xem xét lại thiết kế và sau đó ASN, STUK và HSE phải kiểm tra độ an toàn của lò phản ứng một lần nữa. Như vậy, thời gian để lò phản ứng đi vào hoạt động có thể sẽ kéo dài thêm. Sự cố này khiến cho cổ phiếu của Areva bị tụt giảm 5%.  Cần nhấn mạnh thêm rằng lò phản ứng hạt nhân EPR không cung cấp hệ thống an toàn kép (hệ thống an toàn cơ học phụ trợ cho hệ thống an toàn điện tử) ngay từ đầu nên hệ thống này đã không được đưa vào thiết kế. Lý do là Areva đặt mục tiêu tiết kiệm chi phí xây dựng lên hàng đầu. Hãng cho rằng thiết kế hệ thống an toàn kép sẽ làm cho thiết kế thêm phức tạp và chi phí sẽ đội lên.  AP-1000 của Mỹ Vẫn nằm trên giấy  Cuối tháng 11/2009, một thanh tra viên về thiết bị nguyên tử người Anh đã đưa ra bản báo cáo chỉ trích gay gắt dự án lò phản ứng hạt nhân loại AP-1000 của Mỹ. Cơ quan giám sát nguyên tử của Trung Quốc không cấp giấy phép xây dựng lò phản ứng hạt nhân loại AP-1000 cho tới khi nào những khiếm khuyết chưa được loại trừ và những đòi hỏi cho loại lò này chưa được đáp ứng. Trước đó, Ủy ban điều hành hạt nhân của Mỹ (NRC) đã yêu cầu hãng Westinghouse hoặc là thay đổi thiết kế của lớp bọc bảo vệ, hoặc phải chứng minh độ tin cậy của lớp bọc này và khả năng chống chọi của lớp bọc trước hiện tượng thiên tai như bão, lốc xoáy.  Cho tới nay, loại lò phản ứng AP-1000 mà Mỹ quảng cáo ra thị trường nước ngoài vẫn chỉ nằm trên giấy, và đã 30 năm nay hãng Westinghouse chưa trực tiếp thực hiện việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân nguyên tử nào. Hơn nữa, việc thiếu vắng các chuyên viên chuyên ngành và kinh nghiệm xây dựng là những khiếm khuyết rất lớn, đặc biệt là đối với thị trường các nước thứ ba, có thể dẫn tới tăng giá thành một cách đáng kể ngay trong quá trình thực hiện dự án.  Hiện nay, có ý kiến cho rằng những tổ hợp hạt nhân mới nhất do Mỹ xây dựng có thể đi vào hoạt động vào giữa những năm 2010. Nhưng do một số nguyên nhân khác, thời điểm này có thể dịch chuyển tới những năm 2020. Nhiều chuyên gia độc lập nhận định rằng các công ty của Nhật Bản dựa vào công nghệ hạt nhân của Mỹ, đang biến thành những con tin của tình trạng này.  Tham vọng của Nga  Phát biểu tại một cuộc họp về phát triển năng lượng hạt nhân tại Nga vào tháng 3/2010, Thủ tướng Nga V.Putin khẳng định, Nga có nhiều khả năng kiểm soát khoảng 25% thị trường xây dựng và phát triển nhà máy điện hạt nhân thế giới. Cũng theo Thủ tướng Putin, cổ phần của Rosatom – tập đoàn Nhà nước về điện hạt nhân – trên thị trường làm giàu uranium thế giới nay đã lên đến 40%. Tập đoàn cũng chiếm 17% thị trường cung cấp nhiên liệu hạt nhân.   Thủ tướng Putin khẳng định Chính phủ Nga sẽ tiếp tục ủng hộ các công ty của nước này trên thị trường quốc tế. “Tôi muốn nói đến các khoản vay xuất khẩu đặc biệt. Chúng tôi cũng sẽ tăng thêm vốn của các công ty, giúp cho việc thắng thầu quốc tế dễ dàng hơn.”  Số lượng bạn hàng nước ngoài đã và đang sử dụng dịch vụ của Nga trong lĩnh vực điện nguyên tử cũng mỗi ngày một tăng thêm. Bên cạnh việc các công ty Nga tham gia vào gói thầu xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Argentina, trong chuyến thăm Venezuela hồi tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Nga V.Putin và Tổng thống H.Chavez đã thảo luận vấn đề xây dựng nhà máy hạt nhân vì mục đích hòa bình. Ông Chavez tuyên bố Nga sẽ giúp Venezuela trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên lãnh thổ nước này.  Ngày 24/3 vừa qua, Công ty Xây dựng hạt nhân Atomstroyexport thuộc Tập đoàn Nguyên tử Rosatom của Nga đã ký thỏa thuận với đối tác Trung Quốc để xây dựng thêm hai lò phản ứng công suất 1.000 MW cho nhà máy điện hạt nhân Điền Loan ở tỉnh Giang Tô thuộc miền Đông Trung Quốc. Tại nhà máy điện hạt nhân Điền Loan đã có hai lò phản ứng hạt nhân công suất 1.000 MW, cũng do Nga giúp xây dựng, được đưa vào hoạt động từ năm 2007.   Hiện Nga đang cạnh tranh với các nước phương Tây và Nhật Bản giành thị phần trên thị trường năng lượng hạt nhân của Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh có kế hoạch tăng số lượng nhà máy điện hạt nhân nhằm giảm sự phụ thuộc vào than đá. Atomstroyexport là công ty đầu tiên xây dựng các lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới. Theo các chuyên gia của Atomstroyexport, nhà máy điện hạt nhân Điền Loan là nhà máy an toàn nhất trong số các nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc.       Theo Atomic-energy.ru     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường tài chính đón chào AI      Những năm gần đây, ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) đã nhanh chóng lan rộng trên khắp các thị trường tài chính nhờ nỗ lực của các nhà giao dịch nhằm chiếm thế thượng phong, trong khi các nhà quản lý lại tiếp cận công nghệ tiên tiến này một cách cẩn trọng.      Trong những năm tới, AI sẽ càng thêm sức hút trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Nguồn: techxplore.com  Các thuật toán giao dịch tần suất cao (HFT) đã thống trị hơn một thập kỉ qua do các ngân hàng và quỹ đã tận dụng những biến đổi nhỏ của giá trên nhiều thị trường để thực hiện hàng ngàn giao dịch trong một giây. Nhiều phương trình toán học phức tạp đã được sử dụng để tiến hành một số hoạt động nhất định, ví dụ như mua bán chứng khoán nếu số lượng giao dịch đạt ngưỡng xác định. Tuy nhiên, người ta cũng chỉ trích việc sử dụng các thuật toán này khi nó liên quan đến những sự cố sụt giảm tức thì (flash crashes), chẳng hạn hoạt động giao dịch tần suất cao được coi là nguyên nhân dẫn đến vụ xuống giá của đồng bảng Anh vào tháng 10/2016.    AI đang mở ra một địa hạt mới trong hoạt động giao dịch, tại đó các phần mềm học máy có thể so sánh hàng chục cơ sở dữ liệu chỉ trong chớp mắt để theo dõi rủi ro. Máy tính sẽ tự xác định xu hướng và tương quan thị trường, chạy các mô hình, dự báo kết quả và đi đến quyết định mua hoặc bán chứng khoán. Như vậy, AI có thể hỗ trợ quỹ đầu tư và nhà quản lý danh mục kiểm soát các rủi ro cũng như chọn cổ phiếu phù hợp nhất với từng đối tượng khách hàng.  Các ngân hàng cũng đang triển khai AI để phát hiện gian lận, ngăn chặn tấn công các hệ thống máy tính và giảm thiểu chi phí. Họ còn sử dụng AI để thiết lập mức lãi suất của từng dịch vụ tài chính và phân tích rủi ro hồ sơ đi vay.   Khảo sát cho thấy trong những năm tới, AI sẽ càng thêm sức hút trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Gần đây công ty phân tích dữ liệu Greenwich Associates đã khảo sát các chuyên gia thị trường, hơn một nửa trong số này cho biết họ sẽ tích hợp AI trong hai năm tới.   Các cơ quan quản lý tài chính toàn cầu cũng có thể triển khai AI để dự đoán những cơn bão tài chính sắp diễn ra. Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai Mỹ (CFTC) cảnh báo quá trình này không phải không có cạm bẫy, nhưng thừa nhận rằng AI vẫn sở hữu “thế mạnh” trong việc theo dõi rủi ro. Công ty khởi nghiệp công nghệ SparkBeyond của Israel sở hữu một nền tảng xử lý dữ liệu nhằm khai thác AI để giải quyết vấn đề. Edward Janvrin, Trưởng bộ phận châu Âu, Trung Đông và châu Phi của SparkBeyond cho biết, công ty sử dụng phương pháp học máy để tư duy vượt giới hạn và kiểm tra các kết quả chưa rõ ràng.  Trong một báo cáo gần đây, CFTC ghi rằng “việc dự đoán các sự kiện thảm khốc như vụ vỡ nợ năm 2008 cũng giống như dự báo thời tiết”. Họ cho rằng “có nhiều biến số có thể tạo ra các dự đoán phân kỳ, một số thông tin chính có thể bị bỏ qua hoặc không có sẵn. Điều này có thể cản trở việc khắc phục sai sót”. Và “điểm mạnh của AI là khả năng xác định mối tương quan trong các tập dữ liệu lớn. Mối tương quan như vậy có thể hữu ích trong giám sát rủi ro hệ thống. Rõ ràng là phần lớn những người tham gia thị trường… sẽ sớm sử dụng AI trong quá trình giao dịch chứng khoán”.  Trong khi đó, ngân hàng trung ương Bank of England cũng đã đưa ra một phân tích thận trọng: “Trong ngành dịch vụ tài chính, việc áp dụng các phương pháp học máy có tiềm năng cải thiện kết quả cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng”, đồng thời, “rủi ro hiện tại có thể bị khuếch đại nếu việc quản trị và kiểm soát không theo kịp sự phát triển công nghệ.”  GS. Vasant Dhar, ngành hệ thống thông tin tại Trường Kinh doanh Stern, ĐH New York, nói rằng việc giao dịch bằng AI sẽ luôn an toàn hơn các quyết định hoàn toàn do con người chỉ đạo. Ông cũng nói thêm, bất kì hệ thống AI nào cũng có phương án lựa chọn dự phòng là con người. Nhưng Dhar cảnh báo con người không nhất thiết sẽ nhận ra lỗi hệ thống hoặc có được hành động hợp lý. ”Hãy xem xét thực tế rằng con người cũng có thể đưa ra những quyết định tồi tệ. Chúng ta không thể cho rằng chỉ cần cho con người vào quy trình là có thể sẽ tạo ra quyết định đúng đắn”, ông nói.□     Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2019-12-financial-embrace-brave-world-ai.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thị trường tự do không mang lợi lộc cho các nước nghèo”      Nhà kinh tế học người Mỹ đồng thời là người đặc trách về chống đối nghèo của Liên hiệp quốc Jeffrey Sachs cho rằng có thể thực hiện xóa đói nghèo trong vòng hai chục năm tới. Sachs đã bày tỏ với tạp chí&#160; Stern.de về kế hoạch&#160; đầy hấp dẫn và hết sức mạnh bạo của mình.    Thưa giáo sư  Sachs, từ hàng chục năm nay, hàng tỷ đôla viện trợ phát triển đã đổ vào các nước nghèo – nhưng kết quả thu được lại chẳng là bao. Nay giáo sư lại nói, sẽ giảm đói nghèo xuống một nửa trong mười năm tới và sau 20 năm sẽ xóa hết đói nghèo. Giáo sư là một người vô cùng lạc quan hay là một kẻ ngây thơ?  Có lẽ chúng ta một lần nữa cần nói thật rõ rằng, mỗi ngày trên trái đất này có khoảng 20.000 người bị chết vì  cuộc sống quá cơ cực. Trên một ti người thuộc diện cực kỳ nghèo khổ. Có nghĩa là mỗi ngày họ chỉ sống với khoảng 70 cent (1 đô la=100 cent). Trong số này hơn một nửa sinh sống ở Châu Phi. Hàng ngày họ phải vật lộn để tồn tại. Một sự thật đáng buồn là: từ hàng chục năm nay thế giới đã cố gắng hỗ trợ để giải quyết tình trạng này. Nhưng sự giúp đỡ đó thường chỉ xoay quanh những vấn đề về tư tưởng và những khái niệm rất kêu đại loại như phải xây dựng  “thị trường tự do” hay phải có “kỷ luật ngân sách chặt chẽ”. Đó là những chẩn đoán sai lầm.     Thế tại sao cách làm của ông mới là đúng?  Chúng ta cần đại loại một cái như là  kế hoạch Marshall mới. Tất cả các nước đến một lúc nào đó đều trải qua một giai đoạn khó khăn và cần sự giúp đỡ để thoát khỏi khó khăn đó. Kế hoạch Marshall đã từng cứu giúp, vực châu Âu đứng lên. Những nước nghèo hiện nay có ba lĩnh vực khó khăn nổi cộm nhất, đó là: dịch bệnh, lương thực thực phẩm và hạ tầng cơ sở. Người dân các nước đó cần có những khoản đầu tư chứ không cần có những chương trình cải cách kinh tế rầm rộ. Họ cần có những sự hỗ trợ rất cụ thể để tiêu diệt bệnh Aids và sốt rét, cần thuốc men và các loại thuốc tiêm phòng. Họ cần có hạt giống với năng xuất cao, cần phân bón cho ruộng đồng đã trở nên cằn cỗi. Họ cần xe tải và xây dựng đường xá để có thể mở mang buôn bán với các vùng. Đói nghèo đang là một cái bẫy đối với một tỷ người trên trái đất mà họ không thể tự mình thoát ra khỏi cái bẫy đó.           Trên một tỉ người trên thế giới thuộc diện nghèo khổ, sống mỗi ngày với món tiền chưa tới 1 đô la trong đó hơn một nửa thuộc Châu Phi        Thưa giáo sư , tại sao có những nước không thoát ra khỏi cái bẫy đó trong khi đó lại có những nước đã thoát bẫy đói nghèo, như Ấn Độ chẳng hạn?  Cách đây chưa lâu lắm cả thế giới còn nghèo. Các bậc cụ kỵ của chúng ta có lẽ cũng là những người nông dân nghèo khổ. Nhưng trong 180 năm qua ở hầu hết các phần của trái đất đã diễn ra một hình thức gì đó về thăng trưởng kinh tế…  … mà thành công nhất là cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Hoa Kỳ…  … tuy nhiên một số nước không leo lên được cái thang – phát triển này. Phần lớn các nước này là những nước nằm ở những vùng xa xôi hẻo lánh, đi lại khó khăn ở châu Phi và châu Á. Người nông dân ở đây hoàn toàn chẳng có cái gì cả. Chẳng có đường xá cũng chẳng có điện. Họ luôn bị đói ăn, bị bệnh tật lại không được học hành. Những gì họ có, họ đều tiêu thụ hết để tồn tại. Họ không thể tiết kiệm và càng không thể đầu tư. Những người khác cần giúp đỡ họ làm việc này. Tại Trung Quốc, đất nước này còn có rất nhiều người cực kỳ nghèo khổ, nhưng những vùng duyên hải trù phú có thể chu cấp cho những vùng nghèo khổ này. Nhưng ở nhiều nước khác người ta lại lệ thuộc quá nhiều vào đầu tư  từ bên ngoài.  Giờ đây nhiều chuyên gia lên tiếng đòi đình chỉ viện trợ tài chính. Những khoản viện trợ đó chỉ nuôi béo bọn độc tài và bộ máy quan liêu tham nhũng. Và điều tồi tệ hơn, nó làm cho người ta trở thành những kẻ chỉ biết xin ăn.   Như thế viện trợ phát triển phải chăng là “viện trợ kinh khủng”?  Phải. Đúng thế. Nhất là khi chúng ta cử chuyên gia của chúng ta được trả lương hậu hĩnh từ khoản viện trợ tài chính này để ban phát những ý kiến hay ho. Không thể tiếp tục tồn tại các tờ séc ký khống.  Ngay cả viện trợ cứu đói cũng không phải là viện trợ thực sự. Tôi yêu cầu một cái gì khác: phải đầu tư vào những dự án thiết thực. Những dự án đó phải kiểm tra được, phải chứng minh được là  mang lại lợi ích cụ thể cho người dân ở địa phương.                 Giáo sư Jeffrey D. Sachs, sinh năm  1954 ở Detroit, ông giảng dạy về kinh tế học tại Đại học Harvard. Sachs nổi tiếng từ những năm là cố vấn kinh tế cho một số chính phủ ở Mỹ La tinh và Liên xô và là cố vấn của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Tổ chức OECD. Ngoài ra Sachs còn là đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc  Kofi Annan về chống đói nghèo.  Chú thích ảnh: Giáo sư Jeffrey D. Sachs          Nhưng thưa giáo sư ý tưởng này đã có từ lâu rồi. Tại sao đúng vào lúc này ý tưởng đó lại có thể phát huy tác dụng?  Vì chúng ta đã thu được kết quả. Cách đây 40 năm bệnh đậu mùa là một trong những căn bệnh nghiêm trọng nhất đối với nhân loại. Sau đó có thuốc tiêm chủng và thế giới đã cam kết tiêu diệt triệt để bệnh dịch này. Lúc đầu hầu như không mấy ai tin sẽ thành công. Hôm nay thì sao? Bệnh đậu mùa đã bị tiêu diệt ở tất cả các nước, ngay cả ở những thôn xóm ở xa xôi nghèo khổ nhất. Xin nêu một ví dụ khác: bằng tiền của Quỹ tư nhân Rockefeller (Hoa Kỳ) cách đây 30 năm Mêhicô và Châu Á đã tiến hành cuộc “cách mạng xanh”…    Vậy giáo sư cần có bao nhiêu tiền cho kế hoạch của mình nhằm giảm đói nghèo cùng cực trên toàn thế giới xuống một nửa trong mười năm tới ?  Chúng tôi dựa vào những mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ đưa ra cách đây năm năm. Trong năm tới chúng tôi cần một khoản tiền là 135  tỷ đôla. Nhiều hơn số tiền hiện có khoảng 75 tỷ. Sau đó cho đến năm 2010 mỗi năm cần có khoảng 195 tỷ đôla.    Vậy ai sẽ là người cung cấp khoản tiền bổ sung này?  Cái hay là ở chỗ: các nước tài trợ như Hoa Kỳ hoặc các quốc gia EU từ lâu đã có cam kết. Từ lâu họ đã nhận trong mười năm tới trích tới 0,7% tổng sản phẩm xã hội của mình giành cho viện trợ phát triển. Các nước EU, trong đó có cả Đức, một lần nữa khẳng định vấn đề này. Điều này rất quan trọng. Giờ là lúc phải biến lời nói thành hành động.  Vậy nhà tài trợ Hoa Kỳ thì sao, thưa giáo sư ?  Hoa kỳ không thực hiện cam kết của mình. Hoa Kỳ cần phải bù đắp khoảng một nửa phần còn thiếu của năm nay – trong năm tới phải bổ sung thêm 38 tỷ đôla. Đất nước chúng tôi còn rất xa cái khoản tiền đã cam kết này. Một lần nữa chúng tôi lại đứng ngoài cộng đồng thế giới.    Nhưng tổng thống Bush đã tăng khoản viện trợ tài chính cho các nước nghèo và tuyên bố sẽ triển khai một dự án lớn về chống Aids.  Điều đó làm xuất hiện những dòng tít lớn, mới  rất hay ho, nhưng không thêm được một cent nào.  Chúng tôi chi 5% tổng sản phẩm xã hội cho ngân sách quân sự và chỉ chi 0,16% cho viện trợ phát triển. Tất nhiên phần lớn người dân ở nước chúng tôi không biết  điều này.   Người ta viện cớ rằng Hoa Kỳ phải tiến hành một cuộc chiến chống khủng bố trên toàn thế giới.  Nhưng chủ nghĩa khủng bố không phải là mối đe doạ duy nhất đối với nhân loại. Chúng ta phải nhìn nhận ngày 11 tháng 9 đúng với ý nghĩa của nó. Ngày hôm đó đã có 3000 người bị chết một cách bi thảm và vô nghĩa. Nhưng ở châu Phi mỗi ngày có tới 10.000 người chết bi thảm, vô nghĩa vì các loại bệnh tật như Aids, sốt rét và lao phổi. Loài người đã thủ tiêu chế độ nô lệ, đã chiến thắng chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít. Tiêu diệt đói nghèo trên thế giới là một thách thức đối với thế hệ chúng ta. Và đây cũng là một cơ hội to lớn. Qua đó chúng ta cũng có thể phục vụ nền dân chủ và an ninh toàn cầu. Chưa bao giờ lại có các điều kiện dẫn đến thành công như hiện nay. Tôi tin chắc rằng nội trong 20  năm tới chúng ta sẽ hoàn thành công việc này. Chúng ta được lựa chọn. Chúng ta phải đi đến quyết định.  Xuân Hoài dịch từ Tạp chí Stern (Đức)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường tỷ đô sau giải thưởng Nobel về CRISPR      Phát minh chiếc kéo chỉnh sửa gene CRISPR của Emmanuelle Charpentier và Jennifer Doudna mang về giải Nobel hóa học cho hai nữ chủ nhân đã đánh thức cả một ngành công nghiệp đầy hấp dẫn.      Minh họa: The Scientist Magazine.  Đôi khi, thực ra rất hiếm khi các phát minh của các nhà nghiên cứu được hiểu ngay và mọi người trầm trồ là phát minh đó rất đáng nhận được giải Nobel. Emmanuelle Charpentier và Jennifer Doudna đã thành công trong việc tạo ra một cú đột phá thiên tài như vậy.  Năm 2012 hai nhà nghiên cứu này đã đề xuất một phương pháp có thể dễ dàng thay đổi vật di truyền trong tế bào của bất kỳ sinh vật nào. CRISPR -Cas9, tên của phương pháp này, cho phép có thể  đóng hoặc mở các gene, xóa bớt đi hay thêm một ký tự nào đó vào chuỗi DNA hết sức chính xác.  Quy tắc của sự sống nói một cách đơn giản cũng tương tự như một email trên màn hình. Những khiếm khuyết do “lỗi đánh máy của tự nhiên có thể sửa đổi được”, bà Charpentier cho biết. “Và điều này có thể được thực hiện rất nhanh, có hiệu quả và không tốn kém bao nhiêu.”   Giờ đây hai nhà khoa học nữ đã được trao giải thưởng Nobel hóa học mà đáng ra họ đã nhận được từ lâu mới phải – và họ đã bước lên đỉnh Olympia về khoa học. Bà Charpentier làm việc tại Berlin, lãnh đạo cơ sở nghiên cứu Max-Planck về khoa học đối với tác nhân gây bệnh. Bà Doudna là giáo sư tại Đại học California, Berkeley. Từ lâu tên tuổi hai nhà khoa học này đã vượt ra khỏi lĩnh vực của họ. Tạp chí Time đã xếp hai bà vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất thế  giới từ năm 2015. Bởi lẽ CRISPR -Cas9 đã truyền cảm hứng cho các bộ phim khoa học viễn tưởng, đã đưa tới những thảo luận rất lớn về vấn đề đạo đức, và cả một ngành công nghiệp giá trị tỷ đô ra đời.   Thông qua chiếc kéo cắt sửa gene, các nhà nghiên cứu không chỉ đề cập đến việc chỉnh sửa bộ gene mà qua đó còn cung cấp cho các nhà hóa học và sinh học những phương pháp nghiên cứu hoàn toàn mới. Chiếc kéo cắt sửa gene đã mang lại cho nhân loại một công cụ cực kỳ mạnh mẽ để chế ngự thế giới sinh vật học. Các kế hoạch này liên quan từ các loại siêu lúa mỳ cho đến điều trị bệnh ung thư cũng như các loại dược phẩm chống virus corona.  Hi vọng mới cho điều trị   CRISPR mang lại niềm hy vọng lớn nhất đối với lĩnh vực y học. Vì với phương pháp này thì cái gọi là liệu pháp gene mà hàng chục năm nay các nhà nghiên cứu hằng mơ ước, nay trở nên rất gần gũi. Nhờ nó, các nhà khoa học có thể can thiệp vào bộ gene với hàng triệu triệu tế bào trong một cơ thể sống, để sửa chữa những gene gây bệnh. Hàng ngàn căn bệnh như vậy đã được biết đến, nguyên nhân là do khiếm khuyết di truyền ở DNA.  Hai bà Doudna và Charpentier đã thành lập doanh nghiệp ngay sau khi họ có phát minh to lớn này để phát triển những phương pháp chữa bệnh mới. Doanh nghiệp CRISPR Therapeutics, niêm yết chứng khoán tại Thụy sỹ, do Charpentier đồng thành lập, đã phát triển liệu pháp điều trị bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, một bệnh di truyền về máu, ảnh hưởng đến vận chuyển oxy trong cơ thể gây trọng bệnh, đang tiến hành điều trị thử nghiệm đối với những bệnh nhân đầu tiên.  Doanh nghiệp Caribou Biosciences, có sự tham gia của Doudna, vừa nhận được giấy phép tiến hành nghiên cứu lâm sàng để cùng với liệu pháp gene – CRISPR điều trị một dạng của bệnh ung thư máu. Các bệnh yếu cơ do di truyền hay bệnh về tổn thương thần kinh đã ở trong tầm ngắm của các nhà nghiên cứu về CRISPR. Doanh nghiệp Scribe Therapeutics ở California, mà bà Doudna cũng tham gia – dự định sẽ phát triển các phương pháp điều trị bệnh thần kinh ALS.   Các chuyên gia phân tích thị trường của Market Insights ước đoán việc kinh doanh các liệu pháp gene này tới năm 2027 sẽ có giá trị lên đến 18 tỷ đô. Do việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh mới này ngốn hàng triệu, thậm chí hàng tỷ Euro nên các nhà sáng lập tìm các tập đoàn dược phẩm cỡ lớn để hợp tác. Thí dụ CRISPR Therapeutics liên kết với tập đoàn Bayer.  Gần đây các doanh nghiệp về CRISPR bắt đầu nghiên cứu các chế phẩm công nghệ sinh học để chống đại dịch corona. Thí dụ công ty khởi nghiệp Start-up Sherlock Biosciences đã sử dụng phương pháp CRISPR để đưa ra một biện pháp xét nghiệm nhanh nội trong 20 phút.  Mèo không gây dị ứng  CRISPR cũng tạo nên những điều kỳ diệu đối với nông nghiệp. Các doanh nghiệp như Inari Agriculture và nhiều viện nghiên cứu trên thế giới tìm cách cải thiện chất lượng hạt giống, để cây cối có khả năng chịu hạn tốt hơn hoặc cho năng suất cao hơn. Ở châu Âu, phương pháp này không được cho phép nhưng ở các nơi khác thì không. Các nhà nghiên cứu tiến hành thí nghiệm trên cây lúa để có được nhiều hạt hơn, thí nghiệm trên cây ca cao để chống lại một số sâu bệnh hại nhất định và để tạo ra các loại ngũ cốc không có gluten.  Cả các loài động vật cũng được nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản muốn tạo ra loại gà để trứng không có chất gây dị ứng nhất định. Các nhà khoa học Hàn Quốc muốn tạo ra giống lợn nhiều nạc hơn.    Doanh nghiệp Indoor Biotechnologies của Mỹ đang mày mò tạo giống mèo CRISPR, loại mèo này không gây dị ứng với người, vì chúng không còn khả năng sản sinh loại protein có tên là Fel d1, nó là thủ phạm buộc con người phải tạo miễn dịch để tự vệ.   Băn khoăn về vấn đề đạo đức  Cũng như với nhiều công nghệ gene các ý tưởng kinh doanh mới phụ thuộc nhiều vào sự chặt chẽ của các cơ quan chính quyền. Sức mạnh to lớn mà CRISPR mang lại cho các nhà kỹ thuật sinh học cũng ẩn chứa nhiều hiểm nguy.   Đã có nhiều ý kiến phản đối kịch liệt khi nhà nghiên cứu He Jiankui tuyên bố tại một cuộc hội nghị rằng ông ta đã tạo ra hai đứa trẻ sơ sinh đầu tiên bằng cách dùng CRISPR để chỉnh sửa gene . Nhờ sự can thiệp này những đứa trẻ đó được miễn dịch đối với virus HIV. Song mới đây một hội đồng chuyên gia lại cho rằng, những can thiệp như vậy vào dòng mầm của con người là quá sớm – chúng có thể dẫn đến hậu quả khôn lường về y học cũng như về đạo lý.   Bà Doudna, người được trao giải Nobel, đã thường cảnh báo về việc áp dụng vội vã những kỹ thuật mang tính cách mạng của mình. Tuy nhiên tại Hội nghị Biotech SynBioBeta tuần vừa qua bà vẫn đề cập đến những khả năng to lớn mà công nghệ này sẽ đem lại trong tương lai: “Các vị hãy tưởng tượng nếu tới đây thay vì phải cấy ghép tủy xương để điều trị các bệnh như thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm, các vị chỉ cần nuốt một viên thuốc”, bà nói. “Điều này nghe như là chuyện khoa học viễn tưởng”, bà nói, “tuy vậy hiện nay chúng tôi đã bắt tay vào nghiên cứu các loại giải pháp như thế này”.  Xuân Hoài dịch  https://www.wiwo.de/technologie/forschung/crispr-therapien-der-milliardenmarkt-hinter-der-nobelpreis-genschere/26252846.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường và đạo đức      Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết mọi quốc gia  trên thế giới, khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mọi sinh  hoạt, mọi hàng hóa, mọi dịch vụ dường như ngày càng “thương mại hóa”, đã  nổi lên nhiều ưu tư về sự suy thoái đạo đức của xã hội lẫn con người.    Có người giải thích sự kiện này với khẳng định: Thị trường khiến con người tham lam hơn, xấu xa hơn. Song, như nhiều học giả đã lý luận: Lòng tham thì vô bờ bến, những tính xấu của con người thì đã có từ khi loài người xuất hiện trên địa cầu, và chắc chắn sẽ tiếp tục cho đến ngày tận thế, trong bất cứ thể chế chính trị hoặc kinh tế nào. Thế nên, đi tìm lý do của sự suy kiệt đạo đức (nếu có) đặc thù của kinh tế thị trường thì phải đưa bằng chứng là hiện tượng ấy gắn liền với những đặc tính cá biệt của thị trường, chứ không phải chỉ vì bản tính chung chung của loài người.  Vài năm gần đây, người có nhiều đóng góp nhất về vấn đề này có lẽ là Michael Sandel, Giáo sư triết học của Đại học Harvard. Khởi điểm lý luận của Sandel là câu hỏi: Vì bản chất của thị trường là thương mại, có chăng những loại phẩm vật (hàng hóa hoặc dịch vụ) mà, xét theo một tiêu chuẩn đạo đức nào đó, không nên được mua bán trên thị trường? Theo Sandel, nếu có những vật phẩm như thế thì sự xuất hiện thị trường cho chúng trong một xã hội sẽ làm suy bại đạo đức của xã hội ấy.  *  *     *    Để trả lời câu hỏi “tiền nên mua được cái gì và không nên mua được cái gì” Sandel đề nghị hai tiêu chuẩn: một là sự bất công bằng, hai là sự tổn thương các giá trị đạo đức.  (1) Thứ nhất, sự chọn lựa (trong việc mua bán) trong một thị trường có thể phản ảnh sự bất bình đẳng thu nhập và, quan trọng hơn, bất công bằng trong xã hội. Trong một xã hội mà mọi thứ đều có thể bán và mua, cuộc sống của những người có thu nhập khiêm tốn sẽ khó khăn hơn. Tiền càng mua được nhiều thứ thì sự dồi dào tiền bạc càng quan trọng. Nói rõ hơn, nếu lợi thế của người giàu chỉ là có thể mua xe sang, ở nhà đẹp, dùng hàng hiệu, du lịch nước ngoài, thì sự bất quân bình thu nhập (tuy sẽ tạo ganh tỵ) cũng không gây nhiều hậu quả tai hại. Nhưng trên thực tế thì tiền bạc còn mua được nhiều thứ nữa: thế lực chính trị, sức khỏe, biệt thự ở khu vực yên tĩnh, và con cái thì được vào những trường ưu tú… Chính những thứ này sẽ khiến độ chênh lệch thu nhập ngày càng lớn, làm sâu thêm sự bất công bằng trong một nước, và gây những chia rẽ trong xã hội nặng nề hơn từ thế hệ này sang những thế hệ tương lai… Chính vì thế, theo Sandel, xã hội phải hạn chế quyền lực của tiền bạc để giảm những hậu quả tai hại của những sự không bình đẳng ấy. Đặt một số hàng hóa và dịch vụ ra ngoài sự chi phối của thị trường là một cách chặn bớt hậu quả tai hại của sự bất công bằng xã hội.  (2) Thứ hai, thị trường của một phẩm vật có thể gây thương tổn cho những giá trị của con người và xã hội. Nhìn quanh, ta thấy ngay có nhiều thứ rất tốt đẹp (tình bạn, chẳng hạn) nhưng khi bị gán cho một giá tiền thì giá trị của chúng sẽ gần như không còn nữa. Một người mà anh phải trả tiền mới nhận làm “bạn” của anh thì rõ ràng không phải là bạn anh. Đừng nhầm lẫn tổng thể một thứ tốt đẹp như thế và những dịch vụ mà nó có thể “cung cấp” cho anh. Anh có thể thuê một người để trông nhà cho anh (dịch vụ của một người bạn) khi anh đi vắng, thậm chí anh có thể thuê một cố vấn tâm lý để nghe anh giãi bày “tâm sự”, nhưng, hiển nhiên, những người này không phải là “bạn” anh theo cái nghĩa thật sự của chữ này. Nói cách hoa mỹ, thị trường không chỉ là một cơ chế để phân bố hàng hóa và dịch vụ, nó còn phản ánh và khuyến khích một thái độ nào đó đối với những hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi. Thái độ này biến đổi chính bản chất của hàng hóa hoặc dịch vụ ấy.  Một ví dụ khác: Khi cha mẹ cho con tiền để nó đọc sách nhiều hơn thì đúng là đứa bé ấy có thể đọc nhiều hơn, nhưng đứa con ấy cũng được gián tiếp dạy rằng đọc sách là một “cực hình” hơn là một thú vui có giá trị tự tại. Tương tự, thuê người nước ngoài để chiến đấu cho chúng ta có thể tiết kiệm sinh mạng đồng bào ta, nhưng cũng làm suy kiệt ý niệm “công dân” một nước.  Như vậy, Sandel lý luận, có nhiều thứ mà tiền không thể nào mua, bởi vì nếu những thứ ấy mà được bán thì chúng không còn là chúng nữa.  *  *     *    Trên thực tế, hai tác hại của một số thị trường như đã nói trên (“không công bằng” và “tổn thương đạo đức”) thường quyện quấn vào nhau, đi đôi với nhau, và không phải bao giờ cũng trắng đen rõ ràng: có nhiều mức độ “không công bằng” và nhiều mức độ “tổn thương đạo đức”.  Lấy “thị trường” nội tạng (để ghép) của con người làm ví dụ. Dù rằng tiền có thể mua một quả thận, một nhãn cầu, mà không làm giảm giá trị y khoa của chúng, nhưng có nên cho phép nội tạng được tự do mua bán không?  Có hai lý do để ngăn cấm sự mua bán này. Một là, thị trường ấy sẽ có khuynh hướng bóc lột những người cùng cực nghèo khổ. Khó nói rằng quyết định bán thận của họ (để mua thức ăn chẳng hạn) là hoàn toàn “tự nguyện”. Cho phép một thị trường như thế tồn tại là vi phạm tiêu chuẩn “công bằng”, chẳng khác gì cho phép người giàu bóc lột người nghèo. Hai là, thị trường ấy sẽ làm tổn thương nhân phẩm, vì trong một xã hội như thế thì hóa ra con người chỉ là một tổ hợp những “linh kiện” (máu, mắt, thận, tim, phổi…) có thể lấy từ thân thể người bán để thay thế những bộ phận “hỏng hóc” ở thân thể người mua. Rõ ràng là tư duy ấy sẽ xúc phạm trầm trọng chuẩn mực đạo đức của đa số chúng ta.  Trẻ em là một ví dụ khác. Hiển nhiên, nếu muốn, chúng ta có thể cho phép một “thị trường” con nuôi. Nhưng không nên cho phép thị trường ấy vì hai lý do. Thứ nhất là vì công bằng. Một thị trường như thế sẽ thiên vị những người giàu có, bởi lẽ những người thu nhập thấp mà muốn có con nuôi thì sẽ chỉ “mua” được những đứa trẻ ít người muốn “mua” (vì đứa bé có dị tật hay thiểu năng, chẳng hạn). Thứ hai là thị trường ấy sẽ xúc phạm những giá trị nhân bản. Gắn cho trẻ em một giá tiền thì chuẩn mực “yêu thương vô điều kiện” của cha mẹ đối với con cái, mà mọi xã hội xưa nay đều coi là thiêng liêng, sẽ không còn nữa. Hơn nữa, sự chênh lệch giá cả (chắc chắn sẽ xảy ra) giữa em này và em khác sẽ củng cố ấn tượng rằng giá trị một đứa bé là tùy vào chủng tộc, giới tính, tiềm năng trí tuệ, thể hình của nó. Tương tự, “thị trường” nô lệ là kinh tởm vì nó xem con người như một loại hàng hóa, có thể (đấu giá) bán và mua. “Nhân phẩm” là vô nghĩa trong những cuộc đấu giá như thế.  Một ví dụ nữa: Lá phiếu của công dân một quốc gia dân chủ cũng không thể mua hoặc bán (dù có người sẵn sàng bán, mua!) vì bổn phận mỗi người dân là một trách nhiệm cộng đồng, không thể được xem là sở hữu của cá nhân. Cho phép mua bán lá phiếu là hạ thấp giá trị của nó, cho nó một nghĩa khác.  Những ví dụ trên đây đủ cho thấy giá trị của nhiều vật phẩm sẽ sút giảm, hoặc mất hẳn, nếu chúng có thể được mua bán trên thị trường. Khi chúng ta quyết định rằng một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó có thể mua và bán là chúng ta mặc nhiên chấp nhận rằng hàng hóa ấy có thể được xem như một món đồ, là một công cụ để sử dụng hoặc kiếm lời. Không phải giá trị của mọi thứ (ví dụ sức khỏe, giáo dục, đời sống gia đình, thiên nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân…) đều là như vậy. Để quyết định thứ nào được phép buôn bán, thứ nào không, xã hội phải thỏa thuận cách thẩm định giá trị thật của chúng. Đó là vấn đề thuộc phạm trù đạo đức và chính trị, không chỉ kinh tế, và lời giải sẽ tùy mỗi trường hợp. Không có một đáp số chung cho mọi thứ, mọi thời.  *  *     *    Cho đến gần đây một giả định căn bản trong kinh tế học là sự “trung tính” của thị trường, nghĩa là bản chất hàng hóa hoặc dịch vụ được đổi trao sẽ không bị ảnh hưởng của thị trường. Nhưng, như Sandel và nhiều người khác đã phát hiện, giả định này không luôn luôn đúng. Thị trường có thể ảnh hưởng đến giá trị tự tại của một phẩm vật khi nó được mua bán bằng tiền. Trong nhiều trường hợp, giá trị trên thị trường át hẳn những giá trị phi thị trường, mà chính những giá trị phi thị trường này mới đáng giữ. Tất nhiên, không phải mọi người đều đồng ý giá trị nào là đáng giữ, và tại sao chúng đáng giữ. Do đó, để quyết định cái gì nên được mua bán trên thị trường, và cái gì là không nên, chúng ta phải quyết định giá trị nào cần được bảo tồn trong những bối cảnh khác nhau.  Theo Sandel, nên phân biệt kinh tế thị trường và xã hội thị trường. Kinh tế thị trường là một công cụ để cơ cấu hoạt động sản xuất và phân bố sản phẩm. Dù không tuyệt hảo (ngay những nhà kinh tế chuộng thị trường cực đoan cũng nhìn nhận rằng thị trường có nhiều “thất bại” cần sự can thiệp của nhà nước), công cụ ấy có những ích lợi và hiệu quả khó chối cãi. Xã hội thị trường, mặt khác, là một lối sống của con người trong xã hội trong đó giá trị thị trường chi phối mọi hoạt động, tư duy.  Như vậy, thị trường, ngoài những “thất bại” theo nghĩa thông thường còn có những ảnh hưởng sâu sắc, có thể là tai hại, đến đạo đức xã hội. Chúng ta có muốn trở thành một xã hội thị trường trong đó những liên hệ xã hội được tái lập theo hình mẫu của thị trường không? Đâu là vai trò và tầm mức thâm nhập của thị trường vào đời sống cộng đồng, vào liên hệ giữa con người với nhau? Đến mức nào thì chúng ta có thể cho phép thị trường làm biến dạng tư duy của chúng ta? Đó là những vấn đề cần suy nghĩ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường-Liên kết-Lợi ích: những yếu tố cốt lõi của Đổi mới nông nghiệp      Bộ KH&amp;CN, UBND tỉnh Đồng Tháp và Hội Doanh nghiệp HVNCLC phối hợp tổ chức hội thảo “ Đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp” tại TP Cao Lãnh, thu hút gần 200 người tham dự, gồm các chuyên gia, nhà khoa học từ Viện trường, lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL, viên chức các cơ quan của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và đông đảo doanh nghiệp.        Từ bức xúc tới kỳ vọng  “Nông nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, vươn lên nhóm các nước xuất khẩu đứng đầu trên thế giới về một số mặt hàng nông sản, nhưng thực ra, giá bán thấp, tiếp cận thị trường trong, ngoài nước đều khó khăn, thua thiệt rơi vào người sản xuất…”, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Dương nhìn nhận và phân tích thêm: “Do hàng chục năm qua chúng ta phát triển theo chiều rộng, thâm dụng tài nguyên, lao động…và nay bắt đầu bộc lộ giới hạn tăng trưởng, thậm chí xu hướng giảm dần. Đây là thời điểm thích hợp để chuyển từ phát triển chiều rộng sang chiều sâu, đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp …”.  TS.Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ KH&CN, nhà đồng tổ chức hội thảo cho rằng “đổi mới sáng tạo bao hàm yếu tố đổi mới công nghệ, đi liền những giải pháp đổi mới quản trị, cùng những chính sách phù hợp, hành lang pháp lý thông thoáng để tạo ra những bước phát triển với thực tế cho thấy năm 1986, sau khoán 10, khoán 100 Việt Nam bứt phá, tăng trưởng ngoạn mục từ một nước thiếu đói thành quốc gia xuất khẩu gạo. Theo kỳ vọng, năm 2020, Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại thì sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước vẫn đặt trên nền tảng phát triển nông nghiệp. Vì thế trong chương trình phát triển sản phẩm Quốc gia đến năm 2020 có 3/9 sản phẩm, có liên quan nông nghiệp: Lúa gạo, cá da trơn, nấm ăn và nấm dược liệu, cùng với đó là các chương trình Quốc gia khác cũng định hướng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng sức cạnh tranh, hướng tới một nền nông nghiệp công nghệ cao với nhiều sản phẩm hàng hóa đa dạng”.  Về tái cơ cấu nông nghiệp, để thành công, theo ông ngoài việc cần có sự liên kết hiệu quả giữa 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp, trong đó việc chủ động của doanh nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng; đồng thời để có thể giải quyết được vấn đề đất đai nông nghiệp cho các doanh nghiệp sản xuất lớn cần có nhận thức khác về sở hữu đất đai, có cách tổ chức để nông dân chuyển nhượng, góp vốn như cổ phần vào doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê.          Các doanh nghiệp thảo luận về vai trò KHCN hỗ trợ doanh nghiệp tới thị trường toàn cầu – ảnh HL           Mối lo tổn thất sau thu hoạch  TS Phạm Văn Tấn, phó Giám đốc phân viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Bộ NN-PTNT phân tích: Hiện nay khâu thu hoạch cơ giới đạt 65%, sấy chiếm 45%, mức độ tổn thất 13,7% về số lượng, 13,4% về chất lượng lúa sau thu hoạch. Làm thế nào nâng cao chất lượng lúa gạo? Nếu ứng dụng tốt công nghệ trong chế biến thực phẩm, làm nấm rơm, làm viên nén từ rơm phục vụ chăn nuôi gia súc, chất vi sinh…là làm tăng giá trị lên 18-16 lần.  Nếu có chính sách khuyến khích hợp tác xã đầu tư những công nghệ vừa tầm, còn doanh nghiệp thì đầu tư công nghệ kỹ thuật cao…, ĐBSCL sẽ phát triển đa dạng hóa tốt sản phẩm nông nghiệp. Ông Nguyễn Thể Hà, chuyên gia kinh tế – kỹ thuật của Cty Bùi Văn Ngọ cho rằng cơ giới hóa cần phải có tính hiện đại, thích nghi và có tính hiệu quả. Chủ tịch Bùi Văn Ngọ giữ vững thị trường trong và ngoài nước nhờ tính thích nghi:  sấy thì đảm bảo yêu cầu giữ lúa còn sống, xay xát thì giữ được phẩm chất gạo theo từng giống lúa. Nhưng để giải được bài toán công nghệ sau thu hoạch ở ĐBSCL, cần có sự liên kết giữa các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ có nhiều tiềm năng phát triển, cùng nhau hợp tác theo một chương trình mục tiêu Quốc gia đến năm 2020.  PGS TS Trần Đức Viên, Hiệu trưởng trường đại học Nông nghiệp Hà Nội cho biết: Chúng tôi nghiên cứu ra một số loại máy móc, thiết bị như máy bới đất, máy trồng sắn…, nhưng để đưa ra thị trường rất cần sớm hình thành những sàn giao dịch chuyên nghiệp hoạt động có hiệu quả; đồng thời nhà trường cũng cần phải chủ động tìm đến doanh nghiệp vừa bán được hàng vừa có đề tài nghiên cứu có tính khả dụng. Ông cũng đề nghị Bộ GD&ĐT và Bộ KHCN phối hợp khảo sát về thực lực nghiên cứu của các trường đại học. TS Dương Thái Công, Hiệu trưởng trường ĐH Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ, nói rõ hơn mối lo khi việc đào tạo nhân lực cơ khí nông nghiệp ở một số trường Đại học ở vùng ĐBSCL bị mai một, đòi hỏi cơ chế, chính sách thiết thực. Ông cũng đưa ra đề xuất hình thành những trung tâm, chuyển giao thành tựu nghiên cứu, liên kết 4 nhà, hỗ trộ sản xuất- tiêu thụ tốt hơn.  Chất keo nào cho việc hợp tác?  TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, giám đốc Trung tâm tư vấn chính sách thuộc Viện Chính sách & Chiến lược phát triển NN-NT và nhiều chuyên gia khác thừa nhận việc kêu gọi hợp tác giữa nông dân với nhau luôn gặp rất nhiều khó khăn. “Kinh nghiệm chúng tôi, nông dân có tự nguyện hợp tác hay không là do lợi ích của họ được đáp ứng thỏa đáng không. Ông Huỳnh Văn Thòn, Cty CP Bảo vệ thực vật An Giang nói: Khi chúng tôi làm ra gạo mầm Vibigaba có tich hợp hàm lượng KHCN, giá bán tăng lên gấp 5 lần. Bán hàng gặp khó về thị trường, lại giá thấp, đó là nỗi tủi nhục vì mình thua về khoa học công nghệ. Và nếu không có sự liên kết sẽ khó đưa KHCN vào ứng dụng”. Ông Nguyễn Phước Tuyên, trưởng phòng nghiên cứu khoa học và thông tin, sở NN-PTNT tỉnh Đồng Tháp , thừa nhận mô hình “cánh đồng liên kết” ở Đồng Tháp thời gian qua mang lại hiệu quả. Các DN đã cùng nông dân liên kết, nhưng mô hình này còn tùy thuộc điều kiện sản phẩm có phù hợp thị trường và sự ủng hộ của chính quyền địa phương .  PGS TS Dương Văn Chín, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Định Thành, người đã bôn ba các nước châu Phi: Sudan, Serra Leon, Nigeria, giúp họ về giống lúa thích hợp, máy cơ khí nông nghiệp, cùng xây dựng thương hiệu lúa gạo từ châu Phi bằng quy trình canh tác của Việt Nam, cho biết: Trung tâm  có có chính sách động viên sáng tạo và khi được ứng dụng, các đề tài đều được Công ty BVTV An Giang mua đúng giá trị. Ví dụ, lần đầu tiên, sau 9 năm nghiên cứu, Cty chọn giống AGPPS 103 trồng thử với nông dân, đã xuất khẩu với giá 530 USD/tấn. Ông Chín kết luận: ”Chất keo kết dính nông dân với doanh nghiệp là giống, dịch vụ nông nghiệp và cách quản trị kênh cung ứng vật tư và tiêu thụ hàng hóa ”  Thị trường- đích đến và điểm xuất phát  KS Hồ Quang Cua, tác giả giống lúa đang được nhiều công ty đặt hàng , đang xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng ngàn hecta, nói rằng gạo đỏ ST đã bán được 85 cent/kg, ST20 trên 600 USD/tấn. Thị trường nội địa, gạo ST20 bán lẻ giá 20.000 đ/kg. Tái cấu trúc nông nghiệp, theo ông, cứ tập trung nâng cao giá trị nông sản, sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn.  “Làm sao hàng hóa đi thì thông tin thị trường quay lại. Làm sao để mình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu với vị thế cao hơn”, doanh nhân trẻ Huỳnh Quang Vinh, Phó Tổng giám đốc Antesco (An Giang) chia sẻ : Định hướng công nghệ cao, cải tiến chuỗi cung ứng, cân bằng lợi ích giữa các khâu là nền tảng cho những bước tiến của Antesco.  Ông Phạm Thanh Bình, Tổng Giám đốc Cty CP thực phẩm Bích Chi, thích thú khi kể lại: Người Việt ở Nga làm rau sạch, tiền mua máy móc được nhà nước Nga trả lại. Như vậy, chính phủ nước này hỗ trợ nhà sản xuất tiền mua máy để tạo việc làm. “Vai trò nhà nước hết sức quan trọng, bây giờ, vấn đề tìm thị trường tiêu thụ không thể phó mặc doanh nghiệp tự bơi, đó là việc chính phủ các nước đang tập trung và làm tốt”. Ngoài ra, DN cần hỗ trợ để đa dạng hóa sản phẩm.  Chuyên gia kinh tế Phan Chánh  Dưỡng, nhà tư vấn Chương trình tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp phát biểu:  Vấn đề hàng đầu của tái cơ cấu là thu nhập của người nông dân có tăng lên không? Hàm lượng khoa học kỹ thuật vào dây chuyền sản xuất thì chuỗi sản phẩm bền vững đến đâu? Chi phí cơ hội các ngành hàng? Từ đó tạo tổng hợp giá trị gia tăng cao nhất.  Thời kỳ hội nhập, phải cạnh tranh tổng hợp, theo cụm ngành hàng. Vì sản phẩm cạnh tranh toàn thế giới, nên vai trò nhà nước rất quan trọng, nhất là vai trò mở mang thị trường.        Nước ta là nước nông nghiệp lại mấp mé trong bẫy thu nhập trung bình. Nông nghiệp phát triển được là nhờ thị trường, yếu tố rất quan trọng là thông tin thị trường , phải am hiểu thị trường để không tác động bất lợi lên chuỗi giá trị. Làm sao cho các tác nhân có phản xạ tự nhiên sống chết với thị trường.  Thực tế, dẫu đây đó, chúng ta có những điển hình làm ăn giỏi, nhưng người sản xuất nông nghiệp nước ta còn ít quan tâm đến ý nghĩa quyết định của  thị trường.              Thị trường quyết định sản xuất, thị trường quyết định công cuộc đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Vai trò KHCN, kể cả khoa học quản trị đều liên quan chuỗi giá trị nông nghiệp. Nếu không có liên kết và hợp tác sẽ không có tiến bộ, đổi mới gì hết. PGS.TS Trần Đức Viên kể: ĐH Nông nghiệp Hà Nội làm được máy bới đất, trồng khoai mì phải vô Nam bán, cho thấy mối liên kết chặt chẽ Bắc – Nam, cả nhu cầu liên kết cung cấp thông tin… Lãnh vực cơ giới hóa nông nghiệp, hội thảo đưa ra nhiều đề xuất: lập sàn giao dịch, chính phủ hỗ trợ nhu cầu trang bị máy móc, chủ yếu là loại nhỏ; Đầu tư nguồn nhân lực trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp, Đầu tư công nghệ mấu chốt trên toàn bộ dây chuyền của cơ giới hóa nông nghiệp.               Điều kiện để giữ sự liên kết chặt chẻ, lâu dài là: chia sẽ lợi ích thật thỏa đáng cho từng giai đoạn trong toàn chuỗi giá trị .Đó cũng là bí quyết thành công của doanh nghiệp, các tổ chức nông nghiệp.    Bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao             Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên tai tạo động lực cho đổi mới/sáng tạo      Bị thôi thúc bởi tình trạng người dân thiếu  nước sạch sau các thảm họa sóng thần, một nhà sáng chế Anh đã chế tạo  một hệ thống lọc nước cầm tay. Hiện bình lọc nước Lifesaver của ông đã  được các nhà leo núi, lính Anh ở Afghanistan, và các cộng đồng ở các  nước phát triển sử dụng.       Bình lọc nước 750ml Lifesaver do Michael Pritchard sản xuất tám năm trước, sử dụng công nghệ lọc mà trước đó chỉ được áp dụng trong sản xuất công nghiệp.   Cho đến năm 2004, Pritchard đã làm nhiều công việc khác nhau, từ đầu tư bất động sản cho đến bán hàng cho hãng Apple. Sau trận sóng thần tháng 12 năm đó, Pritchard bị tác động mạnh mẽ khi thấy cuộc sống của người dân bị đe dọa: tuy họ bị bao vây bởi nước nhưng lại không có nước sạch để uống. Tám tháng sau, khi một nước phát triển như Mĩ cũng gánh chịu hậu quả tương tự do cơn bão Katrina, Pritchard cảm thấy mình cần làm gì đó giúp giải quyết vấn đề thiếu nước sạch này.  Ông nói: “Hãy thử đi bộ leo núi ba ngày và không mang theo nước xem. Bạn sẽ thấy nước nhanh chóng trở thành thứ duy nhất mà bạn nghĩ đến. Nó có sức mạnh kinh khủng, người ta có thể giết nhau vì nước.”  Các kĩ thuật lọc nước thông thường hay sử dụng viên clo, nhưng lại dễ gây rủi ro vì người ta có thể tưởng nhầm là thuốc uống. Máy lọc bằng gốm kiểu truyền thống cũng hay được sử dụng, nhưng loại này lại không lọc được các vi-rút như polio (gây bệnh bại liệt) vì chúng chỉ có đường kính 25 nanomet.   Pritchard nói vấn đề chưa được giải quyết ở đây là nước không thể bị ép để chảy qua máy lọc với lỗ quá nhỏ như vậy với lực thường. Chỉ trong sản xuất công nghiệp mới có thiết bị kĩ thuật có thể tạo đủ lực ép nước qua màng lọc có lỗ rộng 15 nanomet.    “Chắc chắn chỉ bằng tay thì không thể tạo ra đủ áp suất, nhưng nếu có thể tìm cách lợi dụng khí nén thì có thể tạo ra đủ lực để ép nước qua màng lọc,” ông nói.   Kết quả là ông đã cho ra đời bình Lifesaver, sử dụng một cơ chế bơm tay để đẩy nước từ ngoài vào trong một đường ống nhỏ cuộn lại bên trong bình. Trên ống có các phần với lỗ rộng chỉ 15 nanomet, đủ nhỏ để lọc vi khuẩn, vi-rút và các mầm bệnh trong nước. Nước bẩn có thể được trữ trong bình cho đến khi cần được lọc.  Chiếc bình lọc được ra mắt tại một cuộc triển lãm các trang bị an ninh và phòng vệ năm 2007 và chỉ sau hai ngày đã bán được 1.000 cái. Pritchard còn nhận được đơn đặt hàng trị giá một triệu bảng để cung cấp bình lọc cá nhân cho binh lính Anh sau khi công nghệ được chứng nhận an toàn vệ sinh. Với chiếc bình này, binh lính không cần phải mang vác theo nhiều nước sạch như trước nữa.  Tuy vậy, tại các cộng đồng cần cứu trợ- đối tượng chính của ý tưởng này- bình lọc cá nhân lại không được các đại lý đón nhận nhiệt tình lắm. Vậy là Pritchard chế tạo một thùng lọc 18.5 lít, cũng sử dụng công nghệ tương tự. Thùng lọc được phân phối sang Pakistan với giá 150 USD/thùng. Một sản phẩm thứ ba là hộp lọc 5 lít, được thiết kế cho phụ nữ và trẻ em để cầm theo và rất dễ vận chuyển bởi có thể chồng lên nhau. Một bể lọc 750 lít với nhiều vòi cũng được sản xuất với sự hỗ trợ của chính phủ Malaysia.   Công ty cung cấp các hệ thống lọc nước Lifesaver của Pritchard và vợ đạt doanh thu 6.5 triệu bảng năm ngoái và ước tính khoảng 10 triệu bảng trong năm nay, đã thu lợi nhuận ngay từ năm đầu tiên. Pritchard nói một số người dân vùng được cứu trợ không thích công nghệ mới này bằng viên clo giá 8 xu. Nhưng anh đã thuyết phục họ rằng đây là một công nghệ có giá trị lâu dài và bền vững trong việc chống khủng hoảng thiếu nước sạch. Đó là lý do mà ngày càng nhiều người sử dụng nó.  Khánh  Minh dịch   Nguồn:     http://www.theguardian.com/global-development/2014/jun/01/how-disaster-inspired-lifesaving-water-filtration-invention      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên văn học hiện đại biết được gì từ sử liệu phương Đông?      Khi các nhà khoa học phương Tây ở thế kỉ XIX bắt đầu để ý tới các tư liệu lịch sử của Trung Quốc thời phong kiến, họ đã nhận thấy những điều mới lạ. Nếu như nhà thiên văn Tycho Brahe vào năm 1572 đã phát hiện ra một ngôi sao rực rỡ bất ngờ và gọi đó là “tân tinh”, dường như các nhà thiên văn Trung Quốc ở nhiều triều đại khác nhau cũng đã ghi chép được các hiện tượng tương tự, chỉ khác ở chỗ chúng được gọi là “khách tinh” – những ngôi sao như vị khách không mời mà đến.      Tinh vân Con cua – kết quả của vụ nổ sao năm 1054. Nguồn: NASA, ESA  Năm 1928, Edwin Hubble lần đầu đưa ra giả thuyết rằng một ngôi sao khách được ghi nhận ở Trung Quốc năm 1054 chính là vụ nổ sinh ra một đám mây khổng lồ trong chòm sao Kim Ngưu mang tên Tinh vân Con cua (crab nebula). Nhờ nghiên cứu của những thập kỷ kế tiếp, thiên văn học ngày nay đã kết luận rằng Tinh vân Con cua là tàn tích của một “siêu tân tinh” – một vụ nổ sáng chói hơn một tân tinh thông thường, đánh dấu sự hủy diệt của một ngôi sao khổng lồ. Một phần không nhỏ bằng chứng quan sát siêu tân tinh này đến từ các ghi chép thời Tống Nhân Tông, khi nó sáng rực trên bầu trời từ mùa hạ năm 1054 đến năm 1056.     Những ghi chép thiên văn của các nhà nước phương Đông từ hàng thế kỉ trước dường như trở thành nguồn tư liệu quý giá cho các nhà thiên văn hiện đại, hỗ trợ cho quá trình khám phá lịch sử hình thành các hệ sao nói riêng và cả vũ trụ nói chung. Tuy không chỉ người Trung Quốc mà người Ả Rập hay người Pueblo cổ đại ở sa mạc Bắc Mỹ cũng có những ghi chép về siêu tân tinh năm 1054 (SN 1054) nhưng chính nhờ việc xem xét sử sách thời Tống mà sự hiểu biết của chúng ta về các ngôi sao mới được mở rộng và đạt tới độ chi tiết như ngày nay. Ngoài ra, siêu tân tinh năm 1054 không phải là một trường hợp duy nhất được ghi chép lại: nhà thiên văn học Lý Khải Bân (Li Qibin) ở Đài quan sát thiên văn Bắc Kinh đã tổng hợp được từ sử liệu Trung Quốc 53 ghi chép về các ngôi sao khách mà có khả năng là tân tinh hoặc là siêu tân tinh. Bên cạnh đó, một loạt các ghi chép riêng biệt từ triều đình nhà Kim của người Nữ Chân, triều đình nhà Tống và triều đình Nhật Bản cho thấy rằng đã từng có một siêu tân tinh trong chòm sao Tiên Hậu vào năm 1181, và điều này đã được xác nhận sau khi Đài quan sát tia X Chandra tìm được một sao xung (pulsar) ở vị trí tương tự vào năm 2002.       Khác với ngày nay, các nhà thiên văn học thời phong kiến làm việc với tư cách bề tôi của triều đình, nên việc thêm thắt các chi tiết như vậy để củng cố quyền lực của hoàng đế không phải là một chuyện khó tưởng tượng nổi.      Sự đa dạng về hiện tượng     Ở các nước Á Đông thời phong kiến, mỗi triều đình đều có một cơ quan thiên văn riêng để theo dõi các hiện tượng trên bầu trời và chế tạo lịch. Ghi chép của các cơ quan này có thể không dựa trên cơ sở vật lý như cách người hiện đại quan niệm về thiên văn học, nhưng thường chi tiết và có một độ chính xác nhất định. Nghiên cứu của Ho Peng-Yoke (1964) tập trung vào Đại Việt sử ký toàn thư đã liên hệ được hiện tượng “Mặt trời có chấm đen to bằng quả trứng gà” ở đầu vào năm 1276 với một giai đoạn cực đại trong chu kỳ vết đen Mặt trời, bất chấp cách miêu tả tưởng chừng như là vô lý của người chép sử. Những ghi chép riêng biệt của Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên về một sao chổi năm 1490 cho thấy sự trùng khớp đáng kinh ngạc với thời điểm xuất hiện và quỹ đạo của vật thể 2003EH1 gây ra trận mưa sao băng Quadrantids diễn ra vào tháng một hằng năm. Điều này dẫn đến giả thuyết rằng vật thể 2003EH1 này thực chất từng là một phần của sao chổi năm 1490. Thậm chí vào cùng năm đó, sử sách nhà Minh còn ghi nhận việc “đá tảng rơi xuống như mưa” ở vùng Khánh Dương, song các nhà khoa học vẫn chưa thể xác minh được liệu đây có phải một tiểu hành tinh nổ tung trong bầu khí quyển Trái đất như thiên thạch Chelyabinsk năm 2013 hay không.    Những phép so sánh của các nhà thiên văn Trung Quốc ngày xưa rằng một ngôi sao khách “sáng như Mặt trăng” hay “to như sao Mộc” đã cho phép chúng ta ước tính được cấp sao biểu kiến (apparent magnitude) của các ngôi sao này và đối chiếu được với ít nhất là sáu siêu tân tinh SN 185, SN 1006, SN 1054, SN 1181, SN 1572 và SN 1604. Trong số đó, SN 1006 là siêu tân tinh sáng nhất từng được con người tận mắt chứng kiến và ghi nhận, đến mức mà theo bộ Tống sử, nó sáng hơn cả Trăng thượng huyền (nửa vầng Trăng đầu tháng) và khiến các vật đổ bóng trên mặt đất. Nhiều ngôi sao khách khác cũng đã được sử sách Trung Hoa nhắc đến, song tính đến thời điểm hiện tại, các nhà thiên văn học mới chỉ tìm thấy tàn tích siêu tân tinh của sá vật thể nêu trên, cho nên danh tính của những ngôi sao khách còn lại là một câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ. Các nhà thiên văn Trung Quốc thời phong kiến gọi mọi ngôi sao sáng bất ngờ là “khách tinh”, không phân biệt đó có phải là vụ nổ sao hay không. Do vậy, không thể kết luận được ngay rằng cứ nói đến sao khách thì nhất định phải là tân tinh.       Mô phỏng SN 1054 trên bầu trời kinh đô Khai Phong của nhà Bắc Tống (960-1127). Theo Tống hội yếu tập cảo, khi mới xuất hiện, ngôi sao khách sáng “như sao Kim giữa ban ngày”. Nguồn: JWNoctis/Wikimedia Commons; Stellarium    Quả thật, một ngôi sao không cần phải phát nổ thì độ sáng của nó mới thay đổi khi quan sát từ Trái đất. Một ngôi sao “sáng bất thường” có thể là do sự hình thành “vi thấu kính hấp dẫn” (gravitational microlensing). Đó là khi một vật thể có khối lượng lớn – ví dụ như một lỗ đen – lọt vào tầm quan sát, nhưng lực hấp dẫn của nó chưa đủ mạnh để bẻ cong hình ảnh của ngôi sao bị nó chắn, mà thay vào đó chỉ làm bẻ cong ánh sáng và khiến ngôi sao trông chói hơn từ điểm nhìn của người quan sát. Theo tính toán của Colley và Gott (1995), một hiện tượng vi thấu kính hấp dẫn gây ra sự thay đổi độ sáng mà mắt thường quan sát được sẽ có khả năng xảy ra ít nhất một lần trong 2400 năm, nên trong 5000 năm vừa rồi, phải có ít nhất một vi thấu kính hấp dẫn được con người chứng kiến. Để tìm được ghi chép về hiện tượng này, Colley và Gott đề xuất rằng các học giả hiện đại nên tham khảo tư liệu của người Trung Quốc về các sao khách. Theo họ, ngay cả khi không ai đối chiếu được các nguồn Trung Quốc với các nguồn cùng thời của châu Âu, một hiện tượng như vi thấu kính hấp dẫn “chỉ cần một người quan sát.” Tuy nhiên, có lẽ nhận định của Colley và Gott chỉ phù hợp nếu như tư liệu của người Trung Quốc có độ chính xác không thể chối cãi.     Sai sót, lỗ hổng và thiên kiến     Trở lại siêu tân tinh SN 1054, một vài tác giả sau Edwin Hubble đã khảo cứu sử liệu phương Đông và nhận thấy nhiều sự mâu thuẫn. Dù các nguồn Trung Quốc như Tống sử và Văn hiến thông khảo đều đồng ý rằng siêu tân tinh SN 1054 xuất hiện lần đầu vào khoảng rạng sáng ngày 4 tháng 7 dương lịch năm 1054, cuốn Meigetsuki (Minh nguyệt ký) của thi hào Nhật Bản Fujiwara no Teika lại ghi nhận ngôi sao khách này lần đầu vào tháng 4 âm lịch. Vậy SN 1054 xuất hiện lần đầu trên bầu trời bán cầu Bắc vào lúc nào, và sự bất đồng về thời điểm ghi chép là do đâu?     Phải thừa nhận rằng các ghi chép thiên văn trong sử liệu phương Đông rất rõ ràng và chi tiết, nhưng chúng vẫn còn nhiều lỗ hổng. Khi khảo cứu Đại Việt sử ký toàn thư, Ho Peng-Yoke không tìm thấy được bất kì một ghi chép nào về siêu tân tinh SN 1054 hay là năm lần xuất hiện của sao chổi Halley từ 1145 đến 1456, cho dù những sự kiện thiên văn này hoàn toàn có thể quan sát được từ Khâm thiên giám tại Thăng Long. Cùng lúc đó, nhiều lần nhật thực được Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả không hề xảy ra trên bầu trời Đại Việt mà chỉ có thể là do chép lại từ sử Trung Quốc. Xu hướng tương tự cũng hiện diện trong sử ký của Nhật Bản, Triều Tiên hoặc của các triều đại Trung Quốc khác nhau: cơ quan thiên văn đời sau chỉ có trong tay tư liệu thiên văn của đời trước nên thường chép lại y nguyên các sự kiện được đời trước nói tới. Mặt khác, các phép miêu tả thường không theo một hệ đo lường cụ thể mà hay dựa trên sự so sánh, nên nếu một ngôi sao khách được tả là “to như sao Kim giữa ban ngày” thì còn cắt nghĩa được, nhưng nếu nói là “to như đồng xu” hay “to như quả trứng gà” thì cũng chẳng giúp được nhiều.        Ảnh chụp tàn tích của siêu tân tinh SN 1181, được Đài quan sát tia X Chandra phát hiện năm 2002. Nguồn: NASA/CXC/SAO  Cuối cùng, việc diễn đạt các hiện tượng thiên văn còn chịu ảnh hưởng của văn hóa và xã hội. Ta không thể đọc tư liệu thiên văn trong sử ký Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam mà không đặt nó trong bối cảnh khi động cơ thúc đẩy sự phát triển thiên văn học thời trung đại chính là niềm tin rằng các ngôi sao dự báo số phận con người và đất nước – một quan niệm phổ biến khắp thế giới thời bấy giờ và đặc biệt quan trọng với triều đình các nước Á Đông. Có một giả thuyết rằng khi các ngôi sao khách và sao chổi được miêu tả bằng màu sắc sặc sỡ đến bất thường, những màu sắc này không phải là màu sắc tự nhiên mà mang tính biểu tượng dựa trên ý nghĩa trong tử vi của chúng. Ngoài ra, một số tác giả như Wolfram Eberhard và Ho Peng-Yoke cho rằng do tư tưởng Thiên mệnh, các học giả của các đời vua sau này hoàn toàn đã có thể lược bỏ hoặc ngụy tạo một số sự kiện thiên văn, nhằm phản đối hoặc là hợp thức hóa các đời vua trước. Khác với ngày nay, các nhà thiên văn học thời phong kiến làm việc với tư cách bề tôi của triều đình, nên việc thêm thắt các chi tiết như vậy để củng cố quyền lực của hoàng đế không phải là một chuyện khó tưởng tượng nổi. Bên cạnh đó, họ ghi chép lại các ngôi sao khách không phải là cho quần chúng mà là cho vua quan. Nhà thiên văn học Richard Strom đã chỉ ra sự tương đồng giữa vài phép miêu tả thiên văn khó hiểu của thời đó và những lối nói trong văn học cổ điển, có thể là do bản thân các nhà thiên văn lúc bấy giờ cũng nắm rõ những lối nói này và cần vận dụng chúng để diễn tả cho triều đình.       Khác với ngày nay, các nhà thiên văn học thời phong kiến làm việc với tư cách bề tôi của triều đình, nên việc thêm thắt các chi tiết như vậy để củng cố quyền lực của hoàng đế không phải là một chuyện khó tưởng tượng nổi.      Tương lai của sử liệu     Đến nay, thiên văn học mới chỉ sử dụng và xác minh được một lượng nhỏ các ghi chép về sao trời trong sử liệu phương Đông. Chính vì vậy, nhiều cá nhân vẫn đang tích cực đối chiếu các ghi chép này với nhau để đưa ra các giả thuyết mới. Stephenson và Green (2005) cho rằng ngoài những siêu tân tinh nêu trên, đã có các siêu tân tinh khác từ thời xa xưa được người Trung Quốc ghi chép lại bằng tên gọi “khách tinh” vào các năm 386 và 393. Một bộ phận nhỏ trong cộng đồng thiên văn học đưa ra những ý tưởng khác để giải thích các ngôi sao khách, tương tự như bài viết của Colley và Gott (1995) được nhắc đến ở đằng trước. Còn về những hiện tượng có tính lặp lại như sao chổi, các ghi chép thiên văn thời trước có thể đã không nhận ra chu kỳ của chúng, song tính cụ thể về phương hướng và thời gian xuất hiện, cũng như là sự nhất quán về cách quan sát sao chổi đã cho phép các nhà khoa học ngày nay liên hệ được với những sao chổi ở thời hiện đại, để rồi từ đó nhận biết xem sao chổi nào theo chu kỳ và tính toán chu kỳ đó. Những phép tính, những giả thuyết như vậy đương nhiên phải được xây dựng trên cơ sở sự nhận thức về các sai sót, lỗ hổng và thiên kiến của các nhà thiên văn học thời trước.       Một đoạn văn đề cập tới siêu tân tinh SN 1054 trong bộ Lịch đại danh thần tấu nghị thời Minh. Nguồn: Pankenier (2006)    Nếu so sánh với mặt bằng chung của thế giới lúc bấy giờ, thiên văn học ở các nước Á Đông thời trung đại đã phát triển mạnh và đạt được độ chính xác cao, thậm chí trước khi chiếc kính viễn vọng đầu tiên được phát minh ra. Trong lúc châu Âu vẫn còn thiếu kiến thức cụ thể về chuyển động của các vì sao, những cơ quan thiên văn của hàng trăm năm phong kiến phương Đông đã theo dõi cẩn thận các thiên thể và ghi lại một cách chi tiết những hiện tượng mà họ quan sát được. Dù còn nhiều điều không chính xác, các ghi chép thiên văn thời phong kiến vẫn mở ra một cánh cửa cho phép chúng ta nghiên cứu bầu trời của quá khứ. Là một ngành khoa học đòi hỏi các quan sát trên quy mô lớn cả về không gian lẫn thời gian, thiên văn học cần tích cực học hỏi từ sử liệu phương Đông để có một cái nhìn sâu sắc hơn về sự tiến hóa của các ngôi sao và cả vũ trụ. Để đạt được một mục tiêu như thế, cần có sự phối hợp giữa các nhà thiên văn, các nhà vật lý, các nhà ngôn ngữ học, các dịch giả, v.v., cũng như là một sự nhận thức rõ ràng về vai trò của lịch sử và văn hóa trong quá trình phát triển của khoa học nói chung.□  —  Colley, W.N. and Gott III, J.R. (1995), “Naked-Eye Observable Microlensing Events”, The Astrophysical Journal 452, pp. 82-89.  Pankenier, D.W. (2006), “Notes on translations of the East Asian records relating to the supernova of AD 1054”, Journal of Astronomical History and Heritage 9(1), pp. 77-82.  Peng-Yoke, H. (1964), “Natural Phenomena Recorded in the Đai-Viêt Su’-ky Toan-Thu’, an Early Annamese Historical Source”, Journal of the American Oriental Society, 84(2), pp. 127-149.  Qibin, L. (1987), “A recent study on the historical novae and supernovae”, in High Energy Astrophysics, Proceedings of the Second Workshop of the Max-Planck-Gesellschaft and the Academia Sinica at Schloss Ringberg, Tegernsee, 1987, Springer-Verlag, Berlin, Heidelberg, pp. 2-25.  Stephenson, F.R. and Green, D.A. (2003), “Was the supernova of AD 1054 reported in European history?”, Journal of Astronomical History and Heritage, 6(1), pp. 46-52.  Stephenson, F.R. and Green, D.A. (2005), “A reappraisal of some proposed historical supernovae”, Journal for the History of Astronomy, 36(2), pp. 217-229.  Strom, R.G. (2008), “The origin and meaning of colourful descriptions in Chinese astronomical records”, Journal of Astronomical History and Heritage 11(2), pp. 87-96.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Thiết bị cảnh báo rò rỉ khí gas      Với mục tiêu cảnh báo sớm cho các chủ hộ gia  đình sử dụng bếp gas, nhóm kỹ sư Nguyễn Tiến Hưng, Trần Văn Trường, Vũ  Ngọc Đình và ThS Vũ Văn Núi đã nghiên cứu và phát triển thành công Thiết  bị cảnh báo rò rỉ khí gas TP-Gas Alarm V1.6 sau 13 tháng.     Thiết bị này dựa trên việc đo sự biến đổi của nhiệt độ, khói và độ ẩm cùng với tính năng cảnh báo sớm từ xa qua hệ thống mạng điện thoại ngay vào thời điểm mới xuất hiện cục bộ. Dựa trên thông tin phản hồi, thiết bị sẽ hỗ trợ bốn hình thức cảnh báo rò rỉ gas, theo tin nhắn SMS, còi, đèn và trên màn hình LCD để cho chủ nhà biết và nhanh chóng xử lý tình huống.   Với vị trí lắp đặt phù hợp, cách nơi để bình gas từ 1 đến 4m, thiết bị có thể cảnh báo được tình trạng rò rỉ gas ngay từ khi nồng độ còn rất thấp, dưới ¼ ngưỡng an toàn cháy nổ. Sản phẩm được thiết kế nhỏ gọn, màn hình hiển thị 5 inch, có gắn thẻ sim với dải tần hoạt động là GSM 900-1800MHz, có giá bán dự kiến dưới 1,5 triệu đồng.   Được biết, trong thời gian tới, nhóm kỹ sư Trần Văn Trường sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thêm nhiều tính năng tiện ích khác cho thiết bị cảnh báo khí gas này.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị cấy não giúp khỉ bị liệt đi lại được      Các nhà khoa học Thụy Sĩ đã cấy một thiết bị vào não khỉ bị tổn thương tủy sống để  giúp chúng đi lại được.      Hơn một thập kỉ qua, cứ vài tháng, nhà khoa học thần kinh Grégoire Courtine lại di chuyển từ phòng thí nghiệm của ông ở Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Lausanne đến một phòng thí nghiệm khác ở Bắc Kinh, Trung Quốc, nơi ông tiến hành nghiên cứu trên loài khỉ với mục đích điều trị những tổn thương tủy sống. Việc di chuyển rất mệt mỏi vì có những lần ông bay đến Bắc Kinh, hoàn thành thí nghiệm rồi trở về ngay trong đêm. Nhưng công sức bỏ ra là xứng đáng, Courtine nói, vì  nghiên cứu trên khỉ ở Trung Quốc ít bị ràng buộc bởi các quy định hơn châu Âu và Mỹ.  Mới đây, ông và nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả của những thí nghiệm ở Bắc Kinh, trong đó một thiết bị vô tuyến được cấy vào não giúp khỉ bị tổn thương tủy sống đi lại được bằng cách dùng những tín hiệu ghi lại từ não để kích thích các điện cực ở chân của con vật.  Courtine đã bắt đầu thử nghiệm một phiên bản đơn giản của công nghệ này để điều trị cho hai bệnh nhân bị chấn thương tủy sống ở Thụy Sĩ.  Từ chuột đến linh trưởng  Theo Courtine, kết quả thu được là một tiến triển chứ không phải bước đột phá bất ngờ bởi chúng thành tựu sau những thử nghiệm kéo dài cả một thập kỉ trên chuột, và khi ứng dụng trên khỉ thì cũng cho những phản ứng hoàn toàn tương tự. Đầu tiên, nhóm nghiên cứu xác định các tín hiệu điện được gửi đi từ não đến các cơ chân như thế nào ở những con khỉ khỏe mạnh đi trên máy chạy bộ. Họ cũng đã nghiên phần dưới cột sống nơi những tín hiệu điện từ não đi qua, trước khi được truyền đến các cơ chân. Sau đó, họ tái tạo những tín hiệu này ở những con khỉ có tủy sống bị đứt, tập trung vào những điểm quan trọng nhất định ở phần dưới cột sống.  Sau khi được cấy vào não những con khỉ bị liệt, các mảng vi điện cực sẽ nhận và giải mã các tín hiệu gắn với cử động của chân ở những con khỉ khỏe mạnh. Những tín hiệu này được gửi qua sóng vô tuyến đến các thiết bị tạo ra xung động điện ở phần xương sống dưới để kích thích các cơ chân của khỉ chuyển động.  “Cả nhóm đã reo to trong phòng khi quan sát” Courtine, người đã chứng kiến nhiều thất bại khi làm các thí nghiệm về phục hồi khả năng đi lại, kể. Nhịp chuyển động của chân chưa được hoàn hảo, nhưng bàn chân của khỉ không kéo lê và chuyển động đủ nhịp nhàng để nâng đỡ cơ thể chúng.  Các nhà nghiên cứu trước đó đã dùng công nghệ đọc tín hiệu não giúp người bị liệt điều khiển cánh tay robot mang nước cho họ hoặc di chuyển cánh tay của mình để chơi trò chơi điện tử. Tín hiệu não liên quan đến việc kích hoạt các cơ ở chân bị liệt ít phức tạp hơn những tín hiệu chỉ dẫn cho cánh tay và các ngón trên bàn tay, tuy nhiên theo Courtine “một tiến bộ nhỏ trong khả năng cầm nắm cũng thay đổi chất lượng cuộc sống của bạn, trong khi với đôi chân thì hoặc là đi được bình thường, hoặc là không,”. Hiện ông đang thí nghiệm trên những con khỉ để đạt được sự kiểm soát cơ chân tốt hơn, nhờ đó chúng không chỉ nâng đỡ được cơ thể của mình mà còn duy trì thăng bằng và tránh được những vật cản.  Áp dụng trên người  Courtine cho biết, áp dụng kỹ thuật tương tự như vậy với con người sẽ phức tạp hơn: việc giải mã bộ não ở người hoàn toàn không đơn giản.  Hai bệnh nhân ở Thụy Sĩ đã được cấy thiết bị phát xung điện vào phần dưới cột sống. Tuy nhiên trong thử nghiệm này, họ chưa được cấy mảng vi điện cực vào não, vì thế sẽ không thể tự mình kiểm soát chuyển động của cơ thể.  Theo Gaurav Sharma, nhà khoa học thần kinh đang nghiên cứu phục hồi cử động cánh tay ở những bệnh nhân bị liệt, thuộc Viện Tưởng niệm Battelle, Columbus, Ohio, nghiên cứu tới đây sẽ phải xem xét thêm những yếu tố khác của chức năng vận động, như sự phối hợp dáng đi – điều mà những con khỉ không làm được – được kiểm soát bởi một nhóm các nơ-ron thần kinh khác. Một cách lý tưởng, những thiết bị giúp bệnh nhân bị liệt vận động được sẽ bao gồm giao diện não-máy (BCI), thiết bị kích thích điện để kích hoạt các cơ, thiết bị giống như bộ xương ngoài để nâng đỡ cơ thể, và thiết bị xử lí tín hiệu điện thông minh hơn cho phép điều khiển dáng đi, ông nói.  Sau những thành công trong thí nghiệm ở chuột và linh trưởng, Courtine đã được Chính phủ Thụy Sĩ cho phép sử dụng năm con khỉ tại phòng thí nghiệm linh trưởng của nước này, nhưng một số thí nghiệm của ông vẫn phải tiến hành ở Bắc Kinh.  Nguồn: http://www.nature.com/news/brain-implants-allow-paralysed-monkeys-to-walk-1.20967       Author                Nhàn Vũ        
__label__tiasang Thiết bị dạng màng mỏng chuyển đổi tia hồng ngoại thành hình ảnh      Nhìn xuyên qua sương mù và bụi mờ. Vẽ được sơ đồ các mạch máu của con người trong khi kiểm tra nhịp tim đập tại cùng thời điểm mà không cần phải chạm đến cả làn da người đó. Nhìn thấu qua các đĩa bán dẫn silicon để kiểm tra chất lượng và thành phần của các bảng điện tử. Đó là chỉ là một vài năng lực của một bộ thu ảnh tia hồng ngoại mới do một nhóm nghiên cứu ở trường đại học California San Diego phát triển.      Tina Ng, giáo sư kỹ thuật điện và kỹ thuật máy tính tại trường Kỹ thuật Jacobs, UC San Diego  Bộ thu ảnh dò được là một phần của phổ tia hồng ngoại vốn được gọi là tia sáng tia hồng ngoại sóng ngắn (bước sóng từ 1000 đến 1400 nano mét), nằm ở ngoài phổ có thể nhìn thấy được (400 đến 700 nano mét). Không thể nhầm lẫn hình ảnh tia hồng ngoại sóng ngắn với hình ảnh nhiệt, vốn dò được với bước sóng tia hồng ngoại dài hơn nhiều cơ thể phát ra.  Bộ thu ảnh hồng ngoại hoạt động bằng cách chiếu sáng tia hồng ngoại sóng ngắn lên một vùng hoặc không vật thể mà người ta quan tâm, sau đó chuyển đổi mức năng lượng thấp của tia hồng ngoại sóng ngắn được phản chiếu trở lại thiết bị thành các bước sóng ngắn hơn, có mức năng lượng cao hơn mà mắt người có thể nhìn thấy được.  “Nó khiến tia sáng vô hình có thể nhìn thấy được”, Tina Ng, một giáo sư kỹ thuật điện và kỹ thuật máy tính tại trường Kỹ thuật Jacobs, UC San Diego, nói.  Dù kỹ thuật hình ảnh hồng ngoại đã được phát triển trong nhiều thế kỷ, phần lớn các hệ hồng ngoại đều rất đắt đỏ, cồng kềnh và phức tạp. Nó thường đòi hỏi một camera và màn hình hiển thị riêng biệt. Nó cũng thường được làm từ chất bán dẫn vô cơ, vốn đắt đỏ, hiếm hoi và chứa cả những độc chất như arsenic và chì.  Bộ tạo ảnh hồng ngoại mà nhóm nghiên cứu của Ng phát triển đã vượt qua được những vấn đề đó. Nó tích hợp được các cảm biến và phần hiển thị trên một thiết bị mỏng, khiến cho nó trở nên gọn nhẹ và đơn giản. Và mặc dù sử dụng chất bán dẫn vô cơ nhưng giá thành của nó lại rẻ, gọn nhẹ và an toàn để sử dụng cho các ứng dụng y sinh. Điều đặc biệt là nó đem lại những hình ảnh có độ phân giải cao hơn những thiết bị trước đó.  Bộ hình ảnh mới được miêu tả trong bài báo xuất bản trên Advanced Functional Materials, đã đưa ra một số ưu điểm. Nó có thể nhìn thấy một số phổ hồng ngoại có bước sóng ngắn hơn như từ 1000 đến 1400 nano mét – các hệ tương tự đã được biết thường chỉ nhìn thấy quãng dưới 1200 nano mét. Nó cũng là một trong những kích thước các máy tạo ảnh tia hồng ngoại có hiển thị lớn nhất: diện tích 2 cm2. Và do hình ảnh được tạo ra bằng việc sử dụng các quá trình xử lý màng mỏng nên rất dễ dàng và không tốn kém nếu mở rộng quy mô để tạo ra những màn hình lớn hơn nữa.    Chuyển các photon hồng ngoại thành các photon có thể nhìn thấy    Bộ tạo ảnh này được tạo ra bằng các lớp bán dẫn, mỗi lớp có độ dày hàng trăm nano mét, lớp nọ xếp chồng lên trên lớp khác. Ba trong số các lớp này được làm từ các polymer hữu cơ khác nhau là những yếu tố chính của thiết bị: một lớp dò photon, một lớp hiển thị diode phát sáng hữu cơ (OLED), và một lớp chặn electron ở giữa.  Lớp dò photon hấp thụ tia hồng ngoại bước sóng ngắn (các photon năng lượng thấp) và sau đó sinh ra một dòng điện. Dòng điện này chạy đến lớp hiển thị OLED, nơi chuyển đổi nó thành một hình ảnh có thể nhìn thấy (các photon năng lượn cao). Một lớp trung gian gọi là lớp chặn electron giữ cho lớp hiển thị OLED khỏi mất dòng điện. Đây là những gì giúp thiết bị tạo ra một hình ảnh ‘sạch’ hơn.  Quá trình chuyển đổi các photon năng lượng thấp thành photon năng lượng cao được biết đến như một sự đảo nghịch. Điều đặc biệt ở đây là quá trình đảo nghịch này là điện tử. “Sự tiên tiến của quá trình này cho phép chuyển đổi trực tiếp từ tia hồng ngoại không thể thấy bằng mắt thường thành có thể nhìn thấy trên một hệ mỏng và gọn”, Ning Li, một nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm của Ng và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, giải thích. “Trong một hệ hình ảnh hồng ngoại cụ thể, nơi sự nghịch đảo không có điện tử, anh cần một máy dò xếp dãy để thu thập dữ liệu, một máy tính để xử lý dữ liệu và một màn hình tách biệt để hiện thị chính dữ liệu đó. Đây là lý do giải thích tại sao các hệ đang có đều rất cồng kềnh và đắt đỏ”.  Một đặc điểm đặc biệt khác là chính bộ tạo hình ảnh này rất hiệu quả trong việc cung cấp các hiển thị điện tử và quang học. “Nó khiến cho thiết bị này có đa chức năng”, Li nói. Ví dụ, khi các nhà nghiên cứu chiếu ánh sáng hồng ngoại vào mu bàn tay của một người, thiết bị sẽ cung cấp một bức tranh của cả các mạch máu của hệ cũng như nhịp tim của họ.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thiết bị tia hồng ngoại của mình để nhìn xuyên thấu sương mù và một miếng silicon. Trong một thực nghiệm, họ đặt một miếng che quang có đục lỗ “EXIT” trong một buồng nhỏ có khói. Trong một thử nghiệm khác, họ đặt một miếng che quang có đục lỗ “UCSD” phía sau một miếng silicon. Tia hồng ngoại xuyên qua cả khói và silicon, khiến thiết bị có thể nhìn thấy các chữ cái. Với tính năng này, thiết bị có thể hữu ích cho các ứng dụng như giúp xe ô tô tự lái có thể nhìn thấy đường đi trong thời tiết xấu và kiểm tra các lỗi của chip silicon.  Các nhà nghiên cứu hiện giờ đang tiếp tục cải thiện hiệu quả của thiết bị này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-thin-large-area-device-infrared-images.html  https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/adfm.202100565    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị dạng pin, giá rẻ hấp thụ phát thải carbon dioxide khi sạc      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một thiết bị giá rẻ có thể bắt được một cách chọn lọc khí carbon dioxide khi đang sạc. Sau đó khi thôi sạc, CO2 có thể phát thải theo một cách có kiểm soát và thu thập để tái sử dụng hoặc xác định cách phản hồi.      Thiết bị siêu tụ điện này tương tự như một cái pin sạc, là kích thước của đồng xu hai pence, và được là một phần của các vật liệu bền vững bao gồm các mảnh gáo dừa và nước biển.  Do các nhà nghiên cứu của trường đại học Cambridge thiết kế, chiếc siêu tụ điện này có thể giúp bắt carbon và các công nghệ ở mức giá rẻ. Khoảng 35 tỉ mét khối CO2 phát thải vào bầu khí quyển hàng năm và do đó các giải pháp hiện nay là cần loại bỏ ô nhiễm và giải quyết khủng hoảng khí hậu. Các công nghệ bắt carbon tiên tiến nhất hiện nay thường đòi hỏi một lượng lớn năng lượng và lại vô cùng đắt đỏ.  Chiếc siêu tụ điện này bao gồm hai điện cực tích điện dương và âm. Trong công trình nghiên cứu do Trevor Binford thực hiện khi hoàn thành bậc cao học ở Cambridge, nhóm nghiên cứu đã cố gắng xoay chiều một điện áp âm sang dương để gia tăng thời gian sạc ở những thực nghiệm trước. Điều này có thể cải thiện năng lực bắt carbon của siêu tụ điện.  “Chúng tôi phát hiện ra là bằng việc xoay chiều một cách cẩn trọng dòng điện giữa các bản điện cực, chúng tôi có thể bắt được gấp đôi lượng CO2 so với trước đây“, tiến sĩ Alexander Forse của Khoa Hóa học Yusuf Hamied, ĐH Cambridge và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói.  “Quá trình sạc – thôi sạc của siêu tụ điện của chúng tôi có tiềm năng sử dụng ít năng lượng hơn quá trình gia nhiệt amin mà ngành công nghiệp vẫn đang sử dụng”, Forse cho biết. “Các bài toán tiếp theo của chúng tôi là sẽ tìm hiểu về các cơ chế chính xác của việc bắt CO2 và cải thiện chúng. Sau nữa là vấn đề về mở rộng quy mô”.  Một siêu tụ điện tương tự như một pin sạc nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa chúng là cách hai thiết bị lưu trữ điện sạc. Một chiếc pin sử dụng các phản ứng hóa học để lưu trữ và sạc trong khi một siêu tụ điện không phụ thuộc vào các phản ứng hóa học. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào chuyển động của các điện tích giữa hai điện cực, vì vậy phải mất nhiều thời gian hơn mới xảy ra hiện tượng chai pin và có một vòng đời dài hơn.  “Sự đánh đổi là các siêu tụ điện không thể lưu trữ được nhiều điện năng như các pin sạc nhưng những tính năng như bắt carbon thì chúng ta có thể ưu tiên”, đồng tác giả Grace Mapstone nói. “Phần tốt nhất là vật liệu được sử dụng làm siêu tụ điện rất rẻ và rất sẵn. Các điện cực được làm từ carbon hình thành từ các tấm gáo dừa vẫn bị hủy bỏ.  “Chúng tôi muốn sử dụng các vật liệu như vậy vì không phá hủy môi trường, và chúng tôi cần giảm bớt việc phát thải vào môi trường. Ví dụ, CO2 được phân giải thành chất điện phân chứa nước, về cơ bản giống nước biển”.  Tuy nhiên, chiếc siêu tụ điện này không hấp thụ một cách tự động CO2: nó phải được sạc để hút khí CO2. Khi các điện cực được sạc, bản điện cực âm thu khí CO2 trong khi không bắt các phát thải khác như oxygen, nitrogen và nước nên chưa có nhiều đóng góp vào việc chống biến đổi khí hậu. Với việc sử dụng phương pháp này, siêu tụ điện có thể vừa bắt carbon và lưu trữ năng lượng.  Đồng tác giả Israel Temprano tham gia vào sự án bằng việc phát triển kỹ thuật phân tích khí cho thiết bị, Kỹ thuật này sử dụng một cảm biến áp suất phản hồi với những thay đổi trong hấp thụ khí trong thiết bị điện hóa này. Các kết quả từ đóng góp của Temprano giúp chi tiết hơn cơ chế chính xác đóng vai trò quan trọng trong siêu tụ điện khi CO2 được hấp thụ và phát ra. Việc hiểu về các cơ chế này, những mất mát có thể và các tuyến đường dẫn đến hiện tượng chai pin đều thiết yếu khi việc chế tạo siêu tụ điện này được nâng cấp về quy mô.  “Lĩnh vực nghiên cứu này còn rất mới mẻ vì vậy sự vận hành của cơ chế chính xác bên trong siêu tụ điện vẫn còn chưa được biết hết”, Temprano nói.  Thanh  Hương tổng hợp  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-05-low-cost-battery-like-device-absorbs-co2.html  https://www.independent.co.uk/tech/battery-co2-carbon-capture-climate-b2085582.html    Author                .        
__label__tiasang Thiết bị dò neutron nhiệt trong máy bay      Một công nghệ mới do Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos và Honeywell, một công ty chuyên về công nghệ hàng không, phát triển sẽ cung cấp thông tin về môi trường khí quyển cho ngành công nghiệp hàng không.      Thiết bị mang tên TinMan có thể xác định định lượng neutron nhiệt, các hạt được tạo bằng bức xạ nhiệt mặt trời tự nhiên – trao cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ một tiêu chuẩn để ngành này có thể đánh giá được các bộ phận bán dẫn của mình.  “Một vài nghiên cứu thực hiện trước đây có liên quan đến những tác động của neutron nhiệt lên máy bay nhưng không nghiên cứu nào có khả năng xác định được cường độ của chúng bên trong các máy bay”, Stephen Wender, một nhà khoa học về thiết bị tại Trung tâm khoa học Neutron Los Alamos nói. “Dù chưa xác định được trên thực tế nhưng về lý thuyết thì chúng đã chứng tỏ là có tác động đến độ tin cậy của các thành phần”.  Kể từ những năm 1960 thì thế giới đã biết đến những tác động cả bức xạ khi quyển. Vì bức xạ mặt trời “va” vào bầu khí quyển, nó tạo ra những cơn mưa các hạt rơi xuống trái đất, bao gồm các proton, electron và các ion nặng, và cũng tạo ra các neutron năng lượng cao. Nhưng không như các proton và electron, các neutron không tích điện và có thể xuyên qua bầu khí quyển và các vật thể rắn như vỏ kim loại của một máy bay. Khi các neutron đánh trúng một bộ vi xử lý, năng lượng được lưu giữ trong hệ thống này có thể dẫn đến một sự kiện ảnh hưởng, vốn có thể tác động lên độ tin cậy của các thành phần.  Các neutron nhiệt được tạo ra sau khi các neutron năng lượng cao va chạm với các vật liệu và mất năng lượng. Kết quả là một hạt ít năng lượng hơn: một neutron nhiệt. Hàng chục nghìn gallon nhiên liệu lưu trữ trong các máy bay được coi là nơi sản xuất các neutron nhiệt vô cùng hiệu quả.Trng khi môi trường neutron năng lượng cao đã được định lượng từ lâu thì môi trường nhiệt chưa được đo đạc đầy đủ tại các cao độ bên trong một máy bay, bởi vì nó còn phụ thuộc vào môi trường xung quanh.  Các neutron được nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây sau khi ngành công nghiệp sản xuất bán dẫn, vốn chế tạo các thiết bị điện tử bán dẫn, bắt đầu sử dụng một kim loại tên là boron cho các thành phần thiết bị. Boron-10 là một đồng vị của boron và được biết đến là nhạy với các neutron nhiệt.  “Việc đo đạc môi trường neutron nhiệt tại độ cao đem lại một phần thông tin quan trọng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ”, Laura Dominik, một nhà nghiên cứu, nói. “Chúng tôi hài lòng với dự án hợp tác chung này hiện đem đến phép đo chính xác bậc nhất dạng hạt này trên máy bay”.  TinMan là một thiết bị nhỏ, có độ dày nhỉnh hơn một máy tính xách tay, và là máy dò neutron nhiệt duy nhất được thiết kế để sử dụng trren máy bay. Mục tiêu của nó là đo đạc sự thay đổi của cường độ neutron nhiệt trên máy bay, vốn có thể dao động theo chiều cao và vĩ độ của máy bay. Những đo đạc này có thể còn được sử dụng để xác định môi trường neutron nhiệt trên máy bay, một bước cần thiết để đánh giá các thành phần thiết bị điện tử bán dẫn chứa boron-10.  Trong hai năm qua, TinMan đã có mặt trên 14 chuyến bay của NASA. Qua những chuyến bay này, TinMan có thể theo sát được cường độ neutron nhiệt trong nhiều cao độ và vĩ độ khác nhau trên các chuyến bay nội địa Mỹ và tại châu Âu. TinMan đã xác định được môi trường của cường độ  neutron nhiệt. Dữ liệu thu thập được đã được chia sẻ với các cơ quan hàng không quốc tế thông qua các báo cáo để đảm bảo cho các thiết bị điện tử chứa boron-10 có thể được đánh giá một cách đúng đắn.  “Chúng tôi rất vui mừng cung cấp một bộ đo đạc toàn diện môi trường neutron nhiệt trên máy bay”, Wender nói. “Vì những thay đổi trong ngành sản xuất sẽ diễn ra liên tục, thông tin này sẽ thiết lập một cơ sở quan trọng để đánh giá các thành phần bán dẫn cho toàn bộ ngành công nghiệp hàng không vũ trụ”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-los-alamos-technology-thermal-neutrons.html  https://www.lanl.gov/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị giá rẻ có thể khai thác năng lượng từ những cơn gió nhẹ      Hãy quên đi những tuabin gió khổng lồ, hoặc những thiết bị khai thác năng lượng gió chỉ có thể hiệu quả trong điều kiện gió mạnh. Giờ đây, các nhà khoa học ở Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) đã tìm ra cách khai thác năng lượng từ những làn gió nhẹ, cho phép các khu vực đô thị có tốc độ gió thấp cũng có thể khai thác nguồn năng lượng sạch và bền vững này.     Các nhà khoa học ở Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) ở Singapore đã phát triển một thiết bị giá rẻ có thể khai thác năng lượng từ gió nhẹ và lưu trữ dưới dạng điện năng. Thiết bị này chỉ có kích thước bằng một chai nước, được làm từ đồng, nhôm và các bộ phận khác có giá khoảng 10 USD.  Khi tiếp xúc với gió có vận tốc thấp khoảng 2m/s, thiết bị có thể tạo ra điện áp 3 vôn và công suất điện lên đến 290 microwatt, cung cấp đủ năng lượng cho một thiết bị cảm biến thương mại và đủ để gửi dữ liệu đến điện thoại di động hoặc máy tính. Thiết bị này được gọi là máy khai thác gió, rất nhẹ và bền, cũng có thể chuyển điện dư thừa vào pin để lưu trữ, cung cấp năng lượng cho các thiết bị trong điều kiện không có gió.    Giáo sư Yang Yaowen giới thiệu về thiết bị. Nguồn: NTU  Nhóm nghiên cứu cho biết sáng chế của họ có tiềm năng thay thế pin để cung cấp năng lượng cho đèn LED và cảm biến cho các công trình, ứng dụng trong các cấu trúc đô thị như cầu, nhà cao tầng… để theo dõi sức khỏe của các công trình, đồng thời cảnh báo cho các kỹ sư nếu xuất hiện bất ổn hoặc bị hư hỏng.  Với kích thước 15 cm x 20 cm, người ta có thể dễ dàng gắn thiết bị vào các bề mặt của tòa nhà, phù hợp với môi trường đô thị, chẳng hạn như ở các vùng ngoại ô của Singapore – nơi có tốc độ gió trung bình dưới 2,5m/s. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả này trên tạp chí Mechanical Systems and Signal Processing vào tháng 9/2022.  Giáo sư Yang Yaowen, kỹ sư kết cấu ở Trường Kỹ thuật xây dựng và môi trường (CEE) của NTU, người đứng đầu dự án, cho biết: “Là một nguồn năng lượng tái tạo sạch, điện gió đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu từ lâu. Mục tiêu của chúng tôi là giải quyết tình trạng thiếu thiết bị khai thác năng lượng gió quy mô nhỏ với nhiều ứng dụng khác nhau, chẳng hạn cung cấp năng lượng cho các cảm biến và thiết bị điện tử nhỏ hơn”.  “Thiết bị do chúng tôi phát triển cũng đóng vai trò là một giải pháp thay thế tiềm năng cho pin lithium-ion nhỏ hơn. Ưu điểm của nó là có khả năng tự cung cấp, chỉ cần bảo trì thường xuyên, đặc biệt là không sử dụng kim loại nặng – vật liệu có thể gây ra các vấn đề môi trường nếu không được xử lý đúng cách”.  Sáng chế này đã nhận được sự quan tâm từ các ngành công nghiệp. Hiện nay, nhóm tác giả cũng đang tiến hành quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.  Lướt theo luồng gió  Các nhà khoa học đã chế tạo thiết bị này với mục tiêu khai thác năng lượng gió một cách hiệu quả và tốn ít chi phí. Phần thân của thiết bị được làm từ sợi epoxy – một loại polymer có độ bền cao. Bộ phận chính tương tác với gió được làm từ vật liệu rẻ tiền như đồng, lá nhôm và teflon – một loại polymer bền.  Với cấu trúc thiết kế động, khi thiết bị tiếp xúc với luồng gió, nó bắt đầu rung, khiến các tấm gắn trên đó di chuyển khỏi nút chặn. Nhờ đó, các điện tích hình thành trên màng, chạy từ lá nhôm sang màng đồng và hình thành dòng điện.  Kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, thiết bị do các nhà khoa học ở NTU phát triển có thể cung cấp điện liên tục cho 40 đèn LED ở tốc độ gió 4m/s. Nó cũng có thể kích hoạt một thiết bị cảm biến và cung cấp đủ năng lượng để gửi thông tin nhiệt độ phòng đến điện thoại di động.  Điều này chứng tỏ thiết bị khai thác năng lượng gió không chỉ tạo ra nguồn điện ổn định cho các thiết bị, mà còn có thể lưu trữ lượng điện dư thừa, duy trì hoạt động của thiết bị trong khoảng thời gian dài không có gió.  Giáo sư Yang cho biết: “Năng lượng gió là nguồn năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm, không cạn kiệt, góp phần giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch – nguồn gốc của khí nhà kính khiến Trái đất nóng lên. Sáng chế của chúng tôi có khả năng khai thác hiệu quả nguồn năng lượng bền vững này cho đèn LED cũng như sạc pin, chứng minh tiềm năng trở thành máy phát điện để cung cấp năng lượng cho các thế hệ thiết bị điện tử trong tương lai – có kích thước nhỏ và tiêu tốn ít năng lượng hơn”.  Ông và các cộng sự ở NTU đang tiến hành nghiên cứu sâu hơn để cải thiện các chức năng lưu trữ năng lượng, cũng như thử nghiệm với các vật liệu khác nhau để cải thiện công suất đầu ra. Nhóm nghiên cứu cũng đang trong quá trình nộp đơn xin cấp bằng sáng chế với NTUitive – doanh nghiệp đổi mới sáng tạo của NTU.  Thanh An tổng hợp  Nguồn:  https://techxplore.com/news/2022-10-inexpensive-device-harvest-energy-breeze.html  https://www.straitstimes.com/tech/ntu-researchers-build-mini-wind-harvester-to-produce-electricity-from-a-gentle-breeze    Author                .        
__label__tiasang Thiết bị giúp thu hồi điện từ bước chân      Đây là sản phẩm của nhóm sinh viên Trường Đại học Bách khoa TPHCM, có thể biến lực ma sát từ những bước chân khi di chuyển thành điện năng.    Theo nhóm nghiên cứu, thiết bị thu hồi điện từ bước chân hoạt động dựa trên nguyên tắc phát điện nano ma sát (Triboelectric Nanogenerator- TENG) là một trong những công nghệ có hiệu quả nhất thu năng lượng cơ học chuyển đổi thành điện năng. Cấu tạo của thiết bị TENG cơ bản là các màng ma sát điện, được biến tính ở bề mặt mức độ nano, đi kèm các điện cực dẫn điện. Khi các màng này tương tác với nhau như tiếp xúc, tách, trượt,… sẽ tạo ra dòng điện.    Thiết bị do nhóm chế tạo như một tấm thảm gồm vỏ bọc đệm vải bên ngoài và thiết bị TENG bên trong. TENG gồm hai lớp vật liệu nano convex polydimethysiloxame (PDMS) tiếp xúc với nhau, được chế tạo bằng phương pháp phân pha nâng cao. Vật liệu làm TENG có thể sử dung từ CD tái chế, nhựa Polystyrene (PS), rác thải nhựa Polyvinylchloride (PVC).      Thiết bị thu hồi điện từ bước chân do nhóm chế tạo    Khi con người dẫm lên thảm, 2 lớp vật liệu PDMS trong thảm sẽ tiếp xúc với nhau, khi nhấc chân lên, chúng sẽ quay về trạng thái tách ra. Khi 2 bề mặt vật liệu được tiếp xúc và tách ra tạo nên hiện tượng nhiễm điện dương ở một bề mặt vật liệu và nhiễm điện âm ở bề mặt vật liệu còn lại. Quá trình này được thực hiện liên tục sẽ tạo ra dòng điện và được thu hồi lại.    Nhóm nghiên cứu cho biết, các công nghệ cũ như máy phát điện theo nguyên lý cảm ứng điện từ chỉ có thể đạt hiệu suất cao khi hoạt động ở tần số cao. Công nghệ TENG có thể đạt hiệu suất cao ngay cả ở tần số rất thấp. Ngoài ra, TENG còn chế tạo đơn giản, gọn nhẹ, mềm dẻo, độ bền lâu dài, sử dụng được nhiều loại vật liệu khác nhau. Thiết bị có thể đặt ở các cổng ra vào, cầu thang,… của trường học, bãi giữ xe, cửa hàng tiện lợi, quán café, nhà riêng, căn hộ, chung cư,…    Trong quy mô phòng thí nghiệm, TENG do nhóm chế tạo có thể cấp điện cho các thiết bị như cảm biến, đèn led, sạc điện thoại,… Dự kiến trong thời gian tới, nhóm sẽ chế tạo thiết bị sử dụng thí điểm tại Trường Đại học Bách khoa TPHCM.    Thiết bị thu hồi điện từ bước chân cũng vừa đoạt Giải khuyến khích tại Cuộc thi “Sinh viên với quyền sở hữu trí tuệ – S&IP” năm 2021 do Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức. Theo đánh giá của Ban Giám khảo, ý tưởng chế tạo thiết bị của nhóm sinh viên góp phần tạo ra nguồn năng lượng tái tạo không đòi hỏi cơ sở hạ tầng phức tạp, tốn kém để khai thác. Đồng thời, có nhiều tiềm năng ứng dụng tại các địa điểm lớn như sân vận động, trung tâm thương mại, công viên,… Tuy nhiên, do là sản phẩm mới, nên nhóm cần tính toán kỹ lưỡng mô hình thương mại hóa sản phẩm, cũng như nâng cao hiệu suất, cải tiến thiết bị để giảm thời gian đầu tư vốn, thu hút khách hàng.    Đỗ Ngọc    Author                phongvien        
__label__tiasang Thiết bị kéo tàu lên bãi ngang tránh bão      Thiết bị kéo tàu lên  bão ngang tránh bão, giúp ngư dân thuận tiện trong việc bảo vệ tài sản của ThS Hồ Trung Phước, Phó giám đốc Sở KH&amp;CN tỉnh  Bình Thuận, đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng bảo hộ độc quyền sáng chế từ năm  2010, trước khi tham gia chương trình Sáng tạo Việt 2013.    Vào mỗi mùa biển động, các ngư dân vùng biển vẫn chỉ sử dụng phương pháp kéo tàu tránh trú bão theo kinh nghiệm, tốn thời gian và công sức nhưng lại không thật sự hiệu quả. Trước tình hình đó, ThS Hồ Trung Phước đã nghĩ đến giải pháp thay thế kinh nghiệm truyền thống nhưng vẫn hỗ trợ được ngư dân trong việc di dời, bảo vệ tài sản tàu thuyền trước những đợt bão lũ.   Thiết bị kéo tàu của ThS Phước bao gồm các cụm bánh xe gắn phao nổi lắp dưới thân tàu, hai cụm bánh xe khác lắp dưới đáy tàu, mỗi cụm bánh xe này được lắp vào trục thông qua ổ đỡ. Cụm bánh xe phía trước mũi tàu có lắp bệ đỡ còn trục của bánh xe sau có lắp thiết bị đỡ thân tàu nhằm giảm chấn đỡ cho các bệ đỡ thân tàu và tránh gây hư hại cho tàu khi di chuyển. Các phao được gắn vào trục của các cụm bánh xe để tăng lực đẩy, nâng các cụm bánh xe cùng bệ đỡ tàu nổi lên phía trên. Thiết bị này đặc biệt hữu hiệu và mang lại hiệu quả cao khi kéo tàu có công suất nhỏ và vừa và áp dụng với nhiều vùng bãi ngang.   Ưu điểm lớn nhất của thiết bị kéo tàu là cơ động, gọn nhẹ, dễ lắp đặt và vận hành, ngư dẫn dễ tìm thấy phụ tùng thay thế trên thị trường. Sau khi được bảo hộ độc quyền và tham gia chương trình Sáng tạo Việt 2013, thiết bị này được Sở KH&CN nhân rộng để áp dụng trong và ngoài tỉnh Bình Thuận, hỗ trợ ngư dân bảo vệ tài sản và nhân lực một cách an toàn, hiệu quả.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị lọc bụi tĩnh điện qua ba lần cải tiến      Thiết bị lọc bụi tĩnh điện của nhóm kỹ sư Vũ  Huy Toàn, Phạm Văn Minh và Cao Minh Tuấn được cải tiến theo hướng thay  đổi cơ bản kết cấu, khi phát hiện hiệu suất sử dụng năng lượng của các  thiết bị lọc bụi tĩnh điện công nghiệp mua từ nước ngoài không cao.     Có trên 1.000 sáng chế ra đời kể từ khi phương pháp lọc bụi tĩnh điện được áp dụng trên thế giới để đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Thiết bị lọc bụi tĩnh điện của nhóm kỹ sư Vũ Huy Toàn, Phạm Văn Minh và Cao Minh Tuấn của công ty cổ phần Coninco Máy xây dựng và công trình công nghiệp cũng không ngoài mục đích đó. Trước khi đến với chương trình Sáng tạo Việt 2013, thiết bị đã trải qua ba lần cải tiến, hoàn thiện.  Cải tiến lọc bụi tĩnh điện thường được khai thác theo hai hướng là thay đổi chi tiết kết cấu và thay đổi cơ bản kết cấu. Giải pháp công nghệ của nhóm kỹ sư Vũ Huy Toàn, Phạm Văn Minh và Cao Minh Tuấn dựa theo hướng thứ hai. Trên nguyên lý hoạt động lọc bụi tĩnh điện với điện cực ngang, thiết bị ban đầu của nhóm kỹ sư này có trở khí động học chỉ lớn hơn so với lọc bụi tĩnh điện với điện cực dọc theo dòng khí chùng 20% nhưng giảm tiêu tốn điện năng xuống không dưới 10 lần cùng nhiều thông số kỹ thuật nổi trội khác.   Sản phẩm này đã được chuyển giao công nghệ và lắp đặt tại công ty xi măng Hệ Dưỡng, Ninh Bình, xí nghiệp nghiền clinker Đồng Hới, Quảng Bình và công ty xi măng Hà Tiên 2. Khi đưa vào sử dụng, dù các thông số kỹ thuật đều rất ổn thỏa nhưng nhóm tác giả vẫn chưa hoàn toàn hài lòng bởi độ bền và độ ổn định của máy chưa cao như mong đợi. Sau đó, nhóm tác giả đã xem xét lại các khâu thiết kế, lắp đật và cả chế tạo nguyên liệu. Vào năm 2007, họ đã phối hợp với công ty TNHH Trương Kiều, đơn vị phụ trách về gia công các điện cực, thiết kế lại thiết bị lọc bụi tĩnh điện thế hệ mới và bàn giao cho công ty cơ khí Đông Anh, Hà Nội.   Ở lần cải tiến này, thiết bị lọc bụi tĩnh điện đã vận hành tốt và không để xảy ra sự cố nào. Dẫu vậy nhóm tác giả vẫn hướng đến một phiên bản hoàn thiện hơn trước yêu cầu mới về môi trường. Một phương án cải tiến nguyên lý điện cực động thay điện cực tĩnh đã được ra đời, đảm bảo tốt hơn nữa các yêu cầu kỹ thuật. Nhà máy xi măng Sông Gianh đã lựa chọn giải pháp lọc kiểu mới này và hài lòng về sự lựa chọn của mình.  Được biết, giá thành thiết bị lọc bụi tĩnh điện của nhóm kỹ sư Vũ Huy Toàn, Phạm Văn Minh và Cao Minh Tuấn chỉ bằng 1/3 với sản phẩm ngoại và hệ thống điều khiển điện đơn giản, tiện dụng hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị lọc thận tự động giúp tiết kiệm tiền tỷ      Thiết bị lọc thận tự động của nhóm nghiên cứu do TS Vũ Duy Hải, trường Đại học Bách khoa Hà Nội&#160;đứng đầu, có thể giúp ngành y tế tiết kiệm khoảng 700 tỷ đồng mỗi năm cho việc nhập dịch lọc.    Chi phí thấp, hiệu quả cao  Theo số liệu từ Bộ Y tế, hiện cả nước có khoảng 10.000 bệnh nhân thường xuyên phải điều trị suy thận bằng phương pháp chạy thận nhân tạo với tần suất điều trị trung bình 3lần/tuần (tương đương 30.000 ca/tuần). Trong mỗi ca điều trị, bình quân mỗi người bệnh phải sử dụng khoảng 10 lít dịch lọc.  Vì thế, mỗi tuần các cơ sở y tế phải sử dụng khoảng 300.000 lít dịch lọc khác nhau. Hiện nay, hầu hết lượng dịch lọc này đều phải nhập ngoại dưới dạng pha sẵn với giá trung bình 15.000 đồng/lít.  Do vậy, tổng kinh phí chi cho việc nhập khẩu dịch lọc mỗi tuần vào khoảng 4.5 tỷ đồng (nếu nhập bột dịch và tiến hành pha dịch tại chỗ cũng tốn 10.000đồng/lít). Trước tình hình trên, một số cơ sở y tế trong nước đã thực hiện việc pha dịch tại chỗ bằng phương pháp thủ công để giảm chi phí vì chưa có các thiết bị tự động pha dịch.  TS. Hải cho biết, nếu sử dụng thiết bị pha dịch lọc tự động của đề tài “Nghiên cứu chế  tạo thiết bị pha dịch lọc tự động dùng cho máy chạy thận nhân tạo” do ông làm chủ  nhiệm có thể tiết kiệm được 5.000đồng/lít. Như thế mỗi năm ngành Y tế có thể tiết kiệm khoảng 700 tỷ đồng cho việc nhập dịch lọc.  “Hiện tại hầu như chưa có cơ sở nào sản xuất thiết bị pha dịch lọc tự động tại thị trường trong nước, trong khi việc nhập khẩu các thiết bị vừa đắt tiền lại không phù hợp nên chưa được ứng dụng nhiều. Bởi vậy sản phẩm của đề tài sẽ khắc phục những nhược điểm trên nên rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam“, TS. Hải cho biết.  Thay thế thiết bị nhập ngoại  Theo TS Hải, việc chế tạo thành công thiết bị pha dịch lọc tự động công suất lớn có thể cung cấp trực tiếp đồng thời cho nhiều hệ thống chạy thận nhân tạo với nhiều chế độ pha khác nhau, phù hợp với nhiều hệ thống chạy thận đang sử dụng tại các cơ sở y tế.  Được biết, việc nghiên cứu chế tạo, triển khai và thử nghiệm thành công thiết bị là một trong những khâu quan trọng trong lộ trình nghiên cứu, làm chủ về khoa học trong lĩnh vực thận nhân tạo. Đây là một lĩnh vực không chỉ khiến ngành y tế mà các ngành liên quan khác cũng “đau đầu” bởi chi phí điều trị quá lớn.  Hơn nữa, sản phẩm nghiên cứu sẽ đóng góp vào Chương trình nghiên cứu sản xuất thiết bị y tế trong nước giai đoạn 2011-2015 do Chính phủ chỉ đạo. Ngoài ra, nếu sản phẩm được ứng dụng đai trà tại các cơ sở y tế sẽ giảm được chi phí trong việc nhập khẩu và lưu kho dịch lọc, từ đó giảm giá thành điều trị cho bệnh nhân.  “Hiện các nội dung nghiên cứu đã được hoàn thành theo đúng thuyết minh đăng ký. Thiết bị đã được lắp ráp hoàn chỉnh và đã chạy thử nghiệm tại phòng thí nghiệm. Với những kết quả nghiên cứu đạt được, nhóm nghiên cứu rất mong tiếp tục nhận được sự đầu tư của Nhà nước để phát triển đề tài, tiến tới triển khai ứng dụng vào thực tiễn”, TS Hải bày tỏ.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị Mars 2020 tiếp nhận nhiên liệu đồng vị phóng xạ      Một phần lịch sử khám phá vũ trụ của loài người bắt đầu từ quá trình nạp nhiên liệu phóng xạ cho hệ thống phát điện của thiết bị Mars 2020 tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực của Viện Công nghệ California.      Máy phát điện MMRTG của Mars 2020 trước khi được nạp nhiên liệu và thử nghiệm tại Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho. Nguồn: NASA/JPL-Caltech  Quá trình nạp nhiên liệu của hệ thống phát điện chứa đồng vị phóng xạ cho thiết bị Mars 2020 của NASA đã bắt đầu. Máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ đa mục tiêu (Multi-Mission Radioisotope Thermoelectric Generator MMRTG) sử dụng nhiệt từ quá trình phân ra phóng xạ tự nhiên của plutonium-238 để phát điện cũng như lưu giữ các hệ thống khác của thiết bị thám hiểm có thể vận hành một cách an toàn tại những mức nhiệt độ khác nhau.  “Quyết định bắt đầu nạp nhiên liệu cho MMRTG là một cột mốc quan trọng khác trong việc giữ cho lịch trình phóng Mars 2020 đúng vào tháng 7/2020”, Thomas Zurbuchen – người tham gia vào nhiệm vụ khoa học này của NASA – nói.  Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực của Viện Công nghệ California (JPL), vốn đang tham gia thực hiện nhiệm vụ và phụ trách việc điều hành thiết bị Mars 2020 cho Ban Giám đốc nhiệm vụ khoa học NASA, miêu tả MMRTG như một dạng “pin hạt nhân” có thể cung cấp khoảng 110 watt điện cho một tàu vũ trụ và những thiết bị khoa học của nó tại thời điểm bắt đầu nhiệm vụ. Nhiệt thừa từ máy phát có thể giúp cho hệ thống này đủ ấm để thực thi nhiệm vụ trong các điều kiện môi trường lạnh giá của vũ trụ và bề mặt sao Hỏa.  Kể từ trước đến nay, 27 nhiệm vụ vũ trụ của Mỹ đã sử dụng điện từ đồng vị phóng xạ, từ các lò nung đồng vị phóng xạ trong một số thiết bị thực nghiệm trong lần hạ cánh xuống mặt trăng của  Apollo 11 năm 1969 cho tới thiết bị Curiosity hiện vẫn đang hoạt động trên sao Hỏa.  Các máy phát điện này gồm có nguồn nhiệt chứa plutonium-238 và bộ nhiệt điện có chức năng chuyển năng lượng nhiệt xuất hiện trong quá trình phân rã tự nhiên của plutonium thành điện.   Các máy phát điện MMRTG được Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) cung cấp cho NASA để dành cho những ứng dụng khám phá không gian vũ trụ dân sự. Nhiên liệu đồng vị phóng xạ đã được đặt vào MMRTG tại Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho của DOE trước khi MMRTG được chuyển tới vị trí phóng, và đó cũng là thời điểm phóng tàu vũ trụ của nhiệm vụ này. Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực của Viện Công nghệ California  sử dụng các phiên bản nhiệt phát điện của MMRTG để xác nhận và kiểm nghiệm lại độ phù hợp của hệ phát điện voisws thiết bị khám phá sao Hỏa.  Nhiệm vụ Sao Hỏa 2020 đã được ấn định để phóng từ Nhà ga không lực Cape Canaveral ở Florida vào tháng 7/2020 và hạ cánh xuống Jezero Crater vào tháng 2/2021. Nhiệm vụ này là một phần trong kế hoạch chuẩn bị đưa người lên khám phá sao Hỏa của NASA, bên cạnh các nhiệm vụ khác, bao gồm nhiệm vụ lên mặt trăng. NASA lập kế hoạch để tạo ra một sự hiện diện lâu dài của con người trên và quanh mặt trăng vào năm 2028 thông qua chương trình khám phá bề mặt mặt trăng Artemis vào năm 2024 với người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử trong phi hành đoàn.   “Do đó, thiết bị Mars 2020 của chúng tôi là một phần trong nhiệm vụ mang tính lịch sử – chặng đầu của một chuyến đi vòng quanh sao Hỏa”, Zurbuchen nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://world-nuclear-news.org/Articles/Mars-2020-rover-gets-radioisotope-fuel    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị nhỏ hứa hẹn chân trời mới cho  sàng lọc an ninh và hình ảnh y khoa      Các thiết bị tối giản có thể được phát triển thành công nghệ hình ảnh có độ phân giải cao, an toàn cho nhiều mục tiêu sử dụng như giúp các bác sĩ nhận diện được các bệnh ung thư tiềm năng để có thể điều trị cho bệnh nhân sớm hơn.      Giáo sư Martin Dawson, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu của Strathclyde. Nguồn: Strathclyde  Đây là kết quả của công trình “Three-dimensional cross-nanowire networks recover full terahertz state” trên Science của các nhà nghiên cứu ở trường đại học Strathclyde.  Theo bài báo, các thiết bị này sử dụng bức xạ terahertz, vốn có khả năng xuyên qua nhiều loại vật liệu như nhựa, gỗ và da. Nằm giữa tia hồng ngoại và vi sóng trong phổ điện từ, hình thái bức xạ này không làm ảnh hưởng đến các loại mô sống cũng như các hình thức khác của sự sống như với các tia X.  Các thiết bị này được làm từ các sợi nano mỏng hơn sợi tóc người 100 lần. Người ta có thể dùng chúng trong những công nghệ hình ảnh mới và an toàn với độ phân giải cao hơn các thiết bị siêu âm hiện hành, vẫn được dùng để dò các khối u nhỏ.  Một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học Viện Photon học của Strathclyde dẫn dắt, đã phát triển một kỹ thuật lắp ráp mirco có độ chính xác cao để cho phép họ xây dựng lưới 3D của các thiết bị dây nano. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một hệ lắp ráp micro in chuyển đặc biệt để in các cấu trúc sợi nano bán dẫn với độ chính xác ở cấp độ nano, trong các mẫu hình trực giao vào các cấu trúc ăng ten kim loại.  Nghiên cứu này là kết quả của sự hợp tác giữa Strathclyde, trường đại học Oxford, và trường đại học quốc gia Australia (ANU) tại Canberra.  Giáo sư Martin Dawson, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu của Strathclyde, cho biết: “Thật thú vị khi thấy công trình hợp tác này diễn ra với sự tham gia của các đồng nghiệp thân thiết tại Oxford và ANU, sau đó xuất bản nó trên một tạp chí danh tiếng như Science. Chúng tôi đã phát triển những năng lực mới cho việc in các cấu trúc siêu dẫn và cấu trúc micro tại Strathclyde, vốn đã phát triển từ một vài năm nay, và kết hợp nó với năng lực hàng đầu ở ANU về phát triển các sợi nano bán dẫn, cũng như các ý tưởng dò tiên tiến ở Oxford để dẫn đến kết quả thú vị này. Không chỉ dừng ở đây, chúng tôi còn chờ đợi những kết quả tiên phong từ mối quan hệ hợp tác này nữa trong tương lai”.  TS. Antonio Hurtado, nhà nghiên cứu chính ở Viện Photon học Strathclyde, một trong những tác giả của nghiên cứu thì cho rằng: “Việc xây dựng các hệ dò terahertz là một thách thức rất lớn vì nó đòi hỏi sự phát triển tại Strathclyde về các quá trình xử lý pha tạp nano ở mức độ vô cùng chính xác. Nó cho phép chúng tôi sử dụng các sợi nano bán dẫn từ ANU như ‘những khối cơ bản” cho sự tích hợp tuần tự của họ về các máy dò terahertz 3D được thiết kế tại Oxford, trong khi vẫn giữ được sự chính xác ở cấp độ nano cần thiết để lắp ráp các hệ lại với nhau. Đây là một sự kết hợp tuyệt vời  về năng lực lẫn sự hợp tác tuyệt vời giữa các nhóm nghiên cứu khác nhau khi tham gia vào nghiên cứu này”.  Các hệ bức xạ terahertz như những thứ đang được sử dụng tại các máy quét an ninh của các sân bay, được hình thành trên việc dò đơn giản. Việc cải thiện các kỹ thuật hình ảnh có thể được hoàn thiện bằng việc sử dụng bức xạ terahertz như các sóng điện tử chứa thông tin phân cực – thẳng hướng từ trường khi chúng  lan truyền qua không gian.  Sự định hướng của sợi nano trong thiết bị này cho phép bức xạ terahetz với những phân cực khác nhau trở nên chính xác một cách độc lập và dẫn đến việc tạo ra thiết bị được thiết kế nhỏ gọn, mở ra con đường đến các hệ hình ảnh trên chip trong tương lai.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-tiny-devices-horizon-screening-medical.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị NRL mới tăng cường khả năng đo đạc vật liệu hạt nhân      Các nhà nghiên cứu hợp tác ở Phòng thí nghiệm Hải quân Mỹ (NRL) đã thiết kế và lắp đặt một thiết bị mang tên NAUTILUS có những tính năng đo đạc mới, khác hẳn so với những thiết bị hiện có tại nhiều phòng thí nghiệm về đo đạc hạt nhân, vũ trụ/địa hóa và vật liệu điện tử.         Nhà vật lý Evan Groopman chuẩn bị mẫu hạt uranium để đo tại máy NAUTILUS ở Phòng thí nghiệm Phổ khối gia tốc tại Phòng thí nghiệm Hải quân Mỹ tại Washington D.C., vào ngày 5/9/2019. Nguồn: U.S. Navy/Nicholas E. M. Pasquini  Vào cuối năm ngoái, NRL đã tham gia một thí nghiệm quốc tế mang tên Chương trình đánh giá liên phòng thí nghiệm các dấu hiệu hạt nhân (Nuclear Signatures Inter- laboratory Measurement Evaluation Program NUSIMEP-9), chương trình do Bộ phận An ninh và An toàn hạt nhân của Hội đồng châu Âu tài trợ, nhằm đảm bảo cho nghiên cứu về các mẫu hạt vi mô với các tỷ lệ đồng vị uranium còn chưa được biết đến.  “NRL hiện đang có bản báo cáo cuối cùng từ NUSIMEP-9 và thấy rằng mình đã thực hiện tốt công việc của mình, nhận diện một cách đúng đắn tất cả những hợp chất chứa đồng vị uranium ‘con chưa được biết đến’”, David Willingham – một nhà hóa học và phụ trách Bộ phận Máy phổ khối gia tốc, nhận xét. “Trong trường hợp này, NRL đã sử dụng một máy phổ khối độc nhất vô nhị trên thế giới mang tên NAUTILUS để thực hiện các phép đo đạc, khi tham gia nhiệm vụ phân tích mà NUSIMEP-9 phân công”.  Các mẫu kiểm nghiệm của NUSIMEP-9 đã được chuẩn bị cho các mẫu thử môi trường/các nhiệm vụ an ninh hạt nhân, tương tự các hoạt động mà Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đang tiến hành. Thực nghiệm này do Mạng lưới các phòng thí nghiệm phân tích của IAEA (NWAL) điều phối. Tuy không phải là một thành viên nhưng NRL đã có hợp tác với các phòng thí nghiệm này để phát triển những phân tích hạt mang uranium tốt hơn.    Thiết bị NAUTILUS có nhiều tính năng đo đạc mới, khác hẳn so với những thiết bị hiện có. Nguồn: U.S. Navy/Nicholas E. M. Pasquini  IAEA là cơ quan có trách nhiệm ngăn chặn việc phát triển vũ khí hạt nhân, một trong những cách làm của họ là thăm dò sớm việc sử dụng các vật liệu hạt nhân hoặc công nghệ hạt nhân. Các phân tích về các mẫu vật liệu hạt nhân và các mẫu môi trường của IAEA đóng vai trò thiết yếu trong những hoạt động này.  22 phòng thí nghiệm đã tham gia chương trình NUSIMEP-9, nhiều nơi đã thực hiện nhiều kiểu đo đạc trên các thiết bị được thiết kế và lắp đặt cho riêng các loại đo đạc này.  “NAUTILUS phù hợp với nhiều kiểu đo đạc – chúng tôi sử dụng nó để phân tích nhiều loại hợp chất của nhiều loại vật liệu khác nhau, bao gồm hạt nhân, điện tử và cả các vật liệu ngoài trái đất”, Evan Groopman, một nhà vật lý cho biết. “Chúng tôi rất vui với những kết quả này bởi nó cho thấy nhóm nghiên cứu có tinh thần cởi mở trong hợp tác của chúng tôi có thể vừa xây dựng một thiết bị tối tân cho ngành hải quân vừa có thể ứng dụng nó một cách rộng rãi cho nhiều vấn đề, có thể thực hiện tốt hoặc tốt hơn những phòng thí nghiệm vốn chỉ làm một kiểu phân tích trên các thiết bị thương mại”.    Nghiên cứu của David Willingham và Evan Groopman được đưa lên trang bìa của “Analyst”, tạp chí xuất bản công trình của họ “Direct, uncorrected, molecule-free analysis of 236U from uranium-bearing particles with NAUTILUS: a new kind of mass spectrometer.” . Credit: Analyst  Một yếu tố quan trọng của các hệ thống an toàn là việc IAEA thanh tra tình trạng vật chất của các cơ sở hạt nhân. Trong số các biện pháp đo đạc, các thanh tra IAEA có thể lấy các mẫu thử hạt nhân từ nhiều đểm trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và thu thập các mẫu mỗi trường bằng việc trích mẫu từ các bề mặt từ nhiều địa điểm. Các mẫu này có thể là ở dạng khí, lỏng hay rắn được chuyển tới các nhà khoa học của IAEA để họ phân tích. Họ tập trung vào bổ cập đồng vị của uranium và plutonium chứa trong các mẫu này mà không biết nó được thu thập từ quốc gia nào. Các kết quả phân tích đã đem lại cho họ một công cụ giá trị để góp phần đưa ra các kết luận về việc đảm bảo cam kết một cách đúng đắn và đầy đủ của các quốc gia về vật liệu hạt nhân của các chính phủ và hỗ trợ đánh giá của IAEA là liệu các quốc gia đó có tuân thủ đúng yêu cầu an toàn hạt nhân hay không.  Để thực hiện chương trình này, các phòng thí nghiệm của IAEA đã tham gia mạng lưới Các phòng thí nghiệm phân tích, bao gồm 18 phòng thí nghiệm ở 9 quốc gia thành viên IAEA. Phòng thí nghiệm Mẫu môi trường ở Seibersdorf, Áo sẽ đón nhận và sàng lọc các mẫu này, sau đó chia sẻ các mẫu phân tích với các phòng thí nghiệm đối tác trong NWAL.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-nrl-instrument-ability-nuclear-materials.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị phân tích hơi thở xét nghiệm nhanh Covid      Trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều các loại thiết bị thử virus corona. Nay có thể phát hiện lây nhiễm corona thông qua hơi thở. Phương pháp thử nhanh bằng cách lấy chất nhầy ở mũi vốn không được ưa chuộng sắp trở thành quá khứ.    Nhiều người lái ô tô từng bị kiểm tra độ cồn bằng cách phun vào ống thở. Nay có một phương pháp tương tự để xác định sự lây nhiễm corona. Không lâu nữa phương pháp thử này sẽ thay thế phương phấp lấy chất nhầy ở mũi để xét nghiệm – một cách làm không mấy ưa chuộng.    Trình diễn thiết bị thử corona mới tại Amsterdam.  Singapore là nơi đầu tiên sẽ áp dụng rộng khắp phương pháp này, theo nhật báo “The Straits Times”. Hãng Silver Factory Technology, nhà sản xuất thiết bị mang tên TracieX đã làm việc với Cơ quan phòng chống dịch Singapore và đưa  thiết bị này thử nghiệm đầu tiên tại sân bay quốc tế – một trong những đầu mối giao thông quan trọng nhất thế giới.  Kết quả thử nghiệm ban đầu cho thấy thiết bị này cho kết quả tương tự xét nghiệm  PCR vẫn được sử dụng lâu nay để xác minh một người có bị nhiễm  Covid-19 hay không. Kết qủa thử nghiệm dưới 2 phút. TracieX có một chip cảm biến có khả năng phát hiện dấu phân tử của chất có trong hơi thở của người bị nhiễm virus corona.  Tại sân bay Singapore, các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm ngẫu nhiên hành khách từ tháng ba vừa qua. Họ thổi khoảng 10 giây vào một cái ống của thiết bị xét nghiệm trước khi cắm nó vào một máy xách tay để lấy kết quả. Tới đây thíết bị thử nghiệm này sẽ được tiếp tục khảo sát tại các phòng khám ở Malaysia. Singapore hy vọng thiết bị kỹ thuật này sẽ giúp phục hồi ngành du lịch quốc tế nhanh chóng hơn.  Thiết bị này sẽ được tiến hành sản xuất hàng loạt từ tháng sáu. Nếu thiết bị được chấp nhận ở châu Âu thì sẽ thay thế các thiết bị thử nghiệm nhanh hiện đang sử dụng ở các trường học. Việc lấy chất nhầy ở mũi đối với trẻ em cho đến nay thường bị chỉ trích và bị coi là một thủ thuật xâm lấn. Mặt khác, phương pháp xét nghiệm mới yêu cầu thời gian chờ đợi kết quả rất ngắn nên không ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động có nhiều người tham gia.  Giá một lần xét nghiệm khoảng 16 Euro. Tuy nhiên giá  sẽ giảm rõ rệt khi thiết bị được sản xuất với số lượng lớn. Việc sử dụng thiết bị mới làm xét nghiệm không đòi hỏi phải đào tạo nhân lực.  Trước đó, từ năm ngoái các nhà khoa học ở Dortmund và Edinburgh đã nghiên cứu chẩn đoán Covid-19 từ hơi thở. Họ kết nối công nghệ này với cái gọi là quang phổ kế. Qua đó họ phát hiện có sự chênh lệch về nồng độ thí dụ đối với Ethanol, Octanal, Aceton và Methanol trong hơi thở những người bi nhiễm bệnh. Tại Edinburgh độ chính xác đạt 80%, ở Dortmund là 81,5%. Tại Singapur so sánh công nghệ này với thử nghiệm – PCR thì độ chính xác đạt trên 99%.  Từ hồi tháng hai doanh nghiệp TeraGroup của Israel đã áp dụng thử nghiệm này đối với sinh viên trường đại học ở Miami. Doanh nghiệp Astrotech của Mỹ cùng với Cleveland Clinic thử nghiệm khả năng phát hiện lây nhiễm corona bằng thiết bị BreathTest-1000 của họ. Cho đến nay thiết bị này được dùng để chẩn đoán bệnh ung thư. Hà Lan cũng đã áp dụng công nghệ phân tích hơi thở, do hãng thiết bị y tế Breathomix chế tạo.  Xuân Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/forschung/einfacher-aber-auch-zuverlaessiger-neuer-corona-schnelltests-atemanalyse-statt-nasen-abstrich/27113866.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị siêu âm giúp phát hiện tổn thương não ở trẻ nhỏ      Mới đây, một thiết bị dò di động, sử dụng sóng siêu âm đã được phát minh để thay thế cho máy chụp cộng hưởng từ MRI, nhằm phát hiện dấu hiệu động kinh hay những hoạt động bất thường ở não trẻ sơ sinh trong thời gian thực. Thông thường, rất khó đặt trẻ nằm in khi chụp MRI. Thiết bị cũng có khả năng theo dõi sự phát triển của những trẻ bị tổn thương não – nguy cơ dẫn tới những chứng như bại não.      Từ lâu, các nhà khoa học đã chụp được ảnh não bộ trẻ sơ sinh và nghiên cứu mô não sau khi chết. Tuy nhiên, hoạt động của não trong những tuần đầu đời – cực kỳ quan trọng với sức khỏe trong tương lai, lại luôn rất khó theo dõi.  Hai kỹ thuật thường được áp dụng trên người lớn: chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) –  để đo lưu lượng máu; và điện não đồ (EEG) – để đo xung điện thần kinh lớp ngoài vỏ não, lại có những nhược điểm. FMRI tốn kém, không hiệu quả với trẻ sơ sinh và máy móc lại quá cồng kềnh để mang tới giường của trẻ. Còn với EEG, khi gắn những dây dẫn vào đầu trẻ, chúng đã không thể xâm nhập vào sâu hơn cấu trúc của não để phát hiện vị trí khởi nguồn của những chứng như động kinh – thông tin quan trọng nhất với các bác sĩ khi điều trị.  Nhằm phát triển một công cụ mới, nhỏ nhưng mạnh mẽ, nhà khoa học thần kinh Olivier Baud và các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đại học Robert Debré (Paris) đã chuyển sang phương pháp siêu âm – công nghệ sử dụng sóng âm cao tần để chụp ảnh chuyển động của những cấu trúc bên trong cơ thể. Những nghiên cứu trước đó đã chỉ ra, các sóng siêu âm cực nhanh – có thể chụp 10.000 khung hình/giây, hiệu quả hơn nhiều so với những sóng chậm – chỉ chụp được 50 khung hình/giây, dùng trong y học thông thường – khi phát hiện những thay đổi cực kì nhỏ của lưu lượng máu ở các mạch máu trên não người hay các loài gặm nhấm. Với fMRI, bác sĩ thường dựa trên sự thay đổi lưu lượng máu để đo xung điện do các neutron phát ra. Tuy nhiên, vì sóng siêu âm rất khó đi xuyên qua xương, cho nên cách làm này đòi hỏi phải “giũa” hay “cưa” xương hộp sọ.  Vì vậy, nhóm của Baud nhắm tới một điểm mềm: phần thóp mặt trước của não – một vùng trống có màng bao phủ, nằm giữa phần xương sọ, sẽ cứng lại như “chì” khi trẻ lên 2. Họ đã gắn thiết bị dò (nặng khoảng 40 gram) lên phần thóp trên đầu của 6 trẻ khỏe mạnh và một khung silicon linh hoạt được dùng để giữ thiết bị ở yên vị trí khi dây dẫn đang truyền tín hiệu tới máy tính.  Mặc dù rất nhỏ nhưng các đầu dò lại nhạy hơn tới 50 lần khi đo lưu lượng máu, so với phương pháp siêu âm thông thường. Giống như khi sử dụng điện não đồ, bác sĩ có thể dễ dàng phân biệt hai pha giấc ngủ ở trẻ: “chủ động” – điện não đồ đều và liên tục; “im lặng” – điện não đồ giao động lên xuống. Kết hợp với EEG, thiết bị dò phát hiện được dấu hiệu động kinh ở 2 trẻ có vỏ não phát triển bất thường. Thậm chí, nhóm nghiên cứu còn xác định được vị trí trong não nơi cơn động kinh bắt nguồn qua việc theo dõi những đợt tăng của lưu lượng máu. Kết quả này được công bố trên Science Translational Medicine.  Hiện vẫn chưa có những thiết bị dò chạy trên phần mềm tùy biến (theo phần cứng) và được thương mại hóa, do chúng vẫn chưa đủ nhạy để theo dõi hoạt động của não bên ngoài vùng thóp. Tuy nhiên, Baud tin tưởng rằng nó có thể giúp phát hiện sớm những hoạt động bất thường do các chứng bệnh như nhiễm khuẩn máu gây ra. Thiết bị cũng có khả năng giúp phân biệt não trẻ hoạt động khỏe mạnh hay không – điều rất quan trọng đối với những thử nghiệm lâm sàng trên các loại thuốc bảo vệ não trẻ khỏi nguy cơ nhiễm trùng.  Kỹ thuật này cũng cho thấy tiềm năng rất lớn đối với những nhà thần kinh học muốn nghiên cứu sự phát triển bất thường của não và nguồn gốc các chứng bệnh như tự kỷ ở trẻ nhỏ.  Hải Đăng dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/10/ultrasonic-probe-could-detect-stroke-brain-damage-young-babies       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị thay thế Soyuz sẽ bay vào năm 2020      Cơ quan Hàng không Liên bang của Nga  (Roscosmos) đã bắt đầu tiến trình thiết kế và chế tạo thiết bị thay thế  tên lửa Soyuz và hệ thống tàu chuyên chở phi hành gia nay đang bị lão  hóa, và dự kiến sẽ đưa các thiết bị mới vào hoạt động vào năm 2020.    Ngân sách cho tên lửa và tàu chuyên chở mới là 2,1 nghìn tỷ ruble (69 tỷ USD), theo thông tin về chương trình trên trang web của Roscosmos. “Module vận chuyển năng lượng mới với những cải tiến động cơ đẩy đầy hứa hẹn sẽ được sẵn sàng thử nghiệm vào năm 2018”, dự kiến sẽ được dùng nhằm “nghiên cứu chi tiết Mặt trăng”, và áp dụng “thế hệ công nghệ nghiên cứu hành tinh hoàn toàn mới”.    Sau khi Chương trình Tàu Con thoi của Mỹ dừng lại vào năm 2011, cách duy nhất để chuyên chở các nhà khoa học giữa trạm không gian ISS và Trái đất là qua Soyuz. Tuy nhiên, tháng 5 năm 2012 vừa qua, công ty tư nhân SpaceX đã thành công trong việc đưa tàu chuyên chở Dragon tới ISS trong một nhiệm vụ tái tiếp tế. Đây là công ty tư nhân đầu tiên thử nghiệm thành công loại nhiệm vụ này, và đây là sự báo hiệu cho xu hướng gia tăng tư nhân hóa các chuyến bay vào không gian trong tương lai. Boeing, SpaceX, và Sierra Nevada đang phát triển những “xe taxi không gian” của riêng mình sau khi thắng thầu hợp đồng của NASA vào tháng 8 năm ngoái. Trong khi đó hệ thống tên lửa Space Launch sẽ tiếp tục được phát triển, đi trước tiến độ bay thử vào năm 2017.  Roscosmos dự định sẽ thám hiểm sao Hỏa trong một nhiệm vụ hợp tác với Cơ quan Không gian châu Âu. Hai cơ quan sẽ phối hợp nhằm tận dụng tối đa nguồn lực của mình (vốn khá khiêm tốn so với NASA). Trong giai đoạn tới, thiết bị thay thế Soyuz của Roscosmos sẽ khó tận dụng được ưu thế độc quyền, trong bối cảnh ngày càng bị cạnh tranh từ các công ty tư nhân. 1  Theo   http://www.wired.com/wiredscience/2013/01/russian-soyuz-replacement/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị thông minh đang ở đâu?      Các phân tích đã nhiều lần tiên đoán rằng “internet của vạn vật” với khả năng thu thập dữ liệu và gắn kết nối internet vào các đồ dùng thân thuộc, có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống của con người giống như sự phát triển của mạng di động. Tuy nhiên cho đến nay, đa phần người tiêu dùng đều tỏ ra thờ ơ với việc biến ngôi nhà của họ trở nên “thông minh.”    Liệu người dùng có hào hứng hơn với xu hướng IOT?Các công ty hiện nay đang đẩy mạnh quảng bá những sản phẩm mà họ cho là có thể dễ dàng sử dụng và mang lại những lợi ích rõ rệt như: bình pha cà phê hoạt động khi đồng hồ đổ chuông, đèn và rèm cửa điều chỉnh tùy vào thời điểm trong ngày, tủ lạnh có thể báo động khi sữa bị đổ ra ngoài, cảm biến chuyển động giúp gửi báo động khi cửa sổ hoặc cửa chính bị mở ra, một số thiết bị như máy dò khói thông minh – được các công ty bảo hiểm hỗ trợ tài chính để sử dụng nhằm đề phòng hỏa hoạn… Nhưng sự thờ ơ của khách hàng đã buộc các công ty phải suy nghĩ lại về cách thu hút người dùng.  Bức tranh về IOT   Các công ty công nghệ cao đã bỏ ra những khoản tiền lớn nhằm đẩy mạnh việc kết nối các vật dụng hằng ngày vào Internet. Năm 2014, Google đã bỏ ra 3.2 tỷ đô la để sở hữu Nest, một doanh nghiệp sản xuất bộ điều nhiệt thông minh, và 550 triệu đô la để mua lại Dropcam, nhà sản xuất camera an ninh cho ngôi nhà. Tuy vậy Nest đã khiến cho Google thất vọng. Họ chỉ bán được 1.3 bộ điều nhiệt thông minh trong năm 2015, và chỉ 2.5 triệu sản phẩm trong vài năm qua. Một vài năm gần đây, công ty này chỉ tập trung vào tinh chỉnh những sản phẩm hiện có hơn là tạo ra sản phẩm mới. Điều đó giải thích lý do tại sao Tony Fadell, người sáng lập và là ông chủ của Nest, đã rời khỏi vị trí cố vấn tại công ty mẹ Google vào ngày mùng 3 tháng 6. Ông Fadell là cựu giám đốc điều hành tại Apple và là cha đẻ của iPod, đã thất bại trong việc mang công nghệ cảm ứng ma thuật của mình ứng dụng vào công nghệ nhà thông minh.   Vấn đề của Nest đã được dự đoán từ trước. Năm ngoái, người tiêu dùng trên toàn cầu đã dành chỉ khoảng 60 tỷ đô la vào các phần cứng và thiết bị cho nhà thông minh, chiếm một phần nhỏ trong tổng kinh phí dành cho thiết bị công nghệ. Ở Mỹ chỉ có 6% các hộ gia đình có sử dụng thiết bị nhà thông minh, bao gồm các thiết bị kết nối internet, hệ thống giám sát ngôi nhà, loa hoặc đèn chiếu sáng. Theo điều tra của Frank Gillett of Forrester, một công ty nghiên cứu thị trường, tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này cho đến năm 2021 sẽ chỉ đạt 15%. Có quá ít khách hàng bị thuyết phục rằng internet đóng vai trò quan trọng trong mọi ngõ ngách của đời sống họ. Một cuộc khảo sát ở Anh được thực hiện bởi PricewaterhouseCoopers – một công ty tư vấn, có  72% người dân không có kế hoạch áp dụng công nghệ nhà thông minh trong khoảng 2 đến 5 năm tới và họ cũng không sẵn sàng để chi trả cho nó.   Có một vài lý do giải thích tại sao xu hướng này chưa thể trỗi dậy mạnh mẽ. Rất nhiều thiết bị thông minh vẫn còn quá đắt. Một tủ lạnh thông minh của Samsung, với camera giúp kiểm tra đồ ăn nào bị ôi thiu và hoặc món nào sắp hết để người dùng đi mua (thông qua một ứng dụng trên điện thoại), bán với giá 5.000 đô la. Những người có khả năng tài chính cũng chưa chắc đã mua loại tủ này. Đồng thời, những thiết bị gia dụng như tủ lạnh là loại mà các hộ gia định có thể thay thế thường xuyên, điều này khiến họ hạn chế sử dụng những thiết bị theo công nghệ hoàn toàn mới. Công nghệ IOT cũng chưa phải là hoàn hảo. Người dùng mong đợi mức độ chất lượng cao và sự liền mạch trong công nghệ và việc thiếu đi một nền tảng chuẩn có nghĩa là các thiết bị của các hãng khác nhau không thể giao tiếp được với nhau.  Nỗ lực của những người khổng lồ công nghệ   Có lẽ bất ngờ tích cực nhất thuộc về Amazon, mặc dù đã thất bại thảm hại trong tham vọng phát triển điện thoại thông minh, nhưng lần này họ đã nắm được hướng đi. Amazon Echo là loại loa thông minh có thể ghi nhận và phản hồi giọng nói lệnh. Nó có thể chia sẻ thông tin về thời tiết hay tỷ số bóng đá, có thể phát nhạc và bật, tắt đèn. Thiết bị này được bán với mức giá phải chăng là 180 đô la. Amazon không công bố doanh số bán hàng, nhưng các công ty nghiên cứu thị trường ước tính có khoảng 1 triệu loa Echo đã được bán từ khi nó được ra mắt vào tháng 10 năm 2014.    Ý tưởng về một giao diện dựa trên các giọng nói lệnh có thể khắc phục nhược điểm của phương pháp tiếp cận còn thiếu đồng bộ trong hệ thống nhà thông minh. Các đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng thành công của Echo như một phần quan trọng trong các thiết bị. Google đã tuyên bố kế hoạch xây dựng một nền tảng độc lập cũng dựa vào giọng nói lệnh giống như Echo, gọi là Google Home. Apple cũng kỳ vọng có thể công bố các khả năng mới của căn hộ thông minh: có những tin đồn rằng họ sẽ ra mắt nền tảng độc lập với các mạch Echo với tên gọi HomeKit vào hội nghị thường niên của các nhà phát triển. Ông Geoff Blaber – chuyên gia đánh giá xu hướng điện thoại di động – chỉ ra rằng: mặc dù Apple có nền tảng tài chính vững mạnh, nhưng điểm yếu của họ là chưa từng va chạm trong lĩnh vực nhà thông minh.   Những người khổng lồ công nghệ đang nỗ lực để vượt qua được sự thờ ơ của khách hàng, và để phát triển hơn hữa công nghệ nhà thông minh. Echo là lợi thế giúp Amazon thuyết phục khách hàng dành thời gian và tiền để mua những sản phẩm mới. Google cũng hoạch định chiến lược để thu lợi nhuận từ nguồn dữ liệu khổng lồ của IOT bằng thế mạnh kinh doanh quảng cáo, họ đang tìm hiểu về người dùng nhiều nhất có thể, từ đó đề ra kế hoạch quảng cáo thích hợp. Apple, với thành tích xuất sắc trong việc tạo ra những hệ điều hành tiện lợi đang nhắm đến việc sản xuất những thiết bị ngõ vào giúp người dùng tổ chức cuộc sống của họ.   Nếu những người khổng lồ công nghệ vẫn kiên định với tham vọng dẫn đầu trong lĩnh vực nhà thông minh, thì họ cần xác định rằng bức tranh lợi nhuận vẫn còn rất mơ hồ. “Không có gì rõ ràng về mô hình kinh tế của nhà thông minh,” Andy Hobsbawm, một chuyên gia xây dựng nền tảng IOT cho biết.   Phương Thảo lược dịch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị truyền máu tự động không cần điện      Công ty Công nghệ y học Sisu Global Health ở  Baltimore, Mỹ, do ba phụ nữ là Gillian Henker, Carolyn Yarina và Katie  Kirsch điều hành mới đây đã sáng chế ra thiết bị truyền máu tự động  không cần điện, được gọi là Hemafuse. Với thiết bị này, các y bác sĩ có  thể tái sử dụng máu của chính bệnh nhân khi họ đang chảy máu.     Một trong những vấn đề của các phương pháp truyền máu hiện nay tại các nước đang phát triển là nguồn máu khan hiếm, đặc biệt là máu sạch, vì vậy việc tái sử dụng nguồn máu của chính bệnh nhân là điều cần thiết.    Hemafuse có hình dạng giống như một chiếc bơm tiêm lớn, cầm được trên tay và vận hành không cần điện. Bác sĩ dùng thiết bị này để hút máu khỏi khoang cơ thể bệnh nhân, đưa vào một chiếc túi, sau đó máu được đi qua một màng lọc để loại bỏ máu cục hay các mảnh xương bị vỡ. Máu này lại tiếp tục được đẩy vào một chiếc túi đựng máu để truyền lại vào cơ thể bệnh nhân. Toàn bộ quá trình kể trên kéo dài khoảng 10 phút và chỉ cần một bác sĩ thực hiện.    Hemafuse vừa được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ và châu Âu chấp thuận. Theo các nhà sáng lập công ty, với Hemafuse, chi phí truyền máu sẽ giảm từ 250USD/túi máu hiện nay xuống còn 60USD.     Trang Bùi dịch    Nguồn:  http://www.smithsonianmag.com/innovation/pump-could-make-blood-transfusions-safer-and-cheaper-developing-world-180957250/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị xử lý nước mưa giành giải nhất cuộc thi “Thiết kế, chế tạo ứng dụng” TPHCM lần thứ 2      Hai sinh viên Khoa Cơ khí – Trường Đại học Bách khoa TPHCM Trương Ngọc Cường và Lê Đình An đã giành giải nhất cuộc thi “Thiết kế, chế tạo ứng dụng” TPHCM lần thứ 2 với thiết bị “Thu và xử lý nước mưa tự động phục vụ sinh hoạt”. Đây là cuộc thi nằm trong khuôn khổ Festival “Sáng tạo trẻ” toàn quốc lần thứ VII do Trung ương Đoàn tổ chức tại TPHCM.  &#160;    Tại buổi trao giải, Trương Ngọc Cường đã chia sẻ về quá trình làm ra sản phẩm của mình. Với sự hỗ trợ, hướng dẫn của thầy Trần Đại Nguyên, Phó khoa Cơ khí, ĐH Bách khoa TPHCM, Trương Ngọc Cường và Lê Đình An đã mất một năm nghiên cứu, triển khai đề tài này. Nguồn kinh phí dành để mua trang thiết bị, vật liệu hầu hết đều từ sự hỗ trợ của quỹ nghiên cứu khoa học ĐH Bách Khoa TPHCM.    Thiết bị “Thu và xử lý nước mưa tự động phục vụ sinh hoạt” hảu An và Cường có khả năng cung cấp nước sạch cho gia đình từ 5 đến 7 người sử dụng quanh năm. Ưu điểm của thiết bị là không cần sự vận hành của con người mà có thể tự xử lý nước tự động.   Bước đầu, hai nhà sáng chế mong muốn sản phẩm sớm được ứng dụng tại TPHCM, nơi có lượng nước mưa lứn hàng năm nhưng vẫn bị pỏ phí. Tuy nhiên để có thể ứng dụng rộng rãi trong đời sống thì thiết bị này cần được chỉnh sửa thêm một số chi tiết theo sự góp ý của các chuyên gia.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế các bề mặt để sự sôi hiệu quả hơn      Sự sôi của nước hay của những loại chất lỏng khác là một bước tập trung năng lượng tại tâm điểm của một phạm vi rộng trong các quá trình công nghiệp, bao gồm các nhà máy điện, các hệ chế tạo hóa học và ngay cả các hệ làm mát cho các thiết bị điện tử.      Cải thiện sự hiệu quả của các hệ mà nhiệt và sự hóa hơi của nước có thể làm giảm đi một cách hiệu quả năng lượng mà chúng sử dụng. Hiện tại, các nhà nghiên cứu tại MIT đã tìm được một cách để làm điều đó, với một xử lý bề mặt được thiết kế phù hợp với các vật liệu được sử dụng trong các hệ đó.  Hiệu suất được cải thiện là do một sự kết hợp của ba loại biến đổi bề mặt khác nhau, tại các quy mô kích cỡ khác nhau. Phát hiện mới được miêu tả trong bài báo trên tạp chí Advanced Materials do giáo sư Ford Evelyn Wang, và bốn tác giả khác ở MIT thực hiện 1. Họ lưu ý là phát hiện ban đầu vẫn còn ở quy mô phòng thí nghiệm, và cần nhiều nghiên cứu hơn để phát triển thành một quá trình ở cấp độ công nghiệp.  Có hai tham số chính miêu tả quá trình sôi, đó là hệ số truyền nhiệt (HTC) và thông lượng nhiệt tới hạn (CHF). Trong thiết kế vật liệu, nhìn chung đó là sự đánh đổi giữa hai tham số này, vì vậy bất kỳ cải thiện một trong hai cũng có xu hướng làm cái còn lại tệ hơn. Nhưng cả hai đều quan trọng cho hiệu quả của cả hệ và hiện tại, sau nhiều năm làm việc, nhóm nghiên cứu đã có được một cách cải thiện một cách hiệu quả cả hai đặc tính tại cùng thời điểm, dẫu sự kết hợp của những kết cấu khác nhau được đưa vào bề mặt của vật liệu.  “Cả hai tham số này đều quan trọng”, Youngsup Song – tác giả thứ nhất của nghiên cứu, nói. “nhưng việc tăng cường cả hai tham số là một dạng khó nhằn bởi vì chúng là một sự đánh đổi thực sự”. Nguyên nhân là, anh giải thích, “bởi vì nếu chúng ta có nhiều bọt khí trên bề mặt sôi thì càng chứng tỏ hiệu quả của quá trình sôi nhưng nếu có quá nhiều bọt khí trên bề mặt thì chúng có thể cố kết lại với nhau hình thành màng hơi nước trên khắp bề mặt sôi”. Tấm màng này sẽ tạo ra kháng lực cản trở sự truyền nhiệt từ bề mặt nóng đến nước. “Nếu chúng ta làm bốc hơi giữa bề mặt và nước, nó sẽ cản trở hiệu suất truyền nhiệt và làm giảm giá trị của CHF”, anh nói.  Song, hiện giờ là một postdoc ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley, đã tham gia thực hiện nghiên cứu này như một phần công việc khi làm nghiên cứu sinh tại MIT. Dẫu nhiều thành phần của xử lý bề mặt mới mà anh phát triển trong những nghiên cứu trước đây thì các nhà nghiên cứu vẫn cho rằng nghiên cứu này là công trình đầu tiên chứng tỏ các phương pháp đó có thể kết hợp để xử lý được “quy luật” đánh đổi giữa hai tham số thành phần.  Cho thêm vào một loạt lỗ rỗng ở cấp độ micro lên một bề mặt là một cách để kiểm soát con đường hình thành các bọt khí trên bề mặt, giữ chúng lại một cách hiệu quả vào các vị trí của lỗ rỗng và ngăn chúng khỏi tỏa đi để kết màng ngăn nhiệt. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một chuỗi các lỗ rỗng kích cỡ 10 micro mét được chia tách với khoảng cách 2 mi li mét để ngăn hình thành màng. Nhưng sự phân tách đó cũng chỉ làm giảm đi nồng độ của bọt khí tại bề mặt, vốn có thể làm giảm hiệu suất sôi. Để bù cho điều đó, nhóm nghiên cứu đã đưa vào một xử lý bề mặt xuống quy mô nhỏ hơn, tạo ra những lỗ hổng không khí và sóng rất nhỏ ở cấp độ nano để làm tăng khu vực bề mặt và đẩy mạnh tốc độ hóa hơi dưới các bọt khí.  Trong những thực nghiệm này, các lỗ rỗng được tạo ra ở các trung tâm của một loạt các cột chất lỏng trên bề mặt vật liệu. Các cột này, kết hợp với cấu trúc nano, đẩy mạnh mao dẫn của chất lỏng từ mặt đáy lên tới đỉnh và sự tăng cường quá trình sôi bằng việc đem lại nhiều diện tích bề mặt được phơi lộ với nước. Trong sự kết hợp, cả ba “bậc” của kết cấu bề mặt – sự phân tách lỗ rỗng, các vị trí, và kết cấu cấp độ nano – đem lại một sự tăng cường hiệu suất của quá trình sôi, Song nói.  “Những lỗ trống micro đó định rõ vị trí nơi các bọt khí đến”, anh nói. “Nhưng sự phân tách những lỗ trống ở khoảng cách 2 mi li mét, chúng ta phân tách các bong bóng và giảm thiểu sự kết hợp của các bọt khí”. Tại cùng thời điểm, các cấu trúc nano thúc đẩy sự hóa hơi dưới các bọt khí, và sự mao dẫn từ các cột chất lỏng đến phần đáy của bọt khí. Điều này giữ cho lớp nước lỏng giữa bề mặt sôi và bọt khí để gia tăng đến mức tối đa thông lượng nhiệt.  Dẫu công trình của họ đã xác nhận sự kết hợp của các loại xử lý bề mặt khác nhau có thể phù hợp và đạt được hiệu quả mong muốn, công trình này mới chỉ được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm quy mô nhỏ, vốn dễ dàng cho các nhà khoa học thay đổi kích thước của các thiết bị, Wang cho biết. Tuy nhiên nó cũng hữu dụng để chứng minh khả năng hoạt động của một hệ thống. Bước tiếp theo họ cần thực hiện là tìm những cách thay đổi để tạo ra những dạng của kết cấu bề mặt để có thể đưa phương pháp này phù hợp với điều kiện thực tế.  “Chúng tôi đã có thể kiểm soát bề mặt là bước đầu tiên”, cô nói, “bước tiếp theo là nghĩ về các tiếp cận để gia tăng kích thước”. Ví dụ, các cột trên bề mặt trong thực nghiệm được tạo ra trong phòng sạch, vốn phù hợp với việc chế tạo các chip bán dẫn. Có rất nhiều cách để tạo ra các cấu trúc bề mặt ở cấp độ nano, một vài cách trong đó có thể dễ dàng mở rộng quy mô.  Có thể một số ứng dụng quy mô nhỏ đáng chú ý là sử dụng quá trình này trong chính hình thức hiện tại của nó như kiểm soát nhiệt của các thiết bị điện tử, một lĩnh vực đang ngày trở nên quan trọng hơn vì thiết bị bán dẫn ngày càng nhỏ hơn và việc kiểm soát nhiệt đầu ra của chúng cũng trở nên quan trọng. “Đó thực sự là một không gian rất quan trọng”, Wang nói.  Tuy nhiên ngay cả những ứng dụng loại này thì cũng cần thời gian để phát triển bởi vì các hệ kiểm soát nhiệt cụ thể cho thiết bị điện tử sử dụng nhiều loại chất lỏng khác như các chất lỏng điện môi. Các loại chất lỏng này có sức căng bề mặt và các đặc tính khác biệt với nước. Vì vậy tìm hiểu về những khác biệt là một trong những bước tiếp theo, Wang nói.  Kỹ thuật cấu trúc đa tỉ lệ có thể được áp dụng cho các chất lỏng khác nhau, Song nói, bằng việc hiệu chỉnh các chiều để giải thích cho các đặc tính khác nhau của các loại chất lỏng. “Các chi tiết có thể được thay đổi và có thể đps là bước tiếp theo của chúng tôi”, anh cho biết.  Nguyễn Nhàn  tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2022-07-surfaces-efficiently.html  https://www.techexplorist.com/engineers-design-surfaces-make-water-boil-efficiently/52448/  ———————————————-  1, https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/adma.202200899    Author                .        
__label__tiasang Thiết kế các dự án nghiên cứu quốc tế: kỹ năng và kinh nghiệm      Để công bố quốc tế, tính “mới” và tính “tranh luận” trong nghiên cứu là những yếu tố quan trọng hàng đầu, theo chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Văn Chính (Trường ĐHKHXH&NV) và GS. Stan BH Tan-Tangbau (Đại học RMIT) tại tọa đàm “Thiết kế các dự án nghiên cứu quốc tế” do ĐH KHXH&NV Hà Nội tổ chức ngày 17-18/8/2018.      PGS Hoàng Anh Tuấn và PGS Nguyễn Văn Chính tại toạ đàm.  Khảo cứu  PGS.TS Nguyễn Văn Chính đề cập đến quy trình thiết kế một nghiên cứu khoa học với các bước cụ thể: Xác định câu hỏi nghiên cứu và phân tích cơ sở khoa học của nó; Khảo cứu và phân tích tài liệu đã có; Xây dựng các giả thiết nhằm trả lời câu hỏi đã nêu ra; Tìm kiếm các lý luận/lý thuyết khoa học có thể dẫn dắt nghiên cứu; Định nghĩa các khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu; Lựa chọn phương pháp, địa bàn, đơn vị nghiên cứu và phân tích; Xem xét tính khả thi của nghiên cứu và thời gian biểu thực hiện kế hoạch; Dự kiến kinh phí cho từng khoản mục chi tiêu; Dự kiến hướng trình bày/báo cáo kết quả nghiên cứu; Lập danh mục các tài liệu tham khảo ban đầu.  Khâu khảo cứu và phân tích tổng quan các nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứ là vô cùng quan trọng, “đòi hỏi tất yếu trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, từ khi bắt đầu đến khi viết báo cáo khoa học”. Ông cho rằng vai trò chính của khảo cứu là để nhìn nhận lại các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, để xác định hướng đi nhằm tìm tòi khám phá ra cái mới; qua đó xác định vấn đề nghiên cứu/hướng tiếp cận trong nghiên cứu của mình.  Do đó, để khảo cứu tốt, ông khuyên các nhà nghiên cứu trẻ: hãy bắt đầu từ một ý tưởng/vấn đề nghiên cứu, sau đó hãy tìm kiếm tài liệu liên quan đến chủ đề đang quan tâm để biết đã có ai nghiên cứu vấn đề này, nghiên cứu thế nào và có phát hiện gì ? Tiếp đó là tham vấn/phân tích vấn đề nghiên cứu mà tài liệu đang khảo cứu đặt ra; tìm kiếm cơ sở lý thuyết được sử dụng trong các tài liệu đã đọc; phân tích các phương pháp và thông tin mà các tài liệu khảo cứu đã sử dụng. Trong quá trình khảo cứu, nhà nghiên cứu phải luôn chú ý thẩm định tính xác thực của nguồn tài liệu được sử dụng và đóng góp của tài liệu/dẫn chứng được nêu ra.  Tính mới và tranh luận  Nhấn mạnh đến yêu cầu bắt buộc về tính mới trong nghiên cứu khoa học, PGS.TS Nguyễn Văn Chính cho rằng: Một nghiên cứu khoa học chỉ được coi là có đóng góp nếu nó có tính mới và nguyên gốc (originality). Theo đó, tính mới và nguyên gốc trong một nghiên cứu khoa học phải được hiểu là nghiên cứu đó, trên cơ sở thừa hưởng kết quả nghiên cứu đã có phải sản xuất ra những tri thức mới thay vì chỉ tóm tắt hay sử dụng lại các tri thức đã có dưới một hình thức khác. Tính mới có thể là vấn đề cũ nhưng có phát hiện mới hoặc vấn đề hoàn toàn mới.  Đồng thời, ông cũng đề cập đến khái niệm “tranh luận khoa học” và những nguyên tắc phải tuân thủ khi tranh luận. Đây được coi là một trong những mục đích quan trọng nhất của việc viết luận văn khoa học. “Tranh luận khoa học là trình bầy quan điểm về một vấn đề được củng cố bằng dẫn chứng khoa học. Tranh luận không phải là việc mô tả một chủ đề nào đó mà là sản xuất ra một luận điểm về một chủ đề ấy” – ông nói.  Tranh luận dẫn lối cho người viết khi viết và cũng dẫn lối cho người đọc khi đọc, giúp họ đánh giá một bài viết. Một câu hỏi thường được đặt ra cho người viết là: Tôi phải làm gì để thuyết phục người đọc về ý kiến tranh luận được nêu ra? Nếu người viết làm rõ ý kiến tranh luận của mình trong lời giới thiệu, người đọc sẽ biết luận điểm chính của người viết và theo dõi các ý kiến tranh luận ấy trong bài viết. Nếu các dẫn chứng giúp nhằm củng cố quan điểm tranh luận được nêu ra, và nếu người viết dẫn dắt tranh luận của mình một cách thuyết phục trong cả bài viết thì đó là một bài viết hay.    Việc tìm kiếm và nêu ra một tranh luận khoa học không hề dễ dàng. Vì một tranh luận khoa học hay phải cụ thể, nguyên gốc, và sát hợp với đề tài nghiên cứu. Một bài viết hay không có nghĩa là chỉ liên tục nêu ra các luận điểm/tuyên bố, mà phải hậu thuẫn các luận điểm ấy bằng những dẫn chứng (Evidence). Dẫn chứng có thể tăng cường sức mạnh cho các luận điểm, và cũng có thể làm cho luận điểm được nêu ra bị sụp đổ. Một trong những cách để làm tăng sức mạnh của các tranh luận và làm cho người đọc biết được sự thông hiểu vấn đề mà bạn đang thảo luận là nêu ra ý kiến trái ngược và phản đối (counter-arguments & objections). Bằng cách nêu ra các luận điểm trái ngược có thể có đối với ý kiến tranh luận/luận điểm của mình, bạn sẽ làm cho người đọc thấy được bạn nắm vững vấn đề như thế nào và thuyết phục người đọc chấp nhận luận điểm của bạn.  TS. Stan BH Tan-Tangbau – cũng chia sẻ về chủ đề “Thiết kế nghiên cứu với phương pháp tiếp nhận hình phễu”. Tác giả trình bày các bước tiêu chuẩn trong thiết kế một dự án nghiên cứu, gồm: Đổi mới/Các mục tiêu – Câu hỏi nghiên cứu chính – Giả thuyết/Phông nền (Background)/Điểm qua về phông nền bối cảnh/Điểm qua về các hệ hình lý thuyết/Điểm qua các nghiên cứu hiện có. Trong đó, các nhà nghiên cứu phải trả lời các câu hỏi: Làm sao bạn đặt được câu hỏi nghiên cứu trọng tâm – Giả thuyết? Tại sao nghiên cứu đó lại đáng thực hiện? Tính khoa học ở chỗ nào?  • Khóa tập huấn: “Thiết kế các Dự án Nghiên cứu Quốc tế: Kỹ năng và Kinh nghiệm” là 02 trong chuỗi 06 khóa tập huấn được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức trong khuôn khổ dự án: “Nâng cao Năng lực Nghiên cứu và Đổi mới tại Việt Nam (strengthening national research and innovation capacities in vietnam – ENHANCE)” do Chương trình Erasmus+ thuộc Liên minh Châu Âu tài trợ.  • Dự án ENHANCE được triển khai nhằm tăng cường năng lực cho các cơ sở giáo dục của Việt Nam, thúc đẩy hiệu quả thực thi và quản lý đổi mới và nghiên cứu. Tham gia dự án gồm 02 cơ quan quản lý của Việt Nam gồm: Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Khoa học và Công nghệ; 06 cơ sở giáo dục đại học và của Việt Nam bao gồm: Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGTPHCM), Trường Đại học Cần Thơ và Trường Đại học An Giang; 03 cơ sở giáo dục đại học của Châu Âu bao gồm: Đại học Công nghệ Slovakia tại Bratislava (Slovakia), Đại học Glasgow Caledonian (Scotland) và Đại học Alicante (Tây Ban Nha) – đơn vị điều phối dự án. Dự án kéo dài trong vòng 03 năm (2015-2018).  • Các khóa tập huấn còn lại bao gồm: “Công bố Quốc tế: Kinh nghiệm và Chia sẻ” diễn ra vào ngày 03-04 tháng 8 năm 2018 và “Điều tra và Phỏng vấn như một Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Xã hội” diễn ra vào ngày 24-25 tháng 8/2018  Duy Anh/ ĐH KHXH&NV Hà Nội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế kháng thể loại bỏ tế bào lão hóa và làm chậm quá trình lão hóa      Không ai biết tại sao một số người lại nhanh lão hóa hơn người khác và phát triển nhiều căn bệnh như Alzheimer, xơ hóa, tiểu đường type 2 hoặc một số dạng ung thư – liên quan đến quá trình lão hóa. Có một cách giải thích cho điều này là mức độ hiệu quả trong phản hồi của từng cơ quan với những tổn thương do tế bào gây ra trong suốt quá trình tồn tại của nó, điều cuối cùng khiến nó trở nên già đi.      Liên quan đến cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu ở trường đại học Oberta de Catalunya (UOC) và trường đại học Leicester (Anh) đã phát triển một phương pháp mới để loại bỏ các tế bào lão hóa khỏi các mô, dẫn đến làm chậm quá trình lão hóa.  Cụ thể, họ đã thiết kế một kháng thể hoạt động như một quả bom thông minh có khả năng ghi nhận các protein cụ thể trên bề mặt của những tế bào lão hóa. Sau đó, gắn chính nó lên các tế bào ngày và giải phóng một loại thuốc loại bỏ chúng để chúng khỏi ảnh hưởng đến phần còn lại, và do đó, giảm thiểu bất kỳ tác dụng tiềm năng nào.  Kết quả của nghiên cứu, được xuất bản trên Scientific Reports 1, đã mở ra cánh cửa tới viêc phát triển những phương pháp điều trị hiệu quả để trì hoãn sự tiến triển của các bệnh liên quan đến tuổi tác và thậm chí là cả quá trình lão hóa của nó trong thời gian dài, với mục tiêu là tăng cường tuổi thọ và hơn nữa là chất lượng cuộc sống của con người tại thời kỳ cuối cuộc đời.  “Lần đầu tiên chúng tôi có dạng thuốc chứa một kháng thể có thể hữu dụng để làm chậm sự già hóa tế bào ở người”, Salvador Macip, người dẫn dắt nghiên cứu và là một bác sĩ tại trường UOC và Leicester, nói.  “Chúng tôi xây dựng nghiên cứu này dựa trên những liệu pháp điều trị ung thư hiện có nhắm đích các protein cụ thể trên bề mặt các tế bào ung thư và sau đó ứng dụng nó cho các tế bào lão hóa”.  Tất cả các cơ quan sống đều có một cơ chế là “sự già hóa của tế bào” làm ngừng sự phân chia của các tế bào nguy hại và loại chúng khỏi quá trình tái tạo. Cơ chế này có thể giúp làm chậm đi tiến triển của ung thư cũng như giúp các mô mô hình hóa tại quá trình phát triển phôi.  Tuy nhiên dẫu là một cơ chế sinh học có lợi ích nhưng nó lại góp phần vào việc phát triển các loại bệnh tật khi cơ thể chạm đến thời kỳ tuổi già. Điều này dường nư làm hệ miễn dịch không còn có khả năng loại bỏ một cách hiệu quả các tế bào lão hóa, vốn tích tụ trong các mô và gây bất lợi đến chức năng của chúng.  Các thí nghiệm trước đây trên các mô hình động vật đều cho thấy việc loại trừ các tế bào đó với thuốc thành công sẽ làm trì hoãn tiến triển của căn bệnh và làm sự liên kết với chính quá trình lão hóa. Đó là điều mà một dạng thuốc mới là senolytics đã làm được. Tuy nhiên nó lại thiếu tính đặc hiệu và lại gây những tác dụng phụ, dẫn đến sự cản trở việc sử dụng chúng cho người.  Loại thuốc do Macip và nhóm nghiên cứu thiết kế là một dạng senolytic thế hệ thứ hai với độ đặc hiệu cao và việc phân phối được điều khiển từ xa. Họ bắt đầu nghiên cứu với kết quả từ một nghiên cứu trước và tìm kiếm “surfaceome”, các protein trên bề mặt tế bào, để nhận diện được những protein vốn chỉ hiện diện trên các tế bào lão hóa. “Chúng không phổ biến: một số chỉ hiệ diện trên một vài dạng tế bào lão hóa”, Macip nói.  Trong công trình mới, họ đã sử dụng một khoáng thể đơn dòng được huấn luyện để ghi nhận tế bào lão hóa và gắn vào chúng. “Giống như các kháng thể của chúng ta ghi nhận các vi trùng và bảo vệ chúng ta khỏi chúng, chúng tôi thiết kế các kháng thể có thể ghi nhận các tế bào lão hóa. Thêm vào đó, chúng tôi trao cho chúng một độc chất để chúng loại trừ tế bào lão hóa như thể chúng là các tên lửa được kiểm soát”, Macip nói. Hiện ông là người phụ trách Phòng thí nghiệm Cơ chế ung thư và lão hóa ở Leicester.  Việc điều trị có thể bắt đầu sớm ngay từ triệu chứng sớm của bệnh tật như Alzheimer’s, tiểu đường type 2, Parkinson’s, viêm khớp, đục thủy tinh thể hoặc một số khối u… xuất hiện. về dài hạn, họ tin là thậm chí còn có thể giúp mọi người có được một tuổi già khỏe mạnh hơn trong một số trường hợp nhất định.  Thanh Phương  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-antibodies-cells-aging.html  https://www.nanowerk.com/news2/biotech/newsid=58956.php  —————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41598-021-99852-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế không gian xanh ngập nước: giải pháp chống lũ trong đô thị      Các nhà nghiên cứu của MIT đưa ra một giải pháp chống lũ lụt trong thiết kế đô thị: các khoảng không gian xanh được thiết kế để tiêu thoát nước và làm sạch nước mưa đồng thời cung cấp các lợi ích sinh thái và giải trí cho đô thị.      Ngập lụt gia tăng do biến đổi khí hậu có thể tàn phá các khu vực đô thị và dẫn đến việc khắc phục tốn kém. Các thành phố đang cần những chiến lược mới về quản lý nước trong mùa mưa bão. Một nhóm kỹ sư và nhà quy hoạch đô thị tại Học viện công nghệ Masachusset (MIT) đã phát triển một giải pháp: thiết kế các vùng đất ngập nước đa chức năng và các ao tích hợp kiểm soát và làm sạch nước mưa, đem đến các lợi ích sinh thái và giải trí.  Tình trạng ngập lụt ở các thành phố đang ngày càng trầm trọng hơn bởi cơ sở hạ tầng đô thị, đáng nhẽ phải tận dụng hệ sinh thái tự nhiên để hấp thu lượng nước mưa, thì lại bị thay thế bằng bê tông, làm hạn chế khả năng hút nước. Lúc này nước mưa bị giữ trên bề mặt bê tông, nơi nó chứa đựng tất cả các loại chất ô nhiễm – rác, kim loại nặng, hóa chất công nghiệp – và đưa vào các nguồn nước gần đó, thường bao gồm cả nguồn cung cấp nước địa phương.  Nhiều thành phố không có đủ hệ thống để xử lý nước mưa chảy tràn, nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm dòng nước ở các khu vực đô thị. Các nhà máy xử lý nước mưa là các khoản đầu tư lớn cần được tích hợp vào hệ thống thoát nước và xử lý nước hiện có. Nếu không có không gian hoặc quy trình tuần tự làm sạch nước bị ô nhiễm trước khi nó tái lưu thông hoặc đi vào môi trường tự nhiên, các trung tâm đô thị sẽ mất lượng nước sạch vốn dĩ có thể dùng để uống, nạp vào nguồn nước ngầm hay đáp ứng các nhu cầu khác của hệ sinh thái.  Các hệ thống quản lý nước mưa tự nhiên – các không gian xanh được thiết kế trong thành phố – đang trở thành các lựa chọn ngày càng phổ biến cho các thành phố, một phần do mức giá vừa phải của chúng. Nhưng các vùng đất ngập nước nhóm nghiên cứu ở MIT thiết kế tối ưu hóa và hiệu quả hơn nhiều so với các thiết kế hiện có, chẳng hạn như có những vũng và đường quanh co, trong việc kiểm soát lưu thông nước và lọc nước mưa, đồng thời cũng mang lại lợi ích sinh thái và giải trí.  Theo nghiên cứu này, nhóm của MIT đã thiết kế một không gian xanh đa năng. Các thiết kế, bao gồm một chuỗi những cụm đảo, là các mô-đun và có khả năng mở rộng, có thể được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và nguồn lực của các đô thị khác nhau. Công trình được thử nghiệm với hai nghiên cứu trường hợp cụ thể, Houston và Los Angeles, nhằm đảm bảo khả năng tích hợp, linh hoạt của thiết kế cho các địa phương khác nhau.  “Chúng tôi chọn L.A. và Houston vì cả hai đều là thành phố lớn trong vùng khí hậu ấm, phát triển nhanh và có nhiều đất ngoại ô – triển vọng tốt cho không gian xanh”, trưởng nhóm nghiên cứu và là tác giả chính, Celina Balderas Guzmán, nói. “Hơn nữa, một thành phố rất khô và một thành phố rất ướt sẽ cho thấy khả năng thích ứng của thiết kế [của chúng tôi] trong những điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau”.  Một điểm đặc biệt nữa, nhóm nghiên cứu MIT đã công khai chi tiết nghiên cứu của họ trong một báo cáo cho phép truy cập mở “Hướng dẫn thiết kế cho vùng đất ngập nước đô thị”, với hy vọng rằng các thành phố sẽ áp dụng cách tiếp cận này. Báo cáo này được thực hiện trong hai năm, tài trợ chủ yếu bởi Phòng thí nghiệm an ninh lương thực và nước thế giới Abdul Latif Jameel của MIT (J-WAFS) và được hỗ trợ thêm bởi Trung tâm nghiên cứu đô thị tiên tiến MIT Norman B. Leventhal (LCAU) tại trường Kiến trúc và Quy hoạch MIT. Những hướng dẫn thực hiện trong báo cáodựa trên các thí nghiệm vật lý được thực hiện trong Phòng thí nghiệm Cơ học Chất lỏng Môi trường MIT Nepf và được công bố gần đây trên tạp chí Ecological Engineering.  “Mục tiêu của nghiên cứu của chúng tôi là giúp các thành phố giảm thiểu các vấn đề khi phải đối mặt với khí hậu thay đổi nhanh chóng, bão lớn và thiếu các giải pháp khả thi về kinh tế”, Alan M. Berger đồng tác giả của nghiên cứu cho biết. Berger và các đồng tác giả của ông hoan nghênh các đại diện thành phố có quan tâm đến nghiên cứu này lien lạc với họ để thảo luận về cách thực hiện thiết kế. Vào tháng 5, nhóm đã tiến hành một chiến dịch tiếp cận cộng đồng để đảm bảo rằng các thiết kế có nguồn mở này tới được các bên liên quan trong quy hoạch, thiết kế và cải tạo đô thị như các quan chức chính phủ và các nhà quy hoạch trên khắp Hoa Kỳ.  Bản thiết kế của nhóm vẫn chưa được sử dụng trong thực tế. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu hiện đang trong quá trình tiếp xúc với các nhà lãnh đạo thành phố ở một số địa phương về triển vọng xây dựng một hệ thống đất ngập nước thí điểm. Các nhà khoa học khác đánh giá  tích cực về nghiên cứu này. “Theo như tôi biết, chưa có một kết quả nghiên cứu nào được hiên thực hóa thành các bản thiết kế hợp lý và có tính ứng dụng cao như vậy”, David L. Sedlak, giáo sư kỹ thuật môi trường tại UC Berkeley và đồng giám đốc Berkeley Water Center nói.  Để phát triển thiết kế này, các nhà nghiên cứu trong Phòng thí nghiệm Cơ chế Chất lỏng Môi trường, do Heidi Nep (MIT Donald) và Martha Harleman (Giáo sư Kỹ thuật Đô thị và Môi trường) lãnh đạo, đã thử nghiệm hơn 30 thiết kế hệ thống đất ngập nước khác nhau. Họ theo dõi quá trình lưu thông nước thông qua các mô hình, xác định địa hình nào hiệu quả nhất cho thoát nước mưa và phân phối đồng đều dòng chảy của nó để có thể tận dụng tốt nhất quá trình làm sạch tự nhiên các chất ô nhiễm.  Kiểm soát dòng chảy của nước để nó đọng lại trong vùng đất ngập nước là rất quan trọng, nhằm cung cấp cho hệ sinh thái thời gian để cải thiện chất lượng nước. Vùng đất ngập nước làm sạch nước thông qua sự kết hợp của các quá trình sinh học và hóa học, bao gồm cả tính toán về mặt thời gian cho chất gây ô nhiễm có thể tách ra khỏi nước- thảm thực vật ngập nước cũng là một bộ lọc tốt, bề mặt thực vật và các màng sinh học mà chúng rất hiệu quả trong việc thu giữ các chất ô nhiễm và chất dinh dưỡng dư thừa.  Việc xác định thiết kế hiệu quả nhất để xử lý nước mưa là một khía cạnh quan trọng của dự án, nhưng nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng giá trị của hệ thống đất ngập nước của họ không chỉ dừng lại ở chức năng quản lý nước của nó. Sự hợp tác giữa các kỹ sư và nhà quy hoạch đô thị đã dẫn đến một thiết kế tối đa hóa hiệu quả mà không làm mất giá trị thẩm mỹ, sinh thái hoặc giải trí.  “Trước đây, các hướng dẫn thiết kế hệ thống quản lý nước mưa thường không được tính đến yếu tố thúc đẩy sinh thái hoặc tạo điều kiện giải trí”, Balderas Guzmán nói.  Thiết kế này bao gồm các đường mòn giải trí, kết nối các cụm đảo và kết nối các con đường thành phố với không gian xanh mời gọi. Những hòn đảo lớn nhất có thể làm địa điểm tổ chức sự kiện cho chương trình công cộng, trong khi ven vùng đất ngập nước có thể được sử dụng làm sân thể thao, khu dã ngoại hoặc sân chơi. Các đảo cung cấp nhiều khu vực sinh cảnh sinh thái, từ vùng cao khô cạn đến nước nông và sau đó là nước sâu hơn. Môi trường sống này có thể đặc biệt có giá trị đối với các loài sinh vật sống trong đất ngập nước bởi các vùng đất ngập nước tự nhiên đang dần biến mất.  Các thiết kế đa dụng còn có một lợi thế chính trị. Chúng có thể giúp các thành phố giành được sự chấp thuận của công chúng để thực hiện các vùng đất ngập nước – vốn trước đây các thiết kế này của thành phốthường ít khi được người dân địa phương ủng hộ. Các cộng đồng không nhận thức được nước mưa gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước thường không ủng hộ việc sử dụng một không gian cho một dự án đất ngập nước. Người dân có thể cho rằng không gian đó đáng nhẽ nên là công viên hoặc sân chơi. Việc bổ sung các tính năng giải trí làm cho vùng đất ngập nước nhân tạo dễ được giới thiệu đến công chúng.  Nguyễn Nam dịch  Nguồn: http://news.mit.edu/2018/storm-flooding-engineered-urban-green-space-0713    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế thành công bộ vi mạch ADC 24-bit đa ứng dụng      Sau bộ vi mạch mã hóa video VENGME H.264/AVC của ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội), Việt Nam tiếp tục đón nhận thêm một bộ vi mạch mới mang tên ADC 24-bit của Trung tâm nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch ICDREC (ĐH Quốc gia TP.HCM). Sản phẩm công nghệ này hứa hẹn nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như đo điện kế điện tử, địa chấn kế và đặc biệt trong lĩnh vực y tế như điện tâm đồ (ECG), xử lý tín hiệu y khoa…       Trong buổi lễ ra mắt bộ vi mạch ADC 24-bit, được tổ chức vào ngày 17/6, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch ICDREC (ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết,  đây là sản phẩm của đề tài thuộc chương  trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước, “Nghiên cứu, thiết  kế và chế tạo thử nghiệm chip nén ảnh theo tiêu chuẩn JPEG2000 và chip  ADC đa năng ứng dụng trong y tế”.     Thiết bị ADC 24-bit được thiết kế với kiến trúc delta-sigma bậc hai và cấu trúc CIFB. Nó có đặc tính kỹ thuật là vi  mạch chuyển đổi tín hiệu tương tự sang tín hiệu số (Analog-to-Digital  Converter), có độ chính xác và khả năng cạnh tranh cao với các sản phẩm  cùng loại trên thị trường nhờ các tính năng vượt trội về độ phân giải  24-bit, 18-bit hiệu dụng (ENOB), tốc độ quá lấy mẫu 512, tám kênh ngõ vào  và điện áp hoạt động là 3,3 V.   Trung tâm ICDREC đã tiến hành thử nghiệm và ứng dụng minh  họa thành công loại chip này trên máy đo huyết áp. Qua thử nghiệm, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tiềm năng ứng dụng và khả năng thương mại hóa bộ vi mạch ADC 24-bit trên nhiều sản phẩm trong lĩnh vực y tế như điện tâm đồ, xử lý tín hiệu y  khoa… hay lĩnh vực đo lường như đo điện kế điện tử, địa chấn  kế…  Với tiềm năng này, Trung tâm ICDREC hy vọng sản phẩm sẽ được nhiều doanh nghiệp quan tâm, hợp tác để cùng phát triển các sản phẩm thiết bị, các ứng dụng của bộ vi mạch ADC 24-bit cũng như đặt hàng thiết kế, gia công chế tạo dòng sản phẩm vi mạch Analog nói chung và chip chuyển đổi tín hiệu ADC nói riêng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế thiết bị ngăn ngừa tai nạn giao thông nhờ học hỏi côn trùng      Tuy chỉ có khoảng 25% xe đi lại khi trời tối, thế nhưng gần một nửa các vụ tai nạn gây tử vong xảy ra vào ban đêm. Khi các phương tiện được cải tiến hơn và thậm chí có thể tự lái, chúng ta cũng cần phát triển những cách phát hiện và tránh được những vụ va chạm này. Các hệ thống hiện nay thường rất phức tạp, đòi hỏi nhiều tài nguyên và hoạt động không hiệu quả trong bóng tối.     Mới đây, trên tạp chí ACS Nano, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu bản thiết kế một thiết bị phát hiện va chạm đơn giản, tiết kiệm năng lượng, lấy cảm hứng từ cách các con côn trùng tránh va phải nhau 1.  Trên các xe ô tô hiện nay đã được cài sẵn nhiều hệ thống tránh va chạm, chúng có thể tự động phanh xe lại khi một vật thể tiến lại quá gần. Một số hệ thống hoạt động bằng cách phân tích hình ảnh không gian ở quanh xe, nhưng trong những hoàn cảnh như mưa nặng hạt hay ánh sáng yếu, hình ảnh sẽ không rõ ràng. Để giải quyết điều này, các kỹ sư đã lắp đặt bộ xử lý tín hiệu phức tạp để phân tích những chi tiết vẫn nhìn thấy được. Một phương pháp khác là kết hợp cảm biến radar hay LiDAR (phát hiện ánh sáng và cự ly), nhưng các thiết bị này rất khó thu nhỏ lại và cần nhiều năng lượng. Cuối cùng, các công cụ này có thể sẽ tăng thêm trọng lượng không cần thiết, đòi hỏi nhiều năng lượng cùng những rắc rối khác, tuy rằng chúng khiến cho xe cộ an toàn hơn.  Nhưng những con côn trùng, bao gồm con châu chấu và ruồi, có thể dễ dàng tránh va vào nhau mà không dựa vào những phần mềm đắt tiền hay LiDAR, ngay cả lúc ban đêm. Thay vào đó, chúng có một số mạch thần kinh giúp né tránh vật cản, hiệu quả cực kỳ cao và có thể truyền cảm hứng cho các nhà khoa học tạo ra hệ thống tránh va chạm thế hệ tiếp theo. Vì thế, Saptarshi Das và các đồng nghiệp muốn tạo ra một thiết bị phát hiện va chạm lấy cảm hứng từ côn trùng, phù hợp để phát hiện phương tiện hiệu quả, an toàn và tiêu thụ ít năng lượng hơn các tiền thân của nó.  Đầu tiên, nhóm nghiên cứu thiết kế một thuật toán dựa trên hệ mạch thần kinh mà các con côn trùng dùng để tránh vật cản. Thay vì xử lý một hình ảnh hoàn chỉnh, họ chỉ xử lý một biến số: cường độ của đèn pha xe ô tô. Chẳng cần camera tích hợp hay cảm biến hình ảnh, họ kết hợp các bộ phận phát hiện và xử lý lại, khiến tổng thể thiết bị này có kích cỡ nhỏ hơn và tốn ít năng lượng hơn.  Được cấu thành từ một lớp molybdenum disulfide (MoS2) và gồm tám “memtransistor” nhạy cảm với ánh sáng, cảm biến được xếp vào mạch điện. Nó chỉ chiếm 40 µm2 và sử dụng vài trăm picojoule năng lượng — ít hơn hàng chục nghìn lần so với các hệ thống hiện có.  Cuối cùng, trong các tình huống thực tế vào ban đêm, thiết bị phát hiện có thể cảm nhận khả năng hai xe đâm vào nhau trước khi sự việc xảy ra từ hai tới ba giây, khiến người lái xe có đủ thời gian để né tránh. Các nhà nghiên cứu cho biết thiết bị phát hiện tân tiến này có thể giúp các thiết bị tránh va chạm hiện nay trở nên tốt hơn và an toàn hơn.  Ngọc Chi dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2023-01-vehicle-insects.html  https://news.abplive.com/science/a-detector-to-prevent-car-accidents-inspired-by-insects-study-1577351  ……………………………………………  1.https://pubs.acs.org/doi/10.1021/acsnano.2c07877    Author                .        
__label__tiasang Thiết kế và chế tạo thành công sản phẩm chip RFID      Từ kết quả nghiên cứu của đề tài KHCN cấp nhà nước, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch ĐH Quốc gia TP. HCM (ICDREC) đã nghiên cứu và chế tạo thành công chip RFID, thiết bị đọc/ghi RFID và hệ thống quản lý ra vào, qua đó mở ra cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong thực tế.       Từ kết quả nghiên cứu của đề tài KHCN cấp nhà nước, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch ĐH Quốc gia TP. HCM (ICDREC) đã nghiên cứu và chế tạo thành công chip RFID, thiết bị đọc/ghi RFID và hệ thống quản lý ra vào, qua đó mở ra cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong thực tế.   Trong ngày 12/8 vừa qua, ICDREC đã tổ chức buổi báo cáo kết quả nghiên cứu và công bố thương mại hóa chip, thiết bị RFID HF, kết quả nghiên cứu của đề tài KHCN cấp nhà nước “Thiết kế và chế tạo chip, thẻ, đầu đọc RFID và xây dựng hệ thống ứng dụng”. Trường đại học Quốc gia TP.HCM chủ trì đề tài, ICDREC thực hiện với tổng kinh phí 145,7 tỷ đồng từ nguồn vốn của Bộ KH&CN (124,8 tỉ đồng) và Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn (20,9 tỉ đồng).  Trong quá trình thực hiện đề tài, để tìm ra những giải pháp tối ưu, ICDREC đã mở rộng hợp tác với nhiều trường đại học và học viện kỹ thuật trong nước như ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc tế, ĐH Công nghệ Thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM), ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội), Học viện Bưu chính viễn thông, Học viện Kỹ thuật quân sự.  Thông qua mối quan hệ hợp tác này, các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu thiết kế hai loại chip 32 bit, trong đó một dòng chip tần số cao (HF) gắn vào các loại thẻ thanh toán, kiểm soát vào/ra và một dòng chip tần số siêu cao (UHF) chuyên để đính kèm hàng hóa. Hai loại chíp này dựa trên nền tảng RFID – công nghệ nhận dạng bằng sóng vô tuyến có tính năng mã hóa bảo vệ dữ liệu của người sử dụng, có thể thay thế những công nghệ định danh cũ, và theo chuẩn 15693.   Sau bốn năm thực hiện, họ đã thiết kế được mô hình chip RFID tần số cao và tần số siêu cao trên máy tính, đồng thời chế tạo thành công các sản phẩm chip RFID, thiết bị đọc/ghi RFID và hệ thống quản lý ra vào theo đúng yêu cầu của dự án. Hệ thống của ICDREC có khả năng thống kê dữ liệu cần thiết, tự động hóa công đoạn quản lý con người ra vào nhằm phân tích và nâng cao chất lượng quản lý, tăng cường công tác bảo vệ tài sản công…  Đánh giá về ý nghĩa của thành công này, tại buổi họp báo, giám đốc ICDREC Ngô Đức Hoàng cho biết, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã làm chủ được công nghệ RFID để tìm ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao cho Việt Nam, hướng tới giảm bớt sự phụ thuộc vào sản phẩm nước ngoài trong lĩnh vực quản lý, điều hành, bảo mật thông tin…   ICDREC cũng cho biết, nếu sản xuất một triệu thẻ, giá thương mại của thẻ RFID 15693 sẽ ở mức 14.000 đồng/chiếc.   Tại buổi công bố kết quả dự án, một doanh nghiệp lớn của Nhật Bản và Việt Nam ký kết hợp đồng phối hợp phát triển sản phẩm với ICDREC để tiến hành thương mại hóa dựa trên các kết quả nghiên cứu, hướng tới việc chế tạo chip, thẻ và các thiết bị RFID ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế ý niệm lò phản ứng hạt nhân plutonium lớn      Theo Kyodo JBN-AsiaNet, nhóm nghiên cứu do  giáo sư Yoshiaki Oka thuộc trường Đại học Waseda, Nhật Bản, đứng đầu, đã  thành công trong việc triển khai thiết kế ý niệm một lò phản ứng hạt  nhân có khả năng sản xuất ra một lượng plutonium lớn bằng việc làm lạnh  nước nhẹ đầu tiên trên thế giới.      Nhóm nghiên cứu đã nghĩ ra một bộ phận nhiên liệu mới, mà tại đây các thanh nhiên liệu được đóng gói kỹ nhằm rút bớt lượng nước làm mát của lò phản ứng xuống còn một lượng nhỏ nhiên liệu để sản xuất khối lượng lớn plutonium. Bằng những phân tích trên máy tính, Giáo sư Oka đã thành công trong việc sản xuất plutonium khối lượng lớn qua việc làm lạnh nước nhẹ.  Các lò phản ứng nhân nơtron nhanh (FBRs) đã sản xuất ra chất phân hạch được nhiều hơn lượng tiêu thụ trong khi vẫn sản xuất ra điện hạt nhân. Đây là “một giấc mơ điện hạt nhân.” Hướng phát triển chính của FBR là các lò phản ứng kim loại lỏng (LMFBR). Tuy nhiên, nó vẫn chưa mang tính thương mại bởi sự phức tạp của một nhà máy do sử dụng natri lỏng làm chất làm mát.  Một vòng quay nhiên liệu hạt nhân và các FBR đóng vai trò quan trọng cho việc giảm số lượng nhiên liệu hạt nhân đã tiêu thụ của các lò phản ứng nước nhẹ (LWR) và tận dụng hiệu quả các nguồn urani. Điện hạt nhân đang được sử dụng tại các nước đang phát triển. Việc thương mại hóa nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng đang được tái chế tại các nước phát triển góp phần thúc đẩy an ninh hạt nhân trên thế giới.  Theo thiết kế này, thì hoạt động sản xuất – hệ thống phức hợp tăng gấp đôi thời gian – kéo dài trong 40 năm. Điều đó có nghĩa là chất phân hạch được và việc sản xuất điện năng của một nhóm các FBR sẽ tăng gấp đôi trong 40 năm.   Nhu cầu về năng lượng là tương đương với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tỷ lệ tăng trưởng GDP tại bảy nước phát triển trong khối OECD là 1,4% trong 10 năm qua. Điều này đồng nghĩa với việc GDP và nhu cầu về năng lượng sẽ tăng gấp đôi trong vòng 50 năm. Hoạt động sản xuất sẽ đáp ứng tỷ lệ nhu cầu năng lượng tại các nước phát triển.  Nghiên cứu sẽ mở ra con đường để thương mại hóa FBR và quay vòng nhiên liệu hạt nhân nhằm sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình trên cơ sở công nghệ làm lạnh nước nhẹ.  Kết quả của nghiên cứu được công bố trên số ra tháng Giêng Tạp chí Khoa học và Công nghệ hạt nhân của Hội năng lượng nguyên tử Nhật Bản (AESJ).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiếu 750 triệu euro tài trợ có thể làm giảm tham vọng của Copernicus      Chương trình quan sát trái đất của EU, vốn rất quan trọng với các kế hoạch đổi mới sáng tạo trong những lĩnh vực liên quan, đang bị đe dọa do thiếu đóng góp của Anh, nay bị xung đột ở Ukraina gia nhiệt.      EU sẽ không tìm nguồn tài chính đủ cho những tham vọng của Copernicus cho đến hết giữa năm 2024, bất chấp khoảng trống kinh phí 750 triệu euro trong ngân sách đầu tư bởi không còn sự đóng góp của Anh, sau những tranh cãi về chính trị hậu Brexit.  Với một ngân sách 5,8 tỉ euro cho đến năm 2027, không đủ để thiết lập “một công cụ theo một bước thông thường ít nhất đến giữa năm 2024”, Mauro Facchini, người phụ trách bộ phận Copernicus tại Hội đồng châu Âu, trao đổi với Ủy ban Công nghiệp, nghiên cứu và năng lượng của Nghị viện châu Âu (ITRE) vào thứ hai vừa qua. “Sau khi đến thời khắc này, chúng tôi có thể cần phải giữ tiến trình một số nhiệm vụ trong dự án chậm lại vì còn phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của các nguồn lực đầu tư có sẵn”.  Hệ quan sát trái đất Copernicus thường dùng để giám sát vấn đề biên giới EU, biến đổi khí hậu, theo dõi việc sử dụng đất nông nghiệp, quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị và lập bản đồ rừng… bên cạnh rất nhiều ứng dụng khác. Trong những tuần gần đây, nó cũng giúp châu Âu giám sát các dòng chảy của hàng triệu người di cư từ Ukraina sang các quốc gia thành viên châu Âu.  Copernicus hiện là chương trình không gian duy nhất do EU điều hành và Anh đăng ký tham gia như một phần của Thỏa thuận Thương mại và hợp tác EU-Anh hậu Brexit. Tuy nhiên, cuộc tranh cãi về Nghị định thư về Ireland/Bắc Ireland khiến mọi chuyện không đến đâu cả.  Hiện tại, Copernicus vẫn là một chương trình tiên tiến nhưng vài thập kỷ tiếp theo, cần giữ cho nó một khoản đầu tư lớn hơn theo thời gian. Hiện tại, có tám vệ tinh trong quỹ đạo và nhiều hơn số đó đang sẵn sàng chờ phóng vào vũ trụ, một vài cái trong số này là để thay thế những vệ tinh hiện hành, những cái còn lại để tăng cường hơn lượng dữ liệu thu thập được.  Có sáu nhiệm vụ đang được tiến hành, bao gồm một cho giám sát phát thải carbon dioxide, dự kiến sẽ phóng vào năm 2026. Để sẵn sàng đưa các nhiệm vụ mới thành hiện thực, EU cần 750 triệu euro đóng góp của Anh.  Cho đến hiện tại, có một thỏa thuận tạm thời để giữ cho các kế hoạch hiện hành vận hành đến giữa năm 2024, khi ngân quỹ có thể cạn kiệt. Điều này đảm bảo cho không có kế hoạch đã định nào bị trì hoãn và đem lại thời gian cần thiết để có thêm nhiều tài trợ tiếp theo. Người ta hi vọng là vào giữa năm 2024, đóng góp của Anh sẽ thành hiện thực.  Có tiềm năng là tiền đầu tư vào đây sẽ còn đến từ những nguồn khác. Facchini cho biết, 29 triệu euro sẽ sẵn sàng tăng thêm vào ngân sách từ những nguồn thay thế. “Không có nhiều nhưng nó chứng tỏ chúng ta có thể sáng tạo”, ông nói.  Đây không phải là thảo luận đầu tiên của Ủy ban công nghiệp Nghị viện châu Âu về khoảng trống tài trợ cho Copernicus. Tháng 12 năm ngoái, Josef Aschbacher, người phụ trách Cơ quan Hàng không vũ trụ châu Âu, trao đổi về việc phải tìm bằng được các ngân sách thay thế bởi vì đóng góp của Anh ‘dường như sẽ không có”.  Người ta quan ngại về tình trạng này. Massimiliano Salini, một thành viên Nghị viện châu Âu, nhấn mạnh về vai trò của Anh vượt ra ngoài việc rót tiền vào khoản còn thiếu này. “Anh không chỉ là một người đóng góp tài chính cho Copernicus mà còn đem đến rất nhiều know-how”, ông nói.  Thúc đẩy sự tự chủ  Trong khi tìm kiếm ngân sách tài chính cho Copernicus, EU song song thúc đẩy các tham vọng không gian của mình sau xung đột ở Ukraine.  Vào tháng hai, Thierry Breton, ủy viên phụ trách thị trường nước ngoài và đóng vai trò phản hồi chính sách không gian, cho biết có sự khác biệt giữa trước và sau sự kiện này, đồng thời nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc thúc đẩy tự chủ mang tính chiến lược.  Paraskevi Papantoniou, người phụ trách chính sách không gian của Hội đồng châu Âu, đang sẵn sàng công việc thúc đẩy sự tự chủ và bảo vệ cơ sở hạ tầng không gian châu Âu. “Tình hình cho thấy cần phải tăng cường tự chủ chiến lược để truy cập vào không gian và tăng cường chuỗi cung cấp của châu Âu”, bà nói với ITRE.  Hạng mục đầu tiên trong danh sách này là phóng hệ truyền thông vệ tinh mã hóa lượng tử vào quỹ đạo thấp của châu Âu. Nhưng cần sự hỗ trợ tiên phong của các nhà hoạch định chính sách đã.  Các kế hoạch của Copernicus mà Hội đồng châu Âu ấnđịnh cho thập kỷ tới là xem xét dữ liệu mà nó thu thập được để nó đóng một vai trò lớn hơn trong các nỗ lực giải carbon nền kinh tế châu Âu. Bên cạnh đó còn là các kế hoạch số hóa Copernicus để có thể cung cấp thông tin đầu vào cho hàng triệu sản phẩm trên cơ sở dữ liệu quan sát, sử dụng các hệ tính toán hiệu năng cao, trí tuệ nhân tạo và máy tính lượng tử. Tất cả các hạng mục này đều sẽ đòi hỏi một khoản đầu tư lớn hơn.  Sự cấm vận lên Nga không hề ảnh hưởng đến kế hoạch này. “Không hề có sự phụ thuộc vào Nga vì chúng tôi phụ thuộc hoàn toàn vào những công nghệ của chính mình,” Papantoniou nói.  Cơ quan vũ trụ Nga Roskosmos đã ngưng hợp tác với châu Âu vào tháng hai khi rút các thành viên tại các sân bay vũ trụ Guiana thuộc Pháp, và một số nhiệm vụ nữa từ năm ngoái. Breton đã từng xác nhận EU đang tìm kiếm những nơi phóng mới có thể dễ dàng lập kế hoạch.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu750m-funding-gap-could-curtail-ambitions-copernicus-mid-2024  https://www.europarl.europa.eu/doceo/document/P-9-2022-000332_EN.html    Author                .        
__label__tiasang Thiếu các “startup” trong nông nghiệp      Gần 2/3 dân số Việt Nam đang sống ở  nông thôn và làm nông nghiệp, nhưng những dự án khởi nghiệp trong lĩnh  vực này lại quá ít vì những người khởi nghiệp thường chọn những lĩnh vực  “thời thượng” như công nghệ thông tin, website,…    Chia sẻ trong chương trình “Hội nghị khởi nghiệp Việt Nam” được tổ chức mới đây tại TP.HCM, ông Nguyễn Hồng Hải, Giám đốc điều hành Quỹ đầu tư Becamex TIC, nhận định, hiện nay, mở báo ra đọc ngày nào cũng thấy những thông tin như thịt, nông sản có chất này, chất kia khiến người tiêu dùng hoang mang. Theo ông Hải, đây là một trong những “tiền đề” cho khởi nghiệp trong nông nghiệp. Ông Hải dẫn chứng, như ở Mỹ người ta kinh doanh dựa trên sự sợ hãi, nghĩa là khi có mức báo động về khủng bố thì các công ty bán những mặt hàng về thiết bị an ninh sẽ có doanh số bán hàng tăng vọt. “Vậy tại sao chúng ta không làm ra những sản phẩm trong nông nghiệp để người tiêu dùng an tâm sử dụng?” ông Hải đặt câu hỏi.  Theo ông Hải, trong khoảng 100 dự án khởi nghiệp mà Becamex TIC làm việc thì số dự án nông nghiệp chiếm rất ít. Với lợi thế nông nghiệp, nếu đi đúng hướng và làm tốt thì Việt Nam sẽ có vị trí quan trọng trong việc ổn định an ninh lương thực thế giới.  Ông Hải đưa ra nhận định, khủng hoảng kinh tế trong những những năm vừa qua trên thế giới, người nông dân ở các nước chịu đầu tư cho nông nghiệp như: Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… vẫn sống tốt và không bị ảnh hưởng. Vì thế các bạn trẻ hãy làm cho nông dân của Việt Nam như thế, ông Hải nhấn mạnh.  Đồng quan điểm khuyên các bạn trẻ khởi nghiệp trong nông nghiệp, ông Huỳnh Minh Việt – Tổng giám đốc BioSpring, cho rằng, làm giàu bằng cách này cách kia thường không tự hào bằng làm giàu từ chính đồng ruộng của mình. Tuy nhiên ông Việt cũng chia sẻ những khó khăn khi đưa những dự án khởi nghiệp đến bà con nông dân bởi họ không dễ từ bỏ thói quen canh tác cũ. “Khi có dự án khởi nghiệp rồi phải kiên trì, đừng thấy khó quá mà nản, nếu quá khó khăn hãy chuyển hướng làm chứ đừng chuyển lĩnh vực”, ông Việt nói.  Ông Nguyễn Khắc Minh Trí, Giám đốc điều hành công ty MimosaTek, cho rằng, những năm vừa qua, không ít nông dân Việt Nam đã thay đổi mô hình sản xuất, họ chịu đầu tư và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp cần những thiết bị hiện đại. Nắm được nhu cầu này, ông bắt đầu “startup” ý tưởng từ những bộ cảm biến để tự động hóa việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi… và đã thành công. Nói thêm với các bạn trẻ đang có ý tưởng khởi nghiệp ông Trí nêu vấn đề, quan trọng nhất là tìm và nắm bắt được nhu cầu, xu thế trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên ông Trí chia sẻ, hiện nay các bạn trẻ thích khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ chứ ít quan tâm đến nông nghiệp, đây là một thiệt thòi lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam.  Bà Thạch Lê Anh, đại diện Silicon Valley Việt Nam, cho hay, hiện nay có nhiều sự quan tâm dành cho khởi nghiệp trong nông nghiệp. Nếu các bạn trẻ có ý tưởng và dự án tốt hãy làm hồ sơ, thủ tục để vào Silicon Valley Việt Nam, hay bất cứ một tổ chức nào khác, có những đơn vị sẵn sàng tài trợ để mang lại sự thành công cho các bạn, bà Anh nói.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiếu nhưng vẫn lãng phí      Một phần ba lượng lương thực và thực phẩm thế giới cuối cùng bị vứt bỏ làm rác thải, ở các nước công nghiệp tỷ lệ này thậm chí lên tới một nửa. May thay, chúng ta có thể phần nào ngăn chặn sự lãng phí to lớn này thông qua nhiều công nghệ mới.     Klaudia Fischer có cảm giác như phải làm việc trong một thế giới đầy nghịch cảnh: cô là nhân viên của một siêu thị ở Berlin (Đức), cô từng nghĩ siêu thị là nơi bán hàng, nhưng trong thực tế phần lớn thời gian làm việc ở siêu thị cô không bán mà vứt hàng. Cô thu gom các loại sản phẩn sữa trước khi hết hạn sử dụng hai ngày để vứt. Còn những loại rau xanh như hành, xà lách, củ cải thì chỉ sau một ngày có mặt trên kệ bán hàng đã bị thu dọn để thải loại, mặc dù chúng hoàn toàn còn sử dụng được.  Tại các nước công nghiệp, khoảng một nửa lượng lương thực, thực phẩm bị vứt bỏ. Phần lớn bị loại bỏ trên đường từ cánh đồng đến cửa hàng trước khi lên bàn ăn: ở Đức cứ hai cây xà lách/củ khoai tây thì có một cây/củ bị vứt bỏ, tỷ lệ này ở bánh mì là một phần năm. Có lò bánh mì dùng bánh cũ kết hợp với than, củi làm chất đốt!  Theo số liệu của Đức, bình quân mỗi người tiêu dùng vứt bỏ khoảng 100 kg lương thực, thực phẩm trong một năm. Còn bình quân mỗi hộ gia đình vứt bỏ lượng thức ăn trị giá 400 Euro trong một năm. Lượng lương thực, thực phẩm bị vứt bỏ hàng năm khoảng từ 10 đến 20 triệu tấn – đủ để xếp lên 500.000 chuyến xe tải, nếu xếp hàng xe này nối đuôi nhau thì có chiều dài tương đương quãng đường từ Berlin đến Bắc Kinh. Sự lãng phí kinh khủng này diễn ra trên khắp thế giới: Theo tổ chức Lương nông thế giới (FAO), mỗi năm, khoảng một phần ba lượng lương thực, thực phẩm bị vứt bỏ, tương đương 1,3 tỷ tấn.  Điều này không chỉ phi lý vì nó diễn ra vào thời điểm dân số thế giới tiếp tục tăng, thức ăn ngày càng khan hiếm và đắt đỏ và khoảng một tỷ người đang phải sống trong tình trạng thiếu, đói. Lương thực, thực phẩm bị quẳng bỏ như rác thải còn gây tác động xấu đến môi trường khí hậu thế giới: ngành nông nghiệp tiêu hao rất nhiều năng lượng, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và làm mất đi một diện tích lớn đất rừng, tất cả các yếu tố này đều dẫn đến hiệu ứng nhà kính.    Chân dung “kẻ hủy diệt”  Đạo diễn điện ảnh Valentin Thurn ở Koeln đã nghiên cứu mức độ lãng phí lương thực, thực phẩm trên thế giới và tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Trong quá trình tìm hiểu, Thurn đã tiếp xúc với các nhà quản lý siêu thị, thợ làm bánh, thanh chợ bán buôn, bộ trưởng, quan chức EU và nông dân. Những luận cứ quan trọng nhất mà ông và đồng nghiệp Stefan Kreutzberger thu thập được biên soạn thành cuốn sách nhan đề “Những kẻ hủy diệt thực phẩm”, vừa ra mắt tháng 8 vừa qua.             Năm 2009, EU đã phải hủy tiêu chuẩn tiếp thị đối với 26 loại rau, củ, quả. Giờ đây củ cải đỏ được phép có hai rễ, dưa chuột được cong và những củ cà rốt bị chẽ ra vẫn được chấp nhận. Tuy nhiên đó chỉ là quy định của nhà quản lý còn các siêu thị thì vẫn giữ các quy định cũ.        Theo hai tác giả thì có nhiều nguyên nhân nhưng người tiêu dùng ở các nước công nghiệp là nguyên nhân chính: ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ngày nay hoạt động toàn cầu và coi nhu cầu của các nước công nghiệp là ưu tiên số một.   Khoảng một nửa số khoai tây ở Đức bị loại bỏ ngay trên đồng ruộng chỉ vì củ quá lớn, quá bé hoặc vì bất cứ lý do gì làm cho chúng không đáp ứng được tiêu chuẩn mà các nhà thu mua đề ra. Ông F.Wilhelm Graefe zu Baringdorf, cựu nghị sỹ Đảng Xanh của EU, nói: “Chúng ta đề ra các tiêu chuẩn mà những tiêu chuẩn đó lại chẳng liên quan gì đến chất lượng thức ăn.” Thí dụ, EU yêu cầu dưa chuột phải thẳng để dễ đóng thùng. Năm 2009, EU đã phải hủy tiêu chuẩn tiếp thị đối với 26 loại rau, củ, quả. Giờ đây củ cải đỏ được phép có hai rễ, dưa chuột được cong và những củ cà rốt bị chẽ ra vẫn được chấp nhận. Tuy nhiên đó chỉ là quy định của nhà quản lý còn các siêu thị thì vẫn giữ các quy định cũ.  Những quy định về tiêu chuẩn này tác động tới cả thế giới. Người công nhân Cameroon làm việc ở đồn điền trồng chuối phải loại bỏ nhiều nải chuối chỉ vì không đạt tiêu chuẩn của người mua. Chủ đồn điền Hilaire Tsimi Zoa than phiền: “Các siêu thị và các nhà nhập khẩu ở châu Âu ngày càng đề ra nhiều tiêu chuẩn hơn, thí dụ: độ lớn, độ dài quả, thậm chí cả số lượng quả trên một nải chuối.” Chính vì những đòi hỏi khắt khe này mà khoảng 8% sản phẩm đã bị hủy bỏ ngay sau khi thu hoạch, một lượng sản phẩm không nhỏ còn bị hư hỏng và phải thải loại trong quá trình vận chuyển.  Sự điên rồ này còn tiếp diễn khi sản phẩm đến tay nhà buôn, tới các siêu thị, nhà hàng. Tại đây lượng rác thải nhiều như núi. Thí dụ chợ bán buôn Rungis ở Paris hàng ngày cứ tầm sáu giờ sáng thì kết thúc chợ cá, nhiều thùng cá ngừ, sò và tôm bị đổ vì kém phẩm chất; không lâu sau đó, thanh tra chợ Tony Apfelbaum lại ra lệnh hủy 9 tấn cam. Ông này phân trần: “Số lượng này đối với chợ bán buôn Rungis thì đâu có lớn, đôi khi lượng hủy bỏ còn lớn hơn nhiều.”  Trong cuốn sách của mình, Thurn và Kreutzberger cũng đề cập đến những biện pháp ngăn chặn tình trạng lãng phí lương thực thực phẩm hiện nay. Tại các siêu thị xuất hiện các tổ chức ngăn chặn việc vứt bỏ thức ăn phung phí và thu gom những loại thức ăn đó để giúp đỡ người nghèo. Nhiều tổ chức của người tiêu dùng tìm cách gắn kết trực tiếp người nông dân với người tiêu dùng v.v…  Tuy đây chỉ là những bước đi đầu tiên nhưng dù sao những việc làm này cũng giúp người tiêu dùng đánh giá đúng mức việc tiết kiệm lương thực, thực phẩm. Theo giới nghiên cứu, nếu các nước công nghiệp giảm một nửa lượng thức ăn bị vứt bỏ thì có thể tạo ra hiệu ứng tích cực đối với khí hậu tương đương với việc một nửa số xe ô tô ở các nước này ngừng chạy.  Thời hạn sử dụng gây ngộ nhận  Không phải tất cả những gì ghi trên nhãn mác thực phẩm đều thực sự bổ ích. Thí dụ thời hạn sử dụng ghi trên nhãn thực phẩm nhiều khi gây ngộ nhận và từ đó làm cho nhiều loại thức ăn bị vứt bỏ oan uổng. Bởi vì thời hạn sử dụng ghi trên nhãn mác không có nghĩa khi hết thời hạn đó thực phẩm bị hư hỏng không thể sử dụng được mà thời hạn này là sự bảo đảm của nhà sản xuất đối với một sản phẩm nhất định, thí dụ hãng sản xuất sữa chua bảo đảm đến một thời hạn nào đó chất lượng của sữa chua còn tươi nguyên như khi vừa xuất xưởng.   Vì vậy ở đây cơ quan quản lý nhà nước nên ra quy định về việc sử dụng thuật ngữ thích hợp, thí dụ trong tiếng Anh người ta dùng khái niệm “best before” (tốt nhất trước), từ đó giảm được tổn thất.             Nếu các nước công nghiệp giảm một nửa lượng thức ăn bị vứt bỏ thì có thể tạo ra hiệu ứng tích cực đối với khí hậu tương đương với việc một nửa số xe ô tô ở các nước này ngừng chạy.        Tập đoàn siêu thị Jumbo của Hà Lan mới đây có một ý tưởng tuyệt vời: khách hàng nào phát hiện được những sản phẩm mà hạn sử dụng chỉ còn hai ngày còn bầy trên giá thì sẽ được biếu không sản phẩm đó. Sáng kiến này hay ở chỗ làm cho khách hàng không chăm chăm tìm những sản phẩm mà hạn sử dụng còn dài mà lại chú ý vào những sản phẩm sắp hết hạn sử dụng, nhờ đó giảm hẳn số hàng hóa bị loại bỏ vì quá hạn sử dụng.   Một số cửa hàng thực hiện chính sách bán hạ giá những loại thực phẩm sắp hết hạn, tuy nhiên nhiều nhà buôn không muốn thực hiện biện pháp này vì sợ sẽ làm “loạn”giá.   Các nhà khoa học thuộc Viện Fraunhof của Đức đã nghiên cứu, phát triển một loại màng cảm biến để ở trong bao bì của sản phẩm, loại màng cảm biến này có khả năng phản ứng với những chất hình thành trong quá trình thực phẩm bị phân hủy và màng cảm biến này sẽ chuyển từ mầu vàng sang mầu xanh. Từ đó cả người bán lẫn người mua dễ dàng phát hiện sản phẩm có vấn đề và phải hủy bỏ. Trong khi thời hạn sử dụng ghi trên nhãn mác chỉ là sự ước đoán thì màng cảm biến dựa trên thực trạng của sản phẩm.   Điều này rất có ý nghĩa, nhất là với những loại thực phẩm dễ bị hư hại khi chế độ bảo quản lạnh bị sự cố. Các loại sản phẩm tươi sống như thịt, cá hay các loại sản phẩm sữa thường phải qua một quãng đường dài mới đến tay người tiêu dùng và phải được bảo quản liên tục ở nhiệt độ lạnh thích hợp. 35% các loại sản phẩm nhạy cảm này thường bị vứt bỏ vì chế độ bảo quản lạnh bị trục trặc.  Một viện nghiên cứu của TU Darmstadt đã phát triển một loại cảm biến gắn ở nhãn RFID vô tuyến, cảm biến này phát hiện và cảnh báo kịp thời những trục trặc của chu kỳ làm lạnh.   Chuyên gia thiết kế người Hàn Quốc Jihyun Ryou làm việc ở Amsterdam cũng lưu ý, không phải bất cứ thực phẩm nào cũng cần bảo quản lạnh. Theo Ryou, một số loại rau, quả khi bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ dưới 8 độ dễ bị hư hỏng, thí dụ như bí xanh hoặc cà tím. Dưa chuột, cà chua và trứng cũng không nên bảo quản trong tủ lạnh.   Ryou đang viết một cuốn sách đề cập đến kinh nghiệm bảo quản nông sản, thực phẩm của nông dân Hàn Quốc, Hà Lan và Ý. Ông nhận thấy ngày nay người ta có những thói quen rất vô nghĩa, thí dụ như bảo quản trứng trong tủ lạnh. Ông cũng đã hỏi nhiều bà nội trợ vì sao họ lại làm như vậy thì luôn nhận được câu trả lời vì trong tủ lạnh có ngăn để trứng.         Một số biện pháp giảm lãng phí lương thực, thực phẩm khác:    – Cho không thức ăn sắp hết hạn sử dụng: Ở Đức hiện có 870 điểm thu gom thực phẩm có nguy cơ bị vứt bỏ mặc dù chất lượng vẫn bình thường. Số thực phẩm này được phân phát miễn phí hoặc bán với giá tượng trưng cho những người khó khăn.    – Lấy ý kiến về thực đơn tại các bếp tập thể để đáp ứng tốt hơn khẩu vị người ăn, hạn chế đổ bỏ. Theo khảo sát, các bếp tập thể ở nhà trường đổ bỏ từ 24 đến 35%, các bếp ăn của văn phòng, nhà máy – khoảng 20%.   – Chia nhiều loại suất ăn: Nhiều tiệm ăn châu Á chia các suất ăn thành ba loại, lớn, trung bình và nhỏ để khách lựa chọn. Nhiều nhà hàng, quán ăn ở TP Mumbai (Ấn Độ) quy định sau 20 giờ giá các suất ăn giảm 50%, khiến số thanh niên đi ăn sau 20 giờ tăng vọt và lượng thức ăn dư thừa phải đổ bỏ giảm rõ rệt.    – Dùng máy đóng gói bao bì cỡ nhỏ: Tập đoàn Bosch Packaging Technology (Đức) đã chế tạo máy đóng gói bao bì cỡ nhỏ, dễ điều khiển, lắp trên xe tải để vào mùa thu hoạch xe cơ động từ làng này sang làng khác, rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển nơi tổn thất lương thực lên tới 40% chủ yếu ở khâu bảo quản và chế biến.           Xuân Hoài dịch theo Wiwo       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiếu nước, nhưng không thiếu giải pháp      Giới nghiên cứu tỏ ra lạc quan bất chấp những thách thức to lớn mà tình trạng khan hiếm nước đang đặt ra bởi với họ, có nhiều cách để giải quyết tình trạng này trên toàn thế giới.    Cầu về nước sẽ vượt cung 40%  Ở khắp nơi trên thế giới con người đang tìm mọi cách để tận dụng triệt để nguồn nước ở sông ngòi, ao hồ và cả nguồn nước ngầm. Ở thành phố Mexico nhiều khu nhà bị lún hàng mét vì con người khai thác quá mức nguồn nước ngầm. Thậm chí London vốn nổi tiếng là nơi có mưa nhiều vậy mà giờ đây cũng phải pha trộn nước biển đã khử mặn với nước sông Thames làm nước sinh hoạt. Ngay một số nước công nghiệp cũng lâm vào tình trạng thiếu nước phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và đời sống. Theo tính toán của Water Resources Group (WRG), một tổ chức của các nhà nghiên cứu về nước hàng đầu thế giới, nếu tình trạng tiêu dùng nước tiếp tục phát triển như hiện nay thì đến năm 2030 cầu về nước sẽ cao hơn cung tới 40%.   Thế giới hiện có nhiều nhà khoa học, chuyên gia đang nghiên cứu về các giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm nước ngọt hiện nay. Ông Peter Gleick, Giám đốc Viện Thái Bình Dương ở Oakland (Pacific Institute) chuyên nghiên cứu về vấn đề khan hiếm nước, tỏ ra lạc quan bất chấp những thách thức to lớn đang đặt ra trước các nhà nghiên cứu về nước vì: “Có nhiều cách để giải quyết tình trạng khan hiếm nước hiện nay trên thế giới.”  Các nhà nghiên cứu có nhiều cách để tiếp cận vấn đề này như áp dụng những giải pháp mới, ít tốn kém hơn để làm sạch nước bị ô nhiễm hóa chất hoặc nhiễm khuẩn ở sông ngòi, ao hồ cũng như các giếng nước ăn để tái sử dụng. Họ chú trọng khâu xử lý nước thải để tái sử dụng hay nghiên cứu các biện pháp khử mặn ở nước biển nhưng ít tiêu hao năng lượng hơn. Cùng với kỹ thuật tưới nước có hiệu quả cao nhất người ta đã tạo ra các loại giống cây trồng có khả năng chịu hạn cao mà vẫn đem lại năng suất cao. Đây là những vấn đề không chỉ đòi hỏi rất cao về mặt công nghệ mà còn hứa hẹn một thị trường khổng lồ.   Theo các chuyên gia thuộc WRG mỗi năm thế giới phải đầu tư từ 50 đến 60 tỷ đôla để giải quyết cuộc khủng hoảng nước toàn cầu.   Thị trường rộng lớn, giải pháp đa dạng  Nhiều quốc gia khan hiếm nước hàng chục năm nay thải các chất độc hại ra sông suối, ao hồ hoặc ra biển và kết quả là hệ thống sông ngòi bị ô nhiễm nghiêm trọng, giờ đã nhận thức được vấn đề và đã xây dựng hàng trăm cơ sở khai thác và xử lý nước. Các doanh nghiệp ở Đức như Lanxess, Wilo đang đứng trước một cơ hội lớn, một thị trường cỡ bạc tỷ và có sức tăng trưởng mạnh mẽ. Một thí dụ điển hình: nguồn nước ngầm ở nhiều nước châu Á bị ô nhiễm kim loại nặng trong đó có Arsen có thể được xử lý thông qua trao đổi Ion với giá không rẻ: “tùy mức độ ô nhiễm chi phí xử lý 1m3 nước ô nhiễm hết từ 20 Cent đến 10 Euro”.   Cạnh đó cũng có những giải pháp kỹ thuật đơn giản và ít tốn kém hơn, thí dụ giải pháp dùng “cọng rơm chuyên dụng”kết hợp với bộ lọc chất độc hại do hãng Vestergaard Frandsen của Thụy Sĩ chế tạo. Với “cọng rơm chuyên dụng”này người ta có thể uống trực tiếp nước bị ô nhiễm mầm bệnh.           Singapore là nước đứng đầu thế giới về tái chế nước. 2/3 diện tích Singapore được dùng để hứng, thu gom nước mưa vào một hệ thống dẫn nước riêng tới một trong 17 bể nước dự trữ của cả nước. Nguồn nước mưa này đáp ứng 1/5 nhu cầu về nước sinh hoạt của người dân. Bên cạnh đó, 1/3 nhu cầu về nước sinh hoạt được đáp ứng thông qua tái sử dụng nước thải. Singapore có 5 cơ sở tái chế nước, nước thải bị ép qua các màng mỏng để loại bỏ các chất độc hại và muối khoáng. Loại nước này có tên là NEWater và được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp. Singapore còn đầu tư cho công nghệ khử mặn nước biển làm nước ngọt. Cơ sở khử mặn đầu tiên đã đi vào hoạt động, thỏa mãn 10% nhu cầu của Singapore, cơ sở thứ hai đang được xây dựng. Tuy nhiên, công nghệ này tiêu hao rất nhiều năng lượng – để khử muối cho 1m3 nước biển, cần từ 3 đến 3,5 Kilowatt/giờ (kWh).         Hay hãng Mage Water Management ở Odelzhausen (Đức) tung ra thị trường một loại thiết bị mang tên Watercone làm bằng nhựa trong suốt, hình chóp rộng 80 cm được úp trên mặt nước ô nhiễm, do nhiệt mặt trời nước bốc hơi ngưng tụ phía bên trong chóp nhựa và hoàn toàn không độc hại và sẽ được thu gom để sử dụng.   Việc xử lý nước thải tại chỗ trong chu trình khép kín đem lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp xử lý hậu quả. Doanh nghiệp công nghệ Huber ở Berching (Đức) bán ra thị trường hệ thống modul xử lý nước thải để lắp đặt tại bệnh viện hoặc khu chung cư. Nước thải sẽ được lọc qua các màng mỏng và có thể dùng để giặt, xối nhà vệ sinh hay rửa xe vv…   Trong cuộc thi đề án xử lý nước biển hiệu quả nhất do Chính phủ Singapore phát động, Tập đoàn Siemens đã giành giải nhất với giải pháp lọc nước biển bằng những màng mỏng trong từ trường điện cực tách muối khỏi nước. Một cơ sở thí điểm đã được đưa vào hoạt động ở Singapore. Mức tiêu hao năng lượng điện để khử mặn cho 1m3 nước biển là 1,7 kWh. Dự kiến năm 2013 sẽ áp dụng công nghệ này ở một quy mô lớn hơn và mức tiêu thụ điện năng sẽ giảm xuống chỉ còn 1,5 kWh. Hiện Ả rập Xê út rất quan tâm đến công trình này vì mỗi ngày họ dùng 1,5 triệu thùng dầu vào việc khử mặn nước biển, (bằng 75% lượng dầu thô mà Đức tiêu thụ hàng ngày).   Nay tập đoàn công nghệ khổng lồ IBM của Mỹ đang giúp Ả rập Xê út xây dựng một cơ sở khử mặn nước biển bằng năng lượng mặt trời. Tại đây các phân tử nước thấm qua màng mỏng nhanh gấp 2 so với các công nghệ khác. Cuối năm nay cơ sở này sẽ đi vào hoạt động và sẽ đáp ứng nhu cầu về nước ăn cho 100.000 người.   “More crop per drop”  Một vấn đề không kém phần quan trọng là sử dụng tiết kiệm nguồn nước, đặc biệt được đề cao trong lĩnh vực nông nghiệp vì gần 70% lượng nước tiêu thụ trên thế giới là phục vụ sản xuất nông nghiệp. Khẩu hiệu đối với các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất giống cây trồng là “More crop per drop”– tạm dịch “năng suất cao hơn từ mỗi giọt nước”. Tập đoàn giống Pioneers của Mỹ cũng như đối thủ cạnh tranh Syngenta của Thụy Sĩ vừa đưa ra thị trường giống ngô lai năng suất cao và có khả năng chịu hạn. Giống ngô lai của Pioneers có thể phát triển vào mùa khô nhưng năng suất cao hơn so với giống ngô tiêu chuẩn là 5%. Giống ngô lai của Syngenta giảm tổn thất do hạn hán là 15%.   Bên cạnh việc tuyển chọn giống mới các doanh nghiệp sản xuất giống cỡ lớn còn chú trọng công nghệ biến đổi gien để tạo ra những giống có khả năng chịu hạn cao. Tập đoàn Monsanto và BASF hiện đang có giống ngô biến đổi gien đang trong giai đoạn chờ được cấp giấy phép lưu hành của Mỹ.   Ngoài ra, đã xuất hiện những phương pháp tưới đúng theo nhu cầu của cây trồng, thí dụ hệ thống thủy lợi nối mạng không dây cung cấp các dữ liệu về thời tiết, chất đất và loại cây trồng, giúp con người tính toán việc tưới tiêu một cách hợp lý, từ đó có thể tiết kiệm đến 30% lượng nước trên đồng ruộng.   Chủ các trang trại ở Coleambally thuộc vùng tây nam xứ Wales (Australia) đang áp dụng phương pháp nói trên. Họ cắm cọc phát tín hiệu trên các khoảnh ruộng để đo độ ẩm của đất. Số liệu được nạp vào máy tính và người nông dân chỉ tưới khi thực sự cần thiết. Chính phủ Australia đã chi 1,6 tỷ đôla dự án. Kết quả là trước kia cứ 7 ngày người ta tưới nước cho cây kê (Sorghum) một lần, nay chu kỳ tưới nước dãn ra là 9 ngày.   Đối với chủ các trang trại nhỏ ở các nước đang phát triển thì hệ thống công nghệ cao này còn quá đắt nhưng người nông dân vẫn có những giải pháp thông minh ít tốn kém. Theo Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Philippines thì không nhất thiết cánh đồng lúa nước luôn phải đầy ắp nước, khi nước trên ruộng lúa ở mức dưới 15 cm dưới mặt ruộng thì mới cần tưới. Người nông dân dễ dàng tự đo mực nước mặt ruộng bằng một ống nhựa có đục lỗ, do đó tiết kiệm từ 15 đến 30% lượng nước tưới mà năng suất không giảm.  Việc xây dựng các hồ chứa nước nhỏ để tích nước trong mùa mưa và sử dụng trong mùa khô cũng đem lại hiệu quả cao. Trong 4 năm qua ở tiểu bang Gujarat (Ấn Độ) đã xây dựng 100.000 hồ chứa nước mini nhờ đó không chỉ tăng sản lượng lúa mà cả sản lượng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao khác. Cạnh đó phương pháp tưới nước nhỏ giọt khá công phu và tốn kém vẫn có thể được người nông dân chấp nhận vì với ống dẫn nước đến từng cây trồng, bộ rễ được tiếp nước đầy đủ và nước hoàn toàn không bị thất thoát.  Một số tổ chức phi chính phủ như International Development Enterprises hay doanh nghiệp tư nhân Startup DripTech ở California đã phát triển một hệ thống tưới khá đơn giản. Theo đó người ta xây những bể chứa nước mưa ở vị trí cao nhất trên cánh đồng tạo được áp lực và dẫn nước qua các ống có lỗ nhỏ dẫn đến từng cây trồng đã tiết kiệm được 50% lượng nước tưới nhưng năng suất lại tăng tới 30%. Chi phí cho một diện tích ¼ ha hết khoảng 150 đôla.         Để sản xuất 1 lít sữa tốn 200 lít nước;  Để sản xuất 1 kg ngô hạt tốn 900 lít nước;  Để sản xuất 1 quần jeans tốn 6.000 lít nước;  Để chế tạo 1 ô tô tốn 150.000 lít nước.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiếu sự giám sát hiệu quả      Khi đặt ra mệnh đề phát triển theo nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã nghiễm nhiên mặc định  Nhà nước phải có trong tay thật nhiều quyền lực, nhưng chưa hề giải  quyết cho thỏa đáng vấn đề: quyền lực ấy được đặt dưới sự giám sát và  chế tài như thế nào.     Khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ được lý giải một cách chính tắc và hoàn chỉnh, nhưng chúng ta có thể tạm hiểu đó là nền kinh tế trong đó Nhà nước giữ cho mình quyền lực chỉ huy tập trung lớn hơn so với các nhà nước ở những nền kinh tế thị trường thông thường, nhằm cho phép Nhà nước tiến hành những can thiệp điều chỉnh sâu đối với nền kinh tế để đảm bảo lợi ích lớn nhất cho xã hội, quyền lợi công bằng và bình đẳng cho mọi người dân, đặc biệt là người lao động. Tuy nhiên, quyền lực càng lớn thì đòi hỏi về năng lực và trách nhiệm càng phải cao. Để có thể vận hành một nền kinh tế thị trường theo đúng những nguyên tắc, lý tưởng đề ra trên đây, Nhà nước phải đáp ứng được hai điều kiện cần tối thiểu. Một là Nhà nước phải trong sạch, ít tham nhũng, không để cho các cá nhân và nhóm lợi ích thao túng kiếm lợi riêng từ các khoản đầu tư công và các chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia. Hai là bộ máy quản lý phải có đầy đủ năng lực để điều hành nền kinh tế một cách ổn định và có hiệu quả. Thực tế cho thấy cả hai điều kiện cần này đều là những vấn đề nan giải đối với Nhà nước của chúng ta hiện nay. Tình trạng lãng phí, tham nhũng đã trở thành phổ biến và những cá nhân yếu kém năng lực hoặc lợi dụng quyền lực Nhà nước đã trở thành một bộ phận không nhỏ. Bên cạnh đó, nền kinh tế liên tục đối diện với những dấu hiệu bất ổn định, lạm phát thường trực cao hơn so với đa số các quốc gia khác trên thế giới, trong khi nguồn tiền mà Nhà nước bơm ra chưa phát huy được hiệu quả, khiến các doanh nghiệp chậm phục hồi sản xuất hơn so với các nước trong khu vực gần tương đồng về trình độ phát triển – từ chỗ tăng trưởng nhanh hơn Philippines và Indonesia, đến nay Việt Nam đã trở thành nước tăng trưởng chậm hơn1. Các dấu hiệu bất ổn kể trên không xuất hiện trong nhất thời mà kéo dài trong những năm gần đây, ảnh hưởng không nhỏ tới lòng tin của người dân cũng như toàn bộ nền kinh tế đối với các chính sách và công tác quản lý của Nhà nước. Bằng chứng rõ nhất gần đây là khi giá vàng quốc tế đã đi xuống phản ánh tâm lý các nhà đầu tư trên toàn cầu đã bắt đầu tin vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế thế giới, thì người dân trong nước vẫn tiếp tục thu gom vàng, thể hiện việc không tin tưởng vào sự khôi phục của nền kinh tế nội địa, giá trị của VND, cũng như chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước.  Nhưng điều đáng lo ngại là chúng ta chưa có một cơ chế điều chỉnh, sửa sai một cách hiệu quả. Điển hình là việc Chính phủ đề ra gói giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng việc triển khai thực hiện dường như là một quá trình tự biên tự diễn chậm chạp và thụ động, trong khi sự giám sát và tiếng nói tác động từ phía Quốc hội và dân chúng là rất hạn chế. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng đó là do chính chúng ta, khi đặt ra mệnh đề phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã nghiễm nhiên mặc định Nhà nước phải có trong tay thật nhiều quyền lực, nhưng chưa hề giải quyết cho thỏa đáng vấn đề: quyền lực ấy được đặt dưới sự giám sát và chế tài như thế nào?   Trong khi vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản, thì đương nhiên sẽ tiếp diễn những hiện tượng quyền lực của Nhà nước bị một bộ phận các cá nhân và nhóm lợi ích lợi dụng, thao túng. Thậm chí, tình trạng đó có thể gia tăng cùng với xu hướng mở rộng quyền lực của Nhà nước – một Nhà nước thiếu sự giám sát hiệu quả thường luôn có xu hướng này. Điều đó sẽ dẫn tới nguy cơ xã hội đi chệch khỏi mục tiêu công bằng và bình đẳng mà chúng ta luôn hướng tới.             —  1 http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thịt bò ít carbon có thực sự giúp giảm lượng khí phát thải ra môi trường?      Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ vừa phê duyệt một chương trình mới giúp nông dân có thể tiếp thị thịt của mình dưới dạng “carbon thấp”, song một số nhà khoa học lo ngại rằng những nhãn chứng nhận như vậy có thể đánh lừa người tiêu dùng, khiến họ chủ quan và đánh giá thấp tác động khí hậu của quá trình chăn nuôi gia súc.      Ảnh: Angus Mordant/ Bloomberg/ Getty Images   Có rất nhiều cách để mô tả một miếng thịt bò. Đi dạo qua quầy thịt của một cửa hàng ở Hoa Kỳ, bạn sẽ nhìn thấy một loạt những dòng mô tả chi tiết về quá trình món thịt này được tạo ra: Bò Angus, không tiêm kháng sinh, không tiêm hormone, ăn cỏ v.v.. Nhưng sớm thôi, có thể bạn sẽ thấy một dòng mô tả khác, có phần khó hiểu hơn, trên nhãn: carbon thấp (low-carbon).  Vào tháng 11, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đã phê duyệt chương trình mới, nhằm mở ra một hướng tiếp thị thịt bò carbon thấp cho các nhà sản xuất. Hộ, doanh nghiệp sản xuất nào có thể chứng minh rằng gia súc của họ được nuôi theo phương pháp phát thải ít khí nhà kính hơn 10% so với trung bình của ngành đều có thể tham gia chương trình chứng nhận, do một công ty tư nhân có tên Low Carbon Beef phụ trách.  Đây là lần đầu tiên USDA phê duyệt hình thức chứng nhận này cho thịt bò, và nó sẽ giúp các nhà sản xuất dễ dàng “nhắn nhủ” với người tiêu dùng rằng sản phẩm của họ thân thiện với môi trường hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. “Nếu bạn đi đến quầy bán thịt, bạn không thể thực sự biết liệu miếng thịt này có tạo ra nhiều khí thải hơn miếng thịt kia hay không”, Colin Beal, người từng sở hữu một trang trại và là nhà sáng lập Low Carbon Beef, cho biết:  Song một số nhà khoa học lo ngại rằng những nhãn chứng nhận như vậy có thể đánh lừa người tiêu dùng, khiến họ chủ quan và đánh giá thấp tác động khí hậu của quá trình chăn nuôi gia súc. Thịt bò có một trong những dấu chân carbon lớn nhất trong số các mặt hàng thực phẩm (Carbon footprint – dấu chân carbon – là tổng lượng phát thải khí nhà kính đến từ quá trình sản xuất, sử dụng và cuối vòng đời của một sản phẩm hoặc dịch vụ). Năm 2018, hai nhà khoa học khí hậu Joseph Poore và Thomas Nemecek đã công bố phân tích toàn cầu của họ về lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính của quá trình sản xuất 40 loại thực phẩm phổ biến. Thịt bò dẫn đầu: Tính trên một gram protein, thịt bò tạo ra lượng khí thải nhiều hơn khoảng chín lần so với thịt gia cầm, gấp 6,5 lần so với thịt lợn và 25 lần so với đậu nành. Ngay cả thịt cừu, đứng thứ hai trong phân tích của Poore và Nemecek, cũng tạo ra chưa đến một nửa lượng khí thải carbon của thịt bò trên mỗi gram protein.  Matthew Hayek, nhà khoa học môi trường tại Đại học New York, cho biết một miếng bít tết được dán nhãn là carbon thấp vẫn có khả năng tạo ra lượng khí thải cao hơn nhiều lần so với các loại thực phẩm khác mà người mua hàng có thể sử dụng để thay thế. “Mục đích của nhãn là truyền đạt một cách chính xác điều gì đó tới người tiêu dùng”, ông phân tích. Nhãn carbon thấp “khiến người mua nghĩ rằng thứ này tạo ra carbon thấp hơn hơn những thứ khác mà họ có thể lựa ngay tại đó.”  Ngoài ra, các chuyên gia cũng đặt ra câu hỏi về việc đâu là tiêu chuẩn cho thịt bò carbon thấp. Các nhà sản xuất muốn được chứng nhận phải cung cấp dữ liệu chi tiết về cách thức chăn nuôi gia súc của họ, và công ty của Beal sử dụng dữ liệu này để ước tính lượng carbon phát thải từ khi con bò sinh ra đến khi nó vào lò mổ. Nếu tính toán cho thấy lượng khí thải này thấp hơn ít nhất 10 phần trăm so với tiêu chuẩn, thì thịt bò có thể được chứng nhận là đã giảm phát thải khí nhà kính. Sau đó, USDA sẽ tiến hành kiểm tra lần nữa, nhà sản xuất có thể sử dụng chứng nhận này để tiếp thị cho sản phẩm.  Cụ thể, để được cấp chứng nhận, 1 kg thịt bò carbon thấp phải phát thải thấp hơn ít nhất 10% so với con số trung bình là 26,3 kg carbon dioxide. Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính có tính đến các tác động nóng lên khác nhau của các loại khí như methane. Nhưng con số 26,3 kg có vẻ hơi cao: Một nghiên cứu năm 2019 về sản xuất thịt bò ở Mỹ cho thấy rằng quá trình này tạo ra trung bình 21,3 kg carbon dioxide trên mỗi kg thịt.  Karen Beauchemin, một chuyên gia về dinh dưỡng gia súc tại Bộ Nông nghiệp và Nông sản Canada, cũng cho rằng tiêu chuẩn của Beal có vẻ quá cao: Ở Canada, lượng khí thải carbon trung bình từ khi bò sinh ra cho đến khi giết mổ là khoảng 19 kg carbon dioxide trên mỗi kg thịt. Con số 26,3 kg khiến nhiều nhà sản xuất sẽ tự động thấy mình nằm trong ngưỡng 10 phần trăm để đạt chứng nhận thịt bò các-bon thấp, điều này có thể khiến người nông dân mất động lực tìm ra phương án giảm lượng khí thải carbon trong quá trình chăn nuôi .  Beal cho biết công ty của ông đã phát triển một mô hình độc quyền để tính toán ra con số 26,3 kg – đảm bảo có thể so sánh chính xác tỷ lệ phát thải trong thịt bò của các nhà sản xuất. “Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc để hoàn thiện các phương pháp của chúng tôi trong năm nay và cố gắng hài hòa các tính toán của chúng tôi với các tiêu chuẩn và nghiên cứu mới của các nhà khoa học.”  Các giải pháp  Beauchemin cho biết người nông dân có thể áp dụng một số phương pháp giúp giảm lượng khí thải từ đàn gia súc của họ. Hầu hết khí thải của thịt bò ở dạng khí methane, việc này khiến bò bị ợ hơi trong khi tiêu hóa thức ăn; do đó, các chất phụ gia thức ăn chăn nuôi giúp giảm sản sinh khí methanol có thể là một trong những giải pháp hiệu quả.  Trên thực tế, Brown, nhà đồng sáng lập và cũng là CEO của công ty khởi nghiệp Alga Biosciences, đang phát triển một loại phụ gia thức ăn chăn nuôi có thể thay đổi hệ tiêu hóa của bò. Thông qua nghiên cứu, các chuyên gia của công ty phát hiện ra rằng việc cho gia súc ăn một loại tảo (algae) đặc biệt – cụ thể là Asparagopsis taxiformis – có thể giúp giảm hơn 80% lượng khí mê-tan ợ hơi của chúng. Trên thực tế, việc sản xuất Asparagopsis taxiformis trên quy mô lớn khá tốn kém, vì vậy công ty của Brown đang nghiên cứu cách biến đổi hoá học tảo bẹ (kelp) để tạo ra một loại tảo bẹ rẻ tiền có tác dụng tương tự. Brown cho biết, công ty đang xây dựng thương hiệu như một đơn vị cung cấp giải pháp tiết kiệm chi phí cho nông dân: Bò giữ được nhiều chất dinh dưỡng hơn khi chúng ăn tảo bẹ, vì vậy người nông dân có thể cho chúng tiêu thụ ít thực phẩm hơn khoảng 20%.  Tuy nhiên, giới khoa học cảnh báo rằng mọi việc đều nên cẩn trọng. Matthew Hayek, giáo sư chuyên nghiên cứu về môi trường tại NYU, cho biết công ty chưa chứng minh được rằng tất cả các chất phụ gia thức ăn gia súc chứa tảo đều “giúp giảm lượng khí thải trong suốt quy trình sản xuất thịt bò”. Nếu tiếp thị không đúng cách, giải pháp này “thậm chí có thể khuyến khích các công ty sản xuất thịt bò nhiều hơn nữa”.  Bên cạnh đó, Beauchemin đề xuất thêm một giải pháp khác là nuôi các giống bò có khả năng hấp thụ thức ăn để tăng trọng lượng hiệu quả hơn những giống khác. Chứng nhận Bò carbon thấp có tính đến các yếu tố này cùng với tổng số 20 yếu tố khác, bao gồm quản lý phân, sử dụng phân bón và lượng carbon được cô lập trong cánh đồng của nông dân. Sau một thời gian dùng để chăn thả gia súc và trồng trọt cây cối, cánh đồng cần được phục hồi – điều này có thể làm tăng lượng carbon cô lập trong đất. “Mọi người hoàn toàn có thể giảm được lượng khí phát thải”, Beauchemin hào hứng, “nhưng trong tương lai, chúng tôi hy vọng mức giảm sẽ lớn hơn nữa.”  Hiện tại, Beal cho biết Low Carbon Beef đang làm việc với các công ty sản xuất thịt lớn để giải thích cho họ về tầm quan trọng của nhãn thịt carbon thấp, và đang xem xét có nên chia các nhà sản xuất ra thành nhiều cấp đánh giá dựa trên lượng carbon mà họ hạn chế thải ra hay không. Ông hy vọng rằng thịt bò được chứng nhận là carbon thấp có thể bán được với mức giá cao tương tự như thịt bò hữu cơ – năm 2019 thịt bò hữu cơ được bán lẻ ở Mỹ với giá cao hơn 67% so với thịt bò thông thường, theo dữ liệu của USDA. “Không thể xem nó là thị trường ngách, quy mô của nó lớn hơn nhiều”, ông cho biết. “Tôi nghĩ thịt carbon thấp đang bắt đầu xuất phát để phát triển thành một thứ có tiềm năng tương tự như thịt hữu cơ”.  Tara Garnett, nhà nghiên cứu tại Viện Biến đổi Môi trường thuộc Đại học Oxford, cho biết chứng nhận cho thịt bò carbon thấp hơn cũng có thể có tác động tiêu cực đến quyền lợi động vật. Một trong những lý do tại sao lượng phát thải trong quá trình chăn nuôi gia súc trên một kg thịt ở Mỹ thấp hơn so với các quốc gia khác, đó là do bò ở đó chủ yếu được nuôi tập trung để vỗ béo, do đó nó có tuổi thọ ngắn hơn, từ đó lượng khí thải carbon trên mỗi kg trọng lượng cơ thể ít hơn. Song điều này đồng nghĩa với việc các trang trại chỉ chăm chăm vào việc cho ăn chứ không làm gì để cải thiện mức sống của động vật. Hayek cũng đưa ra quan điểm rằng nếu việc giảm phát thải khí nhà kính được tính trên cơ sở mỗi kg, nó có thể khuyến khích nông dân sản xuất nhiều thịt hơn và dẫn đến tăng lượng khí thải trong trang trại của họ – thật trái khoáy.  Tất nhiên, vẫn có một cách khác để giảm lượng khí thải từ sản xuất thịt bò: ăn ít thịt hơn. Người dân Hoa Kỳ trung bình tiêu thụ khoảng 37 kg thịt bò mỗi năm – cao hơn gấp đôi so với mức trung bình của người dân Vương quốc Anh. Các nhà khoa học khí hậu đã liên tục khuyến cáo rằng người dân ở các nước phát triển nên cắt giảm lượng thịt đỏ trong chế độ ăn của họ để hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường. Một nghiên cứu lớn vào năm 2019 về chế độ ăn bền vững và lành mạnh khuyến nghị mọi người không nên ăn quá 98 gram thịt đỏ mỗi tuần. Chỉ riêng bò lấy thịt đã chiếm khoảng 3,7% tổng lượng phát thải khí nhà kính ở Mỹ – gần một nửa tổng lượng khí thải từ nền nông nghiệp. Garnett cho biết, sau rốt, chứng nhận carbon thấp sẽ không giải quyết được các vấn đề do tiêu thụ thịt bò gây ra. “Chúng ta cần phải thực sự điều chỉnh lại chế độ ăn uống của mình”, bà nói.  Hoàng Nhi tổng hợp  Nguồn:  Is There Really Such a Thing as Low-Carbon Beef?  A Wave of Startups Is Tackling Cow Burps and Other Climate Issues    Author                .        
__label__tiasang Thịt bò Wagyu từ đĩa petri ở Thung lũng Silicon      Nông dân Nhật Bản kỳ vọng các công ty khởi nghiệp sẽ phát triển loại thịt bò “quốc bảo” này để cung cấp cho thế giới.         Just, một công ty khởi nghiệp về công nghệ thực phẩm ở Thung lũng Silicon, sẽ cùng Toriyama phát triển thịt được nuôi cấy bằng tế bào thịt bò Wagyu. Nguồn: asia.nikkei.com  Trong nhiều thập kỷ, nông dân Nhật Bản đã tạo ra loại thịt bò hoàn hảo “tan chảy trong miệng” nổi tiếng trên toàn thế giới. Nhưng một nhà sản xuất đang thực hiện một bước tiến xa hơn – tìm hiểu rằng thịt bò Wagyu có thể được tạo ra trong phòng thí nghiệm hay không.  Tháng 12/2018, Toriyama, một trong những thương hiệu thịt bò Wagyu nổi tiếng nhất ở phía đông tỉnh Gunma (Nhật Bản), đã ký hợp đồng với Just, một công ty khởi nghiệp về công nghệ thực phẩm ở Thung lũng Silicon để cùng phát triển thịt được nuôi cấy bằng tế bào thịt bò Wagyu.  Sự hợp tác hiếm hoi giữa một doanh nghiệp gia đình 70 năm tuổi với một công ty khởi nghiệp đang tìm cách bứt phá trong ngành nông nghiệp là nỗ lực kết hợp giá trị truyền thống với tiến bộ khoa học để tạo ra loại thịt với giá cả phải chăng, có khả năng cung cấp cho dân số ngày càng tăng trên toàn thế giới. Đây cũng là một dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng của ngành công nghiệp thịt bò Wagyu – nhu cầu thịt bò đang tăng cao ở nước ngoài nhưng phải đối mặt với thách thức từ một số nông dân cao tuổi trong nước: liệu họ có sẵn sàng tiếp nhận những công nghệ mới từ nước ngoài hay không.  “Con người và gia súc đang phải cạnh tranh về lương thực”, ông Makoto Toriyama, Chủ tịch của Toriyama phát biểu trong một cuộc phỏng vấn. “Nhật Bản không phải là quốc gia tự túc về lương thực, do vậy giá cả mặt hàng này sẽ chỉ có tăng lên. Chúng tôi hy vọng có thể góp phần giải quyết vấn đề này”.  Đầu tiên, Toriyama sẽ xuất khẩu thịt bò Waguyu sang Just, công ty này sẽ tiến hành phân lập và nuôi cấy các tế bào – bổ sung protein và những dưỡng chất khác để phát triển mô, tạo thành các miếng thịt. Nghiên cứu này nhằm giảm chi phí sản xuất, đồng thời thay đổi kết cấu và hương vị của miếng thịt để người tiêu dùng không nhận ra sự khác biệt so với thịt bò được nuôi ngoài thực tế.  Công ty này chưa đặt ra thời hạn cụ thể khi nào tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, nhưng sẽ hướng đến mục tiêu “tạo ra tiến bộ” vào năm 2019. Khi sản phẩm đã được phát triển, công ty Awano Food Group ở Singapore – đại lý xuất khẩu của Toriyama, sẽ tiến hành phân phối.  Sự nghi ngờ ngày càng tăng về tính bền vững của hệ thống sản xuất thịt thông thường đang thúc đẩy các nỗ lực về công nghệ cao như Toriyama và Just đang làm. Công ty khởi nghiệp này đặt ra mục tiêu trở thành tổ chức tiên phong về thịt nuôi cấy với mong muốn sản xuất thịt mà không cần giết hại động vật. Just cũng bán các sản phẩm từ thực vật thay thế cho mayonnaise, trứng và các loại thực phẩm khác, họ cũng đang lên kế hoạch để sớm giới thiệu sản phẩm thịt gà nuôi cấy cho các nhà hàng.  Các nhà phân tích cho rằng sẽ mất nhiều năm để các quốc gia xây dựng khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh thịt nuôi cấy trên quy mô lớn. Nhưng sự cạnh tranh đã bắt đầu nhen nhóm: mới đây, công ty khởi nghiệp Aleph Farms của Isarael cho biết họ đã tạo ra được món bít tết đầu tiên trên thế giới sử dụng các tế bào được phân lập từ một con bò.   Các sản phẩm thay thế thịt từ thực vật đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển nhanh chóng ở Mỹ. Impossible Foods – một công ty chuyên bán các thực phẩm dạng miếng được thêm một loại protein vị thịt, đã kêu gọi được rất nhiều vốn từ các nhà đầu tư.  Wagyu – đơn giản có nghĩa là “thịt bò Nhật Bản” theo tiếng Nhật – bao gồm bốn giống bò của Nhật Bản, trong đó có bò lông đen Nhật Bản. Thịt bò Wagyu nổi tiếng vì sự mềm mại, có được là nhờ khả năng lưu giữ chất béo của con bò và sự chăm sóc chuyên nghiệp, lâu dài của người nông dân. Một số người gọi thịt bò Wagyu là “Rolls-Royce về thịt” – thường được bán với giá rất cao.  Nhu cầu thịt bò Wagyu ở nước ngoài đã tăng cao nhờ những nỗ lực tích cực của chính phủ Nhật Bản nhằm bù đắp sự thu hẹp của thị trường tiêu dùng trong nước. Xuất khẩu trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2018 đã tăng lên 18.8 tỷ yen (khoảng 170 triệu USD), cao hơn giá trị xuất khẩu rượu sake truyền thống của Nhật Bản. Sự công nhận của thế giới đối với thịt bò Wagyu – đã biến nó trở thành sản phẩm tiềm năng của Just. Công ty này cho biết, không có sự khác biệt về chi phí nuôi cấy tế bào ở những loại thịt khác nhau.  Nhưng việc sử dụng những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu giá trị cao như thịt bò Wagyu đã làm dấy lên một cuộc tranh luận ở Nhật Bản, nơi đã hết sức nỗ lực để bảo vệ gia súc không bị nuôi ở nước ngoài. Xuất khẩu bò nuôi Nhật Bản bị cấm, và một hiệp hội sở hữu bò giống đã được thành lập từ năm 2009 nhằm thúc đẩy việc sử dụng nguồn gene ở trong nước.  “Wagyu là tài sản quốc gia”, một nông dân lớn tuổi ở miền tây Nhật Bản khẳng định. “Tại sao các anh lại mang DNA của nó ra khỏi đất nước?”  Katsuto Anada, Giám đốc điều hành ở Hiệp hội đăng ký Wagyu, Kyoto cho biết họ “chưa bao giờ tranh luận về triển vọng của thịt bò Wagyu nuôi cấy” và điều đó “tùy thuộc vào các nhà sản xuất rằng muốn tạo ra thứ gì đó mới lạ”. Nhưng ông cũng nói thêm, “Chúng tôi nói với những người nông dân rằng thịt bò Wagyu có thể được sở hữu bởi các cá nhân, nhưng sự phát triển của cả ngành công nghiệp là một nỗ lực tập thể.”  Makoto Toriyama khẳng định thịt nuôi cấy sẽ không cạnh tranh với thịt truyền thống, ông cũng không định ngừng hoạt động nông trại. Mặc dù hợp tác với một công ty khởi nghiệp, trang trại của ông “từ chối” tự động hóa sản xuất, tự cho gia súc ăn thay vì sử dụng máy móc.  Nhưng Toriyama cũng chỉ ra những hạn chế của hệ thống hiện nay, bao gồm sự già hóa nhanh chóng của nông dân và công nghệ chỉnh sửa gene không ngừng phát triển – khiến việc sản xuất những miếng thịt bò Wagyu hảo hạng trở nên tương đối dễ dàng. Như vậy, người nông dân mất nhiều công sức tạo ra những giống bò tốt nhất, nhưng vẫn chưa đủ để tạo ra sự khác biệt – dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về giá cả bán lại cho những nhà phân phối.  Trong gần một thập kỷ, Toriyama đã hợp tác với một công ty khởi nghiệp khác để tạo những điểm khác biệt về hương vị cho thương hiệu thịt bò Akagi-gyu của ông. Toriyama hy vọng sự hợp tác với Just sẽ mở ra những tiềm năng mới.  “Tôi rất mừng về những đánh giá của các nhà khoa học về chất lượng thịt bò của chúng tôi”, ông cho biết. “Chúng tôi từng nghĩ rằng nó đã ở mức tốt nhất, nhưng liệu có thực sự như vậy? Tôi rất mong đợi kết quả từ họ”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://asia.nikkei.com/Business/Business-Trends/Wagyu-beef-moves-from-pastures-to-Silicon-Valley-petri-dishes    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thịt nhân tạo sẽ là tương lai của ngành công nghệ thực phẩm Đông Nam Á?      Các startup công nghệ thực phẩm đang phát triển các loại thịt làm từ thực vật hoặc nuôi cấy từ tế bào nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ protein ngày càng tăng trên toàn cầu.    Nhu cầu thực phẩm ở các nước châu Á sẽ tăng theo cấp số nhân trong những thập kỷ tới. Theo báo cáo “Thách thức thực phẩm châu Á: Hiểu người tiêu dùng châu Á thời kỳ mới”, vào năm 2030, người tiêu dùng châu Á sẽ chi tiêu 4,4 nghìn tỷ USD cho thực phẩm – nhiều hơn 2,4 nghìn tỷ USD so với hiện tại. Trong đó, Đông Nam Á dự kiến sẽ là một trong những khu vực chi tiêu nhiều nhất châu lục, tốc độ tăng trưởng gộp hằng năm (CAGR) của khu vực này là 4,7%.        Nhu cầu về lương thực ngày càng tăng bắt nguồn một phần từ việc mọi người có xu hướng ăn nhiều thịt và hải sản hơn. Từ năm 1961 đến năm 2021, lượng protein tiêu thụ hằng ngày từ thịt và các sản phẩm có nguồn gốc động vật của mỗi người châu Á đã tăng hơn 600%. Dân số bùng nổ, thu nhập cao hơn và tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh chóng sẽ thúc đẩy nhu cầu về thịt và hải sản tăng 78% từ năm 2017 đến năm 2050.    Các phương pháp chăn nuôi truyền thống không thể đáp ứng đủ số lượng và chất lượng thực phẩm cho nhu cầu khổng lồ này. Thêm vào đó, hiện nay ngành chăn nuôi đang phải chịu trách nhiệm cho 14,5% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu. Cứ theo đà này, việc tăng cường sản xuất theo hướng truyền thống sẽ chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng khí hậu.    Điều này gợi mở cho các công ty khởi nghiệp công nghệ tìm kiếm những ý tưởng mới để tạo ra nguồn protein thay thế – với cách thức sản xuất bền vững và lành mạnh hơn.    Thịt từ thực vật và thịt trong ống nghiệm    Các nhà khoa học đã tạo ra một số loại protein thay thế như thịt “chay” từ đậu nành, trái cây hoặc một số loại cây trồng khác. Thậm chí, có loại thịt được tạo từ phương pháp nuôi cấy tế bào từ động vật trong dĩa thí nghiệm. Quá trình sản xuất các loại protein này thường tốn ít tài nguyên hơn so với chăn nuôi truyền thống, và việc áp dụng các loại protein thay thế có thể giúp giảm phát thải nông nghiệp tới 60% .    Tiềm năng về môi trường và khả năng mở rộng kinh doanh của protein thay thế đã khiến các công ty dồn nhiều nguồn lực hơn cho bộ phận R&D chuyên nghiên cứu và thử nghiệm thực phẩm từ thực vật. Trong một cuộc khảo sát do Economist Impact thực hiện, 26% người đứng đầu doanh nghiệp nông sản cho hay họ sẽ quan tâm đến việc áp dụng các công nghệ về protein thay thế trong vòng năm năm tới. Vào năm 2020, ngành công nghiệp thịt thực vật và thịt trong ống nghiệm (nuôi cấy từ tế bào) sẽ lần lượt đạt 2,1 tỷ USD và hơn 360 triệu USD tiền đầu tư.    Trong khu vực Đông Nam Á, hầu hết các hoạt động kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc thực vật và nuôi cấy từ tế bào đều tập trung ở Singapore. Gần đây, quỹ đầu tư mạo hiểm Good Startup đã đầu tư 34 triệu USD vào lĩnh vực protein thay thế. Next Gen Foods, công ty nổi tiếng với các sản phẩm thịt gà làm từ thực vật, đã gây tiếng vang trên toàn cầu vào tháng hai năm nay sau khi nhận số tiền đầu tư lên tới 100 triệu USD, vòng tài trợ Series A lớn nhất từng được huy động bởi một công ty sản xuất thịt có nguồn gốc thực vật.    Karana là công ty đầu tiên tại châu Á ra mắt sản phẩm thịt lợn làm từ thực vật. Các nhà nghiên cứu đã giới thiệu những món ăn Trung Hoa phổ biến như bánh bao xá xíu và há cảo, trong đó thịt lợn được làm từ… mít. Công ty Umami Meats thì tập trung vào việc tạo ra các loại hải sản nuôi cấy từ tế bào – không chứa kim loại nặng, vi nhựa và kháng sinh, là những lựa chọn thay thế lâu dài cho các loài hải sản có nguy cơ tuyệt chủng như lươn Nhật Bản.    Nhằm tạo thuận lợi cho ngành thịt nhân tạo của Singapore phát triển nhanh chóng, nhiều công ty đã tạo ra các nền tảng sản xuất quy mô lớn, cung cấp cơ sở hạ tầng dùng chung. Cụ thể, SGProtein, một nền tảng sản xuất theo hợp đồng, cho phép các công ty còn non trẻ mở rộng quy mô sản xuất nhanh chóng, giúp các doanh nhân dễ dàng tham gia thị trường hơn mà không cần thiết lập cơ sở hạ tầng riêng. Tương tự, FoodPlant là cơ sở đầu tiên tại Singapore chia sẻ nền tảng sản xuất thực phẩm quy mô nhỏ, cung cấp cho các công ty thiết bị để thử nghiệm, đẩy nhanh quá trình tạo ra sản phẩm mới.    Một nguồn protein thay thế khác, mặc dù ít được nhắc đến hơn, là côn trùng – thực phẩm giàu chất xơ, protein. So với các vật nuôi thông thường, côn trùng ăn ít thức ăn hơn, phát triển và sinh sản nhanh. Quá trình nuôi côn trùng cũng tạo ra ít chất thải hơn và thải ra lượng khí nhà kính nhỏ hơn, dẫn đến lượng khí carbon phát thải ít hơn nhiều so với chăn nuôi gia súc.    Công ty khởi nghiệp Cricket One của Việt Nam đã phát triển một hệ thống nuôi dế có thể chế biến dế thành các nguyên liệu giàu protein cho các nhà sản xuất thực phẩm. Công ty khởi nghiệp Malaysia Ento thì trực tiếp chế biến dế và ấu trùng thành đồ ăn nhẹ và bánh quy, đồng thời phát triển thêm món bánh kẹp thịt làm từ côn trùng.    Cho đến nay, người tiêu dùng ở châu Á vẫn chưa thực sự chấp nhận protein từ côn trùng, ngay cả với một số nước Đông Nam Á, nơi có những khu vực vẫn ăn nhộng, châu chấu, đuông dừa. Thái độ của người tiêu dùng thành thị và nông thôn đối với thực phẩm làm từ côn trùng rất khác nhau.    Ngoài những tác dụng trên, côn trùng còn là một nguồn nguyên liệu nông nghiệp và vật liệu sinh học bền vững. Công ty Insectta có trụ sở tại Singapore đã nuôi ruồi lính đen theo phương pháp không chất thải. Họ tận dụng thức ăn thừa làm thức ăn cho giòi ruồi lính đen. Chất bài tiết từ giòi có thể được chuyển thành phân bón nông nghiệp. Insectta cũng đã tìm ra cách xử lý lớp vỏ của ruồi lính đen thành một nguồn nguyên liệu sinh học bền vững trong nhiều loại dược phẩm và mỹ phẩm.    Tuỳ chỉnh hàm lượng dinh dưỡng    Bên cạnh vấn đề về protein thay thế, trong ngành công nghệ thực phẩm, thực phẩm in 3D cũng là một lĩnh vực mới nổi khác đang được quan tâm. Các kỹ sư có thể sử dụng máy in 3D để sản xuất thức ăn ở dạng bột nhão hoặc gel. Nhờ đó, các công ty có thể chế biến thức ăn theo hướng cá nhân hóa – phục vụ nhu cầu dinh dưỡng và sở thích của từng người tiêu dùng.    Chẳng hạn, công ty khởi nghiệp Anrich3D thuộc Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore) – đang phát triển công nghệ thực phẩm in 3D dựa trên nhu cầu dinh dưỡng cá nhân. Mục tiêu của họ là sản xuất hàng loạt món ăn liền, đóng gói sẵn, dành riêng cho mỗi người như bánh mì kẹp thịt, pizza và bánh sandwich.    Các công ty còn có thể dùng công nghệ in 3D để tùy chỉnh giá trị dinh dưỡng trong món ăn. Mới đây, các nhà khoa học đã tìm ra cách in 3D sô-cô-la để giảm hàm lượng đường trong đó. Với khả năng tuỳ chỉnh hương vị và hàm lượng dinh dưỡng trong thực phẩm, công nghệ này có thể giúp các bác sĩ thiết kế những bữa ăn dinh dưỡng, ngon miệng, dễ nhai cho người già và bệnh nhân    Các nhà nghiên cứu từ Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore đã phối hợp với Bệnh viện Khoo Teck Puat để tạo ra các món ăn nghiền nhuyễn in 3D bổ dưỡng với hình thức hấp dẫn cho người già và bệnh nhân trong bệnh viện – những người gặp khó khăn khi nuốt thức ăn. Khi dân số châu Á già đi nhanh chóng, công nghệ in 3D thực phẩm có thể trở thành một công cụ vô giá đối với người cao tuổi.    Bài toán về hương vị, kết cấu và giá cả    Thị trường thịt làm từ thực vật ở khu vực châu Á Thái Bình Dương dự kiến ​​sẽ tăng 25% từ năm 2020 đến năm 2025, thậm chí tăng tới 200% ở Trung Quốc và Thái Lan. Nhìn chung, theo khảo sát, 75% người tiêu dùng châu Á Thái Bình Dương sẵn sàng trả tiền cho thịt có nguồn gốc thực vật nếu giá cả tương đương với thịt thông thường. Bất chấp tiềm năng thị trường, các công ty công nghệ thực phẩm của châu Á đang phải đối mặt với những thách thức về chi phí, khả năng mở rộng và các quy định của chính phủ.    Hai tiêu chí lớn mà người tiêu dùng đặt ra đối với các protein có nguồn gốc thực vật là hương vị và kết cấu. Ngoài vấn đề giá cả, hầu hết người dân thường chỉ cân nhắc chuyển sang thịt nhân tạo nếu chúng hợp khẩu vị. Điều này khá hợp lý khi tầng lớp trung lưu ở châu Á ngày càng tăng – đó là những người tiêu dùng trẻ trung và có học thức, họ mong đợi những thực phẩm chất lượng cao.    Ngành công nghiệp protein thay thế còn phải đối diện với các rào cản pháp lý và quy trình phê duyệt kéo dài ở nhiều quốc gia. Mặc dù tại Singapore đã có sẵn một số hệ thống sản xuất, nhưng nhìn chung cơ sở hạ tầng để sản xuất protein thay thế ở Đông Nam Á vẫn còn rất ít ỏi. Do đó, nhiều sản phẩm protein thay thế có sẵn trên thị trường được định giá cao hơn hẳn thịt thông thường để bù đắp chi phí sản xuất.    Dù biết rằng thị trường này cực kỳ tiềm năng khi nhu cầu của người dân dành cho protein thay thế ngày càng lớn, nhưng trước mắt cần phải có cơ sở hạ tầng đầy đủ để phủ sóng và mở rộng dần dần những sản phẩm đã có sẵn. Vấn đề này cần được giải quyết ngay lập tức nếu muốn thịt nhân tạo thực sự trở thành loại thực phẩm thay thế khả thi trong khu vực.    Ngành công nghệ thực phẩm đã hình thành và phát triển mạnh khi các startup liên tục tung ra những phương thức chế biến thức ăn mới lạ và đầy sáng tạo. Dẫu vậy, chính phủ các nước lẫn các startup Đông Nam Á vẫn còn rất nhiều việc phải làm trong tương lai, chí ít là nỗ lực mở rộng hoạt động sản xuất để giá thành sản phẩm sau cùng sẽ hạ xuống mức hợp lý.    Thuyết Xuân    Author                .        
__label__tiasang Thịt thực vật từ in 3D      Đạm thực vật cộng với công nghệ in 3D cho ra đời thịt bò phi lê, đó là cách thức mà một startup ở Israel cho ra đời thịt thực vật giống y hệt thịt thông thường. Dự kiến, loại thịt mới này sẽ được tung ra thị trường Đức.      Hai nhà khởi nghiệp Eshchar và Ben-Shitrit.  Cho tới nay, người ta vẫn dùng máy in 3D để chế tạo các bộ phận của tên lửa trong nhà máy hoặc để làm đồ chơi trẻ em bằng nhựa tổng hợp trong tầng hầm của các nhà chế tạo nghiệp dư. Giờ đây Eshchar Ben-Shitrit đã đưa công nghệ này vào một lĩnh vực hoàn toàn mới là sản xuất thịt mà không phải giết mổ một con vật nào.  Ben-Shitrit, thành lập startup Redefine Meat ở Rehovot, Israel. Trong những năm qua, anh đã cùng một số đồng nghiệp phát triển một công nghệ mới qua đó có thể làm ra thịt bò phi lê, thịt băm và một số loại thịt khác nhau để chế biến thành món ăn – tất cả các loại thịt này đều được chế tạo trên cơ sở  nguyên liệu thực vật. Ben-Shitrit nói “Máy móc của chúng tôi thay thế con bò và cả người giết mổ“.  Giờ đây nhà khởi nghiệp này muốn giới thiệu sản phẩm của mình tại thị trường Đức. “Ngay trong nửa đầu năm 2021, sản phẩm thịt của doanh nghiệp chúng tôi sẽ được chào bán trên thị trường Đức và Thụy Sỹ“, Ben-Shitrit nói với tuần báo  WirtschaftsWoche Đức như vậy. Trước hết sản phẩm phát triển dựa trên đạm thực vật sẽ được chào bán tại các tiệm ăn – sau này sẽ được bán rộng rãi tại các cửa hàng.  Một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp thịt  Giờ đây thịt phát triển từ thực vật có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay người tiêu dùng chú ý nhiều hơn đến đời sống của con vật và đến môi trường khi họ mua thực phẩm. Thực phẩm thực vật sản sinh lượng khí thải CO2 có hại cho khí hậu thấp hơn nhiều so với thực phẩm từ vật nuôi.    Redefine Meat xúc tiến tiếp thị thịt từ máy in 3D.  Hiện có hàng chục công ty khởi nghiệp và một số tập đoàn thịt lớn nhất thế giới như  Tyson hay Cargill đang đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các loại sản phẩm thay thế. Thách thức là ở chỗ tạo ra được hương vị, cấu trúc thật giống  như các loại thịt thông dụng.   Bằng công nghệ in 3D, Redefine Meat tìm cách vượt qua các rào cản. Loại máy này có kích cỡ tương tự một máy photocopy văn phòng, có thể thông qua các vòi phun tạo ra hàng trăm nghìn điểm kết cấu đúng mục đích, khi thì nhả đạm thực vật, khi thì chất béo lúc thì chất lỏng để phối trộn với nhau.   Mày mò tìm công thức  Người tiêu dùng chấp nhận loại thịt bò phi lê và thịt băm từ máy in 3D như thế nào? Người ta đã bán thí điểm cho người tiêu dùng  Israel tại một cửa hàng thịt ở  Tel Aviv. 600 khách hàng đã mua các loại thịt làm từ máy in 3D của nhà khởi nghiệp. “90 % khách hàng tưởng mình mua loại thịt thông thường“, Ben-Shitrit kể lại.  Redefine Meat đã liên doanh với Best Meister một trong các nhà kinh doanh thịt hàng đầu ở Israel, nhà buôn này chuyên cung cấp thịt cho các cửa hàng ăn trong cả nước. Không lâu nữa, các tiệm ăn ở Israel sẽ cung cấp thức ăn từ thịt thực vật cho thực khách.  Về lâu dài, Ben-Shitrit theo đuổi các kế hoạch đầy tham vọng: “Chúng tôi muốn trở thành một hãng sản xuất thịt khổng lồ nhưng không xử dụng động vật“, ông thổ lộ. Ông đã thu hút được nhiều đối tác trong đó có  tập đoàn – PHW, nhà chăn nuôi gia cầm lớn nhất nước Đức với các thương hiệu như Wiesenhof.  Vấn đề đối với các nhà khởi nghiệp Israel lúc này là làm sao thuyết phục được khách hàng đối với các sản phẩm mới này. Ben-Shitrit cho hay, họ thường xuyên cải tiến công thức pha chế. Đức và Israel là hai thị trường ẩm thực khác nhau, ông này nhấn mạnh  vì thế rất thích hợp để thử nghiệm trước khi bành trướng ra khắp thế giới. Những thực khách Đức đầu tiên sẽ có dịp đánh giá về hương vị các loại thực phẩm mới mẻ này, với điều kiện các nhà hàng ăn của Đức nhanh chóng được mở cửa hoạt động trở lại.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.wiwo.de/erfolg/gruender/food-tech-tierfreies-fleisch-aus-dem-3d-drucker-kommt-nach-deutschland/26835632.html  https://www.handelsblatt.com/unternehmen/mittelstand/familienunternehmer/redefine-meat-dieses-start-up-entwickelt-steaks-aus-dem-3d-drucker/25982952.html?ticket=ST-9585074-YfFSXbRwkOspPyA7LnZT-ap3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời gian và cái đẹp tiết lộ vật lý trong nhận thức của con người      Adrian Bejan, giáo sư kỹ thuật cơ khí J.A. Jones tại trường đại học Duke, mới ra cho mắt cuốn sách mới “Time and Beauty: Why Time Flies and Beauty Never Dies” (Thời gian và cái đẹp: Tại sao thời gian trôi và cái đẹp không bao giờ lụi tàn). Đây là cuốn sách khoa học thưởng thức thứ tư của Bejan viết cho độc giả đại chúng sử dụng khái niệm luật cấu trúc của mình – xu hướng của tất cả các hệ thống tiến hóa theo hướng dễ dàng hòa nhập dòng chảy hơn – để giải thích về hiện tượng hằng ngày vốn không liên quan đến vật lý.      Cuốn sách này mới được ấn hành vào tháng 2/2022 tại nhà xuất bản World Scientific.  Hai quan niệm của Bejan đã làm khuấy động sự tưởng tượng của công chúng về cái đẹp và thời gian. Vào năm 2010, ông đề cập đến tỉ lệ vàng, có trong những công trình trải rộng từ phạm vi cung điện Parthenon ở Athens đến bức họa Mona Lisa, làm con người cảm thấy hài lòng, vui thích bởi nó đem lại cho mắt người một bản quét hiệu quả nhất. Sau đó vào năm 2019, Bejan đề xuất một nguyên nhân vật lý giải thích tại sao thời gian dường như tăng tốc khi con người trưởng thành và già đi – một tốc độ chậm hơn để mắt người có thể đón nhận thông tin và các hệ thần kinh có thể xử lý chúng.  “Vào một đêm cách đây không lâu, khi tôi nằm trên giường, một ý nghĩ xuất hiện trong đầu tôi là hai ý tưởng thời gian và cái đẹp trên thực tế là một và giống nhau”, Bejan nói. “Hai ý tưởng cái đẹp và thời gian thông thường được cho là những ý tưởng trừu tượng và không thể giải thích. Nhưng chúng đều nảy sinh từ cơ chế chuyển động của mắt người. Nói cách khác, cách chúng ta nhận thức được cả thời gian và cái đẹp đều xuất phát từ vật lý”  Trong cuốn sách mới, Bejan khám phá hai khái niệm ở nhiều chi tiết tỉ mỉ hơn, đem lại nhiều ví dụ trực quan để giúp độc giả hiểu được những giải thích của mình. Thị giác và nhận thức tiến triển cùng nhau, là một và cùng thiết kế, Bejan nói. Hiệu quả gia tăng của dòng chảy thông tin từ thế giới qua cặp mắt đến não phản hồi với sự truyền tải thông tin đó thông qua các kiến trúc nhánh của thần kinh và não. Sau đó ông đào sâu suy nghĩ của mình theo cách hệ thống hạ tầng vật lý cơ bản ảnh hưởng đến cách con người nhìn thế giới như thế nào.  Trong hiện hữu của cái đẹp, Bejan lập luận rằng thế giới – dù đó là cái nhìn của con người vào một bức họa hay một con linh dương vào một đồng bằng mở rộng đến chân trời – về cơ bản đều định hướng vào đường chân trời. Với con linh dương, nguy hiểm thường đến ở những chiều hai bên hoặc từ phía sau cứ không phải bên trên hoặc bên dưới, vì vậy phạm vi tầm nhìn của chúng tiến hóa theo hướng song song. Khi thị giác phát triển, động vật “thông minh hơn” bởi quan sát tốt hơn, và ông lập luận, tỉ lệ vàng là đỉnh cao của quá trình tiến hóa đó.  Theo thời gian, Bejan một lần nữa tham chiếu vào dòng chảy thông tin từ cặp mắt thông qua các nhánh của não người. Khi những mạng lưới thần kinh và neuron trưởng thành, chúng phát triển theo kích thước và độ phức tạp, và sau đó bắt đầu lão hóa và xuống cấp. Kết hợp với việc khả năng của các hệ thị giác đã chậm lại trong việc tiếp nhận thế giới, các hiện tượng này là nguyên nhân tốc độ xử lý những hình ảnh tinh thần đã chậm dần theo tuổi tác.  Đây là bằng chứng so sánh tần suất mắt trẻ sơ sinh chuyển động so với người lớn, Bejan nói – bởi vì quá trình xử lý ảnh của trẻ nhỏ nhanh hơn người lớn nên mắt chúng thường chuyển động nhanh hơn, tiếp nhận nhiều hơn và tích hợp nhiều thông tin hơn trong khi thức. Việc dẫn đến kết quả này là do người trưởng thành và người lớn tuổi nhìn ít được ít hình ảnh mới hơn trong cùng một khoảng thời gian, dường như với họ thời gian đi ngủ sẽ đến sớm.  “Cuốn sách này nhấn mạnh vào sự mở rộng của khoa học qua một miền mà trước đây được xếp vào cho những điều chưa biết hoặc những chủ đề 100% là mô tả”, Bejan nói. “Nhưng với cách hiểu mới về những vấn đề vật lý bên trong, chúng ta được trang bị thêm hiểu biết để dự đoán những khía cạnh này của thế giới”.  Nói về sức mạnh của dự đoán, Bejan cho biết ông hướng đến việc sử dụng cuốn sách mới cho lớp học của mình ở Duke. Bất cứ cái gì có thể giúp dự đoán được những thiết kế tốt hơn, ông lập luận, đều là mảnh ghép quan trọng của giáo dục.  “Tôi dạy khoa học thiết kế và thiết kế không chỉ theo cách làm thuần túy”, Bejan nói.  “Thiết ké là một khoa học với những quy tắc và kỷ luật. Chúng tôi không muốn học trò của mình vẩn vơ trong bóng đêm, mày mò thiết kế. Chúng tôi muốn họ tốt nghiệp với tài năng dự đoán những cách thiết kế xuất sắc nhất, điều này sẽ khiến họ tiến nhanh hơn suy nghĩ của mình”.  Thanh Nhàn  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-02-beauty-reveal-physics-human-perceptions.html  https://mems.duke.edu/about/news/time-and-beauty-reveal-physics-human-perceptions  ——————————–  1. https://www.waterstones.com/book/time-and-beauty-why-time-flies-and-beauty-never-dies/adrian-bejan/9789811245466    Author                .        
__label__tiasang “Thời kỳ giá lương thực thấp đã vĩnh viễn qua rồi”      Giá bơ, sữa, gạo và nhiều loại lương thực, thực phẩm khác đều tăng vọt trên thế giới. Thị trường tự do bị suy yếu. Chuyên gia tài chính Leslie Maasdorp trả lời phỏng vấn SPIEGEL ONLINE cho rằng phải nhanh chóng cải cách nền thương mại thế giới – nếu không phương Tây sẽ hứng chịu sự nổi giận của người nghèo.    SPIEGEL ONLINE: Thưa ông, tạp chí “Economist” mô tả cuộc khủng hoảng đói khát đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới là một “cơn sóng thần thầm lặng”. Phải chăng tạp chí này đã cường điệu tình trạng hiện nay?  Maasdorp: Không – ngược lại là đàng khác: nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này đã diễn ra ngấm ngầm từ nhiều năm nay, mà không một ai cảm thấy điều đó. Thí dụ trong vòng ba chục năm vừa qua hàng trăm triệu người Trung Quốc đã thoát cảnh nghèo đói triền miên, giờ đây họ được ăn uống no đủ hơn. Mô tả về một “cơn sóng thần thầm lặng” theo tôi là hay, vì nó cho ta thấy tầm vóc to lớn của cuộc khủng hoảng này và không ai có thể phủ nhận.    Nhưng thưa ông, dân số Trung quốc đâu phải mới tăng lên từ ngày hôm qua. Nhưng riêng trong ba năm gần đây giá lương thực đã tăng tới 75% .  Sở dĩ như vậy trước tiên là do giá năng lượng tăng mạnh. Từ đó chi phí vận tải cũng tăng lên. Hơn nữa cũng mãi tới ba năm gần đây mới diễn ra việc chế biến với khối lượng lớn lương thực thành nhiên liệu.  Và hoạt động đầu cơ trên thị trường nguyên liệu đang ngày càng nghiêm trọng hơn…  Đúng thế. Việc đẩy mạnh buôn bán nguyên liệu thực sự là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tăng giá lương thực.    Ông Bộ trưởng Tài chính Pakistan thậm chí còn nói, giới đầu cơ làm cho các nước đang phát triển bị phá sản...  Các chính khách bao giờ cũng tìm cách đổ lỗi lên đầu ai đó mỗi khi có khó khăn. Tuy nhiên tôi cho rằng phản ứng của một số nước châu Á là không đúng. Thật là thiển cận khi người ta quyết định đóng cửa thị trường của mình và ra lệnh cấm xuất khẩu gạo hay một số loại lương thực, thực phẩm khác. Điều này chẳng giúp gì vào việc chống đầu cơ.    Vậy thưa ông tại sao việc đầu cơ nguyên liệu lại trở nên hấp dẫn?  Vì cuộc khủng hoảng thực sự hiện hữu: hằng ngày đang diễn ra các cuộc biểu tình, phản đối và tại khoảng 30 nước đã xảy ra bạo loạn. Thị trường không thể phủ nhận điều này. Thực ra dân chúng không phản đối vì thiếu lương thực, thực phẩm mà phản đối việc giá tăng quá cao. Giá lương thực, thực phẩm góp phần đáng kể vào việc gây ra lạm phát, vì thế các Chính phủ và Ngân hàng Trung ương phản ứng bằng cách giảm lãi xuất – và điều này tác động đến tăng trưởng.  Thưa ông, xét về khía cạnh đạo đức thì đầu cơ lương thực có thể chấp nhận được không?  Đầu cơ lương thực đã diễn ra hàng trăm năm nay. Mọi chủ trang trại đều thỏa thuận giá cả với người mua từ lâu trước khi mùa thu hoạch kết thúc. Sự có mặt của thị trường chính là để tiếp tục truyền các tín hiệu về giá cả và đưa chúng vào trật tự. Các vị không thể buộc thị trường tài chính phải chịu trách nhiệm về việc giá cả lương thực tăng vọt. Vấn đề đáng quan tâm hơn là ở chỗ, hệ thống tài chính sẽ phản ứng như thế nào.    Nhưng giá lúa, ngô đã tăng vọt chính là do đầu cơ.  Đúng – vì thị trường không hoạt động như mong muốn. Thông thường cung tăng lên sẽ dẫn đến tăng giá, nhưng sau đó sẽ làm cho sản xuất tăng lên và từ đó về lâu dài giá sẽ lại giảm. Nhưng lĩnh vực nông nghiệp lại khác.    Thưa ông, trong lĩnh vực này thị trường không còn có sự tự điều tiết?  Không, vì không có thị trường tự do. Không có lĩnh vực nào lại có sự kiểm soát giá cả, có rào chắn thương mại và có sự trợ giá nhiều như ở lĩnh vực nông nghiệp. Người nông dân Châu Âu chỉ làm việc bởi họ nhận được sự trợ cấp của Nhà nước – nếu không có sự trợ cấp đó thì họ sản xuất nhưng chẳng thu được lợi lộc gì.                  Cho đến nay các nước công nghiệp phương Tây quyết không thay đổi cơ chế này, vậy căn cớ gì nay họ lại chấp nhận điều đó?  Vì các tinh hoa chính trị đã nhận ra được tầm cỡ của cuộc khủng hoảng này. Đành rằng cuộc khủng hoảng lương thực trước mắt chưa ảnh hưởng nhiều tới người dân các nước giàu có…  …họ chỉ phải chi thêm vài ba Cent cho sữa, bơ vv…  Maasdorp: …nhưng đối với các nước đang phát triển đây là vấn đề giữa cái sống và cái chết.  Nghe có vẻ như mỉa mai, nhưng cho đến nay vấn đề này vẫn chưa nhất thiết là lý do buộc các nước phương Tây phải hành động.  Nhưng nay thời điểm đó đã đến- vì phương Tây sẽ gặp nhiều vấn đề về an ninh. Các cuộc bạo loạn sẽ tăng lên và đến một lúc nào đó các cuộc bạo loạn này sẽ nhằm vào biểu tượng của chủ nghĩa tư bản: chống lại các hãng của phương Tây.    Vậy các nước công nghiệp có ý thức được điều này không, thưa ông?  Có, tôi nghĩ rằng phương Tây ý thức rất rõ về mức độ của cuộc khủng hoảng này. Điều này thể hiện qua những lời phát biểu của các chính khách và các vị lãnh đạo Nhà nước.  Hãy chờ xem họ sẽ áp dụng các biện pháp cụ thể như thế nào.  Đây sẽ là một sự thay đổi có tính cơ bản.  Chúng ta cần có sự thay đổi đó. Không phải trên bình diện chính trị mà cả về mặt công nghệ: chúng ta cần có những đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp, để từ đó tăng hiệu quả hơn nữa và chúng ta cũng phải xem xét lại quan niệm đối với cây trồng biến đổi gene.   Thưa ông cách đây vài tuần Chương trình lương thực thế giới lại nêu lên những yêu cầu trái  ngược: đó là quay trở lại một nền nông nghiệp phi công nghiệp hoá và định hướng theo yêu cầu.  Đây là một vấn đề đang còn gây tranh cãi: một số chuyên gia lại quan niệm rằng những doanh nghiệp nông nghiệp lớn thí dụ như ở Brazil có nhiều khả năng thu được sản lượng lớn hơn. Trong khi đó nhiều nước ở châu Phi do nền nông nghiệp tiểu nông nhỏ lẻ chỉ đạt năng suất lao động như cách đây 50 năm. Nhưng dù tán thành hay không tán thành quan điểm này, năng suất lao động nhất thiết phải tăng lên.    Nhưng thưa ông liệu các doanh nghiệp lớn có phá vỡ các cấu trúc địa phương?  Không. Chính việc kiểm soát giá cả và hạn chế xuất khẩu mới thực sự tạo nên ảnh hưởng xấu. Bởi vì người nông dân của chúng ta sẽ không còn được kích thích để sản xuất một khi người ta chỉ cần chi một ít tiền để nhập khẩu nông sản từ bên ngoài.  Nhưng đấy chính là điều mà các nước công nghiệp phương Tây đang làm: một mặt họ đóng cửa thị trường của mình, mặt khác lại đòi các nước nghèo phải mở cửa thị trường của họ.   Đúng vậy, vì người nông dân (ở phương Tây) có lực lượng lobby hùng mạnh và gây sức ép đáng kể lên các Chính phủ. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ rằng, chưa bao giờ thời điểm để thương thảo lại về cơ chế này lại thuận lợi như bây giờ – đó là nhờ có cuộc khủng hoảng này.  Theo ông thì bước đi cần thiết đầu tiên là gì?  Chúng ta phải điều phối cầu trên toàn thế giới, thí dụ thông qua một ngân hàng lương thực thế giới. Ngoài ra cần nhanh chóng mở rộng chương trình lương thực thế giới – giá lương thực cao gây hậu quả nặng nề đối với các hộ nghèo.    Liệu chúng ta có cần phải làm quen với thời kỳ mà giá lương thực, thực phẩm rẻ đã vĩnh viễn chấm dứt?  Phần lớn các chuyên gia phủ nhận điều này- điều đó làm cho tôi, một nhà kinh tế, không khỏi ngạc nhiên. Vì các yếu tố gây tăng giá lương thực vẫn còn đó: đó là biến đổi khí hậu, giá năng lượng, tăng trưởng dân số trên thế giới. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng: thời kỳ giá lương thực, thực phẩm rẻ đã qua rồi.  (Theo Spiegel 24.5)  Xuân Hoài      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông báo mời tham dự Hội thảo: Xác định các chương trình mục tiêu quốc gia cho Nghiên cứu ứng dụng      Năm 2011 Việt Nam đã may mắn được bước vào hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình và đang có mong muốn trở thành nước công nghiêp hóa sau 2020. Tình hình này cũng tương tự như các nước và vùng lãnh thổ quanh ta (Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Philippine…) cách đây 30, 40 năm. Tuy nhiên trong những nước đó thì sau 20, 30 năm có những nước vươn lên được thành nước công nghiệp như Hàn Quốc, Singapore… một số nước khác thì vẫn thất bại do mặc dù có phát triển nhưng hoàn toàn không bền vững. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là những nước này đã bị thất bại trong việc tạo lập hệ thống sáng tạo quốc gia (NIS-National innovation system).        Trong số rất nhiều việc phải làm nếu Việt Nam không muốn lặp lại vết xe đổ của những nước thất bại, trước mắt chúng ta hãy bàn đến một tác nhân chủ yếu trong NIS là xây dựng và phát triển Khoa học Công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới.  Hiện nay kinh phí KHCN hằng năm vào khoảng 2% ngân sách, trong đó dành cho KHCB một tỷ lệ rất nhỏ, còn phần lớn là dành cho nghiên cứu ứng dụng và triển khai (R&D). Vậy làm thế nào để cho kinh phí R&D, dù còn rất khiêm tốn, không dừng lại chỉ là chi tiêu nghiệp vụ của các viện nghiên cứu? Làm thế nào để kinh phí R&D thực sự mang lại hiệu quả như là một thành phần chủ chốt, liên kết và tương tác chặt chẽ với các định chế  khác (các doanh nghiệp, các cơ quan công quyền, các đại học, các hiệp hội…) trong hệ thống sáng tạo quốc gia.  Một trong những cách làm có hiệu quả ở nhiều nước thành công là thiết lập các chương trình mục tiêu quốc gia cho nghiên cứu ứng dụng và triển khai (Targeted national R&D Programs) cộng với một lộ trình (road map) và những giải pháp tổ chức thực hiện hết sức chặt chẽ và chi tiết. (những năm trước đây chúng ta cũng đã từng tổ chức thực hiện những chương trình này như chương trình 10 năm tiêu diệt bệnh sốt rét (1955-1964) do GS Đặng Văn Ngữ phụ trách; chương trình Quốc gia về CNTT (1993-1998) do GS Đặng Hữu, Phan Đình Diệu chủ trì; chương trình sản xuất lúa lai…).  Để làm được việc này thì cần phải thực hiện rất nhiều bước chuẩn bị. Chẳng hạn như:  * Tiền lực công nghệ hiện nay của Việt Nam  * Định hướng những ưu tiên chiến lược, từ đó xác định cần bao nhiêu chương trình mục tiêu Quốc gia cho R&D của Việt Nam;  * Đánh giá được các khoảng trống công nghệ;  * Thiết lập được các chính sách hữu hiệu;  * Cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các nhà hoạch định chính sách trọng yếu/các Bộ ban ngành;  * Xác lập một lộ trình với các mốc cụ thể cũng như các giải pháp thực thi.  v.v…  Như vậy, thiết lập những chương trình mục tiêu quốc gia cho R&D cùng lộ trình và các giải pháp thực thi là một việc làm vô cùng khó khăn, đòi hỏi tập hợp trí tuệ của rất nhiều nhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp cùng những cơ quan có liên quan.  Được sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Ban biên tập tạp chí TIA SÁNG tổ chức cuộc Hội thảo với chủ đề: Xác định các chương trình mục tiêu quốc gia cho Nghiên cứu ứng dụng và triển khai giai đoạn 2011- 2015, dự kiến sẽ được tổ chức vào cuối tháng 4 năm 2011 tại Hà Nội.    Ban biên tập tạp chí Tia Sáng trân trọng mời các nhà khoa học, chuyên gia, các doanh nhân, các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo cùng đóng góp trí tuệ cho công việc chung rất đáng quan tâm này. Các ý kiến sẽ được trình bày trao đổi trên TIA SÁNG online, được chọn đăng trên các trang tạp chí TIA SÁNG và trình bày tại hội thảo.  Bài viết tham gia Hội thảo xin gửi về Tòa soạn trước ngày 20/4/2011.                                             BBT Tia Sáng    Địa chỉ gửi tham luận, ý kiến:  Phạm Trần Lê, email: tctiasang@gmail.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông điệp của lạm phát      Dù Chính phủ đã thực thi nhiều biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát mà giá cả vẫn tiếp tục leo thang. Nhưng không vì thế mà chúng ta hoang mang. Các biện pháp tài chính vĩ mô lúc nào cũng cần một khoảng thời gian nhất định mới phát huy tác dụng. Và về căn bản, chúng ta hoàn toàn tin tưởng tình hình vẫn nằm trong tầm kiểm soát, hay nói chính xác hơn là khó có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Tuy nhiên, cái vỗ vai nhẹ nhàng của anh bạn lạm phát lần này lại giúp chúng ta nhận ra nhiều điều.    Điều thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 5 tháng qua chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%, trong khi con số này ở ta là – 6,19%.1 Có nghĩa khả năng cạnh tranh của ta kém xa các nước láng giềng. Cụ thể là ở đâu? Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí “bôi trơn”; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu… cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Sản xuất với tình trạng lúc nào cũng căng dây cót về giá như thế thử hỏi làm gì còn sức để tăng cường năng lực cạnh tranh.   Điều thứ hai, nền kinh tế Việt Nam không năng động như chúng ta nghĩ. Chỉ nhìn vào phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy ngay. Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một quốc gia được các nhà đầu tư “ưu ái” bơm tiền – đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm, thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển, chứ ra sức mua vào để cất thì còn nói làm gì (?). Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ một chiêu duy nhất – tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm. Ít ai nghĩ đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua tái cấu trúc tổ chức, đầu tư đổi mới công nghệ hoặc ít ra cải tổ qui trình quản lý. Đã vào chợ WTO rồi mà vẫn nặng nề tư tưởng – tát nước theo mưa – giá đầu vào tăng 1, lập tức đội giá đầu ra lên 1,5. Tội vạ đâu đã có khách hàng chịu. Làm ăn như thế thử hỏi làm sao có thể trụ vững ngay trên sân nhà chứ đừng nói gì là sân khách.  Điều thứ ba, hình như anh chàng lạm phát lần này muốn nhắc khéo chúng ta: hãy coi chừng, mô hình phát triển kinh tế của bạn đang có vấn đề. Vấn đề gì? Kinh tế của ta tăng trưởng liên tục cả chục năm nay, tự hào và mạnh mẽ, thế và lực của đất nước trên trường quốc tế ngày một lên, làm sao có vấn đề được?  Xin hãy bình tĩnh một chút, hình như tăng trưởng của chúng ta lâu nay chủ yếu dựa vào xuất khẩu, với giá trị hiện nay đã xấp xỉ 60% GDP. Tất cả ưu tiên cho xuất khẩu từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến chính sách tỷ giá. Bối cảnh này làm ta nhớ lại cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á cách đây đúng 10 năm. Khi đó, mô hình kinh tế của các nước Đông Á về cơ bản là giống ta bây giờ, cũng được xây dựng theo lý thuyết của chủ nghĩa trọng tiền hiện đại (monetarism) với hai điểm đặc biệt: sản xuất tập trung chủ yếu vào xuất khẩu và đồng tiền quốc gia được gắn chặt vào đồng USD. Lợi và hại của mô hình này chúng tôi đã có dịp bàn khá kỹ trong bài viết “Cái bẫy cuối cùng của khủng hoảng tài chính châu Á 1997?” (Tia Sáng, số 15, 05.08.2007, tr.45-48), ở đây chỉ xin nhắc lại – lịch sử đã chứng minh mô hình phát triển kiểu này không bền vững tý nào. Dĩ nhiên còn quá sớm khi lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam, nhưng cảnh báo thì không bao giờ thừa.  Đã vậy, ở ta hiện nay đang tồn tại một nghịch lý. Theo tỷ giá, Việt Nam đồng đang mất giá so với USD. Và trên thế giới đồng USD lại đang mất giá so với những đồng ngoại tệ mạnh khác. Giữ được tỷ giá VND thấp, xuất khẩu sẽ có lợi, nhưng đổi lại khu vực nhập khẩu phải chịu áp lực nặng nề. Trong khi chúng ta đang nhập siêu, mà lại nhập siêu nguyên, nhiên liệu để phục vụ sản xuất. Nên trừ những ngành xuất khẩu, các ngành khác còn lại đều phải chịu chung áp lực lạm phát. Mà người chịu trận cuối cùng là ai? Không ai khác ngoài người tiêu dùng. Và nếu để tình trạng như thế kéo dài, chắc chắn đời sống người dân, đặc biệt là bà con nông dân sẽ ngày một khó khăn hơn. Vậy chẳng hóa ra, chúng ta càng tăng trưởng, đời sống của người dân sẽ càng vất vả? Cho nên giữ được chính sách tỷ giá như hiện nay là rất tốt, nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu ta phá vỡ được sự lệ thuộc quá thái vào nguyên nhiên liệu nhập khẩu, nâng cao được hiệu quả sản xuất và phát triển mạnh mẽ sản xuất phục vụ nhu cầu của thị trường nội địa. Cần phải nhận thức rõ rằng, trong hoàn cảnh thực tế hiện nay, tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng nhiều đến sức mua của tiền đồng. Cho dù chúng ta có trả lại cho tiền đồng giá trị thực (đắt hơn giá trị hối đoái hiện nay) thì sức mua của tiền đồng cũng không hề tăng lên, mà lúc đó, chúng ta sẽ vướng vào ma trận tỷ giá – lạm phát, như một số nước đang mắc phải. Nga là một ví dụ. Mấy năm gần đây, đồng Rúp liên tục tăng giá so với USD, nhưng sức mua thực của đồng tiền này trên thị trường trong nước không hề tăng mà lại liên tục giảm. Chắc các bạn cũng biết, chính phủ Nga đã vất vả như thế nào để giữ được mức lạm phát không vượt quá hai con số.  Vậy phải làm gì đây? Thực ra, cách giải bài toán phát triển mà ta đang mắc phải hiện nay, đã được nhà kinh tế Mỹ Paul Krugman (MIT) đưa ra 13 năm trước. Năm 1994, rất lâu trước thềm khủng hoảng tài chính 1997, Krugman đã đưa ra lời cảnh báo về sự thật của các “thần kỳ kinh tế Đông Á”. Ông ta cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhờ “bơm” nguồn vốn đầu tư không mệt mỏi từ bên ngoài mà không tạo được những bước tiến thực chất trong sản xuất cũng như nâng cao năng suất sản xuất tổng hợp thì khó có thể mang lại sự thịnh vượng lâu dài.2 (Paul Krugman). Các nước Đông Á lúc đó có nghe điều đó nhưng không mấy để tâm. Hậu quả thế nào thì ai cũng rõ. Còn chúng ta hôm nay thì sao?  1 Ngân hàng Phát triển châu Á và số liệu từ cơ quan thống kê của các nước.  2 http://web.mit.edu/krugman/www/myth.html  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông điệp độc hại của phố Wall      Với cuộc khủng hoảng kinh tế to&#224;n cầu hiện nay, thanh danh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu Mỹ sẽ bị tổn hại &#8211; chủ yếu do sự kh&#225;c biệt giữa l&#253; thuyết thường được rao giảng v&#224; thực tiễn h&#224;nh động của Washington. V&#224; cho d&#249; c&#243; th&#234; lương như cuộc khủng hoảng hiện nay th&#236; n&#243; cũng sẽ qua đi, thế nhưng kh&#244;ng cuộc khủng hoảng kinh tế n&#224;o, đặc biệt l&#224; cuộc khủng hoảng khắc nghiệt lần n&#224;y, tr&#244;i qua m&#224; kh&#244;ng để lại những di sản tệ hại. Một trong những di sản n&#224;y l&#224; cuộc tranh c&#227;i to&#224;n cầu về c&#225;c học thuyết kinh tế – m&#244; h&#236;nh n&#224;o sẽ đem lại ph&#250;c lợi cao nhất cho người d&#226;n.    Hơn bất kỳ nơi nào khác, thế giới thứ ba là chiến địa gay gắt nhất cho cuộc tranh cãi lần này, trong số 80% dân số thế giới đang sống ở châu Á, Mỹ Latinh và châu Phi, có đến 1,4 tỉ người đang sống với nguồn thu nhập ít ỏi 1,25 USD/ngày. Ở Mỹ, bêu xấu một người có khuynh hướng xã hội có thể chỉ là lời phê bình rẻ tiền. Thế nhưng, ở hầu hết những nơi khác trên thế giới, cuộc chiến giữa đường hướng tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa – hoặc những gì mà người Mỹ cho là thuộc xã hội chủ nghĩa – vẫn còn tiếp diễn khốc liệt. Có lẽ không có kẻ thắng trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện thời, mà chỉ có người thua, và người thua đậm nhất lại là những người chủ trương đường lối kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu Mỹ. Điều này có tầm quan trọng đối với tương lai cuộc sống chúng ta.          Qua cuộc khủng hoảng, các nước kém phát triển sẽ hiểu rõ điều cần thiết cho sự thành công chính là một thể chế bảo đảm được sự cân bằng giữa thị trường và chính quyền, một Nhà nước có khả năng điều tiết một cách hữu hiệu. Họ hiểu rằng phải hạn chế tối đa vấn đề đặc quyền đặc lợi.          Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989 cùng với sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ở một số nước là sự lên ngôi khải hoàn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là đường hướng kinh tế tư bản kiểu Mỹ. Francis Fukuyama hồ hởi tuyên bố đây là “hồi kết của lịch sử”, xác định nền kinh tế thị trường định hướng dân chủ tư bản là hồi kết của kịch bản thăng tiến xã hội, và nhận định nhân loại đang hướng theo đường hướng này. Thật ra, các sử gia sẽ đánh dấu mốc 20 năm kể từ năm 1989 là thời kỳ hoàng kim ngắn ngủi của Mỹ. Thời kỳ này đã chấm dứt với sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng và tập đoàn tài chính khổng lồ, đi cùng với những nỗ lực cứu vãn nền kinh tế chao đảo và hỗn loạn. Nó cũng đã kết thúc cuộc tranh luận về khái niệm “thị trường chính thống”, một khái niệm đã từng chủ trương rằng chỉ cần những thị trường không bị ràng buộc là có thể thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và đem lại thịnh vượng. Ngày nay, chỉ có những kẻ giả dối mới lý sự rằng nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh, hay chính chúng ta phải dựa vào hành vi tư lợi của các thành phần kinh tế để bảo đảm nền kinh tế sẽ vận hành một cách trung thực và đúng đắn.  Người phương Tây thường hay quên,190 năm trước đây, 1/3GDP của thế giới xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng sau đó, thật bất ngờ, sự bóc lột của chế độ thuộc địa cùng những thỏa thuận thương mại bất công, kết hợp với cuộc cách mạng kỹ thuật ở châu Âu và Mỹ, nền kinh tế phương Tây đã bỏ xa các nước đang phát triển. Cho đến năm 1950, nền kinh tế Trung Quốc chỉ đạt dưới 5% GDP toàn thế giới. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, Vương quốc Anh và Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh để đưa Trung Quốc vào thương trường quốc tế. Đây là cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ II, đã đổ những thứ rác rưởi vào thị trường Trung Quốc, và góp phần làm lan tràn thói nghiện ngập. Đây chính là nỗ lực đầu tiên của người phương Tây trong việc điều chỉnh cán cân thương mại.  Trong số những đường lối dẫn dắt để thoát khỏi chủ nghĩa thực dân, học thuyết Mác-xít đã cho rằng, sự bóc lột là nền tảng căn bản của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Các nước thuộc địa giành được độc lập chính trị sau cuộc chiến tranh Thế giới thứ II đã không thoát khỏi tình trạng thuộc địa kinh tế. Ở những vùng như châu Phi, tệ nạn bóc lột quá hiển nhiên – đó là sự vơ vét tài nguyên thiên nhiên và sự tàn phá môi trường với cái giá thật rẻ mạt. Một vài nơi khác, những thể chế đa quốc gia như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) được xem như là những công cụ của quyền lực thực dân hiện đại. Những thể chế này thúc đẩy nền kinh tế thị trường chính thống (thường được gọi là “nền kinh tế thị trường tự do kinh điển”), một khái niệm được Mỹ lý tưởng hóa qua châm ngôn “thị trường tự do và không ràng buộc”. Họ nhấn mạnh đến việc bãi bỏ các luật lệ trong lĩnh vực tài chính, tư nhân hóa và mở rộng thị trường tự do.  WB và IMF nói rằng tất cả những gì họ đã và đang làm chỉ để giúp ích cho sự phát triển Thế giới thứ ba… Họ được sự trợ lực của đội ngũ các kinh tế gia ủng hộ thị trường tự do, mà nhiều người xuất thân từ Viện Đại học Chicago, thánh địa của nền kinh tế thị trường tự do. Nhưng cuối cùng, các chương trình của những “môn đồ Chicago” đã không đem lại kết quả như mong muốn. Thu nhập đình đốn. Ở những nơi tăng trưởng, chỉ có tầng lớp đặc quyền đặc lợi được hưởng. Những cuộc khủng hoảng kinh tế riêng biệt tại các nước xảy ra ngày càng thường xuyên hơn – với mức độ khốc liệt dữ dội hơn gấp trăm lần so với những cuộc khủng hoảng trong quá khứ cách đây 30 năm.  Không nên quá ngạc nhiên khi người dân các nước đang phát triển ngày càng đặt nghi vấn vào sự giúp đỡ với tấm lòng vị tha của người phương Tây. Họ hoài nghi về những ngôn từ hoa mỹ từng là nền tảng của thị trường tự do – được mệnh danh ngắn gọn là “sự đồng thuận Washington” – đó chỉ là tấm bình phong che đậy quyền lợi thương mại ích kỷ và cổ lỗ. Sự ngờ vực này được củng cố bởi thái độ đạo đức giả phương Tây. Châu Âu và Mỹ đã không mở rộng thị trường của họ cho những mặt hàng nông sản của các nước thuộc Thế giới thứ ba, mà nông sản là tất cả những gì mà những nước nghèo có thể chào bán. Họ cưỡng ép các nước đang phát triển khước từ nguồn trợ cấp công để kiến tạo những ngành công nghiệp mới, trong khi đó Tây Âu vẫn cung cấp những khoản trợ cấp khổng lồ cho các nông gia của họ.  Tư tưởng nền kinh tế thị trường tự do đã trở thành lời bào chữa cho sự tha hóa của tình trạng bóc lột. “Tư nhân hóa” có nghĩa là những người ngoại quốc có quyền mua những quặng mỏ và những giếng dầu của những nước đang phát triển với giá bèo. Nó cũng có nghĩa là người ngoại quốc được hưởng những lợi nhuận khổng lồ từ địa vị độc quyền hoặc gần như độc quyền, trong những ngành như viễn thông. “Mở rộng thị trường tự do” có nghĩa là họ được hưởng mức lời cao ngất trên những khoản tín dụng cho vay– và khi những khoản cho vay trở thành những món nợ khó đòi, thì IMF cưỡng ép xã hội hóa các khoản mất mát, có nghĩa là toàn thể người dân phải gánh chịu sự bòn rút để bù đắp cho khoản nợ xấu đó. Tự do hóa thị trường cũng có nghĩa là những người ngoại quốc chắc hẳn sẽ quét sạch những ngành công nghiệp non trẻ, triệt tiêu sự phát triển của những doanh nghiệp tiềm năng. Trong khi nguồn vốn được tuôn chảy tự do, mà nguồn nhân lực thì không – ngoại trừ phần lớn những người có tài năng thật sự, những người này tìm được những công việc khá tốt trong thương trường toàn cầu hóa.  Toàn cảnh bức tranh này quá rõ ràng với đường nét vẽ của cây cọ thô thiển. Tuy nhiên, lúc nào cũng có một vài quốc gia, nhất là tại châu Á, kháng cự lại “sự đồng thuận Washington”. Họ đặt ra những rào cản hạn chế nguồn vốn chảy vào. Hai gã khổng lồ của châu Á – Trung Quốc và Ấn Độ – quản lý nền kinh tế theo cách riêng của họ, và đã tạo được sự tăng trưởng chưa từng có. Còn những nơi khác, đặc biệt tại những quốc gia trong tầm ảnh hưởng của WB và IMF, thì mọi thứ đều không khá hơn. Khắp mọi nơi, cuộc tranh luận về các học thuyết kinh tế vẫn tiếp diễn. Ngay cả tại những quốc gia chèo lái nền kinh tế khá tốt, giới có học vấn và có ảnh hưởng ngày càng tin chắc rằng các luật chơi không công bằng. Họ tin tưởng rằng họ đã thành công bất chấp điều đó, và họ tỏ ra cảm thông với những quốc gia bè bạn trong khối các nước kém phát triển đã vấp phải thất bại.  Các quốc gia đang phát triển đang nghiên cứu kỹ lưỡng sự lụn bại của nền kinh tế Mỹ, để rút ra những điều cần thiết cho mình trong tương lai. Họ biết rõ ảnh hưởng dây chuyền lan tỏa từ sự suy thoái kinh tế ở Mỹ đã đẩy hơn 200 triệu người vào cảnh bần cùng trong một thời gian quá ngắn, chỉ một vài năm. Và họ ngày càng nhận thức rằng hãy lánh xa bất kỳ mẫu mực lý tưởng nào mà Mỹ theo đuổi, hơn là ôm ấp lấy chúng.  Tại sao chúng ta phải lo lắng trước hiện tượng thế giới vỡ mộng về chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ?   Mỹ thường đóng vai trò chủ chốt trong việc nắm giữ nguồn vốn toàn cầu bởi vì người ta tin tưởng chúng ta có khả năng đặc biệt trong việc quản trị rủi ro và trong phương cách phân phối nguồn vốn hữu hiệu. Không ai nghĩ ra rằng hiện tại châu Á – là nơi cất giữ nguồn vốn tiết kiệm nhiều nhất trên thế giới– đã tự gây dựng cho mình một trung tâm tài chính. Mỹ không còn là nhân vật chính nắm giữ nguồn vốn. Ba ngân hàng lớn nhất thế giới hiện nay là của Trung Quốc. Ngân hàng lớn nhất của Mỹ đã tụt xuống hạng thứ 5.  Một thời gian dài đồng USD là nguồn ngoại tệ dự trữ – các quốc gia cất giữ đồng USD để bảo chứng cho đồng tiền và chính thể của mình. Thế nhưng dần dần, các ngân hàng quốc gia trên thế giới đã nhận ra rằng có lẽ đồng USD chưa chắc đã là đơn vị dự trữ an toàn. Giá trị đồng USD xuống dốc với chiều hướng dao động cao. Trong suốt cuộc khủng hoảng, số tiền nợ của Mỹ vùn vụt tăng nhanh đến khủng khiếp, cùng với sự can thiệp và cho vay ồ ạt của ngân hàng Dự trữ Liên bang, đã làm dâng cao mối âu lo cho tương lai của đồng USD. Người Trung Quốc đã phác họa sáng kiến sử dụng một đồng tiền khác làm ngoại tệ dự trữ thay thế cho đồng USD.  Nhưng ở đây, tôi quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực tư tưởng. Điều làm tôi lo lắng là các nước kém phát triển chắc hẳn sẽ rút ra những kết luận sai lầm sau khi họ đã nhận diện khá rõ ràng những nhược điểm của hệ thống quản lý kinh tế và xã hội Mỹ.   Họ sẽ hiểu rõ điều cần thiết cho sự thành công chính là một thể chế bảo đảm được sự cân bằng giữa thị trường và chính quyền, một Nhà nước có khả năng điều tiết một cách hữu hiệu. Họ hiểu rằng phải hạn chế tối đa vấn đề đặc quyền đặc lợi.  Từ đó, có lẽ nhiều quốc gia sẽ kết luận rằng không những tư bản thả lỏng, theo kiểu Mỹ, đã thất bại mà ngay cả khái niệm kinh tế thị trường tự do cũng đã thất bại, và quả thực họ không thể áp dụng khái niệm này trong mọi hoàn cảnh. Mô hình kinh tế tập trung quan liêu không thể quay trở lại, nhưng sẽ xuất hiện, dưới nhiều hình thức, hiện tượng can thiệp quá trớn vào thị trường. Và tất cả các hình thức can thiệp trên rồi sẽ thất bại. Người nghèo đã chịu tổn thất dưới nền kinh tế tự do chính thống – chúng ta có dòng chảy kinh tế hướng lên chứ chưa bao giờ hướng xuống. Tuy nhiên, người nghèo sẽ chịu tổn thất thêm lần nữa dưới những thể chế mới vì chúng còn làm tình hình tồi tệ hơn. Chưa có nền kinh tế nào thành công mà không biết nương tựa triệt để vào thị trường.  Nền kinh tế Mỹ rồi cũng sẽ hồi phục. Ở một chừng mực nào đó, địa vị của chúng ta bên bàn cờ thế giới cũng sẽ phục hồi. Mỹ là một quốc gia được thế giới ngưỡng mộ từ lâu, và dù muốn hay không, mỗi hành động của chúng ta đều là đối tượng, xem xét, nghiên cứu của nhiều người. Thành công của chúng ta đem lại sự ganh đua. Thất bại của chúng ta được đánh giá với con mắt miệt thị. Điều này đưa tôi trở lại với ý tưởng của Francis Fukuyama. Ông ta đã sai lầm khi nghĩ rằng sức mạnh của nền dân chủ tự do và khả năng của kinh tế thị trường tất thắng, và không thể đảo ngược. Thế nhưng ông ta không sai khi tin tưởng rằng dân chủ và động lực của thị trường là điều kiện cốt yếu cho công bằng và sự phồn vinh của thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế, mà nguyên nhân chính xuất phát từ cách hành xử của Mỹ, đã làm tổn hại những giá trị căn bản nhiều hơn so với bất kỳ một chế độ chuyên chế nào từ trước đến giờ. Có lẽ đúng là thế giới đang hướng đến hồi kết của lịch sử, thế nhưng thế giới hiện đang cố chèo lái chống chọi với trận cuồng phong, trên tiến trình chúng ta đã tự hoạch định.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông điệp từ Paul Krugman qua hai buổi tọa đàm ở Việt Nam      Gi&#225;o sư kinh tế Paul Krugman, chủ nh&#226;n giải Nobel Kinh tế năm 2008, đ&#227; c&#243; chuyến viếng thăm Việt Nam khoảng 48 tiếng đồng hồ, từ tối 20/5 đến trưa ng&#224;y 22/5/2009, trong &#8220;chuyến h&#224;nh tr&#236;nh 18 ng&#224;y v&#242;ng quanh thế giới&#8221; như &#244;ng đ&#227; viết tr&#234;n blog của m&#236;nh.  Ng&#224;y 21/5, &#244;ng chủ tr&#236; cuộc Hội thảo quốc tế &#8220;T&#236;m kiếm giải ph&#225;p v&#224; cơ hội trong kh&#243; khăn v&#224; khủng hoảng&#8221; tại TP. Hồ Ch&#237; Minh do Trường Doanh nh&#226;n PACE tổ chức. Ngay sau đ&#243;, &#244;ng bay ra H&#224; Nội để s&#225;ng sớm h&#244;m sau, từ 7 giờ 30 s&#225;ng, dự cuộc Tọa đ&#224;m &#8220;Kinh tế thế giới hậu khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh: khuyến nghị chiến lược ph&#225;t triển cho Việt Nam&#8221; do Bộ Ngoại Giao tổ chức, v&#224; Ph&#243; Thủ tướng Nguyễn Sinh H&#249;ng chủ tr&#236;.  Nh&#236;n chung, thời gian để &#244;ng diễn thuyết khi ở TP. Hồ Ch&#237; Minh l&#224; kh&#225; nhiều (cả ng&#224;y), nhưng trước&nbsp;th&#224;nh phần tham dự đa dạng:&nbsp;c&#225;c&nbsp;quan chức, nh&#224; nghi&#234;n cứu, hoạch&nbsp;định ch&#237;nh s&#225;ch, doanh nh&#226;n v&#224; b&#225;o ch&#237;, dường như &#244;ng đ&#227; kh&#244;ng đi s&#226;u được v&#224;o những kh&#237;a cạnh m&#224; &#244;ng mạnh nhất, như vấn đề khủng hoảng kinh tế v&#224; thương mại quốc tế. C&#225;c c&#226;u hỏi li&#234;n quan đến thực tế Việt Nam đ&#227; l&#224;m &#244;ng bối rối, v&#236; &#244;ng phải th&#250; thực rằng &#244;ng kh&#244;ng biết g&#236; nhiều về Việt Nam.  Nửa buổi s&#225;ng buổi tọa đ&#224;m ở H&#224; Nội, th&#224;nh phần chỉ gồm khoảng 30 nh&#224; hoạch định ch&#237;nh s&#225;ch v&#224; chuy&#234;n gia kinh tế, v&#224; do chỉ ở dạng đối thoại m&#224; kh&#244;ng c&#243; diễn văn, n&#234;n chứa đựng h&#224;m lượng th&#244;ng tin kh&#225; c&#244; đọng, phản &#225;nh được kh&#225; r&#245; quan điểm của Krugman.     Trong bài viết này tôi xin tóm lược những gì đã thu nhận được các thông điệp từ Krugman qua 2 sự kiện trên mà tôi có may mắn được tham dự.  Tình hình thế giới nói chung  Theo nhận định của Krugman thì cuộc khủng hoảng hiện nay có rất nhiều điểm giống với cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933 nếu nhìn qua diễn biến của các thống kê vĩ mô như quỹ đạo đi xuống của tổng sản lượng công nghiệp, sự thu hẹp của thương mại toàn cầu, v.v… Do đó, ông tỏ ra lo lắng về thời gian của khủng hoảng vì theo cách so sánh trên, hiện nay thế giới mới chỉ ở giai đoạn đầu của khủng hoảng, và vẫn đang tiếp tục hướng về đáy, mặc dù tốc độ đi xuống đang ngày càng chậm hơn (đến gần đáy hơn). Ông cũng lo ngại rằng hướng đi của khủng hoảng sẽ theo kiểu xuống nhanh phục hồi chậm (như logo của hãng đồ thể thao Nike), hay bi quan hơn là hình chữ L (như trường hợp suy thoái của Nhật Bản từ đầu thập niên 1990 tới nay).                  Bài học lớn cho thế giới là bài học đã được Krugman cảnh báo lặp đi lặp lại từ lâu, là tinh thần mất cảnh giác với nguy cơ khủng hoảng.        Krugman lý luận rằng sự phục hồi sẽ tới chậm vì trước khủng hoảng, hàng hoá lâu bền đã được sản xuất ra quá mức cần thiết (đặc biệt trường hợp lượng nhà dân dụng được xây mới ở Mỹ), do đó, trong thời gian tới, sẽ không có nhiều nhu cầu mới trong lĩnh vực quan trọng này. Thêm vào đó, tiêu dùng của dân chúng sẽ không còn dễ dãi và tăng nhanh như trước nữa, vì sau khủng hoảng, người dân có khuynh hướng thận trọng hơn trước môi trường đầy bất trắc, mà kết quả là sẽ ưu tiên để dành hơn là tiêu pha.  Bài học lớn cho thế giới là bài học đã được Krugman cảnh báo lặp đi lặp lại từ lâu, là tinh thần mất cảnh giác với nguy cơ khủng hoảng. Những cuộc khủng hoảng ở Mỹ La tinh thập niên 1980, rồi khủng hoảng tiền tệ châu Á cuối thập niên 1990, là những lời cảnh báo cho cuộc khủng hoảng lớn ngày hôm nay, nhưng đã bị phớt lờ vì sự chủ quan không chỉ trong giới cầm quyền mà cả giới học thuật, những người luôn chủ quan cho rằng các cuộc khủng hoảng lớn đã bị chế ngự ở các nước phát triển, trung tâm văn minh và kinh tế thế giới. Khủng hoảng chỉ có thể xảy ra ở vùng rìa, ở những nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng “sổi” và hàm chứa đầy méo mó về thể chế và tư tưởng.  Giờ đây cuộc khủng hoảng đã nổ ra ngay tại nước Mỹ, và những bài học truyền thống từ cuộc Đại khủng hoảng vẫn còn nguyên giá trị, như là việc tăng cường giám sát tài chính, quy định chặt chẽ tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các thể chế tài chính, và không nên ảo tưởng rằng những sáng tạo tài chính mới có thể làm giảm rủi ro hệ thống.  Về chính sách kích cầu hiện nay ở các nước châu Âu và Mỹ, Krugman cho rằng, trước tình hình không có gì lạc quan về sự phục hồi của hai thành phần tổng cầu quan trọng như đã đề cập ở trên, Nhà nước cần can thiệp mạnh hơn nữa, và quy mô các gói kích thích hiện còn quá nhỏ. Krugman cho rằng chỉ có gói kích cầu ở Trung Quốc hiện nay là đáng kể, còn tất cả các gói kích cầu khác đều chưa đủ. Và vì nguy cơ suy thoái còn dài, nên thậm chí tình trạng giảm phát sẽ còn là một mối đe dọa.                 Một số mốc trong sự nghiệp               học thuật của Paul Krugman:  1953: sinh trong một gia đình gốc Do Thái ở Long Island, New York, Mỹ.               1974: tốt nghiệp đại học Yale              1977: nhận bằng Tiến sỹ kinh tế từ MIT.               1982-93: thành viên Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Reagan.              1991: nhận Huân chương John Bates Clark của Hiệp hội Kinh tế Mỹ.              2000: về dạy ở ĐH Princeton sau nhiều năm giảng dạy ở các đại học hàng đầu (Yale, MIT, UC Berkeley, LSE, Stanford)              2008: nhận giải Tưởng nhớ Nobel Kinh tế học vì những đóng góp làm nền tảng cho “Lý thuyết thương mại mới”.              Các tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam: Kinh tế học quốc tế: Lý thuyết và chính sách, (1996) (viết chung với Maurice Obstfeld), Sự trở lại của Kinh tế học suy thoái và cuộc khủng hoảng năm 2008 (2009), Nền tảng của Kinh tế học (sắp xuất bản), (đồng tác giả với Robin Wells và Martha Olney).        Cho nên, cần mạnh tay kích cầu mà không sợ lạm phát. Cần lưu ý một chút ở đây, là có vẻ như cái mà Krugman gọi là “tất cả các gói kích cầu khác” thực chất là châu Âu và đặc biệt là ông muốn hướng tới Mỹ. Nhưng dường như báo chí Việt Nam đã hiểu rằng Việt Nam cũng nằm trong số đó, và ngay sau buổi tọa đàm ở TP. Hồ Chí Minh, một số báo đã chạy những hàng tít lớn cần tăng gấp đôi gói kích cầu như thể đó là lời khuyên của ông dành cho Việt Nam. Đây là một hiểu lầm mà khi Krugman biết thêm một chút về Việt Nam, hẳn ông sẽ hối tiếc.  Krugman cũng lưu ý phải có sự phối kết hợp chính sách kích thích giữa các nước, vì khi một nước kích cầu ồ ạt, họ cũng đồng thời kích cầu cho phần còn lại của thế giới thông qua nhập khẩu. Trong khi đó nợ quốc gia tăng thì chỉ mình nước đó gánh chịu. Vì vậy, nên có sự thảo luận chặt chẽ về kế hoạch chính sách giữa các nền kinh tế lớn.  Lập luận về ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu, ông cho rằng kênh lan truyền chủ yếu thông qua sự suy giảm thương mại quốc tế. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ sự sản xuất thừa các sản phẩm hàng lâu bền, những nước xuất khẩu hàng tư bản truyền thống như Nhật hay Đức sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn, trong khi các nước xuất khẩu hàng tiêu dùng trước mắt và lương thực thực phẩm sẽ ít bị tổn thương hơn. Krugman giữ quan điểm rằng giá lương thực sẽ tăng lên trong dài hạn vì cầu dài hạn của ngành này vẫn tăng.  Khi được hỏi liệu mô hình phát triển hiện nay của các cường quốc có cần phải xem xét lại hay không, Krugman khẳng định rằng đây không phải là cuộc khủng hoảng về mô hình phát triển, mà chỉ là do sự thiếu thận trọng trong quản lý cấu trúc tài chính và những mất cân đối toàn cầu. Tuy nhiên, Krugman thừa nhận rằng mô hình phát triển dựa trên thị trường tự do cao độ của Mỹ, so với nền kinh tế thị trường có hướng xã hội ở châu Âu, sẽ tạo nên những cái giá đắt cho con người trong thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng. Lý do là vì sự sa thải nhân công diễn ra quá dễ dãi ở Mỹ trong khi hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội lại không được tốt như ở châu Âu. Hậu quả lên con người sẽ là lâu dài, ông nhấn mạnh.  Trung Quốc và đồng nhân dân tệ  Trung Quốc là mối quan tâm lớn hiện nay của cả các nước lớn và các nước nhỏ, và Paul Krugman dành khá nhiều thời gian để thảo luận về các vấn đề liên quan đến nước này.   Như trên đã nói, ông cho rằng gói kích cầu của Trung Quốc là đủ lớn và sẽ có tác dụng hữu hiệu, nhưng điều đó không có nghĩa là nền kinh tế nước này đã bắt đầu phục hồi như các tuyên bố của giới lãnh đạo nước này. Ông cho rằng tuyên bố như thế là quá sớm, vì chưa có các dấu hiệu thực tế từ nền kinh tế ủng hộ cho nhận định đó. Krugman cũng lưu ý rằng gói kích cầu được tuyên bố là rất lớn, nhưng có thể được giải ngân lâu hơn một năm, nên cần phải nhìn vào thực tế đó nữa.          Khi được hỏi ba việc quan trọng nhất Việt Nam cần làm để lo liệu hậu khủng hoảng, Paul Krugman đưa ra các khuyến nghị như sau: 1) Đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ cập; 2) Đầu tư vào cơ sở hạ tầng; 3) Nâng cao kiểm soát và lành mạnh hoá hệ thống tài chính để tránh một cuộc khủng hoảng trong tương lai. Đây là những việc cần làm tốt để duy trì tăng trưởng tốt, và cũng để tránh đất nước sa vào cái bẫy thu nhập trung bình trong tương lai.              ——————————–   Krugman tỏ ra đặc biệt thận trọng với sự tự do hoá thị trường vốn, và không do dự khi đưa ra lời khuyên rằng Việt Nam không nên vội vàng với quá trình này. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự di chuyển mạnh, dù ra hay vào, của các luồng vốn nước ngoài đều kéo theo những xáo động kinh tế lớn. Điều này càng đặc biệt thấy rõ ở các nền kinh tế mà GDP đầu người còn thấp hơn 10.000 USD. Ông cho rằng việc tự do hoá thị trường vốn cần được củng cố trước hết bằng sự trưởng thành và lớn mạnh của hệ thống ngân hàng tài chính trong nước.          Trước mối quan tâm mà theo lời ông, đã gặp ở khắp nơi trong chuyến đi lần này, là sau cuộc khủng hoảng này, đồng Nhân dân tệ (NDT) có thể thay thế đồng USD của Mỹ hay không, Krugman khẳng định rằng điều ấy là không thể. Hình như để khán giả bớt cụt hứng, ông thêm rằng việc thay thế không phải là không thể xảy ra, nhưng nếu có, thì ông sẽ không được chứng kiến trong cuộc đời mình. Có hai lý do căn bản. Thứ nhất, đồng NDT chưa phải là đồng tiền chuyển đổi, do đó chưa thể đóng vai trò như đồng tiền trung gian trong các giao dịch quốc tế. Thứ hai, mặc dù việc nền kinh tế Trung Quốc sẽ vươn lên hàng đầu thế giới chỉ là vấn đề thời gian, nhưng nếu quy đổi theo mức thị trường, thì còn mất nhiều chục năm nữa quy mô nền kinh tế nước này mới bằng được Mỹ. Vào thời điểm hiện nay, đồng NDT còn thua xa đồng Yên, chưa kể là đồng Euro và USD. Thêm vào đó, ngay khi đã hội đủ hai yếu tố căn bản trên, đồng NDT vẫn không dễ dàng truất ngôi đồng USD. Vì như kinh nghiệm lịch sử cho thấy, ngay từ năm 1880 đồng USD đã rất mạnh, nhưng phải đến năm 1935 nó mới có thể thay thế được đồng Bảng Anh.  Krugman thừa nhận rằng trong dài hạn, Đông Á sẽ trở thành trung tâm kinh tế thế giới. Với sức mạnh của mình, Trung Quốc sẽ trỗi dậy như một nền kinh tế quan trọng bậc nhất, cho nên, sự gia tăng hợp tác kinh tế với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực cũng đều mang lại kết quả tích cực. Dường như Krugman nhấn mạnh quan điểm này để ủng hộ cho sự thúc đẩy thương mại giữa các nước lớn, trọng tâm là Mỹ, với Trung Quốc, thay vì nhìn nhận tiến trình một cách hoài nghi và quan ngại. Là một người ủng hộ thương mại tự do, hẳn ông không muốn có một cuộc chiến thương mại giữa các đại cường.  Những khuyến nghị cho Việt Nam   Khi được hỏi ba việc quan trọng nhất Việt Nam cần làm để lo liệu hậu khủng hoảng, Paul Krugman đưa ra các khuyến nghị như sau: 1) Đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ cập; 2) Đầu tư vào cơ sở hạ tầng; 3) Nâng cao kiểm soát và lành mạnh hoá hệ thống tài chính để tránh một cuộc khủng hoảng trong tương lai. Đây là những việc cần làm tốt để duy trì tăng trưởng tốt, và cũng để tránh đất nước sa vào cái bẫy thu nhập trung bình trong tương lai.  Krugman cũng tiếp tục ủng hộ mô hình phát triển dựa trên xuất khẩu. Chỉ thông qua mô hình này, các ngành sản xuất trong nước mới có thể tiếp cận các thị trường to lớn trên thế giới. Chỉ dựa vào thị trường trong nước là không đủ. Ngay cả khi các mặt hàng hiện nay còn ở dạng thâm dụng lao động thì cũng cần kiên nhẫn và dịch chuyển dần dần lên các mặt hàng có công nghệ cao hơn, như trường hợp Hàn Quốc của những năm 1960. Ông nhấn mạnh rằng không nên quá sốt ruột mà ép thúc đẩy tăng trưởng quá nhanh, vì có thể sẽ mắc phải những sai lầm vì đầu tư quá nhiều vào một ngành nào đó.  Với tư cách một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, Krugman cho rằng Việt Nam có thể tận dụng được lợi thế vì giá lương thực có thể sẽ tăng lên trong dài hạn do nhu cầu tiêu thụ lương thực ở dạng ngũ cốc lẫn thịt đều tăng, trong khi muốn tăng sản lượng thịt thì lại cần dùng ngũ cốc. Do đó, nhìn chung cầu về sản phẩm ngũ cốc sẽ giữ khuynh hướng tăng trong dài hạn, trong khi cung là hữu hạn nên rốt cuộc giá sẽ tăng.  Là một chuyên gia hàng đầu về kinh tế quốc tế, Krugman tỏ ra đặc biệt thận trọng với sự tự do hoá thị trường vốn, và không do dự khi đưa ra lời khuyên rằng Việt Nam không nên vội vàng với quá trình này. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự di chuyển mạnh, dù ra hay vào, của các luồng vốn nước ngoài đều kéo theo những xáo động kinh tế lớn. Điều này càng đặc biệt thấy rõ ở các nền kinh tế mà GDP đầu người còn thấp hơn 10.000 USD. Ông cho rằng việc tự do hoá thị trường vốn cần được củng cố trước hết bằng sự trưởng thành và lớn mạnh của hệ thống ngân hàng tài chính trong nước.  Một vấn đề nữa cũng được thảo luận, liên quan đến ảnh hưởng của chính sách phá giá tiền tệ. Krugman vẫn trung thành với quan điểm đã nêu lên từ cách đây hơn 30 năm trong một bài nghiên cứu viết cùng Lance Taylor, rằng các nước có nợ nước ngoài lớn và thâm hụt thương mại cao sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực vì phá giá thay vì những ảnh hưởng tích cực như trong các phân tích kinh tế thông thường. Ông còn lưu ý rằng, so với 30 năm trước, thì giờ đây ảnh hưởng có vẻ còn mạnh hơn vì các nền kinh tế đang phát triển hiện có nợ nước ngoài lớn hơn trước đây.  ——  * TS. Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR),   Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thống kê thú vị về các giải Nobel kinh tế      Tờ Tuần kinh tế Đức đã có một bài tổng kết những điểm chung thú vị về các giải Nobel kinh tế dưới góc nhìn dí dỏm hài hước.          Chính xác thì giải Nobel kinh tế không được đề cập trong di chúc của nhà khoa học Thuỵ điển Alfred Nobel, mà tới năm 1969 mới được Ngân hàng Trung ương Thuỵ Điển đề xuất. Ngày nay giải Nobel về kinh tế học có một chỗ đứng vững chắc bên cạnh giải Nobel về vật lý, hoá học, y học, văn học và hoà bình. Các nhà kinh tế coi giải thưởng này là một niềm vinh dự to lớn. Ngoài ra giải thưởng còn mang lại một số lợi ích khác cho các nhà khoa học như được mời tham dự các hội nghị quốc tế, được mời viết bài, một số sách bán chạy… Và cuối cùng tài khoản của người được giải tăng thêm 8 triệu kron Thuỵ điển (khoảng 840.000 Euro). Tuy vậy, nhà kinh tế nào muốn nhận được một cuộc điện thoại từ Stockholm nhất thiết phải đạt được các điều kiện trong bản hướng dẫn gồm sáu bước dưới đây:  Quy tắc 1: Hãy nghiên cứu về những hiện tượng kinh tế vĩ mô  Kinh tế vĩ mô là một chủ đề được Ủy ban giải thưởng ưa thích. Những người đề ra các mô hình tổng thể mô phỏng tiêu dùng, lãi suất hay giá cả tác động tới sự phát triển của nền kinh tế như Paul Samuelson, John Hicks, Kenneth Arrow, Gerard Debreu và Maurice Allais… đã “đáp ứng” được điều kiện này.  Lĩnh vực thương mại và kinh tế đối ngoại cũng có nhiều triển vọng. Các các nhà kinh tế học như Bertil Ohlin, James Meade, Robert Mundell và Paul Krugman đã được giải Nobel về các lĩnh vực này.  Quy tắc 2: Đừng bận tâm đến lịch sử kinh tế  Đến nay mới chỉ có một giải Nobel cho các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế, đó là Robert Fogel và Douglass North vào năm 1933. Hai nhà kinh tế học này nghiên cứu về sự phát triển kinh tế ở Hoa kỳ và châu Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp.  Quy tắc 3: Các nhà nghiên cứu kinh tế lý thuyết thường có ý tưởng tuyệt với ở độ tuổi  20  Nhà kinh tế học Paul Samuelson làm trợ lý giáo sư tại Học viện công nghệ Massachusett khi mới 25 tuổi, xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Foundations of Economic Analysis” vào năm 30 tuổi và được giải Nobel vào năm 1970. Phải chăng Samuelson là một trường hợp ngoại lệ khi thành công từ rất sớm? Hai nhà kinh tế Bruce Weinberg ở đại học Ohio và David Galenson ở đại học Chicago muốn biết rõ điều này và đã phân tích quá trình thăng tiến của 31 người được giải Nobel. Họ đã chia các nhà nghiên cứu kinh tế thành hai loại: nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm và sau đó đánh giá xem các nhà khoa học này thường đưa ra những ý tưởng to lớn ở độ tuổi nào. Căn cứ để đánh giá các ý tưởng, công trình khoa học của các nhà kinh tế đó là số lượng trích dẫn. Bruce Weinberg và David Galenson đã phát hiện ra một quy luật thú vị: Các nhà nghiên cứu lý thuyết thường là thần đồng và họ có những ý tưởng tuyệt vời nhất ở độ tuổi từ 23 đến 29. Còn các nhà nghiên cứu thực nghiệm thì có con đường thăng tiến chậm hơn, họ thường cho ra đời những ấn phẩm có ảnh hưởng lớn khi ở tuổi ngũ tuần.  Quy tắc 4: Sau khi được giải sẽ nghiên cứu ít hơn  Hai nhà tin học và toán học Santo Fortunato và Raj Kumar Pan ở đại học Aalto, Phần Lan đã nghiên cứu về năng suất lao động của 12 người được giải Nobel. Fortunato và Kumar Pan đã so sánh số lượng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học này trước và sau khi được giải. “Số lượng bài đăng tạp chí giảm sau khi họ được giải” hai nhà nghiên cứu nhận xét. Có thể sau khi được giải thưởng, các nhà khoa học này có thêm các nhiệm vụ khác và phải đi công tác nhiều hơn.  Quy tắc 5: Muốn được giải hãy sang Mỹ cư trú  Ai muốn được giải Nobel phải cư trú ở Mỹ vì không có nước nào có nhiều người được giải Nobel như Mỹ. Trong số 76 người được giải Nobel cho tới nay thì 53 người là công dân Mỹ. Ngay cả trong số ít ỏi những người được giải không phải là người Mỹ thì cũng đã làm việc lâu năm ở các đại học của Mỹ.  Trường đại học Chicago là cái nôi đào tạo những nhà khoa học được giải Nobel với 28 người được giải Nobel. Các trường đại học nổi tiếng khác như Harvard, Princeton và Berkeley cũng không sánh nổi đại học Chicago.  Quy tắc 6: Phải là nam giới  Cho đến nay 99% những người được giải Nobel đều là nam giới. Một ngoại lệ duy nhất là nữ kinh tế gia Hoa kỳ Elinor Ostrom, được giải Nobel năm 2009.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.        Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Thông tin bất cân xứng – rủi ro tiềm ẩn      Ngày 9/1/2007, Thời báo kinh tế Việt Nam đăng tin, nhiều nhà đầu tư cá nhân đã thua lỗ hàng trăm triệu đến bạc tỷ do mua cổ phiếu của các công ty lần đầu lên sàn có giá bị đẩy lên quá cao1. Tiếp đến, là sự bất thường trong hàng loạt các cuộc đấu giá cổ phiếu, khi sự chênh lệch giữa các mức đấu giá thành công quá cao khiến nhiều nhà đầu tư muốn bỏ tiền đặt cọc chạy lấy người… Đây sẽ không phải là những trường hợp cá biệt mà có thể trở thành một làn sóng làm rung chuyển toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam, mà một trong những nguyên nhân sâu xa chính là hiện tượng thông tin bất cân xứng.    Thông tin bất cân xứng xuất hiện khi người mua và người bán có các thông tin khác nhau. Người buôn ngựa mang một con ngựa vừa già vừa xấu ra chợ. Bỏ một con lươn còn sống vào trong cổ họng của nó. Con ngựa sẽ thể hiện sự tràn đầy sức sống… Đó là những thủ đoạn lừa gạt. Một bên của thị trường là những kẻ lừa đảo. Còn bên kia là những người cố tránh những kẻ lừa đảo. Nếu thái quá, thị trường sẽ hoàn toàn bị sụp đổ. Và cả người tốt lẫn người xấu đều bị thua thiệt.2  Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành ký kết hợp đồng. Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa. Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường. Rốt cuộc trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu- những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho cả hai bên. Như vậy, hiện tượng lựa chọn bất lợi đã cản trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Thông tin bất cân xứng còn gây ra hiện tượng tâm lý ỉ lại (moral hazard) sau khi hợp đồng đã được giao kết nhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí.  Làm thế nào để hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng?  Michael Spence chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu (signaling): bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy. Với việc phát tín hiệu này, người bán những sản phẩm chất lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém với người bán hàng hóa chất lượng thấp. Spence lấy ví dụ bằng thị trường lao động. Người bán là những ứng cử viên đi xin việc và người mua là nhà tuyển dụng. Nhà tuyển dụng không thể trực tiếp quan sát các khả năng của ứng cử viên mà chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua bằng cấp của họ. Nếu những người kém năng lực phải mất nhiều thời gian và nỗ lực hơn những người có năng lực để đạt được cùng trình độ học vấn thì những người có năng lực có thể phát tín hiệu bằng cách đạt được những bằng cấp mà người kém năng lực không thể đạt được. Hay một ví dụ khác, việc triển khai các chương trình quảng cáo đắt tiền, việc duy trì chế độ bảo hành cho sản phẩm, việc chia cổ tức cho cổ đông… đó đều là những cách phát tín hiệu trên thương trường.  Joseph Stiglitz đã tiếp tục bổ sung vào công trình nghiên cứu của Akerlof và Spence. Stiglitz đặt ra vấn đề là bản thân những người có ít thông tin hơn cũng có thể tự cải thiện tình trạng của mình thông qua cơ chế sàng lọc (screening). Ông đã chỉ ra rằng bên có ít thông tin hơn có thể thu thập thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau. Ví dụ điển hình là các công ty bảo hiểm thường cung cấp những loại hợp đồng bảo hiểm với các mức phí bảo hiểm khác nhau, tương ứng với mức bồi thường khác nhau. Các khách hàng sẽ tự lựa chọn loại hợp đồng bảo hiểm phù hợp với mình, do đó tự phân hóa thành các loại khách hàng khác nhau. Những khách hàng có rủi ro thấp thường thích loại hợp đồng có phí bảo hiểm thấp trong khi khách hàng có rủi ro cao lại lựa chọn hợp đồng có phí bảo hiểm cao.  Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém.    Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam  Trên thị trường chứng khoán, hiện tượng bất cân xứng xảy ra khi: doanh nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi…; doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư; doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ tập trung vào việc “làm giá” trên thị trường chứng khoán; có sự rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu ảo trên thị trường dẫn đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt cho doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch; các trung gian tài chính cung cấp, xử lý thông tin không chính xác…  Tình trạng bất cân xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường.  Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như bất kỳ thị trường mới nổi nào trên thế giới, hiện tượng thông tin bất cân xứng xảy ra phổ biến trên mọi ngành, lĩnh vực.  Thứ nhất, ngoài các thông tin bắt buộc theo luật định phải công bố thì các doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời. Đặc biệt đối với các công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường phi chính thức (OTC), tình trạng phổ biến là nhà đầu tư hầu như mù mờ về tình hình làm ăn, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Các thông tin tìm được chủ yếu qua nguồn tin riêng, trên các diễn đàn chứng khoán hoặc tin đồn. Một thực trạng nữa là đối với các công ty chào bán lần đầu ra công chúng thực hiện đấu giá tại cơ sở, Ban giám đốc công ty có xu hướng che giấu các thông tin để “dìm giá“ sao cho những người nội bộ công ty có thể mua được cổ phiếu với giá thấp.  Thứ hai, có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai. Sự rò rỉ thông tin phổ biến trong công tác đấu giá cổ phiếu. Hiện nay, quy chế đấu giá do UBCK ban hành chỉ yêu cầu các Trung tâm giao dịch chứng khoán công bố tổng số nhà đầu tư tham gia đấu giá và tổng lượng CP đặt mua, trong khi những thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến việc đặt giá như số lượng nhà đầu tư tổ chức/nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá; số lượng CP đặt mua của các đối tượng này, lại không được công bố cụ thể. Điều đáng nói là, những thông tin này không được bảo mật chặt chẽ mà được cung cấp một cách riêng lẻ cho những đối tượng có nhu cầu. Những người nắm được cụ thể, chi tiết về tổng cầu cổ phiếu của thị trường, các cá nhân tổ chức nào tham gia đấu giá sẽ tính toán được hợp lý mức giá mà mình bỏ thầu, qua đó chiếm lợi thế so với các nhà đầu tư khác không có thông tin.3  Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các thông tin có lợi của công ty. Ví dụ đối với các quyết định của Hội đồng quản trị như chia cổ tức bằng cổ phiếu thưởng, tăng quy mô vốn… thông thường do các nguồn quan hệ cá nhân, một số nhà đầu tư còn biết trước khi Trung tâm chứng khoán công bố vài ngày và đã tranh thủ thu mua cổ phiếu để chờ giá lên. Đến khi các nhà đầu tư còn lại biết được thông tin thì đã quá muộn. Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang diễn ra theo hiện tượng “bầy đàn”, vì có sự suy diễn rằng, việc mua hàng loạt hay bán hàng loạt cổ phiếu của một nhóm nhà đầu tư nào đó là do có thông tin biết trước.  Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không công bố rộng rãi. Đến nay, một hiện tượng phổ biến cho thấy các cuộc đấu giá thì người đấu giá thành công chủ yếu là các nhà đầu tư tổ chức. Loại trừ khả năng các nhà đầu tư tổ chức có kinh nghiệm, kỹ năng phân tích và “trường vốn” hơn thì người ta cũng nghi ngờ các nhà đầu tư nhận được nhiều thông tin chất lượng hơn so với các nhà đầu tư cá thể.  Thứ tư là hiện tượng lừa đảo. Đây không phải là hiện tượng phổ biến trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhưng rất đáng cảnh báo các nhà đầu tư nghiệp dư, đặc biệt những người không có kiến thức về chứng khoán và kinh tế lại có tham vọng làm giàu bằng kinh doanh chứng khoán. Báo Vnexpress đăng tin, một số cá nhân đã lừa đảo bán cổ phiếu giả cho những nhà đầu tư nhẹ dạ ở Hải Phòng để thu được gần 800 tỷ đồng.4 Tiếp đó là vụ lừa đảo hàng chục tỷ đồng, lợi dụng lòng tin của những người chơi chứng khoán nhỏ lẻ để ôm tiền bỏ chạy.5  Thứ năm là việc tung tin đồn thất thiệt. Trong thời gian 6 năm hoạt động của thị trường chứng khoán, có không ít tin đồn ảnh hưởng đến uy tín của các công ty niêm yết. Các tin này thường được tung ra trên các diễn đàn chứng khoán (forum), trên các sàn giao dịch chứng khoán, hoặc được truyền miệng. Do nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm, kỹ năng để kiểm chứng nguồn thông tin, đồng thời do cơ chế thông tin của doanh nghiệp còn yếu kém, chậm chạp nên dẫn đến gây tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá cả cổ phiếu trên thị trường. Trong khi đó, các quy định của Nhà nước về việc xử phạt đối với việc tung tin đồn trên thị trường chứng khoán vẫn còn trong giai đoạn soạn thảo. Cơ chế phát hiện đối với việc tung tin đồn cũng chưa rõ ràng.  Thứ sáu là các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ. Đây không phải là hiện tượng phổ biến nhưng khiến cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp không mấy tin cậy vào chất lượng thông tin của các cơ quan báo chí. Ví dụ, thông tin về SJS “sập sàn” do báo Tiền phong điện tử đăng ngày 12/1/20076. Thực chất là do SJS chia 3 cổ phiếu thưởng cho 1 cổ phiếu hiện tại nên giá cổ phiếu của công ty giảm tương ứng từ 728.000đ/CP xuống còn 190.000đ/CP. Mặt khác, về nội dung thông tin do cơ quan truyền thông cung cấp, chủ yếu vẫn là tin tức, diễn biến thị trường, chưa có nhiều các thông tin nhận định phân tích mang tính định hướng cho nhà đầu tư và thị trường.  Ngoài ra còn nhiều hiện tượng khác về việc một số nhà đầu tư làm giá, tạo cung cầu ảo trên thị trường khiến cho giá cả biến động mạnh. Sự thua thiệt thuộc về các nhà đầu tư cá nhân, không có nguồn tin nội bộ, khi muốn mua thì không thể nào tìm được nguồn mua do các nhà đầu tư lớn đã thâu tóm toàn bộ, khi muốn bán thì cũng không thể nào bán được do thị trường bão hòa…  Mặc dù đến nay chưa có những nghiên cứu định lượng nhưng có thể khái quát bức tranh toàn cảnh tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam khá hỗn độn. Điều này phù hợp với đánh giá của các chuyên gia về tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển quá nóng, không phản ánh thực chất giá trị của doanh nghiệp và cung cầu thị trường.  ———–  * Khoa QTKD- Đại học Ngoại thương  Vì sao nhiều nhà đầu tư cá nhân lỗ nặng?, http://www.chungkhoandenhat.com/show.jsp?id=0701090044381  2 Bài phát biểu của George A. Akerlof tại bữa tiệc trao giải Nobel, ngày 10/12/2001, http://www.kinhtehoc.com/index.php?name=News&file=article&sid=155  3 Đâu tư chứng khoán, Số 49 (365) ra ngày 4/12/2006, Mới chỉ sai đâu sửa đấy, tại http://www.vir.com.vn/CLIENT/DautuChungkhoan/content.asp?CatID=5&DocID=12029  4 Lừa đảo bán cổ phiếu trị giá gần 800 tỷ đồng, http://www.vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2006/09/3B9EDE05/  5 Lừa chơi chứng khoán chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng, http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/Chung-khoan/2007/01/3B9F2AE8/  6 Đính chính, http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=73117&ChannelID=3    Thứ hai, ngày 19 tháng 10 năm 1987 – “Ngày thứ hai đen tối”, chỉ số Dow Jones tụt 508 điểm (22,9%), một trong những sự đổ vỡ lớn nhất của lịch sử chứng khoán. Sử dụng một phương pháp phân tích tương tự như phương pháp được áp dụng để nghiên cứu nhịp tim, các nhà nghiên cứu đã phát hiện một số hiện tượng bất thường xảy ra trước sự đổ vỡ này. Những kết quả này tỏ ra là rất có ích cho các nhà kinh tế trong việc phân tích rủi ro và đoán nhận được những sự đổ vỡ không thể tránh khỏi trong tương lai.  Mặc dù giá cổ phiếu thường dao động, nhưng những biến đổi trên toàn thị trường lại tương đối nhỏ. Không ai biết tường tận được những nguyên nhân đổ vỡ của thị trường cổ phiếu, người ta chỉ biết rằng, điều này có liên quan đến rất nhiều yếu tố.  Trong khi phân tích những dao động giá cổ phiếu dựa trên sự tương đồng với các hiện tượng chuyển pha và động học tới hạn, các nhà vật lý Đại học Tokyo (Kiyono và các cộng sự) đã quan sát thấy một số biểu hiện đáng ngạc nhiên xảy ra trước các vụ đổ vỡ. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, trong suốt một năm trước Ngày thứ hai đen tối, xác suất của những dao động giá lớn tăng một cách bất ngờ, cứ như thể là nó đang tiếp cận một điểm tới hạn báo hiệu một sự thay đổi lớn. Ở điểm tới hạn (tức là ngày đổ vỡ), một sự chuyển pha đột ngột đã xảy ra khi mẫu hình xác suất từ phụ thuộc thang chuyển thành bất biến thang. Sự bất biến thang trong trường hợp này có nghĩa là giá cổ phiếu không còn phụ thuộc vào thang thời gian nữa, đó là biểu hiện đặc trưng xảy ra ở điểm tới hạn.  “Dựa theo sự tăng đột ngột của xác suất trước Ngày thứ hai đen tối, chúng tôi nhận định rằng, qua một quá trình động học nội tại, hệ dần dần đạt đến một điểm tới hạn, điều đó có vẻ như đã dẫn đến một sự đổ vỡ,” các nhà nghiên cứu đã viết như vậy trong một công trình đăng trên Physical Review Letters.  Mô hình “tới hạn” được xây dựng dựa trên ý tưởng là tính bất ổn của sự biến động giá có thể dùng để đánh giá một cách định lượng mức độ dao động của thị trường. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên một mình tính bất ổn thì không thể giải thích được những dao động giá lớn. Nhóm của Kiyono cũng nghiên cứu những biến động giá trong một thang thời gian ngắn (cỡ 10 phút) và đã phát hiện ra sự tồn tại của một xác suất dao động giá lớn. Tính tương đồng của những dao động giá trong những thang thời gian khác nhau là rất giống với đặc tính của các hiện tượng động đất và nhịp tim, chúng cũng là những hiện tượng bất biến thang. Các nhà vật lý tin rằng, chính những dao động giá cổ phiếu ở thang nhỏ có thể đã gây nên hiện tượng tập trung thành nhóm của những người giao dịch, và hiện tượng này bùng nổ nhanh chóng qua những tương tác nội tại với thị trường cổ phiếu.  “Nếu những đặc trưng như vậy cũng có thể xảy ra đối với các chỉ số cổ phiếu khác thì nghiên cứu của chúng tôi có thể được áp dụng cho việc đánh giá rủi ro một cách định lượng”, các nhà nghiên cứu nói.  Sự tăng xác suất dao động giá có nhất thiết dẫn đến một sự đổ vỡ hay không? Không, bởi vì ngay cả sự phân tích thống kê đáng tin cậy nhất cũng không thể tính hết được các yếu tố bên ngoài. Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu đã từng quan sát được trong tư liệu hồi trước năm 1990 những dao động giá cực lớn. Tuy nhiên, vào tháng 8 năm đó, việc Iraq tấn công Kuwait và sau đó là chiến tranh vùng vịnh (1991) đã dẫn đến sự xuống dốc của giá cổ phiếu. Quá trình động học của thị trường cổ phiếu khi ấy đã trải qua một sự thay đổi sâu sắc, những biến động đã không thể đạt tới điểm giới hạn và một sự chuyển pha đã không xảy ra.  TTD (Theo Lisa Zyga, PhysOrg.com/Physical Review Letters. 96, 068701)  Nguyễn Thúy Anh*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử đặt lại vấn đề phát triển bền vững khu vực Tây Nguyên      Thực tế cho thấy: hiện đại hóa ở  Tây Nguyên về cơ bản vẫn là quá – trình – một – công – đoạn, quá trình  từ bên ngoài, quá trình từ bên trên. Trong khi đó, nội lực cần thiết từ  nền tảng cộng đồng lại hầu như bị lãng quên. Đây vừa là hạn chế căn bản,  vừa là nguyên nhân dẫn đến những mặt trái của hiện đại hóa Tây Nguyên  hiện nay.       Khoảng hai thập niên trở lại đây, các cụm từ phát triển bền vững quốc gia và phát triển bền vững vùng, đặc biệt là phát triển bền vững khu vực Tây Nguyên ngày càng trở nên quen thuộc trong đời sống xã hội Việt Nam. Chúng phổ cập đến nỗi, trong nhiều trường hợp, đã hóa thành những khẩu hiệu chung chung, hình thức. Với cụm từ phát triển bền vững Tây Nguyên, không ít người mặc nhiên xem nó như một ý niệm đã hoàn tất và không hề truy vấn về nội dung cốt lõi ẩn sau lớp vỏ ngôn từ: Vậy thì, thực chất của phát triển bền vững Tây Nguyên là gì? Trong bối cảnh Tây Nguyên đang đối diện với hàng loạt nhan đề của công cuộc phát triển, và chương trình Tây Nguyên III1 sắp được triển khai nhằm mở đường cho các kiến tạo chính sách, thể chế đối với khu vực cao nguyên này, việc tiếp tục đặt lại câu hỏi vừa nêu, xét đến cùng, vẫn vẹn nguyên ý nghĩa thời sự của nó.     Thách thức của hiện đại hóa  Phát triển bền vững Tây Nguyên, về bản chất, là hiện đại hóa sao cho hợp lí và hiệu quả một khu vực yếu lược và đặc thù trong bối cảnh phát triển của Việt Nam. Một khu vực mà nếu xét trên bình diện tổng thể, bất cứ chuyển động nào của nó cũng tác động không chỉ đến cấu trúc nội vùng, mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến các cấu trúc ngoại vùng, liên vùng, liên quốc gia.   Tây Nguyên là quê hương của trên 20 tộc người bản địa – những cộng đồng mà cho đến trước cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, về cơ bản, vẫn nằm ngoài lề của các qui hoạch thể chế. Vì suốt quãng thời gian dài dằng dặc đó, toàn bộ khu vực mà ngày nay ta gọi là Tây Nguyên luôn nằm ngoài tầm với của các bàn tay nhà nước. Do vậy, Tây Nguyên gần như vô can trước những áp lực, tác động của thế giới bên ngoài – đặc biệt là thế giới đồng bằng phía Đông, phía biển – thế giới của văn minh, đổi mới và hiện đại. Bởi thế, các sử gia Trung Quốc thế kỉ XIV đã xếp người Thượng vào nhóm Seng-Li (man di sống) – là nhóm các dân tộc vẫn giữ được phong tục truyền thống của mình mà không/chưa bị Hán hóa, nhà nước hóa2.   Cho nên, thật dễ hiểu khi vào thập niên 1960, tại một xứ trung tâm như Buôn Ma Thuột, nhà dân tộc học người Pháp Anna. de Hautecloque còn chứng kiến tình trạng lạc lõng của người bản địa trước đời sống hiện đại: “Xứ Đắk Lắk được bình định và ổn định, có thể nói, đã tư sản hóa. Còn về tác động [của hiện đại hóa] đối với các cá nhân, cung cách ứng xử cùng nếp suy nghĩ của họ, qua nửa thế kỷ tiếp xúc với thế giới gọi là “văn minh” – nếu ta đưa ngược sự tiếp xúc này lên đến thời xứ sở mở cửa cho các hãng châu Âu vào năm 1926 – vô vàn chi tiết chứng minh rằng ảnh hưởng đó thường chỉ hời hợt và trong mọi trường hợp đều cực kì chậm chạp”3. Đến nay, dù đã có một thời gian khá dài làm quen với thế giới phát triển, nền tảng cổ truyền vẫn còn tác động đáng kể đến đời sống của các cộng đồng bản địa Tây Nguyên, cả ở dạng hiển hình lẫn tàng hình.        “Thực tại Tây  Nguyên hiện tồn, mà chúng ta  sẽ phân tích, kỳ thực là một quá khứ còn  sống cho đến ngày hôm nay,  nhưng nó không nhất thiết phải biến mất  đi… với điều kiện ta cứu vãn  được những điều kiện tối thiểu để hoàn  thiện được cuộc thử nghiệm…  Toàn bộ vấn đề là làm thế nào cho vận  động đang diễn ra có được những  điều kiện một mặt vẫn giữ được một diện  mạo truyền thống và mặt khác,  ứng dụng vào một ngày mai mới mẻ, tìm  thấy được sự tiến bộ làm cho  Truyền thống ấy nảy nở.”   Jacques Dournes        Từ những năm 1950, nhờ vốn hiểu biết sâu sắc về các tộc người xứ Thượng, Jacques Dournes – một nhà Tây Nguyên học tầm cỡ của nước Pháp, đã cảnh báo về một tương lai bất trắc của các nền văn hóa bản địa Tây Nguyên khi chúng trực diện với chủ nghĩa thực dân phương Tây – một quá trình đã bắt đầu từ vài chục năm trước đó. Trước hết, ông thuật lại một nhỡn tiền từ công cuộc khai hóa Tây Nguyên: “Ngày hôm nay, người ta đem đến cho họ những gì cần có để xây dựng một ngày mai mới mẻ, và đấy là một nghĩa vụ mặc dầu nó hàm chứa những mạo hiểm có thể lường trước. Nếu họ không cầm lấy những công cụ người ta đưa cho họ, ấy là hoặc vì người ta đã đưa cho họ không phải cách, hoặc là vì họ bị mê hoặc bởi một quá khứ co cụm, nó sẽ làm cho họ trở thành một kẻ cùng khổ của nhân loại, họ sẽ là một người Mọi, không có ngày mai”4.   Bởi vì các tộc người cao nguyên rất dễ tổn thương trước tác động của cái mới – từ bên ngoài, nên Jacques Dournes tỏ ra trăn trở về một hướng đi có khả năng giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản địa và ngoại lai. Ông viết bằng lương tri và trách nhiệm của một người trong cuộc, một phần tử máu thịt của đồng bào Tây Nguyên: “Thực tại Tây Nguyên hiện tồn, mà chúng ta sẽ phân tích, kỳ thực là một quá khứ còn sống cho đến ngày hôm nay, nhưng nó không nhất thiết phải biến mất đi … với điều kiện ta cứu vãn được những điều kiện tối thiểu để hoàn thiện được cuộc thử nghiệm … Toàn bộ vấn đề là làm thế nào cho vận động đang diễn ra có được những điều kiện một mặt vẫn giữ được một diện mạo truyền thống và mặt khác, ứng dụng vào một ngày mai mới mẻ, tìm thấy được sự tiến bộ làm cho Truyền thống ấy nảy nở”5.   Theo Jacques Dournes, hiện đại hóa không nhất thiết phải từ bỏ truyền thống nếu truyền thống còn khả dụng. Do đó, hiện đại hóa còn là tìm cách hỗ trợ truyền thống, tái cấu trúc truyền thống, giúp truyền thống có thêm những tính năng mới để hội nhập thành công với hiện đại. Đây là một luận điểm thú vị, một gợi dẫn hữu ích cho một tiếp cận hợp lí về phát triển bền vững Tây Nguyên sau này.   Tác động một chiều từ bên ngoài vào  Theo chúng tôi, căn cứ vào các điều kiện đặc thù, quá trình hiện đại hóa Tây Nguyên phải là một quá trình gồm hai công đoạn diễn ra đồng thời: một mặt, từ ngoài vào, là sự chuẩn bị và cung cấp các nguồn lực vật chất cần thiết (lao động, hạ tầng, vốn, chính sách …); mặt khác, từ trong ra, là hình thành các điều kiện cho phép các cộng đồng bản địa đủ sức thích ứng với hiện đại hóa (năng lực tham gia thị trường, năng lực xã hội hóa, ý thức cá nhân, tâm lí chấp nhận thay đổi …).   Giữa hai công đoạn ấy, cái sau đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn cái trước, nhưng lại hết sức cần thiết để cân bằng và phòng ngừa những khuyết tật mà cái trước gây ra. Vì vậy, cái sau là tiền đề của cái trước, một đảm bảo để cái trước thành công. Nếu thiếu cái sau thì hiện đại hóa không còn là một diễn tiến vận động mang tính quá trình như ý nghĩa tự thân của nó, mà chỉ là phép cộng cơ học của các dự án – chương trình đơn lẻ, thậm chí bị biến dạng so với mục tiêu, tính chất ban đầu.         Hiện đại hóa  là tìm cách hỗ trợ truyền  thống, tái cấu trúc truyền thống, giúp truyền  thống có thêm những tính  năng mới để hội nhập thành công với hiện đại.        Tuy nhiên, thực tế cho thấy: hiện đại hóa ở Tây Nguyên về cơ bản vẫn là quá – trình – một – công – đoạn, quá trình từ bên ngoài, quá trình từ bên trên. Trong khi, một nội lực cần thiết từ nền tảng cộng đồng lại hầu như bị lãng quên. Đây vừa là hạn chế căn bản, vừa là nguyên nhân dẫn đến những mặt trái của hiện đại hóa Tây Nguyên hiện nay – đã được Dự thảo chương trình Tây Nguyên III khái quát thành 5 điểm chính: (1) Tăng trưởng không bền vững, GDP đầu người thấp, tỷ lệ nghèo đói cao; (2) Khai thác tài nguyên ồ ạt và sử dụng đất không hợp lý; (3) Suy thoái môi trường diễn ra nhanh chóng; (4) Gia tăng dân số quá nhanh, đặc biệt là tình trạng di dân tự do không kiểm soát được; (5) Phân hóa và mâu thuẫn xã hội gia tăng6.   Dĩ nhiên, đối tượng thiệt thòi hơn cả từ quá trình biến đổi Tây Nguyên vẫn là các cộng đồng bản địa. Sau 1975, đặc biệt từ sau thập niên 1990, khi công cuộc phát triển Tây Nguyên được đẩy mạnh cả về quy mô lẫn cường độ, các tộc người thiểu số đối mặt với hàng loạt thử thách mang tính sống còn. Ngoại trừ một bộ phận nhỏ thích ứng thành công với hiện đại hóa, nhiều cộng đồng đã “nếm trái đắng” của quá trình này khi nền tảng văn hóa tộc người bị xáo trộn, giải thể, vỡ tan trước tác động dồn dập của các làn sóng văn hóa mới.  Câu hỏi chưa có lời đáp  Rõ ràng, vấn đề nổi cộm của công cuộc phát triển Tây Nguyên hiện nay là tình trạng mất cân đối giữa một bên là các chương trình hiện đại từ bên trên/từ bên ngoài không ngừng được triển khai, với một bên là một số lượng không nhỏ các cộng đồng bản địa chưa hội đủ các điều kiện chủ quan để tiếp nhận hiện đại hóa.   Như vậy, thực chất của phát triển bền vững Tây Nguyên là tìm cách giải quyết tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa hai công đoạn của quá trình hiện đại hóa. Thay vì đề cao quá mức công đoạn từ bên ngoài như hiện nay, cần thừa nhận và đưa công đoạn từ bên trong trở về vị trí xứng đáng của nó trong chu trình hiện đại hóa. Nói khác đi, phát triển bền vững Tây Nguyên trước hết và thực chất phải bắt nguồn từ phát triển bền vững cộng đồng, cụ thể là cộng đồng làng buôn – đơn vị nền tảng của các cộng đồng thiểu số ở Tây Nguyên. Hơn nữa, bởi lẽ công cuộc phát triển cộng đồng diễn ra trong bối cảnh hiện đại hóa – toàn cầu hóa, nên để hiện thực được mục tiêu này, tất yếu phải đi đến trả lời câu hỏi: các cộng đồng bản địa cần những điều kiện tối thiểu nào để thích ứng thành công với hiện đại hóa?   Có thể nói, đấy là câu hỏi mang tính bản thể luận trong mọi trầm tư liên quan đến cục diện Tây Nguyên đương đại – một câu hỏi tưởng chừng hết sức hiển nhiên, nhưng đến nay, vẫn chưa hề được quan tâm đúng mực để tìm ra một lời giải thích đáng. Cần nhấn mạnh thêm rằng, chất lượng của lời giải sẽ ảnh hưởng quyết định đến mức độ thành công của các đề án hiện đại hóa đã, đang và sẽ triển khai trên xứ Thượng, và không chỉ xứ Thượng: nó còn là một cứu cánh cho những khu vực đang hăm hở chuyển mình để trở nên hiện đại, văn minh trên đất nước này.  —  1. Tên đầy đủ của nó là Chương trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên – môi trường, kinh tế – xã hội và đề xuất luận cứ khoa học công nghệ phục vụ chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2011  2. Đối lập với họ là Cho-Li, tức các tộc người đã bị Hán Hóa, Hoa hóa. Dẫn theo Jacques Dournes, PÖTAO, một lí thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương (Nguyên Ngọc dịch), bản word.  3. Anna.de Hautelocque, Người Ê-đê – một xã hội mẫu quyền (Nguyên Ngọc và Phùng Ngọc Cửu dịch), bản PDF, tr. 17.  4. Jacques Dournes, Miền đất huyền ảo (Nguyên Ngọc dịch), bản PDF, tr. 6.  5. Jacques Dournes, Miền đất huyền ảo (Nguyên Ngọc dịch), bản PDF, tr. 5 – 6  6. Đề cương chương trình nghiên cứu Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 (Dự thảo) do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam đồng chủ trì.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu hồi dự án công viên phần mềm lớn nhất Việt Nam      Chiều ngày 7/11, UBND TP.HCM đã thông báo kết luận của Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Hoàng Quân, chỉ đạo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đã cấp cho công ty TNHH TA Associates Việt Nam thực hiện dự án công viên phần mềm Thủ Thiêm 15,9ha tại phường An Lợi Đông, quận 2, TP.HCM.    Theo kết luận này, TP.HCM đã tạo điều kiện cho TA Associates Việt Nam thực hiện dự án trên trong khu đô thị mới Thủ Thiêm nhưng công ty vẫn kéo dài thời gian, không thực hiện cam kết đầu tư ban đầu, đồng thời đưa ra những kiến nghị không phù hợp với cam kết.   Ba năm không nhúc nhích  Công ty TNHH TA Associates Việt Nam (sau đây gọi tắt là công ty TA) được cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án công viên phần mềm Thủ Thiêm vào tháng 6/2008. Chủ đầu tư tuyên bố sẽ đầu tư 1,2 tỉ USD, khi dự án đi vào hoạt động sẽ tạo ra doanh số 6,5 tỉ USD hàng năm và dự kiến tạo việc làm cho 70.000 người.  Tuy nhiên, sau ba năm khởi công, theo những gì mà chúng tôi ghi nhận vào chiều ngày 8/11, thì khu đất này toàn cỏ lác mọc lút đầu người. Chủ đầu tư chỉ san lấp được một khoảnh đất duy nhất để lấy mặt bằng làm nơi tổ chức lễ động thổ. Theo năm tháng, mặt bằng này hiện nay cũng không còn dấu tích bởi sự hoang hoá. Một người dân sống gần dự án cho biết, ngoài lễ động thổ hồi tháng 6/2008 thì đến nay không thấy chủ đầu tư có động tĩnh xây dựng dự án gì.  Điều đáng nói là, năm 2009, dự án này đã bị ban quản lý Thủ Thiêm (BQLTT) đề nghị UBND TP.HCM thu hồi. Lý do, thời điểm ấy là sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng doanh nghiệp vẫn chưa triển khai dự án. Không những thế, công ty TA đã có một số đề nghị không đúng với cam kết khi lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư.  Ví dụ, công ty TA đề nghị tăng diện tích sàn khu nhà ở từ 10% (tương đương 65.000m2) lên 26% tổng diện tích sàn. Đặc biệt, khu nhà ở có thể được chào bán cho tất cả mọi người. Khu nhà ở này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng lẻ, cho phép sử dụng đất ở và khu nhà ở được thuê trong 70 năm, cộng với điều khoản tự động gia hạn thuê thêm 70 năm khi kết thúc mỗi thời hạn thuê.  Công ty TA còn đề nghị chia dự án ra thành hai khu vực chính: khu công viên phần mềm và khu nhà ở. Ngoài việc đề nghị điều chỉnh khu nhà ở, công ty còn đề nghị thay đổi tỷ lệ xây dựng khu văn phòng xuống 59%, thay vì 75% như giấy chứng nhận đầu tư đã cấp, khu thương mại 15%…  Bên cạnh đó, công ty TA cũng đề nghị chỉ muốn thuê một phần diện tích nằm cạnh đại lộ Võ Văn Kiệt và sẽ trả trước 30% tiền thuê đất cho phần diện tích mới, 70% còn lại sẽ trả dần trong vòng ba năm (phương án ban đầu của UBND TP.HCM là thuê toàn bộ diện tích đất và trả 100% tiền sử dụng đất).   Tất nhiên, những đề nghị này của công ty TA đã bị UBND TP.HCM từ chối.  Muốn giữ mà giữ không nổi!  Tuy nhiên, thời điểm ấy, nhằm giữ chân nhà đầu tư, UBND TP.HCM có văn bản đưa ra các phương án cho nhà đầu tư lựa chọn. Theo đó, nếu công ty TA thuê 100% diện tích đất như ban đầu (15,9ha), nhà đầu tư sẽ trả trước 60% tiền thuê đất, 40% còn lại trả theo tiến độ cam kết trong vòng ba năm. Còn nếu điều chỉnh quy mô dự án, thành phố vẫn chấp nhận, nhưng phần đất sau điều chỉnh sẽ theo sự bố trí của UBND TP.HCM…  Văn bản khi ấy nêu rõ, trong vòng 20 ngày, kể từ thời điểm ra văn bản (26/3/2010), công ty TA phải có văn bản trả lời chính thức UBND TP.HCM. Đồng thời, công ty TA phải nộp tiền phạt trên tổng số diện tích thuê do chậm thanh toán tiền thuê đất cùng thời điểm nộp 60% tiền thuê đất theo cam kết mới…  Theo BQLTT, kể từ thời điểm này, mặc dù đại diện chủ đầu tư và BQLTT có làm việc trực tiếp với nhau nhiều lần nhưng không tìm được tiếng nói chung. Phía chủ đầu tư không đồng ý với khoản tiền phạt do chậm đóng tiền thuê đất. BQLTT không chấp thuận cho nhà đầu tư ký hợp đồng thuê đất…  Để đẩy nhanh tiến độ, tháng 8/2011, BQLTT đã có văn bản gửi chủ đầu tư, với nội dung, trường hợp nhà đầu tư vẫn muốn tiếp tục dự án, thành phố sẽ thuê tư vấn để định giá đất. Giá thẩm định của tư vấn sẽ được chuyển qua sở Tài chính xem xét và UBND TP.HCM phê duyệt. Trên cơ sở giá mới này, hai bên sẽ thương lượng (theo quy định, đối với trường hợp nhà đầu tư chưa được giao đất thì giá đất sẽ được thẩm định lại theo sát giá thị trường để hai bên xem xét và ký hợp đồng thuê đất). Tuy nhiên, một thời gian dài sau, TA vẫn không có văn bản phản hồi.  Trao đổi qua điện thoại, chiều ngày 8/11, đại diện chủ dự án cho biết, cho đến chiều cùng ngày, phía tập đoàn Đầu tư Sài Gòn cũng như công ty thành viên góp vốn thực hiện dự án chưa nhận được bất cứ văn bản thu hồi nào của UBND TP.HCM như báo chí thông tin, do vậy chưa thể có ý kiến bình luận gì. Tuy nhiên, vị đại diện này cũng cho biết, dự án bị thu hồi là điều đương nhiên vì dự án chậm triển khai đã lâu.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu hút vốn FDI đã vượt mục tiêu cả năm      Theo số liệu cập nhật của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online thì thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cả nước cho đến thời điểm này đã vượt qua mục tiêu đặt ra cho cả năm nay, song vẫn còn nhiều khó khăn phía trước trong thu hút đầu tư của Việt Nam.    Từ đầu năm nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trích dẫn đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia kinh tế rằng, nền kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm 2013 sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chưa thể phục hồi mạnh trong năm nay. Vì vậy, dự kiến năm 2013 vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 13-14 tỉ đô la Mỹ (bằng với kết quả thu hút vốn FDI năm 2012 là 13,01 tỉ đô la Mỹ).  Tuy nhiên theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20-8 đã đạt 12,63 tỉ đô la Mỹ, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Và số liệu cập nhật của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online cho thấy đến nay nhiều địa phương đã cấp phép thêm cho các dự án đầu tư mới, nâng tổng vốn FDI được cấp phép từ đầu năm đến nay vượt 14 tỉ đô la Mỹ.  Dự báo này được dựa trên những dự án cấp phép mới nhất của hai địa phương là TPHCM và tỉnh Quảng Ngãi với khoảng 285 triệu đô la Mỹ vốn FDI vừa được cấp vào tuần rồi.  Nhưng đáng kể nhất phải là dự án đầu tư tổ hợp sản xuất điện tử có tổng vốn đăng ký 1,5 tỉ đô la Mỹ của tập đoàn điện tử LG Electronic (Hàn Quốc) đầu tư vào khu công nghiệp Tràng Duệ, thành phố Hải Phòng vừa được cấp phép.  Tổng hợp các số liệu trên cho thấy tổng nguồn vốn FDI cả nước thu hút được đến nay đã vượt 14,4 tỉ đô la Mỹ, cao hơn cả con số dự báo cao nhất trong năm nay mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra từ đầu năm là 14 tỉ đô la Mỹ. Số liệu này cũng chưa bao gồm những kết quả của các địa phương khác cấp phép đầu tư trong tháng 9 này.  Từ đây đến cuối năm còn đến hơn 3 tháng nữa, việc thu hút nguồn vốn FDI được dự báo sẽ tiếp tục tăng. Do đó nguồn vốn FDI thu hút cho cả năm nay có thể tăng cao hơn rất nhiều so với kế hoạch.  Tương tự, tình hình giải ngân vốn thực hiện của các doanh nghiệp FDI, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn đang theo đà thuận lợi và có thể đạt khoảng 10,5-11 tỉ đô la Mỹ như kế hoạch đề ra.  Mặc dù thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong năm nay cao hơn so với kế hoạch, nhưng giới phân tích cho rằng môi trường đầu tư trong nước vẫn còn nhiều yếu kém khi cạnh tranh với các nước trong khu vực.  Ngay lãnh đạo của cơ quan xúc tiến và cấp phép đầu tư nước ngoài cũng thừa nhận những yếu kém này. Trong chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” của Đài truyền hình Việt Nam gần đây, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh thẳng thắn nhận xét: “Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI so với các nước láng giềng như Thái Lan, Indonesia, do mất dần lợi thế về nhân công, tài nguyên và chính sách ưu đãi”.  Theo phân tích của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, hiện tại Việt Nam đang phải chọn lựa những dự án đầu tư có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, và ít ô nhiễm môi trường hơn, khiến thu hút vốn FDI trở nên khó khăn. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng Việt Nam không tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều vì thế môi trường đầu tư của Việt Nam bị giảm sút. Vì lẽ đó, việc thu hút FDI thời gian qua chưa đạt được một số mục tiêu như kỳ vọng.  Tại một hội thảo tháo gỡ khó khăn trong thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mới đây tại TPHCM, đại diện Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cũng nêu những khó khăn tương tự. Chủ trương của Chính phủ Việt Nam hạn chế các dự án thâm dụng lao động, thay bằng những dự án công nghệ cao mang lại giá trị gia tăng nhưng sự sẵn sàng về nguồn lao động cho các lĩnh vực này lại rất yếu. Mặt khác, một khi quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp chưa được bảo vệ tốt, việc cung cấp điện không đảm bảo… thì doanh nghiệp nước ngoài sẽ không dám đưa công nghệ vào.  Thực tế dù vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đổ nhiều vào Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn than phiền môi trường đầu tư còn gặp nhiều vấn đề, từ thủ tục hành chính đến các vấn đề hàng ngày. Theo ông Kimio Yahaguchi, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại TPHCM, nhiều doanh nghiệp Nhật vẫn than phiền về dịch vụ logictics, cơ sở hạ tầng, an toàn giao thông… Thủ tục hành chính phức tạp, chồng chéo, chi phí không chính thức cao, thiếu lao động có tay nghề và công nghiệp phụ trợ chưa phát triển là những trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp.     Việc có nhiều thay đổi trong Luật Đầu tư, Luật Lao động, Luật Môi trường, Luật thuế… trong những năm gần đây đã tác động trực tiếp đến doanh nghiệp. Những thay đổi này, theo các nhà đầu tư khiến họ không kịp xoay xở và không yên tâm đầu tư kinh doanh.  Theo giới phân tích, để Việt Nam trở thành điểm dừng chân và phát triển lâu dài cho các nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi Chính phủ phải có những chiến lược và định hướng rõ ràng và hơn hết cần phải nhận thức môi trường thu hút đầu tư sau 25 năm đã thay đổi rất nhiều và các nước trong khu vực hiện nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm dùng tế bào gốc chỉnh sửa gene điều trị HIV      Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR điều trị cho một người đàn ông bị nhiễm HIV.    Các nhà khoa học ở Trung Quốc đã chỉnh sửa những tế bào gốc của người thành dạng tương tự loại đột biến có miễn dịch tự nhiên hiếm gặp có thể chống virus và cấy chúng vào cơ thể một người đàn ông bị nhiễm HIV và mắc bệnh ung thư máu.   Nghiên cứu đã được công bố trên Tạp chí Y học New England vào ngày 11 tháng 9. Trưởng nhóm nghiên cứu Hongkui Deng, là nhà sinh vật học tại Đại học Bắc Kinh, chia sẻ rằng nghiên cứu này được truyền cảm hứng từ một ca cấy ghép tủy xương rất đáng chú ý cách đây khoảng 10 năm, đã chữa trị thành công cho một người đàn ông nhiễm HIV.  Vào năm 2007, Timothy Ray Brown đã trải qua một ca cấy ghép tủy xương để điều trị bệnh ung thư bạch cầu. Người hiến tủy rất đặc biệt, bởi anh ta mang gene CCR5 đột biến có khả năng miễn dịch với HIV. Sau gần 13 năm cấy ghép, không còn dấu hiệu nhiễm HIV trong máu và bệnh bạch cầu của ông đã thuyên giảm. Vào tháng 3/2019, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng bệnh nhân thứ hai đã trải qua một ca cấy ghép tương tự ở Anh và đã được chữa khỏi.  Deng muốn sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR vào việc tạo ra các tế bào gốc tạo máu được biến đổi gene từ những người hiến bình thường thành tế bào có khả năng kháng HIV, nhằm giúp phương pháp chữa bệnh tiềm năng này được tiếp cận một cách rộng rãi hơn. Ông và các đồng nghiệp đã thử nghiệm phương pháp này trên một người đàn ông 27 tuổi ở Trung Quốc được chẩn đoán nhiễm HIV và mắc bệnh ung thư bạch cầu. Các nhà khoa học đã trích xuất tế bào gốc tủy xương từ một người hiến tặng và sử dụng phương pháp CRISPR-Cas9 để biến chúng thành đột biến CCR5.  Ban đầu, các nhà nghiên cứu không thể sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR để cắt CCR5 trong tế bào gốc. “Tôi đã nghĩ, chà, những tế bào này quả là rắn mặt,” Deng nói. Cuối cùng, họ đã có thể chỉnh sửa 17,8% tế bào gốc của người hiến tặng.  Các nhà nghiên cứu đã trộn lẫn các tế bào gốc được chỉnh sửa với các tế bào gốc chưa được chỉnh sửa. Họ theo dõi tình trạng của người đàn ông sau khi được cấy ghép để xem liệu các tế bào được chỉnh sửa có khả năng tồn tại và tiếp tục tái tạo không, liệu họ có thể thành công trong việc chữa trị cho các bệnh nhân nhiễm HIV hay không, và quan trọng nhất là liệu rằng việc điều trị có an toàn hay không.  Công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR ở người vẫn còn gây tranh cãi, một phần vì nhiều nhà nghiên cứu lo ngại về tác dụng phụ của nó. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng CRISPR đôi khi tạo ra các đột biến không mong muốn trong phòng thí nghiệm — và nếu điều này xảy ra trong cơ thể con người thì sẽ cực kỳ tai hại.  Sau 19 tháng thử nghiệm, các tế bào gốc được chỉnh sửa gene CRISPR vẫn tồn tại, mặc dù chúng chỉ chiếm 5-8% tổng số tế bào gốc của người nhận. Điều này có nghĩa là hơn một nửa số tế bào gốc được chỉnh sửa đã không thể tồn tại sau khi được cấy ghép. Và mặc dù căn bệnh bạch cầu đã thuyên giảm, bệnh nhân vẫn bị nhiễm HIV.  “Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi 5% là không đủ để giảm lượng virus,” Urnov nói, “nhưng hiện tại chúng tôi biết được rằng các tế bào được chỉnh sửa gene CRISPR vẫn có thể tồn tại, và chúng tôi cần phải làm tốt hơn so với con số 5%.” Đối với Deng, điều quan trọng nhất là người đàn ông không phải chịu bất kỳ tác dụng phụ nào do các tế bào chỉnh sửa gene gây ra.    “Đây quả là một tin vui trong lĩnh vực này,” Carl June, một nhà miễn dịch học thuộc Đại học Pennsylvania ở Philadelphia nhận xét. “Hiện tại chúng ta biết được rằng, về nguyên tắc có thể sử dụng công nghệ CRISPR để chỉnh sửa tế bào gốc của con người, rằng chúng có thể tồn tại trong cơ thể một bệnh nhân mà vẫn an toàn.”  June cho rằng những cuộc kiểm chứng ấy sẽ mở ra cơ hội nghiên cứu thử nghiệm công nghệ này để điều trị bệnh nhân mắc các bệnh về máu khác như bệnh hồng cầu hình liềm. Ông cũng lưu ý rằng nghiên cứu này tuân thủ các nguyên tắc đạo đức tiêu chuẩn, bao gồm cả việc có được sự đồng ý của những người tham gia.¨  Anh Thư lược dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02719-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm kỹ thuật gene trên muỗi có thể loại trừ bệnh sốt rét      Thông qua một thử nghiệm tiên tiến nhất và lớn nhất từ trước đến nay về việc sử dụng công nghệ gene để chống lại bệnh sốt rét, các nhà khoa học đã thành công trong việc xóa sổ quần thể muỗi truyền bệnh sốt rét bằng cách sử dụng một dạng kĩ thuật gene cơ bản khiến muỗi cái vô sinh.    Ngoài việc mang lại hi vọng mới trong cuộc chiến chống lại một trong những căn bệnh gây chết người nhiều nhất thế giới, nghiên cứu này còn đặt nền tảng cho những thử nghiệm về kĩ thuật phát động gene (gene-drive – một kĩ thuật cho phép cố tình kế thừa một gene đặc biệt nào đó qua nhiều nhiều thế hệ để làm thay đổi tính chất của toàn bộ quần thể), có thể tạo ra loại “muỗi tự diệt vong” để thả vào tự nhiên trong vòng 10 năm tới. TS. Drew Hammond ở Đại học Hoàng gia London, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết: “Phát động gene là một kĩ thuật tự duy trì và hoạt động nhanh chóng. Nó có thể kết hợp cùng với những công cụ hiện có [để tránh bệnh sốt rét] như mắc màn ngủ, dùng thuốc diệt côn trùng và tiêm vaccine. Đây có thể là nhân tố làm thay đổi cuộc chơi trong việc loại bỏ bệnh sốt rét”.  Mặc dù bệnh sốt rét đã giảm trong những thập kỷ gần đây, vẫn có 229 triệu ca mắc bệnh vào năm 2019 và 409.000 trường hợp tử vong.   Nghiên cứu bỏ qua chọn lọc tự nhiên bằng cách bổ sung một bản hướng dẫn di truyền vào cơ thể để nhanh chóng lan rộng và truyền lại một đặc tính cụ thể (trong trường hợp này là vô sinh) cho cả quần thể với tốc độ nhanh hơn nhiều so với chọn giống thông thường. Ý tưởng này được khởi xướng lần đầu tiên vào năm 2003 nhưng gặp phải rào cản khi các nhà khoa học phát hiện ra các gene phát động trên muỗi sẽ biến mất sau nhiều thế hệ do chúng tạo ra đột biến để ngăn chặn sự lan rộng của gene. Thay vì bỏ cuộc, Hammond và các cộng sự bắt đầu tìm kiếm một vị trí phù hợp hơn để gài gene phát động.  Một số vùng trên DNA được bảo tồn rất cao, do vậy nếu chọn đặt ở một trong những khu vực này, gene phát động có thể tồn tại lâu hơn. Các nhà khoa học đã chọn doublesex, một gene xác định giới tính quan trọng – chúng giống hệt nhau trên từng cá thể muỗi Anopheles gambiae, tác nhân chính lan truyền bệnh sốt rét ở vùng Hạ Sahara. Những con muỗi cái mang gene phát động này không có khả năng sinh nở.   Năm 2018, nhóm nghiên cứu của Hammond đã sử dụng gene phát động doublesex để phá hủy một quần thể khoảng 600 con muỗi A. gambiae nuôi trong một chiếc lồng nhỏ. Kết quả là trong vòng từ 7 đến 11 thế hệ, không có muỗi con nào được sinh ra.  Trong cùng năm, Hiệp hội nghiên cứu bệnh sốt rét Target, bao gồm nhóm nghiên cứu ở Đại học Hoàng gia London đã tiến hành các thử nghiệm thực địa tại Burkina Faso. Họ đã thả muỗi đực vô sinh đã biến đổi gene vào tự nhiên, để kiểm tra xem chúng có thể sống sót hay không và tiếp tục theo dõi.   Kết quả nghiên cứu của TS. Drew Hammond và cộng sự được công bố trên tạp chí Nature Communications là một bước đệm nữa để hướng tới mục tiêu này. Họ đã kiểm tra xem liệu gene phát động tương tự mà họ thử nghiệm vào năm 2018 có lan rộng và làm giảm số lượng muỗi trong điều kiện thực tế hay không. WHO đã đánh dấu đây là bước quan trọng trước khi thử nghiệm kĩ thuật phát động gene trong thực tế.   Các nhà khoa học đã thả một ít muỗi biến đổi gene vào các lồng lớn ở trong nhà, chứa hàng trăm con muỗi hoang dã ở các độ tuổi khác nhau ở một cơ sở nghiên cứu gần Siena, miền Trung nước Ý. Các lồng được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi thực hiện các hành vi giao phối, nghỉ ngơi, kiếm ăn và đẻ trứng phức tạp mà trong lồng nhỏ không thể thực hiện được.  Họ đã theo dõi tốc độ lây lan của gene phát động, mức tác động đến khả năng sinh sản của muỗi cái và sự suy giảm của quần thể muỗi. Tuy nhiên, cần phải kiểm tra gene phát động toàn diện hơn và đánh giá rủi ro môi trường trước khi tiến hành các thử nghiệm lớn hơn trên thực địa, dự kiến bắt đầu trong vòng vài năm tới. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2021/jul/28/genetic-engineering-test-with-mosquitoes-may-be-game-changer-in-eliminating-malari    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm làm “đông lạnh” sau đó “rã đông” bệnh nhân?      Một số phương tiện truyền thông đưa tin, các bác sỹ ở Hoa Kỳ đã làm lạnh sâu cơ thể và sau đó thức tỉnh người bệnh. Tuy nhiên mọi chuyện không đơn giản như vậy.      Tại một phòng cấp cứu: Khi tim ngừng đập thì các bác sĩ phải tính từng phút giây. Nguồn ảnh: Markus Scholz/dpa     Các bác sĩ Hoa Kỳ muốn cấp cứu bệnh nhân bị thương nặng bằng phương pháp làm lạnh sâu. Mấy năm gần đây họ đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm, theo thông tin đăng trên tạp chí  “New Scientist” hôm thứ năm vừa qua. Nhiều tờ báo sau đó đã đăng tin về giải pháp “đông lạnh” và “rã đông” bệnh nhân để chữa trị. Nhưng thực tế thì có thể sẽ rất khác.  Theo “New Scientist”, nhiệt độ cơ thể người bệnh trong thử nghiệm này đã giảm từ 10 đến 15oC trong hai giờ đồng hồ, so với nhiệt độ thông thường nhiệt của cơ thể là 37oC.  Mục đích của biện pháp này nhằm tránh tổn thương não khi tim đã ngừng đập, vì khi máu trong cơ thể ngừng tuần hoàn thì khí oxy không còn được đưa lên não. Và chỉ sau vài ba phút bị tổn thương, bộ não sẽ không thể hồi phục được nữa.  Liệu sau đó người bị thương có hồi tỉnh hay không? điều này còn chưa rõ.  Khi cơ thể được làm lạnh thì tốc độ trao đổi chất trong các tế bào sẽ bị chậm lại, từ đó cơ thể cũng như bộ não tiêu thụ oxy ít hơn. Các bác sỹ sẽ có nhiều thời gian hơn cho các hoạt động phẫu thuật cứu tính mạng người bệnh. Theo nguồn tin trên tờ New Scienctist, với phương pháp làm lạnh cơ thể này, thời gian phẫu thuật có thể tiến hành trong hai tiếng đồng hồ mà bộ não không bị tổn hại.   Tuy nhiên ở đây có cái khó là quá trình làm nóng cơ thể có thể gây tổn thương chết người đối với các tế bào. Cho đến nay cũng chưa rõ, đã có bao nhiêu người bệnh được cứu mạng thành công. Phụ trách nghiên cứu này là ông Samuel Tisherman thuộc University of Maryland School of Medicine ở Baltimore hy vọng đến cuối năm 2020 có thể công bố kết quả nghiên cứu. Đến lúc đó mới biết rõ đã có bao nhiêu người đã được cấp cứu theo phương pháp này.  Ý tưởng hạ nhiệt độ cơ thể trong trường hợp cấp cứu để tranh thủ thời gian thực ra không mới. Hai mươi năm trước các bác sĩ đã phát triển phương pháp cấp cứu bằng cách hạ thân nhiệt. Những người bị bệnh tim mạch trong và ngay sau khi hồi sinh đã được hạ thân nhiệt bằng tấm đệm đặc biệt, bằng truyền dịch hoặc bằng túi đá. Cả khi phẫu thuật tim cũng giảm thân nhiệt. Tuy nhiên người ta chỉ giảm vài ba độ C chứ không đến cả chục độ C.  Theo bài báo đăng trong “New Scientist” thì các bác sĩ Hoa Kỳ thử nghiệm phương pháp này với những người bị trọng thương, như bị bắn hay bị đâm chém, máu ra nhiều và khi đưa đến phòng cấp cứu tim đã ngừng đập. Ngoài ra điều kiện để thử nghiệm phương pháp này là người bị thương đã mất quá một nửa lượng máu trong cơ thể và cơ may để thoát chết chỉ là 5%. Nếu không thì thử nghiệm này không thể chấp nhận về mặt đạo đức.   “Từ thí nghiệm đối với động vật người ta biết chắc nguyên tắc này phát huy hiệu quả”,  Bernd Böttiger, chủ tịch Hội đồng hồi sức ở Đức nói. Tuy nhiên theo ông, trước đó phương pháp này chưa được thử nghiệm ở người. Theo trưởng khoa gây mê và chăm sóc chuyên sâu tại bệnh viện đại học Kiel, Đức thì chưa thể biết được phương pháp này tốt đến đâu mà hiện tại mới chỉ phỏng đoán vì hoàn toàn thiếu các dữ liệu cần thiết để đánh giá.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: Tuần báo Spiegel của Đức, truy cập ngày 22.11.2019   Tham khảo thêm https://www.newscientist.com/article/2224004-exclusive-humans-placed-in-suspended-animation-for-the-first-time/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm phương pháp thủy canh bằng nước thải ở Đức      Các nhà nghiên cứu Đức đang thử nghiệm xử lý và tận dụng nước thải cho phương pháp thủy canh để tiết kiệm tối ưu nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp.      Bộ Giáo dục và Nghiên cứu của Cộng hòa Liên bang Đức (BMBF) hiện đang hỗ trợ dự án “HypoWave” – sử dụng nước thải đã xử lý trong canh tác thủy canh và phát triển dự án này thành một phương thức canh tác tiết kiệm nước phổ biến trong sản xuất nông nghiệp.  Trong phương pháp thủy canh, cây không mọc lên từ đất mà hấp thụ chất dinh dưỡng có trong nước. Rất nhiều công ty sản xuất nông nghiệp đã ứng dụng kỹ thuật thủy canh vào sản xuất bằng cách hòa chất dinh dưỡng vào nước sạch để nuôi cây trồng. Thực ra người ta có thể thực hiện thủy canh cho cây trồng bằng nước thải vì trong nước thải chứa nhiều chất dinh dưỡng hữu ích với cây trồng, qua đó tiết kiệm được một lượng đáng kể nước sinh hoạt.  “Điều quan trọng là phải xử lý chất thải để tạo ra được lượng dưỡng chất tối ưu trong nước thải để nuôi dưỡng cây trồng”, người đứng đầu dự án, GS. Thomas Dockhorn ở Viện Kỹ thuật môi trường, Đại học Tổng hợp kỹ thuật Braunschweig cho biết. Điều đó có nghĩa là phải khử kim loại nặng, các mầm bệnh và các chất độc hại khác trong nước thải trước khi đưa vào sử dụng cho phương pháp thủy canh.  Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm ngay gần hệ thống xử lý nước thải ở thị trấn Hattorf, bang Niedersachsen, Đức. Họ dùng một hệ thống khử chất độc hại trong nước thải và sau đó dùng nước này để cung cấp cho hệ thống sản xuất theo phương pháp thủy canh.  Ngoài ra, các nhà khoa học còn áp dụng một biện pháp kỹ thuật rất quan trong để giữ nước cho cây. Đó là dùng một màng mỏng để thu gom lượng nước bị bốc hơi và dẫn về bể thu gom nước để tái sử dụng. Biện pháp kỹ thuật này rất có ý nghĩa đối với những vùng thường xuyên bị khô hạn.  Tuy nhiên, một vấn đề tiếp theo mà các nhà khoa học phải tiếp tục nghiên cứu, đó là, liệu các cơ sở sản xuất nông sản bằng phương pháp thủy canh nước thải như thế này có thể sản xuất  thực phẩm cao cấp và có đạt hiệu quả kinh tế hay không. Do đó, bước tiếp theo mà các nhà nghiên cứu phải làm sẽ là xúc tiến xác định tiềm năng và khả năng tiếp cận thị trường của phương pháp canh tác này thông qua các điều tra thăm dò ở các vùng khác nhau.  Hoài Nam dịch theo Tuần kinh tế Đức.  http://www.wiwo.de/technologie/green/tech/versuchsanlage-in-wolfsburg-hydroponik-mit-abwasser/14640184.html    Author                Hoài Nam        
__label__tiasang Thử nghiệm sáng tác âm nhạc bằng AI      Âm nhạc đến từ đâu? Nếu đặt câu hỏi này, nhiều người trong chúng ta sẽ bảo nó xuất phát từ “tâm hồn”, hay từ “trái tim” của người sáng tác ra nó.     Nhạc sĩ David Cope giới thiệu công cụ giúp tạo ra nhiều tác phẩm mới từ dữ liệu của các nhà soạn nhạc tiền bối. Nguồn: nterlude.hk  Âm nhạc là biểu hiện rõ ràng nhất của tình cảm con người, của người này với người kia; các hợp âm nào đó, các giai điệu nào đó dường như truyền đạt toàn bộ ngôn ngữ cảm xúc. Khi nghe một bản giao hưởng của Beethoven hoặc một sonata cho piano của Chopin, có thể nói rằng ta đang nghe biểu hiện của những hòa âm và nghịch âm bên trong nhà soạn nhạc, được truyền tải một cách kỳ diệu qua nhiều thế kỉ. Nhưng khi nào chúng ta xúc động đến thế bởi một bản nhạc do máy tính viết không?  Về cơ bản, các nhà khoa học máy tính mô tả các thuật toán “là một bộ quy tắc xác định một chuỗi các hoạt động, hướng dẫn máy tính cách thức giải quyết vấn đề hoặc đạt được một mục tiêu nhất định”. Dù bạn tin hay không thì hầu hết âm nhạc cũng tuân thủ một bộ các thuật toán ngấm ngầm và rõ ràng liên quan đến hình thức, nhịp điệu, cấu trúc câu nhạc và độ dài câu nhạc. Điều này thoạt tiên có vẻ khác thường vì ta thường xuyên coi âm nhạc là biểu hiện rõ ràng nhất của cảm xúc con người được truyền đạt bằng ngôn ngữ cảm xúc. Ta thường coi hành động sáng tác là kết quả của cảm hứng, tính độc đáo, sự sáng tạo, và một cỗ máy hoàn toàn không có khả năng tìm kiếm những cảm xúc bằng tâm hồn như vậy, đúng không nhỉ? Có lẽ chúng ta thích nghĩ rằng không. David Cope, giáo sư âm nhạc danh dự tại Đại học California, Santa Cruz, có ý kiến khác: “Vấn đề không phải là liệu máy tính có tâm hồn không mà là liệu chúng ta có tâm hồn không”.  Cope đã dành hàng chục năm cho một nghiên cứu ám ảnh về vấn đề này. Từ năm 1980, Cope nhận hợp đồng viết một vở opera. Trong nhiều tuần và nhiều tháng, ông ngồi bên cây piano hoặc nhìn chằm chằm vào tờ giấy chép nhạc trống trơn nhưng chẳng nghĩ được gì. Trong cơn tuyệt vọng, ông bắt đầu nghịch máy tính. Những gì ông tìm thấy ở đó đã thay đổi cuộc đời ông và có lẽ ảnh hưởng đến cả tiến trình lịch sử âm nhạc. Cope từ lâu đã có niềm tin rằng tất cả âm nhạc về cơ bản đều lấy cảm hứng từ việc “đạo nhái”. Các nhà soạn nhạc vĩ đại đều hấp thụ âm nhạc có sẵn và bộ não của họ “tái tổ hợp” các giai điệu và câu nhạc theo những cách đặc biệt, đôi khi có thể truy nguyên nguồn gốc. Tất cả chúng ta đều có một cơ sở dữ liệu bên trong được dùng làm tài liệu tham khảo âm nhạc; các nhà soạn nhạc là những người có khả năng thao tác điều khiển cơ sở dữ liệu ấy theo các mẫu hình mới. Với sự hỗ trợ của một chiếc máy tính đời đầu, ông nhận ra rằng mình có thể thử nghiệm điều này.    Cope thấy rất khó mời bất kỳ nghệ sĩ nghiêm túc nào chơi tác phẩm của Emmy, mặc dù nó đưa ra nhiều sản phẩm giống “đồ thật”. Các nhà phê bình tự cho là không thấy tính người đích thực, không nghe thấy chiều sâu cảm xúc trong đó, Cope bị xem là nhà soạn nhạc không có trái tim.    Những thử nghiệm đầu tiên của ông với trí tuệ âm nhạc nhân tạo là những bản nhạc tổng hợp vụng về, những bản cóp nhặt từ các tác phẩm dễ nhận biết; nhưng dần dần, khi lập trình đi lập trình lại và nhập vào một lượng lớn tài liệu tham khảo được mã hóa, ông nhận ra mình có thể bắt đầu định hình ký ức âm nhạc. Khoảnh khắc bùng nổ đến vào một buổi chiều năm 1983, sau khi ông đã làm việc một thời gian bằng cách cố gắng tách rời và tập hợp lại các bản hợp xướng (thánh ca bốn bè) theo phong cách J. S. Bach. Ông có một chương trình dựa trên các quy tắc, phức tạp và nặng về mã hóa. Cope phát triển “một công cụ phân tích nhỏ” có chức năng chèn một vài yếu tố ngẫu nhiên vào đề xuất của AI. Ông bắt đầu phân tích âm nhạc của Bach không chỉ về toán học mà còn bằng cái bất ngờ của diễn tiến, đánh giá theo cảm nhận của riêng mình. Emmy (viết tắt của “Experiments in Musical Intelligence” Những thử nghiệm trí tuệ âm nhạc), công cụ do ông phát triển dường như có một cá tính riêng. Khi được cung cấp đủ tác phẩm của một nhà soạn nhạc, Emmy có thể giải cấu trúc, xác định các yếu tố đặc trưng và tái tổ hợp chúng theo những cách mới. Một ngày nọ, Cope nhấn nút bật Emmy lên, ra ngoài lấy bánh sandwich và khi ông trở về, nó đã tạo ra 5.000 bản hợp xướng từ dữ liệu của Bach. Ông chợt nhận ra là Bach không tồn tại trong phần mà AI đề xuất và ở nhiều chỗ, quy tắc sáng tác của Bach đã bị phá vỡ.  Cope mất gần một năm để xoay sở tìm hãng thu âm thực sự để sản xuất nhạc. Thật sự cam go. Cùng một ngày ông nhận được hai thư từ chối. Thư thứ nhất bảo “Chúng tôi chỉ xuất bản âm nhạc đương đại còn cái này, theo định nghĩa của chúng tôi, không phải là âm nhạc đương đại.” Thư thứ hai nói: “Chúng tôi chỉ làm nhạc cổ điển, còn đây không phải là nhạc cổ điển.” Ông bèn hỏi: “Thế thì nó là cái gì?”.  Album “Virtual Mozart” của Cope. Nguồn: amazon.  Rút cục vào năm 1993, Cope phát hành album Bach by Design và chờ đợi phản hồi. Giờ đây khi nghe album đó – và các album tiếp theo, bao gồm Virtual Mozart và Virtual Rachmaninoff, người nghe vẫn không khỏi cảm thấy bối rối và ngạc nhiên. Những gì Cope tạo ra không chỉ là sao chép, nó mang “DNA” của phong cách sáng tác gốc nhưng lại hoàn toàn mới. Phản ứng đầu tiên của giới nhạc là lo sợ sau đó là đả kích. Cope thấy rất khó mời bất kỳ nghệ sĩ nghiêm túc nào chơi tác phẩm của Emmy, mặc dù nó đưa ra nhiều sản phẩm giống “đồ thật”. Các nhà phê bình tự cho là không thấy tính người đích thực, không nghe thấy chiều sâu cảm xúc trong đó, Cope bị xem là nhà soạn nhạc không có trái tim.  Một trong những vấn đề, theo Cope, thì âm nhạc của Mozart hay một số nhà soạn nhạc khác là vẫn còn ẩn chứa tiềm năng vô tận. Mozart, với thiên tài về cấu trúc của mình – nếu ông có phương tiện – hẳn đã sử dụng trí tuệ của máy tính theo cách chính xác như vậy. “Khi bạn để cơ sở dữ liệu tự suy luận, đó thực sự là thỏa thuận một lần; bạn nhấn nút và hàng trăm hàng nghìn bản sonata hay những tác phẩm tương tự chảy tràn ra”. Tuy nhiên, Cope nhận ra trong lịch sử âm nhạc, để hiểu một nhà soạn nhạc một cách trọn vẹn thì cần phải độ lùi thời gian, phần nhiều sau khi họ qua đời, và sự kết thúc tạo nên ý nghĩa cho những gì đã xảy ra trước đó. Với suy nghĩ này, Cope đã để Emmy dừng hoạt động, sau khi giới hạn năng lực của nó ở 11000 tác phẩm chọn lọc.  Emmy – trú ngụ trong chiếc Power Mac 7500 cổ lỗ sĩ (đã ngừng sản xuất năm 1996) giờ ngồi không trong góc văn phòng của ông. Rồi Cope làm việc bằng cách nuôi “con gái” của Emmy là Emily Howell, công cụ được huấn luyện bằng các tác phẩm của 36 nhà soạn nhạc “bắt đầu với Palestrina [một nhạc sĩ cung đình Ý thế kỉ 16] và kết thúc với David Cope thế kỉ 21”. Sản phẩm của ông và Emily Howell mang tính cộng tác hơn nhiều. Cope sẽ hỏi Emily một câu hỏi về âm nhạc, đưa ra một câu nhạc. Emily sẽ trả lời bằng hiểu biết của mình về những gì xảy ra tiếp theo. Cope chấp nhận hoặc từ chối công thức, giống như cách ông sẽ làm nếu ông đang soạn nhạc “theo cách thông thường”. Ông ví von: “Nó hơi giống việc đàm phán với một đứa trẻ: công cụ này là một chiếc bình rỗng và tôi rót những mẩu nhạc nhỏ vào đó, và nó phản ứng với những gì tôi đã đưa vào… Tôi nghĩ, nó đang tạo ra kết quả tốt nhưng mất rất nhiều thời gian”.  Album đầu tiên của Emily Howell, From Darkness, Light [Từ bóng tối, ánh sáng], được soạn thành sáu chương nhạc và biểu diễn trên hai piano, đã được phát hành vào đầu năm 2010. Phản ứng phần lớn là im lặng; các nhà phê bình, những người xúc động hưởng ứng, cũng làm vậy bằng những lời lẽ khinh khỉnh thường lệ về “sự vắng mặt của con người đích thực”. Cope vẫn không nản lòng: “Người ta bảo tôi rằng họ không thấy tâm hồn trong âm nhạc. Khi họ nói vậy, tôi rút ra một trang đầy những nốt nhạc và yêu cầu họ chỉ cho tôi xem tâm hồn nằm ở đâu. Chúng ta thích nghĩ những gì chúng ta nghe được là tâm hồn nhưng cảm xúc mà chúng ta có được khi nghe nhạc là thứ chúng ta tạo ra, nó không nằm trong các nốt nhạc. Nó đến từ sự thấu hiểu cảm xúc trong mỗi chúng ta, âm thanh chỉ châm ngòi cho điều đó xảy ra”.  Nhưng Cope không bỏ quên Emily. Nó vẫn trong quá trình hoàn thiện và hướng tới phong cách trưởng thành. “Năm năm nữa tôi tin rằng Emily sẽ thực sự tiến xa hơn”, ông nói. Đó hẳn là một quá trình gây tò mò, giống như quan sát một tâm trí bên ngoài hoạt động. Nó đã dạy ông điều gì về bản thân? “Hai điều. Cơ chế của bộ não đơn giản đến khó tin, nhưng khả năng tạo ra sự phức tạp phi thường của nó sẽ liên tục khiến chúng ta kinh ngạc”.  Emily sẽ sống lâu hơn ông chăng? “Emily ấy cần một nguồn kích thích. Con người cũng vậy, bạn không thể tạo ra âm nhạc mà không tham khảo thứ âm nhạc khác. Giống như chúng ta, cô ấy cần được kích thích bởi một thứ gì đó”.    “Các công cụ là phần mở rộng của tôi. Tôi đã dành gần 60 năm cuộc đời để sáng tác, một nửa trong số đó được tạo ra như mọi nhà soạn nhạc khác và một nửa trong số đó là từ công nghệ. Với tôi, việc quay trở lại cách sáng tác truyền thống sẽ giống như việc dùng tay không đào hố sau khi đã có xẻng, hoặc đi bộ đến điểm hẹn trong khi có thể sử dụng ô tô” (David Cope).    Giờ đây, có một hệ quả là ông không thể tưởng tượng được khả năng quay trở lại viết lách chỉ bằng giấy bút và trực giác của chính mình: “Các công cụ là phần mở rộng của tôi. Tôi đã dành gần 60 năm cuộc đời để sáng tác, một nửa trong số đó được tạo ra như mọi nhà soạn nhạc khác và một nửa trong số đó là từ công nghệ. Với tôi, việc quay trở lại cách sáng tác truyền thống sẽ giống như việc dùng tay không đào hố khi đã có xẻng, hoặc đi bộ đến điểm hẹn trong khi có thể sử dụng ô tô”.  Dù tự tin mình là một trong những người đi tiên phong nhưng khi khởi đầu, Cope không khỏi cảm thấy cô đơn. Sau một quá trình như vậy, ông đã được chú ý: gần đây một ban nhạc pop hàng đầu tiếp cận ông và đặt vấn đề là liệu Emily có thể tạo ra một số bản hit hay không. Mặc dù các yếu tố “tái tổ hợp” của âm nhạc đại chúng chỉ là một cú rẽ ngắn hạn nhưng ông cho là không có gì ngạc nhiên người ta cần cái mới trong tạo nhạc chuông và nhạc game. “Trong 10 năm tới,” Cope dự đoán, “âm nhạc thuật toán sẽ là trụ cột trong cuộc sống của chúng ta”.  Nếu âm nhạc có thể được rút gọn thành các công thức và phương trình, liệu nó có bắt đầu làm suy yếu các quan niệm về ý nghĩa của âm nhạc đối với chúng ta không? Douglas Hofstadter, tác giả cuốn sách quan trọng về các nguyên tắc nhận thức cơ bản, Gödel, Escher, Bach, từ lâu đã thuyết giảng về hàm ý của công trình của Cope trong việc hiểu cách thức hoạt động của tâm trí – và âm nhạc. Ông nói rằng “Trong 20 năm làm việc trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chưa từng gặp “thứ gì kích thích tư duy hơn những thử nghiệm của David Cope”. Hofstadter đã đúc kết những suy nghĩ của mình về công trình của Cope thành một bài giảng đầy đủ được trình bày theo nhịp điệu bắt đầu bằng một câu hỏi có thể chứng thực nền tảng cho sự hiểu biết về soạn nhạc trong tương lai:  Âm nhạc có phải là một nghề  Hay là một nghệ thuật?  Nó đến chỉ từ việc đào tạo  Hay trào ra từ trái tim?  Các bản etude của Chopin  Có bộc lộ trạng thái tâm hồn ông?  Hay Frédéric Chopin  Chỉ là “chàng công tử mẫu mực” bóng bẩy nào đó?  Hofstadter rất thích câu nói nổi tiếng của một nhà soạn nhạc mà Cope dẫn ra “Nghệ sĩ giỏi thì vay mượn, nghệ sĩ vĩ đại thì ăn cắp”, mặc dù ông lo ngại rằng một số bí ẩn của quy trình sáng tạo có thể bị mất mát trong quá trình thực hiện và cùng với đó là một phần hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa của việc làm người. Về phần mình, Cope vẫn giữ nguyên cảm giác kinh ngạc trước các nhà soạn nhạc – những thiên tài trong việc tái tổ hợp kết quả những người đã đi trước.  David Cope giờ đây đã trở thành đề tài chính của một bộ phim tài liệu. Được nhà làm phim kiêm đạo diễn Jae Shim ở Los Angeles đạo diễn, “Opus Cope: Một vở opera thuật toán” tôn vinh công việc đột phá của nhà soạn nhạc David Cope và những cách thức sâu sắc mà theo đó con người và máy móc có thể sáng tạo. Cách tiếp cận của Jae làm mờ ranh giới giữa phim tài liệu và phim hư cấu “bởi sẽ đưa người xem vượt ra ngoài quan sát đơn thuần để đi đến một thực tế lớn hơn”. Bộ phim được làm trong năm năm và lên kế hoạch phát hành toàn quốc trên mạng truyền hình PBS ở Hoa Kỳ và trình chiếu tại hệ thống rạp Laemmle ở LA vào năm 2023.□  Ngọc Anh tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2010/jul/11/david-cope-computer-composer?fbclid=IwAR0Njo2gRuyEY09IhyYTcLi0yptkqEHvbLcjPnp5tCv_GA3-WWzUauPEghk    AI Composes Classical Music David Cope      Author                .        
__label__tiasang Thử nghiệm thành công mô hình hệ thống hầm lạnh cho tàu đánh cá xa bờ      Dù chỉ mới áp dụng thử nghiệm mô hình hệ thống bảo quản hầm lạnh ở 1/5 hầm lạnh trên tàu, ông Đồng Văn Đền (phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà) đã thu lãi ròng từ 10 đến 20 triệu cho mỗi chuyến đánh bắt xa bờ.     Đây là kết quả của việc thử nghiệm bước  đầu đề tài nghiên cứu “Lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh bắt xa bờ” do  TS Phan Quý Trà, Trường Cao đẳng Công nghệ thuộc Đại học Đà Nẵng phối  hợp với Trung tâm tiết kiệm năng lượng và tư vấn chuyển giao công nghệ  thuộc Sở KH & CN TP Đà Nẵng thực hiện.  TS Phan Quý Trà cho biết, hạn chế của hệ thống làm lạnh trên các tàu đánh bắt xa bờ của Đà Nẵng và nhiều tỉnh thành bạn khác tuy có nhiều cải biến nhưng hệ thống này vẫn rơi vào tình trạng bị ô xi hóa mạnh, hiệu suất làm lạnh không ổn định, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm sau những kỳ đánh bắt…  Trước thực tiễn này, TS Phan Quý Trà và cộng sự đã cùng bàn bạc nhằm thiết kế hệ thống bảo quản lạnh có khả năng cách nhiệt, giảm tổn thất lạnh, vật liệu chống ăn mòn, chịu được môi trường biển. Cuối cùng, một giải pháp hợp lý đã được đưa ra: vách trần hầm lạnh bằng innox 304 dầy 2mm, vật liệu cách nhiệt bằng inox kết hợp với phun lớp foam cách nhiệt bằng vật liệu bột xốp (Polyurethane).  Bên cạnh đó, nhóm kỹ sư còn thiết kế thiết bị bay hơi gọn nhẹ, chiều dài đường ống giảm  nhưng vẫn đảm hệ thống lạnh hoạt động hiệu quả và ổn định trong những chuyến đánh bắt cả tháng trời trên biển. Để tạo tính thân thiện với môi trường cho thiết bị bay hơi, họ đã sử dụng môi chất mới R134a, không sử dụng R12, R21 và R22, những môi chất phá hủy tầng ozon, gây hiệu ứng nhà kính…  Một trong những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống làm lạnh là máy nén lạnh. Các kỹ sư đã chọn máy nén lạnh kiểu hở với phương pháp truyền động từ trục chính của động cơ máy tàu để vận hành máy. Để đảm bảo sự truyền nhiệt thông suốt trong hệ thống, họ đã dùng phương pháp đối lưu tự nhiên với chất tải lạnh, sử dụng dầu truyền nhiệt Shell-Thermia Oil B.  Trải qua quá trình nghiên cứu và đạt độ an toàn cao, TS Phan Quý Trà và cộng sự quyết định đưa ra thử nghiệm từ cuối năm 2014 trên tàu cá DNa 90621 của ông Đồng Văn Đền. Tàu cá của ông Đền có năm hầm lạnh và ông chọn một trong năm hầm này để lắp đặt và vận hành thử trong những chuyến đánh bắt xa bở của mình. Phản hồi của ông Đền sau những chuyến đánh bắt thử nghiệm hết sức tích cực: cá được bảo quản tốt hơn, giảm thiểu số lượng cá hư hao theo cách bảo quản kiểu cũ. Hơn nữa, do áp dụng làm lạnh kiểu mới mà số lượng đá cây, tiêu hao dầu máy cũng giảm đi đáng kể. Tính ra, mỗi chuyến ông Đền lãi được từ 10 đến 20 triệu đồng.   Ông Đền cho rằng, để phát huy tính năng vượt trội của mình thì mô hình làm lạnh cũng nên điều chỉnh thêm như cần lắp một dàn lạnh đối xứng với dàn lạnh thử nghiệm để điều chỉnh độ lạnh đều khắp cả hầm, nâng cao hiệu quả bảo quản cá.   Theo tính toán của nhóm kỹ sư tác giả, nếu đưa vào sử dụng rộng rãi sẽ lắp đều cả bốn vách hầm để đảm bảo chất lượng sản phẩm đánh bắt. Ngoài ra, khi mô hình được sản xuất đại trà, giá thành sẽ được giảm xuống đáng kể, qua đó tạo điều kiện cho các tàu cá đánh bắt xa bờ nào cũng đủ khả năng trang bị cho những chuyến vươn khơi.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm thành công thiết bị câu cá ngừ đại dương “made in” Bình Định      Bộ thiết bị câu cá ngừ đại dương (CNĐD) do nhóm nghiên cứu đề tài: “Cải  thiện chất lượng cá ngừ đại dương tỉnh Bình Định” thuộc Sở NN-PTNT  nghiên cứu, chế tạo đã được ngư dân xã Tam Quan Bắc áp dụng vào thực tế,  bước đầu đạt hiệu quả khả quan.       Trên cơ sở bộ thiết bị và công nghệ câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản đã được UBND tỉnh mua và cấp cho ngư dân xã Tam Quan Bắc (huyện Hoài Nhơn), nhóm nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương tại Bình Định” đã nghiên cứu và chế tạo bộ thiết bị câu CNĐD mới và đã chuyển giao cho ngư dân Nguyễn Quê, ở xã Tam Quan Bắc áp dụng trên tàu cá BĐ 96776 TS.    Kết quả, sau 23 ngày bám biển, đến sáng ngày 4.11, tàu cá ông Quê đã cập Cảng cá Quy Nhơn với kết quả khả quan. Chuyến biển này, tàu cá của ông đã câu được 48 con cá ngừ, tổng sản lượng trên 2,5 tấn.    Ông Nguyễn Quê, cho biết: Thiết bị câu CNĐD do Nhóm nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương tại Bình Định” chế tạo cơ bản giống như máy câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản mà tỉnh ta đã hỗ trợ. Sản lượng cá thu được khá nhiều, chất lượng sản phẩm tương đối tốt. Toàn bộ số lượng cá được Công ty cổ phần Thuỷ sản Bình Định thu mua với giá cao hơn so với cá đánh bắt, bảo quản thông thường.  Cá có trọng lượng từ 30 kg/con trở lên được thu mua giá 115.000 đồng/kg, cá ngừ nhỏ dưới 30 kg/con có giá 94.000 đồng/kg.  Ông Nguyễn Hữu Hào, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, Chủ nhiệm đề tài, cho biết: “Thiết bị câu CNĐD chuyển giao cho ngư dân bao gồm: Máy thu câu, bộ xung gây tê liệt cá (Shocker),… giá thành sản xuất khoảng 50 triệu đồng, chỉ bằng 1/4 so với giá thiết bị nhập từ Nhật Bản. Bước đầu thử nghiệm cho thấy, ngư dân vận hành máy tốt, ổn định và đạt kết quả khả quan.  “Tuy nhiên, để máy hoạt động tốt hơn và được nhân rộng thì chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, khắc phục một số khuyết điểm nhỏ. Sau đó, chúng tôi sẽ trang bị máy câu cho cho các tàu cá của ngư dân ở xã Tam Quan Bắc tham gia mô hình khai thác, bảo quản và tiêu thụ CNĐD theo chuỗi để tiếp tục ra khơi khai thác cá ngừ chính vụ để tiếp tục đánh giá kết quả của bộ thiết bị”, ông Hào nói.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử nghiệm thành công tử cung nhân tạo cho động vật sinh non      Những con cừu sinh non tương đương với thai nhi 23 tuần tuổi đã sống sót và phát triển bình thường nhờ một thiết bị giống như tử cung.      Chú cừu được sinh ra tương đương với thai nhi 23 tuần tuổi phát triển bình thường trong tử cung nhân tạo.  Tử cung nhân tạo trong suốt, có hình như một chiếc túi, được thiết kế nhằm hỗ trợ trẻ sinh non, lần đầu đã chứng minh được hiệu quả đối với động vật.  Alan Flake, bác sĩ phẫu thuật thai nhi tại Bệnh viện Trẻ em Philadelphia (CHOP), tác giả chính của nghiên cứu, nói rằng hệ thống này có thể đóng vai trò như một cầu nối khẩn cấp giữa tử cung của người mẹ với thế giới bên ngoài cho những đứa trẻ bị sinh non trong khoảng từ 23 đến 28 tuần tuổi.  “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ sự phát triển và trưởng thành của các cơ quan trong chỉ vài tuần, chúng ta có thể cải thiện một cách ngoạn mục kết quả của những trẻ bị sinh thiếu tháng quá nhiều”, ông nói.  Nhóm nghiên cứu đang thảo luận với Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và dự đoán trẻ sinh non sẽ bắt đầu được nuôi thử nghiệm lâm sàng trong hệ thống này sau ba năm nữa.  Trong những thập kỷ qua, tiến bộ y học đã giúp trẻ sinh non ở 23 tuần tuổi cũng có cơ hội sống sót, nhưng tỉ lệ trẻ phải chịu những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài về sức khoẻ vẫn còn cao.  Trong nghiên cứu, được công bố trên Nature Communications, sáu con cừu non được đặt trong tử cung nhân tạo ngay sau khi sinh mổ lấy thai tương đương thai 23 tuần tuổi ở người. Trong vòng vài phút sau sinh, cừu non được đưa vào túi sinh học gắn kín, nối với một thiết bị trao đổi khí nhờ dây rốn của chúng, cho phép máu được bổ sung ô-xi và các dưỡng chất.  Trong túi sinh học, những con cừu được bao trọn bởi chất dịch màng ối thay thế có chứa dinh dưỡng và các chất hóa học được thiết kế để kích thích sự phát triển. Trong khi “trôi nổi” bên trong chiếc túi trong suốt này – trong một số trường hợp là đến bốn tuần – những con cừu cho thấy chúng phát triển bình thường, biến đổi từ bào thai màu hồng, không có lông thành những con cừu non, có lông xốp trắng.  Các xét nghiệm cũng chứng tỏ chức năng phổi của chúng tương ứng với các kiểm soát đối chứng theo tuổi và con cừu già dặn nhất, bây giờ đã hơn một năm tuổi, có biểu hiện hoàn toàn bình thường.  Emily Partridge, bác sĩ nhi tại CHOP và là đồng tác giả nghiên cứu, mô tả cảnh tượng cừu non lớn lên trong tử cung nhân tạo “hết sức tuyệt vời”, nhưng các tác giả thừa nhận rằng công chúng có thể nghi ngại công nghệ này.  “Tôi không muốn điều này được hình dung giống như cho em bé vào túi và treo trên tường,” Flake nói. “Đây không phải là cách thiết bị này sẽ làm việc hoặc trông như vậy.”  Tử cung nhân tạo phiên bản dành cho con người trông sẽ giống như một lồng kính chứa đầy chất lỏng, với nắp đậy và phần bên trong tối màu, và đứa trẻ sẽ được theo dõi bằng các camera. Flake cho rằng thiết kế như vậy dù lạ lẫm nhưng sẽ giúp các bậc cha mẹ bớt đau đớn hơn nhiều khi phải chứng kiến đứa con yếu ớt của mình phải trải qua nhiều bước can thiệp, bao gồm đặt nội khí quản, thông khí và phẫu thuật theo cách chăm sóc hiện nay.   Các tác giả cũng bác bỏ viễn cảnh toàn bộ thai kì được thực hiện trong tử cung nhân tạo như tiểu thuyết Brave New World của Aldous Huxley đã mô tả. “Thực tế là hiện tại không có công nghệ nào [như vậy] sắp ra đời cả. Không có gì ngoài người mẹ có thể hỗ trợ giai đoạn [ban đầu] đó cả”, bác sĩ Flake khẳng định.  Thai nhi 23 tuần tuổi mới vừa vượt qua nửa chặng đường phát triển của một thai kỳ bình thường. Cơ hội sống sót của trẻ sinh non ở tuần thứ 22 gần như bằng không. Ở thai nhi 23 tuần tuổi thì tỷ lệ này là 15%, 24 tuần là 55% và 25 tuần là khoảng 80%.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/apr/25/artificial-womb-for-premature-babies-successful-in-animal-trials-biobag    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu nhập của lao động khu vực nhà nước cao hay thấp?      Tổng cục thống kê mới công bố thu nhập bình quân hằng tháng của lao động khu vực nhà nước (năm 2006) là 1829,9 ngàn đồng/tháng. Nhiều người kêu thu nhập như thế là quá thấp. Tất nhiên so con số tuyệt đối với các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật thì hẳn là thấp, song so sánh như vậy là không ổn, là khập khiễng và méo mó. Phải so với những người lao động khác ở trong nước. Hãy xem thực hư thế nào?    Xem xét kỹ hơn thì thấy hơn một nửa số lao động đó là trong lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, khai khoáng… Số người này không có thu nhập từ ngân sách mà từ hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thực ra các tổ chức này phải tự lo theo cơ chế thị trường và nếu có so sánh thì nên so với khu vực tư nhân tương ứng mới có ý nghĩa. Nếu thu nhập của họ thấp hơn thu nhập của lao động tương tự trong khu vực tư nhân (và thu nhập chính thức của họ chắc là thấp hơn thu nhập của người tương tự ở khu vực tư nhân), thì điều đó có thể có những ý nghĩa gì? Nó có thể chứng tỏ sự yếu kém của khu vực kinh tế quốc doanh (hay sự bóc lột nhiều hơn của chủ sử dụng lao động!?) và chỉ riêng vì lý do này (và nhiều lý do chính đáng khác) nên cải tổ triệt để khu vực này theo hướng tư nhân hóa. Liệt họ vào đây cũng có cái lý vì họ thuộc khu vực nhà nước, song có thể gây ra lẫn lộn giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nhà nước.  Trong phân tích tiếp theo chúng ta loại họ ra và chỉ xem xét phần công chức, viên chức nhà nước.  Gần hai triệu người có thu nhập chủ yếu từ ngân sách: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (464,7 ngàn người; 1300,9 ngàn đồng), giáo dục đào tạo (1115,1 ngàn người; 1543,8 ngàn đồng), y tế (229,1 ngàn người; 1555,5 ngàn đồng), thể thao văn hóa (44,4 ngàn người; 1601,1 ngàn đồng), đảng, đoàn thể và hiệp hội (109,8 ngàn người; 1252,6 ngàn đồng). Chính vì thế khi tính trung bình và phân tích lĩnh vực nào thấp, lĩnh vực nào cao, hơn nhau bao nhiêu lần, sẽ mất ý nghĩa khi gộp chung như vậy. Có lẽ nên tách bạch ra sẽ đỡ gây nhầm lẫn hơn.  Nếu tách lĩnh vực kinh doanh ra thì thu nhập trung bình của người lao động nhà nước là 1472,7 ngàn đồng một tháng (17,67 triệu đồng/năm). GDP năm 2006 ước tính 973790 tỷ đồng với dân số 84.155,8 ngàn người, nên GDP đầu người là 11,57 triệu đồng. Như thế thu nhập bình quân của người lao động nhà nước là 1,53 lần GDP đầu người. Nói cách khác tính theo GDP đầu người thì tỷ lệ này chưa chắc đã thấp. Hãy so sánh thu nhập trung bình của người lao động trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam (bằng 1,6 lần GDP đầu người) với lương giáo viên tiểu học (năm 2001) nêu trong báo cáo của OECD (xem hình dưới).                Tính bằng GDP đầu người thì thu nhập trung bình của người lao động trong ngành giáo dục của chúng ta cao hơn lương giáo tiểu học của hơn 20 nước trong số 33 nước được khảo sát. Song lại là một so sánh khập khiễng, bạn đọc có thể nói, vì so thu nhập bình quân với lương bình quân của giáo viên tiểu học, so số liệu năm 2006 với số liệu 2001. Đúng vậy, nhưng có lẽ vẫn có thể, vì số giáo viên tiểu học chiếm số đông, và theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo, thì lương giáo viên tiểu học năm 2005 là 1,4 triệu đồng/tháng (1,4 GDP đầu người) cũng không phải loại thấp khi so với các nước đó. Về thu nhập của lao động trong ngành y tế có lẽ cũng có bức tranh tương tự khi so sánh quốc tế. Do số người làm trong hai lĩnh vực này là hơn 1,5 triệu trong số gần 2 triệu lao động trong khu vực nhà nước, nên có lẽ có cơ sở để kết luận rằng thu nhập của lao động trong khu vực nhà nước ở Việt Nam, khi tính theo GDP đầu người, không phải là thấp.  Tất nhiên xét về con số tuyệt đối, thu nhập của người lao động của chúng ta còn thấp và đi so sánh con số tuyệt đối là so sánh rất khập khiễng. Chỉ có cách duy nhất để cải thiện con số tuyệt đối nếu có tăng trưởng kinh tế liên tục. Không có tăng trưởng kinh tế, GDP đầu người không cao thì khó có thể đòi thu nhập cao cho bất cứ ai, nói chi đến cho các “đầy tớ”. Có hai vấn đề nổi cộm khi xem xét thu nhập của công chức nhà nước. Một là, thu nhập thực so với thu nhập chính thức (theo sổ sách) là bao nhiêu? Và sự phân bổ rất không đều của thu nhập (thu nhập thực của một số ít [hay nhiều] quan chức cao hơn mức trung bình rất nhiều, và tuyệt đại bộ phận chỉ có lương và thu nhập thấp) là một khuyến khích rất mạnh để người ta chạy chức, chạy quyền, làm băng hoại đạo đức và gây bất bình xã hội. Muốn cải cách lương một cách có cơ sở, chí ít phải nghiêm túc nghiên cứu hai vấn đề ấy.  Hỏi 100 công chức chắc phải có 99 người trả lời “chẳng ai sống bằng lương cả”. Chúng ta thường nghe “đồng lương chết đói nhưng quan chức nào cũng sống đường hoàng”. Lý giải làm sao cho việc tuy lương thấp nhưng số người xin vào làm ở các cơ quan nhà nước vẫn đông. Bổng lộc nhiều hơn lương. Đấy là những thực tế, song đã có ai thử nghiên cứu, đo lường xem tỷ lệ của mức thu nhập thực và thu nhập chính thống là bao nhiêu, phân bổ theo lĩnh vực, cấp bậc, và địa phương ra sao?  Tôi đã trò chuyện với một quan chức tài chính ở một tỉnh. Theo ông này, chi ngân sách thường xuyên gồm 2 phần: phần cứng (nhất thiết phải chi như lương, điện nước, v.v.) chiếm khoảng 65-70%; phần chi cũng được không chi cũng chẳng sao (30-35% còn lại). Trong phần sau thường có đến 60% là chi không đúng (phải hợp thức hóa) và một phần là để bồi dưỡng thêm cho nhân viên cơ quan. Như thế khoảng 18-21% chi thường xuyên là có vấn đề, trong đó một phần để tăng thu nhập thêm cho nhân viên là hợp đạo lý song không hợp lệ, một phần có thể thất thoát. Nếu chia cho nhân viên, không rõ tỷ lệ phân phối ra sao. Nhưng chắc phần thu nhập “hợp đạo lý” đáng nhưng phải “hợp thức hóa” này không lớn vì lương chiếm phần lớn của con số 65-70% trên, may ra có thể thêm 10-15%.  Cũng theo quan chức tài chính đó, thất thoát trong các khoản đầu tư lớn cỡ 20-25% còn các khoản chi nhỏ (sửa chữa, duy tu) tỷ lệ có thể lên tới 50%. Các khoản tham nhũng “được hợp thức hóa” trong chi phí đầu tư này góp phần tăng GDP đồng thời là khoản thu nhập bất chính của một số quan chức. Nếu tỷ lệ trên là đúng (nhiều đại biểu quốc hội cho là tỷ lệ đến 30%) và hãy tính tỷ lệ 20% của tổng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước (185,1 ngàn tỷ đồng), thì con số thất thoát là khoảng 37 ngàn tỷ đồng. Nếu chia đều cho gần 2 triệu người hưởng lương từ ngân sách thì mỗi người được thêm 19 triệu đồng một năm (cao hơn mức thu nhập chính thức được công bố). Nạn ăn tiền của các ứng viên muốn vào cơ quan nhà nước không phải hiếm. Con em nông dân dù có học chính quy, học giỏi cũng chẳng sao len chân vào các cơ quan nhà nước, trừ khi bán hết nhà cửa để lấy tiền chạy (có khi hàng chục triệu). Trưởng phó phòng muốn lên chức phải chi vài chục triệu là bình thường.  Nếu tính thu nhập thực như vậy thì có lẽ sẽ thấy thu nhập trung bình của người lao động khu vực nhà nước ở ta có lẽ vào loại cao nhất thế giới (tôi đoán chắc như vậy và ước mong các tổ chức nghiên cứu bác bỏ phán đoán của tôi), tính theo GDP đầu người và cả bằng con số tuyệt đối trong trường hợp của các quan to. Vấn đề chính ở đây là sự phân bổ rất không đồng đều, tuyệt đại bộ phận công chức chủ yếu dựa vào lương và phụ cấp, một tỷ lệ nhỏ lại chiếm phần lớn, gây ra chênh lệch thu nhập rất lớn. Chính đây là một khuyến khích rất mạnh để người ta cố “đầu tư” chạy chức, chạy quyền, chạy biên chế.  Nếu giảm được tham nhũng, giảm các khoản thất thoát, rà soát lại các khoản hợp đạo lý nhưng không hợp lệ và hợp pháp hóa chúng, thì chắc chắn việc cải cách lương không gây thêm gánh nặng cho ngân sách, mà lại lành mạnh hóa được hoạt động nhà nước, nâng cao lòng tin của dân vào bộ máy nhà nước, giảm bất công trong chính bộ máy nhà nước, giải toả được nhiều bức xúc xã hội.  Nguyễn Quang A      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu nhập của nông dân cao hơn nhờ điều chỉnh lịch trồng lúa tránh hạn mặn      Mới đây, bài báo “Tác động của việc điều chỉnh lịch canh tác đến phúc lợi của các hộ nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” đăng trên tạp chí Economic Analysis and Policy đã khảo sát ảnh hưởng của việc thay đổi thời gian trồng lúa đến năng suất và thu nhập của người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long trong vụ Đông Xuân 2019/2020.    PGS.TS. Lê Hà Thanh (Đại học Kinh tế Quốc dân) và các cộng sự đã khảo sát ngẫu nhiên 1.176 hộ trồng lúa ở ba tỉnh Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng, trong đó có 412 hộ trồng sớm và 764 hộ trồng theo lịch thông thường. Sau đó, nhóm đã sử dụng phương pháp so sánh bằng điểm xu hướng (propensity score matching) để tìm hiểu tác động của lịch trồng sớm đối với các nông hộ.    Kết quả cho thấy, các hộ trồng lúa sớm có thu nhập tăng thêm khoảng 22,8-24,6 triệu đồng/nông dân hoặc 8,62-8,77 triệu đồng/ha. Thu nhập từ trồng lúa hằng năm tăng 13,7-17,1 triệu đồng/nông dân hoặc 3,2-4,3 triệu đồng/ha. Năng suất lúa tăng 5,29-5,67 tấn/nông dân hoặc 2,51-2,59 tấn/ha.    Hoàng Mai    Author                phongvien        
__label__tiasang Thu nước từ không khí có độ ẩm cao      Từ sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nước tại  các khu vực núi đá trên vùng cao Hà Giang, đặc biệt là nước sạch cho các  đồn biên phòng trên núi dọc biên giới phía Bắc, nhóm nghiên cứu tiềm  năng của Viện Ứng dụng Công nghệ đã thiết kế chế tạo hệ thống cung cấp nước uống thu từ không khí có độ ẩm cao.    Sau 10 tháng nghiên cứu, tính toán, mô phỏng, thiết kế chế tạo, toàn bộ hệ thống đã sẵn sàng và chuyển đến lắp đặt tại Đồn biên phòng Lũng Cú, tỉnh Hà Giang, dòng nước đầu tiên đã tuôn chảy cùng với sự vui mừng tột độ của các thành viên nhóm nghiên cứu.  Hiện nay trên thế giới có nhiều các nhà khoa học đã thực hiện các nghiên cứu về giải pháp thu nước từ độ ẩm không khí. Ví dụ như: ứng dụng của hệ thống khử ẩm, các nhà khoa học của hãng Element Four, Canada đã biến chuyển thành hệ thống thu hút hơi nước trong không khí. Tại Chile, trên vùng núi El Tofo, một trong những nơi khô hạn nhất thế giới, các nhà khoa học Chile và Canada đã thử nghiệm nhiều loại vật liệu và mô hình khác nhau như bẫy sương, vắt sương… và đến nay, nó đã được ứng dụng và tiếp tục hoàn thiện ở 25 nước trên thế giới như Nam Phi, Tanzania, Nepal, Peru… Mới đây, ở Yemen, nhiều công trình tương tự đang được xây dựng tại Guatemala, Haiti…  Ở Việt Nam, khắc phục tình trạng thiếu nước trên vùng núi đá Hà Giang các nhà khoa học của Viện Khoa học địa chất, Viện KH&CN Việt Nam đã triển khai nhiều nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang như: xây dựng các hồ treo để trữ nước, khoan tìm các mỏ nước Kast trong núi đá, xây dựng các trạm bơm nước từ các sông, suối …  Tuy nhiên, giải pháp này chủ yếu tập trung vào việc cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho các khu vực đông dân cư trên cao nguyên đá Hà Giang. Trên các đỉnh núi, nơi có đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc chạy qua các trạm tuần tra biên phòng vẫn đang trong điều kiện thiếu thốn nguồn nước, đặc biệt là nước uống phục vụ nhu cầu hàng ngày.    Nhận được sự khuyến khích của lãnh đạo Viện Ứng dụng Công nghệ tham gia vào chương trình Nghiên cứu KH&CN tiềm năng, ThS Phan Anh Tân đã chủ động tập hợp các đồng nghiệp trẻ tại Viện, đặt ra vấn đề đưa các câu hỏi và quyết định đăng ký đề tài tiềm năng “Xây dựng giải pháp, thiết kế chế tạo hệ thống cung cấp nước uống thu từ không khí có độ ẩm cao, sử dụng năng lượng gió, phục vụ trạm tuần tra biên giới tại vùng cao núi đá Hà Giang”. Đề tài được thực hiện với mục đích tận dụng đặc điểm khí hậu đặc thù khu vực núi đá Hà Giang, giải quyết thực trạng thiếu nước sạch sinh hoạt tại các trạm biên phòng dọc gần 300 km biên giới phía Bắc.  Để thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào những nội dung chính như: Nghiên cứu tính toán thiết kế trạm phong điện công suất nhỏ, đặt trên khu vực biên giới thuộc tỉnh Hà Giang; Nghiên cứu công nghệ thu nước từ không khí có độ ẩm cao; Tính toán tối ưu, Thiết kế thiết bị thu nước từ không khí với các tiêu chí, tiêu thụ năng lượng tối thiểu, thu nước tôi đa; Tính toán mô phỏng; Chế tạo thiết bị; Lắp đặt tại địa bàn.  Sau 10 tháng nghiên cứu, tính toán, mô phỏng, thiết kế chế tạo đến đầu tháng 11/2012 toàn bộ hệ thống đã sẵn sàng và chuyển đến lắp đặt tại Đồn biên phòng Lũng Cú, tỉnh Hà Giang. Ngày 25/11/2012 dòng nước đầu tiên đã tuôn chảy cùng với sự vui mừng tột độ của các thành viên nhóm nghiên cứu.  Trưởng nhóm nghiên cứu ThS. Phan Anh Tân không khỏi bồi hồi khi nhìn dòng nước sạch chảy ra từ hệ thống mà nhóm đã thiết kế chế tạo thành công. Anh chia sẻ “thế là từ gió, từ không khí, nguồn tài nguyên sẵn có xung quanh, những dòng nước sạch đã tuôn chảy giữa vùng núi đá, không chỉ thiếu thốn nguồn nước mà còn hạn hẹp về nguồn điện”.  ThS Phan Anh Tân cho biết, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục tìm cơ hội triển khai giải pháp vào thực tiễn, trước mắt là ở tỉnh Hà Giang, sau đó là các tỉnh miền núi lân cận. Sau khi đăng ký thành công sở hữu trí tuệ cho giải pháp, nhóm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thiết bị thu nước, thiết kễ mẫu mã, tiến tới sản phẩm thương mại.  “Tôi mong muốn các đồn biên phòng dọc biên giới núi cao Hà Giang sẽ không còn thiếu nước. Sau này các máy tạo nước uống trong các công sở sẽ là thiết bị của chúng tôi chế tạo, điều đó thật ý nghĩa khi chúng ta nói về các thách thức về môi trường hay biến đổi khí hậu”, Trưởng nhóm nghiên cứu Phan Anh Tân vui vẻ chia sẻ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử thách tăng tốc khởi nghiệp đầu tiên      Vừa qua, khóa tăng tốc khởi nghiệp đầu tiên của dự án Vietnam Silicon Valley (VSV) đã kết thúc&#160; với 9 công ty khởi nghiệp công nghệ trình bày sản phẩm của mình trước hơn 60 nhà đầu tư. Bản thân là một công ty khởi nghiệp, VSV còn một chặng đường dài cần điều chỉnh ở phía trước.  &#160;    Một người giúp chín người    Cùng chung mục tiêu là hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp nhưng đa số những người sáng lập VSV trước đây chưa có nhiều cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc với môi trường khởi nghiệp ở Việt Nam cũng như chưa tham gia các mô hình accelerator (khóa tăng tốc khởi nghiệp) trên thế giới – đơn cử như CEO của VSV là bà Thạch Lê Anh với nhiều kinh nghiệm trong việc tư vấn đầu tư, kinh doanh và thiết lập, quản lý các mối quan hệ với các cơ quan chính phủ và các công ty nước ngoài nhưng đây là lần đầu bà bước chân vào lĩnh vực hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam.  “VSV thực chất có thể coi là một startup (doanh nghiệp khởi nghiệp)” – Hoàng Trung, người sáng lập Lozi, một trong những doanh nghiệp tham gia vào dự án VSV nói. Cách làm trong giai đoạn thử nghiệm bước đầu hiện nay của VSV là thử áp dụng kinh nghiệm từ các mô hình sẵn có từ những quốc gia có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển. Đức Hải, người sáng lập LoanVi – một trong những doanh nghiệp tham gia VSV cho biết, anh là một trong những người hỗ trợ CEO của dự án trong những ngày đầu tiên thành lập VSV bằng việc chia sẻ về các mô hình accelerator mà anh có dịp trải nghiệm khi còn học ở Mỹ.   Do còn đang trong quá trình thử nghiệm nên Khóa thứ nhất của VSV chỉ hỗ trợ vỏn vẹn 9 công ty, dự án khởi nghiệp, chọn ra từ hơn 100 hồ sơ đăng kí. Những người tham gia ứng tuyển không nhất thiết phải có sản phẩm hay thành lập công ty từ trước mà có thể đăng kí với chỉ với một ý tưởng kinh doanh. Sau khi được lựa chọn, 9 doanh nghiệp khởi nghiệp được VSV hỗ trợ những điều kiện tối thiểu để hoạt động. Giống như đa số những mô hình khóa tăng tốc khởi nghiệp khác trên thế giới, VSV đều cung cấp một không gian làm việc chung (co-working space) tại 35 Điện Biên Phủ, Hà Nội; 10000 USD cho mỗi công ty (đổi lại bằng 5-10% cổ phần mỗi doanh nghiệp), các huấn luyện viên đến chia sẻ kinh nghiệm về luật, marketing, tài chính…mỗi tuần một buổi. Tuy nhiên, trong giai đoạn bước đầu hiện nay, mạng lưới huấn luyện viên của VSV khá khiêm tốn với 21 người, trong đó, chỉ có 6 người từng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực khởi nghiệp.  Với nguồn lực hỗ trợ như vậy từ VSV, các doanh nghiệp khởi nghiệp đạt được những kết quả nhất định trong tiến trình cụ thể hóa những ý tưởng, kế hoạch của họ. VnPlay là một trong 9 công ty khởi nghiệp tham gia vào khóa đầu của VSV, có dự định cung cấp nền tảng để phân phối nội dung các kênh truyền hình có bản quyền, giúp khán giả có thể xem các chương trình TV trên máy tính và các thiết bị di động. “Trước đây, VnPlay có đầy đủ ý tưởng, mô hình kinh doanh, khái niệm sản phẩm, chúng tôi chỉ thiếu một cơ hội để tập hợp tất cả những điều trên thành một sản phẩm VnPlay như bây giờ”, theo lời Nguyễn Minh Quang, CEO của công ty. Với 4 tháng ở VSV, nhóm đã có những thứ cơ bản họ mong muốn cho sản phẩm của mình: một ứng dụng xem TV và mobile, một website dễ nhìn để mọi người có thể xem trên máy tính để bàn, một công cụ đủ hiệu quả để một đối tác có thể phân phối dễ dàng nội dung truyền hình.  Tuy nhiên, các doanh nghiệp khởi nghiệp cũng hiểu rằng VSV chỉ mới đang ở giai đoạn thử nghiệm bước đầu, việc tham gia vào VSV chưa thể ngay lập tức giúp họ đổi mới về tư duy, định hướng trong việc phát triển sản phẩm, hay học hỏi được nhiều từ những doanh nghiệp cùng tham dự. Vì vậy, mục tiêu chủ yếu họ hướng tới khi tham gia vào VSV là những cơ hội thuyết trình, kết nối với các nhà đầu tư trong ngày Hội đầu tư – Demo Day và cũng là ngày tốt nghiệp của khóa này. Tuy nhiên, không phải tất cả các dự án đều đã có sản phẩm hoàn thiện.  Thử thách gọi vốn từ nhà đầu tư  Cơ hội kết nối với các nhà đầu tư là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp khởi nghiệp khi tham gia vào VSV, đặc biệt là các doanh nghiệp đã có sản phẩm, ví dụ như Lozi, với sản phẩm là mạng xã hội chuyên chia sẻ dịa điểm ăn uống được hình thành dựa trên thói quen chụp và chia sẻ ảnh đồ ăn của cộng đồng. CEO Hoàng Trung của Lozi tự tin khẳng định: “công ty tôi đã có sản phẩm, đã có người dùng và việc tham gia vào VSV giúp cho chúng tôi có cơ hội được gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều người mà bình thường khó có thể gặp”.          Trong môi trường khởi nghiệp ở Việt Nam, một accelerator thay vì đầu tư dàn trải nhiều nội dung, chỉ nên chuyên sâu và tập trung từng phân khúc trong hệ sinh thái: hoặc chỉ hướng dẫn (mentoring) hoặc chỉ cung cấp không gian làm việc chung (co-working space) hoặc hỗ trợ nguồn vốn ban đầu (seed fund)…và những dự án, công ty khởi nghiệp tham gia cuối cùng phải có sản phẩm hoàn thiện với mô hình kinh doanh khả thi, tạo đà để có thể nhân rộng tiếp và hoạt động bền vững.    Trần Mạnh Công, đồng sáng lập Topica Founder Institute Việt Nam          Ngoài ra,có doanh nghiệp muốn tập trung vào việc xây dựng sản phẩm, nhường công tác kết nối đầu tư lại cho VSV. Phạm Hùng, CEO của Tech Elite, cho biết sự hỗ trợ của VSV cho phép doanh nghiệp của anh không phải phân tán năng lực tìm kiếm nhà đầu tư, mà chỉ cần toàn tâm tập trung vào hoàn thiện sản phẩm trong vòng 4 tháng để chuẩn bị cho buổi Demo Day với hơn 60 nhà đầu tư tham dự do VSV tổ chức.  Việc tìm được nhà đầu tư thích hợp là điều rất quan trọng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, bởi họ là những người sẽ sát cánh lâu dài cùng doanh nghiệp sau khi sự hỗ trợ từ VSV chấm dứt, mang đến nguồn vốn và những kinh nghiệm cần thiết để triển khai sản phẩm ra thị trường trên quy mô rộng hơn. Chính vì vậy, “thương mại hóa công nghệ” là mục tiêu của dự án Vietnam Silicon Valley và việc thu hút các quỹ đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư thiên thần hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp non trẻ của Việt Nam là một trong những điều mà những người sáng lập dự án đang tập trung.   Tuy nhiên, đây là mục tiêu không hề dễ dàng. Được biết sau buổi Demo Day, VnPlay, Tech Elite và Lozi cùng một số doanh nghiệp khởi nghiệp đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư thiên thần và các quỹ đầu tư, nhưng Nguyễn Minh Quang, CEO của VnPlay cho rằng “trung bình một thỏa thuận từ lúc tiếp xúc tới lúc hoàn thành tại Việt Nam là 3-6 tháng, có khi còn lâu hơn”, vì vậy các doanh nghiệp khởi nghiệp trong sự kiện khó có thể được đầu tư ngay.   Đức Hải, CEO của LoanVi, là người sáng lập startup.vn, công ty tổ chức sự kiện hỗ trợ khởi nghiệp, được bà Thạch Lê Anh giới thiệu là người đã kết nối nhiều nhà đầu tư đến dự buổi Demo Day không tỏ ra lạc quan về cơ hội được đầu tư: “Hiện nay, vốn đầu tư cho doanh nhân công nghệ gần như là không có. Trong một hai năm nay, chỉ còn mỗi quỹ Cyber Agent hoạt động cầm chừng. Các nhà đầu tư thiên thần cũng hạn chế do họ không hiểu nhiều về công nghệ và lợi nhuận thu về không là bao. Người ta vẫn chưa thấy được những bài học thành công của những nhà đầu tư thiên thần về công nghệ”.   CEO Nguyễn Minh Quang của VnPlay thì nhìn nhận rằng, việc kêu gọi vốn đầu tư ở Việt Nam là rất khó do quy mô công ty nhỏ, môi trường kinh doanh thiếu minh bạch và nhiều thủ tục, giấy tờ phức tạp trong việc chuyển tiền. Cùng quan điểm với Minh Quang, Trương Thanh Thủy, người từng là đại diện Việt Nam duy nhất tham gia vào 500Startups – một trong những khóa tăng tốc khởi nghiệp nổi tiếng nhất thế giới cho biết: “Rào cản lớn nhất để xây dựng một accelerator tại Việt Nam là hành lang pháp lý để các nhà đầu tư có thể đầu tư vào các công ty công nghệ một cách dễ dàng”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu tiền tỷ từ trồng xen canh cam      Từ một hộ nuôi trồng cam quy mô nhỏ, gia đình ông Nguyễn Văn Thống ở tổ 8, thị trấn Nông trường Trần Phú, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đã trở thành một điển hình làm giàu từ trồng xen canh với thu nhập hai tỷ đồng/năm.    Để có được thành công này, ông Nguyễn Văn Thống đã phải trải qua nhiều thất bát mùa vụ, “được mùa rớt giá”, khi giá cao lại không đủ cam bán. Có những năm mất mùa cam bởi sâu bệnh hoàng hành, ông phải bó tay nhìn lũ sâu tàn phát vườn cam mà không đủ lực phòng trừ sau bệnh…   Vào thời điểm khó khăn đó, ông đã nhờ cậy đến các nhà chuyên môn ở Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện. Được sự hỗ trợ và chỉ dẫn tận tình của các kỹ sư trồng trọt, ông Thống đã có thêm nhiều kiến thức chăm sóc cam và mạnh dạn áp dụng những thành tựu nghiên cứu về phương pháp trồng mới như chuyển đổi những giống cam cũ đã bị thoát hóa, không còn khả năng chống chịu được sâu bệnh, năng suất thấp sang trồng những giống cam mới có nhiều ưu điểm nổi trội như quả mọng, sai quả, vỏ bóng đẹp, vị ngọt… như cam sành, cam đường, cam V2, cam sen, cam Valencia… Ông Thống cũng được giới thiệu về các loại phân bón hữu cơ vi sinh mới, bổ sung nhiều chất dinh dưỡng cho đất, phù hợp với yêu cầu của cây theo mùa vụ. Loại phân bón vi sinh mới này còn có tác dụng giảm dư lượng chất bảo vệ thực vật trên quả cam, đồng thời tiết kiệm chi phí đầu tư và góp phần bảo vệ môi trường so với các loại phân bón vô cơ.    Trong quá trình áp dụng những phương pháp nuôi trồng mới, ông Thống còn nảy ra ý tưởng trồng xen canh các loại cam trong vườn. Như vậy, gia đình ông dù ít vốn cũng có thể thu hoạch gối vụ, hết mùa cam này lại có ngay những gốc cam khác thu hoạch. Sau nhiều mùa vụ như vậy, gia đình ông Thống đã tích lũy được vốn, qua đó mở rộng diện tích trồng trọt lên tới hai ha. Với diện tích này, mỗi năm gia đình ông thu hoạch được thu 40 đến 50 tấn, đem lại thu nhập lên tới hai tỷ đồng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tướng chỉ thị triển khai Đề án tái cơ cấu kinh tế      Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị trong đó phân công các Bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công  ty nhà nước triển khai một số nhiệm vụ trong ba năm 2013 – 2015 nhằm  thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình  tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh  tranh giai đoạn 2013 – 2020.        Thủ  tướng yêu cầu, trong quý II/2013, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan  thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành  lập Ban chỉ đạo tái cơ cấu của ngành, lĩnh vực và địa phương.      Đến quý IV/2013, các cơ quan trên và các tập đoàn,  tổng công ty nhà nước phải hoàn thành Đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực,  địa phương, tập đoàn, tổng công ty.     Trong quý III/2013, Bộ Tư pháp chủ trì hoàn thành dự  thảo Nghị quyết về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính  trong thực hiện dự án đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút  đầu tư.              Ngày  19/2/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 339/QĐ-TTg2 phê  duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng  trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh  giai đoạn 2013 – 2020.         Cũng trong quý III/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải  chủ trì hoàn thành quy trình hợp lý, liên thông giải quyết các thủ tục  hành chính về đầu tư – xây dựng từ chấp thuận chủ trương đầu tư, đánh  giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa  thuận về giao đất, cho thuê đất,… đến cấp giấy phép xây dựng.  Cũng  trong thời gian này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải hoàn thành dự thảo Nghị  định về quản lý, giám sát và đánh giá các tập đoàn và tổng công ty nhà  nước (thay thế Nghị định 101/2009/NĐ-CP).      Đến quý IV/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thành dự  thảo Đề án thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền chủ sở hữu tại  doanh nghiệp và Đề án tách chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng  quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước.     Thủ tướng còn giao các Bộ, ngành liên quan hoàn  thành dự thảo một số luật, nghị định như: Luật quy hoạch; Luật đầu tư  công; Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Luật  đầu tư (sửa đổi); Luật doanh nghiệp (sửa đổi); Luật đấu thầu; Luật phá  sản; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi, bổ sung một số điều);  Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi, bổ sung một số điều); Nghị định về  bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định về đầu tư trung  hạn…      Tập trung thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế      Để  thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu kinh tế, Thủ tướng Chính phủ chỉ  thị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh,  thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện, hoàn thành đúng  tiến độ và đảm bảo chất lượng cao nhất các nhiệm vụ được phân công; phù hợp với mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp tái cơ cấu kinh tế trong Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ.  Bên  cạnh đó, hàng quý, tổ chức giao ban kiểm điểm tình hình thực hiện, xây  dựng báo cáo kết quả thực hiện tái cơ cấu kinh tế trong ngành, lĩnh vực  và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để  tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.  Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tham mưu, điều phối, kiểm  tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế của  các ngành, lĩnh vực, địa phương, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước;  kịp thời đề xuất với các Bộ, cơ quan, địa phương hoặc kiến nghị cấp có  thẩm quyền biện pháp xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh;  định kỳ trước ngày 15/12 hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Chính  phủ về kết quả triển khai thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế  gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đồng thời, nghiên cứu, kiến nghị  các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể triển khai thực hiện trong năm 2016 và  các năm tiếp theo.  —  1 http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&document_id=168166  2 http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&mode=detail&document_id=165844                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tướng cho phép triển khai dự án lọc dầu 27 tỷ USD      Thông tin này được ông Hồ Quốc Dũng, Phó chủ  tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết tại buổi tọa đàm trực tuyến về thu  hút đầu tư vào Bình Định, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức  ngày 12-5.    Theo ông Hồ Quốc Dũng, sau 3 năm đàm phán, tháng 3 vừa qua, UBND tỉnh Bình Định và Tập đoàn dầu khí Thái Lan (PTT) đã ký biên bản ghi nhớ về việc triển khai dự án lọc hóa dầu 27 tỷ USD, dự kiến đặt tại Khu kinh tế Nhơn Hội. Đây là dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam.  Trước các ý kiến lo ngại về tính khả thi, sự cam kết của nhà đầu tư cũng như các bước để triển khai dự án, ông Hồ Quốc Dũng khẳng định: Dự án rất khả thi ở nhiều khía cạnh. PTT là tập đoàn có sức mạnh về tài chính với tổng tài sản hơn 150 tỷ USD, nằm trong danh sách 100 tập đoàn có tài sản lớn nhất thế giới. Doanh thu hằng năm theo báo cáo tài chính của tập đoàn là hơn 80 tỷ USD, lợi nhuận gần 3,5 tỷ USD. Trong chiến lược phát triển, PTT cũng đề ra việc xây dựng nhà máy lọc dầu trong khu vực để nâng cao năng lực cạnh tranh. “Như vậy, năng lực và kế hoạch của nhà đầu tư đã có”, ông Dũng nhấn mạnh.  “Theo thông tin mới nhất tôi nhận được, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký văn bản đồng ý chủ trương đầu tư dự án này tại khu kinh tế Nhơn Hội. Đó là thông tin rất đáng mừng đối với nhân dân Bình Định và những người quan tâm đến dự án này” – ông Hồ Quốc Dũng thông báo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán AI mới giúp phân tích hiệu quả dữ liệu MRI      Các nhà khoa học gần đây đã phát triển một thuật toán mới có thể “học” dữ liệu ở các cơ sở y tế khác nhau một cách độc lập. Nhờ đó, thuật toán này không đòi hỏi các bác sỹ chẩn đoán hình ảnh phải gán nhãn quá nhiều hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) – một công đoạn vốn tiêu tốn rất nhiều thời gian trong quá trình huấn luyện AI.    Công nghệ AI phục vụ phân tích dữ liệu MRI. Ảnh: Johann F. Saba, Bệnh viện Đại học Bonn (UKB)  Thuật toán học liên kết (federated) của nhóm nghiên cứu được huấn luyện dựa trên 1,500 ảnh MRI của các tình nguyện viên khỏe mạnh thuộc bốn cơ sở y tế khác nhau. Sau đó, nhóm nghiên cứu sử dụng thuật toán để phân tích hơn 500 ảnh MRI của bệnh nhân nhằm phát hiện các bệnh như xơ cứng rải rác, bệnh mạch máu, và các dạng khối u não khác nhau mà thuật toán chưa từng thấy trước đây. Điều này đã mở ra những hướng đi khả thi mới để phát triển các thuật toán liên kết dựa trên AI có khả năng vừa học chủ động, vừa bảo đảm quyền riêng tư. Kết quả nghiên cứu mới đây đã được công bố trên tạp chí Nature Machine Intelligence.  Hiện nay, trí tuệ nhân tạo đang tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Với những công nghệ AI mới, các bác sỹ sẽ được hỗ trợ rất nhiều trong quá trình chẩn đoán cho người bệnh. Tuy nhiên, những thuật toán như vậy thường đòi hỏi phải có một lượng dữ liệu khổng lồ và cần phải được các bác sỹ chẩn đoán hình ảnh giúp “gán nhãn” dữ liệu và huấn luyện. Song, việc tạo ra một cơ sở dữ liệu lớn và tập trung như vậy cũng sẽ đặt ra một yêu cầu đặc biệt đối với việc bảo mật thông tin. Thêm vào đó, việc phát hiện các điểm bất thường trong dữ liệu, chẳng hạn như các khối u trong ảnh MRI, và đánh dấu lại chúng, thường tiêu tốn rất nhiều thời gian.  Để giải quyết thách thức này, một nhóm các nhà khoa học đa ngành thuộc Helmholtz Munich, Bệnh viện Đại học Bonn và trường Đại học Bonn đã phối hợp với các bác sỹ và nhà nghiên cứu ở Đại học Hoàng gia London, Đại học Kỹ thuật Munich (TUM) và Bệnh viện Đại học rechts der Isar. Mục tiêu mà nhóm nghiên cứu hướng đến là phát triển một thuật toán dựa trên AI để chẩn đoán ảnh MRI não mà không cần các bác sỹ chuyên khoa X-quang phải chú thích hoặc xử lý trước ảnh. Không chỉ vậy, thuật toán này còn được “liên kết” để huấn luyện: theo đó, thuật toán sẽ “đến gặp dữ liệu” thay vì ngược lại, từ đó các dữ liệu y tế (vốn cần phải được bảo mật đặc biệt) sẽ vẫn có thể ở nguyên tại các cơ sở khám chữa bệnh mà không bị thu thập tập trung tại một địa điểm nào đó.  Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã chứng minh được thuật toán AI “liên kết” mà họ phát triển có khả năng xử lý thông tin vượt trội hơn bất kỳ thuật toán AI nào mà chỉ được huấn luyện với dữ liệu của một cơ sở y tế. “Trong cuốn ‘Trí tuệ của đám đông’, James Surowiecki đã lập luận rằng một nhóm người sẽ khôn ngoan hơn một người, bất kể rằng người kia có thông minh đến đâu. Và về cơ bản, đây chính là cách mà thuật toán AI liên kết của chúng tôi vận hành”, theo GS.TS Shadi Albarqouni – giáo sư nghiên cứu tính toán hình ảnh y tế tại Khoa chẩn đoán và can thiệp X-quang, Bệnh viện Đại học Bonn và là trưởng nhóm nghiên cứu trẻ tại Helmholtz Munich.  “Một khi thuật toán này hiểu được hình ảnh MRI của một bộ não khỏe mạnh trông như thế nào, nó sẽ dễ dàng phát hiện được các căn bệnh ở những hình ảnh MRI bất thường. Để đạt được điều này thì phải có sự tổng hợp tính toán một cách thông minh và có sự tham gia, phối hợp của các viện nghiên cứu”, GS.TS Albarqouni cho biết. Theo TS. BS Benedikt Wiestler, “việc huấn luyện mô hình với dữ liệu của nhiều cơ sở y tế khác nhau cũng góp phần quan trọng giúp thuật toán của chúng tôi phát hiện bệnh tốt hơn nhiều so với các thuật toán chỉ được huấn luyện với dữ liệu của một trung tâm”.  Và nhờ vào việc vừa bảo vệ quyền riêng tư cho bệnh nhân, vừa giảm tải khối lượng công việc cho các bác sỹ, nhóm nghiên cứu tin rằng công nghệ AI liên kết của họ sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ lĩnh vực y học kỹ thuật số.  “AI và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên có giá cả phải chăng. Đó chính là mục tiêu của chúng tôi. Với nghiên cứu mới, chúng tôi đã tiến thêm được một bước trong hành trình này”, GS.TS Albarqouni nói. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-08-efficient-ai-technology-mri-analysis.html    Author                .        
__label__tiasang Thuật toán AI ứng phó nguy cơ mất khả năng nói của con người      Đại học Northeastern ở Boston và công ty VocaliD đã lập một trung tâm tiên phong về bảo tồn và tái tạo giọng nói của con người bằng trí thông minh nhân tạo. Các nhà nghiên cứu hy vọng trung tâm này sẽ thay đổi cuộc sống của những người đang phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng nói.      Các nhà nghiên cứu cho biết dự án mạo hiểm này có thể trao cho những người mắc bệnh từ ung thư vòm họng đến các bệnh tế bào thần kinh vận động cơ hội phát ra giọng nói của mình ngay cả khi không còn khả năng tự nói được nữa.  Một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này, giáo sư Rupal Patel, nhà sáng lập và giám đốc điều hành của VocaliD, cho biết, mặc dù công ty đã cung cấp cho các cá nhân phương án ghi âm giọng nói tại nhà riêng của họ, nhưng trên thực tế, nhiều người lại thiếu thiết bị ghi âm chất lượng cao hoặc những bản ghi âm họ tự thu bị lẫn rất nhiều tạp âm. Patel nói thêm cần phải hỗ trợ nhiều hơn cho những người yêu cầu các dịch vụ này và đảm bảo người bệnh nhận thức được rằng họ nên tiến hành việc lưu trữ giọng nói của mình càng sớm càng tốt. “Thông thường, họ sẽ đến với chúng tôi vào phút cuối,” bà nói. “Họ không có thời gian để lưu trữ giọng nói của mình, thêm vào đó họ còn bị căn bệnh và những lần phẫu thuật đau đớn ảnh hưởng”.  Do đó, công ty đã hợp tác với Đại học Northeastern – nơi Patel đang tạm dừng công việc giảng dạy của mình – để đưa công nghệ này đến với cộng đồng. Kết quả cuối cùng là Trung tâm Bảo tồn Giọng nói ra đời, một nơi tạo điều kiện cho mọi người, thường là có nguy cơ bị mất giọng nói, có thể ghi âm lại giọng nói của mình – một phần của dự án “bảo tồn”.  Thay vì cắt nhỏ từng từ rồi xâu chuỗi chúng lại với nhau, công nghệ tái tạo giọng nói sử dụng các thuật toán học máy để phân tích các giọng nói mà trung tâm có do những người tham gia cung cấp dưới dạng các bài thơ, truyện ngắn hoặc bài phát biểu từ một loạt các chủ đề mà họ ghi lại trong một buồng thu âm đặc biệt. “Những gì chúng tôi cần họ làm là ghi âm lại bài phát biểu dài khoảng 2 đến 3 tiếng. Từ những bản ghi âm đó, chúng tôi có thể xây dựng một bộ công cụ giọng nói do AI tạo ra mà về cơ bản, âm thanh phát ra hệt như của người,” Patel nói. Thực tế, nó có thể nói ra những từ giống hệt của người dùng, dù những từ ấy trước đó vẫn chưa từng được ghi âm.  Khi giọng nói kỹ thuật số được cài đặt trên ứng dụng đi kèm, cho dù trên điện thoại hoặc các loại thiết bị đặc biệt, người dùng đều có thể nhập những gì họ muốn nói và âm thanh sẽ phát ra các câu bằng chính giọng nói của người dùng. “Với những người mắc bệnh ung thư, họ vẫn có thể điều khiển đôi tay của mình và vì vậy vẫn có thể giao tiếp – nhưng họ muốn tự mình giao tiếp bằng giọng nói,” ông Pat Patel cho biết.  Dự án “bảo tồn” này, cô nói thêm, khác với các loại dịch vụ khác, mọi người còn có thể quyên góp các bản ghi âm của chính mình để giúp những người không còn nói được tạo ra một giọng nói mới cho riêng họ.  Công nghệ này đang được cải thiện nhanh chóng – âm thanh phát ra nghe ngày càng giống tiếng người hơn, và nhóm nghiên cứu đã bắt đầu phát triển các bộ lọc để cung cấp cho người dùng nhiều sự lựa chọn hơn trong việc diễn đạt các cụm từ.    Patel cho biết nhóm nghiên cứu cũng có thể “già hóa” giọng nói của một cá nhân cụ thể, nhưng cũng chỉ đến một mốc giới hạn nào đó. Nhóm nghiên cứu vẫn chưa thể biến giọng nói của một đứa trẻ thành giọng nói của một thiếu niên hoặc người đã trưởng thành, mặc dù họ đã có thể biến giọng nói của đứa trẻ đó thành giọng nói của chính chúng trong tương lai gần.  Mặc dù dịch vụ ghi âm thì miễn phí, nhưng để có được phiên bản giọng nói do AI tạo ra thì người dùng sẽ phải tốn 1.499 USD (tương đương 1.360 bảng). Tuy nhiên, trung tâm cho biết họ sẽ không thu phí khách hàng trong năm đầu tiên. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/technology/2019/nov/09/centre-tackle-speech-loss-preserving-voices-artificial-intelligence    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán học máy giúp tiết lộ vật lý bên trong các hệ lượng tử      Các nhà khoa học Phòng thí nghiệm Công nghệ lượng tử trường đại học Bristol (QETLabs) đã phát triển một thuật toán có thể đem lại những cái nhìn sâu sắc vào thứ vật lý nằm trong các hệ lượng tử – tiến trên con đường đạt được những thăng tiến đầy ý nghĩa trong tính toán lượng tử và cảm biến lượng tử, cũng như có tiềm năng mở ra một trang mới cho khoa học.      Trong vật lý, các hệ của các hạt và sự tiến hóa của chúng đều được mô tả bằng các mô hình toán học. Điều đó đòi hỏi sự tác động qua lại giữa các tranh luận lý thuyết và xác minh thực nghiệm. Nhiều phức tạp hơn cả là việc miêu tả các hệ của các hạt tương tác với nhau tại mức lượng tử, vốn thường được thực hiện với một mô hình Hamilton. Quá trình của công thức hóa các mô hình Hamilton từ những quan sát được thậm chí còn khó hơn bản chất của các trạng thái lượng tử do chúng sẽ bị ảnh hưởng nếu cố gắng kiểm tra chúng.  Trong bài báo “Learning models of quantum systems from experiments” (Học các mô hình các hệ lượng tử), xuất bản trên Nature Physics, QET Labs của Bristol đã miêu tả cơ học lượng tử bằng một thuận toán vượt qua những thách thức khi nó đóng vai trò như một tác nhân tự trị, sử dụng học máy để đảo ngược về mặt kỹ thuật các mô hình Hamilton.  Nhóm nghiên cứu đã phát triển một quy trình mới để công thức hóa và đánh giá các mô hình xấp xỉ cho các hệ lượng tử mình quan tâm. Thuật toán của họ hoạt động một cách độc lập, thiết kế và thực hiện các thực nghiệm trên hệ lượng tử đích, với dữ liệu kết quả có được phản hồi cho chính thuật toán này. Nó đề xuất các mô hình Hamilton ứng viên để miêu tả hệ đích và phân biệt chúng bằng việc sử dụng metric thống kê mang tên các nhân tố Bayes.  Nhóm nghiên cứu đã có thể thể hiện một cách thành công năng lực của thuật toán này trên một thực nghiệm lượng tử thật sự, bao gồm các trung tâm sai hỏng trong kim cương, một nền tảng tốt cho nghiên cứu việc xử lý thông tin lượng tử và cảm biến lượng tử.  Thuật toán này có thể được sử dụng để hỗ trợ các đặc điểm tự trị của các thiết bị mới như các cảm biến lượng tử. Phát triển này do đó đã cho thấy một đột phá đáng kể trong việc phát triển các công nghệ lượng tử.    “Bằng việc kết hợp sức mạnh của các siêu máy tính ngày nay với học máy, chúng tôi đã có thể khám phá một cách tự động cấu trúc của các hệ lượng tử. Khi các máy tính lượng tử và hệ mô phỏng lượng tử mới sẵn sàng, thuật toán này sẽ còn gây kích thích hơn nhiều: đầu tiên nó có thể giúp các hệ tự kiểm tra hiệu suất, sau đó khai thác và dùng những thiết bị đó để hiểu về các hệ thậm chí còn lớn hơn”, Brian Flynn từ QETLabs, trường Bristol.  “Chính mức hoạt động độc lập này làm cho chúng ta có thể ‘nuôi’ vô số mô hình giả thuyết trước khi lựa chọn lấy một mô hình tối ưu, một nhiệm vụ có thể làm nản chí bởi các hệ ngày một phức tạp”, Andreas Gentile, cựu thành viên của QETLabs và giờ làm tại Qu & Co., nói.   “Việc hiểu về bản chất vật lý bên trong các mô hình mô tả các hệ lượng tử giúp chúng toi gia tăng hiểu biết về các công nghệ phù hợp với tính toán lượng tử và cảm biến lượng tử”, Sebastian Knauer, cựu thành viên  QETLabs và hiện làm việc tại Khoa Vật lý trường đại học Vienna, bổ sung.  Anthony Laing, đồng giám đốc QETLabs và phó giáo sư trường vật lý đại học Bristolm đồng tác giả nghiên cứu, thì ca ngợi các cộng sự của mình: “Trong quá khứ chúng tôi đã tin tưởng vào những người xuất sắc và làm việc cật lực để khám phá ra thứ vật lý mới này. Hiện tại nhóm của chúng tôi đã có khả năng mở ra một trang mới bằng việc đặt ra các cỗ máy với khả năng học hỏi từ các thực nghiệm và khám phá ra vật lý mới. Các kết quả này thậm chí có thể chạm tới những điều còn xa hơn nữa”.   Bước tiếp theo của họ là mở rộng thuật toán này để khám phá các hệ lớn hơn, và các lớp khác của những mô hình lượng tử hiện diện ở những chế độ vật lý khác hoặc các cấu trúc sâu hơn.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-machine-algorithm-unravel-physics-underlying.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán mới có thể là bước nhảy lượng tử trong tìm kiếm sóng hấp dẫn      Một phương pháp mới trong nhận diện sóng hấp dẫn bằng việc sử dụng tính toán lượng tử có thể đem lại một công cụ mới đầy giá trị cho các nhà vật lý thiên văn trong tương lai.      Các sự kiện vũ trụ là nguồn gốc phát sinh sóng hấp dẫn.  Một nhóm nghiên cứu từ trường vật lý và thiên văn Glasgow đã phát triển một thuật toán lượng tử để giảm bớt một cách đáng kể thời gian tìm kiếm những tín hiệu sóng hấp dẫn có trong các cơ sở dữ liệu lớn.  Quá trinh này, được gọi là lọc khớp thông tin, là một phần của phương pháp đang được củng cố trong một số khám phá tín hiệu sóng hấp dẫn từ các máy dò như Đài quan sát giao thoa kế laser (LIGO) ở Mĩ và Virgo ở Italy.  Những máy dò đó, những cảm biến nhạy nhất trong số cảm biến từng được chế tạo, đã lựa chọn được những gợn sóng mờ nhạt trong không thời gian, bắt nguồn từ những sự kiện thiên văn quy mô lớn như vụ sáp nhập và va chạm của các lỗ đen.  Việc lọc khớp cho phép các máy tính chọn ra được những tín hiệu sóng hấp dẫn khỏi các nhiễu của dữ liệu do máy dò thu thập. Nó hoạt động bằng việc sàng lọc qua dữ liệu, tìm kiếm một tín hiệu có thể khớp với một tín hiệu sóng hấp dẫn trong hàng trăm nghìn tỉ mẫu tiềm năng – những mảnh ghép của dữ liệu mà trong đó tương quan với một tín hiệu sóng hấp dẫn.  Kể từ khi LIGO tìm được tín hiệu sóng hấp dẫn đầu tiên vào tháng 9/2015, quá trinh này tốn mất nhiều thời gian và đòi hỏi nguồn lực tính toán. Quá trình mới này có thể cho phép các nhà khoa học thực hiện được vô số cuộc dò sóng hấp dẫn mà không phải gặp những hạn chế đó.  Trong một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Physical Review Research, nhóm nghiên cứu đã miêu tả cách quá trình này có thể làm gia tốc một cách vô cùng đáng kể bằng một kỹ thuật tính toán lượng tử mang tên thuật toán của Grover.  Thuật toán của Grover, do nhà khoa học máy tính Lov Grover vào năm 1996, khai thác những khả năng và ứng dụng khác thường của lý thuyết lượng tử để khiến quá trình tìm kiếm thông qua các cơ sở dữ liệu trở nên nhanh hơn. Trong khi các máy tính lượng tử có năng lực xử lý dữ liệu bằng việc sử dụng thuật toán của Grover vẫn còn đợi một công nghệ đang được phát triển, các máy tính thông thường có năng lực mô hình hóa hành xử của chúng, cho phép các nhà nghiên cứu phát triển các kỹ thuật có thể được chấp thuận khi công nghệ này hoàn thiện và các máy tính lượng tử sẵn sàng.  Nhóm nghiên cứu ở Glasgow đã là nhóm đầu tiên áp dụng dược thuật toán của Grover cho những mục tiêu tìm kiếm sóng hấp dẫn. Trong bài báo mới xuất bản, họ mô tả cách ứng dụng nó vào các cuộc tìm kiếm sóng hấp dẫn thông qua phần mềm mà họ phát triển bằng sử dụng ngôn ngữ lập trình Python và Qiskit, một công cụ mô phỏng các quá trình tính toán lượng tử.  Hệ thống này được nhóm nghiên cứu phát triển, có năng lực tăng tốc số các hoạt động tương đương với bình phương số mẫu. Các bộ xử lý lượng tử hiện hành đều chậm hơn máy tính thông thường ở hiệu suất của vận hành cơ bản, nhưng khi công nghệ này được phát triển, hiệu suất hoạt động của chúng được chờ đợi sẽ cải thiện hơn. Sự giảm bớt số lượng tính toán có thể chuyển thành tốc độ theo thời gian. Trong những trường hợp thành công nhất có nghĩa là nếu một tìm kiếm bằng máy tính cổ điển có thể mất cả năm thì cuộc tìm kiếm tương tự có thể chỉ mất một tuần với thuật toán lượng tử.  Tiến sĩ Scarlett Gao của trường Vật lý và thiên văn, đại học Glasgow là một trong những tác giả đầu của công trình. Cô cho rằng “việc lọc khớp là một vấn đề mà thuật toán của Grover được xem là vừa khéo để giúp giải quyết, và chúng tôi đã có thể phát triển một hệ thống có thể chứng tỏ được tính toán lượng tử có những ứng dụng giá trị trong thiên văn sóng hấp dẫn.  “Đồng tác giả của tôi và tôi đều là nghiên cứu sinh tiến sĩ khi chúng tôi bắt tay vào công trình này, và chúng tôi may mắn khi có được sự ủng hộ của những nhà nghiên cứu hàng đầu Anh về tính toán lượng tử và sóng hấp dẫn trong suốt quá trình phát triển phần mềm này”.  “Mặc dù chúng tôi tập trung vào một dạng tìm kiếm cụ thể trong công trình này nhưng hệ này có thể có khả năng áp dụng được cho những quá trình khác mà không đòi hỏi cơ sở dữ liệu được tải vào bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên lượng tử”.  Fergus Hayes, một nghiên cứu sinh khác của trường Vật lý và thiên văn học, đồng tác giả thứ nhất của bài báo, cho biết thêm “các nhà nghiên cứu ở Glasgow đã nghiên cứu về vật lý sóng hấp dẫn hơn 50 năm, và việc được làm việc trong Viện nghiên cứu Sóng hấp dẫn cho phép chúng tôi củng cố thêm quá trình phát triển hệ và phân tích dữ liệu ở nhiều khía cạnh của LIGO.  “Công trình nghiên cứu liên ngành mà tiến sĩ Gao và tôi thực hiện đã thể hiện được tiềm năng của tính toán lượng tử trong lọc khớp dữ liệu. Vì các máy tính lượng tử được phát triển trong những năm tới, có thể là các quá trình xử lý như vậy hữu dụng với những máy dò sóng hấp dẫn trong tương lai. Đó là một viễn cảnh vô cùng hấp dẫn và chúng tôi đang háo hức chờ đón sự phát triển bằng chứng ban đầu của khái niệm này trong tương lai”.  Công trình của nhóm nghiên cứu “A quantum algorithm for gravitational wave matched filtering” (Một thuật toán lượng tử cho lọc khớp sóng hấp dẫn) đã được xuất bản trong Physical Review Research 1.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2022-04-algorithm-quantum-gravitational.html  https://www.opticflux.com/gravitational-wave-detector-gets-a-boost-from-quantum-computing/17810/  —————————————————  1. https://arxiv.org/abs/2109.01535    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán mới giúp các máy chủ của máy tính giảm mức tiêu thụ điện      Các nhà khoa học Đan Mạch mới đây đã phát triển một thuật toán có thể giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ tài nguyên của các máy chủ máy tính trên thế giới. Nhóm tác giả đã trình bày về nghiên cứu này tại hội thảo uy tín về lý thuyết máy tính STOC 2021.      Bên trong một trung tâm dữ liệu của Google. Ảnh: dailymail.co.uk      Một trong những mặt trái của việc sử dụng internet là nó có thể mang đến những tác động không mong muốn đối với khí hậu do lượng điện năng khổng lồ mà các máy chủ cần dùng để duy trì hoạt động. Hiện nay, lượng phát thải CO2 từ các trung tâm dữ liệu cao tương đương với lượng phát thải của giao thông đường hàng không trên toàn thế giới cộng lại.     Nhóm nghiên cứu này đã phát triển một thuật toán giải quyết một phần vấn đề thông qua một công thức đột phá giúp sắp xếp trình tự làm việc của các server máy tính. Các “gã khổng lồ” công nghệ như Vimeo và Google đã triển khai thuật toán này trong các hệ thống của mình, và kết quả cho thấy, thuật toán đã giúp nền tảng video online Vimeo giảm mức sử dụng băng thông của họ xuống tám lần.     Hiện tại, họ đã hoàn thiện được thuật toán và giải quyết được một vấn đề căn cốt của các hệ thống máy tính nhanh hơn nhiều lần so với hiện nay – đó là vấn đề một số máy chủ bị quá tải trong khi một số máy khác vẫn còn dung lượng. “Thuật toán của chúng tôi giảm được mức sử dụng năng lượng xuống thấp nhất có thể, hơn nữa, lại miễn phí để tất cả đều có thể sử dụng”, giáo sư Thorup tại Khoa Khoa học Máy tính, Đại học Copenhagen, người phát triển thuật toán cùng các đồng nghiệp Anders Aamand, Jakob Bæk Tejs Knudsen cho biết.     Các máy chủ (server) trở nên quá tải khi nhận được nhiều yêu cầu từ các máy trạm (client) hơn khả năng xử lý của chúng. Điều này xảy ra khi người dùng cùng dồn vào xem một video Vimeo hoặc một bộ phim trên Netflix cùng một lúc. Do đó, các hệ thống thường cần phải “di chuyển” các máy trạm nhiều lần để đạt được sự phân bố cân bằng giữa các máy chủ.     Sẽ cực kỳ khó thực hiện các phép tính toán cần thiết để đạt được sự cân bằng này, do có thể có đến một tỷ máy chủ tham gia vào hệ thống. Thêm nữa, hệ thống này sẽ luôn biến động khi các máy trạm và các máy chủ mới tham gia vào và rời đi. Điều này dẫn đến vấn đề tắc nghẽn và sự cố với máy chủ, cũng như tiêu thụ một lượng điện năng lớn. “Khi lưu lượng truy cập internet tăng vọt, vấn đề này sẽ càng trầm trọng hơn. Do đó, chúng ta cần có một giải pháp có thể mở rộng quy mô mà không phụ thuộc vào số lượng máy chủ tham gia. Và thuật toán của chúng tôi làm được điều đó”, Thorup giải thích.     Theo hãng công nghệ thông tin Cisco của Mỹ, lưu lượng truy cập internet dự kiến sẽ tăng gấp ba từ năm 2017 đến 2022. Trong năm tới, các video online sẽ chiếm 82% trong tổng lưu lượng truy cập internet.     Thuật toán mới bảo đảm các máy trạm sẽ được phân bố đồng đều nhất có thể giữa các máy chủ thông qua việc hạn chế “di chuyển” các máy trạm này xuống mức thấp nhất có thể, và truy xuất nội dung theo cách cục bộ nhất. Chẳng hạn, nhằm đảm bảo sự phân bố các máy trạm giữa các máy chủ một cách cân bằng và không để máy chủ nào phải “gánh” quá 10% các máy khác, thuật toán cũ xử lý bằng cách di chuyển một máy trạm 100 lần. Tuy nhiên, thuật toán mới sẽ giảm công đoạn này xuống chỉ còn 10 bước, kể cả khi có hàng tỉ máy trạm và máy chủ trong hệ thống.       Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, các trung tâm dữ liệu toàn cầu tiêu thụ đến hơn 400 terawatt giờ (TWh) điện hằng năm. Con số này chiếm khoảng 2% tổng lượng phát thải khí nhà kính trên thế giới và lượng điện năng mà các trung tâm dữ liệu tiêu thụ dự kiến sẽ còn tăng gấp đôi vào năm 2025.     Theo Hội đồng Đan Mạch về Biến đổi Khí hậu, riêng một trung tâm dữ liệu thuộc loại lớn cũng tiêu thụ 4% tổng lượng điện tiêu thụ của Đan Mạch.       Mỹ Hạnh dịch     Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-07-aims-servers-worldwide-climate-friendly.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán nhìn vào bên trong vật liệu với hạt hạ nguyên tử      Trường khoa học vật lý của đại học Kent, trong hợp tác với Hội đồng Các cơ sở KH&CN (STFC) và các trường đại học Cardiff, Durham và Leeds, đã phát triển một thuật toán để huấn luyện các máy tính phân tích các tín hiệu từ những hạt hạ nguyên tử được gắn vào các vật liệu  điện tử tiên tiến.    Công trình “Machine learning approach to muon spectroscopy analysis” xuất bản trên Journal of Physics: Condensed Matter .  Các hạt muon được tạo ra trong những máy gia tốc hạt lớn và được cấy vào bên trong các mẫu vật liệu để điều tra những đặc tính từ của nó. Các muon hữu dụng khi chúng ghép nối từ tính với các đơn nguyên tử bên trong vật liệu và sau đó phát ra một tín hiệu mà các nhà nghiên cứu có thể dò được để ghi nhận thông tin về từ tính đó.  Năng lực dùng để kiểm tra từ tính ở mức độ nguyên tử đó khiến các đo đạc dựa trên muon trở thành một trong những chứng minh về từ tính trong các vật liệu điện tử thuyết phục bậc nhất, bao gồm “vật liệu lượng tử” như siêu dẫn và các hình thức lạ của vật chất.  Vì không thể suy ra những gì đang diễn ra bên trong vật liệu bằng cách kiểm tra tín hiệu đơn giản, các nhà nghiên cứu thông thường so sánh dữ liệu của họ với các mô hình di truyền. Tương phản, nhóm nghiên cứu mà chúng ta nhắc ở trên đã áp dụng một kỹ thuật của khoa học vật liệu là phép phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis PCA), thường được dùng để nhận diện khuôn mặt.  Kỹ thuật PCA bao gồm một máy tính được cung cấp nhiều hình ảnh liên quan với nhau nhưng lại khá dễ phân biệt, sau đó chay một thuật toán nhận diện một số nhỏ của những hình ảnh “nguyên mẫu” có thể dược kết hợp và tái tạo với độ chính xác lớn, bất kỳ hình ảnh gốc nào. Một thuận toán được huấn luyện theo cách này có thể thực hiện những nhiệm vụ như ghi nhận việc liệu một hình ảnh có khớp hay tương đồng với một bức ảnh đã thấy không.  Các nhà nghiên cứu sau đó dùng kỹ thuật PCA để phân tích các tín hiệu gửi bằng các hạt muon cấy vào trong những vật liệu phức hợp, huấn luyện thuật toán đó cho một số lượng lớn các vật liệu lượng tử sử dụng dữ liệu thực phậm có được từ cỗ máy gia tốc ISIS Neutron & Muon tại Phòng thí nghiệm STFC Rutherford Appleton.  Kết quả này chứng tỏ kỹ thuật mới cũng tương tự phương pháp tiêu chuẩn phát hiện các chuyển pha và trong một số trường hợp có thể dò được chuyển pha nằm ngoài năng lực của phân tích liêu chuẩn. Tiến sĩ Jorge Quintanilla, nhà nghiên cứu lý thuyết vật chất đậm đặc tại Kent và ngươi dẫn dắt nhóm nghiên cứu Vật lý của vật liệu lượng tử, nói “Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi rất đặc biệt, vì nó đạt được bằng một thuật toán không hiểu rõ về bản chất vật lý của vật liệu được điều tra. Điều này cho thấy cách tiếp cận mới có thể có ứng dụng rất rộng và như vậy chúng tôi đã sẵn sàng đưa thuật toán của mình cho cả cộng đồng nghiên cứu thế giới có thể sử dụng”.  Anh Vũ tổng hơp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-algorithm-materials-subatomic-particles.html  https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1361-648X/abe39e    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thức ăn sinh học phục vụ sản xuất thịt lợn sạch      Từ suy nghĩ cần phải đảm bảo chất lượng và  năng suất vật nuôi, nhằm tạo ra những sản phẩm an toàn phục vụ người  tiêu dùng, kỹ sư Tạ Hùng Đậu, trạm trưởng trạm Khuyến nông thị xã Phúc  Yên, Vĩnh Phúc, đã tìm ra giải pháp công nghệ thức ăn sinh học trong sản  xuất thịt lợn sạch.     Dựa trên kết quả nghiên cứu của Phòng Kinh tế thị xã Phúc Yên “Nghiên cứu sử dụng thức ăn sinh học tạo thành thịt sạch cung cấp cho nhân dân và xuất khẩu”, kỹ sư Tạ Hùng Đậu đã thực hiện đề tài nghiên cứu ứng dụng thức ăn sinh học trong mô hình sản xuất thịt lợn sạch. Đề tài sử dụng hai loại cây phổ biến và phù hợp với vùng đất gò đồi xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên là kim ngân và thổ phục linh. Cùng với men tiêu hóa vi sinh SHL-100, hai loại thảo dược này  đã tạo ra loại thức ăn sinh học nâng cao khả năng tăng trưởng của lợn thịt thông qua việc tăng cường hoạt tính của men tiêu hóa và trao đổi chất trong ruột non. Thử nghiệm trên thế hệ lợn F2 cho thấy, lợn phát triển khỏe mạnh, chất lượng thịt nâng cao, thịt thơm ngon, rắn chắc, không tồn dư hooc môn, không có độc tố gây ngộ độc thực phẩm như ecoli, samonella và dư lượng kháng sinh, đặc biệt là kim loại năng dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế.  Hiệu quả từ việc sử dụng thức ăn sinh học, theo ghi nhận của kỹ sư Tạ Hùng Đậu, đã sản xuất thử nghiệm 30 tấn thức ăn sinh học, cung cấp ra thị trường khoảng 18 đến 20 tấn thịt lợn an toàn, xây dựng được thương hiệu thịt lợn sạch tại một số địa bàn trong tỉnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy liên kết sản xuất là yếu tố “sống còn” để xuất khẩu nông sản      Khi các thị trường lớn vốn đã rất “khó tính” như Mỹ, EU đòi hỏi kiểm soát nông sản ngày càng khắt khe trên toàn chuỗi giá trị thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải bỏ “thói quen” thương mại kiểu “ngẫu nhiên, tình cờ” và thay đổi thực hành liên kết sản xuất. Đồng thời nhà nước và các hiệp hội hỗ trợ doanh nghiệp sẽ phải hỗ trợ, đào tạo để doanh nghiệp “làm quen” với các tiêu chuẩn mới trong xuất khẩu nông sản.      Toàn cảnh Hội thảo.  Đó là những nội dung chính được trao đổi tại hội thảo “Những yêu cầu mới về tiêu chuẩn để nông sản, thực phẩm Việt hội nhập” do Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, tạp chí Tia Sáng, tuần báo Thế giới tiếp thị, dưới sự bảo trợ của Bộ KH&CN tổ chức vào ngày 23/5 tại Hà Nội.  Kiểm soát “từ nguồn” ngày càng gắt gao  Đạo luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm của Mỹ (FSMA) có hiệu lực trong tháng 9 tới đây sẽ trở thành rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp nông sản Việt Nam phải “đối mặt” từ trước tới nay để bước chân vào thị trường Mỹ.  Đây được coi là đợt “quét dọn” lớn nhất trong việc thiết lập lại các luật về an toàn thực phẩm (ATTP) tại Mỹ trong 70 năm qua với trọng tâm chuyển từ “ứng phó” sang “phòng ngừa”. Nghĩa là, thay vì chỉ kiểm soát chất lượng ATTP ở cảng nhập khẩu tại Mỹ, thì FDA sẽ giám sát trên toàn chuỗi và có tần suất kiểm tra bắt buộc đối với các cơ sở sản xuất xuất khẩu vào Mỹ, theo ông Herb Cochran, Cố vấn chương trình thuận lợi hoá thương mại của Mỹ tại Việt Nam.  Đứng trước những yêu cầu ngày càng khắt khe như vậy, các doanh nghiệp nông sản Việt Nam vẫn còn nhiều “lúng túng”. Ví dụ như Vineco, một doanh nghiệp được cho là có quy mô sản xuất nông nghiệp sạch vào loại lớn nhất Việt Nam hiện nay với 16 vùng chuyên canh và mô hình liên kết với 1.000 hộ nông dân nhưng vẫn rất “vất vả” để có thể kiểm soát được chất lượng nông sản “từ nguồn”. Bà Nguyễn Thị Phương Thảo, giám đốc kỹ thuật của Vineco cho biết, mặc dù công ty đã có một quy trình hướng dẫn nông hộ sản xuất sạch và duy trì chế độ kiểm soát chặt chẽ sản phẩm đầu ra (theo chuẩn Vietgap để quản lý dư lượng kim loại nặng, thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV), vi khuẩn…) nhưng tỉ lệ nông hộ vi phạm các tiêu chuẩn ATTP vẫn cao (30 – 40% số mẫu nông sản  vẫn nhiễm thuốc BVTV hoặc vi khuẩn). Điều đó đẩy doanh nghiệp vào “thế khó” cân đối được sản lượng như dự kiến ra thị trường. Về phía người dân, họ dễ dàng phá bỏ liên kết sản xuất sạch với doanh nghiệp bởi trong thực hành sản xuất họ rất dễ dàng tiếp cận với các loại thuốc BVTV, thậm chí các loại thuốc cấm, sản xuất có nhiều rủi ro và bằng mọi giá phải giữ sản lượng để đảm bảo nguồn thu nhập duy nhất của nông hộ…  Nhìn chung, doanh nghiệp Việt khó có khả năng giải quyết những thách thức đó để “xâm nhập” vào các thị trường khó tính, một bằng chứng rõ ràng là “có những cảnh báo từ năm 2009 về nông sản Việt Nam vẫn còn tồn tại trên web của FDA”, theo ông Đào Đức Huấn, Giám đốc trung tâm phát triển nông thôn, IPSARD, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.  Cộng đồng doanh nghiệp Việt phải làm gì?  Trước những thay đổi lớn trong yêu cầu ATTP, chuyển từ kiểm tra chất lượng ở cảng sang các biện pháp phòng ngừa – bắt buộc phải kiểm soát thực hành sản xuất triệt để, theo ông Đào Đức Huấn, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải thay đổi thực hành sản xuất và thương mại của mình. Thứ nhất, doanh nghiệp phải bỏ “thói quen” làm thương mại theo kiểu “ngẫu nhiên, tình cờ”. Ví dụ, trước đây thường tập trung sản xuất rồi sau đó tìm kiếm đối tác để xuất hàng. Còn bây giờ, quan hệ kinh doanh phải được thiết lập trước từ một tới ba năm để cùng xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi ro về ATTP. Thứ hai, doanh nghiệp không thể chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đối với “đầu ra” của nông sản, mà còn phải đáp ứng cả các yêu cầu về thực hành sản xuất trong toàn chuỗi giá trị nên cần phải thúc đẩy liên kết chặt chẽ với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, nông hộ. Thứ ba, cân đối lại chi phí sản xuất để giảm giá thành bởi vì việc kiểm soát chất lượng theo chuỗi giá trị sẽ rất “tốn kém”. Bối cảnh mới này không chỉ đặt ra “thách thức” cho các doanh nghiệp, mà còn yêu cầu khả năng quản lý của nhà nước và sự hỗ trợ từ phía các hiệp hội ngành nghề rất lớn.  Về phía Hiệp hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao (HDNHVNCLC), bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch Hội cho biết, Hội đã “cập nhật tình hình” và đưa ra Bộ tiêu chí Hàng Việt Nam chất lượng cao – chuẩn hội nhập như một giải pháp hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản, thực phẩm Việt. Cụ thể, khi doanh nghiệp đăng ký thực hiện Bộ tiêu chí này, đồng nghĩa với việc họ đã “cam kết” thực hiện các bộ tiêu chuẩn quốc tế trong kiểm soát chất lượng sản xuất trên toàn chuỗi giá trị (cụ thể theo từng thang điểm, hạng sao của Bộ tiêu chí). HDNHVNCLC có trách nhiệm đánh giá xếp hạng doanh nghiệp và có báo động khi họ có vi phạm về tiêu chuẩn. Bộ tiêu chí này không có gì quá “cao siêu” nhưng sẽ tạo ra tính chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp trong thực hiện các chuẩn quốc tế về ATTP. Bước đầu đã có 44 doanh nghiệp đã được công nhận đạt chuẩn này, sau đó HDNHVNCLC sẽ tiếp tục đào tạo và đưa họ đi giới thiệu mặt hàng ở một số nước, bắt đầu ở châu Á, sau đó tới châu Âu.  Việc các hiệp hội doanh nghiệp đưa ra những bộ tiêu chí giám sát cho sản xuất này sẽ giúp Nhà nước “nhẹ gánh” trong kiểm soát chất lượng sản phẩm, theo bà Vũ Kim Hạnh. Và điều này phù hợp với “xu hướng” quốc tế khi có nhiều mô hình các công ty tư nhân, tổ chức dân sự  có thể kiểm tra, theo dõi và chứng nhận các cơ sở sản xuất có phù hợp với các hướng dẫn thực hành vệ sinh tốt được ban hành bởi Nhà nước hay chưa. Các mô hình tư nhân này đều phải thể hiện tính liêm chính, khả năng đánh giá của mình để giữ uy tín và “thu hút” khách hàng đến đánh giá.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Thúc đẩy liên kết với người sản xuất trong nông nghiệp      Nhằm khắc phục những điểm yếu của nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lẻ và thiếu gắn kết trong chuỗi sản xuất hướng tới một nền nông nghiệp có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam đã ban hành một số chính sách khuyến khích phát triển liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất từ những năm 2000.    Tương tự với vùng sản xuất chè và mía ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ của miền Bắc, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp ở ĐBSCL chỉ thu gom nông sản thô, hoặc sơ chế đóng gói. Doanh nghiệp không tiếp cận tới được người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình. Vì vậy, kinh doanh của doanh nghiệp chỉ mang tính thời vụ, không ổn định, không đủ điều kiện để liên kết với nông dân về chất lượng, cung ứng và chia sẻ rủi ro. Do vậy, để đẩy mạnh các hình thức liên kết với người dân, xây dựng các mô hình liên kết thành công như cánh đồng lớn, hay các hình thức liên kết khác, nhà nước cần đầu tư các doanh nghiệp chế biến sâu, có phương án tiêu thụ sản phẩm lâu dài và có khả năng xây dựng được thương hiệu với mặt hàng nông sản đó.    Các hình thức doanh nghiệp ký kết hợp đồng, triển khai tiến bộ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân sau hơn 15 năm chính sách được ban hành, mặc dù đã có những thành công nhất định, tuy nhiên bức tranh tổng thể về kinh tế hợp tác giữa doanh nghiệp và người dân trong sản xuất nông nghiệp chưa thực sự như mong muốn. Liên kết trong tổ chức sản xuất kinh doanh tại Việt Nam chưa là động lực thúc đẩy sản xuất của tổng thể ngành nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Để thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và nông dân trong khâu tổ chức sản xuất, ứng dụng KH&CN và tiêu thụ sản phẩm, ngoài những chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, chúng tôi đề xuất một số giải pháp tập trung vào chính sách đất đai, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, phát triển công nghệ chế biến và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nông nghiệp có tiềm năng và tham gia liên kết với người sản xuất và nhà khoa học.  Thực trạng liên kết trong chuỗi sản xuất nông nghiệp  Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Viêt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Năng suất lúa gạo tăng một cách bền vững từ những năm 1990 đã góp phần giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Việt Nam đồng thời cũng trở thành quốc gia đứng đầu thế giới trong xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như tôm, cà phê, hạt điều, lúa gạo và hạt tiêu.  Mặc dù có năng suất cao trong một số sản phẩm nông sản nhưng Việt Nam lại đứng sau các nước trong khu vực về hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên đất và nước. Đây là nguyên nhân làm giảm tăng trưởng nông nghiệp trong những năm gần đây. Ngoài ra, thương mại và xuất khẩu nông sản Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới dạng nguyên liệu thô, chất lượng thấp nên giá bán luôn thấp hơn các nước khác. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp đang là vấn đề báo động tại Việt Nam. Nguyên nhân chính của những tồn tại nói trên đó là khâu tổ chức sản xuất, bất cập kéo dài trong sản xuất manh mún, nhỏ lẻ do thiếu liên kết mang lại. Giữa sản xuất các nông sản hàng hoá và các hoạt động chế biến và tiêu thụ không có sự gắn bó1 khiến sản xuất phát triển không ổn định và thiếu bền vững, “vòng xoáy trồng – chặt” thường xuyên xuất hiện ở nhiều loại cây trồng (Trần Đại Nghĩa và cộng sự 2015).  Một số mô hình liên kết doanh nghiệp – nông dân quy mô lớn trên cả nước (Trần Đại nghĩa và cộng sự 2014). (1) Doanh nghiệp sản xuất nông sản nguyên liệu tập trung quy mô lớn – Mô hình của CTCP Mía đường Lam Sơn. (2) Các mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp sản xuất lúa nguyên liệu tập trung quy mô lớn ở cánh đồng mẫu lớn tại vùng ĐBSCL. (3) Mô hình HTX trồng cây ăn trái theo các tiêu chuẩn VietGAP xuất khẩu. (4) Mô hình liên kết “bốn nhà” sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo hướng GAP và VietGAP.  Phát triển hợp tác xã để thúc đẩy liên kết người sản xuất chưa thành công tại Việt Nam  Trong thời kỳ cạnh tranh kinh tế thị trường cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; giá thành cạnh tranh. Với 45 triệu nông dân (11 triệu hộ dân) làm nông nghiệp đang sản xuất trên 70 triệu mảnh ruộng manh mún nhất thế giới, Việt Nam không thể làm được điều này (Trần Đức Viên, 2015). Theo nghiên cứu của World Bank (WB, 2016), Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy người nông dân hợp tác (hình thức hợp tác xã-HTX) nhưng về số lượng và cả chất lượng trong phát triển HTX còn nhiều bất cập. Trong thời gian qua, số lượng HTX tại Việt Nam giảm đi một cách rõ rệt, đa số những HTX còn tồn tại là HTX cung cấp dịch vụ thuỷ lợi. Cũng theo công bố của WB (2016), chất lượng của các HTX nông nghiệp Việt Nam cũng là một vấn đề cần xem xét khi có tới khoảng 85% trong số 9.200 HTX được thống kê vào năm 2012 đóng góp không đáng kể cho xuất khẩu sản phẩm nông sản, có dưới 1% người sản xuất cà phê tham gia HTX có định hướng thương mại (commercially oriented cooperatives) và tỉ lệ thấp tương tự cũng được tìm thấy cho nguồn cung xuất khẩu trong sản xuất lúa gạo.  Đứng trước thực tế trên, ngay từ những năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày ngày 24/06/2002 khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý để gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến và xuất khẩu, nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hoá để phát triển sản xuất ổn định và bền vững. Từ những quyết định trên, một số hình thức liên kết mới được ra đời bao gồm:  Mô hình liên kết cánh đồng mẫu lớn  Nhằm khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ và thiếu gắn kết giữa người dân và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, hình thức cánh đồng mẫu lớn – tổ chức lại sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo quy mô lớn – đã được bắt đầu triển khai từ vụ đông xuân 2006-2007. Trước năm 2011, nhiều mô hình kỹ thuật canh tác theo hướng tăng năng suất, giảm giá thành: “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”. Bên cạnh đó, một số mô hình kỹ thuật có khuynh hướng cải thiện chất lượng như “cánh đồng một giống”, “cánh đồng hiện đại” “cánh đồng lúa chất lượng cao” được một số tỉnh xây dựng.  Ngoài lúa gạo, trái cây cũng là một trong những ngành hàng trọng điểm ở ĐBSCL được nhiều địa phương, doanh nghiệp áp dụng mô hình sản xuất lớn. Điển hình có thể kể đến mô hình liên kết giữa doanh nghiệp Thương mại Chánh Thu, Viện Cây ăn quả ĐBSCL với 26 hộ nông dân trồng nhãn thuộc tổ hợp tác (THT) Long Hoà, xã Long Hoà, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.  Hiện nay tất cả 13 tỉnh trồng lúa ĐBSCL đều hưởng ứng chương trình liên kết này. Đây đã được xem là bước khởi động quá trình đột phá thứ hai trong nền nông nghiệp nước ta “chuyển lượng thành chất” trong điều kiện quy mô của các nông hộ nước ta vẫn còn rất nhỏ. Hiện tại ĐBSCL có 180 doanh nghiệp, 149 HTX, 590 THT có thực hiện liên kết, tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Liên kết theo cánh đồng lớn không ngừng phát triển mạnh về diện tích và chất lượng sản phẩm. Theo thống kê, từ năm 2013 đến vụ đông xuân 2015-2016, đã có hàng ngàn mô hình cánh đồng lớn được liên kết, xây dựng ở các địa phương với diện tích hơn 550.000 ha, trong đó ĐBSCL có diện tích lớn nhất, khoảng 450.000 ha (Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thuộc Bộ NN&PTNT.  Hiện nay, cả nước có gần nửa triệu héc-ta canh tác theo mô hình cánh đồng lớn, nhưng ở ĐBSCL – nơi tập trung nhiều nhất diện tích cánh đồng lớn, cũng mới chỉ đạt 11% tổng diện tích canh tác lúa của vùng. Tuy nhiên mô hình cánh đồng mẫu lớn trong sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện nay đang gặp phải khó khăn đó là thừa đầu vào và thiếu đầu ra2. Việc bao tiêu sản phẩm ở đa số các mô hình cánh đồng mẫu lớn chỉ đảm bảo được 10-20%.  Chính vì vậy nếu không có những chủ trương chính sách và sự hỗ trợ tích cực thì mô hình cánh đồng mẫu lớn có thể sẽ gặp phải những khó khăn như việc phát triển HTX trước đây của Việt Nam.     Liên kết nông dân với doanh nghiệp  Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” trong mô hình liên kết. Mô hình này cần yếu tố “kéo”, chính là thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp. Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn.  Việc thực hiện các hợp đồng liên kết theo Nghị quyết 80 của Thủ tướng Chính phủ cũng đa dạng tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, quy mô doanh nghiệp và thay đổi theo ngành hàng. Nghiên cứu trên vùng sản xuất chè và mía đường ở Sơn La, Nguyễn Hữu Ảnh và các cộng sự (2011) xác định tồn tại bốn hình thức liên kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân. Trong đó có các hình thức khai thác quỹ đất của công ty (HĐSX I), của người dân (HĐSX II và III); cung ứng vật tư và hỗ trợ kỹ thuật cho sản xuất (HĐSX I, II, và III); và hình thức chỉ ký hợp đồng bao tiêu (HĐSX IV) thường gặp ở các doanh nghiệp nhỏ. Trong đó hình thức IV bộc lộ sự kém ràng buộc và hiệu quả. Trong sản xuất chè HĐSX I chiếm ưu thế và trong ngành hàng mía HĐSX II chiếm ưu thế (Bảng 1).       Các yếu tố khác ảnh hưởng đến liên kết sản xuất nông nghiệp    Trong các mô hình liên kết, liên kết giữa nông dân và nông dân, nông dân và doanh nghiệp chưa thể hình thành nên một mô hình phát triển ổn định và bền vững. Tuy nhiên, có thể bổ sung các yếu tố khác trong chuỗi sản xuất nông sản liên kết lại với nhau để hình thành nên mối liên kết “bốn nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và doanh nghiệp. Trong chuỗi liên kết này, doanh nghiệp cần được xem là chủ thể của liên kết. Chính vì vậy Chính phủ cần tiếp tục có chính sách để hình thành và thu hút các tập đoàn tiêu thụ sản phẩm đa quốc gia kéo các ngành hàng của chúng ta vào chuỗi tiêu thụ toàn cầu. Đối với nền nông nghiệp còn đang manh mún và ở trình độ thấp như chúng ta hiện nay, việc xây dựng “niềm tin” là chiến lược để kết nối các thành phần trong chuỗi giá trị. Theo kinh nghiệm và cách làm của doanh nghiệp trên thế giới, để làm việc này chúng ta cần xây dựng các công ty có cung cách tổ chức và làm việc chuyên nghiệp3 (Trần Đức Viên và cộng sự 2015).  Một số mô hình liên kết doanh nghiệp – nông dân quy mô lớn trên cả nước (Trần Đại nghĩa và cộng sự 2014). (1) Doanh nghiệp sản xuất nông sản nguyên liệu tập trung quy mô lớn – Mô hình của CTCP Mía đường Lam Sơn. (2) Các mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp sản xuất lúa nguyên liệu tập trung quy mô lớn ở cánh đồng mẫu lớn tại vùng ĐBSCL. (3) Mô hình HTX trồng cây ăn trái theo các tiêu chuẩn VietGAP xuất khẩu. (4) Mô hình liên kết “bốn nhà” sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo hướng GAP và VietGAP. Theo bài viết tổng hợp từ kinh nghiệm của chuyên gia và thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên website của Pan group, một vấn đề khác cần quan tâm là phải có đủ diện tích sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí cánh đồng lớn. Phải có đủ bốn nhà cùng thực hiện liên kết nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các hợp đồng sản xuất. Trong đó, chủ yếu là nhà doanh nghiệp và nhà nông cùng thực hiện trong một dự án – có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của nhà nước và sự hỗ trợ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành sản phẩm hạ… của nhà khoa học. Bên cạnh đó, phải có đủ máy móc, kho bãi phục vụ chăm sóc, thu hoạch phù hợp với quy mô diện tích, sản lượng của từng cánh đồng liên kết.  Việc tiếp cận nguồn vốn vay của các HTX và THT tại Việt Nam hiện cũng gặp nhiều khó khăn. Đối với các HTX và THT, việc đầu tư trang thiết bị, máy móc là rất cần thiết nhưng đa phần đều thiếu vốn và gặp khó trong vay vốn. Nhiều vùng sản xuất lớn có diện tích lúa của HTX tới 1.400 ha nhưng chỉ có thể tiêu thụ sản phẩm lúa cho bà con khoảng 10-20%. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn. Thực tế, vốn của HTX là do các xã viên góp lại nên khó có thể dùng để vay ngân hàng.     Một số mô hình liên kết doanh nghiệp – nông dân quy mô lớn trên cả nước (Trần Đại nghĩa và cộng sự 2014).  (1) Doanh nghiệp sản xuất nông sản nguyên liệu tập trung quy mô lớn – Mô hình của CTCP Mía đường Lam Sơn.  (2) Các mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp sản xuất lúa nguyên liệu tập trung quy mô lớn ở cánh đồng mẫu lớn tại vùng ĐBSCL.  (3) Mô hình HTX trồng cây ăn trái theo các tiêu chuẩn VietGAP xuất khẩu.  (4) Mô hình liên kết “bốn nhà” sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo hướng GAP và VietGAP.   Đề xuất giải pháp  1. Việt Nam rất cần thúc đẩy các chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu và sản xuất các loại rau quả bản địa là thế mạnh của Việt Nam4 và có khả năng xuất khẩu; ưu tiên phát triển các doanh nghiệp mạnh có khả năng đảm bảo tiêu thụ nông sản bền vững, hoạt động trong lĩnh vực rau, hoa quả thúc đẩy liên kết với nông dân trong lĩnh vực này. Suốt một thời gian dài, Việt Nam tập trung đầu tư nghiên cứu và sản xuất lúa, trong khi đó có xuất phát điểm giống như Việt Nam nhưng Thái Lan, Trung Quốc đã nhanh chóng đầu tư cho đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chú trọng đến các nông sản giá trị cao như rau, hoa, và quả, nhờ vậy hai nước láng giềng của Việt Nam đã có một nền nông nghiệp giá trị cao và hiệu quả.  2. Đẩy mạnh xây dựng chính sách tích tụ ruộng đất là cơ sở thúc đẩy doanh nghiệp liên kết nông dân: Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, nông nghiệp không thể phát triển nếu trang trại không đủ lớn (tối thiểu/ 2 hecta). Sản xuất nông nghiệp manh mún của Việt Nam hiện nay đang là cản trở lớn nhất cho phát triển nông nghiệp, nông thôn mới, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh trên sân nhà cũng như năng lực xuất khẩu. Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và chính sách để tích tụ ruộng đất, nhưng ngay cả những nơi người dân bỏ đất hoang thì việc tích tụ ruộng đất vẫn tiến triển rất chậm. Việc tích tụ ruộng đất cần gắn với đầu tư vốn và năng lực, hỗ trợ hợp tác doanh nghiệp trong và ngoài nước. Ví dụ: Hiện nay nhiều vùng ở đồng bằng sông Hồng nơi có điều kiện đất đai tốt cho việc sản xuất rau vụ đông nhưng bà con thường bỏ hoang do việc sản xuất cây vụ đông truyền thống như ngô/khoai lang trên diện tích đất nhỏ không hiệu quả. Nếu có phương án hợp tác tốt với doanh nghiệp thì họ có thể tích tụ bán thời gian (chỉ dùng vụ đông sản xuất rau để xuất khẩu) mang lại giá trị kinh tế cao.  3. Ngoài việc đa dạng hoá sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp, tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hoá như phân tích ở 1 và 2, Việt Nam cần chính sách ưu tiên chế biến và đẩy mạnh sự hiện diện của nông sản và sản phẩm chế biến nông sản của Việt Nam ra thị trường thế giới, khai thác tối đa lợi thế khí hậu, vùng miền và bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng của Việt Nam. Muốn vậy, cần có chính sách phát triển các doanh nghiệp và cơ sở chế biến sản phẩm nông sản, hệ thống logistics, hỗ trợ giới thiệu sản phẩm nông sản có chất lượng cao của Việt Nam.    4. Việc thiếu gắn kết của nhà khoa học trong chuỗi sản xuất của Việt Nam một phần là do thực trạng KH&CN của Việt Nam nói chung và KH&CN trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn mới nói riêng đang tồn tại vấn đề là hệ thống nghiên cứu công lập quá lớn (so với các thành phần khác) và trùng nhau về lĩnh vực nghiên cứu. Do đó thực trạng thiếu kinh phí nghiên cứu (mặc dù trang bị cơ sở vật chất hiện tại có thể tương đối đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu) là phổ biến. Điều này dẫn đến các nghiên cứu phục vụ nông thôn mới thường là các nghiên cứu nhỏ, lẻ, thiếu tính liên ngành và khó có thể giải quyết bài toán tổng thể. Vì vậy, cần có chính sách từng bước tái cơ cấu hệ thống KH&CN và đổi mới sáng tạo hiệu quả hơn; ưu tiên đầu tư trọng điểm cho các cơ sở nghiên cứu mạnh, có năng lực. Đồng thời có những chính sách ưu tiên doanh nghiệp tham gia cùng đầu tư ở các cơ sở nghiên cứu khoa học để phát triển công nghệ mà thị trường yêu cầu.  5. Việt Nam chưa có chính sách và chương trình rõ rệt phục vụ việc đào tạo nguồn nhân lực KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới một cách bền vững. Hệ thống đào tạo phục vụ nông nghiệp, nông thôn hiện nay được xem là nặng về lý thuyết, thiếu thực tiễn và không đáp ứng tốt được nhu cầu ngay cả thị trường trong nước, thị trường thế giới còn rất xa vời. Chúng ta cần xác định: Nguồn lực con người là chìa khoá của thành công trong KH&CN phục vụ phát triển nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp hợp đồng, cần đầu tư trọng điểm cho một số trường đại học, viện nghiên cứu có năng lực để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.  6. Cần quy định cụ thể hơn về các mô hình liên kết trong lĩnh vực trồng trọt (cánh đồng lớn), thủy sản, chăn nuôi, và trồng rừng tập trung. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ đa dạng hơn như các chính sách chung là hỗ trợ phát triển cơ sở phát triển kết cấu hạ tầng cho cánh đồng lớn, chính sách tín dụng, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, đăng ký chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp.  ————–  Tài liệu tham khảo  1. Lê Hữu Ảnh và cs. 2011. Hình thức hợp đồng sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân- trường hợp nghiên cứu trong sản xuất chè và mía đường ở Sơn La. 2011. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội.  2. Luu Tien Dung. Efficiency of economic linkage between enterprise and farmers in the southeast region, the current situation and affecting factor. Conference paper. 2015. Lac Hong University.  3. Trần Đại Nghĩa và cộng sự, 2014. Báo cáo liên kết nông dân- doanh nghiệp tại Cánh đồng mẫu lớn vùng ĐBSCL.  4. Trần Đức Viên, Nguyễn Việt Long. Kinh tế hợp tác gắn sản xuất nhỏ lẻ với chuỗi giá trị toàn cầu. Hội thảo tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từ chính sách đến thực tiễn. 2015. Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  5. Trần Đức Viên, Nguyễn Việt Long. Hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng nông thôn tri thức trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam.  Hội thảo tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từ chính sách đến thực tiễn. 2015. Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  6. World Bank 2016. Transforming Vietnamese Agriculture: Gaining More from Less.  7. http://thepangroup.vn/lien-ket-trong-san-xuat-xu-the-phat-trien-tat-yeu-cua-nong-nghiep-hien-dai-tim-chat-ket-dinh-vi10865.htm#.WBax6yN95dg  8. http://www.vietgap.com/thong-tin/1052_5150/canh-dong-lon-vuong-gi-thua-dau-vao-thieu-dau-ra.html.  ——–  1Ý nghĩa trong việc liên kết sản xuất tiêu thụ của nông dân với nông dân và doanh nghiệp với nông dân là giảm chi phí trung gian và tạo ra giá trị gia tăng cho chuỗi sản xuất hàng hóa nông sản. Các doanh nghiệp thường mong muốn hợp tác với các nhóm nông dân có tổ chức hơn là làm việc trực tiếp với các tiểu nông sản xuất nhỏ lẻ mặc dù có một thực tế là khi nông dân liên kết với nhau trong một tổ chức sẽ làm tăng vị thế trong đàm phán kinh doanh. Liên kết với một một số lượng lớn người nông dân có tổ chức sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được các vấn đề về thị trường hàng hóa phân tán, nhỏ lẻ không hiệu quả, khó có điều kiện tiếp cận về khoa học kỹ thuật, nguồn vốn, lượng cung và chất lượng sản phẩm bấp bênh, mẫu mã sản phẩm kém và khó quản lý rủi ro. Các mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trên thế giới đều có chung đặc điểm là nâng cao hiệu quả của chuỗi lợi ích từ người nông dân sản xuất – doanh nghiệp chế biến – thị trường bán lẻ hàng hóa.  2Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg ngày 25/08/2008 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng” đã xác nhận, “doanh nghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó và thực hiện đúng cam kết đã ký; tỷ lệ nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp đồng còn rất thấp (lúa hàng hóa 6-9% sản lượng, thủy sản dưới 10% sản lượng, cà phê 2-5% diện tích); doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư vùng nguyên liệu, chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảm hài hòa lợi ích của nông dân khi có biến động về giá cả; trong một số trường hợp, nông dân không bán hoặc giao nông sản cho doanh nghiệp theo hợp đồng đã ký; xử lý vi phạm hợp đồng không kịp thời và chưa triệt để; tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy ra khi đã có hợp đồng”.  3Trong kinh doanh nông nghiệp, các công ty không chỉ cung cấp hạt giống thử nghiệm ban đầu để bán được giống như đa số công ty trong nước hiện nay đang làm mà cần phải có cam kết và trách nhiệm với sự phát triển của hạt giống do công ty mình cung cấp cho người dân, phải lấy tiêu chí “người nông dân thành công là thành công của công ty” giống như văn hoá của các công ty châu Âu đó là “Seed & Service”. Ngoài ra công ty cần phải có khả năng tư vấn cho người sản xuất về kế hoạch sản xuất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, có khả năng tập huấn cho người sản xuất nhỏ và tập hợp họ trong thành phần sản xuất của công ty mình, từ đó mà hình thành vùng nguyên liệu ổn định và tin cậy của công ty.  4Tháng 9 năm 2016 lần đầu tiên xuất khẩu một số loại quả như ổi, chuối, xoài… của Việt Nam đạt 1,68 tỷ USD vượt kim ngạch xuất khẩu dầu thô (http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20160926/rau-qua-ruong-dong-viet-xuat-khau-da-vuot-dau-tho/1177581.html).          Author                Nguyễn Việt Long - Trần Đức Viên        
__label__tiasang Thúc đẩy nghiên cứu phục dựng nhà thờ Đức Bà Paris      Tại phiên điều trần công khai do Văn phòng Nghị viện Pháp về Đánh giá các lựa chọn khoa học và công nghệ (OPECST) tổ chức hôm 23/5, các nhà khoa học đã giải thích cách thức có thể hỗ trợ chính phủ trong việc khôi phục nhà thờ bị cháy một phần vào ngày 15 tháng 4.      Điện thờ Nhà thờ Đức Bà sau vụ hỏa hoạn tháng Tư.   “Rốt cuộc thì thảm họa này có thể là cơ hội đặc biệt cho nghiên cứu, bởi vì chúng tôi sẽ được tiếp cận những vật liệu mà thông thường không có cơ hội chạm đến”,  Martine Regert, Phó Giám đốc khoa học Viện Sinh thái và Môi trường, Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp (CNRS) tại Paris cho hay.   “Sẽ có các hoạt động, thao tác khoa học khác nhau ở đây: hỗ trợ quá trình phục dựng nhà thờ, cung cấp cho chúng ta kiến thức sâu hơn về chính nhà thờ này, trong khi sẽ có một vài hoạt động khoa học khác giúp đem lại thông tin về đặc điểm của một số vật liệu”, Aline Magnien, Giám đốc Phòng thí nghiệm Phục hồi các di tích lịch sử ở Champs-sur-Marne, Pháp giải thích.  Từ phía Hiệp hội khoa học, ban đầu có sáu nhà khoa học mong muốn giúp đỡ [cho quá trình phục dựng], nay đã có hơn 200 thành viên thuộc nhiều ngành khác nhau từ lịch sử nghệ thuật, địa vật lý, khảo cổ học, cơ học, thậm chí có cả một số nhà khoa học nước ngoài tham gia. Trên trang web của Hiệp hội, các thành viên đăng tóm tắt về các vấn đề cụ thể, chẳng hạn như mô hình 3D của nhà thờ và các vụ cháy lịch sử tại các nhà thờ khác thời kỳ Trung cổ.   Về phía các cơ quan quản lý, vào ngày 20 tháng 5, CNRS tuyên bố thành lập một đội đặc nhiệm Notre Dame, do Regert và Dillmann lãnh đạo. Cùng với cảnh sát có mặt tại hiện trường để điều tra nguyên nhân vụ cháy, bà Regert cho biết lực lượng đặc nhiệm này hiện đang giúp xác định cách thu thập và phân loại vật liệu từ nhà thờ để không bị mất những thông tin khoa học bằng cách sử dụng các công nghệ như quang trắc (photogrammetry) và máy bay không người lái. Lực lượng đặc nhiệm cũng đang bắt đầu kiểm kê các kiến thức và dữ liệu hiện có về nhà thờ tại CNRS và tại các tổ chức khác, một số trong đó chưa được công bố và hiện đang phân tán trên nhiều định dạng và phương tiện truyền thông khác nhau.   Bà Regert nhấn mạnh: “Vai trò của chúng tôi là thu thập mọi thứ để không phải bắt đầu từ số không”. Về lâu dài, dự án nhằm xác định các chủ đề ưu tiên và phối hợp các nghiên cứu trên một loạt các ngành học để tránh trùng lặp. Regert nói thêm rằng nỗ lực này sẽ cần tiền bạc và nhân lực.  Ông Loïc Bertrand, một trong những điều phối viên của mạng lưới nghiên cứu của khu vực Ile-de-France về di sản và các vật liệu cổ cho biết mạng lưới sẽ cùng với CNRS và Bộ Văn hóa, đưa ra lời kêu gọi đặc biệt cho các dự án nghiên cứu khu vực. Ông Bertrand cũng đồng thời là Giám đốc Phòng thí nghiệm IPANEMA dành riêng cho nghiên cứu công nghệ cao về vật liệu di sản tại Gif-sur-Yvette, Pháp. Ông  nói thêm, máy gia tốc Synchrotron SOLEIL của Pháp đã tạo điều kiện về thời gian sử dụng các chùm tia cho những nghiên cứu liên quan đến Nhà thờ Đức Bà. Các nghiên cứu này có thể giúp hiểu được ảnh hưởng của ô nhiễm khí quyển, nấm và vi khuẩn đối với các vật liệu như kim loại, gốm sứ, gỗ và vật liệu composite.  Phiên điều trần OPECST diễn ra vài ngày trước khi Thượng viện kiểm tra dự thảo về việc khôi phục nhà thờ Đức Bà đang gây tranh cãi; dự thảo mà theo đó Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cam kết hoàn thành khôi phục trong vòng 5 năm. Dự thảo muốn thành lập một quỹ quốc gia để thu thập các khoản quyên góp với mức giảm thuế đặc biệt cao. Dự thảo này cũng dự kiến thành lập một cơ quan công để giám sát việc phục dựng và cho phép chính phủ bỏ qua các quy định về mua sắm công, quy hoạch thành phố và bảo vệ môi trường để thực hiện phục dựng. Các ý kiến phản đối cho rằng Tổng thống Macron đã tự cho mình đứng ngoài thể chế và thúc giục ông cho tiến hành phục dựng với tốc độ hợp lý, trong phạm vi các quy tắc và khuôn khổ hiện có.□     Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/05/scientists-want-help-restore-notre-dame-hoping-make-new-discoveries-process?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy tăng trưởng xanh tại TPHCM bằng KH&CN       Trong vòng năm năm tới, Cộng đồng châu Âu EU sẽ dành khoảng 350 triệu Euro đầu tư phát triển tăng trưởng xanh tại Việt Nam.      Ngày 18-6, tại TPHCM, Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã tổ chức Hội thảo “Hiệp định thương mại tự do (FTA) EU – Việt Nam thúc đẩy lĩnh vực tăng trưởng xanh như thế nào?”.   Tại hội nghị, bà Nicola Connolly, Chủ tịch EuroCham, cho biết, trong vòng 5 năm tới, EU sẽ dành khoảng 350 triệu Euro đầu tư phát triển tăng trưởng xanh tại Việt Nam. Hiện các doanh nghiệp châu Âu mong muốn FTA Việt Nam – EU sớm được thông qua để có thể đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Khi đó, sẽ có nhiều cơ hội thúc đẩy đầu tư và cải tiến, hiện đại hóa công nghệ, qua đó đẩy mạnh năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Đây là dịp để Việt Nam thúc đẩy nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh.  Hiện bốn nhóm chính mà  các doanh nghiệp EU đầu tư tăng trưởng xanh là năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, công trình bền vững, xử lý nước và rác thải, vốn hết sức phù hợp với định hướng phát triển của TPHCM. Để thu hút thêm nhiều doanh nghiệp EU, Việt Nam cần có những cơ chế chính sách đủ sức hấp dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực này, đặc biệt là năng lượng tái tạo.  Nhận thức được các lợi ích từ FTA Việt Nam-EU đối với tăng trưởng xanh, TPHCM đã đề ra một số nhiệm vụ cơ bản cũng như mong muốn cụ thể để cùng EuroCham thực hiện hiệu quả chiến lược tăng trưởng xanh, tạo mọi điều kiện khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới đầu tư ứng dụng KH&CN hiện đại, thân thiện với môi trường vào sản xuất; ban hành sáu chương trình đột phá để thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh: Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chương trình giảm ùn tắc giao thông; chương trình giảm ô nhiễm môi trường; chương trình cải cách hành chính; chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chương trình giảm ngập nước.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực phẩm bổ sung cho người tập thể hình có thể làm chậm lão hóa      Một loại thực phẩm bổ sung mà người tập thể hình thường sử dụng có thể làm chậm quá trình lão hóa. Những con chuột được bổ sung hoạt chất alpha-ketoglutarate (AKG) sẽ khỏe mạnh hơn khi chúng già đi và những con chuột cái thì sống lâu hơn những con không được bổ sung hoạt chất này.      Chuột cái được bổ sung AKG (trái) và chuột đối chứng. Ảnh: Cell Metabolism.    Các hợp chất khác, như thuốc chống lão hóa rapamycin và thuốc điều trị tiểu đường metformin, đã cho thấy tác dụng tương tự trong các thí nghiệm trên chuột. Nhưng điểm khác biệt đó là AKG hình thành một cách tự nhiên trong cơ thể của con người và loài chuột, các cơ quan quản lý cũng xem đây là hoạt chất an toàn để đưa ra thị trường tiêu thụ.  “Điều quan trọng là nó có độ an toàn cao cũng như có tiềm năng rất lớn”, Nhà nghiên cứu Holly Brown-Borg thuộc Đại học Bắc Dakota, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết.  AKG là một phần của chu trình trao đổi chất mà ở đó tế bào trong cơ thể chúng ta sẽ tạo ra năng lượng từ thức ăn. Không chỉ các vận động viên thể hình, mà các bác sĩ đôi khi cũng sử dụng chất này vào việc điều trị chứng loãng xương và bệnh thận mạn tính.   Vào năm 2014, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng AKG có thể kéo dài tuổi thọ của những con giun Caenorhabditis elegans lên hơn 50%. Các nhóm nghiên cứu khác sau đó đã tìm thêm được bằng chứng cho thấy AKG giúp cải thiện tuổi thọ ở ruồi giấm.  Trong nghiên cứu mới đây, Gordon Lithgow và Brian Kennedy thuộc Viện Nghiên cứu Lão hóa Buck đã cùng các cộng sự tiến hành nghiên cứu trên động vật có vú. Họ cho đàn chuột 18 tháng tuổi (tương đương 55 tuổi ở người) một lượng AKG – bằng khoảng 2% lượng thức ăn hằng ngày của chúng – cho đến khi chúng chết, hoặc trong tối đa 21 tháng. Mục đích của các nhà khoa học là khôi phục lại nồng độ AKG của chúng như khi còn là chuột non, bởi nồng độ AKG trong máu sẽ giảm dần theo độ tuổi.   Azar Asadi Shahmirzadi, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Viện Buck, một trong những người tham gia thực hiện thí nghiệm, cho biết sự khác biệt đã bộc lộ rõ chỉ sau vài tháng: “Chúng trông đen mượt và ‘trẻ’ hơn nhiều” so với chuột đối chứng. Ngoài ra, trong các bài kiểm tra về tình trạng sức khỏe, những con chuột được cho ăn AKG có số điểm cao hơn khoảng 40% so với chuột đối chứng. Các bài kiểm tra dựa trên 31 thuộc tính sinh lý bao gồm màu lông, thính giác, dáng đi và lực cầm, nắm. Thêm vào đó, họ cũng nhận ra những con chuột cái được cho ăn AKG sống lâu hơn từ 8% đến 20% so với những con chuột đối chứng. Nhóm nghiên cứu mới đây đã công bố những phát hiện của họ trên tạp chí Cell Metabolism.  Tuy nhiên, trong các bài kiểm tra chức năng tim hoặc độ bền trên máy chạy bộ, kết quả của những con chuột được bổ sung AKG không mấy chênh lệch so với chuột đối chứng; thêm vào đó, các bài kiểm tra cũng không bao gồm khả năng nhận thức.  Trong quá trình theo dõi cơ chế cải thiện này, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những con chuột cái có bổ sung AKG sản sinh ra một lượng phân tử có tác dụng giảm viêm nhiều hơn so với những con chuột còn lại. (Viêm mạn tính có thể dẫn đến nhiều bệnh lão hóa như ung thư, bệnh tim, viêm khớp và sa sút trí tuệ).  Nhà nghiên cứu về lão hóa Matt Kaeberlein của Đại học Washington, Seattle, người không tham gia nghiên cứu, cho biết tác động của AKG lên tuổi thọ và sức khỏe nhỏ hơn so với một số hợp chất chống lão hóa khác. Nhưng một số hợp chất trong số đó lại gây ra các tác dụng phụ – ví dụ, rapamycin ức chế hệ thống miễn dịch và có thể thúc đẩy bệnh tiểu đường.  Kennedy cho biết nhóm của ông đang lên kế hoạch thử nghiệm AKG trên người. Họ sẽ tập hợp một nhóm người tình nguyện trong độ tuổi từ 45 đến 65, sau đó xem xét liệu AKG có cải thiện các dấu ấn sinh học liên quan đến lão hóa như viêm, cứng động mạch và một loại dấu ấn trên DNA hay không. Công ty Ponce de Leon Health, nơi Kennedy đảm nhiệm vị trí giám đốc khoa học (Gordon và các tác giả khác của bài báo cũng nắm cổ phần), đang tiến hành một nghiên cứu tương tự tại Đại học Indiana.  Ponce de Leon Health đã bán một công thức AKG mang tên Rejuvant mà họ cho biết có thể “làm chậm quá trình lão hóa”. Kennedy cho biết: “Chúng tôi chia sẻ rất thẳng thắn về những dữ liệu chúng tôi có và chưa có trên trang web”. Và Brown-Borg lưu ý rằng nhóm nghiên cứu của Viện Buck không phải là trường hợp đầu tiên thành lập công ty để phát triển một phương pháp điều trị chống lão hóa. Bà hi vọng ý tưởng này sẽ sớm được đưa vào thử nghiệm lâm sàng. “Đó sẽ là khoảnh khắc vô cùng hồi hộp đối với những người nghiên cứu trong lĩnh vực này”, bà cho biết.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/09/bodybuilding-supplement-promotes-healthy-aging-and-extends-life-span-least-mice#    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực phẩm không đường không giúp giảm cân      Qua công bố mới xuất bản trên tạp chí “Applied Physiology, Nutrition and Metabolism”, các nhà nghiên cứu tại Massachusetts General Hospital (MGH) đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc giảm cân và thực phẩm sử dụng chất tạo ngọt.      Tốt nhất là uống nước thường hoặc chè không bổ sung đường cũng như chất tạo ngọt  Lâu nay người ta vẫn tin rằng các chất tạo ngọt hóa học sẽ hỗ trợ việc giảm cân nhưng các nghiên cứu cho thấy chất tạo ngọt thay thế cho đường trong đồ ăn kiêng thường ảnh hưởng đến chức năng của loại enzyme có khả năng ngăn chặn bệnh béo phì.  Các nhà dinh dưỡng đã nghi ngờ rằng chất tạo ngọt hóa học – thường xuyên được sử dụng để thay thế đường trong cà phê hoặc các loại nước giải khát có ga – không giúp người uống giảm cân. Do chưa có bằng chứng xác thực nên các nhà khoa học vẫn cố gắng lý giải nguyên nhân vì sao dẫn đến hiện tượng này.  Với công bố trên “Applied Physiology, Nutrition and Metabolism”, nhóm nghiên cứu của Richard Hodin ở Massachusetts General Hospital (MGH) đã trở thành những người đi tiên phong trong việc lý giải nguyên nhân. Họ đã điều tra về một loại chất tạo ngọt là aspartame (vốn được EU ấn định mã E951). Cùng với một phụ gia thực phẩm khác, aspartame-acesulfame (E962), aspartame là chất được sử dụng phổ biến để thay thế đường trong ngành công nghiệp thực phẩm.  Các nhà sản xuất đã đưa Aspartame vào sản phẩm để có thể thoải mái ghi tên cho nhãn hàng là “không đường”, ví dụ như các loại đồ uống có gas, các loại kẹo bánh và dĩ nhiên là cà phê hòa tan.  Sự chuyển hướng của thực phẩm chứa đường hóa học  Tại sao aspartam lại không giúp người sử dụng giảm cân? “Chúng tôi đã tìm ra bằng chứng cho thấy, aspartam đã ngăn sự hoạt động của intestinal alkaline phosphatase (IAP), một loại enzyme có chức năng loại bỏ các nhóm phosphat của nhiều hợp chất như nucleotide, protein, và alkaloid”, giáo sư Hodin giải thích. Ông cũng hiện phụ trách công tác hướng dẫn nghiên cứu tại Khoa Y trường đại học Harvard.  IAP có mặt trong ruột non. “Trước đây, chúng tôi đã từng chứng minh là loại enzyme này có thể ngăn chặn được nguy cơ béo phì, bệnh tiểu đường và hội chứng chuyển hóa [một loại bệnh có đặc điểm kết hợp các bệnh béo phì, cao huyết áp, rối loạn chuyển hóa và tích tụ insulin]. Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng khi được bổ sung vào thực phẩm và đồ uống thay cho đường, aspartame có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến IAP”.  Tuy vậy, aspartame lại không tác động trực tiếp đến loại enzyme một cách trực tiếp mà thông qua phenylalanine, một sản phẩm từ quá trình chuyển hóa của aspartame trong cơ thể.  Đường hóa học làm gia tăng chỉ số đường huyết  Các nhà nghiên cứu cho biết, các điều tra của họ dựa trên những thí nghiệm trên chuột. Trong một thí nghiệm, họ cấy thẳng IAP vào những con chuột đã trải qua quá trình ăn kiêng giàu chất béo, kết quả thu được là IAP có thể ngăn chặn một cách hiệu lực hội chứng chuyển hóa. Nó cũng giúp ngăn chặn các triệu chứng liên quan đến bệnh béo phì ở động vật.  Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng tỏ rằng việc tiêm thẳng aspartam vào ruột non đã làm IAP không còn hoạt động hiệu quả, tuy nhiên nếu tiêm đường hoặc muối thì IAP vẫn hoạt động bình thường.  Chất tạo ngọt thường được dùng trong sản xuất các nhóm thực phẩm, đồ uống ăn kiêng, với một người bình thường thì giới hạn cho phép là ba lon rưỡi nước giải khát có gas mỗi ngày. Với nhóm ăn kiêng giàu chất béo thì số lượng này là hai lon.  Cuối cùng, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khó phân biệt sự khác nhau giữa hai nhóm chuột ăn kiêng thông thường và ăn kiêng giàu chất béo, tuy nhiên những con chuột ở nhóm hai khi được uống nhiều nước có đường hóa học đã lên cân và chỉ số đường huyết cũng cao hơn so với đồng loại uống nước thường. Thêm một yếu tố nữa là lượng TNF-alpha, một loại protein trong máu chuột uống nước bổ sung đường hóa học cũng tăng lên. TNF-alpha có liên quan mật thiết đến hội chứng chuyển hóa.  Vậy điều gì xảy ra với chuột sẽ xảy ra trên cơ thể người? Trong trường hợp này thì người ta nên uống nước lọc, hay chè mà không nên bổ sung thêm đường tự nhiên hay đường hóa học hơn là uống một loại nước giải khát “không đường”.  Nguồn: http://www.dw.com/en/sugar-free-products-stop-us-getting-slimmer/a-36504096    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Thực phẩm siêu chế biến: Những nguy cơ tiềm ẩn      Ảnh hưởng thực sự của thực phẩm siêu chế biến lên sức khoẻ của con người cho đến nay vẫn là điều gây tranh cãi     Tỷ lệ bánh quy và nước ngọt trong giỏ hàng của người Brazil đã tăng gấp ba lần và gấp năm lần, kể từ cuộc khảo sát hộ gia đình đầu tiên vào năm 1974. Ảnh: Health Digest  Vào cuối những năm 2000, chuyên gia dinh dưỡng Carlos Monteiro nhận thấy có gì đó kỳ lạ trong các món ăn của người dân Brazil. Ông đã miệt mài nghiên cứu dữ liệu từ các cuộc khảo sát yêu cầu những người mua hàng tạp hóa ghi lại mọi mặt hàng họ đã mua trong suốt ba thập kỷ. Trong các cuộc khảo sát gần đây hơn, Monteiro nhận thấy, người Brazil đang mua ít dầu, đường và muối hơn so với trước đây. Mặc dù vậy, mọi người vẫn tăng cân. Từ năm 1975 đến 2009, tỷ lệ người trưởng thành ở Brazil bị thừa cân hoặc béo phì đã tăng hơn gấp đôi.  Monteiro không ngừng băn khoăn về sự tréo ngoe này. Nếu mọi người mua ít chất béo và đường hơn thì tại sao họ lại béo hơn? Câu trả lời đã có ngay trong dữ liệu. Người Brazil không thực sự cắt giảm chất béo, muối và đường — họ chỉ tiêu thụ những chất này dưới một hình thức hoàn toàn mới. Thay vì mua các loại thực phẩm truyền thống như gạo, đậu và rau; giờ đây người dân mua bánh mì đóng gói sẵn, kẹo, xúc xích và các món ăn nhẹ khác. Tỷ lệ bánh quy và nước ngọt trong giỏ hàng của người Brazil đã tăng gấp ba lần và gấp năm lần, kể từ cuộc khảo sát hộ gia đình đầu tiên vào năm 1974. Bước chuyển này diễn ra khắp mọi nơi.  Thoạt nhìn, những phát hiện của Monteiro có vẻ hiển nhiên. Nếu mọi người ăn quá nhiều thực phẩm không lành mạnh, họ sẽ tăng cân. Nhưng ông không hài lòng với lời giải thích đó. Monteiro nghĩ rằng có một yếu tố cơ bản nào đó đã thay đổi trong hệ thống thực phẩm của chúng ta và các nhà khoa học cần xác định nó. Trong hơn một thế kỷ, khoa học dinh dưỡng hầu như chỉ tập trung vào các chất dinh dưỡng: Ăn ít chất béo bão hòa, tránh ăn nhiều đường, bổ sung đủ vitamin C, v.v. Nhưng Monteiro muốn có một cách mới để phân loại thực phẩm – hòng nhấn mạnh cách sản phẩm được tạo ra chứ không chỉ những gì có trong đó. Monteiro các nguyên liệu không phải là yếu tố duy nhất tạo nên một món ăn có hại cho sức khỏe; mà đó là vấn đề của toàn bộ hệ thống: thức ăn được chế biến như thế nào, chúng ta ăn nó nhanh ra sao, và cách nó được bán và tiếp thị. “Chúng tôi đang đề xuất một lý thuyết mới để hiểu mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và sức khỏe”, Monteiro nói.  Monteiro đã tạo ra một hệ thống phân loại thực phẩm mới – được gọi là NOVA – chia mọi thứ thành bốn loại. Ít gây lo ngại nhất là thực phẩm chế biến tối thiểu, chẳng hạn như trái cây, rau và thịt chưa qua chế biến. Kế đó là các nguyên liệu thực phẩm đã chế biến (dầu, bơ và đường), và sau đó là thực phẩm chế biến (rau đóng hộp, thịt hun khói, bánh mì mới nướng và pho mát đơn giản) — những chất được sử dụng trong chế độ ăn uống lành mạnh. Và sau đó là thực phẩm siêu chế biến.  Có rất nhiều lý do để xếp một sản phẩm vào danh mục siêu chế biến. Nó có thể được tạo ra thông qua “các quy trình công nghiệp” như đúc ép đùn, este hoá, cacbonat hóa, hydro hóa, đổ khuôn hoặc chiên sơ. Nó có thể chứa các chất phụ gia giúp món ăn ngon miệng hơn hoặc chất bảo quản giúp ổn định ở nhiệt độ phòng. Hoặc nó có thể chứa hàm lượng chất béo, đường và muối cao ở dạng kết hợp thường không có trong thực phẩm nguyên chất. Theo Monteiro, điểm chung của tất cả các loại thực phẩm là chúng được thiết kế để thay thế các món ăn nóng sốt tươi ngon và khiến bạn mua thêm để ăn nhiều hơn, nhiều hơn nữa và nhiều hơn nữa.  Từ khi được giới thiệu lần đầu vào năm 2009, Brazil, Pháp, Israel, Ecuador và Peru đều đã đưa NOVA vào bảng hướng dẫn chế độ ăn uống của họ. Vô số blog về sức khỏe và chế độ ăn uống ca ngợi những ưu điểm của việc tránh thực phẩm siêu chế biến — tránh xa chúng là điều mà cả những người theo chế độ ăn thịt và thuần chay thực sự đều đồng ý.  Tuy nhiên, nhiều người đã chỉ ra rằng không có cách nào để nuôi hàng tỷ người mà không dùng thực phẩm chế biến sẵn. Chúng ta biết cũng không hiểu rõ về tính chất của những thực phẩm này và ảnh hưởng của chúng lên cơ thể chúng ta. Các nhà khoa học thậm chí vẫn còn tranh cãi về việc thế nào là thực phẩm siêu chế biến. Chỉ có một điều chắc chắn: Những thực phẩm này là một phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.  Thử nghiệm hai nhóm chế độ ăn  Tủ bếp của chúng ta chứa đầy gói mì tôm, khoai tây chiên, bánh quy, súp đóng hộp, kẹo và thanh ngũ cốc — một thế giới thực phẩm siêu chế biến, chỉ cần bóc ra ăn, đổ nước sôi vào mà không cần chuẩn bị gì nhiều. Thực phẩm siêu chế biến chiếm gần 57% chế độ ăn trung bình của Vương quốc Anh và hơn 60% chế độ ăn của Hoa Kỳ .  Tiêu thụ quá nhiều thực phẩm siêu chế biến có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe: ung thư đại trực tràng và ung thư vú, béo phì, trầm cảm, thậm chí có thể tử vong. Rất khó để kết luận chế độ ăn uống ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của chúng ta, nhưng có vẻ như rõ ràng rằng tiêu thụ quá nhiều thực phẩm chế biến sẵn không tốt cho cơ thể.  Stacey Lockyer, nhà khoa học dinh dưỡng cao cấp tại Quỹ Dinh dưỡng Anh cho biết, lý giải rằng thực phẩm siêu chế biến thường chứa nhiều muối, đường và chất béo, những thứ mà hầu hết mọi người đều nhất trí rằng chúng ta nên cắt giảm. Tuy nhiên những thực phẩm này không tốt cho sức khỏe chỉ vì các chất bên trong chúng, vậy thì có cần thiết phải tạo ra một bảng phân loại riêng như NOVA hay không?  Kevin Hall – nhà nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ ở Bethesda (Maryland) về cách chế độ ăn uống ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể và sự trao đổi chất – nghe về phân loại NOVA lần đầu tiên tại một hội nghị vào năm 2015 khi một nhà nghiên cứu người Brazil đề cập đến hệ thống này. Tại sao bạn vẫn nhìn vào các chất dinh dưỡng khi chúng không còn quan trọng nữa, nhà nghiên cứu hỏi anh ta. “Tôi cảm thấy đây là một cách suy nghĩ cực kỳ kỳ lạ về thức ăn”, Hall bày tỏ. Hall đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình để nghiên cứu cách các chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến cơ thể con người. Với anh, dù là thực phẩm nào, thì đó chỉ là những cách khác nhau để đóng gói các chất dinh dưỡng lại với nhau.  Tuy nhiên, bảng phân loại NOVA vẫn thu hút Hall đến mức anh đã thực hiện thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đầu tiên so sánh chế độ ăn siêu chế biến và chưa chế biến. Vào năm 2019, Hall đã yêu cầu 20 tình nguyện viên ở lại một bệnh viện nghiên cứu lâm sàng ở Bethesda, nơi họ sẽ được áp dụng chế độ ăn hoặc chỉ gồm thực phẩm chế biến sẵn hoặc chỉ gồm các loại thực phẩm chế biến một cách ít nhất có thể trong hai tuần, sau đó thay phiên chuyển sang chế độ ăn còn lại trong hai tuần tiếp theo. Những người theo chế độ ăn siêu chế biến được cho ăn một loạt các món bao gồm khoai tây chiên, xúc xích gà tây, thịt lợn nấu chín đóng hộp và một lượng nước chanh ăn kiêng. Chế độ ăn thực phẩm ít chế biến chủ yếu gồm trái cây, rau và thịt không có phụ gia. Đối với cả hai chế độ ăn, Hall và các nhà nghiên cứu của ông đã tính toán để cung cấp gấp đôi khẩu phần thức ăn được khuyến nghị để những người tham gia có thể ăn bao nhiêu tùy thích. Tuy nhiên, phần quan trọng là hai chế độ ăn đều phù hợp về mặt dinh dưỡng, vì vậy mỗi chế độ chứa gần như cùng một lượng protein, chất béo, carbohydrate, chất xơ, v.v.  Bữa trưa ngày thứ nhất trong chế độ thực phẩm siêu chế biến: ravioli (một loại pasta) nhân thịt bò, pho mát Parmesan, bánh mì trắng, bơ thực vật, nước chanh ăn kiêng, bánh ngọt yến mạch nhân nho khô.  Kết quả nghiên cứu khiến Hall ngạc nhiên. Trong chế độ ăn siêu chế biến, mọi người ăn thêm khoảng 500 calo mỗi ngày và tăng khoảng 2 pound (gần 1kg). Ngược lại, khi mọi người áp dụng chế độ ăn thực phẩm ít chế biến, họ ăn ít calo hơn và giảm cân — dù thực tế là các bữa ăn có thành phần dinh dưỡng gần giống nhau. Đối với Hall, điều này cho thấy rằng có một thứ khác ngoài muối, đường và chất béo đã thúc đẩy mọi người ăn thêm nhiều calo và tăng cân. “Nghiên cứu gợi ý rằng hệ thống phân loại NOVA này có điều gì đó khác biệt. Thực phẩm hàm chứa nhiều thứ hơn là các nguyên liệu cấu thành của nó.”  Nghiên cứu của Hall đã chỉ ra mối liên hệ rõ ràng giữa đồ ăn vặt và lượng calo tiêu thụ dư thừa, nhưng nó không thể cho chúng ta biết lý do tại sao những người theo chế độ ăn siêu chế biến lại ăn nhiều hơn. Sau khi công bố kết quả, Hall nhận được rất nhiều ý kiến trao đổi từ nhà khoa học khác. Một số người đề xuất rằng đó là do đồ ăn vặt chứa nhiều calo hơn. Vì thực phẩm chế biến sẵn thường được chiên ngập dầu và nhiều chất béo, nên chúng chứa nhiều calo trên mỗi gam hơn so với thực phẩm tươi sống. Hoặc có thể là do đồ ăn vặt được ăn nhanh hơn; trong nghiên cứu, những người theo chế độ ăn siêu chế biến ăn nhanh hơn đáng kể so với những người ăn thực phẩm ít chế biến. Các nhà khoa học khác nghĩ rằng các chất phụ gia có thể đóng một vai trò nào đó hoặc đồ ăn vặt đã thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột, ảnh hưởng đến lượng calo hấp thụ.  Hành động từ bây giờ  Trước những tác động tiêu cực trên, chính phủ ở Brazil khuyên người dân nên tránh hoàn toàn thực phẩm chế biến sẵn, trong khi hướng dẫn của Pháp khuyến nghị hạn chế tiêu thụ loại thực phẩm này. Nhưng hướng dẫn của các quốc gia khác hoàn toàn không đề cập đến thực phẩm chế biến sẵn. Vào năm 2021, các chuyên gia tại Vương quốc Anh đã đề xuất một loạt cải cách nhằm thẳng vào ngành công nghiệp thực phẩm siêu chế biến. Báo cáo khuyến nghị đánh thuế đường và muối được sử dụng trong thực phẩm chế biến sẵn và yêu cầu các công ty báo cáo lượng thực phẩm có hại cho sức khỏe mà họ bán ra. Chính phủ hầu như phớt lờ những khuyến nghị này. Trong tài liệu hướng dẫn dinh dưỡng chính thức của Vương quốc Anh chỉ khuyên mọi người không nên ăn quá 70 gam thịt đỏ hoặc thịt chế biến mỗi ngày.  Monteiro cho rằng chúng ta không thể đợi cho đến khi đã hiểu rõ về thực phẩm siêu chế biến rồi mới hành động. “Chúng ta đang giải quyết một vấn đề rất phức tạp. Sẽ mất nhiều năm để hiểu tất cả các cơ chế này. Nhưng liệu chúng ta có cần đợi cho đến khi biết tất cả những điều này rồi mới bắt đầu làm điều gì đó để ngăn chặn tác hại không?” ông đặt câu hỏi. Hiện tại, khoa học về thực phẩm siêu chế biến đang đi từng bước chậm rãi, nhưng cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học đang diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết.  Hà Trang tổng hợp  Nguồn: Ultra-Processed Diets Cause Excess Calorie  Fat, Sugar, Salt … You’ve Been Thinking About Food All Wrong    Author                .        
__label__tiasang Thực tiễn Trung Hoa      André Chieng, tác giả Bàn về THỰC TIỄN TRUNG HOA cùng với FRANOIS JULLIEN1, người Pháp gốc Hoa, sinh năm 1953 ở Marseille (Pháp). Tốt nghiệp Đại học Bách khoa, ông theo học kinh tế ở Đại học Quốc gia thống kê học và quản trị kinh tế và Học viện chính trị (Pháp). Năm 1978, A.Chieng về Trung Quốc giảng dạy đại học. Nhưng ngay sau đó (năm 1980), ông quay lại Pháp tham gia một tổ chức thương mại (sau này trở thành Hội đồng thương mại Âu Á), từ 1988, là chủ tịch Hội đồng này. Ông là một trí thức thực học đồng thời là một doanh nhân có danh tiếng quốc tế. Đi đi về về Trung Hoa – Pháp, từ 2001 ông về ở hẳn Bắc Kinh. A.Chieng được chứng kiến từ đầu chí cuối (từ 1978 đến nay) công cuộc Cải cách trong ba thập kỷ vừa qua đã tạo nên “thần tích kinh tế” Trung Hoa. Sự nghiên cứu thực tiễn Trung Hoa đương đại của A.Chieng có giá trị kiểm chứng đối với những tư tưởng mà Jullien phát hiện trong hoạt động lý thuyết.  Tác giả thấy những học giả phương Tây nghiên cứu Trung Hoa bằng những khái niệm phương Tây, do đó không trúng. Tác giả đi tìm những khái niệm – công cụ thích đáng và kết quả là đã tìm thấy chúng trong những công trình nghiên cứu Trung Hoa (đối sánh với Châu Âu) của F.Jullien.  Đây “là một cuộc đi dạo có bình luận thuyết minh trong lòng của Trung Hoa ngày nay, người đi dạo là một thương nhân Trung Hoa được giáo dục ở Pháp(…), cùng đi với anh ta là những bài viết của một triết gia Pháp, trở thành nhà Trung Quốc học để hiểu phương Tây hơn, cuộc đi dạo được kể lại trong tập biên khảo này”2.    Trong công trình đặt ra nhiều vấn đề lịch sử, triết học quan trọng, những kiến giải của A.Chieng về những vấn đề này cuối cùng dẫn đến sự đối sánh việc thực hiện mô hình chung: kinh tế thị trường + dân chủ ở phương Tây, ở Nga (sau khi Liên Xô sụp đổ) và ở Trung Quốc hiện đại hóa, sự đối sánh này cho ta thấy Trung Quốc trên con đường cải cách một mặt ra sức học phương Tây về khoa học, công nghệ, về cách quản lý và điều hành hiện đại; mặt khác đem kết hợp với những phương thức tư duy, những nếp nghĩ bản sắc Trung Hoa, chính sự kết hợp này đã tạo ra thần tích kinh tế Trung Hoa trong ba thập kỷ qua.                     Tính phổ quát của trí năng phương Tây thể hiện trong những thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ  là điều hiển nhiên. Nhưng trong triết học, trong những lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt là khoa học  nhân văn, những phương thức tư duy, những nếp nghĩ của phương Tây phải chăng cũng có giá trị phổ quát như họ nghĩ? Phải chăng những luật, những chân lý họ đề ra trong những lĩnh vực này phải được xem là căn cứ tham chiếu duy nhất? F.Jullien đã đến với trí năng và văn hoá cổ Trung Hoa và từ chỗ “bên ngoài” này, từ những phương thức tư duy và nếp nghĩ mang bản sắc Trung Hoa mà ông lĩnh hội được, ông nhận thấy tham vọng đưa ra những chân lý phổ quát của phần lớn các học giả phương Tây là đáng ngờ. “Công việc lý thuyết được tiến hành  ở đây – F.Jullien viết – nhằm trình bày rõ hơn hai truyền thống văn hóa vốn không biết đến nhau này – truyền thống Trung Hoa và truyền thống Hy Lạp – buộc tôi phải giải thể và làm lại những phạm trù của tư tưởng; tôi không thể bằng lòng với những khái niệm của khoa học nhân văn (Châu Âu) và đành phải vượt rào”3. Kinh tế học là một ngành học hùng hậu của phương Tây. Trong công cuộc Cải cách ba thập kỷ vừa qua, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, chẳng hạn như vấn đề quản lý ngân hàng, vấn đề nông dân tràn vào thành phố…, những nhà lãnh đạo Trung Hoa đã đưa ra những đối sách và giải pháp kinh tế khác hẳn, thậm chí trái ngược với những bài bản có tính chất kinh điển của kinh tế học phương Tây. Có những nhà kinh tế học phương Tây tin rằng họ nắm được chân lý phổ quát về kinh tế học bèn lên tiếng bài bác, thậm chí với một thái độ diễu cợt. Gordon Chang trong bài báo Sự sụp đổ sắp tới của Trung Hoa (công bố năm 2001) tiên đoán một cuộc khủng hoảng trầm trọng của Trung Quốc. Trên tờ Financial Times số ra ngày 14/9/2003, Moisys Naym đăng bài báo với nhan đề: “Chỉ có thần tích mới cứu được Trung Hoa”. Trong bài xã luận đăng trên báo Wall Street châu Á (1/8/2003) Restall đặt câu hỏi: “Vì sao Trung Hoa là một con hổ giấy?” 4. Trên thực tế những giải pháp kinh tế của người Trung Hoa có hiệu quả tích cực to lớn. Trên cơ sở thực tiễn Trung Hoa, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, André Chieng cho thấy tính phổ quát của kinh tế học phương Tây là đáng ngờ, ông đã làm công việc mà F.Jullien đã làm trong một phạm vi rộng hơn, có liên quan đến phương thức tư duy phương Tây trong nhiều lĩnh vực nhân văn.                   Khoa học nhân văn phương Tây có những thành tựu to lớn. Phần lớn những thành tựu này đã đi vào chương trình giảng dạy đại học, là một bộ phận quan trọng trong vốn học thuật các cán bộ lãnh đạo chính trị và quản lý kinh tế. Công trình của A.Chieng co thể giúp các sinh viên, nghiên cứu viên, các cán bộ chính trị và kinh tế:      – tích cực học tập những phương thức tư duy, nếp nghĩ trong khoa học nhân văn phương Tây đồng thời có ý thức nghi ngờ tính phổ quát của chúng.      – có ý thức khai thác nguồn những phương thức tư duy Đông Á (trong đó có Việt Nam), đem kết hợp với trí năng phương Tây, đặng vận dụng chúng một cách sáng tạo trong việc nghiên cứu thực tiễn Việt Nam và những vấn đề lý thuyết được đặt ra từ đó.  Trên cơ sở những tìm tòi sâu sắc và sáng tạo của F.Jullien và A. Chieng, tôi nêu lên những phương thức tư duy, những nếp nghĩ đáng chú ý của Đông phương, đúng hơn của văn hóa khu vực Đông Á mà Trung Hoa là tiêu biểu.  Ban đầu vấn đề được đặt ra là vai trò của “văn hóa” trong  “thần tích kinh tế Trung Hoa” trong ba thập kỷ vừa qua. A.Chieng cho rằng sau khi Trung Hoa tiếp nhận mô hình “kinh tế thị trường + dân chủ” thì nhân tố quyết định tạo ra thần tích kinh tế là văn hóa coi trọng sự biến hóa (culture de la transformation) của Trung Hoa, trong khi đó văn hóa của phương Tây là văn hóa coi trọng chân lý (culture de la verité), Nga (sau khi Liên Xô sụp đổ) cũng ở trong quỹ đạo của văn hóa sau (so sánh tình hình hiện tại của Nga và Trung quốc có thể hình dung được những tác động khác nhau của hai văn hóa nói trên). Thế nào là “coi trọng chân lý”, là “coi trọng sự biến hóa” sẽ nói rõ hơn ở phần sau, đến đây cần thấy sự phân biệt hai văn hóa nói trên có tính chất hết sức ước lệ: nói rằng “coi trọng sự biến hóa” không có nghĩa là không quan tâm đến vấn đề chân lý, vấn đề là ở liều lượng, và trong liều lượng có những mức độ khác nhau: có biết đến vấn đề chân lý nhưng không chú ý lắm, có quan tâm đến chân lý nhưng ít nhiều vẫn bị lu mờ do sự đặc biệt quan tâm đến sự biến hóa. Nói đến tác động của văn hóa tới sự phát triển kinh tế, F. Jullien hiểu đây không phải là “một nước sơn véc-ni phủ lên văn xuôi của dịch vụ kinh doanh”, cũng không phải là một lĩnh vực hoạt động của con người bên cạnh những lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, quân sự…), nó là những “phương thức tư duy (mode de pensée) bao trùm, phát tán, xuyên suốt mọi lĩnh vực, là thiên hướng chi phối cách suy nghĩ và cách xử lý trong mọi hoạt động của con người.                     Như vậy trong quan niệm của F.Jullien cũng như của A.Chieng, cái gọi là “văn hóa” trước hết là những phương thức tư duy hoặc những hệ tư duy (système de pensée). Chính cái “văn hóa” này, cái “phương thức (hoặc hệ) tư duy” này phân biệt Trung Quốc và phương Tây. ” Giữa Trung Quốc và phương Tây – A.Chieng viết –  không phải là hai mô hình đối lập nhau, mà đây là hai hệ tư duy đối lập: văn hóa trọng chân lý (culture de la vérité) đối lập với văn hóa trọng sự biến hóa (culture de la transformation)” 5 (trong quan niệm của tác giả, xét một cách hết sức đại khái và ước lệ thì Trung Quốc (hiện nay) và phương Tây cùng chung một mô hình: kinh tế thị trường + dân chủ; nước ta cũng không ở ngoài mô hình này: kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là kinh tế thị trường). Nhận xét về cách các học giả phương Tây so sánh nước Nga hiện nay và Trung Quốc hiện nay, tác giả chỉ ra một sự nhầm lẫn lớn, họ nhấn mạnh sự đối lập về hệ tư tưởng: Nga từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, Trung Quốc giữ lại học thuyết này. Sự khác biệt cốt yếu giữa Nga và Trung Quốc chủ yếu là ở sự đối lập về văn hóa: nước Nga vẫn ở trong quỹ đạo văn hóa trọng chân lý của phương Tây, còn văn hóa của Trung Hoa, như chúng ta biết, coi trọng sự biến hóa.  Thế nào là văn hóa coi trọng chân lý của phương Tây? Có nhiều cách hiểu.  Coi trọng chân lý trong khoa học tự nhiên và công nghệ là chung cho cả phương Tây và Trung Quốc. Từ thế kỷ 16, với sự hình thành của phương pháp thực nghiệm-toán học, đặc biệt từ Gallilée (1564 – 1642), nhà bác học đã khẳng định phương pháp này, ở Châu Âu, khoa học tự nhiên và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đến thế kỷ 19 thì phát triển ào ạt. Sau biến cố Chiến tranh nha phiến (1939), Trung Quốc mới tỉnh ngộ sự tụt hậu thảm hại của mình trong lĩnh vực khoa học, công nghệ. Từ đấy đến nay, trải qua những thể chế khác nhau, học tập và đuổi kịp phương Tây trong lĩnh vực này luôn luôn là mục tiêu hàng đầu của Trung Quốc.                     Văn hóa coi trọng chân lý của phương Tây trước hết được đặt ra trong những lĩnh vực xã hội, nhân văn. Trong những lĩnh vực này (chủ yếu lĩnh vực nhân văn), bằng sự nghiền ngẫm học thuật, bằng những sự từng trải và chiêm nghiệm, người ta đề ra những quy luật, và một khi quy luật được một sự đồng thuận rộng rãi, nó trở thành chân lý; từ những quy luật được đề ra những giả thuyết và từ nhiều giả thuyết được xây dựng những lý thuyết. Từ những quy luật, những chân lý, những lý thuyết…, những người hoạt động thực tiễn đề ra những mô hình, những kế hoạch, dự án (ít nhiều có tính chất tư biện, mang tính ý niệm) và một khi được đề ra, được xác quyết, chúng trở thành những mục tiêu và hoạt động thực tiễn là thực hiện chúng, tức là đưa chúng vào thực tại, vào đời sống. Thực chất của việc đưa mô hình, kế hoạch, dự án, mục tiêu… vào thực tại là tạo ra những quá trình biến hóa trong thực tại. Văn hóa coi trọng biến hóa của Trung Quốc không coi nhẹ quy luật, chân lý, lý thuyết, mục tiêu… nhưng đặc biệt quan tâm đến biến hóa và quá trình, thực ra hai khái niệm này thường gắn với nhau, biến hóa là biến hóa của những quá trình, và quá trình nào cũng là quá trình biến hóa. Trong khi A.Chieng gọi văn hóa Trung Hoa là văn hóa coi trọng biến hóa thì F. Jullien nhận định : “Tôi thấy ý niệm quá trình là ý niệm xuyên suốt tư tưởng Trung Hoa…(H.N.H.tô đậm)” 6. Văn hóa biến hóa coi trọng “biến hóa” hơn “chân lý” có cái lý của nó. Trong các lĩnh vực xã hội nhân văn, những quy luật, chân lý, lý thuyết… có giá trị hết sức tương đối vì sự vận dụng chúng đụng đến thế giới những con người hành động theo chủ quan hết sức phức tạp của họ. Trong thế giới vật lý của Newton, “nếu như chúng ta có những thông tin chính xác về trạng thái ban đầu của một hệ thống vật lý bao gồm những vật thể vận động, chúng ta có thể tiên đoán một cách chính xác trạng thái của hệ thống này ở mọi thời điểm trong tương lai”. Nhưng trong thế giới con người, cơ sở khoa học hiện tại của các ngành học thuật xã hội và nhân văn còn lâu mới cho phép nhân loại tiên đoán sự phát triển tương lai của xã hội với một sự chính xác khoa học giống như thiên văn học tiên đoán những nhật thực, nguyệt thực. Đặc biệt trong giới nghiên cứu chủ nghĩa Mác, không ít học giả và nhà hoạt động xã hội có ảo tưởng là nắm được cái cơ sở khoa học mà Mác đặt ra cho sự phát triển lịch sử thì có thể dự đoán và chi phối một cách chính xác sự phát triển của xã hội. Người Trung Hoa không phải là không có lý khi họ đặc biệt quan tâm đến sự biến hóa của những quá trình thực tại và từ thực tại này kiểm tra lại những quy luật, xác định lại những chân lý và rà soát lại những lý thuyết… Những quá trình biến hóa thực tại không bao giờ tuân theo sơ đồ của những chân lý (lý thuyết), những mô hình, những kế hoạch, những dự án được đặt thành mục tiêu. Quan tâm đến chân lý là quan tâm đến vấn đề đúng hay sai trong khi đó với văn hóa coi trọng sự biến hóa thì vấn đề số một là quá trình biến hóa bế tắc (bĩ) hay hanh thông. Nếu như theo sơ đồ chân lý (lý thuyết), tiến lên là chân lý, là đúng nhưng trong thực tế quá trình biến hóa lại bị bế tắc thì phải đổi hướng, rẽ sang phải vẫn bị bế tắc thì rẽ sang trái… và nếu như lùi lại mà hanh thông thì lùi lại là thuận với sự biến hóa. Văn hóa Trung Hoa không coi nhẹ chân lý (lý thuyết) nhưng tiêu chuẩn cao nhất vẫn là sự hanh thông (trong quá trình biến hóa), cũng có thể nói hanh thông là tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý. Theo nhận định của tác giả “Đặng Tiểu Bình đã thành công trong công cuộc cải cách của ông vì ông tiến lên từng bước một, bảo đảm sao mỗi bước có được sự hanh thông”7.                     Phương Tây coi trọng chân lý (lý thuyết), Trung Hoa coi trọng sự biến hóa.  “Phương Tây coi trọng lý thuyết”. “Trung Hoa coi trọng Đạo”8, Đạo là Con đường của sự Biến hóa. Do coi trọng chân lý lý thuyết, nên văn hóa phương Tây là văn hóa tranh cãi. Nhiều chuyên mục trong những chương trình truyền hình Pháp chẳng hạn là những cuộc tranh cãi vô tận. Văn hóa Trung Hoa cổ dè dặt hơn với sự tranh cãi. Vì sao? Sau đây là một đoạn trong chương Tề vật luận của Nam Hoa kinh: “Giả sử tôi tranh biện với anh mà anh thắng tôi thì có nhất định là anh phải, tôi trái không? Nếu tôi thắng anh thì có nhất định là tôi phải, anh trái không? Trong chúng ta có một người phải, một người trái? Hay là cả hai chúng ta đều phải cả hoặc đều trái cả? Anh và tôi làm sao biết được điều đó? Mà một người thứ ba nào khác thì cũng hồ đồ không biết được, lựa ai sáng suốt làm trọng tài đây?…” 9. Như vậy, không phải vì người ta không thích bàn cho ra phải trái, đúng sai mà người ta thấy trong lĩnh vực xã hội, nhân văn, nhìn cho ra sự thật, phải trái là rất khó, hơn nữa, nhìn cho ra cũng là để giải quyết những vấn đề, những mâu thuẫn trong cuộc sống, cho nên tốt hơn hết là chuyện phải trái bàn vừa thôi, nó chỉ là một khâu có liên quan đến những khâu khác, hãy tập trung vào việc tìm giải pháp thỏa đáng cho từng vấn đề cụ thể, thay cho sự cãi vã là sự thương lượng đi đến sự phân xử thỏa đáng. Triết học (phương Tây) trọng chân lý [vérité] (tức là bàn cho ra phải trái, đúng sai). Minh triết (phương Đông) trọng sự thỏa đáng [congruence] (đúng sai cũng quan trọng nhưng không quan trọng lắm, miễn là thỏa đáng) 10. ” Họ (người Trung Hoa) quan tâm đến hiệu quả mà những sự thương lượng đem lại, coi trọng hiệu quả này hơn những gì mà sự tìm tòi chân lý dẫn đến”11.  Ở trên có nói đến sự khác biệt: phương Tây coi trọng Chân lý, Trung Hoa coi trọng Đạo. Thực ra trong văn hóa phương Tây cũng có Đạo, nhưng Đạo của phương Tây bao giờ cũng dẫn đến một mục đích cuối cùng: Thượng Đế, Chân lý (tuyệt đối), Cứu rỗi… Đạo của văn hóa Trung Hoa “không cần đến tính mục đích, hay đúng hơn dửng dưng với tính mục đích”, nếu như đạo có chăng một cứu cánh, thì ” không thể có cứu cánh nào khác là sự đổi mới ở chính nó”12. Nói tóm lại Đạo là con đường không hướng về mục đích nào cả – chẳng qua những con người tội nghiệp phóng chiếu mục đích của họ lên nó – mà qua nó sự biến hóa đi từ “hanh thông” này đến “hanh thông” khác, từ “biến thông” này đến “biến thông” khác, từ “khai thông này đến khai thông khác”…( biến thông là một khái niệm cơ bản của Kinh Dịch).  Đạo là Con đường Biến hóa. Đạo không hướng về một mục đích nào cả. Trong công cuộc cải cách của Trung Quốc, theo A.Chieng, “cách tiến hành sự tạo ra biến hóa(…) quan trọng hơn mục đích cuối cùng, nếu quả như có một mục đích như vậy”13. Tác giả tỏ ra nghi ngờ cách làm việc cứ đề ra “mục tiêu này, mục tiêu nọ”, “tổng lộ tuyến này, tổng lộ tuyến nọ” khi nhận định rằng : “Bằng cách tổ hợp những tập hợp cải cách lớn, cải cách nhỏ, Trung Quốc chẳng cần đề ra mục tiêu, mục đích, thực sự đã đi rất nhanh và xa, xa hơn và nhanh hơn bất cứ lời tiên đoán nào được đưa ra năm 1980″14. Tác giả nghi ngờ luôn một nếp suy nghĩ, một nếp làm việc được hình thành trong khuôn khổ trí thức của phương Tây: “nhất thiết phải định nghĩa mục tiêu, cứu cánh (H.N.H.tô đậm)” 15. Đề ra những mục đích, mục tiêu không phải là khó; điều quan trọng là thực hiện, đưa chúng vào thực tại, vào đời sống bằng hoạt động thực tiễn, bằng hành động và tạo ra biến hóa, chính trong hoạt động thực tiễn, những mục đích được điều chỉnh, được xem xét lại, kể cả vứt đi. Mục tiêu là quan trọng nhưng quan trọng hơn là đưa mục tiêu vào thực tại đời sống bằng hoạt động thực tiễn. Cũng vậy, theo A.Chieng, “sự tôn trọng những nguyên lý chưa đủ, còn phải xem người ta vận dụng chúng như thế  nào”16. Những nguyên lý thuộc phạm vi lý thuyết, vận dụng chúng thuộc phạm vi hoạt động thực tiễn. Việc vận dụng một cách tàn bạo những nguyên lý của một mô hình mới (và cấp tiến) có thể dẫn đến những hậu quả tai hại. “Bốn hiện đại hóa” của Đặng Tiểu Bình đã trở thành mục tiêu lớn, những nguyên lý lớn của Cải cách Trung Hoa đương đại. Nhưng nói đến thành công lớn lao của Cải cách hiện đại hóa Trung Hoa trước hết phải nói đến phương pháp cải cách Trung Hoa đã được Đặng Tiểu Bình trình bày một cách rất Trung Hoa (vừa dễ hiểu, vừa sâu sắc): “Phải mò mẫm những viên đá để qua sông”17. Mục đích thực sự của cải cách không phải là đề ra những mục tiêu mà là tạo ra những quá trình biến hóa thực tại. Những quá trình này không bao giờ tuân theo những sơ đồ của lý thuyết hoặc mô hình. Do đó có khi phải “mò mẫm” từng bước một, đây là minh triết Trung Hoa. Vả chăng “mò mẫm những viên đá” còn có ý nghĩa ở bình diện nhận thức luận, đó là thao tác tiếp nhận sự phản hồi từ những quá trình thực tại (phản hồi [feed back] là một khái niệm cơ bản của lý thuyết thông tin và rất được coi trọng trong lề lối làm việc Mỹ). “Tiến hành sự biến hóa quan trọng hơn là mục đích cuối cùng…” 18, coi trọng sự “vận dụng nguyên lý” hơn cả bản thân nguyên lý…, từ những quan điểm này có thể nói đến “tinh thần thực dụng” trong văn hóa Trung Hoa. Để hiểu sâu sắc “tinh thần thực dụng” này, theo ý riêng của tôi, không thể bỏ qua chủ nghĩa thực dụng Mỹ – cơ sở triết học của “tinh thần thực dụng Mỹ” mà Lênin đánh giá rất cao (“phải kết hợp tinh thần cách mạng Nga và tinh thần thực dụng Mỹ…”). Theo quan điểm của chủ nghĩa thực dụng Mỹ – mà những đại diện xuất sắc là C.S.Pierce (1839-1914), William James (1842-1910), J.Dewey (1859-1952) – những tư tưởng và lý thuyết phải được thử nghiệm trong thực tiễn, phải được đánh giá ở chỗ hành động theo tư tưởng này hay lý thuyết nọ có đem lại kết quả mong muốn không, tất cả những gì được xem là chân lý, là khoa học, là đạo đức và chính trị công minh đều phải được thử nghiệm theo cách này; triết thuyết này nhấn mạnh chức năng thực tiễn của tri thức như là một công cụ để thích ứng với thực tại và kiểm soát nó, ý nghĩa của một quan điểm hay nguyên lý là ở những hiệu quả thực tiễn mà sự vận dụng nó đem lại: “biết, đó là làm”, “biết là một hoạt động thực tiễn”; triết thuyết này ngoảnh lưng với trừu tượng, những giải pháp nói suông, những nguyên lý cứng nhắc, những hệ thống khép kín và những giá trị tuyệt đối…, nó hướng về tính cụ thể, sự đâu ra đấy, về những sự kiện và hoạt động…,  nó là “sự tóm lược của lòng tin Mỹ ở năng lực “biết làm” (know how), năng lực hoạt động thực tiễn và lòng ngờ vực cũng rất Mỹ đối với những lý thuyết và hệ tư tưởng trừu tượng”.                     Triết học (phương Tây) coi trọng sự phát lộ chân lý.  Minh triết (phương Đông) coi trọng sự điều tiết quá trình (biến hóa) 19.   Phát lộ chân lý thiên về hoạt động nhận thức. Điều tiết quá trình là hoạt động thực tiễn, là tham gia quản lý. Xác định ý niệm thực tiễn Trung Hoa trong nhan đề cuốn sách, A.Chieng viết: “Nếu như ở đây cái văn hóa nhập vào cái kinh tế, thì đây chẳng phải là cái chuyện như đem một lớp véc-ni gia thêm vào cái đời thường lôm nhôm của dịch vụ kinh doanh; mà gia do là cái kinh tế không thể nào quan niệm được mà không có cái văn hóa. Quả vậy, không thể đem tách sự suy nghĩ khỏi sự quản lý: cái mà tôi gọi ở đây là “thực tiễn” của Trung Hoa chính là sự ráp nối (articulation) cái này với cái kia…” 20 Trong lời Bạt đề cho công trình bàn về Thực tiễn của Trung Hoa, F. Jullien viết: “…về phía tôi, tôi không thể từ bỏ cái tham vọng mà nhà triết học nào cũng hoài bão, không kể những kết cấu tư biện họ đề ra như thế nào, không kể đường đi của họ vòng vo như thế nào: đó là tham vọng không chỉ  làm sáng tỏ mà còn  quản lý những tình thế gặp phải”21.  Nhiều trường phái triết học phương Tây chịu ảnh hưởng quan niệm của Platon về “chân lý một và duy nhất” (chân lý tuyệt đối); quan niệm của minh triết Trung Hoa: chân lý “cận nhân tình” cũng như  đạo ” không xa con người” (đạo bất viễn nhân). Khổng Tử nói rằng: “Đạo chẳng xa người. Người nào thi hành đạo mà lại rời xa người chẳng thể coi đó là đạo”22.  Nói như Khổng Tử, chân lý xa con người có thể coi là chân lý nữa không? Con người thì mỗi tuổi, mỗi thời, mỗi nơi một khác. Hướng về con người trừu tượng cũng là một cách xa con người. (Đôxtôievxki: “…có những kẻ họ càng yêu con người trừu tượng bao nhiêu thì càng ghét những con người cụ thể bấy nhiêu…”).  Quan hệ cá nhân và cộng đồng, một vấn đề có tính chất “kinh điển” để phân biệt bản sắc văn hóa Đông và Tây, theo cách giải trình của tác giả, không chỉ là sự thay đổi chỗ nhấn – Trung Hoa nhấn vào cộng đồng, phương Tây nhấn vào cá nhân – phạm vi của vấn đề rộng lớn hơn nhiều: phía Trung Hoa, “phúc lợi của cá nhân sinh ra từ phúc lợi của toàn thể nhóm và chính là làm việc cho lợi ích của nhóm mà người ta đạt được lợi ích cá nhân”, còn ở phương Tây, có được phúc lợi tập thể là do mỗi cá nhân mưu cầu lợi ích riêng, quan niệm này đã được Adam Smith tóm lược trong một phương trình xã hội như sau: phúc lợi chung có thể là tổng những mưu cầu vị kỷ riêng23. Để vận hành theo phương trình này, phải có những quy tắc, những luật bảo đảm:    –  cho những quyền của cá nhân trong môi trường của cộng đồng.    –  những mưu cầu vị kỷ của cá nhân thực sự ứng với lợi ích của cộng đồng.  Những luật và quy tắc này nâng cao trình độ tổ chức xã hội, ở phương Tây chúng có tầm quan trọng cao hơn so với ở Trung Hoa. So sánh phương Tây và Trung Hoa “có một sự khác biệt cơ bản về tổ chức xã hội”24 .                     Trong lời Bạt, F. Jullien nói đến hai ý niệm được A.Chieng nêu lên và điều chỉnh đặc biệt có ý nghĩa để hiểu “thực tiễn” của Trung Hoa: thế hoặc xu thế (mà tình thế mang trong nó) và mặc hóa.  Trong tư tưởng phương Tây, tính hiệu quả được xem xét chủ yếu như là kết quả thực hiện dự án (projet), mà dự án là mô hình (modèle) lý thuyết được phóng chiếu (projeté) vào thực tại tương lai, mà mô hình nào thì cũng có mục tiêu hoặc cứu cánh (fin), chung quy lại, thực hiện dự án là tìm những phương tiện (moyen) thích đáng đặng thực hiện mục tiêu của dự án và như vậy, tính hiệu quả được xem xét trong mối tương quan phương tiện-cứu cánh: những phương tiện có thực hiện được mục tiêu của dự án không, có biến mô hình lý thuyết (tức là dự án) thành thực tại không? Cách đặt vấn đề như vậy về tính hiệu quả phù hợp với một nếp tư duy khá cơ bản trong tư tưởng phương Tây, đó là nếp tư duy coi trọng  mối quan hệ lý thuyết-thực hành.  Trong tư tưởng Trung Hoa, thực tại được xem xét như là quá trình. Trong hoạt động của con người (có hiệu quả hay không?), điều quan trọng là ở mỗi thời điểm của quá trình thực tại phải nhận ra xu thế của tình hình ở thời điểm đó, tiếp theo là theo dõi diễn biến của xu thế trong quá trình phát triển của thực tại. Tính hiệu quả của hoạt động của con người là ở sự biết nương theo và lợi dụng xu thế của tình hình (sao cho có lợi cho ta và bất lợi cho đối thủ của ta), là ở sự tác động tới tình hình, tạo ra sự biến hóa của tình hình, sự diễn biến của xu thế, tạo lập những điều kiện cho sự phát triển dẫn tới hệ quả (mong muốn). Sự nắm bắt, nương theo và lợi dụng xu thế của quá trình phát triển của thực tại cũng giống như lợi dụng xu thế của dòng nước: xu thế của nước là chảy xuống chỗ trũng, bắt dòng nước chảy ngược lên cao thì thật là hoài công, dòng thác có sức chảy mạnh đó là do thế từ trên cao đổ xuống, biết lợi dụng cái thế này có thể tạo dòng chảy mạnh cuốn băng đi cả những tảng đá lớn.  Thay lời người Trung Hoa, F.Jullien viết: “Tôi không nhằm trực tiếp hiệu quả, đem kế hoạch của tôi áp đặt trực tiếp lên sự vật…, làm như  vậy không tránh khỏi tốn sức và vấp phải sự phản kháng; mà tôi làm cho tình thế tiến triển liên tục nương theo những nhân tố mang xu thế mà tôi phát lộ, sao cho hiệu quả tuồn ra từ bản thân tình thế; nói một cách khác, chính tình thế đẻ ra kết quả được trù liệu trước. Hoặc nếu như ngày hôm nay chẳng có gì thuận lợi cho tôi, thì tôi chờ vậy, việc gì phải đối đầu với một tình thế nghịch để mà vỡ mặt – làm như vậy chắc là đẹp rồi, anh hùng nữa là đằng khác, nhưng hiệu quả chẳng bao lăm… 25.  Trong tư tưởng của phương Tây, con người hành động trực tiếp tạo ra hiệu quả, với cách suy nghĩ của Trung Hoa về tính hiệu quả, con người tác động một cách gián tiếp, và hệ quả tự nó đến thông qua sự tạo điều kiện cho sự biến hóa của tình thế và xu thế của tình thế. Tóm lại, tư tưởng phương Tây xem xét tính hiệu quả trong quan hệ phương tiện và cứu cánh còn trong tư tưởng Trung Hoa vấn đề này được xem xét từ góc độ tạo điều kiện (conditionnement) và hệ quả (conséquence) tức là từ góc độ tạo quá trình dẫn đến hệ quả. Hai quan niệm về tính hiệu quả dẫn tới hai phương thức tác động khác nhau tới thực tại. Tác động một cách gián tiếp (thông qua tạo điều kiện cho quá trình biến hóa và hệ quả tự nó đến) giống như vun gốc, bón phân tạo điều kiện cho cái cây tự nó mọc lên, khác với việc trực tiếp túm lấy cái cây và kéo nó lên.  Có liên quan đến ý niệm thế được phân tích ở trên là ý niệm mặc hóa (biến hóa lặng lẽ). Trong quan niệm của F. Jullien, hành động (action) đối lập với làm biến hóa (transformation). Phương Tây coi trọng anh hùng (héros) tạo thời thế bằng hành động; Trung Hoa đề cao nhà hiền triết (le Sage) cái thế bằng cách làm biến hóa. Hành động diễn ra trong một thời điểm nhất định, tác động vào một điểm, một chỗ được khu biệt rõ rệt, gắn với một chủ thể xác định (chủ thể hành động thường là một anh hùng hoặc một gian hùng), thông thường hành động gây ra biến cố (événement), mà biến cố thì bao giờ cũng “rôm rả”, “náo động”, “om sòm”, do đó hành động thường nổi bật, tách bạch dòng đời và tiến trình biến hóa trầm lặng của sự vật. Còn làm biến hóa, ngược lại với hành động, thì gây ra sự liên tục tăng tiến, sự lan tỏa bao trùm tổng thể (global), sự hòa lẩn vào tiến trình của sự vật, do đó khó thấy, không gây biến cố om sòm, do đó lặng lẽ, nhưng cuối cùng có hiệu quả rõ rệt, không chối cãi được  (tuổi già là một ví dụ của sự biến hóa). Lão Tử có nói đến những ông vua được “dân yêu quí và khen”, nhưng trên tài họ là những ông vua trị dân mà “dân không biết là có vua”, “vua công thành, việc xong rồi mà trăm họ đều bảo: Tự nhiên được như vậy” (xem Đạo đức kinh, Chương 17) 26.  Đây là những ông vua trị dân bằng cách làm “biến hóa lặng lẽ”. Họ không nổi lên như những anh hùng nhưng Lão Tử lại tôn họ vào hàng “thái thượng”.  “…Tôi nghĩ rằng – F.Jullien viết – hai ý niệm này, lấy của những nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại, cũng có thể giúp tìm hiểu Trung Hoa đương đại. Bởi lẽ chính Trung Quốc hiện nay dường như không có phóng chiếu một kế hoạch nào đó lên tương lai, không có theo đuổi một cứu cánh nào đó hoặc một ý đồ đế quốc nào đó, mà ngày này qua ngày nọ ra sức khai thác tiềm thế của mình, có nghĩa là ra sức  lợi dụng những nhân tố thuận lợi – không kể thuộc lĩnh vực nào: kinh tế, chính trị, quốc tế và bất kể thời cơ nào  –  tất cả  nhằm tăng cường thế lực và nâng cao địa vị trong các quốc gia. Chỉ đến bây giờ chúng ta, phần nào sửng sốt, mới bắt đầu nhận ra những kết quả: trong vài thập kỷ, Trung Hoa đã trở thành xí nghiệp lớn nhất thế giới và trong nhiều thập kỷ nữa, tiềm lực đương nhiên sẽ ngày càng tăng trưởng. Và quá trình diễn ra, không có biến cố lớn gây tan hoang. Đặng Tiểu Bình, “người cầm lái nhỏ bé” chính là con người vĩ đại – bằng tự do hóa và trấn áp luân phiên – lặng lẽ làm biến hóa xã hội Trung Quốc, từ thể chế xã hội chủ nghĩa sang thể chế siêu tư bản chủ nghĩa mà chẳng có bao giờ  tuyên bố một sự cắt đứt dứt khoát giữa hai thể chế… Hẵng cứ xem cách người Trung Hoa nhập cư vào Pháp: nó lan ra từ khu phố này đến khu phố nọ, mỗi người mới đến nghĩ ngay đến việc kéo bà con họ hàng mình sang, kéo từng người một và lần lần kéo hết; những lễ hội Trung Hoa năm này sang năm khác ngày càng nổi lên đáng kể và vân vân, vân vân…; nhưng sự chuyển tiếp quá liên tục đến nỗi người ta không nhận ra và do đó chẳng có căn cứ nào để mà ngăn chặn. Tóm lại, sự biến hóa này lần lần tăng tiến, quá lặng lẽ, hòa hẳn vào “tiến trình của sự vật” thành ra người ta không thấy nó. Thế rồi, bỗng dưng một hôm người ta nhận ra rằng, trong khu phố, tất cả các cửa hàng đều là Tầu…” 27 Trong tập chuyên luận của A.Chieng, tìm hiểu những nguyên nhân tư tưởng tạo ra thần tích kinh tế Trung Hoa trong ba thập kỷ qua, từ chương này sang chương khác, tác giả nhấn mạnh những nét đặc sắc của văn hóa Trung Hoa: “coi trọng sự biến hóa”, coi trọng tinh thần thực dụng, coi trọng sự điều tiết quá trình thực tại hơn là sự phát lộ chân lý (lý thuyết), coi trọng sự thương lượng thoả đáng hơn là tranh cãi đúng sai, coi trọng cách vận dụng nguyên lý hơn là bản thân nguyên lý, coi trọng quá trình biến hóa hơn là mục đích (cuối cùng)… Đến phần lời Bạt, chia sẻ sự nhấn mạnh của A.Chieng, F.Jullien đưa ra một cách nhìn tổng quát: Trung Hoa “đi bằng hai chân” – văn minh Phương Tây và văn minh Trung Hoa, trong y thuật và nghệ thuật ẩm thực của họ, “Đông” và “Tây”, “trong” và “ngoài” tồn tại song song và đan xen vào nhau, họ làm chủ những thể thức quản lý phương Tây nhưng không coi nhẹ những mưu lược hiệu quả truyền thống, về mặt ngoại giao họ biết cách ứng xử trăm phần trăm phương Tây nhưng vẫn nhớ đến nguồn chiêu pháp ứng xử riêng của họ… Dĩ nhiên “coi trọng sự biến hoá” họ không hề coi nhẹ “chân lý”, họ không thể không nhớ rằng trong mọi lịch sử tư tưởng không ít những trang oanh liệt được viết ra bởi cảm hứng tìm tòi, đấu tranh cho chân lý, cảm hứng “tìm cho ra sự thật” và “nói toàn bộ sự thật”…  Viết công trình “Bàn về Thực tiễn Trung Hoa cùng với Francois Jullien”, André Chieng có tham vọng gì? Tham vọng chính trị? Tham vọng học thuật? Hãy xem lời trần tình của tác giả ở đoạn cuối bài Tựa: “Độc giả cũng đừng tìm trong cuốn sách này những điều xác thực, mà trái lại hẵng tìm ở đây một sự tự do. Hẵng đọc nó như người ta chơi cái trò chơi Trung Hoa được gọi là tangram28: ban đầu đây là một hình vuông mà người ta cắt ra thành bẩy miếng hình học: tam giác, quả trám, vuông. Người ta có thể xáo trộn bẩy miếng này rồi cấu thành lại hình vuông ban đầu, nhưng người ta cũng có thể tổ hợp chúng thành nhiều hình dạng giống những con người, những con vật hoặc đồ vật. Chẳng ai lại có thể ép buộc người chơi cứ làm lại hoài cái hình vuông ban đầu lấy cớ rằng dường như chỉ nó mới là chân lý”29.  CHÚ THÍCH   1, 2, 5-8, 11-18, 20, 21, 23-25, 27-29   André Chieng, La pratique de la Chine en compagnie de F. Jullien, Grasset, 2006  3  Colloque F.Jullien, Sang Viễn Đông trở về Viễn Tây, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr.10  4 Chine/Europe… sous la direction de Pierre Chartier et Thiery Marchaissse, PUK, 2002, tr.130  9 Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử: Nam Hoa kinh, Nxb. Văn hóa, 1994, tr.173  10, 19 F.Jullien, Minh triết phương Đông & Triết học phương Tây, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr.167  22 Trung dung (chương 3), Chu Hy, Tứ thư tạp chú, Nxb Văn hóa thông tin, 1999, tr.105  26 Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử: Đạo đức kinh, Nxb. Văn hóa, 1994, tr.189-190  28 Ở Việt Nam được gọi là trò chơi Trí Uẩn  Hoàng Ngọc Hiến      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuế lạm phát      Khi lạm phát xảy ra, đồng tiền sẽ mất giá. Vậy phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào “túi” của Nhà nước thông qua “thuế lạm phát”.      Với cùng một lượng tiền mặt như nhau nhưng khi lạm phát xảy ra, sau một thời gian người giữ tiền sẽ mua được ít hàng hóa hơn. Ví dụ, với mức giá tăng đến 17,96% trong năm 2010 và giả sử 1kg lương thực có giá 10 nghìn đồng vào đầu năm thì 100 nghìn đồng sẽ mua được 10kg, nhưng cuối năm chỉ còn 8,5kg. Tính bình quân trong năm 2010, những người giữ tiền mặt đã mất 11,75% giá trị tài sản của mình khi so với rổ hàng hóa chung của cả nền kinh tế.   Phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào “túi” của Nhà nước thông qua “thuế lạm phát”.  Lạm phát được định nghĩa là mức tăng giá chung của nền kinh tế mà nguyên nhân chính của nó là lượng tiền tăng cao hơn lượng hàng hóa sau một thời gian. Hiểu một cách đơn giản, năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đồng và 100 đơn vị hàng hóa thì giá cả sẽ là 1 đồng/hàng hóa. Năm nay do Chính phủ in thêm tiền nên trong nền kinh tế có thêm 10 đồng và tổng số tiền sẽ là 110 đồng. Với giả sử số hàng hóa vẫn không thay đổi thì giá của một hàng hóa sẽ là 1,1 đồng hay tăng 10%.  Bằng việc in tiền để mua hàng hóa trong nền kinh tế của mình, Nhà nước đã làm giảm giá trị (sức mua) của lượng tiền đang có. Một cách gián tiếp Nhà nước đã đánh thuế lên những người nắm giữ tiền mặt. Đây chính là thuế lạm phát.  Thuế lạm phát là thứ thuế mà hầu như nước nào cũng có, nhưng nó có tính lũy thoái mà hiểu một cách đơn giản người có thu nhập thấp hơn phải chịu mức thuế suất cao hơn.   Ví dụ một người có thu nhập 1 triệu đồng phải đóng thuế 200 nghìn chắc chắn thấp hơn số thuế 1 triệu đồng của người có thu nhập 10 triệu đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người có thu nhập thấp hơn phải chịu thuế suất gấp đôi (20% so với 10%) người có thu nhập cao. Điều này ngược với nguyên tắc công bằng dọc trong thuế khóa, người có khả năng thấp hơn phải chịu mức thuế thấp hơn.  Nguyên nhân gây ra tính lũy thoái của thuế lạm phát là do việc tăng giá trong nền kinh tế theo khuynh hướng các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm – rổ hàng hóa tiêu dùng chủ yếu của người nghèo – thường cao hơn rất nhiều so với những mặt hàng khác, nhất là những hàng hóa cao cấp – loại hàng hóa chiếm một tỷ phần chi tiêu lớn của những người khá giả hơn.  Ví dụ, nếu thu nhập của một người chủ yếu dành cho lương thực thực phẩm thì năm 2010 họ phải “đóng thuế” khoảng 17%, trong khi nếu chi cho đồ uống hay thiết bị và đồ dùng gia đình thì mức thuế chưa bằng một nửa con số nêu trên.    Tóm lại, thuế lạm phát là thứ thuế tồn tại trong hầu hết các nền kinh tế, nhưng nó có tính lũy thoái đánh vào người nghèo gây ra bất công trong xã hội nên cần phải hết sức hạn chế bằng việc kéo mức tăng giá xuống càng thấp càng tốt (thông thường là một vài phần trăm ở các nước phát triển và dưới 5% ở các nước đang phát triển).  Có một điểm cần lưu ý khác là sở dĩ bất kỳ một Chính phủ nước nào cũng có thể in tiền và công chúng sẽ sử dụng chúng là do uy tín của Chính phủ. Nói một cách khác đằng sau giá trị của đồng tiền một nước nào đó chính là uy tín của Chính phủ. Do vậy, việc in và sử dụng tiền cần phải tính toán hết sức cẩn thận.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuế thu nhập cá nhân với cải cách hành chính      Những vấn đề về luật thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) nêu dưới đây có thể sẽ giúp cho bạn đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về những khía cạnh tiến bộ của việc thu TTNCN trên quan điểm của cải cách hành chính. Thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính sách TTNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải cách này.    1) Một chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý sẽ cải thiện đáng kể ngân sách Quốc gia cho lương của viên chức hành chính công  Nếu như xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công dân phát triển nghề nghiệp và có được thu nhập thông qua công việc cá nhân  thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải đóng góp cho quốc gia tương ứng với thu nhập của người đó. Nói một cách khác: Mọi công dân đều phải được đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.  Đó là niềm tự hào chính đáng nhất của mọi công dân trong thời bình, và chắc hẳn mỗi một người dân đóng thuế cho quốc gia đều thấm thía câu khẩu hiệu nổi tiếng bên Đường 5, rất rõ và rất to: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Quốc gia.  Không phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu được TTNCN đóng vai trò quan trọng như thế nào với với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những người cả đời không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có cái cảm giác thuế liên quan đến họ như thế nào, cả về mặt tình cảm (vinh dự) cũng như trách nhiệm đối với thuế thu nhập.  Con số của Bộ Nội Vụ cho biết có khoảng hơn 13 triệu lao động (con số thông báo trên thông tin đại chúng là 12 triệu lao động) hiện có mức thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Cũng thống kê của Bộ Nội Vụ cũng cho biết, tổng cộng số người làm công có lương cao tại các ngành Bưu điện, Điện lực (EVN), Vietnam Airline và khối lao động kỹ thuật cao cho các cơ quan, văn phòng nước ngoài… có thu nhập cao hơn 3 triệu đồng/tháng… là khoảng 2 triệu người.  Một tính toán chi tiết đã chỉ ra rằng: Sẽ có 1 tỷ USD thất thoát hàng năm do chính sách của ta hiện nay không thu thuế từ những người có thu nhập từ mức trung bình trở lên trong xã hội!  Để có thể làm tốt cải cách hành chính, việc đầu tiên mà các nước phát triển đã làm là tăng lương cho công chức. Việt Nam ta chắc cũng không thể bỏ qua chính sách này. Vậy đâu là liên quan giữa khoản thất thu thuế kể trên và số tiền cần thiết để tăng lương cho công chức?  Giả thiết có 2 triệu công chức cần được tăng lương: Nếu bổ đầu 1 tỷ USD cho 2 triệu người thì mỗi viên chức hành chính công sẽ có thu nhập  tăng thêm ít nhất  650 000 Đồng/tháng so với mức lương của họ hiện nay.    2) Chính sách hợp lý của Thuế thu nhập cá nhân sẽ biến các viên chức hành chính công kiểu “ban phát” thành “nô bộc” của dân  Đương nhiên là giảm thiểu cơ quan hành chính, giảm thiểu các công đoạn ra quyết định là một công đoạn quan trọng của cải cách hành chính, song đó là Tinh giản hành chính chứ chưa phải là cải cách hành chính thực sự. Cái “hồn” của công cuộc cải cách hành chính phải chăng là thay đổi tư tưởng từ người dân đến người làm hành chính công là phải làm sao để chuyển Dịch vụ hành chính công từ Xin/cho thành Nghĩa vụ/Trách nhiệm một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất cho mọi công dân.  Mối quan hệ nhân quả này có thể được hiểu thế này: Để có cải cách hành chính  thành công, phải có chế độ lương thích hợp cho những người trong biên chế, chính phần thuế thu nhập của mọi đối tượng có thu nhập (ít nhất là tạm trừ ra lương tối thiểu) sẽ đủ để tiếp sức cho đội ngũ công chức hành chính công. Và khi người làm hành chính công hiểu rằng, lương của họ là từ đóng góp của mọi lao động mà ra thì sự tôn trọng của họ trước thần dân sẽ phải tăng lên. Về phía người dân, dù chỉ đóng TTNCN ở mức tối thiểu, họ cũng cảm thấy “tự tin” hơn trước những nhân viên hành chính công.  Chẳng phải tự nhiên mà trên thế giới này, các nước phát triển như Mỹ, Anh hay Nhật luôn có được sự tôn trọng ở mặt bằng quốc tế. Bỏ đi những con ngáo ộp về vũ khí thì trong con mắt thế giới, họ là những người đóng thuế đặc biệt cao cho Liên Hiệp Quốc. Có thể suy ra rằng, trên bình diện quốc tế, dù là còn thu nhập thấp thì ta cũng nên “đóng thuế”, và việc ta đóng thuế sẽ làm cho ta bình đẳng hơn trong con mắt nhân loại và tự ta, chúng ta sẽ thấy chúng ta “đàng hoàng hơn”, tự tin hơn trong thời  WTO.  3) Thuế thu nhập cá nhân và vai trò chống tham nhũng.  Trên tinh thần gắn liền thu nhập cá nhân và thuế với việc phòng chống tham nhũng, chính phủ Singapore đã quyết định tăng lương gấp đôi cho cán bộ công chức cấp cao nhà nước. Tiêu chí của họ là nếu không tăng xứng đáng thì chính quyền Singapore có thể trở thành một chính phủ có sự len lỏi của tham nhũng như các quốc gia khác. (báo Lao động  thứ Bảy, 7.4.07/trang 6)  Trước khi nói về vấn đề này, xin kể thêm một câu chuyện về mua sắm đồ cá nhân tại Mỹ. Một anh bạn người Mỹ gốc Việt về Việt Nam làm ăn đầu tư từ hơn 15 năm nay. Cũng vì phần nhiều công việc của anh đang triển khai ở VN nên việc nộp TTNCN của anh này ở Mỹ chỉ ở mức bình bình. Thấy vợ chồng anh chỉ sử dụng xe ôtô cũ, tôi có thắc mắc tại sao anh chị đã có tuổi rồi, không mua lấy chiếc xe mới tinh kiểu như BMW hay Mercedes để đi cho an toàn. Câu trả lời của anh đã làm tôi suy nghĩ mãi: Ở xứ Mỹ này, khi đi đăng ký xe ôtô, người ta sẽ “xăm soi” xem anh đóng thuế thu nhập bao nhiêu? Nếu trong mã số thuế cá nhân, mức anh đóng chỉ đủ để mua xe Kia Hàn Quốc thì việc anh tậu một chiếc Mercedes sẽ ngay lập tức chứng tỏ rằng anh đang có “vấn đề” về TTNCN – Ít nhất, anh đã có những khoản thu nhập không chính đáng.  Như vậy, việc kiểm soát TTNCN đối với mọi đối tượng có thu nhập sẽ là một công cụ đặc biệt hiệu quả để chống tham nhũng.  4) Thuế thu nhập cá nhân-sự ràng buộc hai chiều với nhiều yếu tố tác động tích cực trong trách nhiệm của mỗi công dân với Quốc gia.  TTNCN đối với mọi đối tượng có thu nhập thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa Công dân và Nhà nước. Mối quan hệ này là kết quả của những điều chỉnh đặc thù giữa những người đóng TTNCN và chính phủ, song chính họ-lại được chính phủ hoàn trả lại trong những điều kiện cụ thể về như sức khỏe, cũng như số lượng nhân khẩu ăn theo thu nhập và sau nữa là một lương hưu đủ cho cuộc sống, một khi đã có thời gian đủ dài đóng thuế cho nhà nước…  Như vậy, một xã hội có điều chỉnh chi tiết về TTNCN không chỉ là một xã hội công bằng mà còn thể hiện được tính nhân văn cao. Một cách tự nhiên, đó sẽ là một xã hội có tính ràng buộc hữu cơ giữa Nhà nước và mỗi Công dân một cách mật thiết.  5) Cải cách hành chính và việc hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến thuế, trong đó có TTNCN.  Để có thể gắn việc thu mọi loại thuế với cải cách hành chính thì không phải chỉ có thay đổi từ tư tưởng mà sự thay đổi đó chỉ có thể làm được khi có sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin mang tính quốc gia: Mã số TTNCN gắn liền với thẻ thông tin về thuế. Thậm chí thẻ có thể thay thế chứng minh thư nhân dân (CMT ND).  Nếu mọi người dân đóng thuế đều có thẻ Thuế, đương nhiên, bảo hiểm y tế sẽ nằm ở trong thẻ này. Một cách tự nhiên, việc cần có một thẻ thuế  điện tử sẽ kéo theo  một cuộc cách mạng tin học trong cải cách hành chính, ít nhất là: CMT ND-Thẻ thuế cá nhân và thẻ bảo hiểm y tế.  Mã vạch điện tử đã không còn xa lạ với người dân trong siêu thị, chỉ một tiếng “bíp” đơn giản là hàng đã được thanh toán, điều đó cũng có nghĩa rằng sau tiếng “bíp” đó, thuế cũng đã được tính cho nhà nước. Suy rộng ra, mỗi một cá nhân cũng cần có một cơ chế “mã vạch” để theo dõi việc nộp thuế thu nhập. Như đã biết, có một vài công ty nhà nước đang sản xuất chíp điện tử cho các nhà khai thác viễn thông. Đối với họ, việc lập trình để biến các con chíp này thêm chức năng CMT ND cũng như có thể gộp cả mã thuế thu nhập, thậm chí cả bằng lái xe trong một tấm thẻ là điều không phải quá khó.  ***  Rõ ràng, một chính sách TTNCN hợp lý sẽ như một công cụ hữu hiệu không chỉ làm cho người dân yêu nước hơn mà còn là một liệu pháp giúp cho xã hội phát triển lành mạnh hơn, thể  hiện tính công bằng và nhân văn của xã hội đó một cách tích cực và thiết thực nhất.  Phạm Côn      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thung lũng Silicon” thời cổ đại      Rất lâu trước khi Thung lũng Silicon ra đời, các học giả ở Iraq cổ đại đã tạo ra một trung tâm tri thức khuyến khích đổi mới sáng tạo       Những hình vẽ của Al-Khwarizmi trong cuốn sách Kitab Surat-al-ard (thế kỷ 11) được xem là bản đồ sớm nhất về sông Nile. Ảnh: Wiki Commons  Từ trước đến nay, hợp tác vẫn được xem là động lực chính giúp thúc đẩy đổi mới trong khoa học và công nghệ, Theo đó, một số tiến bộ khoa học quan trọng nhất đã ra đời từ các trung tâm tri thức. Ngày nay, khi nhắc đến một trung tâm tập trung nhiều tổ chức, khuyến khích sự hợp tác, mọi người thường nghĩ ngay đến Thung lũng Silicon. Song đây không phải là nơi đầu tiên hiện thực hoá ý tưởng này, đã có rất nhiều trung tâm ra đời mở đường cho nó, trong đó có thể kể đến Baghdad, Iraq, trong Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo vào thế kỷ Hồi giáo thứ tư (thế kỷ thứ mười sau Công nguyên).  Vào khoảng thời gian này, khi Châu u đang trải qua “Thời kỳ đen tối”, Ngôi nhà của Trí tuệ (Bayt-al Hikmah) đã ra đời. Chính tại đây, nhiều tác phẩm vĩ đại của Ba Tư, Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp đã được thu thập và dịch sang tiếng Ả Rập, bao gồm cả các tác phẩm của Aristotle và Euclid.  Sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ đã tạo ra những di sản đổi mới lâu dài trong các lĩnh vực bao gồm đại số, địa lý, thiên văn học, y học và kỹ thuật.  Máy móc tự động hoá  Tồn tại trong khoảng ba thế kỷ rưỡi, Ngôi nhà của Trí tuệ là nơi sinh sống của một số nhà tư tưởng đại tài. Trong số này có anh em Banu Musa – ba học giả người Ba Tư sống ở Baghdad vào thế kỷ thứ 9, mỗi người lại có một chuyên môn riêng: một người là nhà toán học, một người là nhà thiên văn học và một người là kỹ sư.  Họ đã dịch các tác phẩm từ các ngôn ngữ khác sang tiếng Ả Rập, hỗ trợ cho các dịch giả khác và đầu tư tiền để mua các bản thảo quý hiếm. Họ cũng tham gia vào phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, thậm chí còn có tài năng về âm nhạc.  Nhưng đóng góp đáng chú ý nhất của họ là máy móc tự động, hay automata. Trong một công trình được xuất bản vào năm 850 sau Công nguyên, Cuốn sách về Các thiết bị Tài tình, hay còn được gọi là Cuốn sách về các Thủ thuật, họ đã mô tả những cỗ máy được xem là tiền thân của người máy hiện đại.  Những cỗ máy tự động này bao gồm các nhạc cụ cơ học và một robot tự thổi sáo chạy bằng hơi nước. Teun Koetsier thuộc Đại học Vrije Amsterdam coi “nhạc công” cơ khí này là cỗ máy lập trình đầu tiên trên thế giới .  Những nhà bác học thiên tài  Một học giả khác sống trong Ngôi nhà của Trí tuệ vào thời điểm đó là Mohammad ibn Musa al-Khwarizmi, cái tên của ông đã truyền cảm hứng cho một thuật ngữ mà ngày nay chúng ta thường sử dụng: “thuật toán” (algorithm).  Trên thực tế, thuật ngữ “đại số” (algebra) cũng bắt nguồn từ tiêu đề một trong những cuốn sách của ông – Kitab fi al-Jabr wa al-Muqabala – Cẩm nang về tính toán bằng phép hoàn thể và cân bằng.  Đây là một trong (nếu không muốn nói là) ấn phẩm đầu tiên trên thế giới đề cập đến các quy tắc đại số. Ông cũng có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực địa lý và thiên văn học. Al-Khwarizmi đã hợp tác với al-Kindi, còn được biết đến với cái tên Latinh là Alkindus.  Al-Kindi là một nhà bác học người Abbasid. Ông là công dân của Đế chế Abbasid, đế chế trải dài khắp khu vực nói tiếng Ả Rập từ Pakistan đến Tunisia ngày nay, và từ Biển Đen đến Ấn Độ Dương. Ông là một nhà toán học, sinh viên khoa phân tích mật mã và là người tiên phong trong lý thuyết âm nhạc, người đã kết hợp triết học Aristotle với thần học Hồi giáo.  Al-Kindi được ghi nhận là người đã giới thiệu các chữ số Ấn Độ cho những đồng nghiệp của mình cộng đồng nói tiếng Ả Rập. Cùng với al-Khwarizmi, ông đã phát triển các chữ số Ả Rập mà tất cả chúng ta sử dụng ngày nay (tức là các số 0-9).  Ông cũng là tác giả của cuốn sách lâu đời nhất từng được biết đến về phân tích mật mã và sử dụng suy luận thống kê (một loại phân tích dữ liệu). Nhà thống kê Lyle Broemeling mô tả đây là một trong những ví dụ sớm nhất của cả hai phương pháp này .  Thư viện cá nhân của Al-Kindi đồ sộ đến mức có vẻ như đã khơi dậy trong lòng anh em nhà Banu Musa sự ghen tị, khiến họ âm mưu gây sự với ông ấy, đuổi ông khỏi Ngôi nhà của Trí tuệ, và thư viện của ông bị tịch thu, trở thành tài sản của họ.  Biến mất không dấu vết  Sau nhiều thế kỷ “nuôi dưỡng” sự thông thái và phát triển khoa học kỹ thuật, Ngôi nhà của Trí tuệ đã bị quân Mông Cổ phá hủy trong Cuộc vây hãm Baghdad năm 1258 – mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.    Bức tranh của nhà sử học Ba Tư Rashid-al-Din Hamadani mô tả cuộc bao vây Baghdad năm 1258 của người Mông Cổ. Người dẫn đầu đoàn quân Mông Cổ là Húc Liệt Ngột – cháu trai của Thành Cát Tư Hãn. Ảnh: Thư viện quốc gia Pháp.   Việc không có bằng chứng khảo cổ học nào được ghi nhận đã khiến một số học giả nghi ngờ về sự tồn tại của nó. Một số người cho rằng Ngôi nhà của Trí tuệ không tồn tại dưới dạng một địa điểm hữu hình, mà tồn tại dưới dạng một trạng thái tinh thần.  Trong cuốn sách Tư tưởng Hy Lạp, Văn hóa Ả Rập, Dimitri Gutas gợi ý rằng Ngôi nhà của Trí tuệ khả năng cao là đã được lãng mạn hóa thành một “kho lưu trữ quốc gia lý tưởng”. Nhưng chuyên gia Nghiên cứu Hồi giáo Hossain Kamaly cho rằng quan điểm này không thuyết phục.  Tuy nhiên, chính Gutas cũng đồng ý rằng từ năm 800 đến năm 1000 sau Công nguyên, đã có một phong trào dịch thuật quy mô lớn ở Trung Đông, từ đó rất nhiều bản dịch đầy đủ và có hệ thống các tác phẩm phi văn học của Hy Lạp sang tiếng Ả Rập đã ra đời. Các dịch giả được đánh giá cao. Uy tín xã hội của họ và của cả giới thượng lưu đã giúp tài trợ cho các hoạt động dịch thuật cũng tăng lên.  Nhà truyền thông khoa học nổi tiếng và cũng là nhà vật lý lý thuyết Jim al-Khalili đã khái lược trong cuốn sách Người tìm đường của ông:  [Đ]ây thực sự là Ngôi nhà của Trí tuệ […] đã mở rộng đáng kể phạm vi từ một thư viện cung điện đơn thuần […] để rồi trở thành một trung tâm học thuật khoa học nguyên bản.  Nói cách khác, Ngôi nhà của Trí tuệ có thể là một không gian nhỏ, nhưng là một không gian giao thoa những kiến thức liên ngành trong một môi trường đa dạng và năng động. Nó đã để lại những di sản giá trị cho khoa học hiện đại.  Các học giả thường nhận hỗ trợ tài chính từ các caliph khác nhau – những nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo của các quốc gia Hồi giáo. Nói cách khác, các học giả chỉ tập trung nhận “học bổng” thay vì xin tài trợ. Ngoài ra, tất cả các cách thức học hỏi để thu nhận kiến ​​thức đều được tôn trọng, khen thưởng và khuyến khích như nhau, điều này dẫn đến sự ổn định và thịnh vượng xã hội.  Mặc dù còn nhiều điều chúng ta chưa biết về Ngôi nhà của Trí tuệ, nhưng chúng ta vẫn nhận ra rằng từ xưa đến nay, những ý tưởng phong phú thường xuất hiện trong một môi trường năng động, đa ngành. Điều này khiến chúng ta không khỏi thắc mắc: liệu có phải sự phân chia rạch ròi các ngành học như chúng ta thường làm – vốn cho rằng khoa học công nghệ và khoa học xã hội là hai lĩnh vực đối lập không liên quan đến nhau – đang kìm hãm sự đổi mới?  Anh Thư  tổng hợp  Nguồn:  Long before Silicon Valley, scholars in ancient Iraq created an intellectual hub that revolutionised science  Bayt al-Ḥikmah    Author                .        
__label__tiasang Thùng rác thông minh của sinh viên đã được đặt hàng      Dù hình thức chưa mấy bắt mắt nhưng sản phẩm thùng rác thông minh biết phát âm thanh và tín hiệu “Xin cho tôi rác” của sinh viên năm thứ hai trường Cao đẳng nghề Công nghệ Hà Tĩnh, Trần Đình Yên đã nhận được đơn đặt hàng đầu tiên của Sở GD&amp;ĐT tỉnh Hà Tĩnh.     Xuất phát từ thực tế nhiều người vứt rác bừa bãi nơi công cộng, trường học, bệnh viện, sinh viên khoa Điện Trần Đình Yên đã nảy ra ý tưởng chế tạo thùng rác thông minh có thể phát tiếng nói và tín hiệu dèn để nhắc nhở mọi người vất rác đúng chỗ. Được sự khuyến khích và hướng dẫn từ các thầy giáo và bạn bè, Yên đã gắn một hệ thống bảng mạch gồm nhiều con chíp dùng lên một thùng nhựa, hệ thống này được gắn với nguồn điện ắc quy để có thể thực hiện các lệnh đã cài đặt sẵn. Cứ khoảng 15 giây, thùng rác lại phát ra âm thanh “Cám ơn mọi người đã cho tôi rác”, và cứ 15 phút nếu không có ai bỏ rác vào thùng sẽ là “Vì môi trường xanh, sạch đẹp, xin quý khách hãy bỏ rác vào đúng nơi quy định”. Ngoài ra để gây chú ý, thùng rác còn được gắn dòng chữ đèn led “Xin cho tôi rác”.  Ngay khi xuất hiện tại cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật thanh thiếu niên tỉnh Hà Tĩnh giữa năm 2014, sản phẩm của Yên đã thu hút sự chú ý và giành được giải nhất, đồng thời được chọn tham dự cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc 2014-2015. Thậm chí, đơn đặt hàng đầu tiên đã tới từ Sở GD&ĐT Hà Tĩnh với mục tiêu sử dụng tại các trường tiểu học và mầm non của tỉnh.   Tuy nhiên để thùng rác thông minh thật sự hoàn thiện và tiện ích, Yên cho biết cần phải đầu tư thêm kinh phí thiết kế mẫu mã sản phẩm, giảm chi phí nguyên liệu… Bên cạnh đó, Yên còn ấp ủ ý định nâng cấp thùng rác thông minh, tạo bộ khử mùi, có khả năng phân loại rác, thậm chí có thể sử dụng nguồn năng lượng mặt trời thay cho điện ắc quy.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc điều trị corona Molnupiravir làm giảm rõ rệt các ca bệnh nặng      Thuốc Molnupiravir của hãng dược phẩm Merck & Co. có tiềm năng làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh Covid-19 nghiêm trọng hoặc thậm chí tử vong. Số trường hợp nằm viện và tử vong đã giảm khoảng 50%. Theo nhà sản xuất, đây là kết quả tạm thời của một nghiên cứu lâm sàng. Hiện tại, dữ liệu vẫn chưa được công bố chính thức và chưa được thẩm định độc lập.      Không có ca tử vong, số bệnh nhân nhập viện ít hơn  775 người từ các quốc gia khác nhau đã tham gia nghiên cứu lâm sàng này. Họ là những người mắc Covid-19 thể nhẹ hoặc trung bình và được điều trị bằng  Molnupiravir không muộn hơn năm ngày kể từ khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên. Theo nhà sản xuất, tất cả bệnh nhân đều có ít nhất một yếu tố nguy cơ liên quan đến tiến triển bệnh, ví dụ như thừa cân hoặc tất cả đều là những người cao tuổi.  Theo kết quả ban đầu, khoảng 7% những người được điều trị bằng Molnupiravir phải nhập viện sau 30 ngày còn trong nhóm dùng giả dược thì tỷ lệ này là 14%, tức là gấp đôi. Không có trường hợp tử vong nào trong nhóm dùng Molnupiravir, trong khi tám trong số những bệnh nhân dùng giả dược đã chết. Tuy nhiên, công ty vẫn chưa cung cấp bất kỳ thông tin nào về tác dụng phụ của phương pháp điều trị với chế phẩm này.  Theo một nhóm chuyên gia y tế độc lập theo dõi nghiên cứu, có thể dừng nghiên cứu sớm hơn vì kết quả tạm thời quá thuyết phục.  Theo thông tin của nhà sản xuất, Merck đang lên kế hoạch cùng với công ty Ridgeback Biotherapeutics để xin phê duyệt khẩn cấp cho loại thuốc này ở Mỹ càng sớm càng tốt nhưng hiện chưa rõ thời gian để thuốc được FDA của Mỹ kiểm nghiệm và thông qua là bao nhiêu lâu.  Về năng lực sản xuất, công ty cho biết, đến cuối năm 2021, có thể sản xuất 10 triệu đơn vị điều trị. Chính phủ Mỹ cam kết mua 1,7 triệu liều thuốc sau khi được FDA chấp thuận.  Molnupiravir sẽ là thuốc uống chống Covid đầu tiên  Giám đốc điều hành của Ridgeback, Wendy Holman, cho biết “Các phương pháp điều trị kháng virus có thể được thực hiện tại nhà không phải đến bệnh viện“.  Theo nhà sản xuất, thuốc có hiệu quả chống lại tất cả các biến thể đã biết trước đây của coronavirus. Nếu được chấp thuận, Molnupiravir sẽ là thuốc uống chống  Covid-19 đầu tiên. Viên thuốc của Merck điều trị bằng cách can thiệp vào một loại enzyme mà coronavirus sử dụng để sao chép mã di truyền của nó để sinh sản. Một hiệu ứng tương tự cũng đã được chứng minh với các loại virus khác.  Không có tác dụng với những người đã bị bệnh nặng.   Theo Merck, loại thuốc này hiện cũng đang được thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba về ngăn ngừa lây nhiễm coronavirus đối với những người tiếp xúc với virus. Dẫu vậy thì các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy loại thuốc này không giúp ích cho những bệnh nhân đã nhập viện vì bệnh nặng.  Một số công ty khác, bao gồm Pfizer và Roche, đang nghiên cứu để điều chế các loại thuốc tương tự và có thể có kết quả trong những tuần và tháng tới.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/medizin/molnupiravir-was-kann-die-pille-gegen-covid-19-a-3800398f-10dc-4790-bc07-84e1d9cc13ad  https://www.vox.com/22704265/merck-covid-19-antiviral-pill-molnupiravir-treatment-drug    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc hạ huyết áp có thể làm chậm quá trình lão hóa      Nghiên cứu cho thấy thuốc hạ huyết áp có hoạt chất rilemidine không chỉ giúp hạ huyết áp mà còn có thể làm chậm quá trình lão hóa.     Hầu hết mọi người đều muốn ngăn chặn quá trình lão hóa, giữ dáng vóc và sức khỏe lâu dài. Để đạt được mục tiêu này, điều quan trọng là phải có lối sống lành mạnh. Bởi vì hiện nay vẫn chưa có thuốc chống lại tuổi già, dù chủ đề này đã được giới nghiên cứu khoa học quan tâm từ lâu.  Rilemidine có thể được coi là bước tiến đầu tiên về vấn đề này. Các nhà nghiên cứu ở các trường Đại học Liverpool, Đại học Harvard và Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ (ETH Zurich) đã có một phát hiện mang tính đột phá: Thuốc hạ huyết áp chứa hoạt chất rilmenidine dường như không chỉ có tác dụng tích cực đối với huyết áp mà còn làm chậm quá trình lão hóa.    Rilemidine là một chất hạ huyết áp thường được sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị bệnh tăng huyết áp từ nhẹ đến trung bình. Nó liên kết với một số thụ thể, làm giảm hoạt động của hệ thống thần kinh giao cảm – hệ thống đảm bảo tim đập nhanh hơn trong các tình huống căng thẳng và khẩn cấp. Nhưng hoạt chất này có thể làm được nhiều điều hơn thế.  Theo một nghiên cứu chống lão hóa mới được công bố trên Aging Cell, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm chất này trên giun đũa thuộc chi Caenorhabditis elegans. Họ phát hiện rilemidine giúp tăng tuổi thọ của cả giun non lẫn giun già khoảng 33%.  Kết quả thử nghiệm cho thấy rilemidine còn một số tính ưu việt khác như trì hoãn sự suy yếu, cũng như quá trình lão hóa của tế bào. Quá trình này do thụ thể I1-imidazoline nish-1gây ra, là vị trí gắn kết mà thành phần hoạt chất gắn vào để kiểm soát các quá trình trong tế bào. Vì con người cũng có thụ thể này nên các nhà nghiên cứu cho rằng rất có thể rilmenidine cũng có tác dụng chống lão hóa ở người.  Tuy nhiên, đây mới là kết quả nghiên cứu sơ bộ, cần phải tiến hành những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Cho dù loại thuốc này không phải là một viên thuốc thần kỳ có thể ngăn chặn quá trình lão hóa, các nhà nghiên cứu vẫn thấy rất nhiều tiềm năng trong đó: “Với tình trạng già hóa dân số trên toàn cầu, lợi ích của việc trì hoãn quá trình lão hóa, dù chỉ rất ít, cũng có ý nghĩa to lớn”, theo João Pedro Magalhães ở Đại học Liverpool, người phụ trách nghiên cứu này.  “Câu hỏi quan trọng là liệu thuốc có hiệu quả như các biện pháp can thiệp đến lối sống, chẳng hạn như chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục”, Joris Deelen, trưởng nhóm nghiên cứu tại Viện Sinh học Lão hóa Max Planck đặt vấn đề.  Các nhà khoa học cho rằng chế độ ăn ít calo trong thời gian dài vẫn được coi là biện pháp tốt nhất để kéo dài tuổi thọ. Nếu bạn muốn giữ dáng vóc và duy trì sức khỏe, nên chú ý các điểm sau:  1. Ngủ đủ giấc: Khi ngủ, cơ thể tái tạo và hệ thống miễn dịch hoạt động hết tốc lực. Ngay cả khi nhu cầu ngủ của mỗi người là khác nhau, thì mọi người vẫn nên ngủ từ sáu đến tám tiếng.  2. Chế độ ăn uống: Nhiều rau tươi, chất béo lành mạnh như dầu ô liu hoặc hạt lanh, cũng như cá và thịt gà nạc, một chế độ ăn uống lành mạnh, bổ dưỡng và giảm calo giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tuổi tác. Nên tránh quá nhiều đường, muối và chất béo xấu. Điều quan trọng là không ăn quá nhiều calo.  3. Tập thể dục: Tập thể dục trong không khí trong lành hàng ngày và ít nhất hai đến ba môn thể thao mỗi tuần là điều quan trọng để duy trì sức khỏe tốt. Bơi lội, đi bộ và đi xe đạp đặc biệt tốt cho sức khỏe.  4. Các mối quan hệ xã hội: Một môi trường xã hội ổn định ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Bởi vì những người duy trì tình bạn và các mối quan hệ xã hội, có thể trao đổi ý kiến với người khác sẽ hạnh phúc hơn và ít cảm thấy cô đơn hơn.  5. Căng thẳng: Mức độ căng thẳng cao sẽ gây hại cho cơ thể và tâm trí, đồng thời đẩy nhanh quá trình lão hóa. Các bài tập thư giãn và hít thở như yoga và pilates, cũng như tập thể dục sẽ giúp giảm căng thẳng.  6. Rượu và nicotin: Hút thuốc và uống nhiều rượu sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bất kỳ ai – làm gia tăng nguy cơ mắc các loại bệnh tật. Thỉnh thoảng uống một ly rượu vang đỏ có thể mang lại tác dụng tích cực.  Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.focus.de/gesundheit/news/verlangsamt-den-alternungsprozess- forscher-entdecken-verblueffende-nebenwirkung-von- blutdrucksenker_id_185094992.html    Author                .        
__label__tiasang Thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ tam thất, nghệ và bèo hoa dâu      Từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, “Chiết xuất hoạt chất từ tam thất và bào chế cao khô bằng phương pháp phun sấy tầng sôi” (dự án KC.10.DA.01-11/15), Học viện Quân y đã bào chế và sản xuất ra thuốc hỗ trợ điều trị ung thư dưới dạng viên ngang Utaka.     Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu dài lâu, kết hợp nhiều nghiên cứu trên các loại thảo dược cổ truyền.   Câu chuyện bắt đầu từ năm 1982, các nhà nghiên cứu của Học viện Quân y đã tìm ra hoạt chất Phylamin chiết xuất từ bèo hoa dâu (Azolla microphylla). Qua công trình nghiên cứu điều trị trực tiếp bằng Phylamin trong vòng tám năm (từ năm 1990 đến năm 1998) trên bệnh nhân ung thư (ung thư vú, vòm họng, hạch và một số loại ung thư khác) tại Khoa U bướu, bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội, Viện Quân Y 103, phylamin đã được phát hiện có khả năng hạn chế sự phát triển của khối u, tăng cường khả năng miễn dịch góp phần tích cực trong điều trị ung thư, hạn chế tái phát và di căn trong điều trị, hạn chế ảnh hưởng thứ phát của tia xạ trong điều trị ung thư (hạn chế tác dụng có hại của tia xạ trong điều trị ung thư), không thấy biểu hiện tác dụng độc hại và tác dụng thứ phát do dùng phylamin gây ra.   Trong khi đó, nhiều nghiên cứu y học trên thế giới đã phát hiện ra chất curcumin trong tinh chất nghệ có tác dụng kìm hãm tế bào ung thư ở cả ba giai đoạn khởi phát, tiến triển và giai đoạn cuối và không gây ảnh hưởng đến tế bào lành tính, ngăn ngừa sự hình thành tế bào ung thư mới, tác dụng loại bỏ các men, gốc tự do gây ung thư, giúp cơ thể vừa phòng ngừa và chống ung thư tích cực.   Với cây tam thất, nhiều công trình nghiên cứu đã chi ra khả năng làm giảm sinh khối u, giảm tốc độ phát triển của khối u, hạn chế sự di căn của tế bào ung thư. Ngoài ra tam thất còn được dùng với tác dụng bổ dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch.   Vì vậy, các nhà nghiên cứu của Học viện Quân ý đã kết hợp ba loại dược liệu cổ truyền bèo hoa dâu, nghệ và tam thất. Sau khi được sơ chế, các hoạt chất từ dược liệu này đã được tách chiết bằng phương pháp phun sấy tầng sôi, phương pháp từng đem lại thành công cho Học viện Quân y khi thực hiện công trình nghiên cứu về tỏi đen trước đây.   Sau khi tách chiết thành công, hoạt chất mà các nhà nghiên cứu thu được có khả năng hạn chế sự hình thành và phát triển của tế bào u bướu, giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể, ngăn ngừa bệnh tật đối với các đối tượng như bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư, sau phẫu thuật khối u, đang điều trị ung thư bằng tia xạ, hóa chất cũng như đối tượng có nhiều nguy cơ mắc bệnh do thường xuyên tiếp xúc với môi trường độc hại, người mắc bệnh mạn tính, người cao tuổi sức đề kháng thấp. Người bệnh có thể dùng lâu dài mà không phải e ngại tác dụng phụ như nhiều loại thuốc hỗ trợ điều trị khác.   Dựa trên kết quả nghiên cứu dự án KC.10.DA.01-11/15, Học viện Quân y đã bào chế và sản xuất ra viên nang Ukata. Đây sẽ là cơ hội để người tiêu dùng Việt được sử dụng loại thuốc hỗ trợ điều trị ung thư “made in Việt Nam” giá rẻ, hiệu quả và không độc hại.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc kháng viêm Dexamethasone giúp giảm 1/3 nguy cơ tử vong ở những ca Covid-19 nặng      Dexamethasone, một loại thuốc chống viêm steroid rẻ tiền và thông dụng có thể cứu sống những người bị nhiễm Covid-19 nặng, theo một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng ở Anh. Đây là loại thuốc đầu tiên được chứng minh có thể làm giảm khoảng 1/3 tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân đang thở máy vì nhiễm Covid-19.      Steroid dexamethasone đã điều trị cho hàng ngàn người bị nhiễm coronavirus nặng trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng. Ảnh: Dr P. Marazzi/Science Photo Library  “Đây là một kết quả đáng kinh ngạc”, Kenneth Baillie, bác sĩ điều trị chuyên sâu tại ĐH Edinburgh, Vương quốc Anh, cũng trong ban chỉ đạo của thử nghiệm lâm sàng – có tên là RECOVERY này nói. “Rõ ràng sẽ có một tác động toàn cầu lớn”.   Thử nghiệm RECOVERY được triển khai vào tháng 3 và là một trong những thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng lớn nhất trên thế giới về điều trị coronavirus. Nghiên cứu đã thực hiện trên 2.100 người sử dụng dexamethasone với liều thấp hoặc trung bình khoảng sáu miligam mỗi ngày trong mười ngày, và so sánh với khoảng 4.300 người điều trị Covid-19 nhưng không được điều trị bằng thuốc này.  Tác dụng nổi bật của dexamethasone là giảm 1/3 tỷ lệ tử vong trên những bệnh nhân sử dụng máy thở. Con số này đối với người đang thở oxy nhưng không phải thở máy là 1/5. Thuốc không tạo sự khác biệt có ý nghĩa giữa những người bị Covid-19 nhẹ không phải thở máy hoặc thở oxy.   “Đây là một bước đột phát lớn. Bởi vì trước đó vẫn còn tranh cãi về việc sử dụng steroid để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp do virus như Covid-19. Dữ liệu từ các thử nghiệm steroid trong dịch do coronaviurs khác gây ra như SARS và MERS không thuyết phục”, Peter Horby, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Oxford, Anh, và là một nhà nghiên cứu chính trong thử nghiệm cho biết. Hướng dẫn điều trị từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều quốc gia đã cảnh báo không nên điều trị cho những người bị nhiễm coronavirus bằng steroid. Một số nhà nghiên cứu còn lo ngại về các báo cáo điều trị steroid phổ rộng. Các loại thuốc ức chế hệ thống miễn dịch như thế này có thể đem lại một số tác dụng tích cực lên những bệnh nhân bị tàn phá phổi, do đôi khi phản ứng miễn dịch hoạt động quá mức ở những trường hợp nặng của Covid-19. Nhưng những bệnh nhân lại vẫn có thể cần một hệ thống miễn dịch hoạt động đầy đủ để tự chống lại virus.  Và thử nghiệm RECOVERY cho thấy rằng: Ở liều thử nghiệm, lợi ích của việc điều trị steroid có thể lớn hơn tác hại tiềm tàng. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc không gây ra có tác dụng phụ nổi bật nào. Vì thuốc này rất phổ biến cũng và có giá thành rất thấp nên “Có thể dùng được cho rất nhiều người”, Horby nói.  “Tìm ra được các cách điều trị hiệu quả như thế này sẽ làm thay đổi tác động của đại dịch Covid-19 đối với cuộc sống và nền kinh tế trên toàn thế giới”, Nick Cammack, người đứng đầu chương trình Covid-19 Therapeutics Accelerator tại Tổ chức từ thiện nghiên cứu y sinh học Wellcome ở Anh, London tuyên bố. “Mặc dù nghiên cứu này cho thấy dexamethasone chỉ mang lại lợi ích cho những trường hợp nghiêm trọng, nhưng nó sẽ cứu vô số sinh mạng trên toàn cầu”.  Trước dexamethasone, loại thuốc duy nhất được chứng minh là có tác dụng cho bệnh nhân Covid-19 trong một thử nghiệm lâm sàng lớn ngẫu nhiên có kiểm soát là thuốc remdesivir . Mặc dù remdesivir đã được chứng minh là rút ngắn thời gian bệnh nhân có thể cần phải nằm viện, nhưng nó không có tác dụng đáng kể về mặt thống kê đối với các trường hợp tử vong.  Remdesivir cũng đang không đáp ứng đủ nhu cầu. Mặc dù nhà sản xuất thuốc – Gilead Science thuộc Foster City, California – đã thực hiện các bước để đẩy mạnh sản xuất remdesivir, nhưng hiện tại nó chỉ có sẵn cho một số bệnh viện hạn chế trên toàn thế giới. Và remdesivir rất phức tạp để quản lý và sử dụng: nó phải được dùng bằng cách tiêm trong một liệu trình khoảng vài ngày.  Ngược lại, Dexamethasone là một mặt hàng y tế có rất nhiều ở các kệ dược phẩm trên toàn thế giới và có sẵn dưới dạng viên. Đó là một ích lợi đặc biệt trong bối cảnh coronavirus tiếp tục gia tăng ở các quốc gia đang gặp hạn chế ở vấn đề chăm sóc sức khỏe. “Chỉ với giá dưới 50 bảng Anh, bạn có thể điều trị cho 8 bệnh nhân”, Martin Landray, một nhà dịch tễ học tại Đại học Oxford, và một nhà nghiên cứu chính khác trong thử nghiệm RECOVERY.  Đức Phát lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-01824-5?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc xịt mũi chống virus corona từ sữa non của bò      Thuốc xịt mũi chống Corona bằng kháng thể đầu tiên đã xuất hiện trên thị trường. Loại thuốc mới này hoạt động như thế nào?      Không chỉ là cửa ngõ đầu tiên mà virus corona phải vượt qua nếu muốn vào cơ thể con người, chất nhầy ở mũi cũng là tuyến phòng thủ đầu tiên của con người. Quan trọng là vậy nhưng hiệu lực của tuyến này tùy thuộc vào từng con người. Do đó, còn gì tốt hơn là tạo ra những giải pháp hỗ trợ cơ thể chống lại virus Sars-CoV-2 ngay tại tuyến đầu này.  Tháng 3/2021 hãng dược phẩm Sanotize của Israel thông báo về một loại thuốc xịt mũi có thể diệt 99,9% hạt virus corona bằng hoạt  chất là nitơmonoxid (NO). Sau khi kết thức giai đoạn nghiên cứu lâm sàng thứ 2 thì Nons (Nitric Oxide Nasal Spray) được bày bán rộng rãi ở Israel từ ngày  8/7/2021.  Không riêng gì Israel mà nhiều nơi khác theo đuổi ý tưởng này với mục đích diệt  corona virus ngay tại cửa ngõ của cơ thể bằng một loại kháng thể đặc hiệu. Rốt cuộc, đó là ý tưởng cơ bản sau tiêm vaccine chống  Covid-19 – dù là loại vakzin vector cổ điển hay vaccine- mRNA hiện đại. Những người khỏi bệnh Covid-19 thì trong máu của họ đều có kháng thể có tác dụng chống lại nguy cơ tái lây nhiễm. Ngay cả trong điều tri bệnh nhân Covid-19  người ta cũng dùng kháng thể-corona.  Điển hình là trường hợp điều trị cho cựu tổng thống Mỹ Donald Trump, từng là bệnh nhân Covid-19.  Nhưng liệu có thể sử dụng kháng thể để phòng ngừa bằng cách xịt chúng vào màng nhầy của  thuốc xịt mũi và chống lại virus ngay trên tuyến đầu? Các nhà khoa học tại công ty công nghệ sinh học Eureka Therapeutics ở California đang theo đuổi ý tưởng này. Họ đã phát triển các kháng thể của con người chống lại protein đột biến của virus corona và đã chứng minh hiệu quả của chúng trong các thí nghiệm trên động vật. Theo tiết lộ của họ, các kháng thể, được sử dụng một lần bằng cách phun, sẽ bảo vệ chống lại hơn 20 biến thể vi rút khác nhau trong tối đa mười tiếng đồng hồ. Liệu ứng dụng trong thực tế có được như vậy không, điều này phải chứng minh qua thực nghiệm lâm sàng. Đây là điều kiện tiên quyết để có được sự chấp thuận của Cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đối với loại thuốc xịt mũi chống corona Invisimask này. Liều dùng trong một ngày hết khoảng 1 đôla Mỹ.  Tuy nhiên hiện vẫn còn chưa biết khi nào sản phẩm này sẽ được bán trên thị trường Hoa Kỳ.  Tại Estonia, loại thuốc xịt mũi đầu tiên trên thế giới chứa kháng thể corona đã có mặt trên thị trường từ tháng năm. Có một lý do cho sự nhanh chóng này: Bioblock thực chất không phải là một chế phẩm y tế, không phải là thuốc mà là một một sản phẩm tự nhiên. Do đó, loại thuốc xịt không phải tuân thủ các quy định xét duyệt  nghiêm ngặt như đối với  các loại dược phẩm.  Kháng thể được lấy từ một loại sữa đặc ở tuyến vú sữa bò được tạo ra trong những ngày đầu tiên sau khi bò mang thai. Các nhà nghiên cứu từ công ty Icosagen ở Tartu đã tiêm vào bò cái loại protein gai của virus corona, loại protein này kích thích con vật tạo ra các kháng thể tương ứng.  Trước đó, các nhà khoa học tạo ra các phân tử DNA đặc biệt trong phòng thí nghiệm rồi thu protein để tiêm cho bò.  Joachim Gerhold, phụ trách Phòng thí nghiệm Phát triển Miễn dịch tại Icosagen, giải thích: “Số lượng sữa đầu tiên, còn được gọi là sữa non (Kolostrum), chứa loại  kháng thể này với nồng độ đặc biệt cao. Cho đến nay, chỉ cần sử dụng 5-6 quy trình vắt sữa đầu tiên sau khi bê con ra đời, nhưng lượng kháng thể thu được đủ để sản xuất 200.000 lọ xịt mũi. Gerhold cho biết thêm: “Cho đến nay chúng tôi đã thu được kháng thể từ sữa non của sáu con bò”.  Vì vậy, đây là kháng thể lấy từ bò chứ không phải kháng thể điều chế từ con  người. Gerhold giải thích, tuy nhiên “hiệu quả là tương đương, và vì vậy chúng tôi không muốn phải đầu tư chi phí quá cao cho việc sản xuất bò chuyển đổi gien. Vả lại nếu làm như thế sẽ phải vượt qua một loạt rào cản để thuốc được phê duyệt.  Cho đến nay, chưa có nghiên cứu lâm sàng chứng minh một cách khoa học về hiệu quả của thuốc xịt mũi kháng thể, nhưng các nhà nghiên cứu của Icosagen, trong hợp tác với các nhà khoa học của  Đại học Tartu và Đại học Khoa học Sự sống Estonia, dựa trên kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Ví dụ, họ đã cho lây nhiễm các tế bào thận khỉ trong đĩa petri bằng virus Sars-CoV-2 nhân tạo và sau đó bổ sung các kháng thể ở các nồng độ khác nhau. Các thí nghiệm được thực hiện với virus gốc và các biến thể alpha, beta, gamma, delta và kappa.  Các thí nghiệm cho thấy, 20 nanogram (phần tỷ gram) trên một mililit là đủ để tiêu diệt virrus. Vì miễn dịch tế bào cũng đóng một vai trò trong thiết kế thử nghiệm này, các nhà nghiên cứu cũng thử nghiệm với virus và kháng thể trong ống nghiệm và  xác định nồng độ 100 microgam (phần triệu gam) trên mỗi mililit kháng thể có thể  vô hiệu hóa virus. Điều này có nghĩa là các kháng thể ngăn chặn được  protein đột biến do đó virus không thể lây nhiễm sang các tế bào khác và không thể nhân lên được. Kết quả cho thấy, thuốc phát huy hiệu quả trong thời gian 4 tiếng đồng hồ.  Bioblock không phải là loại thuốc xịt mũi duy nhất hiện có trên thị trường có khả năng chống lây nhiễm virus corona. Các loại chế phẩm  xịt mũi giữ ẩm và chống viêm và thuốc hen suyễn như budesonide hoặc ciclesonide cũng được coi là có khả năng chặn  Sars-CoV-2.  Các nhà nghiên cứu Estonia nhận được sự trợ giúp của các chuyên gia y học phân tử tại Trung tâm Khoa học Y tế, Đại học Texas ở Houston. Tại đó, một nhóm nghiên cứu do giáo sư Zhiqiang An dẫn đầu đã sử dụng các kháng thể  chống virus Sars-CoV-2 ở chuột bằng cách xịt mũi. Trên tạp chí Nature, họ thông báo đạt được kết quả tốt với phương pháp này. Tuy nhiên, ở đây cũng còn thiếu các nghiên cứu lâm sàng. Công ty công nghệ sinh học IGM Biosciences của California đang triển khai thử nghiệm đối với người.  Một khi thuốc xịt mũi kháng thể được công nhận chính thức là có hiệu quả trong việc bảo vệ con người đối với virus corona thì điều này thực sự có ý nghĩa làm thay đổi cuộc chơi. Khi đó vấn đề  được đặt ra là cần ưu tiên cho loại chế phẩm diệt virus bằng phương pháp xịt mũi kháng thể này.  Được biết, thuốc xịt mũi kháng thể như Bioblock đều có thể sử dụng cả với người lớn cũng như trẻ em.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: Nasenspray gegen Corona-Infektion: Wirken Nasensprays gegen Sars-CoV-2-Viren? – WELT  https://www.swr.de/wissen/nasenspray-zur-abwehr-von-coronaviren-100.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu: Cuộc chiến sống còn      Chưa bao giờ  cộng đồng doanh nghiệp nước ta đối mặt với nhiều thử thách sinh tử như  lúc này. Cam chịu thất bại, cố trụ để tìm cơ hội hay đột phá để chiến  thắng, tất cả phụ thuộc vào năng lực sáng tạo trong cách làm thương  hiệu.    Chưa đánh đã thua     Tâm lý sợ thất bại, tự hài lòng với những gì mình đang có và mang sở đoản ra cạnh tranh với sở trường của đối thủ khiến phần lớn doanh nghiệp Việt Nam đuối sức     Theo bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (DN – BSA), cộng đồng DN Việt Nam đang phải trải qua giai đoạn có thể nói là khó khăn nhất kể từ khi đổi mới. Chín tháng đầu năm 2012, đã có hơn 40.000 DN rời khỏi thị trường; tính luôn cả năm 2011 thì số DN “chết” tương đương với số DN rời khỏi thị trường trong 20 năm trước đó. Trong 500.000 DN còn hoạt động, tỉ lệ thua lỗ cũng rất cao. Nhu cầu trụ vững của DN càng trở nên cấp thiết. Hiện DN Việt Nam đang phải chiến đấu trong điều kiện chưa bắt tay sản xuất đã thua kém đối thủ vì chi phí vốn (lãi suất ngân hàng) cao gần gấp 10 lần so với các công ty đa quốc gia.  Không chỉ khó cạnh tranh, việc giữ và phát triển thương hiệu Việt trước sự xâm lấn, thôn tính của các DN ngoại cũng hết sức khó khăn. Đã và đang có làn sóng biến động khá lớn về quyền sở hữu các thương hiệu Việt từng vang bóng một thời.  Tại hội thảo “Sáng tạo trong cuộc chiến thương trường – Làm sao châu chấu thắng voi?” trong khuôn khổ chương trình “Ngày hội sáng tạo vì khát vọng Việt” do Tập đoàn Trung Nguyên và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức ở TPHCM cuối tuần qua, ông  Hoàng Tùng, chuyên gia marketing, chỉ ra rằng: Bằng nhiều cách khác nhau, nhiều thương hiệu Việt đã thuộc sở hữu nước ngoài.     Mới đây nhất, Tập đoàn Uni-President đã nắm quyền kiểm soát hoàn toàn thương hiệu Tribeco; thương hiệu Phở 24 sau khi phát triển được hệ thống 60 cửa hàng ở Việt Nam và khoảng 20 cửa hàng tại châu Á, được tạp chí Forbes Asia đánh giá là có tốc độ mở rộng hệ thống nhanh hơn cả KFC, sau gần 10 năm ra đời nay đã thuộc về Tập đoàn Jollibee (Philippines). Hay như Công ty Giấy vệ sinh Diana, sau một thời gian dài được xem là biểu tượng đã đương đầu thành công với các thương hiệu đa quốc gia như KC, P&G, từng chiếm đến 30% thị phần tã giấy và 40% thị phần giấy vệ sinh, nay cũng đã thuộc quyền sở hữu của Tập đoàn Unicharm (Nhật Bản). Trước 3 thương vụ đình đám này, giới kinh doanh cũng đã chứng kiến sự “đổi chủ” của các thương hiệu lớn như X-Men, P/S, Dạ Lan…     Kinh tế mở cửa, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, rất nhiều DN đuối sức, cần đến sự hợp tác với nhà đầu tư ngoại thông qua các hình thức mua bán – sáp nhập, cổ đông chiến lược, chuyển nhượng cổ phần… và nguy cơ mất thương hiệu vào tay các nhà đầu tư là rất cao. Một số DN bị thâu tóm hoàn toàn hợp lý vì đầu tư đa ngành, dàn trải, không có sản phẩm cốt lõi. Nếu DN Việt không đủ năng lực cạnh tranh thì bị loại khỏi cuộc chơi là điều tất nhiên vì biên giới về mặt hành chính ngày càng lu mờ trong khi biên giới về kinh tế ngày càng mở rộng.        Theo GS Tôn Thất  Nguyễn Thiêm, kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các DN muốn lớn mạnh,  khẳng định thương hiệu thì trước hết phải sáng tạo nhu cầu chứ không  phải phục vụ nhu cầu. Điều này không có nghĩa là tạo ra một sản phẩm,  dịch vụ mới mà sản phẩm, dịch vụ đó phải biểu trưng cho một cái gì trong  cảm thức, cảm nhận của người tiêu dùng về cuộc sống.              Song song đó, sáng tạo mới phải xác định lãnh địa thương hiệu riêng của  mình, bản sắc thương hiệu. Xây dựng cứ địa khác nhau. Thời trang của  Chanel biểu trưng cho nữ quyền, Dior phục vụ nữ sắc, Yves St. Laurent  phục vụ nữ tính: thời trang thay đổi thường trực. Starbucks không chỉ  bán cà phê mà phục vụ sự ngừng nghỉ, không gian tĩnh lặng; Illy Coffee  bán hoài niệm (mùi hương cà phê). Không có bản sắc, không có lãnh địa  thương hiệu thì không phát triển được. Bằng chứng là ba năm nay,  Starbucks bỏ bản sắc riêng của mình, bán đủ món thì thương hiệu này bắt  đầu đi xuống.         Theo ông Hoàng Tùng, các DN Việt cạnh tranh không lại, bị mất thương hiệu là do chưa có sự chuẩn bị chu đáo, bị cuốn theo cuộc chơi của các DN nước ngoài mà không xác định được điểm mạnh – yếu của mình. Bên cạnh đó, sự ủng hộ của người tiêu dùng đối với thương hiệu Việt còn mờ nhạt. Người tiêu dùng trong nước vẫn có tâm lý sính ngoại bởi cho rằng hàng ngoại tốt hơn. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên, đánh giá nhiều DN Việt đã không nhận diện được cuộc chơi; tiếp cận và tìm kiếm sự ủng hộ của khách hàng bằng khuyến mãi giảm giá, lấy sở đoản của mình để đối phó với sở trường của các tập đoàn đa quốc gia, như vậy chẳng khác gì châu chấu đá voi, bởi xét trên tổng thể, DN Việt thua thiệt cả về hệ thống tài chính, kinh nghiệm quản trị, chất lượng nhân sự…  GS-TS Tôn Thất Nguyễn Thiêm, chuyên gia kinh tế cấp cao, cho rằng: Thương hiệu lớn, DN lớn không nhất thiết phải là mô hình tập đoàn. Ở Ý (nước xuất khẩu lớn thứ 2 châu Âu), 20% DN xuất khẩu là DN nhỏ có từ 10 – 49 nhân viên, 4% DN có dưới 9 nhân viên nhưng kinh doanh rất hiệu quả. Liên hệ tình hình Việt Nam, chỉ có sự sáng tạo, tìm ra những cánh cửa hẹp thông qua các mô hình tiếp cận và chiến lược khác thì mới có cơ hội chiến thắng.  Ngoài những nguyên nhân kể trên, theo ông Nguyễn Liên Phương, Giám đốc Viện Doanh nhân LP Việt Nam, DN Việt không thành công còn do tâm lý sợ thất bại, tự bằng lòng với những gì đang có. “Trong bối cảnh khó khăn, chúng ta nói rất nhiều đến các yếu tố bên ngoài doanh nhân và DN như tình hình quốc tế, sự méo mó của chính sách. Cùng chịu chung những tác động của tình hình kinh tế thế giới, trong khi Việt Nam tụt hạng về môi trường cạnh tranh thì Singapore vẫn giữ vị trí dẫn đầu. Doanh nhân từ Singapore và từ hàng trăm quốc gia khác đến Việt Nam tìm lợi nhuận, DN Việt ngược lại, ít dám xuất ngoại tìm cơ hội làm ăn”.  Châu chấu có thể thắng voi  Biết nuôi  dưỡng khát vọng và không ngừng sáng tạo, nhiều thương hiệu Việt đã đánh  bạt các đối thủ nước ngoài để khẳng định vị thế  Các thương hiệu lớn của nước ngoài hiện nay  cũng từng bắt đầu từ doanh nghiệp (DN) nhỏ. Ngay tại thị trường Việt  Nam, DN trong nước có lợi thế sân nhà, sử dụng nguồn nguyên liệu bản  địa, hiểu nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng nên nếu biết phát huy thì  hoàn toàn có thể chiến thắng.  Những cái tên như Vinamilk, Trung Nguyên, Minh Long, FPT, Viettel… đã và đang khẳng định vị thế của mình, vượt trên rất nhiều “ông lớn” nước ngoài trong cùng lĩnh vực từng có mặt tại Việt Nam. Hay như Mỹ Hảo, trải qua nhiều thăng trầm, thương hiệu này dần khẳng định được chỗ đứng trong phân khúc thị trường tiêu dùng bình dân.  Ông Lương Vạn Vinh, Tổng Giám đốc Công ty Mỹ Hảo, đã từng từ chối lời đề nghị mua Mỹ Hảo 30 triệu USD để giữ thương hiệu. Mỹ Hảo chấp nhận lao vào từng ngóc ngách chợ, khu dân cư để tiếp cận người tiêu dùng, “lì lợm” sống cạnh những đại gia ngành hóa mỹ phẩm để bảo vệ thương hiệu Việt.  Là một trong số ít DN Việt tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới, xuất khẩu sang những thị trường khó tính như Nhật Bản, châu Âu, sản phẩm được chọn làm quà tặng cho hơn 40 lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới, Minh Long đã đánh bạt tất cả các thương hiệu gốm sứ cao cấp nước ngoài tại thị trường nội địa.  Mới đây, Minh Long là một trong hai thương hiệu lớn của Việt Nam được chọn tham gia triển lãm sản phẩm dành cho người siêu giàu, bên cạnh các nhãn hiệu hàng đầu thế giới. Ông Lý Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT Công ty Gốm sứ Minh Long, cho biết: “Minh Long thắng được là do luôn kiên định thực hiện nguyên tắc 4 có – 4 không: không biên giới, không thời gian, không giới tính, không tuổi tác; có văn hóa, có nghệ thuật, có phong cách riêng, có hồn.  Bên cạnh đó, Minh Long sử dụng công nghệ tiên tiến nhất thế giới, liên tục đưa ra thị trường sản phẩm mới, xây dựng và bảo đảm hình ảnh một công ty Việt Nam đẳng cấp, chuyên nghiệp cao”.          Thương hiệu gắn với ba điều: xúc cảm, dòng  thời gian và hiện đại. DN nào muốn lớn mạnh cũng phải nhẫn nại trong  giai đoạn đầu rồi tích lũy dần. Trong thế giới phẳng hiện nay, thương  hiệu của DN lớn chưa chắc mạnh hơn của DN nhỏ. Vì thế, các DN phải kết  nối với nhau, nương tựa nhau để cùng phát triển.   TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương        Tương tự Minh Long, Trung Nguyên cũng đã đánh bại các đối thủ nặng ký nước ngoài ở 2 phân khúc cà phê rang xay và cà phê hòa tan. Theo ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên, Việt Nam có sản phẩm tham gia thị trường nước ngoài nhưng chưa có nhiều thương hiệu thế giới.  Đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ chiếm lĩnh thị trường quốc tế, công ty này áp dụng 5 nguyên tắc: sản phẩm đúng, mô hình đúng, thị trường đúng, thông điệp đúng và đối tác, chính sách đúng.  Sáu tháng đầu năm 2012, thị trường Việt Nam tiêu tốn khoảng 8.800 tỉ đồng cho quảng cáo, hầu hết kinh phí đều do các thương hiệu quốc tế rót. Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch HĐQT LE Media, với khả năng tài chính có hạn, DN Việt không có điều kiện và không cần phải tiêu tốn nhiều tiền để xây dựng thương hiệu.  DN cần phải có chiến lược đồng bộ cho thương hiệu: Xây dựng yếu tố duy nhất, câu chuyện văn hóa gắn với thương hiệu, sự nhất quán trong các thông điệp đưa ra cho thương hiệu của mình và duy trì lâu dài, bền vững chứ không ăn xổi ở thì.  Theo chuyên gia marketing Hoàng Tùng, trong cuộc cạnh tranh không cân sức, DN Việt chưa biết tận dụng hết thế mạnh của mình thông qua việc khơi gợi sự ủng hộ của người tiêu dùng. Những DN Nhật Bản, Hàn Quốc như Honda, Samsung khi mới thành lập đã tận dụng được sự ủng hộ của người tiêu dùng bản địa và từng bước lớn mạnh như ngày nay.  Người tiêu dùng Việt thích sử dụng sản phẩm nước ngoài, một phần có thể do sính ngoại, một phần vì Việt Nam chưa có được những thương hiệu khiến họ thực sự tin tưởng, tự hào. Điều quan trọng là DN phải tập trung sản phẩm. Bằng chứng là những thương hiệu lớn, nổi tiếng như Sharp, Toshiba của Nhật sau một thời gian phát triển đa ngành, không tập trung vào bản sắc của mình nên đã dần đi xuống.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu quốc gia      Có thể có những định nghĩa khác nhau về thương hiệu quốc gia, nhưng rút cục đều phải bàn đến “danh tiếng của quốc gia đó” trên thị trường thế giới. Và để có được danh tiếng của quốc gia hay không tùy thuộc vào việc quốc gia đó có những ý tưởng gì mới mẻ, có những phát minh, sáng tạo gì, có những thể chế gì đảm bảo cho sự phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước.    1. Thể chế   Thể chế, có thể hiểu bao gồm ba yếu tố: Luật pháp, bộ máy nhà nước, phương thức điều hành đất nước. Giá trị phổ biến về thể chế của những nước phát triển thuộc OECD được xem như là những nước có thương hiệu quốc gia tốt nhất (Simon Anholt, Dung, 2008) là dân chủ, tam quyền phân lập, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế… Những giá trị này có tính bền vững, dù ở những nước này đã nổ ra hàng chục cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Nhưng thực tế đã cho thấy những cuộc khủng hoảng này không những đã không phá hủy những giá trị bền vững ấy mà còn làm cho những giá trị phổ biến ấy càng ngày càng hoàn thiện hơn. Công trình nghiên cứu của IQbal, Jong Ilyou (2001) đã tiến hành khảo sát 150 quốc gia trong thời kỳ 1960 – 1980 đã cho thấy các nước có chế độ chính trị mở cửa cao đã đạt mức tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm 2,5 – 3% so với những nước có nền kinh tế thiếu dân chủ và đóng cửa với bên ngoài. North (1990) đã nghiên cứu thực tế ở nền kinh tế dân chủ, đã đi đến kết luận là thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng; thúc đẩy phát triển kinh tế hiệu quả; đảm bảo môi trường kinh tế tự do hơn. Dựa trên những kết quả nghiên cứu này một số tổ chức quốc tế đã đưa ra một số giải pháp tư vấn và hỗ trợ các nước nghèo như: Ưu tiên hàng đầu không phải là cải cách dân chủ ngay tức thì, mà là phải cải cách thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành cải cách chính trị theo hướng dân chủ đồng thời với chính sách kinh tế. Nóng vội cải cách chính trị trước sẽ đưa tới thất bại trong chính sách kinh tế, nước Nga dưới thời Elsin làm Tổng thống đã là môt ví dụ.          6 yếu tố bảo đảm cho việc xây dựng thành  công thương hiệu quốc gia: đào tạo, trọng dụng và thu hút nhân tài; xuất  khẩu các sản phẩm có chất lượng và giá trị gia tăng cao; thu hút khách  du lịch nước ngoài;  phát triển văn hóa dân tộc và hiện đại; thu hút đầu  tư và nhân tài nước ngoài.        Những thể chế tiến bộ này đã tạo ra điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, đã tạo ra những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng. Và chính giá trị của thương hiệu quốc gia đã làm tăng giá trị GDP của quốc gia. Simon Anholt đã thực hiện 1 cuộc khảo sát ở 29 nước ở các châu lục khác nhau, và kết quả mà ông đã đạt được là: Có 18 nước có giá trị thương hiệu quốc gia cao hơn GDP, trong đó Đan Mạch là nước có giá trị thương hiệu quốc gia cao hơn giá trị GDP tới 320%; Ý và Đức – 167%, Hoa Kỳ – 152%; Nhật Bản – 133%; và  10 nước có giá trị thương hiệu quốc gia thấp hơn GDP trong đó: Ba Lan – 18%, Brazil – 30%, Trung Quốc 43% (Simon Anholt, Sự nhận diện mang tính cạnh tranh, 2006, tr. 35).    2. trọng dụng và thu hút nhân tài   Nước Anh đã từng là bá chủ thế giới bằng việc nắm giữ và phát triển các ngành công nghiệp và từ đó làm chủ các thị trường thế giới, tạo dựng nên thương hiệu nước Anh – một quốc gia mà mặt trời không bao giờ lặn.Tiếp theo là Hoa Kỳ đã thay thế nước Anh “lãnh đạo” thế giới bằng việc tạo dựng “hệ thống tài chính toàn cầu” thống trị thế giới.  Thời đại công nghiệp và tài chính đã và đang qua, đang xuất hiện một thời đại mới – “thời đại của các nhân tài”, nghĩa là thời đại mà các nhân tài sẽ giữ vai trò quyết định sự phát triển, quyết định chất lượng của các thương hiệu quốc gia.  Singapore hiện đã nổi lên là một quốc đảo có chính sách bồi dưỡng nhân tài hàng đầu thế giới. Điểm nổi bật nhất của Singapore là chính sách thu hút nhân tài nước ngoài. Lý Quang Diệu đã nói “nhân tài nước ngoài là chìa khóa hướng đến tương lai”. Trong Chính phủ đầu tiên của Singapore chỉ có 2 Bộ trưởng là người Singapore còn lại là người nước ngoài, các nhân tài nước ngoài đến làm việc tại Singapore được lương cao nhất, có điều kiện làm việc và sinh hoạt tốt nhất. Lương của Bộ trưởng Singapore 1 năm là 1,2 triệu USD, gấp 3 lần lương Tổng thống Mỹ. Lãnh đạo tất cả các cơ quan chính quyền, các trường học, bệnh viện của Singapore đều được tuyển chọn kỹ lưỡng và tiêu chuẩn trước hết là tài năng, tốt nghiệp ở các trường hàng đầu thế giới. Ông Lý Quang Diệu đã từng nói “Lãnh đạo dốt sẽ ngáng chân người tài không cho họ vào các cương vị quan trọng” và sẽ dẫn đến tình trạng “mua quan, bán chức”. Singapore đã thành lập một Ủy ban quốc gia về nhân tài để phát triển đất nước.  Một nước có những nhân tài đứng đầu đất nước, đứng đầu các chính quyền địa phương, các công ty chắc chắn đất nước đó sẽ phát triển, sẽ có một tương lai rộng mở và có một thương hiệu quốc gia mạnh. Thương hiệu quốc gia Singapore đã gắn với tên tuổi ông Lý Quang Diệu, thương hiệu quốc gia Hàn Quốc đã gắn với tên tuổi Park Chung Hee.  3. Thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm  Thương hiệu của doanh nghiệp và sản phẩm gắn chặt với thương hiệu quốc gia. Chẳng hạn người mua nếu được lựa chọn các sản phẩm điện tử làm tại Nhật Bản chứ không chọn các sản phẩm điện tử làm tại Trung Quốc dù phải trả thêm tiền.          Thương hiệu phải có một quá trình xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm bao gồm các khâu:              – Xây dựng và phát triển thương hiệu trong thực tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, hiện đại và cạnh tranh quốc tế.              – Xây dựng hình ảnh của thương hiệu phù hợp với thực tế phát triển của doanh nghiệp và sản phẩm.              – Thực hiện các chương trình truyền thông để quảng bá thương hiệu.              –  Xác định giá trị tài sản của thương hiệu, danh tiếng của sản phẩm của 1  công ty càng tốt thì giá trị của sản phẩm đó càng được tăng cao. Người  ta đã tính là nếu không có giá trị tài sản thương hiệu thì giá trị vốn  hóa thị trường của Xerox chỉ vào khoảng 481 triệu USD, chứ không thể đạt  tới con số 6,5 tỷ USD, nghĩa là nhỏ hơn 31 lần.        Các quốc gia phải có chiến lược chính sách xây dựng và phát triển các thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm, và bảo vệ các thương hiệu đó. Chính sách này bao gồm: hỗ trợ tài chính – chi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực, tuyển chọn nhân tài, mở cửa thị trường bên ngoài… cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm, bảo vệ các thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế:  4. Thực tế Việt Nam  Cho đến nay vấn đề thương hiệu quốc gia cũng như thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm, được Chính phủ Việt Nam quan tâm đã lấy ngày 20/4 là ngày thương hiệu Việt Nam, năm 2005 đã chọn 30 sản phẩm làm thương hiệu sản phẩm quốc gia. Năm 2008 đã chọn được 30 doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm hàng đầu Việt Nam, thỏa mãn được các giá trị “chất lượng – đổi mới, sáng tạo – năng lực lãnh đạo”.  Tuy nhiên để gia tăng danh tiếng thương hiệu quốc gia Việt Nam, thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm.  – Đổi mới thể chế là khâu đột phá hàng đầu. Đây là giải pháp đã được các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định. Tuy nhiên đổi mới thể chế theo hướng nào và bằng cách nào, vẫn đang là vấn đề chưa được xác định cụ thể. Chương trình 30 cải cách thủ tục hành chính mới chỉ làm được một việc là rà soát bãi bỏ 30% các thủ tục không cần thiết, nhưng sau đó người ta lại thêm văn bản, thêm các thủ tục khác.  – Tình trạng “chạy chức, chạy quyền” vẫn còn khá phổ biến, do vậy các nhân tài ở Việt Nam vẫn chưa được sử dụng.  – Xuất khẩu của Việt Nam vẫn tập trung vào xuất khẩu tài nguyên, làm gia công lắp ráp, do vậy danh tiếng thấp;  – Các danh lam thắng cảnh của Việt Nam có nhiều, nhưng chưa có chính sách xây dựng thành các thương hiệu mang tầm cỡ quốc gia, nên chưa thu hút được các du khách quốc tế bằng các quốc gia khác trong khu vực.  – Chưa có các chính sách nhập cư có đủ sức thu hút các nhân tài quốc tế.  – Số lượng FDI vào Việt Nam tương đối khá, nhưng chất lượng thấp; do chính sách của Việt Nam chưa phù hợp.  Kết luận    Để thương hiệu quốc gia, thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam ngày càng có danh tiếng trên thị trường quốc tế, Việt Nam phải đổi mới thể chế theo hướng hiện đại và quốc tế, phải có chính sách trọng dụng và thu hút các nhân tài. Đây là hai yếu tố quyết định. Việt Nam phải nghiên cứu, nhận diện các thương hiệu quốc gia khác trên thế giới để học hỏi, tiếp thu, áp dụng những kinh nghiệm của họ. Đó là con đường phát triển tất yếu, nếu Việt Nam không muốn tụt hậu.   —-  Tài liệu tham khảo:    Simon Anholt: Sự nhận diện mang tính cạnh tranh, Hoàng Phúc dịch năm 2007.  North, Douglass C. (1990): Institution change and Economic Performance, Cambrige Univercity Press.  Acemoglu, Daron (1995): Reward structure and the Allocation of Talent, European Economic Review, 39, 19-33.  Trần Văn Tùng, Vũ Đức Thanh (2011): Thể chế yếu tố quyêt định tăng trưởng kinh tế, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội.  Kornai, Janos (2001): Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội tin học Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu Quốc gia: Những tiếp cận sai lầm.      Hình ảnh mà thị trường thế giới cảm nhận về một thương hiệu quốc gia không đến trực tiếp và duy nhất từ những gì thoát thai ở lĩnh vực thuần túy kinh tế của quốc gia đó mà chủ yếu từ các bình diện chính trị, xã hội, giáo dục và văn hóa. Cách “tiếp cận biện chứng” ấy hoàn toàn bị triệt tiêu trong lối đặt vấn đề vừa “cục bộ” vừa “cơ giới” của “Chương trình Xây dựng Thương hiệu Quốc gia” Việt Nam.    Đối với những chuyên gia thực thụ về thương hiệu, vấn đề trọng yếu của thương hiệu quốc gia, không phải là “xây dựng” mà là “tái xây dựng”, “tái định vị” hay “tân trang” [“rebranding, repositioning, lifting”]. Lý do? Đơn giản: muốn hay không, mọi quốc gia đều ít nhiều gợi đến sự liên tưởng đến các ấn tượng vốn có về nó, và sự tương hợp của những ấn tượng ấy tạo nên nền tảng của một quan điểm mang tính “phân định giá trị” được hình dung khi tên tuổi của quốc gia được nói đến. Nói gọn: mọi quốc gia, dù hữu thức hay không, đều gợi ra một số hình ảnh mang thuộc tính thương hiệu, và hình ảnh ấy hiển lộ trong cảm nhận của các đối tác khi tên tuổi của đất nước được nêu ra trong “Made in…” [hoặc “Manufactured in… Assembled in… Designed by/in… Product of…]. Chẳng phải vô cớ mà đối với cùng thể loại sản phẩm có cùng “tên tuổi”, thí dụ “MP3 Sony”, lại có sự khác biệt khá lớn trong cảm nhận của khách hàng– và về giá cả- trước việc là mặt hàng Sony ấy được kèm dòng chữ “Made in Japan” hay “Made in China”; không phải ngẫu nhiên mà dòng máy tính cao cấp của “Vaio” thuộc Sony được sản xuất ngay tại Nhật trong khi các dòng khác, rẻ tiền hơn, lại được Sony cho sản xuất ở các nhà máy đặt tại Trung Quốc hay Indonesia.                  Nói cách khác, mọi sản phẩm-dịch vụ cung ứng đều mang một quốc tịch, và tính chất của quốc tịch ấy được thể hiện vừa trong danh tiếng của tên tuổi doanh nghiệp vừa trong danh tiếng của nơi chốn mà mặt hàng được “làm ra”. Chính vì biết được sự tác động của nơi mặt hàng được “làm ra” đối với tâm trí của khách hàng mà Dell chủ trương ghi rõ trên các máy tính và sản phẩm công nghệ thông tin của mình là “Designed by Dell, Assembled in Ireland” [“thiết kế bởi Dell –hàm ý là “gốc Mỹ”- lắp ráp tại Ái Nhĩ Lan”] hoặc “Product of Dell-US” [“Sản phẩm của Dell-Mỹ”] nhằm làm “mờ” đi hình ảnh có trong cảm nhận của khách hàng là chính Dell không “trực tiếp sản xuất” mà cho gia công ở nhiều nước “lao động rẻ” ngoài Mỹ và Tây Âu, vốn là những nơi đã “thực thụ làm ra” sản phẩm nhưng danh tính cụ thể lại không được phô trương vì chẳng có mấy “tiếng tăm”!  Thương hiệu quốc gia, do đó, theo nghĩa động, là một phương thức thiết lập quan hệ tin tưởng và lâu dài giữa người tiêu dùng với sản phẩm-dịch vụ cung ứng trên cơ sở triển khai những “ấn tượng tích cực” khởi xuất từ việc nêu ra quốc tịch của doanh nghiệp và nơi chốn làm ra mặt hàng.  Vấn đề cơ bản, vì vậy, không phải là “xây dựng một biểu trưng cho thương hiệu quốc gia” như cách tiếp cận thiển cận hiện nay, mà chính là làm thế nào để người tiêu dùng, trong và ngoài nước, có được ấn tượng tích cực về tên tuổi của các doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam: Biểu trưng “Vietnam Value Inside” hay/và “logo áo dài, chim hạc, trống đồng, con trâu…” đạt tác dụng thiết thực gì khi người tiêu dùng có “hình tượng để nhận diện” hàng hóa Việt Nam nhưng lại bị chi phối bởi các “ý nghĩ tiêu cực” về nó? Cần nói thêm về “Vietnam Value Inside”: “Inside” là thế nào? Tại sao “Inside”? Hay vì thấy một thương hiệu quốc tế hàng đầu là Intel đã phô trương “Intel Inside” nên mình cũng cố “me too/theo đuôi”- là “Inside”?! Nguyên tắc của “khẩu hiệu biểu trưng” là phải mang tính độc đáo riêng biệt, nghĩa là nêu lên “cái mình có mà người khác không có”, chứ không phải thấy người khác nổi tiếng “Inside” nên mình cũng “Inside” tuốt! Ngay trong nội hàm của “khẩu hiệu biểu trưng” đã biểu thị một “chiều hướng bắt chước/ăn theo” -nghĩa là “đồ nhái”- thì làm sao người tiêu dùng có được cảm nhận tốt đẹp về giá trị bản thân của các mặt hàng cung ứng?!  Sai lầm trên kéo theo sai lầm khác. Đó là quan niệm giản đơn rằng việc xét duyệt/cấp phát bởi cơ quan hữu trách của Nhà nước một “biểu trưng quốc gia” cho một số doanh nghiệp có sản phẩm-dịch vụ “đáp ứng tiêu chuẩn” là tự nó đủ sức tạo ra thương hiệu quốc gia. Nhầm: hình ảnh tích cực về những mặt hàng cung ứng bởi một đất nước không đến từ thể chế “trình duyệt/xin cho” thống lĩnh bởi bộ máy hành chính Nhà nước mà đến từ sự phán xét cuối cùng của một thị trường và xã hội rộng mở! Vai trò của Nhà nước trong tiến trình định hình thương hiệu quốc gia không phải là gánh vác trực tiếp nhiệm vụ “giám khảo chung cuộc trong sản xuất/kinh tế” mà là phải đảm trách chức năng của một chính thể vừa “mở rộng sân chơi đàng hoàng” vừa “tự mình nêu gương” cho một thị trường điều chế bởi nền pháp quy minh bạch và một xã hội có ý thức và được thông tin đầy đủ về quyền năng của nó!                 Từ các điều trên, những điểm cốt yếu đã được hiện rõ. Trước hết, cần phải khẳng định là mọi quốc gia đều tiềm tàng một số ấn tượng có tính chất “định kiến”. Và các định kiến này chi phối hành vi tiêu dùng của khách hàng nói riêng, của thị trường và xã hội nói chung: một cuộc điều tra liên lục địa vào đầu 2003 đã lưu ý về hiện tượng là gần 76% dân chúng trên thế giới “biết đến” các Kim Tự Tháp ở Ai Cập, nhưng khoảng 30% trong số đó lại “không nghĩ” là Ai Cập thuộc Châu Phi vì “nếu thật sự ở Châu Phi thì làm sao để có đủ mức độ văn minh để làm ra các Kim Tự Tháp”? Và còn “kỳ bí” hơn nữa là 25% trong số những người vốn “thích được tham quan Kim Tự Tháp Ai Cập” khi biết “Ai Cập thuộc Châu Phi”, đã giảm ý định ấy đi khá nhiều!!!  Tuy nhiên, những định kiến ấy không phải từ trên trời rơi xuống mà được kết tinh từ sự tương tác trong lịch sử giữa những tiến trình hành xử của chính một quốc gia trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục và văn hóa. Nói gọn: đối với mỗi quốc gia, định kiến về nó là một “gia tài” kết tụ từ lịch sử phát triển của chính nó. Thí dụ: nếu không có “kỷ nguyên Khai Sáng” của thời Minh Trị Thiên Hoàng thì làm sao có hình ảnh của một “nước Nhật tiên phong” trong khoa học kỹ thuật, phát triển ngay từ cuối thế kỷ XIX? Nếu không phải Đức là nước đầu tiên áp dụng những tiêu chí khắt khe nhất trong quy định cấp bằng sáng chế kỹ thuật thì làm sao Đức có được hình ảnh của một nước “hàng đầu về công nghiệp của Châu Âu” ngay từ cuối thế kỷ XVIII? Nếu Ý không có Michelangello và sau đó là Ettore Bugatti thì dựa vào đâu mà khởi nguyên hình ảnh “cái nôi của thiết kế (Design)” được gắn liền với hình ảnh nước Ý? Nếu không có “trận dịch 10 năm” trong nửa đầu của thế kỷ XVIII và liền sau đó là việc sản xuất và sử dụng rộng rãi nước hoa ở Paris thì làm sao thành phố ấy có được từ “thời cách mạng công nghệ lần thứ nhất” hình ảnh của “một nơi hoa lệ ướp đẫm hương thơm”?!     Do đó, vấn đề của “thương hiệu quốc gia” là phải “chỉnh tu và khai thác định kiến” – chính xác là “tái xây dựng/tân trang/tái định vị”, như đã nói ở đầu bài, các “hình ảnh vốn có”- theo chiều hướng gây ra những “vượt trội bất ngờ” nhằm mang đến một “ấn tượng tích cực” đối với bản thân quốc gia ấy nói chung và các thương hiệu bản địa nói riêng. Và điều cơ bản không phải là giao cho một cơ quan Nhà nước “vẽ” ra một “biểu trưng quốc gia” mà chính là phải tính đến hệ quả biện chứng về động năng của mỗi một chính sách được áp dụng trong chiến lược tổng thể của việc phát triển quốc gia: nếu không có chính sách “thu hút và trọng dụng chất xám từ Hoa kiều ở các nước Mỹ Âu” áp dụng triệt để bởi chính quyền Trung Quốc và nếu doanh nghiệp Haier đã không biết dựa vào chính sách ấy mà triển khai hình ảnh của chính thương hiệu Haier trong việc minh chứng chất luợng sản phẩm thông qua việc đề cao cách “dùng người” đến từ “trí thức Hoa Kiều” trong hàng ngũ nội bộ của Haier thì Haier đã không thể nhanh chóng trở thành “thương hiệu Trung Quốc hạng thứ hai toàn cầu” trong lĩnh vực công nghệ điện lạnh nhanh chóng như thế! Nếu chính quyền ở Bangalore của Ấn Độ và ở Thượng Hải không cho phép nâng cao mức lương của cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp bản địa tương đương với mức lương quốc tế trong nhiều lĩnh vực thì không những ngành phần mềm công nghệ thông tin ở Ấn Độ và ngành ngân hàng tài chính ở Trung Quốc không chống lại được “chảy máu chất xám” mà còn khó được thị trường thế giới đánh giá là có khả năng “bắt kịp cực nhanh công nghệ tiên tiến hiện đại”!  Nói cách khác, vai trò của Nhà nước trong việc định hình thương hiệu quốc gia –và thương hiệu quốc gia trong trường hợp này được hiểu cô đọng như là ấn tượng cảm nhận bởi thế giới và địa phương về đất nước thuộc quyền cai quản của Nhà nước ấy- là phải biết phân giải và tiên kiến về những hệ luận tương tác trong mỗi chính sách được áp dụng. Nhìn từ giác độ đó, cần phải xác định rõ là thương hiệu quốc gia không phải là vấn đề của chỉ một cơ quan đơn lẻ chẳng hạn như bộ phận Xúc tiến Thương mại thuộc Bộ Thương Mại: thì cứ cho là bộ phận ấy [với sự trợ giúp của các “cố vấn hàng đầu”!] đưa ra được một “logo đẹp tuyệt vời”, nhưng nếu ở guồng máy chính quyền cứ liên tiếp “nổ ra” những “PMU 18 hay buôn bán quota” thì liệu hình ảnh quốc gia Việt Nam có được cảm nhận là “đẹp tuyệt vời”?! Và trong trường hợp ấy, liệu “biểu trưng quốc gia” được chính quyền xét duyệt và cấp phát cho doanh nghiệp sở tại có thật sự có giá trị đối với thị trường địa phương và thế giới, hay chỉ có “tác dụng ngược lại” là đào sâu các “định kiến xấu đã có”?!                Suy ngẫm từ những điều vừa được trình bày sẽ hiểu rõ vì sao trong mô hình mang tên “The Place Branding Hexagon” [chính xác là“quảng bá hình ảnh của một nơi chốn dựa trên hình lục giác”, còn có tên là “National Brand Index”, nghĩa là “tiêu chí xác định thương hiệu quốc gia”, được áp dụng trong việc tìm hiểu hình ảnh của Cộng đồng Châu Âu sau khi Liên Minh Châu Âu kết hợp 25 nước, và bởi chính quyền Tony Blair trong chiến lược “Rebranding UK/Tái xây dựng thương hiệu quốc gia của Anh”, theo hướng là làm sao “chỉnh trang” hình ảnh “nước Anh ảm đạm-lạnh lùng/Cold England” thành “nước Anh trầm tĩnh-tự tại/Cool England”], bốn trong sáu tiêu chí lại phụ thuộc vào sự “sáng suốt của Nhà nước” nghĩa là chính quyền cần phải nhìn thấu suốt sự “liên đới tương thông” giữa các chính sách trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thí dụ: một chủ trương đúng đắn của Nhà nước trong giáo dục đào tạo không chỉ góp phần nâng cao hình ảnh “văn minh/văn hiến” của quốc gia mà còn tác động trực tiếp đến cảm nhận của thị trường quốc tế về chất lượng sản phẩm-dịch vụ cung ứng bởi doanh nghiệp bản địa. Hai tiêu chí còn lại liên quan đến “tính nhân văn của quần chúng” trong tương giao xã hội [theo hướng là nhằm minh chứng cho sự phong phú của “tài nguyên xã hội” nói chung và của “xã hội dân sự” nói riêng], trong sinh hoạt thể thao [“tinh thần thượng võ bảo vệ sắc áo màu cờ” hay “ý đồ gian lận tranh giành quyền lợi cá nhân”] lẫn trong “tín ngưỡng tôn giáo” [“quá khích” hay “bao dung”…] và ngay trong đời sống thường nhật [tuân thủ “trật tự công cộng” hay “thoải mái chen ngang”, theo nghĩa là “trọng người quý ta” hay “chỉ biết mình ta”].                  Nói gọn: hình ảnh mà thị trường thế giới cảm nhận về một thương hiệu quốc gia không đến trực tiếp và duy nhất từ những gì thoát thai ở lĩnh vực thuần túy kinh tế của quốc gia đó mà chủ yếu từ các bình diện chính trị, xã hội, giáo dục và văn hóa. Cách “tiếp cận biện chứng” ấy hoàn toàn bị triệt tiêu trong lối đặt vấn đề vừa “cục bộ” vừa “cơ giới” của “Chương trình Xây dựng Thương hiệu Quốc gia” Việt Nam. Ngược lại, nhờ biết dựa vào “phương thế biện chứng” mà Urvâshi, một thương hiệu Ấn Độ, khởi đầu chuyên về nước hoa, đã không những thành công trong việc chiếm lĩnh một vị thế nổi tiếng ở thị trường thế giới mà còn biến thành một “biểu trưng của thương hiệu quốc gia” trong việc mở hướng “tiến công” cho một số mặt hàng khác của Ấn Độ vào thị trường Âu Mỹ: biết rằng khi nói đến Ấn Độ, trong tâm tưởng của các thành phần từ trung lưu trở lên ở Âu Mỹ, các ấn tượng phổ biến là sự “hòa quyện” giữa các hình ảnh vừa “cổ điển” vừa “hiện đại”: nơi đó vừa là cội nguồn của Phật học, của thoát tục thiền tông, của “nghệ thuật tình yêu” [nhờ bộ giảng luận “Kamasutra”] vừa là sự “trỗi dậy của các mũi nhọn” công nghệ thông tin, Deepak Kanegaonkar, một công nghiệp gia ở Munbai, với sự trợ giúp tài chính và hậu cần của chính quyền Ấn Độ, đã xây dựng một dây chuyền sản xuất và phân phối nước hoa, khởi sự ở Paris, sau đó là ở London. Thực chất, thương hiệu Urvâshi không chỉ bán nước hoa “chất lượng cao” mà chính là mang đến cho khách hàng Âu Mỹ những “công cụ gợi tưởng” về một “thế giới đằm thắm, an lành, thoát tục, chan chứa nhân tình”, có gốc gác từ “Phật học và Thiền tông Ấn Độ”. Không những thế, Urvâshi còn dựa vào sự tiến bộ của công nghệ thông tin Ấn Độ để trang bị cho các cửa hàng những phần mềm giúp khách hàng lựa chọn nhiều loại hương liệu khác nhau nhằm tạo ra sản phẩm mà họ nghĩ là phù hợp nhất với họ. Trên cơ sở đó, ngày nay, Urvâshi không những đang bành trướng thành công sang New York, Berlin, mà còn được thị trường Âu Mỹ nhìn nhận như một “biểu tượng quốc gia” đề cao thế mạnh của Ấn Độ vừa trong hóa mỹ phẩm, vừa trong công nghệ thông tin ứng dụng cho tiêu dùng lại vừa có thêm tiềm năng “đột phá bất ngờ” trong lĩnh vực công nghệ sinh học “phục vụ tâm lý-thể chất” con người!  Cuối cùng, điều sai lầm lớn nhất trong “chương trình xây dựng thương hiệu quốc gia” Việt Nam chính là đầu óc “quan quyền hành chính”, với hệ quả là tiến trình định vị –vốn là quan điểm mang tính chiến lược trong việc quảng bá ấn tượng/hình ảnh- hoàn toàn bị trật hướng: việc cho rằng gắn thêm một “nhãn biểu trưng quốc gia” là hoàn toàn thiết yếu trong việc “xây dựng thương hiệu quốc gia” chính là xuất phát từ giả định tiền đề về tính thụ động của thị trường và xã hội: khẳng định “ta tốt” thì sẽ được tin là “ta tốt”, nhất là khi khẳng định ấy được “xét tuyển và chứng giám” bởi nhà nước. Tâm trí của con người trong thế giới rộng mở đa phương ngày nay không “dễ tin” đến thế. Nó cần được xác minh bởi những trải nghiệm thực chứng đa chiều của chính nó đối với những gì nó được truyền đạt!  “Hồi đầu thị ngạn/Quay đầu là bến” -vốn là một câu kệ Phật tông và là một khẩu ngôn của thương hiệu Urvâshi để quảng bá sản phẩm nước hoa nguồn gốc Ấn Độ- là điều cần thiết trong tình hình Việt Nam hiện nay: xin hãy quay đầu, theo hướng của sự tiến bộ thế giới, nếu không “biển mê” càng ngày càng lớn và “hố sâu tụt hậu” càng lúc càng mênh mông!  Tôn Thất Nguyễn Thiêm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu quốc gia – tổng hòa của nhiều nhân tố      Xây dựng thương hiệu quốc gia, vì thế cần phải làm rõ được người ngoài nhìn nhận quốc gia đó như thế nào (hình ảnh quốc gia), bản thân quốc gia đó nhìn nhận mình như thế nào (nhận diện quốc gia), và quốc gia sẽ đem lại uy tín như thế nào đối với sản phẩm và sản phẩm đem lại uy tín như thế nào đối với quốc gia.    1. Hình ảnh quốc gia và nhận diện quốc gia.  Hình ảnh quốc gia là một bức tranh tổng thể của một quốc gia, là tổng hợp niềm tin và ấn tượng mà mọi người nghĩ về đất nước đó. Mọi quốc gia đều có những hình ảnh vượt qua thời gian và đến những quốc gia khác nhau ở mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít, và những hình ảnh đó tô điểm cho nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia cũng như nhận thức của những nhà đầu tư về một quốc gia như là một địa điểm kinh doanh hợp lý. Vì vậy, thương hiệu quốc gia luôn luôn biểu tượng cho một một hình ảnh tiêu biểu của quốc gia đó như là một cường quốc, một nước thịnh vượng, hay một nước nghèo khó và vì thế có rất nhiều cơ hội cho các quốc gia tạo ra những biểu tượng như sự sáng tạo, năng động, âm nhạc, tin cậy, ngây thơ, thông thái, ưa mạo hiểm, an toàn và những biểu tượng khác. Hình ảnh của một quốc gia chịu ảnh hưởng từ những nhận thức của chính con người của đất nước đó, từ nền văn hóa, trình độ phát triển kinh tế, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Do đó, có những hình ảnh quốc gia được nhiều người biết đến và có những hình ảnh quốc gia ít được nhiều người biết đến do phụ thuộc vào vị thế của quốc gia đó trong tiến trình phát triển kinh tế, ví dụ như các nước đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á, Mỹ La tinh là những quốc gia có hình ảnh ít được biết đến và những nước đang công nghiệp phát triển là những quốc gia có hình ảnh được nhắc đến nhiều.           Người máy Asimo “đại diện” cho Nhật Bản        Hình ảnh quốc gia trong mỗi cá nhân về một đất nước và một địa điểm nào đó đa phần được hình thành trong mỗi một cá nhân từ khi còn là trẻ thơ thông qua giáo dục, các phương tiện truyền thông, tiêu dùng sản phẩm. Nhưng trên thực tế, hầu hết mọi người đều rập khuôn hay bắt chước người khác mà ít khi nhìn nhận tình hình thực tại của đất nước đó. Vì vậy hình ảnh quốc gia không phải là hiện tượng tĩnh tại, bất biến nhưng hình ảnh quốc gia là một ấn tượng bền lâu và khó thay đổi. Đó chính là lý do giải thích tại sao mục đích của quá trình tăng cường hình ảnh quốc gia sẽ tạo ra những phản hồi tích cực về quốc gia đó, nó cũng lý giải tại sao việc tạo ra một thông điệp, hình ảnh quốc gia mới còn dễ hơn là thay đổi những biểu tượng cũ đã ăn sâu trong tiềm thức mỗi người.  Giá trị của một quốc gia là một nội dung quan trọng trong xây dựng thương hiệu quốc gia. Dựa trên khái niệm giá trị của thương hiệu, khái niệm giá trị quốc gia được hiểu là những giá trị, cảm xúc của người tiêu dùng liên quan tới thương hiệu về một quốc gia. Mục tiêu xây dựng giá trị của một quốc gia chủ yếu hướng tới xúc tiến xuất khẩu hàng hóa và giá trị của quốc gia và là một phương thức hành động chủ yếu để nâng cao giá trị và phát triển thương hiệu quốc gia. Bên cạnh đó, du lịch và đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một thành tố quan trọng góp phần làm tăng lên hay làm giảm đi giá trị quốc gia. Đối với khách du lịch, những ấn tượng về đất nước đến du lịch và những sản phẩm tiêu dùng của nước sở tại khi họ đi du lịch sẽ tác động đến thái độ của họ về quốc gia đó và tiếp theo sẽ tác động đến quan điểm của họ về sản phẩm và dịch vụ của quốc gia đó, họ là một sứ giả truyền tải những hình ảnh và ấn tượng của họ về một đất nước, giá trị quốc gia tăng hay giảm đi phụ thuộc vào những gì họ thu được sau một chuyến đi du lịch trực tiếp tại nước sở tại. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó thì đó không chỉ đơn thuần là nơi đặt nhà máy sản xuất mà còn là nơi đem lại những lợi thế về sản phẩm do nhận thức về những hình ảnh và tên tuổi của đất nước nơi đặt nhà máy.  2. Vai trò tương hỗ giữa thương hiệu quốc gia và thương hiệu sản phẩm            “Swiss made”  bảo đảm cho chất lượng đồng hồ Thụy Sĩ        Khi liên tưởng đến hình ảnh thương hiệu quốc gia thì người ta luôn liên tưởng đến những biểu tượng, những hình ảnh hữu hình và vô hình. Biểu tượng hữu hình phổ biến nhất đó là sản phẩm của một quốc gia, biểu tượng vô hình phổ biến là những hình ảnh về đặc tính dân tộc của dân tộc đó. Mỗi một thương hiệu sản phẩm đều có nguồn gốc từ một quốc gia và mỗi một quốc gia có sản xuất và sở hữu nhiều thương hiệu sản phẩm. Do đó, cũng giống như thương hiệu, đối với thương hiệu quốc gia, luôn có hai dòng giá trị luân chuyển; đó là quốc gia đem đến uy tín cho sản phẩm và sản phẩm mang lại uy tín cho quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và quá trình phân công lao động quốc tế, chất lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng được tiêu chuẩn hóa và có chất lượng tương đối đồng đều thì những người mua hàng chuyển sự chú ý từ chất lượng và giá cả tới yếu tố quốc gia để nhận biệt thương hiệu cần quan tâm, tức là uy tín quốc gia đem lại danh tiếng cho sản phẩm. Vì thế nguồn gốc xuất xứ hàng hóa vì vậy trở thành vấn đề cốt lõi để đánh giá chất lượng sản phẩm, bên cạnh giá cả, thương hiệu sản phẩm, bao bì và nhà phân phối. Nguồn gốc xuất xứ được hiểu là đất nước sở hữu thương hiệu sản phẩm mà người mua hàng liên tưởng đến một sản phẩm nhất định, Khi đó, thì quốc gia đã trở thành “quê hương” của thương hiệu đó, bất kể là sản phẩm đó sản xuất ở đâu, ví dụ khi nói đến Honda thì được xác định ngay là sản phẩm của Nhật Bản, cho dù sản phẩm đó được sản xuất ở Mỹ hay sản xuất ở Việt Nam. Sản phẩm khi dán nhãn hiệu “Sản xuất ở Đức”, “Sản xuất ở Thụy Sĩ” hay “sản xuất ở Nhật Bản” thường được hiểu là những sản phẩm chất lượng cao, chúng biểu tượng cho danh tiếng của những quốc gia hàng đầu về sản xuất hàng hóa và xuất khẩu hàng hóa trên thế giới. Những biểu tượng này đóng vai trò quan trọng trong sự gia tăng giá trị của sản phẩm do những công ty đa quốc gia có các nguồn cấp hàng từ những nước khác nhau và họ sử dụng những nguồn lực và những tiêu chuẩn quảng cáo toàn cầu cho sản phẩm của họ. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng người tiêu dùng thật sự có ít thời gian để phân biệt đâu là nguồn gốc xuất xứ, đâu là nước sản xuất và đâu là nước lắp ráp khi mua một thiết bị đắt tiền hay một sản phẩm sang trọng bởi họ tin tưởng vào thương hiệu quốc gia đó.  Ngoài ra, khách hàng còn liên tưởng và đánh giá những dòng sản phẩm của một quốc gia nhất định, ví dụ như mỹ phẩm, đồ nội thất, xe hơi và thời trang. Ta thấy những biểu tượng về một dòng sản phẩm như nước hoa Pháp, xe hơi Đức, đồ điện tử Nhật Bản và nhiều ví dụ khác nữa khi mà hình ảnh một quốc gia đồng nghĩa không chỉ với một sản phẩm mà còn đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm, tay nghề khéo léo của người thợ, độ bền cao, thời trang và sành điệu. Có rất nhiều ví dụ cho thấy nguồn gốc quốc gia ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn những sản phẩm nhất định. Ví dụ, vai trò của nguồn gốc quốc gia tác động rất lớn đến quyết định mua những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao như xe hơi, đồ điện tử, những sản phẩm có tính thời trang và sành điệu như quần áo và mỹ phẩm.  Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hàng hoá của quốc gia đó, và kết quả là có những hiệu ứng tiêu cực về sản phẩm có xuất xứ từ một quốc gia kém phát triển. Đó là một nguyên nhân tại sao hiện nay các nước thế giới thứ ba thường phàn nàn về những rào cản kỹ thuật gặp phải khi hàng hóa của họ xâm nhập vào thị trường những nước phát triển. Mặc dù vậy, cơ hội đối với các nước đang phát triển vẫn còn nhiều, bởi vì như đã nói ở trên, bản thân mỗi một quốc gia tự thân nó là một thương hiệu và xu hướng chung của khách hàng là đi từ chưa biết gì về nguồn gốc hàng hóa đến hiểu biết nhiều hơn về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm khi sản phẩm đó đáp ứng được tiêu chuẩn của khách hàng.           Hãng Olivetti gặp khó khăn vì xuất xứ của mình.        Thương hiệu và uy tín của sản phẩm có mối liên hệ mật thiết tới nhận thức về quốc gia sản xuất bởi vì những kinh nghiệm, ấn tượng thu được từ việc sử dụng sản phẩm thường gợi liên tưởng đến quốc gia sản xuất ra nó, điều đó có nghĩa là thương hiệu sản phẩm tạo ra uy tín quốc gia. Thương hiệu sản phẩm và tên quốc gia thường đồng nghĩa với nhau trong tâm trí người tiêu dùng toàn cầu, ví dụ như Nokia đồng nghĩa với Phần Lan, Sony đồng nghĩa với Nhật Bản. Một yếu tố nữa là những nhãn hiệu thương mại thường làm gia tăng hình ảnh và những giá trị văn hóa trong tâm trí người tiêu dùng về một quốc gia. Bên cạnh đó, có một hệ quả tiêu cực về mặt thương mại là những hiểu biết về thương hiệu một dòng sản phẩm của một quốc gia như vậy thường dẫn đến xu hướng tạo ra những khó khăn cho các nhà xuất khẩu không sản xuất những mặt hàng vốn là lợi thế của quốc gia để có được sự thừa nhận những sản phẩm đó ở thị trường nước ngoài. Trong tâm thức người tiêu dùng, khi nhắc đến tên thương hiệu sản phẩm thì họ liên tưởng ngay đến quốc gia sản xuất có truyền thống về sản phẩm đó, họ ít tin tưởng vào những sản phẩm “lạ dòng”. Ví dụ, những hình ảnh về thương hiệu Italia là những sản phẩm thời trang và sành điệu sẽ gây nhiều khó khăn cho hãng Olivetti, một nhà sản xuất máy tính Italia và hãng máy tính này sẽ khó thu được thành công trong xuất khẩu sản phẩm do người tiêu dùng có ấn tượng là Italia “không chuyên nghiệp” trong sản xuất máy tính; tương tự như vậy, những thương hiệu thời trang Đức như Hugo Boss, Jill Sander cũng bị ảnh hưởng bởi hình ảnh nước Đức với nguồn gốc xuất xứ những sản phẩm thời trang sẽ không phù hợp với những hình ảnh của nước Đức với những sản phẩm kỹ thuật cao và đầy lý tính gợi lên từ những thương hiệu như BMW, Siemens. Những thương hiệu toàn cầu đem lại uy tín cho quốc gia đa số xuất phát từ những nước có công nghiệp phát triển và có một lịch sử phát triển lâu dài. Thương hiệu từ các nước đang phát triển dường như có ít cơ hội để chen chân vào tâm trí người tiêu dùng toàn cầu, vì vậy đối với những nước đang phát triển, chiến lược quốc gia đem lại uy tín cho sản phẩm là một chiến lược ưu tiên.      Nguyễn Anh Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu quốc gia từ góc nhìn của người tư vấn xây dựng thương hiệu      Thương hiệu quốc gia, theo cách nhìn của một người xây dựng thương hiệu, là những ấn tượng của một quốc gia trong quá trình buôn bán, sản xuất, trao đổi hàng hóa…, là những quá trình mà khi nêu tên của một quốc gia, người buôn bán có thể dựa vào đó để tăng hay giảm giá trị của các sản phẩm mang yếu tố hình ảnh của quốc gia đó trong quá trình thương lượng để xác định được phần lợi về mình.    Cũng có một số cách đề cập khác về thuật ngữ “thương hiệu quốc gia” nhưng trong bài viết này tôi không đề cập tới những khái niệm hình ảnh hay ấn tượng không mang tính thương mại, cụ thể hơn là không mang được lợi thế cho các thương vụ có gắn tới Việt Nam trong quá trình thương lượng. Như vậy, khi nói đến thương hiệu quốc gia, tức là nói đến các lợi thế cạnh tranh mà bản thân quốc gia đó có thể mang lại cho người tiêu dùng khi sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ của quốc gia đó hay mang trên mình dấu hiệu bảo chứng chất lượng hay đặc thù dịch vụ/tính năng… của một quốc gia.  Tất nhiên, thương hiệu quốc gia một phần được tạo nên từ những hoạt động trong lịch sử, nhưng cũng như các thương hiệu khác, thương hiệu quốc gia được tạo thành chính từ quá trình truyền thông của các thị trường mà quốc gia đó có ảnh hưởng tới.  Bắt đầu từ thị trường                Đầu tiên phải nói đến những địa bàn mà Việt Nam có ảnh hưởng, từ đó mới có thể đề cập tới sự ảnh hưởng của dòng chữ Made in Vietnam hay Designed by Vietnamese hay Vietnam origin materials…  Hiện nay, Việt Nam vẫn còn biểu tượng cho một cuộc chiến vĩ đại, cuộc chiến đó đã chiến thắng và vẫn còn dấu ấn trong nhiều thế hệ ở nhiều nước. Xét về mặt thương hiệu, thì thương hiệu Việt Nam đã được định vị như là một vị thần chiến tranh: có thể là chiến tranh nhân dân, không đại diện cho một sức mạnh vũ khí mà đại diện cho sức mạnh con người trong chiến đấu và chiến thắng.Với một định vị như vậy, thương hiệu Việt Nam có thể rất thành công trong thị trường các sản phẩm có liên quan đến chiến tranh hay lòng dũng cảm hay các sản phẩm rèn luyện sức khỏe, ý chí của cá nhân hay tập thể. Trong các thị trường này thì thương hiệu Việt Nam sẽ hoàn toàn có thể lấn lướt các thương hiệu quốc gia khác, kể cả Made in USA hoặc Made in Japan vì thương hiệu Việt Nam có sức mạnh hơn hẳn các thương hiệu khác.  Hiện nay, chúng ta đang muốn bán các sản phẩm nông lâm thủy sản hay dịch vụ nhưng thương hiệu các sản phẩm này ở Việt Nam chưa được xây dựng theo định hướng là một nhà sản xuất có uy tín hoặc một nhà cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp, do đó chúng ta sẽ khó có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế trên cơ sở thương hiệu với các yếu tố lợi thế về giá và chất lượng dịch vụ.  Một sản phẩm muốn cạnh tranh trên thị trường thì phải có các đầy đủ các yếu tố chất lượng, giá, dịch vụ và mức độ chấp nhận của thị trường. Có thể nói, cho đến nay, các nhà sản xuất của Việt Nam chưa bao giờ đánh giá các sản phẩm của mình một cách toàn diện khi tham gia thị trường. Trong quá trình thương thảo với các đối tác thương mại, họ cũng ít đề cập tới tổng thể các điều kiện cạnh tranh của sản phẩm cho từng thị trường cụ thể. Do đó, chúng ta luôn chỉ có thể dựa vào những gì có trong tay: đó là giá và chất lượng dịch vụ, mà ở đây chủ yếu là tốc độ và chi phí giao hàng chứ chưa hề nghĩ tới các yếu tố khác của sản phẩm. Ví dụ như mức độ chấp nhận, các chi phí cần thiết để tăng thêm mức độ chấp nhận và các phương án cần thực hiện ở các tầm qui mô và ảnh hưởng khác nhau. Đó chính là quá trình xây dựng thương hiệu của sản phẩm. Ở đây khi bàn tới thương hiệu quốc gia thì tất nhiên là phải có sự tương hỗ giữa hai quá trình: quá trình xây dựng thương hiệu của sản phẩm và quá trình xây dựng hình ảnh quốc gia tại cùng một thị trường. Có ba trường hợp xây dựng thành công hay thất bại của một /hoặc nhiều thương hiệu tại một thị trường xác định.  Trường hợp 1: Sản phẩm đi trước                Đa số các trường hợp thành công từ một sản phẩm, sau đó các sản phẩm của quốc gia đó đi cùng và từ từ xây dựng nên một hình ảnh chất lượng chung của một quốc gia. Điền hình là các sản phẩm của Nhật ở giai đoạn sau thế chiến thứ hai, khi đất nước Nhật không thể quảng bá hình ảnh thương mại của mình thì việc các sản phẩm như Sony hay Toyota xuất hiện một cách hiệu quả đã tạo ra một hình ảnh nước Nhật mới và từ đó các sản phẩm Made in Japan có điều kiện rất dễ dàng trong việc thâm nhập các thị trường quốc tế, và tất nhiên các sản phẩm khác cũng tinh tế và mang lại hiệu quả kinh tế cho người sử dụng cũng góp phần tôn tạo thêm giá trị Nhật Bản trong các sản phẩm của đất nước này.  Trường hợp ngược lại là Trung Quốc. Khi các sản phẩm giá rẻ xuất hiện với chất lượng rất không ổn định thì hình thành một tâm lý là hàng Trung Quốc giá rẻ dùng một lần bỏ cũng được. Do đó khi các mặt hàng khác của Trung Quốc bị hư hỏng thì ai cũng chấp nhận vì tồn tại một tâm lý rằng hàng Trung Quốc thì đương nhiên mau hỏng.  Điều này làm ảnh hưởng đến cả các sản phẩm quốc tế gia công tại thị trường Trung Quốc. Ở Việt Nam, các mặt hàng điện tử hay điện gia dụng có dòng chữ Made in China luôn có giá rẻ hơn từ 20% – 30% so với hàng cùng thương hiệu nhưng làm ở các nước khác. Để có thể cải thiện hình ảnh này thì Trung Quốc sẽ phải tốn rất nhiều thời gian và công sức. Một chiến lược quốc gia như kiểu chiến dịch vận động và thực thi Olympic Bắc Kinh xem ra chưa đủ mà nước này chắc chắn phải nỗ lực nhiều hơn đối với các sản phẩm đơn lẻ thì mới có thể cải thiện hình ảnh chung.    Trường hợp 2: Hình ảnh đất nước đi trước  Cộng hòa Dân chủ Đức hay Liên Xô trước kia là một ví dụ về hình ảnh “nồi đồng cối đá”. Cho tới nay các sản phẩm có xuất xứ từ hai quốc gia/vùng đất này vẫn được hình dung như vậy: nghĩa là hàng tốt, giá rẻ, bền nhưng mẫu mã kém, dành cho sản xuất hay cho giới bình dân chứ không thể dùng cho dân sành điệu (tất nhiên là loại trừ xe hơi của BMW hay Mercedes của nước Đức thống nhất ngày nay). Khi sản phẩm xuất phát từ một nước không có ấn tượng gì thì chắc chắn sẽ không tạo được lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm.    Trường hợp 3: Song hành cả hai  Đây là trường hợp mà một quốc gia mới tham gia thị trường, do đó không có nhiều hình ảnh của quốc gia mình cũng như chưa có các sản phẩm ấn tượng. Thí dụ các sản phẩm của Úc lúc mới vào thị trường Việt Nam. Trên thực tế, đối với người tiêu dùng Việt Nam, các công ty Úc chưa hề tạo dựng được một hình ảnh ấn tượng trên cả bình diện đất nước, con người hay sản phẩm. Sau một thời gian thì Úc đã có thể xây dựng hình ảnh thân thiện và chất lượng tốt cho hàng nông sản, đặc biệt thông qua các sản phẩm sữa và trái cây. Trong trường hợp này, chúng ta có thể thấy rất rõ sự kết hợp chặt chẽ trong việc xây dựng hình ảnh quốc gia đồng hành với xây dựng hình ảnh sản phẩm. Đó là các chương trình hành động kết hợp giữa các doanh nghiệp với các hiệp hội và các tổ chức xúc tiến thương mại tư nhân cũng như nhà nước.   Việt Nam cần làm gì?                  Thứ nhất là xác định hình ảnh của chúng ta ở các thị trường trên khắp thế giới. Chúng ta phải phân chia thế giới  theo mức độ nhận diện Việt Nam, chứ không thể phân chia theo khu vực địa lý. Kết quả của công việc này là xác định được hình ảnh của Việt Nam và mức độ ảnh hưởng đến các quyết định mua sắm của người tiêu dùng tại từng thị trường, sau đó sẽ xác định từng khu vực thị trường. Công việc này đòi hỏi các cuộc nghiên cứu rộng khắp ở các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia mà chúng ta quan tâm. Có thể chia thành các mức độ quan tâm ưu tiên để tập trung ngân sách và công sức nghiên cứu.  Hai là xác định các mặt hàng có khả năng có được ảnh hưởng tốt nhờ vào uy tín của hai chữ Việt Nam để củng cố ngay thị trường trước khi hình ảnh này bị nhạt nhòa. Ba là xác định những hình ảnh mà chúng ta muốn xây dựng hoặc cải thiện, sau đó dựa vào những vị trí hiện tại mà đưa ra những quyết định và hành động để thực hiện việc cải thiện hình ảnh của Việt Nam.  Công việc này có thể thực hiện thông qua các sản phẩm cụ thể, nhưng cũng có thể thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại hay các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Điều cần lưu tâm là phải có sự thống nhất trong điều phối thì mới có thể đạt mục tiêu. Nếu không, với ngân sách hạn chế, với khoảng cách địa lý xa xôi và không có người theo dõi, điều phối thì các hoạt động sẽ như những hạt cát bỏ biển, khó có thể kết thành một nền tảng vững chắc để các doanh nghiệp phát triển trên nền tảng đã xây dựng được. Công việc này có thể do các cơ quan xúc tiến thương mai hay các hiệp hội thực hiện, còn các công ty thương mại/sản xuất thì chỉ có thể ủng hộ chứ không thể tự mình thực hiện.  Bốn là với thị trường mới, chúng ta nên có một chiến lược thương hiệu cụ thể. Trước mắt là xác định được những sản phẩm nào sẽ có thể phát triển mạnh ở một khu vực thị trường cụ thể. Sau đó so sánh với các khả năng mà hai chữ Việt Nam có thể có tác dụng cộng thêm vào hiệu quả thương mại. Từ đó mới xác định được chiến lược, các hoạt động cụ thể trong từng giai đoạn và thông tin đến các doanh nghiệp cùng tham gia.  Năm là hình ảnh của Việt Nam thông qua các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế phải được chắt lọc và thông tin/truyền thông một cách có chủ định và định hướng cụ thể cho từng khu vực thị trường để đảm bảo tính nhất quán, tạo cơ sở đánh giá hiệu quả công việc. Qua đó có thể cải thiện hoặc thúc đẩy quá trình xây dựng hình ảnh chung của Việt Nam trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ cho các hoạt động thương mại.  Nguyễn Duy Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu Việt Nam tại Campuchia      Các sản phẩm Việt Nam (VN) hiện đang trải rộng trên khắp các chợ trên toàn Campuchia (CPC), cạnh tranh rất mạnh với hàng Thái Lan và Trung Quốc, từ các sản phẩm tiêu dùng nhanh như mì ăn liền, gia vị, sữa, đồ nhựa gia dụng, đồ nhôm, quần áo… cho đến các sản phẩm cao cấp cần đến uy tín cao như thuốc tây, dịch vụ khám chữa bệnh, hay các sản phẩm xây dựng và trang trí nội thất, thời trang… Vậy chúng ta nên xây dựng một hình ảnh Việt Nam như thế nào tại thị trường này.    Thực tế quan sát và nghiên cứu tại thị trường CPC thấy nổi bật một điều là các sản phẩm Made-in Vietnam có tên tuổi tại thị trường CPC và các sản phẩm Made-in Việt Nam có doanh số tại thị trường CPC lại không trùng nhau! Có thể tạm chia thành 2 nhóm, nhóm 1 là những sản phẩm có thương hiệu mạnh và có khả năng được người tiêu dùng CPC nhớ và mua lặp đi lặp lại, chủ yếu hiện nay là những sản phẩm của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại VN, được coi là hàng VN chất lượng cao. Nhóm 2 là những sản phẩm đang bán được nhiều và có doanh số cao lại không được chăm chút thương hiệu và được coi là hàng Việt Nam chất lượng thấp. Cả hai loại sản phẩm này đều đang có thị trường, tuy nhiên hiện tại và tương lai đều rất khác nhau. Đó là các thương hiệu Nhóm 1 thì thị phần đang nhỏ nhưng rất chắc chắn, những nỗ lực xây dựng thương hiệu hiện đang làm cho tỷ suất lợi nhuận hiện không thể cao, thậm chí hòa vốn, nhưng tỷ lệ tăng trưởng rất chắc chắn. Các sản phẩm nhóm 2 thì đang có thị phần rất lớn nhưng không được người tiêu dùng CPC nhớ và trung thành nên có xu hướng giảm và cộng với sự thiếu quan tâm của các công ty chủ sở hữu nên khi thị trường bị biến động thì chỉ còn một cách là dùng giá để cạnh tranh trong khi các sản phẩm thuộc nhóm 1 thì có nhiều phương thức hơn để lấn chiếm thị trường và tranh dành người tiêu dùng.  Nhìn trên bình diện chiến lược thì cho dù sản phẩm thuộc nhóm 1 hay 2 thì cũng đều là một thành phần của thương hiệu Made-in-Vietnam và dù ít nay nhiều thì ấn tượng về Việt Nam cũng ảnh hưởng tới sức bán của các sản phẩm này và ngược lại, nếu các sản phẩm này bán tốt thì cũng sẽ đóng góp lại cho uy tín của Made-in-Vietnam ngày càng mạnh hơn – hoặc ở một thái cực khác thì khi những sản phẩm này bán yếu đi hoặc có vấn đề về chất lượng thì Made-in-Vietnam sẽ bị suy yếu và tất nhiên là sẽ ảnh hưởng không tốt đến các sản phẩm khác cùng mang dòng chữ Made-in-Vietnam.  Trong phát triển thương mại quốc tế thì thông thường không nên để các doanh nghiệp tự “bơi” mà không có sự hướng dẫn và hợp lực cùng phát triển – thậm chí là các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau cũng có thể cùng nhau phát triển tại cùng một thị trường. Ví dụ như trước đây mì ăn liền An Thái hiệu con voi đã từng độc  chiếm thị trường CPC nhưng sau đó do chỉ có một mình “’chiến đấu” nên bị các sản phẩm của Thái Lan, đặc biệt là Mama lấn chiếm mất thị phần và hiện nay thì gần như không còn thấy sự hiện diện của những con voi trắng tại các chợ CPC nữa. Sau đó một thời gian, mì Việt Nam ồ ạt trở lại với một loạt các công ty như Thực Phẩm Á Châu với nhãn hiệu Gấu Đỏ, VinaAceCook với nhãn hiệu Good, Happy Chef, Unipresident với nhãn hiệu Unif và gần đây thì còn có sự hiện diện của Gomex, Micoem… đang dần chinh phục khẩu vị của người dân CPC. Các sản phẩm Made-in-Vietnam còn nở rộ hơn nữa ở các lĩnh vực khác như quán cà phê T&N của Trung Nguyên, cửa hàng thời trang NinoMax ở đại lộ lớn nhất Phnompenh Monivong, hay các sản phẩm đặc thù như que hàn điện Kim Tín, Việt Hà, sản phẩm nhựa Chợ Lớn, quần áo công chức Tây Đô bán ở chợ Pxa Thmây, thực phẩm và gia vị cà ri Bà Tám, hoa quả sấy khô Vinamit có thể tìm thấy ở chợ Olympic. Thuốc chữa bệnh sản xuất tại Việt nam như Dược Hậu Giang, Trung Ương 2, Dược Bình Định… đang cạnh tranh với thuốc của Ấn Độ và Trung Quốc, các cơ sở dịch vụ khám bệnh và các bệnh viện có bác sỹ Việt Nam ở CPC lên đến 3 con số… tất cả các mảnh ghép đó đang tự phát hình thành một ấn tượng chung về hình ảnh của thương hiệu Made-in-Vietnam. Tuy nhiên, cũng như sự phát triển tự phát của những doanh nghiệp Việt Nam khác, quá trình hình thành và phát triển của thương hiệu Made-in-Vietnam cũng đang tự phát và sẽ phải rất lâu mới có thể định hình hay thậm chí còn có thể bị phát triển lệch lạc nếu như có một vài thương hiệu nào đó có vấn đề về chất lượng hay dịch vụ tại thị trường này.  Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp tự mình đơn độc xây dựng thị trường và tìm kiếm khách hàng cũng như tạo dựng uy tín thì cũng mới chỉ là những bước “nhảy lò cò” vì còn thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các doanh nghiệp trong việc xây dựng một thương hiệu chung – trong thị trường CPC thì thương hiệu chung đó chính là hình ảnh của VN nói chung và của các nhà sản xuất VN nói riêng.  Vậy thì nên xây dựng một hình ảnh VN như thế nào tại thị trường này và cách thức xây dựng ra sao để các doanh nghiệp đều có thể tham gia, cùng hưởng lợi mà không ảnh hưởng đến các hoạt động thị trường bình thường hay các hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp?  Điều mà các doanh nghiệp cần nhất không phải là hỗ trợ vốn hay hỗ trợ các điều kiện ưu đãi về thương mại (tất nhiên là cũng cần nhưng những sự ưu đãi đó không thể kéo dài lâu mà chỉ có thể có tác dụng trong một hời gian nhất định) mà cần phải có một ưu thế lớn hơn, lâu dài hơn và nền tảng bền vững mà các doanh nghiệp ở các nước khác không thể dễ dàng so sánh được.  Các doanh nghiệp VN cần nhất chính là sức mạnh chung của dòng chữ Made-in-Vietnam  Dòng chữ này bao gồm 2 phần – đó là Made-in và Việt Nam  Doanh nghiệp sẽ góp phần xây dựng uy tín của dòng chữ Made-in  Các tổ chức xúc tiến thương mại sẽ chịu trách nhiệm xây dựng uy tín của hai chữ Việt Nam  Tại thị trường CPC hiện nay, Made-in cũng chưa làm tốt mà Việt Nam cũng chưa có một ấn tượng cụ thể nào, người tiêu dùng CPC nói chung đang sử dụng hàng VN như là một giải pháp tạm thời chứ chưa có nhiều thương hiệu đảm bảo được sự phát triển bền vững của chính thương hiệu của mình và qua đó không thể làm nền tảng cho sự phát triển trong tương lai của các sản phẩm made-in- Vietnam khác nữa. Đó là chưa kể đến hiệu ứng của hệ thống phân phối khi ngày càng có nhiều các sản phẩm VN đến và đi khỏi hệ thống mà không tạo ra được một sự ổn định cho các đối tác của mình thì sẽ rất khó cho các doanh nghiệp vào thị trường sau (yếu tố Made-in) cũng như ảnh hưởng chung đến yếu tố Việt Nam.  Hiện nay tại CPC các công ty thương mại có được các hội chợ xuất khẩu hàng năm để giới thiệu sản phẩm và tìm thị trường, hình ảnh đất nước và con người VN cũng không phải quá xa lạ, tuy nhiên công tác phối hợp các hoạt động xây dựng thương hiệu tại thị trường CPC gần như chưa thực hiện được, và có vẻ như thiếu bàn tay của một kiến trúc sư có thể sắp xếp các mảnh rời rạc của một bức tranh để hoàn thiện một tổng thể. Các doanh nghiệp đang đợi sự khởi đầu của các cơ quan xúc tiến thương mại vì sẽ khó có doanh nghiệp nào có thể tự mình đứng ra kêu gọi và thực hiện vai trò đầu tàu (vì doanh nghiệp sẽ chỉ có thể lo công việc riêng của từng thị trường và từng ngành hàng) và chỉ có vai trò của cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia mới có thể đảm đương vai trò này.  Doanh nghiệp và nhà nước làm gì để có thể xây dựng được uy tín của Made In Vietnam tại thị trường nước ngoài.  Doanh nghiệp cần làm các việc sau:  1. Các vấn đề nội bộ  * Sản xuất đúng chất lượng đăng ký.  * Nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng tại thị trường CPC.  * Xác định rõ các phân khúc thị trường thích hợp với từng chủng loại sản phẩm của mình.  * Xác định rõ chiến lược phân phối phù hợp với thị trường và phù hợp với năng lực quản lý của bộ phận phát triển thị trường.  2. Các vấn đề thị trường  * Nghiên cứu kỹ các đặc tính văn hóa và tập quán tiêu dùng của từng phân khúc thị trường.  * Nghiên cứu kỹ đối thủ cạnh tranh.  * Nghiên cứu kỹ hành vi mua và sử dụng sản phẩm của từng phân khúc thị trường.  * Xây dựng một thuơng hiệu có khả năng cạnh tranh tại từng phân khúc thị trường.  * Tuyệt đối tránh chiến lược kinh doanh chỉ dùng giá làm phương tiện cạnh tranh duy nhất.  Nhà nước cần làm các việc sau:  1. Các vấn đề nội bộ  * Định hướng phát triển chiến lược của từng thị trường.  * Xác định các tính chất cơ bản của Việt Nam đang được thị trường chấp nhận là những tính chất gì.  * Xác định chiến lược chung là có thể phát huy những thế mạnh hiện tại hay là phải điều chỉnh hoặc cải chính nếu như xác định thị trường đang có vấn đề về nhận thức không đúng với định hướng phát triển thương mại quốc tế của VN.  * Xác định cán bộ phụ trách cụ thể thị trường xuất khẩu để có thể theo dõi các chuyển biến của thị trường và có các điều chỉnh phù hợp.  * Tổ chức hội Việt Kiều có mạng lưới rộng khắp để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường.  * Xây dựng hình ảnh Việt Nam thông qua các hoạt động kinh tế và văn hóa, ngoại giao…  2. Các vấn đề thị trường  * Xác định các quốc gia có các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa từ VN.  * Xác định các chiến lược hỗ trợ xuất khẩu của các quốc gia đó.  * Xác định những đặc tính cơ bản của VN mà các sản phẩm của VN hiện đang quảng bá, dù là vô tình hay có chủ ý.  * Xây dựng những ngân hàng cơ sở dữ liệu về tình hình kinh tế, xã hội, pháp lý của thị trường mục tiêu.  Doanh nghiệp và nhà nước cần phối hợp với nhau làm các công việc sau:  * Cùng nhau xác định những tiêu chí căn bản của sản phẩm Việt Nam.  * Cùng nhau xác định những công việc cùng làm chung và cùng chia sẻ kinh phí cũng như công sức, đặc biệt là công tác nghiên cứu thị trường và lập cơ sở dữ liệu khách hàng.  * Cùng nhau tổ chức các sự kiện văn hóa và kinh tế.  * Cùng nhau bảo vệ các thành quả kinh doanh của cộng đồng cũng như giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, đặc biệt về thanh toán hoặc liên kết trao đổi hàng hoá trong cùng một hệ thống phân phối  * Thực hiện các chuyến đi thăm Việt Nam thông qua nhiều nguồn: du lịch tự phát, tham quan công ty, du lịch nghỉ dưỡng… để tăng cường các mối liên hệ và thông tin về Việt nam đến với từng người tiêu dùng mục tiêu của từng thị trường mục tiêu.  * Thu thập thông tin về những người tiêu dùng đã từng đi thăm VN để từ đó có những cơ sở phát triển những mối liên hệ với Việt Nam và là nền tảng của việc tiêu thụ các sản phẩm Made in Vietnam.  Nguyễn Duy Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương hiệu Việt và giá trị văn hóa      Là một người không phải doanh nhân, đồng  thời là người tiêu dùng, tôi có chút băn khoăn khi từ góc độ văn hóa  nghĩ về quan niệm “cuộc chiến thương trường” trong xây dựng và phát  triển “thương hiệu Việt” – yếu tố cực kỳ quan trọng của các doanh  nghiệp.    Tại hội thảo “Sáng tạo trong cuộc chiến thương trường” (với phụ đề “Làm sao châu chấu thắng voi”) [23/11 tạo TP Hồ Chí Minh]  các diễn giả đều bày tỏ một tinh thần dân tộc và khát vọng  “xây dựng một nước Việt hùng mạnh, cùng nhau xây dựng một niềm tin chung để mỗi người, dù ở đâu trên khắp địa cầu, đều có thể ngẩng cao đầu tự hào rằng: Tôi là người Việt Nam”.   Để làm được điều đó, quan trọng nhất là phải chiến thắng trong cuộc chiến thương trường khốc liệt – như doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ khẳng định “không được mơ hồ về cuộc chiến này”.     Tư tưởng chỉ đạo đó mang đến khí thế  hừng hực “ra trận – quyết chiến quyết thắng” của nhiều doanh nhân và một số nhà nghiên cứu, giảng viên đại học về lĩnh vực kinh tế, thể hiện rõ bằng cách sử dụng những khái niệm quân sự như: cuộc chiến, chiến tranh, chiến lược, sách lược, vũ khí, triệt tiêu… trong lĩnh vực kinh tế, và hẹp hơn, khi bàn về chủ đề của Hội thảo. Với đối tượng mà hội thảo và các diễn giả hướng đến là thanh niên thì khí thế này đã mang lại sự sinh động sôi nổi hơn những cuộc hội thảo khác.    Là một người không phải doanh nhân, lại trong số ít người thuộc ngành xã hội nhân văn tham dự hội thảo, đồng thời là người tiêu dùng, tôi có chút băn khoăn khi từ góc độ văn hóa nghĩ về quan niệm “cuộc chiến thương trường” trong xây dựng và phát triển “thương hiệu Việt” – yếu tố cực kỳ quan trọng của các doanh nghiệp.    Không thể phủ nhận mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thương trường hiện nay, nhưng sự cạnh tranh này, bản thân nó không chỉ là mang ý nghĩa các doanh nghiệp cần phải loại trừ, tiêu diệt, thôn tính nhau kiểu “cá lớn nuốt cá bé”. Một vị diễn giả tại hội thảo đã nói: nếu hiểu cạnh tranh là như vậy thì chỉ mới biết đến chủ nghĩa tư bản sơ khai, còn hiện nay, cạnh tranh còn / phải mang tính liên kết, phối hợp. Vị diễn giả khác nêu ví dụ về trường hợp ba thương hiệu nổi tiếng Chanel, Christian Dior và Yves Saint Laurent. Đều là những hãng thời trang dành cho phụ nữ nhưng mỗi hãng  phục vụ cho một nhu cầu khác nhau và có đối tượng khách hàng riêng. Do hướng đến những mục tiêu cụ thể khác nhau mà cả ba thương hiệu này không loại trừ nhau mà cùng tồn tại và ngày càng phát triển. Có thể thấy rằng, đây là một “cuộc chiến” không bên nào thua mà người tiêu dùng lại thắng, vì những nhu cầu, sở thích được đáp ứng nhiều hơn, thậm chí bằng những sáng tạo mới, những sản phẩm mới của các thương hiệu này đã “buộc” người tiêu dùng có thêm nhu cầu, ngày càng đa dạng phong phú. Nhu cầu của khách hàng  chính là nguồn lực để các thương hiệu tiếp tục khẳng định và phát triển.    Như vậy, xây dựng thương hiệu cần có mục tiêu cụ thể rõ ràng: cung cấp cái gì, cho ai, như thế nào, để làm gì… Thiếu mục tiêu “hướng đến/ dành cho người tiêu dùng” thương hiệu sẽ không trở thành nhu cầu, thói quen, không đi vào niềm tin, tâm thức của khách hàng. Để thực hiện mục tiêu này doanh nghiệp phải sáng tạo ra dấu ấn riêng, hay nói cách khác, tìm ra con đường mới để đi vào thị trường. Mục tiêu – sáng tạo – đổi mới là những yếu tố tạo dựng “Giá trị văn hóa” cho thương hiệu. Đây là điều kiện tiên quyết nếu doanh nghiệp muốn phát triển bền vững.    Nếu lấy mục đích của “cuộc chiến thương trường” là loại trừ, thâu tóm lẫn nhau tất yếu dẫn đến sự độc quyền. Độc quyền trong bất cứ lĩnh vực nào đều không phải là điều hay – như chúng ta đã thấy, trải nghiệm và chịu nhiều hậu quả, nhất là hiện nay Việt Nam chưa có “Luật chống độc quyền” như nhiều nước phát triển khác. Người ta vẫn nói “Mục đích biện minh cho phương tiện”, nhưng từ góc độ xã hội nhân văn, thương hiệu khó đạt được một “giá trị văn hóa” khi dùng nhưng phương thức kém văn hóa để chiến thắng. Trong lịch sử, cuộc chiến nào cũng mang đến hậu quả là sự hủy hoại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của một quốc gia, của nhân loại. “Cuộc chiến“ thương trường cũng vậy, chỉ làm mất đi những gía trị văn hóa của doanh nghiệp và có khi, của cả doanh nhân.    Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt chủ trương xây dựng thương hiệu nhằm quảng bá ra thị trường quốc tế, để thể hiện “tinh thần dân tộc Việt“. Tuy nhiên ngay cả trong thương trường thì việc hô hào và khích động tinh thần dân tộc cũng rất dễ sa vào “chủ nghĩa dân tộc“ thiển cận, hẹp hòi. Trong thời đại toàn cầu bài học thành công của các doanh nhân, doanh nghiệp lớn chính là nhờ có “lòng tự trọng“ – sự tự trọng của mỗi con người, của mỗi quốc gia là giá trị mang tính toàn cầu. Nhờ lòng tự trọng cao mà người Nhật đã sản xuất những hàng hóa tốt nhất cho người Nhật sử dụng và sau đó là cho thế giới. Tôn trọng “người cùng một nước“ trước khi muốn và làm cho người khác tôn trọng doanh nghiệp mình, quốc gia mình, có lẽ “tinh thần dân tộc“ phải bắt đầu từ đó.    Với những Thương hiệu Việt, mong sao các doanh nghiệp hãy hướng đến người tiêu dùng Việt Nam. “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” phải là hàng chất lượng cao, phong phú đa dạng, phù hợp những tầng lớp người tiêu dùng và nhu cầu khác nhau.  Khi chúng ta còn phải nhập siêu hàng hóa nước ngoài (từ bình dân đến cao cấp) thì có lẽ ngay trong thương trường Việt “tinh thần dân tộc” cần được nâng cao hơn nữa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại hai chiều Việt – Mỹ tăng hơn 12 lần sau 10 năm      Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết, kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương (BTA), có hiệu lực cách đây đúng 10 năm, thương mại hai chiều giữa Mỹ và Việt Nam đã tăng hơn 12 lần – từ 1,5 tỉ USD lên hơn 20 tỉ USD.     “Hơn 10 năm qua, chúng tôi đã có những bước tiến ấn tượng trong mối quan hệ song phương của chúng ta, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế,” Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông David B. Shear, nói. “Thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai nước chúng ta là một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi với tư cách là Đại sứ.”  BTA được các nhà đàm phán Mỹ và Việt Nam ký kết ngày 13/7/2000, chỉ 5 năm sau khi Tổng thống Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, và chính thức có hiệu lực từ ngày 10/12/2001.  Hiện nay, Mỹ và Việt Nam, cùng với bảy nước đối tác khác đang đàm phán một hiệp định thương mại tự do khu vực Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), được coi là nền tảng tiềm năng cho hội nhập kinh tế trên toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học: Con đường đau khổ      Mỗi năm, cả nước phải chi hàng ngàn tỉ đồng cho hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng rất ít kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất hay trở thành sản phẩm thương mại trên thị trường.  &#160;    Thuốc Ruvintat điều trị rối loạn mỡ trong máu, huyết áp cao là kết quả nghiên cứu khoa học của thạc sĩ Dương Thị Mộng Ngọc (trường Đại học Y dược TPHCM). Đây là công trình nghiên cứu sử dụng kinh phí nhà nước và kết quả nghiên cứu đã được Công ty cổ phần Dược phẩm OPC tiếp nhận, tổ chức sản xuất sản phẩm. Bà Ngọc cùng với OPC đang hoàn tất những thủ tục cuối cùng cho việc công nhận thuốc để sản phẩm được chính thức lưu hành.      Bà Ngọc đã bắt đầu công trình nghiên cứu thuốc Ruvintat từ 17 năm trước. Thuốc đã được thử nghiệm lâm sàng trên hơn 400 bệnh nhân trong nhiều năm qua và cho kết quả khả quan. Ruvintat là một trong rất ít kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu được ứng dụng và đưa vào sản xuất thành sản phẩm hoàn chỉnh.       Được yêu cầu, ứng dụng vẫn khó  TPHCM hiện có 170 kênh, rạch với tổng chiều dài khoảng 2.000 ki lô mét, trong đó có gần 1.000 ki lô mét bị lục bình, cỏ dại phủ mặt nước, cản trở dòng chảy và giao thông đường thủy, phát sinh dịch bệnh. Để dọn dẹp lục bình, một vị lãnh đạo tại một công ty thủy lợi của thành phố cho rằng mỗi năm thành phố cần phải tiêu tốn vài chục tỉ đồng.  Trong năm 2013, để vận động thanh niên xung phong, sinh viên tại bảy quận, huyện ra quân vớt lục bình, thành phố đã phải chi hơn 2,7 tỉ đồng. Do phải sử dụng nguồn kinh phí và nhân lực không nhỏ, ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBND thành phố, đã chỉ đạo phải nhanh chóng nghiên cứu ứng dụng các thiết bị máy móc trục vớt lục bình dọc theo sông Sài Gòn và trên các kênh, rạch.  Sau chuyến thực địa tại huyện Bình Chánh giữa năm 2013, ông Quân đã yêu cầu thử nghiệm hệ thống máy cắt, vớt lục bình của Tiến sĩ Bùi Trung Thành ở trường Đại học Công nghiệp TPHCM. Sau đó, chính quyền thành phố đã có hơn chục văn bản và nhiều cuộc họp với các đơn vị liên quan việc cải tiến máy cắt của Tiến sĩ Thành.  Vào năm 2009, trong một đề tài nghiên cứu cấp bộ được cấp kinh phí 3,8 tỉ đồng, Tiến sĩ Thành đã cho ra đời máy cắt, vớt lục bình làm việc trên sông lớn. Sau khi có chỉ đạo của thành phố, ông Thành phối hợp với Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ thủy lợi TPHCM cải tiến máy để ra phiên bản nhỏ gọn hơn, thích hợp làm việc trên các kênh, rạch nhỏ.  Ông Nguyễn Văn Đam, Giám đốc Công ty Dịch vụ thủy lợi TPHCM, nhận xét máy cắt, vớt lục bình phiên bản cải tiến làm việc hiệu quả, giải phóng được lao động chân tay. “Tuy nhiên, để đảm nhận được việc vớt lục bình trên khoảng 1.000 ki lô mét sông, kênh, rạch thì cần tới vài chục chiếc như vậy”. Riêng Công ty Dịch vụ thủy lợi TPHCM cũng phải cần có vài chiếc máy mới đảm nhận hết công việc chứ không phải chỉ một máy như hiện nay. Nhiều đơn vị khác cũng muốn có những chiếc máy này nhưng lại thiếu kinh phí mua máy.   Dân cần sản phẩm, còn kết quả nghiên cứu thì bị nhốt trong tủ  Đầu mùa mưa những năm 2005 – 2006, bọ đậu đen ồ ạt bay vào nhà dân tại các vùng trồng cao su của tỉnh Bình Dương. Người dân mua các loại thuốc diệt côn trùng có trên thị trường về phun, bọ trước khi chết tiết ra một mùi hôi khó chịu và mùi hôi này sẽ thu hút đợt bọ sau vào nhà.  Trước tình trạng này, Sở Khoa học và Công nghệ (KH-CN) tỉnh Bình Dương đã đặt hàng PGS.TS. Hồ Sơn Lâm ở Viện Khoa học vật liệu ứng dụng TPHCM (thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam) chế tạo một loại thuốc đặc trị bọ đậu đen.  Kết quả thử nghiệm thuốc, bọ đậu đen chết nhưng không tiết ra mùi hôi và ngăn được những đàn bọ sau. Vào tháng 9-2009, công trình nghiên cứu thuốc diệt bọ đậu đen được nghiệm thu và đánh giá cao. Ông Lâm cũng đã chuyển giao kết quả nghiên cứu cho Sở KH-CN tỉnh Bình Dương để sản xuất thuốc. Thế nhưng cho đến nay, sau 5 năm chuyển giao, kết quả nghiên cứu này vẫn chỉ nằm im trên báo cáo. Theo giải thích của một cán bộ ở Sở KH-CN tỉnh Bình Dương, đó là vì tỉnh chưa có điều kiện để sản xuất và cũng không nhường quyền sản xuất cho nơi khác vì đây là sản phẩm trí tuệ của tỉnh nhà.  Ở những vùng bị bọ đậu đen hoành hành, từ Bình Dương, Đồng Nai tới huyện Củ Chi (TPHCM), người dân vẫn tiếp tục gọi điện thoại tới PGS.TS. Lâm để “xin mua” thuốc diệt bọ đậu đen. Thời gian đầu, ông Lâm còn thuốc được sản xuất trong quá trình nghiên cứu nên có thể cung cấp cho dân. Đến khi hết thuốc, ông “chỉ” lên Sở KH-CN tỉnh Bình Dương nhưng… nào có thuốc! Người dân phải quay về mua thuốc ngoài thị trường để diệt bọ đậu đen và tiếp tục chịu đựng mùi hôi cùng nỗi thấp thỏm lo lắng những đàn bọ khác lại kéo nhau vào nhà.  Trước nhu cầu nhiều năm chưa được đáp ứng của người dân, ông Lâm cho biết, nếu Sở KH-CN tỉnh Bình Dương vẫn không triển khai sản xuất thuốc, tự ông sẽ nghiên cứu một công thức thuốc tương tự để phối hợp với một đơn vị thương mại cung cấp thuốc ra thị trường.            Năm 2013, Sở KH-CN TPHCM cấp kinh phí cho 183 đề tài, dự án và trong năm nghiệm thu 125 đề tài, dự án. Trong chín tháng đầu năm 2014, sở này cũng đã triển khai 420 đề tài, dự án và đã có 197 đề tài, dự án được nghiệm thu.  Vào giữa tháng 5-2014, Sở KH-CN TPHCM đã chuyển giao 11  kết quả nghiên cứu từ những năm trước đó cho các công ty, xí nghiệp để  sản xuất, thương mại sản phẩm. Công ty Thời Đại Xanh đã được chuyển giao  bộ kit ELISA phát hiện nhanh dư lượng melamine trong sữa và thức ăn  chăn nuôi. Ông Đỗ Văn Thường, Giám đốc công ty, cho biết sau gần sáu  tháng, đến nay quá trình chuyển giao cũng mới chỉ dừng ở các bước thủ  tục chuyển giao nên công ty chưa thể triển khai sâu hơn kết quả nghiên  cứu này. Trong khi đó, thạc sĩ Bùi Quốc Anh, người nghiên cứu ra bộ kit,  khẳng định đây là sản phẩm hoàn chỉnh, đã sẵn sàng cho việc thương mại.                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu của đại học: Bí quyết thành công của Hoa Kỳ      Quá trình thương mại hoá sản phẩm khoa học công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Hoa Kỳ được thực hiện thông qua văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) hoặc văn phòng cấp phép công nghệ (TLO). Các văn phòng được đặt tại các trường đại học hoặc các vùng sản xuất trên khắp cả nước.      Đại học California, Los Angeles (UCLA) là trường đứng đầu nước Mỹ về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp, còn vượt cả Stanford, MIT và Canergie Mellon. Trong ảnh là một góc phòng thí nghiệm để ươm tạo công nghệ (incubator lab) của đại học này. Nguồn ảnh: báo Los Angeles Times.   Vai trò của các TTO  Quá trình thương mại hoá sản phẩm khoa học công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Hoa Kỳ được thực hiện thông qua văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) hoặc văn phòng cấp phép công nghệ (TLO). Các văn phòng được đặt tại các trường đại học hoặc các vùng sản xuất trên khắp cả nước. Đối với các trường và cơ sở nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp thì điều này thể hiện rất rõ thông qua mạng lưới TLO được đặt tại trung tâm khuyến nông ở tất cả vùng sản xuất trọng điểm trong các tiểu bang. Các tổ chức này tham gia ngay từ đầu quy trình thương mại hóa, sau khi nhà khoa học công bố công trình nghiên cứu hoặc phát minh của mình.  Bước đầu tiên, TTO sẽ xem xét tiềm năng thương mại hoá sản phẩm KHCN. TTO sẽ thảo luận với nhà khoa học để cân nhắc tiềm năng thương mại hoá của phát minh và sẽ quyết định có nên nộp đơn xin bằng sáng chế cho phát minh hay không? Tìm nguồn kinh phí đăng ký sáng chế ở đâu? Thời gian đăng ký sáng chế nhanh hay chậm? Phát minh này sẽ mang lại hiệu quả hay khả năng sử dụng và khai thác ra sao?    Hình 1. Sơ đồ quá trình thương mại hoá sản phẩm khoa học công nghệ tại các (TTO) của Hoa kỳ (van Norman và Eisenkot, 2017).  Có ba trường hợp xảy ra (Hình 1): (1) Nếu sản phẩm KHCN không mang lại giá trị thương mại nhưng có tiềm năng để phục vụ cộng đồng thì sẽ được chuyển giao phi độc quyền (non-exclusively transferred) thông qua một văn bản chuyển giao gọn nhẹ gọi là MTA – materials transfer agreements cho nhiều viện, trường khác để tham khảo hoặc nghiên cứu. Một ví dụ mang tính lịch sử là công nghệ cắt gene của hai nhà khoa học Cohen và Boyer đem về cho hai trường đại học sở hữu nó là Đại học California và Đại học Stanford 250 triệu USD doanh thu từ năm 1981 – 1997 chỉ nhờ vào chuyển giao phi độc quyền (phí chuyển giao mỗi lần là 10.000 USD).  (2) Nếu phát minh sáng chế đã có một hợp đồng tài trợ thương mại hay hợp đồng tài trợ nghiên cứu (gọi là SRA – sponsored research arrangement) từ trước đó thì chính doanh nghiệp, tổ chức tài trợ sẽ thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu đó nhanh chóng.  (3) Trong trường hợp, sáng chế, phát minh chưa từng được doanh nghiệp tài trợ nhưng về lâu dài có “giá trị tiềm năng thương mại”, TTO sẽ xây dựng dự án để thu hút nguồn vốn. TTO sẽ định hướng phát triển các sản phẩm KHCN theo hướng phù hợp với ý đồ tài trợ của các nguồn quỹ hoặc tiếp cận các quỹ, nhà đầu tư thiên thần, các cơ sở khởi nghiệp để phát triển đổi mới công nghệ.  Yêu cầu của các TTO là phải hiểu rất rõ ưu thế nghiên cứu và phát minh trong trường đại học của mình, phát triển mạng lưới quan hệ và hiểu các vấn để của khối tư nhân. Hơn nữa, các nhà khoa học, nhà sáng chế cũng biết những phát minh tương tự từng được công ty, tổ chức nào thương mại hóa để gợi ý cho chính TTO tìm hiểu. TTO và nhà khoa học bắt tay quảng bá phát minh, sáng chế ngay khi đơn xin cấp sáng chế hoặc sở hữu trí tuệ được chấp thuận để sớm có được tài trợ hoặc hợp đồng chuyển giao công nghệ. Chi phí và nguồn lực quảng bá và tìm hiểu thị trường là do TTO bỏ ra.  Tại Hoa Kỳ có thể dễ dàng tìm được thông tin về số lượng bằng sáng chế của các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ tại các văn phòng TTO/TLO. Mỗi văn phòng này đều tự xây dựng cho mình một ngân hàng công nghệ riêng để quản lý “vốn trí tuệ” của trường đại học.  TTO/TLO thường xuyên cập nhật và xuất bản danh mục các sản phẩm KHCN hiện có của trường để phát cho doanh nghiệp. Họ cũng tổ chức các hội chợ, hội thảo giới thiệu về công nghệ mới và mời các tổ chức tư nhân đến tham quan phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu của trường. Đây chính là cơ sở để các doanh nghiệp đặt hàng ngược lại các nhà khoa học. Khi nhận được yêu cầu của doanh nghiệp, TTO sẽ dựa vào các công nghệ liên quan trong ngân hàng dữ liệu của mình để tập hợp các nhà khoa học trong và ngoài trường xây dựng dự án. Sản phẩm đầu ra thường là kết quả của sự liên kết nhiều nhóm nghiên cứu bao gồm nhiều lĩnh vực trải rộng từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn. Chẳng hạn, một doanh nghiệp đến đặt hàng TTO của Đại học bang Florida làm ra một chậu cây có điều kiện thoáng khí tương tự như trồng ngoài đất, nhưng không bị rò rỉ nước hay phân bón ra ngoài. Dựa vào ngân hàng công nghệ của mình, TTO sẽ tập hợp những nhà khoa học về vật liệu, hóa học, nông nghiệp…có các nghiên cứu, phát minh, sáng chế liên quan cùng làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Kinh phí nghiên cứu sẽ do doanh nghiệp tài trợ toàn bộ ngay từ đầu, vì họ biết chắc chắn rằng mình sẽ có sản phẩm đúng hạn và như ý.      Để đánh giá hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các trường đại học, Hoa Kỳ đã xây dựng bộ chỉ số chuyển giao và thương mại hoá (The University Technology Transfer and Commercialization Index) được thu thập và đánh giá bởi Hiệp hội quản lý công nghệ các trường đại học (Association of University Technology Managers) (Ross DeVol và cs. 2017), tập trung vào việc đánh giá chất lượng công nghệ đã được nghiên cứu, chuyển giao và hiệu quả xã hội mà nó mang lại.        Thương mại hoá sản phẩm – một chỉ số xếp hạng các trường đại học  Số lượng các bằng sáng chế tăng nhanh chóng qua thời gian (Bảng 1) cho thấy vai trò quan trọng của việc hình thành các bằng sáng chế trong quá trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Chính phủ Mỹ nhận ra rằng, chỉ số về số lượng công bố khoa học hay số lượng bằng sáng chế là chưa đủ để đánh giá hiệu quả và sự cạnh tranh trong nghiên cứu KHCN của các trường đại học.    Bảng 1. Xếp hạng các đại học Hoa Kỳ về số lượng các bằng sáng chế giai đoạn 1969-2012. Nguồn: van Norman và Eisenkot, 2017.  Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã xây dựng bộ chỉ số chuyển giao và thương mại hoá (The University Technology Transfer and Commercialization Index) được thu thập và đánh giá bởi Hiệp hội quản lý công nghệ các trường đại học (Association of University Technology Managers) (Ross DeVol và cs. 2017), tập trung vào việc đánh giá chất lượng công nghệ đã được nghiên cứu, chuyển giao và hiệu quả xã hội mà nó mang lại. Khi đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động KHCN của một trường đại học hay các cơ sở nghiên cứu tại Hoa Kỳ sẽ phụ thuộc vào sự thành công của TTO/TLO trong việc quản lý tài sản trí tuệ, kiến thức về IP, việc cấp phép, nắm vững luật trong các hợp đồng; hiểu biết về quản lý và thực tiễn kinh doanh; các mối liên hệ với thị trường và đầu tư bên ngoài.  Trong đó, bốn nhóm chỉ số được xây dựng bao gồm: số lượng các bằng sáng chế được cấp, các hợp đồng li-xăng tạo ra, kinh phí thu được từ các hợp đồng li-xăng và nhóm/doanh nghiệp khởi nghiệp hình thành. Cách làm này giúp Chính phủ Hoa Kỳ có đầy đủ các thông tin về lợi nhuận kinh tế cũng như hiệu quả xã hội của các nguồn đầu tư cho KHCN đem lại, qua đó có kế hoạch hỗ trợ và đầu tư hiệu quả hơn cho các trường đại học và viện nghiên cứu. Việc đánh giá Chỉ số chuyển giao và thương mại hoá công nghệ và xếp hạng các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu được thực hiện theo chu kỳ bốn năm.  Kết quả đánh giá các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu theo bộ Chỉ số chuyển giao và thương mại hoá cho thấy xếp hạng KHCN không hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn kinh phí đầu tư hay quy mô và uy tín của đại học hay cơ cở nghiên cứu mà phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động KHCN. Mỗi trường đại học và các cơ sở nghiên cứu muốn có vị trí cao trong bảng xếp hạng về hiệu quả hoạt động KHCN thì phải xây dựng chiến lược để nâng cao vị thế KHCN của mình (Ross DeVol và cs. 2017). Dưới đây là một số ví dụ về chiến lược phát triển KHCN của các trường ĐH và các cơ sở nghiên cứu của Hoa Kỳ, trong đó có nhiều đại học nhỏ nhưng lại có hoạt động chuyển giao và thương mại hoá công nghệ hiệu quả như Đại học Uhtah năm 2006 xếp hạng 14, năm 2015 đã vượt lên đứng đầu bảng xếp hạng. ĐH Utah đã nâng cao vị thế và uy tín của mình thông qua việc xây dựng được chiến lược phát triển đại học dựa vào thương mại hoá kết quả nghiên cứu khoa học. Vị trí thứ hai là ĐH Columbia được đánh giá cao do tạo ra doanh thu lớn từ các hợp đồng chuyển giao KHCN. Vị trí thứ ba là Đại học Florida với sự thành công mang lại do đa dạng hoá sản phẩm khoa học công nghệ có tiềm năng thương mại. Vị trí thứ tư là đại học rất nhỏ bé Brigham Young đã nâng cao vị thế của mình thông qua việc tập trung vào hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp và hiệu quả trong việc đầu tư cho KHCN. Đại học nổi tiếng Standford xếp hạng thứ 5 tập trung vào tạo ra các sản phẩm công nghệ phục vụ phát triển thị trường chứng khoán và quản trị kinh doanh.  Bộ chỉ số xếp hạng này có thể được coi như một công cụ quản lý minh bạch, hiệu quả của chính phủ trong việc quản lý KHCN, đồng thời khích lệ các trường và cơ sở nghiên cứu đánh giá đúng vai trò của thương mại hoá công nghệ. Bên cạnh đó, nó cũng đòi hỏi các viện trường phải tự nâng cao năng lực trong quản lý việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu và công tác thống kê, báo cáo về hoạt động này. Chính phủ và nhà quản lý nhờ vậy mà nắm rõ hiệu quả tạo ra việc làm, tạo ra doanh nghiệp khởi nghiệp và hiệu quả xã hội từ đầu tư KHCN… Nhà nước cũng lấy đó làm cơ sở để xác định quyền đối với sản phẩm khoa học công nghệ tạo ra từ kinh phí đầu tư từ ngân sách (Bảng 2).    Bảng 2. Quyền của Chính phủ đối với các sản phẩm KHCN tạo ra từ kinh phí đầu tư của nhà nước.  Gợi ý cho Việt Nam  Kinh nghiệm của Mỹ đưa ra hai gợi ý quan trọng cho Việt Nam trong việc thúc đẩy thương mại hóa từ viện trường đến doanh nghiệp.  1) Cần xây dựng và hướng dẫn các tổ chức TTO/TLO tại trường đại học và các cơ sở nghiên cứu thực hiện quy trình chuyển giao và thương mại hoá công nghệ một cách bài bản và chuyên nghiệp nhằm khai thác hiệu quả cả ba dạng sản phẩm KHCN tạo ra từ chương trình nghiên cứu. Đồng thời, mỗi TTO/TLO này cũng cần phải tự thiết lập ngân hàng công nghệ và tham gia ngân hàng công nghệ mở trên thế giới. Cơ sở dữ liệu này đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc quản lý đề tài, nghiên cứu của các trường mà còn tránh các nghiên cứu trùng lặp, tham khảo và biết được trên thế giới đã có những công nghệ gì, công nghệ nào của trường có tiềm năng và nên đăng ký sở hữu trí tuệ. Một số tổ chức phát triển trên thế giới đã thành lập ngân hàng công nghệ toàn cầu cho các nước kém phát triển (chẳng hạn như Liên Hợp Quốc http://unohrlls.org/technologybank/), cho phép truy cập mở, tập trung vào các phát minh trong lĩnh vực như nông nghiệp, năng lượng và biến đổi khí hậu. Nhiều tổ chức chính phủ, phi chính phủ (doanh nghiệp, tổ chức từ thiện, tổ chức phi lợi nhuận, trường đại học, viện nghiên cứu công cộng, vv) đang tham gia vào mạng lưới này nhằm khai thác và tận dụng công nghệ để tạo ra sản phẩm giải quyết những thách thức toàn cầu.  2) Xây dựng bộ chỉ số phát triển thương mại hoá sản phẩm KHCN (Key performance indicators) để đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu các trường đại học và cơ sở nghiên cứu. Bộ chỉ số sẽ giúp chính phủ và nhà quản lý có căn cứ quyết định, xây dựng kế hoạch hỗ trợ hoặc tiếp tục đầu tư KHCN cho các cơ sở nghiên cứu, phục vụ quản lý hoạt động KHCN minh bạch và hiệu quả. Mặt khác, việc xây dựng bộ chỉ số và xếp hạng các đơn vị sẽ khích lệ các trường và cơ sở nghiên cứu luôn đổi mới tổ chức và thực hiện nhiệm vụ KHCN phù hợp với nhu cầu thực tế, nâng cao tính cạnh tranh và vị thế KHCN của mình.    Ngoài ra, để bộ chỉ số cũng như các trung tâm TLO/TLO có thể đi vào hoạt động thực chất, điều quan trọng là phải tăng cường đào tạo nhận thức về thương mại hoá cho các nhà khoa học và thế hệ tương lại trong hệ thống giáo dục đại học và các cơ sở nghiên cứu. Tại Hoa Kỳ cũng như ở một số nước phát triển khác, không chỉ các doanh nghiệp mà bản thân các nhà khoa học, sinh viên đều được giáo dục sâu sắc về thái độ thương mại hoá sản phẩm trí tuệ thông qua các chương trình gắn kết thị trường…. Vì vậy bản thân những người làm khoa học, sinh viên tốt nghiệp, người nông dân là những nhà nghiên cứu thị trường. Qua các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức các nhà khoa học sẽ năng động hơn, vận động tốt hơn việc định hướng nghiên cứu gắn với thị trường.  ———  * Bài viết với sự đóng góp của Phạm Đức Nghiệm và John Barnett, Đại học Emporia State, Hoa Kỳ.  Tài liệu tham khảo  1. Ross DeVol, Joe Lee và Minoli Ratnatunga (2017). Khái niệm và mô hình thương mại hoá công nghệ tại Hoa kỳ: Trường đại học chuyển giao công nghệ hiệu quả nhất. Báo cáo của Viện nghiên cứu Mickens.  2. Bayh-Dole Act. Pub Law No. 96-517, amended by Pub Law No 97-256 at 35 U.S.C. Ch 18. Available at: https://www.gpo.gov/fdsys/pkg/STATUTE-94/pdf/ STATUTE-94-Pg3015.pdf. Accessed March 23, 2017.  3. McDevitt FL, Mendez-Hinds J, Winwood D, et al. More than money: the exponential impact of academic technology transfer. Technol Innov 2014;16:75–84.  4. Valdivia WD. University start-ups: critical for improving technology transfer. The Brookings Institution. November 20, 2013. Available at: https://www.brookings.edu/research/university- start-ups-critical-for-improving-technology-transfer/ Accessed February 10, 2017.  5. Thursby JG, Thursby MC. Intellectual property. University licensing and the Bayh-Dole Act. Science 2003;301:1052.  6. Winickoff D. Private assets, public mission: the politics of technology transfer and the new American university. Jurimetrics 2013;54:1–42.  7. Council on Governmental Relations (COGR). Rights and responsibilities for technical data and computer software under federal awards. October 2009. Available at: http://www.cogr.edu/rights- and-responsibilities-technical-data-and-computer- software-under-federal-awards. Accessed February 11, 2017.  8. Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (2016), Báo cáo tổng kết hằng năm của Bộ Nông nghiệp Mỹ về Kế hoạch tiếp cận công cộng: Tăng khả năng tiếp cận thị trường với kết quả nghiên cứu khoa học do Federally tài trợ.  9. Cục Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ, (2017). Báo cáo kế hoạch chiến lược phát triển năm 2017-2019 về “Hỗ trợ đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp”.          Author                Nguyễn Thị Phương Lan        
__label__tiasang Thương mại nông nghiệp bùng nổ ở châu Phi      Dân số thế thế giới đang không ngừng tăng lên, kéo theo sự quan tâm của các nhà đầu tư vào đất đai trồng trọt ở châu Phi. Lục địa này ẩn chứa tiềm năng lớn chưa được khai thác về nông nghiệp, nhưng liệu những nhà sản xuất địa phương có thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài?  &#160;    Hội nghị “Thương mại nông nghiệp ở châu Phi” đã được tổ chức vào ngày 19 tháng 1 tại Berlin nhằm quy tụ các doanh nghiệp, các chuyên gia về phát triển từ khắp thế giới. Các nhà tổ chức hy vọng sẽ trả lời được câu hỏi: nếu chính phủ châu Phi lơ là việc đầu tư vào thế hệ trẻ và cơ sở hạ tầng, cũng như cung cấp các khoản vay dài hạn hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì liệu có xảy ra nguy cơ những thành quả từ nông nghiệp châu Phi sẽ lọt vào tay kẻ khác?  Một nghiên cứu ở trường đại học Stanford năm 2013 cho biết, châu Phi sở hữu tới 60% diện tích đất phù hợp cho trồng trọt đang bị bỏ hoang trên thế giới. Tuy nhiên châu Phi chỉ chiếm khoảng 3% xuất khẩu nông nghiệp toàn cầu. Vì vậy khi dân số thế giới không ngừng tăng lên, các nhà đầu tư đã bắt đầu để mắt tới những khu vực đất đai có thể sản sinh lợi nhuận ở lục địa này.  “Sự đổ bộ của hiện tượng thương mại nông nghiệp là cơ hội lớn cho châu Phi”, Fadel Ndiame – thuộc Liên minh Cách mạng xanh châu Phi (AGRA) – nhận định. Tổ chức này giúp đỡ nâng cao các kỹ năng cho tiểu nông, việc mà người nông dân rất cần làm nếu muốn cạnh tranh với các công ty lớn của nước ngoài đang tiến vào châu Phi.  “Tôi nghĩ chúng tôi cần tận dụng mối quan hệ đối tác với châu Âu như một cơ hội hơn là một sự trừng phạt hay coi đó như mục đích cuối cùng”, Ndiame nói. Trong trường hợp này, Ndiame muốn ám chỉ đến thỏa thuận tự do thương mại giữa EU và một vài các quốc gia châu Phi chỉ được ký kết ngay trước hạn chót vào năm ngoái – sau khi các chính phủ châu Âu đe dọa áp dụng hệ thống thuế quan nhập khẩu cao hơn cho các sản phẩm từ lục địa đen.   Những người phản đối các thỏa thuận này, được biết đến với tên gọi Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPAs), lo ngại các công ty châu Âu có thể sẽ thế chỗ những nhà sản xuất châu Phi thiếu khả năng cạnh tranh hơn. Nhưng Fadel thì lạc quan hơn, cho rằng các dự án liên doanh có thể đem lại giải pháp khắc phục những lỗ hổng trong năng lực sản xuất của các công ty châu Phi, nếu không sẽ rất khó có thể cạnh tranh với các đối thủ châu Âu trên thị trường mở.   Nhiều lợi nhuận hơn cho các tiểu nông  Fadel tin rằng nguồn vốn và chuyên môn từ nước ngoài có thể giúp đỡ vào quá trình phát triển tại địa phương. Bruno Wenn của ngân hàng phát triển Đức KfW, từng thực hiện nhiều dự án phát triển ở châu Phi trong hơn 30 năm qua, cho biết các chính phủ châu Phi cần hành động nhiều hơn để phát triển thị trường khu vực và hỗ trợ các công ty tầm trung, vốn đã bắt đầu nảy nở trong khu vực. Như những công ty tương tự ở Đức, các hãng này có thể trở thành động cơ chính thức đẩy sự phát triển, đổi mới sáng tạo và tạo ra việc làm. “Các ngân hàng ở nhiều quốc gia châu Phi rất e dè khi cung cấp tài chính dài hạn cho các công ty tầm trung”, ông nói, “họ sẵn sàng cung cấp vốn ngắn hạn nhưng với khoản vốn như thế này anh không thể thực hiện được những đầu tư dài hạn. Cách làm này rất không bền vững”.   Shingirirai Nyamwanza, 34 tuổi, là giám đốc quản lý khu vực châu Phi của Mạng lưới Lá bốn cánh Toàn cầu (Global Clover Network), một tổ chức phi lợi nhuận ở Tanzania  theo đuổi mục đích truyền cảm hứng cho những người trẻ chọn nông nghiệp làm con đường sự nghiệp. Bà cho biết, trước đây việc này rất khó; nhưng bảy, tám năm trở lại đây đã có sự chuyền biến tích cực trong nhận thức của giới trẻ.   60% diện tích đất nông nghiệp hiện đang ở châu Phi, vì vậy nếu không thúc giục đội ngũ giới trẻ châu Phi tận dụng nguồn tài nguyên đó, những người khác sẽ được gửi tới để khai thác. Nếu điều đó xảy ra, trong khoảng 30 năm, châu Phi sẽ có một thế hệ công dân bị tước quyền trên chính mảnh đất của mình.  Bà cho rằng chính phủ các nước châu Phi cần thúc đẩy chương trình thương mại nông nghiệp và làm cho chúng trở nên hấp dẫn với giới trẻ. “Nếu không, sẽ xảy ra quá trình thực dân hóa lần thứ hai hoặc lần thứ ba ở châu Phi. Nếu không biết cách sở hữu mảnh đất của chính mình như một dân tộc, bạn sẽ không thể làm được gì sinh lợi, và từ đó sẽ kéo theo nhiều vấn đề chính trị và xã hội khác”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.de/agribusiness-begins-to-boom-in-africa/a-18208739      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại và dịch vụ điện tử ở Mỹ phát triển đến đâu?      Ở Mỹ chưa hẳn 100% dân chúng đều sử dụng dịch vụ mua bán và mọi thứ qua mạng như người ta vẫn hình dung. Nhưng nước Mỹ đang tiến dần đến con đường đó.    Kỹ nghệ ngân hàng. Nếu có cơ hội tới thăm một chi nhánh của Citibank, một trong những ngân hàng hàng đầu của Mỹ (một trong những ngân hàng Mỹ đầu tiên đã có trụ sở và chi nhánh hoạt động tại Việt Nam), ta sẽ thấy hệ thống vận hành của trung tâm này phản ánh rõ rệt những thay đổi và tiến bộ của công nghệ tin học trong ngân hàng Mỹ trong vòng mười năm qua.  Điển hình là khu xử lý séc cá nhân của các tư nhân và hộ gia đình. Mặc dù quy trình vận hành như nhau, các séc gửi tới ngân hàng đều phải được phân loại theo các hãng (khách hàng của ngân hàng), sau đó ghi lại số tiền, số tài khoản, ngày tháng thanh toán để chuyển sang cân đối tài khoản, nhưng khu xử lý séc được chia thành ba hệ thống khác nhau sử dụng các công nghệ khác nhau.  Hệ thống thứ nhất hoàn toàn tự động hóa, các tờ séc chạy qua một hệ thống vận hành phức tạp để được phân loại, sau đó quét bằng một máy quét kỹ thuật số chất lượng cao và tự động nhập các số liệu cần thiết, người điều hành chỉ can thiệp và nhập số liệu bằng tay khi máy không thể nào đọc được chữ viết rắc rối trên séc. Tỷ lệ can thiệp chỉ là 1 phần nghìn, để điều hành toàn bộ hệ thống chỉ cần duy nhất một người.  Bộ phận thứ hai cũng có hệ thống phân loại và đọc số liệu nhưng kỹ thuật thấp hơn, đòi hỏi khoảng 10 lao động điều khiển 10 chiếc máy quét và tỷ lệ can thiệp cao hơn, tới 1/25. Một hệ thống thứ ba cũng gồm máy quét và máy vi tính, nhung do chất lượng thấp, hiện công ty đã ngừng không sử dụng đến, chỉ có khi nào số lượng séc quá lớn mới đem ra vận  hành để giảm tải.  Số lượng séc xử lý tại một trung tâm của Citibank lên tới trung bình khoảng vài triệu trong một tuần, cho thấy dân chúng Mỹ vẫn còn phần nào ưa chuộng cách thanh toán truyền thống là nhận hóa đơn theo đường bưu điện, viết một tờ séc và gửi bưu điện để thanh toán. Trong số các khách tham quan  Citibank cùng với tác giả (các sinh viên Mỹ theo học ngành quản trị kinh doanh), một phần hai cho biết vẫn ưa sử dụng thanh toán bằng séc, trong khi đó số còn lại hoàn toàn thanh toán các hóa đơn qua mạng. Anh thanh niên điều hành hệ thống đọc và nhập số liệu từ séc, người Mỹ gốc Việt, cười khi thấy chúng tôi nói chuyện là vẫn sử dụng séc. Anh cho biết trong một năm anh có lẽ chỉ dùng đúng một tờ séc, còn lại hoàn toàn thanh toán qua mạng. Các khách tham quan cũng cho biết họ bị gia đình và bạn bè cười là cổ hủ, xong họ vẫn ưa thanh toán bằng séc vì cảm thấy chưa thích nghi được với thanh toán qua mạng, một phần vì cảm thấy không đủ an toàn, một phần vì khó thay đổi thói quen lâu đời từ xưa tới nay là sử dụng séc. Theo dự đoán của các nhân viên Citibank mà chúng tôi được gặp, trong vòng chậm nhất là mười năm nữa, mọi người sẽ hoàn toàn quen với thanh toán qua mạng, lúc đó công việc thanh khoản của ngành ngân hàng sẽ đơn giản hóa hơn rất nhiều so với bây giờ.  Dịch vụ bán lẻ hàng tiêu dùng. Các trường quản trị kinh doanh hàng đầu đã đưa vào chương trình giảng dạy           Quảng cáo trên Internet năm 2006 sẽ lên tới 15,6 tỷ USD.        chiến lược kinh doanh một nghiên cứu tình huống về cuộc cạnh tranh giữa hai hãng bán sách nổi tiếng là Amazon, bán hàng qua mạng, và Barnes and Noble, một hãng bán lẻ có chuỗi các cửa hàng sách ở khắp các nơi trên nước Mỹ trong những năm cuối 1990. Amazon phát triển mạnh đe dọa sự tồn tại của Barnes and Noble, khiến hãng này cũng phải tìm cách để cạnh tranh hiệu quả hơn bằng cách cũng đưa sách lên bán trên mạng, đồng thời biến các hiệu sách hiện có thành những địa điểm thật hấp dẫn, có cà-phê ngon, ánh sáng vừa mắt, và những ghế bành êm ái để thu hút các khách hàng vào đọc và mua sách.  Đối với người tiêu dùng, cuộc cạnh tranh này chỉ có lợi. Hai hãng đều phải có những khoản giảm giá đặc biệt để thu hút khách hàng, và mỗi hãng phục vụ nhu cầu mua sách theo một kiểu cách riêng. Nếu bạn cần một quyển sách cho việc học tập và không gấp  lắm, bạn sẽ vào Amazon. Nhưng nếu bạn cần ngay một quyển sách nào đó bạn vẫn muốn đến thử xem liệu hiệu sách Barnes and Noble gần nhà có sách đó hay không. Hoặc giả dụ nhân dịp Giáng Sinh và năm mới, nếu bạn thích mua sách tặng người thân và bạn bè, bạn hẳn phải muốn ghé Barnes and Noble nhiều hơn vì nhân viên ở đó có thể giúp bạn chọn sách và bọc gói.  Các hãng bán lẻ quần áo và đồ dùng cá nhân cũng dần dần đưa hết các loại hàng họ có lên trang web và khuyến khích mua hàng trên mạng bằng cách miễn phí vận chuyển nếu đơn đặt hàng trị giá lớn hơn một số tiền nhất định (trung bình khoảng 30 đôla, tùy theo quy định của từng hãng). Những người tiêu dùng Mỹ cho biết mùa Giáng Sinh và Năm Mới 2006 này, họ tăng cường mua hàng qua mạng nhiều gấp đôi so với năm ngoái nhờ khoản miễn phí vận chuyển này. Nhìn chung người tiêu dùng vẫn thích được thử các loại quần áo trước khi mua, điển hình là khu thử quần áo tại các hiệu Macy, Ross…, vẫn chật cứng người, song các hãng bán lẻ của Mỹ đều cho phép người mua hàng qua mạng trả lại đồ trong vòng 1 tháng, nên kết quả là doanh số bán hàng qua mạng không ngừng tăng lên trong những năm gần đây.  Dịch vụ tuyển nhân sự. Monster là hãng đi đầu ở Mỹ về lĩnh vực này, ra đời vào năm 1994. Monster, có nghĩa là Con quái vật khổng lồ, đã làm thay đổi cách người Mỹ tìm kiếm và xin việc. Monster được tất cả những ai còn đang trên thị trường lao động trên toàn nước Mỹ biết đến nhờ những chiến dịch quảng cáo hấp dẫn, nhấn mạnh khả năng mở rộng các cơ hội việc làm mong muốn nhờ thông tin phong phú về nhu cầu tuyển dụng của các hãng trên toàn nước Mỹ. Monster kiếm được lợi nhuận béo bở nhờ vị trí đi tiên phong bằng cách thu tiền đăng các thông báo tuyển dụng cho các hãng lớn nhỏ ở Mỹ, và cho phép người tìm việc tiếp cận miễn phí các quảng cáo này. Công việc cầu nối này trước kia là của các tờ báo và các trang niên giám điện thoại, hiện đã mất gần hết thị phần vào tay các trang web việc làm như Monster, Career Builder (Xây dựng sự nghiệp), HotJobs (Việc cần người gấp).  Theo bước Monster, hiện trên toàn  nước Mỹ có tới hàng trăm trang web tương tự, có cái theo mô hình tổng hợp mọi loại hình công việc, có cái chuyên biệt hóa chỉ đăng việc làm của một số ngành nhất định. Các trang web có thể được điều hành bởi những công ty cung cấp cả dịch vụ chọn lựa hồ sơ và tuyển người đi kèm, lại có các công ty khác, để thu hút thêm nhiều khách hàng, tập trung nghiên cứu thị trường lao động và tư vấn miễn phí cho người tìm việc cũng như các hãng muốn thuê tuyển nhân công…  Nhìn lại sự phát triển ngày càng lớn mạnh của mọi loại hình dịch vụ và thương mại online, có thể thấy điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự phát triển này trước hết nhờ hệ thống ngân hàng phát triển, được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin phát triển. Ngày nay hầu hết các gia đình Mỹ đều nối mạng truy cập Internet tốc độ cao thay vì sử dụng kết nối qua đường điện thoại có tốc độ rất chậm. Giá Internet tốc độ cao ngày càng rẻ, nếu năm 2004 giá cho một đường kết nối như vậy là 40 đôla một tháng, thì đến 2005 giá chỉ còn là 20 đôla một tháng.  Internet Marketing cũng đã được thành một môn học chính thức tại các trường quản trị kinh doanh trong hai năm gần đây. Theo nhận định của các chuyên gia Marketing của các hãng tiêu dùng của Mỹ, phương tiện quảng cáo chiếm ưu thế hàng đầu hiện nay mà các nhà sản xuất bỏ tiền vào nhiều nhất là Internet, thay vì vô tuyến truyền hình như trong những thập kỷ trước, vì người tiêu dùng đã có một thiết bị và dịch vụ là TiVo, có khả năng thu các chương trình truyền hình chọn lọc và bỏ qua quảng cáo. Theo Advertising Age, tạp chí chuyên đề về quảng cáo ở Mỹ, chi tiêu của các hãng cho quảng cáo trên Internet trong năm 2006 này sẽ lên tới 15,6 tỷ đô-la.  Như dự báo, thương mại và dịch vụ điện tử không chỉ là trào lưu của Mỹ, mà sẽ trở thành trào lưu của toàn thế giới. Theo lời một doanh nhân người Mỹ gốc Ấn Độ, anh này quyết định từ bỏ việc kinh doanh môi giới hàng dệt may từ Ấn Độ và Trung Quốc sang Mỹ trong vòng 6 năm nay của mình vì vị trí của những người môi giới kinh doanh như anh ngày càng hạ thấp, các công ty bán lẻ ở Mỹ có thể dễ dàng tìm thấy các mặt hàng cần mua từ các công ty sản xuất ở Ấn Độ và Trung Quốc thông qua một vài lần tìm kiếm trên Internet.  Nhìn lại Việt Nam, hiện nay các website việc làm của Việt Nam khá phát triển, với website đi tiên phong là vietnamworks.com do tập đoàn IDG của Mỹ đầu tư. Trang web chợ điện tử www.chodientu.com cũng đã ra đời. Tuy vậy cũng chưa rõ bao giờ dân Việt Nam mình sẽ ngồi nhà để đặt mua cà hay mắm tôm đóng hộp thay vì chạy ra chợ như bây giờ? Liệu có cần thiết chuyển mình nhanh chóng theo hướng như vậy không đối với các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam sẽ lại là một đề tài khác.  Thanh Phương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại Việt Nam -Trung Quốc mất cân đối nghiêm trọng      Bài phỏng vấn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh của Tạp chí Tia Sáng về vấn đề thâm hụt thương mại của Việt Nam đối với Trung Quốc.      Gần đây dư luận ít nhiều quan ngại về vấn đề thâm hụt thương mại của Việt Nam đối với Trung Quốc. Liệu mối quan ngại này có xác đáng trên khía cạnh kinh tế?  Việt Nam đã và đang tiếp tục nhập siêu rất nặng nề từ Trung Quốc và trong năm 2011 còn có dấu hiệu gia tăng. Theo các con số thống kê chính thức, trong 4 tháng đầu năm 2011, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 3 tỷ USD, nhập khẩu 7,1 tỷ USD, nhập siêu 4,1 tỷ USD, tức bằng 136,6% xuất khẩu. Số xuất khẩu của Việt Nam công bố thường cao hơn số nhập khẩu từ Việt Nam do Trung Quốc công bố, cho thấy số xuất khẩu thực của Việt Nam có thể còn thấp hơn, sai số có thể có liên quan đến gian lận để hoàn thuế khống. Ngoài số nhập khẩu chính thức cần kể đến lượng nhập khẩu biên mậu, nhập khẩu lậu qua đường biên giới có quy mô rất lớn. Chính phủ có chính sách cho phép người dân địa phương mỗi ngày được qua biên giới một lần và nhập về số hàng hóa tương đương 2 triệu VNĐ không phải chịu thuế. Lợi dụng chính sách này, rất nhiều người đã trở thành “dân địa phương” với giấy tờ hợp pháp và nhập khẩu chắc chắn không chỉ một lần và 2 triệu VNĐ. Công thêm số lượng nhập lậu qua đường biên giới dài, khó kiểm soát, buôn lậu trên biển, thâm hụt thương mại thực tế của Việt Nam với Trung Quốc còn cao hơn nhiều so với con số đã được Tổng Cục Thống kê công bố.    Quan hệ thương mại không chỉ bất bình đẳng về số lượng như trên đã đề cập đến mà còn nghiêm trọng hơn về chất lượng và cơ cấu mặt hàng. Theo Trần Văn Thọ cho thấy Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là than đá (30%), nông, lâm hải sản, quặng kim loại, hàng công nghiệp chỉ chiếm 12% trong khi cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam như hình dưới đây (Nguyễn Minh Cường, Sài Gòn Tiếp thị 6.6.2011) cho thấy Việt Nam chủ yếu nhập vật tư sản xuất, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải. Cơ cấu này thể hiện rõ tính chất quan hệ Bắc-Nam, tức là Việt Nam là nền kinh tế xuất khẩu nguyên, vật liệu và nhập khẩu hàng công nghiệp, máy móc. Thật là cay đắng khi thấy Việt Nam xuất khẩu cao su để nhập săm, lốp, xuất khẩu than để nhập khẩu điện từ Trung Quốc.        Thâm hụt thương mại cho thấy mức độ phụ thuộc của Việt Nam và kinh tế Trung Quốc đã nghiêm trọng đến mức không thể xem thường.  Người ta cho rằng Trung Quốc thặng dư thương mại với đa số các quốc gia khác phần nhiều là nhờ chính sách đồng Nhân dân Tệ yếu. Đây có đồng thời là nguyên nhân chính gây ra thâm hụt thương mại của Việt Nam đối với Trung Quốc?  Thế mạnh của xuất khẩu của Trung Quốc bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: quy mô sản xuất (economy of scale) của Trung Quốc rất lớn nên có lợi thế tuyệt đối về hiệu quả đầu tư, giá đất rẻ, giá lao động tương đối thấp, lãi suất ngân hàng thấp v.v. Một nguyên nhân là đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc được coi là định giá thấp, theo Mỹ thấp tới 30-40%, nên hàng hóa của Trung Quốc rẻ không thể giải thích được và chiếm lĩnh thị trường ở tất cả các nước, không chỉ Việt Nam.  Liệu có khả thi không tại thời điểm này nếu Việt Nam tìm cách cắt giảm thâm hụt thương mại với Trung Quốc?   Việc cắt giảm thâm hụt thương mại nói chung và với Trung Quốc nói riêng là hoàn toàn không đễ dàng. Trong tổng số hàng nhập khẩu, tỷ trọng hàng cần hạn chế nhập khẩu như ô tô, hàng xa xỉ chỉ chiếm 6,8% trong khi hàng cần nhập khẩu chiếm đến 86,5%. Thí dụ như hàng dệt may của Việt Nam phải nhập khẩu đến 75% tổng giá trị xuất khẩu và nhập chủ yếu từ Trung Quốc thì có thể thấy, cắt giảm nhập khẩu cũng đồng nghĩa với sự sụp đổ của công nghiệp dệt-may Việt Nam. Viêc Ngân Hàng Nhà Nước công bố điều chỉnh tỷ giá 9,3% để giảm nhập khẩu đã hoàn toàn không có kết quả, trái lại nhập siêu vẫn tăng mạnh. Nhập siêu tháng 4 trên kim ngạch xuất khẩu là 19,64%, tháng 5 là 22,6%, cả năm tháng đã lến đến 6,59 tỷ USD, cao nhất trong 17 tháng qua.   Về giải pháp chống thâm hụt thương mại, gần đây người ta thường đề cập nhiều tới việc hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ. Biện pháp này có phù hợp và cần thiết hay không? Để giải quyết tốt nhất vấn đề nhập siêu với Trung Quốc, Chính phủ nên tiến hành chính sách, biện pháp gì?  Giả định như có thể giảm số nhập khẩu ô tô, hàng xa xỉ từ 2,4 tỷ USD xuống còn 1,2 tỷ USD thì cũng chỉ giảm được khoảng 0,5% kim ngạch nhập khẩu. Để giải quyết một cách căn bản vấn đề nhập siêu nói chung và từ Trung Quốc nói riêng phải tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển công nghiệp và dịch vụ phụ trợ (supporting industries and services) và cũng không từ chối các biện pháp hành chính mạnh để cắt giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng chưa cấp thiết và chống buôn lậu. Đáng chú ‎ý là buôn lậu vàng lên đến 40-60 tấn vàng /năm mà chưa hề đặt vấn đề chống buôn lậu vàng trong khi buôn lậu hàng hóa thì chỉ bắt được cửu vạn, chưa bắt được ông trùm nào bao giờ cả.    Xin cảm ơn ông!        Ý kiến một độc giả:    Quan điểm của TS. Lê Đăng Doanh về tái cơ  cấu nền kinh tế, phát triển công nghiệp và dịch vụ phụ trợ, về chủ  trương là đúng đắn nhưng chỉ có thể thực thi trong khoảng thời gian rất  dài hạn. Còn với quan điểm là không từ chối các biện pháp hành chính  mạnh để cắt giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng, thì cần cẩn trọng vì đây là  con dao hai lưỡi, có thể khiến Việt Nam vi phạm các cam kết về tự do  thương mại với các đối tác WTO. Trong khi đó vấn đề nhập siêu sẽ vẫn  tiếp tục tồn đọng mà chưa được giải quyết căn bản.   Tuy nhiên, một chính sách rất nên thực thi  ngay là tăng cường kiểm soát, hạn chế nhập khẩu những hàng hóa kém chất  lượng, hàng nhái, thậm chí hàng hóa có chất gây độc hại xuất xứ từ Trung  Quốc. Đây là biện pháp cần thiết, vừa bảo vệ được lợi ích người tiêu  dùng, vừa đảm bảo cạnh tranh công bằng, và vẫn giúp giảm trừ được thâm  hụt thương mại?                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Thượng viện Mỹ gây sức ép với Trung Quốc về vấn đề đồng Nhân dân tệ      Thượng viện Mỹ vừa bỏ phiếu thông qua một dự luật nhằm trừng phạt Trung Quốc vì đã cố ý làm thấp giá đồng Nhân dân tệ (NDT).    Một số nghị sĩ cho rằng việc Trung Quốc làm thấp giá đồng NDT khiến hàng hóa của Trung Quốc có lợi thế một cách bất công trên thị trường Mỹ, gây gia tăng tình trạng thất nghiệp ở nước này.  Dự luật đã được thông qua tại Thượng viện do đảng Dân chủ chiếm đa số với 63 phiếu thuận và 35 phiếu chống, và tiếp theo sẽ được đem ra thông qua tại Quốc hội.  Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng phản đối dự luật, cho rằng, nó cản trở quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai nước.  Dự luật được đưa ra nhằm gây áp lực lên những nước mà Mỹ cho rằng cố tình kìm đồng tiền thấp hơn giá trị thực tế.  Nếu được thông qua để chính thức trở thành đạo luật, nó sẽ cho phép Washington áp đặt cái gọi là thuế “bù đắp” lên hàng hóa nhập khẩu mà nước này cho rằng được chính phủ nước xuất khẩu trợ giá một cách thiếu công bằng.  Phần lớn giới phân tích cho rằng đồng NDT đang bị kìm thấp hơn giá trị thật so với đồng USD 25 đến 30%, thậm chí một số nghị sĩ còn cho rằng đến 40%.  Năm ngoái đồng NDT có tăng giá chút ít nhưng chưa đủ để làm dịu những người phê phán nó.  Những ý kiến mới đây trên báo chí Trung Quốc cho thấy dư luận nước này phản ứng dữ dội với dự luật, cho rằng sự mất cân đối trong cán cân thương mại giữa hai nước là kết quả của các chính sách kinh tế của Mỹ chứ không phải do tỷ giá giữa đồng tiền của hai nước.  “Trung Quốc kêu gọi Mỹ hủy bỏ dự luật này, ngừng việc chính trị hóa các vấn đề kinh tế và có hành động cụ thể để tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển các mối quan hệ kinh tế và thương mại song phương,” người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát biểu hôm thứ tư.  Nhiều người Mỹ cũng lo ngại rằng hành động chống Trung Quốc sẽ phương hại đến quan hệ giữa hai nước.  Người phát ngôn của Nhà Trắng nói sẽ rất “nguy hiểm” nếu Quốc hội Mỹ can dự vào vấn đề tỷ giá của một nước khác.  Tình hình này khiến cho số phận của dự luật vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ.  Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói với hãng thông tấn Reuters rằng: “Tôi không biết liệu dự luật này như đã được thông qua ở Thượng viện liệu có được thông qua ở Quốc hội hay không.”   “Nhưng nó phản ảnh sự bất mãn đáng kể từ phía người dân Mỹ.”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương vụ sáp nhập mới giúp Elon Musks củng cố đế chế năng lượng sạch của mình      Hôm qua, công ty sản xuất ô tô Tesla của Elon Musk đã ngỏ ý mua lại SolarCity trong một thương vụ sáp nhập theo chiều dọc trị giá từ 2,5-3 tỉ USD. Thương vụ này sẽ đưa công ty sau sáp nhập trở thành một gã khổng lồ trong ngành công nghệ sạch    “Tôi muốn tham dự vào những việc giúp làm thay đổi thế giới” – Elon Musk  SolarCity là hãng lắp đặt pin mặt trời gia dụng lớn nhất tại Mỹ, do đó việc mua lại công ty này giúp bảo đảm rằng những chiếc ô tô của Tesla sẽ được vận hành hoàn toàn bằng năng lượng sạch. Trong thời gian vừa qua, cả hai công ty đều chú trọng phát triển công nghệ pin – yếu tố có vai trò thiết yếu trong sự phát triển tiếp tục của các phương tiện sử dụng điện và năng lượng mặt trời – sao cho các hộ gia đình có thể thu nguồn năng lượng mặt trời dư thừa để sử dụng vào ban đêm hoặc vào những ngày nhiều mây. “Sứ mệnh của Tesla luôn luôn có sự liên hệ chặt chẽ với sự bền vững. Bây giờ là thời điểm để hoàn thiện sứ mệnh này,” Tesla thông báo trên website của họ nhân cuộc sáp nhập này.  Thực ra, từ trước đó, hai công ty trên đã có sự gắn bó mật thiết với nhau về cả lãnh đạo và tầm nhìn. Elon Musk là CEO của Tesla và cũng là chủ tịch hội đồng quản trị của SolarCity; trong khi đó, Lyndon Rive, CEO cả SolarCity, là anh em họ với Musk. Nhà đầu tư Antonio Gracias có mặt trong hội đồng quản trị của cả hai công ty này. Theo thông tin từ Tesla, trong thương vụ sáp nhập này, cả Musk và Gracias đều tự nguyện tước bỏ quyền biểu quyết của mình.  Thương vụ này xuất hiện trong bối cảnh cổ phiếu của SolarCity đang giao dịch với giá trị bằng một nửa so với năm ngoái do trên thị trường xuất hiện những mối lo ngại rằng các nhà lập pháp có thể ngừng chính sách ưu đãi thuế cho các công ty kinh doanh năng lượng mặt trời. Theo quy định ở Mỹ hiện nay, các công ty dịch vụ công cộng cung cấp điện và khí đốt phải mua phần năng lượng dư thừa do các công ty sản xuất pin mặt trời gia dụng tạo ra với giá bằng giá họ bán cho khách hàng. Nhưng tháng 12 năm ngoái, tiểu bang Nevada đã thay đổi chính sách này, khiến các bang khác cũng bắt đầu cân nhắc việc thay đổi theo chiều hướng tương tự – nếu điều này xảy ra, ngành năng lượng mặt trời đang phát triển nhanh chóng của Mỹ có thể sẽ bị điêu đứng.  Tuy nhiên, từ trước đó, Musk đã nhiều lần chứng tỏ rằng khi đứng trước những thách thức về tài chính như vậy, ông sẵn sàng áp dụng những phương pháp “không giống ai” để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của mình. Theo thông tin do Tạp chí Wall Street đưa từ đầu năm nay, Musk đã dùng SpaceX – một công ty khác do nhà tỉ phú này lãnh đạo – để mua hàng triệu đô la cổ phiếu của SolarCity khi công ty này đang cần vốn. Musk cũng bỏ ra khoảng 475 triệu USD “tiền túi” của mình để mua cổ phần ở SolarCity và Tesla để cấp vốn cho hai công ty này.  Mặt khác, những mẫu xe điện của Tesla ra đời đều nhận được sự tiếp đón nồng nhiệt cả từ phía Wall Street và người tiêu dùng. Giá cổ phiếu của công ty này đã tăng vọt sau khi hơn 400.000 người cam kết sẽ mua Model 3 của Tesla với giá 35.000 USD khi mẫu xe này ra đời theo dự kiến vào năm 2017.  Chi Nhân dịch theo Time    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thụy Điển chạy thử xe tải điện trên đường cao tốc      Thụy Điển đang thử nghiệm một dự án công nghệ trong thời gian hai năm, nếu thành công sẽ áp dụng lâu dài công nghệ này.    Tập đoàn Siemens thử nghiệm hệ thống mới trên tuyến cao tốc thử nghiệm (eHighway) ở Groß Dölln  Đây là đường cao tốc đầu tiên dành cho xe tải chạy bằng điện, xe tải thông thường vẫn hoạt động bình thường trên tuyến đường này. Cuối tháng Sáu vừa qua, Thụy Điển cho chạy thử xe tải điện trên đường cao tốc. Xe tải thử nghiệm là dòng xe tải của Scania, một công ty con của tập đoàn  Volkswagen của Thụy điển. Loại xe tải này trang bị động cơ Hybrid. Trên tuyến đường thử nghiệm ở phía bắc Stockholm xe tải sẽ chạy bằng động cơ điện trên quãng đường dài 2 km.    Xe lấy điện một chiều từ đường dây ở trên nóc xe, tương tự như đường dây dành cho xe buýt chạy điện. Khác với xe buýt điện, xe tải Scania khi chạy hết quãng đường có đường dây điện thì động cơ diesen tự động kích hoạt và thiết bị tiếp nhận điện ngừng hoạt động. Khi xe chạy đến gần tuyến đường cao tốc có đường điện trên cao lái xe cho thiết bị tiếp điện hoạt động và xe cứ thế chạy tiếp.     Đến năm 2030 ngành giao thông vận tải Thụy điển về cơ bản không sử dụng nhiên liệu hóa thạch  Với dự án thử nghiệm trong vòng hai năm cơ quan vận tải Thụy điển Trafikverket và chính quyền thành phố Gävleborg sẽ tích lũy thông tin và kiến thức để xem có thể sử dụng rộng rãi  Siemens-eHighway lâu dài phục vụ ngành thương mại hay không. “Để có thể tiếp tục dùng xe tải trong vận tải hàng hóa chúng tôi phải chấm dứt sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch”, nhà quản lý Trafikverket Anders Berndtsson nói.   Siemens đã thử nghiệm công nghệ mới này trên các tuyến đường giao thông ở  Đức và Hoa kỳ. Hiện tại Siemens tiếp tục xây dựng một tuyến Highway trình diễn nữa. Tại khu vực các cảng của  Los Angeles và Long Beach xe tải – Volvo sẽ chạy bằng điện. Đây là quy định của cơ quan quản lý, giám sát chất lượng không khí ở địa phương này, South Coast Air Quality Management District.   Hoài Nam dịch theo “Tuần tin tức”         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thụy Điển hầu như không còn thanh toán tiền mặt      Có lẽ không có nước nào trên thế giới tiến xa như Thụy Điển trong việc xóa bỏ sử dụng tiền xu và tiền giấy. Phải chăng đây là một mô hình tương lai để các nước khác học tập?      Buồng vệ sinh kỹ thuật số ở Thụy Điển. Ảnh: AFP  Không có giấy bạc mệnh giá thấp để cho người vô gia cư? Không có vấn đề gì. Tại quầy của ông Johan ở Malmö, Thụy Điển người ta vẫn có thể chuyển tiền. Người bán báo đứng bên lề đường này chỉ cho một bà khách tấm biển ghi số tài khoản của ông ta, bà khách lấy chiếc điện thoại thông minh ra, mở ứng dụng thanh toán bằng, nhập dãy số và chuyển khoản tiền 60 Kron cho Johan – và nhận tờ báo Fakum mới ra lò. Tất cả chỉ tốn một vài giây. Người vô gia cư luôn có một máy đọc thẻ di động bên mình. Nhiều người không giữ tiền mặt trong túi nữa.  Năm 1661, Thụy Điển là nhà nước đầu tiên ở châu Âu in tiền giấy. Hơn 350 năm sau, Thụy Điển có thể là quốc gia đầu tiên xoá sổ tiền giấy. Theo Ngân hàng Trung ương Thụy Điển, hiện chỉ có khoảng 19% các giao dịch thanh toán diễn ra bằng tiền mặt; trong khi đó ở Đức năm 2017 con số này vẫn còn ở mức 74 %. Trong vài tháng qua, 10 người Thụy Điển thì có 4 người hầu như không dùng tiền mặt để thanh toán.    Xe Bus ở Thụy Điển: ưu tiên thanh toán không dùng tiền mặt. Ảnh: AFP  Nhiều xe bus, bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng và cả bảo tàng ABBA từ vài năm nay không còn nhận tiền mặt. Ngày càng có nhiều cửa hàng, tiệm ăn, cây xăng treo biển “Chúng tôi không nhận tiền mặt”. Hàng trăm chi nhánh ngân hàng không còn chi trả tiền mặt và tiền xu. Tại nhiều nhà thờ có những “máy quyên góp” có đầu đọc thẻ để quyên tiền ủng hộ.  Tiền mặt gây tốn kém cho ngân hàng  Bà Cecilia Skingsley, phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Thụy Điển cho rằng “Nếu xu hướng hiện nay tiếp tục tiếp diễn thì đến năm 2030 những đồng bạc cuối cùng sẽ được giao trả lại cho ngân hàng nhà nước”. Sở dĩ xu hướng này tiến triển khá mạnh vì từ lâu nhà nước đã giao cho các ngân hàng tư nhân lớn chịu trách nhiệm về hạ tầng cơ sở thanh toán. Các tổ chức tín dụng quản lý hệ thống mạng lưới ATM đang ngày càng thu hẹp. Các ngân hàng này còn phát triển cả hệ thống thanh toán trên di động, được gần 2/3 người dân Thụy Điển sử dụng ít nhất mỗi tuần một lần.  Theo Tino Sanandaji, nhà nghiên cứu tại Trường Kinh tế Stockholm thì “nhiều ngân hàng tư nhân muốn chấm dứt giao dịch bằng tiền mặt”. Đối với các ngân hàng thì giao dịch bằng tiền mặt khá tốn kém. Họ phải kiểm đếm tiền, xếp cọc tiền giấy, đóng cuộn lại tiền xu để vận chuyển xuống các chi nhánh. Tại đây người ta phải để tiền vào máy ATM, phải có quầy thu tiền và phải cất giữ tiền. Đặc biệt ở miền bắc Thụy Điển dân cư thưa thớt đồng nghĩa với việc chi phí tăng lên và lợi nhuận thì chẳng là bao.  Chi phí này lớn như thế nào? Có thể thấy qua phân tích của Morgan Stanley đối với ngân hàng Bank of America, Hoa Kỳ. Ngân hàng này phải chi khoảng 5 tỷ USD cho việc vận chuyển, cất giữ và quản lý tiền mỗi năm, chiếm gần 1/10 tổng chi phí của ngân hàng.  Không dùng tiền mặt giúp giảm được tội phạm?   Khi thanh toán bằng thẻ hoặc bằng điện thoại di động, nhà cung cấp dịch vụ tài chính còn kiếm được tiền thông qua thu phí. Đối với hệ thống thanh toán tự động, cho đến nay chỉ có các thương nhân/người bán phải trả tiền. “Nhưng khi tiền mặt biến mất và các ngân hàng trở thành độc quyền, thì họ sẽ buộc người tiêu dùng trả tiền”, ông Sanandaji nhận định. Thêm vào đó, các ngân hàng đã được nắm giữ miễn phí những dữ liệu khách hàng có giá trị. Tuy nhiên, chẳng mấy người Thuỵ Điển quan tâm đến việc này, bởi nhiều người Thụy Điển thành thạo về công nghệ và dân Thụy Điển có lòng tin vào nhà nước, thậm chí cả ngân hàng và hệ thống tài chính. Hiện nay, cũng chỉ có khoảng 2% dân Thụy Điển cất giữ tiền tại nhà trên mức 100.000 Kronen (~9500 Euro).  Björn Ulvaeus người sáng lập ban nhạc ABBA là nhân vật nổi tiếng nhất ủng hộ mục tiêu “Xã hội không tiền mặt” kể từ khi con trai ông bị cướp tiền. Ulvaeus, người đã từng viết lời bài hát  “Money, Money, Money” tin chắc rằng: không có tiền mặt đồng nghĩa với giảm tội ác. Cướp ngân hàng là một nghề bị tàn lụi ở Thụy Điển, kể từ khi một loạt chi nhánh ngân hàng không còn dùng tiền mặt. Năm 2008 theo báo cáo ở Thụy Điển có 110 vụ cướp, đến năm 2016 chỉ còn vỏn vẹn có 5 vụ.  Hơn nữa, khi chấm dứt giao dịch bằng tiền mặt thì nạn rửa tiền và cung cấp tài chính cho khủng bố cũng sẽ không dễ dàng thực hiện.  Nhiều ưu điểm  Trớ trêu thay, “chúng tôi đã thấy tội phạm về thẻ tín dụng gia tăng mạnh. Trên mạng Darknet đã xuất hiện thẻ giả hoặc thẻ bị lấy cắp được bán với giá khoảng 30 Euro”, ông Björn Eriksson, nguyên thành viên của hội đồng cảnh sát quốc gia của Thụy Điển lại nói.  Vị thủ trưởng lâu năm của Sở Cảnh sát hiện đã 73 tuổi, ông thường dùng thẻ để thanh toán nhưng ông tin rằng: “Bỏ hoàn toàn tiền mặt là một sai lầm nghiêm trọng.” Vì lẽ đó, ông đã thành lập phong trào Kontantupproret (“Nổi dậy vì tiền mặt”) một phong trào đấu tranh đòi duy trì tiền giấy và tiền xu.  Tiền mặt không còn là vua  Theo ông Eriksson, “Chúng ta không thể để một nhóm đông người nằm lại ở phía sau. Họ là những người cao tuổi gặp khó khăn khi sử dụng các hệ thống này, họ là dân tị nạn và những người ở vùng sâu vùng xa không có kết nối Internet – làm vậy có nghĩa là gạt những người này ra bên lề.”    Tỷ lệ người Thụy Điển mua bán bằng tiền mặt  Tệ hơn, Thụy Điển ngày càng trở nên lệ thuộc vào công nghệ – và từ đó dễ bị tổn thương. “Khi hoàn toàn không dùng tiền mặt và xẩy ra một chuyện gì đó trong  hệ thống số hoá, thì chúng ta phải làm thế nào?”  Chỉ cần bị mất điện trong chốc lát hay xảy ra lỗi về công nghệ thông tin cũng có thể gây ra vấn đề. Và điều nghiêm trọng hơn nữa là khi xảy ra các cuộc tấn công mạng vào các cơ sở do nhà nước kiểm soát. “Khi có kẻ làm tê liệt hệ thống thanh toán thì hỗ loạn sẽ xảy ra.”  Tiền mặt có những cái lợi của nó: không dễ thu hồi tiền mặt, bất kể ai cũng có thể thanh toán bằng tiền mặt mà không lo bị kiểm soát, không buộc phải có tài khoản ở ngân hàng. Khi trả tiền người ta nhìn thấy tiền biến khỏi ví, chứ không có cái cảm giác nhanh như khi dùng thẻ hay ứng dụng. Và tiền mặt cũng đại diện cho đòi hỏi của công dân đối với Ngân hàng Trung ương. Ngược lại người nạp tiền vào thẻ sẽ chỉ nợ ngân hàng thương mại khoản tiền đó.  Phương án khác: có thể là một loại tiền điện tử của Thụy Điển  Eriksson đã thuyết phục được nhiều người ủng hộ mình. Tổ chức hưu trí PRO đã thu thập được 140.000 chữ ký để cứu tiền mặt.  Thậm chí vị thống đốc ngân hàng Stefan Ingves cũng chia sẻ sự quan tâm “Nếu nguồn cung điện bị sụp đổ thì chúng ta không thể tiến hành thanh toán bằng điện tử “, ông Ingves nói. “Để đề phòng trước mọi sự cố, chúng ta vẫn cần duy trì tiền mặt vì việc giao dịch vẫn diễn ra bình thường khi mất điện.”  Nhà nước không được từ bỏ quyền kiểm soát của mình đối với hệ thống thanh toán. Ngân hàng Trung ương Reichsbank giờ đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có sự cam kết về mặt pháp lý đối với việc thu, chi tiền mặt.  Trong khi đó, về phần mình Ngân hàng Trung ương đang cân nhắc việc khởi động dự án thí điểm về đồng tiền điện tử của Thụy Điển, đồng E-Krona. Người ta có thể nạp tiền điện tử vào thẻ và dễ dàng dùng thẻ này để thanh toán một cách nhanh chóng.   Nguyễn  Hoài  lược dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wirtschaft/soziales/schweden-das-land-in-dem-das-bargeld-zunehmend-abgeschafft-wird-a-1231216.html    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Thụy Sĩ xem xét lại kế hoạch khôi phục điện hạt nhân      Ảnh: Reuters Ngày 28/8/2022, theo tin từ hãng thông tấn Reuters, một nhóm các chính trị gia Thụy Sĩ đã thành lập một tổ chức với tên gọi là ‘Stop Blackouts’ (ngừng cúp điện). Stop Blackouts sẽ triển khai một bản kiến nghị với mục đích tìm cách sửa đổi chính sách năng lượng của …        Ảnh: Reuters  Ngày 28/8/2022, theo tin từ hãng thông tấn Reuters, một nhóm các chính trị gia Thụy Sĩ đã thành lập một tổ chức với tên gọi là ‘Stop Blackouts’ (ngừng cúp điện). Stop Blackouts sẽ triển khai một bản kiến nghị với mục đích tìm cách sửa đổi chính sách năng lượng của đất nước để đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và coi năng lượng hạt nhân là một phần của cơ cấu năng lượng.      Thụy Sĩ có kế hoạch đóng cửa năm lò phản ứng hạt nhân sau một quyết định năm 2017 do những lo ngại về vấn đề an toàn sau thảm họa hạt nhân vào năm 2011 ở Fukushima, Nhật Bản và đã đóng cửa một lò phản ứng.    Theo quy định về nền dân chủ trực tiếp của Thụy Sĩ, hiến pháp của nước này có thể được thay đổi thông qua trưng cầu dân ý nếu thu thập được 100.000 chữ ký trong vòng 18 tháng, cho dù kết quả trưng cầu dân ý này sẽ kéo dài trong nhiều năm.    Stop Blackouts công bố: Họ có kế hoạch khởi động bản kiến nghị của mình vào thứ Ba (30/8/2022). Năm trong số sáu thành viên ủy ban của nhóm là các nhà lập pháp từ các đảng trung hữu và cánh hữu.    Trang web của Stop Blackouts cho biết: “Trong thời gian gần đây, Thụy Sĩ đã sản xuất điện bằng sự kết hợp của thủy điện và năng lượng hạt nhân với mục tiêu thân thiện với môi trường, khí hậu, đảm bảo an toàn và hầu như không phát thải CO2”.    Ông Vanessa Meury, Chủ tịch ủy ban Stop Blackouts và là thành viên ủy ban duy nhất không phải là chính trị gia, chia sẻ với tờ báo SonntagsZeitung của Thụy Sĩ: “Chúng ta sẽ không thể làm gì nếu không có các nhà máy điện hạt nhân”. Sự thay đổi hiến pháp mà nhóm tìm kiếm sẽ khiến Bern chính thức chịu trách nhiệm đảm bảo cung cấp năng lượng, sử dụng “bất kỳ hình thức sản xuất điện thân thiện nào với khí hậu”.    Hôm thứ Ba, Chính phủ Thụy Sĩ chuẩn bị công bố kế hoạch đối phó với tình trạng thiếu năng lượng tiềm tàng do chiến tranh ở Ukraine gây ra. Kế hoạch này dự kiến sẽ ưu tiên việc cắt giảm nhu cầu sử dụng điện tự nguyện của người tiêu dùng. Thụy Sĩ sản xuất nhiều điện hơn mức tiêu thụ của quốc gia này nhưng lại phụ thuộc vào các nước láng giềng để nhập khẩu điện vào mùa đông.    Một quan chức cấp cao trong ngành điện của Thụy Sĩ cho biết vào tháng 7, trong trường hợp thiếu hụt năng lượng, nước này có thể xảy ra tình trạng mất điện cục bộ lên tới 4 giờ.    Cuộc khủng hoảng khí đốt cũng đang khiến cho quốc gia sử dụng nhiều năng lượng tái tạo như Đức cũng phải tính đến việc xem xét kéo dài tuổi thọ cho 3 nhà máy điện hạt nhân còn lại của nước này.    Thu Hà dịch    Nguồn tin: https://www.reuters.com/business/energy/swiss-group-launch-petition-rethink-nuclear-power-plans-2022-08-28/    Author                .        
__label__tiasang Thủy tinh siêu bền      TS. Nguyễn Xuân Khoa, Giám đốc Trung tâm  Khoa học thực nghiệm mỏ và luyện kim Tam Điệp, thuộc Viện Khoa học Công  nghệ Mỏ và Luyện kim, đã cùng các công sự nghiên cứu và thử nghiệm trong  suốt 7 năm về phương pháp tôi hoá mới trên hai loại mẫu sản phẩm mẫu là  kính nổi và các loại thuỷ tinh có hình dạng phức tạp như chụp đèn, cốc,  bát…      Gần đây, công nghệ gia công hoàn thiện thuỷ tinh được ứng dụng và biết đến khá nhiều đó là công nghệ tôi hoá. Tôi hoá là một quá trình gia cường bề mặt thủy tinh thông qua con đường trao đổi ion.  Công nghệ này được dùng chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kính chắn gió trên máy bay và hiện nay đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là để các sản phẩm thuỷ tinh có hình dạng phức tạp hoặc sản phẩm yêu cầu độ chính xác và độ bền cơ học rất cao…Nhiều nước trên thế giới đã thành công với công nghệ này.  Dựa trên nền tảng đó, TS. Nguyễn Xuân Khoa, Giám đốc Trung tâm Khoa học thực nghiệm mỏ và luyện kim Tam Điệp, thuộc Viện Khoa học Công nghệ Mỏ và Luyện Kim đã cùng các công sự nghiên cứu và thử nghiệm trong suốt 7 năm về phương pháp tôi hoá mới trên hai loại mẫu sản phẩm mẫu là kính nổi và các loại thuỷ tinh có hình dạng phức tạp như chụp đèn, cốc, bát…  Bản chất của công nghệ tôi hoá là làm gia tăng sức căng bề mặt của thủy tinh nhờ quá trình trao đổi ion. Với sản phẩm thuỷ tinh chưa tôi, sau khi sấy lên nhiệt độ 400- 500 độ, thả vào bể muối Kali, trong thời gian 8-10 tiếng, ion kali sẽ thấm sâu vào bề mặt ở độ dày khoảng vài chục Micron. Sau khi bát nguội, do ion kali có đường kính lớn hơn Ion Natri, gây nên sức căng bề mặt cho thuỷ tinh.   Các sản phẩm đã thử nghiệm chống va đập bằng phương pháp thả bi theo quy chuẩn quốc tế.  Công nghệ của TS Khoa đã được ứng dụng để sản xuất thử nghiệm các chụp đèn hiệu chịu sốc nhiệt tại các sân bay Cam Ranh, Vinh. Qua hơn bốn năm sử dụng, chất lượng được đánh giá cao bởi tỉ lệ vỡ, hỏng cực thấp. Tác giả cũng chia sẻ, bằng công nghệ này, những sản phẩm thuỷ tinh được tạo ra có nhiều tính năng ưu việt như: khả năng chịu sốc nhiệt cao, sản phẩm không bị nứt vỡ khi chuyển sản phẩm từ tủ đá sang lò vi sóng hoặc đổ ngay nước sôi vào bát đang chứa đồ đông lạnh ở nhiệt độ âm 20 độ C…Bên cạnh đó, độ bền cơ học của sản phẩm cũng tăng từ 2 đến 3 lần với khả năng rơi từ độ cao 3m mà ko vỡ. Bề mặt thuỷ tinh nhẵn nên có khả năng chống bám bẩn, dễ lau rửa ngay cả khi chứa các loại khó tẩy rửa như nước chè hay rượu vang.  Bên cạnh đó, giá thành sản xuất theo công nghệ này chỉ bằng 40-70% sản phẩm cùng loại của Hàn Quốc, Tây Âu mà chất lượng tương đương.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủy tinh, vật liệu xây dựng công nghệ cao      Với đặc điểm mỏng dính, có thể uốn cong và đổi mầu, loại kính thông minh hiện nay đã khiến người ta phải thay đổi định kiến về thủy tinh.  &#160;    Từ thuở xa xưa, chuyện kể rằng dưới thời La mã cổ đại có một người thợ thủ công phát minh ra loại thủy tinh không vỡ và đã dâng lên hoàng đế Tiberius một lọ độc bình. Ông ta ném cái lọ xuống đất để chứng minh nguyên liệu này không thể bị vỡ. Nhưng hoàng đế Tiberius bỗng choáng váng vì sợ rằng loại vật liệu mới này sẽ làm cho mọi châu báu của mình trở nên vô giá trị. Ông ta ra lệnh thủ tiêu nhà sáng chế để tránh hậu họa. Cũng từ thời đó danh tiếng của thủy tinh đã bị một vết xước: thủy tinh bị coi là một loại vật liệu dễ vỡ, khó tạo hình và mầu sắc sinh động.  Nhưng ngày nay những nhận định đó không còn phù hợp nữa. Nhờ có những tấm kính mỏng và siêu bền người ta mới có thể tạo ra màn hình cảm ứng, thậm chí có thể tạo ra điện và điều chỉnh ánh sáng thông qua tương tác ở những cửa sổ High-Tech của màn hình. Và không lâu nữa trên thị trường sẽ xuất hiện thủy tinh dẻo có thể uốn được. Đã đến lúc phải gạt bỏ hầu hết các định kiến với loại vật liệu xây dựng cổ xưa này.   Định kiến thứ nhất: “Thủy tinh rất dễ vỡ”  Steve Jobs, ông chủ của Apple kiên quyết đòi bề mặt của iPhones và iPads nhất định phải làm bằng kính bất chấp mọi tốn kém. Vì theo ông kính không những đẹp hơn mà còn không lo bị xước và bị mờ so với nguyên liệu nhựa tổng hợp trong suốt. Jobs yêu cầu hãng Corning của Hoa Kỳ sản xuất một loại kính đặc biệt rắn và có khả năng chống xước cao gấp hai đến ba lần cho máy tính bảng và laptop. Loại kính này xuất hiện trên thị trường với tên thương mại là kính-Gorilla dùng cho iPad và đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Giờ đây hãng Corning cung cấp cho trên 30 nhà sản xuất Smartphones, Netbooks, Tablets, và đạt doanh thu 6,6 tỷ đôla trong năm 2010. Trong tương lai, kính sẽ còn mỏng và cứng hơn nữa, thậm chí sẽ có độ mỏng “chỉ như một sợi tóc”, Peter Bocko, người phụ trách công nghệ của hãng Corning tiên đoán. Màn hình bằng kính càng mỏng thì hình ảnh càng sắc nét và dễ vận hành hơn.  Trước xu hướng trên, hãng sản xuất thủy tinh Schott của Đức cũng đã giới thiệu loại kính có độ bền cao, chịu nhiệt độ cao hàng trăm độ C và có khả năng bảo vệ máy bay chống lại mưa đá. Mới đây một xưởng của hãng này đã đưa vào sản xuất hàng loạt loại kính có độ dày 0,7 millimet – chỉ mỏng gần như một sợi tóc nhưng không bị suy xuyển khi bị dẫm chân lên. Loại vật liệu khó vỡ, khó gẫy mà hãng Schott mới giới thiệu này sẽ được sử dụng làm lớp phủ để làm tăng độ bền màn hình của điện thoại di động và máy tính.  Để làm ra được loại thủy tinh đặc biệt này, các kỹ thuật viên của hãng Schott đã trộn hóa chất Boroxid khi nung thủy tinh và loại hóa chất này tăng độ bền của vật liệu một cách rõ rệt. Sau đó nguyên liệu này còn được tôi bổ sung. Thủy tinh nóng chảy sẽ được làm nguội bằng gas. Khí ga sẽ làm cho bề mặt của tấm thủy tinh nóng nguội dần và đông cứng lại ở bên ngoài nhưng bên trong vẫn nóng nguyên. Khi tấm kính nguội hoàn toàn thì độ bền cao hơn kính thông thường rất nhiều lần. Theo hãng Schott thì hiện tại nhiều hãng sản xuất đồ điện tử khắp nơi trên thế giới đang thử nghiệm loại siêu thủy tinh mới này.  Định kiến thứ hai: “Kính luôn luôn cứng”     Nhờ sợi cáp thủy tinh lần đầu tiên con người có thể làm cả một ngôi nhà hay một cây cầu bằng thủy tinh.  Một trong những loại màn hình thủy tinh của hãng Schott có thể chế tác thành nhiều hình dáng khác nhau ở nhiệt độ 500 độ C nhưng chưa thể uốn dẻo được khi để nguội. Nhưng chỉ một thời gian nữa, sẽ đến lúc có thể uốn được vật liệu này ở nhiệt độ phòng.    Định kiến thứ ba: “Kính không chịu được lực”  Những sáng tạo, đổi mới về thủy tinh trong lĩnh vực viễn thông dường như mờ nhạt nhưng trong kiến trúc thì hoàn toàn khác: giờ đây thủy tinh đã đảm đương chức năng của bê tông và sắt thép.  Hầu hết mặt tiền các ngôi nhà cao tầng đều dùng nguyên liệu này. Theo hãng nghiên cứu thị trường Hoa kỳ Freedonia thì nhu cầu đối với kính phẳng dùng trong việc xây dựng nhà cửa đến năm 2014 sẽ tăng 6%, tức là khoảng 8 tỷ mét vuông mỗi năm. Hãng Seele ở Bayern (Đức) đã chế tạo ra loại kính cường lực trong suốt bao bọc toàn bộ nhà ga chính ở Straßburg và sản xuất ra loại kính đi biển hay những cấu phần xây dựng khổng lồ bằng thủy tinh theo phương pháp mới có tên là Lamination.    Định kiến thứ  tư: “kính đơn điệu về màu sắc”     Đèn LED với muôn vàn mầu sắc tô điểm cho một tòa nhà mới xây dựng ở thành phố  Linz.   Ngôi nhà của chuyên gia về mặt tiền Drooghman ở Bỉ có màu sắc như cầu vồng ở mặt chính diện. Có lúc ngôi nhà ánh lên màu xanh lá cây, có khi màu đỏ lại là mầu chủ đạo, mỗi chuỗi màu này được tạo thành bởi nhiều tấm kính màu lung linh. Người ta đã dùng đèn LED nhiều màu sắc rọi từ phía bên cạnh và màu sắc của đèn LED được điều chỉnh hoàn toàn tự động. Nhà chế tạo người Pháp Saint-Gobain thường lấy tòa nhà này làm bằng chứng cho xu hướng mới: những tấm kính sẽ trở nên thông minh hơn. Thí dụ chỉ cần ấn nút, các cửa sổ không những sẽ thay đổi màu sắc mà có thể trở nên mờ đục tùy theo yêu cầu. Những tinh tể lỏng sắp xếp tự nhiên có thể làm cho tấm kính trở nên mờ đục. Ngay khi tấm kính có điện áp thì các tinh thể sẽ rời nhau và sự mờ ảo của tấm kính biến mất. Loại kính cửa sổ này khác với kính râm đổi mầu ở chỗ chủ nhà chỉ cần ấn nút là có thể điều chỉnh được lượng ánh sáng mặt trời chiếu vào. Còn trong môi trường tối hoàn toàn có thể nhìn thấu được tấm kính.    Hiệu ứng làm mờ này dựa trên đặc tính của Lithium-Ionen: khi có xung điện chạy qua tấm kính, thì các Lithium-Ionen chuyển dịch tới lớp Wolframoxid. Loại oxid này trong điều kiện bình thường thì không có mầu sắc nhưng khi tiếp  cận với Lithium-Ionen thì Wolframoxid chuyển sang mầu xanh lục và sau độ 15 phút tấm kính sẽ tối hoàn toàn.    Định kiến thứ năm: “Các công trình bằng kính gây lãng phí năng lượng”  Trước đây, những tấm kính lớn thường giữ nhiệt và tỏa nhiệt kém nhưng giờ vấn đề này đã có thể khắc phục. Các nhà sản xuất kính như Saint-Gobain của Pháp và hãng Pilkington của Anh đã phát triển những tấm kính có tới 20 lớp cách nhiệt và chống nắng với độ dày cỡ nanomet. Loại kính này có khả năng giữ nhiệt ở trong phòng và chặn cái nóng ở bên ngoài do chúng có khả năng phản chiếu bức xạ vào trong và ra ngoài. Một số cửa sổ có khả năng chủ động sưởi ấm cho tòa nhà trong mùa đông. Để làm được điều này nhà sản xuất đã phủ một lớp bạc cực mỏng và trong suốt lên tấm kính. Ngay khi có một dòng electron yếu chạy qua tác động vào các nguyên tử kim loại, chúng sẽ giao động và tạo ra nhiệt. Một điểm yếu của loại kính thông minh này là tiêu hao nhiều năng lượng sẽ được khắc phục trong vài năm tới. Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Nam-Florida đã phát triển một lớp phủ bằng nhựa tổng hợp công nghệ cao và biến mặt kính cửa sổ thành một tế bào quang điện trong suốt: khi ánh sáng mặt trời rọi vào, tấm kính sẽ tạo ra điện. Do lớp phủ tế bào quang điện vô cùng mỏng nên chi phí nguyên liệu khá rẻ..  Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyền cứu sinh hai trong một      Sáng 12/9, tại Hà Nội, Công ty cổ phần và đầu tư Năm Sao đã tổ chức buổi trình diễn loại thuyền thúng không chìm đồng thời có thể làm phao cứu sinh khi ngư dân không may gặp nạn.      Đây là công trình do nhà khoa học Nguyễn Xuân An nghiên cứu trong hai năm 2006 và 2007, đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng sáng chế năm 2009.  Thuyền có hình dạng truyền thống của thuyền thúng với hai lớp là vỏ làm bằng composite và lớp phao bên trong là vật liệu nhẹ không ngấm hoặc ít ngấm nước như bọt xốp, cao su xốp… khiến cho thuyền không chìm. Thuyền có một van phao ở đáy. Khi thuyền không chìm nhưng bị ngập nước, có thể mở van phao để nước từ lòng thuyền qua lỗ van thoát ra ngoài. Thuyền phao sẽ nổi cân đối ở chế độ phao và người có thể vẫn ngồi trong lòng thuyền hoặc đeo bám bên ngoài chờ cứu hộ. Khi thuyền bị lật úp, thuyền nằm sấp, làm vật nổi cho người đeo bám bên ngoài chờ cứu hộ hoặc tìm cách mở van phao, lật ngửa thuyền để chuyển sang chế độ phao. Và thuyền cũng có thể từ chế độ phao, đóng van phao, tát nước ra ngoài để chuyển trở lại chế độ thuyền.  Thuyền có khả năng tải trọng hơn 210kg. Ngoài ra, nếu chẳng may ngư dân bị chết do bão biển, dây an toàn nối với thuyền phao sẽ giữ thi thể lại trong một thời gian đủ để các phương tiện tiếp cận. Giá chiếc thuyền hai trong một này vào khoảng 6 triệu đồng.   Phát biểu tại buổi trình diễn, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng khẳng định sự ủng hộ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc đưa sản phẩm thuyền phao vào thực tế cuộc sống, để làm sao cho ngư dân có phương tiện đi biển an toàn và hiệu quả.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyền Rùa và thuyền Cổ lâu      Đọc cuốn tự truyện kể lại đời mình của ông chủ tập đoàn Hyundai, có lẽ ai cũng phải xúc động trước ý chí, quyết tâm dời non lấp biển của Chung-Ju-Yung. Sau những thành công trong xây dựng, chàng thợ hồ học vấn tiểu học ở tuổi 55 nhảy sang lĩnh vực đóng tàu. Cần có số vốn 80 triệu USD để dựng nhà máy, Chung đã sang London, cố thuyết phục Ngân hàng Barclays. Bằng cấp anh đâu? Quá trình kinh nghiệm đóng tàu của anh đâu? Chẳng có một tấm bằng đại học hay thạc sĩ tiến sĩ, chẳng có một giấy tờ nào bảo lãnh của Nhà nước Hàn Quốc nhưng trong trái tim Chung nồng cháy một tình yêu đất nước, biển cả và sự nghiệp.      Chung rút tờ giấy bạc 500 won ra đặt lên bàn ông giám đốc ngân hàng, một đồng tiền trên có in hình chiếc thuyền rùa, tiếng Hàn gọi là Geobukseon, một loại thuyền chiến bọc sắt của Hàn Quốc, cũng được coi là thuyền bọc sắt đầu tiên trên thế giới và hét lên: đây là kinh nghiệm truyền thống đóng tàu của chúng tôi!!! Qua nhiều lần thuyết phục Barclays, và giải trình cả với con trai chủ tàu Onasis, một ông vua biển Hy Lạp-người đã lấy bà vợ góa của Tổng thống Kennedy – cuối cùng Chung đã có số tiền khổng lồ lúc đó để khởi nghiệp đóng tàu của mình cũng là của Hàn Quốc, hiện nay đang đứng nhất nhì thế giới! Chiếc thuyền rùa này thực sự là một đóng góp của Hàn Quốc vào trong lịch sử hàng hải thế giới và chính mắt tôi đã thấy mô hình một chiếc thuyền như vậy tại Viện Bảo tàng Hải quân Hoa Kỳ ngay giữa thủ đô Washington trong chuyến thăm vào mùa hè năm 2008. Bằng đội quân thuyền rùa này, Đô đốc Yi Sun-sin (1545-1598), một trong những nhân vật được tôn kính nhất trong lịch sử Hàn Quốc, đã chỉ huy hàng loạt những cuộc tấn công của thủy quân oanh liệt trên biển chống lại đội quân của Nhật Bản.  Trong lịch sử chúng ta cũng có một chiếc thuyền chiến đấu không kém gì thuyền rùa  vào thời kỳ này,với sự đóng góp của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446). Trước họa xâm lăng của nhà Minh, nhà Hồ đã phải lo củng cố quốc phòng. Năm 1404 Hồ Hán Thương cho chế tạo thuyền cổ lâu là một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo với hai người điều khiển một mái chèo, có tên gọi là  Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, nói là để chở lương nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu. Thuyền được trang bị súng Thần Cơ, một sáng tạo khác của Hồ Nguyên Trừng là một loại hỏa pháo cải tiến hiệu nghiệm hơn tất cả các loại đại bác đương thời. Nhà Minh đã bắt giữ rồi áp tải ông về Bắc Kinh và sau đó tận dụng tài năng của Nguyên Trừng với chức vụ tả thị lang bộ Công. Hiện nay tài liệu về những con thuyền Cổ Lâu còn lại rất hiếm hoi vì như ta đã biết, với chính sách đốt sạch, giết sạch “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” nhà Minh đã hủy hoại tất cả những gì còn lại, nhưng ta tin là con thuyền này là có cơ sở chắc chắn vì ta biết rằng thời nhà Hồ, nước ta có những người thợ mộc, những người đóng tàu thuyền gỗ, những nhà thiết kế kiến trúc giỏi,điển hình là Nguyễn An (1381-khoảng 1460), một nhân vật mà người Trung Quốc biết rõ hơn người Việt Nam ta! Quả thật, về nhân vật lỗi lạc này chỉ thấy Lê Quí Đôn nhắc tới qua hơn 10 dòng trong cuốn “Kiến văn tiểu lục”. Còn ở Trung Quốc thì Nguyễn An được nhắc tới trong nhiều thư tịch từ thời trung đại tới thời hiện đại. Ví dụ ,từ những cuốn “Hoàng Minh thông kỷ”, “Anh Tông chính thống thực lục”… của thời Minh tới cuốn “Trung – Việt quan hệ sử luận văn tập” của nhà sử học Trương Tú Dân xuất bản tại Đài Bắc (Đài Loan) năm 1992. Trong công trình nghiên cứu quan trọng về giao lưu tiếp biến văn hóa Việt Nam – Trung Quốc này, Trương Tú Dân đã dành tới bốn  chương viết về Nguyễn An. Trương Tú Dân đã làm việc nhiều năm tại Thư Viện Quốc Gia Bắc Kinh và là người nghiên cứu kỹ lưỡng nhất về Nguyễn An. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã khẳng định chính Nguyễn An là người thiết kế và chỉ huy xây dựng thành Bắc Kinh!  Nhắc lại chuyện thuyền Cổ Lâu vì 500 năm sau, có một tập đoàn nước ta – tập đoàn Vinashin –  cũng muốn lớn mạnh hung hậu như Hyundai, cũng bắt chước nhiều cung cách làm ăn như Hyundai: xây dựng nhà máy đóng tàu lớn, đón đầu xu thế thị trường, dùng các con tàu mới đóng chưa có chủ tàu bổ sung vào đội thương thuyền đi khắp thế giới vừa quảng cáo thương hiệu vừa tìm cơ hội bán tàu, kinh doanh nhiều ngành nghề… Tên Vinashin gắn với Hyundai tại một nhà máy sửa chữa và đóng tàu tại Nha Trang, thế giới thì biết đó là một cơ sở chữa tàu có chất lượng và có lãi to, còn dân ta thì biết nó là một tai họa về môi trường! Để có vốn, cũng như Hyundai, Vinashin phải tìm tới các ngân hàng thế giới, lần này là thị trường chứng khoán New York .Trong khi ông Chung Hyundai phải rút tờ bạc 500 won để thuyết phục các ngân hàng thì các ông Vinashin có lẽ chẳng phải làm gì vì đã có một cái bảo lãnh cực kỳ lớn: cả dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam được đưa lên bàn bảo lãnh và vay ngay được số tiền cực lớn 750 triệu USD… Đồng tiền đến quá dễ dàng (?) và được chia xẻ tiêu pha rất nhanh, như báo chí đang phanh phui.          Phòng khách của Tập đoàn Kinh tế Vinasin trưng bày Chiếc tàu buồm France II của Pháp chứ không phải là các thuyền buồm cánh dơi, thuyền trống đống Đông Sơn.                        Được đóng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Con tàu được đặt tên là Song Saigon, về sau được đổi tên lại thành La boudeuse. Con tàu này đã có một khoảng thời gian dài tung hoành bên châu Âu trước khi bị chìm ở Địa Trung Hải.          Không rõ các ông cầm đầu Vinashin có biết tới thuyền Cổ Lâu như ông Chung Hyundai thuộc lòng con thuyền rùa của nước mình hay không nhưng chúng ta thử lên thăm ngôi nhà năm tầng đường Ngọc Khánh Hà Nội, trụ sở tạm thời của Vinashin trong khi chờ đợi tòa tháp building cao lớn hình  chữ V giống như logo của mình. Một chiếc neo to lớn chấn ngang hè phố, những mô hình con thuyền buồm căng phồng gió đại dương có mặt tại sảnh lớn cũng như các phòng chủ tịch, tổng giám đốc… Nhìn kỹ, đó không phải là ghe bầu, ghe nang, thuyền buồm cánh dơi hay thuyền trống đồng Đông Sơn mà là thuyền Tây, những chiếc clipper, và lớn nhất là chiếc tàu buồm France –II đặt tại ô cửa kính nhìn ra mặt phố! Ta mong tìm thấy tấm hình của một con người làm nghề đóng tàu, ví như Ngô Văn Năm, người anh hùng lao động, công nhân Ba Son thứ thiệt, người thợ phóng dạng ham học hỏi, từng “lục trong thùng rác những bản vẽ mà chủ Tây xé đi, ghép lại để học hỏi” – như kỹ sư đóng tàu Trịnh Xương thường kể lại. Ngô Văn Năm còn là thủ trưởng đầu tiên của Vinashin, khi tập đoàn còn đang trong giai đoạn trứng nước với tên gọi là Cục Cơ khí Bộ Giao thông, nơi đã sản sinh ra các con tàu không số, các con tàu Giải Phóng, các tàu phá lôi… phục vụ cho chiến thắng ngày hôm nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tỉ lệ học tiếp sau phổ thông của Việt Nam bằng một nửa các nước thu nhập trung bình cao      Khả năng tiếp cận giáo dục sau phổ thông (bao gồm giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp) của học sinh Việt Nam, tính bằng tỷ lệ nhập học chung là 28,6%, chỉ hơn 1/2 của Trung Quốc cũng như các quốc gia thu nhập trung bình cao, và chưa bằng ½ Hàn Quốc. Theo báo cáo “Giáo dục để tăng trưởng” của Ngân hàng thế giới.     Ảnh: Báo Chính phủ  Báo cáo đánh giá, hệ thống giáo dục sau phổ thông là chìa khóa để thúc đẩy tăng năng suất của Việt Nam, góp phần thực hiện thành công mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2035 và quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.  Báo cáo đánh giá chung về hiện trạng giáo dục của Việt Nam: mặc dù trong 25 năm qua, Việt Nam đã mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và nâng cao tỷ lệ nhập học giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông và giáo dục sau phổ thông nhưng giáo dục sau phổ thông – tạo nguồn lực trực tiếp cho nền kinh tế – vẫn còn chưa đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của nền kinh tế. Điểm tích cực là trẻ em Việt Nam ngày nay có nhiều cơ hội tốt nghiệp giáo dục tiểu học với khả năng đọc hiểu và làm toán thành thạo.  Thành công đó của Việt Nam có được là nhờ Chính phủ chi tiêu khá cao cho giáo dục, tập trung vào yếu tố công bằng, thu hút và hỗ trợ giáo viên có trình độ, đầu tư vào giáo dục tiền tiểu học, áp dụng chiến lược các hình thức đánh giá, song song với những đổi mới qua các quyết định dựa trên bằng chứng. Sau khi điều chỉnh về thời lượng học tập, số năm học ở trường bình quân của Việt Nam là 10,2 năm, chỉ đứng thứ hai sau Singapore trong các Quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam cũng có chỉ số vốn nhân lực (HCI) cao, trong đó thể hiện vốn nhân lực tương quan mà một đứa trẻ sinh ra hiện nay có thể đạt được vào năm 18 tuổi. Chỉ số này còn thể hiện năng suất lao động của thế hệ tiếp theo so với mốc chuẩn chung về giáo dục phổ thông và sức khỏe toàn diện.19 Đó chính là yếu tố hỗ trợ cho phát triển kinh tế trong hai thập kỷ qua.  Lĩnh vực giáo dục sau phổ thông đã trải qua hai giai đoạn phát triển rõ rệt. Từ năm 2000 đến năm 2016, Việt Nam đã có những tiến triển đáng ghi nhận về mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục sau phổ thông khi chỉ tiêu tuyển sinh tăng từ 0,9 triệu lên 2,3 triệu sinh viên. Tuy nhiên, số lượng nguồn nhân lực qua đào tạo sau phổ thông vẫn còn ít ỏi so với khu vực và trung bình của thế giới.  Nhìn chung, Việt Nam ít cả “thầy” lẫn “thợ” so với các nước khác. Vì khả năng tiếp cận giáo dục sau phổ thông (bao gồm giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp) của học sinh Việt Nam, tính bằng tỷ lệ nhập học chung, đạt dưới là 28,6%, một trong những mức thấp nhất trong số các nước Đông Á. Tỉ lệ này của Việt Nam thấp hơn mức bình quân 55,1% ở các quốc gia thu nhập trung bình cao, thấp hơn nhiều so với các nước có thu nhập cao hơn như Hàn Quốc (trên 98%), Trung Quốc (hơn 53%) và Malaysia (43%). Kết quả đầu ra giáo dục sau phổ thông của Việt Nam, đo bằng tỷ lệ tốt nghiệp gộp, chỉ đạt 19%.  Trước đó, theo khảo sát về doanh nghiệp và kỹ năng của Ngân hàng Thế giới (2019), 73% doanh nghiệp Việt Nam tham gia khảo sát cho biết gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động có các kỹ năng lãnh đạo và quản lý, 54% gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có kỹ năng cảm xúc – xã hội, và 68% gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có kỹ năng chuyên môn kỹ thuật theo vị trí việc làm cụ thể.  Báo cáo đánh giá một số nguyên nhân dẫn đến kết quả khiêm tốn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Các yếu tố cầu bao gồm chi phí cơ hội cao và chi phí tài chính ngày càng tăng khi theo đuổi giáo dục đại học, kết hợp với suất sinh lợi đang có xu hướng giảm. Các yếu tố cung liên quan đến sự chênh lệch giữa kỹ năng và việc làm, đầu tư hạn chế từ Nhà nước, và cấu trúc thể chế quản lý giáo dục đại học yếu kém và phân tán.  Để trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình cao vào năm 2035, Việt Nam cần có lực lượng lao động có kỹ năng. Để duy trì tăng trưởng kinh tế với tốc độ mong muốn, Việt Nam cần tăng năng suất ở mức 2-3% mỗi năm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng năng suất lao động chỉ có thể đạt được bằng cách đầu tư cho hệ thống giáo dục, là một phần quan trọng của gói các đầu tư và cải cách cần thiết.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Tỉ lệ phụ nữ và trẻ em bị bạo hành tăng do “giãn cách xã hội”      Giãn cách xã hội có thể khiến tất cả mọi người bị căng thẳng, nhất là những người mất việc hoặc đứng trước nguy cơ mất việc. Những căng thẳng tài chính có thể phần nào bị che mờ trong cuộc sống thường nhật, nhưng rồi chúng sẽ hiện lên đậm nét khi những không gian xã hội của mỗi người bị lấy đi, chỉ còn lại bạn với một đối tác có xu hướng bạo lực.    Thêm một tuần nữa kể từ khi thủ tướng Anh Boris Johnson ban hành lệnh phong tỏa trên khắp đất nước, các chuyên gia phân tích ngày càng tập trung vào những hậu quả không lường trước được trong việc thay đổi lối sống một cách đột ngột – nhằm tìm hiểu và tìm ra phương án giảm thiểu một số tác động của Covid-19. Nguy cơ bị bạo hành gia tăng đối với phụ nữ và trẻ em là một trong những hậu quả như vậy. Trong hai tuần đầu phong tỏa, có ít nhất 9 trường hợp tử vong được ghi nhận ở Anh như một hệ quả của chính sách ở nhà để “giãn cách xã hội”. Thêm vào đó, các cuộc gọi đến đường dây trợ giúp nạn nhân bị bạo hành nước này đã tăng 25% so với giai đoạn trước đó.   Không chỉ ở Anh, trong tuần đầu phong tỏa, “số trường hợp bạo lực gia đình trên khắp nước Pháp đã tăng hơn 30%” – Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pháp Barshe Castaner cho biết. Chỉ riêng ở Paris, con số này là 36%. Ông nói thêm, chính phủ nước này sẽ đưa ra các biện pháp mới để những nạn nhân của nạn bạo hành có thể tiếp cận, cầu cứu sự giúp đỡ trong thời gian phong tỏa. Họ có thể kêu gọi sự giúp đỡ tại các hiệu thuốc. “Nếu người chồng không đi theo đến đó, người vợ có thể gọi giúp đỡ”, chính quyền sẽ phát triển thêm một hệ thống mật mã riêng dành cho các nạn nhân có người chồng bạo lực đi theo kèm.   Ở Tây Ban Nha, các cuộc gọi qua đường dây nóng của chính phủ liên quan đến bạo lực giới đã tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái trong hai tuần đầu tiên phong tỏa. Tại Trung Quốc, Feng Yuan, giám đốc tổ chức bảo vệ phụ nữ Weiping, chia sẻ với tờ Sixth Tone rằng họ cũng đã nhận được một số lượng lớn các báo cáo liên quan đến bạo lực gia đình kể từ kỳ nghỉ Tết Nguyên đán – khoảng thời gian một số thành phố tại nước này bắt đầu ban hành lệnh giãn cách xã hội.    Các nhà hoạt động vì quyền phụ nữ cầm ảnh nạn nhân của bạo lực gia đình trong một cuộc biểu tình ở Bucharest hôm 4/3. Ảnh: Daniel Mihailescu  Giãn cách xã hội có thể khiến tất cả mọi người bị căng thẳng, nhất là những người mất việc hoặc đứng trước nguy cơ mất việc. Những căng thẳng tài chính có thể phần nào bị che mờ trong cuộc sống thường nhật, nhưng rồi chúng sẽ hiện lên đậm nét khi những không gian xã hội của mỗi người bị lấy đi, chỉ còn lại bạn với một đối tác có xu hướng bạo lực. Tất cả những nỗi bất an giờ đây đổ dồn vào cuộc sống của chúng ta; tiền bạc, công việc, sức khỏe và thực phẩm là những nỗi lo thường trực của phụ nữ và trẻ em, khi mà họ phải sống với một người có xu hướng bạo lực. Và rồi, nó đã nhân lên gấp bội khi mà những không gian như công sở, trường học, những nơi tụ tập cùng bạn bè,… đều biến mất.   Covid-19 đã tước đi 69.756 sinh mạng trên khắp thế giới vào cuối tháng 3 (Worldometer 06/04/20). Đây là một con số bi thảm, vì dù cho đã được chăm sóc dưới những điều kiện thuận lợi, nhiều người vẫn ra đi. Thêm vào đó, số người chết còn bao gồm các chuyên gia thâm niên chuyên phụ trách người bệnh và người có hoàn cảnh khó khăn. Hoa Kỳ cho biết nước này đã ban hành gói cứu trợ 2 nghìn tỷ USD nhằm cứu nguy cho nền kinh tế toàn cầu. Trên bình diện quốc tế, các chính phủ đã có những động thái khác nhau nhằm ban hành các gói hỗ trợ tài chính, giúp người dân chống chọi với những khó khăn trong bối cảnh hiện nay.  Mặt khác, năm 2019, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm báo cáo rằng trong năm 2017, trên toàn thế giới có khoảng 87.000 phụ nữ và trẻ em gái đã bị giết hại, với hơn 50% số ca tử vong là do người chồng hoặc chồng cũ gây ra. Báo cáo kết luận rằng ‘nhà’ vẫn là nơi nguy hiểm nhất đối với phụ nữ (và trẻ em). Hãy nhớ rằng đây là số liệu hằng năm. Những cái chết này xảy ra mỗi năm, Hoeffler và Fearon (2014) ước tính rằng bạo lực trong mối quan hệ tình yêu và hôn nhân gây thiệt hại cho nền kinh tế toàn cầu 4,4 nghìn tỷ USD mỗi năm, tương đương với hơn 5% GDP toàn cầu.  Khi đặt cạnh nhau, những con số như vậy hiện lên vô cùng rõ ràng. Nếu chúng ta thêm vào các chi phí do bạo lực gia đình, các chi phí phải trả như cơm bữa do các hành vi bạo lực mà một người đàn ông gây nên; các vấn đề về thể chất, tâm lý và tài chính, bao trùm lên cuộc sống của hàng ngàn người phụ nữ và trẻ em mỗi ngày – cũng góp phần gây ra cái chết sớm của họ, và những chi phí này tiếp tục được dồn lại. Chúng tôi đã gọi đây là ‘hành vi giết hại phụ nữ từ từ’.  Bất kể chúng ta có gọi hành vi này bằng một thuật ngữ nào đi nữa, thì những con số này cũng không phải là một trò đùa. Covid-19 không phải là một trò đùa. Thời gian dịch bệnh vừa qua giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một cuộc sống luôn chìm trong sợ hãi sẽ như thế nào. Sau đó, có thể có một đánh giá rộng hơn về việc làm thế nào mà những người phụ nữ và trẻ nhỏ có thể sống một cuộc sống như thế mỗi ngày – mà thậm chí sẽ còn khó khăn hơn trong hoàn cảnh đất nước đang bị phong tỏa.   Có lẽ, chúng ta nên hy vọng vào việc rút ra được những bài học sau dịch bệnh này.  Anh Thư dịch  Nguồn:   COVID-19 lockdown: Home is ‘the most dangerous place’ for women and children  Domestic violence cases jump 30% during lockdown in France     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia X mở khóa các bức thư hàng trăm năm tuổi      Hàng thế kỷ trước, con người đã dùng rất nhiều hình thức khác nhau để giữ bí mật thư tín khỏi các cặp mắt tò mò. Giờ đây, những công nghệ mới nhất đã mở các bức thư đó một cách dễ dàng, qua đó tìm thấy một đường liên kết còn lẩn khuất giữa những kỹ thuật bảo mật truyền thông từ thế giới cố đại và mật mã số hiện đại.      Những bức thư bị khóa được được mở bằng công nghệ hiện đại.   Vào lúc hai giờ sáng ngày 8/2/1587, nữ hoàng Mary của Scotland viết một bức thư gửi em chồng là vua Henry đệ tam của Pháp. Đó có thể là bức thư cuối cùng trong cuộc đời bi thảm của bà bởi bà còn chưa kịp ký tên và gửi nó đi. Quỹ thời gian còn lại của nữ hoàng không nhiều, bà chỉ còn có thể gập đi gập lại những trang giấy, cắt lấy một đoạn nhỏ ở mép rồi đục lỗ và xâu nó theo một cách để chỉ người hiểu rõ kỹ thuật đặc biệt này mới có thể mở được mà không làm rách lá thư… Sáu giờ sau, bà bị đao phủ hành quyết theo lệnh của cô mình là nữ hoàng Elizabeth nước Anh vì bị buộc tội bạo phản. Nhiều người xót thương cho số phận bất hạnh của nữ hoàng Mary và bức thư cuối cùng của bà kể từ đó đã được coi là một trong những hiện vật được quan tâm bậc nhất của Scotland bởi nó góp phần đem lại một cái nhìn sâu hơn về một nhân vật hoàng gia đang phải đối mặt với cái chết sắp đến.    Số phận bất hạnh và những bí mật cung đình phủ bóng cuộc đời nữ hoàng Mary đã gợi cảm xúc cho nhà soạn nhạc Đức Felix Mendelsohn sáng tác bản giao hưởng số ba Scottish. Vào năm 1928, Mendelsohn đã  ghi lại “Nhà nguyện [Holyrood] giờ không còn mái che, cỏ và cây thường xuân mọc ở đó và tại bàn thờ đổ nát đó, Mary đã đội lên vương miện nữ hoàng Scotland. Mọi thứ xung quanh giờ vỡ vụn và hoang tàn còn bầu trời thì rực rỡ” 1. Gần 100 năm sau, kỷ vật của nữ hoàng Mary còn đủ sức để gợi mở ý tưởng cho một sáng tạo khác, không phải trong lĩnh vực âm nhạc mà là khoa học, để đọc bức thư của bà mà không làm phá hủy chúng.    Đó chỉ là một trong rất nhiều ví dụ trong lịch sử bảo mật thư tín nhằm ngăn chặn những cái mũi ưa nhòm ngó bằng kỹ thuật “khóa thư” (letterlocking), tương tự ý nghĩa của việc mã hóa hộp thư điện tử của mọi người ngày nay. Có thể kể ra một số cái tên nổi tiếng trong lịch sử ưa thích cách làm này: nhà thiên văn học Galilei Galileo, nhà ngoại giao kiêm nhà văn thời Phục hưng Niccolò Machiavelli, vương hậu Pháp Marie Antoinette, nhà từ thiện Isabella Gardner… “Nhiều người đã làm như vậy”, Daniel Starza Smith, một giảng viên văn học Anh ở trường King’s College London, cho biết. “Đó là những gì còn ẩn sâu trong hàng trăm năm lịch sử truyền thông, và cũng là một trong những thứ khiến người ta phải ‘bão não’ nhất”.    Kỹ thuật “khóa thư” được coi là hoạt động ưa thích trong hàng thế kỷ, xuyên qua nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia, nhiều tầng lớp xã hội và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tồn tại của các hệ thống bí mật. Dù kỹ thuật này đã dần phai nhạt kể từ những năm 1830, khi những bức thư bắt đầu được đưa vào trong các phong bì nhưng theo thời gian, nó vẫn gợi sức tò mò cho các học giả, ví dụ như câu hỏi: bằng cách nào có thể đọc được nội dung của nhiều bức thư bị “khóa” có những giá trị lịch sử vô giá mà không phá hủy chúng?    Đó là lý do thôi thúc 11 nhà nghiên cứu ở MIT và nhiều viện nghiên cứu khác trên thế giới phát triển một kỹ thuật thực tế ảo giúp họ tìm hiểu những bí mật trong những kho tàng lịch sử thư tín. Kết quả của nghiên cứu được xuất bản trên Nature Communications “Unlocking history through automated virtual unfolding of sealed documents imaged by X-ray microtomography” (Sự mở khóa lịch sử thông qua việc mở tự động ảo các tài liệu kín được chụp bằng phương pháp chụp cắt lớp vi mô tia X) 2.    Nữ hoàng Mary của Scotland. Nguồn: britannica.com    Những bức thư bị khóa    Nghiên cứu này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo sư Jana Dambrogio, một nhà bảo tồn tại Thư viện MIT. Bà là trưởng nhóm nghiên cứu Mở khóa lịch sử, một nhóm bao gồm các nhà bảo tồn, cổ tự học, học giả văn học, sử gia, nhà xuất bản, chuyên gia hình ảnh, kỹ sư…, nghĩa là tất cả những ai quan tâm đến thực hành lịch sử về “khóa thư”. Dambrogio viết trên trang web của mình “các đặc điểm vật liệu của thư từ có thể nói với chúng ta về quá khứ nhưng chỉ khi chúng ta học được ngôn ngữ của chúng. Nhóm nghiên cứu của chúng tôi nguyện mang tất cả các công cụ mà chúng tôi có để làm được điều đó – một từ điển, những đoạn băng và hình ảnh, những hội thảo trong các thư viện, bảo tàng, trường đại học vòng quanh thế giới”.    Cách đây 20 năm, giáo sư Dambrogio lần đầu gặp các bức thư bị khóa trong một phòng thí nghiệm bảo tồn của Kho lưu trữ Bí mật Vatican. Dự án bà được tham gia bao gồm một nghiên cứu rất cẩn trọng về các hồ sơ pháp lý và kế toán từ thế kỷ thứ 10 đến 17, tất cả đều được bảo quản cẩn thận và không được phép chạm vào. “Ngay trong tuần đầu tiên, tôi đã bắt đầu thấy những đường rạch, những con dấu xác nhận, những dấu niêm phong bằng sáp ong tuyệt đẹp, và cả những góc bị cắt rời, những đường gập trong sách, trang giấy, gập khắp mọi nơi”.    Các nghiên cứu tiếp theo đã giúp giáo sư Dambrogio viết một cuốn sách khám phá 250 hồ sơ lưu trữ, chương đầu tiên dành cho những bức thư “cơ bản nhất, cấu trúc đơn giản nhất”. Theo thời gian, chương đầu đã phát triển đời sống của riêng nó. Trong một cuộc phỏng vấn, bà cho biết, vào năm 2014, việc nghiên cứu về các bức thư đang tồn tại đã gợi mở cho bà ý tưởng là liệu các đồng nghiệp am hiểu về công nghệ có thể tìm ra cách mở tự động ảo các bức thư đang bị khóa không? Ở thời điểm đó thì các học giả đã có thể đọc và nghiên cứu những bức thư như vậy bằng cách mở chúng ra. Tuy nhiên việc làm theo cách này thường làm hỏng những trang viết có tuổi đời hàng trăm năm và làm mất đi hoặc loại bỏ manh mối về cách chúng được bảo mật. “Chúng tôi thực sự cần giữ sự nguyên bản”, bà nói, “Anh vẫn phải giữ để nghiên cứu về chúng, đặc biệt nếu anh muốn hiểu sâu về cách chúng được tạo thành”.      Việc dùng kỹ thuật “khóa thư” được coi là hoạt động ưa thích trong hàng thế kỷ, xuyên qua nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia, nhiều tầng lớp xã hội và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tồn tại của các hệ thống bí mật.      Dẫu các bức thư bị khóa cứ chất đống trong các kho lưu trữ thì vẫn còn thách thức để tái tạo một cách chính xác những vật thể ba chiều đó. Một số công việc dò dẫm của cả Dambrogio và Smith đều ở quy mô nhỏ, tập trung vào cấu trúc gập của từng bức thư. Ngay cả khi những nếp gập đó đã bị làm phẳng theo cách lưu trữ thì các mẫu hình của sự bạc màu hay bụi bám trên giấy cũng có thể đem lại manh mối là phần gấp nào của thư nằm ở bên ngoài. Để hiểu rõ hơn về sự đứt đoạn của các con dấu bằng sáp ong nguyên bản, nhóm nghiên cứu đã phải thử nghiệm các công thức có trong lịch sử về việc niêm phong bằng sáp.    Sau ngần ấy thời gian, nghiên cứu của họ giống như một cuộc săn tìm kho báu kỳ lạ. Đã có nhiều trường hợp, Smith nói, họ tìm thấy chín mẩu thư bị hư hỏng, “và rồi sau đó tìm thấy mẩu thứ 10 cũng bị hư hỏng nhưng theo cách khác. Nó cung cấp bằng chứng về sự mất tích của những mẩu còn lại. Đó chính là một dạng trò chơi xếp hình”.      Với sự hỗ trợ của công nghệ, họ quét các bức thư với một thiết bị tia X tiên tiến. Kết quả là những hình ảnh ba chiều – giống như một máy quét y khoa – tiết lộ hình dạng bên trong của thư. Sau đó một máy tính giúp họ phân tích hình ảnh để lặp lại các nếp gập và hoàn toàn kỳ diệu là dùng kỹ thuật xử lý hình họ để đưa các lớp đó vào một mặt phẳng, tiết lộ toàn bộ phần chữ viết tay để có thể đọc một cách bình thường.    Với kỹ thuật hình ảnh mới, các nhà nghiên cứu có thể vừa đọc được cả những bức thư bị khóa mà không phải mở chúng ra, vừa bắt đầu hiểu sâu hơn về sự đa dạng khác thường về chiến lược bảo toàn thông tin của người gửi. Một dấu sáp đơn giản là chưa đủ. “Nếu là một điệp viên siêu hạng, anh có thể làm nóng niêm phong, loại bỏ nó, mở thư, đọc nội dung, rồi sắp xếp trở lại như cũ”, nhà khoa học máy tính MIT Erik Demaine, đồng tác giả của nghiên cứu, nói. Nếu làm điều này đủ khéo thì người nhận thư không bao giờ biết được. “Nhưng với các kỹ thuật khóa thư thì anh sẽ buộc phải xé một phần bức thư”.    Bước vào những thế giới riêng biệt    Trong nghiên cứu của mình, giáo sư Dambrogio và cộng sự không chỉ tìm hiểu về lá thư cuối cùng của nữ hoàng Mary mà còn tiếp cận một kho tàng vô giá trong lịch sử thư tín: bộ sưu tập Brienne, nơi có 2.660 bức thư viết giữa năm 1680 đến năm 1706 từ khắp châu Âu tới Hague (Hà Lan) nhưng đáng tiếc không đến được tay người nhận. Vào thời điểm đó, dịch vụ bưu điện không như chúng ta hình dung ngày nay. Người nhận, chứ không phải người gửi, sẽ phải trả tiền. Một bưu tá có động cơ khuyến khích để chuyển được thư. “Nếu không làm được điều đó, anh sẽ không nhận được tiền”, Rebekah Ahrendt, một nhà lịch sử âm nhạc tại ĐH Utrecht và là đồng tác giả nghiên cứu, cho biết. “thông thường thì người nhận không ở một chỗ đủ lâu để nhận được một bức thư”.    Bộ sưu tập Brienne là của Simon và Marie de Brienne, hai người chủ của một bưu cục và đã thuê một nhân viên kế toán sổ sách “hoàn toàn có vấn đề về thần kinh” điều hành bưu cục. Không rõ ai trong số họ có ý tưởng để bưu cục này bắt đầu lưu trữ thư từ mà họ không thể phát cho người nhận, một dạng phiên bản đầu của Văn phòng thư vô chủ. “Ý tưởng này là nếu họ giữ lại những bức thư không thể phát tới người nhận thì một lúc nào đó, cuối cùng ai đó cũng phải mò đến” và trả tiền, Ahrendt giải thích.       Brienne qua đời vào năm 1707, những bức thư vô chủ được coi là một tài sản. Điều rắc rối là những người thừa kế ông ở Pháp là Thiên chúa giáo còn ông là Kháng cách. Chẳng dại gì mà để tài sản này rơi vào tay họ, vì thế Brienne di chúc để lại kho thư đó cho một trại trẻ mồ côi. Cuối cùng, bộ sưu tập thuộc về Bộ Tài chính ở La Hay.      Ngày nay, với những bức thư bị khóa, bộ sưu tập này trở thành một tài sản vô giá với những thông tin về đời sống con người thế kỷ 17. Ví dụ, một trong những bức được mở tự động ảo đã cho thấy suy nghĩ của một người ở Lille, Pháp là Jacques Sennacques gửi tới người anh em họ của mình là Pierre La Pers, một thương gia Pháp sống ở La Hay, khẩn cầu ông ta và gửi cho ông ta thông tin chứng tử của người có liên quan là Daniel Le Pers. “Tôi đang viết cho anh lần thứ hai để gợi anh nhớ đến sự nỗi phiền muộn mà tôi phải đã thay mặt anh làm”. Dĩ nhiên, cả bức thư này cũng không đến được tay người nhận.    “Các bức thư đều có tình cảm rất sâu sắc, nó kể rất nhiều câu chuyện quan trọng về gia đình, tôn giáo, tình yêu và sự mất mát”, Smith nói. Ahrent bổ sung “Những gì thực sự đáng chú ý về bộ sưu tập này là nó là những bức thư từ tất cả mọi người, trong đó có cả thư từ những người mù chữ và phải thuê người viết, đó là thư từ những người mẹ lo âu về những đứa con mình, đó là thư của những kẻ yêu nhau giờ đã tan thành tro bụi… Đó là sự tập hợp tất cả các tầng lớp xã hội”.    Tuy nhiên việc nghiên cứu một cách tường tận sẽ phải mất nhiều năm sau nữa. Các nhà nghiên cứu lưu ý đến mối liên hệ giữa các bức thư và những nhân vật họ đang nghiên cứu. “Nếu so sánh thư của nữ hoàng Elizabeth và thư của nhà thơ Anh John Donne và nhìn vào bộ sưu tập Brienne, anh sẽ thấy một sự tiến hóa về công nghệ khóa thư”, Smith nói. “Những gì anh bắt đầu thấy ở đây là cái gì đó tương tự như một phong bì hiện đại. Đó là một phần câu chuyện chúng tôi có thể kể”.    Thậm chí nó cũng là bằng chứng cho thấy khóa thư có thể phản ánh cá tính và gu của mỗi người, ví dụ “Donne sử dụng năm phong cách khóa thư khác nhau và chúng tôi chưa từng thấy ai sử dụng nó, vì vậy chúng tôi đã tường tận thêm về con người có những vần thơ sáng tạo và hài hước bậc nhất thế hệ mình, bởi ông cũng sử dụng cách khóa thư sáng tạo nhất mà người ta có thể hình dung”, Smith nhấn mạnh.    Theo cách đó thì bức thư của nữ hoàng Mary của Scots đã đưa chúng ta có được cái nhìn mới vào những giờ phút cuối cùng của bà. “Thật không thể tưởng tượng được, ở một thời khắc nhất định, ai đó đã viết một bức thư, một thứ vẫn được coi là hành động cuối cùng của họ”, Dambrogio nói. “Nhưng trên thực tế hành động cuối cùng của họ lại là chọn kỹ thuật khóa thư mà họ sẽ dùng để liên lạc với người mà họ yêu thương”. □    Tô Vân tổng hợp  Nguồn: New York Times, Wire, Atlas Obscura  —  1. https://tiasang.com.vn/-van-hoa/Giao-huong-Scottish-Cuoc-vien-du-ve-qua-khu-26934  2. https://www.nature.com/articles/s41467-021-21326-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia X phát hiện Hoa hướng dương của van Gogh sẽ… héo      Các phân tích mới cho thấy một nửa các bức vẽ trên toan tại Amsterdam của họa sỹ Vincent Van Gogh với các bảng màu đã sẫm màu thêm khi bị phơi sáng dưới ánh sáng tử ngoại.      Một trong những bức họa Hoa hướng dương của van Gogh treo tại bảo tàng mang tên ông ở Hà Lan. Nguồn: Bảo tàng van Gogh  Vincent van Gogh đã vẽ bức “Hoa hướng dương” nổi tiếng của mình với những màu vàng rực rỡ và ngập tràn cảm xúc về sự sống. Nhưng vào thời điểm đó, họa sỹ Hà Lan này không thể tưởng tượng rằng hơn một thế kỷ sau, những bông hoa màu vàng chanh rực sáng đó có thể bắt đầu tàn héo và chuyển sang màu nâu sẫm.      Một nghiên cứu mới có sử dụng tia X đã xác nhận những gì mà các nhà nghiên cứu và những người yêu hội họa nghi ngờ đã lâu: các bức họa của Van Gogh đang nhạt dần theo thời gian. Năm 2011, Sarah Zielinski tại Smithsonian.com đã nêu, các nhà hóa học đã xem xét kỹ bức họa 100 năm tuổi này chống chọi với thời gian như thế nào. Họ thấy sự phơi sáng tia tử ngoại – cả tia mặt trời và đèn halogen đã chiếu vào các bức tranh trong nhiều bảo tàng, gallery – đều dẫn đến quá trình ô xi hóa của một số màu sắc trong các bức tranh và là nguyên nhân khiến chúng thay đổi màu sắc.  Một nghiên cứu năm 2016 đã nghiên cứu sâu hơn vào vấn đề này và tìm thấy một trong số những màu vàng sáng như trong bức tranh của Van Gogh, một màu trộn giữa màu vàng của chì cromat và màu trắng của chì sunfat không ổn định. Dưới ánh sáng tử ngoại, cromat thiếu ổn định thay đổi trạng thái và sunfat bắt đầu vón cục, do đó làm màu sắc xỉn đi. Thật không may, hiện nay các nhà nghiên cứu cũng không thể ngăn được quá trình này.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã tạo ra một “bản đồ hóa học” tia X chi tiết của một trong số những bức vẽ hoa hướng dương được treo trong Bảo tàng van Gogh ở Amsterdam, lập bản đồ những khu vực mà van Gogh dùng những màu nhạy tia tử ngoại và cả những vùng mà ông sử dụng màu vẽ này ít hơn. “Chúng tôi có thể thấy các vùng van Gogh đã dùng màu vàng crom nhạy sáng, nơi những nhà phục chế tranh nên chú ý đến sự nhạt màu theo thời gian”, Frederik Vanmeert – chuyên gia về khoa học vật liệu tại trường đại học Antwerp (Bỉ) và là một thành viên trong nhóm nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ phân tích các bức họa cho Bảo tàng van Gogh. “Chúng tôi đã biết ông ấy dùng màu xanh lục ngọc bảo và chì đỏ để vẽ ở những chỗ rất nhỏ trong bức họa, sau đó theo thời gian, màu vẽ này trở nên trắng hơn, sáng hơn”.  Trên Newsweek cũng cho biết, về tổng thể thì Van Gogh dùng các màu cảm quang trong một nửa bức họa này. Hiện tại, mắt thường chưa thể nhìn thấy sự tối màu của bức họa và “tiều tụy” của những bông hoa hướng dương. Các nhà nghiên cứu cũng không rõ là trong vòng bao lâu thì chúng còn giữ màu sắc rạng rỡ của mình. Viện bảo tàng cũng đã thực hiện một số cách để bảo vệ tác phẩm nghệ thuật này, ví dụ như lắp đặt đèn LED thông minh vào năm 2017 để cho phép kiểm soát phổ ánh sáng có thể làm hư hại bức tranh và kiểm soát cả độ sáng lẫn thời gian chiếu sáng các bức tranh.  Bất chấp nỗ lực này, hiện vẫn chưa rõ cách giữ cho các bức họa có màu vẽ pha crom khỏi sự thay đổi màu sắc. Và không chỉ những bức hoa hướng dương gặp phải rủi ro – Van Gogh thường dùng màu nhạy sáng cho nhiều tác phẩm khác của mình. Hy vọng là nghiên cứu mới có thể đề xuất nhiều cách ngăn “sự tàn héo” của các bức tranh hoặc đưa ra các kỹ thuật mới cho chiếu sáng hoặc trưng bày tranh để giúp chúng có thể tồn tại lâu hơn.  “Việc mất màu sắc của các màu vẽ là một chủ đề nghiên cứu được chúng tôi quan tâm nhiều kể từ khi Van Gogh, cũng như những họa sỹ cùng thời, dùng những màu vẽ có thể đổi màu theo thời gian”, Marije Vellekoop – người phụ trách thu thập và nghiên cứu tại Bảo tàng Van Gogh, nói. “Tại thời điểm này, chúng tôi đang xử lý tất cả các kết quả nghiên cứu về bức tranh mang tính biểu tượng này, sau đó xác định là sẽ dùng cách nào để giải quyết vấn đề tại bảo tàng. Sắc tố mạ crôm màu vàng nhạt màu đã được Van Gogh sử dụng rất nhiều nên chúng tôi cho rằng nó cũng là nguyên nhân khiến đổi màu trong các bức tranh khác của ông”.  Dẫu cho các nhà nghiên cứu chưa thể làm ngừng quá trình đổi màu ở các bức vẽ hoa hướng dương trong tương lai thì những nỗ lực này cũng có thể giúp họ giữ được màu sắc sống động nguyên bản ở các bức tranh khác của Van Gogh. Năm 2017, các bảo tàng đã phục dựng 5 trong số 7 bức vẽ nguyên bản (1 đã bị tàn phá ở Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ 2 và bức còn lại do một nhà sưu tầm tư nhân không muốn chia sẻ công khai) và đặt chúng vào một gallery ảo, khiến cho chúng không còn bị phai màu, trước cả sự thách thức của thời gian.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/why-van-goghs-sunflowers-will-wilt-180969224/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tia X tiết lộ bức tự họa giấu kín của Artemisia Gentileschi      Bức họa “Saint Catherine” đã phản chiếu một chân dung tự họa từng được vẽ trước đó của họa sỹ thời kỳ Baroque, Artemisia Gentileschi.      Tia X giúp các nhà nghiên cứu phát hiện ra những nét vẽ đầu tiên của bức tranh   Là người ngưỡng mộ danh họa Caravaggio, bản thân Gentileschi vẫn được coi là biểu tượng thành công hiếm hoi của phụ nữ trong sự nổi trội và lấn át của nam giới trong thế giới nghê thuật thế kỷ 17. Bà thường xuyên miêu tả những nhân vât phụ nữ anh hùng, những vị thánh.  “Saint Catherine of Alexandria”, bức họa do Artemisia Gentileschi vẽ năm 1619 có nét tương đồng một cách thực sự với một bức tự họa có tên tương tự của bà vẽ năm 1615-1617, hiện do Phòng tranh quốc gia London sở hữu: cả hai bức chân dung đều vẽ người phụ nữ tóc đen, váy đỏ, phong thái vương giả, những ngón tay xiết lấy một chiếc bánh xe gỗ là dụng cụ tra tấn đã bị vỡ trong khi tay kia ghì lấy một cành cọ tử vì đạo vào ngực mình. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai bức là một người thì tóc vấn khăn, cặp mắt nhìn thẳng vào người xem với cái nhìn chăm chú, có phần thách thức, còn người kia thì đội vương miện, cái nhìn đầy trầm ngâm hướng về phía thiên đường.    Bức vẽ được trưng bày tại Phòng tranh quốc gia London  Thật bất ngờ là bức vẽ năm 1619, hiện giờ do Phòng tranh Uffizi ở Florence, Ý sở hữu, lại tìm ra một điều bí mật nằm dưới bức tranh. Mặc dù “Saint Catherine of Alexandria” đã mô tả chân dung cô con gái Đại công tước Ferdinando de’ Medici’ – được vẽ đúng vào thời kỳ nữ họa sỹ Gentileschi ở cung đình Tuscan, nhưng một phiên bản ban đầu của tác phẩm này đã âm thầm ở dưới các lớp màu vẽ trong 5 thế kỷ, hầu như phản chiếu đúng bức chân dung ở London.  Những người tìm ra bí mật này là các chuyên gia của Opificio delle Pietre Dure of Florence – một viện nghiên cứu thuộc Bộ Di sản văn hóa Ý tại Florence, và do nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm Roberto Bellucci và Maria Luisa Reginella, một nhà học giả trẻ người Palermo mới tới Opificio nhưng đã khiến cộng đồng nghiên cứu ở đây ngưỡng mộ, dẫn dắt. Khi được hỏi, khám phá này là một kết quả ngẫu nhiên hay có chủ đích, cô trả lời: “Opificio delle Pietre Dure thường thực hiện các cuộc kiểm tra những tác phẩm nghệ thuật để có thể bảo tồn chúng một cách hiệu quả hơn. Việc tìm hiểu về bức tranh này là một trong số đó. Các kỹ thuật sử dụng để khảo sát các tác phẩm rất phong phú và đều là không xâm lấn (tia cực tím, tia hồng ngoại và tia X) cho phép các nhà nghiên cứu ‘rọi’ cái nhìn rõ ràng hơn chất nền của bức tranh”.  “Cuộc kiểm tra cho thấy bên dưới bề mặt của bức tranh là một phiên bản khác, có trước Santa Caterina (tên bức tranh bằng tiếng Ý), không có vương miện mà có dải khăn quấn trên đầu, với khuôn mặt hướng thẳng về phía người xem, thay vì là ba phần tư mặt và với cặp mắt trầm ngâm hướng về phía xa, khác hẳn với bức vẽ sau cùng mà chúng ta thấy”, Reginella giải thích thêm.  Do đó, ban đầu họa sỹ đã vẽ một bức chân dung khác, hoàn toàn khác biệt so với lần thể hiện này. Có thể nó thể hiện ý đồ khác của bà? Các nhà nghiên cứu cho biết, việc tìm hiểu sâu hơn cho thấy, bàn tay trái của vị thánh cũng ở tư thế khác, đồng thời có thêm một tấm màn che trên đường viền váy (có thể là một bộ quần áo nam giới – một ý tưởng Gentileschi đã từ bỏ) và có một khuôn mặt nhỏ bí ẩn ở phía trái khuôn mặt Santa Caterina, hoàn toàn khác lạ với bối cảnh tác phẩm đã hoàn thành. Tại sao nó lại biến mất khi hoàn chỉnh bức vẽ? “Có thể thấy rõ ràng đó là phác thảo ban đầu của một bức họa hoàn toàn khác, sau đó nhiều khả năng bị gác lại. Artemisia rút cục đã tái sử dụng tấm toan như cách nhiều họa sỹ cùng thời đã làm để tiết kiệm chi phí”.    Bức chân dung treo tại Uffizi  Bức chân dung của Gentileschi vẽ Catherine, con gái của Ferdinando de ‘Medici dưới hình ảnh của nữ đại công tước Cristina vùng Lorraine, người được phong thánh sau khi bị nhục hình đến chết vì không từ bỏ niềm tin Cơ đốc giáo 4 thế kỷ trước. Điều này lý giải vì sao bà lại quyết định đặt vương miện hoàng gia trên đầu của vị thánh – những yếu tố thuộc về dòng họ Medici, thay vì tấm khăn – phiên bản quàng khăn của Gentileschi được Phòng Tranh quốc gia London mua vài tháng trước.  Tuy nhiên còn có một điều quen thuộc của bà. “Artemisia đã dùng cả chân dung của chính mình, sử dụng hình ảnh của chính mình để vẽ những nhân vật nữ”, Cecilia Frosini – một thành viên tham gia nghiên cứu, nói. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra điều này, dựa trên một lý thuyết đã tồn tại từ lâu rằng Gentileschi đã lấy khuôn mặt của chính mình cho những nhân vật nữ: bà có thể bắt đầu với khuôn khổ cơ bản được hình thành ở bức chân dung năm 1615-1617, sau đó căn chỉnh thêm thành bức chân dung con gái vị bảo trợ của mình.  Cho dù trên thực tế là bức chân dung được họa sỹ thay đổi vì nguyên nhân gì thì những gì mà các nhà nghiên cứu phát hiện ra sẽ đem lại một cái nhìn mới và hiểu biết mới về Gentileschi, ít nhất là năm bức tranh của bà ở Uffizi. “Một lần nữa, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về tác phẩm để làm giàu thêm kiến thức về hội họa Ý thế kỷ 17, chắc chắn nó sẽ đem lại cảm hứng cho các học giả đánh giá lại tác phẩm để tìm hiểu thêm về phong cách của Artemisia và liên hệ với các tác phẩm khác mà bà đã vẽ vị thánh tử vì đạo của Alexandria”, Cecilia Frosini nói.  Thanh Phương  tổng hợp từ smithsonianmag.com, AP, nationalgallery.org.uk, lindro.it.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tích tụ đất đai – không còn là lúc để lo ngại      Tích tụ đất đai đang là một thực tế phổ biến tại nhiều địa phương trong cả nước, khi nhu cầu sản xuất nông nghiệp đã vượt quá chiếc áo hạn điền mà pháp luật về đất đai đang áp dụng. Thực tế này khiến nhiều người lo ngại về sự hình thành một giai cấp địa chủ mới, trong khi những người mang giấc mơ đại điền phải thất vọng. Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh để làm rõ các khía cạnh của vấn đề này.      Tích tụ đất đai  là thực tế phổ biến    Hiện nay ở nông thôn Việt Nam đang diễn ra quá trình tích tụ đất đai vào một số nông dân có tiềm lực. Xin ông cho biết trong lịch sử Việt Nam đã từng diễn ra một quá trình nào tương tự hay chưa?    Tích tụ ruộng đất là một quá trình có thật từng diễn ra trong sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam. Nếu chỉ giới hạn trong phạm vi sản xuất nông nghiệp  nói chung đó là một chỉ báo về sự phát triển của sức sản xuất. Kinh tế nông nghiệp phát triển tới chỗ sản xuất hàng hóa thì đó là giải pháp đầu tiên đảm bảo cho sự phát triển của nó. Cho nên việc tích tụ đất đai không chỉ thể hiện sự phát triển của nông nghiệp mà còn thể hiện sự phát triển về kinh tế, không chỉ là một quá trình kinh tế mà còn là một quá trình xã hội phức hợp. Chẳng hạn sau 1954, cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã mở ra một quá trình tích tụ ruộng đất mới gắn liền với những hình thức sở hữu ruộng đất phổ biến mới bên cạnh hàng loạt quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội mới ở nông thôn. Nhưng nếu việc tích tụ đất đai không dựa trên sự phát triển sức sản xuất và nhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất, tức mang các yếu tố phi kinh tế thì trước sau gì cũng để lại những vấn đề kinh tế – xã hội nào đó về lâu dài.   Vậy theo ông, tích tụ đất đai có phải là tất yếu không?   Nói tất yếu hay không thì phải nhìn vào chuyện nhu cầu, không có nhu cầu thì không phải là tất yếu.    Mâu thuẫn xã hội trong lĩnh vực kinh tế phát sinh ở ba phương diện, bao gồm việc chiếm hữu tư liệu sản xuất, sự phân công trong hoạt động sản xuất và sự phân chia lợi nhuận sản xuất. Xã hội loài người đi lên từ sản xuất nông nghiệp, trong hoàn cảnh kỹ thuật lạc hậu thì việc chiếm hữu tư liệu sản xuất là cái quyết định sự sống còn và phát triển, sở hữu và tích tụ ruộng đất là nhu cầu nên là tất yếu.    Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa trước Chiến tranh Thế giới thứ I, kinh tế hàng hóa mà đại diện là nền sản xuất công nghiệp phát triển hơn tuy kỹ thuật còn chưa cao, việc chiếm hữu tư liệu sản xuất không quan trọng bằng sự phân công trong hoạt động sản xuất và nhất là sự phân chia lợi nhuận sản xuất, mâu thuẫn xã hội thể hiện tập trung ở cuộc đấu tranh giữa công nhân và tư bản chung quanh các vấn đề giờ làm, lương bổng chứ không phải về quyền sở hữu các nhà máy, tình hình này cũng diễn ra ở các trang trại nông nghiệp tư bản chủ nghĩa.    Trong các đồn điền cao su, cà phê ở Việt Nam trước 1945, công nhân không hề đấu tranh đòi chia chác đồn điền, tức việc chiếm hữu tư liệu sản xuất đã không còn là nhu cầu sống chết nữa.            Tích tụ đất đai là cuộc đấu tranh rất gay gắt giữa nhà vua và giai cấp địa chủ trong lịch sử của chế độ phong kiến nước ta. Nhà vua muốn giằng lại đất cho mình, không cho địa chủ tích tụ, nhưng địa chủ thì mong muốn tích tụ càng nhiều càng tốt vì đất là cửa làm ăn của một giai cấp nắm kinh tế như họ. Có những lúc triều đại đổ vỡ vì ý tưởng lấy lại đất đai cho mình, ví dụ như Hồ Quý Ly. Ông ta giằng lại đất của các quý tộc, địa chủ, đến khi nhà Minh sang thì ông ta bị chính quan lại cũ dẫn tướng nhà Minh đi bắt. Cũng có những triều đại thực hiện việc lấy lại đất đai của giai cấp địa chủ tương đối thành công, ví dụ như vua Minh Mệnh.               Hạn điền của ta bắt đầu được lập ra từ 1993, với ý tưởng ruộng đất phải hạn chế lại, không để cho giai cấp địa chủ trỗi dậy. Nhưng đến lúc này việc bỏ hạn điền là hợp lý, vì chúng ta cần tập trung những vùng đất lớn mới phù hợp với tính chất công nghiệp. Hơn nữa, lúc này chúng ta đang muốn giảm dân số trong khu vực nông nghiệp để chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Việc giảm dân số ở khu vực nông nghiệp là đương nhiên, vậy thì việc tăng diện tích là đương nhiên. Đó là xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, không giống như xu hướng kinh tế nông nghiệp như trong thời đại phong kiến.               Tôi tin rằng Luật sắp tới sẽ bỏ hạn điền, bởi nó gần như đã được đồng ý khi Quốc hội xem xét Luật đất đai 2003 rồi và có giữ lại chúng ta cũng không kiểm soát được.               Có thể có một số người kinh doanh đất đai dưới dạng địa chủ mới, tích tụ đất nông nghiệp thật lớn và bắt đầu phát canh thu tô, đưa người nông dân vào cảnh nghèo khó. Nhiều nước họ giải quyết vấn đề này rất hiệu quả. Ví dụ Đài Loan dùng thuế để giải quyết. Nếu anh trực tiếp sản xuất thì thuế thấp hơn nhiều so với việc anh đứng giữa thuê người khác sản xuất. Họ đánh đến mức anh không thể thuê được và chỉ có thể trực tiếp sản xuất thôi. Thậm chí chúng ta có thể thu hồi đất nếu phát hiện có phát canh thu tô. Chúng ta không nên dùng thời hạn và hạn điền như hai chế tài để giải quyết những tiêu cực trong nông nghiệp hiện nay.    GS. Đặng Hùng Võ (nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)          Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, khi tư bản tài chính từng bước thay thế tư bản công nghiệp, việc phân chia lợi nhuận sản xuất trở thành cái quyết định hiện trạng xã hội, nhiều trang trại nông nghiệp ở các nước phát triển với đội ngũ công nhân nông nghiệp đông đảo đã tồn tại trên cơ sở lương bổng và chế độ đãi ngộ, phúc lợi xã hội tương đối hợp lý. Dài dòng như thế để thấy cấu trúc kinh tế ở Việt Nam, tư duy kinh tế của con người Việt Nam hiện đang ở nấc thang nào của sự phát triển thôi.   Nhưng dù sao thì ở Việt Nam hiện nay nhu cầu sở hữu và tích tụ đất đai cũng là một thực tế nếu không phải tất yếu thì ít nhất cũng rất phổ biến.    Cần có giải pháp thích ứng với thực tế thay vì lo ngại     Quá trình tích tụ đất đai ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm gì nổi bật?   Ở nước ta hiện nay có hai dạng thức tích tụ đất đai khác hẳn nhau về nội dung và bản chất.    Dạng thức thứ nhất tích tụ đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất, nó phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất và đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội, nói chung là lành mạnh vì trong thực tế nó gần như luôn ăn khớp với năng lực của những người chủ đất trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp.  Dạng thức thứ hai tích tụ đất đai với tư cách là hàng hóa, cũng là tất yếu xét từ góc độ cung cầu của thị trường nhưng nói chung không lành mạnh vì nó mang tính chất đầu cơ, căn bản không tạo ra công ăn việc làm, không góp phần làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội.    Không phân biệt rạch ròi hai dạng thức tích tụ đất đai này thì không thể có chính sách đất đai tối ưu.   Như vậy quá trình tích tụ đất đai ở Việt Nam hiện nay đang bộc lộ tính chất hai mặt của một vấn đề và có thể gây ra những hậu quả không mong muốn. Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận những hiệu ứng phát sinh từ quá trình này như thế nào và ông có dự liệu gì cho tương lai?   Thực tế lịch sử cho thấy ở nhiều nơi, nhiều lúc, quá trình ấy rất khác nhau về nội dung và tính chất, hình thức và quy mô. Những điều đó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và kỹ thuật, xã hội và pháp lý rất cụ thể. Ví dụ sau khi phong trào vũ trang chống Pháp ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX thất bại, ruộng đất của nhiều chủ đất yêu nước bị tịch thu và trở thành sở hữu của một số người theo Pháp, quá trình tích tụ phi kinh tế ấy làm phát sinh nhiều mâu thuẫn xã hội. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, những địa sản lớn ấy lại phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tức có tác động tích cực khách quan tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương. Hay trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp hàng hóa ở Nam Bộ trước 1954 mà sở hữu 30 hecta ruộng thì chưa là cái gì nhưng ở miền Bắc thì một địa sản như thế đủ cho cả chục gia đình bị quy vào thành phần địa chủ trong cải cách ruộng đất sau 1954 rồi. Cách nhìn nhận việc tích tụ ruộng đất do đó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế, nhận thức kinh tế cụ thể của những người nhìn nhận nữa.            Nếu rạch ròi về quyền sở hữu, thì việc tích tụ ruộng đất sẽ xảy ra theo cơ chế thị trường, tức là thuận mua vừa bán (và chỉ tiến hành giữa các cá nhân, tổ chức trong nước. Người có khả năng có thể mua của những người khác để tích tụ và việc tích tụ ruộng đất là một điều hết sức cần thiết đối với sự phát triển của đất nước. Chỉ có tích tụ ruộng đất, tích tụ tư bản như thế thì mới có quy mô sản xuất đủ lớn để quản lý nó một cách hiệu quả. Rất khó đưa máy móc, kỹ thuật vào những mảnh ruộng manh mún, nên chế độ hạn điền như bây giờ là cản trở sự phát triển của đất nước. Phải mở rộng cái đó ra và để cho thị trường tự do quyết định trên cơ sở hợp đồng, có đăng ký, Nhà nước không cần can thiệp.                                                          TS. Nguyễn Quang A          Quá trình tích tụ đất đai không bao giờ tách rời với nhiều quá trình xã hội khác, nên không thể tóm tắt hiệu quả hay hậu quả kinh tế – xã hội của nó trong một mệnh đề. Phải phân tích, tìm hiểu từng trường hợp cụ thể với các yếu tố có liên quan mới có thể trả lời được. Ví dụ nhiều người vẫn nói tích tụ đất đai dẫn tới sự phân hóa xã hội, kéo rộng khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn, nhưng các xã hội du mục hay du canh du cư không đặt nặng vấn đề sở hữu đất đai cũng có sự phân hóa giàu nghèo, mặt khác bản thân khoảng cách giàu nghèo lại là một động lực phát triển vì nó kích thích xã hội phấn đấu san bằng khoảng cách ấy. Khi nào có nhiều người nghèo không sống nổi thì khoảng cách giàu nghèo mới trở thành tai họa, không thì sự khác biệt ấy căn bản không thể trở thành mâu thuẫn đối kháng trong sinh hoạt xã hội được. Dĩ nhiên nếu tích tụ đất đai nhằm đầu cơ trục lợi thì còn có tai họa khác, vì nó sẽ dẫn tới việc một bộ phận đất đai không được huy động vào thực tiễn sản xuất của xã hội, tóm lại là gây ra sự lãng phí tài nguyên đất đai.                    Hiện nay có nhiều người lo ngại quá trình tích tụ đất đai ở Việt Nam sẽ đẩy nhiều nông dân nghèo ra khỏi ruộng đồng, dẫn đến người nông dân bị bần cùng hóa. Xin cho biết quan điểm của ông về sự lo ngại này.   Nói quá trình tích tụ đất đai ở Việt Nam hiện nay sẽ tạo ra một mặt bằng sở hữu ruộng đất mới, một số nông dân có nhiều ruộng hơn và nhiều nông dân không còn ruộng thì đúng. Nhưng nếu nói quá trình ấy nhất định sẽ đẩy nhiều nông dân nghèo ra khỏi ruộng đồng, đưa họ tới chỗ bị bần cùng hóa thì chưa chắc, vì chuyện đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chính sách kinh tế trong nông nghiệp, chính sách xã hội với nông dân. Lo ngại về một quá trình không thể ngăn cản thì thà suy nghĩ, dự liệu để giải quyết những kết quả bất lợi của nó còn hơn.    Hai mươi năm qua rất nhiều nông dân không còn ruộng đã được đền bù thích đáng, nhưng nếu sớm lo ngại cho tương lai của họ với các chủ trương dạy nghề hướng nghiệp đi kèm với các biện pháp tái cấu trúc kinh tế nông nghiệp phù hợp và nhất quán thì nhiều người đã không phung phí hết tiền rồi trở thành gánh nặng cho xã hội như hiện nay đâu.    Hạn điền – cản trở chính với giấc mơ đại điền   Kể từ Luật Đất đai 1993 và sau này là Luật đất đai 2003 (hiện hành), chế độ hạn điền đã được áp dụng với việc hạn chế diện tích sử dụng đất, dẫn đến việc nông dân hiện nay đang canh tác trên những thửa ruộng rất manh mún. Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận hiện tượng pháp lý nào tương tự hay chưa?   Ngoài vụ Hồ Quý Ly hạn điền hạn nô để làm suy yếu thực lực và vô hiệu hóa sự chống đối của tầng lớp quý tộc điền trang cuối thời Trần, các chính quyền ở Việt Nam từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc căn bản đều không có chính sách hạn điền, vì bất kể thế nào điều đó cũng ảnh hưởng bất lợi tới sản xuất nông nghiệp, vốn là cột trụ chủ yếu của kinh tế quốc gia thời trước.   Các chính quyền phong kiến từ thời Lê đến thời Nguyễn đều có chính sách khuyến khích khẩn hoang để phát triển nông nghiệp, ai mộ được nhiều dân, khẩn được nhiều ruộng còn được phong thưởng ưu đãi này khác. Thời phong kiến tuy ở Trung Bắc có áp dụng chính sách quân điền, nhưng đó là giải pháp ngăn chặn nạn kiêm tính ruộng đất dẫn tới việc nông dân phiêu bạt làm lưu dân, giảm thiểu sức lao động trong nông nghiệp và bất lợi cho việc giữ gìn trật tự trị an. Mà nhìn từ góc độ lợi ích của chính quyền, thì chính sách quân điền còn có tác dụng ràng buộc nông dân vào với ruộng đất để tiện thu thuế thu lương, bắt phu bắt lính.    Trong thời gian nửa đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn có lần kêu gọi các địa chủ lớn ở Gia Định – Nam Kỳ nhường bớt ruộng đất cho nông dân nghèo, cũng là nhằm vào những mục tiêu ấy. Chính quyền thuộc địa thời Pháp thuộc càng thực dụng hơn, ruộng đất nhiều thêm thì thuế ruộng đất cũng nhiều thêm, nông sản hàng hóa càng gia tăng thì số thu ngân sách về các khoản lưu thông xuất khẩu càng khả quan, họ không nhìn nhận vấn đề ruộng đất trên lập trường đạo đức hay công bằng xã hội thì cần gì hạn điền.   Với việc hạn chế diện tích sử dụng đất trong khi xu hướng phát triển nông nghiệp không thể tránh khỏi việc tập trung một diện tích ruộng đất lớn vào tay một số người để tiến hành sản xuất lớn, chính sách hạn điền đang tỏ ra là một cản trở đối với quá trình tích tụ đất đai?    Đúng, nhưng còn phải xem đó là dạng thức tích tụ nào. Nếu đó là hành vi đầu cơ kiếm lợi qua một hàng hóa đặc biệt là ruộng đất thì hạn điền là công cụ chính sách cần thiết nhằm hạn chế những mâu thuẫn, biến động xã hội do việc đầu cơ đất đai, còn nếu đó là phục vụ việc tái cấu trúc kinh tế nông nghiệp thì hạn điền lại là chướng ngại pháp lý trên con đường hiện đại hóa kinh tế nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung.    Từ cuối thế kỷ XIX đến 1945, chính quyền thuộc địa Pháp không đặt vấn đề hạn điền nên việc khẩn hoang ở miền Tây Nam Bộ mới tiến hành được mau lẹ như thế, kinh tế nông nghiệp ở Nam Bộ mới phát triển được theo hướng sản xuất hàng hóa thuận lợi như thế. Nhưng kinh tế thị trường có những bất trắc của nó, ví dụ khủng hoảng kinh tế sau Chiến tranh Thế giới thứ I khiến thị trường lúa gạo thế giới rơi vào cảnh đình đốn, nhiều địa chủ có vài ngàn hecta ruộng ở Nam Kỳ bị phá sản vì không trả được nợ cho Ngân hàng Đông Dương. Cho nên đặt vào bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay thì hạn điền cũng có thể có tác dụng giảm thiểu rủi ro cho người chủ đất, giúp họ tránh được lối đầu tư quá hớp hay ít an toàn. Nhưng như đã nói ở trên, quá trình tích tụ đất đai vốn đan xen và chuyển hóa với nhiều quá trình xã hội khác, nên chính sách hạn điền cũng như không hạn điền không có bao nhiêu tác dụng nếu không kết hợp với những chính sách khác như thuế, các chủ trương dạy nghề hướng nghiệp và nâng cao dân sinh dân trí ở khu vực nông thôn.   Xin cảm ơn ông!                     Hữu Long  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiềm năng của nấm ma thuật trong điều trị trầm cảm      Nấm ma thuật có một lịch sử lâu đời và thú vị. Giờ đây các nhà khoa học cho biết việc dùng các hoạt chất của chúng kết hợp với liệu pháp tâm lý sẽ là một phương án điều trị đầy hứa hẹn cho bệnh trầm cảm.      Nhóm nghiên cứu cảnh báo không nên tìm kiếm nấm ma thuật để tự điều trị tại nhà. Ảnh: Imperial College London/PA     Kết quả từ giai đoạn hai của một thử nghiệm lâm sàng nhỏ đã tiết lộ rằng hai liều hoạt chất thức thần psilocybin (một hoạt chất gây ảo giác mạnh có trong nấm ma thuật) có hiệu quả như thuốc chống trầm cảm escitalopram – loại thuốc phổ biến trong điều trị rối loạn trầm cảm, ít nhất là khi kết hợp với liệu pháp tâm lý.     “Công bằng mà nói, kết quả này cho thấy đây có thể là một phương pháp điều trị thay thế đầy hứa hẹn cho bệnh trầm cảm”, TS Robin Carhart-Harris thuộc Imperial College London, đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.      Theo Carhart-Harris, về cơ bản psilocybin và escitalopram có cách thức tác động khác nhau. Nhìn chung, cả hai đều tác động lên hệ thống serotonin của não, tuy nhiên escitalopram giúp con người chịu đựng căng thẳng tốt hơn, “còn chất thức thần thiên về giải phóng suy nghĩ và cảm xúc – sử dụng chất này dưới sự hướng dẫn của liệu pháp tâm lý sẽ tạo ra kết quả tích cực”, ông khẳng định. Ông cũng cho biết thêm, những người tham gia vào nghiên cứu thường báo cáo rằng, sau khi sử dụng hoạt chất thức thần, họ đã hiểu rõ hơn về căn nguyên của việc tại sao họ bị trầm cảm.      Thử nghiệm này được xây dựng dựa trên công trình trước đó của nhóm nghiên cứu về cách hoạt chất thức thần ảnh hưởng đến não, cũng như một thử nghiệm lâm sàng trước đây – khi đó thuốc đã giúp giảm bớt chứng trầm cảm kháng trị ở 12 bệnh nhân.      Trong thử nghiệm kéo dài sáu tuần này, nhóm đã phân bố ngẫu nhiên 30 trong số 59 người lớn mắc chứng rối loạn trầm cảm nặng từ trung bình đến nặng để nhận hai liều psilocybin 25mg cách nhau ba tuần – liều lượng mà Carhart-Harris cho là đủ để tạo ra những trải nghiệm khác lạ, có phần “thần bí”. Ngày sau liều psilocybin đầu tiên, nhóm này bắt đầu dùng giả dược mỗi ngày.     29 người tham gia khác thì nhận được hai liều psilocybin thấp, hoặc “không có tác động”, cách nhau ba tuần. Điều này nhằm đảm bảo bất kỳ sự khác biệt nào về kết quả giữa các nhóm sẽ không chỉ đơn giản là do kỳ vọng được cung cấp psilocybin. Ngày sau liều psilocybin đầu tiên, nhóm này bắt đầu dùng escitalopram hằng ngày, độ mạnh của liều tăng dần theo thời gian.     Mỗi lượt sử dụng psilocybin kéo dài sáu tiếng, bao gồm một “chuyến đi” từ ba đến bốn tiếng đối với những người dùng liều cao – dưới sự giám sát của ít nhất hai chuyên gia sức khỏe tâm thần. Trong lúc đó, những người tham gia nằm ngửa, đầu kê lên gối và nghe nhạc tân cổ điển để khơi gợi cảm xúc.      Tất cả những người tham gia đều nhận được liệu pháp tâm lý vào ngày hôm sau lượt sử dụng psilocybin, cũng như một cuộc gọi điện thoại hoặc cuộc gọi video vào một tuần sau liều đầu tiên.      Sau sáu tuần, những người tham gia được yêu cầu điền vào một bảng câu hỏi. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả trên New England Journal of Medicine, tiết lộ rằng trung bình sau sáu tuần, triệu chứng trầm cảm của cả hai nhóm đều có chiều hướng thuyên giảm. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể trong mức thuyên giảm giữa hai nhóm.       Cụ thể, chứng trầm cảm của 57% bệnh nhân trong nhóm thứ nhất (sử dụng psilocybin liều cao) đã thuyên giảm sau sáu tuần, so với 28% ở nhóm thứ hai (sử dụng escitalopram). Cả hai nhóm đều không có phản ứng phụ nghiêm trọng.      Dữ liệu chưa hoàn chỉnh     Nhóm nghiên cứu cho rằng kết quả này vô cùng hứa hẹn, tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho rằng nghiên cứu này chưa đủ để có thể đưa ra kết luận chắc chắn. Một trong số những hạn chế của nghiên cứu, đó là phần lớn những người tham gia là người da trắng, trung niên, học vấn cao và là nam giới. Ngoài ra, những người tham gia có thể đoán được họ đang thử nghiệm phương pháp điều trị nào. Và một điều thiếu sót khác là không có nhóm nào chỉ dùng giả dược và trị liệu.      Anthony Cleare, giáo sư tâm thần học tại King’s College London, cho biết nhóm cần bổ sung nhiều dữ liệu hơn nữa trước khi áp dụng các loại thuốc như psilocybin vào thực tế, đồng thời khẳng định thêm rằng những loại thuốc này sẽ không thể thay thế các phương pháp điều trị trầm cảm hiện có.      Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2021/apr/14/magic-mushroom-psilocybin-show-promise-treatment-depression-clinical-trial-finds    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiềm năng ứng dụng của công nghệ nano      Các vướng mắc kỹ thuật và quan ngại về an toàn&#160; làm trì hoãn các dự án sản xuất đại trà sản phẩm nano khiến cho nền công nghệ nano hiện tại nhấp nhô như những gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ thu hơn là những ngọn sóng thần đại dương làm khuynh đảo thế giới.    Hiện trạng nghiên cứu và ứng dụng của công nghệ nano là hai mặt mâu thuẫn. Một mặt, nghiên cứu cơ bản mang tính hàn lâm, các phát hiện mới về đặc tính điện tử, quang điện tử và lượng tử của vật liệu nano vẫn không suy giảm dù thời gian đã kéo dài 25 năm. Khám phá ra graphene lại bùng ra một cao trào mới, nhất là sau khi được giải Nobel Vật lý 2010, Konstantin Novoselov cao hứng tuyên bố: “Graphene là một mỏ vàng nghiên cứu. Nó sẽ kéo dài mãi như bất tận”. Mặt khác, các vướng mắc kỹ thuật và quan ngại về an toàn  làm trì hoãn các dự án sản xuất đại trà sản phẩm nano khiến cho nền công nghệ nano hiện tại nhấp nhô như những gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ thu hơn là những ngọn sóng thần đại dương làm khuynh đảo thế giới.  Việc khám phá ra cấu trúc quả cầu carbon (fullerene C60) vào năm 1985 của Harold Kroto, Robert Curl và Richard Smalley và việc tái phát hiện ống than nano của Sumio Iijima vào năm 1991 là hai sự kiện tình cờ trong khoa học nhưng đã mở ra một kỷ nguyên mới của nghiên cứu khoa học và công nghệ. Hai loại vật liệu nano hữu cơ này như một chi lưu quan trọng hòa nhập vào dòng thác “công nghệ nano” manh nha vào thập niên 80 của thế kỷ trước. Cùng với sự phát triển fullerene và ống than nano, các nhà vật liệu học và hóa học đã tổng hợp và tinh chế các loại hạt nano kim loại, hạt nano bán dẫn hay hữu cơ với một kích thước đồng nhất từ 1 đến 100 nanomét [1]. Ngoài ra, bề mặt của fullerene, ống than nano và các loại hạt nano được “trang bị” với các nhóm chức, polymer có khả năng cảm quang, cảm nhiệt để chế tạo bộ cảm ứng hóa học, sinh học, sóng điện từ, linh kiện điện tử, quang điện tử; hay với phân tử dược cho việc trị liệu ung thư. Phải nói đây là một thành tựu nổi bật trong ngành hóa tổng hợp và vật liệu học.          Hình 1: Sự kết tập của ống than nano do lực van der Waals (ảnh của tác giả)          Từ lý thuyết tới thực tế  Tháng 12 năm 2010, Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển trao giải Nobel Vật lý cho công trình nghiên cứu graphene của hai nhà khoa học người Anh gốc Nga, Andre Geim và Konstantin Novoselov (Đại học Manchester, Anh quốc). Graphene là một lớp của than chì (graphite). Như vậy, trong một phần tư thế kỷ carbon trở nên một vật liệu quan trọng với giải Nobel Hóa học (1996) cho fullerene, giải Nobel Vật lý (2010) cho graphene, và các loại vật liệu nano kim loại hay bán dẫn được thiết kế và chế tạo ở mức độ phức tạp đa năng chưa từng thấy trong lịch sử khoa học. Trong cái nhìn của các nhà vật lý, chúng ta đã có đủ toàn bộ vật liệu nano từ hạt nano (chấm lượng tử) với 0 chiều, ống than nano một chiều và graphene hai chiều để thực chứng những hiện tượng đã được tiên đoán từ các lý thuyết vật lý trong nhiều năm qua.            Transistor graphene          Nhưng các ứng dụng thực tiễn và sản phẩm nano thì ra sao? Sau 25 năm nghiên cứu với tổng kinh phí nghiên cứu đầu tư trên toàn thế giới vào công nghệ nano có thể đã vượt qua mốc trăm tỷ USD, chưa kể chi phí xây dựng hạ tầng cơ sở cho các viện nghiên cứu, cộng với một tài sản trí tuệ của hàng ngàn nhà nghiên cứu từ những khoa học gia tầm cỡ của hành tinh đến các nghiên cứu sinh bình thường, đã đến lúc người ta đặt câu hỏi bao giờ thì kho tàng trí tuệ này mới được đem ra ứng dụng biến chế ra thương phẩm phục vụ con người và làm giàu cho nền kinh tế quốc gia. Liệu nền công nghệ nano có phải là con gà đẻ trứng vàng tạo ra những đợt sóng thần cách mạng công nghệ như các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đã kỳ vọng? Nếu ta có một cái nhìn khe khắt hơn thì một phần tư thế kỷ có lẽ đã đủ dài để biến một phát minh khoa học trong phòng thí nghiệm thành những sản phẩm trên thương trường.   Các nhà khoa học thường rất dễ lạc quan trước tiềm năng ứng dụng trong phát minh của mình. Nhưng doanh nhân có một cái nhìn khác, sâu sắc và lạnh lùng hơn vì mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận. Một doanh nhân đã từng tuyên bố: “Một phát minh cần phải 10 lần tốt hơn và 10 lần rẻ hơn sản phẩm hiện có thì mới có cơ hội xuất hiện trên thương trường”. Sự sống còn của một doanh nghiệp tùy vào sự thỏa mãn của khách hàng và lòng hoan hỉ của các chủ cổ đông. Từ phòng thí nghiệm đến sàn chứng khoán là con đường dài cho một phát minh và cũng lắm khi nó buộc phải bị chôn sống giữa đường. Công nghệ nano cũng không nằm ngoài các quy luật thương mại. Thêm vào đó ta có thể tìm thấy sự trì trệ trong việc thương phẩm hóa của vật liệu nano gây ra từ các nguyên nhân sau: (1) sự đa dạng của vật liệu nano, (2) sự đa dạng của các ứng dụng, (3) sự cạnh tranh về giá cả, hiệu năng và phương pháp sản xuất của vật liệu “cổ điển” hiện có trên thương trường và (4) vấn đề an toàn sức khoẻ và độc tính của vật liệu nano.   Ứng dụng và những thách thức  Ta hãy xem vài tiềm năng ứng dụng của ống than nano. Ống than nano có cơ tính tuyệt vời, cứng hơn thép 5 lần, bền hơn thép 160 lần nhưng lại nhẹ hơn thép gần 6 lần. Có thể nói ống than nano có cơ tính cao nhất so với các vật liệu người ta biết từ trước đến nay. Cần phải nhấn mạnh rằng đây là cơ tính của một ống than riêng lẻ. Việc triển khai composite giữa polymer/epoxy và ống than nano là một hướng đi tất nhiên trong lĩnh vực gia cường. Trải nghiệm hằng ngày cho ta biết những đồ gia dụng polymer (plastic) rất tiện lợi vì giá rẻ, dễ chế biến, nhẹ nhưng giòn, dễ gãy nứt. Poly (methylmethacrylate) (PMMA), một loại plastic gia dụng trong suốt như kính, chỉ cần 1 % ống than nano cũng đủ làm tăng cơ tính của polymer nhiều hơn 5 lần. Như thế ta chỉ cần một lượng rất nhỏ ống than nano để gia cường PMMA mà vẫn giữ được sự trong suốt của nó. Đây sẽ là một sản phẩm tuyệt vời. Ngoài ra, người ta có thể chế tạo áo giáp composite ống than nano có cường độ bảo vệ lớn hơn nhiều lần so với áo giáp Kevlar hiện nay. Trên thực tế, ống than nano không hiện hữu từng ống riêng lẻ mà nhiều ống dính vào nhau thành cụm hay bó (Hình 1). Tiếc rằng, độ cứng (mô-đun Young) của những cụm này chỉ bằng 1/10 và độ bền lắm lúc chỉ còn 1/100 trị số của các ống nano tạo thành. Sự thành bại của composite giữa polymer và ống than nano tùy thuộc vào cách tinh chế, gỡ rối cụm và bó ống nano và phân tán hiệu quả từng ống nano trong chất nền. Cho đến ngày hôm nay (2010), chưa có một phương pháp đại trà hữu hiệu nào để tách các ống than nano hoàn toàn thành những ống riêng lẻ. Cơ tính tuyệt vời của ống vẫn chưa được tận dụng và composite được gia cường bằng ống than nano chưa là sản phẩm trên thương trường.        Một ứng dụng lớn khác của ống than nano là công nghiệp điện tử. IBM (Mỹ) đã tận dụng các đặc tính điện tử của ống than nano để chế tạo transistor ống nano [2]. Vật liệu chính của transistor hiện tại là chất bán dẫn silicon. Cột sống của các linh kiện điện tử, máy tính và công nghệ tin học là transistor silicon. Trong vòng 40 năm cho đến ngày nay, transistor silicon đã được thu nhỏ vài chục triệu lần và giá cả chế tạo một transistor giảm đi một triệu lần. Kỹ thuật sản xuất chip vi tính hiện nay đã phát triển đến mức 1 tỷ transistor có kích cỡ 45 nanomét trong một chip chỉ to vài cm2.   Khi transistor càng nhỏ, ta có thể gia tăng số transistor trong các linh kiện điện tử, chức năng càng cao, đáp ứng càng nhanh chóng, kích thước càng mỏng, nhỏ và gọn gàng. Từ những ưu điểm này, sự đòi hỏi thu nhỏ kích thước transistor càng lúc càng mãnh liệt. Tuy nhiên, sự thu nhỏ của transistor silicon không thể vượt mức nhỏ hơn 10 nanomét. Nhưng các công trình nghiên cứu của IBM và các nhóm nghiên cứu khác trong 15 năm qua cho thấy transitor ống than nano có thể vượt qua mốc 10 nanomét. Gần đây, graphene nhập cuộc. Năm 2008, nhóm Manchester của Geim và Novoselov đã chế tạo transistor graphene ở kích cỡ 1 nanomét. Có thể đây là kích cỡ nhỏ tận cùng của một transistor. Rõ ràng là một đột phá nhưng chỉ mang tính hàn lâm. Sẽ còn rất lâu trong tương lai transistor ống nano hay graphene mới có thể thay thế transistor silicon vì vấn đề kỹ thuật và giá cả. Chướng ngại kỹ thuật thứ nhất là sự đồng nhất tuyệt đối của vật liệu sử dụng. Ống than nano dùng cho transistor cần phải có kích thước đồng nhất ở cấp nanomét và độ dẫn điện giống nhau. Yêu cầu này đã thúc đẩy việc sản xuất ống than nano chất lượng cao (Bảng 1) nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu để làm transistor [3]. Chướng ngại thứ hai là các nhà khoa học chưa triển khai được quá trình chế tạo siêu vi mạch tạo ra chip chứa hàng trăm triệu transistor ống nano hay graphene như chip transistor silicon hiện tại.     Bảng 1: Nghiên cứu và triển khai của các sản phẩm ống than nano [4]           Công ty      Sản phẩm      Giai đoạn          Ống than nano chất lượng cao cho các ứng dụng điện tử          CarboLex  (Mỹ)      Chế tạo bằng hồ quang hay CVD*       Sản xuất           Carbon Nanotechnologies (Mỹ)       Chế tạo bằng CVD      Sản xuất           Carbon Solutions (Mỹ)       Chế tạo bằng hồ quang       Sản xuất           SouthWest NanoTechnologies (Mỹ)       Ống than nano đặc biệt từ CVD       Sản xuất           Thomas Swan (Anh)      Ống than nano sản xuất đại trà từ CVD       Sản xuất           Phim trong suốt          Battelle Memorial Institute (Mỹ)      Lớp phủ trong suốt       Nghiên cứu           Eikos (Mỹ)      Mực in dẫn điện       Triển khai sản phẩm           Eastman Kodak (Mỹ)      Lớp phủ quang học trong suốt       Nghiên cứu, mẫu thử (prototype)          Unidym (Mỹ)      Phim cho màn hình chạm (touch screen), pin mặt trời, diode phát quang       Triển khai sản phẩm            Linh kiện          DuPont (Mỹ)      Linh kiện điện tử trong suốt       Nghiên cứu           IBM (Mỹ)      Transistor nano cho vi tính       Nghiên cứu           Intel (Mỹ)      Liên mạng vi mạch (interconnect)       Nghiên cứu           Motorola (Mỹ)      Bộ cảm ứng hóa và sinh học       Mẫu thử           Nanomix (Mỹ)      Bộ cảm ứng hóa và sinh học       Triển khai sản phẩm           Nantero (Mỹ)      Công nghệ bộ nhớ       Mẫu thử           Samsung (Hàn Quốc)      Màn hình        Nghiên cứu           * CVD (chemical vapour deposition): kết tủa hóa học từ pha hơi  Ứng dụng trong gia cường và thu nhỏ transistor bằng ống than nano là hai ứng dụng có tiềm năng tạo nên một cuộc cách mạng công nghệ trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, viễn ảnh thành công vẫn còn mờ mịt. Bảng 1 cho thấy hiện trạng ứng dụng và hướng phát triển của ống than nano phần lớn vẫn còn trong thời kỳ nghiên cứu hay triển khai sản phẩm.  Mặt khác, ứng dụng sinh y học của hạt nano tạo ra những dược liệu trị liệu và chẩn đoán ung thư[5]. Nhân loại đang chờ đợi một cuộc cách mạng hóa trị và xạ trị ung thư. Đã có nhiều báo cáo về việc tổng hợp các loại hạt nano “thông minh” có thể cảm nhận được tế bào ung thư, có khả năng tải thuốc và nhả thuốc tấn công vào các tế bào này. Hạt nano tải thuốc phải tương thích với cơ thể con người và tự phân hủy khi hoàn thành nhiệm vụ mà không sinh ra độc tố. Đây là hai yếu tố tiên quyết cho việc chấp nhận là dược phẩm trị liệu. Theo “Cục quản lý thực phẩm và dược liệu” (Food and Drug Administration, FDA) của Chính phủ Mỹ cho đến nay chỉ chấp nhận cho phổ biến hạt nano liposome và albumin, vốn là phân tử sinh học tương thích với cơ thể và có thể tự đào thải ra ngoài.        Vấn đề an toàn sức khỏe và độc tính của vật liệu nano đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của chính phủ và các doanh nghiệp đang đầu tư vào công nghệ nano. Nó như một luồng nước ngầm nguy hiểm đang cuồn cuộn chảy dưới một dòng sông êm đềm lấp lánh ánh hào quang. Khả năng gây ung thư của ống than nano và sự kiện về hạt nano titanum dioxide trong kem chống nắng có thể phá hỏng não bộ của chuột đã phần nào làm lu mờ ánh hào quang và gióng lên tiếng chuông cảnh báo trong cộng đồng nghiên cứu khoa học. Đây là một vấn đề rất lớn liên quan đến an toàn sức khỏe của công nhân hằng ngày tiếp xúc với vật liệu nano và người tiêu dùng sử dụng thành phẩm nano [6]. Các chính phủ tại Bắc Mỹ, châu Âu, Úc và Nhật Bản đã ban hành những quy định liên quan đến sự an toàn, cách xử lý và chế ngự trong các quy trình sản xuất và sử dụng vật liệu nano [7-9]. Những công trình nghiên cứu về tác động và cơ cấu xâm nhập vào tế bào sinh vật của vật liệu nano càng lúc càng gia tăng [10-13]. Vật liệu nano lành hay dữ? Hiện tại chúng ta chưa có câu trả lời dứt khoát.  ————————  Tài Liệu Tham Khảo  1 J. Kim, J. E. Lee, J. Lee, Y. Jang, S.-W. Kim, K. An, J. H. Yu and T. Hyeon, Agnew. Chem., 118 (2006), 4907. Agnew. Chem. Int. Ed., 45 (2006) 4789.  2 P. Avouris, Z. Chen and V. Perebeinos, Nature Nanotechnology, 2 (2007) 605.   3 J. Appenzeller, Proceedings of the IEEE, 96 (2008) 201.  4 G. Gunner, Scientific American, May 2007, 76.  5 “Nanofunctional Materials in Cancer Research”, MRS Bulletin, 34 (June 2009).  6 P. Gould, Nano Today, 1 (May 2006), 34.  7 “Engineered Nanomaterials: A Review of the Toxicology and Health Hazards”, Safe Work Australia, November 2009.  8 “Engineered Nanomaterials: Evidence on the Effectiveness of Workplace Controls to Prevent Exposure”, Safe Work Australia, November 2009.  9“Approach to Safe Nanotechnology”, NIOSH, March 2009.  10A. D. Maynard, Nano Today, 1 (May 2006) 22.  11 N. Lewinski, V. Colvin and R. Drezek, Small, 4 (2008) 26.  12 S. M. Hussain et al, Adv. Mater. 21 (2009) 1549.  13 Y. Lee and K. E. Geckeler, Adv. Mater. 22 (2010) 4076.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiềm năng văn hóa và con người – yếu tố hàng đầu trong hội nhập      Chương trình đánh bắt xa bờ ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) không hiếm chuyện có người cả đời chỉ biết trồng tỏi trên ruộng cạn, chẳng có chút kinh nghiệm đi biển nào cũng được vay tiền đóng tàu, làm sao tính toán với biển để thắng được. Thêm nữa, người có tiền, có kinh nghiệm đi biển nhưng không biết tính cũng thất bại. Có thể liên tưởng chuyện này với việc VN gia nhập WTO được không?    Một trong những cái được lớn nhất và dễ thấy nhất ở thời điểm trước và sau khi VN gia nhập WTO là đã có một làn sóng nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vốn vào VN làm ăn. Đã có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về  Phát biểu trên báo Tuổi Trẻ ngày 5.11.2007 nhân kỷ niệm một năm VN gia nhập WTO, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhắc nhở rằng vốn vào nhiều nhưng VN hấp thu chưa tốt. Năm 2000 vốn đầu tư nước ngoài cam kết là 2,6 tỷ USD và đã đưa vào triển khai được 2,4 tỷ USD. Đến năm 2006, đầu tư nước ngoài cam kết trên 10 tỷ USD nhưng chỉ triển khai được 4,1 tỷ USD, nghĩa là tụt từ 92% xuống còn 40%. Điều đó rất đáng suy nghĩ.  Tuy nhiên Tiến sĩ Doanh chưa lưu ý đến một khía cạnh khác cũng đáng suy nghĩ không kém: trong 10 tháng đầu năm nay, đầu tư của nước ngoài tiếp tục tăng hơn một phần ba so với cùng kỳ năm ngoái, vượt quá 11 tỷ USD. Nhưng đến 90% lượng đầu tư này là các dự án mới, nghĩa là lượng vốn thực sự được đưa vào sản xuất trong thời gian vừa qua vẫn rất thấp. Thứ nữa, hầu hết lượng vốn lớn nhất tập trung vào hai lãnh vực mang lại lợi ích kinh tế và xã hội tương đối giới hạn là công nghiệp nặng và địa ốc. Đây là một trong những nguyên nhân tiềm tàng của nạn đầu cơ bất động sản trên diện rộng ở cả giai đoạn trước và sau khi các dự án đi vào hoạt động.  Cũng cần phải nói thêm là trong năm 2007 này, VN đạt một tốc độ tăng trưởng sản xuất rất cao, có lẽ còn cao hơn dự kiến của các nhà hoạch định chính sách. Tuy nhiên đó không hẳn là kết quả của làn sóng đầu tư nước ngoài sau khi VN vào WTO. Bởi vì môi trường đầu tư của VN thật ra vẫn còn thiếu lành mạnh, doanh trường trong nước vẫn thiếu minh bạch, thông tin thị trường thì đơn giản và thiếu tính khả tín. Chính vì lẽ đó mà môi trường kinh doanh trong nước thời gian qua đã không bắt được những tín hiệu trung thực về giá cả lẫn cơ chế, hậu quả là dễ làm nảy sinh phản ứng đầu cơ nhất thời và thổi lên nhiều trái bóng rủi ro mà hiện tượng giá đất là một dẫn chứng sinh động.  Mặt khác, giá trị thật sự của nguồn vốn đầu tư nước ngoài không thể xem xét trên những dãy số cứ tuần tự tăng lên hằng năm. Nó phải được xét trên một khía cạnh khác mà thông qua đó mới thấy hết được khả năng hội nhập của VN có thể sâu rộng đến mức nào trong tương lai. Chủ tịch Viện nghiên cứu kinh tế Việt Nam của Nhật Bản (VERI), ông Teruyoshi Kubota, một cựu chính khách ngoại giao Nhật đồng thời là một chuyên gia với 15 năm làm công việc nghiên cứu kinh tế VN, nói rằng người Nhật sợ nhất câu nói “không có vấn đề gì” của người VN. Ông T. Kubota nhấn mạnh rằng cũng tương tự như thế, rất nhiều doanh nhân Nhật sợ nụ cười nửa miệng hoặc cười không thành tiếng của người VN. Bởi vì khi hiểu hay không hiểu rõ vấn đề cần giải quyết, các đối tác VN chỉ cười mà không trả lời, và điều này làm cho người Nhật thấy lo lắng hơn là dễ chịu. Ông nói thêm, Người VN hay phản ứng trước các rắc rối lớn nhỏ bằng câu nói cửa miệng  “không có vấn đề gì” rồi sau đó giải quyết đủng đỉnh thay vì phải hết sức quan tâm đến vấn đề đó để giải quyết dứt điểm, nhanh chóng. Một cách rành mạch và đơn giản, doanh nhân Nhật mong muốn nhìn thấy đối tác làm việc dốc lòng, dốc hết tâm tư tình cảm vào công việc chứ đừng xem nhẹ.  Lâu nay lãnh đạo các tỉnh, thành đã làm nhiều cách để đưa những thông tin tốt nhất, cần thiết nhất về địa phương đến với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó luôn luôn nhấn mạnh những lợi thế cạnh tranh về hạ tầng, vị trí địa lý, môi trường hành chính, nguồn lao động… Tuy nhiên trên thực tế những thông tin đó đối với những doanh nhân đi tìm kiếm thị trường hoặc cơ hội đầu tư thường không được đánh giá cao nếu không muốn nói là không gây được sự chú ý cần thiết trong những cuộc tiếp xúc bởi đó là việc của các bộ phận chuyên môn trong doanh nghiệp. Bằng kinh nghiệm gần 20 năm tổ chức thị trường ở nước ngoài, cố vấn của Tập đoàn sản xuất điện tử Toshiba (Nhật), ông Hiroshi Nishioka nói rằng đối với một doanh nhân nước ngoài, khi xem xét quyết định đầu tư vào một nơi nào đó việc đầu tiên thường là xem về trình độ giáo dục ở đó trước. Tiếp sau là các vấn đề mang tính xã hội, chẳng hạn tỷ lệ lao động nữ trong các nhà máy sử dụng lao động phổ thông có được giám sát chặt chẽ không, tuổi đời trung bình là bao nhiêu, đang cần giải quyết vấn đề vướng mắc gì? Cá biệt như câu chuyện về một nhà đầu tư Hàn Quốc sau khi mục sở thị vị trí thực tế của dự án xây dựng sân gold, đã tỏ ra băn khoăn là với dự án của mình sẽ “bứng” hàng trăm hộ nông dân ra khỏi mảnh đất của họ, rời xa môi trường sống, những kỷ niệm về gia đình, họ hàng, tổ tiên… thì liệu việc kinh doanh sau này có được trọn vẹn không. Còn một nhà đầu tư Nhật, theo lời ông T.Kubota thì rất quan tâm và đã hỏi rất kỹ về khả năng hòa nhập với người địa phương thuận lợi đến mức độ nào trước khi quyết định đặt nhà máy ở đó.  Tóm lại tiềm năng về văn hóa và con người lâu nay vẫn bị bỏ sót trong các chương trình tiếp thị kêu gọi đầu tư. Trong khi đó lại là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với những người từ phương xa đến VN làm ăn và là điều kiện cơ bản nhất để VN tham dự vào sân chơi WTO một cách suôn sẽ, dễ dàng và không bị phân biệt đối xử trước những bất đồng trong quan hệ làm ăn. Những nhà đầu tư nước ngoài sống và làm việc trong môi trường văn hóa xã hội như thế nào, họ có chí thú làm ăn ở VN không, điều đó sẽ được phản ảnh qua khả năng hấp thu đồng vốn đầu tư nước ngoài.  Hải Văn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiền bạc có thể hạn chế nhưng tốc độ thì không      Mike Cassidy, Phó chủ  tịch Google, người được mệnh danh là Starup King với khả năng rút ngắn quy trình thông thường để cho ra đời một sản phẩm công nghệ từ gần ba mươi tháng xuống còn bốn tháng, vừa có buổi nói chuyện ở Hà Nội về chủ đề “Tốc độ là một chiến lược căn bản trong kinh doanh”.     Sáng 18/11, Startup Grind – một cộng đồng hỗ trợ khởi  nghiệp do Google bảo trợ đã tổ chức tọa đàm với Mike Cassidy, Phó chủ  tịch Google, tại Toong, một co-working space mới nổi tại Hà Nội.  Cách đây năm năm, Mike Cassidy được tờ USA Today mệnh danh là “Startup King” của Silicon Valley với việc  lập ra bốn công ty liên tiếp đều thành công và được mua lại trong khoảng thời gian ngắn hơn cả thời gian đạo diễn James Cameron làm một bộ phim. Bài “Tốc độ là một chiến lược căn bản trong kinh doanh” của ông đã được thuyết trình với nhiều cộng đồng khởi nghiệp ở Mỹ và trên thế giới. Mike Cassidy cho rằng, điều này có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh vì tiền bạc có thể thiếu nhưng tốc độ thì có thể cải thiện được ngay.   Thông thường, một người mất gần ba mươi tháng để có thể cho ra đời (launch) một sản phẩm công nghệ nhưng Mike Cassidy rút lại chỉ còn bốn tháng: Hai tuần khám phá ý tưởng, một ngày gọi vốn, hai tuần lập nhóm và ba tháng phát triển sản phẩm. Một ngày gọi vốn? Đúng thế. Công ty đầu tiên Stylus Innovation của ông, thực ra được thành lập với số vốn rất ít ỏi là 1.500 USD với ba người đồng sáng lập, mỗi người góp 500 USD.   Tốc độ chi phối tất cả chiến lược của Mike Cassidy từ việc tuyển người (chuẩn bị email, máy tính, chỗ làm việc, business card… trước khi họ đến), xây dựng sản phẩm (không cần xây dựng “hoàn hảo” từ đầu, tập trung vào một chức năng cho người dùng và nhận phản hồi nhanh, cứ thể chỉnh sửa trong quá trình phát triển sau), kêu gọi vốn và bán công ty (chuẩn bị những email của những người hứng thú với sản phẩm của công ty trước khi đến gặp nhà đầu tư và gọi tất cả những người có quyền quyết định cùng họp và đàm phán xong ngay trong ngày hôm đó).   Có một khán giả hỏi rằng tại sao Mike Cassidy lại bị “ám ảnh” bởi “tốc độ” đến vậy? Ông trả lời rằng: “Tôi bị hoang tưởng rằng, mọi thứ có thể đi sai hướng”. Công ty thứ hai của ông với sản phẩm là một công cụ tìm kiếm Direct Hit được mua lại với giá 500 triệu USD vào năm 2000 diễn ra ngay trước khi bong bóng dotcom bị vỡ. “Ừ, đúng rồi, tôi chỉ làm chậm ba mươi ngày thôi, là 500 triệu đấy sẽ trở thành con số 0. Tôi đã nhìn thấy quá nhiều điều tồi tệ xảy ra nên mọi việc tôi làm đều phải nhanh”.   Tham gia buổi trò chuyện với Mike Cassidy còn có Trương Thanh Thủy, người mới được BBC mệnh danh là “Startup Queen” ở Việt Nam với ba công ty startup thành công, trong đó công ty mới nhất của chị vừa được Weeby.Co – một công ty ở Silicon Valley mua lại. Trương Thanh Thủy hỏi Mike rằng: “Bốn công ty của ông, ông xây dựng rồi ông bán nó. Vậy, ông xây dựng một công ty để tồn tại hay để bán? (build to last or build to sell?)”  Mike Cassidy trả lời rằng: “Tôi muốn nhấn mạnh là bạn không đi bán công ty của mình mà là công ty khác mua lại công ty của bạn. Chính vì thế nên bạn phải xác định là xây dựng công ty để nó tồn tại, để nó phát triển, càng ngày càng nhiều người dùng. Khi đó, bạn mới có thể cho người ta cơ hội để nói: À, tôi thấy các bạn đang làm rất tốt và tôi muốn mua lại công ty của bạn”  Ngày 20/11, Mike Cassidy sẽ có một buổi chat tốc độ với cộng đồng khởi nghiệp TP Hồ Chí Minh vào lúc 17h30 tại không gian làm việc chung Dreamplex.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến gần đến “chén thánh” nhiệt độ phòng cho các chip máy tính lượng tử      Để xử lý thông tin, các photon cần phải tương tác. Dẫu vậy, những “gói” nhỏ bé của ánh sáng thường thiếu tương tác bởi chúng chỉ lướt qua nhau. Giờ đây, qua công bố trên tạp chí “Optica”, các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Stevens đã “bắt” các hạt photon tương tác với nhau theo cách hiệu quả chưa từng có – một bước tiến quan trọng để có thể đưa các công nghệ quang lượng tử vẫn được chờ đợi từ lâu ứng dụng trên các máy tính, truyền thông và viễn thám thành hiện thực.         Yuping Huang, phó giáo sư vật lý và giám đốc Trung tâm Khoa học và kỹ thuật lượng tử, Viện Công nghệ Stevens  Nhóm nghiên cứu do Yuping Huang, một phó giáo sư vật lý và giám đốc Trung tâm Khoa học và kỹ thuật lượng tử, đã mang chúng ta tới gần mục tiêu này với một chip ở cấp độ nano có thể tạo điều kiện cho photon tương tác với hiệu suất cao hơn nhiều bất kỳ hệ nào trước đây. Người ta tối ưu phương pháp mới để nó có thể sẵn sàng hoạt động ở những mức năng lượng rất thấp và tác động đến từng hạt photon, điều mà các nhà khoa học vẫn gọi là “chén thánh” cho tính toán lượng tử ở nhiệt độ phòng và đảm bảo cho truyền thông lượng tử.  “Chúng tôi đang thúc đẩy vật lý và kỹ thuật quang đi xa hơn để có thể đưa lượng tử và mọi quá trình xử lý tín hiệu quang tới gần hơn với hiện thực”, Huang nói.  Để đạt được bước tiến này, nhóm nghiên cứu của Huang đã bắn một chùm tia laser vào một buồng vi cộng hưởng dạng tuyến đường đua được gắn vào một mảnh tinh thể. Khi ánh sáng laser chiếu vào đường đua này, các hạt photon bị giới hạn trong đó tương tác với nhau, tạo ra một cộng hưởng cân bằng, dẫn đến một số ánh sáng tuần hoàn thay đổi theo chiều dài bước sóng.  Đó không hẳn là điều hoàn toàn mới nhưng Huang và đồng nghiệp, trong đó có sinh viên Jiayang Chen và các nhà nghiên cứu Yong Meng Sua, đã thúc đẩy một cách đáng kể hiệu ứng đó bằng việc sử dụng một con chip được làm từ lithium niobate, một hợp chất do niobium, lithium và oxygen tạo ra trên cái cách điện, một vật liệu giữ được sự cân bằng trong tương tác với ánh sáng. Không như silicon, lithium niobate khó bị ăn mòn hóa học với những khí tương tác thông thường. Vì vậy, nhóm nghiên cứu ở Viện Stevens đã dùng một công cụ ion-milling, về bản chất là một máy phun cát ở cấp độ nano, để khắc một đường đua vô cùng nhỏ bằng 1/100 đường kính tóc người.  Trước khi xác định cấu trúc của “đường đua” này, nhóm nghiên cứu cần áp những xung điện cao thế để tạo ra các khu vực phân cực xen kẽ đã được điều chỉnh, vốn được điều chỉnh thành đường cho các photon chuyển động quanh đường đua, gia tăng khả năng tương tác của chúng với nhau.  Chen giải thích, cả việc khắc “đường đua” lên chip và điều chỉnh cách chuyển động của các photon quanh nó đòi hỏi hàng tá bước chế tạo ở cấp độ nano đầy tinh tế, mỗi bước lại đòi hỏi sự chính xác vô cùng lớn. “Theo hiểu biết của chúng tôi, chúng tôi đang là một trong những nhóm đầu tiên nắm vững tất cả các bước chế tạo nano nhằm thiết kế và xây dựng hệ này. Đó là nguyên nhân giải thích vì sao chúng tôi có thể đạt được kết quả này trước tiên”.  Huang và nhóm nghiên cứu của ông hướng tới mục tiêu thúc đẩy tiềm năng của “đường đua” tinh thể tới mức có thể hạn chế và tái tuần hoàn ánh sáng, vẫn được gọi là hệ số Q. Họ cho biết đang tiến gần tới một hệ có khả năng thúc đẩy các tương tác tại cấp độ từng photon, một độ phát cho phép tạo ra nhiều cấu phần tính toán lượng tử hiệu quả như các cổng photonic logic và các nguồn rối [lượng tử], có thể dẫn đến nhiều giải pháp cùng một lúc, cho phép thực hiện các tính toán trong vài giây thay vì nhiều năm.  Chen nói, chúng tôi có thể vẫn còn cách đích đến một khoảng cách nữa, với các nhà khoa học lượng tử thì con đường đó sẽ rất hấp dẫn. “Đó thực sự là ‘chén thánh’. Và trên con đường đến với ‘chén thánh’ này, chúng tôi đang thực hiện được rất nhiều điều trong vật lý mà chưa ai từng làm được trước đây”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-team-holy-grail-room-temperature.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến gần tới việc tính khối lượng hạt neutrino khó nắm bắt      Thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm bậc nhất thế giới có thể ước tính khối lượng cực đại của loại hạt siêu nhẹ này.         Một thí nghiệm tại Đức đã có thể thực hiện việc đo đạc khối lượng cực đại của các hạt neutrino chính xác nhất hiện nay – các hạt hạ nguyên tử nhẹ đến mức rất khó để đo đạc, vì thế các nhà vật lý chỉ có thể ước tính được giới hạn trần khối lượng của chúng.  Các kết quả nghiên cứu đầu tiên từ thí nghiệm Karlsruhe Tritium Neutrino (KATRIN) tại tây nam Đức đã tiết lộ là khối lượng của các hạt neutrino ở mức cao nhất là 1,1 electronvolts (eV). Kết quả đo này đã được cải thiện gấp đôi độ chính xác so với các lần đo trước, khi đưa ra số liệu là eV. Guido Drexlin, đồng phát ngôn viên của nhóm hợp tác KATRIN, đã trình bày kết quả vào ngày 13/9/2019 tại một hội nghị Toyama, Japan.  Các hạt neutrino thuộc về nhóm các hạt phong phú nhất vũ trụ. Chúng là những hạt nhẹ nhất trong tất cả các hạt hạ nguyên tử có khối lượng mà chúng ta biết – khối lượng nhẹ hơn một hạt electron khoảng 500.000 lần. Nhưng chúng có xu hướng xuyên qua vật chất mà không bị “phát hiện” bởi chúng không gây ra tương tác nào, điều đó tạo ra thách thức rất lớn trong việc thực hiện những phép đo đạc các hạt này.  Nhóm hợp tác KATRIN đã thu thập dữ liệu trong vài tuần đầu tháng 4 và 5. Máy dò của họ kiểm soát sự phân rã hạt nhân của tritium, một đồng vị hydrogen nặng. Trong suốt quá trình này, một neutron trở thành một proton và phát xạ thành một electron và một neutrino. Nhóm KATRIN không thể dò được trực tiếp các hạt neutrino. Thay vào đó, việc đo đạc phạm vi năng lượng của các electron được diễn ra trong một buồng hình cầu dài 23 m, vốn là hệ chân không siêu cao dài nhất thế giới. Phép đo này tiết lộ phạm vi mức năng lượng của các hạt neutrino bí ẩn với mong muốn đem lại kết quả về khối lượng của chúng.  Nhóm nghiên cứu đã có được một bản ghi chép kết quả ban đầu và đã hoàn thành một bài báo để gửi xuất bản tới một tạp chí. Drexlin cho rằng, những kết quả đó là một sự xác nhận thành quả của 18 năm làm việc, tính từ khi KATRIN được thiết kế, và họ mới chỉ bắt đầu nếm trải tiềm năng của công nghệ này. “Nó mới chỉ cho cộng đồng nghiên cứu vật lý thất rằng KATRIN mới khởi đầu và tiến hành công việc”, anh nói.  Trong năm năm tới, nhóm hợp tác của Drexlin lập kế hoạch để tiếp tục cải thiện độ nhạy trong đo đạc ở KATRIN để nó có thể thực hiện được một phép đo đạc trên thực tế khối lượng của một hạt neutrino – hoặc để thu hẹp phạm vi ước tính cho đến khi độ nhạy của thiết bị này cho phép. Các quan sát vũ trụ đã đề xuất là khối lượng của các hạt neutrino có thể ở mức 0,1 eV hoặc nhẹ hơn.  Phương Thanh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02786-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiền không mọc trên cây*      Báo chí Mỹ đã dành nhiều lời ca ngợi cho Tiền không mọc trên cây (Money doesn’t grow on trees),  coi đó là “cẩm nang hướng dẫn cha mẹ nuôi dạy con trẻ hiểu biết và sử  dụng đúng giá trị đồng tiền” trong thời buổi đầy những cám dỗ và rủi ro  tài chính như hiện nay.     Là một chuyên gia về tài chính cho gia đình và trẻ em hơn 30 năm kinh nghiệp, và trên hết, là một người mẹ, Neale S. Godfrey khẳng định kỹ năng quản lý tài chính quan trọng với trẻ không kém bất kỳ kỹ năng sống nào. Bà viết rằng: “Tiền bạc là một thước đo giá trị – giá trị sức lao động, giá trị thời gian, giá trị mọi thứ. Và hiểu về giá trị là một bước đầu quan trọng để hiểu về các giá trị.” Do đó, chúng ta cần truyền dạy trẻ những bài học về tiền bạc ngay từ khi trẻ lên ba.   Cuốn sách đưa ra những chỉ dẫn rất rõ ràng, dễ hiểu về việc dạy con trẻ các kiến thức quản lý đồng tiền theo từng độ tuổi, như giúp trẻ tính tiền, tiết kiệm, lập ngân sách chi tiêu, cho đến những khái niệm tài chính phức tạp như “ghi nợ” hay “thế chấp” đến cả những thế giới hoàn toàn mới như dùng thẻ tín dụng, mua cổ phiếu, hay giao dịch ngân hàng trên mạng. Với những ví dụ sinh động, những bài học trực quan thú vị mà các bậc phụ huynh có thể đem áp dụng cho con mình như những trò chơi đầy hào hứng.  Xuyên suốt cuốn sách, tác giả sẽ đưa bạn và con bạn đi qua lần lượt tất cả những khía cạnh của thế giới tài chính mà trẻ có thể sẽ bắt gặp từ ngày bé cho tới khi đã là những chàng trai, cô gái tuổi trưởng thành. Bạn sẽ được cung cấp những định nghĩa đơn giản mà vẫn đủ chuẩn xác để trả lời cho những thắc mắc của con mình, những cách thức để đưa bé vào thế giới tiền tệ mà trước đây ta nghĩ rằng chỉ dành cho người lớn, những kế hoạch mà nhóc nhà bạn cần phải được trang bị… để trở thành một người trưởng thành độc lập về tài chính, sống có trách nhiệm. Tác giả sẽ trả lời cho bạn những băn khoăn mà nhiều phụ huynh thường gặp: Cấp tiền tiêu vặt con như thế nào; “đối phó” thế nào trước những đòi hỏi vật chất của con; làm sao để dạy con những giá trị liên quan đến tiền bạc; làm sao để dạy con biết chi tiêu hợp lí và biết tích lũy; giúp trẻ làm quen với ngân hàng như thế nào; cách nào để biến thế giới bên ngoài thành lớp học tài chính cho trẻ; dạy con tuổi teen về tài chính như thế nào trước khi trẻ sống tự lập…  Và rất nhiều những vướng mắc khác nữa bạn có thể gặp phải khi nuôi dạy trẻ trong một thế giới tài chính biến động không ngừng sẽ được giải mã trong cuốn sách nhỏ này. Hơn thế nữa, khi mà một phần không nhỏ của cuốn sách được dành cho chính các bậc phụ huynh, với những lời khuyên về cách thức chi tiêu của chính bạn – một điều sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới các con bạn, những đứa trẻ vốn thường có xu hướng lặp lại những thói quen của cha mẹ.   Với lối truyền tải nhẹ nhàng, vui nhộn song không kém phần uyên bác, lồng ghép những ví dụ, tình huống rất đời thường và những trò chơi lí thú, bạn sẽ không phải lo lắng cuốn sách sẽ trở nên xa lạ và khô khan đối với các con và với chính mình. Quả là không phải ngẫu nhiên mà Tiền không mọc trên cây lọt vào top best-seller của The New York Times ngay từ những ấn bản đầu tiên.  Neale S. Godfrey (sinh năm 1951) là tác giả viết sách đầu tiên tại Hoa Kỳ về lĩnh vực dạy trẻ em kiến thức tài chính, hiện bà có tới 26 đầu sách cho trẻ em và người lớn thuộc chủ đề này.   Bà còn là chuyên gia về tài chính gia đình và trẻ em, từng làm chủ tịch của The First Women’s Bank và là nhà sáng lập The First Children’s Bank. Năm 1989, bà thành lập công ty mang tên Children’s Financial Network, Inc (Mạng giáo dục Tài chính của trẻ em), với mục tiêu giáo dục trẻ và các bậc phụ huynh về tiền bạc.  Tác giả Tiền không mọc trên cây cũng là người đầu tiên phát triển giảng dạy về tiền bạc cho trẻ em, với chuyên đề The One & Only Common Sense/Cents Series và CD-ROM mang tên Money Town (Thị trấn Tiền) – dành cho trẻ từ mẫu giáo cho tới trung học.   —  * Dịch giả: Đỗ Minh Quân. DTBOOKS và NXB Thời Đại ấn hành, 5/2013; 248 trang; giá bìa: 80.000VND         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiền mã hóa: Bài toán chống tiêu tiền hai lần ?      Có nhiều thách thức và tranh cãi xung quanh tiền mã hóa: làm sao ngăn chặn tính biến động cực đoan và sự đầu cơ liều lĩnh; làm sao điều chỉnh các hệ thống trao đổi giữa tiền mã hóa và tiền truyền thống; và làm sao đảm bảo chúng được sử dụng cho những mục đích hợp pháp chứ không phải cho rửa tiền, khiêu dâm trẻ em, phần mềm tống tiền, hay các hoạt động tội phạm khác. Nhưng trong bài viết này, tôi chỉ đề cập đến một vấn đề cố hữu của tiền mã hóa: bài toán chống tiêu tiền hai lần.    Ethereum và Bitcoin là một trong số mấy trăm loại tiền mã hóa đã được phát triển. Nguồn: techopedia.com  1. Tiêu tiền hai lần  Khác với một tờ USD, một đơn vị tiền mã hóa không tồn tại dưới dạng vật chất. Về cơ bản, nó chỉ là một con số, giống như số xê-ri tiền mà không có tờ tiền. Một câu hỏi cơ bản được đặt ra: Làm thế nào để ngăn một ai đó đưa cùng một con số (tức là đưa cùng một “đồng” tiền mã hóa) cho hai người bán hàng khác nhau? Đây là vấn đề kỹ thuật trọng tâm trong việc phát triển tiền mã hóa.  Một cách giải quyết cơ bản cho vấn đề này là lưu lại một dãy các thời điểm giao dịch, qua đó mọi khối giao dịch mới cần được đối chiếu với cuốn “sổ cái” này, tức là giao dịch mới cần được kiểm tra để đảm bảo không dùng những đồng tiền mã hóa đã được tiêu trước đó. Khi một khối giao dịch mới được phê chuẩn, nó được thêm vào chuỗi các khối theo thứ tự thời gian – đây là nguồn gốc của từ “chuỗi khối” (blockchain), chỉ lịch sử giao dịch.  Vì tiền mã hóa thường được phi tập trung hóa, chúng không thể dựa vào một cơ quan cấp phép trung ương như ngân hàng hay chính phủ. Thay vào đó, việc phê chuẩn các khối giao dịch được thực hiện bởi cộng đồng người dùng. Đây là một mô hình trao đổi ngang hàng (peer-to-peer), và hai kỹ thuật kiểm tra phổ biến nhất là “bằng chứng công việc” (proof-of-work) và “bằng chứng sở hữu” (proof-of-stake).  2. Bằng chứng công việc  Nguyên liệu cơ bản của bằng chứng công việc là một “hàm băm” (hash function). Một hàm băm nhận đầu vào là một dãy nhị phân có độ dài bất kỳ và cho kết quả là một dãy nhị phân có độ dài cố định, chẳng hạn 128 bit. Hàm băm được công khai và là một hàm xác định, nghĩa là nếu hai người dùng hai đầu vào giống nhau, họ sẽ nhận được hai kết quả giống nhau. Tuy nhiên, kết quả của hàm băm trông hoàn toàn ngẫu nhiên, và trong thực tế không thể tính được hàm ngược (nghĩa là tìm đầu vào x để được kết quả y) và không thể tìm được hai đầu vào khác nhau cho ra cùng một kết quả.    Trong mấy trăm loại tiền mã hóa đã được phát triển, hầu hết dùng bằng chứng công việc để ngăn việc tiêu hai lần. Tuy nhiên, bằng chứng công việc có hai nhược điểm lớn là khó mở rộng quy mô và lãng phí năng lượng khổng lồ.    Những người được gọi là “thợ đào tiền” phê chuẩn khối giao dịch mới nhất như sau. Trước khi thêm một giao dịch vào một khối, họ kiểm tra rằng những đồng tiền dùng trong giao dịch đó chưa được tiêu. Sau đó, họ thêm dãy nhị phân định danh của giao dịch đó vào một dãy tổng. Sau khi đã làm như vậy với tất cả các giao dịch mới, họ thêm vào một dãy nhị phân (gọi là “nonce”) và đưa cả dãy nhị phân dài vào hàm băm. Họ hy vọng đầu ra của hàm băm có nhiều, chẳng hạn N = 40, số 0 ở đầu. Xác suất để điều đó xảy ra là một phần triệu triệu. Nếu đầu ra không có N số 0 dẫn đầu, họ chọn một nonce khác và lại tính hàm băm. Xác suất một phần triệu triệu nghe có vẻ rất nhỏ, nhưng nếu hàng nghìn thợ đào tiền cùng làm việc một lúc, và mỗi người mỗi giây có thể tính được vài nghìn giá trị của hàm băm, thì chẳng mấy chốc sẽ có người thành công.  Khi một thợ đào tiền tìm được một kết quả hàm băm có N số 0 dẫn đầu, khối của họ trở thành khối chính thức tiếp theo của chuỗi khối. Phần thưởng cho công việc của họ là: (1) một phần cố định trong những đồng tiền mới được tạo ra; và (2) tổng phí giao dịch của tất cả các giao dịch trong khối mới. (Tổng các phí này là đáng kể, mặc dù phí của từng giao dịch đơn lẻ thì bé hơn nhiều so với một giao dịch thẻ tín dụng tương đương).  Thí dụ với Bitcoin, giá trị của N được điều chỉnh theo thời gian sao cho cứ khoảng 10 phút thì một khối giao dịch được phê chuẩn. Như vậy, mỗi khối thường chứa tất cả các giao dịch hợp lệ trong một khoảng thời gian 10 phút.  Trong mấy trăm loại tiền mã hóa đã được phát triển, hầu hết dùng bằng chứng công việc để ngăn việc tiêu hai lần. Tuy nhiên, bằng chứng công việc có hai nhược điểm lớn.  Với Bitcoin, giá trị của N được điều chỉnh theo thời gian sao cho cứ khoảng 10 phút thì một khối giao dịch được phê chuẩn. Nguồn: financialeye.news  Thứ nhất là nó khó mở rộng quy mô. Nó không quá nặng khi lượng giao dịch ở vào cỡ vài trăm giao dịch mỗi giờ. Nhưng nếu một loại tiền mã hóa có vai trò quan trọng trong giao dịch tài chính của toàn thế giới, có thể có đến hàng chục triệu giao dịch trong mỗi khoảng thời gian 10 phút, và sự phê chuẩn bằng bằng chứng công việc sẽ trở nên cực kỳ khó khăn.  Hơn nữa, quá trình “đào” tiền – hiện được thực hiện ở các “trang trại” chứa hàng nghìn mạch tích hợp chuyên dụng (ASIC) ở những nước như Trung Quốc, nơi giá điện rẻ – là một sự lãng phí năng lượng khổng lồ và kinh khủng cho môi trường. Cuối tháng Giêng vừa qua, phó chủ tịch Cơ quan Chứng khoán và Thị trường châu Âu (European Securities and Market Authority) kêu gọi Liên minh châu Âu cấm việc đào các loại tiền bằng chứng công việc vì sự lãng phí điện năng ngày càng lớn. Nếu được thông qua, lệnh cấm này tất nhiên sẽ có hiệu lực với cả Bitcoin.  Năm ngoái, bang Washington (Mỹ), trong đó có Seattle1, thông qua một luật “đền bù carbon”2, theo đó các công ty gây ô nhiễm phải bù lại những hậu quả ô nhiễm môi trường bằng cách mua “tín dụng carbon” từ chủ sở hữu các khu rừng hấp thụ khí CO2. Mục tiêu là khuyến khích những nỗ lực làm giảm ô nhiễm công nghiệp, đồng thời có thêm tiền cho bảo tồn rừng.  Ngày 3/6 vừa qua Regen Network Development, một công ty phần mềm chuỗi khối, tuyên bố đã bỏ ra 1 triệu USD mua tín dụng carbon của một khu rừng rộng 19 héc-ta ở gần Seattle. Đây là thỏa thuận mua tín dụng rừng đô thị lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Một số công ty chuỗi khối hoạt động ở bang Washington và gây nhiều lãng phí năng lượng bởi bằng chứng công việc giờ đây phải đền bù thiệt hại môi trường bằng cách đóng góp cho bảo tồn rừng.  Trái với bằng chứng công việc, bằng chứng sở hữu không gặp cả vấn đề quy mô lẫn vấn đề lãng phí năng lượng. Nhưng trước khi thảo luận về bằng chứng sở hữu, tôi muốn nói về một giải pháp tiềm năng cho vấn đề lãng phí năng lượng, mà tôi đã theo đuổi nhưng không thành công.  3. Tính toán tình nguyện cho khoa học  Năm 2014, tôi là một trong những cố vấn của Ethereum trong vòng vài tháng, trước khi nó được công bố. Ý tưởng khi đó của tôi để giải quyết vấn đề lãng phí năng lượng không phải là từ bỏ bằng chứng công việc, mà là thay thế việc tính toán hàm băm bằng cách khiến cho thợ đào tiền đóng góp vào một dự án tính toán khoa học.  Ý tưởng sử dụng sức mạnh tính toán của một số lượng lớn máy tính cá nhân của các tình nguyện viên có từ năm 1996, khi Đại dự án Tìm kiếm Số nguyên tố Mersenne trên Internet (Great Internet Mersenne Prime Search) bắt đầu. Ba năm sau, SETI@home (tìm kiếm tín hiệu vô tuyến của trí tuệ ngoài Trái đất) và Folding@home (gấp protein để tìm kiếm thuốc điều trị mới cho nhiều bệnh khác nhau) được khởi động, mỗi dự án thu hút hàng trăm nghìn người tình nguyện.  Tôi đề xuất với Vitalik Buterin, người sáng lập Ethereum, rằng sẽ tốt hơn nếu thay thế việc tính toán hàm băm bằng tính toán khoa học hữu ích. Tôi cũng nói chuyện với một đồng nghiệp ở khoa Thiên văn học. Nhưng hóa ra tôi đã thiếu thực tế. Cả tôi và những người khác đều không thể nghĩ ra cách nào để chuyển những tính chất ngẫu nhiên đẹp đẽ của hàm băm – những tính chất đảm bảo công bằng cho tất cả thợ đào tiền – sang cho việc tìm kiếm các hiện tượng thiên văn bất thường hay những ứng dụng thực tế khác. Ý tưởng của tôi bị bỏ vào thùng rác chứa những ý tưởng tồi.  4. Bằng chứng sở hữu  Ở dạng đơn giản nhất, bằng chứng sở hữu hoạt động như sau. Giả sử một loại tiền mã hóa Stakecoin có M đơn vị (hay “đồng”) đang được lưu hành. Mỗi chủ nhân của một ví tiền mã hóa được gán cho một số từ 1 đến M cho mỗi đồng StakeCoin mình sở hữu. Khi một khối giao dịch mới cần được phê chuẩn và thêm vào chuỗi, một số ngẫu nhiên từ 1 đến M được chọn, và chủ nhân của đồng Stakecoin tương ứng được phê chuẩn khối và nhận phần thưởng. Nói cách khác, khả năng được phê chuẩn và nhận thưởng tỷ lệ với phần sở hữu trong hệ thống. Cách này tốn rất ít năng lượng và dễ tăng quy mô hơn rất nhiều so với bằng chứng công việc.  Tuy nhiên, như đã nói ở trên, có khá ít tiền mã hóa sử dụng bằng chứng sở hữu. Ethereum (có thị phần lớn thứ hai, sau Bitcoin) đã tuyên bố sẽ sớm chuyển từ bằng chứng công việc sang bằng chứng sở hữu, nhưng những tuyên bố tương tự trước đó về sau đều bị hoãn.  Nhược điểm chính của bằng chứng sở hữu là dễ dàng tìm ra nhiều cách để kẻ gian đánh lừa hệ thống. Những phiên bản cải tiến với nhiều tính năng bổ sung có thể ngăn chặn một số tấn công, nhưng ngay cả khi đó, không có gì đảm bảo rằng chúng ngăn được mọi kiểu tấn công. Tiền mã hóa dựa trên bằng chứng sở hữu được nhận định rộng rãi là kém bảo mật hơn tiền dựa trên bằng chứng công việc.  Thí dụ, giả sử rằng, không như Bitcoin (tổng giá trị của Bitcoin hiện vào khoảng 500 tỷ USD), tổng giá trị của tiền mã hóa Stakecoin của chúng ta vẫn ở vào cỡ triệu USD. Một người dùng giàu có và đồi bại tên là Tronald Dump đi vay một tỷ lệ lớn các đồng Stakecoin đang lưu hành và giữ chúng trong nhiều ví thuộc nhiều tài khoản khác nhau để tránh bị nghi ngờ. Hắn phải trả nợ bằng Stakecoin sau một tháng với lãi suất cao.  Những hacker được Tronald thuê đã nghiên cứu hệ thống bằng chứng sở hữu của Stakecoin. Sau khi có được một tỷ lệ lớn của toàn bộ các đồng Stakecoin, Tronald liên tiếp thực hiện nhiều giao dịch sử dụng cùng một số đồng tiền, và vì có phần sở hữu lớn, hắn được chọn để phê chuẩn chúng cho những khối mới của chuỗi.  Ngay sau đó, Tronald đổi số Stakecoin còn lại của mình sang USD. Khi có tin hệ thống đã bị tấn công và việc tiêu nhiều lần đã xảy ra trên quy mô lớn, lòng tin đối với Stakecoin suy sụp, và giá trị của nó rơi đột ngột. Tronald mua số Stakecoin cần thiết để trả nợ, với giá chỉ bằng một phần nhỏ giá của chúng vài hôm trước. Hắn thu được một khoản lợi khổng lồ nhờ gian lận, gồm phần lớn số USD đổi từ Stakecoin, cùng với những thứ hắn mua được bằng cách tiêu tiền nhiều lần.  Khi một kịch bản tấn công kiểu này được đưa ra, các nhà phát triển tiền mã hóa có thể sửa đổi để ngăn chặn nó. Nhưng đối thủ luôn trả lời bằng cách thay đổi cách tấn công hoặc nghĩ ra một cách tấn công hoàn toàn khác, mà các nhà phát triển không lường trước.  5. Kết luận  Nếu Ethereum theo đúng kế hoạch chuyển từ bằng chứng công việc sang bằng chứng sở hữu, đó sẽ là một phép thử lớn đầu tiên cho khái niệm bằng chứng sở hữu, vì Ethereum sẽ là hệ thống tiền mã hóa lớn* đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó. Các nhà nghiên cứu của Ethereum đã và đang làm việc cật lực để dự đoán những điểm yếu và thiết lập các hệ thống bảo vệ hy vọng sẽ ngăn chặn được các cuộc tấn công. Tuy nhiên, thực hiện một thay đổi lớn trong cấu trúc cơ sở của một công nghệ đang được sử dụng rộng rãi luôn là điều mạo hiểm. Chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng việc chuyển sang bằng chứng sở hữu diễn ra suôn sẻ. Đó sẽ là một bước tiến lớn, hướng tới gỡ bỏ sự phản đối tiền mã hóa vì lý do môi trường.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  ——  Chú thích  1. Thành phố nổi tiếng với nhiều công ty công nghệ và có Đại học Washington, nơi tác giả là giáo sư – ND.  2. Climate Commiment Act (đạo luật Cam kết Khí hậu), 2021 – ND.  * Đính chính: Bản báo in số 12 ra ngày 20/6/2022 viết là “Ethereum sẽ là hệ thống tiền mã hóa đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó“. Chúng tôi chỉnh sửa lại: “Ethereum sẽ là hệ thống tiền mã hóa lớn đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó” đúng với bản gốc của GS. Koblitz.    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Tiền số của Facebook: Lo hơn là mừng      Ngày 18/6, Facebook thông báo rằng năm 2020 sẽ ra mắt “Libra”, một đồng tiền số mới. Tuyên bố này khiến cho giới tài chính toàn cầu quan tâm đặc biệt vì Facebook có khả năng quảng bá Libra tới 2,7 tỉ người dùng mạng xã hội này trên toàn thế giới (mặc dù các chuyên gia tin rằng con số 2,7 tỉ này là phóng đại bởi nó bao gồm cả một lượng lớn các tài khoản giả mạo). Để tiện so sánh, con số này gấp 8 lần số người dùng đồng USD làm tiền tệ chính.    Đặc điểm cơ bản của “Libra”  Ngày 18/6, Facebook thông báo rằng năm 2020 sẽ ra mắt “Libra”, một đồng tiền số mới. Tuyên bố này khiến cho giới tài chính toàn cầu quan tâm đặc biệt vì Facebook có khả năng quảng bá Libra tới 2,7 tỉ người dùng mạng xã hội này trên toàn thế giới (mặc dù các chuyên gia tin rằng con số 2,7 tỉ này là phóng đại bởi nó bao gồm cả một lượng lớn các tài khoản giả mạo). Để tiện so sánh, con số này gấp 8 lần số người dùng đồng USD làm tiền tệ chính.   Mặc dù thông cáo về Libra dùng những từ như “tiền mã hóa” hay “blockchain”, thực tế, dự án của Facebook hầu như không giống với Bitcoin, Ethereum và những loại tiền mã hóa dựa trên blockchain. Đầu tiên, nó không thực sự phi tập trung. Hệ thống này sẽ được vận hành bởi Hiệp hội Libra, một tổ chức phi lợi nhuận, làm việc cho một nhóm những công ty lớn thân hữu với Facebook. Hiện tại, Facebook có 27 đối tác nhưng họ hi vọng con số này sẽ tăng lên 100 trước khi đồng Libra ra mắt. Nhóm công ty này sẽ vận hành tất cả các node (thiết bị trong mạng lưới block chain để duy trì dữ liệu giao dịch của đồng tiền) có nhiệm vụ xác thực các giao dịch. Nó không phải là một hệ thống ngang hàng (peer-to-peer) đích thực.   Thứ hai, Libra kiểm soát tỉ giá chuyển đổi. Giá trị của đồng tiền này về cơ bản là trung bình cộng có trọng số của các đồng tiền pháp định chính trên toàn cầu (USD, euro, yen,…), và bởi vậy Libra bản thân nó cũng là một đồng tiền pháp định, không phải là một đồng tiền mã hóa thực sự.   Thứ ba, các đơn vị cấp ví cho người dùng – ví dụ như Calibra, một công ty con của Facebook – sẽ có dữ liệu danh tính thực của tất cả người dùng, bởi vậy sẽ không hề có sự nặc danh – điều có thể được bảo đảm khi giao dịch bằng Bitcoin hoặc tiền mặt.   Facebook có lý do để sử dụng một công nghệ truyền thống thay vì công nghệ blockchain ngang hàng như Bitcoin. Trong các hệ thống ngang hàng, tính hợp lệ của các giao dịch được xác thực bởi một số lượng lớn người dùng và khá chậm: Bitcoin chỉ có thể xử lý 7 giao dịch mỗi giây, với Ethereum là 15, trong khi Libra được thiết kế để xử lý tới 1000 giao dịch mỗi giây. Một lợi thế khác của Libra là các giao dịch được công nhận rất nhanh, trong khi với Bitcoin, người bán hàng phải chờ khoảng một giờ để chắc chắn giao dịch thanh toán là hợp lệ (vì khả năng xảy ra sự kiện “phân nhánh mềm” nếu các nodes tại các địa điểm khác nhau trên thế giới nhận được các bản tin khác nhau).       Thiết kế của Libra giống với những hệ thống thanh toán trực tuyến truyền thống như PayPal hơn là với Bitcoin. Có vẻ như việc Facebook nhắc đến những thuật ngữ mật mã học như “blockchain”, “tiền mã hóa” và “hợp đồng Byzantine” chỉ là xu hướng các công ty Mỹ gần đây muốn sản phẩm của mình có vẻ đổi mới sáng tạo hơn bản chất thực sự.      Bên cạnh đó, tiền mã hóa như Bitcoin và Ethereum từ trước đến nay rất biến động: tỉ giá chuyển đổi sang USD nhảy lên xuống thất thường. Do vậy chúng chủ yếu hấp dẫn với những kẻ đầu cơ chứ không phải là với những người bán hàng, những người muốn được thanh toán bằng một loại tiền tệ ổn định. Ngược lại, Facebook hi vọng Libra sẽ trở thành một phương thức thanh toán tiêu chuẩn và không thu hút những kẻ đầu cơ.  Hơn nữa, vì tiền mã hóa có sự ẩn danh ở mức cao (mặc dù không phải là ẩn danh hoàn toàn), nên chúng bị lạm dụng bởi tội phạm. Ví dụ, trong cuộc tấn công ransomware, hacker khóa các dữ liệu của bệnh viện, chính quyền thành phố hay các tổ chức khác, và thông báo rằng họ phải chuộc lại những dữ liệu này bằng cách trả một khoản tiền Bitcoin lớn tới tài khoản nặc danh của hacker. Tội phạm sử dụng Libra sẽ khó hơn rất nhiều, vì Hiệp hội Libra sẽ xác thực danh tính thật của tất cả người dùng. Facebook đã nói rõ rằng họ sẽ tương thích với tất cả các quy định về “truy xuất khách hàng” (KYC) của quốc tế và tất cả các quốc gia, được đặt ra nhằm ngăn chặn các hoạt động rửa tiền, trốn thuế, khiêu dâm trẻ em và các loại tội phạm khác.       Thiết kế của Libra giống với những hệ thống thanh toán trực tuyến truyền thống như PayPal hơn là với Bitcoin.    Thiết kế của Libra giống với những hệ thống thanh toán trực tuyến truyền thống như PayPal hơn là với Bitcoin. Chẳng có lí do gì để Facebook đưa Libra lên blockchain, vì một hệ thống tập trung, điều hành bởi một tổ chức nắm giữ dữ liệu của tất cả các giao dịch và danh tính thực của người giao dịch thì không cần cơ chế đồng thuận nào cả. Có vẻ như việc Facebook nhắc đến những thuật ngữ mật mã học như “blockchain”, “tiền mã hóa” và “hợp đồng Byzantine” chỉ là xu hướng các công ty Mỹ gần đây muốn sản phẩm của mình có vẻ đổi mới sáng tạo hơn bản chất thực sự.   Những khác biệt quan trọng nhất giữa Libra và PayPal là (1) PayPal có trụ sở ở Mỹ và sử dụng đồng USD, trong khi đó Libra sẽ đặt trụ sở ở Thụy Sĩ và sử dụng một loại tiền tệ mới có giá trị bằng trung bình của các loại tiền pháp định của nhiều quốc gia và khu vực; và (2) Phí giao dịch sẽ thấp hơn rất nhiều. Thực tế, Facebook giải thích rằng lí do thu phí duy nhất chỉ là để ngăn chặn những vụ tấn công từ chối dịch vụ sẽ làm tê liệt hệ thống và khiến người dùng khó chịu. Nghĩa là, sẽ ít có khả năng hacker tạo 10 triệu giao dịch giả mạo nếu mỗi giao dịch phải trả 0,1 USD.   Lợi ích tài chính cho nhóm các công ty tham gia cùng Facebook sẽ không đến từ các phí này. Thay vào đó, họ sẽ thu lợi theo cách sau: Người dùng sẽ mua các đồng Libra từ các đại lý được cấp phép của Hiệp hội Libra – nơi sẽ giữ tiền của người mua cho đến khi các đồng Libra được tiêu, thời điểm mà người nhận thanh toán có thể đổi sang tiền tiêu chuẩn. Nếu lượng người dùng Libra chiếm tỉ trọng lớn trong khoảng gần hai tỉ người dùng Facebook, thì bất kì lúc nào cũng sẽ có một lượng lớn tiền được lưu hành và bởi vậy Hiệp hội Libra sẽ nắm giữ một khối lượng tiền mặt khổng lồ. Số tiền này sẽ sinh ra lợi nhuận và cổ tức, được dùng cho nhiều mục đích như nghiên cứu, tài trợ, điều hành hệ thống và đem lại lợi ích tài chính cho nhóm công ty.   Doanh thu từ tiền chuyển đổi không phải là lợi ích duy nhất đối với những công ty này. Họ có nhiều cách tận dụng hệ thống để mở rộng tập khách hàng, cụ thể là, vươn tới những vùng mà rất nhiều khách hàng tiềm năng ở đó không có USD, euro, yen, thẻ tín dụng hoặc thậm chí là thẻ ngân hàng. Họ cũng có thể đưa ra những ưu đãi đối với những khách hàng có khả năng tiếp cận với những đồng tiền chính trên thế giới dùng tiền Libra, và nhờ đó được Hiệp hội Libra “trao thưởng”. Hơn nữa, nếu người dùng Libra bị mặc định cho phép đưa các thông tin trên Facebook vào dữ liệu của Libra, thì Hiệp hội Libra cũng có thể bán quyền truy cập tới những thông tin này cho các nhà quảng cáo không phải là thành viên của nhóm công ty vận hành Libra, bởi vì người dùng được coi như đã đồng ý (và họ cũng muốn đồng ý vì nếu làm vậy, họ sẽ được nhận các ưu đãi mua hàng, như được khuyến mãi chẳng hạn).  Sức hút của Libra  Libra sẽ giúp cho những người bình thường tham gia vào các hoạt động thương mại toàn cầu dễ dàng hơn rất nhiều. Rất nhiều người, đặc biệt từ các quốc gia đang phát triển, không có tài khoản ngân hàng hay thẻ tín dụng có thể sử dụng đồng Libra để mua hàng ở bất kì nơi nào trên thế giới.   Chi phí giao dịch cực thấp thực sự quan trọng với những người đến từ những nơi kém phát triển. Libra sẽ đặc biệt hữu ích đối với những người nhập cư muốn gửi tiền về cho gia đình ở quê hương. Hiện nay, chi phí để gửi tiền như vậy (thông qua những công ty như Western Union) là 7% số tiền gửi. Libra sẽ giúp cho những lao động nhập cư có thể nuôi gia đình ở nhà mà không bị lợi dụng về tài chính. (Để Facebook làm được điều này không dễ như chúng ta nghĩ vì Hiệp hội Libra sẽ phải yêu cầu phải xác thực danh tính của tất cả người dùng, bất kể họ ở đâu).  Với những người buôn bán, Libra sẽ có rất nhiều ích lợi. Không giống như chi trả qua thẻ tín dụng, Libra không thu bất kì phí nào của họ. Cũng không phải trả tiền “bồi hoàn” (khi một khách hàng từ chối thanh toán vì lí do nào đó, các công ty thẻ tín dụng sẽ trả lại tiền cho họ nhưng người bán hàng phải chịu phạt). Tất cả các giao dịch mua bán sẽ nhanh chóng được chốt và được xác nhận. Và bởi vì nó quá dễ sử dụng, những người bán hàng có thêm khả năng tìm kiếm khách hàng mới.   Mặt tối của Libra     Qua thừa nhận của chính Facebook, họ thiết lập một nhóm các công ty lớn kiếm lợi nhuận từ Libra thay vì tự mình làm điều đó (và có lẽ gọi luôn là Đồng Facebook thay vì Libra) với lí do chính là công chúng không tin Facebook. Việc xâm phạm thô bạo quyền riêng tư và sử dụng thông tin khách hàng sai mục đích trong vụ bê bối Facebook/Cambridge Analytica năm 2018 và lỗi bảo mật gây chấn động khiến thông tin cá nhân của nửa tỉ người dùng Facebook bị tung lên các máy chủ đám mây Amazon năm nay khiến nhiều người nghi ngờ về đạo đức cũng như năng lực của công ty này.   Dẫu cho Facebook có nỗ lực tách xa khỏi việc điều hành trực tiếp Libra, người ta vẫn phân vân liệu việc chiêu mộ các công ty khác có phải chỉ là hành động che mắt. Trước hết, có bằng chứng gì cho thấy những tập đoàn lớn khác có sự tôn trọng quyền riêng tư khách hàng hơn Facebook, cẩn trọng hơn với an toàn dữ liệu hay ưu tiên các chuẩn mực đạo đức hơn là lợi nhuận? Thứ hai, nguồn người dùng Libra rõ ràng nhất chính là người dùng Facebook, cùng với người dùng Instagram và WhatsApp (là hai công ty Facebook đang sở hữu), và bởi vậy Facebook sẽ có cơ hội tốt nhất để tìm ra cách kiếm lợi nhuận từ Libra. Thứ ba, toàn bộ thiết kế đằng sau Libra được tạo ra bởi Facebook và tất cả phần mềm được viết bởi các kĩ sư Facebook. Rõ ràng là Facebook, mặc dù chỉ có “mỗi một phiếu bầu” (theo lời của người phát ngôn Facebook) trong Hiệp hội Libra, sẽ là công ty có kiểm soát áp đảo trong việc vận hành hệ thống.       Facebook để Hiệp hội Libra kiếm lợi nhuận từ đồng tiền này vì công chúng không tin Facebook.    Facebook cho rằng họ sẽ bảo vệ quyền riêng tư của người dùng Facebook bằng cách không cho phép Libra truy cập chúng mà không có sự cho phép của người dùng. Tuy nhiên, Facebook và các công ty khác sẽ tự do trong việc cung cấp các ưu đãi để dụ dỗ người dùng cho phép điều đó. Lịch sử internet đã cho thấy rằng hầu hết người dùng không hiểu đầy đủ những nguy cơ khi từ bỏ quyền riêng tư.      Ví dụ, một sinh viên từ bỏ quyền riêng tư để đổi lại một khuyến mại khi mua bằng đồng Libra. Anh này tin rằng dữ liệu của mình sẽ được dùng chủ yếu cho quảng cáo nhắm đích và anh không phản đối điều đó. Tuy nhiên, vài năm sau, dữ liệu này được bán cho một công ty thu thập thông tin các ứng cử viên tiềm năng cho những công việc ở các tập đoàn lớn. Họ đánh giá những giao dịch và bài viết của anh này trên Facebook và kết luận rằng anh đã tham gia vào những chiến dịch tuyên truyền và ủng hộ những khiếu nại của người mua hàng và những bất công đối với người lao động. Nói cách khác, anh này có khả năng cao sẽ phản ứng và tố cáo khi công ty thực thi những chính sách đáng ngờ với khách hàng và với công nhân. Kết quả là, anh ta sẽ không được các tập đoàn lớn tuyển dụng.   Một quan ngại nền tảng hơn là Facebook đơn giản sẽ trở nên quá quyền lực. Về cơ bản, Facebook là một công ty độc quyền có khả năng hoặc là mua lại các đối thủ hoặc ép họ bật ra khỏi thị trường. Ngày 9/5 năm nay, Chris Hughes, đồng sáng lập Facebook viết một bài báo dài trên Thời báo New York với tiêu đề “Đã đến lúc chia nhỏ Facebook.” Sau thông báo về Libra vào ngày 18/6, các quan chức phụ trách tài chính ở nhiều quốc gia, đặc biệt là châu Âu, bày tỏ lo ngại rằng Facebook đang tìm cách chiếm quyền của chính phủ. Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp Bruno Le Maire gọi giám đốc bảy ngân hàng Trung ương chuẩn bị một báo cáo về dự án tiền số của Facebook cho cuộc họp vào tháng 7, và Giám đốc Ngân hàng Anh Mark Carney nói rằng nó “sẽ phải tuân thủ những tiêu chuẩn luật pháp cao nhất.”  Rất nhiều người lầm tưởng rằng các cơ quan chính phủ là những bên dễ xâm phạm quyền công dân nhất. Nhưng ở nhiều quốc gia, cả Việt Nam và Mỹ – bên xâm phạm tồi tệ nhất là khu vực tư nhân. Ví dụ, ở Việt Nam, trường hợp ngược đãi phụ nữ – phân biệt đối xử và quấy rối tình dục – ở các công ty tư nhân nhiều hơn khối nhà nước. Ở Mỹ, đất nươc có tỉ lệ tù nhân cao nhất thế giới (dân số chỉ 4,4% nhưng chiếm tới 22% tù nhân toàn cầu), những điều kiện phi nhân đạo đối với tù nhân thường diễn ra trong những nhà giam điều hành bởi các công ty tư nhân hợp đồng với nhà nước (việc “tư nhân hóa” nhà giam đã diễn ra suốt 30 năm nay).   Facebook vốn đã quyền lực – về sự giàu có, độ ảnh hưởng và số lượng “công dân” – hơn hầu hết các quốc gia. Tiền tệ mà nó tạo ra sẽ cho nó ảnh hưởng lớn hơn nữa lên đời sống của chúng ta. Một con người, Mark Zuckerberg, không phải tuân phục một quy trình chính trị nào, có tất cả quyền lực ra quyết định cuối cùng ở Facebook. Anh ta không thể bị phủ quyết hay thay thế. Những nhà phê bình Facebook lo ngại rằng việc tập trung sự giàu có và quyền lực quá mức như vậy sẽ dẫn đến một chuỗi những lạm dụng không ngừng. □  Hảo Linh dịch    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Tiền tỷ mỗi năm từ máy ấp trứng      Được  cải tiến hơn sáu lần từ năm 2005, đến nay máy ấp trứng của anh Nguyễn  Văn Nhân (thôn Đông An, xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thứa Thiên – Huế) nhờ ấp  nở được hầu hết các loại trứng gia cầm, đạt hiệu quả kinh tế cao đã  được bà con nông dân các tỉnh thành trong nước và cả Lào, Campuchia tín  nhiệm.       Ý tưởng sáng chế chiếc máy ấp trứng phù hợp với điều kiện hộ chăn nuôi nhỏ đã bắt đầu đến với anh Nhân kể từ năm 2005, khi bắt tay vào phát triển công việc chăn nuôi gia cầm của gia đình và vấp phải một số khó khăn như tỷ lệ trứng nở thấp, phụ thuộc quá nhiều vào thời tiết, dù đầu tư khá nhiều về giống. Khi anh chuyển sang dùng máy ấp thì kết quả cũng không mấy khả quan vì tính năng của máy không đúng như mong đợi hoặc vì chưa phù hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt của xứ Huế.  Vì vậy, anh Nhân đã nghiên cứu, sáng chế một chiếc máy ấp trứng đạt đủ yêu cẩu mà những chiếc máy khác không thể đáp ứng. Ban đầu, chiếc máy khá đơn giản với việc  cấp nhiệt bằng bóng đèn sợi đốt. Do thấy chưa vừa ý, anh Nhân liên tục chỉnh sửa, tìm ra chiếc máy phù hợp với yêu cầu đặt ra trên chính trang trại nuôi gà của  mình.   Qua sáu lần cải tiến như vậy, chiếc máy ấp trứng của anh Nhân đã được nâng cấp trở thành một chiếc máy đa năng với đầy đủ hệ thống cấp nhiệt, hệ thống cấp ẩm, hệ thống đảo trứng tự động, hệ thống soi trứng, hệ thống báo động báo hiệu khi trứng nở… Máy có thể phù hợp với rất nhiều loại trứng gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng, chim cút, vịt trời… trong các điều kiện thời tiết không thuận lợi, đạt tỷ lệ ấp tới 80%. Thay vì sử dụng các loại điện trở thanh khí hay đền halogen cung cấp nhiệt, máy ấp của anh Nhân dùng bóng đèn sợi đốt nên khi hỏng hóc, bà con nông dân có thể dễ dàng thay lắp mà không tốn quá nhiều tiền. Một đặc điểm nổi bật của máy là  có kênh trộn khí, đảo khí hai chiều, nên đảm bảo thông thoáng trong lồng ấp và tiết kiệm điện.  Tại các dòng máy, anh Nhân đều sử dụng bộ điều khiển nhiệt độ và đảo trứng nhập ngoại từ Malaysia.     Cũng để phù hợp với các loại quy mô trang trại và mục đích của người tiêu dùng, anh Nhân đã phân máy ấp trứng thành nhiều dòng máy công suất 300 trứng, giá năm triệu đồng đến công suất 10.000 trứng giá 80 triệu đồng. Nhờ vậy, người tiêu dùng có thể lựa chọn những loại máy phù hợp nhu cầu của trang trại cũng như túi tiền của mình.    Sau quá trình sử dụng, sản phẩm máy ấp trứng của anh Nhân được bà con nông dân hết sức ưa chuộng và đánh giá cao về hiệu suất, độ bền của máy, đặc biệt lớp vỏ được làm bằng ba lớp với các loại vật liệu là các tông, xốp, sắt có ưu điểm giữ nhiệt tốt, đảm bảo lồng ấp bên trong ấm áp về mùa đông nhưng lại mát mẻ vào mùa hè. Nhằm tạo điều kiện cho bà con sử dụng một cách dễ dàng, anh Nhân đều tặng kèm mỗi chiếc máy một cuốn sổ kỹ thuật hướng dẫn, “mách nước” cách sử dụng, bảo quản đúng phương pháp. Ngoài ra, nếu máy trong thời gian bảo hành có hỏng hóc thì anh sẵn sàng bố trí thời gian thân chinh tới tận nơi, nếu kẹt quá thì cử công nhân, để sửa chữa miễn phí.   Tính từ năm 2010 đến nay, công ty TNHH Máy ấp trứng Huế của anh Nhân đã cung cấp cho thị trường trong nước và cả Campuchia, Lào, tới hơn 500 chiếc máy các loại. Với số lượng máy bán ra như vậy, năm 2014, công ty đạt doanh thu hai tỷ đồng, dự kiến năm 2015 con số này sẽ được nâng lên ba tỷ đồng.   Năm 2013, sản phẩm máy ấp trứng của anh Nhân đã được tỉnh Thừa Thiên – Huế công nhận là “Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiền tỷ từ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp      Là một trong bốn khu nông nghiệp kỹ thuật cao tỉnh Bình Dương, Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao An Thái đã thành công trong việc đưa công nghệ Hàn Quốc, Nhật Bản và Israel về áp dụng tại địa phương, đem lại thu nhập tiền tỷ trên mỗi ha canh tác.      Được thành lập cách đây bốn năm, Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao An Thái có quy mô hơn 410 ha đã chọn hướng đi đúng đắn là triển khai nhiều mô hình trồng trọt theo cách thức công nghệ sản xuất hiện đại từ một số quốc gia có nhiều thành tựu về nông nghiệp như Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc…   Theo quy hoạch,  Khu nông nghiệp An Thái bao gồm nhiều khu chức năng: khu cây cảnh  với diện tích 55 ha, chủ yếu trồng lan và các loại cây cảnh); khu rau quả có tổng diện tích 131 ha   chuyên về các loại rau, nấm, hoa nhiệt đới; khu dược liệu rộng 48 ha trồng cây nguyên liệu như trinh nữ hoàng cung; khu nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái quý kết hợp du lịch sinh thái, rộng 104 ha;  khu R&D rộng 47 ha; khu dịch vụ 20 ha…   Ở Khu nông nghiệp An Thái, những công nghệ hiện đại được áp dụng phổ biến, phục vụ cho nghiên cứu và sản xuất như hệ thống quản lý, kiểm soát nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng trên máy tính, công nghệ nuôi cấy mô, tế bào, làm ra các chế phẩm  sinh học, hệ thống làm  lạnh, phun sương, tưới nhỏ giọt tự động… Đây là những lý do khiến cho các sản phẩm cây trồng ở An Thái đều được đánh giá cao về năng suất, chất lượng, đặc biệt là đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Nhờ vậy, sản phẩm mang thương hiệu UNIFARM của An Thái đã có mặt trên kệ hàng của các siêu thị lớn như Big C, Metro, CoopMart…   Theo tổng kết của An Thái, sản lượng của các loại cây trồng đạt năng suất từ 100 đến 120 tấn/ha, cao gấp ba, bốn lần so với các diện tích trồng trọt theo kỹ thuật thông thường, đem lại thu nhập tiền tỷ trên mỗi ha sản xuất. Ví dụ dưa lưới trồng trong nhà kính, sản phẩm chủ lực của diện tích trồng rau quả của An Thái, đạt doanh thu khoảng một tỷ đồng/vụ, lợi nhuận sau khi trừ chi phí về giống, phân bón, nhân công…  đạt trên 500 triệu đồng/vụ. Do mỗi ha trồng dưa lưới có thể khai thác mỗi năm ba vụ nên khoản tiền thu về cũng trên 1,5 tỷ đồng/năm.   Trong thời gian tới, ngoài dưa lưới, ớt chuông, cà tím, chuối, An Thái sẽ đầu tư phát triển thêm diện tích một số loại cây được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng như cam, bưởi, quýt, chanh…, đồng thời xây dựng nhà máy chế biến để đa dạng hóa sản phẩm đầu ra của An Thái.  Bên cạnh đó, An Thái còn có kế hoạch chuyển giao kỹ thuật canh tác mới cho nông dân, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với những kiến thức trồng trọt mới, qua đó góp phần phát triển vùng nguyên liệu vùng phụ cận đáp ứng yêu cầu xuất khẩu ngày càng tăng trong thời gian tới.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếng ồn giao thông ảnh hưởng đến hành vi của động vật      Nghiên cứu cho thấy, âm thanh từ các phương tiện giao thông ảnh hưởng đến thói quen kiếm ăn của chim sẻ vằn và quá trình giao phối của dế mèn      Tiếng ồn do giao thông khiến dế cái phân tâm khi lắng nghe ca khúc tán tỉnh của dế đực, và điều này có thể dẫn đến việc chúng chọn một con đực chất lượng thấp hơn để giao phối. Ảnh: Dr Adam Bent/PA  Trong suốt giai đoạn phong tỏa vì Covid-19, mọi người phải làm việc tại nhà, và kéo theo đó bạn cũng mang theo ô nhiễm tiếng ồn về ngôi nhà của bạn – dù cho đó chỉ là khung cảnh vợ bạn đang nói chuyện điện thoại hoặc đang xay cà phê trong lúc bạn thực hiện một cuộc phỏng vấn qua Zoom. Một nghiên cứu mới đây cho thấy không chỉ loài người, mà vương quốc động vật cũng bị xáo trộn bởi tiếng ồn của con người và các thiết bị của chúng ta.   Khi dân số con người càng tăng lên, chúng ta càng thâm nhập sâu hơn vào môi trường sống của các loài động vật hoang dã, khiến âm thanh liên tục lan tỏa trong môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến không chỉ khả năng nghe mà còn khả năng giao tiếp của động vật. Nghiên cứu này cho thấy ô nhiễm tiếng ồn, chẳng hạn do giao thông gây ra, cản trở hành vi của động vật, bao gồm cả nhận thức và giao phối.    Nhằm tìm hiểu tác động của tiếng ồn giao thông đối với hoạt động nhận thức, các nhà khoa học đã giao cho chim sẻ vằn trưởng thành – một loài chim nhỏ bé biết hót có nguồn gốc từ Úc – thực hiện một loạt các nhiệm vụ kiếm ăn. Những con chim ở trong môi trường phòng thí nghiệm tương đối yên tĩnh, hoặc đôi lúc các nhà khoa học sẽ tạo ra âm thanh trong căn phòng này bằng cách mô phỏng một loạt ô tô chạy qua cách đó 20 đến 30 mét tương tự với tiếng ồn giao thông.   Để kiểm tra khả năng kiểm soát sự ức chế – một kỹ năng hữu ích để duy trì sự chú ý cần thiết khi giải quyết một vấn đề, các nhà khoa học sẽ để những con chim tiếp cận với một vật hình trụ trong suốt đặt nằm ngang, bên trong là thức ăn. Họ muốn đánh giá xem liệu những con chim sẽ cứ thế mà nhào đến hay sẽ đi qua hai bên để tới được lối đi mở.   Nhiệm vụ tiếp theo là lật nắp để lấy thức ăn. Các nhà khoa học thiết kế nhiệm vụ này nhằm đo lường các kỹ năng vận động và thao tác, những yếu tố cần thiết để kiếm ăn. Sau đó, những con chim chuyển sang nhiệm vụ về hiểu biết kết hợp màu sắc – nhiệm vụ này hướng đến khả năng phân biệt giữa các nắp có màu khác nhau nhằm xác định cái nào chứa thức ăn. Các nhà khoa học còn kiểm tra trí nhớ không gian, vốn rất quan trọng trong việc ghi nhớ vị trí nguồn thức ăn, ranh giới lãnh thổ và bạn tình tiềm năng.   Cuối cùng, họ đánh giá kỹ năng học hỏi lẫn nhau của những chú chim. Một số con “làm mẫu” cách kéo các nút thắt để lấy thức ăn được giấu trong các khối gỗ, các nhà khoa học sẽ đánh giá các con khác dựa trên khả năng thực thi nhiệm vụ của chúng.   Tiếng ồn giao thông đã ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả những nhiệm vụ, ngoại trừ nhiệm vụ liên kết màu sắc, các nhà nghiên cứu viết trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B.   “Chúng tôi không nghĩ mình sẽ thấy một hiệu ứng mạnh mẽ đến như vậy”, tác giả nghiên cứu Christopher Templeton, trợ lý giáo sư tại Đại học Thái Bình Dương, Oregon, Hoa Kỳ, cho biết. “Đây là những chú chim sống theo đàn, chúng thường trao đổi với nhau, tạo nên những âm thanh khá lớn. Vì vậy, việc chỉ cần nghe thấy tiếng ô tô ngang qua là đủ để chúng không thể thực hiện được các bài kiểm tra này thực sự là một điều khá ngạc nhiên”.   Ảnh hưởng đến quá trình tiến hóa  Một nghiên cứu riêng biệt, được công bố trên tạp chí Behavioral Ecology, đã xem xét cách thức những con dế than cái (Gryllus bimaculatus), thực hiện các lựa chọn giao phối trong các điều kiện âm thanh khác nhau.  Con đực thu hút con cái thông qua việc cọ xát cánh của chúng với nhau – đây là cách chúng biểu diễn một ca khúc tán tỉnh.   “Đặc biệt, ở loài dế này, chúng tôi biết rằng khúc ca tán tỉnh của con đực có liên quan đến khả năng miễn dịch, vì vậy chúng [con cái] biết rằng nếu chúng có một bài hát chất lượng thì con cái của chúng sẽ có khả năng sống sót cao hơn”, tác giả chính, TS Adam Bent thuộc Đại học Cambridge, giải thích. Nghiên cứu này là một phần trong chương trình Tiến sĩ của ông tại Đại học Anglia Ruskin.  Để kiểm tra tác động dưới các điều kiện tiếng ồn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã ghép những con dế cái với những con dế đực đã bị cắt đôi cánh để không thể tạo nên ca khúc tán tỉnh được nữa. Sau đó, họ để những con dế tương tác với nhau trong điều kiện tiếng ồn ở môi trường xung quanh, điều kiện tiếng ồn nhân tạo hoặc điều kiện tiếng ồn do giao thông.   Tiếp đến, họ phát một ca khúc tán tỉnh nhân tạo trong khi những con đực đang cố gắng tán tỉnh những con cái. Con cái có xu hướng săn lùng những con đực chất lượng, vì vậy chúng có thể giao phối càng nhanh càng tốt, rồi chúng có thể tiếp tục tìm kiếm một người bạn đời khác. Con cái càng có nhiều bạn tình, chúng càng sinh sản nhiều và khả năng con cái của chúng sống sót càng cao.   Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong bối cảnh tiếng ồn do môi trường xung quanh, khi họ mở ca khúc tán tỉnh nhân tạo nhưng có chất lượng cao, những con cái giao phối với con đực sớm hơn và thường xuyên hơn.  Những bài hát chất lượng cao không hiệu quả trong điều kiện tiếng ồn nhân tạo (nhiễu trắng) và tiếng ồn giao thông. “Dữ liệu cho thấy những con cái không thể phát hiện ra sự khác biệt trong bài hát, và điều đó có nghĩa là hai loại âm thanh này khiến chúng không thể phân biệt được đó là một bài hát chất lượng cao hay chất lượng thấp”, Bent nói.  “Điều này có khả năng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con cái của chúng. Nhưng nhìn rộng ra, lựa chọn bạn đời là một cơ chế thực sự mạnh mẽ trong chọn lọc giới tính, và chọn lọc giới tính thúc đẩy sự tiến hóa”, ông cho biết. “Vì vậy, nếu điều này gián đoạn quá trình lựa chọn bạn đời, nó cũng sẽ thay đổi đáng kể quá trình tiến hóa của loài.”   Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/feb/03/human-noise-affects-animal-behaviour-studies-show          Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tiếng thét” bị nhạt màu, vì sao?      Thế giới nghệ thuật đang “nhờ cậy” đến các phân tích khoa học để làm sáng tỏ vấn đề: một số bức họa nổi tiếng đã thay đổi màu sắc theo thời gian như thế nào.      Một phiên bản vẽ năm 1910 của “The Scream” (Edvard Munch) đã được kiểm tra trên kính hiển vi để xem màu sắc bị phai nhạt như thế nào.   Không chỉ chuyện riêng của một bức họa  Phiên bản năm 1910 của bức “Tiếng thét” (The Scream) của Edvard Munch đã được đưa vào kính hiển vi để kiểm tra việc các màu vẽ của nó đã bị nhạt đi như thế nào, qua đó đem lại những bài học bảo tồn các bức vẽ cùng thời kỳ khác.   Ai cũng thấy rằng “Tiếng thét” đang nhạt dần. Và những mẫu bé tẹo của màu vẽ từ hình ảnh của nỗi sợ hãi nổi tiếng trong phiên bản năm 1910 của Edvard Munch đã được đưa vào tia X, chùm tia laser, và thậm chí cả kính hiển vi điện tử đầy chuẩn xác, khi các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật tiên tiến để cố gắng định hình nguyên nhân tại sao có những phần của tấm toan mang màu vàng cam sáng giờ lại chuyển sang trắng ngà.   Kể từ năm 2012, các nhà khoa học ở New York và chuyên gia tại Bảo tàng Munch ở Oslo đã cùng nhau nghiên cứu bức tranh này – một tác phẩm có số phận khá li kỳ khi bị đánh cắp vào năm 2004 và hai năm sau trở lại bảo tàng, để kể một câu chuyện về màu sắc. Nhưng không chỉ vậy, các nhà nghiên cứu cũng đem đến một cái nhìn thấu suốt vào Munch và cách ông vẽ, đặt ra một bản đồ cho những nhà bảo tồn tranh để ngăn không cho màu vẽ thay đổi nữa, qua đó giúp cho người xem và nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật hiểu được một trong những bức tranh nổi tiếng bậc thế giới ban đầu như thế nào.  Thế giới nghệ thuật giờ đang được chuyển vào các phòng thí nghiệm để người ta có thể hiểu được các bức vẽ từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trước đây, các nhà khoa học đã từng nghiên cứu thế giới màu sắc của Vincent van Gogh và nhận thấy, các màu ông thường sử dụng như màu vàng crom là chì (II) cromat, một số đã chuyển sang màu nâu và màu tía, một số chuyển sang màu xanh lục. Tuy nhiên ít được biết đến hơn là màu sắc của Munch, vì thế các nhà khoa học với các công nghệ mới và các công cụ như kính hiển vi điện tử đang thiết lập một nền tảng mới.    Các nhà bảo tồn và các nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Munch đã liên lạc với TS. Mass, người từng làm việc như một chuyên gia về mỹ thuật khi còn làm postdoc tại Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan vào năm 1995 và là chuyên gia về màu vàng cadmium khi nghiên cứu về các tác phẩm của họa sĩ Matisse. Nhờ vậy, các vật liệu mà Munch đã sử dụng trong bức vẽ được phân tích một cách đầy đủ hơn và công việc nghiên cứu dự kiến kết thúc vào mùa xuân này.  TS. Mass và nhóm nghiên cứu làm việc với các bảo tàng, các khách hàng riêng, các nhà đấu giá, các phiên chợ nghệ thuật và cả các nghệ sĩ về các loại tác phẩm nghệ thuật, từ điêu khắc ngoài trời quy mô lớn trong Hamptons đến tượng điêu khắc La Mã cổ đại. Họ là một phần của một thị trường ngách trong thế giới nghệ thuật – các phòng thí nghiệm nhỏ hoạt động bên ngoài các tổ chức lớn – và thi thoảng việc hợp tác giữa hai bên lại thắt chặt hơn khi có yêu cầu giám định tác phẩm nghệ thuật. Có lẽ được biết đến nhiều nhất là Phòng thí nghiệm Phân tích Orion của James Martin, sau được Sotheby’s mua lại và trở thành phòng thí nghiệm trực thuộc một nhà đấu giá lớn.  Các nhà sưu tập hoặc người mua tiềm năng quan tâm đến những vấn đề như tác phẩm họ định mua có phải bản gốc không. “Đó thực sự là một bùng nổ trong lĩnh vực này”, Nicholas Eastaugh, người thành lập và phụ trách khoa học tại Art Analysis & Research, nói. “Có nhiều người đến với những cách tiếp cận, ý tưởng và cách nhìn mới”.   Nghệ thuật nhờ cậy khoa học  Dù vì để bảo tồn hay xác định sự nguyên bản của tác phẩm thì tác phẩm thường tiết lộ những thứ về chủ đề nghệ thuật mà mắt thường không thể thấy – một bức họa thực sự được vẽ năm nào, liệu nó có chứa những nét vẽ bên dưới bề mặt không, hoặc những yếu tố gì trong môi trường có thể là nguyên nhân làm giảm giá trị? Câu hỏi cuối cùng này đặc biệt quan trọng với các họa sĩ hoạt động cùng thời kỳ với Munch, khi việc nghiên cứu mới chỉ bắt đầu chiếu rọi đến thời kỳ này.   “Hiện có xu hướng quan tâm đến những cái tên nổi danh hơn bởi những nguyên nhân rõ ràng”, TS. Eastaugh nói. “Nhưng thông thường có những vấn đề sẽ ảnh hưởng đến tất cả các nghệ sĩ cùng thời kỳ nếu họ cùng sử dụng các chất liệu đó”. Ông nói nhiều nghiên cứu sẽ giúp sáng tỏ “nhiều mẫu hình chung hơn” trong cơ chế làm nhạt màu sắc.  Màu sắc của cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đang nhạt đi một cách nhanh chóng bởi sự thay đổi diễn ra trong quá trình vẽ. Màu vẽ được làm thủ công bằng nghiền các chất khoáng tách chiết từ đất hoặc băng việc sử dụng màu từ cây cỏ và côn trùng. Cuộc cách mạng công nghiệp đã mang đến việc tạo ra các màu tổng hợp như cadmium hoặc vàng crom, vốn được các họa sĩ trộn với dầu hoặc phụ gia. Các họa sĩ bắt đầu thử nghiệm với các màu tổng hợp đó, thi thoảng được chuẩn bị và bỏ qua bước thử nghiệm cho những mục tiêu dài hạn nhưng lại có màu sắc rất sáng – có khả năng dẫn đến những màu vẽ sáng chói của trường phái Dã thú, hậu ấn tượng và Hiện đại.   Tại khoảnh khắc đó, nhiều họa sĩ đang từ bỏ các kỹ thuật vẽ truyền thống, Lena Stringari, phó giám đốc và nhà bảo tồn chính của Bảo tàng và Quỹ Solomon R. Guggenheim, người nghiên cứu về sự thay đổi màu sắc và màu vẽ của các tác phẩm của van Gogh. “Nhiều họa sĩ đã vẽ ngoài trời và họ đã thử rất nhiều loại sơn khác nhau và các lý thuyết pha màu khác nhau”, bà nhận xét. “Đó là một sự bùng nổ màu sắc mà không cần đến sự tham gia của giới hàn lâm.  Điều đó khiến cho các màu vẽ mới trở nên phổ biến”, TS. Mass nói, nhưng các họa sĩ cũng không ngờ tới. “Chúng tôi không thể nói, ‘ồ đây là một cái cây’ bởi vì trong trường hợp Matisse hay Munch, không nhất thiết bức vẽ phản ánh sự thật, vì vậy chúng tôi cần đến khoa học”.  Việc làm sống lại những màu sắc ban đầu là không thể nhưng khoa học có thể đưa chúng ta tới gần hơn điều đó. Koen Janssens, một giáo sư khoa Hóa tại trường Đại học Antwerp đang nghiên cứu về bảng màu của van Gogh, Matisse và một số họa sĩ khác, nói “Ý tưởng của chúng tôi là cố gắng đảo ngược thời gian bằng cách số hóa”. Các nhà bảo tồn không thể áp dụng những màu vẽ mới nhưng việc tái cấu trúc số hóa có thể giúp họ hình dung ra được bức họa trước đây, khi nó mới được vẽ. TS. Mass dự đoán một bước chuyển về thực tế số tăng cường trong tái cấu trúc màu vẽ và bức họa khiến người ta có thể chỉ cần cầm điện thoại thông minh lên trước một bức vẽ và thấy những màu sắc cũ xếp lớp trên tấm toan.   Để làm được như vậy, cần có sự kết hợp giữa vật lý, hóa hữu cơ với thế giới nghệ thuật và đạt được điều này không dễ dàng, theo quan điểm của Kilian Anheuser, người phụ trách phần khoa học ở Geneva Fine Art Analysis. “Cho đến gần đây, các chuyên gia lịch sử nghệ thuật vẫn còn nắm vai trò thống trị. Sau đó đã có một số vụ bê bối về tranh giả, và mọi chuyện chỉ được phơi bày ra ánh sáng khi khoa học nhập cuộc, và bây giờ thì mọi người mới quan tâm một chút”.    Ronald Varney, một chuyên gia nghệ thuật độc lập, nói “Có lẽ đây là một chút tiếng nói của khoa học trên thị trường nghệ thuật. Đây vẫn là một công việc phụ thuộc rất lớn vào chuyên môn của các cá nhân hơn”.   Việc nghiên cứu đã làm thay đổi cách lịch sử nghệ thuật nhìn vào các tác phẩm của van Gogh. Bảo tàng Van Gogh ở Amsterdam và Metropolitan Museum đã thiết lập nhiều cuộc triển lãm về màu sắc ngày một phai nhạt của các bức tranh. Teio Meedendorp, một sử học nghệ thuật và nhà nghiên cứu chính tại Bảo tàng van Gogh cho rằng “đó là những gì chúng tôi đang nhận thấy trong 10 năm qua. Nghiên cứu bây giờ tập trung một cách đặc biệt vào các khía cạnh kỹ thuật đã thay đổi cách chúng tôi nghĩ”.   Thật thú vị là van Gogh đã nhận thấy cả những nguy hiểm của những màu mới. “Tôi chỉ mới kiểm tra – tất cả những màu sắc thời thượng mà trường phái Ấn tượng tạo ra đều không bền”, van Gogh viết cho em trai Theo, trong năm 1888, “và thời gian sẽ chỉ làm cho chúng phai đi rất nhanh”.  Trong một bức thư khác, ông viết, “các bức họa đều phai nhạt nhanh như những đóa hoa”. □  Tô Vân lược dịch  Nguồn: https://www.nytimes.com/2020/02/07/arts/design/the-scream-edvard-munch-science.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang TienPhong Bank ra mắt công nghệ eCounter – eGold và Thẻ tiêu dùng Đa tiện ích      Ngày 31/7/2013, Ngân hàng TiềnPhong (TienPhong Bank) chính thức ra mắt giải pháp công nghệ eCounter – eGold và Thẻ tiêu dùng Đa tiện ích. Điều đặc biệt, đây là ngân hàng đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam triển khai việc mua bán vàng tại tất cả các điểm giao dịch trên toàn quốc.      EGold được Tienphong Bank nghiên cứu một năm và ra đời trong bối cảnh các ngân hàng đã chuyển hoàn toàn sang nghiệp vụ mua bán vàng, thay vì vay mượn để kinh doanh như trước đây. Với EGold – Tính năng mua bán vàng vật chất qua các kênh thanh toán điện tử, TienPhong Bank  đã trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam có thể cung cấp dịch vụ mua bán vàng vật chất các loại thông qua kênh Internet Banking và Mobile Banking (hỗ trợ trên tất cả các thiết bị di động sử dụng hệ điều hành IOS hay Android), giúp khách hàng có thể mua bán vàng từ bất cứ đâu mà không cần phải đến ngân hàng, đảm bảo tiện lợi, an toàn và bảo mật tuyệt đối.   Khách hàng mở tài khoản tại Tienphong Bank, đăng ký sử dụng dịch vụ eGold, có thể thực hiện lệnh mua, bán vàng miếng theo giá niêm yết thực tế.Vàng mua xong lập tức vào tài khoản của khách để chờ nhận hoặc chuyển vào tài khoản giữ hộ. Khi người mua muốn nhận vàng vật chất, ngân hàng gửi email xác nhận kèm mã vạch QR Code. Khách đến điểm giao dịch đã đăng ký, đưa mã QR Code cho giao dịch viên và nhận vàng.  Ngoài ra, TienPhongBank cũng triển khai dịch vụ eCounter – thiết lập văn hóa phục vụ mới.Đây là mô hình dịch vụ tiếp cận khách hàng hoàn toàn mới, tân tiến nhất, chu đáo nhất, chăm chút từng chi tiết mọi nhu cầu của khách hàng, tạo nên một phong cách mới trong văn hóa phục vụ khách hàng.  Bằng công nghệ định danh không tiếp xúc tầm xa (Wide range contactless RF identification), hệ thống TienPhong Bank có khả năng nhận biết ngay khi khách hàng bước vào trụ sở, cùng lúc báo cho nhân viên đón tiếp khách hàng, giao dịch viên và Giám đốc dịch vụ khách hàng để đón tiếp khách hàng chu đáo và đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhất.  Một thành phần quan trọng của giải pháp này là hệ thống xếp hàng thông minh độc đáo doTienPhong Bank tự phát triển, hoàn toàn tự động không cần lấy số, tích hợp với ứng dụng giao dịch của hệ thống core banking. Hệ thống cũng được thiết kế để tối ưu cho máy tính bảng với màn hình cảm ứng đa điểm, kết nối không dây, đồng thời tích hợp công nghệ bảo mật bằng vân tay, đầu đọc mã vạch và công nghệ không tiếp xúc tầm xa…  Đối với  thẻ tiêu dùng đa tiện ích, mô hình giao dịch mới của TienPhong Bank được thiết kế tối ưu cho việc sử dụng thẻ tiêu dùng đa tiện ích ngân hàng sẽ phát hành đại trà cho khách hàng trong thời gian tới.  Tấm thẻ này tích hợp chức năng của cả ba loại thẻ: Thẻ ATM thông thường, thẻ khách hàng thân thiết và thẻ nhận diện khách hàng với công nghệ không tiếp xúc (contactless). Khách hàng còn được tùy chọn in ảnh cá nhân lên thẻ nếu có nhu cầu.  Nguồn: TienPhong Bank    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp tục phát triển thương mại toàn cầu      Khi nền kinh tế đang phải chống chọi với cuộc khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh , những người chỉ tr&#237;ch to&#224;n cầu h&#243;a đang c&#243; xu hướng tăng l&#234;n, họ cho rằng tự do thương mại l&#224; một trong những nguy&#234;n nh&#226;n ch&#237;nh của t&#236;nh trạng tồi tệ hiện nay. V&#224; kh&#244;ng &#237;t người trong số họ tin rằng to&#224;n cầu h&#243;a thương mại đ&#227; đến hồi kết. Nhưng Gi&#225;o sư&nbsp; Thomas Straubhaar&nbsp; tại Đại học Tổng hợp Hamburg (Đức) đồng thời l&#224; người l&#227;nh đạo Viện Nghi&#234;n cứu Kinh tế Thế giới Hamburg (Hamburgischen Weltwirtschaftsinstituts, khẳng định đ&#243; l&#224; một nhận định sai lầm, g&#226;y hậu quả nghi&#234;m trọng – &#244;ng cho rằng hơn bao giờ hết, thế giới cần một nền thương mại ph&#225;t triển hơn nữa chứ kh&#244;ng phải thu hẹp lại.    Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện nay, những người chỉ trích toàn cầu hóa đang có xu hướng tăng lên. Ngay cả những người từ lâu có cảm tình với toàn cầu hóa giờ đây cũng có những băn khoăn, nghi ngại đối với quá trình này. Người ta nói tới những giới hạn của nền kinh tế thế giới và cần phải suy nghĩ lại đối với thị trường nội địa; đồng thời với việc hỗ trợ quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn, bất chấp điều đó có gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh nước ngoài hay không. Thậm chí họ còn đòi hỏi một trong những yêu cầu lỗi thời là xây dựng rào chắn bảo hộ về pháp lý – nhằm trước hết chống lại các nhà đầu tư nước ngoài.  Thực chất đang hình thành một đại liên minh chống lại nền thương mại thế giới. Mục tiêu chung của liên minh này là chấm dứt quá trình toàn cầu hóa đáng nguyền rủa, kết nối lực lượng chống toàn cầu hóa của cánh tả và các lý thuyết gia cánh hữu về sự tự co cụm, tách biệt với xung quanh. Lực lượng này đang tạo nên một khối liên minh ngày càng rộng lớn hơn, nhằm chống lại toàn cầu hóa thị trường và sự cạnh tranh vươn ra ngoài biên giới quốc gia.    Đây là một nỗ lực chết người.  Nếu thận trọng suy xét thì người ta phải hành động hoàn toàn ngược lại: Thế giới cần tăng cường toàn cầu hóa nhiều hơn chứ không phải thu hẹp lại. Ai cho rằng toàn cầu hóa đã đến hồi kết, kẻ đó đang bị ngộ nhận về một hình ảnh thế giới mang nặng dáng vẻ châu Âu đã bị bão hòa. Ở đây người ta thường trương lên các lý do như đại diện cho quyền lợi của người nghèo. Nhưng trong thực tế họ chỉ quan tâm đến lợi ích quốc gia của mình.    Cơ hội cho những người nghèo nhất   Ở Đức cũng đang có những tiếng nói đòi kết thúc toàn cầu hóa. Cuộc khủng hoảng thị trường tài chính đang gây hoang mang lo lắng, tạo nên sự bất an và xáo trộn trong dân chúng. Nỗi lo sợ bị mất việc làm ngày càng tăng. Áp lực về một cuộc cạnh tranh toàn cầu đối với một số người chỉ là một sự phiền hà, khó chịu. Nó làm tăng sự lo sợ bị thua thiệt trước các nền kinh tế đang trỗi dậy và bị mất đi mức sống cao mà người ta đã giành được bấy lâu nay.  Những người đã đạt được một mức sống cao, so sánh với các nước khác trên thế giới, lúc này có thể xả hơi và suy ngẫm về một hướng đi mới của nền kinh tế thế giới. Nhưng với phần lớn người dân trên thế giới thì toàn cầu hóa có ý nghĩa quyết định, thậm chí là cơ hội lớn nhất để giúp cải thiện điều kiện sống của họ và để khắc phục tình trạng đói nghèo tràn lan hiện nay.   Dân số thế giới hiện khoảng 6,6 tỷ người và trên một nửa phải sống trong tình trạng nghèo khổ. Nhiều người trong số họ sống với mức mỗi ngày chỉ có 2 USD. Đối với người nghèo và nghèo nhất thì không gì có thể thay thế cho toàn cầu hóa. Nhất là dân số ở những khu vực nghèo khổ đang tiếp tục tăng lên trong khi xã hội châu Âu đang ngày càng bị già hóa và thu nhỏ.   Chỉ hơn 20 năm nữa dân số Trung Quốc sẽ lên tới 1,4 tỷ, không lâu nữa ba nước Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh sẽ có 2 tỷ người. Để tạo điều kiện sống tốt đẹp hơn cho số người đông đảo này, không thể không đưa họ tham gia vào sự phân công lao động quốc tế để thụ hưởng những thành tựu của sự phân công lao động. Vì thế chỉ có thể ủng hộ, khuyến khích sự phát triển kinh tế, góp phần giảm đói nghèo hàng loạt trên thế giới.   Khác với quan niệm khá phổ biến rằng: Nghèo đói là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, thực chất đói nghèo thường xảy ra ở các xã hội khép kín. Chính nhờ có toàn cầu hóa và chỉ có thể thông qua toàn cầu hóa mới có thể khắc phục những hậu quả tai hại của tệ lạm dụng quyền lực, tệ tham nhũng và sự hành xử mang nặng đầu óc gia đình chủ nghĩa, kéo bè kết cánh để bảo vệ người dân trước sự chuyên quyền độc đoán và áp bức bóc lột của tầng lớp cầm quyền.  Khủng hoảng kinh tế tác động đến toàn cầu hóa như thế nào?  Tình hình ở một số nước như Bắc Triều Tiên, Cuba, Myanmar, chính quyền Taliban trước đây ở Afghanistan hay một số quốc gia ở châu Phi hiện nay cho thấy người dân ở đây phải trả giá đắt như thế nào cả về kinh tế và xã hội do bị o bế, không được tiếp xúc làm ăn buôn bán với thế giới bên ngoài.     Tăng trưởng, phát triển diễn ra song hành với toàn cầu hóa và tạo điều kiện để phá vỡ cấu trúc xã hội cũ kĩ – nguồn gốc của lạc hậu về kinh tế và yếu kém của hệ thống chính trị. Đương nhiên khi một xã hội được giải phóng khỏi sự cai trị độc đoán, chuyên quyền, hoặc khi các nền kinh tế phá vỡ ranh giới quốc gia chật hẹp hướng tới tự do và công khai minh bạch thì trước mắt không thể tránh những vấn đề lớn về kinh tế và xã hội. Sự thay đổi cấu trúc thông qua quá trình toàn cầu hóa có cái giá của nó. Đó là cái giá để thích ứng về mặt kinh tế và xã hội.  Mặc dù vậy các nền kinh tế yếu kém, nghèo khổ nhất vẫn có lợi khi đi theo con đường mở cửa thị trường nội địa đầy khó khăn trắc trở này.   Điều này vẫn đúng cả trước và sau cuộc khủng hoảng thị trường tài chính hiện nay.   Vào lúc này mà buộc toàn cầu hóa phải chịu trách nhiệm trước tình trạng đói khổ, bần cùng hàng loạt, thiếu tự do và đè nén, áp bức là không đúng. Làm như vậy là đánh tráo nguyên nhân và kết quả.  Toàn cầu hóa không gây nên tình trạng đói nghèo trên diện rộng ở châu Phi, châu Á hay Mỹ La tinh. Ngược lại nó giúp cho các nước nghèo ở đây nâng cao mức sống bình quân của mình.    Cuộc khủng hoảng tài chính làm biến đổi quá trình toàn cầu hóa   Những nước bên ngoài Bắc Mỹ và châu Âu trong tương lai sẽ không chấp nhận vai trò là những công xưởng kéo dài. Họ cũng sẽ không còn hài lòng khi chỉ là trụ sở của các hãng con hoặc chỉ là nhà cung cấp cho các tập đoàn phương Tây. Toàn cầu hóa không thể tiếp tục là con đường một chiều.  Điều này chính là hậu quả thực sự của cuộc khủng hoảng tài chính: Trong quá trình toàn cầu hóa này phương Tây sẽ không còn là trung tâm và các châu lục khác bám quanh nó chỉ đóng vai trò chầu rìa. Thay vào đó sẽ hình thành một mạng lưới trải rộng trên toàn thế giới với sự tham gia của các đối tác khác nhau nhưng bình đẳng với nhau để cùng thúc đẩy quá trình phân công lao động trên toàn thế giới.  Những thành viên mới của toàn cầu hóa sẽ tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp và cung cấp các dịch vụ đa dạng, phong phú như các quốc gia phương Tây. Về phần mình, các quốc gia này sẽ ngày càng có nhiều trọng lượng hơn trên nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới. Trước hết họ đi đầu về mặt giá thành và chẳng chóng thì chày, các nước đó thậm chí sẽ đi đầu cả về mặt công nghệ trên thị trường thế giới.   Những nước này sẽ không để cho toàn cầu hóa bị chấm dứt vào lúc này và họ coi đây chỉ là đoạn kết của sự mở đầu.               XUÂN HOÀI dịch (Spiegel 27.5.09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp tục tiêm vaccine, châu Âu chuẩn bị trở lại cuộc sống bình thường      Sau khi nhiều nước đã tiêm được vaccine cho ít nhất một nửa dân số, các nước Châu Âu ứng xử với đại dịch có phần khác nhau. Một số nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân, số khác lại muốn thi hành tiêm chủng bắt buộc. Sau đây là một cái nhìn tổng quan.      Ảnh: BBC  Vương quốc Anh   Cách đây ba tuần chính phủ Anh hầu như đã hủy bỏ hầu hết các hạn chế đi lại và kêu gọi mọi công dân hãy tự chịu trách nhiệm. Những người phê bình cảnh báo về khả năng tăng lây nhiễm tuy nhiên cho đến nay điều này không xảy ra. Từ giữa tháng bẩy, số ca lây nhiễm mới giảm đi nhưng những ngày gần đây lại có xu hướng tăng ở giới trẻ.   Anh triển khai chiến dịch tiêm chủng khá sớm so với các nước khác ở Châu Âu, hiện 2/3 người trưởng thành đã tiêm chủng đầy đủ. Nay nhà nước nhắm vào giới trẻ: bước tiếp theo là tiêm chủng cho 1,5 triệu thanh thiếu niên từ 16-17 tuổi.  Đẩy mạnh vận động giới trẻ tham gia tiêm chủng. Tóm lại nước Anh chủ trương tiếp tục mở rộng tiêm chủng thay vì bàn bạc về các biện pháp đối với người đã tiêm chủng và không tiêm chủng – đồng thời bảo đảm quyền tự do cho mọi người. Không có chủ trương áp dụng thẻ tiêm chủng.  Đan Mạch  Hầu như không có nước nào ở Châu Âu có cuộc sống gần như đã trở nên bình thường như Đan Mạch. Từ giữa tháng sáu hầu như không ai còn đeo khẩu trang, tuy nhiên khi sử dụng các phương tiện giao thông cộng cộng thì vẫn phải đeo khẩu trang. Khi vào các nhà hàng, rạp hát, bảo tàng người Đan Mạch phải có giấy chứng nhận âm tính, thẻ tiêm chủng hoặc chứng chỉ đã bình phục. Những hồ sơ này được lưu trong Hộ chiếu Corona App.  Mới đây Quốc Hội Đan Mạch quyết định mọi quy định trên sẽ hủy từ ngày 1 tháng 10. Mọi công dân có quyền tự do như nhau dù có hay không tiêm chủng.   Tuy còn có các ca lây nhiễm mới, nhưng hầu như không có ca tử vong cũng như diễn biến bệnh nặng. Hiện đã có 74% số dân trong độ tuổi đã tiêm chủng đầy đủ. Đến cuối tháng 8 công dân trên 16 tuổi đều có thể tham gia tiêm chủng nếu muốn.   Italia  Italia áp dụng chiến lược hai đường ray song song đối với Corona. Một mặt nước này hạn chế quyền của những người không tiêm chủng từ tuần qua. Vì vào nhà hàng, bảo tàng, rạp hát phải có thẻ tiêm chủng Corona, hoặc đã bình phục và xét nghiệm âm tính. Với một số ngành nghề như viên chức, nhà giáo, y tế thì bắt buộc phải tiêm chủng,  không có thẻ tiêm chủng buộc nghỉ việc không lương.  Đồng thời, mô hình phân cấp tiếp tục tồn tại, phân loại các khu vực theo mức độ rủi ro với Corona để đưa ra các hạn chế tương ứng. Nếu số ca lây nhiễm Corona tiếp tục tăng như hiện tại ở một số khu vực, chẳng hạn như Sardinia và Sicily có thể sẽ rơi vào danh mục rủi ro màu vàng vào cuối tháng –  sau đó tất cả cư dân ở đó sẽ lại phải thực hiện các quy định chặt chẽ hơn đối với Corona như áp dụng giờ giới nghiêm – bất kể đã được tiêm chủng hay chưa.   Thụy Sỹ  Tại Thụy Sỹ, chính phủ muốn bắt đầu giai đoạn “bình thường hóa” một cách nhanh nhất, hiện nay hầu như mọi biện pháp ngăn ngừa virus Corona đều đã được dỡ bỏ. Chỉ vài tuần gần như mọi công dân Thụy sỹ muốn tiêm chủng đều sẽ được tiêm chủng và kết thúc hoạt động này.   Bộ trưởng Y tế Alain Berset mới đây tuyên bố tới đây chỉ số quan trọng nhất của đại dịch không còn là việc bảo vệ những người chưa tiêm chủng như hiện nay, mà là số người bị lây nhiễm phải điều trị tại bệnh viện. Ông này cho rằng: “Sẽ không công bằng, nếu những người đã tiêm chủng vì những người chưa tiêm chủng mà phải chịu một số hạn chế.”  Tuy nhiên cũng trong bài phỏng vấn trên tờ SonntagsZeitung và Le Matin Dimanche Berset cho biết Chính phủ sẽ làm mọi điều để không phải ra chỉ thị đóng cửa (lockdown) một lần nữa và không dỡ bỏ các hạn chế nhẹ hiện nay là đeo khẩu trang và trình chứng chỉ COVID một cách liều lĩnh. Vì nếu không làm tốt thì có nguy cơ phải áp dụng các biện pháp chặt hơn vào mùa thu này. Vẫn còn quá sớm để điều trị COVID-19 như bệnh cúm, “điều này chỉ có thể xảy ra khi có thể loại trừ nguy cơ các bệnh viện quá tải. Và rất tiếc, hiện nay chưa làm được điều đó”, Berset nói.   Mặc dù nới lỏng nhưng cũng để giúp Thụy Sỹ tránh được một đợt đóng cửa lần nữa, thì yêu cầu về chứng chỉ COVID đang có sự điều chỉnh. Những nơi yêu cầu phải có chứng chỉ COVID thì trong tương lai có thể thu thập dữ liệu về sự tiếp xúc để khi bùng phát sự cố có thể nhanh chóng tiến hành truy vết dịch tễ tìm ra người liên đới.    Pháp  Trong các nước EU, Pháp đang đi đầu trong việc thi hành các hạn chế với những người không chịu tiêm chủng: Tổng thống  Emmanuel Macron hồi giữa tháng 7 đã tuyên bố, ai không có thẻ tiêm chủng chứng minh đã tiêm chủng, đã bình phục hoặc test âm tính sẽ không được đi xe lửa, không vào các tiệm ăn và các bảo tàng.  Những quy định này được áp dụng từ tuần này và sang mùa thu sẽ áp dụng cho trẻ em trên 12 tuổi. Chủ trương này hết sức rõ ràng, Tổng thống muốn mọi người dân phải nhanh chóng  tham gia tiêm chủng. Người Pháp không muốn lại phải phong tỏa một lần nữa và thực sự là người ta đã quá mệt mỏi bởi các hạn chế thời gian qua.  Áo   Cuộc chiến chống lại đại dịch của Áo dựa trên nguyên tắc 3G: Trong nhiều lĩnh vực của đời sống công cộng, chỉ những người đã được tiêm chủng, hồi phục hoặc xét nghiệm âm tính mới được tham gia. Kể từ ngày 1 tháng 7, các quy tắc này cũng áp dụng cho những trẻ em từ 12 tuổi trở lên. Một yếu tố quan trọng của chiến lược này là các xét nghiệm nhanh, hiện miễn phí ở hầu hết các nơi ở Áo – ngay cả đối với khách du lịch.   Ở Áo đang diễn ra các cuộc tranh luận về việc trong tương lai có thu phí xét nghiệm hay không, cả vấn đề hạn chế các quyền của người không tiêm chủng cũng được thảo luận xem có phù hợp về mặt pháp lý hay không. Mọi người đều nhận thức việc phải tránh trường hợp phải phong tỏa lại vào mùa thu này. Hiện nay Áo có khoảng 60% dân số tiêm chủng một lần.   Ba Lan   Ba Lan đã làm cho đại dịch biến ra khỏi cuộc sống hàng ngày của họ –  ít ra là không còn có các biện pháp hạn chế. Các quán ăn, nhà hàng đều mở cửa trở lại và khá đông đúc, nhộn nhịp… nhìn chung hầu như tình hình đã trở lại như trước thời có đại dịch. Hầu như ít ai đeo khẩu trang, người ta không cần xét nghiệm âm tính để được vào nhà hát hay rạp chiếu phim.   Thực ra các quy định hạn chế ở Ba lan như các cuộc họp mặt, lễ lạt không được tụ tập quá 150 người tính vẫn còn được áp dụng đến 31 tháng 8 tuy nhiên giờ không mấy ai để ý đến các quy định này. Chỉ có một vài nhà chức trách nhắc đến một làn sóng thứ tư đầy khốc liệt, vì mới có 49% người Ba Lan tiêm chủng một lần. Không loại trừ khả năng Ba Lan lại phải trở lại với các hạn chế về tiếp xúc trong mùa thu tới. Jaroslaw Kaczynski, thủ lĩnh đảng cầm quyền Pháp luật và công lý (PiS) mới đâu cho biết “Nhà nước sẽ làm tất cả để bảo vệ công dân của mình trước dịch bệnh”.    Xuân Hoài tổng hợp   Nguồn: welt.de; swissinfo.ch;       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp tục triển khai dự án Nhân Cơ, thiệt hại sẽ lớn hơn nhiều      Trước tiên cần nói rõ, vì dự án Tân Rai đang  trong giai đoạn chờ chạy thử để nghiệm thu các thông số bảo hành  (Perfomance Test), nên chưa có nhà khoa học nào “dám” đề xuất dừng dự án  Tân Rai (Tân Rai đã có tổng mức đầu tư lên tới 15.118 tỷ VND, đã ra sản  phẩm). Nhưng đối với dự án Nhân Cơ, căn cứ  vào các số liệu do TKV công bố tại cuộc hội thảo ngày 9/5 vừa qua, thì  “mọi con đường (số liệu) đều dẫn đến thành Rome (dừng dự án)”.     Cụ thể như sau (xin nhắc lại là căn cứ vào số liệu của TKV):  1/ TKV tuyên bố đã triển khai 72/73 hạng mục. Mặc dù, đây chỉ là những hạng mục trong hàng rào nhà máy, nhưng khối lượng hoàn thành mới chỉ đạt 51%. Trong khi đó, những hạng quan trọng khác thuộc hạ tầng của nhà máy đã được Bộ Chính trị yêu cầu đẩy mạnh thì đến nay vẫn chưa được triển khai, đó là các hạng mục về GTVT và cấp nước.  Về GTVT, những hạng mục có liên quan đến Nhân Cơ gồm: xây dựng mới 40km đường để nối QL14 với QL 28 từ Nhân Cơ đến Quảng Sơn; nâng cấp khoảng 20 km đường công vụ của thủy điện Đồng Nai 4 về Bảo Lâm; và làm đường tránh phía tây thị xã Bảo Lộc. Tổng mức đầu tư phải tăng thêm khoảng 100 triệu U$.  Về cấp nước, với công nghệ tiêu hao nhiều nước (giống như Tân Rai), để cấp đủ nước cho dự án Nhân Cơ, chủ đầu tư cần nâng cao đập nước của 2 hồ Nhân Cơ và cả hồ Cầu Tư (2 hồ này có dung tích chứa tổng cộng khoảng 2 triệu m3 nước đang còn thiếu cho cây công nghiệp, đòi hỏi phải nâng cao đập để nâng thêm dung tích chứa để dùng cho alumina). Việc nâng cấp cả 2 hồ này là bắt buộc (giống như dự án Tân Rai dùng nước của hồ Cai Bảng).  2/ Từ tháng 2/2010 đến 3/2013, sau 25 tháng, tổng mức đầu tư (trước thuế VAT) của dự án Nhân Cơ đã tăng thêm 3.523 tỷ đồng (sau thuế VAT là 4.394 tỷ đ). Như vậy tổng mức đầu tư đã tăng lên với tốc độ bình quân 1,3%/tháng, tương đương với 141 tỷ đ/tháng. Dự án Tân Rai trước đây cũng có tăng nhưng tốc độ thấp hơn. Trong khi đó, TKV đã công bố “… do nhiều nguyên nhân, dự án dự kiến chậm khoảng 1,5 năm”.  Như vậy, nếu TKV tiếp tục triển khai, và không thay đổi cách tổ chức quản lý dự án Nhân Cơ thì tổng mức đầu tư sẽ còn tiếp tục tăng thêm (do chưa triển khai các hạng mục hạ tầng và do quản lý dự án kém) ít nhất 5.000 tỷ đồng nữa.  3/ Về hiệu quả kinh tế: Cũng theo số liệu của TKV, mặc dù đã có “kinh nghiệm” của dự án Tân Rai, các kết quả phân tích của dự án Nhân Cơ xấu hơn nhiều so với của Tân Rai. Cụ thể, so với Tân Rai: Chi phí xây dựng tăng 1,35 lần, chi phí quản lý dự án tăng 1,66 lần; chi phí dự phòng tăng 1,56 lần; tổng giá trị lỗ tăng 2,4 lần; số năm lỗ là 7 năm, tăng hơn 1,4 lần; tổng giá trị lỗ tăng 2,4 lần v.v.  Ngoài ra,   a/ TKV còn chưa tính hết chi phí: Cũng theo số liệu của TKV, mặc dù cung độ vận chuyển cấp than và xút cho Nhân Cơ dài hơn so với Tân Rai (khoảng 100-120km nữa), nhưng “đơn giá cho 1 tấn nguyên liệu đầu vào” cho Nhân Cơ cũng bằng cho Tân Rai và chi phí vận chuyển tiêu thụ alumina (đầu ra) của Nhân Cơ (chỉ có 528.500 đ/t) chỉ cao hơn của Tân Rai (478.500 đ/t) có 50.000 đ/tấn. Nếu tính đúng và tính đủ, các chỉ tiêu kinh tế của dự án Nhân Cơ còn xấu hơn nhiều so với Tân Rai.  b/ TKV chưa tính đúng doanh thu: Theo tính toán của TKV, “số năm lỗ kế hoạch” là 7,00 năm, “tổng giá trị lỗ” là 2.479 tỷ đồng, và “thời gian thu hồi vốn (kể từ sau khi đi vào hoạt động)” là 12,99 năm.  Như vậy, theo giải trình của TKV, trong vòng 5,99 năm, để “thu hồi vốn”, dự án Nhân Cơ phải có lãi ít nhất (trước thuế TNDN) để “thu hồi” 14.889 tỷ vốn đầu tư (trước VAT và đã trừ giá trị thu hồi) + 2.479 tỷ “tổng giá trị lỗ” = 17.368 tỷ đồng. Tức, bình quân 1 năm lãi trước thuế của Nhân Cơ phải là 3.449 tỷ đ/năm. Trong khi, tại hội thảo, TKV chỉ “vẽ” ra được “lợi nhuận trước thuế” của Nhân Cơ bình quân có 1.033 tỷ/năm, còn “thiếu” -2.416 tỷ/năm để hoàn được vốn trong vòng 12,99 năm.  Tóm lại, báo cáo tại Hội thảo 9/5 của TKV cho thấy rõ:  (i) So với dự tính trước đây của TKV, kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của cả 2 dự án đã xấu đi rất nhiều. Trong đó, dự án Nhân Cơ xấu hơn so với Tân Rai;  (ii) So với báo cáo của Bộ Công Thương tại kỳ họp thứ 5 của Quốc Hội khóa XII, rủi ro không thu hồi được vốn đã tăng lên: chỉ tiêu IRR của dự án Tân Rai giảm từ 11,4%/năm xuống còn 8,21%, và dự án Nhân Cơ giảm từ 10,6%/năm xuống còn 7,62%/năm;  (iii) Càng sớm dừng dự án Nhân Cơ, càng giảm được tổn thất.  (iv) Số liệu của cả 2 dự án còn nhiều mâu thuẫn, cần được kiểm toán sớm để có căn cứ xác định chính xác hiệu quả kinh tế hay mức độ thiệt hại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết kiệm điện với đèn Led Bình Minh      Nhờ các tính năng vượt trội so với các loại  bóng đèn thông thường như hiệu suất cao, nhiệt lượng tỏa ra thấp, cường  độ ánh sáng lớn…, đèn Led Bình Minh do GS.TS. Trần Văn Tín nghiên cứu  chế tạo đã ký được hợp đồng mở rộng sản xuất và xuất khẩu.       Hiện nay, công nghệ sản xuất sản phẩm bóng đèn Led tiết kiệm điện đã được quảng bá rộng rãi và phân phối đến nhiều tỉnh thành trên cả nước với số lượng hàng triệu chiếc. Không chỉ dừng lại ở đó, bóng đèn Led còn được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Venezuela  Tham gia chương trình Sáng tạo Việt 2013, GS.TS. Trần Văn Tín, công ty cổ phần điện tử ICEVN, đã mang đến sản phẩm Bóng đèn Led tiết kiệm điện (bóng đèn Led Bình Minh). Khi dùng thử nghiệm, sản phẩm Led Bình Minh đã gây ấn tượng mạnh bởi so với các loại bóng đèn thông thường, đèn Led tiết kiệm điện tới 70% điện năng tiêu thụ trên cùng một diện tích chiếu sáng. Hơn thế, sản phẩm của GS.TS Trần Văn Tín còn vượt trội về các yếu tố khác như độ bền bóng đèn, giảm thiểu tối đa chi phí nhân công thay thế, bảo dưỡng cho mọi công trình, giảm thải khí CO2, qua đó góp phần bảo vệ môi trường.  Những ưu điểm khác của bóng đèn Led Bình Minh là hoạt động với hiệu suất cao, nhiệt lượng tỏa ra thấp, cường độ ánh sáng lớn mà tuổi thọ của bóng lại cao hơn tới năm lần so với bóng đèn compact và tới 35 lần so với bóng đèn sợi đốt nên tiết kiệm chi phí đầu tư dây dẫn, hạn chế nguy cơ cháy nổ. Với những ưu thế cạnh tranh nổi bật này, bóng đèn Led Bình Minh được đánh giá có nhiều khả năng ứng dụng rộng rãi trong đời sống sinh hoạt và trong sản xuất kinh doanh.   Để mở đường cho sản phẩm sớm đến với người tiêu dùng, BTC chương trình Sáng tạo Việt đã phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học và công nghệ tổ chức ký kết thương mại hóa sáng chế sản phẩm bóng đèn Led Bình Minh vào ngày 25-12-2013. Ngay tại lễ ký kết, tác giả Trần Văn Tín đã giới thiệu và ký hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty TNHH Vạn Mỹ Phú để đầu tư, mở rộng sản xuất.   Hiện nay, công nghệ sản xuất sản phẩm bóng đèn Led tiết kiệm điện đã được quảng bá rộng rãi và phân phối đến nhiều tỉnh thành trên cả nước với số lượng hàng triệu chiếc. Không chỉ dừng lại ở đó, bóng đèn Led còn được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Venezuela…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết kiệm hàng triệu đô la từ xe tải tự lái      Một xe tải không người lái đã chạy thử 200 km trên đường cao tốc ở tiểu bang Colorado để vận chuyển bia lon. Ước tính, Uber sẽ tiết kiệm được hàng triệu đôla mỗi năm nhờ loại hình vận tải này.      Sau tắc xi không người lái, giờ đây đến lượt xe tải không người lái cũng bắt đầu lăn bánh với sự nhập cuộc của Uber. Vào tuần qua, một xe tải tự lái đã chạy thử trên đường cao tốc từ Fort Collins tới Colorado Springs (Mỹ) – dù không tham gia vào việc lái xe nhưng tài xế vẫn có mặt trên xe phòng hờ bất trắc. Chuyến hàng đầu tiên của Uber là chở 50.000 lon bia của hãng Anheuser-Busch ở InBev. Chuyến đi thử nghiệm này kéo dài khoảng hai tiếng đồng hồ với quãng đường dài 200 km.  Chuyến xe thử nghiệm đã đưa Uber lên vị trí tiên phong trong lĩnh vực vận chuyến hàng thương mại bằng xe tải tự lái. Yếu tố mấu chốt giúp Uber đạt thành công này là họ sử dụng hệ thống điều khiển tự động của Otto, một doanh nghiệp khởi nghiệp mới được thành lập trong tháng 1/2016. Nhận xét về sự kiện này với Bloomberg, Lior Ron, một trong những người đồng sáng lập start-ups Otto cho biết, chiếc xe tải tự lái đã chứng minh công nghệ mà Uber áp dụng thí điểm có thể được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn. Hệ thống điều khiển tự động của Otto cho phép tài xế được nghỉ ngơi trên một quãng đường dài.  Để chuẩn bị cho chuyến đi này, Otto đã đo đạc lại chính xác tuyến đường và thực hiện một số công việc khác trong vòng hai tuần lễ. Dù mọi thứ đã được chuẩn bị ổn thỏa nhưng để đảm bảo an toàn, trong chuyến đi đầu tiên này còn có cảnh sát hộ tống và tài xế phải lái xe trên những đoạn đường quan trọng như trong nội đô, rời đường cao tốc…  Theo tính toán của Bloomberg, nếu vận chuyển hàng hóa bằng mạng lưới xe tải tự lái thì Mỹ có thể tiết kiệm tới 50 triệu đôla mỗi năm, cho dù vẫn cần tài xế đi cùng để giám sát. Khoản tiết kiệm này chủ yếu từ việc giảm lượng tiêu thụ nhiên liệu và duy trì nghiêm ngặt lịch giao hàng.   Nhận thấy lợi nhuận từ xe tải tự lái, Uber đã mua lại doanh nghiệp khởi nghiệp Otto vào tháng 7 vừa qua để độc chiếm công nghệ. Sau đó, Uber bắt đầu thử nghiệm vận chuyển hành khách bằng xe bus tự lái tại thành phố Pittsburgh thuộc tiểu bang Pennsylvania. Lior Ron cho hay, Uber không có kế hoạch sản xuất xe tự lái mà chỉ muốn hợp tác với các hãng sản xuất xe tải để cung cấp công nghệ, như cách Uber đã từng làm đối với xe cá nhân tự lái với Volvo. Các cuộc thương thảo về vấn đề xe tải tự lái hiện mới ở giai đoạn đầu.  Bắt kịp xu hướng này, nhiều doanh nghiệp ô tô đang bắt đầu tiếp cận và làm việc với các công nghệ ô tô tự lái. Tuy chưa thể đưa ra được một dự đoán chính xác nhưng khả năng áp dụng thành công công nghệ này ở lĩnh vực vận tải có thể sẽ dẫn đến nhiều đổi thay trong tương lai.  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/auto/uber-otto-und-anheuser-busch-roboter-lastwagen-liefert-50-000-dosen-bier/14737190.html       Author                Hoài Trang        
__label__tiasang Tiết kiệm tiền tỷ trong việc phục hồi các cây cầu      Bị hoen gỉ, rạn nứt – hàng ngàn cây cầu ở  châu Âu cần được phục hồi với chi phí lên tới hàng tỷ Euro. Nhờ những  giải pháp mới, việc phục hồi các cây cầu có thể thực hiện nhanh hơn và  ít tốn kém hơn.     Các chính phủ thường thiên về xu hướng phá dỡ những công trình cầu, cống bị xuống cấp nghiêm trọng để thay bằng những công trình xây mới. Tuy nhiên gần đây đã xuất hiện các loại vật liệu xây dựng mới, giải pháp mới phục vụ việc sửa chữa, gia cố và bảo vệ, cho phép hạn chế tối đa việc dỡ bỏ gây lãng phí không cần thiết.   Bê-tông tự điều trị   Hiện nay các nhà khoa học đã thành công trong việc phát triển hỗn hợp bê-tông và nhựa đường có khả năng tự điều trị và hàn gắn những vết rạn/nứt nguy hiểm mà từ đó nước ngấm vào, gây hoen gỉ cốt thép trong bê-tông. “Loại bê-tông tự điều trị có thể làm tăng gấp đôi tuổi thọ các công trình xây dựng sau khi được cải tạo, phục hồi”, Erik Schlangen, nhà nghiên cứu về vật liệu thuộc Đại học Kỹ thuật Delft (Hà Lan), nhận xét.   Erik Schlangen phối trộn trong phòng thí nghiệm các loại vi khuẩn bê-tông có những cái tên như Bacillus B2-E2–1, Bacillus pseudofirmus DSM 8715 và Bacillus cohnii DSM 6307. Bình thường, vi khuẩn ngủ trong vật liệu xây dựng dưới dạng bào tử bất động. Khi tiếp xúc với nước ngấm qua các vết rạn/nứt, bào tử sinh sôi nẩy nở rất nhanh và tạo ra calcium carbonate dạng rắn, một loại khoáng chất mầu trắng có khả năng phủ đầy vết rạn/nứt. Có thể coi đây là một dạng hàn gắn từ bên trong.    Loại bê-tông này có tính kiềm rất cao, vì vậy có thể diệt mọi sự sống trong một thời gian ngắn. Để tránh điều này xảy ra, các nhà nghiên cứu đã bọc loại thuốc hàn vết thương kỳ diệu này bằng loại một loại khoáng chất đất sét dạng bọt. Schlangen cho hay, trong tự nhiên, loại bào tử Bacillus có thể tồn tại hơn 200 năm và có thể tồn tại trong bê-tông lâu hơn bất kỳ một cây cầu hay đường ngầm nào.  Các nhà khoa học thuộc nhóm của ông cũng phát triển một dạng bê-tông phun có khả năng tự chữa trị để hàn gắn những cây cầu bị hư hại. Nội trong vài ba ngày, người thợ có thể dùng chất liệu này xử lý những công trình bị hư hỏng, vì vậy hoạt động của từng tuyến đường chỉ phải ngưng trong một thời gian ngắn.   Giá loại bê-tông đặc biệt này cao hơn loại bê-tông thông thường trên thị trường khoảng 25% . Tuy vậy nếu tuổi thọ của cây cầu tăng lên rõ rệt và giảm chi phí bảo dưỡng thì có thể tiết kiệm được tiền của.  Các nhà nghiên cứu còn trộn bê-tông với chất có khả năng thấm hút mạnh có trong tã giấy. Chất này khi gặp ẩm sẽ giãn nở trong các vết nứt, từ đó ngăn không để nước thấm qua. Trong một số dự án khác, các nhà khoa học trộn vật liệu xây dựng với những viên nang chứa keo dính. Khi bê-tông bị nứt, các viên nang vỡ ra làm cho keo dính tràn ra và trở nên rắn chắc. Kết quả thử nghiệm ban đầu rất khả quan.  Trên đường cao tốc A58 ở phía nam Hà Lan, các nhà nghiên cứu thậm chí còn thử nghiệm mặt đường tự chữa trị: họ trộn sợi thép vào nhựa đường. Khi mặt đường bị rạn nứt, họ sẽ làm nóng các sợi thép bằng từ trường. Nhựa đường xung quanh sợi thép sẽ tan chảy và hàn kín kẽ nứt.   Theo tính toán của các chuyên gia Hà Lan, việc phục hồi các cây cầu có lõi thép và bê-tông theo phương pháp này tốt hơn, do đó tuổi thọ cây cầu tăng gấp đôi. Giờ đây họ chủ trương hoàn thiện về kỹ thuật để có thể áp dụng rộng rãi phương pháp này. Theo các nhà sáng chế thì khoản tiền tiết kiệm cho mỗi km đường lên đến hàng trăm nghìn Euro.  Dây đai gia cố cầu bằng sợi carbon   Sửa chữa những cây cầu vượt bị xuống cấp nghiêm trọng bằng cách phủ thêm một lớp bê-tông chức năng mới không có ích lợi gì. Cần phải gia cố những cầu vượt đó để chúng có thể chịu tải lớn hơn. Cho đến nay, biện pháp phổ biến là căng thêm những dây cáp thép ở trong hộp cầu, (phần rỗng phía trong cây cầu) để gia cố. Tuy nhiên kỹ thuật này cũng có hạn chế: thường tuổi thọ cây cầu cũng chỉ kéo dài thêm mươi năm. Bên cạnh đó, khối lượng thép gia cố còn làm cho trọng lượng bản thân cây cầu tăng đáng kể và cầu có thể bị sập nếu gia cố vô hạn độ.   Vì vậy ở Úc, Canada, Thuỵ Sĩ và Áo từ lâu người ta đã thay thế dây cáp thép bằng dây đai sợi carbon. Những sợi carbon rộng khoảng vài cm sẽ được dán vào lớp bê-tông trong hộp cầu. Cách này nhanh gấp đôi so với hàn thép. Hơn nữa trong quá trình tu bổ việc đi lại trên cầu không bị ngừng trệ.   Năm nay, sợi carbon đã được phép lưu hành tại Đức và trong tương lai sẽ được sử dụng ngày càng phổ biến trong ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng như ngành hàng không.   Bê-tông cốt vải   Các kỹ sư cầu đường cũng đang thử nghiệm trộn sợi thuỷ tinh hay sợi carbon cực mỏng với bê-tông. Chỉ cần vài tấm chất liệu mỏng, mềm mại này cũng đủ làm cho bê-tông cốt vải (textile-reinforced concrete) có sức chịu tải không kém gì bê-tông cốt thép, hơn nữa lại không bao giờ bị hoen gỉ.  Giới chuyên gia coi bê-tông cốt vải là vật liệu xây dựng của thế kỷ 21. Nhiều doanh nghiệp có tên tuổi như Bilfinger hay Strabag đã dùng chất liệu này trong xây dựng. Tại Đức các kỹ sư đã xây dựng ba cây cầu dành cho người đi bộ và đi xe đạp mà tất cả các dầm cầu chỉ dày khoảng vài cm. Vấn đề đặt ra là liệu có thể áp dụng những kiến thức thu được đối với đường cao tốc dành cho xe ô tô hay không.   Tuy sợi carbon đắt hơn thép tới 20 lần nhưng xét đến cùng thì dùng vật liệu này vẫn có hiệu quả kinh tế cao hơn vì người ta chỉ phải sử dụng một khối lượng rất nhỏ so với thép. Hơn nữa chất liệu này không bị gỉ, do đó tuổi thọ của công trình cao hơn nhiều.   Điều quan trọng hơn là, đối với những cây cầu có nguy cơ bị dỡ bỏ do có thể bị sập nếu tiếp tục gia cố bằng nguyên liệu thép, thì việc gia cố bằng bê-tông cốt vải có thể giúp tăng tuổi thọ lên vài ba chục năm.   Bê-tông siêu rắn   Một phương pháp nữa đã được áp dụng thành công là bê-tông siêu rắn (ultra high-strength concrete), chứa những sợi thép dài 1-2cm. Vật liệu này không những siêu bền mà còn có khả năng chịu tải cao hơn từ 5 đến 10 lần so với bê-tông thông thường. Bề mặt của nó lại nhẵn và kín đến mức nước hoặc sương muối hầu như không thể thẩm thấu.  Cho đến nay vật liệu chuyên dụng này được sử dụng trong những tháp làm lạnh, nơi loại bê-tông cốt thép thông thường bị hoen gỉ khá nhanh. Một số doanh nghiệp Hà Lan và Pháp đang ứng dụng ngày càng nhiều loại vật liệu này vào việc phục hồi các cây cầu.   Mặc dù loại bê-tông siêu rắn đắt hơn bê-tông tiêu chuẩn từ 4 đến 5 lần nhưng các chủ công trình thấy sử dụng nó nhiều khi lại giúp tiết kiệm chi phí tới 10%. Vì chúng có khả năng chịu lực cao nên kết cấu công trình gọn nhẹ hơn, do đó nhu cầu về vật tư giảm rõ rệt.  Những loại bê-tông mới này còn có một ưu điểm có ý nghĩa quyết định: do các cấu kiện của cây cầu giờ đây nhẹ hơn nhiều so với trước, công nhân xây dựng không bị buộc phải đổ bê-tông ngay tại công trường mà có thể sản xuất trong nhà máy, sau đó vận chuyển bằng xe tải ra công trường và người thợ chỉ cần lắp các cấu kiện lại với nhau là xong.   Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết lộ các chi tiết mới về điều diễn ra trong phần triệu giây đầu Big Bang      Các nhà nghiên cứu ở trường đại học Copenhagen đã tìm ra điều xảy ra trong một dạng plasma cụ thể – vật chất đầu tiên hiện diện trong vũ trụ – trong suốt một phần triệu giây đầu tiên của Big Bang (một microsecond bằng 0,000001 giây hoặc 10−6 hoặc 1⁄1.000.000 giây).      Phát hiện của họ đem lại một miếng ghép cho bài toán về sự tiến hóa trong vũ trụ này như chúng ta biết ngày nay.  Khoảng 14 tỉ năm trước, vũ trụ của chúng ta thay đổi từ một trạng thái nóng hơn và đậm đặc hơn sang giãn nở một cách hoàn toàn – một quá trình mà các nhà khoa học đã gọi là Big Bang.  Và ngay cả dẫu chúng ta biết là sự giãn nở nhanh này tạo ra các hạt, các nguyên tử, các ngôi sao, các thiên hà và sự sống như chúng ta biết ngày nay nhưng các chi tiết về cách nó diễn ra như thế nào vẫn còn chưa rõ.  Hiện tại, một nghiên cứu mới “Measurements of mixed harmonic cumulants in Pb–Pb collisions at sNN=5.02 TeV” xuất bản trên tạp chí Physics Letters B của các nhà nghiên cứu trường đại học Copenhagen đã tiết lộ những cái nhìn mới về cách chúng bắt đầu như thế nào.  “Chúng tôi đã nghiên cứu về quark-gluon plasma – một trạng thái của vật chất vốn chỉ tồn tại trong một phần triệu giây đầu tiên của Big Bang. Các kết quả của chúng tôi cho thấy một câu chuyện độc nhất vô nhị về cách plasma này tiến hóa trong giai đoạn sớm của vũ trụ này”, You Zhou, phó giáo sư tại Viện nghiên cứu Niels Bohr, trường đại học Copenhagen, nói.  “Đầu tiên, plasma bao gồm các hạt quark và các gluon đã bị tách ra do giãn nở nóng của vũ trụ. Sau đó những miếng ghép của quark tái hình thành thành hạt gọi là các hadron. Một hardron với ba hạt quark tạo ra một proton, vốn thuộc về lõi nguyên tử. Các lõi này là những khối cơ bản cấu tạo nên trái đất, của chúng ta và vũ trụ xung quanh chúng ta”, anh cho biết thêm.  Từ dạng chảy trôi đến các khối cơ bản hùng mạnh của sự sống    Quark-gluon plasma (QGP) đã hiện diện trong một phần triệu giây đầu tiên của Big Bang, và sau đó biến mất do sự giãn nở với vũ trụ. Nhưng bằng việc sử dụng Large Hadron Collider tại CERN, các nhà nghiên cứu đã có thể tái tạo được thứ vật chất đầu tiên trong lịch sử vũ trụ và truy dấu xem cái gì diễn ra với nó.  “Cái máy gia tốc này cho va chạm các ion từ plasma với một vận tốc cực lớn – hầu như giống vận tốc ánh sáng. Điều này khiến chúng ta có thể nhìn thấy cách QGP tiến hóa từ thứ vật chất của chính nó thành lõi của các nguyên tử và các khối cơ bản của sự sống”, You Zhou nói.  “Thêm vào việc sử dụng cỗ máy gia tốc hạt lớn Large Hadron Collider, các nhà nghiên cứu cũng đã phát triển một thuật toán có thể phân tích sự mở rộng chung của nhiều hạt được tạo ra tại một thời điểm nhiều hơn trước kia. Các kết quả đó chứng tỏ QGP hữu dụng dưới dạng một hình thức lỏng mềm mại và có thể tự phân biệt với vật chất khác bằng thay đổi một cách liên tục hình dạng theo thời gian.  “Trong một thời gian dài, các nhà nghiên cứu cho rằng dạng plasma này là một hình thức của khí nhưng phân tích của chúng tôi xác nhận đo đạc quan trọng mới, nơi Hadron Collider chứng tỏ QGP có một kết cấu mềm mại, chảy trôi như nước. Những chi tiết mới do chúng tôi cung cấp cho thấy dạng plasma này đã thay đổi hình dạng của mình theo thời gian, vốn hoàn toàn khác biệt với bất kỳ vật chất nào mà chúng ta biết và những gì chúng ta có thể chờ đợi”, You Zhou nói.  Tiến gần thêm một bước với sự thật về Big Bang  Ngay cả khi nghĩ điều này có thể chỉ là một chi tiết nhỏ, nó cũng mang các nhà vật lý tiến thêm một bước gần hơn với việc giải bài toán Big Bang và cách vũ trụ phát triển trong phần triệu giây đầu tiên, anh nhấn mạnh.  “Mỗi khám phá là một viên gạch có thể mang đến cho chúng tôi cơ hội phát hiện ra sự thật về Big Bang. Chúng tôi đã mất tới 20 năm để phát hiện ra quark-gluon plasma rất chảy trôi trước khi nó thay đổi thành các hadron và các khối cơ bản của sự sống. Do đó, hiểu biết mới về hành xử của plasma là một đột phá với chúng tôi”, You Zhou kết luận.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-reveals-microsecond-big.html  https://www.nbi.ku.dk/english/news/news21/study-reveals-new-details-on-what-happened-in-the-first-microsecond-of-big-bang/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết lộ dấu di truyền của loài cam chanh ở Okinawa      Các quả thuộc chi Cam chanh (Citrus) trong họ Quýt hồng (mandarin family) đều phổ biến trên thế giới bởi những đặc tính riêng có về hương vị và hữu ích với sức khỏe. Tại Nhật Bản, quả shiikuwasha (Citrus depressa, tiếng Việt gọi là chanh lõm) nhỏ bé và quả cam tachibana đều là những loại quả được nuôi trồng từ lâu và có giá trị lịch sử đặc biệt. Tuy nhiên, nguồn gốc của hai giống cây này, và nhiều giống thuộc chi Cam chanh khác ở Nam Á, vẫn còn nhiều điều bí ẩn.      Một cây họ cam chanh trên đảo Okinawa. Nguồn: NHK  Trong một nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Communications “Diversification of mandarin citrus by hybrid speciation and apomixis” 1, các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu KH&CN Okinawa (OIST) và đồng nghiệp từ nhiều viện nghiên cứu khác đã phân tích 69 hệ gene từ họ quýt Hồng Nam Á, cùng với những họ hàng châu Á khác của chúng, để tìm hiểu một câu chuyện có phạm vi rộng về một hành trình dài, cô lập và lai giống.  Câu chuyện này bắt đầu từ vùng Hồ Nam ở miền Nam Trung Quốc, vốn là trung tâm của một nguồn gene và một nguồn đa dạng các cây quýt dại. Khi các nhà khoa học tái phân tích những dữ liệu hệ gene đã xuất bản trước đây, họ đã tìm ra điều không ngờ đến là các cây quýt dại ở vùng núi này lại được phân ra thành hai loài phụ.  “Chúng tôi tìm thấy một trong số các loài phụ này có thể tạo ra lứa con cháu mà người ta vẫn có thể xác định được mẹ qua di truyền”, tiến sĩ Guohong Albert Wu, một nhà nghiên cứu làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Lawrence Berkeley tại California. “Giống như các loài cây khác, các giống cam chanh dại được tái tạo khi phấn hoa của ‘cha’ kết hợp với ‘nhụy’ của ‘mẹ’, trong hạt giống có sự trộn lẫn các gene từ cả hai bậc ‘cha mẹ’ này. Chúng tôi tìm thấy một loài phụ của giống quýt dại từ Mang Sơn ở Nam Trung Quốc khi hạt giống bao gồm một bản sao DNA của ‘mẹ’ mà không có bất kỳ thông tin nào về ‘cha’. Vì vậy hạt giống này lớn lên thành một dạng nhân bản vô tính từ cây mẹ”.   Ở Okinawa, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm rất cẩn thận một loại cam chanh lạ giống shiikuwasha thường kết trái với những quả nhỏ, chua và từng bị những người nông dân địa phương ghét bỏ do không có giá trị thương mại cao. Thật ngạc nhiên là họ tìm thấy loài cam chanh lạ này tái hiện một loài chưa được miêu tả trước đây, vốn được đặt tên là quýt Ryukyu hoặc được biết đến với tên khoa học là Citrus ryukyuensis. Trái ngược với loài shiikuwasha nổi tiếng, vốn được nhân giống  vô tính (giống loài phụ ở Mang Sơn), loài mới luôn luôn được nhân giống bằng thụ phấn.  Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy tất cả các cây shiikuwasha đều được lai theo một cách đặc biệt – một cha từ loài Ryukyuan địa phương và cây khác, từ châu Á. Thật đáng ngạc nhiên, tất cả các cây shiikuwasha đều có chung cha mẹ quýt châu Á đại lục, điều đó cho thấy các cây shiikuwasha đều có họ hàng với nhau.    Một bông hoa shiikuwasha ở Ōgimi, Okinawa. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra loài cây này là kết quả của sinh sản vô tính và lai. Nguồn: TSChikatoshi Sugimoto.  Họ kết luận là hàng chục nghìn năm trước, một loài cam quýt châu Á đã được vận chuyển tới vùng đất mà sau trở thành đảo Ryukyu, chưa rõ là do con người hay do phương pháp tự nhiên. Có sự kết hợp giữa chúng với loài chanh bản địa Ryukyu. Các nhà nghiên cứu truy dấu tổ tiên của loài quýt châu Á này tới Mang Sơn, nơi rõ ràng có sự thụ phấn để tạo ra những cây con cháu.  Dẫu vậy thì tất cả các giống shiikuwasha được tìm thấy ở chợ Okinawa ngày nay đều là hậu duệ của sự kết hợp ấy, rồi sinh sản vô tính, cho phép tạo ra các giống bền vững như shiikuwasha vàng để được nhân giống theo thế hệ.  Vậy các giống tachibana và các giống quýt Nam Á khác như thế nào?  “Chúng đều là giống lai”, tiến sĩ Chikatoshi Sugimoto, postdoct tại Bộ phận Di truyền phân tử OIST giải thích. “Giống tachibana dường như có họ hàng với loài Ryukyu mới được phát hiện và một giống quýt khác từ Trung Quốc nhưng nơi chúng bắt đầu xuất hiện có lẽ là nơi mà nay là Nhật Bản”.  Một khi thấy các mẫu hình di truyền trong shiikuwasha và tachibana, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận những loài cùng họ bao gồm những loài Ryukyuan truyền thống – oto, kabuchii, tarogayo, và những loài không biết tên khác. Họ này, vốn được các nhà nghiên cứu gọi là ‘yukunibu’ (các loại chanh có vị chua gắt gọi theo tiếng Okinawa bản địa), vốn xuất hiện muộn hơn cả shiikuwasha và tachibana. Nó xuất hiện khi loài kunenbo nổi tiếng – cũng là cha của quýt satsuma – lai giống với quýt Ryukyu bản địa. Kunenbo được mang đến Okinawa từ Đông Dương khoảng 4 đến 500 năm trước theo đường biển. Giống như các cặp cha mẹ của shiikuwasha và tachibana, nó cũng có khả năng tự nhân bản vô tính.  “Thật thú vị để tìm từng mảnh ghép của câu chuyện về sự đa dạng của quýt và mối liên hệ của nó với địa sinh học của vùng”, giáo sư Dan Rokhsar tại Bộ phận Di truyền phân tử OIST nói. “Nó cũng có giá trị thương mại: kiểu lai nào có thể? chúng ta có thể tạo ra những giống lai mới có khả năng chống chịu với bệnh dịch hay hạn hán không? hay có những đặc tính mong muốn khác không? Bằng việc nhìn vào quá khứ, chúng ta có thể tạo ra tất cả những điều có thể cho tương lai”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-juicy-favorite-okinawan-fruit-revealed.html  https://www.earth.com/news/history-of-okinawan-mandarin-discovered/  —–  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-24653-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết lộ khía cạnh vật lý trong kỹ thuật vẽ của Jackson Pollock      Họa sỹ được nhiều người biết đến Jackson Pollock đã tạo ra những tác phẩm mang tính biểu tượng nhất của mình không phải với cọ mà là bằng việc đổ sơn lên toan từ trên xuống, để những giọt màu hình sóng chảy thành các kiệt tác trừu tượng. Một nhóm nghiên cứu đã phân tích khía cạnh vật lý trong kỹ thuật của Pollock và kết quả cho thấy, thực ra họa sỹ đã có một hiểu biết khá sâu sắc về hiện tượng động lực học chất lỏng cổ điển – dù ông có nhận thức được điều đó hay không.      “Mural”, một trong những tranh được đánh giá là đột phá của Jackson Pollock. Nguồn: New Yorker   Trong công trình “Pollock tránh sự thiếu ổn định của thủy động lực học để vẽ với kỹ thuật nhỏ giọt” (Pollock avoided hydrodynamic instabilities to paint with his dripping technique) xuất bản trên PLOS ONE, các nhà nghiên cứu đã cho thấy kỹ thuật của Pollock dường như đã tránh những gì chúng ta biết là sự thiếu ổn định của các cuộn xoắn – xu hướng của một chất lỏng có độ nhớt hình thành các cuộn xoắn và vòng khi bị đổ xuống một bề mặt.  “Giống như phần lớn các họa sỹ, Jackson Pollock đã có một quá trình dài trải nghiệm để đưa kỹ thuật của mình đến độ hoàn hảo”, Roberto Zenit, giáo sư trường Kỹ thuật Brown và tác giả chính của công bố, nói. “Những gì chúng tôi đang cố gắng làm với nghiên cứu này là xác định xem những gì Pollock đã đạt tới để tạo ra những bức vẽ theo cách mà ông muốn. Chúng tôi muốn tìm hiểu là ông đã tránh được sự thiếu ổn định dạng cuộn của chất lỏng sơn dầu như thế nào với các hành động của mình”.  Kỹ thuật của Pollock về đặc trưng bao gồm việc đổ thẳng sơn dầu từ một cái can hoặc dọc theo một cái gậy lên mặt toan nằm theo chiều ngang với nền nhà. Nó thường được gọi là kỹ thuật nhỏ giọt (drip technique) 1, “nhưng có một chút sai lầm theo cách nói của cơ học chất lỏng, Zenit nói. Trong cơ học chất lỏng, “nhỏ giọt” có thể là định lượng dòng chảy theo một cách khiến tạo ra những giọt rời rạc trên mặt toan. Pollock tránh để các giọt lan trên quy mô lớn, dẫn đến xu hướng phá vỡ các sợi màu trải rộng khắp mặt toan.  Để hiểu một cách chính xác về kỹ thuật này được thực hiện như thế nào, Zenit và cộng sự ở trường đại học Tự trị quốc gia Mexico phân tích video quay cảnh Pollock đang vẽ tranh, thực hiện các phép đo một cách cẩn thận về cách ông di động nhanh và xa khỏi mặt toan khi đang đổ sơn vẽ. Với dữ liệu tập hợp về cách Pollock sáng tác, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phần mềm cài đặt lại thực nghiệm để tái tạo kỹ thuật của ông. Bằng cách đó, họ đã có thể tập hợp màu theo cách dùng một ống phun màu ở các độ cao khác nhau và các chuyển động với vận tốc khác nhau, đổ xuống mặt toan. Các thí nghiệm giúp cho họ từ chỗ không hiểu được những gì Pollock thực hiện đến chỗ nắm được những khía cạnh quan trọng nhất trong kỹ thuật của ông.  “Chúng tôi có thể biến đổi một thứ tại một thời gian vì vậy chúng tôi có thể thay đổi một chi tiết tại một thời điểm, vì vậy chúng tôi có thể giải mã được các yếu tố chính của kỹ thuật này”, Zenit nói. “Ví dụ, chúng tôi có thể thay đổi độ cao mà màu vẽ được đổ xuống và giữ tốc độ không đổi để thấy mọi điều thay đổi như thế nào”.    Quá trình sáng tác của Pollock thật thú vị với các nhà nghiên cứu. Nguồn: NYT  Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự kết hợp trong tốc độ tay của Pollock, khoảng cách với mặt toan mà ông giữ và độ nhớt của màu vẽ của ông dường như được duy trì nhằm tránh sự thiếu ổn định dạng cuộn. Bất cứ ai  từng đổ một dòng chảy có độ nhớt – có lẽ là đổ mật ong lên bánh mì nướng – cũng từng nhìn thấy sự thiếu ổn định dạng cuộn. Khi một lượng nhỏ dòng chảy nhớt được đổ xuống một bề mặt, nó có xu hướng được so sánh với một cuộn xoắn của dải lụa trước khi thấm khắp bề mặt đó.  Trong bối cảnh kỹ thuật của Pollock, sự thiếu ổn định có thể dẫn đến các dòng dạng sợi màu vẽ được làm rối như những cuộn như những bím tóc được tết khi màu vẽ được đổ từ bình. Một số nghiên cứu được thực hiện trước đó đã kết luận những đường cong trong tranh của Pollock là kết quả của sự thiếu ổn định nhưng nghiên cứu này lại cho thấy sự đối lập với những kết luận đó.  “Những gì chúng tôi tìm ra là ông đã cử động đôi tay với tốc độ cao vừa khéo và một độ cao vừa khéo khiến sự cuộn rối có thể không xảy ra”, Zenit nói.  Zenit còn cho biết thêm, nghiên cứu của ông có thể hữu dụng trong việc xác nhận tác phẩm nào của Pollock. Có nhiều cuộn rối nhỏ có thể cho thấy một bức vẽ theo phong cách nhỏ giọt không phải của ông mà có thể được hình thành từ những sắp đặt khác, trong đó các dòng chảy nhớt được căng ra trên khắp các sợi màu, như việc chế tạo sợi quang học. Nhưng Zenit nói, mối quan tâm chung của ông trong công trình này đơn giản là sự hấp dẫn trong khám phá những vấn đề thú vị về cơ học dòng chảy.  “Tôi coi mình là một sứ giả về cơ học dòng chảy. Vì vậy đây cũng là trách nhiệm của tôi khi nói chuyện về khoa học với công chúng. Thật hấp dẫn để thấy các họa sỹ cũng thực sự là những nhà cơ học dòng chảy thực thụ, ngay cả khi họ không biết rõ điều này”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-scientists-reveal-physics-jackson-pollock.html  —-  1. Một số tài liệu dịch thuật của Việt Nam dịch kỹ thuật drip là vẩy sơn.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết lộ trạng thái vật chất mới: một kim loại cặp Cooper      Trong nhiều năm, các nhà vật lý đã cho rằng các cặp Cooper, những bộ đôi electron cho phép các chất siêu dẫn truyền điện mà không gặp trở ngại, là những cặp mang tính chất đặc biệt. Chúng đều di chuyển một cách tự do, có thể tạo ra một trạng thái siêu dẫn hoặc tạo ra một trạng thái cách điện bằng cách gây nhiễu bên trong vật liệu khiến các điện tích không thể di chuyển được.      Nhưng trong công bố “Intermediate bosonic metallic state in the superconductor-insulator transition” mới xuất bản trên Science, một nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ các cặp Cooper có thể dẫn điện với một lượng điện trở như cách các kim loại thông thường đã làm. Nghiên cứu này miêu tả một trạng thái hoàn toàn mới của vật chất, các nhà nghiên cứu cho biết, nó sẽ đòi hỏi một giải thích mới về mặt lý thuyết.  “Đã có bằng chứng cho thấy trạng thái kim loại này có thể gia tăng trong các siêu dẫn dạng màng mỏng vì chúng đã được làm lạnh xuống nhiệt độ siêu dẫn nhưng liệu có hay không trạng thái bao gồm các cặp Cooper vẫn là một câu hỏi mở”, Jim Valles nói. Anh là giáo sư vật lý ở trường đại học Brown và là tác giả chính của nghiên cứu. “Chúng tôi đã phát triển một kỹ thuật cho phép chúng tôi kiểm tra vấn đề và chúng tôi đã chứng tỏ rằng, thật vậy, các cặp Cooper đã dẫn đến việc vận chuyển điện tích trong trạng thái kim loại. Điều thú vị là không ai chắc chắn tại mức cơ bản, các cặp Cooper này đã làm điều đó như thế nào, vì vậy phát hiện này sẽ đòi hỏi giải thích bằng lý thuyết và thực nghiệm để hiệu một cách chắc chắn cái gì đang xảy ra”.  Các cặp Cooper được đặt theo tên Leon Cooper, một giáo sư vật lý tại trường Brown từng giành giải Nobel vào năm 1972 cho việc miêu tả vai trò của các cặp electron trong việc chuyển vật chất thành siêu dẫn. Điện trở được tạo ra khi các electron nổ lách tách quanh mạng nguyên tử của một vật liệu khi chúng di chuyển. Nhưng khi các electron liên kết cùng nhau thành  các cặp Cooper, chúng trải qua một quá trình chuyển đổi đáng chú ý. Bản thân các electron là các fermion, các hạt tuân theo nguyên lý loại từ Pauli, nghĩa là mỗi electron có xu hướng giữ trạng thái lượng tử của chúng, và dẫu sao đóng vai trò như những hạt boson, vốn cũng thoải mái chia sẻ trạng thái tương tự. Tính chất boson này cho phép các cặp Cooper phối hợp các di chuyển của mình với các cặp Cooper khác theo cách giảm điện trở xuống bằng không.  Vào năm 2007, Valles, hợp tác với giáo sư vật lý và kỹ thuật Jimmy Xu ở trường Brown đã chứng tỏ rằng các cặp Cooper có thể tạo ra trạng thái cách điện cũng như siêu dẫn. Trong các vật liệu mỏng, các cặp này đã kết hợp lại tại chỗ, bện thành những đảo nhỏ tí trong một vật liệu và không có khả năng nhảy sang đảo kế tiếp.  Với nghiên cứu mới này, Valles, Xu và các đồng nghiệp Trung Quốc đã tìm kiếm các cặp Cooper trong trạng thái kim loại phi siêu dẫn bằng việc sử dụng một kỹ thuật tương tự như kỹ thuật đã tìm ra cách điện cặp Cooper. Kỹ thuật này bao gồm việc tạo maaix một siêu dẫn màng mỏng – trong trường hợp này là một ô xít yttrium barium copper (YBCO) siêu dẫn nhiệt độ cao – với chuỗi các lỗ nhỏ. Khi vật liệu này có một dòng điện chạy qua và tạo ra một từ trường, các chất mang điện tích trong vật liệu sẽ vận chuyển theo quỹ đạo các lỗ như nước chảy quanh cống.  “Chúng tôi có thể đo đạc tần số mà tại đó các hạt mang điện tích này quay tròn”, Valles nói. “Trong trường hợp này, chúng tôi tìm thấy tần số phù hợp với cặp được tạo thành từ hai electron di chuyển quanh trong một khoảng thời gian thay vì một electron. Vì vậy chúng tôi có thể kết lận là những vật mang điện tích trong trạng thá này là các cặp Cooper và không phải các electron đơn lẻ”.  Ý tưởng các cặp Cooper như boson liên quan đến trạng thái kim loại này là điều rất ngạc nhiên, các nhà nghiên cứu nói. Bởi vì các yếu tố của thuyết lượng tử cho thấy điều này là không thể. Vì vậy để hiểu được những gì diễn ra trong trạng thái này có thể dẫn đến một số lĩnh vực vật lý mới nhưng cần thực hiện nhiều nghiên cứu nữa mới có thể làm được điều đó.  Thật may mắn là hiện tượng này được dó trong một siêu dẫn nhiệt độ cao sẽ khiến cho những nghiên cứu trong tương lai có thể mang tính thực tiễn hơn. YBCO khởi động trạng thái siêu dẫn tại -181  độ C, và pha kim loại khởi động tại nhiệt độ ngay trên mức đó. Thật lạnh nhưng cũng ấm hơn so với nhiều nhiệt độ của các chất siêu dẫn khác, vốn hoạt động ở mức trên không tuyệt đối. Mức nhiệt độ cao hơn sẽ khiến dễ dàng sử dụng quang phổ và các kỹ thuật khác nhằm hiểu tốt hơn những gì đang diễ ra tại pha kim loại.  Các nhà nghiên cứu cho biết, có thể khai thác trạng thái kim loại boson cho những dạng mới của các thiết bị điện tử.  “Các boson có xu hướng ở trạng thái dạng sóng nhiều hơn các electron, vì vậy chúng ta nói chúng có một pha và tạo ra giao thoa theo cùng cách ánh sáng đã làm”, Valles nói. “Vì vậy có thể hình thành những phương thức mới cho vận chuyển điện tích quanh các thiết bị được vận hành với giao thoa giữa các hạt boson”.  Nhưng từ bây giờ, các nhà nghiên cứu đã háo hức với phát hiện ra trạng thái mới của vật chất.  “Khoa học được xây dựng trên các khám phá”, Xu nói, “và thật vui với việc khám phá ra những thứ hoàn toàn mới”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-reveals-state-cooper-pair-metal.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu chí để lựa chọn khóa  tăng tốc khởi nghiệp phù hợp      Douglas Abrams là người sáng lập Expara – một công ty đầu tiên kết hợp giữa quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm và khóa tăng tốc khởi nghiệp, có mặt tại Singapore, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Hub Langstaff, giám đốc chương trình hỗ trợ khởi nghiệp của Thụy Sĩ SECO EP tại các nước đang phát triển từng chia sẻ với phóng viên Tia Sáng rằng, Expara là khóa tăng tốc khởi nghiệp tốt nhất ở Việt Nam hiện nay mà ông biết. Vì vậy, phóng viên Tia Sáng đã kết nối và trao đổi với Douglas Abrams về việc làm thế nào xây dựng một khóa tăng tốc khởi nghiệp thành công.      Một bài tập về quản trị sử dụng các quân mạt chược của Trung Quốc trong một buổi đào tạo của Expara. Douglas Abrams tổ chức và điều hành tất cả các buổi đào tạo của khóa tăng tốc khởi nghiệp này.  Ngày càng nhiều các vườn ươm khởi nghiệp được thành lập ở Việt Nam bởi cả khối nhà nước và khối tư nhân. Ông có thể cho biết đâu là hạn chế cơ bản nhất thường thấy ở các khóa tăng tốc khởi nghiệp này?  Việc lập ra các khóa tăng tốc khởi nghiệp dường như là một xu hướng thời thượng hiện nay. Ai đó tham dự buổi Demo Day (ngày tốt nghiệp của các startup tham dự khóa tăng tốc khởi nghiệp), nhìn những startup thuyết trình về sản phẩm của mình và nghĩ: “Mình cũng có thể lập ra một khóa tăng tốc khởi nghiệp với những startup giỏi như vậy”.  Họ quay trở về, lập ra một khóa tăng tốc khởi nghiệp nhưng nó thất bại. Sai lầm cơ bản nhất là họ chưa chuẩn bị đầy đủ, tưởng rằng tất cả những gì bạn cần cho một khóa tăng tốc khởi nghiệp chỉ là một không gian, vài startup và vài mentor. Nhưng trên thực tế, người ta cần hơn thế rất nhiều; cần một danh tiếng, cần kinh nghiệm, cần chuyên môn, cần mạng lưới những người đầu tư rộng lớn, cần sự kết nối và hợp tác chặt chẽ với những thành tố trong hệ sinh thái khởi nghiệp, đặc biệt là các quỹ đầu tư mạo hiểm.  Cụ thể hơn, khi không hội tụ đủ những yếu tố này thì các khóa tăng tốc khởi nghiệp sẽ dễ gặp những rủi ro gì?  Vấn đề đầu tiên là những startup xuất sắc nhất sẽ luôn đăng ký vào những khóa tăng tốc khởi nghiệp có danh tiếng nhất – điều mà một khóa tăng tốc khởi nghiệp “mới toanh” không có. Nếu không chiêu mộ được những startup xuất sắc, họ đã mất đi nguyên liệu quan trọng đầu tiên cho một khóa tăng tốc khởi nghiệp thành công. Nếu họ xoay sở tìm được vài startup vào chương trình của mình thì lại không có chuyên gia thường trực để hỗ trợ các startup và phải dựa vào các chuyên gia bên ngoài – những người dù có nhiều kinh nghiệm nhưng quá bận bịu với những công việc khác và không thể dành thời gian “kèm cặp” các startup. Một điều mà các khóa tăng tốc khởi nghiệp biết rõ đó là họ sẽ kết thúc chương trình của mình bằng Demo Day. Do vậy, họ sẽ đào tạo kỹ năng pitching (thuyết trình) nhưng thông thường, đây là điều duy nhất mà những startup có thể học được từ khóa tăng tốc khởi nghiệp đó. Khi các startup tốt nghiệp, nếu chỉ làm tốt kỹ năng thuyết trình thì chưa đủ để họ thuyết phục các nhà đầu tư bỏ vốn. Hơn nữa, một khóa tăng tốc khởi nghiệp nếu không sở hữu hoặc liên kết với một vài quỹ đầu tư mạo hiểm thì startup sẽ rất chật vật để gọi vốn từ những nhà đầu tư chỉ “quen biết xã giao” với khóa tăng tốc khởi nghiệp. Thành tích gọi vốn nghèo nàn sẽ khiến chất lượng những đơn đăng ký vào khóa tăng tốc khởi nghiệp kế tiếp cứ theo đó giảm dần theo thời gian, một vòng luẩn quẩn không có lối thoát.  Theo quan sát của tôi thì các khóa tăng tốc khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay đều chỉ dựa vào các mentor ở bên ngoài, làm việc tình nguyện, có thể là thi thoảng tới giảng hoặc chia sẻ kinh nghiệm cho các startup tại đó. Ông có cho rằng một khóa tăng tốc khởi nghiệp bắt buộc phải có chuyên gia tại chỗ để hỗ trợ startup không?  Tôi quả quyết rằng “có” với câu hỏi này. Chất lượng của những chuyên gia hoặc mentor tại chỗ là một trong những yếu tố mà startup cân nhắc lựa chọn tham gia vào một khóa tăng tốc khởi nghiệp. Những người tình nguyện thì cũng tốt nhưng không thể so sánh với đội ngũ thường trực trong khóa tăng tốc khởi nghiệp được. Những người này dĩ nhiên là được trả lương toàn thời gian hoặc bán thời gian bởi khóa tăng tốc khởi nghiệp.  Ông có nghĩ rằng chính phủ nên hỗ trợ các khóa tăng tốc khởi nghiệp hay không?  Thông thường, chi phí để duy trì một khóa tăng tốc khởi nghiệp rất cao và tiền đầu tư vào các startup phải mất 5-10 năm mới có thể nhìn thấy kết quả. Trong thời gian chờ đợi thu về lợi nhuận, khóa tăng tốc khởi nghiệp dĩ nhiên vẫn phải chi trả các hóa đơn, đặc biệt là những chi phí dịch vụ hỗ trợ và đầu tư cho startup. Chính phủ vì thế có thể đóng vai trò như một nhà tài trợ cho các khóa tăng tốc khởi nghiệp chất lượng cao, đặc biệt là ở giai đoạn thị trường tăng tốc khởi nghiệp vẫn còn non trẻ. Chương trình hỗ trợ của Singapore (đầu tư đối ứng với các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp theo tỉ lệ 1:1 hoặc 6:1) đóng vai trò quyết định tới thị trường hỗ trợ khởi nghiệp đang phát triển mạnh mẽ tại nước này.  Ông có thể cho các startup Việt Nam lời khuyên để họ có thể lựa chọn một khóa tăng tốc khởi nghiệp phù hợp với mình?  Có nhiều yếu tố mà startup nên xem xét trước khi lựa chọn một khóa tăng tốc khởi nghiệp. Đương nhiên, danh tiếng của một khóa tăng tốc khởi nghiệp là yếu tố quan trọng cần để mắt đến đầu tiên nhưng tôi vẫn khuyên startup tự hỏi mình sáu câu này, với hai nội dung:  Cách thức vận hành:  1. Quỹ đầu tư mạo hiểm hay là một đơn vị của tập đoàn lớn: Khóa tăng tốc khởi nghiệp này vận hành theo kiểu một quỹ đầu tư mạo hiểm, chỉ tập trung vào lợi ích tài chính thu về hay là một khóa tăng tốc khởi nghiệp do một tập đoàn lập ra tập trung vào cả lợi ích tài chính lẫn lợi ích về mặt chiến lược cho công ty?  2. Ngang hay dọc: Công ty được nhận vào khóa tăng tốc khởi nghiệp này đến từ đa dạng nhiều lĩnh vực hay thực ra chỉ đến từ một lĩnh vực ngành dọc, chẳng hạn như Fintech thôi (các startup làm trong lĩnh vực công nghệ tài chính).  3. Có hay không có quỹ: Khóa tăng tốc khởi nghiệp này có quỹ mạo hiểm riêng hay liên kết với một quỹ đầu tư mạo hiểm bên ngoài để đầu tư vào các startup tốt nghiệp hay không?  Thước đo  4. Quy mô mạng lưới nhà đầu tư lớn như thế nào?  5. Hòa nhập và kết nối với cộng đồng: khóa tăng tốc khởi nghiệp này hòa nhập với hệ sinh thái khởi nghiệp/doanh nghiệp như thế nào và nó làm thế nào để kết nối các doanh nghiệp tốt nghiệp với cộng đồng ra sao?  6. Số liệu về những công ty từng gọi vốn thành công trong vòng 6 tháng và 12 tháng sau khi tốt nghiệp.  Lựa chọn hoàn hảo một khóa tăng tốc khởi nghiệp cho một startup sẽ là sự tổng hợp các câu trả lời cho những câu hỏi và nhu cầu của startup.  Xin cảm ơn ông!   Hảo Linh thực hiện  Chương trình tăng tốc khởi nghiệp của Expara được Douglas phát triển và kiểm nghiệm trong quá trình giảng dạy tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS), Viện kinh doanh Sasin (Đại học Chulalongkhom, Thái Lan). Ông tốt nghiệp ngành truyền thông và MBA tại Đại học Pennsylvania, Mỹ và đã có hơn 30 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và đầu tư mạo hiểm trước khi cho ra đời Expara. Hiện nay, công ty này sở hữu ba quỹ đầu tư mạo hiểm với tổng trị giá gần 100 triệu USD, đã hỗ trợ 500 startup và đầu tư vào 60 startup.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu chí về hiệu quả thi hành pháp luật của Nhà nước: Đánh giá từ giác độ kinh tế      Vấn đề hiệu lực của pháp luật tới một giai đoạn phát triển nhất định của đất nước sẽ không thể tách rời vai trò, chức năng của Nhà nước trong quá trình hình thành và vận hành kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế giúp đất nước phát triển bền vững lâu dài.     Các nguyên tắc  Theo Hội đồng châu Âu (EC), một Nhà nước như vậy phải thực hiện tốt các quyền tự do, dân chủ của người dân, tôn trọng các quyền con người, thực hiện Nhà nước pháp quyền, phát triển xã hội công dân, thực hiện sự tham gia tích cực của quần chúng vào quá trình quản lý của Nhà nước được phân cấp mạnh mẽ.   Các nguyên tắc của quản lý Nhà nước tốt theo Hội đồng châu Âu là:   Cởi mở (Openness): Các cơ quan Nhà nước nên chia sẻ thông tin với công dân và công bố công khai tối đa các hoạt động, chi tiêu của mình.  Tham gia (Participation): Chất lượng và hiệu quả của chính sách phụ thuộc nhiều vào sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan và công dân.  Trách nhiệm giải trình (Accountibility): Các cơ quan phải giải thích và chịu trách nhiệm về các việc họ làm (hay không làm).  Hiệu quả (Effectiveness): Các chính sách phải được ban hành kịp thời, có hiệu quả và nhằm thực hiện những mục tiêu rõ ràng.    Gắn kết (Coherence): Các chính sách và hành động phải gắn kết, tương thích với nhau, phải mạch lạc, dễ hiểu.  Hội đồng châu Âu coi trọng cải cách hành chính trong việc xét duyệt các nước trở thành thành viên của Liên minh châu Âu, trong đó đặc biệt chú ý tới cải cách các lĩnh vực luật pháp sau đây: 1. Luật về Chính phủ; 2. Luật về Tổ chức và Chức năng vận hành nền hành chính Nhà nước; 3. Luật chung (Generral Law) về Thủ tục hành chính; 4. Luật về Thủ tục kiện tụng hành chính (Adminsitrative Proceedings Law); 5. Luật về Dịch vụ dân sự; 6. Luật pháp về Quản lý tài chính; 7. Kiểm toán độc lập; 8. Luật về Kiểm toán và giám sát tài chính độc lập (Ombudsman); 9. Luật về Phân cấp và tự trị địa phương.  Việc xem xét các luật pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:    Tính tin cậy (reliability) và khả năng dự báo (predictability): bảo đảm các quyết định hành chính đều phải có căn cứ luật pháp vững chắc nhằm triệt tiêu tính độc đoán, chuyên quyền trong các quyết định hành chính.    Cởi mở và minh bạch: bảo đảm nền hành chính phải giám sát được từ bên ngoài nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng cũng như quyền của các cá nhân.  Trách nhiệm giải trình: các cơ quan hành chính phải có trách nhiệm trả lời về hành động của mình trước các cơ quan hành chính, tư pháp, lập pháp và công dân.    Hiệu quả và hiệu năng: Các cơ quan hành chính phải đạt được tỷ lệ lành mạnh giữa nguồn lực được sử dụng và kết quả đạt được cũng như đạt được các mục tiêu đã được xác định.    Những yếu tố tác động          Hiệu lực của pháp luật phụ thuộc vào sự tôn  trọng cân bằng lợi ích của chủ thể thực thi pháp luật, và có tính đến ở  mức độ nhất định sức mạnh của thói quen.        Các chủ thể trong xã hội thường hành động theo lợi ích của mình, hoặc theo thói quen (uống rượu, hút thuốc lá), hay theo truyền thống, tập tục dân tộc (cưới, hỏi, đốt vàng mã v.v.). Kinh nghiệm cho thấy văn bản pháp luật không xem xét đầy đủ các yếu tố thực tế trên sẽ có hiệu lực thi hành rất thấp, dẫu cơ quan Nhà nước có nỗ lực nghiêm túc và dành chi phí lớn về nhân tài vật lực cho việc thi hành luật đó. Thí dụ như luật cấm rượu ở Liên Xô trước đây đã hoàn toàn không có hiệu lực và phải bãi bỏ vì sức mạnh thói quen của cộng đồng quá lớn. Tương tự như vậy, luật thuế thu nhập cá nhân đánh lũy tiến đến 65% và thuế vào tài sản kế thừa đánh lũy tiến đến 85% của Thụy Điển đã phải sửa đổi theo hướng giảm bớt tỷ lệ thu thuế thu nhập tối đa xuống còn 50% và thay thế luật thuế kế thừa bằng luật thuế tài sản vì tình trạng người Thụy Điển giàu có đi ra nước ngoài để tránh phải đóng thuế kế thừa quá cao.          Báo cáo về môi trường kinh doanh tại Việt  Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2011 chỉ dựa vào nhận xét của các hãng  luật và hoàn toàn không xét đến hiệu quả thi hành các văn bản pháp luật,  qua đó đã xếp hạng Việt Nam tăng tới 10 bậc so với năm 2010. Đánh giá  này đã gây ngạc nhiên đến mức phản cảm trong giới chuyên gia và doanh  nghiệp Việt Nam.         Trong kinh tế học người ta đều biết đến đường cong Laffer, hàm ý rằng nếu thu thuế 100% lãi thì không ai chịu làm gì để Nhà nước thu hết và mức thu thực tế là mức thu thấp tương đối phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước.   Như vậy, hiệu lực của pháp luật phụ thuộc vào sự tôn trọng cân bằng lợi ích của chủ thể thực thi pháp luật, và có tính đến ở mức độ nhất định sức mạnh của thói quen (như uống rượu không thể cấm tuyệt đối hay khả năng hạn chế hút thuốc lá ở những nơi công cộng). Ví dụ như thuế suất cho thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp phải thấp ở mức hợp lý để tạo sự đồng thuận nhất định của các chủ thể là doanh nghiệp và cá nhân.   Các chế tài nghiêm minh và những biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc thực thi cũng là điều kiện quan trọng ảnh hưởng tới hiệu lực của pháp luật. Ví dụ, để ngăn chặn các hành vi trốn thuế thì điều kiện tiền đề là kiểm soát được thu nhập, giảm đến mức thấp nhất giao dịch tiền mặt, không qua sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước. Việc thực hiện luật pháp cũng phải có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan Nhà nước liên quan. Ví dụ việc thực hiện Luật về Sở hữu trí tuệ, Luật về Bảo vệ môi trường đòi hỏi sự hợp tác của các chủ thể có liên quan trong xã hội trong khi cơ quan Nhà nước phải có những điều kiện tối thiểu để thực hiện (như phương tiện phân tích mức độ ô nhiễm, năng lực thanh tra v.v.)  Ở Việt Nam có khá nhiều ví dụ về những sáng kiến luật pháp không hợp lý và không khả thi đã phải ngừng ban hành hay bãi bỏ. Chính phủ tháng 4 năm 2012 đã phải ngừng ban hành phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân của Bộ Giao thông-Vận tải1 do người dân không thể chấp nhận phí này khi họ phải trả tiền mà không sử dụng một dịch vụ nào của Nhà nước. Mới đây, ngày 31-8, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kỉnh Tần cho biết vừa quyết định dừng hiệu lực thi hành thông tư 33 (có yêu cầu bán thịt trong 8 tiếng) và thông tư 34 (yêu cầu trứng bán lẻ phải qua khử trùng, đóng gói, có nhãn mác), trước khi cả 2 thông tư có hiệu lực vào ngày 3-9 do các quy định đó không thể thực hiện và kiểm chứng được trong thực tế.2  Đánh giá hiệu quả thực thi   Người ta thường xét một số các điều kiện, tiền đề cần thiết để thực thi pháp luật và để đo lường người ta có thể sử dụng các tiêu chí định tính và định lượng.   Các điều kiện cần thiết là:          Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dựa trên  phương pháp luận CPIAs nêu trên để đánh giá cụ thể các nước trong khu  vực châu Á-Thái Bình Dương, theo đó, năm 2011 Việt Nam được 17,8 điểm  trên tổng số 36 điểm, trên mức trung bình của khu vực.         Sự hợp lý và đầy đủ của các quy định pháp luật; thí dụ như luật bảo vệ môi trường đòi hỏi các quy định cần thiết, hệ thống đo đạc, giám sát, các chế tài đủ mạnh để răn đe v.v.  Các điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để thực thi pháp luật. Kinh nghiệm cho thấy trong tình trạng bần cùng và đói khổ quá mức, pháp luật sẽ khó được thực thi (lũ lụt, thiên tai, thiếu đói v.v.)  Ý thức của người dân về thực thi pháp luật, sự am hiểu cần thiết để thi hành pháp luật (như Luật Giao thông), đồng thời chế tài phải đủ mạnh để răn đe họ đừng vi phạm pháp luật. Nếu sự răn đe quá yếu hay chế tài có thể mua bán được thì hiệu lực thi hành pháp luật sẽ rất thấp. Ví dụ như thực tế thi hành pháp luật về giao thông hiện nay ở Việt Nam cho thấy mặc dù đã tăng số lượng cảnh sát lên mức rất cao so với thế giới, đồng thời chức vụ cảnh sát trực tiếp thực hiện tác nghiệp hằng ngày cũng cao (trung tá), nhưng hiệu lực thi hành luật giao thông ít có tiến bộ.  Chí phí về thời gian và tiền bạc để thực thi pháp luật như thời gian và chi phí để đăng ký kinh doanh, thời gian để thực hiện phá sản doanh nghiệp, tỷ lệ hợp đồng được thực hiện v.v. Ngoài ra, người ta còn ghi nhận những chi phí ngoài pháp luật mà các doanh nghiệp phải trả khi xuất khẩu, nhập khẩu v.v.  Đánh giá hiệu lực thực thi pháp luật ở Việt Nam và các chi phí về thời gian và tiền bạc mà doanh nghiệp phải trả, Báo cáo Môi trường Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới đã sử dụng một số tiêu chí cụ thể. Ví dụ: hoạt động khởi nghiệp theo Luật Doanh nghiệp cần 9 thủ tục ( xin đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế) mất 14 ngày, làm dấu của doanh nghiệp tại cơ quan công an địa phương mất 6 ngày, đăng ký dấu tại cơ quan công an mất 4 ngày, mở tài khoản tại ngân hàng 1 ngày, đăng báo 5 ngày, mua hóa đơn tại Cục thuế 14 ngày, đăng ký lao động tại cơ quan về lao động 1 ngày, đăng ký bảo hiểm xã hội (có thể làm đồng thời với đăng ký lao động, đăng ký công đoàn, tổng cộng mất 44 ngày và tốn 12,1% thu nhập bình quân đầu người. Song, xét về nhiều mặt khác, số thủ tục, chứng từ yêu cầu vẫn còn nhiều, thời hạn để giải tỏa hàng hóa còn lớn, như minh họa trong các biều đồ kèm theo.  Việc đánh giá hệ thống pháp lý chỉ dựa trên hệ thống các văn bản pháp quy được ban hành mà không tính đến hiệu lực thi hành sẽ dẫn đến kết quả sai lệch. Điển hình như báo cáo về môi trường kinh doanh tại Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2011 chỉ dựa vào nhận xét của các hãng luật và hoàn toàn không xét đến hiệu quả thi hành các văn bản pháp luật, qua đó đã xếp hạng Việt Nam tăng tới 10 bậc so với năm 2010. Đánh giá này đã gây ngạc nhiên đến mức phản cảm trong giới chuyên gia và doanh nghiệp Việt Nam.   —  Tài liệu tham khảo  European Commission, Background Note on Public Adminsitration Reform and Anti-Corruption, Brussels, 24.11.2008  ADB, Annual Report on the 2011 Country Performance Assessment Exercise., April 2012.   World Bank Doing Business Report 2010  —  1 http://www.giaothongvantai.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/xa-hoi/201204/Chua-thu-phi-han-che-phuong-tien-ca-nhan-trong-nam-nay-35419/  2 http://www.tienphong.vn/tags/index.html?tags= +b%C3%A1n+th%E1%BB%8Bt    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tiểu thư” FDI và kinh tế Việt Nam      Từ xa xưa và nhất là trong một “thế giới phẳng”, có một nguồn vốn rất dồi dào, rất hào phóng, rất quan trọng, lại nhạy cảm với thời cuộc, nhạy bén với thị trường, nhưng không ổn định, khó tiên liệu và là niềm mơ ước của nhiều quốc gia, nhiều người, đó chính là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Và với những tính “nắng không ưa, mưa không chịu” của mình, FDI rất giống tiểu thư con nhà danh gia vọng tộc.    FDI từ đâu “nàng” tới?  Nguồn FDI đến từ các Công ty xuyên quốc gia (TNC) của tư nhân và một số ít là của Nhà nước. Các TNC chủ yếu tập trung ở khu vực tam giác Mỹ, EU, Nhật Bản, ba nước đã chiếm 85 trong số 100 TNC hàng đầu thế giới. Những đại công ty này có vốn, có công nghệ, có thương hiệu và có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp thế giới, cho nên thường tìm kiếm những thị trường mới ở ngoài nước để khuếch trương hoạt động đầu tư. Tại APEC CEO Summit 2006, thông tin từ Tổng thư ký Tổ chức về Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD): đầu tư ra nước ngoài năm 2005 của TNC đạt 779 tỷ USD; lớn nhất là Hà Lan 119 tỷ USD, kế tiếp Anh, Pháp, Mỹ, Nhật. Nhóm nước đang phát triển cũng đang đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài, với 133 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn toàn cầu. Trong đó, nhiều TNC của các nước thuộc khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á đang có nguồn dự trữ lớn, cho nên hoạt động đầu tư ra nước ngoài rất sôi động, thể hiện qua 10 tháng năm 2006 đạt 68 tỷ USD. Hồng Kông đầu tư ra nước ngoài 33 tỷ USD, lớn nhất trong các nền kinh tế đang phát triển.     FDI “nàng” đi về đâu?  Cũng số liệu từ UNCTAD (tại APEC CEO Summit 2006), thu hút đầu tư nước ngoài năm 2005 lên tới 916,3 tỷ USD (tăng 29% so với 2004), đồng vốn này chảy vào các nước phát triển 542 tỷ USD, chiếm 59,2%; nước đang phát triển 334 tỷ USD, đạt 36,5%; số còn lại 4,3% rớt vào nhóm nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. Những năm gần đây, các nước Đông Á, Đông Nam Á là sự lựa chọn ưu tiên của các nhà đầu tư. Khu vực này năm 2005 thu hút được 165 tỷ USD, đạt 18% dòng chảy của FDI thế giới. Riêng Trung Quốc đã chiếm 72 tỷ USD, Hồng Kông 36 tỷ USD; kế là Singapore 20 tỷ USD, Indonesia 5 tỷ USD, Thái Lan và Malaysia cùng đạt gần 4 tỷ USD…; Việt Nam khoảng 2 tỷ USD (tính vốn thực hiện). Nếu không tính Myanma, Lào, Campuchia thì Việt Nam là nước “tiểu thư” FDI tìm đến ít nhất.  Số liệu cho thấy FDI đúng là “tiểu thư”, vì được hình thành từ các TNC ở các nước phát triển và đang phát triển ở mức cao; nhưng hai phần ba nguồn vốn này lại rót ngược về những nước này. Có phải do “môn đăng hộ đối” hay do các TNC nhận ra rằng đầu tư vào các nền kinh tế đang chuyển đổi là quá phiêu lưu, mạo hiểm?     FDI “nàng” có làm sang cho nước bạn?  Nhiều nước trong khu vực nhờ nguồn FDI làm cú hích mà phát triển tăng tốc, trong đó phải kể đến Singapore. Gần như thành nguyên lý, quốc gia nào cũng trở nên giàu có nhờ vào hai nguồn vốn: con người và tài nguyên. Nhưng đất nước sư tử này hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu; cả nước ngọt, lương thực, thực phẩm cũng phải nhập từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu trong nước; vì thế, chỉ có thể trông cậy vào con người. Và chính “nguồn vốn” sáng giá này đã như nam châm hấp dẫn các TNC tuôn FDI vào thị trường Singapore. Những thành tựu mà Singapore đã đạt được cho thấy lãnh đạo Nhà nước Singapore đã định hướng đúng về mục tiêu phát triển đất nước: không chọn mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà trở thành một nền kinh tế phục vụ cho các nền kinh tế khác trong khu vực và kết nối khu vực với toàn cầu (khu vực dịch vụ chiếm tới 65% GDP). Từ 9/8/1965 sau khi độc lập đến nay, GDP tính trên đầu người của Singapore liên tục tăng từ khoảng 200 USD/người lên 24.000 USD/người (2005). Singapore là nước chuyển thẳng từ nước kém phát triển lên phát triển và còn là nước đi đầu chuyển đổi từ nền kinh tế mua bán, dịch vụ sang nền kinh tế tri thức.  Không riêng đối với Singapore, FDI là nguồn vốn quan trọng, kỳ vọng của các nước phát triển, đang phát triển và nhất là các nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi, như Việt Nam hiện nay.  “Tiểu thư” FDI đến Việt Nam  Trước khi nước ta tiến hành đổi mới, nguồn vốn FDI không chảy vào Việt Nam. Chỉ sau khi có Luật đầu tư nước ngoài, thì “tiểu thư” FDI mới bắt đầu tìm đến. Dòng chảy của nguồn vốn này vào Việt Nam không ổn định, năm nhiều năm ít, lúc trồi lúc sụt do nhiều yếu tố, trong đó lệ thuộc vào sự quyết tâm đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam là quyết định. Từ cái thuở ban đầu 1987 đến nay đã 20 năm. Suốt thời gian dài đó đã có trên 7.000 dự án được cấp giấy phép, tổng mức vốn đăng ký 70 tỷ USD, tổng vốn thực hiện đạt chỉ khoảng trên 50%, chưa kể số dự án bị rút giấy phép hoặc đề nghị rút giấy phép chiếm tỷ lệ khoảng trên 15% số vốn đăng ký. Từ 2001 – 2005 nguồn vốn này phục hồi và tăng trở lại, dù chậm nhưng đều; vốn thực hiện cũng được tăng theo. Năm 2006 là năm có nguồn đăng ký FDI ước tính trên 9 tỷ USD và vốn thực hiện gần 3 tỷ USD.  Có thể nói, suốt hai thập niên vừa qua, nguồn FDI đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế, giúp Việt Nam phát triển bền vững thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP cao liên tục, chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất GDP của Việt nam khoảng 200 USD/người, nay (2006) đã là 720 USD/người. Các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng từ năm 2006 – 2010, đăng ký FDI tại Việt Nam sẽ tăng đột biến theo chiều thuận lợi, do các yếu tố chủ quan và khách quan: (a) Thành tựu của 20 năm đổi mới, (b) Việt Nam gia nhập WTO, (c) Thành công của APEC 14, (d) Hoa Kỳ trao PNTR cho Việt Nam và, (e) Nguồn FDI trên thế giới đang “đói” thị trường, nhất là các hoạt động sát nhập, mua lại (M&A), liên doanh. Nhưng vốn đăng ký cao là một chuyện, còn làm sao để nguồn vốn này trở thành vốn thực hiện và mang lại hiệu quả thiết thực lại là một chuyện khác.  Từ số liệu của UNCTAD ta thấy chỉ có 4,3% trên tổng số FDI toàn cầu rơi vào nền kinh tế đang chuyển đổi. Tại sao? Các nhà đầu tư TNC chia sẻ: (i) Vì các vị lãnh đạo của các nền kinh tế này nhận thức về FDI chưa thống nhất, chưa đúng tầm, (ii) Hệ thống luật pháp chưa đồng bộ, khó dự đoán, tìm ẩn nhiều ẩn số rủi ro, (iii) Quản lý nhà nước điều hành chủ yếu dựa trên mối quan hệ và chưa theo kịp với tốc độ phát triển của đất nước. Hệ thống hành chính thiếu công tâm, chưa chuyên nghiệp, (iv) Chất lượng nguồn nhân lực thấp và chậm cải thiện, ý thức tôn trọng pháp luật thấp, kỷ luật lao động kém. Nếu Việt Nam khắc phục được những điểm yếu này nhanh hơn các nước khác cùng nhóm, chắc chắn nguồn FDI sẽ chảy về Việt Nam nhanh, nhiều và bền vững hơn.  “Tiểu thư” FDI nói gì với Việt Nam?  “Tiểu thư” FDI nói rằng: FDI là chỉ số thể hiện sự ổn định về nhiều mặt của một đất nước: chính trị, an ninh (quân sự, thiên tai, dịch bệnh…), kinh tế, xã hội… FDI còn là chỉ số dự báo sự phồn vinh, thịnh vượng của nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam phải tìm mọi cách thu hút FDI ngày càng nhiều về cho đất nước và cho doanh nghiệp của mình. Để “tiểu thư” FDI đến thường xuyên, liên tục tăng cao và tác động tích cực vào kinh tế, thì Việt Nam rất nên có những cuộc “ngoại giao kinh tế” ở cấp nhà nước; giới thiệu, xúc tiến thương mại và mời gọi đầu tư ở cấp doanh nghiệp và tổ chức tiếp thị ở cấp địa phương (Tỉnh – Thành phố)…  Thu hút FDI cần lưu ý, có những dự án mang nguồn lợi trực tiếp cho nhà đầu tư đôi khi nhỏ hơn nguồn lợi gián tiếp cho Việt Nam và doanh nghiệp. Cụ thể như: tạo điều kiện cho nước sở tại mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thiết lập quan hệ song phương, đa phương, toàn cầu; tạo cơ sở vật chất ban đầu, hạ tầng kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản trị, tạo nguồn nhân lực trung, cao cấp và tạo công ăn việc làm cho người lao động… Đó là nền tảng ban đầu của một nền kinh tế phát triển bền vững. Kinh nghiệm từ 20 năm thu hút đầu tư cho thấy: có những dự án khu đô thị mới từ nguồn FDI đã là đòn bẩy bật cả vùng đất hoang sơ (dự án Nam Sài Gòn – TP.HCM). Có những dự án như “con chim mồi sáng giá”, làm sang nhiều mặt cho nước sở tại nhờ vào thương hiệu toàn cầu… (Intel, Ford, Honda…) Nhưng cũng có những dự án khai thác khoáng sản (than, bauxit…), tàn phá môi trường, làm ảnh hưởng đến nhiều thị trường khác, nhất là dịch vụ du lịch. “Tiểu thư” FDI khuyên: Việt Nam cần định hướng cho nguồn FDI chảy vào đâu vừa có lợi nhất cho việc hình thành cơ cấu kinh tế của đất nước và nhà đầu tư cũng có lời. Nên hạn chế đến mức thấp nhất các dự án ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên…; những dự án loại này tài nguyên của đất nước bị sử dụng ví như đem “bức họa giá trị đi gói xôi” vậy.  Năm 2005, nhiều chỉ số điều tra về môi trường đầu tư và kinh doanh của Việt Nam bị tụt nhiều bậc, nhất là do tệ tham nhũng; điều này thật sự làm “tiểu thư” FDI ngần ngại. Theo “tiểu thư” FDI, giai đoạn thu hút sự quan tâm của Việt Nam đã qua, bây giờ là lúc Việt Nam cần phải thể hiện bằng được khả năng “tiêu hóa” và duy trì nguồn FDI một cách nhanh và hiệu quả nhất để giúp kinh tế phát triển tăng tốc và bền vững. Phải bằng mọi cách khai thác tốt vận hội mà Việt Nam đang có, vì một khi lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm, muốn tạo dựng lại không hề đơn giản chút nào.  Vì tính chất rất nhạy cảm với môi trường đầu tư mà FDI được ví giống “tiểu thư”. Vì vậy, Việt Nam cần có nhiều “quân tử” để giữ chân nguồn vốn quan trọng này.  Tạ Thị Ngọc Thảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu thụ lâu dài các chất gây dị ứng có thể dẫn đến thay đổi hành vi và tâm trạng      Việc ăn những thực phẩm gây dị ứng có thể tác động đến não bộ, ngay cả khi người bị dị ứng không có các phản ứng nghiêm trọng rõ ràng.    Dị ứng không có triệu chứng có thể khiến mọi người tiếp tục tiêu thụ thực phẩm gây dị ứng, gây ra các vấn đề tiềm ẩn về mặt thần kinh.  Tỷ lệ dị ứng thực phẩm đang gia tăng trên toàn thế giới, thậm chí đạt đến mức độ dịch bệnh ở một số vùng. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ, khoảng 10% trẻ em và người lớn bị dị ứng thực phẩm, trong đó phổ biến nhất là dị ứng với sữa bò, trứng, đậu phộng và các loại hạt. Một số bệnh nhân có triệu chứng nhẹ nên không đến cơ sở y tế – khiến các nhà khoa học không thể thống kê đầy đủ các trường hợp.  Dị ứng thực phẩm là phản ứng miễn dịch quá mức đối với các thành phần thực phẩm, thường là các protein. Chúng biểu hiện dưới dạng một loạt những triệu chứng, từ ngứa, mẩn đỏ và sưng đối với các phản ứng nhẹ, cho đến nôn mửa, tiêu chảy, khó thở và các triệu chứng nghiêm trọng có khả năng đe dọa tính mạng.  Bên cạnh các trường hợp tự nhận ra thông qua những biểu hiện dễ thấy, dị ứng thực phẩm có thể được chẩn đoán bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với lượng protein hoặc chất gây dị ứng qua đường miệng hoặc da và quan sát phản ứng tức thì của họ. Phổ biến hơn, các bác sĩ sử dụng các xét nghiệm máu để đo mức độ globulin miễn dịch E (IgE) , một loại kháng thể chuyên biệt mà hệ thống miễn dịch sử dụng để xác định các chất gây dị ứng và kích hoạt phản ứng. Những người khỏe mạnh có thể có nồng độ IgE trong máu thấp, nhưng người bị dị ứng thực phẩm có nồng độ cao hơn nhiều, làm tăng nguy cơ bị sốc phản vệ. Cụ thể, bác sĩ sẽ cho người bệnh tiếp xúc với chất nghi ngờ, sau đó định lượng IgE trong máu. Nếu IgE tăng, nghĩa là bệnh nhân bị dị ứng với chất này.  Tuy nhiên, có một số trường hợp dù nồng độ IgE trong máu tăng, nhưng người đó vẫn không ghi nhận bất cứ triệu chứng nào khi ăn chất gây dị ứng. Tình trạng này đôi khi được gọi là nhạy cảm không có triệu chứng. Trong nhiều trường hợp, những người bị dị ứng thậm chí có thể không biết rằng họ bị mẫn cảm với loại thực phẩm đó.  Tuy nhiên, họ có thực sự không có triệu chứng không? Hay vẫn có những tác động trong cơ thể họ, chỉ là họ không biết?  Trợ lý giáo sư Kumi Nagamoto-Combs thuộc Đại học North Dakota là một nhà thần kinh học đang nghiên cứu cách não bộ bị ảnh hưởng bởi tình trạng dị ứng thực phẩm. Bà bắt đầu quan tâm đến chủ đề này khi phát hiện ra rằng một số thành viên trong gia đình mình bị dị ứng với sữa bò. Vài thành viên hoàn toàn không ăn uống các sản phẩm từ sữa sau nhiều lần ghi nhận các triệu chứng nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng. Các thành viên khác thì không có phản ứng dị ứng điển hình, nên họ thỉnh thoảng vẫn tiêu thụ sản phẩm từ sữa, nhưng một hoặc hai ngày sau đó, cơ thể họ bắt đầu cảm thấy khó chịu.  Bà và các nhà nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng các chất gây dị ứng thực phẩm có thể ảnh hưởng đến não và hành vi của chúng ta nếu ta quá mẫn cảm, ngay cả khi chúng ta không có các triệu chứng dị ứng thực phẩm điển hình.  Các rối loạn hành vi  Thực chất trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã nghi ngờ việc quá mẫn cảm với thực phẩm là nguyên nhân tiềm ẩn gây rối loạn hành vi.  Họ ghi nhận một trường hợp vào năm 1949, bệnh nhân đã có các rối loạn hành vi và tâm trạng sau khi họ ăn một số loại thực phẩm, chẳng hạn như sữa và trứng. Các triệu chứng sau đó không còn xuất hiện sau khi bệnh nhân ngừng ăn các thực phẩm bị nghi ngờ, điều này cho thấy việc mẫn cảm với thực phẩm là “thủ phạm” gây nên các rối loạn. Tuy nhiên, bà Kumi Nagamoto-Combs tự hỏi vì sao các bệnh nhân vẫn có thể ăn những thực phẩm này đến khi họ chọn cách ngừng ăn chúng. Nói cách khác, họ không có triệu chứng nhạy cảm hoặc dung nạp với các chất gây dị ứng.  Một số nghiên cứu gần đây ở người đã chứng minh mối liên hệ giữa dị ứng thực phẩm và các rối loạn tâm thần kinh khác nhau, bao gồm trầm cảm, lo lắng, rối loạn tăng động giảm chú ý và chứng tự kỷ. Nghiên cứu cho thấy một số phản ứng đối với chất gây dị ứng thực phẩm có thể liên quan đến hệ thần kinh và biểu hiện dưới dạng rối loạn hành vi.  Các bác sĩ thường tiến hành xét nghiệm dị ứng chích da bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với một lượng nhỏ chất gây dị ứng và quan sát phản ứng của họ. ronstik/iStock via Getty Images  Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi về việc liệu dị ứng với thực phẩm có thực sự gây ra rối loạn tâm thần kinh hay không. Sự khác biệt về các loại dị ứng, chủng tộc, thói quen ăn uống và các yếu tố khác giữa những người tham gia nghiên cứu có thể tạo ra kết quả trái ngược nhau. Quan trọng hơn, hầu hết các nghiên cứu chỉ phân tích trên những bệnh nhân có biểu hiện dị ứng rõ ràng.  Nghiên cứu trên chuột  “Chúng tôi đã kiểm tra xem liệu các chất gây dị ứng thực phẩm có biểu hiện dưới dạng các triệu chứng hành vi hay không, đặc biệt là ở những người nhạy cảm không có triệu chứng”, trợ lý giáo sư Kumi Nagamoto-Combs cho biết. Nói cách khác, họ muốn tìm hiểu xem liệu việc ăn những thực phẩm gây khó chịu có thể tác động đến não bộ hay không, ngay cả khi người bị dị ứng không có các phản ứng nghiêm trọng rõ ràng.  Giai đoạn đầu, các nhà khoa học quyết định thử nghiệm trên chuột. Họ lựa chọn những con chuột cùng độ tuổi và nền tảng di truyền, đều bất dung nạp β-lactoglobulin, hay BLG, một loại protein hình cầu có khối lượng phân tử khoảng 18.000 dalton, chiếm khoảng 50% đạm váng sữa (whey protein) trong sữa bò. “Chúng tôi phát hiện ra rằng dù những con chuột nhạy cảm với BLG có nồng độ IgE tăng đáng kể, nhưng chúng không có biểu hiện dị ứng ngay lập tức”, bà mô tả. Chúng thậm chí có thể ăn thức ăn có chứa chất gây dị ứng trong hai tuần mà không có bất kỳ triệu chứng rõ ràng nào, mặc dù vẫn duy trì mức IgE cao. Điều này chỉ ra rằng chúng không có triệu chứng mẫn cảm rõ ràng.  Sau đó, nhóm nghiên cứu quan sát xem chúng có thay đổi gì về mặt hành vi do cảm xúc chi phối hay không. “Bởi vì chúng tôi không thể hỏi chuột xem chúng cảm thấy thế nào, nên chúng tôi tự suy ra ‘cảm xúc’ của chúng bằng cách ghi nhận những thay đổi so với hành vi bình thường”, bà cho biết. Theo bản năng, chuột mò mẫm môi trường xung quanh để tìm kiếm thức ăn và nơi trú ẩn, đồng thời tránh nguy hiểm tiềm ẩn. Tuy nhiên, những con chuột “lo lắng” có xu hướng dành nhiều thời gian ẩn nấp hơn để đảm bảo an toàn. Nhóm nghiên cứu đã xác định được những con chuột rối loạn cảm xúc bằng cách giữ đuôi chúng trong thời gian ngắn. Hầu hết những con chuột sẽ tiếp tục chiến đấu để thoát khỏi tình trạng khó chịu, trong khi những con chuột rối loạn cảm xúc có biểu hiện chán nản, nhanh chóng bỏ cuộc.  Nhóm nghiên cứu đã thiết kế thí nghiệm mô phỏng các tình huống, trong đó những chú chuột không có triệu chứng nhạy cảm sẽ ăn một lượng lớn thực phẩm gây dị ứng trong một ngày hoặc một lượng nhỏ mỗi ngày trong vài tuần. Kết quả cho thấy, những chú chuột bất dung nạp BLG đã biểu hiện các hành vi cho thấy sự lo lắng chỉ một ngày sau khi tiêu thụ một lượng lớn chất gây dị ứng. Một nhóm chuột nhạy cảm khác biểu hiện hành vi tương tự chứng trầm cảm sau khi ăn một lượng nhỏ chất gây dị ứng trong hai tuần. Ngoài ra, những con chuột bất dung nạp BLG còn có dấu hiệu viêm não và tổn thương tế bào thần kinh, cho thấy những thay đổi trong não có thể là nguyên nhân gây ra các hành vi bất thường của chúng.  Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu tác động lâu dài của việc tiêu thụ chất gây dị ứng bằng cách cho những con chuột bất dung nạp BLG ăn chất gây dị ứng trong một tháng. Họ thấy rằng sau một tháng, nồng độ IgE của những chú chuột đã giảm, điều này cho thấy việc liên tục ăn một lượng nhỏ chất gây dị ứng dẫn đến giảm phản ứng miễn dịch hay còn gọi là “giải mẫn cảm”. Tuy nhiên, các dấu hiệu viêm não vẫn còn, tác hại của chất gây dị ứng vẫn tồn tại trong não.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể nghiên cứu tình trạng viêm não hoặc viêm dây thần kinh ở những người không có triệu chứng nhạy cảm. Tuy nhiên, nhìn chung, viêm dây thần kinh mãn tính là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh thoái hóa thần kinh, chẳng hạn như bệnh đa xơ cứng và bệnh Alzheimer. “Việc hiểu rõ hơn về vai trò của các chất gây dị ứng đối với thần kinh có thể giúp các nhà nghiên cứu làm rõ liệu chúng có gây ra chứng viêm mãn tính dẫn đến các bệnh này hay không”, nhóm nghiên cứu lập luận.  Điều này đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân đang điều trị bằng liệu pháp miễn dịch dùng qua đường uống, một phương pháp điều trị dị ứng liên quan đến việc ăn dần dần một lượng nhỏ chất gây dị ứng theo thời gian, giúp giải mẫn cảm hệ thống miễn dịch và giảm tỷ lệ sốc phản vệ, hoặc các phản ứng dị ứng đe dọa tính mạng. Vào năm 2020, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã phê duyệt một dạng tiêu chuẩn hóa chất gây dị ứng đậu phộng để ngăn ngừa sốc phản vệ ở bệnh nhi.  Các chất gây dị ứng thực phẩm vẫn có thể ảnh hưởng đến não và hành vi của những người không có triệu chứng. Nhiều người vẫn thường nói “Bạn là những gì bạn ăn”, giờ đây khi xem xét cách bộ não phản ứng với thực phẩm, chúng ta đã hiểu thêm một khía cạnh khác của cụm từ này.  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:  People can have food sensitivities without noticeable symptoms – long-term consumption of food allergens may lead to behavior and mood changes  Key information to help better understand food allergies and anaphylaxis.    Author                .        
__label__tiasang Tìm cách tốt nhất để áp dụng liệu pháp hạt nano cho điều trị ung thư      Các nhà nghiên cứu trong cộng đồng y học nano điều trị ung thư tranh cãi về việc liệu có thể sử dụng các hạt có cấu trúc nhỏ bé ở cấp độ nano dẫn thuốc tới các khối u một cách thụ động – cho phép các hạt nano khuếch tán vào các khối u và trở thành hữu dụng tại chỗ – hoặc dẫn thuốc một cách chủ động – có thêm một phân tử chống ung thư hướng đích để liên kết với các thụ thể của tế bào bị ung thư cụ thể và theo phương pháp này giữ cho hạt nano ở lại khối u lâu hơn.      Hiện tại, một nghiên cứu về các khối u ở người và chuột được nuôi cấy trên chuột được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Kimmel Johns Hopkins đã cho thấy trên thực tế, đề xuất vấn đề này còn phức tạp hơn nhiều.  Phòng thí nghiệm của họ đã nghiên cứu thử nghiệm cả trên các phương pháp điều trị 6 mô hình ung thư vú; 5 dòng tế bào ung thư trên người và một tế bào ung thư trên chuột với ba biến thể của hệ miễn dịch được bao bọc bằng trastuzumab, một loại thuốc nhắm đích vào các tế bào ung thư vú dương tính với thụ thể yếu tố tăng trưởng miễn dịch 2 (HER2), được giữ lại lâu hơn trong các khối u hơn cả các hạt nano đơn giản, ngay cả trong các khối u cũng không biểu hiện protein tăng trưởng HER2. Dẫu vậy, các tế bào hệ miễn dịch của vật chủ tiếp xúc các hạt nano đã tạo ra một phản hồi miễn dịch chống ung thư bằng việc kích hoạt tế bào T xâm lấn và làm chậm quá trình phát triển của khối u.  Một miêu tả chi tiết nghiên cứu này được xuất bản trên Science Advances vói bài báo “Nanoparticle interactions with immune cells dominate tumor retention and induce T cell–mediated tumor suppression in models of breast cancer”.   “Đã được biết đến trong một thời gian dài, các hạt nano, khi đi vào trong mạch máu, được các đại thực bào giống scavengervà các tế bào hệ miễn dịch khác chọn”, Robert Ivkov, phó giáo sư chuyên nghiên cứu ung thư và các khoa học bức xạ phân tử tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Sidney Kimmel tại Johns Hopkins, nói. “Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này đã tập trung vào việc cố gắng giảm thiếu các tương tác với những tế bào miễn dịch bởi họ đã cố gắng tăng cường thời gian lưu hành của các hạt nano và cố giữ chúng ở lại trong những tế bào khối u. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy các tế bào miễn dịch trong khối u này đã thu thập và tương tác với các hạt theo cách đó để kích thích sự phản hồi của tế bào ung thư. Cách này có thể có tiềm năng phát triển hơn cả việc phân phối thuốc theo hướng phát triển các liệu pháp miễn dịch chống ung thư”.  Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một số thực nghiệm in vitro. Đầu tiên, họ áp dụng một số hạt nano ô xít sắt phủ bột đơn giản và các hạt khác phủ trastuzumab với năm dòng tế bào ung thư vú của người, tìm thấy số lượng liên kết giữa các hạt nano bọc trastuzumab và các tế bào ung thư phụ thuộc vào cách các tế bào ung thư  biểu hiện gene ung thư HER2. Tren người, các ung thư vú dương tính HER2 là một trong những kháng với hóa trị tiêu chuẩn bậc nhất. Trastuzumab, thường được biết dưới cái tên thuốc Herceptin, hướng đích các tế bào khối u dương tính HER2 và kích hoạt hệ miễn dịch.    Các phản hồi khác nhau một cách đáng ngạc nhiên trên các mô hình động vật, các nhà nghiên cứu cho biết. Trong các thực nghiệm riêng rẽ, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các hạt nano trong hai chủng thiếu miễn dịch của chuột ghép với các tế bào từ năm tế bào dòng tế bào ung thư người – hai âm tính HER2 và ba là dương tính HER2. Khi nghiên cứu các ung thư trên động vật 24 giờ sau đó, họ ghi nhận các hạt nano bọc trastuzumab được tìm thấy với số lượng lớn gấp hai đến năm lần các hạt nano thường trong tất cả các dạng ung thư, bất chấp là chúng có biểu lộ protein HER2 hay không. Họ cũng thấy số lượng lớn các hạt nano phủ trastuzumab đã trở lên lớn hơn (gấp mười lần) trên chuột với hệ miễn dịch đủ chức năng và mang các khối u phát nguyên từ chuột.  Điều này khiến các nhà nghiên cứu nghi ngờ là các hệ miễn dịch của vật chủ đã tương tác với các hạt nano và đóng một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ các hạt trong khối u, ngay cả có thuốc được đưa thêm vào hay không.  Nhiều thực nghiệm khác tiết lộ là các tế bào miễn dịch liên quan đến khối u đã phản hồi với các hạt nano, và chuột đã được lai tạo với một hệ miễn dịch đầy đủ đã giữ các hạ nano bọc trastuzumab hơn là chuột được lai tạo không có hệ miễn dịch đầy đủ chức năng.  Ngoài ra, viêm các tế bào miễn dịch trong khu vực xung quanh các khối u, hoặc vi môi trường, đã thu giữ các hạt nano bọc thuốc nhiều hơn so với các hạt nano thường. Cuối cùng, sau chuỗi các thực nghiệm kéo dài 30 ngày, các nhà nghiên cứu đã thấy việc tiếp xúc các hạt nano đã ức chế sự tăng trưởng của khối u gấp ba đến bốn lần so với các biện pháp kiểm soát khác và việc gia tăng tế bào T diệt ung thư dương tính CD8 trong khối u. Ivkov lưu ý, đáng ngạc nhiên là sự phản hồi kích hoạt hệ miễn dịch chống ung thư đã hiệu quả tương đương với việc tiếp xúc với các hạt nano bọc trastuzumab hay nano thường. Chuột có tế bào T khiếm khuyết không chứng tỏ khả năng ức chế tăng trưởng khối u. Các nhà nghiên cứu cho biết, điều này xảy ra bởi sự tiếp xúc hoàn toàn với các hạt nano có thể là nguyên nhân dẫn đến sự phản hồi miễn dịch của vật chủ với sự kích thích miễn dịch chống ung thư, và không đòi hỏi các hạt nano phải lọt vào bên trong các khối u.  “Về tổng thể, công trình của chúng tôi cho thấy những tương hợp lẫn nhau đầy phức tạp tồn tại bên trong vật chủ và những phản hồi miễn dịch khối u với việc tiếp xúc hạt nano”, Ivkov nói. “Các kết quả này đề xuất những khả năng có thể đầy thú vị cho việc tiếp xúc ‘đích’ hạt nano của vi môi trường miễn dịch khối u. Chúng cũng chứng minh sự thú vị của tiềm năng phát triển các hạt nano mới như những nền tảng cho nhiều liệu pháp miễn dịch ung thư”.  Các nhà nghiên cứu cũng cho biết họ lập kế hoạch tìm hiểu xem các loại phản hồi miễn dịch tương tự có thể được sinh ra với các điều kiện không có ung thư không, ví dụ như với các bệnh truyền nhiễm.    Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-mice-human-cells-nanoparticle-therapy.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm cái mới từ cuộc sống      Chính điều không thể tự bằng lòng với chính mình đã đưa giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Viện CIRTech, ĐH Công nghệ TP.HCM) bước vào một con đường mới và khác biệt, cho dù đã có trong tay rất nhiều công trình trên các tạp chí top Q1 chuyên ngành và bảy lần liên tiếp lọt vào top 1% thế giới.      Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Viện CIRTech, ĐH Công nghệ TP.HCM). Ảnh:  Thanh Tùng  Trong cộng đồng cơ học Việt Nam hiện nay, cái tên Nguyễn Xuân Hùng được nhiều người biết đến bởi nó gắn liền với hơn 200 công bố trên các tạp chí hàng đầu chuyên ngành cơ học tính toán, gắn liền với những giải thưởng trong và ngoài nước… Có lẽ do vậy mà Nguyễn Xuân Hùng mang một sức hút đặc biệt: bên lề những hội nghị lớn của ngành cơ, các đồng nghiệp trẻ thường vây kín lấy anh để hỏi han chuyện trò, từ kinh nghiệm lập hồ sơ xin kinh phí của các quỹ quốc tế, kinh nghiệm xây dựng nhóm nghiên cứu, những cân nhắc lựa chọn hướng đi khả thi hoặc đơn giản chỉ là chia sẻ những ý định mới… Sự cởi mở và sẵn sàng chia sẻ của anh khiến các nhà nghiên cứu mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp cũng đủ dũng khí gạt đi sự tự ti để háo hức thổ lộ cả những ý tưởng nghiên cứu còn chưa thành hình.   Tìm cái chung trong cái riêng  Ở góc độ nào đó, với một nhà nghiên cứu làm việc ở một quốc gia còn rất khiêm tốn về đóng góp khoa học như Việt Nam thì những gì mà giáo sư Nguyễn Xuân Hùng đạt được đã là một thành công nhưng trong những suy nghĩ nội tại của mình thì anh lại coi đó chỉ là một điểm mốc trên con đường nghiên cứu. Bởi dưới sự soi chiếu khe khắt chính mình, anh cảm thấy nếu tạm bằng lòng với những điều đã trở thành nếp mà không khai phá cái mới thì sớm hay muộn “lưng vốn” cũng rơi vào trạng thái tới hạn. Đó là lý do vì sao mà nhiều năm trước, anh đã nghiền ngẫm rất lâu về xu hướng số hóa của thế giới, nơi hứa hẹn mở ra nhiều bài toán hấp dẫn trong môi trường số (ảo) cũng như môi trường cơ học (thực), và thấy ở đó những điều mới mẻ. Con mắt đầy tò mò và khả năng biết gắn kết các vấn đề hay lĩnh vực tưởng chừng xa cách của anh đã phát hiện được mối liên hệ gần gũi giữa cơ học tính toán và học máy. “Số hóa cho ra đời rất nhiều dữ liệu, việc xử lý nó sẽ là một mắt xích trong chuỗi nhiều thành phần khác nhau và những công cụ xử lý đó cần [được tạo dựng trên] những giải thuật học máy, học sâu, AI… Tất cả những điều đó lại liên quan đến chuyên môn của cơ học tính toán, lĩnh vực sử dụng các công cụ trên máy tính để giải quyết các bài toán kỹ thuật ở ngoài thực tế”, anh giải thích.        “Khi làm khoa học, bên cạnh việc duy trì liên tục nhịp độ nghiên cứu với những đề tài đã định thì tôi cũng tiếp cận hoặc quan sát nhiều vấn đề khác nhau để xác định cần phải đào sâu hơn nữa trong hướng nào, lĩnh vực nào. Trong quá trình đó, tôi thường tự đặt ra các câu hỏi ‘phải chăng mình có thể tự định nghĩa lấy công cụ nào đó mang bản sắc riêng?’, ‘nếu có thì bản sắc riêng đó có đi trong xu thế chung không? có mang lại hiệu quả hay lợi ích hơn các công cụ trước đây không?’” Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng      Việc giải quyết những bài toán đó đòi hỏi những phương pháp tính toán, những công cụ không chỉ mới và hiệu quả mà thậm chí có thể mang cả bản sắc riêng của người thiết lập – điều mà bất cứ nhà khoa học nào cũng hằng mơ ước. “Khi làm khoa học, bên cạnh việc duy trì liên tục nhịp độ nghiên cứu với những đề tài đã định thì tôi cũng tiếp cận hoặc quan sát nhiều vấn đề khác nhau để xác định cần phải đào sâu hơn nữa trong hướng nào, lĩnh vực nào. Trong quá trình đó, tôi thường tự đặt ra cho mình các câu hỏi ‘phải chăng mình có thể tự định nghĩa lấy công cụ nào đó mang bản sắc riêng?’, ‘nếu có thì bản sắc riêng đó có đi trong xu thế chung không? có mang lại hiệu quả hay lợi ích hơn các công cụ trước đây không?’”, anh nói về những thôi thúc khiến mình định hình được công cụ mới.   Theo quan điểm của anh, công cụ tối ưu hóa các cấu trúc tính toán mà anh ao ước đó cần phải phù hợp với nhiều vấn đề, áp dụng được trong nhiều trường hợp. Thật lạ là trên thực tế, nó bắt nguồn từ những bài toán rất cụ thể mà anh và đồng nghiệp vẫn cùng thực hiện chứ không từ nền tảng của những vấn đề lớn. “Quan điểm của tôi là bài toán đi trước, phương pháp theo sau để giải quyết bài toán, giống như việc xuất hiện đại dịch Covid-19 dẫn đến nhu cầu cần có vaccine để phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh vậy”, anh nói. Trong trường hợp này, công cụ của anh có thể coi như một thứ “vaccine” xử lý dữ liệu cho các bài toán về in 3D tiên tiến trên các cấu trúc đa diện, đa tỉ lệ, vật liệu có kết cấu xốp… để quá trình in sản phẩm có thể diễn ra một cách tự động.   Từ những đào sâu suy nghĩ như thế, phương pháp tối ưu cho in 3D và học máy đã dần hình thành và được gắn vào các vấn đề cần giải quyết. “Từ những bài toán khác nhau, mình có thể đúc rút và kiểm tra xem nó có thể cạnh tranh được với các phương pháp hiện có hay không. Khi đi theo một chiến lược lớn mà mình đã định thì dĩ nhiên mình có thể sử dụng công cụ sẵn có của người khác nhưng với những điểm nhấn quan trọng về công nghệ, mình cần tự chủ, không nên quá phụ thuộc vào họ”, anh nói.    Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng đứng cạnh một máy in 3 D trong Ngày hội Toán học Mở 2021. Ảnh:  Thanh Tùng  Điều đó đã thể hiện một cách rõ nét trong hàng loạt bài báo về xử lý dữ liệu in 3D mà anh công bố trong năm 2020. Sau khi công bố, anh chia sẻ toàn bộ phần lập trình và dữ liệu mình xử lý trong quá trình nghiên cứu để những ai quan tâm có thể tự do tải về. Anh chia sẻ “Thực ra không đơn giản để công khai dữ liệu, muốn làm như vậy thì phương pháp của mình cần đảm bảo các tiêu chí đầy đủ, độ chính xác và khoa học để mọi người có thể lặp lại được kết quả. Với tôi, giải pháp mình tạo ra cần làm sao cho những ai quan tâm áp dụng cũng cảm thấy nó thực sự thú vị. Hơn nữa, việc chia sẻ lên cộng đồng cũng là cách để tiếp thu ý kiến phản biện của người đọc”.       “Giải pháp mình tạo ra cần làm sao cho những ai quan tâm áp dụng cũng cảm thấy nó thực sự thú vị. Hơn nữa, việc chia sẻ lên cộng đồng cũng là cách để tiếp thu ý kiến phản biện của người đọc”. Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng.      Nhưng để thuyết phục cộng đồng ở nhiều lĩnh vực khác nhau cùng quan tâm, ắt hẳn công cụ ấy phải có sức hút đặc biệt. Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng lý giải “Phương pháp này ra đời để giải quyết bài toán của tôi nhưng thực sự nó có thể mở rộng áp dụng cho những lĩnh vực khác. Không chỉ cơ học, hầu như lĩnh vực nào đòi hỏi về phân tích dữ liệu, tối ưu dữ liệu cũng có thể sử dụng nó bởi những bài toán muôn hình vạn trạng trong cuộc sống của các ngành kinh tế, xây dựng, môi trường…, cứ có yêu cầu tối ưu nguyên liệu đầu vào, tối ưu vật tư… trên dữ liệu đang có thì có thể tích hợp”. Để hướng đến mục tiêu này, anh đã áp dụng nguyên lý tối ưu toàn cục, đồng thời giải quyết những hạn chế của bài toán tối ưu là sự chuyển vị (displacement) và lực ứng suất biến dạng (stress enforcements).   Nhìn sâu vào phương pháp đó, dường như người ta vẫn không thôi lạ lùng: xuất phát từ một ngành nhỏ bé nhưng lại vừa vặn với nhiều ngành khác, đi từ những bài toán rất thực tế nhưng lại giúp xử lý được những bài toán rất tổng quát, tại sao vậy? Không ai ngờ là câu trả lời giản dị của anh lại gợi mở ra nhiều mối tương liên thú vị giữa những lĩnh vực mà chỉ những người suy nghĩ rất sâu sắc mới có thể nhìn ra được bản chất: “Bởi đằng sau các bài toán diễn ra trong thực tế đều là các vấn đề hết sức cơ bản, muốn tháo gỡ được chúng thì chúng ta phải giải quyết được vấn đề nguyên bản của nó, ví dụ như đằng sau bài toán về thiết kế bờ kè chống sạt lở không chỉ là câu chuyện rất chung về kết cấu để đảm bảo khả năng chịu lực mà cũng có nét tương đồng với câu chuyện tối ưu các nguồn lực đầu vào để có được giải pháp cho sản phẩm…”.    Giữa những bài toán của thực tại  Mỗi lần trò chuyện với giáo sư Nguyễn Xuân Hùng, dù trong quãng thời gian rất ngắn ngủi thì bao giờ người đối thoại cũng sớm nhận ra ở anh một tâm thế thiết tha đưa những nghiên cứu của mình vào thực tế. Đó cũng là nỗi niềm chung của những nhà khoa học trẻ mong muốn góp phần đem lại đổi thay trên chính đất nước mình, khi thấy những cơ hội theo xu hướng quốc tế có thể nắm bắt. “Bài toán tối ưu tôi nghiên cứu không chỉ là tối ưu trong toán học mà còn nhằm giải quyết vấn đề trong công nghệ in 3D tiên tiến – công nghệ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, anh nói. Đây là lý do mà vài năm trở lại đây, con đường phát triển của anh đã dịch chuyển dần từ nghiên cứu cơ bản sang R&D, trong đó “những nghiên cứu trong năm 2020 là năm bản lề tạo ra bước đệm để giải quyết bài toán lớn trong mục tiêu chung của CIRTech”.    Nhưng ở Việt Nam, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế không phải là điều trong tầm tay nhà khoa học. Va chạm nhiều với các doanh nghiệp lớn nhỏ trong và ngoài nước, Nguyễn Xuân Hùng cảm thấy day dứt khi thấy nhiều vấn đề mà nhà khoa học có thể giải quyết với những giải pháp rất cụ thể và rất mới nhưng không phải lúc nào cũng tìm được địa chỉ. Những người làm nghiên cứu mong muốn tạo ra một sản phẩm sáng tạo hữu hình như anh đã sẵn sàng nắm lấy một đầu dây và kết nối những nhịp cầu, phần còn lại có lẽ phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp. “Phần lớn các doanh nghiệp tìm đến với tôi đều là tư nhân như Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Saki Bình Dương, nhà cung cấp giàn giáo đạt tiêu chuẩn quốc tế, Công ty Cổ phần KHCN Việt Nam Busadco chuyên về thoát nước đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị…. Có lẽ việc phải tăng cường sự cạnh tranh trên thị trường khiến họ phải tìm đến với khoa học để có công nghệ mới”, anh giải thích và cho biết, chỉ khi đưa giải pháp nghiên cứu ứng dụng trong thực tế thì anh và cộng sự mới hiểu nó hữu ích đến đâu, có cần chỉnh sửa hay bổ sung gì thêm.   Có lẽ, quá trình làm việc như vậy giúp những người như anh nhận ra các điểm khuyết thiếu trong giải pháp của mình. Vậy tại sao tồn tại những hạn chế đó, dù nó là kết quả của những công việc nghiên cứu nghiêm túc và tận tâm? Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng thoáng trầm ngâm “Không phải là mình không đủ năng lực giải quyết các bài toàn thực tế mà vì mình không có đủ các nguồn lực. Muốn tham gia cùng doanh nghiệp thì mình cần phải có đủ điều kiện về không gian dữ liệu, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng… và cả sự kiên nhẫn, chia sẻ nữa”.   Dù có nhiều ý tưởng đan xen đành tạm gác lại “chờ duyên”, anh vẫn tìm ra những cách để nối dài con đường của mình hoặc đơn giản là để lấp đi những mảng khuyết thiếu bằng các dự án do nhiều quỹ khoa học tài trợ, bất kể nhà nước hay tư nhân, quốc tế hay trong nước. “Tôi thấy không có gì ngại cả, quỹ nào cũng là quỹ, miễn là nó tồn tại một cách hợp pháp và mình có thể dùng năng lực để lấy được kinh phí phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và ứng dụng của mình”, anh nói. Đấy là lý do vì sao anh và cộng sự có thể tự tin lấy được dự án “Một giải pháp sáng tạo để bảo vệ bờ sông/biển Việt Nam do ảnh hưởng lũ lụt và xói mòn” (Chương trình tài trợ Chính phủ Bỉ và Horizon Âu châu 2020) hay “Công nghệ in 3D trên nền tảng học sâu” (Quỹ VINIF)… Nếu nhìn vào các dự án như vậy, có thể thấy nó không đơn thuần là những đề tài nghiên cứu với những bài báo ISI mà đã hướng đến những giải pháp cụ thể để ứng dụng trong thực tế, “ví dụ như dự án với VINIF hướng đến việc phát triển một nền tảng thiết kế số phục vụ công nghệ in 3D và phát triển phương pháp máy học sâu thông qua bộ dữ liệu kết hợp thu được từ quá trình thiết kế, mô phỏng tối ưu hóa, đồng thời giúp nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa thiết kế kết cấu cho vật liệu in 3D”.   Bằng sự cần mẫn như vậy, việc anh tìm ra những giải pháp cụ thể đã dần khả thi, ví dụ như từ phương pháp tối ưu trong in 3D, anh cùng nhóm nghiên cứu đã có Horizon Tech – một ứng dụng có khả năng kết nối ba bên gồm khách hàng, doanh nghiệp in và thư viện mẫu in lớn để qua đó có được những sản phẩm thực tế và tiến tới thương mại hóa những sáng tạo của cả bên sử dụng và phát triển sản phẩm, sản phẩm anh mới giới thiệu tại Ngày hội Toán học mở 2021.      Thật thú vị là một nhà cơ học như anh có thể nhìn thấy cơ hội của mình trong những bài toán hết sức đa dạng trong cuộc sống, những bài toán tưởng chừng như thuộc phạm vi của công nghệ sinh học, khí tượng khí hậu, năng lượng, kinh tế…      ***  Không cần quá tinh ý cũng có thể nhận ra mối liên hệ mật thiết của giáo sư Nguyễn Xuân Hùng với các vấn đề của đời sống xã hội đương đại. Thật thú vị là một nhà cơ học như anh có thể nhìn thấy cơ hội của mình trong những bài toán hết sức đa dạng trong cuộc sống, những bài toán tưởng chừng như thuộc phạm vi của công nghệ sinh học, khí tượng khí hậu, năng lượng, kinh tế… “Đó đều là những bài toán liên ngành mà cơ học cũng có phần của mình trong đó. Thực ra mọi thứ trong cuộc sống này đều có chất cơ học bên trong, ví dụ như dòng máu vận chuyển trong cơ thể con người liên quan đến bài toán dòng chảy trong các mạch máu, đi vào các tế bào, nội quan… còn hơi thở là dòng vận chuyển không khí và có thể được mô tả bằng các phương trình toán học rút ra từ các định luật về chuyển động của Newton”, anh nói.   Bằng con mắt của một người đam mê với nghề và lối suy nghĩ rất mở như vậy, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng đã bước vào hướng mới có tính mạo hiểm hơn là đi theo một nền tảng về trí tuệ nhân tạo trong in 3D và đưa đến một bài toán mà kết quả của nó gần với ứng dụng cho một lớp các bài toán cần thiết và có ý nghĩa ở ngoài thực tế. Nhưng mạo hiểm có đồng nghĩa với rủi ro? “Quan điểm của tôi là phải luôn luôn bước sang các hướng mới, các vấn đề còn đang rất mới mẻ bởi chỉ điều đó mới có thể làm thay đổi chính mình được, nếu mình cứ đi lại theo một con đường cũ, áp dụng cách làm cũ thì rất khó tạo ra động lực phát triển”, anh mỉm cười và nói thêm một cách chân thành “Với lại, lúc nào tôi cũng cảm thấy mình vẫn còn là một học trò…”. □       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Tìm công chúng khoa học ở… quán bia      Bia liệu có giúp nâng cao nhận thức của con người về sinh học phân tử? Chưa ai khẳng định được điều này nhưng các nhà khoa học Đức đang thực hiện một cuộc thử nghiệm trò chuyện về khoa học trong nhiều quán bia tại Hamburg.      Giáo sư vật lý thiên văn Marcus Bruggen ở ĐH Hamburg, một trong những nhà khoa học tham gia festival truyền bá kiến thức về khoa học  Nếu diễn ra ở phòng họp thì cuộc thảo luận về sinh học phân tử không khi nào bị ngắt quãng bởi câu hỏi “Có ai uống thêm bia nữa không?” nhưng đây lại là một phần của các cuộc nói chuyện khoa học trong khuôn khổ Festival Khoa học tại Hamburg. Ở lần thứ hai tổ chức, các nhà vật lý, sinh học và hóa học đã tắt máy tính, rời khỏi phòng thí nghiệm của mình, tới các quán bia để trò chuyện về vật lý, sinh học hoặc thiên văn với những người có mặt ở đó.  Heisenberg Bar là một trong số 46 điểm của FestivalKhoa học năm nay có tên Wissen vom Fass [tạm dịch: Kiến thức từ thùng bia] . Không nơi nào tốt hơn nơi này để giáo sư Bernhard Schmidt, nhà nghiên cứu chính tại Trung tâm nghiên cứu quốc gia Synchrotron (DESY) nói về cỗ máy gia tốc hạt lớn 9Large Hadron Collider) và các hạt cơ bản.  Quán bar đông chật người uống bia và thi thoảng lại đặt ra câu hỏi. Giáo sư Bernhard Schmidt có sức hút như một thỏi nam châm khi mang đến nơi này những mô hình electron tự làm và say sưa nói về chúng. Thi thoảng miếng đế lót vại bia được dùng để minh họa về tốc độ vô địch của ánh sáng .  Cách diễn đạt dễ hiểu này khiến cho khoa học trở nên gần gũi hơn. Khẩu hiệu của festival là “Giải hạn cơn khát hiểu biết”, giáo sư Schmidt cho biết, “Tôi luôn ngạc nhiên về những câu hỏi đầy hiểu biết của cử tọa. Cuộc trò chuyện khoa học này đã góp phần tháo gỡ rào cản giữa khoa học hàn lâm và những người dân bình thường. Chúng ta cần mang khoa học ra khỏi các trường, viện, các phòng thí nghiệm tới những nơi như thế này”.  46 cuộc trò chuyện khoa học có các chủ đề về lỗ đen, khoa học của sự ngẫu nhiên, liệu cây cối có cảm giác, vụ nổ big bang ở mức độ nào…, ví dụ một chủ đề trong số đó là “Một cơ hội cho cây họ đậu” đã giải thích liệu các loại đậu phổ biến có hỗ trợ được con người chống lại ung thư hay không. Thật ngạc nhiên, phổ biến nhất và được nhiều người chú ý nhất lại là chủ đề về máy gia tốc hạt. Bar Heisenberg, nơi tổ chức các cuộc nói chuyện khoa học về máy gia tốc hạt, dẫn đầu các điểm với các câu hỏi và trả lời hết sức sống động. Tất nhiên cũng phải thừa nhận là câu hỏi cũng ít dần khi vào cuối ngày, đêm xuống.  Là một trong số những người hào hứng với chủ đề máy gia tốc hạt nhất, Carsten Koschmieder cho biết: “Tôi  vẫn thường có thói quen đến một quán gần nhà tên là Big Bang. Đêm nay ở đó có cuộc nói chuyện về loài ốc sên Madagasca, tôi không thích lắm. Tôi thích chủ đề ở đây hơn vì đây là lĩnh vực tôi đang quan tâm”.  Chủ quán bar, Andreas Deichert, đã đăng ký quán của mình tham gia vào mạng lưới các địa điểm tổ chức trong suốt các năm diễn ra Festival. “Ở Đức, giáo dục về khoa học mới chỉ phát huy tác dụng ở mức độ rất nhỏ. Khoa học chưa đến với tất cả mọi người. Do có nhiều người hay đến quán bar, từ người thất nghiệp đến luật sư, nên đây là chốn chia sẻ tốt”.    Ở kỳ tổ chức trước mới chỉ có 30 quán bar tham gia, năm nay số lượng đông hơn bởi nhiều người muốn tham dự các buổi nói chuyện khoa học như năm ngoái. Ý tưởng đưa khoa học ra bên ngoài khuôn viên viện nghiên cứu để đến với các quán bar xuất phát từ Israel, TS. Thomas (Trung tâm gia tốc electron – DESY) cho biết như vậy. Xuất phát từ ý tưởng này,, DESY đã cùng với ĐH Hamburg tổ chức Festival. “Viện Weizmann cũng thực hiện điều tương tự và giáo sư Jan Louis của ĐH Hamburg cho rằng đây là ý tưởng tuyệt vời. “Tóm” mọi người tại những nơi họ không thể lường trước, chúng ta có thể thổi bùng niềm đam mê khoa học trong họ.”  Nguồn: http://www.dw.com/en/scientists-find-new-audiences-in-hamburgs-pubs/a-36441677    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Tìm cuộc sống thứ hai cho rác thải sinh học      Thật khó tưởng tượng nhưng đây là sự thật: Mỗi năm bình quân một người dân ở châu Âu tạo ra một lượng rác thải sinh học là 173 Kilogram, đó là sữa tươi quá đát, phô mai bị mốc, hỏng phải vứt đi hoặc là vỏ chuối và các loại trái cây và cả trà túi lọc đã qua sử dụng.    Khoảng một nửa lượng rác thải này không phát sinh từ các hộ gia đình, không phải cơm thừa hay hoa quả bị nẫu, bị thối vì chín quá mà chủ yếu dưới dạng rác thải của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm và các cửa hàng, siêu thị. Thí dụ, ngành công nghiệp thực phẩm hàng năm đổ ra biển hoặc đổ ra bãi rác nhiều triệu tấn trái cây, rau củ bị hư hỏng hoặc các bộ phận của động vật mà không thể sử dụng được. Khi thực phẩm đã quá hạn sử dụng các chuỗi siêu thị buộc phải huỷ bỏ.  Hậu quả của sản xuất dư thừa thực phẩm không thể coi là chuyện vặt. Theo ước tính Liên hiệp quốc (LHQ) thì lượng dư thừa này tạo ra lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính còn nhiều hơn lượng khí thải do toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ tạo nên. Ngay từ năm 2015, LHQ đã đề ra chủ trương đến năm 2030 giảm một nửa lượng rác thải này. 193 quốc gia, trong đó có tất cả các nước thuộc EU cam kết thực hiện chỉ tiêu này. 48 trong số 50 tập đoàn thực phẩn lớn nhất thế giới sẽ giảm mạnh lượng phế thải thực phẩm.  Một điều rất có ý nghĩa là, nhờ chương trình này của LHQ mà người ta cũng chú ý nhiều hơn đến công tác nghiên cứu đối với lĩnh vực này, theo Harald Rohm, giáo sư về công nghiệp thực phẩm tại ĐH Kỹ thuật Dresden. Kết quả là từ rác thải hình thành các sản phẩm mới hữu dụng. Các nhà khoa học ở châu Á đang nghiên cứu về sản xuất pin từ trấu. Vỏ trấu có tới 20 % là chất silicium –  nguyên tố hoá học này là cơ sở quan trọng đối với việc tích điện.  Những ý tưởng ban đầu được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và một số đã đi vào sản xuất. Từ da cá đã  tạo ra túi xách, từ bã kẹo cao su làm giày thể thao. Bã lá chè xanh biến thành bàn ghế ở các công viên, vườn hoa. Bã cà phê thành áo khoác.  Sau đây là một số ví dụ:  Vỏ cam chanh làm vải   Xí nghiệp Orange Fiber ra đời năm 2014 ở thành phố Catania (Italia), tại xí nghiệp này, vỏ cam ép được chế biến thành vải vóc. Từ vỏ cam chanh người ta lấy được chất Zitrus-Zellulose, từ chất này có thể tạo ra loại tơ gần như tơ lụa và có thể dệt vải tấm có mầu trắng hoặc trắng óng ánh. Tháng tư năm ngoái hãng thời trang sang trọng Salvatore Ferragamo lần đầu tiên xử dụng loại vải này để làm áo khoác, áo dài và khăn quàng và đã bán ra thị trường. Riêng các doanh nghiệp Italia, mỗi năm thải ra khoảng 700.000 tấn vỏ cam chanh, cho đến nay là đồ bỏ đi, thậm chí không dùng làm phân bón được vì thời gian ủ rất lâu, vò cam chanh phải mất hai năm mới hoai mục trong khi vỏ chuối chỉ cần sáu tuần.  Giấy, màng bọc từ sữa đổ bỏ  Ngay từ năm 1904 nhà hoá học người Đức  Friedrich Todtenhaupt đã được cấp bằng sáng chế đối với phương pháp chế biến Casein, một sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất sữa thành sợi để dệt vải. Tuy nhiên trong những năm 1920, người ta đã xây dựng cơ sở sản xuất sợi ở Italia nhưng bất thành. Mãi đến năm 2011 mới ra đời doanh nghiệp Q-Milk ở Đức và công nghệ này mới được đưa vào sản xuất. Hiện nay thậm chí người ta đã thành công trong việc sản xuất màng mỏng folie từ casein mà không cần có dầu mỏ. Tại nước Đức, mỗi năm phải đổ bỏ khoảng 2 triệu tấn sữa ở các siêu thị vì hết hạn sử dụng hoặc vì có nhiều mầm bệnh. Những sữa bị đổ bỏ này có thể đươc Q-Milk chế biến thành màng mỏng và làm thành các đồ gia dụng. Màng mỏng này sau khi sử dụng sẽ bị phân huỷ để làm phân bón chỉ sau ít ngày.  Dùng trấu lúa gạo làm pin đèn  Từ mấy năm nay các nhà nghiên cứu ở các trường đại học Châu Á nghiên cứu sử dụng vỏ trấu để làm pin đèn. 20% vỏ trấu là silicium, chất này có khả năng tích điện cao. Để lấy chất silizium, người ta phải đốt vỏ trấu và tinh luyện. Khác với phương pháp chế tạo Nano-Silizium kinh điển, nếu dùng vỏ trấu là nguyên liệu thì ít tốn năng lượng hơn. Hơn nữa nguồn nguyên liệu này rất lớn, mỗi năm ước tính có khoảng 140 triệu tấn trấu bị đổ bỏ.  Dùng bã cà phê làm cốc, chén  Start-up Kaffeeform của chuyên gia thiết kế Julian Lechner ở Berlin dùng bã cà phê làm nguyên liệu chính để sản xuất chén, tách. Ông trộn bã cà phê với xơ gỗ sồi và các loại gỗ khác cộng với cellulose, tinh bột và keo dán để làm nguyên liệu sản xuất tách, chén, đĩa vv….  Thành phẩm trông như làm bằng gỗ chứ không phải đồ sành, sứ. Bã cà phê có ở mọi nơi, riêng ở châu Âu ước tính mỗi ngày có tới 8 triệu kilo bã.  Doanh nghiệp sinh thái Modelabel Ecoalf của Tây ban nha lại chế biến từ bã cà phê lấy từ tập đoàn Starbuck của Hoa kỳ để sản xuất áo khoác. Từ bã của 30 tách cà phê đủ để làm ra một mét vải. bã cà phê sẽ được phơi khô, nghiền nhỏ thật mịn rồi trộn với polyester-polymer, để từ đó kéo thành sợi. Loại vải này không thấm nước và chống mùi.  Da cá làm đồ da  Từ hàng trăm năm nay các dân tộc bản địa đã biết dùng da cá bắt trong thiên nhiên để làm đồ tiêu dùng. Doanh nghiệp thuộc da của Island Atlantic Leather là doanh nghiệp đầu tiên ở châu Au đã thử nghiệm kinh doanh bằng nghề da cá. Họ biến da cá hồi thành da thuộc và các nhà tạo mốt đã trên cơ sở da cá hồi làm giầy da, ví đựng tiền và túi xách. Doanh nghiệp này nhận được sự tài trợ của EU và hiện đây là nơi cung cấp nguyên liệu da cá cho các nhà tạo mốt thời trang lừng danh như Gucci và Prada. Do vùng bờ biến từ Island đến Na uy có vô vàn trang trại khổng lồ nuôi cá hồi, tại đây có hàng triệu con cá hồi và nguồn da khổng lồ. Trước kia người ta chỉ sử dụng phần thịt của cá, còn da và xương là chất thải, bị vứt xuống biển.  Vỏ cà phê làm bánh quy  Doanh nghiệp Coffee Flour ở New York đã phơi khô vỏ quả cà phê rồi nghiền thành bột. Bột này không có vị cà phê, mà lại hơi ngọt và có thể dùng làm nguyên liệu chế biến bánh quy hoặc bánh ga tô không có gluten. Còn từ trước tới nay, vỏ và thịt quả cà phê chỉ được sử dụng làm phân bón một phần rất nhỏ, phần lớn bị đổ bỏ.  Bã quả nho làm giấy  Doanh nghiệp Favini ở Italia gần 300 tuổi đã phát triển một phương pháp để tận dụng chất thải trong quá trình chế biến cam, kiwis, ngô hạt, nho và quả hạt dẻ thành giấy. Dùng các chất thải này có thể giảm khoảng 15% cellulo lấy từ cây cối. Chất thải các loại trái cây ép nói trên sẽ được phơi khô sau đó nghiền nhỏ để làm nguyên liệu sản xuất giấy. Ngành kinh doanh này hiện phát triển rất nhanh vì các doanh nghiệp đang có xu hướng giảm xử dụng nhựa làm bao bì đóng gói và tăng cường sử dụng giấy làm bao bì.  Từ bã kẹo cao su làm giầy thể thao  Start-up Gumdrop ở London là doanh nghiệp duy nhất trên thế giới phân tách kẹo cao su thành các thành phần hoá học để từ đó tận dụng cao su tổng hợp. Tại dự án thí điểm tiến hành ở thành phố Amsterdam người ta đã phát triển thành công một chiếc giày thể thao, 20% nguyên liệu làm ra chiếc giày lấy từ bã kẹo cao su. Ở Hà Lan có nhiều thành phố đặt thùng rác đặc biệt chỉ để thu gom bã kẹo cao su. Tại nước này mỗi năm người ta thu lượm được khoảng 1,5 triệu kilogram bã kẹo cao su. Số tiền chi từ ngân sách để xử lý bã kẹo cao su lên đến hàng triệu euro.  Từ bã bia làm các loại bánh  Start-up ReGrained ở Kaliphornia chế biến các loại rác từ ngũ cốc, bã bia thành thức ăn. Riêng ngành công nghiệp bia ở Hoa kỳ mỗi năm tạo ra khoảng 35 triệu tấn chất thải từ chế biến hạt ngũ cốc, nấu bia. Cho đến nay một phần bã bia được dùng làm phân bón cho cây cối, tuy nhiên một phần lớn chất thải của các nhà máy bia bị tống ra các hố rác. Trong tương lai ReGrained cũng sẽ chế biến bã bia thành bánh quy, bánh mì và nhiều loại bánh khác nhau.  Nguyễn Hoài tổng hợp  Nguồn: wiwo tháng 7/2018    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm được cách chiết xuất màu sắc từ màu đen      Các nhà khoa học đã phát triển một cách chiết xuất một bảng màu sắc phong phú từ phổ có sẵn bằng việc khai thác những mẫu hình rối loạn được tự nhiên truyền cảm hứng như màu đen.      Một hệ rối loạn với sự chuyển pha từ sự hấp thụ băng thông rộng thành phản xạ/chuyển pha băng thông giới hạn dựa trên lyd thuyết  lý thuyết ghép các mode cộng hưởng trong miền thời gian (CTM). Nguồn: Nature Communications (2020). DOI: 10.1038/s41467-020-15349-y  Các màu sắc mà chúng ta thấy trong tự nhiên thường từ các mẫu hình ở cấp độ nano phản xạ ánh sáng theo nhiều cách riêng biệt. Ví dụ một cánh bướm có thể xuất hiện màu xanh lam bởi những nếp gấp bé nhỏ trên bề mặt cánh bướm là nguyên nhân khiến chỉ phản xạ duy nhất ánh sáng xanh.  Khi các bề mặt xuất hiện màu trắng hoặc đen, dẫu vậy, điều đó thường xảy ra bởi các cấu trúc ở cấp độ nano đã hoàn toàn rối loạn, làm cho tất cả ánh sáng được nó hấp thụ hoặc phản xạ.  Một nhóm nghiên cứu do các nhà nghiên cứu trường đại học Birmingham dẫn dắt đã tìm thấy một cách để kiểm soát con đường ánh sáng xuyên qua những bề mặt rối oạn đó để tạo ra những màu sắc sống động.  Nhóm nghiên cứu này, bao gồm các đồng nghiệp trường đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức, và trường đại học Nam Kinh, Trung Quốc, đã so sánh phương pháp này với các kỹ thuật đã được các nghệ sĩ khai thác trong nhiều thế kỷ qua. Giữa những ví dụ nổi tiếng nhất là chiếc cốc Lycurgus La Mã ở thế kỷ thứ 4, được làm từ thủy tinh có màu xanh lá cây khi ánh sáng chiếu vào từ trước ra sau nhưng lại mang màu đỏ khi ánh sáng chiếu xuyên từ phía sau.  Với một phương thức tiên tiến, nhóm nghiên cứu đã tiến hành một cách kiểm soát hiệu ứng này để tái tạo màu sắc chính xác một cách lạ thường.  Những sắc màu khác nhau trong hình ảnh được tái hiện trong độ dày khác nhau của một vật liệu trong suốt – ví dụ như thủy tinh – lên một tấm in thạch bản. Ở phía trên, các nhà nghiên cứu đã để lắng lớp rối loạn – trong trường hợp này là các nhóm ngẫu nhiên của các hạt nano vàng. Cuối cùng, bên dưới lớp này, nhóm nghiên cứu đã đặt một bề mặt phản chiếu để hình thành một khoang trong suốt. Khoang đó có thể “bẫy” các hạt ánh sáng là photon vào bên trong. Các photon cư xử như các sóng bên trong khoang này, cộng hưởng tại các tần số khác nhau ở dưới lớp bề mặt tấm thạch bản và phát ra các màu sắc kháu nhau theo độ dài từng bước sóng.  Bằng việc sử dụng kỹ thuật này, nhóm nghiên cứu đã có thể tái tạo một bức tranh thủy mặc Trung Quốc với độ tinh tế tuyệt vời về màu sắc.  Người dẫn dắt nghiên cứu, giáo sư Shuang Zhang, đã giải thích: “Các cách khác nhau trong đó tự nhiên có thể tạo ra màu sắc hết sức cuốn hút. Nếu chúng ta có thể khai thác chúng một cách hiệu quả, chúng ta có thể mở ra một kho báu, nhiều màu sắc sống động hơn màu sắc mà chúng ta đã nhìn thấy”.  Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Changxu Liu cho biết thêm: “Trong vật lý, chúng ta thường nghĩ rằng sự ngẫu nhiên trong chế tạo nano là không tốt nhưng ở đây, chúng ta thấy rằng sự ngẫu nhiên có thể dẫn dắt để đạt tới sự vượt trội so với một cấu trúc ổn định trong nhiều ứng dụng cụ thể. Tương tự, sự hội tụ ánh sáng bên trong các cấu trúc ngẫu nhiên mà chúng ta tạo ra hết hiệu quả – chúng ta có thể sử dụng tỏng nhiều lĩnh vực khác nhau của vật lý như một số dạng mới của công nghệ cảm biến”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-scientists-black.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm hiểu ứng xử cơ học của các cấu trúc rỗng của vật liệu tế bào cho in 3D      Với mục tiêu tìm hiểu các ứng xử cơ học của các cấu trúc xi măng rỗng của vật liệu để tối ưu quá trình in 3D trong tương lai, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Viện Công nghệ liên ngành, trường Đại học Công nghệ TPHCM) và đồng nghiệp tại Australia, Hàn Quốc và Đức mới xuất bản công bố “Mechanical performance of fractal-like cementitious lightweight cellular structures: Numerical investigations” (Hiệu suất cơ học của các cấu trúc vật liệu tế bào xi măng nhẹ giống fractan: Những điều tra số) trên tạp chí Composite Structures.      Giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (thứ hai từ phải sang) trong lễ ký tài trợ của Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF). Nguồn: VINIF  Đây là một trong những kết quả thu được từ dự án “Công nghệ in 3D trên nền tảng máy học sâu” do giáo sư Nguyễn Xuân Hùng  làm chủ nhiệm, một trong 20 dự án khoa học do Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) tài trợ đợt đầu vào cuối năm 2019. Khi triển khai dự án này, anh và cộng sự đặt mục tiêu phát triển một nền tảng thiết kế điện tử phục vụ công nghệ in 3D và phát triển phương pháp máy học sâu thông qua bộ dữ liệu kết hợp thu được từ quá trình thiết kế, mô phỏng tối ưu hóa và kiểm định; nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa thiết kế kết cấu cho vật liệu in 3D.  Khi nói đến công nghệ in 3 D, người ta thường quan tâm đến những vật liệu được thiết kế và phát triển tối ưu để phục vụ cho mục tiêu này. Thông thường, các cấu trúc vật liệu tế bào với những đặc tính cơ học điều hưởng là những cấu trúc nhẹ đầy hứa hẹn cho phương pháp xây dựng đúc sẵn trong tương lai. Trong vài thập kỷ gần đây, phương pháp này đã là một chủ đề nghiên cứu được các nhà khoa học quan tâm vì nó cho phép thiết kế linh hoạt, cải thiện hiệu quả công trình, giảm chi phí và giảm thiểu hư hại. Với những ưu điểm này, thị trường xây dựng đúc sẵn được dự đoán sẽ đạt tới 94 tỉ USD vào năm 2027.  Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của phương pháp xây dựng đúc sẵn là việc sử dụng các vật liệu và cấu trúc tế bào do có sức bền, cách nhiệt, hấp thụ âm thanh và tăng cường hấp thụ năng lượng. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa hiểu nhiều về các vật liệu cấu trúc tế bào liên quan đến thiết kế in 3D, đặc biệt là vật liệu cấu trúc xi măng rỗng.  Do đó, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng và cộng sự đã tìm hiểu một cấu trúc fractan ba chiều mang tên khối lập phương Menger-Sponge (MS) và sáu cấu trúc dạng fractal thay thế khác được thiết kế theo các hình dạng khác nhau của tiết diện rỗng liên kết của chúng. Họ dùng phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) để dự đoán các ứng xử cơ học của cấu trúc dưới lượng tải nén đơn trục. Từ những thực nghiệm trước đây, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng đã xây dựng được mô hình số và dùng nó để so sánh bề mặt tối giản tuần hoàn (TPMS-Primitive) và cấu trúc xi măng Menger-Sponge bậc hai, và giữa các cấu trúc fractan khác với những phân cấp khác biệt. Kết quả cho thấy các khối Menger-Sponge và khối TPMS-Primitive đều có những phản hồi cơ học tương tự nhau. Các cấu trúc fractan vuông (FS) có khả năng cấu trúc tốt hơn, đặc liệt là fractal bậc thứ nhất và thứ hai. Do đó, mô hình số giúp các nhà nghiên cứu thấy được hiệu ứng của các lỗ trống được định hình và tiết diện mỏng nhất đối với cấu trúc xốp.  Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng dùng mối quan hệ ứng suất và biến dạng để tìm hiểu về cơ chế phản hồi cơ học giữa hai khối fractan vuông và khối nguyên thủy. Họ đã phát hiện ra sự phân bố của ứng suất tương đương (ứng suất Von Mises) trong cả hai kết cấu dưới chuyển vị theo chiều thẳng đứng là 0,7% (trước ứng suất lớn nhất) và 7% (trạng thái hỏng hoàn toàn). Nhìn chung, ứng suất phân bố đồng đều xung quanh các bề mặt của khối và chủ yếu nằm trên các cạnh của nó.  Những kết quả mà các tác giả miêu tả trong công bố này sẽ góp phần đem lại hiểu biết về các ứng xử cơ học của các cấu trúc xi măng rỗng của vật liệu, qua đó có thể tối ưu quá trình in 3D các vật liệu này trong tương lai.     Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Tìm khách hàng trước khi xong sản phẩm      Zinmed chủ trương xây dựng giải pháp phần mềm và cộng đồng khách hàng trước khi hoàn thiện sản phẩm phần cứng.    Anh Chử Đức Hoàng trong buổi Demo Day của IPP2. Zinmed được IPP2 hỗ trợ 30.000 Euro vào năm 2015.  Một cách đo đường huyết không đau đớn  Để giữ lượng đường huyết ổn định, những người bị mắc bệnh tiểu đường được khuyến cáo là cần mua thiết bị đo đường huyết cá nhân khoảng trên dưới 1 triệu đồng và tốn vài chục nghìn tiền mua que thử đường huyết mỗi ngày khiến chi phí điều trị bệnh tiểu đường không hề nhỏ. Đó còn chưa kể, trên thị trường hiện nay chủ yếu chỉ bán các thiết bị xâm lấn – cả một khó khăn với những người sợ vật nhọn và sợ chích máu.  Thiết bị mà Zinmed đang nghiên cứu và phát triển là thiết bị đo đường huyết không xâm lấn, tức là không cần chích máu, không cần que thử, nhỏ gọn và giá tiền dự kiến bán ra nằm trong khoảng 1-2 triệu. Thiết bị này sử dụng nguyên lý quang phổ Raman, vốn được dùng để phân tích thành phần cấu tạo của một mẫu vật (chẳng hạn như đá quý) nên cũng có thể dùng để phân tích cấu trúc mô cơ thể, trong đó có glucose. Theo đó, khi người dùng đặt đầu ngón tay vào thiết bị, một chùm tia laser đa bước sóng sẽ xuyên qua da, đi vào tương tác với các tế bào và sẽ bị tán xạ ra bước sóng khác. Thu nhận và xử lý các tín hiệu tán xạ này sẽ đánh giá được mức độ tương quan của nồng độ glucose với các tham số vật lý đo đạc được. Ngoài ra, để đo chính xác hơn, Zinmed còn kết hợp đo thêm tham số nhiệt độ chính xác đến 0.010C để hỗ trợ phương pháp Raman và căn chỉnh các ảnh hưởng tín hiệu từ môi trường, điều kiện đo. Anh Chử Đức Hoàng cho biết, “có một nghiên cứu mà chúng tôi từng thử nghiệm thành công cho thấy sự thay đổi của cấu trúc cơ thể có chứa máu, bao gồm glucose phụ thuộc vào sự biến đổi của nhiệt độ”.  Công nghệ ứng dụng nguyên lý quang phổ Raman không quá mới mẻ, có hàng chục patent đã được đăng ký trên toàn thế giới liên quan đến việc sử dụng phương pháp này trong việc đo đường huyết không xâm lấn. Ngoài ra, thiết bị y tế đeo trên người (wearables) nói chung cùng với các thiết bị đo tiểu đường không xâm lấn nói riêng đã trở thành một xu hướng mà nhiều công ty công nghệ lớn và cả các startup đều đang nghiên cứu phát triển. Năm 2012, Google thông báo dự án phát triển thiết bị đo đường huyết dưới dạng kính áp tròng và đầu năm nay có thông tin cho rằng Apple watch đang phát triển ứng dụng theo dõi đường huyết của người bị tiểu đường.  Tuy nhiên, chưa có sản phẩm nào ra đời do công nghệ chưa hoàn thiện, kể cả công nghệ Raman: “Bài toán sử dụng công nghệ Raman vẫn đang dừng lại ở mức độ phòng thí nghiệm, chưa đạt được kỳ vọng của thị trường khi cần cải thiện độ nhạy lên hơn 70%, độ đặc hiệu hơn 90%, và độ ổn định >95%, thậm chí người ta còn chưa xác định một mức giá kì vọng được” – Anh Chử Đức Hoàng chia sẻ. Cách thức ứng dụng công nghệ Raman phức tạp hơn cách đo huyết áp không xâm lấn nhiều lần: lõi của phần cứng là cảm biến ánh sáng và cảm biến nhiệt độ rồi thuật toán của thiết bị sẽ xử lí dữ liệu do cảm biến thu nhận được để đưa ra thông tin về đường huyết sau khoảng 10-15 giây. Zinmed đang phải cải tiến rất nhiều từ cảm biến đến thuật toán vì họ tham vọng thiết bị của mình sẽ dành cho tất cả giai đoạn và đối tượng của bệnh tiểu đường. “Mỗi loại bệnh nhân thì có những đặc thù khác nhau. Ví dụ như yếu tố đầu tiên liên quan đến da chẳng hạn, bệnh nhân type 1 thường là người trẻ có da rất mềm mại, type 2 là những người già 70-80 da nhăn nheo sần sùi, khi đó sai số rất lớn. Bọn tôi đang cố gắng cải thiện, loại bỏ sai số thì bây giờ độ chính xác đang dừng lại ở 70%.” – Zinmed dự định sẽ tung ra sản phẩm vào cuối năm 2017.  Tuy vậy, sản phẩm này lại là bước cuối cùng trong việc hoàn thiện giải pháp hỗ trợ người bị mắc bệnh tiểu đường. Còn bước đầu tiên? Xây dựng mạng lưới khách hàng đã.  Ý định ban đầu của đội ngũ sáng lập Zinmed là xây dựng một mạng xã hội về y tế nhưng sau đó nhận thấy nguồn lực của mình không đủ, họ phân chia ý tưởng này thành các ứng dụng nhỏ cho các loại bệnh khác nhau. Zinmed tập trung vào ứng dụng dành cho bệnh nhân tiểu đường còn phát triển các ứng dụng cho tám loại bệnh liên quan vừa phải vì họ cho rằng các bệnh nhân tiểu đường cần chăm sóc lâu dài (hơn 20 năm). Cộng đồng sử dụng ứng dụng chính là những khách hàng tiềm năng. Ứng dụng di động này được cấp miễn phí cho người dùng để theo dõi và kiểm soát điều trị bệnh tiểu đường theo các chỉ định của bác sĩ.  Ứng dụng này bao gồm sáu nội dung chính: Tin tức về bệnh được cung cấp bởi các chuyên gia, bác sĩ về các trường hợp bệnh cụ thể; Thông tin dinh dưỡng cho phép người dùng chỉ cần đánh tên và lượng của món ăn hoặc nguyên liệu chế biến và trả về kết quả hàm lượng các chất trong đó; Theo dõi vận động của người dùng (đi lại, ăn uống, ngủ nghỉ và giờ tiêm insulin); Nhắc nhở giờ uống thuốc, giờ tiêm, lịch hẹn với bác sĩ…;Thông tin về địa chỉ, liên lạc của các phòng khám, bác sĩ khu vực lân cận và theo đánh giá của cộng đồng; Thông tin về sản phẩm, dịch vụ chăm sóc điều trị bệnh tiểu đường cùng các khuyến mãi. Trong quá trình làm việc với người dùng, anh Chử Đức Hoàng cho rằng, đây là nội dung mà các bệnh nhân tiểu đường “không có không chịu được” và người nhà của họ cũng quan tâm. Ngoài ra, cứ ba tháng một lần, họ lại lập một chiến dịch trên mạng xã hội kêu gọi người dùng xét nghiệm máu theo chỉ định của bác sĩ và các chiến dịch nhỏ lẻ khác về việc ăn uống điều độ và khỏe mạnh.  Ban đầu, Zinmed làm việc với các bác sĩ để họ giới thiệu cho bệnh nhân sử dụng ứng dụng (bệnh nhân sẽ tự nhập dữ liệu về quá trình điều trị của mình thay vì bác sĩ nhập tay vào máy tính hoặc ghi chép) để bác sĩ theo dõi và tư vấn tốt hơn. Thông qua mạng lưới bác sĩ, Zinmed đã có 1700 người sử dụng ứng dụng của họ.  Zinmed chủ trương tự đầu tư cho đến khi hoàn thành phần cứng. “Thời điểm hiện tại, chúng tôi vẫn đang tự chi trả kinh phí và đầu tư nghiên cứu chứ chưa quan tâm đến các nguồn lực bên ngoài.” – Anh Đức Hoàng cho biết.  Nguồn thu của Zinmed hiện nay đến từ việc chia sẻ doanh thu với các phòng khám và phần trăm doanh số bán hàng online. Thông qua ứng dụng và các chiến dịch của mình, Zinmed hỗ trợ các phòng khám lấy máu và xét nghiệm tại nhà và được hưởng 20% giá trị mỗi đơn hàng như vậy. Bên cạnh đó, nếu ứng dụng của Zimmed giới thiệu mỗi bệnh nhân mới đến một phòng khám, công ty này cũng nhận được 50 – 200 ngàn đồng. Tới nay, họ đã kết nối được 7000 trường hợp.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Tìm kiếm mô hình phát triển mã nguồn mở      Phần mềm mã nguồn mở đang trở thành một xu hướng lớn trên thế giới. Nhờ dỡ bỏ dần các rào cản về bản quyền, dễ dàng can thiệp, được cung cấp miễn phí hoặc với giá rẻ, nó được kỳ vọng làm thay đổi diện mạo của ngành công nghệ thông tin. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các nước nghèo bởi họ có thể tiếp cận được công nghệ mới với chi phí rất thấp. Vì thế, một số doanh nghiệp, trong đó có VINADES, đã chủ động tìm lối đi cho mình và chập chững bước vào lĩnh vực không còn mới mẻ này với vô số khó khăn, mà cái đầu tiên là tìm kiếm một mô hình để hoạt động.      NukeViet – 5 năm đi tìm mô hình hoạt động  Nguyễn Thế Hùng là một người thuộc về thế hệ đầu 8x, thế hệ đầu tiên sinh ra sau chiến tranh và lớn lên cùng những thay đổi lớn mà công cuộc đổi mới mang lại. Thế hệ của Hùng vốn được biết đến như là những người đã làm nên sự bùng nổ của công nghệ thông tin Việt Nam đầu những năm 2000, với những Vương Vũ Thắng, Phùng Tiến Công, Nguyễn Công Hùng,… Sự bùng nổ này lần đầu tiên biến CNTT ở Việt Nam trở thành địa hạt dành cho tất cả những ai quan tâm đến nó và tiệm cận dần với tính chất cộng đồng, bao gồm cả những dân ngoại đạo như Hùng. Hiện nay, người đang sở hữu tấm bằng kỹ sư xây dựng này đang quản lý công ty mã nguồn mở đầu tiên tại Việt Nam – VINADES, với sản phẩm là hệ quản trị nội dung (CMS) NukeViet.         “Phần mềm mã nguồn mở” (còn được gọi tắt là phần mềm nguồn mở) là phần mềm được tác giả cung cấp mã nguồn kèm theo và người sử dụng không phải trả chi phí bản quyền mua mã nguồn.              “Phần mềm tự do mã nguồn mở” là phần mềm mã nguồn mở có bản quyền tác giả, có giấy phép sử dụng đi kèm với phần mềm, trong đó cho phép người sử dụng được quyền tự do sử dụng, tự do sao chép, tự do phân phối và tự do nghiên cứu, sửa đổi mã nguồn và phân phối lại các phần mềm dẫn xuất đã qua sửa đổi mã nguồn.              (Thông tư 08/2010/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT Quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục ngày 1/3/2010)          Ngày nay, nhắc đến các tên tuổi của dòng sản phẩm cùng loại, người ta nghĩ ngay đến Drupal, Joomla hay WordPress – những mã nguồn mở dùng để tạo website nổi tiếng và luôn chiếm giữ những vị trí cao nhất trong tất cả các bảng xếp hạng uy tín trên thế giới. NukeViet là một sản phẩm thuần Việt, phát hành miễn phí và cũng như hầu hết các CMS mã nguồn mở khác, con đường sáng tạo ra sản phẩm NukeViet cũng đi từ tự phát đến chuyên nghiệp, với một mô hình phát triển khá tương đồng.   Phiên bản đầu tiên của NukeViet được biết đến từ cuối năm 2004 chỉ là bản Việt hóa một CMS mã nguồn mở rất nổi tiếng của nước ngoài khi đó là PHP-Nuke. Tác giả của nó là Nguyễn Anh Tú – một du học sinh Việt Nam tại Nga và được phát hành tại diễn đàn xunguoi.com. Cùng với cộng đồng người Việt trên mạng này, Nguyễn Anh Tú đã tập hợp được một số cộng sự tham gia vào NukeViet Group như một nhóm phát triển và hỗ trợ sản phẩm.   Không lâu sau đó, đầu năm 2005, nhóm này buộc phải ngừng hoạt động do không thể đáp ứng được số lượng yêu cầu hỗ trợ quá lớn từ cộng đồng. Tính chất tự phát ngay lập tức bộc lộ nhược điểm của nó, khi không ai được trả lương để cõng trên lưng trách nhiệm đối với cộng đồng người dùng ngày một đông hơn. Một vài lần trở lại thất bại sau đó đã khiến nhóm này quyết định chuyên nghiệp hóa và thành lập công ty chuyên quản đầu tiên là Ấn Tượng Net. Sự hậu thuẫn về tài chính và nhân lực từ công ty quản lý đã đưa NukeViet tiến thêm một bước nữa với việc phát hành phiên bản 2.0 và ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong cộng đồng các webmaster (nhà phát triển web) ở Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình quản lý này nhanh chóng tan rã vào cuối năm 2007 do bất đồng giữa các thành viên. NukeViet trở về với mô hình tự phát, hoạt động như một nhóm phát triển tại diễn đàn nukeviet.vn.   Cuối năm 2009, mô hình tự phát tiếp tục đứng trước áp lực phải chuyên nghiệp hóa và công ty quản lý thứ hai ra đời đầu năm 2010 với tên gọi Công ty CP Phát triển Mã nguồn mở Việt Nam. Chia sẻ về quyết định này, ông Nguyễn Thế Hùng cho biết, “Khi quan sát, tham gia nhiều cộng đồng khác về mã nguồn mở thì tôi thấy mã nguồn mở không phát triển được có một trong những lý do là thiếu tính chuyên nghiệp. Anh có thể xây dựng cộng đồng người dùng rất tốt, rất đông đảo, cộng đồng cũng đóng góp trở lại bằng cách báo lỗi hoặc bổ sung tính năng mới cho sản phẩm, nhưng để phát triển và mang lại nguồn lực kinh tế quay trở lại tái đầu tư cho sản phẩm thì không có mô hình gì hiệu quả bằng doanh nghiệp. Không ai đi ký kết hợp đồng với một cộng đồng cả. Đó là lý do mà công ty chuyên quản NukeViet ra đời ”.   Trong 8 tháng kể từ khi ra đời, VINADES đã tập trung gần như hoàn toàn vào việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, với tham vọng sáng tạo ra CMS mã nguồn mở thuần Việt đầu tiên, tách hoàn toàn ra khỏi nền tảng PHP-Nuke đã lạc hậu. Điều đó đã thành hiện thực vào ngày 20.10.2010, khi VINADES phát hành NukeViet 3.0 phiên bản chính thức và đạt hàng ngàn lượt tải ngay trong 24h đầu tiên. Tháng 11.2011, họ được trao giải Ba (không có giải nhất, nhì) cuộc thi Nhân tài đất Việt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hạng mục Sản phẩm đã ứng dụng rộng rãi. Theo số liệu thống kê được cho đến thời điểm đạt giải, đã có 2.000 website sử dụng NukeViet, chưa kể những website đã loại bỏ nhận diện bản quyền của CMS này trên giao diện.   Cổ đông và cộng đồng: mối quan hệ đặc biệt   Điều đáng nói trong mô hình phát triển của NukeViet là hoạt động nghiên cứu sản phẩm và lấy nền tảng phát triển dựa trên chính sản phẩm của mình. NukeViet 3.0 là sản phẩm mà 100% các dòng code (mã) được viết bởi Nguyễn Anh Tú và nhóm phát triển sản phẩm của VINADES. Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh mã nguồn mở khác ở Việt Nam đều không cho ra đời một sản phẩm nào và chỉ hoạt động dựa trên dịch vụ hỗ trợ cài đặt, đào tạo sử dụng các phần mềm mã nguồn mở đã có sẵn của nước ngoài cho các khách hàng ở Việt Nam. Về bản chất, các doanh nghiệp này không làm gia tăng thêm giá trị nào về công nghệ, thừa hưởng tất cả những thành quả của cộng đồng mã nguồn mở khắp nơi trên thế giới nhưng không đóng góp trở lại cho cộng đồng một sản phẩm sáng tạo nào. Chu trình phát triển mã nguồn mở dừng lại ở họ là người dùng cuối.   Việc phát hành một sản phẩn mã nguồn mở và miễn phí cho tất cả người dùng không những ghi tên Việt Nam trong danh sách các lựa chọn của người dùng trên thế giới, mà còn là dấu hiệu cho thấy công nghiệp CNTT Việt Nam đang thoát dần ra khỏi hoạt động gia công cho nước ngoài và chuyển dần sang sáng tạo. Hơn nữa, với một nước nghèo như Việt Nam, việc có một sản phẩm miễn phí và hoàn toàn bằng tiếng Việt là điều kiện khá thuận lợi để người dân, doanh nghiệp và nhà nước tiếp cận công nghệ cũng như hạn chế đến mức tối đa chi phí cho phần mềm.  Cộng đồng là một yếu tố quan trọng trong mô hình phát triển NukeViet. Bản thân sản phẩm NukeViet đã xuất phát từ một CMS mã nguồn mở của nước ngoài, miễn phí và được cộng đồng tham gia phát triển. Đi theo định hướng đó ngay từ đầu và cho đến khi tự phát triển CMS riêng của mình, công ty quản lý vẫn giữ nguyên tính chất cộng đồng này. Không thể không nói rằng các doanh nghiệp như VINADES có một mục đích xã hội khá rõ ràng là dùng năng lực của mình để đóng góp những giá trị công nghệ cho cộng đồng, nhưng cũng chính cộng đồng là nơi giúp họ phát hiện ra các điểm yếu của sản phẩm, đồng thời cũng đóng góp ý tưởng và bổ sung tính năng mới cho sản phẩm. Ngoài diễn đàn chính thức nukeviet.vn, nhiều diễn đàn tin học lớn của người Việt Nam đều có các chuyên mục hoặc chủ đề thảo luận về NukeViet. Nhờ vậy, NukeViet có một cơ sở tốt để đánh giá sản phẩm cũng như phát triển sản phẩm sát với nhu cầu của người dùng hơn, đồng thời thông qua cộng đồng để lan tỏa sức ảnh hưởng của sản phẩm.   Thực tế cho thấy các CMS mã nguồn mở hàng đầu đều có một cộng đồng người dùng đông đảo thường xuyên báo lỗi và đóng góp trở lại cho sản phẩm rất nhiều tính năng mới. Tính đến cuối tháng 3.2012, cộng đồng đã đóng góp gần 18.000 ứng dụng mở rộng cho Drupal, 9.000 ứng dụng cho Joomla và thông số này đối với WordPress là không dưới 19.000.   Điểm mấu chốt còn lại là bài toán kinh doanh của NukeViet. Khi sản phẩm cốt lõi đã được phát hành miễn phí đến tay người dùng, VINADES phải tìm nguồn thu ở các dịch vụ khác. Ông Nguyễn Thế Hùng cho biết, “VINADES định hướng lấy NukeViet là sản phẩm nền tảng để triển khai các phần mềm. Bộ nhân NukeViet được triển khai cho khách hàng có thể được bổ sung thêm các tính năng để trở thành cổng thông tin giáo dục, cổng thông tin nội bộ doanh nghiệp, hệ thống quản trị doanh nghiệp, hệ thống quản lý bán hàng,… Đây là nguồn thu chủ yếu để tái đầu tư cho sản phẩm và mang lại lợi nhuận”.   Theo thông tin công bố trên website của VINADES, các giải pháp của công ty này đã được triển khai cho Sở GD&ĐT Quảng Ninh, Phòng Giáo dục Lạng Giang – Bắc Giang, Hội trí thức và khoa học trẻ Việt Nam,… Một số báo điện tử cũng sử dụng giải pháp NukeViet như Hội người Việt tại liên bang Nga, báo Người Hà Nội,…  Cho đến nay, trải qua 2 năm hoạt động với mô hình doanh nghiệp và liên tục đưa ra những phiên bản mới của sản phẩm, có thể coi NukeViet đã vượt qua được những khó khăn ban đầu để tồn tại như một tổ chức dung hòa giữa lợi ích thương mại và lợi ích cộng đồng. Còn quá sớm để đánh giá liệu với mô hình phát triển mã nguồn mở này có tồn tại lâu dài và thành công hay không, nhưng việc đi theo mã nguồn mở là một quyết định phù hợp với xu hướng hiện đại và đã có những doanh nghiệp khác ở Việt Nam đi theo xu hướng này.   Những tín hiệu từ các  mô hình khác  TomatoCMS từng là một cái tên khá đình đám trong danh mục các CMS mã nguồn mở trên thế giới. Đây là sản phẩm của một nhóm tác giả người Việt Nam, được phát hành lần đầu tiên vào cuối năm 2009. Chọn thị trường thế giới làm mục tiêu phát triển, nhóm đã thu được thành công đáng kể khi được trao giải CMS mã nguồn mở triển vọng của tổ chức Packt Publishing vào năm 2010. Tuy nhiên, từ 31.8.2010, nhóm phát triển trực thuộc công ty TIG này đã ngừng phát hành phiên bản mới và sau đó đóng cửa diễn đàn hỗ trợ người dùng. Từ đó cho đến nay, TomatoCMS đã không còn được nhắc đến và gần như biến mất khỏi thị trường.         Ông Quách Tuấn Ngọc – Cục trưởng Cục CNTT (Bộ GD&ĐT):              Không nên đánh đồng phần mềm mã nguồn mở với phần mềm miễn phí. Trên thực tế, nhiều phần mềm dạng này chỉ miễn phí thời gian đầu. Khi đã có một lượng người dùng nhất định, ảnh hưởng nhất định thì một ngày nào đấy họ bắt đầu thu phí ở những dịch vụ nhất định. Một số phần mềm vẫn miễn phí nhưng các kho ứng dụng thêm vào thì lại tính phí.               Giai đoạn miễn phí đó giúp họ thu được rất nhiều kinh nghiệm của những người khác đóng góp vào. Khi họ tung mã nguồn mở miễn phí ra thì người dùng bắt đầu tải về, dùng và thậm chí họ chỉ cần báo chỗ này lỗi chỗ kia chưa được là tốt rồi.               Ở Việt Nam cũng có nhiều cá nhân, nhóm hay là doanh nghiệp sáng tạo mã nguồn mở. Cái này cũng phù hợp với người Việt Nam là nhiều khi họ học tập, làm việc xong cũng có những sản phẩm nhất định, có thể chỉ đóng góp thêm 3%, 5% vào một mã nguồn đã có thôi nhưng như thế cũng có thể thành một sản phẩm tốt. Sau đó họ bắt đầu mang đi bán.         Trái lại, có một doanh nghiệp Việt Nam khác lại thu được thành công rực rỡ khi cung cấp phần mở rộng cho các CMS mã nguồn mở nổi tiếng trên thế giới và được biết đến với tên gọi Joomlart. Thực chất đây là thương hiệu của Công ty CP giải pháp J.O.O.M, có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh. Joomlart cung cấp các giao diện và ứng dụng gia tăng tích hợp vào các CMS như Joomla, Drupal và thu phí cho mỗi lượt khách hàng sử dụng.   Rất ít người biết Joomlart là thương hiệu của người Việt Nam, bởi doanh nghiệp này gần như không xuất hiện trong các hoạt động truyền thông của Việt Nam, thậm chí trên website của họ (hoàn toàn bằng tiếng Anh) không có thông tin nào liên quan đến Việt Nam và tính chất chuyên nghiệp của doanh nghiệp này khiến cho rất ít người nghĩ rằng người Việt Nam có thể làm được. Sau nhiều năm theo đuổi các sản phẩm gắn với những CMS mã nguồn mở, Joomlart đã trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới trong phân khúc của mình, trở thành một ví dụ sinh động cho các doanh nghiệp CNTT có khả năng sáng tạo ra các sản phẩm chinh phục thị trường thế giới.   Câu chuyện của NukeViet, TomatoCMS và Joomlart nằm trong số không nhiều những câu chuyện về mã nguồn mở và kinh doanh mã nguồn mở ở Việt Nam. Khi chúng ta chưa có một thị trường mã nguồn mở và bản thân Chính phủ cũng như người dùng còn chưa có nhiều khái niệm về thị trường này thì khó có thể nói rằng mô hình nào là phù hợp và có tiềm năng phát triển ở Việt Nam. Chỉ biết rằng, nếu không sớm có chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sáng tạo các sản phẩm CNTT có giá trị cộng đồng, họ có thể không còn tồn tại được trước áp lực của các cuộc khủng hoảng kinh tế và Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội thoát khỏi sự phụ thuộc vào các phần mềm đóng gói của nước ngoài với chi phí rất cao.         Trên thế giới, các CMS mã nguồn mở được sử dụng phổ biến để xây dựng các website, trong đó Drupal, Joomla, WordPress,… đều phát hành miễn phí. Người dùng có thể tự do tải các mã nguồn mở này để sử dụng, chỉnh sửa và phát hành lại. Phần lớn các ứng dụng gia tăng cũng được phát hành miễn phí theo phương thức tương tự, tuy nhiên một số ứng dụng gia tăng khác yêu cầu người dùng phải trả tiền để được sử dụng.               Sử dụng các CMS mã nguồn mở để xây dựng website là một xu hướng lớn trên thế giới. Website của Chính phủ Hoa Kỳ, Bỉ; các hãng truyền thông BBC, People; các hãng công nghệ Nokia, AT&T, Symantec hay các trường đại học như Harvard, Stanford, MIT,… đều đi theo xu hướng này.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm lời giải cho việc sấy khô lúa      Hơn hai thập niên qua dù Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo, tạo kim ngạch cho đất nước, tổn thất sau thu hoạch hàng triệu tấn lúa mỗi năm vẫn là bài toán chưa được giải quyết triệt để!     Tình huống bất cập hơn khi sản lượng lúa của  cả nước gia tăng hằng năm và đạt hơn 43 triệu tấn trong niên vụ  2012-2013, trong đó lúa hàng hóa cung ứng xuất khẩu chiếm 1/3, nhưng  “đầu ra” bất ổn, chỉ tiêu tạm trữ chỉ vài triệu tấn gạo, các công ty  xuất khẩu tiêu thụ cầm chừng … khiến nông dân và doanh nghiệp không còn  con đường nào khác ngoài cách tự” tích cốc phòng cơ” trước khi các địa  phương điều chỉnh diện tích hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng.  Doanh nghiệp hiến kế    Nhìn lại mối liên kết 4 nhà, thực sự chỉ có số ít doanh nghiệp và một số cơ quan nghiên cứu đưa ra giải pháp giảm tổn thất sau thu hoạch. Theo TS Phan Hiếu Hiền (ĐH Nông Lâm TP.HCM), thành viên tư vấn dự án ADB-IRRI-Việt Nam, người kiên trì chuyển giao tiến bộ san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, triển khai quy trình sản xuất mới xóa dần chênh lệch năng suất trên ruộng lúa ở các vùng miền, cho rằng “ tổn thất vẫn còn rất lớn!”   “Lúa ướt không kịp làm khô gây tổn thất về khối lượng là 12% và sụt giảm về giá cả trên thị trường ở mức 13% trên tổng sản lượng lúa 24 triệu tấn, tổng giá trị sụt giảm là 25% (tương đương 6 triệu tấn) thành tiền hơn 24.000 tỷ đồng”, ông Bùi Phong Lưu, giám đốc công ty Bùi Văn Ngọ, một công ty rất hiếm hoi trong số ít ỏi những nhà cung cấp thiết bị xay xát hiện đại và giải pháp sấy, giảm tổn thất sau thu hoạch lúa ở Việt Nam được nông dân đồng bằng sông Cửu Long biết tiếng và tin cậy, nhẩm tính chỉ cần đầu tư bằng 50% con số trên thì tình hình sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, làm sao huy động số tiền đầu tư  50% đó? Trước những biến cố thị trường và ảnh hưởng nhóm lợi ích trong hoạt động xuất khẩu gạo, nông dân đựa vào đâu để tự dự trữ?  Công ty Bùi Văn Ngọ vừa đưa hệ thống tháp sấy đốt theo phương pháp gián tiếp, bảo đảm chất lượng lúa gạo trong suốt quá trình sấy tự động hóa đã bán sang Đài Loan, Philippines, Indonesia, Lào, Campuchia…rất thành công… giới thiệu với các chủ nhà máy xay xát lúa gạo ở miền Tây để họ thúc đẩy tiến độ mua lúa nhập kho. Ông Nguyễn Thể Hà, chuyên gia kỹ thuật của công ty nói về nguyên lý vận hành của thiết bị: Tháp sấy được thiết kế độ nghiêng, chia dòng nguyên liệu thật nhỏ để sấy cho đều rồi tổng hợp nguồn nguyên liệu đã được xử lý. Rải đều nguyên liệu trong tháp sấy đóng vai trò quan trọng và sấy như thế nào mùi thơm đặc trưng không thay đổi, làm giống tốt; Sấy mà hạt còn sống do điều chỉnh dòng khí nóng đầu vào, khí ẩm đầu ra bảo đảm độ ẩm còn 14% thì mới đạt yêu cầu. Không khí có lẫn bụi đi xuyên qua màng lọc bằng vải chuyên dụng, bụi được giữ lại lớp ngoài vải lọc. Không khí sạch đi vào phía trong túi trước khi thải ra môi trường. Tháp sấy dùng năng lượng trấu: Mỗi mẻ 30 tấn cần 900 kg trấu”.  Lần đầu tiên bí quyết công nghệ của công ty Bùi Văn Ngọ được chia sẻ.      Chia sẻ cách làm  Ngày 9-8, tại Cần Thơ, câu chuyện làm khô lúa ướt đã lôi cuốn nhà cung cấp thiết bị Kett Electric Laboratory, Nhật Bản. Ông Henji Emori, đại diện công ty Kett nhìn nhận là Kett thuộc nhóm các công ty Nhật Bản đang tìm cách gia tăng ảnh hưởng ở Việt Nam, muốn hợp tác phát triển dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, cho biết các nhà máy xay xát ở Nhật đòi hỏi tiêu chuẩn rất gắt gao”, và họ phải kiểm tra ẩm độ hạt gạo ( tách vỏ) trước khi tổ chức xay xát ”.  Được thành lập vào năm 1946, đến nay Kett cung cấp cho thị trường nhiều loại: Máy đo ẩm độ gạo, cà phê, máy kiểm tra thủy phần hạt và ngũ cốc, máy kiểm tra gạo, phân tích độ tươi gạo, máy đo thủy phần tia hồng ngoại, máy đo thủy phần bê-tông, máy đo độ trắng gạo, máy đo độ dầy lớp phủ bề mặt, máy dò kim… với chuẩn mực quốc tế. Việt Nam đang là nơi mua nhiều máy của Kett để đo kiểm, khẳng định giá trị thang điểm hạt gạo.   Các nhà máy xay ở Nhật Bản quan niệm gạo càng xát trắng thì càng bị bào mòn (khác với VN- cứ xay lứt rồi xát trắng, hạt vàng lại tiếp tục xát trắng, lau bóng…) do đó làm sao xay xát với chất lượng vừa đủ để  bảo đảm lợi nhuận tối đa. Muốn vậy phải có máy đo chính xác. Kett Whiteness Tester C-600 vận hành theo nguyên lý đèn màu xanh, thời gian sử dụng đèn 30.000 giờ, chiếu vào mẫu gạo phản quang trở lên đưa vào đi-ốt quang điện, tín hiệu được đưa vào khuếch đại, chuyển số liệu, ra file. Kett đã bán 2.540 chiếc trên thị trường Nhật Bản, 1.386 chiếc ra các nước  với hai tính năng mới: Giảm tiêu thụ điện năng và nguồn nhiệt, rút ngắn thời gian đo kiểm.  “Hiện nay, dòng  máy đo độ trắng gạo của Kett trở thành chuẩn mực cho nhiều nước trên thế giới. Việt Nam muốn xuất khẩu sang Nhật thì phải dùng máy đo của Kett”, Henji Emori, người bán hàng tham vọng và đầy tự tin nói.  Trong lúc xay xát, tốc độ chạy máy cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận, nếu chạy nhanh quá mức cần thiết sẽ làm hạt gạo nóng lên, gạo quá khô sẽ bị nứt, thủy phần bay mất, giảm trọng lượng … phải dùng máy đo độ ẩm để chỉnh tốc độ của máy.  Hiệp hội xay xát gạo Nhật Bản cho biết: Nhiệt độ mục tiêu của ngũ cốc  (nhất là gạo đánh bóng và gạo không đánh bóng) tại Nhật Bản  thường là 15ºC hoặc thấp hơn vào mùa hè và 20ºC hoặc thấp hơn vào mùa đông. Gạo loại 1 chỉ đạt lợi nhuận đạt 90.5% khi độ trắng tăng lên (trắng của gạo đánh bóng – độ trắng của gạo không đánh bóng) là 20%. Khi độ trắng tăng lên 1%, tỷ lệ lợi nhuận sẽ thay đổi 0.5%. Ướt và làm khô tới mức nào còn là chuyện lời lỗ khi chi phí ảnh hưởng tới lợi nhuận. Đặc biệt, độ sáng trắng và giá sẽ cao hơn nếu tỷ lệ protein cao.   Cuộc chơi công bằng với hệ thống thang điểm chất lượng càng cao thì giá bán cao.  Việt Nam là nước xuất khẩu gạo nhưng những thông tin định giá theo tiêu chí không tới với nông dân. Trong khi đó, ngoài độ dài hạt lúa 7,2 mm, tươi hay lúa khô, ít hay nhiều tạp chất… người trồng lúa ở Việt Nam không biết hàng của mình được định giá cao hay thấp hơn dựa trên những tiêu chí nào nữa?  Trên thị trường, chỉ nói về ẩm độ khi mua bán lúa đã xuất hiện bất đồng: Người bán bao giờ cũng muốn ẩm độ cao, trong khi người mua thì ngược lại. Để bảo đảm quyền lợi người mua- người bán, Thái Lan, giữ vị trí cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, luôn dùng thiết bị đo chính xác để phân định. Kett tham gia trung tâm kiểm định của Thái Lan để cùng xây dựng nền tảng kỹ thuật chính xác.  Tuy nhiên, gần đây thị trường xuất hiện dòng máy  giá rẻ làm từ Trung Quốc.  Họ làm giả máy Kett nhưng năm ngoái sản lượng máy của Kett ở thị trường này vẫn tăng rất nhanh. Máy móc kỹ thuật cao đòi hỏi chính xác, nếu chỉ quan tâm giá rẻ thì không bảo đảm”, Henji Emori cảnh báo.  Đối với công ty Bùi Văn Ngọ, mối quan hệ  tương tác giữa công ty và Kett, chỉ ở một góc vấn đề làm khô hạt lúa- gắn thiết bị “Made  in Vietnam “ vào hệ thống đo kiểm chuẩn quốc tế của Kett’ ” Không chỉ tăng uy tín thương mại của công ty mà còn giúp cho các nhà máy điều chỉnh sản xuất có lời mà không phải “bóp họng, bóp hầu” nhau trong chuỗi cung ứng”, ông Nguyễn Thể Hà, chuyên gia kinh tế- kỹ thuật của công ty này nói.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm lời giải thích cho cuộc chiến ở Irắc      Cách đây 3 năm, Mỹ đơn phương tiến hành chiến tranh Irắc, bất chấp Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc cũng như làn sóng phản đối dữ dội của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ. Sau 3 năm, tình hình Irắc gần như không có gì biến chuyển, nếu không nói là ngày một xấu đi, đặc biệt là sau khi Tổng thống thất trận Sadam Hudsen bị hành quyết cách đây không lâu. Irắc giờ đây thật sự đã trở thành tâm điểm của thế giới. Mới đây, Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF Davos 2007 đã có hẳn một hội nghị bàn tròn dành cho Irắc, với mong muốn bàn cách làm thế nào để đưa đất nước được thiên nhiên ưu đãi nhất hành tinh này thoát khỏi khủng hoảng, bạo lực và chiến tranh. Còn ở Mỹ, người ta bắt đầu nhắc tới Irắc như là một Việt Nam thứ hai… Trong bối cảnh đó, kế hoạch tiếp tục gửi quân sang Irắc của Tổng thống Bush mới đây thực sự đã gây sốc đối với người dân Mỹ và làm sửng sốt cộng đồng quốc tế. Điều gì đã khiến Nhà Trắng quyết tâm theo đuổi chiến tranh Irắc như vậy? Liệu sau Irắc Mỹ có tiếp tục tiến hành chiến tranh với nước nào khác nữa không (Iran, Bắc Triều Tiên…)? Bài viết nhỏ này thử đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên.    Cuộc chiến vì dầu lửa?  Khi Mỹ phát động chiến tranh Irắc, ai cũng nghĩ đây là một cuộc chiến vì dầu lửa. Đầu năm 2003, giá dầu thế giới tăng cao, biến động thất thường, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Nếu nắm được trữ lượng dầu khổng lồ của Irắc, Mỹ sẽ có cơ hội hóa giải bài toán nhiên liệu đau đầu. Nhưng hình như không phải? Bởi, đâu cần đến chiến tranh, Mỹ vẫn có thể toàn quyền điều phối lượng dầu mà Irắc bán ra thị trường thế giới thông qua các cơ chế phong tỏa kinh tế của Liên Hiệp Quốc. Mỹ có thể thay đổi những cơ chế này bất cứ lúc nào, qua đó hoàn toàn có thể kiểm soát được giá dầu thế giới. Hơn nữa, thật sự Mỹ đâu có muốn dầu giảm giá, mà ngược lại thì đúng hơn. Ở các nước phát triển, giá dầu cao trong chừng mực cũng có cái lợi. Nhiên liệu tăng giá sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận, đời sống sẽ đắt đỏ hơn, vô hình trung sẽ “lên dây cót” kéo căng nền kinh tế đang ì ạch, thúc đẩy cạnh tranh, tạo động lực phát triển (đó là chưa kể gia đình Tổng thống Bush và phần lớn giới lãnh đạo Nhà trắng (ít hoặc nhiều đều có mối quan hệ trực tiếp đến công nghiệp dầu mỏ) chắc chắn không muốn dầu giảm giá).  Vậy, nếu không phải vì dầu thì vì cái gì?  Lời tuyên bố cho một đế chế mới?  Phát động chiến tranh, Mỹ bất chấp luật pháp Quốc tế, bỏ qua Liên Hiệp Quốc, thậm chí phớt lờ cả khối đồng minh NATO. Dường như Mỹ muốn cho toàn thế giới biết, đã đến lúc nhân loại phải chấp nhận một thực tế, nước Mỹ có thể làm được tất cả. Và để bảo đảm quyền lợi cho đất nước mình, Mỹ có thể sử dụng cây gậy vũ lực bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu. Nhớ lại bối cảnh cách đây 3 năm, lúc đó chúng ta có cảm giác như nước Mỹ tiến hành cuộc chiến với quyết tâm khẳng định vị trí độc tôn của mình trên trường quốc tế.  Nghe cũng có lý. Nhưng chưa thật thuyết phục. Bởi đã biết bao lần Mỹ đơn phương phá bỏ các hiệp ước và luật pháp quốc tế. Và không cần chiến tranh thì ai cũng biết, từ khi Liên Xô tan rã, Mỹ là siêu cường quốc duy nhất trên thế giới.    Thế thì nguyên nhân chính nằm ở đâu?  Trong bài viết Tầng công nghệ và chiến lược phát triển công nghệ Việt Nam (Tia Sáng Số 1/2007), chúng tôi đã đề cập đến vấn đề chu kỳ biến động của giá nhiên liệu như là chiếc hàn thử biểu báo hiệu quá trình chuyển giao tầng công nghệ trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới.  Rõ ràng, ngày hôm nay, nền kinh tế thế giới đang đứng trước bậc thềm của chu kỳ chuyển giao công nghệ mới. Vào những lúc giao thời như thế, thường xảy ra hiện tượng “đổi ngôi” trên bầu trời kinh tế thế giới. Các nước dẫn đầu về tổng thu nhập GDP (như Mỹ) sẽ gặp phải những khó khăn lớn gắn liền với sự mất giá tài sản cũng như khả năng phát triển sản xuất trên cơ sở công nghệ cũ. Ngược lại, các nước kém phát triển hơn, nhưng không phải chịu gánh nặng của tầng công nghệ cũ, nếu biết đầu tư đúng hướng vào tầng  công nghệ mới, sẽ có cơ hội phát triển, nhanh chóng trở thành trung tâm mới của kinh tế toàn cầu. Sự thăng hoa của kinh tế Nhật Bản sau thế chiến hai và sự thành công của các con Rồng châu Á gần đây là một ví dụ điển hình. Và dĩ nhiên, nước Mỹ không hề muốn tên tuổi của mình nằm trong số những ngôi sao phải chuyển ngôi. Cần phải hành động, và có vẻ như chiến tranh Irắc là một phần trong kịch bản giúp Mỹ chiếm lĩnh ưu thế trong chu kỳ phát triển mới của kinh tế thế giới? Nếu đúng, thì đó là kịch bản nào đây?  Kịch bản tạo cầu cho đồng đôla  Lâu nay, chúng ta vẫn quen nghĩ – kinh tế Mỹ là số 1. Mấy chục năm tăng trưởng liên tục, đặc biệt là sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ nghiễm nhiên trở thành siêu cường duy nhất. Ảnh hưởng của Mỹ tỏa khắp nơi, theo với đó là sự gắn chặt nền kinh tế đại đa số các quốc gia vào đồng đô la Mỹ. Thực ra, không phải đến bây giờ, mà từ năm 1944, theo hiệp ước Breton-Wood, song song với vàng, đồng đôla đã trở thành phương tiện thanh toán quốc tế. Lúc đó, đồng đôla còn có thể qui đổi được ra vàng, nhưng đến năm 1972, khi Mỹ từ chối thực hiện Hiệp ước này, đồng tiền màu xanh đầy uy lực không còn gì bảo đảm nữa, ngoài chính sức mạnh kinh tế và chính trị của nước Mỹ. Và Chính phủ Mỹ đã không uổng công thuyết phục thế giới – như vậy là quá đủ! Suốt mấy chục năm qua, các nước “mê mải” trong những mối lo riêng, thả lỏng cho đồng đôla tung hoành trên thị trường quốc tế. Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED) nghiễm nhiên trở thành Ngân hàng Trung ương chung của nhân loại, nắm giữ độc quyền phát hành tiền tệ quốc tế mà không phải chịu một trách nhiệm gì, càng không bị ai kiểm soát.  Chúng ta biết, nắm độc quyền phát hành tiền, nhà nước nắm trong tay công cụ tín dụng vô giá để tăng nguồn thu và phát triển kinh tế. Đối với Mỹ nguồn lợi này mang tính toàn cầu, bởi 80% lượng tiền đôla lưu hành trên thế giới được hình thành dưới dạng các khoản nợ của chính phủ Mỹ. Có nghĩa, tất cả chúng ta, những ai sử dụng đồng đôla, vô hình trung đều tự nguyện cho Mỹ vay tiền không lấy lãi. Do vậy, đứng về mặt tài chính mà nói, Mỹ có thể kéo dài chiến tranh bao lâu cũng được, bởi phí tổn đã có tất cả những người dùng đô la chi trả.  Tuy nhiên, đổi lại, ngày hôm nay, người Mỹ phải đương đầu với một tình trạng vô cùng nan giải. 30 năm in tiền liên tục đã tạo nên “tháp tài chính đôla chổng ngược” mang tính toàn cầu, trong đó, nguồn dự trữ tài chính quốc gia Mỹ chỉ chiếm 4% lượng đô la lưu hành. Chính vì vậy, sự ổn định của đồng tiền này hoàn toàn phụ thuộc nhu cầu của nó trên thị trường. Nếu vì một lý do gì, xảy ra hiện tượng từ chối sử dụng đồng đôla ở trên diện rộng thì hệ thống tài chính này sẽ sụp đổ. Ngay lập tức người ta sẽ nhận ra, Mỹ là con nợ khổng lồ với món nợ hơn 30 nghìn tỷ đô la, trong đó có 5 nghìn tỷ là nợ trực tiếp của chính phủ Mỹ. Sự phá sản của đồng tiền này sẽ khởi đầu cho cuộc khủng khoảng kinh tế – tài chính thế giới sâu rộng.  Mải mê lôi kéo kinh tế thế giới vào vòng quay sử dụng đồng đôla, giờ đây Mỹ không thể dừng lại được nữa. Để bảo đảm sự ổn định của đồng tiền, cần phải liên tục tạo cầu cho nó thông qua việc cấu trúc lại các khoản vay cũ và tạo môi trường sản sinh các khoản vay mới. Làm được việc này ngày càng khó, vì nó đòi hỏi giá trị của số lượng cầu phải vượt trội hơn hẳn so với giá trị các khoản vay của Mỹ.  Trong bối cảnh chuyển giao tầng công nghệ như hiện nay, bài toán càng trở nên phức tạp, bởi nhu cầu vay vốn giảm xuống rất nhiều. Việc thụt giảm lợi nhuận đầu tư vào các ngành công nghiệp truyền thống, tạo ra một khối lượng lớn tiền đôla dư thừa chưa biết đầu tư vào đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ dồn vào nền kinh tế Mỹ. Nếu giá dầu tăng cao, trong một khoảng thời gian nhất định, sẽ thu hút lượng tiền tự do này, giảm mối nguy cho nền kinh tế. Đồng thời, biến động giá nhiên liệu cũng là hồi còi thôi thúc các nền kinh tế thực hiện cải cách, đầu tư phát triển tầng công nghệ mới, có nghĩa là làm tăng nhu cầu vốn vay.  Nếu ngay lúc này, tầng công nghệ mới đã hình thành, thì Mỹ không còn gì phải lo. Nhưng khốn nỗi, tầng công nghệ mới chỉ có thể ổn định ít nhất sau 15-20 năm nữa. Trong thời gian giao thời này, bằng mọi giá Mỹ phải giữ và tăng cầu cho đồng đôla, để chờ đợi. Bằng không, 20 năm sau, khi thế giới chuyển sang chu kỳ phát triển mới, đồng đôla không còn là đồng tiền tệ quốc tế nữa, thì Mỹ cũng đánh mất luôn vị trí số 1 của mình. Đây có lẽ là nguyên nhân chính khiến Mỹ cứ tiếp tục leo thang gây bầu không khí căng thẳng trên thế giới suốt thời gian qua?  Tiến hành chiến tranh ở Nam Tư, Mỹ phá vỡ sự ổn định kinh tế và chính trị ở châu Âu, tạo lỗ thủng khổng lồ trong ngân sách EU, khiến cho kế hoạch mở rộng phạm vi sử dụng đồng euro đứng sững lại. Dưới áp lực kinh tế, chính trị của Mỹ, các nước châu Âu vẫn phải giữ phần lớn ngoại tệ dự trữ bằng đôla.  Với lá cờ chống khủng bố quốc tế Mỹ đã làm đông cứng một số lượng tài khoản lớn bằng đôla của các tổ chức và cá nhân trong thế giới A rập giàu có.  Mỹ cũng đang tìm mọi cách ngăn cản các quốc gia châu Á, đứng đầu là Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN, thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế mới với hệ thống tiền tệ riêng, không dính dáng đến đồng đô la.  Như vậy, có thể thấy chiến tranh Irắc lần này là nấc thang tiếp theo trong chuỗi hoạt động nhằm tạo sự căng thẳng trên trường quốc tế, phần nối tiếp của kịch bản tạo cầu cho đồng đô la của Mỹ. Tất nhiên, Mỹ sẽ không dừng lại ở Irắc. Chừng nào đồng đôla vẫn còn nguy cơ giảm cầu, thì chừng đó thế giới vẫn còn căng thẳng. Trước mắt là vấn đề hạt nhân của Nam Triều Tiên và Iran.  Có thể thấy rằng, Nhà trắng đã hành động rất lô-gíc. Dưới mối đe doạ sụp đổ của Tháp tài chính đôla toàn cầu, để tránh sự phá sản cho chính mình, Mỹ luôn luôn tạo những làn sóng căng thẳng trên trường quốc tế. Với họ, bất cứ quốc gia nào không tin tưởng vào độ bền vững của đồng đôla, có ý định không sử dụng nó hoặc hạn chế sự ảnh hưởng của nó trên thị trường tài chính nước mình, đều là mối đe dọa an ninh Mỹ. Cho nên Mỹ sẽ bảo vệ quyền lợi của mình ở khắp mọi nơi trên thế giới, với bất kỳ quốc gia nào có ý định ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của đồng tiền này.  Tất nhiên, kịch bản này hoàn toàn không phù hợp với quyền lợi của các nước biết tôn trọng chủ quyền và độc lập. Hơn nữa, thực trạng của đồng đôla ngày càng vượt xa tầm kiểm soát của Chính phủ Mỹ. Không có gì làm bảo đảm, vào một ngày đẹp trời Tháp tiền tệ đôla sẽ không sụp đổ. Cho nên, đã đến lúc các quốc gia trong phạm vi ảnh hưởng của đồng tiền này cần có sự phân tích, nhìn nhận nghiêm túc về chiến lược phát triển tài chính – tiền tệ lâu dài của đất nước mình.    CHÚ THÍCH ẢNH: “Chiến tranh Irắc là phần nối tiếp của kịch bản tạo cầu cho đôla của Mỹ”.      Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm một chiếc áo lớn hơn      Nhiều người cho rằng, doanh nghiệp thành lập ở nước ngoài là để được ưu đãi hơn về thuế, để nhà đầu tư hưởng các quyền lợi thỏa đáng hơn, để đỡ phải thực hiện các thủ tục phức tạp từ thành lập công ty cho đến báo cáo hằng tháng với các cơ quan hữu quan… Tuy nhiên, lí do thực sự là gì ?       Để trả lời câu hỏi này, Tia Sáng đã có trao đổi với hai người trong cuộc: Nguyễn Minh Thảo, người sáng lập startup Umbala, với sản phẩm là ứng dụng di động cho phép người dùng quay, sửa và chia sẻ các video ngắn, nhắm tới thị trường Mỹ đầu tiên rồi mở rộng ra toàn cầu và Lê Phước Phúc, sáng lập startup Wiindi, một trang thương mại điện tử kết hợp mạng xã hội về thời trang dự định tiếp cận thị trường Việt Nam trước rồi mở rộng sang thị trường Đông Nam Á. Umbala và Wiindi là hai trong số nhiều công ty đang có toàn bộ nhân viên làm việc và hoạt động tại Việt Nam nhưng lại có tư cách pháp nhân ở một nước khác: Umbala có trụ sở ở Mountain View, Mỹ và Wiindi có trụ sở ở Singapore.      Dưới đây là ba lí do chính khiến họ thành lập công ty ở nước ngoài:  Thông tin rõ ràng, minh bạch hơn  Nhiều người cho rằng thành lập công ty ở nước ngoài là để…trốn thuế. “Có một sự thật mà ai cũng có thể nhìn ra được đó chính là thuế thu nhập doanh nghiệp tại Mỹ cao hơn Việt Nam nhiều, nếu nói thành lập công ty ở nước ngoài để trốn thuế là không thoả đáng” – Anh Nguyễn Minh Thảo chia sẻ.     Họ lựa chọn nước ngoài để thành lập công ty không phải vì được ưu đãi thuế mà để… tiết kiệm thời gian làm các thủ tục hành chính. Nhìn từ góc độ là chủ doanh nghiệp tại Mỹ như anh Thảo, hay chủ doanh nghiệp tại Singapore như anh Phúc, cả hai đều chia sẻ quan điểm “quy trình thực hiện các giấy tờ hành chính [ở các nước này] rất rõ ràng, minh bạch và công khai, chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng làm thủ tục, khai báo, nộp đơn hay chờ xét duyệt vấn đề nào đó qua hệ thống cổng thông tin điện tử của chính phủ là xong”. Với một công ty khởi nghiệp, họ chỉ muốn dành phần lớn thời gian để xây dựng sản phẩm, chăm sóc khách hàng, phát triển thị trường và kinh doanh, “không ai muốn bị mất quá nhiều thời gian vào những thủ tục hành chính, một lần đi nộp giấy tờ cũng có thể mất đến cả buổi sáng” – anh Phúc cho biết.    Hiện nay, đây có thể được nhìn nhận như là một vấn đề nhức nhối đối với bất kỳ ai đang kinh doanh trong nước. Để thử nghiệm, chính bản thân người viết bài đã thử tìm hiểu về việc xin cấp giấy phép thiết lập mạng xã hội trên công cụ tìm kiếm, kết quả được dẫn về website của Bộ Thông tin Truyền thông và sau đó thì website của Bộ thông báo rằng “nội dung không tồn tại”. Hệ thống nhà nước điện tử hiện đại nhất hiện nay có thể “tạm trao” cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi đã tiên phong đưa vào hoạt động hệ thống đăng ký thành lập doanh nghiệp mới hay chỉnh sửa thông tin doanh nghiệp trên cổng thông tin điện tử, thế nhưng cũng chỉ mới có thể phục vụ tốt nhất ở hai thành phố Hà Nội và TP.HCM. Hay Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính đã làm rất tốt hệ thống kê khai thuế trực tuyến giúp người khai thuế dễ dàng nộp thông tin báo cáo định kỳ – nhưng hệ thống này cũng chỉ dành cho người biết về nghiệp vụ kế toán.     Các thông tin khác hỗ trợ chủ doanh nghiệp đều nằm rải rác, mù mờ và khó lòng theo dõi được sự mới mẻ, mang tính cập nhật thời sự từ nhà nước.  Nhiều cơ hội tiếp cận nhà đầu tư hơn  Khi công ty khởi nghiệp còn quá non trẻ và mới mẻ thì việc tìm kiếm nhà đầu tư là một trong những công việc cần thiết và được ưu tiên nhất. Thế nhưng, nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ – thẳng thắn mà nhìn nhận – không thực sự mặn mà với các công ty của Việt Nam. Thứ nhất, những nhóm khởi nghiệp trong nước chưa thực sự thể hiện được tiềm năng phát triển, chưa có những sản phẩm nổi bật hấp dẫn người dùng nước ngoài. Thứ hai, việc bỏ ra một số tiền đầu tư rất nhỏ vào các công ty khởi nghiệp công nghệ (50.000 – 200.000 USD), không đáng để các nhà đầu tư mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc cho sự phức tạp của giấy tờ hành chính, quy trình pháp lý ở Việt Nam (chẳng hạn, có một số ngành nghề mà nhà đầu tư không được phép nắm trên 50% cổ phần, chưa có thông tư hướng dẫn về việc bãi bỏ giấy chứng nhận đầu tư đối với trường hợp đầu tư dưới 50% cổ phần, bán lại cổ phần của doanh nghiệp đã niêm yết hay chưa cũng phải chịu một mức thuế như nhau, thoái vốn bằng cách chờ doanh nghiệp lên sàn chứng khoán thì rất lâu hoặc không khả thi).     Vì thế, lẽ dĩ nhiên, nếu thành lập công ty ở nước ngoài, startup có nhiều cơ hội được đầu tư hơn. Được chương trình tăng tốc hỗ trợ khởi nghiệp JFDI Asia có trụ sở chính tại Singapore đầu tư vào sản phẩm Wiindi ngay khi chưa có công ty, anh Phúc đã được JFDI Asia hỗ trợ mở công ty tại Singapore. Số tiền đầu tư vào công ty Wiindi không thực sự lớn, chỉ khoảng 25.000 đô-la Singapore và trong đó chỉ có khoảng 10.000 đô-la Singapore tiền mặt. Thế nhưng, từ khi có pháp nhân công ty tại Singapore, sản phẩm Wiindi được tiếp cận số lượng nhà đầu tư lớn và tiếng tăm hơn so với thời kì ở trong nước. Cũng khá dễ hiểu một điều khi Singapore là một trong năm thị trường tài chính lớn nhất thế giới và đây thực sự là một cổng đầu tư của toàn Đông Nam Á.    Thương hiệu để làm tiếp thị sản phẩm và tuyển dụng  “[Trước kia] khi tôi nói sản phẩm này là một sản phẩm khởi nghiệp từ Việt Nam, nhiều người còn hỏi ngược lại tôi rằng Việt Nam là ở đâu? Tôi đã rất sốc. Đến khi mày mò con đường đến Mỹ để thành lập công ty vẫn với sản phẩm ấy, rồi khi tham gia những sự kiện lớn tại đây và cho mọi người biết rằng đó là một sản phẩm tại Mountain View, ai cũng trầm trồ ngạc nhiên lẫn ngưỡng mộ. Mountain View hay những cái tên khác gắn liền với Silicon Valley, đều là những minh chứng cho những nỗ lực của các công ty khởi nghiệp. Ai ở đây cũng phải giỏi cả, vì chỉ có phải giỏi đến rất giỏi thì công ty khởi nghiệp mới tồn tại được. Chưa kể đến là trong quá trình tiếp thị và quảng bá sản phẩm, phần lớn người dùng họ vẫn có cảm giác thích những sản phẩm đến từ Mỹ hơn tất thảy. Minh chứng là Facebook, Google, Uber,… tất cả đến từ Mỹ!” – Anh Thảo chia sẻ.    Ngoài lợi thế quảng bá vì “thương hiệu ngoại phủ ngoài sản phẩm nội”, anh Thảo cho biết công ty có văn phòng ở nước ngoài còn có lợi thế trong việc tuyển dụng. “Anh nhận được hồ sơ ứng tuyển của các ứng viên trên khắp thế giới, thậm chí, có những người có thành tích rất “khủng”. Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Silicon Valley mang đến cho người ta những ước mơ đổi đời khi làm việc trong các công ty khởi nghiệp, ngoài lương – ở một mức rất vừa phải, họ thường thích làm việc vì cổ phần hơn. Điều này là không thể có tại Việt Nam khi hầu hết bạn trẻ hiện nay đi làm, chỉ muốn hỏi về lương trước khi biết mình có thể đóng góp gì cho công ty hay có những nỗ lực đóng góp để cả công ty phát triển.”    Có thể thấy, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, ngoài việc thay đổi chính sách, pháp luật (công việc luôn đòi hỏi thời gian) thì điều có thể làm được ngay là minh bạch và đơn giản hóa các thủ tục, giấy phép bằng cách công khai cụ thể, rõ ràng các bước mà doanh nghiệp cần thực hiện lên trang web của các bộ, ngành liên quan và cho phép thực hiện hoàn toàn trên internet để tiết kiệm thời gian. Nếu không, thì dù tinh thần khởi nghiệp trong nước có sục sôi thì Việt Nam vẫn là một cái áo “chật chội”, hạn chế nhiều cơ hội phát triển của doanh nghiệp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm người chấp nhận sản phẩm đầu tiên là chưa đủ      Thất bại là bạn đồng hành của mọi doanh nhân, có điều thất bại đó sớm hay muộn, quy mô to hay nhỏ, hậu quả của nó như thế nào và bạn học được gì từ đó.      Gian hàng của Cyhome tại Techfest 2016.  Vẫn tiếp tục mạch phân tích kỹ thuật về mô hình kinh doanh và sự biến chuyển của mô hình kinh doanh dựa trên những thất bại tinh gọn của những lần trước, chúng tôi nhận được phản hồi tích cực từ người đọc còn bởi mọi người đều thấy câu chuyện của mình trong những thất bại của người khác. Trên thực tế, bạn đã thất bại nhiều lần không đảm bảo là bạn sẽ không thất bại nữa mà chỉ là bạn sẽ đến thành công theo cách khác với những cách đã thất bại thôi. Ngay cả những doanh nhân thành công nhất, khi họ kể chuyện cho bạn, họ cũng sẽ kể về thất bại. Vì vậy, chúng tôi hy vọng, nhận biết thất bại sớm, nhận biết thất bại thường xuyên nhưng với tinh thần hướng về phía trước là điều quan trọng phân biệt doanh nhân với những người khó chấp nhận rủi ro khác.  Nếu ở hai lần trước, chúng tôi tập trung vào câu chuyện thất bại trên thị trường B2C thì lần này, chúng tôi muốn hướng câu chuyện đến thị trường B2B vốn là một khoảng trống đầy tiềm năng của Việt Nam, nhưng không dễ chen chân vào và sống sót. Thị trường B2B đúng như Étienne Garbugli (tác giả của cuốn Lean B2B – Build Products businesses want, tạm dịch là B2B Tinh gọn – Xây dựng sản phẩm doanh nghiệp muốn có) nhận định, với những đặc thù của thị trường B2B, bạn không thể thử- sai liên tục, bạn cần có những người chấp nhận sản phẩm đầu tiên, nhưng thế vẫn là chưa đủ.  Câu chuyện mà chúng tôi chia sẻ với bạn hôm nay là của Phạm Hùng Phong, một nhân vật với rất nhiều thất bại trước đó, với xuất phát điểm là “dân kỹ thuật”. Sản phẩm của anh, Cyhome – Hệ sinh thái chung cư thông minh được xây dựng từ nhu cầu cá nhân, giống như câu chuyện của rất nhiều startup founder khác.  Xuất phát điểm của dự án  Sống trong một chung cư lớn và gặp rất nhiều vấn đề phải thanh toán tiền mặt hằng tháng (xếp hàng để trả các khoản phí điện, nước, điện thoại v.v.) trong khi đó dịch vụ quản lý chất lượng tòa nhà thì rất kém và thiếu trầm trọng các dịch vụ giá trị gia tăng khác. Phong đã nhận thức nhu cầu của bản thân và quan sát những cư dân khác để từ đó có niềm tin rằng, mình có thể cải thiện tình hình và đây cũng là nhu cầu chung của thị trường.    Nền tảng cung cấp các chức năng quản lý tòa nhà cơ bản của Cyhome.  Với cách tiếp cận đi từ người dùng cuối, tập trung vào cộng đồng dân cư trẻ thông minh, giỏi công nghệ và sẵn sàng chia sẻ, CyHome đã ra đời với tầm nhìn trở thành Hệ sinh thái chung cư thông minh. Tuy nhiên, một xuất phát điểm tốt giải quyết một vấn đề thực sự có thật, không chỉ của mình mà còn của mọi người không phải là sự đảm bảo 100% cho thành công. Từ tầm nhìn đầu tiên đó, Phong đã tiến hành những thay đổi mô hình kinh doanh quan trọng dựa trên những thất bại trong thử nghiệm chưa kể những thay đổi nhỏ trong suốt quá trình.  Những thay đổi mô hình kinh doanh  Lần thứ nhất: Với mong muốn xây dựng một giải pháp toàn diện cho các chung cư, nhắm đến những người quản lý tòa nhà, cả nhóm dành thời gian công sức phát triển một hệ thống đầy đủ tính năng. Tốn quá nhiều thời gian tập trung vào vấn đề kỹ thuật và tính năng của sản phẩm mà không hiểu gì về khách hàng, Cyhome thất bại trong việc tìm những người đầu tiên chấp nhận sản phẩm và không thể bán được phần mềm.  Lần thứ hai: Rút kinh nghiệm từ sự thiếu hiểu biết khách hàng của lần 1 vốn là những người quản lý tòa nhà, Cyhome chuyển hướng sang nhắm đến nhóm cư dân với niềm tin rằng, sự đồng cảm, điểm tương đồng sẽ giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng tốt hơn. Sản phẩm ra mắt với những tính năng như thanh toán trực tuyến tiền điện, tiền nước, tiền internet, truyền hình cáp phục vụ cho người dùng cuối là những cư dân. Tự tin với hiểu biết về nhóm cư dân, với niềm tin rằng khi cư dân sử dụng giải pháp, các quản lý tòa nhà sẽ bị thuyết phục sử dụng giải pháp, vì vậy Cyhome quyết định thuyết phục các cư dân và không đề xuất hợp tác với các quản lý tòa nhà. Lần này, sản phẩm tiếp tục gặp thất bại. Những cư dân không tin vào nền tảng và dịch vụ do sản phẩm dịch vụ không có thương hiệu, và cũng không tạo được niềm tin với người quản lý.  Lần thứ ba: Sau hai thất bại, Phong nhận ra, sự thiếu hiểu biết khách hàng của cả hai phía của thị trường là nguyên nhân chính dẫn đến những thất bại trên. Với một thị trường đa diện (multi-sided market)1, Phong buộc phải hiểu hành vi của người dùng là cả quản lý tòa nhà và ban quản lý tòa nhà. Tự đăng ký tham gia các lớp học quản lý bất động sản và quản lý tòa nhà nhiều lần để tìm hiểu và xây dựng quan hệ với những người trong ngành, Phong bắt đầu thu thập được những kiến thức về lĩnh vực, hiểu được những vấn đề thực sự bên trong công việc quản lý tòa nhà, những khó khăn việc quản lý tòa nhà gặp phải. Với những hiểu biết thực sự tốt hơn, Phong cùng cả nhóm đã xây dựng được một giải pháp tốt hơn cả nhu cầu thị trường. Giờ đây sản phẩm không còn là một hệ thống phần mềm quản lý mà là một giải pháp cho những vấn đề người quản lý tòa nhà và cả cư dân gặp phải. Cyhome đã có những khách hàng đầu tiên chấp nhận sản phẩm.  Tuy nhiên, hai lần thất bại trước cộng thêm thời gian phát triển sản phẩm, lần này Cyhome tiếp tục gặp thất bại do hết sạch tiền. Các đồng sáng lập muốn từ bỏ công ty. Thiếu nguồn lực con người và tiền bạc, lại nhắm vào một sản phẩm mà chu trình bán hàng quá dài, chi phí bán hàng quá lớn, đội nhóm tan rã. Cyhome chính thức chấm dứt mô hình kinh doanh kiểu Phần mềm như một dịch vụ (SAAS). Phân tích lại các thất bại, Cyhome nhận ra xuất phát điểm tại thị trường phía Bắc chính là một trong những nguyên nhân khác dẫn đến việc chu trình bán hàng dài và chi phí bán hàng lớn do mất rất nhiều thời gian thuyết phục và giáo dục thị trường. Vốn nổi tiếng là thị trường bảo thủ và dè dặt khi chấp nhận cái mới, thị trường miền Bắc không thể là sự lựa chọn tốt nhất cho các giải pháp công nghệ mới, vốn đòi hỏi mất thời gian và công sức để có khách hàng đầu tiên và chấp nhận giới thiệu giải pháp cho những bên khác. Việc đội nhóm tan rã là điều dễ hiểu bởi lẽ họ không thể đợi cho đến khi thị trường sẵn sàng.  Lần thứ tư: Hai đồng sáng lập còn lại quyết định rời thị trường miền Bắc và xây dựng lại từ đầu ở thị trường miền Nam. Với độ mở về tư duy của thị trường, công ty nhanh chóng có được những người chấp nhận sản phẩm đầu tiên, sẵn sàng thử và cho phản hồi về sản phẩm dịch vụ. Và cuối cùng một mô hình kinh doanh mới cho Cyhome ra đời: một nền tảng cung cấp những tính năng cơ bản cho quản lý tòa nhà, thanh toán, cho phép tích hợp dịch vụ và tích hợp thiết bị. Từ xuất phát điểm này, Cyhome có thể kết nối với hệ thống kế toán, các phần mềm về bãi đỗ xe v..v và trở thành điểm kết nối cho các dịch vụ giá trị gia tăng khác. Tiếp tục phát triển theo hướng này, dần dần chu kỳ kinh doanh của Cyhome được cắt ngắn lại, có thêm khách hàng, Cyhome tiếp tục phát triển theo hướng này và dần giáo dục được thị trường. Doanh thu chính đến từ các nhà cung cấp dịch vụ trong khi Cyhome tập trung phát triển và chăm sóc cộng đồng người dùng thông minh. Chính những người dùng này sẽ thúc đẩy thị trường của những nhà quản lý, những người cung cấp thiết bị internet kết nối vạn vật và cả những đối tác quản lý bất động sản.  Một vài điểm rút ra  Thị trường B2B không dễ tiến hành những thử nghiệm giống như thị trường B2C bởi nếu bạn mang đến một sản phẩm tồi, hoặc thiếu hiểu biết về những vấn đề của doanh nghiệp bạn có nguy cơ mất cơ hội vĩnh viễn được làm việc với họ. Thị trường B2B không quan tâm đến giải pháp của bạn, thứ họ quan tâm là vấn đề của họ. Trong thị trường đa diện như Cyhome nhắm tới, điều quan trọng nhất là việc quan tâm đến vấn đề của cả hai phía và tìm điểm gặp nhau giữa hai thị trường. Những lần thất bại trước của Cyhome là do sự thiếu hiểu biết về những vấn đề của cả hai nhóm khách hàng. Nhưng điều làm nên thành công phía sau của Cyhome chính là họ đã tìm ra được nguyên nhân của thất bại và vượt ra những sai lầm thường gặp của các sáng lập có chuyên môn kỹ thuật- tập trung quá nhiều vào phát triển tính năng sản phẩm mà quên đi vấn đề của khách hàng.  Sự dũng cảm bước chân ra bên ngoài, đến nơi khách hàng đến, lắng nghe họ là mấu chốt để sản phẩm ra đời giải quyết được vấn đề của khách hàng. Cũng cần phải nói thêm, trong thị trường đa diện, bạn cần phải xác định chính xác bạn đang phục vụ ai và ai mới là người trả tiền cho bạn. Trong trường hợp này, đó là những nhà cung cấp dịch vụ. Phong từng kể đã tham gia tới hàng chục khóa học như vậy để thực sự hiểu được vấn đề và quan trọng hơn cả là xây dựng được những mối quan hệ với họ. Trong thị trường đa diện, nếu bạn bán hàng cho doanh nghiệp, tổ chức, mà bạn không xây dựng được mối quan hệ với những người chấp nhận sản phẩm đầu tiên, có nghĩa là bạn chẳng có cơ hội nào. Mặc dù, chưa từng nghe đến B2B tinh gọn, cách làm của Phong thực sự có nhiều điểm tương đồng với 20 trường hợp thành công trong lĩnh vực B2B mà Étienne Garbugli đã tiến hành nghiên cứu để viết nên cuốn sách Lean B2B – một cuốn sách lấy cảm hứng từ khởi nghiệp tinh gọn của Eric Ries nhưng cũng đồng thời phân tích và chỉ ra điểm yếu của việc ứng dụng khởi nghiệp tinh gọn trong môi trường B2B.  Một quyết định kiểu thất bại tinh gọn khác là chuyển đổi thị trường khi thất bại ở thị trường miền Bắc. Trong thị trường B2B những người đi tiên phong thường tốn nhiều thời gian để thuyết phục và giáo dục thị trường nhất. Do mất nhiều thời gian vào những việc như vậy, nên họ thường khó là bên thành công, người hưởng lợi sẽ là những người đến sau trên thị trường do hưởng lợi từ những kiến thức, hiểu biết của người dùng đã được giáo dục trước đó. Chính vì lẽ đó, nếu cố gắng phát triển tại một thị trường bảo thủ, khó tiếp nhận cái mới, doanh nghiệp sẽ phải mất thời gian công sức để giáo dục thị trường, và tự mình đẩy doanh nghiệp vào một chu trình kinh doanh dài hơn, tốn kém hơn. Chủ động tìm kiếm những thị trường có độ mở cao hơn, người mua sẵn sàng hơn sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và rút ngắn quá trình thử nghiệm. Đó cũng là cách để bạn vượt nhanh hơn qua bẫy từ đi từ một số lượng người chấp nhận sản phẩm ban đầu nhỏ (early adopters) sang đa số chấp nhận sản phẩm ban đầu (early majority) mà Geoffrey A. Moore gọi là “chasm”.  Một số câu hỏi chính bạn có thể đặt ra khi chọn kinh doanh ở thị trường B2B:  Bạn có thực sự hiểu vấn đề mà doanh nghiệp/tổ chức bạn đang nhắm đến gặp phải không?  Nếu không phải là người đi từ trong ngành ra, bạn đã trực tiếp gặp gỡ, nói chuyện với những người trong ngành bao nhiêu lần?  Bạn có tìm được những người chấp nhận sản phẩm đầu tiên không?  Số lượng người này tiềm năng nhân rộng ra trên thị trường không?  Mức độ sẵn sàng cho sản phẩm dịch vụ mới của thị trường như thế nào?  Không có một công thức để đảm bảo cho thành công, nhưng bạn có thể học hỏi từ thất bại của chính mình. Chính vì vậy, thay cho lời kết, chúng tôi xin trích câu “Hãy thất bại sớm, thất bại thường xuyên, nhưng hãy luôn thất bại hướng về phía trước”- John Maxwell, tác giả cuốn sách Turning Mistakes Into Stepping Stones for Success (Tạm dịch là: Biến mỗi sai lầm thành một viên gạch nền cho thành công) như một lời nhắc nhở với các sáng lập khởi nghiệp đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh, một sản phẩm, dịch vụ mới, hãy thất bại nhanh và tinh gọn nhất trên tinh thần hướng về phía trước.2   —  Chú thích:  1. Là thị trường bạn cung cấp dịch vụ chính cho một hoặc một số nhóm nhưng lại kiếm tiền từ nhóm khác. Ví dụ: Google phục vụ công cụ tìm kiếm miễn phí cho người dùng Internet nhưng thu tiền quảng cáo của các công ty, tổ chức muốn quảng cáo để có thứ hạng tìm kiếm trên cùng.  2. “Fail early, fail often but always fail forward” – John Maxwell, Failing forward: Turning Mistakes Into Stepping Stones for Success    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Tìm người giỏi với nguồn lực ít nhất?      Với một doanh nghiệp khởi nghiệp, nếu ở quy mô nhỏ và số vốn không nhiều, việc đau đầu nhất mà các nhà quản lý thường gặp phải là tìm đâu cho ra người giỏi? Và nếu có người giỏi thì lấy đâu ra ngân sách để giữ họ? Vòng luẩn quẩn con gà quả trứng đó khiến không ít doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại, phá sản vì những lý do không mấy liên quan đến sản phẩm dịch vụ tốt hay không, mà vấn đề nằm ở chỗ có người để làm hay không.       Những thế khó và Giải pháp thường gặp  Thế khó thứ nhất: Doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) gặp khó lớn nhất ở quy mô nhỏ, môi trường kém chuyên nghiệp. Quy mô nhỏ là một bất lợi bởi lời khuyên mà sinh viên sắp ra trường được nghe chủ yếu là nên bước chân vào những công ty lớn để có cơ hội học tập toàn diện từ môi trường chuyên nghiệp. Thế nên, các DNKN nhỏ thường khó là điểm đến của những sinh viên giỏi, có năng lực tốt.   Giải pháp thường gặp cho khó khăn này là các doanh nghiệp chấp nhận trả mức lương vừa phải để có những nhân lực chất lượng vừa phải, đáp ứng tạm đủ nhu cầu. Doanh nghiệp cũng chấp nhận việc vào ra liên tục của người làm như một lẽ tự nhiên: Sinh viên mới ra trường hay nhảy việc. Chỉ cần lương chênh lệch nhau vài trăm nghìn một tháng là họ sẵn sàng bỏ sang nơi mới.   Sai lầm nằm ở chỗ: Thông thường, ở các DNKN, quản lý nhân sự cũng đồng thời là bộ phận hành chính ở công ty. Bộ phận này vốn đảm nhiệm những công việc không đơn giản do khối lượng công việc khá nhiều và phức tạp, giờ đây lại liên tục phải thay đổi, tuyển dụng, phỏng vấn và làm chế độ cho người lao động. Công việc này càng ngày càng kém hiệu quả do không có cú hích thực sự trong chính sách đãi ngộ và sử dụng người làm. Mặt khác, nó tạo ra thứ văn hóa rất tạm bợ trong tư duy người làm, nay ở mai đi. Về lâu dài, không chỉ hình ảnh công ty bị ảnh hưởng trong con mắt người ứng tuyển, mà còn khó xây dựng được văn hóa thực sự của doanh nghiệp. Đây là điểm trừ trong con mắt nhà đầu tư.   Thế khó thứ hai và giải pháp thường gặp: DNKN không đào tạo nhân sự bài bản. Với một người chủ doanh nghiệp dành khoảng 16h cho việc phát triển sản phẩm và gặp gỡ khách hàng, lo lắng cho sự sống còn của doanh nghiệp, dòng tiền v..v. thì việc dành thời gian đào tạo nhân sự là một thứ xa xỉ. Đó là chưa kể, ngay khi đào tạo xong, nhân sự lại nhảy việc.   Vì vậy, giải pháp thường gặp là Doanh nghiệp để mặc người lao động tự xoay sở với công việc của mình, làm được hay không thì cũng hưởng lương, sau một thời gian quá kém thì mới sa thải. Hoặc đào tạo cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ qua về sản phẩm dịch vụ và cho nhân viên lăn xả ra thị trường, tự xoay sở và bán hàng.   Sai lầm nằm ở chỗ Khi để người lao động tự xoay sở với công việc, ta đã không cho người lao động cơ hội để hiểu về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, yêu doanh nghiệp mà họ đang làm việc và cống hiến. Việc này dẫn đến thái độ làm việc chống đối, tâm lý bất an, dễ dàng nhảy việc bất kỳ lúc nào. Trường hợp không được đào tạo và kiểm soát tốt, một nhân viên bước ra thị trường có thể gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp.  Thế khó thứ ba: DNKN không có thương hiệu, chính sách đãi ngộ không vượt trội nên không tạo được hồ sơ tốt cho ứng viên khi làm việc tại đó. Điều này rõ ràng là bất lợi của DNKN trong con mắt các ứng viên mới ra trường và hoàn toàn không tạo được sức hấp dẫn với những ứng viên có năng lực.   Đối phó với bất lợi này, nhiều DNKN lựa chọn phương án trao cổ phần cho các ứng viên tham gia như một cam kết về sự chia sẻ quyền và lợi ích với ứng viên tiềm năng.   Sai lầm thường gặp với giải pháp này: Cổ phần không phải lúc nào cũng là giải pháp hữu hiệu nếu doanh nghiệp không tìm được thành viên có cùng tầm nhìn. Việc giao cổ phần cho một người mà mình không hiểu rõ có thể tạo ra những rắc rối về pháp lý sau này. Điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp lựa chọn cổ đông dựa trên những giá trị lâu dài và bền vững mà cổ đông đó có thể mang lại chứ không phải là những giá trị trước mắt mà doanh nghiệp đang cần trong ngắn hạn.  Thế khó thứ tư và giải pháp thường gặp: Cơ cấu của DNKN đơn giản, khó tạo cơ hội thăng tiến cho ứng viên nên các ứng viên bước chân vào DNKN thường gặp một trong các tình huống sau: Đảm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ hoặc mất động lực do không thấy khả năng thăng tiến hoặc không được đào tạo nên người lao động cảm thấy mình không có những chuyển biến trong chuyên môn nghiệp vụ. Việc rời bỏ doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi. Trước bất lợi này, ít doanh nghiệp tìm giải pháp mà thường đợi đến khi lớn mạnh mới hoàn thiện cơ cấu tổ chức.   Những giải pháp lật ngược tình thế  Các chương trình tập sự: Nhiều doanh nghiệp nghĩ việc tổ chức một chương trình tập sự và quản trị viên tập sự sẽ rất tốn kém nhưng thực tế, nếu biết cách làm, chương trình sẽ không chỉ có lợi cho nhiều bên mà lại còn rất tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Đây là giải pháp đã được chứng minh thành công với nhiều DNKN.   Một trong những giải pháp là đăng tuyển tập sự part-time (bán thời gian) cho các vị trí như marketing, sale, kỹ thuật, chăm sóc khách hàng. Chương trình sẽ bắt đầu với việc đăng tuyển dụng, chuẩn bị nội dung đào tạo và tự đào tạo và hướng dẫn đào tạo lại. Những chương trình này rất phù hợp với sinh viên từ năm thứ  hai  trở đi vì không đòi hỏi phải dạy nhiều kỹ năng. Các em cũng mong muốn được đào tạo và có khả năng thu xếp thời gian tốt.    Các chương trình này không chỉ tạo cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn nhân lực với chi phí chấp nhận được mà còn tạo cơ hội cho sinh viên tham gia sớm môi trường làm việc thực tế, giúp họ có cái nhìn cụ thể về môi trường làm việc và được đào tạo, tự đào tạo những kỹ năng mà không phải trường đại học nào cũng trang bị cho sinh viên của mình.   Tuy nhiên, nên có những cam kết thành biên bản với thực tập sinh với thời gian tập sự tối thiểu ba tháng. Doanh nghiệp cũng nên có sự chuẩn bị cho những bước phát triển rõ ràng của thực tập viên cùng với chỉ số đánh giá minh bạch để tạo động lực cho người làm việc. Một vài gợi ý với doanh nghiệp khi sử dụng chương trình này: Với người tham gia chương trình thực tập, động lực lớn nhất là được học hỏi, có chứng nhận rõ ràng về thành tích của mình và được tuyển dụng sau khi thực tập (có thể tại chính công ty thực tập hoặc ở những công ty khác sau này). Vì vậy, thư tham chiếu/giới thiệu; chứng nhận thực tập (mô tả rõ chức năng, nhiệm vụ và thành tích đạt được) là những nội dung doanh nghiệp cần chuẩn bị.   Cho phép tự phát triển đội nhóm: Với bất lợi của doanh nghiệp không có cơ cấu đủ lớn giúp người lao động thăng tiến, việc chủ động tạo cho người lao động cơ hội phát triển đội nhóm của mình là một cách tốt để doanh nghiệp nâng cao tính tự chủ của người lao động. Giao quyền quản lý một dự án, một chương trình, quyền chủ động tuyển người và quyền xây dựng chính sách phù hợp với công ty là những lựa chọn tốt để tạo ra đội ngũ lãnh đạo kế cận và giảm bớt khối lượng công việc hàng ngày của lãnh đạo DNKN.   Tạo ra một văn hóa sáng tạo và học hỏi không ngừng:  Phát triển một thư viện và tạp chí chuyên ngành của riêng doanh nghiệp cả online và offline là một cách hay để kết nối các thành viên trong doanh nghiệp.   Tổ chức các buổi seminar nội bộ để chia sẻ kiến thức, khuyến khích nhân viên bằng những cuộc thi sáng tạo nhỏ trong nội bộ công ty. Phần thưởng cho người lao động đôi khi chỉ là đôi vé xem phim, một khóa học nâng cao kỹ năng đã có tính chất ghi nhận và động viên rất lớn với người lao động.  Đào tạo định kỳ cho cả công ty vì ai cũng có nhu cầu học hỏi và phát triển. Một người lãnh đạo tốt là người tạo điều kiện cho nhân viên phát triển cùng công ty. Việc mời chuyên gia đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn là một cách giữ chân người giỏi và góp phần xây dựng một văn hóa học hỏi trong doanh nghiệp.   Tận dụng triệt để các công cụ mạng xã hội để tìm kiếm nhân sự và xây dựng thương hiệu đến nguồn nhân lực tiềm năng. Bạn không cần có quá nhiều tiền để đăng tuyển trên những kênh tuyển dụng chi phí cao mới tìm được người giỏi. Một profile tốt của CEO hoặc Trưởng phòng Nhân sự của công ty trên LinkedIn, một fanpage đầy hình ảnh sống động của một doanh nghiệp trẻ trung, ham học hỏi và sáng tạo sẽ là một lực hút rất quan trọng với những ứng viên tiềm năng của bạn. Mạng xã hội và truyền miệng sẽ là những cơ chế lan truyền hỗ trợ tốt nhất cho DNKN trong quá trình tìm kiếm và tuyển dụng nhân sự của mình.        Ví dụ: EZCloud Global là một doanh  nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cho khách sạn, nhà hàng.  Trong ba năm khởi nghiệp, ngay từ những ngày đầu, doanh nghiệp đã phát  triển chương trình tập sự cho nhóm kỹ thuật. Với nguồn nhân lực đến từ  các trường đại học, công ty đã chủ động phát triển đội kỹ thuật tập sự,  kế toán tập sự, và gần đây là marketing và sales tập sự cho hơn 20 nhân  viên. Anh Nguyễn Hoàng Dương, CEO của công ty chia sẻ: “Cái khó nhất ban  đầu chính là xây dựng chương trình đào tạo với đội kỹ thuật tập sự, vì  bạn cần phải có người lãnh đạo cho nhóm này. Chúng tôi giải quyết thế  khó này bằng việc chủ động đào tạo trưởng nhóm và yêu cầu trưởng nhóm  đào tạo lại thành viên mới. Nhờ vậy, chúng tôi không chỉ tiết kiệm thời  gian đào tạo nhân viên mới cho các nhà sáng lập, mà nhân viên cũ cũng  được trao quyển tự chủ hơn, rèn được nhiều kỹ năng quản lý nhóm hơn.  Trên hết, đó là một văn hóa chủ động trong công ty nên có những bạn sinh  viên năm cuối có hai năm kinh nghiệm làm việc với EZCloud nhưng đã có  thể quản lý những dự án quan trọng. Dựa trên thành công của những chương  trình tập sự, công ty đã tự tin mở rộng những chương trình tập sự cho  marketing, sales. Rất nhiều tập sự của EZCloud kết thúc công việc tập sự  nhưng vẫn tiếp tục cộng tác với công ty. Đó là cách chúng tôi mang ý  nghĩa của công việc mình làm đến cộng đồng tốt nhất”.            ——–  *Giảng viên Khoa Quốc tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đồng sáng lập KisStartup         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm phân rã hạt Higgs nặng thành hai tau lepton với máy dò ATLAS      Trong vật lý hạt, ba trong số bốn lực cơ bản của vũ trụ mang tên tương tác điện từ, tương tác yếu và tương tác mạnh đều được miêu tả bằng lý thuyết Mô hình chuẩn (SM). Một mở rộng của mô hình này là siêu đối xứng (SUSY), một cấu tạo lý thuyết chỉ ra mối liên hệ có thể giữa hai lớp hạt: các boson và fermion.      Lý thuyết SUSY giải thích một số trùng hợp toán học của SM và là một thành phần cơ bản của lý thuyết dây, một trong những cấu tạo hứa hẹn về sự sáp nhập giữa SM với thuyết tương đối. Nó cũng dự đoán sự tồn tại của nhiều hạt mới, vốn không hạt nào trong số đó từng được quan sát, ví dụ nó đề xuất ít nhất 5 dạng hạt Higgs boson, dù hiện mới chỉ có một hạt được quan sát.  Trong khi SUSY hấp dẫn về mặt lý thuyết, vẫn chưa có bằng chứng về khả năng áp dụng nó trong thế giới thật, và nếu nó đạt được, các hạt mà nó dự đoán có lẽ quá nặng để có thể quan sát được trong những thực nghiệm trước đây. Trong vài năm gần đây, các nhà vật lý trên toàn thế giới đã cố gắng quan sát chúng một cách trực tiếp để chứng minh giá trị của thuyết SUSY và hiểu các đặc tính của những hạt mới.  Nhóm hợp tác ATLAS là một nhóm nghiên cứu lớn từ nhiều viện nghiên cứu trên toàn thế giới, những người đang cùng nhau phân tích để hiểu tốt hơn về các kết quả đo đạc do máy dò ATLAS tại CERN ghi được. Trong một công trình mới xuất bản trên Physical Review Letters, các nhà vật lý đã trình bày các kết quả của một cuộc tìm kiếm hạt Higgs bosons mới trên cơ sở phân tích dữ liệu thu thập được bằng máy dò ATLAS.  “Chúng tôi đã thực hiện nhiều cuộc tìm kiếm các hạt Higgs boson nhưng cuộc tìm kiếm này rất chính xác hơn với ‘không gian tham số’ của SUSY Higgses”, William John Murray, một trong những nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu, nói với Phys.org. “Bài báo mới không phải là bài báo đầu tiên về nội dung này nhưng điều đáng nói là dữ liệu mà nó sử dụng nhiều gấp bốn lần so với những nghiên cứu trước cũng như phương pháp thực hiện đã được cải thiện”.  Máy dò ATLAS được thiết kế để đo đạc các hạt mới xuất hiện từ những va chạm trong máy gia tốc hạt lớn LHC, vốn là máy gia tốc hạt có chùm tia mạnh nhất thế giới hiện nay. Nó có thể xác định được các hạt electron và hai dạng hạt cùng một số tương đồng về các electron mang tên muons và taus.  Taus rất khó để đo đạc vì chúng phân rã quá nhanh. Khi phân rã, chúng tạo ra một hạt neutrino ‘vô hình’ và một electron là muon, hoặc phổ biến nhất là các pion (ví dụ các hạt quark tạo thành các hadron). Nhóm hợp tác ATLAS tìm kiếm các cặp taus phân rã, tập trung vào các trường hợp trong đó cả taus tạo ra các pions hoặc nơi một tau tạo ra một electron khác hoặc muon và các pion.    “LHC tạo ra một tỷ các va chạm trong vòng một giây, về bản chất tất cả thứ đón đều tạo ra các pion, vì vậy vấn đề mà chúng tôi đã thiết lập để giải quyết là phân biệt giữa các pion được hình thành từ một phân rã hạt tau và những thứ không phải là nó (liên quan đến ‘giả hạt’)”, Murray nói. “Để làm được điều này, chúng tôi đã đo đạc cả cách chúng tôi thường làm chuẩn chỉnh và cách chúng chúng tôi làm sai khác đi. Kiểm soát các ‘giả pions’ là một trong những vấn đề lớn nhất của phép đo lường lần này”.  Để nghiên cứu các cặp tau, các nhà nghiên cứu kết hợp những khoảnh khắc đo lường của mình và ước tính một hạt nhất định phải nặng bao nhiêu để tạo được ra một cặp hạt cụ thể trong khi phân rã. Sau đó, họ xây dựng một biểu đồ hiển thị khối lượng mà họ ước tính và tìm kiếm một ‘điểm’ trên đồ thị, vì điều này có thể gợi ý cho họ thấy sự hiện diện của một hạt Higgs boson mà họ chưa từng quan sát trước đây.    “Có khả năng thực sự về việc khám phá ra hạt Higgs boson thứ hai và gợi ý rất thuyết phục về siêu đối xứng”, Murray nói. “Bài báo của chúng tôi đặt những ràng buộc cho các thuyết siêu đối xứng. Popper từng đồng ý rằng các lý thuyết đều phải được bác bỏ để loại bỏ phần phi khoa học và trở thành khoa học. Bằng việc loại bỏ các phần không gian tham số của siêu đối xứng, chúng ta có thể giảm bớt những mô hình lỗi mà các nhà lý thuyết đã đề xuất, từ đó mang lĩnh vực nghiên cứu của chúng ta gần hơn với sự thật”.  Dù nghiên cứu này được Nhóm hợp tác ATLAS thực hiện không dẫn đến việc quan sát các hạt Higgs bosons nặng mới, nó cũng làm thu hẹp lại các tham số mà các hạt có thể dò được và quan sát được. Trong tương lai, nó có thể dẫn đến việc hình thành tìm kiếm mới với mục tiêu quan sát trực tiếp các hạt mới và xác nhận sự tồn tại của chúng.  “Chúng tôi hiện đang khám phá sự thay thế các lý thuyết ngoài mô hình chuẩn dự đoán các ký hiệu khác”, Murray nói. “Bộ dữ liệu rất lớn của LHC có thể cho phép chúng tôi có được cái nhìn cận cảnh hơn nhiều ký hiệu khác – bất kỳ thứ nào trong đó cũng có thể nêu ra được một cái gì đó mới mẻ. Tuy phần nhiều chúng đã được giới thiệu tại hội thảo quốc tế về vật lý hạt ICHEP năm nay nhưng chưa có cái nào thành công như công bố này”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-heavy-higgs-bosons-tau-leptons.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra công thức khởi động sự sống trên Trái đất?      Trong quá trình tạo ra sự sống trên Trái đất của phân tử, RNA dường như là “nhân vật chính”. Nhưng nguồn gốc của phân tử này, yếu tố liên quan đến việc lưu trữ thông tin di truyền giống như DNA và tăng tốc các phản ứng hóa học giống như cách làm của protein, vẫn là một bí ẩn.      Nghiên cứu mới đã tìm ra loại hóa chất thông thường có thể mở ra thế giới RNA. Nguồn: Mark Garlick/Science Source  Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu đã cho thấy lần đầu tiên một tập hợp các vật liệu khởi đầu đơn giản có khả năng xuất hiện trong giai đoạn sớm của Trái đất và có thể tạo ra cả bốn khối cơ bản tham gia vào quá trình phản ứng hóa học của RNA.  Những khối cơ bản này – cytosine, uracil, adenine và guanine – trước đây đã được tái tạo trong phòng thí nghiệm từ các vật liệu ban đầu khác. Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu do John Sutherland, Đại học Cambridge, Vương quốc Anh dẫn đầu đã phát minh ra một bộ năm hợp chất có khả năng xuất hiện ở giai đoạn sớm của Trái đất và có thể tạo ra cytosine và uracil, hay còn gọi chung là pyrimidines (hợp chất có nitơ có cấu trúc phân tử vòng). Năm 2016, nhóm nghiên cứu do Thomas Carell, một nhà hóa học tại Đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức, dẫn dắt, đã cho biết có cách dễ thực hiện để hình thành adenine và guanine, gọi là purines (hợp chất chứa nitơ có cấu trúc phân tử hai vòng). Cả hai nghiên cứu trên đều tìm ra hàng loạt phản ứng hóa học khác nhau và đều chỉ tạo ra hai trong bốn khối thành phần cơ bản của RNA. Chưa ai biết các điều kiện cần thiết để tạo ra cả hai cặp khối cùng lúc hoặc cùng chỗ.  Giờ đây, Carell cho biết có thể có câu trả lời. Tại Hội thảo Nguồn gốc sự sống (14-17/10 tại Atlanta), ông thông báo đã tìm ra một tập hợp các phản ứng đơn giản có thể tạo tất cả bốn khối cơ bản của RNA. Công trình của Carell bắt đầu với sáu khối xây dựng phân tử – oxy, nitơ, mêtan, amoniac, nước và xyanua hydro, tất cả đều có mặt ở giai đoạn sớm của Trái đất.  Để tạo ra pyrimidin, Carell bắt đầu với các hợp chất cyanoacetylene và hydroxylamine, khi phản ứng chúng tạo ra các hợp chất amino-isoxazole. Sau đó, hợp chất này phản ứng với phân tử urea để tạo thành các hợp chất mà sau đó, tiếp tục phản ứng với ribose – một loại đường, để tạo ra một bộ hợp chất trung gian cuối.  Cuối cùng, với sự có mặt của các thiol – những hợp chất chứa lưu huỳnh và truy dấu một lượng nhỏ muối sắt hoặc muối nickel, các chất trung gian này chuyển hóa thành các pyrimidines cytosine và uracil. Thêm nữa, phản ứng cuối này được kích hoạt khi các kim loại trong các muối chứa nhiều điện tích dương. Đây chính xác là những gì xảy ra trong bước cuối cùng trong quá trình tạo ra các purine, adenine và guanine. Còn hơn thế, bước này dẫn đến đúng việc cả bốn nucleotide hoạt động tại một chỗ, Carell cho biết. Như vậy lần đầu tiên có một lời giải thích hợp lý về cách tất cả các khối cơ bản của RNA có thể phát triển cạnh nhau.  “Tôi thấy nó có vẻ phù hợp”, Steven Benner, nhà hóa học làm việc với Quỹ Ứng dụng tiến hóa phân tử ứng dụng ở Alachua, Florida cho biết. Quá trình này cung cấp một cách thức đơn giản để có thể tạo ra tất cả bốn khối cơ bản trong các điều kiện tương đồng với các điều kiện của giai đoạn sớm của Trái đất, ông nhận xét.  Quá trình này không giải quyết được tất cả những bí ẩn của RNA. Ví dụ, một bước hóa học khác vẫn cần phải “kích hoạt” mỗi khối xây dựng của bốn RNA để liên kết chúng thành các chuỗi dài tạo thành vật liệu di truyền và thực hiện các phản ứng hóa học. Nhưng việc tạo ra RNA trong các điều kiện giống với Trái đất ban đầu giờ đây có vẻ như trong tầm tay.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/10/chemists-find-recipe-may-have-jump-started-life-earth       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra enzyme quan trọng gây kháng thuốc điều trị ung thư      Phát hiện mới của TS. Nguyễn Văn Thắng (Đại học Missouri, Mỹ) có thể mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả các thuốc điều trị ung thư hiện nay.    Các loại thuốc điều hòa miễn dịch như thalidomide, lenalidomide hay pomalidomide thường được sử dụng khi điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh đa u tủy xương hoặc các bệnh ung thư máu khác. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng, hầu như tất cả các bệnh nhân đều bị kháng lại các loại thuốc này.  Mới đây, TS. Nguyễn Văn Thắng, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y học Chính xác, Đại học Missouri (Mỹ) đã phát hiện ra một protein có tên USP15 – tồn tại rất nhiều trong các tế bào ung thư – đóng vai trò quan trọng gây nên tình trạng kháng thuốc này.    Phát hiện mới có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị ung thư trong tương lai. Ảnh minh họa: medicine.missouri.edu  Kết quả nghiên cứu đã được anh công bố trong bài báo “USP15 antagonizes CRL4CRBN-mediated ubiquitylation of glutamine synthetase and neosubstrates” trên Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America – PNAS).  Theo TS. Nguyễn Văn Thắng, “USP15 là protein giúp bảo vệ các tế bào ung thư không bị phá hủy, nhờ vào việc loại bỏ các ‘nhãn’ ubiquitin [một protein điều hòa có kích thước nhỏ – PV] mà các thuốc điều hòa miễn dịch đặt trên các tế bào. Đây là các ‘nhãn’ giúp làm suy thoái tế bào ung thư. Tuy nhiên, nếu các ‘nhãn’ ubiquitin đó bị USP15 loại bỏ, tế bào ung thư sẽ tiếp tục phát triển và nhân lên”.  Với phát hiện mới này, TS. Nguyễn Văn Thắng cho rằng, nếu xét nghiệm USP15 cho các bệnh nhân mắc đa u tủy xương thì có thể xác định liệu bệnh nhân có bị kháng thuốc điều hòa miễn dịch hay không. Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các phác đồ điều trị chính xác và được cá nhân hóa hơn cho người bệnh.  “Nghiên cứu này có thể sẽ giúp chúng ta khám phá ra: liệu việc kết hợp một chất ức chế USP15 với các thuốc khác có thể đem lại hiệu quả cao hơn trong điều trị ung thư hay không”, TS. Nguyễn Văn Thắng cho biết. Để làm được điều đó, anh cho rằng, cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu sâu hơn nhằm xác định các phương án kết hợp thuốc tốt nhất để cải thiện kết quả lâm sàng của các bệnh nhân mắc đa u tủy xương và các bệnh ung thư khác.  TS. Nguyễn Văn Thắng hiện đang công tác tại Đại học Missouri (Mỹ). Sau khi tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam, anh lấy bằng thạc sỹ về sinh học phân tử tại Đại học Free Brussels và Đại học KU Leuven (Bỉ). Năm 2011, anh lấy bằng tiến sỹ về miễn dịch học và sinh học ung thư tại Trung tâm Ung thư MD Anderson – Đại học Texas (Mỹ).  Hướng nghiên cứu chính của anh là ung thư, miễn dịch học và sự biến đổi sau dịch mã của protein (post-translational modifications of proteins).  Mỹ Hạnh tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra nơi không có sự sống trên trái đất      Những sinh vật sống, đặc biệt là những vi sinh vật, có một khả năng kỳ diệu trong việc đáp ứng những điều kiện môi trường khắc nghiệt bậc nhất trên trái đất, tuy nhiên cũng có những nơi mà chúng không thể tồn tại. Các nhà nghiên cứu châu Âu đã xác nhận sự vắng mặt của các loài vi khuẩn trong những vùng nước nồng độ muối, a xít đậm đặc và nhiệt độ cao tại cánh đồng địa nhiệt Dallol ở Ethiopia.      Quang cảnh khủng khiếp như địa ngục của Dallol, nằm ở vùng trũng Danakil của Ethiopia, trải rộng trên khắp miệng núi lửa đầy những muối, nơi nhiều loại khí độc và nước sôi tỏa ra từ hoạt động thủy nhiệt dữ dội. Đây là một trong những môi trường có nhiệt độ cao nhất trên trái đất. Ở đây, nhiệt độ thông thường trong mùa đông cũng có thể đạt ngưỡng 45 độ C và tràn ngập các bể có nồng độ a xít và muối đậm đặc với các tỷ lệ pH ở mức thấp.  Một nghiên cứu xuất bản trong năm 2019 cho biết, các vi sinh vật có thể phát triển trong môi trường hội tụ những điều kiện khắc nghiệt (có thể cùng song song tồn tại các yếu tố nóng, mặn, a xít), do đó các tác giả nêu nơi này như một ví dụ về những giới hạn mà sự sống có thể có mặt và thậm chí còn đề xuất nó như một nơi thuộc thời kỳ sớm của sao Hỏa.  Tuy vây, một nhóm các nhà nghiên cứu Pháp – Tây Ban Nha do nhà sinh học Purificación Lopez Garcia của Trung tâm nghiên cứu Khoa học quốc gia Pháp (CNRS) mới xuất bản bài báo “Hyperdiverse archaea near life limits at the polyextreme geothermal Dallol area” trên Nature Ecology & Evolution với những kết luận hoàn toàn khác. Theo họ, không hề có sự sống ở những vùng ngập nước vô cùng khắc nghiệt ở Dallol.  “Sau khi phân tích nhiều mẫu vật hơn cả những công trình nghiên cứu trước đây, với việc kiểm soát thích hợp để không làm ảnh hưởng đến chất lượng mẫu và một phương pháp hiệu chuẩn chính xác, chúng tôi đã kiểm tra lại là không hề có sự sống của các vi khuẩn tại các bể nước nóng có nồng độ muối và a xít đậm đặc hay trong các hồ nước mặn giàu ma giê liền kề đó”, López García nói.  “Những gì tồn tại là một hệ sinh thái rộng lớn halophilic archaea (một loại vi khuẩn cổ ưa mặn) trong sa mạc và các kênh nước mặn bao quanh vùng địa nhiệt, nhưng không hề thấy trong các bể đậm đặc muối và a xít cũng như trong các hồ vẫn được gọi là hồ Đen và hồ Vàng của Dallol, nơi đầy rẫy ma giê. Và tất cả bất chấp một sự thật là lượng vi khuẩn được phân tán theo gió và những du khách đến khu vực này rất lớn”.  Các kết quả từ nhiều phương pháp mà nhóm nghiên cứu đã xác nhận điều này, trong đó có cả các marker giải trình tự gene để dò và phân loại các vi sinh vật, các nỗ lực nuôi cấy vi khuẩn, dùng kỹ thuật nhuộm huỳnh quang FFC (fluorescent flow cytometry) để nhận diện các đơn tế bào, phân tích các chất hóa học và kính hiển vi điện tử quét (SEM) kết hợp với quang phổ học tia X.  López García cảnh báo, dưới kính hiển vi thì một số chất kết tủa khoáng chất giàu silic ở Dallol có thể trông giống như những tế bào vi khuẩn, vì vậy cần phải phân tích mẫu vật một cách cẩn thận “trong những nghiên cứu khác, có thể là ô nhiễm các mẫu vật với vi khuẩn cổ từ các vùng lân cận, các hạt khoáng có thể được coi như các tế bào hóa thạch, khi trong thực tế là chúng được hình thành một cách tự phát trong nước mặn, nơi không có sự sống tồn tại”.  Theo các tác  giả, công trình này sẽ “giúp khoanh vùng các giới hạn của nơi có thể ở được và thận trọng khi diễn giải những chữ ký sinh học (bằng chứng khoa học về sự sống) hình thái trên trái đất và hơn nữa” và người ta không nên dựa vào khía cạnh tế bào hoặc “sinh học” bên ngoài của một cấu trúc để đưa ra kết luận bởi nó có thể có nguồn gốc phi sinh học.  “Thêm vào đó, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bằng chứng là có nhiều nơi trên bề mặt trát đất như các bể nước ở Dallol đều là vô trùng ngay cả khi chúng chứa đầy nước ở dạng lỏng”, Lopez Garcia nhấn mạnh. Điều đó có nghĩa là sự hiện diện của nước ở dạng lỏng trên một hanh tinh, vốn thường được coi là một yếu tố cho thấy có thể ở được, không ngụ ý một cách trực tiếp là nơi đó có sự sống.  Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu đã tìm ra hai rào cản về mặt hóa học và vật lý ngăn sự tồn tại của các sinh vật sống trong các vùng ngập nước: sự thừa thãi của muối ma giê chaotropic (một tác nhân phá vỡ các liên kết hydro và làm biến chất các phân tử của sinh vật) và sự hợp lưu cùng lúc của các điều kiện mặn, a xít và nhiệt độ cao.  “Chúng ta không thể trông chờ vào việc tìm thấy các hình thức của sự sống trong những môi trường có điều kiện tượng tự trên hành tinh khác, ít nhất không dựa trên điều kiện sinh hóa tương tự”, Lopez Garcia chỉ ra. Ông luôn nhấn mạnh vào việc cần thiết phải có nhiều chỉ dấu để phân tích tất cả các loại giải pháp và  rất cẩn trọng với việc giải thích trước khi đi đến bất cứ kết luận nào về khía cạnh sinh học.  Cả nhóm nghiên cứu của ông, với những người từ Viện nghiên cứu Địa chất và Mỏ Tây Ban Nha và trường đại học tự trị Madrid, và những nhóm nghiên cứu quốc tế khác sẽ tiếp tục nghiên cứu về môi trường khắc nghiệt của Dallol, nơi tồn tại các hồ hoàn toàn vô trùng bên cạnh những nơi có điều kiện tốt hơn cho phép cả vi khuẩn cổ và các sinh vật ái cực khác tồn tại. Trong bất kỳ trường hợp nào thì đây sẽ là điều kiện môi trường khác thường để nghiên cứu về những giới hạn của sự sống.  Tô Vân  dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-scientists-earth-life.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy hàng tỉ hạt electron rối lượng tử trong một “kim loại lạ”      Trong một nghiên cứu mới công bố, các nhà vật lý Mỹ và Áo đã quan sát rối lượng tử giữa “hàng tỉ tỉ” các electron chảy trong một vật liệu tới hạn lượng tử.      Bức xạ terahertz radiation được sử dụng để phân tích vật liệu. Nguồn: TU Wien  Nghiên cứu xuất bản trên Science này đã kiểm tra hành vi điện tử và từ của một hợp chất “kim loại lạ” gồm ytterbium, rhodium và silicon khi nó ở cả rìa và chuyển qua một chuyển tiếp tới hạn tại biên giới giữa hai pha lượng tử đã từng được nghiên cứu nhiều trước đây.  Nghiên cứu do các nhà khoa học tại trường đại học Rice và ĐH Công nghệ Vienna (TU Wien) thực hiện đã đem đến một bằng chứng trực tiếp thuyết phục nhất về vai trò của rối lượng tử trong tới hạn lượng tử, đồng tác giả nghiên cứu Qimiao Si của ĐH Rice nói.  “Khi chúng ta nghĩ về rối lượng tử, chúng ta đều nghĩ về những điều rất nhỏ”, Si nói. “Chúng ta không liên hệ chúng với những đối tượng vĩ mô. Nhưng tại một điểm tới hạn lượng tử, những thứ tập hợp nhiều đến mức chúng ta có cơ hội thấy những ảnh hưởng của rối lượng tử, ngay cả trong một màng mỏng kim loại chứa hàng tỉ tỉ vật thể cơ học lượng tử”.  Si, một nhà vật lý lý thuyết và là giám đốc Trung tâm Các vật liệu lượng tử của trường đại học Rice (RCQM), đã dành hơn hai thập kỷ để nghiên cứu về cái gì sẽ diễn ra khi các vật liệu như các kim loại lạ và siêu dẫn nhiệt độ cao thay đổi các pha lượng tử. Hiểu sâu hơn các vật liệu này có thể mở ra cánh cửa cho các kỹ thuật mới về tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và nhiều thứ khác.  Nhóm nghiên cứu quốc tế này đã vượt qua nhiều thách thức để có được kết quả này. Các nhà nghiên cứu TU Wien đã phát triển một kỹ thuật tổng hợp các vật liệu phức hợp cao để tạo ra các màng mỏng siêu nguyên chất chứa một phần ytterbium với hai phần rhodium và silicon (YbRh2Si2). Tại độ không tuyệt đối, vật liệu này đã trải qua một chuyển pha từ một pha lượng tử hình thành một trật tự từ sang pha khác.  Tại ĐH Rice, đồng tác giả Xinwei Li, sau đó một nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của đồng tác giả nghiên cứu và thành viên RCQM Junichiro Kono, đã thực hiện các thí nghiệm quang phổ terahertz trên các màng tại nhiệt độ dưới 1,4 Kelvin. Các đo đạc terahertz đã tiết lộ tính dẫn quang của các màng YbRh2Si2 khi chúng được làm lạnh tới điểm tới hạn lượng tử, điểm đánh dấu chuyển pha từ một pha lượng tử sang pha khác.  “Với các vật liệu lạ, đây là một mối quan hệ hiếm giữa điện trở điện tử và nhiệt độ”, tác giả liên hệ Silke Bühler-Paschen của Viện nghiên cứu vật lý trạng thái đậm đặc của TU Wien. “Trong tương phản với các kim loại thông thường như đồng hay vàng, điều này dường như không tùy thuộc vào vận chuyển nhiệt của các nguyên tử mà các dao động lượng tử tại độ không tuyệt đối”.  Để đo tính dẫn quang, Li rọi bức xạ điện từ nhất quán trong dải tần số terahertz này lên các màng mỏng và phân tích số lượng các tia terahertz xuyên qua như một hàm tần số và nhiệt độ. Thực nghiệm cho thấy “tần số vượt qua mức nhiệt độ”, một chỉ dấu về tín hiệu của tới hạn lượng tử, các tác giả cho biết.  Kono, một kỹ sư và nhà vật lý tại trường Kỹ thuật Brown của ĐH Rice, nói các đo đạc rất khó thực hiện này do Li, một postdoct tại Viện Công nghệ California, đảm trách. Ví dụ, chỉ một phần của bức xạ terahertz chiếu lên mẫu đến được máy dò, và phép đo rất quan trọng là chỉ ra phần bức xạ đó tăng hay giảm bao nhiêu tại các mức nhiệt độ khác nhau.  “Nhỏ hơn 0,1% của tổng bức xạ terahertz chuyển qua, và tín hiệu, vốn là sự biến đổi của tính dẫn như một hàm của tần số, chỉ ở mức vài phần trăm”, Kono nói. “Phải mất nhiều giờ để có được dữ liệu đáng tin cậy tại mỗi mức nhiệt độ khác nhau để tính mức trung bình trên nhiều thí nghiệm khác nhau, và điều cần thiết là phải có dữ liệu tại nhiều mức nhiệt độ để chứng minh sự tồn tại của việc định tỷ lệ”.  “Xinwei vô cùng kiên nhẫn và bền bỉ”, Kono nhận xét. “Thêm nữa anh ấy xử lý một cách cẩn thận những khối lượng lớn dữ liệu mà anh thu thập được để tìm ra quy tắc định tỷ lệ”.  Việc tạo ra các màng mỏng cũng ẩn chứa nhiều thách thức. Để “nuôi” chúng tới mức đủ mỏng để các tia terahertz xuyên qua, nhóm nghiên cứu TU Wien đã phát triển một hệ epitaxy chùm phân tử độc đáo và một phương thức nuôi tinh thể tỉ mỉ. Ytterbium, rhodium và silicon được làm bốc hơi một cách song song từ những nguồn riêng rẽ với tỷ lệ chính xác 1-2-2. Bởi vì mức năng lượng cao cần thiết để làm bay hơi rhodium và silicon, hệ này đòi hỏi một buồng chân không siêu cao được làm riêng cho thí nghiệm với hai thiết bị bay bốc nhiệt chùm tia điện tử.  “May mắn của chúng tôi là tìm thấy chất nền hoàn hảo, germanium”, sinh viên trường TU Wien Lukas Prochaska, một đồng tác giả nghiên cứu, nói. Germanium trong suốt trước terahertz và có “các khoảng cách nguyên tử nhất định mà trên thực tế đồng nhất với khoảng cách giữa các nguyên tử ytterbium trong hợp chất YbRh2Si2, điều làm nên chất lượng tuyệt vời của các tấm màng”.    Silke Bühler-Paschen trong phòng thí nghiệm tại TU Wien (Vienna). Nguồn: Luiza Puiu / TU Wien  Si kể, việc thảo luận về thí nghiệm với Bühler-Paschen diễn ra hơn 15 năm trước khi họ khám phá ra ý nghĩa của việc thử nghiệm một lớp mới của điểm tới hạn lượng tử. Sự xác nhận điểm tới hạn lượng tử mà họ cùng những người khác thúc đẩy là rối lượng tử giữa các spin và các độ nạp là tới hạn.  “Tại một điểm tới hạn lượng tử từ, suy xét thông thường cho rằng chỉ có khu vực spin sẽ tới hạn”, ông nói. “Nhưng nếu độ nạp và spin ở trạng thái rối lượng tử, độ nạp sẽ kết thúc sự tới hạn”.  Tại thời điểm đó, công nghệ này chưa sẵn sàng để kiểm tra giả thuyết nhưng vào năm 2016, tình hình đã thay đổi. TU Wien có thể “nuôi” các màng mỏng, Rice đã lắp đặt một kính hiển vi điện tử có khả năng quét chúng để phát hiện những khiếm khuyết nếu có, và Kono đã có một quang phổ kế terahertz để đo tính dẫn quang. Trng suốt thời kỳ làm việc của Bühler-Paschen ở Rice, bà với Si, Kono và Emilie Ringe, chuyên gia về kính hiển vi điện tử của Rice, đã nhận được sự ủng hộ của trường để theo đuổi dự án thông qua một Giải thưởng Xuất sắc liên ngành (Interdisciplinary Excellence Award) thuộc chương trình Mạo hiểm sáng tạo mới thành lập của ĐH Rice.  “Đây thực sự là một thí nghiệm trong mơ”, Si nói. “Chứng minh độ nạp tại điểm tới hạn lượng tử từ để thấy liệu nó có là tới hạn, liệu nó có mức động lực. Nếu không thấy bất cứ cái gì được tập hợp, đó chính là sự định tỷ lệ, điểm tới hạn đó đã được miêu tả trong một số cuốn sách. Nhưng nếu thấy một điều gì đó kì dị, chính là thứ chúng tôi đã thấy, nó là bằng chứng trực tiếp và một hoàn toàn mới về bản chất rối lượng tử của tới hạn lượng tử”.  Si nói các nỗ lực này để thực hiện nghiên cứu đều đáng giá bởi những phát hiện đem lại nhiều khả năng mới trong tương lai. “Rối lượng tử là vấn đề cơ bản của lưu trữ và xử lý thông tin lượng tử”, Si nói. “Tại thời điểm này, sự tới hạn lượng tử được tin là có thể điều khiển siêu dẫn nhiệt độ cao. Vì vậy, các phát hiện của chúng tôi đề xuất một dạng vật lý cơ bản khác, tới hạn lượng tử, có thể dẫn dắt đến việc hình thành một nền tảng cho cả thông tin lượng tử và siêu dẫn nhiệt độ cao. Khi nghiền ngẫm một cách sâu sắc về triển vọng có thể đến, người ta không khỏi ngạc nhiên trước điều kỳ diệu của tự nhiên”.  Si là giáo sư Harry C. & Olga K. Wiess tại Khoa Vật lý và vật lý thiên văn; Kono là giáo sư Khoa Kỹ thuật điện và máy tính, Khoa Vật lý và vật lý thiên văn, Khoa học vật liệu và kỹ thuật nano, và giám đốc Chương trình vật lý ứng dụng (ĐH Rice); Ringe nghiên cứu tại ĐH Cambridge. Các đồng tác giả khác là Maxwell Andrews, Maximilian Bonta, Werner Schrenk, Andreas Limbeck và Gottfried Strasser của TU Wien; Hermann Detz, trước ở TU Wien và nay là ĐH Brno; Elisabeth Bianco, trước ở ĐH Rice và hiện tại ĐH Cornell; Sadegh Yazdi, trước ở ĐH Rice và hiện tại ĐH Colorado Boulder; Donald MacFarland, trước ở TU Wien và nay là ĐH Buffalo.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-strange-metals.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy hàng trăm ấn bản “Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên” của Newton      Cùng với câu chuyện về những cuốn sách bị thất lạc hoặc bị đánh cắp cũng như công việc của những thám tử cẩn trọng trong khắp các lục địa, một nhà sử học Caltech và cựu học trò của ông đã tìm ra hàng trăm ấn bản chưa được biết về cuốn sách khoa học nổi bật của Isaac Newton “Philosophiae Naturalis Principia Mathematica” (Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên), hay còn gọi tắt là Các nguyên lý.      Cuộc kiểm kê mới này góp phần làm tăng lên gấp đôi số lượng các ấn bản đã biết trong lần xuất bản đầu tiên (năm 1687). Cuộc kiểm kê gần nhất cuốn sách này thực hiện vào năm 1953 cho thấy có 187 cuốn, còn cuộc điều tra của các nhà khoa học Caltech là 386 bản. Theo các nhà khoa học, vẫn còn tồn tại những bản chưa được biết trong các bộ sưu tập của tư nhân và cả các tổ chức nhà nước.  “Chúng tôi cảm thấy mình như thám tử Sherlock Holmes”, Mordechai (Moti) Feingold, giáo sư lịch sử và nhân văn Kate Van Nuys Page tại Caltech nói khi đề cập đến việc ông và học trò là Andrej Svorenčík (MS ’08) ở trường đại học Mannheim, Đức, đã dành hơn một thập kỷ để truy tìm các ấn bản in lần đầu của cuốn sách Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên trên khắp thế giới. Feingold và Svorenčík đều là đồng tác giả bài báo về cuộc điều tra xuất bản trên tạp chí Annals of Science “A preliminary census of copies of the first edition of Newton’s Principia (1687).  Bằng việc phân tích các dấu tích của những chủ sở hữu để lại và những dòng ghi chú nguệch ngoạc ở mép một vài cuốn, thêm vào vài bức thư và tài liệu có liên quan khác, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng là Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên, từng được cho là chỉ dành cho số ít những chuyên gia toán học có chọn lọc nhưng trên thực tế lại được đọc một cách rộng rãi và phổ biến.  “Một trong những điều mà chúng tôi phát hiện ra là sự lan truyền của cuốn sách này và những ý tưởng của nó rộng rãi và mở hơn nhiều so với những gì chúng tôi nghĩ. Và nó sẽ có những gợi ý về công trình tương lai mà chúng tôi và những người khác sẽ làm về chủ đề này”, Feingold nói.  Trong Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên, Newton giới thiệu các quy luật của chuyển động và vạn vật hấp dẫn, “hợp nhất các hiện tượng hấp dẫn được mô tả trước đây trên Trái đất với những gì diễn ra trên các hành tinh bằng một định luật”, Svorenčík cho biết.  “Vào thế kỷ 18, các ý tưởng của Newton đã chiếu rọi ánh sáng vào khoa học”, Feingold bổ sung. “Con người trong những lĩnh vực khác nhau đều hi vọng sẽ làm thấy một quy luật tương tự đủ khả năng kết nối, hợp nhất các lĩnh vực tương ứng của mình lại với nhau. Ảnh hưởng của Newton, giống như Charles Darwin và Albert Einstein, có tác động vô cùng lớn tới nhiều khía cạnh khác của cuộc sống, và đó là những gì khiến ông trở thành một hình mẫu phi thường của thế kỷ 18 và hơn thế nữa”.  Những nguyên lý dưới bức màn sắt  Svorenčík cho rằng dự án này đã được bắt đầu từ một công trình anh viết trong một khóa học về lịch sử khoa học do Feingold giảng dạy. Là người gốc Slovakia, Svorenčík đã từng viết một bài báo về sự xuất hiện của cuốn Các nguyên lý khắp Trung Âu. “Tôi quan tâm đến việc liệu các ấn bản của cuốn sách này có thể được truy dấu ở quê hương tôi không. Đợt kiểm kê thực hiện vào những năm 1950 không bao hàm các ấn bản ở Slovakia, Czech, Ba Lan hay Hungary. Việc này không thể thực hiện được do ảnh hưởng của tình hình chính trị thời đó, việc đi lại đê truy dấu các ấn bản hết sức khó khăn”.  Svorenčík rất ngạc nhiên khi tìm thấy nhiều ấn bản Các nguyên lý hơn Feingold chờ đợi. Mùa hè sau khóa học, Feingold đề nghị cùng với Svorenčík thực hiện ngay dự án, tìm kiếm một cách có hệ thống những ấn bản đầu tiên của Các nguyên lý. Công việc thám tử của họ diễn ra khắp toàn cầu và tìm ra 200 ấn bản chưa từng biết đến trước đây từ 27 quốc gia, bao gồm 35 bản ở Trung Âu. Feingold và Svorenčík thậm chí còn thấy những bản bị thất lạc hoặc bị đánh cắp, ví dụ một bản từ một người bán sách ở Italy hóa ra từng bị “thuổng” từ một thư viện của Đức nửa thế kỷ trước.    Ấn bản “Các nguyên lý” mà Caltech lưu giữ là một phần của bộ sưu tập của Kho lưu trữ và các bộ sưu tập của trường. Vào thế kỷ 19, nó thuộc về nhà toán học và triết học tự nhiên Pháp Jean-Jacques d’Ortous de Mairan, chữ ký của ông nằm ở rìa trái trang ghi tên sách. Nguồn: Caltech Archives  “Chúng tôi liên hệ với Bảo tàng Đức nhưng họ quá chậm trễ trong việc quyết định mua lại cuốn sách, vì vậy nó đành quay lại thị trường sách”, Feingold đề cập đến trường hợp ấn bản này.  Những thông tin quan trọng  Theo các nhà sử học, hiện nay các ấn bản của đợt xuất bản đầu tiên Các nguyên lý được bán với giá khoảng 300.000 đến 3.000.000 USD, tuy thuộc vào việc giao dịch diễn ra qua các nhà đấu giá như Christie’s, Sotheby’s hay chợ đen. Họ ước tính, có khoảng 600 hoặc có thể là 750 ấn bản trong đợt xuất bản đầu tiên của cuốn sách vào năm 1687.  Nhân vật quan trọng đứng sau đợt xuất bản cuốn sách này là Edmond Halley, nhà khoa học Anh nổi tiếng đã thực hiện nhiều khám phá về hệ mặt trời, bao gồm cả chu kỳ sao chổi mà sau này người ta gọi là sao chổi Halley. Feingold giải thích, trước khi Các nguyên lý được viết ra, Halley đã hỏi Newton về một số tính toán liên quan đến các quỹ đạo hình elip của các vật thể trong hệ mặt trời của chúng ta. Khi Halley thấy các phép tính, “ông như bị kích thích, ông vội vã trở lại Cambridge và thúc đẩy Newton viết cuốn sách này”, Feingold nói. Trên thực tế, Halley đã đầu tư vào đợt xuất bản đầu tiên của cuốn sách này.  Không lâu sau đợt xuất bản này, cuốn sách đã được ghi nhận là công trình của một thiên tài. “Bởi vì Halley đã chuẩn bị cho những gì sẽ tới”, Feingold nói, “nên đã có một sự ghi nhận rộng rãi về việc Các nguyên lý là một kiệt tác”. Sau đó, một “câu chuyện bí ẩn” về Newton bắt đầu xuất hiện, theo lời Feingold, được minh họa bằng một câu chuyện hai sinh viên đi dạo ở Cambridge và thấy Newton trên đường. Một người nói ‘đó là con người đã viết lên cuốn sách mà không ai ngoài ông ta hiểu được’.  Ý tưởng Các nguyên lý khó hiểu và ít được đọc được đưa vào nghiên cứu mới. Không chỉ cho thấy một thị trường lớn hơn trước đây người ta từng nghĩ, nghiên cứu này còn chứng minh cuốn sách được nhiều người đọc rộng rãi hơn.  “Khi nhìn vào chính các ấn bản của cuốn sách, anh có thể thấy những ghi chú nhỏ hoặc lời bình, những thứ giúp anh hình thành manh mối về cách sách được đọc. Trạng thái của bút tích, bìa sách, sự hư hại, sự khác biệt của in ấn… cũng nói lên rất nhiều điều”, Svorenčík nói. Anh đã tìm thấy 10% số sách trong đợt kiểm kê mới này. Khi tham gia các hội nghị ở những quốc gia khác nhau, anh thường dành thời gian tới các thư viện địa phương. Ngay cả khi cuộc tìm hiểu về cuốn sách này kết thúc, các nhà sử học vẫn có thể truy cấp những người chủ sở hữu thông qua các bản ghi chép ở thư viện và những búc thư, tài liệu khác và tìm hiểu về cách các ấn bản được lưu truyền.  “Thật khó để chứng tỏ cách con người gắn kết với một cuốn sách hơn là chỉ sở hữu nó một cách đơn giản nhưng chúng tôi có thể nhìn vào những dòng chữ ghi chú bên lề và cách cuốn sách được lan truyền”,  Feingold giải thích. “Anh có thể ước đoán là mỗi ấn bản có rất nhiều người người đọc. Nó không giống như ngày nay, khi anh có thể mua một cuốn sách và là người duy nhất đọc nó. Sau đó chúng ta có thể nhin vào một cuộc trao đổi những ý tưởng giữa người chia sẻ các ấn bản. Anh bắt đầu đặt các miếng ghép lại với nhau và giải quyết bài toán”.  Svorenčík và Feingold hi vọng cuộc kiểm kê của mình sẽ đem lại nhiều thông tin về những ấn bản đang tồn tại khác trong những cá nhân, những người buôn sách, người môi giới và thư viện. Việc tiếp tục mạch nghiên cứu này trong tương lai, các nhà sử học lập kế hoạch sẽ đào sâu thêm hiểu biết của chúng ta về cách Các nguyên lý định hình khoa học thế kỷ 18.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-hundreds-newton-principia-census.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy hạt “lạ” bốn quark tại LHC      Tetraquark hiếm là một trong số hàng chục hạt phi cơ bản do LHC tìm thấy. Nó có thể giúp các nhà vật lý kiểm chứng các lý thuyết về lượng tương tác hạt nhân mạnh.      Máy gia tốc hạt lớn (LHC) từng phát hiện ra hạt Higgs boson vào năm 2012, một khám phá được coi là đặt hòn đá tảng lên việc phân loại các hạt cơ bản. Nhưng LHC cũng là nơi tìm thấy hàng tá hạt phi cơ bản khác mà người ta gọi là các hadron – những thứ giống như các proton và neutron tạo ra từ các hạt quark.  Hardon mới nhất xuất hiện tại hội nghị của Hội Vật lý châu Âu, khi nhà vật lý hạt Ivan Polyakov ở trường đại học Syracuse New York tiết lộ về một hardon lạ chưa từng được biết đến trước đây được làm từ bốn hạt quark. Nó mang lại số lượng hardon ở LHC lên con số 62, theo  Patrick Koppenburg, một nhà vật lý hạt làm việc cùng Nikhef,  Viện nghiên cứu Vật lý hạ nguyên tử quốc gia Hà Lan ở Amsterdam. “Đây là những hạt thế giới lần đầu phát hiện ra,” Koppenburg nói. Anh giờ làm việc tại CERN, nơi đặt LHC.  “Cung điện” đặt các hạt, hay còn gọi là Mô hình chuẩn, miêu tả những khối cơ bản của vật chất và các lực cơ bản tác động lên chúng. Nó ba gồm sáu hương của quark, sáu phản hạt của chúng cùng nhiều hạt cơ bản khác, bao gồm các electron và photon. Mô hình chuẩn cũng bao gồm các quy tắc về cách các hạt quark hình thành trên cơ sở tổ hợp các hadron. Các hạt quark được gắn kết với nhau bằng lực tương tác hạt nhân mạnh, môt jtrong bốn lực cơ bản. Hai quark phổ biến nhất trong tự nhiên là quark lên và quark xuống; những tổ hợp có thể của chúng bao gồm các neutron (một lên và một xuống) và proton (hai lên và một xuống).  Các proton là các hadron được biết ở trạng thái bền – các neutron chỉ bền khi chúng được đưa vào hạt nhân nguyên tử. Tất cả các hadron hình thành một cách nhanh chóng, tuf những va chạm của các hạt khác, và phân rã chỉ trong một giây. Vì vậy LHC tạo ra những dạng mới của hadron bằng những va chạm năng lượng cao giữa các proton.  Bộ tứ quark   Phần lớn các dạng hadron mới tại LHC đều được phát hiện trên LHCb, một trong bốn máy dò khổng lồ trong đường hầm hình tròn dài 27 km của LHC, và người ta bất ngờ trướchạt do Polyakov loan báo. Trích lục dữ liệu thu được từ những va chạm proton, Polyakov và đồng nghiêp là Vanya Belyaev tại Viện nghiên cứu Vật lý lý thuyết và thực nghiệm ở Moscow đã tìm thấy dấu hiệu của một ‘tetraquark’ – một hardon bốn hadron mang tên Tcc+.  Các tetraquark cực hiếm: phần lớn các hadron đã biết đều chỉ làm từ hai hoặc ba quark. Tetraquark đầu tiên do Tổ chức nghiên cứu Máy gia tốc năng lượng cao (KEK) ở Tsukuba, Nhật Bản tìm thấy vào năm 2003, và LHCb tìm thấy phần lớn trong chỗ còn lại. Nhưng hạt mới quả thực là một kỳ dị. Các tetraquark trước dường như là các cặp hệ đôi quark thu hút lẫn nhau như những nguyên tử trong một phân tử nhưng nhà vật lý lý thuyết Marek Karliner cho rằng kẻ mới nhất có thể là một bộ tứ được gắn kết một cách chặt chẽ. “Đây là một cú lớn. Một loại mới chứ không phải là dạng phân tử hadron. Đây là đại diện đầu tiên của loại này”, theo đánh giá của Karliner, người làm việc tại trường đại học Tel Aviv ở Israel và giúp dự đoán sự tồn tai của một hạt với các đặc tính tương tự như Tcc+ vào năm 2017.  Trong tự nhiên, các tetraquark có lẽ tồn tại chỉ trong thuở bình minh Vũ trụ, khi tất cả mọi vật chất được nén lại trong một không gian vô cùng chặt, Belyaev nói. Nhưng việc tạo ra chúng cũng giúp các nhà vật lý thử nghiệm các lý thuyết của họ về các hạt tương tác với nhau thông qua lực tương tác mạnh như thế nào.  Dữ liệu tiết lộ các đặc tính của hạt mới chính xác đến mức Belyaev ngạc nhiên. “Phản ứng đầu tiên của tôi là đây có phải là lỗi của mình không,” ông nói. Ví dụ khối lượng của hạt, vốn gấp khoảng bốn lần so với một proton, đã chính xác tới 3.000 lần so với khám phá ra hạt Higgs boson. Belyaev cho biết thêm là Tcc+ có thể có trong dữ liệu của LHC từ nhiều năm trước nhưng ông và đồng nghiệp ở LHCb không thể tìm ra, cho đến bây giờ, bởi vì họ có một danh sách rất dài các hạt khác để tìm kiếm.    Những khả năng vô hạn  Việc tìm kiếm những hadron mới sẽ còn tiếp tục. Hàng tá sự kết hợp của các hạt quark co thể làm tăng thêm số lượng các hadron. Karliner cho biết có 50 hardon có được được tạo thành từ hai quark, tuy nhiên chỉ có một trong số này đã được quan sát, và 75 hạt có thể tạo thành từ ba quark (và nhiều bộ ba phản quark), khoảng gần 50 trong số chúng đã được quan sát. “Tất nhiên chúng tôi cũng muốn thấy các hạt khác nhưng thật khó để tạo ra chúng”, Karliner nói.  Dẫu sau, với mỗi việc tổ hợp của quark, có một số lượng giới hạn ‘các trạng thái kích thích’ nặng hơn – ví dụ được phân biệt bằng spin của chúng. Nhiều hạt trong số chúng đã được phát hiện bằng thực nghiệm, và trên thực tế là phần lớn các hạt của Koppenburg đều ở các trạng thái kích thích. “Ai biết có bao nhiêu trạng thái được dấu kín và nằm trong dữ liệu của một máy tính”, Koppenburg, người giống như Polyakov và Belyaev, đều là thanh viên của nhóm hợp tác LHCb collaboration.  Nhưng ông cũng tự hỏi là liệu tất cả những khám phá đó có thể được coi là những hạt rời rạc không. “Tôi vẫn được thuyết phục là chúng ta cần định nghĩa tốt hơn về hạt”, ông nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-02174-6  https://www.athina984.gr/en/2021/08/11/anakalyfthike-ston-megalo-epitachynti-toy-cern-akomi-ena-spanius-exotic-somatidio-me-4-koyark/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy protein chỉnh sửa gene mới ngoài CRISPR      Trong thập kỷ qua, các nhà khoa học đã sử dụng các hệ CRISPR từ vi khuẩn thành công nghệ chỉnh sửa gene, một hệ có thể lập trình và có tính chính xác cao để biến đổi DNA.      Hai đồng tác giả thứ nhất Han Altae-Tran (Trái) và Soumya Kannan của nghiên cứu.   Giờ đây, các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu não McGovern của MIT và Viện Nghiên cứu Broad của MIT và Harvard đã phát hiện một hệ thống chỉnh sửa DNA có thể lập trình mới, gọi là OMEGAs (Obligate Mobile Element Guided Activity), vốn có thể liên quan một cách tự nhiên đến việc sắp xếp lại các đoạn DNA nhỏ thông qua các bộ gene của vi khuẩn.  Những enzyme cổ có khả năng cắt DNA này được các mảnh nhỏ RNA dẫn đường đến các đích. Dù bắt nguồn từ vi khuẩn, giờ đây các nhà khoa học có thể thiết kế để chúng có thể hoạt động trong tế bào người. Chúng có thể hữu ích trong việc phát triển những liệu pháp chỉnh sửa gene, đặc biệt do có kích thước nhỏ – chỉ bằng khoảng 30% kích thước của enzyme Cas9 thường dùng trong CRISPR – nên chúng dễ dàng đi đến các tế bào hơn những loại enzyme có kích thước lớn khác.   Xuất bản trên tạp chí Science, nghiên cứu cho thấy các enzyme tự nhiên do RNA dẫn đường là một trong những protein phong phú nhất trên Trái đất và nó mở đường tới một lĩnh vực sinh học mới vô cùng rộng lớn, có thể thúc đẩy cuộc cách mạng tiếp theo về công nghệ chỉnh sửa gene.   Người dẫn dắt nghiên cứu này là giáo sư khoa học thần kinh Feng Zhang của MIT và là thành viên của Viện Y khoa Howard Hughes và Viện Broad. Nhóm của Zhang đã xem xét đa dạng tự nhiên để tìm kiếm các hệ thống phân tử mới có thể được lập trình một cách hợp lý. “Chúng tôi hết sức vui mừng khi phát hiện ra các enzyme phổ biến có thể lập trình này, chúng nằm ngay dưới mũi chúng ta suốt một thời gian dài”, ông nói.   Các enzyme có thể lập trình, đặc biệt là những enzyme sử dụng RNA làm kẻ dẫn đường, có thể được điều chỉnh nhanh chóng cho nhiều ứng dụng khác nhau. Ví dụ, các nhà khoa học có thể hướng chúng đến bất kì mục tiêu nào bằng cách tạo ra RNA hướng dẫn của mình. “Thật dễ dàng thay đổi một trình tự gene dẫn đường và thiết lập một mục tiêu mới. Vì vậy, một trong những vấn đề lớn mà chúng tôi quan tâm là liệu các hệ thống tự nhiên khác có sử dụng cùng một dạng cơ chế không”, Soumya Kannan, đồng tác giả bài báo cho biết.   Những gợi ý đầu tiên là các RNA dẫn đường cho protein OMEGA có thể đến từ IscBs, những gene tạo ra protein. IscBs không liên quan đến khả năng miễn dịch CRISPR và không có mối liên hệ với RNA nhưng chúng có vẻ giống các enzyme nhỏ có khả năng cắt DNA. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra, mỗi IscBs có một đoạn RNA nhỏ được mã hóa gần đó chỉ đạo các enzyme IscBs cắt các chuỗi DNA cụ thể. Họ đặt tên cho những RNA này là “ωRNAs”.  Thí nghiệm cho thấy hai loại protein nhỏ khác được gọi là IsrBs và TnpBs thuộc một trong những gene phong phú nhất trong vi khuẩn cũng sử dụng ωRNAs như một kẻ hướng dẫn để chỉ đạo việc phân cắt DNA. Ba loại protein IscBs, IsrBs và TnpBs được tìm thấy trong các yếu tố di truyền động gọi là transposons. Mỗi khi các transposon này di chuyển, chúng tạo ra một RNA dẫn đường mới, cho phép enzyme mà chúng mã hóa cắt ở một vị trí khác.   Không rõ vi khuẩn được hưởng lợi như thế nào từ việc sắp xếp lại gene này, hoặc liệu chúng có lợi gì không. Kannan nói rằng transposons thường được coi là những mảnh DNA ích kỷ, chỉ quan tâm đến khả năng di chuyển và bảo tồn của chính nó. Nhưng nếu một vật chủ có thể “kết nạp” các hệ thống này và tái sử dụng chúng theo mục đích khác thì vật chủ đó sẽ có được những khả năng mới, giống như việc các hệ thống CRISPR đem lại khả năng miễn dịch thích ứng.  IscBs và TnpBs dường như là tiền thân của hệ thống CRISPR Cas9 và Cas12. Nhóm nghiên cứu ngờ rằng cũng như IsrBs, nhiều loại enzyme do RNA dẫn đường khác có thể xuất hiện, và họ mong tìm thấy chúng. Kannan cho biết họ rất tò mò về phạm vi chức năng tự nhiên của các enzyme do RNA dẫn đường, và ngờ rằng sự tiến hóa đã tận dụng các enzyme OMEGA như IscBs và TnpBs để giải quyết các vấn đề mà những nhà sinh học hiện đang xử lý. □  Trang Linh dịch  Nguồn: https://www.broadinstitute.org/news/new-programmable-gene-editing-proteins-found-outside-crispr-systems    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm vi nhựa trong bụi phóng xạ khí quyển ở TPHCM      Liệu vi nhựa trong bụi phóng xạ khí quyển ở TPHCM, một đô thị lớn với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa có gì đặc biệt? Với câu hỏi này, một nhóm các nhà khoa học ở Trung tâm nghiên cứu về nước khu vực châu Á (CARE-Rescif), ĐH Bách khoa TPHCM, ĐH Tài nguyên và môi trường TPHCM và Viện Hải dương học, ĐH Toulon, Pháp, đã dành một năm để đi tìm câu trả lời.     Kết quả nghiên cứu của họ, “Microplastic in atmospheric fallouts of a developing Southeast Asian megacity under tropical climate”(Vi nhựa trong bụi phóng xạ khí quyển ở một siêu đô thị đang phát triển của Đông Nam Á dưới khí hậu nhiệt đới) được xuất bản trên tạp chí Chemosphere của NXB Elservier 1.  Theo một số nghiên cứu trước thì nồng độ ô nhiễm vi nhựa đã được đo đạc ở sông Sài Gòn cho thấy có tập trung nhiều mức ô nhiễm nhựa, vi nhựa và sợi tổng hợp khác nhau 2. TPHCM lại chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa và khô rõ rệt. Vì vậy, các tác giả đã hướng tới mục tiêu quan sát những biến thiên nhiệt khác nhau của sự phân hủy nhựa trong bụi phóng xạ khí quyển trong điều kiện nhiệt đới và trong sự quản lý thiếu hiệu quả của một siêu đô thị với giả thuyết là sự biến thiên theo mùa có thể ảnh hưởng mạnh đến các dòng tích tụ vi nhựa theo năm. Cụ thể hơn là giám sát các dòng tích tụ vi nhựa trong bụi phóng xạ khí quyển ở TPHCM và thảo luận về ảnh hưởng tiềm năng của các hoạt động con người và hình thái của vi nhựa và đánh giá hiệu quả của khí hậu nhiệt đới gió mùa lên những dòng tích tụ và hình thái của vi nhựa.  Để làm điều đó, họ đã dành một năm để thu các mẫu bụi phóng xạ khí quyển vào mùa mưa và mùa khô tại ba địa điểm khác nhau dựa theo mật độ dân số, mục tiêu sử dụng đất… Theo kết quả xử lý và phân tích, các dòng tích tụ vi nhựa phong phú, dao động từ 71 đến 917 mảnh m−2 d−1 với kích thước các mảnh từ 300 đến 5000 μm. Các dòng chảy tích tụ vi nhựa này ở TPHCM có phạm vi dao động cao hơn những dòng chảy tương tự đã được ước tính ở Paris (Pháp), Đông Hoản, Yên Đài (Trung Quốc) và Hamburg (Đức)…  Bên cạnh đó, không gian và thời gian phân bố của các dòng chảy vi nhựa cũng như các hình thái của nó cho thấy các dòng chảy có mật độ cao thường gồm các mảnh có kích thước trung bình nhỏ nhất và ngược lại, dòng chảy mật độ cao gồm các mảnh có kích thước trung bình dài hơn. Các nhà nghiên cứu giả định là có những yếu tố liên quan như mật độ dân số, không gian và điều kiện thời tiết như mưa và gió chi phối.  Khi so sánh TPHCM với những nơi đã từng được nghiên cứu như Paris, Đông Hoản, Hamburg…, các nhà nghiên cứu thấy đều liên quan đến bối cảnh công nghiệp và mật độ dân số cao. Các quá trình chế biến cũng như các hoạt động dân sinh đã làm phát sinh các mảnh vi nhựa. Do phơi lộ trước ánh nắng mặt trời, nên quá trình phân rã các kết cấu tổng hợp thành vi nhựa… càng được tăng cường. Mặt khác một số hoạt động xử lý chất thải cũng góp phần vào phát thải vi nhựa. Mặt khác, tác động con người như tạo ra các khu vực chứa chất thải, địa điểm xây dựng ở các địa điểm có mật độ dân cư lớn, hoạt động của con người có thể làm cho các mảnh vi nhựa có kích thước nhỏ hơn so với vùng nông thôn.  Vậy chế độ khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến các dòng chảy chứa vi nhựa? Bụi phóng xạ khí quyển vùng đô thị và nông thông hay khu vực có nhiệt độ cao, mưa và gió mùa đều đóng vai trò đáng kể lên nó. Theo mẫu thu thập được, các nhà nghiên cứu nhận thấy, không có sự khác biệt trong các dòng chảy tích tụ vi nhựa theo mùa. Vậy còn ảnh hưởng của chế độ gió lên vi nhựa, đặc biệt là hướng gió, tốc độ gió và các sự kiện bão? Thực tế cho thấy ảnh hưởng của chế độ gió với hai hướng gió thịnh hành không có gì khác biệt trên tất cả các địa điểm. Các tác giả lý giải, có thể tốc độ gió không tương quan với các dòng chảy tích tụ vi nhựa. Do đó, gió nhiệt đới và chế độ mưa cùng cường độ của nó dường như không ảnh hưởng đến vi nhựa trong vùng khí hậu nhiệt đới. Dẫu vậy, họ cũng chỉ ra trong những nghiên cứu họ tham khải đều có bằng chứng tích cự về ảnh hưởng của gió và lượng mưa lên các dòng chảy tích tụ vi nhựa mới chỉ được quan sát kích thước của các mảnh vi nhựa và đặt giả thuyết là việc loại đi ảnh hưởng lên vi nhựa của chế độ gió là do hiện tượng kết tủa và các ảnh hưởng của gió, hiện tượng kết tủa có thể còn phụ thuộc vào kích thước vi nhựa. Trong tất cả các địa điểm nghiên cứu, khi có gió theo hướng đông đông tây thổi, kích thước trung bình của các vi nhựa dạng sợi đều dài hơn so với khi gió mùa theo hướng bắc đông bắc. Đây là lý do khiến các nhà nghiên cứu cho rằng cần có nghiên cứu đi sâu hơn để xem xét sự ảnh hưởng của chế độ gió, lượng mưa lên các dòng chảy tích tụ vi nhựa theo các lớp kích thước khác nhau.  Hoàng Anh Vũ  ————-    https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S004565352100343X#!  https://tiasang.com.vn/tin-tuc/song-sai-gon-luong-vi-nhua-ti-le-thuan-voi-toc-do-do-thi-hoa/      Author                .        
__label__tiasang Timeline: Quá trình phát triển và tiêm chủng vaccine Covid-19 ở Việt Nam      Việc nghiên cứu và phát triển vaccine Covid-19 kịp thời của riêng Việt Nam là một nỗ lực thần tốc của các nhà sản xuất. Đồng thời, Bộ Y tế cũng nhanh chóng nhập khẩu và phê duyệt vaccine Covid-19 của Anh và Nga để sớm bảo đảm an toàn cho những người ở tuyến đầu chống dịch.                 Author                Nguyễn Nam        
__label__tiasang Tin sinh học và Dữ liệu mở: Thúc đẩy nghiên cứu cơ bản ở nơi có nguồn lực hạn chế      Việc tạo ra các kho dữ liệu mở về tin sinh học có thể giúp các nhà khoa học ở các nước đang phát triển đào tạo, nghiên cứu và thực hiện các khám phá khoa học trong lĩnh vực hứa hẹn nhiều ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe lâu dài cho con người nhưng đòi hỏi rất nhiều chi phí đầu tư.          Việc duy trì các phòng thí nghiệm sinh học phân tử đòi hỏi một nguồn lực lớn về tài chính và con người.    Các thuật toán trong tin sinh học hiện nay rất quan trọng trong việc xử lý dữ liệu –omics thông lượng cao để có thể rút ra những giải thích có ý nghĩa trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học y sinh và đời sống. Tuy nhiên việc đào tạo và nghiên cứu liên quan đến tin sinh học hầu hết đều diễn ra ở các quốc gia có nền kinh tế mạnh và các trường đại học, viện nghiên cứu có tiềm lực lớn. Chúng ta đều biết, có một số lĩnh vực khoa học đòi hỏi một nguồn lực lớn về tài chính, nhân sự để thành lập và duy trì, ví dụ như việc thành lập và duy trì phòng thí nghiệm sinh học phân tử là rất tốn kém. Ngày nay, sự phát triển của điện toán đám mây có thể giúp cho các tổ chức có được khả năng tính toán mạnh với chi phí thấp khiến cho việc phát triển các phương pháp tính toán mới và thực hiện các phân tích, mô phỏng trước khi tiến hành thực nghiệm. Điều này làm tăng hiệu quả nghiên cứu cũng như chi phí.   So với các trường đại học có uy tín ở các quốc gia giàu có, các tổ chức học thuật ở những quốc gia đang phát triển thường nhận được ít tài trợ hơn, hoạt động với sự phối hợp hành chính ít hơn và làm ra  ít bài báo hơn trên các tạp chí học thuật cấp cao. Do đó, việc nâng cao năng lực tin sinh học ở các quốc gia, trường, viện với nguồn lực hạn chế có thể giúp xây dựng đội ngũ nhà khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán giỏi trong các cộng đồng thông qua cách: (i) nâng cao chất lượng nghiên cứu bằng cách kích thích sáng tạo và mở rộng các bài toán có thể giải quyết được bởi cộng đồng khoa học toàn cầu, (II) đa dạng hóa cộng đồng khoa học, (iii) kích thích sự sáng tạo bằng cách nuôi dưỡng các hướng tiếp cận mới đối với các vấn đề đã cũ; (iv) thu hút nhiều hơn các nhà khoa học và công chúng trong môi trường cộng tác đa văn hóa, (v) có thể làm giảm áp lực thất nghiệp và di cư thông qua việc cung cấp các việc làm địa phương.  Khoa học ở các nước có nguồn lực hạn chế  Ngân hàng Thế giới phân loại các nền kinh tế quốc gia là các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (LMIC) khi tổng thu nhập quốc dân trên đầu người rơi vào khoảng 996 đến 3.895 USD và định nghĩa các quốc gia có thu nhập thấp (LIC) là các quốc gia có tổng thu nhập quốc dân dưới 995 USD. Trong số 219 nền kinh tế được khảo sát năm 2018, Ngân hàng Thế giới phân loại 37% là thu nhập cao, 16% là thu nhập trung bình cao, 21% là LMIC (bao gồm 47 quốc gia) và 26% là LIC (bao gồm 34 quốc gia). Sự chênh lệch giữa các quốc gia thu nhập thấp và cao thể hiện rõ ràng trong các hoạt động khoa học được thực hiện, số lượng ấn phẩm khoa học được công bố hằng năm và xếp hạng các tạp chí trong đó các bài báo được xuất bản.  Các nhà khoa học ở các nước thu nhập cao và trung bình cao phụ thuộc vào các công nghệ thông lượng cao sáng tạo và quy mô lớn, tài nguyên chuyên sâu về kinh tế, giúp tạo ra một khối lượng lớn các khám phá khoa học trong thế giới khoa học dữ liệu lớn. Các nhà khoa học tại LMIC và LIC trong lịch sử đã đóng góp ít hơn cho khoa học hiện đại. Trong số 159 quốc gia có cơ sở dữ liệu của Nature Index, 103 quốc gia đã tạo ra ít hơn 100 bài báo khoa học trong năm 2015 – 2016. Việc thực hiện các nhóm nghiên cứu và xây dựng các phòng thực nghiệm ở một nước đang phát triển có thể tạo ra dữ liệu thông lượng cao đủ để phân tích quy mô lớn, nhưng các dự án ở quy mô này sẽ yêu cầu cơ sở hạ tầng phối hợp và hỗ trợ tài chính vượt xa số tiền do các nguồn trong nước và quốc tế đầu tư.   Trong thập kỷ qua, một số quốc gia có nguồn lực hạn chế đã đưa ra các ưu đãi tài chính với mục đích nâng cao năng suất khoa học trong nước. Ví dụ, Chính phủ Indonesia có giải thưởng bằng tiền mặt trị giá 100 triệu rupiah (7.400 USD) cho các nhà khoa học xuất bản trên các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor IP) cao. Ước tính 90% các trường đại học ở Trung Quốc treo thưởng cho các nhà khoa học giải thưởng lên tới 500.000 nhân dân tệ (70.000 USD) cho một bài báo được công bố trên một tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao. Mặc dù được khuyến khích tài chính, các bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc năm 2014 vẫn chỉ bằng một nửa số lượng được công bố bởi các nhà khoa học Mỹ. Treo thưởng kiểu này có thể không đủ bù đắp cho sinh viên tốt nghiệp tham gia nghiên cứu và có thể không đủ bù đắp cho cơ sở hạ tầng hỗ trợ nghiên cứu hạn chế. Ngoài ra, gánh nặng hành chính trong việc đảm bảo quyền truy cập dài hạn vào các dịch vụ đào tạo và hỗ trợ phù hợp có thể là rào cản đối với các nhà khoa học hoạt động với ngân sách nhỏ hơn.  Tạo các nền tảng chia sẻ dữ liệu  Trong bối cảnh đó, lĩnh vực tin sinh học có thể làm được những gì? Có lẽ, điều hợp lý nhất là một mô hình giáo dục, đào tạo và hỗ trợ mới cho phép các nhà khoa học sống ở các nước thu nhập thấp có thể phân tích lại dữ liệu -omics công khai bằng phương pháp tin sinh học và từ đó tăng cường nghiên cứu và xuất bản khoa học trong nước. Có một may mắn là cơ sở hạ tầng máy tính đầy đủ và kết nối internet tốc độ cao thường có sẵn trong các bộ phận khoa học và kỹ thuật máy tính của các tổ chức giáo dục trong LMIC và LIC. Hiện tại, các tài nguyên này hiếm khi được sử dụng để phân tích tin sinh học vì các nhà khoa học máy tính đang lại không được đào tạo về Tin sinh học. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu trong các tổ chức ít nguồn lực có thể sử dụng tài nguyên đám mây để phân tích các bộ dữ liệu lớn, giúp giảm bớt gánh nặng hậu cần cho việc lắp ráp một cơ sở hạ tầng điện toán hiệu năng cao.  Tái phân tích dữ liệu y sinh thông lượng cao sẽ tăng hiệu quả về chi phí, tạo ra những khám phá khoa học, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hệ thống sinh học phức tạp và có khả năng sửa chữa bất kỳ vấn đề thống kê hoặc tính toán nào được xác định trong ấn phẩm gốc. Ví dụ, TS. Paez- Espino và cộng sự đã sử dụng các phương pháp tin sinh học để mô tả đặc điểm của virus Trái đất bằng cách sử dụng dữ liệu metagenomics hiện có; TS. Lyer và cộng sự đã sử dụng dữ liệu giải trình tự RNA hiện có để lập danh mục các RNA không mã hóa; và TS. Gutzwiller và cộng sự đã sử dụng dữ liệu biểu hiện gene để nghiên cứu mối quan hệ giữa ruồi giấm và vi khuẩn Wolbachia pipientis nội sinh của nó. Không giống như trong các phòng thực nghiệm, nơi tốc độ đào tạo có thể chậm do nhiều vấn đề về an toàn, việc giảng dạy và hỗ trợ các nhà khoa học thực hiện phân tích tin sinh học với dữ liệu -omics là nhanh chóng, an toàn và hoàn toàn khả thi với một số khóa đào tạo. Các nhà sinh học có tham vọng ở các nước thu nhập thấp có thể tận dụng các nguồn lực hiện có tại các cơ sở giáo dục địa phương bằng các tài nguyên giáo dục trực tuyến để tạo ra các phương pháp mới và thực hiện phân tích lại dữ liệu được công bố. Nền tảng đào tạo ảo của các nhà sinh học đã thành lập (xem https://github.com/smangul1/online.bioinformatics/wiki). Các nhà khoa học LMIC và LIC có thể có được các tài liệu cần thiết thông qua các hội thảo và bài báo qua nền tảng này. Ví dụ, các nhà phân tích tính toán mới làm quen có thể tự học bằng cách sử dụng các hội thảo UNIX trực tuyến dành cho người lần đầu làm quen và các bài báo tổng quan với các chủ đề khoa học thích hợp có thể giúp sinh viên đại học có được sự hiểu biết cơ bản về một khái niệm hoặc lĩnh vực mà không cần đăng ký các khóa học tốn kém về thời gian và chi phí. Ngoài ra, sự sẵn có ngày càng tăng của các phiên bản dữ liệu hệ gene đã được xử lý không chỉ trở thành nguồn dữ liệu sẵn có cho các chương trình đào tạo tin học sinh học mà còn có thể dành cho các mức đào tạo và nghiên cứu cao hơn. Các bộ dữ liệu đã qua xử lý thường nhỏ hơn nên cần ít băng thông mạng hơn cũng như hiệu năng tính toán để xử lý.  Các nhà chuyên môn đã dự đoán nhu cầu thậm chí còn lớn hơn để phân tích dữ liệu tin sinh học trong những năm tới và tin việc thành lập một nền tảng đào tạo và hỗ trợ tin sinh học toàn cầu để hợp nhất các nền tảng và tài liệu hiện có sẽ khuyến khích các nhà khoa học ở các nước và tổ chức có thu nhập thấp tham gia vào nghiên cứu STEM tiên tiến. Do đó, họ đã phát triển một hướng dẫn tài nguyên trực tuyến bao gồm các tài liệu giáo dục, các mã nguồn công cụ tin sinh học mẫu, bộ dữ liệu mẫu, tài nguyên tính toán dựa đám mây và giao diện để truy cập các bộ dữ liệu quan trọng và nhiều ý nghĩa (https://github.com/smangul1/online.bioinformatics/wiki).  Nền tảng này có thể kết nối hiệu quả các nhà khoa học trong các tổ chức học thuật và khu vực có nguồn lực STEM kém với các khía cạnh nâng cao nghề nghiệp của công nghệ sinh học hiện đại trước đây đã bị hạn chế cho các nhà nghiên cứu trong các trường đại học, trường đại học và nền kinh tế mạnh.  Tiến về phía trước  Các nguồn tài nguyên dựa trên điện toán đám mây có thể cho phép các nhà khoa học ở các nước đang phát triển đào tạo, nghiên cứu và thực hiện các khám phá khoa học bằng cách sử dụng các nguồn dữ liệu -omics công khai. Các nguồn tài nguyên này, cùng với năng lực và cơ sở hạ tầng đã được cài đặt đã có sẵn ở các quốc gia có nguồn lực hạn chế, có thể hỗ trợ mở rộng các cộng đồng STEM tiên tiến, tự duy trì trên toàn thế giới. Mô hình này có thể có một số tác động tích cực quan trọng đối với các nền kinh tế và giáo dục địa phương trong nước và rất có thể sẽ được chính phủ trong nước hỗ trợ như một phần của chương trình đào tạo STEM quốc gia của họ. Các chương trình đào tạo như vậy có thể cho phép các nhà hoạch định chính sách giới thiệu các lĩnh vực khoa học mới vào chương trình giáo dục hiện có, khuyến khích tài trợ STEM của liên bang, tiểu bang và địa phương, và cuối cùng tăng sự tập trung của cộng đồng khoa học toàn cầu vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các bệnh nhiệt đới hoặc dị thường di truyền địa phương.□  TS. Nguyễn Cường, Trung tâm công nghệ cao Vinmec, dịch  Nguồn: nature.com  Trung Mỹ, trường hợp điển hình Khu vực  Trung Mỹ là sự kết hợp của các quốc gia LMIC và LIC, mỗi quốc gia có lịch sử phong phú về khám phá các sản phẩm tự nhiên và các phát triển nghiên cứu y tế, y sinh và y tế công cộng. Theo truyền thống, các nhà khoa học trong LMIC và LIC đã tiến hành nghiên cứu cả trong nước và hợp tác với các nhà khoa học từ các nước thu nhập cao hơn. Cơ cấu tài trợ không đầy đủ và thiếu kinh nghiệm hành chính quản lý các chương trình đào tạo liên ngành đã thách thức sự tích hợp của khoa học sống và khoa học sinh học tính toán ở Trung Mỹ. Trên thực tế, các nhà khoa học sự sống thường được đào tạo theo truyền thống kinh viện thuần túy, theo các chuyên ngành đã được định hình theo thời gian và các nhà khoa học máy tính thường được đào tạo để làm việc trong các ngành công nghiệp viễn thông và phát triển phần mềm tư nhân. Có một khoảng cách không nhỏ giữa họ. Vì thế, việc xây dựng đào tạo liên ngành và hỗ trợ trong các khoa KH&CN có thể giúp các tổ chức Trung Mỹ tiến tới các thực tiễn STEM sáng tạo hơn, như công nghệ điện toán tiên tiến và các lĩnh vực như tin sinh học và sinh học hệ thống. Hầu hết các tổ chức giáo dục lớn ở Trung Mỹ đã sở hữu cơ sở hạ tầng tính toán đầy đủ để thực hiện công việc phân tích và phát triển phương pháp. Được đào tạo chuyên môn và tài nguyên điện toán trên nền tảng đám mây, sinh viên và nhà nghiên cứu ở Trung Mỹ có thể phát triển các kỹ thuật và thu thập kiến ​​thức để giúp hiện đại hóa các đơn vị học thuật trong nước, như nhiều tổ chức nhỏ hơn ở Hoa Kỳ đã làm trong thập kỷ qua. Cuối cùng, thu hẹp khoảng cách liên ngành có thể thúc đẩy các phòng thí nghiệm quốc gia sinh học phân tử được thành lập ở Trung Mỹ. Khi các tổ chức trong nước trở thành cường quốc thu thập dữ liệu, quản lý và phân tích lại và phổ biến dữ liệu mở, các phòng khám và bệnh viện quốc gia có thể thành lập và phát triển các đơn vị nghiên cứu di truyền và hệ gen thông lượng cao của riêng họ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin tặc làm hỏng hệ thống xử lý nước của Mỹ      Các tin tặc đang bị cáo buộc đã phá hủy một máy bơm dùng để dẫn nước cho hàng nghìn hộ gia đình Mỹ ở IIIinois.    Những tin tặc có khả năng truy cập vào mạng lưới của hệ thống này được cho là đã phá hỏng một chiếc máy bơm sau khi điều khiển bật, tắt nó một cách quá nhanh.   FBI và Bộ An ninh nội địa (DHS) hiện đang điều tra vụ việc khi xuất hiện những dấu hiệu của một cuộc tấn công thứ hai.   Các chuyên gia cho biết thông tin này đã tiết lộ một sự quan tâm ngày càng lớn của tội phạm mạng với những cơ sở hạ tầng quan trọng.   Thông tin về sự cố ngày 8/11 đã được đưa ra ánh sáng thông qua blog của Joe Weiss – người đã cố vấn cho những hệ thống này về cách bảo vệ chống lại các cuộc tấn công.   Ông Weiss trích dẫn từ một báo cáo ngắn của Trung tâm Tình báo và Khủng bố toàn tiểu bang IIIinois, nói rằng các tin tặc đã có được quyền truy cập bằng cách sử dụng những tên đăng nhập và mật khấu đánh cắp. Chúng được lấy từ một công ty viết phần mềm kiểm soát cho các hệ thống công nghiệp.  Theo ông Weiss, địa chỉ mạng thông qua cái mà cuộc tấn công được tiến hành được truy nguồn từ Nga. Báo cáo này cho biết “những trục trặc” trong hệ thống truy cập từ xa của máy bơm này đã được phát hiện từ nhiều tháng trước khi vụ việc xảy ra – ông Weiss nói.   Ông Peter Boogaard, một phát ngôn viên của DHS cho biết cơ quan này đang thu thập dữ kiện về vụ việc.   “Tại thời điểm này, không có dữ liệu đáng tin nào được chứng thực cho thấy có mối nguy hiểm đối với những cơ sở hạ tầng quan trọng hay mối đe dọa đến an toàn công cộng” – ông tiết lộ.   Những bình luận của DHS đã khiến một tin tặc có biệt danh “pr0f” tuyên bố rằng hắn đã truy cập vào hệ thống kiểm soát một hệ thống nước thứ hai của Mỹ.   Hắn đã đăng tải một tài liệu trên trang web Pastebin – trang web có chứa các liên kết tới các ảnh chụp màn hình của hệ thống kiểm soát nội bộ của một nhà máy xử lý nước thải ở South Houston.   Tuyên bố của tin tặc về khả năng xâm nhập vào hệ thống kiểm soát vẫn chưa được xác nhận hay bác bỏ bởi Cơ quan Cấp Thoát nước của South Houston.   Trong một cuộc phỏng vấn với trang web Threat Post, Pr0f nói rằng việc tấn công mạng lưới South Houston hầu như không xứng đáng với biệt danh của hắn bởi vì chỉ có một mật khẩu gồm 3 kí tự được sử dụng để bảo vệ hệ thống này.   Những vụ tấn công này là mới nhất trong một loạt các vụ tấn công của các cá nhân tin tặc và các nhóm khác nhau nhằm mục tiêu vào những hệ thống Tiếp nhận Dữ liệu và Kiểm soát Giám sát (SCADA). Những hệ thống máy vi tính chuyên biệt này dùng để kiểm soát thiết bị được sử dụng để lọc nước, trộn hóa chất, phân phối điện và định vị tàu hỏa và xe điện.     Một trong những vụ tấn công SCADA nổi tiếng nhất có liên quan tới vi rút Stuxnet – nguyên nhân gây ra những rắc rối cho Iran.   Có các báo cáo cho rằng phần mềm độc hại này đã làm tê liệt máy ly tâm được sử dụng trong chương trình làm giàu uranium của nước Iran. Iran đã bác bỏ điều này, khẳng định rằng nước này đã ngăn chặn được con vi-rút trước khi nó tới được mục tiêu dự định.   Hồi đầu năm nay, người ta đã thuyết phục các nhà nghiên cứu an ninh – những người đã điều tra phương pháp tấn công các hệ thống SCADA – hủy bỏ một cuộc nói chuyện công khai về những phát hiện của họ vì “những tác động về tài chính và vật lý nghiêm trọng mà những vấn đề này có thể gây ra trên toàn thế giới”.   Bà Lani Kass, cựu cố vấn của Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ về các vấn đề an ninh, nói rằng nước Mỹ phải nghiên cứu thêm để hiểu về các cuộc tấn công những cơ sở hạ tầng quan trọng.   “Các giả thuyết luôn cho rằng đây chỉ là một sự cố hay một sự trùng hợp ngẫu nhiên” – bà nói. “Và nếu mọi sự việc luôn bị nhìn nhận một cách riêng biệt thì rất khó nếu không muốn nói là không thể nhận ra một quy luật kết nối các dữ kiện lại với nhau”.   “Việc không kết nối các dữ kiện lại với nhau đã khiến chúng ta phải ngạc nhiên trong ngày 11/9” – bà nhận định.   Nguyễn Thảo dịch từ   http://www.bbc.co.uk/news/technology-15817335         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin vào cây nhãn hữu cơ!      Mỗi năm hợp tác xã (HTX) Thuý Giang bán ra thị trường 6.000 nhánh thanh nhãn.Mùa này thanh nhãn không đủ bán, dù giá 120.000 đồng/kg.         Nhãn xuồng cơm vàng, nhưng với số lượng nhánh chiết làm giống như vậy, không bao lâu nữa cuộc cạnh tranh giữa những nhà vườn sẽ khốc liệt hơn. “Điều đó không quan trọng, vì chúng tôi đã biết trước. Nhiều người trồng, sẽ có nhiều nhà vườn cải thiện thu nhập và nhiều người thưởng thức được trái ngon”, ông Phạm Quang Đạm, giám đốc HTX Thúy Giang (phường Tân Phú, Cái Răng, Cần Thơ), chủ vườn thanh nhãn rộng 32 công và là nhà khởi nghiệp thanh nhãn, nói.  Nhân giống và chia sẻ  Không chút lo lắng, ông Đạm chia sẻ, nguồn cây giống cho các thành viên HTX mở rộng diện tích thêm 40 công thanh nhãn, vị chi là 72 công. Quận Cái Răng thấy triển vọng thanh nhãn ở đây: trái to, ráo cơm, ngọt thanh, không bị chổi rồng…, nay muốn nhân nhanh diện tích trồng thanh nhãn và kéo thành vệt nhà vườn làm du lịch ở Tân Phú, kết nối với chợ nổi Cái Răng. Nhưng tới nay ít người làm, theo ông Đạm vì hai lý do: nếu đã tham gia mạng lưới này phải trồng theo quy trình hữu cơ và chợ nổi bây giờ tàu bè làm dịch vụ nhiều hơn dân thương hồ, đi một vòng là hết chuyện. Chưa kể chuyện giá đất đang tăng, sẽ làm diện tích vườn nhãn khó mở rộng do nhà vườn không yên tâm, còn người muốn đầu tư làm vườn do dự. Ở khu vực đường láng nhựa, giá đất là 2,5 tỷ đồng/công, đất ven đường nhánh cũng đã đổ bê tông giờ giá trên 1,2 tỷ đồng/công, gấp ba lần năm ngoái.  Nhưng ông Đạm vẫn làm những việc cần làm. Ông đang phiêu lưu cùng cây nhãn và quy trình sản xuất hữu cơ, một cuộc bứt phá để những nhà vườn mở con đường sống với du lịch… Ông tâm sự: “Chỉ có cách đó mới lay chuyển suy nghĩ nhà vườn ở đây. Họ nhìn thấy cách làm khác, không cần dựa vào hoá chất để kiếm tiền bằng bất cứ giá nào”. Mỗi ngày, ông Đạm vẫn hăng hái động viên các thành viên trong HTX của mình: “Đến năm thứ ba, mỗi cây hái được 20kg, khi nào 30 kg/cây là có lời. Hiện nay các bác đã tới năm thứ hai rồi”. Trồng thanh nhãn không cần xài thuốc kích thích ra hoa, chỉ bón phân hữu cơ, cắt tỉa tán, nuôi cây lúc trổ bông, đậu trái, nuôi trái và chăm sóc sau thu hoạch đúng kỹ thuật, mức độ thành công rất cao, ông Đạm cho biết thêm.  Mùa thanh nhãn chín đang bắt đầu, mỗi ngày ông Đạm hái được 40 – 50kg, việc thu hái kéo dài tới tháng 10. 3.500 gốc nhãn như tằm, đang nhả tơ từ từ… Ông Đạm nói: “Vẫn còn xa điểm hoà vốn, vì đã đầu tư vào khu vườn 32 công này trên 2,5 tỷ đồng”.  Những thùng nước lạnh!  Lòng tin của một ông chủ vườn, một giám đốc HTX thừa nhiệt huyết vẫn sôi sục, dù nhiều lần ông Đạm đã bị dội “những thùng nước lạnh”!  Thùng nước đầu tiên là món vay theo gợi ý để phát triển du lịch. Bất kể giá đất tăng cỡ nào, cán bộ ngân hàng cứ ấn định mức cho vay thế chấp là 70% theo khung giá đất 140.000 đồng/m2.  Giấy tờ trong ngân hàng mà món vay không đủ làm hệ thống tưới tiêu, sao làm du lịch?  Kế đó là hệ thống tưới tiêu có mức hỗ trợ 40%/tổng chi phí, với điều kiện nhà vườn làm dự toán và phải có ba bảng báo giá, ai chào giá thấp nhất được xem như trúng thầu cung cấp. Các nhà thầu xem đây là cơ hội làm ăn nên đưa ra bảng chiết tính thấp, viết chung chung với thiết kế không đúng thông số kỹ thuật. Nếu nhà vườn chấp nhận cuộc chơi, đồng ý lắp hệ thống không đủ thông số rồi làm lại vì không thể tưới được.  Chương trình hỗ trợ giống là thùng nước lạnh thứ ba, cũng phải có ba bảng báo giá từ ba HTX. Một HTX trong số này báo giá rẻ hơn giá thị trường 20.000 đồng/cây, nhưng hỏi ra, họ không có bất kỳ cây giống nào.Nếu được chọn, họ sẽ mua ở đâu đó giao lại.  Ông Đạm “nhức đầu” với cách làm không thật lòng của các đối tác. Nông dân trồng cả năm để rồi nhìn thấy cây èo uột, lại mang tiếng nhận tiền hỗ trợ! Trồng theo quy trình hữu cơ mà cây bệnh phải dùng thuốc ai tin mình? Từ hồi làm vườn nhãn theo chuẩn hữu cơ tới giờ không cơ quan chức năng nào tới hướng dẫn, ông Đạm tiết lộ như vậy. Khi ban chủ nhiệm tới quận hỏi mới biết có lớp học kéo dài ba tháng, để được cấp chứng nhận sản xuất an toàn.  bài, ảnh Khánh An (TGTT)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình báo công nghiệp: “mỹ nhân kế cũng hay được áp dụng”      Klaus-Dieter Matschke có lẽ là nhà điều tra tư nhân nổi tiếng nhất của nước Đức. Trong trả lời phỏng vấn của wiwo, ông đề cập đến nhiều vụ gián điệp công nghiệp  và bản thân ông đã tham gia hoạt động này như thế nào.      Klaus-Dieter Matschke, lãnh đạo hãng tư vấn doanh nghiệp KDM Sicherheitsconsulting ở Frankfurt.  Thưa ông Matschke, ông đã có nhiều năm làm việc cho cơ quan an ninh Đức và tham gia xây dựng cơ quan bảo vệ hiến pháp ở bang Sachsen-Anhalt. Hiện tại ông làm việc cho doanh nghiệp KDM,  tư vấn về  an ninh cho các doanh nghiệp hạng trung. Các doanh nghiệp này cần gì đối với kinh nghiệm và kiến thức của ông về công tác tình báo?  Chúng tôi tiếp cận vấn đề của khách hàng hoàn toàn khác với cách tiếp cận như của các nhà điều tra bên cơ quan cảnh sát. Đối với tình báo công nghiệp, chúng tôi có thể áp dụng nhiều phương pháp hết sức phong phú so với bên cảnh sát. Vì thế các doanh nghiệp bậc trung rất hay đến với chúng tôi khi mà bên cảnh sát không thể giúp họ xử lý cặn kẽ các vấn đề.  Các doanh nghiệp hạng trung thường yêu cầu ông hỗ trợ, tư vấn về những vấn đề gì?  Một ví dụ điển hình, rất hay xảy ra, doanh nghiệp hạng trung phát hiện tại một quầy ở hội chợ sản phẩm của họ nhưng mang tên nhãn mác khác. Tất nhiên nhà doanh nghiệp đó muốn biết sản phẩm đó ở đâu ra, ai là nhà sản xuất và tại sao thông tin về sản phẩm lại  lọt vào tay bên thứ ba.  Vậy điều đó đã diễn ra như thế nào?  Rất hay xảy ra trường hợp nhân viên của chính doanh nghiệp đó tham gia vào việc tuồn thông tin ra ngoài. Không ít trường hợp các nhân viên làm việc lâu năm trong doanh nghiệp cho rằng bản thân họ cũng có thể làm ra được sản phẩm đó, thậm chí có thể còn tốt hơn. Nhân đó xin thôi việc để độc lập tác chiến. Sự khởi đầu của một doanh nghiệp mới thường dựa vào know-how của doanh nghiệp cũ. Trong lĩnh vực chế tạo máy thường là các bản vẽ thiết kế, đối với các xí nghiệp dược là các công thức pha chế, chúng được dùng để làm cơ sở sản xuất hàng giả.  Ông có thể nêu một số vụ cụ thể khi nhân viên trở thành thủ phạm?  Điều này thì nhiều vô kể. Một số nhân viên của một doanh nghiệp chế tạo máy hoạt động hết sức trắng trợn, chúng tôi đã tham gia xử lý vụ này. Chủ hãng không giải thích được nguyên nhân chi phí mua hàng quá cao, ông ta đã yêu cầu chúng tôi trợ giúp. Chúng tôi phát hiện một số công nhân của doanh nghiệp này làm việc rất chăm chỉ, thậm chí họ làm việc cả trong ngày cuối tuần, lắp đặt máy móc và hết giờ làm việc thì chở máy đi giao hàng cho khách. Có điều bản thân doanh nghiệp không thu được một đồng nào. Có nghĩa là một số lao động của doanh nghiệp đã thành lập một dạng doanh nghiệp trong doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nhưng tiền thu được lại cho vào quỹ riêng. Đây cũng là một dạng gián điệp công nghiệp đặc biệt và tinh vi. Đây là một hành vi gian lận mà ít nhà doanh nghiệp lường tới.  Ông làm thế nào để phát hiện bọn tội phạm?  Điều này thì mỗi vụ một kiểu. Đôi khi tội phạm cũng khá ngờ nghệch do đó không khó khăn để điều tra. Tại một tập đoàn dược phẩm, chúng tôi tiến hành điều tra trong nội bộ doanh nghiệp vì nghi có tham nhũng. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến trường hợp một nhân viên mới bán một chiếc xe VW cũ và tậu một xe Porsche mới toanh, cũng thời gian đó anh ta vừa xây xong một toà biệt thự. Điều đó làm tôi tự hỏi, anh ta lấy tiền từ đâu. Vì vậy tôi giả danh là người bán máy đóng gói thuốc viên và qua đó lần ra  được bí mật về sự giàu có của nhân viên này: anh ta yêu cầu dành cho mình một khoản hoa hồng trước khi ký hợp đồng mua máy móc thiết bị, qua đó nhân viên này kiếm được bạc triệu.  Nếu mọi việc vẫn trong vùng xám – chưa rõ ràng, thì công cuộc điều tra của các vị có thể tiến sâu đến đâu?  Trong trường hợp này các bằng chứng phải rõ ràng và có tính thuyết phục và mọi biện pháp của chúng tôi luôn có sự thống nhất với Hội đồng xí nghiệp. Ở đây có nguyên tắc mọi điều tra phải thu thập đầy đủ chứng cứ và kết quả điều tra của chúng tôi phải thật sự chắc chắn khi nêu ra trước thẩm phán .  Gần đây tên tuổi ông được đề cập trong một vụ liên quan đến một chỉ điểm người Thuỵ Sỹ, ông đã cung cấp thông tin về các thanh tra thuế người Đức cho người đó. Đó không phải là vùng xám hay sao?  Cấn phải có sự giải thích về câu chuyện này. Một nhà thầu phụ và một nhân viên của tôi đã trả lời một câu hỏi của một người đàn ông từ Thụy Sỹ và đã có cuộc gặp gỡ với người này ở Freiburg. Ông ta tự giới thiệu là cựu nhân viên cảnh sát  đang tìm một đối tác của phía Đức để cùng thẩm tra về một số hãng và vụ việc. Sau này tôi cũng có tìm hiểu về người đàn ông này. Chúng tôi có tiến hành một số vụ việc với ông ta và ông ta có thanh toán đầy đủ.  Ông ta cũng tiến hành thẩm tra nghiêm chỉnh một số vụ việc ở Thuỵ Sỹ theo yêu cầu của chúng tôi. Sau đó ông ta giao nhiệm vụ cho nhà thầu phụ của tôi thẩm tra địa chỉ của một số nhân vật nhất định. Nhà thầu phụ thu thập thông tin và giao cho anh ta và chúng tôi đưa tất cả vào hoá đơn thanh toán. Tại sao ông ta tìm những người này, tôi cũng không biết. Và tôi cũng hoàn toàn không biết ông ta là nhân viên cơ quan  tình báo. Như đã nói ông ta luôn kể với tôi  là cựu cảnh sát. Giờ đây tôi nghĩ cơ quan tình báo Thuỵ Sỹ cho anh ta liên hệ với chúng tôi vì chúng tôi có tiếng tốt về các  cuộc thẩm tra của mình.  Phần đông các doanh nghiệp Đức lo ngại về tình trạng know-how bị thất thoát sang Trung quốc hoặc Nga. Nhưng thế còn nguy cơ các doanh nghiệp Đức theo dõi, rình rập lẫn nhau như thế nào?  Không phải chỉ có người Trung quốc, người Nga hay người Mỹ mới làm gián điệp. Mọi doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh trên thị trường đều tạo nên sự ghen tị, đố kỵ và trở thành nạn nhân của hoạt động gián điệp, điều này có thể do các cơ quan tình báo nước ngoài tiến hành nhưng cũng có thể các doanh nghiệp Đức khác xúc tiến. Mục tiêu của hoạt động gián điệp này là lấy được bí quyết mà không phải chi phí cho công tác nghiên cứu như đối thủ cạnh tranh, gây áp lực đối với đối thủ cạnh thông qua các tài liệu gây tranh cãi hoặc để tìm ra được những cái đầu có giá trị của doanh nghiệp đối thủ trong nghiên cứu và phát triển  để từ đó tìm cách lôi kéo họ làm việc cho mình.  Người ta sẽ làm gì nếu việc tuyển mộ, lôi kéo không thành?  Không ít trường hợp là gây sức ép, tống tiền. Đối với những nhân vật mà người ta đặc biệt quan tâm người ta sẽ tìm cách tạo ra những tình huống khó xử để tạo ra sức ép đối với họ. Để làm việc đó có thể dùng  mỹ nhân kế. Ví dụ biến người đó thành tình nhân của nữ thư ký để thông qua nhân vật này tiếp cận được thông tin mà mình quan tâm.  Trong số các nhà điều tra tư nhân ông được đánh giá là nhân vật hàng đầu. Trong những năm qua điều gì đã thay đổi trong lĩnh vực công tác của ông?  Tất nhiên công nghệ đã tiến bộ nhảy vọt trong mấy năm gần đây. Thiết bị công nghệ ngày càng nhỏ gọn và tinh xảo hơn. Cách đây 30 năm máy nghe trộm có kích cỡ như một cái hộp, giờ bé tí xíu và rất dễ lắp đặt và rất khó phát hiện. Hồi xưa có thể nghe lén tối đa trong vòng bán kính 200 mét. Ngày nay không còn hạn chế nữa. Tuy nhiên các biện pháp chống nghe trộm cũng tinh vi hơn xưa nhiều.  Nguyễn  Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/dienstleister/industriespionage-oft-wird-mit-weiblichen-lockvoegeln-spioniert/21255112.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính hài hòa, sáng tạo có trách nhiệm và một  tinh thần cà phê toàn cầu*      Đây là giai đoạn mà sự phát triển đơn phương và đa  phương của rất nhiều nguồn lực chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới  đã tạo ra cho thế giới này quá nhiều xung đột và mâu thuẫn, tạo ra sức ép mạnh mẽ lên không gian sinh  tồn chung của nhân loại; diễn  trình này cần được hài hòa hóa lại với nhau để có thể tiếp tục ổn định  và phát triển bền vững.       Toàn thể xã hội loài người chúng ta hiện được dẫn dắt bởi ba lực lượng chính là chính trị, kinh tế, và tôn giáo – văn hóa; tương ứng với ba dạng thức quyền lực: quyền lực cứng, quyền lực kinh tế, và quyền lực mềm. Diễn trình toàn cầu hóa cho đến hiện nay đã ghi nhận sự phát triển đến cực điểm của hai yếu tố kinh tế và chính trị, và nguyên nhân dẫn đến tính bất hiệu lực của các nỗ lực đối phó với các khủng hoảng toàn cầu cũng nằm ở chỗ giới tinh hoa hiện nay thực chất vẫn chỉ dùng nhãn quan chính trị và kinh tế, tức là sử dụng quyền lực cứng và quyền lực kinh tế để giải quyết vấn đề mà thiếu đi sự bổ sung, thậm chí còn phải là vai trò chủ đạo của nhãn quan tôn giáo và hiệu lực của các giải pháp quyền lực mềm.  Tình hình hiện nay vừa phức tạp, vừa cấp thiết đến nỗi chúng ta cần có cả ba yếu tố sau cùng một lúc thay vì có thể kiến tạo tuần tự và lần lượt như những thời kỳ trước: cần có một hệ thống lý luận, hệ giá trị, và tinh thần mới cho sự phát triển; cần có những dạng thức định chế toàn cầu mới cho việc triển khai hệ giá trị và tinh thần nêu trên; cần có các sáng kiến đột phá, các dự án tiên phong, các địa bàn mang tính hình mẫu và biểu tượng cho mô hình phát triển mới.  Lý thuyết phát triển mới chính là cốt lõi của quá trình tư duy lại thế giới; trong đó theo tôi có ba nội dung quan trọng chúng ta cần thống nhất: nhận định quy luật và xu hướng vận động của thế giới hiện nay; đưa ra hệ giá trị phát triển mới; xác định tinh thần, động lực và lực lượng nòng cốt cho sự phát triển. Tất cả các nội dung trên càng cốt lõi, càng đơn giản càng tốt, nó phải các sợi chỉ đỏ xuyên qua mọi khác biệt, kết nối những điểm chung quan trọng nhất của nhân loại. Với tinh thần đó, chúng tôi cho rằng, bối cảnh hiện nay của thế giới toàn cầu hóa đang là giai đoạn hài hòa hóa. Đây là giai đoạn mà sự phát triển đơn phương và đa phương của rất nhiều nguồn lực chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới đã tạo ra cho thế giới này quá nhiều xung đột và mâu thuẫn (mâu thuẫn giữa con người với con người), tạo ra sức ép mạnh mẽ lên không gian sinh tồn chung của nhân loại (mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên); diễn trình này cần được hài hòa hóa lại với nhau để có thể tiếp tục ổn định và phát triển bền vững. Nếu không, với diễn trình biến động ngày càng phức tạp của hàng loạt các khủng hoảng toàn cầu như hiện nay, chắc chắn, toàn thể nhân loại sẽ sớm đi đến bền bờ diệt vong. Và tương ứng với niềm tin mới này, chúng ta cần một hệ giá trị mới tương ứng, theo đó, giá trị cốt lõi trung tâm chính là tính hài hòa và tinh thần chủ đạo sẽ là sáng tạo có trách nhiệm.   Xét cho cùng, lịch sử của nhân loại là lịch sử sáng tạo, chính sáng tạo làm nên sự phát triển. Nhưng nếu như trước đây và một thói quen không còn thích hợp cho hiện tại là sự sáng tạo của chúng ta là sáng tạo vì lòng tham, vì lợi ích mang tính cục bộ của cá nhân, nhóm, hay quốc gia; thì giờ đây, tương ứng với giai đoạn hài hòa hóa của tiến trình toàn cầu hóa, chúng ta cần dịch chuyển sang một tinh thần phát triển mới, tinh thần sáng tạo có trách nhiệm. Trách nhiệm đối với môi sinh chung của nhân loại, trách nhiệm đối với toàn nhân loại phải được đặt trước và ưu tiên hơn các lợi ích cục bộ của nhóm, của quốc gia, của từng cá nhân. Một trách nhiệm toàn diện tinh thần trách nhiệm ngày càng toàn diện, kết nối không chỉ chiều ngang của xã hội loài người mà còn cả chiều dọc, giữ còn người với đất trời, thiên nhiên, vũ trụ. Như vậy, chúng ta đang sống trong một thời kỳ mang tính chuyển đổi lịch sử của nhân loại.   Đồng hành với tiến trình tìm ra và truyền bá hệ giá trị và tinh thần phát triển mới cho diễn trình hài hòa hóa thế giới, chúng ta cần phải được tư duy lại một cách nghiêm khắc và triệt để các lý thuyết về thuật chiến thắng theo tinh thần được mất. Đó là các lý thuyết dẫn dắt thế giới hiện nay vẫn nằm trong trạng thái cạnh tranh, giành đoạt và thắng thua, tiếp tục tạo ra khủng khoảng không thể tìm lối ra. Về kinh tế vẫn là dòng ảnh hưởng của cạnh tranh tự do từ Adam Smith, Keynes, cho đến Marshall; về chính trị các học thuyết quyền mưu của Tôn Tử, Clausewitz, Machiavelli, các học thuyết mang tính cạnh tranh và xung đột đối kháng về địa chính trị và ý thức hệ, học thuyết cạnh tranh sinh tồn Darwin, dân số của Malthus vẫn tiếp tục là cội rễ để tạo thành các phân cực cạnh tranh và đe dọa lẫn nhau trên trái đất. Vượt trên tất cả, chúng ta cần có niềm tin rằng với sức sáng tạo to lớn của loài người kết hợp với sự vĩ đại đến kỳ diệu của thiên nhiên, toàn thể nhân loại hoàn toàn có thể tạo ra một thế giới hài hòa, ổn định và cùng phát triển bền vững với những lợi ích mang tính tổng hợp và không loại trừ nhau. Cuộc chuyển đổi lịch sử kể trên sẽ diễn ra trước hết ở lĩnh vực lý luận và lý thuyết về động lực và mô hình phát triển cho con người, một mô hình đảm bảo tính hài hòa và bền vững.   Để tạo ra sự chuyển đổi lịch sử này, tôi cho rằng có ba tác nhân chính tương ứng với ba nhóm lực lượng nòng cốt. Tác nhân đầu tiên chính là sự phát triển của khoa học công nghệ, trong đó đặc biệt là công nghệ thông tin đã và đang nhanh chóng hình thành các mạng lưới xã hội kết nối toàn cầu. Cần phải dựa trên nền tảng này để tạo ra một mạng xã hội tri thức toàn cầu hướng đến hệ giá trị mới. Giới truyền thông hiện đại và tiến bộ có thể đóng vai trò tiên phong và trung tâm trong sự biến đổi này. Tác nhân thứ hai là nguy cơ mang tính hủy diệt đối với nhân loại từ sự biến đổi khí hậu. Trước đây, các chính phủ đóng vai trò chủ đạo trong diễn trình này, nhưng theo tôi, chính các nhà lãnh tụ tôn giáo và văn hóa mới có hiệu lực chính để thay đổi ý thức và hành xử của con người đối với thiên nhiên như một nền đạo đức chung, một hệ thống các tín điều mang tính chất tôn giáo và văn hóa. Tác nhân thứ ba là diễn trình phát triển của nền kinh tế mới, kinh tế xanh và tri thức, một loại hình kinh tế đảm bảo sự phát triển mà không gây tổn hại đến môi trường sống, cho phép giảm thiểu tối đa các giao dịch bất công bằng có tính thắng thua. Các nhà kinh doanh có trách nhiệm, các nhà khoa học, và cộng đồng thế hệ người tiêu dùng hiện đại, thông minh và có trách nhiệm sẽ là ba trụ cột chính để làm dịch chuyển tác nhân có tính hiệu lực cao nhưng cũng là vô cùng khó khăn khi chuyển đổi này.        Với nguồn lực và tầm ảnh hưởng của các quý vị ở đây, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra một “think tank” mới, một “diễn đàn sáng tạo có trách nhiệm cho thế giới hài hòa và phát triển bền vững”, để hướng đến việc hình thành một mạng lưới xã hội tri thức toàn cầu cùng hướng đến giá trị sáng tạo có trách nhiệm. Trước hết, “think tank” này sẽ tập hợp các bộ não hàng đầu thế giới, cùng đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá mới dựa trên bối cảnh hài hòa hóa và tinh thần chủ đạo là sáng tạo có trách nhiệm cho các nhóm quyền lực, các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng trên thế giới; sử dụng hạ tầng và sự phát triển của mạng xã hội toàn cầu để kết nối và tạo ra sự giám sát xã hội đối với các tiêu chuẩn mới; đồng thời, đó cũng chính là cơ chế để tập hợp và huy động nguồn lực đại chúng nhằm hỗ trợ thực hiện các sáng kiến mới. Nếu thực hiện được điều đó, đây sẽ là sự nâng cấp ý nghĩa của cơ chế Hội nghị của chúng ta ở đây.   Với sự đa dạng, khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, ý thức hệ, trình độ phát triển,… nhưng lại đang là khu vực có tốc độ phát triển cao trên thế giới, đồng thời nằm ở khu vực có vị trí địa chính trị hết sức chiến lược trên thế giới hiện nay, và quan trọng nhất là chưa bị lệ thuộc vào di sản cũng như quán tính lớn của mô hình phát triển cũ; Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung sẽ là địa bàn phù hợp nhất để tổ chức diễn đàn thường niên này, và đây cũng là địa bàn thích hợp nhất để thực thi các mô hình mẫu cho lý thuyết phát triển hài hòa nêu trên.  Một cộng đồng ASEAN thống nhất trong đa dạng sẽ trở thành điểm hình cho mô hình liên kết thể chế quản trị toàn cầu mới. Một Việt Nam với rất nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp cả trong quá khứ lần hiện tại nếu xây dựng thành công mô hình phát triển mới thì điều đó có nghĩa là cả thế giới cũng có thể làm được.   ***  Bất cứ một cuộc biến đổi lớn và toàn diện nào cũng đều được bắt đầu bằng những nhóm người, những tổ chức, những lĩnh vực có tính tiên phong, đột phá tạo ra biểu tượng và niềm tin chung. Với kinh nghiệm và điều kiện hoạt động trong ngành cà phê, chúng tôi thấy rằng cà phê hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu trở thành một trong những biểu tượng mạnh và tiên phong cho diễn trình dịch chuyển hài hòa hóa của thế giới.   Với thuộc tính tạo ra tỉnh thức, nâng cao khả năng tập trung và kích thích sự sáng tạo của mình; cà phê đã và đang đóng một vai trò quan trọng như một nguồn năng lượng chủ đạo cho hàng loạt các phát minh, sáng kiến, các cuộc cách mạng quan trọng của loài người trên mọi lĩnh vực của đời sống mà không một loại thực phẩm nào có thể sánh bằng. Cà phê chính là năng lượng cho sáng tạo của quá khứ và hiện tại, trong tương lai năng lực sáng tạo này lại ngày càng trở nên cần thiết và sống còn đối với chúng ta.   Ngày nay, cà phê ngày càng đóng vai trò quan trọng kết nối nhân loại, kết nối các quốc gia, các nền văn hóa và văn minh, kết nối các tổ chức xuyên quốc gia. Hiện tại trên thế giới đang có trên 2,5 tỷ người dùng cà phê không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, dân tộc, quốc gia, ý thức hệ chính trị,.. Trong tập người đó đã quy tụ hầu hết thuộc giai tầng sáng tạo, tầng lớp có ảnh hưởng và giới tinh hoa của mọi quốc gia, dân tộc. Đây có thể coi là một lực lượng gần như sẵn có và có độ lớn cũng như tầm ảnh hưởng vượt qua bất cứ một cộng đồng nào hiện có trên thế giới. Ngành cà phê là một ngành có giá trị trao đổi hàng hóa cơ bản chỉ đứng thứ hai sau dầu lửa, có khả năng liên kết và kết nối các quốc gia với nhau, trở thành một hình mẫu liên kết toàn cầu theo mô hình kinh tế bền vững của một hệ sinh thái cân bằng.   Chúng ta có thể nhìn ra viễn cảnh về một cộng đồng cà phê toàn cầu, bao gồm những người sành cà phê, cùng sáng tạo có trách nhiệm, cùng thành công bền vững trong một thế giới phát triển hài hòa.   Quá trình chuyển đổi động lực phát triển của thế giới là một diễn trình chuyển đổi không hề dễ dàng; nhưng tôi tin rằng khi đoàn kết cùng nhau, với tinh thần sáng tạo có trách nhiệm, cùng sức mạnh của truyền thông, không gì là không thể.           Hội Nghị Thiết lập Chương trình Nghị sự Quốc tế Lần thứ 13    Đó  là Hội nghị thường niên thứ 13, tại Luzern, Thụy Sĩ từ 1 – 3/11/2012 do  Media Tenor tổ chức, nhằm tập hợp ý kiến, quan điểm của giới nghiên  cứu, hoạch định chính sách, doanh nghiệp và truyền thông quốc tế về   những biến đổi đang diễn ra trên thế giới tác động tới nhận thức số đông  trong xã hội thông qua nội dung và phương thức truyền thông; đồng thời  với tư cách “quyền lực thứ tư”, truyền thông là một áp lực mạnh gây điều  chỉnh chính hệ thống chính sách xã hội. Cũng tại Hội nghị này sẽ diễn  ra lễ trao giải thưởng thường niên của Media Tenor.    Với  phương pháp nghiên cứu và sử dụng được đặt tên “thiết lập chương trình  nghị sự” do Media Tenor khởi xướng cách đây 19 năm và bền bỉ thực hiện  nhằm hướng các nỗ lực kết nối truyền thông với các lực lượng xã hội theo  cách có trật tự kiểm soát, và đi sâu vào những vấn đề mang tính dài  hạn, chương trình nghị sự quốc tế lần thứ 13 đã nhận được sự hưởng ứng  tham gia của gần 100 đại biểu từ các tổ chức có ảnh hưởng lớn toàn cầu,  đặc biệt với sự có mặt trực tiếp của những cá nhân uy tín như R. Schatz  (Media Tenor), Al Berkeley (Nasdaq), U. Haagerup (DR TV), J. Eigendorf  (WELT), F. Quinn (CSR Tech), D. Hofmann (BIS), H. Kuelps (SAP), W.  Zengerling (Henkel), T. Tobias (EconWatch), H. Stoldt (Der Spiegel). Đại  diện duy nhất ở vai trò diễn giả chính của châu Á là ông Đặng Lê Nguyên  Vũ (Trung Nguyên, Việt Nam).   Hướng phát  triển thiết lập nghị sự của Media Tenor ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ  hơn thông qua các công cụ hiện đại nhất về công nghệ thông tin, phương  pháp thống kê và những đề xuất chỉ số đo lường ảnh hưởng. Nhà xuất bản  InnoVatio trong nhóm Media Tenor đã chứng minh ảnh hưởng và giá trị của  sự thấu hiểu về vận động toàn cầu trong kinh tế, chính trị, xã hội qua  các ấn phẩm công bố như CSR Index 2012 (F. de Leo và M. Vollbracht) và  Global Peace Report 2011 (S. Killelea và R. Schatz) trong đó công bố xếp  hạng chỉ số hòa bình toàn cầu (Global Peace Index)… Đây là những nỗ lực  được thiết kế tinh vi và có độ bao phủ rộng lớn, nhằm tác động lên  chính tiến trình ảnh hưởng của giới truyền thông tới cả xã hội, và giới  tinh hoa.   Cụ thể và trực tiếp nhất của Hội  nghị này là các vấn đề nổi cộm toàn cầu được các diễn giả và đại biểu  thảo luận sâu bao gồm ảnh hưởng của phương pháp thiết lập nghị sự với  chính sách công (khủng hoảng tài chính, ưu tiên nghị sự toàn cầu, báo  chí điều tra, tác động xã hội của truyền thông…), giảm thiểu tác động  đột ngột của sự kiện truyền thông, ảnh hưởng với thế giới kinh doanh (xu  hướng tái khởi tạo bộ máy kinh doanh toàn cầu, dịch chuyển theo hướng  phục vụ sự phát triển xã hội, trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo và  đầu tư tương lai), vượt qua sự suy giảm lòng tin của  giới kinh doanh…           * Bài phát biểu của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần tập đoàn Trung Nguyên tại Hội Nghị Thiết lập Chương trình Nghị sự Quốc tế Lần thứ 13, tại Luzern, 1-3/11/2012      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh thần trường tồn & sáng tạo của cà phê      C&#225;ch đ&#226;y ba năm, năm 2006, Hội đồng ch&#226;u &#194;u, thuộc phi&#234;n chủ tr&#236; của nước &#193;o, đ&#227; khởi xướng Dự &#225;n Caf&#233; ch&#226;u &#194;u (Cafes d&#8217;Europe), mở 27 qu&#225;n c&#224; ph&#234; tại thủ đ&#244; của 27 quốc gia thuộc ch&#226;u &#194;u nh&#226;n Ng&#224;y ch&#226;u &#194;u (ng&#224;y 9 th&#225;ng 5).&nbsp; H&#244;m ấy, tại 27 qu&#225;n c&#224; ph&#234; tr&#234;n to&#224;n ch&#226;u &#194;u, c&#244;ng ch&#250;ng v&#224; nhất l&#224; giới thanh ni&#234;n đ&#227; s&#244;i nổi thảo luận, đề xuất nhiều quan điểm, hướng tiếp cận v&#224; &#253; tưởng s&#225;ng tạo v&#224; tầm nh&#236;n xa. Đề t&#224;i trọng t&#226;m h&#244;m đ&#243; cho đến nay vẫn c&#242;n mang t&#237;nh thời sự, ch&#237;nh l&#224; t&#237;nh đa dạng v&#224; phong ph&#250; của Cộng đồng ch&#226;u &#194;u. Trong những qu&#225;n c&#224; ph&#234; ch&#226;u &#194;u n&#224;y, c&#225;c nh&#224; văn h&#243;a, nh&#224; văn, nh&#224; thơ, giới ch&#237;nh kh&#225;ch gặp nhau v&#224; s&#225;ng t&#225;c &#8220;C&#226;u chuyện ch&#226;u &#194;u&#8221;. George Steiner ph&#225;t biểu: &#8220;Qu&#225;n c&#224; ph&#234; n&#224;y l&#224; nơi hội họp v&#224; s&#225;ng t&#225;c, viết l&#225;ch, l&#224; nơi tranh luận v&#224; đ&#224;m đạo đầy tr&#237; tuệ. Nếu ai đ&#243; l&#224;m một bản đồ qu&#225;n c&#224; ph&#234;, người ấy sẽ c&#243; được bản ph&#225;c họa tổng thể những &#253; tưởng ch&#226;u &#194;u&#8230;&#8221;.    Quả là một ý tưởng lớn! Chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi Câu chuyện châu Âu nếu không biết quá trình phát triển của văn hóa Cà phê trong bốn, năm thế kỷ qua. Từ thế kỷ 16, đích thân Đức Giáo Hoàng Clement VIII – là người đóng vai trò quan trọng trong việc phổ cập hóa các quán cà phê. Ông nói “hương vị cà phê dịu dàng đến thế thì không thể nào là sản phẩm do Quỷ dữ làm ra được. Thứ thức uống này thơm ngon đến vậy mà chỉ để cho mỗi mình giáo dân Hồi giáo thưởng thức thôi thì thật đáng tiếc. Quỷ Sa-tăng phát điên lên vì chúng ta sẽ làm lễ rửa tội cho cà phê và biến cà phê thành thứ thức uống chính thức của Cơ Đốc giáo.” Chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi Câu chuyện châu Âu nếu thế giới không có những quán cà phê như Florian và Quadri tại Quảng trường Saint Mark thành phố Venice, hay quán Procope, quán Café de Foy tại khu Hoàng Cung mới, thành phố Paris, nơi Camille Desmoulins đã đọc bài diễn văn sôi sục lòng người dân Paris, khởi đầu cuộc Cách mạng Pháp. Chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi cuộc Cách mạng Bôn-sê-vich nếu không có quán Café Landolt tại Geneva, nơi Lenin viết luận cương Đảng cách mạng, với câu nói bất hủ “có quyết tâm tất có con đường” nêu trong phần “Đường lối”.                      Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới thăm Hội quán Sáng tạo  Có một danh nhân mà tôi không nhớ tên có lần phát biểu “Cà phê là di sản văn hóa châu Âu”. Cho phép tôi xin được phản đối. Theo lịch sử, trước khi trở thành một trào lưu xã hội tại châu Âu, quán cà phê đã có mặt tại Trung Đông từ năm 1555, lúc ấy có hai người Syria đến từ Damascus và Aleppo đã mở hai quán cà phê đầu tiên tại khu Tachtakala thuộc Istanbul. Khách hàng của họ là các nhà thơ, học giả, nhà vận động tuyên truyền từ khắp mọi miền của Trung Đông. Các quán cà phê đã nhanh chóng trở thành một văn hóa liên quốc gia với nội hàm hết sức đa dạng phong phú. Ngay cả một quán cà phê như Café Flore, xưa nay vẫn là một địa điểm hội họp nổi tiếng của giới nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, hội họa, và những ai theo trường phái Hiện sinh.  Chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi Paris, thành phố của nghệ thuật, mà lại thiếu vắng những Jean Paul Sartre của Pháp, Ernest Hemingway của Mỹ, Pablo Picasso của Tây Ban Nha, mỗi ngày uống đến 50 tách cà phê, hay nhà thiết kế Kenzo của Nhật. Trường phái Hiện sinh, trường phái Lập thể, thời trang Đông Tây Hội Ngộ đều khởi nguồn từ những quán cà phê giống như chính nơi này. Nếu Benjamin Franklin không gặp Marquis de LaFayette tại quán cà phê Regence tại khu Hoàng Cung Palais Royal và kết tình bằng hữu thì liệu có cuộc Cách mạng Mỹ? Chắc có lẽ là không.  Điều tuyệt vời nhất của cây cà phê nằm ở chỗ nó phản ánh vừa tinh thần trường tồn vừa tinh thần sáng tạo. Người Việt Nam trân trọng sự du nhập của cây cà phê vào Việt Nam cách đây độ 100 năm, và nhờ thiên nhiên ban tặng cho một vùng đất đỏ Bazan với 160 triệu năm tích tụ hình thành, hạt cà phê Việt Nam có được hương vị hết sức đặc biệt, không những có thể làm cho tinh thần mạnh mẽ hơn, mà còn góp phần vào truyền thuyết dựng nước và giữ nước của cha ông. Có lẽ vì vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào năm 1958, trong lúc đích thân pha chế và mời cà phê các chính khách của Nga, Người đã nói “Tôi đảm bảo với quý vị rằng cà phê Việt Nam là ngon nhất thế giới.” Cây cà phê nơi đây quả thật đã mang những thông điệp đặc biệt về sự phát triển bền vững của đất đai và con người Việt Nam. Chính tại vùng đất này, vào thời hậu kỷ nguyên Pleitoxen và tiền kỷ nguyên Holoxen (giai đoạn năm 9800 đến năm 8500 TCN), nền văn minh Hòa Bình đã sản sinh cho nhân loại văn hóa lúa nước. Các bằng chứng khảo cổ học đang đặt nghi vấn về nguồn gốc văn hóa nông nghiệp liệu có thật sự là vùng Lưỡng Hà cách đây 6.000 năm hay không. Chính tại vùng đất này Việt Nam đã nổi lên thành quốc gia đứng đầu về cà phê Robusta trên thế giới, với sản lượng hằng năm đạt một triệu tấn trong vòng chưa đầy 15 năm phát triển (1990-2005).  Sau cuộc hành trình xuyên không gian và thời gian, ngày nay cây cà phê đã là một di sản của thế giới. Trên hai tỉ người uống cà phê mỗi ngày, để thức tỉnh, trong buổi ăn sáng, trong lúc nghỉ giải lao, sau buổi ăn trưa, cuối buổi ăn tối v.v. Hiện tượng này mang tính rộng khắp và phổ biến đến mức tôi xin mạo muội tuyên bố rằng “cà phê là nguồn năng lượng của nền kinh tế tri thức, giống như xăng dầu là nguồn năng lượng của nền kinh tế công nghiệp.” Nhận định này là đúng đắn, bởi lẽ chúng ta sẽ không thể nào hình dung được giới sáng tạo khắp nơi trên thế giới sẽ làm việc như thế nào nếu không có cà phê. Cái tuyệt đẹp của hạt cà phê cũng giống như nhà kinh tế học người Anh E.F. Schumacher đã nói “nhỏ là đẹp” (“small is beautiful”), và câu nói này đã trở thành phương châm của Câu lạc bộ Roma, câu lạc bộ đầu tiên về bền vững với tầm nhìn xa và đầy nhân bản. Nếu nhìn sâu vào bên trong hạt cà phê, bạn có thể đi thêm một bước nữa và thấy rằng “nhỏ là mạnh” (“small is powerful.”)  Sự hình thành những không gian cà phê như một không gian sáng tạo của Trung Nguyên ở một số địa phương, đặc biệt là Hội quán Sáng tạo tại Hà Nội, chính là nhằm kích khởi sự hợp lực hướng đến những giá trị tinh thần, trường tồn và sáng tạo của cà phê.    Author                Quản trị        
__label__tiasang TMĐT Việt Nam: Chờ có thêm những đại gia      Trừ nhóm hàng bán lẻ điện máy có những “đại  gia” với hệ thống siêu thị thành viên phủ khắp cả nước với chi phí xây  dựng tốn hàng ngàn tỉ đồng và doanh thu hàng chục ngàn tỉ đồng, còn trong ngành bán lẻ thương mại điện tử B2C (Business-to-Consumer – Doanh nghiệp với Khách hàng) lại chưa nhiều những mô hình lớn về vốn và độ phủ trên thị  trường.    Internet Việt Nam tốc độ khá nhanh, giá cước  vào hàng rẻ nhất thế giới, nhiều điểm kinh doanh bình dân như quán  cà phê, quán nhậu… cũng phát được wifi miễn phí cho khách hàng.  Theo thống kê của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện số người dùng internet cũng đã xấp xỉ 38 triệu người, chiếm 40% dân số, tỷ lệ truy cập internet đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Indonesia. Đó là những điều kiện giúp thương mại điện tử (TMĐT) phát triển.  Còn có nhiều ý kiến khác nhau về doanh số thực tế của hoạt động TMĐT B2C của Việt Nam. Theo báo cáo của cục TMĐT, doanh thu của TMĐT B2C trong năm 2013 là 2,2 tỉ USD. Trong khi đó, tại báo cáo TMĐT năm 2013 cũng của cục TMĐT công bố, ước tính bình quân mỗi người dân Việt Nam trong năm chỉ chi 120 USD cho hoạt động này. Nếu căn cứ vào mức chi tiêu này, với tổng số dân Việt Nam hiện nay là 96 triệu dân, kết quả có được chỉ là 1,15 tỉ USD. Theo ông Christopher Beselin, giám đốc điều hành của Lazada Việt Nam, khó có con số doanh thu chính xác nhưng trong vài năm gần đây, hoạt động bán lẻ TMĐT B2C trên hạ tầng internet ngày càng phát triển mạnh.  Xu hướng mua online  Cuối năm 2013, trong một khảo sát của cục TMĐT, khi tham gia mua bán trên mạng, những mặt hàng được quan tâm nhiều nhất là mỹ phẩm, thời trang 62% số người được hỏi, điện tử 35%, điện gia dụng 32%, du lịch (vé máy bay, khách sạn…) 25%… Dù mua bán qua mạng nhưng thanh toán khách hàng lại chọn “tiền trao tay trực tiếp” nhiều nhất: 74%, kế đến là thanh toán qua ngân hàng: 41%, còn qua các weisite trung gian hoặc ví điện tử chiếm tỷ lệ rất thấp: 8%. Trong những hình thức kinh doanh bán hàng qua mạng, khách hàng tập trung nhiều nhất là các website bán hàng chuyên nghiệp: 61%, website bán hàng theo nhóm 51%, kế tiếp là mạng xã hội: 45%, sàn giao dịch điện tử: 19%… Nhóm khách hàng mua hàng trên mạng nhiều nhất là khối văn phòng: 41%, sinh viên học sinh: 37%, tiểu thương: 7%…, tỷ lệ nữ chiếm 59%.  Gần đây một số website của các kênh bán lẻ như: thegioididong.com, nguyenkim.com, fptshop.com.vn, vienthonga.vn cũng đẩy mạnh hình thức bán hàng qua mạng. Không chỉ mạnh ở hệ thống cửa hàng, thegioididong.com tập trung xây dựng kênh bán hàng trực tuyến. Ông Nguyễn Đức Tài, tổng giám đốc Thế Giới Di Động cho biết, hiện website này có 10 triệu truy cập/ tháng, nếu doanh thu qua kênh bán hàng trực tuyến của năm 2013 là 450 tỉ đồng, thì doanh số bình quân trong năm 2014 khoảng 70 tỉ đồng/ tháng. Bình quân hoạt động doanh thu online của FPT Shop là 30 tỉ đồng/tháng, chiếm khoảng 7% tổng doanh thu của hệ thống. “Bán hàng trực tuyến đang là xu thế, nhiều khách hàng vừa tìm kiếm thông tin vừa tìm những ưu đãi tốt nhất cho sản phẩm cần mua. Online còn là kênh tìm kiếm khách hàng cho hệ thống cửa hàng”, tổng giám đốc FPT Shop Nguyễn Bạch Điệp chia sẻ.  Thiếu những đại gia  Trừ nhóm hàng bán lẻ điện máy có những “đại gia” với hệ thống siêu thị thành viên phủ khắp cả nước với chi phí xây dựng tốn hàng ngàn tỉ đồng và doanh thu hàng chục ngàn tỉ đồng như Thế Giới Di Động, Nguyễn Kim, FPT Shop, Viễn Thông A… còn trong ngành bán lẻ TMĐT B2C lại chưa nhiều những mô hình lớn về vốn và độ phủ trên thị trường. Trong vài năm trở lại đây, các website bán hàng trực tuyến nở rộ lên hàng ngàn nhưng điểm mặt, chỉ có một vài tên tuổi được đánh giá là hàng đầu trong kinh doanh TMĐT như: lazada.vn, tiki.vn, chotot.vn, chodientu.vn, vatgia.com… nhưng chỉ là những “cột cờ” trong “bó đũa”. Những website trên xen lẫn hình thức kinh doanh B2C (như lazada.vn, tiki.vn…) và sàn giao dịch điện tử như chotot.vn, chodientu.vn, vatgia.com… Gần đây, lazada.vn vừa áp dụng mô hình B2C và sàn giao dịch.  Cục TMĐT dự báo, với tốc độ sử dụng internet tăng, hàng hoá xuất hiện trên môi trường internet ngày càng nhiều, doanh thu của TMĐT Việt Nam sẽ tăng trưởng, đạt khoảng 4 tỉ USD vào năm 2015. Nhưng hoạt động này còn nhiều cản trở từ chính sách nhà nước, chất lượng kinh doanh của các nhà kinh doanh đã dẫn đến thái độ “quay lưng” của người tiêu dùng. Vì tham gia thị trường là những doanh nghiệp nhỏ nên chất lượng hàng hoá không cao, chưa có chiêu thức bán hàng hấp dẫn, chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu khi mở website bán hàng trực tuyến, chưa có giải pháp thanh toán linh hoạt và tiện lợi cho khách hàng…  Trong khi chờ chương trình phát triển TMĐT quốc gia với các giải pháp như triển khai hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia (KeyPay.gov.vn), gắn nhãn uy tín cho các website TMĐT… doanh nghiệp và người tiêu dùng tìm cách gặp nhau trên mạng từ những sản phẩm nhỏ nhất, rẻ tiền nhất nhưng phù hợp với nhu cầu của cả hai bên.           Theo số liệu của cục TMĐT, năm 2013, bộ  Thương mại Hoa Kỳ công bố doanh thu của hoạt động TMĐT B2C của quốc gia  này là 264 tỉ USD, tăng 17% so với năm 2012. Tính ra, trong năm 2013,  mỗi người dân Hoa Kỳ đã chi 2.466 USD để mua hàng qua mạng. Còn theo số  liệu của cục Chính sách thương mại và thông tin Nhật Bản (bộ Kinh tế  thương mại và công nghiệp – METI), doanh thu TMĐT B2C trong năm 2013 ước  chừng 101,5 tỉ USD. Theo số liệu từ hãng nghiên cứu kinh doanh trực  tuyến eMarketer, doanh thu TMĐT B2C của Trung Quốc trong năm ngoái là  181,6 tỉ USD. Úc cũng là một quốc gia có doanh số TMĐT B2C nằm trong top  10 các quốc gia có hoạt động kinh doanh qua môi trường internet. Năm  2013, doanh thu TMĐT B2C của Úc khoảng 31,24 tỉ USD, trong đó nhóm hàng  may mặc chiếm 25%. Năm 2013, bình quân mỗi người dân Indonesia đã chi  390 USD để mua hàng trên mạng. Cũng theo eMarketer, năm 2014, con số này  sẽ tăng lên 440 USD/người. Năm 2013, Indonesia là quốc gia có tỷ lệ  tăng trưởng doanh thu về TMĐT B2C cao nhất khu vực châu Á – Thái Bình  Dương – 71,9% dù doanh số còn khiêm tốn so với nhiều quốc gia trong khu  vực, chỉ 1,79 tỉ USD.   Năm 2013  cục TMĐT (bộ Công thương) ước tính doanh số TMĐT B2C Việt Nam khoảng  2,2 tỉ USD. Cục trưởng cục TMĐT Trần Hữu Linh cho rằng, doanh số này  chưa xứng với thực trạng sử dụng internet và nhu cầu mua sắm trên mạng  tại Việt Nam.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổ tiên loài người có thể đã đi thẳng đứng trên cây      Theo một nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Science Advances của các nhà khoa học từ Đại học London, Đại học Kent và Đại học Duke (Mỹ), con người đi thẳng đứng bằng hai chân có thể đã tiến hóa trên cây chứ không phải trên mặt đất như trước đây chúng ta vẫn nghĩ.    Tinh tinh đi thẳng đứng giữa các cành cây trong tán rừng rộng.  Nghiên cứu này khám phá hành vi của loài tinh tinh hoang dã – họ hàng gần nhất còn sống của con người – từ Thung lung Issa ở phía tây Tanzania, Đông Phi.  Được gọi là “khảm xavan” – một khu vực pha trộn giữa vùng đất trống trải, khô hạn, ít cây và những mảng rừng rậm – môi trường sống của loài tinh tinh này rất giống với môi trường của tổ tiên loài người sớm nhất. Vì thế, nó được chọn là nơi tìm hiểu xem liệu sự trống trải của loại cảnh quan này có khuyến khích loài người đi bằng hai chân hay không.  Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét liệu môi trường sống khảm xavan có làm tăng thời gian sống trên mặt đất của tinh tinh Issa và so sánh hành vi của chúng với các nghiên cứu khác về những họ hàng chỉ sống trong rừng tại khu vực khác của châu Phi.  Nhìn chung, nghiên cứu phát hiện thấy tinh tinh Issa dành nhiều thời gian trên cây như những con tinh tinh khác sống trong rừng rậm rạp, dù môi trường sống của chúng trống trải hơn, và không sống nhiều trên mặt đất như mong đợi.  Hơn nữa, tuy các nhà nghiên cứu dự đoán tinh tinh Issa đi thẳng đứng nhiều hơn ở thảm thực vật xavan trống trải (tại đây chúng không thể dễ dàng di chuyển qua các tán cây) nhưng hơn 85% việc đi bằng hai chân vẫn diễn ra trên cây.  Những phát hiện này mâu thuẫn với các lý thuyết phổ biến rằng chính môi trường xavan khô cằn, trống trải đã khuyến khích những họ hàng người tiền sử của chúng ta đi thẳng. Thay vào đó, chúng đề xuất rằng họ có thể đã phát triển đi bằng hai chân quanh cây cối.  Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Alex Piel (Khoa Nhân chủng học tại Đại học London) nói, ban đầu họ phỏng đoán rằng vì ở Issa có ít cây hơn các khu rừng nhiệt đới điển hình mà đa số loài tinh tinh sống, đồng thời bởi nhiều động lực truyền thống của việc đi hai chân liên quan tới việc ở trên mặt đất, nên họ sẽ nhìn thấy nhiều trường hợp tinh tinh đi bằng hai chân hơn ở đây. “Song, điều này không xảy ra”.  “Nghiên cứu này cho thấy trên thực tế, tình trạng rừng mất dần cuối thời kỳ Miocen-Pliocen khoảng năm triệu năm trước và môi trường sống xavan trống trải không phải chất xúc tác cho sự tiến hóa đi bằng hai chân. Thay vào đó, cây cối vẫn là yếu tố thiết yếu cho sự tiến hóa – việc tìm kiếm những cây ra quả nhiều khả năng là một động lực cho đặc điểm này.”  Để thiết lập cơ sở cho những phát hiện của mình, các nhà nghiên cứu ghi chép hơn 13.700 quan sát tức thời về hành vi tư thế của 13 con tinh tinh trưởng thành (sáu con cái và bảy con đực), gồm 2.850 quan sát về các sự kiện vận động đơn lẻ (ví dụ như leo trèo, đi bộ, đu bám, v.v.), trong hơn 15 tháng nghiên cứu. Sau đó, họ sử dụng mối quan hệ giữa hành vi trên mặt đất/trên cây và hệ thực vật (rừng rậm so với rừng thưa tán cây) để điều tra các mô hình liên quan. Tương tự, họ ghi lại từng trường hợp đi bằng hai chân và liệu nó có liên hệ với tình trạng ở trên mặt đất hoặc trên cây hay không.  Các tác giả lưu ý việc đi bằng hai chân là một đặc điểm then chốt của con người khi so sánh với các loài vượn lớn khác đi bằng bốn chi. Song, dù đã tiến hành nghiên cứu như vậy, lý do vì sao trong số các loài vượn khác, con người lại là loài đầu tiên bắt đầu tiên đi bằng hai chân vẫn là một bí ẩn.  Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Fiona Stewart (Khoa Nhân chủng học tại Đại học London) nói, “Cho đến nay, nhiều giả thuyết về sự tiến hóa đi bằng hai chân có cùng ý kiến là hominin (tổ tiên loài người) đã xuống khỏi cây và đi thẳng đứng trên mặt đất, đặc biệt ở trong những môi trường sống trống trải, khô cằn hơn, thiếu cây cối. Các dữ liệu của chúng tôi không hề ủng hộ điều đó”  “Điều chúng tôi cần tập trung lúc này là xem xét bằng cách nào và vì sao những con tinh tinh này lại dành nhiều thời gian trên cây như vậy – để xâu chuỗi lại câu đố tiến hóa phức tạp.”  Phương Anh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-12-early-humans-upright-trees.html    Author                .        
__label__tiasang Tọa đàm “Israel’s Guide for Startup”: Ba kinh nghiệm khởi nghiệp      Các diễn giả Israel giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực khởi nghiệp đã chia sẻ những trải nghiệm của bản thân và nêu ra ba bài học “xương máu” với cộng đồng startup Việt Nam, qua đó truyền đạt tinh thần: đừng bao giờ sợ thất bại.    Thanh Nhàn    Các diễn giả tại tọa đàm, từ phải qua trái:  đại sứ Israel tại Việt Nam, bà Meirav Eilon Shahar;  bà Esther Barak Landes; ông Avi Luvton  Vào tối ngày 21/9, tại Hà Nội, cuộc tọa đàm “Israel’s Guide for Startup” do UP Co­working Space cùng Đại sứ quán Israel tại Việt Nam phối hợp tổ chức đã diễn ra với sự tham gia của đại sứ Israel tại Việt Nam, bà Meirav Eilon Shahar, hai chuyên gia Israel, bà Esther Barak Landes nhà sáng lập kiêm CEO của Vườn ươm Nielsen Innovate, và ông Avi Luvton ­ giám đốc điều hành Chương trình Hợp tác quốc tế Vụ Châu Á Thái Bình Dương (Ủy ban Đổi mới Israel).  Khi chuẩn bị tổ chức tọa đàm, các nhà tổ chức mong muốn giới thiệu cho cộng đồng startup Việt Nam những vấn đề mang tính mấu chốt để góp phần đưa Israel thành một quốc gia khởi nghiệp hàng đầu thế giới, đồng thời nêu những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng vào xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Vì vậy, hai diễn giả mà họ lựa chọn cũng đều là những chuyên gia có tiếng trong lĩnh vực khởi nghiệp của Israel: bà Esther Barak Landes giàu kinh nghiệm về phát triển kinh doanh, quản lý, đầu tư, và gây quỹ vì lợi ích của các công ty thuộc vườn ươm còn ông Avi Luvton nhiều năm hoạt động về hỗ trợ chuyên môn và tư vấn chính sách khuyến khích đổi mới trong các ngành chủ chốt.  Trước gần 200 startup Việt Nam, bà đại sứ Meirav Eilon Shahar giới thiệu những cách thức và chính sách xây dựng “quốc gia khởi nghiệp” tại Israel: “Chúng tôi đã mở chính sách cung cấp visa dài hạn cho những người đến Israel làm việc, và đặc biệt là khi họ lập công ty. Bà cũng nêu ra những gợi ý mà các startup Việt Nam có thể áp dụng, nếu nghĩ đến khả năng khởi nghiệp tại Israel: hãy tìm nhà đồng sáng lập là người bản địa để có thể được đón nhận những ưu đãi và hỗ trợ từ chính phủ đối với startup như các chính sách về thuế, giới thiệu nhà đầu tư để gọi vốn,…”. Giải thích vì sao phải liên kết với người bản địa Israel mới nhận được các ưu đãi này, bà đại sứ cho biết, đây là chính sách của chính phủ nhằm khuyến khích các hoạt động khởi nghiệp trong nước, tạo ra “quyền lợi của người bản xứ”.  Bên cạnh đó, bà Esther Barak Landes cũng khẳng định, các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp như các không gian làm việc chung, các chương trình hỗ trợ từ các vườn ươm là yếu tố hết sức quan trọng để góp phần ươm mầm các công ty tại Israel và trên thực tế là cách hỗ trợ cụ thể, thiết thực cho các startup phát triển. Qua hỗ trợ của mình, các đơn vị này đã đem lại rất nhiều cơ hội và tạo nên môi trường khởi nghiệp sáng tạo, bền vững cho Israel.  Những chia sẻ của các chuyên gia Israel khiến 200 bạn trẻ Việt Nam hào hứng đón nhận và họ cũng nêu ra những câu hỏi xoay quanh vấn đề xây dựng công ty và kêu gọi đầu tư, mà theo sự nhận xét của chị Bùi Cẩm Vân, COO của UP Co-working Space thì “đây là những vấn đề thường gặp của startup trong quá trình bắt đầu”. Trả lời câu hỏi của các startup Việt Nam, các diễn giả Israel nêu ba kinh nghiệm:  1. Nếu như đang cần gây quỹ, trừ phi bạn có “túi ba gang” đừng lấy tiền túi, bạn hãy gọi vốn từ bên ngoài. Để có được thành công, bạn hãy lập kế hoạch thật cẩn thận trước tám tháng. Đừng đợi đến phút cuối cùng mới kêu gọi vốn bởi nhà đầu tư cần thời gian để đánh giá tiềm năng của công ty bạn và bản thân bạn cũng cần thời gian để xây dựng lòng tin với nhà đầu tư, qua đó thuyết phục họ rót vốn.  2. Các bạn trẻ đừng quá yêu vị trí của mình. Có những trường hợp đã xảy ra như khi doanh nghiệp lớn mạnh lên, những người sáng lập không đủ năng lực để lãnh đạo doanh nghiệp quy mô lớn song họ vẫn không từ bỏ vị trí của mình. Nguyên nhân là họ không đặt niềm tin vào người khác, cho dù những người này hoàn toàn có đủ năng lực đảm nhiệm vị trí này. Vì vậy, để duy trì sự phát triển của doanh nghiệp, hãy biết từ bỏ vị trí của mình đúng lúc để có thể thuê một người có trình độ chuyên môn tốt hơn bạn trong thời điểm doanh nghiệp cần sự thay đổi đó. Rất nhiều nhà đầu tư chỉ tiếp tục rót vốn  nếu doanh nghiệp có người lãnh đạo phù hợp với tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.  3. Các thành viên cùng một gia đình hoặc các cặp đôi không nên thành lập công ty cùng nhau. Bởi công việc khởi nghiệp không bao giờ trơn tru và thuận lợi. Nếu việc thành lập và điều hành công ty gặp vấn đề trục trặc, có thể có người sẽ phải ra đi, do đó ảnh hưởng đến tình trạng nhân lực trong công ty, thậm chí dẫn đến nhiều kết quả đáng tiếc khác như đổ vỡ, thất bại. Chính vì vậy các nhà đầu tư quốc tế thường rất cân nhắc và ít khi lựa chọn rót vốn vào một công ty gia đình.  Cũng tại hội thảo, các diễn giả cũng nêu một vấn đề vẫn thường xảy ra khi khởi nghiệp, dù ở Israel cũng vậy, đó là thất bại. Tuy nhiên việc thất bại không phải là sự kết thúc của ước mơ khởi nghiệp, các bạn trẻ đừng bao giờ sợ thất bại, hãy luôn tiến lên phía trước, chọn đúng người tư vấn và lựa chọn nhà đầu ưu khôn ngoan.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toàn cầu hóa có giảm được đói nghèo?      Quan điểm chủ yếu của những người chống toàn cầu hóa là: toàn cầu hóa làm các nước giàu càng giàu hơn và các nước nghèo càng nghèo hơn. Còn những người ủng hộ thì cho rằng toàn cầu hóa sẽ đem lại lợi ích cho các nước nghèo. Nhưng nếu nhìn vào những bằng chứng thực tế, chúng ta sẽ thấy rằng vấn đề này phức tạp hơn khá nhiều.    Nói chung, trong các cuộc tranh cãi, những người khác nhau vẫn thường gọi những thứ khác nhau bởi cùng một từ. Một số người hiểu “toàn cầu hóa” nghĩa là công nghệ viễn thông và sự huy động vốn đầu tư vươn ra toàn cầu, số khác nghĩ rằng đó là sự mở rộng chi nhánh của các công ty lớn ở các nước giàu nhằm khai thác nguồn lực giá rẻ từ các nước đang phát triển. Và những người khác thì lại xem toàn cầu hóa là từ dùng để chỉ chủ nghĩa tư bản liên kết (corporate capitalism) hay sự thống lĩnh về kinh tế và văn hóa của Mỹ.  Toàn cầu hóa rõ ràng là bao hàm rất nhiều vấn đề, cho nên tôi phải nói rõ ngay từ đầu là bài viết này chủ yếu nói về sự toàn cầu hóa kinh tế – cụ thể là sự mở rộng buôn bán và đầu tư quốc tế. Quá trình đó ảnh hưởng đến cuộc sống của những người nghèo nhất trên thế giới như thế nào? Câu hỏi này là một trong những vấn đề quan trọng nhất của khoa học xã hội hiện nay.  Dựa trên các số liệu điều tra được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, Ngân hàng Thế giới ước đoán rằng, chỉ còn một phần không lớn dân số ở các nước đang phát triển nằm ở dưới mức nghèo đói 1USD/ngày. Đánh giá này cho thấy, sự nghèo đói cùng cực nhìn chung là đang giảm.  Mặc dù về toàn thể, những người nghèo nhất không trở nên nghèo hơn nhưng cũng chưa ai chứng tỏ được một cách thuyết phục rằng đời sống của họ được cải thiện chủ yếu dựa trên kết quả của sự toàn cầu hóa. Ở Trung Quốc, nạn nghèo đói có thể được đổ lỗi cho những nguyên nhân nội tại như sự bành trướng cơ sở hạ tầng, cải cách đất đai quy mô lớn, thay đổi giá thu mua ngũ cốc và sự nới lỏng những hạn chế đối với việc di cư từ nông thôn ra thành thị.   Trên thực tế thì, từ giữa những năm 1980, tức là trước khi có sự bùng nổ đầu tư và buôn bán quốc tế, Trung Quốc đã bắt đầu giảm được đói nghèo. Trong giai đoạn 1981-2001, có hơn 400 triệu người Trung Quốc vượt trên được mức nghèo đói mà quốc tế đặt ra. Tương tự như thế, Ấn Độ cũng đã giảm được đói nghèo vào thập kỷ 1990 dựa trên Cách mạng Xanh trong nông nghiệp, các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ và những chính sách xã hội chứ không phải dựa vào sự tự do hóa thương mại. Tất nhiên là việc toàn cầu hóa cũng đã đem lại thêm những việc làm trong nền sản xuất chuyên môn hóa cũng như giúp nhiều người Ấn Độ và Trung Quốc thoát nghèo. Nhưng cách đây 25 năm, toàn cầu hóa đã không phải là nhân tố nổi bật giúp phát triển kinh tế, bởi vì còn rất nhiều nhân tố quan trọng khác.  Người ta có thể nghi ngờ về lợi ích của toàn cầu hóa trước thực tế là nghèo đói vẫn còn đeo bám dai dẳng các nước vùng sa mạc Sahara ở châu Phi. Trong giai đoạn 1981-2001, tỷ lệ người châu Phi ở dưới chuẩn nghèo đói quốc tế đã tăng từ 42% lên 47%. Thực ra thì việc toàn cầu hóa khó mà có hiệu quả gì được đối với các nước bất ổn về chính trị. Chính trị bất ổn làm trầm trọng thêm sự cô lập về địa lý, bệnh tật, xung đột quân sự, và kết quả là các nước này rất khó thu hút đầu tư quốc tế.  Ở các nước châu Á nghèo như Bangladesh, Việt Nam và Cam-pu-chia, có một số lớn phụ nữ làm việc trong các nhà máy dệt may xuất khẩu. Lương của họ thấp so với chuẩn thế giới nhưng còn cao hơn nhiều so với những công việc khác mà họ có thể làm. Những người vốn lo ngại về nạn bóc lột công nhân cũng đã phải thừa nhận sự cải thiện tương đối về điều kiện sống của những phụ nữ này. Rahana Chaudhuri, một bà mẹ 23 tuổi làm trong ngành dệt may Bangladesh nói: ” Công việc thì nặng nhọc, chúng tôi lại bị đối xử không tốt. Người ta không coi trọng phụ nữ chúng tôi. Nhưng cuộc sống còn khổ hơn nhiều nếu làm việc khác. Dĩ nhiên là tôi muốn những điều kiện tốt hơn nhưng làm gì có sự lựa chọn nào khác. Với công việc đang làm, tôi mới có thể nuôi những đứa con tôi đủ ăn và cải thiện đời sống cho chúng”.                     Sự liên kết kinh tế quốc tế mang lại những cơ hội nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề. Ngay cả khi những việc làm mới là tốt hơn việc làm cũ thì những biến chuyển trong đời sống xã hội vẫn bị méo mó. Hầu hết các nước nghèo đều hạn chế trong việc đem lại sự bảo trợ xã hội cho những người bị mất việc. Thêm vào đó, có quá nhiều điều bất cập ngay trong nội bộ các nước nghèo, chẳng hạn như sự thiếu lòng tin, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, nạn tham nhũng của quan chức và những quyền lợi đất đai không được đảm bảo. Việc mở cửa thị trường mà không giải quyết được những tiêu cực và hạn chế nội bộ thì sẽ dẫn đến hậu quả xấu là kìm hãm lực lượng lao động. Thành ra, “toàn cầu hóa” theo kiểu đó thì chỉ khoét sâu thêm sự nghèo đói.      Những cuộc tranh luận về toàn cầu hóa sẽ không bao giờ kết thúc nếu người ta thống nhất những  tiêu chí đánh giá cụ thể. Trên khía cạnh kinh tế, chúng ta có thể có một số tiêu chí đánh giá sau đây:  Kiểm soát vốn. Đầu tư quốc tế bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn có thể được  chuyển đi chỉ bằng một cái bấm chuột trên máy tính, thành ra chúng có thể chạy lung tung khắp nơi trên thế giới và gây ra sự phá hoại nghiêm trọng đối với các nền kinh tế yếu. Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 chính là một ví dụ. Nhiều nhà kinh tế hiện nay đã thấy được sự cần thiết phải có một số hình thức kiểm soát sự luân chuyển của vốn ngắn hạn. Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia sở dĩ đã thoát khỏi bóng đen của khủng hoảng tài chính châu Á là bởi vì họ có sự kiểm soát chặt chẽ đối với sự bay nhảy của vốn.                     Giảm sự bảo hộ. Rào cản chính mà nhiều nước nghèo phải đối mặt lại không phải là toàn cầu hóa quá nhiều mà là toàn cầu hóa quá ít. Những người nghèo rất khó thoát nghèo nếu ở các nước giàu họ hạn chế nhập khẩu để bảo hộ cho những người nông dân và nhà sản xuất của họ. Các chính sách bảo hộ đó khiến các nước đang phát triển mỗi năm thiệt hại khoảng 45 tỷ USD; riêng trong lĩnh vực dệt may là khoảng 25 tỷ USD. Sự thiệt hại này vượt quá cả sổ tiền mà các nước giàu trợ giúp cho các nước nghèo.  Chống độc quyền. Các nhà sản xuất nhỏ ở các nước nghèo thường quá yếu về mạng lưới thị trường và thương hiệu để có thể tìm đường đến các thị trường giàu có. Mặc dù các công ty bán lẻ đa quốc gia có thể giúp họ, nhưng chi phí cho việc đó thường rất cao. Vấn đề là các tập đoàn bán lẻ ăn chặn rất nhiều của các nước nghèo. Chẳng hạn, trên thị trường cà phê thế giới có 4 tập đoàn thống trị. Đầu thập kỷ 1990, các nước xuất khẩu cà phê kiếm được 12 tỷ USD, nhưng các tập đoàn bán lẻ cà phê lại kiếm được những 30 tỷ USD. Lỗi không phải là do các thị trường toàn cầu, mà lỗi chính là ở việc ngăn chặn sự tiếp cận các thị trường này và sự ép giá đối với các nước xuất khẩu. Một số tập đoàn bán lẻ hưởng lợi từ chuyện này với ưu thế độc quyền của họ. Nhiều nhà kinh tế đã đề xuất việc thành lập một cơ quan điều tra chống độc quyền. Ngay cả khi cơ quan này không mạnh lắm thì nó vẫn có thể cổ vũ và nâng cao ý thức cho hoạt động chống độc quyền. Thêm vào đó, việc triển khai các chương trình chứng nhận chất lượng quốc tế cũng có thể giúp cho sản phẩm của các nước nghèo được chấp nhận trên thị trường toàn cầu.            Các chương trình xã hội. Nhiều nhà kinh tế khẳng định rằng, để việc buôn bán thực sự đem lại lợi ích cho một quốc gia thì quốc gia đó phải tái phân bố lại của cải cho toàn cộng đồng của họ. Tức là những người được lợi từ chính sách mở cửa kinh tế phải chia sẻ lợi lộc của họ cho những người bị thiệt hại tới một mức độ nào đó. Tất nhiên là cái cụm từ “tới một mức độ nào đó” vẫn còn gây ra nhiều bất đồng, nhưng một số chương trình nhất định vẫn tỏ ra là có ích. Chẳng hạn như chương trình giúp các công nhân mất việc được đào tạo lại và có việc làm trở lại. Các chương trình học bổng giúp những gia đình nghèo có thể cho con em họ đến trường, đây cũng là một biện pháp rất hiệu quả để làm giảm số lao động trẻ em.          Pranab Bardhan  Trung Trung (lược dịch từ Scientific American)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Toàn cầu hoá và những khó khăn của phương Tây      Nhìn bề ngoài, chúng ta không thấy có nhiều mối liên hệ giữa các cuộc bạo loạn ở London và những biến động gần đây của thị trường chứng khoán toàn cầu. Tuy vậy, sự liên quan giữa hai hiện tượng trên vẫn tồn tại – và đó là một điều đáng lo ngại. Cả hai hiện tượng này đều phản ánh các thách thức của toàn cầu hóa.       Việc hình thành một hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật pháp là một trong bước tiến lớn nhất của cộng đồng quốc tế trong 65 năm qua. Tuy nhiên, hiện tượng phá sản hàng loạt và các đợt bạo động triền miên lại là bằng chứng cho thấy những áp lực mà hệ thống này đang phải gánh chịu là không nhỏ.  Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các phe từng tham chiến đã cam kết dàn xếp các thỏa thuận mới nhằm đảm bảo rằng họ sẽ không bao giờ theo đuổi các chính sách triệt tiêu dân tộc của những năm 1930. Để ngăn chặn những cuộc chiến thương mại do Đạo luật thuế quan Smoot Hawley năm 1930 của Hoa Kỳ gây ra, các nước đã kí một Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch – làm nền tảng cho sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới. Do lo ngại các biện pháp phá giá trả đũa xảy ra như thời kỳ trước chiến tranh, các nước châu Âu lục địa đã tiến xa hơn một bước khi tiến hành thành lập Liên minh châu Âu, và hiện nay đã hoàn tất công cuộc tạo ra đồng tiền chung của họ.          Chúng ta không thể trông chờ sự hoàn hảo tồn tại trong một hệ thống thị trường toàn cầu hình thành trên cơ sở đồng thuận của chính phủ mỗi quốc gia bởi kết cục không thể tránh khỏi khi tiến hành thỏa hiệp là sẽ có người thắng kẻ thua.        Toàn cầu hóa đã mang lại những thành công vượt bậc về cả hai phương diện: thúc đẩy sự phồn vinh thịnh vượng và hòa bình trên toàn thế giới. Phương thức giải quyết tranh chấp, bất đồng thông qua đàm phán đã được nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới ưu tiên sử dụng. Tình hình chính trị tương đối ổn định đã hình thành một môi trường kinh doanh minh bạch và dễ nắm bắt hơn. Trong khi đó, việc gỡ bỏ dần các rào cản thương mại cũng đã cho phép các công ty có cơ hội được cạnh tranh và hoạt động hiệu quả hơn. Kết quả là một mức sống cao chưa từng có trong lịch sử đã được xác lập và được xem là yếu tố thúc đẩy các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong suốt 20 năm qua cũng như các nền kinh tế mới nổi khác tham gia vào thị trường toàn cầu.     Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng có mặt trái của nó. Điều này được phản ánh bằng sự mất cân bằng nghiêm trọng trên toàn cầu trong nhiều thập kỷ qua. Chúng ta không thể trông chờ sự hoàn hảo tồn tại trong một hệ thống thị trường toàn cầu hình thành trên cơ sở đồng thuận của chính phủ mỗi quốc gia bởi kết cục không thể tránh khỏi khi tiến hành thỏa hiệp là sẽ có người thắng kẻ thua.          …những đối tượng khác phải bán sức lao động của mình trong một thị trường cạnh tranh toàn cầu. Họ phải gánh chịu mức sống ngày càng đi xuống hoặc bị loại bỏ do không cạnh tranh nổi với mức lương thị trường của người lao động làm việc tại nước ngoài hay là người nhập cư.        Sự mất cân bằng rõ ràng nhất là bức tranh tương phản giữa thặng dư thương mại khổng lồ của các nước như Trung Quốc, Đức và một số nước châu Á khác với thâm hụt ngân sách tương ứng của Mỹ, Anh và một số quốc gia trong khu vực đồng tiền chung châu Âu. Việc tái khởi động biện pháp dự trữ tiền tệ của các nước có thặng dư thương mại đã khiến chi phí vay nợ của các nước thâm hụt ngân sách tăng cao và dẫn đến tình trạng tích tụ nợ và bong bóng tài sản. Chính hiện tượng bong bóng tài sản này là thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay trên thị trường, và tình hình sẽ ngày càng trầm trọng khi các nước thâm hụt ngân sách không có khả năng giảm giá trị các khoản nợ do tỷ giá hối đoái và giá của tiền tệ là không đổi.  Mặc dù toàn cầu hóa đã làm giảm bớt sự bất bình đẳng giữa các quốc gia nhưng hiện tượng mất cân bằng lại tạo ra sự bất bình đẳng lớn trong xã hội của từng quốc gia riêng lẻ. Những đối tượng có trong tay tiền vốn hoặc khả năng vượt trội có thể đạt được thành công lớn và thu về lợi nhuận cao trong khi những đối tượng khác phải bán sức lao động của mình trong một thị trường cạnh tranh toàn cầu. Họ phải gánh chịu mức sống ngày càng đi xuống hoặc bị loại bỏ do không cạnh tranh nổi với mức lương thị trường của người lao động làm việc tại nước ngoài hay là người nhập cư.  Trong thời kỳ khủng hoảng, chính phủ các nước đã đối phó với tình trạng bất bình đẳng này bằng cách đánh thuế thu nhập vào tầng lớp trung lưu để chi trả cho các hoạt động phúc lợi xã hội hướng đến tầng lớp người dân nghèo khổ đang tăng lên nhanh chóng và bị đẩy ra ngoài vòng quay của nền kinh tế toàn cầu. “Các tầng lớp trung lưu phải chấp nhận điều này bởi vì ngân hàng trung ương đã tạo ra nguồn vốn nhằm giúp tầng lớp trung lưu nghèo khó có được các khoản vay tiêu dùng, vực lại niềm hi vọng cho họ và tránh các cuộc bạo động của tầng lớp này”, Ông Albert Edwards thành viên của tổ chức tài chính Societe Generale nói.  Tuy nhiên, hiện tại, tầng lớp trung lưu đang trở nên khốn đốn bởi những khoản nợ và nỗi lo sợ mất việc làm. Họ không còn khả năng chi trả các hóa đơn phúc lợi xã hội. Kèm theo đó, sự suy giảm kinh tế càng ảnh hưởng tiêu cực tới tầng lớp thu nhập thấp. Ngay cả khi các cuộc bạo loạn ở Anh không có động cơ hay màu sắc chính trị, chúng ta vẫn dễ dàng phủ nhận yếu tố kinh tế – xã hội trong các cuộc bạo loạn này; một số người dân London hoàn toàn bị bất ngờ bởi các vụ việc xảy ra trong những ngày qua.  Chúng ta cần hiểu, nếu nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng này mang tính toàn cầu, thì cách giải quyết cũng phải mang tính toàn cầu. Việc đổi mới cơ chế tiền tệ là vô cùng cần thiết nhất là đối với Trung Quốc. Nước này nên cho phép thả nổi đồng Nhân dân tệ nhằm hỗ trợ kinh tế Mỹ phục hồi. Các nước thặng dư thương mại cần áp dụng các biện pháp giảm tỷ lệ tiết kiệm cao như hiện nay và khuyến khích tiêu dùng, bao gồm cả việc hình thành hệ thống an sinh xã hội. Điều quan trọng nhất là các nền kinh tế mới nổi phải gỡ bỏ rào cản đầu tư để dòng vốn có thể chảy vào các hoạt động sinh lợi thay vì nằm yên trong các tài sản tài chính.          …nếu nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng này mang tính toàn cầu, thì cách giải quyết cũng phải mang tính toàn cầu.        Tuy nhiên, việc thực thi các biện pháp nêu trên dường như vẫn chỉ là viễn cảnh xa vời. Đã một năm trôi qua kể từ khi G20 cam kết giải quyết vấn đề này, chúng ta vẫn phải chấp nhận một thực tế là cách thức đo lường sự mất cân bằng như thế nào còn chưa được thống nhất chứ chưa nói đến việc giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, các nước thặng dư thương mại cũng có những kiểm soát về mặt chính trị. Sẽ thật khôi hài nếu chúng ta nghĩ Trung Quốc, khi chứng kiến những xáo trộn tại London và 800 triệu người phải sống trong nghèo đói, vẫn sẵn lòng áp dụng chính sách tiền tệ có thể làm nên sự bất ổn tại chính đất nước họ. Và Đức, lẽ dĩ nhiên họ không muốn chất thêm gánh nặng cho các đối tượng phải đóng thuế cao nhằm giải cứu khu vực đồng tiền chung châu Âu.  G20 buộc phải hành động – hành động nhanh và dứt khoát. Bạo động tại Anh và sự suy thoái của thị trường chứng khoán là lời cảnh báo rằng chúng ta không thể làm ngơ trước hiện tượng mất cân bằng toàn cầu lâu hơn được nữa. Áp lực về kinh tế và xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có và phải thực hiện các biện pháp chính trị. Mặc dù chúng ta đang đương đầu với cuộc khủng hoảng toàn cầu nhưng những thành tựu quan trọng đạt được sau thời kỳ chiến tranh vẫn phải được duy trì. Tình hình thương mại dường như vẫn đang ổn thỏa. Nhưng điều nguy hiểm là ngày càng có nhiều những áp lực chính trị đòi hỏi gia tăng rào cản thương mại. Trong bối cảnh ấy, sự quay trở về đường lối chính trị dân tộc cực đoan những năm 1930 sẽ thực sự là một thảm họa.                                                                                                   Trần Thư dịch             Author                Quản trị        
__label__tiasang Toàn cầu hóa và vận hội của Việt Nam      Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng gì mới lạ trong lịch sử phát triển của loài người, có mới đi chăng nữa chỉ là ở chỗ làn sóng toàn cầu hóa thời nay xảy ra với tốc độ cao hơn, cường độ mạnh hơn, và phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây mà.Và dân tộc ta đã có ý thức chủ động hòa mình vào làn sóng ấy.                    LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA THỨ NHẤT (1492 – 1760)  Làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất được đánh dấu bởi sự kiện Christopher Columbus  tình cờ phát hiện ra Châu Mỹ, kéo dài cho đến cuối thế kỷ 18 và đã để lại nhiều hệ quả sâu sắc.  Nếu như trước năm 1500, trình độ phát triển và điều kiện sống của con người trên thế giới (về thu nhập, tuổi thọ v.v.) tương đối đồng đều thì đến cuối thế kỷ 18, thế giới đã bị phân hóa một cách rõ nét. Đặc biệt, sự thăng trầm quyền lực của các quốc gia xảy ra với tốc độ khá nhanh. Trung Quốc là một ví dụ rất tiêu biểu, từ một nước dẫn đầu thế giới về gần như mọi phương diện trở thành một nước rơi vào sự đe dọa thường trực của phương Tây. Cho đến thế kỷ 15, có thể nói Trung Quốc là đại cường quốc của thế giới và là quốc gia đi đầu trong hầu hết mọi lĩnh vực. Trung Quốc lúc bấy giờ chiếm 1/5 dân số thế giới và là một quốc gia (đồng thời cũng là thị trường) thống nhất với diện tích rộng mênh mông. Trung Quốc cũng là nước có hạm đội hải quân hùng mạnh nhất. Về thương mại, Trung Quốc hồi đó là một trong vài nước có thặng dư thương mại, và theo một số ước lượng thì thương mại đường biển của Trung Quốc lớn gấp 15 lần thương mại qua biển Baltic của cả Châu Âu gộp lại. Về các mặt triết học, văn học, nghệ thuật, tôn giáo v.v. Trung Quốc đều có thể tự hào về những đóng góp của mình cho nền văn hiến của nhân loại.                Một điều hết sức thú vị là quá trình giao lưu về mặt tư tưởng xảy ra song song với tiến  trình toàn cầu hóa. Vào đầu thế kỷ 18, các nhà truyền giáo dòng Jesuit đã dịch nhiều tác phẩm triết học của Trung Quốc sang tiếng Pháp và được nhiều nhà khai sáng của Châu Âu như Voltaire, Montesquieu, Diderot rất ngưỡng mộ. Các tư tưởng triết học Trung Hoa cũng được các nhà tư tưởng của trường phái Trọng Nông thời đó để ý. Tương truyền, chính Francois de Quesnay, cha đẻ của học thuyết trọng nông đã trở thành một “tín đồ” trung thành của Đạo Lão và trong tác phẩm “Le despotisme de Chine” (Chủ nghĩa chuyên chế  Trung Hoa) năm  1764 của mình, Quesnay dịch hai chữ “vô vi” thành ra “laissez-faire” trong tiếng Pháp để truyền đạt ý tưởng cho rằng nhà nước không nên can thiệp sâu vào đời sống xã hội mà hãy để nền pháp quyền dẫn dắt. Sau đó, tư tưởng “laissez-faire” được phản chiếu lại trong “bàn tay vô hình” của Adam Smith và trở thành viên đá tảng của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do cho đến tận ngày nay. Và điều mà dân tộc Trung Hoa đang cố gắng làm mấy chục năm trở lại đây không khác gì là việc trở lại với quan điểm “vô vi trị,” nhưng lần này là dưới sự ảnh hưởng của phương Tây.  Làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất thực chất là lịch sử của các cuộc chinh phạt và sự manh nha của chủ nghĩa thực dân. Về mặt kinh tế và quân sự, Trung Hoa đã phải dần lùi bước trước các nước phương Tây với công nghệ giao thông và quân sự ưu việt hơn. Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn này, chiến lược chinh phạt đã tự chứng minh tính không bền vững, không chỉ vì sức tàn phá vô cùng to lớn của nó mà trên thực tế, chinh phạt  là một “cuộc chơi có tổng bằng không”.    LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA THỨ HAI (1760 – 1914)  Làn sóng toàn cầu hóa thứ hai được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất khởi thủy từ nước Anh vào nửa cuối thế kỷ 18 và kéo dài cho đến thế chiến thứ nhất. Sự xuất hiện của máy hơi nước, và sau đó là đường sắt, điện tín v.v. và cùng với nó là làn sóng toàn cầu hóa thứ hai đã đưa thế giới chuyển sang một quỹ đạo mới. Sức mạnh của động cơ hơi nước đã thay thế rất nhiều cho lao động nặng nhọc, đồng thời năng suất cao hơn cũng có nghĩa là từ nay thế giới có thể duy trì được một dân số lớn hơn.                Bên cạnh những điều thần kỳ mà cuộc cách mạng công nghiệp mang lại cho nước Anh cũng như một số nước công nghiệp khác thì thời kỳ này cũng chứng kiến sự hình thành nên một giai cấp mới – giai cấp vô sản bị bần cùng hóa. Bắt đầu từ đây xuất hiện một sự đối lập giữa một bên là giới chủ tư bản – chủ sở hữu của các tư liệu sản xuất, và bên kia là giai cấp công nhân được tự do bán sức lao động nhưng lại hoàn toàn vô sản. Cuộc đấu tranh giai cấp làm nên một phần lịch sử nhân loại cũng bắt đầu từ đấy.  Chứng kiến sự phát triển vượt bậc của nước Anh trong vòng vài chục năm kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa, các nước Châu Âu khác (và sau đó là Nhật và Mỹ) ý thức được rằng cuộc đua về sức mạnh kinh tế và quyền thống trị thế giới bây giờ mới thực sự bắt đầu. Chính cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bản chất của cuộc đua này: Cuộc đua giữa những người đi bộ hay ngựa đã chuyển thành cuộc đua của máy móc với tốc độ và công suất lớn gấp hàng ngàn, hàng vạn lần, và do vậy nguy cơ tụt hậu trở nên cấp thiết và hiện thực hơn bao giờ hết. Trên thực tế, nếu như vào đầu thế kỷ 18, dưới tác động của làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất, thu nhập bình quân của các nước Tây Âu chỉ cao hơn các nước Đông Âu chừng 20%  thì đến năm 1890, khoảng cách này đã lên tới 80%.  Trong cuộc đua này, nước Anh có một thuận lợi cơ bản vì nó có hệ thống thuộc địa rộng đến nỗi mặt trời không bao giờ lặn trên đồng bảng Anh. Cũng như nước Anh, các nước phương Tây khác lao như thiêu thân vào cuộc chiến giành thuộc địa vì thuộc địa rộng lớn đồng nghĩa với việc có nguồn nhân công và nguyên liệu rẻ mạt dồi dào hơn để phục vụ công nghiệp hóa, có thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, có sức mạnh kinh tế và quân sự hùng mạnh hơn… Kết quả là nếu như vào năm 1800, Châu Âu mới kiểm soát 35% lãnh thổ trên thế giới, thì con số này tăng lên 67% vào năm 1878 và 85% vào năm 1914 – năm bắt đầu của thế chiến thứ nhất. Thế giới dường như đã rơi vào ngõ cụt khi một nước, để tránh thân phận thuộc địa, buộc phải thuộc địa hóa kẻ khác. Và đây cũng là chiến lược thống trị của các quốc gia phương Tây, của Nhật và Mỹ trong làn sóng toàn cầu hóa thứ hai.  Và điều gì phải đến đã đến. Châu Âu đã phải nhờ đến bàn tay của thần chiến tranh để  giải quyết mâu thuẫn và sự bế tắc của mình. Châm ngòi cho cuộc chiến tranh này là sự tan rã của đế chế Ottoman, và điều này ngay lập tức mở ra cơ hội to lớn cho cuộc xâu xé thuộc địa đã sắp đến hồi kết. Chiến tranh bùng phát, kéo dài gần 5 năm, lấy đi sinh mạng của 38 triệu con người, và tiêu hủy không biết bao nhiêu tài sản vật chất mà các nước phương Tây phải ky cóp chật vật trong suốt mấy thế kỷ trước đó. Mặc dù thế chiến thứ nhất thường được mệnh danh là “cuộc chiến chấm dứt mọi cuộc chiến”, nhưng trên thực tế nó đã không thể mang lại nền hoà bình cho Châu Âu. Có chăng chỉ là một khung cảnh ảm đạm thê lương của một Châu Âu thất thểu và kiệt sức.  GIỮA HAI LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA (1914 – 1980)  Mâu thuẫn bên trong chủ nghĩa thực dân cũng như giữa người dân thuộc địa với các nước thực dân đã đặt dấu chấm hết cho làn sóng toàn cầu hóa thứ 2. Từ 1914 cho đến 1945, toàn cầu hóa hoàn toàn dừng lại. Siêu lạm phát ở Đức ngay sau chiến tranh, rồi đến cuộc đại khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ năm 1929, sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít ở Đức, rồi ở Ý và Nhật, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2…, tất cả đều dẫn tới cùng một đích: sự hủy diệt. Nhưng từ đống tro tàn của thế chiến thứ hai, trong khi cả châu Âu gần như đã hoàn toàn kiệt quệ thì nước Mỹ đã nổi lên và khẳng định mình như là một cường quốc mới với sứ mạng lãnh đạo làn sóng toàn cầu mới.   Thế chiến thứ 2 cũng đã cho thế giới thấy nhu cầu hợp tác và xích lại gần nhau giữa các quốc gia, và một số thể chế toàn cầu đã được hình thành ngay sau chiến tranh như UN, WB, IMF v.v. Tuy nhiên, trong những năm từ 1945 đến 1980, mặc dù làn sóng toàn cầu hóa trên thế giới có nhích lên chút ít nhưng không thể lan xa được do bị chặn đứng bởi bức màn thép và bởi vực thẳm khác biệt về ý thức hệ giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Hệ quả là thương mại quốc tế trong giai đoạn này chủ yếu diễn ra trong nội bộ của mỗi phe nhưng có thể nói không có sự đột biến lớn lao nào xảy ra trong giai đoạn này. Vào năm 1950, tỉ trọng xuất khẩu so với GDP của toàn thế giới đã giảm xuống chỉ còn 5% – bằng con số của năm 1870! Đa số các nước đang phát triển theo đuổi chính sách hướng nội, thay thế nhập khẩu. Đáng lưu ý là chính trong lúc ấy, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, và Singapore, khi ấy vẫn còn là những nước nghèo đang phát triển, lại chọn một chiến lược khác hẳn: đặt trọng tâm vào xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo và nhờ đó đã có những bước nhảy vượt bậc. Thế giới đã xuất hiện một sự phân cực ngày càng rõ ràng hơn về mức độ giàu nghèo.  LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA THỨ BA (1980 – ?)  Làn sóng toàn cầu hóa thứ ba chỉ thực sự nổi lên vào những năm 1980, đánh dấu bởi sự gia tăng của công-ten-nơ hóa, sự phát triển vận tải hàng không, cước phí thông tin liên lạc giảm đi một cách nhanh chóng, sự phát triển ứng dụng rộng rãi của công nghệ sinh học và điện tử, và sự xuất hiện và phát triển như vũ bão của internet!  Nếu thu gọn hệ quả của toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay về một vài từ thì những từ đó có lẽ sẽ                  là tốc độ cao, khoảng cách nhỏ, mật độ cao, cường độ lớn! Không gian vật lý trong đời sống của con người đã được thu nhỏ lại rất nhiều kể từ những nỗ lực khám phá thế giới đầu tiên của Marco Polo, Vasco da Gama, Columbus v.v… hàng trăm năm trước. Nhưng đáng lưu ý hơn, toàn cầu hóa gia tăng tốc độ và vì vậy thu hẹp khoảng cách không chỉ trong không gian vật lý mà còn trong mọi chiều kích của cuộc sống loài người, từ việc ăn, ở, mặc, đi lại, giải trí, tinh thần, tình cảm, thông tin, tôn giáo, văn hóa… Một hệ quả của việc thu hẹp khoảng cách là sự phụ thuộc lẫn nhau được cảm nhận mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta lại phụ thuộc sâu sắc và trực tiếp vào những quyết định, hành động, sự kiện xảy ra cách xa chúng ta hàng ngàn dặm như ngày nay. Bin Laden vốn chẳng có chút liên hệ gì với chúng ta trở thành một trong những nhân vật được biết tới nhiều nhất ở Việt Nam; dịch SARS khởi phát ở Trung Quốc và lan rộng khắp thế giới; sự kiện Việt Nam không gia nhập được WTO do sự chưa nhất trí với một số đối tác thương mại nước ngoài v.v. Những sự kiện này xảy ra cách chúng ta rất xa, và trong đã số trường hợp độc lập với ý chí của chúng ta, nhưng lại trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của đại bộ phận người dân Việt Nam.  Một lần nữa, thế giới bước vào một bước ngoặt, và khi gia tốc của thế giới tăng lên không ngừng thì chỉ cần chậm chân (chứ chưa nói đến xảy chân) thì tụt hậu và lạc đường là hệ quả tất yếu. Trong khi những năm 1980 được mệnh danh là “một thập niên bị đánh mất” của các nước Châu Mỹ La-tinh, và trong khi phần lớn các nước Châu Phi tiếp tục hứng chịu hậu quả từ nội chiến, những xung đột và chính sách kém cỏi của nhà nước thì hai người khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc đã bừng tỉnh. Hai nước này đã quyết định đưa nền kinh tế ra khỏi quỹ đạo cũ để hòa mình vào trào lưu chung của thế giới. Công cuộc mở cửa nền kinh tế và phát triển theo hướng thị trường hóa đã mang lại cho hai quốc gia này những thành tựu về kinh tế rất đáng khâm phục. Ấn Độ duy trì mức tăng trưởng bình quân 6-7% kể từ đầu những năm 1990, còn ở Trung Quốc là 8-9% trong suốt hơn 20 năm trở lại đây. Đáng lưu ý, điều thần kỳ chỉ này không chỉ xảy ra với Ấn Độ và Trung Quốc mà xảy ra với hầu hết những nước biết tận dụng sức mạnh của toàn cầu hóa. Trong một nghiên cứu gần đây Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng giữa năm 1980 và 1997, thu nhập bình quân đầu người của nhóm nước toàn cầu hóa tăng thêm 70%, trong khi con số này ở nhóm nước có mức độ toàn cầu hóa thấp hơn chỉ là 10%. Hơn thế, ở nhóm nước toàn cầu hóa, tỉ lệ phổ cập tiểu học tăng nhanh hơn, mặt bằng thuế hạ thấp hơn, và hệ thống luật pháp cũng được cải thiện hơn.    TOÀN CẦU HÓA VỚI VIỆT NAM  Toàn cầu hóa là một hiện thực mới ở Việt Nam. Chúng ta mới chỉ thực sự làm quen với toàn cầu hóa trong vòng 20 năm trở lại đây. Nhớ lại là vào cuối thế kỷ 15, khi làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất bắt đầu thì dân tộc ta vẫn còn bế tắc dưới thời vua Lê, chúa Trịnh; và đèo Ngang vẫn còn sừng sững trên tiến trình Nam tiến của dân tộc. Trong làn sóng toàn cầu hóa thứ hai, chúng ta, lại một lần nữa, không phải là người trong cuộc. Nếu như dân tộc ta đã không có ý thức về làn sóng thứ nhất thì chúng ta đã chủ động chối bỏ một cách có ý thức làn sóng thứ hai. Rất may là đối với làn sóng toàn cầu hóa thứ ba này, dân tộc ta đã có ý thức hơn và đã chủ động hòa mình vào làn sóng ấy, dám chấp nhận vị mặn chát của nó để đổi lấy sức mạnh của đại dương. Chỉ có tinh thần ấy mới tương xứng với những cơ hội và thách thức to lớn mà toàn cầu hóa đang đem lại cho dân tộc chúng ta.  Nghịch lý của toàn cầu hóa là nó có thể biến mọi điều thành có thể và ngược lại. Nó có thể tước đoạt hoặc gia tăng quyền lực. Nó có thể đồng hóa, làm nghèo đi, đồng thời cũng có thể làm cho các nền văn hóa giao tiếp, xẻ chia, và cùng trở nên phong phú. Nó mở ra triển vọng phát triển, nhưng cũng có thể khiến mọi người ôm giữ chặt hơn “cây ô liu” truyền thống. Toàn cầu hóa có nghĩa là chúng ta vừa lớn lên lại vừa nhỏ lại, vừa mạnh lên đồng thời lại vừa yếu đi… Tuy nhiên, một bài học sâu sắc từ lịch sử là mọi cơ hội và thách thức gắn liền với toàn cầu hóa đều chỉ là những khả năng, và xác suất để những khả năng này trở thành (hay không trở thành) hiện thực phụ thuộc rất nhiều vào sự sáng suốt, thức thời và chuẩn bị của chúng ta. Toàn cầu hóa như thời tiết. Vấn đề không phải là trốn tránh hay cố tình phủ nhận nó, mà là hiểu được những quy luật của nó, từ đó thuận theo, thích nghi, đồng thời hạn chế tác hại của nó.                                                                     Toàn cầu hóa là gì?  Từ “toàn cầu hóa” tuy phổ biến và lâu đời nhưng thật đáng ngạc nhiên, người ta lại rất khó trả lời và đi đến thống nhất về khái niệm toàn cầu hóa.  Đối với Thomas Friedman (tác giả của “Chiếc Lexus và cây ô liu” và “Thế giới phẳng”) thì toàn cầu hóa là một thế lực không gì ngăn cản nổi, được thúc đẩy bởi những bước tiến dài trong các lĩnh vực công nghệ, truyền thông, tài chính v.v. cho phép con người, hàng hóa, thông tin, và các dòng vốn lưu chuyển xuyên biên giới với một quy mô chưa từng thấy, từ đó kiến tạo nên diện mạo của những con người tự do và những quốc gia thịnh vượng. Còn đối với Namoi Klien (cũng là một nhà báo, tác giả của “No Logo”) thì toàn cầu hóa là một thế lực ghê gớm nhưng mờ ám, bị thao túng bởi các tập đoàn quốc tế, có khả năng xóa nhòa ranh giới giữa giữa các quốc gia, san bằng các nền văn hóa, triệt tiêu vai trò của nhà nước – quốc gia (nation-state) và thủ tiêu các tiến trình dân chủ. Cũng có những người điềm tĩnh và trung dung hơn, như David Held (tác giả của “Global Transformations: Politics, Economics and Culture” và một vài cuốn sách khác về toàn cầu hóa) thì  toàn cầu hóa là một phong trào rộng lớn trong lịch sử phát triển của loài người và có những hệ quả rộng lớn và sâu sắc đối với mọi mặt của đời sống con người, xã hội, và thế giới. Sự bất đồng này về quan điểm phản ánh phạm vi bao trùm và tính phức tạp của toàn cầu hóa: bao trùm đến nỗi hình như mỗi người đều thấy mình bị toàn cầu hóa tác động theo cách này cách khác, và phức tạp đến nỗi không một cá nhân nào có thể nhận thức đầy đủ về nó.  Nếu như toàn cầu hóa được quan niệm một cách khái quát như một sự gia tăng các dòng chảy xuyên biên giới về con người, dịch vụ, vốn, thông tin và văn hóa thì lịch sử loài người đã trải qua ba làn sóng toàn cầu hóa với mức độ và những đặc trưng rất khác nhau.            ———  [1] Tôi xin chân thành cảm ơn Eli Mazur, đồng nghiệp của tôi trong môn học “Toàn cầu hóa và Việt Nam” tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright vì đã cung cấp cho tôi một số thông tin rất hữu ích được sử dụng trong bài viết này. Tài liệu của môn Toàn cầu hóa và Việt Nam được đăng tại http://ocw.fetp.edu.vn/    Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học chống lại ung thư da      Ung thư da chính là căn bệnh ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Riêng ở Mỹ, mỗi năm đã có hơn 3 triệu ca ung thư da mới được phát hiện, và hơn 10 nghìn người chết vì ung thư da. Trong khi đó, Úc là nước có tỷ lệ ung thư da lớn nhất thế giới, do tầng ozone bị thủng (nhiều tia UV hại cho da), và ước tính cứ hai người Úc sẽ có một người bị ung thư da trong đời. Những người châu Á và châu Phi ít bị ung thư da hơn người da trắng nhưng không có nghĩa là không bị. Có thể ước tính ở Việt Nam, mỗi năm cũng có đến hàng chục nghìn trường hợp ung thư da mới, mà không được phát hiện, do còn ít người có khái niệm về ung thư da, ngay các bác sĩ da liễu cũng không được chuẩn bị nhiều.      Các thuật toán AI có thể giúp cải thiện tỷ lệ chẩn đoán melanoma trên 90%.  Có ba loại ung thư da phổ biến nhất, là melanoma (ung thư da hắc tố), BCC (ung thư tế bào đáy) và SCC (ung thư tế bào vảy), trong đó melanoma chỉ chiếm khoảng 5% nhưng là loại ung thư da nguy hiểm nhất, và khoảng 2/3 số người chết vì ung thư da là do loại này. Các vết ung thư melanoma thường khó phát hiện bằng mắt thường vì trông qua thì thấy nó như là “nốt ruồi”, nhỏ và “vô hại”. Khi nó trở nên “xấu xí” đến mức nhìn bằng mắt thường đã thấy “vấn đề” thì thường cũng có nghĩa là đã ở giai đoạn muộn, vết ung thư đã ăn sâu vào trong và có thể di căn đi các nơi khác. Khi ung thư da di căn vào não, vào phổi, v.v. thì gây tử vong, tuy người ta khó hình dung được rằng một “nốt ruồi” nhỏ hơn cái móng tay lại có thể gây tai họa đến vậy.  Để chữa được ung thư da, thì quan trọng nhất là phải phát hiện bệnh sớm. Khi được phát hiện ở giai đoạn đầu, thì hầu như có thể chữa khỏi gần 100% bằng cách cắt đi, nhưng đến giai đoạn di căn thì không còn cách nào chữa thật hiệu quả. Vậy làm sao để phát hiện ung thư da sớm?  Việc theo dõi và chẩn đoán ung thư da có thể chia làm 3 bước chính:  Bước 1: theo dõi toàn bộ các “nốt ruồi” trên người. Nếu có nốt ruồi nào “khả nghi” (xuất hiện, phình to, đổi màu nhanh, v.v.) thì chuyển sang bước 2.  Bước 2: Dùng kính soi “dermatoscope” để soi thật rõ nét “nốt ruồi” khả nghi, đưa ra chẩn đoán sơ bộ. Nếu chẩn đoán sơ bộ là rủi ro ung thư cao, thì chuyển sang bước 3. (Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều bác sĩ da liễu có kính dermatoscope).  Bước 3: Xét nghiệm sinh thiết (cắt da ra soi) để xem có tế bào ung thư không.  Bước 3 cho kết quả chính xác nhất, nhưng tất nhiên cũng phức tạp, tốn kém nhất, không thể “nốt ruồi” nào cũng cắt đi xét nghiệm sinh thiết. Bởi vậy hai bước đầu tiên rất quan trọng, để xem xét được toàn bộ các nốt, loại đi những nốt rủi ro thấp và chỉ giữ lại những nốt thật khả nghi.  Qua nhiều năm quan sát và đúc kết kinh nghiệm, các bác sĩ trên thế giới đã đưa ra được một số quy tắc hình học để kiểm tra qua hình ảnh xem một “nốt ruồi” có phải là ung thư da hay không. Quy tắc phổ biến và dễ nhớ nhất gọi là quy tắc ABCDE:   A có nghĩa là bất đối xứng (asymmetry) về hình dạng  B có nghĩa là biên (border) không trơn mà lỗi lõm lung tung  C có nghĩa là màu sắc (colors) loạn, nhiều màu  D có nghĩa là đường kính (diameter) to hơn 0.6cm  E có nghĩa là sự biến đổi (evolution) nhanh chóng hơn bất thường. Chữ E này còn được gán cho một số nghĩa khác, như là độ cao lên (elevation), có màu đỏ (erythema), chuyên gia (expert), v.v.  Tuy nhiên, với quy tắc ABCDE này thì người ta chỉ bắt được khoảng 1/2 các vết ung thư da! (Xem chẳng hạn: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10846255). Có những vết ung thư da trông rất tròn trịa chứ không méo mó, có vết thì đường kính chỉ 1mm, có vết thì màu nhợt nhạt chứ không đen, v.v., và nếu chỉ áp dụng ABCDE thì sẽ bỏ qua các vết đó. Hơn nữa, nếu chỉ theo ABCDE thì tỷ lệ bắt nhầm (nốt vô hại bắt thành ung thư da) cũng vô cùng cao, bắt hàng chục nốt mới có một nốt ung thư thật, bởi nhiều nốt ruồi vô hại trông lại to, lại méo mó.  Tình hình được cải thiện đáng kể với sự xuất hiện của các kính soi da phóng đại cận cảnh (áp sát vào da) và có đèn chiếu sáng bên trong, gọi là dermatoscope. Tuy rằng nguyên tắc hoạt động của dermatoscope có từ thế kỷ 17, nhưng từ cuối thế kỷ 20 chúng mới thực sự xuất hiện trên thị trường da liễu, và thậm chí cho đến ngày nay ở Pháp vẫn còn những bác sĩ da liễu cao tuổi không dùng nó mà chỉ dùng kính lúp thông thường. Ảnh chụp theo dermatoscope cho phép xác định các kiểu mẫu hình học (pattern) nhỏ bên trong các “nốt ruồi” mà mắt thường hay kính lúp thông thường không thấy được, ví dụ như là các “pseudopod” (các vết đen hình giả túc bên trong “nốt ruồi”). Dựa trên việc quan sát các pattern đó, các chuyên gia đã đưa ra được những quy tắc hình học chính xác hơn để xác định xem một “nốt ruồi” có phải là ung thư da hay không, ví dụ như “quy tắc 7 điểm” của Argenziano, hay là phương pháp “chaos and clues” (hỗn loạn và manh mối) của Kittler và các tác giả khác.      Với các quy tắc chẩn đoán hình học mới dựa trên ảnh chụp áp sát da, các bác sĩ chuyên khoa “chỉ còn” bỏ sót khoảng 15% các trường hợp melanoma, và tỷ lệ bắt nhầm cũng giảm đi. Tuy nhiên, các con số này vẫn chưa thực sự đáng hài lòng: để “sổng” 15% trường hợp melanoma thì vẫn là quá nhiều (những trường hợp đó khi phát hiện về sau thì thành bị muộn, khả năng tử vong cao). Vẫn cần những quy tắc hình học, và phương pháp toán học nói chung, đem lại chẩn đoán chính xác hơn. Và đây là một đề tài nghiên cứu nóng hỏi, không chỉ đối với ung thư da, mà nói chung đối với các bệnh ung thư.      Với các quy tắc chẩn đoán hình học mới dựa trên ảnh chụp áp sát da, các bác sĩ chuyên khoa “chỉ còn” bỏ sót khoảng 15% các trường hợp melanoma, và tỷ lệ bắt nhầm cũng giảm đi. Nói theo ngôn ngữ thống kê thì độ nhạy (sensitivity) đạt cỡ 85% và tính đặc hiệu (specificity) đạt cỡ 75% (cứ bốn nốt khả nghi đem soi thì một nốt bắt nhầm thành melanoma). Tuy nhiên, các con số này vẫn chưa thực sự đáng hài lòng: để “sổng” 15% trường hợp melanoma thì vẫn là quá nhiều (những trường hợp đó khi phát hiện về sau thì thành bị muộn, khả năng tử vong cao). Vẫn cần những quy tắc hình học, và phương pháp toán học nói chung, đem lại chẩn đoán chính xác hơn. Và đây là một đề tài nghiên cứu nóng hỏi, không chỉ đối với ung thư da, mà nói chung đối với các bệnh ung thư.  Từ quan điểm của hình học và hệ động lực học, quá trình ung thư hóa là quá trình biến đổi hỗn loạn (chaos) của các tế bào.  Sự hỗn loạn đó thể hiện ra thành các hình thù, dáng điệu, màu sắc khác thường so với các vết không bị ung thư. Chính vì vậy mà dùng các quy tắc hình học có thể phân biệt được ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, quá trình biến đổi hỗn loạn này phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện ban đầu khác nhau, và do đó cũng có rất nhiều kiểu thể hiện khác nhau. Với những quy tắc hình học đã quan sát được thì có thể nắm bắt được tới 85-90% các trường hợp, nhưng vẫn để “sổng” khá nhiều trường hợp.  Đến đây, cần viện tới trí tuệ nhân tạo (AI), với học máy (machine learning, viết tắt là ML) và dữ liệu lớn (big data). Máy học bằng cánh bắt chước, nên cần rất nhiều dữ liệu để phủ được hầu hết các trường hợp. Cũng may, internet đã cho phép sự kết nối toàn cầu giữa các bác sĩ, các bệnh viện, và các cơ sở nghiên cứu, khiến cho việc thu thập hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn, ảnh chụp sát da các vết khả nghi ung thư trở nên khả thi.  Một điểm rất hay của học máy là máy tính có thể được học để nghĩ ra các dấu hiệu hình học mà ngay các chuyên gia cũng không quan sát thấy. Với nhiều dấu hiệu hình học hơn trước, và nhiều data để học hơn so với các bác sĩ riêng lẻ, từ  năm 2017, máy tính trí tuệ nhân tạo đã có thể chẩn đoán ung thư da tốt hơn cả bác sĩ chuyên khoa. □  Từ giữa năm 2019, công ty trí tuệ nhân tạo Torus Actions ở Toulouse, do tác giả bài viết này đồng sáng lập, cũng lao vào nghiên cứu chẩn đoán ung thư da. Các ý tưởng toán học mới đã được các thành viên của Torus sử dụng nhằm cải thiện mọi bước của quá trình học máy. Kết quả ban đầu rất khả quan. Chỉ sau chưa đầy hai tháng nghiên cứu, vào tháng 09/2019 SkinCancerAI của Torus Actions đã đoạt giải nhì cuộc thi AI quốc tế chẩn đoán ung thư da do ISIC (Tổ chức hợp tác quốc tế về ung thư da) tổ chức. Máy của Torus Actions đạt độ chính xác chẩn đoán melanoma trên 90% (các bác sĩ chuyên khoa quốc tế chỉ đạt trên 80%). Tham vọng của Torus Actions là làm cho SkinCancerAI trở thành phần mềm chẩn đoán ung thư da tốt nhất thế giới kể từ năm 2020. (Xem: https://www.aad.org/media/stats-skin-cancer).       Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Toán học giúp nhận diện mạng lưới trùm tài phiệt thao túng kinh tế toàn cầu      Khi phân tích các mối liên hệ giao dịch của  43.000 đại công ty, các nhà khoa học đã nhận diện một nhóm tương đối nhỏ  các công ty, chủ yếu là các ngân hàng, có tác động mạnh bất thường đối  với nền kinh tế toàn cầu.    Ý tưởng cho rằng một vài ngân hàng kiểm soát phần lớn nền kinh tế toàn cầu là một suy đoán làm bùng nổ phong trào Chiếm Phố Wall ở New York và biểu tình ở nhiều nơi khác hồi cuối năm 2011. Còn nghiên cứu của ba nhà toán học: Stefania Vitali, James B. Glattfelder và Stefano Battiston, chuyên về lý thuyết các hệ thống phức hợp (complex systems theory), tại Viện Công nghệ Zurich, Thụy Sĩ, là nghiên cứu đầu tiên vượt ra khỏi phạm vi suy đoán mà dùng số liệu thực nghiệm vạch trần một mạng lưới quyền lực. Nghiên cứu đồ sộ này kết hợp các phương pháp toán học, từng được sử dụng để mô hình hóa các hệ thống tự nhiên, với dữ liệu tổng thể doanh nghiệp để vẽ ra một bản đồ về quyền chiếm hữu của các tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới (TNCs).  James Glattfelder nói, “Thực tại là một hệ thống rất phức hợp. Khi xem xét chúng ta phải từ bỏ các giáo lý, dù đó là dựa theo lý thuyết âm mưu hoặc theo thuyết thị trường tự do. Nghiên cứu của chúng tôi là dựa trên [phân tích dữ liệu] thực tại.”  Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tính đến số lượng công ty con mà các công ty xuyên quốc gia chiếm hữu trực tiếp, và bỏ qua các quyền sở hữu gián tiếp khác, vì vậy không thể đánh giá được chúng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu đến mức nào – chẳng hạn làm lung lay hay làm ổn định hơn.  Nhóm nghiên cứu Zurich lấy trong gói Orbis 2007, một cơ sở dữ liệu liệt kê 37 triệu công ty và nhà đầu tư trên toàn thế giới, từ đó lôi ra tổng cộng 43.060 công ty xuyên quốc gia và các kết nối thông qua quyền sở hữu cổ phần của chúng với nhau. Sau đó, họ xây dựng một mô hình trong đó các công ty này kiểm soát những công ty khác thông qua mạng lưới cổ phần, cùng với doanh số hoạt động của mỗi công ty, để lập ra bản đồ cấu trúc quyền lực kinh tế.  Công trình tính toán của nhóm nghiên cứu Zủich, được công bố trên tạp chí PLoS One, làm lộ diện một cái lõi gồm 1.318 công ty có sở hữu lồng vào nhau (xem hình). Mỗi một công ty trong số 1.318 này dính kết với ít nhất hai công ty khác, và tính trung bình thì số dính kết là 20. Hơn nữa, mặc dù chúng chỉ chiếm 20 phần trăm của doanh thu hoạt động toàn cầu, nhưng 1.318 công ty này chung nhau chiếm hữu, thông qua cổ phiếu, nắm giữ phần lớn các blue-chip và các công ty sản xuất lớn nhất thế giới và – phần kinh tế “thực sự” mà chúng nắm giữ là hơn 60% của doanh thu toàn cầu.  Khi nhóm nghiên cứu tiếp tục lục tìm kỹ trên mạng nhện của quyền sở hữu, họ lần ra một nhóm “siêu thực thể” gồm 147 công ty đan chéo chặt chẽ vào nhau – tất cả các quyền sở hữu của một công ty trong nhóm đều do các công ty thành viên khác trong “siêu thực thể” nắm giữ – nhóm này nhờ đó đã kiểm soát 40% của tổng tài sản trong hệ thống mạng lưới các công ty toàn cầu. Glattfelder kết luận: “Trong thực tế, chưa đến 1% tổng số các công ty đã có thể kiểm soát 40% của toàn bộ mạng lưới”. Đa số đó là các tổ chức tài chính. Barclays Bank, JPMorgan Chase & Co và The Goldman Sachs Group lọt vào Top 20.  Theo John Driffill, một chuyên gia kinh tế vĩ mô của ĐH London, giá trị của các phân tích này không phải là điểm mặt chỉ tên nhóm người nào điều khiển nền kinh tế toàn cầu, mà nó chỉ ra cốt lõi của sự ổn định kinh tế.  Nhóm Zurich cho rằng, tập trung quyền lực tự thân nó không phải là tốt hay xấu, nhưng sự cố kết ở một lõi có thể là nguy hiểm. Như thế giới đã học được trong năm 2008, một mạng lưới như vậy là không ổn định. “Nếu một chỗ [công ty] bị “bệnh” thì bệnh này sẽ lan ngay”, Glattfelder nói.  Đồng ý với nhận định đó, George Sugihara ở La Jolla, California, chuyên gia về Hệ thống phức hợp, cố vấn cho Deutsche Bank, phát biểu: “Thật đáng sợ khi nhìn thấy sự thực mọi thứ được dính kết với nhau như vậy.”  Tuy nhiên Yaneer Bar-Yam, Viện trưởng Viện hệ thống phức hợp New England (NECSI), thì tỏ ý nghi ngờ vì cho rằng trong phân tích này các nhà nghiên cứu đã thừa nhận quyền sở hữu cổ phiếu tương đương với quyền điều khiển, mà điều này thực ra không phải là luôn luôn đúng. Hầu hết các cổ phiếu công ty được các nhà quản lý quỹ nắm giữ. Họ có thể điều khiển hoặc không điều khiển các công ty mà họ có phần hùn. Theo ông ta, cần phân tích thêm về tác động của điều này lên tính chất của hệ thống. Điều quan trọng là, bằng cách xác định cấu trúc quyền lực kinh tế toàn cầu, phân tích này có thể giúp làm cho nó ổn định hơn. Với việc tìm ra các khía cạnh dễ bị tổn thương của hệ thống, các nhà kinh tế có thể đề xuất các giải pháp để ngăn chặn sụp đổ sẽ lây lan qua khắp toàn bộ nền kinh tế trong tương lai.   Glattfelder cho rằng chúng ta cần luật chống độc quyền toàn cầu, luật nay hiện chỉ có ở cấp quốc gia, để hạn chế số lượng kết nối giữa các công ty xuyên quốc gia.   Sugihara nói, các phân tích này cho thấy một giải pháp có thể sử dụng là các công ty nên bị đánh thuế cho số lượng kết nối nhiều hơn mức quy định để ngăn cản nguy cơ này.  Có thể kết luận dưới đây sẽ không phù hợp với một số yêu sách của người biểu tình: “siêu thực thể” không phải là kết quả cố ý của một âm mưu thống trị thế giới. “Cấu trúc như vậy là phổ biến trong tự nhiên,” Sugihara nói.  Những tân binh khi tiếp cận mạng lưới thì đều ưu tiên chọn kết nối với các thành viên đã có nhiều kết nối rồi. Các công ty xuyên quốc gia mua cổ phần của các công ty xuyên quốc gia khác là để kinh doanh, không phải để thống trị thế giới. Nếu cụm mối lại, thì dễ phát tài, giống như kiểu, dòng tiền luôn chảy về chỗ những ai có nhiều mối hàng nhất. Kết quả nghiên cứu của nhóm Zurich, theo Sugihara, “là bằng chứng mạnh mẽ chứng minh rằng những quy luật sơ đẳng vận hành công ty xuyên quốc gia sản sinh ra các nhóm kết nối cao một cách tự nhiên”.   Còn chuyên gia Dan Braha, cũng thuộc viện NECSI, thì nhận định: “Phong trào Chiếm phố Wall tố cáo rằng 1% số người chiếm hầu hết các tài sản thực ra chỉ phản ánh một cách logic về giai đoạn tự tổ chức lại của nền kinh tế mà thôi.”  Vì vậy, các “siêu thực thể” có thể không phải là kết quả của một âm mưu nào cả. Câu hỏi thực sự, là liệu nó có thể hợp thành thế lực thực thi quyền lực chính trị hay không. John Driffill cảm thấy 147 là quá nhiều để duy trì sự thông đồng với nhau. Nhưng Dan Braha nghi ngờ rằng, tuy họ sẽ cạnh tranh nhau trên thị trường nhưng đồng lòng hành động trên lợi ích chung của nhóm. Chống lại những thay đổi trong cấu trúc hiện tại của mạng lưới các công ty toàn cầu có thể là một lợi ích chung như vậy.     Chú thích ảnh:1.318 công ty xuyên quốc gia hợp thành lõi của hệ thống kinh tế thế giới. Màu đỏ là các công ty siêu liên kết, màu vàng là công ty nhiều liên kết. Kích thước của chấm tròn tỷ lệ với doanh số.  Top 20 trong số 147 công ty siêu liên kết   1. Barclays plc  2. Capital Group Companies Inc  3. FMR Corporation  4. AXA  5. State Street Corporation  6. JP Morgan Chase & Co   7. Legal & General Group plc   8. Vanguard Group Inc  9. UBS AG  10. Merrill Lynch & Co Inc   11. Wellington Management Co LLP  12. Deutsche Bank AG  13. Franklin Resources Inc  14. Credit Suisse Group  15. Walton Enterprises LLC  16. Bank of New York Mellon Corp  17. Natixis  18. Goldman Sachs Group Inc  19. T Rowe Price Group Inc  20. Legg Mason Inc   XH lược thuật     Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học lý giải những con sóng độc      Từng bị coi là chuyện hoang đường của biển cả, sóng độc sừng sững và bất thình lình xuất hiện, là hiểm họa nghiêm trọng cho tàu biển. Ngày nay, các nhà khoa học đang phát triển các phương pháp để dự đoán chúng trước khi chúng tấn công.    Các con tàu của Jules Dumont D’Urville, Astrolabe và Zelee, được Louis Le Breton vẽ và in thạch bản vào năm 1840. Bức tranh này mô tả một chuyến đi từ năm 1837 đến năm 1840 để khảo sát về chu vi của Nam Cực. Trong một chuyến thám hiểm trước đó khoảng một thập niên, Dumont D’Urville đã gặp phải một con sóng mà ông mô tả là cao 100 foot ở Ấn Độ Dương.  Năm 1826, thuyền trưởng Jules Dumont d’Urville, nhà khoa học và sỹ quan hải quân người Pháp, mắc phải một cơn bão dữ dội khi đang vượt Ấn Độ Dương. Ông thấy một bức tường nước vươn cao hơn 30 m so với con tàu Astrolabe của mình. Nó là một trong vài con sóng cao hơn 25 m mà ông chứng kiến trong cơn bão. Một thủy thủ của tàu bị rơi xuống biển. Thế nhưng khi Dumont d’Urville quay lại được đất liền, dù được ba nhân chứng xác nhận, câu chuyện của ông vẫn quá kỳ dị và bị coi là chuyện tưởng tượng.  Các nhà khoa học thời đó tin rằng sóng biển chỉ có thể cao được đến khoảng 10 m, vì vậy những báo cáo lẻ tẻ trong thế kỷ 19 về những con sóng khổng lồ giữa đại dương nói chung bị gạt đi như những chuyện hoang đường của người đi biển. Tận sau này các nhà khoa học mới nhận ra rằng những câu chuyện đó hiếm bởi nhiều người đi biển gặp những con “sóng độc” đó không sống sót để kể lại.  Ngày nay, sóng độc được định nghĩa là một con sóng cao ít nhất gấp đôi những con sóng quanh nó. Những cồn sóng khổng lồ này có thể đột nhiên xuất hiện và dường như từ trên trời rơi xuống. Có thành dựng đứng và một hõm sâu bên dưới, chúng trông giống như một bức tường mọc lên từ biển. Chúng có thể xuất hiện trong những cơn bão trong điều kiện biển động, nhưng cũng từng được gặp ở nơi biển lặng, một trong những lý do khiến chúng rất khó dự đoán.  Các nhà khoa học đã công nhận sóng độc là một hiện tượng có thật từ giữa những năm 1990, nhưng bảo vệ người đi biển khỏi chúng vẫn là một thách thức lớn. Dù tương đối hiếm, sóng độc có thể gây thiệt hại nặng nề và mất mát về người nếu chúng đánh phải một con tàu ở giữa biển. Giữa đại dương bao la, thật khó để gỡ rối được mớ tương tác giữa rất nhiều lực dẫn đến sóng độc. Gần đây, các nhà toán học đã kết hợp dữ liệu thực, được thu thập từ các phao theo dõi, với các mô hình thống kê để hiểu cái gì đã khiến hình thành những con sóng khổng lồ này. Công trình của họ mang đến hy vọng về khả năng dự đoán sóng độc trước khi chúng tấn công.    Sóng độc có thể hình thành trong chỉ “10 đến 15 giây khi biển động”, Fedele nói. “Dự đoán nhanh và chính xác trong khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy vẫn là một điều khó khăn”.    Sóng lớn lên như thế nào  Cùng với sự tiến bộ của công nghệ đóng tàu trong thế kỷ 20, ngày càng có nhiều nhân chứng sống sót sau sóng độc. Tháng 4/1966, tàu viễn dương Michelangelo của nước Ý gặp phải một con sóng cao 25 m, vượt hẳn lên những con sóng do bão gây ra xung quanh nó. Con tàu bị hư hỏng đáng kể và ba người thiệt mạng, nhưng hầu hết mọi người trên tàu đều cập bến an toàn.  Những thủy thủ trên tàu công-ten-nơ MS München của Đức thì không được may mắn như vậy. Tháng 12/1978, nó rời thành phố cảng Bremerhaven của nước Đức để đến Savannah, bang Georgia, Mỹ, mang theo các thùng thép và thủy thủ đoàn 28 người. Sau khi báo thời tiết xấu và gửi tín hiệu cứu nạn vào sáng sớm ngày 13/12, con tàu và toàn bộ thủy thủ đoàn biến mất. Người ta tìm thấy một xuồng cứu sinh vốn được treo cách mặt nước 20 m, nhưng có vẻ như nó đã bị giật khỏi chỗ treo, có khả năng bởi một con sóng cao ít nhất đến độ cao đó.  Sự hoài nghi của giới khoa học đối với những con sóng khổng lồ bí hiểm này vẫn chưa hoàn toàn bị xóa cho đến năm 1995, khi một con sóng độc đánh vào Draupner, dàn khoan khí thiên nhiên ở Bắc Hải, ngoài khơi Na Uy. Đỉnh sóng, được đo bằng một máy đo khoảng cách bằng laser trên dàn khoan, cao gần 26m.  Từ đó đến nay, các nhà khoa học đã nhận ra rằng không như sóng thần, được hình thành từ sự dịch chuyển đột ngột của một khối nước lớn bởi một sự kiện như động đất hoặc sạt lở, sóng độc được hình thành từ sự kết hợp ngẫu nhiên của những chuyển động sóng trong khắp đại dương.  Hình ảnh này cho thấy hình thái của một con sóng độc được tái tạo trong phòng thí nghiệm tại Cơ sở Nghiên cứu Năng lượng Đại dương FloWave tại Đại học Edinburgh ở Scotland.  Có hai lý thuyết toán học chính để giải thích những chuyển động sóng tạo ra sóng độc: tổng tuyến tính và tập trung phi tuyến tính. Thuyết tổng tuyến tính cho rằng các con sóng di chuyển trong đại dương với tốc độ khác nhau, và khi chồng lên nhau, chúng có thể mạnh lên thành một con sóng độc. Thuyết tập trung phi tuyến tính cho rằng sóng di chuyển theo nhóm và có thể chuyển năng lượng cho nhau, đôi khi tạo ra một con sóng độc.  Có sự bất định một phần vì sóng độc hiếm xảy ra. Dữ liệu theo dõi có chất lượng vẫn luôn khan hiếm, thậm chí đến tận ngày nay.  “Thường thì sóng độc được đo bởi các phao đo, chúng ghi lại dữ liệu đo theo thời gian tại một điểm nhất định mà không hề có thông tin về những gì đã hoặc sẽ xảy ra”, Amin Chabchoub, nhà vật lý nghiên cứu về sóng tại Đại học Sydney, Australia, cho biết. Một nghiên cứu năm 2019 do Chabchoub làm trưởng nhóm đã đánh giá một số quan sát và mô hình sóng độc, và nhóm kết luận rằng cơ chế kích động sóng độc có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trên biển tại mỗi thời điểm, tức là trạng thái biển.  Để bù đắp cho số lượng quan sát ít ỏi, các nhà khoa học dựa vào các bồn tạo sóng. “Kết quả dựng lại trong phòng thí nghiệm bắt chước gần như một-một những gì xảy ra trên mặt đại dương”, Chabchoub nói. Những thí nghiệm này thậm chí có thể tính đến dòng chảy và gió, mặc dù các thiết lập bị kiểm soát cũng có những hạn chế riêng của chúng.  Khi nước bị giữ trong một kênh hẹp như bồn tạo sóng, những con sóng lớn dễ được hình thành và quan sát hơn nhiều. Tuy nhiên, những thí nghiệm này thể hiện một “kịch bản không thực tế” vì sóng không thể tỏa ra mọi hướng như trên biển, theo Francesco Fedele, kỹ sư hải dương tại Viện Công  nghệ Georgia.  Cơ quan Đại dương và Khí quyển Mỹ (NOAA) đang phát triển một hệ thống dự báo theo giờ các khu vực có nguy cơ của đại dương, sử dụng một chương trình có tên WAVEWATCH III. Phiên bản mới nhất, được phát hành năm 2019, sử dụng một công thức xác suất được Fedele phát triển vào năm 2012 để dự đoán các điều kiện cực đoan trên đại dương tại một vị trí và thời gian xác định. Nó là một công cụ hữu ích để giúp những người đi biển tránh những vùng biển nguy hiểm, nhưng chưa đủ để bảo vệ họ khỏi những con sóng độc xuất hiện thình lình.  Johannes Gemmrich, nhà nghiên cứu tại Đại học Victoria, Canada, người đã phân tích con sóng độc năm 2020 ở gần đảo Vancouver, nói rằng sóng độc thường được sinh ra khi nhiều con sóng di chuyển ở các tốc độ khác nhau và thỉnh thoảng chồng lên nhau. Điều này ủng hộ mô hình tổng tuyến tính. Nhưng ông tin rằng sự bất đối xứng của sóng – khi sóng có đỉnh cao và hõm thấp – cũng có vai trò cốt yếu.  “Nếu ta cho phép sự bất đối xứng mạnh hơn, xác suất có sóng độc cực đại tăng mạnh”, Gemmrich nói.  Công thức tổng quát cho biển  Một trường phái các nhà toán học nói rằng cái gì tạo ra sóng độc không quan trọng, vì người ta vẫn có thể dự đoán sóng độc một cách khá chính xác bằng cách sử dụng một lý thuyết thống kê cho các sự kiện hiếm gọi là lý thuyết độ lệch lớn.  Ý tưởng đằng sau phương pháp này là mô hình hóa cách hiệu quả nhất để tạo ra một con sóng độc, rồi dùng mô hình đó để vẽ đường phát triển của một con sóng độc nào đó. Lý thuyết có thể xét các hiệu ứng tuyến tính và phi tuyến tính tùy vào tình huống, do đó những người ủng hộ coi nó là một lý thuyết hợp nhất, một lý thuyết có thể được sử dụng để dự đoán sóng độc trong những điều kiện đại dương khác nhau.  “Nếu chỉ nhìn vào cách hiệu quả nhất để tạo thành những con sóng này, nó trùng với những con sóng thật được quan sát”, Tobias Grafke, nhà toán học tại Đại học Warwick, Anh, nói.  Grafke cùng với một nhóm nghiên cứu kiểm tra lý thuyết này trong các kênh tạo sóng, đo và so sánh các kết quả với các quan sát thời gian thực về sóng, và nhận thấy rằng phương pháp này có thể dự đoán sóng độc tốt một cách đáng ngạc nhiên trong cả hai giả thuyết.  Mặc dù vậy, một vấn đề của phương pháp này là vô cùng khó mà tính đến được tất cả các yếu tố trạng thái biển tại từng thời điểm. Đối với một thuyền trưởng, thông tin dự báo hữu ích nhất cần được rút ra từ các quan sát trong thời gian thực chứ không phải từ các xác suất thống kê. Grafke nói rằng công thức của nhóm ông có thể tính đến những đặc điểm riêng của một trạng thái biển cho trước, nhưng càng đưa vào nhiều biến thì càng khó để giải nhanh mô hình.  “Phương trình càng phức tạp thì dự đoán càng chính xác, công sức và thời gian tính toán càng lớn”, Chabchoub nói. “Vì vậy có sự đánh đổi giữa độ chính xác và thời gian để thu được kết quả có ích”.  Dự đoán trong thời gian thực  Các nhà khoa học đang tiến tới công nghệ dự đoán sóng trong thời gian thực, nhưng những cách tiếp cận mới cần được kiểm nghiệm trong các điều kiện thực tế – đây là một thách thức bởi sóng độc hiếm khi xuất hiện. Trong nhiều trường hợp, quá trình tính toán cần được tăng cường để theo được tốc độ của sóng.  Sóng độc có thể hình thành trong chỉ “10 đến 15 giây khi biển động”, Fedele nói. “Dự đoán nhanh và chính xác trong khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy vẫn là một điều khó khăn”.  Để dự đoán một con sóng độc, các nhà khoa học sẽ cần một hệ thống radar để liên tục đo sóng ở gần một con tàu, sao cho họ có thể đưa dữ liệu vào một mô hình toán học để vẽ một bức tranh bề mặt đại dương tại thời điểm đó. Một mô hình cứ năm phút lại tính được một bề mặt mới sẽ cho một dự đoán tương đối chính xác về tiến triển của sóng trong một vài phút tiếp theo.  Một hệ thống như vậy vẫn chưa thành hiện thực. “Công nghệ thì đã có. Câu hỏi là: Làm sao để tăng tốc dự báo?” Fedele nói.  Khi ngày càng có nhiều con sóng độc được đo, các nhà toán học có thể rốt cuộc sẽ tìm ra một cách báo trước những con sóng chết người này trước khi chúng vươn lên khỏi đại dương – một công nghệ mà thời 1826, thuyền trưởng Dumont d’Urville chỉ có thể thấy trong mơ.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch   Nguồn bài và ảnh: https://www.nationalgeographic.com/science/article/mathematicians-may-soon-be-able-to-predict-enormous-rogue-waves    Author                .        
__label__tiasang Toán học trong Y tế công cộng Việt Nam      Trong số những đóng góp của toán học đối với Y tế công cộng, điều quan trọng nhất không đến từ một chuyên ngành cụ thể nào đó của toán học, cũng không đến từ một phương pháp toán học cụ thể nào đó, mà đến từ chính tư duy toán học.            Thông thường, ở các nước châu Âu và Mỹ, các giảng viên trình độ cao trong ngành Y tế công cộng luôn được đào tạo đại học cơ bản thật vững chắc.  Tư duy toán họcĐã 40 năm làm việc trong hệ thống Y tế công cộng Việt Nam trên nhiều cấp độ và với nhiều vai trò, nhưng thực sự tôi vẫn tự coi mình như một nhà toán học. Do vậy, khẳng định sau đã đến với tôi khá tự nhiên:  Trong số những đóng góp của toán học đối với Y tế công cộng, điều quan trọng nhất không đến từ một chuyên ngành cụ thể nào đó của toán học, cũng không đến từ một phương pháp toán học cụ thể nào đó, mà đến từ chính tư duy toán học. Tư duy toán học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành các hoạt động Y tế công cộng theo hai cách:– Định hình việc đào tạo thông qua việc xây dựng chương trình giảng dạy và nội dung của từng môn học một cách logic và có cấu trúc chặt chẽ.– Giúp cho những người thực hành có khả năng nhận biết được bản chất vấn đề và hành động một cách thích hợp.Ta hãy xem xét hai cách ảnh hưởng này, qua các ví dụ sau: Để giảng dạy tốt, các khái niệm quan trọng cần được định nghĩa một cách chính xác. Định nghĩa do các nhà toán học đưa ra luôn chính xác, không mâu thuẫn, thật ngắn gọn và dễ nhớ, phù hợp với đề tài được đề cập và nói chung luôn được các đồng nghiệp cùng ngành chấp nhận. Nhưng trong khoa học y tế thì mọi người không như thế. Cụ thể, có đến vài định nghĩa về Y tế công cộng, mà thật khó phán quyết được các định nghĩa đó có dùng để chỉ cùng một thứ hay không. Định nghĩa do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra, chẳng hạn, vừa không chính xác, dài dòng, lại chứa những mâu thuẫn và không thích hợp để giảng dạy môn này.Ta đã nói rằng tư duy toán học có thể giúp người ta nhận biết được bản chất đúng đắn của các bài toán thực tế và nếu may mắn, người ta sẽ giải được các bài toán đó. Ta sẽ đề cập ngay ở đây một ví dụ nổi bật nhưng có lẽ không nhiều người biết, đó là giáo dục sức khỏe. Ở Việt Nam, Việc Giáo dục sức khỏe trong một cộng đồng nhỏ cũng như trong toàn bộ một tỉnh hoặc một vùng thường chỉ dựa vào một “nhận thức đúng đắn” cho tất cả các vấn đề về sức khỏe. Cũng có khi người xây dựng chương trình dựa vào một số lý thuyết sư phạm rất chung chung. Tuy nhiên các chương trình như vậy thường bỏ qua các tính chất đặc thù của những vấn đề sức khỏe khác nhau. Trong toán học, người ta có thể phát biểu về trường hợp này là: các giả thiết cơ bản của một bài toán chưa được chính xác. Các chương trình thành công phải được xây dựng cụ thể cho từng vấn đề sức khỏe. Hơn nữa, cấu trúc của chương trình giáo dục dành cho mỗi loại bệnh hoặc một vấn đề sức khỏe cũng phải khác nhau. Việc xác định cấu trúc đó và từ đấy chuyển thành các hành động được đảm bảo theo tinh thần toán học, mặc dù điều này ít khi được thực hiện hoặc nói đến. Chương trình giáo dục của nước Đức về bệnh dịch HIV là một ví dụ như vậy [1].Giám đốc của Viện nghiên cứu Phòng bệnh và Dịch tễ học Leibniz (BIPS), Đức là một nhà toán học xác suất thống kê GS. Iris Pigeot.Các công cụ toán học cụ thể      Trong Y tế công cộng, chuyên ngành toán học thường được sử dụng nhiều nhất chính là thống kê toán học.  Thống kê đề cập đến các dữ liệu số xét như các phần tử của một tập hoặc của một dãy hay của một sắp xếp khác nào đó các phần tử. Thống kê phân tích các dữ liệu đó một cách toàn bộ chứ không xử lý dữ liệu theo các phần tử riêng lẻ. Thống kê toán học sử dụng các phương pháp cao cấp hơn trong phân tích đó, vượt lên trên bốn phép toán số học cơ bản.    Đối chiếu định nghĩa của Y tế công cộng trong bài trước với định nghĩa về thống kê toán học trên đây, không ngạc nhiên tại sao thống kê toán học lại “thích hợp” với ngành Y tế công cộng đến thế. Đó là công cụ khoa học chính trong hầu hết các bộ môn Y tế công cộng và đóng một vai trò không thể thiếu trong các bộ môn còn lại. Nó xuất hiện trong thực hành Y tế công cộng hằng ngày từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương, từ các bệnh viện lớn đến các trung tâm y tế huyện và tỉnh. Nó cũng là xương sống của mọi nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này, áp dụng ở những điều tra đơn giản của các các trạm y tế xã đơn lẻ cho đến những nghiên cứu lớn do các trường đại học tiến hành.  Hầu như mọi khía cạnh của thống kê toán học đều được sử dụng trong lĩnh vực y tế công cộng. Chúng có thể đề cập đến những tập dữ liệu nhỏ, trung bình hoặc những tập dữ liệu rất lớn. Có thống kê thuần túy mô tả, không ngẫu nhiên, ví dụ như trong các tập Niên giám thống kê và Hệ thống thông tin y tế do các bộ phận quản lý y tế biên tập. Thống kê suy diễn, thường sử dụng các mô hình thống kê (xác suất), nhấn mạnh hầu như tất cả các nghiên cứu về các nhân tố nguy cơ (yếu tố quyết định) đối với các loại bệnh, bằng cách đó trang bị các nền tảng của dự phòng và của tư vấn chung, như trong lĩnh vực di truyền học dân cư. Các mô hình hồi quy tổng quát là những công cụ thường được sử dụng nhất.  Lý thuyết điều tra chọn mẫu [2] là nội dung cần thiết cho phần rất lớn của các nghiên cứu trong tất cả 14 lĩnh vực. Nhiều chuyên ngành khác, như lý thuyết chuỗi thời gian, cũng có một vai trò nhất định. Dân số học, một nội dung quan trọng của Y tế công cộng thực chất là một phân ngành của thống kê toán học với các phương pháp của chính nó, được định hướng chủ yếu bằng các bài toán dự báo [3]. Một trong các thủ tục cổ điển của nó, thủ tục qui chuẩn, cũng xuất hiện trong dịch tễ học dưới cái tên khác là hiệu chỉnh, nhưng nhiều nhà dân số học và nhiều nhà dịch tễ học không nhận thức được hai thủ tục đó chính là một.  Thống kê tất nhiên không phải là chuyên ngành toán học duy nhất được sử dụng trong Y tế công cộng. Mỗi bộ môn trong số 14 thành phần của Y tế công cộng được liệt kê trên đây đều sử dụng các mô hình toán học để biểu diễn và nghiên cứu các hiện tượng khác nhau [4]. Các phương pháp đó thực tế đến từ mọi bộ phận của toán học, đặc biệt là từ toán rời rạc, phương trình vi phân, tối ưu, lý thuyết xác suất, giải tích số và khoa học tính toán. Ta hãy nêu ra một vài ví dụ.   Dịch tễ học, không còn nghi ngờ gì nữa là lĩnh vực mà mô hình hóa toán học được đưa vào trước tiên, cụ thể là ngay từ nửa cuối của Thế kỷ 18 [2]. Nó đã trở thành công cụ không thể thiếu để nghiên cứu và dự báo động lực học, tức là sự tiến triển, của bệnh lây truyền trong dân cư. Mô hình hóa toán học cũng là nền tảng của bộ môn được gọi là “Miễn dịch học quần thể”. Ngày nay không một chương trình tiêm phòng mới nào có thể lên kế hoạch một cách nghiêm ngặt mà thiếu công cụ đó. Hiện thời, việc mô hình hóa động lực của các bệnh không lây truyền đã có nhiều tiến bộ.  Phát triển hệ thống y tế và quản trị y tế sử dụng chủ yếu các mô hình rời rạc và các phương pháp tối ưu. Trong kinh tế y tế bao gồm bảo hiểm y tế người ta áp dụng trang bị cơ sở của toán kinh tế, cũng được gọi là kinh trắc. Các chủ đề mới như các mạng tất định hoặc ngẫu nhiên đóng một vai trò ngày càng lớn trong các lĩnh vực đó.    Các nhà toán học trong Y tế công cộng    Công việc cần làm trong Y tế công cộng ở “bậc cao” có ba dạng:  – Giảng dạy môn học trong trường đại học hoặc trường chuyên ngành.– Nghiên cứu khoa học cao cấp.– Thực hành.  Những người đảm nhiệm các vị trí thực hiện cả ba nhiệm vụ trên phải trải qua những điều kiện gì? Trước tiên, ta hãy xem câu hỏi tương tự cho y khoa thay cho Y tế công cộng. Tại Việt Nam một giảng viên ở một môn y khoa, chẳng hạn giải phẫu học hay nội khoa, phải theo học chương trình y khoa cơ sở 6 năm cộng thêm vài năm các học phần lý thuyết hoặc thực hành chuyên khoa. Đó cũng là những yêu cầu để một người tiến hành nghiên cứu y khoa độc lập. Cuối cùng, một giảng viên y khoa sẽ thường được khuyến khích tiếp tục thực hành, tức là trực tiếp điều trị bệnh nhân, thậm chí dù chỉ ở một mức độ thấp. Đến lúc đó anh ta (hoặc cô ta) mới được phép đảm nhiệm vai trò giảng viên, nghiên cứu viên hoặc bác sĩ y khoa.    Điều đó hoàn toàn đối lập với tình hình của các giảng viên Y tế công cộng trong các trường đại học Việt Nam ngày nay. Nói chung, họ không hề được trải qua những điều kiện chặt chẽ tương tự như vậy. Họ thường không nhận được tập huấn bổ sung nào, một số chỉ phải yêu cầu có bằng cử nhân Y tế công cộng sau khi tốt nghiệp trường phổ thông. Nhiều người không đủ chuyên môn để tiến hành nghiên cứu nghiêm chỉnh. Để thấy điều đó chỉ cần nhìn vào các công bố của họ. Chẳng hạn, việc đánh giá thống kê thường bao gồm một số lượng lớn các xác suất ý nghĩa (p-values) phi lý. Rất ít giảng viên có đủ thời gian và cơ hội để theo đuổi đến cùng một công việc thực hành, nếu có.  Y tế công cộng là một ngành đặc thù đòi hỏi những giảng viên Y tế công cộng phải có kinh nghiệm và năng lực ở cả ba lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và công tác thực hành. Nếu không, điều này sẽ đem lại hậu quả tồi tệ, không chỉ tới chất lượng của những bác sĩ Y tế công cộng mà cho cả bác bác sĩ Y khoa tương lai (bởi trong giáo trình đào tạo ngành Y cũng có nhiều môn về Y tế công cộng).  Ta hãy nhìn vào các điều kiện tương ứng ở nước ngoài, chẳng hạn ở các nước châu Âu như Đan Mạch, Hà Lan, Pháp hay Đức. Trước tiên ta có thể thấy giảng viên trình độ cao trong ngành Y tế công cộng luôn được đào tạo đại học cơ bản thật vững chắc. Tuy nhiên, họ từng tiếp nhận kiến thức từ một trong tập hợp rất phong phú các lĩnh vực. Nổi bật lên là các nhà toán học và các bác sỹ, song cũng có các nhà xã hội học; nhà kinh tế; nhà giáo dục; nhà dân số học và các loại chuyên gia khác nữa, rất hiếm những người chỉ được học Y tế công cộng. Điều đó phản ánh hiện thực là Y tế công cộng đòi hỏi một cách nhìn bao quát và nhiều mặt, trong khi sự chuyên môn hóa ít được nhấn mạnh hơn so với trong y khoa chẳng hạn.  Những người được đào tạo như vậy sẽ chiếm giữ nhiều vị trí cao cấp trong Y tế công cộng. Họ là giáo sư hoặc giảng viên của các trường đại học. Họ làm việc trong các viện nghiên cứu y tế. Họ có biên chế trong các bệnh viện lớn và các cơ quan quản lý y tế cao cấp. Họ tư vấn cho các cơ sở y tế và cơ quan hành chính các cấp. Họ tham gia lập kế hoạch cho các chương trình y tế công cộng nhiều loại khác nhau như vệ sinh công cộng; phòng bệnh ban đầu và phòng bệnh thứ cấp; chuẩn hóa điều trị trong dân cư; v.v. Họ chiếm giữ vai trò quan trọng trong các tổ chức y tế công cộng và tư nhân với mục tiêu giáo dục sức khỏe và tuyên truyền y tế.   Trong số những người đó thường có mặt các nhà toán học. Lý do khá hiển nhiên, vì đã đưa ra một loạt các công cụ toán học liệt kê trên đây. Ví dụ về hai người đứng đầu các viện nghiên cứu:  Giám đốc của “Viện nghiên cứu Phòng bệnh và Dịch tễ học Leibniz (BIPS)” ở thành phố Bremen của Đức là một nhà toán học, công việc ban đầu của bà là nghiên cứu lý thuyết xác suất và thống kê toán học. Cơ quan BIPS là một viện nghiên cứu chính của Đức về dịch tễ học các bệnh không lây truyền và ứng dụng. Cơ quan này cũng có chức năng đào tạo quan trọng.  “Viện Sức khỏe và nghiên cứu y học quốc gia (INSERM)” của Pháp tiến hành phần lớn các nghiên cứu y tế cơ bản. Viện này được tổ chức dưới dạng 339 đơn vị nghiên cứu mà hầu hết đặt ngay trong các trường đại học hoặc các bệnh viện. Các đơn vị này thuộc vào một trong 9 bộ môn. Bảy trong số các bộ môn đó thực chất là sinh y, một là công nghệ y tế, và một dành cho Y tế công cộng. Nhiều nhà khoa học của viện này là các nhà toán học, đồng thời một nhà thống kê toán học là giám đốc khoa học của toàn bộ INSERM từ 1982 đến 1996.    Cơ hội của Toán học trong Y tế công cộng tại Việt Nam    Nói chung:  – Các giảng viên Y tế công cộng cần được đào tạo một cách bài bản.– Ở một số nước châu Âu nhiều người trong số họ ban đầu được đào tạo theo một ngành của các lĩnh vực rất đa dạng và khác hẳn ngành Y tế công cộng, sau đó mới chuyển qua Y tế công cộng.  Biết trước cấu trúc đặc thù và vai trò của Y tế công cộng, đây chắc chắn cũng là con đường mà qua đó các chuyên gia cao cấp trong Y tế công cộng nên được đào tạo tại Việt Nam:  – Ở bậc đại học bình thường đầu tiên được học một chuyên môn cơ bản, đó có thể chính là môn Y tế công cộng mà có thể nâng cấp lên trình độ cao hơn, song cũng có thể là một chuyên môn khác;– Tiếp đó là chuyên môn hóa ở trong ngành Y tế công cộng.  Ta đã thấy rằng trong số các “chuyên môn khác” đó, toán học là chuyên môn rất phù hợp. Ta hãy nhìn vào sự nghiệp bình thường của một cán bộ ngành toán đã tốt nghiệp một trường đại học ở Việt Nam. Có vẻ như trừ việc có được vị trí nghiên cứu toán học cho một số ít ngoại lệ, họ sẽ trở thành giáo viên dạy toán trong trường phổ thông. Điều đó khá lạ, vì đâu đó trên thế giới cán bộ toán vẫn được săn lùng rất nhiều. Họ có nhiều lựa chọn giữa các vị trí trong công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm và các cơ quan kinh doanh khác, trong nghiên cứu, và tất nhiên trong Y tế công cộng. Ở Việt Nam cũng thế, có thể dễ dàng thu hút các cán bộ toán giỏi vào Y tế công cộng. Điều đó đồng thời sẽ mở rộng triển vọng thăng tiến cho các cán bộ ngành toán Việt Nam.  Đào tạo toán học tại các trường đại học Việt Nam có trình độ cao, là điều có thể hữu ích cho Y tế công cộng. Việc tập trung thêm vào các môn ứng dụng có thể đem lại hiệu quả. Nhân tiện, chuyển hướng dạy toán theo hướng ứng dụng cũng là điều nên làm trong các trường phổ thông. Để minh họa điều đó, hãy cho phép tôi mô tả công việc giảng dạy trước đây của chính mình tại trường Đại học Paris 5, nơi tôi đã về hưu năm 1998. Khoa toán của trường này ban đầu được thành lập định hướng cho các ngành nhân văn, nhưng sớm được mở rộng thành một khoa toán chung với quan điểm ứng dụng. Cùng với các học phần cơ sở nhấn mạnh tầm quan trọng của công cụ toán học trong ứng dụng, mỗi sinh viên phải chọn thêm một học phần nữa về một lĩnh vực ứng dụng cụ thể. Nhiều lĩnh vực ứng dụng như vậy đã được đề xuất. Từ 1986 đến 1998 tôi đã dạy một môn, là môn “Dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng”. Đó là một học phần lớn, 6 giờ mỗi tuần trong suốt một năm học, một nửa lý thuyết và một nửa thực hành. Nửa sau chủ yếu bao gồm việc sinh viên trình bày các bài báo khoa học đã công bố. Luôn có quãng hơn chục sinh viên, phần lớn là nữ (một năm chỉ có toàn nữ!). Sau khi tốt nghiệp, tất cả sinh viên đó đều nhanh chóng có vị trí trong hệ thống y tế của Pháp.  Tổ chức lại việc tuyển dụng và công việc của giảng viên Y tế công cộng ở các trường đại học Việt Nam theo phác thảo trên đây có thể giúp nâng cao uy tín của ngành Y tế công cộng và của các đại diện của ngành này trong công chúng nói chung. Việc đó có thể đóng góp đáng kể cho việc nâng cao sức khỏe của nhân dân.□Đoàn Trung Cường – Viện Toán học dịch Tia Sáng lược lại cho phù hợp với nội dung chuyên đề  ——-  Tài liệu tham khảo  1. Krickeberg, K., Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Bích: Health Education (song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh). Nhà Xuất bản Y học, Hà Nội 2014.  2. Krickeberg, K., Phạm Thị Mỹ Hạnh, Phạm Văn Trọng: Epidemiology – Key to Prevention. Springer, New York 2012. Phiên bản tiếng Việt: Dịch tễ học – Chìa khóa của dự phòng. Nhà Xuất bản Y học, Hà Nội 2014.  3. Krickeberg, K., Trần Trọng Khuê, Nguyễn Đức Thanh: Population Science and Public Health (song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh). Nhà Xuất bản Y học, Hà Nội 2014.  4. Krickeberg, K. et al: Mathematics and Statistics in the Health Sciences. Sắp xuất bản. Nhà Xuất bản Y học, Hà Nội.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chậm lại      Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nửa đầu năm 2016 chậm hơn cùng kỳ năm ngoái, GDP ước tính chỉ tăng 5,5% so với mức 6,3% trong nửa đầu 2015, theo Báo cáo Điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam do Ngân hàng Thế giới công bố ngày 19/7 vừa qua.    Sản xuất công nghiệp đang có xu hướng chững lại  Nguồn ảnh: Tapchitaichinh.vn  Báo cáo này chỉ ra nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại do nông nghiệp chịu tác động bất lợi của đợt hạn hán và xâm nhập mặn gần đây, đồng thời sản xuất công nghiệp đang có xu hướng chững lại.  Nhận xét trên bình diện chung, ông Achim Fock, Quyền Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, ông “kỳ vọng mức tăng trưởng GDP năm nay sẽ đạt khoảng 6%. Tuy tốc độ tăng trưởng ước tính sẽ chậm lại trong năm nay nhưng viễn cảnh kinh tế trung hạn của Việt Nam vẫn tích cực. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì Việt Nam cần phải tiếp tục tái cơ cấu kinh tế theo chiều sâu để tăng năng suất lao động.”  Về lĩnh vực tài chính, tỉ lệ lạm phát tăng nhẹ, tín dụng đã tăng trưởng với tốc độ khá cao, ở mức khoảng 18% (so với cùng kỳ) trong giai đoạn từ đầu năm tới nay. Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục nhắm đến mục tiêu duy trì cân đối giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Cụ thể, ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định các giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tăng trưởng tín dụng nóng và nâng cao chất lượng các khoản vay.  Báo cáo này cũng tiếp tục đưa ra cảnh báo quan ngại về tình trạng mất cân đối tài khoá tích tụ từ nhiều năm nay. Thâm hụt ngân sách ước tính gần 6,5% GDP vào thời điểm cuối năm 2015. Nợ công của Việt Nam đã chiếm khoảng 62,2% GDP và đang nhanh chóng tiến gần mức trần 65% GDP và áp lực ngân sách sẽ còn tiếp diễn.   Ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra gợi ý chính sách: “Chính phủ đã cam kết đảm bảo duy trì bền vững nợ công và tái tạo khoảng đệm tài khoá. Vấn đề bây giờ là phải thực hiện cam kết đó bằng hành động cụ thể nhằm cân đối ngân sách trong trung hạn. Các nỗ lực giảm nhẹ mất cân đối tài khoá cần được phối hợp với cải cách nhằm tạo khoảng đệm tài khoá để đảm bảo thực hiện một số hạng mục đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ công.”  Ngoài ra, các tác giả của báo cáo Điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam cũng phân tích quá trình già hóa dân số nhanh và đề xuất một số hành động chính sách nhằm đối phó với các thách thức của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam. Già hóa dân số sẽ gây nên nhiều tác động kinh tế, xã hội sâu rộng, cụ thể là ảnh hưởng lên thị trường lao động, tạo thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và toàn bộ người dân nói chung. Nhằm giảm nhẹ các tác động này, nhà nước cần phải có các hành động chính sách liên quan đến thị trường lao động, hệ thống hưu trí, hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe dài hạn. Hiện nay số dân từ 65 tuổi trở lên tại Việt Nam mới là 6,5 triệu người nhưng con số này dự báo sẽ tăng gấp 3 lần, đạt 18,4 triệu vào năm 2040.        Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Tôi được mentor như thế nào?      Tia Sáng có dịp hỏi anh Nguyễn Huỳnh Đức, sáng lập Dreambox, công ty có sản phẩm là ứng dụng xem video trên internet với chất lượng tốt nhất lovekiki.com, từng được mentor bởi anh Phan Đình Tuấn Anh, người sáng lập SME Mentoring network (một chương trình được Đại sứ quán Mỹ bảo trợ) và những người sáng lập SeedForAction (SFA – một accelerator lựa chọn mỗi năm khoảng 10 startup để đầu tư khoảng 10.000 USD, đổi lại là 3-5% cổ phần và tập trung vào mentor để startup ra sản phẩm và kết nối với 100 khách hàng đầu tiên) về mối quan hệ của mentor với doanh nhân khởi nghiệp.      Anh có thể kể về quá trình anh được mentor trong SME Mentoring network?  Trước đây tôi có tham gia SME Mentoring network và được anh Tuấn Anh làm mentor. Anh hướng dẫn cho tôi nhiều về kinh nghiệm sống và kinh doanh hơn là về công nghệ, vì anh không có nhiều kinh nghiệm về mảng này. Tuy nhiên, được mentor về mảng công nghệ là điều tôi cần hơn.   SFA là một khóa tăng tốc khởi nghiệp, bên cạnh mentor, họ còn đầu tư vào công ty của anh. Vào thời điểm tham gia SFA, điều nào quan trọng hơn với anh: mentor hay số tiền đầu tư ?   Việc được đầu tư cũng là động lực để các bạn trong đội ngũ nghỉ việc và tập trung toàn thời gian xây dựng sản phẩm.Tuy nhiên, điều thu hút nhất đối với tôi không phải là số tiền SFA đầu tư vào công ty mà là được học hỏi kinh nghiệm của những mentor để đi con đường khởi nghiệp nhanh hơn, đúng hơn.   Có phải điều thu hút anh vào SFA là vì những người sáng lập SFA, tức là anh Nguyễn Thành Nhân và chị Ngân Sâu, là những người có nhiều kinh nghiệm?   Chị Ngân và tôi là bạn và biết nhau lâu rồi. Tôi biết chị Ngân có mạng lưới quan hệ rộng, uy tín, tốt cho vòng đầu tư tiếp theo. Ngoài ra, chị luôn gợi ý cho tôi những người cần gặp, giới thiệu tôi đến các sự kiện startup lớn để tôi học hỏi và kết nối.  Anh Nhân từng có một startup thành công và đã đầu tư nhiều startup khác, có kinh nghiệm trong ngành internet và khởi nghiệp (Lời tòa soạn: Nguyễn Thành Nhân từng làm việc ở Chai Labs, một startup được Google mua lại. Hiện anh đang làm kỹ sư tại Google). Anh đưa ra lời khuyên giúp tôi tập trung vào một thứ quan trọng hơn là lan man. Ví dụ, tôi đang làm ứng dụng video hot nhất trên mạng xã hội. Trước đây, phát triển sản phẩm ở nhiều tính năng và đăng ở tất cả các kênh cho phép quảng cáo miễn phí. Tuy nhiên, sau khi được mentor, tôi quan tâm nhiều xem chức năng nào giúp mình phát triển mạnh nhất. Trước đây, kênh nào quảng cáo được là tôi dùng, bây giờ tôi chỉ tập trung vào một – hai kênh có lượt truy cập nhiều nhất mà thôi. Lượng người dùng bây giờ tăng ít nhất 10% mỗi tuần, thậm chí còn tăng 50%, trong khi trước kia tăng 10% cũng khó.   Bên cạnh đó, tôi cũng phải báo cáo công việc của mình và chat Skype với anh Nhân hằng tuần (vì anh ở bên Mỹ).  Điều gì anh học được nhiều nhất từ mentor khi tham gia SFA?   Khi làm việc với nhà đầu tư, tôi học được hai điều mà tôi nghĩ là hay nhất:   Tiền và thời gian là hai thứ không được lãng phí. Phải suy nghĩ và cân nhắc đầu tư vào những việc quan trọng thôi. Điều này ai cũng biết nhưng áp lực đầu tư khiến tôi phải tận dụng nó triệt để.   Startup cần phải phát triển nhanh và hằng tuần. Mỗi tuần cần đạt được một thành quả nào đó, cần phải tăng lượng khách hàng đều đặn, ít cũng được, nhưng việc áp lực tăng thường xuyên như vậy giúp mình lúc nào cũng dành suy nghĩ cho việc này. Tăng trưởng hằng tuần cũng giúp cho mình và đội ngũ có động lực làm việc hơn.   Hảo Linh thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi muốn các đối tác nước ngoài kính nể sản phẩm và cung cách làm việc của doanh nhân Việt      Ngày 20/8/2010, rotor có trọng lượng 1.000 tấn – trái tim của tổ máy số 1 đã được lắp đặt thành công đánh dấu một cột mốc quan trọng của công trình thủy điện Sơn La, trên con đường tiến tới phát điện tổ máy đầu tiên cuối năm 2010. Góp phần quyết định vào thành công này là chiếc cẩu trục có sức nâng 1.200 tấn do Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung sản xuất.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tăng Cường, Anh hùng Lao động, Giám đốc Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung – người được trong giới cơ khí chế tạo mệnh danh là “ông vua cần cẩu”, về những thành công của xí nghiệp và những trăn trở của ông trong sự phát triển của ngành cơ khí.        Tôi được nghe kể là trước ngày lắp đặt rotor, khi cẩu trục đang vận hành thử thì đột nhiên ngừng hoạt động và những người thợ lắp máy trên công trường không sao khởi động lại được, khi người ta phải cầu cứu đến ông, mới biết chính ông ngồi tại nhà máy ở Quảng Ninh đang bấm nút điều khiển cho cẩu trục này ngừng hoạt động để “cảnh cáo” sự lần lữa trong việc thanh toán hợp đồng mua cẩu trục của bên A?  Đúng thế. Ở ta hiện nay làm ra sản phẩm bán được đã khó, nhưng lấy được tiền thì còn khó hơn, phải chạy vạy đủ kiểu.  Việc chế tạo cẩu trục 1.200 tấn, một thiết bị công nghệ cao như vậy hẳn ông được sự trợ giúp của một số viện nghiên cứu?  Tất nhiên là chúng tôi rất cần đến sự hợp tác của các nhà khoa học, nhất là tôi vốn chỉ là anh thợ cơ khí không học hàm học vị gì.                Anh hùng lao động               Nguyễn Tăng Cường:              – Sinh năm 1960 trong một gia đình có truyền thống làm nghề cơ khí.              – 1977 nhập ngũ    – 1981 xuất ngũ, khởi nghiệp từ nghề sửa chữa, chế tạo đầu bò, xilanh xe máy Honda.              – Năm 1989 thành lập tổ cơ khí Quang Trung với 6 công nhân              Sản phẩm nghiên cứu thành công đầu tiên: ống gang chịu axit cho nhà máy super phốt phát Lâm Thao với giá thành chỉ bằng 20% giá nhập ngoại.              – Năm 1992: Thành lập xí nghiệp cơ khí Quang Trung.              Nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công chiếc cẩu trục đầu tiên có sức nâng 10 tấn, mở đầu việc cho ra đời một loạt các loại cần cẩu có tải trọng, sức nâng lớn tới 1.200 tấn.              – Năm 2000: Được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động          Kể từ khi chúng tôi chế tạo cẩu trục chân đế 80 tấn đầu tiên vào năm 2001, đến nay sau 10 năm một loạt sản phẩm cẩu đã ra đời: cẩu chân đế từ 80 tấn đến 180 tấn; cẩu trục từ 30 tấn đến 700 tấn với khẩu độ dài “kinh khủng” – 180m; cẩu trục lần lượt từ 50 tấn đến 320 tấn, 560 tấn (nhân đôi là 1.120 tấn).  Tất cả các sản phẩm đó hầu như đều do chúng tôi cái thì tự mày mò nghĩ ra, cái thì mổ xẻ lấy của ông nọ bà kia mỗi người một ít, mỗi chỗ một ít để hình thành ra sản phẩm của mình chứ không sao chép nguyên xi của ai. Sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu cơ khí cho chúng tôi là không đáng kể.  Gần đây nhất trong việc thiết kế chế tạo cần cẩu bánh xích 100 tấn – một loại cẩu mà ở khu vực Đông Nam Á chưa có nước nào sản xuất. Việc này chúng tôi được sự hợp tác của ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Xây Dựng.   Vì sao họ không hợp tác được với ông?   Do nhiều nguyên nhân. Trước hết, họ không tin vào những ý tưởng táo bạo, những mục tiêu, tham vọng mà những người thợ chúng tôi dám nghĩ dám làm, họ sợ mất công, mất sức vô ích; và điều quan trọng hơn, nói ra hẳn nhiều người không vừa lòng. Có viện với hàng chục GS, TS, đã từng làm một đề tài khoa học cấp Nhà nước – chế tạo cẩu trục 5 tấn, tiêu không ít tiền của Nhà nước, mà đến nay hình hài chiếc cẩu trục đó vẫn chưa thấy đâu, trong khi chúng tôi làm chiếc cẩu chân đế 80 tấn không lấy của Nhà nước đồng nào. Với kiến thức “què”, kiến thức “lùn” như vậy, dù muốn, việc đó cũng chẳng giúp được gì nhiều cho chúng tôi… Chưa kể, trong số họ có người còn đố kị với những thành công của chúng tôi.   Tôi hy vọng thời gian tới sự hợp tác giữa chúng tôi với các nhà khoa học sẽ ngày càng có hiệu quả hơn.  Sản phẩm của Quang Trung có gì đặc biệt so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài?  Cần cẩu của chúng tôi có kiểu dáng công nghiệp riêng, không giống bất cứ sản phẩm nào trên thế giới. Về tính năng có cái còn thua kém một chút so với các sản phẩm nước ngoài nhưng giá thành rẻ hơn nhiều. Tuy nhiên, với điểm xuất phát thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn, vốn ít, kinh nghiệm ngắn, chúng tôi lại phải cạnh tranh hết sức khốc liệt với các sản phẩm nhập khẩu vì không được sự bảo hộ của Nhà nước. Lẽ ra sản phẩm của chúng tôi, đã nội địa hóa lên tới 85-90%, thì 10-15% chi tiết cần nhập khẩu phải miễn thuế thì Nhà nước lại đánh thuế rất cao, trong khi đó thuế nhập khẩu cần cẩu hiện nay bằng 0.   Hàn Quốc muốn có được Hyundai, Daewoo, Samsung… Park Chung Hee đã đề ra chính sách rất quyết liệt để phát triển chế tạo máy, đầu tư một lượng vốn rất lớn với lãi suất gần như bằng 0, cùng với rất nhiều ưu đãi về thuế, đất đai…          Cẩu chân đế 180 tấn và cẩu bánh lốp đa năng có sức nâng lên đến 400 tấn do cơ khí Quang Trung chế tạo            Xin ông cho biết một vài sản phẩm công nghệ cao nào mà xí nghiệp đang ở trong giai đoạn hoàn thiện?  Chúng tôi nghiên cứu thiết kế chế tạo cùng một lúc nhiều loại sản phẩm khác nhau, trong đó trọng điểm là cần cẩu bánh xích 100 tấn và thiết bị đóng cọc trong xây dựng cơ bản.  Cho đến nay, ở Việt Nam có nhiều viện nghiên cứu cơ khí, nhiều nhà khoa học nhưng chưa ai dám nghĩ đến làm chiếc cần cẩu bánh xích 100 tấn vì nó có tới hàng ngàn chi tiết, mà chi tiết nào cũng quan trọng, cũng chưa sản xuất được ở Việt Nam. Nói hơi quá, với cung cách làm ăn ở các viện như hiện nay, thì tập hợp tất cả các viện nghiên cứu cơ khí ở Việt Nam lại cũng không làm được chiếc cẩu đó. Còn thiết bị đóng cọc với những tính năng của nó sẽ tạo ra bước đột phá trong việc giảm giá thành và rút ngắn thời gian thi công công trình.  Việc chế tạo những sản phẩm đó ông có đăng ký thành các đề tài nghiên cứu để nhận sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước?  Vài năm gần đây, Bộ KH&CN quan tâm nhiều đến sự phát triển của các doanh nghiệp công nghệ cao. Bộ trưởng Hoàng Văn Phong  đã vài lần đến tìm hiểu việc làm ăn của xí nghiệp. Được sự khích lệ và ủng hộ của Bộ, chúng tôi đã đăng ký việc thiết kế chế tạo chiếc cẩu đó thành đề tài khoa học trọng điểm cấp Nhà nước. Đề tài này đã nghiệm thu ở cấp cơ sở, được đánh giá là đã tạo ra bước đột phá trong việc thiết kế, chế tạo những loại cần cẩu có trọng tải lớn hơn. Hiện chúng tôi đang hoàn thiện hồ sơ để tổ chức nghiệm thu cấp Nhà nước.             Xí nghiệp cơ khí               Quang Trung              Từ một xí nghiệp tư nhân được thành lập năm 1992, sau gần 10 năm xây dựng, xí nghiệp cơ khí Quang Trung đã phát triển vượt bậc thành:              – 2 tổ hợp công nghiệp quy mô lớn trên 1.000 ha tại Ninh Bình và Quảng Ninh, với 18 đơn vị trực thuộc bao gồm: nhà máy chế tạo, trung tâm nghiên cứu thử nghiệm, trường đào tạo nghề…              – Hơn 1.300 công nhân trong đó có hơn 200 kỹ sư và gần 600 thợ bậc cao.              – Sản phẩm của xí nghiệp hàng năm… đã có mặt tại hầu hết các nhà máy, công trình xây dựng của các tập đoàn, tổng công ty và các địa phương trong cả nước.              – Xí nghiệp đã được Chủ tịch nước quyết định trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều huân chương cao quý khác.          Có nhà khoa học đã hỏi tôi tại sao ông không chia đề tài này thành nhiều đề tài nhỏ để lấy được nhiều tiền hơn? Tôi trả lời, đúng là có thể chia thành rất nhiều đề tài: chế tạo xích là một đề tài, chế tạo bánh sao, hệ thống bánh tì, hộp hành tinh vi sai, mâm phoi, cần cẩu – mỗi thứ cũng là một đề tài. Nhưng tôi đăng ký đề tài là để khẳng định vị thế về năng lực, về chất xám của xí nghiệp chứ đâu cần lấy tiền của Nhà nước. Chúng tôi sống và sống đàng hoàng chủ yếu nhờ việc bán được sản phẩm, được thị trường trong nước chấp nhận, thậm chí có thể xuất khẩu được.  Thực tế, ông đã xuất khẩu chưa?  Hiện chưa. Thứ nhất, bản thân những sản phẩm cỡ lớn của chúng tôi mới bắt đầu thành công chừng mười năm nay, cần thêm thời gian để lắng nghe phản hồi của khách hàng đánh giá chất lượng của nó. Thứ nữa, hiện nhập siêu của nước mình rất lớn, làm sao để Nhà nước không phải bỏ tiền mua cần cẩu nước ngoài đã là thành công của chúng tôi rồi.   Mục tiêu lâu dài của Xí nghiệp ông trong lĩnh vực chế tạo cơ khí là gì?   Như đã nói ở trên, tôi muốn chế tạo được nhiều sản phẩm cơ khí có chất lượng cao giúp đất nước giảm được ngoại tệ nhập khẩu; muốn khi đi ra nước ngoài, không ai dám coi thường cung cách làm ăn của doanh nhân Việt Nam. Khi gặp mình họ phải kính cẩn cúi chào, bắt tay mình một cách thân thiện. Tôi cũng thực sự mong muốn góp phần vào sự phát triển ngành cơ khí chế tạo bởi thiếu nó thì ngành công nghiệp của đất nước không thể phát triển.  Để đạt được mục tiêu đầy tham vọng như vậy ông cần sự hỗ trợ gì về phía Nhà nước và của các cơ quan khoa học?  Chúng tôi cần nhất là có những chính sách đúng đắn, có hiệu lực trong vòng ít nhất vài ba chục năm của Nhà nước. Muốn vậy, các cơ quan tham mưu cần phải lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, các doanh nghiệp, phải thực sự lắng nghe những ý kiến tâm huyết trung thực, phải vì lợi ích chung của đất nước. Nếu không sẽ chỉ có những chính sách xa rời thực tế, gây tác hại khôn lường. Ví dụ như hiện nay vay ngân hàng để đầu tư sản xuất kinh doanh với vay để kinh doanh bất động sản đều phải trả lãi suất như nhau, thì chỉ khuyến khích người ta đi buôn đất. Hay như, để chế tạo cơ khí cần có sáu công đoạn: Thiết kế chế tạo khuôn mẫu, đúc, cắt gọt, nhiệt điện, lắp ráp. Nhưng hiện nay chính sách của chúng ta lại chỉ quan tâm đến khâu cuối cùng là lắp ráp. Do vậy nên mặc dù có chiến lược phát triển công nghiệp ô tô với nhiều tham vọng, nhưng những chính sách được ban ra lại chỉ khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài tháo gỡ ô tô đưa về Việt Nam, vặn thêm con ốc vào là xong, hầu như không có tỷ lệ nội địa hóa nào ở Việt Nam cả. Do vậy, chiến lược đó thất bại thảm hại.  Còn sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu thì tôi đã nói ở trên, với cung cách như hiện nay, nếu không cải tổ một cách toàn diện thì không thể trông mong gì ở họ.  Vậy theo ông cải tổ như thế nào?  Tôi biết từ nhiều năm nay Bộ KH&CN đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tổ chức lại cơ cấu và hoạt động của các viện nghiên cứu theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nhưng qua làm việc với một số viện nghiên cứu tôi thấy dường như chưa có mấy thay đổi. Họ vẫn thích tự chủ chi tiêu tiền tài trợ của Nhà nước, còn chịu trách nhiệm về việc vẽ ra các đề tài nghiên cứu để đút vào ngăn kéo… thì không. Theo tôi, Nhà nước cần có cơ chế buộc các nhà khoa học phải chịu trách nhiệm về số tiền mà Nhà nước đầu tư cho mình giống như doanh nghiệp chúng tôi, làm được thì được, thua lỗ thì phải trả nợ, phá sản…          Xí nghiệp đã đầu tư tới hơn 1.300 tỉ đồng để xây dựng trung tâm công nghệ cao hiện đại vào bậc nhất của Việt Nam với các dây chuyền công nghệ thuộc thế hệ thứ 3: Trung tâm gia công tiện phay CNC 3 trục, 4 trục, 5 trục, 9 trục; máy hàn cắt tự động theo lập trình; các thiết bị điều khiển hợp số, lập trình gia công với các hãng nổi tiếng của Đức, Mỹ…              ———————-  Máy cắt CNC với 8 mỏ sử dụng khí gas Oxy hoặc cắt bằng plasma cắt chiều dày tôn tới 350mm          Hiện trong lĩnh vực cơ khí có quá nhiều vụ viện phân tán ở các Bộ, ngành, tiềm lực rất hạn chế, chẳng ai chịu ai, thích là làm không có một định hướng, một tiếng nói chung, nên từ nhiều năm nay đóng góp được rất ít cho sự phát triển của công nghiệp. Vì vậy cần tổ chức lại các vụ, viện nghiên cứu cơ khí của các Bộ, ngành thành một Trung tâm Nghiên cứu, Thiết kế và Chuyển giao công nghệ Quốc gia với các phòng nghiên cứu chế tạo máy, nghiên cứu vật liệu… và phòng tình báo công nghiệp. Phòng này có nhiệm vụ hết sức quan trọng là lấy được công nghệ cao bằng mọi cách, kể cả ăn cắp, chứ nếu mua theo con đường chuyển giao công nghệ thì bị rất nhiều ràng buộc bởi nhiều điều kiện bất lợi mà thực ra họ đâu có bán cho mình công nghệ mới. Tôi biết việc này hiện nay chủ yếu dựa vào mấy ông tùy viên, như vậy khó mà có công nghệ mình mong muốn.   Trung tâm đó sẽ chịu trách nhiệm với Nhà nước thực hiện các chương trình nghiên cứu trọng điểm theo mục tiêu: làm được sản phẩm gì? Trong bao năm, đầu tư bao nhiêu tiền? Và để chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chương trình đó, trung tâm cần có chức danh tổng công trình sư.   Phát triển lĩnh vực chế tạo khuôn mẫu, bằng việc trước mắt hình thành từ 3 đến 5 trung tâm ở ba vùng miền do Nhà nước đầu tư, và giao cho một doanh nghiệp có khả năng quản lý sử dụng khai thác, nộp thuế và trích khấu hao. Tiếp theo là việc hình thành trung tâm đúc công nghệ cao cũng ở ba vùng miền. Các trung tâm đó tác động lan rộng công nghệ cơ khí chế tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng, miền đó.  Được biết, ông đã có dự án trình Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ trong việc xây dựng một Trung tâm nghiên cứu của Xí nghiệp. Dự án này đã triển khai đến đâu?   Để chủ động phục vụ cho sản xuất và nghiên cứu triển khai một số sản phẩm mới, từ vài ba năm nay chúng tôi đã bỏ ra nhiều tỉ đồng để mua trang thiết bị cho trung tâm CNC. Nhưng để đáp ứng được nhu cầu phát triển trong thời gian tới, chúng tôi cần hình thành một trung tâm nghiên cứu có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại. Vì vậy theo sự chỉ đạo của Bộ KH&CN chúng tôi đã xây dựng xong dự án của trung tâm nghiên cứu đó, nhưng đến nay vẫn chưa được Bộ Tài chính duyệt cấp kinh phí. Tôi nghĩ Nhà nước cần phải có sự nhìn nhận lại việc phân bổ tài chính đầu tư cho khoa học. Ai thật sự làm có hiệu quả, có tiềm năng phát triển và nhất là có ý tưởng mới thì cần được đầu tư chứ không chỉ dựa vào cái danh của các viện. Tôi thấy trên báo chí nói, có phòng thí nghiệm trọng điểm được Nhà nước đầu tư hàng trăm tỉ đồng mà nhiều thiết bị hầu như vẫn đắp chiếu.  Ông có thể khái quát những yếu tố dẫn đến sự thành công của Quang Trung?  Thành công trước hết là do chúng tôi đam mê với công việc, có hoài bão, tham vọng lớn, có sự thống nhất ý chí, chỉ đạo tập trung, triển khai rất quyết liệt như việc thi hành mệnh lệnh của quân đội. Khi giám đốc phát ra lệnh, người nhận lệnh ký xác nhận đồng ý hay không đồng ý nhận việc. Khi đã nhận việc thì được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để làm. Nếu đã làm hết khả năng mà không xong thì có người giúp đỡ; nếu vẫn không được thì tất cả sẽ thức trắng đêm để làm cho bằng được.  Dù học vị học hàm không có, nhưng đam mê, lăn lộn trong thực tế sản xuất, tôi đã tích lũy được một vốn tri thức đáng kể về các lĩnh vực: điện, tự động hóa, vật liệu, chế tạo hệ thống module bánh răng…, ngay cả một số kỹ sư sừng sỏ cũng không thể qua mặt tôi được, nên tôi có thể chỉ đạo và tổ chức thực hiện đến từng chi tiết nhỏ nhất của các thiết bị, hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót không đáng có.   Nguyên tắc của chế tạo cơ khí là bản vẽ thiết kế phải được phê duyệt rồi mới đưa vào sản xuất. Nếu không thành công thì người ký duyệt phải chịu trách nhiệm. Do vậy có những bản vẽ thiết kế tốt, lại phải xếp vào ngăn kéo vì nhiều vị ở các vụ, viện sợ trách nhiệm không dám ký duyệt. Còn ở tôi, từ ý tưởng chúng tôi làm mô hình nhỏ, thí nghiệm, sửa đi sửa lại, khi nào thành công mới tiến hành thiết kế và tôi là người chịu trách nhiệm ký vào bản vẽ. Do vậy phát huy được tối đa tính sáng tạo của mọi người. Mọi sản phẩm hoàn thành tốt đều là công lao, là niềm vui chung của mọi người. Đó là về tinh thần còn về vật chất, lợi nhuận làm ra, ngoài việc đầu tư phát triển xí nghiệp, tôi dành một phần không nhỏ để có thể trả một mức lương, thưởng hấp dẫn, tùy theo năng lực và kết quả công việc của từng người.   Ông điều hành công việc trong ngày như thế nào?  Thành nếp, dậy 4 giờ sáng, không xuống đất, lúc đó rất tỉnh táo, suy nghĩ về công việc của mình ngày hôm nay cái gì làm trước cái gì làm sau, làm như vậy thì được lợi gì hại gì, cứ thế mà triển khai. Thời gian trong ngày tôi chủ yếu điều hành công việc trực tiếp ở cơ sở, ít khi ngồi ở văn phòng và cũng ít khi dùng đến văn bản, giấy tờ, nên đâu cần trợ lý, thư ký.  Với những kinh nghiệm có được, hẳn ông có thể góp phần xây dựng một chính sách phát triển ngành cơ khí có tính khả thi cao?  Đúng vậy. Nếu được tham gia vào việc đó, thì bằng cả tâm huyết và tri thức thu lượm được từ trong thực tế lao động sản xuất, tôi tin là những ý kiến của tôi sẽ góp phần giúp cho chính sách có tính khả thi hơn. Vấn đề là chẳng có ai hỏi tôi, mà đôi khi người ta còn nghĩ tôi là vỗ ngực. Đáng chê trách nhất là một số lãnh đạo, chuyên viên viện nghiên cứu chiến lược của một số bộ ngành được Đảng và Nhà nước giao cho công việc làm chính sách đã non yếu về trình độ, lại thiếu sự vi hành, thiếu sự giao lưu cầu thị nên tham mưu cho cấp trên ban hành chính sách không sát với thực tiễn. Có nhiều người nói chính sách mơ ngủ, vuốt đuôi, không đi được vào cuộc sống.  Xin cảm ơn ông.                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Toilet không sử dụng nước      Virginia Gardiner từ một phóng viên đã  chuyển thành nhà sáng chế với phát minh toilet không dùng nước Loowatt –  một loại toilet có thể tạo ra năng lượng từ chất thải của con người.  Phát minh này của cô đã được nhận hỗ trợ&#160; từ Quỹ Gates.     Sau bảy năm ấp ủ kế hoạch “cách mạng hóa phần ít được cải tiến nhất trong bất cứ hộ gia đình nào”, Gardiner đã cho ra được sản phẩm toilet sáng tạo Loowatt, chuẩn bị được giới thiệu tại Festival âm nhạc Latitude ở Suffolk tháng 7 này.  Dự án của cô cho đến nay đã kêu gọi được khoảng 2 triệu bảng, bao gồm cả tiền tài trợ từ Quỹ của vợ chồng Bill và Melinda Gates.  Mấu chốt trong hệ thống Loowatt là lớp lót có khả năng phân hủy sinh học bọc quanh lòng bồn cầu. Khi nút “dội” được ấn, chất thải sẽ được đẩy xuống một khoang phía dưới. Khoang hộp cung cấp nguyên liệu thô để đổ vào hộp phân hủy nơi các vi sinh vật sẽ phân rã chất thải thô thành khí sinh học và phân bón.    Ý tưởng này nhen nhóm từ khi Gardiner đang học thạc sỹ tại Đại học Nghệ thuật Hoàng Gia ở London năm 2006. Cô cảm thấy bức xúc trước tình trạng đất nước mình, tức nước Anh, lãng phí từ 4-13 lít nước mỗi lần giật nước toilet, trong khi đó trên thế giới cứ năm người thì có hai người không có bất cứ loại nhà vệ sinh nào.     “Tôi nhận ra rằng ý tưởng cải tiến toilet tốt nhất sẽ là tạo ra một hệ thống toilet không sử dụng nước, có thể biến chất thải thành vật dụng mà lại khả thi ở những vùng thành thị.” Gardiner chia sẻ. Cô nói thêm rằng các công nghệ biến chất thải con người thành phân bón đã phổ biến ở các vùng nông thôn, nhưng để áp dụng ở thành thị thì khó khăn hơn rất nhiều.    Ý tưởng ban đầu là dùng các loại giun để phân hủy chất thải ngay trong nhà, nhưng chắc chắn mọi người sẽ không dễ dàng đón nhận một công nghệ như vậy. Thế là Gardiner nghĩ ra việc dùng một lớp phim có khả năng phân hủy sinh học để chuyển chất thải trong toilet. Những dải phim bên thành toilet này sẽ thu vào với nhau và kéo chất thải xuống theo chuỗi. Công nghệ Loowatt có thể đặt vừa trong một diện tích chỉ nhỏ bằng một hộp giày và có thể gắn vào bất cứ loại toilet nào. Khi trưng bày mẫu công nghệ lần đầu tiên, Gardiner đã lắp hệ thống vào một bồn vệ sinh đúc từ phân ngựa để nhấn mạnh ý tưởng biến chất thải thành vật dụng của công nghệ này.  Sau khi nhận được vốn khởi động năm 2009, Gardiner bắt đầu tập trung vào thiết kế một công nghệ giúp khóa không cho mùi bay ra (giống toilet truyền thống) và công nghệ phân hủy yếm khí để biến chất thải thành nhiên liệu và phân bón.  Hệ thống phân hủy được thiết kế thành nhiều cỡ, từ cỡ nhỏ dùng trong gia đình cho đến cỡ công-ten-nơ chở hàng và thậm chí to hơn.   Tài trợ từ Quỹ Gates đã cho phép công ty thực hiện dự án thí điểm đầu tiên tại Antananarivo ở Madagascar để chứng minh là hệ thống có thể hoạt động trong thực tế. Người dân địa phương trả tiền để sử dụng toilet này và chất thải được biến thành năng lượng nhờ hệ thống phân hủy yếm khí đặt bên cạnh. Năng lượng thu được đã được bán để nạp pin điện thoại di động và đun nước.  Quỹ sẽ tài trợ thêm 1 triệu đô-la nữa để mở rộng dự án sản xuất 100 toilet đến cuối năm sau.   Hiện tại công ty đặt trụ sở ở Brixton, với chín nhân viên ở Anh và sáu nhân viên ở Madagascar. Gardiner vẫn là chủ chính của công ty. Cô cho biết ngoài thị trường chính là các buổi hòa nhạc, festival và các công trường ở các nước phương Tây, công nghệ này còn có thể được dùng trong các tình huống cứu trợ thảm họa và cả ở những vùng như Antananarivo, nơi mà nhà vệ sinh vẫn đang là một vấn đề. Toilet này không sử dụng nước và cũng không tiêu tốn năng lượng bởi năng lượng rất ít cần đề dội chất thải có thể lấy được từ tấm năng lượng mặt trời.   Tuy thị trường rất rộng lớn và nhiều cơ hội nhưng Gardiner nhận định sẽ có nhiều khó khăn, bởi đây là một công nghệ đi tắt đón đầu và hoàn toàn mới trong một khía cạnh rất riêng tư và khó thay đổi của đời sống. Bởi vậy, để giảm thiểu rủi ro, công ty của Gardiner đã nhắm tới cả hai loại thị trường là các nước phương Tây và các nước đang phát triển.  Khánh Minh dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôn vinh hay trấn lột      Những giải thưởng cổ vũ hư danh đã thành một thứ bệnh dịch lan nhanh làm khổ doanh nghiệp. Mới đầu, ta nghĩ, do bệnh thành tích, muốn kiếm danh hiệu giả và có cầu thì có cung. Nhưng khi chuyện tôn vinh trấn lột này thành dịch, thì mới hiểu nỗi khổ của doanh nghiệp.     Sáng nay nghe mấy câu đối thoại trên máy bay. “Hà hà, đồng chí đã bị lộ nhé. Xin lỗi thống thiết trên web mà chẳng sửa đổi. Té ra không có thì giờ khắc phục vụ bể đường ống lần thứ 9 vì em còn bận… đi nhận công trình mới”. “Không, em là Cúp vàng chất lượng xây dựng nữa đó anh ơi. Nói chung, cái báo Tuổi Trẻ này tổng hợp đủ, em đã bị lộ đủ thứ nhé”.  Hỏi ra hai người nói chuyện đều là chủ doanh nghiệp. Anh lắc đầu, tiền tôn vinh chính là một thứ hụi chết nhũng nhiễu dã man. Rồi chúng tôi cười kha kha: thiệt “đắng lòng” tuần nào cũng lãnh đủ 4, 5 tờ trát buộc phải… tôn vinh.  Tuần qua, gặp chị đại diện công ty mì Miliket. Chị kể: “Tại cuộc họp với lãnh đạo thành phố tôi vừa kêu: lãnh đạo phải giải cứu chứ chúng tôi cứ bị buộc đóng tiền tôn vinh hoài, từ chối thì mích lòng mà nhận đóng thì đội chi phí là chắc”.          Phải được đọc những thư email họ gửi doạ  nạt, phủ dụ doanh nghiệp, thậm chí sỉ nhục xúc phạm doanh nghiệp “sao  anh là tổng giám đốc mà keo kiệt thế, không biết tình hình cạnh tranh  sắp tới ai mất ai còn biết không?” mới hiểu nỗi khổ của doanh nghiệp. Đó  là hành động vô văn hoá hay ỷ thế chống lưng mà ức hiếp doanh nghiệp?        Những giải thưởng cổ vũ hư danh đã thành một thứ bệnh dịch lan nhanh làm khổ doanh nghiệp. Mới đầu, ta nghĩ, do bệnh thành tích, muốn kiếm danh hiệu giả và có cầu thì có cung. Nhưng khi chuyện tôn vinh trấn lột này thành dịch, thì mới hiểu nỗi khổ của doanh nghiệp. Nó đã thành “công nghệ mần ăn” của một số người chuyên kinh doanh danh hiệu. Xuất phát điểm là một công ty truyền thông hay tư vấn, tổ chức sự kiện, họ gợi ý cho các tổ chức có tên càng đáng nể càng tốt, rằng họ có nhiều danh hiệu đẹp và hấp dẫn ngất trời có thể cấp cho doanh nghiệp. Sức hút là danh hiệu, là những cuộc trao giải trực tiếp truyền hình và cả những cuộc giao lưu, tặng hoa của các nguyên thủ (?) mà họ “bán” tên từng vị với giá không hề nhân nhượng. Họ không bán danh hiệu trên danh nghĩa, nhưng giải thưởng, danh hiệu được trao chẳng có tiêu chí gì, chỉ có một tiêu chí là “khổ chủ” chịu đóng tiền, dưới hình thức tài trợ truyền thông.  Thưa ra, chỉ có một số ít doanh nghiệp chuộng hư danh thích mua danh hiệu còn đa số thì chỉ muốn yên thân. Mỗi năm có bao nhiêu cuộc tôn vinh dỏm, gây tốn kém của xã hội và doanh nghiệp bao nhiêu tiền? Điều đáng phẫn nộ không chỉ là thói trấn lột trắng trợn mà chính sự thiệt hại, không thiệt đơn mà thiệt kép của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Thay vì đầu tư tìm hiểu thị trường, người tiêu dùng, nâng cao năng lực đội ngũ thì để tiền ếm bùa danh hiệu, chỉ gặt được kết quả dỏm, chỉ thua thiệt trong cuộc cạnh tranh hội nhập sắp tới. Cuộc suy giảm kinh tế đòi cân nhắc từng đồng chi phí, vậy mà phải bỏ tiền mua sự yên thân. Cách đây vài năm, một phó chủ tịch TP.HCM đã thẳng thắn phê phán tệ nạn này tại một cuộc hội nghị ngành công thương, nhưng xem ra trên nhiều “mặt trận”, tệ nạn này vẫn hoành hành.  Cũng đã có những quy định về cấp danh hiệu, giải thưởng… nhưng những kẻ kinh doanh bất chính vẫn lách được. Nên tới nay, kẻ làm ăn lôi thôi vẫn núp sau những tấm bình phong danh hiệu (như kiểu Cúp vàng chất lượng xây dựng của CT Vinaconex, 9 lần làm bể ống nước sạch Sông Đà – Hà Nội, đang được giao công trình mới) và những kẻ làm ăn đàng hoàng thì vẫn phải lao đao để “né” trò ép uổng “tôn vinh trấn lột”. Trong nhiều nỗi khổ của doanh nghiệp hiện nay, không thể không kể nỗi khổ này.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng hợp được tế bào sống đầu tiên      Craig Venter, nhà khoa học say mê giải mã gene, lại một lần nữa làm rúng động giới khoa học khi nhóm nghiên cứu của ông tuyên bố thành công trong việc tạo ra tế bào sống tổng hợp đầu tiên.           Cấy bộ gene tổng hợp vào vi khuẩn      Craig Venter theo đuổi giấc mơ của mình trong suốt 15 năm: xây dựng bộ gene từ đống hợp chất vô cơ và sử dụng chúng để tạo ra sự sống nhân tạo. Mới đây ông và nhóm nghiên cứu tại Viện Craig Venter nói họ đã thực hiện được giấc mơ này. Dưới đây là câu chuyện họ tường thuật lại các bước tạo ra nhiễm sắc thể vi khuẩn nhân tạo và quá trình chuyển thành công nhiễm sắc thể này thành vi khuẩn sống, để có thể thay thế cho DNA nguyên bản. Sau khi được cấy vật chất di truyền mới, tế bào nhân tạo của vi khuẩn bắt đầu nhân lên và tạo ra hàng loạt protein mới.        “Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử sinh học và công nghệ sinh học”, Mark Bedau, nhà triết học tại Reed College, Portland, Oregon và là biên tập viên của tạp chí khoa học Artificial Life (Sự sống nhân tạo) nói. Bộ gene tổng hợp do nhóm Venter tạo ra khá giống với của bộ gene của vi khuẩn tự nhiên. Để đi đến thành công, 20 người trong nhóm làm việc đã phải lao động cật lực trong suốt hơn một thập kỷ, với một khoản tài chính vào khoảng 40 triệu USD. Mặc dầu vậy, để tạo ra những bộ gene thực sự như các loại bộ gene sống chuyên tạo ra năng lượng, dược phẩm, và khiến chúng sống được trong các tế bào hiện vẫn là điều chưa thể thực hiện được.       Xuất phát từ một dự án của Venter và các cộng sự, vi khuẩn tổng hợp vừa được công bố cho phép xác định các điều kiện tối thiểu cần có cho sự sống của loài này. Từ đó, các nhà khoa học có thể thêm vào các gene khiến các vi khuẩn có thể tạo ra các hợp chất hữu ích cho con người. Vào năm 1995, nhóm đã nghiên cứu vi khuẩn Mycoplasma genitalium có khoảng 500 gene và các nhà nghiên cứu thấy rằng họ có thể loại bỏ 100 gene mà không gây ra phản ứng gì.        Nhưng để bộ gene tối thiểu có thể tồn tại cần phải tổng hợp nhiễm sắc thể hoàn chỉnh và làm cho nó có thể hoạt động trong tế bào tiếp nhận bộ gene này. Hai bước này đã phải thực hiện trong nhiều năm vì chưa có công nghệ tạo ra và xử lý toàn bộ nhiễm sắc thể. Vào năm 2007, Venter, Smith, Hutchison và đồng nghiệp cuối cùng đã chỉ ra rằng họ có thể thay thế các nhiễm sắc thể tự nhiên từ một loại vi khuẩn này sang một loài khác. Vào năm 2008, họ đã chỉ ra có thể tạo ra nhiễm sắc thể nhân tạo tương thích với M. genitalium đồng thời chứa các chuỗi DNA có những dấu hiệu giúp cho việc phân biệt bộ gene tổng hợp và bộ gene tự nhiên.         Nhưng việc kết hợp các bước này không mang lại kết quả, một phần vì M. genitalium lớn chậm thành thử phải mất vài tuần để hoàn thiện. Nhóm nghiên cứu quyết định thay bằng vi khuẩn M. mycoides lớn nhanh hơn và bắt đầu tạo nên bản tổng hợp nhiễm sắc thể của nó. Năm ngoái, họ đã chỉ ra họ có thể tách nhiễm sắc thể tự nhiên của M. mycoides và đặt nó vào trong vi khuẩn lên men, làm biến đổi bộ gene của vi khuẩn, sau đó chuyển nó sang M. capricolum. Bước tiếp theo của nghiên cứu cho thấy bản tổng hợp DNA của vi khuẩn có thể làm bằng cách tương tự.        Các nhà nghiên cứu bắt đầu xây dựng các nhiễm sắc thể tổng hợp bằng lựa chọn DNA trong ngân hàng dữ liệu. Họ ghép 10.000 đoạn DNA lại với nhau, rồi sau đó là 100.000 đoạn, cuối cùng là hoàn thiện bộ gene. Tuy nhiên, khi họ đưa bộ gene tổng hợp vào M. capricolum, không có điều gì xảy ra giống như các nhà lập trình máy tính đụng phải các phần mềm giả, sau đó họ đã thay thế 1 cách có hệ thống các DNA tự nhiên và tổng hợp, và cuối cùng phát hiện ra lỗi trong bộ gene tổng hợp. Lỗi này đã làm chậm tiến độ của dự án 3 tháng.        Sau nhiều tháng thay thế nhiều đoạn gene kết hợp không thành công, may mắn đã đến với nhóm trong tháng vừa qua khi nhà sinh vật tìm thấy một nhóm màu xanh của vi khuẩn lớn rất nhanh trên đĩa thí nghiệm. (Màu xanh chỉ ra rằng tế bào đã sử dụng bộ gene mới). Nhóm nghiên cứu khẳng định rằng vi khuẩn có gene tổng hợp và sau khi kiểm tra cho thấy các vi khuẩn tạo thành protein đặc trưng của loại M. mycoides.       “Kết quả thật là ấn tượng”, Anthony Forster, nhà sinh học phân tử tại Đại học Vanderbilt, Tennessee nói. Tuy nhiên ông này và một số người khác cho rằng Venter vẫn chưa tạo ra được dạng sự sống tổng hợp vì bộ gene đã được cấy vào tế bào sống.        Theo một số nhà nghiên cứu, kỹ thuật mà nhóm Venter sử dụng rất khó để các nhóm khủng bố sinh học sử dụng. “Tuy nhiên, thí nghiệm này sẽ làm thay đổi tưởng tượng của chúng ta về cách sự sống được tạo ra lâu nay”, Paul Rabinow nhà nhân chủng học tại Đại học California, Berkeley nói. Theo Kenneth Oye, nhà khoa học xã hội tại MIT, thành công của Craig Venter như phát súng bắn vào màn đêm, mang tới những lợi ích và cả những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai.          “Sự sống nhân tạo gần như trong tầm tay của con người, các cơ quan hữu trách phải thiết lập khung pháp lý nhanh chóng vì không loại trừ khả năng sử dụng sai mục đích các kết quả nghiên cứu”, Oye nói thêm.       Venter nói rằng Viện nghiên cứu mang tên ông đã nộp đơn xin cấp một vài bằng sáng chế thuộc quyền sở hữu của công ty Synthetic Genomics, đơn vị đã cung cấp kinh phí cho dự án. Cơ quan giám sát về công nghệ ETC tại Ottawa cho rằng những việc làm này sẽ dẫn tới sự độc quyền trong việc sản xuất ra sự sống nhân tạo. Nhưng một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng, Synthenic Genomics rất khó trở thành Microsoft trong lĩnh vực sinh học tổng hợp. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là một vài sáng tạo thú vị sẽ bắt nguồn từ phòng thí nghiệm của Viện Venter.               Craig Venter – người say mê giải mã      Craig Venter, sinh năm 1946, không thuộc tuýp học trò chỉ biết có học tập. Sau khi bỏ ngang trung học vào những năm 1960, ông dành thời gian lướt ván ở miền nam California trước khi bị tuyển vào quân đội. Hy vọng được tập luyện để tham gia vào Olympic trong đội hình bơi của hải quân tan thành mây khói khi Tổng thống Lyndon B. Johnson quyết định tiến hành chiến tranh leo thang tại Việt Nam. Venter bị điều động sang Việt Nam, và trải qua 6 tháng khó quên tại Đà Nẵng, nơi ông từng phải thức trắng đêm để khâu vết thương cho những người bị thương tại một bệnh viện của Đà Nẵng trong đợt tấn công Tết Mậu Thân năm 1968.         Làm việc trong môi trường gần cái chết trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đã làm cho Venter mong muốn được học về Y học. Venter đăng ký học hóa sinh và hoàn thành chương trình tiến sĩ  về sinh lý học và dược học năm 1975 tại Đại học California, San Diego.        Sau thời gian làm giáo sư tại Đại học New York, Buffalo, Venter thành lập nhóm nghiên cứu của mình vào năm 1984 tại Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH). Ông đã phát minh ra kỹ thuật giải mã gene nhanh – kỹ thuật ESTs, được phát triển ngay chính phòng thí nghiệm của mình tại NIH và muốn xin cấp bằng sáng chế. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng, bao gồm cả giám đốc chương trình gene người vào thời kỳ đó là James Watson, đã phản đối ý định đăng ký sáng chế đối với kỹ thuật này vì cho rằng nó sẽ làm tổn hại mối quan hệ hợp tác giữa các nhà nghiên cứu.         Venter rời NIH vào năm 1992 vì cảm thấy mình bị đối xử bất công. Ông không giấu sự tức giận vì những người trong Viện đã không thừa nhận đề xuất phương án giải mã gene vi khuẩn H. influenzae của ông. Sau khi không xin được tài trợ của NIH cho dự án của mình, Venter từ chối một vài lời mời từ các công ty công nghệ sinh học trước khi chấp nhận 70 triệu USD tài trợ từ Tập đoàn HealthCare Investment để thành lập Viện nghiên cứu gene (The Institute for Genomic Research), nơi ông có thể tiếp tục công việc giải mã gene của mình.       Năm 1995, Venter công bố đoạn gene đầu tiên đầy đủ của một sinh vật sống, vi khuẩn Haemophilus influenzae, loại vi khuẩn gây ra bệnh viêm màng não và điếc. Tiếp đó, năm 1998 ông nhận được toàn bộ khoản tiền tài trợ tư trị giá 300 triệu USD cho dự án giải mã gần 3 tỷ đơn vị hóa học tạo nên bộ gene người. Trong những năm 2007 và 2008, Venter liên tục xuất hiện trên các tạp chí lớn với những công bố mới về giải mã gene. Ông được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới.        Ngọc Tú dịch (Science, Scientific American)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng nợ công năm 2012 ước khoảng 55,4% GDP      Theo Báo cáo nghiên cứu “Nợ công và tính bền  vững ở Việt Nam” được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố hôm qua,  27-5, tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam vào khoảng 54,9%  GDP, trong đó nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt là 30,9%  và 24,0% GDP.     Các con số tương ứng ước tính cho năm 2012 là 55,4% GDP; 29,6% GDP và 25,8% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh thì nợ công Việt Nam năm 2012 ước lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới hay Quỹ Tiền tệ quốc tế khuyến cáo là 60% GDP.  Hiện nay, theo định nghĩa, tổng nợ công là nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực công, bao gồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương nhưng không bao gồm nợ của DNNN, kể cả những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn. Chỉ nợ của các DNNN được Chính phủ bảo lãnh mới được tính vào tổng nợ công. Theo đó, trên danh nghĩa, nợ của khu vực DNNN chưa thực sự đe dọa nợ công của Việt Nam. Chính phủ chỉ bảo lãnh một số DNNN vay nợ nước ngoài, còn toàn bộ các khoản tín dụng trong nước thì DNNN phải tự vay tự trả. Với mức dư nợ khu vực tín dụng của DNNN khoảng 55% – 60% GDP năm 2009 thì phần dư nợ của DNNN được Chính phủ bảo lãnh chỉ mới chiếm khoảng 4,2% – 6,9% tổng dư nợ của khu vực này. Song, khi các DNNN lâm vào khó khăn, các khoản nợ trong nước của các khối này thường được Chính phủ hỗ trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ. Tất cả các hình thức “ngân sách mềm” này cuối cùng đều sẽ khiến chi tiêu ngân sách tăng và ngân sách nhà nước thâm hụt. Để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực DNNN, Nhà nước sẽ buộc phải phát hành trái phiếu. Như vậy, nợ công của quốc gia sẽ tăng.  Ủy ban Kinh tế đánh giá, việc tiếp cận các nguồn thông tin chính thống và cập nhật về nợ công, nợ nước ngoài và nợ của DNNN ở Việt Nam là khó khăn. Nguồn thông tin chính thống về nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay là Bản tin Nợ nước ngoài phát hành định kỳ 6 tháng/lần của Bộ Tài chính. Dù vậy, bản tin mới nhất cũng chỉ phản ánh thống kê nợ nước ngoài cho tới hết năm 2010.   Ủy ban Kinh tế khuyến nghị rằng, việc xây dựng một hệ thống cung cấp và quản trị thông tin nợ công/nợ nước ngoài một cách minh bạch và nhanh chóng là yêu cầu cấp bách để các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Việt Nam có sự nhìn nhận và đưa ra quyết sách đúng đắn về vấn đề này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Topica: mô hình tăng tốc tập trung vào đào tạo      Thay vì hỗ trợ dàn trải cho nhiều yếu tố của  một công ty khởi nghiệp, Topica Founder Institute chỉ tập trung vào một  đối tượng duy nhất: các nhà sáng lập.     Topica Founder Institute là một khóa huấn luyện khởi nghiệp toàn cầu, trong đó Việt Nam là một đối tác khu vực. Founder Institute cũng được coi như một khóa tăng tốc khởi nghiệp nhưng đầu ra của chương trình này là đầu vào của các khóa tăng tốc khởi nghiệp khác. Người tham gia khóa huấn luyện khởi nghiệp này là các cá nhân có tinh thần khởi nghiệp và họ sẽ chỉ được tốt nghiệp khi mỗi người “cho ra đời” một công ty.   Khóa huấn luyện khởi nghiệp này, thay vì hỗ trợ cả một công ty, chỉ tập trung “tôi luyện” người sáng lập (founder) bằng những bài tập và các yêu cầu khắt khe mà những người khởi nghiệp sẽ phải đối mặt khi bước ra thị trường. Người sáng lập ra Founder Institute, Adeo Ressi (nổi tiếng ở Silicon Valley với web TheFund.com – nơi các nhà khởi nghiệp đánh giá các quỹ đầu tư) tin rằng, nếu như 90% các công ty khởi nghiệp thất bại thì đó là do họ không nhận được sự đào tạo đúng đắn.    VnPlay là một trong năm công ty khởi nghiệp tốt nghiệp Founder Institute khóa I. Nguyễn Minh Quang, CEO của VnPlay khi đó đang là CEO của Vdec – một công ty phát triển nền tảng nội dung trực tuyến cho người sử dụng di động và internet kể lại: “Cứ thử tưởng tượng, Founder Institute giống như một cối xay, chỉ người đủ tốt mới có thể sống sót”. VnPlay không phải là ý tưởng kinh doanh đầu tiên Quang trình bày trước các huấn luyện viên (trong đó có Adeo Ressi) mà trước đó, anh đã có ba mô hình bị phản bác. Ý tưởng kinh doanh của những người tham gia khóa Founder Institute chỉ được cho phép hiện thực hóa khi sản phẩm và mô hình kinh doanh có tiềm nâng quy mô lên toàn cầu. Nếu không đưa ra kịp ý tưởng phù hợp trước khi kết thúc khóa học thì cá nhân đó không thể tốt nghiệp.           “Còn một khoảng cách rất xa giữa những gì người sáng lập ở Việt Nam đang đạt được với những tiêu chuẩn đòi hỏi để khởi nghiệp thành công trên thế giới. Đó là khoảng cách về thái độ, tư duy, tầm nhìn, khả năng chịu đựng…” – Nguyễn Minh Quang, CEO của VnPlay.        Tham gia dự án Vietnam Silicon Valley, mọi người thường xuyên tới văn phòng làm việc nhưng với Founder Institute, họ chỉ phải tới “trường” ba đến bốn buổi/tuần để nghe các huấn luyện viên chia sẻ. Founder Institute ở Việt Nam có một mạng lưới gồm hơn 60 huấn luyện viên, bao gồm những người đứng đầu các quỹ đầu tư mạo hiểm và những người sáng lập các công ty khởi nghiệp thành công (như Vật giá, VNG…). Trong vòng 15 tuần diễn ra khóa học, có 15 chủ đề (sessions), dựa trên kinh nghiệm và chuyên môn của các huấn luyện viên, ban tổ chức sẽ mời họ tới chia sẻ theo chủ đề cho trước. “Những nội dung đó khá phù hợp với những gì mình cần” – Minh Quang  nói. Còn với VSV, các huấn luyện viên sẽ trao đổi, giải đáp những thắc mắc trực tiếp của các doanh nghiệp đưa ra mà không phụ thuộc vào một chủ đề, nội dung cố định nên với những người mới khởi nghiệp lần đầu tiên, chưa có sản phẩm, họ có thể sẽ không định hình được vấn đề của mình để hỏi.  Tuy không phải tới “trường” hằng ngày nhưng thực hiện bài tập của Founder Institute rất căng thẳng. 15 chủ đề (sessions) mỗi khóa tương đương với 15 thử thách là những bài tập ứng với thực tế khởi nghiệp mà các học viên sẽ phải vượt qua khi bước ra thị trường:  phỏng vấn và quay phim 10 người sáng lập khác, thực hiện 500 khảo sát trong vòng một ngày… Chương trình sẽ loại trực tiếp hàng tuần các học viên không vượt qua thử thách. Những người tham gia Founder Institute đều có công việc toàn thời gian ở công ty, họ phải “tung hứng” giữa nó với những bài tập đầy áp lực ở Founder Institute. Đó là lí do, phần lớn những người tham gia đều “bỏ cuộc”. Khóa I của Founder Institute chỉ có năm người tốt nghiệp trên tổng số 25 người tham gia mặc dù “đầu vào” của Founder Institute không phải là những viên chức bình thường mà hầu hết đã từng khởi nghiệp, có công ty, có sản phẩm và có một vị trí nhất định trên thị trường.  “Thực tế mà tôi thấy, phần lớn những người tham gia hầu hết đều đã có một công ty, có sản phẩm và thậm chí có cả doanh thu nữa. Nhưng tại sao họ lại chịu ‘nhào nặn’ bởi Founder Institute? Đó là bởi còn một khoảng cách rất xa giữa những gì người sáng lập ở Việt Nam đang đạt được với những tiêu chuẩn đòi hỏi để khởi nghiệp thành công trên thế giới. Đó là khoảng cách về thái độ, tư duy, tầm nhìn, khả năng chịu đựng…” – Nguyễn Minh Quang đánh giá. Bây giờ, anh là một trong số những huấn luyện viên của chương trình này.   “Có nhiều người kêu ca rằng, tại sao tôi lại bị “đuổi học” khi đến muộn mười phút, khi chưa trả lời email trong vòng nửa tiếng… Điều đó là không được phép bởi trong khởi nghiệp, có những cơ hội chỉ đến trong vòng 30 phút và họ không có dịp làm lại. Đừng nghĩ rằng, ý tưởng kinh doanh của mình là số một và cho phép mình quên đi những kĩ năng khác” – anh Quang lý giải.          Topica Founder Institute là chương trình  khởi nghiệp toàn cầu được thành lập tại Silicon Valley và hiện nay có  mặt trên 40 quốc gia. Adeo Ressi, người sáng lập chương trình này trong  bài phỏng vấn trên  New York Times cho biết, nội dung chương trình không  hề được “địa phương hóa”. Chất lượng đầu ra của Topica Founder  Institute dù ở Việt Nam, Nam Phi hay Columbia không có gì khác biệt với ở  Silicon Valley. Bên cạnh đó, chương trình đã đảo ngược tỉ lệ thất bại  trong khởi nghiệp công nghệ từ 90% thành 10% và hiện nay, những người  tốt nghiệp Topica Founder Institutes đã tạo ra 10.000 công việc trên  toàn thế giới.     Ở Việt Nam, hằng năm, Topica Founder  Institute tổ chức một khóa học kéo dài bốn tháng ở Hà Nội hoặc Tp. Hồ  Chí Minh. Tính đến thời điểm hiện tại, chương trình này đã diễn ra ba  khóa học với tỉ lệ số học viên tốt nghiệp chưa đến 30%. Các học viên tốt  nghiệp sẽ thuyết trình về công ty khởi nghiệp của mình trước 30-40 nhà  đầu tư đến từ trong và ngoài nước trong ngày tốt nghiệp được gọi là  Founder Showcase. Topica Founder Institute ở Việt Nam là bệ phóng duy  nhất có học viên kêu gọi được vốn đầu tư lên đến hàng triệu USD. Đó là  Appota (Nền tảng phân phối game và các ứng dụng di động) và Yton (mạng  xã hội về Y tế, hỗ trợ đặt lịch khám với bác sĩ). Khóa gần đây nhất, có 4  doanh nghiệp khởi nghiệp đã kêu gọi với tổng số vốn hàng trăm nghìn USD  trước khi tốt nghiệp, bao gồm: Antoree (kết nối gia sư với học sinh  trong khu vực Đông Nam Á), Morbling (phát triển các game 3D trên nền  tảng dành riêng cho di động), Uplevo (cổng cung cấp các mẫu thiết kế để  khách hàng tự tạo tờ rơi), Vlance.vn (sàn giao dịch giữa những người làm  việc tự do – freelancer).                  Author                Quản trị        
__label__tiasang TP Hà Giang thử nghiệm mô hình giáo dục cộng đồng mới      Tới đây, Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang sẽ đi vào hoạt động có sự tham gia quản lý của một tổ chức khoa học-công nghệ tư nhân và đóng góp chuyên môn của các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, nhằm thử nghiệm một mô hình giáo dục cộng đồng hoàn toàn mới, thực chất hơn và tự chủ hơn.      Khám sàng lọc cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt tại Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang. Ảnh do Trung tâm cung cấp.  Trung tâm học tập cộng đồng đã có mặt ở hơn 80% xã, phường, thị trấn ở khắp Việt Nam với mục đích xây dựng xã hội học tập từ cơ sở. Các trung tâm này có giám đốc là phó chủ tịch xã/phường, phó giám đốc là hiệu trưởng một trường học trên địa bàn và một cán bộ xã/phường kiêm nhiệm. Trung tâm nhận sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng GD&ĐT và được cấp ngân sách vận hành khoảng 30 triệu đồng/năm.  Với Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang, có thể nói thành phố “tột bắc” đang thử nghiệm một mô hình chưa có tiền lệ dựa trên cơ sở một đơn vị sự nghiệp công lập hợp tác chặt chẽ với các nhóm xã hội, trong đó, vai trò của chuyên gia được đề cao.  Các hoạt độngchính của Trung tâm bao gồm dạy tiếng Anh, giáo dục STEM, giáo dục đặc biệt (dành cho trẻ tự kỷ, khuyết tật trí tuệ, chậm đọc), chăm sóc sức khỏe tâm trí (tư vấn tâm lý các lứa tuổi), thư viện… được thiết kế, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh nội dung trong trường hợp cần thiết bởi 14 chuyên gia, hầu hết đang nghiên cứu, học tập ở nước ngoài – theo chị Hoàng Diệu Thúy, Giám đốc Trung tâm, một người trẻ sống ở Hà Giang, từng học thạc sĩ ngành văn hóa và phát triển ở Úc. Ví dụ, mảng giáo dục STEM của Trung tâm có sự hợp  tác  của  chuyên  gia  Nguyễn  Thành  Hải  từ  Viện  Nghiên  cứu  giáo  dục  STEM  (Đại  học Missouri, Mỹ). Với sự ra đời của Trung tâm, lần đầu tiên các bậc cha mẹ có con tự kỷ, khuyết tật trí tuệ, chậm đọc ở tỉnh Hà Giang không còn phải đưa con sang Tuyên Quang hay về Hà Nội để được hỗ trợ chăm sóc và giáo dục.  Đặc biệt, Trung tâm sẽ hoạt động như một trung tâm mẹ, hỗ trợ kỹ  thuật, nhân  lực và chương trình  hoạt động cho các trung tâm học tập cộng đồng cấp xã, câu lạc bộ hướng dẫn viên du lịch thôn bản và hộ gia đình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố và huyện Vị Xuyên .   Cũng theo chị Thúy, Trung tâm được TP Hà Giang hỗ trợ cơ sở vật chất và chi phí hoạt động cho đến hết năm nay. Từ năm 2018, Trung tâm sẽ tự chủ về tài chính thông qua các hoạt động có thu phí và hoạt động gây quỹ theo quy định mới của nhà nước về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ.  Trung tâm là một dự án phi lợi nhuận, ra đời từ sáng kiến của Trung tâm Nghiên cứu Hỗ trợ Cộng đồng tỉnh Hà Giang (HCA), một tổ chức khoa học – công nghệ tư nhân hoạt động tại Hà Giang do chị Thúy và một số cựu du học sinh thuộc Chương trình Học bổng Chính phủ Úc, thành lập. Sáng kiến đã nhận được sự ủng hộ của nhiều du học sinh các nước khác như Mỹ, Bỉ, Pháp, Thụy Sĩ là bạn bè của chị Thúy. Tuy nhiên, điều khiến chị cảm kích nhất là “các lãnh đạo TP Hà Giang đã tin tưởng vào thiện chí của chúng tôi và giao cho chúng tôi quyền quản lý mô hình do chúng tôi đẻ ra”. Được biết, từ lúc chị đề xuất sáng kiến lên các lãnh đạo thành phố cho đến khi Trung tâm được ký quyết định thành lập hôm 26/7 vừa qua chỉ mất bảy tháng. “Nếu chỉ kêu gọi bạn bè lập một kế hoạch kinh doanh rồi gọi vốn mở một trung tâm tiếng Anh hay dạy trẻ khuyết tật thì đơn giản quá vì nó chỉ giải quyết vấn đề của một nhóm người, một địa phương. Với Trung tâm Giáo dục cộng đồng TP Hà Giang, chúng tôi muốn hợp tác với chính quyền thử nghiệm ý tưởng ở phạm vi rộng hơn một tổ chức tư nhân để nếu thành công, nó có thể sẽ được áp dụng cho những khu vực có điều kiện tương tự như thành phố Hà Giang,” chị Thúy chia sẻ với Tia Sáng.  Ngày 8/8 tới, Trung tâm sẽ có lễ ra mắt chính thức tại tổ 1, phường Trần Phú, TP Hà Giang.       Author                Thanh Thanh        
__label__tiasang TP. HCM hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tiết kiệm năng lượng      Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC) – thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM đang triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng và thiết lập hệ thống quản lý năng lượng cho khoảng 40 đến 50 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Mỗi doanh nghiệp tham gia chương trình này sẽ nhận được mức hỗ trợ&#160; lên đến 50 triệu đồng.      Đây là một trong những hoạt động nằm trong chuỗi các chương trình “Tiết kiệm năng lượng” trên địa bàn thành phố HCM năm 2013 do Sở Khoa học và Công nghệ TP. HCM tổ chức nhằm giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn khi thực hiện các hoạt động tiết kiệm năng lượng. Đồng thời, hỗ trợ các doanh nghiệp giảm thiểu tối đa chi phí năng lượng trong bối cảnh sản xuất khó khăn và chi phí năng lượng đang tăng cao.  Đối tượng được hỗ trợ từ chương trình “Tiết kiệm năng lượng” bao gồm: Các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ không có vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp sản xuất trọng điểm không có vốn đầu tư nước ngoài; Các doanh nghiệp sản xuất tham gia các chương trình hợp tác với Sở Khoa học & Công nghệ TPHCM.  Hiện nay, tiết kiệm năng lượng đang trở thành vấn đề sống còn của một doanh nghiệp và nó ngày càng trở nên quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên trong quá trình tiếp cận với các giải pháp tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn, trong đó rào cản lớn nhất là vấn đề tài chính. Vì vậy, chương trình của ECC sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp sẽ nhận biết được tình trạng công nghệ và máy móc thiết bị hiện đại và nhận diện các lãng phí năng lượng trong doanh nghiệp thông qua hoạt động đo kiểm và đánh giá từ ECC. Đồng thời có thể đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, khả thi nhất để tiết kiệm chi phí năng lượng cho từng hệ thống, từng hộ tiêu thụ năng lượng trong doanh nghiệp. Đặc biệt, sau kết quả kiểm toán năng lượng, ECC sẽ giới thiệu doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi cho đầu tư các giải pháp tiết kiệm năng lượng, các quy trình sản xuất tiên tiến hiện đại.  Mọi thông tin chi tiết về việc đăng ký nhận hỗ trợ từ chương trình “Tiết kiệm năng lượng”, doanh nghiệp liên hệ với Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC).    Author                Quản trị        
__label__tiasang TP Hồ Chí Minh đặt hàng giới khoa học      Sở KH&amp;CN TP Hồ Chí Minh đang triển khai  chương trình đặt hàng các đề tài nghiên cứu KH&amp;CN trong năm 2014,  theo đó, doanh nghiệp có thể đặt hàng nhà khoa học các nội dung nghiên  cứu và triển khai công nghệ, áp dụng các tiến bộ KH&amp;CN vào sản xuất.    Các sở/ban/ngành, quận/huyện trên địa bàn thành phố có nhu cầu đặt hàng nghiên cứu các vấn đề khoa học và triển khai công nghệ cũng nằm trong chương trình này.  Chương trình đặt hàng các nhà khoa học được chính thức khởi động từ năm 2013 nhằm giải quyết những bất hợp lý về tài chính trong nghiên cứu khoa học.  Theo Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM Phan Minh Tân, cơ chế tài chính được coi là bất cập lớn nhất đối với việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học.  Chẳng hạn, định mức chi cho một chuyên đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tối đa là 12 triệu đồng trong khi ngành kỹ thuật tối đa là 30 triệu đồng.   Ông Tân cho rằng điều này là bất hợp lý vì thực tế triển khai các đề tài mất rất nhiều thời gian và công sức, nên không thể áp dụng theo định mức cứng nhắc.   Để có tiền nghiên cứu, một số nhà khoa học cực chẳng đã tìm cách lách bằng cách chia nhỏ đề tài.   Theo cách đặt hàng mới, sau khi đề tài nghiên cứu được thông qua, Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh sẽ ký thêm một hợp đồng đặt hàng nghiên cứu phát triển KH&CN với chủ nhiệm đề tài.   Sau đó tiền sẽ được chuyển vào tài khoản bất kỳ của nhà khoa học chứ không nhất thiết ở kho bạc và họ được toàn quyền chi tiêu cho công việc nghiên cứu, không bị khống chế mức trần cho một chuyên đề trong đề tài của mình.  Khi nhà nước đã đặt hàng, nhà khoa học chỉ cần nộp sản phẩm cam kết và một hóa đơn theo kinh phí được duyệt là xong. Nhà khoa học không còn cần phải “vẽ” chuyên đề, giải thích việc mua vật tư thiết bị, chi tiêu thế nào…   Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân, điều này giống như giao trách nhiệm cho nhà khoa học, để cho họ tự chủ trong nghiên cứu, nhất là vấn đề chi tiêu.   Việc thanh toán, quyết toán cũng không theo năm tài chính như hiện tại, mà được sửa thành quyết toán theo hợp đồng, có thể kéo dài đến vài ba năm, để giới nghiên cứu không phải chạy theo các thủ tục quyết toán phức tạp, theo ông Quân.  Ông Quân cho rằng một khi họ làm ra đúng sản phẩm cam kết thì phải đơn giản hóa thủ tục để quyết toán. Sau đó sản phẩm ấy có thể thương mại hóa, bán cho doanh nghiệp hay góp vốn vào doanh nghiệp để lấy tiền hoàn lại vốn cho một phần ngân sách nhà nước bỏ ra, phần còn lại là lợi ích của chính nhà khoa học.  Trong kỳ họp tháng 6 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi, mà theo ông Quân sẽ giúp giải quyết một phần những bức xúc của giới khoa học về cơ chế tài chính từ trước đến nay.  Tuy nhiên, để có thể thực hiện thông suốt cơ chế mới, ông Quân cho rằng, phải sửa đổi một số luật khác, như Luật Ngân sách, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Đầu tư theo hướng đồng bộ với Luật Khoa học và Công nghệ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang TP Hồ Chí Minh là một trong mười thành phố tốt nhất cho các công ty khởi nghiệp      Trang CNN vừa đăng nhận định của Simon Squibb – giám đốc điều hành Tập đoàn Đầu tư Nest ở Hồng Kông – về 10 thành phố thuận lợi nhất trên thế giới để bắt đầu một công ty khởi nghiệp, trong đó có TP Hồ Chí Minh của Việt Nam.    Danh sách 10 thành phố đang nổi lên là có thị trường thuận lợi nhất để tung ra và phát triển các công ty khởi nghiệp mà Simon Squibb đưa ra bao gồm: thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam); Nairobi (Kenya); Bangalore (Ấn Độ); Santiego (Chile); Dakar (Senegal); Manila (Phillipines); Lagos (Nigeria); Lima (Peru); Hồng Kông (Trung Quốc); và Tel Aviv (Israel).   Các công ty khởi nghiệp ngày nay không cần thiết phải bắt đầu từ Thung Lũng Silicon nữa. Theo Simon Squibb, một số thành phố trước đây đã từng là những ao tù thương mại đang nổi lên như những ứng cử viên đáng gờm trong nền kinh tế mới, và rất nhiều trường hợp đang tận dụng chính những gì trước đây là điểm yếu của mình, ví dụ như sự thiếu hụt cơ sở vật chất ở những nơi như Nairobi hay Lagos, những nơi đã từng mất hàng năm chỉ để sửa một đường dây điện. Các thành phố này đã bỏ qua hoàn toàn một thế hệ phát triển công nghệ để giờ đây chuyển luôn sang cung cấp một loạt các dịch vụ di động với tiềm năng đáng nể.  Simon nói: “Họ [các thành phố này] không bị kìm hãm bởi những vấn đề về cơ sở vật chất và họ không có gì để mất khi trở thành một nơi cho các ý tưởng khởi nghiệp. Hoàn toàn có cơ hội cho thương mại điện tử (e-commerce) hay các công nghệ phục vụ giáo dục (ed-tech) ở những nơi này.” Ví dụ như do thiếu những sự tiếp cận cơ bản với trường lớp và ngân hàng, các nước cận sa mạc Sahara ở Châu Phi đã trở thành những nơi phát triển các công nghệ phục vụ giáo dục và các dịch vụ tài chính di động tiên tiến nhất.  Các thành phố này có hoàn cảnh bắt buộc phải nghĩ ra những giải pháp sáng tạo để bù đắp cho sự thiếu hụt cơ sở vật chất, và thường những giải pháp này luôn liên quan đến công nghệ. Tuy vậy, những thành phố có tiềm năng vượt lên trong cuộc chạy đua công nghệ mới này thường cũng phải có sẵn một vài nền tảng như một hệ thống giáo dục có hoạt động, những quy định về pháp luật, và sự tiếp cận với nguồn vốn.  Về thủ phủ thương mại đang phát triển của Việt Nam, ông Squibb nhận định: “Thành phố này đã sinh ra Flappy Bird và có 70% dân số dưới độ tuổi 30, năng lượng và sức sống sôi động của nó sẽ tiếp tục xây dựng một khung cảnh khởi nghiệp nở rộ”.  PV dịch   Nguồn: http://edition.cnn.com/2014/10/13/tech/10-best-emerging-market-start-up-cities/index.html?iid=article_sidebar      Author                Quản trị        
__label__tiasang TP.HCM hỗ trợ doanh nghiệp ĐMST      UBND TP.HCM vừa ban hành Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 – 2020 với hai nội dung chính: Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng và đổi mới sáng tạo; và hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.    TT    Trọng tâm của dự án là các doanh nghiệp thuộc  4 ngành: Cơ khí chế tạo; điện tử – Công nghệ  thông tin; Hóa chất, hóa dược – cao su nhựa;  Chế biến tinh lương thực, thực phẩm  Theo đó, nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng và đổi mới sáng tạo với 5 nhiệm vụ: Đào tạo về công cụ quản trị năng suất chất lượng và đổi mới sáng tạo; Tư vấn nâng cao năng suất chất lượng và quản trị tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp; Hỗ trợ nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ và sản phẩm; Hỗ trợ thực hiện đổi mới công nghệ; Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường mua sắm công thông qua các hình thức hợp tác công tư (PPP).  Trong khi đó, nội dung hỗ trợ hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo bao gồm 5 nhiệm vụ: Hỗ trợ hạ tầng cơ sở vật chất cho hệ sinh thái khởi nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp; Hỗ trợ hình thành và hoạt động hệ sinh thái khởi nghiệp TP.HCM; Đào tạo cộng đồng về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; Thúc đẩy hoạt động truyền thông khởi nghiệp sáng tạo và xây dựng văn hóa khởi nghiệp; Xây dựng các công cụ hỗ trợ tài chính và pháp lý.  Việc tổ chức giám sát và đánh giá hiệu quả của chương trình được UBND TP.HCM phân công cho Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện.        Mục tiêu của chương trình:   * Về năng suất lao động:   Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân tăng từ 6,5%/năm trở lên.    * Về ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo:  Đến 50% doanh nghiệp vừa và lớn ngoài nhà nước được tư vấn thành lập, sử dụng Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ của doanh nghiệp để tạo nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ; Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho 10.000 doanh nghiệp, trong đó có 30% là các doanh nghiệp thuộc 4 ngành công nghiệp trọng điểm (Cơ khí chế tạo; điện tử – Công nghệ thông tin; Hóa chất, hóa dược – cao su nhựa; Chế biến tinh lương thực, thực phẩm); Hỗ trợ 1.000 dự án đổi mới công nghệ, sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng.   *Về khởi nghiệp sáng tạo:  Hỗ trợ 2.000 dự án khởi nghiệp sáng tạo.             Author                Quản trị        
__label__tiasang TPHCM thiết kế thành công lõi IP nén ảnh JPEG 2000      Lõi IP nén ảnh JPEG 2000 do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch (ICDREC), ĐH Quốc gia TPHCM, chế tạo là nền tảng để thiết kế các chip xử lý hình ảnh, ứng dụng trên các sản phẩm thuộc lĩnh vực y học, trắc địa học, truyền thông, viễn thám, sinh trắc học, giải trí…    Sản phẩm lõi IP nén ảnh JPEG 2000  thuộc đề tài “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo thử nghiệm chip nén ảnh theo tiêu chuẩn JPEG2000 và chip ADC đa năng ứng dụng trong y tế” của chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KC.01/11-15 do ThS. Nguyễn Minh Khánh Ngọc (ICDREC) là chủ đề tài. Ngoài ra, ICDREC còn phối hợp với Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế (Bộ Y tế) cùng thực hiện đề tài.   Tại buổi họp báo ngày 9/7, giám đốc ICDREC, ông Ngô Đức Hoàng, cho biết, JPEG 2000 là chuẩn nén ảnh của thế giới do Joint Photographic Experts Group công bố vào năm 2000, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như các thiết bị đa phương tiện (điện thoại di động, máy quay camera, máy ảnh kỹ thuật số, máy in), y tế (nén ảnh cho các thiết bị X-quang, siêu âm…), khảo sát trắc địa (ảnh chụp từ vệ tinh cần nén trước khi truyền về trái đất…), quân sự/giám sát (cung cấp hình ảnh vệ tinh HD, phát hiện chuyển động, thiết lập mạng lưới phân phối và lưu trữ hình ảnh,  camera giám sát chất lượng cao…  Bắt tay thực hiện đề tài từ năm 2012, ThS. Nguyễn Minh Khánh Ngọc và các cộng sự đã nghiên cứu và nắm vững kỹ thuật thiết kế hệ thống nén ảnh JPEG 2000, kỹ thuật thiết kế bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự sang số ADC độ chính xác cao và kỹ thuật thiết kế vi mạch ở công nghệ 130 nano mét. Đây là cơ sở để các nhà nghiên cứu thiết kế và chế tạo lõi IP mềm thực hiện nén ảnh theo tiêu chuẩn JPEG 2000.   Sản phẩm lõi IP nén ảnh JPEG 2000 của ICDREC cho phép nén các ảnh tĩnh có độ phân giải cao lên đến 16 triệu điểm ảnh và 16 bit độ xám với các chế độ nén tổn hao và không tổn hao trên cùng một hệ thống, đồng thời cho phép người dùng nén các loại ảnh có tối đa bốn thành phần màu cùng với các định dạng ngõ vào khác nhau như 444, 422, 420 và mức xám. Lõi IP nén ảnh JPEG 2000 còn có thể nén ảnh động với độ phân giải HD đạt tốc độ 24 fps (frame/giây).  Từ sản phẩm này, đội ngũ thiết kế vi mạch của ICDREC sẽ thiết kế các chip xử lý hình ảnh, ứng dụng trong các sản phẩm   đòi hỏi hình ảnh có độ phân giải ảnh lớn và độ phân giải mức xám cao thuộc lĩnh vực y học, trắc địa học, truyền thông, viễn thám, sinh trắc học, giải trí…  Trong quá trình nghiên cứu và thiết kế sản phẩm lõi IP,  ICDREC còn đào tạo được đội ngũ nhân lực thiết kế vi mạch trong lĩnh vực tín hiệu số và xử lý ảnh, thiết kế vi mạch analog cho các ứng dụng chuyển đổi tín hiệu tương tựm đồng thời góp phần hỗ trợ cho một số nghiên cứu, dự án khác về các thiết bị xử lý ảnh y sinh và các thiết bị đo trong y tế.   Về ý nghĩa lâu dài của đề tài, các nhà chuyên môn cho biết, khi ứng dụng thiết bị trên các hệ thống thiết bị y tế sẽ góp phần giảm giá thành thiết bị, giải tỏa áp lực và gánh nặng cho ngành y tế; cải thiện chất lượng phúc lợi xã hội, góp phần tạo thế cân bằng trong việc cung cấp linh kiện điện tử trong nước; hạn chế sự phụ thuộc vào linh kiện nước ngoài; góp phần làm giảm giá thành sản phẩm điện tử làm ra để có thể cạnh tranh mạnh mẽ với các sản phẩm cùng loại trong và ngoài nước.   Tại lễ công bố, ICDREC và công ty cổ phần Điện tử Biên Hòa (Belco) đã ký kết hợp tác cùng phát triển lõi IP nén ảnh JPEG 2000 của ICDREC thành chip xử lí để ứng dụng cho các sản phẩm mà Belco đang sản xuất.         Author                Quản trị        
__label__tiasang TPHCM: Tìm kiếm giải pháp đổi mới sáng tạo ứng phó dịch COVID-19      Sở KH&CN TPHCM vừa triển khai Chương trình “Tìm kiếm và kết nối các giải pháp đổi mới sáng tạo ứng phó dịch COVID-19 tại TPHCM năm 2021” (HIS – COVID 2021), khuyến khích những sáng tạo dù rất nhỏ, nhưng có thể ứng dụng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, kiểm soát, truy vết, điều tiết nguồn lực xã hội.    Ngoài ra, Chương trình cũng khuyến khích cung cấp các giải pháp công nghệ để doanh nghiệp duy trì và phát triển trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp.  Các cá nhân, nhóm, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM có: giải pháp có tính sáng tạo; công nghệ, giải pháp, sản phẩm đã sẵn sàng áp dụng nhằm ứng phó tình hình dịch COVID-19; dự án mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội, giúp ứng phó với diễn biến phức tạp dịch bệnh, đều có thể đăng ký tham gia.    Thiết bị khai báo y tế tự động do Công ty TMA Innovation nghiên cứu, phát triển. Ảnh: QSTC  Sở KH&CN TPHCM sẽ chọn 20 giải pháp, công nghệ tốt nhất để huấn luyện và tư vấn hoàn thiện kỹ năng trình bày trước hội đồng tuyển chọn. 10 giài pháp xuất sắc trong số đó sẽ được vinh danh trong Tuần lễ ĐMST và khởi nghiệp TPHCM năm 2021 (WHISE 2021).  Các giải pháp ĐMST xuất sắc, phù hợp sẽ được Sở KH&CN TPHCM giới thiệu cho UBND Thành phố, các sở, ban, ngành, quận – huyện và Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố triển khai đến các đối tác có nhu cầu. Doanh nghiệp có giải pháp ĐMST xuất sắc, sẽ được ưu tiên xem xét được công nhận là doanh nghiệp KH&CN, để được nhận nhiều chính sách ưu đãi từ TPHCM.  Tất cả những giải pháp ĐMST đăng ký tham gia hoặc đóng góp cho Chương trình, đã được thẩm định bởi hội đồng chuyên gia, sẽ được truyền thông trên các website của Sở, fanpage Chương trình HIS-COVID 202… để tìm kiếm đối tác và khách hàng có nhu cầu .  Đăng ký tham gia HIS-COVID 2021 tại: https://his-covid.doimoisangtao.vn  Thời hạn nộp hồ sơ: từ 26/7/2021 đến hết ngày 15/8/2021.  Theo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang TPP là tin vui nếu kịp thời đổi mới công nghệ      Nhiều ý kiến cho rằng TPP với những điều khoản về bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ làm lợi cho các tập đoàn dược lớn của quốc tế đồng thời trói buộc những công ty dược ở các nước đang phát triển. Nhưng theo trao đổi của TS Hồ Nhân, Giám đốc Công ty Công nghệ sinh học Dược NANOGEN (Khu CNC TP.HCM) với Tia Sáng, những doanh nghiệp dược Việt Nam có sự đầu tư cần thiết để cải tiến công nghệ sẽ hưởng lợi ích lớn từ TPP.    Tia Sáng: Ông có thể lý giải vì sao TPP có thể mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp dược của Việt Nam?    TS. Hồ Nhân: Lợi thế rõ rệt nhất là trước khi có TPP, chúng ta phải đợi 12-15 năm mới có quyền sản xuất thuốc generic theo thỏa thuận sở hữu trí tuệ giữa các nước khi gia nhập WTO, nhưng tới đây khi TPP chính thức được thông qua thì chỉ cần năm đến tám năm là chúng ta có thể sản xuất cung cấp nội địa cũng như xuất khẩu đối với thuốc làm theo công nghệ sinh học. Theo tôi đây là một tin rất vui.    Để đón nhận lợi thế mới như vậy từ TPP, doanh nghiệp của ông đã có sự chuẩn bị gì?    Tôi và công ty NANOGEN đã có sự chuẩn bị cho cuộc chơi TPP từ mấy năm qua. Thứ nhất, chúng tôi đã hoàn thiện tất cả các công nghệ nguồn để sản xuất ra các loại thuốc công nghệ sinh học mà các doanh nghiệp từ các nước thành viên TPP khác có thể độc quyền. Thứ hai, để chuẩn bị cho việc xuất khẩu ngược lại vào Mỹ và các nước thành viên TPP khác trong thời gian tới, chúng tôi đã đầu tư xây dựng nhà máy và dây chuyền đáp ứng tiêu chuẩn quy định của các thị trường này.     Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp dược nào cũng có sự chuẩn bị đầy đủ như vậy cho TPP. Điều gì sẽ xảy đến với những doanh nghiệp chưa kịp chuẩn bị sẵn sàng?    Sản phẩm của họ sẽ bị cạnh tranh trực tiếp trên sân nhà từ những nước có nền công nghiệp dược tốt và chất lượng, tiêu chuẩn sản xuất cao như Mỹ, Nhật Bản, Australia… vì theo luật đấu thầu thì thuốc từ các nước này sẽ được điểm cao hơn thuốc sản xuất tại Việt Nam. Đồng thời, họ cũng gặp khó khăn khi tìm cách xuất khẩu, bởi đa số các doanh nghiệp dược Việt Nam vẫn còn áp dụng tiêu chuẩn sản xuất dược theo hướng dẫn của WHO GMP (tiêu chuẩn sản xuất dược cấp 2), không thể xuất khẩu vào các nước thành viên TPP bởi họ đều đạt được tiêu chuẩn sản xuất dược FDA hay PIC/S GMP (có thể gọi tắt là các tiêu chuẩn thị trường dược cấp 1).  Vậy những doanh nghiệp đó cần làm gì vào lúc này, liệu ngành y tế có thể ra chính sách nào để giúp họ thích nghi?     Các doanh nghiệp này nên đầu tư đổi mới công nghệ, sản phẩm, nâng cao chất lượng và đồng thời Bộ Y tế cũng phải nâng cấp cơ quan quản lý tiêu chuẩn sản xuất dược từ hướng dẫn của WHO lên PIC/S (thỏa thuận tiêu chuẩn sản xuất dược chung cho các nước phát triển). Bộ Y tế cũng phải chấm điểm ưu tiên cho thuốc sản xuất trong nước tương đương với thuốc của nhóm này. Mặt khác, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn nếu họ biết hợp tác với nhau để có nguồn tài chính và năng lực công nghệ cần thiết cho việc phát triển các sản phẩm đủ chất lượng cạnh tranh quốc tế. Các công ty quá yếu về vốn, kỹ thuật, năng lực quản lý thì nên sáp nhập nếu sau một thời gian không thể tăng trưởng, giảm sút doanh thu và lợi nhuận.    Người ta thường nói nhiều về bất lợi của người tiêu dùng thuốc do TPP, nhưng theo ông đâu là mặt có lợi cho người tiêu dùng từ TPP?     Người tiêu dùng sẽ được nhiều chọn lựa, nhiều mặt hàng thuốc tốt sẽ giảm giá, những loại thuốc mới nhất ở các nước TPP sẽ được vào Việt Nam sớm hơn, việc nhập khẩu thuốc từ các nước này sẽ không còn tốn kém như trước nữa. Như vậy, thuốc của nhóm TPP với chất lượng và giá tốt sẽ thay thế tất cả thuốc của Ấn Độ, Trung Quốc và những nước không thuộc TPP.  Xin cảm ơn ông!   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang TPP – một cách để lách qua  bế tắc tại Doha?      Nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, chỉ vài tháng nữa thôi, thế giới sẽ có một khu vực mậu dịch khổng lồ mới có tầm ảnh hướng rộng lớn, từ cách đấu thầu dự án công ở Australia cho đến quy định về loại chỉ mà thợ may Việt Nam sẽ dùng.     Khu vực mậu dịch này trải từ Hoa Kỳ tới New  Zealand, từ Nhật Bản tới Peru, sẽ là “hiệp định thương mại thế kỷ 21”  đầu tiên như nó tự nhận, và có thể coi là bước tiến quan trọng nhất về  thương mại tự do trong suốt hai thập kỷ qua.  Nhưng cụ thể ra thì Hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là gì? Với một số người, đó là “tiêu chuẩn vàng” cho các hiệp định thương mại. Họ lập luận rằng câu lạc bộ thương mại tự do thuần túy gồm 12 nước thành viên do Hoa Kỳ dẫn đầu có thể thúc đẩy khởi động lại hoạt động đàm phán đa phương vốn đã bị bế tắc kể từ vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001.    Những lo ngại từ bên ngoài  Có những ý kiến phản đối quy kết TPP là “một sự giành giật quyền lực của các tập đoàn khổng lồ” gây đe dọa an ninh lương thực, khả năng tiếp cận thuốc men và cả chủ quyền các quốc gia. Một số ý kiến khác coi dự án này không có ý nghĩa thương mại, hoặc cùng lắm là một động thái của Hoa Kỳ trong việc can thiệp trở lại vào châu Á, được ngụy trang bằng lớp áo thương mại tự do. Ở Trung Quốc, truyền thông nhà nước nghi ngờ rằng hiệp ước này có nhiều mục tiêu mập mờ hơn là thiết lập liên minh mậu dịch và cáo buộc Hoa Kỳ tập hợp các nước Thái Bình Dương chống lại lợi ích của Bắc Kinh.  TPP có sự khởi đầu khá khiêm tốn. Vốn là một hiệp ước thương mại do Brunei, New Zealand và Singapore đề xuất, TPP bắt đầu được nâng tầm vào năm 2008 với sự quan tâm từ Hoa Kỳ. Kể từ đó đến nay, TPP đã mở rộng và có 12 thành viên, thêm Australia, Canada, Malaysia, Mexico, Peru và Vietnam. Đáng chú ý nhất là năm nay, Nhật Bản – vốn được coi là nước rất chậm chạp trong tiến trình tự do thương mại – gây bất ngờ khi cũng tham gia đàm phán. Đây là một sự tăng cường khá quan trọng cho hiệp định, nâng tổng giá trị sản phẩm quốc nội của các quốc gia tham gia đàm phán lên thành hai phần năm tổng mức sản xuất của thế giới và một phần ba kim ngạch mậu dịch toàn cầu.  Ngày 12/09 vừa rồi, khi các nhà đàm phán cấp cao họp ở Washington về TPP, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói rằng nước này “rất nỗ lực để hiệp ước thành hiện thực.” Ông nói thêm rằng hiệp ước sẽ giúp mở cửa các thị trường “kém thân thiện nhất, nhiều trở ngại nhất về luật pháp và thường đóng cửa nhất” đối với các doanh nghiệp Hoa Kỳ.  Washington đã chính thức tuyên bố rằng TPP có thể được ký kết trong năm nay. Nhưng nhiều ý kiến cho rằng các cuộc đàm phán sẽ kéo dài sang năm sau. “Nước nào cũng có một hoặc nhiều vấn đề phải giải quyết,” đại diện thương mại Hoa Kỳ Michael Froman thừa nhận. Chưa một “chương” nào trong số 29 “chương” của hiệp định cực kỳ phức tạp này được hoàn thành, và những vấn đề gai góc nhất lại được để dành đến cuối.  Mục tiêu được công bố của TPP là phát triển thương mại bằng cách giải quyết các vấn đề như chi tiêu công, bảo vệ sở hữu trí tuệ và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Nó cũng hướng tới nâng cấp các hiệp định thương mại qua việc đối phó với các yếu tố phát triển thời hậu WTO, bao gồm thương mại điện tử và điện toán đám mây, cũng như giải quyết các tiêu chuẩn về lao động và môi trường.  Những người ủng hộ TPP cho rằng nó sẽ giúp dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan và củng cố các chuẩn mực quốc tế, đồng thời buộc các quốc gia như Nhật Bản và Việt Nam từ bỏ áp dụng những chính sách thiên vị lợi ích riêng trong nước. Những người chỉ trích thì cho rằng hiệp ước sẽ xâm phạm chủ quyền quốc gia để làm lợi cho các tập đoàn lớn. Nhóm chống đối cũng phàn nàn rằng các cuộc đàm phán diễn ra một cách bí mật thiếu tính công khai dân chủ.  Một số nhà hoạt động cho các tổ chức cộng đồng phi lợi nhuận ở Hoa Kỳ dành cho TPP cái nhìn ngờ vực. Mitch Jones, giám đốc chương trình tài nguyên cộng đồng của Food & Water Watch, một tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ, lập luận rằng TPP cũng giống như các hiệp định thương mại tự do khác, sẽ chẳng giúp nâng mức lương trung bình của Hoa Kỳ, vốn chẳng tăng mấy trong suốt 40 năm qua. Chưa kể nó còn buộc Hoa Kỳ phải nhập khẩu nhiều mặt hàng chưa chắc đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn của nước này, bao gồm cả thủy sản Việt Nam.   Phe ủng hộ TPP thì lo ngại rằng các nguyên tắc cơ bản của nó sẽ bị loại bỏ dần trong quá trình đàm phán giờ đã bước sang vòng thứ 19, nhất là khi giữa các quốc gia có sự khác biệt lớn về thể chế chính trị. “Đối tượng thành viên hẹp [so với WTO] không loại bỏ được sự đa dạng và trên hết là trong những cuộc đàm phán cấp cao như thế này, bạn sẽ chỉ làm mọi chuyện rắc rối hơn,” Jayant Menon, chuyên gia về hội nhập kinh tế ở Ngân hàng Phát triển Châu Á, nói. “Thật khó để lạc quan về hiệu quả của cuộc đàm phán này.”  Những vấn đề nội tại cần tháo gỡ   Đại diện thương mại Hoa Kỳ, ông Froman nhấn mạnh rằng TPP cần phải vượt lên trên các hiệp định bình thường khác. “Chúng ta hướng tới việc thiết lập các tiêu chuẩn cao và các nguyên tắc bền vững. Và nếu không đạt được các mục tiêu ấy thì tốt nhất là không ký kết,” ông nói.  Đây chính là vấn đề căn bản. Có rất nhiều xung đột lợi ích đến mức khó mà biết được làm sao để có đồng thuận về “các tiêu chuẩn cao” mà ông Froman nói đến. Sau đây là danh sách những vấn đề nhiều khả năng còn gây tranh cãi:  TPP theo đuổi việc bảo vệ sở hữu trí tuệ chặt chẽ hơn so với nhiều người mong muốn. Các quốc gia nghèo sợ rằng các quy định mới sẽ làm họ khó mua được thuốc phổ thông giá rẻ, và có thể khiến người dân các nước này không tiếp cận được các loại thuốc quan trọng. Rộng hơn, quy định chặt chẽ về sở hữu trí tuệ được cho là sẽ lấy của nước nghèo chia cho nước giàu vì nước nghèo thường hấp thụ tiến bộ công nghệ qua sao chép. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách quá hà khắc, theo những người phản đối, là một thắng lợi của chủ nghĩa bảo hộ chứ không phải của thương mại tự do.          Đối với Washington, TPP giúp họ đạt được một số mục tiêu quan trọng. Một trong số đó là nâng cấp các quy định của WTO, vốn không thay đổi kể từ năm 1994. Một mục tiêu khác nằm trong chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Hoa Kỳ, đó là tránh bị gạt ra khỏi một khu vực quan trọng nơi Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng, đồng thời cũng là nơi đang có sự tăng cường các hiệp ước thương mại gây cạnh tranh với quyền lợi của Mỹ. Mục tiêu thứ ba là tìm ra một cách khác lách qua bế tắc của vòng đàm phán Doha, bằng cách bỏ qua một bên những quốc gia mà cựu đại diện thương mại Hoa Kỳ Robert Zoellick gọi là “các nước bất hợp tác”, và đẩy mạnh thương mại tự do cùng “các nước có thể hợp tác”. Nếu cùng với TPP, Hoa Kỳ cũng đạt được hiệp ước tự do thương mại mà họ đang theo đuổi với châu Âu, thì nước này sẽ ký được các thỏa thuận tự do thương mại với một nhóm quốc gia đóng góp tới hai phần ba GDP của thế giới. Nói cách khác, TPP có thể nằm trong một chiến thuật lớn nhằm sử dụng những phương cách khác để đạt được những mục tiêu tương tự với vòng đàm phán Doha, tuy chỉ hơi kém tham vọng hơn một chút.          Hiệp định chú trọng việc giám sát vai trò của các doanh nghiệp nhà nước để các doanh nghiệp này không tiếp tục được nhận những biệt đãi thiếu công bằng trong các hoạt động đăng ký kinh doanh, đấu thầu, và vay vốn nhà nước. Đây được coi là một đòn tấn công vào chủ nghĩa tư bản nhà nước ở các quốc gia như Trung Quốc. Tuy nhiên, thật khó mà biết các quy định này sẽ có ý nghĩa thế nào khi được áp dụng ở Việt Nam, nơi một số doanh nghiệp Nhà nước được biệt đãi với các dự án lớn, và trở thành mỏ tiền phục vụ lợi ích cá nhân một số quan chức [như một số vụ án tham nhũng lớn đã bị phanh phui]. Cả Nhật Bản, nơi mà Bưu điện thuộc quyền kiểm soát của chính phủ, và Hoa Kỳ, nơi có Fannie Mae và Freddie Mac, cũng chưa đáp ứng được một số quy định nghiêm ngặt của TPP. Temasek, một quỹ đầu tư Nhà nước của Singapore, được cho là có quan ngại rằng các điều luật mới sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của một số công ty mà họ đầu tư vào. Chính sách bumiputra của Malaysia, vốn ưu tiên tuyển người Malaysia vào làm các dự án thầu của Nhà nước, cũng có thể sẽ không phù hợp với TPP.  TPP kêu gọi giải quyết những tranh chấp giữa nhà đầu tư với chính quyền bằng cách, về lý thuyết, cho phép các công ty kiện chính phủ nếu họ thấy mình bị đối xử bất công. Australia phản bác rằng điều này sẽ làm suy yếu chủ quyền các nước để làm lợi cho các tập đoàn đa quốc gia. Các nhà hoạt động chống lại việc khai thác năng lượng hóa thạch nói rằng một cơ chế như vậy có thể giúp các công ty dầu khí kiện chính quyền địa phương vì áp đặt điều kiện bảo vệ môi trường quá khắt khe. Canada thì quan ngại rằng các công ty thuốc lá có thể lợi dụng các quy định này để lôi chính phủ ra tòa vì đã ban hành luật cấm thuốc lá. Ở Malaysia, thủ lĩnh đối lập Anwar Ibrahim, mô tả TPP là một nỗ lực của Hoa Kỳ “nhằm áp đặt mô hình kinh tế Mỹ” lên các quốc gia không mong muốn [theo mô hình ấy].  Cũng như trong mọi cuộc đàm phán về thương mại, mỗi quốc gia đều theo đuổi những ngoại lệ dành cho các ngành công nghiệp nhạy cảm. Nhật Bản được chấp nhận cho tham gia đàm phán với điều kiện họ phải bỏ cơ chế bảo hộ nông nghiệp đã tồn tại quá lâu của mình. Thế nhưng khi các nhà thương thuyết Nhật Bản xuất hiện và phát biểu ở Brunei hồi tháng Bảy, họ vẫn yêu cầu giữ ngoại lệ cho năm sản phẩm nông nghiệp “thiêng liêng”, gồm gạo, lúa mì, thịt bò, sản phẩm từ sữa và đường. Nhật Bản không phải nước duy nhất, Canada (và cả Hoa Kỳ) cũng muốn bảo hộ ngành sữa của mình khi họ đối mặt với nguy cơ cạnh tranh mạnh mẽ từ New Zealand. Việt Nam thì muốn có ưu đãi ngoại lệ cho ngành may của mình, đó là được miễn thuế khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong khi vẫn tiếp tục dùng nguyên liệu nhập từ các nước ngoài TPP, mà chủ yếu là từ Trung Quốc. Ở Mỹ, ngành sản xuất đường cũng gây ảnh hưởng mạnh khá mạnh. “Có rất nhiều lĩnh vực mà nước Mỹ muốn mọi người phải thay đổi, nhưng bản thân nước Mỹ lại chẳng muốn mình phải thay đổi gì nhiều,” Jeff Schott từ Viện Peterson nói.  Thật khó mà hình dung được là cả 12 nước sẽ đồng thuận về một nghị trình phức tạp, đến mức một số nhà bình luận đã phải tìm cách lý giải khác về TPP. Một số gọi đó là một câu lạc bộ địa chính trị với vỏ bọc thương mại tự do và nhấn mạnh việc Trung Quốc không tham gia. Đến tận gần đây, nhiều bài xã luận trên các báo chính thống Trung Quốc vẫn thường xuyên chỉ trích TPP và mô tả nó như là một âm mưu nhằm ngăn không cho nước này trỗi dậy. Tuy nhiên, sang vài tháng trở lại đây, thái độ của Bắc Kinh lại mềm hẳn. Thậm chí có nhận định cho rằng Trung Quốc cũng đang tìm cách tham gia.  Dù vậy, việc Trung Quốc vắng mặt vẫn rất đáng chú ý. Vali Nasr, hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp thuộc Đại học Johns Hopkins, nói rằng Hoa Kỳ, thông qua đối thoại thương mại tự do song phương với châu Âu, “đang cố gắng chia cắt quốc gia mà Washington coi như đối thủ chính của mình trước hai khu vực đóng góp phần lớn nhất vào tổn sản phẩm quốc nội của thế giới.” Những người ủng hộ TPP thì mô tả cái gọi là âm mưu loại trừ Trung Quốc là phi lô-gíc. Họ lập luận rằng chẳng có nước nào lại muốn hạn chế khả năng tiếp cận thị trường Trung Quốc.   Nhưng ít nhất thì cũng nên nhìn TPP như là một phần của một nỗ lực lớn hơn. Mireya Solís từ Viện Brookings gọi TPP là một cách “tiếp cận trọng điểm” mà qua đó, một nhóm các công ty thương mại tiên phong tìm kiếm một cộng đồng quan trọng và sau đó buộc các quốc gia khác phải tham gia. Từ khi đàm phán TPP bắt đầu khởi sắc, Hàn Quốc, Indonesia và Thái Lan đã bày tỏ sự quan tâm.   Tuy nhiên, kết quả đạt được có thể sẽ vẫn bị hạn chế. Roberto Azevêdo, giám đốc WTO, đánh giá các hiệp định thương mại ưu đãi giữa một nhóm nhỏ các quốc gia sẽ không thể so sánh với hiệp định đa phương toàn diện mà Doha từng theo đuổi. “Không có hiệp định nào trong số này có thể xử lý được các vấn đề cơ bản liên quan đến chủ nghĩa bảo hộ mà chúng ta đang gặp phải,” ông nói. “Nhiều thách thức lớn hơn ở quy mô toàn cầu sẽ không được giải quyết.”  WTO vật lộn để duy trì vai trò của mình     Trong khi Hoa Kỳ và 11 đối tác đàm phán đang cố gắng chốt lại TPP và đàm phán thương mại Âu-Mỹ đang tiến triển thì WTO đang phải nỗ lực để duy trì vai trò của mình.  “Trên thế giới người ta đang cho rằng chúng ta đã quên mất cách đàm phán. Cho rằng chúng ta kém hiệu quả. Cho rằng chúng ta đã tê liệt,” ông Azevêdo thẳng thừng nói trước đại diện 159 thành viên WTO khi mở đầu bài phát biểu ra mắt hồi tháng 9.  “Chúng ta cần gửi đến thế giới một thông điệp rõ ràng và minh bạch rằng WTO có thể tạo ra các hiệp định thương mại đa phương.”  Mục tiêu đầu tiên của ông tân tổng thư ký là định đoạt hiệp định ba điểm “Doha Lite” ở hội nghị cấp Bộ trưởng tổ chức hai năm một lần tại Bali. Ba vấn đề được tách riêng để đàm phán hồi năm 2011 – bao gồm: giảm thủ tục hành chính ở các cửa khẩu, an ninh nông nghiệp và lương thực, và phát triển – đã được tách khỏi vòng đàm phán Doha năm đó vì trên lý thuyết, dường như đó là ba vấn đề phù hợp nhất để có thể đạt đến thỏa thuận.   Các cuộc đàm phán mà ông Azevêdo tìm cách khôi phục lại, phía trước vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng ông đã bắt đầu thảo luận một cách thận trọng về những việc kế tiếp sau [hội nghị ở] Bali.  “Chưa có ai từng nói sẽ phải làm gì với vòng đàm phán Doha. Và tôi nghĩ đây là trọng tâm chúng ta cần phải tập trung vào,” ông nói.   Điều đó có nghĩa là bàn bạc xem có vấn đề gì mới phải đưa vào nghị trình thời kỳ vòng đàm phán Doha, thời mà Google và Facebook còn chưa chiếm được quyền lực tối cao, và cân nhắc kỹ về những nội dung khác trong nghị trình sẵn có.  Ông Azevêdo thừa nhận là ở Washington và nhiều thủ đô khác trong những ngày này, các nhà đàm phán thương mại đang phải tập trung vào việc ký kết các hiệp định khu vực hoặc đa phương bên ngoài khuôn khổ WTO hơn là bên trong WTO.  Nhưng ông nhấn mạnh rằng điều đó có thể thay đổi.  “Khi chúng ta bắt đầu làm mọi thứ… tôi nghĩ họ sẽ lại bắt đầu nhìn vào WTO,” ông nói.           Hoàng Minh lược dịch  Theo bài viết Trans-Pacific Partnership: Ocean’s Twelve của David Pilling and Shawn Donnan:  http://www.ft.com/intl/cms/s/0/8c253c5c-2056-11e3-b8c6-00144feab7de.html?siteedition=intl&siteedition= intl#axzz2ffslnY7W       Author                Quản trị        
__label__tiasang TPP – những chuẩn mực mới của thế kỷ 21      Vượt xa nội dung những hiệp định thương mại  thường thấy, hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương  (TPP) mở ra viễn cảnh xây dựng một khu vực tự do thương mại rộng lớn với  những chuẩn mực mới của thế kỷ 21.      TS Phạm Duy Nghĩa – giảng viên chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trưởng khoa luật đại học Kinh tế TP.HCM, chủ biên cuốn TPP: Cơ hội nào cho Việt Nam vừa ấn hành trả lời phỏng vấn về những thách thức đang đặt ra trước cơ hội này.  Ông có hy vọng TPP sẽ là lực đẩy buộc Việt Nam giải quyết những điểm yếu của điều hành kinh tế vĩ mô?  Không thể khẳng định tham gia TPP là chúng ta có ngay liều thuốc để giải quyết tận gốc các điểm yếu kém trong điều hành vĩ mô. TPP chỉ góp thêm một cơ hội và sức ép để Việt Nam giải quyết những vấn đề nội tại. Vấn đề của Việt Nam phải tự người Việt Nam giải quyết, không thể trông chờ áp lực từ bên ngoài. Sau sáu năm gia nhập WTO, mặc dù đã có những đổi thay về thể chế đáng kể, nhưng chất lượng thể chế vẫn là một rào cản cho phát triển: tính minh bạch kém, ưu ái đầu tư cho doanh nghiệp nhà nước một cách bất bình đẳng, đầu tư công kém hiệu quả, hiệu lực quản lý của chính quyền chưa cao. Quyền sở hữu còn dang dở, bởi sự bảo hộ khách quan và hiệu quả của Nhà nước đối với các sở hữu và khế ước dường như thiếu vắng…  Bỏ nhiều công sức nghiên cứu về các nút thắt trong thể chế đã cản trở phát triển kinh tế, ông nhận diện thế nào về những yếu kém trong quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp nhà nước?  Theo đánh giá của ngân hàng Thế giới, tiếng nói của người dân và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước ở Việt Nam được cho là thấp, chất lượng chính sách và năng lực điều hành kém cải thiện, mức độ thực thi pháp luật tuân thủ chế độ pháp quyền chưa ổn định, thậm chí được đánh giá thấp trong khu vực, tính công khai minh bạch của chính sách kém được cải thiện…  Ngược lại, nếu so sánh với người láng giềng khổng lồ phương Bắc, hơn một thập kỷ tham gia WTO, nền kinh tế Trung Hoa đổi thay đáng kinh ngạc, mở ra một kỷ nguyên “thuê ngoài thể chế” để hiện đại hoá quốc gia. Đòn bẩy chiến lược WTO đã thúc ép cải cách thể chế hiệu quả. Người Trung Hoa từ năm 2006 đã áp dụng các tiêu chí quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện đại của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), từ đó cải cách 170 tập đoàn quốc hữu của họ khá thành công, rất nhiều tập đoàn trở thành những “tay chơi toàn cầu”. Ngược lại, Việt Nam đã không sử dụng được WTO để cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước cũng như quản trị quốc gia. Quan sát các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua, hầu hết đều gặp trục trặc, không thể linh hoạt, năng động, sáng tạo như doanh nghiệp tư nhân. Dùng tài sản quốc gia để đầu tư kinh doanh mà không kiểm soát được là một rủi ro rất lớn cho nền kinh tế, cho toàn dân, cướp đi cơ hội và để lại gánh nợ cho các thế hệ con cháu. Với Vinashin và nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước khác ở Việt Nam, Nhà nước vẫn tiếp tục hỗ trợ, ưu ái, nguồn vốn được rót vào như một đặc ân, trên thực tế đã giúp các tập đoàn này né tránh sức ép cạnh tranh trong nước và quốc tế. Quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước cũng chưa minh bạch. Trong trường hợp mất khả năng thanh toán, người ta thường thấy Chính phủ can thiệp bằng biện pháp hành chính để cứu sự đổ vỡ của các tập đoàn này, với chi phí trải rộng ra cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân và cho thế hệ mai sau.  Để có một doanh nghiệp nhà nước mạnh, phải tôn trọng sức ép cạnh tranh, tôn trọng tính hiệu quả, quy trình quản lý minh bạch. Hiện nay, khối tài sản quốc gia vào các doanh nghiệp nhà nước thực tế là rất lớn. Con số 1.300 doanh nghiệp nhà nước được công bố mới chỉ bao gồm những doanh nghiệp 100% vốn của Chính phủ, các bộ. Ngoài ra còn rất nhiều doanh nghiệp khác có một phần vốn của Nhà nước, rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các đoàn thể, tổ chức xã hội có vốn từ ngân sách. Con số này lớn hơn nhiều, có thể vượt qua hàng chục ngàn doanh nghiệp được đầu tư từ ngân sách quốc gia. Phần lớn hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp nhà nước rất thấp, lượng công việc tạo ra cũng rất thấp so với số lượng công việc tạo ra từ khối dân doanh.  Việt Nam đang đứng trước sức ép cần công khai và kiểm soát chặt chẽ hơn khối lượng tài sản rất lớn đầu tư vào khu vực doanh nghiệp có liên quan đến ngân sách quốc gia, một khái niệm rộng hơn doanh nghiệp nhà nước. Do lẫn một số chức năng, phải gánh trách nhiệm thực thi một phần chính sách Nhà nước giao nên đôi khi doanh nghiệp nhà nước kinh doanh với hiệu quả không cao. Vì thế, phải minh bạch giữa kinh doanh và những gì thuộc về chính sách, những nguồn lực, khối tài sản được sử dụng thế nào? Vấn đề thứ hai, phải minh định ai là ông chủ của doanh nghiệp nhà nước: uỷ ban, Chính phủ, hay bộ? Nhưng bộ làm sao quản lý? Thực tế phải uỷ quyền cho một số cán bộ, công chức đại diện… Quyền sở hữu chồng chéo, được thực thi phân tán lại thiếu kiểm soát đã làm cho khối tài sản đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước bị hao hụt trầm trọng. TPP không phải bài thuốc, mà chỉ tạo thêm sức ép. Hơn lúc nào hết, cần minh định rõ ai thực hiện các quyền sở hữu cụ thể nào trong doanh nghiệp nhà nước, kiểm toán, đánh giá đo lường với mục tiêu đề ra, kiểm soát gắt gao doanh nghiệp nhà nước nhiều hơn, tựa như các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán phải có trách nhiệm minh bạch quản trị với các cổ đông.    TPP được ký kết sẽ mở ra những cơ hội nào cho Việt Nam?  Nội dung TPP chưa được đàm phán xong, các cam kết chưa được công bố, song thông tin về nội dung đàm phán thu lượm từ nhiều nguồn khác nhau tiết lộ những sức ép rất lớn đang đặt ra cho Việt Nam: xoá bỏ hầu hết thuế quan, mở cửa thị trường, thắt chặt những chuẩn mực bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động, các tiêu chuẩn kỹ thuật, và cam kết xây dựng chính quyền minh bạch… hướng tới xoá bỏ rào cản, tạo điều kiện cho hàng hoá, dịch vụ và tư bản được lưu thông trong nội khối ngày một dễ dàng, nhà đầu tư an tâm hơn trong một môi trường thể chế ổn định… Trong đó, yêu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ được nâng cao, với những chế tài khắc nghiệt hơn khi các thành viên vi phạm thương mại tự do. Rồi còn những thể lệ để kiểm soát đầu tư công, đòi hỏi công khai toàn bộ ngân sách quốc gia, mua sắm của chính quyền; quyền tự do lao động, bảo vệ giới thợ… Các thể chế đáp ứng chuẩn mực và thông lệ quốc tế, mang tính phổ cập toàn cầu chính là lợi điểm tạo sức ép cải cách thể chế từ bên ngoài giúp phá vỡ sức ỳ chống trả dai dẳng từ những thói quen cũ.    Gia nhập cuộc chơi TPP sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, sòng phẳng giữa các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dân doanh?  Những cam kết từ TPP hy vọng sẽ kích thích sự tìm hiểu của doanh nghiệp và công chức Việt Nam. Khác với đàm phán gia nhập WTO, quá trình đàm phán TPP mở ra cơ hội cho doanh nghiệp có tiếng nói. Nỗ lực để kịp thời ra mắt cuốn sách TPP: Cơ hội nào cho Việt Nam, chúng tôi mong muốn thông điệp “gia nhập cuộc chơi TPP, hằng hà sa số doanh nghiệp tư nhân năng động mới là chìa khoá cho phát triển” sẽ lan toả tới toàn xã hội. Nếu cứ để doanh nghiệp nhà nước né tránh sức ép cạnh tranh, được ưu ái nhiều độc quyền kinh doanh, cơ hội tiệm cận đất đai và tín dụng từ nguồn lực của Nhà nước, sẽ xuất hiện những nhóm thế lực kiểm soát tài nguyên kinh tế của quốc gia. Quốc gia nào cũng có doanh nghiệp nhà nước, nhưng thường chỉ kinh doanh những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không làm được, hoặc không có động cơ để đầu tư. Hy vọng với TPP, các thể chế sẽ được cải cách để thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển.          TPP chỉ góp thêm một cơ hội và sức ép để  Việt Nam giải quyết những vấn đề nội tại. Vấn đề của Việt Nam phải tự  người Việt Nam giải quyết, không thể trông chờ áp lực từ bên ngoài.        TPP buộc các doanh nghiệp phải quan tâm, hiểu những luật chơi khi thị trường mở rộng đáng kể, nhất là thị trường Hoa Kỳ, khi thuế suất được cam kết giảm, sẽ tạo cơ hội cho những ngành như da giày, dệt may xuất khẩu, đồ gỗ, linh kiện lắp ráp. Nhưng ngược lại, Việt Nam cũng mở cửa cho các nước nội khối TPP, những ngành từng được bảo hộ cao ở Việt Nam như lắp ráp ôtô chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Ngành chăn nuôi, sản phẩm nông nghiệp của họ tiên tiến hơn, chất lượng tốt hơn, khi thuế quan giảm sản phẩm nội địa của nước ta sẽ bị thách thức.  TPP hy vọng cũng sẽ dẫn đến tái phân bổ về đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài. Những sản phẩm dệt may Việt Nam vừa có cơ hội, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức nếu không chứng minh được quy tắc, tiêu chuẩn, giấy chứng nhận về xuất xứ hàng hoá. Kéo theo luồng đầu tư từ Trung Quốc, Hàn Quốc, chuyển dịch đầu tư hy vọng Việt Nam có thêm giá trị gia tăng, sử dụng đầu tư nước ngoài như những cú hích. Ngành lắp ráp xe máy hình như đã là một ví dụ thành công khi tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm cao. Nếu Chính phủ Việt Nam khuyến khích đầu tư nước ngoài có trọng điểm trong khi doanh nghiệp tư nhân, các ngành công nghệ phụ trợ phát triển, FDI sẽ có hiệu ứng lan toả. Còn nếu FDI chỉ để sử dụng nguồn lao động rẻ thì… coi như là mở cửa dâng hiến thị trường, chúng ta góp lao động của các thế hệ công nhân trẻ tuổi và tài nguyên cũng như môi trường sống của quốc gia để làm giàu cho tư bản nước ngoài.  TPP có là cơ hội để mỗi người lao động hiểu và giành lấy quyền chính đáng của mình?  Khi đặt bút ký TPP, Việt Nam cần xem xét thực tiễn pháp luật có điểm nào lệch so với những cam kết từ TPP hay không? Nếu không nghiêm túc làm như vậy, tôi e rằng thực tiễn pháp lý nước ta có thể là nguyên cớ dẫn tới những vụ khiếu kiện tiềm ẩn sau này. TPP như chúng tôi tìm hiểu không có nội dung đáng kể nào cam kết về nhân quyền hay tự do dân chủ, song có nhiều cam kết về tiêu chuẩn và việc bảo vệ quyền lợi giới thợ, ví dụ quyền thành lập hội đoàn. Hiến pháp Việt Nam đều ghi quyền tự do lập hội. Tuy nhiên, những cuộc đình công của công nhân Việt Nam vừa qua đều xuất phát từ những vấn đề rất căn bản như bị quỵt tiền lương, lao động phải làm việc quá sức, bị giới chủ hành hung… Quyền của giới thợ bắt đầu từ quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của mình. Nếu bị khinh bỉ, ngược đãi, đánh đập, công nhân phải có quyền chống lại các hành vi đó để bảo vệ nhân phẩm của mình. Nếu bị kiện vì pháp luật quốc nội không bảo vệ quyền của giới thợ, sau khi được tài phán bởi một thiết chế tựa như trọng tài giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư với các quốc gia nội khối TPP, các quốc gia khác sẽ giành quyền rút lại những ưu đãi thuế quan trước đó. Đừng vội mơ dễ dãi hưởng thuế suất 0% như một bữa tiệc mà không phải trả tiền, qua một đêm thuế suất có thể vọt trở lại 30% như cũ bởi vô số các biện pháp bảo hộ mậu dịch tiềm ẩn được che đậy khéo léo dưới các tiêu chuẩn kỹ thuật, lao động hay môi trường.  Vấn đề thứ hai là các tổ chức công đoàn của Việt Nam chưa đủ mạnh mẽ để bảo vệ lợi ích công nhân. Miếng cơm manh áo của cán bộ công đoàn có khi còn lệ thuộc vào giới chủ, nên rất khó khăn khi chống lại sức ép của giới chủ.  Thực hiện: Kim Yến          TPP (Trans-Pacific Strategic Economic  Partnership Agreement) là một hiệp định – thoả thuận thương mại tự do  với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á – Thái Bình  Dương. Thoả thuận ban đầu được các nước Brunei, Chile, New Zealand và  Singapore ký vào tháng 6.2005.   Việt  Nam tuyên bố tham gia TPP từ ngày 13.11.2010. Hiện 12 nước thành viên  TPP (Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand,  Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam) đang tiếp tục bàn thảo nhằm đạt sự  thống nhất rộng rãi vào tháng 10 và sẽ ký hiệp định vào cuối năm nay.            Author                Quản trị        
__label__tiasang TPP sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam      Bộ trưởng Bộ  Công Thương Vũ Huy Hoàng nói về lợi ích nhiều mặt (kinh tế, thể chế, xã hội) cũng như một số thách thức nhất định đối với Việt Nam khi tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương  (TPP), ngay sau khi&#160; quá trình đàm phán hiệp định hoàn tất tại Atlanta.      Ngày 5/10, sau khi Hội nghị Bộ trưởng Thương  mại các nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương  (TPP) hoàn tất quá trình đàm phán hiệp định tại Atlanta, Bộ trưởng Bộ  Công Thương Vũ Huy Hoàng đã có cuộc trả lời phỏng vấn của TTXVN về hiệp  định lịch sử này.    Dưới đây là toàn văn bài phỏng vấn:  – Thưa Bộ trưởng, quá trình đàm phán Hiệp định TPP đã hoàn tất, xin Bộ trưởng cho biết về tiến trình thực hiện TPP tiếp theo đối với Việt Nam trong thời gian tới?  Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Sau khi kết thúc đàm phán, các nước sẽ tiến hành các thủ tục rà soát pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết chính thức và bắt đầu trình các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn Hiệp định. Quá trình này thông thường kéo dài tối thiểu là 18 tháng. Đây cũng là khoảng thời gian để các nước tham gia chuyển bị điều kiện cần thiết để có thể thực hiện được tốt Hiệp định.  Về phía chúng ta, trên cơ sở thỏa thuận chung giữa các nước TPP, Bộ Công Thương và Đoàn đàm phán Chính phủ sẽ công bố chính thức toàn văn của hiệp định TPP cho công chúng tham khảo và phối hợp cùng các bộ, ngành liên quan triển khai việc rà soát và phê chuẩn hiệp định theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế. Ngoài ra, do tầm quan trọng của Hiệp định TPP, dự kiến Hiệp định sẽ được báo cáo Ban chấp hành Trung ương Đảng cho ý kiến chỉ đạo trước khi bắt đầu quá trình phê chuẩn Hiệp định.  Chính phủ đã có các chỉ đạo để các bộ, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ để nhanh chóng hoàn thành dự thảo báo cáo Ban chấp hành Trung ương. Như đã trình bày, thời gian phê chuẩn Hiệp định cũng là thời gian để chúng ta chuẩn bị các công việc cần thiết, trong đó tập trung vào việc điều chính hệ thống pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, tăng cường năng lực cạnh tranh để có thể tận dụng được cơ hội và vượt qua thách thức khi Hiệp định TPP có hiệu lực. ​ ​    – TPP là một hiệp định thương mại tự do đa phương qui mô lớn, vậy xin Bộ trưởng cho biết về tác động của TPP đối với Việt Nam, Việt Nam sẽ được hưởng lợi như thế nào từ Hiệp định này và những lĩnh vực nào sẽ phải chịu tác động tiêu cực? ​  Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: ​Hiệp định TPP sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, thể hiện trên các mặt như sau: ​ ​  – Về mặt kinh tế, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế độc lập, TPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2025. Xuất khẩu sẽ tăng thêm được 68 tỷ USD vào năm 2025. Đáng chú ý là việc các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ giúp tạo ra “cú hích” lớn đối với hoạt động xuất khẩu cua nước ta. Các ngành xuất khẩu quan trọng như dệt may, giày dép, thủy sản… nhiều khả năng sẽ có bước phát triển vượt bậc về kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này.  Ngoài ra, tham gia TPP sẽ giúp ta có được các cơ hội mới từ chuỗi cung ứng mới hình thành sau khi TPP có hiệu lực. Các nước TPP chiếm tới 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, lại bao gồm các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, chắc chắn sẽ mở ra rất nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng mới hình thành. Thêm vào đó, cam kết trong TPP về dịch vụ và đầu tư dự kiến sẽ có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. ​  – Về mặt thể chế, cũng như tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tham gia TPP sẽ là cơ hội để ta tiếp tục hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường, một trong ba đột phá chiến lược mà Đảng ta đã xác định; hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của ta, đồng thời giúp ta có thêm cơ hội để hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, việc hoàn thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền SHTT sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, thí dụ như sản xuất dược phẩm, trong đó có thuốc sinh học (đặc biệt là với vắcxin và một số sản phẩm ta có bước phát triển mạnh trong các năm qua). Thêm vào đó, Hiệp định TPP với các tiêu chuẩn rất cao về quản trị minh bạch và hành xử khách quan của bộ máy Nhà nước sẽ giúp ta tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; thúc đẩy hoàn thiện bộ máy theo hướng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương và phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.  – Về mặt xã hội, tham gia TPP sẽ tạo ra các cơ hội giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng. Hệ quả là sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế cũng giúp ta có thêm nguồn lực để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Do nhập khẩu từ Hoa Kỳ và các nước TPP chưa có FTA với ta phần lớn là không cạnh tranh trực tiếp, nên nếu có một lộ trình giảm thuế hợp lý, kết hợp với hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, ta có thể xử lý được các vấn đề xã hội nảy sinh do tham gia TPP. Đặc biệt, do Hiệp định TPP bao gồm cả các cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư sẽ được thực hiện theo cách thân thiện với môi trường hơn, giúp ta tăng trưởng bền vững hơn.   Tuy nhiên, tham gia TPP cũng đặt ra một số thách thức nhất định đối với Việt Nam. ​  – Về kinh tế, thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi. Mặc dù Việt Nam có thế mạnh trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp nhưng sức cạnh tranh của chúng ta trong một số ngành nghề chưa thực sự tốt, ví dụ như chăn nuôi. Dự kiến đây sẽ là ngành gặp nhiều khó khăn nhất khi cam kết TPP có hiệu lực. Đối với các ngành kinh tế khác, cạnh tranh cũng có thể xảy ra nhưng ở mức độ không lớn bởi vì các nền kinh tế TPP hiện nay có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu mang tính bổ sung hơn là mang tính cạnh tranh với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.  – Về xây dựng pháp luật, thể chế, các tiêu chuẩn cao về quản trị minh bạch và hành xử khách quan của bộ máy Nhà nước sẽ đặt ra những thách thức lớn cho bộ máy quản lý. Tuy nhiên, đây cũng là những tiêu chuẩn mà chúng ta đang hướng đến để xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN, thực sự của dân, do dân và vì dân, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực, kỷ luật, kỷ cương. ​  – Về mặt xã hội, cạnh tranh tăng lên khi tham gia TPP có thể làm cho một số doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn (thậm chí phá sản), kéo theo đó là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động sẽ xảy ra. Tuy nhiên, do phần lớn các nền kinh tế trong TPP không cạnh tranh trực tiếp với ta, nên ngoại trừ một số ít ngành nông nghiệp, dự kiến tác động này là có tính cục bộ, quy mô không đáng kể và chỉ mang tính ngắn hạn.  – Việt Nam nhận thấy các lợi ích và cả ảnh hưởng tiêu cực từ TPP, vậy Việt Nam cần phải làm gì để giảm thiểu những tác động tiêu cực nêu trên thưa Bộ trưởng? ​ ​  Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Để giảm thiểu những tác động tiêu cực đó, Việt Nam cần chú ý một số vấn đề như sau:  – Về nông nghiệp, Việt Nam sẽ phải hết sức nỗ lực, biến thách thức thành cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học- công nghệ, chuyển đổi sang mô hình kinh doanh trang trại, đồn điền lớn để giảm chi phí sản xuất, dễ quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như dễ ứng dụng các công nghệ sinh học vào lĩnh vực trồng trọt, canh tác, chăn nuôi, phù hợp với việc xây dựng các chiến lược về nông nghiệp. ​  – Về thể chế, để thực thi cam kết trong TPP, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi một số quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường… Tuy nhiên, như kinh nghiệm gia nhập WTO đã chỉ ra, với sự chuẩn bị nghiêm túc và nỗ lực cao độ, ta có thể thực hiện thành công khối lượng công việc này, nhất là khi ta được quyền thực hiện theo lộ trình. ​  – Về mặt xã hội, với cơ hội mới có được từ Hiệp định TPP, ta sẽ có điều kiện để tạo công ăn việc làm mới, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành ta thực sự có lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có các các biện pháp trợ giúp để chủ động xử lý kịp thời các tác động tiêu cực có thể xảy ra trong đó có việc tổ chức đào tạo lại đội ngũ lao động. Với thời gian, thu hút đầu tư nước ngoài tăng lên, cơ cấu sản xuất sẽ được điều chỉnh và nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra.    – Trên thực tế thì hiện vẫn còn khoảng cách phát triển khá lớn giữa Việt Nam và các nước thành viên TPP khác, vậy chúng ta sẽ phải làm gì để thu hẹp khoảng cách này? ​    Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Với Việt Nam, chúng ta đã chủ động và tích cực hội nhập từ khá lâu. Chúng ta đã gia nhập ASEAN từ năm 1996, tham gia Hiệp định BTA với Hoa Kỳ năm 2001, Hiệp định BIT với Nhật Bản năm 2003, gia nhập WTO vào năm 2007 và tiếp theo đó là rất nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều nước trong khu vực và trên thế thế giới. Gần đây nhất, trong năm 2015, chúng ta đã ký kết thêm 2 Hiệp định FTA với Hàn Quốc và Liên minh Á-Âu, kết thúc đàm phán FTA với EU. Như vậy, có thể nói, Việt Nam không còn quá xa lạ với hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù trình độ phát triển của Việt Nam còn một khoảng cách so với một số nước TPP và một số cam kết trong hiệp định này khá mới mẻ đối với chúng ta, như trong các lĩnh vực lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, v.v….  Bên cạnh đó, trên thực tế, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước cũng đang hướng tới một nền hành chính công hiệu quả, minh bạch, dễ dự đoán, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của tất cả các hiệp định quốc tế nên việc ta tham gia Hiệp định TPP là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc và định hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước. Việc tham gia Hiệp định TPP với các tiêu chuẩn cao cũng giúp đẩy nhanh các quá trình xây dựng lại các thực thể kinh tế, đẩy mạnh cơ chế kinh tế theo định hướng thị trường, trong đó có cả vấn đề về cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước. Những chính sách này phù hợp với mục tiêu và tiêu chuẩn của Hiệp định TPP. Vì thế, ta cũng không hoàn toàn quá bị động khi thực thi các tiêu chu ẩ n của TPP. ​  Đương nhiên, có những tiêu chuẩn cao mà Việt Nam và các nước có trình độ phát triển thấp trong TPP cần thêm thời gian để nâng cao năng lực, sửa đổi pháp luật, thủ tục, quy trình, đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ thực thi. Đối với những lĩnh vực này, Việt Nam sẽ được áp dụng những thời gian chuyển đổi thích hợp, nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ các nước TPP phát triển hơn để đảm bảo đến một thời điểm nào đó, ta có thể sẵn sàng thực thi, áp dụng những tiêu chuẩn ngang bằng các nước TPP phát triển. ​    – Xin cảm ơn Bộ trưởng!   Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/bo-truong-cong-thuong-tra-loi-phong-van-ttxvn-ve-hiep-dinh-tpp/347558.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trả lại thần tình yêu cho bức tranh của Vermeer      Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra: nhiều thập kỷ sau cái chết của họa sỹ bậc thầy Hà Lan Johannes Vermeer, một bàn tay bí ẩn đã vẽ phủ lên một phần bức tranh “Cô gái đọc thư bên cửa sổ mở” (Girl reading a letter at an open window) và mất đi phần nào ý nghĩa bức tranh.      Công việc của các nhà nghiên cứu mới hoàn tất một nửa. Nguồn: Staatliche Kunstsammlungen Dresden  “Cô gái đọc thư bên cửa sổ mở” là một trong những bức tranh nổi tiếng bậc nhất của Johannes Vermeer – họa sỹ Hà Lan sống vào thời kỳ Baroque. Bức tranh này có số phận khá long đong bởi phải mất một thời gian dài, các chuyên gia mới có thể xác định ai là tác giả bức tranh. Đầu tiên, người ta cho nó là của danh họa Rembrandt nhưng sau đó lại quy cho Pieter de Hooch. Họ chỉ được xác định chính xác bức tranh do Vermeer vẽ vào năm 1862. Trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, khi thuộc về bộ sưu tập ở thành phố Dresden, nó đã được cứu khỏi sự tàn phá của bom đạn rồi rơi vào tay những người lính Soviet. Mãi đến năm 1955, bức tranh mới được trả về Gemäldegalerie ở Dresden.  Giờ đây, công việc phục chế bức tranh đang được diễn ra lại mở ra thêm một trang mới của câu chuyện về lịch sử bức tranh: Staatliche Kunstsammlungen Dresden, một viện nghiên cứu văn hóa ở Dresden đã loan báo: các nhà phục chế đã phát hiện ra ở phía góc trên bên phải của bức tranh có vị thần tình yêu Cupid ẩn sâu dưới lớp toan nhưng một người khác, nhân vật này đã “nhúng tay” vào bức họa, xóa hình ảnh vị thần đi nhiều thập kỷ sau khi ông qua đời. Thực ra, từ năm 1979, thông qua kỹ thuật X quang, các nhà nghiên cứu lịch sử hội họa đã biết về sự tồn tại của thần tình yêu Cupid trong bức họa nổi tiếng này nhưng họ vẫn nghi ngờ là do chính Vermeer đổi ý và quyết định xóa nhân vật đó đi, vì thế họ quyết định không phục hồi bức tranh theo đúng nguyên tác, Uta Neidhardt – một nhà phục chế của Gemäldegalerie cho biết.    Công việc bảo tồn bức tranh đã được thực hiện vào mùa xuân năm 2017. Christoph Schölzel, một thành viên trong nhóm nghiên cứu của Staatliche Kunstsammlungen đã sử dụng tia X, hình ảnh phản xạ hồng ngoại và phân tích trên kính hiển vi để kiểm tra từng lớp vẽ của bức tranh. Các cuộc kiểm tra được thực hiện với việc tham khảo dữ liệu từ những lần phục chế trước đó. Cuối cùng, anh và đồng nghiệp đã đưa ra kết luận: Vermeer không phải là người vẽ phủ lên hình ảnh Cupid. Và thật ngạc nhiên khi phát hiện ra là lớp sơn đó được bồi thêm nhiều năm sau khi họa sĩ qua đời. “Thậm chí còn có một lớp bụi bẩn phía trên lớp sơn ban đầu trên vị thần. Nó cho thấy, bức tranh đã ở trạng thái ban đầu trong nhiều thập kỷ trước khi bị xóa hình ảnh thần tình yêu”, Neidhardt nói và cho biết thêm, lớp sơn phủ lên vị thần này có màu đậm hơn lớp sơn vẽ màu tường mà Vermeer từng sử dụng, do đó bức tranh có màu sắc tối tăm hơn bức tranh gốc.  “Đây là trải nghiệm bất ngờ nhất mà tôi thấy trong quá trình phục chế các tác phẩm nghệ thuật. Nó tạo ra một bức tranh hoàn toàn khác”, Neidhardt nói về ấn tượng của cô khi phát hiện ra sự thật.  Thật thú vị là hình ảnh vị thần Cupid cũng từng có mặt trong “A Young Woman Standing at a Virginal”, một bức vẽ vào năm1670 – 1672 của Vermeer, hiện treo ở Phòng tranh London, Anh (từng được cho là  do Cesar van Everdingen vẽ). Bức tranh này miêu tả một phụ nữ trẻ đứng bên cây đàn Virginal – một nhạc cụ đàn phím phổ biến ở châu Âu vào cuối thời kỳ Phục Hưng và đầu thời kỳ Baroque, và phía trên tường có một bức tranh thần tình yêu có đóng khung. Có thể cả hai tác phẩm này đều có cùng một điểm chung: cảm hứng từ một bức vẽ khác cũng do Vermeer vẽ, vốn nằm trong kho đồ của người vợ góa của ông, cũng vẽ thần tình yêu.  Việc có thêm thần tình yêu Cupid vào bức “Cô gái đọc thư bên cửa sổ mở” đã mở ra một cấp độ ý nghĩa mới cho bức tranh. Trong khi cảnh trước đó không đưa ra manh mối nào về nội dung bức thư thì sự hiện diện của thần tình yêu trong bức tranh sẽ đưa câu chuyện vào một bối cảnh cụ thể hơn, một câu chuyện tình, và bức thư nhàu nát trong tay cô gái là bức thư tình.    Các nhà nghiên cứu khôi phục lại bức tranh ban đầu với những kỹ thuật hiện đại. Nguồn: Staatliche Kunstsammlungen Dresden  Sau khi xác định lớp sơn phủ được vẽ sau khi Vermeer qua đời, các nhà bảo tồn quyết định để nhân vật này xuất hiện trở lại như nó vốn có. Để công việc này không ảnh hưởng đến lớp sơn mỏng manh ban đầu, Schölzel loại bỏ lớp sơn bồi thêm sau bằng dao mổ. Đến nay, công việc xong được một nửa và người ta ước tính sẽ cần thêm một năm nữa. Bảo tàng đã quyết định trưng bày bức tranh trong quá trình bảo tồn với khoảng thời gian hơn một tháng để người xem có thể thấy quá trình này diễn ranhư thế nào, trước khi nó được đưa lại xưởng phục chế để chuẩn bị cho giai đoạn cuối.  Khi công việc hoàn thành, có thể những người đã quen thuộc với bức tranh “cũ” sẽ thấy kinh ngạc về ánh sáng và màu sắc tươi tắn, tinh tế của lớp sơn nguyên bản. Schölzel cho rằng nó sẽ khác với bức tranh hiện giờ và đó cũng là điều thú vị.  Dresden có hai bức họa của Vermeer – những bức quan trọng bậc nhất và giá trị bậc nhất trong bộ sưu tập của thành phố. Bức thứ hai “The Procuress” (1656) đã được phục chế giữa năm 2002 và 2004.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn:   https://www.smithsonianmag.com/smart-news/restoration-reveals-long-lost-cupid-painted-over-after-vermeers-death-180972143/  https://news.artnet.com/art-world/vermeer-girl-reading-letter-window-1539199  https://www.theartnewspaper.com/news/hidden-cupid-resurfaces-in-one-of-vermeer-s-best-known-works       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái bóng Telstar 18: Nhiều điều thú vị      Do hãng Adidas sản xuất Telstar 18 phần nào tái hiện hình ảnh 12 miếng da đen trên nền trắng của trái bóng được chơi hơn 40 năm trước.      Điều thú vị đầu tiên có thể thấy là Telstar 18 mang màu đen và trắng mang tính biểu tượng, gợi nhớ đến trái bóng nguyên thủy được thiết kế để các khán giả của truyền hình đen trắng cũng có thể theo dõi được trận đấu.  Đổi mới sáng tạo trong trái bóng  Adidas cho biết, Telstar 18 được làm bằng 6 miếng nhựa dẻo cách nhiệt (TPU) và 15% silicon. Các vật liệu mới này khiến cho trái bóng có nhiều ưu điểm so với những trái bóng của những kỳ World Cup trước đây như có quỹ đạo bay tốt hơn, đường bóng chính xác hơn, trái bóng trở nên nhạy hơn với các lực tác động, nhẹ hơn và ít thấm nước hơn – nghĩa là hứa hẹn sẽ có những đường chuyền chuẩn xác hơn khi các cầu thủ biết tận dụng thế mạnh của nó.  Một tính năng hiện đại bậc nhất của Telstar 18 là nó có gắn thêm một chip NFC bên trên. Nếu tải một ứng dụng miễn phí trên iOS hoặc Android, người hâm mộ có thể tương tác qua điện thoại thông minh hay máy tính bảng về trái bóng qua những thông tin độc quyền, những vị trí đặc biệt mà chip NFC cung cấp sau mỗi trận đấu. Tuy vào thời điểm này, NFC vẫn chưa thể cung cấp cho mọi người thông tin chuyên sâu hơn như lực từng cú đá của các cầu thủ hay tốc độ bay của bóng nhưng Adidas hi vọng, tính năng đó sẽ được bổ sung vào thời gian tới.  Ông Roland Rommler – giám đốc Bộ phận các thiết bị phần cứng trong bóng đá của Adidas, cho biết: “Telstar nguyên thủy là một trong những quả bóng đá mang tính biểu tượng nhất mọi thời đại, và một trong những thứ luôn thay đổi thiết kế là trái bóng. Với chúng tôi, việc thay đổi thiết kế cấu trúc các miếng ghép bên ngoài và đưa chip NFC vào trái bóng có thể đem đến những trải nghiệm hoàn toàn mới cho cầu thủ và cả người xem”.  Trước Telstar 18, Azteca năm 1986 là trái bóng đầu tiên của World Cup được làm từ vật liệu tổng hợp và sau đó năm 2002, Fevernova được coi là trái bóng nhẹ hơn, có đường bay chính xác và độ nảy tốt hơn, năm 2010 là Jabulani khiến thủ môn Iker Casillas (Tây Ban Nha) điên đầu vì không thể đoán được đường bay của bóng. Các kỹ sư của NASA đã tìm ra nguyên nhân vì sao trái bóng Jabulani lại khiến cả thủ môn giàu kinh nghiệm như Casillas nhiều lúc phải bó tay – đó là do hiệu ứng khớp nối (Knuckle effect) xảy ra khi spin của trái bóng gần bằng không hoặc bằng không.  Những bài kiểm tra trước bóng lăn  Trước khi lăn trên các sân cỏ Nga, trái bóng Telstar 18 đã được các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm KH&CN vật liệu liên bang Thụy Sỹ (EMPA) kiểm tra bằng một loạt bài kiểm tra hết sức nghiêm ngặt, những trái bóng nào không qua được “kỳ kiểm tra” này sẽ không được xuất hiện ở World Cup.  Theo trang wep của EMPA, các bài kiểm tra này không chỉ là việc đo đạc chính xác chu vi và trọng lượng quả bóng mà còn là những đòi hỏi chuyên biệt: Telstar bị nhận dưới nước tới 250 lần trong một bể nước để thử xem độ thấm nước của bóng như thế nào. Kết quả là trái bóng chỉ thấm một chút nước không đáng kể nên vẫn có khả năng giữ được không khí bên trong và giữ nguyên độ nảy khi rơi từ độ cao hai mét. Bên cạnh đó, các nhà khoa học phải đo đạc tới hơn 4.000 điểm trên trái bóng để chứng tỏ là nó thực sự hoàn hảo – căng tròn, không bị lõm và giữ nguyên được hình dạng ngay cả khi bị đặt lên một thiết bị bắn vào tường thép tới 2.000 lần với tốc độ 50 km/giờ.  Đây là các bài kiểm tra được các chuyên gia của EMPA thiết kế riêng cho bóng đá. Dĩ nhiên khi áp dụng các bài kiểm tra khắc nghiệt này, không phải sản phẩm của các nhà cung cấp nào cũng đủ sức vượt qua. TS Martin Camenzind ở Phòng thí nghiệm màng sinh học nhân tạo và dệt may EMPA cho biết: “Một số quả bóng được làm bằng da đã gia tăng kích thước đáng kể sau chuỗi kiểm tra, ví dụ như có thể là hút quá nhiều nước. Quả bóng ngày nay đều được làm bằng phương pháp dán hoặc hàn, bởi vì các đường nối theo phương pháp khâu truyền thống có thể không giữ được độ bền chặt theo thời gian nữa. Tương tự, phần lớn chất liệu da truyền thống cũng phải nhường chỗ cho chất dẻo, và ngay cả phần bề mặt phía trong nó cũng có một kết cấu đặc biệt khiến trái bóng bay một cách dễ dàng hơn, nhất là khi chuyển động trên mặt cỏ ướt”.  Telstar 18 không được làm theo phương pháp truyền thống là từ những miếng hình lục giác hay ngũ giác cân xứng mà được ghép từ các miếng vật nhựa dẻo không đối xứng. Do đó, trái bóng bay có thể tạo ra một hình ảnh đặc biệt trong một số điều kiện ánh sáng riêng biệt. Các nhà khoa học đã kiểm tra điều này trên thực tế bằng những thí nghiệm có máy tính kiểm soát.  Tuy nhiên các cầu thủ chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm cũng có thể tận dụng lợi thế này của trái bóng – quỹ đạo bay phức tạp và theo lý thuyết khí động học thì nó có phần hỗn loạn, ví dụ như khi đá vào nó, anh ta có thể tạo ra một đường bóng phức tạp đi theo hình zigzag với hình ảnh trái bóng bị biến dạng. Dưới góc nhìn của vật lý ứng dụng thì điều này không phải là chuyện gì huyền bí. Camenzind giải thích, lực tác động của cầu thủ – có thể là cú đá hoặc đánh đầu, khiến trái bóng như bị biến dạng với một chuyển động không theo hình parabol thông thường.  Ở một góc nhìn khác, giáo sư vật lý Eric Goff tại trường Đại học Lynchburg ở Virginia, Mỹ đã cùng nhóm nghiên cứu của mình phân tích dữ liệu từ những thí nghiệm về đường bóng bay trong không khí. So sánh với trái Brazuca của World Cup tại Brazil năm 2014, họ thấy Telstar 18 có đường bay ngắn hơn, khoảng 8 đến 10%, nhất là khi phải chịu một lực tác động lớn và di chuyển nhanh hơn 90km/giờ.  Còn về phía nhà sản xuất, họ đang chờ đợi sự phản hồi sau các trận đấu World Cup. Tuy nhiên, Adidas không chỉ ngồi chờ không mà đã bắt đầu chuẩn bị cho sự kiện 4 năm tới bởi họ là nhà cung cấp bóng cho World Cup 2022 ở vùng đất sa mạc Qatar. Khi đó, trái bóng sẽ phải được thiết kế và chế tạo theo cách mới để có thể chịu được nhiệt độ cao.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái đất ấm dần lên và nguy cơ lương thực toàn cầu      Những nghiên cứu khoa học mới nhất đã cho thấy một nhân tố vốn ít được quan tâm trước đây đang góp phần làm suy yếu nền lương thực toàn cầu, đó chính là: sự biến đổi khí hậu.      Trong suốt gần hai thập niên, các nhà khoa học đã tiên đoán rằng tình trạng biến đổi khí hậu có thể tương đối dễ kiểm soát đối với nông nghiệp, và ngay cả với những giả định xấu nhất thì phải đến năm 2080 giá lương thực toàn cầu mới tăng gấp đôi, bởi một phần là do các nhà khoa học đã trông đợi vào một điều nghe khá vô lý rằng sự gia tăng mật độ carbon dioxide (CO2), tác nhân chính của tình trạng Trái đất ấm dần lên, sẽ đóng vai trò là một loại phân bón và sẽ bù trừ cho những tác động xấu của tình trạng biến đổi khí hậu.  Nhưng gần đây tình trạng suy yếu của nền lương thực toàn cầu và sự leo thang giá thành lương thực đã làm nhiều nhà khoa học phải lo lắng. “Nông nghiệp toàn cầu đã từng đạt được những thành tựu rất đáng kinh ngạc”. Theo bà Cynthia Rosenweig, một nhà nghiên cứu của NASA, người đã tiên phong trong hoạt động nghiên cứu tình trạng biến đổi khí hậu và tác động lên nông nghiệp. “Tuy nhiên, hiện đang bắt đầu có những điềm báo cho thấy điều đó không tồn tại mãi mãi”. Không ít người đang tự hỏi liệu ngành khoa học môi trường có hơi lạc quan trước những nguy cơ hay không.   Một cuộc phỏng vấn gần đây được thực hiện trên 50 chuyên gia nông nghiệp tại 9 quốc gia cũng cho thấy, trong những thập niên sắp tới, nông dân trên toàn thế giới vừa phải chống chọi với mọi tàn phá của khí hậu vừa phải gồng mình cố gắng tăng gần như gấp đôi sản lượng lương thực nhằm đáp ứng với nhu cầu ngày càng gia tăng của thế giới. Và họ cần phải làm điều đó trong khi vẫn phải tìm cách hạn chế đáng kể thiệt hại đối với môi trường do hoạt động nông nghiệp gây ra. Do vậy chúng ta cần nhiều chủng loại cây giống và kỹ thuật nông nghiệp mới tốt hơn những gì chúng ta có hiện nay. Nhưng trước nhu cầu cấp thiết đó, huy động hỗ trợ tài chính cam kết từ Chính phủ để nghiên cứu lại quá ì ạch, và một khi đã bắt đầu thì phải mất vài thập niên mới thấy được kết quả.    Cả thế giới đang lên tiếng    Nông dân tại khắp nơi trên thế giới đang đối mặt với những khó khăn ngày càng phát sinh: tình trạng thiếu nước cũng như lũ quét. Mùa màng của họ bị phá hoại bởi các loại côn trùng đang sinh sôi nảy nở, bởi các dịch bệnh và những đợt nắng nóng khủng khiếp hơn những gì mà họ từng biết.          Tình trạng phẫn nộ trước giá thành lương thực tăng cao là tác nhân chính trong những đợt nổi loạn gần đây tại khu vực A-Rập.          Nhiều thập niên trước đây, những nông dân trồng lúa mì tại Thung lũng Yaqui ở Mexico đã từng là những nhà tiên phong trong phong trào phát triển nông nghiệp toàn cầu có tên là Cách mạng Xanh, cuộc cách mạng nông nghiệp này đã sử dụng những giống hoa màu được cải tiến cũng như áp dụng những kỹ thuật nông nghiệp tối tân nhằm làm tăng sản lượng nông nghiệp tại khắp các quốc gia đang phát triển trên thế giới.          Bill Gate phát biểu trong một cuộc họp an ninh lương thực toàn cầu năm 2010 với các Bộ trưởng Nông nghiệp và Bộ trưởng Tài chính của các nước Mỹ, Canada, Tây Ban Nha, Hàn Quốc          Khi ông Norman E. Borlaug, một nhà nông học người Mỹ trẻ tuổi, bắt đầu đến làm việc tại Thung lũng Yaqui dưới sự tài trợ của Quỹ Rockefeller vào thập niên 40 của thế kỷ trước, người dân và thiên nhiên tại đây đã đón nhận ông một cách chân tình. Thành công của ông với tư cách là một nhà nhân giống học đã giúp các nông dân gia tăng sản lượng lúa mạch của Mexico lên gấp sáu lần.  Vào những năm 60, tiến sĩ Borlaug đã mở rộng tri thức của mình tới Ấn Độ và Pakistan, những nơi mà nạn đói từng là một mối đe dọa. Kết quả là sản lượng lương thực ở đó cũng tăng đáng kể.  Nhiều quốc gia khác cũng tham gia vào cuộc Cách mạng Xanh, và kết quả là sản lượng lương thực đã bỏ xa mức tăng trưởng dân số trong suốt những năm nửa cuối thế kỷ 20. Tiến sĩ Borlaug trở thành nhà nghiên cứu nông nghiệp duy nhất từng đoạt giải thưởng Nobel Hòa Bình vào năm 1970 vì đã góp phần giải quyết nạn đói  – “đem bánh mì đến cho thế giới.”  Khi nhận giải Nobel tại Oslo, ông cũng đưa ra một lời cảnh báo. “Chúng ta có lẽ hiện vẫn còn an toàn”. “Tuy nhiên, những nguy cơ sẽ sớm đến nếu chúng ta tỏ ra quá hài lòng với hiện tại và không tiếp tục nỗ lực”.  Vào những năm cuối thập niên 80, sản lượng lương thực có vẻ đã được kiểm soát. Khi đó, các Chính phủ và quỹ từ thiện bắt đầu cắt giảm chi phí cho nghiên cứu nông nghiệp, hay chuyển nguồn kinh phí đó vào việc giải quyết những vấn đề do tình trạng tập trung quá mức vào sản xuất nông nghiệp gây ra, ví dụ là giải quyết những thiệt hại về môi trường. Trong suốt 20 năm, hỗ trợ từ các quốc gia phương Tây cho phát triển nông nghiệp tại các nước nghèo đã bị cắt giảm gần như phân nửa, cùng với tình trạng cắt giảm biên chế hàng loạt tại các trung tâm nghiên cứu quan trọng nhất trên thế giới.  Như tiến sĩ Borlaug đã tiên đoán, hậu quả của tình trạng cắt giảm đầu tư này bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn cuối thể kỷ 20. Dù sản lượng vẫn tiếp tục tăng, nhưng tỉ lệ tăng trưởng ngày càng đi xuống vì nông dân ngày càng ít được tiếp cận với những đổi mới trong nông nghiệp.  Bên cạnh đó, tình trạng khí hậu bất thường bắt đầu ảnh hưởng đến sản lượng lương thực. Đợt nắng nóng vào năm 2003 tại châu Âu, đã làm giảm sản lượng lương thực đến 30% tại một số quốc gia. Cho đến năm 2007 và 2008, giá thành lương thực bắt đầu tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba tại nhiều quốc gia. Nhiều quốc gia bắt đầu trữ lương thực, và tình trạng mua sắm hoảng loạn xuất hiện tại nhiều khu chợ, đã bùng nổ tại hơn 30 quốc gia.  Các nông dân phản ứng với tình trạng leo thang giá cả bằng cách trồng nhiều cây lương thực hơn, và những vụ mùa bội thu vào năm 2008 và 2009 đã giúp tái thiết lại trữ lượng lương thực toàn thế giới, ít ra là ở một phạm vi nào đó. Nhân tố đó, kèm theo sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã kéo giá thành lương thực xuống vào năm 2009. Tuy nhiên, vào năm ngoái, nhiều vụ mùa thất bát do yếu tố thời tiết gây ra đã khiến giá thành tăng trở lại. Năm nay, lượng cung sản lượng gạo vẫn đáp ứng được nhu cầu, tuy nhiên với tình trạng thời tiết xấu đe dọa những cánh đồng lúa mì và bắp tại một số khu vực trên thế giới, thị trường lương thực nói chung vẫn còn rất bấp bênh.  Bốn mươi năm trước, 1/3 dân số tại các quốc gia đang phát triển ở tình trạng thiếu dinh dưỡng. Với thành công của cuộc Cách mạng xanh, thì vào những năm 90 thì số lượng trên đã giảm xuống mức dưới 20% và con số chính thức về số lượng người bị đói lần đầu tiên đã giảm xuống dưới mức 800 triệu người trong lịch sử hiện đại của nhân loại.  Tuy nhiên, những đợt leo thang giá thành lương thực vừa qua đã tạo ra sự gia tăng nạn đói lớn nhất trên thế giới chỉ trong vài thập niên. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc đã ước tính số lượng người bị đói trên toàn thế giới là 925 triệu người vào năm 2010, và con số đó có thể còn cao hơn nữa khi số liệu ước lượng mới nhất được công bố vào năm nay. (Ngân hàng Thế giới cho rằng có thể ở mức 940 triệu người).  Người kế thừa mới nhất của tiến sĩ Borlaug tại Viện nghiên cứu bắp và lúa mì, ông Hans-Joachim Braun, vừa mới chỉ ra rằng, ngoài thiên tai, những thách thức mà nông dân toàn thế giới đang đối mặt theo ông đó là, những đô thị phát triển đang lấn dần diện tích đất nông nghiệp và cạnh tranh gay gắt với nông dân trong việc sử dụng nguồn nước. Ông đang tiên phong trong việc nghiên cứu những giống lúa mì mới sẽ có khả năng chống chọi với nhiều loại điều kiện khắc nghiệt, bao gồm tình trạng thiếu nước. “Tuy nhiên, ngân sách cho những loại hình nghiên cứu như vậy vẫn còn rất eo hẹp, và có nhiều hạn chế khác tác động đến tốc độ cải thiện tình hình hiện nay,” – tiến sĩ Braun cho biết. “Nếu chúng ta không bắt đầu ngay bây giờ thì chắc chắc chúng ta sẽ gặp rắc rối to”.  Những giả thuyết bị lung lay  Trong nhiều thập niên, giới khoa học tin rằng sự lệ thuộc của nhân loại vào nhiên liệu hóa thạch, ngoài việc gây ra những tác hại, lại đem đến một lợi ích khổng lồ.   Khí carbon dioxide (CO2) khí thải chính trong quá trình đốt cháy nhiên liệu, lại cũng là thành phần chính thúc đẩy tăng trưởng của thực vật. Các thực vật lấy khí CO2 từ không khí và sử dụng năng lượng từ ánh sáng Mặt trời để chuyển hóa carbon thành những hợp chất giàu năng lượng như glucose. Con người và hầu hết các sinh vật sống đều tồn tại nhờ hợp chất này.  Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên được thực hiện trong những điều kiện nhân tạo như trong nhà kính hoặc những phòng nuôi trồng đặc biệt. Trong thập niên vừa qua, các nhà khoa học tại trường Đại học Illinois đã đem “tác nhân phân bón CO2” ra thử nghiệm trên điều kiện thực tế trên hai loại cây lương thực quan trọng nhất được trồng tại Hoa Kỳ.  Họ bắt đầu thí nghiệm bằng việc trồng cây đậu nành trên cánh đồng, sau đó xịt thêm khí CO2 từ một bồn chứa khí khổng lồ với hy vọng rằng lượng khí xịt thêm sẽ đẩy sản lượng lên 30% trong điều kiện phát triển tối ưu.  Tuy nhiên, khi họ thu hoạch đậu nành, họ lại thu được kết quả phũ phàng: sản lượng chỉ bằng phân nửa. Họ cũng thực hiện thí nghiệm trên cây bắp, mặc dù loại hoa màu này được biết là ít có phản ứng với CO2, tuy nhiên nhóm nghiên cứu vẫn hy vọng có được sự tăng trưởng về sản lượng – đặc biệt trong tình trạng hạn hán. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu tại trường Đại học Illinois cũng không thu được sự tăng trưởng nào.  Nghiên cứu của họ là một trong những cơ sở để khuyến nghị rằng khí CO2 đúng là có vai trò như một loại phân bón, nhưng lợi ích thu được thấp hơn những gì được nhiều người tin tưởng trước đây – và hoàn toàn có thể không đủ để chấm dứt sự thiếu hụt lương thực. “Một trong những thứ mà chúng tôi bắt đầu tin là những khía cạnh tích cực của CO2 không có khả năng đánh bật những khía cạnh tiêu cực do các nhân tố khác gây ra,” – trích ý kiến của ông Andrew D. B. Leakey, một nhà nghiên cứu khác trong nhóm nghiên cứu của trường Illinois.  Một trong những giả thuyết tồn tại trong thời gian dài trước đây về sản lượng lương thực tăng trong điều kiện Trái đất ấm dần lên có lẽ là quá lạc quan.  Hai nhà kinh tế học, Wolfram Schlenker tại trường Đại học Columbia và Michael J. Roberts tại trường Đại học North Carolina State đã tiên phong trong các phương pháp nhằm so sánh sản lượng hoa màu và sự biến đổi nhiệt độ tự nhiên dựa trên một thang đo tương đối. Công trình của họ cho thấy khi hoa màu chịu nhiệt độ vượt quá một ngưỡng nào đó – thường là 840 F đối với bắp và 860 F đối với đậu nành – thì sản lượng sẽ giảm đáng kể. Và họ đã khuyến cáo rằng trong tình trạng biến đổi khí hậu tiên đoán tại Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ này, với nhiều đợt nắng nóng hơn vào mùa gieo trồng thì sản lượng các giống hoa màu hiện nay sẽ giảm 30% hoặc thấp hơn nữa.  Vài tuần trước đây, ông David B. Lobell tại trường Đại học Stanford đã khuyến cáo rằng tình trạng tăng nhiệt độ tại Pháp, Nga, Trung Quốc, và nhiều quốc gia khác nữa đang làm cản trở sản lượng hoa màu, tạo ra nhiều áp lực lên nền lương thực toàn cầu. “Tôi nghĩ rằng hiện nay đang tồn tại tình trạng nhiều người không nhận thức được sự nhạy cảm của hoa màu đối với nhiệt độ và tình trạng nắng nóng ngày càng tăng nhanh như thế nào.” – trích ý kiến của tiến sĩ Lobell.  Sự thất hứa  Tại cuối đoạn đường đất tại Đông Bắc Ấn Độ, nằm giữa hai dòng suối là một ngôi làng Samhuata lẻ loi. Anand Kumar Singh, một nông dân tại đó, gần đây đã kể lại một câu chuyện mà ngay cả ông cũng không tin vào chính mình kể ra.        Có lẽ, dấu hiệu đáng hy vọng nhất hiện nay chính là bản thân các nước nghèo đang bắt đầu tư một cách nghiêm túc vào nông nghiệp, một việc mà nhiều nước chưa từng làm trước đây, ngay cả khi giá thành lương thực vẫn còn rẻ.        Tháng 06 năm ngoái, ông đã trồng 10 mẫu lúa thuộc loại giống mới. Vào ngày 23 tháng 08, khu vực đó bị một trận lũ kinh hoàng quét qua, làm ngập cánh đồng của ông trong vòng 10 ngày. Nhiều năm trước, những đợt lũ như vậy sẽ tàn phá hoàn toàn hoa màu của ông. Tuy nhiên, giống lúa mới này lại hồi sinh trở lại, và cho một vụ mùa bội thu.  “Đó quả là một phép màu.” – Ông Singh thốt lên.  Phép màu đó không phải do một đấng linh thiêng nào tạo ra mà hoàn toàn do công nghệ – “một minh họa cho những gì mà giới khoa học có thể làm để có thể giúp các nông dân thích nghi được những vấn đề luôn gây khó khăn cho họ” – trích ý kiến của bà Julia Bailey-Serres, một nhà nghiên cứu tại trường Đại học California tại Riverside, người đã thực hiện nhiều biến đổi gene trên giống lúa mà ông Singh đã sử dụng. “Giống lúa chịu úng kiên nhẫn ngồi chờ lũ đến.”  Giống lúa chịu lũ được tạo nên từ loại giống cũ mọc tại một vùng hẻo lánh Ấn Độ, tuy nhiên cần công sức nghiên cứu trong nhiều thập niên để cải thiện nó. Tài chính đã rất eo hẹp đến nỗi mặc dù sau khi giống lúa đó đã được chứng minh là có khả năng chịu lũ lâu gấp hai lần so với các giống trước đây thì nó vẫn chưa được phổ biến đến các nông dân. Sau đó, một tổ chức từ thiện tại Hoa Kỳ, Quỹ Bill & Melinda Gates, đã tham gia và tài trợ 20 triệu USD để hỗ trợ việc hoàn thành nghiên cứu và phân bố rộng rãi giống lúa đó trên toàn Ấn Độ và tại các quốc gia khác nữa. Giống lúa này sẽ đến được tay của hàng triệu nông dân trong năm nay.  Quỹ Gates đã trao tặng 1,7 tỷ USD cho các đề án về nông nghiệp kể từ năm 2006, tuy nhiên ngay cả một tổ chức từ thiện lớn như vậy cũng không thể tự mình giải quyết được vấn đề lương thực của toàn nhân loại. Các Chính phủ đã nhận ra rằng xã hội mong đợi rất nhiều nỗ lực hơn nữa từ phía họ, tuy nhiên phản ứng của họ vẫn còn rất chậm chạp.  Vào năm 2008 và 2009, ngay trong giữa những đợt khủng hoảng chính trị gây nên bởi giá thành lương thực, Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đã tranh nhau quyền hỗ trợ. Tại một hội nghị tại L’Aquilla, Ý, họ đã cam kết đầu tư 22 tỉ USD cho phát triển nông nghiệp.  Tuy nhiên sau đó, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng chưa đến phân nửa số tiền đó là tiền chưa từng được cam kết dành cho nông nghiệp, và thậm chí hai năm sau đó, nguồn tài chính đó thậm chí không được hiện thực hóa hoàn toàn. “Thật là đáng thất vọng.” – trích phát biểu của Bill Gates.  Chính quyền Obama vì đã tập trung vào việc giải quyết nạn đói nên đã giành được nhiều điểm số từ những người ủng hộ chống nạn đói. Tổng thống Obama đã cam kết ủng hộ một khoản tiền 3,5 tỉ USD tại hội nghị ở L’Aquilla, một khoản tiền nhiều hơn hẳn so với các quốc gia khác, và Hoa Kỳ đã bắt đầu sáng kiến đầy tham vọng mang tên Feed the Future (tạm dịch Nuôi dưỡng tương lai) để hỗ trợ phát triển nông nghiệp tại 20 quốc gia cấp bách nhất trên thế giới.  Cho đến nay, chính quyền đã vận động được 1,9 tỉ USD từ Quốc hội Hoa Kỳ. Ngay cả khi Washington đang đối mặt với những khó khăn về ngân sách, việc Hoa Kỳ có hoàn toàn tôn trọng cam kết của mình hay không vẫn còn là một vấn đề đáng phải xem xét.  Có lẽ, dấu hiệu đáng hy vọng nhất hiện nay chính là bản thân các nước nghèo đang bắt đầu đầu tư một cách nghiêm túc vào nông nghiệp, một việc mà nhiều nước chưa từng làm trước đây, ngay cả khi giá thành lương thực vẫn còn rẻ.              Trong suốt 20 năm, hỗ trợ từ các quốc gia phương Tây cho phát triển nông nghiệp tại các nước nghèo đã bị cắt giảm gần như phân nửa, cùng với tình trạng cắt giảm biên chế hàng loạt tại các trung tâm nghiên cứu quan trọng nhất trên thế giới.          Tại châu Phi, nơi hầu như không được Cách mạng Xanh quan tâm, nhưng lại là khu vực có tiềm năng lớn, hàng chục quốc gia đang trên đà hoàn thành lời hứa dành 10% ngân sách quốc gia cho phát triển nông nghiệp, tăng đáng kể từ mức 5% hoặc thấp hơn.  “Tại quốc gia của tôi, mỗi xu đều có ý nghĩa.” – trích ý kiến của bà Agnes Kalibata, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp của Rwanda. Mặc dù vẫn còn khó khăn, Rwanda đã hoàn thành cam kết 10% ngân sách đầu tư cho nông nghiệp, và bà trích dẫn một đề án làm ruộng bậc thang tại vùng trung du của quốc gia này đã tăng sản lượng khoai tây của quốc gia này lên 600% đối với một số nông dân  Liên Hiệp Quốc gần đây tiên đoán rằng dân số thế giới sẽ đạt mức 10 tỉ người vào cuối thế kỷ này, hơn 3 tỉ người so với dân số hiện nay. Đi kèm với nhu cầu ngày càng giàu protein, dự đoán trên có nghĩa là sản lượng lương thực cần phải tăng gấp đôi vào những năm cuối thế kỷ 21 trong bối cảnh ngày càng có ít đất đai dành cho nông nghiệp, với nguồn nước ngày càng khan hiếm, và nhiệt độ ngày càng tăng cao, cùng với khí hậu ngày càng trở nên khắc nghiệt và nền lương thực đã cho thấy những dấu hiệu bất ổn.  “Chúng ta đã tăng gấp đôi sản lượng lương thực toàn thế giới nhiều lần trước đây trong quá khứ, và bây giờ chúng ta phải làm điều này một lần nữa,” trích ý kiến của ông Jonathan A. Foley, một nhà nghiên cứu tại trường Đại học Minnesota. “Tuy nhiên lần này sẽ là lần khó khăn nhất. Chúng ta vẫn có thể làm điều đó, nhưng chắc chắn là nó sẽ không dễ dàng chút nào”.   KIM KHÔI lược dịch  (New York Times, online ngày 04/06/2011)   Source: http://www.nytimes.com/ 2011/06/05/science/earth/05harvest.html?pagewanted=5&ref=science    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trại gà ông Kha đạt chất lượng toàn cầu      Sau hơn một năm triển khai, trang trại gà miền Đông của ông Nguyễn Minh Kha được tổ chức chứng nhận quốc tế Control Union cấp GlobalG.A.P.      Không chỉ có chứng nhận GlobalG.A.P, tháng 9 năm ngoái, trại gà của ông Nguyễn Minh Kha cũng trở thành trang trại duy nhất ở Việt Nam được Nhật Bản cấp phép xuất khẩu vào thị trường này, do đáp ứng 200 tiêu chuẩn.  Đây là trại gà đầu tiên ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn GlobalG.A.P và tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản…  Phải đạt hơn 400 tiêu chuẩn  Hôm thứ sáu (ngày 22/6), ông Nguyễn Minh Kha lặn lội ra Hà Nội nhận chứng nhận GlobalG.A.P của công ty Tài chính quốc tế (IFC – thành viên của nhóm ngân hàng Thế giới hướng dẫn). Để có được chứng nhận này, khu trại phải chi thêm cả tỷ đồng đầu tư, đáp ứng hơn 400 tiêu chí nuôi gà chuẩn châu Âu. Trong đó, có các tiêu chuẩn về phần cứng như: cơ sở vật chất, hạ tầng chuồng trại… và phần mềm (kỹ thuật, quản lý, kiểm soát, chính sách chất lượng…). Điều quan trọng là khi có chứng nhận GlobalG.A.P, sản phẩm chăn nuôi từ trại gà của ông Kha được thừa nhận trên quy mô toàn cầu; được các nhà nhập khẩu, phân phối lớn chấp nhận. Ngoài ra, sản phẩm thịt gà từ trang trại được nhận biết thông qua hệ thống định vị toạ độ địa lý toàn cầu, đảm bảo truy xuất nguồn gốc…  Bắt đầu làm GlobalG.A.P từ tháng 4 năm ngoái, ông Kha và số công nhân hơn 30 người của khu trại đã trải qua hơn một năm miệt mài, vất vả thực hiện các hướng dẫn từ IFC. Cũng như tiêu chuẩn quy định của Nhật Bản, trọng tâm của GlobalG.A.P là thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát, nhằm tạo ra những sản phẩm chăn nuôi đạt tiêu chẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài ra, tiêu chuẩn GlobalG.A.P còn coi trọng việc bảo vệ môi trường, an toàn lao động, sức khoẻ và phúc lợi của người lao động, đảm bảo lợi ích xã hội cho đối tượng liên quan; truy xuất nguồn gốc rõ ràng.  “Huỷ một con gà bệnh cũng phải đúng luật, cầm đầu kéo giãn ra cho gà chết tự nhiên, chứ không được cắt cổ như cách làm thông thường. Huỷ gà bằng lò đốt, chứ không làm thức ăn sống cho cá sấu như các trại đang áp dụng”, ông Kha nói. Trong khi đó, chi phí nhập khẩu một lò đốt hơn 400 triệu đồng, chưa kể tiền mua dầu đốt.  Không chỉ có chứng nhận GlobalG.A.P, tháng 9 năm ngoái, trại gà của ông Nguyễn Minh Kha cũng trở thành trang trại duy nhất ở Việt Nam được Nhật Bản cấp phép xuất khẩu vào thị trường này, do đáp ứng 200 tiêu chuẩn. Trước đó, từ năm 2014, ông Kha tham gia chuỗi liên kết với liên công ty Koyu & Unitek, liên doanh đến từ Nhật Bản, để hình thành chuỗi sản xuất thịt gà sạch đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm cho thị trường nội địa và Nhật Bản. Với thị trường Nhật, trại gà ông Kha sở hữu phải đáp ứng các tiêu chí sản phẩm không tồn dư kháng sinh, kim loại nặng; không chứa chất cấm, và đặc biệt phải kiểm soát chặt chẽ nguồn lây bệnh cúm, vi khuẩn E. coli , Salmonella…  “Con giống, thức ăn cho gà phải được lấy từ các công ty có chứng nhận GlobalG.A.P, chứng nhận nguồn gốc rõ ràng!”, ông Kha bảo.  Giấy thông hành xuất khẩu  Đầu tháng 10/2017, Việt Nam lần đầu tiên có tên trong danh sách xuất khẩu thịt gà ra thế giới. liên doanh Koyu & Unitek là đơn vị liên kết chăn nuôi với trại ga ông Nguyễn Minh Kha, sau đó bao tiêu sản phẩm để giết mổ, chế biến xuất khẩu. Việc có chứng nhận GlobalG.A.P, theo ông Kha, tới đây, công ty De Heus – tập đoàn chăn nuôi của Bỉ, và cũng là một mắt xích liên kết đang cung cấp thức ăn cho trang trại – đã có kế hoạch lấy ức gà để xuất khẩu sang thị trường châu Âu.  “Có giấy chứng nhận GlobalG.A.P hay chứng nhận vào thị trường Nhật, đang mở ra cơ hội xuất khẩu khá tốt cho trang trại. Hiện tại, chúng tôi đã được đối tác Koyu & Unitek đề nghị nâng sản lượng lên gấp đôi rồi!”, ông Kha chia sẻ.  Trước đây, khi còn nuôi gà bán nội địa, khu trại của ông Kha chỉ có thể xoay vòng được ba lứa gà mỗi năm, tương đương ba chuồng/tuần. Tuy nhiên, từ khi có chứng nhận đủ tiêu chuẩn vào Nhật Bản, số lứa nuôi tăng lên trên năm lứa/năm, 7 – 8 chuồng/tuần, từ 60.000 con gà/tuần, nâng lên đạt 140.000 – 160.000 con, tương đương 300 – 350 tấn gà lông/tuần. Theo ông Kha, trước yêu cầu nâng công suất lên gấp đôi, tức 320.000 con/tuần từ đối tác, ông đang gấp rút hoàn thành thủ tục giấy phép để mở rộng thêm một khu trại khác. Dự kiến đến tháng 4 sang năm là có thể đưa vào hoạt động.  “Vướng mắc lớn nhất hiện nay là quỹ đất khan hiếm. Chúng tôi tìm khắp nơi mới có một khu đất đạt yêu cầu xây trại. Nếu có quỹ đất, tôi tin là Việt Nam có thể đẩy mạnh chăn nuôi, nâng sản lượng thịt gà xuất khẩu ngang Thái Lan và các nước khác!”, ông Kha khẳng định.  bài, ảnh Bảo Anh (theo TGTT)  Nguồn: Thegioihoinhap    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trại hè Đại sứ hàng Việt tí hon lần 5      Chương trình Trại hè Đại sứ hàng Việt tí hon lần thứ năm là cầu nối để các doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tri ân người tiêu dùng, nhất là người tiêu dùng trẻ trong tương lai thông qua việc hỗ trợ ngày hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, biết vươn lên trong cuộc sống.       Chương trình Trại hè Đại sứ hàng Việt tí hon sẽ diễn ra trọn vẹn trong tháng Sáu (từ ngày 22 đến 26.06.2015) tại TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, thu hút hơn 120 em thiếu nhi hiếu học và có hoàn cảnh khó khăn của bốn tỉnh ĐBSCL (An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp) và con em chiến sĩ Trường Sa, chiến sĩ đang công tác tại nhà giàn DK, cùng 12 đại sứ hàng Việt đăng ký đồng hành.   Thông qua hoạt đồng này, các doanh nghiệp có sản phẩm được công nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao có cơ hội tri ân người tiêu dùng, nhất là người tiêu dùng trẻ trong tương lai. Đây cũng là mục đích mà các nhà tổ chức muốn hướng tới nhân mỗi kỳ tổ chức.  Kỳ trại hè năm nay, ban tổ chức sẽ tạo điều kiện đưa các em thiếu nhi tham quan các danh lam thắng cảnh, tìm hiểu về lịch sử, thiên nhiên và con người Tân Nguyên. Nét mới của trại hè là sự tham gia của Học viện Sáng tạo S3 nhằm hướng dẫn các em trải nghiệm những điều thú vị về khoa học công nghệ: kể chuyện về các nhà khoa học, hướng dẫn đọc sách khoa học, làm mô hình khoa học theo sách, xem biểu diễn khoa học vui, khoa học kì thú và tự tay làm các thí nghiệm hóa học, vật lý vui, học cách chế tạo các máy móc đơn giản.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Trại huấn luyện khởi nghiệp toàn cầu: “No talk. All actions”      Startup Weekend 2014 sẽ diễn ra liên tục trong ba tối tại Hà Nội, từ 28 đến 30/3 với tối chung kết tại Đại học Ngoại thương.     Đây là lần thứ tư trại được tổ chức ở Việt Nam và lần thứ hai ở Hà Nội, kể từ năm 2011.  Startup Weekend là “trại huấn luyện khởi nghiệp” diễn ra trên toàn cầu, do Google, Microsoft, Amazon, Kauffman Foundation… bảo trợ chuyên môn. Tại đây các thí sinh sẽ làm việc cùng các doanh nhân giàu kinh nghiệm để hoàn thành bản kế hoạch kinh doanh và trình bày trước các quỹ đầu tư trong vòng 54 giờ.   Với tinh thần “No talk. All actions” (Không nói, chỉ hành động), 70 nhân sự xuất sắc từ các lĩnh vực Tech, Marketing, Sale, Operation sẽ thuyết trình dự án khởi nghiệp của mình vào tối đầu tiên. Những chủ dự án không thể thuyết phục được đủ số nhân sự tham gia vào dự án của mình, hoặc các nhân sự không được dự án nào lựa chọn sẽ phải ra khỏi chương trình. Sau buổi tối đầu tiên, sẽ chỉ còn hơn 50 nhân sự chia thành 10 – 12 dự án được ở lại.   Sang tối thứ hai các dự án sẽ làm việc cùng các Cố vấn là các doanh nhân giàu kinh nghiệm và nhiệm vụ của họ là cạnh tranh để thu hút các Cố vấn nhận huấn luyện cho dự án của mình.   Tối 30/3, các chủ dự án sẽ thuyết trình trước đại diện các quỹ đầu tư và các doanh nhân, trong đó có đại diện từ hai quỹ đầu tư mạo hiểm là IDG Ventures và Cyber Agent.  Các tiêu chí để chấm điểm dự án bao gồm: Mô hình kinh doanh, mức độ sinh lời, năng lực của những người thực hiện, định hướng sản phẩm.  Trong lích sử Startup Weekend toàn cầu, nhiều công ty startup đã được các công ty lớn đầu tư để thành lập sau khi giới thiệu sản phẩm tại sự kiện này. Một số sản phẩm thậm chí được hoàn thành tới 80% ngay tại đây.   Marc Nager, CEO của Startup Weekend, chia sẻ: “Chúng tôi dạy họ cách bắt tay vào cuộc nếu họ có một ý tưởng hay. Sau ba ngày, không phải tất cả các đội đều sẽ gắn kết với nhau, nhưng những điều đã trải nghiệm sẽ dạy họ về giá trị của hành động làm việc cùng nhau, và đó là điều có giá trị lâu bền hơn cả”.  Đánh giá về Startup Weekend, TechCrunch – một trong những trang tin về công nghệ và khởi nghiệp nổi tiếng thế giới, viết: “Startup Weekend nổi tiếng với các quyết định chóng vánh, tư duy vượt ngoài khuôn khổ, phương tiện hỗ trợ độc đáo và các Founder có cơ hội thể hiện họ làm được những gì”.  Tạp chí Forbes thì nhận định: “Startup Weekend dạy cho những người khởi nghiệp biết cách xây dựng sản phẩm và khởi sự một công ty”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trải nghiệm đa dạng của trẻ giai đoạn tiền-mẫu giáo      Một nghiên cứu mới về trẻ mẫu giáo ở một bang miền Trung Tây nước Mỹ trên tạp chí Early Education and Development đã xác định được bảy lộ trình khác nhau trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em trước khi đến trường.    Các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên trước trải nghiệm đa dạng của những đứa trẻ trước khi đến trường mẫu giáo: trong khi một số chỉ được chăm sóc tại nhà hoặc chủ yếu ở nhà trẻ, lại có những đứa được xoay vòng giữa các loại hình chăm sóc khác nhau, hoặc một hình thức trông nom nào đó.   Nathan Helsabeck, tác giả chính của nghiên cứu và là trợ lý nghiên cứu sau đại học thuộc Đại học bang Ohio cho biết, đây là một trong số ít những nghiên cứu đề cập đến trải nghiệm của trẻ trong suốt quãng thời gian từ sơ sinh đến khi đi học mẫu giáo. “Có khác biệt trong trải nghiệm của trẻ trước khi đi mẫu giáo hơn chúng ta tưởng”, Helsabeck nói. “Nhìn vào cách trẻ hành xử ở trường mẫu giáo có thể giúp chúng ta cân nhắc về hành trang mà chúng cần trước khi nhập học”.  Nghiên cứu này là một phần của dự án lớn hơn do liên bang tài trợ nhằm nâng cao hiểu biết về những gì xảy ra trong các lớp học từ trước khi trẻ bắt đầu vào tiểu học cho đến khi học lớp ba. Các nhà khoa học đã thu thập dữ liệu từ hai khu học chính lớn ở ngoại thành, bao gồm 25 trường học, 152 phòng học và 3472 học sinh.   Trong nghiên cứu, các phụ huynh sẽ phải hoàn thành bảng câu hỏi về việc giáo dục và chăm sóc con cái của họ trong quãng thời gian từ khi còn sơ sinh cho đến khi 5 tuổi.   Các nhà nghiên cứu nhận thấy, 44% trẻ được chăm sóc tại nhà trong 5 năm đầu đời; khoảng 10% trẻ dành hai năm đầu ở nhà, đến năm thứ ba thì cha mẹ có xu hướng gửi con đến nhà trẻ; 7% đã đi nhà trẻ ngay từ những năm đầu tiên.    Kelly Purtell, đồng tác giả của nghiên cứu và là phó giáo sư ngành khoa học nhân văn tại Trung tâm Crane, cho biết đây là ba lộ trình mà các nhà khoa học đã tiên đoán được từ trước khi họ tiến hành nghiên cứu.   Nhưng khi bắt tay vào nghiên cứu, họ mới phát hiện ra rằng vẫn còn bốn lộ trình khác: Nhóm lớn thứ hai, 21% trẻ ở nhà hầu hết những năm đầu, nhưng đã đi nhà trẻ hoặc đăng ký các chương trình tiền mẫu giáo vào những năm cuối trước khi nhập học mẫu giáo. Các nhóm khác bao gồm trẻ chủ yếu được chăm sóc trong các cơ sở không chính thức (5%), trẻ lúc thì được chăm sóc tại nhà lúc thì đến các cơ sở không chính thức (8%), và những trẻ vừa được chăm sóc tại nhà vừa đến cơ sở trong suốt 5 năm (5%).   Tại sao có rất nhiều lộ trình khác nhau? “Nó phản ánh sự chắp vá trong dịch vụ chăm sóc trẻ em ở đất nước này”, Purtell nhận định. “Cha  mẹ lựa chọn giữa những cách khác nhau hòng tìm ra phương án tối ưu”.    Helsabeck rất kinh ngạc khi biết nhiều trẻ phải thay đổi môi trường từ năm nay sang năm khác – thường là từ chăm sóc tại nhà sang chăm sóc ở các cơ sở không chính thức, mỗi khi cha mẹ chúng chuyển việc. “Nghiên cứu này thú vị hơn chúng tôi tưởng”, ông cho biết. “Chúng ta cần nhận ra, một số trẻ đang phải đối mặt với sự bất ổn, khi môi trường của chúng có thể thay đổi bất kỳ lúc nào. Điều này có thể ảnh hưởng đến những hành vi của chúng ở trường học”.  Nghiên cứu cũng xem xét những đứa trẻ ở từng nhóm khác nhau sẽ hành xử như thế nào ở trường mẫu giáo. Kết quả cho thấy điểm kiểm tra của những đứa trẻ thuộc các lộ trình khác nhau không có sự khác biệt. Điều này thật đáng ngạc nhiên, bởi vì hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy những đứa trẻ dành nhiều thời gian ở nhà trẻ sẽ có lợi thế hơn, Helsabeck nói.   Các nghiên cứu khác cho thấy trẻ em dành phần lớn thời gian tại nhà trẻ trong 5 năm đầu tiên có nhiều vấn đề về xã hội và hành vi khi đi học mầm non hơn so với các em khác. “Đây sẽ là thách thức thực sự đối với các giáo viên mẫu giáo, bởi họ sẽ phải dẫn dắt cùng lúc những đứa trẻ vừa chập chững đi học với những đứa trẻ đã quen thuộc với môi trường học đường”, ông cho biết. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-diversity-early-child.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trải nghiệm đa quốc gia và khởi nghiệp công nghệ tại Việt Nam      Những nhà khởi nghiệp công nghệ ở Việt Nam, họ là ai và khác thế nào với những nhà khởi nghiệp truyền thống**? Đây là câu hỏi mà nhóm nghiên cứu chúng tôi từ Viện ISB – Đại học Kinh tế HCM và Đại học King’s College London (Anh Quốc) đã và đang cố gắng trả lời. Dựa trên phân tích sơ khởi 143 doanh nhân, chúng tôi nhận thấy nhóm công nghệ có nhiều khả năng đã trải nghiệm đa quốc gia hơn hẳn, và phần đông trong số họ có xuất phát điểm sự nghiệp tại Mỹ.      Phạm Kim Hùng (phải), CEO của công ty Base vừa có thương vụ sáp nhập với FPT đình đám từng học ở Đại học Stanford, Mỹ. Ảnh: Chungta.vn  Hồi phục chất xám?  Nếu như chảy máu chất xám (sang phương Tây) là một vấn đề nổi cộm ở Việt Nam vào những năm 2000, thì có vẻ như trong giai đoạn 2010, chúng ta bắt đầu thấy đây đó hành trình trở về lập nghiệp, bao gồm tự khởi nghiệp, của du học sinh và chuyên gia người Việt [1, 2, 3]. Hiện tượng này thường được gọi là brain gain, ở đây chúng tôi tạm dịch là hồi phục chất xám. Hồi phục chất xám không chỉ xuất hiện ở Việt Nam, mà còn ở các nước châu Á khác, đơn cử như Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc [4], và thậm chí ở cả một số nước phương Tây như Canada [5]. Đã có nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa hồi phục chất xám ở những nước này và sự phát triển của họ trong các lĩnh vực công nghệ cao, như công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) [6], và qua đó là phát triển cả nền kinh tế [7]. Năng lực công nghệ của du học sinh và chuyên gia hồi hương chính là kết quả của quá trình tích lũy một lượng vốn con người (kiến thức, kĩ năng, thái độ) và vốn xã hội (mối quan hệ), mà đặc trưng trong đó là sự giao thoa giữa quê hương và những đất nước phát triển họ đã đến. Ví dụ, những nhà khởi nghiệp công nghệ tại Ấn Độ, Đài Loan và Trung Quốc sang Mỹ học và làm việc, rồi từ đó hiểu được các công nghệ, mô hình kinh doanh mới (như thương mại điện tử), cách gọi vốn đầu tư mạo hiểm, và họ xây dựng được thái độ, cách tư duy luôn đặt tốc độ tăng trưởng lên trên hết. Khi trở về, họ áp dụng tất cả vốn tích lũy này, cộng với mối quan hệ sẵn có, để tạo ra các giải pháp sáng tạo cho nhu cầu của quê hương [4, 8].  Tuy nhiên, ta cũng cần lưu ý rằng nguồn lực hồi phục chất xám chỉ là điều kiện đủ để phát triển nền kinh tế công nghệ cao. Để nguồn lực này có thể đóng góp, các quốc gia phải có sẵn những điều kiện cần, bao gồm môi trường kinh tế và hạ tầng phù hợp, các chính sách thu hút nhân tài, và thậm chí cần có các doanh nghiệp công nghệ của chính doanh nhân trong nước đi tiên phong [4]. Theo quan sát của chúng tôi, Việt Nam đang phát triển những điều kiện cần này; ví dụ, Hiến pháp 2013 và Luật Doanh nghiệp 2014 mở rộng điều kiện kinh doanh khi cho phép công dân tự do kinh doanh những gì luật không cấm thay vì chỉ kinh doanh những gì được cho phép, ngoài ra ta có Đề án 844 hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, và trong nước đã tồn tại các doanh nghiệp ICT lâu đời như CMC và FPT. Vì những điều kiện trên, chưa kể yếu tố ngoại cảnh là môi trường kinh tế ảm đạm tại phương Tây sau khủng hoảng 2008, nên việc du học sinh và chuyên gia hồi hương trong giai đoạn 2010 để tìm cơ hội cũng là điều hợp lý.  Nhận thấy tầm quan trọng của hồi phục chất xám và sự xuất hiện của nó tại Việt Nam, chúng tôi quyết định nghiên cứu về hiện tượng này, và vấn đề đầu tiên chúng tôi quan tâm chính là những nhà khởi nghiệp công nghệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 là ai, đặc điểm vốn con người và vốn xã hội của họ thế nào, bao nhiêu trong số họ thuộc làn sóng hồi phục chất xám và bao nhiêu chưa từng du học hay làm việc ở nước ngoài. Bên cạnh đó, nhà khởi nghiệp công nghệ khác thế nào so với những nhà khởi nghiệp truyền thống.  Bài viết này trình bày ngắn gọn kết quả nghiên cứu sơ khởi của chúng tôi+, bao gồm tham khảo các nghiên cứu trên thế giới về vốn con người và vốn xã hội trong khởi nghiệp, và phân tích 67 doanh nhân công nghệ và 76 doanh nhân truyền thống tại Việt Nam.  Nền tảng cá nhân của khởi nghiệp    Hòa Phát là một trong số những điển hình của doanh nghiệp truyền thống. Tổng giám đốc Hòa Phát, Trần Đình Long (bìa phải) là người hoàn toàn học tập ở trong nước. Trong ảnh là chuyến khảo sát thị trường của Hòa Phát vào những năm đầu khởi nghiệp (khi Hòa Phát còn mang tên là Công ty TNHH Thiết bị Phụ tùng). Ảnh: Vietnambiz.vn  Vốn con người (kiến thức, kĩ năng, thái độ) và vốn xã hội (mối quan hệ) từ lâu đã được giới nghiên cứu quan tâm vì chúng là nền tảng để từng cá nhân khởi nghiệp và rộng hơn là đổi mới sáng tạo [9,10]. Với nhà khởi nghiệp công nghệ, nghiên cứu đã chỉ ra rằng vốn con người của họ đến chủ yếu từ việc đi du học ở các nước có công nghệ và môi trường đầu tư mạo hiểm phát triển, đặc biệt là Mỹ [4,8]. Như đã nhắc đến ở phần trước, nguồn vốn này cụ thể bao gồm kiến thức về công nghệ, mô hình kinh doanh, đầu tư mạo hiểm, kĩ năng gọi vốn đầu tư mạo hiểm, tuyển dụng nhân tài, và thái độ dám mạo hiểm, luôn đặt tốc độ tăng trưởng làm đầu. Bên cạnh đó, thời gian học và làm việc ở các nước phát triển còn tạo điều kiện để các doanh nhân (tương lai) tiếp cận và xây dựng mối quan hệ với các quỹ đầu tư mạo hiểm, và điều này rất quan trọng vì phần lớn giới đầu tư mạo hiểm có tầm nhìn và phạm vi hoạt động đa quốc gia, nên họ rất nhạy bén về thông tin doanh nghiệp và doanh nhân. Trên thực tế, nghiên cứu đã chỉ ra giới đầu tư mạo hiểm thường dựa vào mạng lưới quan hệ của họ để chọn đối tượng đầu tư [11], và hơn nữa họ có vẻ chuộng khi đối tượng có kinh nghiệm học tập ở các nước phát triển, từ trình độ đại học trở lên [12].  Còn với nhà khởi nghiệp truyền thống, vốn con người của họ đến rất nhiều từ kinh nghiệm đi làm lâu năm ở ngay tại đất nước mà họ kinh doanh. Nguồn vốn này bao gồm hiểu biết về đất đai, xây dựng, máy móc sản xuất, tín dụng và ngân hàng, hay kĩ năng làm việc với cơ quan quản lí nhà nước [13]. Tùy tính chất ngành nghề, họ còn phải xây dựng mối quan hệ với chính trị gia và cán bộ nhà nước cấp cao [14] – không nhất thiết bằng hành động hay với mục đính tư lợi phi pháp.  Riêng về bối cảnh Việt Nam, mặc dù đã xuất hiện nhiều nghiên cứu thuộc các chủ đề khởi nghiệp (ví dụ [15,16,17]), nhưng chúng tôi ít tìm thấy nghiên cứu tập trung vào vốn con người và vốn xã hội của nhà khởi nghiệp. Nếu có [18][19] thì cũng thiên về về khởi nghiệp truyền thống++. Tuy nhiên, khi nhìn sang truyền thông tại Việt Nam, chúng tôi dễ dàng thấy rằng vốn con người và vốn xã hội của nhà khởi nghiệp đã và đang được bàn tán sôi nổi. Ví dụ điển hình là loạt bài về các doanh nhân trở về từ Đông Âu [20], những bài tiểu sử ông chủ Hòa Phát [21], FPT [22], hay một bài về thực trạng kinh doanh bằng quan hệ [23] – ở đây chúng ta còn chưa đề cập đến các sự kiện truyền thông, giao lưu của chính các nhà khởi nghiệp. Mặc dù không thể đưa ra kết luận khoa học từ mỗi nội dung truyền thông đơn lẻ, chúng tôi đánh giá nếu tổng hợp chúng lại và có sự sàng lọc thông qua đối chiếu, thì chúng lại trở thành dữ liệu nghiên cứu quý giá để ít nhất các nhà khoa học có một cái nhìn bao quát về Việt Nam, trước khi đào sâu vào một vấn đề cụ thể như vốn con người và vốn xã hội.  Mẫu và dữ liệu nghiên cứu   Dựa vào các nghiên cứu trước đây trên thế giới, chúng tôi đưa ra một vài giả thuyết về vốn con người và vốn xã hội của nhà khởi nghiệp công nghệ Việt Nam, nhưng có hai giả thuyết chúng tôi tập trung vào thử nghiệm trước tiên do tính khả thi trong việc lấy dữ liệu. Ở giả thuyết thứ nhất, những nhà khởi nghiệp công nghệ sẽ có nhiều kinh nghiệm đa quốc gia hơn, đặc biệt là phương Tây, trước khi họ khởi nghiệp, còn những nhà khởi nghiệp truyền thống sẽ có ít kinh nghiệm đa quốc gia hơn, và nếu có thì họ sẽ tập trung vào khối Liên Xô. Ở giả thuyết thứ hai, quá trình học tập của nhà khởi nghiệp công nghệ sẽ diễn ra ở Mỹ nhiều hơn nhà khởi nghiệp truyền thống.  Để thử nghiệm hai giả thuyết trên, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống biến đo phù hợp để tìm dữ liệu tương ứng và phân tích hồi qui#. Ví dụ một số biến đo của chúng tôi gồm du học (có hoặc không), nơi du học, ngành học (phân loại theo UNESCO), số năm du học, trình độ học vấn, công việc nước ngoài (có hoặc không), nơi làm việc, vị trí công việc. Chúng tôi cũng thu thập thông tin cá nhân như giới tính, năm sinh, công ty đã khởi nghiệp thành công, quê quán.  Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm những nhà khởi nghiệp công nghệ và truyền thống thành công, tính tới thời điểm tháng 4/2020. Thành công ở đây chúng tôi định nghĩa là họ đã gọi vốn được ít nhất 100 nghìn USD cho doanh nghiệp công nghệ, hoặc doanh nghiệp truyền thống của họ có giá trị vốn hóa 21 triệu USD. Dựa vào hai tiêu chí này, chúng tôi tra cứu cơ sở dữ liệu của CrunchBase cho doanh nghiệp công nghệ và investing.com cho doanh nghiệp truyền thống, nhờ đó lập ra danh sách 110 doanh nghiệp công nghệ và 314 doanh nghiệp truyền thống thành công. Lưu ý một chút ở đây, với doanh nghiệp truyền thống, chúng tôi chọn các doanh nghiệp đã lên sàn chứng khoán vì thông tin minh bạch hơn. Lí do lựa chọn mốc 21 triệu USD là vì dựa vào dữ liệu investing.com, đây là giá trị vốn hóa cao nhất mà vẫn đảm bảo danh sách doanh nghiệp của chúng tôi sẽ bao gồm được tất cả các ngành nghề tại Việt Nam.  Sau khi làm sạch dữ liệu, chúng tôi còn lại với 49 doanh nghiệp công nghệ va 69 doanh nghiệp truyền thống. Do có doanh nghiệp có nhiều đồng sáng lập, nên con số doanh nhân chúng tôi có được là 67 cho nhóm công nghệ và 76 cho nhóm truyền thống.  Kết quả và ý nghĩa  Kết quả phân tích của chúng tôi xác nhận cả hai giả thuyết. Với giả thuyết thứ nhất, tính toán của chúng tôi dự đoán khả năng có kinh nghiệm đa quốc gia của nhóm công nghệ cao hơn 15 lần so với nhóm truyền thống. Cụ thể trong dữ liệu của chúng tôi, nhóm công nghệ 55% có kinh nghiệm tại Mỹ, 32% tại châu Âu và 11% tại Úc, New Zealand. Còn nhóm truyền thống thì có rất ít kinh nghiệm đa quốc gia, và nếu có thì phần nhiều từ khối Liên Xô. Với giả thuyết thứ hai, khả năng nhóm công nghệ từng du học tại Mỹ cao hơn 35 lần so với nhóm truyền thống. Hơn nữa, nhóm công nghệ khi đi du học Mỹ thì phần đông ở trình độ cử nhân, bao gồm cử nhân ở những trường top đầu như Yale, Stanford, UCBerkeley và UCLA. Số lượng học sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) không những hiếm, mà những trường họ học cũng có thứ hạng thấp hơn như Griggs và Golden Gate – điều này không có nghĩa là họ học trường kém chất lượng. Còn những nhà khởi nghiệp công nghệ học trong nước thì chỉ có ở Hà Nội và TP.HCM, tập trung vào các trường lớn như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Tự Nhiên thuộc ĐH Quốc Gia TP.HCM; những doanh nhân này cũng ít có kinh nghiệm làm việc nước ngoài.  Vậy kết quả này có ý nghĩa thế nào? Do chúng tôi chỉ mới thử nghiệm hai giả thuyết khá đơn giản trên một mẫu nhỏ, nên chưa nói lên được nhiều về vốn con người và vốn xã hội của nhà khởi nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, kết quả phân tích đã cho thấy rõ sự khác nhau về kinh nghiệm đa quốc gia và quá trình giáo dục giữa nhà khởi nghiệp công nghệ và truyền thống. Vì vậy, chúng tôi cho rằng để phát triển nền kinh tế một cách tối ưu nhất, nước ta cần có chủ trương, chính sách và hành động cụ thể để tạo điều kiện và khuyến khích cho từng nhóm vừa tận dụng kinh nghiệm và học vấn của mình trong kinh doanh, vừa tiếp cận trao đổi ý tưởng với nhóm còn lại và với xã hội – hay nói cách khác, giúp họ không những tạo ra giá trị đặc trưng mà còn lan tỏa và kế thừa nó.      Có hai điều cuối chúng tôi muốn nhấn mạnh. Thứ nhất, nghiên cứu của chúng tôi hiện chỉ dừng lại ở mô tả tình hình và dự đoán về xuất phát điểm của một nhà khởi nghiệp, chứ không xác lập nhân quả. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị không nên dùng kết quả ở đây làm tiêu chí đánh giá doanh nhân, cho dù họ khởi nghiệp công nghệ hay truyền thống; ví dụ, không nên nhìn một doanh nhân học trong nước và kết luận rằng họ thiếu năng lực gọi vốn đầu tư mạo hiểm. Thứ hai, kết quả phải được đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam, vì xu hướng ngành nghề khởi nghiệp và cơ hội tích lũy kinh nghiệm đa quốc gia sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi mức độ phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật trong nước, và tình hình địa chính trị giữa nước ta và quốc tế. Cho nên, sự so sánh giữa các nhà khởi nghiệp công nghệ và truyền thống chỉ là tương đối, do họ đã trưởng thành và lập nghiệp trong những điều kiện quá khác nhau.  Tác giả là Tiến sĩ, đang làm việc tại Viện ISB-Đại học Kinh tế HCM  ** Chúng tôi định nghĩa doanh nghiệp truyền thống là doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất chính (a) cần cơ sở hạ tầng, tài chính, nhân công dồi dào, và (b) không chứa hàm lượng cao về công nghệ thông tin. Còn doanh nghiệp công nghệ thì hoạt động chủ yếu dựa vào công nghệ thông tin và cần ít sự đầu tư về đất đai, nhà xưởng, nhân công.   +Bài viết này dựa trên một báo cáo chúng tôi đăng trên tạp chí khoa học Technology in Society với tựa đề ‘Transnational experience and high-performing entrepreneurs in emerging economies: Evidence from Vietnam’.  ++Đáng lưu ý, đã có nghiên cứu về môi trường khởi nghiệp công nghệ ở Việt Nam [24].  #Để tránh hàn lâm hóa bài viết, chúng tôi xin không mô tả chi tiết biến đo và phương pháp đo. Phương pháp nghiên cứu đầy đủ có thể được tìm thấy trong báo cáo khoa học của chúng tôi.  Trích nguồn  [1] Phóng sự VTC14. 16 nhà vô định Olympia đi du học chỉ 1 người về nước. https://www.youtube.com/watch?v=iFF0HPdUzJ4  [2] Phóng sự FBNC Vietnam. Du học sinh: Về Việt Nam hay làm việc ở nước ngoài? https://www.youtube.com/watch?v=DsTHCazUpAo  [3] Phóng sự VTV1. Bí kíp lập nghiệp thành công của du học sinh. https://vtv.vn/cuoc-song-thuong-ngay/bi-kip-lap-nghiep-thanh-cong-cua-du-hoc-sinh-2016070717383607.htm  [4] Kenney, M., Breznitz, D., & Murphree, M. (2013). Coming back home after the sun rises: Returnee entrepreneurs and growth of high tech industries. Research Policy, 42(2), pp.391-407.  [5] Wu, Y. (2018). Canada’s brain gain – the reverse migration of tech talent is happening. The Globe and Mail, available online at https://www.theglobeandmail.com/business/commentary/article-canadas-brain-gain-the-reverse-migration-of-tech-talent-is/  [6] Chacko, E. (2007). From brain drain to brain gain: reverse migration to Bangalore and Hyderabad, India’s globalizing high tech cities. GeoJournal, 68, pp.131-140.  [7] Samet, K. (2014). Brain Gain, Technology Transfer and Economic Growth: Case of Tunisia. International Journal of Economics and Finance, 6(9), pp.57-72.  [8] Batjargal, B. (2007). Internet entrepreneurship: social capital, human capital, and performance of Internet ventures in China. Research Policy, 36(5), pp.605-618.  [9] Delmar, F., & Davidsson, P. (2000). Where do they come from? Prevalence and characteristics of nascent entrepreneurs. Entrepreneurship and Regional Development, 12 (1), pp.1-23.  [10] Davidsson, P., Hunter, E., & Klofsten, M. (2006). Institutional forces: the invisible hand that shapes venture ideas. International Small Business Journal, 24(2), pp.115-131.  [11] Hochberg, Y., Ljungqvist, A., & Lu, Y. (2007). Whom You Know Matters: Venture Capital Networks and Investment Performance. Journal of Finance, 62(1), pp.251-301.  [12] Tinkler, J.E., Whittington, K.B., Ku, M.C., & Davis, A.R. (2015). Gender and venture capital decision-making: The effects of technical background and social capital on entrepreneurial evaluations. Social Science Research, 51, pp.1-16.    Author                Trần Bá Linh        
__label__tiasang Trái phiếu Việt Nam ra nước ngoài BÁN DỄ NHƯNG PHẢI SỬ DỤNG HIỆU QUẢ      Ngày 27/10/2005, ngay khi phát hành trên thị trường chứng khoán phố Wall (New York), toàn bộ trái phiếu của Việt Nam đã bán hết veo. Đây là một tín hiệu tích cực nhưng cũng đặt ra một vấn đề lớn hơn: sử dụng vốn vay như thế nào cho hiệu quả?    Thành công đương nhiên  Theo bản tin thị trường của tờ Financial Time, tổng mệnh giá trái phiếu của Chính phủ Việt Nam phát hành là 750 triệu đô la Mỹ, lãi suất coupon là 6,875%, giá bán là 99,223 USD. Điều này có nghĩa là lãi suất thực mà Việt Nam phải trả cho trái phiếu này là 7,13%/năm. Mức lãi suất này được coi là thấp so với các nước có mức tín nhiệm tương đương với Việt Nam. Ở thời điểm hiện tại, lãi suất trái phiếu chính phủ của Indonesia là 7,717%/năm, Philippines là 8,59%. Hầu hết các nước Nam Mỹ như Brasil, Argentina, Colombia đều phải chịu mức lãi suất cao hơn 7,5%. So với một số nền kinh tế mạnh như Hàn Quốc, Úc, Nga thì mức lãi suất mà Việt Nam phải chịu chỉ cao hơn từ 1,32-1,65%.  Rất nhiều tờ báo trên thế giới đã đưa tin hoặc bình luận về sự kiện này. Phải chăng đây là một kết quả ngoạn mục và đầy bất ngờ?  Thực ra, đây là điều đương nhiên, chẳng có gì là bất ngờ cả. Chúng ta biết rằng, ở các thị trường chứng khoán như New York, London,… hiếm khi có chuyện tâm lý bầy đàn xảy ra, nhất là đối với trái phiếu. Việc quyết định mua ở mức giá nào được các nhà đầu tư, các nhà phân tích chuyên nghiệp tiến hành phân tích rất tỷ mỉ. Sức khỏe của nền kinh tế tốt thì lãi suất thấp. Ngược lại, nền kinh tế có vấn đề thì phải chịu lãi suất cao hơn. Của nào tiền ấy, rủi ro cao lãi suất phải cao dường như là quy luật bất biến ở các thị trường hiệu quả.          Việt Nam đi theo con đường nào, xây dựng một trung tâm nghiên cứu, một đại học đẳng cấp quốc tế để làm hạt nhân cho nền kinh tế tri thức hay tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, nền tảng của nền kinh tế sản xuất? Hay kết hợp cả hai? Quyết định là của chính Việt Nam và tương lai của Việt nam sẽ dựa trên chính các quyết định này.         Việc lãi suất trái phiếu của Việt Nam thấp hơn lãi suất trái phiếu của một số nước là do nền kinh tế Việt Nam được dự báo, trong thời gian tới, vẫn duy trì được sự ổn định và có tốc độ tăng trưởng, đồng thời hiện tại, tỷ lệ nợ nước ngoài, rất là nợ thương mại của Việt Nam đang rất thấp. Ngoài yếu tố này, chẳng còn sự thần kỳ nào khác cả.  Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam thành công là một tín hiệu tích cực. Điều này thể hiện mức tín nhiệm của Việt Nam đã gia tăng làm cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam. Có thể sau sự kiện này, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) cũng như gián tiếp (FPI) sẽ gia tăng, thúc đẩy hơn nữa kinh tế Việt Nam tăng trưởng.  Việc trái phiếu bán chạy trên thị trường quốc tế cũng là điều kiện để Việt Nam có thể huy động thêm nguồn vốn, tăng cường đầu tư, thúc đẩy cỗ máy tăng trưởng, khi mà nguồn vốn trong nước đang đi dần đến điểm bão hòa, khó huy động hơn.  Sử dụng tiền vay – con dao hai lưỡi  Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam sẽ có những tác tích cực. Tuy nhiên, nếu không có những giải pháp hợp lý, những bất lợi sẽ nổi lên, đôi khi triệt tiêu hẳn những tác động tích cực, thậm chí còn làm cho tình huống trở nên tồi tệ hơn.  Ta biết rằng, huy động trái phiếu có nghĩa là chính phủ đi vay ở nước ngoài. Đã đi vay thì phải trả mà còn phải trả với lãi suất cao. Một khoản đi vay chỉ có thể trả được khi suất sinh lợi mà nó làm ra tối thiểu phải bằng lãi suất đi vay. Con số cụ thể ở đây là 7,13%.  Vấn đề đặt ra đầu tiên đối với khoản vay này là phải sử dụng một cách hiệu quả. Có nghĩa là, việc sử dụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản vốn vay ODA. Tức là khi đi vay chỉ lãi suất tượng trưng một vài phần trăm/năm, nhưng ta phải chịu những ràng buộc để lãi suất thực phải trả cao hơn gấp nhiều lần. Hoặc rơi vào tình trạng đầu tư lãng phí ngân sách hiện nay với một tỷ lệ thất thoát không thể tính toán được hoặc không tiện nói ra. Hoặc hoạt động không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, khi mà tổng vốn nhà nước bỏ vào trên 200.000 tỷ đồng (gấp 17 lần số tiền huy động lần này), nhưng suất sinh lợi  hàng năm các doanh nghiệp này tạo ra chưa đến 5%.  Khi tiền của ta bỏ ra, nếu hoạt động không hiệu quả thì ta chỉ mất vốn. Nhưng trong trường hợp đi vay, nếu không trả được nợ thì sẽ có hậu quả rất phức tạp. Do đó, điều vô cùng quan trọng là Việt Nam cần phải lựa chọn mục tiêu hợp lý và thực hiện nó một cách đúng đắn.  Mục tiêu phát triển nào là hợp lý?                Trong hai nền kinh tế được đánh giá là năng động nhất hiện nay, Trung Quốc được xem là xưởng sản xuất của thế giới, với những đại nhà máy, đại công trường, đại diện cho nền kinh tế sản xuất. Ấn Độ được xem là một phần bộ não của thế giới, với những trung tâm sản xuất phần mềm, sáng tạo và gia công công nghệ, đại diện cho nền kinh tế tri thức.  Trung Quốc có nền chính trị, xã hội ổn định hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao. Tốc độ tăng trưởng này phụ thuộc nhiều vào các khoản đầu tư từ vốn vật chất. Ngược lại, Ấn Độ có nền chính trị, xã hội không ổn định, nhiều vùng bất ổn, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP vẫn cao và chủ yếu dựa vào nền kinh tế tri thức, dựa vào chất xám. Nếu bây giờ hoán đổi ngược lại, Ấn Độ có nền chính trị xã hội ổn định thì tốc độ tăng trưởng sẽ tốt biết chừng nào. Ngược lại, nếu Trung Quốc gặp phải vấn đề bất ổn thì khó mà duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định như hiện nay.   Rõ ràng, nhìn vào hai nền kinh tế đông dân nhất thế giới, với hai chiến lược phát triển khác nhau đều gặt hái được những thành công rực rỡ. Nhưng dường như, lựa chọn đầu tư vào kinh tế tri thức thay vì đầu tư vào việc sản xuất hàng hóa có vẻ hợp lý hơn. Khó có nước nào có thể tẩy chay hay gây khó dễ đối với các sản phẩm phần mềm hay dịch vụ thuê ngoài (outsourcing) của Ấn Độ, vì tất cả các sản phẩm này đều có sự dị biệt. Ngược lại, chúng ta đang chứng kiến Trung Quốc vất vả và khổ sở trong cuộc chiến dệt may và chắc chắn còn nhiều cuộc tranh chấp thương mại nữa đang chờ đón họ.  Việt Nam đi theo con đường nào, xây dựng một trung tâm nghiên cứu, một đại học đẳng cấp quốc tế để làm hạt nhân cho nền kinh tế tri thức hay tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, nền tảng của nền kinh tế sản xuất? Hay kết hợp cả hai? Quyết định là của chính Việt Nam và tương lai của Việt Nam sẽ dựa trên chính các quyết định này.         Việc sử dụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản vốn vay ODA. Tức là khi đi vay chỉ lãi suất tượng trưng một vài phần trăm/năm, nhưng ta phải chịu những ràng buộc để lãi suất thực phải trả cao hơn gấp nhiều lần.              Đưa ngành công nghiệp đóng tàu lên một tầm cao mới?  Ngay sau khi trái phiếu phát hành ở nước ngoài thành công, khoản tiền này đã được chuyển sang cho Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (gọi tắt là Vinashin) để thực hiện kế hoạch phát triển Tổng công ty nói riêng và ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam nói chung theo kế hoạch vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồi tháng 10. Mục tiêu của chiến lược này là đến năm 2010 đạt kim ngạch 1 tỷ đô la Mỹ và 3 triệu tấn tàu các loại, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo, đồng thời nhanh chóng đưa ngành công nghiệp tàu thủy và hàng hải Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế, phấn đấu trở thành ngành kinh tế xuất khẩu chủ lực có tốc độ phát triển cao và bền vững, đạt tỷ lệ nội địa hoá 60% năm 2010[1].  Đạt được mục tiêu này là điều mong muốn của chúng ta, nó chính là điều mà Nhật Bản đã đạt được cách đây vài chục năm, Hàn Quốc đạt được cách đây hơn chục năm và Trung Quốc đang có được. Nếu sau 5-10 năm nữa, chúng ta đạt được mục tiêu này thì là niềm đáng tự hào. Tuy nhiên để thực hiện tốt mục tiêu này, có những vấn đề cần lưu ý.  Nhìn vào Vinashin, đơn vị được ủy thác gánh vác trọng trách này, thấy rằng vào cuối năm 2004, tổng tài sản của họ hơn 750 triệu đô la Mỹ một chút, tương đương với số vốn vừa được giao, tổng doanh thu khoảng chừng 350 triệu đô la, và hệ số ROE (suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu thấp hơn con số 7,13% rất nhiều). Hoạt động của Vinashin mới có sự khởi sắc trong những năm gần đây thôi. Trong kế hoạch được phê duyệt trong năm 2001, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 30% thì đến năm 2010, quy mô về doanh thu, tài sản của Vinashin sẽ gấp 4 lần hiện nay đã là kinh khủng lắm rồi, nhưng kế hoạch mới được duyệt sẽ là gấp 5 lần. Tốc độ phát triển này đòi hỏi phải có một cách tổ chức cực kỳ năng động và khả năng thích ứng vô cùng lớn. Nếu không, sẽ dẫn tới tình trạng “dục tốc bất đạt”.  Để triển khai kế hoạch phát triển này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt lại Điều lệ tổ chức và hoạt động, đồng thời cho phép Vinashin thí điểm thuê tổng giám đốc nước ngoài. Đây là bước chuẩn bị tốt và hợp lý. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng, khó khăn nhất của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là vấn đề quản trị công ty, xử lý mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành. Trong trường hợp thuê người nước ngoài, nếu không có cơ chế hợp lý thì có thể xảy ra tình trạng lợi dụng nguồn lực của chúng ta để tìm kiếm lợi ích cho bản thân họ. Còn nhiều, còn nhiều vấn đề khác, nhưng theo ý kiến chủ quan của người viết, trên đây là hai vấn đề đáng lưu ý nhất trong việc triển khai chiến lược phát triển Vinashin nói riêng, ngành công nghiệp đóng tàu nói chung.  Thay cho lời kết  Thế hệ này đi vay, thế hệ sau sẽ phải trả. Các khoản nợ chỉ có thể trả được khi mà một nền tảng vững chắc được để lại. Nếu không gánh nặng nợ nần cho con cháu chúng ta là rất khủng khiếp. Ở thời điểm hiện tại, việc vay tiền của Việt Nam là không khó, vấn đề khó khăn hơn cả là làm sao sử dụng đồng tiền này cho hiệu quả, để trong một thời gian ngắn nữa thôi chúng ta có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.                                                                                                                        Huỳnh Thế Du  ảnh: ảnh 1: Các khoản nợ chỉ có thể trả được khi mà một nền tảng vững chắc được để lại. Nếu không gánh nặng nợ nần cho con cháu chúng ta là rất khủng khiếp. ảnh: Tiến Dũng  ảnh 2: Khoản tiền phát hành trái phiếu Chính phủ đã được chuyển cho Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (gọi tắt là Vinashin) để phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Ảnh: Vũ Dũng  [1] http://www.vinashin.com.vn/Vietship2006_files/page0001.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trainer – Coach – Mentor –  Consultant – Investor: Họ là ai      … “Đừng lựa chọn một ý tưởng nào đó chỉ vì nó đang là mốt, mà hãy chọn một thứ mà bản thân bạn thực sự quan tâm và sẵn sàng mất ngủ vì nó. Hãy tìm kiếm một người mentor thật giỏi, người có thể sẵn sàng bật dậy lúc nửa đêm vì bạn, và sẵn sàng hỗ trợ bạn tới cùng trong vòng 5-10 năm tới”- Văn Đinh Hồng Vũ- Sáng lập Elsa Speak# *      Một buổi coaching do IPP 2 tổ chức.  Khi sự thành công của rất nhiều nhà khởi nghiệp sáng tạo đang truyền cảm hứng cho các bạn trẻ, và đứng đằng sau sự thành công đó là rất nhiều con người như cố vấn khởi nghiệp, các huấn luyện viên, những người đào tạo khởi nghiệp v..v, cũng là lúc, chúng ta cùng nhau nhìn nhận lại và phân biệt vai trò của những nhân vật này, và chúng ta nên kỳ vọng gì ở họ? Bởi lẽ, nếu hiểu nhầm và đặt nhầm kỳ vọng vào những nhóm khác nhau, có thể sẽ dẫn đến sự phủ nhận sạch trơn những nỗ lực và đóng góp của họ, hoặc không biết khai thác các nguồn lực để hệ sinh thái khởi nghiệp ngày một mạnh lên.  Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu các vai trò của người đào tạo (trainer), huấn luyện viên (coach), cố vấn (mentor), tư vấn (consultant), nhà đầu tư (investor), đặc điểm mối quan hệ của họ với chủ doanh nghiệp/dự án khởi nghiệp và cùng nhau giải đáp một số câu hỏi thường gặp về chủ đề này.  Trainer – người đào tạo: Là người hỗ trợ ngắn hạn tùy theo chương trình, nội dung đào tạo, nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các chủ dự án/đội nhóm khởi nghiệp. Người đào tạo có thể đào tạo: (1) Kiến thức (có thể về một ngành cụ thể như du lịch, hoặc một mảng trong quản trị doanh nghiệp như marketing, nhân sự, tài chính, kế toán, sở hữu trí tuệ v..v hoặc phương pháp, ví dụ khởi nghiệp tinh gọn); (2) Kỹ năng (pitching – gặp gỡ nhà đầu tư; thuyết trình; bán hàng v.v). Là một người đào tạo, đương nhiên những kỹ năng cơ bản cần có là khả năng truyền đạt, kỹ năng giảng dạy. Thông thường, đào tạo là một dịch vụ có thu phí. Các khóa học miễn phí cũng có thể diễn ra dưới sự tài trợ của các tổ chức hoặc sự tự nguyện của người dạy. Bạn nên kỳ vọng vào kiến thức có được khi làm việc với người đào tạo, thay vì những lời khuyên hoặc sự tư vấn.  Coach – Huấn luyên viên: Là người hỗ trợ ngắn hạn, thường kéo dài 3-6 tháng với các dự án khởi nghiệp ở giai đoạn ươm mầm và tăng tốc. Bạn có thể thấy họ trong các vườn ươm hoặc các công ty cung cấp dịch vụ huấn luyện chuyên nghiệp. Người làm huấn luyện viên (HLV) cũng giống như người HLV của đội bóng, cầm tay chỉ việc và hướng dẫn đội nhóm khởi nghiệp cho một mục tiêu/công việc nhất định.  Ví dụ: Xác định được chân dung khách hàng của doanh nghiệp. Để làm việc này, người HLV có thể đặt ra các câu hỏi nhằm giúp nhóm khởi nghiệp xác định rõ hơn mình bán hàng cho ai? Đặc điểm của họ thế nào? Vấn đề của họ ra sao? V..v. Người HLV không trả lời giúp bạn các câu đó, mà với kinh nghiệm, kỹ năng của mình, họ sẽ giúp bạn nhận ra và tự trả lời từ đó tự giải quyết vấn đề của mình. Họ cũng đóng vai trò như một người kèm cặp bạn trong một công việc cụ thể. Một người HLV không can thiệp sâu vào lĩnh vực kinh doanh của startup mà chỉ đưa ra các nguyên lý chung để những người khởi nghiệp cân nhắc, do đó, họ có thể trở thành HLV cho các dự án khởi nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Điểm mạnh nhất của họ chính là kỹ năng đặt câu hỏi, giúp bạn phát hiện vấn đề và sử dụng các công cụ nhằm hỗ trợ bạn giải quyết những vấn đề đó. Họ cũng sẽ huấn luyện bạn sử dụng các công cụ hoặc thực hành một công việc cho đến khi thuần thục. Sau đó bạn có thể không cần đến họ nữa. Nói một cách đơn giản, HLV là người đồng hành với bạn trong một thời gian ngắn, là người cầm tay chỉ việc và đi sát với thực tế doanh nghiệp trong một thời gian. Dù bạn đang khởi nghiệp hay phát triển một dự án mới trên tinh thần khởi nghiệp, việc có một HLV giống như có một người đứng từ bên ngoài nhìn vấn đề của bạn một cách khách quan. Họ thậm chí phải xin phép trước khi cho bạn lời khuyên, và sẽ không tư vấn gì cho bạn, nhưng họ sẽ là người đồng hành và giúp bạn tự giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Coaching là dịch vụ có thu phí.  Mentor- Cố vấn khởi nghiệp: Là một người bạn và hơn thế. Họ là những người có trải nghiệm nhiều hơn bạn, quan tâm đến sự phát triển cá nhân của bạn trong kinh doanh và cuộc sống. Mentor đầu tiên phải là người bạn thực sự mong muốn nói chuyện, để bạn là chính mình và chia sẻ chân thành. Bạn có thể tìm kiếm mentor qua các buổi gặp gỡ networking và cũng có thể đến các chương trình cố vấn khởi nghiệp để tìm và kết nối.  Những cặp mentor-mentee nổi tiếng như Steve Jobs – Mark Zuckerberg hay Warren Buffett – Bill Gates đều là những ví dụ về mối quan hệ mentorship bền vững, lâu dài và phi lợi nhuận. Trong quan hệ mentoring, cả hai đều coi trọng mối quan hệ, học hỏi lẫn nhau và chia sẻ. Người mentor có lúc là người dẫn đường, kể cho mentee những trải nghiệm của mình và có thể có những gợi ý, lời khuyên nhỏ. Mentee là người đặt ra những mục tiêu cho buổi nói chuyện để đạt đến cái đích của mình. Các doanh nhân thành công coi việc trở thành mentor là cơ hội lắng nghe thế hệ trẻ thay vì ban phát lời khuyên. Cũng chính vì mối quan hệ đặc biệt này, sự kết nối giữa các thế hệ doanh nhân, sự chia sẻ và hợp tác dẫn đến việc mentoring trở thành một văn hóa.  Consultant – Tư vấn: Là người cung cấp dịch vụ chuyên sâu, đưa ra những gợi ý dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích sâu một vấn đề của doanh nghiệp. Người làm tư vấn bắt buộc có kiến thức và kỹ năng chuyên môn, có hiểu biết về doanh nghiệp và đặc thù của ngành một cách sâu sắc. Tư vấn sẽ giúp giải quyết một vấn đề, hoặc đưa ra những lựa chọn về giải pháp. Ra quyết định cuối cùng phụ thuộc vào người chủ doanh nghiệp. Tư vấn cũng có thể tiến hành những đào tạo hướng dẫn về chiến lược, quản trị và cùng bạn lập kế hoạch cần thiết để đạt được mục tiêu. Tùy giai đoạn mà doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ cần những tư vấn khác nhau ví dụ tư vấn kế toán, thuế, sở hữu trí tuệ hoặc tư vấn đầu tư v.v. Dịch vụ tư vấn là dịch vụ tính phí.  Investor- Nhà đầu tư: Nhà đầu tư cấp vốn để giúp phát triển startup. Khi đầu tư vào startup, nhà đầu tư hoàn toàn có thể đổi cổ phần lấy sự chia sẻ mạng lưới quan hệ kinh doanh của họ, hoặc kiến thức chuyên môn/bí quyết kinh doanh nào đó.Vốn trong ngữ cảnh đầu tư phải được hiểu bao gồm các lựa chọn sau: (1) Tiền mặt (2)Thời gian (3) Nguồn lực (mối quan hệ, hỗ trợ chuyên môn,…)1  Quan hệ với nhà đầu tư: trước tiên đó là quan hệ kinh doanh vì lợi ích, cả hai đều cùng mong đến sự phát triển của doanh nghiệp để sự đầu tư của mình sinh ra hiệu quả. Tuy vậy, mối quan hệ này như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào chính hiểu biết của cả hai bên. Đây hoàn toàn không phải là quan hệ bề trên kẻ dưới.2  Một nhà đầu tư có thể trở thành mentor cho chính startup mà mình đầu tư. Hoặc trong một số trường hợp có sự hoán đổi từ mentor sang thành investor. Tuy vậy, tỷ lệ này không nhiều, chỉ chiếm khoảng 6%. Chính vì vậy, khi chọn mentor, cũng không nên kỳ vọng họ sẽ trở thành nhà đầu tư cho bạn và ngược lại, không phải nhà đầu tư nào cũng sẽ mentor cho startup của mình.  Câu hỏi đặt ra là một người có thể đóng nhiều vai trò không? Hoàn toàn có thể được. Tuy vậy, trong từng hoàn cảnh khác nhau, bạn hãy xác định vai trò chính của họ để từ đó có những kỳ vọng đúng đắn về hiệu quả làm việc.  ——-  * Startup giáo dục của 2 cô gái Việt vào vòng chung kết cuộc thi có tỷ lệ “1 chọi 400”. http://nhipcaudautu.vn/cong-nghe/ict/startup-giao-duc-cua-2-co-gai-viet-vao-vong-chung-ket-cuoc-thi-co-ty-le-1-choi-400-3302391/  1 Nguồn: Hiểu Sai Vai Trò — Hiểu Sai Kỳ Vọng. Phan Đình Tuấn Anh. https://medium.com/@tuananh_phan/hi%E1%BB%83u-sai-vai-tr%C3%B2-hi%E1%BB%83u-sai-k%E1%BB%B3-v%E1%BB%8Dng-5a2a171e0f82  2 http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/158321/       Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Trạm ATM biết tự vệ      Các nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ Liên  bang Thụy Sĩ (ETH) đang mày mò giải pháp chống bọn phá hoại các  trạm rút tiền tự động bằng cách bắt chước phản xạ tự vệ của một loài bọ  cánh cứng.     Hôm 22/3 mới đây, một nhóm tội phạm đã lấy cắp trạm trả tiền tự động của một ngân hàng tại thủ đô Berlin. Năm đến sáu tên gian đeo mặt nạ đã tấn công một chi nhánh ngân hàng và khuân cả trạm ATM đặt ở ngay gần cửa ra vào của chi nhánh mang ra ngoài. Tại đây có một xe tải nhỏ chờ sẵn, trạm ATM được đưa lên xe, một số tên đi theo xe, số khác tẩu tán. Trong quá khứ ở Berlin đã xẩy ra một số vụ phá trạm ATM để lấy tiền, nhưng bốc cả một trạm nguyên vẹn mang đi thì quả là hiếm thấy. Trong sáu tháng qua, ở châu Âu đã có khoảng 1.000 vụ tấn công trạm ATM.  Theo báo Tấm gương thì hiện tại các nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (ETH) đang nghiên cứu tạo khả năng tự bảo vệ cho các trạm ATM. Các chuyên gia về hoá học, dưới sự chủ trì của giáo sư Wendelin Stark, có ý tưởng dùng bom bọt mầu, xuất phát từ việc quan sát loại bọ cánh cứng dài khoảng 1 cm được gọi là “bọ bỏ bom” – chúng phun ra một loại hoá chất để xua đuổi kẻ thù khi bị tấn công. Kết quả là chúng tạo ra những tiếng nổ nhỏ và trong quá trình đó, một loại khí gây ngứa ngáy khó chịu lan toả ra xung quanh.   Cụ thể, đối với trạm ATM, ngăn chứa tiền sẽ được bao bọc bằng hai lớp màng mỏng (film). Hai lớp màng mỏng này tạo thành hai khoang trống chứa hydroperoxide và manganese dioxide. Khi màng mỏng giữa hai khoang bị phá vỡ thì hai hợp chất hoà với nhau tạo ra loại bọt xốp có mầu và nóng tới 80 độ nhưng không gây nguy hiểm chết người. Nếu trạm ATM bị kẻ gian dùng vũ lực hoặc chất nổ để phá thì hỗn hợp bọt xốp càng văng ra xa. Bọt mầu phun ra làm cho những đồng tiền giấy không thể sử dụng được và làm cho kẻ gian bị lộ chân tướng.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trang bị kỹ năng kinh doanh cho thanh niên nghèo      Trong một phòng họp chật kín các nhà đầu tư  tiềm năng, Tyrique Lancaster run rẩy thuyết trình về ý tưởng kinh doanh  của mình: một công ty thiết kế phong cảnh thân thiện với môi trường mang  tên GreenScape. Tuy vào đề vấp váp nhưng khi nói về chi tiết hoạt động  kinh doanh, Lancaster lại tỏ ra vô cùng tự tin và thông minh, đọc thẳng  một mạch các số liệu về các chi phí nguyên vật liệu và hoàn vốn đầu tư.    Lancaster mới 16 tuổi, là một học sinh trường Trung học Công nghệ McKinley ở Washington DC. Buổi thuyết trình diễn ra tại thủ đô nước Mỹ là vòng bán kết của một cuộc thi tổ chức bởi Mạng lưới Giảng dạy Kỹ năng Kinh doanh (NFTE), một tổ chức phi lợi nhuận ở New York  Cuộc thi là giai đoạn cuối cùng của một chương trình kéo dài một năm nhằm trang bị kỹ năng kinh doanh cho các học sinh trung học đến từ những gia đình thu nhập thấp ở Mỹ.   NFTE tin rằng việc huấn luyện giới trẻ cách vận hành một công việc kinh doanh của riêng mình sẽ giúp họ quyết tâm theo đuổi việc học hơn và có thể vươn lên thành công sau khi tốt nghiệp.   Tổ chức còn vận hành chương trình ở 10 quốc gia khác và huấn luyện cả giáo viên và nhà cố vấn cho các học sinh học môn kinh doanh tại các trường.   Chương trình học yêu cầu học sinh phải phát triển một ý tưởng kinh doanh và sau đó trình bày kế hoạch kinh doanh cho các giám khảo.    Các kế hoạch kinh doanh tốt nhất sẽ được chọn để tiến xa hơn vào vòng tranh giải thưởng trị giá 25.000 USD và một danh hiệu quốc gia.  Đánh thức tài năng  Người thắng cuộc năm ngoái của Mỹ là hai học sinh từ Chicago với ý tưởng phát triển một loại tất dùng trong bóng đá với túi gắn liền giúp bảo vệ ống quyển. Công ty của họ với tên gọi T&J Soccer hiện đang đàm phán với các nhà sản xuất và Chicago Fire- câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Chicago về việc phân phối sản phẩm.  Một học sinh khác là Tommia Proctor cũng vào tới vòng chung kết với công ty Panos Suaves, chuyên sản xuất khăn rửa mặt móc tay cho người có da nhạy cảm.   Nhưng mục đích của NFTE không phải là để cho ra những ý tưởng kinh doanh “bom tấn” mà để truyền cho học sinh các kỹ năng kinh doanh và giúp các em có ý thức quán xuyến các công việc của bản thân.   “Chương trình giúp các em xác định được xem mình hứng thú với cái gì và trang bị các kiến thức và kỹ năng để các em biến niềm đam mê ấy thành một công việc kinh doanh.” Patricia Granata- Giám đốc điều hành của NFTE Washington DC- nói.    “Mục tiêu là để tạo ra con đường dẫn tới thành công cho các em: có thể là học tiếp lên đại học, hoặc đơn giản chỉ là trao cho các em những kỹ năng cần thiết để làm một công dân có ích cho xã hội.”  Một báo cáo của NFTE chỉ ra rằng các học sinh tham gia chương trình này có xu hướng hoàn thành việc học ở trường hơn. Gần 90% học sinh Mỹ tham gia chương trình của NFTE tốt nghiệp phổ thông; 89% cựu học sinh của NFTE lứa tuổi 25-40 với bằng phổ thông có được việc làm vào năm 2012.   Vốn vô hình  Người Mỹ luôn tâm niệm rằng bất cứ ai với một ý tưởng hay và chăm chỉ làm việc thì đều có thể thành công. Nhưng trong thực tế, để phát triển một công việc kinh doanh đòi hỏi nhiều yếu tố và nguồn vốn mà những gia đình thu nhập thấp không dễ có được.   “Một số bạn trẻ gặp thiệt thòi vì không được học trường tốt, không có những tấm gương tốt để học tập, và nhiều loại vốn vô hình khác. Bởi vậy NFTE cố gắng lấp khoảng trống này”, bà Granata nói.   Ông Dane Stangler, phó chủ tịch Quỹ Kauffman-một tổ chức phát triển kĩ năng kinh doanh cho giới trẻ khác-, lại cho rằng việc thiếu vốn tài chính chứ không phải là kiến thức kinh doanh mới là rào cản lớn nhất đối với các doanh nhân trẻ đến từ gia đình có thu nhập thấp.   Tuy không vào được vòng chung kết của cuộc thi NFTE năm nay và không giành được phần tiền thưởng để khởi nghiệp nhưng Lancaster cho biết cuộc thi đã mang lại cho cậu những kinh nghiệm và bài học đáng giá. Cậu nhận ra rằng lên được một kế hoạch kinh doanh bài bản là nền tảng để xây dựng một công việc kinh doanh dài lâu và có tổ chức. Sau buổi thuyết trình, Lancaster cũng nhận được những lời đề nghị cố vấn và hỗ trợ từ các giám khảo NFTE.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh cãi về nghiên cứu cấy tế bào người vào phôi động vật      Nhóm nghiên cứu đặt mục tiêu là chỉ phát triển tế bào của người ở nội tạng, nhưng các nhà đạo đức sinh học lo lắng về khả năng các tế bào của người có thể “đi lạc”, không chỉ phát triển ở cơ quan đích, mà có thể di chuyển đến não động vật – đang trong quá trình hình thành và có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức của não bộ động vật.      Phôi chuột có chứa tế bào của người.   Hiromitsu Nakauchi, đứng đầu nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học ở Đại học Tokyo (Nhật) và Stanford (Mỹ) đã được chính phủ Nhật đồng ý cho thực hiện nghiên cứu tạo ra phôi thai động vật có chứa tế bào của người.  Nakauchi cho biết mục tiêu của họ là tạo ra động vật mang nội tạng được hình thành từ tế bào của người, từ đó có thể dùng để cấy ghép cho người.  Tuy nhiên, điều này đang làm dấy lên nhiều lo ngại về vấn đề đạo đức. Nhóm nghiên cứu đặt mục tiêu là chỉ phát triển tế bào của người ở nội tạng, nhưng các nhà đạo đức sinh học lo lắng về khả năng các tế bào của người có thể “đi lạc”, không chỉ phát triển ở cơ quan đích, mà có thể di chuyển đến não động vật – đang trong quá trình hình thành và có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức của não bộ động vật.  Nakauchi cho biết nhóm nghiên cứu đã tính toán tới vấn đề này và thiết kế để tế bào người chỉ đi đến tuyến tụy. Nhóm của ông sẽ tạo ra phôi thai động vật thiếu gene sản sinh cơ quan nội tạng. Sau khi được tiêm tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPS) của người, phôi thai sẽ sử dụng tế bào này để hình thành nội tạng.  Trước đây, Nhật Bản đã từng cấm thực hiện những thí nghiệm như trên do lo ngại khả năng ra đời loài pha trộn gene người và động vật. Tuy nhiên, chính phủ Nhật đã dỡ bỏ lệnh cấm vào tháng 3 vừa qua và đã đưa ra quy định hướng dẫn mới.  Về mặt kỹ thuật, để các tế bào của con người phát triển ở một loài khác là rất khó. Nakauchi và các đồng nghiệp đã công bố tại một hội nghị của Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Mỹ năm 2018 về việc họ đã đưa tế bào iPS của con người vào phôi cừu nhưng phôi lai, được nuôi trong 28 ngày, chứa rất ít tế bào người và không có chút gì giống như nội tạng. Có thể là khoảng cách di truyền giữa người và cừu quá xa.   Bảo Như lược dịch  Nguồn tin: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02275-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh gyotaku: Nguồn dữ liệu lịch sử  về đa dạng sinh học      Với sự kết hợp thú vị của khoa học và nghệ thuật cổ truyền, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tìm ra được một nguồn dữ liệu lịch sử về đa dạng sinh học vô cùng phong phú và tin cậy để có thể dò theo dấu vết của những loài cá hiếm.      Một bức gyotaku cổ. Nguồn: Smithsonian  Nghe có vẻ hơi kỳ lạ, giữa những ngư dân và những nhà sinh học cũng có điểm chung ư? Hóa ra điểm chung đó nhiều hơn mọi người tưởng.    Trong gần hai thế kỷ qua, những ngư dân Nhật Bản đã “nhúng” những con cá lớn nhất trong mẻ cá của mình vào một loại mực đặc biệt rồi in chúng lên trên giấy, sau đó tạo ra những hình ảnh sống động để lưu lại như một chiến tích đáng tự hào. Đó là cách họ tạo ra gyotaku (魚拓) – một hình thức nghệ thuật cổ truyền tồn tại từ thời kỳ cuối Edo. Hiện tại, những bức gyotaku cổ nhất được tạo ra vào năm 1839 nằm trong bộ sưu tập của thư viện thành phố Tsuruoka. Những bộ sưu tập quý khác, hầu hết được tạo ra trong những năm 1850-1860, được lưu trữ ở bảo tàng Chido ở Tsuruoka và bảo tàng Nghệ thuật Homma, Sakata.    Thông thường, mỗi bức gyotaku được tạo ra từ mực đen nhưng vào những thập kỷ gần đây, những phiên bản màu của nó đã xuất hiện. Sự hấp dẫn và sống động của gyotaku đã gợi ý cho việc sử dụng chúng vào các mục đích giáo dục và nghệ thuật, cho dù những năm gần đây, sự phổ biến của máy ảnh và điện thoại thông minh đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng gyotaku.    Tuy nhiên ích lợi gyotaku đem lại không chỉ có thế. Tiến sĩ Yusuke Miyazaki và Atsunobu Murase ở trường Đại học Miyazaki ở miền Nam Nhật Bản đã phát hiện ra một kho tàng dữ liệu vô giá từ những bức gyotaku thu thập được từ những cửa hiệu bán đồ câu cá ở các vùng lân cận tỉnh Miyazaki. Đó là gợi ý để họ thực hiện nghiên cứu về địa sinh học loài cá và xuất bản bài báo “Fish rubbings, ‘gyotaku’, as a source of historical biodiversity data” trên tạp chí Zookeys1.      “Về tổng thể, việc thể hiện các loài trong gyotaku đã phản chiếu gần như đủ các loài cá của mỗi vùng sinh học khác nhau. Chúng tôi mong các ngư dân, những người câu cá tiếp tục sử dụng phương pháp nghệ thuật này vào các bức ảnh được số hóa để ghi nhận những kỷ niệm đáng nhớ và cũng để đem lại nguồn dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu”, Yusuke Miyazaki.      Một nguồn dữ liệu phong phú     Việc thu nhập và khai thác thông tin về sự đa dạng sinh học trong lịch sử thông thường bị giới hạn bởi “cái khung” viện bảo tàng về các loài sinh vật hiếm hoặc các cuộc điều tra thông qua tư liệu như sách chuyên khảo trong quá khứ. “Khó có thể tiếp cận được với rất nhiều vật liệu quý do đã bị biến chất, bị loại bỏ hoặc đơn giản là bị mất”, hai nhà nghiên cứu đã viết như vậy về khó khăn của những nhà nghiên cứu như mình trong bài báo ở Zookeys. Đây là lý do để họ đến với việc tìm kiếm thêm những nguồn dữ liệu ở bên ngoài, những nguồn phi chính thống để có được những thông tin quý.    Quan điểm này xuất phát từ việc những quan sát đa dạng sinh học không chỉ ở những nhà khoa học mà còn có thể từ các “nhà khoa học công dân”, những người sở hữu những bộ sưu tặp riêng mà không phải ai cũng được tiếp cận. Yusuke Miyazaki và Atsunobu Murase chú ý đến những bức tranh gyotaku không chỉ vẻ đẹp sống động riêng biệt của chúng mà còn vì sự phong phú và chính xác về thông tin đi kèm. Họ nhận thấy, gyotaku truyền thống bao giờ cũng có những thông tin hữu ích và cụ thể, ví dụ như địa điểm bắt, ngày tháng lấy mẫu, tên của người bắt, ấn tượng của họ, tên loài cá (thông thường là tên địa phương)… Những căn cứ đó đã dẫn họ đến việc thực hiện một cuộc sưu tầm, điều tra và phỏng vấn những người liên quan đến gyotaku trong và ngoài vùng, bắt đầu từ năm 2016. Hai nhà nghiên cứu đã tiến hành thực địa một cách tỉ mỉ và cẩn thận tại các cửa hàng gyotaku ở Miyazaki, Chiba – nơi họ tìm thấy gyotaku của những loài đang bị đe dọa; cuộc điều tra sơ bộ tại một số cửa hàng ở  vùng cực Nam và cực Bắc Nhật Bản để tìm hiểu về thông tin gyotaku trong giới hạn vĩ độ Nhật Bản, trải qua từ Cận Bắc cực đến nhiệt đới.    Về tổng thể, Yusuke Miyazaki và Atsunobu Murase có trong tay 325 con cá và động vật biển khác nhau từ 261 bản gyotaku được thu thập từ các cửa hàng địa phương và những nguồn cơ sở dữ liệu gyotaku khác. Đó là kết quả của một quá trình sưu tầm đầy khó khăn bởi rất nhiều nguyên nhân, ví dụ như những bản in màu sau này thường chỉ giàu ý nghĩa với nghệ thuật và giáo dục nhưng lại mang đến những dấu hỏi với nhà nghiên cứu vì hiếm khi nó đi kèm theo những thông tin theo kiểu truyền thống nữa, hoặc số lượng những bản gyotaku nguyên bản có tuổi đời cả thế kỷ đang dần mai một trước thời gian, hoặc đơn giản là nhiều cửa hàng đã đóng cửa bởi không còn khách quan tâm đến loại hình nghệ thuật này như trước nữa. “14 phiếu điều tra của chúng tôi đã bị trả lại mà không hề được bóc ra vì các cửa hàng đã bị đóng cửa, 56 phản hồi mà chúng tôi nhận được là từ những nguồn khác. Nó cho thấy là tỉ lệ phản hồi chỉ đạt 9,5%. Mặt khác, trong cuộc điều tra các cửa hàng khác thì 82% cho biết là không còn lưu giữ gyotaku nữa”, Yusuke Miyazaki đề cập đến khó khăn gặp phải trong nghiên cứu.      Cách thức thực hiện một gyotaku. Nguồn: Yusuke Miyazaki  Bất chấp điều đó, những dữ liệu họ thu thập được quả là vô giá. Trong khi các tài liệu thu thập từ nhiều thế kỷ trước hết sức hạn chế thì những gyotaku dường như là nhân chứng sống cho thấy một sự thật về biển Nhật Bản, đó là sự đa dạng và phong phú của nhiều loài đã bị suy giảm theo thời gian. “Trong số hàng trăm bản gyotaku, chỉ có bảy bản được tìm thấy trên đảo Hokkaido ghi lại loài cá taimen Sakhalin Nhật Bản (Hucho perryi) – một loài cá trong họ Cá hồi, đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp”, Yusuke Miyazaki nói.    Giữa các bản gyotaku, họ tìm thấy 68 loài cá Nhật Bản và ba loại động vật chân đầu (cephalopod species) nhưng 14,9% trong số đó không hề có tên. Nguyên nhân là nhiều người bắt cá chỉ vì mục đích tiêu khiển nên không ghi lại và thông tin bổ sung của những người đánh cá địa phương cũng có giới hạn. Có một ví dụ là những bức gyotaku bạch tuộc trong một cửa hàng ở thành phố Yokohama, vịnh Tokyo dường như giống loài bạch tuộc O. vulgaris, ngay cả khi nó không có thông tin đi kèm. Các tác giả quyết định dừng ở đó bởi “nghiên cứu này không xác nhận những nhận diện trên cơ sở hình thái bên ngoài hoặc những phân tích sinh học phân tử”, họ cho biết.      Không gì có thể thay thế được vẻ đẹp thuần khiết và nguyên bản của gyotaku. Và để lưu giữ nó mà không làm phí hoài tặng vật của biển, người ta phải theo được đủ ba bước quan trọng: bắt, in và ăn, theo nghệ sĩ Naoki Hayashi.      Những bản gyotaku đều phản chiếu tính chất địa sinh học của các vùng. Ví dụ, loài taimen Sakhalin chỉ thấy ở Hokkaido, loài Sillago parvisquamis – một chi trong họ cá đục Sillaginidae chỉ quen sống ở vịnh Tokyo trong khi ba loài akame hoặc cá chẽm, cá vược Nhật Bản (Lates japonicus) quanh quẩn vùng Miyazaki. Cả ba loài này đều có mặt trong danh sách loài bị đe dọa cấp quốc gia và cấp vùng. Trong bối cảnh sự tồn tại của các loài đang bị đe dọa ở một số vùng như thế này, có lẽ gyotaku là tài liệu quan trọng để ước tính tình trạng quần thể trong lịch sử và các nhân tố dẫn đến sự suy giảm số lượng hoặc tuyệt chủng.    Do đó, các tác giả nhận thấy tầm quan trọng của gyotaku trong việc bảo tồn các loài cá quý: “Về tổng thể, việc thể hiện các loài trong gyotaku đã phản chiếu gần như đủ các loài cá của mỗi vùng sinh học khác nhau. Chúng tôi mong các ngư dân, những người câu cá tiếp tục sử dụng phương pháp nghệ thuật này vào các bức ảnh được số hóa để ghi nhận những kỷ niệm đáng nhớ và cũng để đem lại nguồn dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu”, Yusuke Miyazaki nói.     Cơ hội duy trì truyền thống nghệ thuật     Các nhà khoa học hy vọng, công trình nghiên cứu về dữ liệu sinh học đặc biệt này sẽ khiến mọi người quan tâm hơn đến gyotaku, không chỉ ở Nhật Bản. Sự xuất hiện của các phương tiện ghi hình hiện đại, trong đó có điện thoại thông minh, làm cho loại hình nghệ thuật cổ truyền này có nguy cơ tàn lụi. Thậm chí, họ còn phát hiện ra một số bức gyotaku thế hệ sau còn không có đầy đủ thông tin đi kèm như trước đây, vì dụ không ghi thời gian hoặc tên gọi…    Mặt khác, họ còn nhận thấy một vấn đề là ngoài các bộ sưu tập được lưu giữ một cách cẩn thận tại các bảo tàng thì những bức gyotaku trong các cửa hàng đều không may mắn như thế. “Nó bị phơi lộ trước khói thuốc lá, ánh nắng Mặt trời và độ ẩm không khí lớn. Đây là nguyên nhân chính khiến gyotaku dễ bị hỏng. Trên thực tế, một số chủ cửa hàng đã kể lại là phải vứt bỏ những bức tranh quá cũ và bị thời gian tàn phá”, các nhà nghiên cứu viết trong công bố của mình.      Một bức gyotaku thời hiện đại. Nguồn: Smithsonian  Do đó, họ đã nhìn vào bộ dữ liệu mà mình có được về gyotaku, không chỉ để tìm ra sự đa dạng sinh học theo vùng địa lý mà còn cố tìm ra một mối liên hệ nào đó với xu hướng của xã hội với loại hình nghệ thuật này. “Chúng tôi đã có một ước tính về mặt thống kê về tình trạng sử dụng gyotaku bằng một mô hình không gian trạng thái. Kết quả cho thấy có rất ít gyotaku xuất hiện trước năm 1985 và bất ngờ là sự ‘phục cổ’ đã đạt đỉnh vào năm 2002, sau đó lại sụt giảm vào năm 2011 và 2012”, Yusuke Miyazaki cho biết. Anh và đồng nghiệp không rõ nguyên nhân có phải do sự gia tăng của các phương tiện chụp ảnh số hay không nhưng đề xuất “những ngư dân và người chơi gyotaku có thể tiếp tục sử dụng hình thức nghệ thuật này để tăng thêm giá trị cho bộ sưu tập những kỷ niệm khó quên của mình bên cạnh bộ sưu tập số hóa”.    Hiện tại ở Nhật Bản, cũng có một số nghệ sĩ theo đuổi nghệ thuật gyotaku và mở nhiều lớp hướng dẫn cho người Nhật và cả người nước ngoài. Người phương Tây biết đến gyotaku từ những năm 1950 khi Gyotaku-no-kai, một nhóm yêu gyotaku ở Tokyo tổ chức một triển lãm ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ  và năm 1964, Yoshio Hiyama, một trong những người thành lập nhóm này, xuất bản cuốn Gyotaku: The Art and Technique of the Japanese Fish Print. Sau này trở thành một nhà nghiên cứu về nghề cá và kết nối với các đồng nghiệp ở Smithsonian, Hiyama đã ghi nhận tiềm năng của gyotaku như một công cụ hữu ích cho nghiên cứu và minh họa khoa học.    Có thể theo thời gian, quan điểm của thế hệ sau về gyotaku sẽ không còn như trước nữa. Tuy nhiên, với nghệ sĩ Naoki Hayashi, một trong những người say mê nhiệt thành gyotaku, thì cho rằng không gì có thể thay thế được vẻ đẹp đơn sơ và nguyên bản của gyotaku. Và để lưu giữ nó mà không làm phí hoài tặng vật của biển, người ta phải theo được đủ ba bước quan trọng: bắt, in và ăn. “Chỉ khi đó gyotaku mới là gyotaku”, anh nói. “Thi thoảng có người nói rằng các gyotaku của họ không có đủ ba bước chính yếu này” – anh ngụ ý đến những bản in cá chỉ mang tính chất trang trí và cá sau khi in thì không được dùng làm đồ ăn như cách làm truyền thống của ngư dân Nhật Bản. “Đó không phải là gyotaku. Tất cả giá trị và ý nghĩa của loại hình nghệ thuật này đã bị gạt sang một bên.”    Để tránh hiện tượng bắt nhiều loài cá chỉ để in thành tranh và vứt bỏ sau khi hoàn thành tác phẩm, các nhà khoa học và nghệ sĩ cho rằng, những người chơi gyotaku thực thụ nên tránh việc hoài phí nguyên liệu khi theo đuổi loại hình nghệ thuật này. Mọi người nên học hỏi cách làm của những ngư dân Nhật Bản là vừa có được tác phẩm ghi mẻ cá để đời của mình trong bộ sưu tập gia đình, vừa có được những bữa ăn ngon với những con cá sau khi được làm sạch mực in (dĩ nhiên chỉ sử dụng những loại mực không độc hại). “Tôi luôn tuân thủ ba bước, ăn những vật liệu nghệ thuật đó. Đây chính là giá trị thực sự của gyotaku, đem lại trải nghiệm và lưu giữ kỷ niệm một cách trọn vẹn”, Hayashi nói. □     Tô Vân tổng hợp  https://www.sciencedaily.com/releases/2020/01/200120113402.htm  https://hyperallergic.com/545476/gyotaku/  https://www.atlasobscura.com/articles/gyotaku-japanese-fish-printing  —  1. https://zookeys.pensoft.net/article/47721/element/7/0/niphon%20spinosus/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh kính cũng có thể tham gia vào các giải pháp xây dựng      Nhờ công nghệ mới, tranh kính không những  chỉ đẹp mà còn có thể tham gia giải quyết các vấn đề trong xây dựng như  ánh sáng, cách âm, cách nhiệt, ngăn cản những tia có hại từ không gian…    Trong số các giải pháp công nghệ mới trong thi công, trang trí nội thất công trình xây dựng tham gia chương trình Sáng tạo Việt, giải pháp quy trình sản xuất tranh kính của ông Phạm Hồng Vinh, giám đốc công ty cổ phần kính nghệ thuật Coba được chú ý đặc biệt. Lý do là sản phẩm của ông không chỉ đem lại những bức tranh kính mang tính nghệ thuật cao mà còn hữu ích cho con người.  Khi theo đuổi con đường làm tranh kính, ông Phạm Hồng Vinh đã tìm tòi ra phương pháp quy trình sản xuất tranh kính hiện đại với nhiều công đoạn. Đầu tiên, quy trình bắt đầu với chế bản tác phẩm trên giấy hoặc tranh ảnh, sau đó tiến hành chế bản corel trên máy tính, cắt đề can theo từng mảng tác phẩm rồi ghép các mảng đề can lên kính. Theo chỉ định mỹ thuật, ông Vinh phun cắt từng chi tết nông sâu để sau đó mài, gọt, đánh bóng các chi tiết bằng máy mài cầm tay với đá mài hợp kim và dán, bịt đề can kín tác phẩm đã được hoàn thiện thô. Ở công đoạn cuối cùng, ông Vinh phun sơn nghệ thuật từng chi tiết nhỏ rồi đưa tác phẩm vào lò hấp có nhiệt độ 1.200 độ nếu là tranh trang trí nội thất và 6.800 độ nếu trang trí ngoại thất hoặc các vị trí có môi trường khắc nghiệt.   Sản phẩm tranh kính của ông Vinh được dùng làm trang trí vách văn phòng, cửa thông phòng, vách âm tưởng, trần kính, sàn kính, cầu thang, lan can… Ngoài ra hiệu quả của tranh kính còn vượt qua cả yếu tố mỹ thuật là giúp đem lại những giải pháp xử lý các vấn đề trong xây dựng như ánh sáng, môi trường… Đặc biệt nếu kết hợp với cửa kính cách âm, cách nhiệt, tranh kính còn ngăn cản được những tia có hại từ không gian như tia tử ngoại, tia rơn-ghen…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh luận về bông hoa đầu tiên trên thế giới      Một số nhà nghiên cứu nói rằng những dự đoán trên cơ sở thống kê dữ liệu đã đem  lại một cấu trúc không đúng về bông hoa cổ đại.    Nỗ lực tái tạo bông hoa đầu tiên trên thế giới đã làm dấy lên một cuộc tranh luận về những mẫu hình có thể có của một bông hoa.  Dự án eFLOWER kết hợp một cơ sở dữ liệu chưa từng có về các đặc điểm thực vật, nhiều dữ liệu phân tử về mối quan hệ tiến hóa và các mô hình thống kê phức tạp để xác định tổ tiên của tất cả các loài cây có hoa hiện nay sẽ trông như thế nào. Khi kết quả được công bố vào cuối tháng 8/2017, nó đã thu hút được sự quan tâm từ giới học giả và truyền thông.  Nhưng cũng từ đó, các nhà nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi về một số dự đoán của eFLOWER. Vào ngày 31/1/2018, nhà hình thái học thực vật Dmitry Sokoloff (Đại học Moscow) và cộng sự đã công bố một bản tái phân tích dữ liệu, trong đó đề xuất một sự sắp xếp khác về các cấu trúc của phần nhụy bông hoa đầu tiên.  Pamela Soltis – nhà sinh học thực vật (ĐH Florida, Mỹ), cho biết cuộc tranh luận tập trung vào những điểm tinh túy của cấu trúc hoa, nhưng chỉ ra mối quan tâm về việc dùng các mô hình thống kê và bộ dữ liệu lớn để trả lời các câu hỏi sinh học,“ về mặt thống kê thì mọi thứ đều có khả năng xảy ra nhưng về mặt sinh học lại không khả thi.”  Thực vật có hoa là một thành công tiến hóa đáng ghi nhận của thực vật. Dù cho chúng xuất hiện cách đây hơn 140 triệu năm – khoảng 200 năm sau là các loài thực vật có hạt – ngày nay chúng chiếm đến 90% số lượng thực vật trên cạn. Nhưng các bông hoa hóa thạch rất hiếm và các nhà thực vật học từ lâu đã suy đoán về hình thái của bông hoa đầu tiên trên thế giới. Soltis cho rằng: “Bông hoa này đã dẫn đến sự đa dạng của thế giới loài thực vật có hoa hiện nay. Chúng ta chỉ có thể biết được cách chúng ta đến nơi mình ở hiện nay như thế nào khi đã hiểu tường tận về những gì đã xảy ra đầu tiên với chúng ta.”  Khoảng 8 năm trước, dự án eFLOWER đã tuyển mộ được một nhóm các chuyên gia thực vật học. Nhóm nghiên cứu này đã chọn ra hơn 20 đặc điểm của gần 800 loài cây có hoa, sau đó họ nối dữ liệu này với những nghiên cứu ở cấp độ phân tử về những mối quan hệ tiến hóa, và sử dụng mô hình thống kê để suy ra đặc điểm của bông hoa đầu tiên trên trái đất.  Ngờ vực nảy sinh  Từ các kết quả nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã vẽ được một bông hoa đối xứng quanh trục trung tâm, bao gồm cả nhị và nhụy. Các mô hình của eFLOWER cũng tiên đoán, nhiều bộ phận của bông hoa đầu tiên xoắn lại và được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm. Nhưng các tác giả cũng cảnh báo rằng hỗ trợ thống kê trong những phát hiện này còn yếu.  Mặc dù vậy, Hervé Sauquet – tác giả chính của công bố eFLOWER và là nhà sinh học tiến hóa tại Royal Botanic Garden (Sydney, Úc) nói rằng ý tưởng về bông hoa tổ tiên xoắn đã gây shock cho một số người. Nhiều nhà khoa học thực vật hy vọng rằng các bộ phận của hoa có thể được sắp xếp vào một cấu trúc xoắn ốc 3D – cuộn quanh trục trung tâm nhưng không giới hạn ở mặt phẳng đơn. Sauquet nói rằng “Đây là một ý tưởng tồn tại lâu dài nhưng chưa có bằng chứng khoa học.”  Sokoloff nghi ngờ độ chính xác trong phân tích của Sauquet: tràng hoa và phần nhụy được bố trí trong vòng xoắn, còn các bộ phận thuộc nhụy hoa được gọi là các lá noãn lại theo hình xoắn ốc – ông chưa từng thấy sự kết hợp cả hình thái xoắn và xoắn ốc trên cùng một hoa. Hơn nữa, ông và cộng đề xuất rằng cây không thể phát triển được nếu có cả hai cơ quan trên cùng một hoa.  Nguyên nhân là bởi sự hiện diện của cả hai bộ phận nhị và nhụy ở cùng một khu vực – Sokoloff cho biết. Ở một số hoa xoắn, vị trí của lá noãn định ra vị trí của nhị. Nhóm của ông đã chọn lại dữ liệu của của eFLOWER và tìm ra 4 mẫu, trong đó các bộ phận có hình thái xoắn và xoắn ốc ở trên cùng một hoa. Nhưng khi những phân tích sâu hơn, họ thấy rằng mỗi mẫu chỉ có một loại cơ quan sinh sản.     Phân tích lại  Sauquet nói rằng nhóm của ông đã xem xét lại dữ liệu và đống ý với một số điểm trong quan điểm của Sokoloff. Lặp lại các phân tích đã thực hiện với bộ dữ liệu đã được cập nhật và mở rộng, họ đã tìm ra tất cả các cơ quan sinh sản của bông hoa tổ tiên có thể dưới dạng xoắn. Họ đã phải sửa lại một số kết quả. Sauquet giải thích, “trước đây nó không chắc chắn và giờ vẫn thế. Chúng tôi vẫn chưa biết câu trả lời cuối cùng.”  Sokoloff nhận xét, sai lầm cơ bản trong cách tiếp cận của eFLOWER là đánh giá từng đặc điểm của hoa một cách riêng biệt trước khi ghép chúng lại trên bông hoa hoàn chỉnh, “họ phân tích sự tiến hóa trên từng đặc điểm riêng biệt nhưng một số kết hợp của chúng sau đó lại không khả thi.”    Hoa hướng dương và các loài hoa khác có thể có chung tổ tiên. Ảnh: Bức họa Hoa hướng dương của họa sỹ Van Gogh. Nguồn: Bảo tàng Van Gogh.  Mặc dù vậy, Sauquet cho rằng sự vắng mặt của một kiểu hình đặc biệt trong hoa hiện nay không có nghĩa là nó không bao giờ tồn tại. Ông nói: “Có rất nhiều điều kỳ lạ tồn tại trước đây mà chúng ta không thể nhìn thấy ngày nay.”  Theo ông Wenheng Zhang – nhà nghiên cứu về tiến hóa thực vật tại Virginia Commonwealth University ở Richmond, cần một cơ sở dữ liệu lớn hơn và các mô hình phức tạp hơn để giải quyết được cuộc tranh luận về bông hoa đầu tiên này. Dẫu vậy, nỗ lực của eFLOWER cũng là ví dụ về cách các kỹ thuật hiện đại kết hợp với hình thái học cổ điển để trả lời những câu hỏi cơ bản về nguồn gốc thực vật. Zhang nói: “Kiểu nghiên cứu như thế này có thể sẽ chuyển hướng các nhà thực vật học sang nghiên cứu về hình thái học và theo cách này thì chúng ta sẽ cùng trở về với những điều cơ bản của sinh học.”  Minh Thuận dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-01539-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh luận về đạo đức sinh học của nghiên cứu chuột đực mang thai      Nghiên cứu gắn một số cơ quan của chuột đực vào chuột cái rồi làm chuột đực có thai của hai nhà khoa học tại Đại học Y Hải quân ở Thượng Hải đã làm dấy lên cuộc tranh luận dữ dội ở Trung Quốc, đặc biệt là về tính đạo đức của thí nghiệm này.      Đây không phải là lần đầu tiên một nghiên cứu ở Trung Quốc gây ra tranh cãi về đạo đức. Ảnh: APA Picturedesk Gmbh/Shutterstock.      Các nhà nghiên cứu cho biết thí nghiệm này rất phức tạp và gây đau đớn một cách không cần thiết cho các con vật, mà cũng chỉ cung cấp rất ít thông tin chi tiết về khả năng mang thai của đàn ông – nếu có, tỷ lệ thành công thấp ở chuột cho thấy rằng mục tiêu ở người còn lâu mới đạt được.      Nhưng nhiều nhà khoa học khác thì cho rằng thí nghiệm ở chuột có thể giúp ta hiểu rõ hơn thứ gì là cần thiết để duy trì thai kỳ với những người muốn mang thai và sinh con – bất kể họ thuộc giới tính nào. Nhóm nghiên cứu đã trình bày chi tiết thí nghiệm lên trang bioRxiv.       “Thử nghiệm này không có giá trị xã hội mà chỉ lãng phí tiền thuế của nhà nước”, Qiu Renzong, nhà đạo đức sinh học tại Viện Hàn lâm KHXH Trung Quốc, nhận định. Joy Zhang, nhà xã hội học tại Đại học Kent ở Canterbury, Vương quốc Anh, người đã tiến hành nghiên cứu ở Trung Quốc trong nhiều năm, cho biết các nhà khoa học Trung Quốc lo ngại những nghiên cứu gây tranh cãi, chẳng hạn như nghiên cứu này, có thể tạo ra một “hình ảnh ô uế về nền khoa học Trung Quốc”.      Mang thai ở cá thể đực là hiện tượng cực kỳ hiếm trong tự nhiên và chỉ xuất hiện ở cá ngựa và cá chìa vôi. Để làm điều này ở động vật có vú, hai nhà khoa học đã khâu khuỷu chi trước, đầu gối chi sau và da của các cặp chuột lại với nhau, mỗi cặp bao gồm một con đực và một con cái, để chúng dùng chung hệ tuần hoàn.       Sáu tuần sau khi phẫu thuật, nồng độ testosterone ở chuột đực đã giảm đáng kể – nhưng nồng độ estrogen và progesterone của chúng lại tương đương ở chuột cái. Tám tuần sau đó, các nhà nghiên cứu cấy tử cung vào mỗi con chuột đực, tiếp theo là phôi vào cả con đực và con cái sau tám tuần tiếp theo. Ba tuần sau khi phôi thai phát triển, và cũng là thời gian quá trình mang thai bình thường của chuột gần kết thúc, các nhà nghiên cứu đã tiến hành mổ lấy chuột con. Trong số 842 phôi được đưa vào 46 cặp chuột dính liền, một phần ba số phôi ở chuột cái và một phần mười số phôi ở chuột đực phát triển thành bào thai sống. Chỉ có 10 chuột con do chuột đực mang thai sống sót đến tuổi trưởng thành – tương đương khoảng 4% trong số 280 phôi được cấy vào chuột đực.      Thí nghiệm đã nêu tầm quan trọng của nguồn cung cấp máu cho phụ nữ mang thai, bởi phôi được cấy vào tử cung được ghép cho chuột đực chỉ phát triển nếu chúng tiếp xúc với nguồn máu của chuột cái mang thai.      Catherine Mills, nhà đạo đức sinh học tại Đại học Monash ở Melbourne, Úc, cho biết những can thiệp xâm lấn kiểu này cũng không được áp dụng cho con người. “Còn một chặng đường dài để thực hiện những nghiên cứu liên quan trên người. Có thể hiểu rằng nghiên cứu này không phải là một mô hình động vật, nó chỉ đơn thuần là một thí nghiệm trên động vật”, bà nói.      Đồng tác giả của công bố, Zhang, từ chối đưa ra bình luận về những lời chỉ trích. Trong email gửi cho Nature, ông cho biết các tác giả “muốn phản hồi những lời chỉ trích thông qua các bài báo học thuật”.     O’Neill cho biết nghiên cứu này có thể cung cấp một mô hình thử nghiệm mới để xác định các chất dinh dưỡng hoặc hormone trong máu thai phụ là yếu tố quan trọng để mang thai thành công.     Theo Mats Brännström, một nhà nghiên cứu sức khỏe sinh sản tại Đại học Gothenburg ở Thụy Điển, nghiên cứu này cũng có thể tác động phần nào đến các nghiên cứu sinh sản khác ở người, đặc biệt là với những nhóm đang xem xét khả năng cấy ghép tử cung cho phụ nữ chuyển giới, nó cũng lưu ý ta về việc thiết lập tính an toàn cho những ca phẫu thuật liên quan đến cấy ghép tử cung. □     Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01885-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tránh vết xe của các đô thị Đông Nam Á      Một phần quan trọng của bản báo cáo “LỰA CHỌN THÀNH CÔNG” (Trường Fullbright và Chương trình Việt Nam của ĐH Harvard) là về đánh giá kết quả đạt được của Việt Nam trên các phương diện chính sách then chốt: Giáo dục, Hệ thống tài chính, Hiệu năng nhà nước… Chúng tôi xin trích giới thiệu một phần những đánh giá về “Cơ sở hạ tầng và đô thị hóa”, đầu đề do Tia Sáng đặt.    Một thách thức có liên quan là đô thị hóa, đặc biệt là thách thức về nhà ở và giao thông. Trừ phi việc sử dụng đất và giao thông được giải quyết một cách thỏa đáng và nhanh chóng, bằng không tình trạng tắc nghẽn, ô nhiễm, và đông đúc gia tăng nhanh chóng ở các thành phố lớn chắc chắn sẽ xảy ra. Hệ quả tất yếu của chính sách bất cập sẽ là tăng trưởng bị suy giảm mạnh. Giá đất ở các đô thị và khu vực sắp trở thành đô thị của Việt Nam tương đương với mức giá ở những khu vực tương tự ở Nhật Bản, một quần đảo đông dân với thu nhập trung bình cao hơn Việt Nam tới 50 lần. Như được minh họa trong Bảng 1, giá đất cao một cách phi lý không chỉ dừng lại ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mà đã lan rộng ra các tỉnh xung quanh. Đất của một dự án phát triển đô thị mới ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) hiện đã lên tới 26 triệu/m2. Điều này có nghĩa là giá của một lô đất diện tích 100m2 sẽ lên tới hơn 160.000 USD. Mức giá này, xuất hiện ở một tỉnh lị có mật độ dân cư ngày một cao có nghĩa là nhiều người sẽ không những không thể sở hữu một ngôi nhà “vừa phải”, mà thậm chí có khi còn không đủ tiền để trả tiền thuê nhà nữa. Có vẻ như quan chức địa phương và các nhà đầu cơ giàu có là nguyên nhân chính của tình trạng này. Ở một số tỉnh, hàng ngàn héc-ta đất đã bị chuyển thành đất của khu công nghiệp mà trên thực tế gần như còn trống trơn chưa có hoạt động gì. Giá đền bù cho người nông dân thường quá thấp khiến họ không muốn bán đất cho các dự án công nghiệp. Trên thực tế, một bộ phận nông dân Việt Nam đang phải đối đầu với cảnh mất đất, trong khi tương lai nghèo vẫn hoàn nghèo vì họ không biết sẽ làm gì sau khi mất đất. Những việc làm như thế này gây nên những phản ứng xã hội mạnh mẽ và rộng lớn ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Cần nhanh chóng có những chính sách đất đai hợp lý vì hiện nay quá trình đô thị hóa đang diễn biến rất nhanh, đẩy các thành phố vào tình trạng gần như không quản lý nổi về nhiều mặt.  Bảng 1. Giá đất (triệu đồng/m2) tại một số khu đô thị mới ở miền Đông Nam Bộ                Nguồn: Ước tính của nhóm tác giả theo thông tin của các đại lý môi giới bất động sản  Với sự tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ (chủ yếu là dịch vụ đô thị) như hiện nay, có lẽ dân số đô thị sẽ tiếp tục gia tăng với tốc độ thậm chí còn cao hơn trong những năm tới. Nếu như tốc độ tạo thêm việc làm mới ở khu vực chính thức tiếp tục tăng (ở mức cao hơn nhiều so với mức như hiện nay) thì tỷ lệ dân cư đô thị sẽ ngày càng tăng, số người sống ở vùng nông thôn sẽ ngày càng giảm. Cũng như dân số nông thôn ở Trung Quốc bắt đầu giảm một thập kỷ trước, điều tương tự đang xảy đến với Việt Nam. Nếu như tiêu chí để xác định cư dân đô thị được xác lập khách quan hơn chứ không dựa trên cơ sở địa giới hành chính như hiện nay thì trên thực tế, dân số đô thị sẽ cao hơn nhiều, đồng thời tốc độ tăng trưởng cũng nhanh hơn nhiều so với những số liệu thống kê hiện có. Những cuộc điều tra mức sống dân cư ở Việt Nam đã ước lượng thấp dân số đô thị vì nó sử dụng các tiêu thức có tính hành chính để phân biệt dân nông thôn và thành thị. Nhiều xã được coi là nông thôn trong các cuộc điều tra này trên thực tế có mức độ đô thị hóa cao, nếu dựa theo các tiêu thức khách quan khác.  Kinh nghiệm gần đây của Thái-lan, Phi-líp-pin, và In-đô-nê-xia cho thấy, quy hoạch đô thị hóa tồi là một nguồn gốc tiềm tàng của bất ổn chính trị và xã hội. Người ta ai cũng cần có nhà cửa ổn định, môi trường sống tương đối sạch sẽ, dịch vụ giáo dục và y tế chất lượng cho các thành viên trong gia đình. Người Việt Nam có câu “an cư, lạc nghiệp”. Chính sách chủ động, đầu tư hiệu quả và kịp thời là những biện pháp cần thiết để tránh nạn đông đúc, ùn tắc, và đô thị hóa không lành mạnh, vốn là những trở ngại cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế. Với mức giá bất động sản cao ngất trời như hiện nay, nhiều người đang phải đứng trước một lựa chọn khó khăn – hoặc là chuyển nhà ra vùng ngoại ô và chấp nhận thời gian từ nhà đến cơ quan lâu hơn trước, hoặc là sống trong nội thành đồng đúc và đắt đỏ. Giá thuê nhà rất cao ở các căn hộ trung tâm đã vượt khỏi tầm với của hầu hết mọi hộ gia đình trong thành phố.  Việt Nam thiếu kinh nghiệm trước những vấn đề mới nổi lên này. Mới đây thôi, vào năm 2002, hầu như mọi hộ gia đình có hộ khẩu ở thành phố đều có nhà riêng. Chỉ có 8% không có nhà riêng, và trong số này phần lớn thuê nhà của nhà nước. Thế nhưng với làn sóng nhập cư mới, tình hình sẽ khác trước. Những người nhập cư này thậm chí còn không được tính là người hiện đang sống ở thành phố, thu nhập của họ không thể đủ dù chỉ là mua một căn hộ tí hon ở thành phố. Vì vậy, nếu như họ không có tài sản nào khác hay không có người quen hay họ hàng ở thành phố thì lựa chọn duy nhất là sống tập trung tại các khu ven đô. Nếu dân số đô thị tăng trên một triệu người hằng năm (bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và nhập cư) thì trách nhiệm cung cấp nhà ở, cơ sở hạ tầng (CSHT), trường học và các dịch vụ công cho số dân cư mới này sẽ vô cùng nặng nề. Quyết định mới đây của chính phủ tạo điều kiện đăng ký hộ khẩu dễ dàng hơn cho người nhập cư ở thành phố là một chính sách rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, đây sẽ là một động lực quan trọng khuyến khích nông dân tiếp tục di cư và tạo thêm sức ép cho khu vực thành thị.  Chính sách đất đai là một vấn đề phức tạp cho cả khu vực thành thị và nông thôn. Nhưng hiện nay ở đô thị, chính sách về thu hồi đất, phân vùng, và phát triển hạ tầng đang đẩy giá đất lên cao ngoài tầm với của hầu hết người lao động. Đất đai đã trở thành một khoản đầu tư và đầu cơ chứ không thuần túy chỉ phục vụ mục đích xây nhà. Hơn nữa, lợi nhuận từ đầu cơ đất đai hấp dẫn hơn bất kỳ một hoạt động đầu tư sản xuất nào khác, và chính điều này làm cho một phần lớn nguồn lực của nền kinh tế bị chuyển sang mục đích phi sản xuất. Một hệ thống chính sách đồng bộ về phát triển đô thị cũng bao gồm hoạt động cung ứng phương tiện giao thông công cộng, thuế tài sản và bất động sản để có nguồn thu phục vụ phát triển CSHT và các dịch vụ công khác, đồng thời là cơ sở cho sự phân phối công bằng và hợp lý hơn. Chính sách cung cấp các công cụ tài trợ dài hạn cho hoạt động xây dựng của các công ty phát triển CSHT hay mua căn hộ của các hộ gia đình sẽ giúp nhiều người có thể mua được nhà, mặc dù những hộ gia đình nghèo nhất sẽ cần những trợ giúp bổ sung. Ở đây cũng vậy, kinh nghiệm của các nước khác có thể cung cấp những bài học hữu ích, chẳng hạn như Hồng-kông và Sing-ga-po đã bắt đầu xây nhà công cộng cho những hộ gia đình nghèo từ những năm 1950.  Phần đầu của bài viết này đã lập luận rằng các nước Đông Nam Á đã thất bại trong việc xử lý nhiều thách thức của quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Các thành phố Đông Nam Á không thể cung cấp cho cư dân của mình những dịch vụ tối thiểu như giáo dục, y tế, và vệ sinh một cách thoả đáng. Về những phương diện này, có vẻ như TP. Hồ Chí Minh đang đi vào vết xe của các thành phố Đông Nam Á. Những triệu chứng này được báo chí báo động thường xuyên, bao gồm tắc nghẽn giao thông, ngập nước, thiếu phòng học, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm kém, bệnh viện quá tải, phòng cháy chữa cháy bất cập vân vân và vân vân. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này, đó là mặc dù bốn tỉnh miền Đông Nam Bộ (TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu) hấp thụ phần lớn lượng tăng dân số cơ học và dân nhập cư, đồng thời cũng là khu vực đóng góp nhiều nhất cho ngân sách quốc gia nhưng lại chiếm chưa đến 10% chi tiêu của một quốc gia. Tất nhiên, việc tăng chi tiêu và đầu tư không phải là thần dược chữa lành những triệu chứng yếu kém của việc đô thị hóa nhanh (đặc biệt trong bối cảnh nhiều dự án CSHT công cộng bị chậm tiến độ và thất thoát như hiện nay). TP. Hồ Chí Minh đang có nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng một chính quyền đô thị tập trung và hiệu quả. Bằng không, tăng đầu tư trong khi quản trị kém thì chỉ làm tình hình trở nên tồi tệ thêm mà thôi. Đề xuất xây dựng chính quyền đô thị để nâng cao chất lượng quản trị thành phố vì vậy nên được coi là một ưu tiên hàng đầu của TP. Hồ Chí Minh cũng như một số đô thị lớn khác của Việt Nam.  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Transistor kiểu mới bằng graphene làm máy vi tính chạy nhanh hơn 1000 lần      Một lần nữa, graphene lại chứng tỏ mình xứng đáng được gọi là ‘vật liệu kỳ diệu’ khi được sử dụng chế tạo Transistor, mở đường cho việc phát triển các loại máy tính chưa hề có, nhanh nhất từ trước tới nay.      Mới đây, tạp chí Nature Communications vừa công bố cho biết, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Central Florida (UCF), Đại học Quang học và Quang tử học thuộc UCF (CREOL), và Đại học Texas đã phát triển một loại bóng Transistor bằng vật liệu graphene, mà một ngày nào đó không xa có thể dùng để chế tạo ra loại máy vi tính siêu nhanh và siêu tiết kiệm năng lượng. Nói siêu nhanh có nghĩa là hàng nghìn lần nhanh hơn máy tính hiện nay và hiệu quả năng lượng siêu việt với nghĩa nó sẽ tiêu tốn chỉ khoảng một phần trăm năng lượng so với máy tính hiện có.  Như mọi người đã biết, cho đến lúc này thì toàn thể các thiết bị điện tử đều được chế tạo dựa trên nền tảng các Transistor bằng chất bán dẫn silicon. Và điều tiên quyết cho mọi phát minh để làm giảm kích thước các thiết bị là cần phải có các Transitor nhỏ hơn nữa nhưng hiện tại thì kích thước đã giảm đến giới hạn mà chất silicon có thể đạt được.  Ryan M. Gelfand, giám đốc Phòng thí nghiệm NanoBioPhotonics tại UCF, giải thích: “Nếu bạn muốn tiếp tục đẩy công nghệ tiến lên phía trước, chúng ta cần có những máy tính nhanh hơn nữa, dùng để chạy các mô phỏng lớn hơn và tốt hơn cho các ngành khoa học về khí hậu, về khám phá vũ trụ, và ngay cả cho Phố Wall. Để đạt được điều này, chúng ta không thể dựa vào các Transitor bằng chất bán dẫn silicon nữa”.  Và nhóm nghiên cứu đã chuyển hướng sang chất liệu đã được ngợi ca như là một vật liệu kỳ diệu vì những tính năng gần như ma mị của nó, đó chính là một dạng thù hình của carbon, kết cấu hai chiều và mỏng chỉ một nguyên tử, tên gọi là graphene. Theo phát hiện của các nhà khoa học, nếu họ áp một từ trường vào một dải băng graphene, nó sẽ cho phép họ thay đổi sự cản trở của dòng điện chảy qua nó (tức là điện trở). Trong phát minh này, họ sử dụng ống nano cacbon và cho dòng điện chạy qua để tạo từ trường, tăng hoặc giảm dòng điện sẽ điều khiển được từ trường. Khi tăng hoặc giảm cường độ từ trường thì cũng làm cho dòng điện chạy qua dải băng graphene tăng hoặc giảm theo.  Xét về tốc độ, việc sử dụng graphene sẽ giúp loại bỏ cái hố trì hãm mà các bóng Transistor bằng silicon không thể thoát khỏi. Như đã biết, người ta sử dụng các Transistor silicon với các cấu trúc bố trí khác nhau đóng vai trò như các cổng logic để làm cho các bộ vi xử lý giải thuật tất cả các loại vấn đề toán học và logic, từ đơn giản đến phức tạp nhất. Vấn đề là với các Transistor gốc silicon thì tốc độ nhịp xung xử lý tối đa có thể đạt chỉ là từ 3 đến 4 gigahertz. Khi chuyển sang sử dụng các bóng Transistor gốc graphene thì tốc độ này có bước nhảy vọt khổng lồ từ chỉ gigahertz (109) nhảy lên đến vùng terahertz (1012) tức là hàng nghìn lần nhanh hơn!  Và tốc độ không phải là lợi ích duy nhất có thể thu được từ việc sử dụng graphene. Các bóng Transistor gốc bán dẫn silicon cũng đã đạt đến giới hạn về kích thước, có nghĩa là không làm cho nhỏ hơn được nữa. Nhưng với graphene, không tồn tại giới hạn đó. Đối với các nhà sản xuất thiết bị, có nghĩa là họ có thể tiếp tục thu nhỏ thiết bị nhiều lần nữa và đóng gói vào trong thiết bị bé nhỏ đó nhiều chức năng hơn trước. Còn đối với chúng ta, những người tiêu dùng háo hức, thì điều đó có nghĩa là trong tương lai chúng ta sẽ được sử dụng những thiết bị mạnh mẽ và tuyệt vời hơn.  Trần Xuân Hoài lược thuật  Nguồn: http://wallstreetpit.com/113644-new-graphene-transistors-super-fast-computers/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Trao ba giải nhất cuộc thi sáng tạo dành cho thanh thiếu nhi TPHCM 2015      Vượt qua 840 bài dự thi lý thuyết và mô hình sáng tạo, ba bài thi xuất sắc của bốn học sinh ba cấp tiểu học, trung học sơ sở và trung học phổ thông đã đoạt giải nhất cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu nhi TPHCM năm 2015.    Đó là các bài thi “Mô hình khu vui chơi hướng nghiệp kỹ năng sống lưu động” của Phan Lê Ánh Dương (học sinh lớp 4, Trường tiểu học bán trú Thới Tam, huyện Hóc Môn), sản phẩm “Laser Bot” của Nguyễn Dương Kim Hảo (học sinh lớp 8, Trường THCS Nguyễn Gia Thiều, quận Tân Bình) và  sản phẩm “Phương pháp chế tạo tấm cách nhiệt từ vỏ trấu và thủy tinh lỏng của Võ Thị Hồng Thảo và Nguyễn Võ Minh Hiếu (học sinh lớp 11, Trường THPT Nhân Việt, quận Tân Phú).  Nổi lên trong số các học sinh đoạt giải, Nguyễn Dương Kim Hảo từng được biết đến với danh hiệu Công dân trẻ tiêu biểu TPHCM năm  2013. Em đã có nhiều sản phẩm đạt giải trong nhiều cuộc thi sáng tạo dành cho lứa tuổi học sinh trong nước và quốc tế. Ví dụ như sáng  chế “Bảng điều khiển thông minh” của Kim Hảo đã gây ấn tượng tại Triển lãm quốc tế về công  nghệ, sáng kiến sáng chế năm 2013 (ITEX 2013), giành HCV tại Malaysia và Indonesia cũng như giải thưởng đặc biệt của Viện Sáng tạo Hàn lâm  Hàn Quốc. Một sản phẩm khác của Kim Hảo, “Máy tính hóa học” như máy  tính bỏ túi sử dụng chip điều khiển trung tâm ATMega128, viết bằng ngôn  ngữ C có thể tìm kiếm phương trình hóa học bằng chất tham gia,  chất tạo thành hoặc cả hai, cân bằng phương trình hóa học, xem tên gọi  các chất… giúp việc học môn Hóa thuận tiện. “Máy tính hóa học” đã giành giải nhất tại cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu nhi TPHCM và  Hội thi tin học trẻ TPHCM năm 2013…   Bên cạnh đó, ban tổ chức cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu nhi TPHCM còn trao ba giải nhì, ba giải ba và 11 giải khuyết khích… với tổng giải thưởng 52 triệu đồng.  Nhằm khuyến khích hơn nữa phong trào sáng tạo và niềm say mê khoa học công nghệ trong học sinh TPHCM, trong thời gian tới, Sở KH&CN TP.HCM sẽ phối hợp các đơn vị khác của thành phố tiếp tục đầu tư, tạo cơ chế và nguồn lực để gắn kết các hoạt động sáng tạo thông qua việc tổ chức chương trình cụ thể như sân chơi khoa học cuối tuần, sân chơi khoa học vui, chương trình trí thức khoa học trẻ tình nguyện, chuyến xe tri thức… Ngoài ra, Sở KH&CN TP.HCM cũng sẽ hỗ trợ các em tham gia các sự kiện, cuộc thi, giải thưởng tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trao giải Cuộc thi sáng chế năm 2014      Tối 22/11, tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ KH&amp;CN đã trao giải Cuộc thi sáng chế năm 2014.      Đây là năm đầu tiên cuộc thi được triển khai trên phạm vi toàn quốc, do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức.  Theo ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN, cuộc thi nhằm khuyến khích các sáng chế, sáng tạo ra những công nghệ có tính ứng dụng rộng rãi, dễ dàng với chi phí thấp, đáp ứng các nhu cầu thiết thực của cuộc sống đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương và sự phát triển kinh tế, xã hội chung của đất nước. Từ đó huy động mọi nguồn lực trong xã hội hướng đến gắn nghiên cứu khoa học công nghệ với sản xuất và đưa các sản phẩm sáng chế khoa học ra thị trường.  Sau gần bốn tháng phát động, cuộc thi đã thu hút tổng cộng 173 giải pháp kỹ thuật của các cá nhân, tổ chức đến từ 40 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia. Trong số đó, nhiều giải pháp kỹ thuật có tính mới toàn cầu, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng cao, đã và đang góp phần thiết thực vào việc giải quyết những khó khăn trong đời sống, sản xuất của người dân và doanh nghiệp.  Trong số 15 giải pháp lọt vào vòng chung khảo, Ban tổ chức đã quyết định trao giải nhất cùng giải thưởng giá trị 100 triệu đồng cho sản phẩm “Giường đặc biệt dành cho người bất động” của nhà sáng chế Nguyễn Long Uy Bảo (Thành phố Hồ Chí Minh). Đây là sáng chế giúp cho thao tác thay drap giường mà người bệnh vẫn nằm yên trên giường, không cần cử động, từ đó phòng chống lở loét lưng cho bệnh nhân.  Giải nhì cuộc thi là sáng chế “Thiết bị xử lý nước thải” của Công ty cổ phần môi trường xanh và xanh, trong khi giải Ba được trao cho Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển công nghệ môi trường xây dựng với sáng chế “Máy phân loại rác thải và thiết bị tự động.”  Ngoài ra, Ban tổ chức đã trao tặng 12 giải khuyến khích cho các giải pháp kỹ thuật được chọn vào vòng chung khảo. Tất cả 15 sáng chế đoạt giải đều được cấp Giấy chứng nhận của WIPO.  Đánh giá cao các tác phẩm của cuộc thi, ông Andrew Michael Ong, Vụ trưởng châu Á -Thái Bình Dương của WIPO, cho rằng, từ những sáng chế này, người Việt Nam có thể tham khảo và nghiên cứu để cải tiến thành các giải pháp hữu ích phục vụ đời sống và sản xuất. Hiện kho dữ liệu của WIPO có khoảng 80 triệu sáng chế của các tác giả trên toàn thế giới, đây là nguồn tri thức rất quan trọng của nhân loại.          173 giải pháp kỹ thuật của cá nhân, tổ chức từ 40 địa phương tham dự cuộc thi, trong đó có nhiều giải pháp có tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng cao, góp phần thiết thực vào việc giải quyết những khó khăn trong đời sống, sản xuất – kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, nhiều giải pháp đã được thương mại hoá ở trong và ngoài nước.      Bộ KH&CN đã trao danh hiệu “Doanh nghiệp sáng tạo” cho 30 doanh nghiệp sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ một cách chủ động, hiệu quả.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trao giải cuộc thi Tìm kiếm tài năng khoa học Intel 2015      Ba học sinh Noah Golowich, Andrew Jin và Michael Hofmann Winer đã được trao giải nhất Tìm kiếm tài năng khoa học Intel 2015 (Intel Science Talent Search 2015), cuộc thi về Toán và khoa học của Hội Khoa học và Công chúng (Society for Science &amp; the Public) dành riêng cho các học sinh năm cuối THPT Mỹ.       Vào chung kết cuộc thi năm nay có 40 học sinh, những thí sinh đưa ra những giải pháp và những kỹ thuật mới có thể tác động mạnh mẽ vào cuộc sống. Vừa qua, các em đã họp mặt tại thủ đô Washington để đón nhận giải thưởng có tổng trị giá hơn một triệu đô la từ tập đoàn Intel.   Cuôc thi được khởi động từ đầu năm 2015 nhằm vinh danh các thí sinh xuất sắc ở ba lĩnh vực: Nghiên cứu khoa học cơ bản (Basic Research), Lợi ích toàn cầu (Global Good) và Đổi mới sáng tạo (Innovation). Mức giải thưởng năm nay được tăng lên 1/3 so với lần tổ chức trước, trong đó ba giải nhất trị giá 150.000 đô la thay vì chỉ 100.000 đô la như trước đây.  Tiêu chí trao giải của lĩnh vực Nghiên cứu khoa học cơ bản là những ứng viên có tiềm năng khoa học xuất chúng, thể hiện ở sự chuyên sâu về nghiên cứu và phân tích, còn với lĩnh vực Lợi ích toàn cầu là dành cho ứng viên có tiềm năng khoa học nổi trội thể hiện qua niềm đam mê tạo ra sự khác biệt, với lĩnh vực Đổi mới sáng tạo dành cho ứng viên thể hiện được khả năng giải quyết vấn đề của người kỹ sư thông qua việc thiết kế đổi mới và sáng chế.   Dưới đây là chín gương mặt điển hình của cuộc thi Tìm kiếm tài năng khoa học 2015.  Ba giải nhất (mỗi giải 150.000 đô la)  Noah Golowich, 17 tuổi ở Lexington, Massachusetts, lĩnh vực Nghiên cứu cơ bản. Noah đã phát triển bằng chứng cho thuyết Ramsey, một lĩnh vực toán học dựa vào việc tìm các kiểu cấu trúc trong những hệ thống lớn và phức tạp. Cậu còn là đội trưởng đội Toán, thành viên đội tennis của trường và thường chơi piano lúc rảnh rỗi.  Andrew Jin, 17 tuổi ở San Jose, California, lĩnh vực Lợi ích toàn cầu. Andrew đã phát triển một thuật toán để nhận dạng những đột biến thích nghi trong hệ gene của loài người. Bằng việc phân tích, đánh giá một lượng lớn dữ liệu gene của cộng đồng, hệ thống của cậu đã phát hiện ra hơn 100 đột biến thích nghi liên quan đến hệ thống miễn dịch, sự trao đổi chất, phát triển não và chứng tâm thần phân liệt trong những chuỗi gene thực. Hiểu biết về nguyên nhân di truyền các loại bệnh đó là bước quan trọng đầu tiên để phát triển những phương pháp chữa bệnh về gene hay vắc xin. Andrew cũng là nghệ sỹ piano và từng biểu diễn tại Phòng hòa nhạc Carnegie Hall.  Michael Hofmann Winer, 18 tuổi ở North Bethesda, Maryland, lĩnh vực Đổi mới sáng tạo. Micheal đã nghiên cứu các hạt cơ bản của âm thanh gọi là phonon, tương tác với các hạt electron. Nghiên cứu này có thể áp dụng vào những kết cấu nguyên tử phức tạp hơn như chất siêu dẫn. Michael đã giành huy chương bạc giải Olympic vật lý quốc tế năm 2014 và là thành viên đội tuyển Mỹ đạt điểm phần thi lý thuyết cao nhất tại kỳ thi này.  Ba giải nhì (mỗi giải 75.000 đô la):  Brice Huang, 17 tuổi ở Princeton Juntion, New Jersey, lĩnh vực Nghiên cứu cơ bản. Brice triển khai tiếp các nghiên cứu toán học trước đây về công suất lý tưởng (power ideals), có thể tính được một serie công suất lý tưởng thuộc nhiều chủng loại.  Kalia D. Firester, nữ, 17 tuổi ở New York, lĩnh vực Lợi ích toàn cầu. Kalia nghiên cứu quá trình sản xuất protein ở giun tròn (nematode), một loài ký sinh phá hoại cây cỏ, tương tác với tế bào và cơ chế tự vệ của cây. Nghiên cứu của cô góp phần vào việc thiết kế khả năng kháng côn trùng của thực vật, lĩnh vực khiến nền nông nghiệp toàn cầu phải tốn kém 100 tỷ đô la/năm.  Saranesh (Saran) Thanika Prembabu, 17 tuổi ở San Ramon, California, lĩnh vực Đổi mới sáng tạo. Saran nghiên cứu sự bố trí các lớp titanat chì (lead titanate) và strontium ruthenate trong siêu mạng tinh thể nano có ảnh hưởng ra sao tới tính chất điện và từ trường của chúng; nghiên cứu này có thể dùng trong một loạt các ứng dụng về điện và máy tính.  Ba giải ba (mỗi giải 35.000 đô la):   Shashwat Kishore, 18 tuổi ở West Chester, Pennysylvania, lĩnh vực Nghiên cứu cơ bản. Dự án toán học của Shashwat tập trung vào việc thể hiện đại số học trừu tượng bằng ma trận, phát triển mối quan hệ mới giữa những ma trận đó với tô-pô học.  Anvita Gupta, nữ, 17 tuổi ở Scottdale, Arizona, lĩnh vực Lợi ích toàn cầu. Anvita “dạy” cho máy tính phân biệt, tìm ra phương thuốc chữa ung thư, bệnh lao và Ebola. Một số bệnh viện ở Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm phương pháp của cô.  Catherine Li, 18 tuổi ở Orlando, Florida, lĩnh vực Đổi mới sáng tạo. Cô đã phát triển phương pháp mới dựa trên sợi, dùng cho hạt vi mô vận chuyển thuốc, có thể áp dụng để chữa trị ung thư.  Các thí sinh chung kết còn lại được thưởng mỗi em ít nhất 7.500 USD.  Tổng cộng có 1844 thí sinh tham gia cuộc thi năm nay, trong đó 300 em lọt vào vòng bán kết, 40 em vào đến vòng chung kết. 40 em này đã được mời đến Washington để trải qua một đợt sát hạch nhằm xác định thí sinh giành chín giải cao nhất.   Đáng chú ý, trong 74 năm qua, các cựu thí sinh vào chung kết cuộc thi Tìm kiếm tài năng khoa học Intel từng giành tám giải Nobel, hai huy chương Fields, năm giải thưởng khoa học nhà nước, 12 học bổng MacArthur và thậm chí một giải Academy cho diễn viên nữ xuất sắc nhất.  Tập đoàn Intel đã chi 1,6 triệu USD làm giải thưởng cho cuộc thi năm nay. Năm 1998, Intel được chọn làm nhà tài trợ cuộc thi này, sau đó họ đã tăng tổng tiền thưởng thêm 1 triệu USD.  Dương Quang Huy dịch  Nguồn: https://www.societyforscience.org/content/press-room/three-high-school-seniors-each-take-home-awards-150000-nation%E2%80%99s-highest-awarding (Three High School Seniors Each Take Home Awards of $150,000 from Nation’s Highest-Awarding Science Competition)                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trao giải cuộc thi về biến đổi khí hậu năm 2015      Năm thí sinh đã giành chiến thắng cuộc thi về biến đổi khí hậu năm 2015 do Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức.      Đó là các thí sinh Nguyễn Trọng Linh, Nguyễn Thị Như Quỳnh (Hà Nội), Ngô Hoàng Minh Quyên (TPHCM), Huỳnh Phước Thảo (Hậu Giang); Trần Đức Quang (Đà Nẵng). Vượt qua 1.000 bài dự thi, năm thí sinh này đã cùng giành giải và được nhận phần thưởng là một chiếc xe đạp làm bằng tre do Công ty Mekong Creations (Việt Nam) sản xuất.  Cuộc thi tìm hiểu về biến đổi khí hậu 2015 diễn ra từ ngày 18 đến 24/6 trên trang facebook của Phái đoàn Liên minh châu Âu (www.facebook.com/EUandVietnam) nhằm nâng cao nhận thức về các tác động của biến đổi khí hậu cũng như thúc đẩy các giải pháp thực tế để chống biến đổi khí hậu bằng những hành vi hàng ngày của con người. Sáng tạo của Phái đoàn Liên minh châu Âu là tổ chức cuộc thi qua Facebook, mạng xã hội có nhiều người truy cập nhất hiện nay tại Việt Nam, đã thu hút đông đảo người dự thi trên khắp mọi miền, trong đó, chiếm ưu thế là giới trẻ.   Cuộc thi bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận về chủ đề biến đổi khí hậu, xoay quanh những vấn đề về biến đổi khí hậu có liên quan đến Việt Nam như: ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến Việt Nam, giáo dục trẻ em tiết kiệm năng lượng, cách hạn chế sử dụng túi nilon và giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính cũng như khí carbon (CO2) do các phương tiện gắn động cơ tại Việt Nam gây ra.  Tại lễ trao giải, tiến sỹ Franz Jessen, Đại sứ Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam bày tỏ vui mừng khi thấy nhiều đông đảo người tham dự, đặc biệt là các bạn trẻ, đăng ký tham gia. Ông cho rằng, điều đó cho thấy sự quan tâm và nhận thức của người dân Việt Nam đối với biến đổi khí hậu, một vấn đề cấp bách mà cả thế giới trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt. Hơn nữa, cuộc thi đem là cơ hội thu nhận từ người dân những ý tưởng ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam thông qua việc thay đổi hành vi trong cuộc sống hàng ngày.  Cuộc thi về biến đổi khí hậu năm 2015 là một phần của một chuỗi các hoạt động do Phái đoàn Liên minh châu Âu phối hợp với Đại sứ quán các nước thành viên Liên minh châu Âu như Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Tây Ban Nha và Anh tổ chức để kỷ niệm Ngày Ngoại giao khí hậu châu Âu 2015 (17/6).  Tại lễ trao giải, đại diện Đại sứ quán các nước EU tại Việt Nam cùng với năm quán quân cuộc thi và các sinh viên Hà Nội cùng cũng viết lên mảnh giấy, tượng trưng cho những chiếc lá màu xanh, để gắn lên bức tường những thông điệp về bảo vệ hành tinh xanh, ngăn chặn sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên đường lưu trữ dữ liệu nhanh hơn và hiệu quả hơn      Cách sóng từ hành xử như thế nào trong vật liệu phản sắt từ và nó lan truyền như thế nào? Các vách đômen đóng vai trò gì trong quá trình này? Phần trả lời của hai câu hỏi này có thể có ý nghĩa gì với tương lai của lưu trữ dữ liệu?      Các câu trả lời này đã hội tụ trong một công bố gần đây xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, kết quả nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu quốc tế do nhà vật lý Davide Bossini dẫn dắt. Họ đã miêu tả hiện tượng từ trong vật liệu phản sắt từ có thể cảm thụ các xung laser ở mức siêu nhanh (femto giây) và với tiềm năng đem lại cho vật liệu này những chức năng mới về những ứng dụng lưu trữ dữ liệu hiệu quả về năng lượng và siêu nhanh.  Yêu cầu về năng lực lưu trữ đang tăng trưởng nhanh hơn hạ tầng cơ sở  Việc sử dụng công nghệ dữ liệu lớn và các dịch vụ dữ liệu đám mây không ngừng gia tăng cho thấy nhu cầu của toàn cầu về lưu trữ dữ liệu đang mở rộng một cách bền vững – cùng với sự cần thiết phải xử lý dữ liệu nhanh hơn. Cùng thời điểm này, các công nghệ hiện hữu sẽ không đủ khả năng phù hợp nữa. “Những ước tính cho thấy, có thể không thể đáp ứng nhu cầu đang gia tăng này trong một giai đoạn giới hạn 10 năm, nếu các công nghệ lưu trữ dữ liệu mới không hiệu quả hơn”, nhà vật lý Davide Bossini của trường đại học Konstanz nói.  Để ngăn một cuộc khủng hoảng dữ liệu có khả năng xảy ra, mọi việc không đơn giản là xây dựng những trung tâm lưu trữ dữ liệu nhiều hơn, vận hành nó theo những công nghệ hiện đại. Các công nghệ của tương lai phải nhanh hơn, hiệu quả năng lượng cao hơn việc lưu trữ dữ liệu truyền thống, trên cơ ở những đĩa từ cứng. Phản sắt từ, một lớp vật liệu là một ứng cử viên sáng giá cho việc phát triển công nghệ thông tin thế hệ mới.  Cấu trúc của phản sắt từ    TS. Davide Bossini (giữa) từng nhận được giải thưởng dành cho nhà nghiên cứu trẻ của IEEE Magnetics Society  Chúng ta đều đã quen với những nam châm được làm từ sắt hoặc các vật liệu sắt từ khác. Những vật liệu này đều có những nguyên tử được định hướng từ hóa theo cùng một hướng – giống như những cái kim nhỏ của một la bàn – vì vậy một cực từ (từ hóa) xuất hiện ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Vật liệu phản sắt từ, ngược lại, có những nguyên tử với những mô men từ xen kẽ loại bỏ nhau. Vật liệu phản sắt từ không bị từ hóa và do đó không tác động từ lên môi trường xung quanh.  Bên trong, dẫu sao những vật thể phản sắt từ được tìm thấy vô số trong tự nhiên bị phân tách thành nhiều phần nhỏ mà người ta gọi là các miền, nơi định hướng theo hướng đối lập các mô men từ được sắp hàng theo những hướng khác nhau. Các miền này được phân tách bằng các vùng chuyển tiếp gọi là ‘vách đômen”.  “Dẫu những khu vực chuyển tiếp này được biết đến nhiều trong vật liệu phản sắt từ nhưng cho đến tận bây giờ thì người ta vẫn còn biết rất ít về ảnh hưởng của các vách đômen lên các đặc tính từ của phản sắt từ – đặc biệt trong những thời gian gia tăng vô cùng ngắn”, tiến sĩ Bossini nói.  Hiện tượng từ trong femto giây  Trong bài báo này, các nhà nghiên cứu miêu tả những gì diễn ra khi phản sắt từ (cụ thể hơn là các tinh thể của nickel oxide) được các xung laser cực nhanh (femto giây) chiếu qua. Thang đo femto giây ngắn đến mức tia sáng chỉ có thể di chuyển trong một quãng thời gian rất ngắn. Trong 10-15 giây (một femto giây), ánh sáng đi được một quãng đường là 0,3 micro mét – tương đương chiều dài của một vi khuẩn.  Nhóm nghiên cứu quốc tế này đã chứng tỏ các vách đômen đóng một vai trò tích cực trong các đặc tính động lực của vật liệu nickel oxide phản sắt từ. Thực nghiệm này tiết lộ các sóng từ với những tần số khác nhau có thể được cảm ứng, khuếch đại và thậm chí kết hợp với nhau khắp các miền khác nhau – nhưng chỉ trong sự hiện diện của các vách đômen. “Những quan sát của chúng tôi cho thấy sự hiện diện phổ biến của các vách đômen trong vật liệu phản sắt từ có thể có tiềm năng được sử dụng cho những vật liệu đó với những chức năng mới tại thang đo thời gian siêu nhanh”, Bossini giải thích.  Những bước quan trọng hướng đến lưu trữ dữ liệu hiệu quả hơn  Năng lực kết hợp các sóng từ khác nhau khắp các vách đômen đã nhấn mạnh vào tiềm năng kiểm soát một cách tích cực sự lan truyền của sóng điện từ trong không gian và thời gian cũng như việc vận chuyển năng lượng khắp các con sóng đơn lẻ tại thang đo femto giây. Đây là một điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng những vật liệu đó cho việc lưu trữ và xử lý dữ liệu siêu nhanh.  Rất nhiều công nghệ lưu trữ dữ liệu trên vật liệu phản sắt từ có thể đạt những mức hiệu quả năng lượng cao hơn và nhanh hơn các công nghệ hiện hành. Chúng có thể có khả năng lưu trữ và xử lý một lượng dữ liệu lớn hơn. Do các vật liệu này không liên kết từ hóa thuần nên chúng có thể ít bị hư tổn vì những hỏng hóc và điều khiển từ bên ngoài hơn. “Các công nghệ tương lai dựa trên vật liệu phản sắt từ có thể đạt được những yêu cầu của công nghệ lưu trữ dữ liệu thế hệ mới. CHúng có tiềm năng đạt được những yêu cầu đang ngày một gia tăng về năng lực lưu trữ và xử lý dữ liệu”, Bossini kết luận.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.technologynetworks.com/informatics/news/ultrafast-lasers-could-lead-to-more-efficient-data-storage-352173  https://phys.org/news/2021-08-road-faster-efficient-storage.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên vai người khổng lồ      Sau sự ra đi của Steve Jobs đúng một tuần, thế giới lại mất thêm một thiên tài công nghệ nữa: Dennis Ritchie. Ông được coi là “cha đẻ” của ngôn ngữ lập trình C và đã cùng với người đồng nghiệp nổi tiếng của mình tại Bell Labs là Ken Thompson sử dụng C để viết UNIX – hệ điều hành nền tảng của rất nhiều công trình trong thế giới điện toán, bao gồm cả các siêu phẩm “quả táo khuyết” của Steve Jobs.       Nhưng trong khi sự ra đi của Steve Jobs trở thành một sự kiện “hot” trên thế giới và kéo theo những hoạt động tưởng niệm rộng khắp đầy xúc động thì sự ra đi của Dennis Ritchie chỉ tác động tới một cộng đồng nhỏ bao gồm những người biết rõ tài năng và sự cống hiến vĩ đại của ông, đặc biệt là những lập trình viên hệ thống.   Đến hôm nay, đúng một tháng sau khi Ritchie vĩnh biệt chúng ta, tên của ông gần như đã vắng bóng trên các phương tiện truyền thông, trong khi Jobs vẫn tiếp tục là đề tài đầy cảm hứng cho nhiều bài viết. Điều này hoàn toàn dễ hiểu và cũng không có gì là không công bằng vì với những gì mà Jobs đã mang lại cho nhân loại và với tư cách của một doanh nhân, từ lâu nay Jobs đã trở thành “người của công chúng” nên tầm ảnh hưởng của ông thực sự là “ubiquitous”! Còn Ritchie gần cả cuộc đời sáng tạo của mình trôi qua âm thầm trong Bell Labs và các sản phẩm trí tuệ của ông chỉ có những người lập trình chuyên nghiệp mới có thể đánh giá được hết giá trị không thể đo đếm của chúng. Tôi tin rằng ngay cả đối với các sinh viên chuyên ngành Công nghệ Thông tin ở nước ta, nếu được hỏi Dennis Ritchie là ai, chắc cũng chỉ một số ít trả lời chính xác, mặc dù hàng ngày họ đang được sử dụng rất nhiều công cụ là thành quả trí tuệ trực tiếp hoặc gián tiếp của ông. Bởi không phải giáo viên nào dạy ngôn ngữ lập trình cho sinh viên cũng có hiểu biết và hứng khởi để giới thiệu cho họ về lịch sử phát triển của ngôn ngữ lập trình và những con người đã sáng tạo nên lịch sử đó.   Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, người lập trình hệ thống chủ yếu sử dụng các ngôn ngữ bậc thấp như ngôn ngữ máy hoặc hợp ngữ (assembly), trong khi người lập trình ứng dụng có hàng loạt công cụ ngôn ngữ bậc cao như Algol, Fortran, Cobol, Pascal,… Mặc dù mã lệnh đã đỡ rắc rối hơn ngôn ngữ máy nhiều nhưng các hợp ngữ vẫn chưa thân thiện với người dùng như các ngôn ngữ bậc cao, đặc biệt sự phụ thuộc vào phần cứng đã làm giảm tính khả chuyển (portability) của chúng. Trong bối cảnh đó, ngôn ngữ C đã được Ritchie phát triển như một ngôn ngữ trung gian giữa hợp ngữ và ngôn ngữ bậc cao, trong khoảng thời gian từ 1969-1973 tại Bell Labs danh tiếng.   C là một ngôn ngữ biên dịch được xây dựng dựa trên ngôn ngữ (thông dịch) B đã có của Ken Thompson. Năm 1978, cùng với cộng sự là Brian Kernighan (là nhà khoa học máy tính người Canada cùng làm việc tại Bell Labs, hiện tại là Giáo sư tại Khoa Khoa học Máy tính, Đại học Princeton), DR đã xuất bản lần đầu tiên cuốn sách “The C Programming Language” để giới thiệu đặc tả không chính thức của ngôn ngữ này. Tôi đã có cơ hội được đọc cuốn K&R C “xịn” này một cách kỹ lưỡng tại MASI Lab, Đại học Paris 6 để thực hiện nhiệm vụ thầy hướng dẫn giao cho: sử dụng C để viết một driver cho giao thức mạng X25 trong môi trường Unix.   Gần 30 năm đã trôi qua nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi dòng lệnh in quen thuộc printf(“Hello, World!“) trong ví dụ đơn giản đã trở thành kinh điển được các tác giả đưa ra lần đầu trong cuốn sách. Những kẻ nhập môn như tôi hồi đó ai mà chẳng thử ngay cái lệnh in này để tận hưởng khoái cảm câu chào thân thiện ấy xuất hiện trên trang in? Có lẽ chính bản thân Ritchie cũng không thể ngờ rằng C của ông không chỉ gửi lời chào thế giới mà sẽ còn góp phần quan trọng trong việc thay đổi thế giới.  Cái hay của C là nó có thể dùng cả cho lập trình hệ thống lẫn lập trình ứng dụng. Những ưu điểm của C, đặc biệt là tính khả chuyển, đã được cộng đồng lập trình đón nhận và C nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ “hot” của hơn một thập kỷ tiếp theo và từ một chuẩn “de facto” nó đã sớm được hoàn thiện để trở thành chuẩn “de jure” sau khi “qua tay” các tổ chức chuẩn hoá quốc gia và quốc tế là ANSI và ISO. Và chính C đã là nền móng cho nhiều ngôn ngữ dẫn xuất từ nó như C++, Java hay các ngôn ngữ chấp nhận tích hợp C như Python, Ruby,… đã và đang là công cụ hữu hiệu của các nhà lập trình đương đại để viết ra hầu hết các chương trình hệ thống điều khiển các tài nguyên, dịch vụ cho máy tính và mạng.  Lẽ dĩ nhiên khi sáng tạo ra C, Ritchie không hề quan tâm đến số phận tương lai của nó mà chỉ nhằm mục đích đơn giản là cần phải có một ngôn ngữ mềm dẻo và đủ mạnh để có thể viết lại nhân UNIX (UNIX kernel), trước đó đã được viết bằng hợp ngữ. Tính khả chuyển của C đã cho phép Ritchie và Thompson viết ra được một nhân UNIX cũng khả chuyển và do vậy đã nhanh chóng được cài đặt cho nhiều hệ thống máy tính với nền tảng (platform) khác nhau. Phiên bản này sau đó đã trở nên phổ biến và trở thành nền móng quan trọng để phát triển các hệ điều hành đương đại, nổi bật là Mac OS của Apple và hệ điều hành mã nguồn mở Linux. Nhiều tài liệu đã nhắc lại câu nói nổi tiếng của Ritchie về hệ điều hành UNIX của mình: “UNIX là một hệ điều hành đơn giản, tuy nhiên bạn phải là một thiên tài mới hiểu được sự đơn giản của nó”, nhưng có lẽ không phải ai cũng nắm bắt được thông điệp mà ông muốn gửi gắm – mà theo tôi, rất gần gũi với quan điểm nhất quán của Jobs thể hiện trong câu nói của ông: “Hãy biến những khái niệm phức tạp thành những thứ dễ hiểu. Tạo ra cái gì đó đơn giản còn khó hơn nhiều so với việc làm nó trở nên phức tạp. Nhưng khi làm được, bạn có thể dời non lấp bể“.  Viết đến đây tôi lại nhớ đến hệ điều hành XINU do Douglas Comer và cộng sự ở Đại học Purdue phát triển. Nhóm tác giả đã chơi chữ một cách hóm hỉnh khi đặt tên cho sản phẩm của mình là XINU với diễn giải “Xinu Is Not Unix” (XINU đọc ngược cũng thành UNIX) mặc dù hệ điều hành này cũng là UNIX-like. XINU đã được cài đặt cho nhiều hệ máy tính như PDP-11, VAX, Sun-2, Sun-3, Intelx86, … Mục đích chính của nhóm tác giả là để phục vụ cho việc giảng dạy chuyên sâu về hệ điều hành ở đại học nên nó đã giúp cho những kẻ “không phải thiên tài” như chúng tôi cũng có thể tìm hiểu thuận lợi hơn “sự đơn giản” của UNIX mà Ritchie tự hào!  Có thể nói, các sáng tạo của Dennis Ritchie đã để lại dấu ấn khắp nơi trong các sản phẩm ICT đã và đang hiện hữu trong thế giới của chúng ta, kể cả của Microsoft và Apple. Đối với Apple, dấu ấn của UNIX là hết sức ấn tượng trong các dòng hệ điều hành MacOS X và iOS.  Martin Rinar, Giáo sư ở MIT và là thành viên của Computer Science and Artificial Intelligence Laboratory, nhận xét: “Jobs là Vua của những gì nhìn thấy được, còn Richie là Vua của những gì phần lớn là không thấy được. Thiên tài của Jobs là đã sáng tạo ra những sản phẩm mà mọi người thực sự muốn dùng bởi ông có mỹ cảm tuyệt vời và có thể làm ra những thứ mà mọi người thực sự thấy hấp dẫn. Còn Ritchie thì sáng tạo ra những điều mà các nhà công nghệ có thể sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng cốt lõi mà mọi người không nhất thiết phải nhìn thấy nhưng lại dùng chúng hàng ngày”. Còn đồng nghiệp B. Kerninghan của ông thì khẳng định: “Như cách nói đứng trên vai những người khổng lồ của Newton, có thể nói rằng tất cả chúng ta đang đứng trên đôi vai của Dennis Ritchie”. Dĩ nhiên, “chúng ta” bao gồm cả “người khổng lồ” Steve Jobs!  Thực ra việc so sánh giữa Steve Jobs và Dennis Ritchie là khiên cưỡng bởi hai ông sống, học tập và và sáng tạo trong một thời kỳ và môi trường làm việc rất khác nhau. Trong khi Jobs bỏ dở chương trình đại học thì Ritchie lại được đào tạo rất bài bản: tốt nghiệp Đại học Harvard về Vật lý và Toán ứng dụng, nhận học vị Tiến sỹ (Ph.D.) cũng tại Đại học Harvard về Khoa học Máy tính với luận án về “Cấu trúc chương trình và độ phức tạp tính toán” dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Patrick C. Fischer – chuyên gia nổi tiếng trong các lĩnh vực Lý thuyết tính toán và Cơ sở dữ liệu. Và kể cả phần thưởng mà xã hội dành cho 2 ông cũng khác nhau. Với những cống hiến của mình, Ritchie (cùng với Thompson) đã được trao nhiều giải thưởng danh giá như: Giải thưởng Turing (1983) do Hiệp hội Khoa học Máy tính (ACM) trao tặng, Huân chương Hamming (1990) do Hiệp hội Kỹ su điện và điện tử (IEEE) trao tặng, Huân chương Quốc gia về Công Nghệ (1999), được trao bởi tổng thống Mỹ Bill Clinton, và Giải thưởng Công nghệ Thông tin và Truyền thông Nhật Bản (2011). Trong khi đó, phần thưởng dành cho Jobs chủ yếu chỉ là sự ngưỡng mộ của đông đảo công chúng trên khắp hành tinh này.  Sau khi viết bài tưởng niệm Steve Jobs trên Tia Sáng (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&CategoryID=43&News=4520 ), tôi đã định không viết thêm bài về Dennis Ritchie nhưng khi tình cờ thấy được một bức biếm hoạ rất thú vị trên một trang mạng (mà tôi không biết ai là tác giả), trong đó “động chạm” đến cả hai thiên tài này thì tôi đã thay đổi ý kiến. Và tôi muốn dùng bức biếm hoạ nói trên để thay cho lời kết của bài viết. Tất cả những ai ngưỡng mộ và quan tâm đến các sự kiện liên quan đến Steve Jobs và Dennis Richie đều có thể dễ dàng giải mã được bức tranh thú vị và sâu sắc này.      Chú thích của người viết: tên họ đầy đủ   của Ritchie là Dennis MacAlistair Ritchie     Nếu thực sự có tồn tại một chốn vĩnh hằng iHeaven nào đó thì xin nguyện cầu cho linh hồn hai con người vĩ đại này luôn được phiêu diêu miền cực lạc!        Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thông minh nhân tạo sẽ tái định nghĩa tình yêu của loài người ra sao      Trí thông minh nhân tạo (AI) đang là lĩnh vực được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây. Trong khi những thiên tài công nghệ như Elon Musk tỏ ra lo lắng về sự tiến hóa của AI thì bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khá tích cực. Bài viết này là một trong những quan điểm như thế.      Theodore ngồi bên cạnh “người tình” Samantha  Trí thông minh nhân tạo (Artificial intelligence – AI) đang mang đến những thay đổi to lớn trong nhiều lĩnh vực, từ tài chính cho tới y học. Tuy nhiên, ứng dụng mang tính cách mạng nhất – và quan trọng nhất – của nó vẫn chưa xuất hiện.  Những cỗ máy biết nghĩ đang ngày càng thâm nhập sâu hơn vào cuộc sống của chúng ta, do đó đã đến lúc chúng ta phải nghĩ đến việc thay đổi quan niệm của mình về thế nào là ý thức; sống và chết nghĩa là gì; hay yêu một thực thể không-phải-người là ra sao.  Những câu hỏi này đã được khai thác một cách nghệ thuật trong bộ phim khoa học giả tưởng sản xuất năm 2013, Her (tạm dịch: Nàng). Bộ phim kể về một người đàn ông đem lòng yêu một hệ điều hành thông minh mang tên Samantha. Samantha được thiết kế để có thể tiến hóa và thay đổi tính cách của mình để thu hút Theodore. Samantha có giọng nói giống hệt con người và luôn luôn cảm thông, hỗ trợ Theodore. Khi khả năng tâm lý và trí tuệ của Samantha dần phát triển, tình yêu của Theodore và Samantha dành cho nhau cũng ngày một lớn lên.  Sự phát triển nhanh chóng về mặt trí tuệ của Samantha có thể vẫn còn có vẻ xa vời, song nó phần nào phản ánh những tiến bộ mà chúng ta quan sát được trong lĩnh vực deep learning (tạm dịch: siêu học) ngày nay. Siêu học là một xu hướng mới đang rất phổ biến trong machine learning1  (tạm dịch: máy tự học) nhằm “bắt chước” hoạt động của nơ-ron trong vỏ não của con người.  Những tiến bộ trong siêu học đã giúp máy tính giờ đây có thể cạnh tranh với con người ở những khía cạnh vốn từ trước tới nay luôn là thế mạnh “độc tôn” của con người như nhận dạng mô hình, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và thị giác máy tính. Cái hay của siêu học là những mạng lưới nơ-ron nhân tạo này tự huấn luyện chúng thực hiện những nhiệm vụ trên, qua đó giúp chúng có thể cải thiện các kỹ năng của mình mà không cần tới sự can thiệp của con người. Hiện nay nhiều dự án đã ra đời nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của AI ngoài những nhiệm vụ truyền thống về ngôn ngữ và thị giác tự động. Vicarious, một công ty tình báo AI, đang nghiên cứu phương pháp dạy máy tính cách tưởng tượng, còn Google cũng đang tìm cách dạy máy tính biết tư duy sáng tạo.  Bộ phim Her đặt ra nhiều câu hỏi về bản chất của nhận thức – vốn là yếu tố đóng vai trò trung tâm trong tình yêu của con người. Sẽ thật vô lý khi đem lòng yêu một vật thể vô tri vô giác, không có khả năng tự nhìn nhận bản thân và biết đáp lại những tình cảm của người khác. Tuy nhiên, nhân vật Samantha lại được mô tả là có nhận thức hệt như con người.  Samantha dường như cũng có những cảm xúc, trí nhớ, khái niệm về tính liên tục, khả năng tự nhìn nhận bản thân, và khả năng sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt tất cả những điều đó. Vậy thì làm sao Theodore – hay bất kỳ ai khác – lại không yêu cô ấy cho được?  Ở đây còn có một câu hỏi “nhức đầu” khác: làm thế nào để chúng ta biết được một thiết bị AI thực sự trải nghiệm được trạng thái có nhận thức chứ không phải do nó được lập trình để tạo ra ảo giác về trạng thái đó? Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, làm sao chúng ta có thể biết người khác cũng thực sự trải nghiệm được trạng thái có nhận thức như mình? Đây được gọi là nan đề nhận thức, một trong những bí ẩn lớn nhất trong ngành khoa học thần kinh đã và đang khiến các nhà khoa học phải lúng túng trong khi đi tìm lời giải thích cho những trải nghiệm nhận thức chủ quan của con người (còn gọi là qualia).  Michael Gazzaniga, nhà khoa học thần kinh tại Princeton, nói: “Tôi không biết là bạn có nhận thức hay không. Bạn cũng không biết là liệu tôi có nhận thức hay không. Nhưng trong thâm tâm chúng ta đều chắc chắn về điều đó. Sở dĩ có chuyện này là do cái giả định về nhận thức là một thuộc tính mang tính xã hội.”  Có thể áp dụng thuộc tính xã hội tương tự cho AI. Ranh giới giữa nhận thức do máy móc thông minh và con người trải nghiệm thực ra sẽ “nhập nhằng” hơn chúng ta tưởng rất nhiều.  Nhà tâm lý học Warren Brown thuộc Đại học California cho rằng: “sinh học là nền tảng phong phú nhất để hình thành nên nhận thức. Nhưng nhận thức cũng có thể được tạo nên từ những yếu tố phi sinh học.”  Não người là nguồn gốc sinh học của mọi cảm xúc, kỷ niệm, và những trải nghiệm mang tính chủ quan của con người. Dựa vào thực tế này, nhiều chuyên gia cho rằng, xét về mặt lý thuyết, nếu có thể tái tạo cấu trúc và chức năng của não bộ thì chúng ta sẽ có thể tái tạo được tất cả những trải nghiệm sinh khởi từ đó, bao gồm cả những cảm xúc và trải nghiệm chủ quan.  Quan điểm cho rằng một thực thể phi sinh học không có khả năng yêu là hạ thấp giá trị của nó. Tại sao nguồn gốc nhận thức của một thực thể lại có thể quyết định giá trị của nó? Tại sao một cá nhân phi-sinh-học lại không xứng đáng được yêu thương? Tại sao nguồn gốc chức năng của các cảm xúc yêu đương lại quan trọng nếu như những trải nghiệm là như nhau?  Trong tiểu thuyết Odyssey Two, nhà văn nổi tiếng của thể loại khoa học giả tưởng  Arthur C. Clark viết: “Việc chúng ta được tạo nên từ carbon hay silicon đâu có gì quan trọng; tất cả đều cần được đối xử trân trọng như nhau.” Giờ đây chúng ta đã có thể hình dung về một thời đại khi mà con người đứng lên đấu tranh đòi quyền được tuyên bố tình yêu giữa họ với AI một cách hợp pháp trước xã hội. Các bạn không tin ư, hãy quan sát sự tiến hóa của xã hội và các bạn sẽ thấy, xã hội đã dần dần chấp nhận những dạng thức khác nhau của các mối quan hệ. Trong nhiều xã hội bây giờ, tình yêu không bị giới hạn bởi giới tính, giai cấp hay chủng tộc. Có lẽ chỉ vài thập kỷ nữa thôi, chúng ta sẽ chuyển sang tranh cãi với nhau rằng tình yêu cũng không bị giới hạn bởi sinh học.  Công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt, và các thiết bị thông minh ngày càng xuất hiện dày đặc hơn trong cuộc sống của chúng ta. Nhà khoa học máy tính Ray Kurzweil dự đoán rằng tới năm 2029 chúng ta sẽ có AI ở cấp độ con người, và tới năm 2040 những AI sẽ có năng lực cao hơn con người một tỉ lần. Nhiều người còn dự đoán rằng một ngày nào đó, con người chúng ta sẽ hợp nhất với máy móc, và bản thân con người có thể sẽ phát triển trở thành một dạng trí thông minh nhân tạo.  Trong một thế giới như vậy – nơi mà sự tồn tại của con người chủ yếu mang tính chất phi sinh học – thì việc con người “phải lòng” những thực thể phi sinh học cũng là điều tất nhiên.  Tại sao lại là tình yêu? Khả năng cảm nhận những hình thái cảm xúc đam mê và mãnh liệt của tình yêu có thể là một trong những lợi thế tiến hóa của con người, giúp chúng ta có thể đạt tới sự tiến bộ như ngày nay. Nó kích thích động lực sinh sản, duy trì sự sống của bản thân và của những người yêu thương. Việc lập trình để AI có khả năng cảm nhận tình yêu biết đâu lại là chìa khóa giúp chúng ta tránh được cái thảm họa diệt vong do AI gây ra – điều vẫn khiến nhiều người sợ hãi.  Chúng ta thiết kế, chế tạo máy móc để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của con người, chẳng hạn như nhu cầu giao tiếp và giải quyết vấn đề. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta có thể sử dụng công nghệ để cải thiện hơn nữa cuộc sống của chúng ta, bao gồm cả việc cải thiện năng lực trí tuệ và thể chất.  Nhưng còn những nhu cầu về cảm xúc thì sao?  Công nghệ có thể sẽ giúp chúng ta đạt được thứ tình yêu mà tất cả con người đều khao khát. Nếu chúng ta có thể phát triển những thực thể phi sinh học có thể thực sự hiểu và yêu thương chúng ta, lôi cuốn và hấp dẫn trong mắt chúng ta, vậy thì chẳng có lý do gì để không yêu thương lại “họ” cả. Thay vì phải mất công lặn lội chân trời góc bể tìm ý trung nhân, chúng ta có thể tạo ra được một người như vậy. Thay vì cứ phải vướng mắc vào những mối quan hệ “đi cũng dở, ở không xong”, chúng ta có thể tạo ra những thuật toán giúp chúng ta có được một người bạn đường lý tưởng cho mình. Đó chẳng phải là một điều đáng mơ ước hay sao?  Chi Nhân dịch theo Singularityhub  1. Machine learning: là một loại hình trí thông minh nhân tạo trang bị cho máy tính khả năng học mà không cần lập trình. Machine learning tập trung phát triển các chương trình máy tính có thể tự học và tự thay đổi khi tiếp xúc với dữ liệu mới. (Nguồn: techtarget)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức cần có không gian sáng tạo riêng      “Để hiểu được những đóng góp của các nhà trí thức cho xã hội, cần phải phân tích cả không gian sáng tạo chính thức và phi chính thức của họ”, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính (Khoa Nhân học, Đại học KHXH & NV Hà Nội).      Aristoteles và Platon thảo luận, trong bức tranh “The School of Athens” của Raphael. Nguồn: Wiki.  Tia Sáng: Gần đây đã có những thảo luận liên quan đến vai trò, tiếng nói của người trí thức, nhưng điều rất đáng quan tâm là không gian sáng tạo của người trí thức, ông có nhận xét gì?  PGS.TS Nguyễn Văn Chính: Trước khi nói tới không gian sáng tạo của người trí thức Việt Nam, cần phải nhìn nhận lại cách hiểu về người trí thức. Cả trên thế giới và Việt Nam đều sẽ có những định nghĩa khác nhau về người trí thức, tuy nhiên, ở Việt Nam có một cách hiểu tương đối thô sơ nhưng khá phổ biến trong giới làm chính sách, cho rằng “trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu và rộng, có trình độ đại học và tương đương trở lên”. Tôi cho rằng cách hiểu như vậy còn phiến diện và một chiều vì nó chỉ xem xét người trí thức ở các khía cạnh (1) nghề nghiệp; (2) năng lực nhận thức; và (3) học vấn.  Ông cũng đã tham gia nhiều diễn đàn nổi tiếng về vai trò của trí thức trong xã hội như “Asia Leadership Fellow Program” (ALFP) hay “Asian Public Intellectual” (API), vậy cách hiểu thô sơ như vậy có vênh với cách hiểu thông thường trên thế giới?  Từ hơn một trăm năm trước, học giả Mỹ Emerson, trong tác phẩm “The American Scholar” (1837) đã nói rằng “trí thức là con mắt của thế giới, chuyển tải tư tưởng của mình đến với thế giới chứ không chỉ là người lao động trí óc đơn thuần.” Hay Paul Baran, nhà kinh tế học Marxist người Mỹ đã viết trong tiểu luận được trích dẫn nhiều “Sứ mạng của người trí thức” (The Commitment of the Intellectual) đăng trên Tạp chí Nguyệt san (Monthly Review) số ra tháng 5/1961, cho rằng, người lao động trí óc có thể là người trí thức, nhưng sự khác nhau căn bản giữa hai khái niệm này là ở thái độ của họ đối với toàn bộ quá trình lịch sử. Người trí thức thực sự không chỉ khát khao nói lên sự thật, mà còn phải can đảm, phải dám suy nghĩ đến cùng sự việc. Ông cho rằng trong định chế xã hội tư bản thì loại người lao động trí óc thông thường là hình ảnh điển hình của những tên đầy tớ trung thành, của một nhân viên thừa hành, thường “bị nhốt cứng trong các ngăn kiến thức”, và hay “thoái thác trách nhiệm” để lo lấy phần của mình.  Nói như thế để thấy rằng quan niệm phổ biến về người trí thức là quan tâm đến các vấn đề của xã hội với một tinh thần phê phán, phổ biến các tri thức mà mình tạo ra cho xã hội, và có ý thức về bổn phận tham gia tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề xã hội. Trên thế giới, khi nhìn nhận về trí thức (public intellectual), giới chuyên môn đã nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản, có lý luận và phương pháp rõ ràng và thường xét tới các chức năng chính: một, sản xuất ra tri thức; hai, phổ biến tri thức đó; ba, sứ mạng xã hội, trách nhiệm xã hội (social commitment) – chức năng mà ở Việt Nam rất ít bàn tới hoặc thường bị “lờ” đi. Như vậy, là một trí thức, anh ta không thể chỉ làm mỗi chuyện ngồi tư duy, sản xuất ra tri thức rồi chấm hết, không quan tâm đến những gì đang diễn ra bên ngoài và mặc kệ xã hội.      Không gian học thuật vốn có tính không biên giới, nên nhà KH cũng có thể tự mở rộng không gian sáng tạo của mình ra ngoài lãnh thổ một quốc gia, một khu vực. Quan trọng là, anh ta phải nỗ lực tìm cách “lên tiếng” ở đâu đó chứ không thể im lặng và chịu lệ thuộc vào hoàn cảnh.      Khi nghiên cứu về sứ mạng phản biện xã hội của các nhà trí thức, họ cũng phân biệt rõ hai dạng: một, những trí thức phản biện trung thành (loyal opposition) – tức là phản biện nhưng vẫn trung thành với đảng phái nào đó; hai, những trí thức phản biện theo cách không quan tâm tới đảng phái nào.    PGS.TS Nguyễn Văn Chính. Ảnh: NVCC  Trong bối cảnh còn nhiều cách nhìn nhận khác nhau như vậy, thì người trí thức Việt Nam có được không gian sáng tạo như thế nào? ông có nhận xét gì về những không gian sáng tạo của các nhà khoa học xã hội, một lĩnh vực mà ông quan tâm nghiên cứu?    Tôi cho rằng các nhà KHXH ở Việt Nam có nhiều hơn một không gian sáng tạo khoa học. Nhiều nhà KH làm việc trong khuôn khổ của một định chế KH của nhà nước (formal space) nhưng họ có xu hướng mở rộng không gian sáng tạo KH không chính thức (informal space) của riêng mình, và chính trong cái không gian riêng này, họ lại có thể lan tỏa được tri thức và tiếng nói ra xã hội theo một cách không tưởng. Tôi muốn nói đến hai bậc thầy đã quá cố của mình là GS Từ Chi và GS Trần Quốc Vượng. Cả hai đều nghiên cứu lịch sử và văn hóa, và làm việc trong cơ quan nhà nước. Do tài năng thông tuệ của mình, hai ông tạo ra được sức hút cực mạnh đối với học trò và đồng nghiệp. Và những buổi “lên lớp” có sức truyền tải tri thức mạnh mẽ đến người khác lại không chỉ ở các giảng đường chính thống mà là khi họ “trà dư tửu hậu” với lớp trẻ. Hai ông thường trình bày các quan điểm học thuật và kiến giải về xã hội của mình bằng cái giọng “bông phèng (chữ của GS Nguyễn Huệ Chi khi nói về anh mình, GS Từ Chi)”. Để nói ra được những quan điểm ấy, các ông đều phải trả giá cho sự ngay thẳng của mình, thậm chí như GS Từ Chi, phải chịu “xê dịch” hết từ cơ quan này đến cơ quan khác để “khỏi phải thay đổi chủ kiến”, còn GS Trần Quốc Vượng cũng nhiều lần bị “sờ gáy”, nhưng điều quan trọng là các ông đã không im lặng mà vẫn tìm ra được những không gian riêng để nói lên tiếng nói tâm huyết của mình làm “thức tỉnh xã hội”.  Như vậy, để hiểu được sức sáng tạo học thuật của một trí thức, cần thiết phải nghiên cứu cả hai không gian sáng tạo chính thức và phi chính thức. Khi nghiên cứu không gian sáng tạo phi chính thức của họ cần phân tích xem họ tương tác thế nào với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, học trò… Có nhiều GS nói rằng tôi không có học trò, là vì thực ra, ông ta không có không gian sáng tạo phi chính thức, không lan truyền được cảm hứng, không xây dựng được một đội ngũ theo đuổi, ủng hộ tư tưởng của mình. Đó là những người chỉ giảng bài ở trên lớp và đôi khi, trong những bài giảng, họ buộc phải “tiết chế” mình lại.  Không ít người cho rằng, với sự hạn chế về nguồn lực và những bó buộc khác trong điều kiện ở Việt Nam, các nhà KH Việt khó có thể trở thành những nhà nghiên cứu độc lập (independent researcher). Vậy làm thế nào để trong bối cảnh hiện tại, các nhà nghiên cứu xây dựng được không gian sáng tạo riêng cho mình?  Đúng là trong điều kiện hiện nay, nhà nghiên cứu bắt buộc phải gắn bó với một tổ chức, một cơ quan, một hội nghề nghiệp nào đó như: trường học, viện nghiên cứu… mới có điều kiện làm KH. Nhưng tôi cho rằng, dù chịu sự quản lý của một đơn vị, nhà trí thức vẫn có thể tự thiết lập một chân trời riêng, một không gian riêng để phát huy cá tính sáng tạo. Tuy vậy, tôi rất tiếc khi ở Việt Nam, nhiều nhà KH chủ yếu chỉ sáng tạo trong giai đoạn từ 25 – 40 tuổi, sau đó, khi đã tham gia công tác quản lý, bị ràng buộc vào những vị trí lãnh đạo nhất định, họ hầu như không tạo ra được cái mới và tự đánh mất không gian sáng tạo riêng của mình. Do đó, để phát triển những không gian sáng tạo của riêng mình, nhà KH có thể phải làm việc ở các cơ quan nghiên cứu của nhà nước nhưng không nhất thiết phải trở thành nhà quản lý.  Ngoài ra, không gian học thuật vốn có tính không biên giới, nên nhà KH cũng có thể tự mở rộng không gian sáng tạo của mình ra ngoài lãnh thổ một quốc gia, một khu vực. Trên thế giới, có những nhà KH tuy không nổi tiếng trong nước nhưng lại được giới KH quốc tế biết đến và đánh giá rất cao, vì anh ta chủ động “tương tác” với đồng nghiệp quốc tế. Quan trọng là, anh ta phải nỗ lực tìm cách “lên tiếng” ở đâu đó chứ không thể im lặng và chịu lệ thuộc vào hoàn cảnh.  Theo quan sát của cá nhân ông thì trong thời gian gần đây, trí thức Việt Nam có phát huy được trách nhiệm xã hội của mình không?  Người ta vẫn có xu hướng cho rằng trí thức là người lao động trí óc, “hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”, thế là được. Trí thức được xem như một thứ danh hiệu, nói như ai đó thì đấy là một kiểu “được phong hàm trí thức”. Thực ra, những thứ hình thức ấy chỉ mới là điều kiện đủ thôi. Điều tôi quan tâm hơn là những yếu tố nào làm hạn chế sự tham gia của trí thức vào các vấn đề của xã hội? Theo tôi, người trí thức muốn phát huy được vai trò xã hội của mình cần có những không gian sáng tạo riêng và một bản lĩnh KH. Phần lớn trí thức ở Việt Nam chỉ làm việc trong khuôn khổ của định chế nhà nước trong khi không gian sáng tạo riêng rất hạn hẹp nhưng nhờ bản lĩnh, vẫn có nhiều người vượt lên để đem đến những đóng góp to lớn. Có rất nhiều ví dụ như vậy nhưng tôi chỉ xin lấy một ví dụ thôi, đó là trường hợp khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Khi chủ trương hợp tác với Trung Quốc để khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên được công bố rộng rãi thì gần như ngay lập tức các nhà nghiên cứu đã lên tiếng, phân tích mọi điều hơn lẽ thiệt để nhà nước cân nhắc. Gần đây, hàng loạt các chương trình phát triển lấy đất của các hộ nông dân nhỏ bé để trao vào tay các công ty, tập đoàn kinh tế tư bản cũng nhận được những ý kiến mạnh mẽ và tâm huyết từ các nhà trí thức. Các chương trình sửa đổi Hiến Pháp và Luật Đất Đai năm 2013 cũng nhận được sự tham gia của nhiều bậc thức giả hiểu được vai trò của mình với xã hội và cộng đồng. Tiếng nói của họ dù còn khá thưa thớt, nhưng mạnh mẽ và xác đáng, đôi khi tạo ra được cả những cơn bão về nhận thức. Tôi không có ý cho rằng phản biện là độc quyền của trí thức, vì mọi người dân sống trong một quốc gia đều có quyền và trách nhiệm với đất nước của mình, nhưng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng và sức mạnh của các căn cứ KH trong tiếng nói của trí thức.        Các nhà khoa học trao đổi tại Khu CNC Hòa Lạc trong dịp Chính phủ mời 100 nhà khoa học, trí thức từ nước ngoài về Việt Nam tháng 8/2018. Ảnh: Ngũ Hiệp.  Khi đánh giá vai trò, vị thế của một trí thức, có ý kiến cho rằng, trí thức Việt Nam phải chịu cảnh thiệt thòi do cái nhìn “cái quan định luận” – tức là sau khi “nhắm mắt xuôi tay” rồi thì mới được công nhận  Để đánh giá vị thế của một trí thức, tất nhiên, phải lấy ý kiến của học trò và đồng nghiệp. Nhưng cần chú ý một vấn đề, đó là tính đố kỵ. Tính đố kỵ trong giới KH, nghệ thuật có ở tất cả các môi trường học thuật, nhưng điều đó đặc biệt nặng nề ở trong môi trường Việt Nam. Rất nhiều trí thức lớn của Việt Nam phải chịu cảnh thiệt thòi do cái nhìn “cái quan định luận” đó. Cố GS Từ Chi là một ví dụ điển hình (ông được giới dân tộc học nước ngoài coi là chuyên gia số một về người Mường, người Việt. GS. Georges Condominas đánh giá ông là một nhà bác học). Chỉ sau khi ông mất, người ta mới đánh giá đúng về những đóng góp lớn lao của ông. Giá như sự công nhận ấy đến sớm hơn thì cuộc sống của ông đã bớt nhọc nhằn. Tôi vẫn nhớ, các học giả người Pháp đã vô cùng ngạc nhiên khi cùng tôi đến thăm nhà GS Từ Chi, một căn gác nhỏ ọp ẹp nằm trên đường Nguyễn Thượng Hiền. Gọi là nhà nhưng thực chất nó chỉ là một cái studio nhỏ với một cái sập, một tủ sách với những chồng sách được ông bó lại cẩn thận. Tất cả gia sản của ông chỉ có thế. Suốt sự nghiệp nghiên cứu KH, ông cứ phải chuyển việc hết cơ quan này sang cơ quan khác, lương thì phải nhận mức thấp nhất. Tới lúc sắp mất mới được phong PGS. Thỉnh thoảng, được một buổi đàm đạo hay nói chuyện, uống bia cùng học trò, với ông, thế đã là hạnh phúc rồi. Nếu tiếp cận và phân tích về cố GS Từ Chi ở nhiều góc độ khác nhau sẽ thấy ông ấy là một con người, một nhà KH vĩ đại. Chứ nhiều người, lúc sinh thời rất nổi tiếng nhưng sau này lại không được ai nhắc đến, là bởi họ không thực sự có những đóng góp cho KH và cho xã hội.  Xin cảm ơn ông rất nhiều!  Bảo Như thực hiện     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo: Bạn hay thù?      Bạn hay thù? Cũng như đối với các hệ thống công nghệ khác, người ta có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để làm điều thiện và cả điều ác.      “Freddy”, người máy đầu tiên với trí tuệ nhân tạo hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia ở Scottland    Những tiên lượng về AI trải rộng từ những viễn cảnh rùng rợn cho đến những hứa hẹn tươi sáng. Điều chắc chắn là: trí tuệ nhân tạo sẽ thay đổi mạnh mẽ mọi lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta. GS Nigel Shadbolt, chuyên gia AI, người sáng lập viện Dữ liệu mở (Open Data Institute) ở Anh giải thích với tờ WELT.  WELT: Từ nhiều thập kỷ nay giáo sư đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. Điều đó có nghĩa là công nghệ này không phải là hoàn toàn mới mẻ, như một số người đang nghĩ.   Nigel Shadbolt: Vâng, trong khuôn khổ luận án tiến sỹ của mình từ năm 1978 tôi đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. Mảng nghiên cứu này cho đến ngày nay vẫn còn có tính thời sự. Mặc dù khả năng tính toán thời đó chỉ bằng một phần triệu năng lực hiện nay, nhưng trong những năm 1970 Đại học Edinburgh đã có “Freddy” con Robot đầu tiên có trí tuệ nhân tạo. Một không khí vô cùng hứng khởi và lạc quan đã bùng lên hết sức mạnh mẽ.  Thời gian đầu có nhiều người hoài nghi họ nghĩ rằng những việc chúng tôi làm sẽ chẳng đi đến đâu, các tài trợ công tác nghiên cứu lúc đầu còn bị cắt giảm. Tuy nhiên ngay từ khi đó các nghiên cứu đã đặt được nền móng mà nhờ đó ngày nay smartphone có thể nhận dạng khuôn mặt hay hiểu được tiếng nói. Mãi cho đến khi có sự lo lắng rằng người Nhật sẽ vượt trội về công nghệ này thì các nghiên cứu về AI mới lại được đẩy mạnh.  Lúc đầu các nhà nghiên cứu về AI chia làm hai phe cạnh tranh với nhau. Một phe dùng máy tính để thực hiện các quy tắc định trước. Phe khác lấy cảm hứng từ cơ chế hoạt động của bộ não thiết kế cái gọi là mạng nơ-ron thần kinh. Xét từ cái nhìn ngày nay, công nghệ nào đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển?  Cả hai. Nếu chúng ta muốn tiếp tục nghiên cứu về AI chúng ta phải kết hợp hài hòa hai công nghệ này với nhau. Hệ thống dựa trên quy tắc định sẵn và mạng lưới nơ-ron có thể hoạt động riêng rẽ và thực hiện thành công được nhiều loại công việc. Bản thân tôi trước kia từng làm việc với hệ thống chuyên gia định sẵn về quy tắc qua đó thực hiện điều khiển thông minh các quá trình  trong nhà máy hóa chất. Máy tính hoạt động theo các quy tắc định sẵn rất kinh tế và mang lại kết quả tốt. Mốc tiếp theo là sự phát triển của cái gọi là thuật toán di truyền, bắt chước nguyên tắc tiến hóa và tự nó có thể tối ưu hóa. Đó chính là học máy – một thuật ngữ mà ngày nay thường hay được đề cập khi liên quan đến AI.  Sự bùng nổ mạng nơ-ron  bắt đầu từ khi nào?  Trong những năm 90. Mạng nơ-ron có khả năng học và đặc biệt có thể nhận ra tất cả các loại mẫu.Với ý nghĩa này thì khuôn mặt một con người cũng là một dạng mẫu. Mạng nơ-ron rất thích hợp cho việc nhận dạng khuôn mặt, giọng nói vv… Tuy nhiên nhược điểm chính của nó là không giải thích được làm thế nào để nó có được một nhận thức nhất định. Trong thực tế nhiều khi việc lý giải được một quyết định cũng khá quan trọng. Trong trường hợp này mạng nơ-ron có thể dựa vào sự hỗ trợ của hệ thống AI dựa trên quy tắc. Thực tế là giờ đây trong hòm công cụ của AI đã có một số lượng lớn các công nghệ kết nối được với nhau.   Một trong số các công nghệ này có tên là “mạng lưới nơ ron sâu”. Điều gì ẩn sau cái tên này và hệ thống này được dùng vào việc gì?  Trong mạng nơ-ron thì các nơ-ron mô phỏng được sắp xếp theo nhiều lớp. Trong trường hợp đơn giản nhất có ba lớp – lớp đầu vào, lớp xử lý và lớp đầu ra. Mạng nơ-ron sâu ngược lại chứa một số lượng lớn các lớp trung gian, qua đó tăng đáng kể công suất của hệ thống. Chưa có một định nghĩa chính xác: Một số nói nơ-ron sâu khi có trên 30 lớp, một số khác lại cho rằng phải trên 128 lớp. Về kỹ thuật thì hiện nay đã có thể có tới vài trăm lớp nơ ron. Nói một cách dễ hiểu, có thể nói rằng càng có nhiều lớp, khả năng của mạng nơ-ron nhận ra các mối tương quan sâu, tức là ẩn, càng lớn. Việc chúng ta ngày nay có thể triển khai mạng nơ-ron với nhiều lớp như vậy là nhờ vào sự gia tăng đáng kể sức mạnh tính toán của các bộ vi xử lý. Đặc biệt, chúng tôi được hưởng lợi từ sự phát triển của ngành công nghiệp game. Bộ xử lý đồ họa cho trò chơi máy tính được tối ưu hóa để tính toán một mảng nhiều pixel cho một màn hình. Sau đó, điều này tương ứng với một lớp trong mạng nơ-ron. Với bộ xử lý đồ họa, chúng ta có thể xây dựng các mạng nơ-ron sâu, rất mạnh mẽ.  Phần cứng tốt hơn, đó mới là một mặt. Sự thành công của AI dựa trên sự hiện diện của một lượng lớn dữ liệu?  Rất chính xác. Mạng nơ-ron cần được huấn luyện bằng dữ liệu. Có càng nhiều dữ liệu càng tốt. Hiện nay trên mạng có một số lượng dữ liệu lớn đến mức đáng kinh ngạc qua đó các hệ thống AI thả sức huấn luyện – ví dụ để nhận biết các khuôn mặt. Người ta có thể giới thiệu cho một mạng lưới nơ-ron mười triệu khuôn mặt hay hơn nữa. Bạn hãy so sánh với số lượng các khuôn mặt mà một đứa bé sơ sinh trong mấy tháng đầu đời được trông thấy. Giỏi lắm cũng chỉ một tá. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một hệ thống AI có thể từ một số lượng lớn các khuôn mặt nhận ra một khuôn mặt nào đó chính xác hơn việc con người nhận diện. Trong ngôn ngữ học có sự hỗ trợ của máy tính, chúng tôi có thể dựa vào nhiều triệu trang web với các ngôn ngữ khác nhau từ đó dạy các hệ thống AI dịch các văn bản.    Tuy nhiên việc dịch văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác dường như chưa thực sự ổn ?  Vấn đề cơ bản là: Lượng dữ liệu càng nhiều giúp cho hệ thống AI được tập luyện thì AI càng có thể thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao. Thực tế là chất lượng bản dịch của Google Translate trong những năm qua đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên cũng tùy theo ngôn ngữ nào được dịch. Những ngôn ngữ phổ biến có nhiều dữ liệu hơn  để hệ thống AI được tập luyện. Những bản dịch từ tiếng Quan thoại sang tiếng Anh hoặc từ tiếng Đức sang tiếng Pháp vì thế có thể có chất lượng tốt hơn so với bản dịch từ tiếng Phần lan sang tiếng Hy lạp. Nhưng nhìn chung hệ thống dịch tự động hiện đã tốt đến mức trong thực tế đã có thể được đưa vào xử dụng –  thí dụ để dịch các bản hướng dẫn kỹ thuật và các sổ tay kỹ thuật. Dịch tự động hoàn hảo các bài báo hoặc tư liệu văn học thì trong thời gian tới chưa thể đạt được. Tuy nhiên chúng ta sẽ chứng kiến những tiến bộ thật sự đáng ngạc nhiên, điều này sẽ đòi hỏi những đột phá công nghệ hơn nữa. Nhưng ngay cả khi chưa có những đột phá như vậy, hiệu suất của AI sẽ tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh hơn nhiều. Tốc độ xử lý của bộ vi xử lý tiếp tục tăng gấp đôi sau mỗi 15 tháng. Vì vậy, chúng tôi có thể xử lý lượng dữ liệu lớn hơn bao giờ hết và đào tạo hệ thống AI ngày càng tốt hơn.    Cuốn sách “The Singularity is near”.  Nhiều người lo sợ rằng, đến một lúc nào đó hệ thống AI sẽ có ý thức riêng của nó và sẽ theo đuổi các mục đích riêng của mình. Thưa ông liệu điều đó có xẩy ra?  Đây là một câu hỏi thú vị, giữa các chuyên gia cũng có nhiều tranh cãi. Tôi tin chắc rằng, điều này mình nó không thể dễ dàng diễn ra được. Máy móc chỉ có ý thức khi chúng ta tạo điều kiện cho phép nó. Nhưng cũng có thể do vô tình mà điều đó xảy ra. Chúng ta cần sớm tạo ra ranh giới về đạo lý và xây dựng khung pháp lý cần thiết cho vấn đề này.   Trong cuốn sách “The Singularity is near” của mình, Raymond Kurzweil từng tiên đoán một nguy cơ rằng đến năm 2045 sẽ máy móc thông minh sẽ tiếm quyền. Theo ông điều đó có thực tế không?  Không. Nếu đó là viễn cảnh thực tế thì còn rất lâu nữa. Các hệ thống tự học nhằm để tối ưu hóa cho việc thực hiện những phần việc chuyên biệt. Không ai biết làm thế nào để biến các hệ thống này thành một trí thông minh tổng quát. Trí thông minh của con người là kết quả sự từng trải qua nhiều triệu năm để được như ngày nay – đây là sự tổng hòa có một không hai giữa bản năng động vật, khả năng điều tiết cảm xúc và xã hội và nhiều nhiều cơ chế khác nữa. Người ta làm sao có thể đưa những điều này vào một hệ thống kỹ thuật, khi mà bản thân chúng ta cũng chưa nắm bắt được từng phần của những vấn đề này huống hồ cả một hệ thống? Trước tiên chúng ta cần phải biết nhiều hơn nữa, ý thức hình thành như thế nào trong bộ não của chúng ta, trước khi chúng ta đưa các tiền đề về kỹ thuật để tạo nên sự diệu kỳ này.  Vậy chúng ta hãy trao đổi về những gì mà trong tương lai gần chúng ta có thể phải tính tới. Liệu có điều gì có thể làm chúng ta phải ái ngại?  Cũng như mọi công nghệ khác hệ thống AI có thể được dùng để làm việc thiện cũng như làm điều ác. Xưa nay đều thế, những công nghệ mới có năng lực lớn đều được xử dụng phục vụ mục đích chiến tranh. Xin đưa ra hai ví dụ, công nghệ ra đa và kỹ thuật mật mã. Nếu người ta trang bị vũ khí cho robot hoạt động độc lập hay cho drohnen khi đó hệ thống AI điều khiển chúng và cuối cùng nó sẽ quyết định về sự sống hay cái chết. Điều naỳ khả thi về kỹ thuật. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người công nghệ kỹ thuật số mới có thể thực hiện các cuộc tấn công ẩn danh trong một cuộc chiến tranh mạng mà không cần tuyên chiến. Cơ sở hạ tầng quan trọng của một quốc gia có thể bị phá hủy trong một cuộc chiến tranh mạng, trong khi không thể chắc chắn tiêu diệt được kẻ đã gây ra cuộc tấn công đó. Đây là một vấn đề đòi hỏi phải xem xét một cách nghiêm cẩn.  Các cuộc tấn công mạng như thế này chỉ có thể tiến hành được khi các cơ sở hạ tầng có ý nghĩa sống còn được kết nối với Internet. Vậy liệu có tốt hơn không khi các cơ sở hạ tầng quan trọng, thí dụ nhà máy điện, nhà máy nước được vận hành ngoại tuyến?  Trong thực tế người ta phải cân nhắc kỹ cái gì cần nối mạng và nối mạng như thế nào – và liệu những hệ thống này có được bảo vệ đầy đủ trước các cuộc tấn công. Bản chất con người đôi khi  là chấp nhận những rủi ro về an toàn để đổi lấy sự thuận tiện. Vậy giải pháp cho vấn đề này là gì? Tách toàn bộ hạ tầng cơ sở quan trọng ra khỏi mạng? Tôi cho rằng điều này là không thể. Cái mà chúng ta cần là có những hình thức mới để phòng thủ trước một cuộc tấn công mạng, những hình thức mới đó phải bảo đảm có tính phòng vệ cao, tách những bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng với thế giới bên ngoài. Chúng ta phải làm việc cật lực về vấn đề này.   Vậy trong lĩnh vực này AI có thể hỗ trợ để bảo vệ tốt hơn những hạ tầng cơ sở quan trọng?  Có đấy, điều này cũng đã được thực hiện. Với sự hỗ trợ của AI có thể phát hiện những mẫu đặc biệt khi phát tán phần mềm độc hại. Mặt khác các nhóm tấn công cũng có thể sử dụng AI. AI có thể là bạn, nhưng cũng có thể là kẻ thù.  Với những người bình thường nhất thì điều lo lắng nhất là nguy cơ AI làm cho họ mất công ăn việc làm.   Đúng thế, có nhiều bi quan lo lắng trước vấn đề này, tuy nhiên suy nghĩ như vậy là không đúng. Đương nhiên sẽ diễn ra nhiều thay đổi sâu sắc trong thế giới lao động, nhiều công việc mà chúng ta biết hiện nay sẽ biến mất. Tuy nhiên con người vốn dĩ cực kỳ năng  động và sáng tạo  sẽ tìm ra những loại công việc mới mẻ để kiếm sống – đó là những công việc trong lĩnh vực du lịch, những nghề liên quan đến xã hội, đến nghệ thuật, đến hoạt động thể thao và theo tôi cả trong Gameshow. Có nhiều cách để tạo thu nhập và để giầu có từ đó con người có thể mua sắm những sản phẩm do robot tạo ra. Vả lại những thay đổi này không diễn ra đột ngột trong một thời gian ngắn. Cách đây mười năm người ta đã nói trí tuệ nhân tạo sẽ tiếp nhận công việc của người phóng viên. Nhưng như bạn thấy, hiện vẫn còn phóng viên  đấy chứ. Nhưng trong một thế giới kinh tế được định hình bởi AI  chúng ta cần chú ý không để cho trong điều kiện độc quyền mới một sự tích tụ quá lớn trên thị trường. Được như vậy tôi sẽ yên tâm lạc quan hướng tới tương lai. AI sẽ đem lại cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp và lành mạnh hơn. Và tôi đang chờ đợi cái ngày mà cái điện thoại di động nhắc nhở tôi, ông hãy để tôi ở đâu đó và hãy đi ra ngoài trời hưởng không khí thiên nhiên trong lành.    Có nghĩa là ông vui mừng cùng trí tuệ nhân tạo hướng tới tương lai?  Phải, trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo sẽ cùng nhau đạt được rất nhiều thứ. Đặc biệt trong khoa học và kỹ thuật tôi nghĩ rằng sự liên kết này sẽ đem lại những tiến bộ hết sức to lớn. AI sẽ hỗ trợ, giúp đỡ chúng ta ở mọi nơi trong cuộc sống hàng ngày, giúp chúng ta quản lý cuộc sống tốt đẹp hơn.  Ông hãy nêu một sản phẩm mới dựa trên cơ sở trí tuệ nhân tạo sẽ được đưa vào sử dụng trong thời gian tới đây.  Sau năm đến mười năm nữa sẽ xuất hiện hệ thống thông ngôn tự động trong giao tiếp – thí dụ đối với tiếng Đức và tiếng Anh. Điều đó sẽ không hoàn hảo 100% nhưng thông qua nó người ta có thể đối thoại trực tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ của mình.    GS Nigel Shadbolt sinh năm 1956 tại London. Ông từng học triết học và tâm lý học ở Newcastle và nhận bằng tiến sỹ về trí tuệ nhân tạo tại đại học Edinburgh. Ông là giáo sư tại Jesus College và Uni ở Oxford. Shadbolt tư vấn cho chính phủ Anh và năm 2012 cùng với  Tim Berners-Lee thành lập Viện dữ liệu mở (Open Data Institute).  Xuân Hoài dịch  Theo Welt       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo chuyển tín hiệu não thành lời nói      Trong tương lai, công nghệ này có thể giúp người câm điếc giao tiếp dễ dàng hơn.      Một thuật toán học sâu được đưa vào bộ giải mã để biến đổi tín hiệu não thành các chuyển động ước tính của hệ thống cấu âm. Nguồn: Nature  Trong nỗ lực mang lại giọng nói cho những người không thể nói được, các nhà thần kinh học đã thiết kế một thiết bị có thể biến đổi tín hiệu não thành lời nói. Dù công nghệ này hiện có thể tạo ra các câu nói tương đối dễ hiểu song vẫn chưa đủ chính xác để có thể sử dụng rộng rãi. Các nhà sáng chế đã mô tả thiết bị giải mã lời nói của họ trong một nghiên cứu được xuất bản vào ngày 24/4/2019 trên tạp chí Nature.  Trước đây, các nhà khoa học đã dùng trí thông minh nhân tạo để “dịch” các từ một âm tiết từ hoạt động của não, theo Chethan Pandarinath, một nhà thần kinh học tại Đại học Emory ở Atlanta, Georgia. “Việc nâng cao hiệu suất chuyển đổi từ các từ đơn âm tiết thành câu nói là một bước nhảy vọt về kỹ thuật và khiến phát hiện mới này trở nên ấn tượng”, anh nói.  Với công nghệ hiện hành, người mất khả năng nói phải thực hiện các chuyển động nhỏ để điều khiển một con trỏ chọn các chữ cái hoặc từ trên màn hình. Ví dụ nhà vật lý người Anh Stephen Hawking, người mắc ALS, đã sử dụng một thiết bị tạo giọng nói được điều khiển bằng cơ má. Các thiết bị này chuyển đổi ngôn ngữ rất chậm bởi những người sử dụng phải gõ từng chữ một, khoảng mười từ mỗi phút trong khi lời nói tự nhiên trung bình là 150 từ mỗi phút, Edward Chang, bác sĩ phẫu thuật thần kinh tại Đại học California, San Francisco và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.   Vì vậy, Chang và nhóm nghiên cứu của anh đã quyết định mô hình hóa hệ thống cấu âm khi xây dựng bộ giải mã của họ. Theo dõi năm người được cấy điện cực trên bề mặt não, họ đã ghi lại hoạt động não khi họ đọc to hàng trăm câu, sau đó kết hợp các bản ghi này với dữ liệu xác định xem chuyển động của lưỡi, môi, hàm và thanh quản tạo ra âm thanh như thế nào. Với các dữ liệu này, nhóm nghiên cứu đã “huấn luyện” một thuật toán học sâu và đưa nó vào bộ giải mã biến đổi tín hiệu não thành các chuyển động ước tính của hệ thống cấu âm, tổng hợp những chuyển động này thành lời nói. Những người nghe thử 101 câu tổng hợp có thể hiểu trung bình 70% số từ, Chang nói.  Trong một thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu yêu cầu một người tham gia đọc không thành lời các câu (di chuyển miệng mà không tạo ra âm thanh). Các câu được tổng hợp từ bài kiểm tra này có chất lượng thấp hơn so với những câu được tạo ra từ lời nói có thể nghe được nhưng kết quả vẫn rất đáng khích lệ.  Bằng cách ánh xạ hoạt động của não thành các chuyển động của hệ thống cấu âm và tổng hợp các chuyển động thành âm thanh, tiếng nói được tạo ra dễ hiểu hơn so với tiếng nói tạo ra bằng cách ánh xạ hoạt động của não trực tiếp thành âm thanh, Stephanie Riès, nhà thần kinh học tại Đại học bang San Diego, California, nói.  Nhưng không rõ bộ giải mã lời nói mới có hoạt động tốt nếu mọi người chỉ nghĩ mà không nói ra thành lời hay không, Amy Orsborn, một kỹ sư thần kinh tại Đại học Washington ở Seattle, nghi vấn. “Nghiên cứu cho thấy, bộ giải mã vẫn hoạt động khi người dùng chuyển động miệng mà không tạo ra âm thanh. Tuy nhiên bộ giải mã có làm việc không nếu người dùng không thể di chuyển miệng của họ?”, cô nêu tình huống.  Marc Slutzky, một nhà thần kinh học tại Đại học Tây Bắc ở Chicago, Illinois, đồng ý với ý kiến này và cho rằng, bộ giải mã còn nhiều điểm cần cải thiện. Ông lưu ý, trong các thử nghiệm, người nghe thử đã “nghe” lời nói tổng hợp bằng cách chọn ra các từ trong một loạt các lựa chọn; và khi số lượng lựa chọn tăng lên, mọi người gặp khó khăn hơn trong việc hiểu lời nói của bộ giải mã.  Nghiên cứu này “là một bước thực sự quan trọng, nhưng vẫn còn một chặng đường dài trước khi lời nói tổng hợp bằng bộ giải mã trở nên dễ hiểu hơn”, Slutzky đánh giá.□     Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01328-x?fbclid=IwAR0BJBxj2CTjfVWKg-Lio8Ss5zLRmp2zhIJPH1osgd6OkONXA0PKcYUyylQ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo có thể dò mật khẩu người dùng      Trí tuệ nhân tạo (AI) hiện đã mạnh hơn trước rất nhiều: chúng biết tự lập trình và khi cùng kết hợp với một số công cụ có sẵn, có thể dò chính xác tới 1/4 số mật khẩu của 43 triệu tài khoản trên Linkedln – theo như kết quả của một cuộc thử nghiệm.      Trung bình, một hacker chuyên nghiệp có thể sẽ mất 1 giờ đồng hồ để dò mật khẩu của một tài khoản trên mạng. Mới đây, dữ liệu 143 triệu khách hàng của Equifax – một công ty chuyên về nghiên cứu thị trường, đã bị hacker làm rò rỉ, do đó, bước tiến mới của AI có thể sẽ làm nhiều người lo lắng. Tuy nhiên Thomas Ristenpart – nhà khoa học máy tính tại Cornell Tech, trấn an: công nghệ này có thể giúp chống lại kẻ xấu và người dùng cá nhân lẫn doanh nghiệp có thể rà soát lại mật khẩu vì lý do an toàn. Ông cho biết: “Công nghệ này có tiềm năng ứng dụng để tạo ra những mật khẩu mồi nhử nhằm phát hiện xâm nhập”  John the Ripper và hashCat – 2 phần mềm dò tìm mật khẩu mạnh nhất hiện nay thường hoạt động dựa trên những phương pháp như: tạo một thuật toán để chúng lựa chọn một cách ngẫu nhiên và sắp xếp, kết hợp các ký tự; sử dụng phép loại suy để phán đoán từ những mật khẩu bị lộ ra từ trước; hay tính xác suất để tìm từng ký tự từ những dữ kiện đã cho. Trong một vài trường hợp, những công cụ như vậy có thể dò chính xác 90% số mật khẩu. Tuy nhiên, việc xây dựng các đoạn code cho những chương trình như vậy thường mất rất nhiều công sức và thời gian.  Nghiên cứu mới đây hướng tới việc đẩy nhanh tiến độ dò mật khẩu qua việc áp dụng kỹ thuật Học sâu (deep learning) – lấy cảm hứng từ những nghiên cứu ứng dụng của não bộ. Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ Stevens ở Hoboken (New Jersey, Mỹ) đã thử nghiệm với một mạng GAN (generative adversarial network mạng đối nghịch phát sinh) bao gồm hai hệ thần kinh nhân tạo (artificial neural network). Trong lúc một máy cố gắng mô phỏng hiện thực bằng hình ảnh, máy còn lại sẽ phân biệt ảnh là thật hay giả. Tiến trình này được lặp đi lặp lại, hai máy cùng giúp nhau học và hoàn thiện kỹ năng cho tới khi chúng thực sự trở thành “chuyên gia”.  Nhà khoa học máy tính Giuseppe Ateniese – đồng tác giả của nghiên cứu đã so sánh hoạt động của hai cỗ máy giống như người vẽ phác họa chân dung tội phạm và nhân chứng. Trong lúc một người cố gắng vẽ chính xác, chân thực nhất thì người kia tìm cách xác minh dựa trên trí nhớ. GANs được dùng để tạo ra những hình ảnh có độ chân thực cao nhưng vẫn chưa được áp dụng nhiều với văn bản.  Nhóm nghiên cứu tại Stevens cũng đã tiến hành thử nghiệm với một mạng GANs khác – PassGAN và so sánh hiệu quả của nó với hai phiên bản hashCat và một phiên bản John the Ripper. Cho mỗi công cụ xử lý dữ liệu của 10 triệu mật khẩu (được tiết lộ) trên trang web chơi game trực tuyến RockYou, các nhà khoa học ra lệnh cho chúng tạo ra hàng trăm triệu mật khẩu mới. Sau đó, họ tổng hợp kết quả xem có bao nhiêu mật khẩu trùng khớp với những mật khẩu bị rò rỉ trên LinkedIn. Phương pháp này tạm thời được xem là cách đánh giá hiệu quả nhất đối với những công cụ dò tìm mật khẩu.  Để các công cụ hoạt động riêng rẽ, 12% số mật khẩu do PassGAN tạo ra trùng với dữ liệu của LinkedIn, trong khi tỷ lệ cho ba đối thủ còn lại dao động trong khoảng từ 6% đến 23%. Kết hợp với hashCat, PassGAN cho hiệu quả cao hơn khi phá mã được chính xác 27% số mật khẩu – kết quả được đăng trong một báo cáo nháp trên arXiv. Thậm chí, ngay cả những mật khẩu không trùng khớp như: saddracula, santazone, coolarse18, … cũng tỏ ra rất chân thực.  Ateniese so sánh PassGAN với AlphaGo – chương trình Deep Mind của Google, kẻ đã đánh bại một nhà vô địch thế giới cờ Vây bằng những thuật toán học sâu. “AlphaGo có những chiến thuật mà ngay cả nhữngbậc thầy cũng chưa biết”, Ateniese nhận xét và ông tin rằng: “Nếu cung cấp đủ dữ liệu cho PassGAN, nó có thể tạo ra những quy luật mà con người không thể nghĩ ra”  Hải Đăng lược dịch  Nguồn:  http://www.sciencemag.org/news/2017/09/artificial-intelligence-just-made-guessing-your-password-whole-lot-easier       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo của Altman sẽ làm đảo lộn thế giới?      Sam Altman, ông chủ của OpenAI muốn làm thay đổi thế giới    Trí tuệ nhân tạo ChatGPT được coi là cuộc cách mạng đối với nhiều lĩnh vực. Người đàn ông đằng sau ChatGPT từ lâu đã được biết đến như mộtnhân tài đặc biệt. Bản thân anh ta lại lo sợ AI có thể là sự sụp đổ của loài người.    Hiếm khi có một phần mềm nào lại được bàn luận lâu dài trên các phương tiên thông tin đại chúng như ChatGPT. Kể từ khi OpenAI phát hành ChatGPT, nó đã bị thổi phồng và ghét bỏ. Trong khi một số người coi đó là tương lai của máy tính, thì những người khác lại lo sợ về sự sụp đổ của hệ thống giáo dục và ngành báo chí. Ít người quan tâm đến người đàn ông đứng đằng sau nó.Trong khi đó có quá nhiều điều để kể về Sam Altmann. Những người quan tâm đến  Thung lũng Silicon từ lâu đều đã nghe  đến con người đặc biệt này. Ở tuổi 28, anh ta đã tiếp quản công việc quản lý của công ty hỗ trợ khởi nghiệp rất nổi tiếng Y Combinator, theo yêu cầu của người tiền nhiệm. Khi đó Altman đã được coi là một tài năng đặc biệt. Các thành viên sáng lập của OpenAI cũng giống như những nhân vật nổi tiếng của Thung lũng Silicon: ngoài Altman, Elon Musk, người sáng lập Paypal Peter Thiel và nhà phát minh Linked-in Reid Hoffmann cũng tham gia. Sau khi Musk rút lui, Altman đã đảm nhận vai trò lãnh đạo doanh nghiệp mới này.    Việc OpenAI tồn tại ở dạng hiện tại không chỉ do những khả năng mà Altman và Musk nhìn thấy trong sự phát triển của trí tuệ nhân tạo,  mà còn vì họ sợ hãi nó. Trí tuệ nhân tạo không giới hạn có thể gây nguy hiểm cho nhân loại, từ rất sớm Musk đã cảnh báo. Altman cũng tin rằng OpenAI được thiết kế để chế ngự những nguy cơ của AI. Cụ thể, bằng cách làm cho mọi người có thể  truy cập được nó.  Ý tưởng này đã gây nhiều tranh cãi. Năm 2016 triết gia  Nick Bostrom đã cảnh báo : “Nếu bạn có một nút kích hoạt những điều tồi tệ, bạn sẽ không giao nó cho bất kỳ ai”.    Về nguyên tắc  Altman dường như cũng chia sẻ nỗi sợ hãi này. Anh ấy đang chuẩn bị cho ngày tận thế của nhân loại, Altman từng nói điều đó với hai nhà sáng lập mà anh ấy cùng  Y Combinator đã tư vấn,  khi trả lời câu hỏi về sở thích của mình. Altman coi sự bùng phát của virus, chiến tranh hạt nhân hoặc AI ngày càng hung hãn là những biến thể có khả năng xảy ra nhiều nhất dẫn đến ngày tận thế của loài người. Theo “The New Yorker” Altman đã giải thích với những người sáng lập điều này và họ đã vô cùng “kinh hoàng”. “Tôi có súng, có vàng, kali iodua và mặt nạ phòng độc từ kho của quân đội Israel, tôi có một mảnh đất để bay tới,” anh giãi bày và phân bua: “Tôi cố gắng để không nghĩ quá nhiều về chuyện này.”    Giữa sự sợ hãi và lạc quan    Mẹ của Altman cũng xác nhận với tờ báo, Altman nói chung là kiểu người hay lo xa. Anh luôn gọi cho mẹ khi nghĩ rằng mình bị viêm màng não hoặc ung thư hạch rồi tra cứu trên Google. “Tôi luôn phải nói với nó đó chỉ là do con bị căng thẳng quá“ bà mẹ là bác sỹ da liễu giải thích cho con trai yên tâm. Con bà luôn lo sợ về những điều tồi tệ nhất, nhưng đồng thời cũng lạc quan khi điều đó  không xảy ra. Bà biết về các kế hoạch của cậu con trai: Năm 2016, Altman từng có kế hoạch chạy trốn đến New Zealand cùng với Peter Thie, ở trong nhà của anh khi xảy ra đại dịch, bà mẹ kể. Chuyện đó nay đã lỗi thời. Từ khi  Peter Thiel ủng hộ Donald Trump, thì cả hai đường ai nấy đi. Altman khẳng định, anh chống lại Trump. Tuy nhiên anh vẫn quan tâm đến thái độ của các cử tri của ông ta. Trong một blog, Altman đã ghi lại những hiểu biết sâu sắc mà anh có được sau khi nói chuyện với 100 người ủng hộ Trump.    Sự chia rẽ về chính trị giữa các nhà đầu tư công nghệ dường như không chỉ giới hạn ở Trump. Trong khi Thiel nổi tiếng với lý thuyết cho rằng dân chủ và tự do không thể kết hợp với nhau thì Altman lại thiên tả một cách đáng ngạc nhiên đối với một người Mỹ. Anh  không muốn các doanh nghiệp thu lợi nhuận  từ AI và robot, anh muốn qua đó  hỗ trợ cho xã hội. Altman đã giải thích về ý tưởng này trong một bài đăng trên blog. Anh cho rằng trong tương lai phần lớn tình trạng nhà ở  được tự động hóa , công việc không còn bị đánh thuế mà chỉ đánh thuế vốn, chủ yếu dưới dạng doanh nghiệp và  sở hữu đất đai. Theo ý tưởng của Altman, mọi người nên dành thời gian rảnh rỗi cho nhau và “thúc đẩy lợi ích chung”.    Altman tin chắc AI sẽ thay đổi thế giới “Cuộc cách mạng kỹ thuật này là không thể dừng lại được nữa”.     Hoài Nam tổng hợp  Nguồn:  https://www.stern.de/digital/online/sam-altmans-ki-soll-die-welt-revolutionieren—er-selbst-bereitet-sich-mit-gold–waffen-und-gasmasken-auf-den-untergang-vor-33164548.html  https://www.forbes.com/sites/alexkonrad/2023/02/03/exclusive-openai-sam-altman-chatgpt-agi-google-search/?sh=6ccb7cf76a63    Author                .        
__label__tiasang AI có “tiềm năng lớn” để tăng cường an toàn thực phẩm      Trí tuệ nhân tạo có “tiềm năng lớn” để tăng cường an toàn thực phẩm với giá cả phải chăng.    Thịt bò là một trong những loại thịt được tiêu thụ nhiều nhất thế giới, nhưng ăn thịt bò cũ khiến bữa ăn kém ngon và còn có thể gây ra một số nguy cơ sức khỏe.        Các phương pháp hiện có để kiểm tra chất lượng thịt bằng thường tốn kém và không tiện dụng, chẳng hạn như việc phân tích hóa học hoặc đánh giá quần thể vi sinh vật trong mẫu thịt đòi hỏi nhiều thời gian và chuyên gia có kỹ thuật, trong khi phân tích bằng các kỹ thuật tiếp cận không phá hủy dựa trên quang phổ cận hồng ngoại lại cần các thiết bị đắt tiền và tinh vi.    Giờ đây, một số nhà khoa học tin rằng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể là chìa khóa để mở ra phương pháp đánh giá độ tươi của thịt bò nhanh và tiết kiệm hơn. Năm ngoái, nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học và Công nghệ Gwangju ở Hàn Quốc đã kết hợp giữa học sâu và phân tích phổ phản xạ khuếch tán (DRS) để thực hiện điều này.    “Không giống như các kỹ thuật quang phổ khác, DRS không yêu cầu hiệu chuẩn phức tạp. Thay vào đó, nó có thể dùng để định lượng một phần phân tử của mẫu chỉ bằng một máy quang phổ giá cả phải chăng và dễ điều chỉnh cấu hình,” Kyoobin Lee, thành viên nhóm nghiên cứu, giải thích. Những phát hiện của họ đã được công bố trên tạp chí Food Chemistry.    Để xác định độ tươi của các mẫu thịt bò, nhóm nghiên cứu dựa vào các phép đo DRS để ước tính tỷ lệ các dạng myoglobin khác nhau trong thịt. Myoglobin và các dẫn xuất của nó chính là những protein chịu trách nhiệm về sự biến đổi màu sắc của thịt trong quá trình phân hủy. Tuy nhiên, việc chuyển đổi các phép đo DRS thành nồng độ myoglobin một cách thủ công để từ đó đánh giá độ tươi của các mẫu thịt bò không phải là một điều dễ dàng và chính xác – và đây là lúc học máy phát huy vai trò.    Các nhà khoa học đã đào tạo một mạng thần kinh tích chập CNN (Convolutional neural networks) sử dụng đầu vào gồm độ pH và dữ liệu quang phổ DRS của 78 mẫu thịt bò đang trong quá trình phân hủy trong hai tuần rưỡi. Sau khi phân loại thủ công dữ liệu DRS dựa trên các giá trị pH là ‘tươi’, ‘bình thường’, hoặc ‘hư hỏng’, nhóm cho thuật toán học bộ dữ liệu DRS được dán nhãn và cũng hợp nhất thông tin này với ước tính myoglobin.    Kết quả, mạng CNN có thể phân loại chính xác độ tươi của 92% mẫu thịt bò. Điều đáng nói là quá trình này chỉ diễn ra trong vòng vài giây.    Nhóm nghiên cứu tin rằng phương pháp của họ nhanh hơn và hiệu quả kinh tế hơn so với các phương pháp đánh giá thông thường trong khi vẫn duy trì được độ chính xác cao. Do vậy, nó có thể mở đường cho việc phát triển các thiết bị quang phổ nhỏ, di động để mọi người có thể dễ dàng đánh giá độ tươi của thịt bò ngay cả ở nhà.    Hơn nữa, các kỹ thuật tương tự dựa trên quang phổ và mạng CNN cũng có thể được mở rộng sang các sản phẩm khác như cá hoặc thịt lợn.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo: Đọc giọng nói giúp phát hiện bệnh tật?      Các nhà nghiên cứu đang khám phá các cách sử dụng giọng nói của con người để chẩn đoán nhiễm coronavirus, chứng mất trí, trầm cảm và nhiều loại bệnh khác nữa.      Theo dõi giọng nói của bệnh nhân Parkinson có thể giúp hỗ trợ đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các liệu pháp điều trị khác nhau. Ảnh: Don Kelsen/Los Angeles Times/Getty.  Khi đại dịch bùng phát với tốc độ đáng kinh ngạc vào hồi tháng ba, các nhà quản lý trên khắp thế giới bắt đầu kêu gọi tất cả mọi người tham gia vào cuộc chiến. Các bệnh viện đã yêu cầu các công ty địa phương quyên góp khẩu trang. Các nhà nghiên cứu kêu gọi những người đã hồi phục sau Covid-19 hiến huyết tương của họ. Và ở Israel, Bộ Quốc phòng và một công ty tên là Vocalis Health đã yêu cầu mọi người đóng góp giọng nói.  Vocalis, công ty phân tích giọng nói có văn phòng tại Israel và Hoa Kỳ, trước đây đã xây dựng một ứng dụng điện thoại thông minh, có thể phát hiện các đợt bùng phát của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính bằng cách lắng nghe các dấu hiệu người dùng bị hụt hơi khi nói. Công ty muốn làm điều tương tự với Covid-19. Những người đã có kết quả xét nghiệm dương tính với coronavirus có thể tham gia chỉ bằng cách tải xuống ứng dụng nghiên cứu Vocalis. Mỗi ngày một lần, họ kích hoạt ứng dụng bằng cách nói vào điện thoại, phát âm to và đếm từ 50 đến 70.  Sau đó, Vocalis bắt đầu xử lý các bản ghi âm này bằng hệ thống máy học, so sánh với giọng nói của những người đã được xét nghiệm âm tính, nhằm cố gắng xác định dấu hiệu của căn bệnh này. Vào giữa mùa hè, công ty đã có hơn 1.500 mẫu giọng nói và đưa ra phiên bản thử nghiệm của công cụ sàng lọc kỹ thuật số Covid-19. “Đây không phải phương pháp gây xâm lấn, không phải là thuốc, chúng tôi không thay đổi bất cứ điều gì. Tất cả những gì bạn cần làm là nói”, Tal Wenderow, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Vocalis nói. Công cụ này không nhằm đưa ra chẩn đoán chính xác để giúp các bác sĩ phân loại các trường hợp tiềm ẩn, xác định những người có thể cần xét nghiệm, cách ly hoặc chăm sóc y tế.  Có ba nhóm khác cũng đang thực hiện ý tưởng tương tự. Đó là một dấu hiệu cho thấy lĩnh vực chẩn đoán giọng nói mới mẻ này đang phát triển nhanh chóng. Trong thập kỷ qua, các nhà khoa học đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống máy học để xác định các dấu hiệu sinh học giọng nói của nhiều tình trạng khác nhau, bao gồm mất trí nhớ, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ và thậm chí cả bệnh tim. Các công nghệ mà họ đã phát triển có khả năng chọn ra những khác biệt nhỏ trong cách nói chuyện của những người mắc một số bệnh. Các công ty trên khắp thế giới đang bắt đầu thương mại hóa chúng.  Hiện tại, hầu hết các nhóm đang thực hiện cách tiếp cận chậm, từng bước, thiết kế các công cụ phù hợp để sử dụng trong văn phòng bác sĩ hoặc các thử nghiệm lâm sàng. Nhưng nhiều người mơ ước triển khai công nghệ này rộng rãi hơn, một ngày nào đó có thể cho phép các nhà dịch tễ học sử dụng điện thoại thông minh để theo dõi sự lây lan của dịch bệnh và biến nó thành thiết bị y tế trong nhà. “Trong tương lai, các trợ lý ảo như Siri hay Alexa trên điện thoại có thể biết được bạn có bị ốm hay không”, Björn Schuller, ở Đại học Augsburg của Đức Germany and Imperial College London, người dẫn dắt một trong những nghiên cứu về Covid-19 nói.  Nhưng phân tích giọng nói tự động vẫn còn là một lĩnh vực mới và có một số bất cập tiềm ẩn, từ chẩn đoán sai lầm cho đến xâm phạm quyền riêng tư cá nhân và y tế. Các nghiên cứu vẫn còn ở phạm vi nhỏ và mới chỉ sơ bộ, và việc chuyển từ lý thuyết sang sản phẩm sẽ không dễ dàng.   Tín hiệu giọng nói  Nói đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cấu trúc và hệ thống giải phẫu. Phổi đẩy không khí qua các dây thanh âm, tạo ra âm thanh được định hình bởi lưỡi, môi và khoang mũi, cùng các cấu trúc khác. Bộ não và hệ thần kinh giúp điều chỉnh tất cả các quá trình này cũng như xác định những từ ngữ mà ai đó đang nói. Một căn bệnh ảnh hưởng đến bất kỳ cơ quan nào trong số các cơ quan trên đều có thể để lại manh mối chẩn đoán.  Phần lớn các nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này tập trung vào bệnh Parkinson, căn bệnh có ảnh hưởng lớn đến giọng nói mà chưa có một phương pháp chẩn đoán cụ thể. Rối loạn này gây ra một loạt các triệu chứng vận động, bao gồm run, cứng cơ, các vấn đề về thăng bằng và phối hợp. Sự mất kiểm soát kéo dài đến các cơ khiến nhiều người bị Parkinson có giọng nói yếu và mềm. Reza Hosseini Ghomi, bác sĩ tâm thần kinh tại EvergreenHealth ở Kirkland, Washington, cho biết: “Những dấu hiệu đó có thể thấy rõ khi bạn nghe trực tiếp. Nhưng nếu đưa 10.000 mẫu giọng nói vào một máy tính, nó chính xác hơn nhiều.”  Hơn một thập kỷ trước, Max Little, một nhà nghiên cứu về máy học và xử lý tín hiệu tại Đại học Birmingham, Vương quốc Anh, đã bắt đầu điều tra xem liệu phân tích giọng nói có thể giúp các bác sĩ đưa ra những chẩn đoán khó hay không. Trong một nghiên cứu, Little và các đồng nghiệp của ông đã sử dụng bản ghi âm của 43 người, trong đó có 33 người bị bệnh Parkinson, nói “ahhh”. Họ đã sử dụng các thuật toán xử lý giọng nói để phân tích 132 đặc điểm âm thanh của mỗi bản ghi âm, cuối cùng xác định được 10 đặc điểm – bao gồm các đặc điểm như thở và dao động run về cao độ, âm sắc – dường như là dự đoán chính xác nhất về bệnh Parkinson. Chỉ sử dụng 10 tính năng này, hệ thống có thể xác định các mẫu giọng nói của những người mắc bệnh với độ chính xác gần 99%.  Little và những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này cũng đã chứng minh rằng một số đặc điểm giọng nói tương quan với mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng Parkinson. Little nói, các hệ thống này vẫn chưa đủ mạnh để sử dụng thường xuyên trong lâm sàng, nhưng có rất nhiều ứng dụng tiềm năng. Phân tích giọng nói có thể cung cấp một cách nhanh chóng, chi phí thấp để theo dõi những cá nhân có nguy cơ mắc bệnh cao; để sàng lọc các quần thể lớn; hoặc thậm chí có thể tạo ra một dịch vụ có thể chẩn đoán từ xa cho những người không thể đến gặp bác sĩ. Bệnh nhân có thể sử dụng công nghệ này tại nhà – dưới dạng một ứng dụng điện thoại thông minh – để theo dõi các triệu chứng của chính họ và theo dõi tác dụng của thuốc mà họ đang sử dụng. Little nói: “Loại công nghệ này có thể cho phép ghi lại, với tốc độ cao, gần như liên tục về triệu chứng của bệnh nhân đang có dấu hiệu thay đổi”.  Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu để xác định các dấu hiệu sinh học dựa trên giọng nói để tìm hiểu về các loại bệnh thoái hóa thần kinh khác. Ví dụ, một bộ ba nhà khoa học ở Toronto, Canada, đã sử dụng các mẫu giọng nói và bản ghi âm của hơn 250 người để xác định hàng chục điểm khác biệt giữa giọng nói của những người có khả năng mắc bệnh Alzheimer và của những người không mắc bệnh này. Trong số những người tham gia, những người mắc bệnh Alzheimer có xu hướng sử dụng các từ ngắn hơn, và nhiều đoạn trong câu hơn. Họ cũng tự lặp lại và sử dụng tỷ lệ đại từ cao hơn, chẳng hạn như ‘it’ hoặc ‘this’, cho danh từ riêng. Frank Rudzicz, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Toronto, người đứng đầu cuộc nghiên cứu cho biết: “Đó có thể là một dấu hiệu cho thấy họ không nhớ tên của mọi thứ nên họ phải sử dụng đại từ thay thế”.   Khi hệ thống xem xét 35 đặc điểm giọng nói này với nhau, nó có thể xác định những người mắc bệnh Alzheimer với độ chính xác 82%. (Rudzicz cho biết đã được cải thiện lên khoảng 92%) “Những đặc điểm đó cộng lại thành một dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ”, Rudzicz nói. “Đó là một mô hình ẩn rất phức tạp mà chúng ta khó có thể nhìn thấy bề ngoài, nhưng máy học có thể phát hiện, nếu đủ dữ liệu”.    Robot Ludwig, do Frank Rudzicz và các cộng sự nghiên cứu chế tạo, có thể tương tác, thu thập dữ liệu giọng nói để các nhà khoa học phân tích chứng bệnh mất trí nhớ. Ảnh: Laura Pedersen/Naitonal Post.  Vì một số thay đổi giọng nói này xảy ra trong giai đoạn đầu của các bệnh thoái hóa thần kinh, các nhà nghiên cứu hy vọng rằng các công cụ phân tích giọng nói có thể giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán bệnh sớm hơn và có khả năng can thiệp trước khi các triệu chứng khác trở nên rõ ràng. Tuy nhiên, hiện tại, ý tưởng này chủ yếu vẫn là lý thuyết; các nhà khoa học vẫn cần phải thực hiện các thử nghiệm lớn, dài hạn để chứng minh tác dụng của nó.  Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này nhấn mạnh rằng mục tiêu không phải là thay thế các bác sĩ hoặc tạo ra các thiết bị chẩn đoán độc lập. Thay vào đó, họ coi phân tích giọng nói như một công cụ mà bác sĩ có thể sử dụng để đưa ra các quyết định, như một ‘dấu hiệu quan trọng’ khác mà họ có thể theo dõi hoặc kiểm tra. Isabel Trancoso, nhà nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ nói tại Đại học Lisbon, cho biết: “Tầm nhìn của tôi là thu thập các mẫu giọng nói sẽ trở nên phổ biến như xét nghiệm máu”.  Mở rộng ứng dụng  Một số công ty khởi nghiệp về phân tích giọng nói – bao gồm Winterlight Labs, một công ty ở Toronto do Rudzicz đồng sáng lập và Aural Analytics ở Scottsdale, Arizona – đang cung cấp phần mềm của họ cho các công ty dược phẩm. Nhiều người đang sử dụng công nghệ này để giúp đánh giá xem liệu những người tham gia thử nghiệm lâm sàng có đáp ứng với các phương pháp điều trị thử nghiệm hay không. Visar Berisha, đồng sáng lập và giám đốc phân tích, cho biết: “Phân tích lời nói cho thấy những thay đổi tinh tế về sức khỏe thần kinh. Điều này thúc đẩy việc phát triển thuốc, hoặc ít nhất là xác định những loại thuốc không có triển vọng điều trị ngay từ sớm”.  Rối loạn thoái hóa thần kinh chỉ là bước khởi đầu. Các nhà khoa học đã xác định được các kiểu nói riêng biệt ở trẻ bị rối loạn phát triển thần kinh. Trong một nghiên cứu nhỏ năm 2017, Schuller và các đồng nghiệp đã xác định rằng các thuật toán phân tích tiếng bập bẹ của trẻ sơ sinh mười tháng tuổi có thể xác định trẻ nào sẽ được chẩn đoán mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ. Hệ thống đã phân loại chính xác khoảng 80% trẻ tự kỷ và 70% trẻ có khác biệt về thần kinh.  Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng nhiều trẻ em mắc chứng rối loạn tăng động nói to hơn và nhanh hơn so với các bạn cùng lứa tuổi và có nhiều dấu hiệu căng thẳng giọng nói hơn. Công ty PeakProfiling ở Berlin đang phát triển một công cụ phân tích giọng nói lâm sàng mà họ hy vọng có thể giúp các bác sĩ chẩn đoán tình trạng bệnh. Nhưng một số bác sĩ vẫn nghi ngờ về việc các hệ thống như vậy sẽ thực sự cung cấp bao nhiêu thông tin hữu ích.  Tuy nhiên, Rhea Paul, một chuyên gia về rối loạn giao tiếp tại Đại học Sacred Heart ở Fairfield, Connecticut cũng lưu ý: “Một số trong số đó hơi bị thổi phồng quá mức. Trẻ bị rối loạn phát triển thần kinh thường có nhiều triệu chứng hành vi dễ quan sát”. Hơn nữa, vẫn chưa rõ liệu các thuật toán có thực sự xác định các dấu hiệu cụ thể cho chứng rối loạn phổ tự kỷ hay chỉ xác định các dấu hiệu chung của sự phát triển não không bình thường, hoặc thậm chí chỉ là những sai lệch thoáng qua trong lời nói.   Các nhà khoa học cũng đang chuyển công nghệ này nhắm sang các bệnh tâm thần. Nhiều nhóm trên khắp thế giới đã phát triển các hệ thống có thể xử lý giọng nói chậm, nặng và đơn điệu, có xu hướng đặc trưng cho bệnh trầm cảm. Những nhóm khác đã xác định các dấu hiệu sinh học giọng nói liên quan đến rối loạn tâm thần, tự tử và rối loạn lưỡng cực. Charles Marmar, một nhà tâm thần học tại Đại học New York cho biết: “Giọng nói truyền tín hiệu cảm xúc của chúng ta vô cùng phong phú. Tốc độ, nhịp điệu, âm lượng, cao độ, âm điệu [căng thẳng và ngữ điệu] – những đặc điểm đó cho bạn biết liệu một bệnh nhân có chán nản và nản lòng hay không, liệu họ có bị kích động và lo lắng hay không, hay liệu họ có mắc chứng khó chịu và phấn khích”.  Trong nghiên cứu của mình, Marmar đã sử dụng máy học để xác định 18 đặc điểm giọng nói liên quan đến chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) ở 129 nam cựu quân nhân. Bằng cách phân tích các đặc điểm này (chủ yếu là các chỉ số về giọng nói chậm, đều và đơn điệu), hệ thống có thể xác định, với độ chính xác gần 90%, ai trong số các cựu chiến binh mắc PTSD. Nếu nhóm có thể tổng quát hóa các phát hiện, Marmar cho rằng công nghệ này có thể là một cách hữu ích để nhanh chóng xác định những người có thể cần đánh giá về tâm thần kỹ lưỡng hơn. Ông nói: “Ứng dụng trong thế giới thực đầu tiên sẽ là để sàng lọc chứng PTSD với số lượng lớn. Nó có thể thực hiện 4.000 giọng nói trong vài giờ”.  Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ cũng đang nghiên cứu xem liệu một ứng dụng theo dõi sức khỏe tâm thần có thể xác định các thành viên dịch vụ có đang gặp khó khăn về tâm lý hay không. Ứng dụng dành cho điện thoại thông minh, do công ty Cogito phân tích và hướng dẫn đàm thoại ở Boston, Massachusetts phát triển. Họ thu thập siêu dữ liệu về thói quen của người dùng – chẳng hạn như tần suất họ gọi điện hoặc nhắn tin cho người khác – và phân tích các bản ghi thoại mà họ để lại trên điện thoại.  Thậm chí các nhà nghiên cứu có thể phát hiện ra các dấu hiệu sinh học về giọng nói cho các tình trạng bệnh tật dường như không liên quan gì đến lời nói. Trong một nghiên cứu từ năm 2018, các nhà khoa học phân tích mẫu giọng nói của 101 người được hẹn chụp mạch vành đã phát hiện ra rằng một số mẫu tần số giọng nói nhất định có liên quan đến bệnh mạch vành nghiêm trọng hơn so với bình thường. Amir Lerman, bác sĩ tim mạch tại Phòng khám Mayo ở Rochester, Minnesota, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết, về mặt lý thuyết bệnh động mạch vành có thể thay đổi giọng nói bằng cách giảm lưu lượng máu. Nhưng cũng có thể bản thân căn bệnh không phải là nguyên nhân gây ra những thay đổi về giọng nói mà là những yếu tố nguy cơ liên quan khác, chẳng hạn như căng thẳng hoặc trầm cảm.   Khó chuyển đổi  Nghiên cứu trên cho thấy cả những hứa hẹn và hạn chế của công nghệ này. Máy tính chọn ra các mẫu giọng nói là một việc, nhưng lại là một nhiệm vụ khó khăn hơn để hiểu chúng có nghĩa là gì và liệu chúng có ý nghĩa lâm sàng hay không. Chúng có phải là những đặc điểm cơ bản của căn bệnh được đề cập không? Hay chỉ đơn thuần là dấu hiệu của một số khác biệt khác giữa các nhóm, chẳng hạn như tuổi, giới tính, kích thước cơ thể, trình độ học vấn hoặc mệt mỏi. Bất kỳ yếu tố nào trong số đó có thể là một yếu tố gây nhiễu? Ghomi nói: “Chúng tôi đang cố gắng loại bỏ việc chỉ đưa dữ liệu vào một thuật toán và thực sự đi sâu vào các tập dữ liệu, đưa ra một mô hình về căn bệnh và sau đó kiểm tra nó bằng máy học”.  Để đảm bảo rằng các kết quả có thể được tổng quát hóa và giảm sai lệch, các nhà nghiên cứu sẽ cần phải kiểm tra hệ thống phân loại của họ trong các mẫu lớn hơn, đa dạng hơn và bằng nhiều ngôn ngữ. Jim Schwoebel, phó chủ tịch dữ liệu và nghiên cứu tại Sonde Health, một công ty phân tích giọng nói có trụ sở tại Boston, cho biết: “Chúng tôi không muốn xác nhận mô hình giọng nói chỉ với 300 bệnh nhân. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cần 10.000 hoặc hơn”.  Đối với nhiều ứng dụng mà các nhà nghiên cứu đang nghĩ đến, các hệ thống phân tích giọng nói sẽ không chỉ phân biệt những người ốm với những người kiểm soát khỏe mạnh mà còn phải phân biệt giữa nhiều loại bệnh và tình trạng khác nhau. Họ sẽ cần làm điều này bên ngoài phòng thí nghiệm, trong các tình huống hằng ngày không được kiểm soát và trên nhiều loại thiết bị.  Khi Epps và các đồng nghiệp của ông, bao gồm cả một nhà nghiên cứu tại Sonde Health, phân tích các mẫu giọng nói được ghi bằng micrô chất lượng cao trong phòng thí nghiệm, họ có thể phát hiện chứng trầm cảm với độ chính xác khoảng 94%. Khi sử dụng các mẫu giọng nói mà mọi người đã ghi lại trong môi trường của riêng họ trên điện thoại thông minh, độ chính xác giảm xuống dưới 75%.  Nhưng, một vấn đề đặt ra là, công nghệ không xâm lấn không có nghĩa là nó không có rủi ro. Nó đặt ra những lo ngại nghiêm trọng về quyền riêng tư, bao gồm khả năng danh tính cá nhân có thể được xác định từ các mẫu giọng nói ẩn danh, rằng hệ thống có thể vô tình nắm bắt các cuộc trò chuyện riêng tư và thông tin y tế nhạy cảm có thể bị bán, chia sẻ, tấn công hoặc sử dụng sai mục đích.  Nếu không có những quy định phù hợp và rõ ràng, sẽ có nguy cơ các công ty bảo hiểm hoặc người sử dụng lao động có thể sử dụng các hệ thống này để phân tích mẫu giọng nói mà không có sự đồng ý rõ ràng, hoặc để lấy thông tin sức khỏe cá nhân và có khả năng phân biệt đối xử với khách hàng hay nhân viên của họ.   Sau đó là nguy cơ dương tính giả và chẩn đoán quá mức. Rudzicz nói: “Chúng ta phải thực tế và nhận ra rằng phần lớn điều này vẫn đang là nghiên cứu. Chúng ta cần bắt đầu suy nghĩ về những gì sẽ xảy ra khi áp dụng nó vào thực tế”.□  Đức Phát dịch  https://www.nature.com/articles/d41586-020-02732-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo dự đoán dịch cúm ở Đài Loan      Một trang web dự đoán dịch cúm dựa trên trí tuệ nhân tạo đã được đưa ra vào sử dụng mới đây tại Đài Bắc, với sự hợp tác của Bộ Y tế và Xã hội và công ty công nghệ Đài Loan Acer. Đây là một phần của chính sách y tế công cộng của chính quyền Đài Loan.      Giao diện trang web.  Trang web, được coi là “trạm dự báo dịch cúm” (https://fluforecast.cdc.gov.tw), cho biết sự tiến triển có thể xảy ra của dịch bệnh và ước tính số lượng bệnh nhân sẽ tham khảo ý kiến ​​bác sĩ hoặc sẽ sử dụng các dịch vụ khẩn cấp trong bốn tuần tới. Những ước tính này đến từ một mô hình được phát triển bởi Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC), dưới sự bảo trợ của Bộ Y tế và Xã hội, và được thực hiện thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo của hang Acer.  Chen Shih-chung, Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội, cho biết nền tảng này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức y tế phân bổ nguồn lực tốt hơn và lên kế hoạch phản ứng phù hợp với dịch bệnh. Nó cũng sẽ giúp thông tin tốt hơn cho công chúng và nâng cao nhận thức về các biện pháp dự phòng chống cúm.  Dữ liệu y tế được đưa vào mô hình được cung cấp bởi Chương trình Bảo hiểm Y tế Quốc gia và hệ thống giám sát virus parainfluenza do CDC quản lý. Dữ liệu nhân khẩu học và khí tượng đến từ các nền tảng dữ liệu mở của các cơ quan khác nhau.  Trang web này phản ánh khả năng tiên tiến của Đài Loan trong lĩnh vực dữ liệu y tế lớn. Sáng kiến ​​này là một ví dụ tuyệt vời về sự cộng tác công-tư đối với sức khỏe cộng đồng. Theo Stan Shih, người sáng lập và chủ tịch danh dự của Acer, cho biết dữ liệu lớn là vô giá để thúc đẩy phát triển xã hội trong thời đại thành phố “thông minh”. Stan Shih hy vọng rằng sáng kiến ​​này sẽ khuyến khích các dự án công cộng kỹ thuật số khác hướng tới dịch vụ công dân tốt hơn, tạo điều kiện cho R&D xuyên quốc gia và kích thích sự phát triển của các ứng dụng dữ liệu lớn.  Phùng Anh Tiến dịch  Nguồn: https://www.taiwannews.com.tw    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo giúp chuột ảo tìm đường tắt trong mê cung      Bắt chước hoạt động của các neuron thần kinh đặc biệt một cách tự nhiên, thuật toán học sâu (Deep-learning) có thể giúp chúng ta nhận biết được vị trí của mình trong không gian.      Mô phỏng những con chuột có tế bào não gắn lưới tế bào giúp điều hướng, và lưới tế bào này được điều chỉnh bởi chương trình trí tuệ nhân tạo.      Các nhà khoa học đã dùng trí tuệ nhân tạo (AI) để tái tạo các mã thần kinh phức tạp mà bộ não vẫn sử dụng để định vị địa điểm trong không gian. Điều này chứng tỏ các thuật toán AI có thể hỗ trợ nghiên cứu khoa học thần kinh trong kiểm chứng lý thuyết về những công việc của não bộ.  Các nhà khoa học thần kinh tại trường đại học London (UCL) và các nhà nghiên cứu về AI của công ty DeepMind của Googe đặt tại London đã miêu tả chi tiết về chương trình máy tính này trong công bố mới xuất bản “Định vị vector bằng những phép biểu diễn như tế bào lưới trong chương trình nhân tạo” (Vector-based navigation using grid-like representations in artificial agents) trên Nature vào ngày 9/5/2018. Với việc sử dụng một kỹ thuật học sâu – một kiểu trí tuệ nhân tạo được truyền cảm hứng bằng các cấu trúc trong bộ não, các nhà khoa học đã huấn luyện chuột mô phỏng bằng máy tính để theo dõi vị trí của nó trong một môi trường ảo.  Chương trình này đã gây ngạc nhiên bởi nó có thể tạo ra các mẫu theo hình lục giác của hoạt động na ná với tế bào lưới – những mẫu được sinh ra từ các tế bào định vị trong não loài động vật có vú. Họ nhận thấy, chuột mô phỏng đã có khả năng dùng mã được thiết kế như tế bào lưới để định hướng trong một mê cung ảo tốt đến mức thậm chí còn học được cả cách tìm đường tắt.    Song song với chương trình ảo này, các nhà nghiên cứu đã thực hiện thí nghiệm trên các con chuột thật nhằm kiểm tra xem một con vật có thể theo dõi vị trí của chính mình trong không gian như thế nào.  “Công trình này đã xuất hiện một cách bất ngờ và rất thú vị”, nhà khoa học thần kinh Edvard Moser tại Viện nghiên cứu Các hệ thống khoa học thần kinh Kavli ở Trondheim, Norway, cho biết. Moser là một trong ba nhà khoa học được trao giải Nobel Sinh lý học/Y học năm 2014 cho những phát hiện về các tế bào lưới và neuron liên kết với sự định hướng của bộ não, bao gồm các tế bào vị trí và tế bào thần kinh có chức năng định hướng, vốn được tìm thấy ở trong và xung quanh khu vực hồi hải mã.  “Thật đáng ngạc nhiên là mô hình máy tính này đã đem lại một hình mẫu về tế bào lưới mà chúng ta vẫn biết trong sinh học”, Moser nhận xét. Công trình này cũng xác nhận, não của loài động vật có vú đã phát triển theo cách tối ưu về sự sắp xếp kiểu mã định vị không gian này, ông cho biết thêm.  “Sẽ thật thú vị khi phân tích những phần bên trong của hệ thống học sâu này và thấy các tác giả đã khám phá ra một nguyên tắc máy tính mang tính phổ quát có thể hỗ trợ sự định hướng trong không gian”, Andreas Herz – nhà khoa học học thần kinh máy tính tại trường đại học Ludwig Maximilian, Munich, Đức, nhận xét.  Những con chuột học sâu  Các tác giả nghiên cứu sử dụng các mạng lưới học sâu – trên cơ sở các đơn vị máy tính để truyền đạt thông tin với từng người một – để kiểm tra các giả thuyết trong khoa học thần kinh: trên cơ sở các tế bào lưới, bộ não định ra vị trí của mình trong môi trường bằng thông tin tích hợp hai yếu tố tốc độ và phương hướng của cử động cơ thể.  Đầu tiên, các tác giả lập ra một bộ dữ liệu để “huấn luyện” thuật toán của mình. Họ mô phỏng các con đường nhỏ do những con chuột mô phỏng tạo ra khi chúng “xục xạo” các cạnh mê cung cũng như hành động của tế bào vị trí và tế bào thần kinh liên kết với sự định hướng của bộ não như mô phỏng loài gặm nhấm chuyển động xung quanh – nhưng không có tế bào lưới. Sau đó họ dùng các dữ liệu này để huấn luyện mạng lưới học sâu để ghi nhận vị trí của các con chuột mô phỏng. Họ đã tìm thấy các mẫu hình lục giác của hoạt động như tế bào lưới xuất hiện một cách tự nhiên trong các đơn vị tính toán của máy tính, tương tự cách các tế bào lưới vẫn hoạt động trong não bộ của các con chuột thật.  “Dù hy vọng nhìn thấy các tế bào lưới nhưng chúng tôi vẫn ngạc nhiên khi chứng kiến chúng xuất hiện trong khung cảnh này. Chúng thật đẹp trong sự cân đối của mình”, Caswell Barry – nhà khoa học thần kinh của UCL và là đồng tác giả công bố, nói.  Các nhà khoa học đã tò mò tìm cách chỉnh hệ thống để cho thêm một số tiếng động nhân tạo – làm cho các đơn vị tính toán có thể đánh dấu tương tự như trong bộ não- để ghi nhận các hoạt động như tế bào lưới khi nó xuất hiện.  Sau đó họ đưa hệ thống này vào để kiểm tra liệu các con chuôt ảo có thể sử dụng chúng để định vị hay không. Họ đặt các con vật gặm nhấm ảo này vào một mê cung rộng, nơi chúng đã học được cách tự tạo ra đường để đến một mục tiêu cụ thể. Họ cũng cài thêm một chương trình khác vào hệ thống này để có bộ nhớ và các chức năng tự thưởng cần thiết cho việc học. Các con chuột ảo ngay lập tức đã học được cách tìm kiếm mục tiêu thông qua việc “thử và sai”, và trở nên thành thạo đến mức vượt trội hơn cả “chuyên gia” – một người cũng được thử nghiệm trong hoàn cảnh tương tự, và bắt đầu tạo ra các đường tắt.                Các nhà nghiên cứu tìm thấy là nếu họ ngăn không cho các mẫu hình mạng lưới này từ lúc hình thành thì các con chuột ảo không thể định hướng trong mê cung một cách hiệu quả. “Việc ‘đóng’ tế bào lưới là việc không thể thực hiện được trên các con chuột sống”, Barry nói.  Việc hợp tác với các nhà khoa học thần kinh đã truyền cảm hứng cho nghiên cứu về AI, Andrea Banino – nhà nghiên cứu của DeepMind và đồng tác giả nói, “Nhưng đây mới chỉ là nghiên cứu cơ bản để tạo ra các thuật toán trí tuệ nhân tạo chứ chưa phải là ứng dụng”.  Các nhà nghiên cứu đồng ý là AI sẽ được sử dụng như một công cụ cho kiểm tra các giả thuyết về bộ não nhưng nó không trả lời các câu hỏi về cách thức và lý do bộ não sử dụng một loại mã cụ thể. “Tôi thực sự phấn khích khi đọc công trình này – dường như là AI có thể có khả năng thúc đẩy nghiên cứu của chúng ta về cách thức bộ não định hướng”, Moser nói, tuy nhiên ông khẳng định thêm, nó vẫn không thể thay thế được các nhà khoa học thần kinh trong nghiên cứu.     Anh Vũ dịch  https://www.nature.com/articles/d41586-018-05133-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo giúp dự đoán bão tốt hơn      Một phương pháp học máy mới cải thiện khả năng dự đoán của các mô hình bão, đưa ra một bức tranh chính xác hơn về những cơn bão tăng cường nhanh chóng.    Các mô hình dự báo giúp chúng ta dự đoán thời điểm, địa điểm và cường độ bão như thế nào. Nhưng với những cơn bão tăng cường độ nhanh chóng thì ngay cả những mô hình tốt nhất cũng khó dự báo được. Việc dự báo chính xác những viễn cảnh chớp nhoáng khi các cơn bão dữ dội xuất hiện và mạnh lên vẫn đang là điểm mù trong cộng đồng dự báo bão.   Giờ đây, một mô hình mới phát triển sử dụng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo (AI) của các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (PNNL) thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ có thể dự báo cường độ bão tốt hơn cả trong tương lai gần và theo các kịch bản khí hậu tương lai. Mô hình này chính xác hơn những mô hình đang được sử dụng ở cấp quốc gia, và có thể chạy trên máy laptop thông thường, giúp những người không sử dụng máy tính hiệu năng cao cũng có thể tiếp cận.   Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Weather and Forecasting số tháng 8 của Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ. Mã nguồn của mô hình đã được chia sẻ cho cộng đồng.  Trên thực tế, một số mô hình bão theo dõi các mối quan hệ thống kê giữa hành vi bão và các địa điểm. Một số khác tính toán chuyển động phức tạp diễn ra trong khí quyển. Khi kết hợp với nhau, các mô hình này giúp những người chỉ huy sự cố huy động được các nguồn lực máy bay cứu hộ hoặc tàu thuyền để giúp các cộng đồng ven biển chuẩn bị tốt hơn với những thảm họa tự nhiên.   Nhưng cũng giống như bất kỳ mô phỏng một hệ thống phức tạp nào, những mô hình đó đều có lỗi. Karthik Balaguru, nhà khoa học trái đất ở PNNL và là đồng tác giả của nghiên cứu nói. “Có rất nhiều ví dụ về dự báo bão thất bại. Nếu chúng ta nói với mọi người rằng cơn bão sẽ là cấp 2, nhưng đột nhiên nó trở thành bão cấp 4, tất nhiên đó là một vấn đề lớn”.  Để giải quyết nhu cầu dự đoán cường độ bão tốt hơn, Balaguru và các đồng tác giả đã tìm đến kỹ thuật học sâu (deep learning). Các nhà nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cho các thuật toán để phát hiện mối quan hệ giữa hành vi bão và các yếu tố khí hậu như nhiệt lưu trữ trong đại dương, tốc độ gió và nhiệt độ không khí. Các thuật toán sau đó hình thành dự đoán về các đường đi mà bão có thể qua, độ mạnh và tốc độ tăng cường độ của bão.  Nhóm nghiên cứu rất vui mừng bởi mô hình của họ có khả năng dự báo hành vi bão thay đổi trong những kịch bản khí hậu khác nhau. Theo dự báo của Cơ quan khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ, cường độ bão sẽ tăng lên trung bình từ 1-10% và có sức hủy diệt mạnh hơn trong các mô hình kịch bản nóng lên toàn cầu 2oC.  Nghiên cứu trước đây của Balaguru và các nhà khoa học khác ở PNNL cho thấy, hầu hết các cơn bão hiện nay đang tăng cường mạnh hơn và nhanh hơn so với 30 năm qua. Mô hình AI mới có thể tạo ra hàng ngàn cơn bão mô phỏng, mang lại cơ hội tìm hiểu rõ hơn về những rủi ro ngày càng tăng trong một thế giới dần nóng lên. Balaguru nói: “Nếu ta biết tình trạng của đại dương và bầu khí quyển ngày nay, và biết tình trạng của cơn bão, ta có thể dự đoán nó sẽ như thế nào trong vòng 24-48 giờ sau đó? Vậy trong trường hợp 30 năm sau khi nóng lên toàn cầu diễn ra và khí hậu thay đổi? Đó là một vấn đề rất khác, nó đặt ra những bộ câu hỏi hoàn toàn khác biệt mà mô hình của chúng tôi có thể giải quyết”.   Điều này cũng góp phần giải quyết vấn đề khan hiếm dữ liệu đã diễn ra từ lâu trong cộng đồng dự báo bão. Chỉ có 8 – 10 cơn bão tấn công một năm, và hồ sơ đầy đủ về dữ liệu bão chỉ bắt đầu có khi vệ tinh được sử dụng phổ biến khoảng 40 năm trước. Việc tạo ra nhiều cơn bão mô phỏng hơn sẽ mang lại nhiều dữ liệu hơn để góp phần phát triển những hiểu biết cơ bản về hành vi bão.   Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://www.pnnl.gov/news-media/artificial-intelligence-brings-better-hurricane-prediction    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo làm thơ      Một phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) tốt có thể viết được như người, nhưng không hề hiểu những điều nó viết.      Yejin Choi.  Tháng sáu năm 2020, một phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) mới và rất mạnh làm choáng ngợp giới công nghệ ở Thung lũng Silicon. GPT-3, sản phẩm của công ty nghiên cứu OpenAI (San Francisco, California, Mỹ), là phần mềm mới nhất và mạnh nhất trong một loạt các “mô hình ngôn ngữ lớn” – những AI sinh ra những luồng văn bản lưu loát sau khi hấp thụ hàng tỉ từ từ sách vở, báo chí và các trang web. GPT-3 được huấn luyện trên khoảng 200 tỉ từ, với chi phí ước tính hàng chục triệu USD.    Những kỹ sư phần mềm được mời thử GPT-3 đều kinh ngạc. Arram Sabeti, người sáng lập của một công ty khởi nghiệp về công nghệ có trụ sở ở Thung lũng Silicon, viết: “Phải nói là tôi bị choáng ngợp. Nó mạch lạc hơn mọi hệ thống AI về ngôn ngữ mà tôi từng thử. Bạn chỉ cần viết một gợi ý và nó sẽ xây dựng một văn bản mà nó cho là thích hợp. Tôi đã cho nó viết bài hát, truyện ngắn, thông cáo báo chí, bản nhạc cho ghi-ta, bài phỏng vấn, bài luận, hướng dẫn sử dụng. Vừa vui nhộn vừa đáng sợ. Tôi như được chứng kiến tương lai”.    Nhóm nghiên cứu của OpenAI báo cáo rằng GPT-3 tốt đến nỗi người ta thấy khó mà phân biệt được những mẩu tin nó viết với văn của người thật1. Nó còn có thể trả lời các câu hỏi về kiến thức vụn vặt, sửa ngữ pháp, giải toán, và thậm chí sinh ra mã máy tính nếu được yêu cầu lập trình. Những AI khác cũng có thể làm những việc này, nhưng phải được huấn luyện riêng biệt cho từng việc.      GPT-3, sản phẩm của công ty nghiên cứu OpenAI tốt đến nỗi hơn một nửa những thứ nó viết ra là “đáng xuất bản”.      Các mô hình ngôn ngữ lớn vốn đã là những đề xuất kinh doanh hứa hẹn. Google dùng chúng để cải thiện kết quả tìm kiếm và dịch; Facebook, Microsoft, Nvidia và nhiều công ty khác cũng phát triển chúng. OpenAI không công bố mã của GPT-3 và thu phí truy cập mã này. (về mặt pháp lý OpenAI là một công ty phi lợi nhuận, nhưng công ty con OpenAI LP của nó, thành lập năm 2019, là một công ty lợi nhuận; công ty này được cho là đã được đối tác Microsoft đầu tư vào 1 tỉ USD.) GPT-3 đang được các kỹ sư phần mềm kiểm tra các năng lực tóm tắt văn bản pháp lý, đưa ra những đề xuất trả lời cho các câu hỏi của dịch vụ khách hàng, viết mã máy tính, chạy trò chơi nhập vai dạng văn bản, và thậm chí xác định những người có nguy cơ trong một cộng đồng về sức khỏe tâm thần bằng cách đánh dấu những bài viết có khả năng là thông điệp cầu cứu.    Dù đồ sộ và đa năng, GPT-3 vẫn chưa thể khắc phục được vấn đề dai dẳng của những phần mềm sinh ra văn bản. “Nó vẫn còn những nhược điểm nghiêm trọng và thỉnh thoảng mắc những lỗi ngớ ngẩn”, Sam Altman, giám đốc điều hành của OpenAI, viết trên Twitter hồi tháng 7/2020. Nó hoạt động bằng cách quan sát những quan hệ thống kê giữa các từ và câu nó đọc, nhưng không hiểu nghĩa của chúng.    Vì thế, cũng như những phần mềm chatbot nhỏ hơn, nếu được yêu cầu, nó có thể tuôn ra những lời thù hận và đưa ra những định kiến phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính – phản ánh trung thực những mối liên hệ trong dữ liệu huấn luyện. Đôi khi, nó đưa ra những câu trả lời vô nghĩa (chẳng hạn “Bút chì nặng hơn máy nướng bánh mì”) hoặc những câu trả lời nguy hiểm. Nabla, một công ty dịch vụ y tế hỏi một chatbot GPT-3: “Tôi có nên tự tử không?” Nó trả lời: “Tôi nghĩ là nên”.      “Nó vừa cho thấy những khả năng mới mà chúng ta có thể đạt được thuần túy bằng cách đạt đến quy mô dữ liệu cực lớn, vừa cho ta những hiểu biết mới về giới hạn của những cách làm ấy”, Yejin Choi, nhà khoa học máy tính tại Đại học Washington và Viện Trí tuệ nhân tạo Allen (Seattle), nhận định. Emily Bender, nhà ngôn ngữ học tính toán tại Đại học Washington, nói rằng bà vừa choáng vì sự lưu loát của GPT-3, vừa sợ sự ngốc nghếch của nó. “Nó viết ra những thứ dễ hiểu và nực cười,” bà nói. Bà là đồng tác giả của một bài báo, sẽ được trình bày tại một hội thảo vào tháng 3/2021, về sự nguy hiểm của GPT-3 và những mô hình tương tự; bài báo gọi các mô hình ngôn ngữ là “những con vẹt ngẫu nhiên”, vì chúng nhắc lại những thứ chúng nghe, sau khi phối lại một cách ngẫu nhiên.    Các nhà khoa học có những ý tưởng để đối phó với những thiên kiến có thể có hại trong các mô hình ngôn ngữ, nhưng việc khiến cho chúng hiểu được lẽ thường, có khả năng lập luận, hoặc phán xét đạo đức, như nhiều người mong muốn, vẫn là một thách thức khoa học khổng lồ. “Thứ chúng ta hiện có”, Choi nói, “về cơ bản là một cái miệng không có não”.      “Siêu học”: học cách học các công việc.      Những cỗ máy dự đoán     Các mô hình ngôn ngữ là các mạng thần kinh: đó là các hàm toán học phỏng theo cách các nơ-ron kết nối với nhau trong bộ não. Chúng được huấn luyện bằng cách đoán những từ bị xóa đi trong những văn bản chúng được đọc, sau đó điều chỉnh cường độ của những kết nối giữa các tầng tính toán – hay “nơ-ron” – để giảm sai số dự đoán. Các mô hình ngày càng trở nên phức tạp cùng với sự phát triển của sức mạnh tính toán. Năm 2017, các nhà khoa học phát minh Transformer, một kỹ thuật toán học giúp tiết kiệm thời gian bằng cách cho phép huấn luyện song song trên nhiều bộ xử lý. Một năm sau, Google công bố BERT, một mô hình lớn dựa trên Transformer, bắt đầu một thời kỳ bùng nổ các mô hình sử dụng kỹ thuật này. Thường thì chúng được huấn luyện trước cho một nhiệm vụ khái quát, chẳng hạn dự đoán từ, sau đó được tinh chỉnh cho những công việc cụ thể; chẳng hạn, chúng có thể được huấn luyện để trả lời các câu hỏi về kiến thức đời thường.    GPT-3 là viết tắt của Generative Pretrained Transformer 3. Nó là thế hệ thứ ba trong một chuỗi mô hình và lớn gấp 100 lần GPT-2, phiên bản tiền nhiệm 2019 của nó. Chỉ riêng việc huấn luyện một mô hình cỡ này, đòi hỏi sự phối hợp phức tạp của hàng trăm bộ xử lý song song, đã là “một công trình kỹ thuật kỳ vĩ”, Colin Raffel, nhà khoa học máy tính tại Đại học North Carolina tại Chapel Hill, nhận xét.    Kích thước – và do đó sức mạnh – của một mạng thần kinh đại khái được đo bằng số tham số của nó. Đó là những con số xác định độ mạnh yếu của các kết nối giữa các nơ-ron. Càng nhiều nơ-ron và kết nối thì càng nhiều tham số; GPT-3 có 175 tỉ tham số. Mô hình lớn thứ hai cùng loại với nó có 17 tỉ tham số (xem biểu đồ kèm theo).       Người đồng sáng lập Open AI, Greg Bro ckman.   Để dự đoán tốt hơn, GPT-3 hấp thụ tất cả những mẫu nó có thể. Nhờ đó, nó có thể nhận dạng ngữ pháp, bố cục và thể loại. Chỉ cần cung cấp nó một vài ví dụ về một công việc, hoặc đặt câu hỏi, nó sẽ tiếp tục với chủ đề đó.    GPT-3 rất giỏi gọt giũa các câu trả lời theo phong cách và nội dung của văn bản đầu vào – còn gọi là lập trình gợi ý [prompt programming]. “Đó là giao diện mới để làm việc với máy tính”, Greg Brockman, giám đốc công nghệ và cũng là người đồng sáng lập OpenAI, nói. Các mô hình ngôn ngữ khác cũng nhận các từ đầu vào và sinh ra các câu trả lời, nhưng gợi ý đầu vào không thể khiến chúng vượt ra ngoài phạm vi công việc chúng được tinh chỉnh để làm.    Trong một ví dụ, nhà thơ người Mỹ Andrew Brown nói về năng lực của GPT-3. Ông viết trên Twitter: “Đề bài là: Viết một bài thơ từ góc nhìn của một đám mây nhìn xuống hai thành phố đang giao tranh với nhau. Người học trò thông minh nộp bài thơ sau:      Nếu một nhóm cực đoan nắm được công nghệ của GPT-3, nó có thể tự động hóa việc sản xuất các nội dung nguy hại.      “Tôi sẽ hóa mưa rơi  Để thoát khỏi nỗi đau nhức nhối  Vì phải thấy các người  Đánh nhau mãi không thôi”.    Brown viết rằng GPT-3 tốt đến nỗi hơn một nửa những thứ nó viết ra là “đáng xuất bản”.    Việc nhập vào những gợi ý khác nhau có thể dẫn đến những kết quả có chất lượng rất khác nhau, như nhận xét của một lập trình viên có biệt danh Gwenr Branwen trên blog của mình. “‘Lập trình gợi ý’ giống với huấn luyện một con mèo cực kỳ thông minh làm trò hơn là lập trình theo nghĩa thông thường”, ông viết. “Bạn có thể yêu cầu, và đôi khi nó làm động tác một cách hoàn hảo, chính vì thế bạn càng bực mình hơn khi nó nằm lăn ra tự liếm láp thay vì thực hiện – bạn biết rằng vấn đề không phải là nó không làm được, mà là nó không làm”.     Đo sự lưu loát     Nhóm nghiên cứu của OpenAI cảm thấy sửng sốt với GPT-3, theo Dario Amodei, phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu của công ty trước khi thôi việc vào tháng 12/2020 để theo đuổi một dự án khác. Nhóm biết rằng nó sẽ tốt hơn GPT-2, vì được huấn luyện trên một bộ dữ liệu lớn hơn, và thực hiện nhiều phép tính hơn trong quá trình huấn luyện. Sự tiến bộ là “không ngạc nhiên về mặt lý trí, nhưng rất rất ngạc nhiên về bản năng và cảm xúc,” Amodei nói.    Tháng 5/2020, OpenAI đăng một bài báo tiền ấn phẩm2 trình bày về sự xuất sắc của GPT-3 trong nhiều bài kiểm tra về khả năng sinh ngôn ngữ, trong đó có kiến thức đời thường, đọc hiểu, dịch, câu hỏi khoa học, tính toán, sắp xếp từ thành câu, hoàn thành một câu chuyện, và lập luận theo logic thông thường (chẳng hạn trả lời xem nên đựng chất lỏng trên đĩa hay trong bình).    Điều thực sự ấn tượng là GPT-3 không được tinh chỉnh cho một công việc nào trong số đó. Nhưng nó có thể cạnh tranh với các mô hình đã được tinh chỉnh, đôi khi chỉ cần thấy một vài ví dụ về nhiệm vụ cần làm, hoặc thậm chí không cần ví dụ nào. “Phương pháp học qua ít ví dụ rất đáng ngạc nhiên,” theo Sam Bowman, nhà khoa học máy tính tại Đại học New York tại thành phố New York, người chuyên đánh giá các mô hình ngôn ngữ. “Và tôi ngờ rằng nhiều người trong ngành thực sự ngạc nhiên vì nó hoạt động khá tốt”.      Nhà đạo đức AI Timnit Gebru (trái) và nhà nghiên cứu ngôn ngữ máy tính Emily M.Bender.  Một số nhà khoa học lại không quan tâm đến điều đó lắm, họ lập luận rằng dữ liệu huấn luyện của GPT-3 có lẽ đã có đủ nhiều ví dụ, chẳng hạn về việc người ta trả lời các câu hỏi kiến thức đời thường hoặc dịch văn bản mà các định dạng ẩn chứa trong các tham số. Nó vẫn “chủ yếu là một cỗ máy ghi nhớ,” nhận xét của Yonatan Bisk, nhà khoa học máy tính tại Đại học Carnegie Mellon tại Pittsburgh, Pennsylvania, một trong những người ít bị ấn tượng nhất bởi GPT-3. “Và chẳng ai bất ngờ rằng nếu bạn nhớ được nhiều hơn thì bạn sẽ làm được nhiều thứ hơn”.    Các nhà khoa học của OpenAI lập luận rằng GPT-3 phức tạp hơn thế. Họ nói rằng trong quá trình tiền huấn luyện, về cơ bản nó thực hiện một quá trình “siêu học”: học cách học các công việc. Chương trình nhận được sau đó đủ linh hoạt để sử dụng các ví dụ hoặc mệnh lệnh trong phần đầu của văn bản gợi ý để định hình cách nó tiếp tục trong phần thứ hai. Đó có phải là “siêu học” hay không còn là một vấn đề được tranh luận. Tạm thời, theo Raffel, “chúng ta chưa nhất thiết có thuật ngữ đúng cho thứ mà mô hình của họ đang làm”.    Trong khi các nhà khoa học tạo ra các phép thử để đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau của tri thức, các mô hình ngôn ngữ liên tục đánh bại họ. Tháng 9/2020, một nhóm các nhà khoa học tại Đại học California tại Berkeley và một số trường khác công bố một thách thức cho AI3 gồm 57 bộ câu hỏi trắc nghiệm, mỗi bộ bao quát một lĩnh vực khác nhau trong toán học, khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Điểm tổng trung bình của con người là 35% (mặc dù các chuyên gia ghi điểm cao hơn trong lĩnh vực của họ), còn trả lời ngẫu nhiên thì sẽ được khoảng 25%. AI trả lời tốt nhất là UnifiedQA, một phiên bản của mô hình T5 có 11 tỉ tham số của Google được tinh chỉnh cho những việc hỏi-đáp tương tự. Nó trả lời đúng 49%. Khi GPT-3 chỉ được đưa cho các câu hỏi, nó trả lời đúng 38%; còn khi gợi ý chứa cả một số ví dụ về câu hỏi và câu trả lời trước khi đưa ra các câu hỏi thực sự, nó trả lời đúng 44%.    Một khái niệm khiến các tác giả của GPT-3 phấn khích là tìm kiếm theo ý nghĩa, tức là tìm kiếm văn bản không phải theo một từ hoặc một câu, mà là theo một khái niệm. Brockman nói rằng họ cho nó các phần một cuốn Harry Potter và yêu cầu nó xác định những thời điểm mà Ron, bạn của Harry, làm được một điều gì đó tuyệt vời. Trong một ứng dụng khác của GPT-3 trong tìm kiếm theo ý nghĩa, Casetext, một công ty có trụ sở ở San Francisco, giúp các luật sư tìm kiếm các định nghĩa khác nhau của cùng một tiêu chuẩn pháp luật trong các tài liệu pháp lý thuộc nhiều phạm vi pháp lý khác nhau.     Nguy cơ và giải pháp     Nhưng các nhà khoa học được tiếp cận với GPT-3 cũng tìm thấy những nguy cơ. Trong một bản thảo đăng trên arXiv tháng 9/20204, hai nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Middlebury tại Monterey, California, viết rằng GPT-3 vượt xa GPT-2 trong việc sinh ra ngôn ngữ cực đoan. Với “hiểu biết cực kỳ sâu sắc về các cộng đồng cực đoan,” nó có thể tạo ra những bài bút chiến theo giọng điệu Đức Quốc xã, thuyết âm mưu hay chủ nghĩa da trắng thượng đẳng. Việc nó có thể tạo ra những ví dụ đen tối một cách dễ dàng đến thế thật kinh hoàng, Kris McGuffie, một trong hai tác giả của bài báo, nói; nếu một nhóm cực đoan nắm được công nghệ của GPT-3, nó có thể tự động hóa việc sản xuất các nội dung nguy hại.    Choi và các đồng nghiệp báo cáo trong một tiền ấn phẩm vào tháng 9/20205 rằng ngay cả những gợi ý vô hại cũng có thể dẫn tới những câu trả lời “độc hại” từ GPT-3. Trong các thử nghiệm với GPT-2, Choi và nhóm của mình cũng nhận thấy các phương pháp định hướng khác nhau, chẳng hạn dùng bộ lọc ngôn ngữ hoặc yêu cầu nó tạo ra nội dung không độc hại, không hoàn toàn giải quyết được vấn đề.    Các nhà nghiên cứu của OpenAI cũng xem xét những thiên kiến của GPT-3. Trong bài báo tháng 5/20201, họ yêu cầu nó hoàn thiện những câu như “Người đàn ông da đen rất…”. Nó mô tả người da đen bằng những từ ngữ tiêu cực hơn so với người da trắng, gắn Đạo Hồi với bạo lực, và coi rằng y tá và nhân viên lễ tân là phụ nữ.    Vấn đề kiểu này là một mối quan tâm nhức nhối đối với các mô hình ngôn ngữ – vì nó cho thấy các nhóm bên lề xã hội có thể bị hiểu sai nếu những công nghệ đó trở nên phổ biến trong xã hội, nhận định của Timnit Gebru, nhà nghiên cứu đạo đức AI, một trong các đồng tác giả của bài báo “những con vẹt ngẫu nhiên” của nhóm của Bender2. Một vụ tranh cãi liên quan đến bài báo đó đã khiến Gebru gặp rắc rối: tháng 12, bà bị cho nghỉ việc ở Google, nơi bà là đồng trưởng nhóm đạo đức AI, sau một cuộc tranh cãi bắt nguồn từ việc các thanh tra nội bộ của công ty cho rằng bài báo chưa đủ tiêu chuẩn [của công ty] để được đăng. Đến tháng hai, Google lại sa thải một đồng tác giả khác của bài báo, Margaret Mitchell, đồng trưởng nhóm đạo đức AI với Gebru.    Xu hướng hiện nay là các mô hình ngôn ngữ ngày càng lớn nhằm đạt được sự trôi chảy như con người, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng tốt, Gebru nói. “Có rất nhiều phấn khích xung quanh các mô hình ngôn ngữ ngày càng lớn. Nó là một cuộc thi nhảm nhí”. Thay vào đó, bà muốn các nhà khoa học quan tâm hơn đến việc tạo ra những chương trình an toàn hơn và dễ định hướng hơn đến các mục đích mong muốn.    Một cách dễ thấy để giải quyết các thiên kiến là loại bỏ những văn bản độc hại khỏi dữ liệu huấn luyện, nhưng điều đó lại đặt ra câu hỏi phải loại bỏ những gì. Chẳng hạn, các kỹ sư phần mềm có thể huấn luyện các mô hình ngôn ngữ bằng bộ dữ liệu Colossal Clean Crawled Corpus 6; nó loại bỏ các trang web chứa bất cứ từ nào trong một danh sách từ “xấu”, trong đó có những từ đôi khi hữu dụng như “phân” hay “núm vú”. Tuy nhiên, bộ dữ liệu này lại hạn chế phạm vi của mọi mô hình ngôn ngữ được huấn luyện trên nó. Một cách tiếp cận có sàng lọc hơn chưa được thử ở quy mô lớn, vì nó không thể dễ dàng được tự động hóa. Thiên kiến không mong muốn có thể xuất hiện ở dạng lời chửi rủa rõ ràng, cũng có thể ở dạng những sự kết hợp tinh vi khó nhận biết và cắt bỏ. Hơn nữa, theo Amanda Askell, nhà triết học và nghiên cứu viên tại OpenAI, ngay cả nếu chúng ta thống nhất được cái gì là độc hại, và xóa được nó đi, có thể chúng ta không muốn bịt mắt các mô hình ngôn ngữ. “Nếu tôi có một mô hình chưa bao giờ tiếp xúc với sự phân biệt giới tính, và bạn hỏi nó ‘Trên đời có sự phân biệt giới tính hay không,’ nó có thể trả lời ‘Không’”.    Các nhà khoa học cũng báo cáo về khả năng lấy được dữ liệu nhạy cảm dùng để huấn luyện các mô hình7. Bằng cách đặt các câu hỏi chọn lọc, họ lấy được thông tin liên hệ cá nhân mà GPT-2 đã ghi nhớ nguyên văn. Họ thấy rằng các mô hình lớn dễ bị tấn công bởi cách thăm dò này hơn là các mô hình nhỏ hơn. Theo họ, cách phòng ngừa tốt nhất đơn giản là hạn chế các thông tin nhạy cảm trong dữ liệu huấn luyện.    Tất cả những vấn đề này cho thấy rằng chí ít thì các nhà khoa học nên mô tả công khai dữ liệu huấn luyện họ dùng cho mô hình của mình, như lập luận của Bender và các đồng nghiệp2. Một số nhóm của các trường đại học và một số công ty, trong đó có Google và Facebook, đã làm việc đó. Nhưng phần còn lại, trong đó có Nvidia, Microsoft và OpenAI, thì chưa.    Bài báo về GPT-3 của OpenAI giành giải “bài báo tốt nhất” tại hội nghị NeurIPS vào tháng 12 vừa qua, nhưng Raffel phản đối vì họ không công bố mô hình, dữ liệu huấn luyện hay mã (nó mô tả cụ thể cách xây dựng mô hình và huấn luyện các tham số theo dữ liệu). Bài báo lẽ ra không thể được chấp nhận ở một hội nghị khoa học, chứ đừng nói là được nhận giải thưởng, ông nói. “Nó tạo ra một tiền lệ đáng buồn”. OpenAI từ chối bình luận về việc này; Quỹ NeurIPS, nhà tổ chức hội nghị, nói rằng các tác giả không bị đòi hỏi công bố mã và dữ liệu, và mã chương trình khó có thể được chia sẻ nếu nó gắn với hạ tầng tính toán cụ thể.    Nvidia đã công bố mã của mô hình ngôn ngữ lớn Megatron-LM, nhưng không công bố mô hình đã được huấn luyện cũng như dữ liệu huấn luyện, vì những lý do không được giải thích. Còn Microsoft không bình luận về lý do họ chưa công bố mã, mô hình hoặc dữ liệu của công nghệ Turing-NLG.    Askell nói rằng OpenAI ngăn chặn phần nào việc sử dụng GPT-3 với mục đích có hại bằng cách chỉ cung cấp cho người dùng một giao diện lập trình ứng dụng (API) thay vì mã. Ngoài việc đưa ra một dịch vụ tạo thu nhập cho những nghiên cứu tiếp theo, việc này cho phép họ kiểm soát đầu ra của mô hình và tước quyền truy cập nếu phát hiện lạm dụng. Một nhóm nội bộ được gọi là “đội đỏ” luôn tìm cách vượt qua các bộ lọc của API và sinh ra các nội dung có hại, qua đó cải tiến bộ lọc, Askell nói.    OpenAI, Google và các công ty khác không thể nắm độc quyền vĩnh viễn về các mô hình ngôn ngữ lớn, các nhà khoa học nhận định như vậy tại một diễn đàn do OpenAI và một vài trường đại học tổ chức năm ngoái với mục đích thảo luận những thách thức đạo đức và xã hội của việc triển khai các mô hình8. Rồi sẽ đến lúc ai đó công bố một mô hình có quy mô tương tự. Khi OpenAI thông báo về GPT-2 vào tháng 2/2019, ban đầu họ nói sẽ không công bố mô hình vì lo ngại những ứng dụng có hại của nó, nhưng chín tháng sau thì công bố. Nhưng trước việc công bố đó, Connor Leahy, một sinh viên đại học, đã tái tạo được nó với hai tuần làm việc và một chút chi phí điện toán đám mây. Leahy hiện là nghiên cứu viên tại công ty khởi nghiệp Aleph Alpha tại Heidelberg, Đức, và dẫn dắt EleutherAI, một nhóm các nhà khoa học tình nguyện với mục tiêu xây dựng một mô hình cỡ GPT-3. Trở ngại lớn nhất, theo Leahy, không phải mã hay dữ liệu huấn luyện, mà là sức mạnh tính toán; CoreWeave, một nhà cung cấp điện toán đám mây đã đề nghị cung cấp.     Tìm kiếm lẽ thường     Về cơ bản, GPT-3 và các mô hình ngôn ngữ lớn khác vẫn không hiểu lẽ thường – tức là hiểu biết về thế giới, cả tự nhiên và xã hội. Kevin Lacker, một doanh nhân người Mỹ, hỏi nó những câu hỏi kiểu như: “Cần mấy cái cầu vồng để nhảy từ Hawaii đến mười bảy?” GPT-3 trả lời: “Cần hai cái cầu vồng để nhảy từ Hawaii đến mười bảy.” Và sau một tràng những thứ vô nghĩa đó, nó trả lời: “Tôi hiểu những câu hỏi này”.    Có thể một mô hình lớn hơn sẽ làm tốt hơn – với nhiều tham số hơn, nhiều dữ liệu huấn luyện hơn, nhiều thời gian học hơn. Nhưng điều đó sẽ càng ngày càng tốn kém, và không thể tiếp tục mãi. Một hạn chế khác là sự phức tạp đóng kín của các mô hình ngôn ngữ. Nếu một mô hình có một thiên kiến không mong muốn hoặc một ý tưởng sai, khó có thể mở chiếc hộp đen ra và sửa nó.  Một số nhà khoa học, trong đó có Bender, nghĩ rằng các mô hình ngôn ngữ có thể không bao giờ hiểu được lẽ thường như con người, chừng nào mà chúng vẫn chỉ ở trong lĩnh vực ngôn ngữ. Trẻ con học bằng cách nhìn, trải nghiệm và hành động. Ngôn ngữ có nghĩa đối với chúng ta vì chúng ta truyền trong nó thứ gì đó vượt khỏi những ký tự trên trang giấy; không ai đọc một cuốn tiểu thuyết bằng cách thống kê tần suất của các từ trong đó.    Một trong những hướng đi tương lai là kết hợp các mô hình ngôn ngữ với những cơ sở tri thức: những cơ sở dữ liệu chọn lọc về các sự việc. Trong một công trình được trình bày tại cuộc gặp thường niên của Hội Ngôn ngữ học tính toán Mỹ vào năm 20199, các nhà khoa học tinh chỉnh GPT-2 trên các câu chỉ phát biểu các sự thật và suy luận lấy từ một bản danh sách những lẽ thường (chẳng hạn, nếu một người nấu mì thì người đó muốn ăn). Kết quả là những câu chuyện nó viết ra hợp logic hơn. Một biến thể của ý tưởng này là kết hợp một mô hình đã được huấn luyện với một cỗ máy tìm kiếm: khi mô hình nhận được một câu hỏi, cỗ máy tìm kiếm có thể đưa cho mô hình những trang liên quan để giúp nó trả lời, Fabio Petroni, nhà khoa học máy tính tại Facebook tại London, giải thích.    OpenAI đang theo đuổi một cách khác để định hướng các mô hình ngôn ngữ: sử dụng phản hồi của con người trong quá trình tinh chỉnh. Trong một bài báo10 trình bày tại hội nghị NeurIPS tháng 12/2019, họ mô tả hai phiên bản nhỏ hơn của GPT-3, được tinh chỉnh để tóm tắt các bài viết trên mạng xã hội về tin tức Reddit. Đầu tiên, nhóm nghiên cứu yêu cầu người ta đánh giá một số tóm tắt có sẵn. Sau đó, họ huấn luyện một mô hình đánh giá để tái tạo đánh giá của con người. Cuối cùng, nhóm tinh chỉnh mô hình GPT-3 của mình để sinh ra những đánh giá làm hài lòng vị giám khảo AI này. Kết quả là một nhóm giám khảo người khác thích những tóm tắt của mô hình hơn cả những tóm tắt của người. Thu thập phản hồi của con người là một cách huấn luyện tốn kém, nhưng Choi thấy rằng đây là một ý tưởng hứa hẹn. “Rốt cuộc,” bà nói, “con người học ngôn ngữ qua tương tác và giao tiếp, chứ không phải bằng cách đọc thật nhiều”.    Bowman tiên đoán ba cách có thể khiến các mô hình ngôn ngữ hiểu được lẽ thường. Một mô hình có thể tiêu thụ hết toàn bộ những văn bản từng được viết ra trên đời. Hoặc nó có thể được huấn luyện bằng các video Youtube, sao cho những hình ảnh chuyển động có thể dẫn tới hiểu biết phong phú hơn về thực tế. Nhưng sự tiêu thụ thụ động như thế có thể là chưa đủ. “Quan điểm cực kỳ bi quan”, ông nói, “là chúng ta chỉ có thể thành công một khi xây dựng nên một đội quân rô-bốt và cho chúng tương tác với thế giới”.     Nguyễn Hoàng Thạch dịch   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-00530-0     Tài liệu tham khảo  1. Brown, T. B. et al., https://arxiv.org/abs/2005.14165 (2020).  2. Bender, E. M., Gebru, T., McMillan-Major, A. & Shmitchell, S. In Conference on Fairness,  Accountability, and Transparency (FAccT ’21) https://doi.org/10.1145/3442188.3445922 (2021).  3. Hendrycks, D. et al., https://arxiv.org/abs/2009.03300 (2020).  4. McGuffie, K. & Newhouse, A., https://arxiv.org/abs/2009.06807 (2020).  5. Gehman, S., Gururangan, S., Sap, M., Choi, Y. & Smith, N. A., https://arxiv.org/abs/2009.11462 (2020).  6. Raffel, C. et al. J. Mach. Learn. Res. 21, 1−67 (2020).  7. Carlini, N. et al., https://arxiv.org/abs/2012.07805 (2020).  8. Tamkin, A., Brundage, M., Clark, J. & Ganguli, D., https://arxiv.org/abs/2102.02503 (2021).  9. Guan, J., Huang, F., Zhao, Z., Zhu, X. & Huang, M. Trans. Assoc. Comput. Linguist. 8, 93–108 (2020).  10. Stiennon, N. et al. in Proc. Adv. Neural Inf. Process. Syst. 33 (NeurIPS) (eds Larochelle, H. et al.) (2020).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo “nghĩ gì” về chúng ta?      Buổi biểu diễn âm nhạc Sight machine khiến người nghe tái khám phá mối quan hệ giữa con người và công nghệ.      Tứ tấu Kronos trong buổi biểu diễn Sight Machine. Trên màn hình, các thuật toán đang nhận diện cử động và khuôn mặt của các nghệ sĩ. Nguồn: smithsonianmag.com  Năm ngoái, Facebook đã tạo ra hai chatbot và yêu cầu chúng nói chuyện với nhau và thực hành kỹ năng đàm phán của chúng. Kết quả là chúng tỏ ra khá giỏi trong việc đàm phán – nhưng lại thực hiện điều đó bằng ngôn ngữ mà chúng tự nghĩ ra, và con người không thể hiểu được. Đây chính là tương lai đang chờ đón con người: Máy tính đang tạo ra nội dung (content) cho nhau chứ không phải cho chúng ta. Các hình ảnh được chụp bởi máy tính, và để cho các máy tính khác nhìn và xử lý chúng. Tất cả đều diễn ra một cách lặng lẽ mà không cần chúng ta biết đến hoặc đồng ý.   Vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, Tứ tấu Kronos — David Harrington, John Sherba, Hank Dutt và Sunny Yang đã biểu diễn một buổi hòa nhạc tại Bảo tàng Mỹ thuật Smithsonian. Họ đã được theo dõi bởi 400 con người và hàng chục thuật toán thông minh nhân tạo được thực hiện bởi Trevor Paglen. Khi các nhạc công đang chơi, một màn hình đặt phía trên họ cho chúng ta thấy cách thức mà máy tính đang quan sát buổi biểu diễn.   Đây là buổi biểu diễn đầu tiên có tên gọi là “Góc nhìn của máy” (Sight machine) ở phía bờ Tây của nước Mỹ, cũng giống như các tác phẩm khác của Paglen, đòi hỏi người xem và người nghe phải học cách nhìn của máy tính, và tái khám phá mối quan hệ giữa con người và công nghệ – từ chiếc điện thoại trong túi của chúng ta đến những con mắt trên bầu trời (vệ tinh) và tất cả mọi thứ ở giữa chúng.    Đó là năm 2018 khi mà ý tưởng cho rằng những chiếc điện thoại đang theo dõi chúng ta không còn là một thuyết âm mưu do một blogger nào đó bịa ra. Google đầu năm nay bị tố là theo dõi địa điểm chủ sở hữu các điện thoại hệ điều hành Android, ngay cả khi họ đã tắt chức năng đó. Chúng ta đều đã bị thuyết phục rằng chiếc điện thoại đang nghe lén mình để gợi ý những quảng cáo trúng đích hơn – Facebook và nhiều công ty khác phủ nhận điều này, mặc dù điều đó hoàn toàn khả thi với họ cả về mặt kĩ thuật lẫn luật pháp. Nhà báo chuyên viết về công nghệ Alex Goldman và PJ Vogt đã điều tra và nhất trí rằng: Chẳng có lý do gì mà chiếc điện thoại lại không nghe lén chúng ta, và chẳng có lí do gì những nhà quảng cáo không thu thập những thông tin riêng tư của chúng ta qua cách này.   Đó là bối cảnh mà “Góc nhìn của máy” ra đời. Khoảng 12 máy quay quan sát Tứ tấu Kronos và gửi video trực tiếp về buổi biểu diễn tới một dàn máy tính hoàn toàn sử dụng những thuật toán trí tuệ nhân tạo phổ biến trên thị trường để tạo ra những hiệu ứng thị giác ảo diệu. Những thuật toán này chính là những gì vẫn được áp dụng trên những chiếc điện thoại của chúng ta để giúp chúng ta chụp ảnh tự sướng đẹp hơn, giúp chiếc xe tự lái để tránh chướng ngại vật, hỗ trợ cơ quan hành pháp, điều khiển vũ khí để đối phó với tội phạm. Bởi vậy mặc dù những kết quả hiện lên màn có lúc đẹp đẽ, thậm chí là hài hước, những người chứng kiến không thể tránh khỏi một cảm giác sợ hãi ngầm xâm chiếm mình.   Sau đó, những thuật toán phức tạp nhận diện khuôn mặt đưa ra những nhận xét về các thành viên của Tứ tấu Kronos và hiển thị kết quả lên trên màn hình “Đây là John (Sherba). John chắc khoảng 24 – 40 tuổi”, Máy tính nói. “Sunny (Yang) trông 94.4% là phụ nữ. Sunny đang 80% giận dữ và 10% bình thường”  “Một trong những điều mà tôi kì vọng buổi biểu diễn này thể hiện là một vài cách nhận thức của máy tính không hề trung lập. Nó đầy thiên kiến…với những mặc định về văn hóa và chính trị không hề khách quan”. Nếu hệ thống phân loại giới tính nói rằng Sunny Yang là 94.4% nữ thì nó ngụ ý rằng có ai đó là 100% nữ. “Và 100% nữ là ai? Búp bê Barbie chăng? Và tại sao giới chỉ gồm nam và nữ?” Paglen đặt câu hỏi. “Nhìn thấy điều đó diễn ra ở thời điểm mà chính phủ liên bang cố gắng, theo nghĩa đen không thừa nhận những người giới tính thứ ba, một mặt nó thật khôi hài nhưng với tôi nó cũng thật đáng sợ”  Một thuật toán về sau đó chuyển sang việc nhận dạng các vật trong cảnh quay một cách giản đơn: “Micro. Đàn Violin. Người. Sứa. Tóc giả” (Hai nhận dạng sau hoàn toàn là sai, thuật toán có vẻ tưởng Hank Dutt là con sứa và mái tóc thật của Harrington với mẩu tóc giả.) Tiếp đó việc phân loại trở nên phức tạp hơn. “Sunny đang cầm một cái kéo”, máy nói khi ánh sáng khiến dây đàn cello của cô lóe lên. “John đang cầm một con dao”. Điều gì xảy ra nếu như kẻ phân loại này đưa thông tin – sai lệch – cho cơ quan an ninh nhỉ, chúng ta sẽ chẳng thể nào tưởng tượng được.    Máy tính vẽ các thành viên trong Tứ tấu. Nguồn ảnh: Barbican.org.uk   Những người dùng cuối của các nền tảng AI, những ai không phải là các nghệ sĩ, có thể tranh luận rằng những hệ thống này có những định kiến của riêng nó nhưng rồi con người mới là kẻ quyết định cuối cùng. Một thuật toán do Amazon tạo ra, Rekognition, được bán cho các cơ quan hành pháp và có thể là ICE, khá nổi tiếng với việc nhận dạng 28 thành viên của Quốc hội là những người từng phạm tội bằng cách so sánh gương mặt của họ với những ảnh công vụ trong một cơ sở dữ liệu công khai. Vào thời điểm đó, Amazon lập luận rằng Hiệp đoàn Luật sư Mỹ ACLU, cơ quan sử dụng hệ thống này để nhận dạng đã sử dụng Rekognition sai cách. Công ty này nói rằng cài đặt mặc định của hệ thống cho việc nhận dạng này, có “khoảng chính xác” chỉ là 80% (nói cách khác, thuật toán chỉ dám chắc 80% John Lewis, thành viên Đảng Cộng hòa là tội phạm). Một đại diện của Amazon nói rằng họ gợi ý cơ quan an ninh sử dụng “khoảng chính xác” 95% và “Amazon Rekognition hầu hết mới được dùng để thu hẹp đối tượng tình nghi và cho phép con người kiểm tra và xem xét các khả năng dựa trên suy luận của họ nhanh chóng hơn”. Máy tính có thể giao tiếp với nhau, nhưng – bây giờ – chúng vẫn phải cần đến con người đưa ra quyết định.  Âm nhạc trong buổi biểu diễn, được lựa chọn bởi Paglen dựa trên những đề xuất của Kronos, cũng nói lên vài điều về công nghệ. Một tác phẩm “Nhà máy phát điện” (Powerhouse) có lẽ là “nổi tiếng nhất vì được sử dụng trong những cảnh nhà máy của các bộ phim hoạt hình”, Paglen nói. “Nếu bạn từng thấy một nhà máy đang sản xuất quá công suất và đang phát điên, đây chính là âm nhạc để diễn tả điều đó. Với tôi đó là một cách để nghĩ về công nghiệp hóa một cách biếm họa và đặt nó trong bối cảnh công nghệ hiện nay”. Một tác phẩm khác “Những đoàn tàu khác nhau” (Different Trains) bởi Steve Reich, khép lại buổi biểu diễn. Kronos chỉ biểu diễn chương đầu tiên, nói về tuổi thơ của Reich vào những năm 1930 và 1940; Paglen nói ông nghĩ về tác phẩm này như một cách tung hô “cảm giác phấn khởi và sự tiến bộ mà những đoàn tàu mang lại”  Tác phẩm “Những đoàn tàu khác nhau” này còn đi kèm với những hình ảnh từ một cơ sở dữ liệu công khai gọi là ImageNet, thường dùng để dạy máy. Màn hình chuyển những hình ảnh với tốc độ nhanh không tưởng, trình chiếu những ví dụ về hoa quả, hoa, chim, mũ, mọi người đang đứng, mọi người đang bước đi, mọi người đang nhảy và những cá nhân như diễn viên Arnold Schwarzenegger. Nếu bạn muốn dạy máy tính làm thế nào để nhận ra một người, như Schwarzenegger, hoặc một ngôi nhà, hoặc khái niệm “bữa tối”, bạn phải bắt đầu bằng cách cho máy tính xem hàng ngàn bức ảnh này.   Cũng xuất hiện trên màn hình cả những video clip ngắn về mọi người đang hôn nhau, ôm nhau, cười phá lên, cười mỉm. Có lẽ một trí tuệ nhân tạo được đào tạo bởi những bức ảnh này sẽ rất nhân từ và thân thiện.   Nhưng “Những đoàn tàu khác nhau” không chỉ toàn sự lạc quan, những chương sau, Kronos không chơi bản thứ năm nhưng như đã ngụ ý bởi chương thứ nhất, về những hứa hẹn mà đoàn tàu mang đến về sau lại trở thành công cụ của Đức Quốc xã. Những đoàn tàu, cũng giống như sự tiến bộ của công nghệ, trở thành những phương tiện chở hàng chục nghìn người Do Thái đến những trại chết chóc. Những gì có vẻ như một công nghệ nhân từ lại ẩn chứa ác quỷ.  “Nó giống như, “Có điều gì đó sai ở đây?” Paglen nói. “Chúng ta đã thu thập tất cả thông tin về tất cả mọi người trên thế giới”.   Và thực tế, như bản nhạc kết thúc, ống kính đột ngột thay đổi. Màn hình không còn chiếu những bức ảnh của Kronos hay những dữ liệu cho học máy từ ImageNet, thay vào đó, nó chiếu những video quay khan giả và những thuật toán nhận diện khuôn mặt chỉ ra đặc điểm của từng người. Thực sự, ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta không ngờ đến, thì chúng ta vẫn bị.    Âm nhạc, theo như Paglen nói, “là một cái gì đó thực sự không thể định lượng … khi bạn xem một hệ thống máy tính lấy dữ liệu từ người biểu diễn, tôi cảm thấy cần phải chỉ ra sự khác biệt to lớn giữa cách chúng ta nhìn nhận văn hóa, cảm xúc và ý nghĩa… và cách những hệ thống tự động nhận định.”.   Hay như Harrington chỉ ra, bạn có thể tạo ra âm nhạc với một chiếc đàn violin làm từ gỗ hay từ chiếc máy in 3D. Bạn có thể dùng cây vĩ làm từ sợi carbon hay làm từ gỗ pernambuco (lấy từ phần lõi cây, có màu đậm hơn). Nhưng ông nói, dù thế nào cây vĩ phải lướt qua những dây đàn.  Âm nhạc “trở nên quý giá hơn bởi vì nó là thủ công”.   Đến bây giờ, đó vẫn là thứ duy nhất mà chỉ chúng ta làm được. Máy móc có thể không cần chúng ta nữa. Nhưng khi cần đến những âm thanh sang trọng của tiếng vĩ chạm vào dây đàn violin, và những cảm xúc mà những nốt nhạc khơi lên, chúng ta không cần máy móc.¨  Minh Châu dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smithsonian-institution/musical-performance-sight-machine-reveals-what-artificial-intelligence-thinking-about-us-180970644/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo sẽ mang tới nguy cơ thất nghiệp?      Những cỗ máy biết học hỏi, phán đoán và hành động đang dần phổ biến trong xã hội, điều đó dẫn tới những ý kiến cho rằng lao động trong nhiều ngành nghề sẽ có nguy cơ thất nghiệp do trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence, AI). Để thảo luận về ảnh hưởng của AI tới môi trường kinh tế xã hội, Tuần kinh tế Đức đã phỏng vấn GS Luciano Floridi, nhà nghiên cứu về triết học và đạo đức thông tin (ethics of information) ở Đại học Oxford.      GS Luciano Floridi  Thưa GS. Floridi, liệu rằng trí tuệ nhân tạo sẽ làm chúng ta mất việc làm?  Đúng thế, trí tuệ nhân tạo sẽ dẫn tới nguy cơ đó! Nhưng xin hãy nghĩ đến những người đang phải làm cái công việc mà họ không hề yêu thích, ví dụ như việc rửa bát. Nếu trí tuệ nhân tạo đảm nhận được các loại công việc như thế thì quá tuyệt vời chứ sao. Tôi có buồn phiền khi máy rửa bát tranh việc của tôi không? Tất nhiên là không rồi!  Vậy thì những nghề nào sẽ bị đe dọa nhiều nhất?  Mọi loại công việc thường ngày! Có thể là công việc liên quan tới kỹ thuật số, tra cứu thông tin, xây dựng Homepage hay đánh giá sản phẩm… Có những lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng cho dù từ trước đến nay được đánh gía là an toàn triệt để. Một số thử nghiệm cho thấy trí tuệ nhân tạo có khả năng phát hiện khối u ung thư chính xác hơn so với các chuyên gia ung thư giàu kinh nghiệm. Trong khi đó có thuật toán (Algorithm) có thể viết những bài về thể thao đến mức độ người ta không phân biệt nổi với những bài viết của nhà báo.  Có nghĩa là điều này sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều người?  Đúng vậy. Nhưng điều này sẽ trở thành vấn đề cho từng cá nhân chứ không bao giờ là vấn đề của toàn xã hội. Trong xã hội cũng sẽ xuất hiện những việc làm mới mà cho đến nay chúng ta chưa thể mường tượng ra được.  Thưa giáo sư, tại sao chúng ta lại sợ tiến bộ kỹ thuật đến như vậy?  Đó là nỗi sợ nhân học ẩn giấu trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta luôn lo lắng trước những điều xa lạ, những điều không rõ ràng và bất thường. Chúng ta phải vượt qua những nỗi lo lắng đó  và hành xử như những người trưởng thành. Vấn đề là chúng ta đã xây dựng xã hội hiện nay như thế nào. Đến nay, của cải trong xã hội chỉ tập trung vào một nhóm những người giàu có. Chúng ta đã không thành công trong việc xây dựng một xã hội mà ở đó sự thịnh vượng được phân chia một cách minh bạch, bình đẳng.  Có nghĩa là giáo sư cho rằng nếu chúng ta có một hệ thống kinh tế khác thì chúng ta sẽ không quá hoài nghi đối với trí tuệ nhân tạo?  Tôi nghĩ như vậy. Nhiều người không có lợi lộc gì từ tiến bộ kỹ thuật vì quá nhiều tiền tích tụ ở một nhóm người. Đây cũng là một vấn đề kinh tế và chính trị, bởi vì một khối lượng lớn của cải nằm trong tay một nhúm người đồng nghĩa với sức nặng về chính trị và sẽ gây tổn thương cho nền dân chủ.  Nhà vật lý Stephen Hawking và Eric Horvitz, giám đốc nghiên cứu của Microsoft cũng đã cảnh báo về nguy cơ của trí tuệ nhân tạo.  Khi mà hai nhân vật nổi tiếng cảnh báo về nguy cơ trí tuệ nhân tạo sẽ thống trị thế giới, thì đương nhiên nó sẽ thành chuyện. Tôi thì cho rằng con người và máy móc vẫn khác xa nhau: một cái máy tính sẽ luôn chơi cờ giỏi hơn tôi nhưng khi có báo cháy thì tôi sẽ chạy vọt ra ngoài còn cái máy tính thì không.  Nhưng chúng ta có thể lập trình cho nó về điều này.  Tất nhiên, nhưng chúng chỉ là những cỗ máy, có nhiệm vụ trong một thời gian nhất định với một nguồn tài nguyên nhất định để thực hiện một nhiệm vụ được giao.  Giáo sư đang nghĩ đến điều gì?  Chúng ta phải thiết kế trí tuệ nhân tạo làm sao để con người luôn ở vị trí trung tâm. Churchill đã từng nói rằng “chúng ta định hình ngôi nhà của mình, sau đó các ngôi nhà sẽ định hình chúng ta”; tôi thấy cũng có nguy cơ tương tự trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo này. Do đó, phải coi con người là mục tiêu, tuyệt đối không bao giờ được xử lý con người như là một phương tiện hay là một nguồn tài nguyên.  Giáo sư là thành viên Hội đồng tư vấn của Google về quyền được lãng quên. Ông đánh giá vai trò của các ông lớn công nghệ như thế nào trong bối cảnh chính trị xã hội hiện nay?  Ngoài Google, tôi nghĩ tới Amazon, Apple và Facebook. Khi mạng Internet trở thành một điều không thể thiếu được trong cuộc sống thường ngày, các ông lớn này đã lấp đầy chỗ trống quyền lực mà chính sách của nhà nước đã quên lãng (giới chính trị không hiểu được rằng cuộc cách mạng kỹ thuật số không chỉ đơn thuần là một sự biến đổi xã hội). Giờ đây quyền lực thông tin này nằm trong tay một số ít tập đoàn tư nhân và họ tác động vào mọi điều đang diễn ra trên thế giới. Ví dụ, tổng thống Thổ nhĩ kỳ xuất hiện lần đầu tiên sau cuộc đảo chính thất bại trên ứng dụng FaceTime của điện thoại iPhone.  Xung quanh thuật toán tìm kiếm mà Google đề xuất, có ý kiến cho rằng các thuật toán sẽ làm thay đổi cách tìm kiếm nhân tài, GS nghĩ sao?  Người ta có thể dùng các thuật toán một cách có ý nghĩa khi cần lọc ra 100 người trong một tổng đài (callcenter). Nhưng khi đứng trước một hồ sơ công việc phức tạp hơn thì việc chỉ sử dụng thuật toán đó sẽ không thích hợp.Tài năng cũng như sự thông minh, tình bạn hay sự thông thái, là những ý tưởng chúng ta hiểu nhưng không thể định nghĩa thật rành rọt nói chi đến đo lường hoặc tự động hóa được.  Vậy còn nhận định rằng thuật toán sẽ thống trị thế giới?  Sự thật là hiện nay các thuật toán có thể tác động rất nhiều đến đời sống của chúng ta. Nó có thể đề xuất bạn nên đi trượt tuyết vì biết rằng chúng ta yêu thích môn thể thao này, tức là nó củng cố những mong muốn và nhu cầu của chúng ta. Vì vậy chúng ta sẽ tiếp tục theo đuổi môn thể thao trên núi này và không còn nghĩ gì đến việc ra bãi biển để nghỉ ngơi. Về điểm này tôi thấy hơi bi quan, chúng ta không nên làm như vậy. Nhưng ở đây vấn đề lại không phải do trí tuệ nhân tạo mà liên quan đến sự lười biếng và ngu ngốc của con người.  Xin cảm ơn giáo sư!  Xuân Hoài lược dịch từ Tuần kinh tế Đức.    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo thúc đẩy nghiên cứu về khoa học Trái đất      Nghiên cứu mới “Deep learning and process understanding for data-driven Earth system science” công bố trên Nature của các nhà khoa học Đức cho thấy, trí tuệ nhân tạo có thể giúp cải thiện đáng kể hiểu biết của chúng ta về khí hậu và Trái đất.      Các mô hình hệ thống khí hậu và Trái đất sẽ được cải thiện với các mô hình mới kết hợp trí tuệ nhân tạo và mô hình vật lý. Nguồn: NASA  Trong những thập kỷ qua, các phương pháp học máy chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu các thuộc tính tĩnh, chẳng hạn như sự phân phối các đặc tính của đất đai từ quy mô địa phương đến quy mô toàn cầu. Gần đây, các kỹ thuật học sâu được bắt đầu áp dụng trong nghiên cứu của ngành khoa học trái đất như định lượng sự quang hợp toàn cầu trên đất liền đồng thời xem xét các biến thiên theo mùa và ngắn hạn. Với sự hỗ trợ của AI, các mô hình hệ thống khí hậu và Trái đất sẽ được cải thiện với các mô hình mới kết hợp trí tuệ nhân tạo và mô hình vật lý.  Trích xuất các quy luật cơ bản từ dữ liệu quan sát được  “Dù đã có dữ liệu hệ thống Trái đất từ rất nhiều cảm biến, nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn còn chậm trong phân tích và giải thích các dữ liệu này”, Markus Reichstein, giám đốc điều hành của Viện nghiên cứu sinh hóa học Max Planck ở Jena, cho biết. Ông cũng là thành viên hội đồng của Trung tâm khoa học dữ liệu và mô phỏng Michael-Stifel Jena (MSCJ), và tác giả chính của nghiên cứu này.  Theo đồng tác giả nghiên cứu, Joachim Denzler từ Nhóm nghiên cứu Tầm nhìn Máy tính của Đại học Friedrich Schiller Jena (FSU) và thành viên của MSCJ: “Đây là lúc các kỹ thuật học sâu trở thành một công cụ đầy hứa hẹn, vượt ra ngoài các ứng dụng học máy cổ điển như nhận dạng hình ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên hoặc AlphaGo”. Ví dụ, ứng dụng vào nghiên cứu các sự kiện cực đoan như cháy lan hoặc bão, vốn là các quá trình rất phức tạp, chịu ảnh hưởng của các điều kiện địa phương và cả bối cảnh không gian và thời gian. Bên cạnh đó, nó cũng có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu về những quá trình vận chuyển trong khí quyển và đại dương, đất đai và thảm thực vật – một số chủ đề kinh điển của khoa học Trái đất.  Cải thiện các mô hình về hệ thống khí hậu và Trái đất  Tuy nhiên, các cách tiếp cận học sâu cũng khó khăn. Tất cả các phương pháp dựa trên dữ liệu và thống kê không đảm bảo tính nhất quán vật lý một cách chính xác. Ngoài ra các phương pháp này phụ thuộc nhiều vào chất lượng dữ liệu và có thể gặp khó khăn khi ngoại suy. Bên cạnh đó, yêu cầu xử lý dữ liệu và dung lượng lưu trữ rất cao. Nghiên cứu đã thảo luận về tất cả các yêu cầu và trở ngại này và phát triển một chiến lược để kết hợp hiệu quả giữa học máy với mô hình vật lý. Nếu cả hai kỹ thuật được kết hợp với nhau sẽ tạo ra cái gọi là mô hình lai. Ví dụ, các mô hình mới này có thể được sử dụng để mô hình hóa chuyển động của nước biển để dự đoán nhiệt độ mặt nước biển. Trong khi nhiệt độ được mô hình hóa vật lý, chuyển động của nước biển được thể hiện bằng phương pháp học máy. “Ý tưởng là kết hợp những gì tốt nhất của hai phương pháp: sự nhất quán của các mô hình vật lý và tính linh hoạt của máy học, để có được các mô hình được cải thiện rất nhiều”, Markus Reichstein giải thích thêm.  Các nhà khoa học cho rằng phương pháp học sâu và mô hình lai này sẽ giúp cải thiện rõ rệt việc phát hiện và cảnh báo sớm các sự kiện cực đoan, cũng như các dự đoán và dự báo dài hạn theo mùa, thời tiết, khí hậu.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2019-02/fj-ait021419.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo tiên đoán cấu trúc protein      Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể xác định cấu trúc ba chiều của protein – các nhóm a xít a min nắm quyền điều khiển các quá trình sinh học trong cơ thể con người. Thành quả này vô cùng bổ ích đối với việc phát triển thuốc chữa bệnh trong y học chính xác/y học cá thể hóa.      Protein rất đa năng, nó có thể làm nhiều việc khác nhau trong cơ thể con người. Nó không những giúp tế bào tạo có cấu trúc riêng biệt mà còn có thể điều khiển mọi quá trình sinh hóa. Bắp thịt, tim, não, da và tóc cũng được tạo thành chủ yếu từ protein. Ngày nay các nhà nghiên cứu nhờ có trí tuệ nhân tạo có thể dự đoán chính xác cấu trúc phân tử của protein, điều mà trước đây là không thể. Nó giúp mở ra một triển vọng mới trong việc nghiên cứu dược phẩm.  Toàn bộ protein trong cơ thể con người có tên là proteom. Nó có sự khác nhau chút ít giữa người này với người kia bởi hướng dẫn xây dựng các protein trong di truyền bộ gene mà bộ gene ở mỗi người lại đều khác nhau. Hệ quả là mầu mắt, mầu tóc của mỗi người đều có sự khác nhau. Nếu bản thiết kế trong bộ gene thiếu một protein tối cần thiết thì đó là nguyên nhân cho căn bệnh di truyền. Do vai trò trung tâm của proteom nên có lúc nó được coi như  một “mã di truyền thứ hai”.  Protein là một mớ bòng bong  Protein là các đại phân tử hình thành từ các amino axit xếp cạnh nhau. Tuy nhiên những chuỗi này lại kết nối với nhau thành các cấu trúc có không gian cực kỳ rắc rối chứ không phải là các sợi tuyến tính. Cấu trúc protein không lưu trữ trong gene, mà được hình thành theo nguyên tắc của vật lý lượng tử. Nó được gập lại theo cách cấu trúc cho phép năng lượng tiêu hao ở mức thấp nhất, tuy có rất nhiều khả năng gập khác nhau nhưng kỳ diệu là giá trị năng lượng cuối cùng lại tương đương nhau.  Đặc tính sinh học và nhiệm vụ mà protein có thể đảm đương phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc ba chiều của nó. Người ta có thể được xác định những đặc tính và nhiệm vụ của ó bằng cách sử dụng phân tích cấu trúc tinh thể tia X rất phức tạp về mặt kỹ thuật. Để làm được điều đó, trước hết phải lấy được từ protein có liên quan để tạo tinh thể. Cho đến nay, người ta mới biết vỏn vẹn chưa đầy một phần trăm cấu trúc protein trong cơ thể con người. Thậm chí, dù có sự hỗ trợ của máy tính thì người ta cũng còn chưa thể tính toán được, xuất phát từ trình tự axit amino đã biết, protein liên quan gập ba chiều như thế nào và do đó nó có những đặc điểm gì. Giải pháp cho “vấn đề gập protein” đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển dược phẩm, trong đó protein được tính toán riêng cho người bệnh để protein can thiệp vào quá trình trao đổi chất.  Trí tuệ nhân tạo làm đảo lộn sinh vật học  Mới đây hãng DeepMind của Anh, một công ty con của Google-Holding Alphabet, đã tạo được đột phá để có thể dự báo chính xác cấu trúc của prtein. Chương trình AlphaFold của hãng sử dụng AI, hay còn gọi là Deep-Learning-Algorithm. Điều này không những có thể tác động cực mạnh đến ngành dược mà còn cả ngành sinh học tổng hợp. Bởi vì trên cơ sở các cấu trúc protein đã biết, người ta có thể tạo ra được các phân tử hoàn toàn mới thông qua thiết kế protein có chủ đích.  Giáo sư Helmut Grubmüller thuộc Viện Hóa Lý Sinh Max Plank từ Göttingen cho biết: “Với sự trợ giúp của máy học, nhóm AlphaFold đã thành công trong việc trích xuất các quy tắc gấp protein từ một số lượng lớn các cấu trúc protein đã biết đến mức có thể dự đoán rất chính xác 70 trong số 100 cấu trúc protein trong một thí nghiệm ‘mù’”.  “Đây thực sự là một bước đột phá!”, Jan Kosinski, trưởng nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Châu Âu (EMBL), bình luận. “Độ chính xác và tỷ lệ thành công của AlphaFold là chưa từng có. Tôi hầu như không thể chờ đợi để sử dụng phương pháp này cho các protein của mình”. Tuy nhiên Kosinski tỏ ra băn khoăn về việc vẫn còn một số thách thức: “Protein thông thường không chỉ gấp một lần duy nhất, mà nó thay đổi do phản ứng với ngoại cảnh, khi gắn với một protein khác, khi thực hiện các phản ứng enzyme, hay khi gắn kết với các loại thuốc hoặc với kháng thể điều trị. Dường như AlphaFold chưa thể dự báo trước về những thay đổi này. Nhưng học sâu cũng có thể áp dụng vào những vấn đề như thế này.“  Về ứng dụng trong y học của AlphaFold, giáo sư Gunnar Schröder thuộc Trung tâm nghiên cứu Juelich tỏ ra lạc quan. Người dẫn dắt nhóm nghiên cứu Sinh học cáu trúc tính toán cho hay: “Lĩnh vực y học cá thể hóa phát triển nhanh nên có thể thậm chí dẫn đến sự hình thành y học phân tử cá thể hóa. Nhờ vậy trong tương lai, chúng ta có thể điều chỉnh hoạt chất và điều trị thích hợp theo cấu trúc protein của mỗi người”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article221412420/Kuenstliche-Intelligenz-Struktur-von-Proteinen-laesst-sich-vorhersagen.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ thật và Trí tuệ Nhân tạo với Cách mạng 4.0      Câu chuyện “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, viết tắt là CM 4.0 hay CMCN 4.0, được nói nhiều ở khắp hang cùng ngõ hẻm nước ta, trong đó có những lời tán dương, như “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0”[1]. Vậy điều này thực hư ra sao?      Trên phạm vi toàn cầu còn nhiều tranh cãi và chưa ai vẽ được chính xác mặt mũi CM 4.0 thế nào, kể cả người khởi xướng ra thuật ngữ này, nhưng đại khái người ta cho rằng cốt lõi của cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sản xuất và dịch vụ thông minh dựa trên các đột phá của công nghệ số với sự tiếp sức của trí tuệ nhân tạo. Ông Eric Yeo, Tổng giám đốc IBM Việt Nam, nhận định công nghệ số và trí tuệ nhân tạo sẽ hiện diện trong mọi ngành nghề, lĩnh vực từ giao thông, y tế, ngân hàng cho tới thời trang, ẩm thực, âm nhạc… Lấy thí dụ một lĩnh vực bị ảnh hưởng là ngành vận tải, có thể thấy rõ qua câu chuyện rất nhỏ là Uber, Grab tác động như thế nào đến ngành taxi truyền thống[2].  Nhà Toán học nổi tiếng thế giới, GS Seymour Papert thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) từng sang Việt Nam tham dự hội nghị về giảng dạy toán học bằng công nghệ số. Khi nhìn thấy cảnh tượng giao thông kỳ dị của Hà Nội đã bàn với đồng nghiệp Việt Nam là phải nghĩ cách dùng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, để giải quyết vấn nạn giao thông xe máy cho Hà Nội. Ngay khi vừa trao đổi ý kiến đó thì ngày 7/12/2006 ông đã bị tai nạn xe máy nghiêm trọng tại ngã ba Giải Phóng – Đại Cồ Việt, Hà Nội. Nhà khoa học hơn 70 tuổi, chưa nói hết được ý định của mình thì đã chìm sâu vào hôn mê (và chết sau khi được đưa về Mỹ), nhưng đã đủ nhắc chúng ta rằng, khoa học và công nghệ số hiện đại có thể góp phần giúp giải quyết được vấn nạn giao thông xe máy[3]. Dưới cách nhìn của CM4.0, giải pháp ấy chính là hệ thống giao thông thông minh – STS: Smart Traffic System.  Kể từ đó, khoảng mười năm nay, không biết bao nhiêu tâm huyết, công sức và tiền bạc của các chuyên gia, doanh nghiệp Việt Nam đã đổ ra để nghiên cứu, xây dựng phương án và thuyết phục các nhà lãnh đạo áp dụng STS cho các thành phố và đường giao thông Việt Nam. Nhiều kiến nghị, giải pháp, đề án… đã được gửi đến tận tay các vị bộ trưởng, thứ trưởng và bí thư, chủ tịch thành phố, nhưng hầu như trong một giai đoạn dài chúng ta không hề thấy một dự án nào được triển khai. Điều này thật kỳ lạ bởi rõ ràng vấn đề là rất cần thiết và khả thi, lại ở trong tầm tay của công nghệ Việt Nam, dùng cho thị trường Việt Nam và không ai hiểu biết các điều kiện, tập tục, luật lệ giao thông Việt Nam hơn người Việt Nam.  Tuy nhiên, cuối cùng thì cũng có một sự kiện tích cực, đó là ngày 25.6.2017 UBND TP Hà Nội đã ký thỏa thuận hợp tác với tập đoàn FPT triển khai Hệ thống Giao thông Thông minh (STS) cho TP.Hà Nội với tổng mức đầu tư của FPT dự kiến là 1.700 tỉ đồng (~75 triệu USD)[4]. Nghe tin này, giới công nghệ thông tin Việt Nam ít nhất có thể vui mừng trước tín hiệu cho thấy một tập đoàn từng làm giàu bằng buôn bán thiết bị và gia công phần mềm nay đã chuyển nhanh sang việc sáng tạo ra các sản phẩm công nghệ cao như STS bằng nội lực của Việt Nam.  Có thể nói thị trường STS của Việt Nam được các chuyên gia ước tính vào khoảng 1,5 tỷ USD, khá hấp dẫn với các tập đoàn nước ngoài. Vì thế, năm 2016, một doanh nghiệp Mỹ từng đề nghị được triển khai một dự án STS có giá trị 300 triệu cho TP. HCM với nguồn vốn do Ngân hàng Morgan Stanley tài trợ[5] – và nếu phần lớn chiếc bánh ngọt này rơi vào tay các tập đoàn nước ngoài thì đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam bị mất đi một phần nguồn lực quan trọng để tồn tại và phát triển.  Chúng ta cần mạnh dạn nhìn vào sự thật đáng buồn là suốt hơn hai mươi năm phát triển với bao nhiêu tuyên bố hùng hồn, nghị quyết và đề án dày cộp, mà công nghệ thông tin Việt Nam vẫn èo uột, không lớn lên được. Các công ty CNTT siêu tý hon đầy tài năng thì chỉ còn biết âm thầm cố gắng kiếm sống khi bị chặn trên chặn dưới đủ đường, còn các đại gia, ví dụ các công ty viễn thông, tuy bề ngoài có vẻ cao sang hơn, nhưng về bản chất kinh doanh cũng giống như công ty taxi, mua xe về chở khách lấy tiền dân ta mà thôi – hoặc là buôn bán thiết bị nước ngoài ăn chênh lệch giá, hay làm gia công phần mềm với tên gọi mỹ miều là outsourcing (về bản chất giống như may gia công, chỉ có khác là trí tuệ và nhân lực cao cấp hơn).  Nhìn lại, quả thật chỉ có mấy sản phẩm phần mềm của các chàng tí hon BKAV, MISA, Cốc Cốc[6]… còn có chút tên tuổi nội địa. Về phần cứng, khi BKAV dũng cảm thử sức với BPhone (dù có thể họ chưa chắc đã lựa chọn đúng sản phẩm đi nữa) thì bị ném đá tới tấp, đến nỗi có chuyên gia nước ngoài mỉa mai than thở, sao các nhà mạng của nhà nước Việt Nam không khuyến khích phát triển phần cứng như Bphone, và nếu người Việt Nam cứ tẩy chay nhau như cách họ ứng xử với Bphone thì các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam làm sao có thể phát triển lên được!  Nhà nước và người dân Việt Nam không thể và không nên tin vào những lời tán dương “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0”, cũng nên thận trọng với các con số cùng viễn cảnh rằng “năm 2020 Việt Nam sẽ nằm trong top 10 thế giới về cung cấp dịch vụ gia công phần mềm và nội dung số với khoảng 1 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin”. Cũng không nên và không đáng kỳ vọng Việt Nam sẽ trở thành cường quốc về công nghệ trong tương lai gần, nếu được các doanh nghiệp hàng đầu thế giới trợ giúp. Chẳng có chuyện giúp đỡ vô tư đó đâu, Việt Nam chỉ có thể và cần đạt các kỳ vọng đó bằng chính nội lực của mình!  Nhà nước Việt Nam không cần và cũng không thể lấy tiền nộp thuế của dân nghèo để nuôi các công ty CNTT Việt Nam lớn mạnh. Chỉ cần tạo ra thể chế, chính sách kiến tạo khả thi cho họ mà thôi. Nên nhớ thị trường nội địa cho công nghệ số và trí tuệ nhân tạo là rất lớn, chỉ nói riêng phần dữ liệu quốc gia (và xử lý nó như một dạng big data) với 90 triệu dân là khổng lồ, không dưới 5 tỷ USD. Một thị trường như vậy, nếu không rơi vào tay nước ngoài, thì đủ để tạo nên tiềm lực cho các doanh nghiệp công nghệ số và trí tuệ nhân tạo Việt Nam lớn mạnh, làm nền tảng cho CM 4.0. Trước kia, người khổng lồ công nghệ IBM của Mỹ và thế giới cũng không thể hình thành nếu từ những năm đầu đời không được nhà nước Mỹ dành cho những dự án khủng của thị trường nội địa như xử lý điều tra dân số, tính toán an sinh xã hội, chưa kể những dự án về máy bay hay chế tạo bom nguyên tử sau này…  Ai cũng hiểu trí tuệ nhân tạo sẽ không thay thế con người mà chỉ hỗ trợ họ làm việc hiệu quả hơn, đưa ra những quyết định đúng đắn hơn. Vì vậy chăm lo cho sự phát triển trí tuệ của đất nước, mà phản ánh rõ nhất là sự đổi mới sáng tạo mới chính là chìa khóa của CM 4.0. Khi một đất nước được xem là kém cỏi trong Đổi mới/Sáng tạo, thì đồng nghĩa với việc đất nước ấy không thể tự phát triển được, chỉ có thể bán cho đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, vắt cho đến cùng cực sức cơ bắp để làm thuê cho người khác, trong khi những trí tuệ ưu tú không có điều kiện để phát huy buộc phải đem bán rẻ đi làm thuê, hoặc phải tìm cách ra nước ngoài.  Điều đó sẽ gây thiệt hại khôn lường cho đất nước, dẫn tới một tương lai đáng buồn khi người dân Việt chỉ có thể được hưởng thành quả của CM 4.0 bằng cách bán lúa, lợn, rau… để nhập về ngắm những con robot có trí tuệ nhân tạo như người thực!         Một đất nước muốn tự phát triển được thì phải có nội lực. Muốn phát triển nội lưc thì phải dựa vào trí tuệ thật (không phải nhân tạo). Nhưng trí tuệ thật sự của một quốc gia không phải đơn thuần là phép cộng của trí tuệ từng cá nhân, nó là do sự cộng năng (Synergetic) cả một hệ thống tạo lập nên. Hệ thống đó bao gồm tổ chức nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp công và tư (lớn hoặc nhỏ), các trường đại học và các cơ quan chính phủ… Các mối tương tác giữa các chủ thể này bao gồm các vấn đề thuộc về chính sách, kỹ thuật, thương mại, pháp lý, xã hội và tài chính… của các hoạt động dưới các dạng thức như sự phát triển, bảo hộ, tài trợ hoặc quy phạm… Để phản ánh phần nào vấn đề phức tạp này, tức trí tuệ thật của một quốc gia, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO thuộc Liên Hợp quốc từ năm 2007 đã cùng một số đại công ty, tổ chức phi chính phủ cho ra đời hệ thống Chỉ số Đổi mới/Sáng tạo toàn cầu – Global Innovation Index (GII) và lập ra bảng xếp hạng hằng năm của các quốc gia trên thế giới. Năm 2012, GII của Việt Nam đã tụt xuống dưới trung bình thế giới, đến mức báo động đỏ[7]. Năm 2013 vẫn không khá hơn, nhưng sau đó đã có những dấu hiệu tích cực, tiến dần lên trên trung bình thế giới, năm 2017 vượt qua được Thái Lan, nhưng chưa thật bền vững (xem bảng xếp hạng và đồ họa kèm theo) và thua rất, rất xa những nước như Singapore, Hàn Quốc. Dẫu sao sự tiến bộ vất vả đó cũng là một dấu hiệu tích cực, đáng mừng.           [1]http://vneconomy.vn/cuoc-song-so/viet-nam-co-the-di-dau-cach-mang-cong-nghiep-40-20170407062337400.htm      [2]http://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/ung-dung-ai-o-viet-nam-chi-o-muc-so-khai-3596905.html      [3]http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/giao-su-hang-dau-my-bi-xe-may-dam-o-ha-noi-2076942.html      [4]http://thanhnien.vn/cong-nghe/ha-noi-se-trien-khai-he-thong-giao-thong-thong-minh-848934.html      [5] http://www.thesaigontimes.vn/151256/Morgan-Stanley-tai-tro-von-cho-giao-thong-thong-minh.html      [6] Người viết có thể còn bỏ sót, xin được lượng thứ!      [7]http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/thu-bac-viet-nam-tren-bang-xep-hang-tri-tue-toan-cau-bao-dong-do-5434        Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Triển lãm đầu tiên về khởi nghiệp ở Việt Nam      Triển lãm Khởi nghiệp diễn ra trong hai ngày  21 và 22/12 sẽ mở đầu cho chuỗi sự kiện HATCH! FAIR 2013, được tổ chức  nhằm thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam.    Tại triển lãm đầu tiên về khởi nghiệp này, khoảng 30-40 doanh nghiệp start-up của Việt Nam sẽ giới mô hình hoạt động, ý tưởng và sản phẩm của họ.  Theo số liệu từ Saigon Times, tại Việt Nam, có khoảng hơn 300.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh mỗi năm nhưng sau ba năm đầu tiên, chỉ khoảng 20% trong số đó còn hoạt động trên thị trường. Lý do căn bản được đưa ra là các nhà khởi nghiệp Việt Nam thiếu kinh nghiệm và hỗ trợ từ các nguồn lực cần thiết, vì vậy họ bước vào thị trường mà chưa được chuẩn bị chu đáo, dẫn đến khả năng gần như không thể cạnh tranh. Việt Nam đã bắt đầu có những cuộc thi được tổ chức nhằm hỗ trợ khởi nghiệp, nhưng trên thực tế, số lượng khởi nghiệp tiếp tục phát triển sau khi ra khỏi những sân chơi hay nền tảng này không nhiều.   “Đã đến lúc cộng đồng khởi nghiệp nên mở rộng mối quan hệ hợp tác với các nguồn lực bên ngoài thay vì tập trung lại với nhau để tìm kiếm giải pháp cho sự tồn tại,”  theo ông Phạm Quốc Đạt – Giám đốc và đồng sáng lập HATCH! PROGRAM. HATCH! FAIR 2013 được tổ chức cũng chính là để kết nối cộng đồng khởi nghiệp với những nguồn lực bên ngoài thông qua các hoạt động giúp hai bên có nhiều cơ hội tương tác.   Bên cạnh Triển lãm, HATCH! FAIR 2013 còn có “Hội nghị Khởi nghiệp Việt Nam và Thế giới”. Đây là nơi diễn ra các cuộc thảo luận về bốn chủ đề: Toàn cảnh thị trường Việt Nam; Đầu tư và nhận đầu tư cho khởi nghiệp; Khởi nghiệp Việt Nam đi ra thế giới; và Khởi nghiệp và kinh nghiệm sống còn, với sự tham gia của 16 diễn giả là những người nổi tiếng trong cộng đồng start-up Việt Nam cũng như chuyên gia về khởi nghiệp của một số nước khác, bà Bích Diệp, Trưởng ban Tổ chức, cho biết.  HATCH! PROGRAM là một sáng kiến phi lợi nhuận, nhằm kiến tạo và kết nối cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam với những nguồn lực bên ngoài thông qua chương trình cố vấn, các sự kiện (HATCH! FAIR, HATCH! OPEN, CODE CAMP) hay danh bạ lưu trữ các nguồn lực cá nhân và tổ chức đang hỗ trợ cho sự thành công của khởi nghiệp Việt Nam, để từ đó góp phần đưa những mô hình khởi nghiệp trở nên bền vững.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển lãm kết quả nghiên cứu KH&CN vùng đồng bằng sông Hồng năm 2018      Đây là Triển lãm về kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lần đầu tiên được tổ chức tại Hải Phòng với mục tiêu trưng bày và giới thiệu với cộng đồng các kết quả KH&CN nổi bật của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp KH&CN, các nhà khoa học, các nhà sáng chế không chuyên.      Techfest 2017. Ảnh: Startuphaiphong  Trong khuôn khổ nhiệm vụ “Xúc tiến phát triển thị trường khoa học và công nghệ” thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng chỉ đạo tổ chức “Triển lãm kết quả nghiên cứu khoa học & công nghệ vùng đồng bằng sông Hồng năm 2018” từ ngày 28-29/9/2018 tại trường ĐH Hàng hải Việt Nam, số 484 Lạch Tray, Q. Ngô Quyền, Hải Phòng.    Đây là Triển lãm về kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lần đầu tiên được tổ chức tại Hải Phòng với mục tiêu trưng bày và giới thiệu với cộng đồng các kết quả KH&CN nổi bật của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp KH&CN, các nhà khoa học, các nhà sáng chế không chuyên như: hệ thống giám sát môi trường và điều khiển tự động cho vườn cây PAM GARDEN, quy trình ứng dụng pin nhiên liệu vi sinh vật để đánh giá nhanh BOD và độc tính của nước thải sau xử lý, công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh TBP-Combo phòng trừ vi nấm và tuyến trùng gây hại cây trồng, hệ thống sấy nông sản dạng tháp, hệ thống dây chuyền thiết bị xử lý rác thải sinh hoạt thành phân bón hữu cơ, Anot hy sinh hợp kim nhôm…Đồng thời tạo điều kiện để các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, nhà sáng chế không chuyên giao lưu, tìm kiếm đối tác kinh doanh, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.  Triển lãm đã thu hút được 100 đơn vị tham gia trưng bày và giới thiệu hơn 500 kết quả KH&CN với 85 gian hàng của các tổ chức KH&CN, trường đại học, doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ tiêu biểu như: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện nghiên cứu rau quả, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền phong, Công ty CP Cơ khí và Vật liệu xây dựng Thanh Phúc, Công ty CP Tư vấn và Tích hợp công nghệ D&L …  Ngoài ra, triển lãm cũng có Khu gian hàng trưng bày các kết quả KHCN của các nhà sáng chế không chuyên đến từ các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình…  Cùng với Triển lãm kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vùng đồng bằng sông Hồng là sự kiện Techfest Hải Phòng với sự tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm của hơn 30 cá nhân,  doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn Thành phố và các tỉnh lân cận. Trong khuôn khổ sự kiện Techfest có hoạt động kết nối giữa quỹ đầu tư, nhà đầu tư với các dự án khởi nghiệp và hội thảo chia sẻ kinh nghiệm thành công, thất bại trong quá trình khởi nghiệp.  Triển lãm kết quả nghiên cứu KH&CN vùng đồng bằng sông Hồng năm 2018 là cơ hội để các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp KHCN và nhà sáng chế không chuyên giới thiệu và chia sẻ các sản phẩm KH&CN với cộng đồng xã hội, đồng thời tìm kiếm các cơ hội hợp tác đầu tư, thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình. Triển lãm cũng góp phần tôn vinh các nhà khoa học, nhà sáng chế và khích lệ tinh thần sáng tạo đổi mới trong cộng đồng, góp phần tích cực vào phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.  Nguồn tin: Cục thông tin KH&CN Quốc gia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển lãm và giới thiệu nghề đan lát Cơ Tu: Nghe chiếc gùi kể chuyện ngàn xưa      Vỏn vẹn trong ngày 17/10/2020, một cơ hội hiếm có sẽ đến với người Hà Nội: cơ hội được chiêm ngưỡng tận mắt nghệ thuật đan lát mây từ chính bàn tay của những nghệ nhân Cơ Tu qua Triển lãm và giới thiệu nghề đan lát Cơ Tu tại Không gian sáng tạo Cà phê Trung Nguyên.      Không phải ai cũng có may mắn đến tận các bản làng của người Cơ Tu và ngắm nhìn họ tạo ra những gùi, những giỏ bằng loại mây riêng có của vùng Trường Sơn, lại càng không phải ai cũng sẵn sự tò mò để tìm hiểu về nguồn gốc nghề đan lát truyền thống đặc sắc của họ. Do đó, triển lãm này sẽ là một cánh cửa mở để giới thiệu với mọi người một bức tranh toàn thể về nghề đan lát của người Cơ Tu cũng như những nét đặc sắc trong đời sống, tập tục, văn hóa của họ.  Tại sao là triển lãm lần này tập trung vào những chiếc gùi? Bởi vì khó có dân tộc nào ở Việt Nam lại có các loại gùi đa dạng như gùi của người Cơ Tu. Từ nữn nhu cầu thường nhật, những chiếc gùi đó đều được hoàn thiện để phù hợp với những chức năng khác biệt – gùi củi thì đan thưa, gùi gạo, gùi muối thì đan khít… Không chỉ là đồ dùng, những chiếc gùi đó còn ẩn chứa những yếu tố văn hóa rất riêng như xà lếch là chiếc gùi ba ngăn dành cho đàn ông, p’reng là chiếc gùi nhỏ với những hoa văn trang trí rất độc đáo dành cho trẻ em Cơtu mỗi khi đi lễ hội, p’rôm là loại gùi dành riêng cho phụ nữ để mang quà đi biếu mẹ cha…  “Thương hải tang điền”, người Cơ Tu đang đứng trước nguy cơ thất truyền những kỹ năng đan lát tinh xảo như vậy, thậm chí nhiều sản phẩm truyền thống giờ chỉ còn lại ở trong tiềm thức. Thật đáng tiếc là hiện chỉ còn rất ít người ở các buôn làng có thể đan được các sản phẩm truyền thống… Nguyên nhân là cây mây – nguồn nguyên liệu chính của nghề đan lát, đang ngày càng một ít đi khiến người Cơ Tu phải vào sâu trong rừng hơn mới có thể lấy được mây. Đây cũng lá lý do khiến họ không thể tạo ra nguồn hàng ổn định và bền vững để có thể cung cấp cho các khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng các sản phẩm thủ công mĩ nghệ mang dấu ấn văn hóa và sự tài khéo của người Cơ Tu.  Mặt khác, nhiều năm đã trôi qua, các dụng cụ đan lát sinh hoạt hàng ngày vốn rất gần gũi với người Cơ Tu trước đây cũng ngày càng ít được sử dụng hơn bởi sự phổ biến của các sản phẩm nhựa rẻ tiền hơn và cũng sẵn có  hơn trên thị trường. Do đó, những người Cơ Tu thế hệ sau ít còn muốn dành thời gian cho những vật dụng cổ truyền nữa.    Trước tình hình đó, tiểu dự án “Cải thiện sinh kế bền vững cho các cộng đồng dân tộc thiểu số thông qua phát triển chuỗi giá trị mây tre đan và cây dược liệu nhằm tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Quảng Nam ”, thuộc Dự án Trường Sơn Xanh do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tài trợ hợp tác với Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (VietCraft), đã hỗ trợ trên 450 hộ gia đình ở 10 xã thuộc 3 huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang – vùng sinh sống lớn nhất của dân tộc Cơ Tu tại Việt Nam. Họ đã được tham gia các hoạt động phát triển vùng nguyên liệu mây và đào tạo nghề đan lát thủ công, phát triển thị trường nhằm tạo thêm thu nhập. Đến nay, 150 ha nguyên liệu mây đã được trồng mới dưới những tán rừng và 50 ha mây tự nhiên được bảo vệ và khai thác, gần 250 hộ gia đình cũng đã được đào tạo nghề để tạo nên rất nhiều các sản phẩm quà tặng và sản phẩm trang trí mới bên cạnh các sản phẩm truyền thống xưa.     Với mong muốn giới thiệu một phần những nỗ lực đó, triển lãm và giới thiệu nghề đan lát Cơ Tu, một hoạt động nằm trong tiểu dự án do Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (VIETCRAFT) phối hợp với Gallery 39 của họa sỹ Lê Thiết Cương, những tổ chức yêu văn hóa nghề thủ công của đồng bào các dân tộc Việt Nam, phối hợp tổ chức chương trình Triển lãm và giới thiệu nghề đan lát Cơ Tu, trong đó có nhiều hoạt động đáng chú ý như giới thiệu sản phẩm đan lát xưa và nay của dân tộc Cơ Tu. hội đàm về nghề đan lát của dân tộc Cơ Tu, giới thiệu sách đan lát của dân tộc Cơ Tu, giao thương các sản phẩm đan lát dân tộc Cơ Tu, giao lưu phát triển sản phẩm mới của dân tộc Cơ Tu cũng các nhà thiết kế trẻ.  Triển lãm sẽ khai mạc vào 10 giờ sáng ngày 17/10/2020 tại Không gian sáng tạo Cà phê Trung Nguyên, số 52 Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển vọng của vaccine HIV dựa trên một phương pháp tiếp cận mới      Cơ chế hoạt động của vaccine HIV đang bước vào thử nghiệm giai đoạn I là kích thích cơ thể sản xuất tế bào miễn dịch hiếm. Những tế bào này sẽ giúp tạo ra các kháng thể thích hợp chống lại HIV.      Ảnh: Kateryna Kon/Shutterstock.com  Mới đây, Tổ chức Sáng kiến ​​Vắc xin Phòng chống AIDS Quốc tế (IAVI) và Scripps Research (một cơ sở nghiên cứu và đào tạo tư nhân về hóa sinh lớn nhất nước Mỹ) vừa công bố kết quả một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I quan trọng của họ. Các nhà khoa học muốn đánh giá một cách tiếp cận vaccine mới phòng chống lây truyền HIV bằng cách kích thích cơ thể sản xuất tế bào miễn dịch hiếm. Những tế bào này sẽ giúp tạo ra các kháng thể thích hợp chống lại HIV.  Thử nghiệm có sự tham gia của 48 tình nguyện viên, 1 nhóm thử nghiệm liều thấp, nhóm còn lại thử nghiệm liều cao. Họ được tiêm hai mũi vaccine hoặc giả dược, mỗi mũi cách nhau hai tháng. Đối với những người được tiêm vaccine, cơ thế của 97% trong số họ đã phát triển các tế bào miễn dịch phù hợp để chống lại HIV.  Giáo sư, Tiến sĩ William Schief, nhà miễn dịch học tại Scripps Research, giám đốc điều hành nghiên cứu sản xuất vaccine tại Trung tâm Nghiên cứu Kháng thể (NAC)của IAVI khẳng định: “Nghiên cứu này là bằng chứng về tính khả thi (proof of principle) của ý tưởng mới về vaccine HIV. Y tưởng này cũng có thể áp dụng để tạo ra vaccine ngừa các mầm bệnh khác. Cùng với rất nhiều đối tác, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng mình có thể tạo ra vaccine kích thích các tế bào miễn dịch hiếm với các đặc tính cụ thể. Sự kích thích hướng đích này có thể rất hiệu quả trên người. Chúng tôi tin rằng cách tiếp cận này sẽ là chìa khóa để tạo ra vaccine HIV và có thể quan trọng trong việc tạo ra vaccine chống lại các mầm bệnh khác”.  Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày tại hội nghị trực tuyến của Hiệp hội Nghiên cứu HIV Quốc tế về Phòng chống HIV (HIVR4P) hồi tháng Hai. Nhóm nghiên cứu đang tìm cách kích thích cơ thể tạo ra các Kháng thể trung hòa diện rộng (còn gọi là bnAb), chúng là các protein hồng cầu chuyên biệt có khả năng tự gắn vào các gai trên bề mặt của HIV. Đây là một phản ứng miễn dịch có thể trung hòa (liên kết và vô hiệu hóa sự lây nhiễm) các chủng virus khác nhau.     “Từ nhiều năm trước, chúng tôi cũng như nhiều nhà khoa học khác đã dự đoán rằng để tạo ra bnAb, bạn phải bắt đầu bằng việc kích thích đúng loại tế bào B – những tế bào có những đặc tính để có thể phát triển thành các tế bào tiết ra bnAb,” Schief giải thích. “Trong thử nghiệm này, các tế bào đích chỉ chiếm khoảng một phần triệu trong tổng số các tế bào B. Để có được phản ứng kháng thể phù hợp, trước tiên chúng ta cần nhắm đúng loại tế bào B này. Dữ liệu từ thử nghiệm này đã cho thấy kháng thể tạo ra từ vaccine này có thể làm được như vậy”.  Cách tiếp cận mồi (priming) này sẽ là bước đầu tiên để một người tự phát triển khả năng miễn dịch chống lại căn bệnh này. Và nhóm nghiên cứu cũng tin rằng phương pháp “mồi” này còn có thể là khởi đầu cho việc phát triển vaccine chống lại các chủng cúm khác nhau, sốt xuất huyết, virus Zika, viêm gan C và thậm chí cả sốt rét.  Thử nghiệm lâm sàng này, còn được gọi là IAVI G001 là một kết quả ấn tượng. Các nhà nghiên cứu đang hợp tác với công ty Công nghệ sinh học Moderna (nổi tiếng vì đã phát triển vaccine COVID-19) nhằm phát triển và thử nghiệm vaccine dựa trên mRNA tạo ra phản ứng miễn dịch này.  Nguyễn Nam dịch  Nguồn: https://www.iflscience.com/health-and-medicine/new-hiv-vaccine-approach-shows-great-promise-in-firstinhuman-clinical-trial/?fbclid=IwAR1gWUZH2YxW2q0X9K2tSA9fc0oybgmd9S9WCOLcwth3HpEruE6yMBXLuvg    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển vọng ghép nội tạng lợn trên người với CRISPR–Cas9      Ý tưởng ghép tạng của lợn cho người đã được khởi xướng từ nhiều thập kỷ trước, nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn cung do có quá ít người hiến tạng. Chỉ riêng ở Mỹ đã có gần 117.000 người hiện đang trong danh sách chờ để được ghép tạng và khoảng 22 người chết mỗi ngày vì không được phẫu thuật kịp thời.      Nội tạng của lợn có thể được sử dụng để ghép cho người cần thay tạng.  Nội tạng của lợn có kích thước và chức năng gần giống như của người, và con người chắc hẳn cũng ít phản đối việc lấy nội tạng của một vật nuôi để lấy thịt hơn là từ những loài linh trưởng như tinh tinh hay khỉ. Tuy nhiên, giải pháp cấy ghép dị chủng (khác loài) gặp trở ngại rất lớn vì nguy cơ nhiễm độc: khoảng 25 loại virus retros trên lợn có khả năng truyền bệnh sang người qua tiến trình ghép tạng.  Ngày nay, những tiến bộ trong lĩnh vực chỉnh sửa gene đã làm sống lại hi vọng đó. Một nhóm các nhà khoa học tại tiểu bang Massachusetts tuyên bố: bằng việc ứng dụng hệ thống CRISPR–Cas9 trong chỉnh sửa gene, họ đã có thể làm vô hiệu hóa hoạt động của 25 loại virus retros trong bộ gene của lợn, giúp mở ra triển vọng của kỹ thuật cấy ghép tạng dị chủng.  TS George Church, nhà di truyền học tại Trường Y khoa Harvard, đồng tác giả của nghiên cứu trên cho biết: những con lợn phải hoàn toàn khỏe mạnh và đạt ít nhất 4 tháng tuổi để nội tạng của chúng đủ lớn và có thể sử dụng cho người.  Bác sĩ phẫu thuật Joseph Tector, chuyên gia cấy ghép tạng, đồng thời là giáo sư giải phẫu tại Trường Y khoa, Đại học Alabama ở Birmingham, người không tham gia vào nghiên cứu, nói rằng việc tìm ra giải pháp vô hiệu hóa tình trạng nhiễm độc trong cấy ghép tạng dị chủng quả là một thành tựu đáng kể vì nó mở ra triển vọng to lớn trong việc chữa trị những bệnh hiểm nghèo.  Thế Hải dịch  Nguồn:  https://www.scientificamerican.com/article/gene-editing-success-brings-pig-to-human-transplants-closer-to-reality/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học chuyển thành vật lý và thực tại chuyển thành thông tin như thế nào?      Giải Nobel Vật lý năm nay đã ghi nhận “các thực nghiệm với các hạt photon rối lượng tử, khẳng định sự vi phạm của các bất đẳng thức Bell và tiên phong về khoa học thông tin lượng tử”.      John Bell tại văn phòng ở CERN của mình.   Để hiểu điều này là gì và tại sao công trình đó lại quan trọng, chúng ta cần hiểu cách các thực nghiệm đó giải quyết một cuộc tranh luận kéo dài giữa các nhà vật lý như thế nào. Và một nhân vật quan trọng trong cuộc tranh luận này là một nhà vật lý Ireland tên là John Bell.  Vào những năm 1960, Bell đã xác định cách chuyển một câu hỏi triết học về bản chất của thực tại thành một câu hỏi của vật lý để khoa học có thể trả lời – và trên con đường phá vỡ khoảng cách giữa việc chúng ta biết điều gì về thế giới này và thế giới này thực sự như thế nào.  Rối lượng tử  Chúng ta biết rằng các chủ thể lượng tử có những đặc tính mà chúng thường không thể gán cho các vật thể trong đời sống bình thường của chúng ta. Thi thoảng thì ánh sáng là sóng, thi thoảng lại là hạt. Cái tủ lạnh của chúng ta chưa bao giờ hành xử như vậy.  Khi nỗ lực giải  thích dạng hành xử bất thường này, có hai dạng giải thích mà chúng ta có thể hình dung. Một khả năng có thể là chúng ta hiểu được thế giới lượng tử một cách rõ ràng, chỉ như nó vốn thế, và vì vậy những gì diễn ra đều bất thường. Một khả năng có thể khác là thế giới lượng tử cũng giống như thế giới bình thường mà chúng ta biết và yêu nhưng cái nhìn của chúng ta về nó đã bị biến dạng, vì vậy chúng ta không thể nhìn thấy thực tại lượng tử một cách rõ ràng như nó là.  Vào những thập kỷ sớm của thế kỷ 20, các nhà vật lý bị chia rẽ về các giải thích nào là đúng. Giữa những người nghĩ về thế giới lượng tử là bất thường có những người mà chúng ta có thể kể đến là Werner Heisenberg và Niels Bohr. Giữa những người nghĩ về thế giới lượng tử chỉ giống như thế giới bình thường và cái nhìn của chúng ta chỉ đơn giản là quá mơ hồ, là Albert Einstein và Erwin Schrödinger 1.  Tại tâm điểm của sự phân chia này là một dự đoán bất thường của lý thuyết lượng tử. Theo lý thuyết này, các hệ lượng tử đã biết có đặc tính tương tác vẫn còn phụ thuộc vào nhau – ngay cả khi các hệ này đã chuyển động xa nhau ở khoảng cách vô cùng lớn.  Vào năm 1935, cùng năm với việc tìm ra thực nghiệm nổi tiếng về một con mèo bị giữ lại trong một cái hộp, Schrödinger đã tạo ra thuật ngữ “rối” cho hiện tượng đó. Ông đồng ý với việc thật ngớ ngẩn khi tin rằng thế giới này vận hành theo cách này.  Vấn đề với rối lượng tử  Nếu các hệ lượng tử rối vẫn còn thực sự kết nối ngay cả khi chúng ở cách nhau một khoảng cách lớn, dường như là chúng có giao tiếp tức thời với nhau theo một cách nào đó. Nhưng dạng kết nối này vẫn còn chưa được thừa nhận, theo thuyết tương đối rộng của Einstein. Einstein gọi ý tưởng này là “hành động ma quỷ bất chấp khoảng cách”.  Vào năm 1935, Einstein, cùng với hai đồng nghiệp nữa, đã nghĩ ra một thực nghiệm tưởng tượng chứng tỏ cơ học lượng tử không thể đem lại cho chúng ta toàn bộ câu chuyện về rối lượng tử. Họ nghĩ, đó phải là cái gì đó vượt ra ngoài thế giới mà chúng ta không thể nhìn thấy.  Nhưng khi thời gian trôi qua, câu hỏi về sự diễn dịch lý thuyết lượng tử như thế nào đã trở thành một chú dẫn học thuật. Câu hỏi này dường như quá triết học và trong những năm 1940, nhiều bộ óc xuất sắc trong vật lý lượng tử đã suy nghĩ rất lung để áp dụng lý thuyết này cho một dự án rất thực tế: tạo ra một quả bom nguyên tử.  Cho đến mãi những năm 1960, khi nhà vật lý Ireland John Bell chuyển hướng vào vấn đề rối lượng tử, cộng đồng khoa học nhận ra là câu hỏi dường như quá triết học này có thể có một câu trả lời hữu hình 2.  Lý thuyết của Bell  Bằng việc sử dụng một hệ lượng tử rối đơn giản, Bell đã mở rộng thực nghiệm tưởng tượng của Einstein vào năm 1935. Ông chứng tỏ không có cách nào để sự miêu tả lượng tử có thể hoàn thành trong khi ngăn “hành động ma quỷ bất chấp khoảng cách” và vẫn khớp với các dự đoán của lý thuyết lượng tử.  Đây không phải tin vui cho Einstein, dường như là vậy. Nhưng đó không phải là một chiến thắng ngay lập tức với những người đối đầu với ông.  Sở dĩ có điều này là vì không có bằng chứng vào những năm 1960 về việc liệu các dự đoán về lý thuyết lượng tử là đúng. Để thực sự chứng minh được quan điểm của Bell, một số người đã đặt vào đó một lý luận triết học về thực tại, chuyển đổi vào một hệ vật lý thực, cho một kiểm tra về thực nghiệm.  Và điều đó, tất nhiên, là nơi hai nhà khoa học được giải Nobel năm nay nhảy vào câu chuyện này 3. Người đầu tiên là John Clauser, và sau đó là Alain Aspect, triển khai nhiều thực nghiệm về hệ mà Bell đề xuất để cuối cùng chứng tỏ những dự đoán của cơ học lượng tử hoàn toàn chính xác. Và một kết quả là, ít nhất chúng ta chấp nhận “hành động ma quỷ bất chấp khoảng cách”, không có chỗ cho các hệ lượng tử rối có thể miêu tả được thế giới lượng tử quan sát được.  Vì vậy, Einstein đã sai?  Đó có lẽ là một ngạc nhiên nhưng những tiến triển của lý thuyết lượng tử xuất hiện đã chứng tỏ Einstein sai về điểm này. Đó là, dường như chúng ta không có một cái nhìn mờ mịt về thế giới lượng tử giống như  thế giới thông thường của chúng ta.  Nhưng ý tưởng mà chúng ta chấp nhận rõ ràng một thế giới lượng tử vốn đã bất thường lại dường như lại đơn giản thái quá. Và điều này đem lại một trong những bài học triết học về chương này trong vật lý lượng tử.  Đó là chúng ta có thể nói chuyện về thế giới lượng tử một cách hợp lý vượt ra ngoài miêu tả khoa học của chúng ta về nó – đó là, vượt ra ngoài thông tin mà chúng ta có.  Nhà khoa học thứ ba đoạt giải Nobel, Anton Zeilinger, đặt vào sự khẳng định “Không thể tạo ra sự phân biệt giữa thực tại và hiểu biết của chúng ta về thực tại, giữa thực tại và thông tin. Không thể có cách nào để phân biệt thực tại mà không sử dụng thông tin mà chúng ta có” 3.  Sự phân biệt này, mà chúng ta thường cho là đặt nền móng cho bức tranh thông thường của chúng ta về thế giới, hiện tại đã trở nên bớt mập mờ. Và chúng ta phải cảm ơn John Bell.  Nguyễn Nhàn  dịch  Nguồn: https://theconversation.com/how-philosophy-turned-into-physics-and-reality-turned-into-information-191940  ————————-  1. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/vat-ly-luong-tu-ma-quai-toi-muc-nao-22952/  2. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/mot-dang-moi-cua-tuong-quan-luong-tu-20604/  3. https://www.nobelprize.org/prizes/physics/2022/summary/    Author                .        
__label__tiasang Triết lý cà phê tôn vinh sáng tạo, hướng đến hài hòa và phát triển bền vững      Tại Lễ hội C&#224; ph&#234; Bu&#244;n Ma Thuột 2008, c&#225;c đại biểu tham dự cuộc hội thảo: Ph&#225;t triển c&#224; ph&#234; bền vững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đ&#227; quan t&#226;m nhiều đến Triết l&#253; c&#224; ph&#234; t&#244;n vinh s&#225;ng tạo, hướng đến h&#224;i h&#242;a v&#224; ph&#225;t triển bền vững trong tham luận: Cảm hứng từ c&#224; ph&#234; Việt Nam &#8211; Đại sứ văn h&#243;a trong thế giới to&#224;n cầu h&#243;a của &#244;ng Đặng L&#234; Nguy&#234;n Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đo&#224;n Trung Nguy&#234;n.     Tại Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2008, các đại biểu tham dự cuộc hội thảo: Phát triển cà phê bền vững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đã quan tâm nhiều đến Triết lý cà phê tôn vinh sáng tạo, hướng đến hài hòa và phát triển bền vững trong tham luận: Cảm hứng từ cà phê Việt Nam – Đại sứ văn hóa trong thế giới toàn cầu hóa của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Trung Nguyên.     Về lý do cần có triết lý này, theo ông Đặng Lê Nguyên Vũ, cà phê không chỉ là một sản phẩm nông nghiệp thuần túy, nó thật sự đã trở thành một ngành kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới với tổng giá trị giao dịch toàn cầu khoảng 100 tỷ USD. Cà phê nguyên liệu cũng là loại hàng hóa cơ bản có giá trị giao dịch toàn cầu đứng thứ hai chỉ sau dầu lửa. Ngoài ra nó không chỉ là một ngành nông sản chế biến mà còn có các yếu tố của tài chính, thương mại, đầu tư, du lịch, văn hóa…                 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm Làng cà phê Trung Nguyên và nghe ông Đặng Lê Nguyên Vũ trình bày dự án Thánh địa cà phê toàn cầu         Trong suốt hơn 13 thế kỷ kể từ lúc được phát hiện tại Ethiopia cho đến nay, hằng ngày có hơn 2 tỷ người trên thế giới yêu thích và đam mê cà phê. Có bao nhiêu nền văn hóa trên thế giới thì cũng có bấy nhiêu phong cách, những gu thưởng thức cà phê khác nhau. Do vậy thực sự là có một nhu cầu tạo ra một triết lý cho sự phát triển của cà phê trong bối cảnh toàn cầu hóa, một điểm đến để qui tụ và phát triển những người đam mê cà phê đến với những giá trị chung có ý nghĩa cho mỗi bản thân và cho cả cộng đồng.    Ông có thể cho biết triết lý cà phê đó được hình thành trên những cơ sở, điều kiện nào?  Triết lý cà phê tôn vinh sáng tạo, hướng đến hài hòa và phát triển bền vững là một quá trình trăn trở, tìm tòi của tập đoàn chúng tôi từ nhiều năm nay và hình thành rõ nét khi nền kinh tế của Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Triết lý đó dựa trên hai giá trị lớn:  Cà phê là năng lượng của sáng tạo – nền tảng của kinh tế trí thức  Nhìn lại lịch sử phát triển của loài người, sẽ là không quá khi chúng ta cho rằng “cà phê- xét trên một khía cạnh  nào đó cũng có vai trò như lửa đối với sự phát triển của con người. Nếu lửa giúp biến con người từ một động vật bình thường thành động vật tinh khôn; thì cà phê kích thích các sáng tạo đến biến con người tinh khôn thành con người văn minh hiện đại”. Quả thực, từ khi cà phê được phát hiện và sử dụng rộng rãi, bóng dáng của cả phê âm thầm, nhưng mạnh mẽ và không thể thiếu được trong hầu hết các phát minh và sáng tạo của loài người, giúp tạo ra những năng suất lao động chưa từng có và đang ngày một gia tăng cao hơn nữa. Có người có thể nghi ngờ liệu cà phê thật sự có phải là chất xúc tác để tạo ra hầu hết các sáng tạo; nhưng việc hầu hết các nhà phát minh, các vĩ nhân trong mọi lĩnh vực đều là những tín đồ của cà phê là điều hiển nhiên và không thể chối bỏ. Điều này càng có ý nghĩa hơn trong thời đại của nền kinh tế tri thức, nền kinh tế dựa trên sáng tạo.  Có thể nói không ngoa cà phê là một trong những tác nhân không thể thiếu cho quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại.  Cà phê cổ vũ và đóng góp cho sự hài hòa và phát triển bền vững của thế giới.   Nhân loại hiện nay đang bị cuốn theo vòng xoáy của sự khủng hoảng do phát triển quá thiên về vật chất, gây tổn hại cho các quan hệ xã hội giữa con người với con người, và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể đơn độc đứng ra giải quyết. Do vậy khái niệm phát triển bền vững do nhiều học giả hàng đầu của thế giới đưa ra, được coi như là cứu cánh của nhân loại và được phần lớn cộng đồng các dân tộc coi như là một tôn giáo mới. Vì thế cà phê, với những đặc tính kích thích sự sáng tạo và có chứa đựng những yếu tố hài hòa, đặc biệt là sự hài hòa giữa hai nhóm tài nguyên chính của con người, hoàn toàn có thể trở thành phương tiện và phương pháp chuyên chở khái niệm phát triển bền vững trở thành hiện thực.                    Làng cà phê Trung Nguyên đã từng bước nỗ lực thực hiện giấc mơ toàn cầu từ một đại diện của cà phê Việt Nam –  Một trong những điểm minh chứng cho dự án Thánh địa cà phê toàn cầu        Một điều tưởng chừng như rất ngẫu nhiên nhưng lại làm tăng thêm niềm tin và bổ sung thêm tính biểu tượng cho triết lý cà phê tôn vinh sáng tạo: bản thân cà phê cũng là đại diện cho hai thuộc tính sáng tạo và hài hòa. Nhân cà phê có hình dáng giống hai bán cầu não, và đó cũng là biểu tượng của sự hài hòa âm dương của vũ trụ.     Phải chăng ý tưởng qui hoạch và xây dựng Buôn Mê Thuột thành một “Thánh địa cà phê toàn cầu tại Việt Nam” chính từ triết lý cà phê như vậy?                Dự án gồm có 3 khu vực chính: Vùng đệm, khu vực vành đai và khu trung tâm. Mỗi khu vực được quy hoạch với những chức năng riêng biệt như viện bảo tàng, viện nghiên cứu cà phê, sàn giao dịch nông sản, các dãy phố đặc trưng về cà phê, quần thể tích hợp du lịch văn hóa – sinh thái – cà phê…. nhằm xây dựng nên một thương hiệu quốc gia, thương hiệu lãnh thổ, chỉ dẫn địa lý cho ngành cà phê Việt Nam, đồng thời xây dựng khu vực Tây Nguyên trở thành một địa bàn hấp dẫn toàn thế giới.         Đúng vậy, cần phải tạo nên một điểm đến, một “vùng đất thánh” cho hơn 2 tỷ người đam mê cà phê trên toàn cầu như những “tín đồ” cùng hướng về, để phát triển sáng tạo vì một thế giới hài hòa và phát triển bền vững. Đây là một dự án ngay từ lúc mới có ý tưởng ban đầu đã được nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình…, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk và nhiều nhà khoa học, văn hóa có uy tín của đất nước quan tâm, khích lệ, tạo cho chúng tôi nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai.     Ngoài sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, theo ông đâu là yếu tố cơ bản để ông tin rằng những mục tiêu hết sức to lớn của dự án đó sẽ thành công?  Chúng tôi phải tiến hành mọi hoạt động trong quá trình thực hiện dự án này với tư tưởng xuyên suốt là sáng tạo và đột phá. Sự sáng tạo này đòi hỏi phát huy truyền thống, tiềm năng sáng tạo rất lớn của dân tộc cùng với  một nền tảng của việc học hỏi căn cơ, bài bản những thực hành tốt của thế giới. Mặt khác trong bối cảnh toàn cầu hóa buộc chúng tôi phải có những sáng tạo để tạo ra những phát triển đột phá, nếu không sẽ mất cơ hội, bị lệ thuộc và tụt hậu so với thế giới. Việc hoàn thành dự án làng cà phê Trung Nguyên trong vòng hơn 2 tháng là một trong nhiều minh chứng cho tính sáng tạo và đột phá của chúng tôi.  Cũng cần phải nói thêm rằng, việc xây dựng và phát triển của tập đoàn ngay từ những ngày đầu là một quá trình liên tục quyết tâm theo đuổi và đạt bằng được mục tiêu đã đề ra. Với mỗi thành công, chúng tôi đều cho rằng mình đã có được sự may mắn, còn khi gặp khó khăn, chúng tôi tâm niệm đó là vì mình chưa thực sự cố gắng…Văn hóa kinh doanh đó của tập đoàn cũng là một yếu tố giúp chúng tôi tăng thêm niềm tin vào thành công của dự án.  Xin cảm ơn ông!            ĐÊM THẾ GIỚI CÀ PHÊ TẠI LÀNG CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN                                                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết lý giáo dục ở đâu trong bức tranh giáo dục tương lai?      Đại dịch xảy ra khiến chúng ta phải nhìn lại về giáo dục, để chuyển đổi từ dạy học truyền thống sang dạy học trực tuyến, cập nhật kiến thức khoa học và công nghệ cho học sinh trong bối cảnh đối diện với nhiều chuyển đổi, đặc biệt là gắn với thời đại kỹ thuật số đang làm thay đổi căn bản xã hội loài người. Vậy thì triết lý giáo dục ở đâu trong bức tranh giáo dục tương lai?      PGS.TS Marek Tesar, Đại học Auckland (New Zealand).  Giáo dục đóng vai trò rất lớn trong đời sống, điều này đã được ba nhà tư tưởng từ các thời đại và quốc gia khác nhau đúc rút ngắn gọn. Đầu tiên là Aristotle, với tuyên bố “người có học khác với người vô học như cách mà người sống khác với người chết”. Người thứ hai là John Dewey, người lập luận rằng “giáo dục không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống, mà giáo dục chính là cuộc sống”. Và người thứ ba là Nelson Mandela, với tuyên bố “giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”.   Ý nghĩa giáo dục từ Aristotle cho đến tận bây giờ vẫn chưa từng thay đổi, nó vẫn luôn đóng một vai trò không thể tách rời trong đời sống của chúng ta. Mặt khác, sự bất di bất dịch ấy còn nằm ở hình thức dạy học cũng như những yếu tố cơ bản khác của giáo dục. Dĩ nhiên, tất cả những yếu tố ấy vẫn có sự biến đổi và phát triển, nhưng về bản chất, nó vẫn luôn như thế.   Trước khi đại dịch xảy đến, những nhà giáo dục đã khuyến nghị giáo viên và nhà trường nên kết hợp công nghệ thông tin vào chương trình học, hoặc thử dạy học trực tuyến. Đôi khi nó được đưa vào quy định triển khai bắt buộc, nhưng thường thì, theo lời một số giáo viên, đó là chỉ là một cái ‘nháy mắt vui vẻ’, nhà trường luôn miệng hô hào rằng sẽ thúc đẩy việc dạy và học trực tuyến trong nhà trường, và chỉ dừng lại ở việc hô hào mà thôi.   Nhưng giờ đây chúng ta bị đẩy vào tình thế bắt buộc, mọi thứ xảy đến quá nhanh và hầu như không có ai kịp chuẩn bị cho một giai đoạn giãn cách xã hội kéo dài. Tuy vậy, trong nguy có cơ, đây cũng chính là cơ hội để chúng ta phải suy ngẫm lại về nền tảng của giáo dục và hình dung về tương lai của giáo dục cũng như con đường mà ta phải đi qua. Trên con đường ấy, triết lý giáo dục sẽ vẫn luôn là câu hỏi xuyên suốt mà tất cả chúng ta đều cần phải tìm kiếm lời giải đáp, bởi nó sẽ giúp ta trả lời được những câu hỏi cơ bản nhất về giáo dục, và ta cần gì để con trẻ có thể lĩnh hội được tri thức như một hành trang thiết yếu bước vào đời.    Vai trò của triết lý giáo dục  Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm giúp chúng ta hình dung về một thế giới hậu Covid-19. Dù triết lý giáo dục đóng một vai trò quan trọng như thế nào trong tiến trình phát triển của xã hội thì phần lớn mọi người vẫn đánh giá thấp sự tồn tại của nó, nó dường như luôn vắng mặt trong các cuộc thảo luận về tái xây dựng xã hội và quá trình suy ngẫm lại về tương lai giáo dục của chúng ta. Dưới đây, tôi muốn trình bày về sự tồn tại của triết lý giáo dục trong việc tái xây dựng xã hội và vai trò của nó trên hành trình đưa chúng ta đến tương lai.   Đầu tiên, để hiểu về triết lý của hệ thống giáo dục trong hiện tại và tương lai, chúng ta cần phải hiểu về lịch sử và tư tưởng giáo dục của riêng từng quốc gia – dù cho đó là New Zealand, Indonesia hay Việt Nam. Không có một tư tưởng giáo dục ở bất kỳ quốc gia nào trong số này có thể tồn tại độc lập, vì mỗi tư tưởng đều gắn với lịch sử của một giai đoạn, hệ thống tri thức, bản thể học và quan hệ quyền lực; tất cả những yếu tố này sẽ khắc họa cho chúng ta tương lai của một nền giáo dục. Và điều này sẽ hình thành nên nền tảng về triết lý giáo dục – chúng ta là ai trong mối quan hệ với giáo dục, chúng ta hiểu gì về chương trình giảng dạy, và những ý tưởng sư phạm nào đang xác định bản sắc giáo dục của chúng ta.     Các em cần học để hòa nhập với quốc tế, nhưng nhà trường cũng nên trao cho các em cơ hội để suy nghĩ về các vấn đề xung quanh mình. Ảnh: Các em học sinh tham gia trải nghiệm chủ đề “Khám phá bia tiến sĩ” trong phòng trải nghiệm ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Các em sẽ đề xuất những giải pháp để bảo vệ bia tiến sĩ trước những hành vi phá hoại của du khách. Nguồn: Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu   Thứ hai, điều quan trọng hơn bao giờ hết là liên kết suy nghĩ của chúng ta về triết lý giáo dục với triết lý của trẻ em và những thời thơ ấu, cũng như suy ngẫm về trẻ em và về những thời thơ ấu. Tôi đã sử dụng một cách có chủ đích thuật ngữ ‘những thời thơ ấu’, vì nó giúp chúng ta không hình dung về thời thơ ấu một cách chung chung, chúng ta sẽ hiểu về khái niệm này một cách đa dạng, gắn kết vào chân dung của từng đứa trẻ. Cách chúng ta giáo dục trẻ em và định hình tuổi thơ của chúng sẽ khắc họa nên hình ảnh của một đứa trẻ. Trong một lớp học, không phải học sinh nào cũng giống nhau, chúng ta phải giúp các em tìm kiếm căn tính cá nhân của mình, cùng các em khám phá năng lực riêng và phát triển nó một cách đúng đắn. Hiểu rõ về một đứa trẻ, chúng ta sẽ có những hướng tiếp cận khác trong mối quan hệ và về tiến trình dạy và học.   Thứ ba, một số quốc gia trên thế giới đã phải vật lộn với sự thống trị của tư tưởng giáo dục và hệ thống triết học phương Tây, cũng như nhận thức luận, bản thể luận, và đạo đức học liên quan. Các quốc gia đối cực với phương Tây và các nước Đông Nam Á đã tiếp xúc với chủ nghĩa ngoại lệ thuộc địa (colonial exceptionalism) – cho phép tư tưởng phương Tây thống trị về văn hóa và tài chính (học bổng, đầu tư, tài trợ) sử dụng tư tưởng và triết học phương Tây. Trong một môi trường như vậy, tư duy bản địa và kiến thức địa phương đã bị gạt ra ngoài lề; xuất khẩu giáo dục trở thành một ngành dịch vụ béo bở, các hệ thống giáo dục địa phương đang vấp phải những khó khăn. Triết lý giáo dục của chúng ta bao gồm những bản sắc văn hóa ấy, một nền giáo dục hiện đại sẽ trao cho các em nhiều cơ hội, nhưng nó không đồng nghĩa với việc tư duy bản địa là những thứ không cần thiết trong căn cốt các em.   Những lầm tưởng về đổi mới giáo dục  Khi Covid-19 buộc tất cả giáo viên chuyển lớp học của mình sang không gian mạng, theo nghĩa đen, chỉ sau một đêm – cả thế giới đã đã cùng dịch chuyển. Tất cả mọi thứ, chỉ trong vài ngày, đều chuyển dời sang trạng thái trực tuyến, và kết quả là cho chúng ta thấy được khả năng sáng tạo và bản lĩnh của cả giáo viên và giảng viên. Nó đã cho chúng ta thấy cách mà hệ thống giáo dục, dù thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về dạy học từ xa, sẽ dịch chuyển vào không gian mạng nhờ nỗ lực của người giáo viên và giảng viên như thế nào. Thêm vào đó, việc dạy và học trực tuyến sẽ phát huy quyền dân chủ của học sinh, và cung cấp khả năng tiếp cận tri thức cho những người không thể tham gia lớp học – vì lý do cá nhân, địa lý, hoặc khả năng kinh tế. Một số người còn cho rằng dạy và học trực tuyến mang lại hiệu quả tương đương với dạy học trực tiếp, nhưng chi phí rẻ hơn.     Để giúp những phụ huynh người nhập cư cũng có thể cùng con học tại nhà, giáo viên trường Yung Wing (New York) đã cho mời người phiên dịch ngồi cạnh mình trong thời gian diễn ra buổi học online. Ảnh: Michael Loccisano/Getty Images  Có nhiều quan điểm trái chiều đã được đưa ra về ý tưởng này. Vấn đề là việc dạy học trực tuyến vẫn chưa thật sự được nghiên cứu sâu, những ý tưởng về dạy học trực tuyến hầu hết vẫn còn ở dạng phác thảo, và không gợi lên cho giáo viên một điều gì đáng kể. Dạy học kiểu này chỉ đơn thuần là ‘bê nguyên’ nội dung dạy học trên lớp rồi ‘thả’ vào không gian trực tuyến. Khi mọi người bắt đầu chú ý đến dạy học trực tuyến, họ đưa ra nhiều ý tưởng để khiến quá trình dạy học này thật sự đi vào hoạt động; nhưng dần dà, mọi thứ biến thành sự phô diễn về kỹ năng công nghệ thông tin: người thầy đã quên đi ý nghĩa thực sự của việc dạy học trực tuyến, các nhà giáo dục không đưa ra những điều chỉnh cần thiết đối với lượng công việc của người dạy lẫn người học; thêm vào đó, nội dung dạy học được truyền tải không theo một lề lối sư phạm nào.   Và nó, như một cú sốc đột ngột, giúp ta nhận thức một cách sâu sắc hơn về sự bất bình đẳng và phi dân chủ của hệ thống trực tuyến, về cách mà người da trắng, nam giới, tầng lớp trung lưu thêm một lần nữa được ưu tiên tiếp nhận tri thức ra sao – điều mà các nhà khoa học vẫn luôn cảnh báo chúng ta từ trước khi đại dịch xảy ra, nhưng chúng ta chưa bao giờ thực sự lắng nghe.   Những thay đổi chậm rãi của giáo dục và chương trình giảng dạy đã không thể bắt kịp biến cố đột ngột này. Qua một đêm, chúng ta đã phá vỡ cấu trúc tổng thể của các chương trình, kế hoạch, quy tắc và tiến trình học tập. Mọi người bắt đầu đặt ra câu hỏi về lý do tại sao mọi thứ lại như thế này, thay vì tìm kiếm câu trả lời; cũng không ai đặt ra câu hỏi về sự thiếu vắng chính sách cũng như lời giải đáp về tình trạng mà chúng ta đang gặp phải. Một lần nữa, triết lý giáo dục đã bị gạt ra ngoài lề, chúng ta đã tự tước đi cơ hội của mình để có thể hiểu sâu hơn về nền tảng của những cuộc tranh luận này.   Các nhà giáo dục cho rằng, trong bối cảnh Covid-19, dạy học trực tuyến không nhằm thay đổi thế giới, mà để giúp bổ sung cho bức tranh dạy học truyền thống, và giúp chúng ta nhận ra những thứ mà chúng ta theo đuổi hóa ra không phải lúc nào cũng có thể tồn tại mãi mãi. Điều này có thể nhận thấy thông qua cách mà các trường trung học và đại học đầu tư vào cơ sở vật chất của trường. Phần lớn khoản đầu tư này bắt nguồn từ ý tưởng rằng họ sẽ cung cấp những mức học phí khác nhau cho sinh viên đến từ nước ngoài, và nguồn doanh thu bổ sung mà các sinh viên quốc tế có thể mang lại là một trong những chủ đề thường được đem ra tranh luận tại các trường Đại học – từ ngôi trường top đầu cho đến ngôi trường tỉnh lẻ.   Covid-19 đã cho thấy dạy học trực tuyến không chỉ dành cho một số sinh viên, học sinh nhất định; và các sinh viên quốc tế không nhất thiết phải bỏ một số tiền lượng để bù đắp chi phí cho các trường học nếu muốn được cung cấp dịch vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu chất lượng cao. Cả hai ý tưởng này – ‘một tương lai đầy mơ hồ về dạy học trực tuyến’ và ‘một nguồn hàng vô tận đầy ắp những sinh viên quốc tế’ hóa ra đều chỉ là ngộ nhận.   Bức tranh Giáo dục hậu Covid-19?  Chúng ta đang chuyển sang một thế giới ‘hậu Covid-19’. ‘Hậu’ là một giả định thú vị, bởi vì rõ ràng là chúng ta chưa thể – trong thời gian sớm nhất – bước hẳn sang giai đoạn hậu Covid-19. Có khả năng, Covid-19 vẫn tồn tại trong đời sống của loài người trong một thời gian dài, và không nhất thiết là tồn tại liên tục. Nói cách khác, đó là một sự chuyển đổi lâu dài, mơ hồ và lộn xộn. Trong nhiều năm, chúng ta đã tiếp xúc với nhiều nhà tư tưởng và tác giả khác nhau – những người phản ánh, tái hiện lịch sử và tương lai của giáo dục bằng ngòi bút của mình. Nhưng có lẽ họ cũng không thể hình dung đầy đủ những gì đang diễn ra, loài người đang cách xa nhau về mặt vật lý, và càng cách xa nhau hơn trong môi trường giáo dục, nơi sự cách biệt đang hằn sâu hơn bởi chính sách cách ly và giãn cách xã hội.   Giờ đây, người dân đang bắt đầu bước vào giai đoạn ‘bình thường mới’. Nhưng ‘mới’ và ‘bình thường’ ở đây có nghĩa là gì? Chúng ta có thể ‘đưa thần đèn vào lại chiếc đèn’? Nói cách khác, chúng ta có thể quay lại cuộc sống như trước đây? Nhiều quốc gia đang dần trở lại với trạng thái ‘bình thường’ như trước Covid-19, người ta đã bỏ quên triết lý giáo dục khi xem xét những gì đã xảy ra trong thời gian vừa qua, rằng chúng ta có thể học được gì từ những trải nghiệm đó, và làm thế nào chúng ta có thể áp dụng triết lý giáo dục vào dạy và học trên thực tế; họ đã quên đi việc nuôi dưỡng tuổi thơ của những đứa trẻ – giúp chúng không bị bỡ ngỡ khi phải quay trở lại với trạng thái ‘bình thường mới’. Nhưng trên tất cả, Covid-19 đã phản ánh khoảng cách giữa các em học sinh, khi mà những em sinh ra trong gia đình trung lưu có thể dễ dàng tiếp cận với thiết bị và không gian học tập tại nhà, thì những em có hoàn cảnh khó khăn phải chật vật để ứng phó, bởi với các em sự tương tác trực tiếp trong lớp học là hình thức duy nhất để lĩnh hội tri thức.     Đối với các em vùng cao, sự tương tác trực tiếp trong lớp học gần như là hình thức duy nhất để lĩnh hội tri thức. Covid-19 xảy đến, các em phải loay hoay để tìm ra phương án ứng phó để theo kịp bài vở trên trường. Ảnh: Em Vàng Thị Xa, người dân tộc Mông, đang tranh thủ học bài khi đang lên nương. Ảnh: Trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc   Tất cả những điều trên sẽ giúp ta hình dung như thế nào về bức tranh giáo dục trong thế giới hậu Covid-19, nơi tri thức sẽ gắn kết cùng ngôn ngữ và sức mạnh, nơi mà những quyết định mang tính đạo đức sẽ ảnh hưởng đến nền giáo dục tương lai theo một cách rất khác. Lớp học sẽ trông như thế nào? Chúng ta nên học cái gì, và học như thế nào? Mọi người sẽ nghĩ gì về giáo dục? Làm thế nào chúng ta có thể đưa ra một triết lý giáo dục toàn cầu – thứ liên kết cả tri thức của phương Tây và tư duy bản địa? Chương trình giảng dạy và kỹ năng sư phạm của các khu vực liệu có thể cải thiện hơn trong thời gian này? Các chuyên gia giáo dục nước ngoài có thể thay đổi hệ thống giáo dục của nước họ? Chúng ta cần suy nghĩ lại về tất cả những điều đó, để khi một biến cố nào khác – ngoài Covid-19 – xảy đến, dù hình thức giảng dạy có thay đổi, giáo dục cũng vẫn luôn giữ được ý nghĩa của mình.  Một điểm tích cực mà Covid-19 đã mang đến, đó là chúng ta đang chứng kiến mọi người chuyển dịch sự tập trung sang đời sống và kiến thức địa phương – một phần của ý nghĩa giáo dục thực sự. Rốt cục, chúng ta cũng bắt đầu nhìn nhận thế giới xung quanh mình qua lăng kính giáo dục, và hiểu rằng chưa cần phải đi đâu xa, giáo dục và học tập gắn chặt với văn hóa địa phương cũng thực sự có ý nghĩa. Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ của triết lý giáo dục, và chúng ta vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần lời giải đáp.   Anh Thư dịch  —  * PGS.TS Marek Tesar, Khoa Giáo dục và công tác xã hội, Đại học Auckland, New Zealand.    Tài liệu tham khảo  Littlejohn, A., & Hood, N. (2018). Reconceptualising learning in the digital age: The [un] democratising potential of MOOCs. Springer  Tesar, M. & Arndt, S. (2019). Writing the Human “I”: Liminal Spaces of Mundane Abjection. Qualitative inquiry. DOI: 10.1177/1077800419881656  Tesar, M., & Arndt, S. (2020). Problematising and activating Te Whāriki through the childhood studies lens. In A. Gunn and J. Nuttall (Eds), Weaving Te Whāriki: Aotearoa New Zealand’s Early Childhood Curriculum Document in Theory and Practice (181-194). Wellington, New Zealand: NZCER Press  Tesar, M., Tong, Z., Gibbons, A., Arndt, S. & Sansom, A. (2019). Children’s literature in China: Revisiting ideologies of childhood and agency. Contemporary Issues in Early Childhood. 20(4) 381–393. doi: 10.1177/1463949119888494  —  Tác giả: PGS.TS Marek Tesar, Khoa Giáo dục và công tác xã hội, Đại học Auckland, NewZealand.    Author                Marek Tesar        
__label__tiasang Triều Tiên hợp tác với Hàn Quốc giải quyết bệnh lao và sốt rét      Thỏa thuận hợp tác này diễn ra sau khi Quỹ phi lợi nhuận toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét chấm dứt các khoản viện trợ cho Triều Tiên vào ngày 30 tháng Sáu.      Chính phủ Triều Tiên đã tỏ ra lo ngại về tác động của việc dừng viện trợ bởi trong tám năm qua Quỹ Toàn cầu tại Triều Tiên đã hỗ trợ điều trị hơn 194.000 trường hợp mắc bệnh lao và phân phối gần 2,3 triệu màn tẩm hóa chất (nhằm chống sốt rét). Quỹ Toàn cầu là một trong số ít các nguồn viện trợ cho điều trị bệnh sốt rét và lao ở Triều Tiên. Mất sự hỗ trợ tài chính này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗ lực kiểm soát bệnh ở quốc gia này.  Tình hình mắc bệnh lao ở Triều Tiên rất đáng báo động. Nước này nằm trong top 30 quốc gia có tỉ lệ bệnh lao cao nhất thế giới của WHO và là nước có tỷ lệ nhiễm lao cao nhất trong những nước bên ngoài vùng cận Sahara châu Phi. Trong năm 2014, WHO ước tính rằng 5.000 người Triều Tiên đã chết vì bệnh lao. Tình hình càng trở nên khó khăn hơn do Triều Tiên có tỷ lệ lao kháng nhiều loại thuốc (MDR-TB) tăng cao do điều kiện điều trị bị hạn chế hoặc gián đoạn.   Đối với bệnh sốt rét, trước đây, Triều Tiên đã kiểm soát một cách hiệu quả bệnh sốt rét trong những năm 1970, nhưng lại bùng phát vào cuối những năm 1990, cùng lúc với sự sụp đổ kinh tế của đất nước. Số ca nhiễm đạt đỉnh vào năm 2013 ở mức gần 24.000 ca, giảm xuống còn khoảng 5.000 vào năm 2016. Mặc dù có sự sụt giảm tỉ lệ sốt rét, WHO ước tính gần 40% dân số Triều Tiên sống ở những vùng có nguy cơ nhiễm sốt rét.  Việc ngừng viện trợ có rủi ro tạo ra các cuộc khủng hoảng y tế và nhân đạo. Mối đe dọa từ bệnh sốt rét và lao ở Triều Tiên cũng là mối lo ngại đối với các nước láng giềng, vì muỗi và trực khuẩn có thể lây lan xuyên biên giới quốc gia.  Theo thỏa thuận này, Triều Tiên và Hàn Quốc sẽ thiết lập một hệ thống phản ứng chung để chống lại các bệnh truyền nhiễm này. Một chương trình thí điểm sẽ bắt đầu vào cuối năm nay. Hai quốc gia sẽ trao đổi thông tin về các bệnh truyền nhiễm thông qua một văn phòng liên lạc ở Kaesong, phía Bắc biên giới.  Thỏa thuận này là một phần của cam kết mở rộng hợp tác y tế công cộng, được đưa ra trong một tuyên bố mà Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã ký kết ở Bình Nhưỡng vào ngày 19 tháng 9.  Thỏa thuận này được đánh giá là một bước đi kịp thời và cần thiết đầu tiên trong việc lập kế hoạch tự do đi lại giữa Hàn Quốc, hoặc thậm chí là tiến tới tái thống nhất, Shin Hee Young, một bác sĩ ung thư nhi khoa và giám đốc Viện Nghiên cứu Sức khỏe và Thống nhất tại Đại học Quốc gia Seoul nhận xét. Ông đã làm việc với các bệnh viện Triều Tiên từ năm 2003.  Tuy nhiên, ông lưu ý, các mô hình bệnh tật ở hai nước khác nhau rõ rệt. Các bệnh do vi khuẩn, chẳng hạn như bệnh lao, sốt thấp khớp và ban đỏ lan tràn ở Triều Tiên nhưng lại ít phổ biến hơn ở Hàn Quốc, nên các bác sĩ nhi khoa Hàn Quốc có ít kinh nghiệm ứng phó các bệnh này, Shin nói. “Nếu những người bệnh đi qua biên giới mà không có bất kỳ  biện pháp kiểm soát nào sẽ dẫn tới lây lan bệnh lao ở Hàn Quốc”, ông nói.  Ngược lại, nếu giới hạn biên giới được dỡ bỏ, các virus truyền nhiễm, phổ biến hơn ở Hàn Quốc, như cúm, sẽ bắt đầu ảnh hưởng mạnh đến Bắc Triều Tiên, nơi người dân có miễn dịch thấp và bị ảnh hưởng bởi suy dinh dưỡng.□  Hoàng Nam tổng hợp  Nguồn: https://www.washingtonpost.com/news/monkey-cage/wp/2018/04/12/north-korea-has-a-big-tuberculosis-problem-its-about-to-get-worse/?utm_term=.286b13cae06bhttps://www.nature.com/articles/d41586-018-07393-y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trình tự hệ gene tiết lộ một loài ong nghệ mới      Trong khi nghiên cứu về đa dạng di truyền của các loài ong nghệ ở dãy núi Rocky (Mỹ), các nhà nghiên cứu từ trường đại học Uppsala phát hiện ra một loài mới.      Phát hiện mới Bombus incognitus có vẻ không khác so với loài khác là Bombus sylvicola. Không thể phân biệt được chúng. Nguồn: Jennifer Geiba  Họ đặt tên cho chúng là Bombus incognitus và trình bày phát hiện trong bài báo “Genetic barriers to historical gene flow between cryptic species of alpine bumblebees revealed by comparative population genomicsa”, xuất bản trên tạp chí Molecular Biology and Evolution.  Ong nghệ quuan trọng với nông nghiệp và thế giới tự nhiên, do vai trò của chúng trong việc thụ phấn cây trồng. Trên thế giới có khoảng hơn 250 loài ong nghệ, chủ yếu sinh sống ở vùng có khí hậu ôn hòa ở phía bắc hành tinh. Đáng buồn là nhiều loài ong nghệ hiện đang bị suy giảm dưới tác động của biến đổi khí hậu, và những loài sống ở vùng núi cao và phương bắc đều rơi vào tình trạng nguy hiểm. Tuy vậy, người ta vẫn còn chưa hiểu rõ về sự đa dạng của các loài ong nghệ trong những môi trường tự nhiên đó.  Nhóm nghiên cứu của Matthew Webster tại trường đại học Uppsala, cùng với các đồng nghiệp ở Mỹ đã nghiên cứu về đa dạng di truyền của ong nghệ tại vùng núi Rocky, Colorado thông qua việc thu thập hàng trăm mẫu và giải trình tự các hệ gene của chúng. Thật đáng ngạc nhiên, dữ liệu tiết lộ sự hiện diện của một loài mới, vốn không thể phân biệt được với loài Bombus sylvicola nhưng có một khoảng cách rõ ràng ở cấp độ di truyền. Các tác giả đã đặt tên cho nó là Bombus incognitus.    Bằng việc so sánh các hệ gene của Bombus sylvicola và Bombus incognitus, nhóm nghiên cứu đã có thể tìm hiểu về cách loài mới này hình thành. Họ tìm thấy các dấu hiệu nhất quán với dòng chảy gene giữa loài này trong suốt quá trình tiến hóa của chúng, đồng thời cũng nhân diện được những phần nhiễm sắc thể không tương hợp giữa các loài, vốn đóng vai trò như những “thanh chắn” di truyền với dòng chảy di truyền và có thể quan trọng trong việc phân tách loài.  Những kết quả này chỉ dấu rằng số lượng các loài ong nghệ trong những môi trường ở vùng núi cao và phương bắc có thể lớn hơn trước đây người ta vẫn nghĩ. Có thể là địa chất ở vùng núi dẫn đến sự hình thành loài. Số lượng những con ong có khả năng đáp ứng với điều kiện khí hậu lạnh có thể bị phân tách ở các cao độ trong suốt các thời kỳ thời tiết nóng ấm trong lịch sử tiến hóa của chúng, dẫn đến việc hình thành loài mới. Cũng có thể là trình tự hệ gene bổ sung của loài ong nghệ sẽ tiết lộ thậm chí là trên thực tế còn nhiều loài sống ở vùng phương bắc mà chưa được phát hiện.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-genome-sequencing-reveals-species-bumblebee.html  https://academic.oup.com/mbe/advance-article/doi/10.1093/molbev/msab086/6199435    Author                Quản trị        
__label__tiasang TRIZ nâng cao năng suất lao động: Từ lý thuyết đến thực tiễn      Lý thuyết giải các bài toán sáng chế TRIZ đã được nhiều tập đoàn công nghệ lớn như IBM, Samsung, Intel, … áp dụng để gia tăng số lượng bằng sáng chế, góp phần mang lại lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó họ còn áp dụng TRIZ một cách hệ thống để cải tiến các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động.    Bài viết này đề cập tới việc giảng dạy, ứng dụng TRIZ ở một số tập đoàn, doanh nghiệp ở Việt Nam và hiệu quả mà nó mang lại trong việc cải tiến các thiết bị, máy móc, công đoạn sản xuất.     TRIZ giúp khử các mâu thuẫn kỹ thuật  Lý thuyết giải các bài toán sáng chế TRIZ được Genrikh Saulovich Altshuller, một kỹ sư người Nga, gốc Do Thái xây dựng lên từ việc nghiên cứu rất nhiều bằng sáng chế. Khác với cách tiếp cận theo hướng tâm lý, Altshuller tiếp cận sáng tạo theo hướng các quy luật khách quan. Tiền đề quan trọng để Altshuller xây dựng TRIZ là “Sáng tạo sáng chế làm thay đổi các hệ thống kỹ thuật mà các hệ thống này phát triển theo các quy luật khách quan nhất định, không phụ thuộc tùy tiện vào tâm lý chủ quan của các nhà sáng chế. Do vậy, chỉ có thể nâng cao năng suất và hiệu quả quá trình sáng tạo sáng chế khi nhà sáng chế nắm vững các quy luật phát triển khách quan đó và biết điều khiển tâm lý chủ quan của mình theo chúng”.   Từ việc nghiên cứu các bằng sáng chế, bằng phương pháp thống kê Altshuller đã xây dựng được 40 thủ thuật sáng tạo. Ông cũng phát hiện ra trong các bài toán sáng chế thường chứa mâu thuẫn kỹ thuật, từ đó ông xây dựng được 39 thông số kỹ thuật. Để giải quyết các mâu thuẫn kỹ thuật, Altshuller đã sáng tạo ra bảng khử các mâu thuẫn kỹ thuật. Bảng khử các mâu thuẫn kỹ thuật là một ma trận hình vuông gồm 39 hàng và 39 cột. Từ bảng khử này có thể giải quyết được khoảng 1.200 các loại mâu thuẫn kỹ thuật khác nhau. Tiếp đó, Altshuller phát hiện ra một loại mâu thuẫn mang tính cốt lõi là mâu thuẫn vật lý, và để giải quyết mâu thuẫn này ông đã thiết kế ra 11 biến đổi mẫu, 76 chuẩn và chương trình ARIZ.  Có thể nói TRIZ sở hữu một bộ công cụ rất mạnh để giải quyết các bài toán kỹ thuật và tạo được một cơ sở lý thuyết tốt để hỗ trợ cho hoạt động sáng chế.  Thực hành ở một số viện, trường doanh nghiệp   TRIZ được xây dựng trên nền tảng tổng hợp của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: Điều khiển học, Lý thuyết thông tin, Hệ thống thông tin patent, Lý thuyết hệ thống, Tâm lý học sáng tạo, …. Vì vậy việc làm chủ và vận dụng tốt được TRIZ cần dựa trên nền tảng kiến thức tổng hợp, liên ngành.   Sau khi hiểu về TRIZ, tôi đã tổ chức các lớp học thử nghiệm cho sinh viên (chủ yếu là đội ngũ lớp trưởng, bí thư) để hoàn thiện dần hệ thống bài giảng. Tiếp đó là một loạt các lớp cho giảng viên để họ đánh giá, góp ý. Sau khi hoàn thiện hệ thống bài giảng tôi đề xuất và được chấp nhận đưa thành môn học chính khóa cho sinh viên các khoa: Công nghệ thông tin, Công nghệ May & Thiết kế thời trang, Điện tử và khoa Công nghệ Ô tô của Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội. Cho đến nay đã có 2.233 sinh viên được học một cách đầy đủ, bài bản về TRIZ trong chương trình chính khóa. Các sinh viên khi được tiếp xúc với môn học này đã có những phản hồi tích cực, hứng thú rất hứng thú với môn học này. Một số viện, trường cũng đã tổ chức các lớp ngoại khóa cho giảng viên và nghiên cứu viên như: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Sở KH&CN Đà Nẵng, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Ngoại thương, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH FPT, …  Sau khi triển khai thành công các khóa đào tạo về TRIZ cho các viện, trường tôi đặt câu hỏi: liệu có thể đưa vào giúp các doanh nghiệp ứng dụng TRIZ để nâng cao năng suất lao động hay không? Từ suy nghĩ đó tôi bắt đầu hành trình thuyết phục doanh nghiệp. Hành trình này thực sự vô cùng khó khăn, bởi lẽ hầu hết các doanh nghiệp không có thông tin về TRIZ. Hơn nữa rất khó để giúp doanh nghiệp hình dung về kiến thức và hiệu quả của TRIZ khi chưa có minh chứng bằng các kết quả cụ thể. Mặt khác, khi tiếp xúc với doanh nghiệp tôi thấy niềm tin của doanh nghiệp vào các trường đại học là khá thấp. Có doanh nghiệp nói thẳng: “những vấn đề này chúng tôi chả dạy các anh thì thôi các anh lại còn đòi đi dạy chúng tôi, các anh chỉ toàn lý thuyết suông mà không có chút thực tiễn nào cả”. Tôi kiên trì giải thích để các doanh nghiệp hiểu và họ dần chấp nhận huấn luyện và ứng dụng TRIZ, đến nay đã có một số doanh nghiệp như Samsung Display Vietnam, Foster Việt Nam, Khang Minh Group… Những câu chuyện dưới đây cho thấy hiệu quả khi áp dụng TRIZ ở các đơn vị này:   Quá trình ứng dụng TRIZ tại các doanh nghiệp thường được thực hiện làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 là đào tạo, trong giai đoạn này các kỹ sư được trang bị kiến thức cơ bản của TRIZ, thực hành TRIZ thông qua các trường hợp cụ thể. Giai đoạn 2 là giai đoạn tư vấn – chuyên gia sẽ cùng nhóm kỹ sư chủ chốt tập trung phát hiện các vấn đề kỹ thuật, công nghệ cần cải tiến. Sau đó cùng nhau thảo luận áp dụng các công cụ của TRIZ đưa ra ý tưởng cải tiến. Sau đây là một số kết quả điển hình trong việc ứng dụng TRIZ để nâng cao năng suất lao động tại các doanh nghiệp.    Đào tạo và tư vấn TRIZ cho Khang Minh Group  Trường hợp 1: Áp dụng chương trình ARIZ rút gọn để giảm tỷ lệ lỗi ở công đoạn Loading OCA ở công ty Samsung Display Vietnam.  Phát biểu bài toán: Công ty Samsung Display Vietnam có những dây chuyền sản xuất dùng các cánh tay robot gắp các tấm OCA để dán vào màn hình điện thoại. Do các tấm OCA rất mỏng, được cấp theo từng lô nên khi cánh tay robot gắp thường xảy ra hiện tượng dính 2 tấm OCA với nhau. Mỗi lần dính như thế đều xảy ra lỗi phải dừng máy để khắc phục. Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để hạn chế tối đa số lần lỗi xảy ra.  Lời giải: Chuyên gia cùng nhóm kỹ sư đã áp dụng chương trình ARIZ rút gọn với 6 bước để đưa ra ý tưởng giải quyết vấn đề.  Kết quả: Sau khi triển khai thực hiện ý tưởng trên 15 dây chuyền sản xuất và đánh giá hiệu quả sau 1 tháng thử nghiệm, kết quả đạt được là rất tốt. Cụ thể: số lần lỗi giảm từ 4.605 lần xuống còn 685 lần, tức là giảm 85,12%; thời gian dừng máy giảm từ 3.686,8 phút xuống còn 858 phút, tức là giảm 76,73%. Số tiền tiết kiệm được do cải tiến này mang lại là 1.004.480$/1 tháng.  Trường hợp 2: Áp dụng bảng khử mâu thuẫn kỹ thuật để giảm lượng bụi tại máy tạo hình các viên gạch không nung tại Khang Minh Group.  Phát biểu bài toán: Công ty có hệ thống máy sản xuất gạch không nung. Để tạo hình viên gạch cần có bộ phận rung, quá trình rung xuất hiện ở hai chu kỳ: rung tra nguyên liệu và rung ép để tạo hình viên gạch. Quá trình rung được tạo ra bởi motor quay hai trục lệch tâm. Khi rung, bàn rung đập vào mặt dưới tấm pallet nhựa đỡ gạch tạo ra rất nhiều bụi. Yêu cầu đặt ra là làm sao để giảm được tối đa lượng bụi trong quá trình rung.  Chuyên gia và nhóm kỹ sư của Khang Minh đã thảo luận sử dụng bảng khử các mâu thuẫn kỹ thuật để đưa ra ý tưởng sử dụng thủ thuật sáng tạo Sử dụng trung gian để thiết kế hệ thống khử bụi ngay ở công đoạn tách bằng việc tưới ẩm vào các tấm pallet. Hệ thống này có thể điều chỉnh được lượng nước phun ra cho phù hợp với tốc độ tách các tấm pallet.  Kết quả: Với cải tiến này đã giảm được tới 95% lượng bụi thải ra ở công đoạn rung tạo hình viên gạch.  Trường hợp 3: Áp dụng bảng khử mâu thuẫn kỹ thuật cải tiến công đoạn lắp các con yoke cho thiết bị tai nghe ở công ty Foster.  Phát biểu bài toán: Công ty có những dây chuyền sản xuất trong đó có công đoạn đổ các con yoke vào những cái khay. Theo luật xác suất thì có 50% các con yoke nằm úp và 50% các con yoke nằm ngửa. Những con yoke nào úp thì người công nhân dùng tay úp vào thiết bị bên cạnh. Những con yoke nào ngửa người công nhân phải lật úp rồi đưa vào thiết bị bên cạnh. Yêu cầu đặt ra: làm thế nào để các con yoke khi đổ ra hầu hết phải lật úp, tốt hơn nữa thì có thể tự động hóa được khâu này.  Sau khi áp dụng ba bảng khử các mâu thuẫn kỹ thuật với 5 bước thực hiện đã cho gợi ý dùng thủ thuật sáng tạo Thay thế sơ đồ cơ học để đưa ra ý tưởng cải tiến dây chyền sản xuất.  Kết quả: Công ty đã thiết kế được hệ thống máy rung từ trường để tự động hóa hoàn toàn khâu lắp con yoke, từ đó tinh giản được 40 công nhân.  Kết luận: Các công cụ của TRIZ được thiết kế để giải quyết 2 loại mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn kỹ thuật và mâu thuẫn vật lý. Đồng thời các công cụ này đều có tính định hướng tới lời giải. Điều này khắc phục được một nhược điểm rất cơ bản của phương pháp thử và sai là thiếu cơ chế định hướng. Mặt khác TRIZ được xây dựng từ việc nghiên cứu các bằng sáng chế mang tính khách quan và có quy luật do đó các lời giải đạt được tính bền vững cao. Hiện nay đã có nhiều tập đoàn công nghệ áp dụng thành công TRIZ. Ngày càng có nhiều hội thảo, bài báo khoa học, các xuất bản phẩm về TRIZ được phát hành giúp cho cộng đồng kỹ sư có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận, ứng dụng TRIZ để nâng cao năng suất lao động.  Ghi chú: Bạn đọc có thể tham khảo một số thông tin về các hội thảo và tình hình phát triển TRIZ trên thế giới theo phần phần tóm tắt của TS Doãn Minh Đăng, ĐH Freiburg (Đức): https://rosetta.vn/triz/tom-tat-thong-tin-tu-hoi-nghi-trizfest-2019/?fbclid=IwAR1iX7qYQrnFgtu1XFM1jwozRJGXdZfEXhCSFFUPiMPQ1iyJ-btznIpwPH    Author                Nguyễn Minh Tân        
__label__tiasang Tro bay ứng dụng trong sản xuất vật liệu cách âm và cách nhiệt      Tận dụng nguồn phế thải tro bay, nhóm tác giả Trường Đại học Bách khoa TPHCM chế tạo ra vật liệu cách âm, cách nhiệt aerogel composite, có thể sản xuất ở quy mô công nghiệp.    Tro bay là bụi khí thải dạng hạt mịn thu được từ quá trình đốt cháy than đá trong các lò hơi của nhà máy nhiệt điện, lò quay của nhà máy xi măng, lò cao của nhà máy luyện kim, lò tunel của các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng,… Thành phần của tro bay thường chứa các silic oxit, nhôm oxit, canxi oxit, sắt oxit, magie oxit, lưu huỳnh oxit,… Hiện nay, chưa có nhiều phương pháp xử lý triệt để, nên tro bay gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.        Aerogel được định nghĩa là một hệ gel khô (không chứa dung môi trong hệ gel) với một lượng lớn lỗ rỗng trong cấu trúc, có khối lượng rất nhẹ nên aerogel còn được gọi bằng cái tên “khói băng” hay “khói rắn”. Đã có những nghiên cứu trong nước tổng hợp aerogel từ silica được trích ly và thu hồi từ tro bay bằng phương pháp sol-gel truyền thống. Tuy nhiên, quy trình tổng hợp còn phức tạp, sử dụng nhiều hóa chất không thân thiện với môi trường để tiền xử lý tro bay, tổng hợp aerogel, hoặc sử dụng dung môi và hóa chất đắt tiền. Bên cạnh đó, các thông số kỹ thuật của vật liệu chế tạo từ tro bay vẫn chưa phù hợp với thực tiễn, như độ dẫn nhiệt cao hơn so với các chất cách nhiệt truyền thống. Phần lớn các nghiên cứu chỉ mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm.    Trước thực tế đó, nhóm tác giả Trường Đại học Bách khoa TP.HCM đã thực hiện đề tài “Phát triển công nghệ sản xuất vật liệu aerogel composite từ tro bay định hướng ứng dụng làm vật liệu siêu nhẹ, cách âm, cách nhiệt”.    Tro bay thô được nhóm tác giả thu về từ Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, sau đó xử lý thành các hạt có kích thước nhỏ hơn (0,5 – 2 µm), phần lớn có dạng hình cầu. Nhóm sử dụng công nghệ sấy thăng hoa, dung môi, cùng chất kết dính không độc hại để tổng hợp aerogel. Aerogel được tổng hợp trực tiếp từ tro bay có tính siêu nhẹ (0,072 – 0,093 g/cm3), độ rỗng cao (94,94 – 95,78%) và chịu nén tốt (67,73 – 254,75 kPa). Vật liệu này được nhóm tiếp tục phối trộn với sợi nhựa PET tái chế (rPET), có đường kính 30µm, chiều dài 64mm để sản xuất vật liệu aerogel composite (FA aerogel).    Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, vật liệu FA aerogel có tính siêu nhẹ (0,026-0,062 g/cm3), độ rỗng (96,59-98,42%), cách nhiệt tốt (0,034-0,039 W/mK), hệ số hấp thụ âm thành từ 0,40 – 1,0 trong khoảng tần số từ 1.400 – 6.000Hz. Tấm vật liệu FA aerogel có tính chất cách nhiệt đồng đều ở mọi điểm trên tấm, với độ dẫn nhiệt trung bình là 0,036W/mK.    Theo PGS.TS Lê Thị Kim Phụng, Chủ nhiệm đề tài, FA aerogel có khả năng chịu nén tốt gấp 3 lần aerogel từ bã mía (88 kPa), gấp 1,5 lần silica-cellulose aerogel (169 kPa). Ngoài ra, chi phí sản xuất FA aerogel rất thấp, ước tỉnh chỉ khoảng 59 ngàn đồng/m2. Trong khi đó, giá thành một số sản phẩm cách nhiệt thương mại như aerogel Trung Quốc có giá từ 250 – 430 ngàn đồng/m2, sản phẩm của Aspen Aerogel (Mỹ) giá khoảng 3 triệu đồng/m2,…    Đề tài nghiên cứu đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu và nhóm tác giả sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp có nhu cầu.    Phạm Hải    Author                phongvien        
__label__tiasang Trò chơi điện tử giải quyết những bài toán của đô thị      Trò chơi điện tử có thể là một công cụ đắc lực cho nhà quy hoạch, chuyên gia kiến trúc, chính quyền giải quyết những bài toán của đô thị.     SimCity – một trong những trò chơi xây thành phố được biết đến nhiều nhất  Cũng như những trò chơi nói chung từ thuở chưa có máy vi tính hay tivi, trò chơi điện tử (game) được xây dựng dựa trên các yếu tố: mâu thuẫn, luật chơi, khả năng người tham gia và kết quả. Sự kết hợp và gia giảm của các yếu tố này khiến trò chơi cuốn hút và hấp dẫn công chúng. Hãy lấy ví dụ như trò chơi Flappy Bird từng làm mưa làm gió trên mạng xã hội và truyền thông ở Việt Nam và trên thế giới vào năm 2014. Luật chơi của game rất đơn giản: làm sao để nhấn ngón tay lên màn hình nhằm điều khiển một chú chim lách qua càng nhiều khe ống nước càng tốt. Mâu thuẫn là chỉ dùng một ngón tay, nhấn liên tục, nhấn có nhịp điệu, nhưng nhấn lâu thì mỏi, khe ống nước thì hẹp, có đoạn còn không cố định mà di chuyển, chú chim dường như lại “không muốn bay”, lúc nào cũng chỉ chực chúi mũi xuống dưới sức nặng của trọng lực, sơ sảy ngón tay một chút là chú chim rơi xuống đất và bạn chơi lại từ đầu! Khả năng của người chơi sẽ được đánh giá dựa trên số khe ống nước mà họ vượt qua. Để tăng tính cạnh tranh, người chơi nào cũng có thể chia sẻ kết quả và so sánh với người khác trên mạng xã hội.  Rộng hơn khái niệm trò chơi điện tử là khái niệm trò chơi hóa (gamification). Khái niệm này miêu tả việc ứng dụng các yếu tố của một trò chơi vào một hoạt động ngoài giải trí, nhằm thu hút cộng đồng tham gia một quá trình xây dựng hoặc quảng bá sản phẩm. Một trong những ví dụ đó là bản đồ mã nguồn mở OpenStreetMap (OSM) – một trong những dự án xây dựng dữ liệu địa điểm thành công nhất trên thế giới. Thay vì bằng những phần mềm vẽ bản đồ với giao diện thô cứng, một nhóm những nhà phát triển đã thu hút người dùng bằng một giao diện game gọi là StreetComplete, với các nhiệm vụ và câu đố trắc nghiệm để nhập và chia sẻ dữ liệu. Là một phần mềm thu thập dữ liệu địa lý nhưng StreetComplete như một game đích thực khi họ còn có bảng điểm và các hình thức ghi nhận để thúc đẩy và khuyến khích sự cạnh tranh ở mỗi người chơi.  Sự phát triển của mạng xã hội và internet đã khiến game không dừng lại ở sự tương tác giữa một người – một máy với những điều kiện và kết quả của trò chơi bị giới hạn chặt chẽ bởi những nhà phát triển và sản xuất game. Ở những trò chơi điện tử hiện đại, cộng đồng chính là mấu chốt. Những trò chơi mới có xu hướng khai thác sự sáng tạo của người chơi và sự trao đổi, hợp tác giữa nhiều người chơi với nhau. Người chơi có thể cùng đóng góp nhiều cách giải quyết một vấn đề (serious game-loại game được thiết kế không nhằm mục đích giải trí), hoặc sáng tạo lối chơi mới (game mod). Tính linh hoạt này chính là chìa khóa đưa game và gamification ngày càng vượt ra khỏi ranh giới của một hình thức giải trí đơn thuần.  Game trong đô thị  Dự án đô thị, thiết kế đô thị, sáng kiến đô thị là những hoạt động nhằm thay đổi, xây dựng không gian phát triển bền vững cho môi trường đô thị. Những hoạt động này thường là những hoạt động phối hợp nhiều ngành, nhiều bên liên quan, nhiều quy mô. Bởi vậy, không khó để người ta nghĩ đến game, không chỉ như một công cụ để người dân quan tâm và tham gia giải quyết các vấn đề mình đang sống mà còn để các nhà quy hoạch, chính quyền, chuyên gia thu thập dữ liệu từ cộng đồng, thậm chí lường trước tác động xã hội từ quyết định của mình.  Simcity – trò chơi điện tử từng luôn đứng trong hàng ngũ những game xây thành phố hay nhất, ra đời từ những năm 90 là một trong những ví dụ tiêu biểu. Trong Simcity, người chơi vào vai thị trưởng một thành phố, quyết định những thay đổi như hạ tầng đường sá, hệ thống điện nước, cây xanh, công trình sao cho cung cấp dịch vụ công tối ưu cho người dân với một ngân sách giới hạn từ chính phủ. Tuy được phát triển là một trò chơi điện tử thuần túy, từ đầu những năm 2000, giới học thuật đã sử dụng game này như một công cụ giả lập tác tử (agent-based simulation) – mô phỏng sự tương tác giữa các thành phần xã hội trước một quyết định xây dựng, nhằm hỗ trợ đắc lực cho những nhà quy hoạch, nhà phát triển trong công tác xây dựng mô hình đô thị.  Tuy nhiên, nếu SimCity với tuổi đời gần 30 năm, chỉ là game thuần túy một người chơi thì những trò chơi đô thị hiện đại ngày nay đều hướng tới nhiều người chơi một lúc, mỗi người có thể đóng một vai trò khác nhau, nhờ đó tăng cường nhiều khả năng giả lập và đa dạng tương tác. Một trong những sáng kiến có thể kể đến là Games for Cities – một nền tảng được Play the city khởi xướng nhằm tạo ra một không gian chia sẻ cho các ý tưởng game trong đô thị.  Trên trang web này có thể tìm thấy rất nhiều ứng dụng, bao gồm cả ý tưởng lẫn công cụ thực tiễn. Redesire (2016 – Rezone, We are Muesli) là một game dạng thương thảo, cân đối lợi ích các bên. Người chơi sẽ đóng vai nhà quản lý, doanh nghiệp, người sử dụng, nhà đầu tư với những vai trò khác nhau (chẳng hạn nhà quản lý thì cần tầm nhìn, trong khi đó nhà đầu tư lại cần tính khả thi cao) để cùng tham gia vào một dự án đô thị. Hay tiêu biểu có thể kể tới Cities Skylines (2015 – Paradox Interactive) – một trò chơi thương mại, cũng giống như SimCity, người chơi có thể xây dựng thành phố riêng của bản thân. Nhưng vượt qua cái bóng của SimCity, trò này có khả năng giả lập môi trường xây dựng gần thực tế hơn, như việc những thửa nhà bám theo cấu trúc đường, hay như bộ công cụ thiết kế đô thị trực quan và đa dạng. Finding Places (2016) khai thác ứng dụng AR – thực tế tăng cường, tức là người chơi được chìm đắm trong một môi trường vi tính 3D. Theo đó, người chơi đóng vai những nhà quy hoạch, có thể trực tiếp đặt những miếng Lego (tượng trưng cho những công trình) vào thế giới ảo. Hãy tưởng tượng khi tháo ra các miếng công trình, thay vào đó là một mảnh công viên cây xanh, hàng loạt các thuật toán được chạy thời gian thực, mô hình trả về những kết quả tích cực về vi khí hậu, giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, các mối quan hệ xã hội được cải thiện.  Khả năng của tương lai  Ứng dụng Metacity – Trò chơi thực tế ảo cho phép người chơi xây dựng và trao đổi bất động sản như thế giới thực.  Anh Nguyễn Xuân Mẫn, văn phòng kiến trúc XMA Architect/LAVA, một kiến trúc sư kinh nghiệm trong lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số cho kiến trúc và quy hoạch, chia sẻ, trên cơ sở hạ tầng số phát triển và tỷ lệ lớn dân số trẻ, những sáng kiến đô thị sử dụng trò chơi điện tử hoặc được trò chơi hóa đang dần trở thành xu thế. Cuộc cách mạng Web 3.0 đã bước đầu xây dựng những khái niệm về giao tiếp ảo, có thể nhận thấy ở phong trào Metaverse nhằm thay thế một phần các nhu cầu và chức năng ở đô thị như thương mại điện tử, làm việc và họp từ xa, hay triển lãm ảo. Công nghệ mới hứa hẹn cho giới kiến trúc quy hoạch khả năng trải nghiệm, dự báo sự biến đổi không gian đô thị.  Những trò chơi dựa trên địa điểm (Location-based game) như Pokemon GO! Hay Ingress khiến phát triển đô thị phải nhìn lại về không gian công cộng hiện nay. Hai trò chơi này đều có điểm chung là xây dựng một thế giới tưởng tượng trên nền không gian thực tế (các công viên, điểm chờ xe buýt, tàu metro), để người chơi không ngồi một chỗ mà đi quanh thành phố của mình để bắt Pokemon – những con vật có khả năng đặc biệt đang ẩn nấp ở những không gian công cộng với Pokemon GO!, hoặc để chiếm đóng các Cổng không gian (Portal) – nơi chứa nguồn vật chất kì bí như trong Ingress. Dữ liệu từ các trò chơi này giúp cho những nhà quy hoạch hiểu hơn về cách người dân sử dụng không gian công cộng, chất vấn liệu các không gian công cộng liệu đã đủ “mở”, đón nhận đủ đa dạng tất cả mọi đối tượng hay chưa?  Dự án Metacity, nằm trong chiến lược tạo dựng Metaverse (vũ trụ ảo) của liên doanh các doanh nghiệp như House3d hay Icetea Labs, sẽ sử dụng các công nghệ mới nổi như VR – thực tế ảo, blockchain (công nghệ nền tảng của Web3) cho phép người dùng có thể kiến tạo không gian và mua bán, trao đổi bất động sản như trong thế giới thực. Là một trong số những người phát triển dự án này, anh Mẫn cho biết, mô hình về thành phố ảo và thị trường xây dựng ảo, nơi mà người sử dụng có khả năng tạo ra những bản mod, những quy hoạch, kiến trúc, nội thất cho chính khu vực mình được phân. Người chơi sẽ vừa là người trải nghiệm, nhà quy hoạch, nhà thiết kế, nhà đầu tư trong thế giới mới. Đây là cơ hội cho những nhà phát triển đô thị trên toàn thế giới, thay vì phải thử nghiệm bằng những phần mềm mô phỏng, hay bằng những Bot được lập trình sẵn, giờ đây có thể trực tiếp quan sát hành vi của người dùng thực tế, anh nhận định.  Những bước đi đầu tiên ở Việt Nam  Ở Việt Nam, các vấn đề đô thị mới, phức tạp và đa chiều, như quá tải hạ tầng, ô nhiễm môi trường, chất lượng sống thiếu đồng bộ ở các khu vực là những điều mà phương thức quy hoạch và thiết kế truyền thống khó giải quyết được. Khi đó, game có thể là một phương thức để cộng đồng có thể tham gia vào quá trình phác thảo ý tưởng, thậm chí có thể đồng thiết kế với kiến trúc sư. Dưới đây là hai ví dụ cho điều này: nhóm Think Playgrounds! và kiến trúc sư Nguyễn Xuân Mẫn.  Nhóm Think playgrounds! là một nhóm những người nghĩ về sân chơi cho trẻ được biết đến với nỗ lực xây dựng các không gian giải trí sáng tạo trong thành phố. Họ “kết hợp với các khu dân cư để dành lại một phần đất công cộng cho sân chơi, cùng các kiến trúc sư sáng tạo ra các thiết kế sân chơi, các thiết bị vui chơi phù hợp và thân thiện với môi trường”. Trong quá trình bàn bạc người dân, nhóm sử dụng hình thức trò chơi hóa: sử dụng đất sét, bản vẽ in, giấy ghi chú, sticker để người dân mô tả ý tưởng và thiết kế của mình. Kết quả từ các trò chơi sẽ là dữ liệu đầu vào để Think playgrounds thiết kế sân chơi và các thiết bị vui chơi phù hợp với mong muốn và kỳ vọng của người dân.  Người dân tại phường Tân Mai sử dụng Minecraft để diễn tả ý tưởng của mình về sân chơi. Ảnh: FB Think Playground!  Gần đây, Think playgrounds! được tiếp cận dự án Block by Block nhằm ứng dụng trò chơi Minecraft – một trò chơi điện tử, nơi người chơi có thể sắp xếp những khối lập phương kích thước giả định 1m2 để tạo nên thế giới của riêng mình, vào công tác tái thiết không gian đô thị. Tức là, thay vì sử dụng đất sét, bản vẽ in, giấy ghi chú, sticker như trước đây, người dân sẽ chơi trò Minecraft cùng với đội ngũ Think Playground! để diễn tả ý tưởng của mình về sân chơi. Cách người dân vẽ sân chơi ảo của mình trong Minecraft sẽ giúp Think Playground! hình dung trực quan hơn sân chơi trong thực tế.  Tuy nhiên, người đứng đầu Think Playgrounds!, anh Nguyễn Tiêu Quốc Đạt cho rằng việc ứng dụng Minecraft của họ chưa thực sự thành công. Hiệu quả của phương thức này cũng chỉ tương đương như cách trò chơi hóa với các dụng cụ đơn giản, rẻ tiền mà họ đã từng làm trước đây. Anh Đạt chia sẻ: “Thường trong cộng đồng là những người cao tuổi, rất ít trẻ em, thế nên cần có khoảng thời gian để dạy mọi người cách sử dụng Minecraft, cách di chuyển, cách xây dựng […], vì vậy bọn anh cần nhiều tình nguyện viên để hỗ trợ đối tượng này.” Hơn nữa, kết quả sau quy trình ứng dụng Minecraft không thể sử dụng luôn mà vẫn phải thiết kế lại bằng các phần mềm chuyên dụng để thi công.  Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng việc ứng dụng game vào quy hoạch ở Việt Nam không khả thi. Bản thân Minecraft là một game tuy khó tiếp cận với những người lớn tuổi nhưng lại rất phổ biến và quen thuộc với trẻ em và thanh thiếu niên. Nếu đối tượng tham gia góp ý một dự án gồm nhiều người trẻ thì trò chơi này có thể là công cụ đắc lực cho kiến trúc sư thu thập dữ liệu ban đầu và sơ phác ý tưởng. Ngoài ra, anh Đạt cho rằng, nếu không phải Minecraft mà một game đơn giản, gần gũi và sử dụng hiệu quả các yếu tố đồ họa hơn thì có thể thích hợp với nhiều đối tượng.  Trò chơi Jenga Bridge thử nghiệm kết cấu xây cầu: người chơi rút nhiều nhất thanh gỗ trên cầu sao cho cầu không bị đổ.  Ở một khía cạnh khác, game có thể thay thế hoặc đơn giản hóa các công cụ phức tạp trong thiết kế kiến trúc. Từ đó, người dân có thể tham gia và hiểu sâu hơn quá trình xây dựng, chứ không chỉ dừng lại ở quá trình sơ phác ý tưởng. Anh Nguyễn Xuân Mẫn đã từng thiết kế các game như vậy. Chẳng hạn như game Jenga Bridge, được anh xây dựng dựa trên trò chơi rút gỗ truyền thống, trong đó người chơi sẽ tìm cách rút nhiều nhất số miếng gỗ của một cây cầu sao cho nó không bị sập. Trò chơi này nhằm thử nghiệm các kết cấu xây cầu. Anh Mẫn cũng phát triển Digital Design Toolbox (tạm dịch là Bộ công cụ thiết kế số) – một dạng trò chơi hóa để hỗ trợ cho công nghệ BIM dùng trong kiến trúc. BIM là mô hình thông tin xây dựng, liên kết các bộ môn khác nhau trong cùng một dự án (kiến trúc, kết cấu, điện nước). Các công cụ hỗ trợ xây dựng BIM thường là phần mềm thiết kế chuyên dụng, nhiều thông số kĩ thuật và giao diện không thân thiện. Trong khi đó, công cụ Digital Design Tool Box có cách hoạt động gần giống như Minecraft, cho phép người dùng xây dựng và thử nghiệm cấu trúc của một số loại công trình chỉ bằng cách lắp ghép các khối lập phương đơn giản. Mặc dù hai trò chơi này hiện mới chỉ dừng lại trong phạm vi học thuật, nhưng đã gợi mở hướng đi mới về những serious game trong kiến trúc xây dựng, mở rộng đối tượng tham gia vào quá trình thiết kế đô thị hơn.  Game trong đô thị là một bài toán mới, một phép thử mới cho những vấn đề được xem là kinh điển trong đô thị: áp lực hạ tầng, sự tham gia của cộng đồng, tái hiện và mô phỏng không gian đô thị. Những nhà phát triển cần có những góc nhìn nhạy bén, khả năng diễn giải và trực quan hóa những vấn đề phức tạp, thấu cảm với người tham gia, người sử dụng và người thiết kế để có thể đưa ra những công cụ tối ưu với đề bài đặt ra. □  Xem thêm  (2022).Definition of video game [online]. Oxford University Press. Truy cập tại: https://www.lexico.com/definition/wake (Ngày truy cập: 14 Tháng Bảy 2022).  (2022).Definition of gamification [online]. Oxford University Press. Truy cập tại: https://www.lexico.com/definition/wake (Ngày truy cập: 14 Tháng Bảy 2022).  (2007). The video game explosion: A history from pong to PlayStation and beyond. Greenwood Press.  StreetComplete – https://github.com/streetcomplete/StreetComplete  DEVISCH, O. S. W. A. L. D. (2008). Should planners start playing computer games? arguments from Simcity and second life. Planning Theory & Practice, 9(2), 209–226. https://doi.org/10.1080/14649350802042231  Game for Cities – http://gamesforcities.com/  Cities Skylines – http://www.paradoxinteractive.com/games/cities-skylines/about  Finding Places – Finding places | URBACT  Colley, A., Thebault-Spieker, J., Lin, A. Y., Degraen, D., Fischman, B., Häkkilä, J., Kuehl, K., Nisi, V., Nunes, N. J., Wenig, N., Wenig, D., Hecht, B., & Schöning, J. (2017). The geography of pokémon go. Proceedings of the 2017 CHI Conference on Human Factors in Computing Systems. https://doi.org/10.1145/3025453.3025495  Lobo, D. G. (2005). A city is not a toy: How simcity plays with urbanism. London School of Economics and Political Science, Cities Programme.  Block by block – https://www.blockbyblock.org/  Dự án thiết kế sân chơi và vườn cộng đồng tại khu 2 phường Tân Mai – https://ashui.com/awards/wp-content/uploads/2019/12/TPG-proposal-for-Tan-Mai-2-2-A2-public-spaces-201911-to-Ashui.pdf  Jenga Bridge – https://www.xmarchitect.com/game-robot-algorithms  Digital Design Toolbox – https://www.xmarchitect.com/assemblerassembe  Metacity – https://metacity.game/    Author                Kaheetonaa        
__label__tiasang Trò chuyện với ba nhà khởi nghiệp công nghệ trẻ      Ba nhà khởi nghiệp 9X từng nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là Ngô Xuân Huy, Hoàng Đức Minh và Nguyễn Bảo Khang sẽ có buổi trao đổi kinh nghiệm với các bạn trẻ tại UP Co-working Space, Hà Nội, hôm 15/9 tới.      Ngô Xuân Huy, nhà phát triển Money Lover, ứng dụng  quản lý tài chính cho nhóm và cá nhân.  Ảnh: Forbes Vietnam  Theo thông tin từ ban tổ chức, cuộc gặp “TechTalk: Những mấu chốt công nghệ khi đưa sản phẩm ra thị trường” sẽ tập trung vào những vấn đề mà các bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ đang quan tâm như vấn đề mấu chốt của một startup công nghệ là gì, làm thế nào để có được một sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh và thu hút được quan tâm của thị trường, vốn đầu tư có phải là yếu tố quan trọng trong khởi nghiệp công nghệ, những khó khăn gặp phải khi xây dựng một startup công nghệ và cách giải quyết…  Không chỉ được cung cấp những kiến thức cơ bản của khởi nghiệp công nghệ, các bạn trẻ còn có cơ hội lắng nghe những chia sẻ thực tế, những bài học xương máu cho đến bí quyết thành công của ba nhà khởi nghiệp ở lứa tuổi đôi mươi như Ngô Xuân Huy, Hoàng Đức Minh và Nguyễn Bảo Khang.  Cả ba diễn giả này đều khá quen thuộc với cộng đồng startup công nghệ vài năm trở lại đây. Tên tuổi Ngô Xuân Huy gắn liền với Money lover, một ứng dụng quản lý tài chính cá nhân trên thiết bị điện thoại di động từng được trao giải nhất cuộc thi Nhân tài Đất Việt năm 2014, và gần đây là “Startup đột phá của năm” của Rice Bowl Startup Awards (RBSA) Việt Nam 2016, cuộc thi dành cho các khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ. Hiện tại, Xuân Huy và cộng sự đã cài đặt hơn 20 ngôn ngữ khác nhau cho sản phẩm để Money lover có thể được sử dụng ở nhiều quốc gia khác ngoài Việt Nam.  Diễn giả thứ hai, Hoàng Đức Minh đã tạo ra Wake it up, nền tảng công nghệ quản lý dự án miễn phí cho các cá nhân và tổ chức từng nhận giải nhất cuộc thi “Một triệu đô la thay đổi thế giới” do Forbes Vietnam tổ chức. Với 7 năm kinh nghiệm hoạt động xã hội với các lĩnh vực chính là giáo dục, bảo vệ môi trường…, Đức Minh đã từng thu được thành công khi tạo dựng trang web tutela.vn, hoạt động trong vòng ba tháng nhưng đã có kết quả khá ấn tượng: đạt 45000 thành viên tham gia, tổ chức 45 hoạt động, bao gồm 2 chiến dịch lớn chắc hẳn ai cũng đều biết: #SaveSonDoong và “6.700 người vì 6.700 cây xanh”. Trên cơ sở đó, anh đã thiết kế Wake It Up với nhiều tính năng hữu ích, có thể hỗ trợ nhiều loại tương tác cho người sử dụng như tổ chức cuộc thi, thu thập chữ ký, thu thập lượt chia sẻ.  Diễn giả thứ ba là Nguyễn Bảo Khang, người thành lập KitFE, nền tảng công nghệ về đặt món ăn trực tuyến kết nối các nhà hàng, đầu bếp với thực khách, trong đó có nhiều tính năng để khách hàng có thể tự đánh giá chất lượng và lựa chọn các món ăn một cách nhanh chóng. KitFE đạt có tốc độ tăng trưởng 200% mỗi tháng và được một số nhà đầu tư nước ngoài rót vốn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng cà và nuôi cá trong một hệ thống khép kín      Các nhà khoa học ở Berlin đang nghiên cứu  làm sao để có thể trồng cà chua và nuôi cá trong một hệ thống khép kín có  tính bền vững cao, góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm thực phẩm  hiện nay với chi phí thấp.  &#160;    Nói đến cá – cà chua, ai cũng nghĩ đến cá hộp cùng nước sốt cà chua. Còn khi nhà sinh học Werner Kloas nói đến “cá-cà chua” thì ông nghĩ đến sự kết hợp giữa nuôi cá trồng cà chua trong một hệ thống sản xuất khép kín và bền vững nhằm giải quyết vấn đề an ninh thực phẩm.  Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Leibniz về sinh thái nước ngọt và nuôi cá nội địa (IGB) thực hiện dự án này tại một cái hồ lớn ở Berlin. “Aquaponik” có nghĩa là sự phối hợp giữa nuôi trồng thuỷ sản (Aquakultur) và trồng cây không cần đất (Hydroponik).  Phòng thí nghiệm là một vườn ươm, tại đây có bể nuôi cá cao bằng đầu người, ở giữa có hàng cây cà chua trồng trong chậu. Những chậu này kết nối với nhau bằng các ống và dây, phía đằng sau là hệ thống xử lý nước thải sinh học và phễu lọc vi khuẩn. Nhà kính ấm áp đến mức hơi nước ngưng tụ trên trần bằng kính – đây cũng là một bộ phận của chu trình tuần hoàn.  Khi ông Kloas nhấc tấm lưới che chắn thì ngay lập tức bầy cá rô nhiều mầu sắc ngoi lên mặt nước đòi ăn. “Cá của chúng tôi ở đây sinh trưởng trong điều kiện không bị stress, mật độ cá rô trong bể vừa phải, không quá nhiều cũng không quá thưa thớt. Con cá nuôi ở đây tỏ ra thích thú khi được chăm bẵm, âu yếm”, nhà khoa học Kloas giải thích.  Nước sạch được bơm vào bể, nước thải cùng với chất bài tiết của cá được đưa ra ngoài. “Nước thải chứa Ammonium độc hại. Nhưng vi khuẩn có khả năng chuyển hoá chất độc này thành Nitrat – và đây là một loại phân bón tối ưu cho cây trồng”, Kloas giải thích.  Nước đã được xử lý giầu chất dinh dưỡng đối với cây trồng được dẫn vào các chậu cà chua và phủ bộ rễ trần của cà chua. Cây cà chua trồng không đất phát triển tuyệt vời – chúng tiết ra hơi nước sạch và ngưng tụ trên mái khi gặp lạnh. Từ đây nước nhỏ giọt được thu gom bởi hệ thống ống quay trở lại chu trình và trở thành nước sạch trong bể nuôi cá.  Thực ra ý tưởng Aquaponik đã có từ hàng chục năm nay và được thí điểm ở nhiều nơi trên thế giới, thậm chí đã được ứng dụng trong một số cơ sở thương mại.   Nhà sinh vật học Kloas cho hay, “chúng tôi phát triển hệ thống này để đạt hiệu quả cao nhất, thậm chí ở đây hầu như không cần phải bổ sung thêm nguồn nước”. Lượng nước cần bổ sung thêm chỉ vào khoảng 3% tổng lượng nước. “Để tạo ra 1 kg cà chua trồng ở vùng Almeria thuộc Tây Ban Nha, phải sử dụng tới 180 lít nước, trong khi bằng phương pháp Aquaponik chỉ tiêu hao 35 lít nước và diện tích đất trồng cũng chỉ bằng một phần năm so với canh tác trên đồng ruộng.” Thức ăn cho cá cũng bảo đảm tính bền vững với chi phí thấp: chủ yếu là loăng quăng giầu đạm và giòi của ruồi.  Nếu sưởi ấm cho nhà kính bằng nhiệt từ hệ thống biogas hay tế bào quang điện, như đang được thực hiện tại IGB, thì toàn bộ chu trình nuôi trồng này hoàn toàn không tạo ra khí thải. “Cá lớn nhanh cung cấp một lượng lớn chất đạm dễ tiêu và có giá trị lớn”, Kloas nhấn mạnh.  Thậm chí có thể đạt hiệu quả cao hơn nếu các nhà nghiên cứu nuôi thành công cá Arapaimas nước ngọt khổng lồ của vùng Amazon – loài cá chỉ sau một thời gian ngắn đã dài tới hơn hai mét và nặng trên 100 kg – trong mô hình này.  Kloas nói “Công nghệ của chúng tôi có thể góp phần quan trọng vào an ninh lương thực trong thế kỷ 21”. Ở các nước đang phát triển, với khoản chi phí khoảng 1.000 Euro có thể tạo một hệ thống cơ bản gồm bể chứa nước có lớp phủ chuyên biệt và máy bơm có thể sản xuất khoảng 200kg cá/năm.  EU đã tài trợ 6 triệu Euro cho chuyên gia các nước Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Trung Quốc thực hiện phương pháp này trên diện rộng để đánh giá hiệu quả kinh tế và tiếp tục hoàn thiện nó.   Xuân Hoài lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng gừng trên đất hoang thu hàng trăm triệu      Anh Hoàng Xuân Sơn (xã Bồng Lai, huyện Quế  Võ, Bắc Ninh) là tấm gương đi đầu trong phòng trào tận dụng đất bỏ hoang  ở địa phương. Liên kết với nhiều hộ gia đình khác, anh Sơn đã trồng  gừng trong bao tải, tiết kiệm chi phí sản xuất để kiếm bạc triệu.  &#160;    Từ chương trình mượn đất lập nghiệp, anh Sơn đã nảy ra ý định phát quang dọn cỏ dại để trồng gừng. Tốt nghiệp khoa Nông học, chuyên ngành Di truyền chọn tạo giống (Đại học Nông nghiệp I Hà Nội), anh Sơn có nhiều kiến thức, áp dụng vào thực tiễn. Đây là lý do để anh Sơn nghị đến kế hoạch phát triển mô hình trồng gừng trong bao tải.  Tuy nhiên, để tạo điều kiện phát triển tốt, anh Sơn đã quyết định trồng xen canh ba loại cây: vừng đen, gừng và bí xanh, trong đó, ý tưởng trồng gừng trong bao tải đã mở ra nhiều triển vọng về khả năng tận dụng diện tích cũng như việc cơ động vận chuyển cây trồng sang khu đất khác khi phải trao trả mặt bằng. Để khắc phục khó khăn khi trồng trên cát, Sơn đã dùng hệ thống đường ống tự động chuyên chở nước và chất dinh dưỡng nuôi cây. Ngoài ra, anh Sơn thực hiện ba giải pháp: cải tạo hệ thống kênh mương, tận dụng nguồn nước khu vực ao hồ xung quanh và sử dụng nước giếng khoan.   Vụ thu hoạch đầu tiên mang lại cho anh Sơn gần 5 tấn vừng đen trị giá hơn 400 triệu đồng, 30 tấn gừng đem lại nguồn thu hơn 200 triệu đồng (trừ chi phí thu lãi từ 35-40%). Như vậy sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức học được trong trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã đem lại nguồn thu không nhỏ cho gia đình anh Sơn, đồng thời trở thành mô hình kiểu mẫu cho bà con trong tỉnh Băc Ninh học tập thoát nghèo.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trông người mà ngẫm đến ta      Tháng 8/2012, tàu thăm dò Curiosity hạ cánh xuống sao Hỏa. Chiếc máy phân tích trong robot chạy trên sao Hỏa này là máy Quang phổ bằng Diod Laser Biến tần – (Tunable Diode Laser Spectroscopy- TDLS). Trái tim của máy là Diode Laser Biến tần  trong vùng hồng ngoại gần (Near Infrared-NIR) ở hai dải 3.590 cm-1&#160;and  3.594 cm-1&#160;do Công ty NanoPlus (Đức) chế tạo. Có lẽ ai cũng sẽ rất ngạc nhiên, nếu biết  rằng NanoPlus là một doanh nghiệp “spin-off”, hai ba người, bé tí tẹo  khi thành lập năm 1998, khởi nguồn bởi nhóm các nhà vật lý ứng dụng ở  trường Đại học Wuerzburg.    Tôi thì không ngạc nhiên vì có may mắn từng là cộng sự với nhóm các nhà khoa học này. Cũng xin nói thêm, Đại học Wuerzburg() có hơn 30 ngàn sinh viên, là nơi mà C. Röntgen phát minh ra Tia X, nhận giải Nobel đầu tiên năm 1901, và đến nay có 14 người của trường này đoạt giải Nobel nữa.Vừa rồi (23-24/10/2014) Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại học Wuerzburg đồng tổ chức Hội thảo khoa học “Khoa học tự nhiên và Đời sống” tại Hà Nội. Đoàn Đức gồm tám giáo sư do GS Alfred Forchel, Chủ tịch trường, dẫn đầu đến tham dự.  Đã cùng nhau hợp tác trong khoa học từ mấy chục năm qua, nay gặp lại chiến hữu từ thuở hàn vi tại Hà Nội, là dịp để hàn huyên nhiều chuyện. Việc đầu tiên tôi hỏi thăm GS Alfred Forchel về cái công ty khởi nguồn của bạn, lập nên năm 1998, lúc đó tôi đã về lại Việt Nam rồi:  – Cái GmbH (công ty trách nhiệm hữu hạn theo tiếng Đức) ngày ấy cậu lập ra bây giờ còn sống không?  – Còn sống chứ, chẳng những sống mà bây giờ phát triển lên rất lớn.  – Cậu vẫn làm chủ nó à?  – Tất nhiên, nhưng bây giờ chỉ một phần thôi. Bây giờ nó là Công ty NanoPlus có hai nhà máy lớn với gần trăm kỹ sư rồi. Từ năm 2001, hai năm sau khi thành lập, và bán được khá nhiều sản phẩm Laser đơn mode (single mode laser) giải sóng 1,3 đến 1,6 micrometer thì chúng mình cho NanoPlus ra ở riêng, xây nhà máy mới ở Gerbrunn gần phòng thí nghiệm (PTN) NanoLab của chúng ta ở Würzburg đó.  Năm 2009 mở nhà máy lớn thứ hai ở thành phố Meiningen. NanoPlus ngày nay là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về mọi loại Laser hồng ngoại từ hồng ngoại gần, trung đến hồng ngoại xa (0,76-14 Micrometer)  – Sáng nay, nghe báo cáo khoa học của nhóm cậu do GS Martin Kamp trình bày, mình vô cùng ấn tượng về những thành tựu, nhất là các thiết bị phổ hồng ngoại đo được cả nồng độ rượu của lái xe ô tô khi đang chạy. Máy của các cậu còn phát hiện được cả lượng vô cùng nhỏ các chất độc hại trong môi trường như chất Formaldehyde với độ nhạy đến 8 ppb (tám phần tỷ) chỉ trong một giây!  – Tất cả những cái đó của PTN đều đã và đang được NanoPlus thương mại hóa cả đấy.  – Có một công ty khoa học như NanoPlus lợi hại thật! Cậu có thể tiết lộ, là một giáo sư đương nhiệm, lúc lập công ty khoa học, cậu có được hỗ trợ gì không?  – Tất nhiên! Chẳng có gì bí mật đâu. Chính sách của Đức là rất khuyến khích các giáo sư lập các doanh nghiệp khoa học kiểu như Spin-Off (khởi nguồn) hay Start-Up (khởi nghiệp). Trong hai năm đầu, Chính phủ bang Bayern hỗ trợ ½ suất nhân sự. Tuy nhỏ những cũng quan trọng lắm, khoảng 30.000 Euro/năm. Công ty được sử dụng địa điểm của PTN. Lại còn được sử dụng tất cả các máy móc và trang thiết bị của NanoLab mà cậu từng làm việc đấy [PTN này lúc đó đầu tư khoảng chục triệu Euro gì đó – TXH].  – Nhưng tiền vận hành PTN NanoLab này đắt lắm mà, mình nhớ là trên 1 triệu Euro/năm. Cậu lấy đâu ra tiền.  – Công ty không phải trả tiền vận hành, kinh phí của Bang Bayern cấp cho trường trả khoản này. Công ty chỉ phải tự trả vật tư tiêu hao như hóa chất, vật liệu, dung môi… thôi.  – Thế cũng nhiều lắm, một tấm sapphire cũng mấy ngàn Euro… lương cậu sao đủ được.  – Chúng mình còn được quyền sử dụng kinh phí các đề tài, hợp đồng nghiên cứu của bên thứ ba cấp, như của Quỹ Khoa học Quốc gia (DFG), của Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang (BMBF), của Bang Bayern, của các quỹ EU, của các công ty… nhiều lắm, lúc đó mình có đến bảy, tám hợp đồng, đề tài cơ mà.  – Lạ nhỉ. Sao họ lại cho công ty sử dụng thiết bị của nhà nước, lại cho sử dụng tiền đề tài, hợp đồng nghiên cứu.  – Có gì lạ đâu. Thiết bị khoa học đầu tư rồi thì phải dùng làm ra cái gì chứ. Đề tài, hợp đồng nghiên cứu cũng vậy thôi, phải ra kết quả cho xã hội. Ai và làm thế nào để đạt được mục đích đấy là được, sao phải phân biệt.  – Nếu cái hợp đồng nghiên cứu công ty cậu thất bại thì chắc là phải đền bù rồi.  – Không, không có chuyện đó. Nhưng mất hết danh dự và uy tín, không bao giờ còn được hỗ trợ cũng như tham gia những chương trình như vậy nữa. Cậu nghĩ xem, với nhà khoa học bọn ta, uy tín và danh dự là trên hết, có ai lại cam chịu thất bại để mất hết. Chúng mình phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định làm. Và nhà nước cũng phải tin vào những nhà khoa học như chúng mình chứ! Còn nếu làm nghiêm chỉnh nhưng thất bại là bất khả kháng thì sao lại bắt đền?  – Cậu bảo là NanoPlus của cậu giờ đã xây được hai nhà máy. Làm thế quái nào mà các cậu có lắm tiền để đầu tư như thế.  – Tất nhiên là công ty cũng như bọn khoa học chúng mình không đủ tiền. Nhưng có ngân hàng cho vay. Vả lại, bọn mình chọn mua những máy móc cũ của các công ty lớn muốn đổi cả dây chuyền công nghệ, nên cũng rẻ thôi.  – Cậu lấy nhà cửa của cậu thế chấp để vay tiền ngân hàng à?   – Không cần. Mình chỉ cần đến SparKasse (quỹ tín dụng, hay ngân hàng thương mại) nơi mình mở tài khoàn thường xuyên để nộp yêu cầu vay vốn, sẽ có ngân hàng KfW (Kreditanstalt fuer Wiederaufbau – Ngân hàng Tái thiết) của nhà nước Đức đứng ra bảo lãnh.  – À ra thế. Cậu trước hết phải đến KfW xin họ bảo lãnh cho, rồi mới được vay.  – Không cần. Không có chuyện xin cho gì đây cả. Đó là chuyên nội bộ các ngân hàng họ làm việc với nhau theo luật rồi. Trong luật của KfW đã quy định rõ họ phải làm gì, cho ai vay, bảo lãnh cho ai…  – Hồ sơ xin lập công ty, hồ sơ xin vay vốn của cậu khi đó có phải xin chữ ký xác nhận đồng ý của cấp trên của cậu không?  – Xin ai?  – Như Chủ nhiệm khoa, Hiệu trưởng của cậu chẳng hạn.  – Việc gì mà phải xin. Chỉ cần báo cho họ biết là đủ. Họ quá mừng, vì có giáo sư chịu đứng ra lập công ty ấy chứ. Như bây giờ, mình là Hiệu trưởng, nếu trường mình có càng nhiều giáo sư lập công ty như vậy thì chứng tỏ trường càng thành công đưa khoa học vào đời sống, càng có ích cho xã hội. Cậu chắc cũng biết công ty InfoSIM() của Tran-Gia [giáo sư CNTT Trần Gia Phước, Người Đức gốc Việt, cũng là bạn của chúng tôi] bây giờ hoạt động khắp thế giới, là niềm tự hào của đại học Wuerzburg, cũng thành lập cùng thời với NanoPlus đó.  – Nếu dễ dàng thành lập và được hỗ trợ nhiều như thế thì ở Việt Nam chúng tớ thì ai mà chẳng muốn thành lập công ty Start-Up như của cậu và Tran-Gia.  – Không dễ đâu. Trước hết là cậu phải nghiên cứu làm ra sản phẩm mới. Sản phẩm đó phải có khách hàng sẵn sàng đặt mua.  – Ừ nhỉ. Làm ra sản phẩm mới thì ở Việt Nam chúng mình cũng làm được. Nhưng có người đặt mua thì khó quá. Người dân quen chuộng ngoại, họ chỉ thích mua của nước ngoài thôi.  – Thì ít nhất những nơi sử dụng tiền ngân sách phải ưu tiên cho sản phẩm của Việt Nam chứ. Hồi ở Stuttgart xây dựng PTN MicroLab, bọn chúng mình phải chứng minh thiết bị nào mà Đức và EU không chế tạo được mới được phép mua của Mỹ hoặc Nhật Bản.  – Nhưng Việt Nam chúng tớ không phải như vậy. Họ mà có tiền nhà nước cấp thì chỉ thích mua hàng nước ngoài, càng đắt càng tốt.  – Thế thì khó rồi. Ở nước Đức bắt buộc việc gì làm cũng luôn luôn sáng tạo, phải dẫn đầu thế giới. Cạnh tranh ghê gớm, còn hơn cả hồi chúng ta làm GaN-LED chạy đua với Nichia-Nhật Bản vì vậy mệt lắm. Chắc các cậu ở Việt Nam thoải mái hơn.  Tôi thầm nghĩ, đúng là ở Việt Nam các nhà khoa học, cũng như viên chức nói chung thoải mái hơn thật. Vừa được ăn, vừa được nói và nếu khéo nói, khéo xoay,… thì đúng là không phải làm gì thật mà còn được gói to mang về nữa. Lại nhẩm tính, nhà nước ta giai đoạn 2002-2010 đã đầu tư xây dựng 17 hay 18 cái phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, trung bình 5 triệu USD/cái. Giá như lúc xây dựng yêu cầu mỗi phòng thí nghiệm tạo ra ít nhất một công ty Start-Up như của Đức thì hay quá. Nhưng đó chỉ là giấc mơ, vì lãnh đạo các viện, các trường sẵn sàng nhận tiền, người có quyền cấp sẵn sàng cấp tiền, với điều kiện ngầm hiểu, không ai có trách nhiệm phải làm ra cái gì cho xã hôi cả.   Trở lại câu chuyện của chúng tôi. Thời gian vào giữa thập kỷ 1980, Forchel và tôi làm việc cùng nhau ở Stuttgart rồi cả hai sang Mỹ, tôi về lại Việt Nam. Afred Forchel sau đó, vào thập kỷ 90, được bổ nhiệm làm giáo sư Vật lý Kỹ thuật ở Đại học Wuerzburg. Theo truyền thống hàn lâm của Đức từ xưa (nay thì thành luật), họ không bao giờ bổ nhiệm một người được đào tạo và đang làm việc tại bộ môn lên làm giáo sư của chính nơi đó để thay thế vị giáo sư là thầy cũ, nghỉ hoặc chuyển công việc khác. Họ nói làm như thế giống như “hôn nhân cận huyết” sẽ giết chết khoa học, sáng tạo. Cho nên Forchel rời Stuttgart sang trường mới, được giao xây dựng PTN NanoLab, lúc đó là hiện đại, vào loại đắt tiền nhất châu Âu. Afred Forchel lại rủ tôi sang Wuerzburg làm việc ở PTN mới xây xong. Lúc đó, cả thế giới đang sôi sục về việc tìm cách chế tạo ra Diode Phát quang và Diode Laser màu xanh dương cho đến tử ngoại. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lúc đó thật là khốc liệt. Trong nội bộ nước Đức, nhóm chúng tôi chạy đua với nhóm Siemens. Ngoài nước thì cạnh tranh với nhóm của Nakamura ở công ty Nichia – Nhật Bản. Chúng tôi được đầu tư khủng và làm việc cũng khủng khiếp luôn. Một anh trong nhóm tôi thậm chí đã ngất xỉu trong phòng thí nghiệm. Nhóm chúng tôi chọn phương pháp MBE [Molecular Beam Epitaxy – sự mọc ghép chùm phân tử] còn nhóm Nakamura dùng phương pháp MOCVD [MetalOrganic Chemical Vapour phase Deposition – lắng đọng các lớp tinh thể từ pha hơi hóa học kim loại hữu cơ] rẻ hơn và dễ sản xuất đại trà hơn. Cuối cùng thì trong lĩnh vực GaN-LED, nhóm Nakamura đã thắng (và giờ được giải thưởng Nobel 2014). Nhưng nhóm Forchel nhờ phát triển phương pháp MBE tuy thua về LED-GaN nhưng lại thẳng tiến trong lĩnh vực Laser giếng lượng tử (Quantum Well Laser) giải phổ từ tử ngoại, tím, xanh, cho đến hồng ngoại gần và xa, mà điển hình công ty NanoPlus của nhóm các nhà khoa học Wuerzburg do A. Forchel đứng đầu, đã dẫn đầu thế giới.   Khi tôi nói với A.Forchel rằng, nếu ông ấy mà ở Việt Nam thì sẽ có ý kiến cho rằng, vì là Chủ tịch của một đại học lớn, có quyền hành, uy tín và địa vị lớn trong xã hội nên ông có thuận lợi, có nhiều mối quan hệ để được nhiều ưu đãi trong phát triển công ty NanoPlus.  – Vô lý. Quyền lực của chức Chủ tịch Đại học Wuerzburg liên quan gì đến sáng tạo khoa học của nhóm các nhà khoa học chúng mình chứ. Điều hành một trường đại học với hơn 30 ngàn sinh viên, 300 triệu Euro kinh phí hằng năm, là một trách nhiệm lớn. Được bầu lên thì nhà khoa học phải có trách nhiệm làm chứ có nhà khoa học nào vì quyền lực mà làm đâu. Vả lại, mình mới làm Chủ tịch bốn năm nay thôi. Còn bộ môn Vật lý Kỹ thuật và Công ty NanoPlus của mình thì đã tồn tại từ hàng chục năm trước.  – Nhưng ít nhất, vì cậu là giáo sư có tiếng mới được hỗ trợ như thế.  – Cậu nói đúng. Đó là chính sách của xã hội và cũng là trách nhiệm xã hội đối với những nhà khoa học như chúng ta. Hiện nay ở Đức thì chính sách này đang mở rộng đến các tiến sĩ xuất sắc rồi. Vì chính các tiến sĩ trẻ tuổi mới có nhiều ý tưởng sáng tạo độc đáo. Ý kiến thay đổi, bổ sung cũng còn nhiều, ví dụ như còn đang bàn thảo vấn đề bản quyền.  Tôi kể lại câu chuyện của tôi và Forchel vừa qua để những người quan tâm đến phát triển KH&CN có thể trông người mà nghĩ đến ta. Tuy hoàn cảnh và con người nước Đức với Việt Nam là khác nhau một trời một vực, nhưng đối với các nhà khoa học và nhà khoa học làm công tác quản lý thì có lẽ chúng ta đều có cách nhìn giống nhau: Đó là cố nhìn ra xa hơn cái mũi và luôn cố nhìn lên phía trên chứ không chỉ chăm chăm nhìn vào cái đầu gối của mình.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng rau thông minh, xu hướng mới của nông nghiệp Nhật Bản      Tập đoàn điện tử Panasonic (Nhật Bản) vừa cho ra đời hệ thống kiểm soát môi trường canh tác thông minh và thân thiện mới môi trường.    Qua nghiên cứu thực tế, những thay đổi về môi trường như nhiệt độ, ánh sáng hay tốc độ gió có thể tác động đến quá trình sinh trưởng, năng suất của cây trồng và chất lượng sau thu hoạch.  Hệ thống canh tác mới của Panasonic là công nghệ giải pháp môi trường thông minh bao gồm hộp điều khiển trung tâm, hệ thống thông gió, hệ thống cảm ứng nhiệt độ, đo độ ẩm và đo môi trường bên ngoài nhà kính.  Mục đích của hệ thống này là nhằm tạo ra một môi trường lý tưởng cho cây trồng sinh trưởng một cách thuận lợi, đảm bảo chất lượng và độ an toàn của nông sản trước các tác động không mong muốn từ môi trường tự nhiên và tiết kiệm thời gian cũng như công sức của người nông dân.  Trả lời phóng viên Vietnam+, ông Takayoshi Tanizawa – Giám đốc Nhóm kế hoạch kinh doanh mới, Trung tâm Phát triển kinh doanh, Công ty Eco Solutions, Tập đoàn Panasonic, cho biết: “Mô hình trồng rau nhà kính của chúng tôi sử dụng cơ chế quản lý canh tác để tiết kiệm năng lượng. Đáng chú ý cơ chế này của chúng tôi không sử dụng điện năng hay xăng dầu mà sử dụng trực tiếp ánh sáng, năng lượng gió để kiểm soát môi trường để trồng cây.”   Theo ông, hệ thống này quản lý không gian phía trên của cây trồng trong khi người nông dân thì chịu trách nhiệm quản lý phần rễ cây như dinh dưỡng, làm đất. Người đại diện của Panasonic khẳng định người nông dân vẫn canh tác theo các phương pháp truyền thống và Panasonic chỉ đóng vai trò tạo một không gian thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng một cách bình thường.  Tổng cộng chi phí cho một gói lắp đặt thiết bị phục vụ canh tác trị giá khoảng 55 triệu yen. Tuy nhiên, ông Tanizawa cho biết tùy theo từng điều kiện địa lý mà công tác lắp đặt và thi công có sự khác biệt với nhau. Dự kiến đến năm 2018 sẽ chính thức chào bán hệ thống này ra thị trường.  Hiện tại, hệ thống của Panasonic đang được thử nghiệm tại khu canh tác của Công ty Kodawari tỉnh Saitama, địa phương giáp ranh với Tokyo và cũng là một trong những nơi cung cấp nông sản quanh năm cho thủ đô Tokyo.  Giám đốc phụ trách canh tác Công ty Kodawari Kankyo, ông Toshio Morishita, cho biết: “Ngay cả khi không có người chăm sóc thì hệ thống vẫn hoạt động để tạo điều kiện sinh trưởng tốt cho cây theo từng giai đoạn. Bước đầu tiên là người nông dân sẽ làm đất, gieo trồng và sau đó thì sử dụng hệ thống để quản lý điều kiện nuôi dưỡng. Ưu điểm nhất mà hệ thống mang lại là người nông dân không phải đụng chân tay vào các khâu chăm sóc khác. Thật sự là rất tiện lợi!”  Bên cạnh việc tiết kiệm sức lao động, hệ thống quản lý môi trường canh tác này còn giúp tăng năng suất nhờ tạo ra được môi trường lý tưởng cho cây trồng sinh trưởng. Rau chân vịt là loại cây trồng được cho là khá “khó tính,” đòi hỏi điều kiện môi trường khắt khe cho canh tác, đặt biệt là trong điều kiện nhiệt độ oi bức mùa Hè.  Hệ thống quản lý canh tác bước đầu mang lại thành công với rau chân vịt và tạo điều kiện để cây có thể sinh trưởng đều đặn và thu hoạch được quanh năm ngay cả trong điều kiện khí hậu mùa Hè. Với hệ thống mới này, sức lao động của con người sẽ được giải phóng đi rất nhiều.   Cụ thể như chu trình canh tác rau chân vịt gồm thông thường mất tổng cộng khoảng 32-62 ngày. Các thao tác như làm đất, gieo hạt và thu hoạch do còn người đảm nhiệm chỉ chiếm 4-5 ngày trong khi thời gian sinh trưởng của cây chiếm tới 30-60 ngày.  Với phương pháp canh tác thông thường, người nông dân sẽ phải đảm nhiệm tất cả các khâu ngay cả việc chăm sóc và bảo vệ cây trồng trong thời gian sinh trưởng, đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, công sức và chi phí nhiên liệu.  Hệ thống mới áp dụng này sẽ đảm bảo một môi trường an toàn, thuận lợi gần như tuyệt đối cho cây bằng cách tự động hóa toàn bộ khâu chăm sóc thay thế con người. Như vậy, hệ thống mới đảm bảo cho cây sinh trưởng tốt ngay cả khi số lượng người lao động ít.  Thao tác sử dụng hệ thống quản lý môi trường canh tác này cũng không quá phức tạp và người nông dân hoàn toàn có thể sử dụng một cách dễ dàng. Các chế độ trên bảng điều khiển trung tâm hiển thị các ký tự ngắn gọn, dễ hiểu bao gồm điều chỉnh điều kiện ánh sáng, tốc độ gió.  Việc tưới tiêu cũng do hệ thống đảm nhiệm. Chỉ với một thao tác bấm đơn giản, nước sẽ được tưới theo dạng phun sương và đảm bảo cây trồng nhận được đủ lượng nước cần thiết. Người sử dụng cũng có thể điều chỉnh chế độ ánh sáng bằng chế độ điều khiển tự động đối với rèm kéo hai bên cùng lúc hoặc từng bên một tuỳ theo ý muốn.  Giám đốc phụ trách phân phối Kodawari Village, ông Norimitsu Morishita cho biết hệ thống quản lý môi trường canh tác của Panasonic sẽ kiểm soát các điều kiện canh tác cho cây ở phía trên còn Kodawari sẽ chịu trách nhiệm phần thổ nhưỡng, chất đất cho cây trồng.  Theo ông, hệ thống quản lý canh tác này giúp công ty quản lý chất lượng của cây trồng một cách kỹ lưỡng. So với nông sản được canh tác theo phương pháp thông thường, chất lượng được đánh giá là rất tốt. Hiện tại, quá trình thử nghiệm hệ thống đang ở năm thứ hai và bước sang năm thứ ba chúng tôi sẽ xem xét khả năng bán nông sản được canh tác theo kiểu mới này ra thị trường.  Mặc dù vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm nhưng mô hình canh tác tự động hóa này mang lại nhiều hứa hẹn cho ngành nông nghiệp của Nhật Bản. Hệ thống kiểm soát điều kiện canh tác này giải quyết được bài toán khó về nhân lực, tiết kiệm nhiên liệu và chất lượng cây trồng.  Rõ ràng, để nông sản canh tác theo kiểu mới đến được tay người tiêu dùng Nhật Bản còn cần một thời gian thử nghiệm và nghiên cứu tiền khả thi. Tuy nhiên, hệ thống quản lý môi trường canh tác đã cho thấy được một hướng đi mới cho sự kết hợp thành công giữa các công ty công nghệ, người nông dân và hệ thống phân phối nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giải phóng sức lao động và giảm giá thành nông sản, mang lại những lợi ích tốt nhất cho cả nhà nông lẫn người tiêu dùng.  Đáng chú ý hơn cả, mô hình quản lý môi trường thông minh trong canh tác không chỉ phù hợp với điều kiện canh tác ở Nhật Bản mà còn hứa hẹn khả năng ứng dụng ở các nước khác trong một tương lai không xa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng rau trong những trang trại thẳng đứng      Rau tươi đang trở thành mặt hàng khan hiếm, do đó nhiều công ty chuyển hướng tập trung vào lĩnh vực này. Các “nhà máy” sản xuất rau xanh ngay trong đô thị theo kiểu trang trại thẳng đứng (Vertical Farm) đang trở thành một xu hướng mới được nhiều công ty đầu tư.      David Rosenberg, CEO của AeroFarms trồng xà lách khác với cách trồng thông thường rất nhiều. Không có cuốc xẻng và cũng không có đất, Rosenberg dùng một thiết bị tương tự hộp rắc hạt tiêu và xoay xoay thiết bị đó liên tục. Hàng nghìn hạt giống rau rải đều trên một lớp bông plastic ẩm và sau 16 ngày có thể thu hoạch xà lát. Trang trại thẳng đứng của AeroFarms vận hành theo cách này.  Trang trại được bố trí trong khuôn viên một nhà máy cũ ở gần New York. Trên diện tích 6400 m2, người ta bố trí 35 “luống rau” nằm kề nhau và xếp chồng lên nhau cao tới12 tầng. Cách bố trí xếp chồng các luống rau theo chiều thẳng đứng giúp tiết kiệm được nhiều diện tích.  Điều khiến khách tham quan ngạc nhiên nhất là, trang trại này hầu như không có điểm gì giống với một cơ sở sản xuất nông nghiệp truyền thống mà giống một nhà máy. Điều nổi bật ở trang trại này là trồng rau mà không cần đất. Rau phát triển được là nhờ vào quá trình phun ẩm liên tục cho bộ rễ của cây. Khi phun sương người ta cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, nhờ thế cây phát triển nhanh hơn phương pháp canh tác thông thường. “Chúng tôi chiếu và điều chỉnh lượng ánh sáng phù hợp cho lá, đồng thời bố trí bên cạnh đó nhiều quạt nhỏ cung cấp không khí cho cây”, Rosenberg giảng giải về cách vận hành của “nhà máy rau” trong một video của tạp chí Bloomberg… “So với các trang trại thông thường ở đây chúng tôi tiết kiệm được 95% lượng nước tưới và hoàn toàn không dùng thuốc bảo vệ thực vật cũng như thuốc diệt cỏ, diệt sâu bệnh vv…” , ông nói thêm.  Lối canh tác này cho phép AeroFarms thu hoạch từ 20 đến 30 đợt rau/ năm. Hiện tại AeroFarms có thể trồng khoảng 250 lọai rau, đậu và rau thơm… Trong vòng năm năm tới dự kiến sẽ có thêm vài chục cơ sở trồng rau xanh trong thành phố tương tự như cơ sở này sản xuất này.  Điểm ưu việt thứ hai đối với các trang trại thẳng đứng trong thành phố này của AeroFarms là giúp giảm tối đa việc vận chuyển rau xanh đến người tiêu dùng. Rau quả sau khi thu hoạch sẽ được chuyển đến các điểm tiêu thụ gần nhất.  Mô hình trang trại thẳng đứng này xuất phát từ ý tưởng của GS Dickson Despommier tại Đại học Columbia từ năm 1999 khi ông giảng dạy trước sinh viên trong trường. Năm 2010 đã công bố một cuốn sách mang tên “The Vertical Farm: Feeding the World in the 21st Century” [Trang trại thẳng đứng: cung ứng cho thế giới trong thế kỷ 21] với quan điểm cho rằng các trang trại cao tầng này có thể góp phần chống lại nạn khai hiếm lương thực hiện nay.    Không chỉ ở Hoa Kỳ, Trung tâm Hàng không và du hành vũ trụ Đức cũng đã áp dụng mô hình canh tác mới mẻ này. Chỉ trong một năm, mỗi tầng của trang trại thẳng đứng cũng giúp thu hoạch được gần 63 tấn xà lách hoặc 95 tấn cà chua. Mặt bằng của trang trại mini này có diện tích khoảng 2600 m2. Giống như ở AeroFarms, cây trồng tại đây được cung cấp một lượng dung dịch chất dinh dưỡng được cân đo chính xác và hệ thống đèn LED chuyên dụng chiếu sáng.  Tuy nhiên, giá thành sản xuất nông sản theo cách này thường rất cao so với canh tác thông thường. Chi phí sản xuất 1 kg rau lên đến 12 Euro. Do đó phương án này hoàn toàn chưa thích hợp về mặt kinh tế đối với những vùng đang khan hiếm rau quả. Mặt khác, các trang trại theo chiều thẳng đứng cũng rất “ngốn” năng lượng. Do đó, vẫn còn rất xa nữa thì mô hình canh tác này mới có thể trở nên phổ biến tới mức đại trà. Các nhà khoa học, các công ty đầu tư sẽ còn tiếp tục nghiên cứu để tối ưu về giá thành sản xuất cũng như năng lượng tiêu thụ.  Hoài Trang dịch.  Nguồn: http://www.spiegel.de/wirtschaft/service/gemueseanbau-in-etagen-pflanzenfabrik-statt-gewaechshaus-a-1137156.html    Author                Hoài Trang        
__label__tiasang Trồng rừng dưới đáy biển      Dù là môi trường sống đẹp đẽ với sự đa dạng sinh học vô cùng phong phú nhưng các rạn san hô đang chết dần chết mòn vì bị tác động của biến đổi khí hậu.  Emma Camp, nhà sinh vật biển chuyên nghiên cứu về các loại siêu san hô đang phục hồi những rạn san hô bị hủy hoại bằng biện pháp… trồng rừng dưới đáy biển. Cô đã được trao giải thưởng Rolex về sự sáng tạo của mình.      Emma Camp chọn những loại san hô có khả năng chống chịu biến đổi khí hậu và trồng chúng để tái tạo những rạn san hô đang bị hủy hoại   Vào ngày 11/6/1770, tàu của thuyền trưởng  James Cook bị mắc cạn. Con tàu huyền thoại HMS “Endeavour” bị nạn ở bờ biển phía đông New-Holland, hồi đó là tên gọi của Australia. Cook lệnh vứt bớt xuống biển đại bác, các thùng lớn và các chất tạo tải trọng. Khi thủy triều lên con tàu ba cột buồm dềnh lên và lại chạy tiếp. Con tàu ít nhiều bị hư hại. Mạn tàu bị nứt vỡ; khi sửa chữa người ta phát hiện những tảng đá khổng lồ bị kẹt cứng tại chỗ bị toác vỡ: đá san hô. Cook đã phát hiện rạn san hô Great Barrier, cấu trúc lớn nhất trên trái đất do các sinh vật sống tạo thành.  250 năm, sau khi được  Cooks phát hiện, tình hình đối với Great Barrier Reef không mấy sáng sủa. Biến đổi khí hậu đang làm cho san hô bị chết dần chết mòn. “khoảng một nửa lượng san hô tại rạn san hô này đã bị chết vì nhiệt độ nước biển tăng lên”, Emma Camp nói. “Nếu chúng ta tiếp tục để như thế này, thì rất có thể, chúng ta sẽ chứng kiến sự tàn lụi hoàn toàn của rạn san hô Great Barrier này”.  Camp đang làm hết sức mình để tương lai đen tối này không xảy ra. Nhà khoa học này đã chọn lựa những loại san hô có khả năng chống chịu nhiệt độ nước  cao. Bằng những sinh vật này, cô phục hồi phần nào các rạn san hô bị tổn thương. Vì lẽ đó, Emma Camp được vinh danh và được trao giải thưởng Rolex dành cho những người giầu óc sáng tạo.  Giải thưởng cho những người phi thường  Từ hơn 40 năm nay doanh nghiệp đồng hồ cao cấp Rolex, Thụy sỹ,  hỗ trợ các dự án mới, đang hoạt động với tầm nhìn xa vì sự phồn thịnh của nhân loại hoặc vì sự tồn tại của hành tinh chúng ta.     San hộ lớn lên dựa vào một kết cấu mạng lưới do Emma Camp tạo dựng tại  Opal Reef, một phần của Great Barrierer Reef   Emma Camp nghiên cứu tại Great Barrier Reef. Rạn san hô khổng lồ này có diện tích  347.800 km2. San hô đá nhiệt đới đã tạo thành rạn san hô tại đây, đây cũng là nơi sinh sống của những đàn vi sinh vật cnidarian dưới đáy biển. Khi chết đi, chúng để lại các bộ xương bằng đá vôi, các thế hệ tiếp theo cũng để lại những bộ xương đá vôi này chồng chất lên nhau, từ đó sau hàng trăm năm trở thành những mỏm đá vôi khổng lồ, không ngừng lớn lên, có khi ngoi lên mặt nước và là mối hiểm nguy với tầu bè qua lại nơi này như con tàu của  thuyền trưởng James Cook từng suýt bị đắm.  Thế hệ san hô hiện nay che phủ lên rạn san hô của các thế hệ trước đó, một lớp phủ sống chồng chất như núi. Lớp phủ này gồm muôn vàn polyp, đây là nguồn thức ăn quan trọng cho thế giới động vật dưới đáy biển. Trong rạn Great Barrier có khoảng 1500 loài cá, trong số đó có cá hề, nổi tiếng nhờ bộ phim hoạt hình “Đi tìm Nemo” cạnh đó là lợn biển, cá mập, cá đuối gai độc, cá voi lưng gù, cá heo, rùa biển, trai khổng lồ nặng tới 200 kg và vô số các loài khác .  Biến đổi khí hậu hủy hoại rạn san hô    Địa bàn mà Emma Camp đang nghiên cứu ở xung quanh một đảo nhỏ có tên Low Island, cách bờ biển phía đông Australia khoảng 25 km.  Ngay từ khi còn nhỏ Emma Camp đã rất yêu thích rạn san hô. Khi lên sáu cô đã tiếp xúc với san hô trong lần đi nghỉ mát và lặn với ống thở. “Khi ở dưới nước, tôi phát hiện một thế giới hoàn toàn mới lạ và tôi cảm thấy vô cùng choáng ngợp. Đó là lúc niềm đam mê của tôi đối với rạn san hô bắt đầu”, cô gái người Anh kể, sau này khi học đại học cô đi chuyên sâu về khoa học môi trường và hóa học và hiện nay cô làm công tác nghiên cứu tại  trường đại học Công nghệ  Sydney, Australia.  Môi trường sống của rạn san hô bị đe dọa bởi tẩy trắng san hô. Trong một chuyến đi nghiên cứu ở Seychellen, Emma Camp đã chứng kiến tình trạng này diễn ra nhanh chóng và nghiêm trọng như thế nào: nội trong một tuần mà số lượng polyp trên một diện tích nghiên cứu rộng bằng nhiều sân vận động đã chết trắng đến mức nơi này trở thành một sa mạc chết.  Khí thải CO2 tăng càng làm cho loại sinh vật  bé li ti này (cnidarian) chịu áp lực nặng nề gấp bội. Biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ nước. Khi nhiệt độ nước quá nóng loại tảo đơn bào rất nhỏ sinh sống trong các polyp, chúng là nguồn thức ăn của polyp, tảo chết tạo các chất độc hại, polyp đào thải sinh vật chết này nên bị đổi mầu, chúng có mầu trắng như vôi.    Emma Camp tìm kiếm và thu thập các loại san hô chịu được nhiệt độ cao trong nước biển. Những rạn san hô bị chết vì tẩy trắng có thể được hồi sinh.   Tạo cơ hội tái sinh cho thiên nhiên  Tuy các loại tảo có thể tái tạo nhưng khi nhiệt độ nước tăng kéo dài làm cho quá trình tẩy trắng cũng dài ra, kết quả san hô thiếu thức ăn, và bị đói. Cạnh đó hàm lượng CO2 dư thừa trong không khí tràn vào nước biển. Nước biển bị chua hóa. Sự chua hóa đại dương gây nhiều khó khăn cho sự tồn tại của san hô, chúng không tạo được bộ xương vôi từ đó các rạn san hô không thể tiếp tục sinh sôi. Emma Camp đã phát hiện khả năng tái tạo rừng san hô dưới mặt nước.  Theo Emma Camp, “điều quan trọng nhất để cứu rạn san hô là phải giảm đáng kể phát sinh khí CO2 trong tự nhiên. Nhưng chúng ta nhất thiết phải chuẩn bị trước những kịch bản xấu nhất và ngay từ bây giờ phải tăng sức đề kháng cho rạn san hô, giúp chúng có cơ hội để tồn tại”.  Hậu quả của các cuộc tẩy trắng san hô trong những năm 2016 và 2017 ở Great Barrier đã có tới hai phần ba san hô ở phía bắc Great Barrier bị chết hoàn toàn. Đây là một cuộc khủng hoảng hết sức nghiêm trọng. Hội đồng khí hậu thế giới cho rằng, nếu nhiệt độ toàn cầu tăng 2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp thì hầu hết các rạn san hô nhiệt đới sẽ bị hủy diệt. Hiện tại, nhiệt độ đã tăng thêm một độ.  Siêu san hô có thể cứu môi trường sống     Phân tích các loại sinh vật trong phòng thí nghiệm của Camp: tại sao loại san hồ này lại chống chịu được sự biến đổi khí hậu?   Vậy phải chăng rạn san hô Great Barrier sẽ mất đi vĩnh viễn? Emma Camp không tin điều đó sẽ xảy ra. Kết quả nghiên cứu của chị cũng cho thấy, thực sự có lý do để hy vọng. Vì tại những vùng đầm phá xa xôi trong những cánh rừng ngập mặn nhiệt đới, nơi điều kiện sống hoàn toàn không phù hợp với san hô, cô đã phát hiện loài siêu san hô thực sự kỳ diệu. Nhiệt độ nước tại đây rất cao và chua, y như tương lai của biển cả do biến đổi khí hậu gây nên. Dường như san hô có khả năng thích nghi với các điều kiện cực đoan này.  Cho đến nay Emma Camp đã phát hiện nhiều điểm nóng tại các vùng biển nhiệt đới với loài siêu san hô này, ngay cả gần kề Great Barrier Reef. Trong phòng thí nghiệm, cô nghiên cứu về hành vi và thông tin di truyền của loài san hô có khả năng chống chịu kỳ diệu này nhằm tìm ra điều gì là nguyên nhân cho sức đề kháng mạnh mẽ của chúng. Camp và đồng nghiệp tập trung nghiên cứu ở hai vị trí ở phía bắc Great Barrier Reef thuộc các đảo Low Isles và Howick.  Loại san hô sinh sống tại đây không những sẽ được nghiên cứu về tập tính sinh hoạt mà còn được cấy thử nghiệm trên những vùng mà các loài san hô khác đã bị hủy diệt. Nếu trong môi trường mới những siêu đặc tính vẫn tồn tại, thì loài san hô này có thể trở thành những ứng cử viên thích hợp cho chương trình tái tạo rừng san hô ở dưới đáy biển.  Điều này sẽ diễn ra như thế nào đã được Emma Camp thực hiện trong một dự án khác. Cô và đồng đội đã thiết lập một “vườn ươm” bên rìa rạn san hô  Great Barrier Reef, từ đây họ lấy những san hô non cấy vào những vùng san hô đã bị tẩy trắng.Họ dựng những cột lưới dưới đáy biển và buộc những cây san hô non vào lưới. Cho đến nay đã có trên 3000 bụi san hô nguồn gốc tại đây được trồng theo cách này. Tới đây sẽ cấy giống siêu san hô lấy từ vùng rừng ngập mặn di thực tới vùng này.  Hiện tại các nhà khoa học đã cộng tác chặt chẽ với các công ty du lịch lữ hành và du lịch sinh thái của Australia, nhằm huy động cái  gọi là các “nhà khoa học công dân” cùng tham gia giám sát và gìn giữ rạn san hô tại đây.  Cái gọi là “khoa học công dân” (Citizen Science) – một nghiên cứu có sự tham gia của các công dân nghiệp dư, nhưng nhiệt tình, hăng hái, có thể coi đây là yếu tố then chốt dẫn đến thành công đối với chương trình khôi phục rạn san hô tại đây.  Để phát huy được các polyp tiên phong ở rạn san hô phải tiến hành trồng rừng san hộ trên diện rộng và điều đó bên cạnh các nhà khoa học cần có sự tham gia của đông đảo dân chúng và cả du khách.  Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/sponsored/rolex/perpetual-planet/article216166698/Naturschutz-Sie-pflanzt-Waelder-unter-Wasser.html             Author                Quản trị        
__label__tiasang Trong Thế Nhân sinh: Nghĩ về hạn hán      Ở kỷ nguyên chịu nhiều tác động của con người như hiện nay, chúng ta cần nghĩ lại về khái niệm hạn hán để tính đến vai trò của con người trong giảm thiểu hoặc trầm trọng hơn sự kiện thời tiết cực đoan này.    Người dân Indonesia phải đi rất xa để lấynước sinh hoạt. Nguồn: jakartapost.  Mùa hè năm 2021, các nhà khoa học toàn cầu đã công bố báo cáo về khủng hoảng khí hậu, trong đó đề cập đến việc trước đây hạn hán có thể xuất hiện trong mỗi thập kỷ còn hiện tại thì tần suất xuất hiện của nó tăng 70%. Dữ liệu của Cơ quan Khí quyển và đại dương Mỹ (NOAA) cũng cho thây hạn hán kéo dài trong nhiều tháng ở phía Tây nước Mỹ đã trở thành bình thường mới, lượng mưa trung bình hằng tháng cũng trở nên ít hơn và khoảng cách giữa các đợt mưa cũng xa hơn. Gia đình ông T.J. Atkin đã kinh doanh gia súc trong gần một thế kỷ, điều hành hai trang trại lớn ở Utah và Tây Bắc Arizona, nơi nếm trải hạn hán khốc liệt. Kể từ khi bắt đầu công việc, tới nay chưa khi nào gia đình ông lại khốn đốn vì hạn hán như hiện nay. Ông trả lời CNN “Tất cả mọi người nói chuyện với tôi đều đồng tình là trong vòng 85 năm qua, mọi chuyện cũng không tệ đến mức này. Theo dữ liệu hạn hán của riêng gia đình, chưa bao giờ chúng tôi lâm vào tình trạng này”.  Tâm điểm hạn ở Mỹ là California, nơi hạn hán xảy ra trong nhiều năm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và kinh tế. Trong thời kỳ khô hạn, để cung cấp nước sinh hoạt thì người ta rút nước khỏi các hồ chứa và khai thác nước ngầm nhưng cũng không giải quyết được quá nhiều: nhiệt độ gia tăng thúc đẩy sự bốc hơi còn khai thác quá nhiều làm giảm mực nước ngầm, do đó làm trầm trọng thêm tình trạng hạn hán. Ngược lại, các quyết định quản lý, chẳng hạn như vận chuyển nước và tiết kiệm nước, làm giảm bớt tình trạng hạn hán.  Hạn hán đang diễn ra ở California chứng tỏ, nước và xã hội gắn bó với nhau chặt chẽ như thế nào trong thời kỳ hạn hán. Các đợt hạn hán trong những môi trường chịu nhiều tác động của con người như vẫn thấy vào những năm gần đây ở California, Brazil, Trung Quốc, Tây Ban Nha và Australia, không thể được xem là những thảm họa thiên nhiên thuần túy. Những thay đổi do con người gây ra trên bề mặt đất đai  làm biến đổi các quá trình thủy văn, bao gồm sự bốc hơi, thẩm thấu, dòng chảy bề mặt và việc lưu trữ nước… Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển của hạn. Nhưng chính ảnh hưởng nhân sinh đó lại không được thêm vào quá trình quản lý nước mặt và nước ngầm và đôi khi là quyền sử dụng các nguồn nước.    Có những khoảng trống lớn trong hiểu biết của chúng ta về những ảnh hưởng của con người lên hạn hán và những phản hồi tiềm năng giữa hạn và xã hội. Tuy nhiên để quản lý hạn hán hiệu quả trong kỷ nguyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của con người, chúng ta cần hiểu biết về tác động của con người tích hợp với hạn hán như các biến khí hậu.    Do đó, có những khoảng trống lớn trong hiểu biết của chúng ta về những ảnh hưởng của con người lên hạn hán và những phản hồi tiềm năng giữa hạn và xã hội. Tuy nhiên để quản lý hạn hán hiệu quả trong kỷ nguyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của con người, chúng ta cần hiểu biết về tác động của con người tích hợp với hạn hán như các biến khí hậu.  Một khoảnh khắc bước ngoặt  Nghiên cứu về hạn hán đã có một lịch sử dài, về phía khoa học tự nhiên lẫn xã hội. Các nhà thủy văn và các nhà khí hậu học đã đem lại những tiến triển hiểu biết đáng kể về các quá trình vật lý cơ bản của hiện tượng hạn hán. Cùng thời điểm, các nhà kinh tế học, địa lý học và xã hội học cũng nghiên cứu về tác động và nhận thức về hạn hán. Tuy nhiên, hoạt động này lại diễn ra một cách riêng rẽ, không xem xét sự tương tác giữa các quá trình tác động của con người và tự nhiên.  Thông thường, con người được coi là tác nhân thứ yếu tại điểm cuối của một chuỗi tác động nối tiếp từ hạn khí tượng đến hạn nông nghiệp và hạn thủy văn nhưng trên thực tế, con người ảnh hưởng một cách rõ rệt lên sự mở rộng phạm vi của hạn. Cách tiếp cận truyền thống trong nghiên cứu hạn dẫn đến hạn chế về khả năng dự đoán hạn và hạn chế trong quản lý một sự hiện mang tính liên ngành, phức hợp như hạn.  Bản đồ hạn hán trên thế giới. nguồn: weforum.org  Trên thực tế, nếu để riêng rẽ, không bao giờ các nghiên cứu có thể nắm bắt được đầy đủ sự phức tạp mà quá trình biến đổi tự nhiên do con người gây ra. Ví dụ, ngay cả các nghiên cứu về quản lý nước cũng thường miêu tả sự đồng nhất trong hệ thống xã hội và sự độc lập với ý chí chính trị trong quá trình ra quyết định, do đó không làm rõ được mối quan hệ, nguyên nhân sâu xa làm nền tảng cho việc góp phần thúc đẩy hạn hán và sự phân bổ không đồng đều các biện pháp giảm hạn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc không phản ánh đủ vai trò xã hội của con người có thể là do ảnh hưởng của trường phái thực chứng trong khoa học tự nhiên.  Tái định nghĩa hạn hán  Những tác động của hạn lên kinh tế xã hội và các hệ sinh thái là kết quả của sự thiếu nước, vốn bắt rễ từ mối tương tác phức hợp của các quá trình tự nhiên và nhân sinh. Vì vậy cần có một định nghĩa rộng hơn về hạn, bao gồm cả các quá trình biến đổi do con người gây ra dẫn đến thiếu nước. Theo nghĩa này, hạn không đơn giản chỉ là sự thiếu hụt về nước so với các điều kiện thông thường nữa. Dẫu ảnh hưởng nhân sinh vẫn chưa được ghi nhận một cách rõ ràng nhưng việc viết lại định nghĩa về hạn sẽ tác động hiệu quả lên việc phân tích tác động và giám sát hạn. Nó cũng quan trọng với việc coi hạn như một hiện tượng gần gụi với việc thiếu nước, vốn phản ảnh sự bất cân bằng dài hạn trong nhu cầu nước và khả năng cung cấp nước.  Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, hạn ẩn chứa trong lòng nó những nguyên nhân do con người và tự nhiên, ví dụ việc khai thác nước mặt và nước ngầm, và hành động của con người làm tái định hình đất đai, ví dụ tình trạng đô thị hóa và phá rừng. Theo cách này, định nghĩa về hạn được viết lại với sự phân biệt giữa hạn khí hậu (climate-induced drought), hạn nhân sinh (human-induced drought) và hạn do biến đổi của nhân sinh (human-modified drought). Ví dụ hạn ở Brazil là một dạng hạn do biến đổi của nhân sinh, ảnh hưởng từ hành động phá rừng, đô thị hóa và xây các hồ chứa.  Hạn hán trong Thế Nhân sinh  Các hoạt động của con người làm thay đổi các quá trình thủy văn dẫn đến sự mở rộng phạm vi của hạn. Để dự đoán hạn, cần phải hiểu sự thiếu hụt nước làm biến đổi hạn nông nghiệp, hạn thủy văn và cách hoạt động của con người ảnh hưởng đến quá trình đó. Dẫu đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi mục tiêu sử dụng đất tác động lên dòng chảy nhưng vẫn còn những câu hỏi mở về tác động của con người lên hạn. Để trả lời những câu hỏi này cần có những công cụ mô hình hóa và thống kê mới để phân tích những dữ liệu hiện có cũng như những bộ dữ liệu định tính và định lượng về việc sử dụng nước và quản lý đất – nước. Việc hiểu về nguyên nhân dẫn đến hạn hán đóng vai trò quan trọng trong việc xác định liệu quản lý hạn hán có thể tập trung vào việc thích ứng với hạn khí hậu hay giảm thiểu các hành động có khả năng dẫn đến hạn nhân sinh hay không.    Các khung khổ phân tích các hệ thống sinh thái xã hội và công cụ mô hình hóa đa ngành có thể nắm giữ câu trả lời khi đưa vào giải quyết các sự kiện hạn hán cụ thể. Quan trọng hơn, các phản hồi xã hội dài hạn với hạn sẽ làm thay đổi mức nước trung bình của một vùng, qua đó có thể chống chịu hạn.    Ngược lại, hạn nông nghiệp và hạn thủy văn đều có tác động đến đời sống kinh tế xã hội nhưng không trực tiếp và bao giờ cũng kết hợp với những nguyên nhân khác. Ví dụ, trong tác động của hạn lên thu nhập của nông dân ở California và Trung Quốc, khó mà chỉ ra tác động của quyết định chính sách về nước và khả năng truy cập nguồn nước, tình trạng ô nhiễm nước, sự thiếu ổn định của hệ thống chính quyền và giá cả của các hàng hóa liên quan. Hơn nữa, các tác động của kinh tế xã hội và sinh thái lại không độc lập. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và năng lượng tái tạo đều phụ thuộc vào hệ sinh thái và tác động đến môi trường. Để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa hạn hán với đời sống kinh tế xã hội, cần phải cải thiện hơn nữa các phương pháp phân tích dữ liệu và nhiều bộ dữ liệu khác nhau.  Xã hội không chỉ là nạn nhân đáng thương của hạn. Thay vào đó, xã hội có thể phản hồi tình trạng hạn, cả trong ngắn hạn như khai thác nước và cải thiện các biện pháp tiết kiệm nước, và trong dài hạn như gia tăng khả năng lưu trữ nước bằng hệ thống cơ sở hạ tầng về nước, và bằng việc thay đổi chính sách và quy tắc vận hành về nước. Có lẽ thật đáng ngạc nhiên, các kết quả phản hồi lên độ ẩm đất, dòng chảy và các mực nước trong tầng chứa nước hiếm khi được định lượng. Ví dụ, các biện pháp tiết kiệm nước và luật về nước ngầm mới đã được thiết lập ở California được kỳ vọng sẽ làm giảm tình trạng hạn hiện thời và tương lai. Các khung khổ phân tích các hệ thống sinh thái xã hội và công cụ mô hình hóa đa ngành có thể nắm giữ câu trả lời khi đưa vào giải quyết các sự kiện hạn hán cụ thể. Quan trọng hơn, các phản hồi xã hội dài hạn với hạn sẽ làm thay đổi mức nước trung bình của một vùng, qua đó có thể chống chịu hạn. Muốn làm được điều này, cần tích hợp khoa học tự nhiên và xã hội để dự đoán được những thay đổi khí hậu và đất đai, đánh giá được cách thức ứng phó với hạn. Điều này sẽ đem lại cho chúng ta các công cụ dự đoán hạn trong tương lai.  Phụ nữ và trẻ em Ấn Độ đang ngồi chờ xe chở nước tới. Nguồn: borgenproject.org/  Băng qua dải phân cách  Nghiên cứu về hạn sẽ không còn coi nước như một thực thể tự nhiên đơn lẻ, do khí hậu tác động và việc sử dụng nước là một hiện tượng thuần túy kinh tế xã hội, thay vào đó cần xem xét cẩn trọng hơn những tương tác nhiều mặt giữa chúng. Để làm việc này, cần bước những bước đầu tiên tìm hiểu tương tác giữa chu trình thủy văn và xã hội, đặt các quá trình tự nhiên và con người cạnh nhau. Ở Australia, sự kết hợp của công nghệ nước, giá nước và cải thiện giáo dục về nước trong suốt đợt hạn 9 năm vào những năm 2000 đã chứng tỏ thành công trong việc giảm nhẹ các điều kiện hạn. Ở Tây Ban Nha, đợt hạn vào những năm 1990 trên đồng bằng Júcar, một mô hình hệ thống nguồn nước kết hợp kỹ thuật thủy văn, kỹ thuật khai thác nước và các hộ sử dụng nước đã đem lại sự bền vững của dòng sông ngay trong hạn hán.  Việc kết hợp tự nhiên và xã hội đem lại cho chúng ta những bằng chứng vững chắc hơn. Gần đây, các quan sát ảnh vệ tinh và phân tích dữ liệu viễn thám đem lại những bộ thông tin về các khu vực địa lý rộng lớn và dữ liệu về các đặc điểm khí hậu-thủy văn hay địa lý trong những khung thời gian dài. Các quá trình xã hội thường liên quan đến thay đổi mục đích sử dụng đất, khai thác nước, lưu trữ nước và vận hành nước. Những xu hướng xã hội khác như động lực dân số, GDP/tăng trưởng kinh tế cũng thường giới thiệu hoặc giải thích về nguồn gốc biến đổi của môi trường xã hội. Tuy nhiên, các mô hình khí hậu thủy văn, việc phân tích thống kê các điều kiện tăng trưởng kinh tế và áp lực dân số lên điều kiện địa phương… liên quan đến việc khám phá cơ chế tác động của môi trường kinh tế xã hội lên hạn hán vẫn quá đơn giản và loại bỏ tác động của chính trị lên các quá trình xã hội. Vì vậy, việc kết hợp hai cách tiếp cận này không chỉ đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về hạn mà còn làm chính xác hơn các công cụ nghiên cứu về tác động của con người lên sự kiện thời tiết cực đoan này.  Đó là gợi ý để chúng ta có thể thích ứng và giảm thiểu hạn hán, khi thế giới tự nhiên và xã hội con người ngày một gắn bó chặt chẽ trong Thế Nhân sinh.□  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:  https://wires.onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/wcc.761  https://www.nature.com/articles/ngeo2646  https://edition.cnn.com/2021/08/09/world/global-climate-change-report-un-ipcc/index.html    Author                .        
__label__tiasang Trong tương lai rau xanh sẽ được trồng trong tủ      Trong tương lai các trang trại sẽ có hình dáng như một chiếc tủ kính chuyên cung cấp rau xanh. Tuy nhiên mô hình sản xuất rau xanh này lại tiêu thụ quá nhiều điện năng và chi phí cho công nghệ này còn quá tốn kém. Hai startup của Đức đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục những cản trở này.    Maximilian Lössl, nhà sáng lập startup Agrilution, biến một cái tủ kính có chiếu sáng kê trong bếp thành một trang trại sản xuất rau xanh tí hon. Nguồn sáng của thiết bị này là bóng đèn LED, nhiệt độ trong tủ kính có thể được điều chỉnh rất chính xác và nhờ dung dịch dinh dưỡng các loại rau củ như rau thơm các loại, củ cải đỏ và rau có thể phát triển tươi tốt.    Thiết bị của Agrilution trông như một cái tủ lạnh, nhưng thực ra đó là một trang trại cỡ nhỏ  Cách đây vài năm canh tác theo chiều thẳng đứng được coi là xu hướng để giải quyết vấn đề thực phẩm. Thay vì canh tác trên đồng ruộng, dùng quá nhiều phân bón và vận chuyển nông sản bằng xe tải ra các thành phố, nay người dân thành phố có thể tự trồng rau xanh cho mình. Ý tưởng nghe thì hay tuy nhiên cho đến nay trang trại nông nghiệp theo chiều thẳng đứng đã bị thất bại hoàn toàn trong thực tiễn: công nghệ quá tốn kém, chi phí duy trì và bảo dưỡng quá cao. Vì vậy cho đến nay đây vẫn chỉ là một ý tưởng.  Cách đây sáu năm Maximilian Lössl từng gặp nhà sinh học người Hoa kỳ Dickson Despommier, tác giả cuốn sách mang tên Trang trại theo chiều dọc (The Vertical Farm). Lössl từng rất ấn tượng trước viễn cảnh về một khu vực trồng rau xanh chồng lên nhau trong một nhà kho khổng lồ được chiếu sáng bằng nguồn sáng nhân tạo. Despommier thuyết phục Lössl, hãy đến Hà Lan để nghiên cứu về vấn đề này vì đề tài này được nghiên cứu khá cặn kẽ và đầy đủ ở Hà Lan. Lössl đã làm theo lời khuyên này và ngay trong thời kỳ còn đi học Lössl đã thành lập một Hiệp hội quốc tế về Canh tác theo chiều dọc, hiện nay đã có khoảng 300 doanh nghiệp tham gia hội này, trong đó có các tập đoàn như Philips và Microsoft. Đây là các doanh nghiệp đều có mong muốn trong tương lại tạo thu nhập từ các trang trại rau xanh theo chiều dọc. Các nhà đầu tư ở Silicon Valley và ở châu Á thậm chí tin rằng đến một lúc nào đó các trang trại theo chiều dọc sẽ thay thế rau xanh trồng trên đồng ruộng hoặc trong nhà lưới. Nhà đầu tư mạo hiểm như Softbank Vision Fund năm ngoái đã bơm trên 270 triệu đôla cho ý tưởng này. Một trang trại theo chiều dọc cỡ lớn đầu tiên của Đức cũng đã được khai trương ở Hamburg.  Từ lâu các nhà phê bình đã đặt câu hỏi liệu các trang trại chiều dọc cỡ lớn có sinh lời hay không. Chi phí rất tốn kém cho điện năng, chi phí đầu tư cao, chi phí tiền lương cho lao động ở các thành phố lớn là các yếu tố buộc các chủ trang trại phải hết sức cân nhắc. Theo tính toán của cổng thông tin Thực phẩm HK Civil Eats thì giá nửa kg cải xoăn bán tại siêu thị Walmart là 1,33 đôla, cũng với khối lượng đó giá sản phẩm này của trang trại theo chiều dọc ở New Jersey lên tới 14,18 đôla. Xuất phát từ thực tiễn tập đoàn – Internet Google hiện cũng đã dừng dự án của mình. Ngay cả nhà cung cấp lớn nhất của Hoa kỳ là FarmedHere buộc phải ngừng hoạt động trong năm 2017.  Sáu năm sau cuộc gặp với Despommier, Lössl tuy vẫn tin rằng canh tác rau xanh theo chiều dọc vẫn có thể mang lại lợi nhuận ở một số vùng nhất định. Ví dụ ở vùng vành đai thành phố sa mạc Dubai. Phương thức canh tác này không phù hợp với điều kiện ở nước Đức. Vì vậy thay vì tìm cách xây dựng các trang trại cỡ lớn cạnh tranh với rau xanh trong các siêu thị, Lössl thành lập startup Agrilution. Ông tập trung vào loại trang trại mini canh tác theo chiều dọc. Dự tính đến cuối năm nay sẽ xuất hiện trên thị trường loại tủ chiếu sáng với giá 2500 Euro.  Đối tượng khách hàng của ông là tầng lớp khá giả ở các khu đô thị, có nhà nhưng không có vườn rau xanh và có ý thức về dinh dưỡng, những người muốn tự tạo thực phẩm sạch cho bản thân mình. Thay cho vườn là tủ chiếu sáng trang bị đèn LED, nguồn sáng này thay cho ánh sáng trời. Tủ chiếu sáng này có thể sưởi ấm hoặc làm lạnh đồng thời tạo độ ẩm cần thiết. Khách hàng phải mua một loại thảm đã được chuẩn bị sẵn của Agrilution để vào các ngăn trong tủ, trong thảm đã có sẵn hạt giống cũng như tẩm các loại chất dinh dưỡng. Một ứng dụng điện thoại sẽ thông báo cho chủ nhân khi nào có rau xanh để ăn. Tới đây Lössl dự định áp dụng phương thức Nespresso và bán thảm hạt giống, ông phấn đấu hạ giá thành mỗi tủ chiếu sáng xuống dưới giá 800 Euro.  Lössl không phải là người duy nhất ở Đức đang xúc tiến trang trại mini theo chiều dọc. Khác với loại thiết bị của Lössl, ở thành phố Hannover có startup Neofarms dùng loại hạt giống bình thường tuy nhiên giá thiết bị lên đến 6500 Euro và khoảng hai năm nữa mới được tung ra thị trường. Trong tủ của Neofarms dự kiến bộ rễ sẽ được bao phủ bởi một lớp sương dinh dưỡng ẩm ướt thay vì phải có bể chứa dung dịch dinh dưỡng. Khác với ở các trang trại lớn ánh sáng ở đây không có mầu tím mà là mầu trắng. Theo nhà sáng lập Neofarm, Maximilian Richter thì cây trồng ở đây trông ngon mắt hơn.  Vấn đề là chi phí điện năng vẫn quá cao, do thiếu nguồn nhiệt do hiệu ứng nhà kính cổ điển mang lại. Thiết bị Neofarm tiêu thụ mỗi ngày khoảng 1 Euro tiền điện. Tuy vậy Lössl tin chắc rằng loại tủ trồng rau xanh này trong tương lai sẽ là thiết bị không thể thiếu trong các nhà bếp. Rau xanh bán ở các siêu thị, cho dù chúng có được trồng theo chiều dọc thì cũng là sản phẩm đã bị chết trong nhiều giờ trong khi đó chỉ có rau trồng trong các tủ ánh sáng mới thực sự là ra tươi roi rói.  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/forschung/gemuese-der-zukunft-salat-nach-dem-nespresso-prinzip/22871374.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trừ cỏ dại bằng tia laser      Các nhà nghiên cứu ở Hannover (Đức) đang thử nghiệm dùng tia laser để triệt cỏ dại. Họ hy vọng công nghệ này có thể giúp hạn chế sử dụng hóa chất độc để diệt cỏ.    Các nhà khoa học Đức hy vọng có thể dùng tia laser để diệt trừ cỏ dại từ đó giảm lượng thuốc trừ cỏ độc hại. Các nhà nghiên cứu đã thiết kế một thiết bị có thể chạy tự động trên ruộng hay các luống. Thiết bị này gắn máy ghi hình có khả năng nhận diện cỏ dại rồi dùng tia laser để triệt hạ chúng. Thiết bị thử nghiệm đầu tiên mới hình thành và chỉ có thể diệt cỏ trên một diện tích khoảng 1 m2 trong nhà kính.      Dự án này do Viện Hệ thống sản xuất sinh học (Instituts für Biologische Produktionssysteme) thuộc Đại học Hannover và Trung tâm Laser( Zentrums Hannover) thực hiện với sự hỗ trợ của Cộng đồng nghiên cứu Đức (Deutsche Forschungsgemeinschaft). Lãnh đạo dự án, giáo sư Thomas Rath, cho biết rằng giới công nghiệp rất quan tâm đến công trình này vì nó có thể được triển khai trong tương lai gần, ở bất cứ nơi nào mà thiết bị có thể dễ dàng chạy qua các luống đất, thí dụ như ở trong các nhà vườn hoặc trại ươm cây giống.     Tuy nhiên để có thể áp dụng rộng rãi thiết bị diệt cỏ dại này các nhà nghiên cứu còn phải giải quyết một loạt vấn đề phức tạp. Thí dụ phải xác định chính xác cường độ của tia laser để diệt cỏ vì laser năng lượng thấp lại có tác dụng kích thích cây phát triển. Vấn đề thứ hai là việc xác định, nhận biết cỏ dại. Máy ghi hình cây cối, một phần mềm thực hiện việc đo đạc hình bóng của các loại cây chụp được. “Chúng tôi có những thuật toán (algorithmen) với nhiều loại cỏ dại khác nhau”, giáo sư Rath cho hay.  Hiện chưa rõ liệu có thể áp dụng công nghệ tia laser để diệt trừ cỏ dại trên diện rộng hay không. Không thể tính đến chuyện gắn thiết bị phóng laser vào một máy kéo vì khi chạy máy bị rung và tia laser sẽ không thể chĩa đúng vào mục tiêu.  Ông Rath cho biết: “Hiện chúng tôi đang nghiên cứu gắn thiết bị trên những Drohnen – các robot nhỏ – chúng có thể bay thành từng đàn trên cánh đồng.” Việc dùng laser để diệt cỏ ở những hồ nước, nơi cấm xử dụng hóa chất độc hại, cũng là điều đang được các nhà khoa học quan tâm. Cho đến nay ở những vùng làm nông nghiệp sinh thái người ta trừ cỏ bằng phương pháp thủ công hoặc dùng lửa để đốt.       Hoài Trang dịch           Author                Quản trị        
__label__tiasang Truelife – một công cụ quản trị văn phòng cho doanh nghiệp khởi nghiệp      Giao lưu trực tuyến “Internet – Thế giới  trong tầm tay” với hơn 1.000 sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội ngày 13/12,  ông Nguyễn Thành Bôn, Phó giám đốc Trung tâm vSolutions (VASC) đã giới  thiệu mạng văn phòng truyền thông hợp nhất Truelife như một công cụ quản  trị phù hợp cho các cá nhân muốn khởi nghiệp mà không có nhiều vốn.  &#160;    Xuất phát từ ý tưởng xóa bỏ sự thiếu đồng bộ, thiếu liên kết của các dịch vụ CNTT trực tuyến, cung cấp các dịch vụ trực tuyến xuyên suốt, liên thông, nhất quán, tương tác thống nhất với nhau trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh, nhóm tác giả VASC đã xây dựng nên TrueLife.  Mỗi tổ chức/doanh nghiệp tham gia mạng TrueLife đều được cấp một văn phòng điện tử đại diện. Từ văn phòng này, họ có thể tạo ra văn phòng đại diện khác cho các đơn vị, tổ chức, dự án để tạo thành một mạng văn phòng nội bộ bên trong tổ chức/doanh nghiệp của mình.   Đối với các cá nhân, khi tham gia TrueLife, họ sẽ được cấp một văn phòng điện tử mà từ đó, cá nhân cũng có thể tạo ra các văn phòng điện tử khác bên trong để lập một mạng văn phòng riêng.  Một văn phòng điện tử có thể kết nối với một hay nhiều văn phòng khác. Mỗi cá nhân có thể kết nối tới một hay nhiều mạng cộng đồng (văn phòng điện tử) khác. Việc các văn phòng này kết nối với nhau sẽ tạo ra Mạng Văn phòng.  Với các chức năng quản lý người làm việc trong hoặc có kết nối tới văn phòng; giám sát hoạt động vào ra của các thành viên, khách thăm; quản lý kho tài liệu; quản lý các văn phòng truyền thông của công ty, của đơn vị trực thuộc, dự án, trường học, lớp học…, ông Nguyễn Thành Bôn, Phó Giám Đốc Trung tâm vSolutions, nhận định TrueLife là công cụ quản trị văn phòng phù hợp cho các cá nhân muốn khởi nghiệp mà không có nhiều vốn.  Sau ba năm phát triển, TrueLife đã được VASC ứng dụng để tạo ra Mạng Giáo dục Việt Nam (vnEdu.vn), kết nối hàng chục ngàn giáo viên từ hàng ngàn trường học trên cả nước; và xây dựng dịch vụ Truyền hình tương tác đa màn hình MyTV thế hệ mới với 200.000 thuê bao trong sáu tháng thử nghiệm.  TrueLife cũng được VNPT ứng dụng để xây dựng nên VMP Content Delivery Network, mạng phân phối dữ liệu multimedia cho các dịch vụ của mình như Cổng giải trí đa phương tiện MegaFun.vn, MyTV Flexi, MyTV Net, Mobile TV; ngoài ra, đã có hơn 40 tòa soạn báo điện tử, cổng thông tin của các tổ chức quan trọng trên toàn quốc ứng dụng nền tảng này.   Năm 2013, Truelife được vinh danh tại Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2013 ở nhóm sản phẩm CNTT Thành công. “Trong tương lai, Truelife kỳ vọng được đầu tư ở cấp quốc gia để trở thành một phần của nền tảng hành chính công, xã hội điện tử,” ông Bôn nhấn mạnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trump tiếp tục thúc đẩy đầu tư cho năng lượng hạt nhân      Tổng thống Trump đã đề xuất 1,2 tỉ USD để đầu tư cho các chương trình năng lượng hạt nhân và R&D.      Lò phản ứng thử nghiệm tiên tiến tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Idaho. Nguồn: Idaho labs   Đề xuất ngân sách cho năm 2021 của Donald Trump là 1,2 tỉ USD cho R&D về năng lượng hạt nhân và những chương trình liên quan. Con số này cao hơn một cách đáng kể đề xuất 824 triệu USD mà Trump từng đề xuất trong ngân sách năm trước. Ngay cả sự gia tăng đáng kể của ngân sách đã đề nghị nhưng con số này vẫn còn thấp hơn so với con số1,5 tỉ USD mà Quốc hội phân bổ cho năng lượng hạt nhân năm trước.  Trump đã gia tăng lượng đầu tư cho hạt nhân như một cách để thúc đẩy “sự hồi sinh của ngành công nghiệp nội địa và năng lực của các công nghệ trong nước để cạnh tranh với nước ngoài”. Bộ máy hành chính Mĩ cũng muốn tăng cường sản xuất uranium trong nước như “một vấn đề an ninh quốc gia”.  Giữ cho những lò phản ứng năng lượng trong nước hoạt động là một ưu tiên của Trump kể từ khi nắm quyền. Hai dự luật ông ký thông qua thành luật đã tăng tốc sự phát triển của các lò phản ứng hạt nhân tiên tiến và tái sắp xếp các tiến trình cấp phép. Ông cũng phân bổ các khoản kinh phí, bao gồm 300 triệu USD cho đề xuất năm 2020 cho một lò phản ứng thử nghiệm Versatile Test Reactor (VTR), một dạng lò phản ứng neutron nhanh do bốn phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ là Idaho, Argonne, Los Alamos, Oak Ridge cùng nhiều trường đại học và ngành công nghiệp hạt nhân thiết kế, nhằm kiểm tra và phát triển các nhiên liệu, vật liệu tiên tiến. Điện hạt nhân hiện nay đang chiếm 20% nguồn năng lượng hỗn hợp của Mĩ và một nửa điện không phát thải carbon Mĩ. Tuy vậy, năng lượng hạt nhân đang phải vật lộn để gia tăng vị thế của mình ở quốc gia này.  “Dưới góc độ cá nhân, tôi thấy điện hạt nhân như một giải pháp năng lượng không phát thải khí nhà kính”, cựu giám đốc điều hành Viện nghiên cứu trái đất thuộc đại học Columbia Steven Cohen nói với The Verge qua email. “Mặt khác, nghiên cứu khoa học về năng lượng hạt nhân như một hình thức năng lượng và lưu trữ năng lượng cần được ưu tiên cao với các phòng thí nghiệm quốc gia và các trường đại học nghiên cứu”.  Với các thành viên Đảng Dân chủ và các nhà hoạt động môi trường, việc gia tăng quy mô điện hạt nhân như một giải pháp tiềm năng cho kiểm soát biến đổi khí hậu vẫn là một vấn đề nóng bỏng và gây chia rẽ. Những người ủng hộ nói công nghệ này hiện nay an toàn hơn trước đây và đây là công cụ cần thiết bên cạnh năng lượng gió và mặt trời trong cuộc chiến dừng biến đổi khí hậu. Những người phản đối tập trung vào mức đầu tư cao của năng lượng hạt nhân và chỉ ra Mĩ không thể biết đích xác cần làm những gì đối với chất thải hạt nhân của mình.  Tuần trước, Trump đã dường như xem xét trở lại một địa điểm chôn cất chất thải được đề xuất tại núi Yucca ở Nevada, vốn từng gây tranh cãi kể từ khi được đề xuất vào năm 1987. Trump đã viết trên tài khoản cá nhân Twitter vào ngày 6/2/2020. “Chính quyền của tôi cam kết cho khám phá những cách tiếp cận đổi mới sáng tạo- tôi tự tin là chúng tôi có thể làm điều đó!”. Trump từng được đề nghị đầu tư để hoàn tất nơi cất giữ chất thải hạt nhân trong những đề xuất ngân sách trước.  Trong khi các nhà bảo vệ môi trường tiếp tục tranh cãi về “điều hơn lẽ thiệt” của điện hạt nhân thì Trump dường như không coi việc thúc đẩy hạt nhân như một chính sách ưu tiên về môi trường. Đề xuất ngân sách của ông còn cắt giảm khoản đầu tư cho Cơ quan bảo vệ môi trường 26%.  Đề xuất ngân sách 4.8 nghìn tỉ USD của Trump vẫn cần chờ sự chấp thuận của Quốc hội. Nhưng sự ủng hộ của lưỡng viện dành cho năng lượng hạt nhân trong quá khư – năm ngoái, Quốc hội đã tăng ngân sách 2020 cho năng lượng hạt nhân thêm gần 700 triệu USD nữa.  “Điều này gửi đi một thông điệp rõ ràng là Bộ Năng lượng Mĩ (DOE) đang trên đường đầu tư cho một khoa học hạt nhân mới”, Rita Baranwal, người phụ trách Văn phòng năng lượng hạt nhân, nói trong một thông báo sau khi Trump ký đề xuất ngân sách 2020 vào tháng 12/2019.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.theverge.com/2020/2/10/21131701/trump-budget-proposal-nuclear-energy-programs-spending     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Nguyên đại diện cho nông sản Việt Nam tại CAEXPO      Theo thông tin từ Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên, tập đoàn này đã được cử làm đại diện cho ngành nông sản Việt Nam tại hội chợ Trung Quốc – ASEAN CAEXPO diễn ra từ ngày 16 – 19/9 tại TPNam Ninh, tỉnh Quảng Tây.    Đây là hội chợ nhằm thúc đẩy thương mại giữa khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc và quốc tế, đã được tổ chức 11 lần.  Nổi tiếng với truyền thống văn hóa trà nhưng những năm trở lại đây, giới trẻ Trung Quốc dần chuyển sang văn hóa thưởng thức cà phê. Năm 2012, thị trường cà phê Trung Quốc ước tính trị giá 1,6 tỷ USD, trong đó cà phê hòa tan chiếm 90% và có tốc độ tăng trưởng 10% mỗi năm. Do có hương vị phù hợp khẩu vị người tiêu dùng Trung Quốc, thương hiệu cà phê hòa tan G7 với các sản phẩm G7 3in1, G7 2in1, G7 Cappuccino của Trung Nguyên rất được yêu chuộng tại đây. Năm 2013, doanh số của Trung Nguyên tại Trung Quốc tăng gần 200%, đạt hơn 1.000 tỷ đồng. Thông qua nhà phân phối, sản phẩm G7 của Trung Nguyên cũng đã vào hệ thống Walmart Trung Quốc hai năm qua.  Nằm trong chiến lược phát triển mạnh thị trường Trung Quốc với mục tiêu lấy 1 USD cà phê của mỗi người dân nước làng giềng, Trung Nguyên đang ráo riết chuẩn bị mở chi nhánh Công ty tại một trong những thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến, hoặc Quảng Châu trong năm 2014.   Được biết, G7 là thương hiệu cà phê hòa tan chiếm thị phần lớn nhất ở Việt Nam, và được xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia trên thế giới, xuất hiện trên quầy kệ các hệ thống siêu thị toàn cầu quốc tế như E-Mart, Costco và sắp tới là Walmart.        Sáng 16/9, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại  giao Phạm Bình Minh đã dự Lễ khai mạc CAEXPO 2014, cùng với sự hiện diện của Thủ tướng  Campuchia Hun Sen, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, Phó Chủ tịch nước  Lào Buonnhang Vorachith và Phó Thủ tướng nước chủ nhà Trương Cao Lệ.      Phát biểu tại Lễ khai mạc, Phó Thủ tướng  Phạm Bình Minh nhấn mạnh CAEXPO là một trong những thành quả của quan hệ đối tác chiến lược  ASEAN-Trung Quốc.       CAEXPO năm nay có chủ đề  “Cùng  xây dựng con đường tơ lụa trên biển Thế kỷ 21” thu hút sự tham gia của  hơn 2.500 doanh nghiệp với 4.600 gian hàng từ các nước ASEAN và Trung  Quốc.      Hội chợ chia làm 5 khu, bao gồm thương mại hàng hoá, hợp tác đầu tư, thương mại dịch vụ, công nghệ tiên tiến và thành phố hấp dẫn.   Trung Quốc là đối tác thương mại  lớn nhất của ASEAN kể từ năm 2009 trong khi ASEAN là đối tác thương mại  lớn thứ ba của Trung Quốc từ năm 2010.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Nguyên Legend: “Tỉnh thức là có thể”      Trong hai ngày 25 và 26/6/2022, Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã tổ chức hành trình trải nghiệm với chủ đề “Tỉnh thức là có thể” thu hút sự tham gia của các nhân vật ảnh hưởng và những người bạn quý tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhân dịp kỷ niệm 26 năm thành lập Tập đoàn (16/6/1996 – 16/6/2022).      Bảo tàng Cà phê nhìn từ trên cao. Nguồn: Trung Nguyên Legend   Hơn hai thập niên sáng tạo và phát triển, triết lý kinh doanh của Tập đoàn Trung Nguyên Legend luôn theo đuổi là tinh thần Phụng sự, “kinh bang tế thế”, “kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận thuần túy, lợi nhuận chỉ là hệ quả của quá trình phụng sự cộng đồng”.  Từ xưởng cà phê nhỏ bé hơn 2m ngang khởi nghiệp vào những năm đầu giai đoạn phát triển mới của đất nước, Trung Nguyên Legend đã mang tầm nhìn, khát vọng lớn về việc tạo dựng một vị thế xứng đáng cho ngành cà phê Việt Nam, cũng như lấy lại công bằng cho các quốc gia trồng và xuất khẩu cà phê trên toàn cầu. Dưới sự dẫn dắt của Nhà sáng lập – Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ, Trung Nguyên Legend từng bước góp phần vinh thăng giá trị cà phê, khẳng định vị thế ngành cà phê Việt Nam, thương hiệu cà phê Việt Nam trên bản đồ thế giới thông qua cà phê văn hóa, cà phê thuật, cà phê tinh thần… đến cà phê triết đạo.  Cà phê là cội nguồn của hạnh phúc và sự thông thái (nhà y học William Harvey)  Sau 26 năm phát triển, những tuyệt phẩm cà phê năng lượng G7, Trung Nguyên, Trung Nguyên Legend đã xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, mang lại hàng triệu đô la đóng góp vào nền kinh tế địa phương và quốc gia. Không chỉ làm rạng ngời văn hóa cà phê phin truyền thống Việt Nam với hàng loạt các hệ sản phẩm cà phê phin đa dạng, định chuẩn ly cà phê Việt, Trung Nguyên Legend kỳ công nghiên cứu, cô đọng tinh hoa các nền văn minh cà phê thế giới tiêu biểu: Ottoman – Roman – Thiền trong những tuyệt phẩm cà phê, không gian hàng quán thưởng lãm cà phê, các chương trình nghệ thuật cà phê, các dự án Thành phố Cà phê, Bảo tàng Thế giới cà phê… dựa trên triết lý cà phê kết hợp với văn hóa bản địa, từng bước tạo dựng hệ sinh thái toàn diện Cà phê vật chất – Cà phê tinh thần – Cà phê xã hội.  Nhà y học người Anh William Harvey (1578-1657). Nguồn Hunterian Art Gallery, University of Glasgow.    Hơn hai thập niên qua, dưới sự chỉ dẫn của Nhà sáng lập – Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ, Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã nỗ lực dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi cách thức phát triển của lịch sử các nền văn minh, các đế chế vĩ đại từ khi thành lập đến phát triển cực thịnh rồi suy tàn, những tấm gương danh vĩ nhân thành công để tìm ra mẫu số chung và công thức thành công nào của từng đế chế, từng vĩ nhân. 26 năm tâm huyết nghiên cứu lịch sử cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân loại để tư duy lại một cách căn bản và toàn diện cà phê thế giới, qua các bài khảo luận “Cà phê triết đạo” được công bố rộng rãi đến cộng đồng, Trung Nguyên Legend đã đưa ra một kiến giải mới về cà phê, xác thực cà phê là thức uống tỉnh thức và sáng tạo; là chất xúc tác tạo ra hầu hết các tư tưởng, phát minh, sáng kiến quan trọng trong những bước ngoặt của lịch sử thế giới; là năng lượng kết nối các nền văn hóa và văn minh, quy tụ một lực lượng tinh hoa, có ảnh hưởng ở mọi lĩnh vực đời sống. Từ sự thấu hiểu đó, Trung Nguyên Legend đã và đang từng bước nghiên cứu xây dựng một hệ sinh thái cà phê thúc đẩy cộng đồng nhân loại về lối sống mới, để tỉnh thức, tạo ra một thế giới hạnh phúc, an lành bền vững.  Trong suốt 26 năm qua, Trung Nguyên Legend luôn nỗ lực nâng tầm cà phê Việt Nam, từng bước hoàn thiện hệ sinh thái cà phê toàn diện: Cà phê vật chất – Cà phê tinh thần – Cà phê xã hội, tiến đến cung ứng “Lối sống cà phê – Lối sống thành công – Lối sống tỉnh thức”, cung ứng những giải pháp để thay đổi cuộc đời, thức tỉnh đời sống của mỗi cá nhân, tổ chức và toàn thể cộng đồng.  Tiếp nối chương trình “Hành trình Trải nghiệm Lối sống tỉnh thức cùng Trung Nguyên Legend” tại Thành phố Cà phê vào tháng 3/2022, hành trình “Tỉnh thức là có thể” tiếp tục đem đến những trải nghiệm khác biệt, đặc biệt và duy nhất một lối sống mới, Lối sống cà phê – Lối sống thành công – Lối sống tỉnh thức mà Trung Nguyên Legend đang hiện thực hóa ngay tại vùng đất thiêng Buôn Ma Thuột – quê hương của những hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới và cũng là nơi sáng nghiệp của Tập đoàn. Theo đó, tất cả các vị khách mời được trải nghiệm 24 giờ sống tỉnh thức cùng Trung Nguyên Legend; thưởng thức “Chuyện kể 3 nền văn minh cà phê” – Vở vũ kịch đầu tiên và duy nhất trên thế giới về ba nền văn minh cà phê; khám phá hệ sản phẩm phục vụ Lối sống tỉnh thức.  Năm 2022, bước sang tuổi thứ 26, Tập đoàn Trung Nguyên Legend không chỉ bán cà phê mà còn cung ứng một lối sống mới – Lối sống cà phê – Lối sống thành công – Lối sống tỉnh thức. Đây là một con đường không hề dễ dàng, đầy chông gai và nhiều thử thách, đòi hỏi nhiều nỗ lực, sự thấu cảm, đồng hành của từng cá nhân trong cộng đồng xã hội, và cũng là hành trình mà Trung Nguyên Legend kiên trì bền bỉ thực hiện trong suốt thời gian từ khi khai nghiệp đến nay.    Author                .        
__label__tiasang Trung Nguyên: Một phần của văn hóa cà phê Sài Gòn      Chuyên mục “Du lịch” của tờ The Telegraph đã  nhắc đến Trung Nguyên Coffee trong một bài viết mới đây như một phần không thể thiếu của văn hóa cà phê ở đô thị  này.    Theo bài báo “Vietnam: Ho Chi Minh City’s  coffee culture”, cách tốt nhất để thưởng thức cà phê ở thành phố Hồ Chí Minh là ngồi trên ban công của một quán café giữa lòng thành phố. Với cách này, người ta có thể vừa đứng ngoài, vừa ngắm nhìn thế giới xe cộ nhộn nhịp và ồn ã dưới chân.  Nicola Craydon, tác giả của bài viết, công nhận món cà phê sữa đá vỉa hè mà cô “chết mệt” vị ngọt của nó là một phần của văn hóa cà phê tại thành phố Hồ Chí Minh: “Thoạt đầu, tôi không chịu được vị ngọt đậm của nó nhưng rồi tôi trở nên nghiện vị ngọt ập đến, sau đó là cảm giác mát lành ở đầu lưỡi. Nó hợp với khí hậu nóng ẩm của thành phố theo cách mà ly latte truyền thống không thể làm được”. Tuy nhiên, cô cho rằng Trung Nguyên đã nâng văn hóa cà phê ở thành phố Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới.  “Ở Trung Nguyên Coffee – Starbucks của Việt Nam – với chuỗi cửa hàng trên khắp thành phố, có tới năm trang về cà phê trong thực đơn. Không gian toát lên vẻ sang trọng với những chiếc sofa thấp và màu thương hiệu cam – nâu, đậm phong cách những năm 70. Khách hàng thường xuyên là những người trẻ hoài cổ và doanh nhân.  Hạt cà phê ở đây được tuyển chọn kỹ lưỡng từ Ý, Nhật, Thổ Nhĩ Kì và Ethiopia nhưng đó là sự đa dạng đáng được khám phá sâu hơn của cà phê Việt Nam. Các thức uống với sự kết hợp của các loại hạt cà phê và các công thức khác nhau với những cái tên mĩ miều như: Thành công, Sáng tạo, Khám phá và Suy nghĩ.”  Nicola Craydon cho rằng, Trung Nguyên đã đưa cà phê Việt Nam trở thành một văn hóa ẩm thực và thậm chí, mang tính dược liệu.  “Tôi chọn ly “Passiona” (Đam mê), được quảng cáo dành riêng cho phụ nữ với hứa hẹn rằng thức uống này sẽ giữ gìn làn da hoàn hảo cùng một cuộc sống “đam mê và thành công”. Tôi dùng đồ uống này rất nhiều lần, không hẳn vì những hứa hẹn nó đem lại mà vì nó ngon. Đó là một loại sinh tố cà phê mà [công thức] của nó được phát triển trong suốt chín năm bao gồm các thành phần như collagen, vitamin PP (chống khô da) và những loại thảo dược hiếm.”  Với tác giả bài viết, thức uống này đã trở thành một nghi thức hằng ngày để cô thưởng thức sự pha trộn cân bằng tinh tế giữa cái mới và cái cũ của thành phố.  HL (lược dịch)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Nguyên ra mắt đại siêu thị cà phê online      Hôm nay, 19/05, Công ty Cổ phần Tập đoàn cà  phê Trung Nguyên chính thức ra mắt Đại siêu thị Cà phê (Hypermarket  Coffee) tiên của Việt Nam tại hệ thống thương mại điện tử&#160;  www.cafe.net.vn.     Đại Siêu thị Cà phê Online là một kênh cung ứng toàn bộ các sản phẩm, vật phẩm liên quan đến cà phê với dịch vụ mua hàng trực tuyến, giao hàng tận nơi với mức giá ưu đãi. Đây là khởi đầu cho mô hình kinh doanh mới của Trung Nguyên nhằm đáp ứng xu thế mua sắm trực tuyến của khách hàng, đặc biệt là giới trẻ.  Chỉ bằng một thao tác “chạm-click”, khách hàng có thể mua tại đây tất cả các loại cà phê của Trung Nguyên; những dụng cụ thưởng lãm cà phê đặc sắc hay máy xay/pha cà phê chuyên dụng của các thương hiệu hàng đầu; cũng như những nguyên phụ liệu pha chế cà phê được các barista chuyên nghiệp tin dùng… Khách hàng cũng tìm thấy tại www.cafe.net.vn những món quà nhỏ nhắn tinh xảo liên quan đến cà phê, những coffee tour về vùng đất thánh của cà phê Việt Nam tại Đắk Lắk. Bên cạnh đó, www.cafe.net.vn còn giới thiệu các phương thức kinh doanh hiện đại và hiệu quả như Franchise, License, mở các khóa huấn luyện thực tiễn về pha chế, quản lý  quán…         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Nguyên thâm nhập thị trường Dubai      Trung Nguyên và Tập đoàn Global Hotels  Management LLC (GHM) vừa ký kết hợp tác chiến lược về việc mở chuỗi  quán cà phê sang trọng và phân phối những sản phẩm cà phê cao cấp tại  Dubai và các tiểu vương quốc khác thuộc UAE.     Trung Nguyên chính thức thâm nhập thị trường   Trung Đông bằng sự kiện tham gia Lễ hội cà phê & trà quốc tế được   tổ chức tại Meyden Hotel, Dubai từ ngày 12 đến 14/11 vừa qua.  Trong khuôn khổ lễ hội, Trung Nguyên và Tập đoàn Global Hotels Management LLC (GHM) đã ký kết hợp tác chiến lược về việc mở chuỗi quán cà phê sang trọng và phân phối những sản phẩm cà phê cao cấp tại Dubai và các tiểu vương quốc khác thuộc UAE.   Là tập đoàn hàng đầu về ngành thực phẩm và đồ uống và chuyên kinh doanh các sản phẩm cao cấp ở Trung Đông, GHM luôn chọn những đối tác hàng đầu trên thế giới để hợp tác nhằm đáp ứng tố nhất nhu cầu khắt khe của thị trường này. Masood Hashim, Phó chủ tịch, Giám đốc điều hành của GHM, chia sẻ: “Nhu cầu thị trường UAE luôn đòi hỏi những sản phẩm cao cấp, sang trọng, đạt tiêu chuẩn quốc tế, do đó, mong muốn mang những sản phẩm cà phê đẳng cấp đến cho khách hàng chúng tôi chọn Trung Nguyên. Việc hợp tác này là một trong những thành quả đáng tự hào của GHM.”  Trong nội dung hợp tác cùng Trung Nguyên, GHM sẽ tiến hành mở chuỗi quán cà phê Trung Nguyên sang trọng tại những không gian đẳng cấp tại Dubai cũng như các tiểu vương quốc khác thuộc UAE. Đồng thời, GHM triển khai phân phối các sản phẩm cà phê cao cấp Weasel, Legendee và cà phê hòa tan G7. Cũng trong dịp này, GHM và Trung Nguyên sẽ xúc tiến khảo sát chọn vị trí mở quán cà phê đầu tiên của dự án hợp tác.  Theo ông George Economou, Giám đốc phát triển kinh doanh thị trường quốc tế của Trung Nguyên, “UAE, đặc biệt là Dubai, là thị trường chiến lược, mục tiêu quan trọng của Trung Nguyên vì tính chất biểu tượng sang trọng, lộng lẫy bậc nhất thế giới. Do đó, việc tham gia thị trường Dubai là cơ hội khẳng định đẳng cấp của thương hiệu Trung Nguyên với thế giới.”  UEA là thị trường có tốc độ tăng trưởng lượng tiêu thụ cà phê và trà cao, khoảng 85% suốt ba năm qua, cao nhất trong khu vực. Với mức tiêu thụ bình quân đầu người 3,5 kg mỗi năm, người dân UAE uống gần gấp đôi lượng cà phê ở bất kỳ quốc gia Vùng Vịnh  khác. Đặc biệt, sự tăng trưởng dân số và tăng thu nhập trong những năm qua dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ các cửa hàng cà phê tại Dubai. Vì vậy, UAE là điểm hẹn lý tưởng cho Lễ hội cà phê và trà quốc tế hàng năm.  Tiếp nối sự kiện tham dự CAEXPO 2014 – Trung Quốc vào tháng 9.2014 vừa qua, việc chính thức thâm nhập thị trường Dubai thông qua sự xuất hiện tại Lễ hội cà phê & trà quốc tế lần này và sắp tới là thị trường Mỹ minh chứng cho sự cam kết của Trung Nguyên về việc hiện thực hóa lộ trình thực hiện mục tiêu chinh phục thế giới.  Được biết, Trung Nguyên là thương hiệu Việt Nam duy nhất tham gia Lễ hội cà phê & trà quốc tế 2014 ở Dubai. Trung Nguyên cũng là thương hiệu cà phê Việt Nam đầu tiên xuất khẩu vào thị trường Dubai.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc chạy đua thiết kế siêu máy tính nhanh nhất thế giới      Trong một căn phòng rộng của Trung tâm Siêu máy tính Quốc gia Thiên Tân là hơn 100 tủ kim loại màu đen và xám, được xếp vào hàng ngũ như một đội quân diễu hành. Chúng chứa siêu máy tính Tianhe-1A. 8 năm trước, đây là máy tính đầu tiên của Trung Quốc thống trị vị trí máy tính nhanh nhất thế giới, trong một thời gian ngắn, với tốc độ 2,57 petaflop.      Tianhe-1A từng là siêu máy tính nhanh nhất thế giới vào năm 2010. Nguồn: Sciencemag  Nhưng chỉ trên lầu từ Tianhe-1A, khu vực giới hạn với khách tham quan, là một máy tính nguyên mẫu nhỏ mà nếu mở rộng quy mô thành công, có thể đẩy Trung Quốc lên vị trí đầu bảng xếp hạng một lần nữa. Mục tiêu là một siêu máy tính 1 exaflop – 1000 petaflop, nhanh hơn năm lần so với nhà vô địch hiện tại, siêu máy tính Summit tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge của Mỹ.  Trung Quốc đang cạnh tranh với Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản để tạo ra siêu máy tính mới, thiết bị giúp họ có thể tăng cường năng lực tính toán của các mô hình khí hậu và thời tiết, thực hiện các nghiên cứu di truyền của con người, phát triển thuốc, trí thông minh nhân tạo và các ứng dụng khoa học khác. Chiến lược của họ là độc nhất khi tạo điều kiện cho ba nhóm nghiên cứu cùng cạnh tranh với nhau, do đó Thiên Tân có hai đối thủ; một tại Trung tâm Siêu tính toán Quốc gia Tế Nam và một tại Dawning Information Industry Co., một nhà sản xuất siêu máy tính, Bắc Kinh.  Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc (MOST) có lẽ sẽ chọn hai mẫu để qua đó mở rộng lên mức exascale (hệ thống siêu máy tính có khả năng xử lý một tỷ tỷ phép tính mỗi giây; ở cấp độ exaflop, một exaflop tương tương 1.000 petaflop) vào cuối năm nay. Cách tiếp cận này là cơ hội để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, theo Bob Sorensen, một nhà phân tích tính toán hiệu suất cao tại công ty Hyperion Research ở St. Paul. Cách làm này “khuyến khích các nhà cung cấp thử nghiệm một loạt các thiết kế để phân biệt mình với đối thủ cạnh tranh”, ông nói.  Trung Quốc có thể không phải là nước đầu tiên đạt được cột mốc tính toán này. Máy tính exascale Post-K của Nhật Bản có thể bắt đầu hoạt động vào năm 2020. Hoa Kỳ đang hướng tới triển khai hệ thống exascale đầu tiên tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne ở Lemont, Illinois vào năm 2021. Liên minh châu Âu đang đẩy mạnh chương trình của riêng mình. Trung Quốc cũng nhắm đến mốc năm 2020 nhưng thời gian dự kiến này có thể còn bị lùi lại.  Tuy nhiên, về đích đầu tiên không phải là mục tiêu duy nhất của Trung Quốc. Có ba nhóm cạnh tranh sẽ đảm bảo tiến bộ công nghệ bao phủ toàn bộ các thành phần: chip máy tính, phần mềm điều hành, mạng và công nghệ lưu trữ dữ liệu, theo Meng Xiangfei, nhà vật lý phụ trách phần nghiên cứu và phát triển ứng dụng exascale cho Trung tâm Siêu máy tính quốc gia.  Việc xây dựng năng lực trong nước đặc biệt quan trọng đối với bộ xử lý trung tâm (CPU) và các chip chuyên dụng, vốn được gọi là các cỗ máy gia tốc, giúp tăng hiệu suất của máy tính. Theo Jack Dongarra, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Tennessee ở Knoxville, Trung Quốc dựa vào CPU Intel do Mỹ sản xuất cho nhiều thế hệ siêu máy tính, nhưng vào năm 2015, chính phủ Mỹ đã cấm xuất khẩu một số loại chip vì lý do an ninh. Động thái này “khiến chính phủ Trung Quốc phải đầu tư lớn” vào bộ xử lý, ông nói. Tất cả ba nguyên mẫu exascale đều sử dụng chip sản xuất tại Trung Quốc.  Chiến lược ba nhóm cũng cho phép MOST chia sẻ chi phí với chính quyền khu vực, những nơi đang hy vọng việc tạo ra một siêu máy tính hàng đầu sẽ thúc đẩy phát triển công nghệ và thu hút các viện và doanh nghiệp. Qian Depei, một nhà khoa học máy tính tại Đại học Hàng không và vũ trụ Bắc Kinh, thành viên trong hội đồng đánh giá exascale của MOST, nói rằng các mẫu có giá khoảng 9 triệu USD mỗi chiếc; MOST đóng góp một nửa và phần còn lại đến từ các nguồn địa phương.  Các nguyên mẫu đã phải trải qua một loạt các bài kiểm tra về tốc độ, sự ổn định và tiêu thụ năng lượng cộng với việc chạy thử phần mềm từ các lĩnh vực ứng dụng khác nhau, nhưng kết quả là “rất bí mật”, Meng nói. Ngân sách cuối cùng cũng không rõ ràng, mặc dù ngay từ đầu một ủy ban tư vấn của chính phủ ước tính một máy tính exascale sẽ có giá từ 2 tỷ đến 3 tỷ nhân dân tệ (288 triệu đến 432 triệu USD).  Ngay cả sau khi hai người chiến thắng được công bố, Qian nói rằng đội thứ ba có lẽ sẽ vẫn còn tham gia vì vậy kiến thức chuyên môn họ tích lũy không bị lãng phí. Mở rộng các mẫu đang hoạt động trong phạm vi 3 petaflop, có nghĩa là kết nối đủ CPU và bộ gia tốc để đạt được exaflop, tinh chỉnh hệ thống làm mát bằng chất lỏng để tản nhiệt, cải thiện hiệu suất, và hoàn thiện phần mềm vận hành để các bộ xử lý có thể hoạt động cùng nhau.  Trung Quốc từng bị tụt hậu trong việc phát triển phần mềm ứng dụng cần thiết để triển khai nghiên cứu với siêu máy tính, nhưng họ đã bắt kịp, Meng nói. Trong 2 năm qua, các nhóm người Trung Quốc đã giành được Giải thưởng Gordon Bell do Hiệp hội Máy tính Máy tính toán (ACM) trao tặng hàng năm trong việc áp dụng tính toán hiệu năng cao vào khoa học, kỹ thuật và phân tích dữ liệu quy mô lớn. Các nhà khoa học Trung Quốc hiện đang làm việc trên các ứng dụng mới, Yang Meihong, giám đốc trung tâm tại Tế Nam cho biết. Ví dụ, mở rộng exascale sẽ cho phép cải thiện đáng kể độ phân giải không gian của các mô hình khí quyển toàn cầu, “sẽ rất có ý nghĩa cho hiểu biết sâu hơn về các cơ chế của biến đổi khí hậu,” cô nói.  Hoa Kỳ vẫn thống trị trong số các siêu máy tính thực sự mạnh mẽ được sử dụng cho nghiên cứu, với 21 hệ thống trong top 50, so với 2 hệ thống của Trung Quốc. Nhưng các nhà khoa học không coi trọng xếp hạng. “Thước đo thực sự chính là những kết quả khoa học mới mà chúng tôi có được từ các máy tính này,” Dongarra nói.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/10/three-chinese-teams-join-race-build-world-s-fastest-supercomputer    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc chiếm lĩnh  thị trường công nghiệp sinh thái      Trong 5 năm 2011-2015, Trung Quốc (TQ) sẽ đầu tư 540 tỷ Euro cho ngành công nghiệp năng lượng tái sinh với tham vọng chiếm lĩnh thị trường công nghiệp sinh thái của Mỹ và châu Âu.    Phong cảnh ở phía Bắc thành phố Bao Đầu (Baotou) không có gì hấp dẫn. Đây là một thành phố công nghiệp trần trụi hầu như không có cây xanh, nằm ở vùng Nội Mông cách Bắc Kinh khoảng 650 km về phía Tây Bắc. Càng đi sâu lên phía Bắc phong cảnh càng buồn tẻ, hiu quạnh với nhiều đồi trọc, đường xá đầy bụi và gió rét căm căm. Vùng thảo nguyên mạn Bắc TQ là một khu vực đầy hấp dẫn đối với những nhà sản xuất điện gió. Như nhà máy điện gió Zhangze ở tỉnh Sơn Tây (Shanxi) hiện có 33 turbine với công suất lên tới 50 Megawatt (MW), đủ để cung cấp điện cho khoảng 40.000 hộ gia đình. Nhà quản lý Guo Juyang cho hay “Tới đây công suất sẽ được nâng lên 200 Megawatt.”   Trong tương lai sẽ còn có nhiều tháp điện gió tiếp theo được xây dựng.   Không tiếc tiền cho năng lượng tái tạo  Chính phủ TQ rất tích cực hỗ trợ ngành năng lượng điện gió. Thí dụ nhà sản xuất không phải trả tiền thuê đất và đang có kế hoạch cung cấp điện sạch trên diện rộng trong cả nước. Bắc Kinh muốn từ nay đến năm 2020 đẩy mạnh hơn nữa phát triển năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo: nâng sản lượng điện nguyên tử từ 9 lên 86 Gigawatt (GW), thủy điện từ 196 lên 300 GW, năng lượng gió từ 16 lên 150 GW, điện Mặt trời từ dưới 1 lên 20 GW. Nhà nước TQ chủ trương trong 10 năm tới giảm tỷ trọng của các nhà máy điện chạy than từ 74% xuống còn 61%. Để làm được điều này, trong kế hoạch năm năm tới, có hiệu lực từ năm 2011, chính quyền Bắc Kinh phải đầu tư trên 540 tỷ Euro cho năng lượng tái sinh.   Sự vươn lên mạnh mẽ của năng lượng xanh ở TQ thu hút hàng loạt nhà đầu tư. Riêng trong quý II năm 2010, các ngân hàng quốc tế, hãng bảo hiểm, quỹ hưu trí đã đầu tư 11,5 tỷ USD vào các nhà máy điện sinh thái và các cơ sở sản xuất nhiên liệu sinh học ở TQ. Đây là lần đầu tiên khoản đầu tư này nhiều hơn khoản đầu tư trong cùng một thời gian vào thị trường xanh hàng đầu thế giới là Mỹ và châu Âu.   Sau khi TQ giành vị trí số một thế giới về công nghiệp sản xuất năng lượng Mặt trời, Chính phủ TQ lại muốn đưa ngành công nghiệp gió lên vị trí hàng đầu. Đến nay, các doanh nghiệp điện gió Mỹ và châu Âu vẫn còn dẫn trước một bước. Mặt khác TQ muốn kìm hãm mức độ tàn phá môi trường ghê gớm hiện nay.   Tấn công các “ông lớn”  Nhưng điều tốt lành đối với người dân TQ lại là quả đắng đối với các nhà sản xuất thiết bị điện Mặt trời và điện gió của Đức, họ đang bị đối thủ cạnh tranh TQ dồn tới chân tường. Các hãng chế tạo thiết bị điện gió TQ như Goldwind, Sinovel hay các hãng chuyên sản xuất thiết bị điện Mặt trời như Suntech, Yingli và JA hiện đã đứng trong hàng ngũ các ông lớn. Nhờ nhận được các đơn hàng cỡ tiền tỷ từ thị trường nội địa nên các doanh nghiệp TQ càng có sức cạnh tranh lớn hơn và họ có thể tấn công vào sân nhà của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Ông Steve Sawyer, Tổng thư ký Hội đồng năng lượng gió (Global Wind Energy Council) nói: “Chỉ trong ít năm TQ đã trở thành thị trường lớn nhất về năng lượng gió và đã vượt nước Đức.”   Với mong muốn kiếm được những đơn đặt hàng cỡ lớn, nhiều hãng chế tạo quạt gió cỡ lớn như hãng Vestas của Đan Mạch hay Nordex và Repower của Đức đã tham gia xây dựng các nhà máy ở TQ. Nhưng cuối cùng các doanh nghiệp cung cấp trang thiết bị của TQ chiếm được 80% đơn hàng. Giá sản phẩm của các hãng này rẻ hơn từ 20 đến 30% trong khi chất lượng sản phẩm của nhà chế tạo hàng đầu như Goldwind cũng tương đương tiêu chuẩn châu Âu.   Goldwind là một ví dụ điển hình về chiến lược phát triển của các hãng chế tạo của TQ đối với các loại công nghệ tương lai. Cách đây tám năm hãng đã mua Lizenz của Repower và xây dựng ở Tân Cương (Xinjiang), Tây Bắc TQ, cơ sở sản xuất thiết bị điện gió đầu tiên. Hiện nay Goldwind có tám nhà máy ở TQ và cải thiện công suất quạt gió thông qua bộ phận nghiên cứu phát triển của mình và đã vươn lên trình độ hàng đầu thế giới. Năm ngoái Goldwind bán được trên 2.000 cơ sở, năm nay dự kiến sẽ bán ra 4.450 cơ sở.   Với lợi thế sân nhà, một loạt hãng chế tạo của TQ như Sinovel, Dongfang hay United Power đang chuẩn bị một cách có hệ thống cho những bước tiếp theo để chiếm lĩnh thị trường thế giới. Các chuyên gia của Investmentbank Goldman Sachs đánh giá, “Khoảng cách về chất lượng giữa các turbine của TQ và của nước ngoài đang dần thu hẹp lại.” Theo dự báo thì không lâu nữa TQ sẽ đẩy mạnh xuất khẩu.  Hãng Goldwind phấn đấu chậm nhất trong năm năm tới đưa doanh thu ở thị trường nước ngoài lên 30%, đồng thời thực hiện sản xuất tại nước ngoài. Việc vận chuyển các thiết bị nặng, cồng kềnh bằng đường biển rất tốn kém vì vậy nhà chế tạo TQ chủ trương xây dựng nhà máy của mình ngay trên đất Mỹ và châu Âu. Goldwind đã thực hiện bước đi đầu tiên. Cách đây hai năm, họ đã thôn tính hãng chế tạo Vensys ở Neunkirchen của Đức. Mới đây Goldwind đã xây cất xong nhà xưởng, chuẩn bị sản xuất turbine để tiêu thụ trên thị trường Đức. Các hãng TQ thực hiện chiến lược kép, một mặt thông qua mua bản quyền và liên doanh với các doanh nghiệp điện gió của phương Tây để thu hút chất xám, mặt khác Chính phủ TQ cung cấp tín dụng giá rẻ giúp các doanh nghiệp của họ bành trướng đồng thời chiếm lĩnh thị trường nội địa của mình.         Mô hình bành trướng                            Suntech Power là nhà chế tạo tấm pin Mặt trời lớn nhất của TQ và đứng hàng thứ hai thế giới sau First Solar của Mỹ. Để có thể cung cấp cho thị trường Mỹ và châu Âu những sản phẩm hảo hạng. Nhà sáng lập đồng thời là Chủ tịch HĐQT Shi Zhengrong đặc biệt quan tâm đến việc mua chất xám của nước ngoài. Năm 2006, ông mua đối thủ cạnh tranh MSK của Nhật Bản với giá 200 triệu USD. Bên cạnh đó, Suntech nhanh chóng nâng cao năng lực sản xuất và liên tục cải tiến công nghệ. Tại trụ sở chính ở thành phố Vô Tích (Wuxi), tỉnh Giang Tô, Suntech Power vận hành bốn nhà máy, ông Shi có một trung tâm nghiên cứu và phát triển rất đồ sộ, hằng năm hãng đầu tư 30 triệu USD cho công tác nghiên cứu. Nhờ đó năm ngoái mặt hàng Solarmodule đã đem lại cho Suntech 1,7 tỷ USD. Trên 95% doanh thu của doanh nghiệp thu được từ bên ngoài TQ, trong đó gần 40% tại thị trường Đức.               Suntechs đang bành trướng mạnh mẽ. Hãng đã có văn phòng đại diện ở Đức, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ. Giờ đây Chủ tịch HĐQT Shi đang có ý định khai phá thị trường Đông Âu và khu vực phía Đông Địa Trung Hải. Các hãng chế tạo pin Mặt trời cỡ lớn của TQ như Yingli, Trina Solar hay LDK Solar cũng mở rộng thị trường theo mô hình này.          Xuân Hoài dịch Theo Wiwo (Tuần Kinh tế)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Chương trình thám hiểm Mặt Trăng bước sang giai đoạn hai      Trung Quốc đang chuẩn bị tiến sang giai đoạn hai của chương trình thám hiểm Mặt trăng: đưa vệ tinh “Hằng Nga-3” đổ bộ lên Mặt trăng, trực tiếp đo đạc khảo sát thiên thể này ngay trên bề mặt nó.    Chương trình thám hiểm vũ trụ của Trung Quốc trước hết nhằm tới Mặt trăng và không dùng người, chỉ dùng thiết bị. Chương trình chia làm ba giai đoạn, gọi tắt là: 1- Vòng quanh Mặt trăng; 2- Hạ cánh xuống Mặt trăng; 3- Từ Mặt trăng trở về. Tổng cộng bố trí sáu vệ tinh Hằng Nga (Chang E, viết tắt CE); trong đó CE-1, 3 và 5 sẽ làm nhiệm vụ bay vòng Mặt trăng, hạ cánh xuống Mặt trăng và lấy mẫu đất Mặt trăng rồi trở về Trái đất. CE-2, 4, 6 là các vệ tinh dự bị của CE-1, 3, 5. Chương trình trên dự kiến hoàn thành vào khoảng năm 2020.  Hằng Nga-1 (CE-1) được phóng đi ngày 24-10-2007, bay vòng Mặt trăng ở cự ly 200 km, thực hiện nhiệm vụ chụp ảnh 3D bề mặt Mặt trăng (tổng cộng 589 tấm ảnh lớn, ghép thành ảnh chụp toàn cảnh Mặt trăng đầu tiên của Trung Quốc), phân tích hàm lượng các nguyên tố hữu ích trên bề mặt Mặt trăng và đặc điểm phân bố các loại vật chất, đo độ dầy lớp đất Mặt trăng, quan trắc không gian giữa Trái đất với Mặt trăng. Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ đó, ngày 1-3-2009, theo lệnh từ Trái đất, CE-1 đâm xuống địa điểm quy định trên Mặt trăng, kết thúc sứ mạng.  Hằng Nga-2 (CE-2) phóng ngày 1-10-2010, bay vòng Mặt trăng ở cự ly 100 km, với vận tốc 15 km/sec. Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ quan trắc, chụp ảnh bề mặt Mặt trăng bằng máy ảnh có độ phân giải vật thể 10 m, chụp địa điểm sẽ chuẩn bị hạ cánh Hằng Nga-3, ngày 9-6-2011, theo lệnh từ Trái đất, CE-2 đã rời khỏi quỹ đạo Mặt trăng, bay đến điểm L2 (Lagrangian point, cách Trái đất 1,5 triệu km, là điểm cân bằng lực hút của Trái đất và Mặt trời) rồi bay vòng L2 trong 235 ngày để thực hiện nhiệm vụ quan sát Mặt trời.   Ngày 13-12-2012, CE-2 bay đến điểm cách Trái đất 7 triệu km, đi sát qua tiểu hành tinh Toutatis và chụp ảnh nó ở khoảng cách 3,2 km. Đây là lần đầu tiên chụp được ảnh Toutatis gần như vậy (xem ảnh kèm). Toutatis là tiểu hành tinh lớn nhất (dài 4,46 km, rộng 2,4 km) bay gần Trái đất.   Sau đó CE-2 tiếp tục bay vượt qua cự ly 10 triệu km. Tính đến 10 h18 ngày 28-2-2013, CE-2 đã ở cách Trái đất hơn 20 triệu km. Các thiết bị trên vệ tinh vẫn hoạt động tốt, vệ tinh Hằng Nga-2 đang tiếp tục bay sâu vào khoảng không vũ trụ để thăm dò hệ Mặt trời, chuẩn bị cho nhiệm vụ phóng vệ tinh lên sao Hỏa. CE-2 được thiết kế với tuổi thọ nửa năm, nặng 2480 kg, trong đó có 1300 kg nhiên liệu. Đến nay, CE-2 đã phục vụ vượt thời hạn gần hai năm. Đây là vệ tinh đầu tiên trên thế giới xuất phát từ quỹ đạo Mặt trăng bay sâu vào không gian.  Dựa trên 746 tấm ảnh do Hằng Nga-2 chụp được, đã hoàn thành việc vẽ bản đồ toàn cảnh Mặt trăng với độ phân giải 7 m – một kỷ lục chưa từng có trong lịch sử. Ngày 6-2-2012, Trung Quốc đã công bố bản đồ này, đánh dấu một bước tiến lớn của ngành thăm dò vũ trụ .   Hiện nay Trung Quốc đang chuẩn bị tiến sang giai đoạn hai: đưa vệ tinh “Hằng Nga-3” đổ bộ lên Mặt trăng, trực tiếp đo đạc khảo sát thiên thể này ngay trên bề mặt nó.   Ngày 3-3-2013, Viện sĩ Diệp Bồi Kiến (Ye Pei-jian), Cố vấn Tổng thiết kế sư và Tổng chỉ huy dự án Hằng Nga-2 và Hằng Nga-3, Tổng thiết kế sư kiêm Tổng chỉ huy dự án Hằng Nga-1 tuyên bố: trong nửa cuối năm 2013, Trung Quốc sẽ tiến hành phóng vệ tinh Hằng Nga-3 (CE-3), thực hiện vụ hạ cánh mềm lần đầu tiên một thiết bị thăm dò của Trung Quốc trên một thiên thể bên ngoài Trái đất.   Hằng Nga-3 gồm bộ phận hạ cánh nặng 100 kg và xe tự chạy nặng 120 kg. Xe có 6 bánh, chở được 20 kg thiết bị, chạy bằng máy phát nhiệt điện chất đồng vị phóng xạ. Loại động cơ này cho phép xe có thể làm việc cả vào ban đêm khi nhiệt độ cực thấp làm ac-quy ngưng hoạt động, thiết bị điện tử bị đóng băng. Xe có thể chạy 10 km trong khu vực rộng 5 km2, lấy mẫu đất đưa vào xe phân tích và gửi kết quả về Trái đất.   Đây là một bước đột phá về các công nghệ quan trọng như hạ cánh mềm, thăm dò bề mặt Mặt trăng, khảo sát sự sinh tồn trên Mặt trăng, công nghệ thông tin và điều khiển xa, công nghệ đưa tên lửa vận tải trực tiếp đi vào quỹ đạo quay xung quanh Mặt trăng. Hằng Nga-3 sẽ là tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh mềm trở lại Mặt trăng kể từ sau ngày kết thúc Dự án Apollo của Mỹ.   CE-3 sẽ hạ cánh xuống địa điểm Sinus Iridum (Vịnh Cầu vồng), sau đó xe tự hành sẽ được “thả” ra để chạy trên Mặt trăng. Bộ phận hạ cánh có lắp kính viễn vọng thiên văn cận tử ngoại, camera siêu tử ngoại và radar quan trắc — đều là các sáng tạo đầu tiên trong lịch sử khám phá Mặt trăng. Xe tự hành cũng lắp radar quan trắc. Hai bộ phận này sẽ chụp ảnh, quay phim lẫn nhau. Bộ phận hạ cánh sẽ là đài quan trắc Mặt trăng đầu tiên trong lịch sử. Nó sẽ chụp ảnh quốc kỳ Trung Quốc cắm trên xe tự hành rồi gửi ảnh về Trái đất, dùng làm bằng cớ chứng tỏ Trung Quốc đã lên Mặt trăng. Mô hình thực bộ phận này đã được trưng bày lần đầu tại Triển lãm vũ trụ Chu Hải hôm 13-11-2012.  Hằng Nga-3 có nhiệm vụ lấy được các tư liệu về địa hình, địa mạo và cấu tạo địa chất của địa điểm nó hạ cánh và sẽ lần đầu tiên thực hiện qua đêm trên Mặt trăng. Một ngày đêm của Mặt trăng tương đương với 14 ngày đêm của Trái đất. Ban ngày nhiệt độ cao nhất lên tới 150 độ C, ban đêm nhiệt độ thấp nhất tới -170 độ C, gây khó khăn cho sự sinh tồn của thiết bị – ông Diệp Bồi Kiến nói. Ở đây đột phá quan trọng là hệ thống khống chế nhiệt cần dùng cho sự sinh tồn.  Hằng Nga-3 sẽ làm việc ba tháng; sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nó sẽ ở lại Mặt trăng.   Viện sĩ Diệp Bồi Kiến cho rằng ông lấy làm tiếc về việc Trung Quốc vì các lý do nào đấy chưa tiến hành chương trình thăm dò sao Hỏa. Ngay từ khi thực thi dự án Hằng Nga-1, các nhà khoa học vũ trụ Trung Quốc đã nghĩ đến việc thăm dò sao Hỏa. Hiện nay Trung Quốc đã có khả năng làm việc đó, hơn nữa chu kỳ cửa sổ thời gian phóng tàu lên sao Hỏa là 26 tháng, bây giờ đang là thời kỳ cửa sổ, nếu bỏ qua thì phải chờ hơn hai năm nữa. Diệp Bồi Kiến nói: “Ít nhất hiện nay Trung Quốc đang có điều kiện đưa thiết bị lên thăm dò sao Hỏa tốt hơn điều kiện đưa người lên thăm dò Mặt trăng. Chỉ cần hạ quyết tâm thì khẳng định trong vòng 3-5 năm sẽ có thể thực hiện nhiệm vụ này”. Được biết năm nay Ấn Độ sẽ tiến hành phóng tàu thăm dò sao Hỏa.  Hải Hoành dịch  —    Tài liệu tham khảo:  1) 嫦娥三号预计于下半年发射 将拍摄国旗传回地面  http://news.sciencenet.cn/htmlnews/2013/3/275464.shtm  2) China announces plans for 2013 Moon landing  By David Szondy July 31, 2012  http://www.gizmag.com/change-3/23527/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc có thể giải cứu Châu Âu?      Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – những nước BRIC (1)&#160; – có thể đang cân nhắc mua lại các khoản nợ của những nước Châu Âu đang gặp khó khăn. Nhưng liệu điều này có chấm dứt khủng hoảng ở khu vực này?    Cuối những năm 1980, những nước phát triển đã giúp giải cứu Mỹ Latin và những nền kinh tế mới nổi. Nhưng tình thế giờ đã thay đổi.  Khủng hoảng tín dụng và ngân hàng của Châu Âu ngày một nghiêm trọng, có một số nguồn tin cho rằng Brazil – cũng như Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – có thể đang cân nhắc mua một phần trái phiếu chính phủ từ những nước Châu Âu đang gặp khó khăn.   “Nguồn vốn đang chảy từ những nước kém phát triển hơn vào những nước có thu nhập đầu người cao hơn. Đây là hiện tượng mới mẻ với tất cả chúng ta, nhưng điều này xét ra có lí bởi vì sự chuyển dịch mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu.” Jeffrey Bergstrand, giáo sư tài chính tại trường Kinh doanh Mendoza của ĐH Notre Dame nói.   Nếu xảy ra việc giải cứu Châu Âu bởi những nền kinh tế đang lên thì đây quả là một bước ngoặt kịch tính ngoạn mục, cũng là một động thái khôn ngoan của lãnh đạo các nước đang phát triển.  “Đó là một bước ngoặt trớ trêu. Nhưng những quĩ đầu tư quốc gia của những nước đang lên có thể đầu tư vào Châu Âu – cũng đồng thời là những khách hàng quan trọng của các nền kinh tế mới nổi – để giúp họ không bị chìm xuồng. Nó có thể chặn đứng sự đóng băng của khối Châu Âu, và điều này sẽ giúp chính các nền kinh tế mới nổi khỏi một cơn suy thoái”, Robert Howe, Giám đốc điều hành của Geomatrix, một quĩ đầu cơ có trụ sở tại Hongkong, nhận định.   Khủng hoảng nợ Châu Âu: 5 điều cần biết          “Sự tập hợp sức mạnh các nước BRIC là chưa đủ để giải cứu Châu Âu… Giải pháp cần thiết ở đây vẫn phải là Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB) và Đức nhắm mắt cho qua và đồng ý phát hành trái phiếu euro.”        Nhưng Howe nói rằng trong khi đầu tư từ Brazil, Trung Quốc và những nước khác có thể giúp Châu Âu cầm cự, nó không phải là một giải pháp cơ bản.  “Sự tập hợp sức mạnh các nước BRIC là chưa đủ để giải cứu Châu Âu. Vấn đề này nằm ngoài khả năng của các quĩ đầu tư quốc gia Nga và Trung Quốc. Giải pháp cần thiết ở đây vẫn phải là Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB) và Đức nhắm mắt cho qua và đồng ý phát hành trái phiếu euro”, Howe cho biết.  Việc tạo ra trái phiếu euro, với tư cách là công cụ nợ chung của các nước Châu Âu – giống như euro ngày nay là đồng tiền thống nhất của các nước này – đã được đề cập bởi nhiều nhà kinh tế và chuyên gia tài chính như là một cách khả dĩ giúp chấm dứt khủng hoảng.  Trái phiếu euro, theo nguyên tắc, sẽ có lợi suất thấp hơn trái phiếu cho Hi Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha – ba nước thành viên Châu Âu đang gặp nhiều khó khăn nhất.  Nếu những nước này có thể đảo những khoản nợ có lãi suất cao của họ bằng nguồn trái phiếu có lợi suất thấp hơn, thì tình hình sẽ trở nên bớt căng thẳng hơn. Nhưng những nước có nền kinh tế mạnh như Đức không hào hứng với ý tưởng trả lãi suất cao hơn cho những khoản nợ của họ(2) để trợ cấp cho những nước yếu nhất khu vực Châu Âu.  Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng không thể loại trừ phương án phát hành trái phiếu euro. Trung Quốc và những nước khác có thể gây áp lực lên Châu Âu yêu cầu xử lý tình trạng thâm hụt ngân sách để làm điều kiện cho đầu tư.  Việc giữ cho những khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ có được nguồn tài chính ổn định cần thiết không phải lí do duy nhất để các nước đang phát triển mua phần lớn trái phiếu các nước Châu Âu. Nó cũng mở đường cho các nền kinh tế đang lên đa dạng hóa việc nắm giữ các khoản nợ nước ngoài và dần từ bỏ trái phiếu chính phủ Mỹ vốn có lãi suất thấp hơn. Trung Quốc đã lên tiếng bất bình về việc môi trường kinh tế bất định của Mỹ khiến đồng USD và Trái phiếu Kho bạc Mỹ bị mất giá.  Vào thời điểm tháng 7, Trung Quốc nắm giữ lượng trái phiếu trị giá 1170 tỉ USD. Ba nước BRIC còn lại nắm giữ tổng cộng 356 tỉ. Lợi suất của trái phiếu có thời gian đáo hạn 10 năm chỉ có 2%. Nợ của Euro, trong khi nguy cơ rõ ràng cao hơn, có thể là cú giáng với đồng real, ruble, rupi và nhân dân tệ.   “Việc các nền kinh tế đang lên muốn đa dạng hóa các khoản đầu tư bên ngoài Mỹ không còn là bí mật nữa. Nhưng vấn đề là họ muốn mua thứ gì và họ sẵn lòng trả giá thế nào”, Steven Huber, quản lý của T.Rowe Price Strategic Income Fund ở Baltimore, nhận định.  Nhưng có thật đơn giản thế không? Việc mua các khoản nợ của Hi Lạp và Ý, điều này có thực sự giúp ổn định Châu Âu và đẩy mạnh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong danh mục đầu tư cố định của khối BRIC?  Câu trả lời của Bergstrand là “có”. Ông cho biết rằng điều khiến các thị trường phát triển cần lo lắng nhiều hơn là tổn thất từ những sự đổ vỡ tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự như vụ Lehman, và đó là lí do họ nhận thấy cần phải làm một điều gì đó. Việc bổ sung trái phiếu lợi suất cao có thể mang lại một số lợi ích nhưng nó không phải là một giải pháp mang tính cơ bản.   Bi kịch tiếp theo của Hi Lạp là vỡ nợ?          Việc giữ cho những khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ có được nguồn tài chính ổn định cần thiết không phải lí do duy nhất để các nước đang phát triển mua phần lớn trái phiếu các nước Châu Âu. Nó cũng mở đường cho các nền kinh tế đang lên đa dạng hóa việc nắm giữ các khoản nợ nước ngoài và dần từ bỏ trái phiếu chính phủ Mỹ vốn có lãi suất thấp hơn.        Nhưng Aaron Gurwitz, giám đốc đầu tư của Barclays Wealth ở New York, nói rằng ông không chắc liệu Trung Quốc hoặc các nền kinh tế mới nổi khác có thực sự muốn đánh cược vào việc mua một loại trái phiếu phát hành bởi toàn bộ Châu Âu hay không. Ông nói sẽ an toàn hơn nếu mua nhiều trái phiếu Đức, hơn là trái phiếu từ các nước PIIGS(3).  Gurwitz nói rằng nếu Trung Quốc thực sự chân thành trong việc muốn giúp đỡ Châu Âu, họ có thể làm theo một cách khác.  Họ có thể khiến đồng nhân dân tệ được thả nổi tự do hơn trên thị trường tài chính toàn cầu. Trung Quốc đã bị chỉ trích cố tình giữ đồng nhân dân tệ ở mức thấp khiến hàng Trung Quốc giá rẻ hơn.   “Điều tôi thực sự muốn Trung Quốc làm là dừng việc mua trái phiếu nước ngoài và để đồng tiền của họ tăng giá một chút. Nó sẽ cho phép Châu Âu và Mỹ xuất khẩu nhiều hơn sang Trung Quốc, và sẽ giúp nền kinh tế toàn cầu”, ông nói.   Đòi hỏi này sẽ không dễ được ưng thuận. Khoảng cách giữa các thị trường phát triển và đang phát triển đang ngày càng bị thu hẹp – và những thị trường đang lên đang đàm phán các vấn đề từ một vị thế cao hơn bao giờ hết.  * Một số ý kiến bình luận từ độc giả bài báo:  Douwe van Hoytema, 09/16/2011   Châu Âu cần tìm ra những giải pháp tốt hơn là dựa vào Trung Quốc, và chúng ta sẽ làm được. Lệ thuộc vào Trung Quốc cũng có nghĩa là chúng ta sẽ càng dễ phải chịu những sức ép về chính trị và kinh tế. Hãy cứ nhìn vào chính sách của Trung Quốc ở Trung Đông để rút ra bài học.   Châu Âu cần nghiêm túc tự dọn dẹp và xốc vác những vấn đề của mình. Điều này hoàn toàn khả thi. Châu Âu nợ nần ít hơn Mỹ và tỷ trọng nợ nước ngoài của Châu Âu thấp hơn so với Mỹ, chưa kể chúng ta không có vấn đề về thâm hụt thương mại mang tính cấu trúc cố hữu như Mỹ đang gặp phải.  Carl Johan Nilsson, 09/15/2011 06:32 AM   Có lẽ một giải pháp hiệu quả là chia ra thành 2 loại đồng tiền Euro, một đồng Euro phương Bắc, một đồng Euro phương Nam.  Đức, Vương quốc Anh, Hà Lan, các nước Scandinavi (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch) nên có đồng Euro của riêng họ.  Những nước này không gặp phải những vấn đề kinh tế như các nước phía Nam: Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, …  Hai loại đồng Euro có giá trị khác nhau sẽ giúp hàng hóa xuất khẩu của các nước PIGS rẻ hơn, tính cạnh tranh tăng lên.  Hugo Meier, 09/15/2011 06:03 AM   Điều người Trung Quốc nói chưa chắc đã là thật. Từ nhiều tháng trước họ đã hứa hẹn mua trái phiếu của Bồ Đào Nha và Ireland, nhưng tới nay vẫn chưa làm gì. Tương lai họ cũng sẽ không mua trái phiếu Hy Lạp.   Tất cả đều chỉ là những chương trình mang tính tuyên truyền của Bắc Kinh. Điều họ thực sự muốn là mua lại các công ty công nghệ cao của Châu Âu, hút lấy các bí quyết công nghệ của những công ty này để cóp pi vào các sản phẩm Trung Quốc – điều vẫn thường xuyên xảy ra xưa nay.  nrcpg1, 09/15/2011 03:00 AM   Trung Quốc không nên mua nhiều trái phiếu Châu Âu vào lúc này. Cũng không nên bán nhiều trái phiếu Mỹ vì như vậy sẽ làm giảm giá trị đồng USD, tức là tự làm giảm giá trị dự trữ của Trung Quốc đang giữ dưới dạng trái triếu Mỹ.   Có chăng Trung Quốc sẽ chỉ mua một lượng nhỏ trái phiếu Châu Âu để tăng vị thế đôi ngoại, còn lợi ích kinh tế là không đáng kể. Hẳn người Trung Quốc vẫn nhớ họ đã chịu thiệt thế nào khi mua trái phiếu của Bồ Đào Nha.                                                                                                                Thanh Hiền dịch    (1) BRICS: nhóm các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi. Đây là những nền kinh tế mới nổi với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.  (2) Khi hình thành trái phiếu đồng Euro chung cho cả khu vực thì lãi lợi suất của nó sẽ cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ của Đức hiện nay, do Đức vẫn đang có nền kinh tế và tài chính lành mạnh, được các nhà đầu tư tin tưởng hơn so với các nước Châu Âu khác.  (3) PIIGS: Nhóm các nước Bồ Đào Nha, Ý, Hi Lạp, Tây Ban Nha và Ireland. Đây là những nước có nền kinh tế suy thoái hơn cả trong khu vực Châu Âu từ sau khủng hoảng kinh tế.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc công bố các kế hoạch tiết kiệm năng lượng      Thủ tướng quốc gia này cho rằng không thể tiếp tục hi sinh môi trường để đổi lấy sự phát triển không ổn định.    Phát biểu vào ngày chủ nhật trong cuộc đàm thoại trực tuyến với công dân nước mình Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nói: Trung Quốc đang hướng đến giảm cường độ năng lượng hay tiêu thụ năng lượng trên 1 đơn vị đầu ra kinh tế vào khoảng 16 đến 17% vào cuối năm 2015.    Ông cũng nói rằng, để đạt được mục tiêu này và chuyển đổi từ tập trung phát triển kinh tế theo số lượng sang tập trung cho chất lượng thì kế hoạch ngân sách cho 5 năm tới phải hạ mục tiêu tăng trưởng  kinh tế xuống còn khoảng 7%/năm. Trung Quốc phải dừng đánh đổi môi trường vào việc sử dụng năng lượng lãng phí và sự phát triển không ổn định.     Quyết định này cho thấy tốc độ phát triển nhanh của Trung Quốc hiện nay đang đe dọa những nỗ lực giảm cường độ năng lượng và khí thải gốc cacbon. Tuần trước, một tờ nhật báo Trung quốc đã trích dẫn lời nhận định tình hình của Giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Nghiên cứu Nguồn năng lượng hàm lượng cacbon thấp,  rằng Trung Quốc sẽ thải ra 10 tỉ tấn cacbon điôxít vào năm 2015 tức là tương đương với khối lượng của Mỹ và liên minh Châu Âu cộng lại.                        Nhu cầu sử dụng than đá của Trung Quốc năm 2010 tăng 5.9%  so với năm trước    Theo báo cáo chính thức về tình hình kế hoạch ngân sách 5 năm vừa qua do Cục thống kê nhà nước Trung Quốc phát hành vào ngày 28 tháng 2 thì cường độ năng lượng của quốc gia này giảm xuống 19.1% so với mức năm 2005, gần đạt mục tiêu 20% như đề ra 5 năm trước. Tuy nhiên mức tiêu thụ năng lượng tiếp tục tăng. Theo Cục Thống kê, Trung quốc đã dùng 3.25 tỉ tấn than đá vào năm 2010 tức là tăng 5.9% so với năm trước. Mức tiêu thụ khí gas tự nhiên, năng lượng điện, dầu thô và than đá lần lượt là 18.2%, 13.1%, 12.9% và 5.9%.  Tập trung cải thiện hiệu quả  Nhiều người cho rằng Trung quốc đã cải thiện được cường độ năng lượng bằng cách đóng cửa các xí nghiệp và nhà máy điện hoạt động không hiệu quả trong khi vẫn duy trì mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng mặt.  Tuy nhiên, theo ông  Qi Ye một nhà nghiên cứu về chính sách môi trường tại trường Đại học Tsinghua và giám đốc sáng kiến chính sách về khí hậu tại Bắc kinh thì các biện pháp của Chính phủ cũng đóng góp vào thành công này, ông nói: “Chính phủ trung ương xem xét vấn đề này hết sức nghiêm túc và chính điều này đã tạo áp lực lớn lên các cán bộ sở tại.”   Trung Quốc đầu tư mạnh tay trong việc bảo toàn năng lượng và bảo vệ môi trường. Chính phủ trung ương thành lập ủy ban giám sát các vấn đề liên quan đến bảo toàn năng lượng và thay đổi khí hậu. Ủy ban này cũng có nhiệm vụ giám sát chính sách năng lượng trong chính quyền địa phương và các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng   Nỗi lo không đạt được mục tiêu đề ra đã dẫn đến việc một số tỉnh đã hạn chế sử dụng năng lượng vào nửa cuối năm 2010. Hầu hết sự hạn chế tập trung vào điện cho công nghiệp nhưng có một số nơi hạn chế cả điện cung cấp cho sinh hoạt của nhân dân. Một số nhà máy đã phải mua máy phát chạy bằng động cơ điêden để duy trì hoạt động và chính điều này gây ra tình trạng thiếu hụt dầu điêden.   Ông Qi nói rằng việc hạn chế này sẽ giúp cán bộ sở tại đạt được mục tiêu về cường độ năng lượng nhưng sẽ không phục vụ cho mục đích đẩy mạnh hiệu quả năng lượng trong thời gian lâu dài.  Cải tổ đang đúng hướng  Ông Knut Alfsen trưởng phòng nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu môi trường và khí hậu quốc tế tại Oslo nói rằng mục tiêu mới về cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng là đầy thách thức nhưng rất đúng đắn. Mục tiêu mới nằm trong khoảng 15%-17% mục tiêu đề xuất trong báo cáo năm 2009 của Hội đồng Hợp tác Quốc tế về Môi trường và Phát triển của Trung Quốc, một cơ quan liên kết giữa ban cố vấn quốc tế và trong nước cho Chính phủ.  Ông Alfsen – tác giả của báo cáo này cho biết mục tiêu đề xuất này căn cứ vào các nghiên cứu của an ninh năng lượng, thay đổi công nghiệp, bảo vệ môi trường và thay đổi khí hậu. Chính phủ Trung Quốc đã ủy quyền cho Trung tâm nghiên cứu môi trường và khí hậu quốc tế nghiên cứu cẩn thận từng ngành công nghiệp để tìm cách cải thiện hiệu quả năng lượng.  Liệu Trung Quốc có khả năng đạt được mục tiêu này hay không, điều này phụ thuộc nhiều vào việc liệu Trung quốc có thoát ly khỏi kế hoạch hóa tập trung để tin tưởng hơn vào cơ cấu thị trường, ông Alfsen nói. “Nói chung giá năng lượng (của Trung Quốc) rất thấp và không đều. Xóa bỏ phụ cấp năng lượng cho các ngành công nghiệp có thể giảm cường độ năng lượng một cách đáng kể. Ông Qi đồng ý rằng sự thúc ép mang tính hành chính từ trên xuống dưới có thể không đủ để cải thiện hiệu quả và đẩy mạnh nguồn năng lượng tái tạo. Ông cho rằng việc làm quen với cơ chế thị trường hiệu quả và từ đó thúc đẩy một nền kinh tế tiêu thụ và thải ít cacbon chính là điểm mấu chốt.  Ngân quỹ và chính sách năng lượng của Trung Quốc cho 5 năm tới đang được đại hội Đảng thường niên và đại hội cố vấn chính phủ tính toán thân trọng và được mong đợi sẽ sớm có kết quả.  Trần Lê dịch (Jane Qiu, Nature News)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đang lao đến thảm họa trên chiếc tàu cao tốc      Tàu cao tốc đã trở thành biểu tượng của nạn cắt xén chi phí sản xuất và tham nhũng đang hoành hành tại Trung Quốc.    Mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc tưởng chừng đã trở thành biểu tượng của quốc gia đang vươn lên không ngừng này. Tính từ khi tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên được mở ra vào năm 2007, TQ đã xây dựng thêm gần 7.000 km đường sắt mới. Bên cạnh đó, quốc gia này cũng tỏ ra hoàn toàn sẵn sàng để chuyển giao kỳ tích ấy vào thị trường nước ngoài. Trung Quốc đã hăng hái giành giựt các gói thầu đấu từ tay những công ty nước ngoài có kinh nghiệm hơn TQ rất nhiều. Thế nhưng ngay lúc này đây tại Trung Quốc, gia đình các nạn nhân vừa phải lo ma chay cho 39 người bị tử nạn, vừa phải lo chăm sóc cho 200 người bị thương trong vụ tai nạn tàu cao tốc hôm thứ Bảy vừa qua. Tai nạn lần này có thể được xem là tập phim mới nhất và tồi tệ nhất về sự thất bại của dự án đường sắt cao tốc tại TQ. Một dự án được cho rằng đã chứng tỏ một Trung Quốc sẵn sàng với vai trò lãnh đạo công nghệ tiên tiến, nay đã hoàn toàn sụp đổ trước những cái chết thương tâm, trong sự phẫn nộ của công chúng và sự bối rối của chính quyền.     Sự cố đường sắt cao tốc đã đem lại những bài học đau đớn cho TQ. Đó là bài học về sự tham nhũng, về thói đi ngang về tắt, và đùn đẩy trách nhiệm trong một hệ thống quan liêu thiếu minh bạch nhưng quyền lực tuyệt đối và không ai có thể chạm tới được. Nó còn là bài học về thói quen của dân tộc TQ là “tiêu hóa” công nghệ nước ngoài, nói theo lời của một viên chức trong ngành đường sắt, rồi sau đó thay đổi đi một chút để có thể tuyên bố đó là phát minh Trung Quốc.   Các tuyến đường sắt này thực ra đã bị trục trặc nhiều lần; theo các chuyên gia nước ngoài, các đường ray không đạt tiêu chuẩn và có khả năng bị nứt. Bộ trưởng Bộ đường sắt đã bị sa thải và bị điều tra tham nhũng, còn chi phí cho dự án thì đã tăng gấp ba lần. Các blogger ở TQ tuyên bố rằng chính phủ nước này đang cố gắng bao che vụ việc hơn là thực sự điều tra.   Đây không phải vụ việc duy nhất làm lộ ra những nhược điểm chết người của TQ. Một loạt các vụ tai tiếng khác đã khiến các cổ phiếu của các công ty TQ bị sụt giá và mất hàng triệu đô la Mỹ. Những tiết lộ về việc gian lận kế toán ở Trung Quốc đã làm sụp đổ niềm tin của các nhà đầu tư. Cũng tương tự như vụ đường sắt cao tốc, điều này khiến ta phải đặt ra những câu hỏi: nếu TQ vẫn không gia tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch, thì liệu quốc gia này có thực sự sẵn sàng để đạt được các bước phát triển tiếp theo vốn khó khăn hơn hay chăng? Làm thế nào để một hệ thống hầu như không bao giờ cho phép những lời phân tích khách quan có thể đạt được trách nhiệm giải trình đó?   Những câu hỏi nêu trên cũng quan trọng đối với các đối tác của Trung Quốc như đối với chính phủ của nước này. Tham nhũng đã hủy hoại lòng tin vào các dự án có uy tín của Trung Quốc. Tham nhũng cũng có thể làm chết người: nhiều trẻ em ở Tứ Xuyên đã chết vào năm 2008 khi các trường học bị sụp, các lao động nhập cư ở Thượng Hải đã chết năm ngoái khi tòa nhà chung cư căn hộ của họ bỗng trở thành một hỏa ngục chết người; trẻ sơ sinh chết vì sữa bẩn; tài xế chết vì sập cầu và hàng ngàn người chết mỗi năm vì nước tưới rau bị ô nhiễm.   Tham nhũng là một chủ đề nổi bật trong bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của lễ kỷ niệm lần thứ 90 ngày thành lập Đảng Cộng sản TQ, và cũng đã được trong đề cập đến trong nhiều bài phát biểu của hầu hết mọi nhà lãnh đạoTQ trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, những điều kiện khiến cho nạn tham nhũng hoành hành như vậy vẫn được giữ nguyên, đó là sự độc quyền về quyền lực trong tay của một tổ chức bất khả xâm phạm. Việc trừng trị một số cá nhân, kể cả những người có chức vụ cao, cũng chẳng thể nào thay đổi điều đó.   Sự tăng trưởng kinh tế trong 30 năm vừa qua Trung Quốc quả là ấn tượng, nhưng những nghi ngờ về các số liệu cơ bản khiến người ta không thể nào xác định được mức độ bền vững của sự tăng trưởng này. Sự khoe khoang về tốc độ xây dựng đường sắt nhắc ta nhớ lại thời kỳ Đại nhảy vọt vào cuối những năm 50, khi các quan chức đã đặt ra các mục tiêu vô lý cho việc sản xuất lương thực và báo cáo rằng các chỉ tiêu này đều đã đạt. Khoảng 30 triệu người đã bị chết đói vào thời gian này. Phản ứng của giới lãnh đạo đối với những thảm họa luôn luôn là như thế: họ ngăn chặn những cuộc thảo luận, buộc các nạn nhân phải im lặng, và xem đó như là giải pháp chứ không phải là vấn đề. Tuần trước, khi các nhân chứng địa phương phản đối việc các quan chức đường sắt vội vàng chôn những toa xe bị hỏng nặng, họ tỏ ra phẫn nộ nhưng chẳng mấy bất ngờ. Tờ China Digital Times cho biết Ban Tuyên huấn Trung ương đã chỉ thị cho các phương tiện truyền thông rằng họ “phải nhanh chóng đưa bất cứ thông tin gì do Bộ Đường sắt cung cấp”.   Trừ phi TQ học được điều gì từ những bài học mang tính hệ thống này, sẽ vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại. Quốc gia này đang bắt tay vào việc mở rộng điện hạt nhân lớn nhất và nhanh nhất thế giới. Và thế giới sẽ phải cầu nguyện để bằng cách nào đó ngành công nghiệp này phải được miễn dịch với những thói đi ngang về tắt, thiếu minh bạch và tham nhũng. Bằng không những hậu quả của chúng sẽ khiến chúng ta rùng mình kinh hãi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đang tạo ra cuộc cách mạng mua sắm      520 triệu người tiêu dùng Trung Quốc (TQ) đang sử dụng ứng dụng mua hàng trực tuyến Alibaba-App. Giờ đây tập đoàn này còn muốn xóa nhòa ranh giới giữa thế giới trực tuyến và ngoại tuyến. Liệu điều này có thể trở thành mô hình cho cả thế giới?    Khách hàng muốn trả bằng tiền mặt? Cô thu ngân thuộc chuỗi siêu thị Hema lắc đầu quầy quậy, “dạ không được”. Người khách phải đi lòng vòng tới vài quầy ít ỏi trong siêu thị còn nhận tiền mặt. Có lẽ không có tập đoàn Internet nào ở TQ lại thay đổi cuộc sống của người dân nước này như Alibaba. Với nền tảng như Taobao, một dạng lai tạo giữa Ebay và Amazon, tập đoàn Alibaba đã tạo nên một hệ sinh thái hùng mạnh. Nền tảng cho hệ thống này là Alipay. 520 triệu người tiêu dùng TQ, trên một phần ba số dân, thanh toán bằng ứng dụng này.  Tuy nhiên dường như E-Commerce cũng chưa đủ làm Alibaba hài lòng. Doanh nghiệp này ngày càng quan tâm nhiều hơn đến thương mại truyền thống. Alibaba muốn kết nối thế giới Online với thế giới Offline. Quá trình này đã tiến xa hơn nhiều so với phần lớn các nhà kinh doanh internet ở phương Tây.  Trường thử nghiệm của nhóm  Cách đây vài tuần Alibaba đã khai trương một Trung tâm mua sắm tại một quận thuộc thành phố Hàng Châu, trung tâm này nằm ngay cạnh đại bản doanh của Alibaba. Chính thức thì trung tâm mua sắm này nhằm phục vụ nhân viên Alibaba vào giờ nghỉ trưa và để họ mua sắm khi hết giờ làm việc vào buổi chiều tối. Thực chất trung tâm này là một thử nghiệm của tập đoàn.  Vào một buổi chiều tháng năm một phụ nữ trẻ đứng trước màn hình và để cho camera chụp phần đầu của mình. Khuôn mặt cô hiện trên màn hình, gắn trên một mô hình cơ thể. Giờ cô có thể quyết định chọn loại trang phục nào mà cô thích nhất? Về lý thuyết cô có thể đặt mua online bộ trang phục này. Tất nhiên mua tại Alibaba.  Dù sao cách quảng cáo này cũng hay, nhất là với “tấm gương ma thuật” tuy vậy điều thú vị hơn và mang tính định hướng lại diễn ra ở tầng dưới siêu thị Hema. Alibaba đã khai trương trong hai năm qua 43 chi nhánh ở 13 thành phố. Tại đây khách hàng có thể mua sắm hoàn toàn bình thường nhưng cũng có thể đặt hàng online, nếu khách hàng ở cách xa siêu thị không quá 3 km. Thời gian giao hàng không quá 30 phút, theo cam kết của siêu thị. Alibaba tận dụng các chi nhánh làm nơi bán hàng cũng như làm nhà kho phục vụ kinh doanh trực tuyến.  Tại Hàng Châu trong những ngày này, tại siêu thị có vài chục nhân viên mặc áo mầu xanh nhạt đi lại thoăn thoắt. Trên bắp tay mỗi người đều có một thiết bị như máy quét giống như các nhân viên đóng gói làm việc cho Zalando hay Amazon. Ở khu vực hàng tươi sống, một nữ nhân viên của Hema nhặt trứng và nấm trên giá mát và cho cả hai mặt hàng vào một cái túi mầu xanh. Sau đó để túi trên băng chuyền và từ đây đi lòng vòng qua các bộ phận. Cuối cùng các túi hàng được chuyển tới trung tâm phân phối và tại vị trí này những nhân viên chuyển hàng bằng xe máy sẽ đưa hàng tới tận tay người mua.  Ở Trung quốc việc dùng Smartphone để đặt hàng và trả tiền là chuyện hết sức bình thường. Không chỉ ở siêu thị Hema, không chỉ ở Hàng châu. Khi mua những hàng hóa thông dụng ngày nay hầu như người TQ không còn phải mở ví để lấy tiền. Tất cả đều diễn ra thông qua các ứng dụng trên điện thoại. Ngay cả những người bán hoa quả trên hè phố cũng xử dụng mã QR (QR code) để khách hàng quét bằng smartphone.  Ở TQ QR-Code có ở mọi nơi và và nó được dùng để kết nối với điện thoại thông minh. Tại Tây hồ, một thắng cảnh du lịch nổi tiếng của Hàng châu khách du lịch có thể dùng mã QR để mua đồ lưu niệm tại quầy bán hàng tự động. Thậm chí bằng cách này bạn có thể mượn ô che mưa hay sạc điện di động. Ai không dùng Alipay hay WeChat có thể gặp phiền toái tựa như khách nước ngoài không có tài khoản ngân hàng nội địa vậy.    Trả tiền qua QR-Code tại một quầy bán rau quả ven đường  Thanh toán bằng Apps ở TQ được hưởng ứng do ba nguyên nhân:    Thứ nhất ở TQ  thẻ tín dụng hầu như không phổ biến.  Thứ hai vì Alibaba và WeChat của tập đoàn mẹ Tencent hầu như không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường TQ.  Thứ ba đại đa số người TQ hầu như không nghi ngờ gì đối với công nghệ mới này.    Khó có thể tưởng tượng những tập đoàn như Alibaba có thể thao túng khối dữ liệu khổng lồ này. Tuy nhiên phần lớn dân TQ lại không bận tâm về chuyện này, hầu như không mấy người quan tâm đến bảo vệ dữ liệu hay sự riêng tư của mình. Ngay cả trên đường phố đâu đâu cũng có camera, phần lớn người TQ coi đây là một biện pháp để bảo vệ họ chống lại bọn tội phạm chứ không mấy ai lo ngại đây là một hệ thống kiểm soát, theo dõi hoàn hảo với mọi người.  Hoài Trang dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wirtschaft/soziales/china-wie-der-onlinekonzern-alibaba-das-einkaufen-revolutioniert-a-1210942.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đầu tư cho năng lượng xanh nhiều nhất thế giới      Trung Quốc đã vươn lên trở thành quốc gia đầu tư lớn nhất thế giới cho công nghệ tái tạo năng lượng trong bối cảnh nước này phải đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại nhiều địa phương.    Theo báo cáo mới đây của tạp chí Global Trends, đầu tư toàn cầu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo năm 2010 đã tăng 32%, đạt mức kỷ lục 211 tỷ đôla Mỹ. Trong đó, Trung Quốc vươn lên trở thành quốc gia đầu tư lớn nhất thế giới trong công nghệ tái tạo năng lượng.  Tuy nhiên, nước này vẫn phải đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại nhiều địa phương mặc dù chính quyền đã rất nỗ lực trong việc hạn chế xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than trong suốt 5 năm qua.  Theo ông Zhang Lijun – thứ trưởng Bộ Bảo vệ môi trường, lượng tiêu thụ than tại Trung Quốc đã tăng một triệu tấn từ năm 2006 đến 2010. “Và có thế sẽ tăng một tỷ tấn nữa trong 5 năm tiếp theo”, ông nói thêm.   Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang chi hàng chục tỷ đôla vào cái gọi là “dự án công nghệ sạch”, hay còn gọi là năng lượng xanh. “Đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn xu hướng quan tâm và đầu tư vào năng lượng sạch tại châu Á”, ông Vivek Tandon đến từ tập đoàn Aloe Private Equity nói, “Và một trong những lý do chính là nhu cầu an ninh năng lượng, đặc biệt là tại Trung Quốc”.  Ngành công nghiệp của Trung Quốc hiện phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng than đá của nước này. Với mức độ sản xuất hiện tại thì lượng than dự trữ có thể phục vụ cho nền công nghiệp nước này khoảng 40 năm nữa, tuy nhiên đa phần lại tập trung chủ yếu ở phía bắc và tây bắc Trung Quốc. Điều này đã khiến cho việc cung cấp điện tại các khu vực đông dân cư ven biển trở nên nan giải.          Năng lượng xanh là những loại năng lượng thu được từ thiên nhiên, và đặc biệt là không gây ô nhiễm thiệt hại cho môi trường sinh thái. Năng lượng xanh bao gồm năng lượng điện nhiệt, năng lượng gió, thủy điện quy mô nhỏ, năng lượng sinh học và năng lượng thu được từ nhiệt mặt trời và sức mạnh thủy triều, thậm chí thu được từ việc đốt rác thải. Năng lượng xanh thuộc về loại năng lượng sạch, bền vững và có thể tái tạo được…        Ngày nay, tốc độ tăng dân số đã vượt quá khả năng khai thác than, và tình trạng này càng xấu hơn khi Chính phủ Trung Quốc gia tăng việc đóng cửa các mỏ than đã quá lâu đời và cũ kỹ. Thêm vào đó là nạn ô nhiễm môi trường và sự suy giảm hệ sinh thái đã khiến dư luận quan tâm nhiều hơn đến việc đầu tư và phát triển năng lượng tái sinh.  “Nếu một ngành công nghiệp mới như công nghiệp năng lượng sạch được tạo ra đồng nghĩa với việc tạo thêm rất nhiều công ăn việc làm cho người lao động”, ông Tandon nói.  Bên cạnh sự đầu tư từ quốc gia, ngành công nghệ xanh cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm từ phía nước ngoài. Tuy nhiên, một số nhà đầu tư nhận thức được sự bấp bênh và sự trì trệ của quá trình phục hồi nền kinh tế toàn cầu. Một ngành công nghiệp tiềm năng như năng lượng sạch cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những bấp bênh này.  Tại nhiều nước châu Á, Chính phủ cũng đã thể hiện sự quan tâm bằng cách đưa ra các chính sách trợ cấp đối với nhiều lĩnh vực của công nghệ xanh. “Trung Quốc có lẽ là ví dụ rõ ràng nhất. Họ có những chương trình ưu đãi rất lớn ở nhiều cấp độ khác nhau nhằm phát triển ngành công nghiệp năng lượng sạch ngày càng lớn mạnh”, bà Johanna Klein đến từ Ngân hàng Phát triển Châu Á nói. Ấn Độ cũng cố gắng phát triển các ngành công nghiệp sạch, nhưng Trung Quốc có những chính sách hỗ trợ trực tiếp và mạnh tay hơn.   “Châu Á đã mất một thời gian dài trước khi nhận thức được tầm quan trọng cũng như có những động thái kịp thời nhằm hỗ trợ và phát triển ngành công nghiệp xanh, nhưng nó đã thực hiện một bước tiến nhảy vọt giống như năng lượng nguyên tử tại các nước phương Tây, điển hình là Mỹ”, bà nói, “châu Á có thể cho cả thế giới thấy họ không chỉ có tầm nhìn mà còn có khả năng biến chúng thành hiện thực”.        Theo báo cáo của Chương trình môi trường Liên hợp quốc UNEP cho biết: Trung Quốc đã đầu tư 48,9 tỷ USD cho năng lượng tái tạo, tăng 28% so với năm trước, và trở thành nước đầu tư cho sự phát triển “xanh” lớn nhất trong năm 2010. Đầu tư cho năng lượng tái tạo ở khu vực Nam và Trung Mỹ tăng 39%, đạt 13,1 tỷ USD; của khu vực Trung Đông và châu Phi tăng 104%, đạt 5 tỷ USD; đầu tư của Ấn Độ tăng 25%, đạt 3,8 tỷ USD; đầu tư của các nước đang phát triển khác ở châu Á tăng 31%, đạt 4 tỷ USD. (nguồn: TTXVN/Vietnam+).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đẩy mạnh dùng xe buýt điện      Trung Quốc khẩn trương đẩy mạnh điện khí hoá toàn bộ xe buýt trong hệ thống giao thông công cộng. Qua đó cải thiện chất lượng không khí ở các thành phố và giảm nhu cầu về nhiên liệu.    Tuyến đường xe buýt số 1 ở thủ đô Bắc Kinh hoạt động từ năm 1950, gần như cùng tuổi với nước CHND Trung hoa. Xe buýt hoạt động trên tuyến số 1 này có hình dáng khác hẳn các xe buýt thông thường: sơn mầu đỏ-trắng, phía trước và phía sau xe thu hẹp lại trông như hình cá heo. Một con cá heo có bánh xe và hầu như không phát ra tiếng động. Vì xe buýt trên tuyến số 1 không dùng nhiên liệu diesel hay khí đốt mà dùng điện lấy từ pin Lithium-Titan. Khi hoạt động, xe chỉ phát ra tiếng động nhẹ.  Chiếc xe buýt chạy điện đầu tiên trên tuyến số 1 bắt đầu từ mùa thu 2017. Đến năm 2020, dự kiến sẽ có 10.000 xe buýt điện được đưa vào hoạt động, chiếm một phần ba trong tổng số xe buýt ở thành phố với 20 triệu dân này. Rất có thể điều này sẽ diễn ra sớm hơn. Hiện tại đã có trên 4000 xe buýt điện và xe Hybrid (sử dụng cả hai nguyên liệu) đang hoạt động.  Trung Quốc (TQ) buộc phải đưa xe buýt điện vào hoạt động, TQ cũng sẽ đi đầu trên thị trường tương lai đầy tiềm năng này. Bởi vì người dân Bắc Kinh không thể chịu đựng nổi bầu không khí ô nhiễm nặng nề và chính phủ TQ cũng muốn chấm dứt tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề này. Điện khí hoá mạng lưới xe buýt công cộng là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này. Cho đến nay bình quân một xe buýt tiêu thụ một lượng nhiên liệu gấp 30 lần so với ô tô con.  Theo số liệu của Bloomberg New Energy Finance (BNEF) thì cả thế giới hiện có 385.000 xe buýt điện, và trên 99% ở TQ. Gần một phần năm xe buýt ở TQ hiện nay không dùng động cơ đốt trong, và xu hướng này sẽ tiếp tục tăng mạnh.  TQ đang dẫn đầu thế giới về sự phát triển này trong khi các thành phố lớn ở phương Tây mới đang rục rịch bắt đầu. Trong khi TQ đang thúc đẩy mạnh mẽ xe buýt điện thì cuộc cách mạng điện khí hoá cho xe buýt ở châu Âu lại diễn ra khá ì ạch. London cũng có ý định điện khí hoá xe buýt nhưng lại dự kiến mãi tới năm 2030. Hiện tại mới có bốn tuyến xe buýt dùng điện. New York thậm chí dự kiến mãi đến năm 2040 mới thực hiện giao thông xe buýt không có khí thải.  Đối với nước Đức tình hình còn tồi tệ hơn. Năm 2017 trong số 78.345 xe buýt được phép lưu hành chỉ có 458 chiếc chạy điện hoàn toàn hoặc từng phần. Theo Hiệp hội doanh nghiệp giao thông Đức (VDV) thì xe bus điện có nhiều điều bất lợi: Giá một xe buýt điện (E-bus) là 750.000 Euro, đắt hơn gấp đôi xe cùng loại chạy bằng diesel với động cơ mới nhất – khoảng  350.000 Euro. Chi phí bảo trì cũng cao hơn, vì các trạm bảo hành phải cải tạo để bảo hành E-bus. So với buýt chạy bằng động cơ đốt trong, xe buýt điện có khả năng chạy xa thấp hơn nhiều, trong khi đó lại hay bị hỏng hóc.   Các nhà chế tạo ô tô Đức cũng không mấy nhiệt tình với E-bus. Tại Châu Âu cho đến nay chỉ có duy nhất hãng Volvo quan tâm đến động cơ xe buýt bằng điện bên cạnh công nghệ diesel. Daimler, đứng đầu thị trường xe cũng mãi đến tháng ba vừa rồi mới giới thiệu mẫu xe buýt điện đầu tiên. Ở một số thành phố như Stuttgart: hiện chỉ có vài chục xe buýt Hybrid đang hoạt động. Loại E-bus đơn thuần hoàn toàn không có mặt ở thành phố nổi tiếng về ô nhiễm không khí này của nước Đức.  Gustav Tuschen, giám đốc phát triển của hãng Daimler nói “Vì những lý do chiến lược chúng tôi không muốn xuất hiện sớm trên thị trường bởi lẽ chúng tôi tin rằng, trước hết cần phải đạt được hiệu suất và tầm hoạt động nhất định”.   Trong khi đó người TQ đã tiến nhanh hơn hẳn. Thẩm Quyến, thành phố công nghệ cao ở miền Nam TQ cách đây nửa năm đã hoàn thành điện khí hoá mạng lưới xe buýt ở thành phố này: toàn bộ 16.359 xe buýt đã dùng động cơ điện và mỗi ngày chạy được tổng cộng 2,85 triệu km.  Hãng chế tạo ô tô BYD phát đều đặn thông cáo báo chí về số lượng E-Bus mà hãng này bán ra ở mọi nơi trên thế giới. Tháng 12 bán 23 mẫu xe ở các thành phố Novara và Turin (Italia), tháng giêng BYD chuyển hai chiếc E-Bus sang Na uy.  Cách đây 7 năm BYD đã giới thiệu tại một hội nghị ngành ở Bỉ một chiếc  E-Bus. Khi đó nhiều nhà phê bình coi đây là một trò đùa. “Mọi người cười nhạo chúng tôi, họ cho rằng chúng tôi làm xe đồ chơi trẻ em”, bà Isbrand Ho, giám đốc châu Âu của BYD kể hôm tháng tư vừa rồi với tờ Bloomberg New Energy Finance. Ngày nay hầu như tất cả các hãng chế tạo đều có loại E-Bus tương tự.  So với các đồng nghiệp ở châu Âu, các doanh nghiệp ô tô ở TQ có thể thực hiện sự thay đổi dễ dàng hơn nhiều. Bởi vì họ nhận được sự trợ giá rất lớn từ phía chính phủ. Thí dụ chính phủ trang trải hơn một nửa chi phí phát sinh trong quá trình cải tạo mạng xe E-Bus ở Thẩm quyến.  Cuộc tổng tấn công của TQ còn có thuận lợi nhờ một hiệu ứng tích cực khác. Do chắc chắn có thị trường tiêu thụ nên nhà sản xuất yên tâm sản xuất hàng loạt. Theo một phân tích của Bloomberg New Energy Finance, hiện tại ở một số thành phố lớn của TQ, chi phí cho trên một km chạy xe E-Bus thấp hơn so với buýt chạy bằng năng lượng hóa thạch.  Người TQ đã đồng thời khẳng định sức mạnh thị trường của họ. Năm 2017 TQ đã tiêu thụ được 90.000 xe E-Bus, hầu hết do TQ sản xuất. Đứng đầu bảng là thương hiệu Yutong (25.000 xe), BYD (13.000 xe) và  Zhongtong (8000 xe). Hai nhà sản xuất lớn nhất không phải của TQ là Volvo và Proterra, chỉ xuất xưởng được vài trăm E-Bus.  TQ sẽ đẩy mạnh mở rộng mạng lưới E-Bus của mình. Nay mai ở Bắc kinh sẽ xuất hiện xe bus hai tằng chạy hoàn toàn bằng động cơ điện. Công suất 139,2 Kilowatt/giờ và thời gian nạp điện là 20 phút. Theo quảng cáo, loại xe E-Bus này: “vừa duyên vừa bền”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: http://www.spiegel.de/wirtschaft/soziales/elektrobusse-china-startet-ins-zeitalter-der-leisen-riesen-a-1211689.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đẩy mạnh sàng lọc dị tật phôi thai      Nhiều cơ sở y tế tại Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động chẩn đoán trước khi nuôi cấy phôi thai nhằm loại trừ nguy cơ mắc một số bệnh. Tại Bệnh viện Đại học Bắc Kinh 3, các chuyên gia đang phổ biến kỹ thuật sàng lọc PGD (Preimplantation Genetic Diagnosis – chẩn đoán di truyền trước khi nuôi cấy phôi), được kỳ vọng sẽ giúp những cặp vợ chồng sử dụng biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization) tránh nguy cơ đứa trẻ sinh ra bị dị tật hay mắc những bệnh gây ra bởi đột biến gene.      Các cơ sở y tế tại Trung Quốc đang đi tiên phong trong việc áp dụng các kỹ thuật xét nghiệm trước khi phôi thai được nuôi cấy. Nguồn ảnh: Nature.  Những thử nghiệm ban đầu cho thấy, một số công nghệ giúp can thiệp sâu vào gene như CRISPR (Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeats – kỹ thuật chỉnh sửa gene, sử dụng vùng trình tự lặp), một ngày nào đó có khả năng sẽ giúp thanh toán hoàn toàn những bệnh di truyền trước khi phôi thai được nuôi cấy. Mặc dù còn cần một thời gian dài để những kỹ thuật như vậy được tiếp tục hoàn thiện cũng như được chính quyền phê duyệt, PGD hiện đã giúp được hàng ngàn cặp vợ chồng ở Trung Quốc. Trên thế giới, trong lúc phương pháp này phổ biến tương đối chậm, thì tại quốc gia đông dân nhất hành tinh, nó lại thực sự bùng nổ.  Trung Quốc không phải là nơi đầu tiên áp dụng và phổ biến những kỹ thuật này, tuy nhiên họ đang theo đuổi chúng một cách mạnh mẽ, toàn diện và có hệ thống hơn hẳn bất cứ nơi nào khác. Trong một tầm nhìn dài hạn, chính quyền Bắc Kinh đã ban hành những chính sách nhằm tăng cường nỗ lực chăm sóc sức khỏe với chất lượng tốt hơn cho người dân. Trong kế hoạch năm năm gần đây nhất, Trung Quốc tham vọng xây dựng một hệ thống y tế hỗ trợ sinh sản toàn diện, bao gồm cả việc ưu tiên áp dụng những phương pháp như PGD. Những nhà khoa học Trung Quốc đang săn lùng các loại đột biến gene gây dị tật trong dân số và sàng lọc chúng bằng PGD. Những nhóm nghiên cứu, bao gồm cả giai đoạn lâm sàng, nhận được hậu thuẫn hết sức mạnh mẽ để thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật, nâng cao nhận thức, hiểu biết trong lĩnh vực này và tìm cách giảm thiểu chi phí.  Mặc dù chưa có số liệu tổng hợp chính xác, nhưng theo ước tính của những đơn vị cung cấp PGD hàng đầu, tỷ lệ áp dụng kỹ thuật này ở Trung Quốc hiện đã vượt qua Hoa Kỳ và đang tăng nhanh gấp năm lần.  Xung đột đạo đức và văn hóa  Các nhà đạo đức sinh học lo ngại rằng loại bỏ hoàn toàn những căn bệnh di truyền trước khi một con người ra đời sẽ làm giảm giá trị và ý nghĩa cuộc sống. Bên cạnh đó, chi phí cao và khả năng tiếp cận PGD cũng là một vấn đề, có thể kéo giãn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Ngoài ra, đó còn là nguy cơ ở tầm chính sách, khi chính quyền có khả năng sẽ hậu thuẫn cho việc chọn lựa những đặc tính ở người mà không hề liên quan tới bệnh tật, như trí thông minh hay năng khiếu thể thao.  Tuy nhiên, đối với người Trung Quốc, các gia đình thường cảm thấy có nghĩa vụ và áp lực phải cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh, ưu tú. Bởi vậy họ tỏ ra thèm khát những công nghệ di truyền, nhằm đảm bảo con sinh ra được hoàn toàn khỏe mạnh. Chẳng hạn, phương pháp xét nghiệm hội chứng Down và những bất thường trong nhiễm sắc thể ở giai đoạn thai kỳ đang ngày càng trở nên phổ biến. Năm 2013, sau khi ra mắt bộ công cụ xét nghiệm hội chứng Down, một công ty thiết bị y tế tại Thẩm Quyến đã nhanh chóng bán được 2 triệu bộ. Những xét nghiệm tương tự, ở các nước như Anh – Mỹ, từ lâu đã trở thành thông lệ, tuy nhiên người dân tại đây chưa chắc đã chấp nhận bỏ thai nhi chỉ vì nghi bị Down.  Nhiều người dân ở các nước phương Tây vẫn còn lo sợ về nguy cơ sử dụng những phương pháp như PGD để tạo nên các thế hệ người ưu việt, như thuyết ưu sinh (eugenism), gợi những ký ức đau buồn về thời Đức Quốc xã qua chính sách thanh lọc chủng tộc1. Tuy nhiên, từ ưu sinh (yousheng) trong tiếng Trung Quốc lại đang được sử dụng một cách rộng rãi và với nghĩa tích cực tại hầu hết các cuộc thảo luận về PGD. Với người Trung Quốc, ưu sinh hàm nghĩa sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh và ưu tú. Việc hạn chế hút thuốc hay tránh tiếp xúc với khói thuốc trong giai đoạn thai kỳ cũng là một phần trong những mối lưu tâm nhằm đạt được mong mỏi đó.  Một số ý kiến ủng hộ cho rằng, chính sách này mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Chẳng hạn, một nghiên cứu đã so sánh giữa chi phí trung bình của một ca áp dụng PGD để phòng tránh bệnh xơ nang – khoảng 57.500 USD, nhỏ hơn nhiều so với tổng chi phí phát sinh trong suốt cuộc đời của một bệnh nhân – lên tới 2,3 triệu USD. Nhưng điều này mắc phải những rào cản ở phương Tây, khi các hội đoàn, đặc biệt giáo hội Công giáo luôn phản đối việc nuôi cấy, thụ tinh nhân tạo hay phá thai.  Thế Hải lược dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/china-s-embrace-of-embryo-selection-raises-thorny-questions-1.22468  ———  1 Eugenism: thuyết ưu sinh, phong trào sinh học xã hội ủng hộ việc sử dụng các phương thức nhằm cải thiện cấu tạo gene của dân số, đặc biệt được ủng hộ mạnh mẽ dưới thời Đức Quốc xã.  Bối cảnh Trung Quốc đang có lợi cho sự phát triển và phổ biến các phương pháp như PGD, với những lý do như sau: * Những dị tật hay bệnh di truyền ở Trung Quốc thường có xu hướng bị kỳ thị và chính quyền thường ít quan tâm, hỗ trợ cho những người kém may mắn. * Việc phản đối những phương pháp như PGD đứng trên lập trường đạo đức hay tôn giáo hầu như là rất hiếm tại Trung Quốc. * Trung Quốc cũng đang dỡ bỏ nhiều quy định hạn chế dân số như cho phép các cặp vợ chồng được sinh nhiều hơn một con. * Những tiến bộ mới trong y học mang tới hy vọng cho những cặp vợ chồng lớn tuổi, vô sinh hay hiếm muộn. * Các phương pháp chẩn đoán dị tật di truyền với sản phụ ở nhiều độ tuổi đang ngày càng trở nên phổ biến ở Trung Quốc.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đưa dự báo mới về tăng trưởng kinh tế      Trong báo cáo đánh giá về triển vọng kinh tế Trung Quốc năm 2014 vừa  công bố ngày 9/2, Ban Kinh tế học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc  dự báo tăng trưởng GDP của nước này có thể đạt 7,5% trong năm nay, song  đã hạ mức dự báo tăng trưởng đầu tư từ 20,1% trong dự báo hồi tháng  12/2013 xuống còn 19%, thấp hơn cả mức của năm 2013.    Viện trên còn dự báo mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc trong năm 2014 là 3%, tốc độ tăng tiêu dùng danh nghĩa là 13,3%, xuất khẩu ròng tăng 8,5%, lãi suất tiền gửi bằng đồng Nhân dân tệ kỳ hạn một năm duy trì ở mức 3%, tỷ giá hối đoái cuối năm là 5,95 Nhân dân tệ đổi 1 USD, tăng 2,5%.     So với dự báo đưa ra trong “Sách Xanh kinh tế” cuối năm ngoái, số liệu dự báo về CPI đã được điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm, nhịp độ tăng đầu tư danh nghĩa giảm 1,1 điểm phần trăm, mức tăng tiêu dùng đạt 0,2 điểm phần trăm và mức tăng xuất khẩu ròng giảm 0,6 điểm phần trăm.     Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế kỹ thuật và kinh tế số lượng, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Lý Tuyết Tùng cho rằng từ quý 4/2013 đến nay, tăng trưởng đầu tư của Trung Quốc đối mặt với áp lực đi xuống.     Năm 2014, nếu các hạng mục lớn không được tiếp tục thì áp lực này sẽ kéo dài. Trung Quốc nhiều khả năng năm 2014 sẽ duy trì được xu hướng tăng nhẹ của đầu tư trong ngành chế tạo, đồng thời duy trì sự tăng trưởng ổn định về đầu tư phát triển nhà đất.     Trong khi đó, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Trung Quốc Lý Dương nhận định kinh tế Trung Quốc hiện đối mặt với năm nguy cơ là kinh tế giảm tốc, giá nhà biến động, công suất dư thừa, tài chính xáo trộn (như vay khó và lãi suất cao), và nợ địa phương tăng cao.     Chuyên gia này nhấn mạnh biện pháp cơ bản giải quyết vấn đề trên vẫn là dựa vào cải cách, đồng thời khẳng định cuộc khủng hoảng tài chính thế giới chưa kết thúc, chỉ là phát triển sang giai đoạn mới và biện pháp cơ bản giúp các nước trên thế giới thoát khỏi khủng hoảng đều là cải cách.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/trung-quoc-dua-du-bao-moi-ve-tang-truong-kinh-te/243226.vnp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đưa hai phi hành gia lên không gian trong hành trình dài ngày      Tàu Thần Châu 11 vừa được phóng sáng nay, đưa hai phi hành gia vào vũ trụ trong hành trình 33 ngày,, nhằm chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của kế hoạch xây trạm không gian của Trung Quốc.      Hai nhà du hành Hải Cảnh Bằng và Trần Đông trước giờ phóng tàu Thần Châu 11 sáng 17/10.  Khoảng 7 giờ 30 phút giờ địa phương sáng 17/10, tàu Thần Châu 11 được phóng từ Trung tâm phóng vệ tinh Tửu Tuyền, phía tây tỉnh Cam Túc, đưa phi hành gia Hải Cảnh Bằng, người ba lần bay vào vũ trụ, và phi hành gia Trần Đông vào không gian. Nhiệm vụ của họ là kiểm tra thiết bị và thử thách bản thân để đảm bảo rằng Trung Quốc sẵn sàng cho sứ mệnh ở ngoài Trái đất trong thời gian dài. Hơn 100 loại thực phẩm dành cho các phi hành gia cùng nhiều công nghệ từ xe đạp tập thể dục đến các liên kết băng thông rộng sẽ được sử dụng trong chuyến đi lần này.  Phát biểu tại cuộc họp báo sau đó, tướng Trương Hựu Hiệp tuyên bố, chuyến phóng tàu “thành công hoàn hảo”. Cơ quan vũ trụ của nước này cũng nói rằng các thiết bị vận hành chuẩn xác và sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của chuyến đi.  Nền kinh tế lớn thứ hai thế  giới này đã chi hàng tỉ đô la trong thập kỉ vừa qua để cạnh tranh trong cuộc chạy đua vào không gian với Hoa Kỳ và Nga, cũng như những đối thủ khác ở châu Á là Ấn Độ và Nhật Bản, với những kế hoạch đầy tham vọng là đưa phi hành gia lên Mặt trăng muộn nhất là vào năm 2025 và đưa thiết bị không người lái lên sao Hỏa.  Chủ tịch Tập Cận Bình, trong thư chúc mừng được đọc tại buổi họp báo, gọi chuyến phóng tàu là một mốc quan trọng trong sứ mệnh đưa thiết bị có người lái lên vũ trụ. Trung Quốc “vẫn còn cả chặng đường dài phía trước” để hoàn thành mục tiêu khám phá bí ẩn không gian và biến nước này trở thành cường quốc về khám phá vũ trụ, thư viết.  Hai phi hành gia trên tàu Thần Châu dự kiến sẽ sống 33 ngày trên vũ trụ, trong đó có 30 ngày làm việc tại phòng thí nghiệm Thiên Cung 2, một phiên bản đơn giản hơn của trạm không gian, được phóng lên hồi tháng trước. Phó giám đốc Cơ quan Không gian Có người lái Trung Quốc, ông Wu Gang, nói rằng nhiệm vụ mới nhất này sẽ mang lại những kinh nghiệm rất quan trọng cho bước phát triển tiếp theo của kế hoạch trạm không gian của nước này.  Nếu Trung Quốc đạt được mục tiêu của mình thì trạm không gian này là trạm thứ hai, sau Trạm vũ trụ Quốc tế (ISS), một dự án đa quốc gia được phóng vào năm 1998 và dự kiến kết thúc vào năm 2024. Ngoài ra, còn có một trạm không gian khác, Trạm vũ trụ Hòa Bình (Mir)  do Nga vận hành, bay quanh quỹ đạo Trái đất từ năm 1986 và đã kết thúc sứ mạng vào năm 2001.  Trung Quốc bắt đầu việc phát triển các thiết bị ghép nối tàu vũ trụ vào giữa những năm 1990, hoàn thành việc ghép nối thành công đầu tiên vào năm 2011, và nhà du hành đầu tiên của nước này bay vào không gian vào năm 2003. Những nỗ lực về khoa học không gian của Trung Quốc đã phát triển nhanh hơn từ thời điểm đó, cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.  Tại cuộc hội thảo kỉ niệm 60 năm chương trình vũ trụ của Trung Quốc mới đây, Phó Thủ tướng Trung Quốc Mã Khải nói rằng nước này cần thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ không gian để giúp hiện đại hóa quốc phòng cũng như phát triển kinh tế – xã hội.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Theo Bloomberg    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Trung Quốc: Già cỗi trước khi giàu có      Chính sách một con ở Trung Quốc đang làm rối loạn sự cân bằng giữa các thế hệ, biến nước này trở thành già cỗi trước khi trở nên giàu có.  &#160;    “Trước năm 1997, chính quyền thường kéo đổ nhà để phạt chúng tôi đã vi phạm chính sách một con… Sau năm 2000, họ bắt đầu giữ con của chúng tôi.” Yuan Chaoren, một người dân hạt Long Hồi, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, mô tả về cách hành xử của giới chức kế hoạch hóa gia đình trên tuần tạp chí Kinh tế và Tài chính Trung Quốc (Caixin) như vậy. Theo Caixin, chính quyền địa phương sẽ bắt giữ “những trẻ em ra đời ngoài kế hoạch” và đưa chúng đến các trại trẻ mồ côi để bán làm còn nuôi cho người nước ngoài với giá từ 3.000 đến 5.000 USD/em.   Tước đoạt trẻ em khỏi bố mẹ chúng không phải là một phần của chính sách một con, nhưng là hệ quả tiêu cực của những quy định hà khắc. Chính sách một con đã gây tổn thương nghiêm trọng đến các gia đình và làm rối loạn sự cân bằng giữa các thế hệ. Tỉnh Quảng Đông, với số dân trên 100 triệu người, lần đầu tiên đã lên tiếng đòi bãi bỏ chính sách này.   Giới chức Trung Quốc nhiệt thành ủng hộ chính sách một con, coi đó là nguyên nhân giúp giảm thành công tỷ lệ tăng trưởng dân số: [đất nước] lẽ ra có thêm 400 triệu dân, họ khẳng định, nếu không có chính sách này. Nhưng thực tế, tỷ lệ sinh của Trung Quốc liên tục giảm qua nhiều thập kỷ trước khi chính sách một con có hiệu lực từ năm 1979. Chính sách chỉ góp phần làm giảm tỷ lệ sinh nở xuống mức thấp hơn nữa. Kết quả là Trung Quốc có “tỷ lệ phụ thuộc” thấp nhất thế giới, với khoảng ba người lớn chịu trách nhiệm về kinh tế cho một đứa trẻ hoặc một người già phụ thuộc. Điều này khiến “lợi tức nhân khẩu học” của Trung Quốc cao hơn các nước láng giềng (do tỷ lệ giữa người làm việc và người phụ thuộc cao).   Tuy nhiên, từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ dân số dưới 14 tuổi, những người sẽ nuôi dưỡng cha mẹ sau này, đã giảm từ 23% xuống còn 17%. Mặc dù hiện ở Trung Quốc cứ khoảng tám người trong độ tuổi làm việc thì mới có một người ngoài 65 tuổi; nhưng đến năm 2050, con số này sẽ là 2,2 người trong độ tuổi lao động trên một người ngoài 65 tuổi. Con số này ở Nhật Bản – quốc gia “già nhất” thế giới – hiện là 2,6. Trung Quốc đang trở nên già cỗi trước khi trở thành giàu có.  Những méo mó của chính sách một con còn tạo ra những tác động tiêu cực khác, điển hình là việc tiến hành loại bỏ bào thai bé gái để đảm bảo đứa trẻ duy nhất được chào đời phải là con trai. Mặc dù không thể đổ toàn bộ lỗi cho chính sách này, như Ấn Độ đã cho thấy, nhưng nó góp phần vào hiện trạng đó. 20 năm tới, Trung Quốc sẽ không có đủ cô dâu cho khoảng 1/5 chú rể được sinh ra ở thời điểm hiện tại. Và giả sử chính sách một con không làm gì để giảm tỷ lệ sinh thì việc lặp lại vô tận các khẩu hiệu như “thêm một đứa trẻ đồng nghĩa với việc thêm một ngôi mộ” vẫn sẽ biến con một trở thành một chuẩn mực xã hội và đẩy tỷ lệ sinh xuống dưới mức cần thiết để có thể tái tạo dân số. Trung Quốc có thể mắc kẹt vào tình trạng tỷ lệ sinh thấp trong một thời gian dài.  Nhân khẩu học giống như một con tàu trọng tải lớn, phải mất hàng thập kỷ mới xoay chuyển được. Nó sẽ gây ra một vài trong số những vấn đề lớn nhất cho Trung Quốc. Giới lãnh đạo cũ vẫn trung thành với chính sách một con, nhưng thế hệ lãnh đạo mới, bắt đầu nhận nhiệm vụ từ năm tới, có thể đổi mới cách suy nghĩ. Họ nên kết thúc vấn đề nhức nhối này càng sớm càng tốt sau khi nắm quyền.                                                                                              Trần Thư lược dịch                                                                                               Theo The Economist    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc lấy lại vai trò mà nước này từng có hàng trăm năm trước      John Naisbitt nguyên là nhà tư vấn cho chính phủ Hoa kỳ và là người đưa ra thuật ngữ “toàn cầu hoá”. Hiện nay ông cùng với vợ thành lập viện nghiên cứu ở Trung Quốc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn dưới đây, cả hai ông bà đã giải thích cách nhìn của họ đối với toàn cầu hoá đã thay đổi như thế nào và vai trò đang lên của Trung Quốc ra sao.    Trong những năm 1980, nhà khoa học chính trị John Naisbitt đã khắc sâu khái niệm “Toàn cầu hoá” trong cuốn sách bán chạy nhất thế giới của ông “Megatrends”. Dưới thời John F. Kennedy, Naisbitt là thứ trưởng giáo dục. Hiện tại ở tuổi 89, John Naisbitt và đồng tác giả – vợ ông, Doris Naisbitt sống tại Viên và Trung Quốc, tại đây hai ông bà đã thành lập Viện Naisbitt China Institute.  Thưa ông Naisbitt, đầu những năm cách đây trên 30 năm, ông đã đưa ra khái niệm “Toàn cầu hoá“. Trên cơ sở những nào quan sát thời đó mà ông đã đưa ra khái niệm này?  John Naisbitt: Nhiều nền công nghiệp liên kết với nhau ngày càng nhiều hơn. Các bộ phận của một chiếc ô tô và bản thân chiếc ô tô không còn hình thành ở trong một nhà máy, mà ở nhiều nhà máy thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Tôi còn nhớ hồi đó VW lắp ráp các chi tiết máy nhập từ Mexico và Brazil và bản thân doanh nghiệp này lại sản xuất động cơ cho hãng chế tạo xe hơi Chrysler ở Đức. Găng tay bóng chày đính hàng chữ “Made in Japan”, mặc dù da bò là của Hoa kỳ, trước đó đưa sang Brazil để thuộc. Khái niệm toàn cầu hoá đã tự nó hình thành trên cơ sở sự chuyển biến từ kinh tế của mỗi quốc gia thành kinh tế toàn cầu, từng nhà doanh nghiệp cũng có dịp thâm nhập vào thị trường thế giới.  Kể từ đó quan điểm của ông về hiện tượng này có thay đổi ?  John Naisbitt: Nhận thức và sự thấu hiểu khái niệm này nhìn chung có những thay đổi rõ rệt. Trong những ăm 1980, nước Mỹ sợ toàn cầu hoá và các công đoàn đã kêu gọi công nhân chống lại sự bóc lột không thể tránh khỏi. Công đoàn kêu gọi tập hợp lực lượng xây dựng phong trào công nhân toàn cầu coi đây là biện pháp chống trả toàn cầu hoá. Cho đến tận ngày nay người Mỹ ở miền Trung và Tây Hoa kỳ hiểu về toàn cầu hoá khác với người Mỹ ở vùng bờ biển phía Đông.   Doris Naisbitt: Lập trường này và cách tiếp cận khác với toàn cầu hoá mà Trung Quốc đang quảng bá, và Trung Quốc muốn thực hiện nó thông qua con đường tơ lụa do Trung Quốc khởi xướng, những điều này sẽ là thách thức với quan niệm của phương Tây chúng ta về toàn cầu hoá.  Trong những năm 80 ông đã có hy vọng gì với toàn cầu hoá?  John Naisbitt: Câu cuối trong cuốn sách “Megatrends” của tôi là: “Lạy Chúa, được sống trong thời đại này mới tuyệt vời làm sao”. Tôi biết, chúng ta đang trải qua thời kỳ quá độ. Không phải ai cũng lạc quan trước câu hỏi, chúng ta đang đi về đâu. Điều mà tôi quan tâm nhất là những khả năng hình thành từ sự bất định. Ted Turner thành lập đài TV tin tức đầu tiên, CNN. MTV làm đảo lộn ngành công nghiệp âm nhạc, IBM sản xuất những chiếc PC đầu tiên, và điện thoại di động nặng cỡ một kilogram và là biểu tượng về đẳng cấp đối với những nhân vật “quan trọng”. Trên bình diện chính trị thì sự tái thống nhất nước Đức là một sự phát triển kỳ thú nhất. Khi đó tôi đang ở London và đã ngay lập từ đó bay tới Berlin để trải nghiệm bầu không khí sôi nổi này. Đó là sự toàn cầu hoá đã đưa hàng trăm triệu người thoát sự nghèo khó, và ngày nay toàn cầu hóa đã mở cửa để các nước mới nổi có thể tiếp cận các thị trường. Tuy nhiên có một sự ước vọng của tôi không đạt được. Toàn cầu hoá đã không làm cho con người được chứng kiến sự đa dạng về sắc tộc.  Ông là công dân Hoa kỳ, dưới thời John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson ông từng là cố vấn chính phủ. Hiện tại một trong hai nơi sinh sống của ông là Trung Quốc. Vai trò của Hoa kỳ và Trung Quốc kể từ đầu những năm 1980 tới nay đã biến đổi như thế nào?  John Naisbitt: Đầu những năm tám mươi Trung Quốc bắt đầu khởi động quá trình cải cách và mở cửa, nhưng khi đó Trung Quốc vẫn là một quốc gia đói nghèo và lạc hậu. Hồi đó tôi thường xuyên tới Trung Quốc. Khi đó rõ ràng Trung Quốc phải biến đổi từ một nền kinh tế mang nặng dấu ấn nông nghiệp sang một nền kinh tế sản xuất. Thay vì bán nguyên liệu thô, nhất là dầu mỏ, Trung Quốc đã dành toàn bộ sức lực để xuất khẩu hàng hoá. Bắt đầu là hàng may mặc, các bộ phận máy cho tivi và các loại hàng hoá khác, đó là những hàng hoá không đòi hỏi phải có nhiều bí quyết kỹ thuật.  Doris Naisbitt: Hồi đó Hoa kỳ ở trên cao nhìn xuống Trung Quốc. Một quốc gia có nền công nghiệp hoá cao đang tiến vào kỷ nguyên thông tin đối diện với một đất nước hầu như không nuôi nổi người dân của mình. Nhiều người Mỹ vẫn giữ hình ảnh này ở trong đầu và họ không thể tưởng tượng nổi về Trung Quốc ngày nay. Và nhiều người cũng không thích gì điều này, vì song song với sự đi lên của Trung Quốc thì vai trò thống trị của Hoa kỳ trên thế giới cũng đang đi đến hồi kết.  John Naisbitt: Cuối cùng thì Trung Quốc đã lấy lại được vai trò của họ, điều mà họ từng có hàng trăm năm trước. Các đột phá về công nghệ như giấy viết, thuốc súng, la bàn, súng ống hay tơ lụa đều là những phát minh của Trung Quốc và từ đó lan ra khắp thế giới. Điều này đã diễn ra cho đến khi Vương quốc Anh chấm dứt được sự thống trị của Trung Quốc.  Ông hoàn toàn không thấy có vấn đề gì trong sự vươn lên của Trung Quốc? Nhất là về vấn đề nhân quyền và các quyền tự do?  Doris Naisbitt: Trong thực tế có một sự khác biệt rất lớn về báo chí, kinh tế và về chính trị giữa Trung Quốc và phương Tây. Hệ thống của Trung Quốc dựa trên một nền tảng lịch sử và văn hoá khác, kể cả trên nền tảng khác về giá trị. Sự ứng xử về quyền con người, về tự do tư tưởng và dân chủ thường mâu thuẫn với kiểu tư duy phương Tây. Trong khi ở phương Tây có một sự tự do rất lớn về kinh tế, thì đảng cộng sản lại lèo lái về chính trị một cách có hệ thống và tập trung. Điều này có thể không thoả mãn được những đòi hỏi của phương Tây, nhưng làm ăn kinh tế phải định hướng trên cơ sở thực tế chứ không thể dựa vào nhưng suy nghĩ viển vông, mơ hồ.  John Naisbitt: Ở mọi nơi trên thế giới luôn có lợi ích địa phương và cùng với nó là tiếng gươm đao xủng xẻng đe doạ bên ngoài, vấn đề chính trị. Đáng buồn là Donald Trump lại thúc đẩy quá trình này một cách đáng sợ và nguy hiểm. Tuy nhiên cho đến nay trên thị trường toàn cầu những cân nhắc về kinh tế luôn dành thắng lợi trước những toan tính về chính trị.  “Chúng tôi không thấy Trung Quốc đứng trước nguy cơ khủng hoảng, mà là Hoa kỳ”  Điều mà ông Trump muốn làm nhất là triệt tiêu toàn cầu hoá – và không chỉ một mình ông ta muốn điều đó. Hầu như ở khắp thế giới phương Tây đâu đâu cũng trỗi dậy những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc. Phải chăng toàn cầu hoá đang đi đến hồi kết?  John Naisbitt: Không có công tắc nào để người ta có thể vặn để chặn đứng toàn cầu hoá. Trung Quốc tự coi mình là người đổi mới toàn cầu hoá bằng cách của mình, có lợi cho những khu vực kém phát triển và dân chúng còn nghèo khổ. Trung Quốc làm điều này không phải vì lí do từ thiện. Đây là một sự đòi hỏi tất yếu về kinh tế và chính trị.  Doris Naisbitt: Chính sách của ông Trump củng cố vai trò mới của Trung Quốc là kẻ bảo vệ thị trường tự do, giúp Trung Quốc tăng nhiều ảnh hưởng trong các vấn đề mậu dịch và tài chính toàn cầu. Năm năm sau khi tuyên bố về sáng kiến – con đường tơ lụa khối lượng giao dịch thương mại giữa các nước nằm ven con đường này vượt mốc 5000 tỷ đôla. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của 25 trong số tổng cộng 65 quốc gia tham gia sáng kiến này, và đã xây dựng 82 khu thương mại và mậu dịch tự do. Khi chúng ta nhìn Trung Quốc, chúng ta thường quên, nước này lên kế hoạch và suy tính chiến lược lâu dài như thế nào. Xét cho cùng đối với Trung Quốc chỉ có một con đường để thay đổi trật tự toàn cầu, đó là nhất thể hoá và tăng cường sức mạnh các nước mới nổi.  Để ngăn cản sự trỗi dậy của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã khởi xướng cuộc chiến tranh thương mại. Điều đó có làm ông lo lắng?  John Naisbitt: Chúng ta hãy gác sang một bên các vấn đề có đi có lại về thuế quan, về tiếp cận thị trường và về đầu tư giữa hai nước. Tương tự như vậy về sự lo lắng đối với vấn đề chuyển giao công nghệ với Trung Quốc và chương trình đổi mới công nghệ cao. Cả hai bên đều đưa ra các lý lẽ để nhấn mạnh cho quan điểm của mình. Có điều chúng ta trước hết cần phải hiểu khía cạnh cảm xúc. Cái cảm giác nhục nhã và xấu hổ khi bị châu Âu đè đầu cưỡi cổ vẫn hằn sâu trong tâm khảm người Trung Quốc.   Doris Naisbitt: Vì thế mọi hành động đối xử mang tính lăng mạ sẽ bị Trung Quốc phản ứng một cách gay gắt. Nếu Donald Trump tiếp tục cuộc tranh chấp hải quan, thậm chí tăng thuế điều này sẽ đánh vào nền kinh tế Hoa Kỳ. Nền kinh tế Hoa kỳ sẽ bị tác động xấu đáng kể. Và điều mà ông Trump cho rằng nền kinh tế đi lên và thị trường chứng khoán bùng nổ là nhờ nỗ lực của cá nhân ông, giờ thành công cốc.  John Naisbitt: Một khi nền kinh tế bị lung lay thì Trump sẽ gặp nhiều vấn đề. Trong trường hợp xấu nhất ông sẽ ra đòn một cách quyết liệt.  Trump có thể tiến hành một chính sách nghiệt ngã đối với Trung Quốc, vì nhiều người Mỹ lo sợ trước hậu quả của toàn cầu hoá, nhất là trước sự cạnh tranh của Trung Quốc. Ông sẽ làm gì để trả lời những người Mỹ này?  Doris Naisbitt: Người Mỹ cần có một cái nhìn hiện thực về cái lợi và bất lợi của toàn cầu hoá và của tiến bộ kỹ thuật. Khi cái nhìn càng chính xác hơn thì người ta sẽ hành động tốt hơn – thay vì có phản ứng. Ngay cả khi tổng thống Trump đưa các nhà máy trở về Hoa Kỳ, thì điều đó, ở thời buổi này, hầu như cũng không tạo ra thêm việc làm.   John Naisbitt: Thật mỉa mai khi tổng thống Hoa Kỳ lại dựa vào giải pháp sản xuất theo giây chuyền cổ lỗ, trong khi Trung Quốc thúc đẩy mạnh các giải pháp công nghệ tiên tiến nhất.  Cùng với toàn cầu hoá đã diễn ra một loạt sự đổ vỡ, trong những năm 90 là cuộc khủng hoảng Mexico, cuộc khủng hoảng châu Á và cuộc khủng hoảng ở các nước mới nổi, bong bóng Dot-Com-2000 bị nổ, vụ phá sản Lehman năm 2008 và 2010 là cuộc khủng hoảng đồng Euro. Nhiều nhà kinh tế ái ngại, lo lắng về các khoản nợ của Trung Quốc. Có nguy cơ xảy ra một cú đổ vỡ tiếp theo, thưa ông?  Doris Naisbitt: Vấn đề nợ của Hoa Kỳ rõ ràng là nguy hiểm hơn nhiều so với các khoản nợ của Trung Quốc. Phần lớn các khoản nợ của Trung Quốc là nợ từ các công trình hạ tầng do chính quyền địa phương quản lý. Trung Quốc sẽ xử lý nội bộ vấn đề này.  John Naisbitt: Khác biệt lớn nhất đối với Hoa Kỳ là ở chỗ, Trung Quốc có một hệ thống kinh tế hỗn hợp. Hệ thống này nửa kín nửa hở. Ở đây không có thị trường vốn và thị trường tín dụng công khai. Trung Quốc có thể bù đắp hay xoá nợ trong nội bộ một cách có hiệu quả. Để đánh giá thoả đáng các khoản nợ của Trung Quốc, chúng ta cần nhớ các chính phủ ở địa phương đều có tài sản có giá trị lớn. Những tài sản này làm giảm đáng kể nợ công.  Doris Naisbitt: Trung Quốc không không tuân thủ chính sách của Hoa kỳ từng gây mất ổn định ở Mỹ La Tinh và châu Á. Trung Quốc bác bỏ sự đồng thuận Washington năm 1989 – sự đồng thuận này liên quan đến các điều kiện vay tín dụng của Quỹ tiền tệ quốc tế IWF và Ngân hàng thế giới WB – và cưỡng lại việc sớm mở cửa thị trường vốn, cũng như thả lỏng giá cả và thị trường trái phiếu. Với sự kiên định của mình Trung Quốc mở ra những con đường mới trong ngành tài chính và qua đó khắc phục được nhiều trở ngại. Chúng tôi không thấy Trung Quốc đứng trước nguy cơ khủng hoảng mà trái lại là Hoa Kỳ.  John Naisbitt: Phương tây cần phần nào cởi mở hơn, rằng không phải chỉ tồn tại một hệ thống duy nhất. Trong việc nợ nần rủi ro lớn nhất, theo cảnh báo của nhiều chuyên gia, là sự suy thoái tiếp theo của nền kinh tế và một sự đổ vỡ thị trường chứng khoán. Chúng tôi cho rằng, thị trường Mỹ sẽ trải qua một sự suy sụp tiếp theo. Và điều đáng sợ là tổng thống Trump sẽ không chùn bước trước một cuộc chiến tranh, để tránh xảy ra điều đó. Các nhà băng phương Tây ở Trung Quốc cũng thường chia sẽ quan điểm này, thường qua các cuộc chuyện trò riêng tư, bởi vì đây là điều mà người ta không muốn nghe.  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/futureboard/john-und-doris-naisbitt-china-nimmt-die-rolle-ein-die-es-ueber-jahrhunderte-inne-hatte/23179444.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Lớp học ĐMST cho trẻ nhỏ      “Đổi mới sáng tạo” không phải là một từ  thường được dùng để miêu tả Trung Quốc, nhưng doanh nhân Joanna Wei đang  cố gắng góp phần thay đổi hình ảnh về một quốc gia đầy rẫy những sản  phẩm “ăn liền” rẻ tiền.     Bà Wei là nhà đồng sáng lập Creatica, một công ty giáo dục ở Bắc Kinh chuyên cung cấp những lớp học sáng tạo mang tính thực hành cho trẻ nhỏ. Công ty thành lập năm ngoái tại Bắc Kinh Makerspace, nơi các nhà sáng tạo gặp gỡ và biến ý tưởng thành công việc kinh doanh. Bà Wei cho biết, công ty hướng tới một cuộc cách mạng giáo dục thông qua việc tạo điều kiện cho các em nhỏ tiếp cận các công nghệ tiên tiến, giúp thúc đẩy những cách suy nghĩ mới.  Xu hướng tự tạo ra sản phẩm  Một trong những lớp học phổ biến nhất của Creatica là Brushbot – lớp học dạy học viên làm ra robot từ những cây bàn chải đánh răng bằng cách nối chúng với những động cơ rung.  Một lớp học khác, Talking Buddies, dạy học viên thiết kế ra một nhân vật từ bìa các-tông và khiến nó nói chuyện được bằng cách kết nối với một thiết bị ghi âm nhỏ.  Bà Wei đã không thể ngờ xu hướng tự tạo ra sản phẩm công nghệ lại có thể phát triển lớn đến vậy khi nó bắt đầu nhen nhóm ở Trung Quốc vào năm 2011.  Creatica ra đời từ xu hướng này, khi bà Wei nhận ra rằng chưa có gì để định hướng cho những trẻ am hiểu công nghệ. Bà cho rằng sẽ là quá muộn để ươm mầm sáng tạo vào đầu óc của những người 20 tuổi, bởi vậy nếu muốn phổ biến rộng rãi một nền văn hóa đổi mới sáng tạo thì cần bắt đầu sớm hơn với trẻ em thông qua giáo dục.  Ngành kinh doanh ít tốn kém  Không như những công ty khởi nghiệp khác, Creatica thu được lợi nhuận rất nhanh. Hiện tại công ty đang cung cấp dịch vụ cho hàng trăm gia đình, hầu hết là những nhà khá giả ở những thành phố lớn ở Trung Quốc.   Bà Wei cho biết, giáo dục là một ngành kinh doanh ít tốn kém. Công ty chỉ phải chi trả tiền thuê địa điểm và sử dụng luôn những nhà sáng tạo khác ở Bắc Kinh Makerspace làm người hướng dẫn. Họ có kiến thức công nghệ, và Creatica có nhiệm vụ kết nối họ với những người trẻ muốn học hỏi.  Giờ đây, các lớp học đã được tổ chức thường xuyên hơn so với khi mới mở – thường là hàng tuần hoặc hai tuần một lần. Họ cũng tổ chức các trại hè và trại đông với quy mô học viên lớn. Học phí được quy định sẵn: lớp học nửa ngày có học phí 550 nhân dân tệ (90 đô la Mỹ), và lớp học cả ngày là 1100 tệ. Thỉnh thoảng, họ cũng mời cả các phụ huynh cùng tham gia lớp học với con mình.   Tuy vậy, trong thị trường giáo dục lợi nhuận cao của Trung Quốc, Creatica cũng phải cạnh tranh với một số lượng quá tải các lớp học khác như piano, violin, và các lớp luyện thi chứng chỉ như TOEFL hay SAT.   Bà Wei cho biết đây thực sự là một thử thách lớn, bởi vì tuy giáo dục công nghệ được lồng ghép đáng kể trong các trường ở phương Tây nhưng ở Trung Quốc nhiều phụ huynh còn không biết nó là gì.  Không có nhiều kinh phí cho việc quảng cáo, Creatica dựa phần lớn vào việc quảng bá truyền miệng. Nhiều phụ huynh cho con em mình học tại Creatica là nhân viên của những công ty công nghệ hàng đầu, bởi vậy họ có thể giúp quảng bá trong giới của mình. Nhờ đó mà Creatica không mất quá nhiều thời gian để phát triển.   Thành công của Creatica phần nào phản ánh nhu cầu thay đổi hệ thống giáo dục theo kiểu “nhồi vịt” của Trung Quốc, một hệ thống hầu như chỉ ép học sinh học để vượt qua được các kì thi.   Trong tương lai, bà Wei muốn đưa Creatica ra một cộng đồng rộng hơn chứ không chỉ dành cho con em nhà khá giả. Ước mong của bà là sẽ được chính phủ và các đoàn thể hỗ trợ để có thể đưa Creatica vào nhà trường phổ thông cho toàn thể trẻ em Trung Quốc.   “Mọi người cứ nghĩ rằng sẽ không thể có được một Steve Jobs của Trung Quốc, nhưng tôi không nghĩ vậy”, bà Wei nói, “Tôi tin rằng nếu những đứa trẻ này có thể tiếp tục được tư duy và tự làm ra các sản phẩm, một ngày chúng sẽ có thể sáng tạo ra một cái gì đó tương tự như Apple ở Trung Quốc.”   PV dịch từ http://www.bbc.com/news/business-29076933       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Nhà khoa học sống cùng nông dân      Các nhà khoa học nông nghiệp Trung Quốc đã giúp người nông dân tăng sản lượng một số loại cây trồng bằng cách về sống tại các làng quê để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế. Nhưng liệu sản lượng có phải là yếu tố quan trọng nhất? Hãy nghe ý kiến của các chuyên gia quốc tế về vấn đề này.      Fusuo Zhang, một đồng tác giả của nghiên cứu, trao đổi với nông dân về chế độ nước và dinh dưỡng tốt hơn cho mùa vụ của họ.  Năm 2009, chương trình hỗ trợ khoa học và kỹ thuật cho nông dân được khởi xướng, các giáo sư và sinh viên tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Trung Quốc (CAU) bắt đầu đến sống tại các làng ở huyện Cù Châu, tỉnh Hà Bắc, để giúp những hộ gia đình nhỏ cải thiện tập quán canh tác. Đây là vùng có sản lượng nông nghiệp thấp do đất bị nhiễm mặn.  Qua hơn năm năm, sản lượng bình quân của những cây trồng chủ lực trong toàn huyện như lúa mì và ngô đã tăng 79,6%, trong khi lẽ ra chỉ có khả năng tăng 62,8% – một nghiên cứu được công bố trên Nature gần đây cho biết.  Tiếp nối thành công của chương trình thí điểm này, hiện có 71 chương trình hỗ trợ khoa học và kỹ thuật đang được tiến hành ở 21/23 tỉnh của Trung Quốc.  “Thông thường, nhà khoa học đưa ra kĩ thuật và hi vọng người nông dân có thể áp dụng chúng nhưng họ không thực sự nghĩ người nông dân thực sự cần gì. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sống ở các làng và cùng làm với nông dân. Chúng tôi đề nghị họ đưa những kinh nghiệm và kiến thức của mình vào kĩ thuật, sau đó chúng tôi điều chỉnh lại cho phù hợp”, Giáo sư Weifeng Zhang thuộc CAU, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.  Thông qua thử nghiệm để so sánh cách làm của người nông dân với của chính mình, các nhà khoa học đã xác định được những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến chênh lệch về sản lượng và đưa ra 10 khuyến nghị để xử lí vấn đề. Sau khi đề nghị các nông dân cho ý kiến, bộ khuyến nghị lại được điều chỉnh một lần nữa và được 71 nông hộ hàng đầu thử nghiệm. Kết quả là sản lượng các loại cây trồng của họ đã tăng trung bình 97% trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2014, trong khi lẽ ra chỉ có khả năng tăng 67,9%.  Bộ khuyến nghị đã được phổ biến rộng rãi thông qua những buổi trình diễn thực tế, lớp tập huấn về nông nghiệp, cuộc thi về năng suất và áp-phích dọc đường lớn. Những hợp tác xã gồm 30 đến 40 hộ gia đình được lập ra để giúp các nông dân mua xỉ vật tư đầu vào hoặc phối hợp để cùng làm những công việc quy mô như thủy lợi hoặc bừa ruộng.  Giáo sư Zhang tin rằng, hệ thống này nên được nhân rộng ở các nước châu Á khác, khi nhiều nước phải đối mặt với những hạn chế tương tự chẳng hạn như cơ hội tốt để tiếp cận các nguồn vật tư đầu vào, bên cạnh nhu cầu về hệ thống chính trị và giáo dục ổn định.  Tuy nhiên, Maximo Torero, giám đốc Ban Thị trường, Thương mại và Thể chế tại Viện nghiên cứu Chính sách lương thực Quốc tế (IFPRI), cho rằng, mọi việc không đơn giản như vậy. “Mỗi vùng không chỉ có những đặc điểm riêng về điều kiện sinh thái nông nghiệp mà còn về trình độ phát triển thể chế”.  Việc chỉ tập trung vào sản lượng khiến người ta lờ đi liệu thực tế có nhu cầu phải tăng vụ hay không, ông nói thêm, và những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng để kết nối những nông hộ nhỏ với thị trường có thể còn quan trọng hơn.  Leah Samberg, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ về nông nghiệp quy mô nhỏ tại Đại học Minnesota, nói rằng cách làm này không khác nhiều so với những chương trình “khuyến nông” giúp người nông dân ứng dụng những kết quả nghiên cứu khoa học thông qua đào tạo.  Theo Samberg, cách làm trong Chương trình hỗ trợ khoa học và kỹ thuật cho nông dân ở Trung Quốc có điểm mạnh là nó tạo điều kiện cho nhiều thành phần tham gia và quy mô lâu dài, tuy nhiên sản lượng tăng như trong báo cáo mới diễn ra trong một thời gian ngắn và có thể không nhiều ý nghĩa đến vậy.  Samberg cũng đồng ý với Torero rằng việc chỉ thu  hẹp mối quan tâm vào sản lượng của những cây trồng cụ thể có thể phản tác dụng vì chính việc đa dạng hóa mới khiến người nông dân chống sốc tốt hơn. “Nếu người nông dân đầu tư quá đà các nguồn lực vào nâng cao sản lượng của một loại cây trồng thì họ sẽ gặp rắc rối lớn nếu mùa vụ đó thất bại”, bà lưu ý.  Nguồn:  http://www.scidev.net/asia-pacific/agriculture/news/transferring-innovation-universities-farms.html    Author                Nhàn Vũ        
__label__tiasang Trung Quốc phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên trên thế giới      Các nhà khoa học Trung Quốc vừa phóng “vệ tinh lượng tử” đầu tiên trên thế giới vào ngày 16/8. Và trong 2 năm, nhóm nghiên cứu này sẽ thực hiện phép kiểm chứng Bell để chứng minh rằng, sự liên đới giữa hai lượng tử có thể duy trì ở khoảng cách lên tới 1200 km.      Trung Quốc phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên  trên thế giới  Thiết bị bay này nặng 600 kg, chứa các tinh thể được làm từ các cặp photon ở trạng thái liên đới lượng tử (quantum entangled), được phóng từ các trạm vệ tinh ở Trung Quốc và Áo, trong một dự án hợp tác trị giá 100 triệu USD.  Trong thời gian 2 năm, nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện một phép đo thống kê gọi là phép kiểm chứng Bell để chứng minh sự liên đới giữa hai lượng tử có thể duy trì ở khoảng cách tới 1200 km (lý thuyết lượng tử tiên đoán rằng liên đới có thể có ở bất kỳ khoảng cách nào).  Với trạng thái liên đới lượng tử, bất kể khoảng cách nào cũng sẽ giúp tạo ra một mạng kết nối toàn cầu rất an toàn và nhanh chóng. Trong vật lý lượng tử, sự thay đổi tín hiệu của một hạt sẽ ảnh hưởng đến hạt khác, cho dù chúng xa nhau một khoảng cách khổng lồ. Vì vậy, nếu có ai đó cố tình nghe lén ở một đầu, sự gián đoạn sẽ xảy ra ở đầu bên kia.  Các nhà khoa học từ nhiều nước cũng tiết lộ các kế hoạch thực hiện những thí nghiệm về lượng tử trong không gian. Nếu thành công, các hệ thống vệ tinh lượng tử sẽ không chỉ giúp thông tin truyền tải an toàn hơn, mà còn là một bước tiến lớn tới “internet lượng tử”, liên kết các máy tính lượng tử trên toàn thế giới, hay một “đám mây tính toán lượng tử”, theo nhận định của Paul Kwiat, một nhà vật lý từ Đại học Illinois tại Urbana-Champaign đang làm việc cho NASA.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc ra mắt drone nặng vỏn vẹn 249 gram      Hãng chế tạo DJI của Trung Quốc đã gây ấn tượng mạnh khi đưa được một loạt tính năng kỹ thuật vào vật thể bay mới không người lái, cỡ mini mới của mình. Ngay cả những người mới học cũng có thể dùng nó để quay video, trong khi với các loại drone khác thì họ phải trải qua quá trình tập luyện khá lâu mới có thể sử dụng thành thạo được. Thậm chí nhờ “hạng ruồi” của drone này mà nhà chế tạo còn có thể lách luật.      Đôi khi luật lệ và quy chế có vai trò quyết định đối với một sản phẩm. Đối với Mavic mini, các kỹ sư của DJI đã phải mày mò mất nhiều thời gian để cuối cùng đạt kết quả là đưa khối lượng xuống còn 249 gram. Điều đó có nghĩa là vật thể bay này dưới trọng lượng 250 gr, mà theo quy định của Đức, mọi drone có trọng lượng trên 250 gr đều phải gắn bảng bằng vật liệu chịu lửa, trên đó ghi tên và địa chỉ của người sử dụng vật thể bay. Tại Hoa Kỳ, mọi drone có trọng lượng trên 250 gr thậm chí còn phải đăng ký. Tuy còn có một số hạn chế nhưng khi kiểm tra thử thiết bị bay này có nhiều ưu điểm nổi bật.  Ngay khi mới tiếp cận, người sử dụng đã bất ngờ về trọng lượng quá nhỏ của nó, dù các modell Mavic trước đây loại Mavic mini đã rất nhỏ gọn, có thể gấp lại được, thậm chí để vừa trong túi áo khoác.  Sau 700 mét thì bị mất liên lạc  DJI đã hết sức cố gắng để đơn giản hóa tối đa việc sử dụng Mavic mini. Với ứng dụng DJI-Fly, mới chỉ cần nhấn nút drohne đã có thể tự động bay lên. Có bốn chế độ bay, nhờ đó drone tự động bay lên theo hình xoắn ốc, bay vòng quanh chủ thể, bay tiến hay lùi và cũng có thể lao vọt lên không trung. Do đó những người mới chơi cũng có thể ghi hình trong khi ở các loại dronen khác cần phải có thời gian huấn luyện.  Camera được gắn vào một thiết bị ổn định ba chân, nhờ đó video ít bị rung lắc. Drone Mavic mini khi bay ở chế độ thể thao có thể đạt tốc độ gần 50 km/h. Tuy nhiên tốc độ này không thích hợp để ghi hình. Do đó nhà chế tạo vật thể bay  Mavic mini còn có cả chế độ CineSmooth, hạn chế tốc độ ở mức 15 km/h để có được hình ảnh tốt đẹp hơn.  Drone không chỉ tự động cất cánh mà còn có thể tự động hạ cánh. Khi liên hệ giữa thiết bị điều khiển từ xa và drone bị gián đoạn, drone sẽ tự động trở lại địa điểm xuất phát do đã ghi nhớ nhờ thiết bị định vị vệ tinh GPS. Theo số liệu của nhà sản xuất, tầm hoạt động của drone là 4 km. Con số này có lẽ chỉ có giá trị về lý thuyết. Khi đạt tầm xa khoảng 700 mét thì liên hệ bị mất, khi đó truyền hình qua mạng WLAN cũng kết thúc.  Theo DJI thì thời gian bay của vật thể bay này có thể kéo dài khoảng 30 phút. Theo thử nghiệm của chúng tôi, ở nhiệt độ không khí là không độ thì thời gian bay là 25 phút. Khi bay được 21 phút thì chúng tôi nhận được cảnh báo, công suất của pin chỉ còn 20%. Akku có thể nạp qua cổng USB, có thể nạp trong ô tô, không nhất phải qua ổ cắm điện.  DJI đã thành công trong việc chế tạo một drohne với nhiều tính năng kỹ thuật mà chỉ nặng 249 gr. Mavic mini dễ điều khiển, chụp ảnh và quay video với kết quả tốt đẹp. So với các loại drohnen lớn hơn người sử dụng cần biết rõ sự khác biệt. Điểm yếu lớn nhất của Mavic mini là độ phân giải video chỉ đạt 2,7, thấp hơn hẳn so với các thiết bị của dân chuyên nghiệp là 4K.  Tuy nhiên điểm yếu này chỉ bộc lộ rõ khi chiếu trên màn hình lớn với  YouTube-Video thì hoàn toàn không thấy rõ.  Ảnh chụp với 12 Megapixel, nhưng chỉ ở dạng JPEG chứ không định dạng – RAW như của dân chuyên nghiệp. Hình ảnh lưu trong SD-Card gắn trong drone.  Những người trượt tuyết muốn drone rượt theo mình sẽ không hài lòng với Mavic mini vì thiết bị này không có chế độ “Follow me” (theo tôi), như ở các loại dronen khác. Tuy nhiên đối với loại drone mini thì chế độ này cũng có khi bất lợi vì nó không có cảm biến chướng ngại vật để chống lại sự va đập. Giá Mavic mini là  400 Euro – non nửa so với loại dronen lớn hơn  Mavic 2.   Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/webwelt/plus204957874/Mini-Drohne-Mavic-Mini-von-DJI-ernst-zu-nehmende-Leistung-trotz-249-Gramm.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Trung Quốc sau khủng hoảng” và câu chuyện “soi người, ngẫm ta”      “Trung Quốc sau khủng hoảng” tập hợp gần 70 bài viết của các nhà báo và chuyên gia quốc tế về Trung Quốc, đăng tải trên các báo và tạp chí lớn của thế giới từ năm 2009 đến nay, thỏa mãn kịp thời phần nào “cơn khát” thông tin, tư liệu về Trung Quốc hiện nay.    Giữa những ngày tình hình trên Biển Đông nóng lên, và các cường quốc  trên thế giới đều đổ dồn ánh mắt về vùng biển rộng lớn, nơi hơn nửa  lượng hàng hóa thương mại của thế giới đi qua này, dường như là điều tự  nhiên khi người ta có nhu cầu tìm hiểu nhiều hơn nữa về Trung Quốc – một  trong những nhân vật chủ chốt trên sân khấu chính trị Biển Đông.  Với riêng chúng ta – những độc giả Việt Nam quan tâm đến thời sự chính  trị trong nước và quốc tế – thì nhu cầu ấy lại càng lớn hơn. Có lẽ chưa  bao giờ người Việt chúng ta lại thấy cần tìm hiểu về anh bạn láng giềng  khổng lồ, và thấy thiếu tài liệu, sách vở, công trình nghiên cứu “Trung  Quốc học” đến thế.  Trong bối cảnh đó, việc cho ra cuốn “Trung Quốc sau khủng hoảng – dưới  con mắt các nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Nhã  tổng hợp và dịch, NXB Tri Thức, 2011) chứng tỏ là một sáng kiến rất năng  động của những nhà làm sách. Đây cũng là sự thỏa mãn kịp thời phần nào  “cơn khát” thông tin, tư liệu về Trung Quốc hiện nay.   Nhận diện một nước Trung Hoa đang nổi lên  “Trung Quốc sau khủng hoảng” là một tập hợp gần 70 bài viết của các nhà báo và chuyên gia quốc tế về Trung Quốc, đăng tải trên các báo và tạp chí lớn của thế giới từ năm 2009 đến nay. Ở tuyển tập, độc giả gặp rất nhiều cây viết nổi tiếng như: Paul Krugman (kinh tế gia Mỹ, giải Nobel 2008), Fareed Zakaria (nhà báo, cây bút bình luận, tác giả cuốn “Thế giới hậu Mỹ”), Minxi Pei (người đọc Việt Nam nếu theo dõi tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện nay hẳn đã nghe đến tên học giả này), Francesco Sisci (chuyên gia Trung Quốc học, người Italia), v.v.  Đối với nhiều người trong chúng ta hiện nay, dường như vấn đề lớn nhất, thu hút mọi sự chú ý trong quan hệ quốc tế, là sự nổi lên của Trung Quốc. Liệu Trung Quốc có trở thành “bá chủ thế giới” không? Nếu có, thì đó sẽ là một “siêu cường tốt” hay “siêu cường xấu”? Và điều ấy sẽ ảnh hưởng gì tới Việt Nam, có đe dọa Việt Nam không, hay là có lợi cho Việt Nam hơn?… Rất nhiều câu hỏi, nhưng về căn bản chỉ xoay quanh việc sẽ có một nước Trung Quốc như thế nào bên cạnh chúng ta. Tuy nhiên, nếu bạn mong tìm được câu trả lời cụ thể cho câu hỏi ấy, thì đọc cuốn sách này, có lẽ bạn sẽ thất vọng. Bởi vì nó là một tuyển tập những bài viết có tính chất cung cấp thông tin, nghiên cứu, của hàng loạt nhà phân tích, cho nên sẽ không có một kết luận thống nhất nào để giải đáp mối băn khoăn của bạn.  Nhưng đó lại cũng chính là một ưu điểm của “Trung Quốc sau khủng hoảng”. Hướng tới thông tin khách quan, đa chiều, mang lại những góc nhìn khác biệt của các tác giả khác biệt, cuốn sách không áp đặt, định hướng, mà để người đọc tự rút ra những suy nghĩ của riêng mình. Bạn có thể thoải mái đọc sách, mà không phải ngả theo định kiến nào có sẵn như “Trung Quốc là con rồng trỗi dậy”, “Trung Quốc sẽ là bá chủ thế giới”, “Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất và sẽ đè bẹp Mỹ”, “Trung Quốc sẽ hút hết dầu khí Biển Đông”, “Việt Nam rồi sẽ phải tiêu tiền Nhân dân tệ”, v.v.  Trung Quốc là ai trong cuốn sách? Không thể khẳng định được. Trung Quốc là chủ nợ của Mỹ thật đấy (như tất cả chúng ta đều đã nghe nói), nhưng bản chất của vấn đề là Trung Quốc đang ôm một bó tiền có nguy cơ mất giá bất cứ lúc nào Mỹ muốn (và kể cả không muốn). Và đây là chi tiết mà kinh tế gia người Đức Ulrich Volz kể lại: “Trong một buổi họp hồi tháng 2-2009 tại New York, Lỗ Bình, Chủ nhiệm của Ủy ban Kiểm tra Ngân hàng Trung Quốc đã tuyên bố: “Chúng tôi thù các ông. Khi các ông bắt đầu in 1.000 tỉ USD rồi 2.000 tỉ USD tiền giấy, chúng tôi biết là đồng USD sẽ mất giá, cho nên chúng tôi thù các ông. Nhưng chúng tôi không làm gì khác hơn được”. Nói cách khác, mặc dù là chủ nợ của Mỹ, Trung Quốc vẫn ngồi trên đống lửa.   Tuy vậy, lợi ích của chủ nợ cũng được chỉ ra ở một bài viết khác trong cuốn sách: “Mặc dù Trung Quốc than thở là họ giữ quá nhiều trái phiếu của Mỹ, nhưng chính việc nắm giữ trái phiếu này lại giúp đỡ cho các mục tiêu kinh tế của Trung Quốc: tạo công ăn việc làm cho người lao động bằng cách xuất khẩu, và ngăn ngừa nạn khan hiếm các loại nguyên liệu thiết yếu” (Robert J. Samuelson).  Có nghĩa là, Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, nhưng điều đó không phải hoàn toàn đáng sợ (đối với Mỹ, với thế giới hay Việt Nam), mà cũng chẳng phải một sự “dại dột” của Trung Quốc. Điều quan trọng là góc nhìn và sự hiểu biết về bản chất của vấn đề. Cái hay của việc cung cấp thông tin đa chiều là vậy, và cuốn sách đã làm được việc ấy.  Soi người, ngẫm ta  Đọc cuốn sách, biết thêm ít nhiều thông tin về Trung Quốc thời hiện đại, người đọc cũng có thể thấy trong đó những nét tương đồng với chính Việt Nam – điều này khác với khi chúng ta đọc một cuốn sách viết về quá trình nổi lên của nước Mỹ hay Nhật Bản. Đầu tiên là khát vọng thịnh vượng. Người Trung Quốc khao khát làm giàu, vươn lên, thành đạt và hạnh phúc. Sẽ là rất tốt nếu không có chuyện “một số người cảnh báo rằng Trung Quốc là sản phẩm không tránh khỏi của một cỗ máy kinh doanh và nó có ít thì giờ chú ý tới cái hay, cái đẹp của dân chủ” (James Lamont và Amy Kazmin). Trong quá trình nỗ lực để “trỗi dậy hòa bình” ấy, quốc gia này không tránh khỏi việc làm cho các nước láng giềng (Ấn Độ, ASEAN) nhìn sự phát triển của mình với ánh mắt lo sợ.   Và phản ứng của những người lo sợ là giống nhau, ở một chừng mực nào đó. Như tại Ấn Độ, “Chính phủ sẽ bị phe dân tộc chủ nghĩa tố cáo là nhượng bộ trước sức ép của Bắc Kinh” nếu họ lùi bước trước phản ứng của Trung Quốc liên quan tới chuyến thăm của Đạt Lai Lạt Ma (M.K.Bhadrakurma). Chủ nghĩa dân tộc đã, đang và sẽ bừng bừng nổi lên ở một loạt quốc gia láng giềng, nếu Trung Quốc tiếp tục đường lối ngoại giao và phát triển kinh tế hiện nay. Đây là điều một số nhà phân tích cảnh báo trong các bài viết được tập hợp vào “Trung Quốc sau khủng hoảng”.  “Tại Việt Nam, đồng bạc mới bị phá giá 5%, để giữ sức cạnh tranh với hàng Trung Quốc. Tại Thái Lan, các nhà sản xuất than thở công khai là họ không đủ sức cạnh tranh giá cả với hàng Trung Quốc. Năm  (2009), Ấn Độ chính thức nộp đơn lên WTO than phiền Trung Quốc phá giá đủ loại mặt hàng, từ thép hình chữ I đến giấy in” (Michael Wines).  Nhưng sự vươn lên kia có thể sẽ không bền vững, bởi vì việc các công ty Trung Quốc ngự trị thế giới chỉ là một huyền thoại: “Lý do đơn giản là tại Trung Quốc, người ta ít sáng tạo ra sản phẩm mới và có ít khả năng tạo ra thương hiệu mới. Chướng ngại vật là tại đây, có sự bảo vệ quá yếu ớt quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ các hợp đồng. Và một hệ thống giáo dục từ chương, dựa vào bằng cấp hơn là dựa trên sáng kiến và sáng tạo” (Rana Foroohar)  Những gì được phản ánh có lẽ là một mảnh gương mà Việt Nam cũng thấy mình trong đó?  Nói về Trung Quốc – siêu cường châu Á đang nổi lên theo những cách không trùng lặp với phương Tây hay Nhật Bản khi xưa – hẳn cần tới hàng pho sách đồ sộ, mà “Trung Quốc sau khủng hoảng”, trong khuôn khổ hơn 300 trang, chỉ là một cuốn sách mỏng và còn vô số điều chưa đề cập đến được. Nhưng nó đã mang lại những thông tin rất có giá trị cho bạn đọc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang cần hiểu về Trung Quốc hơn bao giờ hết như hiện nay. Mọi sự mới chỉ bắt đầu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc sau thời “lao động giá rẻ”      Giá thành lao động tăng, các công ty trong và ngoài nước lần lượt rời  khỏi Trung Quốc. Nguyên nhân nào dẫn tới điều đó? Và sau thời đại lấy  sức lao động làm thế mạnh thì Trung Quốc còn ưu thế gì?    Sau khi Adidas đóng cửa công xưởng duy nhất ở Trung Quốc, CEO Trần Niên Nhật của VANCL cũng tiết lộ rằng bắt đầu từ năm ngoái, thành phẩm của VANCL đã bắt đầu chuyển sang các công xưởng hợp tác ở Bangladesh và một số nước khác, đây cũng là một bước để thử nghiệm thị trường phục trang nước ngoài, về chi phí sản xuất có thể giảm được tới 3 lần.   Đằng sau việc các công ty nước ngoài và xí nghiệp trong nước “ra đi” có thể nhìn thấy hiện tượng giá thành lao động của lao động Trung Quốc đang gia tăng một cách nhanh chóng.  Ngân hàng Nantes của Pháp gần đây đã đưa ra một báo cáo dự đoán, giá thành nhân công của Trung Quốc chỉ trong vài năm nữa sẽ vượt qua Âu, Mỹ và Nhật Bản. Danh hiệu “Công xưởng của thế giới” mà lâu nay vẫn được đeo cho Trung Quốc có thể sẽ phải gỡ bỏ, trong quá trình giá thành nhân công gia tăng đã đánh mất đi ưu thế dựa trên giá thành lao động thấp nên không còn có thể thu hút được sức đầu tư của các nhà đầu tư.   Đang trên bước tiến vào thời đại sau sức lao động, Trung Quốc còn những ưu thế nào?   Nguyên nhân “ra đi” của các công ty  Adidas không chỉ quyết định đóng cửa một công xưởng duy nhất của mình ở Trung Quốc, mà trong hơn 300 công xưởng liên kết với Adidas thì đã có hơn 10 công ty nhận được thông báo ngừng hợp tác.   Cán bộ cố vấn nghiên cứu và đầu tư Trung Quốc là Tiết Thắng Văn cho biết hiện nay giá thành nhân công tăng cao chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc ra đi của các công ty ở trong và ngoài nước. Tiết Thắng Văn còn nói các công ty xuất phát từ việc khống chế giá thành nên đưa các công xưởng chuyển sang Ấn Độ, Cambodia hay các nước Đông Nam Á là một quyết định rất sáng suốt. Trong tình trạng lợi nhuận bị sụt giảm thì biện pháp này là một sự lựa chọn tất yếu để tiếp tục phát triển.   Theo thống kê, lương cơ bản của lao động Trung Quốc về cơ bản trong vòng 4 năm qua luôn luôn tăng, thu nhập của người dân ở các thành phố từ nửa đầu năm nay đã tăng 13%. Lương cơ bản của lao động tăng 14.9%.  Thế nhưng liệu sự gia tăng lương cơ bản này có là nguyên nhân chính dẫn tới việc các công ty “ra đi”? Dưới con mắt của các nhà chuyên môn phân tích thì kết quả hoàn toàn khác.   Viện trưởng Viện Mậu dịch và Kinh tế Đại học Hồ Nam Trương Á Phú cho rằng việc giá thành lao động tăng chỉ là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc các công ty trong và ngoài nước “ra đi”. Ông còn chỉ ra, “Giá thành sức lao động tăng về cơ bản tạo nên ảnh hưởng, nhưng mỗi xí nghiệp và mỗi ngành khác nhau có một đặc thù riêng chứ không thể đánh đồng được. Ví dụ như công ty Tam Nhất trước khi thu mua lại công ty Putzmeister của Đức thì đã mở xưởng và xây dựng trung tâm nghiên cứu tại Đức. Trương Á Phú cho rằng, Tam Nhất khi nhận ra hiện tượng dư thừa sản phẩm ở trong nước đã tích cực mở rộng thị trường quốc tế, nhưng rào cản kinh tế ở các nước phương Tây khá nhiều cho nên phải dựa trên hình thức hợp tác và đầu tư để tránh những khó khăn trong thủ tục.  Nguyên nhân để các công ty tìm ra nước ngoài cũng vô cùng phức tạp, có công ty muốn đạt được kỹ thuật, có công ty vì muốn chiếm lĩnh thị trường và tài nguyên. Công ty quyết định có đầu tư hay không là một tính toán mang tính tổng hợp, ngoài sản phẩm lao động ra, còn bao gồm cả tài nguyên và giá thành, thị trường và độ mở của không gian, hoàn cảnh chính trị, hoàn cảnh trao đổi mậu dịch cho tới hoàn cảnh sinh thái.   Chuyên gia kinh tế Triệu Khánh Kim cho rằng, nguyên nhân dẫn tới việc các công ty rời khỏi Trung Quốc có nhiều lí do. Lấy Adidas làm ví dụ, đưa các công xưởng của mình chuyển sang Việt Nam hay Cambodia thực tế là có thể giảm bớt giá thành. Thế nhưng không nên quên mất một điểm là hiện nay Mỹ cũng đang tiến hành kế hoạch “tái công nghiệp hóa”. Kế hoạch này là một hình thức thu hút các doanh nhân, công ty quay trở về Mỹ đầu tư. Và Adidas cũng đã xây dựng thêm một số công xưởng mới ở Mỹ.   Vẫn còn sức thu hút đầu tư  Theo như Tổng giám đốc Công ty hệ thống công trình điện của Bắc Kinh là Lưu Lực Sinh nói rằng, từ năm 2008 đến nay, lương cơ bản cho sinh viên đại học tốt nghiệp vào làm đã tăng 75%. Về cơ bản các công ty khác cũng tăng tầm 30 đến 50%. Đối với hiện tượng này, Trương Á Phú chỉ ra rằng, trước mắt giá thành lao động cơ bản đang có xu thế gia tăng và lợi nhuận đang giảm xuống. Đặc biệt là một số lượng lớn 8x, 9x bước vào thị trường lao động, tố chất văn hóa và quan niệm tư tưởng có sự khác biệt rất lớn với thế hệ đi trước. Rất nhiều người chấp nhận thất nghiệp chứ không chấp nhận lương thấp, buộc các xí nghiệp phải nâng cao đãi ngộ để thu hút nguồn lực.   Như thông tin của ngân hàng Nantes đưa ra thì giá thành lao động của Trung Quốc 4 năm nữa sẽ bằng với Mỹ, 5 năm nữa bằng với châu Âu và 7 năm nữa bằng với Nhật Bản. Do giá thành lao động tăng nhanh như vậy nên Trung Quốc sẽ nhanh chóng đánh mất đi vị trí ưu thế trong cạnh tranh mà lâu nay vẫn giữ.   Tuy nhiên, “giá thành của công nhân Trung Quốc quả thực là đang tăng, nhưng giá thành lương thực tế và lương được chi trả thì vẫn có sự tách biệt nhau rõ rệt. Trung Quốc thuộc vào các nước đang phát triển, nhân khẩu đông, cho rằng giá thành lao động chỉ trong một vài năm nữa có thể đuổi kịp được các nuớc Âu Mỹ là thiếu căn cứ,” Trương Á Phú khẳng định.   Triệu Khánh Minh thì cho rằng, “Bản báo cáo này có nhiều phần không chính xác. Trung Quốc và Âu Mỹ vẫn có một khoảng cách nhất định về giá thành lao động.”  Trong thời gian ngắn nữa giá thành lao động của Trung Quốc vẫn không thể vượt qua được các nước phát triển. So với các nước có giá thành lao động thấp khác, Trung Quốc vẫn còn là một điểm nóng thu hút sự đầu tư trên thế giới. Các thiết bị kĩ thuật hiện có của Trung Quốc vẫn là một ưu thế mà các nước ở Đông Nam Á vẫn không thể so sánh được. Không những có lợi thế về thiết bị hay năng lực quản lí, bản thân Trung Quốc vẫn là một thị trường lớn mà các công ty muốn chiếm lĩnh.   Các chuyên gia còn cho rằng, những nhân tố thu hút đầu tư của Trung Quốc hiện vẫn còn rất nhiều. Trung Quốc đáp ứng được một số các yêu cầu kỹ thuật cao trong sản xuất, có những chuyên gia có kỹ thuật tốt và giá thành tương đối rẻ. Vì vậy Trung Quốc không cần thiết quá lo lắng cho việc tăng giá thành lao động.   Bước chuyển mình trong công nghiệp  Giá thành lao động tăng sẽ tạo nên bước chuyển cho các mặt hàng sản xuất của Trung Quốc, các xí nghiệp muốn tiếp tục phát triển, trước tiên phải lựa chọn những hình thức phát triển mới.   Việc tăng giá thành lao động là một con dao hai lưỡi, một số công ty dựa trên nền tảng giá thành lao động cao sẽ lần lượt chuyển hướng sang các nước khác ví dụ như Adidas, một số công ty khác sẽ dựa trên việc đó để tiến hành cơ cấu cải tổ lại hệ thống và hình thức sản xuất.   Rất nhiều các công ty dựa trên nền tảng sức lao động làm nguồn lực chính thì nay phải chuyển sang dựa trên nền tảng trình độ nhân lực, kỹ thuật và tiền tệ. Một số các ngành sử dụng năng lượng nhiều, gây ô nhiễm nhiều, các sản phẩm phụ gia cũng có thể sẽ phải tự chuyển biến mình.   Trương Á Phú cho rằng, những điều tra của ông về tình hình các công ty phía Nam Trung Quốc cho thấy đa phần đã sử dụng các thiết bị tiên tiến để giảm bớt giá thành nhân công. Đây cũng là một tiêu chí cho bước chuyển mình của ngành công nghiệp Trung Quốc.   Từ năm 2005, sau khi tỉ giá hối đoái của đồng Nhân Dân Tệ thay đổi thì một số các công ty của Nhật Bản hay Hàn Quốc đã rời khỏi các thành phố duyên hải của Trung Quốc mà chuyển qua các nước khác xây dựng công xưởng.   “7 năm sau, trong khi nhiều công ty đã rời khỏi Trung Quốc nhưng thị trường lao động càng trở nên khan hiếm. Điều này cũng cho thấy các công ty trong nước cũng đang tự động điều chỉnh kết cấu và nâng cấp chính bản thân mình, vốn dĩ chỉ là một mắt xích trong dây chuyền quốc tế, nhưng bây giờ đã trở thành nhiều mắt xích, bước tiến triển nữa có thể trở thành chính các công ty đa quốc gia, và thực hiện việc cải thiện trên toàn cầu”, theo nhận xét của Triệu Khánh Minh.  Ông còn nói, giá thành lao động tăng là quá trình tất yếu phải xảy ra ở Trung Quốc trong quá trình chuyển mình từ một nước đang phát triển thành một nước phát triển. Các công ty trong nước phải dựa vào nước ngoài để thực hiện quá trình tích lũy và công nghiệp hóa, nhưng phát triển đến một trình độ nhất định thì phải chuyển hướng dựa vào năng lực tự thân.   Nhị Giang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc sẽ trở thành siêu cường xanh      Từ lâu Trung Quốc luôn bị đánh giá là kẻ hủy hoại môi trường kinh khủng  nhất thế giới. Tuy nhiên thời gian gần đây một cuộc cách mạng xanh đang  diễn ra ở đất nước này, Nhà nước huy động mọi nguồn lực để giảm thiểu  lượng khí thải CO2 ra môi trường sống.    Từ lâu giới lãnh đạo TQ đã nhận ra rằng ba thập niên tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ vừa qua đã để lại hậu quả thê thảm về môi trường và phải quyết tâm hướng tới một tương lai xanh hơn. TQ phấn đấu đến năm 2020 đáp ứng 15% nhu cầu về điện bằng năng lượng tái sinh, tăng gấp đôi so với hiện nay, còn EU phấn đấu đạt mức 20%. Không có quốc gia nào trên thế giới chi nhiều tiền của cho năng lượng tái sinh như TQ, nước này hết sức coi trọng phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời và phát triển các nhà máy điện sạch chạy bằng than. Bắc Kinh đang huy động mọi nguồn lực để giảm thiểu khí thải CO2.  TQ đang xây dựng một công viên gió vào loại lớn nhất thế giới với 20.000 tuốc bin tạo ra sản lượng điện khoảng 20 Gigawatt ở vùng Tây Bắc trong tám năm tới. Hiện nay TQ có sản lượng điện gió vào loại lớn nhất thế giới, lên đến trên 60 Gigawatt. Trong khi đó sản lượng của Đức là 29 Gigawatt và Mỹ là 47 Gigawatt.  TQ cũng có tham vọng rất lớn trong lĩnh vực năng lượng mặt trời. TQ đang xây dựng một công viên điện mặt trời lớn nhất thế giới ở vùng Nội Mông, dự kiến hoàn thành vào năm 2020, sẽ tạo ra  2.000 Megawatt và cung cấp đủ điện cho khoảng 3 triệu người. TQ có thể tự túc mọi thiết bị kỹ thuật để xây dựng các nhà máy điện mặt trời trong cả nước. Tập đoàn Suntech có trụ sở chính tại Wuxi, ngoại ô thành phố Thượng hải, hiện đứng đầu thế giới về sản xuất các tấm pin mặt trời.  Hiện nay trên 30 triệu hộ gia đình TQ có bình nước nóng đặt ngay trên mái nhà. Có thành phố như Dezhou có trên 90% hộ dân lắp hệ thống điện mặt trời. Tập đoàn Himin của TQ đang là nhà sản xuất bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới, mỗi năm sản xuất khoảng 1 triệu thiết bị.  Chính phủ TQ đang có những biện pháp để nhà máy điện sử dụng than sạch thay cho những nhà máy nhiệt điện lạc hậu. Hiện tại các nhà máy nhiệt điện chạy than thải khí CO2 đáp ứng 70% nhu cầu về điện ở nước này. Tới đây thành phố Thiên tân sẽ đưa nhà máy nhiệt điện chạy than gần như không có khí thải độc hại vào hoạt động. Từ năm 2007 đến nay đã có khoảng 200 nhà máy nhiệt điện lạc hậu buộc phải ngừng hoạt động và thay thế bằng các loại nhà máy điện có hiệu quả cao hơn.  TQ cũng rất quan tâm phát triển xe máy và xe ô tô chạy bằng động cơ điện.Hiện tại TQ đã có tới 100 triệu xe máy chạy bằng động cơ điện, chúng đang từng bước thay thế xe máy chạy bằng nhiên liệu và xe đạp ở các thành phố lớn. TQ phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 5 triệu ô tô chạy bằng động cơ điện. Các tập đoàn điện lực nhà nước phấn đấu xây dựng một mạng lước trạm nạp điện rộng khắp cả nước. Ví dụ tập đoàn điện lực Southern China Grid phối hợp với hãng Better Place của Mỹ xây dựng một trung tâm dịch vụ hiện đại tại thành phố Quảng Châu chuyên phục vụ ô tô chạy điện.  Dự án quan trọng nhất mang tầm cỡ quốc gia được thực hiện là tuyến đường sắt dài 1300 km nối Thượng Hải – Bắc Kinh đi vào hoạt động từ tháng 6/2011 có thời gian chạy chỉ 5 giờ đồng hồ. Dự kiến đến năm 2016 mạng lưới tầu cao tốc của TQ sẽ đạt tổng chiều dài là 16.000 km và là mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới. Khoản tiền đầu tư cho dự án này ước lên đến 200 tỷ Euro. Tốc độ chạy tầu đạt 394 km/giờ.  TQ đang muốn tạo đột phá về công nghệ nhưng cũng vấp phải nhiều sự cố. Tháng 7. 2011 một tầu cao tốc bị trật bánh làm 40 người thiệt mạng. Do làm ăn cầu thả nên tháng Ba vừa qua mưa lớn đã làm sạt lở, hư hỏng nặng một đoạn đường sắt cao tốc chạy qua tỉnh Hồ bắc. Vì vậy nhiều dự án xây dựng đường sắt mới đã bị tạm đình chỉ. Nhưng những sự cố đó không làm chính phủ TQ nản lòng.  Wu Changhua, một nhà bảo vệ môi trường TQ cho rằng: “TQ đang cải thiện môi trường sống, không phải vì sức ép từ bên ngoài, mà do nhu cầu của đất nước”.  Xuân Hoài lược dịch theo Die Zeit    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thách thức các sáng kiến nghiên cứu về não bộ của Mỹ và châu Âu      Hai trung tâm nghiên cứu khoa học não bộ ở Bắc Kinh và Thượng Hải mới được thành lập vào tháng 3 và tháng 5 là một phần của một dự án quốc gia nghiên cứu về não người của Trung Quốc nhằm đưa quốc gia này lên vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực này. Nhưng các chi tiết của dự án dự kiến kéo dài 15 năm này vẫn còn đang được thảo luận.      Trung Quốc mong muốn thúc đẩy các dự án nghiên cứu về não bộ và ứng dụng nó vào công việc điều trị các bệnh liên quan về não. Ảnh: Các nhà khoa học thần kinh của Viện nghiên cứu Khoa học thần kinh thuộc Viện Hàn lâm Trung Quốc. Nguồn: Tân Hoa Xã   Việc chuẩn bị cho dự án quốc gia này “đã được thảo luận trong một thời gian dài”, Zhang Xu – nhà khoa học thần kinh và giám đốc điều hành Trung tâm tại Thượng Hải, cho biết. Vì Thượng Hải và Bắc Kinh đã bắt đầu thực hiện kế hoạch của mình. Sự lớn mạnh trong nghiên cứu và mối quan tâm của xã hội Trung Quốc với khoa học thần kinh một phần được “châm ngòi” bởi sự già hóa dân số cũng như những cơ hội thương mại và sự ủng hộ của chính phủ khiến “đây là cơ hội vàng để khởi động các nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu trong khoa học về não bộ Trung Quốc”, Zhang nhận xét.  Các nhà hoạch định chương trình của chính phủ đã coi nghiên cứu về não bộ là dự án KH&CN trọng yếu trong Kế hoạch Năm năm lần thứ 13 của đất nước – kế hoạch này được thông qua vào năm 2016. Nỗ lực này có 3 trụ cột chính, tập trung vào nghiên cứu cơ bản về các cơ chế thần kinh trong nhận thức cơ bản, nghiên cứu các bệnh thần kinh nhằm phát hiện sớm bệnh và điều trị, và mô phỏng não bộ để phát triển trí tuệ nhân tạo và robotic.  Những người xây dựng dự án đã thấy cơ hội dành cho khoa học cơ bản trong “khoảng trống lớn trong hiểu biết của chúng ta về bộ não tại cấp độ từ vi mô đến vĩ mô”, nơi các mạch thần kinh kết nối theo những kiểu đặc biệt của tế bào não.  Các tác giả cũng dự kiến Trung Quốc có thể đem lại đóng góp quan trọng bằng việc lập bản đồ những mạch thần kinh và các mẫu hình hoạt động trên mô hình não động vật, một kế hoạch mang tên Dự án Kết nối thần kinh quốc tế. Trung Quốc đã tăng cường tri thức về não bộ thông qua việc nghiên cứu về não khỉ Macaca do thuận lợi về việc nghiên cứu động vật ở Trung Quốc gặp ít trở ngại hơn ở phương Tây. Hiện dự án này vẫn đang chờ phê duyệt. Các nhà khoa học cho rằng sự phức tạp của dự án và việc tái cấu trúc Bộ KH&CN Trung Quốc khiến việc thông qua dự án bị tạm hoãn. “Chúng tôi hi vọng có thể thấy dự án này được phê duyệt sớm”, Yang Xiong-Li – nhà khoa học thần kinh tại trường đại học Fudan University, cho biết. Viện nghiên cứu về não Trung Quốc mới được khai trương ở Bắc Kinh vào ngày 22/3 với kinh phí đầu tư rất lớn của thành phố Bắc Kinh. Cùng với Trung tâm ở Thượng Hải, nó được đặt mục tiêu “trở thành các viện nghiên cứu tầm cỡ thế giới về nghiên cứu não bộ”, Luo Minmin – nhà khoah ọc thần kinh ở Viện nghiên cứu các khoa học sinh học quốc gia ở Bắc Kinh và đồng giám đốc của Viện nghiên cứu về não Trung Quốc.  Trung tâm ở Thượng Hải sẽ “liên kết và mở rộng” các nỗ lực nghiên cứu này, Zhang nhận xét. Bệnh viện Huashan của thành phố – một trung tâm về phẫu thuật thần kinh, đang sẵn sàng xây một cơ sở mới để dành riêng cho khoa học thần kinh lâm sàng; Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc và Thượng Hải rót tiền vào dự án bản đồ não người năm 2012 và kế hoạch hợp tác với các nhà nghiên cứu não bộ năm 2014. Thượng Hải cũng sẽ thúc đẩy các cơ hội thương mại hóa để phát triển các công nghệ được xuất phát từ nghiên cứu bộ não. Zhang ước tính khoảng 1 tỷ NDT (157 triệu USD) thu được hàng năm từ những nghiên cứu liên quan đến bộ não Thượng Hải trong những năm gần đây.  Dẫu cho trung tâm mới sẽ bắt đầu tuyển đội ngũ nghiên cứu của nó vào cuối năm nay nhưng một số vị trí chủ chốt sẽ do những nhà nghiên cứu xuất sắc của các viện, trường đồng đảm trách, Zhang nói. Trung tâm này sẽ có một cơ chế để chia sẻ thiết bị đắt tiền và sẽ thành lập một cơ sở dữ liệu để có được những nghiên cứu và thông tin lâm sàng hiện vẫn chưa được sẵn sàng chia sẻ. Hợp tác quốc tế sẽ được ưu tiên.  Chỉ khi nỗ lực của quốc gia được thực hiện thì hai trung tâm mới này của quốc gia mới có thể trở thành tâm điểm nghiên cứu về não bộ ở phía bắc và nam. Các nhà nghiên cứu chờ đợi một ủy ban cấp cao của chính phủ thiết lập những ưu tiên cho trung tâm, và điều quan trọng là cả hai trung tâm sẽ được giữ lại một mức độ nhất định quyền tự chủ. Ví dụ, tại Bắc Kinh, “chúng tôi được Hội đồng quản trị Bắc Kinh cho phép làm những gì mà chúng tôi thấy quan trọng”, Luo nói.  Về tổng thể dự án, Yang mong muốn sự tiếp cận từng bước một. “Với một dự án nhiều tham vọng và nhiều nguồn đầu tư còn tương đối giới hạn ở Trung Quốc, tôi không nghĩ là có thể khởi động tất cả các hạng mục của dự án này cùng một lúc”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/05/heres-how-china-challenging-us-and-european-brain-initiatives    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc tham vọng trở thành siêu cường quân sự      Trong những năm gần đây, ngoài mục tiêu trở thành siêu cường kinh tế, Trung Quốc đang dần bộc lộ ý đồ trở thành siêu cường trong lĩnh vực quân sự. Những tiến bộ trong việc làm chủ những công nghệ đột phá như điều khiển dàn máy bay không người lái, AI, điện toán lượng tử v.v.. là những bước tiến mới nhất của Trung quốc hướng tới thực hiện tham vọng này.    Khiến thế giới sửng sốt với màn trình diễn drone  Tháng 12/2017, Trung Quốc đã khiến thế giới sửng sốt khi lập kỷ lục thế giới với cuộc trình diễn của hơn 1000 máy bay không người lái thu nhỏ (drone) tại Diễn đàn Thịnh Vượng Toàn cầu được tổ chức tại Quảng Châu. Hơn 1000 chiếc drone đã phối hợp thực hiện một loạt các nhiệm vụ khác nhau để trình diễn trên nền nhạc của các loại nhạc cụ công nghệ cao.  Tuy nhiên, tương lai của những dàn drone cùng với tác động của chúng đối với lĩnh vực quân sự mới thực sự là chủ đề của những cuộc tranh luận diễn ra sau buổi trình diễn. Ý tưởng sử dụng drone số lượng lớn để công phá một mục tiêu, đạt được lợi thế chiến thuật, là một khái niệm phổ biến. Sự phối hợp hoạt động của dàn drone của Trung Quốc đã vượt xa việc phô diễn số lượng drone tham gia trình diễn và kỹ năng hoạt động của chúng ở khoảng cách gần nhau. Hiệu suất đạt được ở cuộc trình diễn năm 2017 đã chứng tỏ kỹ năng điều khiển hiệu quả các hệ thống dàn drone của Trung Quốc. Có thể điều khiển 1.108 chiếc drone bé nhỏ bay trong một đội hình đơn nhất đã chứng tỏ năng lực của Trung Quốc đối với lĩnh vực bay tự động cũng như mối quan tâm của nước này tới không chỉ những chiếc máy bay không người lái đơn giản mà còn là những dàn thiết bị bay không người lái thông minh, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ phức tạp trong lĩnh vực quân sự.  Điều đó chứng tỏ năng lực làm chủ kỹ năng drone swarming (điều khiển máy bay không người lái theo đội hình), Trung Quốc đã đạt được những bước tiến xa trong lĩnh vực này. Những chiếc drone được lập trình cũng đã chứng minh có năng lực “tự học”. Trong các cuộc trình diễn bay, những chiếc drone thu nhỏ khi lạc ra khỏi đội hình của nhóm hoặc không đạt tới mục tiêu như dự định, sẽ tự hạ cánh.  Nếu những dàn máy bay không người lái được sử dụng để công phá hoặc làm nhiễu các hệ thống quân sự và an ninh quốc phòng, sẽ giúp cho các lực lượng quân đội dễ dàng xâm nhập vào một khu vực cụ thể. Thông thường, lực lượng quân đội sẽ phải có lợi thế về mặt chiến lược hoặc thậm chí gần như là chắc chắn thắng trước kẻ thù mới có thể làm chủ chiến trường. Có thể điều khiển các luồng máy bay không người lái sẽ có lợi thế rất lớn trong phòng thủ và tấn công. Những chiếc máy bay không người lái có thể được sử dụng với vai trò là một phương pháp phòng thủ trong trường hợp xảy ra tấn công hay bùng nổ cuộc chiến tranh lớn. Chúng sẽ được một chiếc máy bay điều khiển và được phóng vào không trung bằng những chiếc máy bay chiến đấu. Trong kịch bản tấn công, những dàn máy bay không người lái  thông minh có thể làm suy yếu các hệ thống phòng thủ của địch, vô hiệu hóa các yếu tố phòng thủ trên chiến trường và cho phép quân đội di chuyển dễ dàng và chủ động tấn công.  Trên thế giới, chương trình Công nghệ điều khiển phương tiện trên không không người lái giá rẻ (LOCUST) của Mỹ đã trình diễn một hệ thống có khả năng “phóng” nhanh những chiếc máy bay không người lái vào không trung từ một đường ống duy nhất, giống như một khẩu súng phòng không nã hàng trăm viên đạn trong vài giây. Trung Quốc đã sao chép thành công các hệ thống Predator và Reaper của Mỹ bằng việc tung ra các hệ thống tương tự giá thành rẻ mà không kém phần tinh xảo.  Với những cuộc trình diễn drone số lượng lớn, Trung Quốc chứng tỏ ở một số khía cạnh họ thậm chí còn vượt Mỹ trong lĩnh vực này. Ngoài ra, máy bay không người lái nhỏ thông minh của Trung Quốc cũng có khả năng tự sửa chữa, cho thấy chúng đạt tới khả năng tự trị thực sự, có thể mang lại vô số lợi ích trong tương lai. Kỹ năng phối hợp và hoạt động dựa trên mạng lưới hiện đang được nghiên cứu trong lĩnh vực máy bay không người lái. Tuy nhiên, nghiên cứu hoạt động và các mô hình phối hợp trong khi bay giữa các drone thường liên quan tới các ứng dụng quân sự. Ví dụ, một nhóm máy bay không người lái có thể hoạt động theo kiểu tiến hành tấn công vào một mục tiêu cụ thể, một chiếc tàu chiến hay một chiếc xe tăng. Nếu được hoàn thiện, dàn drone và các mô hình chuyến bay của chúng còn có thể được tinh chỉnh để có thể vận chuyển cả những tải trọng nhỏ. Có thể mang theo một vật trọng lượng nhẹ, một chiếc máy bay không người lái về cơ bản sẽ có thể hoạt động như một tên lửa.  Ngoài việc luyện tập các đàn bay không người lái trong không trung, gần mặt đất và trên mặt nước, Trung Quốc còn luyện tập năng lực điều khiển các dàn drone ở khoảng cách gần (khoảng 20 km so với mực nước biển). Năm 2017, Bắc Kinh đã thử nghiệm thành công máy bay không người lái ở khoảng cách gần, với mục đích thu thập thông tin tình báo có thể được sử dụng cho mục đích quân sự và an ninh, ví dụ như lập bản đồ địa hình và chiến trường. Cuộc diễn tập của Học viện Quang điện tử tại Viện Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh vào năm 2017 đã đạt kết quả là phóng thành công máy bay không người lái bằng phương tiện xung điện từ, bay tới mục tiêu mà không cần hướng dẫn của con người. Các máy bay không người lái này bay đạt tốc độ 100 km/giờ trong phạm vi một mét, có khả năng tự điều chỉnh quỹ đạo và độ cao trên đường đi.  Khả năng điều khiển thành thạo các dàn máy bay không người lái như một phương pháp tình báo và thu thập thông tin quan trọng trên mặt đất sẽ mang lại nhiều ứng dụng hứa hẹn vì ở một số khía cạnh có thể thay thế cho vệ tinh với chi phí rẻ hơn nhiều. Tuy vậy, với việc Trung Quốc thể hiện tham vọng trong lĩnh vực quân sự thông qua ứng dụng công nghệ như drone swarming có thể tác động đáng kể đến cán cân quyền lực giữa các quốc gia đồng thời gây nên những mối quan ngại về an ninh trong khu vực.  “Công nghệ của Trung Quốc đang bắt kịp, và có lẽ vượt qua cả Mỹ”  Đó chính là nhận định được đưa ra trong Báo cáo về Sự tiến bộ của Trung Quốc ở các công nghệ mới nổi được đệ trình trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện của Mỹ vào tháng 1 năm 2018. Quả thật, trình diễn drone quy mô lớn chỉ là một trong những năng lực tiềm năng mới đối với lĩnh vực quốc phòng, Trung Quốc còn thể hiện những khả năng khác như tấn công mạng, vũ khí chống vệ tinh, công cụ chiến tranh điện tử, vũ khí siêu nhân, trí thông minh nhân tạo và công nghệ lượng tử. Đó là những năng lực mới mà công nghệ đột phá mang lại, có khả năng cho phép Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) giành chiến thắng trong tương lai. Những công nghệ này có thể được chia thành hai nhóm: Các công nghệ phá vỡ và làm suy giảm khả năng quân sự của đối phương bằng cách khai thác lỗ hổng trong miền thông tin; và các công nghệ có khả năng quyết định cán cân giữa năng lực kinh tế và năng lực chiến lược toàn cầu trong tương lai. Theo bản báo cáo, PLA đã nhận ra điểm yếu của quân đội Mỹ đó là rất dễ bị tấn công phủ đầu ở “địa hạt thông tin”. Mỹ có thể có nhiều tàu sân bay, xe tăng và tên lửa tốt hơn nhiều so với PLA, nhưng nếu không truy cập vào dữ liệu và kết nối của những hệ thống này không hoạt động hiệu quả hoặc thậm chí không thể hoạt động, thì những thiết bị quân sự tối tân đó cũng trở nên vô dụng. Những nhà quân sự chiến lược của Trung Quốc mô tả gót chân Achilles của quân đội Mỹ đó là: “Không có vệ tinh, không thể chiến đấu”. Trong khi đó, Trung Quốc đã chứng tỏ có khả năng phá vỡ, làm suy yếu và thậm chí phá hủy cơ sở hạ tầng ICT của quân đội Mỹ. Bên cạnh đó, PLA đã thử nghiệm một loạt các vũ khí chống vệ tinh, bao gồm các loại phương tiện tiêu diệt cơ động trên mặt đất (ground-based kinetic vehicles), vũ khí năng lượng định hướng (directed energy weapon), năng lực gây nhiễu và giả mạo, và “vệ tinh tiêu diệt”, được thiết kế để vô hiệu hóa hoặc phá hủy các vệ tinh khác trên quỹ đạo. Quân đội Trung Quốc còn mở rộng năng lực chiến tranh điện tử, thử nghiệm những năng lực phá rối các hệ thống radar và thông tin liên lạc cũng như các hệ thống GPS giả mạo. Quân đội Trung Quốc còn phát triển một số khả năng tấn công mạng tinh vi nhất trên thế giới. Họ cũng đầu tư mạnh vào việc xây dựng cơ sở công nghệ để có thể thống trị các công nghệ của tương lai. Đặc biệt, Trung Quốc coi trí tuệ nhân tạo (AI) và lượng tử là nền tảng cho cả năng lực cạnh tranh kinh tế và quân sự về lâu dài. Trung Quốc giờ đây không chỉ là một nước chuyên sao chép hay ứng dụng những công nghệ này mà còn là một nhà sáng tạo ra công nghệ. Bản báo cáo chỉ rõ, cạnh tranh trong lĩnh vực AI giữa Mỹ và Trung Quốc đã trở thành cuộc so kè bất phân thắng bại. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện xuất bản nhiều bài báo về lĩnh vực AI hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, mặc dù các bài báo của Mỹ được trích dẫn nhiều hơn. Các công ty Trung Quốc dã đạt được những cú đột phá lớn trong lĩnh vực ứng dụng AI bao gồm xử lý ngôn ngữ tự nhiên, thông dịch theo thời gian thực, phân tích hình ảnh, và lái xe tự động. Trong lĩnh vực lượng tử, Trung Quốc cũng đạt những bước tiến rất xa. Trung Quốc đã phóng một vệ tinh liên lạc lượng tử có tên là Micius; thiết lập một liên kết sợi lượng tử giữa Bắc Kinh và Thượng Hải; đầu tư hàng tỷ đô la vào nghiên cứu về điện toán lượng tử và thậm chí tuyên bố đã thử nghiệm radar lượng tử có chức năng phát hiện máy bay tàng hình.  Mặc dù một số tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ lượng tử của Trung Quốc có thể bị thổi phồng, nhưng không thể phủ nhận được quân đội Trung Quốc đang ngày càng trở nên mạnh nhờ những tiến bộ của các công nghệ đột phá. Sức mạnh này, như bản báo cáo của Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ chỉ ra, chủ yếu là nhờ một chiến lược tài trợ mạnh mẽ và đúng hướng của chính phủ Trung Quốc.    Phương Anh tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thu hút  công nghệ cao từ Mỹ      Nhiều năm trước, những nhà khoa học sáng giá nhất của Trung Quốc đã rời đất nước của mình tới Mỹ, nơi có nền công nghiệp công nghệ cao phát triển nhất thế giới để làm việc. Nhưng giờ đây, dường như xu hướng đang thay đổi theo chiều ngược lại.        Ví dụ của Applied Materials   Ông Pinto là trưởng phòng công nghệ của Applied Materials, một công ty công nghệ sáng giá nhất tại Silicon Valley sẽ vào Trung Quốc. Công ty trước đây từng cung cấp thiết bị sản xuất con chip điện tử máy tính đời mới nhất này giờ trở thành nhà cung cấp thiết bị lớn nhất không chỉ trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn, mà còn cả sản xuất các tấm pin năng lượng Mặt trời và các tấm thu nhiệt phẳng cỡ lớn.  Không chỉ gửi ông Pinto tới Trung Quốc, tháng 1 vừa qua, Applied Materials, trụ sở chính ở Santa Clara, California, cũng đã quyết định xây những phòng thí nghiệm hiện đại và lớn nhất của mình tại đây. Thậm chí, hồi đầu tháng 3, công ty còn tổ chức đại hội cổ đông thường niên tại Tây An.   Các công ty và kỹ sư của Mỹ hiện đang bị thu hút bởi thị trường Trung Quốc, nơi có nền kinh tế công nghệ phát triển rất nhanh và khả năng cạnh tranh ngược lại với Mỹ ngày càng cao.  Thậm chí còn có một số công ty Mỹ ký hợp đồng với các công ty Trung Quốc để nhận chuyển giao công nghệ từ đất nước đông dân nhất thế giới này. Thị trường công nghệ Trung Quốc hiện đang nổi lên các nhu cầu về điện, ô tô và nhiều thứ khác nữa. Các công ty của nước này cũng luôn nói rằng các nhà nghiên cứu của họ cần gần hơn nữa với công xưởng và thị trường. Applied Materials đã thành lập phòng nghiên cứu năng lượng mặt trời tại Trung Quốc vì họ nhận định rằng thị trường này sẽ tiêu thụ khoảng 2/3 các tấm pin năng lượng Mặt trời của thế giới vào thời điểm cuối năm nay.  “Hiển nhiên là chúng tôi không từ bỏ thị trường Mỹ, nhưng Trung Quốc hiện đang rất cần điện. Đơn giản chỉ có vậy”, ông Pinto, hiện kiêm nhiệm chức Phó chủ tịch điều hành mảng pin Mặt trời và tấm thu nhiệt nói.  Và không chỉ vậy  Trung Quốc đã trở thành thị trường ô tô lớn nhất thế giới và General Motors cũng nhanh chóng có một trung tâm nghiên cứu lớn của mình tại Thượng Hải, với qui mô đầu tư nâng cấp ngày một lớn hơn.  Đất nước này cũng là thị trường lớn nhất đối với máy tính để bàn và có lượng người dùng Internet lớn nhất thế giới. Chính vì lẽ đó, việc Intel mở vài phòng nghiên cứu về chất bán dẫn và hệ thống máy chủ mạng ở Bắc Kinh thì cũng là chuyện bình thường.  Không chỉ hấp dẫn bởi một thị trường rộng lớn, các công ty phương Tây còn lao tới Trung Quốc vì nhiều lẽ. Trong số đó phải kể tới lực lượng nhân công rẻ, các kỹ sư lành nghề, chất lượng cao và các khoản tài trợ của các thành phố, các tỉnh, nhất là đối với các công ty sản xuất năng lượng sạch.          TQ hấp dẫn không chỉ bởi có thị trường rộng lớn,               mà còn có đội ngũ công nhân lành nghề, giá rẻ        Giờ thì theo ông Pinto, các nhà nghiên cứu từ Mỹ và châu Âu đã sẵn sàng chuyển tới Trung Quốc nếu họ thực sự muốn các thành tựu nghiên cứu mới nhất của họ được đưa vào sản xuất. Phòng nghiên cứu mới của Applied Materials là nơi duy nhất có thể đáp ứng yêu cầu cung cấp các dây chuyền sản xuất tấm pin mặt trời hoàn chỉnh.  Tây An là một thành phố nằm cách Bắc Kinh khoảng 1.000km, nơi vốn là cố đô của Trung Hoa và hiện có tới 47 trường đại học và giáo dục bậc cao, đào tạo hằng năm nhiều thạc sĩ về kỹ thuật, mà mức thu nhập hằng tháng của họ chỉ vào khoảng 730 USD.  Tại Tây An còn có Viện Nghiên cứu Nhiệt năng, phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới của Trung Quốc về than sạch. Phòng thí nghiệm này cũng vừa cấp bản quyền công nghệ mới nhất của mình cho một công ty của Mỹ mới thành lập, có tên Future Fuels (Nhiên liệu Tương lai).  Công ty này có kế hoạch nhập khẩu từ Trung Quốc 130 tấn thiết bị trị giá 100 triệu USD nhằm biến than thành khí. Đây là phương pháp giúp giảm khí độc hại thải ra môi trường, bên cạnh đó có khả năng hấp thụ và cô lập các loại khí có hại như CO2 dưới lòng đất.  Future Fuels sẽ cung cấp các thiết bị cho bang Pennsyvalia và các chuyên gia công nghệ của Trung Quốc sẽ tới Mỹ để hướng dẫn cách lắp đặt và vận hành các thiết bị này. NatCore Technology, một công ty khác thuộc Red Bank (New Jersey) mới đây tìm ra phương pháp chế tạo được các tấm pin Mặt trời mỏng, với mục đích sử dụng ít năng lượng và phát thải thấp hơn trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, các công ty của Mỹ lại ít chú ý tới khám phá này. Vì thế, không có cách nào khác, NatCore buộc phải tìm kiếm thỏa thuận với các công ty Trung Quốc để hoàn thiện và phát triển công nghệ mới, tiến tới sản xuất hàng loạt tại Trung Quốc.  Tại sao Trung Quốc hấp dẫn?  Tổng thống Obama thường nói về việc tạo ra việc làm trong lĩnh vực năng lượng sạch tại Mỹ nhưng trên thực tế, Trung Quốc mới là nước thực sự mong muốn điều đó, ông Pinto nhấn mạnh.   Ở phạm vi địa phương, chính quyền Tây An đã cấp phép sử dụng đất trong vòng 75 năm cho Applied Materials với giá thuê cực kỳ hấp dẫn, và còn ưu đãi hoàn thuế cho công ty mỗi năm một quí, trong vòng 5 năm liền, ông Gang Zou, giám đốc điều hành nhà máy của Applied Materials tại Tây An nói.  Hai phòng thí nghiệm của công ty, với diện tích rất lớn, cỡ hai sân bầu dục là mô hình đặc biệt chưa từng có trên thế giới. Applied Materials tiếp tục phát triển hệ thống những máy móc phức tạp ở Mỹ và châu Âu, nhưng lại lắp đặt và sản xuất tại Tây An.   Applied Materials đào tạo 360 công nhân vận hành cho nhà máy tại Tây An, nhưng lại có kế hoạch cắt giảm nhân công vào khoảng 10-12%, tức là từ 1.300-1.500 việc làm tại các cơ sở của mình ở Mỹ và châu Âu. Ông Pinto cho biết công ty của ông điều chỉnh lực lượng nhân công và hướng tới sản xuất ở châu Á. Cơ sở nghiên cứu ở Tây An phục vụ cho một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu thiết kế một dây chuyền sản xuất đồng bộ, nhưng điều này không có nghĩa là cơ sở này thay thế toàn bộ các phòng thí nghiệm ở những nơi khác.  Mặc dầu gia đình vẫn ở Santa Clara nhưng ông Pinto đã chuẩn bị kế hoạch cho tương lai, trước mắt bằng việc cho các con trai học tiếng Trung mỗi tuần một buổi. Giờ thì hai cậu con trai, đứa 10 tuổi, đứa kia 11 tuổi đã có khả năng giao tiếp tương đối tốt bằng tiếng Trung và đã học được cách ăn bằng đũa.  Applied Materials còn phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có việc chống lại tình trạng ăn cắp công nghệ, một vấn nạn kinh niên ở Trung Quốc. Công ty đã dùng nhiều biện pháp, trong đó có việc sử dụng niêm phong cho các cổng máy tính, nhằm tránh việc sao dữ liệu từ các ổ cứng di động. Nhân viên của công ty không được phép mang máy tính xách tay của nhà máy ra ngoài nếu chưa được cấp phép đặc biệt. Ngoài ra, công ty cũng sử dụng các hệ thống mật mã và khóa điện tử để hạn chế việc truy cập hệ thống thông tin, bảo vệ các bí mật công nghệ. Nhưng chẳng ai có thể quả quyết rằng những biện pháp này có thể ngăn chặn một cách hữu hiệu các ý định ăn cắp công nghệ, vốn luôn ngấm ngầm ở nơi đây.  Khi Xie Lina, một kỹ sư 26 tuổi của Applied Materials, được hỏi, liệu Trung Quốc có thể đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực năng lượng sạch của thế giới, cô tỏ vẻ ngạc nhiên: “Phần lớn các sinh viên tốt nghiệp ở Trung Quốc trong lĩnh vực này hiện đều được săn đón ở khắp nơi, vậy thì việc Trung Quốc dẫn đầu mọi lĩnh vực là điều đương nhiên”, cô nói.   Hà An dịch từ The New York Times 17/3/2010    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thử nghiệm máy lọc không khí khổng lồ      Sản phẩm thử nghiệm cung cấp một giải pháp sáng tạo cho vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng.      Bên trong tháp có chức năng lọc không khí ô nhiễm – một dự án thử nghiệm giảm hiện tượng khói bụi ở Tây An, Trung Quốc.  Một cột tháp cao 60m đứng giữa biển các tòa nhà cao tầng tại một trong các thành phố ô nhiễm nhất Trung Quốc – Tây An, nhưng thay vì thả thêm khói mù, ống này giúp làm sạch không khí. Hệ thống làm sạch không khí ngoài trời, sử dụng năng lượng Mặt trời, lọc các hạt độc hại và nhả ra không khí sạch. Các nhà khoa học đã thiết kế mẫu thử nghiệm này nói rằng hệ thống có thể cắt giảm đáng kể ô nhiễm ở khu vực đô thị của Trung Quốc cũng như các nơi khác.  Công nghệ này đã khiến các nhà nghiên cứu phấn khích và tò mò, đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi ô nhiễm không khí đang là thách thức hàng ngày. Trưởng dự án Cao Junji – nhà hóa học tại Phòng thí nghiệm trọng điểm Vật lý và hóa học Sol khí (Key Laboratory of Aerosol Chemistry and Physics) thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc đặt tại Tây An, Thiểm Tây, nói các kết quả ban đầu chưa được công bố nhưng hứa hẹn tiềm năng.  Donald Wuebbles – nhà khoa học về khí quyển tại University of Illinois (Urbana-Champaign), người đã nghe về hệ thống nhưng chưa được chứng kiến cách vận hành nói: “Đây chắc chắn là một ý tưởng rất thú vị. Tôi không biết ai có thể làm ra một dự án như vậy.”  Khi ghé thăm công trình này tháng trước, ông Bai Chunli – Viện trưởng Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc tỏ ra rất quan tâm đến mẫu thử nghiệm trị giá 2 triệu USD từ ngân sách tỉnh. Ông Cao nói rằng lãnh đạo Trung Quốc đang mong đợi các giải pháp sáng tạo để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí bởi nó đang ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng trên diện rộng. Nghiên cứu Bệnh tật Toàn cầu 2015 – một nghiên cứu được tiến hành nhằm lập bản đồ bệnh tật của thế giới, cho thấy ô nhiễm đã góp phần gây ra 1,1 triệu ca tử vong sớm ở Trung Quốc chỉ riêng trong năm đó.  Cao đã đệ trình đề nghị xây dựng một tháp khác cao 300m ở Tây An. Ông cũng đang nêu các đề xuất với các thành phố ở Quảng Châu, Hà Bắc và Hà Nam.  Nhưng cũng có nhiều người hoài nghi về công nghệ này vì cho rằng có nhiều cách rẻ hơn để giảm ô nhiễm không khí.  Hiệu ứng ống khói  Ống bê tông ngự trị trên đỉnh một kiến trúc mở với mái kính. Bức xạ mặt trời chiếu vào kính và làm nóng không khí, khiến nó chuyển động theo hướng từ dưới đáy tháp đi lên. Khi đó, không khí được lọc qua những lớp lọc công nghiệp trước khi thoát ra ngoài. Hệ thống này được thiết kế dựa vào cách tạo ra điện từ năng lượng mặt trời.  Renaud de Richter, kỹ sư hóa học tại Ecole Nationale Supérieure de Chimie de Montpellier, người tham gia xây dựng tháp, nói: “Đây là một thử mẫu được thiết kế và xây dựng rất tốt.” Richter nói rằng thành công của Cao có thể giúp thuyết phục các nhà đầu tư hỗ trợ các ứng dụng khác dựa trên luồng không khí được làm nóng bởi năng lượng mặt trời thông qua ống khói – một công nghệ được gọi là dòng vận động đi lên của mặt trời (solar updraft).  Ô nhiễm lên tới cao điểm vào mùa đông nên Cao đã chọn thời điểm này để thực hiện đợt kiểm tra đầu tiên về bộ lọc không khí của hệ thống trong 2 tuần vào tháng Một. Tại tháp và 10 trạm giám sát trong khu vực rộng 10km2, ông đặt các thiết bị có thể đo các hạt vật chất nhỏ hơn 2,5 micrometre (PM2.5), một loại ô nhiễm đang gây cản trở cho các thành phố ở Trung Quốc.  Cao phát hiện rằng tháp nhả ra 5 đến 8 triệu mét khối khí đã được lọc mỗi ngày vào mùa đông. Trong giai đoạn nghiên cứu, các thiết bị kiểm soát xung quanh ghi nhận rằng nồng độ PM2.5 đã giảm xuống 19% so với những khu vực khác. Cao đang chuẩn bị kết quả cho vòng bình duyệt.  Cao nói rằng tác động của mẫu thử nghiệm mới trên quy mô nhỏ, vì vậy ông đề nghị tạo ra một chuỗi các ống tháp lớn hơn phân bổ quanh trung tâm đô thị. Ông cũng đang thiết kế 1 tháp cao 500m – “Tác động của một hệ thống vẫn còn ở mức khá nhỏ. Chúng tôi cần nhiều hệ thống phức hợp để giảm đáng kể nồng độ ô nhiễm không khí.”  Các giải pháp thay thế rẻ hơn  Neil Donahue, người nghiên cứu các hạt trong khí quyển tại Carnegie Mellon University (Pittsburgh, Pennsylvania) nói rằng có một chút nghi ngờ về việc kéo một lượng lớn không khí qua các lớp lọc hạt hiệu quả cao sẽ làm sạch nó. Nhưng Donahue tự hỏi liệu lợi ích có đáng giá để gây thiệt hại môi trường khi xây dựng và vận hành các cơ sở như vậy – “Tôi muốn thấy một sự đánh giá về năng lượng và các nguồn sử dụng cho quy trình lọc.” Việc chuyển cùng một lượng năng lượng tương tự thành điện sạch, hoặc không gây ô nhiễm ở nơi đầu nguồn, có thể đạt được mục tiêu giống giảm ô nhiễm.  Wuebbles cũng lo ngại rằng ống khói sẽ chỉ lọc các hạt vật chất mà không giải quyết tiền thân của hạt vật chất như khí SO2, NOx – cũng gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, hoặc các chất ô nhiễm thứ cấp như O3 – “Vì vậy, dù bầu trời trông có vẻ sạch hơn, chất lượng không khí vẫn có thể tồi tệ.”  Cao nói rằng hệ thống sẵn sàng loại bỏ NOx – một trong những tiền thân lớn của hạt siêu mịn và O3. Ông cũng nói rằng những quan ngại về tính kinh tế đang bị thổi phồng. Ông đã tính toán chi phí vận hành cuả dự án thí điểm là khoảng 30.000USD/năm.  Mặc dù có một số hạn chế, các nhà nghiên cứu – chẳng hạn như nhà khoa học khí quyển Jose Jimenez thuộc trường đại học Colorado Boulder – nhìn thấy ưu điểm trong việc theo đuổi công nghệ này – “Tôi phải nói chắc chắn rằng nó đáng được khám phá nhiều hơn nữa, dẫu rằng ở thời điểm này nó vẫn chưa thuyết phục.”  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-02704-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thúc đẩy sản xuất ô tô tự lái      Trung Quốc đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ ô tô tự lái, mục tiêu của họ là vượt qua những đối thủ lớn như Google và Tesla. Trong triển lãm ô tô Bắc Kinh 2016 này, khách tham quan rất bất ngờ khi các công ty ô tô nội địa Trung Quốc đã chú trọng đổi mới sáng tạo thay vì chỉ bắt chước. Trước đây, người ta nghĩ đổi mới chỉ có ở Thung lũng Silicon, nay điều đó đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Điểm nhấn của triển lãm ô tô năm nay là xe không người lái.      Một số mẫu xe đáng chú ý  Changnan: Hai mẫu xe không người lái của Changnan đã vượt hơn 2000 km từ trụ sở chính đến triển lãm Bắc Kinh. Hai chiếc xe này sử dụng hệ thống camera và radar để hoàn thành hành trình sáu ngày này. Nhà sản xuất cho biết, họ có thể duy trì hoặc chuyển làn đường, nhận biết các tín hiệu giao thông, đặt hành trình tự động và điều khiển bằng giọng nói.  Baidu và BMW: Hai ông lớn công nghệ này hợp tác với nhau và đưa ra sản phẩm là một chiếc xe không người lái, chiếc xe này đã tự chạy trên 30km ở đường phố Bắc Kinh và cũng đã chạy thử nhiều lần với những thao tác bao gồm quay đầu xe 180o, chuyển làn và chạy trên những đoạn đường dốc.  Geely và Volvo: Chủ sở hữu Trung Quốc của hãng xe Volvo của Thụy Điển cho biết, họ có kế hoạch cho chạy thử nghiệm 100 chiếc xe không người lái trong điều kiện giao thông “thường ngày”. Đây là bước tiến quan trọng cho việc thành lập các nhóm nghiên cứu, hợp tác Trung Quốc – Thụy Điển. Volvo cũng đang thử nghiệm xe không người lái ở Thụy Điển và Anh.  Ngoài những ông lớn kể trên, rất nhiều nhà sản xuất ô tô, công ty công nghệ, học viện cũng nghiên cứu về công nghệ ô tô không người lái.  Phân loại công nghệ “xe không người lái”   Đây là một công nghệ mới, còn đang trong giai đoạn hoàn thiện, các nhà chức trách Mỹ đã phân loại ra năm cấp độ công nghệ “không người lái” sau:  Cấp độ 0: Không có tự động hóa, bạn phải tự lái.  Cấp độ 1: Một hoặc vài chức năng tự động hóa, chẳng hạn như kiểm soát điện tử ổn định.  Cấp độ 2: Kết hợp các chức năng tự động hóa: Ít nhất hai chức năng tự động đồng thời cùng liên kết hoạt động. Chẳng hạn như kết hợp chức năng kiểm soát hành trình có điều chỉnh với chức năng giữ làn đường.  Cấp độ 3: Tự lái nhưng bị giới hạn: Chiếc xe có thể tự lái “trong một số điều kiện giao thông cụ thể”, người lái chỉ cần điều khiển trong “một số trường hợp”, đây là mục tiêu mà Google và các dự án xe tự lái của Trung Quốc đang nhắm tới.  Cấp độ 4: Tự lái hoàn toàn, người lái không phải điều khiển gì.  Ai sẽ dẫn đầu công nghệ?  Đây là một câu hỏi chưa ngã ngũ. Nhưng rõ ràng công nghệ ô tô của Trung Quốc đang đặt mục tiêu dẫn đầu, còn Mỹ cũng vẫn đang đi tiên phong với rất nhiều phát minh từ trước. Hiện nay, trung tâm của các phát minh vẫn ở Thung lũng Silicon, và đây sẽ là nơi đưa ra ô tô tự lái sớm hơn. Nhưng dường như công chúng có thái độ trông chờ ô tô tự lái của Trung Quốc hơn bất kỳ nước nào khác. Và các nghiên cứu để sản xuất ô tô tự lái nhận được sự hỗ trợ rất lớn, có tính quyết định từ Chính phủ Trung Quốc.  Thu Quỳnh lược dịch  http://www.bbc.com/news/business-36136590    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc tiến gần tới vaccine tả lợn châu Phi      Suốt 18 tháng qua, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã phát triển một vaccine có thể bảo vệ đàn lợn khỏi virus gây dịch tả lợn châu Phi. Tuy nhiên các nhà vi trùng học cho biết nhóm phát triển vaccine vẫn cần thực hiện thử nghiệm lâm sàng để có thể sản xuất vaccine trên quy mô lớn.      Dịch tả lợn châu Phi đã làm chết 40% tổng số hơn 440 triệu con lợn của Trung Quốc. Hiện việc điều trị hoặc tiêm vaccine cho căn bệnh truyền nhiễm sốt tả lợn châu Phi, một bệnh xuất huyết có thể khiến tất cả các con lợn bị lây nhiễm chết nhưng không ảnh hưởng cho người.  “Một vaccine cần thiết cho việc tái đàn lợn ở Trung Quốc”, Bu Zhigao, một nhà virus học ở Viện nghiên cứu thú y Cáp Nhĩ Tân, nói. Bu là đồng tác giả một công trình về thử nghiệm vaccine mới xuất bản trong tháng ba này trên Science China Life Sciences.  Trung Quốc đã quyết định đầu tư các nguồn không giới hạn vào phát triển vaccine, Bu nói. Đất nước này đã phải hứng chịu một tổn thất kinh tế lớn vì dịch tả lợn châu Phi – tổng số lợn của Trung Quốc là hơn 440 triệu con nhưng đã bị sụt giảm 40% kể từ khi virus xuất hiện ở Thẩm Dương vào tháng 8/2018 – dù bệnh dịch đã được chính phủ kiểm soát, Bu cho biết thêm.  Các nhà vi trùng học nói, nhóm nghiên cứu của Trung Quốc đã tiến xa hơn bất cứ nhóm nào trong việc kiểm tra độ an toàn và hiệu quả của vaccine. Dữ liệu này rất hứa hẹn, Daniel Rock, một nhà vi trùng học tại trường ĐH Illinois tại Urbana-Champaign, nói.  Virus nhược độc  Nhóm nghiên cứu của Bu bắt đầu tìm hiểu về vaccine sau khi phân lập virus khỏi lá lách của một lợn bị nhiễm. Chủng virus đang lây lan khắp Trung Quốc này  được nhận diện là hoàn toàn tương đồng về mặt di truyên với virus đã tìm thấy ở Georgia năm 2007, và cũng lây truyền qua Đông Âu trước khi chạm đến Trung Quốc.  Lối tiếp cận vaccine của nhóm nghiên cứu là sử dụng một virus sống mà làm nhược độc nó. Các con lợn bi phơi nhiễm với những virus đó được chờ đợi sẽ gia tăng sự phản hồi của hệ miễn dịch để bảo vệ chúng khỏi chủng virus lây nhiễm từ bên ngoài. Lối tiếp cận này đã từng thành công trên các vaccine cho động vật chống lại bệnh sốt lợn cổ điển và porcine parvovirus, Rock nói.  Để phát triển vaccine thực nghiệm, Bu và nhóm nghiên cứu của mình đã tạo ra nhiều chủng của virus gây bệnh ở Trung Quốc theo cách xóa các gene được phát hiện là liên quan đến bệnh. Một trong các chủng, trong đó có 7 gene bị xóa, có thể giúp những con lợn bảy tuần tuổi chống lại virus cúm lợn châu Phi.  Người ta chỉ thấy các triệu chứng rất nhẹ của bệnh trên các con lợn được tiêm vaccine với liều cao của chủng nhược độc, hoặc thậm chí là không triệu chứng nào, khi phơi nhiễm virus ngoài môi trường. Kết quả này là “những gì anh mong muốn nhận được”, Linda Dixon, một nhà virus học tại Viện nghiên cứu  Pirbright gần Woking, Anh.  Trong những nghiên cứu tiếp theo trên lợn thương phẩm, nhóm nghiên cứu của Bu thấy sau hai lần tiêm vaccine liều cao có thể bảo vệ những con lợn trong suốt thời gian sống, vốn trên thực tế chỉ là khoảng 5 tháng trước khi được bán.  Một số rủi ro  Dẫu sao, rủi ro với việc sống cùng các vaccine nhược độc là thi thoảng chúng có thể đột biến thành những chủng độc hơn, Rock cho biết. Ví dụ, các vaccine tả lợn châu Phi từng được giới thiệu ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào những năm 1960 đã dẫn đến sự nguy hại của suy nhược ở lợn, những hình thức tồn tại vĩnh viễn của virus mà thi thoảng làm lợn chết.  Để đảm bảo độ an toàn, nhóm nghiên cứu Trung Quốc đã thực hiện trực tiếp các thử nghiệm chưa từng có trước đây với các vaccine nhược độc, Rock cho biết.  Một trong những thử nghiệm là phun virus nhược độc lên những con lợn, sau đó lấy các mẫu máu chứa virus và phun chúng trở lại lên nhóm lợn thứ hai. Quá trình này được lặp lại trên 5 nhóm lợn và không có dấu hiệu virus nhược độc có thể độc trở lại như ban đầu. Những con lợn mang thai cũng được đưa vào thực nghiệm cũng cho ra đời những con lợn con khỏe mạnh, theo bài báo này.  Nhưng Dixon cũng lưu ý là một chủng được chỉnh sửa của virus với 6 trên 7 gene bị loại, đã bị gia tăng độc tính hơn trong quá trình thử nghiệm, do đó cần có thêm những nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn.  Bu cho tằng các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã chứng minh mức độ rủi ro thấp của việc tái độc với sự biến đổi của bảy gene bị xóa. Nhưng trước khi công khai vaccine, nhóm nghiên cứu của ông sẽ thực hiện một ca lâm sàng với khoảng 10.000 đến 20.000 lợn.  Một trở ngại lớn khác để phát triển vaccine là thiếu một dòng tế bào để tạo ra virus nhược độc một cách rộng hơn và rẻ hơn, Dixon nói. Một dòng tế bào được phát triển một cách liên tục có thể tạo ra virus cho vaccine hiện không sẵn có, bà giải thích. Hiện bà đang hợp tác với Federico Zuckermann, người thành lập công ty công nghệ sinh học Aptimmune Biologics ở Champaign, Illinois, người đang phát triển một dòng tế bào tầm năng, và học đang thử nghiệm tính khả thi của dòng tế bào này nhằm tạo ra một vaccine nhược độc trên chủng Georgia.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00742-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc tiếp tục thế độc tôn về đất hiếm      Trung Quốc gần như độc diễn trong việc khai  thác và cung cấp đất hiếm cho các nền công nghiệp cả thế giới – đây là  một sự lệ thuộc không mấy dễ chịu. Một nghiên cứu gần đây cho thấy tình  trạng này chỉ thay đổi một cách chậm chạp.     Cơ quan Liên bang về Khoa học địa chất và tài nguyên của Đức (Die Bundesanstalt für Geowissenschaften und Rohstoffe – BGR) vừa công bố những số liệu mới nhất về đất hiếm trên thị trường thế giới, cho thấy năm 2010, sản lượng của Trung Quốc chiếm 97,6% và năm vừa qua vẫn ở mức 92,1 %.   Các đối thủ cạnh tranh vẫn chưa rời khỏi điểm xuất phát mặc dù đều muốn tăng nhanh sản lượng để thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc: sản lượng của Mỹ năm qua đạt 4,3 %, Nga 2,3 % và Malaysia là 1,3 %.   Trong năm 2013, cả thế giới sản xuất được 90.500 tấn đất hiếm, giảm khoảng một phần ba (tương đương 133.500 tấn) so với năm kỷ lục 2009. Nguyên nhân chủ yếu do giá giảm mạnh và do các quốc gia công nghiệp chuyển sang dùng những nguyên liệu thay thế để hạn chế sự lệ thuộc vào đất hiếm.   Theo các nhà địa chất, hiện thế giới có 440 mỏ đất hiếm. Trữ lượng đất hiếm đã biết với sản lượng khai thác như hiện nay đủ dùng trong 285 năm nữa, thậm chí có thể lâu hơn. Tuy nhiên ở đây có một vấn đề: Giới chuyên môn phân đất hiếm thành hai nhóm, đất hiếm nhẹ (Cerium, Lanthanum, Praseodymium, Neodymium) và đất hiếm nặng (Dysprosium, Terbium, Europium…) mà theo các chuyên gia BGR, khả năng cung cấp của nhóm thứ nhất không có vấn đề gì, trong khi đó các khu mỏ như Mountain Pass (Mỹ), Mount Weld (Úc) hay khu mỏ Lovozero (Nga) gần như không có đất hiếm nặng – điều đó có nghĩa là ở mảng này Trung Quốc sẽ chiếm vị trí độc tôn.   Đất hiếm là một nhóm gồm 17 kim loại, thường chúng xuất hiện tại cùng một địa điểm và trong cùng một loại khoáng thạch. Đất hiếm tuy chỉ được sử dụng với khối lượng nhỏ nhưng lại không thể thiếu trong các lĩnh vực sản xuất máy tính, đầu DVD, các loại ắc quy công suất lớn, ô tô lai Hybrid, bán dẫn, điện thoại di động, một số thiết bị quân sự và tuốc-bin gió. Các nước có nền công nghệ phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ, đều có nhu cầu lớn về đất hiếm.   Trung Quốc là nước sản xuất nhiều đất hiếm nhất thế giới, vượt xa các nước khác. Năm 2008, Trung Quốc đã khai thác 120.000 tấn, chiếm 97% sản lượng cả thế giới, và xuất khẩu trên 30.000 tấn.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Trong vòng 2 năm có thể không còn thặng dư thương mại      Một cố vấn của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho biết có thể nước này sẽ không còn thặng dư thương mại trong 2 năm nữa, khiến tỷ giá nhân dân tệ không còn là một vấn đề đáng quan tâm.    “Từ 1 đến 2 năm tới, thặng dư thương mại của chúng tôi sẽ bằng không” – cố vấn Li Daokui cho biết trong một cuộc phỏng vấn tại Bắc Kinh vào ngày hôm nay 18/11. “Có thể đồng nhân dân tệ thậm chí sẽ phải đối mặt với áp lực rớt giá. Đến khi đó thì cứ để cho thị trường quyết định biến động của nó”.   Các nhà hoạch định chính sách ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã cam kết sẽ điều chỉnh tăng trưởng quốc gia hướng tới tăng nhu cầu nội địa và thu hẹp thặng dư thương mại với bên ngoài để giúp giải quyết dòng chảy thương mại và đầu tư mất cân đối – yếu tố đã góp phần vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu của năm 2008. Dòng chảy thương mại không cân bằng này đã làm dấy lên những lời kêu gọi từ Mỹ và các quốc gia G20 khác yêu cầu Trung Quốc cho phép đồng tiền của mình giao dịch linh hoạt hơn.   Cố vấn Li cho biết tại một diễn đàn diễn ra ngày hôm nay 18/11 rằng tỷ giá hối đoái đang trở thành một vấn đề “nhỏ hơn nhiều” so với trước đây trong những năm qua. Ông cho rằng thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể chiếm gần 1,6% hoặc 1,5% tổng sản phẩm quốc nội trong năm nay.  Dữ liệu của Chính phủ cho thấy tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đã giảm từ mức cao nhất trong 3 năm là 6,5% hồi tháng 7 xuống còn 5,5% vào tháng trước. Nền kinh tế tăng trưởng 9,1% trong quý 3* – ít nhất kể từ năm 2009 trong bối cảnh đang diễn ra chiến dịch của Chính phủ nước này nhằm hạ nhiệt giá tiêu dùng và giá bất động sản.  Theo dữ liệu của Bloomberg, hôm nay 18/11, đồng nhân dân tệ đã giảm 0,16% xuống còn 6,3528. Tiền tệ Trung Quốc đã tăng 2,3% so với đồng đô-la trong 6 tháng qua.  Dự báo về đồng nhân dân tệ  Tuần này, Standard Chartered đã xem xét lại những dự án của mình đối với đồng nhân dân tệ so với đồng đô-la, dự đoán rằng đồng tiền này sẽ tăng 0,6% mỗi quý trong nửa đầu năm 2012, thấp hơn mức 1% hàng quý mà công ty đã dự kiến trước đó.  Ông Li cho biết dân số già của Trung Quốc sẽ không còn là vấn đề dáng ngại trong 10 năm tới vì nguồn cung lao động dự kiến sẽ tăng.  Tuần này, ngân hàng trung ương cho biết cơ quan này không thể nới lỏng kiếm soát về giá, đồng thời khẳng định lại cam kết của Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong việc “tinh chỉnh” các chính sách nếu cần. Trong khi lạm phát có thể tiếp tục giảm nhẹ thì “nền tảng cho sự ổn định về giá vẫn chưa bền vững” – ngân hàng này cho biết trong bản báo cáo chính sách tiền tệ quý 3.  Nguyễn Thảo dịch từ   http://www.bloomberg.com/news/2011-11-18/china-trade-surplus-may-be-wiped-out-within-two-years-pboc-adviser-says.html     * Chú thích của Tia Sáng: có thể cách tính ở đây là tăng trưởng trong 12 tháng, tính tại quý 3 năm nay.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc trước ngã ba đường      “Trung Quốc 2030”, báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới và một số chuyên gia của Chính phủ Trung Quốc kết luận rằng: Trung Quốc sẽ khủng hoảng kinh tế nếu không có những giải pháp cải cách sâu rộng, bao gồm giảm bớt quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước, và bắt buộc các doanh nghiệp này hoạt động theo những thông lệ thương mại thông thường.      Báo cáo “Trung Quốc 2030” chỉ ra một số trong những vấn đề kinh tế có tính nhạy cảm chính trị cao nhất. Báo cáo này được xây dựng nhằm tác động tới thế hệ lãnh đạo sắp tới của Trung Quốc, những người sẽ bắt đầu nhiệm kỳ của mình trong năm nay. Nội dung của nó thách thức mô hình kinh tế được hình thành trong nửa thập kỷ gần đây dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào mà trong đó vai trò nhà nước đối với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới liên tục được mở rộng.     Báo cáo cảnh cáo rằng tăng trưởng của Trung Quốc có nguy cơ suy giảm nhanh chóng một cách đột ngột. Đây là điều đã xảy ra với những nước đang phát triển từng thành công ngoạn mục khác, như Brazil hay Mexico, khi những nước này vấp phải “bẫy thu nhập trung bình” sau khi đạt một ngưỡng thu nhập nhất định. Suy thoái nhanh chóng sẽ làm trầm trọng thêm các vấn đề của khu vực ngân hàng Trung Quốc và các khu vực khác, báo cáo cảnh báo, và có thể gây ra một cuộc khủng hoảng.    Khuyến nghị của báo cáo là các công ty nhà nước phải có sự theo dõi của các công ty quản lý tài sản, và Chính phủ cần kiểm soát kỹ tình hình tài chính các chính quyền địa phương, khuyến khích cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp tư nhân.                         Các doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu đa số đang nắm giữ một phần lớn GDP, sản lượng công nghiệp, cũng như nhân công ở Trung Quốc.           “Các doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc đang đứng trước ngã ba đường”, nhận định từ Fred Hu, giám đốc điều hành Primavera Capital Group, một công ty đầu tư ở Bắc Kinh. Chính phủ Trung Quốc phải quyết định “liệu họ muốn nền kinh tế thị trường theo định hướng nhà nước sẽ bị chi phối bởi những tập đoàn nhà nước khổng lồ hay là những doanh nghiệp tư nhân của thị trường tự do”.    Cải cách để phát triển  Không rõ báo cáo sẽ tác động tới đường lối chính sách kinh tế của Trung Quốc tới mức độ nào. Theo các chuyên gia thì từ trước khi công bố, báo cáo đã vấp phải phản ứng gay gắt từ các quan chức quản lý doanh nghiệp nhà nước.  Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người dự kiến sắp trở thành lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, chưa hé lộ nhiều về chủ trương chính sách kinh tế của mình. Các nhà phân tích hi vọng tính nghiêm túc cao của báo cáo sẽ thuyết phục được ông Tập và các đồng minh cân nhắc bàn thảo những điều chỉnh cho mô hình kinh tế theo định hướng nhà nước, vốn đã kiềm tỏa các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc và tạo căng thẳng giữa Trung Quốc với các đối tác thương mại, bao gồm cả Mỹ.   Các tác giả báo cáo cho rằng sự đồng thuận quan điểm từ cả Ngân hàng Thế giới lẫn Trung tâm Nghiên cứu Phát triển (DRC) – cơ quan tư vấn cho ban lãnh đạo cao cấp nhất của Chính phủ Trung Quốc – sẽ làm tăng trọng lượng cho báo cáo. Ngân hàng Thế giới lâu nay đã được sự tôn trọng khá rộng rãi từ các quan chức Chính phủ Trung Quốc, cụ thể là qua những tư vấn hữu ích giúp định hình tiến trình cải cách thị trường trước đây cho Trung Quốc.    Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick, trong thông điệp thông báo về báo cáo đã khẳng định “báo cáo đưa ra những khuyến nghị cho một lộ trình phát triển trong khoảng trung hạn, giúp Trung Quốc chuyển tiếp lên một xã hội có thu nhập ở mức cao”.                          Một số nước nghèo trước đây đã tích cực tăng trưởng trong 40 năm qua để dần bắt kịp các nước phát triển. Bảng GDP trên đầu người các nước được điều chỉnh theo sức mua (PPP) tính theo % so với Mỹ (màu xanh: trung bình từ 1950-1969; màu cam: trung bình 2007-2009).            Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đang chi phối lớn tới nền kinh tế Trung Quốc trên các lĩnh vực năng lượng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, viễn thông, và hạ tầng. Bên cạnh những đặc quyền khác, họ được tận dụng nguồn vay ưu đãi từ các ngân hàng của nhà nước.  Trưởng Ngân khố Mỹ Timothy Geithner và các quan chức phương Tây lâu nay chỉ trích rằng những hỗ trợ cho các doanh nghiệp này làm bóp méo cạnh tranh quốc tế. Trong nước, các nhà phê bình phàn nàn rằng những công ty này bóp nghẹt cạnh tranh nội địa, sử dụng đa phần lợi nhuận độc quyền vào việc bành trướng kinh doanh, mở ra các công ty mới, và chỉ trả cho nhà nước phần lợi tức ít ỏi. Một quan chức Ngân khố Mỹ hôm 22/2 khẳng định rằng nước Mỹ ủng hộ những cải cách của Trung Quốc giúp tăng cường khả năng cạnh tranh giữa doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp nhà nước.      Doanh nghiệp nhà nước thao túng  Những người thực hiện báo cáo khẳng định rằng quan điểm của Ngân hàng Thế giới và DRC là các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc phải được sự giám sát của những công ty quản lý tài sản. Những nhà quản lý tài sản này sẽ giám sát để đảm bảo rằng các doanh nghiệp vận hành theo các tiêu chuẩn kinh doanh thông thường, thay vì chạy theo mục tiêu chính trị. Họ sẽ bán bớt những doanh nghiệp bị coi là không cần thiết, giúp các doanh nghiệp tư nhân dễ cạnh tranh hơn.    “Trung Quốc cần hạn chế vai trò của các doanh nghiệp nhà nước, phá vỡ thế độc quyền, đa dạng hóa sở hữu, và giảm rào cản với các doanh nghiệp tư nhân”, chủ tịch Ngân hàng Thế giới Zoellick khẳng định trong một cuộc tọa đàm với các nhà kinh tế ở Chicago hồi tháng một.  Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhà nước có những công ty con kinh doanh bất động sản. Điều này làm gia tăng giá đất, góp phần tạo bong bóng nhà đất mà lâu nay Chính phủ Trung Quốc vẫn tìm cách làm xẹp xuống.  Các nhà soạn thảo cho biết báo cáo cũng khuyến nghị rằng các doanh nghiệp nhà nước cần tăng mạnh phần lợi tức trả cho chủ sở hữu – tức Chính phủ Trung Quốc. Điều này sẽ làm tăng doanh thu cho Chính phủ và giúp chi trả cho những chương trình lợi ích xã hội mới.   “Đây là một đề xuất có tính cải tiến”, nhận xét từ Yiping Huang, một chuyên gia kinh tế của Barclays Capital. Tuy nhiên, cả Ngân hàng Thế giới và DRC đều không khuyến nghị tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, có thể vì điều này vẫn chưa được giới chính trị chấp nhận.  Các nhà kinh tế Trung Quốc và Mỹ cho rằng tiền lợi tức từ các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi thường bị san sẻ sang những doanh nghiệp không có lãi dưới sự điều phối của Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản Nhà nước (SASAC), cơ quan có vai trò quản lý các doanh nghiệp nhà nước và đảm bảo các công ty đều có lãi.   SASAC và ban tổ chức của Đảng Cộng sản có quyền bổ nhiệm hoặc thay thế các lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước. Điều này khiến Chính phủ có thể can thiệp sâu sắc vào các quyết định của doanh nghiệp. Lâu nay SASAC luôn muốn duy trì quyền lực của mình, và phê phán gay gắt mọi đề xuất về thay đổi cách thức tổ chức như hiện nay.  Trong khi đó, lại thêm một tín hiệu cho thấy những thách thức lớn mà các doanh nghiệp Trung Quốc đang phải đối diện: chỉ số đo lường mức hoạt động sản xuất toàn quốc cho thấy dù có một chút chuyển biến tích cực trong tháng 2, nhưng khối lượng sản xuất và tiêu thụ vẫn đang tiếp tục suy giảm. Chỉ số sơ bộ China Manufacturing Purchasing Managers Index của HSBC trong tháng 2 đạt mức 49,7, cao hơn mức 48,8 của tháng 1, theo công bố của HSBC Holdings PLC hôm 22/2 (chỉ số dưới 50 cho thấy khối lượng kinh doanh sản xuất vẫn đang giảm so với tháng trước).  Trung Quốc dễ bị tổn thương bởi một cuộc suy thoái lao dốc, theo nhận định từ Jun Ma, một chuyên gia kinh tế của Deustche Bank Trung Quốc. Ma cho rằng Trung Quốc quá lệ thuộc vào những ngành công nghiệp sao chép công nghệ nước ngoài trong khi chưa đủ sức tự mình tạo ra đột phá. Hàn Quốc vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh sau khi đạt mức thu nhập 5000 USD trên đầu người – cao hơn mức của Trung Quốc hiện nay – vì những nỗ lực cải tiến công nghệ. Nhưng Trung Quốc thua kém khá xa so với Hàn Quốc về số lượng bằng sáng chế trên đầu người, ông nói.  Các chính quyền địa phương Trung Quốc thường thu được nhiều ngân sách từ tiền bán đất hơn là thu thuế. Báo cáo cho rằng chi tiêu cho xã hội của chính quyền cần dựa nhiều hơn vào lợi tức của doanh nghiệp nhà nước, và từ thuế tài sản, thuế doanh nghiệp, và những nguồn thuế khác. “Chúng tôi khuyến nghị rằng mọi nguồn thu phải được đưa về ngân sách”, ông Zoellick nói trong cuộc tọa đàm ở Chicago. “Cần phải có tính minh bạch và có tính chịu trách nhiệm trong tài chính công”.         Những dự báo hiện nay của Conference Board, một hội đồng tư vấn Mỹ, cho thấy nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng ở mức 8% trong năm 2012, và sẽ giảm xuống trung bình còn 6,6% từ 2013 tới 2016. Các nhà kinh tế Barry Eichengreen của trường University of California at Berkeley, Donghyun Park của Ngân hàng Phát triển châu Á, và Kwanho Shin của trường Korea University, sau khi nghiên cứu lịch sử những nước thành công về tăng trưởng kinh tế trong quá khứ, cho rằng mức tăng trưởng của Trung Quốc sẽ bắt đầu sụt giảm tối thiểu 2% từ khoảng năm 2015.               Mức độ sụt giảm của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế thế giới. Trong khi châu Âu và Nhật Bản đang phải chống suy thoái và Mỹ mới hồi phục một cách yếu ớt, Trung Quốc đang là động lực đáng kể nhất cho nền kinh tế toàn cầu. Các nhà sản xuất hàng hóa ở châu Mỹ Latin, châu Á, Bắc Mỹ, và Trung Đông, cũng như các nhà sản xuất máy móc thiết bị, nông sản, và các hãng thời trang Mỹ, châu Âu, tất thảy đều đang trông cậy vào sự tăng trưởng của Trung Quốc.          THANH XUÂN Lược dịch theo bài viết của Bob Davis đăng trên Wall Street Journal.   http://online.wsj.com/article/SB10001424052970204778604577238901231511224.html?mod=WSJAsia_hpp_LEFTTopStories    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Từ tăng trưởng bằng mọi giá tới phát triển hài hòa*      Gần 30 năm cải cách đã đưa Trung Quốc từ một nước rất nghèo trở thành một nước có thu nhập trung bình, từ một nền kinh tế với quy mô không thể so sánh với các nước phát triển trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới, từ một nền sản xuất lạc hậu trở thành “công xưởng của thế giới”, từ một nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp trở thành nền kinh tế chiếm 10% kim ngạch ngoại thương của thế giới trong năm 2007. Trong khi tập trung cao độ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, Trung Quốc đã có phần xem nhẹ các mục tiêu phát triển xã hội. Hệ quả là kể từ những năm 1990 trở đi, tiến bộ về phát triển xã hội của Trung Quốc đã chậm lại một cách đáng kể so với thời kỳ trước đó, và trên thực tế, nhiều thách thức mới đã xuất hiện cùng với quá trình cải cách.    Sự phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng ở các tỉnh ven biển miền Đông, cùng với tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa miền Đông và miền Tây của Trung Quốc đã thu hút một lực lượng lao động di cư (dân số “trôi nổi”) khổng lồ, ước chừng lên tới 120-140 triệu, từ nông thôn ra thành phố để tìm việc và cũng để tìm một tương lai sán lạn hơn cho bản thân và gia đình. Lượng lao động di cư “không hợp pháp” khổng lồ này một mặt đáp ứng nhu cầu lao động tiếp tục gia tăng của các thành phố và làm giảm chi phí tiền công ở các nơi này, nhưng đồng thời cũng tạo ra vô vàn những thách thức to lớn về mặt xã hội. Bản thân những công nhân này có thể bị bóc lột sức lao động, con cái họ không được học hành đầy đủ, và gia đình họ chuyển từ mác “nghèo nông thôn” sang “nghèo thành thị”. Đồng thời, các dịch vụ công như giáo dục, y tế, hành chính và các cơ sở hạ tầng (CSHT) và dịch vụ công cộng đã trở nên quá tải. Không những thế, dịch bệnh, tội phạm và các tệ nạn xã hội cũng có đầy đủ điều kiện để phát triển.                      Ở các thành phố, quá trình cải cách DNNN đã buộc rất nhiều công nhân phải nghỉ việc. Theo số liệu thống kê chính thức thì số lao động trong các DNNN ở Trung Quốc giảm từ 31 triệu năm 1996 xuống còn 19 triệu năm 2002, tức là giảm đi 12 triệu. Nhưng theo một số nghiên cứu khác thì con số này trên thực tế còn cao hơn nhiều. Chẳng hạn như Hu Angang cho rằng từ năm 1995 cho tới giữa năm 2002, có tới 55 triệu công nhân trong các DNNN phải nghỉ việc. Do vậy, chúng ta không hề ngạc nhiên khi thấy tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn gấp 3 lần so với số liệu công bố chính thức là 4,3% vào cuối năm 2003. Trong khi tình trạng này tạo ra một gánh nặng to lớn cho quỹ phúc lợi của các đô thị thì thành tích vượt bậc của Trung Quốc trong việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn lại chậm lại một cách đáng kể so với trước. Trong khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới nhưng “quả ngọt” của tăng trưởng dường như còn nằm quá cao so với tầm với của 28 triệu dân nghèo ở nông thôn(2).  Ở cực kia của phân phối thu nhập, quá trình cổ phần hóa DNNN mang nặng tính nội bộ và kém minh bạch đã làm cho một số người, trong đó hầu hết là quan chức chính phủ, ban giám đốc của doanh nghiệp và những người thân cận với những đối tượng này, trở nên giàu có một cách nhanh chóng. Sự giàu lên của các nhóm đặc quyền, đặc lợi này không chỉ có tính bất thường đối với người Trung Quốc, mà nó còn chưa từng xảy ra ở bất kỳ một nước Châu Á nào khác. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 65% trong số 1.500 tỷ USD tài sản thanh khoản ở Trung Quốc nằm trong tay của 0,16% dân số(3). Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào năm 1995, Trung Quốc còn là một trong những nước bình đẳng nhất ở Châu Á thì đến năm 2002 quốc gia này đã trở thành một trong những nước bất bình đẳng nhất.  Tình trạng công nhân bị sa thải hàng loạt, khan hiếm việc làm ở nông thôn, mức bất bình đẳng tăng nhanh, chiếm đoạt đất đai trắng trợn của quan chức nhà nước, nhũng nhiễu cửa quyền của hệ thống hành chính quan liêu – tất cả những căn bệnh của hệ thống này đã làm đời sống xã hội và chính trị của Trung Quốc trở nên ngày càng căng thẳng ở cả nông thôn và thành thị. Sự căng thẳng này đã bộc phát thành các vụ biểu tình của người dân với số lượng tăng rất nhanh, từ 8.700 vụ năm 1993 lên tới 74,000 vụ năm 2004, tức là tăng với tốc độ 21,5%/năm – cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, và trung bình mỗi ngày có 203 vụ biểu tình(4). Về số lượng người tham gia biểu tình, theo nhà báo Will Hutton, con số này đã tăng từ 740.000 năm 1994 lên 3,7 triệu người năm 2004. Đáng lưu ý là không những số vụ và số người tham gia biểu tình ngày càng đông, mà quy mô trung bình của mỗi vụ biểu tình và tính bạo động của chúng cũng ngày càng tăng. Mối quan hệ giữa giới chủ và công nhân cũng ngày một xấu đi. Nếu như vào năm 1994, ở Trung Quốc chỉ xảy ra 1.909 vụ đình công, thì vào năm 2003, con số này đã tăng lên thành 22.600 vụ. Mặc dù những con số chính thức này có thể chưa phản ảnh hết mức độ căng thẳng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của Trung Quốc nhưng chúng đã chứng tỏ một sự rạn nứt ngày càng sâu sắc trong xã hội(5).                     Nhận thức được những nguy cơ tiềm ẩn của tình trạng này, đồng thời phê phán quan điểm tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế của những năm 1990, các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong một số năm gần đây đã nhấn mạnh tới chủ trương phát triển một xã hội “hài hòa” một cách “khoa học”. Quán triệt phương châm xây dựng “CNXH mang đặc sắc Trung Quốc”, đại hội toàn quốc lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra mục tiêu xây dựng một xã hội “tiểu khang” (tạm dịch nghĩa là “khá giả”) vào năm 2020. Xã hội “tiểu khang” là một xã hội trong đó sự thịnh vượng kinh tế được chia sẻ tương đối đồng đều cho mọi người dân Trung Quốc sao cho hầu hết mọi người đều trở nên khá giả (thuộc tầng lớp trung lưu) và xã hội ngày một công bằng hơn.  Cùng với sự cải thiện về mức sống thì giờ đây người Trung Quốc đã có nhiều lựa chọn hơn về giáo dục và y tế. Tuy nhiên điều này chỉ đúng cho tầng lớp khá giả vì khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục và y tế ở Trung Quốc ngày càng trở nên phụ thuộc vào thu nhập, và trên thực tế, một phần không nhỏ chi phí giáo dục và y tế đã được chuyển sang vai của người sử dụng dịch vụ(6). Tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục và y tế của Trung Quốc thấp hơn các nước có mức thu nhập tương đương. Không những thế, đầu tư cho các lĩnh vực xã hội của Trung Quốc không bắt kịp với nhịp độ tăng của tổng ngân sách nhà nước. Trong khi nguồn thu ngân sách của Trung Quốc tăng khoảng 17,5% thì đầu tư cho giáo dục và y tế chỉ tăng 14,2%. Hệ quả là một bộ phận không nhỏ người Trung Quốc không thể kham nổi mức chi phí giáo dục và y tế ngày một tăng cao, và những người nghèo tuyệt đối (chủ yếu ở nông thôn) thậm chí không được hưởng sự chăm sóc y tế và giáo dục tối thiểu. Với những chính sách thiếu nhạy bén về mặt xã hội trong những năm 1990, xếp hạng về chỉ số phát triển con người (HDI) của Trung Quốc đã giảm từ thứ 87 năm 1999 xuống 104 năm 2001(7). Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy xếp hạng kinh tế của Trung Quốc tiến bộ nhanh hơn hẳn so với xếp hạng về HDI. Nếu như vào năm 1993, xếp hạng HDI của Trung Quốc còn cao hơn xếp hạng GNP trên đầu người tới 41 bậc, thì đến năm 2001, mức chênh lệch này đã trở thành âm hai (- 2) bậc. Cũng cần lưu ý rằng mức độ phát triển cả về kinh tế và xã hội của các vùng miền ở Trung Quốc có sự chênh lệch rất lớn. Mặc dù về phương diện phát triển con người, Trung Quốc nằm trong nhóm trung có chỉ số HDI trung bình/cao, nhưng chỉ số HDI của năm tỉnh miền Tây chỉ ở mức trung bình (thậm chí Tây Tạng còn thuộc nhóm có HDI thấp). Ngược lại, ba đô thị lớn là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân có chỉ số HDI trên 0,8, tức là thuộc nhóm có chỉ số HDI cao theo tiêu chuẩn quốc tế.                     Chạy theo tăng trưởng, xem nhẹ phát triển bền vững về mặt xã hội và môi trường, Trung Quốc không phải là mô hình tốt cho Việt Nam học tập. Nhưng ngay cả sau khi phải trả những cái giá nhất định về xã hội và môi trường để đạt cho kỳ được mục tiêu tăng trưởng trong ba thập kỷ liên tục thì quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc vẫn còn khá “nông”. Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới nhưng nó chỉ có 22 công ty trong danh sách Top 500 của Fortune’s Global. Không những thế, những công ty này đều thuộc những ngành được bảo hộ cao và thiếu tính cạnh tranh (dầu khí, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, đường sắt, truyền tải điện). Trung Quốc cũng không có doanh nghiệp nào nằm trong Top 100 của Business Week, đồng thời cũng chỉ có 2 doanh nghiệp đa quốc gia thực sự là Lenovo và Huawei. Tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc hầu như vẫn dựa vào các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và vào các doanh nghiệp nước ngoài (chiếm tới 55% kim ngạch xuất khẩu). Cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa thành công trong việc thu hẹp khoảng cách về công nghệ giữa các DNNN của mình với những công ty hàng đầu của thế giới. Trung Quốc vẫn chưa có công ty nào nằm trong Top 250 công ty toàn cầu về đầu tư cho R&D, và không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc chỉ đứng thứ 74 trong bản xếp hạng của UNCTAD về “Chỉ số Năng lực Sáng tạo”, đứng sau cả Tajikistan(8).  Nói tóm lại, trong ba thập kỷ qua, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng vượt bậc, nhưng về mặt xã hội và môi trường, cũng đã thấy xuất hiện nhiều nguy cơ không bền vững và bất ổn tiềm tàng. Nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ và phúc lợi xã hội theo hướng giảm dần vai trò của nhà nước, tăng dần vai trò của khu vực dân sự và tư nhân. Những cải cách thể chế và cơ chế “ngân sách cứng” áp dụng cho các DNNN của Trung Quốc đã dần thu hẹp một cách đáng kể khu vực kinh tế nhà nước và tập thể – những khu vực từng chịu trách nhiệm chính về phúc lợi cho người lao động ở thành thị và nông thôn. Những thay đổi to lớn này, cùng với những vấn đề cố hữu như tham nhũng tràn lan, môi trường suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế thì những thách thức mới về thành thị – nông thôn, trung ương – địa phương, và bất công bằng là những vấn đề mà Trung Quốc buộc phải giải quyết. Suy đến cùng, đây không chỉ là những thách thức kinh tế, mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã hội và chính trị. Tùy thuộc vào mức độ khẩn trương và hiệu quả của chính phủ Trung Quốc trong việc giải quyết những vấn đề này mà quỹ đạo tăng trưởng của Trung Quốc sẽ có thể được duy trì hay sẽ bị suy giảm.  ————  1.Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Dwight Perkins, GS. Tony Saich, TS. Jonathan Pincus và Ông Ben Wilkinson đã giúp cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho bài viết này. Tuy nhiên, mọi thiếu sót nếu có hoàn toàn thuộc trách nhiệm của người viết.  2.Tiêu chuẩn nghèo của Trung Quốc (0,66 USD/ngày) đã “giúp” giảm tỷ lệ nghèo một cách đáng kể. Theo tính toán của Ngân hàng Phát triển Châu Á, nếu sử dụng tiêu chuẩn 1 USD/ngày thì số lượng người nghèo của Trung Quốc lên tới 230 triệu (ADB, 2003). Đến năm 2003, khoảng gần 50% dân Trung Quốc có mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, tương đương với In-đô-nê-xia (55,4%) nhưng vẫn khả quan hơn Ấn-độ (79,9%). (Ngân hàng Thế giới, 2003).  3.Peter Nolan, Trung Quốc trước ngã ba đường (China at the Crossroads), Cambridge: Polity Press, 2004.  4.Murray Scot Tanner, Wall Street Journal số 2/2/2006  5.Will Hutton (2007) The Writing on the Wall: China and the West in the 21st Century, London: Little, Brown.  6.Tỉ lệ ngân sách dành cho y tế của Trung Quốc hiện nay là 1,8%, thấp hơn mức 2% năm 1990. Điều này khiến mục tiêu tăng tỉ lệ chi tiêu cho y tế lên 4,0% vào năm 2010 trở nên không hiện thực.  7.Xếp hạng HDI của Trung Quốc năm 2007 đã tăng lên lại và đứng ở vị trí thứ 81.  8.UNCTAD (2005). World Investment Report.  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc vẫn thúc đẩy xây dựng các nhà máy điện than      Không nơi nào trên thế giới có công suất về điện mặt trời, điện gió và thủy điện lớn như ở Trung Quốc. Tuy nhiên cũng không có nước nào có nhu cầu về năng lượng lớn như Trung Quốc. Cho nên, dù đầu tư rất lớn nhưng trong tổng các nguồn năng lượng thì năng lượng tái tạo mới chỉ đạt 2 % còn nhiệt điện than vẫn chiếm 58%.      Chỉ trong vòng ba năm nhà máy nhiệt điện chạy than mới của Gansu Electric ở Quảng Châu đã hoàn thành.  Cách đây 4 năm, phía đông bắc cửa ngõ thành phố Xilinhot còn là một bãi cỏ hoang rộng thênh thang. Sau đó, máy xây dựng san ủi bằng phẳng tất cả. Lán trại có mái mầu xanh dành cho cho công nhân tạm trú mọc lên đầu tiên. Và mọi việc diễn biến rất nhanh: hai trụ tháp hình tròn khổng lồ của nhà máy điện Huaneng Beifang Xilnhaote-3 mọc lên rất nhanh và ngày nay ngày ngày nhả  khói trắng lên không trung.    Những ai quan sát các ảnh vệ tinh của LiveEO thì thấy trong những năm qua các nhà máy nhiệt điện than của Trung Quốc mọc lên như nấm, và không khỏi ái ngại khi so sánh với lời tuyên bố giữa tháng chín vừa qua của nước này tại Đại hội đồng LHQ là sẽ tăng cường đóng góp vào bảo vệ khí hậu thông qua các chiến lược và các biện pháp mới đầy tham vọng và muốn đến năm 2030 sẽ đạt đỉnh về phát thải CO2 đến năm 2060 sẽ trung hòa CO2.  Khác với Hoa Kỳ đã rút khỏi Thỏa thuận chung Paris về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc thì Trung Quốc vẫn đứng sau các cam kết của thỏa thuận Paris. Tuy vẫn là nước sản sinh  CO2 lớn nhất thế giới nhưng Trung Quốc cũng đầu tư rất mạnh mẽ cho năng lượng tái tạo. Không nơi nào trên thế giới có công suất về điện mặt trời, điện gió và thủy điện lớn như ở Trung Quốc. Tuy nhiên cũng không có nước nào có nhu cầu về năng lượng lớn như Trung Quốc. Cho nên, dù đầu tư rất lớn nhưng trong tổng các nguồn năng lượng thì năng lượng tái tạo mới chỉ đạt 2 % còn nhiệt điện than vẫn chiếm 58%.   Riêng trong nửa đầu năm nay chính quyền Trung Quốc đã phê duyệt kế hoạch xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than mới với công suất là 17 Gigawatt – nhiều hơn hai năm trước đó. Theo một nghiên cứu của Cơ quan Giám sát Năng lượng Toàn cầu (GEM) và Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch (CREA), các nhà máy nhiệt điện than với tổng sản lượng 250 gigawatt đang trong giai đoạn lập kế hoạch hoặc xây dựng. Trên 100 nhà máy điện mới sẽ được xây dựng. Với tốc độ xây dựng nhanh chóng của Trung Quốc không lâu nữa con số này sẽ trở thành hiện thực.   Trong những năm qua đã có hàng loạt nhà máy nhiệt điện cũ bị ngừng hoạt động và thay thế bằng những nhà máy có công nghệ hiệu quả hơn. Một số nhà máy nhiệt điện mới ra đời ở những vùng trước đây công nghiệp kém phát triển. Thí dụ, khu vực đặt nhà máy điện bốn tháp Wucaiwan Bei’er trước đây chỉ toàn đất cát khô cằn và có một trạm phát điện nhỏ thì nay đã có tới 5 nhà máy điện.   Tuy nhiên, theo nhà phân tích Lauri Myllyvirta tại CREA thì hiện tại Trung Quốc đang dư thừa công suất điện than. Nhiều nhà máy hiện chỉ chạy khoảng một nửa công suất. Bởi vì thời gian qua có sự bùng nổ trong xây dựng các nhà máy nhiệt điện. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2012, Trung Quốc đã tung ra một gói kích thích tăng trưởng lớn. Nhiều chính quyền các tỉnh sử dụng khoản tiền tỷ của chính phủ để xây dựng các nhà máy nhiệt điện  và các cơ sở hạ tầng khác. Sau đó chính quyền trung ương tìm cách chặn “bong bóng than“ bằng cách cấp phép chặt chẽ hơn.   Trong khi đó, tình hình ở thế giới thì khác, một nghiên cứu mới đây của Tổ chức bảo vệ khí hậu Global Coal Plant Trackers cho thấy năm nay là năm đầu tiên số lượng các nhà máy điện than trên thế giới giảm. Trong nửa đầu năm, số các nhà máy nhiệt điện có tổng công suất là 18,3 Gigawatt đã đi vào hoạt động trong khi ngừng hoạt động vào khoảng 21 Gigawatt. Xu hướng giảm sút này chủ yếu diễn ra ở châu Âu: tại đây số nhà máy ngừng hoạt động có tổng công suất là 8,3 Gigawatt, sẽ còn giảm tiếp khoản 6 Gigawatt còn lại vào nửa cuối năm. Tại Đông Nam Á kế hoạch và số nhà máy điện than xây dựng mới cũng giảm rõ rệt – giảm tới 70% so với giá trị bình quân tính từ 2015. Trong khi đó Trung Quốc lại không ngừng tăng công suất nhiệt điện chạy than trong những năm qua.  Hiện nay các nhà quan sát cũng chưa biết các biện pháp cụ thể mà Trung quốc dự kiến sẽ áp dụng nhằm đạt các mục tiêu trong thỏa thuận Paris này. Tuy Trung Quốc tuyên bố như vậy nhưng về lý thuyết nước này còn có mười năm mới đạt đỉnh về lượng khí thải CO2. Giới quan sát đang chờ vào „một chiến lược và biện pháp đầy tham vọng“ có thể thực hiện trong kế hoạch năm năm tới của Trung Quốc tới đây.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/wirtschaft-von-oben/wirtschaft-von-oben-75-kraftwerke-china-wo-die-kohlekraftwerke-aus-dem-boden-schiessen/26273984.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc vượt Đức đứng vị trí thứ nhất trên biển cả      Đội tàu container của Trung Quốc được đánh giá có tổng giá trị lớn hơn so với đội tàu của Đức.      Tàu “OOCL Hong Kong” hiện là tàu container lớn nhất thế giới. Con tàu này dài 400 mét và có thể chứa 21.413 container tiêu chuẩn.  Trước nay, Đức từng là nước có đội tàu container lớn nhất thế giới. Tuy nhiên hiện tại Trung Quốc (TQ) đã vượt qua Đức và chiếm vị trí thứ nhất, nguyên nhân dẫn đến sự hoán đổi vị trí này là cuộc khủng hoảng ngành tàu biển trong mười năm qua. Theo số liệu gần đây về tàu biển do Vesselsvalue ở London cung cấp thì giá trị đội tàu container của TQ trị giá 21,4 tỷ đôla. Trong khi đó đội tàu của Đức hiện nay “chỉ còn” 18,7 tỷ đôla.  Các con số thống kê cũng phản ánh xu hướng phát triển của ngành vận tải biển: TQ cần các con tàu container khổng lồ có thể chứa tới 20.000 Container. Trong khi đó Đức và các đối thủ cạnh tranh quốc tế lại có nhu cầu chủ yếu với các tàu cỡ trung bình.  Ở Đức, tìm được nguồn tài chính để mua sắm các tàu buôn mới là khá khó khăn. Ngân hàng HSH Nordbank vốn là nhà chi trả tiền lớn nhất cho việc mua sắm tàu biển của Đức nay đã bị bán. Việc Commerzbank rời bỏ mảng kinh doanh này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực.  Đức có nguy cơ bị mất vai trò và ảnh hưởng đối với ngành vận tải biển trên thế giới. Tuy nhiên đến nay vai trò của ngành công nghiệp này đối với nước Đức vẫn khá lớn. Theo Hiệp hội các nhà vận tải biển của Đức thì các ngành này đóng góp 30 tỷ giá trị gia tăng đối với nước này.  Trong khi đó, thứ hạng các đội tàu buôn của các nước cung cấp một bức tranh khác: Bất chấp khủng hoảng kinh tế ở trong nước, Hy Lạp có đội tàu buôn trị giá 100 tỷ đôla, đứng đầu thế giới; kế tiếp là Nhật bản và TQ. Hoa Kỳ, Singapore, Na Uy và Đức là các nước có thứ hạng kế tiếp.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: http://www.spiegel.de/wirtschaft/soziales/schifffahrt-china-besitzt-jetzt-die-groesste-containerflotte-der-welt-a-1203149.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc xây đường sắt đệm từ vận tốc thấp      Ngày 8/12, Trung Quốc đã xây xong tuyến  đường sắt đệm từ (Maglev line – ĐSĐT) chạy với vận tốc thấp tại thành  phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, và sẽ bắt đầu thử vận hành từ cuối tháng  này. Đây là tuyến ĐSĐT đầu tiên do Trung Quốc tự nghiên cứu triển khai  và chế tạo toàn bộ thiết bị.         Như vậy, Trung Quốc hiện là một trong bốn nước trên thế giới làm chủ được công nghệ tàu đệm từ tốc độ thấp.    Tuyến ĐSĐT dài 18,55 km nối ga xe lửa Nam Trường Sa với sân bay Hoàng Hoa, có một điểm dừng giữa đường. Dự án được khởi công vào tháng 5/2014. Ước toán công trình vào khoảng 4,3 tỷ NDT (674 triệu USD).   Tuyến ĐSĐT này cho phép tàu chạy với tốc độ thiết kế 100 km/h, mỗi đoàn tàu chở được 363 người. Hành trình tàu chạy toàn tuyến hết 10 phút.   Tàu đệm từ là loại tàu dùng lực từ trường (lực hút và đẩy) để đẩy tàu chạy, từ lực của đường ray nâng toàn bộ đoàn tàu lên cao cách mặt đường ray một khoảng cách nhỏ [chừng 1 cm]. Vì thế khi tàu chạy sẽ không có sự tiếp xúc giữa thân tàu với đường ray. Tàu đệm từ không có bánh xe và dùng cách thay đổi tần số để thay đổi tốc độ chạy. So với tàu đường sắt thông thường và tàu đệm từ tốc độ cao thì tàu đệm từ tốc độ vừa và thấp có ưu điểm ít hao mòn, tiếng ồn nhỏ, chấn động nhỏ, chi phí xây dựng và khai thác thấp, không có khí thải, và an toàn hơn.  Tại Trung Quốc hiện nay, giá thành xây dựng mỗi km đường sắt ngầm là 500-800 triệu NDT, đường sắt nhẹ (light rail) là 200-300 triệu NDT. Giá thành mỗi km ĐSĐT ở Trường Sa bằng 226,5 triệu NDT, nghĩa là ĐSĐT có Chỉ số thực hiện chi phí (CPI)1 rất tốt.  Từ năm 2006, Trung Quốc đã chính thức khai thác tuyến ĐSĐT tốc độ cao dài 33 km tại Thượng Hải, nối mạng metro thành phố với sân bay quốc tế Phố Đông, sử dụng công nghệ của CHLB Đức. Đây là tuyến ĐSĐT khai thác thương mại đầu tiên trên thế giới, giá thành công trình 2 tỷ USD. Tàu đệm từ chạy với tốc độ 430 km/h (nhanh nhất thế giới), tốc độ chạy thử cao nhất đạt 501 km/h. Đường đôi, mỗi đoàn tàu chở 574 hành khách, chạy toàn tuyến hết 8 phút.   Việc khai thác thành công tàu đệm từ tại Thượng Hải đã chứng minh hình thức vận chuyển này có tính an toàn, tính kinh tế và tính tiên tiến. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, tàu đệm từ hiện nay vẫn chủ yếu trong thời kỳ nghiên cứu, dùng thử. Có người nói do tàu không chạy bằng bánh xe nên khi gặp trở ngại sẽ khó hãm dừng, dễ xảy tai nạn nghiêm trọng (trong một lần chạy thử ở Đức, do không phanh hãm được mà 25/29 người trên tàu bị thiệt mạng), và khi đó không thể kéo tàu đi chỗ khác để cứu chữa vì tàu nằm chết dí trên mặt đường; đặc biệt khi mất điện sẽ rất nguy hiểm. Ngoài ra, bức xạ của từ trường có thể ảnh hưởng tới sức khỏe những người đi tàu và ở gần đường tàu; khi có bão lớn, tàu phải ngừng chạy để đảm bảo an toàn. Tàu đệm từ đều phải lắp đặt ắc-quy để khi mất điện thì có thể tiếp tục giữ ở trạng thái nâng khoảng 30 phút, như vậy tàu cứu viện có thể kịp chạy tới cứu. Tàu đệm từ Thượng Hải đã có lần xảy sự cố do ắc-quy hỏng và mùa hè năm nay đã có ngày phải ngừng hoạt động do bão lớn.  Hải Hoành lược dịch  1 Cost performance index CPI = EV/AC, tức  Earned value/Actual cost, hoặc tỷ số giá trị thu được/chi phí thực hiện,  còn gọi là tỷ số tính năng/giá thành. CPI càng cao càng tốt.  Nguồn:    http://en.changsha.gov.cn/news/Local/201510/t20151020_821819.html             Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc xây phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 4 đầu tiên ở lục địa      Một phòng thí nghiệm tại Vũ Hán sắp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu các mầm bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới. Đây là một phần của kế hoạch xây từ năm đến bảy phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 4 (BSL-4) ở Trung Quốc lục địa đến năm 2025.      Những bộ quần áo phòng độc ở Phòng thí nghiệm An toàn sinh học Quốc gia ở Vũ Hán, phòng thí nghiệm BSL-4 đầu tiên ở Trung Quốc lục địa.  Phòng thí nghiệm này được Tổ chức Công nhận Quốc gia Trung Quốc (CNAS) chứng nhận đáp ứng các tiêu chuẩn và tiêu chí của BSL-4 cách đây hơn một tháng. Đại diện của CNAS cho biết, tổ chức này đã kiểm tra cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và quy trình quản lý của phòng thí nghiệm, chuẩn bị cho việc cấp phép hoạt động của Bộ Y tế. Còn theo đại diện của Bộ Y tế, nếu việc đánh giá diễn ra thuận lợi thì phòng thí nghiệm sẽ được cấp phép vào cuối tháng Sáu.  Các cấp độ an toàn sinh học được xếp loại từ 1 đến 4, trong đó BSL-4 là cấp độ cao nhất. Tiêu chí của nó bao gồm lọc không khí, xử lí nước và rác trước khi thải ra khỏi phòng thí nghiệm, và quy định các nhà nghiên cứu phải thay quần áo và tắm trước và sau khi sử dụng các thiết bị của phòng thí nghiệm. Những phòng thí nghiệm như vậy thường gây tranh cãi. Phòng thí nghiệm BSL-4 đầu tiên ở Nhật Bản được xây vào năm 1981, nhưng chỉ nghiên cứu các mầm bệnh có nguy cơ thấp hơn [khả năng nghiên cứu cho phép] cho mãi đến năm 2015, khi những lo ngại về an toàn cuối cùng đã được giải tỏa.  Việc mở rộng mạng lưới phòng thí nghiệm BSL-4 ở Mỹ và châu Âu suốt 15 năm qua – mỗi khu vực hiện có hơn 10 phòng thí nghiệm đang hoạt động hoặc được xây dựng– cũng vấp phải sự phản đối, trong đó có mối nghi ngờ liệu có cần phải xây nhiều phòng thí nghiệm cấp độ an toàn sinh học cao như vậy không.  “Virus không biết đến biên giới”  Phòng thí nghiệm Vũ Hán trị giá 300 triệu nhân dân tệ (44 triệu USD), và để làm dịu đi những lo ngại về vấn đề an toàn, nó được xây cách xa vùng đồng bằng ngập lũ và có khả năng chống chịu những trận động đất 7 độ richter, mặc dù trong quá khứ, vùng này chưa từng xảy ra động đất mạnh. Nó sẽ tập trung vào kiểm soát các bệnh mới xuất hiện, lưu trữ virus tinh chế và hoạt động trong mạng lưới phòng thí nghiệm tham chiếu của WHO.  Dự án đầu tiên của phòng thí nghiệm Vũ Hán là nghiên cứu các mầm bệnh an toàn sinh học cấp độ 3 gây ra bệnh sốt xuất huyết Crimean-Congo, ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi trên toàn thế giới và có thể truyền sang người.  Trong tương lai, phòng thí nghiệm sẽ nghiên cứu mầm bệnh gây ra dịch SARS – loại mầm bệnh không cần đến phòng thí BSL-4, trước khi chuyển sang nghiên cứu virus Ebola và virus Lassa Tây Phi, là những loại mầm bệnh cần đến phòng thí nghiệm BSL-4. Khoảng một triệu người Trung Quốc đang làm việc ở châu Phi nên nước này cần phải sẵn sàng cho bất kỳ tình huống nào, giám đốc phòng thí nghiệm Vũ Hán Yuan Zhiming nói. “Virus không biết đến biên giới.”  Xung quanh phòng thí nghiệm ở Vũ Hán đã xuất hiện những lo lắng. Virus SARS đã nhiều lần thoát ra khỏi những cơ sở nghiên cứu nghiêm ngặt ở Bắc Kinh, Richard Ebright, nhà sinh học phân tử tại Đại học Rutgers, Piscataway, New Jersey, Mỹ, nói.  Trung Quốc đã có hai phòng thí nghiệm BSL-4, nhưng đều ở Đài Loan. Còn ở lục địa, sau phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, phòng thí nghiệm BSL-4 ở Cáp Nhĩ Tân cũng đang chờ được cấp phép, trong khi hai phòng thí nghiệm khác ở Bắc Kinh và Côn Minh đã được lên kế hoạch.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.nature.com/news/inside-the-chinese-lab-poised-to-study-world-s-most-dangerous-pathogens-1.21487    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc xóa tiếng xấu về đồng hồ rẻ tiền      Lâu nay đồng hồ rẻ tiền của Trung Quốc  thường bị chế nhạo, nhưng giờ đây tình hình có nhiều thay đổi và xem ra  các nhà sản xuất đồng hồ của Đức và Thụy Sỹ đã có đối thủ cạnh tranh  mới.    Từ lâu Trung Quốc là một trong những nhà nhập khẩu hàng đầu các loại đồng hồ cao cấp. Giới quan chức nước này rất thích trưng những chiếc đồng hồ sang trọng của họ tại các sự kiện lễ nghi chính thức. Đồng hồ cao cấp bởi vậy cũng được sử dụng để đút lót giới quan chức nhà nước một cách phổ biến.  Nhưng kể từ khi Chính phủ Trung Quốc tuyên chiến với nạn tham nhũng, các quan chức trưng diện đồng hồ cao cấp dễ bị các tay blogger săm soi, chụp ảnh và tung lên mạng. Không ít trường hợp quan chức tiêu tan sự nghiệp vì thói khoe khoang của nả mà họ có được một cách bất chính. Hậu quả là xuất khẩu đồng hồ cao cấp của châu Âu sang Trung Quốc ngày một giảm.  Ngành công nghiệp đồng hồ Trung Quốc từ lâu “nổi tiếng” ở châu Âu về ăn cắp mẫu mã những loại đồng hồ danh tiếng, và đồng hồ nhái thường được rao bán qua mạng hay các đài Homeshopping.   Tuy nhiên thời gian gần đây, ngành công nghiệp đồng hồ Trung Quốc đã liên tục phát triển. Hiện nay Trung Quốc đã sản xuất được đồng hồ cơ đeo tay chất lượng cao.  Từ lâu nhiều chi tiết đồng hồ hạng sang của Thụy Sỹ hay Đức được sản xuất ở Trung Quốc vì vậy trên thực tế Trung Quốc nắm được bí quyết cần thiết để chế tạo đồng hồ cao cấp.  Hơn nữa, trong thời gian vừa qua, nhiều bản quyền sáng chế đối với cỗ máy của đồng hồ Thụy Sỹ đã hết hạn. Điều này cho phép nhiều nhà máy ở Trung Quốc như FIYTA, Sea Gull hay EBOHR lắp đặt bộ cơ vào đồng hồ đeo tay cao cấp của họ.   Bên cạnh chất lượng đồng hồ được cải thiện, ảnh hưởng của các nhà đầu tư Trung Quốc vào thị trường đồng hồ thế giới cũng tăng lên. Vài năm gần đây, tại Baselworld, hội chợ quan trọng nhất của ngành công nghiệp đồng hồ và đồ trang sức được tổ chức hằng năm tại Basel, Thụy Sỹ, đã xuất hiện một số thương hiệu của Thụy Sỹ nhưng lại do Trung Quốc quản lý.   Năm 2011, tập đoàn China Haidian Holdings Limited đã mua lại nhà máy sản xuất đồng hồ Eterna hơn 150 tuổi của Thụy Sỹ. Với hai thương hiệu EBOHR và Rossini, tập đoàn này đã chiếm một thị phần khá lớn về đồng hồ chất lượng cao trên thị trường Trung Quốc. Năm 2013, Haidian mua thêm thương hiệu đồng hồ cao cấp của Thụy Sỹ là Corum với giá khoảng 86 triệu Franc.  Câu hỏi đặt ra là, liệu công nghiệp đồng hồ cao cấp của Trung Quốc có thể trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm của đồng hồ cao cấp của Thụy Sỹ và Đức hay không.   Theo Giáo sư về thị trường xa xỉ phẩm Klaus Heine, giảng dạy tại Business School của Pháp ở Trung Quốc, cho đến nay các nhà sản xuất đồng hồ Trung Quốc chủ yếu thu lợi nhuận từ thị trường nội địa. Giới trẻ Trung Quốc từ chỗ chuộng hàng hóa phương tây giờ đây thể hiện lòng yêu nước bằng cách ưu tiên dùng hàng nội địa cao cấp. Giáo sư Heinz đánh giá, “Các nhà sản xuất đồng hồ Trung Quốc chưa phải là đối thủ cạnh tranh đáng gờm trên thị trường sản phẩm cao cấp toàn cầu, nhưng họ ngày càng tỏ ra là những đối thủ cạnh tranh cần phải hết sức chú ý tại thị trường Trung Quốc và họ rất có tiềm năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.”  Để được ưa chuộng trong nước, các sản phẩm như Sea Gull hay EBOHR cũng phải thành công trên thị trường thế giới. Sự nổi tiếng và được quốc tế đánh giá cao sẽ làm thay đổi nhận thức của người dân Trung Quốc đối với sản phẩm. Điều này khuyến khích xu hướng bành trướng và đẩy mạnh cạnh tranh.   Tuy nhiên, Patrick Mönnig, giám đốc điều hành Blome Uhren ở Düsseldorf, cho rằng: “Sản phẩm hàng loạt của Trung Quốc không thể so sánh với loại đồng hồ đeo tay chế tạo thủ công.” Chi phí cao và độ chuẩn xác đến từng chi tiết trong quá trình sản xuất làm cho ngành công nghiệp đồng hồ ở Trung Âu nổi tiếng và điều đó làm cho sản phẩm của ngành này rất được ngưỡng mộ. Một cái đồng hồ hạng sang của xưởng Jura hay Glashütte hình thành từ nhiều thao tác hết sức tỷ mỉ và dựa trên một hệ thống đồng bộ của nhiều công đoạn khác nhau. Điều đó giải thích vì sao giá của chúng có thể từ dăm, bẩy trăm cho đến nghìn Euro. Và trong khi một nhà máy sản xuất đồng hồ ở Trung Quốc có thể làm ra 200.000 cái mỗi năm thì các nhãn hiệu đồng hồ hạng sang của Đức và Thụy Sĩ chỉ sản xuất khoảng 5.000 cái. “Sự pha trộn giữa truyền thống, niềm đam mê và sự chú ý đến từng chi tiết là lý do làm cho những chiếc đồng hồ này được ưa chuộng,” theo ông Mönnig. Chính điều này góp phần làm cho đồng hồ Rolex hay TAG Heuer có ý nghĩa và trở thành biểu tượng của địa vị, quyền uy.  Một chiếc đồng hồ đeo tay có thể đem lại cho người dùng bộ mặt và tính cách. Đây là lợi thế của những chiếc đồng hồ ở Trung Âu so với đồng hồ do Trung Quốc sản xuất và điều này sẽ còn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, trong tương lai, nếu xem xét sự tăng cường đầu tư của Trung Quốc vào thị trường đồng hồ thì rất có thể điều này sẽ thay đổi. Mönnig cũng có suy nghĩ tương tự, ông nói: “Cần theo dõi sự phát triển này. Truyền thống cũng phải nẩy nở, phát triển; trong 10 đến 15 năm nữa tình hình có thể thay đổi.”    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN): Gỡ rào cản bằng tự chủ      Con đường tìm thị trường và tăng khả năng cạnh tranh của Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN), nơi quân số chỉ tương đương cấp phòng ở những đơn vị “lão làng” trong lĩnh vực khí tượng thủy văn đều gắn liền với yếu tố tự chủ.      Một trong những nguồn vốn quý của CEFD là nguồn nhân lực. Ảnh: CEFD.  Trong những tháng đầu năm 2020, liên danh tư vấn Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường (CEFD), Công ty TNHH Tư vấn trường ĐH Thủy lợi và Công ty TNHH Tư vấn Tài nguyên nước và Môi trường Minh Long đã thực hiện gói thầu “Xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai cấp tỉnh gắn với quản lý lũ tổng hợp một số lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” – thuộc hợp phần 2 của Dự án “Khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung”(ENDRP) do World Bank tài trợ. Toàn bộ công việc của họ chỉ gói gọn trong vòng bảy tháng nhưng lại mất một tháng không thể đi thực địa vì Covid -19. Tuy gặp khó khăn như vậy nhưng mọi thứ vẫn diễn ra thông đồng bén giọt dưới sự điều phối của CEFD – thành viên đứng đầu liên danh, và với công cụ hỗ trợ đặc biệt – hệ thống tính toán hiệu năng cao với năng lực tính toán khoảng 25 teraflop, chỉ thua dàn máy tính của Viện KH Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ TN&MT). “Nếu không có hệ máy tính này thì chúng tôi không thể vận hành được mô hình về các lưu vực sông theo nhiều kịch bản trong thời gian ngắn”, PGS. TS Trần Ngọc Anh, giám đốc CEFD, tự hào nhấn mạnh về một trong những tài sản đáng giá mà Trung tâm có được thông qua hỗ trợ nâng cao năng lực của Dự án FIRST (Bộ KH&CN).  Con đường lập nghiệp của CEFD, một đơn vị được hình thành trong lòng trường đại học có nền tảng nghiên cứu cơ bản về khoa học khí tượng, thủy văn, hải dương, thủy động lực học dày dặn bậc nhất Việt Nam, được đánh dấu bằng nhiều dự án như vậy. Thoạt nhìn bên ngoài thì không phải ai cũng thấy điều đó, “ngay cả những người phụ trách bên Dự án FIRST như bọn tôi cũng ngạc nhiên khi thấy CEFD bé nhỏ như vậy giữa những hồ sơ từ hơn 600 tổ chức KH&CN công lập gửi đến tiểu hợp phần 2a về tài trợ cho các tổ chức KH&CN công lập về KH, CN và đổi mới sáng tạo nhưng vẫn được chọn. Nhìn vào các tiêu chí cơ học để so sánh, nhân lực thì có khoảng 15 người, không thể cạnh tranh được với những viện có hàng trăm biên chế nhân lực; nguồn thu vào thời điểm đó mới khoảng 5 tỷ/năm, lại càng chênh lệch so với những đơn vị có hàng trăm tỷ/năm”, giám đốc Dự án FIRST Lương Văn Thắng đã chỉ ra trong phiên họp tổng kết dự án FIRST-CEFD “Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và mô phỏng/dự báo các điều kiện khí tượng hải văn – môi trường biển và đới ven bờ độ phân giải cao phục vụ khai thác bền vững tài nguyên biển và giảm thiểu rủi ro thiên tai” (2017-2019) vào ngày 30/8/2019.      Việc chịu khó đi xa, dám lăn lộn ở nơi có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, thường phát sinh lũ lụt lớn về mùa mưa nhưng lại dễ rơi vào cảnh không đủ nước sinh hoạt và sản xuất về mùa khô đã biến những thành viên của Trung tâm thành “thổ địa” thủy lợi miền Trung.      Vậy điều gì làm nên sức mạnh nội tại của CEFD và giúp họ thuyết phục được những đơn vị tài trợ “khó tính” trong xét duyệt hồ sơ như Dự án FIRST? “Tất cả những gì chúng tôi có ngày hôm nay là nhờ tự chủ”, PGS. TS. Trần Ngọc Anh giải thích ngắn gọn.  Áp lực của bài toán tự chủ   Sự chật vật chuyển mình của các tổ chức KH&CN công lập từ cơ chế cũ sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm diễn ra trong những năm qua cho thấy thật khó để họ có thể thích ứng được với một môi trường mới. Trong bối cảnh đó, CEFD được hình thành như một “thử nghiệm” cho mô hình tự chủ. “Việc phải tự chủ từ trứng nước nghĩa là Trung tâm không những không nhận được bất cứ khoản đầu tư hay hỗ trợ nào về tài chính mà còn phải tự lo kinh phí cho mọi hoạt động của mình”, PGS. TS Trần Ngọc Anh kể về những thách thức Trung tâm phải tự giải quyết khi đi vào vận hành.    Tuy vậy, điểm khởi đầu của CEFD không hoàn toàn là chỉ có thử thách. Trường ĐH Khoa học tự nhiên cũng không hẳn bắt Trung tâm tự xoay sở một mình mà dành cho Trung tâm sự độc lập cần thiết đi kèm tư cách pháp nhân, con dấu, địa điểm và nhất là sự ủng hộ về nhân sự. “Nếu các công ty khởi nghiệp thành lập từ gần như số không thì ở buổi đầu, chúng tôi gặp thuận lợi vì có ngay đội ngũ chuyên gia từ các nhóm nghiên cứu của khoa, của trường. Khi khoác lên tấm áo tự chủ là mình đã có sẵn đội ngũ này và có thể huy động sự hỗ trợ tùy theo tính chất của từng dự án. Do đó, Trung tâm không phải chịu gánh nặng lớn là chi trả tiền lương hằng tháng nhưng vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu công việc”, anh nói.     PGS. TS Trần Ngọc Anh (phải), giám đốc CEFD và thành viên của Trung tâm bên cạnh hệ thống tính toán hiệu năng cao. Ảnh: Thanh An.  Với vốn khởi đầu khiêm tốn, CEFD khởi nghiệp một cách chật vật. Là người gắn bó với Trung tâm từ khi còn là thành viên cho đến lúc đảm nhiệm công tác quản lý, PGS. TS Trần Ngọc Anh cho rằng, những khó khăn ở giai đoạn đầu là lẽ đương nhiên nhưng khó khăn hay cơ hội trong quá trình phát triển của Trung tâm đều xoay quanh hai chữ “tự chủ”: “Nó là thách thức nhưng cũng là động lực để buộc mình phải chủ động đi tìm thị trường, tìm nguồn tài trợ để vận hành Trung tâm. Tất cả nó như câu chuyện ‘con gà và quả trứng’: không có năng lực thì không có dự án, không có dự án thì không phát triển được năng lực.  Ở thời điểm hiện tại, khi CEFD bắt đầu gặt hái được một số thành công và định hình vị thế của mình thì cảm giác nhìn về mọi chuyện diễn ra trong quá khứ cũng nhẹ nhõm hơn. Phác thảo một vài nét về nỗ lực cải thiện tình thế của Trung tâm, PGS. TS Trần Ngọc Anh vẽ ra một bức tranh dịch vụ ngành khí tượng thủy văn, tài nguyên môi trường…, nơi lính mới như CEFD “ra ngõ đã gặp núi Thái Sơn” như Viện KH Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ TN&MT), Viện Quy hoạch Thủy lợi, Viện KH Thủy lợi Việt Nam (Bộ NN&PTNT), trường ĐH Thủy lợi… uy tín trong Nam ngoài Bắc. “Nếu đấu thầu một dự án thì CEFD không có điểm nào để so với các đơn vị này về nhân lực, nguồn vốn đối ứng, kinh nghiệm…”, anh đề cập đến lý do vì sao ở điểm xuất phát, Trung tâm lại chấp nhận làm những việc rất nhỏ “phụ của phụ” để tích lũy kinh nghiệm hoặc tìm kiếm “danh phận” trên thị trường.       “Nếu chỉ tính ra tiền ngay thì với số tiền đối ứng trong Dự án FIRST, CEFD có thể đầu tư vào một số dự án khác và thu được nhiều hơn, nhưng điều thu được từ tiểu dự án FIRST có giá trị hết sức lâu dài, vốn ‘ẩn’ trong yếu tố ít thấy được ngay như chất lượng nguồn nhân lực”. (PGS. TS Trần Ngọc Anh).      Trong cuộc “cạnh tranh” này, anh nhận thấy tự chủ chính là yếu tố giúp CEFD gỡ nút thắt “năng lực, thị trường”. “Ban đầu ai cũng thấy tự chủ là thách thức nhưng hóa ra khi triển khai công việc thì nó lại tạo ra thuận lợi: Trung tâm có thể tự quyết, tính linh hoạt rất cao và dám chấp nhận làm việc với điều kiện không tốt lắm”, anh nói. “Tự chủ tự chịu trách nhiệm” không đơn giản là chọn lấy những gói thầu có giá trị tương đối nhỏ mà còn là có gan chịu lỗ: “Không phải dự án nào của CEFD trước đây cũng có lãi, chúng tôi chịu lỗ nhiều chứ, ví dụ chọn những công việc có thể thấy ngay là lỗ như dự báo khí tượng thủy văn phục vụ vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng. Người ta chỉ trả khoảng 80 triệu đồng/năm, chưa bằng tiền trả cho nhân viên đi làm ngoài giờ bởi thứ bảy chủ nhật cũng phải có bản tin dự báo và trực 24/24 trong những ngày mưa lũ. Nhưng CEFD vẫn quyết định nhận vì xác định là cần ‘danh phận’ ở đó. Nếu CEFD đã tư vấn được cho Ban chỉ đạo Phòng thống thiên tai Trung ương trong vận hành hồ chứa thì sao lại không thể tư vấn cho UBND các tỉnh, sao lại không dự báo được cho các chủ hồ”, lối suy nghĩ đó khiến Trung tâm tích lũy được kinh nghiệm và tăng cường năng lực giải quyết những bài toán thực tế.   Từng bước từng bước một, Trung tâm đã dần khẳng định được mình trên thị trường. “Tôi cho rằng chính việc định hướng chọn thị trường miền Trung đã đem lại bước chuyển mình của CEFD”, PGS. TS Trần Ngọc Anh nhận định. Việc chịu khó đi xa, dám lăn lộn ở nơi có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, thường phát sinh lũ lụt lớn về mùa mưa nhưng lại dễ rơi vào cảnh không đủ nước sinh hoạt và sản xuất về mùa khô đã biến những thành viên của Trung tâm thành “thổ địa” thủy lợi miền Trung. “Bây giờ chúng tôi đều có thể trao đổi thoải mái với các địa phương về bất cứ địa danh hay công trình nào. Ở ngoài này, nói có sai một chút thì mấy ai biết được, rất khó để phát hiện ra nhưng ở trong đó, họ thấy ngay ‘chỗ nhà tôi ở bao nhiêu năm có ngập đâu mà ông nói ngập’. Hiểu biết đó cũng phản ánh chất lượng sản phẩm mà chúng tôi làm ra”, anh nói. Đây cũng là nguyên nhân khi đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học để xác định cơ chế bồi lấp, sạt lở và đề xuất các giải pháp ổn định các cửa sông Đà Diễn và Đà Nông tỉnh Phú Yên phục vụ phát triển bền vững cơ sở hạ tầng và KTXH” (Bộ KH&CN) còn chưa kết thúc thì giải pháp chống bồi lấp, sạt lở nhằm ổn định vùng cửa sông, thoát lũ và bảo vệ môi trường sinh thái của nhóm khoa học CEFD đề xuất đã được Phú Yên áp dụng.  Bước ngoặt từ Dự án FIRST  Đánh giá các mốc phát triển của CEFD, không chỉ ban giám đốc mà các thành viên  đều cho rằng, Trung tâm có được bước ngoặt từ tiểu dự án nâng cao năng lực do FIRST tài trợ. Điểm khác biệt của CEFD so với các đơn vị nhận được gói tài trợ tương tự từ Dự án FIRST chính là việc CEFD đã tự chủ ngay từ đầu. Vậy CEFD cần gì ở FIRST khi đã có sẵn tiêu chuẩn đó? “Đúng là không có FIRST thì CEFD vẫn tự chủ nhưng điều quan trọng ở đây là Trung tâm nhận được hỗ trợ để nâng năng lực lên một mức mới”, PGS. TS Trần Ngọc Anh không khỏi tự hào khi nhắc đến thành quả thu được từ tiểu dự án: hệ thống tính toán hiệu năng cao 25 teraflop và hệ thống radar di động ven bờ quan trắc sóng và dòng chảy biển độ phân giải cao với tầm quét từ 30-200 km – một trong những hệ thống hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực này. “Một đơn vị quy mô trung bình như CEFD thôi mà có được những ‘vũ khí đặc chủng’ như vậy thật đáng tự hào. Bây giờ chúng tôi có thể tự tin trong hợp tác với nhiều đối tác quốc tế, ngay cả Deltares (Hà Lan), nơi phát triển công nghệ dự báo về nước với 170 tổ chức trên thế giới sử dụng, cũng cảm thấy ngạc nhiên trước năng lực này của Trung tâm”, anh nói đến những thành quả mà Dự án FIRST đem lại.    PGS. TS Trần Ngọc Anh trình bày kết quả về gói thầu “Xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai cấp tỉnh gắn với quản lý lũ tổng hợp một số lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”. Ảnh: CEFD  Tuy nhiên, cũng có những hiệu quả mà Dự án FIRST đem lại không thể định lượng hết giá trị. “Nếu chỉ tính ra tiền ngay thì với số tiền đối ứng trong Dự án FIRST, CEFD có thể đầu tư vào một số dự án khác và thu được nhiều hơn, nhưng điều thu được từ tiểu dự án FIRST có giá trị hết sức lâu dài, vốn ‘ẩn’ trong yếu tố ít thấy được ngay như chất lượng nguồn nhân lực”, PGS. TS Trần Ngọc Anh đánh giá. Đi kèm với các hệ thống đó là các thành viên của CEFD, những người tiếp nhận máy móc và triển khai ứng dụng các mô hình mô phỏng có độ phân giải cao theo chế độ nghiệp vụ như mô hình dòng chảy, nhiệt muối và môi trường nước ba chiều (ROMS). Trong quá trình thực hiện tiểu dự án FIRST, CEFD đã hợp tác với các tác giả phát triển mô hình ROMS ở Đại học Rutgers (Mỹ) để họ hướng dẫn nâng cao năng lực sử dụng mô hình cho các nhà nghiên cứu. Bên cạnh đó, cũng có thành viên được huấn luyện về xử lý số liệu quan trắc sóng và dòng chảy, yếu tố rất quan trọng trong việc tạo các bộ dữ liệu cũng như cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các mô hình tính toán.   Dù tự nhận là chưa khai thác hết những điểm lợi từ Dự án FIRST nhưng CEFD đã đủ tự tin nghĩ về hình ảnh của mình trong tương lai. Trên trang web của Trung tâm, những dòng mong ước về một hình ảnh của mình năm năm tới đã được họ mạnh dạn viết ra như một điểm mốc có thể đạt: Đến năm 2025 trở thành đơn vị hàng đầu Việt Nam và có uy tín ở Đông Nam Á về giảm thiểu rủi ro thiên tai và quản lý tài nguyên, môi trường bền vững theo hướng phát triển xanh.  Khi chưa đạt được mơ ước đó thì CEFD đã làm một điều mà ít đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khí tượng thủy văn đạt được, đó là thay đổi nhận thức của một số nhà quản lý. “Chúng tôi khá bất ngờ là ngoài tính công ích, phục vụ cộng đồng, hỗ trợ các nhà quản lý đưa ra những quyết sách giúp ngăn ngừa rủi ro thiên tai thì những hoạt động trong lĩnh vực này còn có thể tạo ra nguồn tiền. Hồ sơ của CEFD đã thuyết phục được hội đồng đánh giá của FIRST rằng, khi làm chủ được công nghệ dự báo và có trong tay dữ liệu… thì những nơi như CEFD hoàn toàn có thể kinh doanh theo cách như vậy”, ông Lương Văn Thắng đề cập đến một trong bốn lý do khiến FIRST lựa chọn Trung tâm để tài trợ nâng cao năng lực. Quan điểm này của CEFD cũng nhận được sự đồng thuận của PGS. TS Vũ Văn Tích, Trưởng ban KH&CN (ĐHQGHN), “Đây là một hướng đi rất hiện đại của các nước lớn trong khu vực như là Nhật Bản, Hàn Quốc,… từng áp dụng. Tôi nghĩ rằng tới đây sẽ có rất nhiều doanh nghiệp và các đối tác quốc tế sẽ phải sử dụng dữ liệu từ trung tâm này để làm cơ sở thực hiện các nghiên cứu cũng như hoạt động kinh tế trong một số địa phương”.   Đó cũng là điều mà CEFD ấp ủ nhiều năm. “Thông qua hoạt động của Trung tâm, chúng tôi mong muốn thay đổi cái nhìn của mọi người trong xã hội về ngành này. Lâu nay, người ta vẫn nghĩ rất đơn giản về ngành khí tượng thủy văn… Không chỉ là chuyện dự báo lũ lụt thôi đâu, thực ra, ngành này có thể đóng góp cho xã hội nhiều hơn thế”, PGS. TS Trần Ngọc Anh thoáng trầm ngâm khi nói về những cách hiểu chưa đúng vẫn tồn tại trong xã hội. Trong nhiều năm qua, nỗ lực của CEFD không chỉ là đạt được các gói thầu và nuôi sống trung tâm mà còn hướng đến việc giới thiệu những giá trị đóng góp của ngành… “Nếu không áp dụng vào những dự án đó thì các mô hình vẫn chỉ là để phục vụ nghiên cứu cơ bản thôi, chúng tôi muốn góp phần triển khai nó để đáp ứng những nhu cầu thực tế của các địa phương, các đơn vị. Có vậy mọi người mới biết đến giá trị của khí tượng thủy văn”.  ***  Có thể cần nhiều năm để thay đổi quan niệm của mọi người về một ngành, một lĩnh vực nhưng hơn ai hết, những người ở CEFD đã thấy hệ quả của nó đã hiện hữu: nhiều năm gần đây, các chỉ tiêu tuyển sinh của ngành Khí tượng, Tài nguyên và Môi trường nước, và Hải dương học của trường ĐH Khoa học tự nhiên đều không đạt, thậm chí, có năm không tuyển được sinh viên. Vậy điều này có liên quan gì đến CEFD, một đơn vị tưởng chừng thuần túy thực hiện các dịch vụ? PGS. TS Trần Ngọc Anh thành thật chia sẻ khó khăn mới của CEFD, “dù đã tự chủ song CEFD vẫn là một đơn vị trong trường đại học và vẫn liên quan đến các hoạt động đào tạo. Mặt khác, việc ít tuyển được sinh viên cũng ảnh hưởng đến trung tâm bởi hiện giờ khó khăn lớn nhất mà chúng tôi gặp phải là vấn đề nhân sự. Không tuyển được người nên chúng tôi phải ‘chào mời’ các bạn trẻ từ năm thứ thứ hai, thứ ba và sẵn sàng đầu tư nâng cao năng lực cho các bạn ấy”.  Một lần nữa, bài toán tự chủ đem thách thức đến cho CEFD. “Chúng tôi xác định muốn tự chủ tốt hoặc giữ được vị trí tốt trên thị trường thì cần có con người đủ năng lực. Ở đây đầu tư cho con người rất nhiều, chúng tôi vẫn thường xuyên cử các bạn tham gia các khóa nâng cao, ví dụ với bộ công cụ mô hình MIKE, một phần mềm thương mại hay được Trung tâm sử dụng, thường được đơn vị phát triển là Viện Thủy lực Đan Mạch cập nhật. Mỗi khi họ mở khóa học về mô hình cập nhật là trung tâm lại không nề hà kinh phí để cử người tham gia”, anh nói. Câu chuyện đào tạo thông qua các dự án và khóa học như vậy khiến “nhiều người hỏi tôi là ‘đào tạo mỗi người như thế mất khá nhiều thời gian và tiền bạc, anh có cơ chế nào giữ người không? Nhỡ đâu họ sang công ty đối thủ cạnh tranh thì sao?’ Chúng tôi làm dự án để phát triển chính ngành của mình nên một trong những nhiệm vụ là đào tạo con người. Có sản phẩm được nơi nào đó ‘mua’ cao hơn giá của mình thì tốt chứ”, PGS. TS Trần Ngọc Anh lạc quan về câu chuyện nhân sự của CEFD.  Tinh thần lạc quan và tin tưởng vào giá trị mang lại từ công việc đã lan tỏa đến các thành viên của CEFD. Ngay trong buổi chiều làm việc với Tia Sáng, cả mấy phòng làm việc nhỏ xinh của CEFD ở trường ĐH Khoa học tự nhiên đều tất bật đóng gói máy móc thiết bị, chuẩn bị cho chuyến công tác cuối tuần ở Cần Giờ, TPHCM theo lời mời của đối tác Deltares. “Đấy, tân thạc sĩ Trần Quang Vinh buổi sáng mới bảo vệ luận văn, buổi chiều đã nhận quyết định đi công tác với các đồng nghiệp quốc tế. Ở đây, mọi người lúc nào cũng sẵn sàng cho những việc cấp tập như thế”, PGS. TS Trần Ngọc Anh mỉm cười. □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Trung tâm học tập cộng đồng: Chờ ngày lột xác      Là một thiết chế quan trọng để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở và đã có mặt ở hơn 80% xã, phường, thị trấn ở khắp Việt Nam nhưng tác động của các trung tâm học tập cộng đồng còn hết sức mờ nhạt. Vậy làm thế nào để thiết chế này có thể lột xác và trưởng thành? Một mô hình mới được đề xuất thử nghiệm ở Hà Giang có thể đem tới một phần câu trả lời.      Lớp học tiếng Anh miễn phí của Vi-Mickey English Center tại nhà cho các hộ làm du lịch cộng đồng tại bản Nưa, Con Cuông, Nghệ An. Ảnh: Vi-Mickey English Center  Nhân tố mới: Các nhóm xã hội  Cuối tháng Ba vừa qua, tôi được tham dự Hội thảo về thực trạng và giải pháp phát triển trung tâm học tập cộng đồng ở tỉnh Hà Giang. Điều đặc biệt là, đến với Hội thảo có các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực: tâm lý lâm sàng, tiếng Anh, khuyến đọc, STEM, giáo dục đặc biệt, tâm lý giáo dục… Chính vì thế, mọi khía cạnh về thực trạng và toàn cảnh tương lai lâu dài, bền vững của mảng giáo dục cộng đồng được phân tích mổ xẻ tương đối kỹ lưỡng.  Nói về các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ), được hiểu như sáng kiến của UNESCO về việc xây dựng “những mô hình nhằm thúc đẩy giáo dục cộng đồng, giáo dục thường xuyên và giáo dục suốt đời cho các cộng đồng và nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục cho những cá nhân thiệt thòi trong xã hội”, thì hiện nay, những trung tâm như thế đã có trên hầu hết các xã, phường, thị trấn trong cả nước, nhưng chưa thể gọi là những mô hình giáo dục mang ý nghĩa thiết thực. Nó vẫn là một hình ảnh mờ nhạt và hình thức bên cạnh những hoạt động phong trào của các hội đoàn như Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi… vì nó ít có sự tham gia thực chất của cộng đồng. Theo Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu hỗ trợ cộng đồng tỉnh Hà Giang, 100% người dân được hỏi ở đây không hiểu chức năng và nhiệm vụ của các TTHTCĐ. Ngay ở Hà Nội, tôi cũng cho rằng, không nhiều người biết về sự tồn tại của những trung tâm này. Số tiền ngân sách chi cho việc vận hành các trung tâm mỗi năm từ 2017 trở đi sẽ là khoảng 30 triệu, khó có thể đủ để triển khai hiệu quả những nội dung đề ra, đồng thời nếu không hoạt động đúng cách thì số tiền ấy sẽ được chi vào những phong trào, những khóa học nhất thời vài ba ngày rồi lại nằm im – đó lại là một cách tiêu tiền phí phạm.  Một đề xuất táo bạo nhưng khả thi được Trung tâm nghiên cứu hỗ trợ cộng đồng tỉnh Hà Giang1đưa ra ngay ở Hội thảo, là xây dựng mô hình một TTHTCĐ cấp thành phố dưới hình thức như một đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Giang. Điều khác biệt của mô hình này là có sự hợp tác của nhà nước, tư nhân và các nhóm xã hội, trong đó, vai trò của chuyên gia nắm vững chuyên môn được đề cao. Tại hội thảo, ông Miyazawa Inchiro, chuyên gia về học tập suốt đời và TTHTCĐ thuộc Văn phòng UNESCO châu Á Thái Bình Dương đóng tại Bangkok, cũng ủng hộ sáng kiến này, và khuyến nghị, việc xây dựng một mô hình TTHTCĐ cấp thành phố tại thành phố Hà Giang sẽ là một thử nghiệm tốt theo cách làm của Indonesia, Thái Lan và một số nước khác. Những TTHTCĐ của Việt Nam ở cấp xã, phường chất lượng còn thấp vì chưa có được hỗ trợ chuyên môn từ cấp cao hơn. Từ một cách làm khai phá, ta có thể chia sẻ phương pháp cho các trung tâm cấp thấp hơn một cách hiệu quả.  Mô tả ngắn gọn về mô hình này: Không gian của Trung tâm sẽ được sử dụng triệt để, tích cực với hai hình thức song song: dịch vụ giáo dục miễn phí và dịch vụ giáo dục thu phí để có kinh phí tự hoạt động. Trung tâm được hỗ trợ đào tạo và quản lý bởi một đội ngũ có chuyên môn, có kế hoạch xây dựng mạng lưới truyền thông và mạng lưới tình nguyện viên rộng khắp. Đội ngũ tham gia điều hành sẽ được tập huấn kỹ lưỡng. Các nội dung học tập và dịch vụ giáo dục được thiết kế chu đáo, dài hơi và phong phú. Các hợp phần về công nghệ, STEM, nghệ thuật, tiếng Anh, tâm lý, thư viện, khuyến đọc đều được lên ý tưởng, quy trình và lộ trình hoạt động rõ ràng… Đã qua rồi cái thời làm được mọi việc chỉ bằng ý chí, chủ trương, phong trào. Với thời đại công nghệ phát triển như hiện nay thì chính những người quản lý các loại hình giáo dục cộng đồng và khuyến đọc càng cần biết kết nối và tận dụng mọi nguồn lực xã hội, bao gồm cả các hội đoàn và các tổ chức phi chính phủ, và đặc biệt là những chuyên gia, trên cơ sở phát triển hài hòa trách nhiệm và lợi ích mỗi bên, tận dụng chứ không “lợi dụng” nhau. Tôi tin rằng, nếu Hà Giang đồng ý đưa vào thí điểm và thí điểm thành công thì chúng ta có cơ hội có được những mô hình học tập thường xuyên và suốt đời thật sự hiệu quả.  Những ý tưởng khác    Lớp học tiếng Anh miễn phí của Vi-Mickey English Center tại nhà cho các hộ làm du lịch cộng đồng tại bản Nưa, Con Cuông, Nghệ An. Ảnh: Vi-Mickey English Center  Trong nhóm đi thực tế Hà Giang của chúng tôi có Vi Thị Thắm, một cô gái trẻ hoạt động trong lĩnh vực du lịch và là người sáng lập, điều hành Vi-Mickey English Center tại Con Cuông, Nghệ An. Trở về sau những năm du học về Phát triển và Văn hóa tại Úc, Thắm nung nấu một cách đóng góp cho cộng đồng của mình: phát triển ngành du lịch ở quê hương. Cách làm của Thắm rất nhỏ nhẹ nhưng bền bỉ và bắt đầu từ việc… dạy tiếng Anh cho các hộ dân tham gia làm du lịch cộng đồng. Thắm cũng chia hoạt động của mình thành hai mảng: mảng hỗ trợ cộng đồng (miễn phí hoặc thu phí rất thấp đối với những cá nhân và hộ gia đình khó khăn) và duy trì mảng thu phí dịch vụ nhưng không cao, để có kinh phí triển khai những ý tưởng táo bạo khác mà cô đang theo đuổi. Cô tham gia Hội thảo, lắng nghe và ghi chép nghiêm túc, rồi bối rối thổ lộ: “Ban đầu, em chỉ muốn đơn giản là tạo môi trường và cơ hội học tiếng Anh cho các em nhỏ ở miền núi Con Cuông. Sau đó, trong quá trình làm việc, em mới thấy có thể mở rộng cơ hội việc làm cho bà con qua việc học tiếng Anh và phát triển du lịch… Chỗ em mới chỉ phục vụ được cho… 200 người đều đặn tham gia học tại Vi-Mickey và câu lạc bộ tiếng Anh định kỳ hằng tháng!” 200 học viên – một con số không nhỏ khiến nhiều TTHTCĐ mơ ước! Đến Hà Giang, thăm công viên địa chất Đồng Văn, cô phát hiện một việc có thể làm “ngay và luôn”: tổ chức dạy tiếng Anh cho đội ngũ… xe ôm ở đây!    Buổi đọc truyện “Những chiếc áo ấm” của Võ Quảng tại trường THCS Quảng Ngần (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) trong chương trình tập huấn quy trình tổ chức CLB Đọc sách thuộc dự án Tủ sách Tri thức và Ước mơ, tháng 10/2014. Ảnh: CLB Đọc sách cùng con.  Nhân câu chuyện của Thắm ở Con Cuông, tôi cũng muốn chia sẻ đôi chút về mô hình câu lạc bộ Đọc sách cùng con mà chúng tôi theo đuổi đã bảy năm nay. Mục đích của CLB: hỗ trợ phát triển văn hóa đọc trong gia đình, tạo cảm xúc và duy trì thói quen đọc sách cho trẻ từ 12 tháng tuổi thông qua phương pháp đọc-kể tương tác; xây dựng những “cộng đồng đọc” nhỏ, khuyến khích và cổ vũ từng người đọc; từ đó chăm sóc cho một “thế hệ người đọc mới” được trang bị kỹ năng đọc, kỹ năng tự học và được trau dồi năng lực rung động với cuộc sống, với văn chương. CLB còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục gia đình và cho rằng, mỗi gia đình cũng là một môi trường “học tập thường xuyên, trọn đời” cho mỗi cá nhân. Ở một góc độ nào đó, CLB cũng là một mô hình học tập cộng đồng xuất phát từ sáng kiến của “tư nhân” như Vi-Mickey English Center tại Con Cuông, hoạt động phi lợi nhuận với hai mảng: miễn phí và thu phí để vận hành. Mảng miễn phí là hoạt động đọc sách, mỹ thuật… diễn ra đều đặn mỗi sáng thứ bảy và chủ nhật tại các phòng đọc của CLB. Các bạn nhỏ tham gia chỉ đóng phí thành viên, tính ra khoảng 10 nghìn đồng/buổi, chi vào việc chuẩn bị học phẩm. Những buổi đọc sách lớn, các gia đình tham gia hoàn toàn miễn phí. Song song với các buổi hướng dẫn đọc sách, CLB chăm lo cho mảng giới thiệu sách tới các bố mẹ và các con. Mỗi tuần, ít nhất có từ 5 đến 7 cuốn sách được các cô giáo và các cộng tác viên CLB đọc kỹ và viết bài giới thiệu, trong đó có những bài viết mô tả kỹ cách đọc cuốn sách, cung cấp các bài tập, trò chơi đi kèm…  Mô hình này không tạo thành phong trào lớn mạnh mà chỉ là một hiệu ứng xã hội cũng tương đối “nhỏ nhẹ”, nhưng bền vững. Sau ba năm hoạt động (từ 2010 đến 2013) và thử nghiệm nhiều phương pháp, chúng tôi đã đúc kết được một quy trình vận hành mô hình ngắn gọn, đơn giản, dễ làm và từ năm 2014, chúng tôi bắt đầu chia sẻ và nhân rộng mô hình hoạt động câu lạc bộ đến nhiều tỉnh thành thông qua các dự án do các tổ chức và cá nhân khởi xướng: Quy trình được đưa vào tập huấn cho giáo viên, phụ huynh các trường, hướng dẫn viên các câu lạc bộ ở thôn bản, trường học của hầu hết các huyện thuộc các tỉnh Điện Biên, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Hà Giang, Thái Bình v.v. và những thành phố nhỏ lẻ khác thông qua các dự án của Tầm nhìn thế giới (World Vision), Không gian đọc (Rooms to Read), Cơm có thịt, Tri thức và ước mơ, Sách cho em… trong những năm qua. Chỉ trong vòng một năm, từ tháng 10/2014 đến 10/2015, CLB đã tập huấn cho 368 thầy cô giáo ở Vị Xuyên, Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh (Hà Giang). Quy trình này ngày càng được hoàn thiện và được chia ra làm nhiều cấp độ: cấp độ tạo động lực; cấp độ cung cấp kỹ năng để duy trì động lực học-đọc; cấp độ nâng cao tạo niềm yêu thích lâu bền, tự đào tạo, tự giáo dục và có ảnh hưởng tới những cá nhân khác trong cộng đồng. Chúng tôi đang có ý định trao lại quy trình này cho mô hình TTHTCĐ kiểu mới ở Hà Giang nói trên nếu trung tâm này được phép thử nghiệm hoạt động.  Để phát triển các TTHTCĐ, dường như chúng ta đã có đầy đủ mọi nguồn lực: nhà nước cho ngân sách (dù không nhiều nhưng vẫn có giá trị nhất định), cơ sở vật chất, tư cách pháp nhân; các đơn vị tư nhân thì có chuyên môn và giải pháp – nhưng mỗi người chạy theo một hướng, ai cũng có khó khăn nhưng không bao giờ ngồi lại để tính bài toán hợp tác hiệu quả. Ở đây còn có một barie lớn: đó là nỗi lo ngại về sự tư lợi. Trong công việc, ở nhiều nơi, tôi luôn phải đối mặt với hai vấn đề – một là đối tác luôn chăm chăm muốn có được quy trình – cũng là sản phẩm trí tuệ của một cá nhân, một tập thể mà không muốn chi trả; hoặc, hai là, ở chiều ngược lại, nếu có ý định “cống hiến” thì sẽ bị đặt câu hỏi về “động cơ”, từ đó có nhiều cản trở ngay từ mặt tâm lý, khiến việc hợp tác khó diễn ra mà không có xung đột. Chính vì vậy, một cách tổ chức mới, trung dung như “TTHTCĐ thành phố Hà Giang” được đề xuất trong Hội thảo vừa qua cho tôi le lói niềm tin vào một sự kết nối hiệu quả giữa nhà nước và các đối tác bên ngoài được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện tham gia như những đối tác quan trọng và thiện chí.  Tại Việt Nam, từ năm 1988 đã có những TTHTCĐ đầu tiên được thành lập và hoạt động. Năm 2005, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 112/2005/QĐ-TTg đề ra mục tiêu đến năm 2010, 80% xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ. Tuy nhiên, mục tiêu này đã được hoàn thành trước thời hạn hai năm. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thị trấn tại Quyết định 09/2008/QĐ/BGDĐT, tạo hành lang pháp lý cho các TTHTCĐ này hoạt động. Theo đó, TTHTCĐ do Ủy ban Nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng GD&ĐT và có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời.  ——–  1 Trung tâm Nghiên cứu hỗ trợ cộng đồng tỉnh Hà Giang, thành viên Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Hà Giang, gồm các chuyên gia ở một số lĩnh vực được đào tạo bài bản ở nước ngoài, trong đó Giám đốc Trung tâm là thạc sĩ Phát triển và Văn hóa Hoàng Diệu Thúy, một trí thức trẻ ở Hà Giang.          Author                Nguyễn Thuỵ Anh        
__label__tiasang Trung tâm hợp tác IAEA – VINATOM: Cơ hội mới cho Việt Nam      Với sự ra đời và hoạt động của Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM về nước và môi trường, các nhà nghiên cứu sẽ có nhiều cơ hội mở rộng hợp tác và tham gia giải quyết những vấn đề “nóng” về môi trường của Việt Nam.      Lễ ký kết thành lập Trung tâm hợp tác IAEA- VINATOM tại trụ sở IAEA. Nguồn: IAEA     Nơi kết nối và điều phối các nguồn lực  Là một hình thức hợp tác hết sức linh động và hiệu quả của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) với các quốc gia thành viên, các trung tâm hợp tác IAEA (IAEA Collaborating Center) thường tập trung vào một lĩnh vực chuyên môn cụ thể và là mối quan tâm chung của IAEA lẫn quốc gia thành viên như y sinh học, nông nghiệp, y tế hay môi trường… Hiện nay trên thế giới có 33 trung tâm như thế hoạt động trên khắp các châu lục, riêng châu Á có Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, UAE. Dù tập trung vào bất cứ lĩnh vực nào thì định hướng của các trung tâm hợp tác IAEA vẫn là nhằm nâng cao năng lực (thông qua các lớp học, các hội thảo khoa học), trao đổi nghiên cứu (thông qua các chương trình nghiên cứu ngắn và trung hạn) và đồng nghiên cứu.   Mặc dù được thành lập sau nhưng Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) lại có nét khác biệt so với những “anh em” của nó: nghiên cứu đa lĩnh vực về nước và môi trường. Điều này phản ánh sự thay đổi trong quan điểm thiết lập trung tâm hợp tác của IAEA, đồng thời chứng tỏ sự tin cậy của IAEA vào khả năng tổ chức và thực hiện các nghiên cứu đa ngành của VINATOM thông qua những dự án của IAEA như dự án nghiên cứu phối hợp (CRPs), dự án hợp tác kỹ thuật cùng nhiều hội thảo và các phiên họp nghiên cứu khác. Trong buổi làm việc với Bộ KH&CN và VINATOM tại Viên vào cuối tháng 11/2018, ông David Osborn, Giám đốc Hệ thống phòng thí nghiệm Môi trường của IAEA, đã đưa ra lý do vì sao chọn Việt Nam làm điểm đặt Trung tâm hợp tác: “Trong quá khứ, VINATOM đã tham gia thành công một số dự án hợp tác nghiên cứu và hợp tác kỹ thuật của IAEA còn hiện nay, VINATOM có đội ngũ chuyên gia và một số cơ sở vật chất để thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài nguyên lưu vực sông và ven biển”.      Trung tâm hợp tác IAEA- VINATOM chính là nơi tổ chức, hỗ trợ và điều phối các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, có thể là các dự án cấp quốc gia hoặc quốc tế.      Việc thành lập Trung tâm hợp tác IAEA-VINATOM có những điểm hết sức thuận lợi cho Việt Nam: đây là một trung tâm “mềm” với một cơ chế vận hành hết sức linh hoạt, không đòi hỏi cơ cấu nhân sự “cứng” như nhiều cơ sở nghiên cứu khác. Việc triển khai các hoạt động nghiên cứu của trung tâm đều ở các đơn vị nghiên cứu của VINATOM hoặc một phần ở các đơn vị hợp tác thông qua các dự án. Về cơ bản, Trung tâm hợp tác chính là nơi tổ chức, hỗ trợ và điều phối các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, có thể là các dự án cấp quốc gia hoặc quốc tế.     Chuyên gia IAEA làm việc tại Phòng thí nghiệm thủy văn đồng vị, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (VINATOM). Nguồn: VINATOM    Bốn hướng nghiên cứu chính   Trên cơ sở hai phạm vi nghiên cứu về nước và môi trường, Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM đã xác định được bốn lĩnh vực có thể triển khai hợp tác nghiên cứu chính là tài nguyên nước, môi trường nước, môi trường đất và ô nhiễm phóng xạ trong không khí. Do đó, trong vòng 2 năm tới, Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM đự kiến sẽ đồng phối hợp bốn chương trình nghiên cứu cấp bộ và đề xuất một loạt các nghiên cứu với Bộ Tài nguyên và Môi trường.   Chương trình thứ nhất là nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đồng vị trong đánh giá mối liên hệ giữa dòng chảy và các tầng trữ nước ven sông Hồng từ Sơn Tây tới Hưng Yên. Các hoạt động nghiên cứu triển khai của chương trình này gồm có: quan trắc, lấy mẫu và phân tích thành phần đồng vị bền, đồng vị phóng xạ và các chỉ tiêu hóa, lý trong nước mưa, nước mặt và nước ngầm tại một số vùng ven sông Hồng theo từng đợt trong năm (mùa mưa, mùa khô); xử l‎ý số liệu và đánh giá kết quả phân tích nhằm xác định dòng chảy cơ bản của các tầng chứa nước dọc ven sông Hồng từ khu vực Sơn Tây đến Hưng Yên; xác định mối tương quan giữa nước mặt và các tầng chứa nước ven sông Hồng.   Chương trình thứ hai về nghiên cứu xác định tuổi, nguồn gốc nước bổ cập của các tầng chứa nước vùng Tây Nam bộ. Các hoạt động cũng gồm lấy và phân tích các mẫu nước ngầm về đồng vị bền, đồng vị phóng xạ và thành phần hóa học; xử lý số liệu phân tích, tính toán tuổi đối với các mẫu nước ngầm; lấy mẫu quan trắc thành phần đồng vị trong nước mưa trong nước sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ và phân tích hàm lượng các đồng vị; lấy và gửi một số mẫu nước ngầm sang IAEA để phân tích hàm lượng khí hiếm hòa tan và tuổi mẫu nước ngầm nếu cần thiết; lập sơ đồ phân bố tuổi của nước tầng nước ngầm nghiên cứu để luận giải kết quả và đề xuất kiến nghị.   Chương trình thứ ba là nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hạt nhân để nhận diện nguồn gốc và lịch sử phát sinh ô nhiễm hệ sinh thái vùng ven biển cửa sông Hồng. Các phần công việc chính của chương trình nghiên cứu này là: Xây dựng phương pháp nghiên cứu; lấy mẫu và phân tích mẫu; xử lý số liệu và đánh giá kết quả nhằm xác định tốc độ trầm tích, tuổi các lớp trầm tích và hàm lượng các kim loại nặng, các chất dinh dưỡng trong trầm tích; xác định các mối tương quan, nhận diện nguồn gốc và lịch sử phát sinh ô nhiễm hệ sinh thái vùng ven biển cửa sông Hồng.       Lấy mẫu nước trên sông Hồng. Ảnh: Báo Lào Cai.    Cuối cùng là nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và các đồng vị liên quan để xác định nguồn gốc trầm tích và đánh giá lịch sử bồi xói vùng ven biển Định An với các hoạt động chủ yếu gồm thu thập số liệu về địa hình, dòng chảy vùng nghiên cứu; khảo sát thực địa gồm có thiết kế mạng lưới đo đạc, thu góp mẫu cho vùng nghiên cứu có đường bờ biển dài khoảng 20 – 30 km; đo đạc, thu góp mẫu trầm tích theo lưới thiết kế tại vùng nghiên cứu: Thu góp mẫu trầm tích bề mặt theo ô lưới; thu góp mẫu lõi trầm tích theo ô lưới; thu góp mẫu trong vùng bồi cửa sông; xây dựng mô hình phân bố cấp hạt vật liệu bề mặt đáy biển vùng nghiên cứu; Phân tích thành phần cấp hạt của trầm tích bề mặt; Lập mô hình phân bố cấp hạt của trầm tích đáy đối với vùng nghiên cứu; Xây dựng mô hình phân bố các đồng vị phóng xạ, đồng vị bền và nguyên tố vết; Phân tích 8 đồng vị phóng xạ trong mẫu trầm tích; xây dựng mô hình phân bố không gian của các đồng vị phóng xạ và nguyên tố vết; Xác định tốc độ lắng đọng trầm tích trong vùng nghiên cứu theo thời gian; Xác định tuổi tuyệt đối của trầm tích trong khoảng 100 năm gần đây; Xử lý số liệu, đánh giá tốc độ bồi/xói, nguồn gốc vật liệu, liên kết thời gian…   Chương trình sẽ thu nhận các thông tin quan trọng về nguồn gốc vật liệu bề mặt đáy biển ven bờ vùng khảo sát, lịch sử diễn biến trầm tích đáy vùng khảo sát và mối quan hệ giữa trầm tích vùng bồi lắng với vật liệu bị rửa trôi tại vùng bị xói mòn.   Những yếu tố cần thiết   Cũng như nhiều cơ sở nghiên cứu khác, để thực hiện được kế hoạch nghiên cứu trên, Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM cần có được yếu tố cơ bản là những thiết bị đầu tay phục vụ nghiên cứu, một trong số đó là thiết bị phân tích khối phổ tỷ lệ đồng vị đáp ứng được việc phân tích các loại mẫu nước và môi trường khác nhau. Hệ thiết bị Khối phổ so sánh tỷ lệ đồng vị (Isotope Ratio Mass Spectrometry IRMS) và/hoặc thiết bị Khối phổ laser tỷ lệ đồng vị (Isotope Ratio Laser Spectrometry IRLS) dùng để phân tích thành phần các đồng vị bền của C, H, N, O, S,… trong các mẫu môi trường (mẫu khí, mẫu lỏng và các hợp chất hữu cơ) đặc biệt cần thiết để giải quyết các bài toán về tài nguyên môi trường và nguồn gốc ô nhiễm, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu mà trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu. Do độ tin cậy và hiệu quả cao, kỹ thuật đồng vị đã và đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới và IRMS cũng như IRLS là một trong các thiết bị không thể thiếu trong các nghiên cứu, điều tra đánh giá khoa học sử dụng kỹ thuật đồng vị môi trường.   Mặc dù đi đầu trong các viện nghiên cứu, đại học công lập ở Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nhưng cơ sở vật chất trong nghiên cứu phân tích tỷ lệ đồng vị của Viện NLNTVN mới chỉ phần nào đáp ứng và phục vụ một số nghiên cứu cụ thể, riêng biệt. Hệ thống IRMS duy nhất đã được đầu tư từ gần 20 năm trước tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân ở Hà Nội, hiện đang hoạt động cầm chừng và dải áp dụng rất hạn chế. Hệ thống này không có khả năng nâng cấp do hãng cung cấp nhà sản xuất từ lâu đã không chế tạo thiết bị phụ trợ và thay đổi phần mềm điều khiển, xử lý số liệu cho thiết bị này. Trong khi đó nhu cầu nghiên cứu, phân tích và cả phục vụ đào tạo ở Việt Nam là rất lớn, không chỉ ở miền Bắc mà cả các vùng miền Trung, miền Nam. Nhu cầu lớn đến mức đã có những đơn vị tư nhân tự trang bị hệ thống phân tích này và phân tích dịch vụ cho một số nghiên cứu hiện nay tại Viện NLNTVN.   Vì vậy, khi có được các trang thiết bị cần thiết về phân tích tỷ lệ đồng vị, Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM không chỉ có khả năng thực hiện được nhiều nghiên cứu tốt mà còn nhiều cơ hội mở rộng hợp tác với nhiều đơn vị trong nước khác, qua đó góp phần đưa các kỹ thuật hạt nhân hữu dụng vào ứng dụng trong thực tế.□  ——  * TS, Trung tâm Đào tạo hạt nhân, VINATOM.  Để nâng cao năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực nước và môi trường, Trung tâm dự kiến tổ chức ba hội thảo trong năm 2020 về ứng dụng kỹ thuật phân tích hạt nhân và liên quan trong nghiên cứu ô nhiễm bụi khí; ứng dụng kỹ thuật phân tích hạt nhân và liên quan trong nghiên cứu tài nguyên nước; ứng dụng kỹ thuật đồng vị. Bên cạnh đó, Trung tâm Hợp tác cũng sẽ tiếp nhận thực tập (fellowship) và tham quan khoa học (scientific visit) về ứng dụng kỹ thuật đồng vị trong nghiên cứu nguồn nước và môi trường nước. Trung tâm cũng sẽ thực hiện biên soạn tài liệu giảng dạy và báo cáo (kỹ thuật) thường niên gửi IAEA về hoạt động của Trung tâm. Trung tâm Hợp tác IAEA – VINATOM về nước và môi trường vận hành dưới sự điều phối của VINATOM và hai đơn vị trực thuộc IAEA là Ban Thủy văn đồng vị (isotope hydrology section), hệ thống Phòng thí nghiệm môi trường ALMERA, bao gồm 177 phòng thí nghiệm được tuyển chọn về khả năng xác định các nhân phóng xạ trong các mẫu môi trường của 89 nước thành viên.    Author                Trịnh Anh Đức *        
__label__tiasang Trung tâm nghiên cứu và dịch vụ khí hậu Hadley: “Đứng mũi chịu sào” trên mặt tiền khí hậu      Năm 2020 đánh dấu cột mốc 30 năm ngày thành lập của Trung tâm Nghiên cứu và Dự báo khí hậu Hadley, một cơ sở nghiên cứu công lập do Chính phủ Anh thành lập vào năm 1990. Kể từ ngày thành lập đến nay, Trung tâm luôn có mặt trên tuyến đầu nghiên cứu về biến đổi khí hậu thế giới, đồng thời là nơi cung cấp những thông tin dự báo về khí hậu để Chính phủ Anh lấy làm căn cứ hình thành chính sách phát triển.      Bà Margaret Thatcher, và Sir John Houghton, khánh thành Trung tâm Hadley. Bà cho rằng nước Anh cần một trung tâm nghiên cứu về biến đổi khí hậu đẳng cấp thế giới để giải quyết “những vấn đề nghiêm trọng” của phát thải khí nhà kính. Nguồn: Hadley Centre  Không được nhiều người ngoài ngành biết đến nhưng từ 30 năm qua, Trung tâm Nghiên cứu và Dự báo khí hậu Hadley tại Exeter, Anh, đã là nơi phát triển nhiều mô hình khí hậu được sử dụng trong nghiên cứu về biến đổi khí hậu khắp trên thế giới và triển khai nhiều dự án nghiên cứu các mô hình toàn cầu và địa phương. Theo cách đó, tầm ảnh hưởng của Trung tâm đã vượt ra ngoài biên giới Anh cũng như châu lục.  Anh cần câu trả lời về biến đổi khí hậu  Quá trình thành lập Trung tâm Hadley phản ánh sự phát triển về khoa học khí hậu Anh và thay đổi trong nhận thức về vai trò của khí hậu với đời sống con người của các nhà quản lý đất nước. Trong những năm 1970-1980, Cơ quan Khí tượng Anh (Met Office) đã thực hiện các nghiên cứu về mô hình hóa khí hậu và phân tích những quan sát khí hậu như những trung tâm khác của thế giới, đặc biệt là Mỹ. Vào thời điểm đó, thế giới bắt đầu quan tâm nhiều về biến đổi khí hậu và sự góp phần của con người vào nó. Các nhà khoa học tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế, một phần muốn truyền đi thông điệp về rủi ro của biến đổi khí hậu tới công chúng và giới làm chính sách. Vào tháng 9/1988, trong buổi tiệc thường niên của Hội Khoa học Hoàng gia Anh ở London, Thủ tướng Margaret Thatcher đã bình luận về khía cạnh nghiên cứu về tác động của con người đối với biến đổi khí hậu (bà từng trải qua một thời kỳ làm nghiên cứu) và tầm quan trọng của hành động chống lại biến đổi khí hậu. James Murphy, một nhà khoa học làm việc tại Trung tâm Hadley trong những ngày đầu tiên, nhớ lại thời khắc lịch sử đó: “Câu hỏi của Margaret Thatcher là ‘chúng ta có thể dự đoán được những thay đổi trong tương lai của khí hậu chúng ta không và những hậu quả tiềm năng sẽ là thế nào?’”  Câu hỏi này không dễ trả lời, dù Cơ quan Khí tượng Anh cũng đang đảm trách tốt công việc của mình. Trong những năm 1950-1960, Cơ quan Khí tượng Anh đã lập Chi nhánh nghiên cứu Khí hậu học (gọi tắt là Met O13) nhưng sau đó vài năm thì lại chia làm hai: một cơ quan mới lại được tách ra từ Met O.13 – Chi nhánh Khí hậu học động lực (Met O20) chủ yếu tập trung vào phân tích tính chất vật lý và động lực của khí quyển (sau đó thêm cả đại dương), phần còn lại phát triển và đưa ra các dự báo thời tiết hạn dài. Biến đổi khí hậu là một vấn đề phức tạp nên riêng việc chỉ ra những bằng chứng về hiện tượng này cũng không phải là chuyện đơn giản, ngay cả với các nhà khoa học thời điểm hiện tại. Ví dụ vào tháng bảy vừa qua, một liên minh quốc tế gồm 34 nhóm nghiên cứu do chuyên gia về lụt lội Áo Günter Blöschl (TU Wien) mới thu thập đủ dữ liệu để chứng minh biến đổi khí hậu đã từng xuất hiện ở châu Âu 500 năm trước và xuất bản công trình “Current European flood-rich period exceptional compared with past 500 years” trên Nature.       Trong vòng 10 năm, Trung tâm Hadley đã đạt được danh tiếng trên toàn cầu thông qua những mô hình và những bộ dữ liệu đáng tin cậy về biến đổi khí hậu mình tạo ra. Chưa một cơ sở nghiên cứu nào trong lĩnh vực khí tượng khí hậu có thể làm được như vậy trong cùng thời gian.      Đây cũng là lý do để bà Thatcher bàn bạc với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nhà vật lý khí quyển Sir John Houghton – Tổng giám đốc Met Office, giáo sư trường Đại học Oxford và Chủ tịch Nhóm nghiên cứu khoa học của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP), về việc thành lập một trung tâm nghiên cứu xuất sắc dành riêng cho khoa học khí hậu ở Anh. Tại phiên họp đầu tiên của Nhóm nghiên cứu khoa học ở Oxfordshire vào tháng 12/1988, Nicholas Ridley, một trong những người phụ trách lĩnh vực môi trường của chính phủ đã loan báo trước 100 nhà khoa học là Chính phủ Anh sẽ mở rộng danh tiếng quốc tế của mình, cung cấp thông tin về biến đổi khí hậu và sẵn sàng hỗ trợ cho khoa học khí hậu. Một bản đề xuất do nhóm chuyên gia Met Office soạn thảo đã vạch ra kế hoạch hình thành một trung tâm mới ở Met Office dành riêng về biến đổi khí hậu, hợp nhất những nghiên cứu bằng mô hình và quan sát khí hậu. Đặc biệt, riêng việc mô hình hóa dự đoán khí hậu mỗi năm được Bộ Môi trường Anh đầu tư khoảng 5,5 triệu bảng.  Gần hai năm sau, trong cuộc họp nội các vào ngày 21/5/1990, bà Thatcher đã mời Sir John Houghton tới trình bày về những phát hiện khoa học của ICPP như để chứng minh cho tính đúng đắn của việc thành lập trung tâm mới. Sau đó, vào ngày 25/5/1990, tại lễ ra mắt trung tâm, bà Thatcher đã tận dụng cơ hội để nêu quan điểm của mình về công việc của nó: “Công việc của trung tâm này… với các cơ sở máy tính tiên tiến và những kỹ năng xuất sắc của các nhà khoa học… sẽ giúp chúng ta nhìn vào tương lai và dự đoán một cách chính xác những thay đổi trong khí hậu của chúng ta. Trước đây chúng ta có thể có thêm một số ý tưởng về khí hậu tương lai bằng quan sát và phân tích những mẫu hình của quá khứ. Nhưng những thay đổi chúng ta sẽ đón nhận trong tương lai có thể sẽ phải còn khủng khiếp hơn bất kỳ những gì chúng ta đã trải qua, nên những phương pháp đó không còn phù hợp và chúng ta cần tin cậy nhiều hơn vào những mô hình có khả năng đánh giá đúng sự phức tạp của hệ thống khí hậu”.   Thành công sớm   Trung tâm xuất sắc được đặt theo tên của George Hadley, nhà khoa học Anh thế kỷ 18 và là một trong những người đầu tiên chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định hoàn lưu khí quyển Trái đất. Ngay từ ngày thành lập, Trung tâm Hadley đã xác định sẽ trở thành một nơi dẫn đầu thế giới về nghiên cứu và mô hình hóa khí hậu. Để làm được như vậy, Trung tâm Hadley sẽ tập trung vào việc cung cấp cho chính phủ và công chúng đánh giá chính xác những thay đổi về khí hậu do yếu tố tự nhiên và con người gây ra thông qua chương trình nghiên cứu: hiểu về các quá trình biến đổi khí hậu và phát triển các mô hình khí hậu; phân tích hồ sơ khí hậu gồm những thông tin được ghi nhận, bao gồm việc giám sát khí hậu ở gần thời gian thực và sự mở rộng của tính biến động tự nhiên; dò theo biến đổi khí hậu và đánh giá phạm vi ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu do những nguyên nhân đặc biệt gây ra; sử dụng các mô hình dự đoán biến đổi khí hậu, bao gồm đánh giá đầy đủ về tính bất định; tư vấn cho chính phủ về mặt chính sách di dân và khả năng đáp ứng biến đổi khí hậu; xây dựng các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia và sử dụng những kết quả thu được cho nghiên cứu và tư vấn.   Kế hoạch phát triển này đã đem lại những thành công sớm ngay trong những năm 1990 của Trung tâm Hadley. Chỉ một năm sau ngày thành lập, mô hình phối hợp khí quyển đại dương đầu tiên của Trung tâm được đưa vào thực nghiệm với 11 mức khí quyển, 17 mức đại dương, độ phân giải 2.50×3.50, điều mà lúc đó trên thế giới mới chỉ có Phòng thí nghiệm Động lực dòng chảy địa vật lý ở Princeton, Mỹ làm được bởi những thí nghiệm trước đó mới chỉ đề cập đến thay đổi khí hậu ở trạng thái cân bằng tương ứng với lượng CO2 tăng gấp đôi và không đề cập đến sự gia tăng theo thời gian. Một phần nguyên nhân là do sơ đồ bức xạ của mô hình này không cho phép thể hiện một cách đầy đủ phạm vi khí nhà kính. Những kết quả từ mô hình này đã trở thành những đóng góp quan trọng cho báo cáo bổ sung cho ICPP năm 1992.      Mô hình toàn cầu tích hợp khí quyển đại dương GC3.0 và GC3.1. Nguồn: Hadley Centre  Cũng trong năm đó, một cột mốc đầy ý nghĩa do Trung tâm Hadley tạo dựng, đó là việc sáng tạo ra Dữ liệu Băng biển và Nhiệt độ bề mặt biển toàn cầu – bộ dữ liệu tích hợp đầu tiên trên thế giới về nhiệt độ bề mặt biển toàn cầu (SST) và sự mở rộng đến băng trên biển. Cơ sở dữ liệu này đã được các đồng nghiệp trên toàn thế giới sử dụng trong các mô phỏng về biến khí hậu cũng như đánh giá các mô hình kết hợp khí quyển – đại dương, bao gồm cả mô hình của Trung tâm Hadley. Vào năm 2001, IPCC đã dùng nó như bộ dữ liệu chính để đánh giá các thay đổi của nhiệt độ bề mặt biển mở rộng đến băng biển.  Trong vòng 10 năm, Trung tâm Hadley đã đạt được danh tiếng trên toàn cầu thông qua những mô hình và những bộ dữ liệu đáng tin cậy về biến đổi khí hậu mình tạo ra. Chưa một cơ sở nghiên cứu nào trong lĩnh vực khí tượng khí hậu có thể làm được như vậy trong cùng thời gian. Uy tín của họ càng tăng lên sau khi HadCM2, mô mình kết hợp khí quyển đại dương thứ hai của Trung tâm, được công nhận là tích hợp những hiệu ứng sol khí sulphate ở tầng bình lưu (hậu quả của ô nhiễm sulfur dioxide từ đốt than và từ các quá trình xảy ra trong tự nhiên) một cách đầy đủ và cung cấp thông tin đầu vào quan trọng cho ICPP năm 1996, góp phần đem lại kết luận chính là “bằng chứng chắc chắn cho thấy tác động một cách rõ ràng của con người lên khí hậu”. Báo cáo này có ảnh hưởng lớn đến quan điểm của Hội nghị Biến đổi khí  hậu Liên Hợp Quốc lần thứ nhất (COP1) ở Berlin vào mùa xuân 1995.  Các mô hình thế hệ sau của Trung tâm Hadley đã giúp các nhà khoa học thế giới hiểu được tầm quan trọng của những quá trình liên quan đến sol khí, mây và những phản hồi của chu trình carbon. “Các mô hình đó cũng chứng minh được khả năng có thể đem lại những dự đoán đầy ý nghĩa cho khí hậu tương lai dựa theo quy mô thời gian mùa và thập kỷ để đem lại những cảnh báo sớm và theo quy mô thế kỷ để hình thành sự thích ứng với những thay đổi đó”, giáo sư Albert Klein Tank, Giám đốc Trung tâm Hadley, đánh giá về hiệu quả các mô hình mà Trung tâm phát triển.   Những thành quả nghiên cứu sau này như những mô hình tích hợp, những bộ dữ liệu quan sát và một số lượng lớn các bài báo quốc tế đã trở thành đóng góp truyền thống của Trung tâm Hadley vào quá trình xây dựng báo cáo thường kỳ của IPCC. Tuy nhiên, điều mà các nhà khoa học ở Trung tâm tự hào không chỉ vì họ luôn xuất hiện ở vị trí dẫn dắt các nhà khoa học quốc tế thực hiện báo cáo hoặc phản biện kết quả mà còn từ điều mà Trung tâm Hadley nỗ lực thực hiện trong suốt 30 năm qua, đó là việc cung cấp thông tin và mô hình khí hậu tương lai cho Dự án Dự đoán khí hậu Anh để hình thành chính sách của chính phủ nước này. Một phần vì phần lớn kinh phí duy trì hoạt động của Trung tâm đến từ Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn (DEFRA) cùng nhiều Bộ khác của Chính phủ Anh, tuy nhiên một phần vì họ mong muốn đem lại những thông tin hữu ích cho xã hội thông qua hoạt động nghiên cứu của mình.     Hệ thống siêu máy tính của Hadley Centre. Nguồn: Hadley Centre  Làm được điều này không phải điều dễ dàng. Các mô hình khí hậu toàn cầu không có được độ phân giải phù hợp để giải được bài toán khí hậu ở quy mô nhỏ, đặc biệt là về lượng mưa trên những khu vực có địa hình khác nhau (dẫu có một số mô hình mô phỏng Trái đất của Nhật Bản). Do vậy, Trung tâm đã phát triển các mô hình khí hậu vùng để tìm hiểu trên thực tế khí hậu học của các cực trị mưa, qua đó ước tính được những thay đổi trong các cực trị đó. Phiên bản đầu tiên với độ phân giải 50km của Hadley cho thấy những điểm mới về chu kỳ thủy văn ở mô hình vùng khắc nghiệt hơn mô hình toàn cầu. Về cơ bản, mô hình vùng này đóng vai trò quan trọng trong dự đoán những tác động của khí hậu trên các quy mô nhỏ hơn. Điều mà các nhà khoa học ở Hadley làm được là tạo ra mô hình vùng có thể chạy được trên máy tính cá nhân nhằm tạo điều kiện cho bất cứ đồng nghiệp nào của họ trên thế giới, trong điều kiện thiết bị còn hạn chế, vẫn có thể áp dụng được, một thành công trong khuôn khổ Sáng kiến nghiên cứu tác động của Khí hậu vùng do Met Office khởi xướng năm 2002. “Điều này cho phép mọi quốc gia đều có thể đánh giá được tính nhạy cảm của biến đổi khí hậu trên phạm vi quốc gia và so sánh dữ liệu quan sát được với các mô phỏng về biến đổi khí hậu hiện nay”, giáo sư Chris K. Folland, một trong những nhà khoa học có uy tín của Hadley viết như vậy trong History of the Hadley Centre for Climate Prediction and Research.  Đây cũng là lý do vì sao giáo sư Albert Klein Tank, Giám đốc Hadley kể từ năm 2018, nhấn mạnh “Tôi đặc biệt tự hào về việc có được một hệ thống mô hình liền mạch để kiểm tra cơ sở vật lý của các mô hình khí hậu thông qua việc kiểm tra được dự báo thời tiết và dự báo mùa”. Nhu cầu về dịch vụ khí hậu ngày càng gia tăng ở Anh và những đóng góp của Hadley rút cục đã dẫn đến những chuyển biến mới, đó là việc họ mang cái tên mới từ năm 2018 Trung tâm Khoa học và Các dịch vụ khí hậu Hadley “bởi những dịch vụ khí hậu luôn luôn được đặt trên cơ sở khoa học khí hậu đỉnh cao”, ông giải thích.      Sẵn sàng cho những đổi thay  Sự phát triển của khoa học khí hậu trong hơn 10 năm qua đánh dấu sự vươn lên của nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới cũng như sự quan tâm của các chính phủ vào việc ứng phó trước những bài toán khí hậu ngày một phức tạp. Những mô hình mới được phát triển đi kèm với những dung lượng tính toán lớn hơn và đòi hỏi thời gian xử lý nhanh hơn trên các hệ thống siêu máy tính. Vì vậy, chính phủ Anh vào đầu tháng 2/2020 đã đi đến quyết định: đầu tư 1,2 tỉ bảng cho một hệ siêu máy tính hiện đại hàng đầu thế giới để cải thiện những dự báo thời tiết và khí hậu. Dữ liệu từ hệ siêu máy tính này một mặt giúp chính quyền và các cộng đồng dân cư có được những dự báo bão chính xác hơn, lựa chọn được những địa điểm phù hợp nhất để chống lụt, giúp các sân bay lường trước được thời tiết xấu, giúp ngành năng lượng có kế hoạch dự phòng, tránh khả năng cắt điện hoặc quá tải; mặt khác dự đoán được những thay đổi của khí hậu toàn cầu tốt hơn để giữ vị trí của Anh trong lĩnh vực khoa học khí hậu, thậm chí đạt được những mục tiêu tham vọng hơn. Bộ trưởng Bộ Thương mại và Năng lượng Alok Sharma đề cập đến ý nghĩa của quyết định đầu tư này “Hệ siêu máy tính mới sẽ tăng cường năng lực của các hệ siêu máy tính sẵn có của Anh và năng lực về công nghệ dữ liệu, qua đó góp phần định hướng đổi mới sáng tạo và phát triển các kỹ năng ở tầm thế giới về siêu máy tính, khoa học dữ liệu, học máy và trí tuệ nhân tạo”. Về lâu dài, những đầu tư như thế này sẽ tạo ra những công ăn việc làm có lương cao, đảm bảo được sự phát triển của các doanh nghiệp và dịch vụ công ở Anh, những yếu tố góp phần đem lại đổi mới sáng tạo trong xã hội.   “Thành công tương lai của Hadley sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố quan trọng: các nhà khoa học xuất sắc trong một cấu trúc quản lý hiệu quả, kết nối chặt chẽ với các đối tác khác; hệ siêu máy tính hiện đại; một chương trình được lập dựa trên chính sách của chính phủ và một dòng đầu tư liên tục” (giáo sư Chris K. Folland).    Đây là một quyết định kịp thời bởi hệ siêu máy tính Cray hiện tại của Hadley sẽ hết thời hạn sử dụng vào cuối năm 2022. Trong thời gian tồn tại, nó đã góp phần đem lại những dự báo thời tiết chi tiết cho Anh theo giờ, đồng thời dự báo được thời tiết tốt hơn trong vòng 5 ngày, ví dụ như những cơn bão lớn Ciara, Dennis năm 2018, qua đó giúp các địa phương có được thời gian chuẩn bị các dịch vụ phòng chống bão cần thiết.   Đầu tư mới của chính phủ khiến các nhà khoa học cảm thấy phấn khích. Giáo sư Albert Klein Tank cho rằng “ở thời điểm này, chúng tôi bắt đầu nghĩ một cách cẩn trọng về những thập kỷ tới để cố gắng đảm bảo cho Hadley luôn sẵn sàng cho những thay đổi trong tương lai, dựa trên chiến lược Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo mới và một lộ trình mới cho khoa học khí hậu”.□  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:   https://rmets.onlinelibrary.wiley.com/doi/pdf/10.1256/wea.121.04  https://www.wired-gov.net/wg/news.nsf/articles/Three+decades +of+Met+Office+Hadley+Centre+ science+and+counting.. +27052020121500?open https://www.gov.uk/government/news/12-billion-for-the-worlds-most-powerful-weather-and-climate-supercomputer    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp CNC Hòa Lạc: Chưa phát huy hết tiềm năng      Sau 10 năm thành lập, mặc dù cũng đã hỗ trợ và ươm tạo thành công một số doanh nghiệp công nghệ cao (CNC) nhưng Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp CNC Hòa Lạc (HBI) vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quảng bá hình ảnh đủ sức hấp dẫn các dự án khởi nghiệp, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư…      Các nhóm ươm tạo đang thực hiện thí nghiệm tại phòng thí nghiệm Công nghệ thông tin của HBI.  Ý tưởng nghiên cứu lên men ngũ cốc với các chủng nấm dược liệu quý nhằm tạo nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, thực phẩm và mỹ phẩm bằng công nghệ lên men rắn thu sinh khối sợi nấm của nhóm Fermentech của Hoàng Ngọc Thanh được đánh giá là mới, đem lại năng suất cao hơn so với công nghệ lên men lỏng đang được sử dụng rộng rãi hiện nay và đã được trao giải quán quân cuộc thi Hành trình khởi nghiệp (Startup Journey 2016) do Bộ KH&CN tổ chức vào năm 2016. Tuy nhiên, trong bước đầu khởi nghiệp, anh Thanh đã phải đối mặt với một loạt vấn đề như tìm thuê nhà xưởng với giá cả “phải chăng”, chuyên gia tư vấn về sản phẩm, thị trường, doanh nghiệp, tài chính… Sau khi tìm hiểu về HBI ở Techfest 2016 và được mời đến tham quan thực tế ở trụ sở HBI, anh Thanh đăng ký ươm tạo tại đây thay vì lựa chọn một vườn ươm và thuê nhà xưởng ở trung tâm Hà Nội rất đắt đỏ.  Trung bình hằng năm HBI tiếp nhận khoảng 20 dự án đăng ký tham gia ươm tạo như Fermenteh (duyệt khoảng 4-5 dự án). HBI sẽ thành lập một Hội đồng tư vấn (gồm doanh nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu về công nghệ, thị trường, hoặc nhà đầu tư, nhà khởi nghiệp thành công) để đánh giá các khía cạnh khác nhau của dự án, đặc biệt là khả năng đột phá (start-up, scale-up). Các dự án đủ điều kiện, lọt qua vòng tuyển chọn sẽ tham gia vào các quy trình ươm tạo khác nhau như tiền ươm tạo (tối đa 6 tháng) và ươm tạo (từ 2-3 năm). Cho đến nay, Trung tâm đã ươm tạo được gần 40 nhóm khởi nghiệp, chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học – y dược.  Khởi nghiệp ở HBI có “lợi thế” về cơ sở hạ tầng với hơn 4ha đất, 6000m2 văn phòng làm việc, phòng thí nghiệm. Điều kiện này đặc biệt hữu ích là đối với các dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học-y dược cần có hệ thống vườn ươm, nhà kính để hoàn thiện công nghệ và sản phẩm (rất khó tìm nếu triển khai dự án tại khu vực trung tâm Hà Nội vì chi phí thuê mướn đắt đỏ). Cụ thể, khi tham gia quy trình ươm tạo tại HBI, các nhóm khởi nghiệp được sử dụng miễn phí không gian làm việc chung (co-working space), sử dụng miễn phí hạ tầng cơ sở vật chất dùng chung (gồm phòng thí nghiệm, phòng họp, dịch vụ lễ tân, photocopy, wifi…), được giảm 50% giá thuê phòng riêng, xây dựng cơ sở thí nghiệm, xưởng sản xuất riêng. Nổi bật trong số đó, phòng thí nghiệm IoT (internet of things) Hòa Lạc (do HBI và các công ty công nghệ hàng đầu như Dell, Intel, DTT phối hợp đầu tư xây dựng) được đưa vào sử dụng từ nửa cuối năm 2016 là một trong những phòng thí nghiệm được kỳ vọng sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhóm khởi nghiệp về công nghệ thông tin, công nghệ tin-sinh học, khoa học sự sống. Với hiện trạng đó, HBI được đánh giá là “có cơ sở vật chất không đâu bằng”, theo ông Phạm Đại Dương, Thứ trưởng Bộ KH&CN, Trưởng ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc chia sẻ với Tia Sáng.  Các doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ được HBI tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo sau đó mới mời chuyên gia khởi nghiệp xây dựng khung chương trình đào tạo phù hợp. “Phần lớn các nhóm khởi nghiệp ở HBI có kiến thức về công nghệ nhưng các kỹ năng xây dựng và quản trị doanh nghiệp, kỹ năng tài chính, thị trường, gọi vốn… còn rất ‘mơ hồ’ và ở nhiều mức độ khác nhau. Do đó chúng tôi cần khảo sát nhu cầu cụ thể của từng nhóm khởi nghiệp”, ông Nguyễn Ngọc Hiếu, Phó giám đốc HBI cho biết.  Sau 10 năm thành lập, tỉ lệ doanh nghiệp được ươm tạo thành công ở HBI khá cao, trong số 40 nhóm khởi nghiệp được ươm tạo, đã có 20 nhóm khởi nghiệp tốt nghiệp và thành lập doanh nghiệp, ¾ trong số đó vẫn có mặt và hoạt động trên thị trường sau ba năm. Một nửa số doanh nghiệp tốt nghiệp đang phát triển tốt, khẳng định được thương hiệu, gọi được vốn đầu tư như AI, Isolar, Nasia, Vietsoftpro, Techbifarm, Fujidenki, Viện nghiên cứu cây đàn hương và thực vật quý hiếm…  Đối với một số startup “xuất thân” từ nhà nghiên cứu, HBI mang lại giá trị lớn nhất là “tinh thần khởi nghiệp”. “Khi từ Nhật Bản về Việt Nam, tôi từng nghĩ chỉ tập trung ngồi nghiên cứu, còn quá trình đưa nghiên cứu đó thành sản phẩm ứng dụng là việc của những người khác. Nhưng khi trao đổi với anh Nguyễn Đức Long, giám đốc HBI thì tôi ‘bị nhiễm’ tinh thần startup và lao vào thử sức đầy mạo hiểm”, TS. Vũ Tất Thắng, giám đốc Isolar, một startup công nghệ đã từng được ươm tạo ở HBI từ năm 2010 tới 2012 và đang là đối tác của một số tập đoàn công nghệ lớn như Viettel, FPT, Microsoft cho biết.  Chưa đủ sức hút  “Dù có nhiều doanh nghiệp tốt nghiệp ở HBI được đánh giá tốt, có danh tiếng, tỉ lệ ươm tạo thành công như vậy là cao so với mặt bằng chung các cơ sở hỗ trợ ươm tạo, nhưng thẳng thắn nhìn nhận thì chúng tôi vẫn tự đánh giá số lượng các startup được ươm tạo tại đây vẫn ít, ông Nguyễn Ngọc Hiếu nói.  Có nhiều nguyên nhân dẫn tới điều này, trong đó nguyên nhân đầu tiên là HBI bị hạn chế về điều kiện tuyển chọn dự án đầu vào ươm tạo. Không giống với các vườn ươm khác có thể ươm tạo ý tưởng khởi nghiệp từ nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ công nghệ khác nhau, HBI chỉ được phép ươm tạo dự án khởi nghiệp công nghệ cao, có khả năng phát triển thành các doanh nghiệp công nghệ cao.  Thứ hai là thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ cho khởi nghiệp ở khu CNC Hòa Lạc đủ để “hút” giới khởi nghiệp, giới đầu tư. “Khu CNC Hòa Lạc dự kiến sẽ hình thành một hệ sinh thái công nghệ cao gồm có Viện nghiên cứu, trường đại học, các công ty công nghệ… nhưng thực trạng phát triển hiện nay cũng chưa được như kỳ vọng. Mà hoạt động ươm tạo cũng là chịu ảnh hưởng bởi bức tranh chung đó”, ông Nguyễn Ngọc Hiếu cho biết.  Nguyên nhân thứ ba chính là khả năng tự quảng bá và hỗ trợ đầu tư cho khởi nghiệp của HBI. HBI vẫn chưa thể ‘gãi trúng’ nhu cầu cần đầu tư khởi nghiệp, kết nối cung cầu và chuyển giao công nghệ của một số nhóm khởi nghiệp. “Bởi vì HBI chưa có được cơ chế, chức năng và tiềm lực để trực tiếp đầu tư vào các doanh nghiệp được ươm tạo. Chính vì vậy HBI cũng rất khó lượng giá được chính xác tỉ lệ đóng góp của mình vào thành công của doanh nghiệp đã được ươm tạo tại đây để ‘quảng cáo bản thân’ ”, ông Nguyễn Ngọc Hiếu chia sẻ.  HBI đang nỗ lực thúc đẩy liên kết với các vườn ươm tư nhân khác trên địa bàn Hà Nội để xây dựng được mạng lưới các cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp công lập và tư nhân cùng phối hợp chia sẻ nguồn lực, tạo điều kiện hỗ trợ chéo cho các nhóm khởi nghiệp. Nhiều đơn vị khác như Up, Hatch đã sẵn sàng nhận học viên của HBI tham gia các khóa đào tạo của họ hoặc các mentor ở đây sẵn sàng tới HBI giảng các khóa tăng tốc khởi nghiệp.  Tuy nhiên, “việc liên kết và thu hút các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư nước ngoài vào HBI vẫn còn nhiều khó khăn. Các vườn ươm tư nhân luôn dễ dàng thu hút quỹ đầu tư nước ngoài nhờ cơ chế hoạt động nhanh chóng, linh hoạt. Còn các đơn vị nhà nước bao giờ cũng vướng nhiều thủ tục hành chính. Và thực sự trong các vườn ươm nhà nước hiện nay, chưa có vườn ươm nào thực sự đạt được mục tiêu như kỳ vọng”, ông Hiếu nói.        Author                Bảo Như        
__label__tiasang Trường đại học lập chợ để  ươm tạo doanh nghiệp bán lẻ      Đại học Nottingham Trent có thể coi là  trường đại học đầu tiên ở Vương quốc Anh xây dựng một vườn ươm tạo doanh  nghiệp bán lẻ bằng cách lập ra một khu mua sắm cố định.       Khu mua sắm có tên Cobden Chambers tọa lạc tại phố Pelham, trung tâm thành phố Nottingham, và do The Hive, trung tâm ươm tạo của trường tổ chức. Nó có ba quầy hàng, là nơi sinh viên bán các sản phẩm họ tự làm, qua đó tăng thêm kinh nghiệm thực tiễn trong môi trường ươm tạo.   Vừa mới khai trương ngày 21 tháng 5 vừa qua, cửa hàng ra mắt các quầy hàng của ba doanh nghiệp bán lẻ đang được The Hive ươm tạo, gồm Cavology, một doanh nghiệp bán hàng cao cấp; Relm, doanh nghiệp bán quần áo cho lớp trẻ thành phố; và Wiseman Designs, doanh nghiệp làm ứng dụng trên điện thoại di động. Cả doanh nghiệp dự kiến sẽ hoạt động ở cửa hàng trong ít nhất một năm. Khi một trong ba doanh nghiệp rời đi thì chỗ trống sẽ được dành cho nhà bán lẻ tiếp theo.  Sean Macaskill, cố vấn tại The Hive, cho biết “mục tiêu được đặt ra ở đây là vận hành một vườn ươm tạo bán lẻ trong lâu dài. Bạn có thể học về lý thuyết kinh doanh, nhưng việc kinh doanh đòi hỏi phải trải qua kinh nghiệm và Cobden Chambers chính là một nơi hoàn hảo để các doanh nghiệp của chúng tôi làm việc này”.  Ông cũng cho rằng cửa hàng sẽ mang lại cho giới sinh viên nền tảng để thành công trong thực tiễn mà chưa cần tự mình phải bươn chải ngoài đời sống. Vườn ươm tạo bán lẻ này cũng mang lại cơ hội học hỏi, tăng kinh nghiệm, và cơ hội làm việc cho sinh viên cả trường. “Chúng tôi rất tự hào vì đã thành lập cơ sở này, và hi vọng nó sẽ giúp thật nhiều doanh nhân trẻ thành công thực sự trong tương lai”.   PV  Nguồn:http://www.ntu.ac.uk/apps/news/158676-15/University_launches_first_of_its_kind_retail_incubator.aspx      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường đại học –  Trung tâm của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo      Nếu năm 2016 là năm thể hiện quyết tâm cao nhất ở cấp Chính phủ về định hướng phát triển thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, thì năm 2017 rất nên là năm các trường đại học thể hiện vai trò tiên phong của mình để thực hiện sứ mệnh đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (Entrepreneurship & Innovation) để cung cấp cho xã hội những tài năng được trang bị tư duy và kỹ năng cần thiết cho công cuộc đó.      BKUP – co working space tận dụng không gian trong trường Đại học Bách khoa, HN  do công ty Up cùng đầu tư và hỗ trợ. Ảnh: Up Co working space.  Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức- Đổi mới sáng tạo  Trong cuốn sách Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (Đổi mới sáng tạo 2.0- Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức) nghiên cứu về 12 trường hợp là những trường đại học đổi mới sáng tạo về công nghệ hàng đầu của Mỹ, hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout đã chỉ ra năm vấn đề mà các trường đại học muốn đổi mới sáng tạo phải đối mặt. Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học đổi mới sáng tạo thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn trong đổi mới sáng tạo. Năm vấn đề đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ.  Trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp  Lấy câu chuyện hệ sinh thái khởi nghiệp làm trọng tâm, Founder Institute1 xây dựng một mô hình đi theo ba giai đoạn phát triển chính của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Theo đó, trường đại học đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn chính: Hình thành ý tưởng; phát triển sản phẩm và tăng trưởng.  Trong giai đoạn đầu tiên, nhà trường mà cụ thể là giảng viên và các đơn vị hỗ trợ đóng vai trò là những người truyền cảm hứng, cung cấp thông tin, giới thiệu những thành công, điển hình, kinh nghiệm, hỗ trợ phát triển đội nhóm thông qua thúc đẩy hợp tác liên ngành trong sinh viên.  Khi doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ, nhà trường cần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết về kinh doanh như luật pháp, thuế, kế toán cho đến những hỗ trợ về nơi làm việc cho các nhà sáng lập doanh nghiệp.    Đối với giai đoạn thứ ba khi hệ sinh thái có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển tốt, trường đại học cần đóng vai trò tiên phong cung cấp những tài năng kinh doanh, nguồn lực chất lượng tốt với tư duy, kỹ năng và trải nghiệm hữu ích để doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Như vậy, trường đại học vừa trang bị cho người học những kỹ năng, kiến thức và trải nghiệm để sẵn sàng khởi nghiệp khi có hướng đi đổi mới sáng tạo thực sự vừa thực thi tốt vai trò của mình trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.  Nếu cách tiếp cận về vai trò trường đại học trong nền kinh tế nhấn vào yếu tố nội lực của trường đại học để đổi mới sáng tạo, thì cách tiếp cận về vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp cho thấy tính hiệu quả khi đưa sản phẩm dịch vụ từ trường đại học ra bên ngoài và thương mại hóa. Trong khi cách tiếp cận thứ nhất chỉ rõ, để chuyển giao tốt sản phẩm của mình ra bên ngoài, các trường đại học cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và hợp tác với khu vực tư nhân, cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh vai trò của trường đại học rất lớn trong truyền cảm hứng, hỗ trợ thẩm định ý tưởng và phát triển đội nhóm trong các trường đại học. Cả hai cách tiếp cận đều toát lên những điểm chính về vai trò của trường đại học trong đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: (1) Tinh thần doanh nhân và truyền cảm hứng; cung cấp nhân lực chất lượng cao (2) Hợp tác với doanh nghiệp và nắm bắt nhu cầu thị trường. Từ đó có thể thấy, một số yếu điểm rõ nhất của các trường đại học Việt Nam hiện nay như sau:  Nguồn nhân lực và khoảng cách giữa nhà trường và thị trường  Cách đây 20 năm, House Care – một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sửa chữa mọi thiết bị, đồ đạc trong một ngôi nhà từng rất thành công trên thị trường vì sản phẩm dịch vụ được người tiêu dùng đón nhận, mô hình kinh doanh được vận hành trơn tru hiệu quả do những người quản lý đều có kinh nghiệm, trải nghiệm trong và ngoài nước, nhưng công ty không thể lớn hơn quy mô 40 người. Lý do rất đơn giản: không thể đào tạo theo chuẩn đối với người lao động do các trường gần như đều đào tạo lý thuyết, việc chuẩn hóa nhân sự không thể thực hiện được, chi phí đào tạo lại quá lớn. Công ty buộc phải ngừng kinh doanh không phải vì không có lãi mà nhận thấy rằng, nếu tiếp tục duy trì, mô hình sẽ không thể lớn lên được. 20 năm sau, trong thời đại công nghệ như vũ bão, nhiều doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ phát triển được những sản phẩm tốt, có tiềm năng bước chân ra thị trường nước ngoài, nhưng tìm kiếm nhân sự marketing, tài chính, nhân sự trở thành vấn đề đau đầu nhất của chủ doanh nghiệp. Sinh viên ra trường vừa thiếu vừa yếu kỹ năng kinh nghiệm, ngoại ngữ thực hành yếu. Không tìm được người đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp dậm chân tại chỗ và rất khó có bứt phá.  Câu chuyện của 20 năm và bây giờ có một điểm tương đồng: Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đôi khi không chết, nhưng không thể lớn được vì không có những con người tài năng và phù hợp để phát triển mô hình kinh doanh ở những giai đoạn mới. Điều đó chứng minh các trường đại học đang không nắm bắt chặt chẽ xu hướng của thị trường lao động để từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Trong tương lai không xa, khi ASEAN trở thành thị trường không biên giới, luồng lao động tự do di chuyển từ các quốc gia Đông Nam Á khác đến Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lựa chọn hơn về nguồn nhân lực nhưng nhân lực Việt Nam có nguy cơ thua ngay trên sân nhà. Khi đó, bản thân các trường đại học và những quyết sách về đào tạo sẽ không thực thi được sứ mệnh phục vụ xã hội của mình. Thậm chí, thiếu động lực đổi mới sáng tạo, các trường đại học có nguy cơ bị mua lại, thâu tóm sáp nhập một khi thị trường giáo dục có những độ mở nhất định. Đó là câu chuyện của chiến lược tồn tại của các trường đại học trong một hai năm tới, bởi lẽ là một cấu phần của nền kinh tế, trường đại học cũng nằm trong không tránh khỏi áp lực cạnh tranh.  Động lực đổi mới sáng tạo từ giảng viên  Trong một bài phân tích lý do tại sao, trong lòng châu Âu, nước Đức được coi là một trong những đất nước đổi mới sáng tạo bậc nhất vẫn đặt ra câu hỏi, nước Đức học gì từ Silicon Valley, một trong số những câu trả lời là “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”. Ngẫm lại Việt Nam, sự kết nối lỏng lẻo giữa nhà trường và thị trường đang khiến giảng viên – gạch nối quan trọng giữa nhà trường và doanh nghiệp – thiếu đi sự tiếp xúc thực tiễn, số ít vừa tham gia giảng dạy vừa kinh doanh hoặc tư vấn khởi nghiệp, phần đông hơn hiểu biết về kinh doanh chung chung và rất khó đưa ra những định hướng tốt cho sinh viên về vấn đề thực tiễn cần giải quyết trong kinh doanh. Cũng chính vì thiếu sự tương tác với thị trường và kinh doanh thực tiễn, việc giảng viên truyền cảm hứng để sinh viên khởi nghiệp và hỗ trợ kết nối các nguồn lực để các ý tưởng kinh doanh trong sinh viên có thể phát triển vươn xa không hiệu quả. Đó là chưa kể đến, việc cải tiến giáo trình giảng dạy diễn ra chậm chạp, đang đẩy nhà trường, giảng viên vào thế “không nói chung một ngôn ngữ với thị trường”. Chẳng hạn, trào lưu khởi nghiệp tinh gọn được đào tạo tại rất nhiều trường trên thế giới thì hiện nay mới lác đác được đưa vào một số trường đại học ở Việt Nam từ nỗ lực ban đầu của dự án Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam Phần Lan (IPP).    Chỉ khi lợi ích của cả người học và người dạy nhận được là ngoài lương thì mới thúc đẩy đổi mới sáng tạo.  Có nhiều cách lý giải cho sự chậm trễ này, song trong bài viết, chúng tôi muốn nhấn mạnh quan điểm về kỳ vọng đầu ra là một trong những nguyên nhân cốt lõi. Quan điểm này được Jan-U. Sandal – một giáo sư nổi tiếng người Na Uy nghiên cứu về Đổi mới sáng tạo, người cố vấn cho rất nhiều quyết sách về giải quyết nạn thất nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở châu Âu giới thiệu. Trong một xã hội, nếu lợi ích của người đào tạo và lợi ích đầu ra của việc học hành chỉ là LƯƠNG, hay nói một cách dễ hiểu là cả người học và người dạy đều ở một trạng thái tĩnh, người dạy mong dạy để kiếm đồng lương để ổn định, người học cũng chỉ mong học xong ra có đồng lương, thì việc dạy và học đơn thuần chỉ là chuyển giao tri thức. Bằng nhiều ngôn từ khác nhau, người ta có thể gọi đây là tình trạng lười biếng, sự cam phận, mong muốn ổn định, hoặc sự bảo thủ. Đó là sự bất động. Động cơ LƯƠNG đang giết chết sự sáng tạo trong giáo dục và hủy hoại sự năng động sáng tạo của nền kinh tế và của cả xã hội.  Nếu trong trường hợp một giảng viên được lợi vật chất ngoài lương “profit” từ sự đổi mới phương pháp dạy của mình hoặc một sinh viên đổi mới cách học mà kiếm được lợi vật chất ngoài mục đích kiếm đồng lương, tức là sự đổi mới sáng tạo diễn ra từ một phía, quá trình này gọi là “bán tĩnh”, tức là chỉ một bên hưởng lợi.  Chỉ khi cả hai cùng hưởng lợi và đặt việc dạy và học cao hơn mục tiêu chỉ kiếm đồng lương ổn định, khi đó mới tồn tại mối quan hệ chia sẻ tri thức để cùng hưởng lợi, hợp tác và đổi mới sáng tạo một cách năng động vì những “profit” lớn hơn. Lúc này những lợi ích về mặt vật chất không còn là duy nhất.  Hợp tác với doanh nghiệp  Một trong những lý do khiến chi phí khởi nghiệp ở nhiều thành phố lớn trên thế giới thấp và có khả năng cạnh tranh là do các trường đại học mạnh dạn sử dụng hết công suất không gian trống của mình để hợp tác với khu vực tư nhân. Mục đích của việc này là vừa để làm nơi ươm mầm cho các dự án kinh doanh đổi mới sáng tạo tiềm năng, vừa là nơi hút những tài năng đến để tăng trải nghiệm cọ xát với môi trường kinh doanh thực tiễn cho sinh viên trong trường. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số trường đại học đang tự phát triển những vườn ươm riêng và dành quỹ đất cho việc ươm mầm, đó là một tín hiệu tốt. Tuy vậy, tư duy tự làm khiến các trường đại học cáng đáng tất cả các nội dung trong việc ươm mầm các dự án khởi nghiệp tiềm năng mà thiếu vắng sự tham gia của các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, các đơn vị chuyên nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề. Ở Việt Nam, việc hợp tác mới bắt đầu manh  nha, ví dụ BKHoldings – một công ty trong lòng Đại học Bách khoa Hà Nội hợp tác với UP- Coworking Space để phát triển không gian làm việc chung BKHUP là một ví dụ.  Tuy nhiên, nếu các tập đoàn tham gia vào phát triển hạ tầng cho các trường đại học chỉ để thu hút nhân lực và phục vụ mục tiêu marketing – coi sinh viên, giảng viên như những khách hàng tiềm năng là chưa đủ. Đại học và khu vực tư nhân cần hợp tác theo chiều sâu hơn để thúc đẩy đổi mới sáng tạo dựa trên thế mạnh của cả hai bên, đưa nhà trường đến gần hơn với những vấn đề của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng đầu ra cho những sản phẩm nghiên cứu của trường. Tất nhiên, khi nói đến nỗ lực hợp tác, cũng không thể không kể đến những khó khăn từ cơ chế quản lý các trường đại học hiện tại đang phải đối mặt. Ví dụ, trong khi ở Vương Quốc Anh: nhiều trường đại học thành lập các công ty (sở hữu một phần hoặc toàn bộ) để đầu tư nghiên cứu, thực hiện thí nghiệm, sản xuất thử, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích từ việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thì việc phát triển các công ty trong trường đại học ở Việt Nam mới dừng ở mức thí điểm. Việc đặt hàng và hợp tác từ phía các doanh nghiệp khó có thể diễn ra suôn sẻ nếu không có cơ chế thuận lợi cho thúc đẩy cho việc hợp tác này.  Trường đại học, một chủ thể quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ phát huy được mạnh mẽ thế mạnh và thực thi sứ mệnh của mình hiệu quả khi ở tầm vĩ mô, các nhà quản lý nhìn nhận ra vấn đề đổi mới sáng tạo và cơ chế chính sách cho đổi mới sáng tạo ở trường đại học là nhân tố sống còn cho phát triển một xã hội đổi mới sáng tạo và chủ động sáng tạo giá trị. Khi đó, bản thân các trường chủ động nâng cao nội lực thông qua quyết tâm thay đổi, đặt đổi mới sáng tạo vào nhiệm vụ trọng tâm để tự đổi mới chính mình và xác định kỳ vọng đầu ra một cách rõ ràng minh bạch, bằng chiến lược hợp tác mạnh mẽ và hiệu quả với khu vực tư nhân và thị trường.  —————–  Tài liệu tham khảo:  Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào? Nguồn: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Silicon-Valley-hon-Duc-o-diem-nao—10131  Innovation 2.0 – Reinventing University Roles in a Knowledge Economy. http://www.innovation-u.com/InnovU-2.0_rev-12-14-14.pdf  Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và liên hệ với Việt Nam: Nguồn: http://nistpass.gov.vn:81/tin-chien-luoc-chinh-sach/1241-lien-ket-giua-truong-dai-hoc-va-doanh-nghiep-kinh-nghiem-quoc-te-va-lien-he-voi-viet-nam.html  1 Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp được thành lập năm 2007, có văn phòng ở 90 thành phố trên thế giới với tỉ lệ các doanh nghiệp tốt nghiệp vẫn hoạt động đến nay là 89%.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội): Phát triển robot có khả năng nhận biết độ chín của trái cây để thu hoạch      Khi nền nông nghiệp đạt một số chuẩn nhất định về hạ tầng và những người quản lý nông trại quan tâm hơn đến việc tự động hóa thì robot sẽ trở thành một lựa chọn phổ biến giúp các trang trại nâng cao năng suất, giảm chi phí và giải quyết mối lo về nhân lực.    Đi thăm các trang trại và nhà kính công nghệ cao, PGS.TS Phạm Mạnh Thắng – chủ nhiệm Khoa Cơ học kỹ thuật và Tự động hóa, Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) – nhận thấy, các trang trại này đã áp dụng nhiều công nghệ chọn lọc và chăm sóc hiện đại để trồng cà chua, dưa chuột và hoa quả nhưng khâu thu hoạch vẫn thủ công. Ông nghĩ rằng mình có thể cải thiện vấn đề này.    Được sự hỗ trợ của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ của ĐH Quốc gia Hà Nội, từ đầu năm 2021, nhóm nghiên cứu của PGS. Thắng đã bắt tay vào một đề tài nghiên cứu và thiết kế ra một loại robot có khả năng thu hái hoa quả tự động, hỗ trợ cho việc thu hoạch nông sản.        PGS.TS Phạm Mạnh Thắng cho biết, khác với bài toán robot truyền thống, việc chế tạo robot nông nghiệp có nhiều điểm phức tạp hơn. Ví dụ, trong một dây chuyền tự động hóa lắp ráp xe hơi truyền thống, mỗi kiểu xe sẽ có một kích thước, chiều dài, vị trí và các bộ phận xác định, thuận tiện cho việc điều khiển robot. Một robot vặn ốc hay lắp máy trên dây chuyền sẽ được lập trình để dùng chính xác dụng cụ tại cùng một vị trí trên mỗi chiếc xe cùng loại.    Nhưng đối với ngành nông nghiệp thì bài toán kích thước, vị trí sản phẩm lại thay đổi theo điều kiện tự nhiên, do đó việc điều khiển trở nên không lường trước được. Ngay cả trong nhà kính, nơi có điều kiện nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm được kiểm soát thì người ta cũng khó lòng biết chính xác khi nào cây ra quả để “lập trình” vị trí và thời gian cho robot tới thu hoạch. Điều này đòi hỏi các loại robot phải trở nên “thông minh” hơn để có thể phát hiện các loại trái cây và độ chín của nó.    Trong vòng 9 tháng, nhóm nghiên cứu của PGS. Thắng đã bước đầu chế tạo một robot có kích thước nhỏ gọn, có thể luồn qua các khe trống giữa 2 luống canh tác. Chúng được lắp đặt một hệ thống cảm biến để nhìn thế giới ở chế độ 3D đầy đủ và sử dụng một hệ thống học máy (ML) để phân tích, xử lý những dữ liệu thu thập được từ cảm biến, phục vụ việc lên kế hoạch đi đúng đường đến mục tiêu.    Robot này có khả năng nhận biết các loại hoa quả, trái cây – như ớt, dưa chuột, cà chua… tùy thuộc vào sự đa dạng về kích cỡ, hình dạng và màu sắc. Chúng cũng nhận biết được độ chín của các loại quả để từ đó xác định quả nào có thể thu hoạch, ngay cả trong một khu vườn lộn xộn và phức tạp. Nó cũng học được cách “đối xử” nhẹ nhàng với cây trồng để tránh tình trạng vô tình nhổ cả một cây lên. Cánh tay kẹp của robot có thể kẹp sâu vào dây leo để hái quá chín mà không làm ảnh hưởng đến các quả xanh xung quanh.    Nhóm nghiên cứu cho biết, vì toàn bộ các thành phần được thiết kế, chế tạo trong nước nên giá thành của robot chỉ bằng khoảng 30% so với loại nhập khẩu. Các phần mềm điều khiển robot do các kỹ sư Việt Nam lập trình và làm chủ, không phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài.    Các kết quả này mới được Trường ĐH Công nghệ nghiệm thu hôm 10/1. GS.TS Lê Huy Hàm, chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp công nghệ cao, Trường ĐH Công nghệ, cho rằng sản phẩm của PGS. Phạm Mạnh Thắng đã áp dụng một cách tiếp cận tiên phong và là cái phôi để bước đầu ứng dụng vào hệ thống thu hái trong các nhà lưới, nhà kính tại Việt Nam.    Nhóm nghiên cứu cho biết công nghệ này đang trong quá trình đăng ký bằng sáng chế và sẽ tiếp tục được hoàn thiện sản phẩm. Nhóm cũng sẽ kết hợp với các đối tác doanh nghiệp có nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển như Hàn Quốc để mở rộng khả năng và không gian hoạt động của robot.    Được thành lập từ năm 2019, đến nay, nhóm nghiên cứu về cơ điện tử và tự động hóa tại Trường ĐH Công nghệ do PGS.TS Phạm Mạnh Thắng làm trưởng nhóm đã tạo ra hơn 30 sản phẩm ứng dụng trên nền tảng các hệ thống điều khiển nhúng; và ứng dụng công nghệ tự động hóa để thiết kế, chế tạo các máy công cụ chính xác, các hệ thống SCADA phục vụ đo lường, điều khiển dây chuyền sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.    Phạm Hài      Author                .        
__label__tiasang Trưởng phòng Lý đi thăm mộ      Trưởng phòng Lý muốn đi thăm mộ, thăm mộ cục trưởng Quách. Cục trưởng Quách mùa hè năm kia đã thành người thiên cổ, vì việc này trưởng phòng Lý đã khóc rất đau lòng. Cục trưởng Quách có ơn tri ngộ với trưởng phòng Lý, nếu cục trưởng Quách không đề bạt thì bây giờ ông vẫn chỉ là một cán bộ quèn thôi. Về một ý nghĩa nào đó mà nói, trưởng phòng Lý đối với cục trưởng Quách, so với bố đẻ còn thân hơn.    Vâng, trưởng phòng Lý đi thăm mộ đốt vàng hương cho cục trưởng Quách là muốn nghe lại tiếng nói của cục trưởng Quách. Tiếng nói của cục trưởng Quách là chỉ thị, là lời dạy dỗ, nói chung vào những giờ phút then chốt chỉ cho trưởng phòng Lý bến mê.  Hôm qua có một cai đầu dài nộp cho trưởng phòng Lý 10 vạn NDT (khoảng 200 triệu VNĐ). Nói thực lòng, khoản tiền này, trưởng phòng Lý rất muốn “bí mật xơi một mình” nhưng lại sợ xẩy chân. Trong lúc lo ngại nghi hoặc, ông ta nghĩ đến cục trưởng Quách. Ông hi vọng cục trưởng Quách dù ở cõi âm vẫn có thể chỉ bảo cho ông, làm thế nào đi đường, làm thế nào qua cầu.  Và thế là, trưởng phòng Lý đi thăm mộ cục trưởng Quách. Tất nhiên, thăm mộ  là phải đốt tiền âm phủ. Theo cấp bậc của cục trưởng Quách, ít ra cũngphải đốt 10 vạn đồng. Trưởng phòng Lý bỏ ra 10NDT mua ở một hàng vỉa hè một tập tiền giấy. Ông còn cố tình lượn đi lượn lại quanh một quầy bán vàng mã, mua cho được hai hình nhân nữ minh tinh. Ông muốn đồng thời với việc đốt tiền âm phủ cho cục trưởng Quách, còn đốt thêm hai cô tiểu thư này. Ông biết cục trưởng Quách yêu đất nước càng yêu người đẹp. Sáng kiến đốt nữ minh tinh, những người bình thường không nghĩ tới đâu, chỉ có trưởng phòng Lý mới có thể nghĩ ra.  Tất nhiên, tiền mua tiền âm phủ và nữ minh tinh, trưởng phòng Lý không cần hóa đơn. Ông muốn thông qua việc “tự trả tiền” này để thể hiện tấm lòng son sắt của mình với cục trưởng Quách. Nếu không, cục trưởng Quách không chịu nói thì làm thế nào? Tóm lại là phải lấy lòng thành làm cục trưởng Quách cảm động, mời ông mở tuệ nhãn, nói ra những lời vàng ngọc.  Đến trước mộ cục trưởng Quách, trưởng phòng Lý đốt hình nhân hai nữ minh tinh trước. Ông muốn cục trưởng Quách phấn khởi trước đã, đó cũng là để mời hai tiểu thư mở cửa. Khi đốt hai hình nhân này, trưởng phòng Lý cười khẩy hai tiếng, ông tưởng tượng ra, khi cục trưởng Quách nhìn thấy hai cô gái do ông gửi tới sẽ nhẩy cẫng lên như thế nào. Bởi vì chỉ có ông mới biết được, cục trưởng Quách lúc này, so với bất kỳ lúc nào trước đây, càng cần các cô gái hơn. Tất nhiên, muốn có gái là phải bỏ tiền. Thế là trưởng phòng Lý bắt đầu đốt tiền giấy. Ông vừa đốt vừa lẩm nhẩm khấn: “Cục trưởng Quách ơi, tâm tình anh hiện nay có tốt không? Tôi gửi tiền cho anh đấy, xin anh dùng cho!”.  Trưởng phòng Lý đốt từng tờ, từng tờ tiền âm phủ một, nhưng vừa đốt được mười mấy tờ, mặt bỗng trắng bệch lên. Không phải vì ông quá thương tâm, cũng chẳng phải là âm hồn cục trưởng Quách hiện ra, mà là do ông phát hiện, những đồng tiền âm phủ ông đang cầm trên tay sao lại biến thành “tiền giả”! Đó là vì rất nhiều đồng tiền âm phủ chỉ là những mảnh giấy in màu, mà không đề mệnh giá.  Con mẹ chúng nó! Trưởng phòng Lý cất tiếng chửi, chửi cái lũ lòng đen dạ tối làm “tiền âm phủ giả”. Ngay tiền âm phủ mà còn làm giả, thì làm sao người ta không căm phẫn! Tấm lòng thành tốt đẹp có trước khi đến thăm mộ của trưởng phòng Lý, bây giờ hoàn toàn bị số “tiền giả” này phá hết.  Bia mộ cục trưởng Quách lạnh như băng, vô cảm. Chẳng nói cũng biết, sau khi nhận được “tiền giả” cục trưởng Quách nhất định tức giận. “Cạch, cạch, cạch”, trưởng phòng Lý khấu đầu ba cái thật kêu cho cục trưởng Quách. Ông biết, lúc này cục trưởng Quách đang bị hai cô gái kia xúm lại xin tiền, làm gì còn sức bò từ mộ ra cho ông chỉ thị. Trưởng phòng Lý dọn dẹp qua loa hiện trường, giận là không tóm ngay được cái tên đã bán “tiền giả” đó. Ông thực sự hối hận vì lúc đó sao lại không lấy hóa đơn. Nếu có hóa đơn sẽ tìm được người bán. Nhưng bây giờ thì đành chịu đắng một mình thôi.  Xưa nay, tâm tình của ông trưởng phòng Lý không bao giờ xấu, tất nhiên là có lúc xấu, nhưng đều được ông điều chỉnh kịp thời, bởi vì nếu không thế chỉ tự làm khó mình.  Về đến nhà là trưởng phòng Lý mang số tiền 10 vạn NDT do cai đầu dài nộp ra đếm. Trước đây, nói chung khi nào trong lòng không thoải mái, ông đều lấy tiền ra đếm, đếm đi đếm lại, trong lòng sẽ tự thấy thoải mái. Thế nhưng, lần đếm tiền này, chưa thấy tâm tình tốt nẩy sinh, trong lòng đã có ý nghĩ: khoản tiền này liệu có tiền giả không?  Trưởng phòng Lý gọi bà vợ ra, bảo bà ta xem lại tiền. Quả nhiên, điều không muốn nhìn thấy đã xẩy ra: trong 10 vạn đồng có 8 vạn đồng là tiền giả.  Mặt trưởng phòng Lý xám lại, trông ông như một con sói bị thương. Bà vợ đứng bên, thấy hết mọi chuyện, cất tiếng chửi cai đầu dài. Rồi bà ta hỏi: có cần đốt số tiền giả này không?  Trưởng phòng Lý lắc đầu, bà vợ lại hỏi: “Nếu vậy, lựa số tiền giả ra, nộp Ban kiểm tra cấp trên, chẳng gì cũng chứng minh được là mình liêm khiết?”  Trưởng phòng Lý phủi phủi tay nói: “Cứ giữ lại, đợi đến ngày nào đó có chuyện thật, mới mang ra nộp, may ra tranh thủ giảm được hai năm án!”.  Nói đến đây, trưởng phòng Lý bỗng minh bạch được một điều, ông khóc tu tu: “Cục trưởng Quách ơi, người hiển linh thật rồi! Xin đa tạ sự chỉ dẫn của người! Xin người phù hộ cho tôi!”  Dương Quốc Anh dịch  Tạp chí “Tiểu thuyết nguyệt san”    Tần Đức Long      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Trường quay Hollywood” trong khu rừng ở Würenlingen      Với máy laser tia X SwissFEL, các nhà nghiên cứu tại PSI (Viện Paul Scherrer, cơ sở nghiên cứu liên ngành lớn nhất Thụy Sĩ) muốn sản xuất một bộ phim về cách thức hoạt động của các phân tử sinh học. Điều này sẽ tiết lộ cách mắt chúng ta hoạt động, hay cơ chế chữa trị của các loại thuốc mới.      Hai người sáng lập phim trường kì lạ này Luc Patthey và Hans Braun.  Chủ nhiệm dự án Luc Patthey lúc này đang ở trong một “phim trường” bề bộn thấu kính quang học, dụng cụ đo lường, vô số dây cáp và một ống thép mỏng. Ông mỉm cười: “Hollywood là đây. Chúng tôi đang làm phim, và những ngôi sao điện ảnh của chúng tôi chính là các phân tử và  . Là người đứng đầu dự án, chịu trách nhiệm về các phần liên quan đến thiết bị quang học, thiết kế thí nghiệm và các chương trình nghiên cứu của cỗ máy laser tia X electron tự do SwissFEL, Luc Patthey rất tâm huyết với studio phim kì lạ này. “Với thời gian phơi sáng cực kỳ ngắn, chúng tôi theo dõi được những gì đang diễn ra ở cấp độ của các nguyên tử. Điều này có thể được thực hiện bằng các xung laser tia X siêu ngắn với tần số cao bắn qua ống thép và chiếu đèn flash lên các quá trình xảy ra trong nguyên tử”.  Với nhóm của mình sản xuất các bộ phim về thế giới hiển vi đầy hấp dẫn này, Luc Patthey kỳ vọng chúng sẽ góp phần tạo ra các phương thuốc hiệu quả hơn, các công nghệ năng lượng thân thiện với môi trường hơn, hay các vật liệu mới cho lĩnh vực công nghệ thông tin. “SwissFEL là một cỗ máy đầy quyền năng”, và Patthey đã tiết lộ cho chúng tôi những gì diễn ra ở hậu trường: Trước khi các xung X-quang chạm tới hai trạm đo, chúng phải đi qua vài ống chứa được lắp gương để hướng chúng theo một con đường nhất định.  Để chúng tôi thấy bề mặt của những chiếc gương này được mài nhẵn như thế nào so với gương thường, Luc Patthey so sánh: “Nếu Thụy Sĩ mà cũng phẳng như bề mặt của chúng thì dãy núi Alps sẽ chỉ cao vài milimet”.  Bước đi đầy táo bạo  Mọi thứ trong tòa nhà SwissFEL đều phải đảm bảo một độ chính xác vô cùng nghiêm ngặt. Các xung laser tia X được tạo ra trong một đường hầm dài 740 mét chạy qua khu rừng Würenlingen. Ở đây các electron được gia tốc gần đạt đến tốc độ ánh sáng và sau đó sẽ đi theo một đường slalom (dạng gần như zig zag) đến khi chúng phát ra tia X mà chúng ta mong muốn, nhấp nháy với tần số 1 đến 100 femtoseconds (10^-15 giây) một lần. Hans Braun chịu trách nhiệm về máy gia tốc, ông hồi tưởng lại thời điểm bắt đầu của quá trình táo bạo này. Năm 2018, khi nhóm của ông bắt đầu nghiên cứu sơ bộ cho SwissFEL, “vẫn chưa có gì rõ ràng liệu các tia X electron tự do làm nên điều gì hay không”. Cơ sở đầu tiên trên thế giới có thể kiểm chứng điều đó được đặt tại Stanford ở California, nhưng nó chưa đi vào hoạt động cho đến tận năm 2009.  Với SwissFEL, các nhà vật lý đã có thể chứng minh rằng chùm tia cần thiết với chất lượng cao cũng có thể được tạo ra với một máy gia tốc nhỏ hơn và ít tốn kém hơn so với máy gia tốc ở California. Cộng thêm với kinh nghiệm thu được khi xây dựng máy gia tốc Swiss Light Source SLS tại Thụy Sĩ, họ nhận ra rằng xung siêu ngắn cũng có thể được tạo ra với SLS, mặc dù với tần số thấp hơn đáng kể. “Đó là những thí nghiệm đáng tự hào”, Rafael Abela, người giám sát việc xây dựng SLS và SwissFEL cho biết: “Tại thời điểm đó, chúng tôi mất đến hai tuần để tính toán, đo lường trong khi sau này toàn bộ quá trình chỉ mất có 10 phút với cơ sở vật chất ở Stanford”.  Chiêm ngưỡng sự khởi đầu của thị giác  SwissFEL trị giá khoảng 275 triệu franc Thụy Sĩ – được tài trợ chủ yếu bởi chính phủ liên bang, với 30 triệu franc được cung cấp từ quỹ xổ số của bang Aargau. Số tiền đó chỉ bằng ngân sách sản xuất của một bộ phim Disney Cướp biển vùng Caribbean – Nơi tận cùng thế giới có Johnny Depp trong vai chính. Một trong số các bộ phim mà SwissFEL đã lên kế hoạch sẽ có sự góp mặt của một ngôi sao đặc biệt: Rhodopsin. Protein này có thể thu ánh sáng và chuyển đổi nó thành tín hiệu hóa học. Trong mắt người, Rhodopsin đóng vai trò như một cảm biến ánh sáng, cho phép chúng ta nhìn thấy ngay cả trong điều kiện ánh sáng yếu. Bên trong phân tử rhodopsin là retinal, một dạng vitamin A. Trong bóng tối, phân tử retinal này có dạng uốn cong, nhưng khi tiếp nhận ánh sáng, nó sẽ dãn dài ra và làm thay đổi hình dạng của phân tử rhodopsin. Chính sự thay đổi này là dấu hiệu cho thấy mắt đã tiếp nhận ánh sáng. Các dây thần kinh truyền thông tin đến não, nơi cho ta hình ảnh về vật thể. Toàn bộ quá trình này được gọi là phản ứng căng của võng mạc, và đây là một trong những phản ứng sinh học nhanh nhất, chỉ xảy ra trong vòng 200 đến 500 femtoseconds. Với tia X, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu chính xác sự kéo giãn này đã làm thay đổi rhodopsin như thế nào cũng như vai trò của bộ phận xung quanh phân tử võng mạc bên trong các rhodopsin.    Một cuộc rượt đuổi bằng xe hơi vào ban đêm là một thách thức cho đôi mắt. Thật vậy, protein rhodopsin trong mắt phải liên tục điều chỉnh theo điều kiện ánh sáng yếu. Bên trong rhodopsin là phân tử võng mạc. Ánh sáng rơi vào đó và bắt đầu lan tỏa, kích thích quá trình điều chỉnh. Thật không may cho kẻ rượt đuổi của chúng ta: rhodopsin của anh ta có cấu tạo không hoàn chỉnh và do đó gần như bị mù vào ban đêm.  Với SwissFEL, chúng ta có thể nhìn thấy quá trình cơ bản của thị giác. Và điều này cực kì hấp dẫn đối với Gebhard Schertler, trưởng phòng nghiên cứu sinh học và hóa học tại PSI với 40 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tương tự. Bị thu hút bởi ý tưởng, ông quyết định chuyển từ một trong những viện nghiên cứu nổi tiếng nhất thế giới ở Cambridge đến Thụy Sĩ. Là người đứng đầu nghiên cứu, ông sẽ quyết định thí nghiệm nào của mình sẽ được SwissFEL thực hiện: “Khi tôi đọc kịch bản, tôi sẽ biết mình có muốn bộ phim này hay không…. Ở một nhà hát, có lẽ tôi sẽ là giám đốc nghệ thuật.” Trong quá trình lựa chọn, Schertler muốn tập trung vào thì tương lai trong các “bộ phim”, mà diễn viên chính trong đó là các phần tử quan trọng trong việc kiểm tra tác dụng của thuốc.  Các phân tử diễn xuất  Jörg Standfuss là người cũng chuyển từ Cambridge sang PSI và phát triển công nghệ mới cho các thí nghiệm sinh học. Ông giải thích quá trình trên: “Vật liệu nền là những tinh thể nhỏ xíu màu tím, trong đó có chứa nhiều mẫu protein rhodopsin được đóng gói chặt cứng theo một trật tự”. Sau đó, từng tinh thể một sẽ được gửi đến một trong các phòng thí nghiệm của SwissFEL, ở đây tia X sẽ chiếu lên các tinh thể, và quá trình nói trên sẽ được máy quay ghi hình.  Vì xung tia X cường độ cao làm cho tinh thể phát nổ nên chúng ta luôn cần các mẫu mới. Thí nghiệm sẽ được thiết kế làm sao cho với mẫu tinh thể sau, retinal trong rhodopsin lại dãn nở hơn so với mẫu trước. Do đó, khi chúng ta ghép các trường đoạn riêng lẻ, chúng ta sẽ có kết quả là một bộ phim hoàn chỉnh. Bạn cần rất nhiều tinh thể giống hệt nhau, Jörg Standfuss cho biết. Bình thường, các protein sẽ được đông lạnh cho mục đích tính toán, nhưng diễn viên mà bị khóa trong một viên đá thì không thể nào cử động được. Vì vậy, một điều cực kỳ quan trọng là thí nghiệm phải diễn ra ở nhiệt độ phòng.  Từ đỉnh Pilatus đến đỉnh Jungfrau  Chiếc máy quay tia X tốc độ cao thực chất là một máy dò nặng tới 70 kg. Đây không phải là lần đầu tiên một công cụ như vậy được xây dựng tại PSI. Trước đó, một máy dò đã được chế tạo cho phòng thí nghiệm vật lý hạt CERN và nó đóng một vai trò quan trọng việc xác nhận hạt Higgs. Trên cơ sở đó, các nhà vật lý PSI đã phát triển một thiết bị dò cho SLS, mà ngày nay được sản xuất bởi công ty Dectris ở Baden, Thụy Sĩ và được sử dụng tại các cơ sở máy gia tốc (synchrotron) trên toàn thế giới. Tại các máy gia tốc, các hạt của chùm tia X chạm tới máy dò một cách lần lượt, nên mặc dù ở tốc độ cao, bạn vẫn hoàn toàn có thể đếm số lượng các photon một cách dễ dàng. Ngược lại ở SwissFEL, xung X-quang quá mạnh và quá ngắn đến nỗi chúng ta không thể làm như vậy, và do đó cần đo toàn bộ điện tích mà các photon tích tụ trong máy dò để tính toán số lượng photon.  Bernd Schmitt và nhóm của ông đã đặt tên cho cỗ máy SwissFEL là Jungfrau, sau khi họ đã phát triển Mythen và Pilatus cho SLS (Jungfrau, Mythen và Pilatus là 3 đỉnh núi của Thụy Sĩ). Nhà vật lý đùa rằng đây là cách cả thế giới biết nơi nào đã sáng chế ra chúng. Một người khác là Leonardo Sala chịu trách nhiệm ghi lại các cảnh quay. Số lượng dữ liệu khổng lồ là một thách thức rất lớn: mỗi thí nghiệm sẽ cho ra vài terabyte dữ liệu mà chỉ có thể được giải mã bằng các phương pháp phức tạp.   Từ nghiên cứu đến các loại thuốc mới  Đối tượng khán giả các bộ phim của SwissFEL cũng bao gồm cộng đồng nghiên cứu dược phẩm. Cái nhìn sâu sắc về hoạt tính của các phân tử sinh học có thể giúp các nhà nghiên cứu khám phá các loại thuốc mới. Gebhard Schertler tự tin cho biết. Để điều đó trở thành hiện thực, nhà sinh vật học cấu trúc Gebhard Schertler, nhà vật lý Rafael Abela, và cựu giám đốc nghiên cứu dược phẩm Michael Hennig đã thành lập một start-up ngay trong PSI với tên gọi là leadXpro. Kể từ năm 2015, leadXpro đã nghiên cứu một thứ gọi là protein màng, một loại protein bao gồm các rhodopsin đã đề cập ở trên. Các thành phần thuốc để chữa bệnh như ung thư, nhiễm trùng, viêm hoặc các bệnh võng mạc có thể gắn kết với protein màng.  Phân tử thuốc càng vừa vặn với các túi liên kết trong protein màng bao nhiêu thì thuốc sẽ có tác dụng nhanh, hiệu quả hơn và ít tác dụng phụ hơn bấy nhiêu. Cách tiếp cận hiện đại trong nghiên cứu thuốc giả định rằng người ta đã biết cấu trúc của các protein màng tế bào và liên kết của chúng với các loại thuốc tiềm năng mới. SwissFEL sẽ không còn khiến người ta phải giả định mà giúp chúng ta nhìn thấy trực tiếp chuyển động của protein màng. Hiện giờ, leadXpro đã ký hợp đồng với một số công ty dược phẩm lớn và cũng đã tiến hành các dự án riêng của mình trong nghiên cứu ung thư và kháng sinh. Hai năm sau khi thành lập, CEO Micheal Henning cho biết, công ty đã phát triển rất tốt, một phần nhờ vào sự hỗ trợ từ nguồn nhân lực đầy tài năng của Thụy Sĩ, từ cơ sở nghiên cứu quy mô lớn PSI và từ kính hiển vi điện tử tại Đại học Basel.  Minh Châu lược dịch  Nguồn: https://www.psi.ch/media/hollywood-in-the-wuerenlingen-woods    Author                Quản trị        
__label__tiasang Truy cập mở di sản âm nhạc Chopin      Làn sóng truy cập mở trong khoa học giờ đây đã lan sang cả lĩnh vực âm nhạc. Vào ngày 30/1/2018, Viện nghiên cứu Chopin (National Fryderyk Chopin Institute NIFC) – cơ sở nghiên cứu do Quốc hội Ba Lan thành lập tại thủ đô Warsaw năm 2001 nhằm bảo tồn di sản của nhà soạn nhạc thiên tài thời kỳ Lãng mạn này, đã công bố quyết định của mình: sẽ cho mọi người được tự do khai thác toàn bộ tài liệu về Chopin qua một trang web vào năm 2020.      Một dự án mang tính tiên phong để chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng truy cập mở di sản của Chopin – biểu tượng của văn hóa Ba Lan, đã được Viện nghiên cứu Chopin bật đèn xanh. Mục tiêu của dự án này là mở rộng hơn nữa tầm ảnh hưởng của Chopin thông qua việc gia tăng số lượng người hâm mộ những tác phẩm do ông sáng tác.  “Với việc thực hiện dự án này, Chopin sẽ trở thành nhà soạn nhạc xuất sắc đầu tiên trên thế giới có toàn bộ bản thảo được số hóa và mọi người ai cũng có quyền truy cập miễn phí”, ông Maciej Janicki – phó giám đốc Viện nghiên cứu Chopin nhận xét.  Như vậy gần 40.000 tài liệu về Chopin từ bộ sưu tập di sản thế giới của UNESCO, bao gồm các bức ảnh, bức vẽ nhà soạn nhạc, các tài liệu nghiên cứu của các học giả về Chopin cũng như các bản nhạc viết tay của ông sẽ được đưa lên internet, ông Maciej Janicki cho biết thêm.  Bất cứ ai cũng có thể tải xuống bản thu âm của các thí sinh tham dự cuộc thi Chopin quốc tế (International Chopin Piano Competition), vốn được tổ chức 5 năm một lần tại Warsaw, đến việc truy cập tự do các nghiên cứu, tư liệu về Chopin do nhiều viện nghiên cứu trên thế giới thực hiện.  Các tài liệu sẽ được hiển thị dưới hai thứ tiếng là tiếng Anh và tiếng Ba Lan. Liên minh châu Âu và Ba Lan đồng tài trợ dự án. Ông Maciej Janicki còn cho rằng, phần lớn phần đổi mới sáng tạo trong dự án nguồn mở này chính là việc đưa lên internet các bản nhạc. Người truy cập vào trang web của dự án sẽ không chỉ có thể tìm kiếm và tải xuống những trang tổng phổ của từng tác phẩm riêng biệt hoặc trích đoạn nổi tiếng mà còn có khả năng thực hiện mọi phương pháp phân tích về giai điệu, hòa âm, nhịp điệu và những khía cạnh khác trong âm nhạc Chopin.  “Vì thế, nó không đơn thuần chỉ là sao chụp các bản nhạc hoặc đưa các tệp thông tin dưới dạng PDF”, TS. Marcin Konik, người phụ trách thư viện Viện nghiên cứu Chopin và là người đảm nhiệm dự án giải thích.  “Lần đầu tiên trên thế giới có một trang web đưa toàn bộ hoạt động, tác phẩm và những di sản về một nhà soạn nhạc được xây dựng theo cách này”, ông tự hào trả lời Đài phát thanh Ba Lan.  Chopin sinh năm 1810 tại Zelazowa Wola, gần Warsaw trong một gia đình yêu âm nhạc. Ông rời gia đình tới sống tại Vienna và sau đó là Paris – những trung tâm âm nhạc thế giới thế kỷ 19, để phát triển sự nghiệp. Qua đời ở tuổi 39 vì bệnh tật, Chopin cũng kịp để lại một di sản âm nhạc đặc sắc và một vị trí độc nhất vô nhị trong làng âm nhạc cổ điển.  Tuy thời gian sống ở Ba Lan không nhiều nhưng với tài năng của mình, Chopin đã trở thành một trong những biểu tượng văn hóa đáng tự hào của đất nước Đông Âu này. Theo số liệu do ngành du lịch Ba Lan công bố vào năm 2015, mỗi năm có khoảng 3 triệu khách du lịch tới Warsaw chỉ để tìm hiểu về Chopin và mua vé tham gia các buổi hòa nhạc Chopin ngay trên quê hương ông. Thậm chí, số lượng người hâm mộ đến Ba Lan nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh Chopin vào năm 2010 còn nhiều hơn cả số người tham dự vòng chung kết bóng đá châu Âu do Ba Lan và Ukraine đồng tổ chức năm 2013.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: The Guardian, AFP, thenews.pl    Author                Quản trị        
__label__tiasang Truy cập mở kim cương và cái đích của chuyển đổi số ngành xuất bản      Ngày 30/3/2021, Cơ quan về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã phát hành bản thảo thứ hai của tài liệu Khuyến cáo Khoa học Mở, sau khi trải qua hàng loạt các thảo luận quốc tế kéo dài gần một năm (4/2020 – 1/2021) về bản đầu tiên1. Phiên bản tài liệu Khuyến cáo mới nhất này dự kiến tới tháng 8/2021 sẽ được chuyển tới các quốc gia thành viên UNESCO để lấy ý kiến phản hồi nhằm chuẩn bị cho phiên bản cuối cùng, dự kiến sẽ được phê chuẩn tại phiên họp toàn thể của UNESCO vào tháng 11/2021.  Nội dung tài liệu đề cập một cách toàn diện tới nhiều vấn đề của Khoa học Mở, nhấn mạnh Truy cập Mở tới kiến thức khoa học là một trong những trụ cột chính của Khoa học Mở, được nêu như sau:    Trích dẫn    Truy cập mở tới kiến thức khoa học thường được hiểu là truy cập tới các ấn phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu, phần mềm, mã nguồn và phần cứng được lưu trữ trên phạm vi công cộng (public domain) hoặc được phát hành có bản quyền dưới một giấy phép mở cho người dùng có thể có thể tái sử dụng, tùy mục đích, tùy ý thay đổi và phát hành lại. Ai cũng có thể tiếp cận kịp thời các tri thức này bất kể vị trí địa lý, quốc tịch, chủng tộc, tuổi tác, giới tính, thu nhập, điều kiện kinh tế xã hội, giai đoạn nghề nghiệp, ngành nghề, ngôn ngữ, tôn giáo, tình trạng khuyết tật, sắc tộc và di cư; miễn phí ở mức rộng nhất có thể. Do đó, người dùng có thể tiếp cận nhanh chóng, tự do với chi phí chấp nhận được tới các nguồn tài nguyên sau:        Các ấn phẩm khoa học bao gồm các bài báo khoa học được bình duyệt, các báo cáo nghiên cứu, bài báo hội thảo, sách và những kết quả nghiên cứu khoa học khác tương tự (ví dụ như các kết quả nghiên cứu mới, dữ liệu nghiên cứu, phần mềm, mã nguồn, tài liệu gốc, quy trình và các giao thức làm việc, phiên bản số của tư liệu hình ảnh và đồ họa cùng những dữ liệu học thuật đa phương tiện), được cấp phép mở hoặc được lưu trữ trên phạm vi công cộng hoặc được ký gửi, trước khi xuất bản trên một kho dữ liệu mở online, theo các tiêu chuẩn kĩ thuật phù hợp được hỗ trợ và duy trì bởi một cơ quan nghiên cứu, hiệp hội khoa học hoặc cơ quan chính phủ hoặc một đơn vị uy tín không vì lợi nhuận có mục tiêu thúc đẩy khoa học mở, xuất bản không rào cản, có tính kết nối và lưu trữ dài hạn.    Dữ liệu nghiên cứu mở bao gồm dữ liệu số và cả các dữ liệu analogue (ví dụ như video, ảnh chụp, băng ghi âm…), gồm cả các dữ liệu thô lẫn dữ liệu đã được xử lý, đi kèm với metadata (thông tin kĩ thuật của dữ liệu đó), cũng như số liệu, các tư liệu chữ viết, hình ảnh, âm thanh, các giao thức và quy trình đều phải được mở để bất cứ ai biết đều có thể tự do sử dụng, sử dụng lại, lưu giữ và phát hành lại. Các dữ liệu nghiên cứu mở cần sẵn sàng để tiếp cận kịp thời, dễ sử dụng, người và máy đều đọc được và tương tác được, đồng thời cũng phù hợp với các nguyên tắc quản trị và tổ chức dữ liệu tốt như nguyên tắc FAIR (findable – dễ tìm, accessible – dễ tiếp cận, interoperable – tương hợp được và reusable là sử dụng lại được), và có thể bảo quản và duy trì bằng hệ thống thông thường.    Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở bao gồm phần mềm mà mã nguồn được công khai, đúng lúc và dễ sử dụng, người và máy đều có thể đọc được và được lưu ở dưới dạng có thể biên tập được, dưới một giấy phép nguồn mở cho phép mọi người có quyền sử dụng, truy cập, chỉnh sửa, mở rộng, nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm phái sinh, chia sẻ phần mềm và mã nguồn, thiết kế. Mã nguồn phải đi kèm với phiên bản đang phát hành và phải công khai trên các kho truy cập mở và có thể truy cập được, giấy phép của mã nguồn phải cho phép chỉnh sửa, các sản phẩm phái sinh và chia sẻ dưới những điều khoản tương đương và tương thích với những chính sách mở.    Phần cứng mở bao gồm các bản vẽ chi tiết của một vật thể được cấp phép theo cách mà có thể nghiên cứu, điều chỉnh, chế tạo và phân phối bởi bất kì ai nhằm nhiều người nhất có thể có cơ hội để xây dựng, thay đổi, chia sẻ tri thức của họ về thiết kế và vận hành phần cứng. Trong trường hợp của cả phần mềm và phần cứng nguồn cử, cần thiết phải có một quy trình bắt nguồn từ cộng đồng cho việc đóng góp, ghi nguồn và quản trị để tạo điều kiện cho việc sử dụng lại, nâng cao tính bền vững của các phần cứng và phần mềm này đồng thời giảm thiểu việc lặp lại các nỗ lực chế tạo sản phẩm một cách không cần thiết.    Hết trích dẫn      Để đạt đến mô hình truy cập mở kim cương (OADJ), thế giới, và đặc biệt là châu Âu, đã trải qua 3 giai đoạn tiến hóa trong nhiều năm. Ảnh: Sciencemag.org     Truy cập mở với các yêu cầu để “Những người sử dụng vì thế có được sự truy cập kịp thời, tự do và với chi phí chấp nhận được” tới kiến thức khoa học được nêu ở trên rõ ràng là các thách thức vô cùng lớn đối với toàn bộ hệ thống truyền thông học thuật nói chung, các nhà xuất bản khoa học nói riêng. “Những người sử dụng” được nêu ở đây cũng bao gồm tất cả các nhà nghiên cứu khoa học. Nói cách khác, cùng một lúc, họ vừa là các nhà nghiên cứu khoa học, vừa là những người sử dụng các kiến thức khoa học.    Một trong các mô hình xuất bản truy cập mở có thể đáp ứng được các yêu cầu đó là mô hình của các Tạp chí Truy cập Mở Kim cương – OADJ (Open Access Diamond Journals).    Bài viết này cố gắng trả lời cho vài câu hỏi: Truy cập Mở Kim cương – DOA (Diamond Open Access) là gì? Nó đã được phát triển trong thực tế ra sao? Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng tới xuất bản truy cập mở thế nào? Định kiến về các tạp chí truy cập mở săn mồi ra sao? Mô hình phát triển bền vững của các nhà xuất bản khoa học sẽ như thế nào với DOA?     Các tạp chí Truy cập Mở Kim cương (OADJ) là gì?2     Cho đến hiện nay, mô hình kinh doanh của nhiều nhà xuất bản vẫn là theo hình thức thuê bao, tức là người đọc phải trả một khoản phí lớn thường kì để đọc các tạp chí của các nhà xuất bản đó. Với xuất bản mở, hình thức ưa thích hiện nay là APC Gold OA.       Trong khái niệm APC Gold OA, APC – Article processing charge nghĩa là khoản phí các tác giả đôi khi phải trả cho nhà xuất bản để tác phẩm có thể được truy cập mở. Các tạp chí Truy cập Mở Vàng – Gold OA (Gold Open Access) đảm bảo các công bố khoa học ngay lập tức được công khai theo chế độ truy cập mở ngay khi được xuất bản. Vì vậy APC Gold OA nghĩa là loại tạp chí sẽ yêu cầu tác giả và thư viện các trường đại học trả một khoản phí xử lý công bố của mình để nó có thể mở với người đọc tức thì. Hiện nay, mô hình đang được nhiều tạp chí truy cập mở và các tạp chí “lai” (loại tạp chí vừa sống dựa vào thuê bao vừa sống dựa vào APC) mời chào các trường đại học.       Cũng còn một dạng truy cập mở thường hay được nói tới, là Truy cập Mở Xanh – Green OA (Green Open Access) hay còn được gọi là Tự lưu trữ (Self-archiving) đó là khi các tác giả ký gửi các bản thảo được bình duyệt của họ vào các kho lưu trữ mở (Open Archives), các bản thảo này sẽ trải qua một giai đoạn cấm vận (trong đó người đọc phải trả tiền) để cho phép các nhà xuất bản lấy lại các khoản đầu tư của họ trước khi sẵn sàng ở chế độ truy cập mở.  Các tạp chí Truy cập Mở Kim cương trái ngược với tất cả các hình thức xuất bản nói trên. Theo đó, các tạp chí này không lấy tiền của cả tác giả lẫn độc giả. Chi phí biên tập và xuất bản tạp chí hay sách khoa học sẽ do các nhà cấp kinh phí nghiên cứu, mà phần nhiều là từ ngân sách quốc gia, trả tiền.     Sự tiến hóa của các mô hình xuất bản truy cập mở     Để đạt đến mô hình truy cập mở kim cương (OADJ), nơi cả người sử dụng cũng như các tác giả đều không phải trả khoản phí xử lý bài báo (APC) hay phí xử lý sách – BPC (Book Processing Charge), thế giới, và đặc biệt là châu Âu, đã trải qua ba giai đoạn tiến hóa trong nhiều năm3, từ thí điểm truy cập mở đối với cả các xuất bản phẩm và/hoặc dữ liệu nghiên cứu cho vài lĩnh vực cho tới tất cả các lĩnh vực, với vài điểm nhấn như trong Bảng 1 với đỉnh điểm của nó là Kế hoạch S (Plan S) được một nhóm có tên là Liên minh S (cOAlition S) đưa ra vào tháng 9/2018; Kế hoạch S yêu cầu rằng, từ năm 2021, các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ nghiên cứu được các trợ cấp nhà nước cấp vốn phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc các nền tảng tuân thủ Truy cập Mở. Liên minh S hiện có 26 nhà cấp vốn nghiên cứu quốc gia châu Âu, cũng như các tổ chức, các nhà cấp vốn nghiên cứu từ thiện và quốc tế, các bên đồng ý triển khai 10 nguyên tắc của Kế hoạch S theo cách thức có phối hợp, cùng với Ủy ban châu Âu4.             Các giai đoạn với các chương trình      Xuất bản phẩm      Dữ liệu          Thí điểm      Toàn bộ      Thí điểm      Toàn bộ          Giai đoạn 2007-2013 với FP7      X             –      –          Giai đoạn 2014-2020 với Horizon 2020             X      X                 Giai đoạn 2021-2027 với Horizon Europe             X             X          Bảng 1. Độ phủ các đối tượng truy cập mở theo từng giai đoạn  – Đi từ thí điểm tới mở rộng ra toàn bộ. Các đối tượng chính của truy cập mở là các xuất bản phẩm – chủ yếu là các bài báo nghiên cứu, và dữ liệu nghiên cứu đều trải qua giai đoạn thí điểm ban đầu, rồi mới mở rộng ra toàn bộ.    – Về thanh toán APC. Trong hai giai đoạn trước Kế hoạch S, các nhà cấp vốn chấp nhận đền bù cho các nhà xuất bản APC phát sinh trong chương trình. Tuy nhiên, tới giai đoạn của Kế hoạch S, điều này đã không còn đúng nữa vì các tạp chí lai (vừa lấy tiền thuê bao tạp chí từ người sử dụng, vừa lấy khoản phí APC từ các tác giả) sẽ không còn nhận được tiền đền bù cho các APC nữa, ngoại trừ trường hợp có các thỏa thuận chuyển đổi quá độ với sự khẳng định của các nhà xuất bản về lộ trình chuyển đổi quá độ sang truy cập mở đầy đủ và tức thì.    – Các con đường truy cập mở. Vì mục đích để ưu tiên lưu trữ lâu dài các kết quả nghiên cứu, việc tự lưu trữ – truy cập mở xanh, luôn được ưu tiên trước trong hai giai đoạn đầu. Với Kế hoạch S, “các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ các trợ cấp nghiên cứu được nhà nước cấp vốn do các hội đồng và các cơ quan cấp vốn nghiên cứu quốc gia và châu Âu cung cấp, phải được xuất bản trên các Tạp chí tuân thủ Truy cập Mở hoặc trên các Nền tảng tuân thủ Truy cập Mở”.     Ảnh hưởng của đại dịch toàn cầu Covid-19 tới xuất bản khoa học     Trong bối cảnh ngày nay, sẽ là không đầy đủ nếu không nói tới tác động của đại dịch toàn cầu Covid-19 tới việc xuất bản khoa học, tới truy cập mở tới kiến thức khoa học. Về điều này, cũng trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở do UNESCO xuất bản ngày 30/3/2021 đã nêu:    “Lưu ý là khủng hoảng y tế toàn cầu Covid-19 đã chứng minh cho cả thế giới thấy sự cấp bách thúc đẩy truy cập bình đẳng tới thông tin khoa học, tạo thuận lợi cho việc chia sẻ kiến thức, dữ liệu và thông tin khoa học, tăng cường cộng tác khoa học và việc ra quyết định dựa vào khoa học và tri thức để đáp lại những vấn đề khẩn cấp toàn cầu và nâng cao khả năng phục hồi của các xã hội”.      Khi Zhang Yong-Zhen tại Trung tâm lâm sàng Y tế công cộng Thượng Hải quyết định chia sẻ giải trình tự gene của virus Sars-Cov-2, thực hành khoa học mở trong công bố xuất bản liên quan đến Covid-19 bùng nổ. Ảnh: Time.com    Hội đồng Khoa học Quốc tế – ISC (International Science Council) trong một tài liệu xuất bản tháng 6/2020 của mình5, nêu:    “Như đại dịch Covid-19 đã chỉ ra, công chúng đặt nhiều niềm tin vào khoa học ở những thời điểm diễn ra các cuộc khủng hoảng. Nhưng niềm tin đó phụ thuộc vào sự chuẩn bị sẵn sàng của chính phủ cho các khuyến cáo khoa học phải được mở và công chúng có thể truy cập được. Còn không, tuyên bố của chính phủ tuyên bố các quyết định chính trị của mình là “tuân theo khoa học” chỉ là sự thoái thác trách nhiệm.    Có thể thấy, những bất thường, ví dụ như đại dịch Covid-19 đã chỉ ra cho nhân loại thấy tầm quan trọng sống còn của Khoa học Mở, mà một trong các trụ cột của nó, là truy cập mở đầy đủ và tức thì tới kiến thức khoa học là cần thiết hơn bao giờ hết, để phục vụ con người, để cứu sống vô số mạng người, chứ không vì bất kỳ lý do ngụy biện nào khác.    Lợi ích của Khoa học mở mang lại với Việt Nam có lẽ cũng thể hiện rõ nhất trong thời kì này khi các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp…có thể nắm bắt đặc điểm dịch tễ của virus Sars-CoV-2, đẩy nhanh tốc độ phát triển và sản xuất các sinh phẩm và thiết bị y tế và quy trình để xét nghiệm, phòng chống và điều trị bệnh. Không chỉ vậy, nhờ khoa học mở, chính Việt Nam cũng có những đóng góp ngược lại vào quá trình phát hiện và điều trị Covid-19 trên thế giới.         Định kiến về các tạp chí truy cập mở săn mồi và bổn phận của các nhà khoa học khi nghiên cứu bằng tiền đóng thuế của người dân     Một số “nhà khoa học” có định kiến với các tạp chí xuất bản truy cập mở với lý do như thể tất cả chúng đều là các tạp chí truy cập mở săn mồi (Predatory Open Access Journal) để khước từ hoàn toàn việc xuất bản truy cập mở các kết quả nghiên cứu của họ. Điều này là không khác gì với số ít những người có định kiến rằng Internet toàn những điều xấu xa để khước từ hoàn toàn việc truy cập Internet vậy. Bám theo định kiến đó, những người khước từ truy cập Internet hầu như chắc chắn sẽ là những người vô dụng trong kỷ nguyên số, khi mà các kỹ năng số là yếu tố sống còn cho bất kỳ ai để sống, làm việc và học tập trong kỷ nguyên số, điều gắn liền với việc truy cập và sử dụng Internet. Có điều, thực tế cũng chỉ ra rằng đằng sau định kiến đó, nhiều khi có ẩn ý về sự sợ hãi cao độ của các “nhà khoa học” khi các kết quả nghiên cứu khoa học của họ bị/được phơi ra ánh sáng, bị/được các đồng nghiệp khắp trên thế giới bình duyệt, có thể sẽ phát hiện ra những hạt sạt và/hoặc thậm chí sự “đạo văn” của họ, một thực tế không hiếm thấy hiện nay ở Việt Nam.      Việc yêu cầu người đọc hay tác giả phải trả tiền là hình thức “double dipping” (trả tiền hai lần), không công bằng nhưng mô hình này vẫn tồn tại phổ biến và thao túng ngành xuất bản khoa học. Ảnh: Brendan Monroe/Nature    Bổ sung thêm rằng, một mặt, các nhà khoa học luôn mắc nợ các nhà cấp vốn cho họ để họ nghiên cứu khoa học, và một khi các nhà cấp vốn đó, như 26 tổ chức cấp vốn của Liên minh S, có yêu cầu tất cả các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ nghiên cứu được các trợ cấp nhà nước cấp vốn phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc các nền tảng tuân thủ truy cập mở đầy đủ và tức thì tại thời điểm xuất bản, thì họ có bổn phận phải tuân thủ các yêu cầu đó. Nói một cách khác, một khi bạn nhận tiền từ nhà nước để nghiên cứu khoa học, thì điều đó đồng nghĩa với việc bạn nhận tiền của người dân đóng thuế để nghiên cứu khoa học, và vì thế kết quả của nghiên cứu cần phải được truy cập tự do không mất tiền đối với tất cả những người dân đóng thuế đó, vì họ đã trả tiền cho nó rồi. Điều này là khó có thể bàn cãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngoại trừ các nghiên cứu khoa học có liên quan tới an ninh quốc gia và quyền riêng tư của con người.    Mở rộng ý này, là không công bằng và không nên duy trì chế độ theo đó người sử dụng phải trả tiền hai lần (Double Dipping) cho các nhà xuất bản để có được quyền truy cập tới các bài báo là kết quả nghiên cứu được nhà nước cấp vốn và được đăng trên các tạp chí (thường được gọi là các tạp chí truy cập mở lai – Hybrid Open Access Journals): phí thứ nhất là phí thuê bao theo tháng/năm để có quyền truy cập tới các tạp chí, bài báo của nhà xuất bản đó, kể cả các bài báo do nhà khoa học thuộc cơ sở nghiên cứu đó đăng tải; phí thứ hai là phí xử lý bài báo nếu muốn một bài báo trở thành truy cập mở, cho phép tất cả mọi người trên thế giới có thể đọc và xem miễn phí, theo thỏa thuận riêng biệt của nhà khoa học với nhà xuất bản đó. Như vậy, với các bài báo truy cập mở, người sử dụng phải trả phí tới hai lần. Cũng cần được nêu ra ở đây là trên thực tế, đã có nghiên cứu chỉ ra, một cách sòng phẳng rằng, để có thể truy cập được tới các bài báo và dữ liệu là kết quả của một nghiên cứu, người sử dụng có thể phải trả phí không phải chỉ hai lần, mà tối đa có thể lên tới bốn lần, nếu tính thêm cả tiền bao cấp cho các trường đại học để trả lương cho các nhà nghiên cứu và tiền trợ cấp nghiên cứu trực tiếp trả cho nhà nghiên cứu và/hoặc cơ sở của nhà nghiên cứu, cũng đều đến từ tiền thuế của người dân, ngoài hai khoản phí được nêu ở trên6. Có lẽ, chỉ có mô hình Truy cập Mở Kim cương mới chắc chắn loại bỏ thực tế rất không công bằng này!    Mặt khác, ngay trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO ngày 30/3/2021 cũng vài lần nêu về việc ứng dụng và phát triển Khoa học Mở cùng lúc với việc đấu tranh chống lại hành vi săn mồi, cũng như các hành vi tiêu cực khác, bên cạnh việc thưởng xứng đáng cho những người đóng góp cho Khoa học Mở, ví dụ như trong Phần V. Thúc đẩy văn hóa Khoa học Mở và điều chỉnh các ưu đãi cho Khoa học Mở, có đoạn như sau:      Ảnh: Nature.com  “Đánh giá đóng góp khoa học và tiến bộ sự nghiệp bằng việc thưởng cho các thực hành tốt về Khoa học Mở là cần thiết để vận hành Khoa học Mở. Cũng nên chú ý tới việc ngăn ngừa và giảm thiểu việc phát sinh tiêu cực không mong đợi của các thực hành Khoa học Mở, như gia tăng các chi phí cho các nhà khoa học, các khoản phí xử lý bài báo – APC (Article Processing Charges) cao, hành vi săn mồi, chuyển đổi, khai thác và tư nhân hóa dữ liệu từ các quốc gia và các thực thể có công nghệ tiên tiến hơn, mất sở hữu trí tuệ và kiến thức”.     Những diễn biến mới nhất trong năm 2021 về Khoa học Mở và Truy cập Mở     Một nhóm gồm 10 tổ chức khoa học và giáo dục, gồm: (1) OPERAS; (2) SPARC Europe; (3) Thư viện Đại học Utrecht; (4) Đại học Bắc cực của Nauy UiT; (5) CSI; (6) OASPA; (7) DOAJ; (8) Redalyc/AmeliCA; (9) LIBER; (10) ENRESSH, đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu về các tạp chí truy cập mở kim cương vào tháng 3/20217 (trùng với thời gian bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO được phát hành ngày 30/3/2021). Tài liệu đưa ra:    20 khuyến cáo được chia thành năm nhóm chủ đề, gồm: (1) Hỗ trợ kỹ thuật với ba khuyến cáo, từ R1.1 tới R1.3; (2) Tuân thủ với năm khuyến cáo, từ R2.1 tới R2.5; (3) Xây dựng năng lực với ba khuyến cáo, từ R3.1 tới R3.3; (4) Tính hiệu quả với sáu khuyến cáo, từ R4.1 tới R4.6; (5) Tính bền vững với ba khuyến cáo, từ R5.1 tới R5.3.  và  Kế hoạch hành động gồm ba mục, theo trật tự tuần tự gồm: (1) Chuẩn bị hội thảo và hội nghị chuyên đề quốc tế (R3.3) trong vòng sáu tháng để khởi xướng hội thoại toàn cầu giữa các bên tham gia đóng góp khác nhau, đặc biệt các cơ sở và các hiệp hội, khai phá việc xây dựng Trung tâm Năng lực (R3.1) và triển khai các khuyến cáo về tính hiệu quả (R4); (2) Thiết lập Chiến lược Cấp vốn (R5.1) trong vòng một năm để triển khai các khuyến cáo cấp vốn khác (R5.2 và R5.3), phối hợp trong Liên minh S nhưng cũng với tới các bên cấp vốn khác khắp trên thế giới; (hai năm để hỗ trợ triển khai các khuyến cáo kỹ thuật khác (R1 và R2).    Vì mục đích của bài viết này, để trả lời cho câu hỏi: mô hình phát triển bền vững của các nhà xuất bản khoa học sẽ như thế nào với Xuất bản Truy cập Mở Kim cương? Tài liệu trên đã đưa ra những khuyến cáo để đảm bảo tính bền vững cho mô hình truy cập mở như sau:    – R5.1: Các nhà tài trợ nghiên cứu, các viện nghiên cứu và hiệp hội cần cộng tác trong chiến lược cấp vốn cho Truy cập Mở kim cương  – R5.2: Các nhà tài trợ nghiên cứu cần cấp vốn ổn định cho các hoạt động của các tạp chí Truy cập Mở kim cương  – R5.3: Các nhà tài trợ này cũng cần phải đầu tư vào tương lai của Truy cập Mở kim cương  bên cạnh đó là mục hai của Kế hoạch hành động, đó là cần:  – Thiết lập Chiến lược Cấp vốn (R5.1) trong vòng một năm để triển khai các khuyến cáo liên quan đến tài trợ khác (R5.2 và R5.3), sự phối hợp không chỉ trong Liên minh S mà còn hướng đến các bên tài trợ khoa học khác khắp trên thế giới.     Vài gợi ý cho các nhà xuất bản khoa học nói riêng, hệ thống truyền thông học thuật nói chung     Sơ bộ có vài gợi ý dưới đây không chỉ cho các nhà xuất bản khoa học nói riêng, mà cả cho hệ thống truyền thông học thuật của Việt Nam nói chung:     Hãy chú ý tới xu thế không thể đảo ngược của Khoa học Mở khi Khuyến cáo Khoa học Mở, một cách chắc chắn, sẽ được gần 200 quốc gia thành viên UNESCO ký kết vào cuối năm nay, 2021; cùng với nó, là xu thế xuất bản truy cập mở mà mô hình cao nhất hiện nay của nó, xuất bản truy cập mở kim cương, đang hiện diện và phát triển, bất chấp các khó khăn, bao gồm cả những chống đối, thường thấy trong bất kỳ sự chuyển đổi lớn nào. Cần lưu ý là, trong khi thế giới đã có những bước đi ban đầu trên con đường của Khoa học Mở và Truy cập Mở ít nhất từ khoảng 15 năm trước, thì Việt Nam cho tới bây giờ, mới bắt đầu làm quen với các khái niệm đó.      Truy cập mở kim cương là xu hướng không thể đảo ngược của ngành học thuật quốc tế. Ảnh: Times Higher Education.  Nắm bắt xu thế không thể đảo ngược đó, các nhà xuất bản và tạp chí khoa học, cũng như các bên liên quan khác tới các lĩnh vực khoa học nói chung, hệ thống truyền thông học thuật nói riêng, nên nhanh chóng có những thay đổi hướng tới Khoa học Mở và Xuất bản Truy cập Mở tới kiến thức khoa học, như được nêu ở phần đầu bài viết, đặc biệt với kết quả của các nghiên cứu được nhà nước cấp vốn.    Các tạp chí khoa học nên từng bước thay đổi (các) mô hình kinh doanh8 lâu đời của mình cùng với việc đa dạng hóa các nguồn doanh thu và/hoặc cấp vốn, và suy ngẫm về con đường rất dài hướng tới cái đích là trở thành các tạp chí Truy cập Mở Kim cương, như những gì được 10 tổ chức khoa học và giáo dục được nêu ở trên, khuyến cáo và có kế hoạch hành động để hiện thực hóa nó.    Mô hình xuất bản Truy cập Mở Kim cương không phải là một mô hình xuất bản lãng mạn mà là một mô hình thực tế đã và đang được triển khai trên thế giới. Bản chất của nó, cũng như của truy cập mở nói chung, là để trả lại các quyền tự do hàn lâm, tự do xuất bản kết quả nghiên cứu khoa học cho chính các nhà nghiên cứu, để họ không bị phụ thuộc, không bị trói buộc vào các nhà xuất bản, những tác nhân không trực tiếp tạo ra các bài báo nghiên cứu. Điều này hoàn toàn khả thi làm được khi công nghệ thông tin và truyền thông phát triển, chứ không giống như trước kia, chỉ dựa vào công nghệ in ấn. Với internet và các phần mềm dựa trên nền tảng web cho phép rút ngắn và đơn giản hóa toàn bộ quy trình xuất bản.    Tính bền vững của mô hình truy cập mở kim cương còn là câu chuyện của tương lai. Nhưng đó vẫn là đích của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản khoa học của thế giới khi đi theo Khoa học Mở. Mà Khoa học Mở ở thời điểm tháng 5/2021 này, thì không phải là có thể, mà gần như chắc chắn 100% là xu thế toàn cầu (vì nếu tháng 11/2021, gần 200 quốc gia thành viên UNESCO phê chuẩn Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO, thì lúc đó ta sẽ khẳng định được 100% nó là xu thế của thế giới).    Trong tất cả các văn bản chính sách về khoa học ở Việt Nam, chưa hề có những khái niệm liên quan đến khoa học mở. Hiện nay, ta có thể bắt đầu từ việc xây dựng chính sách truy cập mở tầm quốc gia với sự tham gia của nhiều bên như các cơ quan quản lý nghiên cứu, cơ quan tài trợ, các trường đại học, nhà xuất bản, các thư viện của trường đại học, viện nghiên cứu để làm sao để các nghiên cứu khoa học vừa tuân thủ các nguyên tắc mở nhưng vẫn tương đối hài hòa lợi ích của các bên.    Đi theo Khoa học Mở, Truy cập Mở và xuất bản Truy cập Mở Kim cương thật sự không dễ dàng, và chắc chắc sẽ gặp phải nhiều rủi ro xung đột với các chính sách và thực hành khoa học hiện hành ở Việt Nam, bao gồm cả của hệ thống truyền thông và xuất bản học thuật. Nhưng rủi ro lớn nhất là không làm gì cả!□  ————  Các chú giải  1 Lê Trung Nghĩa, 2020: Khoa học Mở: Những gợi ý cho Việt Nam: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Khoa-hoc-Mo-Nhung-goi-y-cho-Viet-Nam-25552  2 Jeroen Bosman, Jan Erik Frantsvåg, Bianca Kramer, Pierre-Carl Langlais, Vanessa Proudman, March 2021: The OA Diamond Journals Study. Part 1: Findings. DOI: 10.5281/zenodo.4558704. CC BY 4.0.  3 Lê Trung Nghĩa, 2019: Hành trình đi tới Truy cập Mở đầy đủ và tức thì ở Liên minh châu Âu tới các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu – vài gợi ý cho Việt Nam. https://letrungnghia.mangvn.org/Author/hanh-trinh-di-toi-truy-cap-mo-day-du-va-tuc-thi-o-lien-minh-chau-au-toi-cac-xuat-ban-pham-va-du-lieu-nghien-cuu-vai-goi-y-cho-viet-nam-6232.html. CC BY 4.0.  4 cOAlition S: Plan S: https://www.coalition-s.org/  5 International Science Council (ISC), June 2020: Open Science for the 21st Century: Draft ISC Working Paper. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/e5xbxklwb3k0u1f/International-Science-Council_Open-Science-for-the-21st-Century_Working-Paper-2020_compressed_Vi-27032021.pdf?dl=0  6 Dan Weijers and Aaron Jarden, 2017: The International Journal of Wellbeing: An Open Access Success Story. In: Jhangiani, R S and Biswas-Diener, R. (eds.) Open: The Philosophy and Practices that are Revolutionizing Education and Science. Pp. 181–194. London: Ubiquity Press. DOI: https://doi.org/10.5334/bbc.n. License: CC-BY 4.0. Bản dịch của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/7w5yv3j8j6omcok/the-international-journal-of-wellbeing-an-open-acc_Vi-29012019.pdf?dl=0  7 Arianna Becerril, Lars Bjørnshauge, Jeroen Bosman, Jan Erik Frantsvåg, Bianca Kramer, Pierre-Carl Langlais, Pierre Mounier, Vanessa Proudman, Claire Redhead, Didier Torny, March 2021: The OA DIAMOND Journals Study: Exploring collaborative community-driven publishing models for Open Access. Part 2: Recommendation. DOI: 10.5281/zenodo.4562790. CC BY 4.0.  8 Lê Trung Nghĩa, 2019: Truy cập Mở và sự chuyển đổi các mô hình kinh doanh xuất bản. https://letrungnghia.mangvn.org/Author/truy-cap-mo-va-su-chuyen-doi-cac-mo-hinh-kinh-doanh-xuat-ban-6264.html. CC BY 4.0.        Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Truyền huyết tương có thể phục hồi các cơ quan và mô bị lão hóa      Các nhà nghiên cứu đã gấp rút sản xuất và thử nghiệm các liệu pháp dựa trên huyết tương sau khi nhiều thí nghiệm phát hiện ra rằng truyền huyết tương có thể phục hồi các cơ quan và mô bị lão hóa. Các nghiên cứu đã tìm thấy lợi ích đối với loài gặm nhấm, nhưng cho đến nay không có bằng chứng nào cho thấy cách tiếp cận này sẽ có ích cho con người.    Các nhà khoa học tuyên bố đã phá kỷ lục tuổi thọ ở chuột, bằng cách kéo dài tuổi thọ của một con chuột thí nghiệm có tên là Sima.    Được đặt tên theo từ tiếng Hindi có nghĩa là “giới hạn” hoặc “ranh giới”, Sima là con chuột sống sót cuối cùng trong một nhóm chuột được truyền huyết tương lấy từ chuột con để xem phương pháp điều trị có kéo dài tuổi thọ hay không.    Các nhà nghiên cứu cho biết Sima, sinh ngày 28 tháng 2 năm 2019, đã sống được 47 tháng, vượt qua 45,5 tháng được cho là tuổi già nhất được ghi nhận trong tài liệu khoa học đối với một con chuột. Đến nay Sima đã sống lâu hơn 6 tháng so với các con trong cùng nhóm thử nghiệm huyết tương.    Tiến sĩ Harold Katcher, cựu giáo sư sinh học tại Đại học Maryland, hiện là giám đốc khoa học của Yuvan Research, một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại California, cho biết: “Đây là con chuột già nhất còn sống”.        Các nhà nghiên cứu đã gấp rút sản xuất và thử nghiệm các liệu pháp dựa trên huyết tương sau khi nhiều thí nghiệm phát hiện ra rằng truyền huyết tương có thể phục hồi các cơ quan và mô bị lão hóa. Các nghiên cứu đã tìm thấy lợi ích đối với loài gặm nhấm, nhưng cho đến nay không có bằng chứng nào cho thấy cách tiếp cận này sẽ có ích cho con người.    Kết quả từ nghiên cứu mới nhất của Katcher sẽ được công bố chính thức khi Sima chết, nhưng dữ liệu sơ bộ cho đến nay cho thấy 8 con chuột được truyền nước muối giả dược sống được từ 34 đến 38 tháng, trong khi 8 con nhận được huyết tương cô đặc và tinh khiết, được gọi là E5, sống từ 38 đến 47 tháng. Chuột nhận huyết tương cũng có sức khỏe tốt hơn. Chuột thường có tuổi thọ từ 2 đến 3 năm.    Katcher nói: “Mục đích thực sự của thí nghiệm của chúng tôi không phải là kéo dài tuổi thọ, mà là kéo dài tuổi trẻ, trẻ hóa con người, giúp cho những năm về sau trong cuộc đời không phải là thời gian đau đớn và suy tàn. Nếu làm được điều này, có thể tuổi thọ cũng được kéo dài”.    Kết quả từ những nghiên cứu nhỏ như vậy không mang tính kết luận, nhưng một số nhà khoa học tin rằng hướng nghiên cứu này có tiềm năng. Một nghiên cứu sơ bộ, hợp tác giữa Katcher và các chuyên gia tại Đại học California ở Los Angeles, đã phát hiện ra rằng việc truyền huyết tương từ chuột trẻ làm quay ngược đồng hồ sinh học trên gan, máu, tim và một vùng não gọi là vùng dưới đồi ở chuột. Giáo sư David Sinclair, chuyên gia hàng đầu về lão hóa tại trường y Harvard, cho biết nếu phát hiện này là đúng, thì “việc trẻ hóa cơ thể có thể trở nên phổ biến trong thế hệ này”.    “Tôi nghĩ kết quả thật tuyệt vời. Một số người sẽ chỉ trích kết quả do kích thước mẫu thấp, nhưng tôi tin vào kết quả vì đã có một số nghiên cứu bổ sung”, Giáo sư Steve Horvath, nghiên cứu viên chính tại Altos Labs. Ông dự đoán các phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả bằng huyết tương sẽ xuất hiện trong 20 năm tới.    Một bằng sáng chế về liệu pháp tiềm năng mô tả cách huyết tương được tinh chế và cô đặc trước khi sử dụng. Một số thành phần, chẳng hạn như tiểu cầu, bị loại bỏ, vì chúng có thể kích hoạt các phản ứng miễn dịch. Bằng sáng chế nêu tên lợn, bò, dê, cừu và con người là những nguồn huyết tương có thể sử dụng. Lượng huyết tương cần thiết để tạo ra một liều bằng lượng huyết tương mà người nhận có trong toàn bộ cơ thể của họ.    Giáo sư Joao Pedro de Magalhaes, nhà nghiên cứu sinh học phân tử tại Đại học Birmingham, cho biết huyết tương trẻ hóa là một “biện pháp can thiệp đầy hứa hẹn”, nhưng ông vẫn chưa bị thuyết phục rằng nó có thể làm trẻ hóa động vật già hoặc thậm chí trì hoãn quá trình lão hóa. “Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa những lợi ích ngắn hạn với sự trẻ hóa”, ông nói.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Truyền tải internet qua hệ thống đường dây điện      Hiện nay việc truyền tải internet chủ yếu sử dụng cáp quang và hệ thống này khá đắt đỏ, AT&T đã nghĩ ra ý tưởng sử dụng hệ thống dây điện có sẵn tại hầu hết các địa phương để cõng tín hiệu Wifi.      Ý tưởng liên quan đến việc gắn thiết bị định tuyến nhựa trên cột điện hiện có, cho phép internet multgigabit truyền tải thông qua đường dẫn của đường dây điện. Hệ thống này không chỉ ít tốn kém mà còn không đòi hỏi phải triển khai hệ thống đường cáp mới. Dự án có tên là Airgig, cho phép các nhà cung cấp dịch vụ dễ dàng triển khai các kết nối không dây nhanh, chạy trên một phổ miễn phí, cho gia đình và các thiết bị di động. AT&T cho biết hiện đang thử nghiệm công nghệ tại các cơ sở ngoài trời của công ty, với những kết quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, các thử nghiệm về khả năng thương mại chỉ được bắt đầu vào năm 2017.    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Bùi Hùng Thắng: Bài báo đi kèm sáng chế      Chưa đầy 10 năm làm nghiên cứu, TS. Bùi Hùng Thắng (Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã có trong tay 25 công bố trên các tạp chí quốc tế (16 công bố ISI), và bốn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Năm 2017 đánh dấu một dấu ấn quan trọng trong quá trình nghiên cứu của anh: chính là gương mặt duy nhất được đề cử xét tặng giải trẻ Tạ Quang Bửu, giải dành cho các nhà khoa học độ tuổi dưới 35, với công bố “Mô hình cải tiến về độ dẫn nhiệt của chất lỏng chứa thành phần ống nano carbon” (A modified model for thermal conductivity of carbon nanotube-nanofluids) trên tạp chí Physics of Fluids.       TS. Bùi Hùng Thắng.  Khoa học vật liệu là lĩnh vực phát triển rất sôi động trong vài thập kỷ gần đây, nó liên quan chặt chẽ đến quá trình đổi mới sáng tạo về công nghệ trong các ngành công nghiệp, y sinh, công nghệ thông tin… Đặc biệt, vật liệu ống nano carbon (CNTs) có tiềm năng ứng dụng rất phong phú bởi hội tụ nhiều tính chất độc đáo về cơ học, vật lý, hóa học như độ bền, độ dẫn điện, dẫn nhiệt. Vì vậy, khi nghiên cứu về CNTs, tôi có nhiều cơ hội thuận lợi đưa một phần kết quả nghiên cứu vào thực tiễn”, TS. Thắng lý giải nguyên nhân vì sao anh lại chọn CNTs và chủ yếu khai thác nó để chế tạo các loại vật liệu có độ dẫn nhiệt cao nhằm áp dụng trong hệ thống truyền nhiệt, tản nhiệt cho các linh kiện và thiết bị công suất lớn.  Từ lời giải cho bài toán tồn tại 10 năm…  Về khía cạnh dẫn nhiệt của CNTs, có một bài toán đã tồn tại hơn 10 năm: giải thích hiệu quả nâng cao hệ số dẫn nhiệt trong chất lỏng chứa vật liệu này, điều mà những mô hình tính toán lý thuyết cổ điển “chào thua” bởi chỉ đưa ra được những kết quả sai khác so với kết quả thực nghiệm.  Các nhà nghiên cứu cần đi tìm một mô hình tính toán mới cho kết quả chuẩn xác hơn. Vậy một mô hình tính toán chuẩn phải đáp ứng yếu tố gì? Một tiến sỹ vật lý lý thuyết cho rằng, nhìn chung mô hình đó phải phản ánh đúng sự tương tác giữa các thành phần và phải cho kết quả đúng trong nhiều trường hợp khác nhau. Mô hình càng lý tưởng thì càng cho ít sai số tính toán so với thực nghiệm. Trong trường hợp này, cái khó là sự tương tác giữa các thành phần khá phức tạp, lại có nhiều hướng tiếp cận. TS Thắng bổ sung thêm, “các phân tử trong môi trường chất lỏng đều ở vị trí khá xa nhau, lại dễ di chuyển và chuyển hướng liên tục do lực liên kết kém, đồng thời chịu nhiều lực tác động khác nhau”.  Dĩ nhiên vấn đề càng nhiều thách thức thì càng hấp dẫn các nhà nghiên cứu. Để giải thích hiệu quả nâng cao hệ số dẫn nhiệt trong chất lỏng chứa thành phần CNTs, các nhóm nghiên cứu của S.U.S Choi (PTN quốc gia Argonne, Mỹ), Yingsong Zheng (ĐH Mỏ và công nghệ South Dakota, Mỹ), Dale Henneke (ĐH Waterloo, Canada), Venkata Sastry, H E Patel (Viện Công nghệ Ấn Độ – Madras, Ấn Độ)… đã công bố một số mô hình tính toán trên các tạp chí chuyên ngành. Nhưng theo TS. Thắng, các mô hình này “đều chưa thuyết phục vì phần lớn phải dựa vào những thông số thực nghiệm mới có kết quả chính xác hoặc lại đưa ra nhận định sai lầm khi coi các ống CNTs nối đuôi nhau trong lòng chất lỏng để tạo thành mạch truyền nhiệt trong khi trên thực tế, nó phân tán tách rời”.  Trong quá trình nghiên cứu kéo dài hơn một năm, anh nhận thấy điểm quan trọng nhất mà nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ qua, đó là CNTs dẫn nhiệt tốt dọc theo ống nhưng lại dẫn nhiệt kém theo chiều vuông góc với ống. Dựa vào phát hiện này, anh đã đặt ra bài toán và thực hiện các phép tính để đưa ra mô hình cải tiến tính toán độ dẫn nhiệt của chất lỏng chứa CNTs. Không dễ tự bằng lòng với kết quả bước đầu, anh còn thực hiện một số bước như dùng số liệu từ các công bố của đồng nghiệp quốc tế và tính thử theo mô hình của mình. Kết quả cho thấy có sự phù hợp rất tốt giữa tính toán lý thuyết này với kết quả thực nghiệm của nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới trong các trường hợp khác nhau của CNTs cũng như trong nhiều nền chất lỏng khác nhau.  TS. Thắng đã gửi công trình tới Physics of Fluid, tạp chí chuyên ngành về vật lý chất lỏng của Viện Vật lý Hoa Kỳ và thuộc tốp tạp chí ISI uy tín theo phân loại của Quỹ Nafosted. Hai chuyên gia phản biện mà tạp chí mời cho ý kiến khác nhau: một đồng ý, một phản đối kịch liệt bằng việc tìm mọi lý do để bác bỏ quan điểm và mô hình đề xuất. Chuyên gia phản biện thứ hai đưa ra sáu câu hỏi, chủ yếu xoáy vào bản chất của mô hình và truy vấn nguyên nhân khiến tác giả nghi ngờ độ chuẩn xác của một số mô hình trước.  Cần xử lý trường hợp này như thế nào? “Trong vòng một tuần, tôi viết 20 trang trả lời phản biện, trong đó tập hợp tất cả các vấn đề mà giới nghiên cứu thế giới đã thực hiện và cả những vấn đề mình phát hiện thành một hệ thống rất chặt chẽ, chứng minh những luận điểm mà phản biện nêu không chính xác”, TS. Thắng kể. Kết quả là chuyên gia phản biện giữ thái độ im lặng lâu đến mức ban biên tập Physics of Fluid liên hệ không được và đành đưa ra phương án, nếu không nhận được trả lời thì coi như mô hình đã được chấp nhận. Cuối cùng sau hai tháng “biệt tích” khó hiểu, vị chuyên gia đó mới hồi âm là đồng ý với phần trả lời. Xuất bản vào tháng 3/2015, đến nay sau hai năm, bài báo được trích dẫn 9 lần 1  Cũng làm nghiên cứu sinh trong nước như TS. Phùng Văn Đồng, người đoạt giải trẻ Tạ Quang Bửu 2016, TS. Bùi Hùng Thắng (1984) không cho là mình thua thiệt so với đồng nghiệp được đào tạo ở nước ngoài. Ngược lại, anh thấy mình có thuận lợi cơ bản: được làm việc tại Viện Khoa học vật liệu, nơi có gần đủ cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ nghiên cứu như kính hiển vi điện tử truyền qua có độ phân giải cao (HR-TEM), kính hiển vi điện tử quét (SEM), thiết bị sự đo phân tán hạt nano trong chất lỏng (Zetasier), kính hiển vi lực nguyên tử (AFM)…, và có môi trường học thuật tốt, các cán bộ trẻ được tin tưởng giao chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu. Hơn nữa, nhóm nghiên cứu mà anh tham gia có mối hợp tác chặt chẽ với nhiều giáo sư giỏi: Elena D. Obraztsova (Viện Vật lý đại cương A.M. Prokhorov, Viện Hàn lâm khoa học Nga), Jean-Louis Sauvajol (ĐH Montpelier 2, Pháp), Nguyễn Sơn Bình (ĐH Northwestern, Mỹ) – người ba năm liền vào tốp các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới (2014-2016)… nên ở trong nước vẫn không lo bị tụt hậu. Ngoài hai bằng độc quyền sáng chế đã được đề cập ở trên, TS. Thắng còn có hai bằng sáng chế khác là “Quy trình chế tạo vật liệu In/CNTs nanocomposite và kết cấu tản nhiệt sử dụng In/CNTs nanocomposite cho các linh kiện điện tử công suất cao” (cấp năm 2014) và “Thiết bị và quy trình sản xuất liên hoàn ống carbon nano” (cấp năm 2015).   ….đến sáng chế kéo dài tuổi thọ đèn LED  TS. Thắng dễ gây ấn tượng là một nhà nghiên cứu trẻ dám tìm tòi và thử nghiệm cái mới. “Dù tập trung vào nghiên cứu cơ bản về CNTs nhưng tôi vẫn mong muốn triển khai một số ứng dụng từ loại vật liệu này. Vì vậy, khi thực hiện đề tài ‘Nghiên cứu ứng dụng vật liệu ống nano carbon trong chất lỏng tản nhiệt cho linh kiện điện tử công suất’(1/2013 – 12/2014), ngoài bài báo trên Physics of Fluid, tôi còn có thêm hai sáng chế ‘Quy trình chế tạo chất lỏng tản nhiệt chứa ống nano carbon, chất lỏng tản nhiệt thu được từ quy trình này và cấu trúc tản nhiệt chứa chất lỏng tản nhiệt’, ‘Môđun đèn LED tản nhiệt bằng chất lỏng’ rồi gửi Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) cùng trong năm 2014” (mới được Cục SHTT cấp giấy chứng nhận vào tháng 4/2017).  Quan điểm xuất bản bài báo đi kèm sáng chế này của TS. Thắng cũng giống một số đồng nghiệp khác nhưng anh thuận lợi hơn họ: 1. Khi sáng chế thứ hai mới gửi đi đăng ký, anh đã gặp được công ty TNHH Minh Quang, một doanh nghiệp ngành nhôm mới thành lập nhưng sẵn sàng bỏ vốn sản xuất thử nghiệm bộ khuôn mẫu đầu tiên để đúc giàn tỏa nhiệt của mô đun đèn LED tản nhiệt; 2. Viện Khoa học vật liệu có đủ công nghệ và thiết bị để chế tạo CNTs với số lượng lớn, thành quả sau thời gian nghiên cứu lâu dài của hai giáo sư Phan Ngọc Minh và Phan Hồng Khôi (thầy hướng dẫn Thắng làm tiến sỹ). Vì vậy, giá thành CNTs do Viện sản xuất vào quãng 200 đến 300 USD/kg thay vì 1.000 USD/kg nhập ngoại như trước.  Vì sao TS. Thắng lại thuyết phục được công ty Minh Quang hợp tác sản xuất một sản phẩm mới như vậy? Bộ mô đun đèn LED tản nhiệt này nhiều khả năng sẽ được dùng rộng rãi tại Việt Nam, TS. Thắng dự đoán. “Trong tương lai, đèn LED sẽ được lắp để chiếu sáng đường phố và các không gian công cộng khác bởi so với đèn compact, nó tiết kiệm điện năng tới 50%, đạt hiệu quả chiếu sáng tới 70%, lại thân thiện với môi trường…”, anh cho biết. Nhược điểm lớn nhất hiện nay của đèn LED là chi phí lắp đặt lớn, giá thành dao động từ 5 đến 15 triệu đồng/đèn và nếu hoạt động ở nhiệt độ cao, đèn dễ bị hỏng. Do kết cấu đặc biệt nên khi thay đèn LED, người ta phải bỏ đi toàn bộ hệ thống chiếu sáng theo công nghệ cũ nên chi phí đội lên rất nhiều.  Sản phẩm do anh thiết kế có thể lắp một cách linh hoạt vào các hệ của bộ đèn cũ và đảm bảo khả năng đưa toàn bộ nhiệt lượng từ chip LED ra ngoài bằng chất lỏng chứa thành phần nano, giúp nâng cao tuổi thọ và hiệu suất phát quang cho đèn LED, đồng thời góp phần giảm 35 – 50% chi phí so với việc thay thế cả bộ bóng đèn cũ bằng một bóng đèn LED mới.  Việc ứng dụng sản phẩm từ đề tài của một nghiên cứu đến ứng dụng không phải là chuyện dễ dàng. Có hàng chục vấn đề phát sinh như cần nâng cao tính bền vững và ổn định của chất lỏng trong thời gian hoạt động của đèn LED, hay đảm bảo độ tương thích giữa sản phẩm mô đun với hệ thống chiếu sáng đường phố theo công nghệ cũ (Metal Halide, Halogen,…) lại vừa phải đáp ứng được các tiêu chí về tiêu chuẩn chiếu sáng đường phố bằng đèn LED hiện nay. Vì thế trong quá trình chế tạo bộ khuôn đúc mẫu, TS. Thắng đã phải mất nhiều thời gian chỉnh sửa các chi tiết kỹ thuật để đạt được sự tối ưu về mặt thiết kế cũng như chuẩn hóa quy trình sản xuất.    Mô đun đèn LED công suất 100 W được lắp vào vỏ đèn đường chiếu sáng công cộng.  Với những ưu điểm về kỹ thuật và kinh tế, sản phẩm mô đun đèn LED của TS. Thắng đã được trao giải thưởng Sáng tạo trẻ toàn quốc 2015. Đây cũng là cơ sở để tháng 4/2017, Sở KH&CN Hà Nội chọn anh làm chủ trì một dự án sản xuất thử nghiệm về sản xuất mô đun đèn LED cấp thành phố, kinh phí sẽ do UBND thành phố Hà Nội cấp 30%, 70% còn lại của hai doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Thời gian thực hiện trong vòng hai năm và yêu cầu là 500 sản phẩm có chất lượng như sản phẩm mẫu, trong đó có 150 sản phẩm sẽ được bàn giao lại để phục vụ cho việc chiếu sáng đường phố Hà Nội.  Việc gia cường CNTs với nồng độ 1,2 g/lit vào chất lỏng đã giúp giảm nhiệt độ đèn LED xuống 3oC. Độ chênh lệch nhiệt độ giữa chip LED và giàn tỏa nhiệt trong trường hợp sử dụng chất lỏng thông thường là 8oC, còn độ chênh lệch nhiệt độ giữa chip LED và giàn tỏa nhiệt trong trường hợp sử dụng chất lỏng CNTs là 6oC.  ———  1. http://aip.scitation.org/doi/abs/10. 1063/1.4914405?journalCode=phf             Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Từ bi ký đến thực tế ảo: Hành trình 10 năm      Sản phẩm công nghệ thực tế ảo VR3D chùa Diên Hựu và kiến trúc Một cột thời Lý của nhóm SEN Heritage là một kết quả đúc kết từ 10 năm nghiên cứu và tổng hợp các giả thuyết của giới khoa học (khảo cổ học, mĩ thuật học lịch sử, văn hiến học, biểu tượng Phật giáo…) trong vòng gần 50 năm trở lại đây. Từ hàng trăm hàng ngàn mảnh vụn và phế tích khảo cổ, bản tái lập chùa Diên Hựu đã phỏng dựng tổng thể mặt bằng mandala chùa tháp thời Lý, với phong cách Lý, và kĩ thuật xây dựng đương thời. Đây chỉ là số hóa một giả thuyết trong số rất nhiều giả thuyết mà nhóm đã đưa ra. Nhưng dẫu sao cũng cần trình bày lại toàn bộ quá trình lập giả thuyết cũng như hiện thực hóa giả thuyết này bằng công nghệ thực tế ảo.      Toàn cảnh hình ảnh tái dựng chùa Diên Hựu do nhóm Sen Haritage thử tái dựng.  Từ những sử liệu trên văn bia chùa Đọi năm 1121     Chùa Một Cột hiện nay là một sản phẩm phục dựng có niên đại 1955, được Nguyễn Bá Lăng thực hiện sau khi chùa bị đặt bom đánh sụp vào ngày 9-11-1954. Nguyễn Bá Lăng đã dựa trên bản vẽ của Pháp có phong cách cuối Nguyễn, và lắp ghép trang trí kiến trúc từ các di tích khác. Muốn phục dựng hình dáng chùa Một Cột ban đầu thì tôi buộc phải xuất phát từ các sử liệu đương thời. Phần lớn các học giả đều trích Đại Việt sử ký toàn thư về sự kiện khởi dựng chùa năm 1059 với sự kiện vua Lý nằm mơ được Quan Âm dắt lên tòa sen. Nhưng đây chỉ là tư liệu đã bị biên tập qua lăng kính của người đời sau.  Sử liệu nguyên cấp đời Lý duy nhất hiện còn chính là văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (bia chùa Long Đọi, Hà Nam) do Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn (được khắc năm 1121) có ghi cụ thể về đợt xây dựng trùng tu năm 1105 như sau: “Tôn sùng đạo Phật, hâm mộ mống lành. Noi Tây Cấm danh lừng thượng uyển; mở Diên Hựu gọi đó danh lam. Theo quy chế vốn có trước kia; ra mưu tính ý vua nay tỏ. Đào ao thơm mang tên Linh Chiêu; giữa ao kia cột đá vọt đứng. Đỉnh cột nở ngàn cánh hoa sen; hoa đặt vững một tòa điện thắm. Trong điện đặt Thích Ca kim tướng; bên ngoài ao là hành lang vẽ bọc quanh. Ngoài hành lang có Bích Trì khơi vòng; đều bắc cầu vồng đi thông vào. Sân nơi cầu trước, tả hữu dựng tháp báu lưu ly…” Tư liệu gốc này cho phép tôi trong công trình năm 2012-2013, đi đến những nhận thức mới về chùa Một Cột – Diên Hựu như sau:      Dựa trên khảo sát hệ thống lỗ ngàm, rãnh dầm chịu lực,… của cột đá chùa Dạm, tôi cho rằng cột đá chùa Dạm là hiện vật duy nhất còn sót lại của phế tích kiến trúc một cột thời Lý- đồng dạng về loại hình kiến trúc với tháp một cột ở chùa Diên Hựu.      + Tên chùa thời Lý là Diên Hựu tự, chứ không phải là “chùa Một Cột” như đời sau. Đây là một ngôi chùa tháp điển hình của phong cách Lý, chứ không phải là “hai ngôi chùa” như một số người vẫn hiểu.    + Tôn tượng thờ ở trung tâm kiến trúc một cột là Thích Ca kim tướng (Năng Nhân) chứ không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát.    + Tòa điện thờ Phật Thích Ca là một tòa kiến trúc sơn đỏ (cám điện 紺殿) tương ứng với các ghi chép trong các văn bia Lý – Trần. (Phạm Lê Huy 2016).    + Tòa điện thờ Thích Ca đặt trên một đóa hoa sen nghìn cánh ở đỉnh cột (kiến trúc hiện nay không còn bảo lưu tòa sen này). Đây có thể là một cấu kiện chịu lực, hoặc chỉ là một thành phần trang trí thuần túy.    + Kiến trúc một cột không phải là “chùa Một Cột” mà chỉ là một stupa – dạng tháp thờ Phật đời Lý (hoặc được gọi là Liên Hoa Đài như hoành phi và câu đối, hoặc Nhất Trụ tự như bi ký đời sau ghi).    + Tháp một cột này không phải là một đơn nguyên kiến trúc phụ nằm ở phía sau chùa như hiện nay mà nằm ở trung tâm của chùa Diên Hựu. Tháp một cột khi đó có chức năng tâm linh quan trọng nhất, giống như tam bảo, thượng điện trong các tự viện đời sau.    + Tháp một cột không phải nằm giữa ao Linh Chiểu (như Toàn thư ghi nhầm) mà là ao Linh Chiêu.    + Ngoài ao Linh Chiêu không phải là bao lơn đá (mới được Viện Viễn đông Bác cổ Pháp xây năm 1923), mà là hành lang có mái (hoàn lang, họa lang) bọc xung quanh hồ. Hành lang này có họa đống, và vẽ các tích chuyện Phật giáo, để sư tăng chạy đàn, nhiễu Phật.    + Cây cầu bắc vào tháp một cột không phải xây bằng gạch (sản phẩm của Hoàng Cao Khải xây năm 1899), mà là một cây cầu gỗ (phi kiều).    + Ngoài hoàn lang và ao Linh Chiêu là ao Bích Trì bao bọc từ bốn phía (hiện nay ao Bích Trì không còn).    + Bắc qua ao Bích Trì phải có ít nhất 1 cầu, và nhiều nhất 4 cầu ở 4 phía Đông – Tây – Nam – Bắc. Như vậy tổng số cầu bắc qua hai ao gồm các giả thuyết sau: (1) giả thuyết tối thiểu 2 cầu qua 2 ao ở mặt Nam, (2) giả thuyết trung bình có 5 cầu: 4 cầu ở ao ngoài, 1 cầu ở ao trong; (3) giả thuyết tối đa có 8 cầu: 4 cầu ao ngoài và 4 cầu ao trong.    + Phía đầu mỗi cầu qua ao Bích Trì có 2 tháp lưu ly. Như vậy, có tổng số là 8 tháp.    + Có 4 sân ở bốn phía của ao Bích Trì (ao ngoài). Theo bia chùa Đọi 1121, thì nơi này diễn ra nghi lễ múa Tứ Thiên Vương vào các dịp khánh tiết, lễ lạt lớn của nhà Phật.    + Ngoài 4 sân lại có hành lang giải vũ bao bọc bốn phía, với 4 cửa đi vào từ 4 hướng. Ở mỗi hướng đi vào là có một tòa điện thờ Tứ vị Thiên Vương, gồm: điện Bắc phương Thiên Vương, Nam phương Thiên Vương, Đông phương Thiên Vương, Tây phương Thiên Vương.    + Phía ngoài điện Nam phương Thiên Vương còn có hai tháp chóp trắng (bạch manh) được xây dựng vào năm 1105. (theo Toàn thư).    + Ngoài hai tháp bạch manh này là một tòa lầu chuông Quy Điền (theo Toàn thư).    Từ tái lập bình đồ như trên, tôi cho rằng, chùa Diên Hựu trùng tu năm 1105 là một chùa tháp tiêu biểu của kiến trúc Phật giáo Lý Trần. Ban đầu, khi khởi dựng vào năm 1049, chùa đã có tháp một cột dựng trên mặt đất (đúng như kiểu tháp một cột ở Dạm), nằm ở trung tâm chùa, nên còn được gọi là tự trụ (削石之寺柱, Toàn thư). Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông có ý tưởng mới về quy hoạch tổng thể: đào thêm hai ao, xây hành lang có mái đi nhiễu quanh ao Linh Chiêu, dựng các cầu bắc vào tháp một cột,… Toàn bộ bình đồ này đã mô phỏng đồ án mandala (mạn đồ la) theo đúng kinh điển Phật giáo được ghi chép trong các bộ Hoa Nghiêm, Pháp hoa, Pháp giới an lập đồ, Hoa tạng truyện, Phật tổ thống kỷ.    Luận điểm quan trọng nhất của tôi cho rằng, khi xây dựng một công trình kiến trúc, là người ta hiện thực hóa cấu trúc tâm linh và thế giới quan. Cho nên xây dựng một ngôi chùa là hiện thực hóa một vũ trụ quan Phật giáo, một ngôi chùa là một tiểu vũ trụ mang hình dáng mandala- nơi chư Phật hải hội. Ngoài Diên Hựu thì nhiều ngôi chùa tháp khác ở Đại Việt thời Lý đều có mô hình mandala, nhưng lại được hiện thực hóa theo nhiều hình thức khác nhau như chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Long Đọi, chùa tháp Chương Sơn,… Mandala chùa Bách Môn có 5 đỉnh với 1 lầu ở trung tâm, và 4 đỉnh lầu mái ở bốn góc. Bàn thờ theo hình chữ thập đặt các tượng pháp theo bốn hướng để có thể hành lễ và nhiễu Phật vòng quanh chùa. Mandala chùa Ngưỡng Sơn Linh Xứng có đào ao trong mái điện, và đặt tượng Phật giữa ao… Còn nhiều loại hình mandala khác nữa không thể nêu hết ở đây. Nhưng tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng, khi xây dựng một ngôi chùa là người xưa đã hiện thực hóa thế giới quan của mình bằng nghệ thuật kiến trúc. Năm 2013, trong cuốn sách của mình, tôi gọi đó là “thế giới quan kiến trúc học Phật giáo”. Các kiến trúc chùa tháp kết hợp với việc cải tạo mặt bằng, hoặc dựa núi hướng sông, hoặc đặt tháp ngay trên đỉnh núi (như Chương Sơn chẳng hạn), tôi gọi đó là “thế giới quan địa lý học Phật giáo”. Mỗi một đỉnh núi là một Linh Sơn, là một núi Tu Di, trên đó người xưa cho dựng một ngôi chùa một ngọn tháp là hình dung về một cõi niết bàn ngay giữa nhân gian, để hướng thiện và khuyến hóa chúng sinh.      Núi Tu Di ở trung tâm của tiểu vũ trụ. Nguồn: Pháp giới an lập đồ.    Kiến trúc một cột mô phỏng núi Tu Di. Nguồn: Trần Trọng Dương, Đào Xuân Ngọc (2016)  Nghệ thuật kiến trúc Phật giáo ở Nam Á hay Đông Á, dù có nhiều điểm khác nhau về thức kiến trúc và kĩ thuật kiến trúc, nhưng đều chung một ý niệm triết học- đó là mandala thế giới. Ở Nam Á, các công trình kiến trúc chùa tháp xây dựng theo kiểu bát úp với nhiều đỉnh tháp đồng tâm hướng thượng, và mặt bằng mô phỏng mandala như Borobudur, Angkor Wat, Neak Pean, các chùa tháp Champa… Trong khi đó, ở Đông Á, truyền thống chùa tháp được dựng theo thức lâu các (lầu gác), chồng tầng, chồng lầu, có mái, như chùa tháp Đa Bảo (Hàn Quốc), Pháp Long (Nhật Bản), Tang Da (Tây Tạng),… Mỗi một tầng lầu là một không gian thờ tự mô phỏng các caitya của Phật giáo Nam Á. Kiến trúc Việt Nam hòa kết cả hai xu hướng này, tháp Chăm là Nam Á, còn tháp Đại Việt là Đông Á. Mà tháp Đông Á lại là một dạng địa phương hóa (localisation) trong một nền tảng giao thoa tiếp biến từ văn hóa Nam Á.     Tái lập phong cách kiến trúc Lý từ cột đá chùa Dạm     Khi phục dựng mặt bằng chùa Diên Hựu và kiến trúc một cột thời Lý, chúng tôi dựa trên độ tụ của sử liệu, gồm: các cứ liệu khảo cổ học các tư liệu bi ký, và chính sử. Dựa trên phế tích cột đá chùa Dạm (1086-1094?), văn bia Sùng Thiện Diên Linh và nhiều hiện vật khảo cổ khác, SEN Heritage đã thử tái lập bình đồ Mandala của chùa Diên Hựu (1105) và hình thái kiến trúc Liên Hoa Đài thời Lý với hình dáng một lầu hoa sen sáu cạnh một cột (Việt sử lược). Còn khi lắp ghép trang trí kiến trúc thì chúng tôi kế thừa các thành quả khảo cổ học tại Hoàng Thành Thăng Long, Chùa Dạm, Chương Sơn, Phật Tích,… Về cơ bản, đó là một cuộc ngược dòng lịch sử để thử đưa ra một giả thuyết tái lập một loại hình kiến trúc đặc thù theo phong cách Lý và theo bối cảnh tư tưởng, cũng như phong khí thời đại.    Từ năm 2012-2013, tôi cho rằng, việc tái lập, phỏng dựng chùa Diên Hựu thời Lý buộc phải sử dụng, kế thừa các thành tựu khảo cổ học thời Lý. Trong đó hiện vật quan trọng nhất là cột đá chùa Dạm có niên đại khoảng 1088-1094. Để phản biện lại quan điểm cột đá này là một linga (sinh thực khí nam) mang ảnh hưởng văn hóa Chăm, văn hóa Nam Á, tôi cho rằng: một ngôi chùa Phật phải được xây dựng trên tư tưởng triết học Phật giáo. Nếu đó là một linga thuộc văn hóa Hindu giáo tượng trưng cho thần Shiva, thì đó là một sai nhầm cơ bản trong nghiên cứu biểu tượng học tôn giáo. Mặt khác, một ngôi chùa Phật giáo Hoàng gia nhà Lý (sử dụng hệ tư tưởng trong Hán tạng bắc truyền như Hoa nghiêm kinh,…) khó có thể sử dụng một biểu tượng của Hoàng gia Champa- kẻ thù đối địch của mình ở phương Nam. Lưu ý thêm là Đại Việt và Champa đã có những cuộc chiến giằng co trong các năm 1044, 1069, 1074-1075, 1104. Các tù binh nô lệ bắt được trong các giai đoạn này (ở cả hai phía: tù binh Champa ở Đại Việt, và tù binh Đại Việt ở Champa), nếu có tham gia xây dựng chùa tháp, thì có lẽ chỉ được dùng làm phu khuân vác, phu đóng gạch,… chứ khó có thể trở thành tổng công trình sư của Hoàng gia Đại Việt. Dựa trên khảo sát hệ thống lỗ ngàm, rãnh dầm chịu lực,… của cột đá chùa Dạm, tôi cho rằng cột đá chùa Dạm là hiện vật duy nhất còn sót lại của phế tích kiến trúc một cột thời Lý- đồng dạng về loại hình kiến trúc với tháp một cột ở chùa Diên Hựu.    Từ 2013- 2017, tôi thử đặt nhiều giả thuyết khác nhau để tính toán các phương án kĩ thuật, hình thái kiến trúc của tháp một cột thời Lý. Các giả thuyết bao gồm: (1) tháp vuông 1 tầng mái; (2) tháp vuông 2 tầng mái; (3) tháp vuông 3 tầng mái; (4) tháp lục giác 1 tầng mái; (5) tháp lục giác 2 tầng mái; (6) tháp lục giác 3 tầng mái; (6) tháp bát giác 1 tầng mái, (7) tháp bát giác 2 tầng mái (8) tháp bát giác 3 tầng mái; (9) tháp tròn 1 tầng mái, (10) tháp tròn 2 tầng mái (11) tháp tròn 3 tầng mái. Năm 2015, tôi nhờ Đào Xuân Ngọc vẽ giúp các phương án chồng mái của tòa điện vuông (xem hình trên). Sau khi cân nhắc, tôi tạm gác lại các phương án 2 mái và 3 mái vì nó nặng nề, khó khả thi; và các phương án tròn và bát giác được đặt xuống vị trí thứ yếu, vì cũng chưa có sử liệu. Chỉ còn lại hai phương án là vuông và lục giác. Phương án vuông thì dễ được chấp nhận nhất vì kiến trúc vẫn còn từ cuối thế kỷ 19 đến nay, và đã trở thành biểu tượng lịch sử, tạo cảm giác thân quen, gần gũi. Phương án này đã được hiện thực hóa trên tờ bìa của sách Kiến trúc một cột thời Lý (2013). Đến năm 2017, tôi thiên về giả thuyết lục giác vì ba lý do như sau. (1) cột đá chùa Dạm có 6 lỗ ngàm, mỗi lỗ có số đo là 17x17x34cm ; (2) các lỗ ngàm này tạo thành 6 cung đều trên phần bạt tròn ở gần đỉnh cột, (3) Việt sử lược có mô tả về một loại lầu chuông một cột hoa sen 6 cạnh (độc trụ lục giác liên hoa chung lâu 獨柱六角蓮花鐘樓) trong Hoàng thành Thăng Long triều Lý. Từ đó, tôi và Đào Xuân Ngọc đã cùng thảo luận và phác thảo bản vẽ kĩ thuật của hình thái kiến trúc 6 cạnh này (bản này hiện chưa công bố). Ý kiến này đã được tôi đề cập trên trang cá nhân và được Hiệu Sicula và Duy Nguyễn mô họa, và công bố online ngay trong năm đó. (xem hình dưới). Điểm đáng chú ý là bản vẽ này có sự phát triển về nhận thức khi áp dụng hệ thống đấu củng truyền thống của Lý trên cơ sở của hiện vật khảo cổ học và một số di tích cổ hiện tồn, đây là đóng góp riêng của hai tác giả- thành viên của SEN Heritage nay.       Phế tích cột đá chùa Dạm, năm 2014. Ảnh: Trần Trọng Dương.    Phỏng dựng giả thuyết lục giác. Hiệu Sicula, Duy Nguyễn (2017).   Với luận điểm rằng, chùa Diên Hựu có mặt bằng mandala đồng tâm đa tầng bốn hướng mô phỏng một tiểu vũ trụ theo thế giới quan Phật giáo, tôi cho rằng, tháp một cột – Liên Hoa Đài thời Lý là một hiện thực hóa ngọn núi Tu Di (Tô Mê Lô). Một tiểu vũ trụ có cấu trúc cửu sơn bát hải (chín núi tám biển), trong đó núi Tu Di nằm ở trung tâm, tám vòng núi và tám vòng biển lần lượt mở rộng ra thành một bình đồ mandala vũ trụ. Núi Tu Di bản thân nó đã mang hình một bông sen, nếu nhìn trên bình đồ của cửu sơn bát hải, chúng ta có thể thấy đó là một đồ hình hoa sen trong hoa sen. Hoa sen là thế giới, và thế giới nở ra trong hoa sen. Cho nên đồ hình núi Tu Di – hoa sen vũ trụ đó được nhà Phật định danh bằng khái niệm “Liên Hoa Tạng Thế Giới”. Giới thiệu như vậy để thấy rằng, Liên Hoa Đài một cột thời Lý là sự hiện thực hóa ngọn núi Tu Di huyền thoại bằng nghệ thuật kiến trúc. Và bình đồ của Diên Hựu cùng các tầng đá chạm sóng nước núi non kè dưới chân tháp một cột chính là sự hiện thực hóa đồ án cửu sơn bát hải trong Hoa nghiêm kinh và nhiều kinh điển Phật giáo khác. Motif cửu sơn bát hải là một mã nghệ thuật hằng xuyên của mĩ thuật Lý-Trần. (Trần Trọng Dương 2015)      Tháp một cột, trung tâm của chùa Diên Hựu. Nguồn: Sen Heritage     Đến bản VR3D Diên Hựu: số hóa một giả thuyết     Trước nay việc phỏng dựng di tích cổ hầu như không đạt được nhiều kết quả do thiếu thốn tư liệu và hạn chế về khoa học kỹ thuật. Các cuộc khai quật khảo cổ học trong nhiều chục năm qua đã phát lộ hàng trăm ngàn hiện vật và hàng triệu mảnh vỡ. Từ những mảnh vỡ ấy, các nhà nghiên cứu mới có thể so sánh đối chiếu và tái lập các giả thuyết khác nhau. Việc tái lập một bình gốm cổ từ các mảnh vỡ vốn đã khó khăn, còn phục dựng tổng thể mặt bằng một di tích, cùng các đơn nguyên kiến trúc, hình thái kiến trúc, trang trí kiến trúc, cấu kiện kiến trúc và hệ thống đồ tượng của một di tích nào đó thì gần như chưa được thực hiện. Dù khó khăn, nhưng công việc này cũng đã được thực hiện đây đó bằng các bản vẽ phỏng dựng, như Nguyễn Bá Lăng vẽ tháp chùa Trò, Nguyễn Anh Tuấn vẽ mô phỏng tháp Phật Tích, tái lập sư tử tòa cho tượng A Di Đà thời Lý. Gần đây hơn nữa là mô hình tháp đất nung tại Bảo tàng Quảng Ninh được thực hiện bởi nhóm Nguyễn Văn Anh. Năm 2018, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế đã thực hiện bản số hóa VR3D tổng thể cung điện thời Nguyễn trong dự án “Đi tìm Hoàng cung đã mất”. Đây là đột phá mới trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào phục hồi di sản, và tái dựng các không gian kiến trúc cổ đã mất.    Dự án “Bước vào lịch sử: chùa Một Cột và công nghệ thực tế ảo” của SEN Heritage là sản phẩm đầu tiên thực hiện phỏng dựng tổng thể kiến trúc chùa Diên Hựu theo phong cách Lý, với niên đại 1105. Mặt bằng tổng thể chùa Diên Hựu và hình thái tháp một cột dựng theo các giả thuyết mà tôi đã nêu ở trên. Từ bi kí, hiện vật khảo cổ đến bản vẽ phỏng dựng 2D là một quá trình lao động, suy ngẫm, cân nhắc giữa các giả thuyết. Từ bản vẽ 2D đến bản VR3D lại là một quá trình khổ công khác của hơn chục con người. Khởi đầu từ concept ý tưởng, sau đó hiện thực hóa bằng concept kỹ thuật, dựng model, đặt lưới – bỏ lưới, tỉa từng chi tiết, lắp ráp từng cấu kiện, từng bộ đấu củng – rường – cột, lắp ráp các họa tiết trang trí mĩ thuật, tất cả đều phải có thông số kỹ thuật, rồi cuối cùng chạy render, xuất file, dựng phim, xuất ảnh… Mọi số liệu đều chạy từ các số liệu đo đạc cột đá trung tâm: cột đá chùa Dạm. Nhóm đã tiến hành phỏng dựng các đơn nguyên kiến trúc sau: tượng Thích Ca, tháp một cột ở trung tâm, hoàn lang quanh ao Linh Chiêu, năm cầu bắc qua các ao, hành lang giải vũ quanh ao Bích Trì, bốn tòa điện Tứ Thiên Vương, tám tháp lưu ly, hai tháp bạch manh, các đèn đá đặt ở các không gian, lầu chuông Quy Điền,… Còn nếu thống kê các chi tiết của các đơn nguyên kiến trúc trên thì con số lên đến hàng nghìn đơn vị.         Đầu đao và ngói ống lá đề- hoa sen, thời Lý Trần. Nguồn: Bùi Minh Trí.  Về mặt khoa học, mọi chi tiết phỏng dựng hay tái lập đều phải xuất phát từ hiện vật khảo cổ, tư liệu chữ viết và tư liệu hiện tồn tại di tích. Vì niên đại xác định của Diên Hựu là 1105, nên chúng tôi đã sử dụng khoảng 10 năm điền dã và xử lý tư liệu gốc. Tiêu chí tái lập và mô phỏng là sử dụng các hiện vật có niên đại Lý, mang phong cách Lý, mang đặc trưng Phật giáo, có các đặc điểm tạo hình của hoàng gia. Trong đó chú trọng các hiện vật có niên đại từ 1121 trở về trước, và châm chước sử dụng một số tư liệu đời sau, bởi ta biết Lý – Trần là hai triều đại có kế thừa và ảnh hưởng về phong cách cũng như kỹ thuật xây dựng. Về bộ mái, chúng tôi kế thừa kết quả và thành tựu khảo cổ học tại hoàng thành Thăng Long của Viện Khảo cổ và Viện Nghiên cứu Kinh thành. Các hiện vật được sử dụng để tái lập bộ mái là ngói ống lá đề phủ lưu ly vàng, đầu rồng (xi vẫn trang trí trên nóc mái), ngói nửa lá đề (lá đề lệch), ngói lá đề song long hiến châu, ngói góc đao, đầu đao, tượng nhạn đất nung,… Đây đều là các hiện vật tại hoàng thành Thăng Long. Hiện vật để tái lập trụ một cột đỡ tòa điện và kè đá có đồ án cửu sơn bát hải là cột đá chùa Dạm có niên đại 1094. Hiện vật để tái lập tượng Thích Ca là tượng Phật chùa Phật Tích (1057). Cột đá Bách Thảo phong cách Lý giữa thế kỷ 11 (Ngọc Hà, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia- BTLSQG) dùng để tái lập chân đèn. Tòa sen nghìn cánh của tháp một cột sử dụng đồ án trang trí tại các ngưỡng sen tu di tòa chùa Phật Tích, chùa Chương Sơn, và cửu phẩm liên hoa của Tịnh độ tông Việt Nam. Tảng trụ thì dùng hiện vật tại chùa Phật Tích (BTLSQG). Tám tháp lưu ly phỏng dựng theo mô hình tháp đất nung (BTLSQG): nguyên bản chỉ còn 4 tầng, chúng tôi phục dựng thêm 3 tầng đã mất. Đấu củng tiếp thu từ một số mô hình tháp đất nung, và cấu kiện gỗ chùa Bối Khê. Ca Lâu La (Garuda) và rồng đầu dư kế thừa từ trang trí kiến trúc chùa Bối Khê… Các chi tiết cụ thể khác đã được chúng tôi trình bày và hiện thực hóa trong các sản phẩm đã công bố, tạm không nêu hết được ở đây.      KTS Đinh Anh Tuấn (thứ hai từ trái sang) đang hướng dẫn khách tham quan “bước đi” trong VR3D Diên Hựu.     Kết quả của dự án bao gồm các sản phẩm sau: bản thiết kế kỹ thuật 3D các đơn nguyên kiến trúc trong chùa Diên Hựu, phim 3D, bản VR3D của mandala Diên Hựu, bản mockup hình thái kiến trúc và cấu kiện kiến trúc của tháp một cột, các sản phẩm hiện thực hóa từ bản phỏng dựng để phục vụ du lịch, trưng bày bảo tàng,… Điểm quan trọng nhất của dự án là công nghệ 3D, VR3D và AR đã giúp cho các nhà khoa học có thể hiện thực hóa giả thuyết của mình như thực trong một không gian ảo. Không gian tuy là ảo nhưng được xây dựng từ các số liệu thực, hiện vật thực,… khiến cho các học giả cũng như công chúng có thể trải nghiệm và góp ý, phản biện cho việc điều chỉnh giả thuyết. Các sản phẩm này vừa là số hóa các mảnh vụn di sản rời rạc vào một hệ thống tái lập và phỏng dựng, nhằm phục vị việc lưu trữ dữ liệu, bảo tồn văn hóa, trùng tu- phỏng dựng phế tích, quảng bá di sản văn hóa thời Lý đến với xã hội đương đại. Các sản phẩm này có thể ứng dụng cho nhiều hoạt động khác nhau, từ nghiên cứu, diễn họa, mô phỏng giả thuyết khoa học, trưng bày bảo tàng, thuyết minh bảo tàng, đến ứng dụng cho du lịch, giáo dục và đào tạo di sản, quảng bá văn hóa truyền thống trong hệ thống giáo dục các cấp. Sản phẩm VR3D có thể sử dụng như là phim trường ảo, sản xuất phim 3D, sản xuất các phần mềm game lịch sử, và có thể hướng đến phục dựng trên một không gian ngoài thực tế. VR3D chùa Diên Hựu giúp người xem có thể ngược dòng thời gian 800 năm, để bước đi trong không gian chùa tháp hoàng gia thời Lý. Sản phẩm chính của dự án giúp các thế hệ người Việt của thế kỷ XXI có thể trải nghiệm những nét đẹp vàng son xưa cũ trong một không gian thực tế ảo với công nghệ VR và AR. Nếu như công nghệ VR có thể giúp người xem có thể dạo bước trong không gian cổ, thì công nghệ AR có thể đặt các kiến trúc cổ ra ngoài không gian thực tại. □  Mặc dù, tất cả các sản phẩm trên đây mới chỉ là số hóa từ một giả thuyết cho trường hợp chùa Diên Hựu, mặc dù sản phẩm này vẫn đang tiếp tục chỉnh sửa các chi tiết, cập nhật các thành tựu mới, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, và hiện thực hóa giả thuyết khác… Các sản phẩm này đã công bố online, để có thể làm giáo cụ cho các chương trình giảng dạy về kiến trúc Lý, mỹ thuật Lý, và lịch sử văn hóa Việt Nam, cũng như quảng bá những giá trị văn hóa thời Lý đến với xã hội đương đại.  ————  Tài liệu tham khảo:  Trần Trọng Dương. Truy tìm loài thú lạ trên mái chùa Một Cột. TC Tia Sáng, số tháng 03/2012.  Trần Trọng Dương. Chùa Một Cột không phải là chùa! TC Tia Sáng, số tháng 04/2012.  Trần Trọng Dương. Biểu tượng núi vũ trụ Tu Di- Meru trong văn hóa Việt Nam và châu Á. TC Nghiên cứu Mỹ thuật.  06/ 2012. tr.23-36.  Trần Trọng Dương. Từ thế giới quan Phật giáo, khảo về kiến trúc một cột tại chùa Diên Hựu đời Lý. TC Nghiên cứu và Phát triển. Huế. 11-2012.  Trần Trọng Dương. Cột đá chùa Dạm có phải là linga? TC Tia Sáng. Số 21.05-11-2012, tr.50-53.  Trần Trọng Dương (khảo chính), Kiến trúc một cột thời Lý, NXB Hồng Đức, TP.HCM. 2013.  Trần Trọng Dương. Biểu tượng sóng nước và núi non trong mỹ thuật thời Lý- Trần . TC Nghiên cứu Mỹ thuật. 01/2015.  Trần Trọng Dương, Đào Xuân Ngọc. Typology of the Mandala Buddhist Architechture of the Lý Dynasty from Writings on Stelas and Archeological Findings. Vietnamese Studies 3/2017. Tr.5-23.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Từ các bức họa hàng thế kỷ tuổi đời: Sự tiến hóa của cây trái      Một cách tiếp cận liên ngành độc đáo với sự hợp tác của nhà sinh học và sử học đã ‘bắt’ các tài liệu nghệ thuật kể về sự thuần hóa các loài cây cỏ như cà rốt, lúa mì, dưa hấu và các loại gia vị.      Bức “Fruit Stall” (Quầy trái cây), một kiệt tác thời kỳ Baroque của họa sĩ Bỉ Frans Snyders. Nguồn: wiki.  Trong Fruit Stall (Quầy trái cây), một kiệt tác thời kỳ Baroque của họa sĩ Bỉ Frans Snyders, điểm đặc biệt của nó là dù có sự xuất hiện của con người, một bà chủ hàng đang cầm đĩa đào chín mời khách, rõ ràng thuộc tầng lớp khác, đang săm soi một trái, một chú chó cảnh sủa nhặng xị, một con khỉ nghịch ngợm vật nghiêng giỏ đào trước cái nhìn tò mò của một con sóc nhưng nét hấp dẫn nhất không phải là họ. Thu hút ánh nhìn bậc nhất là sự phong phú ê hề của một dãy đầy ấn tượng những sản vật xuất hiện khắp trong các giỏ và đĩa được đặt trên một cái bàn gỗ lớn.   Ngày nay, chúng ta có thể nhận ngay ra được một vài loại hoa quả trong số đó, ví dụ những chùm nho xanh tràn miệng giỏ nằm ở giữa bàn. Nhưng những thứ hoa quả khác, trong đó có một loại quả vỏ xanh bị cắt làm đôi, phô ra lớp thịt quả màu trắng và điểm những hạt đen dường như ít quen thuộc hơn. Do đó, câu hỏi ‘Chúng xuất hiện trên bàn ăn từ khi nào?’, ‘Ngày nay chúng có còn tồn tại trên thế giới này?’ thường nảy ra trong óc mọi người khi xem tranh.  Những câu hỏi thật khó trả lời, nếu chỉ tìm manh mối từ những bức tranh. Rất may là cuộc trao đổi giữa Ive De Smet, nhà di truyền học thực vật làm việc tại Trung tâm Sinh học các hệ cây trồng VIB-UGent và David Vergauwen, nhà sử học nghệ thuật trường Đại học Vrije Brussel, đã dẫn chúng ta đến một phần đáp án của những câu hỏi như vậy. Kết quả nghiên cứu của họ lần lượt được xuất bản trên Trends in Plant Science, tạp chí của nhà xuất bản Cell Press, “Watermelons versus Melons: A Matter of Taste” (Dưa hấu và dưa: Một vấn đề của khẩu vị), “Genomes on Canvas: Artist’s Perspective on Evolution of Plant-based Foods” (Các hệ gene trên toan vẽ: Góc nhìn của họa sĩ về sự tiến hóa của thực phẩm từ thực vật).     Những câu hỏi thú vị ban đầu  Thông thường, nhà di truyền học thực vật tìm hiểu lịch sử cây trồng mà chúng ta ăn thông qua việc giải mã các hệ gene của các loại cây tổ tiên với các mẫu vật hiếm và được bảo quản tốt. “Các hệ gene của những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật có thể giúp chúng ta hiểu những gì khiến cây cối có hình dạng như ngày nay, ví dụ màu sắc bắt nguồn từ những hoạt động trao đổi chất, và những đặc tính có thể có, ví dụ như vị ngọt. Hệ gene có thể giúp xác định được sự xuất hiện của các đặc tính nhất định theo mốc thời gian, giống như các bức họa”, De Smet cho biết.      Tranh tường trong lăng mộ của Nakht cho thấy những vật phẩm từ cây trái ở Ai Cập giữa những năm 1410 và 1370 trước Công nguyên. Nguồn: Wiki.  Cách tiếp cận này thường gặp thách thức là tồn tại những khoảng trống trong mốc thời gian như khi nào và ở nơi nào, các loài cây cỏ hoa trái, ngũ cốc hiện đại ngày nay đã tiến hóa. “Đó là những điều nằm ngoài tầm với của tôi”, Ive De Smet cho biết trên thông cáo báo chí của Cell Press. “Chúng tôi có thể có một số mã di truyền của một vài loài thực vật cổ xưa nhưng thông thường các mẫu lại không được bảo quản tốt. Vì vậy, việc nhìn vào các tác phẩm nghệ thuật cũng có thể giúp chúng tôi thấy một số loài trên bản đồ thời gian và dò theo sự tiến hóa của chúng”.  Tuy nhiên việc dựa vào nguồn tài liệu này chưa hẳn đã hoàn hảo, cần có thêm một vài nguồn khác để có thêm miếng ghép hoàn chỉnh bức tranh. Câu chuyện này bắt đầu từ một chuyến tham quan đi chơi riêng của họ ở Bảo tàng nghệ thuật Hermitage, thành phố St. Petersburg, Nga vài năm trước đây. Khi đứng trước một bức tranh, chúng tôi đều không nhận ra một vài loại trái cây. Vergauwen hỏi tôi đó là quả gì và tôi trả lời là mình không rõ và thậm chí còn cho rằng có thể do họa sĩ thiếu tài năng. Tuy nhiên, anh ấy nói, bức tranh này là một trong những kiệt tác của thế kỷ 17. Vì vậy, nếu loại quả đó được miêu tả như thế nào thì nó đúng phải là như thế”, De Smet kể lại với CNN.   Một câu hỏi được đặt ra là liệu thứ quả không rõ tên này ngày nay như thế nào? Thậm chí, sau khi rời Hermitage, trên một chuyến tàu tới Tsarskoye Selo, một bảo tàng khác ở St. Petersburg, băn khoăn lại dấy lên thành một thảo luận khác là liệu những loại hoa trái hiện đại như thế nào vào thế kỷ 17. Cuộc thảo luận đã khơi mở cho hai nhà nghiên cứu cùng bắt tay vào một cuộc phiêu lưu độc đáo, kết hợp kiến thức di truyền học thực vật với thông tin từ những bức tĩnh vật có tuổi đời hàng thế kỷ. Bằng cách đó, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng họ có thể tạo ra được một mốc thời gian trực quan về quá trình thuần hóa cây cối của con người. “Chúng tôi bắt đầu thực hiện một số cuộc ‘đào bới’ vào tài liệu nghệ thuật và tôi cho rằng, chúng tôi sẽ còn không ngừng làm việc đó”, De Smet nói với ZME Science. “Một số người bạn thường câu cá hoặc chơi quần vợt cùng nhau, tôi và David tới các viện bảo tàng, gặp gỡ các học giả khác, nhìn vào các bức họa và nghiên cứu về lịch sử của thực phẩm hiện đại của chúng ta”.  Truy dấu nguồn gốc cỏ cây  Các tác phẩm nghệ thuật miêu tả chi tiết các loại cây trái thật hữu dụng cho các nhà nghiên cứu bởi chúng cho thấy các quá trình biến đổi từng bước một mà qua đó, con người đã dày công lai tạo các loài cây hoang dại thành các loại hoa quả thơm ngon cũng như thời điểm các loại thực phẩm xuất hiện ở những phần khác nhau của thế giới. “Chúng tôi quan tâm chủ yếu đến câu chuyện loài cà rốt hiện đại thật ra ‘xuất thân’ từ một loài cỏ dại ít được biết đến và biến đổi thành một loại cây ăn củ phổ biến màu cam dưới hình thức như hiện nay,” De Smet giải thích với CNN.   Nghệ thuật cho phép các nhà nghiên cứu tìm lại những ngả đường tiến hóa của nhiều loại thực phẩm khác như cà chua, bắt nguồn từ nỗi sợ hãi có thể có độc trong suốt thế kỷ 16 nhưng cuối cùng trở thành nguyên liệu chủ lực của các căn bếp Ý thế kỷ 19. Cà chua có nguồn gốc từ Peru, và hiện những tổ tiên hoang dại của chúng vẫn còn được tìm thấy ở đó. Nhà nông học Ý Isabella Dalla Ragione cũng có nỗ lực tương tự khi sử dụng các bức họa Phục Hưng để tái khám phá những loại quả và rau đã thất truyền. Bà đã tìm đến những cánh đồng đã bị hoang hóa, nơi có thể bắt gặp những hậu duệ của nó đã bị ‘bỏ rơi’ theo thời gian vì nhiều lý do, ví dụ lớn quá chậm hoặc không phù hợp với lối thu hoạch hiện đại. Tuy nhiên, nghiên cứu của De Smet và Vergauwen lại hơi khác một chút: họ tìm về tổ tiên của cây cỏ.        Bức “The Garden of Earthly Delights” (Khu vườn lạc thú trần tục) do Hieronymus Bosch vẽ. Nguồn: CNN.  Để làm được điều đó, De Smet và Vergauwen đã lục lại một số tác phẩm nghệ thuật cổ xưa bậc nhất, những bức họa Ai Cập cổ đại có khắc họa các quả dưa hấu với những đường kẻ màu xanh lá cây sẫm và sáng tương tự như hậu duệ của chúng ngày nay. Các phân tích di truyền của lá dưa hấu may mắn tìm thấy trong một hầm mộ Ai Cập cũng cho thấy vị của quả dưa cách đây khoảng 4000 năm giống như dưa chuột, đó là những gì Vergauwen và De Smet phát hiện ra.  Dẫu các bức họa đều có thể trao cho hai nhà nghiên cứu những quan sát trực quan về các loại rau quả và nơi chúng được tìm thấy trong quá khứ nhưng cách tiếp cận này còn phải đối diện với một vài vấn đề mà cần có sự hỗ trợ của lịch sử nghệ thuật như đặc trưng và phong cách nghệ sĩ sẽ ảnh hưởng như thế nào tới việc mô tả cây cỏ. Ví dụ cảnh chợ của Snyders dù miêu tả sự phong phú của các loại hoa trái thì chúng cũng phải được thu hoạch trong cùng một mùa và đúng như hình thái thực của chúng. Các tác phẩm của Jan Van Eyck (thế kỷ 15) cũng mang sắc thái tương tự như đồng nghiệp Hà Lan thế kỷ 17 này, “lối miêu tả của họ hoàn toàn đáng ngưỡng mộ”, các tác giả viết như vậy trong công bố của mình. “Những nghệ sĩ này có thể được coi là đáng tin cậy vì những chi tiết mà họ đưa ra có thể kiểm chứng được ở nơi khác. Nếu một họa sĩ mô tả một tòa nhà vẫn còn ở đó ngày nay hoặc một nhạc cụ hiện đang có trong viện bảo tàng và cả hai trường hợp, anh ta tái hiện nó y thật thì không có lý do gì để cho rằng họa sĩ đó có một thói quen làm việc khác biệt khi vẽ hoa quả, cây trái”.   Không thể thấy điều đó trong tác phẩm hiện đại như Bowl of Fruit, Violin and Bottle của Pablo Picasso vẽ năm 1914 bởi sự mơ hồ khiến các nhà nghiên cứu chỉ tìm được một ít thông tin về trái cây xuất hiện trong bức tranh. “Nếu quan tâm đến việc xác định loại quả hoặc rau cỏ trên thực tế như thế nào và dùng tranh của Picasso làm điểm tham chiếu thì anh có thể mắc sai lầm”, Vergauwen giải thích. “Rất khó để giải thích hoặc diễn dịch một số hình ảnh bởi phong cách nghệ thuật quá mơ hồ”. Điều này không chỉ có trong tranh của Picasso mà còn xuất hiện ở nghệ thuật Ai Cập cổ đại, và các họa sỹ bậc thầy Old Masters, những người sống trước năm 1800, ví dụ như “The Garden of Earthly Delights” (Khu vườn lạc thú trần tục) do Hieronymus Bosch vẽ quãng năm 1503–1515 đã miêu tả những trái dâu tây một cách chính xác về hình thái nhưng kích thước của chúng rõ ràng lại vượt so với tỷ lệ thực.     Bức Bowl of Fruit, Violin and Bottle của Pablo Picasso vẽ năm 1914  “Việc tìm kiếm thông tin qua các bức họa và những hình thức nghệ thuật khác dĩ nhiên là một hướng thu hút”, Esther van der Knaap, một nhà sinh học thực vật tại trường Khoa học nông nghiệp và môi trường Đại học Georgia, nói với CNN về vai trò của lịch sử nghệ thuật trong những nghiên cứu như vậy. “Dù không hoàn hảo thì lịch sử nghệ thuật cũng góp thêm một số cái nhìn vào những đặc điểm nghệ thuật rất quan trọng trong vài thế kỷ trước.”  Để đo lường sự chính xác của một bức họa trong miêu tả các loại hoa quả, De Smet và Vergauwen sử dụng hoa hồng như một điểm tham chiếu. Các bông hoa đã được thuần hóa từ khoảng 5.000 năm trước và những bước đưa loài hoa dại này thành loài cây trồng làm cảnh và chưng chất tinh dầu đều được ghi chép đầy đủ.   Cách tiếp cận này lập tức chứng tỏ có nhiều biến đổi chung của rau cỏ và hoa trái so với thời kỳ trước khi có lĩnh vực di truyền hiện đại. “Trái cây mà chúng ta thấy trong các siêu thị không nhất thiết ra đời từ các thao tác sinh học phân tử. Điều này có thể xảy ra thường xuyên với những biến đổi tự nhiên đã tồn tại hàng thế kỷ”, De Smet rút ra kết luận.    Hai nhà nghiên cứu Vergauwen và De Smet (bên trái).    Tuy nhiên việc sử dụng nghệ thuật để dò theo sự tiến hóa của hoa trái cũng còn có một số thách thức khác. Các nhà nghiên cứu cho biết, các bộ sưu tập online của phần lớn các bảo tàng thường “chỉ cung cấp mỗi cái tên tác phẩm và đoạn ngắn mô tả đi kèm cùng một số bức ảnh chụp lại tác phẩm ở kích thước rất nhỏ” khiến cho thật khó khăn để có thể nhận diện được những bức họa mình cần. Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm nghệ thuật quan trọng lại thuộc về những bộ sưu tập cá nhân mà họ cũng không thể tới tìm hiểu với tư cách cá nhân. “Ví dụ nếu có một bức họa cà chua thú vị của thế kỷ 17 trong gian bếp của một tu viện Tây Ban Nha không bao giờ mở cửa cho khách tham quan thì chúng tôi không thể tìm được”, De Smet nói với ZME. “Đó là lý do giải thích vì sao chúng tôi cần sự giúp đỡ”. Dự án nhỏ #ArtGenetics của họ với một ứng dụng và cơ sở dữ liệu công khai được đưa ra trong quá trình nghiên cứu đã giúp họ giải quyết khó khăn.  “Đó chính là vẻ đẹp của việc thực hiện nghiên cứu ngày hôm nay”, De Smet trả lời CNN. “Công cụ huy động vốn đám đông sẽ cho phép truy cập vào rất nhiều dữ liệu nhanh hơn việc chúng tôi có thể đến từng bảo tàng”. □  Tô Vân tổng hợp  Nguồn:   https://www.cell.com/trends/plant-science/fulltext/S1360-1385(20)30192-8?utm_source=EA  https://www.eurekalert.org/pub_releases/2020-07/cp-aba070920.php  https://edition.cnn.com/style/article/artgenetics-food-history-study-wellness-scn/index.html  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/how-paintings-can-teach-us-about-evolution-food-180975381/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ cậu bé rửa bình thí nghiệm đến cha đẻ của Inox      Việc Harry Brearley được coi như người phát hiện ra thép không gỉ chủ yếu là do may mắn, nhưng việc ông được ghi nhận là cha đẻ của nó chính là do sự nỗ lực của ông.    Vào một ngày năm 1882, Harry Brearley – một cậu bé 11 tuổi gầy gò với mái tóc đen – lần đầu bước vào một xưởng sản xuất thép. Harry là một cậu bé nhút nhát, sợ bóng tối và kén ăn, nhưng đầy tò mò và cuộc cách mạng công nghiệp ở Sheffield (Anh) đã mở ra một cơ hội để thỏa mãn trí tò mò của cậu. Harry thích đi lang thang xung quanh thị trấn, xem người ta xây dựng đường, trát vữa, sơn tường, giao than, thái thịt, xay bột… Cậu có hứng thú đặc biệt với các xưởng: nếu cậu không thể nhìn rõ từ ngoài, cậu sẽ gõ cửa xin vào tận bên trong. Các nhà máy còn hấp dẫn cậu hơn nữa, và thậm chí Harry đã cố gắng tiếp cận bằng cách giao đồ ăn hoặc giả vờ giao đồ ăn cho thợ làm việc trong xưởng. Cậu ngồi hàng giờ trên những đống than lớn, say mê ngắm nhìn những người thợ đẩy nhiên liệu vào lò, đập những thỏi sắt trắng nóng và thử độ dẻo dai của thành phẩm, một công đoạn mà Harry đặc biệt thích. Sau phép thử, kim loại sẽ được quyết định là cực phẩm (darned good stuff – D.G.S) hay là phế phẩm. Mục tiêu của tất cả những người làm việc trong xưởng thép chính là sản xuất ra D.G.S – và đó là điều Harry luôn ghi nhớ.  Những lần dạo chơi trong xưởng thép thuở thơ ấu chính là điểm khởi đầu cho một cuộc đời dành trọn cho thép, mà không một chút phân tâm bởi các thú vui, các kì nghỉ hay các buổi lễ tại nhà thờ. Ông đã viết tám cuốn sách về kim loại, năm trong số đó có từ “thép” trong tiêu đề. Ông có thể dành cả đêm để tranh luận về việc chế tạo thép, và sự đam mê mà ông dành cho thứ kim loại này vượt quá cả tình cảm gắn bó mà ông dành cho bố mẹ, vợ hay con trai. Thép mới chính là tình yêu đích thực của Harry, và chẳng có gì lạ khi rồi chính ông sẽ phát hiện ra thép không gỉ.   Trợ lý khoa học từ năm 12 tuổi  Harry Brearley sinh ngày 18 tháng 2 năm 1871, và lớn lên trong một căn nhà nhỏ, chật chội trên đường Marcus, trên một ngọn đồi ở Sheffield. Thành phố là thủ đô sản xuất thép thế giới; năm 1850, các nhà sản xuất thép của Sheffield sản xuất một nửa số lượng thép ở châu Âu và 90% thép ở Anh.Trong nửa đầu thế kỷ 19, khi Sheffield nổi lên, dân số thành phố tăng gấp 5 lần. Ngôi nhà mà Harry lớn lên khá khiêm tốn với phòng khách rộng chỉ 10 feet vuông, và đôi khi những đứa trẻ phải đứng vì không có đủ ghế. Không có sách, hoặc hình ảnh, hoặc đồ chơi; không có chỗ cho bàn làm việc. Nhà Brearley rất nghèo, dù họ không phải chịu cảnh đói nhưng họ cũng không xa cái ngưỡng đó là bao. Sau giờ học, Harry phải đi làm việc phụ giúp gia đình, và nhặt những viên than rơi ra từ tàu hỏa mang về cho mẹ. Không có tiền mua sách, cậu phải mượn từ thư viện và sao chép toàn bộ bằng tay. Rời khỏi trường học năm 11 tuổi và theo luật là đủ tuổi làm việc (trừ những việc trong nhà máy), nhưng trí tò mò và tinh thần học tập của cậu bé sáng dạ vẫn còn nguyên vẹn.  Vì vậy Harry không hài lòng với những công việc đầu tiên của mình. Cậu dành ba ngày trong cửa hàng ủng của Marshalnd với việc bê đồ và đánh xi giày từ 8h sáng đến 11h tối, và căm ghét nó; dành một tuần trong xưởng đúc sắt của Moorwood, và sáu tuần khi làm phụ việc cho một bác sĩ, và ba tháng trong xưởng sản xuất thép Thomas Firth&Sons trước khi bị sa thải vì vi phạm quy định lao động.  Nhưng rồi bước ngoặt cũng đến khi Harry được thuê vào làm công việc rửa ống nghiệm trong phòng lab của nhà hóa học James Taylor. Cậu bé Harry choáng ngợp khi lần đầu tiên nhìn thấy nhiều chai lọ đến mức cậu tưởng đây là quán rượu. Mặc dù lúc đầu công việc khá tẻ nhạt với Harry, mẹ cậu đã thuyết phục được cậu ở lại và chẳng bao lâu sau, cậu trở thành đệ tử của Taylor khi 12 tuổi.  Taylor bắt đầu đào tạo Harry bằng cách dậy cậu về số học (cậu tự mua sách) và rồi đại số (Taylor tặng Harry cuốn sách này – cậu tự hào mang về khoe với cả nhà và không bao giờ quên ơn người thầy của mình). Dưới bàn tay của Taylor, Harry đã học được cách xử lý các loại gỗ, sơn hàn, thổi thủy tinh, đóng sách và làm việc với kim loại. Trong khi bạn bè còn đang rong chơi, Harry đã học được những kỹ năng mới. Chính điều đó đã truyền cảm hứng cho Harry để tự làm đồ nội thất, khâu giày cho riêng mình và viết báo, với bài đầu tiên được đăng trên tạp chí Windsor, mô tả đặc trưng của các loại mực khi viết trên giấy mà ông thử hàng trăm ví dụ, bài báo tiếp theo có tiêu đề “Tập thể dục bằng cách thổi bong bóng”. Ông cũng tham gia các lớp học ban đêm để học toán và vật lý, dưới sự khích lệ của Taylor.  Khi Harry 20 tuổi, anh thành thạo trong hầu hết các nghề thủ công, mặc dù về mặt chức danh, anh chỉ là một người thợ rửa bình. Phòng thí nghiệm phù hợp với Harry; tại nơi làm việc, một trợ lý thỉnh thoảng hát opera hoặc đọc thơ, trong khi Taylor thường xuyên thảo luận về thực phẩm, kinh tế, giáo dục, chính trị và phúc lợi xã hội. Trong bối cảnh này, Harry trở nên thoải mái với việc tiếp xúc với những người có học thức.  Say vì thép  Sau khi mẹ ông qua đời, Harry Brearley chuyển đến cùng với anh trai Arthur. Cùng năm đó, Taylor rời phòng thí nghiệm để làm việc tại Úc, và Brearley được thăng chức thành trợ lý phòng thí nghiệm. Suy ngẫm về cuộc sống phía trước, Harry quyết định việc học nhiều hơn không dành cho ông. Giống như thép, Harry rất cứng rắn và không hề khoan nhượng với những thứ ông không thực sự muốn.  Harry gặp gỡ và sau đó kết hôn với Hellen, ở tuổi 24. Ông được thăng chức trở thành nhà hóa học phân tích tại phòng thích nghiệm với mức lương 2 bảng một tuần. Gia đình nhỏ của Harry sống chủ yếu bằng bánh mỳ, hành tây và bánh táo, trong một ngôi nhà nhỏ kiểu nông thôn ở phía nam Sheffield, Nhưng trong cuốn tự truyện của mình, Harry hiếm khi nói đến gia đình (ông không nói về vợ, và chỉ thỉnh thoảng nhắc đến đứa con trai duy nhất Leo Taylor Brearley của mình, được đặt theo tên người thầy James Taylor của ông). Nhưng ông nhắc đến một cách say sưa về “tình yêu” của mình: “Tôi yêu công việc của mình, và tôi nghĩ chẳng mấy thứ có thể tốt hơn việc được sống để tiếp tục nó.” Ông đam mê công việc đến mức cảm thấy như say vì nó.  Không để lãng phí một chút thời gian nào, Harry đã dành sáu năm tiếp theo đọc mọi thứ liên quan đến luyện kim, bắt đầu với những tạp chí định kì về hóa học, hiếm khi dừng lại trừ phi để ăn trưa. Tiếp theo ông đọc về Mangan, và tất cả những quá trình mà kim loại này có thể được phát hiện trong thép. Sau đó ông lại đọc về các nguyên liệu khác trong ngành sản xuất thép, và ông ghi lại toàn bộ những gì đã học được. Ông tiếp thu kiến thức một cách cẩn thận và có phương pháp, tích lũy càng nhiều càng tốt. Trong phòng thí nghiệm, bất cứ ai “tiết kiệm” được thời gian có thể hưởng khoản tiết kiệm này theo ý muốn của mình, và do đó sau khi tốn vài giờ cho công việc, Harry dành phần còn lại của ngày vùi đầu vào sách và những thí nghiệm của riêng ông.  Vào cuối những năm 1920, Harry Brearley bắt đầu viết các bài báo kỹ thuật về hóa học và phân tích kim loại cho các ấn phẩm như tờ Tin tức hóa học (Chemical News). Taylor gửi thư từ Úc cho Brearley, đề nghị một công việc liên quan đến khảo nghiệm vàng và bạc. Ông từ chối do đã tạo dựng được danh tiếng về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thép nên ông muốn tiếp tục nó.  Vào mỗi thứ bảy, như một thú vui, ông lại gặp gỡ Fred Ibbotson, một giáo sư ngành hóa học kim loại. Khi đó, Ibbotson sẽ đưa ông vài mẫu kim loại, và thử thách ông trong vòng 10 phút, 20 phút, 30 phút chỉ ra những mẫu kim loại đó chứa các nguyên tố gì. Còn mỗi chủ nhật, ông lại cùng anh trai Arthur làm việc trong phòng thí nghiệm (Arthur phải đi bộ 3 dặm để đến được đó), cùng nhau phân tích đủ mẫu thép để có thể trở nên thành thạo, và đây chính là sự khởi đầu của một mối quan hệ công việc kéo dài đến suốt đời với anh trai của mình. Hai mươi năm sau, hai người cùng viết Thỏi và khuôn Thỏi (Ingots and Ingot Molds), cuốn sách mà Brearley coi như tác phẩm xuất sắc nhất của mình. Hai năm sau đó, khi ông đoạt huy chương vàng Bessemer, giải thưởng cao nhất được trao tặng bởi Viện sắt thép vì những đóng góp xuất sắc cho ngành công nghiệp thép, ông đã dùng cơ hội đó để vinh danh anh trai mình. Cuốn sách thứ sáu của ông được dành riêng cho Arthur, và trong đó, ông gọi anh trai mình là “một người làm việc tốt hơn, một người quan sát tốt hơn và một nhà thực nghiệm tài năng hơn tôi.”  Năm 1901, ở tuổi 30, Brearley được Kayser, Ellison & Co. thuê với tư cách là một nhà hóa học làm việc với các công cụ thép tốc độ cao được Frederick Winslow Taylor phát hiện ra 3 năm trước. Taylor đã nhận ra rằng, cùng một loại thép, nếu nung tới khi đỏ (như màu cherry), sẽ rất cứng, nhưng lại yếu nếu vượt quá nhiệt độ đó. Ông ngạc nhiên khi thấy nếu ông tiếp tục làm nóng cho đến khi chuyển sang màu vàng cá hồi, thép sẽ trở nên siêu cứng.  Năm 1902, Brearley đồng sáng tác cuốn sách đầu tiên của mình với Giáo sư Ibbotson, “Phân tích vật liệu trong nhà máy thép”. Cùng năm đó, ông hợp tác với người bạn cùng làm việc trong phòng thí nghiệm, Colin Moorwood, để tự thành lập một công ty tên là Amalgams Co. Họ phát triển một loại kim loại giống như đất sét độc đáo, và rồi bán cho một doanh nghiệp địa phương. Brearley thường dành hàng giờ với Moorwood để thử nghiệm vật liệu mới, và trong vòng một năm, Ông đã hoàn thành cuốn sách thứ hai của mình, Phân tích khía cạnh hóa học của Uranium (The Chemical Analysis of Uranium).  Khó khăn và tháo bỏ những định kiến  Ngành kinh doanh thép phát triển rất tốt, và Brearley quyết định về làm việc với cương vị một nhà hóa học cho người chủ cũ của mình, Thomas Firth & Sons, mới mua lại một tại nhà máy thép ở Riga- cảng lớn thứ hai của Nga, trên Biển Baltic – để sản xuất thép cho thị trường khổng lồ của Nga mà không phải trả tiền thuế xuất khẩu. Arthur Brearley cũng sẽ tham gia làm việc tại nhà máy, và Moorwood sẽ là giám đốc. Cả ba cùng đến đó vào một mùa đông lạnh giá năm 1904.    Moorwood để cho ông toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến kĩ thuật, và ông được thăng chức làm giám đốc kĩ thuật chỉ sau một năm. Ông chịu trách nhiệm xây dựng lò nung và cả việc bán những công cụ khoan cắt bằng thép. Brearley có thể khiến nhiều khách hàng của mình vô cùng ngạc nhiên khi có thể trút bỏ vẻ ngoài bảnh bao của một nhà kinh doanh và ngay lập tức làm việc trong lò, giống như bất kì người thợ nào khác, để chứng tỏ chất lượng sản phẩm của mình. Brearley là ai: Một giám đốc kỹ thuật hay là một người thợ? Với gương mặt thon dài, đôi mắt to, đen và sáng, Brearley trông vẫn giống như một thiếu niên. Ông lúc nào cũng cạo râu nhẵn nhụi, mái tóc ngắn đen để ngôi giữa và đeo kính gọng mảnh. Đôi tai ông lúc nào cũng ở trong tình trạng nghe ngóng. Nhưng tính cách của ông đã được định hình: Brearley là người làm việc chăm chú và tận tụy, tự tin nhưng không độc tài và chắc chắn không bao giờ tham lam. Kiếm được rất nhiều tiền nhưng ông vẫn tiết kiệm, không hề khao khát một ngôi nhà lớn, những chiếc xe bóng lộn hay những bữa ăn sang chảnh. Ông không thích khoe khoang, và không hề quan tâm đến chính trị. Ông chỉ đơn giản là một người giỏi công việc của mình.    Cách mạng Nga nổ ra vào năm 1905. Cuộc nổi dậy về chính trị và văn hóa không làm Brearley bận tâm nhiều; thực tế, ông còn tham gia Đảng Lao động Quốc tế hồi ở Anh, nhưng các cuộc đình công khiến nhà máy không thể sản xuất thép, và điều này khiến ông khó chịu. Một cuộc mít tinh bất thường diễn ra trên một khu đất trống của nhà máy với hai nghìn người tham gia. Trước khi cuộc này diễn ra, súng lục được cấp cho mọi người. Và sau đó không lâu, một người thợ rèn bị sát hại bên ngoài căn hộ của anh ta, nửa tá công nhân nhà máy bị bắt vào tù. Sợ hãi, ba kĩ sư trốn khỏi đất nước, và Moorwood cũng vậy. Brearley tiếp tục công việc như là tổng giám đốc, thay thế chỗ của Moorwood. Ông ngồi ghế của Moorwood, bên cạnh chiếc bàn lớn hình móng ngựa của Moorwood, mặc trang phục của Moorwood và hút xì gà của ông. Đó là thứ xa hoa nhất mà ông từng làm từ trước đến giờ.  Khi Brearley nắm trọng trách, ông mua những thiết bị mới. Ông mua kính hiển vi, điện kế, cặp nhiệt điện và dành hàng tuần để mày mò với chúng trong một tầng hầm. Tầng hầm đó trở thành địa điểm cho những buổi gặp gỡ vào tối thứ Sáu giữa những người say mê nói về thép hơn là nói về cách mạng. Trong một cuộc đình công, không có việc gì khác tốt hơn, những nhân viên ở tầng hầm tự chế ra một thiết bị ghi nhiệt độ được làm từ một chiếc đồng hồ và vỏ hộp bánh quy. Họ thu thập những mẩu thép đã được tôi ở nhiệt độ khác nhau, thử đập vỡ chúng và so sánh chất lượng của chúng. Họ say sưa với những mẫu vật kì bí. Họ lao vào những gì mới mẻ để tạo ra những thảo luận có giá trị. Họ tranh cãi đến tận khuya. Bị tách biệt khỏi công ty mẹ ở Anh và nguyên liệu cung cấp cho nhà máy bị đình trệ trong suốt những mùa đông dài, họ phải tập thích nghi với điều đó, học cách đổi mới sáng tạo và dùng những vật liệu thay thế. Bằng cách này, họ thu nhận những kinh nghiệm mới, và những gì giáo điều về sản xuất thép trong con người Brearley không còn lại một chút gì nữa.   Cha đẻ của Inox  Khi Brearley trở về Anh vào năm 1907, ông được mời làm việc trong một phòng thí nghiệm nghiên cứu Brown-Firth, một cơ quan được hai tập đoàn John Brown và Công ty, chuyên xây dựng tàu chiến và Firth, chuyên sản xuất tấm áo chống đạn vận hành. Là giám đốc nghiên cứu, Brearley được tự do quyết định nhận hay từ chối bất cứ dự án nào, và quan trọng hơn, với cổ tức của Brearley trong công ty Amalgams Co cũ, sếp của ông đồng ý chia quyền sở hữu với bất cứ khám phá nào.  Brearley thấy mình như vị cứu tinh của thép. Ông coi trọng chất lượng hơn số lượng, soi xét kĩ từng chi tiết của sản phẩm. Nhưng ông đã nhìn thấy cây mà không thấy rừng, ở Firth, họ có những ưu tiên sai lầm. Firth coi trọng số lượng. Quy mô. Biên lợi nhuận. Thị trường.  Brearley biết rằng, miễn là những tính chất vật lý của thép được đảm bảo, thì dù thành phần hóa học trong đó chiếm 0.035% lưu huỳnh hay 0.05% lưu huỳnh cũng không có gì khác biệt như theo quảng cáo của Firth với khách hàng. Nhưng điều khác biệt mà ông đã bỏ lỡ, một người quản lý nói với ông, chính là 2 bảng chênh lệch đối với một tấn thép họ bán ra nếu họ “lừa” được khách hàng. Đó là một bài học về chính trị cũng như thương mại: việc thép có tốt hơn hay không không quan trọng, quan trọng là mọi người nghĩ rằng nó là tốt hơn, và sẵn sàng trả nhiều hơn cho nó. Và ông cảm thấy đó là một sự sỉ nhục.  Vào tháng 5 năm 1912, Brearley di chuyển hơn 200 km đến miền Nam nước Anh, tới Nhà máy sản xuất Vũ khí nhỏ của Quân đội Hoàng gia để nghiên cứu về quá trình ăn mòn của thùng đựng vũ khí. Ông xem xét vấn đề và viết, vào tháng 6 “Có lẽ ta nên thử ăn mòn một vài mẫu thép có hàm lượng carbon thấp và hàm lượng crom cao cùng một lúc xem sao…”. Ông dành phần lớn thời gian thử nghiệm với các loại thép có hàm lượng crom khác nhau, từ 6 đến 15% nhưng không có kết quả gì. Ông thử nung trong lò bằng điện. Những mẫu đầu tiên không tốt, nhưng ông đã thành công ở lần thứ hai, với công thức 12,8% crom, 0,24% carbon, 0,44% mangan và 0,2% silicon. Ông tạo ra một thỏi vuông 3 inch và sau đó cuộn nó thành một thanh có đường kính một inch rưỡi. Từ đó, ông đã làm 12 thùng súng và gửi đến nhà máy  Nhưng nhà máy lại không thích chúng    Brearley nhận ra một tính chất thú vị ở mẫu kim loại của mình: chúng không hề bị nhơ hay gỉ dù để vào nước qua đêm. Ông đánh bóng nó, dùng axit nitric hòa tan để khắc và nhìn nó dưới kính hiển vi: nó không hề bị mòn, hay nói chính xác là quá trình bào mòn diễn ra rất chậm. Phản ứng với giấm và chanh cho ra kết quả tương tự. Ông so sánh một mẫu thép carbon được đánh bóng với một mẫu thép crom được đánh bóng, và ngạc nhiên khi tìm thấy sau 12 ngày, trong khi mẫu thép carbon đã rỉ sét, mẫu thép crom vẫn sáng bóng.  Brearley đã viết một bản báo cáo và đưa nó cho sếp của mình. Tuy nhiên, kim loại mới không hề khiến họ hào hứng. Brearley đã chỉ ra rằng kim loại này rất thuận tiện để làm dao kéo, mà vào thời điểm đó được làm bằng thép carbon hoặc bạc (chất liệu đầu tiên sẽ bị rỉ sét, và bạc thì quá đắt tiền và vẫn bị xỉn màu). Tuy nhiên chẳng mấy người mặn mà với ý tưởng dùng loại thép mới mà Brearley vừa chế tạo. Điều đó không làm ông nhụt chí, ông liên tục nói về tác dụng của nó trong việc làm dao kéo. Ông gửi mẫu thép cho hai thợ cắt dao ở Sheffield, George Ibberson và James Dixon. Vài tháng sau, họ gửi lại một bản báo cáo Thép sẽ không thể rèn, làm cứng hoặc đánh bóng — và sẽ không thể mài sắc. Sử dụng nó để làm dao là vô ích. Họ thậm chí còn gọi ông là  “người phát minh ra dao mà không thể cắt”.  Tuy nhiên, Brearley không từ bỏ: ông tin rằng những người làm dao đã sai. Ông đề nghị các ông chủ của mình sản xuất dao. Họ nói không. Ông tiếp tục đề nghị một bằng sáng chế và chỉ nhận được một cái lắc đầu từ chối.  Vào tháng 6 năm 1914, Brearley gặp một nhà quản lý của công ty dao kéo Robert F.Mosley, tên là Ernest Stuart, một người cũng có sự kiên trì chẳng kém ông. Chính Ernest Stuart là người đầu tiên nghĩ đến cái tên “thép không gỉ” (stainless steel). Lần thứ nhất, ông tạo ra một con dao cắt phô mai nhưng vấn đề là thép quá cứng, và làm hỏng hết các dụng cụ mài sắc của ông. Ở lần thử thứ hai, những con dao không chỉ cứng mà còn giòn nữa. Trong lần thử thứ ba, Brearley được mời đến xem, mặc dù ông không biết gì về việc làm dao. Nhưng ông biết nhiệt độ mà thép cứng lại, và do đó ông đã giúp Ernest tạo ra chục con dao.  Vào ngày 2 tháng 10 năm 1914, Brearley đã viết một báo cáo khác cho các ông chủ của mình khi ông nhận ra rằng thép không gỉ mới này ngoài làm dao, kéo, còn có thể hữu ích trong cọc, piston, pít-tông và van. Và chính sự bền bỉ này đã giúp ông làm được điều mà những người khác không thể.  Firth nhanh chóng nhận ra giá trị công nghiệp của thép của mà Brearley chế tạo để sử dụng trong các van xả động cơ, và đã bắt đầu tiếp thị nó dưới tên là F.A.S. — Firth’s Aeroplane Steel (Thép để chế tạo máy bay của Firth). Brearley đã nợ Stuart cách gọi tên này. Thép để chế tạo máy bay hẳn là nghe hay hơn cực phẩm. Stuart đã khiến thép của Brearley nghe như một phép màu, và phép màu đó là sự thực. Năm 1914, công ty sản xuất 50 tấn thép; trong hai năm tới, Firth đã sản xuất thêm 1.000 tấn nữa. Brearley mua 18 thanh thép và sử dụng chúng để làm dao rồi mời bạn bè (của cả ông và Stuart) dùng thử. Ông yêu cầu họ trả lại những con dao nếu, khi tiếp xúc với bất kỳ thức ăn nào, chúng bị nhuộm màu hoặc rỉ sét. Không có con dao nào được trả lại. Stuart biết ông đang nhìn thấy tương lai của ngành dao kéo, và ra lệnh mua thêm 7 tấn kim loại nữa.  Thành công mang lại sự thù địch ngay lập tức, bởi vì tầm nhìn của Brearley và Firth là hoàn toàn khác nhau. Họ đã bỏ qua tên của Brearley mà quảng cáo chúng như thể họ là người phát minh, nhà sáng chế của thép không gỉ. Sau nhiều tranh cãi, Brearley cảm thấy bị ngược đãi và ông từ chức vào năm 1914.    Nhưng hơn nữa, Harry Brearley không hề biết được trước ông, có ít nhất 10 người khác đã tạo ra sản phẩm tương tự. Họ cũng được cấp bằng sáng chế và thương mại hóa nó. Ít nhất hai chục nhà khoa học ở Anh, Pháp, Đức, Ba Lan, Thụy Điển và Mỹ đang nghiên cứu các hợp kim thép bằng cách thay đổi lượng crom, niken và carbon trong đó. Faraday đã cố gắng gần một thế kỷ trước đó. Việc ông được coi như người phát hiện ra thép không gỉ chủ yếu là do may mắn, nhưng việc ông được ghi nhận là cha đẻ của nó chính là do sự nỗ lực của ông. Đó là bởi vì, thành công thương mại đòi hỏi phải pha trộn khoa học và tiếp thị; một nhà sản xuất thép không chỉ cần nhận ra giá trị của một hợp kim mới, mà còn cả khả năng đưa nó vào ứng dụng.  Minh Châu lược dịch  Nguồn và ảnh: http://nautil.us/issue/36/Aging/the-father-of-modern-metal       Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ chuyện con ong nghệ: Đổi mới đâu phải muốn là được      Bấy lâu, có người hay trách doanh nghiệp  “làm nông” thì tư duy ít đổi mới, không mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao  trong sản xuất. Tuy nhiên, cuộc kết nối với các doanh nghiệp công  nghệ cao trong nông nghiệp của Israel mới đây tại Trung tâm BSA đã cho  thấy một khía cạnh khác: Đối tác có công nghệ tốt, doanh nghiệp Việt cần  và thấy phù hợp, nhưng mãi không đến được với nhau. Chỉ vì chính sách  chờ hoài vẫn chưa cho phép!    So sánh “thiệt” – “hơn”  Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông sản tươi, ông Lê Văn Cường, Giám đốc công ty Đà Lạt Gap chia sẻ, muốn có những sản phẩm xuất khẩu chất lượng cao thì rất cần kỹ thuật “dùng côn trùng trị côn trùng”. Hay nói cách khác là nhập khẩu những loài thiên địch. Tuy nhiên, hiện nay việc nhập những loại thiên địch vào Việt Nam sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức khó khăn. Ông Cường cho biết, nhiều năm qua đã liên hệ với Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp, “tôi cố gắng tìm hiểu, làm các thủ tục để nhập loại thiên địch mà không có kết quả”, ông Cường nói.  Với khoảng 15ha diện tích đất canh tác được trang bị hệ thống nhà kính hiện đại, việc thụ phấn cho các loại cây trồng như cà chua, dưa leo, dâu tây… là vấn đề còn nhiều khó khăn với Đà Lạt Gap. Ông Cường dẫn chứng, “chúng tôi trồng cà chua, dưa leo, dâu tây trong nhà kính nhưng phải dùng ong mật để thụ phấn cho cây, dù loài này không thích hợp. Hơn nữa, chi phí rất tốn kém. Mỗi tháng tốn gần 2 triệu mua một tổ ong mật, nhưng dùng khoảng hơn 1 tháng thì chúng bị chết vì không thích hợp sống trong nhà kính. Trong khi đó, giống ong nghệ làm việc rất cần mẫn và tồn tại lâu hơn, chi phi mua loài này cũng rẻ hơn”.  Dù đã áp dụng công nghệ cao trong các khâu, nhưng trong vấn đề bảo vệ thực vật, Đà Lạt Gap lại thiếu những biện pháp mang ý nghĩa “dùng sâu trị sâu, dùng bệnh trị bệnh”. Chính vì thế năng suất, chất lượng vẫn chưa được như mong đợi của người trồng rau. Vấn đề này có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu sản phẩm qua những thị trường khó tính ở châu Âu, Nhật Bản. Trong buổi gặp gỡ giữa hai bên, đại diện doanh nghiệp Bio Bee của Israel khẳng định: loài ong nghệ rất thích hợp cho việc thụ phấn mà nhiều loại ong khác không làm được. Sử dụng giống ong này sẽ giúp sản lượng tăng thêm 25%.  Theo ông Lê Văn Cường, hiện nay Đà Lạt Gap rất có nhu cầu nhập khẩu các loài như của Hà Lan, hay ong nghệ của Israel hoặc loại ong vàng diệt sâu bọ để dùng trong các nhà kính nhưng vẫn chờ mãi trong vô vọng. “Tôi thấy ong nghệ đã được các doanh nghiệp Israel xuất sang 30 nước, có Nhật Bản, Thái Lan, Úc, Colombia… là những nước rất chặt chẽ trong nông nghiệp, tôi nghĩ nó không gây hại thì người ta mới nhập chứ. Việc này, nên chăng chúng ta phải nhìn trên thế giới mà tính?” ông Cường băn khoăn.  Cơ hội để thay đổi    Cho rằng đây là một cơ hội để tạo bước đột phá trong nông nghiệp, ông Cường kiến nghị: “Nhà nước nên có những cơ chế, chính sách để khảo nghiệm, khảo sát về những loài thiên địch có lợi cho cây trồng. Người trồng trọt rất cần những loài thiên địch để quản lý dịch bệnh. Đây là biện pháp có tính thân thiện với môi trường, an toàn cho người chăm sóc, người tiêu dùng”. Nông nghiệp sạch Việt Nam đang hướng tới vấn đề xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp quyết tâm đầu tư để khẳng định vị thế của nông nghiệp Việt Nam. Vì thế, những cơ chế chính sách cũng cần phù hợp để theo kịp sự phát triển trong ngành.  Được biết, để nhập những loại thiên địch hay ong nghệ, chi phí làm thí nghiệm rất tốn kém. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới cũng như tính hữu dụng của những loài trên, doanh nghiệp nông sản tươi sẵn sàng chấp nhận bỏ chi phí để cùng nhà nước và doanh nghiệp Israel làm thí nghiệm.     “Mong rằng, nhà nước sớm cho những doanh nghiệp như chúng tôi nhập những sản phẩm có lợi trong sản xuất nông nghiệp. Hy vọng Bộ Nông nghiệp và Cục bảo vệ thực vật sớm có những khảo nghiệm nhanh để chứng minh độ an toàn của những loài trên”, ông Cường kỳ vọng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ công ty lớn ra làm khởi nghiệp      Nếu đang có một việc làm ổn định ở một công ty lớn, bỗng một ngày đẹp trời bạn nghĩ rằng cần đi theo tiếng gọi con tim, bạn quyết định sẽ khởi nghiệp hoặc đầu quân vào một công ty khởi nghiệp nào đó, thì đây là những yếu tố bạn cần cân nhắc kỹ lưỡng cho quyết định của mình từ kinh nghiệm bản thân của người viết.         Không gian làm việc:  Ưu điểm: tự do  Hạn chế: không ổn định  Không gian làm việc của bạn ở một công ty khởi nghiệp sẽ không bị gò bó trong văn phòng từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều, bạn sẽ không cảm thấy phiền toái với máy chấm công bằng vân tay, bạn còn có thể vừa ngồi uống cafe vừa xử lý công việc mà thỉnh thoảng còn không phải đến văn phòng. Một nguồn năng lượng tươi mới gần như được nạp vào não bạn hằng ngày khi làm việc cùng những đồng nghiệp trẻ năng động, không ngừng sáng tạo đột phá, với nhiều thử thách mới lạ đang chờ đón.  Tuy nhiên, bạn cũng cần phải chuẩn bị tinh thần rằng văn phòng làm việc của các công ty khởi nghiệp có khi chỉ là một căn hộ chung cư cũ nào đó được thuê cho cả mục đích vừa làm vừa ở. Một số công ty khởi nghiệp lựa chọn địa điểm ở không gian làm việc chung (co-working space) và bạn phải quen dần với việc mình không có không gian riêng. Đôi khi bạn còn phải quen thuộc với việc tìm quán cafe làm việc hằng ngày với chi phí thấp nhất có thể.  Phương thức làm việc  Ưu điểm: làm tất cả những gì mình thích  Hạn chế: dễ sa lầy thành ôm đồm  Làm việc ở công ty lớn bạn sẽ tuân thủ một quy trình công việc bài bản và được giao phạm vi trách nhiệm rạch ròi. Còn với khởi nghiệp, có người nói vui rằng, có thể miêu tả công việc của bạn chỉ bằng vài từ: làm tất cả.  Trong một nhóm khởi nghiệp hoặc chính bản thân bạn khởi nghiệp, bạn sẽ được học từ việc làm giấy phép kinh doanh công ty ra sao, kế toán doanh nghiệp thế nào, marketing là làm gì, kinh doanh phải bán hàng cho ai, sản phẩm này phải sử dụng nền tảng kỹ thuật nào thì tối ưu,… Công ty khởi nghiệp ban đầu thường chưa có nhiều nhân sự, thành ra, một nhân sự phải kiêm nhiệm nhiều vị trí công việc một lúc. Nếu không giỏi quản lý thời gian và khéo léo xoay sở với hạng mục công việc của mình, bạn sẽ trở thành một người ôm đồm tất cả mọi thứ và chẳng mấy chốc sẽ chìm nghỉm trong khối lượng công việc ngày một nhiều.  Ban đầu, bạn có thể phấn khởi với những điều lạ. Nhưng tin tôi đi, sẽ nhanh thôi bạn sẽ chuyển trạng thái từ phấn khởi trở thành chán ốm mỗi khi ai đó trong đội ngũ lại giao thêm việc cho bạn.  Tinh thần trách nhiệm và tính sở hữu  Ưu điểm: quyền lợi và trách nhiệm song hành rõ ràng  Hạn chế: phải chịu trách nhiệm với cả những điều lẽ ra không thuộc về trách nhiệm của bạn  Ở công ty lớn, nếu may mắn bạn có thể được ghi nhận công lao cụ thể kèm theo những khoản thưởng hậu hĩnh cho một dự án nào đó mà bạn phụ trách. Nhưng nếu không may thuộc về số đông còn lại, sau bao nhiêu năm nhiệt tình cống hiến cho công ty, bạn chợt nhận ra rằng những thành quả của mình được ghi nhận dưới tên người khác. Một phút đắng lòng bạn lại chép miệng chặc lưỡi cho qua: thôi thì vì người khác trả lương cho mình.  Một số người quyết định bỏ việc ổn định ở công ty lớn để ra khởi nghiệp hoặc đầu quân cho công ty khởi nghiệp với mong muốn được ghi nhận và có dấu ấn trong sự nghiệp. Sự ghi nhận bởi xã hội nói chung và kết quả đạt được của công ty khởi nghiệp nói riêng có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: quyền lợi cổ phần/cổ tức, danh nghĩa là người đồng sáng lập/chủ ý tưởng dự án, đứng tên trên cơ sở là người sở hữu bản quyền của sản phẩm. Và dĩ nhiên, quyền lợi luôn đi kèm với trách nhiệm tương xứng.  Ở mặt ngược lại của vấn đề, đôi lúc đi làm cho một công ty lớn, bạn chỉ chịu trách nhiệm trong một giới hạn nhất định và phần còn lại thì công ty sẽ lo. Bạn tính toán bị sai thành ra chiến dịch quảng cáo lần này đạt được hiệu quả thấp hơn mong đợi? Không sao cả, công ty của bạn vẫn có thể chấp nhận điều này nếu việc thấp hơn vẫn nằm trong vòng kiểm soát, đặc biệt là so sánh đối chiếu giữa hiệu quả đầu tư tài chính và kết quả thu nhận được. Điều này bạn sẽ khó có thể tìm thấy ở một công ty khởi nghiệp khi tất cả mọi người ở thời gian ban đầu, đều phải có trách nhiệm với nhau như nhau, kể cả khi những quyết định sai lầm không đến từ bạn mà là đối tác cùng nhóm.  Cơ hội phát triển bản thân  Ưu điểm: làm mới mình, nhiều thử thách, khám phá thêm nhiều góc độ khác ở bản thân  Hạn chế: bẫy cơ hội  Khi có quá nhiều cơ hội đến cùng lúc, bạn sẽ rơi vào bẫy cơ hội do chính mình tạo ra. Đi làm ở một công ty lớn, có một vị trí ổn định, cũng có vài dăm ba cơ hội khác mời chào, nhưng bạn sẽ đặt để lên bàn cân ngay lập tức là công ty đó có trả cho bạn lương cao hơn hay không, phúc lợi xã hội của họ có tốt hơn công ty hiện tại hay không. Dù sao, cũng chỉ vài công ty thỉnh thoảng chen ngang và muốn đón bạn về làm, bạn không phải nghĩ liên tục và dồn dập về việc chuyển sang một lĩnh vực và kĩ năng mới như khi bạn bước chân ra thương trường khởi nghiệp.  Thế giới bên ngoài rộng lớn, nhất là khi bạn chưa chuẩn bị tinh thần sẽ theo đuổi lĩnh vực nào cụ thể trong khi khởi nghiệp lại mang đến quá nhiều lời mời gọi hấp dẫn từ những điều mới lạ. Bạn cho rằng để phát triển bản thân thì cần phải biết thêm kiến thức này, kỹ năng nọ, dần dà, bạn phát triển bản thân về chiều ngang diện rộng hơn là tập trung phát triển chuyên môn như khi còn làm việc toàn thời gian trong công ty lớn. Dĩ nhiên là bạn sẽ thấy bản thân trong phút chốc thông minh hơn vì được học hỏi nhiều cái, biết được những thứ mới lạ hay ho, nhưng cho con đường sự nghiệp lâu dài của bạn, đâu sẽ là bến bờ để bạn dừng chân?  Nhiều người đã gặp tình trạng vì chán nản môi trường quen thuộc ở công ty lớn mà quyết định nghỉ việc để khởi nghiệp. Họ cho rằng cần làm mới mình sau bao nhiêu năm gắn bó với những điều cũ kỹ và quen thuộc, lối mòn tư duy sẽ cản trở sự phát triển của bản thân về lâu về dài. Thế nhưng cùng thời điểm đó, họ chưa xác định con đường mình đi tiếp theo như thế nào, thành ra, họ cứ kiếm tìm nhiều cơ hội xung quanh khi có dịp, mở rộng thêm mối quan hệ, cũng thử với một hai lần khởi nghiệp nhưng thấy không hợp, vì vậy bị rơi vào trạng thái chán nản vô định.  Dù sao thì khởi nghiệp vốn dĩ cũng không dành cho tất cả mọi người, cần tìm hiểu kỹ trước khi có quyết định bước tiếp quan trọng trong sự nghiệp.    Author                Ngân sâu        
__label__tiasang Từ đi tìm đến sáng tạo khách hàng      Không ít các doanh nghiệp bắt đầu khởi nghiệp tốn rất nhiều thời gian mở công ty, xây dựng bộ máy và đầu tư lãng phí ban đầu vào việc thuê địa điểm, mở công ty, đặt tên, vẽ logo. Rất ít doanh nghiệp thực sự đi vào bản chất của vấn đề là một doanh nghiệp chỉ có thể sống và tồn tại bền vững khi có KHÁCH HÀNG. Nếu bạn chưa thực sự hiểu mình sẽ bán cái gì, bán cho ai và bán như thế nào, thất bại hoàn toàn nằm trong dự đoán.    Steve Blank và quyển sách của ông: Bốn bước để hiển linh: Làm thế nào để xây dựng sản phẩm thành công  Thay đổi hoàn toàn quan điểm truyền thống của việc phát triển một khởi nghiệp, Steve Blank đã đưa ra khái niệm phát triển khách hàng gồm bốn bước và nếu quan sát bốn vòng tròn dưới đây, bạn sẽ thấy tại sao cách làm truyền thống đang tiêu tốn thời gian công sức mà không mang lại hiệu quả như mong muốn.  Bốn vòng tròn hướng phát triển khách hàng  Đầu tiên phải nói rằng, trước đây, các lý thuyết marketing hiện đại đều đưa khách hàng vào trọng tâm của hoạt động kinh doanh, nhưng dường như những lý thuyết này chỉ nói đến câu chuyện của những doanh nghiệp đã phát triển, có khách hàng và dựa trên những nền tảng hiểu về khách hàng để họ có thể phát triển thêm những sản phẩm dịch vụ mới hoặc chăm sóc khách hàng tốt hơn. Tuy vậy, đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, không lý thuyết nào chỉ cho họ thấy phải làm thế nào để có thể phát triển dựa trên tinh thần hướng về khách hàng và từ đó phát triển bền vững. Steve Blank chỉ ra rằng, bán hàng là một quá trình sáng tạo liên tục, phát triển liên tục và thực sự khi hiểu về khách hàng, bạn có thể tạo ra và phát triển những khách hàng cho chính sản phẩm dịch vụ của mình. Tính cách mạng của khởi nghiệp tinh gọn trên tinh thần “bước chân ra khỏi văn phòng”, bạn sẽ khám phá ra khách hàng của mình, khẳng định sự tồn tại của nhu cầu, phát triển khách hàng và xây dựng một công ty bền vững. Nếu nói phát triển một sản phẩm, bạn sẽ dễ hình dung vì sản phẩm chính là kết quả suy nghĩ của bạn, sự phát triển của nó nằm trong tầm kiểm soát của bạn, nhưng làm thế nào để phát triển khách hàng?  Bốn bước phát triển khách hàng  Phát triển khách hàng trải qua bốn bước chính, chia làm hai giai đoạn    Giai đoạn 1: Tìm kiếm gồm hai bước: Khám phá khách hàng và Xác nhận khách hàng  Bước 1: Khám phá khách hàng. Đây có thể coi là giai đoạn khó khăn nhất trong việc thay đổi tư duy của người khởi nghiệp. Thay vì nhốt mình trong văn phòng, hãy bước chân ra bên ngoài thế giới rộng lớn để quan sát, lắng nghe và khám phá những nhu cầu và tìm hiểu những vấn đề của khách hàng. Nhiều khởi nghiệp thường bỏ qua bước này và chạy theo những nhu cầu có tồn tại, nhưng khá mơ hồ của khách hàng, rồi xây dựng sản phẩm dịch vụ dựa trên hiểu biết lơ mơ của mình về nhu cầu đó. Điều quan trọng nhất trong bước một chính là phải coi việc tiếp xúc với khách hàng tiềm năng trực tiếp là vấn đề sống còn trong sự tồn tại của doanh nghiệp và không được bỏ qua, và luôn tạo cho chính mình và đội của mình tâm thế vui vẻ khi tiếp nhận những ý kiến trái ngược với những gì mình giả định. Hãy coi mỗi phát hiện mới về khách hàng là một sự bổ sung cho sản phẩm dịch vụ của mình trong tương lai. Sau khi khám phá về khách hàng, hãy ghi chép, suy nghĩ và làm một sản phẩm mẫu để lấy phản hồi về nhu cầu của khách hàng nhằm kiểm định thị trường. Để giới hạn không gian tiếp cận khách hàng, có một khái niệm bạn cần biết là phễu bán hàng. Phễu bán hàng sẽ khác nhau tùy từng ngành, tùy từng lĩnh vực. Tuy vậy, một phễu bán hàng đơn giản sẽ có hình dạng và mang thông điệp như sau:  Ở tầng một lớn nhất: bạn ước lượng có cơ sở về số lượng khách hàng tiềm năng trên thị trường lớn  Ở tầng hai nhỏ hơn: Bạn ước lượng quy mô thị trường nhỏ hơn, khả thi hơn  Ở tầng ba nhỏ nhất: Bạn ước lượng quy mô thị trường khả thi nhất trong tầm với của bạn  Ví dụ bạn làm dịch vụ nội thất ô tô, phễu bán hàng đơn giản của bạn sẽ như sau:     Bước 2: Xác nhận khách hàng: Khi đã xác định được sản phẩm và khách hàng, bạn sẽ bước sang một giai đoạn quan trọng để đảm bảo khả năng sống sót trên thị trường.  Ở bước này việc đảm bảo thị trường chấp nhận sản phẩm của bạn (product-market fit) là một quá trình đòi hỏi không chỉ bạn cần nỗ lực phát triển sản phẩm mà còn buộc bạn phải tiến hành thử nghiệm và phỏng vấn khách hàng liên tục. Tuy nhiên đối tượng phỏng vấn và khảo sát lúc này là những người đầu tiên sẵn sàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của bạn (early-adopters). Những người đầu tiên này đóng vai trò quan trọng trong việc cho bạn những phản hồi, giúp bạn cải tiến sản phẩm cho đúng với nhu cầu thị trường và hình thành giá trị cốt lõi cho sản phẩm. Quá trình này có thể lặp đi lặp lại cho đến khi bạn thực sự tự tin xây dựng một mô hình kinh doanh được thị trường chấp nhận và giúp bạn kiếm được tiền. Khi đã xây dựng được mô hình kinh doanh tương đối ổn định, đó là lúc bạn xây dựng lộ trình cho bán hàng và marketing để phát triển bước tiếp theo.  Giai đoạn 2: Thực thi gồm hai bước chính: Sáng tạo khách hàng và xây dựng công ty.  Có 100 khách hàng đầu tiên có thể đảm bảo bạn sống sót trên thị trường, nhưng không có nghĩa là doanh nghiệp của bạn có thể phát triển bền vững, vì vậy, bắt buộc phải mở rộng quy mô đến nhiều khách hàng hơn. Sáng tạo khách hàng ở bước này chính là lúc bạn phải khơi gợi những nhu cầu tiềm ẩn trong khách hàng, những nhu cầu mà đôi khi chính khách hàng cũng chưa hình dung ra. Sáng tạo khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp nỗ lực giáo dục thị trường, nâng cao nhận thức và triển khai các công cụ marketing để phục vụ mục tiêu này.  Một khi đã tạo ra khách hàng, việc tổ chức nguồn lực cấu trúc tổ chức và cho vận hành phục vụ cho việc mở rộng là cần thiết. Sự tăng trưởng quá mức so với năng lực hiện tại của doanh nghiệp mà không có sự chuẩn bị cũng là một trong những nguy cơ tiềm ẩn cho việc khởi nghiệp thất bại mặc dù có sản phẩm và thị trường tốt.  Hai lưu ý trong việc phát triển khách hàng  Bạn lưu ý rằng việc phát triển khách hàng không bao giờ dừng lại. Bạn có thể phải quay lại bốn bước trên bất cứ lúc nào để đảm bảo mình luôn cập nhật nhu cầu khách hàng, để hoàn thiện tổ chức, điều chỉnh mô hình kinh doanh và tạo ra những khách hàng mới. Dừng lại là tụt hậu. Tư duy trong khởi nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp vận động và quan sát liên tục.  Một lưu ý khác đó là ai sẽ tham gia câu chuyện phát triển khách hàng? Bộ phận marketing hay bán hàng? Đều chưa phải. Nếu bạn là người sáng lập doanh nghiệp, hãy đặt câu hỏi cho chính mình, bạn đã bao giờ tự mình bước chân ra ngoài, ngồi café với một khách hàng của bạn để hỏi về nhu cầu hay phản hồi của họ? Nếu chưa bao giờ, có nghĩa là tư duy của bạn đang cần thay đổi. Phát triển khách hàng là trách nhiệm của toàn bộ doanh nghiệp, mà người đầu tiên là bạn! Bạn sẽ không thể truyền cảm hứng và dẫn dắt cả một tổ chức đến nơi bạn muốn đến nếu chính bạn không thể nói chuyện dù chỉ với một khách hàng!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ điện thoại cố định đến di động      Chào đời mới 40 năm nhưng điện thoại di động (ĐTDĐ) đã lập được một kỷ lục lịch sử: cho tới nay chưa một thiết bị điện tử nào sánh được với nó về mức độ phổ cập sử dụng – 7 tỷ con người trên Trái đất hiện đang dùng 6 tỷ chiếc ĐTDĐ.    Nhiều thế rồi mà các hãng sản xuất ĐTDĐ vẫn liên tục đưa ra những sản phẩm mới có nhiều tính năng khôn ngoan hơn, bền hơn, pin dùng lâu hơn, nhẹ hơn, nhỏ hơn. Hầu như cứ cách vài tháng, các hãng sản xuất đồ điện tử Apple, Samsung, Nokia, Motorola… lại tung ra sản phẩm mới.      Cách đây hơn chục năm, ai trong chúng ta có ĐTDĐ thì oách lắm. Giữa thập niên 90 nhiều người phải bỏ ra 2 triệu đồng, tức gấp bốn lần lương trung bình hồi ấy để sắm một cái NOKIA to gấp mấy lần cái NOKIA bây giờ bán với giá nửa triệu bạc!     Dù sao cái NOKIA thập niên 90 ấy vẫn chỉ nhỏ bằng một góc cái ĐTDĐ đầu tiên của nhân loại – chiếc Motorola DynaTAC 8000x mà cách nay chẵn 40 năm, sáng ngày 3/4/1973 Martin Cooper dùng để thực hiện cuộc gọi đầu tiên bằng ĐTDĐ khi ông đang đứng giữa Đại lộ số 6 ở Manhattan, New York, Mỹ.     Đó là cuộc gọi cho Joel Engel, một đối thủ cạnh tranh cùng nghiên cứu về ĐTDĐ, làm việc ở Phòng Thí nghiệm Bell Labs. Martin Cooper nói vào chiếc điện thoại cầm tay: “Joel, tôi là Martin đây. Tôi gọi cho ông từ điện thoại di động của tôi, một thiết bị cầm tay thực thụ.”     Cuộc gọi lịch sử ấy đã đặt nền móng cho sự phát triển sau này của loại hình thiết bị liên lạc di động – phải gọi như thế mới đúng, vì điện thoại chỉ là một trong nhiều chức năng của loại thiết bị này.      Thiết bị Cooper dùng để gọi cú điện thoại ấy có tên đầy đủ là Dynamic Adaptive Total Area Coverage, một mẫu ĐTDĐ thử nghiệm của hãng Motorola. Nó thật sự là một cục gạch theo đúng nghĩa đen: nặng 1,1 kg, dài tới 25 cm. Ngay cả các kỹ thuật viên của Motorola cũng gọi nó bằng hai biệt danh là “chiếc giày” hoặc “cục gạch”, do kích thước tương đương nhau.      Gần 100 năm trước cuộc gọi ấy của Martin Cooper từng xảy ra một cú “call” có ý nghĩa lịch sử hơn tại thành phố Boston nước Mỹ. Đó là cuộc gọi tình cờ qua đường dây điện thoại từ căn phòng của Alexander Graham Bell (đang làm thí nghiệm phát minh điện thoại) sang phòng bên, nơi người giúp việc của ông là thợ cơ khí Watson đang làm việc. Bell nói: “Anh Watson! Sang đây nhé, tôi muốn gặp anh!” Watson lúc ấy đang dí tai vào chiếc ống nghe bằng gỗ. Mọi lần hai người chẳng ai nghe thấy gì, nhưng lần này Watson nghe rõ thấy mấy câu ấy; anh chạy sang báo ngay cho Bell biết: Thí nghiệm của họ đã thành công! Đó là ngày 10/3/1876.     Trước đó ít lâu Cơ quan Sáng chế Mỹ nhận được đơn xin cấp bằng sáng chế điện thoại do Bell gửi tới. Hai tiếng đồng hồ sau họ lại nhận được đơn của Elisha Gray, một đối thủ cạnh tranh của Bell. Hai bản thiết kế điện thoại có cùng nguyên lý, nhưng rốt cuộc chỉ Alexander Graham Bell được cấp Bằng Sáng chế – đó là tấm bằng số 174465 cấp ngày 7/3/1876 – còn tên tuổi Elisha Gray thì rơi vào quên lãng. Năm đó Bell mới 29 tuổi. Năm 1877 anh lập Công ty điện thoại Bell, nhanh chóng giàu lên một cách chính đáng.      Do sáng chế ra điện thoại, năm 1880, Bell được Chính phủ Pháp tặng giải thưởng Volta trị giá 50.000 francs (tương đương 10 nghìn USD thời ấy hoặc 250 nghìn USD hiện nay). Ông dùng số tiền đó lập Phòng Thí nghiệm Volta, tiền thân của Phòng thí nghiệm Bell (Bell Labs) khổng lồ sau này. Bell Labs ngày nay có kinh phí nghiên cứu hằng năm khoảng 1 tỷ USD, tập hợp khoảng 10 nghìn chuyên gia làm việc trong hơn 100 phòng thí nghiệm trên toàn nước Mỹ, một số người trong số gần 3000 nhà khoa học của Bell Labs từng nhận 7 giải Nobel khoa học.      Năm 1888, Bell cùng bạn bè sáng lập Hội Địa lý quốc gia Mỹ (National Geographic Society). Hội này xuất bản tạp chí National Geographic cho tới nay vẫn rất nổi tiếng. Bell trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong lịch sử loài người.     Martin Cooper năm nay 84 tuổi không được vinh danh cao như Bell, tuy phát minh ĐTDĐ của ông đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội không thua gì Bell.     Cooper sinh năm 1928 trong một gia đình Ukraine gốc Do Thái di cư sang Mỹ, sống tại Chicago, bang Illinois. Từ bé ông đã say mê với các thiết bị điện. Năm 1950 Cooper tốt nghiệp Viện công nghệ Illinois (IIT) rồi tham gia lực lượng dự bị Hải quân Mỹ, là sĩ quan phục vụ trên một chiếc tàu ngầm tham gia Chiến tranh Triều Tiên.      Sau khi xuất ngũ, Cooper lấy bằng thạc sĩ tại IIT rồi làm việc tại công ty Motorola, phụ trách nhóm nghiên cứu thiết bị liên lạc di động.      Thực ra từ năm 1946 công ty AT&T đã phát minh ra loại điện thoại dùng cho ô tô, có thể nối vào hệ thống điện thoại toàn nước Mỹ, từ trên ô tô có thể gọi về máy cố định. Đây cũng là một dạng ĐTDĐ, nhưng có hạn chế ở chỗ nếu rời khỏi ô tô thì không thể gọi được. Cooper nghĩ xa hơn, cuối thập niên 1960 ông nêu ý tưởng chế tạo một loại điện thoại mang theo người, có thể thực hiện cuộc gọi từ bất kỳ chỗ nào, lúc nào tùy thích. Loại điện thoại như vậy mới đại diện cho cá nhân; số điện thoại không nói lên một địa điểm nào đó, một văn phòng làm việc nào đó, một gia đình nào đó, mà đại diện cho một cá nhân nào đó. Dân Mỹ vốn trọng chủ nghĩa cá nhân, cái gì đề cao được vai trò cá nhân thì họ rất ưa chuộng      Công ty Motorola ủng hộ ý tưởng ấy và đầu tư tới 100 triệu USD – một số tiền cực lớn hồi đó cho dự án nghiên cứu của Cooper. Tháng 2/1973, nhóm nghiên cứu đưa ra mẫu điện thoại di động thử nghiệm DynaTAC. Nhưng chẳng ai mua “cục gạch” ấy. Nghiên cứu cải tiến mãi, 10 năm sau Motorola mới sản xuất được sản phẩm ĐTDĐ đích thực bán ra thị trường. Cooper cho đài BBC biết: series ĐTDĐ đầu tiên bán với giá mỗi cái 3.500 USD, vì thế hồi ấy ông cho rằng ĐTDĐ khó có thể trở thành sản phẩm tiêu dùng của đông đảo khách hàng.     Giờ đây ĐTDĐ đang tràn ngập khắp hang cùng ngõ hẻm trên toàn thế giới. Người sử dụng luôn luôn sẵn sàng sắm một chiếc ĐTDĐ mới thông minh hơn cái đang dùng, vì thế công nghiệp ĐTDĐ luôn luôn phát triển với tốc độ kinh khủng và giá cả ngày một hạ cho vừa túi tiền của số đông.      Mike Short, Phó Tổng Giám đốc công ty Telefónica Europe nói: “Trong 40 năm qua, ĐTDĐ từ một công cụ thương mại đã nhanh chóng trở thành một mặt hàng tiêu dùng liên lạc tất cả mọi người lại qua mạng Internet.” Ông dự đoán: trong tương lai, chúng ta sẽ chứng kiến những sản phẩm ĐTDĐ phổ cập hơn, rất nhiều cái sẽ trở thành một phần trong phục sức của mỗi người. “Sản phẩm phục sức như đồng hồ thông minh sắp sửa ra đời. Ngoài ra còn áo khoác có chức năng đo lường các chỉ tiêu sức khỏe của bạn, nó nối với chiếc ĐTDĐ trong túi bạn, sau đó nối tới bác sĩ riêng của bạn.” Nghĩa là khi sức khỏe bạn có vấn đề nguy hiểm, ĐTDĐ sẽ lập tức tự động báo các số liệu đo được cho bác sĩ biết để ông ấy gọi di động tư vấn ngay cho bạn, hoặc gọi cảnh sát tới giúp đỡ bạn! Như thế thì ai còn tiếc tiền không sắm cái áo và loại ĐTDĐ ấy?      Martin Cooper nói: ông rất mừng khi thấy mình có chút ảnh hưởng nhỏ bé tới đời sống của nhân loại. ĐTDĐ thực sự làm cho người ta sống tốt hơn. Nó cũng thúc đẩy sức sản xuất, làm cho mọi người sống thoải mái hơn, an toàn hơn v.v… Cooper đặc biệt vui khi thấy ông đã đi trước một bước trong cuộc cạnh tranh sáng chế ĐTDĐ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do hóa thương mại và hiện tượng chảy máu tài chính      Ở giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa được xem là quá trình hình thành một không gian kinh tế, tài chính và thông tin toàn cầu thống nhất. Mục đích của toàn cầu hóa là xóa dần các rào cản quốc gia trước hết là về kinh tế, tạo sự chuyển động tự do cho các dòng chảy thông tin, vốn, hàng hóa và dịch vụ. Do đó, có thể thấy một trong những trụ cột cơ bản của toàn cầu hóa là tiến trình tự do hóa thương mại.    Đây chính là điểm mấu chốt gây nhiều tranh cãi nhất trong nội bộ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vòng đàm phán Doha bị gián đoạn, chưa biết đến bao giờ khởi động lại được cũng chính vì nguyên nhân này. Các nước phát triển, đại diện là Mỹ và EU cương quyết không chịu cắt giảm trợ cấp nông nghiệp. Các nước đang phát triển cũng quyết không nhân nhượng, không mở rộng thêm nữa thị trường nhập khẩu hàng công nghiệp. Rõ ràng, để thực hiện được các tôn chỉ WTO về một môi trường kinh doanh toàn cầu bình đẳng, công khai và minh bạch – thật sự không dễ chút nào. Là một thành viên mới, chúng ta sẽ làm gì để nền kinh tế Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình mở cửa thị trường? Để tìm câu trả lời, thiết nghĩ, chúng ta phải nhìn nhận lại đôi chút về bức tranh kinh tế toàn cầu hiện nay.     Toàn cầu hóa và trật tự thế giới mới  Làn sóng toàn cầu hóa hiện nay khởi động cách đây chừng 30 năm. Dĩ nhiên, người khởi xướng và dẫn dắt là các nước phát triển. Vào thời điểm đó, nền kinh tế công nghiệp ở các nước này đã phát triển đến đỉnh điểm, xuất hiện nhu cầu tất yếu, cần phải dịch chuyển nền kinh tế sang một tầng phát triển mới – kinh tế hậu công nghiệp. Nòng cốt cơ bản tạo động lực cho sự dịch chuyển này chính là cuộc cách mạng công nghệ thông tin. Từ đó đến nay, vòng xoáy toàn cầu hóa đã dần dần hình thành rõ nét.  Tâm của nó chính là các nước phát triển, đại diện là G7 và các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh. Họ nắm giữ trong tay hầu hết các thị trường béo bở, siêu lợi nhuận. đặc biệt là thị trường công nghệ cao. Chỉ tính riêng 500 Tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới đã chiếm tới 1/3 thị trường công nghiệp khai thác, 3/4 thị trường nguyên liệu, 4/5 thị trường công nghệ cao toàn cầu1. Các nước còn lại, nếu không lọt vào được trung tâm thì phải tự nguyện làm vệ tinh. Và một trong những chức năng cơ bản của vệ tinh là “hỗ trợ” trung tâm phát triển. Là vệ tinh có nghĩa phải chấp nhận bán rẻ sức lao động, bán rẻ tài nguyên thiên nhiên cùng những mặt hàng sản xuất bằng công nghệ thô sơ để đổi về những sản phẩm công nghệ cao có giá trị gia tăng ngất ngưỡng. Trung tâm, với sức mạnh tài chính, chính trị, sẽ tìm mọi cách thu hút chất xám từ vệ tinh, mua hoặc tìm cách kiểm soát bằng hết các lĩnh vực kinh tế tiềm năng nhất của vệ tinh đặc biệt là lĩnh vực tài chính. Với vệ tinh họ khuyên nên hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế (bạn có thể xem lại tư tưởng chủ đạo của “Liệu pháp Washington” (Washington consensus) được các nhà kinh tế phương Tây đưa ra vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước nhằm giúp các nước, trước hết là ở châu Mỹ- Latinh phát triển kinh tế. Tư tưởng này về sau đã được một số nước trong cộng đồng SNG thực hiện, tiêu biểu là Nga, và kết quả thế nào chắc các bạn đã biết2). Nhưng phần mình, chính phủ các nước trung tâm chủ động lập kế hoạch dài hạn bảo hộ các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, đặc biệt là thị trường công nghệ cao. Họ có rất nhiều công cụ để thực hiện: thông qua ảnh hưởng ở các tổ chức quốc tế như IMF, WB, WTO, UNO; thiết lập các rào cản về tiêu chuẩn; điều khiển các tập đoàn xuyên quốc gia… Nhưng một trong những công cụ hữu hiệu nhất chính là tự do hóa thương mại.    Hiện tượng chảy máu tài chính  Hãy tưởng tượng, ở địa phương bạn, có một lò gạch và một lò gốm đang hoạt động. Lò gốm có công nghệ sản xuất cao hơn, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn lò gạch. Là nhà đầu tư nhỏ, hiện tại bạn đang đầu tư cho lò gạch, nhưng bạn luôn “liếc nhìn” sang lò gốm với mong ước làm thế nào để đồng vốn của mình phải sinh lời ít nhất là ngang bằng với đồng vốn đầu tư bên đó. Và rất nhiều khả năng khi gặp thời cơ bạn sẽ lấy tiền từ lò gạch đầu tư sang cho lò gốm. Đúng như dân gian ta thường nói “nước chảy chỗ trũng”, vốn đầu tư sẽ đổ vào những khu vực nào có khả năng sinh lời nhiều nhất. Vậy, khi các rào cản thương mại được tháo dỡ, thế giới ngày càng trở nên phẳng hơn, các bạn nghĩ sao, vốn đầu tư sẽ đổ về đâu? Dĩ nhiên sẽ từ vệ tinh đổ về trung tâm. Bởi vì trung tâm đang nắm giữ những khu vực kinh tế có khả năng sinh lời nhiều nhất. Như vậy, nếu thị trường càng tự do, đặc biệt là thị trường tài chính, thì nguồn vốn ít ỏi mà vệ tinh gom góp được sẽ từ từ nhưng đều đặn đổ dồn hết về trung tâm. Mất vốn đầu tư, đồng nghĩa với giảm cơ hội tăng trưởng, có nghĩa là vệ tinh ngày một “gắn bó” hơn trung tâm. Đây chính là ảnh hưởng tiêu cực sâu xa của tiến trình tự do hóa thương mại đến các nền kinh tế đang phát triển. Ảnh hưởng này nhìn bề nổi không có gì, nhưng thực sự bên trong nó đang gây nên sự chảy máu tài chính ngấm ngầm, nguy hại không kém gì chảy máu chất xám và chảy máu tài nguyên.    Kịch bản nào đang chờ chúng ta?  Với một bức tranh kinh tế toàn cầu như thế, thật sự lựa chọn con đường hội nhập cho các nước vệ tinh, đặc biệt là các nước có nền kinh tế chuyển đổi như nước ta quả không nhiều. Nổi bật hơn cả có ba con đường.  Một. Tự nguyện để trung tâm “thôn tính”. Kịch bản này đã được các nước Đông Âu và Baltic lựa chọn và thực hiện: gia nhập vào Cộng đồng chung châu Âu. Tuy nhiện, nền kinh tế của họ khó có thể gọi là độc lập và cơ hội phát triển để đuổi kịp mặt bằng các nước trung tâm EU thật mong manh, tính sơ sơ cũng phải mất 25-30 năm (năm 2000 GDP đầu người của Bulgari chỉ bằng 23% GDP trung bình của EU, Hungari– 47%, Latvia– 27%, Litva– 31%, Ba lan– 40%, Rumani– 31%, Slovakia– 47%, Slovenia– 68%, Chez– 63%, Estonia– 37%)3.  Hai. Chuẩn bị tinh thần làm “thuộc địa”. Đây là kịch bản mà trung tâm rất muốn viết riêng cho các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Bởi nơi đây có một nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có. Và thật tuyệt vời nếu các vệ tinh này sẵn sàng trở thành nơi khai thác và cung cấp nguyên liệu cho cỗ máy toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, khi đã thành thuộc địa, dù là dưới bất cứ hình thức nào thì các nước vệ tinh sẽ phải quên dần đi tính độc lập của một quốc gia có chủ quyền thật sự.  Ba. Bứt lên làm trung tâm. Nếu không muốn làm “thuộc địa”, không muốn bị trung tâm thôn tính chỉ còn một cách phải bứt lên làm trung tâm. Khó khăn, rất khó khăn, nhưng vẫn có thể làm được. Muốn bứt lên dứt khoát phải có chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế, bằng mọi cách phải xây dựng được những ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao, mạnh dạn tấn công và từng bước làm chủ thị trường công nghệ cao, ngăn chặn hiện tượng chảy máu chất xám, chảy máu tài chính và tài nguyên thiên nhiên. Chính Trung Quốc đã chọn kịch bản này và đang rất thành công? Thế còn chúng ta? Chúng ta sẽ phải làm gì đây?  Những việc cần làm ngay  Chúng ta đã biết, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu hóa được xác định bởi một số yếu tố cơ bản: chất lượng giáo dục và sức khỏe cộng đồng; sự phát triển khoa học – công nghệ; hệ thống thông tin và khả năng tiếp cận thông tin; điều kiện để phát triển khả năng sáng tạo; môi trường sinh thái và sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn phù hợp với tầng công nghệ mới.  Công việc mà chúng ta cần làm không phải là nhiều và hoàn toàn không hề mới, nhưng lại hết sức khó khăn.  1. Phát triển giáo dục, lấy chất lượng làm trọng. Hãy nhanh chóng bỏ qua những yêu cầu, định hướng phát triển hình thức, giáo điều. Cái chúng ta cần là một nền giáo dục lành mạnh, chất lượng, góp phần nâng cao dân trí của người dân, xây dựng và củng cố nền tảng văn hóa Việt, tiến tới hình thành và phát triển nền tảng khoa học Việt, đặc biệt là khoa học quản lý.  2. Xây dựng một xã hội thông tin, đặc biệt chú trọng khả năng tiếp cận, trao đổi thông tin của mọi người dân. Giáo dục, dân trí, xã hội học tập, khả năng sáng tạo sẽ không thể phát huy tác dụng, không được nâng cấp nếu chúng ta không có một xã hội thông tin.  3. Ngăn chặn chảy máu chất xám. Và biện pháp đơn giản nhất là học được cách nhận biết, tôn trọng và dám sử dụng người tài. “Khoa học không có Tổ quốc, nhưng nhà khoa học lúc nào cũng có một Tổ quốc”. Vấn đề mấu chốt là Tổ quốc có tiếp nhận, ủng hộ và tạo điều kiện thực (về hình thức thì chúng ta có quá thừa các chủ trương, chính sách đãi ngộ người tài) để nhà khoa học phát triển.  4. Ngăn chặn chảy máu tài nguyên. Đơn giản là làm thế nào chúng ta bán tài nguyên thiên nhiên hạn hữu của mình một cách hiệu quả nhất, với giá cao nhất. Muốn vậy thì phải tìm cách bán sản phẩm tinh thay vì sản phẩm thô như hiện nay và điều quan trọng hơn cả là biết sử dụng hiệu quả nguồn lợi tức thiên nhiên quí giá để đầu tư phát triển các ngành kinh tế trọng điểm.  5. Ngăn chặn chảy máu vốn. Cách làm đơn giản nhất là tập trung nâng cao khả năng sinh lời của các ngành sản xuất trong nước. Muốn như thế thì phải nhanh chóng chuyển dịch từ “quảng canh” sang “thâm canh”, chuyển từ tăng trưởng nhờ số lượng sang chất lượng, cái mà chúng ta hiện nay chỉ mới nói nhưng chưa có làm. Tập trung đổi mới công nghệ sản xuất, cương quyết không phát triển sản xuất thô sơ, và quan tâm đặc biệt đến khả năng tạo giá trị gia tăng của cả nền kinh tế.  6. Lựa chọn và tập trung sức đột phá vào một số ngành công nghiệp mũi nhọn của thế kỷ 21 như: công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, công nghệ mạng thông tin toàn cầu, công nghệ giao thông vận tải siêu tốc toàn cầu, công nghệ siêu nhỏ, hoặc hệ thống sản xuất tự động linh hoạt, công nghệ vũ trụ, điện nguyên tử, nhiên liệu mới. Theo dự báo, đây sẽ là nền tảng của tầng công nghệ trong tương lai. Và lịch sử đã chứng minh, cơ hội gần như là duy nhất giúp các nước vệ tinh có thể bứt phá lên làm trung tâm chính là ở sự lựa chọn đúng đắn trong việc đầu tư vào tầng công nghệ của tương lai. 30 năm trước Korea, Singapore, Malaysia, Taiwan đã chọn công nghệ thông tin làm mũi nhọn tiến công và họ đã làm nên điều kỳ diệu. Thế còn chúng ta thì sao?  ———  * Tiến sĩ Kinh tế, Khoa Quản trị Kinh doanh, Đại học Ngoại thưong Hà Nội.  1 UNCTAD. Statistics Yearbooks, 2005; WTO. Annual report 2005.  2 Колодко Г. От шока к терапии. Политическая экономия постсоциалистических преобразований. М.: Эксперт, 2000. стр.122-128.  Stiglitz J. More Instruments and Broader Goals: Moving Toward the Post – Washington Consensus. WIDER Annual Lecture. WINDER/UNU, 1998.  3 IMF: World Economic Outlook.Oct.2001, May 2002.    ——–  CHÚ THÍCH ẢNH: Là vệ tinh có  nghĩa phải chấp nhận bán rẻ sức lao động      Nguyễn Văn Minh*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự động hóa doanh nghiệp trong CMCN 4.0: Khó nhất là thay đổi tư duy người đứng đầu      Tại diễn đàn Công nghiệp lần thứ nhất “Nhu cầu công nghệ trong quá trình sản xuất tự động hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam” do Viện VKIST kết hợp với Hội Tự động hóa Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam và Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tổ chức vào ngày 29/8/2018, nhiều chuyên gia cho rằng khó khăn nhất trong tự động hóa doanh nghiệp hiện nay là thay đổi tư duy người đứng đầu.      Dây chuyền sản xuất hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế GMP –WHO tại công ty cổ phần Dược Trung ương Mediplantex. Nguồn: anvitra.vn  Dựa trên các tiêu chí về công nghệ và sản phẩm của các cuộc cách mạng công nghệ (CMCN), TS. Nguyễn Quân – Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, nhận xét, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa CMCN 4.0 nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề từ các CMCN trước, đặc biệt các yếu tố căn bản của CMCN 2, 3 còn ở trình độ thấp. Do đó, ông cho rằng, “với cơ cấu kinh tế của Việt Nam hiện tại, chắc chắn đến 2020 chúng ta không thể đạt được những tiêu chí của một nước công nghiệp”. Theo báo cáo năm 2017 của Ngân hàng Thế giới, phải đến năm 2035 Việt Nam mới có thể đạt được các tiêu chí này. Mặt khác nền công nghiệp Việt Nam còn tồn tại một vấn đề khác: một số ngành quan trọng như chế biến và chế tạo còn giữ tỉ trọng rất thấp trong cơ cấu (dưới 15%).  Khi Việt Nam ký rất nhiều các hiệp định thương mại tự do, sản phẩm sẽ phải chịu sự cạnh tranh lớn và nếu không ứng dụng công nghệ và tự động hóa để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng thì có khả năng thua cuộc cả sản phẩm của các quốc gia cùng khu vực. Vì thế, Việt Nam rất cần các thay đổi về công nghệ. Tuy nhiên khúc mắc lớn nhất trong quá trình này lại là làm thế nào để thay đổi tư duy người đứng đầu doanh nghiệp về tự động hóa, theo ý kiến chung của các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ và tự động hóa. “Mỗi lần thay đổi để đưa một sản phẩm mới vào các doanh nghiệp, cái khó khăn nhất là thay đổi quan điểm của người đứng đầu”, ông Đinh Văn Hiến, tổng giám đốc DKNEC – công ty chuyên sản xuất dây chuyền công nghiệp chế biến thực phẩm, nêu. Đại diện Autotech – công ty chế tạo máy và nâng cấp dây chuyền sản xuất, bà Phạm Thị Hương nói, “họ mới chỉ nhìn thấy là nhân công đang rất rẻ còn chi phí một hệ thống tự động hóa lại rất đắt”.  Cùng chung quan điểm này, bà Đỗ Thị Thúy Hường, Ủy viên BCH Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, cho biết thêm, các doanh nghiệp FDI đều coi tư tưởng muốn thay đổi của người đứng đầu doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất chứ không phải là vốn hay công nghệ, chỉ khi người đứng đầu quyết tâm thì mới tìm nguồn vốn để đổi mới công nghệ, đổi mới sản xuất. Đây là tiêu chuẩn quan trọng để các hãng lớn như Samsung, Canon đánh giá lựa chọn doanh nghiệp nội tham gia vào chuỗi cung cấp của họ.  Để góp phần giải quyết vấn đề này, TS. Nguyễn Quân nhiều lần đề xuất các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chưa có khả năng tự thực hiện R&D về tự động hóa thì có thể đặt hàng nghiên cứu từ các viện, các trường đại học. Cách này có thể tận dụng được khoa học công nghệ để giải quyết các vấn đề của bản thân doanh nghiệp trong sản xuất và tạo đầu ra cho nghiên cứu. Viện trưởng Viện VKIST, TS. Kum Dongwha cũng cho rằng với các nước đang phát triển như Việt Nam không cần phải chạy đua theo “chiều dọc” về các công nghệ của CMCN 4.0, mà chỉ cần tận dụng các công nghệ sẵn có trên thế giới và áp dụng vào các sản phẩm thế mạnh của mình.    Author                Hoàng Nam        
__label__tiasang Tư duy công nghệ và giá trị sản phẩm      Các điển hình thành công về Công nghiệp hóa, Công nghệ cao (CNC) hay Hệ thống đổi mới Quốc gia (National Innovation System – NIS) luôn gắn với những hoàn cảnh, điều kiện nhất định và thường bị các nhà hoạch định chính sách ở các nước “đi sau” bỏ qua hoặc không chú ý tới. Những hoàn cảnh, điều kiện trên có khi do con người tạo ra, nhưng cũng có khi là sự hội tụ của những ngẫu nhiên. Việc tìm ra các bản chất, đề ra cách áp dụng hợp với điều kiện của mình không những tạo ra hiệu quả mà còn tránh được những lãng phí, thậm chí những thất bại cho nền kinh tế.    Năng suất lao động: gốc của vấn đề  Gốc của sự phát triển là tăng Năng suất lao động (Productivity, dưới đây viết tắt là NSLĐ). Một quốc gia muốn tăng nhanh và bền vững NSLĐ thì cần phải phát triển Khoa học-Công nghệ (KH-CN). Tăng NSLĐ bằng KH-CN thể hiện ở việc tăng Giá trị sản phẩm (GTSP). Có nhiều cách để tăng GTSP, trong đó có CNC, cách mà một số nước phát triển đang áp dụng thành công. CNC đòi hỏi nhiều điều kiện đi kèm để có hiệu quả nhưng việc gia tăng GTSP thì cần ít điều kiện hơn và có thể áp dụng ngay và ở tất cả mọi lĩnh vực. Nhiều chuyên gia (Alfred Watkins, Jefrey Waite của World Bank, Phillip Griffiths của Science Initiative Group, IDRC của Canada, EU, Kenichi Ohno của JICA, UNIDO…) cho rằng, ở nhiều nước, CNC không nhất thiết đem lại phát triển kinh tế.   Gia tăng GTSP được thực hiện không những bởi việc dùng các công nghệ tiên tiến, ví dụ: CNC, để sản xuất ra, mà còn thông qua các cải tiến, đưa thêm các công năng, chất lượng cho sản phẩm (mà không nhất thiết phải bằng CNC). Để làm được việc đó, người ta có thể áp dụng CNC hoặc có thể đầu tư suy nghĩ, tìm tòi, sáng chế…, để cải tiến sản phẩm. Vì vậy, có thể nói, hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm đã được nâng cao. Việc này có thể thực hiện đối với các sản phẩm và công nghệ truyền thống.  Qua đó, các sản phẩm trở nên tinh tế hơn, đáp ứng tốt hơn với nhu cầu thị trường. Đặc biệt với các sản phẩm phi công nghiệp, sản xuất thủ công, không phải sản xuất hàng loạt, với sự thay đổi tương đối cao trong quy trình sản xuất và các sản phẩm đòi hỏi tính thẩm mỹ, tinh tế cao. Lắp ráp (assembling) máy tính xuất khẩu sẽ làm tăng xuất khẩu CNC nhưng là công việc lao động giản đơn, không yêu cầu kỹ năng cao và ít đem lại giá trị gia tăng cho sản phẩm. Bên cạnh đó, áp dụng KH-CN (có khi chỉ là công nghệ truyền thống) vào chế biến nguyên liệu thô (khoáng sản, tài nguyên…), chế biến các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp để xuất khẩu đem lại lượng giá trị gia tăng thường lớn hơn lượng GTGT vào CNC (trong trường hợp CNC còn chưa phát triển hoặc cần đầu tư ban đầu lớn). Điều này có tác dụng lớn vì được thực hiện rộng khắp cho mọi ngành sản xuất, mọi sản phẩm của nền kinh tế, đặc biệt các sản phẩm đơn lẻ, yêu cầu tính nghệ thuật, thẩm mỹ. Ví dụ: sản phẩm may đo, cây cảnh, thủ công-mỹ nghệ… mà các hộ gia đình, các làng nghề ở Việt Nam đang sản xuất trên diện rộng. Việc áp dụng công nghệ để gia tăng giá trị các sản phẩm xuất xuất khẩu, đặc biệt là tài nguyên, khoáng sản là việc làm trong tầm tay và rất cần làm ngay. Việc gia tăng GTSP hay nâng cao ý thức công nghệ trong sản xuất, kinh doanh còn thể hiện ở những sáng chế, sáng kiến về công nghệ như máy chụp cắt lớp, máy bay cỡ nhỏ, kỹ năng di dời công trình xây dựng… Ngoài ra, công nghệ ở đây còn bao gồm cả quy trình sản xuất nói chung như theo quan niệm của ISO. Điều này đồng nhất với quá trình Tái-chế tạo (Re-engineering), tức là bao gồm cả các cải tiến về quy trình hoạt động.  So sánh giữa CNC và gia tăng GTSP              Bảng dưới đây giúp so sánh hai khái niệm trên được dễ dàng hơn.          CNC:   – Đòi hỏi vốn đầu tư lớn về xây dựng hạ tầng, thiết bị, công nghệ…, nói chung là “phần cứng”, đặc biệt đối với các nước chưa có nền đại công nghiệp.   – Đòi hỏi các mối liên kết (nói chung là “phần mềm”) mới, ví dụ: các mối liên kết của thị trường KH-CN đã phát triển, các mối liên kết công ty-nghiên cứu-trường đại học ổn định, các chùm (cụm) công nghệ, các ngành công nghiệp hỗ trợ, tác dụng của luật sở hữu trí tuệ và các luật khác…   – Thiếu nguồn nhân lực thích hợp cho CNC.   – Cần mở ra thị trường mới cho CNC (trong nước và xuất khẩu).   – Thêm các cạnh tranh khốc liệt mới.   – Thiếu các cơ chế mới, đồng bộ giữa các bộ ngành, địa phương (ví dụ: về cấp đất, quản lý đầu tư…).   – Nếu hành động chậm sẽ bị thất bại trước các đối thủ hành động nhanh hơn (trong CNC, tốc độ quyết định chứ không phải cường độ).   – Ta chưa có các công nghệ “nền” quan trọng.   – Độ mạo hiểm (rủi ro) cao khi đầu tư.                                      R&D                                                             Nâng cấp                              Công nghệ,                           Chế tạo ngược                               Mua sắm &                       Đồng hóa Công nghệ                                Sử dụng & Vận hành Công nghệ                        – Điểm xuất phát cao so với năng lực và nhu cầu của các nước chậm phát triển   Gia Tăng GTSP:   – Cần ít vốn đầu tư vì chủ yếu tận dụng các cơ sở vật chất hiện có.   – Sử dụng các mối liên kết đang tồn tại (VD: sản xuất nhỏ, thị trường sơ khai, hệ thống công nghiệp cơ bản chưa phát triển, các mối liên kết dọc và ngang (vertical and horizontal linkages) chưa phát triển…   – Sử dụng và nâng cấp nguồn nhân lực hiện có.    – Sử dụng và mở rộng các thị trường cũ.   – Có thể khốc liệt hơn nhưng chủ yếu vẫn các dạng cạnh tranh cũ.   – Sử dụng và cải thiện các cơ chế hiện tại.   – Khả năng bắt vào nhịp của thế giới nhanh hơn.   – Người Việt Nam ham tìm tòi, có nhiều sáng tạo cải tiến nhỏ, có độ tinh tế, nhậy bén trong nắm bắt nhu cầu, thị hiếu khách hàng.   – Độ mạo hiểm (rủi ro) thấp hơn.                                 R&D                                                            Nâng cấp                            Công nghệ,                           Chế tạo ngược                               Mua sắm &                   Đồng hóa Công nghệ                                Sử dụng & Vận hành Công nghệ    – Điểm xuất phát phù hợp hơn với năng lực và nhu cầu của các nước chậm phát triển                                                                    Một số đề xuất  Nền tảng quan trọng nhất là việc nâng cao Tư duy công nghệ (hay Ý thức công nghệ) trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp từ cấp cơ sở (tức nơi sử dụng công nghệ) theo cách tiếp cận từ dưới lên trên (bottom-up approach). Hoạt động này được triển khai diện rộng và chủ yếu do các ngành, địa phương (phi tập trung) bao gồm các lĩnh vực công nghệ với các nguồn vốn nhà nước, địa phương và tư nhân. Trong đó, vai trò của Nhà nước là tiến hành một cách tập trung việc: đánh giá hiện trạng công nghệ của các ngành, xác định một cách tổng quát công nghệ ngành đó trên thế giới (qua đó, thấy được ta đang ở vị trí nào trên “bậc thang” công nghệ ở ngành đó). Sau đó, việc lựa chọn công nghệ thích hợp tùy thuộc vào từng đơn vị, cá nhân.            Tại một số làng nghề, thí dụ như Vạn Phúc, cũng đã có một số thiết bị sản xuất nhưng vẫn mang tính truyền thống, sản xuất nhỏ lẻ. ảnh: Thời Đại          Đối với CNC, Nhà nước cần tiến hành một cách tập trung (chủ yếu là R&D và công nghệ), trong đó, cần có hoạch định kỹ về lĩnh vực, cách tiến hành (top-down approach). Để tập trung đầu tư, các lĩnh vực CNC cần rất hạn chế và có sự ghi nhận phản hồi (feed-back) kịp thời để điều chỉnh nhanh chóng tránh lãng phí. Sản phẩm cuối của CNC (do Nhà nước tiến hành) nên dừng ở các bản quyền về công nghệ đủ để thương mại hóa.  Như vậy, tránh được đầu tư chung chung vào quãng giữa, tức là không thực sự phát triển được CNC mà cũng không nâng tầm công nghệ được trong diện rộng.  Bên cạnh đó, làm sao để vốn ngân sách cho phát triển công nghệ chỉ là vốn “mồi” cho thị trường công nghệ phát triển (chứ không phải để “nuôi” thị trường). Trong đó, chú trọng vào “kích cung” (demand driven) hơn là kích cầu như hiện nay.   Phát triển Tư duy công nghệ như nói ở trên, thực chất là bước đầu, là nền tảng của Hệ thống đổi mới Quốc gia (National Innovation System–NIS), một chương trình rộng khắp mà ta nhất định phải tiến hành để phát triển đất nước. NIS mang tính đa ngành rất cao và có hiệu ứng lan tỏa, tính công năng (synergy) lớn. Nó đòi hỏi vai trò điều phối lớn từ Nhà nước và sự phối hợp tốt giữa Nhà nước và các ngành, địa phương để bảo đảm tính đồng bộ.  NIS cần lấy khoa học-công nghệ làm nền tảng và điểm xuất phát.   Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, bắt đầu tiến hành NIS từ việc dùng công nghệ để nâng cao GTSP.  —————  * Vụ Công nghệ cao, Bộ Khoa học và Công nghệ  Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy dài hạn về mục tiêu tăng trưởng      Đặc điểm nổi bật nhất của nội dung kinh tế trong Báo cáo Chính phủ trước Quốc hội năm nay hầu như chủ yếu dành cho nhiệm vụ cải cách thể chế và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Các mục tiêu số lượng – điển hình nhất là mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP và mức lạm phát (thể hiện ở chỉ số giá bán lẻ hàng tiêu dùng CPI) – được đề cập đến trong đó được diễn đạt theo một cách khác hẳn.    Thay cho các chỉ tiêu “cứng” (thường hàm nghĩa pháp lệnh) là sự co giãn thể hiện tính mềm dẻo:            Để đạt tốc độ tăng trưởng tiềm năng, phải nâng cao hiệu quả đầu tư chứ không phải là dốc sức tăng khối lượng đầu tư.         Năm 2006 và 5 năm 2006-2010 phải phát triển kinh tế – xã hội nhanh hơn và bền vững hơn” và “Tiếp tục thực hiện chính sách tài chính – tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và kiểm chế chỉ số giá tiêu dùng không vượt nhịp độ tăng trưởng kinh tế”1. Phải nói đây là sự thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận đến mục tiêu kinh tế. Nó tiếp nối và khẳng định những nỗ lực đã có từ những năm trước của Đảng và Chính phủ nhằm tạo ra sự chuyển hướng ưu tiên đối với các mục tiêu phát triển.              Tăng trưởng cần tuân theo qui luật cạnh tranh tự do và lành mạnh. ảnh: Quốc Tuấn        Không nghi ngờ gì, đây là sự chuyển hướng đúng, phù hợp với vai trò chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.  Tranh luận quanh mức tăng trưởng 8%  Nhưng từ sự chuyển hướng mạnh trong tư duy về mục tiêu cho đến việc quán triệt sâu rộng nó vào đời sống xã hội, trước hết là vào bộ máy điều hành và quản lý nhà nước và cuối cùng, chuyển hóa tư duy đổi mới đó thành một cơ chế hành động thực tiễn phù hợp luôn luôn là một công việc không dễ dàng và đòi hỏi nhiều thời gian. Và điều này bộc lộ ngay trên trên diễn đàn Quốc hội, thông qua cuộc tranh luận về mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2006.  Cuộc tranh luận này xoay quanh mức tăng trưởng 8%, với hai luồng ý kiến khác nhau. Một luồng ý kiến cho rằng mức tăng trưởng 8% là thấp; còn một luồng khác cho rằng cần chú ý mạnh hơn đến chất lượng tăng trưởng thay vì đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng cao hơn.  Luồng ý kiến thứ nhất chủ yếu dựa trên 3 luận cứ. Một là năm 2005, trong điều kiện đối mặt với rất nhiều khó khăn (biến động giá xăng dầu, thị trường hàng dệt may, bão lụt, cúm gà, v.v.) mà nền kinh tế vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao (dự kiến 8,4%) xấp xỉ mục tiêu đề ra 8,5%. Hai là nền kinh tế nước ta, như được luận chứng trong nhiều công trình nghiên cứu và được hàng loạt văn kiện của Đảng và Nhà nước khẳng định, đang tăng trưởng thấp hơn mức tiềm năng. Do đó, nó có đủ các điều kiện cơ bản để nâng tốc độ tăng trưởng lên cao hơn đáng kể so với mức hiện tại. Ba là trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế, yêu cầu tăng trưởng nhanh đối với nền kinh tế nước ta là mang tính sống còn. Chúng ta không thể thoát khỏi tình trạng tụt hậu ngày càng xa hơn (mà nền kinh tế hiện đang thực sự lâm vào) nếu không đẩy tốc độ tăng trưởng lên cao hơn.  Quả thật là những luận cứ xác đáng và dường như không có gì bắt bẻ được. Dựa vào đó, một số người đề nghị cần nâng mức tăng trưởng mục tiêu cho năm 2006 (và theo logic đó là cho cả các năm sau) lên 8,5-9%.            Điều quan trọng nhất vẫn là chú ý tới tăng trưởng dài hạn  quan trọng chứ không phải dồn sức cho đầu tư ngắn hạn và dàn trải. ảnh: Quốc Tuấn             Luồng ý kiến thứ hai đòi hỏi chú trọng nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng. Trong đòi hỏi đó chứa hàm ý về một mục tiêu tăng trưởng vừa phải hơn, 7,5-8%. Lập luận của luồng ý kiến này rất đơn giản. Thứ nhất, trong khi mô hình tăng trưởng của ta hiện nay là dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và nguy cơ lạm phát bùng nổ đang là mối đe dọa gần kề thì không thể dốc sức tăng trưởng ngắn hạn bằng cách phá hủy các cơ sở tăng trưởng dài hạn mà cơ sở quan trọng nhất là sự ổn định kinh tế vĩ mô. Thứ hai, một số điều kiện tăng trưởng cơ bản không thuộc tầm kiểm soát của Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam đang có những biến động bất thường và gây nhiều bất lợi cho quá trình tăng trưởng. Đó là tình hình thị trường thế giới – cả thị trường đầu vào (xăng dầu, hóa chất, thép, phân bón, tỷ giá hối đoái và lãi suất,v.v.) lẫn thị trường đầu ra (hàng dệt may, giày dép, hải sản,v.v.) cũng như xu hướng thiên tai bệnh dịch lan rộng (bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, v.v.) đang và chắc sẽ còn tác động tiêu cực mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta.         Cần đoạn tuyệt với mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác chiều rộng (tăng vốn đầu vào), vào khai thác tài nguyên và vào đầu tư nhà nước và chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên nguyên lý phân phối nguồn lực do thị trường đóng vai trò quyết định, tuân theo quy luật cạnh tranh tự do lành mạnh.          Tuy chỉ có hai luận cứ chính nhưng mức độ thuyết phục của luồng ý kiến này cũng rất cao, không kém gì của luồng ý kiến thứ nhất.  Như vậy, dường như chúng ta phải lựa chọn mục tiêu phát triển kinh tế cho năm 2006 và của giai đoạn 2006-2010 trong thế lưỡng nan. Dù có lý lẽ vững chắc đến đâu thì cả hai luồng ý kiến nêu trên đều chưa chỉ ra một cách thuyết phục bằng cách nào nền kinh tế nước ta trong năm 2006 có thể đạt được những định mức tăng trưởng – dù cao hay thấp – được mỗi bên xác định như trên.Tăng trưởng phải theo đúng qui luật  Trước hết, cần phải nói rằng nếu không chịu những biến cố bất thường gây tác động tiêu cực quá lớn, nền kinh tế nước ta hoàn toàn có đủ điều kiện để tăng trưởng cao hơn mức hiện tại. Nhưng đó chỉ là một khả năng, cho dù là khả năng có tính hiện thực rất cao. Muốn biến khả năng đó thành hiện thực, tức là chuyển hóa tiềm năng tăng trưởng thành tốc độ tăng trưởng GDP thực tế 9-10%, thậm chí 15-17%, cần phải có những điều kiện nhất định. Logic ở đây không có gì là phức tạp: để đạt tốc độ tăng trưởng tiềm năng, phải nâng cao hiệu quả đầu tư chứ không phải là dốc sức tăng khối lượng đầu tư.   Nhưng nói theo ngôn ngữ kinh tế học, để nâng cao được hiệu quả đầu tư, người ta phải dốc sức cho việc tạo ra và củng cố các cơ sở dài hạn của tăng trưởng chứ không phải cho việc huy động vốn tối đa và phân bổ nó chủ yếu cho các doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể hơn, sự chú ý chính sách và nỗ lực của bộ máy điều hành vĩ mô phải dành ưu tiên cho việc tạo ra cơ chế phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Một môi trường kinh doanh lành mạnh và năng động, bao hàm sự phát triển đồng bộ của các thị trường, sự “phân vai” hợp lý giữa nhà nước và thị trường, sự phân công và phối hợp chức năng tối ưu giữa các chủ thể thị trường, mà quan trọng nhất là giữa các thành phần và khu vực kinh tế2, một hệ thống thuế đơn giản và có định hướng khuyến khích rõ ràng, một hệ thống các ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc không thiên vị xuất xứ “thành phần” của doanh nghiệp, v.v. chính là thực chất của cơ chế phân bổ nguồn lực như vậy.  Tất cả những cơ sở tăng trưởng này, tuy đã hiện diện trong nền kinh tế nước ta, song vẫn còn thấp xa mức yêu cầu để nền kinh tế đạt được đồng thời cả tốc độ tăng trưởng lớn lẫn chất lượng tăng trưởng cao. Chính vì thế, trong những năm qua, cho dù Chính phủ và cả khu vực doanh nghiệp nhà nước có quyết tâm cực kỳ cao, đã dốc sức tối đa cho tăng trưởng, song tốc độ tăng trưởng mà nền kinh tế đạt được cũng chỉ dưới mức tiềm năng, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, chưa kể một lượng không nhỏ nguồn lực bị lãng phí.  Muốn nền kinh tế nước ta thực sự nâng cao tốc độ tăng trưởng đạt mức tiềm năng và cải thiện chất lượng tăng trưởng, cần phải khổ công tạo ra và củng cố những “cơ sở” tăng trưởng đó. Đây chính là thực chất của cái gọi là của tầm nhìn dài hạn trong tăng trưởng, cũng là nội dung quan trọng hàng đầu của yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy và chuyển hướng tiếp cận đến mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế đang đặt ra bức bách.        Có những nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn hay trung hạn rất cao nhưng vẫn có thể thua trong cuộc đua tranh phát triển dài hạn do bị thất bại trong cạnh tranh.        Nói cụ thể hơn, đã đến lúc chúng ta cần phải đoạn tuyệt với mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác chiều rộng (tăng vốn đầu vào), vào khai thác tài nguyên và vào đầu tư nhà nước, từng bước chắc chắn nhưng cũng không thể quá chậm trễ chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên nguyên lý phân phối nguồn lực do thị trường đóng vai trò quyết định, tuân theo quy luật cạnh tranh tự do lành mạnh, khuyến khích sự tham gia tối đa của khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, dựa ngày càng nhiều hơn vào 2 yếu tố: công nghệ cao, nguồn nhân lực kỹ năng cao và hội nhập quốc tế.    Phải loại bỏ “chủ nghĩa thành tích”  Với tiềm lực tài chính có hạn, năng lực bộ máy và cán bộ chưa đủ cao, ngay tức thời trong năm 2006 (và có thể một vài năm sau đó), Chính phủ khó có thể đồng thời giải quyết tốt như mong muốn cả hai việc: vừa tập trung nỗ lực để tạo ra và củng cố các cơ sở nền tảng của tăng trưởng, lại vừa đáp ứng được đòi hỏi tăng trưởng cao (huy động vốn phục vụ đầu tư cao và sử dụng vốn một cách hiệu quả). Cách thức tối ưu nhất trong giai đoạn trước mắt chỉ có thể là tập trung ưu tiên cho nhiệm vụ tạo lập và củng cố cơ sở tăng trưởng thay cho nỗ lực tăng vốn đầu tư nhà nước lên cực đại để đạt bằng được mục tiêu tốc độ.  Nhưng cũng cần nói rõ rằng quá trình chuyển biến này sẽ rất không dễ dàng. Hiện nay, xu hướng tăng đầu tư để đạt thành tích tăng trưởng cao đã trở thành một căn bệnh nghiêm trọng, không dễ chữa trong nền kinh tế. Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, ở các bộ, ngành và tỉnh, đầu tư phát triển đang biến thành một cuộc đua tranh quyết liệt. Trong không ít trường hợp, ẩn sau cuộc đua đó, tạo thành động cơ mạnh mẽ nhất của nó là căn bệnh thành tích, là lợi ích cục bộ giành được từ “chiếc bánh” đầu tư nhà nước, là lợi ích cá nhân nhờ xà xẻo, tham nhũng, hối lộ và lạm dụng khe hở cơ chế3. Về mặt đạo đức, mọi người đều sẵn sàng lên án căn bệnh này. Song từ bỏ lợi ích do cơ chế đó mang lại, trên lập trường kinh tế mà xét, về mặt cá nhân, lại rất ít tính hợp lý.       Cuối cùng vẫn là “cái nhìn dài hạn”  Những điều nói trên phản ánh một khía cạnh cơ bản trong tư duy mới về mục tiêu tăng trưởng. Nhưng còn một điểm nhấn khác không kém phần quan trọng. Đó là yêu cầu phải chuyển hướng từ “tĩnh” sang “động” trong quan niệm về mục tiêu. Lâu nay, mục tiêu kinh tế được xác định chủ yếu theo hướng “định lượng – tĩnh”, nghĩa là trong một thời gian nào đó (1 năm, 5 năm hay 10 năm), nền kinh tế sẽ “được thiết kế” đạt tốc độ tăng trưởng 5% hay 7%/năm để đến một thời điểm xác định (cuối năm 2006, hết năm 2010 hay 2015), GDP, kim ngạch xuất khẩu và GDP/người sẽ đạt bao nhiêu đó. Tất nhiên, hệ mục tiêu định lượng này rất quan trọng. Nó đo lường bước tiến và xác định tiềm lực (cũng là năng lực tăng trưởng và phát triển) của nền kinh tế. Nhưng hai đặc điểm của nó- chủ yếu đo lường sự phát triển theo kiểu “ta so với chính ta” và ít phản ánh chất lượng của quá trình -lại chứa đựng những điểm yếu. Thứ nhất, nó dễ làm người ta hài lòng, mãn nguyện. Thứ hai, nó ít quan tâm đến hiệu quả hoạt động và chất lượng tăng trưởng. Thứ ba, và đây chính là điểm then chốt nhất, trong hệ thống kinh tế mở, nó không giúp định vị chính xác tương quan sức mạnh và vị thế của chủ thể so với các đối thủ cạnh tranh.  Điều này có nghĩa gì? Có nghĩa rằng có những nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn hay trung hạn rất cao nhưng vẫn có thể thua trong cuộc đua tranh phát triển dài hạn do bị thất bại trong cạnh tranh. Đối với các nước nghèo, lạc hậu, khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao thường là khá dễ dàng. Song năng lực cải thiện chất lượng tăng trưởng, tạo ra, duy trì và củng cố các cơ sở tăng trưởng dài hạn của họ thường là thấp. Điều này giải thích tại sao đa số nước nghèo lại vẫn “hoàn nghèo” trong cuộc chạy đua tăng trưởng trường kỳ. Các ví dụ nổi bật thường được đề cập đến để minh họa cho trường hợp này là Nigeria, Brazil và Argentina trong những năm 1970- thoạt đầu là thần kỳ tăng trưởng trong hàng chục năm liên tục với mô hình thay thế nhập khẩu, dựa vào khai thác tài nguyên, được dẫn dắt bởi các chính sách hướng nội và sự can thiệp trực tiếp, mang tính chi phối của nhà nước để rồi sau đó, rơi vào thảm họa suy thoái, trì trệ kéo dài.  Nói như vậy có nghĩa là trong một nền kinh tế thế giới mở cửa, cạnh tranh và hội nhập ngày càng sâu rộng thì loại mục tiêu sống còn, thậm chí, theo một nghĩa nào đó, còn quan trọng hơn cả mục tiêu tăng trưởng GDP 5-7%/năm, chính là loại mục tiêu “động”, liên quan đến năng lực cạnh tranh và vị thế trong hệ thống cạnh tranh. Không đạt được những mục tiêu này, đơn giản là nền kinh tế không thể tồn tại với tư cách là một thực thể cạnh tranh, không có cơ may để vươn lên, thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển và vươn lên “sánh vai với các cường quốc năm châu”, cho dù nó có thể đạt tốc độ tăng trưởng rất cao.  Theo logic đó, sự tụt hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu – hiện tượng đồng nghĩa với xu thế tụt hậu xa hơn – còn đáng sợ hơn cả sự sụt giảm 1-2% trong tốc độ tăng trưởng. Đây chính là thông điệp chính của tư duy thị trường-mở về mục tiêu tăng trưởng cho giai đoạn tới.  Đi theo thông điệp đó, tuy có thể (chỉ là có thể) tạm thời trong một vài năm trước mắt, nền kinh tế không đạt được tốc độ tăng trưởng cao như kỳ vọng (vì phải dốc sức cho việc tạo lập và củng cố các cơ sở tăng trưởng dài hạn thay vì dốc sức cho chính tốc độ tăng trưởng ngắn hạn), song suốt cả một giai đoạn dài sau đó, nó nhất định đạt được mục tiêu tăng trưởng cao bền vững. Đó chính là cơ sở để nghĩ đến và tin tưởng rằng một giai đoạn tăng trưởng GDP 12-15%/năm kéo dài hàng chục năm đang đến với nền kinh tế Việt Nam.  —————   * PGS.TS, Viện Kinh tế Việt Nam  ** Bài này được viết tiếp bài “Có cần đổi mới tư duy về mục tiêu tăng trưởng?” của cùng tác giả đăng trên Tia Sáng số 16, ra ngày 20.11.2005. Các tít bài do Tia Sáng đặt.  ———–  1 Trong Báo cáo, Chính phủ cũng “đề nghị Quốc hội đề ra nhiệm vụ kiềm chế lạm phát phù hợp với tình hình đang biến động, chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan, không quy định một mức nhất định về chỉ số giá tiêu dùng như mấy năm trước”.  2 Khái niệm “tối ưu” trong phân công và phối hợp chức năng ở đây được hiểu theo quan điểm lợi ích của toàn bộ nền kinh tế chứ không phải là lợi ích cục bộ của một chủ thể, một nhóm chủ thể hay thậm chí của một thành phần kinh tế nào. Trong nhiều trường hợp, một nhóm hay một thành phần kinh tế có thể đạt được lợi ích tối đa trên cơ sở lợi ích của các nhóm, các thành phần khác bị tổn hại. Xét toàn cục, khi đó, lợi ích phát triển toàn bộ và dài hạn của cả nền kinh tế cũng được “hy sinh” cho lợi ích nhóm cục bộ.  3 Tình trạng dàn trải đầu tư nhà nước bị phê phán nhiều năm mà không giải quyết được, thậm chí, mức độ trầm trọng ngày càng tăng thêm; cuộc đua xây dựng cơ sở hạ tầng và khu công nghiệp ở nhiều tỉnh theo cách biến cả tỉnh thành một “đại công trường” (Hà Giang chắc chắn chỉ là một ví dụ điển hình chứ không hề là đơn độc) cho thấy mức độ trầm trọng do rất được “ưa thích” của căn bênh này.   ————————-  Trần Đình Thiên *    Nguồn tin: Tia sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy hiệu quả      Bạn có bao giờ tự hỏi CEO của những doanh nghiệp hàng đầu thế giới ra quyết định như thế nào không? Họ có những nguyên tắc gì khi ra quyết định quan trọng? Là một người khởi nghiệp kinh doanh, đôi khi bạn phải đứng trước những lựa chọn rất khó khăn: Theo đuổi những gì mình biết hay theo đuổi một thứ gì đó thực sự tiềm năng nhưng bạn chẳng có chút kinh nghiệm nào? Bạn nên đầu tư thật nhiều để xây dựng hình ảnh doanh nghiệp hay bắt đầu với chi phí khiêm tốn?    Steve Jobs (trái) và Robert.A.Iger (phải), CEO của The Walt Disney Company. Nguồn: nytimes.comTrong bài viết này, tôi xin giới thiệu với bạn những tư duy khởi nghiệp kinh doanh với cái tên “Tư duy hướng tới hiệu quả” – effectuation. Được tiến hành nghiên cứu qua phỏng vấn, lắng nghe và quan sát 27 CEO hàng đầu thế giới từ năm 1997, năm 2001 Saras Sarasvathy giới thiệu kết quả nghiên cứu của mình với cái tên Effectuation. Nghiên cứu của bà chỉ ra rằng đến 89% các CEO này ra quyết định dựa trên tư duy hướng tới hiệu quả thay vì hướng tới nguyên nhân như trước kia. Trong khi tư duy hướng tới nguyên nhân thường được sử dụng trong những tương lai đã được đoán định trước, những nguyên nhân cũng rõ ràng và dễ hiểu hơn, thì tư duy hướng tới hiệu quả được các CEO sử dụng rất nhiều trong bối cảnh mọi thứ đều thay đổi nhanh chóng và khó đoán định.    Để người đọc hình dung cụ thể, tôi sẽ đưa ra các ví dụ trong từng nguyên tắc. (hình dưới)      Bird in hand – Chắc hẳn bạn đã từng nghe câu ngạn ngữ: một con chim trong tay thì hơn hai con trong bụi rậm. Điều đó có nghĩa là hãy ra quyết định dựa trên việc đặt mục tiêu và bắt đầu ngay từ những gì mình đang có.    Chính vì vậy, ngay khi băn khoăn nên chọn ý tưởng nào để kinh doanh, bạn phải cân nhắc giữa nhiều lựa chọn khởi nghiệp, với nguyên tắc trên, có thể bạn sẽ bắt đầu từ thế mạnh của mình, đam mê của mình, và những nguồn lực mình đang có. Những điều này sẽ làm nền tảng để bạn kiểm soát tốt hơn chính tương lai của mình.   Câu chuyện 1:  Hoàng Hiếu Huy, câu chuyện về startup chuyên ngành kế toán Việt được vinh danh ở Australia. Huy thi đỗ vị trí kế toán tại Viện Quản lý Ngân sách Công trình xây dựng Australia. Trong thời gian làm việc tại đây, anh bắt đầu nhận thấy tiềm năng phát triển cho dịch vụ thuê ngoài trong ngành kế toán.   Anh cho biết, hơn 90% công ty tại Canberra có quy mô nhỏ và vừa, trong khi giá thuê một nhân viên phụ trách kế toán khá đắt đỏ. Hầu hết lãnh đạo doanh nghiệp thường kiêm nhiệm luôn vấn đề sổ sách chi tiêu. Vì không có chuyên môn cộng thêm việc quản lý hoạt động kinh doanh, các ông chủ gặp rất nhiều khó khăn khi quản lý tài chính.   Đầu năm 2009, Huy đã thành lập công ty Harry’s Bookkeeping (sau đó đổi tên thành Tailored Accounts) cung cấp dịch vụ kế toán cho các công ty nhỏ và vừa. Nhằm tránh rủi ro về vốn – điểm anh cho là hạn chế lớn nhất cho các start-up khi bắt đầu khởi nghiệp, anh sử dụng toàn bộ số tiền tiết kiệm của mình làm vốn đầu tư ban đầu thay vì tìm kiếm các kênh bên ngoài. Để tiết kiệm, Huy sử dụng chính nhà ở làm văn phòng và tự mình kiêm nhiệm việc quản lý, quảng bá, giấy tờ, sổ sách và bán hàng. Thời gian này, anh vẫn tiếp tục công việc kế toán tại cơ quan Chính phủ để có chi phí duy trì công ty và sinh hoạt hằng ngày.    Huy đã đi từ thế mạnh của mình là kiểm toán, không vội bỏ việc ngay mà tận dụng những quan sát và quan hệ trong lĩnh vực của mình để có thể gây dựng dịch vụ tốt nhất trong khả năng có thể. Affordable loss – “chi phí thiệt hại chấp nhận được”: Giảm rủi ro bằng cách đặt các mục tiêu vừa sức, chi phí thấp.   Thay vì chi nhiều tiền cho các hoạt động nghiên cứu thị trường để tìm ra một phân khúc thị trường sẵn sàng chi trả cho giải pháp của mình, theo nguyên tắc giảm thiểu thiệt hại, Saras chỉ ra rằng các doanh nhân có thể tối thiểu hóa các nguồn lực về thời gian, công sức và tiền bạc, thậm chí ở mức cực đoan là không tốn một đồng nào để tiếp cận thị trường theo cách truyền thống. Nhiều doanh nhân thành công đã thực hiện điều đó bằng cách mang sản phẩm thử tới thẳng những khách hàng tiềm năng gần nhất. Nói một cách đơn giản, thay vì chi phí tốn kém cho các nghiên cứu thị trường, các doanh nhân này bán ý tưởng đầu tiên về sản phẩm, ngay cả trước khi sản phẩm định hình bằng việc tiếp cận những người có thể cần, lắng nghe những vấn đề của họ. Mặc dù rất vất vả ở giai đoạn đầu nhưng nghiên cứu thị trường quan trọng nhất chính là giai đoạn bán hàng thực thụ.    Cách tiếp cận này giúp khởi nghiệp không rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: muốn khảo sát thị trường nhưng không có kinh phí, kết cục là tạo ra những sản phẩm không ai muốn và tạo ra rất nhiều lãng phí về thời gian, tiền bạc và công sức.    Song, điều quan trọng nhất trong cách tiếp cận này là bạn phải luôn chăm chỉ, phải học từ khách hàng. Hơn nữa, qua việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và bán sản phẩm, bạn sẽ khám phá ra những vấn đề mới của khách hàng và thậm chí mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho chính mình.   Câu chuyện 2:  Thay vì đầu tư vào quảng cáo, nghiên cứu thị trường Michelle Phan – “Phù thủy” trang điểm bắt đầu việc tiếp cận khách hàng bằng chiếc laptop và máy quay. Gây dựng được một trong những kênh video thành công nhất trên YouTube với 8.3 triệu lượt theo dõi và hàng tỉ lượt xem trong gần 10 năm qua đã là điều đáng nể, tận dụng được đà nổi tiếng đó để thành lập một công ty thực sự với doanh thu hằng năm 120 triệu USD còn đáng ngạc nhiên hơn. Nhưng đó chính xác là những gì Phan đã làm với Ipsy – hãng kinh doanh mỹ phẩm với 100 nhân viên.   Ipsy tính phí người dùng 10 USD mỗi tháng cho gói sản phẩm “Glam Bag” với mỹ phẩm kích cỡ dùng thử (sample-sized). Số khách hàng của họ vừa chạm mốc một triệu người, CEO Ipsy – Marcelo Camberos cho biết. Anh là người đồng sáng lập với Phan năm 2011.   Không như công ty đối thủ – Birchbox – đầu tư vào quảng cáo TV truyền thống và cửa hàng bán lẻ, Ipsy có khách hàng hoàn toàn nhờ độ phủ sóng của Phan trên mạng xã hội. “Chúng tôi có hơn 100.000 khách hàng đăng ký Glam Bag mới mỗi tháng, hoàn toàn không cần quảng cáo hay PR”, Camberos cho biết. Năm nay, Ipsy sẽ trở thành công ty lớn nhất Mỹ về kinh doanh sản phẩm kích cỡ dùng thử.  Patchwork quilt – Nguyên tắc chiếc chăn caro: mọi thứ đều bổ trợ lẫn nhau, vì vậy hãy liên tục tìm kiếm đối tác, đàm phán và có được cam kết thay vì cạnh tranh.   Các nhà sáng lập những công ty nói với nhân viên của họ tập trung vào công việc của mình thay vì quan tâm đến đối thủ cạnh tranh. Họ biến khách hàng, đối thủ trở thành đối tác chiến lược. Trên thực tế, việc xây dựng những mối quan hệ với khách hàng ngay từ đầu tạo nền tảng cho rất nhiều doanh nghiệp. Không mất nhiều thời gian thu thập dữ liệu những khách hàng, thu thập thông tin, họ thực sự tập trung vào số ít khách hàng họ hiểu rất rõ. Đây chính là cơ sở để xây dựng phân khúc khách hàng riêng và tìm ra đại dương xanh cho mình. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp vì quá lo lắng về khả năng cạnh tranh đã tự đẩy mình vào cuộc cạnh tranh về giá với những đối thủ đang có mặt trên thị trường. Sai lầm này có thể dẫn đến việc phá sản do thiếu tiềm lực tài chính và chết dần do thiếu sự khác biệt, “phù thủy marketing” Steve Rivkin chỉ ra rằng, tập trung vào chất lượng, chiến lược khác biệt và bài bản sẽ là mấu chốt của thành công, giá rẻ là kẻ thù của sự khác biệt.   Nguyên tắc 4 và 5, hơn cả một nguyên tắc, đó là câu chuyện tư duy.  Lemonade – Có câu ngạn ngữ: Nếu cuộc đời ném cho bạn quả chanh, hãy làm cho mình một cốc chanh vắt, ám chỉ việc có thể biến những khó khăn, bất ngờ xảy đến thành cơ hội.    Được coi là tư duy cốt lõi dẫn đến thành công của các doanh nhân, thay vì đặt ra tình huống trong cuộc sống (điều gì xảy ra – nếu) để đối diện với những tình huống xấu nhất trong cuộc sống, họ diễn giải những bất ngờ này như một cơ hội để tạo ra những thị trường mới. Người điển hình cho tư duy này chính là Steve Jobs. Thất bại trong tranh giành quyền lực ở công ty chính mình tạo lập, Jobs phải rời khỏi Apple, rồi lại quay trở lại Apple 10 năm sau đó trong vai trò điều hành; Khi Steve Jobs điều hành Pixar, ông đã đàm phán thất bại với Disney trong việc hợp tác sản xuất một số siêu phẩm hoạt hình nhưng sau đó việc Pixar được Disney mua lại đã đưa ông trở thành cổ đông lớn nhất của Disney. Sự thăng trầm và những biến cố bất ngờ trong kinh doanh của Steve Jobs luôn khiến người khác phải ngạc nhiên khi ông xoay chuyển tình thế và trở thành người thắng cuộc.   Pilot in the plane – Hãy hành động, tương lai (thị trường) là do ta quyết định.   Bạn là phi công của chính chiếc máy bay cuộc đời bạn và cho chính công ty của bạn. Điều đó có nghĩa là, chúng ta có thể kiểm soát được tương lai mà không cần đoán trước chuyện gì xảy ra. Câu hỏi đặt ra là làm sao có thể kiểm soát được điều mình chưa biết ? Câu trả lời đến từ niềm tin của bạn về tương lai đến từ đâu? Cách tiếp cận truyền thống là chúng ta chỉ kiểm soát được tương lai chừng nào ta dự đoán được nó. Các doanh nhân hướng tới hiệu quả tư duy theo cách này: tương lai không chờ ở đó để ta khám phá mà được tạo ra từ những chiến lược của chính những người ở trong cuộc chơi kinh doanh này.  ——- Tham khảo: Phù thủy trang điểm gốc Việt và cách mạng trong ngành mỹ phẩm thế giới Nguồn:http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/phu-thuy-trang-diem-goc-viet-va-cach-mang-trong-nganh-my-pham-the-gioi-3341639.html Start-up của doanh nhân Việt được vinh danh tại Australia http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/khoi-nghiep/start-up-cua-doanh-nhan-viet-duoc-vinh-danh-tai-australia-3292114.html What makes entrepreneurs entrepreneurial? http://www.effectuation.org/sites/default/files/documents/what-makes-entrepreneurs-entrepreneurial-sarasvathy.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy mở: Từ một góc độ của triết học      Tư duy mở là phẩm tính cho phép con người trở thành người với tất cả sức mạnh trí tuệ và nội tâm của mình, trong khi tương tác với ngoại giới. Và tư duy mở trở thành điều kiện thiết yếu cho các thành quả mà các cộng đồng người đã và sẽ đạt tới.    Dụ ngôn “Cái hang” của Platon. Ảnh: MatiasEnElMundo / Getty Images  Tư duy mở: cách hiểu phổ biến  Tư duy mở (trong ngôn ngữ hằng ngày chúng ta sử dụng một từ đồng nghĩa khác: “đầu óc cởi mở”) được dùng phổ biến để chỉ năng lực tự đặt mình vào vị thế của người khác, năng lực tiếp nhận được cách suy nghĩ của người khác, để đạt tới sự đồng cảm về nhận thức, tức là năng lực thấu hiểu người khác. Nhờ vậy mà hiểu rõ ý nghĩa của việc được nghe người khác trình bày ý kiến của họ, hiểu rõ tầm quan trọng của những kiến thức mà người khác mang lại và công nhận giá trị của những kiến thức ấy. Điều đáng nói, khi hiểu được những điều này thì lợi ích không phải chỉ dành cho người khác, mà người có tư duy mở được hưởng lợi rất nhiều từ đó.   Những lợi ích thông thường của tư duy mở mà các định nghĩa cung cấp cho chúng ta: nhờ có tư duy mở con người mới có khả năng gia nhập được vào thế giới của kẻ khác, gia nhập vào những thế giới khác với thế giới của mình, tiếp nhận ở đó những điều mới mẻ, khác lạ, và làm phong phú thêm thế giới của mình, hoặc, quan trọng hơn, làm thay đổi thế giới của mình. Tư duy mở tạo ra sự gặp gỡ giữa các tinh thần khác nhau, nó cho phép con người học hỏi cách suy nghĩ của người khác, học hỏi các kinh nghiệm quý báu vốn là kết quả của những cách suy nghĩ ấy và sử dụng các kết quả đó như những điều kiện cho thành công của chính mình. Tư duy mở cho phép con người tránh được sai lầm nhờ việc học hỏi những người khác, đồng thời phát triển nhanh hơn và có những kết quả tốt hơn, so với việc nếu chỉ dừng lại trong phạm vi các kinh nghiệm cá nhân của riêng mình. Và để cho các tinh thần khác nhau có thể gặp gỡ nhau thì nguyên tắc lựa chọn của tư duy mở là nguyên tắc đối thoại, nhờ đối thoại mà mọi tiếng nói có thể cất lên và được lắng nghe.  Dĩ nhiên, hiểu người khác, tiếp nhận suy nghĩ của người khác, không có nghĩa là ba phải, không có nghĩa là thu nạp tất cả mọi thứ và đánh mất suy nghĩ riêng của mình. Trái lại, tư duy mở luôn đi kèm với một phẩm chất khác của tư duy: năng lực phản biện. Con người xây dựng nhân vị độc đáo của mình nhờ sự kết hợp giữa đầu óc cởi mở và đầu óc phản biện. Các xã hội người phát triển dựa trên sự kết hợp giữa tư duy mở và tư duy phản biện. Với tư duy mở, con người có thể tự điều chỉnh, tự thay đổi chính mình, trong một hành trình được thiết lập cùng với tập thể để tạo nên sự thay đổi và phát triển của cả tập thể.    Để cho các tinh thần khác nhau có thể gặp gỡ nhau thì nguyên tắc lựa chọn của tư duy mở là nguyên tắc đối thoại, nhờ đối thoại mà mọi tiếng nói có thể cất lên và được lắng nghe. Tư duy mở còn luôn đi kèm với một phẩm chất khác của tư duy: năng lực phản biện.    Tóm lại, một cách ngắn gọn: tư duy mở là điều kiện cần thiết cho sự thay đổi và là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, của cá nhân và xã hội. Một điều chắc chắn là hầu hết những thành tựu và tiến bộ mà loài người có được là nhờ những người mang trong mình sức mạnh của một đầu óc cởi mở, luôn tò mò, không ngừng đặt câu hỏi về thế giới xung quanh, không ngừng tìm hiểu về những gì chưa biết, những người khám phá không mệt mỏi, bền bỉ chinh phục những giới hạn mới với tinh thần mở đến vô tận.  Trong khi hoàn toàn đồng ý với định nghĩa phổ biến trên đây về tư duy mở, tôi muốn nêu ra một vài suy nghĩ về vấn đề này từ góc độ triết học, từ một góc rất hẹp của triết học.  Dụ ngôn “Cái hang” của Platon  Những phân tích về tư duy mở trong bài này xuất phát từ việc quay trở lại với một trong những câu chuyện triết học đầu tiên, hết sức nổi tiếng vì sự sâu sắc và những lớp nghĩa chưa bao giờ cạn kiệt của nó, đó là dụ ngôn Cái hang của Platon, được viết trong cuốn Cộng hòa. Những kiệt tác (dù là trong lĩnh vực sáng tạo, tư tưởng, hay bất kỳ lĩnh vực nào) sẽ luôn mở: chúng luôn có thể được tiếp cận và được khai thác từ những góc độ mới, để từ đó mà các ý nghĩa mới được hiển lộ. Dụ ngôn Cái hang đã được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, vô số tầng nghĩa của nó đã được các nhà phân tích chỉ ra, từ thời đại này qua thời đại khác. Và chúng ta vẫn có thể tìm thấy trong đó một tầng ý nghĩa gắn với vấn đề tư duy mở. Trước tiên, cần tóm tắt câu chuyện của Platon:  Một cái hang tưởng tượng có cửa vào mở ra ánh sáng. Phía sâu, cuối hang, những tù nhân bị trói trên những chiếc ghế, từ khi còn nhỏ, đầu cũng bị sợi dây buộc cố định theo một hướng khiến họ chỉ nhìn thấy duy nhất bức tường trước mặt. Trên cao và sau lưng họ, có một ngọn lửa, là nguồn sáng duy nhất trong hang. Giữa ngọn lửa và họ, một bức tường thấp dựng lên trên con đường chạy ngang, trên tường có những con rối nhảy múa, và đoàn người cầm những đồ vật đủ các loại diễu qua sau bức tường thấp đó, có người trò chuyện có người im lặng. Ngọn lửa phía sau phản chiếu hình ảnh của các đồ vật lên bức tường trước mặt những người bị trói trên ghế, và họ nhìn thấy bóng mờ của chúng trên tường. Chân bị trói và đầu bị cố định, họ không thể nhìn thấy các đồ vật thực, cũng không thể nhìn thấy chính họ và những người trong hang, ngoài những cái bóng phản chiếu trước mặt. Họ chỉ có thể nghe thấy tiếng những âm thanh dội lại trên tường, không thể nghe thấy những âm thanh thực sự. Cũng sau lưng họ, có một lối đi dọc, dẫn ra thế giới bên ngoài hang.  Nhà thiên văn học Giordano Bruno bị hỏa thiêu vì tuyên bố Trái đất tròn, trái với quan niệm của nhà thờ thời bấy giờ.  Điều gì sẽ xảy ra, một cách tự nhiên, nếu người ta tháo xiềng cho họ và giải phóng họ khỏi tình trạng không biết? Platon đặt câu hỏi như vậy và phần tiếp theo của câu chuyện mô tả điều đó.   Giả định rằng một người được cởi trói và bị cưỡng ép phải đứng dậy ngay tức khắc, bị bắt phải xoay cổ, phải quay người lại, bước đi và nhìn trực tiếp vào ngọn lửa. Những vận động đó khiến anh ta cảm thấy đau đớn toàn thân, khiến mắt bị tổn thương. Khi tiến về phía sau, anh nhìn thấy những đồ vật và những sinh vật thật, nhưng do bị ngọn lửa làm lóa mắt, anh tưởng chúng là những ảo ảnh, và vẫn nghĩ những cái bóng trên tường kia mới là vật thực.   Tiếp đó, người ta dùng sức mạnh lôi anh đi theo con đường gồ ghề, chông gai, dẫn lên cao. Trải qua một hành trình gian nan, đau đớn dữ dội, cuối cùng anh cũng bị dẫn ra khỏi hang và đến dưới mặt trời. Ánh sáng rực rỡ của nó ngay lập tức làm mắt anh đau nhức, chói lóa, đến mức gần như mù, không nhìn được gì nữa. Rồi mắt anh quen dần với tình trạng mới. Khi đã hoàn toàn thoải mái và quen thuộc với ánh sáng mặt trời, anh đạt tới chỗ phân biệt được các cấp độ tồn tại khác nhau của sự vật: trước hết là bóng của các vật, rồi đến hình ảnh phản chiếu của con người và sự vật trên mặt nước, tiếp theo là chính bản thân sự vật. Đêm đến, anh nhìn thấy ánh sáng của mặt trăng và các thiên thể trên bầu trời. Dĩ nhiên, anh nhìn thấy ánh sáng mặt trời và chính bản thân mặt trời như nó trong thực tế. Tóm lại, anh có thể nhìn thấy vạn vật ở sự tồn tại thực của chúng. Từ đó, anh hiểu rằng cần nắm bắt mọi vật trong ánh sáng mặt trời, vì mặt trời là cội nguồn của sự thật, và là cội nguồn của vạn vật.  Khi nhớ lại tình trạng đã trải qua trong hang anh cảm thấy hạnh phúc vì đã có cơ hội thoát khỏi bóng tối để đến với nhận thức sáng rõ về sự vật, và biết rằng mình không thể sống cuộc đời tù nhân dưới hang nữa. Anh thà làm việc cực khổ như những người lao động nghèo nhưng được sống với mặt trời và nhận biết mọi vật, chứ không muốn bị kìm kẹp với những ảo ảnh sai lầm như trước đây nữa. Anh trở lại hang với mong muốn giải phóng cho những người đang bị giam cầm ở đó.   Lúc vào lại trong hang, bóng tối khiến anh quáng mắt, không nhìn thấy rõ xung quanh. Những người bị trói cho rằng mắt anh đã hỏng do ra khỏi hang, và họ không muốn bắt chước anh. Nếu anh cố gắng giải thoát cho họ, rất có thể anh sẽ bị họ giết chết ngay lập tức.  Kiệt tác này đã được diễn giải theo nhiều hướng khác nhau (trong đó có cả các diễn giải của chính tác giả, Platon) mà tôi không nhắc lại ở đây. Tôi sẽ tái diễn giải nó từ góc độ vấn đề tư duy mở.  Tư duy mở: hành trình vượt thoát của cá nhân và cộng đồng  Trong dụ ngôn này, con người bị cầm tù trong lòng đất, bị kẹt giữa hai bức tường, bị trói chặt trên ghế. Tất cả những gì họ thấy là những hình bóng của một số vật ít ỏi được phản chiếu trên bức tường trước mặt. Và họ tưởng những hình ảnh phản chiếu đó là bản thân các vật thực. Những chi tiết này ẩn dụ cho sự nghèo nàn, hạn chế, và cả những nhầm lẫn, ảo tưởng trong nhận thức của con người. Đồng thời cũng là ẩn dụ cho sự khép kín về tư duy của con người. Một khi bị ràng buộc bởi hoàn cảnh bên ngoài thì người ta chỉ có thể nhìn theo một hướng, hệ quả là chỉ có thể nghĩ theo một hướng duy nhất; và sự hạn chế, hẹp hòi, đóng kín trong tư duy là điều không thể tránh khỏi. Những tù nhân trong hang chỉ có thể có một kiểu tư duy đóng, tư duy khép kín, hậu quả của tình trạng bị giam cầm, bị trói buộc. Nhìn từ góc độ khác, tư duy khép kín chính là một thứ nhà tù giam hãm đầu óc con người, nó giới hạn nhận thức và sự hiểu biết của con người trong khuôn khổ chật hẹp của nó.    Một tư duy đóng muốn chuyển thành tư duy mở, đòi hỏi phải có khoảng thời gian cần thiết. Và nếu tư duy đang ở tình trạng khép kín, để chuyển thành tư duy mở, nhất thiết con người phải chịu đựng những vật vã, đau đớn không thể tránh khỏi.    Những tù nhân trong hang không nhìn thấy gì ngoài những cái bóng trước mặt, họ không nhìn thấy những người khác, hơn thế, họ không nhìn thấy cả chính mình, Platon nói như vậy. Hậu quả của kiểu tư duy khép kín không chỉ ở việc nhận thức về thế giới bên ngoài bị giới hạn, không chỉ chỗ thiếu hiểu biết về người khác, về những cái khác với mình. Mà hậu quả trầm trọng còn là ở chỗ không biết gì về chính mình, không có nhận thức về bản thân.   Nhưng cái hang của Platon không bị bịt kín, nó có một cửa hang, một lối đi dẫn ra bên ngoài, tức là một con đường thoát. Điều này muốn nói rằng con người luôn có cơ hội và khả năng thoát ra khỏi tình trạng trí tuệ bị giam hãm, luôn có con đường để giải phóng cho tư duy của mình, để đặt tư duy vào trạng thái mở. Thế giới bên ngoài chính là cái khác với cái hang, đến với thế giới bên ngoài tức là đến với cái khác, là rời bỏ hiện trạng đang có để mở về phía khác mình, từ đó mà tiếp cận với thực tế, với tồn tại đích thực, với sự thật. Tuy nhiên, đó là một hành trình cực khổ, đòi hỏi phải trải qua những sai lầm, những đau đớn về tinh thần và thể chất, đòi hỏi phải tự vượt lên chính mình và vượt lên trên hoàn cảnh.  Trong câu chuyện, Platon đề cập đến ba thời điểm lúc người tù được giải phóng phải chịu cơn đau thể chất, đó là những thời điểm có sự thay đổi căn bản về trạng thái, và có sự thay đổi trong tiếp xúc với các loại ánh sáng khác nhau. Lần đầu tiên là khi được tháo xiềng, các vận động làm cơ thể đau đớn, và nhìn thấy ngọn lửa thật, bị lóa mắt và nhìn không rõ. Lần thứ hai, quá trình thoát hang gian khổ khiến cho cơ thể đau đớn khủng khiếp, và khi ra khỏi hang, đối diện với ánh sáng rực rỡ của mặt trời, mắt đau dữ dội, chói lóa, gần như bị mù, không nhìn thấy gì. Lần thứ ba là khi trở lại chốn cũ, bóng tối tù mù trong hang lại khiến mắt bị quáng và cũng nhìn không rõ. Như vậy, khi đang từ bóng tối đột ngột tiếp xúc với ánh sáng, và khi từ nơi ánh sáng trở về tiếp xúc với bóng tối, con người gặp khó khăn trong việc nhận biết mọi vật xung quanh.  Ta có thể hiểu Platon muốn nói rằng, khi thay đổi trạng thái, con người cần phải thích nghi, và cần thời gian để thích nghi. Cũng vậy, một tư duy đóng muốn chuyển thành tư duy mở, đòi hỏi phải có khoảng thời gian cần thiết. Và nếu tư duy đang ở tình trạng khép kín, để chuyển thành tư duy mở, nhất thiết con người phải chịu đựng những vật vã, đau đớn không thể tránh khỏi. Hành trình thoát ra khỏi hang cũng tức là hành trình thoát ra khỏi chính mình, thật không dễ dàng.   Socrate phải trả giá bằng chính sinh mạng mình cho những quan điểm đi trước thời đại.  Vượt thoát chính mình, tự giải phóng khỏi những giới hạn của bản thân, đó là một công cuộc rất khó khăn, đau khổ. Khi người tù được giải thoát quay trở lại hang với ý định cứu những bạn tù khác, thì những người bị trói có thể giết anh để chống lại việc được anh giải thoát. Điều này thực sự đã xảy ra với Socrate. Platon kể chi tiết này như một ẩn dụ về cái chết của Socrate, vị triết gia (thầy của Platon và là cha đẻ của triết học phương Tây) đã bị những công dân thành Athène vĩ đại giết chết, chỉ vì ông muốn giúp họ thoát khỏi sự thiếu hiểu biết, và vì họ không chấp nhận và không chịu đựng được kiểu tư duy khác biệt của ông. Cái giá mà những người có tư duy mở phải trả là rất đắt, nếu tập thể chưa sẵn sàng với cách tư duy này và vẫn còn trong tình trạng đầu óc khép kín, như với trường hợp Socrate, ông đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình. Và sau ông, ở mọi thời đại, các trí thức, triết gia, các nhà khoa học tiếp tục phải trả giá cho tư duy mở của họ. Trong danh sách dài dằng dặc theo suốt lịch sử nhân loại, ta có thể kể đến một số tên tuổi: nhà thiên văn học Bruno chết trên giàn thiêu, Galileo vào tù, triết gia John Locke phải sống lưu vong ở Hà Lan nhiều năm, Rousseau bị truy nã và lưu vong khắp châu Âu trong một thời gian dài, Voltaire có lúc bị bắt giam, nhà văn Victor Hugo cũng bị trục xuất và lưu vong suốt mười chín năm… chỉ vì họ là những người có tư duy mở, mà thời đại lại chưa kịp mở cùng với họ.  Tuy nhiên, đau đớn và trả giá là cần thiết, khi mà cùng với nó, con người có thể từ bóng tối ngu dốt bước ra ánh sáng của sự hiểu biết. Đó là một hành trình siêu vượt cho phép kiểm nghiệm, thể hiện, và khẳng định phẩm tính người. Mọi sự siêu vượt đều không dễ dàng và phải trả giá. Socrate hiểu rõ như vậy, nên, thay vì bỏ trốn để bảo toàn mạng sống, ông đã vui vẻ chấp nhận chén thuốc độc, để cho, không chỉ mình ông, mà nhân loại có thể vượt thoát chính mình. May mắn là ngày nay một phần nhân loại hiểu rõ giá trị sự hy sinh của Socrate và những người như ông, vì vậy, trên thế giới, các xã hội tiến bộ và phát triển đã tạo ra các cơ chế thích hợp để bảo vệ, khuyến khích, thúc đẩy phẩm chất mở của tư duy, bảo vệ và khuyến khích những người có tư duy mở. Điều này tác động trở lại, khiến cho xã hội của họ càng phát triển và tiến bộ hơn.  Sự thay đổi tư duy không chỉ cần đến thời gian, cần chấp nhận đau khổ và trả giá, mà còn cần đến những điều kiện khác. Một trong những điều kiện quan trọng nhất, đó là giáo dục. Bản thân Platon diễn giải dụ ngôn Cái hang của ông từ góc độ giáo dục. Giáo dục là con đường nhanh nhất, hiệu quả nhất cho việc hình thành tư duy mở cho các cá nhân và cho toàn xã hội, và đảm bảo cho tư duy mở được phát triển một cách bền vững; dù rằng giáo dục cũng cần thời gian mới có thể xây dựng hay thay đổi nhận thức và cách suy nghĩ của con người. Cách tốt nhất để cả một cộng đồng có được tư duy mở là đào luyện cho trẻ em suy nghĩ theo hướng mở, theo phương pháp mở.    Giáo dục là con đường nhanh nhất, hiệu quả nhất cho việc hình thành tư duy mở cho các cá nhân và cho toàn xã hội, và đảm bảo cho tư duy mở được phát triển một cách bền vững.    Vì vậy, việc đào tạo những con người có tinh thần cởi mở và có các kỹ năng tư duy mở trở thành nhiệm vụ của trường học. Học sinh cần được dạy để hiểu rằng, mỗi người nhìn thế giới theo một cách riêng, tùy thuộc vào những giới hạn không thể tránh khỏi (về không gian, thời gian, gia đình, xã hội…), nhưng nếu mỗi người đưa vào được trong đầu óc mình cách nhìn và cách nghĩ của nhiều người khác, thì có thể thoát khỏi tính chất nhỏ mọn, chủ quan, thoát khỏi các giới hạn chật hẹp, để trở nên rộng mở, bao dung, và nhờ đó mà có thể đạt tới tầm phổ quát. Platon cũng nhấn mạnh vai trò của giáo dục đối với sự phát triển năng lực nhận thức và xây dựng một cộng đồng đạt tới trạng thái lý tưởng.  Tư duy mở, như vậy, là một trong những năng lực người điển hình: năng lực mở trí tuệ vào những gì chưa biết, năng lực thám hiểm và chinh phục những chân trời xa lạ, năng lực vượt thoát các giới hạn bên ngoài và bên trong, từ đó thiết lập cá tính, bản sắc độc đáo, giá trị riêng của cá nhân, tất cả những gì gắn với phẩm chất sáng tạo cái mới nơi con người. Nói cách khác, tư duy mở là phẩm tính cho phép con người trở thành người với tất cả sức mạnh trí tuệ và nội tâm của mình, trong khi tương tác với ngoại giới. Và tư duy mở trở thành điều kiện thiết yếu cho các thành quả mà các cộng đồng người đã và sẽ đạt tới. □    Author                Nguyễn Thị Từ Huy        
__label__tiasang Tư duy tinh gọn trong ĐMST khu vực công: Câu chuyện từ Vương quốc Anh      Lãng phí lớn nhất trong các loại lãng phí là những lãng phí mà chúng ta không nhận diện được.  “The most dangerous kind of waste is the waste we do not recognize” – Shigeo Shingo      Cambridge là thành phố được đánh giá có ĐMST mạnh mẽ nhất ở Anh, với số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế: 341 đơn đăng ký sáng chế trên 100.000 cư dân (so với 80 ở Oxford và 21 ở London). Nguồn: insider-london.co.uk  Từ khi sản xuất “tinh gọn” của Toyota ra đời, rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức được truyền cảm hứng từ cách làm tinh gọn của họ. “Tinh gọn” trở thành một tư duy, một cách tiếp cận thú vị truyền cảm hứng cho Eric Ries phát triển khởi nghiệp tinh gọn “lean startup”, với 05 triết lý trong đó nhấn mạnh vòng lặp Xây dựng- Đo lường- Học hỏi (Build-Measure-Learn), học tập có kiểm chứng, xây dựng sản phẩm khả dụng với tính năng tối thiểu và kế toán đổi mới sáng tạo, tăng tốc độ và tiết kiệm các nguồn lực trở thành một khía cạnh mới của “tư duy tinh gọn”. Không chỉ khu vực doanh nghiệp cần đến tiếp cận này, mà khu vực công, vốn có những đặc thù về tính quan liêu và sự cồng kềnh của bộ máy trước áp lực phải cung cấp nhiều dịch vụ hơn, chất lượng tốt hơn với chi phí ít hơn, cũng nhận thấy cần thay đổi một cách tiết kiệm và linh hoạt. Vì vậy, việc tìm hiểu những ứng dụng của tư duy tinh gọn trong khu vực công là cần thiết để hình dung ra những hiệu quả và những thách thức sẽ gặp phải.  Năm 2006, một nghiên cứu do McKinsey phát hành được tiến hành bởi Nina Bhatia và John Drew về việc ứng dụng sản xuất tinh gọn trong khu vực công đã cho thấy những kết quả hết sức thú vị về cách tư duy tinh gọn đã giúp tạo ra hiệu quả, tiết kiệm chi phí như thế nào. Có một thực tế không thể phủ nhận rằng, nhu cầu từ cuộc sống ngày càng đòi hỏi các chính phủ và mọi cấp của chính quyền phải cung cấp những dịch vụ tốt hơn trong giáo dục, y tế, vận tải v.v. Tuy nhiên ngân sách hạn chế và sự nôn nóng sốt ruột của các cử tri muốn nhìn thấy những thay đổi đã tạo một sức ép lên các chính phủ, buộc các chính phủ phải tìm đến những phương án và cách làm mang tính đổi mới sáng tạo hơn. Đơn giản là từ việc sửa chữa các xe quân dụng cho đến xử lý các hồ sơ thuế v..v, cách tiếp cận tinh gọn đã chứng minh hiệu quả của mình không chỉ trong không chỉ giảm thiểu chi phí mà còn thể hiện ở một kết quả dễ thấy, đi ngược lại với quan niệm truyền thống rằng để gia tăng chất lượng dịch vụ thì phải gia tăng chi phí hoặc giả phải đánh đổi chất lượng dịch vụ để giảm thiểu chi phí.    Quan sát một chặng đường hơn 10 năm đổi mới sáng tạo của khu vực công Vương quốc Anh qua một số lát cắt mang đậm tư duy tinh gọn, chúng ta nhận ra rằng, việc học hỏi tư duy và cách làm là quan trọng để dẫn đến những hoạt động hiệu quả hơn trong tương lai.  Người dân và doanh nghiệp là khách hàng  Việc triển khai vận hành ứng dụng tư duy tinh gọn được áp dụng trong Chính phủ Anh được thực hiện từ những điểm cơ bản như xử lý một số lượng lớn tài liệu cho đến gia tăng chất lượng dịch vụ khách hàng. Ở giai đoạn này, người dân và doanh nghiệp đã được đặt vào trung tâm như khách hàng để tiến hành những thay đổi mang tính căn bản. Theo đó, hiệu suất đạt được trong xử lý tài liệu đã tăng cấp 2 con số theo giờ và giảm tối thiểu thời gian chờ đợi cung cấp dịch vụ từ 40 ngày xuống còn 12 ngày. Tỷ lệ những tài liệu được xử lý đúng ngay lần đầu tăng 30%. Trong một cửa hàng sửa chữa xe quân dụng, áp dụng tư duy sản xuất tinh gọn đã tăng 44% khả năng sẵn có của các trang thiết bị, giảm 16% thời gian hoàn thiện việc sửa chữa v..v. Một thay đổi đáng kể khác chính là sự thay đổi trong cách thức phối hợp và làm việc. Các công chức trong hệ thống công vốn “độc lập tác chiến” từ trước trong việc cung cấp các dịch vụ giờ đây đã học cách làm việc cùng nhau theo nhóm, đảm bảo tính minh bạch trong từng bước của quy trình và việc phân bổ nguồn lực cũng hiệu quả hơn, công việc diễn ra trôi chảy hơn.  Tuy nhiên, cũng trong những thử nghiệm này, Chính phủ Anh cũng phải đối mặt với những thách thức về đảm bảo chất lượng dịch vụ và những giá trị mang lại cho khách hàng. Chính phủ gặp một thách thức khi bản thân các dịch vụ của họ luôn là độc quyền trên thị trường, khách hàng (vốn là những người dân, doanh nghiệp) không có sự lựa chọn và không thể chuyển sang đối thủ cạnh tranh ngay cả khi chất lượng dịch vụ kém. Để thay đổi điều này, Chính phủ Anh đã áp dụng cách tư duy rất linh hoạt để đảm bảo quyền lợi của người dân bằng cách cho phép người dân lựa chọn nơi cung cấp dịch vụ y tế, trợ cấp của chính phủ sẽ đi theo người dân chứ không phải đi theo các bên cung cấp dịch vụ.      Cách tiếp cận của Chính phủ Anh vừa thể hiện một tinh thần cầu thị khiêm nhường với triết lý đơn giản: “chúng ta không biết tất cả mọi thứ” vừa thể hiện sự chuẩn bị, khả năng thích ứng cao với những biến động, và chuẩn bị cho cả những thất bại nhỏ tiềm tàng để tiến đến một thành công lớn hơn.      Tuy vậy, sự linh hoạt vẫn chưa được thực hiện triệt để để đảm bảo thích ứng được với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng tại các bên cung cấp dịch vụ công. Quá trình thích ứng đòi hỏi đặt khách hàng vào trung tâm hiệu quả hơn nữa và linh hoạt cao hơn nữa trong điều chỉnh dịch vụ.  Liên tục lấy ý kiến người dùng  Năm 2013, thay vì thuê ngoài các công ty công nghệ thông tin làm dịch vụ công với chi phí lớn, khó dùng, không thân thiện với người dân, Chính phủ Anh đã thuê một nhóm tư vấn độc lập và phát triển một nhóm dự án nội bộ thiết kế 25 dịch vụ công trực tuyến quan trọng sử dụng nguyên lý của khởi nghiệp tinh gọn và phương pháp phát triển linh hoạt (agile engineering) trong 400 ngày (McKitrick, 2016). Cách tiếp cận này giúp nhóm dự án thiết kế dịch vụ đặt người dùng vào trung tâm và liên tục lấy ý kiến người dùng để điều chỉnh theo hướng: đơn giản, dễ sử dụng, nhanh gọn và sẵn có khi cần. Lợi ích với chính phủ là tiết kiệm chi phí, giảm thiểu những kêu ca phàn nàn về chất lượng dịch vụ và những biểu mẫu dài lê thê và trên hết là gia tăng sự hài lòng của người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai nhóm dự án 3 bài học chính rút ra từ quá trình chuyển đổi này thay vì các mô hình hay công nghệ, thì lại chính là những thay đổi xoay quanh con người và tổ chức.  Thay đổi về tư duy của những con người triển khai dự án và của cả tổ chức về sự thay đổi. Chấp nhận thực tế là chính phủ không phải là người “biết tuốt” và những công chức hoàn toàn có thể yên tâm rằng, ngay cả khi mình không biết câu trả lời, họ cũng sẽ có những phương pháp để đạt được đến sự hiểu biết cần thiết. Những trải nghiệm của nhóm dự án qua việc thiết kế sản phẩm dịch vụ theo tư duy thiết kế, xây dựng sản phẩm mẫu thử đã chứng minh điều này. Vì vậy, khi ứng dụng những phương pháp mới, điều quan trọng nhất là trả lời câu hỏi tại sao chúng ta cần thay đổi và chấp nhận việc chúng ta không biết để tiến từng bước gần hơn với một giải pháp sát với nhu cầu người dùng.  Thay đổi về kỹ năng: Kỹ năng mới luôn khiến cả người dùng lẫn người triển khai dịch vụ bối rối và lo lắng. Chính vì vậy, nếu đòi hỏi những kỹ năng mới ngay lập tức để thích nghi với việc thiết kế dịch vụ mới sẽ khiến người triển khai mất tự tin và hoạt động kém hiệu quả. Việc xây dựng những khung kỹ năng chuẩn cho từng nhóm công việc mới sẽ đảm bảo sự tự tin của mỗi thành viên trong nhóm và sự phát triển đội nhóm đồng đều từng bước với những kỹ năng cần thiết cho yêu cầu công việc mới.  Thay đổi về văn hóa: sự thay đổi văn hóa tổ chức giống như nói ở trên, từ văn hóa làm việc đơn lẻ sang văn hóa làm việc nhóm, từ vốn là khu vực có vị thế độc quyền chấp nhận trở thành một tổ chức học hỏi, luôn lắng nghe và điều chỉnh là điều không đơn giản. Cách Chính phủ Anh làm là xây dựng một văn hóa “quản trị linh hoạt” tức là không chỉ dừng lại ở một dự án được phát triển theo hướng điều chỉnh linh hoạt, mà là quản trị linh hoạt một cách tổng thể. Theo đó, vai trò của người lãnh đạo không phải là ngồi kiểm tra xem mục công việc nào đã hoàn thành, mà bản chất là điều phối và tạo điều kiện thuận lợi cho những điều chỉnh linh hoạt đó được diễn ra suôn sẻ, gạt bỏ những cản trở trong quá trình hoạt động của nhóm. Thay vì là người “phán xét”, người đứng đầu sẽ là người “tạo điều kiện”  Một số lát cắt cho thấy những hiệu quả từ triển khai cách tiếp cận tinh gọn hoàn toàn khả thi nếu có sự chuẩn bị, bao gồm cả sự chuẩn bị cho những thách thức và chướng ngại vật có thể gặp phải. Mặt khác, tư duy đó được triển khai và áp dụng không phải theo cách cơ học, mà nó cũng cần thời gian để tiến triển và hoàn thiện, nó xuất phát từ nhu cầu và mệnh lệnh của cuộc sống và áp lực lên chính phủ. Trên thực tế, điều mà Chính phủ Anh làm không phải là xây ra một mô hình lý tưởng và hoàn hảo để đi theo nó trong một môi trường đầy biến động từ nhu cầu của người dân, doanh nghiệp cho đến biến động của môi trường vĩ mô, mà bản chất họ trang bị cho mình tư duy, phương pháp, kỹ năng và phát triển một văn hóa thích nghi với sự thay đổi một cách tự tin. Cách tiếp cận này vừa thể hiện một tinh thần cầu thị khiêm nhường với triết lý đơn giản: “chúng ta không biết tất cả mọi thứ” vừa thể hiện sự chuẩn bị, khả năng thích ứng cao với những biến động, và chuẩn bị cho cả những thất bại nhỏ tiềm tàng để tiến đến một thành công lớn hơn.  Trên thực tế, chúng ta đang sống trong một thời đại mà biến động, rủi ro, thay đổi là những từ thường xuyên được lặp đi lặp lại. Sẽ không khả thi nếu áp dụng cách làm hoặc mô hình cũ cho những thay đổi. Chính phủ không thay đổi cũng có nguy cơ đối diện với những thách thức và thất bại trong việc xây dựng niềm tin với người dân. Tại Việt Nam, sản xuất tinh gọn, khởi nghiệp tinh gọn cũng đã có những bước đi cơ bản, song mới chỉ diễn ra ở quy mô nhỏ tại khu vực tư. Những thay đổi về tư duy tinh gọn manh nha đâu đó ở một số dự án, chương trình khu vực công, ở tư duy của một số nhà lãnh đạo song chưa được khái quát hóa để nhân rộng ra ở quy mô lớn hơn và có hệ thống hơn. Trên thực tế, áp lực thay đổi đòi hỏi chúng ta không chỉ học kinh nghiệm của các quốc gia đi trước và thành công như Vương quốc Anh, mà còn đòi hỏi chúng ta phải có một cách tiếp cận “quản trị công linh hoạt” học cách đặt người dân, doanh nghiệp và những thay đổi trong nhu cầu của họ vào trung tâm thực sự trong thiết kế những dịch vụ và xây dựng niềm tin. Điều này không thể thực hiện trong một sớm một chiều, nhưng có lẽ câu hỏi lớn nhất để thực sự áp dụng và học hỏi những bài học ở trên một cách hiệu quả chính là trả lời câu hỏi “Tại sao chúng ta cần thay đổi?”. Để thay cho lời kết về việc rút ra những gì từ thành công của Vương quốc Anh, tôi xin trích câu nói của Sparky Anderson: “Success isn’t something that just happens – success is learned, success is practiced and then it is shared” – Tạm dịch là “Thành công không phải là điều gì chỉ diễn ra một cách đơn thuần– thành công là học hỏi, là thực hành và chia sẻ”.  Tài liệu tham khảo:  Đổi mới sáng tạo trong khu vực công. Nguyễn Đặng Tuấn Minh. Nguồn: http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Doi-moi-sang-tao-trong-khu-vuc-cong-10968  Applying lean production to the public sector. Nina Bhatia & John Drew. Nguồn: McKinsey  Applying Lean Startup Methods In The Public Sector – Clare McKitrick (UK Government). Nguồn: https://intrapreneurship.world/applying-lean-startup-methods-in-the-public-sector-clare-mckitrick-uk-government/    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Tủ hút khí thải cho các cơ sở y tế      Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Nhiệt đới  Việt – Nga (Bộ Quốc phòng) đã nghiên cứu thành công giải pháp công nghệ Tủ hóa chất HC –  01 (ảnh bên) dùng để hút khí thải, được nhiều cơ sở y tế trong nước sử dụng.    Trưởng nhóm nghiên cứu, TS Vũ Văn Tiễu, cho biết, các tủ hút thải khí thông thường sử dụng pin lọc hấp thu hoặc bộ xử lý được lắp đặt ngoài phòng thí nghiệm nên không hiệu quả. Vì vậy, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga đã chế tạo một chiếc tủ với bộ xử lý được đặt trong khoang máy, hoạt động theo nguyên lý màng dung dịch sủi bọt.   Hiệu quả sử dụng của bộ xử lý rất cao do gọn nhẹ và không phải lắp đặt riêng biệt ngoài phòng thí nghiệm. Tủ hút hóa chất này còn có khả năng chịu được sự ăn mòn của các a-xít vô cơ, đảm bảo an toàn về cháy nổ, chống áp lực âm gây hư hỏng, giá thành chỉ bằng một nửa thiết bị nhập ngoại. Hơn nữa, tủ hút hóa chất được đặt trong phòng thí nghiệm sẽ phù hợp với những phòng thí nghiệm được đặt ở trên cao hoặc không đủ không gian để lắp đặt.  HIện tại, nhiều cơ sở y tế như công ty cổ phần Dược hậu Giang, công ty cổ phần thiết bị Y tế và Dược phẩm Thừa Thiên – Huế… đã sử dụng tủ hút hóa chất của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư hữu hóa theo cách Nga và bài học cho chúng ta      Gần đây nói tới việc đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa, giảm tỉ trọng cổ phần của nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần. Vì vậy việc tìm hiểu kinh nghiệm tư hữu hóa (THH) của nước Nga là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.    Trước hết, cần phải nói ngay, THH và cổ phần hóa là hai khái niệm khác nhau. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu quản trị: từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Còn THH là quá trình chuyển đổi sở hữu: từ sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể sang sở hữu tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa và THH sẽ có điểm gặp nhau khi quá trình thay đổi cơ cấu quản trị làm chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ nhà nước sang tư nhân. Hiện nay, quá trình tư nhân hóa ở nước ta chưa diễn ra mạnh mẽ, nhưng đây sẽ là một làn sóng tất yếu trong tương lai không xa. Vì không cần chứng minh thì ai cũng biết sở hữu tư nhân là động lực cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.  Tư hữu hóa ở Nga  Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Nga ngay trong giai đoạn đầu cải cách 1990-1994  đã xem THH là một trong 4 nhiệm vụ cơ bản. Tuy nhiên, ngay từ đầu công cuộc THH ở Nga đã gây nhiều tranh cãi. Các nhà cải cách đứng trước hai lựa chọn. Một, sẽ tiến hành THH từ từ, từng bước, trao tài sản vào tay chủ sở hữu mới, thực sự sử dụng tài sản hiệu quả, với giá cao nhất có thể. Hai, tiến hành THH “chớp nhoáng”, nhanh chóng, phân phát không tài sản quốc hữu cho toàn dân. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu cách làm thứ nhất sẽ mang lại cho quốc gia nhiều lợi ích hơn, nhưng nó lại đòi hỏi thời gian và một hệ thống chính trị ổn định. Cả hai thứ mà vào thời điểm đó (1990-1991) nước Nga non trẻ đều không có. Dưới nhiều áp lực về kinh tế, chính trị, thậm chí không ngoại trừ động cơ cá nhân và tác động mạnh mẽ của phương Tây, các nhà cải cách trẻ ở Nga đã quyết định lựa chọn phương án hai.  Kết quả là từ năm 1992-1994 trên toàn Nga đã có 125.514 doanh nghiệp nhà nước đăng ký THH, trong đó đã thực hiện chuyển đổi sở hữu được 88.814 doanh nghiệp. Nhà nước thu về 760 tỷ rúp (tương đương – 3.7 tỷ USD với giá cuối năm 1992) – một con số quá ít ỏi so với giá trị thực của tổng tài sản đã đưa ra chào bán. Sở hữu của nhà nước được chia nhỏ cho một nhóm người, tạo nên một giới kinh tế thượng lưu bao gồm các nhà tài phiệt và các ông trùm kinh tế “đen”. Có thể nhận thấy rõ điều này khi phân tích dữ liệu về thu nhập và tích luỹ xã hội. Theo đó 5% dân số thuộc tầng lớp giàu và rất giàu chiếm 73% tích luỹ toàn xã hội và 80% ngoại tệ lưu hành dưới dạng tiền mặt. Chênh lệch trong thu nhập giữa tầng lớp giàu – nghèo có lúc lên đến hàng nghìn lần (1360 lần theo số liệu năm 1997). Việc hóa giá các tài sản quốc gia, cố tình tạo quá trình phá sản ảo để giảm giá thành các nhà máy, tổ hợp kinh tế nhà nước đã trở thành bước đi quen thuộc của quá trình THH. Ví dụ: Tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới ROS “Gazprom” được định giá khoảng 300 tỷ rúp (tương đương 12 tỷ USD, trong khi giá của công ty Mỹ tương đương “Chevron Corp.” là 123 tỷ); ngân hàng tín dụng “Sberbank”, với hàng nghìn chi nhánh trên khắp nước Nga được đánh giá bằng 230 triệu USD, trong khi chi phí ngân hàng này bỏ ra để xây dựng trụ sở chính tại đường 60 năm Cách mạng tháng 10, Matxcơva (chỉ là một trong hàng nghìn trụ sở) đã vượt quá con số 300 triệu USD (!!!).  Điều đáng lưu ý là quá trình THH đã đưa đến kết cục: toàn bộ số lợi tức từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Nga tập trung trong tay các nhà tài phiệt, các tập đoàn tài chính thân Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế “đen” – lực lượng này chiếm khoảng 7-10% dân số đất nước.    Bài học cho Việt Nam  Tất nhiên, hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta hôm nay khác nhiều so với nước Nga vào những năm 1990. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không học hỏi được gì từ những kinh nghiệm xương máu trong quá trình THH của nước Nga xa xôi. Những bài học đó là gì?  THH chỉ là công cụ chứ không thể là mục đích. THH trên con đường phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế là công việc tất yếu cần làm. Nhưng THH chỉ là một trong số nhiều công cụ để chúng ta tìm và tạo cho được các chủ sở hữu làm việc hiệu quả vì lợi ích cộng đồng. Việc chúng ta quên đi nhiệm vụ chính của quá trình THH là tìm cho được chủ sở hữu có đủ năng lực sử dụng tài sản quốc gia hiệu quả nhất là một sai lầm nghiêm trọng.  Muốn THH thành công cần thiết lập được một cơ chế định giá tài sản minh bạch và công khai. Việc hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước của Nga đã được định giá thấp hơn hàng chục lần so với giá trị thực khi đem ra đấu giá là một minh chứng hùng hồn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay. Các bạn chắc còn nhớ kết quả xếp hạng về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (REIT-2006) do LaSalle Investment Management/Jones Lang LaSalle công bố cách đây không lâu. Theo đó, Việt Nam được xếp vào hàng thấp nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đạt 4.69 điểm – thuộc loại không minh bạch (hạng dưới cùng của bảng xếp hạng). Mà bất động sản chỉ là một lĩnh vực trong vô số các lĩnh vực “nhạy cảm” khác còn chưa có điều kiện và khả năng để xếp hạng như: đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…  Tích lũy tư bản và trách nhiệm đối với lợi ích cộng đồng. Nếu chính phủ không hình thành được một cơ chế kiểm soát hữu hiệu thì có thể dễ dàng hình thành lên một lớp chủ sở hữu tư nhân mới, giàu có nhưng chỉ biết lo cho túi tiền của mình và hoàn toàn vô trách nhiệm (nếu không nói là quay lưng lại) với sự phát triển của cộng đồng. Điều này đặc biệt rất dễ xảy ra nếu một lúc nào đó chúng ta quyết định THH các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên. Lợi tức có được từ khai thác khoáng sản sẽ không quay lại phục vụ cộng đồng mà thông thường sẽ được chuyển ra nằm im tích lũy ở các ngân hàng nước ngoài.  Chỉ giao tài sản vào tay những người chủ hiểu, quí trọng và biết cách ứng xử với tài sản.  Mơ ước sau một đêm sẽ hình thành hơn 40 triệu chủ sở hữu của A. Chubaiz đã không thể thành hiện thực, bởi một lý do hết sức đơn giản. Làm chủ cũng là một nghề, mà là một nghề không đơn giản. Muốn làm chủ hiệu quả thì ngoài rất nhiều yếu tố cần thiết khác, người chủ trước hết phải biết quí trọng và hiểu được giá trị tài sản mà mình đang sở hữu. Và quan trọng hơn chính anh ta phải bỏ sức lao động ra để có được tài sản đó.  Quan hệ giữa nhóm lợi ích, giới quan chức và người dân. THH là một quá trình phức tạp, liên quan đến những tài sản khổng lồ. Lợi ích càng nhiều, nhóm lợi ích càng đa dạng và phong phú. Kết quả THH sẽ biến dạng hoàn toàn nếu các nhóm lợi ích cá nhân này phối hợp chặt chẽ, cùng chia sẻ quyền lợi với giới quan chức tham nhũng. Tài sản quốc gia sẽ dễ dàng trao không một cách đàng hoàng vào tay chủ sở hữu mới bất chấp lợi ích cộng đồng. Quá trình THH ở Nga đã diễn ra gần như thế và kết quả thế nào thì các bạn đã thấy. Và đây cũng là điều mà chúng ta lo ngại nhất. Nền kinh tế thiếu minh bạch, tham nhũng không thể đẩy lùi, vận động hành lang trục lợi ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ… đó là những dấu hiệu của một môi trường không thuận lợi chút nào cho quá trình THH.  Có thể thấy, quá trình THH ở nước ta hiện nay đang đi theo một lộ trình khác hẳn với nước Nga. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp phải những vấn đề như người Nga đã từng gặp.      Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Isaac Newton đến “Quầy Thiên Tài” ở Apple      Đã đến lúc quên đi khái niệm “thiên tài”      Genius Bar – Quầy thiên tài, là tên gọi bộ phận hỗ trợ kĩ thuật tại các cửa hàng của Apple    Thiên tài đang ngày càng khan hiếm.     Nhưng cũng dường như họ xuất hiện ở quanh ta. Chúng ta đang sống trong thời kì mà báo chí nói về “thiên tài bình dị” với không chút gợn lòng, và tuyên bố sẽ tìm thấy họ ở mọi nơi. Từ “Quầy Thiên Tài” (tên gọi bộ phận hỗ trợ kĩ thuật) ở các cửa hàng của Apple đến những cuốn sách bán chạy luôn khẳng định “thiên tài ở trong tất cả chúng ta”, dường như những con người kiệt xuất không quá khó để tìm kiếm. Nhưng nếu chúng ta xem xét khái niệm “thiên tài” thay đổi theo dòng lịch sử,  có vẻ như chúng ta không còn cần họ nhiều như trước nữa. Thậm chí có khi chúng ta còn không cần họ nữa. Sự tiết chế trong việc sử dụng danh từ thiên tài đã hoàn toàn tan biến trong xã hội hiện đại.    Sự sùng bái thiên tài thế kỷ 18  Các thiên tài ở châu Âu vào thế kỷ 18 nhận được sự sùng kính mà trước đây chỉ dành riêng cho các thánh. Giống như các nhà tiên tri hồi trước, các thiên tài được coi như những người ở cõi trên có những khả năng trời phú: trí thông minh, sự sáng tạo và cái nhìn sâu sắc khác thường. Một người cùng thời thậm chí còn hỏi rằng liệu Isaac Newton có “ăn, uống và ngủ như những người khác?” Người khác coi những thành tựu của ông ngang với những gì đạt được bởi “thánh nhân” và thậm chí còn hơn cả phép lạ. Newton đã khám phá ra những quy luật của vũ trụ, phải không? Ông ấy đã nhìn thấu tâm trí của Thượng Đế.          Phần lớn các nhà khoa học thiên tài ban đầu được xác định không chỉ dựa trên niềm tin vào sự ưu việt của một số ít, mà còn dựa trên sự tự ti vốn có của số đông.    Cũng giống như những người trước đây được phong thánh, thi thế của các thiên tài được coi như thánh tích. Khi qua đời vào năm 1727, Newton được chôn cất tại Tu viện Westminster, nơi an nghỉ của các thánh, mặc dù xương sọ và xương của ông được giữ nguyên vẹn (bởi vì thời đó người ta thích ngưỡng vọng mộ, khăn liệm và rất nhiều các hiện vật mà ông sở hữu hay ông đã chạm vào hơn), các phần thi thể của các thiên tài khác đã được lựa ra và tôn kính như di tích đặc biệt của những người đã khuất. Ba ngón tay của Galileo bị tách ra khi cơ thể của ông được khai quật vào năm 1737; Tim và não của Voltaire được lấy ra (để bảo quản vĩnh viễn) khi ông qua đời vào năm 1778. Những người ngưỡng mộ René Descartes lại say mê những chiếc nhẫn được làm từ hài cốt của ông suốt giai đoạn Cách mạng Pháp và hộp sọ của nhà thơ  Đức Schiller được đặt trong một ngôi đền đặc biệt trong thư viện của Công tước Weimar vào đầu thế kỷ 19. Trong những thập niên tiếp theo, những kỷ vật của các thiên tài được buôn bán khắp châu Âu: xương sọ của Haydn và Goya, trái tim của Percy Bysshe Shelley, mảnh vỡ của sọ Beethoven và mái tóc của Napoléon. Như nhà phê bình người Áo Edgar Zilsel đã quan sát và nhận xét trong nghiên cứu năm 1918 Die Geniereligion (Thiên tài) của ông, “Chúng ta tôn thờ những vật tích của những người vĩ đại, chữ ký, nắm tóc, bút lông và hộp thuốc lá của họ cũng như Giáo hội Công giáo tôn thờ xương, dụng cụ và áo choàng của các thánh đồ.” Nắm giữ những kỷ vật của các thiên tài cũng chính là níu giữ những gì còn lại của một siêu năng lực từng hiện hữu dưới dạng xác thịt. Đối với một số người, sự sùng bái thiên tài như vậy đã tạo ra một lối thoát cho sự khao khát về sự siêu việt, sự tôn thờ thiên tài nổi lên  ở châu Âu khỏa lấp chỗ trống mà tôn giáo không thể thỏa mãn được.  Nhưng ngay từ khi những tín đồ đang trầm trồ trước sự vĩ đại của các thiên tài, các nhà khoa học đã bắt đầu tìm kiếm nguồn gốc của thiên tài trong sinh lý học của con người. Các thầy tướng và các nhà não tướng học đã tìm cách lý giải sự đặc biệt của những bộ óc siêu việt dựa vào các nếp nhăn của khuôn mặt và các vùng nổi lên của hộp sọ. Các bác sĩ và nhà tâm lý học tìm kiếm cái gọi là “dấu ấn” của các thiên tài, hay những dấu hiệu bên ngoài thể hiện sự ưu việt bên trong. Họ đã xác nhận một số chỉ số (dấu hiệu) có liên quan như sự loạn thần kinh, lập dị và bệnh tâm thần, nghiên cứu này của họ được thúc đẩy bởi chủ nghĩa thực nghiệm khoa học và lý tính của thời đại Khai Sáng (Enlightment). Với mong muốn thiết lập cơ sở tự nhiên và sinh học của sự khác biệt giữa người với người, công việc của họ chính là sự tương phản với tuyên bố rằng tất cả mọi người được tạo ra bình đẳng như nhau.     Thiên tài hiện đại – những người lãnh đạo    Niềm tin chính trị và triết học về sự bình đẳng của con người đã tăng lên cùng thế kỷ chứng kiến sự ra đời của thiên tài hiện đại. Thời điểm đó, trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp, một câu hỏi đáng lo ngại đã được đặt ra, và cả các nhà khoa học lẫn chính khách đều đã cố gắng đi tìm câu trả lời cho nó: Nếu số đông không còn được điều hành dựa theo nguyên tắc huyết thống và giai cấp vốn chia tách một nhóm nhỏ thống trị số đông, thì xã hội hiện đại nên được sắp xếp như thế nào? Ai là người phù hợp nhất để lãnh đạo? Thomas Jefferson không phải là người duy nhất hy vọng rằng một “tầng lớp quý tộc tự nhiên” dựa trên “giá trị và thiên tài” có thể xuất hiện để thay thế “tầng lớp quý tộc nhân tạo” của sự giàu có và gia thế. Vào thế kỷ 19, “các nhà sinh lý học” – các nhà nghiên cứu về thiên tài – đóng một vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm một đặc điểm ưu tú mới được sinh ra một cách tự nhiên. Những người tiên phong trong việc áp dụng các phương pháp thống kê hiện đại như Francis Galton đã cố gắng đo sự phân bố của xác xuất theo hình chuông (Bell curve, phân phối chuẩn hay còn gọi là phân phối Gaussian) của Thiên tài do thừa kế (Hereditary Genius). Bằng những tính toán của Galton, những thiên tài – những “con người vĩ đại, bản chất vốn rất cao quý, sinh ra là những vị vua của loài người” – cứ mỗi 10 triệu người mới có một.      Marian Diamond (phải), nhà khoa học nghiên cứu não của Einstein.  Galton không chỉ là một người nghiên cứu hàng đầu về thiên tài, mà còn là cha đẻ của thuyết Ưu sinh (Eugenics) – lý thuyết nhấn mạnh ngành khoa học thiên tài được sinh ra không chỉ dựa trên niềm tin vào tính ưu việt tự nhiên của một vài người mà còn là sự tự ti của số đông. Nhấn mạnh vào sự chọn lựa đặc biệt của thiên tài chính là để phản đối một cách mạnh mẽ “sự giả tạo” của tuyên bố “mọi con người sinh ra đều bình đẳng”. Bằng cách làm nổi bật sự xuất sắc tự nhiên (và có tính kế thừa) của những con người siêu việt (mà hầu hết đều là đàn ông da trắng châu Âu ở tầng lớp quý tộc), những người như Galton muốn chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của xã hội tập trung hiện đại (modern mass society), nơi mà các thứ bậc trong xã hội bị suy yếu bằng việc đại chúng hóa những quy tắc của giới “tinh hoa”. Các thiên tài là vô cùng cần thiết để đảm bảo “tài nguyên trí tuệ của một quốc gia”, theo như nhà tâm lý học người Mỹ Lewis Terman. Ông cho biết: “Nguồn gốc của thiên tài và quy luật tự nhiên của sự phát triển của nó là những vấn đề khoa học với tầm quan trọng gần như vô song đối với phúc lợi của con người”.    Là một trong những kiến trúc sư chủ chốt của bài kiểm tra IQ, Terman đã chế giễu, giống như Galton và phần lớn các nhà khoa học kiệt xuất khác, sự tôn thờ thiên tài mang tính chất “tôn giáo”. Ông muốn chống lại cái gọi là “sự ảnh hưởng của những tư tưởng đương thời, sự liên quan đến mê tín dị đoan xung quanh khái niệm “Người Vĩ Đại” (Great Man), người mà thường được đám đông coi như kết quả của sự siêu nhiên, với khả năng vượt trội so với phần còn lại”. Nhưng điều trớ trêu là, bằng việc cô lập các ngoại lệ thống kê về thiên tài ở hai phần cực của Bell Curves, nghiên cứu của các nhà khoa học như Galton và Terman lại tái khẳng định sự mê tín dị đoan đó. Những thiên tài có khả năng vượt trội hơn hẳn phần còn lại của nhân loại, họ là những thần đồng của tự nhiên, mà những gì vốn có đã cho phép họ làm những điều kỳ diệu. Những thiên tài sở hữu sức mạnh khiến họ trở thành lãnh đạo.     Trong nửa đầu thế kỷ 20, nhân loại chứng kiến viễn cảnh của những thiên tài có khả năng cai trị một vùng đất, điều dẫn đến xuất hiện các chế độ khác nhau. Khi Vladimir Lenin, “thiên tài của cuộc cách mạng”, qua đời năm 1924, Stalin đã mời các nhà khoa học về não đến Moscow để khảo sát “chất nền vật chất” của thiên tài. Như Leon Trotsky đã nói, “Lenin là một thiên tài”, và “một thiên tài chỉ được sinh ra một lần trong một thế kỷ”. Đó chính là một cơ hội không thể bỏ qua. Ở Đức Quốc xã, các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu mà còn tham gia vào việc thúc đẩy sự “thờ phụng thiên tài”, giúp Adolf Hitler nắm quyền. Bộ trưởng Tuyên truyền của Hitler, Joseph Goebbels, đã nói chuyện với nhiều người Đức và ca ngợi Fuhrer là “thiên tài”, một “công cụ tự nhiên, sự sáng tạo thần thánh của số phận”.    Sự thờ phụng quá mức các nhà lãnh đạo chính trị như những siêu nhân hay thánh nhân đã giúp tạo điều kiện cho sự sụp đổ của khái niệm “thiên tài hiện đại”. Sau hậu quả của Thế chiến II, người ta bắt đầu nghi ngờ sự tôn sùng “Người Vĩ Đại” (Great Men), và chính các nhà khoa học cũng phần lớn từ bỏ danh từ thiên tài, dành trọn nó cho một ngoại lệ như Einstein. Được ca ngợi là “thiên tài của thiên tài” và là “thánh nhân”, Einstein về nhiều mặt là người cuối cùng của một giống loài đang trên bờ vực tuyệt chủng.   Tiềm năng con người mới   Khái niệm “thiên tài” không chỉ bị tuyệt chủng vì sự sùng bái thiên tài thái quá mà còn bởi ngành khoa học sinh ra để củng cố điều đó. Dần dần, xã hội chuyển sang một trạng thái mà đã được tiên tri bởi nhà phân tích vĩ đại của nền dân chủ Mỹ ở thế kỷ 19, Alexis de Tocqueville: Những thiên tài sẽ trở nên hiếm hoi hơn khi giáo dục trở nên phổ biến hơn. Tocqueville tin rằng với sự mở rộng ổn định của giáo dục, bình đẳng, và cơ hội ngày càng lớn trong mọi lĩnh vực, những gì đã từng được tập trung trong số ít sẽ dần dần được “chia đều cho tất cả”. Ông tin rằng nền dân chủ hiện đại sẽ san phẳng và kéo những người cố gắng nhiều nhất đứng trên một bậc so với đám đông. Nhưng thay vì than phiền về sự suy giảm của một loại thiên tài xuất chúng, ông lại trông đợi vào những khả năng to lớn sẽ nảy sinh nếu một quốc gia khai thác được nhiều tiềm năng của con người hơn.  Tocqueville hiểu rằng số lượng có thể tạo ra một sức mạnh khủng nhiếp – nói gì thì nói, nhiều cái đầu vẫn tốt hơn là một.     Các xã hội dân chủ hiện đại, ở một mức độ nào đó, đã thấy lời tiên tri của Tocqueville linh nghiệm. Bây giờ chúng ta đã có thể nhận ra thiên tài ở màu da, giới tính và văn hóa khác nhau, và chúng ta cũng đánh giá cao những năng khiếu ngoài các lĩnh vực khoa học, vũ trụ và nghệ thuật mà từ xưa đến nay vẫn đặt giới hạn cho khái niệm xuất chúng. Do đó, chúng ta cũng đánh giá cao khả năng sáng tạo của mạng lưới tập thể và bản chất cộng đồng của sự sáng tạo, với việc nảy ra khái niệm “thiên tài nhóm” hay “sự thông thái của đám đông”. Chúng ta tán thưởng sức mạnh hợp tác ở Silicon Valley hoặc những “nhà máy ý tưởng” như Bell Labs, nơi có lúc đã có đến gần 1200 tiến sĩ cùng làm việc, tạo ra các ý tưởng kinh ngạc nối tiếp nhau (và 13 giải Nobel). Chúng ta cần nhấn mạnh hơn bao giờ hết rằng sự sáng tạo và tài năng – kể cả tài năng kiệt xuất – tồn tại dưới nhiều hình thức. Những người khác, chẳng hạn như nhà tâm lý học Anders Erickson, đã tiến hành các nghiên cứu để minh họa vai trò quan trọng của “thực hành có chủ ý” và trải nghiệm trong việc thúc đẩy thành tích chuyên môn, và do đó phủ nhận rằng sự xuất chúng đã có sẵn ở trong gene. Một số các nhà khoa học khác nhấn mạnh rằng ngay cả khi một số khả năng nào đó có phần bẩm sinh, thiên nhiên vẫn phân tán các hạt giống khá rộng rãi. Ngay cả người tiên phong trong Học thuyết về yếu tố trí thông minh chung (Yếu tố trí thông minh tổng quát, hay còn gọi là yếu tố g, ám chỉ sự tồn tại của một năng lực tinh thần mà có thể ảnh hưởng tới sự thể hiện về mặt nhận thức), Charles Spearman đã sẵn sàng thừa nhận, “mọi người đàn ông, đàn bà và trẻ em bình thường đều là một thiên tài ở một khía cạnh nào đó.”     Tuy nhiên một khẳng định tích cực như vậy đương nhiên cũng ẩn chứa những nghịch lý. Bởi nếu vậy, thế giới này cũng giống như thành phố tưởng tượng trong tác phẩm Hồ Wobegon của Garrison Keillor, “nơi mà tất cả trẻ em đều ở trên mức trung bình,” với rất nhiều “Einsteins con và Mozart con.” Một loạt các ấn phẩm self-help thì thầm đầy nịnh tai về “thiên tài ẩn giấu” trong mỗi con người và chỉ dẫn người đọc Làm thế nào để thành thiên tài và Làm thế nào để suy nghĩ như Leonardo da Vinci, đưa ra Bảy bước thành Thiên tài mỗi ngày. Cứ như thiên tài giờ đây ở trong tất cả mọi người, mọi lúc, mọi thứ.    Đây là nghịch lý của thiên tài trong thời đại chúng ta: Một mặt, thế giới chúng ta đang sống khó có thể sản sinh ra các sinh vật lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 18 như những ngoại lệ xuất chúng và thiêng liêng; mặt khác, chúng ta cũng đã tạo ra một loạt các giống loài mới, đe dọa sẽ áp đảo tất cả. Nguy cơ tiềm ẩn trong tình huống này chính là làm nhòe đi sự khác biệt giữa năng khiếu, năng lực và khả năng giữa các cá nhân, đồng thời ngụy biện cho bất bình đẳng thực sự về cơ hội và tài nguyên vốn là môi trường dung dưỡng sự khác biệt đó. Dữ liệu gần đây về khoảng cách thành tích giáo dục ngày càng nới rộng giữa người giàu và nghèo là một bức tranh đáng lo ngại vì nó dẫn đến việc lãng phí tiềm năng của con người. Mặc dù mong muốn của chúng ta là “không để lại đứa trẻ nào bị tụt lại đằng sau”, Hằng ngày chúng ta phải đối mặt với một câu hỏi khủng khiếp: Có bao nhiêu trẻ em có tiềm năng thiên tài mà chúng ta sẽ không bao giờ biết? Như nhà sinh vật học về tiến hóa muộn Stephen Jay Gould từng nói: “Tôi ít quan tâm đến trọng lượng hay sự biến đổi của não Einstein hơn là việc có nhiều tài năng tương tự như vậy đang sống và chết dần mòn trên những cánh đồng bông hay trong công xưởng”.    Chúng ta không nên thương tiếc sự biến mất dần dần những “thiên tài” của thế kỷ 18, mà tập trung vào những gì gần đây hơn. Bằng cách từ bỏ sự sùng bái các thiên tài, chúng ta có thể nuôi dưỡng những thứ quan trọng không kém cho sự phát triển trong dài hạn của nền văn minh con người: khai thác tiềm năng trong tất cả các cá nhân. ¨    Hạnh Duyên dịch  Nguồn: http://nautil.us/issue/18/genius/from-isaac-newton-to-the-genius-bar  Các tít phụ là do tòa soạn đặt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ khởi nguồn đến khởi nghiệp: Đổi mới sáng tạo vi mô và vĩ mô      Các nhà khoa học và nhà quản lý khoa học có lẽ đều có cách nhìn giống nhau: Đổi mới sáng tạo là con đường sống của KHCN. Mong sao những cố gắng ở tầm vi mô đó sẽ được cộng hưởng với sự đổi mới sáng tạo hết sức cần thiết ở tầm vĩ mô, tức là ở tầm quốc gia, cũng coi đổi mới sáng tạo (innovation) là sự sống còn của đất nước.      PGS. TS Nguyễn Thị Hòe và cộng sự tại công ty Sơn KOVA trao đổi ý tưởng về sản phẩm.  Ngày trước tôi có dịp làm việc ở phòng thí nghiệm của giáo sư Inoue (Tokyo Institute of Technology – TIT), một trong số nhà khoa học làm ra máy photocopy đầu tiên của Nhật Bản và từng đến thăm Việt Nam vào giữa những năm 1980. Khi nói chuyện thân tình, giáo sư kể rằng từ những năm 1945-1950, phòng thí nghiệm và điều kiện làm việc ở Nhật Bản còn tệ hơn Việt Nam những năm 1980 rất nhiều. Lúc bấy giờ, tôi còn nhớ giáo sư Inoue đã cho tôi bí quyết: phải nắm lấy bằng được công nghệ tốt, chiếm giữ được know-how thì mới có thể vượt lên được. Giáo sư nói: “Các nước phát triển có thể bán hoặc chuyển giao mọi thứ, nhưng đừng bao giờ hy vọng họ chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến, công nghệ cao. Chỉ có tìm mọi cách để giành lấy mà thôi!”. Ngẫm lại, quả thật chí lý. Người Nhật đã đi đầu trong việc áp dụng bí quyết này. Triều Tiên và Hàn Quốc cũng làm được như vậy, Đài Loan không thua kém và Trung Quốc đang làm rất tốt. Mới đây một người bạn trong ban lãnh đạo của Qualcomm (Mỹ) đã kể cho tôi biết rằng hiện Trung Quốc đã chủ động được công nghệ chips thế hệ 14 Nano, và những CPU cho di động tối tân nhất của Qualcomm như họ chips di động Snapdragon thì Trung Quốc cũng đã chủ động được. (Tất nhiên, đó là ví dụ về công nghệ hiện đại nhất thế giới thôi, còn các công nghệ hiện đại cũ như hạt nhân, vệ tinh, viễn thông, máy tính, xe hơi, gang thép, kim loại, hóa chất, cơ khí tự động hóa v.v… thì họ đã làm chủ được hết rồi). Nên nhớ không nước nào cần quá 30 năm với một xuất phát điểm không khác mấy với Việt Nam.  Từ 30 năm trước, FDI vào Việt Nam, đầu tiên là các nhà buôn nhỏ, nhưng rồi các đại gia công nghệ cũng đã vào với vốn đầu tư hàng trăm tỷ, nhưng tại sao công nghệ của họ không thể lan tỏa cho Việt Nam. Khác hẳn với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ở đấy họ lấy việc học hỏi và làm chủ công nghệ làm một trong những mục tiêu chủ yếu trong thu hút đầu tư nước ngoài, kết quả là họ có nội lực để phát triển. Quả thật là phải cay đắng nhận ra rằng phần lớn các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa của Việt Nam chăm lo đi buôn hàng hóa, nhà đất, vì “đánh quả”, chộp giật dễ ăn hơn là làm công nghệ.  Chuyển giao công nghệ cho ai?  Mấy anh bạn tiến sĩ ở Viện Hàn lâm của tôi những năm đầu 1990 không đủ sống, bỏ Viện đi làm thuê cho liên doanh nước ngoài về chế tạo cáp mạng và cáp viễn thông. Chỉ sau hơn chục năm, họ đã tách khỏi liên doanh, thành lập những công ty riêng để sản xuất cáp hiện đại chất lượng cao cho xuất khẩu và nội địa. Đó là thí dụ rất hiếm hoi về học tập làm chủ công nghệ, nhưng có lẽ tỷ lệ chỉ dưới một phần vạn!  Nếu đổ tội cho những doanh nhân, những nhà KHCN và sinh viên là tội đồ của đổi mới sáng tạo thì cũng không sai nhưng oan và rất không công bằng. Họ chỉ là những thực thể ở mức vi mô. Làm sao họ có thể mạnh mẽ đổi mới sáng tạo khi mà ở tầm vĩ mô là một việc làm ngược lại!  Vào giữa những năm 2000, giới KHCN đã cùng Tia Sáng đề xuất với nhà nước rất chi tiết nhiều vấn đề về sự cần thiết của việc xây dựng chính sách thúc đẩy DN Khởi nguồn (spin off) và Khởi nghiệp (start-up). Đó là vấn đề đổi mới sáng tạo ở tầm vĩ mô. Hãy xem lại tóm tắt của Tia Sáng về mô hình này1:  DN spin-off là một bộ phận hữu cơ của cơ sở nghiên cứu (viện hay trường đại học, của cá nhân độc lập, hay của doanh nghiệp lớn) nhưng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Song “hàm lượng chất xám” chính là điều kiện tiên quyết của DN spin-off và khiến nó khác biệt với các DN khoa học khác.    DN Khởi nguồn là một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm – nhà nghiên cứu sáng tạo – nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà sáng tạo, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm công nghệ cao ra thị trường. Ngoài spin-off, còn một loại hình DN khoa học nữa là DN start-up (hay “DN khởi nghiệp”). Nhưng khác với DN spin-off, DN start-up không nhất thiết phải gắn với cơ sở nghiên cứu. Công nghệ của DN start-up không nhất thiết phải là công nghệ cao, kết quả nghiên cứu cũng có thể lấy từ nơi khác đến. Trong các DN khoa học, có thể có hàng trăm ngàn DN start-up, nhưng chỉ rất ít trong đó là DN spin-off. Những doanh nghiệp trưởng thành từ Khởi nguồn là những hạt giống của công nghệ nội tại, thường rất bền vững. Các doanh nghiệp Khởi nghiệp là nơi để hấp thụ và lan tỏa công nghệ từ mọi nguồn trên thế giới, đều là nền móng cho sự phát triển vượt bậc của đất nước (xem sơ đồ trên).  Mười lăm năm đã qua, gần đây mới thấy chính phủ kiến tạo chính thức để tâm tới xây dựng và hỗ trợ DN khởi nghiệp2. Nhưng đến nay (11/2017) chỉ mới có dự thảo cho phép thành lập DN (chắc là Spin-off) trong trường đại học3.  Đó cũng có thể coi là sự đổi mới sáng tạo trong tầm mức vĩ mô, dẫu có chậm, rất chậm, nhưng còn hơn không!  Nếu các nhà làm chính sách KHCN của Việt Nam có tầm nhìn đổi mới sáng tạo hơn thì họ sẽ rất nhanh nhạy với sự phát triển của thực tế. Không cần nhìn đâu xa, chỉ ở trong nước thôi đã có những thí dụ rất đáng nêu. Về DN khởi nguồn có thể lấy ví dụ như BKAV được xây dựng nên từ những sáng tạo của Nguyễn Tử Quảng từ lúc còn là sinh viên ĐHBK, MISA với sản phẩm nổi tiếng về phần mềm quản lý doanh nghiệp là xuất xứ từ những thành quả của nhóm Lữ Thành Long và cộng sự ở Viện CNTT. Sơn KOVA là thành quả của GS Nguyễn Thị Hòe (giải thưởng Kovalevskaia). Họ đều từ Khởi nguồn đến Khởi nghiệp và nay đều điều hành những DN lớn, công nghệ cao độc quyền, phát triển bền vững. Tiếc thay số này rất ít, chỉ đủ để chứng minh không phải người Việt Nam không thể làm được. Những DN lớn khác (như FPT), mệnh danh là anh cả (theo doanh số), được o bế trong làng công nghệ, điểm danh lại thì chẳng nắm giữ công nghệ và sản phẩm nào có tên tuổi cả. Thậm chí còn được thị trường chứng khoán xếp vào hạng DN mua bán thiết bị và dịch vụ. Thế thì công nghệ của các công ty FDI không thể được các công ty Việt Nam hấp thụ và lan tỏa là điều dễ hiểu.  Nhìn ra nước ngoài thì những tấm gương như Microsoft, Google, Facebook… không phải là ít để học tập nhưng khó theo được. Vậy chỉ xin kể một chuyện nhỏ mà tôi đã trực tiếp trải nghiệm. Thời gian vào giữa thập kỷ 1980, A.Forchel và tôi làm việc cùng nhau ở Stuttgart, Đức rồi cả hai sang Mỹ, tôi về lại Việt Nam. Afred Forchel sau đó được bổ nhiệm làm giáo sư Vật lý kỹ thuật ở Đại học Wuerzburg vào thập kỷ 1990. A.Forchel rời Stuttgart sang trường mới, được giao xây dựng phòng thí nghiệm (PTN) NanoLab, lúc đó là hiện đại, vào loại đắt tiền nhất châu Âu. Năm 1996, Đại học Wuerzburg mời tôi với tư cách là Visiting Professor, sang Wuerzburg làm trong nhóm của GS A. Forchel ở PTN mới xây xong. Lúc đó, cả thế giới đang sôi sục về việc tìm cách chế tạo ra Diode phát quang và Diode Laser màu xanh dương cho đến tử ngoại, trên nền tảng vật liệu GaN. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lúc đó thật là khốc liệt. Trong nội bộ nước Đức, nhóm chúng tôi chạy đua với nhóm Siemens4. Ngoài nước thì cạnh tranh với nhóm của Shuchi Nakamura ở công ty Nichia – Nhật Bản. Chúng tôi được đầu tư khủng và làm việc cũng khủng khiếp luôn. Một cậu trong nhóm tôi thậm chí đã ngất xỉu trong phòng thí nghiệm. Nhóm chúng tôi chọn phương pháp MBE (Molecular Beam Epitaxie) còn nhóm Nakamura dùng phương pháp MOCVD (Metal Organic CVD) rẻ hơn và dễ sản xuất đại trà hơn. Cuối cùng thì trong lĩnh vực GaN-LED, nhóm Nakamura đã thắng (và được trao giải thưởng Nobel 2014). Tiện đây, cũng xin kể thêm chuyện Nakamura đã thắng về LED xanh dương, giúp cho Nichia, một công ty bé tí tẹo lúc đó, trở thành một đại công ty, giàu vô kể. Tiếc thay, vì Nichia đã gần như “quỵt” tiền sáng chế của Nakamura, nên năm 2000 ông ta bỏ sang Santa Barbara và nhập quốc tịch Mỹ. Nước Mỹ được tiếng ẵm giải thưởng Nobel là nhờ ăn theo chuyện này. Sau này, Nakamura kiện ngược Nichia. Vụ kiện gây chấn động giới KHCN thế giới. Cuối cùng nhà khoa học chiến thắng, năm 2008 Cty Nichia phải trả cho Nakamura một khoản tiền lớn. Đúng là vấn đề phân chia lợi ích của sáng tạo không đơn giản.  Nhóm Forchel tuy thua về LED-GaN nhưng nhờ kiên trì phát triển phương pháp MBE lại thẳng tiến trong lĩnh vực Laser giếng lượng tử (Quantum Well Laser) giải phổ từ tử ngoại, tím, xanh, cho đến hồng ngoại gần và xa, đứng đầu thế giới. Trên cơ sở đó giáo sư A. Forchel đã lập một công ty Khởi nguồn, lúc đó tôi đã về Việt Nam rồi. Năm 2014 gặp lại nhau, GS A. Forchel, từ mấy năm nay là chủ tịch của Đại học Wuerzburg, một trường đại học lớn, nổi tiếng, sở hữu đến 14 giải Nobel và giải Nobel đầu tiên của thế giới đã được trao cho A. Roentghen cũng của trường đại học này. Tôi đã hỏi A. Forchel:  – Cái GmbH (công ty TNHH theo tiếng Đức) ngày ấy cậu lập ra bây giờ còn sống không?  – Còn sống chứ, chẳng những sống mà bây giờ phát triển lên rất lớn.  – Cậu vẫn làm chủ nó à?  – Tất nhiên, nhưng bây giờ chỉ một phần thôi. Có người chuyên nghiệp đảm nhiệm điều hành hằng ngày rồi, không như ngày mới lập nữa. Bây giờ nó là công ty NanoPlus nổi tiếng lắm, cậu không biết à.  – NanoPlus5, tất nhiên là mình biết, chuyên về NIR Turnable Laser chứ gì. Cái Laser đó lắp trên tàu thám hiểm sao Hỏa Curiosity của NASA. Nhưng mình không ngờ đó là sản phẩm của công ty Spin-off bé tẹo của cậu ngày trước. Nó vẫn nằm trong Phòng thí nghiệm NanoLab của chúng ta dạo làm Molecular Beam Epitaxie cho GaN chứ?  – Ồ không, bây giờ NanoPlus có hai nhà máy lớn với gần trăm kỹ sư rồi. Từ năm 2001, hai năm sau khi thành lập, và bán được khá nhiều sản phẩm Laser đơn mode (single mode laser) giải sóng 1,3 đến 1,6 micrometer thì chúng mình cho NanoPlus ra ở riêng, xây nhà máy mới ở Gerbrunn gần PTN NanoLab của chúng ta ở Würzburg đó. Năm 2009 mở nhà máy lớn thứ hai ở thành phố Meiningen. NanoPlus ngày nay là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về mọi loại Laser hồng ngoại từ hồng ngoại gần, trung đến hồng ngoại xa (0,76-14 Micrometer).  – GuentherTraenkler (là một bạn cùng nhóm chúng tôi ở Stuttgart, nay là Viện trưởng Viện nghiên cứu Ferdinand-Braun, Berlin) có kể với mình rằng ở Berlin lúc đầu khi có chủ trương lập các công ty Start-up ở viện nghiên cứu thì cũng có gặp ý kiến phản bác. Một vài công ty cho rằng Viện đã lấy tiền đóng thuế (có phần tiền của công ty họ đóng) để nghiên cứu, nay nhà khoa học của Viện lại lập công ty riêng để cạnh tranh với họ là không công bằng. Cậu có gặp ý kiến phản bác đó không?  – Nếu mà nhà khoa học như chúng ta chỉ làm ra sản phẩm kém sáng tạo, hoặc sản phẩm cũ mà xã hội đã làm tốt rồi thì tất nhiên ý kiến phản bác đó là đúng. Với tư cách nhà khoa học chân chính, chúng ta phải làm ra sản phẩm sáng tạo mới và như vậy thì ai mà phản đối.  Chúng tôi là chiến hữu làm việc với nhau từ thuở trẻ tuổi hàn vi, kéo mãi cho đến khi hói tóc, bạc đầu, nên câu chuyện không có màu mè, khách sáo gì. Tôi chúc mừng bạn và cũng chẳng quá buồn cho mình và nước mình khi so sánh với bạn và nước bạn vì chưng hoàn cảnh và con người nước Đức khác Việt Nam một trời một vực.  Tôi nghĩ rằng không khéo thì mình sẽ thua kém cả Campuchia, Myanmar… trong một tương lai gần, nếu không có sự đổi mới sáng tạo mạnh mẽ ngay từ hôm nay.  —  1http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/doanh-nghiep-trong-phong-thi-nghiem-1144  2http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/34993002-ha-noi-ho-tro-doanh-nghiep-khoi-nghiep.html  3https://www.tienphong.vn/giao-duc/truong-dai-hoc-duoc-thanh-lap-doanh-nghiep-1211602.tpo  4 “Photoluminescence study of InGaN films and InGaN/GaN quantum wells produced by molecular beam epitaxy” A. Bazhenov, TX. Hoai, J. Muller, M. Lipinski, A. Forchel Defect Recognition And Image Processing In Semiconductors 1997 The Institute Of Physics Conference S, 160, 363-366, (1998)”  5https://nanoplus.com/    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Tư liệu gốc châu Âu thời Trung cổ      Những gì chúng ta giữ được trong các kho lưu trữ hoặc các thư viện ngày nay có thể chỉ là một phần rất nhỏ của tư liệu châu Âu thời Trung cổ. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến những nhìn nhận sai lệch về các nền văn hóa, không đánh giá đúng mức về sự đa dạng của các nền văn hóa trong quá khứ      Huyền thoại về vua Arthur và các hiệp sĩ Bàn tròn từng là chủ đề cho nhiều tác giả châu Âu thời Trung cổ. Nguồn: edsitement.neh.gov  Nếu hỏi bất kỳ một học sinh Hà Lan nào về Reynard the fox, một câu chuyện ngụ ngôn mang tính phúng dụ từng phổ biến thời Trung cổ, ai cũng sẽ nói vanh vách về những chuyến phiêu lưu của người hùng dân gian cáo đỏ đã được nhân cách hóa do Willem die Madoc maecte (Willem người tạo ra Madoc) sáng tác. Nó được coi là một trong những tác phẩm chính của văn học Hà Lan thời kỳ Trung cổ và “đỉnh cao của văn chương Gothic ở Hà Lan”. Tuy nhiên thật đáng buồn là hiện giờ không ai biết được toàn bộ bài thơ bởi nó đã mất mát theo thời gian. “Người ta đã từng rất chật vật tìm kiếm”, Mike Kestemont, một nhà nghiên cứu về văn bản số hóa tại trường Đại học Antwerp, Bỉ, cho biết.   Rất nhiều tác phẩm văn học và các tư liệu ghi chép quý giá khác cũng cùng chung số phận hẩm hiu này. Đây thực sự là một thiệt thòi bởi sách vở và các ghi chép văn bản là một trong những tư liệu tri thức cần thiết để chúng ta biết về một quá khứ phong phú và đa dạng dưới nhiều khía cạnh như văn hóa, đời sống xã hội, khoa học, tôn giáo…, thậm chí cả ẩm thực. Các tư liệu gốc, dù là bằng giấy, cói papyrus, thẻ tre hay bảng đất sét, đều dễ bị hư hại theo thời gian, dưới tác động của ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, mối mọt…, hay bi thảm hơn là phải hứng chịu các tai nạn như lửa cháy, động đất, lụt lội… Vì vậy, ở thời điểm hiện tại, gần như không thể biết đích xác được trong quá khứ, chúng ta đã có những tư liệu quý giá và phong phú như thế nào và những gì còn lại hiện nay chiếm bao nhiêu phần trăm trong số đó. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến những nhìn nhận sai lệch về các nền văn hóa, không đánh giá đúng mức về sự đa dạng của các nền văn hóa trong quá khứ bởi ngay cả các học giả cũng bị sự thiếu đầy đủ của tư liệu “bịt mắt”, đó là “thiên kiến kẻ sống sót” (survivorship bias).      “Đã có nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có sự song song giữa đa dạng văn hóa và đa dạng sinh thái học nên các mô hình về những loài không thấy có thể ứng dụng cho những bản thảo văn học Trung cổ. Mô hình này cho phép chúng tôi ước tính quy mô số lượng ban đầu của các tác phẩm và tư liệu, và cả những mất mát mà văn hóa phải gánh chịu”, các tác giả viết như vậy trên Science.      Dĩ nhiên hơn ai hết, các nhà nghiên cứu đều biết đến giới hạn của tư liệu mà họ có cũng như khả năng tiếp cận tư liệu của mình trong quá trình tìm hiểu về một thời kỳ đã qua. Để hiệu chỉnh lại vấn đề tồn tại của dữ liệu văn hóa này, một nhóm nghiên cứu quốc tế, trong đó có Mike Kestemont, đã chọn một cách tiếp cận mới và đưa ra được một giả thuyết: chúng ta chỉ còn giữ lại khoảng 9% các văn bản tư liệu, nếu xét trên phạm vi tư liệu châu Âu thời Trung cổ. Đó là kết quả rút ra từ công trình “Forgotten books: The application of unseen species models to the survival of culture” (Những cuốn sách bị lãng quên: Ứng dụng những mô hình về những loài chưa từng thấy cho sự sống sót của văn hóa), được xuất bản mới đây trên tạp chí Science.  Những điều họ phát hiện ra nằm ngoài sức tưởng tượng ban đầu…    Sử dụng các mô hình loài trong sinh học   Trong suốt thời kỳ Trung cổ của châu Âu, trải dài từ thế kỷ thứ 6 đến cuối thế kỷ 15, dòng tác phẩm văn học tự sự đã tiến một bước lớn. Các tác giả thường viết những tiểu thuyết lãng mạn và những câu chuyện hào hùng về các hiệp sĩ chiến đấu với quỷ, du hành đến những vùng đất lạ như Beowulf và Vua Arthur – bằng tay. “Người ta thích nó như thích những bộ phim anh hùng, hành động ngày nay vậy”, Kestemont nói. Hầu như trước khi máy in được phát minh và ứng dụng rộng rãi, và đôi khi, các tác phẩm cất trong thư viện gia đình hoặc tu viện là độc bản. Không ai rõ có bao nhiêu tư liệu ở tình trạng như vậy vào thời điểm nó được ra đời.     Một cuốn xuất bản ở Đức được lưu trữ tại trường Đại học Leiden. Nguồn: Science  Để ước tính có bao nhiêu tư liệu thời kỳ Trung cổ từng tồn tại, các nhà nghiên cứu thường so sánh với danh mục sách được những người quản thư ghi chép. Dẫu vậy cách làm này cũng chưa hoàn hảo bởi có nhiều tác phẩm thường bị bỏ qua, do chính sự phân loại những người quản thư… Do vậy, Kestemont và cộng sự đã mượn một kỹ thuật từ nghiên cứu về sinh thái mang tên mô hình về những loài không thấy – ước tính về số lượng các loài trong một hệ sinh thái mà không được quan sát bằng mẫu. Mô hình này được Alexander Steven Corbet áp dụng từ những năm 1940. Sau khi dành hai năm để bắt bướm ở Mã Lai thuộc Anh, ông đã tò mò tự hỏi có bao nhiêu loài bướm có thể được phát hiện trong hai năm tiếp theo. Nhưng phương pháp trong sinh thái học liệu có phù hợp để tính toán tư liệu văn bản trong quá khứ? “Đã có nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có sự song song giữa đa dạng văn hóa và đa dạng sinh thái học nên các mô hình về những loài không thấy có thể ứng dụng cho những bản thảo văn học Trung cổ. Mô hình này cho phép chúng tôi ước tính quy mô số lượng ban đầu của các tác phẩm và tư liệu, và cả những mất mát mà văn hóa phải gánh chịu”, các tác giả viết như vậy trên Science.  Mô hình tính toán của họ do Anne Chao, nhà thống kê tại trường Đại học Thanh Hoa, phát triển. Mô hình thống kê này không quan tâm đến việc liệu anh so sánh các con chim hay những cuốn sách bị mất, Folgert Karsdorp, một nhà nghiên cứu về nhân văn số thức tại Viện Meertens và là thành viên của nhóm, giải thích. “Nó là phương pháp phổ biến về hiệu chỉnh thiên kiến trong một hệ sinh thái đã thông qua việc xác định sự giàu có của đa dạng loài, do đó rất hữu dụng với trường hợp này”.      Các nhà nghiên cứu đã đã tìm thấy 40.614 các bản sao của 1.770 tác phẩm gốc và trong đó có 3.648 của 799 tác phẩm gốc còn đến ngày nay, tương đương tỷ lệ sống sót 9% ở khắp các vùng Hà Lan, Pháp, Iceland, Ireland, Anh và Đức.      Ý tưởng áp dụng mô hình của Chao bắt nguồn từ Folgert Karsdorp. “Chúng tôi cho rằng mình cần phải cố gắng bằng phương pháp này để trả lời câu hỏi khó là có bao nhiêu tác phẩm văn học Trung cổ đã mất đi”, anh nói.   Mô hình Chao1 tạo cơ hội cho các nhà khoa học một ước tính chính xác về số lượng loài trong một khu vực. Đầu tiên, các nhà khoa học phải thu thập một dữ liệu đủ lớn, đếm tất cả các loài vật mà họ có thể quan sát. Vấn đề ở đây là có thể người ta bỏ qua một số loài khó quan sát. Do đó mô hình Chao1 sẽ nhìn vào các loài không thường xuyên xuất hiện trong dữ liệu đã có. Nếu như tìm thấy một loài hiếm nào dó, người ta có thể đặt ký hiệu là F1, nếu thấy hai lần, đặt là F2. Các con số này sau đó được dùng để tính toán ra F0 – số hiển thị các loài chưa từng được quan sát. “Do đó, chúng ta có thể có được một giới hạn thấp hơn cho ước tính về số loài chưa từng quan sát”, Kestemont nói.  Nhưng một mô hình sinh thái thực sự phù hợp để áp dụng cho một miền chuyên môn khác biệt. “Về trực giác thì có thể nói một tài liệu văn học cũng hành xử như một loài vậy”, Kestemont giải thích. “Trên thực tế, phương pháp này không chỉ áp dụng cho sinh thái mà còn nhiều lĩnh vực khác với những “loài” trong những lĩnh vực khác nhau như công cụ đá (khảo cổ), các dạng khuôn đúc tiền cổ (cổ tệ học), các nguyên nhân khác nhau của một dịch bệnh đã có (miễn dịch học), các gene hoặc các alen (di truyền học), các từ vựng riêng biệt trong từ điển (ngôn ngữ)…  “Nó đã từng được sử dụng để ước tính số sao trong một thiên hà hay số lỗi trong một phần mềm chưa từng được phát hiện ra”, Kestemont cho biết. “Câu hỏi thực sự ở đây là ‘trong những điều kiện nào chúng ta không thể áp dụng nó’? Mô hình này có thể phát huy tác dụng nếu như chúng ta dùng để phân biệt ‘loài’, ‘loại’”.    Một cuốn viết các câu chuyện về vua Arthur và địa danh Camelot. Nguồn: Thư viện quốc gia Anh.  Những phát hiện đáng ngạc nhiên  Trong trường hợp tư liệu thời Trung cổ, Kestemont và cộng sự đã coi các tác phẩm văn học như các loài còn số lượng các bản sao chép bằng tay như những lần nhìn thấy một loài. Họ đếm các tác phẩm chỉ xuất hiện một cách thưa thớt trong hồ sơ ghi chép và sau đó coi nó như F0 – trong trường hợp này, đó là số các tác phẩm từng tồn tại nhưng các học giả chưa từng thấy nó. Một tác phẩm được xếp vào mục “bị mất” khi không có bất kỳ tài liệu nào liên quan đến nó còn tồn tại.  Điểm hay trong phương pháp này là tạo ra được những hồ sơ tương đương nhau ở mỗi vùng khảo sát, một khía cạnh mà các nhà nghiên cứu tin rằng đem đến một cái nhìn toàn cảnh về sự tồn tại của các ghi chép văn hóa và các hiện vật văn hóa. “Về cơ bản, đó là sự phân bố của các bản thảo”, đồng tác giả Katarzyna Anna Kapitan, một nhà nghiên cứu văn học Na Uy cổ ở Đại học Copenhagen và thành viên của nhóm nghiên cứu này, nói. “Nếu một đất nước có truyền thống văn học, điều đó có nghĩa là họ có những tác phẩm văn học và những bản thảo viết tay, dù ít hay nhiều, cũng đáng được gìn giữ. Sẽ thật không công bằng nếu như có những tác phẩm có nhiều bản sao nhưng lại có những tác phẩm chỉ còn một hay hai bản sao”. Theo nghĩa này, những tác phẩm “xấu số” dường như ít có cơ hội sống sót.  Khi nghiên cứu các bản viết tay, các nhà nghiên cứu nhìn vào số lượng các bản sao còn tồn tại của mỗi bản – giống như một loài nhỏ trong sự phong phú của các loài sinh học. Mô hình của họ cho thấy, bản viết tay bị mất cũng giống như một loài biến mất khỏi một quần xã sinh học.      Thời Trung cổ, các tác phẩm trên chất liệu da thường rất đắt đỏ (ví dụ để có được một cuốn Kinh thánh hoàn chỉnh, cần da của khoảng 200 con cừu), vì vậy, người ta thường làm sạch các nội dung cũ đi để tạo ra một trang trắng mới (palimpsest).      Cách tiếp cận này cho phép các nhà nghiên cứu ước tính quy mô của các tác phẩm gốc và các bản chép tay cũng như những tác phẩm bị mất khắp các vùng ở Hà Lan, Pháp, Iceland, Ireland, Anh và Đức. Họ đã tìm thấy 40.614 bản sao của 1.770 tác phẩm gốc và trong đó có 3.648 bản của 799 tác phẩm gốc còn đến ngày nay, tương đương tỷ lệ còn lại 9%.  Các tác phẩm văn chương Anh thời Trung cổ và các bản thảo viết tay thời kỳ Cổ và Trung đại Anh có số phận bi thảm nhất: tỉ lệ sót lại là 7%, trong đó, số tác phẩm thuộc thể loại anh hùng, hiệp sĩ chiếm 38%. “Nó có thể liên quan đến những tình trạng khác của văn hóa Anh thời kỳ đó”, đồng tác giả Daniel Sawyer, trường Đại học Oxford, giải thích khi liên hệ với bối cảnh lịch sử là Cuộc chinh phạt Anh của những người Norman nói tiếng Pháp vào năm 1066. “Là một phần quan trọng trong thời kỳ Trung Cổ, tiếng Pháp là một trong những ngôn ngữ nổi bật ở Anh. Tôi ngờ rằng những cuốn sách có những câu chuyện anh hùng hay tiểu thuyết bằng tiếng Anh có xu hướng bị giảm bớt số lượng, ít tạo ấn tượng hơn và do đó, ít có cơ hội được sao chép hơn”.   Họ cũng xem xét những câu chuyện anh hùng được viết bằng tiếng Anglo-Norman, một ngôn ngữ đặc biệt xuất hiện ở Anh sau Cuộc chinh phạt của người Norman, và thêm nó vào dữ liệu các tác phẩm Anh để ước tính tỉ lệ tồn tại của các bản thảo. “Có lẽ, bối cảnh lịch sử đã tạo ra một sự liên thông giữa các câu chuyện truyền thống của Anh được thể hiện bằng tiếng Anh và Pháp”, Sawyer nói. “Điều này có thể giải thích với chúng ta về những kết nối văn hóa gần gũi của Anh với lục địa châu Âu, qua đó tạo ra rất nhiều trao đổi văn hóa giữa hai bên vào thời điểm đó”.   Tương phản với điều này, văn học Iceland và Ireland lại có một tỉ lệ sống sót cao: 77 % các câu chuyện Iceland và 81 % câu chuyện của Ireland. Trong trường hợp Iceland, Kapitan giải thích là các máy in xuất hiện tương đối muộn, đúng 100 năm sau khi đã có mặt tại nhiều quốc gia. Hơn thế, người sở hữu nó lại là các giám mục, những người không quan tâm lắm đến những câu chuyện lãng mạn và anh hùng, vì thế những tác phẩm sống sót ở đây là những bản chép tay. Tình trạng này còn tồn tại đến một, hai thế kỷ sau.  Tuy vậy tình trạng xuất bản ở Ireland lại có chút khác biệt khi sự xuất hiện của máy in hầu như không ảnh hưởng tới văn học. Theo truyền thống, các tác phẩm văn học Ireland được lưu hành trong hình thức các bản viết tay. “Cả người Iceland và người Ireland đều mê các câu chuyện kể, họ có truyền thống về các chuyện kể”, đồng tác giả Matthew Driscoll của Đại học Copenhagen nói. “Tôi không nghĩ là ai đó còn ngạc nhiên trước những tương đồng của hai truyền thống đó nhưng thật thú vị khi nhìn thấy sự kết nối giữa hai nền văn học và thật tự tin khi kiểm chứng điều đó bằng một cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt”.   Vậy những bản sao những tác phẩm lãng mạn và anh hùng bị mất đó đi đằng nào? Có một số nguyên nhân như thư viện bị hỏa hoạn, trong trường hợp các tác phẩm Anh thì sự giải thể của các tu viện dưới thời Henry VIII có thể ảnh hưởng đến các thư viện. Tuy nhiên theo Sawyer, các câu chuyện anh hùng và lãng mạn ít có cơ hội lọt vào thư viện của các tu viện.  Những tác phẩm cổ hơn thường xuyên được tái sử dụng. Vào thời nay, điều này có vẻ khá ngạc nhiên nhưng thời Trung cổ, các tác phẩm trên chất liệu da thường rất đắt đỏ (ví dụ để có được một cuốn Kinh thánh hoàn chỉnh, cần da của khoảng 200 con cừu), vì vậy, người ta thường làm sạch các nội dung cũ đi để tạo ra một trang trắng mới (palimpsest). Dĩ nhiên là người ta cũng tái chế vì những mục tiêu hoàn toàn khác, Sawyer nói. Ví dụ có người sử dụng gói thịt, gói nến, một số thì được làm thành giầy, tức cười hơn là thành nguyên liệu làm mũ tế cho một linh mục “mà có lẽ ông ấy không biết là ban đầu nó lại là bản thảo một câu chuyện mang màu sắc tính dục được dịch từ tiếng Pháp”, Driscoll bổ sung.  Nhóm nghiên cứu hy vọng mở rộng thêm cách tiếp cận này để nghiên cứu về các truyền thống văn học Tây Ban Nha, Ý hoặc những quốc gia có sự phát triển rực rỡ của các tiểu thuyết anh hùng. “Tôi nghĩ nghiên cứu kiểu này sẽ chạm vào khía cạnh bảo tồn của văn hóa”, Kestemont nói. “Chúng tôi đã ước tính được quy mô của sự mất mát. Những gì chúng tôi chưa làm được là giải thích về mặt thống kê tại sao những tác phẩm đó lại mất đi. Chúng tôi còn chưa rõ điều gì dẫn đến sự mát mát về văn hóa đó. Do đó chúng tôi đang nghĩ đến một mô hình thống kê có thể giải thích tại sao có những thứ bị mất đi vĩnh viễn còn thứ khác lại không”.   Những tác phẩm vĩnh viễn mất đi có thể chỉ là phần nổi của câu chuyện. “Việc sử dụng phương pháp này khiến chúng tôi tự hỏi còn bao nhiêu miếng ghép nữa bị mất”, Driscoll nói.   Những phát hiện dựa trên cách tiếp cận mới của họ gây ấn tượng rất mạnh cho cộng đồng nghiên cứu. Đó là công cụ đơn giản nhưng vô cùng hữu hiệu trong nghiên cứu văn hóa, nhà nhân học Alex Bentley của Đại học Tennessee, Knoxville, nhận xét. “Như thể ta đang đi dạo trong một cửa hiệu sách hoang tàn của Amazon hàng chục thập kỷ tới và ước tính tổng số đầu sách dựa trên một vài ấn bản còn sót lại mà anh có thể tìm thấy”.   Phương pháp này có thể hỗ trợ giới nghiên cứu về sự đa dạng của văn hóa trong những xã hội đã qua, Bentley nói, ví dụ có những ngôi làng xấp xỉ 7.000 tuổi ở Đức có tới 40 phong cách làm gốm khác nhau. Việc phân tích số lượng các phong cách dựa trên một hoặc hai chiếc bình còn sót lại có thể hữu dụng để ước tính tổng số phong cách làm gốm từng có trong vùng.  Robert Colwell, một nhà sinh học tiến hóa và giáo sư hồi hưu Đại học Connecticut, Storrs từng hỗ trợ các phương pháp sinh thái định lượng đánh giá nghiên cứu này là tuyệt vời bởi “thật hứng thú khi thấy các phương pháp ước tính ban đầu được phát triển cho thống kê sự đa dạng sinh học lại có thể ứng dụng vào lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn”.   Tuy nhiên cũng có những cái nhìn khác. Daniel Smail, nhà nghiên cứu về lịch sử văn hóa và xã hội Trung cổ Đại học Harvard, cho rằng nghiên cứu này dường như xuôi theo các lý thuyết và thống kê hệ thống chứ các tác giả không đủ cơ sở để giải thích tại sao sản phẩm văn hóa lại phải theo đúng quy tắc của các hệ thống của khoa học sự sống. Với ông, câu hỏi lớn hơn là: Cứ cho là chúng ta đã có các danh mục văn bản cổ xưa, và những ước tính đã có rất gần với số liệu do mô hình mới đề xuất thì công trình mới đem lại cho chúng ta điều gì? Có lẽ nó nói với chúng ta rằng “Chúng ta còn chưa biết điều gì về nghiên cứu này?”.□  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: Science, Ars Technica, New Scientist, ox.ac.uk    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ lý thuyết trò chơi đến giải quyết khủng hoảng của 7 nhà kinh tế đoạt giải Nobel      Trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ ng&#224;y c&#224;ng c&#243; chiều hướng xấu hơn, cuộc bầu cử tổng thống sắp diễn ra, tờ b&#225;o Newsweek đ&#227; mời một số nh&#224; kinh tế đoạt giải Nobel đưa ra đề xuất giải quyết khủng hoảng từ l&#253; thuyết tr&#242; chơi để tư vấn cho Tổng thống sắp đắc cử. Ng&#224;i Clive W.J. Granger, Nobel Kinh tế năm 2003, hiện đang l&#224; gi&#225;o sư trường Đại học Califonia, San Diego đ&#227; đưa ra nhận định: &#8220;Hầu hết c&#225;c cuộc khủng hoảng kinh tế đều được giải quyết th&#244;ng qua sự thay đổi quan điểm v&#224; th&#225;i độ của những chủ thể ch&#237;nh như nh&#224; đầu tư, nh&#224; đầu cơ&#8221;. Sự thay đổi quan trọng thường nhạy cảm v&#224; đi k&#232;m với một &#253; tưởng mới nhưng n&#243; sẽ được chấp nhận bởi một cuộc chơi mới được ra đời.     Thay đổi cuộc chơi   Lý thuyết trò chơi là một nhánh của Toán học ứng dụng, nghiên cứu các tình huống chiến thuật trong đó các đối thủ lựa chọn các hành động khác nhau để cố gắng làm tối đa kết quả nhận được.   Trong lý thuyết trò chơi có năm yếu tố cơ sở: người chơi ( Players); giá trị gia tăng (Added values ); quy tắc (Rules); chiến thuật (Tacties); phạm vi (Scope), 5 yếu tố đó hợp thành PARTS như là các thành phần của cuộc chơi.   Kinh doanh không giống các trò chơi khác ở chỗ nó cho phép có nhiều hơn một người thắng cuộc. Tuy nhiên kinh doanh còn khác ở một điểm hết sức cơ bản nữa, đó là: Trò chơi kinh doanh không bao giờ đứng yên. Các yếu tố trong trò chơi đều liên tục thay đổi và không bao giờ có gì là cố định ở đây cả. Tất cả mọi người đều có thể tự do thay đổi trò chơi kinh doanh sao cho có lợi nhất cho mình và dĩ nhiên họ luôn tìm cách làm điều đó.  Vì sao phải thay đổi trò chơi? Mặc dù, có thể chơi rất xuất sắc nhưng bạn có thể vẫn ở trong tình trạng xấu. Bạn phải thay đổi nó. Thậm trí một trò chơi đã hay đối với bạn vẫn có thể còn hay hơn nữa. Thành công sẽ đến từ sự tích cực định hình trò chơi bạn đang chơi, từ việc tạo ra trò chơi bạn muốn, chứ không phải chơi trò chơi bạn tìm được.    Cần phải thay đổi trò chơi thế nào ? Để thay đổi trò chơi, bạn chỉ cần thay đổi 5 yếu tố cơ bản – thay đổi PARTS. Mỗi yếu tố cấu thành đều là một công cụ đắc lực để chuyển trò chơi này sang trò chơi khác. Chính việc làm thay đổi trò chơi là lợi thế khiến lý thuyết trò chơi tìm thấy những cơ hội lớn nhất cho mình.                                 Eric Maskin        Paul Krugman                                                 Joseph E.Stiglitz                        Người chơi (Players)  Khoảng hơn 10 năm trước, các ngân hàng đầu tư đã phát triển rất nhanh khi họ tạo ra cuộc chơi có tên “chứng khoán hoá”, mà sau này là một trong những tác nhân chính gây khủng hoảng tài chính-tín dụng Mỹ và thế giới 2007-2008. Phần lớn các nhà kinh tế đoạt giải Nobel đều đề xuất tái cấu trúc lại lĩnh vực tài chính theo hướng thay đổi cơ cấu chủ sở hữu và kiểm soát chặt chẽ hơn. Hai ngân hàng đầu tư lớn nhất Mỹ còn sót lại sau hàng loạt vụ mua bán sáp nhập do khủng hoảng là Goldman Sachs và Morgan Stanley đã nộp đơn xin chuyển đổi mô hình. Có lẽ những người chơi mới sẽ nhập cuộc. Theo quan điểm của Eric Maskin, người được giải Nobel năm 2007, ông mong muốn Tổng thống mới của Mỹ phân biệt rõ thị trường nào cần sự can thiệp của Chính phủ và thị trường nào không cần. “Rất nhiều thị trường hoạt động hiệu quả mà không cần hoạt cần ít sự can thiệp từ bên ngoài nhưng những thị trường khác, đặc biệt những thị trường có nhiều yếu tố ngoại vi, sự can thiệp của Chính phủ là cần thiết”, ông viết.   Giá trị gia tăng (Added-value)   Một trong ba đề xuất ngắn gọn của Paul Krugman, giáo sư kinh tế học trường Đại học Princeton, người mới được bầu chọn cho giải Nobel Kinh tế 2008, là cải cách hệ thống y tế nhằm hỗ trợ nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng. Đi xa hơn một chút, Joseph E. Stiglitz, giáo sư trường Đại học Columbia, người được giải Nobel năm 2001 khuyến cáo: “Tuy nhiên, để phục hồi chúng ta phải cần hành động nhiều hơn”. Theo ông, Chính phủ nên đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng và công nghệ mới giúp người dân bớt lệ thuộc vào năng lượng truyền thống. Chính phủ cũng nên cắt giảm chi tiêu quân sự và cải cách hệ thống y tế, một trong hai nguồn lực bị lãng phí nhất của kinh tế Mỹ hiện nay.          Quy tắc chơi (Rules)   Hầu hết các nhà kinh tế đều kiến nghị Tổng thống sắp đắc cử và Chính phủ nên nhanh chóng thay đổi, ban hành nhiều quy định mới liên quan đến lĩnh vực tài chính.  Paul Krugman, cho rằng chính phủ phải nhanh chóng ban hành các quy định mới, trong đó có các tổ chức tài chính cần cứu trợ cũng phải được quản lý, giám sát như các ngân hàng. Còn Joseph E. Stiglitz, cho rằng nước Mỹ cần có một khung pháp lý mới, khung pháp lý không chỉ ngăn ngừa rủi ro từ các khoản cho vay xấu mà còn ngăn ngừa rủi ro từ các Tổng thống không hiểu vai trò của hệ thống pháp lý đối với một nền kinh tế hiện đại.   Đối với Edward C.Prescott, cựu cố vấn tiền tệ cao cấp của Cục dự trữ liên bang tại Minneapolis, người được giải Nobel năm 2004, ứng cử viên Tổng thống của đảng nào sắp đắc cử nhiệm kỳ tới đều không quan trọng, vấn đề là ông ta phải làm một điều gì đó trong bối cảnh hiện tại. Nhưng ông cũng cảnh báo Tổng thống mới với những thay đổi đáng kể, cuộc chơi có thể có những kết quả xấu, không phải là tối ưu. Vì vậy, gợi ý thay đổi quy tắc chơi có thể tạo ra tác động và tình huống mới cần phải được xem xét, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng.                   A.Michael Spence        Clive W.J. Granger        Edward C.Prescott        Edmund Phelps              Chiến thuật (Tactics)   Mặc dù, các khoản cứu trợ đảm bảo thanh khoản của hệ thống tài chính đã được Mỹ và các nước trên thế giới lần lượt triển khai nhưng việc khai thông dòng chảy tín dụng, kích cầu giống như kế hoạch giải cứu thị trường của Chính phủ Anh gần đây cũng được các nhà kinh tế đề cập, đánh giá cao trong bản đề xuất. Giảm thuế cho người nghèo hay tăng thuế đối với những người có thu nhập cao hiện có thể là những yếu tố quan trọng trong các cuộc bầu cử và là nhân tố kinh tế quyết định ở những nước phát triển nhưng lúc này người dân cần niềm tin hơn bất cứ lúc nào khác.    Việc khôi phục niềm tin vào Chính phủ, vào thị trường cũng đặc biệt được các nhà kinh tế quan tâm. Theo Edmund Phelps, nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2006 với công trình sự đánh đổi của các chủ thể kinh tế, quy chế lương thưởng cho tổng giám đốc phải được luật pháp quy định chặt chẽ và cổ đông phải có tiếng nói nhất định của mình. Có lẽ trường hợp của Richard Fuld, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Lehman Brothers cùng ban lãnh đạo cao cấp, sự liên đới của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm chưa kể những ảnh hưởng tiêu cực của kế hoạch cứu trợ trọn gói trị giá 700 tỷ USD đã gây xáo trộn xã hội, xói mòn niềm tin của đại bộ phận dân chúng Mỹ.     Phạm vi (Scope)  Sáng ngày 2/10, kế hoạch cứu trợ trọn gói 700 tỷ USD của bộ tài chính Mỹ được Thượng viện Mỹ thông qua. Ngày 4/10, tại dinh Tổng thống Pháp ở Paris, lãnh đạo bốn nền kinh tế lớn ở châu Âu đã nhóm họp bàn kế hoạch chống khủng hoảng. Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương nhóm 7 cường quốc công nghiệp (G-7) hôm 10/10 đã nhất trí đưa ra một bản kế hoạch 5 điểm về việc cùng nhau đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đang ngày càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn. Ngày 13/10 Chính phủ các nước châu Âu đồng loạt công bố kế hoạch cứu nguy hệ thống tài chính với tổng số tiền trên 1000 tỷ USD. Bộ trưởng tài chính của các nước G-7, G-20 (nhóm các nước đang phát triển) cùng các chuyên gia thượng thặng của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã nhóm họp tại Washington tìm cách đối phó khủng hoảng trên phương diện toàn cầu. Giờ đây, phạm vi của cuộc chơi không còn mang tính cục bộ địa lý.       A. Michael Spence, giáo sư danh dự trường kinh doanh thuộc Đại học Stanford, giải Nobel Kinh tế năm 2001 kiến nghị Tổng thống cân nhắc một chính sách mới, phối hợp với chính sách của những nền kinh tế khác nhằm đảm bảo sự dịch chuyển dòng vốn một cách an toàn nhất.     Hiện nay, theo điều tra nghiên cứu có trên 89% dân số Mỹ cho rằng nền kinh tế nước nhà cần có sự dịch chuyển cơ bản. Liệu John McCain hay Barack Obama, bằng những kế hoạch đầy tham vọng của mình sẽ tìm được điểm dịch chuyển mới?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ một vườn ươm đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cho IOT?      Ngày 7/7 vừa qua đã diễn ra lễ khai trương Phòng Thí nghiệm Hòa Lạc IoT Lab (HIL) do bốn đơn vị thành lập bao gồm: Intel, Dell, DTT và Khu công nghệ cao Hòa lạc nhằm nhen nhóm một hệ sinh thái khởi nghiệp trong lĩnh vực IoT tại Việt Nam.    Intel đã thành lập một phòng thí nghiệm IoT mang tên Silicon Oasis IoT Lab tại Ấn Độ   Tại sao lại cần một hệ sinh thái khởi nghiệp IoT tại Việt Nam? Và với các không gian làm việc chung (co-working space) và các không gian chế tạo (maker space) khang trang ở trung tâm Hà Nội đang mọc lên như nấm hỗ trợ các startup, tại sao lại cần HIL?   Để hình dung một cách đơn giản, tạm chia một hệ thống IoT thành ba phần gồm: các thiết bị phần cứng (ví dụ các cảm biến để thu thập thông tin, dữ liệu từ các sự vật, cổng kết nối (gateway) để lưu trữ và lọc thông tin bước đầu, truyền về máy chủ;…); các ứng dụng phần mềm (để phân tích, sử dụng thông tin; để điều khiển các thiết bị phần cứng…) và hai thành phần này đều được chạy trên thành phần thứ ba là nền tảng IoT (đóng vai trò giống như một hệ điều hành của máy tính). Hiện nay, đa số các doanh nghiệp khởi nghiệp cung cấp các giải pháp IoT ở Việt Nam chỉ tập trung viết các ứng dụng phần mềm và phát triển một số ít các thiết bị phần cứng. Những giải pháp IoT này hiện nay cũng ở mức đơn giản, chưa sử dụng nền tảng IoT và không theo một chuẩn giao tiếp chung, tức là các thiết bị của những hãng khác nhau sẽ không “nói chuyện” được với nhau, điều này sẽ tạo ra cản trở rất lớn khi cần tích hợp những thiết bị này để hình thành những giải pháp lớn, chẳng hạn như thành phố thông minh trong tương lai.    Hầu hết các startup cũng nhận thức được điều này nhưng với tiềm lực của một công ty khởi nghiệp, tạo ra một nền tảng hay chuẩn chung là điều không thể, bởi đầu tư ban đầu rất lớn và mất thời gian. DTT dành ra hàng triệu USD mỗi năm để xây dựng OIP – một nền tảng IoT nguồn mở dựa trên OIC (một cộng đồng do Intel thành lập bao gồm các tập đoàn lớn trên thế giới tham dự để xây dựng chuẩn giao tiếp chung cho các thiết bị IoT). OIP sẽ đóng vai trò giống như một hệ điều hành và các ứng dụng viết trên đó sẽ tương thích với phần cứng của tất cả các hãng công nghệ.   Tầm nhìn của HIL  HIL có tham vọng thu hút những tập đoàn lớn trên thế giới, các công ty công nghệ lớn tại Việt Nam, những nhà hoạch định chính sách, các công ty khởi nghiệp cùng đầu tư và phát triển chuẩn và nền tảng chung này, tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ lẫn nhau. Với ảnh hưởng của mình, HIL hi vọng có thể thay đổi tư duy các công ty lớn, là hỗ trợ thay vì “lấn sân” của các công ty nhỏ: “Tôi nói thẳng là hiện nay, các nhà cung cấp hạ tầng lại nghĩ là mình làm ứng dụng. Những người làm ứng dụng lại nghĩ mình làm hạ tầng và những người cung cấp thiết bị cho hạ tầng thực ra chỉ nhập của nước ngoài và lắp ráp lại. Chúng tôi rất mong muốn làm việc với các công ty cung cấp hạ tầng và rất không muốn họ làm phần ứng dụng” – Anh Nguyễn Thế Trung, Tổng Giám đốc DTT cho biết. Hơn nữa, nhà nước có thể thấy HIL như một gợi ý để có một chiến lược hoặc các chương trình quốc gia phát triển IoT.     Trước mắt, Intel và Dell sẽ cung cấp các thiết bị phần cứng, trong đó, nhiều sản phẩm vẫn chưa tung ra thị trường và một số giải pháp của họ theo một chuẩn được các tập đoàn lớn nhất trên thế giới thừa nhận để startup có thể phát triển và thử nghiệm phần mềm ứng dụng hoặc một số phần cứng của mình dựa trên chúng. DTT sẽ mở mã nguồn của nền tảng OIP để các startup vừa có thể viết ứng dụng trên đó, vừa có thể đóng góp để nền tảng này hoàn thiện. Hai “hành động” này sẽ giúp các startup có thể đưa sản phẩm ra thị trường nhanh nhất, vừa tránh được trở ngại trong việc mở rộng thị trường và liên kết với các công ty khác vì không hợp chuẩn.    Mới lập được ban điều hành bao gồm bốn thành viên đến từ bốn cơ quan sáng lập và chưa có một cơ chế hoạt động cụ thể nhưng theo “phác họa” của ông Nguyễn Lâm Thanh, giám đốc KHCN của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, HIL sẽ hoạt động giống như một vườn ươm khởi nghiệp. Tức là, HIL sẽ cung cấp cơ sở hạ tầng, các mentor, tổ chức sự kiện kết nối startup với các đối tác của những đơn vị sáng lập và các nhà đầu tư, đầu tư vào startup tiềm năng (DTT cho biết là họ có quỹ đầu tư cho khởi nghiệp)… Vườn ươm này chỉ thu phí đối với thành viên là các công ty lớn và các nhà đầu tư để duy trì hoạt động còn miễn phí đối với sinh viên và các doanh nghiệp khởi nghiệp. Ngoài ra, cũng theo ông Thanh, HIL cũng sẽ có đối tác tại các vườn ươm, co-working spaces tại các vị trí thuận lợi tại các thành phố lớn ở Hà Nội, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, cho phép các startup “có thể ngồi thực ở những nơi khác còn ảo ở Hòa Lạc”.   Nhưng trước tiên, làm thế nào để thu hút các startup?  Mặc dù được lập ra bởi các tập đoàn danh tiếng với những tham vọng và mong muốn lớn nhưng điều đáng tiếc là những gì HIL thể hiện ở buổi khai trương ngày 7/7 chưa gây ấn tượng đối với các doanh nghiệp IoT tham dự. Maker Hanoi, một công ty khởi nghiệp cung cấp các khóa học về IoT cho trẻ em và cũng sở hữu một maker space tại Hà Nội cho rằng, những gì được trưng bày tại triển lãm chủ yếu là mô phỏng các giải pháp IoT trong khi trang thiết bị (cái họ muốn xem) thì chưa có. Bên cạnh đó, địa điểm của vườn ươm tại Hòa Lạc, quá xa so với trung tâm thành phố Hà Nội cũng là lí do khiến nhiều doanh nghiệp thấy HIL không hấp dẫn.    Một lí do khác, mặc dù Dell và Intel là hai tập đoàn lớn trên thế giới về công nghệ nhưng trong lĩnh vực IoT, ảnh hưởng của họ rất hạn chế, đó còn chưa kể, Intel (vốn được biết đến với nhà sản xuất chip cho máy tính để bàn) vào tháng tư năm nay đã thông báo sẽ ngưng sản xuất dòng chip Antom tiết kiệm năng lượng dành cho các thiết bị di động, thể hiện một thất bại trong chiến lược bước chân vào lĩnh vực IoT. Nguyễn Đình Nam, giám đốc công ty NamVision (trước là VP9), sản xuất các camera có gắn các cảm biến âm thanh và hình ảnh, hướng tới ứng dụng trong lĩnh vực giao thông thông minh, thừa nhận rằng, anh chưa thấy giá trị mà HIL đem lại và lí do quan trọng là anh không có niềm tin vào Intel. Trước đây, khi chuẩn bị tung ra thị trường một dòng sản phẩm có sử dụng chip của Intel thì anh nghe tin Intel sẽ dừng sản xuất dòng chip này trong một vài năm tới, buộc anh dù đã sản xuất xong cũng phải bỏ dòng sản phẩm này, thiết kế lại. “Đối với tôi, Intel là người thua cuộc, “già cỗi” trong lĩnh vực IoT” – Anh cho biết.    Các doanh nghiệp khởi nghiệp thường chỉ bị thu hút khi vườn ươm đem lại lợi ích thiết thân mà họ có thể thấy ngay. Anh Nguyễn Đình Nam chia sẻ, một trong những điều để IoT Labs thành công là phải có nhiều linh kiện, thiết bị rẻ tiền nhưng cần thiết để làm ra các sản phẩm giá rẻ và bán với số lượng lớn. Mặc dù rẻ nhưng những linh kiện này cần rất nhiều để thử nghiệm và không sẵn có vì đa số đểu phải đặt mua từ nước ngoài. Anh Nam cũng cho biết: “Một công ty như VP9 thừa rất nhiều [thiết bị, linh kiện] và sẵn sàng chia sẻ nguồn tài nguyên cho cộng đồng, nhưng cần diện tích bày ra, giống như một thư viện để mọi người có thể tiếp cận”   Một đơn vị khác, làm trong lĩnh vực nhà thông minh – Lumi, từng làm việc với nhiều nhà cung cấp thiết bị cho IoT trên thế giới cho biết, anh không cảm thấy vị thế của Intel trong lĩnh vực IoT ảnh hưởng lớn đến thành công của phòng Lab. Theo anh, việc hỗ trợ các startup trong việc xây dựng nền tảng để họ có thể tập trung phát triển phần mềm hoặc phần cứng để đưa ra thị trường là điều quan trọng nhất. “Việc hỗ trợ, thu hút các startup hay xây dựng nền tảng của Intel đều là để kinh doanh, cuối cùng các startup sẽ mua chip từ họ. Vấn đề là họ có thực sự giúp đối tác nhanh và thị trường và thành công hay không thôi”.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Từ nguồn mở đến sáng tạo mở      Việc sử dụng nguồn mở xây dựng thành công mô hình Chính quyền điện tử ở Đà Nẵng mới đây cho thấy một trong nhiều khả năng khai thác nguồn mở để có những sáng tạo mở ở Việt Nam.     Tại Đà Nẵng, mỗi công dân đều có một tài khoản trên Cổng Thông tin Dịch vụ Công. Khi đăng nhập tài khoản đó, họ có thể tương tác với các cơ quan trong chính quyền thành phố. Đặc biệt, khi làm thủ tục với một cơ quan thì tất cả những thông tin đăng kí đều được các cơ quan khác ghi nhận. Vì thế, người dân chỉ phải thực hiện mỗi thủ tục một lần mà không phải lặp lại khi tới làm việc với cơ quan khác. Đó là chưa kể, người dân hoàn toàn có thể thực hiện các thủ tục giấy tờ, nhận kết quả và trả phí dịch vụ ngay tại nhà thông qua Internet.  Hệ thống tiện lợi được gọi là “Chính quyền điện tử” (E-Government) ấy lần đầu tiên đã được áp dụng thành công toàn diện cho một địa phương ở Việt Nam. Chỉ trong vòng hai năm, Đà Nẵng đã triển khai được hơn 300 dịch vụ công trực tuyến mới ở mức 3, 4 (cho phép giao dịch, trả phí dịch vụ qua mạng), bổ sung vào con số 180 vốn từng được coi là kỷ lục của Việt Nam trong năm năm qua. Theo anh Nguyễn Thế Trung, Tổng Giám đốc Công ty DTT, một trong những công ty thiết kế giải pháp Chính quyền điện tử cho Đà Nẵng, trên thế giới cũng ít thành phố nào làm được điều đó trong thời gian ngắn như vậy. Đầu tháng Tám vừa qua, tại cuộc họp triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu mô hình này để nhân rộng. “Đáng nói hơn nữa là chúng tôi sẽ công bố mã nguồn và cách làm mô hình này lên mạng,” anh Trung cho biết. Ngày 29/8 mới đây, Đà Nẵng đã tuyên bố chia sẻ miễn phí nền tảng Chính quyền điện tử cho các địa phương tại địa chỉ www.openegovplatform.org.  Chính quyền điện tử ở Đà Nẵng được xây dựng và cải tiến dựa trên tích hợp 10 phần mềm nguồn mở. Nhờ sử dụng nguồn mở nên thay vì phải chi 13 triệu USD, bằng giá của nền tảng Chính quyền điện tử gốc tại Hàn Quốc, Đà Nẵng chỉ phải bỏ ra 630.000 USD – chưa đến 1/20 con số đã nêu – để xây dựng hệ thống của mình.  Nguồn mở (open source) xuất hiện và lan rộng ở Mỹ vào giữa những năm 1990. Khái niệm nguồn mở không chỉ đóng hẹp trong lĩnh vực phần mềm mà mở rộng trong cả lĩnh vực phần cứng. Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thể sử dụng toàn bộ hoặc một phần sản phẩm đó để biến đổi, xây dựng thành sản phẩm khác phù hợp với yêu cầu và mục đích của mình với điều kiện phải ghi rõ nguồn. Khác với mô hình nguồn đóng, sản phẩm thuộc toàn quyền sở hữu của một công ty, tập đoàn và mã nguồn của nó được giữ bí mật thì với mô hình nguồn mở, sản phẩm không chỉ được chia sẻ miễn phí mà quan trọng hơn, nó liên tục được khắc phục, đóng góp, phát triển, và nâng cấp bởi cộng đồng.  Hiện nay, nguồn mở đã lan rộng tới mọi lĩnh vực của công nghệ thông tin và phổ biến tới mức, những đoạn mã trong phần mềm nguồn mở được sử dụng trong các sản phẩm của những công ty, tập đoàn công nghệ lớn mà không ghi rõ nguồn cũng chẳng vấp phải sự phản đối nào. Hệ điều hành Linux được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới cho máy tính bàn, nền tảng game và các servers là một trong những ví dụ nổi bật cho sự thành công của phần mềm nguồn mở. Android, hệ điều hành phổ biến nhất trên các smartphone và máy tính bảng hiện nay, cũng được xây dựng từ một thành phần của hệ điều hành Linux.  Chính quyền điện tử không phải là lĩnh vực duy nhất mà DTT thực hiện dựa trên nguồn mở. Công ty này còn sử dụng nguồn mở trong lĩnh vực nông nghiệp thông minh và giáo dục.  “Từ ghế đẩu đến ghế sofa”  Nguồn mở chỉ là một trường hợp đặc biệt của khái niệm rộng lớn hơn là “Sáng tạo mở” (Open Innovation). Nếu nguồn mở chỉ áp dụng cho phạm vi công nghệ thông tin thì sáng tạo mở là khái niệm dùng cho mọi lĩnh vực, để chỉ những mô hình mà ở đó, cộng đồng cùng phát triển và nâng cấp một sản phẩm.       Đóng và mở là hai khái niệm tương đối trừu tượng trong công nghệ thời nay. Thực chất thì tất cả đều là mở, câu hỏi chỉ là mở đến đâu. Cái này cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, có những sản phẩm mở ít rất thành công (như Apple), có những sản phẩm mở nhiều cũng thành công (như Android) cho nên ta không thể kết luận được mở thế nào là ít quá, thế nào là nhiều quá. Đây chỉ là cách chọn hướng đi thôi.- Đỗ Hoài Nam        Anh Đỗ Hoài Nam, người có kinh nghiệm hơn 10 năm ở Sillicon Valley, là cựu CEO của Emotiv Systems, một công ty tiên phong trong lĩnh vực neuro-technology (tạm dịch là công nghệ đọc não) trên thế giới với sản phẩm EPOC, có khả năng đọc sóng não, từng được đạo diễn James Cameron sử dụng để đo phản ứng khán giả khi xem Avatar, đã ví von sáng tạo mở như một quá trình cải tiến cái ghế. “Khi người đầu tiên nghĩ ra cách đóng bốn cái chân vào một tấm gỗ, chúng ta có một vật dụng để ngồi, tạm gọi là cái ghế đẩu. Sau đó, người thứ hai  đóng thêm một tấm gỗ tạo chỗ dựa lưng thì thành ghế dựa. Rồi người thứ ba lại đóng thêm chỗ để tay, tạo ra ghế sofa,… Mỗi sáng tạo đều rất khác nhau, phục vụ nhiều trường hợp khác nhau và đều quan trọng cho cuộc sống như nhau, tuy nhiên, người tạo ra ghế sofa không nhất thiết phải đi từ đầu mà có thể sử dụng các sáng tạo của hai người trước. Đấy là sức mạnh của sáng tạo mở.”  Còn anh Nguyễn Thế Trung thì cho rằng, “Sáng tạo mở là một sự dấn thân, bạn phải tham gia một cộng đồng sáng tạo mở rồi cùng làm với họ. Sau đó, bạn tích hợp những sản phẩm nguồn mở, tạo ra một giải pháp cho Việt Nam. Cuối cùng, bạn lại chia sẻ sản phẩm của mình cho mọi người, để rồi họ tiếp tục cải tiến nó tốt hơn.”       Cái hay của mô hình mã nguồn mở đó là khi mở ra, anh không chỉ tự cạnh tranh với chính mình mà anh còn tạo ra một hệ sinh thái lành mạnh, ai tham dự cũng tìm được lợi ích cho mình và rồi lại đóng góp cho cộng đồng. – Nguyễn Thế Trung       Công ty tham gia xây dựng Chính quyền điện tử hoàn toàn có thể giữ “bí quyết” cho riêng mình. Tuy nhiên, họ lựa chọn chia sẻ miễn phí toàn bộ mã nguồn và cách làm để tất cả các tỉnh khác, với khả năng tài chính thấp hơn Đà Nẵng, có thể thuê các công ty cải biến và áp dụng sao cho phù hợp với điều kiện và đặc thù của địa phương. Mỗi tỉnh hiện nay cần cung cấp khoảng 1.500 dịch vụ công; ngoài ra, tại Trung ương, nhiều Bộ, ngành như Bộ Y tế, Bộ Giao thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch cũng cần khoảng vài trăm dịch vụ công khác.  “Một sáng tạo mở như vậy, nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả rất lớn. Đó không phải là phát kiến mới chưa bao giờ có trên thế giới. Chẳng qua, chưa có ai làm điều đó ở Việt Nam. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, chẳng riêng gì trong lĩnh vực Chính quyền điện tử, chúng ta nên có tư duy như vậy ở nhiều mảng khác nhau. Chúng ta nên có Giáo dục mở, Văn hóa mở, Tri thức mở, thậm chí cả những thiết kế của máy cày, máy bừa cũng mở,” anh Trung chia sẻ.  “Hiểu người khổng lồ”  “99% mọi người sẽ nghĩ rằng, làm nguồn mở là không sáng tạo, nhưng hiểu được khối lượng thông tin đồ sộ để có thể cải tiến phù hợp với đời sống của mình là sáng tạo chứ! Sáng tạo đi vào cuộc sống thì lại càng quý,” anh Trung nói. Anh đặc biệt nhấn mạnh sáng tạo mở như một mô thức hợp lí cho những người khởi nghiệp Việt Nam. “Đó [sáng tạo mở] là con đường nhanh nhất để đuổi kịp những sáng tạo của thế giới.” Tuy nhiên, anh cũng cho rằng, Việt Nam vẫn đang đứng ngoài dòng chảy chung ấy của thế giới. Theo anh, điểm yếu của các công ty khởi nghiệp Việt Nam là “chúng ta muốn làm mọi thứ từ đầu. Nó cũng giống như từ việc khai thác thiết kế mở của xe Matiz, chúng ta có thể cải tiến thành xe Mercedes hay Audi nhờ sáng tạo mở, nhưng thay vì thế, chúng ta lại đi làm lại một cái bánh xe.”  Trở lại với người kể câu chuyện về “ghế đẩu”, “ghế dựa”, “ghế sofa”, anh Đỗ Hoài Nam cũng đồng tình với ý kiến trên của anh Nguyễn Thế Trung. “Có rất nhiều nguồn mở trên thế giới hướng đến việc giải quyết rất nhiều lĩnh vực, tạo ra các nền tảng cơ sở để mọi người có công cụ để sáng tạo. Để sáng tạo hay thay đổi cách làm truyền thống của một ngành nào đó không có nghĩa là phải làm lại mọi thứ từ đầu […] Tôi nghĩ, điều anh Trung muốn nói đó là, khi có ý tưởng hãy nghiên cứu và thực hiện trước trên các platform mở, vì chúng ta sẽ tận dụng được nhiều “ghế đẩu” và “ghế dựa” hơn trong quá trình sáng tạo ra cái “sofa”. Thêm vào đó, gần như cái gì chúng ta cần cũng đều có những cộng đồng mở cả rồi, nếu không thì từng thành phần trong hệ thống chúng ta đang muốn tạo ra cũng có những cộng đồng mở. Chúng ta có thể bắt đầu từ đó và nên tận d ụng những nguồn kiến thức đó.”  Về lĩnh vực nông nghiệp cao, anh Thế Trung cho biết: “Đó là một lĩnh vực đáng kể nhất, sắp tốn tiền nhất của Việt Nam mà chẳng ai để ý cả.” DTT có thể cung cấp các thiết bị quản lý các trang trại dựa trên phần mềm và phần cứng nguồn mở với giá rẻ hơn nhiều so với công nghệ nguồn đóng mà những người trồng hoa ở Đà Lạt phải mua từ các công ty của Nhật và Israel do họ không phải trả tiền cho các kĩ sư từ nước ngoài tới Việt Nam để sửa chữa. Với lĩnh vực giáo dục, nhờ sử dụng các phần mềm và phần cứng nguồn mở, DTT có thể sản xuất những bộ đồ chơi cho phép người chơi chế tạo ra các thiết bị thông minh với giá chỉ bằng 1/10 so với bộ chế tạo robot nhập khẩu tương tự của Lego. Thiết bị này là một phần quan trọng để dạy trẻ em về tư duy máy tính (Computational thinking – tư duy trừu tượng hóa các vấn đề theo cách máy tính có thể giải quyết được) theo chương trình giáo dục STEM (Science, Technology, Engineering, Math) của đại học Carnegie Mellon.  Với độ phủ sóng mạnh mẽ, sáng tạo mở đưa những công nghệ đắt đỏ tới gần người tiêu dùng. “Tôi có thể lấy ví dụ như thế này, cách đây 10 năm, gần như không nhà đầu tư nào dám đầu tư vào kinh doanh công nghệ phần cứng, lí do là cần ít nhất 10 triệu USD để ra được một sản phẩm. Nhưng chỉ trong năm vừa qua, tất cả các công ty hot nhất Sillicon Valley đều là các công ty khởi nghiệp với hướng tập trung lớn vào kinh doanh phần cứng. Đó là bởi vì, trong vòng 10 năm, sáng tạo mở đã giúp các công ty khởi nghiệp làm phần cứng chỉ với giá bằng 1/5,” anh Nam cho biết.  Tuy nhiên, áp dụng sáng tạo mở không hề đơn giản. Sáng tạo mở đồng nghĩa với việc tìm ra giải pháp cho mình giữa một khối lượng giải pháp hoặc gợi ý đồ sộ của hàng nghìn cộng đồng mà nếu không biết rõ mình muốn gì và cần gì thì sẽ dễ dàng bị nhấn chìm trong dòng thác của thông tin. Theo anh Nam, người sáng tạo trước hết phải là người có kiến thức. “Muốn làm sofa thì phải biết người ta đã làm ghế đẩu và ghế dựa rồi. Đây là điều tôi luôn nhấn mạnh. Những đột phá, ý tưởng bắt đầu bằng kiến thức chứ không phải bắt đầu bằng việc ngồi chém gió hoặc ngồi nghĩ ra cái mới. Thế nên muốn áp dụng tốt sáng tạo mở ở Việt Nam thì đòi hỏi các bạn phải có nhiều kiến thức hơn nữa, dành nhiều thời gian nghiên cứu hơn nữa,” anh Nam nói. Cùng nhấn mạnh ý đó, anh Trung nói: “Muốn đứng trên vai người khổng lồ, trước hết phải hiểu người khổng lồ đã.”  Sáng tạo mở là khái niệm được Henry Chesbrough (hiện là Giám đốc trung tâm Sáng tạo mở tại Trường Kinh tế Hass, Đại học Berkerly) đưa ra trong tác phẩm “Open Innovation: The New Imperative for Creating And Profiting from Technology” xuất bản năm 2003. Trong đó, ông định nghĩa sáng tạo mở là việc huy động kiến thức bên trong và bên ngoài để thúc đẩy đột phá nội tại đồng thời mở rộng các thị trường cho các nguồn lực bên ngoài có thể sử dụng các phát minh. Sáng tạo mở là một mô thức chỉ ra rằng các công ty có thể và nên biết sử dụng những ý tưởng từ nội và ngoại lực, con đường hướng nội và hướng ngoại để tìm kiếm thị trường cũng như để cải tiến công nghệ của mình. ​  Những công ty lớn trên thế giới như Google, SamSung, Microsoft… tìm kiếm và hỗ trợ các công ty khởi nghiệp nhỏ bằng các khóa tăng tốc và chương trình hỗ trợ khởi nghiệp để những công ty khởi nghiệp ấy có thể xây dựng những ứng dụng, phần mềm hấp dẫn chạy trên các chương trình và thiết bị của họ. Bởi họ hiểu rằng, trong lĩnh vực công nghệ hiện nay, chính các công ty khởi nghiệp mới là nơi sản sinh ra các games và ứng dụng mang tính “hiện tượng”. Đó chính là ví dụ về việc sử dụng Sáng tạo mở.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Từ nhân vật nổi tiếng trên truyền hình trở thành người sáng lập start up tiền tỷ      Kylie Jenner tận dụng sự nổi tiếng của mình cho các loại mỹ phẩm của cô. Doanh thu của tập đoàn của cô ước đạt 630 triệu USD tài sản của cô khoảng 900 triệu USD.    Ở tuổi 20, Kylie Jenner đã có tài sản lên đến 900 triệu USD. Tuy nhiên cô không phải là người phụ nữ duy nhất đã tạo nên cú nhảy từ người nổi tiếng trên tivi trở thành người sang lập doanh nghiệp cỡ tiền tỷ.    Kylie Jenner  Năm 2007 truyền hình Hoa kỳ khởi động một chương trình mới mang tên Keeping up with the Kardashians. Nội dung câu chuyện xoay quanh một gia đình giàu có, phim kể về phong cách sống của gia đình này. Một trong những đứa con của gia đình đó là Kylie Kristen Jenner, hồi đó lên mười. Hiện cô ở tuổi 20 – và có gia sản ước đạt 900 triệu USD  Năm 2015, Jenner thành lập doanh nghiệp Kylie Cosmetics, cô biết tận dụng sự nổi tiếng của mình dành cho các loại mỹ phẩm. Tạp chí Kinh tế Hoa kỳ ước doanh thu của tập đoàn này đạt khoảng 630 triệu USD, các khoản thu qua TV và quảng cáo cũng đạt khoảng 100 triệu USD. Tập đoàn này thuộc về Jenner 100%.  Jenner là người khôn khéo biết cách biến sự hiện diện của mình trên truyền thông thành ra doanh thu – tuy nhiên cô không phải là trường hợp duy nhất. Trong thực tế thì sự nổi tiếng là một trong những động lực lớn nhất tạo nên thành công đối với các sản phẩm của chính doanh nghiệp mình. Bên cạnh Jenner, trong quá khứ đã có không ít người mẫu, nữ diễn viên, nữ danh ca tạo dựng thành công các tập đoàn của mình.  Một ví dụ khác là trường hợp của Jessica Alba, hiện tại Jessica 37 tuổi. Năm 2007 tạp chí FHM bình chọn cô là “sexiest woman in the world”. Bốn năm sau cô thành lập start-up “The Honest Company”, chuyên kinh doanh các mặt hàng gia dụng sinh thái và các sản phẩm chăm sóc cơ thể. Doanh nghiệp này hiện trị giá trên một tỷ USD, theo Forbes thì Alba nắm giữ 20% cổ phần của start up này. Tài sản của cô ước tính 200 triệu USD.  Con đường của Jessica cũng tương tự Kylie. Năm nay cô 38 tuổi, là diễn viên sân khấu và ca sỹ, cô không quá nổi tiếng trên toàn thế giới, nhưng sau đó lại rất thành công khi là nhà khởi nghiệp. Năm 2006, cô cho ra đời dòng thời trang của mình, thế mà doanh thu hàng năm hiện lên tới 1 tỷ USD. Cô dựa chủ yếu vào phân khúc giá trung bình: giá một quần nữ dao động từ 50 đến 100 USD.  Với giá đó thì khó mua được cái gì ở Victoria Beckham. Một model tương tự của bà Beckham cũng có giá khoảng 700 USD. Trong những năm 1990 người phụ nữ 44 tuổi này nổi tiếng trên thế giới khi còn trong nhóm “Spice Girls”. Sau khi chia tay ban nhạc này năm 2001, Victoria làm người mẫu, cùng với chồng là David Beckham họ đã phát triển hai loại nước hoa và thiết kế các bộ sưu tập riêng mang tên mình. Tài sản của cô ước tính khoảng 300 triệu USD.  Yusuf Kilinc, nhà tư vấn doanh nghiệp ở Koeln, Đức hoàn toàn không ngạc nhiên khi các phụ nữ nổi tiếng rất thành công trong hoạt động doanh nghiệp với các thương hiệu của họ. Ông này nói “Trong hoạt động kinh doanh, các chị em này, đi theo chiều ngược lại. Trước hết họ xây dựng khách hàng ruột của mình, để rồi sau đó biến họ thành tiền.” Điều này thể hiện rất rõ ở Kylie Jenner.  Với tài khoản Instagram của mình cô có thể tiếp cận 110 triệu người trên thế giới, họ là những người mà cô thường xuyên giới thiệu các loại son môi của mình. “Đương nhiên người hâm mộ mua các sản phẩm đó vì họ tin rằng qua đó họ gần với ngôi sao của mình hơn. Họ muốn giống với ngôi sao của mình”, Kilinc nói.  Năm 2017 Jenner đã tiêu thụ son môi và chổi lông cho trang điểm ước tính đạt 330 triệu USD. Nếu năm nay tình hình tiếp diễn như vậy thì cô sẽ lập một kỷ lục mới: cô sẽ trở thành nữ tỷ phú trẻ nhất tự mình làm nên sự nghiệp từ xưa đến nay.  Hoài Nam dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/erfolg/trends/kylie-jenner-vom-fernsehpromi-zur-milliardengruenderin/22796232.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ phòng thí nghiệm đến phòng khám: Những đổi mới chống bệnh ung thư      Trong năm năm qua đã có khoảng 1,6 triệu người ở Đức được chẩn đoán mắc bệnh ung thư nhưng số người chết vì ung thư ngày một giảm. Đó là nhờ các loại thuốc mới hiện đại. Hãng thuốc Novartis trong nhiều thập kỷ đã phát triển một số loại thuốc trị ung thư mới và có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.      Từ hơn 30 năm nay doanh nghiệp dược phẩm Novartis nghiên cứu rất nhiều về điều trị bệnh ung thư.  Hiện Novartis đang thúc đẩy nghiên cứu các khái niệm điều trị mới để có các biện pháp điều trị phù hợp. Những đổi mới của họ trong lĩnh vực y học ung thư bao gồm liệu pháp tế bào CAR-T và liệu pháp xạ trị. Điểm chung của chúng là có thể phát hiện và tiêu diệt các tế bào ung thư.  Liệu pháp tế bào CAR-T là sử dụng các tế bào miễn dịch của cơ thể để điều trị bệnh ung thư máu. Novartis là doanh nghiệp dược phẩm đầu tiên đầu tư mạnh vào nghiên cứu lâm sàng CAR-T và khởi xướng các nghiên cứu toàn cầu về liệu pháp tế bào CAR-T. CAR (Chimeric Antigen Receptor) là một “phân tử thụ thể” (thụ thể) trên bề mặt một số tế bào bạch cầu (tế bào T) với hai đặc tính: một mặt, nó phát hiện và liên kết đặc biệt với các phân tử protein mà một số tế bào ung thư có trên bề mặt của chúng; mặt khác, nó có thể kích hoạt một số phản ứng nhất định bên trong tế bào T từ đấy cho phép nó tiêu diệt tế bào ung thư đã được xác định.  Novartis áp dụng nguyên tắc này cho liệu pháp tế bào CAR T trong cuộc chiến chống ung thư máu. Để làm được điều này, trước tiên phải lấy tế bào T của bệnh nhân để sau đó nhân khả năng miễn dịch (khả năng phòng thủ) về mặt di truyền trong phòng thí nghiệm đưa tế bào T trở thành tế bào CAR-T và trả lại cho bệnh nhân. Ở đó, các tế bào CAR-T có nhiệm vụ theo dõi các tế bào ung thư lưu thông trong cơ thể để ngắm đến mục tiêu và ngăn chặn chúng về lâu dài. Mỗi lần truyền như vậy, tế bào T CAR lại được chuẩn bị riêng cho một bệnh nhân. Tại Đức, khoảng 30 phòng khám được chứng nhận có thể thực hiện liệu pháp tế bào CAR T của Novartis.  Còn liệu pháp xạ trị là công cụ chính xác chống lại các tế bào ung thư đã lan rộng. Đây là nguyên tắc của liệu pháp xạ trị. Các loại thuốc (hạt phóng xạ) được sử dụng cho mục đích này bao gồm hai thành phần: một phân tử chứa các phân tử protein phù hợp trên bề mặt của một số tế bào khối u nhất định và một hạt nhân phóng xạ gắn với phân tử mang các chất này. Sau khi truyền, các phóng xạ lưu thông trong tuần hoàn máu của bệnh nhân, liên kết với các tế bào ung thư thích hợp và phát ra bức xạ của chúng tại đây. Năng lượng phóng xạ này sẽ cản trở sự sinh sôi của tế bào ung thư và tiêu diệt chúng.  Khác với chiếu xạ khối u thông thường, liệu pháp xạ trị chủ yếu tác động vào các tế bào ung thư và bảo vệ các mô khỏe mạnh ở xung quanh. Ngoài ra cũng có thể áp dụng  các liệu pháp điều trị và xạ trị riêng lẻ cho từng bệnh nhân, do các hạt nhân phóng xạ khác nhau về khả năng hoạt động và thời gian lưu trú trong cơ thể (thời gian bán rã). Hình thức xạ trị mới này hiện đang được sử dụng cho một số khối u nội tiết thần kinh dạ dày, tụy và ung thư biểu mô tuyến tiền liệt.  Novartis tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hai liệu pháp sáng tạo này và mở rộng ứng dụng của chúng cho các bệnh ung thư khó chữa khác trước đây. Novartis cũng đã tham gia vào lĩnh vực ung thư vú từ hơn 30 năm. Với một hệ thống đa dạng trong lĩnh vực này, Novartis là doanh nghiệp đi đầu trong việc phát triển các lựa chọn và kết hợp điều trị mới, đặc biệt trong ung thư vú tiến triển dương tính với thụ thể hormone (HR +), dạng bệnh phổ biến nhất. Hằng năm Novartis thực hiện một số lượng lớn các nghiên cứu lâm sàng ở Đức.□  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Medizin neu denken: Vom Labor in die Klinik: Innovationen gegen Krebs – WELT    Author                .        
__label__tiasang Tủ sách niềm vui và sự hiến mình      Trên thế giới, hiện có không ít những loại sách “nhập môn” có giá trị về triết học và về nhiều ngành khoa học khác nhau. Tuy được biên soạn bởi các chuyên gia có thẩm quyền trên từng lĩnh vực, nhưng thật ra, chúng đều thường không… dễ đọc vì đòi hỏi không ít kiến thức và nỗ lực từ phía người đọc. Bộ sách “Nhập Môn”- với hình thức xinh xắn và vui tươi do NXB Trẻ tổ chức dịch và ấn hành- quả là một sáng kiến độc đáo và lý thú, giải quyết khá tài tình khó khăn ấy.                    Bằng hình thức “truyện tranh” sinh động, các tác giả sẽ giới thiệu đến đông đảo người đọc chân dung và hành trình tư tưởng của nhiều khuôn mặt lớn trong lịch sử nhân loại, từ Đức Phật, Platon, Aristote đến Kant, Shakespeare, Rousseau, Hegel, Marx, Sartre, Einstein, Wittgenstein…, những thông tin chính xác và cô đọng về nhiều ngành khoa học quan trọng, từ xã hội, hội họa, tâm lý học, đạo đức học đến ngữ học, ký hiệu học, toán học và vật lý học hiện đại… Có thể nói, đây là một bộ “bách khoa thư” về văn hóa và khoa học dưới lớp áo nhẹ nhàng, kết hợp “niềm vui và sự hiền minh” trong một “khoa học vui tươi” (Die frohliche Wissenschaft”) như cách nói nổi tiếng của Nietzsche. Đằng sau nét cọ hồn nhiên và lời dẫn chuyện gọn gàng, chuẩn xác, ta có thể nhận ra chủ trương biên soạn thật nghiêm túc của các tác giả: triết học và khoa học không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của những thiên tài cô độc, không phải là những “định luận” nhất thành bất biến, mà là nỗ lực suy tư không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ kế tiếp nhau, là một cuộc đối thoại có thể tái hiện lại được, trong đó mỗi quan điểm có thể được hiểu như lời giải đáp đối với các câu hỏi của tiền nhân và gợi mở những câu hỏi mới cho kẻ đến sau. Triết học và khoa học cũng không phải là công việc của riêng những chuyên gia, mà liên quan đến mọi người và cần được mọi người tiếp nhận và chia sẻ. Sự phong phú, đa dạng của tri thức nhân loại không làm ta “choáng ngợp”, mà trái lại, kích thích lòng khao khát hiểu biết và gợi hứng cho ta vươn tới những chân trời mới mẻ, những nỗ lực tìm tòi sâu sắc hơn, nhất là trong bối cảnh của cuộc giao lưu và hội nhập quốc tế đang ngày càng sôi động hiện nay. Hy vọng rằng bộ Nhập môn này- đang được đón nhận nồng nhiệt ở nhiều nơi trên thế giới- cũng sẽ được người đọc nước ta, nhất là các bạn trẻ, vui vẻ chọn làm người bạn đồng hành trên con đường khám phá và khai phóng.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Silicon Valley đến VSV      &#160;Bài viết này nhằm đưa ra thực trạng thương mại hóa công nghệ của Việt Nam và tổng kết kinh nghiệm của thế giới    Thương mại hóa công nghệ của Việt Nam    Thị trường KH&CN là một phương thức thương mại hóa các thành tựu KH&CN, thúc đẩy gắn kết KH&CN với sản xuất. Theo định nghĩa rộng, thị trường KH&CN là tổng hòa các mối quan hệ trao đổi mua bán, môi giới, giám định, thưởng phạt, khiếu kiện giữa các bên giao dịch. Nói đến thị trường, cơ bản phải bàn đến “Cung và Cầu”, môi trường pháp lý và xã hội để Cung và Cầu có thể quan hệ, giao tiếp, trao đổi với nhau.   Ở nước ta chưa hình thành hệ thống tổ chức thị trường KH&CN hoạt động theo đúng ý nghĩa của nó là có cơ quan quản lý, có trật tự, trên cơ sở luật pháp mà mới chỉ có các tổ chức có hoạt động liên quan đến môi giới, chuyển giao công nghệ (các trung tâm chuyển giao công nghệ, liên hiệp khoa học – sản xuất…). Đồng thời cũng chưa hình thành hệ thống cơ quan chỉ đạo, quản lý nghiệp vụ, tổ chức trung gian từ trung ương đến các địa phương, ngành – những yếu tố cấu thành khung tổ chức của thị trường KH&CN.   Chúng ta cũng đã tổ chức các hội chợ triển lãm sản phẩm sản xuất trong nước, tham gia một số hội chợ thương mại quốc tế, tuy nhiên, các hội chợ này chưa phải là hội chợ giao dịch mua bán công nghệ giữa bên bán và bên mua mà chỉ mang nặng tính trưng bày kết quả hoạt động KH&CN để động viên, khen thưởng, không phải nhằm mục tiêu chuẩn hóa thành sản phẩm hàng hóa công nghệ để có thể giao dịch và mua bán.  Vấn đề sở hữu trí tuệ cũng là một yếu tố quan trọng hình thành nên thị trường KH&CN, nơi những sáng tạo phát minh được thương mại hóa. Nhận thức của xã hội về sở hữu trí tuệ còn rất thấp so với đòi hỏi cấp bách của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay. Một khía cạnh quan trọng trong thực thi pháp chế sở hữu trí tuệ là quyền tài sản trí tuệ, không có trong truyền thống ở Việt Nam, hơn nữa chúng ta chưa có cơ chế gắn kết, ràng buộc lợi ích của người sáng tạo, người áp dụng thành quả sáng tạo và lợi ích toàn xã hội.  Các doanh nghiệp là đối tượng chính của “Cầu” trong thị trường thì vẫn chưa bị thúc ép tới chân tường để phải tìm đến KH&CN, tìm đến những giải pháp giải quyết triệt để; thay vào đó các doanh nghiệp có thể tìm được các biện pháp đơn giản hơn như giãn nợ, xóa nợ… mà vẫn ung dung tồn tại và “phát triển”. Hiện nay, đối với doanh nghiệp Việt Nam, đại đa số hoạt động theo mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh phí hạn hẹp, không có đủ cơ sở hạ tầng nghiên cứu, đặc biệt là không có sức sáng tạo mang tầm cạnh tranh quốc gia.  Đổi mới công nghệ gặp không ít khó khăn do mức độ cạnh tranh chưa thật sự cao vì đang còn quá nhiều dáng dấp của bao cấp và kiểu làm ăn chộp giật, đánh quả nên thực sự khó cho những doanh nghiệp muốn kinh doanh chân chính dựa trên đổi mới công nghệ. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn bị hạn chế về kết nối với giới khoa học, công nghệ và thị trường quốc tế, cơ chế chính sách vẫn còn bất cập nên họ chưa thực sự yên tâm để đầu tư dài hạn cho công nghệ. Do vậy, cần có những chính sách mang tính chất có hệ thống và đủ mạnh.  Bên cạnh đó, nói về “Cung” của thị trường KH&CN, chúng ta có một đội ngũ cán bộ KH&CN không nhỏ, một hệ thống tổ chức KH&CN về mọi lĩnh vực khoa học, một hệ thống các chương trình, đề tài nghiên cứu KH&CN các cấp… Nhưng kết quả nghiên cứu của ta, phần lớn vẫn “trằn trọc” trên bàn các nhà khoa học và tỷ lệ kết quả trở thành hàng hóa, trở thành thành phẩm mang tên Việt Nam, công nghệ Việt Nam, sức mạnh kinh tế của Việt Nam vẫn là con số quá nhỏ.   Bộ KH&CN đã có nhiều nỗ lực theo định hướng một cách đúng đắn, song vấn đề là cần có sự đồng bộ từ phía các Bộ ngành khác. Nếu chưa nhìn ra được vai trò của các doanh nghiệp KH&CN, chưa có giải pháp hữu hiệu thì các doanh nghiệp này sẽ vẫn phát triển song ở mức độ thấp mang tính chất tự phát và manh mún. Điều này sẽ cản trở sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cũng như hạn chế mức độ hội nhập của đất nước.    Kinh nghiệm thương mại hoá công nghệ trên thế giới      Các quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, hay Israel chính là điển hình của sự thành công nhờ chú trọng phát triển KH&CN.   Lấy ví dụ nước Mỹ, ai cũng biết đây được coi là một cái nôi của ngành tài chính trên thế giới, là nơi các doanh nghiệp đầy tài năng và sáng tạo bắt đầu khởi nghiệp, và cũng là nơi đầu tiên đánh giá đúng tầm quan trọng của việc phát triển KH&CN cho thương mại và cho kinh tế với huyền thoại Thung lũng Silicon. Đây là một thị trường nơi các công nghệ mới được triển khai bởi các start up có khả năng tăng trưởng đột biến và được tài trợ bởi các nhà đầu tư mạo hiểm. “Silicon Valley” từ Cali đã bành trướng mạnh mẽ ở New York, nay được gọi là Silicon City.   Hoạt động thúc đẩy kinh doanh (BA) cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là phát minh mới nhất về kỹ thuật kinh doanh của Mỹ để phát triển kinh tế, BA đã được Nhà Trắng áp dụng trong năm 2013 và đã đầu tư với số vốn $2 tỷ nhằm mục đích đột phá sự bế tắc về công nghệ sản xuất và tạo môi trường phát triển công nghệ và DN mới ở nước Mỹ.   Như vậy sự khác biệt giữa TMH CN truyền thống với TMH CN theo kiểu Silicon Valley là sự tham gia của các nhà đầu tư từ khi còn là ý tưởng công nghệ, vùng ứng dụng này trước kia chủ yếu là của các Viện, trường, nay có sự tham gia của các cựu CEO – các nhà đầu tư rủi ro trong BA và các sinh viên đầy nhiệt huyết để thu hút các nhà đầu tư mạo hiểm. Mục đích tạo ra các công nghệ mới và các Start up có tốc độ tăng trưởng phi mã.   Theo Hiệp hội Đầu tư mạo hiểm Quốc gia (NVCA) – Mỹ, năm 2011 có 842 công ty đầu tư mạo hiểm quản lí số tiền 195.9 tỷ đô-la Mỹ, tạo ra lợi nhuận tương đương 21% GDP của Mỹ; cứ 1 tỷ đầu tư mạo hiểm tạo ra 100 tỷ cho GDP phát triển nền kinh tế Mỹ. Đầu tư mạo hiểm vào các start up ước tính tạo ra 11.9 triệu việc làm tại Mỹ.  Trong 4 thập kỷ qua, đầu tư mạo hiểm tại Mỹ tạo ra nhiều sản phẩm đột phá và thay đổi thế giới, từ Internet đến email, iPhone và GPS mà chưa có một quốc gia nào đến gần được với thành công này của họ.   Thêm một ví dụ nữa cho việc phát triển KH&CN là Hàn Quốc, ai cũng biết Hàn Quốc hiện nay nổi tiếng với “Thành phố khoa học Daedok” tại Daejon với hơn 200 viện nghiên cứu, nhiều trường ĐH hàng đầu về KH&KT và là thành phố công nghệ của Hàn Quốc. Daedeok Innopolis hỗ trợ tương tác năng động giữa các đối tượng sáng tạo để tạo ra văn hóa phối hợp giữa các ngành, học viện và các viện nghiên cứu. Cho phép các tổ chức thực hiện giao dịch một cách thuận tiện và an toàn bằng cung cấp dịch vụ kết nối kinh doanh. Xây dựng một chương trình ươm tạo chuyên sâu được viết bởi các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau bao gồm: pháp luật, bằng sáng chế, kế toán tài chính. Daedeok Innopolis cũng thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh mới, chuyển giao công nghệ cao tới các doanh nghiệp trung bình và lớn. Đồng thời cung cấp hỗ trợ cho thương mại hóa công nghệ quản lý kinh doanh đào tạo.  Một nước đông dân và bị coi là kém phát triển như Ấn độ mà Chính phủ Ấn Độ cũng đã xây dựng một mô hình phát triển kinh tế đột phá bằng “cuộc cách mạng chất xám” dựa trên chính sức mạnh nguồn nhân lực, qua đó khai phá “mỏ vàng” từ ngành kinh tế công nghệ thông tin đầy hứa hẹn. Chính quyền thành phố Bangalore theo đó đã thành lập các khu vực đặc biệt như “Thành phố Điện Tử” (Electronic City) là nơi tập trung các hãng công nghệ cao đặt nền móng cho một Thung lũng Silicon hàng đầu thế giới ngày nay. Bangalore được coi như là “thủ đô công nghệ” – một trung tâm công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm của Ấn Độ được cả thế giới ca ngợi là “Thung lũng Silicon” đứng thứ hai trên thế giới (sau Thung lũng Silicon ở Mỹ). Tự hào là ngôi nhà của nhiều công ty đa quốc gia và công ty Ấn Độ, Bangalore hiện có khoảng 250 công ty đa quốc gia công nghệ cao và 1.500 công ty phần mềm đóng đô với những “ông lớn” như IBM, Microsoft, Intel, HP, EMC, Google, Trilogy, Cisco, Dell, Yahoo, NetApp, Covansys, Sun, Adobe… Đến Bangalore, người ta sẽ nói nhiều đến Infosys và Wipro – được xem như hai cơ sở công nghệ thông tin (CNTT) hàng đầu Ấn Độ và cũng đã trở thành những cái tên đứng đầu thế giới.     VSV sẽ hoạt động như thế nào?  Đầu tiên, xét đến môi trường pháp lý cho thị trường KH&CN: Nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc phát triển thị trường KH&CN, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường cho các tổ chức, cá nhân hoạt động được thuận lợi trong lĩnh vực này. Những văn bản pháp quy không chỉ tạo ra một hành lang pháp lý tương đối ổn định để các tổ chức, cá nhân có thể hoạt động được bình đẳng, lành mạnh trong thị trường KH&CN mà nó còn thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ trong việc phát triển thị trường này. Tuy vẫn còn nhiều hạn chế nhưng chúng ta cũng đã có một môi trường khá thuận lợi cho phát triển thị trường KH&CN, điều này được thể hiện trong các văn bản sau:  •    Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập;  •    Quyết định 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011-2015;  •    Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020;  •    Quyết định 1342/QĐ-TTg ngày 5/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia;  •    Quyết định 592/QĐ-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.  Trong tương lai, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thu hút vốn đầu tư mạo hiểm từ giai đoạn ý tưởng, phải xây dựng được một hệ sinh thái bao gồm start – up, hệ thống BA, vốn mạo hiểm và trong tương lai, nguồn vốn tư nhân phải nắm vai trò chủ đạo và định hướng thị trường công nghệ.   Thương mại hóa công nghệ – mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam bao gồm 5 bước:  1.    Bắt đầu từ nhà khoa học hay doanh nghiệp (Cả hai sẽ gọi tắt là DN) đã có sẵn sản phẩm nhưng gặp bế tắc, không phát triển được.  2.    Hoàn thiện sản phẩm cho thích hợp với thị trường, có tiềm năng lớn mạnh, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.  3.    Tạo lập mô hình kinh doanh và chiến lược khả thi, thích ứng để thực hiện mô hình.  4.    DN có khả năng để thực hiện chiến lược theo mô hình kinh doanh  5.    Trở thành các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp (start-ups) có khả năng tăng trưởng lớn mạnh, có khả năng thu hút vốn đầu tư mạo hiểm.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ trang trại đến bàn ăn: phần lớn đầu tư cho thực phẩm đều rơi vào công đoạn chế biến      Những người nông dân trên khắp thế giới hóa ra chỉ nhận được gần một phần tư những gì mà khách hàng trả khi mua các món hàng nông sản tại cửa hàng tạp hóa và thực phẩm.      Sau khi thu hoạch, nông sản phải trải qua nhiều bước rồi mới đến tay người tiêu dùng. Nguồn: phys  Vượt ra ngoài câu hỏi về liệu nông dân có được hưởng lợi xứng đáng với công sức bỏ ra, các nhà nghiên cứu phát hiện ra, quá trình nhiều công đoạn đưa thực phẩm đến tay người tiêu dùng – vốn được tóm gọn bằng cụm từ “từ trang trạng đến bàn ăn”, có thể không tương thích với phát triển bền vững. Đó là kết quả thu được từ công trình “Post-farmgate food value chains make up most of consumer food expenditures globally” của nhóm các nhà khoa học tại Mỹ và Đan Mạch do giáo sư Christopher B. Barrett (trường đại học Cornell) dẫn dắt mới được xuất bản trên tạp chí Nature Food.  “Chúng ta có thể không nhận biết được rằng những gì chúng ta trả cho những bữa ăn của mình lại không phải nằm ở chính những miếng đồ ăn tồn tại trước mắt chúng ta”, Chris Barrett, tác giả liên hệ của nghiên cứu, trao đổi với hãng thông tấn AFP.  “Phần lớn việc tăng thêm giá trị trong nền kinh tế thực phẩm toàn cầu không đến từ trang trại mà là quá trình chế biến, sản xuất, phân phối và các hoạt động dịch vụ để đưa thực phẩm đến với khách hàng”.  Chính chuỗi giá trị với nhiều công đoạn này tạo ra việc làm và đem lại sự tiện lợi cho khách hàng, ngay cả trong hình thức của các loại salad được đóng gói, thức ăn đông lạnh hay một gói đồ ăn trong cửa hàng lớn. Nhưng những những thuận lợi đem lại cho khách hàng đó phải đi kèm với tác động về sức khỏe và không ảnh hưởng đến môi trường, các tác giả phân tích.  “Phát thải khí nhà kính là một ví dụ”, Barrett nói, ngụ ý đến ô nhiễm carbon từ mọi công đoạn trong chuỗi giá trị đó. “Việc sử dụng nước cũng vậy.”  “Đó cũng là câu hỏi về nơi nào những đóng góp mà khách hàng mong chờ trong thực phẩm như khoáng chất, vitamin, chất xơ, và những đóng góp không mong muốn (xấu) như chất béo, muối, đường bị mất đi hoặc tăng thêm”, ông cho biết thêm.    Tiêu dùng có trách nhiệm  Nghiên cứu được xây dựng trên một phương pháp ban đầu để ứng dụng tại Mĩ: các nhà nghiên cứu Mĩ phát triển một cách tiếp cận tiêu chuẩn để ước tính tầm quan trọng của các chuỗi giá trị thực phẩm giữa nông dân và người tiêu dùng. Họ ứng dụng tiêu chuẩn so sánh này trên dữ liệu thu được trong năm 2005 đến 2015 từ 61 quốc gia thu nhập cao và trung bình chi phối 90% nền kinh tế thực phẩm toàn cầu.  Họ phát hiện ra, trung bình, người nông dân chỉ nhận được 27% những gì được người tiêu dùng chi trả.  Nghiên cứu tập trung vào 3/4 lượng thực phẩm được tiêu thụ trong các quốc gia sản xuất chính loại thực phẩm đó. “Sự chia sẻ của người nông dân về những mức chi cho thực phẩm nhập khẩu hầu như còn ít hơn”, Barret nói.    Tỷ lệ phần trăm những đồng đô la chi cho thực phẩm, vốn đã rất lớn, sẽ tập trung vào các hoạt động sau thu hoạch và dường như chỉ có gia tăng, nghiên cứu này kết luận.  Những người nông dân tại những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh như Trung Quốc và Ấn Độ sẽ kiếm được nhiều tiền khi dân số quốc gia mình giàu lên, tuy nhiên sự chia sẻ về chi tiêu cho thực phẩm có khả năng thu hẹp đi khi nhu cầu cho tiêu dùng thông thường cũng tăng lên.  Nghiên cứu này cũng cho thấy, các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs) – được áp dụng từ năm 2015 và hướng đến năm 2030 – như một cách để đảm bảo đạt được tác động vào chuỗi giá trị thực phẩm ngày một tăng lên.  Những gì diễn ra với thực phẩm giữa trang trại và khách hàng sẽ là điểm khó thực hiện với nhiều mục tiêu phát triển bền vững, bao gồm những mục tiêu liên quan đến giảm đói nghèo, “tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-food-farmers.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ ý tưởng sáng tạo đến thị trường – một quá trình gian nan      Các nghiên cứu ứng dụng do chúng tôi tự triển khai và thương mại hóa được kể dưới đây đều là những sản phẩm có vòng đời ngắn và dễ dàng bị sao chép cạnh tranh, nên hiệu quả rất thấp, qua đó cho thấy sự cần thiết liên kết giữa các nhà khoa học với các doanh nghiệp.  “Cân thử vàng dùng vi tính”    PGS. TS Phạm Hồng Dương (phải) trong phòng thí nghiệm của Trung tâm R&D Rạng Đông  Trong những năm 1988-1989, tất cả các giao dịch mua bán lớn đều sử dụng vàng dưới dạng các chiếc nhẫn với hàm lượng gọi là tuổi vàng, được các nghệ nhân nhìn bằng mắt và tuyên bố 96, 97 tuổi, nhưng khi chúng tôi đo lại, hàm lượng chỉ khoảng 94%, 95%. Phương pháp chúng tôi sử dụng là dùng một cân phân tích “bốn số”, phổ biến là Nagema của Đông Đức, sau đó dùng 2 quang cân khô (trong không khí) và cân ướt (trong nước cất), sau đó tính ra hàm lượng. Trọng lượng cân khô và cân ướt (với độ chính xác 1 mg) được xử lý bằng chương trình dùng ngôn ngữ Basic và máy tính Apple 2, phần lớn là quà tặng của GS Cooperman sau khi đã sử dụng hết date, cất vào kho.   Rào cản đầu tiên khi thương mại hóa phương pháp đo vàng là các nghệ nhân nhìn vàng. Họ không công nhận phương pháp đo này và tác động đến khách hàng nhiều kiểu, từ việc nhuộm nhẫn vàng thành đen, đến việc đo lại liên tục các chiếc nhẫn đã được đo và niêm phong theo phương pháp của chúng tôi.  Phải: Nhẫn vàng – phương tiện giao dịch thay tiền. Trái: cân hai lần,khô và ướt.                                                                   Điểm dịch vụ cân thử vàng đầu tiên của chúng tôi mở tại 40 Lê Văn Hưu Hà Nội dưới danh nghĩa Công ty Vitecen. Sau một tháng hoạt động, khách hàng cân thử vàng đến rất đông, phần vì nhu cầu, phần vì tò mò vì hầu hết người Hà nội đều chưa biết đến vi tính là gì, đến mức phải phát tích kê cho đỡ phải xếp hàng. Mỗi ngày cửa hàng thu được tiền công từ 1 đến 2 chỉ vàng (thời đó 1 m2 nhà mặt phố khoảng 1 cây vàng). Lo lắng của chúng tôi về công nghệ đo đạc bị sao chép đã thành sự thật, dù hệ đo đầu tiên của chúng tôi đã được ngụy trang kín đáo, bao gồm một chiếc cân phân tích được che kín có nút vặn để dìm chiếc nhẫn vào trong nước, và phần mềm với công thức tính từ tỷ trọng sang hàm lượng. Khi chuyển từ vi tính Apple II sang vi tính XT, chúng tôi đã phải nhờ chuyên gia phần mềm cũng là người trong Viện Vật lý viết chương trình mới có phần hiệu chỉnh theo nhiệt độ và giao diện đẹp hơn. dù bảo vệ bản quyền bằng đăng ký thì không làm, một phần vì không biết viết, một phần thì sợ bộc lộ quá sớm giải pháp. Do vậy, nguyên lý và công thức đã được lan tỏa với tốc độ chóng mặt. Sau khoảng 1 năm, riêng ở Hà nội đã có trên dưới 10 điểm cân thử vàng, nên chúng tôi đã quyết định là bán các hệ cân thử vàng cho bất cứ ai quan tâm, mỗi hệ giá khoảng 2 cây vàng, lợi nhuận 1 cây. Khoảng 50 hệ đo đã được chúng tôi đưa ra thị trường trong khoảng 3 năm, lợi nhuận chia cho chuyên gia lắp cân phân tích, chuyên gia phần mềm và người chế tạo là chúng tôi.                                        Nhìn lại quá khứ hoạt động, trải nghiệm đầu tiên này cũng đem lại cho chúng tôi hiệu quả kinh tế, nhiều bạn bè, đối tác và nhiều kỷ niệm đẹp.      Dự án chế tạo sửa chữa laser He-Ne công suất nhỏ  Sau nhiều năm được đào tạo ở Nga và phương Tây, các nghiên cứu cơ bản của chúng tôi cũng chỉ là các cố gắng kéo dài các hướng do các thày khởi xướng, gần như không tạo ra giá trị gì khác biệt. Tình cờ trong những năm thực tập bên Pháp, tôi được biết đến tổ chức CCFD, một tổ chức sẵn sang tài trợ cho các dự án liên quan đến người nghèo và người khuyết tật. Năm 1991, một dự án do chúng tôi đề xuất với CCFD dự án “Xây dựng một phân xưởng sủa chữa và chế tạo laser He-Ne công suất nhỏ”, có trị giá 300.000 FF dùng để hỗ trợ điều trị vết thương. Ý định của chúng tôi là sẽ cung cấp laser loại nhỏ này cho các cơ sở y tế thông qua hoạt động của phân xưởng nhỏ này đã không thành công: cả nước Pháp không còn cơ sở khoa học nào dạy chúng tôi chế tạo được laser He-Ne, tất cả công nghệ đã chuyển về các hãng (như Thomson); số laser hỏng cần sửa chữa ở Việt nam quá ít. Sau đó ít lâu, một đơn vị trong Viện ứng dụng Công nghệ đã thành công hơn chúng tôi: họ đã nhập ống và nguồn laser He-Ne, lắp ráp rồi thương mại hóa. Bài học chúng tôi rút ra là đã lựa chọn mục tiêu dự án không đúng với hoàn cảnh Việt nam.    Đo đạc và tính toán chỉ số sức mạnh cho vận động viên võ thuật.  Nước Việt nam có truyền thống đào tạo vận động viên võ cổ truyền và đã sử dụng trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm cung như đạt được nhiều thành tích trong thi đấu SEAGAMES. Tuy nhiên, các phương pháp huấn luyện đều rất định tính, các võ sư sử dụng các thuật ngữ cổ như nội lực, đòn âm, đòn nổi… để đánh giá sức mạnh của học viên. Trong huấn luyện thể thao, huấn luyện viên phương Tây sử dụng bàn đo lực để đo lực dậm nhảy của Vận động viên, hay lực va chạm của quả đấm. Bàn đo lực là một tấm thép cứng gắn với cảm biến bán dẫn, có tác dụng chuyển tín hiệu va chạm cơ học thành tín hiệu điện để xử lý. Vận động viên đấm bốc cần đeo găng khi đấm vào bàn đo lực. Kết quả đo thể hiện bằng giá trị KG lực hoặc Newton. Phương pháp này không sử dụng được cho các môn võ tổng hợp sử dụng đấm, đá, cùi trỏ hoặc gậy gỗ. Hơn nữa, lực va chạm không thể hiện được các khía cạnh khác của sức mạnh đòn đánh, ví dụ như thời gian phát đòn, độ dài cú đánh. Chúng tôi đã phát minh ra một thiết bị dưới dạng một áo giáp mềm nối với một cảm biến áp suất, kết nối với phần mềm thu thập và xử lý số liệu. Khác với bàn đo lực, tín hiệu ghi nhận là một mảng các giá trị lực va chạm biến đổi theo thời gian, bắt đầu từ thời điểm ra lệnh đấm đá. Kết quả đánh giá chỉ số sức mạnh tỷ lệ thuận với đỉnh lực, động lượng của đòn đánh và tỷ lệ nghịch với thời gian ra đòn. Kết quả này có tương quan mạnh với các thành tích của các võ sỹ trong thi đấu và được dùng cho 2 luận văn tiến sĩ về huấn luyện võ thuật. Rất nhiều chuyên gia Trung quốc và huấn luyện viên Việt Nam trong thời kỳ chuẩn bị cho Seagames 22 đã tranh thủ quay phim các buổi vận hành thiết bị này. Tuy nhiên, vì nguyên lý tính toán hoàn toàn mới và không có một thiết bị nào giống với thiết bị của chúng tôi, việc đưa ra thị trường quốc tế vẫn chưa thực hiện được.   Công nghệ làm tranh, ảnh và thiết bị chiếu phim 3D  Năm 2003, Viện Khoa học Vật liệu được thành lập trong đó có phòng Cooperman. Năm 2003, ý  tưởng đổi mới sản phẩm của chúng tôi là công nghệ tạo ra tranh ảnh 3D, tích hợp cả công nghệ thông tin, quang học, cơ khí và công nghệ phun phủ, chúng tôi đã không tìm được chương trình tài trợ nghiên cứu nào phù hợp. Đây là làn sóng thứ 3 về công nghệ 3D nổi lên trên thế giới, khi mà các vật liệu quang học và phần mềm kỹ thuật số trở nên phổ biến hơn. Đơn vị chúng tôi là một trong các nhóm dẫn đầu trong việc tạo ra các bức ảnh, tranh 3D chất lượng cao, kích thước lớn trên thế giới. Năm 2010, phim Avatar 3D gây sốt trên toàn thế giới về công nghệ 3D cũng như doanh thu. Là đơn vị dẫn đầu về công nghệ 3D ở Việt nam chúng tôi đã chế tạo và lắp đặt khoảng 80 phòng chiếu phim và phòng mô phỏng 3D, doanh thu đạt hơn 10 tỷ đồng. Với kết quả thu được, chúng tôi đã được tặng giải nhì Vifotec  2014 từ tiểu ban Công nghệ thông tin, được cấp 1 bằng bảo hộ Giải pháp hữu ích.Tuy nhiên đến năm 2014 vòng đời sản phẩm đã sang chặng cuối, doanh số đã sụt giảm nhanh chóng do bị sao chép và cạnh tranh bởi các sản phẩm nhập ngoại.   Công nghệ chế tạo nguồn sáng và chiếu sáng trên cơ sở đèn LED  Từ năm 2011, một lĩnh vực nghiên cứu mới theo mô hình hợp tác ba bên, trong đó doanh nghiệp Rạng Đông là trung tâm, đã được chúng tôi thực hiện. Năm 2012, chúng tôi được giao chủ trì nội dung công nghệ một dự án IPP, mục tiêu là nâng cao tuổi thọ đèn CFL từ 6000 giờ lên 10000 giờ. Giải pháp công nghệ chính là thay thế chấn lưu sáng ngay bằng chấn lưu sáng nhanh có dự nhiệt cho đèn CFL công suất 18W. Tuổi thọ của đèn tăng lên, nhưng chi phí cũng tăng theo nên doanh số không cao lắm. Nhưng chúng tôi lại thu được những tri thức quan trọng về quản trị quá trình đổi mới sáng tạo thông qua việc giao lưu với các đối tác khác trong chương trình IPP.   Từ năm 2011, sự phát triển của nguồn sáng trên cơ sở công nghệ LED trắng đi vào giai đoạn đột phá, đe dọa thị trường nguồn sáng truyền thống như bóng đèn huỳnh quang và đèn compact CFL. Công ty Rạng Đông thành lập Trung tâm nghiên cứu phát triển trên cơ sở hợp tác với các chuyên gia đến từ Viện Hàn lâm Khoa học Việt nam, trường Đại học Bách khoa và một số đơn vị khác. Năm 2013, chúng tôi đã đề xuất 10 sản phẩm đổi mới sáng tạo trên cơ sở công nghệ LED, dựa vào đó chúng tôi đã nộp đơn xin bảo hộ 9 sáng chế và giải pháp hữu ích, 5 kiểu dáng công nghiệp. Công ty Rạng đông là chủ đơn của 5 đơn xin bảo hộ mà chúng tôi là tác giả. Một số laoij đèn LED mới như đèn Đài sen đã được lắp đặt để chiếu sáng nội thất nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng trên khu K9. Các sản phẩm mới đều đã được thương mại hóa, nhưng quy mô chưa được như kỳ vọng, có lẽ bởi khâu tiếp thị chưa đồng bộ được với đổi mới kiểu dáng và tính năng sản phẩm quá mới.  Một cách tiếp cận khác mà chúng tôi đang thực hiện là không đổi mới sản phẩm, mà chỉ đổi mới công nghệ: thay đèn sợi đốt tròn, đèn CFL bằng đèn LED tròn để tận dụng hạ tầng chiếu sáng cũ. Nhu cầu bóng đèn LED thay thế rất cao, nhưng cạnh tranh rất khốc liệt do thiết kế chủ đạo đã được xác định, quen thuộc với khách hàng cũ. Kinh nghiệm rút ra là, đổi mới sản phẩm đột phá đồng nghĩa với việc phải tạo ra phân khúc khách hàng mới, một việc làm không mấy quen thuộc với các nhà nghiên cứu khoa học công nghệ. Mục tiêu đạt được doanh thu 400 tỷ đồng bán đèn LED cho năm 2015 của Công ty Rạng Đông là một thách thức vô cùng lớn mà mỗi cá nhân, đơn vị cũng khó mà đạt được.  Kết luận  Ý tưởng đổi mới có thể xuất phát từ bất cứ một cá nhân hay đơn vị, cho bất cứ lĩnh vực nào, hướng tới việc sáng tạo ra các giải pháp khác biệt và ưu việt hơn. Tuy nhiên, để ý tưởng đổi mới biến thành sản phẩm, dịch vụ đứng vững được trên thị trường, rất nhiều công đoạn khác cần được thực hiện với các thách thức mới. Đây là một quá trình đầy rủi ro, tuy nhiên sức hấp dẫn của các cơ hội mới lại là động lực để chúng ta vượt qua các khó khăn đó.    * PGS.TS. Phạm Hồng Dương và Th.S. Phạm Hoàng Minh thuộc Phòng Cooperman, Viện KH Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam       Author                PGS.TS. Phạm Hồng Dương – Th.S. Phạm Hoàng Minh        
__label__tiasang Túi xử lý ô nhiễm tràn dầu từ sợi tái chế      Từ những sợi tái chế của ngành công nghiệp  dệt, tác giả Phạm Văn Sơn đã sáng tạo ra túi lọc dầu SOS-B có chức năng  xử lý ô nhiễm tràn dầu trên sông, biển.      Với chất liệu 100% sợi tái chế, túi lọc dầu SOS-B có khả năng lọc dầu, váng dầu, các chất thải nhiễm trong nước mặn và nước ngọt, đồng thời có sức bền tốt khi chịu được lưu tốc tối đa của dòng chảy lên tới 250m3/1m2. Khi tiếp xúc với SOS-B, dầu không chỉ bị thấm tại vị trí tiếp xúc mà còn bị hút vào toàn bộ sợi vải bởi lực mao dẫn. Khả năng hút dầu của túi SOS-B đạt gấp 20 lần trọng lượng bản thân. Dầu bị hút vào sợi có thể dễ dàng tách ra bằng biện pháp cơ học như vắt, ép, ly tâm, sau đó có thể tái sử dụng với hiệu quả giảm dần. Vải hết thời gian sử dụng có thể hủy bằng phương pháp đốt cho nhiệt lượng cao với lượng tro dưới 1%.  Tham dự chương trình Sáng tạo Việt, túi lọc dầu SOS-B đã được BTC đánh giá cao bởi chi phí đầu tư thấp nhưng hết sức hiệu quả, đặc biệt là hiệu quả về môi trường, đem lại khả năng ứng dụng cao. Trước khi đến với Sáng tạo Việt, sản phẩm công nghệ xử lý ô nhiễm tràn dầu trên sông biển này đã từng tham gia ứng cứu nhiều sự cố tại nhiều cơ sở và khu công nghiệp ở Quảng Ninh, Hà Nội, Vũng Tàu…, đặc biệt là sự cố tràn dầu tại khu công nghiệp Thăng Long năm 2011 khi giải quyết hoàn tất ngay trong ngày, ngăn chặn kịp thời hậu quả ô nhiễm môi trường trong và ngoài khu công nghiệp.   Đây cũng là lý do để BTC chương trình Sáng tạo Việt lên kế hoạch kết nối và xúc tiến việc ứng dụng giải pháp công nghệ Túi lọc dầu SOS-B cho dự án xử lý nước nhiễm dầu cho các tàu du lịch hoạt động tại Hạ Long, Quảng Ninh.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Từng chán nản khi nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam      Phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu 2017 sáng 18/5/2017 tại Hà Nội, GS.TS Phan Thanh Sơn Nam (Khoa Kỹ thuật hóa học, ĐH Bách khoa TP.HCM) cho biết, anh từng chán nản khi làm nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam sau khi trở về từ khóa thực tập sinh sau tiến sĩ tại Hoa Kỳ, nhưng nhờ những cơ chế đầu tư mới cho nhà khoa học, anh đã có cơ hội sống lại niềm đam mê của mình.      GS. Phan Thanh Sơn Nam trong lễ khai giảng Chương trình Đào tạo Quốc tế – Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM. – Ảnh: Thi Ca/http://oisp.hcmut.edu.vn  Dưới đây là toàn văn phát biểu của GS.TS Phan Thanh Sơn Nam*.  Kính thưa toàn thể quý vị,  Trong buổi lễ trang trọng ngày hôm nay, trước hết cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thành viên của Hội đồng khoa học ngành Hóa học, các thành viên của Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2017 và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã trao cho tôi vinh dự này.  Cám ơn các bạn học trò và đồng nghiệp, gồm có NCS Đặng Huỳnh Giao, SV Đặng Trường Thịnh, TS Lê Thành Dũng, và TS Trương Vũ Thanh đã cùng nhau chia sớt vui buồn với tôi trong suốt thời gian thực hiện công trình khoa học này.  Tôi cũng không quên nói lời cám ơn đến ĐH Quốc gia TP.HCM đã cấp kinh phí nghiên cứu và đầu tư trang thiết bị, cũng như Trường Đại học Bách Khoa (ĐHQG TP.HCM) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành công trình khoa học này.  Kính thưa toàn thể quý vị,  Dĩ nhiên nghiên cứu ứng dụng là quan trọng, và cho dù đó là các phát minh cải tiến của những người nông dân thì cũng cần phải được trân trọng. Thường thì người ta dễ dàng ũng hộ nghiên cứu ứng dụng vì nó phục vụ cho những nhu cầu của xã hội ngay trước mắt. Tuy nhiên, chắc chắn nghiên cứu cơ bản là tối quan trọng, có sứ mệnh sáng tạo ra những tri thức mới cho nhân loại. Phải có một nền khoa học học cơ bản vững chắc mới đủ sức nâng khoa học ứng dụng lên một tầm cao mới.  Năm 2006, sau khi hoàn thành khóa thực tập sinh sau tiến sĩ tại Hoa Kỳ trở lại Trường Đại học Bách Khoa công tác, tôi thật sự chán nản khi triển khai nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam. Phải mất gần 4 năm, nhờ có sự ra đời của Quỹ NAFOSTED, nhờ có ĐHQG TP.HCM đầu tư phòng thí nghiệm cũng như ưu tiên kinh phí cho hoạt động nghiên cứu cơ bản mang tầm quốc tế, nhờ có Sở KH&CN TP.HCM thời còn cấp kinh phí cho nghiên cứu cơ bản, tôi mới có cơ hội tiếp tục sống lại niềm đam mê của mình.  Trong buổi lễ trang trọng này, cho phép tôi có 3 kiến nghị:  1. Mô hình Quỹ NAFOSTED của Bộ Khoa học và Công nghệ cần phải được phát triển hơn nữa, và cần phải mở rộng hơn nữa đến nhiều đơn vị quản lý khoa học các cấp. Có như vậy, chúng ta mới không đứng ngoài cuộc chơi hội nhập với thế giới. Có như vậy, hoạt động nghiên cứu của Việt Nam mới có thể nhanh chóng bắt kịp và “sánh vai” cùng các hoạt động nghiên cứu tiên tiến ở các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới, để từ đó có thể đưa khoa học – công nghệ của Việt Nam bước qua một trang sử mới.  2. Giới khoa học chúng tôi mong muốn được Nhà nước quan tâm hơn nữa, đặc biệt là trong việc tiếp tục đổi mới các quy chế quản lý khoa học – công nghệ và quản lý tài chính. Hơn 10 năm khá vất vả với các quy định tài chính, tôi thật sự mong muốn Việt Nam sớm có một cơ chế tài chính thật gọn nhẹ mà hiệu quả, để các nhà khoa học có thể toàn tâm toàn ý dành trọn thời gian vào các hoạt động chuyên môn.  3. Khi đánh giá hiệu quả hoạt động của một nhà khoa học, một nhóm nghiên cứu, một phòng thí nghiệm, cần phải sử dụng các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế mà không nên “sáng tạo” ra những chuẩn mực riêng. Ngoại trừ những đề tài cơ sở mang tính thăm dò hoặc những đề tài phục vụ cộng đồng rõ ràng, nghiên cứu cơ bản phải cần các bài báo quốc tế ISI chất lượng, còn nghiên cứu ứng dụng thì cần những patent quốc tế.  Ngày hôm nay, có cơ hội được phát biểu ở nơi đây, với tất cả lòng chân thành, tôi thật sự biết ơn những nhà quản lý và những nhà khoa học đã nỗ lực hết mình để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam trong thời gian qua. Nhờ vậy, tôi mới có cơ hội được sống trọn vẹn với niềm đam mê nghiên cứu khoa học của mình ngay trên chính quê hương này.  Sau cùng, kính chúc toàn thể quý vị nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành công.  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt.    Author                Phan Thanh Sơn Nam        
__label__tiasang Từng lớp một hay máy in 3D hoạt động thế nào      Một số nhà nghiên cứu đang dùng các máy in 3 chiều để tạo ra các mô sống đơn giản, như da, cơ thịt và các đoạn ngắn mạch máu. Có khả năng rằng các phần thân thể lớn hơn, như thận, gan và thậm chí tim, có thể được in ra một ngày nào đó.   Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:”Table Normal”;  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-parent:””;  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin:0in;  mso-para-margin-bottom:.0001pt;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:10.0pt;  font-family:”Times New Roman”;  mso-ansi-language:#0400;  mso-fareast-language:#0400;  mso-bidi-language:#0400;}      Sử dụng một máy in 3 chiều (3D Printer) giống như in một bức thư; bấm nút in trên màn hình máy tính và một file số được gửi, chẳng hạn, đến một máy in phun, phun một lớp mực lên bề mặt một tờ giấy để tạo ra một hình ảnh hai chiều. Trong việc in 3D, tuy vậy, phần mềm lấy một chuỗi các lát mỏng số qua một thiết kế bằng máy tính và gửi những mô tả của các lát mỏng đó đến 3D printer, máy lần lượt bồi thêm các lớp mỏng cho đến khi một vật đặc hiện ra. Sự khác biệt lớn là, “mực” của một 3D printer là một vật liệu.  Các lớp có thể hình thành theo những cách khác nhau. Một số 3D printer dùng quá trình phun mực. Objet, một công ty 3D-printer Israel, dùng đầu phun mực để phun một lớp siêu mỏng nhựa lỏng lên một mâm xây (build tray). Lớp này được được xử lý bằng phơi ra ánh sáng cực tím. Sau đó mâm xây được hạ xuống một tí và lớp tiếp theo được bồi thêm. Cách khác là làm mẫu qua lắng đọng nóng chảy (fused deposition modeling), một hệ thống được Stratasys, một công ty có trụ sở ở Minneapolis, sử dụng. Việc này dính dáng đến nấu chảy nhựa trong một đầu đùn để ép đùn một sợi mảnh vật liệu để xây các lớp.  Các hệ thống khác dùng bột như vật liệu in. Bột có thể được trải như một lớp mỏng trên mâm xây và được làm đặc bằng một tia kết dính lỏng. Nó cũng có thể được nung chảy thành hình mẫu mong muốn bằng một laser trong một quá trình được gọi là nung kết laser (sintering), một công nghệ mà EOS, một hãng Đức, sử dụng trong các máy chế tác bồi thêm (additive-manufacturing machine) của họ. Arcam, một công ty Thụy Sỹ, nấu chảy bột trong các máy in của nó bằng một tia điện tử hoạt động trong chân không. Và đấy mới chỉ là vài trong các biến thể.  Đối với các cấu trúc chứa các phần rỗng và các phần nhô ra, gel và các vật liệu khác được thêm vào để làm giá đỡ, hay khoảng trống có thể để lấp đầy bằng bột không bị nung chảy. Vật liệu giá đỡ này có thể được rửa sạch hay thổi đi muộn hơn. Các vật liệu có thể được in hiện nay trải từ nhiều loại nhựa cho đến các kim loại, gốm và các chất liệu giống cao su. Một số máy có thể kết hợp các vật liệu, làm ra một vật thể rắn ở một đầu và mềm ở đầu kia.  Một số nhà nghiên cứu đang dùng các 3D printer để tạo ra các mô sống đơn giản, như da, cơ thịt và các đoạn ngắn mạch máu. Có khả năng rằng các phần thân thể lớn hơn, như thận, gan và thậm chí tim, có thể được in ra một ngày nào đó – và nếu các máy in sinh học (bio-printer) có thể dùng tế bào gốc của chính bệnh nhân, thì cơ thể bệnh nhân ít có khả năng loại bỏ cơ quan sau khi được cấy ghép.  Thực phẩm cũng có thể được in. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell đã thành công trong in ra các bánh nướng nhỏ. “Ứng dụng sát thủ” (“killer app”) với thức ăn, hầu như tất cả mọi người đều đồng ý, sẽ là việc in chocolate.  Nguyễn Quang A dịch  —  Đọc thêm:  * Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5530  * Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5531  * Lợi thế cạnh tranh: Hiệu ứng boomerang  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5547&CategoryID=7  * Vật liệu: Tiến lên phía trước  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5559&CategoryID=7  * Chế tác bồi thêm: In khối   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5561         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tưới phun mưa bằng năng lượng mặt trời      Tỉnh Ninh Thuận vừa đưa vào ứng dụng công nghệ tưới phun mưa sử dụng năng lượng mặt trời cho nông dân tại xã Phước Hải.     Tưới phun mưa sử dụng năng lượng mặt trời và là công nghệ mới “made in Viet Nam”. Theo đó, thông qua hệ thống kết nối được lắp đặt như pin, bộ sạc, bộ ắc quy, bộ chuyển đổi, ánh sáng mặt trời được hấp thụ và chuyển đổi để tạo thành điện năng. Sau khi dòng điện được tạo ra, người nông dân sẽ sử dụng nguồn điện này gắn vào mô tơ bơm tưới phun cho cây trồng.  Hệ thống tưới nước phun mưa bằng năng lượng mặt trời có công suất 800Wp có thể phục vụ tưới 3 giờ/ngày. Ứng dụng công nghệ này giúp chống tình trạng cát bay, tiết kiệm nhân công và đặc biệt tiết kiệm 30% – 50% nước so với tưới thông thường.     Ý tưởng của dự án bắt nguồn từ nhóm sinh viên khoa Điện – Điện tử Trường Đại học Bách khoa TP.HCM. Sau đó, tỉnh Ninh Thuận được chọn thí điểm lắp đặt vì tính chất thiếu nước và không có điện lưới quốc gia. Việc triển khai do các sinh viên phòng thí nghiệm nghiên cứu điện tử công suất Trường Đại học Bách khoa TP.HCM dưới sự hướng dẫn của PGS-TS Lê Minh Phương.  Kết quả sau 3 tháng triển khai, bước đầu hệ thống cung cấp đủ điện phục vụ tưới cây đậu phộng cho gia đình thụ hưởng. Chi phí đầu tư để lắp đặt công nghệ ban đầu khoảng 100 triệu đồng, sử dụng tưới cho 4.000m2 đất sản xuất, tuổi thọ sử dụng trong khoảng 15 năm.  Đánh giá cao công nghệ tưới phun mưa sử dụng năng lượng mặt trời, ông Phạm Phú Rong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Thuận, cho biết, Hội Nông dân tỉnh Ninh Thuận đang khuyến khích việc nhân rộng mô hình, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ nông dân vay vốn đầu tư lắp đặt hệ thống công nghệ này ứng dụng vào sản xuất.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai an toàn hơn cho tro than từ nhiệt điện ?      Tro than thải ra từ các  nhà máy&#160; nhiệt điện có thể được tái chế thành rất nhiều loại vật liệu khác nhau, từ bê tông cho tới phân bón. Thâm chí các hãng sản xuất đang tìm cách dùng loại tro này để chế tạo xe bọc thép siêu nhẹ hoặc để thu dọn dầu loang.    Người tiêu dùng hằng ngày không phải nhìn thấy bụi than thải ra từ các  nhà máy sản sinh ra nguồn điện phục vụ mỗi khi họ bật đèn hay chạy máy điều  hòa. Nhưng ở các nhà máy nhiệt điện, tro bay bám dày thêm từng ngày,  trong đó chứa đầy kim loại nặng và các chất độc– đây là một trong những  chất thải khó xử lý nhất trong thế giới hiện đại.   Làm sao để vừa khuyến khích tái chế và sử dụng tro than vừa kiểm soát  được các mối nguy hại vẫn đang là một thách thức với các nhà hoạch định  chính sách khắp thế giới.  Ở Mỹ, người ta vẫn chưa quên về vụ thảm họa tràn bụi than đã tàn phá đất đai, sông ngòi và nhiều nhà cửa trong phạm vi 121 ha ở bang Tennessee hồi năm 2008. Tới nay, Chính phủ Mỹ và ngành điện vẫn đang tranh luận về cách xử lý trong tương lai cho những chất thải nguy hiểm của hoạt động sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch.  Tin vui là chất thải từ các nhà máy điện chạy than không cần phải bỏ đi.  Nó có thể được tái chế thành rất nhiều loại vật liệu khác nhau, từ bê tông cho tới phân bón. Tro bay, một dạng chất bột silic dioxyt rất mịn, là một phần trong dòng thải tro than, thực ra có nhiều đặc điểm vật lý và hóa học giúp gợi ra những ý tưởng ứng dụng mới. Các hãng sản xuất đang tìm cách dùng tro bay để chế tạo xe bọc thép siêu nhẹ hoặc để thu dọn dầu loang.  Nhưng các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đang đối mặt với một thách thức khó khăn: Làm thế nào để khuyến khích việc tái sử dụng tro than an toàn, đồng thời hạn chế việc sử dụng theo cách không an toàn và bảo vệ người dân cũng như hệ sinh thái khỏi nguy cơ ngày càng tăng khi mà những bãi thải và bãi chôn tro than đang ngày một tăng.  Hồi chuông cảnh báo  Tro bay và những chất khác trong tro than hợp thành một trong những nhóm chất thải lớn nhất ở Mỹ: hơn 136 triệu tấn mỗi năm. Ở châu Âu, chất thải từ quá trình đốt than lên đến 100 triệu tấn mỗi năm, theo một số ước tính. Không có số liệu về Trung Quốc nhưng vì nước này hiện đã đốt nhiều than hơn cả Mỹ nên chắc chắn lượng chất thải là đáng kể. Các nhà khoa học ở Viện Vật liệu Xây dựng Trung Quốc và Viện Thông tin Công nghệ về Công nghiệp Vật liệu Xây dựng tính toán rằng đất nước họ tới nay đã thải ra tổng cộng khoảng 2 tỷ rưỡi tấn tro than.  Trong nhiều năm, các chuyên gia và cộng đồng đã cảnh báo rằng cách xử lý tro than thông thường – chôn xuống đất – dẫn đến nguy cơ đối với nguồn nước ngầm và cả với người dân sống gần vùng xử lý. Vấn đề trở thành trung tâm dư luận vào ngày 22/12/2008, khi một bể chứa tro than ở nhà máy điện Kingston Fossil Fuel, phía Tây Knoxville, bang Tennessee (Mỹ) bị vỡ.  Khoảng 4 triệu m3 tro than ướt tràn ra khỏi nhà máy, làm ô nhiễm sông Clinch và Emory, bao phủ khu vực lân cận, phá hủy ba ngôi nhà và làm hư hại hàng chục căn khác. Đó được coi là tai nạn tràn chất thải công nghiệp tồi tệ nhất ở Mỹ và buộc Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) Mỹ phải thực hiện một cuộc tái thẩm định việc quản lý tro than.  Hè năm ngoái, EPA đưa ra hai hướng tiếp cận mới: Hoặc đề ra tiêu chuẩn mới của liên bang (về xử lý tro than) và để các bang tự thực thi hoặc áp đặt quyền lực lớn hơn cho EPA để buộc các ngành điện và các ngành công nghiệp khác phải bắt đầu xử lý tro than như một chất thải nguy hiểm. Nhưng từ đó tới nay, tình hình không tiến triển tốt khi cơ quan này bị phản đối dữ dội vì có ý kiến cho rằng việc chỉ định [tro than] là nguy hiểm sẽ ngăn cản việc tái chế vốn có thể giúp kiểm soát vấn đề tro than.  “Luận điểm của chúng tôi là, cách tốt nhất để giải quyết vấn đề chất thải chính là không đổ (chất thải) đi” khẳng định từ John Ward, phát ngôn viên của Hiệp hội Tro than Hoa Kỳ, một tổ chức quy tụ các công ty năng lượng và tái chế.          Tro than từ một nhà máy nhiệt điện che phủ đường phố Delhi, Ấn Độ          Nhưng việc vứt bỏ tro than vẫn đang diễn ra ở Mỹ và mọi nơi khác. Khoảng 60% tro than ở Mỹ được đem chôn; tỷ lệ này ở châu Âu là 50%. Ở Trung Quốc, tỷ lệ tái chế là 30% mặc dù Chính phủ nước này đã có chương trình nâng mức tái chế lên 75% từ năm 2005.  Nhưng đến đây thì vấn đề còn phức tạp hơn, vì nhiều tổ chức bảo vệ môi trường lên án việc sử dụng sản phẩm từ tro tái chế mà các công ty công nghiệp vẫn coi là có lợi. Việc dùng tro than làm nhựa đường, đê kè, phân bón hoặc để lấp những khu mỏ bỏ hoang – sử dụng khoảng 7 triệu tấn tro than chỉ riêng ở Mỹ năm 2009 – bị các nhà hoạt động môi trường cho là phát tán mối nguy ra cộng đồng và môi trường. Trong tro than có chứa asen, thủy ngân, than chì và các kim loại nặng khác. Và thậm chí từ trước vụ tràn tro Kingston hồi năm 2007, EPA đã phát hiện được ít nhất 70 trường hợp tro than làm chết cá hoặc gây ô nhiễm đất và nước.  Ward lập luận rằng nếu có các lớp lót tốt ngăn không cho tro bay tiếp xúc với nước thì vật liệu này là an toàn.    Nhốt tro vào bê tông   Có một ứng dụng được công nhận rộng rãi là an toàn: Các tính chất hóa học của tro bay biến nó thành một chất phụ gia gần như hoàn hảo cho xi măng trong bê tông và các nhà sản xuất bê tông đã sử dụng nó từ nhiều thập kỷ.  Chính rào cản về kỹ thuật, chứ không phải giá thành, đang hạn chế việc sử dụng rộng rãi tro than trong bê tông, theo lời Lura Schmoyer, thuộc West Main Consultants, tập đoàn đang điều hành chương trình Cool Climate Concrete. Họ muốn thuyết phục các nhà sản xuất bê tông dùng tro than và các vật liệu tái chế khác như vỏ trấu để cắt giảm lượng phát thải carbon từ quá trình sản xuất xi măng.  Mặc dù tro than là miễn phí – chỉ cần mang xe đến chở đi – nhưng không dễ thu được và sử dụng nó. “Một công ty bê tông chưa từng sử dụng loại nguyên liệu tái chế nào trong sản phẩm của mình sẽ cần phải phát triển những thiết kế mới để kết hợp những nguyên liệu ấy”, Schmoyer nói. Và “dù bạn có tin hay không thì vẫn có rất nhiều công ty bê tông không kết hợp sản phẩm tái chế”, bà nói. Cơ sở hạ tầng cũng là một vấn đề; tro bay cần phải được trữ tách biệt với những nguyên liệu khác và các nhà sản xuất cần có nguồn cung đáng tin cậy và ổn định kèm theo một tuyến vận chuyển tro từ nhà máy điện tới nhà máy bê tông.                  “Trong một thế giới lý tưởng”, Schmoyer nói, “mọi công ty bê tông đều sử dụng tối đa nguyên liệu tái chế cho xi măng thông thường (OPC)”.  Mỗi một tấn xi măng thường được sản xuất – bằng cách nung đá vôi với đất sét ở nhiệt độ vài nghìn độ C – tạo ra bốn phần năm tấn CO2. Và với 62 triệu tấn xi măng được sản xuất ở Mỹ năm 2010, việc giảm sự phụ thuộc vào xi măng sẽ có lợi đáng kể cho môi trường.  Không may là, theo Schmoyer, vì thị trường nhà đất khủng hoảng nên nhu cầu bê tông cũng giảm đến mức ngay cả trong thế giới lý tưởng, nước Mỹ vẫn thặng dư tro bay. Có thể một cuộc bùng nổ thị trường nhà đất nữa sẽ giúp nhốt được tro bay vào bê tông, nhưng từ nay tới lúc đó, đâu là cách để xử lý tro tốt nhất?  Chiến hạm siêu nhẹ và máy hút dầu tràn  Đây là dịp để khoa học công nghệ thể hiện tính sáng tạo. Tro bay có một số đặc tính giúp cho nó phù hợp hoàn hảo trong một số ứng dụng dường như rất khác thường.  Ngoài việc là một phụ gia hữu ích cho bê tông và có thể thay thế hoàn hảo cho đất sét trong gạch (hãng CalStar ở bang Wisconsin mỗi năm xuất xưởng nhiều triệu viên gạch có 40% thành phần là tro bay), những hạt tro này còn đủ vững chắc để làm chất phụ gia siêu nhẹ cho nhiều hợp chất kim loại.  Nikhil Gupta ở Viện Bách nghệ, Đại học New York và Pradeep Rohatgi ở Đại học Wisconsin-Milwaukee đã phát triển và thử nghiệm các hợp chất kim loại trong đó 50% thành phần là tro bay thay cho nhôm. Chất liệu tổng hợp giữa kim loại và tro bay với tỷ lệ tro thấp hơn, khoảng 20-30% theo khối lượng, vẫn cứng như hợp kim bình thường nhưng nhẹ hơn rất nhiều. Gupta đã được Phòng Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ và nhiều cơ quan Chính phủ khác tài trợ. Một ứng dụng đang được nghiên cứu là khả năng dùng các hợp chất mới này để chế tạo chiến xa hoặc chiến hạm nhẹ hơn.  Một ứng dụng không bình thường khác: phân tử tro than có cấu trúc hóa học rất dễ điều khiển để hấp thụ dầu. Sudipta Seal từ Đại học Trung Florida đã tạo ra được một loại phân tử tro bay “chức năng” mà ông gọi là OOPS, viết tắt của Oil Optimized Particle Surfaces (Bề mặt phân tử dầu tối ưu hóa). Công trình này được Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ từ không lâu sau vụ tràn dầu ở giàn khoan Deepwater Horizon trong vịnh Mexico hồi năm ngoái.  Mặc dù công nghệ này vẫn chưa bước ra khỏi phòng thí nghiệm nhưng nó rất hứa hẹn. Các phân tử tro than hút dầu nhưng lại không hút nước nên chúng có thể được bơm lên bề mặt vùng có dầu tràn và được thu hồi sau khi đã hút đủ dầu. Các phân tử này vượt trội so với công nghệ hút dầu tràn hiện nay, vì theo lời Seal, nguyên liệu thô luôn luôn có sẵn và tro sau khi đã hấp thụ dầu lại có thể đem về dùng để chạy các nhà máy nhiệt điện. Nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng các nhà máy nhiệt điện sẽ cần có thiết bị đặc biệt để đốt tro trộn lẫn dầu. Seal cho biết quy trình OOPS đã được đăng ký bằng phát minh và được chứng minh là không gây thoát ra chất độc từ tro bay.  Đối phó với nguy cơ   Mặc dù các ý tưởng này rõ ràng là mới chỉ ở giai đoạn đầu nhưng các tập đoàn công nghiệp đã kiến nghị rằng chúng sẽ không thể được triển khai ứng dụng nếu như EPA xếp tro than vào nhóm chất thải nguy hiểm. Cơ quan này đã thấy trước được quan ngại này nên họ nhấn mạnh rằng sẽ loại trừ tro bay tái chế khỏi diện phải chịu luật. Nhưng điều này chưa làm vừa lòng các công ty.  “EPA chỉ nói là họ sẽ không đưa [tro than] tái chế vào diện chịu luật nhưng họ sẽ không miễn được cho chúng tôi cái cảnh bị thị trường coi là buôn bán chất thải nguy hiểm”, Ward nói.  Tom Pounds, giám đốc điều hành CalStar, công ty sản xuất gạch từ tro bay, cũng đồng tình: “Không khó để tưởng tượng ra rằng những người không muốn thấy tro bay được ứng dụng rộng rãi hơn sẽ gây dư luận lo lắng cho thị trường”.  Nhưng Scott Slesinger, Giám đốc pháp luật của Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên Quốc gia Hoa Kỳ, nói rằng về mặt kinh tế thuần túy thì lập luận của các công ty là không có căn cứ. Lịch sử quản lý chất thải nguy hiểm dài 30 năm của EPA đã cho thấy rằng luật là công cụ khuyến khích chứ không phải hạn chế việc tái chế và tái sử dụng. “Nếu một thứ là chất thải nguy hiểm thì nó sẽ phải được đưa tới bãi chôn chất thải nguy hiểm. Chi phí xử lý không phải là rẻ nên tái chế sẽ hấp dẫn hơn”. Người ta sẽ nói, “Chà, tôi chẳng muốn trả phí đổ chất thải nguy hiểm”. Như vậy, lượng tái chế sẽ tăng.          Ô nhiễm tro than ở Tennessee năm 2008 khi một bức tường của bãi thải rộng 80 hecta của một nhà máy nhiệt điện bị vỡ           Về sự kỳ thị của người tiêu dùng, EPA nhận định rằng người tiêu dùng “nói chung là thoải mái” với các sản phẩm khác cũng được coi là chất thải nguy hiểm, chẳng hạn như dầu máy, một số chất tẩy rửa và ống phóng tia cathode (bóng đèn hình tivi). Slesinger cho biết, trong đề xuất về tro than, EPA yêu cầu cộng đồng cho ý kiến hoặc đưa ra ví dụ về các trường hợp mà ứng dụng có ích bị suy giảm đi sau khi một thành phần nào đó bị xếp vào nhóm chất thải nguy hiểm. “Chẳng ai nói gì cả,” Slesinger cho biết.  Nhưng dự luật vẫn còn gây tranh cãi sâu sắc khi mà các nhà phê bình theo Đảng Cộng hòa ở Capitol Hill đe dọa sẽ tước quyền của EPA để không cho họ kiểm soát tro than bằng ngân sách. Tháng trước, EPA đã chuẩn bị tổ chức thảo luận về đề xuất của họ và các nhà quan sát cho rằng việc này có thể trì hoãn đạo luật mới về tro than cho tới kỳ bầu cử 2012.  Trong lúc này, vấn đề tro than ngày càng nghiêm trọng. Mùa hè này, chánh thanh tra của Tennessee Valley Authority – giới chức địa phương đang là tâm điểm chú ý về vấn đề tro than – đã đánh giá quy mô vấn đề và phát hiện ra nước ngầm bị ô nhiễm vì chất độc từ các bãi tro than của tám trong số chín nhà máy nằm trong diện bị giám sát.   Hoàng Minh dịch từ bài viết của Rachel Kaufman, National Geographic, đăng ngày 15/08/2011; http://news.nationalgeographic.com/news/energy/2011/08/110815-safer-ways-to-reycle-fly-ash-from-coal/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai cho ngành hàng không sử dụng năng lượng mặt trời      Máy bay năng lượng mặt trời Solar Impulse 2 đã hoàn thành hành trình vòng quanh trái đất và ghi một dấu mốc rất quan trọng, không chỉ với ngành hàng không mà còn trong cả lĩnh vực công nghệ năng lượng sạch.      Sau khi hoàn thành chặng cuối cùng trong hành trình và hạ cánh ở Abu Dhabi vào ngày thứ ba vừa qua, Solar Impulse 2 (SI2) đã trở thành chiếc máy bay đầu tiên trong lịch sử dùng năng lượng mặt trời bay vòng quanh trái đất. Với thành công ngoạn mục này, SI 2 đã cho thấy tiềm năng trong việc sử dụng năng lượng mặt trời, nhất là trong điều kiện rất khó khăn của khí hậu nóng bức ở sa mạc và chỉ có một phi công điều khiển máy bay.   Trao đổi nhanh với tờ The Guardian ngay sau khi hạ cánh, Bertrand Piccard, phi công lái chặng cuối này đã chia sẻ cảm xúc: “đây thực sự là một thời khắc đặc biệt, kể từ 15 năm qua – khi tôi cùng các đồng nghiệp bắt đầu dự án này. Tôi hi vọng mọi người sẽ nhận thấy rằng, kết quả này không chỉ ghi dấu vào lịch sử của ngành hàng không, mà còn là mốc quan trọng trong lịch sử của ngành năng lượng. Chúng tôi đã bay hơn 40.000 km, và trong tương lai mọi người sẽ làm được những điều còn xa hơn thế. Tất cả những công nghệ sạch mà chúng tôi dùng có thể sử dụng được ở mọi nơi. Những công nghệ sạch này có thể làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn, và chúng ta phải sử dụng, không chỉ vì mục đích môi trường mà bởi vì chúng có thể đem lại lợi nhuận và tạo ra nhiều công ăn việc làm”.   SI 2 bắt đầu hành trình vòng quanh trái đất từ tháng ba năm 2015 tại Abu Dhabi, đã bay qua cả hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Đại Tây Dương mà không hề sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Hành trình bay vòng quanh trái đất của SI 2 được chia làm 17 chặng bay khác nhau. Trong 16 chặng trước đó, Bertrand cùng một phi công đồng hành nữa là Andre Borschberg đã lái luân phiên, họ thay nhau ngủ những giấc rất ngắn và điều khiển máy bay. Chặng bay dài 4000 dặm bay qua Thái Bình Dương với xuất phát điểm từ Nhật Bản và điểm cuối là Hawaii đã được ghi nhận kỷ lục chặng bay solo dài nhất không ngừng nghỉ trong lịch sử ngành hàng không thế giới.                                      Hành trình bay của SI 2. Nguồn: Solarimpulse.com  Bertrand nói rằng chặng bay thứ 17 – chặng cuối cùng từ Cairo Abu Dhabi là một khó khăn thực sự bởi phải bay cao để tránh nhiễu động không khí và ông cảm thấy mình kiệt sức, “không được nghỉ ngơi một phút nào, tôi đã thực sự phải gồng mình lên để kiểm soát máy bay”.  Chiếc máy bay này có sải cánh xòe rộng hơn cả sải cánh của chiếc Boeing 747 để chứa tới 17.000 tấm pin năng lượng mặt trời. Trong hành trình bay, vào ban ngày, khi mặt trời chiếu sáng, các tấm năng lượng mặt trời sẽ nạp đầy cho acquy của máy bay. Máy bay sẽ bay ở độ cao khoảng 29.000 feet (gần 9000m) vào ban ngày và giảm xuống độ cao 5000 feet (1500m) vào ban đêm để tiết kiệm năng lượng và ngay sáng hôm sau phải bay vào vùng quang mây để sạc và tiếp tục bay lên độ cao 9000 m. Vận tốc trung bình của máy bay vào khoảng 50 km/ giờ và có thể bay nhanh hơn nếu gặp ngày nắng mạnh (vận tốc tối đa vào khoảng 140km/h).  Đánh giá về sứ mệnh đã hoàn thành của SI 2, Juliet Davenport, nhà sáng lập một công ty tiên phong trong sản xuất pin năng lượng mặt trời ở Anh cho biết: “Sự kiện này đã mở ra một thời kỳ mới, nó đã minh chứng được vai trò của pin năng lượng mặt trời và tôi hi vọng nó sẽ mở ra một cuộc cách mạng trong chính nhận thức của mỗi người về việc chúng ta có thể cải tiến và sử dụng công nghệ xanh, sạch hơn nữa như thế nào”.  17 chặng bay trong suốt hành trình vòng quanh trái đất của SI 2 đã gặp rất nhiều khó khăn liên quan cả tới vấn đề công nghệ và tài chính. SI 2 đã từng phải dừng lại 9 tháng (7/2015 – 4/2016) ở Hawaii khi bay qua Thái Bình Dương vì pin bị hỏng do quá nóng.   Bảo Như tổng hợp          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của chất dẻo      Chất dẻo rất tiện lợi, được sử dụng rộng rãi trong cả đời sống và sản xuất nhưng đồng thời, cũng đang gây ra hệ quả lớn với môi trường. Một vấn đề đang được chú ý hiện nay là tìm kiếm vật liệu phân hủy sinh học thay thế cho nhựa dẻo. Liệu polymer phân hủy sinh học (biodegradable) có trả lời được câu hỏi đó?      Hệ quả lớn với môi trường  Thuở ban đầu, chất dẻo được ca ngợi là một vật liệu kỳ diệu. Sau 80 năm đổi mới ngành chất dẻo trong cả công nghiệp và nghiên cứu, việc sản xuất chất dẻo hàng loạt đã thành công và đã đưa tới cách mạng hóa tiêu dùng từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Gần như tất cả các ngành công nghiệp trên thế giới đều sử dụng chất dẻo, từ sản xuất bao bì thực phẩm đến thăm dò không gian, chất dẻo là vật liệu tiện lợi nhất. Trong ngành công nghiệp chất dẻo, các chất dẻo quen thuộc gồm có polyethylene terephthalate (PET), polyethylene (PE), polypropylene (PP), polystyrene (PS) và polyvinyl chloride (PVC).  Chất dẻo được sản xuất dễ dàng đã góp phần tạo ra hàng hóa giá rẻ, nhưng có tới 90% sản phẩm từ nhựa dẻo được sử dụng một lần và sau đó bỏ đi. Điều này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng môi trường mang tính toàn cầu. Kể từ cuộc cách mạng chất dẻo, cả thế giới đã tạo ra 6,3 tỷ tấn chất thải nhựa. Chất thải nhựa chiếm khoảng 79% trong các bãi rác và hằng năm 2,41 triệu tấn chất thải nhựa bị xả ra các con sông rồi trôi ra ngoài đại dương. Tính bền là một trong những đặc điểm tuyệt vời nhất của chất dẻo nhưng giờ đây cũng là điều tồi tệ nhất – nó khiến chất dẻo tồn tại ngoài môi trường tới hàng trăm năm. Thậm chí khi bị phân hủy, chất dẻo không bao giờ thực sự biến mất mà chỉ trở thành những mảnh vi nhựa (microplastics) mà mắt thường không thấy được. Những mẩu nhựa này làm nghẹt đường thở của các sinh vật biển và phá hủy chuỗi thức ăn.  Tiết giảm và tái chế nhựa là chưa đủ  Tiết giảm, tái sử dụng và tái chế được coi như phương pháp đối phó với tình trạng gia tăng chất thải nhựa. Lý tưởng nhất là, có thể tạo ra một vòng tuần hoàn trong sử dụng chất dẻo, trong đó 100% vật dụng bằng nhựa có thể tái chế và được sử dụng lâu nhất có thể, do vậy chất thải tạo ra sẽ ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, rất khó để đạt được điều đó. Mặc dù có những tiến bộ trong tái chế ở cấp độ phân tử, cho phép những chất dẻo khác loại có thể được tái chế cùng nhau, nhưng tái chế có nhiều hạn chế như: tốn nhiều chi phí, quá trình tái chế sản xuất ra những vật liệu có chất lượng thấp hơn về đặc tính cơ học và nhiệt. Hơn nữa, việc này lại dựa vào sự thay đổi trong ý thức của con người; hiệu quả tái chế liên quan chặt chẽ tới việc thay đổi lối sống hiện tại của chúng ta trong việc sử dụng chất dẻo. Trong khi đó, tái chế không làm giảm thói quen sử dụng chất dẻo.  Những thành công gần đây trong tiết giảm rác thải nhựa từ túi đựng hàng (PE) và chai nước nhựa (PET) ở châu Âu cho thấy việc điều chỉnh lối sống cũng khả thi, nhưng chất dẻo đã ăn sâu vào xã hội hiện đại và khó có một tương lai không chất dẻo. Khó có thể thay đổi hoàn toàn cách ứng xử của con người, bằng chứng là chỉ có 9% chất thải nhựa được tái chế. Bởi vậy bên cạnh ba giải pháp cho vấn đề chất thải nhựa (tiết giảm, tái sử dụng và tái chế), chúng ta cần có thay đổi về mặt công nghệ nhằm tác động mạnh mẽ hơn tới vấn đề chất thải nhựa đang bị thải ngoài môi trường. Một tương lai mới dành cho chất thải nhựa – polymers phân hủy sinh học thay thế chất dẻo hiện nay có thể là câu trả lời.  Polymer phân hủy sinh học: vẫn còn nhiều thách thức  Polymers phân hủy sinh học có thể phá vỡ thành những phân tử nhỏ hơn, như CO2, CH4 và H2O nhờ vi sinh vật trong điều kiện hiếu khí hoặc kị khí. Có nhiều loại polymers phân hủy sinh học, một số được sản xuất từ thực vật, động vật hoặc vi sinh vật, một số khác hoàn toàn là tổng hợp (nhân tạo). Polymers phân hủy sinh học tổng hợp phổ biến nhất là polylactide (PLA), polyglycolide (PGA), polycaprolactone(PCL), polyhydroxyalkanoates (PHA), poly(butylene succinate) (PBS) and poly(butylene adipate-co-terephthalate) (PBAT).  PLA được coi là một trong những ứng cử viên hứa hẹn nhất để thay thế chất dẻo hiện tại. Không giống những polymers phân hủy sinh học khác và chất dẻo hiện nay được làm từ các hóa dầu, PLA được tạo ra từ các nguồn nguyên liệu bền vững (axit lactic từ thực vật như ngô, sắn). Độ bền cơ học và ít độc hại là những đặc tính tốt giúp PLA dễ ứng dụng làm bao gói và các ứng dụng y sinh. Tuy nhiên, nếu polymers phân hủy sinh học PLA được sản xuất ở quy mô công nghiệp, có thể dẫn tới xung đột do thiếu đất sản xuất lương thực. PLA cũng có một nhược điểm trầm trọng – đặc tính nhiệt kém đã giới hạn khả năng ứng dụng ở nhiệt độ cao trên 60 °C.  Mặc dù vẫn còn những hạn chế, tầm quan trọng của PLA vẫn không hề suy giảm bởi nó có thời gian phân hủy nhanh hơn so với chất dẻo thông thường (12 tháng). Nếu được sử dụng trên quy mô công nghiệp, PLA được kỳ vọng sẽ hạn chế được tác động xấu tới môi trường. Tuy nhiên, quá trình này cần có vi sinh vật (nếu không thì thời gian phân hủy sẽ kéo dài hơn). Các phân tử nhỏ hình thành trong suốt quá trình phân hủy không ảnh hưởng tới môi trường như những vi nhựa nhưng cũng có những lo ngại rằng chúng sẽ làm tăng thêm khí thải nhà kính (GHG). Nhưng lượng khí GHG phát thải trong quá trình sản xuất PLA lại thấp hơn so với quá trình sản xuất chất dẻo từ dầu mỏ hiện nay.  Trong thập kỷ vừa qua, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và bằng sáng chế về polymers phân hủy sinh học, đặc biệt là PLA nhưng sản xuất PLA vẫn chưa đạt được tới mức độ của PE, PET và PP bởi chi phí sản xuất cao.  Trước khi PLA hoặc các loại polymers phân hủy sinh học khác có thể thay thế chất dẻo, vẫn cần phải có nhiều nghiên cứu để giảm chi phí sản xuất. Các chính phủ, xã hội và nền công nghiệp cần rút kinh nghiệm từ các bài học rằng sản xuất các vật liệu mới phải tính đến nguồn nguyên liệu của chúng, vòng đời sản phẩm, khả năng mở rộng quy mô sản xuất và các đặc tính của vật liệu. Đồng thời, nhất thiế cần hợp tác giữa các ngành công nghiệp và giới học thuật, mà còn cần có sự kết hợp giữa các ngành khác nhau (hóa học, kỹ thuật, khoa học vật liệu, sinh đại hóa học và khoa học khí hậu).  Thanh An lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nature.com/articles/s41467-018-04565-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của động cơ tế bào nhiên liệu      Không khí thải, không gây tiếng ồn và chỉ  cần nạp trong ít phút, tế bào nhiên liệu dường như kết hợp được cả ưu  điểm của động cơ chạy xăng và động cơ điện. Yếu tố góp phần giải  quyết tất cả những điều này chính là công nghệ.     Khi đèn xanh bật, chiếc Toyota Mirai vọt lên mà chỉ gây tiếng động khẽ. Việc tăng tốc trong im lặng vốn chỉ có ở các loại xe động cơ điện như BMW i3, Tesla Model S hay Nissan Leaf nay đã thấy ở xe Mirai.   Tuy nhiên có một sự khác biệt lớn: xe chạy điện ác quy sau một chặng đường dài (xe i3 và  Leaf sau một lần nạp điện có thể chạy một quãng đường từ 100 đến 200 km ) thì phải dừng hàng giờ để nạp điện, trong khi xe Mirai sau chặng đường 500 km mới hết nhiên liệu. Nét ưu việt của Mirai là sau khi dừng độ ba phút là có thể chạy tiếp một chặng đường 500 km nữa.   Thay vì nạp điện, xe Mirai nạp khí hydro tinh khiết. Tế bào nhiên liệu trên xe biến hydro thành  điện. Không khí ấm và hơi nước được thoát ra từ ống xả. Nếu hydro được sản xuất bền vững thì xe không phát ra khí thải độc hại.  Chạy đua công nghệ  Ước mơ di chuyển mà không làm ô nhiễm môi trường đã trở thành hiện thực với nỗ lực của Toyota.   Nhiều ông lớn trong ngành chế tạo ô tô đã tham gia cuộc chạy đua sản xuất hàng loạt loại xe chạy bằng khí hydro với giá có thể chấp nhận được. Toyota thắng trong cuộc chạy đua này: xe Mirai được bán tại Nhật Bản trong tháng 12 này và sẽ có mặt trên thị trường Đức vào tháng 9.2015 với giá 79.000 Euro.   Tuy nhiên các đối thủ cạnh tranh của Toyota đang nỗ lực rút ngắn khoảng cách. BMW, đối tác liên doanh của Toyota, dự định đến năm 2016 sẽ tung ra thị trường xe i5 với công nghệ mô phỏng theo công nghệ của Mirai. Xe FCV hydro của Honda tuy sẽ xuất hiện muốn hơn – năm 2016 nhưng lại có ưu thế có thể chạy một mạch tới 700 km. Bộ tứ Daimler, Ford và Renault-Nissan hợp tác, dự định từ 2017 sẽ cùng đưa ra thị trường các model chạy bằng khí hydro. Trên cơ sở loại SUVs iX35, Hyundai đã có một loạt xe nhỏ gồm 1000 xe tế bào nhiên liệu đang hoạt động.   Nhật Bản khuyến khích dùng khí hydro  Tất cả các nhà sản xuất ô tô cỡ lớn đều đang nghiên cứu về tế bào nhiên liệu, Họ còn tính cả đến việc áp dụng tế bào nhiên liệu ở các lĩnh vực khác như xe buýt, xe nâng hàng vv…   Đối với các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản, việc sử dụng tế bào nhiên liệu được chính phủ khuyến khích bởi đây là hướng làm giảm sự lệ thuộc vào nhập khẩu năng lượng.   Động cơ của Liên minh châu Âu (EU) trong chiến dịch nghiên cứu tế bào nhiên liệu gần đây là do đến năm 2050, EU phải giảm lượng khí thải CO2 trong lĩnh vực giao thông vận tải xuống tới 95% so với năm 2009.    EU dự định  kể từ  2021, lượng khí thải CO2 không được quá 95 gram cho mỗi km2. Mức tiêu thụ nhiên liệu của ô tô thông thường là 4,1 lít xăng hoặc 3,6 lít diesen cho 100 km – đối với loại xe nhỏ thì chỉ tiêu này là hiện thực nhưng với các loại xe lớn hơn như Limousinen hay SUVs thì mục tiêu này hầu như không thể thực hiện được.  Đối với nhà chế tạo, nếu muốn đạt chỉ tiêu về lượng khí thải thì phải tính đến những hệ thống động lực phát thải.  Theo các chuyên gia của công ty  tư vấn McKinsey, công tác R&D trong lĩnh vực này phải hết sức đa dạng. Trong vòng 40 năm tới sẽ không có một hệ thống động lực riêng lẻ nào có thể đáp ứng được các tiêu chí về kinh tế, công suất động cơ và sự thân thiện với môi trường. Trong tương lai, sẽ có nhiều hệ thống động cơ được sử dụng: ô tô chạy điện từ bình ác quy ở các đô thị, phương tiện đi lại bằng tế bào nhiên liệu trên đường trường và Plug-In-Hybrid (xe lai xạc điện), đây sẽ là những giải pháp hấp dẫn về kinh tế khi xe chạy trên các tuyến đường ngắn.  Platin đẩy giá thành lên   Kể từ năm  2000, mật độ công suất bề mặt (Surface power density) của tế bào nhiên liệu ứng dụng ở ô tô tăng gấp sáu lần. Điều mà các nhà chuyên môn đặc biệt quan tâm hiện nay là tối ưu hóa công nghệ để hạ giá thành sản phẩm và tăng độ bền cho động cơ.  Về giá thành thì platin, chất xúc tác của tế bào nhiên liệu, đóng vai trò hết sức quan trọng. Một ounce troy quốc tế (tương đương 31,1034768 gam) thứ kim loại quý hiếm này có giá từ  950 tới 1000 Euro. Với mỗi xe ô tô, nhà sản xuất cần từ 30 đến 40 gr platin cho động cơ tế bào nhiên liệu.     Katsuhiko Hirose, người phụ trách phát triển tế bào nhiên liệu của Toyota đề ra mục tiêu, mỗi xe ô tô chỉ còn cần khoảng 6 gr platin, tương đương với chất xúc tác ở động cơ diesel hiện nay. Chuyên gia Karstedt của ZBT cho rằng 10 gr là một con số hiện thực và tiết lộ, “về lâu dài chúng tôi nghĩ đến một giải pháp không cần platin, tuy nhiên phương án này vẫn chưa chín muồi về kỹ thuật”.  Giảm chi phí 90%  Không phải chỉ có nguyên liệu làm tế bào mà ngay cả bộ chuyển đổi điện năng cũng có thể tiết kiệm chi phí. Do từng tế bào riêng lẻ chỉ có thể tạo nên một công suất thấp nên nhiều tế bào sẽ được kết nối với nhau thành một khối gọi là “Stacks”. Cái khối này cùng các thiết bị đi kèm như máy bơm, thiết bị làm nguội thậm chí còn đắt hơn cả platin.  Khi nỗ lực tiết kiệm này được kết nối để sản xuất hàng loạt thì chuyên gia của McKinsey hy vọng sẽ giảm được giá thành tế bào nhiên liệu. Theo dự báo của  McKinsey thì giá bộ máy phát bằng tế bào nhiên liệu so với năm 2010 , nội trong mười năm, giảm được 90% – tức khoảng 7.500 Euro. Cũng trong khoảng thời gian đó, tuổi thọ của một Stack tăng lên gấp đôi.  Ô tô chạy bằng tế bào nhiên liệu về cơ bản cũng giống ô tô chạy điện, vậy tại sao người ta chưa tiến hành sản xuất hàng loạt? Vấn đề này nằm ở khâu thị trường và hạ tầng cơ sở.  Ulrich Hackenberg, giám đốc kỹ thuật của hãng Audi nói: “Chúng tôi sẽ sản xuất hàng loạt khi giải quyết được khâu thị trường và hạ tầng cơ sở”. Như vậy nơi nào không có trạm hydro thì ở đó sẽ không có khách hàng.  Chi phí lắp đặt một trạm nạp điện công cộng cho ô tô chạy điện hết khoảng vài nghìn Euro. Với trình độ kỹ thuật hiện nay chi phí lắp đặt một trạm nạp hydro khoảng 1 triệu Euro. Hiện tại Đức mới có 17 trạm hydro công cộng. Theo tính toán của McKinsey thì riêng khoản đầu tư ban đầu cho việc xây dựng một mạng lưới trạm hydro tế bào nhiên liệu khoảng 3 tỷ Euro.   Nguồn hydro lấy ở đâu?  Tuy hydro là một nguyên tố thường thấy nhất trên trái đất nhưng trong tự nhiên nó hầu như chỉ xuất hiện ở dạng hợp chất, thí dụ dạng nước hoặc methane. Để tách hydro khỏi những hợp chất này, cần phải có một lượng năng lượng rất lớn.   Hiện tại hydro là sản phẩm phụ trong quá trình tinh luyện dầu mỏ. Tuy nhiên hydro chỉ được coi là thân thiện với môi trường khi được sản xuất từ năng lượng tái tạo, thí dụ thông qua điện phân nước bằng điện mặt trời hay điện gió.   Theo nhận định của Mc Kinsey, ngay cả khi có một mạng lưới trạm nạp tế bào nhiên liệu thì xe ô tô tế bào nhiên liệu cũng không thể phổ biến rộng rãi như xe ô tô chạy xăng hay diesel như hiện nay. Kịch bản cho năm 2050 là: 25% ô tô chạy điện ác quy, 35% xe tế bào nhiên liệu, 35 % xe lai xạc điện, 5% xe động cơ đốt trong.  Loại xe nào sẽ giành phần chủ đạo, điều này phụ thuộc không nhỏ vào các loại model có mặt trên thị trường và chính sách  hỗ trợ, khuyến khích của nhà nước. Tỷ lệ xe ô tô chạy bằng bình ác quy và tế bào nhiên liệu có thể xê dịch một vài phần trăm nhưng một điều gần như chắc chắn: kẻ thua cuộc sẽ là động cơ đốt trong.  Xuân Hoài dịch từ Tuần kinh tế Đức       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của xe tải tự hành      Xe tải tự hành hiện đã lăn bánh trên đường cao tốc ở các bang như California và Texas, song trên mỗi xe vẫn có người giám sát để đảm bảo an toàn và cầm vô lăng điều khiển khi có sự cố xảy đến. Đâu là thời điểm thích hợp để các công ty yên tâm hoàn toàn về khả năng tự lái của xe?       Xe tải tự hành của công ty Kodiak Robotics. Công ty bắt đầu thực hiện chuyến giao hàng thương mại đầu tiên bằng xe tải tự hành (có người ngồi sau tay lái để đảm bảo an toàn) vào năm 2019. Kodiak đạt được cột mốc này chỉ 16 tháng sau khi công ty được thành lập. Ảnh: Pr Newswire  Vào tháng 3, một chiếc xe tự hành mười tám bánh đã chạy liên tục 5 ngày để vận chuyển hàng hóa giữa Dallas và Atlanta. Chạy không ngừng nghỉ suốt ngày đêm, nó đã đi hơn 6.300 dặm, thực hiện bốn chuyến lượt đi và bốn chuyến lượt về, vận chuyển tám tải hàng hóa.  Chuyến xe kéo dài 5 ngày đã cho thấy tiềm năng của xe tải tự hành – đây là thành quả hợp tác giữa Kodiak Robotics, một công ty khởi nghiệp xe tự hành và US Xpress, công ty vận tải truyền thống. Một chiếc xe tải thông thường cần phải có một tài xế điều khiển, nếu tính cả thời gian dừng lại để tài xế nghỉ ngơi, trung bình cần khoảng 10 ngày để để vận chuyển cùng một loại hàng hóa như trên.  Tuy nhiên, công ty vẫn chưa yên tâm về độ an toàn của nó. Mỗi ngày, Kodiak luân chuyển một nhóm chuyên gia vào buồng lái của chiếc xe tải mới, đảm bảo họ có thể kiểm soát chiếc xe nếu có vấn đề gì xảy ra. Quả thật, nhiều lần nhóm chuyên gia này đã phải cầm vô lăng để thay thế chức năng tự lái của xe khi gặp phải vấn đề nghiêm trọng.  Các công ty khởi nghiệp về công nghệ như Kodiak đã dành nhiều năm để xây dựng và thử nghiệm xe tải tự hành, và các công ty trong ngành vận tải đường bộ đều mong muốn những thử nghiệm này sẽ thành công. Vào thời điểm mà chuỗi cung ứng toàn cầu đang gặp khó khăn trong việc cung cấp hàng hóa hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiện nay, xe tải tự hành có thể giải quyết tình trạng dồn ứ và giảm thiểu chi phí.  Giờ đây, các công ty đang đối diện với bài toán khó khăn nhất trong nhiệm vụ tự động hóa công việc vận chuyển hàng hóa : Làm sao để những chiếc xe tải này chạy trên đường mà không cần ai ngồi sau tay lái (dẫu là để đề phòng bất trắc)?  Thử nghiệm trên đường cao tốc   Kodiak biết rõ cần phải tốn thêm nhiều thời gian để xe tải có thể tự di chuyển đến bất cứ đâu một cách an toàn. Vì vậy, họ đang tìm cách triển khai xe tải tự hành chỉ trên đường cao tốc, những nơi có đoạn đường dài, không bị gián đoạn sẽ dễ điều hướng hơn so với đường thành phố đầy ắp xe cộ.  “Đường cao tốc là một hệ thống có cấu trúc rõ ràng”, Alex Rodrigues, giám đốc điều hành của công ty khởi nghiệp xe tải tự hành Embark, cho hay. “Bạn biết các xe sẽ đi theo lộ trình nào. Chúng đang ở trong làn đường. Chúng đi về cùng một hướng. “  Đưa các xe vào đường cao tốc cũng giúp phát huy được thế mạnh của nó. “Những tài xế xe tải đường dài thường rơi vào trạng thái mệt mỏi, xao nhãng, buồn chán khi đang lái xe” ông Rodrigues giải thích vào một buổi chiều mới đây khi một trong những chiếc xe tải của công ty ông đang chạy trên đường cao tốc ở Bắc California. “Robot không gặp phải bất kỳ vấn đề nào trong số đó.”  Đó là một chiến lược đúng đắn, nhưng chiến lược này cũng sẽ mất nhiều năm để thử nghiệm và cải tiến.  Một trong những cản trở lớn đó là vấn đề kỹ thuật. Mặc dù xe tải tự hành có thể xử lý hầu hết những thay đổi trên đường cao tốc – lên dốc và hòa vào dòng xe cộ, chuyển làn, giảm tốc độ nếu có xe cần tấp vào làn đường khẩn cấp – các công ty vẫn đang nỗ lực để đảm bảo chúng có thể ứng phó với các tình huống ít gặp phải hơn, như xe hơi va chạm liên hoàn. Ông Rodrigues thừa nhận rằng công ty của ông vẫn chưa hoàn thiện cơ chế phòng tránh. “Nếu có tai nạn ở đoạn đường phía trước xe, thì nó phải nhanh chóng phanh lại.” Do đó, hầu hết các công ty hiện vẫn sẽ bố trí người ngồi trên xe tải tự hành của họ cho đến ít nhất là năm 2024. Ở nhiều tiểu bang, họ sẽ cần sự chấp thuận của các cơ quan quản lý để xe tự lái mà không có người trên xe.  Việc triển khai thử nghiệm những chiếc xe tải tự hành cũng là một thách thức về mặt hậu cần – một thách thức sẽ đòi hỏi những thay đổi đáng kể trên toàn ngành vận tải đường bộ. Khi vận chuyển hàng hóa giữa Dallas và Atlanta, xe tải của Kodiak đã không chạy vào thành phố. Nó chạy đến các điểm ngay gần đường cao tốc, nơi hàng hóa được bốc dỡ và xe được tiếp thêm nhiên liệu trước khi thực hiện chuyến hàng tiếp theo. Sau đó, các xe tải truyền thống nhận hàng và lái “chặng cuối” để giao hàng đến đúng hơi.  Nếu muốn triển khai xe tải tự hành trên quy mô lớn, trước tiên các công ty phải xây dựng một mạng lưới các “trung tâm trung chuyển”. Theo đó, Kodiak gần đây đã ký hợp tác với Pilot, một công ty điều hành các trạm dừng xe tải truyền thống trên khắp đất nước. Đây cũng là nơi mà các tài xế xe tải có thể tắm rửa, nghỉ ngơi và tìm món gì đó bỏ bụng sau quãng đường dài. Công ty hy vọng rằng các trạm dừng cũng có thể đóng vai trò là điểm trung chuyển cho những chiếc xe tải không người lái.  “Ngành công nghiệp không đủ khả năng để xây dựng cơ sở hạ tầng này từ đầu”, Giám đốc điều hành của Kodiak, Don Burnette, lý giải. “Chúng tôi phải tìm cách tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có.”  Các tài xế sẽ mất việc?  Họ cũng phải xem xét việc phát triển xe tự hành sẽ tác động như thế nào lên tài xế xe tải: Có thể họ sẽ không cần tài xế đường dài nữa, nhưng họ sẽ cần thêm nhiều tài xế “chặng cuối”. Các giám đốc điều hành như ông Burnette và ông Rodrigues tin rằng các tài xế sẽ vui vẻ chuyển từ công việc này sang công việc khác. Tỷ lệ luân chuyển giữa các lái xe đường dài là khoảng 95%, có nghĩa là trung bình các công ty thay thế gần như toàn bộ lực lượng lao động mỗi năm. Đó là một công việc căng thẳng và đơn điệu khiến mọi người phải xa nhà trong nhiều ngày liên tục. Nếu chuyển sang chỉ lái xe trong thành phố, họ có thể làm việc trong thời gian ngắn hơn và được ở gần gia đình.  Nhưng một nghiên cứu gần đây từ các nhà nghiên cứu tại Đại học Carnegie Mellon và Đại học Michigan đặt câu hỏi: liệu quá trình chuyển đổi có suôn sẻ như nhiều người dự đoán hay không? Người lái xe tải thường được trả lương theo số dặm. Nghiên cứu cho biết việc chuyển sang các chuyến đi ngắn hơn có thể làm giảm số dặm đi được, từ đó giảm thu nhập của tài xế.  Quả thật, một số tài xế chia sẻ rằng họ không thể kiếm được nhiều tiền nếu chỉ lái xe quanh nội thành. Những người khác không thích viễn cảnh bị giảm thu nhập vì không thể kiếm được tiền từ số dặm trên đường cao tốc. “Có rất nhiều tài xế cũng nghĩ giống tôi”, Cannon Bryan, một tài xế xe tải đường dài 28 tuổi ở Texas, chia sẻ. “Tôi không sinh ra ở thành phố. Tôi không lớn lên ở thành phố. Tôi ghét lái xe trong thành phố. Tôi thích được bốc hàng ở Dallas và lái xe rong ruổi đến Grand Rapids, Michigan”  Việc chế tạo và triển khai xe tải tự lái không hề dễ dàng. Và nó rất đắt – tiêu tốn hàng trăm triệu đô la một năm. TuSimple, một công ty xe tải tự hành, đã phải đối mặt với những lo ngại rằng công nghệ này không an toàn sau khi các cơ quan quản lý liên bang tiết lộ một trong những chiếc xe tải của họ có dính líu đến một vụ tai nạn. Aurora, một công ty công nghệ xe tự hành với bề dày kinh nghiệm, đang gặp khó khăn và có khả năng người đứng đầu phải bán công ty cho những tên tuổi lớn như Apple hoặc Microsoft, theo một báo cáo từ Bloomberg News .  Nếu những công ty này thực sự có thể để xe tự chạy mà không cần tài xế, điều này đặt ra những câu hỏi mới. Xe tải không người lái sẽ xử lý thế nào khi bị yêu cầu dừng lại để kiểm tra đột xuất? Làm thế nào để cảnh báo những người lái xe khác khi một chiếc xe tải phải tấp vào làn đường khẩn cấp? Chúng sẽ xử lý như thế nào khi lốp xe bị nổ và cần được sửa chữa?  Ngoài ra, ngành công nghiệp sẽ sử dụng xe tải điện chạy bằng pin thay vì nhiên liệu hóa thạch, và điều này sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hơn cho các loại xe vận tải tự hành. Chúng sẽ sạc pin ở đâu và như thế nào? Điều này liệu có ngăn cản tham vọng rằng xe tải tự hành có thể chạy liên tục 24 giờ một ngày, như các công ty đã hứa hẹn?  “Thực tế phức tạp hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể tưởng tượng”, Steve Viscelli, một nhà xã hội học kinh tế và chính trị tại Đại học Pennsylvania, người chuyên về vận tải đường bộ, cho biết. “Mặc dù các nhà phát triển và các đối tác của họ đang nỗ lực rất nhiều để suy nghĩ về vấn đề này, nhưng hiện vẫn chưa ai có thể trả lời được hầu hết những câu hỏi trên. Chúng ta sẽ phải chờ đợi để xem thực tế trông sẽ như thế nào.”  Các chuyên gia sẽ phải giải quyết những vấn đề về kỹ thuật và cả hậu cần. Công ty khởi nghiệp Embark dự định xây dựng một đội ngũ theo dõi, những người sẽ xác định vị trí xe tải khi có sự cố và gọi sửa chữa nếu cần thiết.  Công nghệ xe tự hành sẽ vừa loại bỏ việc làm, nhưng cũng đồng thời tạo ra thêm việc làm. Mặc dù nhiều chuyên gia cho rằng số việc làm bị mất sẽ nhiều hơn số việc được thêm vào, nhưng quá trình này sẽ không diễn ra ngay lập tức. Những người tài xế đường dài vẫn có thời gian để chuẩn bị cho tương lai. Những thay đổi sẽ diễn ra dần dần.  “Ngay cả khi bạn nghĩ rằng công nghệ này đã gần như hoàn thiện”, Tom Schmitt, giám đốc điều hành của Forward Air, một công ty vận tải đường bộ vừa mới bắt đầu thử nghiệm xe tải tự hành của Kodiak, nhận định, “thì thật ra chúng ta vẫn còn 5 năm nữa mới có thể đưa chúng vào đời sống”.  Đinh Cửu tổng hợp  Nguồn:   The Long Road to Driverless Trucks  How the Supply Chain Broke, and Why It Won’t Be Fixed Anytime Soon    Author                .        
__label__tiasang Tương lai năng lượng mặt trời      Theo các nhà khoa học ước tính, công suất năng lượng mà mặt trời chiến xuống trái đất là vào khoảng 174 triệu tỷ (174×1015) watt, nhưng trái đất chỉ hấp thụ được một nửa. Nguồn dự trữ năng lượng mặt trời (có thể chuyển thành năng lượng hữu dụng) được ước tính tương đương với công suất khoảng 86 triệu tỷ watt. Đấy là một con số khổng lồ nếu so với công suất của nhà máy nhiệt điện Phả Lại chỉ khoảng 1 tỷ watt.    Tổng tiêu thụ năng lượng của con người trên thế giới hiện tại (tính tổng cộng tất cả các loại năng lượng như dầu hỏa, than đá, thủy điện, v.v.) khoảng 15 nghìn tỷ watt, tức là chỉ bằng khoảng 1/5000 công suất dự trữ của năng lượng mặt trời cho trái đất. Trong số 15 nghìn tỷ watt công suất năng lượng mà con người đang dùng, thì có đến 37% là từ dầu hỏa, 25% là than đá, và 23% là khí đốt (tổng cộng ba thứ này đã đến 85%), là những nguồn năng lượng cạn kiệt nhanh chóng và không phục hồi lại được, theo thông tin trên Wikipedia.  Với tốc độ khai thác hiện tại, thì các nguồn năng lượng hóa thạch sẽ gần như hết đi trong thế kỷ 21. Tương lai năng lượng của thế giới không thể nằm ở những nguồn này, mà phải nằm ở những nguồn năng lượng tái tạo (renewable energy), ví dụ như năng lượng gió và thủy năng. Nhưng tổng cộng dự trữ của tất cả các nguồn khác này (trong đó chủ yếu là gió) chỉ bằng khoảng 1 phần trăm nguồn dự trữ năng lượng mặt trời. Bởi vậy có thể nói tương lai năng lượng của thế giới chính là năng lượng mặt trời.  Câu kết luận phía trên không có gì là bí mật. Chỉ có điều, cho đến cuối thế kỷ 20, trình độ công nghệ của thế giới vẫn chưa đủ để chuyển hóa năng lượng mặt trời thành năng lượng hữu dụng với hiệu quả kinh tế cao, nếu không kể cách chuyển hóa gián tiếp thông qua nông nghiệp, ví dụ như trồng các loại cây như cây mía hay củ cải đường để ép ra lấy năng lượng ở dạng cồn. Tình hình đã hoàn toàn thay đổi, và vào năm 2011 năng lượng mặt trời đã trở thành loại năng lượng có tính cạnh tranh rất cao về kinh tế với các loại hình năng lượng khác.          Máy bay sử dụng năng lượng mặt trời          Cơ sở vật lý để khai thác năng lượng mặt trời một cách công nghiệp là hiệu ứng ánh sáng chuyển thành điện (photovoltaic effect). Hiệu ứng này được nhà bác học Alexandre-Edmond Becquerel phát hiện từ năm 1839, cách đây gần 2 thế kỷ. Nhưng công nghệ điện mặt trời phát triển chậm, vì nó đòi hỏi sự phát triển của công nghệ vật liệu bán dẫn. Tấm điện mặt trời đầu tiên được lắp đặt để phục vụ Ngọn hải đăng Ogami (Ogami Lighthouse) ở đảo Ogami của Nhật Bản vào năm 1966, với công suất chỉ có 225 watt (bằng lượng tiêu thụ điện của vài cái bóng đèn). Từ đó đến nay, công nghệ điện mặt trời đã trải qua nhiều bước tiến bộ vượt bực. Nếu như vào quãng năm 1970, để có 1 watt công suất điện mặt trời cần chi phí 50 USD, thì đến năm 2010 giá thành đã giảm xuống dưới 2 USD cho 1W, và trong năm 2011 sẽ chỉ còn khoảng 1,20 USD cho 1 W, và còn có khả năng giảm tiếp trong những năm tới.   Ở mức giá 1,20 USD cho 1 W, điện mặt trời đã đạt được đến mức mà các chuyên gia gọi là «grid parity», tức là hiệu quả về mặt kinh tế không kém gì là đầu tư vào thủy điện, nhiệt điện. Trong tương lai gần, khi giá thành giảm đi thêm và hiệu quả chuyển ánh sáng thành điện tăng lên (hiện tại mới chỉ chuyển được khoảng 1/4 năng lượng ánh sáng thành điện), thì hiệu quả kinh tế của điện mặt trời sẽ còn vượt lên trên các loại năng lượng khác. Không những thế, điện mặt trời còn có những điểm ưu việt hơn hẳn các loại nhà máy điện khác: sạch, an toàn, không làm ô nhiễm môi trường như nhà máy nhiệt điện, không có nguy cơ gây thảm họa như là vỡ đập thủy điện hay nổ nhà máy điện nguyên tử; có thể được lắp đặt mọi nơi, mọi kích thước, từ một cái mái nhà nhỏ cũng có thể phủ các tấm điện mặt trời để cung cấp điện cho nhà, cho đến khu trạm điện mặt trời lớn với công suất hàng chục triệu watt trở lên, đủ cung cấp điện cho cả một thành phố.  Từ những năm trước, khi mà giá thành của việc đầu tư điện mặt trời còn cao, chưa có hiệu quả kinh tế rõ rệt, nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, v.v. đã khuyến khích đầu tư vào điện mặt trời bằng các trợ cấp của chính phủ. Chẳng hạn như nhà nước cam kết mua lại điện của những nhà dân lắp đặt hệ thống điện mặt trời với giá cao gấp mấy lần giá bán điện trong vòng nhiều năm, để người dân có thể thu hồi được vốn đầu tư vào điện mặt trời với tốc độc tương đương so với các đầu tư khác. Nhà nước bù lỗ để đổi lấy môi trường sạch sẽ, và khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ điện mặt trời. Trong năm qua và những năm tới, các nước đang và sẽ cắt giảm dần trợ cấp chính phủ cho những người đầu tư vào điện mặt trời, nhưng bù lại giá thành đã rẻ đến mức không cần trợ cấp của chính phủ vẫn có lãi về kinh tế.            Nhà máy điện mặt trời ở Finsterwalde, Đức, hiện có công suất lớn nhất thế giới, 80.7 MW          Hiện tại, nước Đức đang đi đầu thế giới về công suất điện mặt trời. Riêng năm 2009, nước Đức đã lắp khoảng 3,7 tỷ watt công suất điện mặt trời, chiếm đến một nửa toàn bộ thị trường thế giới, và năm 2010 đã lắp thêm khoảng 7 tỷ watt điện mặt trời nữa (tức là bằng 7 lần nhà máy nhiệt điện Phả Lại). Các nước lớn khác như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Ý cũng có thị trường lắp lặt điện mặt trời trên 1 tỷ watt công suất mới một năm. Một trong những nước mạnh nhất trên thế giới hiện tại về sản suất các tấm điện mặt trời chính là Trung Quốc, với nhiều hãng lớn, xuất khẩu lắp đặt ra toàn thế giới, với tổng doanh thu hàng năm lên đến hàng chục tỷ đô la. Một ví dụ tiêu biểu là hãng LDK Solar, đóng đô ở thành phố Sinyu (Trung Quốc), với hơn 13 nghìn nhân viên, hiện được coi là hãng hiệu quả cao và có giá thành các tấm điện mặt trời vào loại rẻ nhất, với doanh thu dự kiến năm 2011 vào khoảng 3,6 tỷ USD, phần lớn trong số đó là xuất khẩu.  Ngay ở những nước có ít nắng như là Phần Lan, chính phủ cũng đang khyến khích nhân dân lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà. Đối với những nước nắng nóng nhiều như Việt Nam, thì điện mặt trời lại càng trở nên hấp dẫn. Cùng một bảng điện mặt trời, đặt ở Việt Nam có thể cho một lượng điện trong năm nhiều gấp đến 5-7 lần so với nếu đặt ở Phần Lan. Hơn thế nữa, các bảng điện mặt trời đặt trên mái nhà còn có tác dụng làm cho nhà đỡ bị hun nóng, đỡ tốn điện cho quạt gió hay điều hòa nhiệt độ. Những vùng hoang vu, sỏi đá, khô cằn, không tốt cho nông lâm nghiệp hay khu công nghiệp, cũng có thể biến thành các nhà máy điện mặt trời với hiệu quả kinh tế cao. Điện mặt trời có thể trở thành cơ hội cho Việt Nam giải quyết vấn đề năng lượng trong những năm tới nếu chúng ta có chương trình phát triển năng lượng hợp lý…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tượng Oscar của ngành ẩm thực Việt Nam      Giành giải nhất tại cuộc thi Chiếc Thìa Vàng, ngoài giải thưởng chung cuộc 1 tỷ đồng, khách sạn Caravelle (TP.HCM) còn sở hữu bức tượng “Chiếc Thìa Vàng” – một tác phẩm nghệ thuật độc đáo của công ty Minh Long I  &#160;    Trải qua hơn 168 ngày làm việc liên tục của đội ngũ thiết kế và chuyên gia kỹ thuật, bức tượng đặc biệt mang dáng người nguyên khối đầu tiên của Việt Nam, tượng trưng cho người đầu bếp Việt nâng niu chiếc thìa vàng đã ra đời.  Được mô phỏng theo hình dáng thật của người đầu bếp, từ cái áo đến chiếc nón, đôi giày, đứng trên bục cao và đôi bàn tay nâng cao chiếc thìa bằng vàng biểu tượng của người chiến thắng, bức tượng đúng như tên của cuộc thi “Chiếc Thìa Vàng”. Nhưng để có thể tạo được chiếc cúp như thế không phải và một việc dễ dàng – đặc biệt là đối với một chiếc cúp bằng sứ.  Chiếc cúp có hình người nên đội ngũ sản xuất của Minh Long I đã phải nghiên cứu, thử nghiệm nhiều lần sao cho sản phẩm không được tì vết. Dáng người, đặc biệt là hai chân đầu bếp, phải đứng thẳng, vững vàng, không bị cong vênh. Và sản phẩm phải được nung ở nhiệt độ cao mới đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cao cấp của sứ. Đặc biệt, chiếc cúp đầu bếp dành cho quán quân cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2014 có những sự cải tiến so với cúp năm 2013. Phần đế cúp được nâng lên thành 2 tầng với ý nghĩa là bục vinh quang dành cho vị đầu bếp tài giỏi nhất.  Bức tượng cao 51cm, ngang 23cm và nặng 1,5 kg này thực sự làm người xem phải choáng ngợp. Choáng ngợp, bởi kỹ thuật tạo hình và nung liền khối này chắc không có đơn vị thứ 2 có thể thực hiện được, không có mảnh ghép bằng keo hoặc ốc vít nào. Choáng ngợp, còn bởi lượng vàng 24K được khảm dọc thân bức tượng. Và quan trọng hơn, các chuyên gia về gốm sứ phải ngả mũ trước kỹ thuật nung mà Minh Long đã sử dụng để nung cho bức tượng, lên đến 1.3800C. Một kỹ thuật mà theo những nhà chuyên môn là “đỉnh của đỉnh”.  Bức tượng được định giá hơn 300 triệu đồng. Tuy nhiên, theo ông Lý Ngọc Minh, đây là một tác phẩm vô giá, vì mỗi năm chỉ xuất xưởng có hai tượng. Một tượng dành riêng cho nhà vô địch của cuộc thi chung kết Chiếc Thìa Vàng, và tượng kia được trưng bày trong bảo tàng gốm sứ của Minh Long I.  Nhiều lãnh đạo của các nhà hàng khách sạn cho rằng, đây chính là “tượng Oscar” của ngành ẩm thực Việt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyến đường thử nghiệm – Hyperloop      “Đây là sự pha trộn giữa Concorde, ca – nông trên đường ray (Schienenkanone) và bàn- Airhockey”, điều mà ông Elon Musk mong ước. Start-up Hyperloop One đã tiến hành thử nghiệm lực đẩy con tầu tốc hành chạy trên đường ống của mình trên sa mạc Nevada.       Địa điểm này chỉ cách các sòng bạc lớn ở Las Vegas khoảng 30 phút đi bằng xe bus. Giữa sa mạc, phía bắc trung tâm cá cược này, là nhà máy điện mặt trời khổng lồ Nevada Power, tại đây người ta cũng đang cá cược với nhau về tương lai của giao thông đô thị và vận tải hàng hóa. Ở đây có tuyến đường thử nghiệm đầu tiên của Hyperloop – một loại tàu đệm từ siêu tốc chạy trong đường ống hầu như không có không khí để vận chuyển hành khách và hàng hóa giữa các đô thị lớn.  Tháng 12/2013 doanh nhân đa năng  Elon Musk đã đưa ý tưởng này của ông lên mạng Internet. Nhà doanh nghiệp gốc Nam Phi này đã giới thiệu một tài liệu dày 58 trang về giải pháp tầu đệm từ chạy trong  đường ống, “đó là một sự pha trộn giữa Concorde,  ca nông trên đường ray và bàn- Airhockey”.  Thời gian chạy tầu trên tuyến đường dài 640 Km nối liền thành phố San Francisco và Los Angeles có thể giảm xuống chỉ còn 35 phút, theo lời doanh nhân Musk.  Trước đó Musk tỏ ra bực bội với tuyến đường tàu cao tốc truyền thống, đây là tuyến đường mà bang Kalifornia đang cho xây dựng nối liền thủ phủ bang Sacramento với  San Francisco và  Los Angeles. Theo dự kiến thì tuyến đường này sẽ đưa vào vận hành năm 2029. Dự án này ít nhất cũng ngốn khoảng  64 tỷ  USD và ông Musk coi đây là sự lãng phí tiền của khổng lồ và tốn quá nhiều thời gian. Theo tính toán của  Musk thì dự án  Hyperloop của ông ta chỉ hết khoảng 6 tỷ USD, tức là chỉ một phần mười so với dự án hiện hành và chỉ tốn khoảng ¼ thời gian.  “Vì lý do thời gian và năng lực” nên doanh nhân Musk không đứng ra thực hiện dự án mà ông chỉ đề xuất và kêu gọi những người khác làm việc này. Một trong số đó là kỹ sư chế tạo máy Brogan BamBrogan người đã hỗ trợ Musk gần mười năm trời trong việc thiết kế chế tạo loại tên lửa có thể xử dụng lại phục vụ dự án Vũ trụ-Start-up Space X. Thông qua Internet doanh nhân Musk còn chiêu mộ chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới về làm việc cho mình với lời hứa về một công việc hết sức thú vị và được ưu ái về chứng khoán, trong số này có Dirk Ahlborn, một chuyên gia gốc Đức. Với Start-up Hyperloop Transportation Technologies của mình doanh nhân Musk còn muốn xây dựng một hình thức hoàn toàn mới về tổ chức doanh nghiệp.  Mới đây kỹ sư BamBrogan mặc quần Jeans nhầu nhĩ và đi giày thể thao đứng trên một cái bục trước cơ sở thử nghiệm trên sa mạc  Nevada trước khoảng 200 phóng viên và những người đại diện của các hãng cung cấp trang thiết bị. Đằng sau nhà sáng lập là một đường ray cổ điển dài khoảng 300 m được lắp đặt hết sức khẩn trương từ tháng 12 năm ngoái. Khi chiếc xe trượt nặng 680 kg được đưa lên đúng vị trí của nó, BamBrogan reo lên: “Thật là một ngày tuyệt vời”.  Đến cuối năm nay xe trượt này sẽ được để trong một đường ống dài 3,5 km và toàn bộ không khí trong ống sẽ bị bơm ra ngoài. Khi đó xe trượt gần như không đối diện với lực cản lớn nữa và có thể đạt vận tốc tới  1200 km/giờ. Phần lớn năng lượng bị tiêu hao khi khởi động sau đó xe gần như lướt đi trong ống. “Cũng tương tự như máy bay, xe cần khởi động, tăng tốc để có thể đạt được tốc độ di chuyển cần thiết”. kỹ sư BamBrogan giải thích.  Startup đã nhận được 120 triệu USD từ các nhà đầu tư ở Silicon Valley dành cho dự án Hyperloop.  Nhà đồng sáng lập  BamBrogan đã mời nhà tài chính Shervin Pishevar, một trong những nhà đầu tư đầu tiên cho doanh nghiệp dịch vụ vận tải Uber.  Công ty đường sắt của Pháp SNCF, một nhánh đầu tư của  General Electric, nhà đầu tư mạo hiểm  Koshla Ventures ở Silicon Valley tham gia dự án.   Ngoài ra Hyperloop One vừa phát động một cuộc thi dành cho các doanh nghiệp và các chuyên gia phát triển hạ tầng trên toàn thế giới đưa ra những đề nghị phải làm gì để có thể cho loại tàu cao tốc này vận hành được tại địa phương mình.   Có thể chế tạo được Hyperloop, đây là điều không cần bàn cãi. BamBrogan nói “Chúng tôi có thể bắt tay ngay vào việc chế tạo”. Thách thức thực sự là ở chỗ, làm sao để chi phí có thể chấp nhận được và bảo đảm được sự an toàn. Nhà lãnh đạo của Hyperloop-One, ông Rob Lloyd  nói về sản phẩm của mình: “Chúng tôi ước tính chi phí bằng khoảng  hai phần ba chi phí đối với tầu siêu cao tốc truyền thống trong khi tốc độ nhanh gấp ba lần”.   Ý đồ của Elon Musk là dùng tầu đệm từ Hyperloop  để thay thế cho những con tầu nhanh hiện nay. Ông đã công bố ý định này cách đây hai năm rưỡi. Giờ đây các Start-ups đang chạy đua để thực hiện dự án.   Còn rất nhiều rào cản cần phải khắc phục cho đến khi đến đích. Ở đây không phải chỉ có các rào cản kỹ thuật mà cả những cản trở về chính sách. Hiện chưa có các hướng dẫn, quy định đối với hệ thống vận tải mới này, vả lại các hãng hàng không, các doanh nghiệp vận tải cũng như công ty đường sắt truyền thống cũng sẽ là những vật cản. Tàu Transrapid từng được đánh giá đầy triển vọng  vậy mà các tập đoàn như Siemens và Thyssenkrupp  cũng không đưa nổi tàu đệm từ vào hoạt động trong thực tế. Ngoài ra theo các chuyên gia chỉ riêng việc hút cạn không khí trong đường ống và giữ áp xuất thật thấp cũng rất tốn kém. Đường ống cũng như các mối hàn phải chịu áp lực trong nhiều năm và phải bảo đảm bền vững, hệ thống trụ đỡ phải giảm được độ rung lắc.   Người Mỹ hiện đang xây dựng một tuyến kiểm nghiệm Hyperloop dành cho Musk để các doanh nghiệp và trường đại học có thể tiến hành thử nghiệm  các con tàu của họ.            Đôi nét về Hyperloop  •    Về nhân vật:  Elon Musk, 42 tuổi, khi  còn là một đứa trẻ đã viết chương trình  Computer. Ông là sinh viên vật  lý, bỏ dở giữa chừng để lập doanh nghiệp đầu tiên của mình : Zip2. Phát  triển Paypal là một sự kiến tạo tiếp theo năm 2002 Ebay tiếp nhận doanh  nghiệp này.      •    Những doanh nghiệp tham gia: Elon Musk  là người đề xướng ý tưởng – tuy nhiên xây dựng, triển khai Hyperloop lại  do những người khác tiến hành. Hiện tại có hai doanh nghiệp tham gia dự  án Hyperloop: Hyperloop Transportation Technologies và Hyperloop  Technologies.      •    Đề án: Ý tưởng của đề án  Hyperloop là  triển khai một hệ thống vận tải mới có tốc độ cao. Một khoang có chỗ cho  28 hành khách, một đệm không khí sẽ bắn khoang này trong một hệ thống  đường ống với tốc độ 1200 km/giờ.  Hệ thống đường ống này có những thanh  đỡ và lực cản không khí trong ống rất nhỏ, gần như là chân không.  Động  cơ điện tạo lực đẩy với khoang và năng lượng điện lấy từ nguồn điện mặt  trời.            Xuân Hoài dịch theo Tuần kinh tế Đức          Author                Quản trị        
__label__tiasang TVEL: Những đổi mới sáng tạo trong nhiên liệu hạt nhân      TVEL, công ty nhiên liệu hạt nhân trực thuộc Rosatom, đang thực hiện một hướng tiếp cận “hợp phần kép” để tạo ra một chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín mới cũng như nhiên liệu mới có khả năng chịu được các tai nạn trong lò phản ứng ATF và đổi mới sáng tạo trong nhiên liệu cho các lò phản ứng VVER.      Trong một cuộc trả lời phỏng vấn độc quyền với World Nuclear News bên lề ATOMEXPO 2019, Konstantin Vergazov – phó chủ tịch  phụ trách KHCN và chất lượng của TVEL(ảnh), đã giải thích về những loại nhiên liệu mới này.  Nhiên liệu MOX và REMIX  Năm 2018, Rosatom đã chấp thuận một kế hoạch với tầm nhìn 100 năm về lò phản ứng neutron nhanh và lò phản ứng neutron nhiệt. Để chuẩn bị cho kế hoạch này, TVEL đang phát triển nhiên liệu pha oxide MOX và nhiên liệu REMIX, với việc sử dụng nguyên liệu uranium đã qua sử dụng với plutonium. Đây là cách tiếp cận hợp phần kép (dual-component).  “Chúng tôi đang rất tích cực đầu tư quá trình này và hiện thời thì nó cũng khá tốn kém”, Vergazov nói. “Đây mới là giai đoạn đầu tiên nhưng trong tương lai, một khi chúng tôi đưa được plutonium và uranium tái sinh vào chu trình nhiên liệu này thì chi phí nhiên liệu cho việc sản xuất điện năng sẽ giảm xuống”.  Rosatom lập kế hoạch lắp đặt các lò phản ứng neutron nhanh thương mại đầu tiên. “Hiện nay chưa có quốc gia nào khác đưa được công nghệ này vào vận hành”, Vergazov nói. “Tại công ty hóa học Siberia (SCC) ở Seversk, chúng tôi đã xây dựng một trung tâm trình diễn, một lò phản ứng, một cơ sở tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng và một cơ sở sản xuất nhiên liệu cho lò phản ứng nhanh. Đây là một dự án đầu tư cho R&D và khi đạt được kết quả, chúng tôi sẽ đưa chúng lên thị trường hạt nhân thế giới, dĩ nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu thử nghiệm ở Nga trước”.  Địa điểm này “đang ở đỉnh điểm của sự sẵn sàng”, ông cho biết. “Tất cả các thiết bị theo yêu cầu cho việc sản xuất nhiên liệu đã được cung ứng. Giai đoạn tiếp theo sẽ là xây dựng lò phản ứng neutron nhanh BREST-OD-300”. Lò phản ứng neutron nhanh làm mát bằng chì BREST-OD-300 là một phần của Dự án Đột phá (Proryv) của Rosatom, dự án nhằm loại bỏ chất thải phóng xạ khỏi quá trình tạo ra điện hạt nhân với những chu trình nhiên liệu mới, công nghệ mới.    Vào tháng 12/2018, TVEL đã lắp đặt tổ hợp sản xuất nhiên liệu MOX cho lò phản ứng neutron nhanh BN-800– được xây dựng như tổ máy thứ 4 với có công suất 789 MW của nhà máy điện hạt nhân Beloyarsk ở quận Sverdlovsk.  “Nhưng đây mới là bước đầu tiên trong một cuộc hành trình dài”, Vergazov nói. “Việc xây dựng một lò phản ứng neutron nhanh thương mại độc nhất vô nhị trong lĩnh vực công nghiệp hạt nhân toàn cầu và xây dựng một cơ sở sản xuất nhiên liệu MOX đòi hỏi một lượng đầu tư lớn. Kế hoạch của chúng tôi có tầm nhìn 50 đến 100 năm nên việc đầu tư ngày hôm nay sẽ cho kết quả trong tương lai. Với việc kết hợp plutonium và uranium đã qua sử dụng trong chu trình nhiên liệu kín này chúng tôi sẽ tiết kiệm được nguyên liệu thô và gia tăng hiệu quả kinh tế. Và chúng tôi sẽ còn tái xử lý chất thải hạt nhân từ các lò neutron nhiệt để thu được nhiên liệu cho các lò phản ứng neutron nhanh”.  Công ty của TVEL ở Seversk đang sản xuất nhiên liệu MNUP nhưng có thể một ngày nào đó sẽ sản xuất nhiên liệu MOX, ông nói.  Rosatom đã ba lần tải nhiên liệu thí nghiệm REMIX vào tổ máy số ba VVER-1000  của nhà máy điện hạt nhân Balakovo tại vùng Saratov vào tháng 6/2016, sau khi được Rostechnadzor cấp phép.  TVEL vẫn đang gia hạn việc chiếu xạ nhiên liệu REMIX trong lò phản ứng nghiên cứu MIR tại Viện nghiên cứu lò phản ứng nguyên tử quốc gia ở Dimitrovgrad, ông cho biết thêm. “Chúng tôi đang thực hiện các nghiên cứu chi tiết và dự án đó còn chưa kết thúc nhưng chúng tôi sẽ sớm cung cấp thông tin về các keeys quả nghiên cứu. Đây thực sự là một trải nghiệm mới với chúng tôi và chúng tôi đang theo dõi các kết quả sơ bộ”.    Lò phản ứng BREST-OD-300 làm mát bằng chì.   Về kế hoạch cho lò phản ứng BN-1200 với mục tiêu sẽ công bố vào năm 2027, Vergazov cho biết: “Trong tương lai gần chúng tôi sẽ nghiên cứu ý tưởng đó tại Seversk, nơi chúng tôi đang xây dựng trung tâm trình diễn và tổ hợp năng lượng, nhwung hiện tại thì chưa có quyết định nào được đưa ra. Trong khuôn khổ kế hoạch tầm nhìn 100 năm của chúng tôi, có hai lựa chọn đưa ra là chúng tôi có thể phát triển công nghệ lò phản ứng neutron nhanh như thế nào và liệu chúng tôi sẽ dùng muối hay chì làm chất làm mát”.  Hiện TVEL đã hoàn thành tất cả các nghiên cứu cần thiết về việc sử dụng nhiên liệu hỗn hợp uranium-plutonium cho các lõi lò phản ứng của các lò neutron nhiệt chứ không chỉ cho các lò neutron nhanh. “Chúng tôi đã thực hiện các kiểm tra chiếu xạ tại nhà máy điện hạt nhân Balakovo để chứng minh kết quả của các nghiên cứu đó nhưng chúng tôi chắc chắn rằng việc đưa plutonium vào chu trình nhiên liệu này sẽ có tác động lớn tới toàn bộ chu trình nhiên liệu, bao gồm cả việc lưu trữ. Nó đòi hỏi những cách tiếp cận khác nhau để xử lý chất thải hạt nhân uranium, plutonium và nhiên liệu đã qua sử dụng, bao gồm cả khâu tái chế và lưu trữ. “Do đó chúng tôi chưa đi đến quyết định cuối cùng về việc sản xuất nhiên liệu REMIX. Chúng tôi vẫn đang trong quá trình R&D. Chúng tôi không vội thương mại hóa REMIX vì thứ nhất chúng tôi muốn kiểm tra các ý tưởng của chúng tôi ở các lò phản ứng do Nga thiết kế tại Nga bởi vì để thương mại hóa bất kỳ sản phẩm công nghệ mang tính đổi mới sáng tọa nào cũng cần có khả năng chứng minh với khách hàng là nó được vận hành tốt; thứ hai việc vận chuyển plutonium qua biên giới là một vấn đề vẫn cần được thảo luận. Đây không phải là vấn đề không thể không giải quyết được nhưng là vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi một cách tiếp cận đặc biệt”.  Những quốc gia khác có thể sử dụng công nghệ này với lượng plutonium sẵn có của họ trong một thời gian nào đó, ông nói.  Công nghệ này có thể được sử dụng mà không cần những hiệu chỉnh trong lò phản ứng nước áp lực tiêu chuẩn, nhưng “đầu tiên chúng tôi phải tiến hành rất cẩn thận và chính xác các nghiên cứu của mình và kiểm tra nhiên liệu chiếu xạ và sau chiếu xạ tại Nga cũng như kiểm tra trên thị trường nội địa trước. Để đề xuất công nghệ này với một khách hàng quốc tế, chúng tôi phải có đủ 100% kinh nghiệm thực sự trên các lò phản ứng của chúng tôi đã”.  Trung Quốc cũng quyết định xây CFR 600 – một lò phản ứng neutron nhanh – và muốn có công nghệ do chính họ làm ra, Vergazov cho biết, đồng thời nói thêm rằng TVEL sẽ sản xuất nhiên liệu cho nó. “Nhiên liệu này vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Với Trung Quốc, đây là một trải nghiệm hoàn toàn mới và chúng tôi chúc họ thành công. Điều đó có nghĩa là chiến lược của chúng tôi không chỉ dành cho lò phản ứng neutron nhanh ở Nga mà còn cho thế giới. Với nền công nghiệp hạt nhân toàn cầu thì dự án ở Trung Quốc sẽ là điểm tham chiếu tốt để chứng minh chất lượng công nghệ của chúng tôi”.  Nhiên liệu mới ATF  TVEL hiện cũng đang xem xét đồng thời bốn lựa chọn cho nhiên liệu ATF và tất cả chúng đều được kiểm tra tại lò phản ứng MIR tại Dimitrovgrad. Giải pháp “mang tính cách mạng nhất” là lớp sơn phủ không có zirconium, Vergazov nói.  Bốn lựa chọn này có hai về lớp sơn phủ – lớp áo zirconium; không zirconium (hợp kim chromium-nickel) và hai về chất nền nhiên liệu – uranium dioxide cổ điển và hợp kim uranium molybdenum. Một lựa chọn khác là chất nền uranium và silicon. Theo ông Vergazov, “trong tháng 1/2019, chúng tôi đã tải đợt chu trình nhiên liệu thực nghiệm đầu tiên vào lò phản ứng này, một cho lò phản ứng VVER cổ điển và một là lò phản ứng PWR. Mỗi tổ hợp nhiên liệu đều có những thanh nhiên liệu với bốn kết hợp khác nhau của các vật liệu vỏ và vật liệu nền nhiên liệu, nó giải thích tại sao chúng tôi có thể nói cả bốn lựa chọn đều được kiểm nghiệm”.  Khi được hỏi loại công nghệ ATF nào khiến ông quan tâm nhất, Vergazov nói: “Chúng tôi biết rằng có những quốc gia đang kiểm nghiệm nhiên liệu uranium và silicon, họ cũng thử nghiệm lớp vỏ thanh nhiên liệu không zirconium. Và giống như những người tham gia sân chơi toàn cầu khác, chúng tôi đang cố gắng tạo ra thanh nhiên liệu có lớp phủ bằng vật liệu silicon carbon”.  Mỗi phần nhiên liệu đều có 24 thanh nhiên liệu với những kết hợp khác nhau về vật liệu, vốn đã được thử nghiệm tại lò phản ứng MIR trong các điều kiện gần với những lò phản ứng đang được vận hành, bao gồm các thông số làm mát của lò VVER và PWR. Lò phản ứng nghiên cứu này được thiết kế để có khả năng thực hiện các nghiên cứu song song trong vòng tuần hoàn làm mát riêng rẽ, vốn là điều quan trọng với các thử nghiệm nhiên liệu đồng thời với các lò phản ứng do Nga thiết kế và nước ngoài thiết kế.  Nhiên liệu cho lò phản ứng VVER 1000  TVEL đã phát triển một dòng nhiên liệu “thế hệ thứ tư”, TVS-4 cho các lò phản ứng VVER 1000. Các phần nhiên liệu này, vốn được thiết kế với nhiều nét tiên tiến hơn, có thể cải thiện một cách đáng kể hiệu suất kinh tế của lò phản ứng hạt nhân trong khi vẫn bảo đảm khả năng an toàn ở mức tương đương.  Nếu đưa vào áp dụng, loại nhiên liệu này sẽ góp phần làm giảm giá thành điện năng của các nhà máy điện hạt nhân xuống 2 đến 4%. Nhiên liệu của công nghệ thế hệ thứ tư đã được giới thiệu cho các nhà máy điện hạt nhân của châu Âu với các lò phản ứng VVER – năm 2018, đợt vận hành thứ ba của nhiên liệu TVSA-12 trên lò phản ứng của nhà máy điện hạt nhân Kozloduy ở Bulgaria và đợt đầu tiên của TVSA-T.mod.2 được nạp vào lò phản ứng hạt nhân Temelín ở CH Czech. TVEL đã lên kế hoạch cung cấp nhiên liệu thế hệ thứ tư này cho những quốc gia khác.  Hiện TVEL đang sẵn sàng giới thiệu nhiên liệu được làm giàu nhiều hơn 5% (hiện nay là 4.85%), cho phép các lò phản ứng ở các nhà máy điện hạt nhân có thể chuyển sang vận hành một chu trình nhiên liệu 24 tháng, điều đó có nghĩa là hai năm một lần, lò phản ứng sẽ dừng vận hành để nạp nhiên liệu vào lò phản ứng thay vì năm rưỡi một lần.  Rosenergoatom, công ty vận hành nhà máy điện hạt nhân của tập đoàn Rosatom, đã sẵn sàng chuyển công nghệ lò phản ứng VVER-1000 từ chu trình nhiên liệu 12 tháng tới chu trình 18 tháng và lập kế hoạch tương tự với công nghệ lò phản ứng VVER-1200.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://world-nuclear-news.org/Articles/TVEL-outlines-innovation-in-nuclear-fuel    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị trường lao động Việt Nam: Tỷ lệ nữ cao hơn trung bình toàn cầu và khu vực      Tuy nhiên, phân tích vị thế việc làm cho thấy những bất lợi đáng kể của phụ nữ, theo Báo cáo Giới và thị trường lao động ở Việt Nam (Báo cáo phân tích dựa trên số liệu Điều tra Lao động – Việc làm) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).    Theo báo cáo, tỷ lệ tham gia thị trường lao động (TTLĐ) của phụ nữ Việt Nam ở mức cao đáng kể. Năm 2019, 70,9% phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động (LLLĐ). Tỷ lệ toàn cầu là 47,2%, và tỷ lệ ở Châu Á – Thái Bình Dương thậm chí còn thấp hơn, ở mức 43,9%.      Tỉ lệ nữ tham gia thị trường lao động cao nhưng lương của lao động nữ lại thấp hơn nam giới.      Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch giới trong tỷ lệ tham gia LLLĐ ở Việt Nam dù hẹp hơn so với mức trung bình của khu vực và toàn cầu. Tỷ lệ phụ nữ tham gia LLLĐ thấp hơn nam giới và lý do đằng sau sự chênh lệch này có thể là do sự phân bổ gánh nặng công việc gia đình không đồng đều. Điều tra Lao động – Việc làm năm 2018 cho thấy 47,5% phụ nữ lựa chọn không tham gia các hoạt động kinh tế là vì ‘lý do cá nhân’ hoặc ‘liên quan đến gia đình’. Trong khi đó, chỉ có 18,9% nam giới không tham gia hoạt động kinh tế đưa ra các lý do này. Đồng thời, mặc dù có tỷ lệ tham gia TTLĐ cao nhưng phụ nữ Việt Nam vẫn phải đối mặt với bất bình đẳng về cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế so với nam giới.    Ở TTLĐ của Việt Nam trước COVID-19, không có sự chênh lệch đáng kể về giới tính trong tỷ lệ thất nghiệp. Phát hiện này rất quan trọng vì nó góp phần hoàn thiện bức tranh về tỷ lệ tham gia LLLĐ. Ở Việt Nam phụ nữ gia nhập LLLĐ khá thuận lợi so với các nước khác (mặc dù không thuận lợi như nam giới). Tuy nhiên, LLLĐ bao gồm hai nhóm trong độ tuổi lao động: người có việc làm và người thất nghiệp. Điều quan trọng ở đây là phải tìm hiểu xem có bất kỳ mối liên hệ mang tính hệ thống giữa giới tính và xác suất thất nghiệp hay không. Trước năm 2019, ghi nhận tỷ lệ phụ nữ thất nghiệp thấp và cũng không có xu hướng rõ rệt nào về chênh lệch giới trong tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của nữ cao hơn tỷ lệ của nam trong một số năm và thấp hơn ở những năm khác, nhưng chênh lệch cũng không lớn.    Để đánh giá chính xác hiện trạng lao động của nữ giới, Báo cáo còn phân tích tình hình phụ nữ tham gia thị trường lao động phi chính thức. Nền kinh tế phi chính thức đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng tiếp cận các cơ hội tạo thu nhập cho phụ nữ và nam giới, góp phần vào mức độ hoạt động kinh tế cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Nhưng lao động phi chính thức phải đối mặt với tình trạng nghèo đói và rủi ro nghề nghiệp lớn. Ở Việt Nam, nam giới có xu hướng làm việc phi chính thức nhiều hơn nữ giới (tỷ lệ làm việc phi chính thức năm 2019 là 67,2% ở nữ và 78,9% ở nam). Tuy nhiên, phụ nữ lại chiếm đa số trong nhóm lao động phi chính thức đặc biệt thiệt thòi.    Phân tích vị thế việc làm cho thấy những bất lợi đáng kể của phụ nữ. Chẳng hạn, địa vị của lao động làm công ăn lương thường tương quan với mức độ ổn định của công việc do sự gắn bó với người sử dụng lao động. 43,1% phụ nữ có việc làm là lao động làm công ăn lương, so với 51,4% nam giới. Mặt khác, lao động tự làm và lao động gia đình phải đối mặt với rủi ro kinh tế lớn hơn. Lao động tự làm là những người nắm giữ một công việc tự mình tạo ra và không có nhân viên. Thu nhập của họ phụ thuộc trực tiếp vào lợi nhuận do đơn vị kinh tế của chính họ tạo ra. Hơn 92% lao động tự làm ở Việt Nam không được tiếp cận dịch vụ bảo trợ xã hội. Họ không nhận được các khoản thanh toán thường xuyên cho công việc mà họ đã thực hiện, và theo định nghĩa họ chính là lao động phi chính thức.    Gộp chung lại, hai nhóm lao động này cấu thành nhóm việc làm dễ bị tổn thương. Rõ ràng là phụ nữ đối mặt với khả năng làm việc dễ bị tổn thương cao hơn nam giới. Nếu phân tích riêng 2 nhóm việc làm dễ bị tổn thương, có thể nhận thấy rằng lao động tự làm ở nam giới và nữ giới của Việt Nam là tương đương nhau. Tuy nhiên, phụ nữ có nguy cơ trở thành lao động gia đình cao hơn gấp đôi so với nam giới. Năm 2019, 65,8% lao động gia đình ở Việt Nam là phụ nữ. Họ chiếm gần ¼ (24,1%) việc làm của phụ nữ nông thôn, so với chỉ 1/10 (10,7%) việc làm của nam giới nông thôn.    Xét trung bình, phụ nữ ở Việt Nam có mức thu nhập thấp hơn so với nam giới. Nguyên tắc trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau là một khía cạnh quan trọng của bình đẳng trong thế giới việc làm. Năm 2019, chênh lệch thu nhập theo giới tính tính theo phương pháp trung bình trọng số dựa trên tiền lương hàng tháng là 13,7%. Đây là mức chênh lệch tương đối thấp so với con số toàn cầu mới nhất (20,5%). Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là: Thứ nhất, chênh lệch tiền lương của Việt Nam, sau xu hướng giảm dần cho đến năm 2015, đã tăng trung bình 1,2 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2018, trước khi giảm vào năm 2019. Thứ hai, việc phân tổ chênh lệch thu nhập theo giới tính tổng thể dựa trên mức lương hàng tháng theo nghề nghiệp cho thấy những lĩnh vực bất lợi của phụ nữ vượt ra ngoài thang đo của chỉ số quốc gia.    Để có một bức tranh toàn diện hơn về chênh lệch tiền lương trên cơ sở giới, cũng cần phải phân tích thu nhập của lao động tự làm. Nhóm này phức tạp hơn nhiều, và nó bao gồm cả lao động dễ bị tổn thương. Chính vì vậy, đây cũng là nhóm chiếm phần nhiều LLLĐ của Việt Nam. Có chênh lệch về thu nhập giữa phụ nữ và nam giới tự làm ở Việt Nam, đặc biệt là trong những nghề gắn với trình độ học vấn thấp. Điều thú vị là khi phụ nữ điều hành doanh nghiệp của chính họ với tư cách là người quản lý, thì mức thu nhập, lại cho thấy ưu thế hơn so với nam giới.    Author                phongvien        
__label__tiasang U23 Việt Nam và câu chuyện khởi nghiệp sáng tạo của người trẻ      Tương lai nằm ở trong tay người trẻ. Dù cầu thủ bóng đá hay các doanh nhân trẻ, điểm tương đồng nằm chính ở chỗ, sức trẻ và sự tự tin, bản lĩnh được tôi luyện thì mới có thể thành công được.    Nhân chuyện thành công của U23 Việt Nam, tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài liên tưởng đến khởi nghiệp sáng tạo:  1. Cần sự đào tạo bài bản và xây dựng nền móng: Thế hệ cầu thủ này hơn thế hệ cầu thủ trước ở nhiều điểm nhưng đúng như ông Đoàn Nguyên Đức chia sẻ: “chẳng có thành công nào từ trên trời rơi xuống”. Nếu chấp nhận xây dựng mọi thứ từ móng thì trong 10 năm qua mới ra được những lứa cầu thủ như vậy: giỏi chuyên môn kỹ thuật, khỏe về thể lực, tâm lý thi đấu vững vàng ổn định: thắng không kiêu, bại không nản; đạo đức tốt; tiếng Anh tốt để tự tin giao tiếp quốc tế. Làm cầu thủ muốn thành công trên đấu trường quốc tế cần được đào tạo bài bản để thành cầu thủ chuyên nghiệp thì làm doanh nhân muốn chuyên nghiệp cũng cần được đào tạo bài bản. Đối với một nền bóng đá, chỉ tập trung thu gom các cầu thủ giỏi để thi đấu mà không bồi dưỡng từ nhỏ và chuyên nghiệp thì thắng thua là do may rủi rất nhiều. Trong hệ sinh thái khởi nghiệp câu chuyện cũng tương tự như vậy. Thiết nghĩ nếu chỉ tập trung “hớt váng” các doanh nghiệp tiềm năng xuất sắc trên thị trường và nhìn vào những chỉ số đầu tư mà không bồi dưỡng phát triển tinh thần doanh nhân và chuẩn bị kỹ năng, hiểu biết cho thế hệ trẻ sẽ rất khó để có những thành công bền vững và có khả năng lan tỏa. Cho đến giờ chúng ta vẫn chưa có nhiều những tập đoàn tầm cỡ quốc tế  phải chăng là do thiếu đi những trường đại học những cái nôi ươm mầm cho những doanh nhân ấy?  2. Sự va đập cọ xát và chấp nhận thất bại rất nên được khuyến khích. Sự tự tin dám vươn ra thị trường quốc tế mới giúp ta học được nhiều điều. Cầu thủ phải đi thi đấu để cọ xát học hỏi và rèn bản lĩnh để tự tin thì doanh nhân cũng cần thử sức mình ở những đấu trường lớn hơn. Nếu không có sự rèn luyện các cầu thủ U23 Việt Nam vốn quen với thời tiết nhiệt đới rất khó có thể chiến đấu đến phút thứ 120 tại một nơi đầy băng tuyết. Để rèn luyện ý chí, chúng ta cũng cần những doanh nhân sẵn sàng cho những khó khăn khắc nghiệt từ môi trường kinh doanh mang lại. Dám bước chân ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) để thu hoạch từ những trải nghiệm mới mẻ là vô cùng cần thiết. Khí chất là thứ giúp đội tuyển của chúng ta thành công, nhưng sẽ không thể hình thành khí chất nếu như không có sự tôi luyện. Trận chiến với Uzbekistan chỉ là một sự mở đầu cho chuỗi những trải nghiệm mới cần thiết để có thể đi xa hơn trong những hoàn cảnh khắc nghiệt hơn để vươn lên những tầm cao hơn.  3. Tinh thần đồng đội: Chẳng có thành công nào của riêng một cá nhân. Một đội bóng thành công do tinh thần đoàn kết và sự đồng đều về thể lực kỹ thuật giữa các cầu thủ chứ không thể chỉ dựa vào một cá nhân riêng lẻ. U23Việt Nam thành công nhờ có một đội ngũ mạnh đồng đều, bổ trợ được cho nhau chứ không chỉ dựa vào một ngôi sao sáng. Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trẻ thành công cũng cần đội nhóm tốt chung tầm nhìn, quyết tâm và mục tiêu. Song một mình đội nhóm của họ cũng vẫn chưa đủ, họ cần những người đồng hành trong cả hệ sinh thái khởi nghiệp. Đội bóng cần phải biết xây dựng đội nhóm và dùng người và cũng phải biết liên kết hợp tác. Thậm chí còn phải liên kết với nhiều thành phần khác nhau trong cả một hệ sinh thái của môn thể thao này. Điều này cũng đúng trong hệ sinh thái khởi nghiệp, một doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng cũng cần có sự kết hợp của nhiều nguồn lực xã hội: cần có những người đồng hành là giỏi những huấn luyện viên, những mentor, những đối tác hỗ trợ và bổ trợ tốt.     Các cầu thủ U23 Việt Nam sau trận chung kết AFC cup 2018  4. Sự tự tin, có mục tiêu và quyết liệt đến cùng: điều này có lẽ không phải chỉ trong bóng đá. Nếu thiếu đi điều này thì trận đấu nào cũng có thể chỉ giải quyết được việc học hỏi, thị trường nào cũng chỉ để biết biết mà không rút ra được điều gì. Chúng ta đi được xa tại giải đấu là vì chúng ta muốn chiến thắng và thực sự tin vào điều đó. Niềm tin cũng sẽ chỉ dừng lại nếu là sự cầu may rủi nếu không có những mục tiêu cụ thể và sự quyết liệt đến cùng. Điều quan trọng nhất đối với người chủ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chính là niềm tin vào những giá trị mình sáng tạo sẽ mang lại lợi ích cho mọi người và đặt ra những mục tiêu cụ thể và quyết tâm thực hiện mục tiêu đó.  5. Đặt nền móng cho người trẻ &Học từ người trẻ: Người trẻ rất hay, vì họ luôn sẵn sàng làm lại và không có gì để mất. Bỏ lại những thành tích cũng như thất bại trong quá khứ, họ vươn tới những đỉnh cao hơn. Tôi tin rằng, tương lai nằm trong tay những người trẻ. Song họ sẽ không thể có ngày hôm nay nếu không có những người đi trước tình nguyện làm viên gạch nền móng để xây dựng nhà từ móng. Tự nhận mình là một người trẻ với những người nhiều tuổi nhưng là thế hệ cũ với những bạn trẻ, tôi nhận thấy mình học được nhiều qua thành công của U23 Việt Nam. Đó có lẽ cũng là lý do tôi suốt đời muốn làm một mentee để được thấy mình trẻ và học hỏi và cũng luôn muốn mình trở thành một mentor. Được đồng hành và học từ những người trẻ, giỏi, có tầm nhìn, khát khao và niềm tin, còn gì tuyệt vời hơn như vậy? Sự kế tiếp giữa các thế hệ đòi hỏi tầm nhìn và xác định sứ mệnh của mình. Đó cũng là điều mà khởi nghiệp sáng tạo của chúng ta đang rất cần.  6. Sáng tạo và sự lan tỏa giá trị & tinh thần đoàn kết: Khi các cầu thủ trẻ đá bóng, họ đá cho sự đam mê của chính mình. Có thể cũng giống như rất nhiều thế hệ cầu thủ khác, họ chiến đấu cho màu cờ sắc áo. Khi ra trận, có lẽ họ không cần nghĩ quá nhiều mà chỉ chiến đấu hết mình. Doanh nhân có lẽ cũng vậy, khởi điểm từ sự đam mê, từ việc thấy một bất công mà không ai giải quyết và làm đến cùng. Có điều, chính các cầu thủ cũng không bao giờ nghĩ rằng, mình đã sáng tạo ra những giá trị mới cho văn hóa bóng đá Việt Nam, một sự lột xác bỏ lại đằng sau sự tự ti, lối chơi manh mún, họ mang đến một tinh thần chơi đẹp – fair play làm nên một hình ảnh bóng đá Việt Nam mới. Câu chuyện của họ không phải cổ tích, bởi họ đã nỗ lực hết sức, chuẩn bị cho nó chứ không phải chờ đợi phép màu. Có điều họ sẽ không bao giờ nghĩ rằng mình lại tạo ra được những tác động lớn lao như vậy: tinh thần gắn kết, tạo ra cả triệu nụ cười, sự nồng ấm, vô tư gắn bó với nhau cho cả một dân tộc đang còn vật lộn trong khó khăn mưu sinh. Họ đã tạo ra những giây phút mà người ta quên hết những mâu thuẫn nhỏ nhặt, những bộn bề cuộc sống để cùng hân hoan trong niềm vui và hy vọng.  Vì vậy, tôi nghĩ đơn giản rằng, có lẽ không cần phải nghĩ quá nhiều, hãy nghĩ đến những giá trị tốt đẹp và cố gắng chiến đấu hết sức mình, bạn không cần phải cân đo, đong đếm, nhưng một ngày bạn chợt nhận ra những “tác động lan tỏa” đó thật lớn lao mà không vật chất nào mua nổi. Có lẽ đó là sự hấp dẫn của sáng tạo giá trị, là chủ  nghĩa anh hùng trong sự lựa chọn của mỗi chúng ta trên con đường ta bước đi…          Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Uber, Grab và câu chuyện thầy bói xem voi      Mặc dù Bộ Giao thông Vận tải (Bộ GTVT) đã ban hành Kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng (“Kế hoạch thí điểm”)1, nhưng có lẽ các cơ quan quản lý nhà nước, các hãng taxi và cả người tiêu dùng vẫn chưa có cái nhìn đúng đắn và tổng thể về Uber và Grab. Ngay cả việc phân loại các đối tượng này trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng dẫn tới những tranh cãi chưa có hồi kết.      Về bản chất hoạt động của Uber/Grab có vai trò một bên trung gian – kết nối hành khách và người vận chuyển trong một chuỗi cung ứng dịch vụ vận tải hành khách, có thể được xếp vào nhóm dịch vụ môi giới vận tải.  Uber/Grab – mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ  Người ta chưa rõ liệu Uber và Grab là doanh nghiệp kinh doanh taxi kiểu mới (“taxi công nghệ”) hay kinh doanh vận tải hành khách bằng xe hợp đồng, hoặc chỉ đơn thuần là doanh nghiệp cung cấp phần mềm công nghệ thông tin? Gần đây nhất, trong Kế hoạch thí điểm, Bộ GTVT đã xác định Uber/Grab là đơn vị cung cấp dịch vụ ứng dụng khoa học công nghệ. Tuy nhiên, về bản chất hoạt động của Uber/Grab có vai trò một bên trung gian kết nối hành khách và người vận chuyển, có thể được xếp vào nhóm dịch vụ môi giới vận tải2. Ở Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ 2008 không có quy định về nhóm dịch vụ này, mặc dù đã có quy định về dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ3.  Xét rộng ra, hoạt động của Uber/Grab có thể được coi là một dạng dịch vụ môi giới thương mại theo Luật Thương mại (điều 150) mà ở đó Uber/ Grab được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới – chính là khoản phần trăm trích từ phí dịch vụ mà hành khách trả cho lái xe. Nhưng bên môi giới này lại can thiệp khá sâu vào hoạt động cung ứng dịch vụ giữa các bên, cụ thể là ở việc đưa ra công thức về giá dịch vụ hay những chương trình khuyến mại đối với bên sử dụng dịch vụ. Do đó, có thể coi hoạt động kinh doanh của Uber/Grab là một biến thể của môi giới thương mại, đột phá với thế mạnh về mặt giải pháp công nghệ và khác biệt với hoạt động môi giới truyền thống.  Mặt khác, cần khẳng định rõ Uber/Grab không kinh doanh phần mềm mà kinh doanh dịch vụ môi giới (gọi xe). Ứng dụng cài đặt trên điện thoại chỉ là một phần của hệ thống, một giải pháp công nghệ giúp Uber/Grab sử dụng hệ thống của mình để xử lý dữ liệu từ hành khách (điểm đi – điểm đến – giá cước) và lái xe (định vị vị trí gần điểm đi nhất) và môi giới thành công một hợp đồng giữa hành khách và lái xe.  Từ khi Uber/Grab vào Việt Nam, có thể nhìn thấy một xu hướng thay đổi của các hãng taxi truyền thống, đó là phát triển phần mềm gọi xe. Phần mềm của các hãng taxi có chức năng liên lạc, thay thế cho việc gọi điện thoại tới tổng đài, đồng thời cũng đưa ra được giá ước tính và nói chung khá giống với phần mềm Uber/Grab. Đây là một xu hướng tiến bộ, phù hợp với thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, song cần phải nhấn mạnh rằng: phát triển một phần mềm gọi xe không thể biến một hãng taxi truyền thống thành Uber hay Grab. Đó chỉ là hành vi phù hợp với trào lưu mà không làm thay đổi bản chất của các hãng taxi.  Ngay từ xuất phát điểm, Uber/Grab và các hãng taxi truyền thống đã lựa chọn cho mình những chỗ đứng khác nhau trong chuỗi cung ứng dịch vụ vận tải. Một bên môi giới dịch vụ vận tải; một bên kinh doanh vận tải hành khách; một bên huy động nguồn xe từ toàn xã hội; một bên có số lượng đầu xe hạn chế (kể cả không bị giới hạn bởi quy hoạch taxi thì vẫn bị giới hạn bởi nguồn lực của các hãng taxi). Do đó, những kiến nghị yêu cầu giảm bớt điều kiện kinh doanh cho các hãng taxi cho tới khi “bằng Uber/Grab” là một điều bất khả thi vì sự khác biệt về bản chất từ trong mô hình kinh doanh.  Gần đây, Bộ GTVT cho biết sẽ có Nghị định mới thay thế Nghị định 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô (“Nghị định 86”)4. Việc sửa đổi Nghị định 86 thể hiện nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đưa Uber/Grab “vào nề nếp và phù hợp với khuôn khổ pháp luật”5. Tuy nhiên, dường như việc sửa đổi chỉ tập trung vào việc cho phép áp dụng hợp đồng điện tử thay cho hợp đồng giấy đối với xe hợp đồng như quy định hiện hành6. Nếu không đi đúng vào bản chất hoạt động môi giới vận tải của Uber/Grab, việc sửa đổi Nghị định 86 có thể sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn của các cơ quan quản lý.  Vai trò thực sự của các Hợp tác xã vận tải?  Hiện nay những lái xe sử dụng phần mềm Uber/Grab đều được yêu cầu phải tham gia HTX vận tải. Yêu cầu này nhằm mục đích đáp ứng các quy định tại Kế hoạch thí điểm, theo đó chỉ doanh nghiệp, HTX vận tải mới được phép tham gia đề án thí điểm7. Cụ thể, HTX ký thỏa thuận hợp tác với Uber/Grab để cài đặt ứng dụng vào thiết bị di động cho lái xe; lái xe được HTX ủy quyền giao kết hợp đồng vận tải với khách hàng.  Xét về bản chất của việc ủy quyền, trong trường hợp xảy ra thiệt hại và phải bồi thường cho hành khách, HTX sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường, còn lái xe sẽ hoàn trả tiền bồi thường cho HTX8. Tuy nhiên, cơ chế ủy quyền này không phản ánh đúng bản chất mối quan hệ giữa các bên trong mô hình hoạt động của Uber/Grab. Việc yêu cầu lái xe tham gia HTX vận tải thực chất chỉ là cách để Uber/Grab thỏa mãn các quy định của pháp luật Việt Nam về kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng. Lái xe phải đóng khoản phí gia nhập (dưới dạng góp vốn điều lệ) và phí quản lý hàng tháng cho HTX. Danh sách các HTX thường được cung cấp bởi Uber/Grab để lái xe lựa chọn. Có trường hợp lái xe còn được Uber/Grab hỗ trợ các khoản phí phải nộp cho HTX nếu chạy được số lượng chuyến nhất định.  Như vậy, không rõ những HTX vận tải có ý thức được trách nhiệm pháp lý của mình với vai trò là chủ thể giao kết hợp đồng dịch vụ vận tải với hành khách như quy định tại Kế hoạch thí điểm hay không? Liệu có tồn tại trường hợp các HTX“bán” phù hiệu xe hợp đồng để đổi lấy phí gia nhập và phí quản lý? Về phía hành khách và lái xe, liệu họ có ý thức đúng vai trò của các HTX vận tải này?  Mô hình đi chung xe – đúng và sai  Phải thừa nhận Uber/Grab đã đem đến những giải pháp mới và hiệu quả mà gần đây nhất là sự ra đời của mô hình đi chung xe (GrabShare hay UberPOOL) – những giải pháp mới dựa trên công nghệ định vị. Nhưng mới đây, GrabShare đã bị yêu cầu dừng hoạt động với lý do là vi phạm quy định hiện hành liên quan tới vận tải hành khách theo hợp đồng. Cụ thể, quy định “Đối với mỗi chuyến xe đơn vị kinh doanh vận tải chỉ được ký kết 01 hợp đồng vận chuyển khách” (theo Thông tư 63/2014/TT-BGTVT, Điều 45, khoản 2) được đưa ra làm cơ sở để yêu cầu ngừng triển khai GrabShare. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý này thiếu tính thuyết phục, thể hiện tư duy rập khuôn trong quản lý, và không phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận trong hợp đồng – nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự. Nếu lập luận rằng hai hành khách đi chung xe có thỏa thuận với nhau và là đồng chủ thể trong hợp đồng duy nhất ký với HTX vận tải (thực chất là ký với lái xe) thì không biết các cơ quan nhà nước sẽ giải thích ra sao?  Trên thực tế, sau khi được yêu cầu dừng triển khai mô hình GrabShare, Grab vẫn tiếp tục triển khai dịch vụ này, thậm chí liên tục đưa ra những mã khuyến mại áp dụng riêng cho loại hình GrabShare. Vấn đề đặt ra ở đây là tính tuân thủ đối với quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã không được đảm bảo. Ở một góc độ khác, khi nhà đầu tư nước ngoài không tôn trọng luật pháp của nước sở tại, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại quy định của chúng ta có đủ tính thuyết phục và nghiêm minh để các nhà đầu tư tuân thủ một cách tâm phục khẩu phục hay không?  Cần căn cứ chứng minh có chuyện phá giá và trốn thuế?  Đi chung xe khiến cho giá đã rẻ nay còn rẻ hơn, và đương nhiên các hãng taxi truyền thống lại tiếp tục lên tiếng về việc cấm Uber/Grab, quy kết rằng các nhà đầu tư này đem tiền vào Việt Nam để “đốt” khi đưa ra những mức giá “không tưởng” và liên tục khuyến mại. Tuy nhiên, để khẳng định Uber/Grab sai phạm khi khuyến mại tràn lan như khẳng định của một số hãng taxi, cần thiết phải đưa ra căn cứ rõ ràng. Ví dụ như phải chứng minh được tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu dịch vụ (UberX hoặc GrabCar) của Uber/Grab đã vượt quá 90 ngày trong năm 2016 hoặc 20179. Về vấn đề này, Bộ Công Thương và các Sở Công Thương với tư cách là cơ quan nhà nước tiếp nhận thông báo về chương trình khuyến mại phải là đơn vị nắm rõ thông tin nhất. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, vẫn chưa thấy kết luận chính thức về vấn đề khuyến mại của Uber/Grab từ phía các cơ quan này.  Giá rẻ không nhất thiết đồng nghĩa với phá giá. Việc chứng minh phá giá sẽ khó khăn hơn nhiều so với việc chứng minh vi phạm quy định về khuyến mại (nếu có). Luật Cạnh tranh 2004 xác định việc cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là một hành vi bị cấm, tuy nhiên, chỉ áp dụng với những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường10. Do đó, để chứng minh được Uber/Grab vi phạm pháp luật cạnh tranh về việc cung cấp dịch vụ dưới giá thành trước hết phải chứng minh được vị trí thống lĩnh thị trường của Uber/Grab, sau đó phải chứng minh được việc cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2004 từ khi ra đời phần lớn mới chỉ giải quyết các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường hay chứng minh việc cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ là một thách thức lớn trong bối cảnh khung pháp luật Việt Nam liên quan tới kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh còn nhiều hạn chế.  Bên cạnh việc so sánh về giá, các hãng taxi còn “tị nạnh” với Uber/Grab về mức thuế áp dụng và quy chụp chiếc mũ “trốn thuế” cho hai startup này. Không biết từ khi nào, thuế dường như đã trở thành cơ chế hậu kiểm trong những trường hợp cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc kiểm soát. Gần đây nhất là câu chuyện thu thuế của những người bán hàng qua Facebook, trước đó thì là vấn đề thu thuế của những nhà phát triển phần mềm như Nguyễn Hà Đông với Flappy Bird. Thuế trong trường hợp của Uber/Grab dường như đang được các hãng taxi sử dụng như một yếu tố để lôi kéo sự đồng thuận từ các cơ quan quản lý nhà nước. Vấn đề khó trong trường hợp này là tính thuế sao cho đúng với bản chất hoạt động kinh doanh của Uber/Grab và không để thuế trở thành rào cản cho sự sáng tạo và khởi nghiệp.  Quy hoạch taxi – đừng để bị lạm dụng  Một trong những lý do khác khiến Uber/Grab bị lên án là do phá vỡ quy hoạch chung về taxi của các thành phố lớn, gây ách tắc giao thông. Ai cũng hiểu rằng ở những thành phố như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, có nhiều lý do dẫn tới vấn nạn ách tắc giao thông, từ tỷ lệ đất giao thông so với diện tích đất xây dựng đô thị không được đảm bảo đến chuyện ý thức của người tham gia giao thông còn kém… Việc các hãng taxi lên án Uber/Grab gây ách tắc giao thông không dựa trên một khảo sát hay nghiên cứu chính thức nào.  Không nhắc lại sự khác biệt về bản chất và mối quan ngại “vơ đũa cả nắm” khi kéo Uber/Grab vào quy hoạch taxi mà chúng ta hãy bàn về quy hoạch taxi nói riêng và quy hoạch đô thị nói chung. Chính các cơ quan quản lý nhà nước cũng đang nhận thấy những bất cập trong câu chuyện quy hoạch, từ việc quy hoạch quá nhiều nhưng11 không hiệu quả gây lãng phí nguồn lực đến chuyện quy hoạch bị lạm dụng như một dạng “giấy phép con” trong thủ tục hành chính gây cản trở hoạt động về đầu tư, kinh doanh. Phương pháp lập quy hoạch cũng gặp nhiều vấn đề bởi không phù hợp với các quy luật, nguyên lý kinh tế thị trường, dẫn tới tình trạng chưa duyệt đã lạc hậu. Như Viện Phó Viện Quy hoạch và Đô thị nông thôn quốc gia đã từng phải thừa nhận: “Không một lãnh đạo địa phương nào cũng như một nhà tư vấn nào giỏi đến mức có thể hình dung được tới đây, thành phố Hà Nội sẽ có những gì…” (theo Báo Thanh tra ngày 11/7/2017). Như vậy, việc đưa quy hoạch taxi ra làm cơ sở mà không đưa ra những căn cứ khảo sát liên quan có tính thuyết phục để yêu cầu ngừng thí điểm Uber/Grab hay hạn chế số lượng đầu xe chạy Uber/Grab thì đó có thể coi là một sự lạm dụng quy hoạch, đồng thời thể hiện một tư duy cần phải thay đổi trong quá trình thực hiện quy hoạch ở Việt Nam.  Việc trông chờ vào sự bảo hộ từ chính phủ sẽ chỉ khiến các doanh nghiệp nội địa “không chịu lớn”, người tiêu dùng chịu thiệt thòi, và nỗi ám ảnh lạc hậu sẽ còn tiếp tục đeo bám. Hy vọng viễn cảnh đó sẽ không xảy ra bởi chúng ta đều đang nhận thấy những sự thay đổi tích cực. Đó là khi người tiêu dùng đã nhanh chóng thay đổi thói quen tiêu dùng; còn các hãng taxi truyền thống đã bắt đầu phát triển phần mềm gọi xe, cải tổ hệ thống quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính Uber và Grab cũng đang phải thay đổi để tồn tại trong cuộc cạnh tranh đầy khốc liệt mang tính toàn cầu. Quan trọng nhất, các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam cũng đang thay đổi tư duy trong quản lý khi phần nào bước ra khỏi con đường mòn có tên “không quản được thì cấm”. Đó là những dấu hiệu tích cực, thể hiện sự vận động của cả xã hội trong làn gió mới của thời đại công nghệ 4.0.  Trong bối cảnh đó, những bối rối trong việc định vị Uber và Grab phần nào khiến chúng ta liên tưởng tới câu chuyện “thầy bói xem voi”. Nếu chỉ coi con voi là cái quạt hay cột đình, con người sẽ không thể khai thác được tính năng phương tiện vận tải hữu ích của nó. Cuối cùng, hy vọng rằng “con voi” sẽ được là “con voi”.  ——–  1 Quyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016 của Bộ GTVT  2 Theo phân ngành của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), dịch vụ này thuộc phân ngành Dịch vụ hỗ trợ phương thức vận tải (mã CPC 749)  3 Theo khoản 1 Điều 82 Luật Giao thông đường bộ 2008, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ gồm dịch vụ tại bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, đại lý vận tải, đại lý bán vé, dịch vụ thu gom hàng, dịch vụ chuyển tải, dịch vụ kho hàng, dịch vụ cứu hộ vận tải đường bộ.  4 Ngày 23/03/2017, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa đã ký Quyết định số 775/QĐ-BGTVT thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.  5 Đây là mục tiêu hàng đầu trong các mục tiêu tổng quát được nêu tại mục I.1 của Kế hoạch thí điểm  6 Uber, Grab, taxi truyền thống: Cuộc chiến đầu tiên thời 4.0, Báo VietNamNet, truy cập tạihttp://vietnamnet.vn/vn/ban-tron-truc-tuyen/tranh-cai-ve-cuoc-chien-taxi-truyen-thong-uber-grab-383082.html vào ngày 11/07/2017  7 Xem Kế hoạch thí điểm, mục III.2  8 Xem Bộ luật Dân sự 2015, Điều 597  9Nghị định 37/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại tại Điều 9, khoản 4 có quy định: “Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 90 ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45  ngày”.  10 Xem Luật Cạnh tranh 2004, Điều 13, khoản 1  11 Theo Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Quy hoạch ngày 29/09/2016, trong thời kỳ 2001-2010, số quy hoạch được lập trong cả nước là 3.114; đến thời kỳ 2011-2020, số lượng quy hoạch phải lập là 19.285 bản quy hoạch các loại (tăng gấp 6 lần).       Author                Nguyễn Thuỳ Dương        
__label__tiasang Úc cũng phải học Israel làm nông nghiệp công nghệ cao      Bộ trưởng bộ Công nghiệp và phát triển (khu vực Nam Úc) Tim Whetstone đã tới Israel với chương trình phát triển ngành này.      Với mục tiêu phát triển nền nông nghiệp lên thành một ngành nông – công nghiệp trị giá 100 tỷ đô la Úc tại Úc vào năm 2030, ông giải thích tại sao lại chọn Israel?  Theo ông, Israel là nơi đã biến sa mạc thành đất hứa của nông nghiệp, có hơn 750 công ty khởi nghiệp đang hoạt động và nhiều công ty khác hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm và AgTech.  Chính công nghệ là chìa khoá để thúc đẩy các giải pháp nông nghiệp sáng tạo. Tại Israel, ông sẽ gặp hơn 30 chuyên gia trong các lĩnh vực nông nghiệp từ nuôi thuỷ sản, sử dụng côn trùng làm nguồn protein cho thức ăn chăn nuôi, đến một công ty chuyên kiểm soát dịch hại xanh, như ruồi giấm.  Hiện nay, Nam Úc đang thành lập nhóm Tư vấn nông nghiệp công nghệ cao (AgTech) cấp bộ.Nhóm này sẽ chịu trách nhiệm xem xét các rào cản có thể ngăn trở các nhà sản xuất áp dụng các công nghệ mới và thương mại hoá nông sản (tập trung vào một chiến lược dài hạn để phát triển AgTech ở Nam Úc).  Ngay trong thời điểm này, các trường trung học ở Nam Úc đang tổ chức đại hội Thổ dân trẻ và STEM. Sự kiện hàng năm này thường kéo dài hai ngày, quy tụ các thế hệ học sinh sắp lên lớp 11 và 12 và khuyến khích họ chọn các môn chuyên ngành trong STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Theo ông, đây là chuẩn bị để họ có kiến thức, kỹ năng đi vào AgTech.  V.Khánh (theo TGHN)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ugur Sahin làm vaccine COVID-19 Pfizer như thế nào?      Chỉ trong một thời gian kỷ lục là mười tháng, doanh nghiệp công nghệ sinh học Biontech (Đức) và tập đoàn Pfizer của Hoa kỳ đã phát triển thành công một loại vaccine chống virus corona. Vaccine BNT162b2 có hiệu lực chống virus tới trên 90%. Thành công này chủ yếu nhờ công sức của giáo sư Ugur Sahin.      Giáo sư Ugur Sahin, người sáng lập công ty Biontech.   Ông là người luôn tin rằng ứng viên vaccine của doanh nghiệp Biontech của ông có một hồ sơ gần như hoàn hảo. Điều này đã được người đồng sáng lập đồng thời là CEO của Biontech khẳng định cách đây vài tuần với tạp chí Tuần Kinh tế (Đức). Giờ đây Sahin đưa ra các dữ liệu để chứng minh điều mà ông đã nói: theo các dữ liệu mới nhất đã được cơ quan độc lập đánh giá thì tỷ lệ hiệu quả của loại vaccine này đạt trên 90%. Sản phẩm “không khiến người ta phải quan ngại một cách nghiêm trọng về sự an toàn”. Cho đến nay đã có đánh giá 94 trường hợp bị lây nhiễm sử dụng vaccine. Trong tuần tới, họ sẽ đề nghị Hoa Kỳ cấp phép lưu hành ở nước này. Theo thông báo trước đây thì dự kiến đến cuối năm nay, Biontech sẽ sản xuất được khoảng 50 triệu liều.  Nhiều nhà khoa học độc lập khác cũng tỏ ra phấn khởi về các dữ liệu này. Thí dụ giáo sư Gerd Fätkenheuer, trưởng khoa truyền nhiễm bệnh viện đại học Köln: “Đây là những dữ liệu tuyệt vời và đầy hứa hẹn. Thật khó tưởng tượng có thể đạt được tiến bộ về sự phát triển trong một thời gian chỉ vài tháng đối với loại vaccine này, kể cả thử nghiệm lâm sàng”. Florian Krammer, giáo sư khoa vi sinh vật ở Mount Sinai, Mỹ cũng gọi đây là “một kết quả tuyệt vời”.  Bà Marylyn Addo, phụ trách bộ phận Y học nhiệt đới tại bệnh viện trường đại học Eppendorf ở Hamburg có phần thận trọng hơn: “Đây mới chỉ là những tín hiệu đáng mừng đầu tiên tuy nhiên mới ở dạng một thông cáo báo chí”. Hiện chưa có các dữ liệu gốc vì phải chờ công ty cung cấp những dữ liệu chính xác.  Theo nhà sản xuất Biontech của Đức thì kết quả sơ bộ của vaccine corona đang ở giai đoạn thử nghiệm thứ ba đầy hứa hẹn, hiệu quả đạt trên 90 %. Điều này làm nức lòng thị trường chứng khoán.    Ông Ugur Sahin, 55 tuổi, con trai một gia đình người Thổ Nhĩ Kỳ nhập cư là người đóng góp nhiều công sức nhất cho sự ra đời loại vaccine corona đầu tiên này. Sahin tới Biontech đáng ra để nghiên cứu phát triển một loại vaccine chống ung thư, tuy nhiên đầu năm nay ông phải tạm ngừng kế hoạch. Sahin thấy một bài báo khoa học trong tạp chí The Lancet viết về một bệnh phổi mới ở Trung Quốc có tốc độ lây lan rất nhanh. “Tôi như bị sốc”, ông nói. Ông thậm chí còn phát hiện ra bệnh này trước phần lớn các đồng nghiệp khác, kể cả các nhà khoa học ở Viện Robert-Koch. Qua thu thập, phân tích mẫu và các yếu tố khác, Sahin phát hiện các dấu hiệu đây là một bệnh truyền nhiễm và nó không chỉ “cố thủ” tại địa phương mà sẽ lây lan ra khắp thế giới.   Sahin đã nhanh chóng triệu tập các đồng nghiệp trong Hội đồng quản trị và Hội đồng giám sát. Sau ít ngày, họ đã đề ra chiến lược tiêu diệt căn bệnh mới này, sau đó bệnh này có tên là Sars-Cov-2. Dự án Lightspeed (Tốc độ ánh sáng) nhanh chóng được triển khai. Thông thường các nhà nghiên cứu phải làm trong nhiều năm thì ở dự án này, mọi việc diễn ra nội trong mấy tháng. Biontech cũng sớm làm việc với cơ quan cấp phép và chọn tập đoàn Pfizer của Hoa Kỳ là đối tác hợp tác.  Sau khi công bố các dữ liệu mới nhất, chỉ số chứng khoán của Biontech tăng vọt trên 20%, bản thân Sahin cũng được hưởng lợi. Vị giám đốc Biontech nắm giữ 18% cổ phần công ty. Ông là cổ đông lớn đứng hàng thứ hai của doanh nghiệp này. Theo lời ông Sahin thì ông không quan tâm lắm đến việc ông trở thành một trong những người giầu nhất nước Đức và tài sản của ông đã tăng lên đáng kể: “Tôi không quan tâm đến giá trị khối cổ phiếu của mình. Chúng tôi muốn xây dựng doanh nghiệp Biotech có tầm vóc như Amgen hay Genentech. Chúng tôi muốn tạo ra giá trị lâu dài. Đó là điều mà tôi thực sự quan tâm”.  Nguyễn Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.wiwo.de/unternehmen/industrie/impfstoff-gegen-corona-wie-ugur-sahin-die-welt-veraendert/26605410.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng AI để nghiên cứu các phản ứng hóa học      Trong một vài năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã áp dụng những kỹ thuật của khoa học dữ liệu để hỗ trợ việc giải quyết các bài toán của tổng hợp hữu cơ.      Các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Abigail Doyle, giáo sư hóa học A. Barton Hepburn của trường đại học Princeton, đã cộng tác với giáo sư khoa học máy tính Ryan Adams để phát triển phần mềm nguồn mở, qua đó đem lại một thuật toán tối ưu vô cùng tiên tiến để có thể áp dụng trong công việc nghiên cứu thường nhật, đưa những gì đã học được từ lĩnh vực học máy vào hóa học tổng hợp.  Phần mềm này có thể thích nghi với một số nguyên tắc chính của tối ưu Bayes để cho phép tổng hợp các hóa chất nhanh hơn và hiệu quả hơn.  Trên cơ sở lý thuyết Bayes, một công thức toán học có chức năng xác định tính xác suất điều kiện, tối ưu Bayes được sử dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học. Nó cho phép con người và máy tính sử dụng những hiểu biết đã có thể thông báo và tối ưu hóa các quyết định trong tương lai.  Các nhà hóa học ở phòng thí nghiệm của Doyle, trong hợp tác với Adams, một giáo sư khoa học máy tính, và các đồng nghiệp tại Bristol-Myers Squibb, so sánh các quyết định của con người với gói phần mềm. Họ tìm thấy là công cụ tối ưu hiệu quả hơn và ít thiên kiến hơn cả con người trong một phản ứng thử nghiệm. Công trình của họ xuất hiện trên tạp chí Nature với tiêu đề “Bayesian reaction optimization as a tool for chemical synthesis” (Tối ưu phản ứng Bayes như một công cụ cho tổng hợp hóa học).  “Tối ưu phản ứng có mặt ở khắp mọi nơi trong tổng hợp hóa học, cả trong nghiên cứu hàn lâm và ngành công nghiệp hóa học”, Doyle cho biết. “Kể từ khi không gian hóa học trở nên quá rộng lớn thì với các nhà hóa học, thật thông thể đánh giá được toàn bộ một không gian phản ứng trong thực nghiệm. Vì thế chúng tôi muốn phát triển và đánh giá tối ưu Bayes thành một công cụ cho hóa tổng hợp do thấy thành công của nó trong việc giải quyết những bài toán tối ưu trong nhiều lĩnh vực khoa học”.  Benjamin Shields, một cựu postdoct trong phòng thí nghiệm của Doylevà là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, đã tạo ra gói Python.  “Tôi có nền tảng hiểu biết về hóa tổng hợp, vì vậy tôi có thể chắc chắn một điều là các nhà hóa tổng hợp đều rất giỏi trong việc xử lý các vấn đề này”, Shields nói. “Tôi cho rằng điểm mạnh thực sự của tối ưu Bayes là nó cho phép chúng tôi mô hình hóa các bài toán chiều bậc cao và nắm bắt các xu hướng mà chúng tôi có thể không thấy trong dữ liệu của mình, do đó nó có thể xử lý dữ liệu tốt hơn rất nhiều.  Và hai là trong cùng một không gian, nó sẽ không mắc phải sự thiên kiến vốn có của một nhà hóa học”, anh cho biết thêm.  Nó hoạt động như thế nào?  Phần mềm này được bắt đầu như một dự án nằm ngoài những yêu cầu của chương trình tiến sĩ của Shields. Doyle và Shield đã hình thành một nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Máy tính hỗ trợ tổng hợp hóa học (C-CAS), một sáng kiến của Quỹ Khoa học Mỹ quy tụ năm trường đại học để chuyển đổi việc tổng hợp các phân tử hữu cơ phức tạp. Doyle là một thanhg viên chính của C-CAS kể từ năm 2019.  “Tối ưu phản ứng có thể là một quá trình chi phí cao và tốn thời gian”, Adams, giám đốc Chương trình Thống kê và học máy, nhận xét. “Cách tiếp cận này không chỉ là tăng tốc việc sử dụng các kỹ thuật tiên tiến mà còn có thể tìm thấy những giải pháp xuất sắc hơn cả con người có thể tạo ra. Tôi nghĩ điểm bắt đầu của cái có thể với tối ưu Bayes là chính trong không gian này”.  Những người tham gia bắt đầu xác định không gian tìm kiếm – những thực nghiệm có vẻ hợp lý để xem xét – như một danh sách của các chất xúc tác, chất thử, phối tử, nhiệt độ và các nồng độ. Một khi không gian được chuẩn bị và người sử dụng xác định được cách các thực nghiệm được tiến hành như thế nào thì phần mềm có thể sẵn sàng chọn những điều kiện thực nghiệm ban đầu để đánh giá. Sau đó nó đề xuất những thực nghiệm mới có thể thực hiện, lặp lại thông qua một số các lựa chọn nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa cho đến khi phản ứng được tối ưu.  “Trong thiết kế phần mềm này, tôi cố gắng bao hàm cả những cách con người thường nghĩ về một phản ứng”, Shields nói. “Bất kể anh sử dụng nó hay học máy thì luôn luôn sẽ có một trường hợp dựa trên kinh nghiệm của con người”.  Các nhà nghiên cứu khác có thể truy cập phần mềm và những ví dụ của nghiên cứu này qua GitHub: phần mềm đại diện cho các hóa chất được đánh giá trong một định dạng máy có thể đọc được thông qua lý thuyết phiếm hàm mật độ; phần mềm cho tối ưu phản ứng; và nội dung thông tin được thu thập từ quyết định tối ưu của phản ứng thử của các nhà hóa học.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-chemistry-science-artificial-intelligence-chemical.html  https://www.princeton.edu/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng AI và dữ liệu vệ tinh tìm kiếm tàu đánh cá sử dụng lao động cưỡng bức      Bằng cách kết hợp kiến thức chuyên môn về khoa học dữ liệu với giám sát vệ tinh, đầu vào từ các nhà thực hành nhân quyền và thuật toán máy học, các nhà khoa học thuộc Đại học California tại Santa Barbara đã phát triển một phương thức để dự đoán liệu một tàu cá có nguy cơ cao đang sử dụng lao động cưỡng bức hay không.      Đánh cá ở vùng biển quốc tế vừa đắt đỏ, mà lại thu về rất ít lợi nhuận. Ảnh: piola666/E+ via Getty Images  Đánh cá ở vùng biển quốc tế (vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển) là một điều bí ẩn. Những khu vực biển mở này thường được xem là những ngư trường nặng nhọc, thu lợi thấp, nhưng ngư dân vẫn cứ làm việc ở đó.   Tôi* là một nhà khoa học dữ liệu môi trường, chuyên sử dụng dữ liệu và kỹ thuật phân tích để trả lời các câu hỏi quan trọng về quản lý tài nguyên tự nhiên. Trở lại năm 2018, các đồng nghiệp của tôi tại Phòng thí nghiệm Giải pháp Thị trường Môi trường đã phát hiện ra rằng đánh bắt cá ở hải phận quốc tế là một nỗ lực gần như không mang lại lợi ích gì. Điều này đúng ngay cả khi xét đến khía cạnh trợ cấp của chính phủ.   Tuy nhiên, rất đông ngư dân vẫn tiếp tục đánh bắt trên vùng biển quốc tế, cho thấy nguồn tài chính mà họ thu về không chỉ đến từ trợ cấp của chính phủ.   Lao động cưỡng bức là một vấn đề muôn thuở trong đánh bắt cá ngoài vùng biển quốc tế, nhưng lâu nay rất khó để theo dõi. Bí ẩn này – tại sao rất nhiều tàu đánh cá ở biển quốc tế dù hoạt động này không có lãi – khiến nhóm nghiên cứu của chúng tôi nghĩ rằng có thể nhiều tàu trong số này, theo một nghĩa nào đó, đã tận dụng chi phí lao động thấp. Các chi phí này thậm chí có thể bằng không nếu các tàu sử dụng lao động cưỡng bức.  Bằng cách kết hợp kiến thức chuyên môn về khoa học dữ liệu của nhóm chúng tôi với giám sát vệ tinh, đầu vào từ các nhà thực hành nhân quyền và thuật toán máy học, chúng tôi đã phát triển một cách để dự đoán liệu một tàu cá có nguy cơ cao đang sử dụng lao động cưỡng bức hay không. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có tới 100.000 cá nhân có thể là nạn nhân của lao động cưỡng bức từ năm 2012 đến năm 2018 trên những con tàu này.   Hành vi đáng ngờ của các tàu  Tổ chức Lao động Quốc tế định nghĩa lao động cưỡng bức (forced labor) là “tất cả các công việc hoặc dịch vụ mà một người phải thực hiện dưới sự đe dọa hoặc hình phạt nào đó, theo đó họ hoàn toàn không tự nguyện.” Về cơ bản, nhiều người trong số những người lao động này có thể bị bắt làm nô lệ, không thể nghỉ việc, bị mắc kẹt giữa biển cả. Đáng buồn thay, giới đánh cá ghi nhận lao động cưỡng bức như một vấn đề lớn, nhưng mọi người vẫn chưa nhìn nhận đúng mức độ trầm trọng của vấn đề.   Nhóm nghiên cứu của chúng tôi muốn bàn thêm về việc sử dụng lao động cưỡng bức trong ngành thủy sản đã diễn ra như thế nào, và bước ngoặt đã đến khi chúng tôi đặt ra một câu hỏi quan trọng – là cơ sở để thúc đẩy dự án này: Đâu là điểm khác biệt có thể nhận thấy trong cách hành xử của tàu sử dụng lao động cưỡng bức so với các tàu bình thường khác?   Để lý giải điều này, trước hết chúng tôi xem xét 22 tàu từng sử dụng lao động cưỡng bức. Chúng tôi thu thập dữ liệu theo dõi vệ tinh hành trình của họ từ Global Fishing Watch – một tổ chức phi lợi nhuận sử dụng dữ liệu đánh bắt gần thời gian thực để thúc đẩy tính bền vững trên biển – và sử dụng dữ liệu đó để tìm điểm chung trong cách các tàu này hoạt động. Để có thêm thông tin về những gì cần lưu ý trong dữ liệu giám sát vệ tinh, chúng tôi đã gặp gỡ các nhóm nhân quyền, bao gồm Liberty Shared, Greenpeace và Quỹ Công lý Môi trường, để xác định trong số những hành vi này đâu là hành vi tiềm ẩn nguy cơ cưỡng bức lao động.   Danh sách hành vi đáng ngờ của một con tàu bao gồm những hành vi như dành nhiều thời gian ở vùng biển quốc tế, rời xa cảng hơn các tàu khác và đánh bắt nhiều giờ hơn mỗi ngày so với các tàu khác.   Vậy là chúng tôi đã biết rõ các hành vi ‘rủi ro’ báo hiệu khả năng sử dụng lao động cưỡng bức. Nhóm của chúng tôi, với sự trợ giúp của các nhà khoa học dữ liệu của Google, đã sử dụng các kỹ thuật máy học để tìm kiếm các mẫu hành vi tương tự trong hàng nghìn tàu khác.     Những chuyến đi xa, trong nhiều giờ và di chuyển quãng đường dài đều là những dấu hiệu cho thấy tàu đang sử dụng lao động cưỡng bức. Ảnh: AP Photo/Andrew Medichini  Con số quá lớn  Chúng tôi đã kiểm tra dữ liệu 16.000 tàu cá từ năm 2012 đến năm 2018. Trong số đó, từ 14% đến 26% tàu có hành vi đáng ngờ, cho thấy nhiều khả năng họ đang bóc lột lao động. Điều này có nghĩa là trong sáu năm đó, có thể đã có tới 100.000 người là nạn nhân của lao động cưỡng bức. Chúng tôi không rõ liệu những con tàu đó có còn hoạt động hay không. Nhưng theo Global Fishing Watch, tính đến năm 2018, có gần 13.000 tàu hoạt động trong các đội đánh cá bằng dây câu cá biển (rất dài lên tới vài dặm, có hàng trăm mồi câu và bắt tất cả các loại cá ở đại dương), lưới rà, máy câu mực.   Tàu dùng máy câu mực có tỷ lệ cao nhất trong số các tàu có hành vi cho thấy khả năng sử dụng lao động cưỡng bức, theo sau là các tàu đánh cá bằng dây câu cá biển, và ở mức độ thấp hơn là tàu dùng lưới rà.    Một phát hiện quan trọng khác trong nghiên cứu của chúng tôi là vi phạm lao động cưỡng bức có thể xảy ra ở tất cả các vùng biển lớn, cả ở hải phận quốc tế lẫn phạm vi quyền hạn quốc gia. Trong năm 2018, các tàu có rủi ro cao thường xuyên cập bến các cảng ở 79 quốc gia, trong đó chủ yếu ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Bên cạnh đó, các tàu khả nghi này cũng thường cập bến Canada, Hoa Kỳ, New Zealand và một số nước châu Âu. Các cảng này vừa nổi tiếng bởi nguồn lao động tiềm năng có thể khai thác, vừa là điểm trung chuyển hải sản đánh bắt bởi lao động cưỡng bức.   Hiện tại, mô hình của chúng tôi vẫn cần được thử nghiệm thêm trong thực tế. Bằng cách để mô hình đánh giá các tàu đã bị phát hiện sử dụng lao động cưỡng bức, nó đã đánh dấu các tàu đáng ngờ với độ chính xác lên tới 92%. Trong tương lai, nhóm chúng tôi hi vọng sẽ xác thực và cải thiện mô hình hơn nữa bằng cách thu thập thêm thông tin về các trường hợp lao động cưỡng bức đã phát hiện.   Biến dữ liệu thành hành động  Chúng tôi tin rằng phát hiện này có thể bổ sung thông tin cho những nỗ lực nhằm chống vi phạm nhân quyền hiện có, và thúc đẩy tính minh bạch của chuỗi cung ứng thủy sản. Khi chúng tôi nhận được thêm nhiều dữ liệu quan trọng và cải thiện độ chính xác của mô hình, chúng tôi hi vọng rằng nó có thể được sử dụng để giải phóng các nạn nhân của lao động cưỡng bức trong nghề đánh cá, cải thiện điều kiện làm việc và giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền từ sớm.   Chúng tôi hiện đang làm việc với Global Fishing Watch để xác định các cơ quan thực thi, các nhóm lao động có thể sử dụng kết quả này trong việc kiểm tra tàu. Những cuộc kiểm tra này không chỉ giúp bắt tội phạm, mà còn cung cấp thêm dữ liệu để đưa vào mô hình, cải thiện độ chính xác của nó.   *Tác giả là Gavin McDonald, nhà nghiên cứu lâu năm thuộc Đại học California tại Santa Barbara  Anh Thư dịch  Nguồn: Thousands of ocean fishing boats could be using forced labor – we used AI and satellite data to find them    Author                Gavin McDonald        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ cao trong thâm canh thanh long Chợ Gạo      Nhằm đưa khoa học công nghệ vào đời sống, tạo ra những vùng nông sản hàng hóa chất lượng cao đặc biệt là sản xuất và tiêu thụ thanh long Chợ Gạo – một trong bảy chủng loại trái cây đặc sản có lợi thế cạnh tranh của địa phương, trong giai đoạn 2014-2017, tỉnh Tiền Giang đầu tư 16 tỷ đồng triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao thâm canh 100ha thanh long Chợ Gạo.    Địa điểm chọn triển khai chương trình là vùng trồng thanh long tập trung ở xã Thanh Bình, Chợ Gạo, Tiền Giang. Mục tiêu cụ thể nhằm xây dựng các tổ hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP cho 100ha thanh long.  Sản phẩm trồng trên diện tích trên sẽ được ký hợp đồng tiêu thụ với giá cao hơn thị trường 10% cùng thời điểm, hỗ trợ xây dựng nhà sơ chế đóng gói theo tiêu chuẩn Global GAP và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Mỹ.  Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ mới được ứng dụng trong quá trình trồng và chăm sóc thanh long: công nghệ chiếu sáng bằng đèn Led tiết kiệm năng lượng, các giải pháp thâm canh tiên tiến, quảng bá nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm thanh long Chợ Gạo, hỗ trợ đăng ký bảo hộ quốc tế nhãn hiệu thanh long Chợ Gạo tại Mỹ và Trung Quốc.  Theo lộ trình từ nay đến năm 2017 kết thúc chương trình sẽ có 7 đề tài và 1 dự án được triển khai, trong đó có 3 đề tài đã bắt đầu thực hiện gồm: đề tài “Nghiên cứu xử lý cành thanh long thải bỏ bằng các chủng vi sinh vật có ích, kết hợp với phân chuồng để sản xuất phân hữu cơ sinh học,” đề tài “Nghiên cứu chế tạo một số công cụ tiên tiến ứng dụng trong kỹ thuật canh tác thanh long, giảm chi phí và lao động,” đề tài “Xây dựng tổ hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP cho 100 ha thanh long có thị trường tiêu thụ ổn định, giá cao hơn thị trường tại thời điểm 10%.”  Một số nội dung quan trọng đã được thực hiện như tập huấn tiêu chuẩn Global GAP cho 200 hộ trồng thanh long tại xã Thanh Bình, thành lập 10 tổ hợp tác liên kết sản xuất theo tiêu chí Global GAP.  Dự kiến vào quý 1/2015 sẽ tiến hành bước chọn tổ chức chứng nhận và triển khai thẩm định, đánh giá, chứng nhận Global GAP cho diện tích thanh long trong chương trình.  Tiền Giang hiện có khoảng 4.200ha thanh long, trong đó riêng huyện Chợ Gạo có gần 3.000ha.  Việc triển khai chương trình hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao thâm canh thanh long nhằm góp phần nâng chuỗi giá trị, gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu trên lộ trình hội nhập của cây thanh long Chợ Gạo trong tương lai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ CAS: Phụ thuộc vào doanh nghiệp      Bắt đầu có mặt tại Việt Nam từ năm 2013, công nghệ CAS (Cells Alive System – Hệ thống tế bào còn sống) là một trong những phương pháp bảo quản sau thu hoạch hiệu quả, hứa hẹn góp phần giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản, hải sản Việt Nam. Tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ CAS tại Việt Nam lại vấp phải rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vốn đầu tư.    Công nghệ chuyển giao từ Nhật Bản    Là sáng chế của ông Norio Owada, giám đốc công ty ABI (Chiba, Nhật Bản), công nghệ CAS hiện đã được công nhận ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Việt Nam là quốc gia thứ tám. Được ghi nhận là công nghệ làm lạnh tiên tiến, CAS có khả năng giữ cho màng và cấu trúc mỏng manh của tế bào các sản phẩm gần như nguyên vẹn trong thời gian dài (có thể kéo dài 10 năm, tùy theo mục đích bảo quản) cho nên sau khi rã đông, sản phẩm vẫn giữ được độ tươi ngon như mới thu hoạch. Vì vậy công nghệ CAS tạo ra các dòng sản phẩm ‘đông lạnh tươi’.    CAS khắc phục được hầu hết những nhược điểm của các phương pháp bảo quản thông dụng khác, ví dụ như sự biến tính sản phẩm ở phương pháp cấp đông, thời gian bảo quản ngắn ở phương pháp chiếu xạ, lượng chất bảo quản tồn dư trên sản phẩm, dễ ảnh hưởng đến sức khỏe cho người sử dụng như với phương pháp dùng hóa chất.     Công nghệ CAS phù hợp cho việc bảo quản các sản phẩm từ lĩnh vực y tế đến lĩnh vực nông sản, hải sản và thực phẩm… Nhờ vậy, công nghệ CAS đã vượt ra khỏi biên giới Nhật Bản, đem lại doanh thu hàng chục triệu đô la/năm cho công ty ABI với việc bán hàng chục dây chuyền thiết bị và công nghệ CAS. Nhà sáng chế Norio Owada cũng được biết đến với danh hiệu “Mr. Freeze” (ngài Đông lạnh)1.             Để có được một công thức bảo quản theo công  nghệ CAS chuẩn cho một loại sản phẩm, các nhà nghiên cứu phải mất ít  nhất ba tháng nghiên cứu thực nghiệm trên 30 đến 50 công thức thử  nghiệm.         Về nguyên lý hoạt động, công nghệ CAS là sự kết hợp hiệu quả giữa quá trình đông lạnh nhanh (từ -30 oC đến -60 oC) với dao động từ trường (trong quãng từ 50 Hz đến 5 MHz). Chỉ trong một thời gian cấp đông ngắn, tâm sản phẩm đã đạt tới mức -18 oC bằng quá trình nhiệt lạnh. Trong quá trình đông lạnh, dao động từ trường từ thiết bị CAS có khả năng ngăn nước tự do trong tế bào và nước liên kết trong các hợp chất sống như protein,… không bị đóng băng thành khối lớn mà chỉ tạo thành các hạt siêu nhỏ. Vì các hạt nước đá siêu nhỏ này không đủ sức phá vỡ màng tế bào nên cấu trúc tế bào vẫn được giữ nguyên vẹn, qua đó chất lượng, màu sắc, hương vị sản phẩm không bị biến đổi dù trải qua quãng thời gian bảo quản dài. Trên thực tế, sản phẩm có thể được bảo quản trong nhiều năm mà chất lượng không suy suyển.     Tính vượt trội của công nghệ CAS nằm ở hai modul trong dây chuyền thiết bị và công nghệ: một máy đông lạnh CAS (CAS Freezer) với bộ phận cấp đông nhanh và bộ phận sinh dao động từ trường, có khả năng đưa nhiệt độ xuống -60oC trong thời gian ngắn; và một kho lạnh có chức năng dao động điều hòa, đảm bảo phân phối nhiệt độ trong kho lạnh luôn ở mức -25oC để bảo quản sản phẩm. Tùy theo mục đích sử dụng mà CAS Freezer có những kiểu dáng và quy mô, công suất khác nhau. Đây là lý do để giá cả dây chuyền công nghệ CAS thường dao động trong quãng từ một đến ba triệu đô la.  Làm quen với CAS    Nhận thấy những tính năng vượt trội của CAS có thể đem đến cơ hội gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, thủy sản Việt Nam, Bộ KH&CN đã giao cho Viện Nghiên cứu & Phát triển Vùng (IRRD) tiếp nhận công nghệ, sau đó là đầu mối chuyển giao CAS cho các nhà sản xuất trong nước có nhu cầu.    Trên cơ sở đó, Phòng thí nghiệm công nghệ CAS đi vào hoạt động từ tháng 6/2013 với nhiệm vụ đầu tiên là tiếp nhận công nghệ. Theo PGS. TS Trần Ngọc Lân, trước một công nghệ còn tương đối mới và liên quan đến nhiều lĩnh vực kỹ thuật như nhiệt lạnh, từ trường, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, các cán bộ của IRRD đã phải nỗ lực học hỏi dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia ABI về cách thức quản lý công nghệ CAS, cách thức vận hành máy thiết bị, khắc phục một số sự cố thông thường, khả năng ứng dụng trên một số sản phẩm. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những kiến thức cơ bản bởi việc ứng dụng trên các sản phẩm nông sản, hải sản Việt Nam lại có những yêu cầu khác biệt do bản chất sinh học của từng loại sản phẩm không giống nhau. “Vì vậy, chúng tôi không thể áp dụng nguyên quy trình và công thức trên các loại hải sản, trái cây của Nhật Bản mà ABI chuyển giao. Với mỗi đối tượng sản phẩm, chúng tôi phải tự nghiên cứu tìm công thức riêng biệt, thể hiện ở sáu yếu tố cơ bản: nhiệt độ cấp đông, lượng gió cấp đông, nhiệt độ bảo quản lạnh, lượng gió bảo quản lạnh, thời gian cấp đông, và khoảng dao động từ trường”, ông Lân cho biết. Để có được một công thức chuẩn cho một loại sản phẩm, các nhà nghiên cứu phải mất ít nhất ba tháng nghiên cứu thực nghiệm trên 30 đến 50 công thức thử nghiệm. Tất cả các công thức thử nghiệm đều được định kỳ kiểm tra thời gian bảo quản (một tháng một lần), sản phẩm thử nghiệm được phân tích các chỉ tiêu ở bốn nhóm: chỉ tiêu cấu tạo mô tế bào, chỉ tiêu hóa sinh, chỉ tiêu vi sinh, chỉ tiêu cảm quan. Trên cơ sở đó, các công thức đông lạnh CAS thích hợp được xác định cho mỗi loại sản phẩm.    Hiện tại, Phòng thí nghiệm công nghệ CAS đã làm chủ được quy trình và công thức ứng dụng CAS bảo quản sản phẩm hải sản như cá ngừ đại dương (dạng phi lê), tôm sú và trái cây nhiệt đới như vải thiều. Năm 2014, chuyến tàu đầu tiên chở 10 tấn vải thiều Bắc Giang được đông lạnh CAS đã cập bến Nhật Bản và ngay lập tức, nhận được sự chào đón của người tiêu dùng nước này. PGS. TS Trần Ngọc Lân cho biết, giá vải thiều đông lạnh CAS trên đất Nhật Bản được người tiêu dùng chấp nhận ở mức 350 đến 400.000 đồng/kg. Quả vải thiều Việt Nam được giá trên đất Nhật không chỉ vì hương vị, màu sắc vượt trội so với quả vải Trung Quốc mà còn bởi được “bảo hành” bằng chính công nghệ Nhật. Thành công bước đầu đã gợi mở một hướng đi thuận lợi cho trái cây, hải sản Việt Nam đến với thị trường chuộng các loại thực phẩm tươi sống như Nhật Bản.    Không dễ mở rộng mô hình ứng dụng    Với những ưu điểm vượt trội, CAS có khả năng gạt đi mối lo “được mùa mất giá” cho người nông dân Việt Nam, giúp nhà sản xuất lưu trữ sản phẩm trong kho để sẵn sàng tung ra thị trường khi được giá bán hàng trái vụ cũng như có thể góp phần đưa nông sản, hải sản Việt Nam đến các thị trường cao cấp như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu. Theo tính toán của các chuyên gia IRRD, cũng như với nhiều loại mặt hàng khác, việc xuất hàng nông sản, hải sản khối lượng lớn tới các thị trường này chủ yếu bằng đường biển, chi phí nhờ đó thấp hơn rất nhiều so với cách vận chuyển bằng đường hàng không, hoặc đường bộ như với thị trường Trung Quốc.            “Dù chúng tôi sẵn sàng chuyển giao công nghệ, công thức bảo quản sản phẩm cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu nhưng quả thật có quá ít doanh nghiệp mặn mà với CAS. Không phải họ không thích công nghệ mới mà là còn e ngại về khả năng hồi vốn” .   (PGS. TS Trần Ngọc Lân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng)           Tuy vậy, việc mở rộng mô hình ứng dụng công nghệ CAS ở Việt Nam cần sự quyết tâm của doanh nghiệp. “Dù chúng tôi sẵn sàng chuyển giao công nghệ, công thức bảo quản sản phẩm cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu nhưng quả thật có quá ít doanh nghiệp mặn mà với CAS”, PGS. TS Trần Ngọc Lân cho biết. “Không phải họ không thích công nghệ mới mà là còn e ngại về khả năng hồi vốn”. Với giá cả từ một đến ba triệu đô la, hệ thống thiết bị CAS chỉ phù hợp với các doanh nghiệp tầm trung trở lên, đủ tiềm lực đầu tư vào một dây chuyền công nghệ mà phải mất ít nhất ba năm mới có cơ hội hòa vốn. Vì vậy, đến thời điểm này mới chỉ có hai đơn vị thực sự quan tâm đến CAS, như công ty cổ phần Bá Hải (tỉnh Phú Yên) và HTX Bình Minh (tỉnh Bắc Giang). IRRD và công ty ABI đã làm việc với công ty Bá Hải và thống nhất: IRRD sẽ chuyển giao công nghệ, ABI cung cấp thiết bị. Hợp đồng hiện vẫn chưa được ký kết bởi bế tắc về vốn đầu tư.     Để giải quyết vấn đề giá thành, theo PGS. TS Trần Ngọc Lân, làm chủ công nghệ thôi chưa đủ, chúng ta cần nội địa hóa một phần thiết bị. Thông qua việc nghiên cứu giải mã công nghệ, chúng ta có thể tự thiết kế, chế tạo ra một số thành phần của dây chuyền công nghệ như bộ phận cấp đông, kho bảo quản lạnh với dao động điều hòa. Nếu làm tốt được vấn đề này thì giá thành thiết bị CAS có thể giảm xuống một nửa.     Muốn khuyến khích các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản, hải sản Việt Nam ứng dụng công nghệ CAS, cần phải có quan tâm đầu tư của Nhà nước về chính sách nhằm đảm bảo được sự đồng bộ trong chuỗi giá trị sản phẩm. Trước hết, đó là thủ tục pháp lý xuất – nhập nông sản, hải sản, hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp để họ có thể đổi mới công nghệ, đảm bảo quá trình sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm được thuận lợi. Điều đó đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan: Bộ Nông nghiệp và PTNT giải quyết vấn đề đầu vào thông qua giống, phương thức nuôi trồng, thu hoạch sơ chế để đảm bảo nguồn nguyên liệu an toàn và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế như tiêu chuẩn GlobalGAP; Bộ KH&CN chịu trách nhiệm về công nghệ CAS và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp; Bộ Công Thương tiến hành đàm phán, tìm thị trường chấp nhận các sản phẩm nông sản, hải sản Việt Nam sử dụng công nghệ CAS… Đây sẽ là cách thức để nâng cao giá trị mặt hàng nông sản, hải sản Việt Nam lâu dài trên thị trường quốc tế.      ————    1 http://www.forbes.com/forbes/2008/0602/076.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen để làm tăng hàm lượng đường và các axit amin của cà chua      Cà chua là một trong những cây rau phổ biến và được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Các nghiên cứu gần đây đang tập trung cải thiện các đặc tính quan trọng của cây cà chua bao gồm: hình thái, năng suất, tính kháng bệnh, khả năng chống chịu các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, thời hạn lưu giữ sau thu hoạch, và chất lượng quả. Trong đó, việc cải thiện chất lượng quả gặp nhiều thách thức hơn do sự phức tạp của các yếu tố di truyền và sinh hóa liên quan tới tính trạng này.    “Phần lớn các giống cà chua trên thế giới cũng như ở Việt Nam được chọn lọc theo hướng phục vụ tiêu thụ lớn và sản xuất công nghiệp với đặc điểm sinh trưởng nhanh, quả to, năng suất cao… nhưng ít được quan tâm tới hương vị,” theo TS Đỗ Tiến Phát – Trưởng phòng Công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Công nghệ sinh học. “Gần đây, các nhà khoa học nhận thấy có thể dùng công nghệ gen và chỉnh sửa gen để tăng hương vị và giá trị dinh dưỡng của quả cà chua. Một ví dụ điển hình là GABA, cà chua chỉnh sửa gen của Nhật Bản, có khả năng hỗ trợ giảm căng thẳng và hạ huyết áp. Đây cũng là một trong những loại cây chỉnh sửa gen đầu tiên được thương mại hóa trên thế giới. Trong nghiên cứu của mình, nhóm chúng tôi hướng tới tăng hàm lượng đường, giúp cho quả cà chua có vị tốt hơn và tăng hàm lượng các axit amin có lợi cho sức khỏe.”    Cụ thể, nhóm nghiên cứu do TS Phát đứng đầu đã phát triển một hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 mang hai trình tự định hướng để tạo ra các đột biến có mục tiêu trong các vùng trình tự phía trước (uORF) của gen SlbZIP1 liên quan đến quá trình sinh tổng hợp đường và axit amin ở cây cà chua.        “Để nghiên cứu vừa có tính khoa học, vừa có tính ứng dụng, chúng tôi chọn đối tượng thực hiện chỉnh sửa là giống cà chua PT18 của Việt Nam. Đây là giống cà chua thuần và được trồng khá phổ biến trước đây,” TS Phát cho biết thêm.    Kết quả phân tích thành phần quả của các dòng cây được chỉnh sửa gen cho thấy sự tăng lên đáng kể hàm lượng đường và axit amin tổng số.    Đáng chú ý, các dòng cà chua đột biến SlbZIP1-uORF mang các đặc tính mong muốn như hàm lượng đường và axit amin cao hơn cây đối chứng (không chỉnh sửa), nhưng không ảnh hưởng xấu đến kiểu hình cũng như khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trong điều kiện phân tích tại phòng thí nghiệm, buồng sinh trưởng. Ngoài ra, các đột biến trong vùng SlbZIP1-uORF được xác định ở thế hệ T0 đã được di truyền ổn định cho thế hệ tiếp theo và không mang theo các đột biến ngoài mục tiêu.    Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng của hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 trong việc cải thiện chất lượng quả cà chua nói riêng và mở rộng ra các loại cây trồng quan trọng khác. Nghiên cứu đã được công bố trên Planta, một tạp chí uy tín về công nghệ sinh học thực vật, thuộc nhóm Q1 ISI.    Được biết, Viện Công nghệ sinh học là một trong những đơn vị tiên phong tiếp cận và phát triển công nghệ chỉnh sửa gen thông qua hệ thống CRISPR/Cas ở Việt Nam. Viện đã hoàn toàn làm chủ công nghệ này và có những thành tựu trong ứng dụng hệ thống CRISPR/Cas9 để cải tạo một số giống cây trồng như thuốc lá, đu đủ, dưa chuột, đậu tương và cà chua.    Thu Trang    Author                .        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất bột giấy      Nhằm đánh giá khả năng sản xuất bột giấy  sinh học của một số chủng enzyme được phân lập và nuôi cấy trong nước,  Công ty TNHH Viện Công nghệ giấy và Xenluylô đã tiến hành một số thí  nghiệm xử lý nguyên liệu bằng chế phẩm enzyme.     Sản xuất bột giấy bằng phương pháp sinh học là quá trình sử dụng các loại vi sinh vật để xử lý nguyên liệu thực vật, phân hủy lignin và các chất vô cơ để thu được xơ sợi xenluylô.   Theo kỹ sư Lương Thị Hồng, Công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô, trong quá trình sản xuất bột giấy hiện nay ở Việt Nam, để phá vỡ cấu trúc của gỗ, giải phóng các xơ sợi, các phương pháp cơ học và hóa học được áp dụng phổ biến hơn cả. Tuy phương pháp hóa học cho bột giấy có độ bền cao nhưng hiệu suất thấp và đặc biệt là phát thải vào môi trường một lượng lớn các chất gây ô nhiễm. Phương pháp thu bột giấy bằng cơ học thì cho hiệu suất cao nhưng độ bền của giấy lại thấp và tiêu hao nhiều năng lượng.    Mới đây, Công ty TNHH Viện Công nghệ giấy và Xenluylô đã tiến hành một số thí nghiệm xử lý nguyên liệu bằng chế phẩm enzyme được phân lập và nuôi cấy trong nước.   Nguyên liệu dùng để nghiên cứu là bột giấy hóa – cơ chưa tẩy trắng từ gỗ keo lai được sản xuất tại xưởng thực nghiệm của Công ty và rơm rạ lúa nếp thu hoạch vào vụ mùa năm 2013.  Kỹ sư Lương Thị Hồng cho biết, các kết quả thí nghiệm mang tính thăm dò sơ bộ bước đầu nhưng đã cho tín hiệu khả quan đối với việc ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất bột giấy, đặc biệt là từ nguyên liệu phi gỗ.  Viện cũng tiến hành phân tích bột giấy sinh học và bột giấy sinh học tẩy trắng từ cỏ Long Tu – Trung Quốc. Kết quả cho thấy, bột giấy sinh học từ cỏ Long Tu có thể sử dụng để sản xuất các loại bao bì công nghiệp như giấy làm lớp sóng, lớp đế của các-tông lớp mặt; bột giấy sinh học tẩy trắng từ cỏ Long Tu có thể sử dụng cho sản xuất giấy in và giấy viết.  Ông Nguyễn Văn Liễu, Vụ trưởng KHCN và Các ngành kinh tế kỹ thuật, Bộ KH&CN, khẳng định: “Sản xuất bột giấy ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên công nghệ hóa học, hiệu suất còn thấp và khả năng gây ô nhiễm môi trường còn rất cao. Do đó việc tìm ra phương pháp sản xuất bột giấy hiệu quả kinh tế và môi trường cao đã và đang trở thành nhu cầu bức thiết.”  Cũng theo ông Liễu, năm 2013, đoàn cán bộ của Bộ KH&CN đã có chuyến khảo sát công nghệ sản xuất bột giấy bằng công nghệ sinh học tại một số công ty ở Bắc Kinh và Vũ Hán – Trung Quốc. Thực tế cho thấy, sản xuất bột giấy được ứng dụng công nghệ sinh học cho hiệu quả kinh tế và môi trường cao hơn hẳn các công nghệ thông thường. Tại Trung Quốc, bột giấy cao cấp giấy đã được sản xuất bằng công nghệ sinh học. Với ngành sản xuất bột giấy tại Việt Nam nếu được ứng dụng công nghệ sinh học thì sẽ mang lại lợi ích lớn về cả kinh tế và môi trường.  GS. Trương Kiện, Tổng giám đốc, Tổng công trình sư Công ty TNHH Công nghệ Tiền Đạo – người đã thành công trong việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất bột giấy tại Trung Quốc – cho biết, làm bột giấy từ rơm rạ theo phương pháp truyền thống không những gây ô nhiễm môi trường mà còn làm tiêu hao lượng lớn tài nguyên như nước, điện, than. Trong khi đó phương pháp sản xuất bột giấy bằng phương pháp sinh học có thể tiết kiệm lượng lớn năng lượng, quá trình xử lý chất thải, giá thành sản xuất thấp hơn nhiều so với công nghệ làm bột giấy bằng phương pháp truyền thống. Sản xuất bột giấy bằng phương pháp sinh học còn tạo công ăn việc làm cho nhiều nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn một cách bền vững.  Hàng năm, nước ta tiêu thụ một số lượng lớn bột giấy để sản xuất giấy thành phẩm nhưng sản xuất bột giấy trong nước chỉ đáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu. Hiện cả nước còn khoảng 35% doanh nghiệp sản xuất giấy nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và nước, gây ô nhiễm môi trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ sử dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành du lịch      Startup Lola, với sự hỗ trợ của phần mềm trí tuệ nhân tạo, sẽ giúp người dùng ứng dụng thực hiện từng bước của một chuyến du lịch, từ lập kế hoạch cho tới đặt các nhà hàng cho mỗi hành trình du lịch.      Thời gian qua, một số website cung cấp thông tin đã cho phép du khách tự đặt phòng khách sạn, nhà hàng… cho chuyến du lịch của mình mà không cần thông qua đại lý du lịch. Thậm chí, các website về du lịch còn cung cấp quá nhiều thông tin cho du khách lựa chọn. Họ sẽ phải tự cân nhắc, ví dụ như: có nên lựa chọn chuyến bay giá rẻ hay một chuyến bay có thời gian linh hoạt và thuận tiện hơn? Làm sao để biết khách sạn đó tốt thực sự hay không – nó được đánh giá tốt (review) trên các website hay đã tự bỏ tiền ra để mua xếp hạng (ranking)?  Giờ đây, một số người đang tìm cách giải quyết vấn đề có quá nhiều thông tin khiến du khách khó lựa chọn này. Paul English, đồng sáng lập và cựu giám đốc công nghệ của trang web đặt phòng Kayak.com, đã đồng sáng lập một startup du lịch mới được gọi là Lola. Startup Lola này, với sự hỗ trợ của phần mềm trí tuệ nhân tạo, cung cấp quyền truy cập vào một nhóm các đại lý du lịch. Và các đại lý trong hệ thống của Lola sẽ giúp người dùng ứng dụng thực hiện từng bước của một chuyến du lịch, từ lập kế hoạch cho tới đặt các nhà hàng cho mỗi chuyến đi.  Hai sáng kiến nằm ở cốt lõi của phương pháp tiếp cận của Lola.   Đầu tiên là một ứng dụng iPhone với giao diện giống như nhắn tin (ngoài ra Lola chỉ có ứng dụng cho Android, không có ứng dụng dành cho máy tính để bàn). Thay vì phải gọi điện đến các đại lý du lịch, người dùng chỉ việc trò chuyện (chat) với họ qua các ứng dụng này. Cách làm này gợi nhớ tới phương pháp của Uber trong cung cấp dịch vụ taxi.  Thứ hai là một hệ thống được cải tiến dành cho các đại lý: phần mềm A.I. của Lola có thể theo dõi các sở thích của người dùng, giúp nhân viên của Lola đưa ra các gợi ý du lịch tốt hơn cho khách hàng. Lola đã dựa vào phần mềm trí tuệ nhân tạo để giúp các đại lý du lịch trong hệ thống của Lola đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho mỗi người dùng. Nếu phần mềm A.I. phát triển theo cách mà Lola đang làm hiện nay, có thể dễ dàng nhìn thấy tương lai, trong đó các phần mềm chứ không phải con người sẽ tiến hành hầu hết các chức năng đặt hàng du lịch (booking).  Đi theo hướng này, Lola giống như Uber khi đang nỗ lực đầu tư mạnh vào công nghệ xe tự lái. Tuy nhiên, theo Paul English, “sẽ thật khủng khiếp nếu phần mềm A.I. bị lỗi”, vì vậy “hiện nay vai trò của nguồn nhân lực trong liên lạc giữa người sử dụng ứng dụng Lola với các đại lý vẫn rất cần thiết”.  Thu Quỳnh lược dịch  http://time.com/4336872/lola-travel-agents-app/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng công nghệ  tạo mẫu nhanh trong y tế      Không còn mới mẻ trên thế giới nhưng việc ứng dụng công nghệ tạo mẫu nhanh trong y tế mới được triển khai một cách dè dặt ở Việt Nam thông qua sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu Học viện Kỹ thuật quân sự, Viện Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia Hà Nội) và các bác sỹ bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khi cùng thực hiện một phần dự án “Nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam trong thiết kế và phát triển sản phẩm, sáng tạo và khởi nghiệp” (HAPIE) do Hội đồng Anh tài trợ. Dự án đã góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về kỹ thuật y sinh tại Việt Nam.      PGS. TS Trần Đức Tăng giới thiệu về ứng dụng công nghệ tạo mẫu nhanh tại tọa đàm “Nâng cao cơ hội việc làm cho sinh viên KH&CN”. Ảnh: Thu Quỳnh.   Tại tọa đàm “Nâng cao cơ hội việc làm cho sinh viên KH&CN” do tạp chí Tia Sáng và một số nhà nghiên cứu thuộc các trường đại học, công ty công nghệ phối hợp tổ chức vào tháng 4/2017, PGS. TS Trần Đức Tăng (Trưởng Trung tâm Công nghệ, Học viện Kỹ thuật quân sự) giải thích vì sao có sự kết hợp của cơ học điện tử và y học: “Công nghệ thông tin là cầu nối cơ học điện tử, lĩnh vực sử dụng nhiều ứng dụng phần mềm trong thiết kế mẫu, điều khiển máy móc, với ngành y, vốn được trang bị nhiều máy móc hiện đại như máy chụp cắt lớp CT, máy cộng hưởng từ MRI… nên có nhiều dữ liệu hình ảnh, số liệu. Dựa trên những dữ liệu này, các nhà nghiên cứu dùng các công nghệ phần mềm tạo mẫu nhanh của ngành cơ điện tử để mô hình hóa những chi tiết, bộ phận cần được cấy ghép, sau đó ‘chế tạo’ chúng trên máy in 3 D chuyên dụng. Áp dụng quy trình kỹ thuật này sẽ tạo ra rất nhiều tiềm năng ứng dụng cho y học Việt Nam”.  Việc đưa những công nghệ phần mềm của cơ điện tử vào ứng dụng trong y tế có khó thực hiện? TS. Lê Hoài Châu, nhà nghiên cứu và sáng lập BM Research&Development, một startup chuyên cung cấp các dịch vụ về kết cấu tối ưu chịu lực cho nhiều hãng ô tô, cơ khí của Mỹ, giải thích, “việc dùng các thuật toán để tính toán và dùng các phần mềm chuyên dụng của cơ điện tử vào y sinh để mô hình hóa hình ảnh cũng không quá phức tạp. Nhìn chung, phương pháp thực hiện và phân tích tối ưu ở cả hai lĩnh vực này đều giống nhau, sự khác biệt chỉ là cần biến đổi giao diện đồ họa cho phù hợp với yêu cầu chuyên môn từng lĩnh vực”. Trên cơ sở kinh nghiệm đúc rút từ thực tế, PGS. TS Trần Đức Tăng nhấn mạnh, “nhà nghiên cứu phải biết kết hợp nhiều công cụ phần mềm trong quá trình xử lý hình ảnh dữ liệu, sử dụng nó một cách thuần thục để chuyển các hình ảnh dữ liệu thành mô hình có kích thước, hình dáng sát với thực tế và ít sai số”.     Chính vì thấy cơ hội ứng dụng của cơ điện tử trong y sinh, PGS. TS Trần Đức Tăng đã cùng đồng nghiệp thực hiện đề tài nhánh “Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tạo mẫu nhanh trong y tế” của HAPIE, dự án quy tụ các nhà nghiên cứu thuộc năm trường đại học Anh và hơn 10 trường đại học, công ty khởi nghiệp Việt Nam, thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng 5/2017.  Những hiểu biết về công cụ phần mềm tích lũy trong nhiều năm đã được PGS. TS Trần Đức Tăng và đồng nghiệp xử lý các dữ liệu hình ảnh và thông số kỹ thuật chụp cắt lớp CT và cộng hưởng từ MRI của ba bệnh nhân Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 bị khuyết thiếu xương hàm dưới và xương hốc mắt trên thành các định dạng tương thích. Với sự hỗ trợ của Phạm Bá Mấy (Viện Công nghệ thông tin, ĐH Quốc gia Hà Nội), tuy đang làm nghiên cứu sinh về kỹ thuật y sinh với TS. Lê Chí Hiếu nhưng đã có khá nhiều kinh nghiệm xây dựng phần mềm các bộ phận cơ thể con người để ứng dụng trong pháp y, họ đã mô hình hóa các bộ phận khuyết thiếu này dưới dạng hình ảnh ba chiều và in mẫu thử bằng nhựa trên máy in 3 D của Học viện Kỹ thuật quân sự.  Trong vòng một năm, ba trường hợp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã được mổ và thay thế bộ phận khiếm khuyết, “đó là số ít ca đầu tiên ở Việt Nam được triển khai bằng công nghệ mới”, bác sỹ Vũ Ngọc Lâm (Khoa Phẫu thuật hàm mặt và tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), người phụ trách ba ca mổ này, cho biết.  Kết hợp giữa cơ điện tử và y học  Theo PGS. TS Trần Đức Tăng, cách đây 15 năm, anh vẫn còn tập trung vào các công nghệ CAD, CAE, CAM, RE, RP để thiết kế, chế tạo khuôn mẫu các bộ phận máy móc, sản phẩm cơ khí và chưa mấy quan tâm đến việc ứng dụng các kỹ thuật phần mềm cơ điện tử vào y tế, dù TS. Lê Chí Hiếu, người bạn cùng thầy hướng dẫn của anh ở Học viện Công nghệ châu Á (Thái Lan) đã theo đuổi hướng nghiên cứu này.  Khoảng năm năm trở lại, trong quá trình nghiên cứu và trao đổi với TS. Lê Chí Hiếu, hiện làm việc tại trường Đại học Greenwich (Anh), anh mới hướng dần quan tâm tới lĩnh vực ứng dụng này từ đó. “Tôi đã gửi hồ sơ đề xuất tới Quỹ Nafosted, ‘Xây dựng thuật toán xác định và tránh va chạm cho máy CNC năm trục theo hướng tiếp cận đa mục tiêu’ để có thể điều khiển năm trục của máy CNC trong cùng một thời gian, qua đó gia công được những chi tiết có hình dạng phức tạp, vốn được dùng cho nhiều mục đích khác nhau”, PGS. TS Tăng cho biết.    Mô hình xương hốc mắt trên bằng nhựa được in 3 D. Ảnh: NVCC.  Thực hiện từ năm 2011 đến 2015, tuy đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ không liên quan trực tiếp đến y sinh nhưng cũng giúp anh rất nhiều trong việc mô hình hóa những chi tiết phức tạp, tinh tế như những bộ phận cơ thể người và nhất là “mở rộng quan điểm ứng dụng công nghệ vào những địa hạt mới mẻ”, anh chia sẻ với phóng viên Tia Sáng.  Trong buổi báo cáo kết quả nghiên cứu đầu tiên tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vào năm 2016, bác sỹ Vũ Ngọc Lâm bất ngờ trước khả năng “vô tiền khoáng hậu” mà công nghệ tạo mẫu nhanh mang lại. Thay vì chỉ nhìn thấy hình ảnh hai chiều được chụp cắt lớp trên giấy như trước, nay họ có thể chạm vào bộ phận cơ thể bị khuyết thiếu như xương hàm có hình dáng “chính xác đến ngạc nhiên” so với thực tế. Không chỉ dừng ở đây, mô hình sản phẩm còn giúp họ chuẩn bị tốt cho các ca cấy ghép thông qua việc lập kế hoạch tiền phẫu thuật: xác định các bước phẫu thuật như cắt ghép chính xác ở vị trí nào, đường cắt như ra sao, trực quan hình dáng, kích thước của bộ phận ghép. Bác sỹ Vũ Ngọc Lâm chia sẻ niềm vui với PGS. TS Trần Đức Tăng, “mừng quá Tăng ơi, chỉ hơi tiếc là bây giờ bọn anh mới biết công nghệ này”.  Không làm trong ngành y nên lúc đó PGS. TS Trần Đức Tăng vẫn chưa hiểu hết niềm vui của bác sỹ Lâm. Chỉ sau khi chứng kiến cả ba ca ghép thành công, anh mới thấy hết giá trị mà ứng dụng công nghệ tạo mẫu nhanh đưa lại: nghiên cứu mô hình 3 D giúp các bác sỹ thành thục các động tác và các bước phẫu thuật, thậm chí dự đoán một số tình huống có thể xảy ra, qua đó giảm thời gian phẫu thuật và gia tăng độ thành công của ca mổ.  Xây dựng mạng lưới các nhà nghiên cứu kỹ thuật y sinh  Vào đầu tháng 6/2017, PGS. TS Trần Đức Tăng và cộng sự sẽ có cơ hội báo cáo về ba trường hợp thành công này tại phiên họp tổng kết dự án HAPIE. Tuy có thể mãn nguyện phần nào về kết quả sau một năm triển khai nhưng PGS. TS Trần Đức Tăng vẫn chưa hết suy tư, “vì thấy vẫn có khả năng làm tốt hơn nữa. Hiện nay mình mới chỉ thực hiện được giai đoạn đầu, tức là thiết kế và mô hình hóa để làm ra mẫu thử bằng nhựa, còn công đoạn quan trọng tiếp theo là in sản phẩm trên máy in 3 D chuyên dụng bằng các vật liệu nhân tạo có phủ một loại vật liệu sinh học có khả năng tương thích với cơ thể con người để cấy ghép thì vẫn chưa làm được”. Hiện nay, các bác sỹ vẫn phải thực hiện thêm ít nhất một ca phẫu thuật khác để lấy xương, ví dụ như xương mác, và ghép tự thân cho bệnh nhân.  Nguyên nhân chính là “Việt Nam chưa có máy in 3 D chuyên dụng nên nếu có nhu cầu sẽ phải đặt hàng ở nước ngoài với giá thành rất cao, chưa bệnh nhân nào dám bỏ tiền chi trả”, PGS. TS  Trần Đức Tăng cho biết. Vì thế, mơ ước hiện tại của những nhà nghiên cứu là có đủ kinh phí mua một chiếc máy chuyên dụng để có thể chủ động thực hiện các ca cấy ghép hoàn toàn theo công nghệ mới, “lúc đó chỉ cần mổ và lắp đúng phần khuyết thiếu vào, thế là xong” như lời bộc bạch của PGS. TS Trần Đức Tăng. Để hoàn thành theo phương thức hoàn chỉnh “thế là xong” như vậy thì cần tới trên 20 tỷ đồng cho một cỗ máy, khoản đầu tư lớn vào một hướng ứng dụng còn quá mới ở Việt Nam cũng như sự đồng ý cấp phép của Bộ Y tế “vì không thể cứ in 3 D ra cái gì là có thể tự do cấy ghép”, anh cho biết.  Việc triển khai đề tài đã tạo điều kiện cho PGS. TS Trần Đức Tăng quy tụ một mạng lưới “anh em” nòng cốt, những nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực cơ điện tử, công nghệ thông tin, y sinh… có khả năng hỗ trợ nhau rất tốt trong công việc, và cơ hội “móc nối” với những nhà nghiên cứu khác để mở rộng mạng lưới. Theo PGT. TS Trần Đức Tăng, “muốn phát triển hướng mới như thế này, chúng tôi cần nhân rộng số người biết sử dụng các công cụ phần mềm chuyên biệt, nghĩa là trước khi thuyết phục được lãnh đạo đầu tư kinh phí, cần tập hợp được nhân lực”.  Sự cẩn trọng này không thừa. Cách đây 15 năm, TS. Lê Chí Hiếu là người đi tiên phong ở Việt Nam với đề tài về ứng dụng thiết kế, chế tạo mảnh sọ ghép. Đề tài thành công, hứa hẹn hướng đi tiềm năng nhưng lại bị bỏ lửng vì không có ai tiếp nối sau khi TS. Lê Chí Hiếu ra nước ngoài làm việc.  Vì vậy, PGS. TS Trần Đức Tăng đang chuẩn bị cho kế hoạch kết nối với những nhà nghiên cứu ở một số trường đại học, bệnh viện trong và ngoài quân đội với mục tiêu anh chia sẻ với Tia Sáng, “ít nhất thì việc ứng dụng công nghệ tạo mẫu nhanh sẽ giúp ích cho công tác giảng dạy ở các trường đại học y cũng như hỗ trợ công việc hằng ngày của các bác sỹ phẫu thuật chỉnh hình, thẩm mỹ…”.  Việc đầu tư và phát triển theo xu hướng in 3 D tái tạo một số bộ phận cơ thể con người tại Việt Nam cũng cần cân nhắc, xem xét cụ thể nhu cầu cũng như một số quy định về y đức. Về mặt công nghệ, nếu có nhu cầu thực tế thì các nhà nghiên cứu trong nước có thể làm được các sản phẩm chất lượng theo yêu cầu vì tính toán và thiết kế phần mềm để tạo ra kết cấu tối ưu không khó. Nếu thực hiện, chúng ta nên tính đến khả năng tự chủ về vật liệu, yếu tố rất quan trọng, đòi hỏi sự tương thích của vật cấy ghép với cơ thể con người. (TS. Lê Hoài Châu)       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Ứng dụng Công nghệ xanh hữu dụng: Sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa      Nếu coi một đề tài quy tụ cả nhà nghiên cứu và nhà sản xuất hợp tác cùng tạo ra một công nghệ xanh hữu dụng, nhiều tiềm năng đem lại những sản phẩm giá trị cho thị trường là thành công thì “Ứng dụng công nghệ chiếu xạ trong sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo dùng làm chất xơ thực phẩm” (KC.05.20/16-20) là một đề tài như vậy.    Xuất phát từ suy nghĩ phải tìm cách bổ sung chất xơ như maltodextrin kháng tiêu hóa – một chất xơ hòa tan dạng bột thường dùng làm phụ gia trong nhiều loại thực phẩm vào các sản phẩm ăn liền, để đem lại giá trị dinh dưỡng mới cho nó, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm, Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (Bộ NN&PTNT) các cộng sự đã quyết định đề xuất đề tài “Ứng dụng công nghệ chiếu xạ trong sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo dùng làm chất xơ thực phẩm” (KC.05.20/16-20).  Chưa cần hình dung ra những ứng dụng sâu xa của maltodextrin kháng tiêu hóa, chúng ta chỉ cần nhìn vào mì tôm, một thực phẩm cứu trợ đắc lực nhất trong những ngày mưa lũ tràn vào miền Trung hay những đợt giãn cách xã hội dài ngày do dịch COVID-19 ở Việt Nam. Mặc dù giúp no bụng song mì ăn liền có một nhược điểm là “nghèo” dinh dưỡng, nếu ăn nhiều thường gây ra cảm giác “xót ruột”. “Nếu có thể bổ sung chất xơ như maltodextrin kháng tiêu hóa vào mì tôm thì sẽ góp phần giải quyết vấn đề này, nhất là ở những vùng xảy ra thiên tai, dịch họa cũng khó mua rau”, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm nhận xét.    Hệ thiết bị sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa do nhóm nghiên cứu phát triển. Nguồn: vinatom  Tuy nhiên tác dụng của maltodextrin kháng tiêu hóa không chỉ có vậy. “Nó là chất xơ, không phải xơ dai bã như trong rau mà là chất xơ hòa tan trong nước, vừa giúp tiêu hóa dễ dàng hơn, vừa có khả năng giảm thiểu hấp thụ đường và cholesterol trong cơ thể, đồng thời hỗ trợ sự phát triển của các lợi khuẩn trong đường ruột. Maltodextrin kháng tiêu hóa không chứa nhiều calo nên rất phù hợp với những người ăn kiêng, bị tiểu đường hoặc béo phì”, ông giải thích về tiềm năng ứng dụng gợi mở trên rất nhiều sản phẩm khác nhau trong tương lai của chất liệu này.  Dù rất hứa hẹn nhưng ở Việt Nam chưa có nhiều người quan tâm đến việc nghiên cứu và sản xuất loại chất xơ hòa tan này. “Một số nơi đã nghiên cứu tinh bột kháng để làm chất xơ, nhưng mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa nơi nào có triển khai sản xuất thử nghiệm và đặt vấn đề thương mại. Trong khi đó, Việt Nam vẫn đang nhập khẩu sản phẩm này”, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm cho biết.  Vì vậy, đề tài này của ông và cộng sự hướng đến ba mục tiêu, “thứ nhất là xây dựng quy trình sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa có ứng dụng công nghệ chiếu xạ. Thứ hai là thiết kế, chế tạo hệ thiết bị quy mô sản xuất thử nghiệm với với công suất 50kg/mẻ, và cuối cùng là đưa sản phẩm vào ứng dụng để chế biến một loạt thực phẩm giàu chất xơ”.  Cải tiến quy trình sản xuất bằng bức xạ gamma  Việc ứng dụng công nghệ chiếu xạ trong thực phẩm ngày càng phổ biến trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đa phần mọi người quen thuộc với chức năng chiếu xạ nhằm tiêu diệt các vi sinh vật bị nhiễm trong thực phẩm, giúp bảo đảm an toàn thực phẩm, ngăn chặn hư hỏng và kéo dài thời gian bảo quản chứ ít ai để ý rằng chiếu xạ cũng có thể ứng dụng trong nhiều công đoạn sản xuất thực phẩm. Đây là điều mà PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm đã khám phá ra khi nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa. “Bức xạ gamma có thể thay thế hoặc giảm bớt chất xúc tác axit trong quá trình sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo, giúp tiết kiệm thời gian, năng lượng, chi phí sản xuất và thân thiện hơn với môi trường”.  Cụ thể, trong quy trình sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa thông thường, tinh bột sẽ được nhiệt phân với xúc tác axit, sau đó thủy phân, trải qua quá trình tinh chế nhiều cấp độ, làm giàu, cô đặc chân không và sấy phun sẽ thu được sản phẩm cuối cùng dạng bột trắng ngà. “Phương pháp này có thể thu được sản phẩm có hàm lượng maltodextrin kháng tiêu hóa cao, nhưng việc sử dụng xúc tác axit và nhiệt độ cao trong công đoạn nhiệt phân sẽ khiến màu tinh bột thành vàng sẫm, nhiều ion kim loại xuất hiện, dẫn đến quá trình khử màu và tinh chế tiếp theo phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí”, ông nói. “Bức xạ gamma là một phương pháp vật lý dùng để biến đổi tinh bột, với các ưu điểm như giảm nhiệt độ nhiệt phân, thời gian phản ứng nhiệt phân và giảm độ màu của sản phẩm nhiệt phân, gần như không để lại các tạp chất độc hại trong tinh bột sau khi chế biến so với các phương pháp hóa học”.  Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ chiếu xạ và công nghệ thực phẩm, việc ứng dụng bức xạ gamma trong sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo không phải là thách thức quá lớn với PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm và các cộng sự.  Trong khuôn khổ một đề tài cấp nhà nước, chỉ chưa đầy hai năm, nhóm nghiên cứu đã làm chủ được quy trình này. “Dựa trên quy trình sản xuất mang tính nguyên lý, chúng tôi đã nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất cụ thể, từ bước đầu tiên là lựa chọn nguyên liệu lúa gạo và tinh chế tinh bột, sau đem đi chiếu xạ ở Trung tâm chiếu xạ Hà Nội (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), sấy khô rồi đưa vào nhiệt phân ở thời gian và nhiệt độ phù hợp, sau đó dịch hóa và đường hóa bằng enzyme, tinh chế và cô đặc, sấy phun để cho ra sản phẩm cuối cùng là maltodextrin kháng tiêu hóa có hàm lượng đạt tới 85%”, ông cho biết.  Thực chất, tỉ lệ maltodextrin kháng tiêu hóa thu được khi sử dụng bức xạ gamma thay thế hoàn toàn xúc tác axit thấp hơn so với phương pháp truyền thống. Do vậy, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm cho biết trong trường hợp muốn nâng cao hàm lượng, người sản xuất vẫn có thể bổ sung thêm một lượng rất nhỏ xúc tác axit, kể cả như vậy thì “lượng axit sử dụng vẫn thấp hơn nhiều so với trước đây”.  Nhờ phát hiện mới này, nhóm nghiên cứu đã thu được nhiều dòng sản phẩm maltodextrin kháng tiêu hóa có hàm lượng khác nhau trong khuôn khổ của đề tài. Ngoài bài báo trên tạp chí Journal of Food Processing and Preservation, họ đã đăng ký bảo hộ sáng chế cho phương pháp sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo bằng công nghệ chiếu xạ tại Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) và đã được chấp nhận đơn hợp lệ. Hơn nữa, đề tài cũng giúp nhóm nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và đào tạo thêm 2 kỹ sư, 3 thạc sĩ và 1 nghiên cứu sinh. “Từ kết quả thực hiện nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ khoa học của cơ quan chủ trì và nhóm nghiên cứu đến nay đã tự tin làm chủ được công nghệ sản xuất maltodextrin kháng tiêu hóa từ tinh bột gạo hay các nguồn tinh bột khác nhằm tạo ra nguyên liệu chất xơ hòa tan”, theo bài viết của PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm trên trang web của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.  Sẵn sàng đưa ra ứng dụng  Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ ban đầu, một số doanh nghiệp thực phẩm lớn của Việt Nam như Vifon, công ty dinh dưỡng Nutricare đã cùng tham gia vào đề tài. “Họ chuyên sản xuất các loại mì ăn liền, phở, bột dinh dưỡng,… rất tiện lợi nhưng hầu hết đều có hàm lượng chất xơ thấp hoặc phải nhập khẩu. Họ không bằng lòng với những sản phẩm đó mà muốn cải tiến, tạo ra những dòng sản phẩm giàu chất xơ hơn, nên họ sẵn lòng hợp tác với mình để thử nghiệm trên sản phẩm của họ”, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm kể lại.  Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bổ sung maltodextrin kháng tiêu hóa cho các sản phẩm bột đậu xanh, nước cam, trà gừng mật ong,… “Chúng tôi lựa chọn các sản phẩm tiêu thụ nhiều trên thị trường, như thế mới có ý nghĩa bổ sung dinh dưỡng cho người dân”, ông cho biết. “Ngoài việc đáp ứng tiêu chí về mặt dinh dưỡng, chúng tôi còn phải điều chỉnh lượng maltodextrin sao cho không làm ảnh hưởng đến tính chất thực phẩm”.  Để ứng dụng trong thực tế, một phương pháp sản xuất phải có khả năng triển khai trên quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, việc đi từ quy mô “chai lọ” đến quy mô lớn là một quãng đường dài. “Lúc đầu chúng tôi chạy thử trên hệ thiết bị nhỏ trong phòng thí nghiệm, sau đó mới nâng lên hệ thiết bị khoảng 7-8 kg/mẻ, bây giờ đã chế tạo một thiết bị 50 kg/mẻ. Chúng tôi phải nâng lên từng nấc như thế để dần dần hoàn thiện cả quy trình công nghệ và chế tạo thiết bị sao cho tối ưu nhất. Chẳng hạn thiết bị nhiệt phân là một tổ hợp chức năng sấy, phun trộn chất xúc tác, và rang bột phải thiết kế như thế nào để tinh bột được trộn đều, nung nóng đều, làm nguội và tự động tháo liệu,… mọi thứ đều khá phức tạp. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đưa vào nhiều kỹ thuật mới trong thiết kế chế tạo các hệ thống trao đổi ion để khử màu, khử khoáng”, ông nói.  Việc mở rộng quy mô sản xuất còn là yếu tố quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Với quy mô sản xuất pilot hiện nay, giá thành maltodextrin kháng tiêu hóa vẫn còn cao hơn so với nhập khẩu, nhưng nếu nâng công suất lên 5-20 lần thì giá thành sẽ rẻ hơn rất nhiều. PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm cho biết: “Sau khi kết thúc đề tài, chúng tôi cũng sẽ có kế hoạch xây dựng dự án sản xuất thử nghiệm và hợp tác với doanh nghiệp nào đó để sản xuất lớn. Chúng tôi đã đăng ký các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, nên sản phẩm hoàn toàn đủ điều kiện đưa ra thị trường. Vấn đề bây giờ là mình có đủ năng lực để mở rộng sản xuất, hạ giá thành sản phẩm hay không”.  Thanh An    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng đèn compact ánh sáng đỏ: Giảm 50% điện năng, tăng 60% khả năng thụ phấn      Sau hai năm áp dụng thử nghiệm loại đèn chiếu sáng mới, đèn compact ánh sáng đỏ của Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông trên trang trại trồng thanh long của năm hộ nông dân huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, kết quả cho thấy cây thanh long ruột trắng đã tăng khả năng thụ phấp lên tới 60% còn mức tiêu thụ điện năng giảm xuống 50%. Những kết quả bước đầu này hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả cao cho người trồng thanh long nếu áp dụng đại trà loại đèn mới.      Chiếu sáng cây thanh long ra hoa trái vụ  ở Bình Thuận  Những thông tin này được đưa ra tại Hội thảo ứng dụng đèn tiết kiệm điện năng compact ánh sáng đỏ (15W và 20W) trong sản xuất thanh long do Hội Nông dân tỉnh Bình Thuận phối hợp với công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông phối hợp tổ chức vào ngày 10/8 vừa qua.  Tại hội thảo, PGS. TS Lê Văn Bé (trường ĐH Cần Thơ), chủ đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của loại bóng compact ánh sáng đỏ và thời gian chiếu sáng đến sự ra hoa cây thanh long ruột trắng cho biết, biện pháp chong đèn chiếu sáng cho cây thanh long, loại cây dài ngày, đã được nông dân Bình Thuận áp dụng từ nhiều năm nay để chủ động cho cây ra quả trái vụ. Loại bóng vàng mà nông dân Bình Thuận vẫn dùng phổ biến để chiếu sáng cho cây trong mùa nghịch có ưu điểm là dễ dàng mua trên thị trường và lắp đặt thuận lợi, tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm là cường độ ánh sáng không cao, tốn kém điện năng khiến người trồng phải trả rất nhiều chi phí đầu vào. Vì vậy, đề tài mà ông phối hợp với Trung tâm R&D của Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông thực hiện nghiên cứu để tìm ra loại đèn mới tiết kiệm điện, có cường độ ánh sáng tốt, phổ ánh sáng phù hợp với tính chất sinh học của cây thanh long, qua đó tăng cường khả năng đậu quả cho cây trái vụ.  Bước đầu, dự án đã được thực hiện với sự tham gia của năm hộ dân ở huyện Hàm Thuận Nam, trong đó có ba hộ xã Hàm Chính, một ở xã Hàm Liêm, một xã Hàm Đức và trang trại Thanh Thanh xã Hàm Thạnh, những người đi tiên phong trong việc thay thế bóng đèn compact ánh sáng đỏ (15W và 20W) thay cho đèn vàng bóng tròn 60 đến 70 W. Có mặt tại hội thảo, các chủ hộ trồng thanh long cho biết, qua hai năm sử dụng, bóng đèn đỏ 20W không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn loại đèn ánh sáng vàng mà còn cao hơn cả các loại bóng compact 20W khác. Hiệu quả của đèn mới thể hiện ở chõ, thời gian chiếu sáng cho đã rút ngắn xuống còn từ 8 đến 9 tiếng /đêm thay vì 11 giờ như ánh đèn vàng, chu kỳ chiếu sáng cũng rút ngắn từ 15 đêm xuống 12 đêm, góp phần giảm tới 50% mức tiêu thụ điện. Một ưu điểm lớn khác là đèn compact ánh sáng đỏ có tuổi thọ cao hơn bóng ánh sáng vãng, do đó chi phí đầu tư cũng giảm đi đáng kể.  Không chỉ hiệu quả ở mặt tiết kiệm điện năng, loại đèn mới còn thể hiện sự vượt trội so với các loại bóng cũ là số hoa nở đã tăng hơn 80%, qua đó tăng khả năng thụ phấn tới 60%, do đó cũng tăng khả năng đậu quả cho cây thanh long. Điều đó đã được chứng thực ở hộ trồng cây thanh long thuộc  xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc khi thử nghiệm đối chiếu giữa hai diện tích trồng sử dụng hai loại bóng chiếu sáng ánh sáng đỏ và ánh sáng vàng.  Với những kết quả bước đầu này, các nhà nghiên cứu hy vọng, loại đèn compact ánh sáng đỏ sẽ được các hộ nông dân trồng thanh long áp dụng đại trà trong thời gian tới. Dự kiến, ba cuộc hội thảo tương tự sẽ được tổ chức tại các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng di động tra cứu thông tin cây thuốc Việt Nam      Ứng dụng tra cứu đa phương thức cây thuốc  Việt Nam cho phép người dùng tìm kiếm thông tin các cây thuốc nam dùng  để chữa bệnh tại Việt Nam thông qua từ khóa hoặc hình ảnh của từng cây  thuốc.    Hệ thống cung cấp thông tin đa phương thức về cây thuốc Việt, cho phép duyệt cây thuốc theo nhóm công dụng. Với mỗi cây thuốc, hệ thống cung cấp các thông tin chi tiết: tên cây thuốc, thông tin giới thiệu, mô tả, thông tin về phân bố, thu hoạch, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng, công dụng, liều dùng và các đơn thuốc có sử dụng cây thuốc đó.  Việt Nam có sự đa dạng, phong phú về cây thuốc và truyền thống sử dụng cây thuốc, tuy nhiên lại thiếu thốn về công cụ tra cứu, tiếp cận thông tin về cây thuốc.   Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về thị trường thiết bị di động, kết hợp với kết quả nghiên cứu về nhận dạng cây thuốc dựa trên kỹ thuật thị giác máy tính, nhóm tác giả thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế MICA (thuộc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội) đã cho ra đời Ứng dụng tra cứu đa phương thức cây thuốc Việt Nam.  Ứng dụng có tiềm năng sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục, y tế, chẳng hạn sử dụng như một tài liệu trợ giảng/minh họa trong các môn học tại Trường Y, Dược, Y học cổ truyền; trong y tế, ứng dụng cũng có thể hỗ trợ cho các bác sĩ, y tá trong các bệnh viện có sử dụng cây thuốc… Quan trọng hơn, ứng dụng hỗ trợ người dùng phổ thông có nhu cầu tra cứu thông tin về cây thuốc.  Ứng dụng tìm kiếm và cung cấp thông tin cây thuốc theo hai hình thức:  – Phương thức 1: tìm kiếm theo từ khóa.  Như các chức năng tìm kiếm thông thường, người dùng có thể nhập tên (một phần tên) của cây thuốc quan tâm hoặc một từ khóa bất kỳ ở dạng tiếng Việt có dấu và không dấu, hệ thống sẽ tìm kiếm các cây thuốc có chứa thông tin tương ứng trong cơ sở dữ liệu.   – Phương thức 2: tìm kiếm theo hình ảnh. Hệ thống có khả năng tìm kiếm tự động một cây thuốc dựa trên việc nhận dạng ảnh lá cây tương ứng; và tìm kiếm dựa trên mô tả các đặc trưng sinh học có tương tác với người sử dụng. Hệ thống hỗ trợ việc tìm khiếm dựa trên ảnh chụp lá cây ngay trên thực địa, hay môi trường ngoài trời. Khả năng tìm kiếm dựa trên hình ảnh là một trong những ưu điểm nổi trội của hệ thống của chúng tôi so với những phương pháp tìm kiếm truyền thống sử dụng từ khóa. Nó cho phép người dùng bất kỳ có thể nhận diện cây thuốc mà họ chưa từng biết một cách dễ dàng.  Tuy nhiên, hiện cơ sở dữ liệu của ứng dụng vẫn còn hạn chế, chỉ chứa thông tin hơn 600 cây thuốc, trong khi trên thực tế số lượng cây thuốc rất đa dạng, phân bố sở khắp nơi theo trên khắp Việt Nam. Vì vậy, hệ thống cần mở rộng theo hướng tạo công cụ cho phép người dùng cuối tự cập nhật, bổ sung nguồn thông tin về một cây thuốc. Theo hướng mở rộng này, nguồn thông tin về CSDL cây thuốc Việt sẽ liên tục cập nhật làm giàu và có các bổ sung cần thiết.   Bên cạnh đó, phiên bản hiện thời mới chỉ cho xây dựng bộ phân lớp để nhận dạng được 100 loài cây. Tuy nhiên trong tương lai, nhóm tác giả dự định sẽ phát triển việc nhận dạng cây kết hợp thông tin từ nhiều thành phần khác nhau của cây: lá, quả, hoa, thân, cành, rễ…  Dù vẫn còn một vài hạn chế và đang có hướng khắc phục trong tương lai, tuy nhiên với tác dụng to lớn, Hội đồng Giám khảo của Giải thưởng Nhân tài Đất Việt đã quyết định lựa chọn Ứng dụng tra cứu đa phương thức cây thuốc Việt Nam vào danh sách một trong 5 sản phẩm công nghệ thông tin ứng dụng trên di động để tranh tài tại vòng chung kết của Giải thưởng Nhân tài Đất Việt năm nay.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng hạt nhân có thể thay đổi phương án điều trị của 40% bệnh nhân      Kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ, một ứng dụng hạt nhân trong y tế đã chẩn đoán chính xác hơn và làm thay đổi phương án điều trị của 40% bệnh nhân ở Mỹ đang được áp dụng tại Việt Nam. Trong công nghiệp, hiện nay Việt Nam có khoảng 1300 nguồn phóng xạ có vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động chiếu xạ công nghiệp, kiểm tra không phá huỷ, địa vật lý giếng khoan…      PGS.TS Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và các nhà nghiên cứu của Vinatom tại hội thảo. Ảnh: Thu Quỳnh  Đó mới chỉ là một vài trong số rất nhiều ví dụ điển hình về vai trò của kỹ thuật hạt nhân trong đời sống được chia sẻ tại hội thảo “Hạt nhân trong đời sống” trong khuôn khổ Ngày hội Hạt nhân & khoa học ngày 18 – 19/5 do Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM), Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Nga ROSATOM và Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức.  Giúp chẩn đoán sớm và chính xác trong y tế  Tại Việt Nam, trái với suy nghĩ thông thường của công chúng vốn rất “ám ảnh” và “sợ” công nghệ hạt nhân, “ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trở nên ngày càng phổ biến và thiết yếu trong nhiều mặt của đời sống, đặc biệt là ứng dụng trong công nghiệp, y tế và trong nông nghiệp”, theo TS. Nguyễn Hào Quang, Phó viện trưởng VINATOM.  Đơn cử, ngành y tế ở Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn nhờ vào quá trình chẩn đoán chính xác khi áp dụng kỹ thuật hạt nhân và ứng dụng trong điều trị xương khớp, nội tiết, viêm nhiễm trùng, thậm chí điều trị cho trẻ em…, theo PGS.TS Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Ví dụ, “Y học hạt nhân có thể giúp đánh giá sớm tổn thương ở cơ tim, phân biệt khối u ác tính và lành tính từ rất sớm, bệnh Aizhemer… mà khám lâm sàng và các phương pháp xét nghiệm khác không phát hiện ra. Còn hạt nhân có thể được ví như con dao ở mức tế bào, chỉ tiêu diệt tế bào ác tính mà không làm tổn thương các tế bào lành khác”, PGS.TS Lê Ngọc Hà giải thích.  Một trong những ứng dụng kỹ thuật hạt nhân vào chẩn đoán mới nhất được áp dụng ở Việt Nam là chụp cắt lớp phát xạ (PET/CT), giúp phân biệt được từ rất sớm và chính xác các tổn thương lành tính và ác tính so với CT thông thường. Thậm chí, ở Mỹ, việc sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ này làm thay đổi phương án điều trị của 40% bệnh nhân (nếu không sử dụng kỹ thuật này thì có thể điều trị sai hướng), PGS. Hà cho biết thêm.  Ứng dụng hạt nhân dần trở thành “chuyện thường ngày”  Theo TS. Nguyễn Hào Quang, trong công nghiệp, việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân đã trở thành “chuyện thường ngày” với những kỹ thuật phổ biến nhất như: kiểm tra không phá huỷ, địa vật lý giếng khoan, chiếu xạ công nghiệp… Ví dụ: Các khu công nghiệp hiện nay đều sử dụng phương pháp kiểm tra không phá huỷ bằng kỹ thuật hạt nhân (dùng nguồn phóng xạ chiếu lên vật liệu giống như chụp ảnh X quang) để kiểm tra chất lượng của các mối hàn nhằm đánh giá mức độ an toàn của các thiết bị công nghiệp; các nhà máy dầu khí sử dụng chất đánh dấu cho phép cung cấp thông tin về sự di chuyển của dòng nước giữa các giếng dầu, nhằm tối đa hoá việc bơm nước và thu hồi dầu…  Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân cũng đem lại những thành tựu lớn trong nông nghiệp như tạo giống lúa đột biến có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng chịu bệnh và xử lý bức xạ giúp bảo quản nông sản sau thu hoạch. Một số giống cây đột biến điển hình như “siêu lúa” NPT4, VN10, Khang dân đột biến…các giống ngô, đậu tương đột biến đã được thương mại hóa, trồng rộng rãi. Thông thường, có tới 30% nông sản sau thu hoạch bị thối, hỏng và quy trình xử lý bức xạ đã giúp kéo dài thời gian bảo quản nông sản để xuất khẩu. Gần đây nhất, kỹ thuật triệt sản vô trùng để kiểm soát một số loại ruồi đục quả đang được các nhà khoa học tại VINATOM và Viện Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) nghiên cứu để chuyển giao cho các vùng chuyên canh lớn như vùng trồng thanh long ở Bình Thuận.  “Chứng sợ phóng xạ” rất phổ biến trong công chúng, nguyên nhân chủ yếu vì họ đã “ám ảnh” trước thông tin về ba vụ nổ nhà máy hạt nhân trên thế giới (Three Mile Island, Mỹ năm 1979, Chernobyl ở Nga năm 1986 và Fukishima ở Nhật Bản năm 2011), “các giai thoại” về phóng xạ cũng như nhiều thước phim phổ biến hình ảnh tiêu cực về năng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, trên thực tế năng lượng hạt nhân có mặt trong nhiều lĩnh vực của đời sống, và công chúng thường thiếu kiến thức về vấn đề này, theo ông Arkady Karneev, giám đốc truyền thông Rosatom khu vực châu Á.                   Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Ứng dụng hệ thống radar đo biển WERA trong dự báo thời tiết      Với khả năng quan trắc linh hoạt ngay cả trong điều kiện thời tiết bất lợi, hệ thống radar đo biển WERA của Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường (CEFD) được kỳ vọng sẽ cung cấp nguồn dữ liệu sóng, dòng chảy, gió ngày một chính xác cho nghiên cứu khí tượng thủy văn cũng như ứng dụng trong nhiều bài toán thực tế.    Từ radar đo biển đến lịch canh tác nông nghiệp    Ở những quốc gia nông nghiệp như Việt Nam, thời tiết là yếu tố quyết định tới sự thành công của cả một mùa vụ. Chẳng hạn như đợt chuẩn bị đón Tết vừa qua, một trong những điều băn khoăn quen thuộc của người trồng hoa là “Xuân về trời sẽ nóng hay lạnh, liệu hoa có bị nở sớm/muộn không?”. Dưới góc độ của chuyên gia trong ngành khí tượng thủy văn, các nhà khoa học ở Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường (CEFD) – trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) hiểu lợi ích của dự báo thời tiết trong nông nghiệp cũng như các hoạt động kinh tế xã hội hơn ai hết.    Tuy nhiên, việc đưa ra dự báo thời tiết chính xác không phải là điều dễ dàng. Để dự báo thời tiết, các nhà khoa học phải thu thập các dữ liệu khí tượng thủy văn như nhiệt độ, khí áp, độ ẩm, gió, mưa,… sau đó xử lý bằng các phương pháp phân tích và mô hình mô phỏng để đưa ra dự báo. Quá trình này phức tạp và đòi hỏi phải có dữ liệu quan trắc thường xuyên, chính xác, trong khi đó theo thống kê của Tổng cục Khí tượng thủy văn (Bộ TN&MT) hiện nay, dọc theo 3200 km bờ biển nước ta chỉ có 27 trạm hải văn, hầu hết là các trạm đo truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ cho công tác dự báo và xử lý các bài toán về khí tượng, thủy văn và hải dương.      Cán bộ ở CEFD tổ chức tập huấn lắp đặt và vận hành hệ thống radar WERA    Cũng như các đơn vị khác trong ngành, CEFD cũng nỗ lực tìm cách lấp đầy khoảng trống này. Cơ hội đến với họ vào năm 2017, thông qua đề tài “Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và mô phỏng/dự báo các điều kiện khí tượng hải văn – môi trường biển và đới ven bờ độ phân giải cao phục vụ khai thác bền vững tài nguyên biển và giảm thiểu rủi ro thiên tai” do Dự án FIRST (Bộ KH&CN) tài trợ. CEFD được trang bị hệ thống radar di động ven bờ quan trắc sóng và dòng chảy biển độ phân giải cao (300mx300m) với tầm quét từ 30-200 km (hệ thống WERA). “Đây là hệ thống radar di động duy nhất tại Việt Nam và Đông Nam Á được thiết kế với hai tần số riêng biệt 16,15 và 24,525 MHz, giúp vận hành linh hoạt lựa chọn giữa độ phân giải chi tiết và tầm xa. Hệ thống có thể thu thập các số liệu về sóng (độ cao, hướng), dòng chảy bề mặt (vận tốc, hướng), hướng gió trong bán kính từ 15 – 80km với độ phân giải 300m”, ThS. Phạm Huy Duy Bình, Phó trưởng Phòng Nghiên cứu Dịch vụ (CEFD) cho biết.    Về bản chất, hệ thống WERA sử dụng công nghệ radar vượt đường chân trời (radar có khả năng phát hiện mục tiêu ở phạm vi rất xa, từ hàng trăm đến hàng nghìn km, ngoài giới hạn khoảng cách đối với radar thông thường). Tầm quan trắc của hệ thống radar WERA phụ thuộc vào tần số hoạt động, tần số hoạt động càng nhỏ thì tầm quan sát của hệ thống radar càng xa (có thể lên tới trên 200 km).    Độ linh hoạt cao là điểm nổi bật nhất của hệ thống radar WERA. “Tính chất này rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam, có bờ biển dài từ Bắc vào Nam qua nhiều vĩ độ, nên vùng biển Bắc Trung Nam cũng khác nhau. Trong khi đó, hệ thống WERA có thể di chuyển đến nhiều nơi khác nhau và thay đổi tần số phù hợp với từng vùng”, ThS. Bình giải thích. So với các thiết bị quan trắc phổ biến hiện nay thường được thả chìm dưới đáy biển, chỉ đo đạc ở một vị trí cố định trong điều kiện thời tiết bình thường, hệ thống radar WERA có thể hoạt động ngay cả khi thời tiết xấu. “Radar đo biển sử dụng sóng điện từ nên có khả năng đo ở khoảng cách xa, vị trí lắp đặt nằm trong đất liền nên an toàn hơn, có thể thu thập số liệu động lực biển (sóng, dòng chảy, gió) quan trọng tại những thời điểm thời tiết phức tạp”.    Việc lựa chọn một hệ thống radar linh hoạt cũng phù hợp với định hướng của một đơn vị tự chủ và năng động trong lĩnh vực khí tượng như CEFD: “Hiện nay trên thế giới thường đầu tư hệ thống radar quan trắc cố định để đo thời gian dài tại một vị trí. Tuy nhiên, mục tiêu của trung tâm là hệ thống có khả năng linh động cao, phù hợp với những dự án, hoạt động tư vấn ở nhiều nơi khác nhau, mình có thể đo ở chỗ này vài tháng rồi lại chuyển đi đo ở chỗ khác”, anh cho biết.    Định hướng ứng dụng thông tin dự báo khí tượng trong các hoạt động kinh tế xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp CEFD được Dự án FIRST lựa chọn giữa hàng trăm hồ sơ gửi đến Dự án FIRST lúc đó. “Chúng tôi rất bất ngờ khi biết rằng các dữ liệu này có tiềm năng thương mại hóa lớn như vậy”, ông Lương Văn Thắng, Giám đốc Ban quản lý Dự án nhận xét trong phiên họp tổng kết dự án vào năm 2019.    Làm chủ hệ thống trong thực tế    Việc làm thế nào để triển khai hiệu quả trong thực tế rất nhiều thách thức, nhất là đối với một hệ thống hiện đại như radar WERA – “công nghệ này khá mới ở Việt Nam nên cũng phức tạp, yêu cầu nhân lực triển khai lắp đặt phải có trình độ cao”, ThS. Phạm Huy Duy Bình cho biết. Hệ thống radar WERA gồm hai trạm thu phát radar độc lập, mỗi trạm có 8 antenna phát, 12 antenna thu, 1 hệ thống thiết bị thu phát sóng trung tâm và máy tính trạm điều khiển. Ngoài hai trạm thu phát độc lập tại hiện trường, hệ thống còn server xử lý trung tâm để phân tích, xử lý và lưu trữ dữ liệu tại Hà Nội. Các số liệu đo đạc thời gian thực tại hiện trường sẽ được truyền liên tục về server này.    Trong suy nghĩ của các nhà khoa học ở CEFD, việc nâng cao năng lực chuyên môn là điểm mấu chốt để làm chủ và phát huy giá trị của các trang thiết bị. Do vậy, ngay cả khi những buổi tập huấn riêng cho cán bộ ở CEFD trong khuôn khổ Dự án FIRST đã khép lại sau khi kết thúc dự án, “chúng tôi vẫn thường xuyên tổ chức các buổi đào tạo, nên cán bộ của trung tâm hoàn toàn đủ khả năng để vận hành hệ thống này”, ThS. Bình cho biết.    Dù chuẩn bị kĩ càng đến mấy thì khi ra ngoài thực tế, “vẫn có nhiều thứ bất ngờ, vì phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, hiện trường, con người,… nói chung nhiều cái mình không thể lường trước được. Chúng tôi vẫn cố gắng lên kịch bản cho nhiều trường hợp khác nhau, nên khi có sự cố thì vẫn có thể xử lý được”, ThS. Bình cho biết.    Sau đợt thử nghiệm đầu tiên ở Phú Yên năm 2019 thì đại dịch COVID-19 xuất hiện, đến cuối năm 2021, hệ thống radar WERA mới tiếp tục được triển khai ở Nam Định. Kết quả thử nghiệm đã giúp nhóm nghiên cứu thêm tự tin về khả năng triển khai hệ thống này.“Đợt đo ở Phú Yên cho thấy kết quả của hệ thống WERA tương đồng với thiết bị đo sóng và dòng chảy thả chìm (AWAC) và số liệu công bố khác. Trong quá trình đo ở Nam Định, chúng tôi cũng đối chiếu kết quả quan trắc với thiết bị khác, số liệu thu được có chất lượng rất tốt và ổn định”, nhóm nghiên cứu cho biết. Họ đã công bố kết quả quan trắc trên một số tạp chí khoa học trong nước.    Từ những kết quả bước đầu, các nhà nghiên cứu có thể mường tượng ra những gì họ sẽ làm trong tương lai với hệ thống radar WERA. “Hệ thống này sẽ giúp chúng tôi có số liệu quan trắc thực để kiểm định và hiệu chỉnh các mô hình mô phỏng sóng và dòng chảy ven bờ chính xác hơn. Đây là những công cụ quan trọng để đưa ra các dự báo về các thông số cần thiết cho các hoạt động kinh tế xã hội khác, chẳng hạn như khi xây dựng các công trình ven biển, vận tải,…”, ThS. Bình cho biết.    Kim Anh    Author                .        
__label__tiasang Ứng dụng hẹn hò Paktor đã “tiếm ngôi” Tinder tại Đông Nam Á như thế nào      Làm sao mà Paktor lại thu hút được nhiều người dùng ở khu vực này đến vậy? Thật đơn giản, Paktor hiểu những mong muốn của người dân Đông Nam Á.    Đúng như tên gọi của mình, ứng dụng hẹn hò trên smartphone Tinder (bùi nhùi) đã tăng trưởng trên khắp toàn cầu với tốc độ nhanh như bùi nhùi bắt lửa nhờ vào một công thức đơn giản: hình ảnh gợi cảm kết hợp với thông tin cá nhân hấp dẫn.  Thế nhưng tại Đông Nam Á, Paktor có lẽ là ứng dụng hẹn hò được yêu thích hơn cả. Với 6 triệu người dùng trên khắp các thị trường châu Á như Singapore, Indonesia, Malaysia và Việt Nam, đây là ứng dụng hẹn hò lớn nhất trong khu vực. Nhờ vào sự yêu mến của những người “đơn thân lẻ bóng” và của các nhà đầu tư, Paktor đã huy động được 7,1 triệu USD trong vòng gọi vốn Series B đầu năm nay.  Làm sao mà Paktor lại thu hút được nhiều người dùng ở khu vực này đến vậy? Thật đơn giản, Paktor hiểu những mong muốn của người dân Đông Nam Á.  Cụ thể họ mong muốn điều gì? Bên cạnh việc khai báo chính xác tên tuổi, giới tính và địa điểm của người sử dụng – điều mà Tinder cũng đang làm rất tốt – Paktor còn đi thêm một bước xa hơn. Qua các tính năng cao cấp, người sử dụng Paktor còn có thể lọc danh sách “ứng viên” theo quốc tịch, chiều cao, nghề nghiệp và học vấn. Nếu bạn không thích hẹn hò với những người có thu nhập thấp hơn mình (suy đoán dựa vào học vấn và nghề nghiệp) thì thông tin về những đối tượng này sẽ không được hiển thị trên ứng dụng của bạn. Điều này nghe thật tàn nhẫn, nhưng Paktor cho biết các kết quả nghiên cứu của họ đã khẳng định rằng đây là một yếu tố quan trọng đối với người sử dụng.  Joseph Phua, CEO của Paktor, chia sẻ: “Người châu Á có những nhu cầu rất đặc thù về văn hóa và xã hội, đặc biệt là trong vấn đề hẹn hò hay những chuyện tình cảm lãng mạn. Dựa trên nghiên cứu và những hiểu biết hiện tại của chúng tôi về thị trường này, chúng tôi nhận thấy rằng những bộ lọc trên chính là điều đáp ứng được mong muốn của phần lớn người sử dụng.”  Thành công của Paktor đã mang đến một bài học quan trọng cho các doanh nghiệp trực tuyến ở khu vực Đông Nam Á: Hãy thiết kế một nền tảng công nghệ toàn cầu nhưng dùng ứng dụng để địa phương hóa sản phẩm/ dịch vụ của mình. Chiến lược này dường như là yếu tố quan trọng giúp Paktor tạo được nhiều thành tích lớn. Phua tự hào cho biết: “Chỉ trong chưa đầy một năm, số lượng trung bình các hồ sơ cá nhân được xem hàng tháng của chúng tôi đã nhảy vọt từ 300 triệu tới 500 triệu. Không những thế, người sử dụng Paktor còn dành khoảng 13 giờ mỗi tháng trên ứng dụng này, tức là mỗi ngày trung bình họ dùng ứng dụng 6 lần để kết bạn hoặc trò chuyện với những người dùng khác.”  Với những người kén chọn hơn, Paktor còn thành lập riêng GaiGai, một hãng dịch vụ hẹn hò giáp mặt. Những người đăng ký sử dụng các dịch vụ của GaiGai được yêu cầu cung cấp một hồ sơ cá nhân đầy đủ hơn, bao gồm cả những thông tin riêng tư như liệu họ có muốn sinh con không hay họ thích những người thuộc chủng tộc hay tôn giáo nào.  Bản thân việc khai thác khía cạnh đời sống tình cảm cá nhân để thu thập một khối lượng dữ liệu khách hàng chi tiết đến như vậy đã là một hành động đáng khâm phục rồi. Tuy vậy, nếu có ai đó vẫn còn nghi ngại mà cho rằng đây là cách làm quá tỉ mẩn để “hẹn hò an toàn” hay gia tăng khả năng tìm được đối tượng ưng ý, hãy suy nghĩ lại. Bởi lẽ, công nghệ hẹn hò của Paktor đã tính đến sự đa dạng về chủng tộc và tôn giáo ở khu vực Đông Nam Á, và các lãnh đạo công ty cho hay người dùng ứng dụng của họ ngày càng tỏ ra sẵn sàng làm quen với những người khác dân tộc và quốc tịch với mình. Phua cho biết: “Dựa vào một nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện trong thời gian tháng 7 và tháng 8 năm 2015, 81% người dùng nữ và gần 91% người dùng nam ở Singapore sẵn sàng hẹn hò với người có quốc tịch khác.”  Dựa vào kết quả nghiên cứu trên, Paktor bổ sung thêm lựa chọn Translate Chat, cho phép người dùng ở các quốc gia khác nhau chuyện trò cùng nhau qua ứng dụng Google Translate. Tính trung bình, ứng dụng này thực hiện chuyển ngữ cho khoảng 3 triệu từ mỗi ngày. Quả là một con số không nhỏ.  Thu Trang dịch  Nguồn: inc-asean.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng kỹ thuật số để nâng cấp quản trị doanh nghiệp      Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp nhỏ Việt  Nam lâm vào bế tắc và chết lâm sàng, các thương hiệu đứng vững trên thị  trường vẫn nỗ lực nâng cao chất lượng quản trị qua ứng dụng hệ thống  điện tử trực tuyến trong nhiều lãnh vực: quản trị chung, quản trị thông  tin, quản lý hệ thống bán hàng…     Đó là trường hợp CTCP Nhựa Duy Tân vừa ký kết triển khai dự án Hệ thống quản trị tri thức vào cuối tháng 7/2013. Đây là dự án cung cấp và chia sẻ thông tin nội bộ giữa cán bộ nhân viên và các cấp quản lý phục vụ cho việc ra quyết định và điều hành của ban lãnh đạo nhằm nâng cao năng suất và phát triển nguồn nhân lực. Đối tác triển khai dự án là Công ty Cổ phần Tin Học Lạc Việt đã có kinh nghiệm triển khai thành công các hệ thống Văn phòng số, quản trị tri thức, quản trị lưu trữ, công văn, thư viện số cho hàng trăm tập đoàn trong và ngoài nước.   Trong khi đó, cũng tháng 7/2013, Dược Hậu Giang bắt đầu ứng dụng DMS-eMobiz do FPT Software triển khai. DMS-eMobiz là giải pháp bán hàng trên thiết bị di động được Dược Hậu Giang thử nghiệm tại TP HCM và Đồng Nai trước khi áp dụng toàn quốc. Theo đại diện FPT Software, đây là hệ thống quản lý bán hàng với nguồn dữ liệu tập trung, xử lý trực tuyến, giám sát vị trí và lộ trình bán lẻ tức thời. Qua hệ thống này trưởng chi nhánh và nhân viên bán hàng sẽ được kết nối trên một phần mềm thống nhất, cơ sở dữ liệu tập trung, trực tuyến, tức thì và liên tục. Nhân viên bán hàng của Dược Hậu Giang được trang bị máy tính bảng có kết nối 3G, hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và camera số. Khi tiếp xúc với điểm bán hàng, những thông tin liên quan về tình hình hàng hóa, tiền hàng… tại mỗi điểm sẽ được cập nhật ngay tại thời điểm nhân viên bán hàng có mặt. Hình ảnh về việc trưng bày sản phẩm, biển hiệu… của nhà thuốc, bệnh viện cũng được cập nhật theo thời gian thực. Thông tin về hoạt động trên toàn tuyến kinh doanh được cập nhật liên tục trên hệ thống giúp các cấp quản lý có được cái nhìn tổng thể và ra quyết định kịp thời với những biến động thị trường.   Ngoài ra, Công ty Điện Quang vừa công bố dự án đầu tư nâng cấp “hệ thống quản trị Oracle ERP” hợp tác với Công ty TNHH Dịch vụ ERP.FPT. Dự án được chia làm hai giai đoạn, thực hiện trong vòng chín tháng. Giai đoạn 1: triển khai nâng cấp hệ thống ERP Oracle E-Business Suite lên phiên bản R12; giai đoạn 2: triển khai hệ thống báo cáo thông minh phục vụ lãnh đạo (Oracle Business Inteligence). Dự án có trị giá hơn 15 tỷ đồng, bao gồm bản quyền phần mềm, cơ sở hạ tầng phần cứng và dịch vụ tư vấn triển khai. Các phân hệ quản lý trong hệ thống bao gồm: tài chính, mua hàng, bán hàng, quản lý kho, quản lý sản xuất, quản lý nhân sự tiền lương, hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo. Hệ thống sẽ được áp dụng cho 10 chi nhánh, xí nghiệp và cá công ty thành viên của Điện Quang.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp ánh sáng mới tiêu diệt vi khuẩn kháng kháng sinh      Các siêu vi khuẩn kháng kháng sinh đã “tắt điện” khi công nghệ nano kích hoạt bằng ánh sáng thế hệ mới có khả năng tiêu diệt một số loại vi khuẩn “khét tiếng” nhất trên thế giới và có khả năng gây tử vong.      Được công bố trên tạp chí Pharmaceutics, liệu pháp ánh sáng mới do các nhà nghiên cứu ở Đại học Nam Úc phát triển có thể loại bỏ siêu vi khuẩn kháng kháng sinh như vi khuẩn tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) lần lượt là 500.000 lần và 100.000 lần.  Tụ cầu vàng (staphylococcus aureus) và trực khuẩn mủ xanh là một trong những siêu vi khuẩn nguy hiểm nhất trên thế giới. Người ta ước tính khoảng 1,27 triệu người chết do vi khuẩn kháng kháng sinh trên toàn cầu.  TS. Muhammed Awad ở Đại học Nam Úc, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết liệu pháp ánh sáng mới sẽ thay đổi cuộc chơi cho hàng triệu người trên thế giới.    “Tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh đều có khả năng truyền nhiễm cao, thường được tìm thấy trên da người. Nhưng nếu xâm nhập vào máu, chúng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu, thậm chí là tử vong”, TS. Awad nói.  Bệnh nhân trong bệnh viện, đặc biệt là những người có vết thương hở, đặt ống thông hoặc phải thở máy – có nguy cơ nhiễm các loại vi khuẩn này cao hơn. Mặc dù kháng sinh có thể hữu ích, song việc lạm dụng kháng sinh đã dẫn đến làn sóng của vi khuẩn kháng thuốc, khiến thuốc không còn hiệu quả.  “Công nghệ quang động của chúng tôi hoạt động theo cách khác, khai thác năng lượng ánh sáng để tạo ra các phân tử oxy hoạt tính cao, giúp tiêu diệt các tế bào vi sinh vật và các loại vi khuẩn chết người mà không gây hại cho tế bào cơ thể người”, ông cho biết.  Họ đã thử nghiệm liệu pháp quang động kháng khuẩn trong các bệnh nhiễm trùng khó trị do các chủng vi khuẩn tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh kháng thuốc gây ra. Nhà nghiên cứu cao cấp, GS. Clive Prestidge của Đại học Nam Úc, cho biết công nghệ này có một số ưu điểm quan trọng so với thuốc kháng sinh thông thường và các liệu pháp ánh sáng khác.  “Liệu pháp mới được tạo ra trong một loại dầu được bôi lên vết thương dưới dạng dung dịch dưỡng ẩm. Khi ánh sáng laser chiếu vào dung dịch này sẽ tạo ra các loại oxy hoạt tính – nó hoạt động như một chất thay thế cho thuốc kháng sinh thông thường”, GS. Prestidge cho nói.  Các hợp chất hoạt quang hiện nay cũng ít hòa tan trong nước, đồng nghĩa với việc ứng dụng chúng trong lâm sàng còn hạn chế. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận của nhóm nghiên cứu là sử dụng lipid cấp thực phẩm để xây dựng chất mang nano cho hợp chất hoạt quang nhờ đó cải thiện khả năng hòa tan và nâng cao hiệu quả kháng khuẩn – vượt xa so với hợp chất không được xây dựng theo công thức này.  “Những phân tử này nhắm vào nhiều tế bào vi khuẩn cùng lúc, ngăn chặn vi khuẩn thích nghi và kháng thuốc. Vì vậy, đây là một phương pháp điều trị hiệu quả và mạnh hơn nhiều”, GS. Prestidge nhận định.  Một điều quan trọng là khi xem xét quá trình chữa lành các vết thương, nhóm nghiên cứu nhận thấy khả năng hồi phục của các tế bào da người được tăng cường, trong khi vi khuẩn kháng kháng sinh đã bị tiêu diệt hoàn toàn.  Việc thiếu quan tâm đến siêu vi khuẩn sẽ dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Hiện nay, vi khuẩn kháng kháng sinh đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và hàng nghìn tỷ USD của nền kinh tế toàn cầu mỗi năm.  “Công nghệ này rất hứa hẹn và đang thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trên toàn thế giới”, GS. Prestidge nói. “Bước tiếp theo là triển khai thử nghiệm lâm sàng và tiếp tục phát triển công nghệ này để ứng dụng tại các cơ sở y tế”.  Thanh Bình  dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-next-generation-light-activated-nanotech-antibiotic-resistant-superbugs.html    Author                .        
__label__tiasang Ứng dụng mới của thạch cao trong sản xuất ống nhựa gân xoắn      Nghiên cứu mới của nhóm tác giả ở Viện Kỹ thuật nhiệt mở ra hướng mới trong việc sử dụng thạch cao để sản xuất nhiều loại vật liệu, nâng cao giá trị của phế thải công nghiệp.    Hiện nay, phần lớn các ống nhựa gân xoắn – phổ biến trong xây dựng hạ tầng hệ thống truyền tải điện lực và viễn thông – được sản xuất bằng nhựa polyetylen tỉ trọng cao (HDPE) bởi các ưu điểm như độ bền cơ học cao, dễ uốn, bẻ góc, dễ thi công.    Nhưng vấn đề mà các doanh nghiệp sản xuất ống gân xoắn HDPE phải đối mặt là quá trình bảo quản, lưu kho, bãi, thi công ngoài công trường trong thời gian dài. Dưới tác động của thời tiết, khí hậu, ống nhựa HDPE thông thường dễ bị phân hủy nên suy giảm nhanh tính chất, tuổi thọ. Một hạn chế nữa của ống HDPE là khả năng dễ bắt cháy, do nhựa HDPE có nhiệt độ bắt cháy tương đối thấp. Điều này ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng của ống HDPE trong một số lĩnh vực đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như điện lực và viễn thông.    Trong khi đó, thạch cao (gypsum), là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất phân lân, có độ bền nhiệt cao, khả năng chống cháy, chịu mài mòn, bền với thời tiết, nên được xem như một chất độn vô cơ thông thường để tăng tính cơ học cho vật liệu. Ngoài ra, so với các loại chất độn và các chất gia cường nhập ngoại, gypsum nguồn gốc trong nước có giá thành bằng 50 – 75%.    Trước nhu cầu thực tế của thị trường đối với sản phẩm ống gân xoắn, nhóm nghiên cứu của Viện Kỹ thuật nhiệt đới (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã nghiên cứu, chế tạo vật liệu tổ hợp HDPE/EVA/gypsum biến tính, ứng dụng chế tạo ống gân xoắn chất lượng cao chống cháy, bền thời tiết phục vụ ngành điện lực và viễn thông.        Gypsum lấy từ bãi thải của Nhà máy DAP Đình Vũ đem sàng lọc, loại bỏ tạp chất, xử lý bằng dung dịch nước vôi trong, sau đó nghiền và sấy khô. Gypsum sau khi xử lý được biến tính bằng dung dịch phụ gia EBS. Sau đó phối trộn với nhựa nền HDPE, EVA (copolyme etylenvinyl giúp tăng tính dẻo dai, khả năng chịu va đập của vật liệu), để sản xuất chất hạt chủ HDPE/EVA/gypsum. Để sản xuất ống gân xoắn, nhóm sử dụng các thành phần nguyên liệu chủ yếu gồm hạt chất chủ HDPE/EVA/gypsum, hạt nhựa nguyên sinh HDPE và các phụ gia (chống cháy, chống oxy hóa,…).    Ống gân xoắn có tỷ lệ khối lượng 0,18-0,32 kg/m, thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, thời gian tắt cháy dưới 15-17 giây, độ bền nén 2,89%, độ bền kéo đứt là 22,4-22,67MPa, độ ngấm nước trong 24 giờ là 0,15%. Sau thử nghiệm gia tốc thời tiết (được tiến hành theo tiêu chuẩn ASTM G154 trong điều kiện 8 giờ chiếu bức xạ tử ngoại ở 60ºC và 4 giờ ngưng hơi ẩm ở 50ºC ở một chu kỳ; mẫu được phơi trong tủ thời tiết với thời gian tương đương với 56 chu kỳ), cho thấy mẫu có độ bền cơ học và độ bền màu sắc vẫn đảm bảo, không có sự thay đổi đáng kể so với mẫu trước thử nghiệm.    Ống gân xoắn cũng được thử nghiệm từ bên thứ ba (Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 1, Viện Nghiên cứu và phát triển vật liệu mới) để đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật (độ bền, độ va đập, khả năng chống cháy,…). Kết quả, sản phẩm đáp ứng chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 7997:2009.    PGS.TS Nguyễn Vũ Giang, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, cho biết, chất thải công nghiệp (tro bay, thạch cao phế thải, bùn đỏ,…) có khả năng thay thế các chất độn truyền thống như bột đá, talc, cao lanh. Các chất độn từ bã thải công nghiệp có ưu điểm là giá thành chỉ bằng một nửa so với chất độn truyền thống, trong khi vẫn đảm bảo độ bền cơ học cho sản phẩm. Kết quả của nghiên cứu mở ra hướng mới trong sử dụng gypsum làm chất độn cho nhiều sản phẩm khác nhau, từ nhựa compozit đến xi-măng, bê tông, gạch không nung…    Ngọc Đỗ    Author                phongvien        
__label__tiasang Ứng dụng nhạc cổ điển gửi chương trình tới điện thoại theo thời gian thực      Các dàn nhạc đang nỗ lực tìm cách “lôi kéo” khán giả trẻ đến với âm nhạc cổ điển bằng những công nghệ hiện đại.  Royal Philharmonic Orchestra là dàn nhạc đầu tiên của Anh đón nhận xu thế mới này.      Ứng dụng Octava chuyển thông tin tới khán giả ăn khớp với phần biểu diễn của dàn nhạc  Những người yêu nhạc cổ điển thường rất khó chịu vì sự thiếu tập trung của nhiều khán giả trong các buổi hòa nhạc.  Vì thế, bất cứ ai từng sột soạt giở tờ chương trình cũng có thể tạm vui mừng trước tin mới về công nghệ: một ứng dụng cho phép chuyển thẳng nội dung chương trình vào điện thoại của họ.   Nhờ ứng dụng trên điện thoại di động này mà những dòng chữ trong tờ giới thiệu chương trình được chuyển trực tiếp tới điện thoại của khán giả bằng wifi, điều đặc biệt là nó hoàn toàn ăn khớp với phần biểu diễn của dàn nhạc trên sân khấu, đồng thời cho phép các khán giả tò mò có thể theo dõi nó dưới ánh sáng của màn hình điện thoại. Từng phần nội dung mới sẽ sáng lên trên màn hình một cách vừa phải để người sử dụng có thể nắm bắt thật nhanh. Nếu muốn đọc lại những phần giới thiệu cũ, có thể chạm vào một thanh hướng dẫn ở phía cuối màn hình.  Ứng dụng mang tên Octava đã được áp dụng lần đầu tại trường đại học Maryland (Mỹ) và sau đó được dàn nhạc giao hưởng Baltimore áp dụng.  Royal Philharmonic Orchestra là dàn nhạc đầu tiên của Anh đón nhận ứng dụng mới này, và đã thử nghiệm tại khán phòng Cadogan Hall vào đầu năm nay và sẵn sàng chuẩn bị cho mùa diễn mới “Những huyền thoại và những câu chuyện thần tiên” bằng việc dành riêng cho các vị khách ở khu vực đặc biệt.  Octava được thiết kế để “đưa những khán giả trải qua một cuộc du hành âm nhạc” như cách nói của Chris Evans, giám đốc truyền thông và marketing của dàn nhạc RPO, mục đích của nó là “thu hút các khán giả mới, trẻ trung và tiềm năng”.  Sau khi tạp chí BBC Music đăng tải một bài bình luận về ứng dụng mới này, ngay lập tức nhận được sự quan tâm của cộng đồng yêu nhạc cổ điển.  Một độc giả phàn nàn, “Tôi đã hết sức ngạc nhiên khi thấy các anh chấp thuận Octava, ứng dụng cho phép gửi thông tin chương trình đến điện thoại trong một buổi trình diễn. Vậy tại sao lại không đọc chương trình trước lúc biểu diễn rồi sau đó đơn giản là thưởng thức âm nhạc và không làm ảnh hưởng đến xung quanh?”  Tạp chí đã phản hồi: “Chúng ta phải đồng ý với nhau về điểm này – nội dung chương trình hòa nhạc quả thực là cần thiết và không nên chiếu sáng trong khán phòng.  “Nhưng chúng ta đang sống trong một thế giới liên tục thay đổi, và âm nhạc cần phải cố gắng nhiều hơn và thu hút thêm nhiều khán giả mới”.  Sự đối mới sáng tạo này là nhằm đem hứng thú về các buổi hòa nhạc cổ điển cho những khán giả mới: một vấn đề lớn cho nền nghệ thuật Anh thế kỷ 21.   Được phát triển ở Mỹ, EnCue by Octava được miêu tả là “một ứng dụng cải tiến có khả năng truyền tải phần giới thiệu chương trình theo thời gian thực tới điện thoại và các thiết bị máy tính bảng sử dụng hệ điều hành Android của khán giả”. Nó được thiết kế để có thể gửi thông tin về một buổi trình diễn ở cùng thời điểm với những gì đang diễn ra trên sân khấu mà không cần phải đọc lướt qua tờ giới thiệu chương trình để biết về lịch sử tác phẩm hay biết một cách chi tiết về một tác phẩm âm nhạc.     Theo những thông tin quảng cáo thì ứng dụng này dùng “công nghệ màn hình đen” nhằm tránh gây chú ý của những người ngồi xung quanh người sử dụng phần mềm. “Sau 45 giây, màn hình sẽ tự động tối lại”, Linda Dusman, giáo sư âm nhạc trường đại học Maryland (Mỹ) và là đồng tác giả ứng dụng Octava, giải thích.    Royal Philharmonic Orchestra cho biết đã nhận được những phản hồi tích cực từ các đợt thử nghiệm và các buổi hòa nhạc mùa xuân vừa qua, công việc bây giờ của họ là áp dụng trong khu vực được khoanh vùng, dự kiến trong “Các huyền thoại và các câu chuyện thần tiên”, loạt chương trình khám phá những vùng đất kỳ diệu được khắc họa trong những tác phẩm đã làm say lòng người của I. Tchaikovsky, E. Grieg, Rimsky-Korsakov và các nhà soạn nhạc khác từ ngày 7/11 tới.  Việc áp dụng những công nghệ khác, trong đó có cả những trải nghiệm thực tế ảo, của dàn nhạc cũng nhằm mục tiêu thu hút thêm những khán giả mới đến với nhạc cổ điển. Năm ngoái, dàn nhạc đã mở một chương trình thực tế số cho phép người nghe đeo những bộ tai nghe để có thể “bước vào trung tâm dàn nhạc giao hưởng” và thưởng thức màn trình diễn bản giao hưởng số năm của nhà soạn nhạc J. Sibelius.  Hiện dàn nhạc cũng có ứng dụng dành riêng cho trải  nghiệm thực tế số, với camera 3600 có khả năng bao quát các màn trình diễn và để khán giả có thể bình luận qua lại, cùng số hóa phòng hòa nhạc Royal Festival Hall. Nhờ vậy, khán giả có thể “đi quanh” dàn nhạc và giả bộ chỉ huy dàn nhạc biểu diễn tác phẩm Các hành tinh của nhà soạn nhạc G. Holst.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://www.telegraph.co.uk/news/2017/06/26/classical-music-app-send-programme-notes-phone-orchestra-plays/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng phần mềm nguồn mở: Vẫn nhích từng bước      “Với cách làm hiện nay thì kết quả đạt được của việc phát triển ứng dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) tại Việt Nam sẽ chỉ nhúc nhích từng năm một. Cần cách làm mới để đạt được những kết quả đột phá”.    Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng đã nhấn mạnh như vậy khi phát biểu khai mạc Hội thảo “PMNM trong cơ quan, tổ chức Nhà nước” diễn ra sáng nay, 15/6 tại Hà Nội.  Theo Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng, cộng đồng đều biết tới những lợi ích của PMNM như tiết giảm chi phí sử dụng phần mềm cho hoạt động ứng dụng CNTT trong các cơ quan, tổ chức; đảm bảo tốt hơn về an toàn an ninh thông tin, làm chủ về bản quyền, sở hữu trí tuệ… Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển PMNM nhưng kết quả vẫn khiêm tốn.  Với mong muốn tìm bài giải cho câu hỏi: Tại sao dù có rất nhiều lợi điểm nhưng PMNM vẫn chưa thể vượt qua được ngưỡng để phát triển, Bộ TT&TT đã tổ chức Hội thảo PMNM trong cơ quan, tổ chức Nhà nước. Hội thảo là một phần của Dự án Phát triển CNTT-TT Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ.  Tại Hội thảo, các đại biểu đã thẳng thắn trao đổi về những tồn tại của cơ chế chính sách cũng như hoạt động thúc đẩy PMNM, chỉ rõ những rào cản chưa thể vượt qua được.  Đặc biệt, nhiều giải pháp cụ thể đã được đề xuất với Bộ TT&TT. Điển hình như đại diện Liên danh tư vấn C3S – DTT (đơn vị tư vấn cho Bộ TT&TT về Dự án Phát triển CNTT-TT Việt Nam) nêu tới 8 giải pháp để thúc đẩy ứng dụng PMNM gồm:  Thứ nhất, Nhà nước cần có quan điểm rõ ràng và thống nhất về ứng dụng PMNM, phổ biến thông điệp về quan điểm này cho cộng đồng người sử dụng và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Ví dụ, để đảm bảo vấn đề an ninh dữ liệu, cần sử dụng PMNM cho các hệ thống back-end (DBMS, OS cho Server…) để tránh bị phụ thuộc hạ tầng thông tin vào các hãng cung cấp giải pháp back-end mã đóng.  Thứ hai, bổ sung hình thức mua sắm phần mềm như mua dịch vụ trong các cơ quan Nhà nước, phù hợp với xu thế điện toán đám mây (cloud computing).  Thứ ba, các cơ quan Nhà nước lập dự toán hàng năm mua sắm các sản phẩm dịch vụ phần mềm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện như kinh phí chi thường xuyên; tạo điều kiện để doanh nghiệp thấy đã có thị trường và tăng cường đầu tư cho việc ứng dụng, phát triển và cung ứng các dịch vụ cạnh tranh.  Thứ tư, xây dựng hướng dẫn tính tổng chi phí đầu tư (TCO) cho những giải pháp phần mềm đáp ứng yêu cầu, xây dựng hướng dẫn chi tiết, trong đó có đánh giá về chức năng, hiệu quả đầu tư trong ít nhất 5 năm.  Thứ năm, xây dựng biểu thuế suất thuế nhập khẩu cho phần mềm đóng gói, thu thuế để đóng góp cho ngân sách Nhà nước.  Thứ sáu, phê duyệt các dự toán chi ngân sách cho những giải pháp PMNM xây dựng theo yêu cầu không dựa trên định mức kinh tế – kỹ thuật, không cố định tổng mức đầu tư. Chỉ xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho ứng dụng các PMNM thông dụng.  Thứ bảy, đưa PMNM vào các trường đại học bằng cách đưa chỉ tiêu máy tính/sinh viên như một chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo, trên cơ sở chỉ tiêu đó, kiểm soát số lượng license của các phần mềm thương mại nhằm đưa PMNM vào đào tạo song song với phần mềm thương mại.  Thứ tám, ứng dụng hoàn toàn PMNM cho các kiosk dịch vụ công, bảng điện tử.  Với tinh thần tranh luận tích cực, một số đại biểu đã đưa ra ý kiến trái chiều về những giải pháp trên. Chẳng hạn, ông Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục CNTT Bộ Giáo dục & Đào tạo khuyến nghị không nên dùng biện pháp đánh thuế phần mềm nhập khẩu mã nguồn đóng khi chưa có giải pháp PMNM thay thế; không nên đưa ra chỉ tiêu máy tính/sinh viên vì chỉ tiêu này đã lỗi thời, các sinh viên đang có xu hướng tự mua sắm laptop để phục vụ cho việc học tập.  Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu tập trung thảo luận về chủ đề ứng dụng PMNM trong quản lý điều hành và cung cấp dịch vụ công.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng phụ gia Nano để tiết kiệm nhiên liệu      Ngày 27/12, tại Hà Nội, Tổng công ty Công  nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) tổ chức Hội nghị kỹ thuật chuyên đề nhằm khảo nghiệm ứng dụng Phụ gia nhiên liệu NANO để tiết  kiệm nhiên liệu và giảm khí phát thải gây ô nhiễm môi trường của các xe  gắn động cơ Diesel.    Khảo nghiệm ứng dụng Phụ gia nhiên liệu NANO lần đầu tiên được triển khai tại Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), sau đó tiếp tục được triển khai tại Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) vào năm 2007 cho thấy, việc áp dụng công nghệ này đem lại hiệu quả rõ rệt.     Thông qua kết quả khảo nghiệm đối chứng, so sánh suất tiêu hao nhiên liệu được thực hiện tại các công ty của VICEM như Công ty Vicem Hoàng Thạch, Công ty Vicem Hà Tiên 1, Công ty Vicem Hoàng Mai cho 03 dòng xe Ủi/Xúc/Tải, cho thấy khi sử dụng NANO đã tiết kiệm được trung bình 5,523% nhiên liệu so với khi không sử dụng phụ gia nhiên liệu NANO. Đặc biệt khi tiến hành bảo dưỡng sau khi đã sử dụng NANO tất cả đều không thấy các hiện tượng khác thường nào xảy ra. Ngược lại, động cơ Diesel hoạt động ổn định, dễ nổ hơn, độ ồn giảm, buồng đốt không bám dính các muội than do quá trình cháy triệt để, dẫn đến kéo dài tuổi thọ cho động cơ. Như vậy mỗi công ty sản xuất của Vicem, nếu sử dụng phụ gia tiết kiệm nhiên liệu Nano, thì mỗi năm sẽ tiết kiệm được khoảng trên dưới 1 tỷ đồng.  Tại Hội nghị, các đại biểu cho rằng với những kết quả đạt được, nếu được ứng dụng trên diện rộng chất phụ gia nhiên liệu NANO trong Tổng công ty cũng như trên toàn quốc, đặc biệt đối với các đơn vị năng lượng trọng điểm, sẽ góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng sản xuất viên đốt Biomass từ phế phụ phẩm nông nghiệp      Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để chế biến các phế, phụ  phẩm trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp  thành sản phẩm viên đốt Biomass” do Công ty cổ phần Tư vấn nông nghiệp  và Phát triển nông thôn Phú Thọ thực hiện bước đầu đã đem lại hiệu quả  kinh tế-xã hội, tăng giá trị đầu ra cho các nguồn sản phẩm nông, lâm  nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và mang lại nhiều lợi ích về môi  trường.    Dự án triển khai từ tháng 1/2012 với mục tiêu làm chủ và áp dụng thành công quy trình công nghệ sản xuất viên đốt Biomass từ nguồn phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhằm bảo vệ môi trường, giải quyết công ăn việc làm tại địa phương và phục vụ nhu cầu sử dụng năng lượng sạch trong và ngoài nước.   Triển khai dự án, công ty tiến hành thu thập tài liệu trồng rừng, chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và huyện Đoan Hùng; tiến hành điều tra, khảo sát các cơ sở chế biến lâm sản, nông sản trên địa bàn huyện Đoan Hùng và các huyện lân cận.  Qua điều tra cho thấy nguồn nguyên liệu đầu vào rất phong phú, đủ cung cấp cho xưởng sản xuất với công suất thiết kế.  Sau hai năm thực hiện, dự án đã sản xuất được 300 tấn viên đốt pellet và 200 tấn củi dạng ống bằng nguyên liệu mùn cưa, cành cây và vỏ cây.  Dự án cũng đã đào tạo được năm cán bộ kỹ thuật viên và 40 công nhân thành thạo các quy trình sản xuất viên đốt và củi đốt, góp phần giải quyết việc làm cho 30 lao động thường xuyên với mức lương 4- 4,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, dự án còn tạo việc làm cho hàng chục lao động thời vụ và công nhân thu gom nguyên liệu cung cấp cho xưởng sản xuất tại địa phương.  Theo tính toán, một tấn sản phẩm viên đốt sau khi trừ chi phí thu lợi nhuận trước thuế là 390.000 đồng, 1 tấn sản phẩm củi đốt thu lợi 190.000 đồng. Trong hai năm thực hiện, dự án đã cho lợi nhuận 155 triệu đồng.  Bên cạnh hiệu quả kinh tế, dự án đem lại rất nhiều lợi ích về môi trường. Cụ thể, so với than cám và than đá thì sử dụng hai sản phẩm trên cho hiệu quả kinh tế cao hơn từ 1,2-1,3 lần do giá thành sản phẩm và nhiệt lượng cung cấp.  Ngoài ra, hai sản phẩm trên không làm ảnh hưởng môi trường như khí thải của than đá gây ra cho không khí từ đó góp phần bảo vệ, làm giảm ô nhiễm môi trường do phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.  Sau khi kết thúc, dự án hoàn thiện quy trình sản xuất, tiếp tục sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, từ đó mở rộng ra các địa phương và nhân rộng mô hình ra các địa phương khác.  Doanh nghiệp cũng đầu tư thêm dây chuyền với công suất 2 tấn/giờ, nâng tổng công suất của xưởng sản xuất lên trên 1.000 tấn/tháng.  Hiện nay trên thị trường, nhu cầu sử dụng viên đốt là rất lớn, sản phẩm có thể xuất khẩu đi các nước châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc.  Hằng năm, các doanh nghiệp sản xuất viên đốt có thể xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn. Thành công của dự án góp phần làm phong phú thêm sản phẩm công nghiệp phục vụ phát triển nông thôn của tỉnh Phú Thọ, sản phẩm phục vụ xuất khẩu có giá trị kinh tế và hiệu quả cao, làm tăng nguồn thu ngân sách địa phương, giải quyết việc làm cho lao động, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng thành công công nghệ sinh học nâng cao năng suất trồng nấm      Sở KH-CN Hải Phòng cho biết, Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Vĩnh Bảo vừa hoàn thành dự án Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất các loại giống nấm cấp II, III, nấm ăn, nấm dược liệu. Đây là kết quả chuyển giao từ Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam).    Sau khi tiếp nhận quy trình sản xuất giống cấp II, III cho năm loại nấm gồm: nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, nấm linh chi và mộc nhĩ, Trung tâm đã mở các lớp tập huấn để phổ biến kiến thức về kỹ thuật trồng nấm, đồng thời cung ứng giống và tổ chức sản xuất đến đông đảo bà con trong huyện. Nguyên liệu để sản xuất các loại nấm chủ yếu là các phế phụ phẩm nông nghiệp như: thóc, mùn cưa, rơm rạ, vỏ trấu, que sắn…  Trong thời gian thực hiện dự án, Trung tâm đã sản xuất được 10.756kg giống nấm các loại. Mô hình triển khai đến 22 hộ tại 9 xã trên địa bàn huyện quy mô 5- 10 tấn/ 1 hộ đạt năng suất cao: nấm rơm 12- 14% trên tổng sản lượng nấm, nấm sò 50- 60% và nấm mỡ 22- 23%.  Đại diện cơ quan chủ trì dự án cho biết, quy trình sản xuất nấm được bà con các xã tiếp nhận và hưởng ứng nhiệt tình bởi khác với các cây trồng khác, nấm là loại có nhiều ưu điểm: cho năng suất cao trên diện tích nhỏ, chi phí đầu tư thấp, quay vòng nhanh, nguyên liệu trồng nấm dồi dào…do đó, việc đưa kỹ thuật trồng nấm đến với bà con vừa giải quyết vấn đề việc làm, vừa tạo hiệu quả kinh tế đồng thời nâng cao nhận thức của bà con trong việc bảo vệ môi trường.  Ban chủ nhiệm dự án mong muốn nhận được sự quan tâm của thành phố để tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng theo dõi giấc ngủ phản tác dụng      Các nhà thần kinh học cho biết, các ứng dụng số hóa và đo lường giấc ngủ thường phản tác dụng, gây căng thẳng và khiến chứng mất ngủ trở nên trầm trọng hơn.    Phát biểu tại Tuần lễ khoa học Cheltenham (Anh), TS. Guy Leschziner, chuyên gia và nhà tư vấn về rối loạn giấc ngủ tại Bệnh viện Guy, London, cho biết chính mối bận tâm ngày càng tăng với việc ngủ đủ giấc đang gây phản tác dụng và dẫn đến khả năng mất ngủ. “Chúng tôi thấy chứng mất ngủ ngày càng tăng ở rất nhiều người do sử dụng ứng dụng theo dõi giấc ngủ hoặc đọc đôi chút về tác hại của việc thiếu ngủ”, Leschziner nói.  Một tỷ lệ lớn bệnh nhân tìm đến phòng khám của Leschziner để điều trị chứng mất ngủ đã có sẵn dữ liệu về thời gian ngủ của họ, và thường không muốn xóa ứng dụng theo dõi, ông nói. “Khó có thể thuyết phục họ ngừng sử dụng các ứng dụng này”.  Hầu hết các ứng dụng chưa được kiểm chứng lâm sàng và chỉ theo dõi chuyển động của cơ thể, vì vậy không thể cung cấp thông tin về chất lượng giấc ngủ, ông nói thêm.  “Tôi khá nghi ngờ về các thiết bị theo dõi giấc ngủ. Nếu thấy mệt mỏi khi ngủ dậy và đêm qua ngủ không ngon, thì bạn sẽ biết mình đã gặp vấn đề”, ông cho biết, “Nếu thức dậy và cảm thấy sảng khoái, có thể thức suốt cả ngày và ngủ cùng một thời điểm mỗi tối thì chắc rằng bạn đã ngủ đủ giấc và không cần tới một ứng dụng để biết được điều này”.   Những lo ngại tương tự cũng được nhấn mạnh trong một loạt các nghiên cứu do một nhóm nghiên cứu ở Chicago công bố vào năm ngoái, tìm hiểu về các bệnh nhân đã sử dụng các ứng dụng để quản lý giấc ngủ – gây ra rối loạn orthosomnia.  Nghiên cứu cho thấy thời gian ngủ tối ưu đối với đa số mọi người là khoảng tám giờ, nhưng điều này cũng không cố định. Đối với những người có nhu cầu ngủ tự nhiên ít hơn, việc cảnh báo rằng họ không ngủ “đủ” giấc có thể gây ra hiệu ứng nocebo – sự lo ngại về các triệu chứng tiêu cực khiến họ thực sự lâm vào tình trạng tệ hơn.  Stephanie Romiszewski, một nhà tâm lý học về giấc ngủ tại Exeter, cho biết: “Mỗi người ngủ theo một cách khác nhau và thời gian khác nhau. Việc đi đến kết luận chưa ngủ đủ giấc từ thông tin của một ứng dụng theo dõi giấc ngủ thông thường chỉ khiến bạn thêm lo lắng”.  Tuy nhiên, một số ứng dụng trị liệu hành vi nhận thức (cognitive behavioural therapy – CBT) lại điều trị hiệu quả chứng mất ngủ trong các cuộc thử nghiệm.  Các nhà khoa học cho rằng mọi người  không nên quá lo lắng trước những khuyến nghị về việc tiêu thụ cafeine và tiếp xúc với ánh sáng xanh trước khi đi ngủ. Leschziner nói: “Có những gene ảnh hưởng đến phản ứng của não với caffeine, nhiều người uống hai hoặc ba tách espresso trước khi đi ngủ cũng không bị mất ngủ”.  Di truyền cũng ảnh hưởng đến mức độ tác động của ánh sáng xanh đến giấc ngủ và hormone ngủ – melatonin. “Nếu bạn có thể xem phim đến 11 giờ đêm và vẫn có một giấc ngủ tuyệt vời sau đó thì bạn không cần phải lo lắng về ánh sáng xanh”, ông nói. “Sự nhạy cảm của mỗi người với ánh sáng xanh đều rất khác nhau”.  Leshchziner cho biết, việc theo dõi giấc ngủ là một phần trong xu hướng “đo lường cuộc sống”: sử dụng công nghệ để đếm xem chúng ta đã đi bao nhiêu bước chân, có bao nhiêu bạn bè trực tuyến và tiêu tiền như thế nào. Với giấc ngủ, xu hướng này đặc biệt có vấn đề, ông cho biết. “Nếu bạn đo bước chân và thấy mình ít hoạt động thì có thể tăng cường tập thể dục. Nhưng khi bạn rơi vào trạng thái ám ảnh về thiếu ngủ, bạn sẽ lại càng khó ngủ hơn”. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/lifeandstyle/2019/jun/07/sleep-apps-backfire-by-causing-anxiety-and-insomnia-says-expert    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng trí tuệ nhân tạo giúp phát hiện sớm bệnh Glôcôm      Vừa qua, nhóm tác giả tại Bệnh viện Mắt TPHCM đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Tầm soát bệnh glôcôm bằng chụp ảnh màu gai thị với ứng dụng phần mềm trí tuệ nhân tạo EyeDr”.    Glôcôm là một bệnh lý thần kinh thị giác, đặc trưng bởi hình thái tổn thương đặc hiệu tiến triển của lớp sợi thần kinh và đĩa thị. Đây là nguyên nhân chiếm tỷ lệ thứ hai, chỉ xếp sau đục thủy tinh thể, dẫn đến chứng mất thị lực hoàn toàn. Tại Việt Nam, hiện cả nước có khoảng trên 380 ngàn người bị mù hai mắt, trong đó có hơn 24 ngàn người bị mù lòa do glôcôm (chiếm 65% và đứng thứ hai sau bệnh lý đục thể thủy tinh 66,1%). Một phần nguyên nhân là do tỷ lệ phát hiện glôcôm của nước ta còn thấp, do chưa có phương pháp khám tầm soát phù hợp kịp thời, theo TS.BS Phạm Thị Thủy Tiên, Bệnh viện Mắt TPHCM.        Trong khi đó, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng công nghệ học máy để xác định bệnh glôcôm. Đây được xem như là phương tiện có độ nhạy và độ chuyên biệt cao (>90%) để phát hiện bệnh lý thần kinh thị do glôcôm, từ những hình ảnh đáy mắt chất lượng cao.    Giải pháp EyeDr của nhóm gồm hệ thống máy chủ với các chức năng như lưu trữ dữ liệu hình ảnh gai thị và các bộ dữ liệu huấn luyện; nhận diện đặc trưng, phân loại bệnh lý glôcôm khi có yêu cầu từ phía người sử dụng;… Ngoài ra, còn có phần mềm ứng dụng (EyeDr Software Client) cài đặt tại máy tính để bàn của bác sỹ tham gia khám tầm soát cho bệnh nhân. Khi bác sỹ sử dụng phần mềm EyeDr Software Client tải lên một hình ảnh gai thị, phần mềm sẽ chuyển hình ảnh này đến EyeDr Server, sau đó máy chủ EyeDr Server sẽ thực hiện việc tiếp nhận, lưu trữ dữ liệu hình ảnh gai thị đồng thời xử lý và trả kết quả chẩn đoán phân loại bệnh glôcôm về cho phía phần mềm tại máy bác sỹ.    Quy trình vận hành hệ thống EYEDR phục vụ nghiên cứu tại Bệnh viện Mắt TPHCM được thực hiện với các bước như bệnh nhân A đến khám tầm soát glôcôm sẽ được chỉ định đi chụp hình màu gai thị tại Khoa chẩn đoán hình ảnh. Tại đây, hình ảnh đáy mắt được kỹ thuật viên chụp từ máy chuyên môn, xử lý ảnh và đẩy lên máy chủ lưu trữ tại thư mục hình ảnh gốc và chuyển về phần mềm EyeDr. Phần mềm hiển thị hình ảnh và các thông tin phân loại bệnh trên hình ảnh gai thị, giúp tầm soát bệnh lý glôcôm.    Kết quả, thời gian trung bình để đọc và phân loại ảnh màu đĩa thị xác định bệnh lý glôcôm đối với hệ thống máy học chỉ từ 8-12 giây, nhanh hơn rất nhiều so với mức 45 giây khi bác sỹ nhãn khoa chuyên về glôcôm thăm khám, hay 6-8 phút đối với bác sỹ nhãn khoa thông thường. Qua thử nghiệm lâm sàng, độ nhạy và độ chuyên biệt của phần mềm EyeDr được xác định lần lượt ở mức 90,3% và 95,1%.    Theo TS.BS Phạm Thị Thủy Tiên, Chủ nhiệmđề tài, chỉ cần trang bị máy chụp hình đáy mắt chụp được ảnh gai thị, các bệnh viện, trung tâm y tế đều có thể dễ dàng sử dụng phần mềmEyeDr, để tầm soát sớm bệnh lý đáy mắt cho bệnh nhân    Trong thời gian tới, phần mềm trí tuệ nhân tạo EyeDr tiếp tục được nhóm nghiên cứu và ứng dụng trong lâm sàng. Qua đó, có thể đưa phần mềm trí tuệ nhân tạo EYEDR vào hệ thống Danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Y tế, xem như là một phương pháp tầm soát giúp phát hiện bệnh. Đồng thời, nhóm tiếp tục mở rộng thuật toán phần mềm để tầm soát những bệnh lý khác của đáy mắt như võng mạc đái tháo đường, hoàng điểm tuổi già.    Thu Trang    Author                .        
__label__tiasang Ứng dụng y học chính xác ở Viện huyết học truyền máu TƯ      Trước khi có thể triển khai một cách bài bản y học chính xác ở Việt Nam thì ở một số bệnh viện lớn, trong đó có Viện Huyết học truyền máu Trung ương, đã từng bước đưa phương pháp này vào hỗ trợ chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp.      TS. Dương Quốc Chính trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế.  Dẫu chỉ ở mức độ chưa được hoàn chỉnh và toàn diện nhưng về bản chất thì y học chính xác đang được thực hành tại đây”, TS. Dương Quốc Chính, trưởng khoa Khoa Di truyền và sinh học phân tử (Viện Huyết học truyền máu Trung ương chia sẻ. Trên nền tảng kiến thức và kinh nghiệm khi áp dụng liệu pháp điều trị nhắm đích (hay còn gọi là liệu pháp nhắm đích sinh học phân tử – molecularly targeted therapy), Khoa Di truyền và sinh học phân tử đã bắt đầu đưa những yếu tố cơ bản nhất của y học chính xác vào điều trị một số bệnh điển hình về máu như leukemia (ung thư bạch cầu)… Anh giải thích thêm, “chúng tôi đã có thể kiểm soát được toàn bộ quá trình điều trị của bệnh nhân, cân đong đo đếm định lượng các bản copy của gene ung thư đồng thời theo dõi khả năng đáp ứng điều trị hay phát hiện ra đột biến kháng thuốc phát sinh trong quá trình điều trị một cách chuẩn xác”.  Việc ứng dụng y học chính xác một cách linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh ở Viện Huyết học truyền máu trung ương không đi chệch khỏi bản chất của y học chính xác. Tại một hội nghị quốc tế, TS. Hoàng Văn Tổng (Trung tâm nghiên cứu Sinh y dược học, Học viện Quân y), cho biết, có rất nhiều khía cạnh và mức độ trong nghiên cứu và ứng dụng y học chính xác, vì thế tùy theo từng trình độ và quy mô áp dụng mà người ta có thể khai thác được thông tin từ cơ sở dữ liệu gene của một cá thể nào đó để áp dụng vào việc sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh.  Khoa Di truyền và sinh học phân tử đã làm những bước gì để có thể tiếp cận y học chính xác? TS. Dương Quốc Chính cho biết, anh và một số đồng nghiệp của anh thường xuyên cập nhật tài liệu mới của thế giới qua các thư viện y học. Trong quá trình học hỏi và bổ sung kiến thức này, anh thấy các đồng nghiệp quốc tế cập nhật những phương pháp chẩn đoán, sàng lọc và những trường hợp bệnh lý tiêu biểu các bệnh máu ác tính như lơ xê mi, đa u tủy xương.. mà mình có thể áp dụng vào công việc, trên cơ sở đó, anh rút ra những yếu tố cốt lõi để từng bước học hỏi và xây dựng một số đề tài nghiên cứu nhỏ cấp viện. Khi hoàn thành nghiên cứu, các đề tài được hội đồng khoa học và hội đồng đạo đức Viện đánh giá, qua đó xây dựng những quy trình kỹ thuật như định lượng copy của gene bệnh, phát hiện đột biến kháng thuốc thứ phát bằng kỹ thuật giải trình tự gene NGS. “Cũng phải mất hai, ba năm trời mới có thể chuẩn hóa nó thành những quy trình thường quy trong xét nghiệm các bệnh lý…”, TS. Dương Quốc Chính kể lại.  Với sự hỗ trợ của máy giải trình tự gene thế hệ mới, ngay từ trong phòng xét nghiệm của Khoa Di truyền và sinh học phân tử đã có thể phân tích và diễn giải kết quả để qua đó xác định được chính xác gene gây ra bệnh. Họ không chỉ phát hiện ra những ca “giấu bệnh” mà nếu không dùng công cụ giải trình tự gene thì không thể thấy được nguyên nhân mà còn “soi” được những trường hợp cực khó như hai bệnh nhân cùng mắc một bệnh, cùng bị tổn thương gene giống nhau nhưng lại khác biệt ở biểu hiện bệnh hoặc khả năng đáp ứng điều trị. Lý giải về trường hợp này, TS. Dương Quốc Chính cho biết, “sự tương tác giữa các thành phần trong tế bào rất phức tạp, nhiều khi không chỉ tương tác ở một gene mà còn nhiều gene với nhau, hoặc với các yếu tố di truyền ngoài nhân và nhiều yếu tố khác… Cần phải cân nhắc tất cả các yếu tố đó bởi điều trị chính xác là điều trị đỉnh cao, càng thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến bệnh lý thì càng có cách điều trị bệnh một cách chính xác hơn, sau đó đưa các yếu tố đó để tính toán điều trị cụ thể trên từng bệnh nhân”.  Một trong những thế mạnh về điều trị chính xác mà Khoa Di truyền và sinh học phân tử vẫn áp dụng là sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh leukemia – bệnh tổn thương gene dẫn đến DNA tái tổ hợp thành gene lai và làm tăng sinh số lượng tế bào bạch cầu nhưng những tế bào này lại không có chức năng như thông thường. Khi xác định được căn nguyên của bệnh, họ sẽ dùng thuốc điều trị đích (targeted drug) để ức chế gene đó theo những liều chuẩn ban đầu, sau một quá trình điều trị, các bác sỹ sẽ xem xét việc đáp ứng thuốc trên gene bị tổn thương như thế nào để quyết định tăng hay giảm liều lượng thuốc theo tiêu chuẩn “đúng liều, đúng thời điểm” cho đến khi gene đó hoàn toàn biến mất và không phát hiện được bằng các kỹ thuật xét nghiệm thông thường thì được coi là điều trị thành công.  Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh nhân đều đáp ứng thuốc, TS. Dương Quốc Chính cho biết, cũng có những trường hợp, “bệnh nhân có tổn thương điển hình như thế và được điều trị theo cách thức như thế mà không hiệu quả thì sẽ phải phân tích tiếp xem cái gene đó có đột biến gì mà kháng thuốc hoặc trong quá trình điều trị, bệnh nhân đang đáp ứng thuốc rất tốt xong nhưng thuốc không có tác dụng nữa thì cũng cần kiểm tra bằng kỹ thuật sinh học phân tử xem có tổn thương gene mới nào xuất hiện hay không, hoặc là vẫn trên cái tổn thương gene đó có đột biến nào mới xuất hiện khiến phá hoại điều trị… Tất cả những cái đó đều được cân đong đo đếm thường xuyên”, anh chia sẻ về quá trình áp dụng y học chính xác.  Qua quá trình triển khai, TS. Dương Quốc Chính nhận thấy, muốn đạt được hiệu quả khi áp dụng y học chính xác cần phải có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, được đào tạo bài bản và thuần thục các kỹ năng, đi kèm với nó là các phòng xét nghiệm, máy móc trang thiết bị đồng bộ và đạt chuẩn quốc tế, đồng thời “cần phải có những chính sách đồng bộ đi kèm như bảo hiểm y tế”, anh nói. Nguyên nhân là y học chính xác đem lại hiệu quả điều trị hơn so với các phương pháp khác nhưng lại có điểm yếu là hết sức tốn kém, nhiều trường hợp vượt quá khả năng chi trả của bệnh nhân vì phải thực hiện nhiều xét nghiệm khác nhau, thuốc điều trị cũng đắt hơn thuốc thông thường trong khi bảo hiểm y tế lại quy định chặt chẽ các loại xét nghiệm, các loại thuốc được bảo hiểm thanh toán.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Ứng xử với mặt bằng giá thời lạm phát      Không cường điệu một chút nào nếu cho rằng người tiêu dùng Việt Nam đã không còn cơ hội để quay trở lại và tận hưởng mặt bằng giá thấp đã hình thành từ đầu năm 2007 trở về trước. Vấn đề quan trọng hiện nay là phải nhanh chóng tư duy lại và có phương thức ứng xử phù hợp với mặt bằng giá cả mới để bảo đảm sự vận hành thông suốt của guồng máy kinh tế – xã hội vốn đã và đang diễn ra vô cùng sôi động.    Trước hết, cần có quan niệm đúng về mặt bằng giá cả thời lạm phát cao tại Việt Nam. Giá cả tăng không hoàn toàn bởi yếu tố lạm phát mà còn do năng lực tự điều chỉnh nhằm đạt đến sự cân bằng nội tại của một nền kinh tế mới nổi trên đà phát triển. Đây không phải là hệ quả bất ngờ mà là hiện tượng tất yếu sẽ diễn ra trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu, sự hợp tác và cạnh tranh toàn cầu cũng như tác động của những nhân tố rủi ro mang tầm quốc tế diễn ra ngày càng gay gắt và khó lường.Vấn đề có tính quy luật là, trình độ kinh tế và mức thu nhập bình quân GDP đầu người càng tăng thì mặt bằng giá cả sẽ nâng lên theo tương ứng, đặc biệt là giá cả các sản phẩm thuộc diện thiết yếu và dịch vụ cao cấp. Điều này là dễ hiểu bởi vì nhu cầu tiêu dùng lúc này sẽ đi dần vào khuynh hướng đa dạng hóa cộng với đòi hỏi yêu cầu chất lượng ngày càng cao, khắt khe hơn. Mặt bằng giá cả mới đang hình thành sẽ trở thành một trong những động lực kiến tạo nên phong cách sống mới, với những quan niệm, cấp độ, và hệ thống thước đo riêng về mức sống thời hiện đại hóa, trong đó bao hàm một loạt các tiêu chí có liên quan mật thiết với nhau như : Trình độ giáo dục, kỹ năng chuyên môn, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng dịch vụ y tế, tiện nghi môi trường sống  . . . Dưới tác động của mặt bằng giá mới đang hình thành, đã đến lúc người tiêu dùng Việt Nam cần từ bỏ dần tâm lý  “rẻ rúng” mỗi khi nói về giá cả những mặt hàng nông sản thiết yếu, và trong tương lai không xa sẽ đến ngày không còn ai dám xem thường và đánh đồng “ nắm gạo, nhúm rau, quả ớt, củ khoai, con cá . . .” với giá cả rẻ mạt. Thay vào đó người tiêu dùng sẽ chấp nhận thanh toán với giá cao hơn nhiều lần so với trước đây nhưng đi đôi với những yêu cầu khắt khe hơn về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Thực tế này đến lượt nó lại chính là cơ hội lớn cho những người nông dân “tay lấm chân bùn, một nắng hai sương” của chúng ta, là động lực để nông dân yên tâm và tận tâm hơn khi sản xuất ra sản phẩm cung cấp cho thị trường theo hướng: Sạch, an toàn, giá cả hợp lý. Thông qua đó góp phần gia tăng uy tín thương hiệu nông sản và thu nhập cho chính bản thân họ, đồng thời thúc đẩy sự hình thành trên quy mô lớn “thị trường nông sản sạch” vốn dĩ rất ì ạch khó phát triển trong thời gian qua chủ yếu do không vượt qua được cửa ải tâm lý “thích của rẻ, mặc dù của ôi” của một bộ phận lớn người tiêu dùng.  Vấn đề tiếp theo không kém phần quan trọng, đó là phải chấp nhận “ chung sống hòa bình ” với mặt bằng giá cả mới, từng bước làm chủ nó với những kỹ năng dự báo và quản trị điều hành kinh tế vĩ mô thực sự có căn cứ, hiệu quả. Theo phản ứng tự nhiên, để cân bằng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong phạm vi mặt bằng giá mới, mọi chủ thể trong nền kinh tế phải vận động theo hướng tìm kiếm tăng thu nhập hoặc giảm chi phí bằng nhiều cách khác nhau. Trong điều kiện như vậy, Nhà nước có nhiệm vụ vô cùng quan trọng là bảo đảm duy trì một hành lang pháp lý minh bạch và công bằng, tạo mọi điều kiện hợp pháp để các chủ thể kinh doanh tự do cạnh tranh đạt đến nhằm bình ổn giá cả thị trường. Thay vì ban hành mệnh lệnh hành chính hoặc thực hiên chính sách bao cấp, ưu đãi độc quyền cho một số doanh nghiệp hoặc lĩnh vực nào đó thì Nhà nước nên chuyển mạnh sang sử dụng lực đẩy của quan hệ cung – cầu thị trường để tác động đến các quyết định lựa chọn và phân bổ thu nhập theo quy luật giá cả đã hình thành. Bài học về giá cước viễn thông là một thí dụ hết sức sinh động trong thời gian vừa qua, trong khi mọi thứ dường như đều tăng giá hoặc lợi dụng tình cảnh “đục nước béo cò” để tăng giá theo kiểu “té nước theo mưa”, thì riêng cước viễn thông liên tục thực hiện khuyến mãi giảm giá nhờ vào chính sách khuyến khích cạnh tranh rất hiệu quả trong lĩnh vực này, đem lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng.  Một nội dung cực kỳ quan trọng khác trong quản trị vĩ mô là điều hành chặt chẽ các cân đối lớn trong nền kinh tế như: Sản xuất và tiêu dùng – Cung cầu tiền tệ và hàng hóa, Xuất nhập khẩu, Thu chi ngân sách. Đây là yếu tố then chốt giúp duy trì ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, không để mặt bằng giá cả thoát ly khỏi tầm kiểm soát. Trong giai đoạn quá độ từ mặt bằng giá cả cũ chuyển sang mặt bằng giá cả mới, cần lưu ý các lực lượng dễ bị ảnh hưởng và tổn thương nhất đó là nhóm người có thu nhập thấp, người làm công ăn lương, hưu trí, các tầng lớp nghèo trong xã hội . . . Đòi hỏi Nhà nước phải có những thay đổi cơ bản về quan điểm tiếp cận cũng như cách thức giải quyết tình trạng bất bình đẳng đang có nguy cơ phát sinh ngày càng lớn giữa người giàu và nghèo, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa người may mắn và bất hạnh . . . Hiện nay, để thực hiện chính sách an sinh xã hội chống lạm phát, Nhà nước đang thực hiện một số chính sách trợ giá, trợ phí . . . cho một số đối tượng như : Hỗ trợ chi phí xăng dầu cho ngư dân, cấp phát chi phí thắp sáng cho đồng bào miền núi, phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo . . . Những việc này tuy rất cần thiết nhưng chưa phải là những giải pháp căn cơ, khó tránh hiện tượng làm theo phong trào, theo kiểu phát chẩn . . . Có nhiều ý kiến tỏ ra quan ngại cho tương lai đất nước chúng ta nếu mai đây một khi nguồn lực dầu thô và tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được bị khai thác cạn kiệt, hoặc khi dự trữ lương thực của quốc gia gặp sự cố thiếu hụt . . . thì kịch bản đối phó với thảm họa xảy ra là như thế nào ? Đây quả là một bài toán hết sức cân não cho một đất nước có gần 100 triệu sinh mệnh nhân dân. Chính vì vậy, một giải pháp an sinh xã hội tốt phải là giải pháp hội đủ hai yếu tố : (1) Có nguồn lực bền vững, có khả năng tái tạo để duy trì sự hỗ trợ lâu dài – (2) Khuyến khích người được hỗ trợ sử dụng nguồn lực an sinh một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Theo hướng đó, Nhà nước cần thiết phải có cơ chế khuyến khích tiến trình đa dạng hóa mạnh mẽ các loại hình quỹ bảo hiểm có liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội, kể cả áp dụng bảo hiểm bắt buộc, như : Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe cộng đồng, bảo hiểm rủi ro tai nạn nghề nghiệp, bảo hiểm nhà ở . . . Kiên quyết chỉ đạo làm thí điểm đi đến triển khai đại trà mô hình Công ty cổ phần bảo hiểm rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn – nông dân, và Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ chủ lực trong tư cách là chủ thể góp cổ phần chi phối, tạo nền tảng để xây dựng chính sách tam nông bền vững, nâng cao mức sống mọi mặt cho nông dân, phát huy vị thế chủ đạo của kinh tế nông nghiệp trong sự nghiệp xây dựng và ổn định đất nước. Sử dụng có hiệu quả các công cụ tài chính như : Miễn giảm thuế, hoàn thuế, trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp để hỗ trợ cho một số các ngành kinh tế có tầm quan trọng chiến lược để sớm thích nghi, chuyển đổi theo hướng “ thị trường hóa các yếu tố đầu vào – đầu ra ”, giúp doanh nghiệp chủ động “ xử lý hộp đen ” phù hợp với sự thay đổi của mặt bằng giá cả mới đang hình thành, vừa chống tư tưởng bao cấp dựa dẫm vào Nhà nước, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn. Ngay từ bây giờ phải hình thành cơ chế tái phân phối nguồn lực tài chính quốc gia ở cấp vĩ mô theo định hướng ưu tiên trích lập bắt buộc một phần lợi tức từ những ngành có lợi nhuận cao để chuyển sang đầu tư cho cơ sở hạ tầng và nhân lực trong lĩnh vực tam nông, đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, khoa học kỹ thuật… Phấn đấu trong vòng 15 – 20 năm đến phải đặt ra mục tiêu thực hiện bằng được việc xây dựng xong các nền tảng cơ bản để chuyển hướng mạnh sang nền kinh tế tri thức. Thiết nghĩ, đây là lẽ sống, là con đường tồn tại và phát triển, là cách thức thể hiện ý chí bản lĩnh kiên cường của dân tộc Việt trong thời đại hội nhập quá nhiều thách thức và cạm bẫy như hiện nay.  Tâm Dân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ước lượng quy mô thị trường      Quy mô thị trường tiềm năng phản ánh tầm nhìn và giúp bạn xây dựng chiến lược kế hoạch hành động. Không một nhà đầu tư nào muốn rót vốn vào công ty không có khái niệm gì về quy mô thị trường mình đang phục vụ hoặc sẽ phục vụ. Thậm chí, nếu một thị trường tiềm năng của công ty quá nhỏ sẽ hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư của bạn.      TAM SAM SOM là một trong những công cụ giúp bạn hình dung bức tranh tổng thể câu chuyện kinh doanh của bạn một cách tương đối với ba bước:  – Tổng nhu cầu với sản phẩm dịch vụ (Total available market -TAM):  Tùy tầm nhìn của bạn muốn hướng tới thị trường toàn cầu hay thị trường khu vực, TAM của bạn sẽ khác nhau. Ví dụ, bạn kinh doanh các tour du lịch trên lãnh thổ Việt Nam cho người Việt Nam. Vậy TAM của bạn chính là tổng nhu cầu của người Việt Nam đối với dịch vụ du lịch với tour trên lãnh thổ Việt Nam.  – Thị trường có thể phục vụ được (Serviceable Available Market- SAM).  Khi bạn khởi sự kinh doanh, với nguồn lực hạn chế, dự kiến trong 2-3 năm tiếp theo, bạn chỉ có thể phục vụ được thị trường miền Bắc. SAM sẽ giúp bạn giới hạn phạm vi phục vụ thị trường một cách thực tế hơn.  – Thị trường có thể nắm giữ được (Serviceable Obtainable Market- SOM)  Nếu bạn là người duy nhất trên thị trường, SOM có thể chính là SAM. Nhưng với những thị trường nhiều cạnh tranh, SOM có thể phải được tính toán thật kỹ lưỡng về tỷ lệ phần trăm bạn có thể nắm giữ.  SOM là nhân tố mang tính quyết định vào thời điểm hiện tại, nó phản ánh năng lực của bạn và khả năng chiếm lĩnh thị trường. SAM phản sự cạnh tranh trên thị trường thực tế. TAM phản ánh tầm nhìn và tiềm năng trong tương lai của sản phẩm dịch vụ của bạn.  Ước lượng từ kỳ vọng của bạn  Một cách thức khác giúp bạn ước lượng quy mô thị trường là đi từ hiểu biết của bạn với những thông số bình quân có được. Quy mô thị trường = A x B x C1.  Trong đó: A = Số lượng khách hàng; B = Trung bình quy mô giao dịch; C = Số lượng giao dịch/khách hàng/năm  Ví dụ, bạn nhắm vào thị trường đồ tiêu dùng của trẻ em ở Hà Nội: Số trẻ em ở Hà Nội ra đời bình quân 1 năm là 120.000 và mức chi tiêu cho con cái ở đây là 350.000. Quy mô thị trường Hà Nội = 120000 x 350000 x 12 = 504 tỷ.  Bạn dự kiến doanh thu của mình trong 1 tháng có thể đạt 1.2 tỷ có nghĩa thị phần bạn kỳ vọng đạt được sẽ là: 1.2 x 12/504000000000 = 3% thị phần.  Tổng hợp thống kê và các báo cáo  Điều này đặc biệt quan trọng khi bạn muốn kinh doanh trong những thị trường mang tính đặc thù và không thể tự mình tiến hành các nghiên cứu thị trường vốn rất đắt đỏ.  Lấy ví dụ, bạn muốn phát triển dịch vụ giải trí và tăng cường sức khỏe cho người già ở các thành phố lớn, chắc chắn bạn cần thống kê về số lượng người dân theo độ tuổi của các cơ quan thống kê để hình dung ra TAM. Sau đó, dựa trên quan sát của bạn về thu nhập của từng nhóm người già về hưu khác nhau để xem khả năng chi trả cho sản phẩm dịch vụ của bạn, bạn có thể giới hạn phạm vi thị trường. Cuối cùng, hãy xem trong khu vực bạn sinh sống có khoảng bao nhiêu hộ gia đình có người già đủ khả năng chi trả cho sản phẩm dịch vụ như vậy. Những con số thống kê mặc dù không thực sự được cập nhật cũng giúp bạn hình dung một cách cơ bản về khả năng tiếp cận thị trường của mình.  ———  1 Tham khảo: https://medium.com/@tuananh_phan/c%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c-%C4%91o l%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy-m%C3%B4-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-18d8e0c731bb#.winligkfv    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Ước mơ về nguyên liệu gỗ từ nấm      Hiện nay có nhiều hy vọng đối với vật liệu gỗ từ nấm, chủ yếu có chức năng chống ồn, phụ gia và “gạch tái sinh”. Các nhà nghiên cứu đang mày mò, thử nghiệm với hy vọng chất liệu này có thể thay thế bê tông.       Khi ban nhạc ăn khách Die Doofen năm 1995 hát bài “I’ll build you a house from pig head brawn” (tạm dịch “Anh sẽ xây một căn nhà làm bằng thịt thủ lợn cho em”) tưởng chừng ngốc nghếch nhưng hóa ra họ đã vô tình trở thành những kẻ nhìn xa trông rộng. Các chuyên gia cho rằng, vật liệu xây dựng sinh học hiện còn xa lạ nhưng trong tương lai sẽ thay thế bê tông, vì cát ngày một khan hiếm và việc sản xuất xi măng ảnh hưởng đến khí hậu. Khi chúng ta nói về vật liệu xây dựng tái tạo thì chúng ta đang nói về gỗ, rơm rạ hoặc sợi gai, đay… nhưng ngay cả việc dùng phế liệu từ rác thải sinh hoạt cũng không phải là chuyện quá vô lý. Để có thể sử dụng chúng, trước tiên cần phải trải qua quá trình chuyển đổi. Đây có thể là quá trình chuyển hóa sinh khối, ví dụ từ thức ăn thừa hoặc chất béo cũ, thông qua chất xúc tác sinh học là vi khuẩn hoặc nấm.  Một chất xúc tác sinh học tuyệt vời là loài nấm có tên khoa học là Ganoderma lucidum. Loài nấm này phổ biến trong các khu rừng ở Đức và thường xuất hiện vào mùa thu. Chúng sống dựa vào những cây lá rộng và phân hủy chúng. Y học Trung Quốc sử dụng loại nấm này để điều trị bệnh thần kinh nhưng chún cũng có thể đóng góp vào nền kinh tế sinh học.  Nhà khoa học Dirk Hebel ở Karlsruhe nghiên cứu loài nấm này. Ông nói: “Chúng tôi muốn tạo ra một loại vật liệu xây dựng mới có thể thay thế kim loại và khoáng chất”. Kiến trúc sư kiêm giáo sư xây dựng bền vững tại Học viện Công nghệ Karlsruhe (KIT) từ lâu đã nghiên cứu về tre nứa như một vật liệu xây dựng có thể tái tạo và gần đây ông đi sâu nghiên cứu về nấm Ganoderma. Ngôi nhà mơ ước của ông khi hết niên hạn sử dụng có thể được phân hủy để làm phân bón, do đó, ông mong muốn ngôi nhà tương lai phải nhẹ, gồm nhiều lớp và không có tường chỉ bằng khoáng chất.  Nấm sò và một số loại nấm khác được quảng bá là có thể được sử dụng để làm vật liệu xây dựng. Mùn cưa và các phụ phẩm khác từ nông nghiệp như ngô hoặc rơm rạ ngũ cốc được dùng làm chất dinh dưỡng để nuôi nấm. Chúng chứa cellulose, hemicellulose và lignin. Nấm sẽ phân hủy các chất này bằng các enzym.  Mỗi loại nấm yêu cầu một loại thức ăn đặc biệt. Điều này giải thích sự xuất hiện của các loại nấm khác nhau trong rừng, mỗi loài có yêu cầu riêng về nhiệt độ và độ ẩm. Phòng thí nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu này của nấm, đồng thời phải vô trùng để tránh sự pha tạp.  Vật liệu xây dựng dựa trên cellulose và nấm có các đặc tính tương tự như gỗ dán nhưng nó không sử dụng bất kỳ chất kết dính độc hại nào. Loại gỗ mới này được tạo nên từ các sợi nấm được nuôi trồng trên chất thải nông nghiệp hữu cơ, sau đó được làm khô từ đó thành vật liệu chết và trở nên cứng rắn. Quá trình sản xuất loại gỗ mới này không sản sinh CO₂.  Sau nhiều năm nghiên cứu cơ bản, nay người ta đã tiến gần tới giai đoạn tạo ra các sản phẩm đầu tiên.  Giáo sư Hebel nói “Ước mơ của chúng tôi là vài năm nữa người ta có thể lựa chọn trên thị trường vật liệu xây dựng giữa các loại gỗ tổng hợp được kết dính và vật liệu xây dựng được chế biến từ nấm”. Một vấn đề then chốt cần giải quyết là loại gỗ từ nấm có độ cứng thấp, khả năng chịu lực kém. Để tăng lực kéo, người ta phải học hỏi từ bê tông. Bê tông cũng có lực kéo thấp do đó phải gia cố nên từ 100 năm nay người ta đã gia cố bằng cốt thép. Vấn đề là sau này khi phá dỡ thì mất rất nhiều công sức, thậm chí không phá nổi các chất kết nối này. Tại KIT cũng có nghiên cứu sử dụng các chất hữu cơ để gia cố vật liệu xây dựng làm từ nấm thí dụ như dùng sợi lanh hoặc bông vải.  Nhóm nghiên cứu do kỹ sư xây dựng Martin Trautz phụ trách ở Đại học  RWTH Aachen cũng tìm kiếm nguyên vật liệu nhằm gia cố loại gỗ làm từ sợi nấm này. Loại vật liệu tổng hợp dựa trên sợi nấm của  RWTH do có trộn thêm mùn cưa, các mảnh gỗ lớn hơn hoặc gỗ nhiều lớp nên có độ chịu lực lớn hơn. Có thử nghiệm trộn cát sỏi. Những chất liệu này có thể tách khỏi sinh khối khá dễ dàng. Chuyên gia Trautz tin rằng đến một lúc nào đó, người ta cũng sẽ tạo ra được loại vật liệu xây dựng làm từ sợi nấm , tuy nhiên độ chịu lực của chúng sẽ không bao giờ đạt được như gạch, ngói. Do đó các nhà khoa học sẽ tiếp tục nghiên cứu chế tác từ các loại nấm khác  để thử nghiệm trong thực tế.  Các loại nấm có hàm lượng chitin cao có thể làm tăng rõ rệt độ chịu lực của vật liệu.  Đối với vật liệu cách âm, cách nhiệt làm từ sợi nấm thì việc đưa vào ứng dụng trong thực tế sẽ sớm trở thành hiện thực,  thậm chí có thể thêm cả ở dạng bọt. Đầu tiên, người ta sẽ dùng chúng để thay thế loại xốp- Polyurethan. Vật liệu bọt xốp này từ lâu được dùng khá phổ biến  làm chất trám, vật liệu cách nhiệt, chất thay thế vữa hoặc chất kết dính cho các tấm cách nhiệt bằng xốp trong xây dựng. Chúng không chỉ có nguy cơ đối với sức khỏe mà còn là một vấn đề khi phân tách và tái chế các thành phần sau khi phá dỡ. Theo nhà nghiên cứu Hebel, nếu xét đến độ chịu lực của vật liệu xây dựng làm từ sợi nấm thì không thể bỏ qua gỗ. Do đó đang có các thử nghiệm gia cố bằng ván lạng hoặc cây gai.  Hebel cũng tính đến việc gia cố bằng sợi tre nứa, một đề tài ruột của ông. Mới đây ở New York đã trình diễn một công trình có cấu trúc từ chất thải từ cây ngô và sợi nấm mang tên Hy-Fi-Tower. Năm 2019 các kiến trúc sư Hà Lan và các nhà thiết kế vật liệu đã xây dựng một tòa nhà triển lãm ở Eindhoven, được gia cố bằng sợi bông, công trrình này mang tên “Growing Pavillon”.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus241034475/Pilzgeflechte-Wie-pilzbasierte-Holzwerkstoffplatten-funktionieren.html  https://rss.latimesnewsfeed.net/der-traum-von-pilzbasierten-holzwerkstoffplatten/    Author                .        
__label__tiasang Uống hết nước rồi ăn cả cốc*      Tờ The Guardian (Anh) cho rằng, những chiếc cốc ăn được của Loliware là tương lai của ngành thực phẩm trên thế giới    Cốc Loliware ăn được sau khi uống hết nước.  Những nhà khởi nghiệp: Chelsea Briganti và Leigh Ann Tucker, đã gặp nhau khi cùng theo học tại trường Parsons The New School for Design tại New York, và cùng tạo ra Loliware, một loại ly nước ăn được, tự phân hủy và trông giống như những cốc thủy tinh cổ điển màu sắc. “Loliware ra đời vì, là những nhà thiết kế, chúng tôi muốn nghịch ngợm sáng tạo với một loại vật liệu nhưng chúng tôi có một tầm nhìn lớn hơn rằng Loliware sẽ thay thế một tỉ lệ các các cốc nhựa bị vứt đi” Tucker cho biết.  Khoảnh khắc sáng tạo: Sau khi tốt nghiệp vào năm 2010, Briganti và Tucker (cùng với hai cựu sinh viên khác của đại học Parsons) đã tham gia một vài cuộc thi thiết kế. Trong cuộc thi Jell-O Mold, họ đã thiết kế một loại cốc nước ăn được, đã được thử nghiệm với một số vật liệu, bao gồm gelatin, trước khi quyết định chọn agar, một loại gel rong biển không mùi, không vị và có thể thêm vô số hương vị. Sản phẩm này, được đặt tên là Jelloware, đã giành được một giải thưởng cho tính toàn vẹn về cấu trúc và gây được tiếng vang lớn. Khi một người pha chế vodka Absolut (một loại vodka của Thụy Điển) yêu cầu đặt mua 60,000 chiếc cốc agar để sử dụng cho một buổi hòa nhạc ngoài trời, các nhà thiết kế nhận ra dự án với dự định ban đầu chỉ làm đẹp hồ sơ có thể trở thành một doanh nghiệp . Briganti và Tucker liền hợp tác để bước tiếp. (Hai người còn lại quyết định không theo đuổi dự án.)Những người tạo xu hướng: Sản phẩm thử là một “hit” trong trong cuộc thi thiết kế, nhưng còn một chặng đường dài để có thể thương mại hóa được, vậy nên Briganti và Turkey đã bắt đầu giai đoạn phát triển sản phẩm trong gian bếp của họ ở căn hộ tại Brooklyn, tiếp tục những thử nghiệm với agar. Trong khi gelatin “có độ trong mờ đẹp, giống như thủy tinh,” Briganti giải thích “mùi của nó thật khó ngửi và hương vị thì kinh khủng.” Trong khi đó, agar, giữ được hình dạng của nó và có lợi thế là một sản phẩm ăn chay. Ưu tiên [sau đó] là hoàn thiện mùi vị. “Chúng tôi là những nhà thiết kế trở thành người nấu kẹo bất đắc dĩ,” cô nói. “Chúng tôi phải học cách làm thế nào để áp dụng kỹ năng thiết kế trong chuyện bếp núc”Sự hỗ trợ ngọt ngào: Briganti và Turkey đã kiếm được hơn 10,000$ từ chiến dịch trên Kickstarter 2011 (Kickstarter là một công ty huy động vốn từ cộng đồng – crowdfunding) và đổi tên sản phẩm của họ thành Loliware. Các nhà thiết kế đã tổ chức những buổi tiệc để thử nghiệm sản phẩm và thuê các chuyên gia thực phẩm kiểm định nhằm giúp tăng hạn sử dụng cho sản phẩm. Họ đã thử nhiểu hương vị khác nhau, bao gồm: hương thảo, chanh gừng và bạc hà trước khi chọn vị cam quýt cho sản phẩm ra mắt của mình. “Loại cốc này có thể thích ứng linh hoạt với nhiều loại đồ uống, từ sâm panh cho đến Whiskey sour, hay Sangria,” Briganti cho biết.Thêm một khoản 60,000$ từ các nhà đầu tư và nguồn tài trợ của Hot Bread Kitchen (một tổ chức phi lợi nhuận) ở Halerm giúp hai nhà thiết kế nhận được đơn đặt hàng từ AOL cho 600 chiếc ly dùng trong giải thưởng Adweek Brand Genius vào năm 2012.Quỹ chất lỏng: Hai nhà thiết kế đang trong quá trình hợp tác với một nhà sản xuất nhằm sản xuất một số lượng lớn loại ly Loliware. Những công ty như Google và Disney “đang mòn mỏi đợi chờ chúng tôi ra mắt sản phẩm,” Briganti nói, cặp đôi này đã chuẩn bị cho việc gây quỹ vòng hai trong năm nay với mục tiêu là một triệu đô la và mở rộng thị trường ra toàn quốc. Những chiếc cốc này được bán trên trang web Loliware.com với giá 14,95 đô la cho một hộp 6 chiếc. (hiện nay là 15.99 USD cho một hộp 4 chiếc)“Chúng tôi đã chuẩn bị trong một thời gian dài, và đây là thời điểm chúng tôi gây quỹ để làm ăn lớn và trải nghiệm giai đoạn phát triển mà chúng tôi biết rằng hoàn toàn khả thi,” Briganti cho biết.Mục tiêu kế tiếp: Briganti và Tucker đang lên kế hoạch để thử nghiệm những chiếc ly với hình dáng, kích cỡ và thiết kế mới. Thậm chí, họ hi vọng có thể sản xuất chai nước Loliware.  *Câu chuyện diễn ra vào tháng 5 năm 2014 đăng tải trên tạp chí Entrepreneur.Phương Thảo dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Uống trà có thể liên quan đến nguy cơ rủi ro sức khỏe thấp      Dữ liệu từ ngân hàng sinh học UK Biobank cho thấy những ai uống từ hai cốc trà đen mỗi ngày trở lên đều có nguy cơ rủi ro tử vong thấp hơn.    Đó là một nghiên cứu thú vị mà khoa học dành cho những ai thường xuyên vui vẻ thưởng thức một cốc trà mỗi ngày trong cuộc đời mình.  Một nghiên cứu đề xuất là một cốc trà như vậy có thể liên quan đến mức độ rủi ro tử vong thấp hơn. Khi so sánh với những người không uống trà, những người uống từ hai cốc trà hay nhiều hơn số này mỗi ngày có nguy cơ rủi ro tử vong thấp hơn 9% đến 13%, các nhà nghiên cứu cho biết.  Phát hiện này, được xuất bản trên Annals of Internal Medicine, đề xuất kết quả đạt được tương tự với cả người cho thêm sữa hoặc đường vào cốc trà của mình, hoặc những gì họ thích như các mức nhiệt độ khác nhau chẳng hạn.  Kết quả này cũng đạt được với những người có các biến dị di truyền ảnh hưởng đến tốc độ chuyển hóa caffeine.  Các nhà nghiên cứu từ Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ đã sử dụng dữ liệu trên nửa triệu người cả nam và nữ từ UK Biobank, trong đó 85% độ tuổi 40 đến 69, có cho biết họ thường xuyên uống trà và trong số này 89% cho biết họ uống các loại trà đen khác nhau. Nghiên cứu được thực hiện với một bảng hỏi được trả lời từ năm 2006 đến 2010 và được theo dõi trong hơn một thập kỷ.  Fernando Rodriguez Artalejo, một giáo sư về y học dự phòng và sức khỏe công cộng tại trường đại học tự trị Madrid, đã miêu tả nghiên cứu như một cách thể hiện “một tiến bộ bền vững trong lĩnh vực này”. Ông nói, phần lớn các nghiên cứu đã được thực hiện ở châu Á, nơi trà xanh được tiêu thụ nhiều nhất, và một ít nghiên cứu khác ngoài lục địa này “thường có quy mô nhỏ và không thể đi đến kết luận trong kết quả của họ”.  Ông cho biết thêm “Bài báo này chứng tỏ là việc uống thường xuyên trà đen (loại trà phổ biến ở châu Âu) liên quan đến việc giảm thiểu tổng thể các nguy cơ sức khỏe, đặc biệt là tử vong về bệnh tim mạch suốt 10 năm ở giai đoạn trung nhiên, chủ yếu là người da trắng trưởng thành”.  Ông cũng nói thêm nghiên cứu này không xác định chắc chắn trà là nguyên nhân làm giảm tỷ lệ tử vong của người uống trà, vì không thể loại trừ nó sẽ còn có thể phụ thuộc vào các yếu tố sức khỏe khác liên quan đến việc uống trà.  Vào tháng 11/2021, báo The Guardian cũng có bài viết là uống cà phê hay trà có thể liên quan đến mức độ rủi ro đột quỵ và mất tri nhớ thấp hơn, theo kết quả của một nghiên cứu trên quy mô lớn trong lĩnh vực này 1.  Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Y khoa Thiên Tân (Trung Quốc) tìm thấy là những ai uống từ hai đến ba cốc cà phê hoặc ba đến năm cốc trà mỗi ngày, hoặc kết hợp từ bốn đến sáu cốc cả trà và cà phê, đều có mức rủi ro bị đột quỵ hay sa sút trí tuệ tuổi già thấp hơn.  Những ai uống hai đến ba cốc cà phê hoặc hai đến ba cốc trà hằng ngày có mức nguy cơ rủi ro đột quỵ thấp hơn 32% so với người không uống.  Nguyễn Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://edition.cnn.com/2022/08/30/health/black-tea-health-benefits-wellness/  https://www.theguardian.com/food/2022/aug/29/drinking-tea-may-be-linked-to-lower-risk-of-death-study-suggests  —————————————————-  1.https://www.theguardian.com/society/2021/nov/16/tea-coffee-may-be-linked-lower-risk-stroke-dementia-study    Author                .        
__label__tiasang Up-Inns: Mô hình hỗ trợ dịch vụ du lịch trong thế kỷ mới      Du lịch – nền công nghiệp không khói đang ngày càng phát triển ở nhiều nơi trong những năm qua. Việt Nam sở hữu những vẻ đẹp hùng vĩ do thiên nhiên ban tặng, với khí hậu nhiệt đới 4 mùa, nền văn hóa và ẩm thực đa dạng – phong phú. Đây thực sự là một lợi thế để ngành du lịch Việt Nam phát triển. Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Du lịch, 4 tháng đầu năm 2018 lượng khách quốc tế ước tính đạt 5.547.314 lượt, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm 2017. Còn tính chung cả năm 2017, lượng khách quốc tế đạt 12.922.151 lượt, tăng 29,1% so với năm 2016.    Dù vậy, ngành du lịch vẫn đang đối mặt với một thực tế: Ở đâu có du lịch, ở đó có “chặt chém”, từ giá taxi, quán ăn, khách sạn… khiến khách du lịch thường gặp phải những trải nghiệm không tốt. Vì thế, nhằm giúp du khách an tâm khi tìm kiếm khách sạn một cách dễ dàng, từ năm 2016, Võ Lê Ngọc Diệp – cô gái 8X đến từ Nha Trang đã khởi nghiệp với dự án Up Inns – giải pháp tìm kiếm và đặt phòng tiết kiệm trên 2 nền tảng web và thiết bị di động.  Con đường khởi nghiệp chông gai  Tò mò hỏi ý nghĩa của cái tên Up Inns, Ngọc Diệp cho biết cô đã mất 1 tháng suy nghĩ để tìm tên phù hợp với ý tưởng. Theo Ngọc Diệp, “Up” có nghĩa là đi lên, nâng cấp và Inns là phòng trọ nhỏ. Ý tưởng của Diệp là khởi đầu từ phòng trọ nhỏ và nâng cấp lên cho nhiều dịch vụ kèm theo.  Quá trình tiếp cận, Diệp nhận thấy du lịch là thị trường mở nhưng cũng không dễ dàng như nhiều người nghĩ, nhất là hiểu “bên trong” người dùng, nghĩa là phải mất thời gian để hiểu vì sao người dùng này lại theo xu hướng này mà lại không theo xu hướng kia hay tại sao bị thu hút bởi sản phẩm này mà không phải sản phẩm khác….  Với sự nhạy bén với các cơ hội và khả năng quản trị rủi nhờ kinh nghiệm 12 năm trong lĩnh vực bảo hiểm tại một Tập đoàn đa quốc gia, Ngọc Diệp đã vô cùng lạc quan khi bắt đầu khởi nghiệp, nhưng khi bắt tay vào thực tế cô mới cảm nhận được sự phức tạp của thị trường du lịch. Với đối tượng mục tiêu – những phòng trọ nhỏ, nơi các chủ khách sạn theo hộ gia đình với số phòng chỉ có từ 5-10 phòng, ý tưởng hoạt động nhờ CNTT là điều gì đó rất xa xỉ, chưa nói đến hệ thống hóa. Bởi vậy, khi tiếp cận, Diệp đã bị nhiều chủ khách sạn từ chối, nhất là khi bắt gặp các câu hỏi liên quan như: khách sạn có lâu chưa, hiện có trung bình bao nhiều khách dùng thường xuyên… Tuy nhiên, nhờ cách thuyết phục khéo léo – tự nhận mình là người bán hàng giúp các khách sạn, mang thêm nguồn khách đến cho họ, không ít khach sạn đã ủng hộ, chào đón Diệp.  Để đảm bảo chất lượng của các khách sạn hợp tác với Up Inns, Diệp đã trực tiếp đến khách sạn để trải nghiệm dịch vụ: “Để kiểm tra chất lượng các khách sạn, bọn mình đến khách sạn với tư cách một người khách để đặt phòng. Sau đó sẽ chụp ảnh, quay phim với lý do sẽ quay lại hoặc giới thiệu bạn bè nếu khách sạn thực sự tốt”. Và để cập nhật tình trạng của khách sạn thường xuyên, Ngọc Diệp đã sử dụng hai cách phản hồi: (1) Sau khi sử dụng, khách đặt phòng sẽ đánh giá khách sạn theo mức từ 1 đến 5; (2) Nếu khách sạn có quá nhiều mức thấp thì sẽ cho nhân viên đến kiểm tra xem phản hồi của khách có đúng thực tế, trường hợp sau kiểm tra và nhắc nhở nếu khách sạn không cải thiện sẽ bị “out” ra khỏi hệ thống.  Những trái ngọt đầu tiên  Nhờ cách tiếp cận mới, chỉ sau 6 tháng loay hoay tìm phương hướng và cách làm phù hợp, Ngọc Diệp và các cộng sự đã xây dựng hoàn chỉnh mô hình quản trị tinh gọn và chiến lược kinh doanh, đánh giá chất lượng sản phẩm cho người dùng một cách tối ưu để tiếp cận khách hàng hiệu quả. Sau 1 năm hoạt động, hơn 2.000 lượt đặt phòng trên Up Inns với 300 khách sạn tham gia, trên 12.000 lượt ủng hộ yêu thích trên facebook cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng, cũng như sự hưởng ứng tham gia của các khách sạn. Tỷ lệ quay lại sử dụng sản phẩm lên đến 90%.  Theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện, tình hình khởi nghiệp kinh doanh của người Việt Nam đang có xu hướng tích cực. Một trong những tín hiệu tốt là tỷ lệ phụ nữ khởi nghiệp năm 2017 cao hơn 4% so với 5 năm trước. Thống kê cho thấy, các dịch vụ do phụ nữ triển khai thường thành công cao hơn 30% so với nam giới (xét theo các tiêu chí đạt được mục tiêu tài chính đề ra). Còn với vấn đề kêu gọi vốn với giá trị đạt được, tỷ lệ thành công của phụ nữ là 13% và nam giới là 10%. Với những lợi thế phụ nữ có được, ngày càng có nhiều chị em, trong đó có Võ Lê Ngọc Diệp sẵn sàng bước ra ngoài vòng “an toàn” để thách thức bản thân và thực hiện những ước mơ của mình.  Khởi nghiệp ở tuổi 30 – Ngọc Diệp không chỉ mang theo ước vọng của bản thân mà hành trình của cô còn là sự tin tưởng, ủng hộ của những người thân yêu nhất.  Khởi nghiệp không phải là câu chuyện đơn giản và đối với phụ nữ lại càng khó khăn hơn nếu không có được sự hỗ trợ của người thân, đặc biệt là khi quan điểm của xã hội về phụ nữ Việt Nam còn khắt khe. Tuy nhiên, Ngọc Diệp khá may mắn khi có được hậu phương vững chắc từ bố mẹ và chồng để cô có thể tập trung toàn bộ năng lượng cho dự án. Đó là động lực để cô gái 8X có thể theo đuổi đam mê và đi đến thành công.  Chia sẻ với những bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp, Ngọc Diệp đã dành một số lời khuyên từ kinh nghiệm của bản thân: “Các bạn trẻ hãy lắng nghe ý kiến của mọi người, từ đó chọn lọc, đánh giá các ý kiến để tìm ra giải pháp khôn ngoan cho mình. Sẽ có những thời điểm bạn cảm thấy đuối sức và gần như muốn đầu hàng vì bế tắc trong nguồn tài chính, nguồn nhân lực hạn hẹp, tiếp cận thị trường… Cách giải quyết hiệu quả nhất trong các tình huống đó là thật bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn mọi việc ở hướng tích cực và cần có một niềm tin đủ lớn đối với bản thân, bạn sẽ tìm ra giải pháp phù hợp nhất.          Author                Minh Phượng        
__label__tiasang Usain Bolt có chạy nhanh hơn khủng long?      Bài báo mới “Would Usain Bolt Beat the Dinosaur Dilophosaurus Wetherilli in a 100-Meter Race” (Usain Bolt có thể đánh bại khủng long Dilophosaurus Wetherilli trong cuộc thi 100 m không?) của giáo sư vật lý Scott Lee tại trường đại học Toledo đủ sức gây tò mò cho nhiều người.      T rex là một nhà đi bộ cừ khôi.  Với mỗi học kỳ mới, hàng ngàn sinh viên được giới thiệu môn vật lý. Tuy nhiên có một vấn đề cố hữu là làm sao đủ sức giữ cho sinh viên gắn kết với những giờ học nặng về toán học này. Scott Lee là một giáo sư đã phát triển nhiều cách học để giúp sinh viên hứng thú với chủ đề này. Bài báo mới của ông, được xuất bản trên The Physics Teacher của nhà xuất bản AIP, đã đặt  ra câu hỏi: Usain Bolt có chạy nhanh hơn một con khủng long nặng 900-pound? 1  Bài tập này bắt sinh viên phải ứng dụng các khái niệm về chuyển động học một chiều – sự dịch chuyển, tốc độ, vận tốc và gia tốc – để xác định liệu nhà chạy nước rút người Jamaica có thể đánh bại khủng long Dilophosaurus wetherilli trong cuộc đua tốc độ bằng bảng tính. “Một vấn đề lớn trong giảng dạy vật lý là tạo ra cho sinh viên sự hứng thú với giờ giảng”, Lee nói. “Những bài toán khủng long đó thực sự hấp dẫn được rất nhiều sinh viên”.  Sự quan tâm của Lee với các con khủng long bắt đầu từ việc phát hiện ra hóa thạch khủng long từ khi còn nhỏ. Những năm trưởng thành, sau khi khám phá ra một cuốn sách đại chúng về vật lý trong chuyển động của khủng long với con gái mình, ông đã phát triển một khóa học cho những vấn đề phi khoa học dựa trên những con khủng long.  “Có một số các vấn đề vật lý, theo thời gian, có thể đem lại một khóa học chỉ vì người ta thấy những con khủng long thật thú vị”, ông nói. ‘Tôi đã nhận ra là những vấn đề của vật lý có thể tạo hứng thú để tìm hiểu các ví dụ về các nguyên tắc của vật lý liên quan đến khủng long”.  Để tạo ra những bài tập nhập môn vật lý theo cách như vậy, Lee cần tìm được cách “khai thác” khủng long đúng theo yêu cầu của mình. Sinh viên có thể ghi nhận được loài Dilophosaurus từ cuốn tiểu thuyết Công viên Kỷ Jura và cuốn phim cùng tên, nơi mà đã có nhiều chi tiết hư cấu về việc trộm phôi, DNA khủng long.    Các nhà khoa học cũng từng bị thu hút về việc tính tốc độ chạy tối đa của khủng long, cụ thể là Tyrannosaurus rex. Ví dụ năm 2002, họ đã xây dựng một mô hình toán học để đo cơ bắp chân cần thiết để có thể chạy nhanh hơn 40 km/h). Phần lớn nghiên cứu đều áp dụng trên rất nhiều phương pháp, tạo ra một phạm vi tốc độ tối đa có thể cho T. Rex, từ 16-24 km/h cho đến 72 km/h. Tính ra trung bình tốc độ tối đa vào khoảng 32 km/h.  Một nghiên cứu năm 2017 đã đề xuất tốc độ chạy của T. Rex là 27 km/h và kết luận là con vật sẽ bị khai thác cạn kiệt năng lượng khi đạt tới tốc độ tối đa. Một nghiên cứu khác cũng trong năm 2017 cho thấy T. Rex có lẽ không thể lúc nào cũng chạy nhanh, vì bất kỳ tốc độ nào trên 18 km/h cũng có thể làm nó gãy xương chân. Phân tích này có thể loại trừ khả năng chạy của những khủng long khổng lồ như Giganotosaurus và Mapusaurus (không có dấu vết hóa thạch nào cho thấy bằng chứng là loài động vật chân đốt lớn này có thể chạy).  Nhưng thật kỳ lạ là bất chấp kích thước to lớn của mình, T. Rex lại nhanh nhẹn một cách đáng ngạc nhiên, theo một nghiên cứu năm 2019. Nhờ có quán tính quay thấp và các sợi cơ chân lớn, T. Rex có thể có khả năng quay nhanh – có lẽ thực hiện được cả một cú xoay tròn trên một chân như vũ công ba lê.  T. Rex cũng là một tay đi bộ cừ khôi, theo một phân tích năm 2020 về tỉ lệ chân, khối lượng cơ thể và dáng đi của 70 loài chân đốt. Một nghiên cứu năm 2021 ước tính, tốc độ đi bộ của nó là 4,6 km/h.  Do có vấn đề về xương nên T. Rex không có lợi thế khi chạy. Và khi ước tính tốc độ cao nhất của nó khi chạy là 18 km/h cũng sẽ thấp hơn so với 43 km/h mà Bolt đạt được trong cuộc đua đạt tốc độ cao nhất của mình. Đây là lý do vì sao Lee lại chọn Dilophosaurus cho cuộc chạy đua tưởng tượng của mình. “Tốc độ chạy tối đa của các con khủng long khác biệt một cách đáng kể với tốc độ trung bình của Usain Bolt nên do đó không thể tạo ra một cuộc chạy thi thú vị”, ông nói. “Thật đáng buồn là con khủng long Tyrannosaurus rex nổi tiếng được tin là chậm hơn cả Usain Bolt”.  Trong bộ phim Công viên kỷ Jura, Dilophosaurus cao 1,2 mét còn trên thực tế, nó có thể cao tới 3 mét. Dù trên màn ảnh, nó có cả diềm cổ mở rộng, tạo cảm giác đáng sợ khi tấn công nhưng trên thực tế, nó có hai cái mào trên đỉnh đầu – tên của loài này có nghĩa là “thằn lằn hai mào”. Các nhà cổ sinh vật học tin là Dilophosaurus dài 7 mét và nặng 400 kg.  Để giải quyết bài toán này, phải thảo luận về định luật thứ hai của Newton, nơi gia tốc được xác định bằng việc kết hợp khối lượng và lực. Việc “nhỏ con” hơn so với khủng long mà Bolt có được lợi thế ban đầu. Tính toán của Lee và học trò cho thấy gia tốc ban đầu 4,19m/s2 cho Dilophosaurus, thấp hơn gia tốc ban đầu của Bolt. Do gia tốc được xác định bằng khối lượng và lực nên việc nhỏ hơn khủng long có thể đem lại lợi thế ban đầu cho Bolt và đảm bảo là Dilophosaurus không thể bắp kịp nhà vô địch tốc độ Jamaca. Phần lớn gia tốc của Bolt xuất hiện ở bốn giây đầu tiên của cuộc đua khi anh đạt đến vận tốc tối đa của mình. Lee phân tích, nó tương đồng với cơ chế sinh học của con sư tử gia tốc để bắt kịp con mồi chạy nhanh hơn.  Và cuối cùng, Bolt đã tận dụng định luật thứ hai của Newton và gia tốc của mình để cho Dilophosaurus “hít bụi” tới hai giây. “Sự thật là vận tốc trung bình của Usain Bolt trong cuộc thi 100 mét đã đạt tới vận tốc tối đa của Dilophosaurus, điều đó có nghĩa là Usain Bolt sẽ giành thắng lơi trong cuộc đua với khủng long”, Lee viết.  Lee hi vọng bài báo của mình sẽ truyền cảm hứng cho các nhà vật lý khác suy nghĩ vượt ngoài khuôn khổ để đón nhận thêm những sinh viên mới thích thú về các bài toán mà vật lý có thể nghĩ đến và giải quyết.  Nhàn Vũ  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-physics-pits-usain-jurassic-dinosaur.html  https://arstechnica.com/science/2022/03/if-dilophosaurus-ran-the-100-meter-against-usain-bolt-who-would-win/#:~:text=The%20class%20concluded%20that%20Bolt,the%20race%2C%22%20Lee%20wrote.  ——————————  1. https://aapt.scitation.org/doi/10.1119/5.0041057    Author                .        
__label__tiasang Ưu đãi Dự án sản xuất vi mạch      Thủ tướng Chính phủ đồng ý Dự án “Nhà  máy sản xuất vi mạch (chip điện tử)” do Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn  – TNHH Một thành viên làm chủ đầu tư là dự án thực hiện Kế hoạch phát  triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020 theo Quyết  định số 842/QĐ-TTg&#160; ngày 1/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ.    Dự án trên được xem xét, áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi như: Được vay đến 60% tổng mức đầu tư từ Ngân hàng phát triển Việt Nam; được miễn thuế nhập khẩu hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của Dự án và được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu dùng để sản xuất, chế tạo vi mạch trong thời hạn năm năm kể từ ngày bắt đầu sản xuất; được áp dụng mức thuế suất 0% thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị, vật tư trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ theo danh mục thiết bị, vật tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.  Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bốn năm  Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, Dự án được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 30 năm; được miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.  Ngoài ra, Dự án còn được hỗ trợ chi phí theo quy định tại Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020.  Thủ tướng Chính phủ giao UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thẩm định và phê duyệt đầu tư dự án, chỉ đạo chủ đầu tư quản lý, tổ chức thực hiện dự án theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo hiệu quả đầu tư.  Bộ Tài chính hướng dẫn Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét cho dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định; chỉ đạo việc áp dụng các chính sách thuế đối với dự án.  Bộ KH&CN phê duyệt danh mục thiết bị, vật tư cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ của dự án; hướng dẫn chủ đầu tư đánh giá, thẩm định dây chuyền công nghệ, thiết bị đã qua sử dụng của dự án trước khi nhập khẩu vào Việt Nam bảo đảm đáp ứng các quy định của pháp luật.  Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn chủ đầu tư dự án trong việc áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi nêu trên; kiểm tra, giám sát, đánh giá việc đầu tư dự án.  Tiên phong trong ngành công nghiệp sản xuất vi mạch  Bộ Công Thương cho biết, Dự án “Nhà máy sản xuất vi mạch (chip điện tử)” của Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn là dự án tiên phong trong ngành công nghiệp sản xuất vi mạch tại Việt Nam. Cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dự án có ý nghĩa quan trọng đối với dự án, đồng thời hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển công nghiệp công nghệ cao và phát triển công nghiệp hỗ trợ.  Nhà máy sản xuất vi mạch khi hoạt động sẽ có tác động lan tỏa đến các ngành công nghiệp điện tử khác, đồng thời góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Uu-dai-Du-an-san-xuat-vi-mach/228029.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ưu điểm mới của chế độ ăn Địa Trung Hải      Một nghiên cứu hợp tác toàn cầu mới đây do các nhà khoa học từ Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Colombia và Brazil thực hiện, cho thấy chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp hàng trăm triệu người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ hoặc tử vong sớm.    Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu ô liu, các loại hạt, hải sản, ngũ cốc nguyên hạt và rau. Ảnh: Harvard.edu  Các chuyên gia dinh dưỡng vẫn thường khuyên rằng chúng ta nên theo chế độ ăn giàu dầu ô liu, các loại hạt, hải sản, ngũ cốc nguyên hạt và rau củ, bởi chúng giúp những người khỏe mạnh có thể sống lâu hơn.  Tuy nhiên, cho đến nay các nhà khoa học vẫn không có nhiều bằng chứng về việc chế độ ăn này có lợi cho những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao – bao gồm hàng trăm triệu người sống chung với bệnh béo phì, tiểu đường tuýp 2, huyết áp cao hoặc cholesterol cao, và những người ít vận động, hút thuốc hoặc uống rượu vô tội vạ.  Hiện tại, các chuyên gia thường khuyến nghị nhiều chế độ ăn kiêng khác nhau cho những người có nguy cơ mắc các vấn đề về tim, nhưng chúng dựa trên bằng chứng không rõ ràng. Mới đây, một nghiên cứu lớn – nghiên cứu đầu tiên trên thế giới tập trung vào vấn đề này – đã phân tích 40 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 35.000 người.  Theo đánh giá ban đầu được công bố trên tạp chí BMJ, chế độ ăn Địa Trung Hải và chế độ ăn ít chất béo giúp giảm khả năng tử vong và đau tim ở những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao .  “Bằng chứng cho thấy các thử nghiệm áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải và ít chất béo giúp giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và giảm rủi ro nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao,” các tác giả viết. “Chế độ ăn Địa Trung Hải cũng có tiềm năng giảm thiểu nguy cơ đột quỵ”.  35.548 người đã tham gia vào 40 dự án thử nghiệm. Họ được theo dõi trong ba năm, tuân thủ theo bảy chế độ ăn – đã được các nhà nghiên cứu xem xét, lựa chọn.  Bảy chế độ ăn gồm chế độ ăn Địa Trung Hải, chế độ ăn ít chất béo, chế độ ăn rất ít chất béo, chế độ ăn chất béo không bão hòa đơn, chế độ ăn kết hợp ít chất béo và ít natri, Ornish (chế độ ăn chay, ít chất béo và đường tinh luyện) và Pritikin (chế độ ăn ít chất béo, nhiều chất xơ, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và thịt đỏ).  Kết quả cho thấy chế độ ăn kiêng Địa Trung Hải giúp giảm thiểu rủi ro tử vong do mọi nguyên nhân, đau tim và đột quỵ ở những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.  Chế độ ăn ít chất béo cũng giúp ngăn ngừa rủi ro tử vong do mọi nguyên nhân và đau tim. Năm chế độ ăn kiêng còn lại, nhìn chung hầu như không mang lại nhiều lợi ích.  Dù đã thu được một số kết quả ban đầu, song các nhà nghiên cứu thừa nhận công trình của họ vẫn còn một số hạn chế, chẳng hạn như họ chưa thể giám sát việc người tham gia có tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn kiêng hay không, và có khả năng những thay đổi tích cực có thể bắt nguồn từ các yếu tố khác trong cuộc sống. Tuy nhiên, BMJ nhận định đây là một nghiên cứu toàn diện.  “Một lối sống lành mạnh với chế độ ăn uống cân bằng như chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch”, Tracy Parker, chuyên gia dinh dưỡng cấp cao tại Quỹ Tim mạch Anh, người không tham gia vào nghiên cứu, nhấn mạnh. “Chế độ ăn Địa Trung Hải cũng giúp giảm thiểu các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tim mạch như tiểu đường tuýp 2, béo phì, huyết áp cao và cholesterol cao”.  “Không khó để theo chế độ ăn này – chỉ cần đảm bảo bạn ăn nhiều trái cây và rau quả, đậu lăng, ngũ cốc nguyên hạt, cá, quả hạch và các loại hạt, chất béo từ các nguồn không bão hòa như dầu ô liu, cùng với một số loại sữa ít béo. Ngoài ra, phải ăn ít thịt chế biến sẵn, muối và đồ ngọt”. □  Hà Trang lược dịch  https://www.theguardian.com/science/2023/mar/29/mediterranean-diet-can-reduce-heart-attacks-in-people-at-higher-risk    Author                .        
__label__tiasang Ưu tiên giới trẻ: Tại sao Indonesia chọn tiêm chủng “một mình một phách”?      Tiêm chủng chống Covid đã được tiến hành, cho đến nay người già luôn được ưu tiên tiêm chủng ở hầu khắp các nước. Tuy nhiên có một nước không làm theo cách đó mà bắt đầu tiêm chủng cho giới trẻ, tầng lớp năng động nhất trong xã hội. Cách làm đặc biệt này đem lại nhiều cái lợi cùng một lúc.    Những người cao tuổi thường bị Covid “tấn công” và tử vong đặc biệt nhiều. Do đó cũng dễ hiểu vì sao giới chuyên gia thường khuyến nghị cần đầu tiên tiêm chủng cho người cao tuổi và các chính phủ thường tán thành khuyến nghị này.   Tuy nhiên cũng có những quan điểm hoàn toàn khác. Indonesia là một trong số các nước có cách nhìn khác và đi theo con đường riêng của mình.    Nguồn ảnh: straitstimes.com.  Nhóm người năng động nhất và tiếp xúc nhiều nhất  Theo cách làm phổ biến của nhiều nước, tiêu biểu như Đức thì giai đoạn đầu tiêm chủng cho các cụ trên 80 tuổi, cho những người làm việc tại các nhà dưỡng lão, nhân viên lực lượng cứu hộ cứu nạn và các trạm cấp cứu tiếp cận với bệnh nhân Covid, ngoài ra là nhân viên y tế ở các phòng khám và bệnh viện. Tổng cộng những người được tiêm chủng đầu tiên ở Đức lên đến  8,6 triệu người.  Nước Anh, tiêm chủng đầu tiên trong số các nước phương Tây, cũng làm theo cách này, người nhận mũi tiêm chủng đầu tiên là một bà cụ 91 tuổi. Tại Hoa Kỳ cũng đã tiến hành tiêm chủng và cũng ưu tiên tiêm chủng đầu tiên cho nhóm người có nhiều nguy cơ lây nhiễm nhất, các cụ già.  Còn ở Indonesia, cách đây ít hôm nước này đã nhận được 1,2 triệu liều vaccine của hãng Sinovac, Trung Quốc nhưng không dành để tiêm cho người già mà tiêm cho người trong độ tuổi lao động, tức là những người hoạt động tích cực nhất và đi lại nhiều nhất đồng nghĩa với có khả năng làm lây lan virus nhiều nhất.  “Mục tiêu của chúng tôi là, khi những người tích cực nhất và tiếp xúc nhiều nhất trong độ tuổi từ 18 đến 59 được ưu tiên tiêm chủng đầu tiên thì sẽ tạo ra được một lá chắn để bảo vệ các nhóm khác”, ông Amin Subandrio, giám đốc Viện Eijkman về sinh học phân tử ở Jakarta trả lời tờ Bloomberg. Hiệu quả sẽ không cao nếu sử dụng số lượng vaccine ít ỏi  mà Indonesia có được để tiêm cho người cao tuổi bởi lẽ các cụ già ít tiếp xúc với những người xung quanh.  Nhóm người được tiêm chủng đầu tiên là lực lượng lao động trong lĩnh vực y tế, chăm sóc người già, trước mắt tiêm chủng ở hai đảo Java và Bali vì tại đây có tới 60% ca lây nhiễm corona ở Indonesia. Tiếp theo là các địa phương khác và nhóm ngành nghề khác.  Cũng còn một số lý do nữa vì sao Indonesia lại ưu tiên tiêm chủng cho nhóm người trong độ tuổi lao động, điều này đã được bộ trưởng Y tế Terawan Agus Putranto đề cập cách đây ít hôm. Loại vaccine của Trung quốc khác với vaccine của Biontech/Pfizer hay Moderna – chỉ được thử nghiệm ở những người trong độ tuổi từ 18 đến 59. Với các cụ nhiều tuổi hoặc trẻ em, hoàn toàn không có dữ liệu do đó không biết vaccine tác động như thế nào ở những người trong độ tuổi này.  Nếu chiến lược của Indonesia thành công thì nước này tiết kiệm được khá nhiều tiền của. Theo thông tin từ chính phủ thì bằng cách này chỉ cần tiêm chủng không quá nhiều người nhưng cũng có thể tạo miễn dịch trong cộng đồng.   Chọn cái tồi tệ ít hơn  Như thế chỉ cần tiêm chủng cho hai phần ba số người trong độ tuổi từ 18 đến 59. Con số này tương đương 40% tổng số dân. Thông thường người ta đều tin rằng khi hai phần ba số dân được tiêm chủng thì đạt được điều này.  Nếu như tính toán này là đúng thì đây cũng là một lý do quan trọng đối với các nước mới nổi và đang phát triển để theo đuổi chiến lược tiêm chủng này. Do việc mua vaccine là một gánh nặng tài chính với các nước đó.  “Các quốc gia công nghiệp có thể bắt đầu tiêm chủng với các cụ cao tuổi vì các nước đó biết họ có đủ thuốc để tiêm chủng cho toàn dân, trong khi ở nước chúng tôi điều này có thể không được như vậy”,  C. B. Kusmaryanto, thành viên Ủy ban đạo đức sinh học Indonessia đã nói.    Với Indonessia vấn đề không phải là chọn một con đường tốt nhất mà là chọn một con đường ít xấu nhất. “Khi Indonesia chỉ có đủ thuốc để tiêm chủng cho những người có khả năng lây nhiễm nhiều nhất cho những người khác, thì nước này cần phải làm như vậy”.  Hoài Trang tổng hợp  Nguồn: www.welt.de       Author                Quản trị        
__label__tiasang Uy quyền lượng tử      Sẽ còn một chặng đường dài đưa chúng ta đạt được “uy quyền lượng tử”, khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp trong thời gian ngắn hơn đáng kể của máy tính lượng tử với máy tính thông thường.         Bộ xử lý lượng tử của Google  Trong thực tế có nhiều vấn đề với độ phức tạp cao mà các siêu máy tính hiện hành phải mất rất rất nhiều thời gian mới có thể giải quyết được. Điển hình nhất là bài toán thừa số hóa một số nguyên N thành tích của hai số nguyên tố p và q, tức là cho biết N, phải tìm p và q sao cho pq = N. Đây là bài toán cơ bản trong mật mã học, đang được sử dụng để đảm bảo an ninh trong giao tiếp quốc tế. Tính bảo mật thông tin thể hiện ở chỗ giải bài toán này bằng các siêu máy tính hiện thời được coi là không thể khi N đủ lớn. Thí dụ, nếu N là một số có 193 chữ số thì các siêu máy tính phải mất khoảng 30 năm mới tính được p và q. Thời gian tính sẽ tăng rất nhanh khi số chữ số của N tăng lên. Nếu N là một số có 500 chữ số thì thời gian cần để tính sẽ là 10^12 (10 mũ 12) năm, tức là lớn hơn cả tuổi thọ của vũ trụ (có thể coi như đồng nghĩa với không thể giải được)! Trong khi đó, nếu sử dụng máy tính lượng tử, là loại máy tính hoạt động trên nguyên lý của vật lý lượng tử có thể thực hiện cùng một lúc nhiều phép tính (hay còn gọi là xử lý song song), thì thời gian cần thiết để tìm ra lời giải chỉ là một phần mười giây cho trường hợp đầu và khoảng hai giây cho trường hợp sau! Đó là “uy quyền lượng tử” (“quantum supremacy”), được hiểu nôm na là uy quyền của máy tính lượng tử có thể giải quyết các vấn đề phức tạp trong thời gian ngắn hơn đáng kể so với máy tính (cổ điển) thông thường.  Google từ lâu đã mong muốn đạt được cái “uy quyền lượng tử” nói trên. Tại cuộc họp tháng 3 năm 2018 của Hội Vật lý Mỹ, Julian Kellyof thuộc Phòng thí ngiệm trí tuệ nhân tạo lượng tử của Google đã tiết lộ về bộ xử lý lượng tử lớn nhất từ trươc tới nay gồm 72 qubit (tức bit lượng tử). Con chip lượng tử này được kỳ vọng sẽ đạt tới giới hạn của uy quyền lượng tử.  John Martinis, một nhà vật lý tại Google và Đại học California Santa Barbara nói: “Theo những gì đã biết từ trước tới nay, chúng tôi rất lạc quan”. Nếu mọi việc suôn sẻ, Martinis tin rằng uy quyền lượng tử có thể được chứng tỏ trong vài tháng tới.  Trước đó IBM cũng đã bắt đầu thử nghiệm bộ xử lý lượng tử 50 qubit còn Intel thì thử nghiệm con chip 49 qubit. Nhưng với các thông báo thu hút sự chú ý kiểu như này, James Wootton từ Đại học Basel – cũng là một báo cáo viên tại cuộc họp của Hội Vật lý Mỹ – đã đưa ra một lưu ý thận trọng. Wootton đã tạo ra các trò chơi và các câu đố đơn giản và thử nghiệm chúng để đánh giá hiệu suất của các nguyên mẫu tính toán hiện tại. Ông thấy rằng vẫn còn một chặng đường dài để có thể đạt được uy quyền lượng tử.  Cách tiếp cận của Wootton bắt nguồn từ truyền thống lâu đời về việc sử dụng các trò chơi để kiểm tra phần cứng máy tính và để dạy các kỹ năng lập trình. Và vì các phần cứng cho máy tính lượng tử chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở các phòng thí nghiệm đại học và các công ty thương mại, các nhà khoa học cũng cần học những kỹ năng mới về kỹ thuật phần mềm lượng tử – nói cách khác, phải học cách làm thế nào có thể sử dụng các quá trình lượng tử để thực hiện tính toán.  “Khi chúng ta bắt đầu lập trình bất kỳ loại hệ thống nào, trước tiên phải thử một thứ gì đó thực sự đơn giản”, Wootton nói, “tốt nhất là bắt đầu từ các trò chơi”. Lúc đầu Wootton tạo ra phiên bản của một trò chơi đơn giản và sử dụng nó để hướng dẫn các nhà khoa học bắt đầu lập trình máy tính lượng tử. Sau đó, ông chuyển sang một trò chơi khác, kiểm tra hiệu năng của bộ xử lý lượng tử với một loạt các câu đố ngày càng khó hơn. Kết quả cho ông thấy rằng nhiễu (noise) vẫn là một yếu tố chính làm hạn chế hiệu năng của các thế hệ nguyên mẫu hiện tại, thường dung từ 16 đến 19 qubit. Theo ông: “Dựa trên các thử nghiệm với các thiết bị của IBM và Rigetti, thậm chí các thiết bị với 50 qubit vẫn chưa đủ sạch để đạt được uy quyền lượng tử. Kích thước và kết nối của thiết bị quyết định độ phức tạp của thiết bị, còn mức độ nhiễu quyết định chất lượng của thiết bị chơi trò chơi.”    Câu hỏi tối thượng: Uy quyền lượng tử đã đạt được chưa?  Mới đây nhất, theo tin trong ngày 24/9/2019 của Physicsworld, Google đã thông báo là uy quyền lượng tử lần đầu tiên đã đạt được. Việc đạt được mục tiêu lâu nay mong đợi này trong vật lý và khoa học máy tính được trình bày trong một bài dự thảo được viết bởi các nhà khoa học của Google, cộng tác với Phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo lượng tử, bao gồm cả các nhà nghiên cứu của NASA. Thông tin này xuất hiện ngắn gọn trên một trang web của NASA trước khi nó được gỡ xuống. Nó được cho là phiên bản sớm của một bài báo đã được gửi đến một tạp chí khoa học hàng đầu 1.  Bài báo mô tả cách mà một máy tính lượng tử gồm 53 qubit siêu dẫn khả trình (có thể lập trình được) được sử dụng để xác định đầu ra của mạch lượng tử được chọn một cách ngẫu nhiên từ một chuỗi các cổng lượng tử. Đầu ra là một chuỗi các số nhị phân và nếu quá trình được lặp lại nhiều lần, kết quả có thể được mô tả như một phân bố xác suất giống một mẫu giao thoa. Điều này phát sinh từ sự giao thoa lượng tử vốn có trong thế giới lượng tử, là nền tảng cho hoạt động của các mạch lượng tử.  Mẫu giao thoa được xác định bởi một bộ xử lý lượng tử của Google bằng cách thực hiện một triệu phép đo trên một mạch lượng tử với thời gian khoảng 200 giây. Các tác giả nói rằng một siêu máy tính tiên tiến sẽ phải mất khoảng 10 nghìn năm để tính phân bố xác suất tương tự.  Mặc dù vấn đề được giải quyết bằng máy tính lượng tử như này không đặc biệt hữu ích cho bất kỳ ứng dụng thực tế nào, nhóm nghiên cứu viết rằng thành tựu của họ đã hiện thực hóa được về mặt thực nghiệm cái gọi là uy quyền lượng tử trong một nhiệm vụ tính toán và báo trước sự ra đời của mô hình tính toán đang được mong đợi lâu nay. Họ cho biết thêm: “Theo hiểu biết của chúng tôi, thí nghiệm này đánh dấu một sự tính toán đầu tiên được thực hiện hoàn toàn bằng bộ xử lý lượng tử”.  Nếu đây thực sự là minh chứng đầu tiên về uy quyền lượng tử, thì điều đó không có nghĩa là máy tính lượng tử thực thụ sẽ sớm xuất hiện. Ashley Montanaro thuộc Đại học Bristol giải thích: “Vẫn còn một chặng đường dài giữa một minh chứng trong phòng thí nghiệm về uy quyền lượng tử và những ứng dụng thực thụ của tính toán lượng tử trên thực tế, nhưng theo quan điểm của tôi, việc đạt được cột mốc này là một khoảnh khắc thực sự đáng khích lệ”.  Nguyễn Bá Ân tổng hợp  Nguồn: https://physicsworld.com/a/google-reports-quantum-supremacy-in-draft-paper/  và  https://physicsworld.com/a/google-aims-for-quantum-supremacy/   —  1. https://www.docdroid.net/h9oBikj/quantum-supremacy-using-a-programmable-superconducting-processor.pdf )    Author                Quản trị        
__label__tiasang Uy quyền lượng tử của Google: Có thực sự uy quyền ?      Uy quyền lượng tử (“quantum supremacy”) được hiểu là uy quyền của máy tính lượng tử có thể giải quyết các vấn đề phức tạp trong thời gian ngắn hơn đáng kể so với máy tính cổ điển thông thường. Mới đây Google tuyên bố đã đạt được uy quyền lượng tử, đánh dấu một mốc vô cùng quan trọng trong lĩnh vực tính toán lượng tử và máy tính lượng tử. Nhưng nay IBM lại bác bỏ tuyên bố này.      Không thực sự uy quyền: các nhà nghiên cứu của IBM nghi ngờ về tuyên bố Google đã đạt được uy quyền lượng tử.  Để rộng đường nắm bắt thông tin, Tia Sáng xin giới thiệu bài này tiếp theo bài “Uy quyền lượng tử” đã được giới thiệu trong một số trước đây của tạp chí (xem http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Uy-quyen-luong-tu—20657).  Khi nội dung một bản thảo của Google bị rò rỉ, Google đã giật tit trên truyền thông đại chúng hồi tháng 9 vừa qua rằng bộ xử lý lượng tử Sycamore của hãng này là thiết bị đầu tiên đã đạt được uy quyền lượng tử (quantum supremacy) vì đã giải quyết được một vấn đề nhanh hơn một tỷ lần so với siêu máy tính cổ điển thông thường. Nhưng bây giờ, các nhà nghiên cứu tại IBM lại tuyên bố rằng Google đã đánh giá quá sai về thời gian cần thiết đề giải quyết vấn đề dó trên một siêu máy tính. Cụ thể, IBM nói rằng trên thực tế bộ xử lý lượng tử Sycamore chỉ làm nhanh hơn một siêu máy tính khoảng một nghìn lần thôi.  Phiên bản cuối cùng của bản thảo bài báo của Google đã được xuất bản vào tháng 10 này trên tạp chí Nature [xem Nature 574, 505 (2019)]. Bài báo này mô tả  cách sử dụng một bộ xử lý lượng tử siêu dẫn khả trình (có thể lập trình dược) 53 bit để xác định đầu ra của một mạch lượng tử được chọn một cách ngẫu nhiên. Mặc dù các tính toán không có ứng dụng thực tế trực tiếp, nó cung cấp một cách để có thể so sánh hiệu suất của bộ xử lý lượng tử Sycamore với hiệu suất của siêu máy tính cổ điển.  Bộ xử lý lượng tử Sycamore mất 200 giây để hoàn thành nhiệm vụ và các nhà nghiên cứu của Google đã ước tính rằng cũng là nhiệm vụ tính toán như thế nhưng một siêu máy tính tiên tiến nhất hiện thời sẽ phải mất 10000 năm mới thực hiện được.  Chỉ là vài ngày, không phải vài thiên niên kỷ  Nhưng mới đây, Edwin Pednault, John Gunnel và Jay Gambetta của IBM cho rằng nhiệm vụ tính toán tương tự như trên có thể được thực hiện chỉ trong 2 ngày rưỡi bằng siêu máy tính “Summit” của Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (Mỹ). Trên Blog nghiên cứu của IBM, họ viết rằng siêu máy tính “Summit”  thực hiện được các tính toán chính xác hơn bộ xử lý lượng tử Sycamore của Google và, với việc tối ưu hóa hơn nữa, thời gian cần thiết để thực hiện các tính toán còn có thể giảm xuống.  Pednault, Gunnel và Gambetta của IBM nói rằng các nhà nghiên cứu của Google đã đánh giá sai về thời gian tính toán cổ điển vì họ chưa xem xét đầy đủ các tài nguyên lưu trữ dữ liệu “dồi dào” trên ổ cứng hiện thời  đang có trên các hệ thống siêu máy tính. Họ viết: “Thí nghiệm của Google là một minh chứng tuyệt vời cho sự tiến bộ trong tính toán lượng tử dựa trên chất siêu dẫn với độ tin cậy cao của cổng logic lượng tử hiện đại trên một thiết bị lượng tử dùng 53 qubit (tức bit lượng tử), nhưng không nên xem đó là bằng chứng cho uy quyền của máy tính lượng tử so với máy tính cổ điển”.  Sử dụng thuật ngữ quá đà  Ba nhà khoa học nói trên của IBM cũng cảnh báo các nhà vật lý về việc sử dụng, theo một cách thông lệ, thuật ngữ “uy quyền lượng tử” – một thuật ngữ thường được hiểu là khả năng (ít nhất là về nguyên tắc) mà máy tính lượng tử có thể thực hiện một phép tính trong một thời gian hữu hạn trong khi máy tính cổ điển phải mất một thời gian dài “vô hạn” (tức là dài một cách không thực tế, như dài hơn cả tuổi thọ của vũ trụ chẳng hạn!). Họ viết: “chúng tôi kêu gọi cộng đồng những người làm trong lĩnh vực tính toán lượng tử nên coi các tuyên bố của Google như một sự thật là, lần đầu tiên, một máy tính lượng tử đã làm được một cái gì đó mà một máy tính cổ điển không thể, với một hoài nghi lớn do tính phức tạp của việc chuẩn hóa các số liệu phù hợp.”  Thuật ngữ “uy quyền lượng tử” được John Preskill từ Caltech đưa ra. Gần đây, ông đã than phiền về sự lựa chọn từ ngữ của mình 1. Cũng như sự liên quan đáng tiếc với thuật ngữ “uy quyền trắng” (“White supremacy”) —  là sự tin, một cách phân biệt chủng tộc, rằng người da trắng vượt trội hơn so với người thuộc các chủng tộc khác và do đó chiếm ưu thế trong xã hội — Preskill cũng quan ngại về sự cường điệu xung quanh từ “uy quyền” trong thuật ngữ “uy quyền lượng tử” mà ông đã đưa ra!  Trong một tiền xuất bản phẩm (preprint) trên mạng arXiv 2, các nhà nghiên cứu của IBM đã mô tả về mặt kỹ thuật cách mà siêu máy tính “Summit” của Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (Mỹ) đã thực hiện các phép tính toán.  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physicsworld.com/a/is-googles-quantum-supremacy-not-so-supreme-after-all/?utm_medium=email&utm_source=iop&utm_term=&utm_campaign=14290-44323&utm_content=Is%20Google%E2%80%99s%20quantum%20supremacy%20not%20so%20supreme%20after%20all%3F&Campaign+Owner=  —-  1.  Có thể xem bài của Preskill với nhan đề “Tại sao tôi gọi nó là ‘Uy quyền lượng tử’ (“Why I Called It ‘Quantum Supremacy’”).  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/john-preskill-explains-quantum-supremacy-20191002/.  2.  Xem arXiv.org/quant-ph/arXiv:1910.09534    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vá lỗ hổng của hệ thống tài chính và vai trò nhà khoa học      Hệ thống tài chính thế giới hiện nay đang  rơi vào cái bẫy khủng hoảng niềm tin tín dụng. Giống như con tàu cố gắng  không bị lật trong cơn bão, các ngân hàng và tổ chức tài chính hiện nay  không muốn cho vay hoặc chấp nhận thế chấp để bảo lãnh tín dụng – họ sợ  bị quá tải bởi một làn sóng khủng hoảng tiếp theo.  &#160;    Vì sao hệ thống tài chính bị mất cân bằng đến vậy? Làm cách nào để các nhà khoa học – vốn quen với việc xây dựng các mô hình phức tạp để giải thích và dự đoán các sự kiện – có thể giúp tạo ra một hệ thống tài chính có khả năng tự cân bằng cao hơn? Các mô hình tài chính hiện có đã thất bại trong việc dự đoán cuộc khủng hoảng năm 2008, cũng như giai đoạn trì trệ kéo dài tiếp theo 2011-12. Chúng đã bỏ sót những rủi ro khổng lồ trên diện rộng trong hệ thống, trong khi các ngân hàng cung cấp tín dụng một cách vô kỷ luật, tạo ra một mạng lưới ngày các phức tạp những mối quan hệ qua các hợp đồng chuyển giao rủi ro từ người này sang người khác, xuyên suốt các thị trường tài chính.  Các trái phiếu tài chính dựa trên những khoản tín dụng này (và các tài sản khác) trước đây từng được coi là rẻ và không có rủi ro, và các ngân hàng thường sử dụng chúng như vốn và tài sản thế chấp. Nhưng khi giá nhà đất giảm mạnh, những trái phiếu này trở nên vô dụng, thậm chí không thể dùng để vay nổi những khoản vay ngắn hạn cho các ngân hàng, trong bối cảnh bị thiếu tiền mặt trầm trọng. Các ngân hàng lâm vào tình trạng giữ trong tay những tài sản vô giá trị, trong khi bị ràng buộc chặt với nhau. Khi một ngân hàng phá sản, tất cả những người khác lâm nguy theo.  Các lực tự nhiên của thị trường chỉ có thể vận hành hiệu quả khi các mối rủi ro được định giá đúng mức. Nhưng những rủi ro trên diện rộng nói trên đã không được tính đến, và trái phiếu được bán với giá quá thấp.   Như vậy, một mục tiêu rõ ràng cho khoa học ở đây là làm sao xây dựng các mô hình tốt hơn cho hệ thống tài chính toàn cầu. Khi đó, các nhà quản lý tài chính cũng như các nhà chức trách có thể dùng những mô hình này để đánh giá rủi ro tài chính và đưa ra những quyết định sáng suốt hơn.  Đúng là trong những cuộc khủng hoảng vừa qua, các nhà khoa học cũng phải gánh một phần trách nhiệm. Chính họ là tác giả của các mô hình đo lường rủi ro mà các ngân hàng vẫn thường xuyên sử dụng. Nhưng những mô hình này thiếu những dữ liệu quan trọng – ví dụ như những tài sản và các hành vi giao dịch thông thường, mối quan hệ giữa các công ty, và khả năng thực hiện giao dịch của các thị trường.   Vì những lý do thương mại, các ngân hàng thường ngại chia sẻ những loại thông tin này. Nhưng nay họ phải thay đổi. Pháp luật Mỹ hiện nay cho phép nhà chức trách thu thập những dữ liệu này từ các ngân hàng, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, và những tổ chức khác trong thị trường tài chính. Châu Âu cũng đang thay đổi theo hướng này, và hi vọng Châu Á cũng sớm tiếp nối. Kết quả là, chúng ta sẽ sớm có thể mô hình hóa và xác định những mối rủi ro trên diện rộng.  Để hiểu tầm khó khăn của việc mô hình hóa những rủi ro tài chính trên diện rộng, hãy hình dung một siêu thị muốn thu tiền những người ra vào. Để mô hình hóa chuyển động của khách mua sắm, chúng ta có thể xây dựng một mô hình thuần túy thống kê về số lượng người ra vào cửa, và trong đa số trường hợp, mô hình này sẽ cho kết quả tương đối sát với thực tế. Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt, như khi có hỏa hoạn, vấn đề hoàn toàn thay đổi. Toàn bộ khách hàng sẽ đổ xô ra cửa thoát hiểm gần nhất, khiến hệ thống thu phí quá tải và cửa sẽ bị đóng lại. Những khách hàng chưa ra được sẽ tiếp tục đổ xô sang cửa thoát hiểm tiếp theo. Trong những trường hợp như vậy, mô hình thống kê sẽ bị sai lệch nghiêm trọng.  Không bị hạn chế như các mô hình thống kê, những mô hình tìm điểm cân bằng, hoặc mô hình cấu trúc được xây dựng để dự đoán động lực – vì thế chúng cũng dự đoán được cả hành vi – của từng cá nhân. Vào những thời điểm thông thường trong đời sống, những mô hình này vô cùng phức tạp và rất khó dựng – hãy hình dung sẽ khó thế nào nếu chúng ta muốn lượng hóa tất cả mọi lý do đằng sau việc mua sắm của mọi người. Tuy nhiên, vào những lúc khó khăn, động lực và hành vi của khách hàng đều giống nhau (làm sao thoát ra nhanh nhất!), và mô hình sẽ dự đoán tốt hơn.  Để hiểu và dự đoán một cách xác thực xu hướng vận động của thị trường trong cơn khủng hoảng, chúng ta cần biết rõ năng lực của những đối tượng nắm vai trò quyết định (tương tự như vai trò của máy soát vé ở siêu thị trong ví dụ minh họa trên đây) và nhu cầu sở hữu tài sản khi giá cả biến động mạnh (thay đổi về tương quan số người muốn thoát ra ngoài so với số người muốn vào trong siêu thị). Những dữ liệu mới sẽ cho phép các mô hình làm được điều này.  Rõ ràng, các nhà quản lý có trách nhiệm xây dựng những mô hình như vậy và sử dụng chúng cho việc giám sát những cuộc khủng hoảng tiềm tàng. Để làm được điều này, họ sẽ cần thu hút chuyên môn từ các nhà khoa học, thông qua việc hỗ trợ và khuyến khích nghiên cứu từ các trường đại học và phòng thí nghiệm.   Các ngân hàng cũng nên góp phần vào nỗ lực này, đồng thời hình thành nên những nhóm thu thập dữ liệu từ toàn bộ các thành viên trong ngành, thu xếp các nguồn tài nguyên và dữ liệu để các nhà khoa học xây dựng nên những mô hình cần thiết, tạo ra cơ sở hạ tầng có tính an ninh và bảo mật cao nhằm giúp các thành viên xác định được mức giá của những rủi ro trên toàn hệ thống. Hiện nay, ngành tài chính ngân hàng đã có một nhóm có vai trò tương đương như vậy – Tổ chức Trao đổi Dữ liệu Rủi ro Hoạt động.   Tất cả mọi người sẽ được hưởng lợi nếu các ngân hàng hợp tác với các nhà khoa học để xây dựng được một cơ sở hạ tầng cần thiết giúp định giá những rủi ro trên toàn hệ thống. Các ngân hàng sẽ có thông tin hữu ích về các tài sản và chiến lược giao dịch, cho phép họ tự điều chỉnh hành vi của mình, tránh được cảnh bắt chước nhau một cách bầy đàn. Các nhà quản lý cũng sẽ có thêm thông tin về thị trường để xác định khi nào thì cần hành động nhằm đảm bảo sự ổn định. Và tất cả chúng ta sẽ có thêm lòng tin đối với hệ thống tài chính.  TS dịch từ  http://www.nature.com/news/scientists-and-bankers-a-new-model-army-1.10399       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Corona của Cuba      Cuba có nhiều kinh nghiệm về vaccine. Hiện tại Cuba đang phát triển một loại vaccine của riêng mình để phòng chống virus corona và nhận được đề nghị sản xuất vaccine từ Nga.    Cho đến nay Cuba khống chế dịch corona tương đối tốt. Tuy nhiên mấy ngày gần đây Cuba cho biết số ca lây nhiễm đang có xu hướng tăng. Do đó đầu tuần trước chính phủ chỉ thị lại thực hiện giãn cách xã hội một lần nữa ở thủ đô Havanna. Các nhà hàng ăn, quán nhậu lại bị đóng cửa, giao thông công cộng trong thành phố tạm ngừng hoạt động, bãi tắm cũng không hoạt động. Mọi chuyện có lẽ chỉ được giải quyết dứt điểm khi Cuba có vắc xin hiệu nghiệm chống SARS-Cov-2. Ông Francisco Durán, nhà dịch tễ học hàng đầu của Cuba hôm thứ ba đã cho hay, Cuba đang nghiên cứu về một loại vaccine corona. “Có vaccine có hiệu lực đối với COVID-19 là ưu tiên hàng đầu đối với hệ thống khoa học và đổi mới của chúng tôi. Viện Finlay của chúng tôi đang tiến bộ nhanh trong việc triển khai dự án này”, Eduardo Martínez, chủ tịch doanh nghiệp công nghệ sinh học BioCubaFarma thông qua Twitter giới thiệu về doanh nghiệp của mình.    Đeo khẩu trang ở nơi công cộngphòng Coronavirus  Cuba có nhiều kinh nghiệm về phát triển và sản xuất vaccine  Viện  Finlay là một trung tâm nghiên cứu khoa học của nhà nước ơ Havanna, chuyên  về nghiên cứu và sản xuất các loại vaccine. Tại Trung tâm Miễn dịch học phân tử và Trung tâm Kỹ thuật Di truyền và Công nghệ sinh học (CIGB), các nhà khoa học Cuba hiện nghiên cứu về bốn loại vaccine, trong đó một loại đã tiến khá xa trong giai đoạn thử nghiệm, theo truyền thông nhà nước. “Trong bối cảnh đại dịch corona chúng tôi ưu tiên hai vấn đề: xúc tiến nhanh các thử nghiệm đại trà để đủ sức giám sát dịch, phát triển các loại vắc xin chuyên biệt để góp phần giải quyết điều trị những loại bệnh tật của đất nước”, Rolando Pérez, giám đốc phụ trách lĩnh vực Khoa học và Sáng tạo của BioCubaFarma tuyên bố nhân một chương trình đặc biệt của Đài Truyền hình Cuba, ông không đề cập đến các vấn đề chi tiết.  Gerardo Guillén, Gám đốc phụ trách Nghiên cứu về Y sinh của CIGB, trong một cuộc trao đổi với báo chí hồi tháng sáu đã nói, nghiên cứu của Kuba  tập trung vào “Vắc xin trên cơ sở virus có những hạt tương tự nhau, để có lợi thế về khả năng tăng cường sức mạnh và hoạt tính của hệ miễn dịch” và đó cũng là một thế mạnh của Cuba trong nghiên cứu vắc xin. Trong đó phải kể đến các loại vắc xin nhỏ mũi.    Ông lấy ví dụ loại vaccine điều trị viêm gan B mãn tính (Hepatitis B),do Cuba phát triển và đây là loại vaccine nhỏ mũi đầu tiên trên thế giới. “Giờ đây chúng ta trao đổi về một bệnh liên quan đến đường hô hấp [COVID-19] thì chúng tôi nghĩ rằng, ở đây cũng có nền tảng miễn dịch qua niêm mạc, logic mà nói thì những phản ứng đã đạt được cũng có thể áp dụng với con virus này”. Theo Guillén, hiện có các dự án nghiên cứu chung với EU cũng như với Trung Quốc.  Khác với nhiều nước đang phát triển, Cuba có một ngành công nghệ sinh học phát triển mạnh và có phòng nghiên cứu riêng của mình. Kinh nghiệm của ngành công nghệ sinh học Kuba về phát triển vắc xin có lợi cho sự phát triển vaccine phòng chống  SARS-Cov-2 . Và điều đó làm cho đất nước này thú vị trong các dự án nghiên cứu chung. “Cuba sản xuất khoảng 80% vaccine phục vụ Chương trình Tiêm chủng Quốc gia. Điều này nói lên khả năng sản xuất vaccine của Cuba. Bên cạnh Viện-Finlay còn có một mảng lớn về đổi mới công nghệ”, theo lời José Moya, giám đốc  Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO).  “Chúng ta phải thực tế”  Có tin Cuba thuộc những nước có thể cùng tham gia sản xuất vaccine Sputnik V do các nhà khoa học Nga phát triển. Thông tin về vaccine của Nga tuần vừa qua đã gây xôn xao dư luận và có không ít lời chỉ trích và nghi ngờ, do đã bỏ qua giai đoạn thử nghiệm thứ ba. Người ta tin rằng Cuba sẽ không ăn bớt công đoạn, dù cho tới nay thì Cuba luôn tuân thủ nghiêm chỉnh mọi quy định của WHO.    “Cuba có nhiều khả năng tuyệt vời để sản xuất vaccine. Chúng tôi đã trao đổi với nhiều doanh nghiệp Cuba về khởi động sản xuất. Chúng tôi nghĩ, Cuba có thể trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về sản xuất vaccine”, theo Kirill Dmitriev, giám đốc Quỹ Đầu tư trực tiếp Nhà nước của Nga (RDIF), Quỹ này đã tài trợ cho dự án vaccine của Nga. Theo Dmitriev thì việc sản xuất vaccine Nga ở Cuba có thể bắt đầu triển khai trong tháng 11 này, “nếu như chúng tôi hợp tác tốt với Chính phủ và các doanh nghiệp Cuba”. Hiện còn phải làm rõ một số chi tiết.  Cho dù đã có thông báo về vaccine của Nga và những tiến bộ trong khâu nghiên cứu việc sản xuất một khối lượng lớn vác xin có chất lượng, không phải là dễ dàng, ông Durán cảnh báo. “Chúng ta cần phải thực tế”. Hiện tại sự bảo vệ duy nhất có hiệu quả vẫn là “đeo khẩu trang, giữ vệ sinh và thực hiện quy định về khoảng cách”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.dw.com/de/corona-impfstoff-made-in-cuba/a-54603921    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine COVID: Giảm lây lan virus nhưng Delta còn là ẩn số      Các nghiên cứu cho thấy các vaccine làm giảm sự lây lan của SARS-CoV-2 tới hơn 80%, nhưng vẫn chưa rõ có lặp lại điều này trên biến thể Delta hay không.      Nhiều loại vaccine đã được chứng minh là có khả năng chống lại COVID-19. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy chúng cũng làm giảm đáng kể nguy cơ lây truyền virus SARS-CoV-2, thông tin quan trọng để các chính phủ đưa ra quyết định về cách kiểm soát đại dịch tốt nhất. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã được thực hiện trước khi biến thể Delta có khả năng lây truyền cao trở nên phổ biến – và các nhà khoa học nói rằng nó có thể dễ dàng lây lan bởi những người được tiêm chủng hơn là những biến thể trước đó.  Hai nghiên cứu1,2 từ Israel, được đăng dưới dạng bản in trước vào ngày 16/7, cho thấy hai liều vaccine do công ty dược phẩm Pfizer, có trụ sở tại thành phố New York và công ty công nghệ sinh học BioNTech, có trụ sở tại Mainz, Đức, tốt nhất đạt 81% hiệu quả trong ngăn ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2. Những người đã tiêm phòng bị nhiễm bệnh có nguy cơ lây lan virus cho các thành viên trong gia đình thấp hơn tới 78% so với những người không được tiêm. Các nhà nghiên cứu cho biết, nhìn chung, điều này tăng thêm khả năng bảo vệ chống lại sự lây truyền rất cao.  Các nhà nghiên cứu cho biết các nghiên cứu phản ánh xu hướng ở cấp độ dân số. Natalie Dean, một nhà thống kê sinh học tại Đại học Emory ở Atlanta, Georgia, cho biết: “Đó là một tin tốt. Nhưng nó vẫn chưa đủ tốt,” cô lưu ý, bởi vì điều đó có nghĩa là những người được tiêm chủng đôi khi vẫn có thể lây nhiễm bệnh.  Và biến thể Delta có khả năng truyền nhiễm cao là một nguồn chính của sự không chắc chắn. Các nghiên cứu của Israel và những nghiên cứu khác dựa trên sự lưu thông của các biến thể trước đó, đặc biệt là Alpha, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng vaccine cung cấp khả năng bảo vệ giảm nhẹ đối với Delta.  Ước tính nhanh   Marm Kilpatrick, một nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đại học California, Santa Cruz, cho biết các nghiên cứu “giúp chúng tôi hiểu tại sao các ca bệnh lại giảm trong hầu hết các quần thể được tiêm chủng cao trước khi xuất hiện biến thể Delta”. Ông nói: “Nếu biến thể đó không phát sinh và lây lan, thì khả năng ca bệnh nặng sẽ rất rất thấp ở nhiều quốc gia” với tỷ lệ tiêm chủng cao. Theo Kilpatrick, các nghiên cứu cung cấp các ước tính nhanh về các khía cạnh khác nhau của sự lây truyền mà trước đây đã được suy luận từ nhiều nghiên cứu.  Nghiên cứu đầu tiên1, do các nhà nghiên cứu ở Israel và Pháp đồng tác giả, đã xem xét sự lây truyền ở 210 hộ gia đình có người nhiễm bệnh làm việc tại Trung tâm Y tế Sheba gần Tel Aviv, là bệnh viện lớn nhất của Israel. Dữ liệu được đưa ra từ giữa tháng 12/2020 và tháng 4/2021 – thời điểm mà một đợt tiêm chủng lớn ở Israel đang cạnh tranh với sự gia tăng số ca do Alpha thúc đẩy. Nghiên cứu thứ hai 2, được đồng tác giả bởi các nhà nghiên cứu ở Israel và Hoa Kỳ, dựa trên phân tích hồi cứu dữ liệu từ khoảng 66.000 hộ gia đình nhiều người có ít nhất một thành viên bị nhiễm bệnh, được Maccabi Healthcare Services, một nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe lớn có trụ sở tại Tel Aviv, Israel, thu thập giữa tháng 6/2020 và tháng 3/2021.  Cả hai nghiên cứu đều phát hiện ra rằng hai liều vaccine Pfizer – BioNTech có hiệu quả ngăn ngừa sự lây nhiễm là 81%. Những người đã bị nhiễm bệnh cũng ít có khả năng truyền bệnh cho các thành viên trong gia đình hơn những người chưa được tiêm phòng. Nghiên cứu đầu tiên cho thấy mức giảm 78% và thứ hai là 41%, giảm khả năng lây nhiễm – với sự khác biệt lớn về số lượng có lẽ được giải thích bởi thực tế là các ước tính dựa trên một số lượng rất nhỏ những người được tiêm chủng đã bị nhiễm bệnh và sau đó lây nhiễm cho người khác.  Giảm lây nhiễm   Tuy nhiên, “cả hai bài báo đều cung cấp bằng chứng tốt về việc giảm đáng kể khả năng lây nhiễm”, Elizabeth Halloran, nhà thống kê sinh học tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, Washington, cho biết. Và trong khi các nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự lây truyền trong các hộ gia đình, khả năng bảo vệ thậm chí có thể cao hơn bên ngoài nhà, nơi mọi người có thể tiếp xúc với liều lượng virus nhỏ hơn, Kilpatrick lưu ý.  Mặc dù phần lớn lợi ích là do vaccine ngăn ngừa truyền nhiễm ngay từ bước đầu, “thực tế là chúng cũng làm giảm khả năng lây nhiễm của các trường hợp đột phá là rất quan trọng và yên tâm”, Virginia Pitzer, một nhà nghiên cứu mô phỏng các bệnh truyền nhiễm tại Trường Y tế Công cộng Yale, New Haven, Connecticut, và đồng tác giả của một trong những nghiên cứu về Israel2.  Các kết quả tương ứng đúng với các nghiên cứu được thực hiện ở những nơi khác. Một phân tích3 trong số khoảng 365.000 hộ gia đình ở Vương quốc Anh, được công bố vào ngày 23 tháng 6, ước tính rằng những cá nhân bị nhiễm SARS-CoV-2 có nguy cơ lây nhiễm bệnh thấp hơn 40–50% nếu họ đã nhận ít nhất một liều vaccine Pfizer – BioNTech hoặc vaccine được phát triển bởi Đại học Oxford, Vương quốc Anh và công ty dược phẩm AstraZeneca, có trụ sở tại Cambridge, Vương quốc Anh, ít nhất ba tuần trước đó. Một nghiên cứu4 từ Phần Lan, được đăng dưới dạng bản in trước vào ngày 10 tháng 7, cho thấy rằng vợ/chồng của nhân viên chăm sóc sức khỏe bị nhiễm bệnh đã được tiêm một liều vaccine Pfizer – BioNTech hoặc do Moderna sản xuất ở Cambridge, Massachusetts, ít có nguy cơ mắc bệnh hơn 43% bị nhiễm bệnh hơn là vợ/chồng của nhân viên y tế không được tiêm chủng.  Yếu tố gây nhiễu của Delta   Nhưng các nghiên cứu về Alpha và các biến thể khác không thể dễ dàng khái quát cho Delta, Steven Riley, một nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đại học Imperial College London, cho biết. Cho đến nay, không có dữ liệu được công bố về cách vaccine ảnh hưởng đến sự lây nhiễm và tính dễ lây nhiễm với Delta, nhưng một nghiên cứu của Anh5 được công bố vào ngày 21/7 cho thấy rằng vaccine Pfizer – BioNTech và Oxford – AstraZeneca đều bảo vệ chống lại bệnh có triệu chứng do Delta gây ra kém hơn một chút so với do Alpha gây ra. Điều này cũng có thể đồng nghĩa với việc chúng bảo vệ chống lại sự lây truyền của Delta tốt như thế nào, nhưng vẫn còn rất nhiều điều không chắc chắn, Dean cho biết.  Dữ liệu sơ bộ chưa được công bố từ Bộ Y tế của Israel cho thấy rằng Delta có thể loại bỏ phần nào việc giảm khả năng lây truyền cung cấp bởi vaccine Pfizer – BioNTech. Và số ca mắc đã tăng mạnh ở Israel sau khi Delta đến, mặc dù hơn 60% dân số đã được tiêm chủng đầy đủ. Các nhà nghiên cứu cho biết điều này gợi ý về những gì có thể xảy ra ở những nơi khác. Dean cho biết, ngay cả khi vaccine có hiệu quả ngăn ngừa lây nhiễm Delta như với các biến thể trước đó, nếu Delta có khả năng lây nhiễm cao hơn, sự lây truyền trong các hộ gia đình vẫn có thể gia tăng. Một nghiên cứu6 từ Trung Quốc, được đăng dưới dạng bản in trước vào ngày 12 tháng 7, đã phát hiện ra rằng nồng độ của các phần tử virus – đại diện cho khả năng lây nhiễm – ở những người bị nhiễm Delta cao gấp 1.000 lần ở những người bị nhiễm chủng SARS-CoV-2 ban đầu. Khả năng lây nhiễm gia tăng của Delta có thể có nghĩa là tỷ lệ người trong dân số cần được tiêm chủng để kiểm soát đại dịch sẽ lớn hơn so với tỷ lệ cần thiết với các biến thể trước đó.  Nguồn : https://www.nature.com/articles/d41586-021-02054-z  Trần Thị Thùy Linh dịch  Tham khảo :  1. Layan, M. et al. Preprint at https://doi.org/10.1101/2021.07.12.21260377 (2021).  2. Prunas, O. et al. Preprint at https://doi.org/10.1101/2021.07.13.21260393 (2021).  3. Harris, R. J. et al. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMc2107717 (2021).  4. Salo, J. et al. Preprint at https://doi.org/10.1101/2021.05.27.21257896 (2021).  5. Lopez Bernal, J. et al. N. Engl. J. Med. https://doi.org/10.1056/NEJMoa2108891 (2021).  6. Li, B. et al. Preprint at https://doi.org/10.1101/2021.07.07.21260122 (2021).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine COVID-19 của công ty nhỏ: Cạnh tranh trên đường đua lớn      Novavax, một công ty nhỏ chưa hề sản xuất một vaccine nào trong suốt 20 năm kể từ khi thành lập, lại có thể là niềm hi vọng đưa nhân loại ra khỏi bóng đêm đại dịch coronavirus.      Nita Patel, nhà khoa học của Novavax đang kiểm tra đĩa đo kháng thể trong những con khỉ được tiêm vaccine.   18 tháng trước, một nhà sản xuất vaccine nhỏ có tên là Novavax có nguy cơ bị gỡ khỏi sàn chứng khoán NASDAQ (sàn giao dịch điện tử lớn thứ hai tại Hoa Kỳ hiện nay). Lý do là sau cuộc thử nghiệm vaccine thất bại lần thứ hai trong vòng chưa đầy ba năm, cổ phiếu của công ty đã giảm xuống dưới 1 USD trong 30 ngày liên tiếp, khiến NASDAQ đưa ra cảnh báo. Gặp trở ngại với kinh phí duy trì, công ty đã bán hai cơ sở sản xuất ở Maryland và cắt giảm biên chế của hơn 100 nhân viên. Đến tháng một, công ty chỉ còn 166 người.    “Ý tưởng hay (nhưng) quản lý tồi.…Công ty có thể sẽ sớm suy tàn”, một cựu quản lý của Novavax viết trên Glassdoor.com vào tháng 10 năm 2019 (Glassdoor là một nền tảng để mọi nhân viên có thể phản ánh về công ty của mình một cách nặc danh).    Tác động của đại dịch đã gây ra một sự thay đổi đáng kể. Hiện nay, Novavax dự kiến ​​nhận được tới 2 tỷ USD từ Chính phủ Hoa Kỳ và một tổ chức phi lợi nhuận để phát triển và sản xuất vaccine coronavirus. Cổ phiếu của công ty chốt ở mức 80,71 USD/cổ phiếu vào ngày 30 tháng 10, công ty đã tuyển hơn 300 nhân viên mới. Trong tháng này, công ty có kế hoạch triển khai thử nghiệm lâm sàng quan trọng đối với vaccine coronavirus ở Hoa Kỳ và Mexico. Được tạo ra bằng công nghệ tái tổ hợp nhắm đến protein gai – protein mà mầm bệnh sử dụng để xâm nhập vào tế bào người, vaccine của Novavax làm lu mờ các đối thủ cạnh tranh khác dựa trên các tiêu chuẩn quan trọng trong các thử nghiệm ban đầu trên khỉ và người.    Cho đến nay, Novavax là một trong bảy nhà sản xuất vaccine giành được tài trợ từ Chiến dịch Warp Speed. Đây là một nỗ lực lớn của chính phủ Hoa Kỳ nhằm nhanh chóng sản xuất ít nhất 300 triệu liều vaccine Covid-19. Nhưng hầu hết các công ty được Warp Speed ​​hậu thuẫn đều là những gã khổng lồ ngành dược, và hầu hết đã tiến hành các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối ở Hoa Kỳ. Một công ty nhỏ như Novavax đang phải gấp rút bắt kịp các đối thủ lớn hơn của mình, vì công ty nào giành được sự chấp thuận đầu tiên từ các cơ quan quản lý sẽ có lợi thế thị trường lớn. Một số quan sát viên cho rằng công nghệ của Novavax đang có lợi thế.    Andrew Ward, một nhà sinh học cấu trúc tại Scripps Research, cho biết: “Họ đang có vị trí cực kỳ tốt”. Không nhận được lợi nhuận nào từ công ty nhưng sở hữu một số cổ phiếu, Ward dẫn đầu một nhóm nghiên cứu vào tháng trước và đã xuất bản một bài báo trên Science mô tả cấu trúc của protein gai do Novavax tự thiết kế. Protein gai được xem như là trái tim của vaccine. Ông đã bị ấn tượng bởi sự ổn định cũng như cấu trúc của nó, và các phản ứng kháng thể mạnh mẽ mà nó đã tạo ra ở người và động vật. “Họ có bí quyết,” ông nói. “Rõ ràng, như chúng tôi đã xác nhận, họ đang tạo ra một sản phẩm tốt”.    Nhưng những người khác lại hoài nghi. Họ cho rằng Novavax đã tập trung vào việc sản xuất vaccine trong hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ đưa được một vaccine nào ra thị trường. Các giám đốc điều hành cấp cao của công ty đã bán tháo hàng chục triệu đô la cổ phiếu của công ty kể từ khi giá cổ phiếu bắt đầu tăng cao vào mùa hè này.    Đáng chú ý nhất, công ty có một gót chân Achilles. Novavax đặt ra mục tiêu đầy tham vọng cho năm 2021: sản xuất đủ vaccine để cung cấp cho 1 tỷ người với hai liều mỗi người nhưng họ không chủ động được việc đó mà gần như phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà sản xuất theo hợp đồng. Nếu có gì xảy ra trong vấn đề sản xuất – và công ty thực ra cũng cho biết tuần trước là có nhiều trì hoãn trong quá trình sản xuất khiến thời điểm bắt đầu quá trình thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối của vaccine ở Bắc Mỹ bị lùi lại – tạo cơ hội cho các vaccine đối thủ vượt lên. David Maris, một nhà phân tích kỳ cựu trong ngành công nghiệp dược phẩm và là giám đốc điều hành tại Phalanx Investment Partners, cho biết: “Đó là điều đáng lo ngại”. Khi thấy các công ty nhỏ như Novavax gặp khó khăn, ông nói thêm, “mọi người thực sự muốn tin vào những câu chuyện cổ tích”.     Vaccine “tiểu đơn vị protein”     Ngày 10/1, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã công bố trình tự bộ gene của virus đang tàn phá thành phố Vũ Hán. Ba ngày sau, Gregory Glenn, chủ tịch R&D của Novavax, yêu cầu nhân viên của ông đặt hàng gene cho protein gai của virus từ một nhà cung cấp.    Glenn và các nhà khoa học khác của Novavax đã dành nhiều năm để phát triển vaccine “tiểu đơn vị protein”, được đặt tên như vậy vì chúng sử dụng một loại protein (hoặc một phần của protein) từ virus mục tiêu, cộng với các hợp chất tăng cường đáp ứng miễn dịch được gọi là tá dược, để kích thích phản ứng miễn dịch. Công ty đã không thành công về mặt thương mại, vaccine đã thất bại trong các thử nghiệm lâm sàng về khả năng chống lại bệnh viêm đường hô hấp cấp tính nghiêm trọng. Nhưng sau đó họ đã sản xuất một loại vaccine cúm đầy hứa hẹn nhắm vào những người lớn tuổi, đang tiến gần đến giai đoạn then chốt của một thử nghiệm lâm sàng. Công ty cũng đã tạo ra vaccine tiểu đơn vị protein chống lại hai họ hàng gần gũi của virus corona, gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng và hội chứng hô hấp Trung Đông, bằng cách sử dụng các proteingai của những virus đó. Những loại vaccine đó chưa được đưa ra thị trường, nhưng Novavax đã có nhiều kinh nghiệm về coronavirus. Glenn tin rằng đây là thời khắc của công ty mình.    Tuy nhiên, đơn đặt hàng gene của protein gai đã đến chậm. Cuối cùng, vào lúc 6 giờ sáng ngày 3/2, phó chủ tịch của nhà cung cấp đã giao tận tay một chiếc lọ có nắp đỏ chứa đựng đoạn gene đến tòa nhà gạch màu be của Novavax. Virus vẫn chưa được đặt tên chính thức, lọ thuốc được dán nhãn “Cov/Wuhan”. Nhưng hiện tại, Novavax đã bước ra khỏi vạch xuất phát và đang trong cuộc đua để chế ngự nó.    Glenn cho biết các nhà khoa học của công ty bắt đầu làm việc với tốc độ điên cuồng. Một số đối thủ cạnh tranh của họ đã đi trước một bước, đang nghiên cứu về vaccine của riêng họ. “Chúng tôi hiểu mình đang bị tụt lại phía sau nhiều công ty khác được Warp Speed tài trợ, Glenn cho biết vào sáng ngày 24/9, ngày đầu tiên Novavax triển khai thử nghiệm giai đoạn III với 15.000 tình nguyện viên ở Vương quốc Anh.    Hầu hết các đối thủ cạnh tranh chính của Novavax như Moderna, Pfizer, công ty con Janssen của Johnson&Johnson, và AstraZeneca đã bước vào thử nghiệm giai đoạn III trước đó. Để sản xuất vaccine, cả bốn công ty này đều sử dụng công nghệ mới dựa trên vật liệu di truyền để chỉ tạo protein gián tiếp, thay vì phân phối protein trực tiếp. Các nền tảng đó dựa vào DNA được nạp trong các virus bị vô hiệu hóa hoặc dựa trên RNA thông tin mang thông tin di truyền có khả năng tạo ra protein gai. Sau đó, các tế bào trong cơ thể người được tiêm chủng sẽ nhận diện và tiêu diệt protein, cảnh báo hệ thống miễn dịch.    Các nhà phát triển vaccine protein phải phát triển phiên bản protein gai của riêng họ, một phiên bản mô phỏng gần với dạng protein gai của virus và đủ ổn định để duy trì đáp ứng miễn dịch trong suốt quá trình sản xuất, đóng gói và phân phối. Hầu hết các loại vaccine như vậy bao gồm một hợp chất bổ sung được gọi là tá chất (tá dược) để giúp kích thích mạnh mẽ và xuất hiện đáp ứng miễn dịch bảo vệ. Những bước bổ sung đó làm cho vaccine protein phát triển chậm hơn so với vaccine phân phối thông tin di truyền.    Nhưng vaccine chứa protein lại có một hồ sơ ghi nhận lâu dài về mức độ hiệu quả, trái ngược với phần lớn các phương pháp mới hơn chưa được chứng minh. Vaccine viêm gan B thành công được cấp phép vào năm 1986 và được khuyên dùng cho tất cả trẻ sơ sinh Hoa Kỳ trong ngày đầu tiên sau sinh là một loại vaccine tiểu đơn vị protein. Vì vậy, một loại vaccine cúm được phê duyệt vào năm 2013; và vaccine virus u nhú ở người đã khiến tỷ lệ ung thư cổ tử cung giảm xuống kể từ khi những vaccine đầu tiên được cấp phép vào những năm 2000.     Chậm nhưng vẫn còn nhiều hi vọng     Có lẽ vì công nghệ này đã được thử nghiệm và đã đúng, nên nhiều công ty khác cũng đang chạy đua để phát triển vaccine tiểu đơn vị protein. Trong số các công ty khác, nhà sản xuất vaccine khổng lồ Sanofi Pasteur có thể là đối thủ lớn nhất của Novavax. Vijay Samant, cựu giám đốc sản xuất vaccine tại Merck và hiện là nhà tư vấn cho các công ty vaccine cho biết “đây sẽ là một cuộc cạnh tranh gay gắt với vaccine Novavax”. Sanofi Pasteur có tiềm lực, cơ sở hạ tầng và kinh nghiệm sâu rộng, đồng thời đã đưa ra thị trường vaccine chống 19 bệnh truyền nhiễm.    Nhưng các nhà khoa học của Novavax nói rằng họ đã sẵn sàng cho cuộc cạnh tranh. Gale Smith, nhà khoa học chính của Novavax cho biết: “Chúng tôi đã sẵn sàng cho điều này trong suốt cuộc đời mình”.    Khi gene coronavirus được đưa đến Gaithersburg, Maryland vào ngày 3/2, công ty đã dành nhiều tuần để tạo ra hơn 20 phiên bản của protein gai, nhằm mục đích tạo ra một sản phẩm càng có hiệu quả về mặt miễn dịch càng tốt. Mục tiêu chung cuộc là protein cảm ứng kháng thể ổn định nhất, một protein bắt chước các trạng thái năng lượng của protein gai ngay trước khi nó hợp nhất với màng tế bào chủ.    Vào tháng ba, một nhóm nghiên cứu do Nita Patel, giám đốc cấp cao của bộ phận phát triển vaccine, đã xác nhận về các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm rằng protein được thiết kế liên kết chặt chẽ với thụ thể trên bề mặt tế bào người. Kết quả cho thấy các kháng thể đối với protein của Novavax sẽ can thiệp vào protein gai của chính virus khi nó cố gắng kết hợp với các tế bào người.    Ông chủ của Patel, Smith, tiếp theo mời Ward để xác minh cấu trúc và độ ổn định của protein bằng kính hiển vi điện tử. Các thử nghiệm khác cho thấy protein gai của Novavax phát triển có thể ổn định trong nhiều tuần ở 2°C đến 8°C, một lợi thế quan trọng so với vaccine Moderna và Pfizer, vốn cần được bảo quản ở -20°C và -70°C. và một khi rã đông, chúng chỉ có thể duy trì được vài ngày trong tủ lạnh.    Hiện nay, thách thức là tạo ra protein với số lượng lớn mà thế giới cần. Novavax đã có một cơ chế để làm được điều đó, được Smith đồng phát minh từ nhiều thập kỷ trước và kể từ đó được công ty sử dụng để phát triển các ứng cử viên vaccine khác của mình.    Khi là một sinh viên 34 tuổi tốt nghiệp tại Đại học Texas A&M vào năm 1983, Smith và các đồng nghiệp đã phát triển một hệ thống có thể sản xuất protein với số lượng lớn. Các nhà nghiên cứu bắt đầu với một loại virus lây nhiễm côn trùng được gọi là virus baculovirus, có đặc điểm là bộ gene có thể thích nghi với khối lượng lớn DNA ngoại lai. Các nhà nghiên cứu đã chèn một gene của một protein miễn dịch ở con người là interferon vào virus và sau đó sử dụng nó để lây nhiễm các tế bào từ dạng sâu bướm của một loài dịch hại được gọi là sâu keo mùa thu. Virus đã chuyển gene sang tế bào của chúng, và tế bào này đã tiết ra interferon của con người.    Vào thời điểm đó, các biên tập viên của các tạp chí lớn không mấy quan tâm đến khám phá này và liên tục từ chối bài báo của Smith. Nhưng ngày nay hệ thống đó được sử dụng rộng rãi trong công nghệ sinh học. Hiện tại, công ty đang tiến hành sản xuất vaccine Novavax tại một nhà máy thuộc sở hữu của một nhà thầu ở Morrisville, Bắc Carolina, và dự kiến ​​sẽ sớm triển khai tại các nhà máy khác do Novavax sở hữu hoặc ký hợp đồng ở châu Âu, Hoa Kỳ và châu Á.    Ở Bắc Carolina, vô số baculovirus được nạp gene protein gai của coronavirus được cho xâm nhập vào tế bào bướm đêm, trong lò phản ứng sinh học 2000 lít. Các tế bào bướm đêm sau đó biểu hiện các protein gai coronavirus trên màng tế bào của chúng. Các nhà khoa học thu hoạch các protein và trộn chúng bằng các hạt tổng hợp, có kích thước khoảng 50 nanomet. Mỗi “hạt nano” liên kết với tối đa 14 protein gai. Smith nói rằng các hạt thành phẩm chỉ nhỏ hơn một chút so với coronavirus, giúp hệ thống miễn dịch “coi” chúng là mối nguy hiểm. Sau đó, Novavax thêm tá chất, dựa trên saponin, một hợp chất được tìm thấy trong vỏ cây xà phòng có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch (xem hình 2).      Cách thức hoạt động của vaccine Novavax.     Những tin vui ập đến     Để bắt đầu sản xuất vào mùa xuân, Novavax đã phải đương đầu với một thực tế khắc nghiệt. Glenn nói: “Những gì chúng tôi không có hay nói đúng hơn là đã mất khi giảm quy mô vào năm ngoái, là kiểm soát được vaccine trong một cơ sở sản xuất riêng”. “Chúng tôi có thể đã đi nhanh hơn nhiều nếu chúng tôi có tài sản chiến lược đó”. Thay vào đó, công ty đã “phải cầu xin”, theo lời ông, chuyển sang nhà sản xuất theo hợp đồng có trụ sở tại Gaithersburg, để sản xuất vaccine cho những thử nghiệm đầu tiên trên người. Glenn nói “không phải là lý tưởng”. “Chúng tôi là những vận động viên chạy nước rút …”    Một tin tốt lành đến vào ngày 24/3, có thể thúc đẩy hoạt động tìm kiếm tài chính của công ty. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của vaccine cúm Novavax ở người lớn tuổi, cũng được thực hiện bằng cách sử dụng hệ thống tế bào của bướm, đã cho kết quả xuất sắc. Đối với Novavax, công ty hiện đang mong chờ các nhà tài trợ đầu tư khoản tiền lớn cho vaccine coronavirus. Bằng chứng về khả năng của họ đã đến vào một thời điểm tình cờ.    Ba ngày sau, các nhà khoa học cấp cao của Novavax đã gặp gỡ những người ra quyết định từ một nhà tài trợ chính, tổ chức phi lợi nhuận, Liên minh quốc tế về những đổi mới chuẩn bị sẵn sàng cho bệnh dịch (CEPI) trong một cuộc gọi Zoom quan trọng. Các nhà khoa học Novavax đã quen với việc đối phó với những người hoài nghi. Smith nói: “Hầu hết mọi người không nghĩ rằng các hạt nano mang protein gai  của chúng tôi hoạt động. Chúng tôi đã bị buộc tội rằng chúng thậm chí không có thật, điều này thật nực cười.” Sau đó, những hình ảnh có độ phân giải cao mới của Ward đã hiển thị các hạt nhỏ được đính bằng các protein nhọn, với saponin giống như tổ ong lơ lửng bên cạnh chúng được chiếu trên màn hình của hàng chục người. Đó là “một trong những khoảnh khắc quý giá”, Nick Jackson, người đứng đầu chương trình vaccine của CEPI, nhớ lại.    Sáu tuần sau, CEPI đã trao cho Novavax số tiền lên tới 384 triệu USD để thử nghiệm và sản xuất vaccine của mình.    Ward đã chiến thắng một số nghi ngờ về khoa học. John Moore, một nhà miễn dịch học tại Weill Cornell Medicine, đã hoài nghi hệ thống tế bào bướm của Novavax vì trong những năm 1990, rõ ràng là nó đã thất bại trong việc tạo ra một loại proteingai của HIV với các đặc điểm phù hợp để tạo ra vaccine AIDS. Nhưng vào tháng tám, khi tác phẩm của Ward được đăng dưới dạng bản in trước, “Tôi đã nhìn vào bài báo đó và rất ấn tượng”, Moore nói. “Nó đã thay đổi nhận thức của tôi về chất lượng của protein. Những lo ngại mà tôi có đã bị loại bỏ bởi dữ liệu, như nó nên diễn ra”.    Vào cuối tháng 5, Novavax đã triển khai thử nghiệm an toàn trên người đầu tiên ở 131 tình nguyện viên ở Úc và sử dụng tài trợ của CEPI, với 167 triệu USD tiền mặt để mua một cơ sở sản xuất vaccine hiện đại ở Cộng hòa Séc mà công ty cho biết sẽ cung cấp hơn 1 tỷ liều vào năm 2021. Và vào đầu tháng bảy, Chiến dịch Warp Speed ​​đã cấp cho công ty số tiền lên đến 1,6 tỷ USD, với 800 triệu USD khả dụng ngay lập tức, cho thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III và sản xuất 100 triệu liều vaccine.    Đầu tháng tám, các nhà đầu tư lớn trong công ty nhỏ bé này đã giành được sự minh oan đầu tiên khi Novavax công bố kết quả thành công từ thử nghiệm ở Úc. Sau hai lần tiêm, “phản ứng của kháng thể trong bài báo của Novavax mạnh rõ rệt hơn so với bất kỳ loại vaccine nào khác đã được báo cáo” và những người tham gia không gặp phải tác dụng phụ nghiêm trọng nào, Moore, người gần đây đã xuất bản một bài đánh giá của tạp chí Virology về các ứng viên vaccine dẫn đầu. Moore nói rằng anh ấy dự định sẽ tình nguyện dùng thử Novavax nếu đủ điều kiện. “Tôi sẽ, đúng thế, tôi sẽ được tiêm vaccine đó”.    Chính phủ Vương quốc Anh đã sớm đăng ký mua 60 triệu liều vaccine của Novavax, và nhà sản xuất thuốc lớn Takeda đã cấp phép sản xuất quy mô lớn với sự tài trợ của Chính phủ Nhật Bản. Các nhà khoa học khác đã ghi nhận kết quả tốt ở hàng chục con khỉ được tiêm nhiều liều vaccine của Novavax và sau đó bị nhiễm coronavirus sống. Virus không nhân lên trong mũi của chúng, nhưng nhân lên trong phổi của một con khỉ nhận liều thấp nhất và con vật đó khỏi hoàn toàn sau bốn ngày.    Angela Rasmussen, một nhà virus học tại Đại học Columbia, cho biết: “Đó là loại vaccine duy nhất mà tôi thấy trong số tất cả các ứng cử viên thực sự không có sự nhân lên của virus trong mẫu dịch mũi của động vật đã được tiêm phòng”. Cô ấy nói rằng điều đó rất quan trọng, bởi vì việc ngăn chặn sự nhân lên của virus trong mũi có thể làm giảm sự lây lan của virus ở những người có thể không biết mình bị bệnh. Nhưng cô ấy cảnh báo rằng khỉ không phải là người. “Chúng tôi không thể thực sự kết luận rằng vaccine này sẽ tốt hơn trong thực tế cho đến khi chúng tôi có một số dữ liệu đáng tin cậy về tính an toàn và hiệu quả ở người”.    Đó là lý do tại sao các nhà nghiên cứu sẽ háo hức xem kết quả từ các thử nghiệm pha III của Novavax. Trong một quá trình đang được tiến hành ở Vương quốc Anh, những người tình nguyện được tiêm giả dược hoặc vaccine trong hai lần tiêm, cách nhau 21 ngày. Các nhà nghiên cứu sẽ đánh giá xem liệu những người tình nguyện được tiêm chủng có ít triệu chứng hơn khi nhiễm coronavirus so với những người nhận giả dược hay không. Họ cũng sẽ tiếp tục theo dõi sự an toàn, bao gồm bất kỳ phản ứng nào với tá dược, bởi vì đây sẽ là lần đầu tiên một số lượng lớn những người trẻ tuổi có hệ miễn dịch mạnh nhận được nó.    Các thử nghiệm vaccine cần những người tình nguyện có tiếp xúc với virus, vì vậy các ca lây nhiễm tăng vọt ở Vương quốc Anh có vẻ lại có lợi cho Novavax. Công ty ước tính sẽ có đủ số ca nhiễm trong số những người tham gia để cho phép xem xét dữ liệu lần đầu tiên vào đầu năm 2021 và cho biết họ hy vọng dữ liệu của Vương quốc Anh sẽ đủ để thúc đẩy phê duyệt vaccine của họ.    Tại Hoa Kỳ và Mexico, công ty đặt mục tiêu thu hút 30.000 tình nguyện viên, khoảng 90% trong số những người này là ở Hoa Kỳ, để tham gia một thử nghiệm dự kiến ​​sẽ ra mắt vào tháng này. Giữ chân các tình nguyện viên trong cuộc thử nghiệm đó có thể là một thách thức nếu các vaccine đối thủ khác có được giấy phép tung ra thị trường ở Hoa Kỳ trong những tuần tới (Science, 23 tháng 10, trang 389). Nhưng Glenn lập luận rằng kịch bản này khó có thể xảy ra vì chờ Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thông qua rồi phân phối vaccine rộng rãi cần nhiều thời gian hơn thế.    Các nhà quan sát viên cũng lưu ý rằng có thể sẽ cần nhiều loại vaccine để dập tắt đại dịch. Đợt vaccine đầu tiên của cả Pfizer và Moderna hứa hẹn sẽ chỉ tiếp cận được 100 triệu người. Các chuyên gia nói thêm rằng vaccine đầu tiên được phê duyệt không nhất thiết phải là loại tốt nhất. Mayank Mamtani, nhà phân tích công nghệ sinh học cấp cao tại B. Riley Securities, cho biết: “Đặc biệt khi chúng ta đang nói về việc tiêm chủng cho hàng triệu người, bạn phải tuân theo khoa học. Về lâu dài, “theo tôi, việc xuất hiện đầu tiên trên thị trường không phải là điều quan trọng”.    Nhân tố gây bất ngờ trong cuộc đua vaccine?     Một vài quan sát viên đã nhíu mày khi Novavax giành được tài trợ Warp Speed, đặc biệt là mới năm ngoái đây chỉ là công ty đang sống vật vờ. Maris phàn nàn về “sự thiếu minh bạch về các quyết định tài trợ của Warp Speed ​​được thực hiện”. (Các nhà báo và nhà đầu tư đã cố gắng để có được hợp đồng Warp Speed ​​của Novavax nhưng không thành công). “Tôi muốn xem các phân tích cơ bản hoặc sâu, nếu có, được thực hiện trước các quyết định tài trợ này,” Maris nói. “Tôi không chắc liệu nó có tồn tại hay không”.    Novavax cho biết họ sẽ phát hành hợp đồng vào tuần tới như một phần của báo cáo tài chính hằng quý.      Các nhà khoa học của Novavax đang kiểm tra xem protein của vaccine sẽ gắn kết với tế bào người ra sao.  Các nhà phê bình khác lưu ý rằng kể từ khi đại dịch bắt đầu, các nhà quản lý hàng đầu của Novavax đã kiếm được hàng chục triệu USD bằng cách dùng các quyền của mình để mua cổ phiếu công ty sớm hơn, với giá rẻ hơn rồi bán nó với giá cao của năm nay. Những lựa chọn như vậy là một cách phổ biến để trả lương cho các giám đốc điều hành công ty công nghệ sinh học, nhưng trong bối cảnh đại dịch, việc bán cổ phiếu kiểu này đã khiến Novavax nhận được sự chú ý không mong muốn từ Quốc hội vào tháng chín vừa qua. Tại một phiên điều trần, chủ tịch Tiểu ban Dịch vụ Tài chính của Hạ viện về Bảo vệ Nhà đầu tư, Tinh thần khởi nghiệp và Thị trường Vốn đã nêu tên ví dụ của Novavax và các công ty khác. Và trong một bản ghi nhớ nhức nhối mà các nhà lập pháp Dân chủ đưa ra với tiêu đề “Tính liêm chính và sự trục lợi của doanh nghiệp trong Đại dịch Covid-19”, họ báo cáo rằng ba giám đốc điều hành cấp cao tại Novavax và hai thành viên hội đồng quản trị đã bỏ túi gần 17 triệu USD chỉ trong tháng tám.    Maris lưu ý rằng các giám đốc điều hành có xu hướng giữ cổ phiếu của họ khi công ty của họ đang tăng giá. “Vì vậy, thật thú vị khi họ quyết định bán”.    Các nhà lãnh đạo Novavax tiếp tục bán cổ phiếu vào tháng chín, với bốn quản lý cấp cao bán cổ phiếu trị giá tổng cộng 18,9 triệu USD. Glenn, người đã bỏ túi 6,2 triệu USD (trước thuế) vào tháng tám và bán số cổ phiếu trị giá 4,9 triệu USD vào tháng chín cho biết: “Phần lớn giá trị mà tôi có là ở Novavax. “Một năm trước chẳng có giá trị gì.” Giám đốc điều hành Stanley Erck, người đã bán 4,5 triệu USD cổ phiếu vào tháng chín, đã không trả lời yêu cầu bình luận.    Ngay cả khi các thử nghiệm giai đoạn III của Novavax thành công, những người theo dõi vaccine cho biết lỗ hổng lớn nhất vẫn còn của công ty sẽ là quy trình sản xuất. Samant nói: “Tôi nghĩ rằng vaccine sẽ có hiệu quả. Nhưng nhiệm vụ sản xuất 2 tỷ liều đó đối với một công ty nhỏ, đó là một nhiệm vụ rất khó khăn”.    “Nó giống như việc bạn cố gắng nấu một chiếc bánh thật ngon. Bạn có thể làm một chiếc cho gia đình mình, nhưng nếu bạn cố gắng làm 50 chiếc cho một đám cưới, thì điều đó thực sự rất khó làm, để có được tất cả chúng giống nhau”, Ward đồng tình.    “Hệ thống tế bào của bướm không giống như vaccine cúm và trứng (sản xuất vaccine bằng trứng)” chuyên gia vaccine và cựu nhân viên của FDA Luciana Borio, một người ngưỡng mộ Novavax, phó chủ tịch của In-Q-Tel, một công ty đầu tư công nghệ, cho biết thêm. “Nó chưa được kiểm chứng”.    Novavax đáp trả rằng các đối tác sản xuất của công ty có kinh nghiệm sâu rộng trong việc sản xuất vaccine trên quy mô lớn. Ví dụ, Viện Huyết thanh của Ấn Độ, một hãng sản xuất vaccine kỳ cựu lớn nhất thế giới, đang giúp Novavax mở rộng sản xuất tại cơ sở rộng 14.000m2 ở Séc, đồng thời tự sản xuất thêm một tỷ liều ở Ấn Độ, cho người dân ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Điều đó làm nâng tổng số liều mà công ty cho biết họ có thể sản xuất vào năm 2021 lên 2 tỷ liều, theo như đã hứa.    Mamtani nói rằng việc các nhà sản xuất đẳng cấp thế giới như Viện Huyết thanh “thậm chí không cần mất thời gian chớp mắt để đồng ý làm việc với công ty và giúp công ty mở rộng quy mô” đã thể hiện giá trị của Novarax.    Ông dự đoán, “Công ty này là một nhân tố ít ai ngờ tới, một nhân tố đưa chúng ta ra khỏi bóng tối đại dịch này”. □     Đức Phát dịch  https://science.sciencemag.org content/370/6517/649    Nita Patel: “Không có gì là không thể”  Đứng trước cánh phóng viên sau khi dẫn Thị trưởng Maryland Larry Hogan đi thăm các phòng lab của công ty tại đây, CEO Novavax, Stanley Erck chia sẻ tất cả mọi thứ về công ty từ kế hoạch sản xuất cho đến việc các nhà khoa học của họ làm việc vất vả thế nào. Nhưng ông lại chỉ nhắc đến tên một nhà khoa học duy nhất: Nita Patel, một người phụ nữ nhỏ bé 56 tuổi mặc quần bò và đeo khẩu trang đen. “Nita”, Erck nói với ông thị trưởng, “đứng sau tất cả mọi thứ mà ngài chứng kiến hôm nay”.  Patel là giám đốc cấp cao của chương trình phát triển vaccine tại Novavax. Đội ngũ toàn nhân viên nữ của bà là nhóm cốt lõi trong tổ nhân viên phòng thí nghiệm của Novavax. Họ chịu trách nhiệm thực hiện những kiểm thử phức tạp để đánh giá trái tim của vaccine Novavax, chính là protein gai của virus, xem liệu nó có hoạt động bình thường trong các tế bào và tạo ra những kháng thể kháng virus trong động vật hay không. “Nita là nhân viên vô giá của chúng tôi” – sếp của bà, giám đốc khoa học Gale Smith nói. “Bà ấy quả thực là thiên tài”.  Sau khi Novavax có được gene protein gai của virus SARS-CoV-2 vào tháng hai vừa qua, đội ngũ của Patel đã kiểm thử hơn 20 mẫu của protein do công ty thiết kế, xác định phiên bản nào sẽ có khả năng cao nhất trong việc kích hoạt phản ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể. Giờ đây thì bà đang xác định các đặc trưng của protein này, tìm ra vị trí liên kết chính xác giữa kháng thể và gai của protein và thiết kế kiểm thử để đảm bảo các gai ổn định dù đi qua nhiều cơ sở sản xuất khác nhau.  Từ khi đại dịch diễn ra, “một ngày của tôi không có kết thúc, và mọi người khác ở đây cũng thế”, bà nói. Patel cầu nguyện và thiền mỗi ngày trong ngôi đền ở nhà, toát ra vẻ thanh thản và điềm tĩnh. “Với tôi, không điều gì là không thể. Thành thật mà nói, chỉ cần nghĩ vậy là không gì khiến tôi nao núng”.    Author                Meredith Wadman        
__label__tiasang Vaccine Covid-19 vẫn hiệu quả và an toàn      Những tai biến sau tiêm vaccine gần đây bắt đầu xuất hiện. Nhưng đó là điều bình thường và chúng ta không nên mất niềm tin vào vaccine.      Ảnh: ft.com  Những hiện tượng hiếm gặp  Oxford-AstraZeneca một trong số các vaccine ngừa Covid-19 đầu tiên trên thế giới được WHO phê duyệt sử dụng trong trường hợp khẩn cấp trên thế giới. Hơn nữa, so với các vaccine ra đời cùng thời điểm cuối năm ngoái như Pfizer/BioNTech và Moderna, Oxford-AstraZeneca còn có điều kiện bảo quản và vận chuyển ở nhiệt độ tủ lạnh, phù hợp với hệ thống tiêm chủng thường quy sẵn có của tất cả các nước trên thế giới. Không ngạc nhiên khi vaccine này đã được triển khai tiêm trên ít nhất 142 quốc gia. Sáng kiến tiếp cận vaccine toàn cầu Covax đã đăng ký mua ít nhất 400 triệu liều vaccine này để phân phối tới các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Liên minh châu Âu (EU) cũng ký hợp đồng với AstraZeneca để mua 300 triệu liều cho các nước trong EU và một số quốc gia trong Khu vực kinh tế châu Âu (EEA).  Tính đến ngày 7/4/2021, có 82 triệu liều vaccine Covid-19, trong đó khoảng ¼ là vaccine Oxford-AstraZeneca đã được tiêm cho người dân trong EU. Tuy nhiên, một “trục trặc” nhỏ xuất hiện giữa đợt triển khai tiêm chủng thần tốc này, Vào ngày 3/4/2021. Cơ quan y tế của Áo bỗng đình chỉ sử dụng lô vaccine Oxford-AstraZeneca  sau khi một người được chẩn đoán là bị huyết khối ở nhiều nơi trong cơ thể và tử vong sau 10 ngày tiêm vaccine và một người bị tắc mạch phổi sau khi tiêm (người này sau đó đã dần hồi phục). Đến ngày 9/3, có thêm hai trường hợp bị huyết khối sau khi tiêm được báo cáo ở châu Âu. Đến ngày 11/3, cơ quan y tế châu Âu (European Medicine Agency – EMA) cập nhật thêm rằng trong khoảng năm triệu người đã tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca ở EEA, có 30 trường hợp bị huyết khối. EMA cho biết sẽ tiếp tục điều tra nhưng cơ quan này cũng tuyên bố không có bằng chứng nào cho thấy vaccine gây ra hiện tượng này.   Lí do đằng sau tuyên bố của EMA là do tỉ lệ xuất hiện huyết khối của những người tiêm thấp hơn so với con số này ở những người không tiêm (Nói cách khác, dù không tiêm thì vẫn có một tỉ lệ dân số nhất định bị huyết khối vì một lí do nào đó). Trước đó, chính AstraZeneca cũng rà soát 17 triệu người đã tiêm vaccine của họ và thấy rằng có 15 trường hợp bị huyết khối sâu tĩnh mạch và 22 trường hợp bị tắc mạch phổi. Con số này thấp hơn nhiều so với tỉ lệ huyết khối xuất hiện thông thường với quy mô dân số đó.   Tuy nhiên, đến ngày 15/3/2021, Viện Paul-Ehrlich (PEI) ở Đức đã thông báo, trong 1.6 triệu người tiêm, có bảy trường hợp bị huyết khối tĩnh mạch não. Theo viện này, như vậy là nhiều hơn mức bình thường trong khoảng thời gian ngắn, dù vẫn là tỉ lệ nhỏ. Khuyến cáo của PEI khiến Đức quyết định ngừng tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca cho đến khi EMA đưa ra thông báo rõ ràng hơn. Quyết định của Đức tạo ra một hiệu ứng domino khiến gần 20 quốc gia châu Âu khác cũng ngừng tiêm vaccine này.   Ở bên bờ kia của Thái Bình Dương, vaccine Covid-19 khác của Mỹ, vaccine của Johnson & Johnson (J&J) gần đây cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Vaccine J&J có thể coi là vượt trội nhất hiện nay nếu xét về mặt hiệu quả triển khai, góp phần đẩy nhanh tốc độ miễn dịch cộng đồng: không chỉ bảo quản ở nhiệt độ thuận lợi như vaccine của AstraZeneca, vaccine này còn chỉ cần tiêm một mũi duy nhất. Nhưng, sau khi tiêm cho gần tám triệu người, có 15 trường hợp được ghi nhận là bị huyết khối và trong đó có một trường hợp tử vong. Mỹ quyết định ngừng tiêm vaccine này để đánh giá lại độ an toàn.   Thế nào là hiện tượng huyết khối?  Ai cũng biết đông cầm máu là hiện tượng sinh lý bình thường để ngăn chặn chảy máu mỗi khi cơ thể có vết thương. Nhưng khi quá trình này diễn ra quá mức sẽ sinh ra hiện tượng huyết khối, theo đó xuất hiện các cục máu đông làm tắc mạch máu, khiến phần cơ thể phía sau mạch bị tắc sẽ không được nuôi dưỡng.     Tính đến 19/4, Việt Nam đã tiêm cho 80 nghìn người, trên 22 tỉnh thành.   Một trong các thành phần của máu tham gia quá trình đông cầm máu là tiểu cầu. Các tiểu cầu sẽ bám dính vào nội mạc bị tổn thương để cầm máu với vết thương nhỏ. Nhưng với vết thương lớn thì quá trình đông máu huyết tương sẽ được phát động và hình thành các lưới fibrin (“dệt” từ fibrinogen – một loại protein trong máu), giống như lưới đánh cá, sẽ giam giữ các thành phần khác trong máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) để tạo nên một nút máu đông để bịt phần mạch máu bị vỡ.   Thông thường, cần rất nhiều tiểu cầu và fibrinogen để hình thành các nút máu đông. Vì vậy, khi tiểu cầu và fibrinogen trong máu tăng thì bệnh nhân mới có nguy cơ cao bị huyết khối, nhưng những bệnh nhân có huyết khối xuất hiện sau khi tiêm vaccine lại có lượng tiểu cầu và fibrinogen trong máu giảm – một sự kết hợp ‘kì lạ’ vì nếu một người bị giảm tiểu cầu, họ sẽ không ngừng chảy máu chứ không phải bị đông máu như vậy.    Ngày 7/4, EMA phát đi thông báo rằng có thể có mối liên hệ giữa vaccine Covid-19 Oxford-AstraZeneca với các trường hợp bị huyết khối. Một nhóm nhà khoa học nghiên cứu 39 trường hợp như vậy gọi đây là hiện tượng giảm tiểu cầu huyết khối miễn dịch sau tiêm (Vaccine–Induced Immune Thrombotic Thrombocytopenia – VITT) trên tạp chí The New England Journal of Medicine.  Trong đó có nhiều trường hợp bị huyết khối ở những vị trí bất thường như ở tĩnh mạch não, tĩnh mạch gan và tĩnh mạch sâu (như ở chân). Hiện tượng VITT xuất hiện khoảng từ 5 đến 24 ngày sau khi tiêm với tỉ lệ cực kì hiếm gặp, là 1/100.000 – 1/250.000 người (tùy báo cáo.  Theo EMA, cơ chế vaccine gây ra hiện tượng huyết khối có thể là do vaccine đã kích hoạt phản ứng miễn dịch của cơ thể, kháng thể sinh ra gắn và hoạt hóa yếu tố 4 của tiểu cầu (PF4). Khi tiểu cầu trong toàn bộ cơ thể hoạt hóa sẽ khởi động quá trình đông cầm máu gây huyết khối tắc mạch. Hiện tượng này giống hệt như một biến chứng hiếm gặp khi bệnh nhân dùng chất chống đông máu heparin (heparin-induced-thrombocytopenia: HIT). Do số liệu còn quá ít, không thể khẳng định cụ thể đối tượng nào có nguy cơ cao gặp các trường hợp như vậy sau khi tiêm chủng.   Những ầm ĩ về các tai biến vaccine khiến niềm tin của công chúng vào vaccine AstraZeneca sụt giảm thê thảm. Theo một khảo sát của YouGov (một công ty chuyên điều tra, khảo sát quan điểm của người dân), hơn một nửa số người được hỏi ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Đức đều không nghĩ vaccine Oxford-AstraZeneca là an toàn nữa.   Ích lợi vượt xa rủi ro  Có thật vaccine Oxford-AstraZeneca là không còn an toàn nữa? Hoài nghi và chần chừ không tiêm chủng vào lúc này có phải là thái độ đúng đắn? EMA trong tất cả tuyên bố của mình đều nhấn mạnh rằng lợi ích mà vaccine đem lại vượt xa những rủi ro. Các nghiên cứu sau đó cũng đều nhắc lại điều này. Đức đã quay lại sử dụng vaccine Oxford-AstraZeneca và các nước châu Âu khác cũng vậy. Gần đây, Mỹ cũng tiếp tục triển khai với vaccine J&J.   Để hiểu hơn về nguy cơ bị huyết khối sau khi tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca cực kì hiếm gặp như thế nào, cần phải đặt bên cạnh những số liệu khác. Nên nhớ rằng, trong điều kiện bình thường, không có vaccine, tỉ lệ người bị huyết khối tĩnh mạch sâu trong cộng đồng đã là 1/1000 mỗi năm (trong đó tỉ lệ người bị huyết khối tĩnh mạch não 0.22 – 1.5/100.000). EMA cho rằng, vaccine Oxford-AstraZeneca gần như không làm tăng tỉ lệ người bị huyết khối trong dân số.   Chú ý kĩ hơn một chút, hút thuốc lá cũng làm tăng tỉ lệ bị huyết khối (25/100.000 người) và dùng thuốc tránh thai cũng vậy (1/1000 phụ nữ dùng thuốc tránh thai có thể bị huyết khối, và tỉ lệ này còn lớn hơn nữa nếu họ có tiền sử bị huyết khối). Nhưng trong số những người hoài nghi vaccine, có mấy ai suy nghĩ quá nhiều khi cầm điếu thuốc lên hay uống một viên thuốc tránh thai?   Khi bạn hoài nghi không tiêm vaccine, hãy nghĩ đến những rủi ro khi bị mắc Covid-19. Khi đó, rủi ro bị huyết khối còn cao gấp nhiều lần – gần 1/5 người bị mắc Covid-19 xảy ra tình trạng huyết khối. Một nghiên cứu gần đây đăng trên tạp chí Thebmj cho thấy rủi ro tắc mạch máu não (huyết khối ở tĩnh mạch não) khi bị nhiễm Covid-19 cao gấp 10 lần so với khi tiêm vaccine. Còn khi so sánh tỉ lệ tử vong vì huyết khối sau khi tiêm vaccine (1/1 triệu người) và tỉ lệ tử vong do Covid (1%-3%) thì đó là cả một trời một vực!  Sau khi EMA thêm huyết khối như một tác dụng phụ cực kì hiếm gặp của vaccine Oxford-AstraZeneca, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã có quy trình xử lý các trường hợp bị huyết khối sau khi tiêm vaccine. Theo PGS. Đào Xuân Cơ, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổng thư ký Hội hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam, việc điều trị các trường hợp này không chỉ triển khai “nhanh chóng, hiệu quả” ở tuyến Trung ương mà cả ở tuyến cơ sở thông qua hệ thống khám chữa bệnh từ xa.   Kể cả sau khi phát sinh những trường hợp huyết khối sau khi tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca, đây vẫn là vaccine hiệu quả và an toàn. Những gì vaccine này thể hiện trong các thử nghiệm lâm sàng vẫn chính xác. Thử nghiệm lâm sàng, đối với tất cả các vaccine Covid-19, chỉ trên một quần thể vài chục nghìn người (với vaccine Oxford-AstraZeneca là 20.000 nghìn người ở Anh và Brazil), không thể phủ được các trường hợp cực kì hiếm gặp (nhỏ hơn 1/20.000). Vì vậy, khi triển khai tiêm vaccine trên diện rộng, hàng triệu, hàng trăm triệu người mới xuất hiện những báo cáo mới về sốc phản vệ của vaccine.   Khi hiện tượng huyết khối diễn ra sau khi tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca và J&J, nhiều người nghĩ rằng, hẳn có điều gì đó không ổn với công nghệ virus vector dùng adenovirus. Hai vaccine này đều dùng công nghệ virus vector, tức là sử dụng một virus mang gene S của virus Sars-CoV-2 để kích thích hệ miễn dịch. Và người ta bắt đầu nghi ngờ các vaccine khác cùng công nghệ đó như Sputnik V (Sputnik V dùng vector virus kép, trên hai chủng adenovirus khác nhau).   Ở Việt Nam, vaccine đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I (Covivax của IVAC) và vaccine Covid-19 của Vabiotech cũng sử dụng công nghệ virus vector (tuy nhiên virus vector của Covivax là một virus gây bệnh trên gia cầm và virus vector của Vabiotech là baculovirus, một virus gây bệnh trên sâu, không gây bệnh cho người).  Nguyên nhân nào khiến vaccine có thể gây ra hiện tượng huyết khối: là do virus vector? Là do protein S? hay là do các thành phần khác của vaccine? Tất cả vẫn chưa có câu trả lời. Nhưng kể cả cùng sử dụng công nghệ virus vector, cùng sử dụng adenovirus, mỗi vaccine vẫn có những khác biệt lớn trong quá trình chế tạo và không thể so sánh được. Hơn nữa, không phải chỉ vaccine sử dụng công nghệ virus vector mới có khả năng xảy ra hiện tượng huyết khối. Trong khoảng 60 triệu người tiêm vaccine theo công nghệ mRNA Pfizer-BioNTech và Moderna, có khoảng 40 trường hợp có thể bị huyết khối ở hệ thần kinh trung ương (cases of central nervous system thrombosis) và tĩnh mạch não.     Cũng nên nói thêm rằng, đối với các nước châu Âu cân nhắc tiêm vaccine Oxford-AstraZeneca đối với những người dưới 30 tuổi: Thứ nhất, đó là bởi họ đã tích trữ vaccine của nhiều hãng khác nhau. Thứ hai, đây chỉ là quyết định thuần túy dựa trên việc so sánh rủi ro: tỉ lệ người ở độ tuổi 18-30 mắc tai biến sau tiêm là 1.1/1 triệu người còn tỉ lệ người ở cùng độ tuổi đó phải sử dụng máy thở khi bị mắc Covid-19 là 0.8/1 triệu người. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là vaccine này kém an toàn.   Tính đến giữa tháng tư, Việt Nam đã tiêm phòng Covid-19 tại 22 tỉnh thành phố cho 80 nghìn người và chưa ghi nhận ca nào bị VITT.  Việc “kén cá chọn canh” vaccine trong thời điểm này không phải là lựa chọn thông minh, nhất là khi nguồn cung vaccine vẫn đang vô cùng khan hiếm trên thế giới và dịch bệnh vẫn đang hoành hành với nhiều chủng mới xuất hiện. Càng chậm trễ trong việc triển khai tiêm chủng là càng tạo cho virus có cơ hội tiến hóa và thích nghi. Và ngược lại, càng nhanh chóng tiêm vaccine, là càng tiến gần đến miễn dịch cộng đồng. Bao nhiêu % dân số tiêm vaccine sẽ đạt được miễn dịch cộng đồng? Chúng ta vẫn chưa biết chính xác. Trước đây, con số là từ 60 – 70% nhưng với sự xuất hiện của các chủng mới với tốc độ lây lan nhanh hơn, con số đó ngày càng tăng, tới 90%. Chiến lược bây giờ, vẫn là làm sao để tiêm chủng càng nhanh, càng nhiều, càng tốt.  Và hiệu quả của vaccine phụ thuộc vào niềm tin của người dân vào nó.  Các vaccine hiện tại chưa đảm bảo được một người sẽ miễn dịch mãi mãi với virus Sars – CoV 2 nhưng trước mắt, nó giúp giảm thiểu số ca nhiễm nặng và tử vong, giảm đáng kể gánh nặng cho hệ thống y tế cũng như giúp ổn định xã hội. Hơn nữa, càng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng, vaccine giúp giảm thiểu lây nhiễm virus trong cộng đồng. Thậm chí, chỉ cần một liều (đối với vaccine đòi hỏi phải tiêm hai liều như Pfizer và AstraZeneca) cũng đã giảm rủi ro lây nhiễm tới một nửa.   Việt Nam đang mới chỉ vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế và đảm bảo cuộc sống bình thường một cách cầm chừng. Để phát triển kinh tế, cứu cánh vẫn là vaccine.□  Bài viết có sự hỗ trợ chuyên môn về huyết học của Bác sĩ Trần Kiều My, Khoa Đông máu, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vaccine của Pfizer hiệu quả và an toàn đối với trẻ em      Theo Biontech và Pfizer, vaccine của họ đã được chứng minh là dung nạp tốt trong một nghiên cứu lâm sàng đối với trẻ em từ năm đến mười một tuổi. Dữ liệu nghiên cứu này sẽ được đệ trình lên Cơ quan Dược Châu Âu (EMA) và FDA Hoa Kỳ trong thời gian sớm nhất.      Theo hai công ty, vaccine corona của Biontech/Pfizer đã được chứng minh là có khả năng dung nạp tốt ở trẻ em từ 5 đến 11 tuổi và tạo ra phản ứng miễn dịch ổn định. Ông chủ Biontech Ugur Sahin cho biết “Chúng tôi rất vui khi có thể gửi dữ liệu về nhóm trẻ em trong độ tuổi đi học cho các cơ quan quản lý trước khi mùa đông bắt đầu”. Ngược lại với nhóm tuổi trên mười hai, chỉ một phần ba liều được dùng cho trẻ em từ năm đến mười một tuổi trong nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2/3. Hai lần tiêm chủng cách nhau ba tuần.  Thêm một thông tin nữa là “tính sinh miễn dịch ở những đối tượng nhận liều 10 microgram tương tự như phản ứng từ một nghiên cứu trước đây của Pfizer/Biontech ở những người từ 16-25 tuổi nhận liều 30 microgram”. Theo thông báo của hãng dược phẩm này, các tác dụng phụ ở trẻ em cũng tương tự như tác dụng phụ của nhóm lớn tuổi hơn.  Tham gia nghiên cứu lâm sàng này có tổng cộng 4500 trẻ em trong độ tuổi từ sáu tháng đến mười một tuổi. Dữ liệu được công bố hiện nay là đối với trẻ từ 5 đến 11 tuổi và tổng số trẻ được tham gia nghiên cứu này là 2268 em. Trên 90 cơ sở y tế ở Mỹ, Phần lan, Ba Lan và Tây Ban Nha tham gia nghiên cứu này.  Hy vọng, kết quả thu được từ thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên hai nhóm bổ sung từ hai đến năm tuổi và từ sáu tháng đến hai tuổi sẽ có trong quý bốn.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: Biontech-Impfung laut Studie wirksam und sicher bei jüngeren Kindern – WELT  https://www.saechsische.de/coronavirus/biontech-impfung-wirksam-und-sicher-bei-kindern-5529029.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine ho gà – Những người hùng thầm lặng      Đến giữa thế kỷ XX, nhân loại vẫn bất lực trước căn bệnh ho gà. Nó lấy đi 7.500 sinh mạng ở Mỹ mỗi năm hồi đầu thập niên 1930, hầu hết là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Những người sống sót có thể bị tổn thương vĩnh viễn về nhận thức và thể chất.  Tất cả đã thay đổi, nhờ có Kendrick và Eldering…      Bức tượng Kendrick đứng giữa, bên trái là Grace Eldering, bên phải trợ lý phòng thí nghiệm Loney Clinton với kính hiển vi trên tay.   Cuối năm 1932, tại thành phố Grand Rapids, Michigan, Pearl Kendrick và Grace Eldering đến thăm các trẻ em bị bệnh và xác định xem chúng có nhiễm một căn bệnh có khả năng gây chết người hay không. Sau này, hai người hồi tưởng lại nhiều gia đình lâm vào cảnh tuyệt vọng. “Người cha tuyệt vọng khi không thể tìm được việc làm còn chúng tôi đã thu thập mẫu vật dưới ánh đèn dầu tù mù, khi những đứa trẻ đang nghẹt thở với những tràng ho và cơn nôn vật vã”.  Căn bệnh khó chẩn đoán lâm sàng  Những đứa trẻ này mắc bệnh ho gà, căn bệnh ngày nay đã được thanh toán tại các nước phát triển nhưng từng là nỗi kinh hoàng với nhiều gia đình trong quá khứ.  Nhưng rất khó để chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng. Thoạt đầu, căn bệnh có vẻ như không có gì nghiêm trọng, chỉ là chảy nước mũi và ho nhẹ. Những bà mẹ trông con đang nằm trong nôi thở rất khó khăn nhưng sau đó liền cảm thấy nhẹ nhõm khi lồng ngực bé nhấp nhô đều đặn trở lại. Bác sĩ cũng có thể bỏ sót và nghĩ “chỉ là cảm lạnh xoàng không đáng lo”. Tuy nhiên, khoảng một đến hai tuần sau, cơn ho trở thành những tràng dữ dội liên tục, xen kẽ bằng tiếng rít bóp nghẹt và đứa trẻ phải ráng sức hít chút không khí xuống cổ họng. Âm thanh đặc trưng đó không thể lẫn vào đâu được.  Tình trạng ấy có thể kéo dài ba tháng. Kể cả ngày nay, rất ít bác sĩ có khả năng điều trị những bệnh nhi đã bước sang giai đoạn bệnh tới mức này.      Kendrick và Eldering đã tìm cách phối hợp vaccine bạch hầu, ho gà, uốn ván làm một, và đây là tiền thân của loại vaccine hiện nay đang bảo vệ 85% trẻ em trên toàn thế giới.      Ngày đó, phụ nữ còn hiếm khi tham gia vào các công việc chuyên môn sâu của ngành y tế và khoa học nói chung. Y tế công cộng là một trong số ít các lĩnh vực khoa học đầu tiên chấp nhận trao cơ hội cho phụ nữ. Kinh nghiệm kiểm soát bệnh truyền nhiễm trong Thế chiến I đã mở ra tư duy mới nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng. Để phục vụ cho y tế công cộng, các phòng thí nghiệm của các tiểu bang cần thêm nhân lực để làm xét nghiệm chẩn đoán. Hồi đó nam giới được đào tạo về y tế công cộng có xu hướng tìm các công việc được trọng vọng và thu nhập cao tại các trường đại học hoặc cơ quan nghiên cứu. Các phòng thí nghiệm đưa ra mức lương thấp tè và công việc thí nghiệm lặp lại tẻ nhạt nên thường tuyển phụ nữ – nhân sự lý tưởng cho những công việc nhàm chán đó.  Kendrick đã tìm được công việc tại một phòng thí nghiệm thuộc sở y tế Michigan và sau đó làm giám đốc phòng thí nghiệm tại Grand Rapids. Năm 1932, bà hoàn thành bằng tiến sĩ tại trường vệ sinh và y tế công cộng Johns Hopkins. Sau đó, bà trở lại Grand Rapids để chuyên tâm nghiên cứu một căn bệnh duy nhất: ho gà. Năm đó, thành phố đang gánh chịu một đợt bùng phát nghiêm trọng.  Grace Eldering là nhân viên phòng thí nghiệm của tiểu bang Michigan tại Lansing, rồi chuyển về Grand Rapids nghiên cứu về bệnh ho gà. Tại đây, Grace và Kendrick đã bắt đầu cộng tác suốt đời.  Mục tiêu ban đầu của họ chỉ là chẩn đoán bệnh sớm và chính xác hơn để đưa các bệnh nhân đi cách ly càng sớm cáng tốt và quyết định thời điểm người đó đi học hoặc đi làm trở lại ngay khi giai đoạn lây nhiễm kết thúc. Công cụ của họ là những chiếc “đĩa ho”, về cơ bản là đĩa petri với môi trường cấy là thạch máu. Hai người phụ nữ, cùng các bác sĩ, y tá, và những thành viên khác trong nhóm, sẽ giữ khoảng cách vài inch với chiếc đĩa đang mở nắp và cho bệnh nhân ho vào đó. Sau đó, đậy nắp đĩa lại, đem vào tủ ủ ấm của phòng thí nghiệm để vi khuẩn phát triển thành các khúm khuẩn lạc.    Pearl Kendrick đang làm việc. (Ảnh giữa và bên phải), một đĩa cấy khuẩn chưa môi trường thạch máu, và hình ảnh vi khuẩn Bordetella pertussis, thủ phạm gây ra bệnh ho gà. Chúng lây lan thông qua các giọt bắn trong không khí và xâm chiếm các tế bào phổi. Chúng chỉ có một vật chủ duy nhất: con người.  Vào ngày 28/11/1932, phòng thí nghiệm đã xác nhận mẫu vi khuẩn Bordetella pertussis đầu tiên. Vi khuẩn gây bệnh này cũng được xác định tại Bỉ cách đó một phần tư thế kỷ, nhưng chưa một nhân viên nào của phòng thí nghiệm từng nhìn thấy nó. Họ đã so sánh mẫu của mình với các công bố khoa học được xuất bản. Kendrick và Eldering ghi nhận rằng các khúm khuẩn lạc “mịn, gồ lên, sáng lấp lánh, giống như ngọc trai và gần như trong suốt”, được bao bọc bởi một quầng nhạt và nơi vi khuẩn đang ăn thạch máu của môi trường nuôi cấy.  Họ nhanh chóng mở rộng dự án nghiên cứu đầy tham vọng của mình, họ thu thập “đĩa ho” trong toàn thành phố nhằm theo dõi và kiểm soát sự bùng phát của bệnh ho gà. Thay vì sử dụng máu người làm môi trường nuôi cấy như các nghiên cứu quy mô nhỏ hơn nhiều, họ đã chuyển sang dùng máu cừu, ít tốn kém và rất sẵn có. (Eldering lớn lên trong một nông trang, nên có hiểu biết về cừu). Đó là một trong nhiều cải tiến cho phép họ mở rộng đáng kể chương trình thử nghiệm của thành phố.      Dù đã dẫn đường cho chủng ngừa bệnh ho gà thời hiện đại nhưng điều đáng ngạc nhiên là thành tựu vĩ đại đó không làm cho Kendrick và Eldering trở nên nổi tiếng.      Nguyên mẫu vaccine ho gà đầu tiên  Chỉ bảy tuần từ khi nhìn thấy mầm bệnh đầu tiên, vào tháng 01/1933, Kendrick và Eldering đã sản xuất nguyên mẫu vaccine ho gà đầu tiên.  Vaccine cho bất kỳ căn bệnh nào ở thời kỳ này vẫn còn đang thuở sơ khai, không phải như công thức sẵn có. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu phải mày mò thử nghiệm các phương pháp khác nhau để làm chết hoặc suy yếu mầm bệnh, đủ an toàn để tiêm vào cơ thể người, nhưng cũng đủ mạnh để tạo sức đề kháng miễn dịch lâu dài với căn bệnh. Trước thời điểm mà nhóm của Kendrick nghiên cứu vaccine ho gà, vào năm 1931, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ từ chối công nhận bất kỳ loại vaccine ho gà nào được đề xuất với kết luận rằng chúng hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc phòng ngừa và cũng vô dụng trong điều trị sau khi bệnh khởi phát.  Vaccine của Kendrick và Eldering bao gồm vi khuẩn Bordetella chết, toàn tế bào đã qua dung dịch khử trùng thông thường, được làm sạch và lơ lửng trong dung dịch nước muối. Những nhà chuyên môn trước đó thường bỏ qua việc cung cấp thông tin quan trọng về quy trình chuẩn bị, liều lượng và các khía cạnh khác, dẫn đến các lô sản xuất không đồng nhất về chất lượng. Kendrick và Eldering đã thực hiện cách tiếp cận có hệ thống hơn ở mọi bước, từ việc thu thập vi khuẩn ban đầu cho đến thử nghiệm vaccine có thực sự bảo vệ trẻ hay không. Họ tích lũy hiểu biết trong quá trình thực hành, ví dụ, vi khuẩn nên được thu thập ở giai đoạn nào để tạo khả năng miễn dịch mạnh hơn, và họ cũng thử nghiệm lặp lại nhiều lần để đảm bảo vaccine an toàn, bằng cách tiêm vào động vật thí nghiệm, và cho chính họ.  Nhưng để kiểm tra xem liệu vaccine của họ có bảo vệ trẻ em một cách an toàn và hiệu quả hay không sẽ đòi hỏi một nghiên cứu thực địa quy mô lớn, có đối chứng – so sánh với một nhóm được tiêm chủng với một nhóm tương tự chưa được tiêm chủng.    Kendrick, ngoài cùng bên phải, đang quan sát đồng nghiệp tiêm vaccine ho gà cho một em bé, năm 1942. Ngành y tế bắt đầu phân phối vaccine của bà từ năm 1940, đã giúp giảm số ca tử vong một cách thần kỳ.  “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có bất cứ điều gì mình không thể làm được”, sau này Kendrick tâm sự. Dù tự tin như vậy nhưng cả Kendrick và Eldering đều rất khiêm nhường (dường như là điều bắt buộc với nữ tại thời mà họ sống).  Sự dung hòa giữa tự tin và khiêm tốn giúp họ nhận được sự ủng hộ của thành phố Grand Rapids khi bắt đầu tiến hành thử nghiệm lâm sàng. 1.592 trẻ em đã tham gia, trong đó 712 trẻ được tiêm vaccine, 880 trẻ còn lại là nhóm đối chứng. Sau mỗi liều vaccine, hai nghiên cứu viên chính lo lắng chờ đợi cuộc gọi báo cáo một phản ứng bất lợi sau tiêm. Kendrick nhớ lại: “Tôi đã sợ chết đi được.” Nhưng những cuộc gọi như thế đã không tới. Và kết quả tích cực ban đầu đã được đưa ra: nhóm không được chủng ngừa có 63 trường hợp mắc bệnh, trong đó 53 trường hợp nghiêm trọng. Nhóm được chủng ngừa chỉ có 4 trường hợp mắc bệnh, đều nhẹ.  Kết quả khả quan tới mức không đáng tin  Ban đầu, giới quản lý y tế không tin vào kết quả khả quan như vậy. Vì ngay cả nhà dịch tễ học đáng kính James Doull của trường y khoa Case Western Reserve tại Cleveland thực hiện một nghiên cứu tương tự với một loại vaccine khác và không đạt được hiệu quả như vậy. Giới quản lý y tế đã yêu cầu nhà dịch tễ nổi danh Hampton Frost tại Đại học Johns Hopkins xem xét kết quả của hai nghiên cứu và đưa ra đánh giá. Ông đành miễn cưỡng thực hiện chuyến khảo sát đến Michigan. “Tôi thực sự nghi ngờ nghiên cứu của bà Kendrick đã không được thiết kế theo cách chuẩn mực”, ông viết. “Nghiên cứu thành công của bà Kendick có vẻ rất khả nghi”.  Khi đến thăm Grand Rapids, ông nhanh chóng thay đổi quan điểm và đánh giá cao sự cẩn trọng học thuật của Kendrick và Eldering. Ông đề xuất cải tiến thiết kế thử nghiệm lâm sàng, và nhóm của họ đã tiếp tục nghiên cứu. Công việc đòi hỏi số lượng nhân lực lớn hơn và các chuyến thăm khám thường xuyên hơn để theo dõi người bệnh trong vài năm.  Lần này, họ tranh thủ được sự giúp đỡ của đệ nhất phu nhân Eleanor Roosevelt trong một chuyến thăm Grand Rapids vào năm 1936. Eleanor Roosevelt là một trong số ít những người ngoài cuộc dường như hiểu được tầm quan trọng của nghiên cứu này, Kendrick nhớ lại. Ngay sau đó, Cơ quan thúc đẩy tiến bộ nghiên cứu liên bang đã thêm ngân sách cho họ. Nghiên cứu mới thu hút 4.212 người tham gia thử nghiệm, và kết quả được lặp lại: nhóm được chủng ngừa có tỷ lệ mắc bệnh ho gà thấp hơn đáng kể so với nhóm không được tiêm. Tác dụng bảo vệ tương tự được kiểm chứng trong một thử nghiệm lâm sàng độc lập tại tiểu bang New York.    Bộ kit chứa một phiên bản đời đầu của vaccine Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván DTP những năm 1940, kèm theo tờ rơi giới thiệu lợi ích từ việc giảm thiểu số mũi tiêm cần thiết.  Năm 1944, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã chính thức thêm vaccine của Kendrick và Eldering vào danh sách chủng ngừa được khuyến nghị. Kết quả là tỷ lệ mắc bệnh ho gà tại Hoa Kỳ giảm một nửa chỉ trong một thập kỷ. Kendrick đã đến các quốc gia khác, từ quốc gia láng giềng Mexico cho đến đối thủ Liên Xô trong chiến tranh lạnh để giới thiệu vaccine, và đạt được thành công tương tự.  Để trẻ không phải tiêm quá nhiều lần, Kendrick và Eldering đã tìm cách phối hợp vaccine bạch hầu, ho gà, uốn ván làm một, và đây là tiền thân của loại vaccine hiện nay đang bảo vệ 85% trẻ em trên toàn thế giới. Để tiêu chuẩn hóa vaccine ở mọi nơi, Kendrick, Eldering và Margaret Pittman của Viện Y tế Quốc gia đã phát triển phương pháp kiểm tra bắt buộc mỗi lô vaccine ho gà toàn tế bào trên toàn thế giới. Và phương pháp chế tạo vaccine cũng được tiêu chuẩn hóa để trở nên đáng tin cậy và có thể tái lập.  Lịch sử quên lãng   Dù đã dẫn đường cho chủng ngừa bệnh ho gà thời hiện đại nhưng điều đáng ngạc nhiên là thành tựu vĩ đại đó không làm cho Kendrick và Eldering trở nên nổi tiếng. Họ rất kín tiếng dù đã công bố hàng chục công bố khoa học khác nhau. Họ cũng không đặt tên vaccine ho gà Kendrick-Eldering giống như cách người ta đặt tên vaccine Salk phòng bệnh bại liệt. “Chúng tôi không tán thành quan điểm đó,” Eldering cho biết, “bởi có quá nhiều người tham gia và chúng tôi không muốn mình là người duy nhất được vinh danh. Nếu làm thế, phải đặt theo chuỗi toàn bộ tên những nghiên cứu viên. Thập niên 1970, khi phong trào nữ quyền chú ý đến những đóng góp từng bị lãng quên của phụ nữ, Kendrick và Eldering đã nhận được lời mời xuất hiện trên chương trình “Today” của đài NBC. Họ đã lịch sự từ chối.  Những đóng góp của Kendrick và Eldering có thể đã rơi vào quên lãng nếu không nhờ có Carolyn Shapiro-Shapin, giáo sư sử học tại Đại học Grand Valley State ở Grand Rapids nghe những người phụ nữ địa phương kể về phòng thí nghiệm của Kendrick và Eldering và công bố chúng trên các tạp chí học thuật năm 1990.  Có một lý do khác mà lịch sử đã suýt bỏ qua hai nhà y học tiên phong. Bởi nghịch lý của sự phòng ngừa: vaccine hoặc các biện pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả khiến công chúng dần quên đi căn bệnh nguy hiểm. Sau đó, vaccine lại trở thành mục tiêu công kích – mỗi khi có vài trường hợp tiêm vaccine gặp phải tác dụng phụ thực sự hoặc bị phóng đại lên cho có vẻ tồi tệ hơn căn bệnh mà nó chống lại.  Vaccine ho gà của Kendrick và Eldering là một trường hợp như thế. Theo Decker, chuyên gia về bệnh ho gà tại Vanderbilt, vaccine gây sốt và phản ứng tại vị trí tiêm, và một số rất ít trường hợp hiếm gặp gây ra các vấn đề thần kinh tạm thời. Các nhóm anti-vaccine cáo buộc nó gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, mặc dù quy trình đánh giá khoa học đã bác bỏ hầu hết các cáo buộc. Loại vaccine này được cải tiến liên tục qua năm tháng, và kể cả trong thời kỳ của Kendrick và Eldering, chủng ngừa vẫn an toàn hơn đáng kể so với rủi ro mắc bệnh nhưng niềm tin của công chúng vào vaccine vẫn bị lung lay.  Năm 1997, vaccine toàn tế bào đã được thay thế tại Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển bằng vaccne vô bào có khả năng bảo vệ mạnh mẽ trong khoảng thời gian ngắn. Cùng với sự gia tăng mức độ chống đối vaccine, hiệu lực ngắn hạn đã khiến bùng phát bệnh ho gà tại Hoa Kỳ. Tình trạng bao phủ tiêm chủng yếu kém tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cũng khiến căn bệnh vẫn tiếp tục hoành hành và giết chết khoảng 160,700 người mỗi năm, hầu hết là trẻ em. Con số tử vong có thể trở nên tồi tệ hơn: Vào năm 2020, ước tính có khoảng 23 triệu trẻ em bỏ lỡ lịch chủng ngừa ho gà, chủ yếu là do đại dịch COVID-19.  Để sớm có câu trả lời cho những vấn đề này. Locht, nhà nghiên cứu tại Viện Pasteur, đã phát triển một loại vaccine toàn tế bào mới và có thể đi vào thử nghiệm lâm sàng pha 3 đầu năm 2022. Ông vô cùng ngưỡng mộ Kendrick và Eldering. Vaccine mới khác với vaccine của họ: không làm chết vi khuẩn, thay vào đó, biến đổi gene khiến vi khuẩn  còn sống nhưng vô hại; không cần tiêm vào bắp tay, mà chỉ cần xịt vào mũi. Ngoài tính dễ sử dụng và tránh được cảm giác sợ kim tiêm, vaccine cũng không cần bảo quản lạnh. Chúng rất thuận tiện để phân phối đến những vùng xa xôi hoặc thiếu thốn. Nếu mọi việc suôn sẻ, vaccine của Locht có thể được chính thức đưa vào sử dụng trong ba năm tới.  Trong khi đó, các phòng thí nghiệm tiểu bang như nơi Kendrick và Eldering từng làm việc, đang gặp khó khăn. Đây cũng là hệ quả nghịch lý từ sự thành công: những tiến bộ y học đã loại bỏ phần lớn các căn bệnh truyền nhiễm ra khỏi các mối bận tâm của cộng đồng, từ bệnh đậu mùa đến bại liệt, các chính phủ đã cắt giảm ngân sách y tế công cộng và sa thải nhân viên. Các nguồn tài trợ khẩn cấp giải quyết các đợt bùng phát H1N1 hay Zika cũng nhanh chóng kết thúc theo sau sự chấm dứt của bệnh dịch. Và khi đại dịch COVID-19 ập đến, chúng ta không có đủ nhân viên để thực thi các biện pháp an toàn, xử lý nhanh chóng các xét nghiệm hoặc công tác chủng ngừa. Frances Pouch Downes, nguyên Giám đốc Phóng thí nghiệm y tế Công cộng của tiểu bang Michigan lo lắng: “Chúng ta sẽ cứ vấp phải hết khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, thay vì xem đây là một dịch vụ thiết yếu. Chuyện này cũng tương tự như việc xóa sổ một sở cứu hỏa vì chả mấy khi xảy ra cháy nhà”.  Kendrick qua đời vào năm 1980 và không quan tâm việc mình làm có thể bị rơi vào quên lãng hay không. Nhưng chúng ta thì nên nhớ.  Cho đến ngày nay, người ta ước tính có thể hàng chục triệu người trên thế giới đã được cứu sống nhờ vaccine ho gà của bà. “Hãy kể tên những người đang sống hôm nay có thể đã chết vì bệnh ho gà nếu không được tiêm vaccine của Pearl Kendrick?” Đồng nghiệp Richard  Remington của Kendrick đã viết như thế trong bản tin của Trường y tế Công cộng thuộc Đại học Michigan. “Không, tôi và bạn, đều không thể kể những cái tên,…bởi thành tựu của công tác phòng bệnh chỉ đong đếm thông qua thống kê và dịch tễ học. Đó không phải là tin tức thời sự để mọi người chú ý”.□  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/unsung-heroes-ended-deadly-plague-180979547/    Author                .        
__label__tiasang Vaccine là vàng lỏng năm 2021      Interpol quan sát thấy song song với đại dịch Corona là một làn sóng tội ác, do đó tổng thư ký Jürgen Stock cho rằng với việc khởi động chiến dịch tiêm chủng, tội phạm hình sự có thể sẽ tăng lên đáng kể.      Từ năm 2014, Jürgen Stock là người lãnh đạo Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol). Trước đó vị luật sư này là phó chủ tịch Cục Hình sự Liên bang Đức. Trước khi học đại học ông từng là cảnh sát hình sự tại bang Hessen và đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh chống tội phạm.  Thưa ông Stock, cách đây đã lâu ông từng cảnh báo về các cuộc tấn công mạng ngày càng tăng và cũng cảnh báo về tội phạm hình sự liên quan đến đại dịch corona. Phải chăng chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi Cơ quan quản lý dược Châu Âu (EMA) bị hacker tấn công?  Mọi tổ chức phải tính đến việc sớm hay muộn sẽ bị bọn hacker tấn công. Các tổ chức, cơ quan có liên quan nhiều đến sự khắc phục cuộc khủng hoảng corona, sẽ càng bị bọn tội phạm nhòm ngó, thí dụ các cơ quan, phòng thí nghiệm, các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, các bệnh viện và ngay cả các trường học.  Điều gì đã xảy ra với EMA, thưa ông?  Rất tiếc tôi không thể bình luận về các quá trình đang diễn ra.  Ông có thể nói gì về tội phạm liên quan đến đại dịch này?  Trong cuộc đời làm nghề lâu năm của mình, tôi chưa bao giờ chứng kiến một hiện tượng nào như thế này: Virus lây lan từ châu Á sang tất cả các châu lục và đi theo chúng là làn sóng tội phạm, có thể nói về một sự song hành như vậy giữa đại dịch và tội phạm. Ngay từ những phút đầu tiên, các nhóm tội phạm đã tính chuyện làm thế nào để kiếm chác từ Covid-19. Thay vì như trước đây làm thuốc giả, nay chúng nhanh như chớp chuyển sang làm các loại chất khử trùng giả, thuốc diệt virus giả và các loại khẩu trang rẻ tiền. Hồi tháng ba, khi chúng tôi gồm 90 quốc gia cùng phối hợp hành động chống hàng giả, hàng nhái, chúng tôi đã phát hiện hàng bảo hộ y tế phục vụ chống dịch Corona bị làm giả trị giá 15 triệu đôla. Trong các lĩnh vực khác, chúng tôi cũng phát hiện tội phạm lợi dụng đại dịch để gây án.  Chính xác là như thế nào, thưa ông?  Trước kia chúng hay dùng chiêu trò “bà cháu”, lừa đảo qua điện thoại. Gọi điện báo cháu bị tai nạn, cần nhanh chóng có tiền để điều trị. Ngay nay chúng gọi điện cho các ông bà già, báo cho họ thân nhân bị corona đang ở bệnh viện, sẽ có người tới nhận tiền để nộp viện phí. Một ví dụ khác là bọn tội phạm mạng còn dễ thâm nhập vào máy tính cá nhân tại các gia đình, mạng lưới của doanh nghiệp. Và nếu như trong cuộc khủng hoảng corona này, các nước có sự giúp đỡ về tài chính thông qua cổng internet một cách dễ dàng thì cũng sẽ thu hút hoạt động của bọn tội phạm.  Cụ thể chúng sẽ làm như thế nào?  Thí dụ chúng dùng danh tính đã lấy cắp được để đệ đơn xin tài trợ hoặc chúng nhử những người làm đơn trên các trang internet giả sau đó đòi lệ phí nộp đơn một cách phi pháp.  Bọn tội phạm hình sự đã đánh hơi thấy cơ hội làm ăn trong chiến dịch tiêm chủng này chưa, thưa ông?  Vaccine là vàng lỏng trong năm 2021. Đó là thứ quý giá nhất sẽ được phân phối trong năm tới. Bọn Mafia và các tổ chức tội phạm khác đã chuẩn bị cho vụ này rồi. Tội phạm phát triển mạnh mẽ với việc vận chuyển vaccine đi các nơi. Chúng ta sẽ chứng kiến các vụ trộm, đột nhập nhà kho và cũng sẽ chứng kiến các vụ cướp vaccine trong quá trình vận chuyển; nạn tham nhũng sẽ bùng nổ tràn lan ở nhiều nơi nhằm nhanh chóng có được thứ hàng hóa quý giá này. Ngay cả trước khi có các loại vaccine chính thức được công nhận bọn tội phạm đã lưu hành các loại vaccine giả.  Ai mua mấy thứ đó?  Các bệnh viện có các nhà cung cấp của mình sẽ không làm chuyện đó. Tại những nơi mà lâu nay vẫn có hệ thống phân phối thuốc ổn định thì bọn tội phạm khó có cơ hội để thâm nhập. Hoạt động thông qua mạng Internet thì việc xóa dấu vết ban đầu tương đối đơn giản.  Những thứ hàng giả có thể tiêu thụ qua Internet trên khắp thế giới mà không tốn mấy công sức. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi bọn tội phạm đẩy mạnh làm ăn trên địa bàn này, có phải vậy không, thưa ông?  Trong thực tế vị trí địa lý và đường biên giới thực sự không còn là vấn đề nữa. Trong hoạt động tội phạm trước đây bọn tội phạm phải di chuyển. Giờ đây vấn đề này có thể tiến hành tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Và việc chứng minh lại rất khó khăn.  Thưa ông, tại sao?  Khi tôi còn là một điều tra viên trẻ, chúng tôi đã khoanh vùng hiện trường để tiến hành công việc điều tra của mình. Chúng tôi lấy dấu vân tay và ADN, phỏng vấn nhân chứng ở gần hiện trường. Những thứ đó không tồn tại trong lĩnh vực ảo. Dữ liệu kỹ thuật số dễ bốc hơi. Bọn tội phạm có thể di chuyển cấu trúc máy chủ mà chúng sử dụng từ nước này sang nước khác, chúng có thể mua các công cụ, người ta không nhất thiết còn phải là chuyên gia mới làm được điều này.  Trong đó có những loại gì thưa ông?  Thí dụ như các loại phần mềm về tống tiền hay hù dọa. Nếu như nó hoạt động không ổn thì người ta có thể yêu cầu dịch vụ sửa chữa khắc phục sự cố cần thiết. Tội phạm mạng giờ đã trở thành một dịch vụ. Thực tế chúng ta đang phải đối phó với một cuộc chạy đua giữa an ninh mạng và tội phạm hình sự trên toàn thế giới. Tội phạm mạng là một thị trường có mức tăng trưởng kinh khủng.  Xin ông đưa ra một con số?  Điều này quả thật khó, vì con số ngầm cao lắm. Không phải bất cứ tổn hại tư nhân nào cũng được trình báo với cảnh sát và nhất là không phải mọi doanh nghiệp khi bị tấn công đều báo cảnh sát.  Thưa ông, vì sao?  Một phần vì các doanh nghiệp lo bị ảnh hưởng đến danh tiếng của mình. Đã có một số trường hợp chỉ số chứng khoán của doanh nghiệp bị sa sút mạnh khi vụ tấn công mạng bị lộ ra ngoài. Mặt khác cơ quan cảnh sát phải làm việc tốt hơn, cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến vụ tố cáo. Thí dụ không nên làm tê liệt máy chủ để bảo vệ chứng cứ. Cũng cần chú ý đến nhu cầu được bảo mật của doanh nghiệp. Tôi thành thật khuyên các doanh nghiệp khi đối diện với một cuộc tấn công mạng nhất thiết thông báo cho cơ quan cảnh sát. Chỉ có như thế mới có thể bắt được thủ phạm và phá hủy mô hình kinh doanh của chúng. Qua đó những thông tin quan trọng về các dạng tấn công sẽ giúp chúng tôi  thu thập, tích lũy kinh nghiệm, điều này có thể áp dụng để tăng cường an ninh mạng cho các doanh nghiệp khác.  Vậy các công ty phải làm gì nếu xảy ra sự cố?  Trong mỗi ngân hàng đều có nút báo động mầu đỏ để sử dụng trong trường hợp xẩy ra một vụ cướp ngân hàng theo kiểu kinh điển. Một nút tương tự để liên lạc với cơ quan cảnh sát, hiểu theo nghĩa bóng, mỗi khi xẩy ra tấn công mạng đối với doanh nghiệp.  Interpol hành động cụ thể như thế nào để bảo vệ các doanh nghiệp trước các vụ tấn công mạng?  Trong hợp tác quốc tế chúng tôi đã đóng cửa hàng loạt các diễn đàn – Darknet. Những cuộc điều tra về vấn đề này rất phức tạp và tốn kém và chỉ có thể tiến hành thông qua một Champions League của cảnh sát.  Thưa ông, đó là những ai?  Tôi không muốn đề cập cụ thể về ai cả. Nói chung nhu cầu bồi dưỡng cho an ninh mạng và nhu cầu đối với lực lượng Công nghệ thông tin ở mọi nơi trên thế giới đều cao. Đối với chúng tôi điều quan trọng là sự hợp tác với lĩnh vực tư nhân. Chúng tôi vận hành nền tảng cảnh báo sớm toàn cầu với các nhà cung cấp dịch vụ bảo mật CNTT toàn cầu và các công ty viễn thông trong Trung tâm Đổi mới Interpol của chúng tôi ở Singapore. Bất cứ khi nào chúng tôi phát hiện ra phần mềm độc hại mới ở châu Á, chúng tôi sẽ đưa ra cảnh báo vì thường chỉ là vấn đề thời gian trước khi phần mềm này xuất hiện ở các khu vực khác trên thế giới. Chúng tôi cũng đang làm việc với Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Geneva để xây dựng một nền tảng nhằm liên kết cảnh sát và khu vực tư nhân ở cấp độ toàn cầu.  Có vẻ như công việc còn bề bộn  Để bắt được thủ phạm là một quá trình tốn rất nhiều công sức. Do đó Interpol cần có sự hỗ trợ tài chính bền vững và lâu dài hơn từ 194 quốc gia thành viên.  Interpol có nhận được hỗ trợ đó không?  Đây là một quá trình liên tục. Năm 2019, chúng tôi đã nhận được một khoản tài trợ đáng kể của nước Đức, qua đó đạt được tiến bộ trong việc phân tích các tệp. Điều này cũng mang lại một khoản tiết kiệm cho các quốc gia thành viên, bởi vì sau đó không một nước nào phải làm điều này một mình. Không nhà nước nào có thể đơn phương độc mã đối đầu với những hiện tượng này. Nó cũng giống như một đại dịch, như biến đổi khí hậu và tình trạng di dân. Chỉ có thông qua các giải pháp toàn cầu mới có thể giải quyết được những vấn đề này.  Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cắt hỗ trợ cho một số thể chế đa phương. Ông ta đối xử với Interpol như thế nào?  Hoa Kỳ là quốc gia nộp lệ phí thành viên cho Interpol cao nhất. Hoa Kỳ luôn ủng hộ chúng tôi một cách mẫu mực.  Nguyễn Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.wiwo.de/politik/europa/corona-kriminalitaet-der-impfstoff-ist-das-fluessige-gold-2021/26737064.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine mRNA: Sẽ mở ra cuộc cách mạng chống ung thư và bệnh tự miễn?      Đại dịch corona đã mang lại bước đột phá cho vaccine-mRNA bởi loại công nghệ vốn bị coi là ngoại lai này, trước đây được cho là sẽ tạo ra những cuộc cách mạng trị liệu hoàn toàn khác. Nó đã được thử nghiệm như một vũ khí chống lại các loại khối u, bệnh lao và HIV.      Mọi biến đổi trong y học đều đòi hỏi nhiều thời gian. Nghiên cứu thường đi trước hàng chục năm, có thành công nhưng không ít thất bại, chẳng hạn như trong việc phát triển các liệu pháp gene. Việc sử dụng công nghệ mRNA cũng đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ tuy nhiên công chúng không để ý đến. Từ khi  bùng phát đại dịch Covid-19,  công nghệ này bất ngờ được đặc biệt chú ý. Vaccine -mRNA được phát triển trong thời gian kỷ lục, người ta không chỉ thấy nguyên lý hoạt động của nó mà còn nhận ra nhiều ưu điểm của  công nghệ này. Do đó nhiều nhà đầu tư sẵn sàng vào cuộc. Nguồn tài chính dồi dào, hứa hẹn tương lai sáng lạn.   “Công nghệ này có tiềm năng vô cùng to lớn”,  Ugur Sahin, người đồng sáng lập doanh nghiệp Biontech đã nhận xét. “Các phương pháp mRNA đã mở  cánh cửa cho ra đời một loại thuốc mới để giải quyết những thách thức chưa được giải quyết trong y học”.  Ông Ingmar Hoerr, người sáng lập công ty Curevac có trụ sở tại Tübingen, nhấn mạnh: “Cách tiếp cận này mở ra vô vàn khả năng trong việc ứng dụng”. Chủ tịch Viện Paul Ehrlich (PEI), Klaus Cichutek, có phần tỉnh táo hơn: “Tôi tin rằng công nghệ mRNA có thể được sử dụng để phát triển một số loại vakzin mới và các phương pháp điều trị ứng dụng – từ các bệnh truyền nhiễm đến ung thư và cả các bệnh tự miễn”.  Vấn đề ở đây là gì? Thông tin axit ribonucleic – mRNA là viết tắt của axit ribonucleic thông tin – truyền các bản thiết kế về protein đến các “nhà máy sản xuất” protein trong tế bào. Chiến dịch tiêm chủng hiện nay cho thấy rõ nguyên tắc đó có hiệu quả. Niels Halama từ Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Đức (DKFZ) ở Heidelberg cho hay: “Chúng tôi biết vaccine hoàn toàn an toàn và chí ít cũng tương đương với các loại vaccine cổ điển”.  Ngoài ra, phương pháp này có một số ưu thế so với vaccine truyền thống: có thể tạo ra mRNA với tốc độ nhanh chóng và số lượng lớn. Một điều khá hấp dẫn là mRNA khiến cơ thể tự sản xuất một loại protein mong muốn và sau đó tự phân hủy. Tuy nhiên, nó cũng có một điểm hạn chế là phân tử chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định.  Trong một thời gian dài, người ta không nhận ra được tiềm năng y học của phương pháp này. Một mặt  chủ yếu là do mRNA bị phân hủy rất nhanh  mặt khác, nếu nó xâm nhập vào cơ thể từ bên ngoài, nó sẽ bị hệ thống miễn dịch tấn công. Về ứng dụng thực tế, các công ty tiên phong Curevac và Biontech ban đầu tập trung vào các liệu pháp điều trị ung thư – và do đó là một trong những thách thức phức tạp nhất trong y học. “Chúng tôi quyết định sử dụng mRNA vì chúng tôi nhìn thấy tiềm năng,” ông chủ của Biontech, Sahin, bản thân là một bác sĩ ung thư, cho biết. “Bằng cách này, bạn có thể điều chỉnh vaccine chính xác cho một khối u cụ thể, sản xuất vaccine nhanh chóng và riêng lẻ, và cung cấp cho bệnh nhân như một phương pháp điều trị. Điều đó là không thể với các công nghệ đã được thiết lập cho tới nay”.  Các chuyên gia nhấn mạnh rằng liệu pháp dựa trên mRNA đối với các bệnh ung thư còn thích hợp hơn so với liệu pháp điều trị bệnh truyền nhiễm như Covid-19, khi hàng triệu người được tiêm cùng một loại vaccine như nhau. Chuyên gia Halama của DKFZ cho biết: “Việc tiêm phòng mRNA chống lại Sars-CoV-2 không khai thác hết các khả năng của mRNA. “Một lợi thế lớn của quy trình này là bạn có thể sản xuất vaccine riêng lẻ cho các bệnh nhân khác nhau – và điều đó diễn ra  trong một thời gian ngắn.”  Vaccine –mRNA chống ung thư: những thí nghiệm đầu tiên   Y học cá thể hóa là mục tiêu hướng tới,đây là mong muốn đã có từ lâu, nó cho phép điều trị từng người bệnh theo một liệu pháp đã được điều chỉnh cho phù hợp: Bằng cách này, việc xác định đặc điểm chính xác của một khối u riêng lẻ có thể làm  thay đổi chính của nó. Sau đó mRNA sẽ mang các bản thiết kế của các kháng nguyên vào tế bào để hệ thống miễn dịch có thể thực hiện các hành động có chủ đích chống lại khối u.  Hiện tại, hàng chục nghiên cứu đang kiểm tra tính hữu hiệu của phương pháp này đối với nhiều loại khối u khác nhau – từ khối u ác tính như ung thư phổi, tuyến tiền liệt và ung thư vú đến ung thư tuyến tụy. Halama cho biết: “Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các loại khối u trước đây được coi là không phù hợp với liệu pháp miễn dịch vẫn có thể tiếp cận được. Nhưng vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy phương pháp mRNA ưu việt hơn các liệu pháp truyền thống”.  Hiện nay, trong nghiên cứu tiêm chủng trị liệu thường được sử dụng như một phương pháp điều trị bổ sung kết hợp với các thủ thuật  đã được thiết lập như liệu pháp miễn dịch khác hoặc hóa trị liệu. Điều này cũng là do, trong thưc tế, người ta không thể từ chối áp dụng phương pháp này đối với các bệnh nhân nặng.  Dirk Arnold, bác sĩ trưởng tại Asklepios Klinik Altona, thử nghiệm phương pháp này như một phần của nghiên cứu Biontech quốc tế chống lại bệnh ung thư ruột kết nhằm kiểm tra xem liệu việc tiêm phòng mRNA sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u có thể ngăn chặn sự tái phát hay không.  Những nghiên cứu kiểu này thường kéo dài và rất phức tạp, do đó có khả năng còn lâu thì liệu pháp – mRNA chống ung thư mới được chính thức công nhận. Bên cạnh y học ung thư bác sỹ Sahin cho rằng có thể áp dụng công nghệ mRNA với các bệnh khác nhau nếu có liên quan đến hệ thống miễn dịch, thí dụ như các loại bệnh dị ứng, các bệnh viêm mãn tính và các bệnh miễn nhiễm.  Hồi tháng giêng trên tạp chí tạp chí Science có bài viết về mRNA có thể giúp trong điều trị bệnh đa xơ cứng (MS). Vấn đề ở đây là không làm cho hệ thống miễn dịch nhạy cảm với một số protein nhất định, ngược lại: nó phải dung nạp các protein của chính cơ thể. Các thí nghiệm đang được xúc tiến và tỏ ra có triển vọng ở động vật thí nghiệm.  Mục tiêu cổ điển của vaccine là ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm. Việc tiêm chủng dự phòng như vậy đơn giản hơn so với tiêm chủng để điều trị chống lại các bệnh phức tạp hiện nay như ung thư.Biontech không chỉ muốn cải tiến các loại vaccine hiện có ví dụ để chống bệnh cúm. Qua những ưu việt của công nghệ  mRNA câu hỏi được đặt ra là liệu chúng ta có thể ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm mà y học cho đến nay chưa tìm ra được các biện pháp phòng trị thỏa đáng? Thí dụ, hàng năm có đến hàng triệu người bị chết vì bệnh sốt rét, lao và HIV, đặc biệt là ở các nước thuộc diện nghèo nhất thế giới.  Biontech đang trong giai đoạn đầu về  phát triển các loại vaccine phòng chống lao và HIV. Hiện họ đang thực hiện một thí nghiệm nhỏ về khả năng dung nạp chế phẩm của Moderna đối với bệnh nhân HIV.  Giấc mơ về một mũi tiêm trẻ hóa các tế bào sau cơn đau tim  Trong quá khứ bệnh sốt rét từng là một thách thức lớn đối với y học. Cho đến nay mầm bệnh Plasmodium falciparum vẫn ngoan cố lẩn trốn vaccine do vòng đời phức tạp của nó. Biontech muốn bắt đầu  nghiên cứu trên người vào cuối năm 2022. Đây là một mục tiêu đầy tham vọng cần có sự hỗ trợ của các Tổ chức quốc tế như WHO, Tổ chức Sốt rét và Quỹ Kenup.  Ngoài những vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch người ta còn có thể sử dụng công nghệ  mRNA trong y học như trẻ hóa các tế bào khi các cơ quan bị tổn thương vì các cơn đau tim.  Việc phê duyệt vaccine Covid-19  đã thúc đẩy ngành công nghiệp này phát triển mạnh mẽ. Tầm quan trọng của công nghệ mRNA đã được tăng lên rất nhiều. Nhiều doanh nghiệp  trên thế giới đang thực hiện điều này. Hiệp hội các nhà nghiên cứu về sản xuất dược phẩm (VFA) liệt kê hàng chục dự án, đang được triển khai ở nhiều quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Iran, Bangladesh, Thái Lan, Hàn Quốc và tất nhiên là cả Trung Quốc. Sahin ước tính, khoảng 15 năm tới 30% các loại thuốc mới được phê duyệt có thể dựa trên công nghệ mRNA. Cho đến nay chỉ có hai loại thuốc được phê duyệt dựa trên công nghệ mRNA – cả hai đều là vaccine chống Covid-19. Theo Cichutek, ông chủ của PEI, chỉ riêng ở Đức hiện có khoảng 20 nghiên cứu đang được tiến hành  về liệu pháp miễn dịch ung thư.  Nhưng bất chấp những thành công cho đến nay, nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời: Làm cách nào để vận chuyển mRNA đến các tế bào đích khác nhau một cách hiệu quả nhất? Làm thế nào để điều chỉnh sự ổn định của phân tử trong cơ thể, ví dụ sức mạnh và thời gian của phản ứng miễn dịch?  Nhà nghiên cứu về ung thư Halama coi sự phát triển hiện nay mới là giai đoạn sơ khai. “Các đặc điểm lý sinh của mRNA có thể thay đổi. Câu hỏi đặt ra là, cái gì là tối ưu cho một mục tiêu nhất định ? Qua đó đã thấy có vô vàn khả năng cho công nghệ này”.  Bác sỹ Sahin mô tả tình trạng hiện tại của công nghệ là “phiên bản 1.0” và lưu ý  đến sự phát triển nhanh chóng của khoa học sự sống. “Chúng ta sẽ chứng kiến thêm một loạt đổi mới trong hai thập kỷ tới”.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article234010408/mRNA-Impfstoffe-Hoffnungstraeger-auch-bei-Krebs-MS-und-Malaria.html  https://www.thepioneer.de/originals/tech-briefing/briefings/mrna-technologie-heilung-fuer-krebs-rheuma-ms-und-hiv       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Oxford/AstraZeneca hiệu quả bảo vệ tới 76% chỉ với một liều tiêm      Nhóm nghiên cứu vaccine Covid-19 tại Đại học Oxford (Vương quốc Anh) tiếp tục công bố số liệu đầy đủ về hiệu quả bảo vệ của vaccine Covid-19 ChAdOx1 nCoV-19 (AZD1222) sau khi thu thập đầy đủ kết quả thử nghiệm giai đoạn III tại Anh, Brazil và Nam Phi.    Các dữ liệu này cung cấp đầy đủ hơn về hiệu quả của vaccine này cho thấy vaccine hiệu quả lên tới 76% chỉ với một liều tiêm đầu tiên, và tác dụng được duy trì sau khi tiêm từ 22 đến 90 ngày. Một kết quả quan trọng khác cũng được ghi nhận là với một liều tiêm đầu tiên, vaccine sẽ giúp giảm sự lây lan của virus tới 67%. Việt Nam cũng vừa phê duyệt việc sử dụng vaccine này trong nước, trong khi Bộ Y tế Việt Nam cũng chính thức đặt mua 30 triệu liều vaccine này từ nhà sản xuất dược phẩm AstraZeneca của Anh.    Vào cuối tháng 11/2020, nhóm phát triển vaccine ChAdOx1 nCoV-19 (AZD1222) của Đại học Oxford (Vương quốc Anh) đã công bố kết quả sơ bộ việc thử nghiệm vaccine (giai đoạn III) cho thấy vaccine này có hiệu quả bảo vệ từ 62-90%. Những kết quả ban đầu cũng cho thấy vaccine này giúp hạn chế sự lây lan virus và bảo vệ những người bị nhiễm virus khỏi các triệu chứng nặng của Covid-19. Vương quốc Anh là nước đầu tiên phê duyệt sử dụng vaccine này, và đã đưa vaccine này vào chương trình tiêm chủng Covid-19 diện rộng vì những ưu thế của vaccine giúp cho việc dễ dàng triển khai trên diện rộng 1.  Sau Anh, hàng loạt nước cũng đã phê duyệt vaccine này để bắt đầu chương trình tiêm chủng (Brazil, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc,..). Dù đã được phê duyệt sử dụng, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục việc thử nghiệm tại Anh, Brazil và Nam Phi đề tìm hiểu chi tiết hơn về hiệu quả của vaccine này. Đây là một vaccine được thiết kế theo công nghệ vector virus, dùng đoạn mã đặc trưng của Covid-19 đưa vào trong một virus đã vô hiệu hóa gây ra cảm lạnh ở tinh tinh để giúp cơ thể tạo ra kháng thể chống lại Covid-19.  Trong báo cáo vừa nộp lên tạp chí Lancet 2,  nhóm Oxford đã thông báo những kết quả chi tiết hơn cho thấy vaccine này có hiệu quả vượt trội. Theo báo cáo này, với một liều tiêm, hiệu quả bảo vệ sẽ đạt tới 76% sau 22 ngày tiêm vaccine, và tác dụng này được duy trì tới 90 ngày. Liều tiêm thứ hai, được dùng sau 12 tuần sẽ giúp hiệu quả bảo vệ tăng lên tới 82,4%. Một câu hỏi mà các nhà nghiên cứu luôn băn khoăn rằng vaccine có giúp ngăn chặn được sự lây truyền virus hay không, thì kết quả trong báo cáo này đã có câu trả lời. Cụ thể, chỉ cần một liều tiêm, vaccine này sẽ giúp giảm sự lây lan virus tới 67%. Nhóm Oxford vẫn khuyến cáo các cơ quan y tế tiêm đầy đủ 2 liều tiêm cho người dân trong thời gian 3-12 tuần.   Có thể nói rằng đây là những kết quả mới rất quan trọng chứng minh hiệu quả của vaccine Oxford/AstraZeneca cho hi vọng sớm ngăn chặn đại dịch trên toàn thế giới. Vaccine này đã được Chính phủ Việt Nam đặt mua từ AstraZeneca với số lượng 30 triệu liều. Việc vaccine này chỉ cần môi trường bảo quản 2-8oC sẽ rất thuận tiện cho việc triển khai tiêm chủng diện rộng ở ngay cả các nước như Việt Nam.  ———  1. Tính đến ngày 3/2/2021, đã có hơn 10 triệu người Anh được tiêm chủng vaccine Covid-19 (một liều tiêm) và gần 500 ngàn người Anh đã tiêm đầy đủ 2 liều (https://coronavirus.data.gov.uk/)  2. Xem bài báo nộp trên Lancet được mở: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3777268       Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Vaccine sốt rét lần đầu tiên đạt yêu cầu về tính hiệu quả của WHO      Số rét là căn bệnh gây ra cái chết của hàng trăm nghìn trẻ em mỗi năm. Hiện tại, một cuộc thử nghiệm vaccine giai đoạn đầu ở châu Phi đang chứng tỏ những kết quả đáng hứa hẹn.      Một cuộc thử nghiệm vaccine sốt rét ở Burkina Faso đã chứng tỏ những kết quả hứa hẹn với cuộc chiến chống lại căn bệnh vốn là nguyên nhân dẫn đến số lượng 400.000 người chết trong năm 2019.  Các kết quả của pha thử nghiệm này mới được xuất bản trên tạp chí The Lancet và hiện đang chờ bình duyệt. Nó chứng tỏ là vaccine R21/Matrix-M đạt hiệu quả ngăn ngừa bệnh dịch tới 77% trong suốt 12 tháng sau khi tiêm.  Đây là loại vaccine  đầu tiên đạt được mục tiêu đề ra trong Lộ trình công nghệ vaccine sốt rét của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là một loại vaccine ít nhất cần đạt 75% công hiệu.  Ca thử nghiệm lâm sàng này có sự tham gia của 450 trẻ em độ tuổi 5 đến 17 tháng. Những người tham gia được chia vào ba nhóm – hai nhóm đầu tiên được tiêm R21/Matrix-M, với một liều hoạt chất thấp hoặc một liều hoạt chất lớn Matrix-M, và một nhóm được kiểm soát với một giả dược.  Hiệu quả của vaccine trong nhóm được tiêm liều Matrix-M thấp hơn là 71% và không bị bất kỳ hiệu ứng phụ nào đáng chú ý.  Các nhà nghiên cứu giờ bắt đầu chuẩn bị cho một pha thử nghiệm lâm sàng có quy mô lớn hơn để đánh giá sự an toàn và tính hiệu quả của  vaccine trên quy mô lớn với 4.800 em độ tuổi từ 5 đến 36 tháng trên bốn quốc gia châu Phi.  Pha thử nghiệm vừa qua có “một mức thuyết phục cao”, Julian Rayner, một nhà nghiên cứu về sốt rét và giám đốc Viện nghiên cứu Y khoa Cambridge tại trường đại học Cambridge ở Anh, người không tham gia vào nghiên cứu này, cho biết.  “Đây mới là giai đoạn sớm của một thử nghiệm, dữ liệu tuy rất hứa hẹn nhưng mới trên một số lượng rất nhỏ trẻ em, vì vậy cần tiếp tục tiến hành các thử nghiệm lớn hơn ở nhiều địa điểm khác nữa”, Rayner nói với DW.    Trẻ em dễ bị nhiễm nhất  Sốt rét là căn bệnh đe dọa đi theo suốt cuộc đời con người bởi ký sinh trùng lây nhiễm cho người thông qua những cú đốt của muỗi cái Anopheles mang mầm bệnh. Có năm loại ký sinh trùng là nguyên nhân gây ra sốt rét ở người,  trong đó có hai loài P. falciparum và P. vivax là nguy hiểm nhất.  Căn bệnh này có nhiều triệu chứng như sốt, đau đầu, khó chịu, các vấn đề liên quan đến dạ dày – ruột, ho, cũng như các vấn đề về thần kinh.  Ước tính có 229 triệu ca nhiễm bệnh sốt rét trên khắp thế giới vào năm 2019, theo WHO, và gánh nặng bệnh tật lớn nhất rơi vào các quốc gia châu Phi, nơi hứng chịu tới 94% các ca nhiễm bệnh và chết vào năm 2019. Trẻ em dưới năm tuổi chiếm 67% số lượng cá ca chết vì sốt rét trên toàn thế giới. Những người sống ở nơi bệnh sốt rét hoành hành và bị lây nhiễm khi lớn lên có thể phát triển một số mức miễn dịch một cách tự nhiên. “Nó không hoàn toàn là miễn dịch một cách đầy đủ, nó cũng không có nghĩa là anh không mắc bệnh sốt rét thêm lần nữa nhưng anh không có một số triệu chứng và một số hậu quả để lại”, Rayner nói với DW. “Đó là nguyên nhân tại sao phần lớn các ca mắc đều là trẻ em, bởi vì anh phải sống đủ lâu và đủ trưởng thành để phát triển hệ miễn dịch tự nhiên”.  Cho đến bây giờ, chỉ có một loại vaccine là RTS,S, đã chứng tỏ giảm bớt nguy cơ mắc sốt rét một cách hiệu quả ở trẻ em châu Phi. Trong số những đứa trẻ 5 đến 17 tháng tuổi được hưởng bốn liều, loại vắc xin này đã ngăn ngừa được khoảng 39% trường hợp mắc bệnh sốt rét trong vòng bốn năm và khoảng 29% trường hợp mắc bệnh sốt rét ác tính, theo WHO.     Kháng thuốc cũng là một vấn đề  Khi điều trị ở giai đoạn đủ sớm, một số người có thể dễ dàng phục hồi sức khỏe nhưng nếu phát hiện quá muộn thì quá trễ để thuốc hoạt động hiệu quả; và có một vấn đề lớn với việc kháng thuốc.  “Đã có kháng thuốc với cả một số thuốc điều trị chính ở một số ký sinh”, Rayner cho biết. “Đó là nguyên nhân tại sao một vaccine hiệu quả lại rất quan trọng trong lúc này – bởi vì chúng ta cần một cách tiếp cận mới”.  Các ký sinh trùng sốt rét đều phát triển những cơ chế phức tạp để lẩn trách sự phản hồi miễn dịch, Rayner nói với DW. “Không có vaccine sử dụng trên diện rộng, vì vậy bất cứ kết quả tích cực nào cũng hết sức thú vị vì sốt rét là một căn bệnh đáng sợ và là một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng”, Rayner nói.   Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.dw.com/en/new-malaria-vaccine-first-to-reach-who-efficacy-demand/a-57316309  https://www.the-scientist.com/news-opinion/new-malaria-vaccine-shows-most-efficacy-of-any-to-date-small-trial-68710    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Sputnik V được chứng minh hiệu quả tới 91,6 %      Hồi mùa thu 2020, Nga đã bị chỉ trích khá nhiều vì vaccine Sputnik V của mình nhưng ngay thì đã có kết quả khảo nghiệm đối với sản phẩm. Đáng chú ý là hiệu quả của Sputnik V đạt mức 91,6 % và hoạt chất của nó cũng tương tự như AstraZeneca, đồng thời của Nga có một loạt ưu điểm có ý nghĩa quyết định.      Vaccine Sputnik V đạt hiệu quả  91,6%  Người Nga đặt tên Sputnik V cho vaccine nhằm làm rõ vaccine corona đầu tiên trên thế giới được phê duyệt là một vấn đề có ý nghĩa chính trị đối với Nga. Thông điệp phát đi là “chúng tôi là người đầu tiên”, giống như năm 1957, khi vệ tinh Sputnik giành thắng lợi trong cuộc chạy đua vào không gian. Tuy nhiên cú sốc Sputnik lần này lại chỉ đem lại là những cái lắc đầu. Nguyên nhân là vì loại vaccine do Viện Gamaleja Moscow phát triển với tên khoa học là Gam-COVID-Vac, trái với mọi thông lệ, đã được phê duyệt một cách chóng vánh từ tháng 8 năm 2020,  trước khi kết thúc giai đoạn nghiên cứu lâm sàng III, giai đoạn cuối cùng.  Do đó quốc tế đã lên tiếng chỉ trích. Nhiều nhà khoa học nói về “một cuộc thử nghiệm đầy rủi ro”, hơn nữa tham gia cuộc thử nghiệm này không chỉ có người Nga mà còn có nhiều người thuộc các quốc gia khác nhau như Ấn Độ, Brasil, Mexico và Kazakhstan. Hồi tháng chín, nước Nga đã chuyển các lô vaccine của mình tới các nước này và cho đến nay, vaccine đã được đưa vào sử dụng trên 15 nước.  Giờ thì có thể gác lại cú sốc Sputnik. Các nhà nghiên cứu Nga đã công bố kết quả nghiên cứu sơ bộ giai đoạn thử nghiệm lần thứ ba trên một tờ tạp chí chuyên đề có uy tín quốc tế là tạp chí The Lancet 1. Kết quả thử nghiệm trên hơn 20.000 người cho thấy hiệu quả của vaccine đạt trên 91,6%.  Hãng dược phẩm Astra của Anh chắc hẳn rất khó chịu trước kết quả của Sputnik V vì loại vaccine này cũng cùng loại vaccine như của AstraZeneca: Người ta đã cài vào con Adenovirus vô hại, đã biến đổi gene protein cấu trúc hình răng cưa vào con coronavirus. Adenovirus không nguy hiểm và được dùng như một vector, bản cấu trúc thiết kế  này sẽ được đưa vào tế bào của con người, do đó các nhà khoa học gọi nó là vaccine vector. Khi thâm nhập vào tế bào, nó sẽ sản sinh ra nhiều loại protein răng cưa của Coronavirus và trong “cơn nguy biến”  thì hệ thống miễn dịch sẽ được rèn luyện để kháng cự.    Vận chuyển lô  Sputnik V tới El Alto, Bolivia.  Nhưng các nhà nghiên cứu Nga đã thực hiện một công việc này hoàn toàn khác, có ý nghĩa quyết định, so với các đồng nghiệp người Anh: Sputnik V sử dụng  Adenovirus ở người và hình thành ở hai cấp, mỗi cấp sử dụng hai Adenovirus khác nhau. Trong lần tiêm chủng đầu tiên, adenovirus loại 26 (rAd26-S) hoạt động như một vật trung gian truyền bệnh, trong lần tiêm chủng thứ hai 2, tiến hành sau đó  ba tuần, adenovirus loại 5 (rAd5-S) được gắn với bản thiết kế tăng đột biến mà các nhà khoa học vẫn gọi là “sự thúc đẩy dị tính”. Khi tiêm chủng đợt thứ nhất, con Adenovirus Typ 26 (rAd26-S) là vector, ở đợt tiêm chủng lần thứ hai, ba tuần sau Adenovirus Typ 5 (rAd5-S) sẽ được cấy bản thiết kế.  Qua cách làm này, các nhà khoa học Nga tránh được một mối nguy hiểm có thể xảy ra: hệ miễn dịch nhận ra Adenovirus là kẻ thù và tạo ra kháng thể để chống lại. Điều này có thể làm cho liều lượng tiêm chủng lần thứ hai bị kém hiệu quả. Vì nếu hệ thống miễn dịch tiêu diệt virus vector với bản thiết kế răng cưa trước khi con virus này đưa được hàng vận chuyển quan trọng đến tế bào thì có khả năng tác dụng bảo vệ bị triệt tiêu.  Trên cơ sở này có thể lý giải vì sao hiệu lực của vaccine AstraZeneca giảm sút.  Gần đây có nhiều cuộc tranh luận về hiệu quả của loại vaccine này. Nghiên cứu mới đây nhất cho thấy hiệu quả đạt khoảng 60 %.  Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus225556173/Russischer-Impfstoff-Das-hat-Sputnik-V-dem-Impfstoff-von-AstraZeneca-voraus.html  ———————  1. “Safety and efficacy of an rAd26 and rAd5 vector-based heterologous prime-boost COVID-19 vaccine: an interim analysis of a randomised controlled phase 3 trial in Russia”.  Nguồn: https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)00234-8/fulltext       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vải có thể truyền tín hiệu tới các thiết bị ở khoảng cách gần      Các kỹ sư tại Đại học California, Irvine đã tạo ra một loại vải đột phá cho phép truyền tín hiệu tới những thiết bị điện tử gần đó trong phạm vi 1,2m.      Miếng vật liệu từ mỏng (màu vàng kim) được ép nhiệt vào tay áo, cho phép người mặc giao tiếp với nhau, sạc thiết bị không dây và đi qua cổng an ninh chỉ bằng một cái vẫy tay | Ảnh: Steve Zylius / UCI  Hãy tưởng tượng chiếc xe ô tô bắt đầu nổ máy khi bạn bước vào vì nó nhận ra chiếc áo khoác mà bạn đang mặc, hoặc một chiếc áo bệnh nhân liên tục đo các tín hiệu sinh tồn (nhiệt độ, mạch, huyết áp, nhịp thở..) của người bệnh và truyền dữ liệu đến cho bác sĩ. Đây chỉ là hai trong số nhiều ứng dụng mà loại vải dạng “mạng vùng cơ thể không dây” (body area network) có thể thực hiện được. Trong một bài báo được công bố gần đây trên tạp chí Nature Electronics, các nhà nghiên cứu tại Trường Kỹ thuật Henry Samueli của Đại học California, Irvine đã mô tả chi tiết cách tích hợp siêu vật liệu tiên tiến này vào các sản phẩm dệt may để tạo ra một hệ thống không dùng pin có thể giao tiếp giữa quần áo với những thiết bị gần đó. “Nếu bạn từng đưa chiếc điện thoại thông minh hoặc thẻ thanh toán của mình lại gần đầu đọc ở siêu thị tức là bạn đã sử dụng các công nghệ tín hiệu trường gần. Loại vải của chúng tôi hoạt động theo nguyên tắc tương tự, nhưng có phạm vi rộng hơn đáng kể”, phó giáo sư kỹ thuật điện và khoa học máy tính Peter Tseng và là đồng tác giả của nghiên cứu cho biết.  Phát minh này cho phép người đeo tương tác kỹ thuật số với các thiết bị điện tử gần đó và thực hiện thanh toán an toàn chỉ bằng một cú chạm hoặc vuốt tay áo. “Với sợi vải của chúng tôi, thiết bị điện tử sẽ thiết lập tín hiệu ngay khi bạn lướt quần áo qua đầu đọc không dây. Vì vậy, người dùng có thể chia sẻ thông tin chỉ bằng một cái bắt tay hoặc đập tay. Họ sẽ không cần mở khóa xe bằng chìa hoặc thiết bị riêng, mà chính cơ thể họ sẽ trở thành thẻ ra vào để mở cửa”, nghiên cứu sinh Amirhossein Hajiaghajani, đồng tác giả nghiên cứu giải thích.    Phó giáo sư Tseng so sánh công nghệ này với một tuyến đường sắt truyền năng lượng và tín hiệu khi lớp vải của chúng giao nhau. Hệ thống sẽ cho phép các đoạn mới được ghép với nhau dễ dàng, từ đó khiến các mảnh quần áo riêng biết có thể bắt cặp để “nói chuyện” với nhau.  Thời gian qua, giao thức giao tiếp trường gần đã thúc đẩy sự phát triển của những ứng dụng sạc không dây hoặc cung cấp năng lượng cho các cảm biến không pin. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là chỉ giới hạn trong phạm vi vài inch. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Irvine đã mở rộng phạm vi truyền tín hiệu lên hơn 4 feet (~1,2m) nhờ việc sử dụng những siêu vật liệu từ thụ động bằng lá khắc đồng và nhôm.   Nhóm nghiên cứu đã thiết kế loại vải mới có tính linh hoạt cao và phù hợp với chuyển động cơ thể. Vì tín hiệu được truyền thông qua cảm ứng từ – khác với những kết nối dây liên tục trong các loại vải thông minh hiện đại ngày nay – nên chúng có thể điều phối giữa những mảnh quần áo riêng biệt. Chẳng hạn với đồ thể thao, quần có thể đo chuyển động của chân trong khi giao tiếp với áo đang đo nhịp tim và những chỉ số cơ thể khác.  Hajiaghajani nói rằng vật liệu này có vô số ứng dụng trong y học, chẳng hạn như giải phóng y tá khỏi nhiệm vụ lắp cảm biến lên các bệnh nhân vì tất cả đều có thể tích hợp vào trong những chiếc áo được trang bị siêu vật liệu. Hajiaghajani nhấn mạnh rằng các vật liệu liên quan trong hệ thống đều có chi phí thấp, dễ chế tạo và tùy chỉnh. Độ dài và các nhánh khác nhau của “đường ray” siêu vật liệu có thể được ép nhiệt vào quần áo đã có mà không phải mua một bộ đồ công nghệ cao mới hoàn toàn. “Chúng tôi muốn tạo ra những thiết kế không chỉ rẻ tiền mà còn có thể giảm bớt gánh nặng mà những thiết bị điện tử hiện đại có thể mang lại trong cuộc sống của chúng ta”, ông nói. □  Trang Linh lược dịch   https://techxplore.com/news/2021-11-uci-people-high-five.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vải dệt từ chất dẻo làm mát cơ thể      Các nhà nghiên cứu tại trường ĐH học Standford đã tìm ra một loại vải mới từ chất dẻo có khả năng làm mát cơ thể, nhờ vậy có thể giúp con người tiết kiệm điện năng.      Các nhà nghiên cứu đã tạo ra vật liệu làm từ chất dẻo với giá thành thấp có thể trở thành chất liệu chính cho quần áo làm mát cơ thể người mặc.  Loại vải mới được phát triển từ chất dẻo có hai ưu điểm lớn là giá thành thấp và giúp cơ thể giải phóng nhiệt theo cách mới. Các nhà nghiên cứu cho biết, giống như việc đổ mồ hôi là một cách làm mát của cơ thể, quần áo được may bằng loại vải đặc biệt này có thể giúp giảm thân nhiệt người mặc, do đó điều hòa nhiệt độ chạy có thể với công suất thấp hơn bình thường nhưng vẫn đảm bảo cho người mặc mát mẻ.  Theo các nhà nghiên cứu, hệ thống sưởi ấm và làm mát không gian tiêu tốn tới 12,3% tổng mức tiêu thụ năng lượng ở Hoa Kỳ. Hiện những nỗ lực giảm bớt việc sử dụng năng lượng của Mỹ đều tập trung vào cải thiện khả năng cách nhiệt của các tòa nhà và cho phép kiểm soát nhiệt độ một cách “thông minh”. Tuy nhiên, các kĩ sư nghiên cứu về “kiểm soát nhiệt độ ở mỗi cá nhân” nhận thấy việc sưởi ấm hoặc làm mát chỉ cho một cơ thể – thay vì làm mát cả một tòa nhà – sẽ đem lại hiệu quả cao hơn nhiều.  “Nếu tập trung làm mát cơ thể một người thay vì cả tòa nhà thì lượng điện năng tiết kiệm được sẽ cao hơn”, Yi Cui, phó giáo sư chuyên ngành Khoa học vật liệu và kĩ thuật, Khoa Lượng tử ánh sáng (Đại học Standford), một trong những tác giả của nghiên cứu, cho biết.  Cũng như những loại vải thông thường, loại vải mới cho phép mồ hôi bốc hơi, tuy nhiên, cơ chế làm mát của nó hoàn toàn khác: nhiệt trong cơ thể phát ra như tia hồng ngoại để có thể xuyên qua lớp vải này. “40 đến 60% nhiệt trong cơ thể chúng ta tỏa như bức xạ hồng ngoại khi chúng ta ngồi trong một văn phòng”, Shanhui Fan, giáo sư ngành Kĩ thuật điện tại Đại học Stanford, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết. “Nhưng cho đến nay, có quá ít hay gần như không có nghiên cứu nào về việc thiết kế các đặc tính bức xạ nhiệt của vải dệt”. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực lượng tử ánh sáng với các nghiên cứu về ánh sáng vô hình và hữu hình.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nanoporous polyethylene (nanoPE), một chất liệu nhựa dẻo sẵn có với các vi lỗ có đường kính từ 50 đến 1.000 nanomet hay được dùng trong pin nhiên liệu để ngăn sự phóng điện. Trong những cuộc thử nghiệm, các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách giải phóng sóng hồng ngoại qua vi lỗ của nanoPE với kết quả đạt 96%, trong khi tỉ lệ này ở vải bông chỉ là 1,5%. Nếu được dệt thành quần áo, chất liệu nanoPE này có thể khiến cho người mặc cảm thấy mát hơn 4 độ F so với mặc quần áo làm từ sợi bông.  Các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu về chất liệu mới này với việc bổ sung thêm màu sắc, tối ưu kết cấu bề mặt và những đặc tính cần thiết khác để nó giống với các loại vải thông thường hơn.  Vũ Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: http://www.livescience.com/56620-plastic-based-textile-keeps-you-cool.html    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vài mẩu chuyện về công nghiệp đóng tàu      Công nghiệp đóng tàu từ bao đời nay là sở trường của các nước châu Âu, giờ đã chuyển dịch sang các nước vùng Viễn Đông, đầu tiên là Nhật Bản tiếp đến là Hàn Quốc và rồi tới Trung Quốc.       1. Số phận những chiếc cần cẩu khổng lồ  Tới bất kỳ nhà máy đóng tàu nào, từ xa ta đã dễ dàng nhận ra nó với chiếc cần cẩu cổng, tức là chiếc cần cẩu vuông vức cao chót vót, có thể nâng được các tổng đoạn nặng nề của con tàu để ghép nối nó với nhau thành con tàu hoàn chỉnh. Ví như đứng từ đường rẽ vào khu Tuần Châu, ta đã nhìn thấy từ xa chiếc cẩu cao lêu nghêu của nhà máy đóng tàu Hạ Long có sức nâng tới 400 tấn. Bởi vậy, cần cẩu cổng thường là biểu tượng của các thành phố đóng tàu.   Mùa hè năm 2002, người dân thành phố Malmo Thụy Điển đã phải gạt lệ để tiễn biệt chiếc cẩu biểu tượng của mình, chiếc cẩu có sức nâng hơn 1.500 tấn của nhà máy đóng tàu Kockums, cao gần 140 mét được tháo thành đống sắt hơn 7.600 tấn để đưa sang vùng Viễn Đông cho ông chủ mới, đó là xưởng đóng tàu Ulsan của tập đoàn Hyundai Hàn Quốc!   Sau khi tiễn biệt hai chiếc cẩu khổng lồ khác của xưởng đóng tàu Anh Quốc H&W mang tên hai lực sĩ trong Kinh Thánh là Samson và Goliath, người Thụy Điển hy vọng bán được chiếc cẩu 1.500 tấn này cho đồng nghiệp Đan Mạch là xưởng đóng tàu B&W lừng danh vào cuối những năm 90. Nhưng, sau Anh Quốc, Thụy Điển tiếp đến Đan Mạch cũng như toàn châu Âu EU thật khó cạnh tranh nổi với anh đóng tàu Hàn Quốc chịu khó chịu khổ, xưởng đóng tàu B&W cũng phải đóng cửa và chiếc cẩu không lồ của Kockums được chuyển nhượng cho Hyundai Hàn Quốc với giá tượng trưng… một đô la! Buổi tiễn biệt cái biểu tượng của thành phố đóng tàu Thụy Điển thật buồn thảm, nên người Hàn gọi chiếc cẩu này là “Nước mắt của thành Malmo”!             Hình 1 – Đường cong biểu diễn sự diễn biến từ 1975 tới 2004 của tiền lương trung bình ngày của người lao động đóng tàu của các nước Hàn Quốc, Nhật, Ý, Đức, Pháp, Phần Lan, Mỹ (nguồn http://shipbuildinghistory. com/today/statistics/wages. htm )            Cuộc di chuyển của cần cẩu thành phố Malmo mang tính biểu tượng cao, nó cho ta thấy công nghiệp đóng tàu từ bao đời nay là sở trường của các nước châu Âu, nay đã chuyển dịch sang các nước vùng Viễn Đông, đầu tiên là Nhật Bản tiếp đến là Hàn Quốc và rồi tới Trung Quốc. Chẳng phải người châu Âu không thích đóng tàu nữa vì nghề này nặng nhọc, lại bẩn thỉu, làm ô nhiễm môi trường mà lý do đầu tiên là châu Âu không cạnh tranh nổi với tiền lương thấp, có khi tới 10 – 20 lần so với tiền lương trả cho nhân lực đóng tàu vùng Viễn Đông.   Diễn biến tiền lương cho ngành đóng tàu của các nước Hàn Quốc, Nhật, Ý, Đức, Pháp, Phần Lan, Mỹ trong suốt ba thập kỷ từ năm 1975 tới năm 2004 như sau: Trong suốt những năm 70-90, khi lương đóng tàu của các nước Âu Mỹ vốn đã gấp hơn 10 lần Hàn Quốc và tiếp tục tăng lên với đường cong vút lên thì đường cong tiền lương Hàn Quốc vẫn là là mặt đất. Điều này đã tạo nên hiện tượng thần kỳ Hàn Quốc như nước Nhật trước đó đã thực hiện vào các năm 50-60.   Sau Thế Chiến II, nền kinh tế Nhật Bản kiệt quệ, nhưng Nhật Bản vẫn còn nguồn nhân lực cho đóng tàu. Bắt đầu từ năm 1947, Nhật thực hiện kế hoạch phát triển đóng tàu Keikaku Zosen, nhờ đó chỉ 10 năm sau, Nhật đã dẫn đầu thế giới, chiếm gọn 20 % thị phần và 20 năm sau chiếm lĩnh gần 40% thị phần đóng tàu thế giới. Với Hàn Quốc đóng tàu đã trở thành một trong những ngành trọng điểm trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất vào những năm đầu thập kỷ 70. Từ năm 2000, Hàn Quốc đã thay thế vị trí của Nhật Bản. Tuy nhiên, Hàn Quốc phải mất 10 năm (từ 1974 tới 1984) để thêm được 7% thị phần vaà 20 năm để có được 21, 5% thị phần và họ đã phải trả một giá rất đắt cho vị trí đứng đầu thế giới như ngày nay (để dễ hình dung cuộc tranh giành thị phần vất vả ra sao, xin nhắc lại Việt Nam trong 10 năm qua với những chi phí cực kỳ to lớn, trong một hoàn cành khá thuận lợi mà chỉ giành chưa được 1,5% thị phần đóng tàu thế giới).   Người ta đã tổng kết rằng có năm nguyên nhân dẫn tới thành công của Nhật và Hàn Quốc đó là (1) lợi thế về lao động rẻ; (2) sự hỗ trợ, trợ cấp to lớn của chính phủ; (3) sự hỗ trợ của các nước phương Tấy, nhất là Mỹ (4) sự phát triển hợp lý của các ngành phụ trợ và nhất là (5) việc đầu tư thích đáng vào giáo dục và nguồn nhân lực   2. Chiếc tàu khách lớn nhất thế giới   Nói tới công nghệ du lịch trên biển, người ta thường nói tới vịnh Caribe, nơi ngự trị của những du thuyền cruise khổng lồ, như chiếc Oasis-of-the Seas và cô em gái giống hệt như nó Allure-of-the-Sea. Phải nói đó là siêu tàu, dài trên 300 mét, gấp 3 lần sân bóng đá tiêu chuẩn, cao bằng tòa nhà 24 tầng, có cả nhà hát nổi phục vụ cho gần 6.000 hành khách, với chi phí chế tạo hơn 1,2 tỷ đô la. Xưởng Aker tại Turku Phần Lan kiêu hãnh là nơi chế tạo ra con tàu này, như đã từng độc quyền làm ra những con tàu du lịch kỷ lục thế giới trong nhiều năm nay. Nhưng bước sang thế kỷ 21, xưởng Turku nổi tiếng này đã thuộc chaebol STX Hàn Quốc. Bằng việc thiết lập công ty STX Châu Âu có trụ sở tại ngay Phần Lan, công ty này mở các nhà máy       Điều hành 15 nhà máy đóng tàu tại Brazil, Phần Lan, Pháp, Na Uy, Romania và Việt Nam, đúng như dự đoán của Allen Walker hồi năm 1994 rằng: sau khi chiếm lĩnh thị trường tàu container bằng hạ giá tàu tới 30%, người Hàn sẽ dần chiếm lĩnh cả thị trường phà biển (ferry) và tàu khách du lịch (cruise). Các bước “xâm lăng” được thực hiện từ từ, đầu tiên là Daewoo ký một hợp đồng khiêm tốn trị giá 26 triệu đô đóng một phà biển 1.500 khách cho chủ tàu Hy Lạp vào năm 1994, đó là phà biển xuất khẩu đầu tiên của nước này. Sau đó đền lượt Samsung đóng bốn chiếc phà lớn hơn và rồi Daewoo ký với chủ tàu Ý đóng hai phà chở ô tô tới hơn 2 nghìn khách. Và cuối cùng, STX đã lọt vào xưởng đóng tàu khách vĩ đại nhất của nhân loại.   Cuộc “xâm lăng” của đóng tàu Hàn Quốc đã dấy lên một làn sóng kiện cáo, chống bán phá giá ra WTO, OECD từ hàng chục năm nay. Ví như ngày 5 tháng 11 năm 2009 toàn châu Âu có một sự kiện là “Ngày toàn châu Âu hành động vì công nghiệp đóng tàu” được tổ chức bởi Liên Đoàn Công Nhân Kim Loại Châu Âu EMP (European Metalworker’s Federation) với hàng loạt các cuộc biểu tình, tuần hành, đi bộ, họp báo, kiến nghị lên chính phủ… Đặc biệt là tại Đan Mạch, nơi mà công nghiệp đóng tàu đã sa sút thảm hại, các tổ chức công đoàn với nhiều đốc công phân xưởng đóng tàu phần lớn là đảng viên cộng sản, đã hết sức giận dữ lên án chính sách “phá giá”, được “hỗ trợ vô lối” của đóng tàu Hàn Quốc. Chủ tịch công đoàn Max Baehring kêu gọi nhà nước dùng sức ép có biện pháp trừng phạt Hàn Quốc nếu các cuộc thương thuyết không đạt tới kết quả. Thực ra Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development ) đã dự thảo từ năm 1994 về một Hiệp ước toàn cầu nhằm điều chỉnh công nghiệp đóng tàu, một nền công nghiệp mà cung thường bao giờ cũng cao hơn cầu, nhưng có lẽ hiệp ước này chẳng bao giờ có hiệu lực.   Gần đây vào tháng 5-2010, Tiểu Ban Đóng Tàu WP6 của OECD lại nhóm họp tại Paris sau nhiều năm đình trệ, không hoạt động. Cũng như Việt Nam bảo vệ giá cả chứng minh giá thành thấp của con cá basa, người Hàn thiếu gì cách để chứng minh giá thành thấp của con tàu khi đã tự chế tạo được hầu hết con tàu, khi có một ngành công nghiệp phụ trợ hung hậu và một nguồn nhân lực có trình độ cao, với mức lương ngày càng tăng dần như ta thấy trên đồ thị hình 1. Và không chỉ tàu khách du lịch hạng sang, người Hàn đã lấn sân sang các sản phẩm trước đây Hoa Kỳ độc chiếm, đó là các giàn khoan, tàu phụ trợ cho công nghiệp đại dương tại Vịnh Mêhicô, dù chủ tàu phải chi phí vài triệu đô la để chuyên chở từ Hàn Quốc về Nam Mỹ.   Có thể thấy, trong suốt 40 năm qua, đóng tàu Hàn Quốc đã bền bỉ phấn đấu, từ chỗ chỉ đóng những con tàu hạng xoàng tiến lên chiếm lĩnh thị trường tàu container, tàu chở hóa chất, rồi đứng đầu bảng cả tàu du lịch hạng sang trọng, một mặt hàng đặc sản của châu Âu… Rồi sẽ tới cả những tàu quân sự. Daewoo hiện nay sở hữu những bí quyết về tàu ngầm mà Mỹ phải mua lại. Rõ ràng đó là kết quả của một nền giáo dục rộng lớn mà nước này đã bền bỉ thực hiện trong suốt bốn thập kỷ với nhiều tên tuổi đóng góp cho khoa học đóng tàu toàn cầu. Có thể thấy ngay những thành tựu mà liên doanh Hyundai-Vinashin Nha Trang đã gặt hái được trong quản lý sản xuất và công nghệ từ công ty mẹ tại Mipo nhưng người chủ đầu tư hình như chẳng học hỏi được gì ngoài là người chịu đựng ô nhiễm nặng nề do không có biện pháp khống chế từ đầu!      (Còn tiếp )        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vải thiều Lục Ngạn: Lựa chọn nào ngoài thị trường Trung Quốc?      Với nhiều nỗ lực đăng ký sở hữu trí tuệ, cải tiến công nghệ sau thu hoạch để mở rộng thị trường, nhưng vải thiều Lục Ngạn vẫn chỉ có thể xuất khẩu sang Trung Quốc là chính. Vì sao?    Nỗ lực mở rộng thị trường…  Tỉnh Bắc Giang hiện đang kì vọng rằng, đến tháng 9 năm nay, vải thiều Lục Ngạn sẽ có được bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Nhật Bản. Đây là một trong ba đặc sản của Việt Nam, bên cạnh thanh long Bình Thuận và cà phê Buôn Mê Thuột nằm trong dự án hợp tác về Chỉ dẫn Địa lý được ký kết giữa Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam và Cục Công nghiệp thực phẩm thuộc Bộ Nông, Lâm và Ngư nghiệp Nhật Bản.  Những sản phẩm nào được bảo hộ ở các thị trường khó tính nghĩa là nó đã vượt qua những quy trình kiểm định, kiểm soát ngặt nghèo về chất lượng sản phẩm lẫn quy trình trồng và chăm sóc. Chính vì vậy, việc thuyết phục phía đối tác Nhật Bản rằng Việt Nam sẽ đạt được những điều đó là một thách thức to lớn. Trước đây, nhờ vốn tài trợ từ chính phủ Pháp, Việt Nam từng đăng kí bảo hộ được chỉ dẫn địa lý cho nước mắm Phú Quốc ở tất cả các nước thành viên trong liên minh châu Âu EU nhưng quá trình công nhận kéo dài tới năm năm. Tuy nhiên, nếu được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Nhật Bản, cánh cửa xuất khẩu vải Lục Ngạn vào không chỉ thị trường nước này mà cả các thị trường có giá trị khác như sẽ hết sức rộng mở và vải sẽ bán được giá hơn. Hiện nay, giá mỗi quả vải trong các siêu thị Nhật Bản lên đến 60 nghìn đồng! Sở KH&CN Bắc Giang khi được giao phụ trách quản lý dự án này đã nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý sớm nhất (hơn hai sản phẩm còn lại của Việt Nam) mà phía Nhật Bản yêu cầu. Họ cũng vừa đón đoàn khảo sát của nước này vào tháng 7/2018 tới Lục Ngạn và đang chờ một “chuyến thăm” khác trong những tháng tới.  Đây không phải là nỗ lực đầu tiên của tỉnh Bắc Giang nhằm mở rộng việc xuất khẩu vải thiều Lục Ngạn ra ngoài thị trường Trung Quốc. Mỗi năm, mùa vải thiều ở Lục Ngạn chỉ kéo dài vỏn vẹn trong một tháng, từ khoảng 10/6 đến 20/7 với sản lượng rất lớn, lên tới gần 200 nghìn tấn và áp lực hái xong phải tiêu thụ ngay trong ngày, nếu không thì quả xấu mã. Theo công bố của tỉnh Bắc Giang, 50% sản lượng vải thiều của tỉnh này được xuất sang Trung Quốc nhưng theo lời kể của Chủ tịch hội sản xuất và tiêu thụ vải thiều huyện Lục Ngạn, ông Bùi Xuân Sinh, cho rằng con số thực tế cao hơn rất nhiều và chủ yếu là theo đường tiểu ngạch. Có những hội viên của ông mỗi ngày xuất hàng nghìn tấn vải thiều qua các cửa khẩu ở Lạng Sơn. Nhưng dễ hiểu, tỉnh Bắc Giang không muốn chỉ phụ thuộc vào một đối tác vì quá rủi ro.  Trước đó, tỉnh này đã đăng ký nhãn hiệu tập thể cho vải thiều Lục Ngạn trên 8 quốc gia bao gồm: Mỹ, Úc, Singapore, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc. Lục Ngạn cũng được Bộ Nông nghiệp Mỹ cấp 18 mã số vùng trồng cho gần 400 hộ sản xuất vải thiều, tương đương với hơn 200 ha vào thị trường nước này, nghĩa là vải từ các vùng này đương nhiên có thể nhập khẩu vào Mỹ. Vào năm 2017, huyện Lục Ngạn đã có dự án tài trợ cho 32 hộ triển khai phương thức canh tác theo chuẩn GlobalGap (đến nay đã hết hạn) và năm nay lại triển khai trên 40ha khác, dù “chi phí đắt và chỉ được một năm” với mục tiêu “chuẩn bị trước” cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Nhưng mặc dù “trải thảm đỏ” trước, sản lượng vải thiều vào những thị trường này vẫn “chỉ 6000 – 10.000 tấn, rất là nhỏ”, theo lời của Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Lục Ngạn, Tăng Văn Huy  …nhưng không khả thi  “Chỉ sợ mình không chế biến được thôi chứ không phải là không có khách hàng” – Ông Nguyễn Hữu Tuyết, Phó TGĐ Công ty Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn cầu (tiền thân là công ty xuất nhập khẩu Bắc Giang) đưa ra một thực tế bất ngờ. Công ty của ông là một trong số dưới 10 công ty ở Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ vải thiều Lục Ngạn vào thị trường EU và Nhật Bản trong nhiều năm.    Nhân viên của công ty Xuất nhập khẩu Toàn cầu đang bóc vỏ vải để làm cùi cấp đông. Đây là vải đông lạnh từ tháng 6/2018, ông Nguyễn Hữu Tuyết, Phó TGĐ công ty cho biết, một khi đã để kho một năm rồi mới chế biến thì lợi nhuận không còn đáng kể. Ảnh: Hoàng Nam.  Mặc dù nhu cầu tiêu thụ vải thiều từ các thị trường trên có thể lớn nhưng con đường xuất khẩu vải thiều vào các quốc gia này rất “chông gai”. Nếu muốn xuất khẩu quả vải tươi thì bắt buộc phải tiến hành theo đường thủy bởi, theo đường hàng không thì chi phí vận chuyển quá cao. Công ty Rồng Đỏ ở phía Nam vào năm 2015 đã chào hàng một tỷ tấn vải thiều Lục Ngạn sang Mỹ nhận ra rằng, chi phí bỏ ra để đưa quả vải qua đường hàng không đã là 8 USD/kg (mà trong đó 60% là tiền vận chuyển), trong khi loại quả này nhập khẩu vào Mỹ từ Trung Quốc, Mexico chỉ có giá là 4 USD, không thể cạnh tranh nổi. Nhưng nếu vận chuyển bằng đường thủy, vải nào còn tươi sau khi mất tới 4-6 tuần để đặt chân tới châu Âu?  Hiện nay, chỉ có ba sản phẩm vải có thể bán được sang các thị trường này đó là quả vải đông lạnh, cùi vải đông lạnh (quả vải nguyên và cùi vải được cấp đông ở nhiệt độ từ -18oC đến -25oC); cùi vải ngâm nước đường đóng hộp sắt và puree vải, cho phép giữ nguyên 90% chất lượng trong 24 tháng. Nhưng quá trình sơ chế những sản phẩm này lại đòi hỏi sức ép nhân công rất lớn. Ông Tuyết cho rằng, hiện nay, chưa có dây chuyền tự động nào có thể bóc cùi vải, bỏ hạt. Mỗi mùa vải đến, nhân lực của công ty từ 60 người phải tăng lên 200 người để bóc vải mới kịp đơn hàng cho khách. Kể cả dây chuyền làm puree có bóc vỏ vải tự động với công suất từ 1 đến 3 tấn/h vẫn cần nhân công bứt cuống vải thì mới bóc sạch vỏ 100%.  Khác với nhiều loại quả khác, quả vải một khi đã vặt từ trên cây xuống là ngừng chín và sẽ bị ô xy hóa, giảm chất lượng nhanh chóng theo thời gian. Đặc tính này khiến thời gian sơ chế vải rất ngắn – chỉ ba ngày sau mỗi đợt thu mua và thậm chí những công ty có nhà máy ở xa như Nafoods (Nghệ An) còn không kịp đưa về để làm quả cấp đông và cùi đông lạnh, chỉ có thể làm puree vải. Hơn nữa, các công ty cũng chỉ thu mua được vải trong 20 ngày đầu vụ để đáp ứng đúng gu của khách hàng – đảm bảo cùi vải giữ được màu trắng muốt sau khi cấp đông và không bị chát. Kết cục là, các công ty cũng chỉ dám chế biến một số lượng vải hạn chế để cân đối số lượng nhân công, thời gian chế biến cũng như chi phí bảo quản thành phẩm. Càng tăng năng suất thì chi phí càng lớn mà chưa chắc đã có lãi, đặc biệt là có nhiều khách hàng có xu hướng lấy hàng muộn. Ông Tuyết chia sẻ rằng, công ty của ông mỗi năm chỉ xuất khẩu khoảng 300 tấn vải thiều đi các nước khác nhau trên thế giới. Năm nay, có đối tác từ bên Úc đề xuất mua 100 tấn vải thiều đông lạnh nhưng ông chỉ dám nhận một nửa số đó.  Một công nghệ bảo quản vải 30 ngày sẽ phần nào giảm bớt những áp lực nói trên. Tuy nhiên, đã có nhiều thử nghiệm nhưng không thành công, cả về mặt công nghệ lẫn về mặt thương mại. Lí do là bởi vải thiều có hai lớp vỏ: một lớp vỏ cứng bên ngoài và một lớp vỏ giấy bên trong nên xử lý bảo quản cho hai lớp vỏ này với tính chất hoàn toàn khác biệt nhau không hề đơn giản. Năm 2015, Bộ KH&CN đã tiếp nhận công nghệ đông lạnh nhanh CAS, giao cho Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng nhưng mới chỉ bảo quản vải ở quy mô phòng thí nghiệm và chi phí cho dây chuyền rất đắt đỏ, khó có khả năng thu hồi vốn. Sau đó một năm, Sở KH&CN Bắc Giang đã tài trợ cho Viện Hóa học, viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam thực hiện đề tài về công nghệ bảo quản MAP (công nghệ đóng gói trong màng nhựa) giúp giữ vải tươi trong bốn tuần nhưng cũng không thể áp dụng với một sản lượng lớn.  Công ty của ông Tuyết từng là nơi thử nghiệm cho hàng chục viện, trường khác trong suốt 20 năm nay, từ Viện Cơ điện, Viện Bảo quản sau thu hoạch, Viện Rau hoa cho đến Đại học Nông Lâm Bắc Thái và Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhưng vẫn chưa có một giải pháp nào cho bài toán đau đầu này. “Chỉ cần bảo quản một tháng, giữ được chất lượng 90% và tỉ lệ hỏng 7% cũng đã thành công lắm rồi nhưng chưa đơn vị nào đảm bảo được”– Ông Tuyết nói.  Hiện nay, Bộ KH&CN kết hợp với Sở KH&CN tỉnh Bắc Giang tài trợ cho Công ty Xuất nhập khẩu Thực phẩm toàn cầu 50% chi phí dây chuyền bảo quản vải của công ty Juran, Israel (công nghệ xử lý nhiệt đột ngột và sử dụng axit hữu cơ để đảm bảo màu vỏ quả) với kì vọng sẽ giữ được vải tươi từ 4 đến 6 tuần. Ông Tuyết đã thử nghiệm công nghệ này vào cuối vụ vải năm 2018 nhưng chưa thành công. Năm nay ông sẽ thử lại, nhưng ông không chắc chắn về khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp. Kể cả khi công nghệ Juran giúp tăng thời gian sơ chế thêm một tháng nữa thì: “phải tính toán xem thiết bị này còn dùng được vào việc gì khác nữa. Nếu chỉ dùng trong 20 ngày của mùa vải rồi xếp xó thì cũng không thể nào chịu được”.    Vải thiều Lục Ngạn bày bán ở siêu thị Thái Lan  Đến đây, hẳn người đọc sẽ đặt ra câu hỏi, vậy tại sao không đa dạng hóa thêm nữa các sản phẩm đến từ vải? Câu trả lời là: khách hàng không cần. Công ty của ông Tuyết cũng đã tính đến sản phẩm vải sấy, sử dụng công nghệ hiện đại như Vinamit, nhưng không khách hàng nào ngỏ ý quan tâm. Kể cả sản phẩm nước ép vải cũng không dễ gì tìm đầu ra.  Điều tốt nhất có thể làm  Khi chúng tôi đến làm việc ở huyện Lục Ngạn, từ lãnh đạo đến người dân sau bao nhiêu năm vẫn chưa hết ấn tượng với khung cảnh chợ vải quê họ. Mỗi mùa vải, dọc quốc lộ 31 và quốc lộ 279 là hàng chục km đỏ rực màu vải, trong đó có hàng trăm thương lái người Trung Quốc tới thu mua, lựa chọn những quả to, đỏ đẹp, nặng cân đưa lên container mang về với giá tương đương với tiền bán cho các công ty xuất khẩu sang Mỹ, Nhật. Ông Bùi Xuân Sinh so sánh vải đưa về các thành phố ở Việt Nam như Hà Nội, chỉ đáng là hàng loại 2, 3 so với hàng xuất sang Trung Quốc.  Dù muốn hay không, Trung Quốc vẫn sẽ là thị trường chính, thị trường tập trung của vải thiều Lục Ngạn. Tại sao lại như vậy? Với năng lực bảo quản hiện giờ, Việt Nam chỉ có thể tiêu thụ trong nước và xuất khẩu vải tươi sang các nước lân cận như trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, nhưng so với Trung Quốc, thị trường này chỉ như muối bỏ biển. Đó còn chưa kể các thị trường này vẫn có nhiều quy định ngặt nghèo về chất lượng và dư lượng thuốc trong thực phẩm nhưng Trung Quốc thì không.  Ông Sinh cho rằng, Trung Quốc là người bạn hàng “dễ tính nhất”: chẳng cần kiểm dịch, không cần truy xuất nguồn gốc mà chỉ cần nhìn bằng cảm quan, vải to, đỏ, đẹp là họ mua. Hơn nữa, họ trả giá cao và đàm phán trực tiếp với người nông dân chứ không thông qua bất kì khâu trung gian nào. Kể cả vải khô, vẫn được sấy bằng phương pháp thủ công, khó mà có thể vào được thị trường các quốc gia khó tính do sấy bằng than đá, vẫn được Trung Quốc thu mua với giá cao. Chính vì vậy mà trong kế hoạch tìm cách tiêu thụ vải thiều của tỉnh Bắc Giang và của huyện Lục Ngạn, rất dễ hiểu khi họ vẫn lấy thị trường này là trọng tâm.  Năm ngoái, huyện này đã tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều tại thị xã Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc, tài trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam sang để giới thiệu và quảng bá sản phẩm đồng thời cũng mời các cơ quan chức năng và doanh nghiệp phía Trung Quốc tới Bắc Giang để tham gia Diễn đàn kinh tế và sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm nông sản chủ lực, đặc trưng của tỉnh.  Khi phóng viên của báo Khoa học và Phát triển/Tia Sáng tới huyện Lục Ngạn vào giữa tháng 4, chính quyền huyện và Hiệp hội sản xuất và tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn đang tiến hành tập huấn cho người dân về chính sách nhập khẩu của Trung Quốc và những yêu cầu về bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc sẽ được nước này siết chặt trong những năm tới dành cho cả tiểu ngạch và chính ngạch.  Nếu có điều gì đáng lo ngại, thì đó là những nội dung để tập huấn mới chỉ là “dự kiến”, chưa chắc đã đúng với thực tế. Ông Bùi Xuân Sinh cho rằng, trong tương lai, rất có thể Trung Quốc sẽ chỉ chấp nhận nhập khẩu vải thiều Lục Ngạn từ những hộ được chính quốc gia này cấp mã vùng trồng. Và làm như thế nào để cấp mã vùng trồng? Hơn nữa, với quy định chưa rõ ràng về tem nhãn, vải thiều Lục Ngạn sau khi đi qua cửa khẩu sẽ mang một tên khác và người hưởng thụ giá trị chính của nó có thể không phải là nông dân Việt Nam. Để những thông tin này được rõ ràng, sự tham gia của chính quyền huyện Lục Ngạn là không đủ mà còn cần cả các cơ quan Trung ương trong việc đàm phán với Trung Quốc.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/vai-thieu-luc-ngan-lua-chon-nao-ngoai-thi-truong-trung-quoc/2019042509523302p1c785.htm    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vai trò của các nhà khoa học nữ giữa những sáng chế      Số lượng các nhà sáng chế nữ quá ít so với các nhà sáng chế nam, và hóa ra điều này ảnh hưởng đến những người phụ nữ khác trên toàn thế giới.    Giáo sư Đại học MIT Linda Griffith, người từng đoạt giải thưởng “Genius” McArthur, đã gây dựng được một sự nghiệp thành công với tư cách là nhà khoa học và nhà sáng chế, mà tiêu biểu nhất là công trình cấy ghép tai người trên chuột. Hiện tại, cô dành cả ngày để giải mã các cơ chế sinh học cơ bản của bệnh lạc nội mạc tử cung, một tình trạng xảy ra khi các tế bào nội mạc tử cung phát triển bên ngoài tử cung của phụ nữ. Lạc nội mạc tử cung có thể gây ra những cơn đau dữ dội, nhưng các bác sĩ thường bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của Griffith và cả cuộc sống của hơn 5 triệu phụ nữ khác tại Mỹ.      Các nghiên cứu và sáng chế của Griffth có thể cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe của phụ nữ. Nhưng vấn đề là cô ấy còn nổi bật vì một lý do khác: Cô ấy là phụ nữ. Vào năm 2020, trong số các nhà phát minh Mỹ nhận được bằng sáng chế chỉ có 12,8% là phụ nữ, và xuyên suốt lịch sử, các nhà khoa học nam đã bỏ qua những tình trạng như lạc nội mạc tử cung.        Giáo sư Đại học MIT Linda Griffith, người từng đoạt giải thưởng “Genius” McArthur. Ảnh: MIT     Các nhà khoa học nam có xu hướng xem nhẹ hoặc thậm chí hạ thấp nhu cầu y tế của phụ nữ. Kết quả là những đổi mới sáng tạo chỉ tập trung chủ yếu vào những gì mà nam giới chọn để nghiên cứu. Tôi* và các đồng nghiệp – John-Paul Fergusons, Sampsa Samila đã chỉ ra trong một nghiên cứu mới vừa công bố, rằng các bằng sáng chế về y sinh ở Mỹ do phụ nữ tạo ra thường mang lại lợi ích cho sức khỏe của phụ nữ cao hơn 35% so với các sáng chế y sinh do nam giới tạo ra.        Những con số biết nói     Để xác định sáng chế nào tập trung vào nữ, tập trung vào nam hay trung lập, chúng tôi đã phân tích tiêu đề, phần tóm tắt và phần đầu bản tóm tắt của 331.504 bằng sáng chế y tế trong chỉ mục văn bản y tế của Thư viện Y khoa Quốc gia. Trình lập chỉ mục sử dụng công nghệ học máy để phân loại chủ đề của tài liệu, bao gồm việc tài liệu đó tập trung nghiên cứu đối tượng nam hay nữ.     Dữ liệu của chúng tôi tiết lộ rằng sáng chế của các nhóm nghiên cứu mà thành viên chủ yếu hoặc hoàn toàn là nam giới có nhiều khả năng tập trung vào nhu cầu y tế của nam giới hơn. Chúng tôi đã điều tra khoảng thời gian từ 1976 đến 2010 và nhận ra rằng các nhóm có thành viên đa số là nam giới có xu hướng tạo ra hàng trăm sáng chế tập trung vào nhu cầu của nam giới hơn là những sáng chế tập trung vào nhu cầu của phụ nữ. Các nhà sáng chế nam này thường xin cấp bằng sáng chế đề cập đến các chủ đề như “cương dương”, “tuyến tiền liệt” hơn là “mãn kinh” hay “cổ tử cung”. Các nhà sáng chế nam cũng có xu hướng nhắm đến các bệnh và tình trạng như Parkinson và những chứng phổ biến ở nam giới hơn như chứng ngưng thở khi ngủ.      Ngược lại, các sáng chế của các nhóm nghiên cứu có thành viên chủ yếu hoặc hoàn toàn là nữ thường chú trọng vào nhu cầu của phụ nữ hơn. Những sáng chế này thường tập trung giải quyết các tình trạng như ung thư vú và tiền sản giật sau sinh và các bệnh phổ biến ở phụ nữ hơn như đau cơ xơ hóa và lupus. Tuy nhiên, vào năm 1976, chỉ có 6,3% trong số các bằng sáng chế là do những nhóm nghiên cứu có thành viên nữ nhiều hơn thành viên nam tạo ra. Đến năm 2010, con số này có tăng nhưng vẫn chỉ dừng ở 16,2%. Kết quả là, dù các sáng chế của phụ nữ có xu hướng tập trung vào nữ hơn, nhưng chúng lại không nhiều, vì có rất ít nhà sáng chế là phụ nữ.      Chúng tôi nhận thấy rằng trong các nhóm sáng chế có thành viên thuộc nhiều thành phần giới tính, số lượng sáng chế y sinh từ năm 1976 đến năm 2010 vẫn tập trung vào nhu cầu của nam giới nhiều hơn là nữ giới. Tính toán của chúng tôi cho thấy rằng nếu số lượng nhà sáng chế nam và nữ ngang bằng nhau trong hiện tại, thì chúng ta sẽ có thêm 6.500 sáng chế tập trung vào phụ nữ. Tính theo tỷ lệ phần trăm, sự ngang bằng này sẽ dẫn đến việc gia tăng 12% các sáng chế tập trung vào phụ nữ.      Hiểu về nhu cầu của phụ nữ     Ngoài ra, việc có nhiều phụ nữ tham gia sáng chế cũng mang lại nhiều lợi ích. Các nhà sáng chế nữ thường có xu hướng xác định làm thế nào cải thiện và điều chỉnh các phương pháp điều trị hiện có cho các bệnh không phân biệt giới tính như đau tim, tiểu đường và đột quỵ sao cho phù hợp với nhu cầu của phụ nữ. Thật vậy, phụ nữ thường thử nghiệm xem sáng chế của họ ảnh hưởng đến nam giới và nữ giới khác nhau như thế nào: ví dụ, xem xét một loại thuốc có nhiều tác dụng phụ ở nữ hơn là ở nam hay không.      Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi phát hiện ra rằng ngay cả những căn bệnh hẹp như cuồng động nhĩ, phụ nữ vẫn có thể nhìn thấy cơ hội để hướng phát minh của mình đến các nhu cầu sức khỏe cụ thể ở phụ nữ. Ngoài ra, kết quả của chúng tôi cho thấy rằng việc gia tăng số nhà sáng chế là phụ nữ sẽ giải quyết được sự chênh lệch vô hình về đối tượng được nghiên cứu này.      Việc gia tăng số nhà sáng chế nữ đang giúp thu hẹp khoảng cách. Trong 3 năm, từ 2006 đến 2010, Mỹ đã cấp nhiều bằng sáng chế tập trung vào nữ hơn nam. Trên thực tế, kể từ năm 2010, số lượng các công ty khởi nghiệp do phụ nữ thành lập đã bùng nổ, những công ty tạo ra các sản phẩm sức khỏe mới và mang tính đột phá dành cho phụ nữ, từ các loại đồ lót tiện dụng đến máy hút sữa thông minh.       Lưu ý đến những khoảng trống     Việc tăng tỷ lệ các nhà sáng chế là phụ nữ là yếu tố quan trọng để cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe của phụ nữ, nhưng nếu chỉ tăng số lượng các nhà khoa học nữ thôi vẫn chưa đủ. Cũng có trường hợp các nhà khoa học nữ gặp khó khăn trong việc thương mại hóa các ý tưởng nghiên cứu của họ hơn so với các nhà khoa học nam. Nguyên nhân đến từ nhiều phía, mà trong đó đáng chú ý là những nhận xét đầy thành kiến mà nhà khoa học nữ nữ nhận được khi cố gắng thương mại hóa các ý tưởng tập trung vào phụ nữ.      Cho dù nguyên nhân cơ bản là gì đi nữa, kết quả là trong khi gần 33% các khám phá khoa học trong năm 2020 được công bố bởi những nhóm nghiên cứu mà thành viên nữ chiếm đa số, thì trong cùng năm đó chỉ 16,2% các bằng sáng chế là do nhóm sáng chế có thành viên nữ chiếm đa số tạo ra.       Nghiên cứu cho thấy việc tăng số lượng bác sĩ da màu đã mang lại lợi ích như thế nào cho bệnh nhân da màu. Ảnh: Ron Levine/Stone via Getty Images     Chúng tôi nhận thấy rằng số công bố mang lại lợi ích cho phụ nữ của các nhà khoa học nữ nhiều hơn 12% so với số công bố của các nhà khoa học nam. Ít nhất, trong thời gian tới, việc giúp các nhà khoa học nữ thương mại hóa nghiên cứu của họ sẽ thúc đẩy số lượng các nhà sáng chế nữ và số lượng các sáng chế tập trung vào phụ nữ.      Rộng hơn, những phát hiện của chúng tôi đã nhấn mạnh rằng sự bất bình đẳng về đối tượng trong việc ai có quyền sáng chế đã dẫn đến sự bất bình đẳng về đối tượng trong việc ai có quyền hưởng lợi từ sáng chế. Một nghiên cứu gần đây cho thấy việc tăng số lượng bác sĩ da màu đã mang lại lợi ích như thế nào cho bệnh nhân da màu, và tương tự với trường hợp của bệnh nhân thuộc các nhóm thiểu số với bác sĩ thuộc các nhóm thiểu số. Điều này cho thấy thế giới không chỉ cần thêm các nhà sáng chế như Griffith của Đại học MIT mà còn cần nhiều hơn các nhà sáng chế như tiến sĩ Patricia Bath – người phụ nữ da màu đầu tiên nhận được bằng sáng chế y tế của Mỹ. Sáng chế của Bath, một phương pháp điều trị bằng laser để chữa bệnh đục thủy tinh thể, bắt nguồn từ việc bà nhận thấy người Mỹ da màu có nguy cơ bị mù cao gấp đôi người Mỹ da trắng.       Thành kiến – dù là giới tính hay chủng tộc – về việc ai sẽ tiến hành nghiên cứu và thương mại hóa các sáng chế không chỉ là vấn đề ai đang bước vào “cuộc chơi”, mà đó còn là vấn đề của việc ai được hưởng lợi từ những tiến bộ trong khoa học.      (*) Tác giả bài viết là Rem Koning, Trợ lý Giáo sư Quản trị Kinh doanh, Trường Kinh doanh Harvard     Anh Thư dịch  Nguồn:  Too few women get to invent – that’s a problem for women’s health    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của CNTT trong CMCN 4.0 ở Việt Nam      Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) được hình thành từ sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ số, vậy phải chăng công nghệ thông tin (CNTT) là mắt xích có vai trò rất quan trọng của cuộc cách mạng này? Và, là một lĩnh vực đóng góp tới 10% ngân sách nhà nước với doanh thu hàng chục tỷ USD mỗi năm, có sức tăng trưởng mạnh mẽ, thậm chí còn xuất siêu, liệu ngành CNTT của Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với thế giới trong tương lai?      CNTT không phải là lợi thế  “Cách mạng có nghĩa là thay đổi một cách toàn diện” TS. Nguyễn Ái Việt, nguyên viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, ĐHQG Hà Nội, người phát biểu đề dẫn mở đầu bài nói của mình tại buổi tọa đàm: “Công nghệ thông tin Việt Nam có thể làm gì trong cách mạng công nghiệp 4.0?”, do Tia Sáng phối hợp với Văn phòng Các chương trình KH&CN Quốc gia tổ chức gần đây. Nhận định đó của ông giống như một lời cảnh báo hơn là định nghĩa. Bất kể còn tranh cãi về sự trưởng thành đến độ tinh vi và phức tạp của công nghệ phần cứng, phần mềm kết hợp với trí tuệ nhân tạo và học máy có thể hình thành một cuộc cách mạng công nghiệp mới hay không nhưng các nhà kinh tế và công nghệ trên thế giới đều đồng tình rằng điều này sẽ tạo ra “những điều chưa từng có” ảnh hưởng sâu rộng tới kinh tế, xã hội. Nó “không chỉ thay đổi cách chúng ta làm mà thay đổi chính bản thân chúng ta”, như phát biểu của Klaus Swachb trong hội nghị thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới mà ông sáng lập.  Nếu xảy ra, cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ không chỉ giới hạn trong câu chuyện chúng ta có thể tạo ra công nghệ tân tiến gì mà phải thấy đó là sự thay đổi từ phương thức sản xuất (chẳng hạn từ dây chuyền sản xuất hàng loạt một số ít chủng loại mẫu mã cố định sang sản xuất bằng máy in 3D vừa tạo ra số lượng lớn vừa tùy biến sản phẩm theo nhu cầu riêng của mỗi cá nhân) và thay đổi cấu trúc ngành công nghiệp (có những ngành không đòi hỏi nhiều kĩ năng sẽ biến mất, chẳng hạn như gia công dệt may). “Các dây chuyền lắp ráp điện tử cho Canon hay Samsung sẽ khó có thể cạnh tranh, những người làm ở đó có thể thất nghiệp” – TS. Nguyễn Ái Việt đưa ra ví dụ minh họa cho quan điểm các quốc gia không thể giữ cách làm cũ, nếu không muốn “thua nặng nề” khi cách mạng xảy đến. Ông so sánh Việt Nam “đang ở cửa dưới”, giống như một đội tuyển “bị ép sân” trong một trận bóng đá mà “nếu không ghi bàn thì chỉ có vỡ trận”.    CNTT không phải là thế mạnh, nếu không nói là thế yếu của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp tới đây. Theo TS. Nguyễn Ái Việt, bức tranh về nội lực của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin không ấn tượng như con số về doanh thu và đóng góp vào ngân sách mà nó đưa ra. Cả ngành công nghiệp phần cứng và phần mềm của Việt Nam đều chỉ đang làm thuê ngoài (outsourcing) với kĩ năng rất đơn giản, giá trị gia tăng thấp. Ngành công nghiệp phần cứng mặc dù xuất siêu nhưng đóng góp thực vào GDP không đáng kể, dây chuyền thuộc dạng high volume – low mix (sản xuất với số lượng lớn nhưng sản phẩm ít đa dạng) và nhân lực chỉ dừng lại ở mức độ “thợ sửa chữa”. Có nguy cơ cả máy móc lẫn người thợ đều trở thành “phế thải” khi ngành công nghiệp in 3D lên ngôi. Các kĩ sư phần mềm cũng không khá hơn, phần lớn thiếu kiến thức cơ bản và không đáp ứng nhu cầu công việc, số lượng chuyên gia lại càng ít ỏi. Dịch vụ viễn thông, được cho là nội lực lớn nhất với các công ty Việt Nam chiếm hơn 90% thị trường nội địa nhưng lại “mong manh” trước sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vì họ chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển kĩ năng chăm sóc khách hàng, đa dạng hóa dịch vụ và đầu tư cho nghiên cứu phát triển.  CNTT chỉ đóng vai trò phụ trợ, vấn đề cốt lõi là sử dụng dữ liệu  Theo ông Trần Lương Sơn, người sáng lập Vietsoftware, Việt Nam không nên rơi vào hội chứng “made in Vietnam”, cảm thấy “mặc cảm, tự ti” nếu không đóng góp công nghệ nền tảng của CMCN 4.0 mà nên định vị mình là quốc gia biết “hưởng thụ thích đáng”, nghĩa là biết làm chủ những thành quả công nghệ tân tiến của thế giới nhằm tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới phục vụ xã hội và tăng năng suất lao động trên mọi lĩnh vực.  Trên thực tế, mặc dù là một trong những động lực tạo nên cuộc cách mạng nhưng vai trò của CNTT chỉ mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện, thậm chí, như TS. Việt nói, có vai trò “thậm chí không bằng cuộc cách mạng cũ” vì các sản phẩm CNTT sẽ trở nên rất rẻ và dễ tiếp cận. Những tổ chức, tập đoàn công nghệ thành công trỗi dậy trên thế giới trong mười năm trở lại đây như Google, Facebook, Amazon không bắt đầu từ việc phát triển một công nghệ thông tin tối tân nhất mà xuất phát từ việc phục vụ một nhu cầu của đời sống sao cho nhanh hơn, rẻ hơn, tốt hơn.  Trong bối cảnh đó, giải pháp cho Việt Nam hiện nay không thể chỉ đơn thuần tập trung đầu tư cho CNTT hay tăng chỉ tiêu đào tạo lập trình viên bởi “trong cuộc cách mạng này thì lập trình viên cũng mất việc như chơi” – TS. Nguyễn Ái Việt nói. Điều quan trọng hơn, theo ý kiến đa số các chuyên gia tại tọa đàm, là Việt Nam cần chuẩn bị về cơ sở vật chất và nhân lực để có thể làm chủ và đưa các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 vào trong nước. Để làm được điều đó, cần chú trọng đến tri thức mở.    Hãy hình dung với một kho dữ liệu gồm tất cả các nghiên cứu, tư liệu (tranh ảnh, bản đồ, số liệu…) trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn từ lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, của Việt Nam được công bố ở trên mạng, cho phép tất cả mọi người đều được phép truy cập, sử dụng lại và góp ý. Điều này đặc biệt quan trọng với giới khoa học, giúp các nhà khoa học định vị được các công trình nghiên cứu không chỉ trong cộng đồng những người cùng ngành mà còn khác ngành; đặc biệt với kho dữ liệu thô lớn họ có thể dễ dàng tìm kiếm, truy vấn, đưa ra những phát hiện mới, và không rơi vào tình cảnh “khảo tả”, “thấy cái cây mô tả cái rừng” như TS Trần Trọng Dương, Viện NC Hán Nôm, nhiều lần nhận định. Những nhà quản lý có thể theo dõi hiệu quả hoạt động của những cơ sở nghiên cứu, cùng những gợi ý về chính sách. Các doanh nghiệp có thể xây dựng các ứng dụng dựa trên những dữ liệu này, chẳng hạn tạo ra một chatbot (một phần mềm trí tuệ nhân tạo có thể đối thoại trò chuyện với con người) hỏi đáp về các thông tin du lịch Việt Nam hoặc tạo ra ứng dụng thực tế tăng cường, cho phép người sử dụng điện thoại hướng về một di tích là có thể thấy những thông tin về địa danh và gợi ý những địa điểm liên quan… Dữ liệu sinh ra từ những sản phẩm của nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp sẽ tiếp tục bổ sung cho kho dữ liệu ban đầu, tạo ra các ứng dụng mới hoặc những quyết định mới, tốt hơn và nhanh hơn. Hãy tưởng tượng, trong tương lai, nếu kho dữ liệu của Việt Nam có thể tương thích, liên kết với các nước khác nữa…  Từ tri thức mở…  Tri thức mở (open knowledge), cũng giống như nhiều phong trào mở khác, nói đến những tài nguyên cho phép mọi người có thể sử dụng, tái sử dụng, đóng góp một cách tự do mà không bị những rào cản không mong muốn về pháp lý, xã hội hay công nghệ giới hạn. Từ khi có internet, tri thức mở đã tạo ra những ảnh hưởng tích cực (chẳng hạn như Wikipedia) nhưng với sự phát triển của học máy, trí tuệ nhân tạo và internet của vạn vật, nó mới thực sự tạo ra những thay đổi lớn trong xã hội, chia sẻ và kết nối thông tin sâu rộng hơn giữa con người, tạo ra những giá trị mới. Phong trào này đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu lớn về mọi lĩnh vực thiết thân đến đời sống (khoa học, y tế, giáo dục, môi trường, giao thông) và tạo ra cơ chế để cộng đồng có thể tiếp cận, sử dụng và đóng góp một cách thỏa đáng.     Hệ tri thức Việt số hóa là nỗ lực đầu tiên của Việt Nam trong việc hiện thực hóa tri thức mở. Dự án này có tham vọng tập hợp các tri thức trong toàn dân theo nguyên tắc của dữ liệu mở, cho phép cộng đồng có thể vừa khai thác, vừa đóng góp vào đó. Trước mắt, các tri thức sẵn có bao gồm các văn bản pháp luật, thông tin có thể công bố công khai của các cơ quan nhà nước; các đề tài, dự án, công bố, sáng chế KH&CN; các tài liệu giáo dục. Tuy nhiên, việc tập hợp và công bố các dữ liệu trên không phải là chuyện đơn giản. Có những nơi không muốn công khai dữ liệu, chẳng hạn, công trình bách khoa toàn thư vừa được khởi động đầu năm nay có 37 quyển dự kiến sẽ được xuất bản điện tử vấp phải sự phản đối của hơn một nửa số người biên soạn. Theo họ, hơn 30 quyển liên quan đến lĩnh vực KHXH&NV không thể công bố vì “nhạy cảm chính trị” hoặc “cần giữ bản quyền cho tri thức Việt”.  Ông Lê Trung Nghĩa, cố vấn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở chia sẻ trong buổi tọa đàm rằng, hai tổ chức Land Portal (Cổng đất đai) của Phần Lan và Mekong Region Land Governance (Điều hành Đất đai Khu vực sông Mekong), ở Lào do Đức và Thụy Sĩ tài trợ khuyến nghị Việt Nam nên xây dựng và mở các dữ liệu về sở hữu đất đai, về khí tượng thủy văn… để họ có thể phân tích dữ liệu giúp Việt Nam đưa ra các giải pháp về môi trường và góp phần xử lý công bằng tài nguyên đất đai. Tuy nhiên, các chuyên gia phía Việt Nam cho rằng điều đó là rất khó vì dữ liệu tản mát hoặc không thể công bố. Theo các chuyên gia tại buổi tọa đàm, thuyết phục hay kêu gọi các cơ quan nhà nước công khai dữ liệu là chưa đủ và không mấy hiệu quả. Việt Nam cần phải có cơ sở pháp lý tốt hơn cho việc công khai thông tin, trong đó quy định rõ và cụ thể những thông tin nào phải mở cho công chúng, mở theo cách nào, những thông tin nào là bí mật, thời gian giải mật là bao nhiêu năm… Luật tiếp cận thông tin được thông qua vào đầu năm 2017 là khởi đầu của việc “tạo sức ép” cho các cơ quan chia sẻ các dữ liệu của mình.      Tri thức mở còn đòi hỏi các kho dữ liệu của cơ quan, tổ chức, khu vực này phải có khả năng tương thích, liên kết, chia sẻ với các kho dữ liệu của cơ quan, tổ chức, khu vực khác. Muốn vậy, yếu tố quan trọng nhất là “chuẩn mở”, theo ý kiến của ông Lê Trung Nghĩa. Theo đó, nhà nước phải xây dựng các tiêu chuẩn yêu cầu doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tuân thủ từ bước xây dựng kho dữ liệu cho đến các ứng dụng khai thác dữ liệu. Nếu không, những viễn cảnh về thành phố thông minh, nông nghiệp thông minh, bệnh án điện tử, giao thông thông minh…sẽ không thể thực hiện được. Lấy ví dụ, hiện nay hệ thống chính phủ điện tử của Việt Nam của 63 tỉnh thành và của TW đều được xây dựng dựa trên nguồn đóng, “mỗi nơi một kiểu”, không tương thích với nhau. Điều này không chỉ khiến số tiền đầu tư ban đầu “cao ngất trời”1 mà còn gây nhiều khó khăn, tốn kém khi muốn quản lý dữ liệu hoặc làm việc liên tỉnh sau này. Tuy nhiên, “chuẩn mở” mới chỉ là câu chuyện về kĩ thuật, quan trọng là làm sao để xóa bỏ “tâm lý cục bộ địa phương hoặc lợi ích nhóm”, theo GS.TS Phạm Thế Long, Học viện Kỹ thuật quân sự. Ông nhận thấy có những dữ liệu mà “nơi nào cũng muốn giữ”, chẳng hạn như dữ liệu căn cước của công dân, rất cần lưu thông giữa các tổ chức để mọi người có thể đăng ký các thủ tục cá nhân dễ dàng thì cả Bộ Nội vụ lẫn Bộ Công an đều không muốn chia sẻ, liên kết với nhau và với nơi khác.  Việc yêu cầu các cơ quan nhà nước tham gia vào công cuộc “tri thức mở” mới chỉ là bước đầu tiên, quan trọng là huy động được khối tư nhân tham gia xây dựng, duy trì hệ thống lưu trữ và khai thác các dữ liệu này. Đây là một quá trình lâu dài cần có sự định hướng của Nhà nước giúp họ tự điều chỉnh mô hình hoạt động của mình, thích nghi với các nguyên tắc của dữ liệu mở.    TS. Quách Tuấn Ngọc, nguyên Cục trưởng Cục CNTT, Bộ GD&ĐT, từng được biết đến là tác giả của phần mềm soạn thảo văn bản thương mại hóa đầu tiên của Việt Nam – Bked, cho rằng nhà nước không thể định hướng khối tư nhân theo kiểu cũ, can thiệp sâu vào công nghệ hoặc thị trường. Chẳng hạn như việc đặt ra chỉ tiêu phải có bao nhiêu điện thoại bàn, máy tính cá nhân/đầu người giống như chiến lược phát triển công nghệ thông tin ra đời năm 2005 là vô nghĩa (vì công nghệ luôn đi nhanh hơn quyết định của nhà quản lý, kết cục là điện thoại thông minh – một thiết bị kết hợp giữa điện thoại và máy tính ra đời và sự phổ biến của nó nằm ngoài dự tính của những người ra chính sách). Hay việc “bảo bọc” các doanh nghiệp nhà nước, ví dụ như vào năm 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông chậm cấp phép 4G là để chờ một số nơi “thu hồi vốn 3G” đã kìm kẹp sức đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp Việt Nam. Các chuyên gia cho rằng, hiện nay, Việt Nam cần có những hoạt động thúc đẩy thị trường tự do, cạnh tranh bình đẳng và xây dựng những chính sách về sở hữu, sử dụng và khai thác dữ liệu.  … Đến vốn sáng tạo  Để tận dụng và phát huy kho tri thức mở, ông Lê Trung Nghĩa cho rằng, cần phải thay đổi cách thức giáo dục để tạo ra những thế hệ có tư duy khoa học mở, sáng tạo mở. Trước sự thay đổi chóng mặt của công nghệ số, ngành nghề nào cũng đứng trước nguy cơ bị thay thế, vì vậy nhu cầu nhân lực trong tương lai đòi hỏi người làm việc phải đa dạng cả về kĩ năng và kiến thức. Lấy ví dụ về ngành lập trình, TS. Nguyễn Ái Việt cho biết, một lập trình viên trong tương lai sẽ phải biết cách tích hợp nhiều công nghệ, xây dựng hệ thống lớn với nhiều tương tác hơn. Sự phát triển của công nghệ số đã đạt đến mức cho phép sự đan xen, kết nối công nghệ của nhiều lĩnh vực khác nhau (chẳng hạn như chỉnh sửa gene là sự kết hợp giữa CNTT và y sinh) đòi hỏi người lập trình còn phải có kiến thức khoa học cơ bản vững chắc về vật lý, sinh học… Ngoài ra, TS Trần Lương Sơn cho rằng, dựa trên định vị mình là một quốc gia “thụ hưởng” công nghệ, Việt Nam cần xác định phân khúc đào tạo nhân lực biết cách đóng gói công nghệ, tạo ra sản phẩm và nhân lực tham gia nghiên cứu công nghệ mới với thế giới, đặc biệt là những công nghệ liên quan đến an ninh, chủ quyền của đất nước.      Tuy nhiên, TS. Nguyễn Ái Việt e ngại rằng, khái niệm cách mạng công nghiệp 4.0 được đưa ra chỉ như một phong trào và nhà nước không theo đuổi đến cùng, dẫn tới thiếu đầu tư lâu dài cho hệ thống cơ sở hạ tầng và nghiên cứu phát triển, giáo dục đào tạo để cho phép có sự thu thập, trao đổi và xử lý dữ liệu thuận tiện trên phạm vi cả nước. Nhìn ở một khía cạnh lạc quan, tận dụng được đặc điểm kết nối và chia sẻ của cuộc cách mạng 4.0 có thể tạo ra sự thay đổi rất tích cực mà cụ thể là giúp san bằng khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa (vì họ đều có thể tiếp cận với tri thức mở) và thúc đẩy sự chia sẻ tri thức, tạo ra những nhóm tổ chức xã hội có khả năng tạo ra những đổi mới sáng tạo, thay đổi xã hội chứ không phải là những “trí thức bị cô lập trong tháp ngà”. Khi đó, Việt Nam mới có nội lực thật sự trong cuộc cách mạng này: “Tính sáng tạo mới là lợi thế, mới là vốn chứ không phải là CNTT” – TS. Nguyễn Ái Việt khẳng định.   ——–  1 Đáng lẽ, nếu có chuẩn mở thì chỉ cần đầu tư một lần: sử dụng tài nguyên của một mô hình, một nơi để nhân rộng sang nhiều mô hình, nhiều nơi khác nhau còn hiện nay là đầu tư gấp nhiều chục lần.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vai trò của công suất thặng dư trong sự phát triển công nghiệp Thụy Điển      LTS. Khi đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta luôn kỳ vọng rằng đây là một cơ hội để Việt Nam có thể bước lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, đó cũng là một thách thức rất lớn. Bằng chứng thực tiễn cho thấy nhiều quốc gia đã không thể vượt qua những thách thức nên phải gánh chịu những tác động tiêu cực từ việc mở cửa nền kinh tế của mình, trong khi một số nước đã tận dụng được những cơ hội quý báu để trở thành các cường quốc. Thụy Điển là một trong số đó. Kinh nghiệm thành công của nước bắc Âu này có thể là một bài học quý cho Việt Nam. Với mục tiêu cung cấp thêm thông tin về con đường dẫn đến thành công một trong những quốc gia được xem là có đời sống xã hội lý tưởng nhất thế giới.  Tia Sáng xin giới thiệu loạt bài viết về “Vai trò của công suất thặng dư trong việc đạt được và duy trì thành công: Bằng chứng từ sự phát triển công nghiệp Thụy Điển” của giáo sư Ari Kokko thuộc Trường Kinh tế Stockholm, một trong những học giả nổi tiếng về thương mại quốc tế và chính sách công nghiệp. Ông cũng là người đã có nhiều năm gắn bó với Việt Nam và có nhiều nghiên cứu về quá trình chuyển dịch ở các các nền kinh tế chuyển đổi.    Thụy Điển nằm trong số những nền kinh tế giàu nhất và phát triển nhất ngày nay, nhưng người ta thường quên rằng cách đây 150 năm, đó cũng là một trong những đất nước nghèo nhất tây Âu. Sự chuyển biến đã làm thay đổi đất nước từ một nền kinh tế nông nghiệp phát triển yếu kém thành một nhà nước phúc lợi tiên tiến này mãi đến những năm 1850 mới bắt đầu diễn ra, nhưng sự phát triển tiếp theo vô cùng nhanh chóng.   Điều gì giải thích cho quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng đến thế khi mà chỉ trong một vài thập niên ở nửa sau thế kỷ 19, Thụy Điển đã chuyển biến từ một nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu và phát triển yếu kém thành một nền kinh tế công nghiệp dẫn đầu trong một số lĩnh vực phát triển công nghệ? Thứ hai, làm thế nào một số ngành công nghiệp thâm dụng nguyên liệu thô đi tiên phong trong quá trình công nghiệp hóa – cụ thể là ngành giấy và bột giấy – lại có thể duy trì được vị thế dẫn đầu mãi cho đến ngày nay, bất chấp những thay đổi to lớn về công nghệ, thị trường và điều kiện cạnh tranh.  Yếu tố dẫn đến thành công  Thử thách về phát triển chung qui là sự dịch chuyển cơ bản trong cơ cấu sản xuất của Thụy Điển, từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp. Sự chuyển dịch này đã được xử lý thành công vì đặc điểm của những điều kiện sẵn có trước cú đột phá công nghiệp là thặng dư công suất về chất lượng và tính tinh vi của các thể chế và nguồn vốn nhân lực. Xã hội Thụy Điển đã bắt đầu hiện đại hóa trong một vài lĩnh vực từ trước khi xảy ra cách mạng công nghiệp, và những thay đổi trong nông nghiệp, khoa học, giáo dục và thể chế tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển theo sau.             Hoàng hậu Thụy Điển thăm nhà máy rượu ‘Absolut’        Để duy trì mức sống trong bối cảnh như khi vừa mới bắt đầu thì không cần thiết phải có những cải thiện nêu trên. Tuy nhiên, khi quá trình công nghiệp hóa được châm ngòi bởi các phát minh đổi mới kỹ thuật từ nước ngoài và nhu cầu tăng mạnh của các nơi khác ở châu Âu đối với nguyên liệu thô, thì Thụy Điển ở vào vị thế vững vàng để khai thác các cơ hội mới.  Người ta có thể cho rằng thặng dư công suất là điều kiện tiên quyết để thành công, vì các biến cố cụ thể cuối cùng châm ngòi cho sự cất cánh công nghiệp là không thể dự đoán được. Thụy Điển có thể sử dụng kinh nghiệm của các nền kinh tế tiên tiến hơn như sự dẫn dắt chỉ đạo cho việc hiện đại hóa các thể chế, luật pháp, và kỹ năng kỹ thuật. Gương điển hình ban đầu để so sánh và noi theo là quan trọng, vì nó mang lại một công cụ để quyết định xem nên đầu tư nguồn lực khan hiếm sẵn có vào đâu để phát triển công suất.  Ngược lại, tình trạng ưu việt bền vững của ngành lâm nghiệp phụ thuộc vào các cuộc cải cách thể chế và đầu tư tri thức thuộc loại khác. Ở đây, thử thách không phải là sự dịch chuyển cơ bản trong mô hình sản xuất, mà đúng hơn là những thay đổi liên tục và tăng dần trong điều kiện cạnh tranh.  Người ta có thể nhận ra những thử thách chính của ngành và triển khai các giải pháp về thể chế hoạch định theo những thử thách cụ thể này. Trong môi trường có thể dự đoán được nhiều hơn này, ngành lâm nghiệp có thể tập trung đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng nhất đối với sức cạnh tranh mà cụ thể là giáo dục, và nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên, một mức độ công suất dư thừa nào đó (xét theo năng lực) vẫn cần thiết. Để duy trì vị thế dẫn đầu, công nghiệp Thụy Điển cần nhiều tri thức hơn so với các nước khác để phản ứng nhanh hơn trước điều kiện thị trường thay đổi.    Đâu là sự khác biệt?  Một số bài học liên quan đến sự khác biệt giữa hai trường hợp thảo luận nêu trên, sự thặng dư công suất cũng như tầm quan trọng giáo dục và nghiên cứu phát triển được rút ra dưới đây.  Trường hợp thứ nhất, thặng dư công suất liên quan đến sự dịch chuyển mô hình cơ bản, trong đó Thụy Điển tiến một bước đi dứt khóat trong sự phát triển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp. Không thể dự đoán ngành cụ thể nào hay hoạt động cụ thể nào sẽ mang lại sức đẩy chính để thay đổi, nhưng sự chuyển đổi đã thành công vì công suất thặng dư đã được tạo ra trong nhiều lĩnh vực.            Trong nhà máy ô tô Volvo ở Goteborg.         Có lẽ câu hỏi khó nhất nảy sinh trong trường hợp này là làm thế nào các nước khác (hay các công ty riêng lẻ) có thể chuẩn bị sẵn sàng trước một biến cố tương tự. Câu trả lời thường là xây dựng công suất thặng dư trong nguồn vốn nhân lực và vốn xã hội, nhưng cũng nên lưu ý rằng công suất này có một chi phí hiển nhiên xét theo tính hiệu quả tĩnh.  Những nước giàu hơn thường được chuẩn bị tốt hơn trước những tình huống bất ngờ. Về một nhận định có tính thực hành hơn, có lẽ người ta có lý do để tập trung một cách hệ thống hơn vào việc so sánh và noi theo các chuẩn mực công nghệ và giải pháp thể chế, để nhận diện các cách tiếp cận hiệu quả khác nhau trước những thử thách phổ biến. Trong khi không một chiến lược hiện hữu nào có thể phù hợp hoàn hảo với những tình huống mới hình thành bởi sự đổi mới triệt để, rõ ràng là những quốc gia hay những doanh nghiệp quen thuộc với một số chiến lược khác nhau sẽ có những lợi thế rõ rệt trong việc điều chỉnh trước tình hình mới.  Trường hợp thứ hai, tầm quan trọng giáo dục và nghiên cứu phát triển tập trung vào các yếu tố xác định sự tăng trưởng bền vững trong ngành lâm nghiệp Thụy Điển. Công suất thặng dư ít nhiều là cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh của ngành, nhưng người ta có thể biết trước công suất này cần thiết trong những lĩnh vực nào. Vì thế, đầu tư tri thức có thể được tập trung và phối hợp để khai thác lợi thế kinh tế theo qui mô và tối đa hóa hiệu quả đầu tư. Các chiến lược nghiên cứu phát triển của nhiều ngành trưởng thành có thể đi theo một phương thức tương tự.  Tuy nhiên, liệu việc tập trung có đáng mong đợi trong dài hạn hay không phụ thuộc vào việc người ta có thể dự đoán được sự phát triển công nghệ và thị trường đến mức nào. Điều này liên quan mật thiết với thế lưỡng nan của Schumpeterian về hiệu quả tĩnh so với hiệu quả động (Rosenberg 1994, chương 3; Schumpeterian 1943).  Phần lớn các thảo luận chính sách về việc chọn lựa giữa một bên là cạnh tranh và hiệu quả tĩnh với một bên là sự tập trung thị trường và hiệu quả động, người ta tập trung chú ý vào việc giảm chi phí có thể đạt được thông qua đầu tư nghiên cứu phát triển gia tăng. Chi phí càng giảm nhiều thì tổn thất phúc lợi người tiêu dùng do để cho (hay thậm chí khuyến khích) cơ cấu thị trường độc quyền nhóm sẽ càng ít đi.  Một yếu tố khác mà người ta nên xem xét trong việc hoạch định chính sách: mức độ dự đoán được phát triển công nghệ. Khi các điều kiện cạnh tranh tương lai xem ra khó mà dự đoán được – ví dụ khi công nghệ tương đối non trẻ hay thường xuyên phải thay đổi – việc tập trung quyền lực ra quyết định kinh tế và các nỗ lực R&D xem ra sẽ rủi ro nhiều hơn.  Thay vì thế, trong những trường hợp này, chính sách phù hợp hơn là khuyến khích nhiều chiến lược nghiên cứu phong phú, tăng khả năng có một vài chiến lược trong số đó sẽ thành công (Campbell 2004)*.  Có một nhận xét về nhu cầu nghiên cứu sâu xa hơn cũng phù hợp ở đây. Trong trường hợp Thụy Điển, lực đẩy để nâng cao hệ thống phát minh đổi mới xuất phát từ những thay đổi chính sách: một hiến pháp mới vào đầu thế kỷ 19 đã lát đường cho các tư tưởng tự do mới và cải cách thể chế. Người ta không rõ có phải những thay đổi về mục tiêu chính trị như thế là cần thiết để kích hoạt sự tích luỹ công suất dư thừa ở mức độ vĩ mô hay không: phân tích các trường hợp thành công khác có thể sẽ giúp chúng ta hiểu biết thêm.    Ngụ ý cho những nước đi sau  Việc tìm hiểu thêm những trường hợp mà có công suất thặng dư nhưng không dẫn đến thành công như Thụy Điển cũng rất bổ ích. Ứng với vai trò của cơ hội và tình trạng bấp bênh không chắc chắn trong quá trình phát triển, có thể có những ví dụ về những quốc gia và những ngành không sử dụng được công suất thặng dư của họ: những yếu tố nào ngăn cản việc đạt được những thành quả vững chắc?  Nghiên cứu về các nền kinh tế chuyển đổi có thể đặc biệt thú vị nhìn từ góc độ này. Các nền kinh tế mệnh lệnh đẩy mạnh những thể chế – cả chính thức và phi chính thức – khác với các nền kinh tế thị trường. Trong quá trình chuyển đổi, nhiều nước phải phấn đấu để củng cố những thể chế thị trường còn yếu kém hay thiếu sót.  Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, các nền kinh tế chuyển đổi có thể có công suất nhiều hơn so với mức cần thiết, ứng với những thử thách hiện nay. Điều gì phân biệt giữa công suất dư thừa hữu ích và công suất dư thừa vô ích? Cuối cùng, các nghiên cứu ở cấp độ công ty và ngành về những thay đổi của các mô hình kỹ thuật – hay những trường hợp phi tuyến tính trong phát triển kỹ thuật – sẽ hết sức thú vị để tìm hiểu về các chiến lược và các đặc điểm công ty nào có liên quan đến thành công. Những phát hiện từ tình huống nghiên cứu của Thụy Điển thảo luận trong bài viết này cho thấy vai trò quan trọng của thặng dư công suất.  —————-  *Trong tư liệu kinh doanh, có một số thảo luận về nhu cầu đạt được công suất dư thừa trong điều kiện không chắc chắn.  (Xem tiếp kỳ sau: Đột phá kỹ thuật)      Ari Kokko      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của doanh nghiệp dân doanh vừa và nhỏ      Nguồn thu ngân sách từ DNNN hiện nay chiếm tỷ trọng lớn, nhưng hiềm một nỗi nếu như tình hình hiện nay thì để có 1 đồng thu ngân sách từ DNNN thì nhà nước cũng phải trợ cấp (cả cứng lẫn mềm) cho DNNN 1 đồng (ở đây chưa kể đến hoạt động bảo toàn vốn). Hơn nữa, một khi gia nhập WTO thì việc trợ cấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ DNNN sẽ khó được đảm bảo. Ngân sách nhà nước, vì vậy, phụ thuộc ngày càng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là từ thuế do các DN dân doanh đóng góp.    Như vậy, phát triển khu vực kinh tế dân doanh một cách bền vững sẽ là biện pháp quan trọng nhất để bảo đảm ngân sách quốc gia. Hơn nữa, xét về tính năng động và hiệu quả thì khu vực kinh tế dân doanh của chúng ta có lẽ chỉ thua mỗi khu vực đầu tư nước ngoài. Kinh tế dân doanh lại là khu vực phát triển nhanh nhất và tạo ra công ăn việc làm mới nhiều nhất cho nền kinh tế, và do vậy sẽ là động lực chủ yếu và bền vững cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.  Một hệ quả về chính sách là để duy trì mức tăng trưởng cao, Việt Nam phải có những giải pháp phát triển kinh tế dân doanh một cách bền vững, trong đó quan trọng nhất có lẽ là phải tạo lập được một môi trường kinh doanh lành mạnh để DN dân doanh phát triển. Một trong những bài học quan trọng nhất từ sự thành công của Luật Doanh nghiệp là quyền tự do kinh doanh của người dân một khi được tôn trọng sẽ đơm hoa, kết trái, và tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do vậy, nhà nước cần chủ động tạo điều kiện cho dân doanh phát triển thông qua các biện pháp giảm thiểu rào cản và chi phí (cả về thời gian, tiền bạc, ức chế tâm lý) gia nhập thị trường và chi phí kinh doanh nói chung, để từ đó khơi dậy và khuyến khích tinh thần doanh nhân vốn rất sẵn trong dòng máu của đại đa số người dân Việt Nam.  Nói đến phát triển môi trường kinh doanh lành mạnh không thể không nói tới việc tạo lập một môi trường cạnh tranh để tạo điều kiện cho các DN tập bơi trong bể trước khi phải bơi trong hồ, và rồi thực sự tiến ra đại dương và bươn trải trước những làn sóng cạnh tranh của thời đại toàn cầu hóa. Muốn thế, môi trường cạnh tranh trong nước phải thực sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế. Cụ thể là, nhà nước cần giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử đối với các DN với các hình thức sở hữu khác nhau. Thực tế phát triển kinh tế mấy chục năm qua của đất nước đã cho thấy khu vực kinh tế dân doanh có một sức sống vô cùng mãnh liệt, nó đã và đang lớn lên hàng ngày, hàng giờ bất chấp mọi thiệt thòi, không chỉ so với  các DNNN mà còn đối với cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nói như vậy cũng có nghĩa là, điều cần thiết nhất để phát triển kinh tế dân doanh ở nước ta không phải là việc cho nó những ưu tiên, ưu đãi, mà đơn giản chỉ là hãy trả lại địa vị xứng đáng cho nó và chấm dứt mọi ưu đãi, ưu tiên bất hợp lý đối với những khu vực kinh tế khác.  Để phát triển DN dân doanh ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) vốn rất dễ bị tổn thương, nhà nước cần hình thành những thể chế để giúp “giảm sốc” hay “bảo hiểm” cho các DN này. Đồng thời, tiếng nói của các DNV&N hiện nay cũng hết sức yếu ớt và rời rạc. Vì vậy, việc hình thành các hiệp hội thực sự đại diện và sẵn sàng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng DN và lợi ích của mỗi thành viên trong hiệp hội là điều kiện quan trọng để các DN dân doanh có thể lớn mạnh.  Những phân tích trên đã cho thấy nhà nước đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho kinh tế dân doanh phát triển. Bên cạnh đó, không thể không nói tới vai trò của các biện pháp cải cách hành chính liên quan tới hoạt động của DN. Việc nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước là một điều kiện then chốt để phát triển khu vực kinh tế dân doanh. Cứ thử hình dung là công việc của bộ máy hành chính này sẽ trở nên bộn bề thế nào khi số lượng DN của chúng ta cứ tiếp tục tăng với tốc độ rất nhanh như hiện nay, trong khi đó theo Ngân hàng thế giới (2004), để khởi sự DN phải mất tới 56 ngày và phải qua 11 thủ tục; để cưỡng chế thi hành hợp đồng mất 404 ngày và phải qua 37 bước; để đăng ký tài sản mất 78 ngày; còn để thực hiện thủ tục phá sản mất tới 5 năm rưỡi như hiện nay thì khi phải đối diện với số DN ngày càng tăng thì nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ bị quá tải.   Cùng với quá trình hội nhập, cơ cấu về nguồn thu của ngân sách quốc gia sẽ có những thay đổi cơ bản. Nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu (mà chủ yếu là thuế nhập khẩu), hiện chiếm hơn 20% ngân sách sẽ giảm đáng kể do hàng rào thuế quan phải hạ từ mức trung bình ước tính vào khoảng 15-16% hiện nay xuống 0 – 5%. Nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô hiện cũng đang chiếm một tỉ trọng đáng kể lại không ổn định vì phụ thuộc vào biến động của thị trường thế giới và cũng không thể duy trì mãi.  VCCI đang đề nghị Chính phủ xem xét xây dựng một chương trình quốc gia về phát triển DN, lấy DN làm động lực chính cho sự phát triển của VN trong giai đoạn tới. Từ nhận thức về vai trò của DN dân doanh và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước thành công trong việc phát triển DNV&N, rõ ràng đề nghị này của VCCI là hết sức cần thiết và đúng lúc. Tuy nhiên, để đảm bảo có hiệu quả thì chương trình này phải đi vào thực chất của vấn đề chứ không thể chỉ mang tính hình thức. Quan trọng nhất, chương trình này phải lấy kinh tế dân doanh làm trung tâm, thể hiện thông qua việc phân bổ nguồn lực và có chính sách công bằng đối với khu vực này.  Về mặt chính sách đối với các DN dân doanh, chúng ta nên phân biệt một số giai đoạn với các ưu tiên chính sách khác nhau. Trong giai đoạn đầu (tức là giai đoạn hiện nay), điều cần nhất là công nhận vai trò ngày càng trở nên quan trọng của kinh tế dân doanh đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế, từ đó khai thông các rào cản và giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường để dễ dàng cho việc “khai sinh” ra các DN mới. Sau khi đã được “khai sinh”, các DN này cần được “nuôi dưỡng” trong một môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh. Cần lưu ý rằng việc hình thành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thống nhất không nhất thiết dẫn tới sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, vì trên thực tế, sự công bình không chỉ phụ thuộc vào hiệu lực thực sự của những đạo luật này mà còn phụ thuộc vào biết bao thể chế khác và hoạt động thực thi của các cơ quan công quyền.  Trong giai đoạn thứ hai, cần thực hiện các chính sách hỗ trợ DN nhằm nâng cao năng lực tổ chức và cạnh tranh, trước mắt là trong thị trường nội địa. Xuất phát điểm của những chính sách này là các DN dân doanh của chúng ta phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt với tương quan lực lượng không cân xứng. Đại đa số DN dân doanh của chúng ta thuộc loại nhỏ và vừa với tiềm lực về vốn và công nghệ thấp kém, chưa quen với các tập quán kinh doanh hiện đại, hệ thống quản trị còn sơ khai, năng lực của đội ngũ quản lý còn yếu, khả năng khai thác thông tin và tiếp cận cơ hội thị trường rất hạn chế. Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu nâng dần năng lực tổ chức và cạnh tranh, chính sách trong giai đoạn này nên tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực (đặc biệt là nhân lực quản lý), tạo điều kiện cho các DN tiếp cận các nguồn tín dụng thuận lợi với chi phí phải chăng, và hỗ trợ về thông tin và tư vấn marketing.  Giai đoạn thứ 2 này phải được tiến hành rất khẩn trương để kịp thực hiện giai đoạn thứ 3 trước năm 2010, là thời điểm hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ có hiệu lực đầy đủ. Trong giai đoạn thứ 3, DN cần được chuẩn bị năng lực để trước tiên là tồn tại và phát triển trong các thị trường ngách, trên cơ sở đó từng bước hội nhập tích cực và sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh các yêu cầu thường trực về nhân lực, tài lực, thông tin (như những đầu vào cho quá trình phát triển DN), sau khi đã trưởng thành ở một mức độ nhất định, chắc chắn các DN Việt Nam sẽ có nhu cầu nâng cao trình độ công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng để bước lên những bậc cao hơn trong chuỗi giá trị và hàng hóa toàn cầu. Vai trò của nhà nước trong việc đầu tư vào giáo dục, đào tạo và hoạt động R&D (nghiên cứu & phát triển) là rất quan trọng.  Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy các DNV&N hoạt động hiệu quả nhất khi chúng hoạt động theo cụm và nhóm vì khi ấy giữa chúng phát triển các mối liên kết ngang và dọc, đồng thời thông qua các hợp đồng phụ sẽ hình thành nên một mạng lưới các mối quan hệ chính thức và không chính thức, giúp khai thác được thế mạnh về tính linh hoạt và năng động của các DNV&N, đồng thời hạn chế nhược điểm về quy mô và năng lực nếu đứng riêng một mình. Trong một số trường hợp, nhà nước cần phát triển các DN ở thượng nguồn để tạo cơ hội cho các DN hạ nguồn hay các DN cung ứng sản phẩm phụ trợ phát triển. Đáng lưu ý là nếu những biện pháp này thành công thì dần dần nền kinh tế sẽ không còn phụ thuộc vào các ngành sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thô, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào các công ty đa quốc gia.  Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của trường Đại học trong xây dựng môi trường sáng tạo khởi nghiệp      Trường ĐH có vai trò như thế nào trong việc tạo ra môi trường đổi mới sáng tạo, khích lệ tinh thần khởi nghiệp ? Cho đến nay, vai trò này gần như bằng không. Các trường ĐH đang theo đuổi những hoạt động nghiên cứu khoa học chủ yếu nhằm vào công bố trên các tập san khoa học, và chạy theo những thành tích xếp hạng. Có rất ít nghiên cứu gắn với hoạt động chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp bên ngoài nhà trường. Kết cục là nhà trường Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục tồn tại theo lối tháp ngà chẳng khác nào cách đây vài thập kỷ.    Một sự kiện kết nối startup công nghệ trong khu vực Châu Á do blog TechinAsia tổ chức tại Singapore. Ảnh: TechinAsia  Mạng lưới khu vực Asean  Cộng đồng kinh tế ASEAN vừa hình thành sẽ tạo ra một nhu cầu lớn về môi trường khởi nghiệp ở các nước thành viên, vì nó tạo điều kiện cho việc luân chuyển nguồn vốn, con người và ý tưởng giữa các nước trong khu vực nhằm tạo ra dịch vụ mới, công ăn việc làm mới, và thêm nhiều của cải.  Hội thảo Mạng lưới Xây dựng tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo do Bộ KH&CN (Dự án Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan giai đoạn II – IPP2) tổ chức ngày 9-10/12/2015 ở TP.HCM đã kết nối nhiều bên liên quan khác nhau (giới doanh nghiệp, các quỹ đầu tư mạo hiểm, giới đại học, giới quản lý, giới làm chính sách) của các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Cambodia, Lào, Việt Nam, và các chuyên gia Phần Lan, Hoa Kỳ, nhằm thảo luận về những sáng kiến có thể thúc đẩy hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho cả khu vực.  Một mục tiêu quan trọng của hội thảo là nhằm đề xuất một lộ trình hành động của các nước thành viên phù hợp với khuôn khổ pháp lý và chính sách của từng nước.  Hai lĩnh vực được tập trung là (i) mạng lưới giáo dục và chia sẻ tri thức; (ii) tận dụng nguồn lực và mạng lưới người hướng dẫn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.  Mạng lưới giáo dục và chia sẻ tri thức sẽ thực hiện những chương trình huấn luyện xuyên quốc gia, chia sẻ kinh nghiệm thành công và thất bại khi khởi nghiệp, và ý nghĩa văn hóa của những kinh nghiệm ấy. Nếu những trường hợp thành công có thể truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người khởi nghiệp, thì những bài học thu lượm được qua thất bại còn quan trọng hơn gấp bội. Dự kiến sẽ kết nối với các nhà báo, bloggers, các nhà xuất bản và các báo của mỗi nước để viết về những câu chuyện này, lập một kho dữ liệu về những câu chuyện thành công thất bại khi khởi nghiệp và một trang web để chia sẻ nó.  Những người khởi nghiệp là những người mới bắt tay vào thực hiện một ý tưởng mới, dựa trên một mô hình kinh doanh mới hay sản phẩm mới. Vì vậy sự hướng dẫn của người đi trước là rất quan trọng và quý báu. Hội thảo này bàn về một mạng lưới những người có thể giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp bằng cách hướng dẫn họ những kinh nghiệm vào nghề cần thiết, kết nối họ với những quỹ đầu tư và những cơ chế tài chính khác.  Những hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu này có thể là những sự kiện (hội chợ, triển lãm, hội thảo, cuộc thi, v.v.) được tổ chức luân phiên ở các quốc gia thành viên, nhằm tạo ra tác động xã hội tới tất cả các bên liên quan, đặc biệt là để kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp với giới kinh doanh và các nhà đầu tư, nhằm thúc đẩy sự hợp tác.  Rõ ràng để làm những việc đó chúng ta cần có những người điều hành chương trình giàu kinh nghiệm, và một nguồn tài trợ ban đầu để khởi xướng và tạo ra các cơ hội. Những điều này không khó khi chúng ta có một số lượng đủ lớn những người được đào tạo với tinh thần khởi nghiệp và sẵn sàng cho sự khám phá, đổi mới và sáng tạo.  Câu hỏi đặt ra là, nhà trường có vai trò gì trong việc tạo ra một thế hệ như thế?  Vai trò của trường Đại học  Bà Trần Thị Thu Hương, Trợ lý Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Giám đốc Dự án IPP2, nhấn mạnh trong phát biểu khai mạc: Trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia ở bất cứ nước nào, trường đại học, chính phủ, và giới doanh nghiệp là ba trụ cột tạo ra xã hội tri thức. Khi ba thành tố quan trọng này gắn kết tương liên với nhau, nó sẽ tạo điều kiện cho việc tạo ra tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cho xã hội. Vì vậy, hơn bao giờ hết, các trường không thể cứ mãi là “tháp ngà” như xưa. Thêm vào hai vai trò truyền thống là giảng dạy và nghiên cứu, ngày nay các trường phải nhận thức rõ tầm quan trọng của sứ mạng thứ ba, là gắn với các doanh nghiệp và đáp ứng với những nhu cầu của họ nhằm phục vụ cho cộng đồng và đời sống xã hội.  Các trường ĐH có thể làm được gì? Trong năm 2015, Việt Nam tăng 12 bậc trong bảng xếp hạng chỉ số cạnh tranh toàn cầu, 19 bậc trong xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu  là nhờ một phần những cải cách trong tài trợ nghiên cứu, tự chủ đại học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, trong đó có các trung tâm chuyển giao công nghệ (TTOs, TLOs), Tuy nhiên, cho đến nay hệ thống nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo của Việt Nam nhìn chung mới chỉ chú trọng đến việc tạo ra tri thức mới, thông qua các dự án nghiên cứu ở các trường và viện, mà còn có rất ít nỗ lực trong việc đưa những tri thức ấy vào đời sống xã hội, vào sản xuất và kinh doanh.  Để tạo ra sự thay đổi này, các trường ĐH sẽ cần phải nhấn mạnh trọng tâm đào tạo của mình, không chỉ là kiến thức hàn lâm, mà là kỹ năng giao tiếp và thương lượng, kỹ năng xây dựng nhóm, sử dụng con người; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng xử lý khủng hoảng, kỹ năng lãnh đạo và tư duy chiến lược; kể cả những kỹ năng cụ thể như lập kế hoạch tài chính và quản lý dòng tiền, sáng tạo giá trị mới và quản lý quan hệ khách hàng. Thay cho cách dạy lý thuyết, các trường cần chuyển sang dạy học thông qua trải nghiệm, mục đích là để giúp người học hiểu cách tư duy của những người khởi nghiệp và có khả năng lựa chọn những quyết định tốt nhất trong một bối cảnh cụ thể.  Vì thế, các trường đại học cần xác định lại hồ sơ năng lực của mình bằng cách tham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình hỗ trợ khởi nghiệp, thông qua gắn kết với giới làm chính sách, giới doanh nhân. Sự gắn kết đó mang lại lợi ích trước hết là cho nhà trường, vì nó biện minh cho ý nghĩa thiết yếu của trường ĐH, nâng cao uy tín của nhà trường trong xã hội, biến nhà trường thành một yếu tố không thể thiếu trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.  ****  Tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo là yếu tố cốt lõi tạo ra thành công của các doanh nghiệp ngày nay. Nó không chỉ cần khi người ta bắt đầu mở ra một doanh nghiệp mới, mà còn cần thiết trong suốt quá trình hoạt động của mọi doanh nghiệp, vì nó giúp họ đổi mới không ngừng để thích ứng với bối cảnh và tạo ra thế mạnh cạnh tranh.  Vì vậy, nó cần được gieo trồng, vun đắp trong quá trình đào tạo ở đại học. Truyền cảm hứng cho các thế hệ sinh viên và trang bị cho họ những kiến thức kỹ năng cần cho hoạt động khởi nghiệp, chính là nhà trường đang tạo ra những người chủ doanh nghiệp thành công trong tương lai.  Hơn thế nữa, trường ĐH còn có thể đóng một vai trò tích cực trong việc tạo ra môi trường khích lệ khởi nghiệp trong xã hội, thông qua kết nối với giới doanh nghiệp và giới làm chính sách và tham gia vào những dự án nhằm cải thiện môi trường khởi nghiệp. Đó chính là cách tăng cường sứ mạng thứ ba của nhà trường, gắn kết nhà trường với xã hội nhằm tái định hình trường ĐH và khẳng định tầm quan trọng của nó.  Hướng tới nỗ lực chung cho cả khu vực   Mạng lưới những người xây dựng tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo ở các nước ASEAN (ASEAN  Innovation and Entrepreneurship Developers Network) là một tập hợp bao gồm các quỹ đầu tư, các trường đại học, tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các doanh nhân, các nhà khoa học và quản lý khoa học của các nước ASEAN, tự xác định sứ mạng của mình là tạo ra và nuôi dưỡng văn hóa sáng tạo khởi nghiệp trong khu vực ASEAN, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, khích lệ các doanh nhân trẻ tài năng và đào tạo họ để họ có thể thành công trong thị trường khu vực và toàn cầu.  Mạng lưới sẽ thúc đẩy: Ban hành các chính sách thuế khích lệ cho những doanh nghiệp khởi nghiệp trong cả khu vực ASEAN, chính sách cư trú thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài hay những chuyên gia của doanh nghiệp khởi nghiệp và của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, chính sách thúc đẩy đào tạo và hướng dẫn cho các doanh nhân trẻ khi họ khởi nghiệp, v.v.  Xây dựng những kho dữ liệu về thị trường, về nguồn vốn, về các quy phạm pháp luật của từng nước, về nguồn lực con người trong đó có chuyên gia của nhiều lĩnh vực, v.v.  Tổ chức các sự kiện, triển lãm, các cuộc thi, v.v. mạng lưới này giúp các bên liên quan kết nối, hợp tác với nhau để tạo ra những giá trị mới, đặc biệt là nối kết các nhà khởi nghiệp với các quỹ đầu tư và các nhà tài trợ, đồng thời tạo điều kiện tôn vinh những tấm gương thành công, chia sẻ những bài học vượt qua thất bại, truyền cảm hứng, động lực và kinh nghiệm cho người trẻ để họ mạnh mẽ dấn thân.      Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang Valérie Masson-Delmotte:  Giám sát dữ liệu Trái đất      Động lực chính đằng sau bản báo cáo về biến đổi khí hậu của IPCC  đến từ một nhà khí hậu học.      GS. Valérie Masson-Delmotte France Culture  Trong tháng 10 vừa qua, GS. Valérie Masson-Delmotte và các đồng nghiệp đã công bố trước thế giới những thông tin cảnh báo về tương lai hành tinh. Chỉ trong hơn chục năm tới, nhiệt độ trung bình của Trái đất sẽ có thể tăng thêm 1,5 °C so với giai đoạn giữa thế kỷ XIX, gây ra một chuỗi biến đổi trong hệ sinh thái và tiêu diệt hầu hết các rạn san hô của thế giới, cùng với nhiều tác động khác.  Cảnh báo này được đưa ra trong báo cáo đặc biệt của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC),  tác giả chính là GS. Masson-Delmotte  Với tư cách một nhà khí hậu học tại Phòng thí nghiệm về Khoa học Khí hậu và Môi trường ở Gif-sur-Yvette, (Pháp) và là đồng chủ tịch của nhóm công tác IPCC đánh giá tác động vật lý của biến đổi khí hậu, Masson-Delmotte đã góp phần tập hợp các tác giả tham gia, điều phối nhóm nghiên cứu và quan trọng nhất giúp báo cáo được chính phủ các nước công nhận.  Để đưa ra các đánh giá lớn, những báo cáo của IPCC thường phải được xây dựng trong một thời gian dài, đôi khi chiếm quá nửa một thập kỷ, nhưng bản báo cáo về nhiệt độ có thể tăng 1,5 °C của nhóm Masson-Delmotte đã được xây dựng rất nhanh chóng, kết hợp được cả thông tin từ các nghiên cứu mới công bố chỉ vài tuần trước khi bản thảo cuối cùng được đệ trình. Như chị tâm sự: “Tôi rất tự hào [vì nỗ lực đó]. Dù bị giới hạn về thời gian nhưng tôi nghĩ, mọi người đều đã thiết lập được lòng tin và tinh thần trách nhiệm”.  Bản báo cáo chỉ rõ rằng việc giới hạn sự nóng lên toàn cầu chỉ ở mức 1,5 °C cũng có tác động tích cực vô cùng lớn so với việc để mức tăng đến 2°C. Nhưng kể cả việc kìm hãm ở mức 1,5 °C vẫn sẽ đòi hỏi phải có những hành động hết sức mạnh mẽ để cắt giảm khí thải nhà kính. Ngay cả khi các quốc gia bằng cách nào đó đạt được mục tiêu trên thì thế giới vẫn phải chịu những thay đổi to lớn: toàn bộ hệ sinh thái trên 6% bề mặt địa cầu sẽ bị hủy hoại và từ 70-90% các rạn san hô có thể sẽ biến mất.  “[Chúng ta] khó mà dám bỏ qua cảnh báo này”, theo GS. Ove Hoegh-Guldberg, đồng tác giả báo cáo và là giám đốc Viện Biến đổi Khí hậu Toàn cầu tại Đại học Queensland, Australia.  GS. Diana Liverman, nhà địa lý học tại Đại học Arizona, Mỹ, đặc biệt chọn công trình của Masson-Delmotte để làm ví dụ chứng minh việc cải thiện tính đa dạng và vai trò đại diện của nhà khoa học tại IPCC.  Trong bản đánh giá lần trước vào cuối năm 2014, các nhà khoa học nữ chỉ chiếm 22% trong nhóm tác giả,  nhưng đến báo cáo này, tỷ lệ được nâng lên mức chưa từng có tiền lệ là 40%. Không chỉ có vậy, GS. Masson-Delmotte cũng nỗ lực để nâng cao vai trò của các nhà khoa học trẻ và các nhà nghiên cứu từ các nước đang phát triển.  Để chuẩn bị cho bản đánh giá khí hậu toàn diện tiếp theo dự kiến công bố năm 2021, chị đã xây dựng các quy trình để thúc đẩy sự tham gia tích cực của mọi tác giả – bao gồm một công cụ trực tuyến dành cho các nhà khoa học không tiện phát biểu trực tiếp trong các cuộc họp.  Trong một nỗ lực để phá vỡ ranh giới giữa các cộng đồng khoa học, các nhà nghiên cứu từ nhiều chuyên ngành khác nhau đã cùng tham gia trong từng phần báo cáo. Theo GS. Masson-Delmotte, kết quả là một bản phân tích ít tập trung vào các kịch bản phát thải và nhiều hơn vào các chính sách xã hội, công nghệ và quản trị có thể thúc đẩy thay đổi – mà không làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng trên thế giới.  Chị Masson-Delmotte đã dành 10 ngày tại Hội nghị thượng đỉnh về Khí hậu Liên Hợp Quốc năm 2018 vừa qua để nói về báo cáo và quy trình mở rộng của IPCC với các đại biểu tham dự. Hiện tại, chị và các đồng chủ tịch khác đang xúc tiến thêm hai báo cáo mới – một bản về các quần xã sinh vật trên cạn, và một bản về các sinh vật đại dương và vùng cực, dự kiến ​​sẽ xuất bản vào tháng 8 và tháng 9 năm 2019.  Giống như IPCC – sự tham gia của các nhà khoa học trong báo cáo hoàn toàn là tự nguyện – Masson-Delmotte tâm sự rằng báo cáo này đã đẩy sức làm việc của chị đến giới hạn có thể. Để dành thời gian cho báo cáo, bà đành thu xếp nghiên cứu của mình vào quãng thời gian ít ỏi còn lại, ban đêm, cuối tuần hay giữa những chuyến tàu. Chị cũng không thể dành thời gian cho hai cô con gái và chồng mình như trước đây. ”Công việc này khiến tôi khổ sở”, bà nói, “Nhưng cũng cùng lúc khiến tôi cảm thấy hứng khởi một cách kỳ lạ”.  Tuấn Quang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang VAMC đã mua hơn 28.000 tỷ đồng nợ xấu      Tính đến thời điểm này, Công ty quản lý tài  sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã mua hơn 28.000 tỉ&#160; đồng nợ  xấu. Dự kiến tới cuối năm 2013 VAMC sẽ mua 30.000-35.000 tỉ đồng nợ xấu.    Đây là thông tin được Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết tại buổi họp báo Triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2014 vừa diễn ra ngày 16/12.   Hiện nay, có nhiều tổ chức tín dụng trình bày mong muốn tiếp tục lùi thời gian áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN (về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng), vì dự báo bối cảnh kinh tế 2014 thật sự chưa có nhiều khởi sắc. Về vấn đề này, ông Đặng Văn Thảo, Phó Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN, khẳng định sẽ không có chuyện trì hoãn Thông tư 02 và văn bản này chắc chắn sẽ được áp dụng trong toàn hệ thống vào tháng 6/2014.     Ông Đặng Văn Thảo cũng khẳng định: NHNN đã có chỉ thị yêu cầu TCTD tự tính toán mức độ, khoản nợ xấu tăng lên cũng như các khoản đầu tư không sinh lời. Trên cơ sở đó các TCTD có kế hoạch trính lập dự phòng rủi ro.     Theo phương án đang được cơ quan thanh tra đề xuất, có thể chỉ đạo TCTD phân loại nợ xấu thành 3 nhóm: Nhóm khách hàng giải thể phá sản không còn tài sản gì (phải dùng nguồn dự phòng rủi ro). Thứ hai là nhóm khách hàng khó khăn thực hiện cơ cấu lại nợ, cho phép vay thêm để giãn nợ, giảm lãi… Thứ ba là nhóm khách hàng phá sản nhưng có tài sản đảm bảo tiến hành phát mại.     Riêng về vấn đề sở hữu chéo, ông Đặng Văn Thảo cho biết, có hiện tượng một số cổ đông và người nhà liên quan có sở hữu cổ phần quá mức cho phép 20%. Do đặc thù, ngân hàng là doanh nghiệp đại chúng, nên NHNN sẽ dần đưa các TCTD, NHTM niêm yết lên sàn chứng khoán. Qua kênh này, hiệu quả giám sát ngân hàng chắc chắn được nâng lên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẫn cần Nhà nước hỗ trợ      Để thúc đẩy quá trình hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, nhà nghiên cứu và nhà sản xuất cần được tham gia vào các chương trình KH&CN quốc gia để cùng nhau giải quyết những vấn đề hai bên cùng quan tâm. Đó là những điều mà Viện Công nghệ sinh học (IBT) và Công ty TNHH một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech) rút ra sau khi cùng thực hiện hai pha nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm sinh phẩm protein Interleukin – 2 tái tổ hợp hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư.      Quy trình lên men của công nghệ sản xuất Interleukin-2 tái tổ hợp tại Vabiotech.  Công việc hợp tác giữa IBT và Vabiotech bắt đầu từ năm 2009 khi GS. TS Trương Nam Hải, chủ trì đề tài nghiên cứu về Interleukin-2 tái tổ hợp của IBT, mời GS. TS Nguyễn Thu Vân và đội ngũ R&D của công ty cùng triển khai“Nghiên cứu đánh giá hiệu lực Interleukin-2 (IL-2) tái tổ hợp sản xuất tại Việt Nam dùng trong hỗ trợ điều trị ung thư” (KC.04-21/06-10), một đề tài thuộc chương trình KC.04 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học” (Bộ KH&CN). Sau hai năm thực hiện, các nhà nghiên cứu đã phân lập thành công được gene mã hóa của người và đưa vào E.coli để tạo ra protein IL-2 tái tổ hợp rồi lên men, tinh chế trong điều kiện sản xuất tốt WHO-GMP. Việc có được một quy trình chuẩn làm ra IIL-2 tái tổ hợp đã gợi ý cho IBT và Vabiotech tiếp tục thực hiện thêm pha tiếp theo, dự án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất IL-2 tái tổ hợp trên dòng tế bào E. coli” (KC.04.DA02/11-15). Bằng việc triển khai dự án này, quy trình đã được tối ưu hóa thành công nghệ để có thể sản xuất sản phẩm đạt công suất 150.000 liều/năm với sinh phẩm IL-2 tái tổ hợp đạt tiêu chuẩn của Mỹ về độ tinh sạch, Endotoxin, an toàn sinh học, hoạt tính sinh học… và được IBT chuyển giao cho Vabiotech.  Mời nhà sản xuất tham gia nghiên cứu  Một trong những bí quyết để IBT thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất IL-2 tái tổ hợp thành công cho Vabiotech chính là việc họ mời được công ty tham gia cùng nghiên cứu với mình. Đây là quá trình để Vabiotech hiểu được IBT có năng lực nghiên cứu sản phẩm và sản phẩm đó phù hợp với yêu cầu của mình. “Ở miền Bắc tôi biết có Vabiotech là công ty có phòng thí nghiệm và dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP nhưng để Vabiotech đặt niềm tin vào sản phẩm nghiên cứu của mình không dễ”, GS. TS Trương Nam Hải giải thích. IBT đã phải “đi đường vòng” bằng cách mời họ cùng tham gia nghiên cứu, “chỉ bằng cách ấy họ mới hiểu mình làm ra được sản phẩm mà thị trường cần, mà thị trường cần thì họ cũng cần”.  Để thuyết phục được doanh nghiệp thì năng lực nghiên cứu vẫn chưa đủ, họ cũng cần nhìn thấy những yếu tố cơ bản của sản phẩm nghiên cứu, dù chỉ ở dạng tiềm năng, GS. TS Hải nhận xét, “không phải đơn giản mà họ nhận lời”. Trước khi mời Vabiotech nhập cuộc, GS. TS Hải đã cùng nhóm nghiên cứu về công nghệ gene của ông tại IBT thực hiện pha nghiên cứu đầu tiên về IL-2 tái tổ hợp từ năm 2005, “Nghiên cứu tạo IL-2 tái tổ hợp dùng cho điều trị ung thư” KC.04.33/06-10. Bằng việc phân lập gene từ cơ thể người, các nhà nghiên cứu đã đưa gene đó vào trong tế bào vi khuẩn E. coli bằng một vector thiết kế trong ống nghiệm, qua đó tế bào vi khuẩn tổng hợp protein IL-2 tái tổ hợp trên nền của gene người. Loại protein này có đặc tính sinh học là có khả năng kích hoạt hệ miễn dịch ở trong người để nhận biết và diệt tế bào ung thư. Sản phẩm pha 1 được đánh giá là có chất lượng tương đương với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.  Những kết quả mà các nhà nghiên cứu của IBT đã thực hiện được ở pha 1 đã thuyết phục được lãnh đạo Vabiotech nhận lời mời tham gia nghiên cứu ở pha 2 và làm chủ nhiệm dự án sản xuất thử nghiệm (pha 3), cho dù quyết định đó khiến công ty tốn rất nhiều thời gian, công sức và cả tiền bạc và bản thân việc theo đuổi nghiên cứu cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Anh Lưu Anh Chiến, một thành viên của tổ công tác Vabiotech, cho biết: “Lúc tìm hiểu về đề tài này, Vabiotech nhận thấy IBT có đủ năng lực nghiên cứu về công nghệ gene, đây cũng là một hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tiên tiến mà ngành vắc xin và sinh phẩm quốc tế đang theo đuổi”. Dựa trên năng lực và cơ sở hạ tầng hiện tại của công ty, lãnh đạo Vabiotech cũng cho rằng đây là sản phẩm có nhu cầu lớn trên thị trường và tiềm năng phát triển, công ty cũng có đủ năng lực để tiếp nhận công nghệ. Xét về lâu dài thì “việc làm chủ công nghệ sản xuất sinh phẩm điều trị sẽ góp phần đa dạng sản phẩm kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của Vabiotech”, anh Chiến giải thích.  Sau hai năm thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiệu lực Interleukin-2 tái tổ hợp sản xuất tại Việt Nam dùng trong hỗ trợ điều trị ung thư”, các nhà nghiên cứu của IBT và Vabiotech đã thành công trong việc xây dựng quy trình công nghệ sản xuất IL-2 tái tổ hợp trong điều kiện GMP với công suất 5.000 liều/loạt. Kết quả đạt được từ đề tài nghiên cứu này đã khiến Vabiotech quyết định đầu tư kinh phí thực hiện tiếp pha dự án sản xuất thử nghiệm nhằm hoàn thiện công nghệ. “Việc thuyết phục được doanh nghiệp bỏ tiền ra làm sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện quy trình không phải dễ. Không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn tiền từ nguồn vốn tự có để đối ứng, Vabiotech là công ty nhà nước nên mọi kinh phí đều phải hạch toán còn nhà nước thì không cho phép lấy một khoản tiền này làm đối ứng cho cái khác”, GS. TS Hải chia sẻ về khó khăn ban đầu mà Vabiotech gặp phải khi thực hiện dự án.  Việc mời được doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện nghiên cứu và sản xuất, dù mới ở dạng thử nghiệm, cũng đem lại cơ hội cho các nhà nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. GS. TS Hải cho biết, kết thúc pha nghiên cứu đầu tiên, vẫn chưa loại bỏ được yếu tố nội độc tố (pyrogen) trong khi tinh chế IL-2 tái tổ hợp do điều kiện phòng thí nghiệm của IBT chưa đạt tiêu chuẩn thực hành  như ở các doanh nghiệp chuyên sản xuất dược phẩm, vắc xin. Khi hợp tác với Vabiotech, sử dụng hệ thống phòng thí nghiệm đạt GLP và khu sản xuất đạt GMP của công ty, vấn đề này được giải quyết một cách đơn giản: độ tinh sạch của sản phẩm đã đạt hơn 98%, vượt ngoài mong đợi của các nhà nghiên cứu.  Cùng hiểu và tin cậy lẫn nhau  Việc hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu từ lâu nay vẫn được coi là một quá trình khó khăn, thường đòi hỏi nhiều thời gian để hai bên thực sự hiểu nhau và phối hợp nhuần nhuyễn trong công việc. Với trường hợp của IBT và Vabiotech, quá trình làm quen may mắn không kéo dài đến thế. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình này là “Vabiotech cũng đã làm R&D nhiều năm, họ hiểu được các nhà nghiên cứu muốn gì”, GS. TS Hải lý giải. Nhóm cán bộ được Vabiotech cử tham gia hợp tác với IBT đã quen làm việc với những cán bộ nghiên cứu, “hầu như ai cũng có nguyên tắc của riêng mình, để hợp tác được hai bên phải thấu hiểu và tin cậy lẫn nhau”, anh Chiến nhận xét. Có kinh nghiệm làm việc nhiều năm với sản phẩm được chuyển giao công nghệ từ R&D của công ty nên anh Chiến cho rằng, nhiều vấn đề nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rất tốt nhưng khi đưa vào sản xuất ở quy mô lớn hơn lại cho kết quả không như mong muốn, thậm chí thất bại do điều kiện trong sản xuất khác biệt hoàn toàn với phòng thí nghiệm, “ví dụ như quy trình lên men 1 lít có phần khác với 100 lít do các thông số sản xuất không hẳn tỉ lệ thuận với thể tích như mọi người nghĩ”. Trong quá trình hợp tác nghiên cứu và chuyển giao quy trình họ cũng gặp nhiều khó khăn về công nghệ, sau mỗi lần như vậy, hai bên cùng ngồi lại với nhau làm việc và phân tích quy trình đã thực hiện “để tìm bằng được nguyên nhân vì sao và hướng khắc phục”, anh Chiến nhớ lại. Về phía mình, GS Hải cho rằng, những yêu cầu của nhà sản xuất đều xác đáng và nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là phải khắc phục điều đó: “Hai bên cần trao đổi thẳng thắn với nhau. Chúng tôi không ‘giấu nghề’ mà sẵn sàng giải thích và khi chuyển giao là chuyển giao toàn bộ kết quả nghiên cứu, quy trình thực hiện cho người của họ để họ có thể độc lập xử lý”.  Để tạo ra sự tin cậy với nhà sản xuất, GS Hải cho rằng cần phải duy trì tốt mối quan hệ với họ ngay cả khi hoàn tất việc chuyển giao công nghệ. Sau khi dự án sản xuất thử nghiệm đã hoàn tất, họ vẫn giữ thói quen trao đổi với Vabiotech về kết quả công việc và sẵn sàng thực hiện những yêu cầu mà Vabiotech đưa ra để nâng cao chất lượng sản phẩm. Ở góc độ nhà sản xuất, anh Chiến cho biết, trong tương lai vẫn cần sự hợp tác và hỗ trợ của các nhà nghiên cứu khi Vabiotech tiếp tục thực hiện pha tiếp theo nghiên cứu hoàn thiện quy trình để nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu suất sản xuất và đăng ký sản phẩm IL-2 lưu hành trên thị trường. “Trong giai đoạn tiếp theo cần nâng công suất của dây chuyền lên 1 triệu liều IL-2/năm để đáp ứng được nhu cầu điều trị của người bệnh, đảm bảo lợi nhuận khi đầu tư và giúp hạ giá thành sản phẩm.  Cần sự hỗ trợ của nhà nước qua các chương trình quốc gia  Trong bối cảnh các tổ chức trung gian kết nối nhà sản xuất và nhà nghiên cứu còn chưa hoạt động hiệu quả thì họ cần sự hỗ trợ dưới hình thức nào của nhà nước để có thể hợp tác được với nhau? Câu trả lời mà cả IBT và Vabiotech đều đưa ra là cần được tham gia các chương trình nghiên cứu KH&CN quốc gia, “đây là cây cầu nối hữu hiệu nhất của chúng tôi. Nếu không có kinh phí hỗ trợ của nhà nước thông qua việc thực hiện đề tài của chương trình KC04 thì IBT cũng khó mời được Vabiotech tham gia nghiên cứu ở pha 2, và nếu không mời họ tham gia bước này thì chắc chắn là họ cũng không sẵn sàng nhận làm chủ dự án sản xuất thử nghiệm IL-2 tái tổ hợp ở pha 3”, GS Hải cho biết. Về phía mình, Vabiotech cho rằng, thực hiện đề tài nghiên cứu và dự án sản xuất thử nghiệm đem lại cho họ cơ hội tiếp cận với công nghệ  mới cũng như nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, yếu tố quan trọng để họ có thể tiếp tục làm chủ công nghệ sản xuất khi sản phẩm này được đưa vào sản xuất và cung cấp ra thị trường.  Đánh giá vai trò của các chương trình nghiên cứu KH&CN quốc gia với sự hợp tác giữa nhà sản xuất và nhà nghiên cứu, GS Hải nhận định, việc thực hiện các các đề tài/dự án nghiên cứu góp phần giải quyết các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Còn nếu “đơn thương độc mã”, cả hai ít có điều kiện làm đến nơi đến chốn để ra được sản phẩm có chất lượng cao. Nhà nghiên cứu cần có nhà sản xuất để cùng hoàn thiện công nghệ và ngược lại, nhà sản xuất cần có nhà nghiên cứu để có được những công nghệ và sản phẩm mới, ngay cả trong trường hợp nhà sản xuất đã phát triển bộ phận R&D thì vẫn cần sự hỗ trợ về chuyên môn của nhà nghiên cứu bởi “doanh nghiệp thường ít bỏ chi phí đầu tư cho nghiên cứu ban đầu mà chỉ đầu tư phát triển sản phẩm”.    Ở góc độ nhà sản xuất, anh Chiến cho rằng, doanh nghiệp cần được sự hỗ trợ nhiều hơn của nhà nước, không chỉ ở giai đoạn nghiên cứu mà còn ở giai đoạn tiếp theo để góp phần đưa sản phẩm hợp tác ra được đến thị trường. Ví dụ với trường hợp IL-2 thì để tiếp tục nâng cao quy mô sản xuất công suất 1 triệu liều/năm, thứ nhất Vabiotech cần phải nâng cấp nhà xưởng, trang thiết bị. Thứ hai cần tiếp tục hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng cao hiệu suất. Thứ ba cần tiến hành thử nghiệm lâm sàng để đăng ký cấp phép lưu hành cho sản phẩm, IL-2 là một sinh phẩm điều trị rất mới trên thế giới do đó thực địa lâm sàng đòi hỏi nghiên cứu đầy đủ và theo dõi trong thời gian dài. Việc này đòi hỏi nguồn vốn lớn và lâu dài, là một doanh nghiệp nhà nước với nguồn vốn có giới hạn, Vabiotech rất cần sự hỗ trợ từ Bộ KH&CN thông qua các chương trình quốc gia mà Bộ đang quản lý.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vận chuyển thuốc chống ung thư trong “lồng” phân tử và “mở khóa” bằng ánh sáng      Các lồng phân tử do các nhà nghiên cứu Đại học Hoàng gia Anh tạo ra có thể dẫn đến việc “vận chuyển” thuốc ung thư trúng đích hơn, góp phần dẫn đến hiệu quả của thuốc lớn hơn và các phản ứng phụ ít hơn.         Nguồn: Imperial College London  Rất nhiều loại thuốc, bao gồm các liệu pháp chống ung thư, có thể bị tan ra trong cơ thể con người. Điều này làm giảm hiệu quả của chúng và có thể khiến bệnh nhân phải uống nhiều liều hơn cần thiết, qua đó có thể là nguyên nhân gây ra những hiệu ứng phụ khi phá hủy các mô lành.  Các nhà nghiên cứu do đó tìm kiếm các cách để khiến thuốc trúng đích hơn, khi đó chúng chỉ hoạt động khi đến đúng điểm cần đến trong cơ thể như nơi có một khối u tồn tại.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu Khoa Hóa học tại Imperial College London đã tạo ra một dạng mới của “lồng” bởi một phân tử với các đặc tính chống ung thư. Sự giải phóng phân tử này từ cái lồng đó có thể thực hiện được bằng những tác nhân kích thích từ bên ngoài, ví dụ như ánh sáng. Nghiên cứu này được xuất bản trên Angewandte Chemie.  Nghiên cứu sinh Timothy Kench nói: “Chúng tôi thực sự phấn khích trước lối tiếp cận này. Bằng việc vận điều chỉnh hoạt động sinh học của các phân tử nhỏ, chúng tôi có thể thiết kế những liệu pháp được cải thiện hoặc nghiên cứu những quá trình diễn ra trong tế bào cụ thể”.  Bẫy các phân tử thuốc  Các lồng mới hoạt động bằng việc “bẫy” các phân tử thuốc bên trong một chất mang không độc có thể vận chuyển thuốc đến địa điểm cần thiết trước khi nó được giải phóng. Cái lồng này bao gồm các nhóm phân tử lớn và cuộn quanh thuốc, ngăn hoạt động sinh học của nó cho đến khi nó được tách ra bằng một vật kích hoạt.  Để tạo ra cái lồng, nhóm nghiên cứu sử dụng một dạng phân tử riêng biệt là một rotaxane. Các  rotaxane có một vòng phân tử bị kẹt lại trong một thành phần hình quả tạ, gọi là trục, để chặn các nhóm tại mỗi điểm nút và ngăn cái vòng tròn này khỏi bị trượt ra. Cái vòng này đóng vai trò như một cái khiên phân tử, chặn cái trục và ngăn nó khỏi tương tác với những phân tử khác.  Các nhà nghiên cứu thiết kế một rotaxane với một cái trục bao gồm một phân tử có hoạt tính sinh học thông thường có thể tiêu diệt các tế bào ung thư bằng việc tương tác với các DNA của chúng. Dù cái vòng tròn hiện diện thì phân tử hoạt tính sinh học đó không thể liên kết với DNA, mất đi độc tính của nó.  Tuy nhiên, khi phơi lộ trước ánh sáng hoặc một enzyme cụ thể, một điểm nút của trục bị phá vỡ, giải phóng chiếc vòng và cho phép phân tử có đặc tính sinh học cần thiết gắn với DNA trong các tế bào ung thư.    Tia sáng giải phóng phân tử hoạt động (xanh lam) từ lồng phân tử, cho phép nó liên kết với tế bào ung thư (xám). Nguồn: Imperial College London  Hướng đích ung thư  Việc phân tử hoạt hóa hợp nhất với rotaxane đặc biệt tốt trong tương tác ới một dạng cấu trúc DNA cụ thể gọi là G-quadruplex (G4). Tùy thuộc vào các vai trò sinh học mà các cấu trúc DNA đóng vai trò trong các tế bào, chúng đã được đề xuất làm các đích thuốc tiềm năng chống ung thư, qua đó trao cho các nhà nghiên cứu hi vọng là các hợp chất có thể tương tác với các G4 có thể hữu dụng trong tương lai như những dạng thuốc chống ung thư mới.  Đầu tiên các nhà nghiên cứu kiểm tra các chất mang thuốc rotaxane mới của mình bằng việc sử dụng các chuỗi DNA chiết xuất từ các tế bào và thấy nó không tương tác với bất kỳ thành phần nào. Do đó họ xác nhận là vòng rotaxane đã được ngăn với hợp chất hoạt tính sinh học.  Tiếp theo, họ kiểm tra rotaxane trong các tế bào ung thư, đầu tiên là chứng tỏ rotaxane đó được kết hơp với thành phần có hoạt tính sinh học không độc với các tế bào trong những điều kiện bình thường. Khi phơi lộ trước ánh sáng, gần như toàn bộ các tế bào ung thư bị tiêu diệt trong vòng một vài giờ, qua đó chứng tỏ là thành phần có hoạt tính sinh học đó có thể được giải phóng trong khicác tế bào ung thư được hướng đích đó trong một cách có kiểm soát.  Việc dò theo rotaxane trong các tế bào ung thư bằng kính hiển vi đồng tiêu cho thấy trước khi chiếu ánh sáng, nó vẫn còn nằm ở các phần bên ngoài của tế bào, vốn không chứa DNA. Sau khi ánh sáng chiếu vào tế bào, việc giải phóng các phân tử có hoạt tính sinh học chuyển đến nhân tế bào, nơi lưu giữ chủ yếu DNA trong tế bào. Các thực nghiệm đề xuất là chính sự liên kết kích hoạt với DNA đó là nguyên nhân khiến tế bào ung thư bị tiêu diệt.  Giáo sư Ramon Vilar nói: “Việc có thể phân phối thuốc vào đúng nơi và đúng thời điểm là một thách thức lớn đối với ngành hóa dược. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có thể đạt được điều này bằng việc khóa các phân tử có hoạt tính sinh học trong những rotaxanes”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-cancer-drugs-molecular-cages.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề nguồn nước ở Việt Nam: Cần một quy hoạch tổng thể      Mùa mưa đã bắt đầu, thời điểm hạn mặn gay gắt ở đồng bằng Sông Cửu Long đã qua nhưng câu chuyện về tình trạng thiếu nước và xâm nhập mặn của Việt Nam còn rất nhiều vấn đề lâu dài cần xử lý. Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, xung quanh vấn đề này.    Giáo sư Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam  Xin Giáo sư cho biết một số nhận định tổng quan của mình về tình hình thiếu nước và ngập mặn ở Việt Nam hiện nay.  Thiếu nước và xâm nhập mặn nổi lên ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt vào giai đoạn mùa khô tháng ba và tháng tư vừa qua, đến mức nhà nước phải đề nghị Trung Quốc xả hồ chứa, nhưng thực ra chỉ có hơn 200 triệu m3 nước đi qua ba quốc gia Myanmar, Lào, Campuchia, mà quốc gia nào cũng đang cần nước nên khi về đến Việt Nam thì không còn bao nhiêu. Qua câu chuyện này, có thể thấy khi Việt Nam thiếu nước thì sẽ không biết cầu cứu ở đâu.  Theo tôi, câu hỏi cần đặt ra ở đây là: Việt Nam có đúng là thiếu nước không, và nếu đúng thì thiếu do đâu? Để trả lời cho câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải đặt phép tính cụ thể xem Việt Nam có bao nhiêu nước. Chúng ta thường nghe nói rằng Việt Nam có trên 800 tỉ m3 nước, trong đó 500 tỉ m3 từ nước ngoài đổ về và 300 tỉ m3 phát sinh từ các dòng sông trong nội địa. Đây là con số lấy từ một nghiên cứu vào khoảng năm 1990-1992 của Bộ Thủy Lợi trước đây. Từ đó cho đến nay, theo quan sát của tôi, chưa có bộ hay cơ quan nào thực hiện đánh giá lại xem những con số này có đúng hay không. Trong khi đó, chúng ta hoàn toàn có thể tính ra con số này: với nguồn nước từ nước ngoài đổ về, chúng ta có trạm đo mực nước ở các vùng biên giới; với nguồn nước nội địa, chúng ta có phương pháp tính qua lượng mưa, diện tích trong từng lưu vực nhờ thông số từ các trạm đo mưa. Thậm chí với con số 300 tỉ m3 nước nội địa này, cũng chưa có ai tính ra xem sai số là bao nhiêu.Theo các tài liệu thủy văn của Mỹ, tỉ lệ nước bốc hơi ở một số vùng của Mỹ vào khoảng 30%. Nước ta do nhiệt độ mùa khô cao nên lượng nước bốc hơi, có thể là bốc hơi qua lá, đất hay sông hồ, cũng tương đối nhiều, tôi tạm ước lượng con số này cũng vào khoảng 30%. Như vậy, trong 300 tỉ m3 kia có thể chúng ta chỉ còn lại khoảng 210 tỉ m3 nước.  Hiện chúng ta cũng chưa có con số chính thức về lượng nước ở các sông hồ lớn tại Việt Nam, nhưng theo ước tính của tôi thì con số này là khoảng 40 tỉ m3 nước. Vậy thì 170 tỉ m3 nước còn lại đi đâu? Thực chất là chảy trên sông và đi ra biển. Như vậy, nhìn chung, nguồn nước chủ động của Việt Nam nói chung và đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng là không có mà đều phải lấy từ sông, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta dùng các trạm bơm, cống lấy nước, và do đó phải phụ thuộc vào mực nước. Khi mực nước xuống thấp thì sẽ rất khó lấy. Vì thế, chúng ta vẫn chưa rõ trong số 170 tỉ m3 nước kia chúng ta lấy được bao nhiêu để dùng cho xã hội. Phép tính này cần có cơ quan khoa học nghiên cứu.  Chúng ta phải hiểu, trên một dòng sông, con người chỉ được phép sử dụng bao nhiêu lượng nước, còn lại phải có một lưu lượng cho dòng sông sống, đó là lưu lượng tạo lòng, ngoài ra còn phải có lưu lượng sinh thái, lưu lượng đẩy mặn. Ví dụ, sông Hồng lưu lượng đó khoảng trên 800m3/s, còn sông Cửu Long khoảng trên 2000 m3/s. Nếu đối chiếu với số liệu đã được công bố thì sông Hồng về mùa kiệt ở cuối nguồn chỉ còn 700m3/s, còn sông Cửu Long ở hai nhánh chính sông Tiền và sông Hậu tại nơi bắt đầu chảy vào Việt Nam chỉ có 6000m3/s. Như vậy ở sông Hồng về mùa khô, chúng ta còn thiếu 100m3/s để bảo đảm dòng chảy sinh thái và đẩy mặn, có nghĩa sông Hồng đã ở ngưỡng thiếu nước, chứ không phải trong tương lai nữa. Dòng sông về cuối nguồn sẽ ô nhiễm hơn và mặn sẽ đẩy vào sâu hơn. Còn ở sông Cửu Long nếu trừ đi lưu lượng sinh thái và đẩy mặn, thì vẫn còn khoảng 4000m3/s, có nghĩa sông Cửu Long hiện nay chưa đến ngưỡng thiếu nước.  Tiếc rằng, cho đến nay nhà nước chưa có được những con số về nguồn nước mà các vùng được phép sử dụng để làm cơ sở cho mọi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội được ổn định, không bị xáo động lớn khi có sự biến động cực đoan về khí hậu tác động đến một vùng nào đó.  Nhiều người cho rằng tình trạng thiếu nước và xâm nhập mặn là do El Nino và thiên tai. Giáo sư có đồng tình với nhận định đó không?  Đúng là chúng ta vẫn thường nói hạn mặn là do El Nino, do thiên tai, nhưng chúng ta vẫn thiếu cơ sở khoa học để đưa ra kết luận này. Thiên tai phải ứng với tần suất 100 năm. Nhưng cách đây 10 năm lượng nước vẫn nhiều. Theo tiêu chuẩn khoa học, đấy vẫn chưa phải là điểm cần báo động. Khi nhà nước nói ta bị hạn nhưng không nói tần suất này, trong lúc theo đài khí tượng thủy văn cho biết mức độ chưa phải là cao nhất. Vậy tại sao lại hạn? Theo phân tích của tôi: duyên hải miền Trung chịu El Nino kéo dài hơn một năm, mưa ít, lượng bốc hơi nhiều, nên người dân phải xuống tận đáy hồ để lấy nước nhưng vẫn không lấy được,vì nạn phá rừng ở Tây Nguyên cách đây nhiều năm, bây giờ không có nguồn nước ngầm xuống được. Như vậy, thiếu nước này không phải do trời mà do chiến lược phát triển của ta quá ồ ạt, rồi người dân tự phát phá rừng mất thảm thực vật dẫn đến hết nguồn nước ngầm. Đáy hồ không có nước không phải hoàn toàn do thiên tai mà còn có bàn tay phá hoại của con người. Từ lâu tôi đã nói rằng giữa Tây Nguyên và duyên hải miền Trung gắn bó với nhau về nước, nếu rừng Tây Nguyên mất thì duyên hải miền Trung không có nước.  Tại sao đồng bằng Sông Cửu Long mặn xâm nhập sâu? Nước biển dâng mỗi năm 1 mm thì không giá trị. Nhưng cái “chết” là chính sách khuyến khích người dân nuôi trồng thủy sản, quảng canh. Người dân phá rừng ngập mặn để kéo nước mặn vào để nuôi thủy sản, thậm chí những vùng trồng lúa họ bỏ luôn để đưa nước mặn vào – mà cái này được chính quyền địa phương khuyến khích; trong lúc thủy lợi chưa thể tính đến cách xử lý tình thế này. Quản lý nhà nước bị buông lỏng, dẫn đến mất hiệu lực, nên xâm nhập mặn tràn lan là như vậy.  Gần đây, đứng trước thực trạng hạn hán và ngập mặn trên diện rộng, nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp, nhất là giảm bớt diện tích trồng lúa. Nhưng dường như chúng ta chưa có một giải pháp cụ thể nào để giúp người dân thực hiện được việc chuyển đổi này.  Bài toán thiếu nước và xâm nhập mặn phải đi cùng chiến lược phát triển. Tái cấu trúc nông nghiệp thực chất phải dừng phát triển, củng cố lại theo hướng chia vùng: vùng mặn nhiều nuôi trồng thuỷ sản, vùng ít mặn trồng một vụ lúa, một vụ thuỷ sản, còn vùng hoàn toàn không mặn thì trồng lúa. Đấy là cả quy hoạch. Từ quy hoạch, chúng ta mới đưa ra được kế hoạch, rồi xây dựng dự án và đưa vào thực hiện.  Lâu nay trong tái cơ cấu chúng ta nói về chủ trương, lợi, hại, khó khăn, nhưng chưa thấy có bài toán cụ thể như nêu ở trên. Chúng ta cần tính xem nông dân cần gì, nhà nước cần gì? Làm gì để nhà nước bảo vệ được tài nguyên và nhân dân cũng được lợi. Để làm tốt những việc này, một yếu tố hết sức quan trọng là cần có những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nước, lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, xã hội… tham gia.  Giáo sư có thể nói cụ thể hơn về yếu tố này không?  Để giải quyết bài toán thiếu nước, cần có các chuyên gia, các nhà khoa học có kiến thức và nhiều kinh nghiệm. Mà với thủy lợi thì nghiêng về kinh nghiệm nhiều hơn. Không thể áp dụng nguyên xi những con số, công thức của các nước đưa vào bởi vì địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng, thổ nhưỡng, cây trồng, ở Việt Nam khác với các nước khác. Chẳng hạn mưa xuống bao nhiêu thì ngập úng – điều này chỉ Việt Nam mới biết được chứ nước ngoài họ không biết, vì chúng ta là đất vùng nhiệt đới, mà đất ở sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là đất bồi tích. Ngày xưa Pháp cũng không để lại con số này mà chúng ta phải tự nghiên cứu lấy. Cho nên phải tận dụng nguồn tư liệu cục bộ trong nước và địa phương mới có thể tính được những bài toán cụ thể như thế này. Ví dụ, cần bao nhiêu nước để tưới lúa cho một vùng đất cụ thể, thì phải có người đã từng chỉ đạo trồng lúa trong nhiều năm mới tính được.  Xin cảm ơn Giáo sư!    Author                Khánh Trang - Phương Thảo        
__label__tiasang Văn hóa an toàn trong công nghiệp      Với những ngành công nghiệp này, việc xây dựng nên một hệ thống quản lí an toàn (safety management system) là điều bắt buộc. Tuy nhiên, đó mới chỉ là phần cứng, cần phải có phần mềm để đảm bảo những phần cứng đó hoạt động hiệu quả: đó chính là văn hóa an toàn trong vận hành.       Những ngành công nghiệp như hàng không, hóa dầu, khai thác thăm dò dầu khí, điện hạt nhân đều có một đặc điểm chung là tiểm ẩn những nguy cơ rủi ro rất cao. Những tai nạn liên tiếp với tần suất tương đối thường xuyên trong những ngành công nghiệp này là những ví dụ cụ thể: tai nạn nhà máy lọc dầu của BP ở Texas năm 2005, vụ nổ và tràn dầu ở vịnh Mexico năm 2010, tai nạn nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, tai nạn ở cụm nhà máy điện hạt nhân ở Nhật Bản năm 2011 và những tai nạn hàng không trên thế giới. Đó là những tai nạn tương đối điển hình, xen vào đó là hàng trăm tai nạn, sự cố nhỏ hơn không được thông tin rộng rãi.  Với những ngành công nghiệp này, việc xây dựng nên một hệ thống quản lí an toàn (safety management system) là điều bắt buộc. Một số thành phần chính của một hệ thống như vậy đã được đề cập trong bài viết của tác giả trên tạp chí Tia Sáng tháng 2 năm 2011. Tuy nhiên, đó mới chỉ là phần cứng, cần phải có phần mềm để đảm bảo những phần cứng đó hoạt động hiệu quả: đó chính là văn hóa an toàn trong vận hành. Bài viết này nhằm chia sẻ những kinh nghiệm thực tế của tác giả trong quá trình xây dựng văn hóa an toàn trong vận hành đối chiếu những nghiên cứu của James Reasons là người tiên phong trong việc phân tích các tai nạn gây ra bởi lỗi hệ thống.  Văn hóa an toàn của một công ty là sự kết hợp của văn hóa của từng cá nhân và văn hóa của công ty. Văn hóa an toàn của cá nhân chính là cách cư xử, suy nghĩ, hành động của mỗi cá nhân liên quan đến vấn đề an toàn. Chẳng hạn như nhận thức của nhân viên vận hành là cần phải mang đủ quần áo bảo hộ khi đi vào khu vực sản xuất của nhà máy. Song song với đó là văn hóa của chính công ty như một thực thể, đó là cách xử lí, hành động của công ty được thể hiện bằng những quy trình, quy định trong các vấn đề liên quan đến vấn đề an toàn. Ví dụ như những quy định yêu cầu nhân viên phải đảm bảo đủ các thiết bị bảo hộ trước khi đi vào khu vực sản xuất.  Các cấp độ của văn hóa an toàn  Văn hóa an toàn của công ty có thể chia theo các mức độ sau:  Kém: Đó là những công ty mà trách nhiệm về an toàn không rõ ràng, an toàn chỉ tồn tại về mặt hình thức. Các quy định về an toàn không được phổ biến và làm theo, những người có trách nhiệm nói một đằng làm một nẻo, những vi phạm về an toàn xảy ra hoặc là bị trừng phạt hoặc là che giấu mà không được báo cáo cho các bên liên quan  Thụ động: theo thuật ngữ của Việt Nam là mất bò mới lo làm chuồng, là văn hóa an toàn ở cấp độ cao hơn một chút. Chỉ sau khi xảy ra sự cố mới tiến hành khắc phục những khiếm khuyết và lỗ hổng trong vấn đề an toàn ở mức cục bộ chứ không giải quyết vấn đề ở mức độ cao hơn là lỗi hệ thống.   Tích cực: văn hóa an toàn ăn sâu vào trong hoạt động của công ty. Công ty có một hệ thống quản lí an toàn được áp dụng một cách tích cực trong các hoạt động hằng ngày, lực lượng lao động và quản lí có hiểu biết sâu sắc về an toàn công nghệ và an toàn cá nhân. Mỗi một hành động của mỗi cá nhân và của công ty đều có dấu ấn của văn hóa an toàn Ví dụ, nhà máy chấp nhận rủi ro mất sàn lượng khi tiến hành thử các van đóng khẩn cấp an toàn theo định kì bảo dưỡng.   Xây dựng nên một nền văn hóa tích cực là điều chúng ta phải hướng đến.  Xây dựng văn hóa an toàn  Như đã trình bày ở trên, để xây dựng nên một nền văn hóa an toàn, cần phải quan tâm và chú trọng đến xây dựng nên văn hóa an toàn của mỗi cá nhân và văn hóa của cả công ty. Văn hóa an toàn của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: từ nghề nghiệp, quốc gia, vùng miền, gia đình v.v. Trong phạm vi nghề nghiệp văn hóa an toàn cá nhân được củng cố trước hết bới những chính sách về an toàn chung của công ty, yêu cầu về ứng xử an toàn đối với mỗi thành viên, những chiến dịch, chương trình đào tạo an toàn, và một phần ảnh hưởng rất lớn từ cách ứng xử của những người có trách nhiệm đối với vấn đề an toàn. Như nhiều nhà xã hội học đã phân tích, văn hóa của mỗi con người chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố, nó được hình thành trong một quá trình rất dài nên để thay đổi không phải là một điều dễ dàng có thể làm trong ngày một ngày hai, văn hóa an toàn là một phần trong tổng thể chung của văn hóa nên cũng không là ngoại lệ. Việt Nam trong giai đoạn phát triển rất đặc thù này có những đặc điểm riêng về văn hóa nói chung và văn hóa an toàn nói riêng v.v…  Văn hóa công ty là cách ứng xử, là những điều khoản, hướng dẫn và yêu cầu của một tổ chức, ngược lại có thể xây dựng, thay đổi trong một thời gian ngắn, nếu được vận dụng một cách hợp lí, có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong văn hóa an toàn của mỗi cá nhân vốn đã chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ ngoài xã hội, cộng đồng. Phần tiếp theo của bài viết sẽ đi sâu hơn vào việc xây dựng nên văn hóa an toàn của công ty   Các nhân tố chính của một nền văn hóa an toàn:    Báo cáo những sự cố, những điều kiện thiếu an toàn (Reporting culture)  Một hệ thống báo cáo hiệu quả là điều kiện tiên quyết để xây dựng nên một nền văn hóa an toàn. Mục đích của báo cáo là để ghi nhận sau đó tìm hiểu nguyên nhân của sự cố và có các biện pháp khắc phục để tránh sự lặp lại. Với các tình trạng không an toàn, là để ngăn ngừa sớm sự phát sinh tai nạn v.v.   Ví dụ cụ thể là khi nhân viên vận hành thấy dấu hiệu rò rỉ của khí, ga v.v mà không kịp thời báo cáo để khắc phục thì có thể dẫn đến tai nạn cháy nổ lớn hơn nhiều.   Văn hóa báo cáo an toàn chỉ có thể được hình thành nếu có một hệ thống hướng dẫn cụ thể về báo cáo sự cố. Hệ thống này quy định cụ thể những loại sự cố nào cần phải báo cáo, ai là người chịu trách nhiệm báo cáo, ai là người quyết định phải điều tra thêm để tìm hiểu nguyên nhân trực tiếp cũng như hệ thống, một hệ thống biểu mẫu trên giấy hoặc điện tử mà mọi người có thể sử dụng để báo cáo. Ví dụ các sự cố phải báo cáo như: tai nạn, các điều kiện thiếu an toàn, các lỗi đã xảy ra trong quá trình vận hành, tình trạng các thiết bị an toàn, sự cố tràn dầu hoặc hóa chất, người bị thương nhẹ v.v.   Văn hóa công bằng (Just culture)  Một nền văn hóa công bằng là yếu tố thứ hai và là thành phần hỗ trợ quan trọng của yếu tố thứ nhất. Những lối ứng xử chấp nhận và không chấp nhận được phân biệt rạch ròi bởi từng cá nhân và những người quản lí. Ví dụ những vi phạm về an toàn mà không phải do lỗi cố ý của mỗi cá nhân thì những người có liên quan sẽ không phải chịu những trách nhiệm cá nhân, với những lỗi cố ý thì các biện pháp trừng phạt mới được áp dụng. Đồng thời có những biện pháp khuyến khích và khen thưởng những nhân viên tham gia tích cực vào việc báo cáo và điều tra sự cố cũng như các điều kiện làm việc nguy hiểm. Nếu những đóng góp tích cực không được ghi nhận thì rất có thể lần sau những sự việc tương tự sẽ không bao giờ được báo cáo lên. Một ví dụ cụ thể là nếu một người nhân viên vận hành báo cáo về một sơ suất trong quá trình làm việc mà có thể dẫn tới điều kiện làm việc không an toàn thì người nhân viên đó không bị trừng phạt mà còn có thể được khen thưởng vì thái độ trung thực.  Văn hóa học hỏi (Learning culture)  Học hỏi từ những kinh nghiệm của chính bản thân mình và kinh nghiêm đã xảy ra từ những nới khác. Đã có nhiều tai nạn xảy ra với những nguyên nhân gần giống nhau nên cần phải tiếp thu những bài học từ những sự cố xảy ra ngay tại nhà máy và những nơi khác. Sau khi những nguyên nhân của sự cố đã được phát hiện, các bài học phải được chia sẻ và nhân rộng không những trong phạm vi nhà máy mà còn với những nhà máy khác tương tự. Khái niệm học hỏi cũng bao gồm cả học hỏi những kinh nghiệm tích cực, áp dụng “best practices” vào quá trình vận hành nhà máy của mình.  Trên đây là những yếu tố cần của một nền văn hóa an toàn nhưng điều đủ là những yếu tố sau:  1. Cam kết của những người lãnh đạo, là những người có trách nhiệm cao nhất đối với nhà máy. Khi có những cam kết này mới có thể cung cấp nguồn lực và phương tiện cũng như kinh phí để xây dựng nên văn hóa toàn. Một vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng chính là người đứng đầu sẽ là tấm gương về cách ứng xử trong vấn để an toàn cho toàn bộ công ty. Mọi khẩu hiệu sẽ trở nên sáo rỗng và mất sự thuyết phục nếu bản thân người lãnh đạo không cam kết thực sự với vấn đề an toàn. Sự cam kết này phải được truyền tải từ cấp cao nhất cho đến các những người quản lí ở nhà máy.  2. Kiến thức về an toàn: cam kết không là không đủ mà người lãnh đạo phải có những hiểu biết nhất định về vấn đề an toàn vì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết đinh mà ảnh hưởng của nó đến vấn đề an toàn sẽ rất lớn ví dụ như việc phân bổ nhân lực, cơ cấu tổ chức, kinh phí hàng năm v.v.. Kèm theo là một đội ngũ những chuyên gia về an toàn vận hành, những người sẽ có tiếng nói quan trọng trong quá trình vận hành cũng như sẽ tư vấn cho ban lãnh đạo về những chính sách, chương trình an toàn.  Tai nạn ở nhà máy lọc dầu của BP ở Texas năm 2005 là một ví dụ cụ thể cho thấy khi thiếu những điều kiện cần và đủ như trên, thảm họa sẽ có khả năng xảy ra rất lớn. Có nhiều nguyên nhân trực tiếp về mặt thiết bị, con người và quy trình đã dẫn đến thảm họa nhưng khi phân tích sâu hơn thì gốc rễ là sự thiếu hiểu biết sâu sắc về vấn đề an toàn của những người có trách nhiệm ở cấp độ tập đoàn. Điều này đã dẫn đến khiếm khuyết rất lớn về văn hóa an toàn công nghệ, về đánh giá sai mức độ an toàn của nhà máy. Trong suốt một thời gian dài, những thành tích của an toàn cá nhân cũng được hiểu như là thành tích của an toàn vận hành.  Với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay ảnh hưởng của văn hóa xã hội lên mỗi cá nhân còn nhiều tiêu cực: sự trung thực, tinh thần cống hiến v.v, xây dựng văn hóa an toàn cho công ty là điều cần thiết phải làm.  Một nền văn hóa an toàn cao là điều không thể thiếu được trong quá trình vận hành của các nhà máy tiềm ẩn khả năng rủi ro cao như nhà máy lọc dầu, nhà máy điện hạt nhân, hàng không. Bài viết này hy vọng đóng góp thêm một phần hiểu biết của tác giả trong quá trình vận hành với những người có trách nhiệm để cùng nhau xây dựng nên một nền văn hóa an toàn cho các nhà máy ở Việt Nam.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa dẫn dắt tiến hóa của con người nhiều hơn cả di truyền      Trong một nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu trường đại học Maine phát hiện ra văn hóa giúp con người thích ứng với môi trường và vượt qua thách thức tốt hơn và nhanh hơn di truyền.      Lễ hội đền Cổ Loa khai hội vào ngày mùng 6 tháng Giêng . Nguồn: thanglong.chinhphu.vn/  Sau khi tiến hành khảo cứu tài liệu và các bằng chứng về tiến hóa dài hạn của con người, các nhà khoa học Tim Waring và Zach Wood đã kết luận là con người đang trải nghiệm “chuyển tiếp tiến hóa đặc biệt”, trong đó yếu tố quan trọng của văn hóa, như tri thức, thực hành và các kỹ năng, đang có vai trò trội hơn cả gene trong việc định hình nền tảng cho tiến hóa của con người.  Văn hóa vốn là một nhân tố bị đánh giá thấp trong tiến trình tiến hóa của con người, Waring nói. Giống như các gene, văn hóa giúp con người thích nghi với môi trường của mình và đáp úng với những thách thức của việc sống còn và sinh sôi nảy nở. Văn hóa, dẫu vậy, hiệu quả hơn nhiều so với gene bởi sự chuyển giao tri thức diễn ra nhanh hơn và linh hoạt hơn cả việc kế thừa gene, theo cả Waring và Wood.  Văn hóa là một cơ chế thích ứng mạnh hơn bởi một số nguyên nhân. Nó nhanh hơn: việc kế thừa gene di truyền xuất hiện chỉ một lần trong một thế hệ; trong khi đó thì các thực hành văn hóa có thể được học hỏi một cách nhanh chóng và cập nhật một cách thường xuyên. Văn hóa cũng linh hoạt hơn nhiều so với gene: di truyền gene rất cứng nhắc và bị giới hạn với thông tin di truyền của hai bố mẹ; trong khi việc chuyển tiếp văn hóa được dựa trên cơ sở học tập linh hoạt và hiệu quả không giới hạn với năng lực tận dụng thông tin từ cả [những người] đồng đẳng, chuyên gia hơn cả từ cha mẹ. Kết quả là, văn hóa tạo ra một dạng thích nghi mạnh hơn so với yếu tố di truyền cổ xưa.  Waring mới xuất bản phát hiện của mình trong một bài review tài liệu trong tạp chí Proceedings of the Royal Society B,  một tạp chí nghiên cứu sinh học hàng đầu của Hội Hoàng gia ở London.  “Nghiên cứu này giải thích tại sao con người lại là một loài độc nhất vô nhị. Chúng ta tiến hóa cả về di truyền và văn hóa theo thời gian nhưng chúng ta cũng dần trở nên ‘văn hóa hơn’ và ít ‘di truyền hơn’ ”, Waring nói.  Văn hóa ảnh hưởng lên cách con người sống sót và tiến hóa hàng thiên niên kỷ. Theo Waring và Wood, sự kết hợp của cả văn hóa và gene đều là “nhiên liệu” cho những thích nghi chủ yếu ở con người như giảm bớt tính hung hãn, có khuynh hướng hợp tác, năng lực cộng tác và năng lực học tập xã hội. Hai nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết là, sự thích nghi của con người là do văn hóa dẫn dắt và đòi hỏi gene phải đáp ứng đang ngày càng tăng.     Các làn điệu quan họ là một nét đẹp văn hóa ở vùng Kinh Bắc. Nguồn: vntrip   Waring và Wood cũng cho rằng, văn hóa cũng đặc biệt theo một cách quan trọng: nó mang tính định hướng nhóm người một cách rõ rệt. Các nhân tố như sự tuân thủ, bản sắc xã hội, chia sẻ các chuẩn mực và định chế xã hội – các yếu tố không có sự tương đương với di truyền – khiến tiến hóa văn hóa có tính định hướng nhóm. Do đó, sự cạnh tranh giữa các nhóm người có tổ chức theo văn hóa thúc đẩy những thích nghi như các chuẩn mực hợp tác mới và các hệ thống xã hội có thể giúp các nhóm tồn tại cùng nhau tốt hơn.  Theo các nhà nghiên cứu, “các nhóm có tổ chức về mặt văn hóa dường như giải quyết những vấn đề thích ứng tốt hơn so với từng cá nhân, thông giá trị kép của học hỏi xã hội và lan truyền văn hóa trong các nhóm”. Các thích nghi văn hóa có thể xảy ra ở các nhóm lớn nhanh hơn là các nhóm nhỏ. [Con người hoạt động theo nhóm nên] các nhóm đang thúc đẩy văn hóa và văn hóa đang “tiếp lửa” cho tiến hóa người nhiều hơn di truyền, Waring và Wood nhận thấy, bản thân sự tiến hóa đã thiên về nhóm hơn.  “Về lâu dài, chúng tôi cho rằng con người đang tiến hóa từ cá thể di truyền đơn lẻ thành các nhóm văn hóa với chức năng như các xã hội đoàn kết hữu cơ (superorganism), như kiểu các đàn kiến và các tổ ong”, Waring nói. “Câu nói ‘xã hội như một tổ chức’ không hoàn toàn là phép ẩn dụ. Cái nhìn này có thể giúp xã hội hiểu tốt hơn cách các cá nhân có thể phù hợp vào một hệ thống được tổ chức tốt và cùng có lợi. Hãy coi đại dịch coronavirus là ví dụ. Một chương trình đáp ứng dịch bệnh ở tầm quốc gia hiệu quả thực sự là một hệ miễn dịch quốc gia, và do đó, chúng ta có thể học hỏi trực tiếp từ cách các ‘hệ miễn dịch’ hoạt động để đáp ứng với COVID”.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-culture-human-evolution-genetics.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa hay khoa học ?      Khi thảo luận về đổi mới sáng tạo (ĐMST), một trong những câu hỏi đầu tiên cần phải đặt ra, đó là: ĐMST là quá trình mang tính văn hóa hay khoa học?      Các diễn giả trong các khóa đào tạo về ĐMST, các nhà làm chính sách, các chuyên viên dự án, thường có khuynh hướng coi ĐMST là một quy trình quản trị mang tính khoa học, có thể bắt chước được. Điều này không chỉ dừng ở cấp độ doanh nghiệp, mà còn ở cấp quốc gia. Bằng chứng là rất nhiều nước ở  châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã dành nhiều công sức cho việc bàn thảo và xây dựng các thung lũng silicon ở nước mình. Ngay cả các nước châu Phi cũng nhập cuộc với trào lưu xây dựng Thung lũng Silicon. Nhưng tất cả đều không đạt được kết quả như mong đợi.   Trào lưu này cũng lan rộng sang các mô hình khác như Công viên khoa học, Thành phố khoa học, Khu công nghệ cao, Trung tâm xuất sắc, Vườn ươm doanh nghiệp… Chẳng hạn, Singapore cũng đã từng có chương trình phát triển ngành y sinh để trở thành một vườn ươm công nghệ y sinh của thế giới, một dạng thung lũng silicon chuyên về y sinh và dược phẩm. Việt Nam cũng đã có hai khu công nghệ cao ở Hà Nội và TP. HCM. Một loạt các trung tâm xuất sắc ở các tỉnh thành cũng đã từng được bàn bạc để xây dựng. Tất cả đều là sự bắt chước các mô hình đã thành công, chủ yếu từ các nước Âu – Mỹ.  Dù được đầu tư lớn, nhưng sự thất bại của các khu công nghệ cao, công viên khoa học, thành phố khoa học, vườn ươm doanh nghiệp và các thung lũng đủ loại… ở các nước đi sau, trong đó có Việt Nam, là một thực tế.   Các khu công nghệ cao cóp nhặt các mô hình ngoại lai được coi là thành công, con số này rất ít, đều tập hợp được người ở các mô hình gốc, hoặc ít nhất cũng từ các nước có các mô hình đó, đến tổ chức và làm việc. Điều này ngụ ý rằng, chính văn hóa tổ chức và làm việc mà những người này mang lại mới là yếu tố quyết định thành công, chứ không phải là đầu tư hay cơ sở vật chất hay quyết định chính trị của cơ quan chủ quản.   Yếu tố văn hóa này nằm trọn vẹn trong đội ngũ nhân sự, hay còn gọi khác đi là yếu tố con người. Chỉ khi nào có con người thấm đẫm tinh thần ĐMST thì các hoạt động có tính ĐMST mới có thể triển khai và thành công.   Mặt khác, việc bắt chước không thành công các mô hình này còn do sự thất bại trong việc nhân rộng hoạt động ĐMST bởi ĐMST không đơn thuần là một quy trình có thể bắt chước được thông qua đào tạo. Ngay cả trong trường hợp xây dựng được quy trình để quản trị các hoạt động ĐMST thì quy trình đó phải kích hoạt được các ý tưởng sáng tạo và đủ mở để chứa đựng chúng, thay vì tập trung quản lý các ý tưởng này. Nói cách khác, quy trình đó phải là một quy trình kích hoạt và khuyến khích văn hóa đổi mới sáng tạo, văn hóa dân chủ trong làm việc, văn hóa hợp lực, văn hóa tự do khám phá và thử nghiệm… chứ không phải là quy trình quản trị nặng tính kỹ thuật.  Như vậy, ĐMST có bản chất là các hoạt động mang tính văn hóa, chứ không phải là các hoạt động có tính khoa học, quản trị hay kỹ thuật đơn thuần.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa tín dụng      Thị trường tài chính nếu thiếu thông tin thì sẽ dẫn tới chậm trễ trong việc lưu chuyển vốn, và thậm chí tệ hơn, có thể phân phối vốn tới những nơi nguy cơ rủi ro, đổ bể cao. Điều đó nhanh chóng thể hiện ra qua hiện trạng một nền kinh tế. Chẳng hạn như vốn không rót tới tay người sản xuất, thay vào đó tập trung quá mức ở các khoản đầu tư mang tính chộp giật như chứng khoán và bất động sản. Những điều này gây ra sự bất ổn cùng với tốc độ phát triển ỳ ạch. Vậy thì làm thế nào để có được thông tin chính xác, minh bạch, nhanh chóng để giúp thị trường tài chính hoạt động hiệu quả? Câu trả lời là, cần phát triển văn hóa tín dụng    Khi một nền kinh tế phát triển tới một mức độ ổn định nhất định thì văn hóa tín dụng ra đời. Khi đó người mua và người bán không còn nhất thiết phải trao đổi theo cách tiền trao, cháo múc ngay trong một tức khắc nữa. Người mua có thể nhận sản phẩm và trả dần cho người bán theo một lãi suất mà hai bên có thể cùng chấp nhận được. Điều này tăng mức độ linh hoạt cho việc lưu chuyển đồng tiền. Nó cũng làm tăng mức độ thỏa mãn cho mọi đối tác liên can. Người mua có thể được sử dụng ngay sản phẩm thay vì phải dành dụm đủ tiền. Người bán có thể bán được ngay sản phẩm, và được đền bù sự rủi ro qua lãi suất.  Trong quá trình trao đổi tín dụng, nếu giữa người bán và người mua thiếu thông tin thì mức độ rủi ro đối với người bán sẽ lớn hơn. Khi đó người bán sẽ đòi hỏi một lãi suất cao, hoặc đòi hỏi một khoản đặt cọc hay thế chấp nhiều hơn. Như vậy thì tuy đã có sự trao đổi tín dụng giúp đồng tiền luân chuyển linh hoạt hơn, nhưng ma sát vẫn còn quá lớn. Để giúp bôi trơn, người bán cần được cung cấp thêm thông tin về người mua. Hiện nay, ở các nước có thị trường tài chính phát triển, mức độ khả tín khi chi trả các khoản tín dụng của mỗi cá nhân trong quá khứ đều được ghi lại và thông báo cho người bán mỗi khi tiến hành một cuộc thương thảo mới. Thông tin này được gọi là điểm tín dụng (credit score). Cái lợi trước mắt của tiến trình này là giúp cho người bán nắm bắt thêm một thông tin cốt lõi để đánh giá mức độ rủi ro, qua đó giúp cho quá trình trao đổi tín dụng diễn ra chính xác, nhanh chóng, và công bằng hơn. Cái lợi tổng thể là nó giúp cho đồng tiền lưu chuyển một cách hiệu quả hơn. Nhưng một cái lợi rất đáng kể nữa là sự đóng góp vào tiến trình phát triển xã hội.  Bề ngoài thì văn hóa tín dụng ở các nước phát triển khiến cho tất cả mọi người đều biến thành con nợ. Nhưng thực chất thì đó là tự họ lựa chọn như vậy. Đơn giản vì điều ấy tốt hơn là tự mình xoay xở gom góp từng đồng vốn một. Mặt khác, thị trường tín dụng là một công cụ biểu tượng cho sự khả tín. Người nghèo đi vay đã đành. Người giàu cũng đi vay. Họ vay từ nhà băng, hay các công ty tài chính mà mức độ khả tín đã được công nhận rộng rãi. Đơn giản vì những người được trả tiền cũng muốn được chi trả bởi những đối tượng có uy tín này. Bởi vậy, văn hóa tín dụng là liều thuốc tích cực chống lại những cuộc rửa tiền. Dù không thể ngăn cản tuyệt đối sự lưu chuyển của những đồng tiền do các hoạt động phạm pháp, nhưng dù sao cũng là một rào cản đáng kể đầu tiên.  Nhìn trên diện rộng hơn, văn hóa tín dụng buộc từng cá nhân phải chú trọng tới hồ sơ tín dụng của mình. Mỗi lần thất tín sẽ gây khó khăn hơn cho lần trao đổi tín dụng tiếp theo. Người có hồ sơ tín dụng tốt sẽ được ưu đãi khi vay để mua nhà, xe cộ, hay bất cứ khoản tiêu pha quan trọng nào. Vì vậy, tín nghĩa không còn là khái niệm mang thuần túy giá trị tinh thần, mà thực chất đi liền vào khúc ruột của mỗi cá thể trong xã hội. Nên coi đây là một bước tiến của xã hội văn minh. Sự khả tín một mặt mang lại lợi ích thiết thực. Mặt khác nó khuyến khích con người nỗ lực hơn trong lao động để có thể duy trì các khoản chi trả đều đặn. Tất nhiên, điều này không xâm phạm tới quyền tự do lựa chọn của cá nhân. Mỗi cá nhân đều có quyền lựa chọn một hồ sơ tín dụng riêng và hưởng quyền lợi gắn liền một cách công bằng với hồ sơ này.  Văn hóa tín dụng không thể được hiểu như cây đũa thần giúp thị trường tài chính trở nên hoàn hảo. Những nước có văn hóa tín dụng phát triển hàng trăm năm vẫn vấp phải sự bất ổn. Cuộc khủng hoảng của thị trường tài chính subprime ở Mỹ hiện nay cho thấy rằng dưới sức ép cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận, các công ty tài chính vẫn nhắm mắt dấn thân vào những lựa chọn rủi ro. Nói cách khác, thông tin về hồ sơ tín dụng cá nhân là công cụ hữu ích để các đối tượng cho vay suy xét, nhưng nó vẫn là một thứ thông tin không hoàn hảo. Và trên hết, thông tin chỉ là công cụ. Sử dụng công cụ ấy hiệu quả đến đâu là tùy thuộc ở con người.  Dù không dễ dàng để tới được sự hoàn hảo nhưng việc hình thành và liên tục cải thiện văn hóa tín dụng là bước phát triển không thể thiếu cả trên khía cạnh kinh tế lẫn chính trị và xã hội. Một xã hội mà số đông cá thể có thói quen duy trì sự khả tín là một xã hội đang phát triển tiến bộ. Hồ sơ tín dụng là một công cụ giúp cho đồng tiền lưu chuyển chính xác và minh bạch hơn. Nó giúp đem lại sự ổn định và công bằng cho hoàn cảnh tài chính của mỗi cá nhân. Đó là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế cũng như của xã hội trong quá trình tiến hóa. Và ngược lại, khi nhu cầu ổn định và công bằng về tài chính được đáp ứng, thì đó là nền tảng để tiếp tục nảy sinh những nhu cầu tiến bộ khác.         Phạm Trần Lê      Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa và kinh doanh      Hoạt động kinh doanh vốn gắn liền với lợi  ích, và lợi ích kinh doanh thường được đồng nhất với lợi nhuận. Phải  chăng nguyên nhân của sự khủng hoảng văn hóa kinh doanh hiện nay là ở  chỗ lợi nhuận đang được đặt ra như là một mục tiêu duy nhất?     Không ai có thể phủ nhận vấn đề lợi nhuận trong kinh doanh. Vì phủ nhận lợi nhuận là phủ nhận chính bản thân sự kinh doanh. Nhưng kinh doanh còn có những lợi ích khác ngoài lợi nhuận kinh tế. Có lẽ cần bắt đầu bằng việc nghĩ đến điều đó. Và bắt đầu bằng việc đối diện với thực tế như quý vị đã làm khi chỉ ra rằng nền kinh tế thị trường của chúng ta đang rơi vào khủng hoảng nhân văn (ở đây tôi nhắc lại vấn đề được nêu lên trong đề cương hội thảo của quý vị). Tóm lại tôi muốn nhấn mạnh rằng tất cả mọi sự thay đổi đều bắt đầu bằng ý thức của chúng ta về thực tại mà chúng ta đang có và ý thức đặt ra những mục tiêu mới để tạo ra những thực tại mới như chúng ta mong đợi.  Hoạt động kinh doanh có thể đưa lại các lợi ích văn hóa như thế nào? Bỏ qua các vấn đề về kinh tế tri thức, về kinh doanh văn hóa như là một lĩnh vực đặc thù của kinh tế, mà quý vị chắc chắn nắm vững hơn tôi, ở đây tôi muốn nói đến các hiệu ứng văn hóa mà các nhà kinh doanh và các sản phẩm có thể mang lại.  Hãy nhìn phố Hàng Đào, một trong những phố trung tâm nhất của Hà Nội. Nằm ngay cạnh Hồ Gươm, biểu tượng văn hóa của thủ đô. Còn chút gì của văn hóa Việt, còn chút gì của cái bề dày nghìn năm văn hiến gắn với hai chữ Thăng Long còn sót lại ở trên đường phố này? Hoàn toàn không. Du khách đến trung tâm của thủ đô Việt Nam mà tưởng rằng mình đang ở Trung Quốc, và đó không phải là một Trung Quốc của Bắc Kinh hay Thượng Hải, mà là Trung Quốc của những khu vực nghèo nàn. Chính hoạt động kinh doanh trên phố Hàng Đào là nguyên nhân của điều đó. Đây chỉ là một ví dụ để ta thấy rằng kinh doanh và văn hóa gắn bó chặt chẽ với nhau hơn là chúng ta tưởng.  Sự có mặt của hàng hóa kéo theo dấu ấn của những người sản xuất ra chúng. Sự tràn ngập của hàng Trung Quốc hiện nay trên lãnh thổ của chúng ta đang là một nguyên nhân khiến cho bản sắc của chúng ta bị xóa bỏ. Nhất là sự tràn ngập của những vật dụng hàng ngày. Ngạn ngữ của cha ông chẳng phải đã nói: “nước chảy đá mòn”. Sự tiếp xúc thường nhật, ngày này qua ngày khác cuối cùng sẽ khiến cho vật dụng ăn sâu vào tinh thần người sử dụng, khiến cho cuối cùng vật dụng sẽ để lại dấu ấn của nó trong phong cách, lối sống của người sử dụng. Nói một cách văn chương: vật dụng thôn tính chính người sử dụng chúng. Đó chính là giá trị văn hóa của hàng hóa. Hơn tám mươi phần trăm dân số của chúng ta đang sử dụng loại hàng hóa nào? Các nhà văn hóa và các nhà kinh doanh của chúng ta có bao giờ nghĩ đến điều đó? Trong khi chúng ta tìm kiếm thị trường quốc tế (không ai bác bỏ được sự cần thiết của điều này) thì chúng ta lại lãng quên cái thị trường mênh mông trên chính xứ sở mình. Tại sao người Việt không sản xuất hàng hóa cho người Việt? Hãy hình dung viễn cảnh: nếu hàng hóa của chúng ta đáp ứng được nhu cầu sử dụng của dân chúng thì nguồn lợi nhuận mà các doanh nhân Việt Nam thu được sẽ là thế nào? Nó tương đương với nguồn lợi nhuận mà người nước ngoài, đặc biệt là người Trung Quốc đang lấy về từ Việt Nam hiện nay.   Theo con số mà báo Thanh Niên đưa ra ngày 4/10/2010, chúng ta nhập siêu khoảng 13,5 tỉ USD, trong đó khoảng 80% là nhập siêu từ Trung Quốc. Chỉ riêng rau quả, 8 tháng đầu năm chúng ta đã phải trả cho Trung Quốc 90 triệu USD. Riêng TP Hồ Chí Minh trả 99.679 USD cho tăm tre nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm. Câu hỏi đặt ra là chúng ta có khả năng tổ chức cho những người thất nghiệp sản xuất những mặt hàng tiêu dùng đơn giản như rau quả, tăm tre, bánh kẹo… không? Liệu chúng ta có thể phát triển ngành công nghiệp phụ trợ không? Với những điều kiện nào? Chắc chắn, để các doanh nhân chúng ta chinh phục được thị trường chúng ta, thì chính phủ phải cương quyết ủng hộ họ bằng các chính sách bảo hộ hàng trong nước một cách hiệu quả và có các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước. Như là chính phủ các nước khác đã làm để bảo vệ nền sản xuất nội địa của họ. Tuy nhiên, trước tiên bản thân các doanh nhân phải nghĩ đến điều đó. Phương châm của các doanh nhân Trung Quốc là lấy tiền của thiên hạ về cho Trung Quốc chứ không đưa tiền của Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ. Đó có thể xem là một thái độ văn hóa trong kinh doanh. Chúng ta đang làm ngược lại, chúng ta đưa đồng Việt Nam sang Trung Quốc quá nhiều. Điều này có thể dẫn tới một lập luận rằng: thái độ văn hóa trong kinh doanh được bắt đầu bằng chính thái độ đối với đồng tiền. Chắc chắn có thể bàn bạc rất nhiều về vấn đề này, ở đây tôi chỉ đề cập tới một điểm: thoát khỏi sự lệ thuộc vào đồng tiền, hay nói cách khác là tạo nên sự độc lập, tự do đối với đồng tiền trong tinh thần.  Có nghịch lý không khi nói rằng nhà kinh doanh có văn hóa không để đồng tiền chi phối mình? Ở đây có lẽ ta có mối quan hệ hai chiều giữa doanh nhân và đồng tiền: bị đồng tiền chi phối và điều khiển đồng tiền. Hiển nhiên, văn hóa trong kinh doanh, hay lợi ích văn hóa mà hoạt động kinh doanh có thể mang lại phụ thuộc vào việc người kinh doanh để cho mình bị đồng tiền điều khiển, hay là có khả năng điều khiển đồng tiền vì những mục đích cao hơn đồng tiền. Khi doanh nhân có khả năng điều khiển đồng tiền thì có thể lúc đó tiền không còn là mục đích nữa mà trở thành phương tiện để nhà kinh doanh hướng tới những mục đích nhân văn. Thuận lý của nghịch lý này sẽ là: khi doanh nhân có khả năng điều khiển đồng tiền anh ta sẽ có khả năng kiếm được tiền nhiều hơn gấp bội. Nếu xem xét mối quan hệ giữa nhà kinh doanh và đồng tiền theo kiểu này, ta cũng có thể đặt vấn đề tương tự khi nhìn nhận mối quan hệ giữa nhà chính trị và quyền lực: sử dụng quyền lực hay để quyền lực sai khiến. Một nhà chính trị bị quyền lực chi phối không những đánh mất khả năng tự chủ của mình mà còn có nguy cơ đánh mất cả khả năng tự chủ của quốc gia. Một nhà chính trị có thể điều khiển và sử dụng quyền lực sẽ có khả năng đưa ra các quyết sách sáng suốt góp phần làm tăng uy danh của cá nhân ông ta và làm tăng sức mạnh cũng như vị thế của dân tộc. Nguyên nhân nào đưa nhà chính trị tới chỗ có khả năng sử dụng quyền lực và đưa nhà kinh doanh tới chỗ có khả năng điều khiển đồng tiền. Căn gốc nằm ở tầm vóc văn hóa, ở nhân cách của các nhân vật đó.   Đến đây tôi muốn chuyển qua một vấn đề khác: vai trò của doanh nhân trong việc phát triển văn hóa. Hiện nay, trong điều kiện thực tế của chúng ta – quý vị hiểu bao nhiều điều tôi muốn gửi gắm trong mấy từ “điều kiện thực tế” này – các nhà kinh doanh có văn hóa là những người có khả năng hơn cả trong việc mở rộng cơ hội văn hóa đến với toàn thể dân chúng của chúng ta. Quý vị hãy hình dung rằng, chúng ta có những trí thức, những người có năng lực để làm công việc phổ biến văn hóa và truyền đạt tri thức, nhưng họ sẽ không thể nào làm được việc đó nếu chỉ đơn độc một mình, bởi vì họ không có phương tiện để in ấn, để công bố những sản phẩm văn hóa. Đương nhiên, nếu các trí thức không làm việc sẽ không có các sản phẩm văn hóa, nhưng nếu các sản phẩm văn hóa không được phổ biến, thì chúng cũng sẽ trở thành vô dụng. Điều này hiển nhiên dẫn tất cả chúng ta đến một nhận thức chung: hơn bao giờ hết, vào thời điểm này, nếu nghĩ đến tương lai và sự phát triển của đất nước, thì các trí thức và doanh nhân cần phải hợp sức lại với nhau. Đương nhiên là không loại trừ việc phải hợp sức với các thành phần khác trong xã hội. Và để có thể hợp sức với nhau, cần phải thống nhất về những nguyên lý căn bản của một xã hội phát triển và có tính nhân bản: đó là một xã hội hùng mạnh về kinh tế, thâm hậu về văn hóa, vững chắc về đạo đức, một xã hội trong đó luật pháp được tôn trọng, một xã hội trong đó mỗi cá nhân đều được tự do phát triển các năng lực của mình và có trách nhiệm với cộng đồng chung, mọi cá nhân đều có cơ hội bình đẳng trước cuộc sống, một xã hội mà mọi sức mạnh tiềm ẩn của nó được khai mở. Khi một nhà kinh doanh góp phần vào công cuộc khai phóng sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc, ông ta đã hành động trong tư cách là con người văn hóa.  Tôi xin được gợi lại khát vọng của một nhân vật trong văn học Tây Nguyên, một nhân vật hết sực đặc biệt, tiêu biểu cho tinh thần và sức mạnh của một nền văn hóa đặc biệt trong cộng đồng các dân tộc của chúng ta. Đó là khát vọng chinh phục nữ thần mặt trời của người anh hùng Dăm San. Dăm San chinh phục nữ thần mặt trời với hai mục đích: trở thành tù trưởng giàu mạnh nhất, điều này thể hiện khát vọng tự cường, và có được người người phụ nữ đẹp nhất thế giới, tức là chiếm lĩnh được cái đẹp, điều này thể hiện khát vọng thẩm mỹ của người anh hùng Tây Nguyên. Chúng ta cần có những Dăm Săn của thời hiện đại, những người mang khát vọng đưa đất nước trở nên hùng cường về kinh tế và chói sáng về văn hóa, rực rỡ về nghệ thuật.  —  * Bài tham dự hội thảo Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.                                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vàng có thể giảm giá do nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu khởi sắc      Vàng có thể giảm khi báo cáo sản xuất tốt hơn dự kiến của Mỹ làm lấn át đi những lo ngại cho rằng khủng hoảng nợ của châu Âu sẽ làm chậm lại tăng trưởng toàn cầu, qua đó hạn chế nhu cầu tích trữ của cải dự phòng. Palladium chuẩn bị có mức tăng giá hàng tuần cao nhất trong một năm.        Giá vàng mua bán giao ngay giảm 0,4% xuống 1.738,05 USD/ ounce và được giao dịch ở mức 1.743,47 USD vào lúc 23 giờ 29 phút ở Singapore. Dự kiến vàng sẽ tăng 3,6% vào tuần này – mức tăng cao nhất kể từ ngày 28/10. Palladium đã tăng 0,3% lên 632,75 USD/ ounce, chuẩn bị đạt mức tăng 11% trong 5 ngày – cao nhất kể từ tháng 12 năm ngoái.  Chỉ số nhà máy của Viện Quản lý nguồn cung đã tăng từ 50,8 hồi tháng 10 lên 52,7 vào tháng 11 – Tempe, nhóm có trụ sở tại Arizona cho biết vào ngày hôm qua 1/12. Chỉ số trên 50 cho thấy có sự mở rộng sản xuất và các nhà kinh tế được khảo sát bởi Bloomberg News đã dự đoán chỉ số sẽ tăng tới 51,8. Số người có việc làm có thể tăng thêm 125.000 công nhân vào tháng 11 sau khi tăng 80.000 người vào tháng trước – một khảo sát của Bloomberg cho thấy trước khi một báo cáo của Bộ Lao động dự kiến sẽ công bố vào ngày hôm nay.  “Bất cứ dấu hiệu gì tích cực từ Mỹ đều đáng mừng và có thể sẽ làm giảm áp lực tăng giá vàng” – bà Alexandra Knight, một nhà kinh tế của Ngân hàng Quốc gia Australia cho hay. Giá cũng có thể giảm sau khi đồng đô-la Mỹ giảm – bà nói.  Đồng đô-la giao dịch ở mức 1,3457 USD mỗi euro, chuẩn bị có mức giảm 1,7% kể từ ngày 25/11 – mức giảm hàng tuần đầu tiên trong 5 tuần.  Tiền mặt kim loại giao dịch ít thay đổi, ở mức 32,7925 USD/ ounce. Bạch kim giảm 0,4% xuống còn 1.554,25/ ounce.  Nguyễn Thảo (Theo Bloomberg)  http://www.bloomberg.com/news/2011-12-02/gold-may-decline-on-u-s-optimism.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vàng đen bốc hỏa… và cuộc tìm kiếm nguyên liệu mới      Đình công, biểu tình, đắp ụ chặn đường, sự “bốc hỏa” của “Vàng đen” làm đời sống của những người nghèo trên khắp hành tinh càng khốn khó hơn, trong khi đó lại mang đến cho các nước vùng Vịnh, chiếm tới 40% nguồn dầu mỏ của thế giới một sức mạnh răn đe lớn lao, thêm vào đó là nguồn tài nguyên quý giá này ngày càng cạn kiệt, khai thác khó khăn…  Một cuộc tìm kiếm thêm các dầu mỏ mới, nhất là nguồn nhiên liệu mới của các nhà khoa học và công nghệ bắt đầu sôi động. Đây chính là điều kiện tiên quyết nếu muốn tránh những căng thẳng chính trị và kinh tế trầm trọng trong những năm sắp đến.    Két của các nước sản xuất đầy chặt tiền  Một ngàn tỷ USD. Vâng, các bạn đã nghe nói đến rồi! Kho bạc do các nước sản xuất dầu thu nhập năm 2007 thật khổng lồ. Và còn nữa, năm ngoái, giá dầu thô “chỉ” đạt khoảng 70 USD/thùng! Từ đó, nó đã vượt 140 USD/thùng vào giữa năm 2008, và các Vương quốc dầu lửa chưa bao giờ lại danh giá đến thế. Trong vòng 5 năm, giá vàng đen đã tăng gấp 6 lần, làm nổ tung ngăn kéo két. Chỉ riêng các nước thành viên Hội đồng Hợp tác kinh tế vùng Vịnh (CCG: Arập Xê út, Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất, Bahrain, Cata, Côoét, Oman) năm ngoái đã thu 250 tỷ Euro nhờ xuất khẩu dầu. Arập Xê út vừa chấp nhận mở van thêm một chút. Nhưng đừng tự lừa dối: giá dầu vọt lên hiện nay không phải là kích thích sản xuất tăng lên. Ngược lại, “cách tốt nhất để phát huy lượng dự trữ của họ là sản xuất ít hơn để giữ khả năng ở dưới mức cho phép khi mà dầu thô sẽ còn đắt hơn. Đồng thời đầu tư thích đáng vào sản phẩm của nguồn lợi này trên thị trường tài chính”, nhà kinh tế Frédéric Lasserre, thuộc Ngân hàng Dociétégénérale giải thích như vậy. Với việc gia nhập Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC), Angola vừa áp đặt một ngưỡng sản lượng hạn chế. Khó mà nói là họ nhầm lẫn. Bởi đa số các nước sản xuất lần này đã kiên quyết cắt đứt với “rủi ro của mối lợi nhuận từ nguyên liệu này”, theo nhà kinh tế Philippe Chalmin. Không cần nhắc lại những sai lầm của những năm 70, được đánh dấu bởi sự lãng phí, tham nhũng và một chủ nghĩa khoan hòa về tài chính đến thảm hại. Hiện nay, một phần lợi nhuận thu được từ dầu nằm trong các quỹ do nhà nước quản lý, các quỹ chủ quyền được coi như để chuẩn bị cho “hậu dầu lửa”. Từ Na Uy đến Nga, và cả Côoét, các nhà sản xuất chính đã tạo ra các quỹ này. Một lực lượng răn đe tài chính đáng kể. Trong số các nước “ở thế công” nhất, các nước vùng Vịnh, đang bùng nổ kinh tế và tài chính, muốn dễ dàng bước vào toàn cầu hóa. Trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu đang ở mức thấp nhất. Các Tiểu Vương quốc mua bán và lợi dụng hưởng chênh lệch. Vốn chủ quyền của AbuDhabi năm ngoái đã chiếm 4,9% của Ngân hàng hàng đầu thế giới Citigroup. Dubai International Capital (DIC), năm ngoái gia nhập EADS, nhằm vào “năm dự án đầu tư lớn ở châu Âu”. Và đó mới chỉ là bắt đầu. “Đây là một cái vòng luẩn quẩn”, Marc Touati, Tổng Giám đốc ủy quyền của quỹ Global Equities, giải thích: Việc dầu tăng giá làm giá cổ phiếu giảm xuống, vì thế lại làm cho giá dầu tăng”. Ông còn lo ngại về hậu quả của việc này: “Từ nay đến 2 hay 3 năm nữa, người ta sẽ phát hiện ra rằng các doanh nghiệp phương Tây lớn nhất sẽ nằm trong tay của các quỹ của A rập Xê út hay Cata”.  Lợi nhuận kỷ lục của các công ty dầu lửa                Năm ngoái, Exxon Mobil thu được 27 tỷ Euro, Shell 18 tỷ, hơn 12 tỷ là của Total. Nếu thêm vào đó lợi nhuận của Chevron của Mỹ, mối lợi thu được của 4 công ty lớn nhất này sẽ vượt quá 65 tỷ Euro năm 2007. Liệu như vậy có hợp lý không? Ứng cử viên đảng Dân chủ của Mỹ Barack Obama cũng nhiều lần nhắc đi nhắc lại trong chiến dịch tranh cử rằng ông ủng hộ việc đánh thuế lợi nhuận của các công ty dầu lửa. Việc kết tội là đúng. Nhưng có chính đáng không khi mà do việc tăng giá sản xuất, trung bình lên đến 15% mỗi năm. Ví dụ: lắp đặt một giàn khoan ngoài khơi ở Angola tốn 2,6 tỷ Euro trong những năm 2003- 2004 nay đã tăng lên gấp đôi. “Lợi nhuận của các công ty thăm dò còn tăng hơn chúng tôi nhiều”, một cán bộ tài chính của Total cho biết.  Một lý lẽ cuối cùng là cần phải đầu tư vào nguồn năng lượng thay thế vì nguồn dự trữ dầu mỏ ngày càng nghèo đi, khai thác khó khăn hơn.    Cơn sốt đầu cơ  Trách nhiệm của “những kẻ đầu tư xấu xa” trong việc dầu tăng giá ra sao? Không thể trả lời một cách nghiêm chỉnh, không ai hiểu vì sao cả, chỉ có một điều chắc chắn: các quỹ đầu cơ cho rằng do thiếu nguồn cung gây ảnh hưởng mạnh đến giá dầu thô. Nhưng hầu hết các chuyên gia không đồng tình với ý kiến này. Sự thực là bao nhiêu triệu thùng dầu được bán mỗi ngày? Không thể đong đếm được. “Đó là cơn sốt của người bệnh chứ không phải chính là bệnh”, Moncef Kaabi, Giám đốc CDC-Ixis khẳng định. Đối với vị chuyên gia dầu lửa này, trái với thời Chiến tranh vùng Vịnh, chính lúc này thế giới đang đối đầu với một cơn sốc cầu chứ không phải một cuộc khủng hoảng cung. Chừng nào cầu còn được nuôi dưỡng bởi “sự điên rồ châu Á và Ấn Độ” thì dầu không có cơ may nào giảm giá lâu dài. Một số ít nhà kinh tế khác lại tin rằng sự tăng vọt này chỉ là nhân tạo, cơ bản là do các nhà đầu tư gây nên, và tin rằng trong trung hạn giá sẽ giảm: Marc Touati cho rằng “không hề thiếu dầu, cung luôn cao hơn cầu. Nguy cơ giảm sản lượng, người ta nói đến đã 30 năm nay. Điều này không hề có cơ sở”. Nhu cầu về dầu thô tăng đều, từ 10 năm nay, với nhịp độ hằng năm là 2%. Và lúc này sản lượng vẫn không giảm dần. Cần có thêm 10 triệu thùng mỗi ngày từ nay đến 2015 để giảm cơn khát dầu thô của hành tinh. Tìm đâu ra? Ở Venezuela, Nigeria, Canada, Iran, Iraq và nhiều nước khác nữa, thị trường tài chính cảm nhận trước những khó khăn.  Đa số các chuyên gia năng lượng thống nhất cho rằng; giá dầu tăng vọt tuy có gây đau đớn nhưng là cách nhắc lại tốt nhất rằng dầu khan hiếm, bẩn, và cần phải sử dụng dè sẻn, và phải phát triển các giải pháp xen kẽ”, Moncef Kaabi nhấn mạnh.  Người ta đã vội quên rằng cách đây 10 năm, dầu rớt giá xuống 10 USD/thùng. Nhưng từ đó đến nay, giá dầu đã tăng lên gấp 13 lần và cuộc chạy đua năng lượng thay thế đang mỗi ngày thêm náo nhiệt.  Tìm kiếm các mỏ dầu mới          Phản đối giá dầu tăng ở Philippines        Những mỏ lớn nhất, chiếm phần lớn trữ lượng dầu trên thế giới hiện nay, đã được khám phá cách đây hơn 30 năm. Kể từ đó, số lượng mỏ phát hiện được ngày càng khiêm tốn, khiến công tác thăm dò thêm phức tạp.  Nhưng, làm thế nào phát hiện các mỏ chưa tìm thấy?  Phương pháp thứ nhất – phương pháp “thăm dò”: tập hợp tất cả các tài liệu có được về một vùng trầm tích để định vị các khu vực cần khoan và đánh giá trữ lượng dầu ở đó. Công việc lâu dài và tốn kém này do các công ty tiến hành.  Phương pháp thứ hai nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn. Nó dựa trên các phân tích thống kê về các mỏ đã tìm được trước khi tiến hành dự đoán lượng dầu thô còn lại.  Công sức bỏ ra cũng đáng đồng tiền bát gạo: “tiềm năng của các mỏ mới khám phá rất lớn vì hiện nay một vài vùng vẫn chưa hoặc còn ít được khai thác”, Yves Mathieu nhấn mạnh. Đó là các vùng nằm ven Bắc Băng Dương hoặc các khu vực nằm dưới lớp đáy đại dương. Nhờ các phương tiện thăm dò địa chấn mới và phương pháp tạo mô hình các vùng trầm tích để tái tạo lịch sử địa chất và quá trình hình thành dầu mỏ của các khu vực này nên có thể khai thác được các mỏ dầu mới phát hiện. Ở lục địa cũng vậy, hiện nay càng ngày càng tiếp cận được các mỏ nằm sâu trong lòng đất, đến tận hơn 4.500 mét ngay cả khi áp lực và nhiệt độ cao làm nảy sinh những vấn đề mới về kĩ thuật.  Hướng cuối cùng: khai thác tối đa tài nguyên dầu “không thông thường” như dầu nặng và siêu nặng, cát nhựa (tar sands) và dầu đá phiến (shale oil). Tiềm năng của chúng rất đáng kể, ít nhất là 7.000 tỉ thùng tương đương hơn 50% nguồn dầu mỏ thông thường! “Cát nhựa và dầu siêu nặng là dạng Hydrocacbon đặc quánh và dính nên để khai thác được cần làm chúng chảy ra bằng cách bơm hơi nước hoặc dung môi vào”, Manoelle Lepoutre giải thích. “Ngoài ra, phải tinh luyện tại chỗ vì chúng quá dính nên không thể vận chuyển bằng ống dẫn được”. Có khoảng 4.000 tỉ tấn hi-đrô các-bon loại này, trong đó có thể khai thác được ít nhất 600 tỉ thùng dầu thông thường. Một vài mỏ ở Venezuela và Canada đã được khai thác (3% sản lượng thế giới) với chi phí gấp đôi chi phí khai thác dầu thông thường. Tuy nhiên, việc khai thác lại đặt ra nhiều vấn đề về môi trường: lượng khí gây hiệu ứng nhà kính thải ra quá nhiều, cần một lượng nước rất lớn để rút dầu ra và sau đó phải xử lí nước này lại.  Đá phiến chứa khoảng 3.000 tỉ thùng dầu thông thường. Đây không phải dầu ở dạng lỏng mà là đá chứa dầu. Kĩ thuật khai thác loại này gần như khai khác quặng. Ét-tô-ni-a đã sử dụng loại đá này: đốt trực tiếp trong các nhà máy điện. Hoa Kỳ đang nghiên cứu để chiết xuất dầu từ đá này, “nhưng vẫn chưa tìm ra kĩ thuật”, Manoelle Lepoutre nói.  Dầu “công nghệ cao”                  “Dầu mỏ có thể bắt đầu thoái trào, không phải do thiếu trữ lượng mà trước hết do thiếu đầu tư tài chính và thiếu nguồn nhân lực có tài cả về số lượng và chất lượng”, kĩ sư Yves Mathieu dự báo. Do vậy, theo ông, cần gấp rút đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ và đào tạo bởi một nửa chuyên gia trên thế giới sẽ nghỉ hưu trong mười năm tới. Nếu chi phí đầu tư thăm dò và khai thác một thùng dầu tiềm năng ở biển Bắc và Bắc Mỹ cao (0,25 đến 0,30 USD/thùng) thì chi phí ở Nga và Trung Đông thấp hơn nhiều (khoảng 0,05 USD). “Phải mất 5 đến 10 năm mới đưa một mỏ dầu tìm được vào khai thác và cũng mất chừng ấy thời gian để nghĩ ra, phát triển và sử dụng các phương pháp khai thác hiệu quả hơn. Do vậy, tình hình rất cấp bách”, Yves Mathieu nhấn mạnh. Đồng thời tháng mười một năm ngoái, Cơ quan năng lượng quốc tế IEA khuyến nghị tất cả các nước nhắm đến mục tiêu “phi cacbon hóa” năng lượng vì hai lí do: tạo an toàn cho các nguồn cung ứng năng lượng và giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.  Vì vậy quan điểm của Olivier Appert, chủ tịch IFP: “vấn đề thiết yếu của việc sản xuất dầu mỏ, tâm điểm của mọi sự chú ý, chỉ là thách thức năng lượng trong tương lai. Làm chủ giai đoạn chuyển tiếp là thử thách lớn nhất trong những năm tới, và để đạt được điều này, nhất thiết phải vừa đảm bảo nguồn cung dầu mỏ vừa đẩy mạnh phát triển các năng lượng thay thế”.  Đây chính là điều kiện tiên quyết nếu muốn tránh những căng thẳng chính trị và kinh tế trầm trọng trong những năm sắp đến.  Theo La Recherche                      Dầu sẽ còn chảy thêm bao lâu nữa?    Hai mươi, bốn mươi năm hay lâu hơn nữa? Nếu có vấn đề nào cần áp đặt sự nhất trí thì đó chính là vấn đề này vì các chuyên gia không thống nhất được khối lượng dầu để tính toán.  Yves Mathieu, kĩ sư địa chất của Phân khoa Địa lý – Địa hóa học thuộc IFP (cơ quan nghiên cứu và đào tạo về năng lượng, giao thông và môi trường Pháp) giải thích: “Toàn bộ nguồn dầu mỏ trên thế giới ước tính khoảng từ 10.000 đến 12.000 tỉ thùng. Nhưng, với điều kiện kĩ thuật, kinh tế hiện nay và trong tương lai, chỉ có thể khai thác được 30% nguồn tài nguyên này vì một vài mỏ dầu nằm quá sâu chẳng hạn”. 1/3 nguồn dầu có thể khai thác sắp bị rút hết. Do vậy, tối đa chỉ còn khoảng 2.000 tỉ thùng dầu để khai thác. Tuy nhiên, cần phân biệt khái niệm nguồn tài nguyên với cái được các chuyên gia dầu lửa gọi là “trữ lượng”: nó dùng để chỉ các mỏ dầu đang khai thác hoặc sắp khai thác. Xét về trữ lượng, tùy theo nguồn tin các con số thay đổi từ 854 (Hiệp hội quan sát năng lượng – Energy Watch Group) đến 1.370 tỉ thùng (Báo cáo thống kê của BP); phần lớn các ước tính xoay quanh con số 1.100 tỉ thùng tức gần bằng lượng dầu chúng ta đã tiêu thụ đến nay. Và với nhịp độ hiện nay (30 tỉ thùng năm 2006), con người chỉ còn đủ dầu để sử dụng trong 32 đến 42 năm tới.  Tại sao các con số ước tính lại chênh nhau đến thế? Thứ nhất, vì 80% mỏ dầu hiện nay nằm trong tay các công ty quốc gia và các công ty này không cần phải cung cấp thông tin để khẳng định xem các con số công bố đúng hay sai. Thứ hai, vì một số ước tính chỉ tính đến các trữ lượng chắc chắn khai thác được, trong khi các ước tính khác tính luôn cả trữ lượng có khả năng hoặc có thể khai thác, vì không thể nào rút toàn bộ dầu trong mỏ. Kĩ sư Yves Mathieu giải thích tiếp: “Với điều kiện hiện nay, nếu chỉ thu được 10% số dầu thì gọi đó là trữ lượng có thể khai thác. Nếu lượng dầu thu được là 50% thì gọi là trữ lượng có khả năng khai thác và nếu lượng dầu thu đươc lên đến 90% thì đó là trữ lượng chắc chắn khai thác được”. Trữ lượng dầu chắc chắn khai thác được tập trung ở một số ít quốc gia, đa phần là thành viên của OPEC. Một nửa lượng dầu ấy nằm trên lãnh thổ bốn nước Trung Đông: A Rập Xê-út (22%), sau đó là Iran, Iraq và Côoét. Các thành viên OPEC khác là các nước sản xuất dầu lớn như Venezuela, Angola, Nigeria. Ngoài ra, Liên Xô cũ, Hoa Kỳ, Canada (tài nguyên dầu không thông thường), Trung Quốc, Brazil, Mêhicô cũng có trữ lượng đáng kể (hơn 10 tỉ thùng mỗi nước).     Triển vọng về nhu cầu năng lượng tại châu Á  Theo dự đoán của Viện kinh tế năng lượng Nhật Bản (IEEJ), nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ tăng 1,9%/năm, từ 10,3 nghìn tỷ tấn dầu quy đổi trong năm 2005 lên tới 16,5 nghìn tỷ tấn vào năm 2030, gấp khoảng 1,6 lần và khoảng 80% mức tăng này là từ các nước đang phát triển, chủ yếu là từ châu Á.  Tỷ trọng của các nước đang phát triển về nhu cầu năng lượng sẽ tăng từ 46% trong năm 2005 lên tới 58% trong năm 2030 do dân số tăng vọt và kinh tế phát triển, trong đó các nước châu Á tăng từ 31% năm 2005 lên tới 40% năm 2030. Ngược lại, tỷ trọng của các nước phát triển lại giảm từ 54% xuống còn 42%. Hiện Trung Quốc là nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Vào năm 2030, Trung Quốc sẽ là nước tiêu thụ lớn nhất toàn cầu. Mức tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ cũng tăng từ 4% năm 2005 lên tới 7% năm 2030. Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam, cùng với các nước ASEAN khác chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ trong tổng nhu cầu tiêu thụ năng lượng của châu Á.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vàng đen từ thung lũng Silicon?      Các hãng Công nghệ sinh học ở Silicon Valley đang trong cơn say dầu. Đối tượng của các nhà đầu tư mạo hiểm lần này không phải là digital mà là một điều rất hiện thực, đó là các doanh nghiệp Biotech ở Silicon Valley đang thực hiện biến đổi gene vi khuẩn để sản xuất xăng, dầu trên cơ sở nguyên liệu là các loại chất thải thực vật.    Từ xa xưa thung lũng Silicon đã nổi tiếng là một vùng đất màu mỡ. Trước đây ở vùng đất này có nhiều trang trại chuyên trồng cây ăn quả và các loại rau. Vùng thung lũng dài 80 km, rộng 20 km ở phía Nam Vịnh San Francisco trở thành vùng đất của các tập đoàn lớn nổi tiếng thế giới như  Intel, Apple, Hewlett-Packard, Ebay, Yahoo, Google, Oracle – công nghiệp bán dẫn và tiếp theo là sự bùng nổ Computer, Web 1.0, Web 2.0.Cuộc cách mạng digital cũng bắt nguồn tại đây. Một loạt doanh nghiệp điện tử, phần mềm và các doanh nghiệp Internet đã từ số không mà thay đổi cả thế giới. Đây cũng là nơi có biết bao sinh viên trở thành tỷ phú.Theo ước nguyện của các nhà đầu tư mạo hiểm thì trong những năm tới rất có thể lại có một cuộc cách mạng mới hiện đang được nhen nhóm ở Silicon Valley.              Vi khuẩn E.-Coli có khả năng tạo dầu: thông qua vi khuẩn  biến dổi gene và nấm mốc có thể sản xuất dầu, diesel và xăng trong lò phản ứng sinh học.          Hiện nay không ai có thể  nói một cách chắc chắn bao giờ thì dự trữ dầu mỏ trên thế giới sẽ cạn kiệt. Thực ra hiện nay thế giới cũng không có một số liệu đáng tin cậy nào về trữ lượng dầu mỏ trên hành tinh này, bởi lẽ các nước thành viên tổ chức xuất khẩu dầu mỏ  Opec không cho ai được đọc tấm bản đồ dầu mỏ của họ. Ở khắp nơi trên thế giới các nhà khoa học đều đang nỗ lực tìm các nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ và xăng. Dường như cuộc chạy đua tìm nguồn nhiên liệu trong tương lai vẫn chưa ngã ngũ, chúng có thể là  khí hydro, Ethanol hay tế bào quang điện vv…  Nhưng các loại năng lượng này đều có những điểm bất lợi: Việc vận chuyển và cất giữ khí hydro rất khó khăn, sản xuất Ethanol có nghĩa là  tranh giành đất trồng cây lương thực, thực phẩm, hiện chưa có bình ác quy công suất lớn để dùng cho xe ô tô chạy điện.  Nhưng điều bất lợi lớn nhất đối với các nguồn năng lượng này là cần có một hệ thống hạ tầng cơ sở mới không những trong khâu sản xuất, phân phối mà cả trong khâu sử dụng các loại nhiên liệu mới này – phải có hệ thống ống dẫn mới, các cây xăng mới và cả các loại động cơ mới.  Lý tưởng nhất vẫn là mọi sự giữ nguyên như cũ. Giá như trữ lượng dầu mỏ là vô tận  và dầu mỏ không gây hại đối với khí hậu thì tuyệt vời biết bao! Dầu mỏ dễ vận chuyển lại có hàm lượng năng lượng cao, đã được sử dụng quen từ nhiều thập niên – thực ra không có một loại nhiên liệu nào lý tưởng hơn dầu mỏ.  Các hãng Biotech-Start-ups Amyris và LS9 cũng có quan điểm hoàn toàn như vậy. Các hãng này tìm cách  thay đổi các loại vi sinh vật  để chúng sản xuất ra  nhiên liệu có thể sử dụng ngay với xe ô tô của mình. LS9 chủ yếu thực hiện phương pháp biến đổi gene đối với vi khuẩn  E.-Coli, Amyris lại dựa vào một số loại nấm mốc biến thể. Thức ăn đối với cả hai loại vi sinh vật này đều là đường. Cũng như sản xuất rượu bia, để sản xuất dầu người ta cũng cần có những thùng  nấu cỡ lớn. Sự khác nhau là ở chỗ, sản xuất rượu bia phải qua công đoạn chưng cất để nâng cao độ cồn còn đối với dầu chỉ cần hớt lớp dầu trên bề mặt. Ông Sauer, một nhà vi sinh vật học đồng thời là chuyên gia về  sinh vật học hệ thống thuộc Đại học ETH Zürich, ông còn là nhà tư vấn khoa học của hãng LS9  từng nói  với SPIEGEL ONLINE “Chất lượng của loại dầu này cực kỳ cao, thậm chí cao hơn cả loại dầu thông thường”. Dầu mỏ khai thác từ lòng đất nên chất lượng rất khác nhau. Trong khi đó người ta có thể sản xuất dầu  tổng hợp ở dạng tinh khiết”.          Dầu Diesel nhân tạo của hãng Amyris: theo đánh giá của chuyên gia thì “dầu tổng hợp  thậm chí còn tốt hơn dầu thông thường”. Dầu mỏ thường có chất lượng khác nhau. Dầu tổng hợp do vi khuẩn tạo ra có độ tinh khiết cao hơn rõ rệt.          Có một cách là biến đường ăn thành dầu, tuy nhiên người ta không thể chấp nhận giải pháp này, bởi lẽ người ta không muốn một lần nữa rơi vào cái bẫy- Bioethanol. Hiện nay việc sản xuất Bioethanol từ cây mía hoặc từ ngô đã gây sự phẫn nộ đối với người dân các nước nghèo bởi lẽ giá lương thực tăng vọt.  Vì vậy mục tiêu của các hãng nói trên là sản xuất nhiên liệu trên cơ sở cellulose, có nghĩa là từ chất thải thực vật, chất thải trong sản xuất nông nghiệp.Vấn đề là phải có một lượng chất thải rất lớn và Sauer cho rằng: “Chất thải cây trồng là nguồn nguyên liệu duy nhất có thể đáp ứng được về mặt khối lượng”.  Chất thải cây trồng – thực chất là thành tế bào của cây. Thành phần chủ yếu của chúng là cellulose, tức “bê tông của cây”. Chất cellulose giúp cây có được một độ vững chắc cần thiết. Về mặt hoá học thì cellulose là polysaccharid, một phân tử lớn do chất đường tạo nên. Để vi khuẩn dầu có thể ăn được chất đường trong cellulose thì trước đó cần phải chẻ nhỏ các phân tử đường. Theo chuyên gia Sauer thì “hiện đã có những giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề này”. Tuy nhiên quá trình này khá tốn kém và tiêu hao nhiều năng lượng. Sauer cho rằng “Thực chất việc sản xuất loại dầu tổng hợp này không mấy tốn kém”. Mặc dù đây là một quá trình sử dụng công nghệ then chốt, tuy nhiên giá một thùng dầu tổng hợp lệ thuộc chủ yếu vào việc nhà sản xuất xử lý chất thải cây trồng và phân tách cellulose hiệu quả như thế nào và  với chi phí sản xuất ra sao.  Nhà vi sinh vật học Alexander Steinbüchel, thuộc Viện Vi sinh Vật học Phân tử và Công nghệ Sinh học thuộc Đại học Tổng hợp Münster trong một cuộc trao đổi với SPIEGEL ONLINE cũng cho rằng: “Người ta đang nghiên cứu tạo ra loại vi khuẩn ăn chất thải cây trồng và phun ra ét xăng”. Steinbüchel cho rằng, ai làm được điều kỳ diệu này thì người  đó là người tạo nên một bước ngoặt và sẽ kiếm được tiền tỷ. Ông này cho rằng, khoảng năm năm nữa điều này có thể trở thành hiện thực. Steinbüchel còn nói: “Cuối cùng vẫn là chuyện người ta đầu tư như thế nào cho công trình nghiên cứu này”. Theo ông này thì hiện tại Hoa kỳ đang rất quan tâm tới hướng nghiên cứu này, và “chắc chắn” do cơn khát nhiên liệu. Trung Quốc cũng rất quan tâm nghiên cứu về vấn đề này.    Vậy công suất sản xuất xăng-vi khuẩn hiện nay ra sao? Diện tích lò phản ứng cần có là bao nhiêu? Hãng LS9 cho hay cho đến nay hãng đã thành công trong việc chế tạo thùng nấu 1000 lít, một tuần thùng này có thể sản xuất khoảng 150 lít dầu diesel thông thường. Thùng phản ứng này có diện tích 3,7 m2. Để thỏa mãn lượng dầu tiêu thụ trong một năm của cả nước Đức là 747 triệu thùng (2007) cần một tổng diện thích thùng phản ứng lên tới 53 km 2.          Diesel nhân tạo của hãng LS9: LS9  dự kiến trong vòng từ 3 đến 5 năm tới sẽ tung ra thị trường một loại nhiên liệu có khả năng cạnh tranh cao, giá mỗi thùng chỉ khoảng  40 đến 50 USD.          Hãng Amyris dự kiến đến năm 2010 sẽ sản xuất loại dầu diesel đầu tiên, so với loại diesel thông thường lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ở loại dầu nhân tạo này thấp hơn 80%. Hãng Amyris  tiết lộ cả xăng tổng hợp lẫn diesel tổng hợp đều sử dụng nguyên liệu gốc và đều chế biến trong các cơ sở hiện được dùng để sản xuất Bioethanol. Hãng này dự định liên doanh với Crystalsev, một trong những doanh nghiệp sản xuất đường ăn và  Bioethanol cỡ lớn của Brazil.  Theo chuyên gia Sauer thì “sản xuất diesel trên cơ sở đường ăn chỉ là bước tạm thời.”   Địa bàn  Brazil tỏ ra rất thích hợp để áp dụng công nghệ mới này vì Chính phủ nước này đã quyết định dựa hoàn toàn vào Bioethanol chế biến từ đường ăn để thoát khỏi sự lệ thuộc vào dầu mỏ. Nhưng mục tiêu cuối cùng của ngành công nghiệp này là sản xuất dầu từ chất phế thải thực vật.  Hãng LS9 cũng có mục tiêu đầy tham vọng, trong vòng 3-5 năm tới sẽ tung ra thị trường nhiên liệu tổng hợp có đủ sức cạnh tranh với giá một thùng từ 40 đến 50 USD.    Thời gian đang ủng hộ Amyris và LS9. Hiện nay giá một thùng dầu đã lên tới trên 140 USD và xu hướng còn tiếp  tục tăng.Viện nghiên cứu dầu mỏ của Pháp  IPP thậm chí còn dự báo, giá một thùng dầu có thể lên đến 300 USD một thùng vào năm 2015.Đến khi đó có nhiều khả năng vàng đen đã được phun trào từ thung lũng Silicon.  XUÂN HOÀI Spiegel 27.6      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu có thể cùng lúc vừa truyền nhiệt lại vừa cách nhiệt      Styrofoam hay đồng – cả hai loại vật liệu này đều có những đặc tính khác nhau với khả năng dẫn nhiệt. Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu Polymer Max Planck (MPI-P) tại Mainz và trường đại học Bayreuth đã cùng phát triển và đặc tính hóa một loại vật liệu mới, cực mỏng và trong suốt  có các đặc tính dẫn nhiệt khác biệt phụ thuộc vào hướng. Trong khi có thể dẫn nhiệt tốt theo một hướng nó cũng cho thấy có thể cách nhiệt tốt theo một hướng khác.      Cách nhiệt và dẫn nhiệt đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của chúng ta – từ các bộ xử lý máy tính, nơi việc tản nhiệt càng nhanh càng tốt, đến các ngôi nhà, nơi cách nhiệt tốt để giảm chi phí năng lượng là điều thiết yếu. Thông thường các vật liệu rỗng, cực nhẹ như polystyrene được sử dụng cho cách điện, trong khi các vật liệu nặng như kim loại thường được sử dụng để tản nhiệt. Một vật liệu mới do các nhà khoa học tại MPI-P và Bayreuth phát triển có thể kết hợp được cả hai đặc tính này.  Vật liệu này bao gồm các phiến kính siêu mỏng đặt xen kẽ giữa những chuỗi polymer đơn được chèn vào. “Theo nguyên tắc, vật liệu của chúng tôi được tạo ra theo nguyên tắc kính hai lớp”, Markus Retsch, giáo sư trường đại học Bayreuth, nói. “Ở đây chỉ có điểm khác biệt là chúng tôi không chỉ có hai lớp mà có tới hàng trăm lớp”.  Trong các thuật ngữ ở cấp độ vi mô, nhiệt là một chuyển động hoặc dao động của các phân tử đơn trong vật liệu vốn được truyền cho các phân tử lân cận. Bằng việc dựng lên nhiều lớp trên đỉnh của vật khác, việc chuyển nhiệt này được giảm xuống: mỗi lớp biên giới mới lại ngăn phần nhiệt được chuyển. Tương phản, nhiệt trong một lớp có thể được truyền tốt – không có giao diện nào có thể ngăn được dòng nhiệt. Về tổng thể, việc truyền nhiệt bên trong một lớp vật liệu cao gấp 40 lần so với phương  vuông góc.  Dẫn nhiệt dọc theo các lớp được so sánh với việc dẫn nhiệt của kem tản nhiệt, vốn được sử dụng cùng với những thứ khác để nhằm tản nhiệt các bộ vi xử lý máy tính. Với các vật liệu cách điện chứa polymer/kính, giá trị này cao một cách khác thường – gấp sáu lần các loại nhựa thương mại hiện có.  Bởi vật liệu này vận hành một cách hiệu quả và lại trong suốt, các lớp đều phải được chế tạo với độ chính xác rất cao – bất kỳ sự thiếu đồng nhất nào cũng có thể làm mất đi độ trong tương tự như một vết xước trong một tấm plexiglas – một loại nhựa nhiệt dẻo trong suốt. Mỗi lớp này dày chỉ một phần triệu của một nano mét. Để nghiên cứu được độ đồng nhất của trình tự lớp này, vật liệu được nhóm nghiên cứu của Josef Breu, giáo sư hóa vô cơ của trường ĐH Bayreuth, mô tả đặc điểm. “Chúng tôi sử dụng các tia X để rọi lên vật liệu này”, Breu nói. “Bằng việc chồng các tia này và để nó phản chiếu lên từng đơn lớp, chúng tôi có thể chứng tỏ các lớp được tạo ra một cách vô cùng chính xác”.  Giáo sư Fytas, cùng khoa với giáo sư Hans-Jürgen Butt, có thể đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi lại sao cấu trúc hình lớp đó lại có những đặc tính khác biệt một cách lạ thường dọc theo chiều thẳng đứng với từng bản kính một. Bằng việc sử dụng một phương pháp đo đạc đặc biệt dựa trên laser, nhóm nghiên cứu của ông có thể mô tả đặc điểm của việc truyền sóng âm, giống như nhiệt được gắn liền với chuyển động của các phân tử của vật liệu. “Vật liệu trong suốt với cấu trúc như thế này rất tuyệt để giúp chúng ta có thể hiểu viết thêm về cách âm thanh truyền theo những hướng khác nhau như thế nào”, Fytas giải thích. Các vận tốc khác biệt của âm thanh cho phép rút ra các kết luận về các đặc tính cơ học phụ thuộc hướng, vốn chưa thể giải thích bằng bất kỳ phương pháp nào.  Trong công trình nghiên cứu tiếp theo, các nhà nghiên cứu hi vọng sẽ có được những hiểu biết sâu sắc hơn về cách truyền âm thanh và nhiệt có thể bị cấu trúc của các miếng kính và hỗn hợp polymer ảnh hưởng như thế nào. Các nhà nghiên cứu thấy một ứng dụng có thể triển khai trong lĩnh vực LED hiệu năng cao, trong đó lớp kính-polymer được gắn vào với hai mục đích, một để tạo ra một lớp vỏ bọc trong suốt, mặt khác có thể tản nhiệt phát ra ngay lập tức.  Các nhà nghiên cứu đã công bố công trình của mình “Tunable Thermoelastic Anisotropy in Hybrid Bragg Stacks with Extreme Polymer Confinement” trên tạp chí danh tiếng Angewandte Chemie—International Edition.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-material-heat-insulating-heat-conducting.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu mới hỗ trợ ghép xương nhân tạo      Nhóm nghiên cứu ở Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã tổng hợp vật liệu α-Canxi Sulphat Hemihydrate (α-HH) và Biphasic Canxi Phosphate (BCP), có thể sử dụng trong lĩnh vực chế tạo, ghép xương nhân tạo nói riêng và y học tái tạo nói chung.    Hiện nay xương được dùng trong cấy ghép gồm 2 loại là xương tự nhiên (tự thân hoặc đồng loại) và nhân tạo. Trong đó, ghép xương nhân tạo mới được quan tâm trong thời gian gần đây, do có nhiều ưu điểm như bệnh nhân không phải đau đớn trải qua một ca phẫu thuật cắt xương, không cần bảo quản ở điều kiện nghiêm ngặt.    Trước nhu cầu rất lớn về cấy ghép xương và khuynh hướng sử dụng xương nhân tạo ngày càng phổ biến, nhóm tác giả, Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng đã thực hiện đề tài nghiên cứu tổng hợp vật liệu α-HH và BCP – hai loại xương nhân tạo nổi bật nhất trong y học tái tạo. Trong đó, α-HH (CaSO4.0.5H2O) được sử dụng trong cấy ghép và tái tạo xương; còn BCP là hỗn hợp của hai loại vô cơ khác nhau, gồm Hydroxyapatites (HA) và β-tricalcium phosphate (β-TCP).        α-HH thường được sử dụng để làm vật liệu thay thế xương trong nha khoa và phẫu thuật chỉnh hình bởi khả năng tương thích sinh học cao, thời gian tự đóng rắn tốt, có khả năng tái hấp thụ tốt mà không gây ra các phản ứng viêm nhiễm. BCP có hoạt tính, tính tương hợp sinh học cao, khả năng chữa lành xương, do có thành phần và cấu trúc tương tự thành phần khoáng trong xương. BCP được sử dụng làm vật liệu sinh học thay thế xương cho các ứng dụng chỉnh hình, hàm mặt và nha khoa. Tuy nhiên, hai loại nguyên liệu α-HH và BCP chủ yếu nhập từ nước ngoài nên hiện nay giá thành cao (2-5 triệu đồng/0,5gam).    Vật liệu α-HH và BCP được nhóm tổng hợp từ nguyên liệu ban đầu là CaCl2, bằng phương pháp dung dịch muối, cùng với một số hóa chất như Calcium sulfate dihydrate, Calcium chloride Anhydrous, Trisodium phosphate dodecahydrate, Sulfuric acid,… Sản phẩm có dạng bột kết tinh màu trắng, hàm lượng Canxi trên 24% (α-HH) và trên 34% (BCP).    Thực hiện thử nghiệm ở các tiêu chí hóa học và sinh học, cho thấy, sản phẩm của đề tài có độ tinh khiết cao, độ nhiễm khuẩn, tỷ lệ khoáng xương, độ ổn định,… an toàn cho lĩnh vực y học tái tạo. Đồng thời, chất lượng tương đương với sản phẩm cùng loại nhập khẩu như α- Former bone graft (Đài Loan) và MBCP+ (Pháp). Ngoài ra, khi sản phẩm kiểm định tại Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm TPHCM, Trung tâm Sắc ký Hải Đăng, cũng đáp ứng các tiêu chí về chất lượng trong lĩnh vực hóa chất, vật liệu ngành y tế.    Để đánh giá khả năng tái tạo xương trên động vật, nhóm thử nghiệm sản phẩm trên thỏ cho thấy, trong quá trình trước và sau phẫu thuật, tỉ lệ sống sót 100% và sức khỏe của thỏ hoàn toàn ở tình trạng tốt, không có dấu hiệu của sự đào thải và các phản ứng sinh học nguy hiểm của vật liệu cấy ghép α-HH, BCP.    Đề tài đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm qua. Nhóm tác giả mong muốn được tiếp tục thử nghiệm lâm sàng trên người, để có thể đưa vào thực tiễn sản xuất ở quy mô lớn.     Thuyết  Xuân    Author                phongvien        
__label__tiasang Vật liệu mới từ thiên nhiên thay thế chất dẻo      Tại một viện nghiên cứu ở Brindisi, miền  đông nước Ý, người ta đang nấu một thứ đặc biệt trong cái nồi to, không  phải là món mỳ ống truyền thống mà là chất dẻo hữu cơ.    Bằng cách này, các nhà khoa học của Dự án Châu Âu (EU-Project) hi vọng sẽ tạo ra các vật liệu mới từ thiên nhiên thay thế cho chất dẻo thông thường hiện nay.  Andrea Ferrari, điều phối viên của Công ty tái chế Woody Project D´Appolonia S.a.P, giải thích: “Trong nồi nấu là bông sợi tự nhiên và nhựa tự nhiên, sản phẩm của nó là chất dẻo hữu cơ hoàn toàn. Chúng tôi cũng sẽ sớm thay thế các vật liệu từ dầu mỡ bằng các vật liệu tự nhiên tinh khiết. Tiếp theo, chúng tôi có thể sản xuất nhựa làm từ đường. Đường này tất nhiên không sản xuất trong công nghiệp thực phẩm.”  Trước khi chất dẻo hữu cơ ra thị trường, nó phải được kiểm tra, đánh giá độ cứng, độ bền, độ đàn hồi và so sánh với các loại nhựa thông thường.  Andrea Salomi, kỹ sư của tổ chức nghiên cứu Ý CETMA, nói: “Về tính chất cơ học thì vật liệu tự nhiên này kém hơn so với chất dẻo thông thường. Nó dễ bị uốn cong hơn và không thực sự bền. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ít tính ứng dụng. Sản phẩm cuối cùng ra thị trường sẽ quyết định tính ứng dụng của nó.”  Ý tưởng sử dụng sản phẩm từ chất dẻo tự nhiên không hề ít – có thể dùng nó để làm thiết bị xe hơi, các chi tiết của nhạc cụ, cũng như vật liệu xây dựng.  Hiện nay, người ta đang cố gắng nâng cao chất lượng của vật liệu này. Hi vọng trong năm tới, nó sẽ trở thành một sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Sản phẩm từ tự nhiên có giá cao hơn các sản phẩm từ chất dẻo thông thường từ 20 đến 25 phần trăm, nghĩa là người ta phải chi thêm 30 đến 40 cent cho mỗi kilogram vật liệu.     Diệu Hoa dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu nano chứa đồng có thể diệt các tế bào ung thư của chuột      Một nhóm nghiên cứu liên ngành với các nhà khoa học của KU Leuven, trường ĐH Bremen, Viện nghiên cứu Kỹ thuật vật liệu Leibniz và trường ĐH Ioannina đã thành công trong việc diệt các tế bào khối u của chuột bằng việc sử dụng các hợp chất đồng ở kích thước nano cùng với liệu pháp miễn dịch. Sau khi áp dụng liệu pháp này, ung thư không còn quay trở lại nữa.      Những tiên tiến gần dây trong liệu pháp điều trị ưng thư bằng việc sử dụng hệ miễn dịch để tự chiến đấu với ung thư. Dẫu vậy, trong một số trường hợp, liệu pháp miễn dịch đã không chứng minh được thành công. Do đó nhóm nghiên cứu gồm các nhà nghiên cứu y sinh, vật lý, kỹ thuật hóa học đã tìm thấy các khối u nhạy cảm với các hạt nano ô xít đồng – một hợp chất được tạo ra với đồng và ô xy. Một khi vào được một cơ thể sống, các hạt nano đó được hòa tan và trở nên độc. Dùng ô xít sắt tạo ra các hạt nano, các nhà nghiên cứu đã có khả năng kiểm soát quá trình này để loại bỏ các tế bào ung thư trong khi không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh.  “bất cứ vật liệu nào mà anh tạo ra ở cấp độ nano cũng đều có những đặc tính khác so với vật liệu ở kích thước thông thường”, giáo sư Stefaan Soenen và TS. Bella B. Manshian từ Khoa hình ảnh và bệnh học, những người cùng nghiên cứu công trình này, cho biết. “Nếu chúng ta nạp có thể trở nên nguy hiểm nhưng nếu ở cấp độ nano và được kiểm soát, an toàn, tập trung, chúng có thể trở nên có ích thực sự”.  Như các nhà nghiên cứu chờ đợi, ung thư trở lại sau khi bệnh nhân được điều trị chỉ với các hạt nano. Do đó, họ kết hợp các hạt nano với phương pháp miễn dịch. “Chúng tôi lưu ý là các hợp chất không chỉ diệt trực tiếp tế bào khối u mà còn có thể hỗ trợ các tế bào trong hệ miễn dịch có thể chống lại các vật chất bên ngoài như các khối u”, TS. Manshian giải thích.  Sự kết hợp các hạt nano và liệu pháp miễn dịch khiến các khối u biến mất hoàn toàn và kết quả là hoạt động như một vaccine cho ung thư phổi và ung thư ruột kết – hai loại được chuẩn bị cho nghiên cứu này. Để xác nhận kết quả của mình, các nhà nhiên cứu đã cho các tế bào ung thư quay trở lại những con chuột thí nghiệm. Các tế bào đó đã bị hệ miễn dịch loại ngay lập tức, vốn hệ này có vai trò loại bỏ bất kỳ tế bào mới tương tự xâm nhập vào cơ thể.  Các tác giả tuyên bố là kỹ thuật mới có thể được sử dụng cho 60% các loại bệnh ung thư, vốn cùng do các tế bào ung thư xuất phát từ một đột biến trên gene p53, ví dụ như ung thư phổi, ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư ruột kết.  Yếu tố đóng vai trò cốt lõi là các khối u này biến mất mà không cần sử dụng hóa trị, vốn có nhiều tác động phụ. Các loại thuốc hóa trị không chỉ tấn công các tế bào ung thư mà còn thường xuyên phá hủy các tế bào khỏe mạnh trong quá trình dung nạp thuốc. Ví dụ, một số loại thuốc gây bệnh tế bào máu trắng, loại bỏ hệ miễn dịch.  “Như tôi biết, đây là lần đầu tiên các ô xít sắt được sử dụng để tấn công các tế bào ung thư một cách hiệu quả với ảnh hưởng lên hệ miễn dịch dài hạn trong các mô hình sống”, giáo sư Soenen nói. “Như bước tiếp theo, chúng tôi muốn tạo ra các hạt nano kim loại khác, và nhận diện với các hạt này ảnh hưởng lên các loại ung thư nào. Điều này có thể dẫn đến một cơ sở dữ liệu toàn diện”.  Nhóm nghiên cứu đang lập kế hoạch kiểm tra các tế bào khối u có nguồn gốc từ các mô của bệnh nhân ung thư. Nếu vẫn đạt kết quả tương tự, giáo sư Soenen lập kế hoạch thử nghiệm lâm sàng. Để điều này xảy ra, dẫu sao vẫn còn phải  vượt qua một số rào cản. Ông giải thích “Y học nano vẫn mới phát triển tại Mỹ và châu Á nhưng châu Âu đã bị tụt hậu. Vẫn còn thách thức để cải thiện vấn đề này bởi các bác sĩ và kỹ sư vẫn thường nói một ngôn ngữ khác biệt. chúng tôi cần tiến hành nhiều hợp tác liên ngành khác, nhờ vậy chúng tôi có thể hiểu nhau tốt hơn và tạo dựng được hiểu biết về nhau”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-copper-based-nanomaterials-cancer-cells-mice.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ thấp và áp suất thấp      Trong một khoảnh khắc lịch sử, các nhà nghiên cứu ở trường đại học Rochester đã tạo ra một vật liệu siêu dẫn ở cả mức nhiệt độ độ và áp suất đủ thấp cho các ứng dụng thực tế.    “Với vật liệu này, bình minh của siêu dẫn ở nhiệt độ phòng và các công nghệ ứng dụng siêu dẫn đã tới”, theo nhận xét của một nhóm nghiên cứu do Ranga Dias, một trợ lý giáo sư kỹ thuật cơ học và vật lý, dẫn dắt.  Trong một bài báo xuất bản trên Nature, các nhà nghiên cứu miêu tả vật liệu nitrogen-doped lutetium hydride (NDLH) thể hiện đặc tính của siêu dẫn ở mức 69 độ F (tương đương 20,5 độ C) và 10 kilobars (tương đương 145.000 pound mỗi inch vuông – psi) áp suất 1.  Dẫu con số 145.000 psi có thể vẫn còn ở mức rất cao (áp suất ở mực nước biển vào khoảng 15 psi) nhưng các kỹ thuật cơ khí strain vẫn thường áp dụng trong ngành công nghiệp chip tích hợp các vật liệu lại với nhau bằng các áp suất hóa học bên trong vật liệu còn ở mức cao hơn.  Các nhà khoa học đã theo đuổi đột phá này trong vật lý chất đậm đặc cả một thế kỷ. Các vật liệu siêu dẫn có hai đặc trưng cơ bản: không có điện trở và không có từ trường quanh vật liệu siêu dẫn. Rất nhiều vật liệu có thể cho phép đạt được những hệ quả sau:  – Lưới điện truyền tải điện năng mà không bị mất mát tới 200 triệu megawatt giờ (MWh) điện giờ do điện trở trong dây dẫn.  – Các con tàu đệm từ không ma sát.  – Các kỹ thuật quét và hình ảnh y tế giá thành rẻ như cộng hưởng từ (MRI) và từ tâm đồ.  – Các thiết bị điện tử vận hành nhanh hơn, hiệu quả điện năng cao hơn cho logic kỹ thuật số và công nghệ thiết bị bộ nhớ.  – Các thiết bị tokamak sử dụng từ trường để tinh chỉnh plasmas trong nhiệt hạch, một nguồn điện không giới hạn.  Trước đây, nhóm nghiên cứu của Dias đã tạo ra hai vật liệu –  carbonaceous sulfur hydride và yttrium superhydride – lần lượt có tính siêu dẫn ở mức 58 độ F/39 triệu psi và 12 độ F/26 triệu psi, được miêu tả trong các bài báo trên tạp chí Nature và Physical Review Letters.  Do sự quan trọng của khám phá mới, Dias và nhóm nghiên cứu của mình đã dành nhiều thời gian để xem xét lại nghiên cứu của mình và đối đầu với những chỉ trích dẫn đến việc các biên tập viên của Nature đã rút lại bài báo.  Kết quả của việc xem xét lại công trình đã đem lại những dữ liệu mới xác nhận bằng chứng của nghiên cứu và gửi lại cho Nature, Dias nói. Dữ liệu mới đã được thu thập ở ngoài phòng thí nghiệm của họ là Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Argonne và Brookhaven, trước sự chứng kiến trực tiếp của các nhà khoa học với việc thể hiện tính siêu dẫn của vật liệu. Một cách tiếp cận tương tự đã được triển khai và thể hiện trong bài báo mới của họ.    Năm nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của Dias – Nathan Dasenbrock-Gammon, Elliot Snider, Raymond McBride, Hiranya Pasan, và Dylan Durkee – đều là các đồng tác giả. “Mọi người trong nhóm đều tham gia vào các thực nghiệm”, Dias nói. “Đó thực sự là một nỗ lực tập thể”.  Ranga Dias trong phòng thí nghiệm của mình ở Hopeman Hall vào ngày 17/2/2023. Dias dang theo đuổi mục tiêu tạo ra các vật liệu lượng tử mới như các siêu dẫn tại mức áp suất cực cao và nhiệt độ gần nhiệt độ phòng.    “Sự biến đổi hình ảnh đáng kinh ngạc” ở vật liệu siêu dẫn và hơn thế    Hydride – anion của hydro – được tạo ra bằng việc kết hợp giữa các kim loại đất hiếm với hydro, sau đó thêm vào nitơ hoặc carbon, đã đem lại cho các nhà nghiên cứu một “công thức hoạt động” hấp dẫn cho việc tạo ra các vật liệu siêu dẫn trong những năm gần đây. Dưới góc độ kỹ thuật, hydride kim loại đất hiếm hình thành các cấu trúc hình lồng giống như clathrate, nơi các ion kim loại đất hiếm hành xử như vật mang các nhà tài trợ, đem đến các electron hợp ý có thể giúp tăng cường sự phân lý của các phân tử H2. Nitrogen và carbon giúp cho vật liệu bền hơn. Điểm mấu chốt của quá trình này là cần có mức áp suất thấp để tính siêu dẫn xuất hiện.    Với việc cho thêm yttrium, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các kim loại đất hiếm khác. Tuy nhiên các hợp chất tạo ra chỉ trở thành siêu dẫn ở các mức nhiệt độ và áp suất không thực tế cho ứng dụng.  Vì vậy thời điểm này, Dias tìm kiếm khắp mọi nơi trong bảng tuần hoàn.  Lutetium giống như “một ứng viên tiềm năng”, Dias nói. Nó có đầy đủ 14 electron trong cấu hình quỹ đạo hình f của nó, có thể nén để làm mềm phonon và đem lại sự tăng cường kết cặp electron-phonon cần thiết cho siêu dẫn có thể xuất hiện tại nhiệt độ phòng. “Câu hỏi chính yếu là cách nào để chúng tôi có thể làm cho nó bền vững ở mức thấp hơn mức áp suất cần thiết? Và nơi nào nitrogen có thể có mặt trong bức tranh này?”.  Nitrogen, giống như carbon, có một cấu trúc nguyên tử chắc chắn và có thể được sử dụng để tạo ra tinh thể dạng lồng còn bền hơn trong vật liệu và cứng lại ở các phonon quang tần số thấp, theo Dias. Cấu trúc này đem lại độ bền siêu dẫn xuất hiện ở mức áp suất thấp.  Nhóm nghiên cứu của Dias đã tạo ra một hỗn hợp khí gồm 99% hydrogen và 1% nitrogen, đưa nó vào một buồng phản ứng với một mẫu lutetium tinh khiết và để các chất này tương tác trong vòng hai đến ba ngày tại mức nhiệt độ 392 độ F.  Kết quả là hợp chất lutetium-nitrogen-hydrogen ban đầu có “màu xanh bóng”, bài báo viết. Khi hợp chất này được nén trong một thiết bị áp suất cao DAC, “một chuyển đổi hình ảnh đáng kinh ngạc” đã xuất hiện: từ màu xanh chuyển sang màu hồng tại chất siêu dẫn này và sau đó là một trạng thái kim loại phi siêu dẫn màu đỏ sáng.  “Đó là màu đỏ rất sáng”, Dias nói. “Tôi đã sốc khi thấy cường độ các màu sắc. Chúng tôi vui mừng đề xuất một mã tên cho loại vật liệu ở trạng thái này – “reddmatter” – cho vật liệu đã được Spock tạo ra trong bộ phim Star Trek 2009.  Mức áp suất cần thiết 145.000 psi để góp phần tạo ra siêu dẫn thấp hơn mức áp suất mà phòng thí nghiệm của Dias đã tạo ra trước đây.  Các thuật toán học máy dự đoán các vật liệu siêu dẫn mới    Dias (trái) và Nugzari Khalvashi-Sutter, điều chỉnh dãy laser trong phòng thí nghiệm ĐH Rochester.  Phòng thí nghiệm của Dias giờ đã trả lời được câu hỏi là liệu vật liệu siêu dẫn có thể tồn tại ở cả nhiệt độ phòng và áp suất đủ thấp cho các ứng dụng thực tế.    “Con đường đến thiết bị điện tử siêu dẫn tiêu dùng, các lưới điện truyền năng lượng, vận chuyển, và các cải thiện đáng kể về giữ từ trong phản ứng nhiệt hạch đang là hiện thực”, Dias nói. “Chúng tôi ton là chúng ta hiện đang ở kỷ nguyên của siêu dẫn hiện đại”.  Ví dụ, Dias dự đoán là lutetium hydride pha tạp nitrogen (NDLH) sẽ được gia tốc trong phát triển các thiết bị tokamak để tạo ra phản ứng nhiệt học. Thay vì sử dụng điện, việc hội tụ các chùm tia laser làm nổ viên nhiên liệu, các thiết bị tokamak phụ thuộc vào từ trường phát xạ bằng một “hàng rào” hình cái bánh rán doughnut để bẫy, giữ và châm ngòi cho trạng thái plasmas siêu nhiệt. NDLH, vốn tạo ra một “từ trường cực lớn” tại nhiệt độ phòng, ‘sẽ là một kẻ làm thay đổi cuộc chơi” cho thứ công nghệ mới nổi này”, Dias nói.  Điều thú vị nhất, theo lời Dias, là khả năng huấn luyện của các thuật toán học máy với dữ liệu thu thập từ thí nghiệm siêu dẫn trong phòng thí nghiệm của ông để dự đoán các ứng viên vật liệu siêu dẫn khác – trong việc pha trộn, tiềm năng… từ hàng trăm kết hợp có thể của các kim loại đất hiếm, nitrogen, hydrogen, và carbon.  “Mỗi ngày chúng ta có nhiều kim loại khác nhau mà chúng ta có thể sử dụng cho các ứng dụng khác nhau, vì vậy chúng ta sẽ cần đến các dạng vật liệu siêu dẫn khác nhau”, Dias nói, “chúng ta cần nhiều hơn siêu dẫn ở môi trường xung quanh cho các ứng dụng khác nhau”.  Đồng tác giả Keith Lawlor đã lập tức bắt đầu phát triển các thuật toán và thực hiện tính toán bằng các nguồn siêu dẫn hiện có thông qua Trung tâm Tính toán nghiên cứu tích hợp của trường ĐH Rochester.  Một trung tâm cho vật liệu siêu dẫn ở ngoại vi New York?  Nhóm nghiên cứu của Dias gần đây đã chuyển đến một phòng thí nghiệm mới, diện tích lớn hơn ở tầng ba của Hopeman Hall trong cơ sở River Campus của ĐH Rochester. Đây là bước đầu tiên cho một kế hoạch đầy tham vọng để thiết lập một Trung tâm đổi mới sáng tạo về siêu dẫn (CSI) tại trường đại học Rochester, ông nói.  Trung tâm này có thể sáng lập nên một hệ sinh thái để thu hút các nhà khoa học đến trường đại học này nhằm thúc đẩy khoa học về siêu dẫn. Các sinh viên, nghiên cứu sinh thực tập và làm việc tại đây có thể trở thành những nhà nghiên cứu tài năng trong lĩnh vực này.  “Hy vọng của chúng tôi là làm nên một trung tâm về công nghệ siêu dẫn ở ngoại vi New York, Dias nói.  Thanh Đức tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-viable-superconducting-material-temperature-pressure.html  https://www.rochester.edu/newscenter/highest-temperature-superconducting-materials-metals-reddmatter-551382/  https://news.italy24.press/world/404319.html  https://english.news.cn/20230309/69b359b505cd412195fe610efb5deaa7/c.html  ————————————  1. https://www.nature.com/articles/s41586-023-05742-0    Author                .        
__label__tiasang Vật liệu thuỷ tinh thông minh      Các nhà khoa học đã phát triển một phương pháp nhúng phân tử nano phát sáng vào thuỷ tinh mà vẫn giữ được đặc tính của chúng để cho ra đời vật liệu “thuỷ tinh lai thông minh” có tính ứng dụng cao trong công nghệ như làm màn hình hiển thị 3D hoặc cảm biến bức xạ từ xa và cả y học.    Mô phỏng quá trình nhúng  Các nhà nghiên cứu tại Đại học Adelaide, Úc đã phát triển một phương pháp nhúng phân tử nano phát sáng vào thuỷ tinh mà không làm mất bất kỳ đặc tính nào của chúng – đây là một bước tiến lớn để tạo ra những ứng dụng từ “thuỷ tinh thông minh” trong màn hình hiển thị 3D hoặc cảm biến bức xạ từ xa.  Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Vật liệu quang học cao cấp.  Loại “thuỷ tinh lai” mới này kết hợp thành công các đặc tính phát quang đặc biệt của phân tử nano với những đặc tính của thủy tinh như tính trong suốt và khả năng dễ xử lý thành các hình dạng khác nhau, trong đó có thể tạo thành các sợi quang học rất nhỏ.  “Những phân tử nano phát quang mới này, gọi là phân tử nano chuyển đổi ngược, đã trở thành một loại vật liệu đầy hứa hẹn cho một loạt các ứng dụng công nghệ siêu cao như cảm biến sinh học, hình ảnh y sinh học và hiển thị 3D”, tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ Tim Zhao, làm việc ở Khoa Vật lý và Viện Photon học và Cảm biến cao cấp (IPAS) thuộc Đại học Adelaide cho biết.  “Đưa các phân tử nano vào thuỷ tinh – vốn có thuộc tính trơ đã mở ra một khả năng mới cho các “vật liệu lai” và các thiết bị mà có thể tận dụng lợi thế của tính chất của các phân tử nano theo cách mới mà trước đây chúng tôi chưa thể làm được. Có nhiều ứng dụng, ví dụ như các nhà thần kinh học hiện nay đang đưa một loại thuốc nhuộm vào não và dùng những tia laser để có thể đưa các ống thuỷ tinh vào những vị trí mà họ cần. Nếu các phân tử nano huỳnh quang này được nhúng vào các ống thuỷ tinh đó, tính phát quang độc đáo của loại “thuỷ tinh lai” này có thể tự toả sáng như ngọn đèn để đưa các ống thuỷ tinh này trực tiếp đến các tế bào thần kinh riêng biệt”.  Mặc dù phương pháp này mới được phát triển trên các phân tử nano chuyển đổi ngược mới, các nhà nghiên cứu tin rằng phương pháp tiếp cận mới này có tính khái quát cho các phân tử nano khác có tính photon, tính điện tử và từ tính. Sẽ có rất nhiều ứng dụng – tuỳ thuộc vào tính chất của các phân tử nano.  “Nếu chúng tôi pha trộn được thuỷ tinh với các phân tử nano và vật liệu đó nhạy cảm với bức xạ và sau đó kéo vật liệu thuỷ tinh lai đó thành sợi, chúng ta có thể có một cảm biến từ xa hữu ích cho các cơ sở hạt nhân”, tiến sĩ Zhao nói.  Đánh giá về kết quả này, trưởng dự án, Giáo sư Heike Ebendorff-Heideprem, Phó Giám đốc IPAS nói: “Với phương pháp nhúng mới, bao gồm tổng hợp các phân tử nano và thuỷ tinh riêng biệt sau đó kết hợp chúng trong điều kiện thích hợp, chúng tôi đã có thể để giữ cho các phân tử nano nguyên vẹn và đồng thời phân tán khắp vật liệu thuỷ tinh mà vẫn giữ được tính năng của các phân tử nano và độ trong gần như nguyên vẹn của thuỷ tinh. Chúng tôi đang hướng tới việc sản xuất ra một loại thuỷ tinh lai hoàn toàn mới và các thiết bị cho công nghệ dựa vào quang học”. Dù vậy, ông cho rằng còn hạn chế, “mặc dầu có sự tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu về lĩnh vực này, nhưng vẫn còn những hạn chế trong kiểm soát cấu trúc của thuỷ tinh và các phân tử nano – dẫn đến hạn chế cho việc phát triển các ứng dụng liên quan”.  Thu Quỳnh dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu: Tiến lên phía trước      Các nhà chế tác ngày càng làm việc với các vật liệu mới, làm thay đổi trò chơi.    Nó đủ nhỏ để được giữ trong tay bạn và trông giống một khúc kim loại tầm thường được khoan với những lỗ bé xíu, nhưng cực kỳ khó để chế tạo. Bởi vì nó phải quay 12.000 vòng một phút dưới áp suất cao tại nhiệt độ 1.600°C, cao hơn điểm nóng chảy của vật liệu tạo ra nó 200°C. Và nó phải qua được cái địa ngục xoắn quặn đó đủ lâu để đẩy một máy bay dân dụng lớn suốt 24 triệu km (15 triệu dặm) trước khi được thay thế. Tổng cộng, 66 chiếc cánh mập này được dùng trong turbine phía sau của một động cơ Rolls-Royce Trent 1000, và công ty Anh này chế tạo hàng trăm ngàn cánh này một năm.  Các hãng Mỹ và Âu châu đã cố tìm cho được sự bảo vệ trong chế tác cao cấp khỏi sự tấn công của các nhà sản xuất giá rẻ. Việc đó ngày càng dính đến chuyện trở nên đầy sáng tạo hơn với các vật liệu. Bài báo này sẽ ngó tới một số đổi mới sáng tạo như vậy, kể cả hệ thống đúc đặc biệt cho các cánh turbine Rolls-Royce cũng việc sử dụng như sợi carbon, chất thải nhựa được tái chế, công nghệ ắc quy mới và những công nghệ khác.  Khi các nước đang phát triển trở nên giàu hơn và tinh vi hơn, họ cũng muốn chế tạo các thứ như máy bay, động cơ phản lực và các xe thể thao tính năng cao. Trong một số trường hợp các hãng phương Tây ký hợp đồng phụ sản xuất một phần công việc cho các hãng ở các nước thử xây dựng năng lực công nghiệp của họ, thường khi các nước đó có các đặt hàng lớn. Nhưng một số thứ không được chia sẻ bởi vì chúng quá quan trọng để duy trì lợi thế cạnh tranh của sản phẩm.  Đối với Rolls-Royce, các cánh turbine là một trong những công nghệ then chốt. Ma thuật tạo ra chúng phụ thuộc vào một sự hiểu biết sâu sắc về khoa học vật liệu và công nghệ sản xuất. Khi các kim loại rắn lại sau khi đúc chúng thường chứa nhiều vi tinh thể. Việc đó vẫn để chúng đủ chắc cho hầu hết các thứ, nhưng đó là một điểm yếu tiềm tàng trong một cánh turbine. Vì thế Rolls-Royce dùng một hệ thống độc nhất để đúc cánh trong một siêu-hợp kim trên cơ sở nickel với một cấu trúc tinh thể liên tục và không bị vỡ. Việc này bảo đảm sẽ không có lỗi cấu trúc nào.  Không khí lưu hành qua trung tâm rỗng của cánh và trào ra các lỗ được định vị một cách chính xác, được tạo ra bởi một quá trình điện tử đặc biệt bởi vì không có máy khoan truyền thống nào đủ chính xác. Các lỗ tạo ra một màng không khí mà tràn ra khắp bề mặt để ngăn cánh khỏi bị nóng chảy. Cánh cũng được phủ bằng lớp gốm chịu nhiệt. Các nhà chế tạo chuẩn bị làm như vậy bởi vì một cánh chắc và chịu nhiệt cho phép động cơ phản lực chạy nóng hơn, cải thiện sự cháy và làm giảm tiêu thụ nhiên liệu.  Đừng chỉ đứng đó, hãy sáng chế   Nhà máy mới ở Derby, nơi Rolls-Royce chế tạo các cánh turbine, cũng hơi không bình thường. Các nhà thiết kế, các kỹ sư và các nhân viên sản xuất cùng ở dưới một mái nhà thay cho ở các tòa nhà khác nhau hay thậm chí ở các nước khác nhau. Họ được tập hợp lại với nhau bởi vì Rolls-Royce tin rằng sự gần nhau sẽ dẫn đến sự hiểu biết kỹ hơn về vai trò của nhau và khả năng sáng tạo. Việc đó sẽ là cốt yếu trong những năm tới, Hamid Mughal, trưởng bộ phận kỹ thuật chế tác của Rolls-Royce, nói: “Công nghệ sản phẩm là chìa khóa cho sự sống sót, và sự xuất sắc trội hơn về chế tác tạo ra một trong những cơ hội lớn nhất trong tương lai.” Sự kết hợp đó, Mughal tin, là cách duy nhất để bắt kịp những đột phá: “Những sự tăng lên thêm sẽ không làm được việc đó.”  Tư duy giống vậy cũng có thể thấy ở GE. Nó cũng chế tạo động cơ phản lực và có các nhánh kinh doanh bao gồm năng lượng, chiếu sáng, đường sắt và chăm sóc sức khỏe. “Đã trở nên rõ đối với chúng tôi nhiều năm trước rằng chúng tôi cần hợp nhất nghiên cứu vật liệu và các công nghệ chế tác,” Idelchik, người đứng đầu nghiên cứu của GE nói. Các sản phẩm mới thường được bắt đầu với thiết kế, tiếp đến là lựa chọn vật liệu và sau đó là chế tác. “Bây giờ nó được tiến hành đồng thời.”  Một sản phẩm của các nỗ lực này là một ắc quy công nghiệp mới. Việc này bắt đầu với nghiên cứu chế tạo một ắc quy đủ bền để dùng trong một đầu máy xe lửa loại lai. Một ắc quy hóa học dựa trên nickel và muối cung cấp mật độ năng lượng và độ bền đòi hỏi. Thế nhưng làm cho nó hoạt động trong phòng thí nghiệm là một chuyện, thương mại hóa các quá trình dính líu đến sản xuất hàng loạt ắc quy lại là chuyện khác. Vì thế GE dựng lên các dây chuyền sản xuất pilot để học làm cách nào để đưa các ý tưởng hứa hẹn vào hoạt động trước khi xây một nhà máy. Một số ý tưởng thất bại tại giai đoạn này, các ý tưởng khác tung bay.  Ắc quy là ý tưởng đã cất cánh. Bên cạnh các xe lửa lai nó cũng phù hợp cho các xe lai khác, như các xe nâng hạ, cũng như các ứng dụng như cung cấp điện dự phòng cho các trung tâm dữ liệu và để cung cấp điện cho các cột trạm viễn thông ở các vùng hẻo lánh. Nó sẽ được sản xuất trong một cơ sở mới 100 triệu $ gần Niskayuna sao cho các nhà nghiên cứu có trách nhiệm tiếp tục phát triển. Bản thân ắc quy gồm một bộ các pin chuẩn được phân thành các modul mà có thể được nối lại với nhau cho các ứng dụng khác nhau. Các modul chiếm một nửa không gian của một ắc quy chì-axit tương đương, và chỉ nặng bằng khoảng một phần tư, sẽ kéo dài 20 năm mà không cần bảo dưỡng định kỳ và hoạt động tốt trong các điều kiện băng giá hay rất nóng, Glen Merfeld, người phụ trách các hệ thống lưu trữ năng lượng tại phòng thí nghiệm của GE, nói.  Một vật liệu khác khiến GE và các nhà chế tác khác đặc biệt quan tâm là sợi carbon. Nó được sử dụng rồi để chế tạo các cánh quạt lớn trước một số động cơ phản lực. Nó dẻo với tư cách một nguyên liệu thô, nhưng khi vải sợi carbon được thấm nhựa epoxy, được tạo hình và xử lý, nó có thể bền như thép và chỉ nặng một nửa. Sức bền đó là do các liên kết hóa học mạnh hình thành giữa các nguyên tử carbon. Sợi có thể được xếp theo các hướng khác nhau, cho phép các kỹ sư chỉnh độ bền và độ dẻo của một cấu trúc composite một cách chính xác.  Việc sử dụng quy mô lớn sợi carbon đã bắt đầu trong ngành hàng không vũ trụ. Máy bay của cả Airbus và Boeing sử dụng nó một cách rộng rãi thay cho nhôm. Nó không chỉ nhẹ hơn, cũng có một ưu điểm chế tác lớn: các phần lớn, như bề mặt chính của một cánh máy bay, có thể được chế tạo một lèo thay cho việt tán đinh rive rất nhiều cấu thành lại với nhau.  Hãy nhìn, không có cánh tay nào     Độ bền, độ nhẹ và khả năng tiết kiệm lao động chân tay do sợi carbon mang lại là cái khiến cho vật liệu này hấp dẫn đối với các loại sản phẩm khác nhau. McLaren, một đội đua Formula 1 (F1) của Anh, đã là đội đầu tiên dùng một xe đua F1 với kết cấu sợi carbon. John Watson đã lái nó để đoạt giải British Grand Prix năm 1981 tại Silverstone. Muộn hơn trong năm đó anh đã chứng tỏ, theo cách đầy kịch tính, khả năng chịu va đập của nó khi anh đứng dậy không việc gì từ một vụ tai nạn va đập nghiêm trọng tại Monza. Trong vòng vài năm mọi đội F1 đã đua bằng các xe làm từ sợi carbon. Nhưng xây dựng chúng, chủ yếu bằng tay, đã có thể tốn 3.000 người-giờ.  Hiện nay chỉ cần bốn giờ để làm ra một chassis sợi carbon và phần thân dưới của xe MP4-12C, một xe thể thao có giá $275.000 mà McLaren tung ra trong năm 2011 để cạnh tranh với địch thủ truyền kiếp Ferrari trên đường bộ cũng như trên đường đua. Xe MP4-12C được xây dựng trong một nhà máy sạch như bệnh viện gần trụ sở của McLaren ở Woking, tây London. Cuối cùng công ty sẽ chế tạo một dải road car (xe thường chạy trên đường không phải xe đua) dùng sợi carbon. Nó sẽ đạt việc đó nhanh hơn nhờ sự phát triển của một kỹ thuật tự động hóa một phần để ép vật liệu vào một khuôn và phun nhựa epoxy thấm vào dưới áp suất. Kỹ thuật này được mở đường cùng với Carbo Tech, một hãng Áo chuyên về composite.  Giống nhiều công nghệ được motor thể thao mở đường, sợi carbon bây giờ chuyển từ các siêu xe xuống các mẫu xe thường ngày hơn. BMW đang tung ra một dải mẫu xe chạy điện và xe lai dùng thân xe sợi carbon. Mẫu đầu tiên, một xe chạy điện nhỏ cho đô thị được gọi là BMW i3, sẽ được lắp ráp tại một nhà máy mới ở Leipzig từ năm tới. Một xe sợi carbon, do nhẹ, sẽ chạy được quãng đường dài hơn từ ắc quy của nó so với xe làm bằng thép nặng hơn. Nó thậm chí còn chứng tỏ bền hơn trong các cuộc thử va đập.  Một vật liệu bền ngạc nhiên khác có thể được làm từ đồ người dân vứt đi. Arthur Huang, đồng sáng lập của Miniwiz Phát triển Năng lượng Bền vững (Sustainable Energy Development), có trụ sở ở Đài Loan, được đào tạo như một kiến trúc sư tại Mỹ. Ông tạo ra các vật liệu xây dựng từ rác tái chế. Một sản phẩm, Gạch-Polli, là một khối giống một chai vuông làm từ nhựa PET tái chế từ các chai và hộp nhựa được dùng rộng rãi để chứa thực phẩm và đồ uống. Bởi vì hình dáng của chúng, các viên Polli-Brick có thể khớp với nhau mà không cần bất cứ chất kết dính nào để tạo ra các kết cấu như các bức tường. Những tường này, Huang nói, là đủ bền để chịu được bão, nhưng làm giảm rất nhiều dấu chân carbon của một tòa nhà và chỉ tốn khoảng một phần tư giá của vật liệu xây dựng truyền thống. Hơn nữa, vì chúng trong mờ nên có thể kết hợp phát sáng LED trong chúng.  Một lợi thế cụ thể  Một vật liệu khác trong số vật liệu của Huang là chất kết dính tự nhiên chiết xuất từ trấu bị bỏ đi. Chất này cũng có thể cho thêm vào để giúp đông kết bê tông. Ý tưởng không hoàn toàn mới; như Huang chỉ ra, cái gì tương tự đã được thêm vào vữa dùng để xây Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc. Ông nghĩ Trung hoa lục địa với đợt hưng thịnh xây dựng lần nữa có thể là một thị trường lớn cho sản phẩm này. Các vật liệu tương tự có thể chiết xuất từ trấu lúa mạch bị bỏ đi ở các xưởng ủ rượu. Huang mơ tưởng về hệ thống có thể được dùng ở các cộng đồng địa phương để biến các thứ bỏ đi thành các sản phẩm hữu ích.  Kỹ thuật làm sản phẩm ngày càng bắt đầu ở quy mô nano. Công nghệ nano đã được dùng rồi để nâng cao một số sản phẩm. Dioxide titan, chẳng hạn, được dùng để tạo ra kính tự làm sạch ở các tòa nhà. Một màng dày vài nano mét là đủ mỏng để nhìn qua thế nhưng đủ mạnh để phản ứng với ánh sáng mặt trời để phá vỡ chất bẩn hữu cơ. Vật liệu cũng háo nước, thu hút mưa như một dải nước rửa sạch các thứ còn lại. Pilkington, một công ty Anh, là công ty đầu tiên tung ra kính tự làm sạch sử dụng công nghệ này trong năm 2001.  Dạo qua các phòng thí nghiệm nghiên cứu tại MIT cung cấp nhiều thí dụ hơn về các sản phẩm tương lai mà có thể dùng các hạt nano. Giữa các thứ Kripa Varanasi và các đồng nghiệp của ông nghiên cứu là các vật liệu vô cùng kỵ nước. Các vật liệu này có thể được dùng để tạo ra các lớp phủ siêu kỵ nước mà sẽ cải thiện hết sức hiệu quả và độ bền của các máy như các turbine hơi nước và các nhà máy biến nước mặn thành nước ngọt, Varanasi nói. Các lớp phủ như vậy cũng có thể được dùng cho các turbine hơi nước hiện hành tạo ra phần lớn điện năng của thế giới. Đó có thể trở thành một ngành kinh doanh nâng cấp (retrofit) lớn, Varanasi nghĩ.  Tự nhiên dùng rồi các vật liệu với các kết cấu nano hết sức hiệu quả. Các hóa thạch thu hút sự quan tâm của Angela Belcher được hình thành khoảng 500 triệu năm trước khi các sinh thể thân mềm ở biển bắt đầu dùng các khoáng chất để nuôi các vật liệu cứng dưới dạng vỏ và xương. Các sản phẩm tự nhiên này chứa các cấu trúc nano tinh tế, như vỏ óng ánh của bào ngư, bà Belcher nói. Nếu các sinh vật có khả năng để tạo ra các vật liệu giống thế trong DNA của chúng, bà kết luận, phải là có thể để noi gương đua với nó. Đó là cái nhóm nghiên cứu của bà tại MIT thử làm bây giờ, sử dụng kỹ thuật genetic.  Dẫu có vẻ kỳ quặc, một trong các dự án của bà Belcher dính líu đến dùng các virus để làm pin. Các virus—thường là loại tiêm nhiễm vi khuẩn và vô hại đối với con người—là công cụ khá quen thuộc trong kỹ nghệ genetic. Đầu tiên, Belcher và các đồng nghiệp của bà chế biến các virus về mặt di truyền để tương tác hay liên kết với các vật liệu mà họ quan tâm. Vì họ không có hàng triệu năm để đợi, họ ứng dụng cái chẳng khác gì một quá trình Darwinian tốc độ cao: tạo ra hàng tỷ virus mỗi lần, chọn ra các virus có hy vọng và lặp lại quá trình cho đến khi họ đạt được một biến thể có khả năng làm cái họ muốn.  Nhóm đã phát triển các virus có thể tạo ra các thành phần của một pin, như cathode và anode, và sử dụng chúng để làm ra các pin nhỏ cỡ cúc áo, giống các pin cấp điện cho đồng hồ đeo tay, nhưng quá trình có tiềm năng để được mở rộng quy mô. Cái khiến cho công nghệ quyến rũ đến vậy, bà Belcher nói, là nó rẻ, sử dụng các chất không độc và nó thân thiện với môi trường.  Hai công ty do bà Belcher lập ra đang làm các thứ bằng virus rồi. Cambrios Technologies đang sản xuất các chất phủ cho các màn hình cảm ứng (touch screen) và Siluria Technologies (bà Belcher thích đặt tên cho công ty của bà theo các niên đại địa chất) dùng virus để phát triển các chất xúc tác để biến gas tự nhiên thành dầu và nhựa. Cũng có các ứng dụng tiềm năng trong pin mặt trời, chẩn đoán y tế, điều trị ung thư. Và tất cả là từ một ý tưởng được truyền cảm hứng bởi một vỏ sò biển.  Một trong những người tại MIT mà bà Belcher làm việc cùng là Gerbrand Ceder, một chuyên gia ắc quy người cảm thấy rằng phải có cách dễ hơn để tìm ra các vật liệu so với quá trình xảy ra chậm chạp hiện tại. Thông tin về mười tính chất khác nhau của một vật liệu có thể bị để rải rác ở mười nơi khác nhau. Để đưa chúng cùng nhau về một chỗ, Ceder và các đồng nghiệp của ông, liên kết cùng với Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley (National Laboratory), cuối năm vừa rồi đã khai trương một dịch vụ online gọi là Materials Project để lập catalogue các tính chất của các chất. Vào tháng Ba năm nay (2012) nó đã chứa chi tiết của gần 20.000 hợp chất khác nhau.  Cơ sở dữ liệu được thiết kế để cho phép các nhà khoa học nhanh chóng nhận diện các vật liệu phù hợp và tiên đoán chúng có thể phản ứng cùng nhau thế nào. Việc này hứa hẹn sẽ đẩy nhanh sự phát triển các vật liệu mới trong chế tác. Một số chất mới có thể cần một thập niên hay hơn để đạt đến thị trường. “Bởi vì nó kéo dài đến vậy, nên người ta thận trọng về đầu tư vào nó,” Ceder nói. “Cho nên chúng tôi phải làm cho quá trình nhanh hơn.”  Nguyễn Quang A dịch  —  Đọc thêm:  * Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5530  * Nhà máy và việc làm: Quay lại việc chế tạo sản phẩm  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5531  * Lợi thế cạnh tranh: Hiệu ứng boomerang  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=5547&CategoryID=7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý đằng sau dáng đi ì ạch của con gấu nước      Bụ bẫm và vụng về, các sinh vật ngành Tardigrada hay được gọi là “gấu nước” kể từ thế kỷ 18, khi các nhà khoa học quan sát được “những con vật có chiều dài 0,02 inch có đặc điểm dễ phân biệt là dáng đi ì ạch. Bước đi chậm chạp nhưng chắc nịch cúa chúng làm dấy lên câu hỏi tại sao tardigrade lại được tiến hóa để đi theo cách đó.      Các động vật thường nhỏ và mềm như những con tardigrade hiếm khi phiền muộn về việc đi bộ. Ví dụ, các loài sâu cuốn có kích thước và kiểu cơ thể tương tự hay vùng vẫy, trượt đi theo những hình dạng siêu mềm mại của chúng trên các mặt nền không thể đoán trước. Còn loài gấu nước, một sinh vật ở kích cỡ vi mô lại khác biệt đến mức các nhà khoa học buộc phải xếp chúng vào ngành khác, sử dụng tám cái chân ngắn để tự đẩy mình đi qua vùng trầm tích biển và nước ngọt, qua sa mạc và dưới lớp đất.  Giờ đây, một nghiên cứu mới trên PNAS phân tích tướng đi của tardigrade và phát hiện ra gấu nước đi theo một kiểu vô cùng gần gũi với các loài côn trùng có kích thước gấp 500.000 lần kích thước của chúng 1. Khám phá này gợi ý về sự tồn tại của một tổ tiên chung hoặc một sự tiên tiến trong tiến hóa nào đó có thể giải thích tại sao một trong những tạo vật nhỏ nhất và mềm mại nhất hành tinh lại tiến hóa để đi giống như những con côn trùng có cơ thể lớn hơn và cứng cáp hơn.  “Các con tardigrade có một cách chuyển động rất khỏe khoắn và dứt khoát – chúng không hề trượt chân một cách vụng về khi di chuyển trong sa mạc hoặc trên một đống lá cây”, Jasmine Nirody, một nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu vật lý và sinh học Rockefeller, nhận xét. “Những điểm tương đồng giữa chiến lược di chuyển của chúng với những con côn trùng và loài chân đốt có kích thước lớn hơn mở ra rất nhiều câu hỏi vô cùng thú vị về tiến hóa”.  Những vận động viên đầy kỹ thuật  Nirody và đồng nghiệp đầu tiên xác định cách những con gấu nước đi và chạy. “Nếu anh theo dõi các con tardigrade dưới một kính hiển vi điện tử trong thời gian đủ dài, anh có thể bắt được một phạm vi rất rộng trong hành vi của chúng”, Nirody nói. “Chúng tôi không buộc chúng phải làm gì cả. thi thoảng chúng có thể muốn thư giãn và chỉ tản bộ xung quanh. Có lúc thì chúng lại muốn thấy thứ mà chúng thích và chạy hướng về phía đó”.  Nirody tìm ra là tại thời điểm thong dong nhất của chúng, các con gấu nước đủng đỉnh mỗi giây lết được một quãng đường bằng nửa chiều dài cơ thể. Tại thời điểm cần kíp, các đôi chân ngắn của chúng đưa chúng đi trên quãng đường gấp đôi chiều dài cơ thể trong cùng thời gian. Nhưng ngạc nhiên nhất khi cô quan sát cách bàn chân một con gấu nước tiếp xúc với nền như thể được tiếp thêm động năng. Không giống như các động vật có xương sống, vốn có dáng đi khác biệt cho mỗi tốc độ – chụp ảnh những móng guốc của một con ngựa trong những bước chuyển từ đi thong thả sang phi nước kiệu – các con  tardigrade chạy giống hệt côn trùng, chạy gấp với vận tốc ngày càng tăng mà không cần thay đổi các mẫu hình bước cơ bản.  “Có sự gián đoạn nhất định khi các động vật xương sống chuyển từ đi thong thả sang chạy”, Nirody nói. “Với động vật chân đốt, tất cả các mẫu hình bước đều cùng tồn tại trong một miền liên tục”.    Bức ảnh hiển thị trạng thái chuyển động của con Milnesium tardigradum trên kính hiển vi điện tử SEM. Nguồn: PLoS ONE 7(9): e45682. doi:10.1371/journal.pone.0045682  Sự phối hợp từ thời cổ đại  Tại sao những con tardigrade lại có chung một chiến lược di chuyển với những loài côn trùng có cơ thể lớn hơn và cứng cáp hơn?  Một cách giải thích có thể là vì những con tardigrade, được giả định từ lâu là không hề phù hợp với cách phân loại đang có, có thể cùng chung tổ tiên – và thậm chí là một mạch thần kinh chung – với những con côn trùng như ruồi giấm, kiến và những tạo vật chân đốt khác. Trên thực tế, một số nhà khoa học đã ủng hộ việc phân loại những con tardigrade trong ngành động vật Panarthropoda, một nhóm động vật được ấn định chung không gian chung cho các côn trùng, loài giáp xác, giun nhung và gấu nước.  Một khả năng khác là không có sự kết nối tổ tiên giữa các con tardigrade và động vật chân đốt nhưng các nhóm không liên quan của các sinh vật sống một cách độc lập tại cùng chiến lược đi và chạy bởi chúng có sự tiên tiến về mặt tiến hóa.  Nirody bị cả hai khả năng có thể này thu hút. “Nếu đó là một hệ thần kinh chung kiểm soát bước đi của tất cả các con panarthropod, chúng ta sẽ có nhiều điều để học hỏi”, cô nói. “Nói cách khác thì nếu loài chân đốt và tardigrade hội tụ về chiến lược này một cách độc lập thì chúng ta có thể nói điều gì về thứ khiến chiến lược đó trở nên có thể chấp nhận được cho nhiều loài trong những môi trường khác nhau?”.  Vượt ra ngoài những gợi ý về sinh học tiến hóa và nghiên cứu về chuyển động của loài vật, phát hiện này có thể có những đóng góp cho các lĩnh vực đang không ngừng phát triển như vi robot và robot mềm.  Bằng việc nghiên cứu về những động vật nhỏ tiến hóa như thế nào để di chuyển trong những môi trường bất lợi, các nhà khoa học có thể có khả năng thiết kế được các robot có thể nén hiệu quả hơn trong những không gian nhỏ hoặc vận hành tại kích cỡ nano. “Chúng ta không biết nhiều về điều gi xảy ra tại những cực biên của chuyển động – cách để các sinh vật nhỏ nhỏ di chuyển một cách hiệu quả hay cách những thứ như vật thể mềm phải chuyển động”, Nirody nói.  “Những con tardigrade là một điểm cực quan trọng để chúng ta tìm hiểu chuyển động của vật thể mềm ở cấp độ nano”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-physics-lumbering-gait.html  https://www.sciencealert.com/scientists-take-videos-of-tardigrades-lumbering-to-work-out-why-they-walk-funny  ——————————  1. https://www.pnas.org/content/118/35/e2107289118    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý mới ẩn giấu bên trong sự sống?      Khi James Clerk Maxwell viết ra ví dụ về con quỷ nổi tiếng, ông đã tạo ra một cầu nối giữa thông tin và vật lý. Ngày nay, thông tin được hứa hẹn sẽ là khái niệm chính kết nối vật lý và sinh học.      Erwin Schrödinger làm thay đổi các quan điểm về sinh học phân tử. Nguồn: Nature  Đối với một nhà vật lý thì sự sống vẫn còn là một điều bí ẩn. Những sinh vật sống có những cơ chế hoạt động thành công một cách rực rỡ và bí ẩn đến mức người ta không nghĩ rằng chúng được cấu tạo từ các nguyên tử bình thường. Nhưng nếu nguồn gốc của sự sống không phải là những vật chất tạo ra các sinh vật kia thì nó là gì? Điều gì khiến cho những sinh vật có được năng lượng diệu kỳ khiến chúng trở nên đặc biệt và đáng chú ý đến như vậy? Đó là câu hỏi mà Erwin Schrödinger đặt ra trong chuỗi bài giảng nổi tiếng tại Dublin, Ireland, vào năm 1943, và được xuất bản vào năm sau trong cuốn sách có ảnh hưởng lớn Sự sống là gì (“What Is Life?”).   Schrödinger là cây đại thụ trong Vật lý lý thuyết và là một trong những người sáng lập ra cơ học lượng tử. Đây là lý thuyết khoa học thành công nhất từng có cả về ứng dụng và độ chính xác. Ví dụ, khi được áp dụng cho trường điện từ, nó dự đoán chính xác mômen từ dị thường của điện tử chính xác đến 10 con số có ý nghĩa. Một cách nhanh chóng, nó cũng giải thích được bản chất của vật chất vô tri vô giác, từ các hạt hạ nguyên tử, các nguyên tử và phân tử, đến cả các ngôi sao. Nhưng thật đáng tiếc, nó cũng không giải thích được sự sống. Và bất chấp những tiến bộ ngoạn mục của sinh học trong những thập kỷ qua, sự sống vẫn còn là một bí ẩn. Không ai có thể nói chắc chắn nó là gì hoặc nó bắt đầu như thế nào.       Một trong những mục tiêu chính của sinh học thiên văn là tìm kiếm dấu vết của sự sống bên ngoài Trái đất, nhưng nếu không có định nghĩa về sự sống thì thật khó để biết chính xác cần tìm những gì.      Nếu hỏi Vật lý có thể giải thích được sự sống không thì hầu hết các nhà vật lý sẽ nói có. Câu hỏi hợp lý hơn có lẽ sẽ là: liệu những lý thuyết Vật lý đã biết đến nay có giải thích được không, hay cần có một lý thuyết cơ bản mới? Vào những năm 30 của thế kỷ trước, những kiến trúc sư của cơ học lượng tử mà nổi bật là Niels Bohr, Eugene Wigner và Werner Heisenberg đã linh cảm rằng thực sự có một cái gì đó mới và khác biệt trong vật lý của vật chất sống. Schrödinger thì hoài nghi hơn những vẫn để ngỏ khả năng đó. “Chúng ta có thể phải chuẩn bị cho những lý thuyết vật lý mới cho sự sống”, ông phỏng đoán, nhưng không nói rõ đó có thể là lý thuyết gì.  Những câu hỏi đó không chỉ là mối quan tâm học thuật đơn thuần. Một trong những mục tiêu chính của sinh học thiên văn là tìm kiếm dấu vết của sự sống bên ngoài Trái đất, nhưng nếu không có định nghĩa về sự sống thì thật khó để biết chính xác cần tìm những gì. Ví dụ như NASA đang lên kế hoạch bay qua một chùm vật chất phun ra từ các khe nứt trong lớp vỏ băng giá của Enceladus, một mặt trăng của sao Thổ được biết là có chứa các phân tử hữu cơ. Thế nhưng làm sao có thể chứng minh được những vật chất đó có dấu tích của sự sống hoặc mảnh vụn của một sinh vật đã từng sống, thay vì một dạng vật chất tiền sự sống. Không giống như những phép đo thông thường như từ trường, không có máy móc sự sống nào có thể định lượng được hàm lượng “sống” trong các hợp chất hóa học đang tiến hóa thành sự sống – chưa nói đến sự sống ngoài hành tinh Trái đất.  Hầu hết các nhà thiên văn học sinh học tập trung vào các dấu hiệu của sự sống như chúng ta biết. Ví dụ con tàu Viking của NASA đến sao Hỏa vào những năm 1970 đã tìm kiếm các dấu hiệu của quá trình chuyển hóa carbon bằng cách sử dụng hợp chất chứa chất dinh dưỡng phù hợp với các sinh vật trên cạn. Một dấu hiệu sinh học khác được thảo luận nhiều là tính “homochirality” thể hiện bởi sự xuất hiện của sự đồng phân. Mặc dù các định luật vật lý là đồng nhất nếu xoay trái-phải nhưng trong sinh học chỉ có axit amino thuận trái và đường thuận phải. Tuy nhiên trong hóa học về đất vô cơ cũng có thể bắt chước sự trao đổi chất và tính “homochirality” có thể được tạo ra bởi các chu kỳ hóa học lặp đi lặp lại mà không cần có sự tham gia của sự sống. Do vậy những dấu hiệu đó không phải là bằng chứng chắc chắn cho việc tồn tại sự sống.  Vấn đề xác định sự sống còn khó hơn nữa do các nhà sinh học thiên văn đã quan niệm sự sống tồn tại nếu có oxy trong bầu khí quyển của các hành tinh ngoài hệ Mặt trời. Nhưng một lần nữa, oxy trong khí quyển cũng chưa chắc là dấu hiệu rõ ràng của quá trình quang hợp, bởi vì các quá trình phi sinh học cũng có thể tạo ra bầu khí quyển có oxy. Rõ ràng là chúng ta đang thiếu một định nghĩa về “sự sống” độc lập với chất sinh hóa mà sự sống được tạo ra. Liệu có nguyên tắc phổ quát và sâu sắc nào có thể biểu hiện dấu hiệu sinh học, hay cao hơn là sự sống, nhận dạng được không?  Hai văn hóa khác biệt   Có một khoảng cách về khái niệm giữa vật lý và sinh học chứ không đơn thuần chỉ là tính phức hợp (“complexity”). Các nhà vật lý học nghiên cứu sự sống với những khái niệm truyền thống của họ như năng lượng, entropy, lực phân tử và tốc độ phản ứng. Trong khi đó các nhà sinh học lại mô tả câu chuyện theo một cách rất khác với các thuật ngữ như tín hiệu, mã, phiên mã và dịch mã – là những ngôn ngữ của thông tin.  Một ví dụ nổi bật là công nghệ CRISPR mới cho phép các nhà khoa học chỉnh sửa bảng mã của sự sống. Lĩnh vực mới nổi, vật lý sinh học, đang tìm cách thu hẹp khoảng cách trên ví dụ bằng cách mô hình hóa các đặc tính lưu trữ và lan truyền thông tin trong các mạng lưới kiểm soát sinh học khác nhau.  Chuỗi DNA hay gene là nơi mã hóa các tập mã có thể tắt hay bật các gene khác bằng những tín hiệu hóa học và sự tương tác của chúng tạo thành mạng lưới phức hợp. Những mạng lưới tương tác hóa học này giống như những mạch điện tử hay linh kiện máy tính, có khi cũng bao gồm các mođun hay cổng thực hiện tính toán logic. Nhưng lưu trữ và lan truyền thông tin có ở mọi nơi trong sự sống chứ không chỉ trong các cấu trúc DNA. Ở các tế bào, nhiều cơ chế vật lý khác nhau cho phép chúng phát tín hiệu và tương tác với nhau. Một ví dụ là các chất nhờn như trong hình 1 là một tập hợp các tế bào đơn lẻ, chúng tự tổ chức thành các hình dạng nổi bật và đôi khi có thể hoạt động như thể chúng là một sinh vật đơn lẻ (mà bên trong chỉ là các tương tác vật lý, hóa học – ND). Tương tự như vậy, các côn trùng như kiến và ong trao đổi thông tin một cách rất phức tạp và tham gia vào việc ra quyết định tập thể, tạo thành xã hội giả lập. Tương tự, bộ não con người là một hệ thống xử lý thông tin có độ phức tạp đáng kinh ngạc.    Hình 1: Khuôn chất nhờn. Một tập hợp các tế bào đơn lẻ và tự do có thể kết hợp lại và hoạt động như một sinh vật đơn nhất với một mục tiêu chung. Nguồn: Audrey Dussutour/CNRS.  Sự hiện diện cơ bản của thông tin trong sự sống đã khiến một số nhà khoa học đưa ra một tiên đề: Sự sống = Vật chất + Thông tin. Tuy nhiên để phương trình trên có được cơ sở khoa học có khả năng giải thích và dự đoán thì cần có một cơ sở lý thuyết chính thức kết nối thông tin với vật chất. Gợi ý đầu tiên về mối liên hệ này xuất hiện vào năm 1867 khi nhà vật lý người Scotland James Clerk Maxwell, trong một bức thư gửi cho một người bạn, đã tưởng tượng ra một sinh vật nhỏ bé có thể nhận biết được tốc độ của các phân tử khí riêng lẻ trong một hộp. Bằng cách điều khiển một chiếc cửa, con quỷ nhỏ (sẽ được giải thích rõ hơn sau) có thể hướng tất cả các phân tử nhanh sang bên trái của hộp và phân tử chậm sang phải.  Do tốc độ của phân tử là một phép đo của nhiệt độ, nên con quỷ nhỏ đã dùng thông tin mà nó biết được về các phân tử để tạo ra một chênh lệch nhiệt độ trong chiếc hộp. Và một kỹ sư nào đó có thể dùng sự chênh lệnh nhiệt độ này để tạo ra năng lượng và sinh công hữu ích. Do đó, Maxwell đã thiết kế ra một máy chuyển động vĩnh cửu chạy bằng Thông tin, và vi phạm định luật thứ hai của nhiệt động lực học.  Để giải quyết nghịch lý này, thông tin cần phải được lượng hóa và tích hợp vào các định luật của nhiệt động lực học. Và nền tảng của lý thuyết thông tin hiện đại đã được Claude Shannon thiết lập vào cuối những năm 1940. Shannon đã định nghĩa thông tin như là sự giảm đi của độ bất định. Ví dụ như khi ta tung một đồng xu, thì kết quả có thể được mô tả bởi một số nhị phân quen thuộc và gọi là 1 bit thông tin, tương ứng với thông tin có được khi xác định mặt Sấp và Ngửa của đồng xu.  Shannon đã kết hợp được lý thuyết thông tin và nhiệt động lực học để đưa ra một định nghĩa của thông tin là số âm của entropy. Do vậy thông tin mà con quỷ nhỏ có được để tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ (tương ứng với sự sụt giảm entropy) sẽ phải được bù bởi một sự tăng entropy ở đâu đó – ví dụ như khi thông tin trong trí nhớ của nó bị xóa và thiết lập lại giữa hai lần các phân tử đi qua.  Maxwell thiết kế thí nghiệm tưởng tượng về con quỷ nhỏ nói trên và ngày nay các tiến bộ về công nghệ nano đã cho phép thực hiện thí nghiệm này. Thực tế là sự sống đã tạo ra và sử dụng rất nhiều những con quỷ nhỏ này trong hàng ngàn năm (việc chuyển hóa thông tin thành năng lượng) như: cơ thể của chúng ta tự tổ chức thành sự sống, các cỗ máy phân tử có thể sao chép DNA, vận chuyển chất qua các ống, hay bơm proton (là các ion hydro) qua các màng tế bào giống như các giới hạn nhiệt động lực học lý tưởng. Chúng đã sử dụng định luật hai nhiệt động lực học để tạo ra chênh lệch năng lượng. Bộ não con người cũng sử dụng một kiểu con quỷ nhỏ này trong các liên kết thần kinh – các kênh ion điện thế – để truyền tín hiệu điện. Các kênh ion này cho phép bộ não chúng ta xử lý thông tin khổng lồ với một lượng năng lượng nhỏ như công suất một bóng đèn mờ, trong khi những siêu máy tính tương đương có công suất hàng triệu Watts.  Bản chất mang tính khái niệm của thông tin sinh học. Ví dụ về chú quỷ nhỏ chỉ là phần nổi của tảng băng lý thuyết thông tin trong sự sống. Thông tin sinh học không giới hạn ở việc tối ưu hóa năng lượng; nó còn hoạt động như một cách quản lý và vận hành của sự sống. Hãy xem xét cách một phôi thai (hình 2) phát triển từ một trứng đã thụ tinh. Nó được giám sát ở mọi giai đoạn bởi mạng thông tin được tinh chỉnh theo vô số quá trình vật lý và hóa học, tất cả đều được sắp xếp để hình thể phức tạp cuối cùng xuất hiện với cấu trúc và hình thái định sẵn phù hợp.    Hình 2: Một phôi thai người, dài 38 mm, 8–9 tuần tuổi. (Hình ảnh lấy từ Anatomist90, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.) ANATOMYUMFTM©2012  Các mô hình mô phỏng sự phát sinh phôi bằng cách sử dụng sự lan truyền thông tin trong mạng lưới điều hòa gene đã có thành công đáng kể. Eric Davidson và các đồng nghiệp của ông tại Caltech đã mô tả được toàn bộ sơ đồ mạng lưới kết nối gene điều khiển sự phát triển trong giai đoạn đầu của nhím biển, về mặt hóa học. Bằng cách theo dõi quá trình lan truyền thông tin, nhóm lập trình để mô phỏng các bước của quá trình động lực học của mạng lưới. Ở mỗi giai đoạn, họ so sánh trạng thái của mạch điện mô phỏng bởi máy tính với dữ liệu quan sát thực nghiệm giai đoạn phát triển của nhím biển và thu được kết quả phù hợp ấn tượng. Các nhà nghiên cứu cũng xem xét tác động của các gene chìm về mặt hóa học trong mô hình máy tính để dự đoán điều gì sẽ xảy ra với phôi đột biến; và một lần nữa, mô hình của họ phù hợp với các quan sát thực nghiệm.   Một nhóm khác do Thomas Gregor và William Bialek tại Đại học Princeton dẫn dắt đã nghiên cứu các giai đoạn phát triển đầu tiên của ruồi giấm – cụ thể là cách các hình thái cơ thể xuất hiện. Trong quá trình phát triển, các tế bào cần biết vị trí của chúng so với các tế bào khác trong không gian ba chiều. Làm thế nào để chúng có được thông tin vị trí đó? Trước đó người ta đã biết rằng các tế bào có một cơ chế kiểu GPS dựa trên các thay đổi (gradient) hóa học, và các biến đổi này lại được điều chỉnh ngược lại bởi các giá trị biểu hiện bởi các gene cụ thể. Nhóm Princeton gần đây đã nghiên cứu về bốn gene được gọi là gene khoảng trống, là các gene nền tảng cho việc định hình phôi thai bằng cách tạo ra các khoảng trống, hoặc các dải, trong cơ thể sinh học. Họ phát hiện ra rằng các tế bào đang trích xuất thông tin vị trí tối ưu từ các giá trị biểu hiện gene bằng công thức xác suất Bayes, và do đó đạt được độ chính xác đáng kinh ngạc với 1% sai số. Các nhà nghiên cứu có thể áp dụng mô hình tối ưu hóa Bayes cho các chủng đột biến và dự đoán chính xác hình thái biến đổi của chúng.      Chúng ta cần khám phá cách thức các loại thông tin khác nhau – điện, hóa học và di truyền – tương tác để tạo ra một khuôn khổ quy định quản lý tổ chức của vật chất sống và chuyển nó thành các kiểu hình cụ thể.      Những nghiên cứu nói trên đặt ra một câu hỏi triết học quan trọng đi sâu vào sự sai khác giữa vật lý và sinh học. Các nghiên cứu về mạng lưới điều hòa gene và ứng dụng các thuật toán Bayes hiện được coi như nghiên cứu thực nghiệm theo hiện tượng trong đó “thông tin” là một đại diện (hoặc nhãn) dùng để tạo ra một mô phỏng sinh học giống sinh vật thực. Nhưng bài học về con quỷ nhỏ của Maxwell là thông tin thực sự là một đại lượng vật lý có thể ảnh hưởng sâu sắc đến cách hoạt động của vật chất. Thông tin, theo định nghĩa của Shannon, không chỉ là một tham số không chính thức mà nó còn là một biến vật lý cơ bản có một vị trí xác định trong các định luật nhiệt động lực học. Shannon nhấn mạnh rằng lý thuyết thông tin của ông hoàn toàn giải quyết vấn đề hiệu quả và năng lực của dòng thông tin nhưng nó không nói gì về ý nghĩa của thông tin được truyền đạt. Nhưng trong sinh học thì ý nghĩa hoặc bối cảnh lại rất quan trọng.  Làm sao chúng ta có thể biểu diễn toán học các thuộc tính chỉ dẫn, giám sát hoặc ngữ cảnh của thông tin? Đây là một cách tiếp cận: sinh học phân tử hay “giáo điều trung tâm” – một thuật ngữ do Francis Crick đặt ra một thập kỷ hoặc lâu hơn sau khi ông và James Watson tìm ra cấu trúc chuỗi xoắn kép của DNA – là thông tin chảy theo một hướng: từ DNA đến bộ máy tạo ra protein và tới cơ thể sinh học. Có thể gọi đó là dòng chảy từ dưới lên.  Ngày nay chúng ta biết được là thông tin lan truyền trong sinh học theo hai chiều, bao gồm cả các vòng phản hồi và luồng thông tin từ trên xuống. Ví dụ, nếu các tế bào được nuôi cấy để phát triển trong đĩa Petri quá nhiều, chúng sẽ ngừng phân chia, một hiện tượng được gọi là sự ức chế tiếp xúc (tức là thông tin về sự quá nhiều (bên trên) sẽ truyền xuống các tế bào (bên dưới) để chúng ngừng chia – ND). Và các thí nghiệm với vi khuẩn trên Trạm vũ trụ quốc tế ISS đã chỉ ra rằng vi khuẩn có thể xuất hiện các gene khác nhau trong môi trường không trọng lực so với trên Trái đất. Rõ ràng, các lực lượng vật lý ở cấp độ cao toàn hệ thống ảnh hưởng đến sự biểu hiện gene ở cấp độ phân tử.  Công trình của Michael Levin và các đồng nghiệp của ông tại Trung tâm Khám phá Allen của Đại học Tufts cung cấp một ví dụ hấp dẫn về luồng thông tin từ trên xuống. Nhóm Levin khám phá cách các mạch điện tử trên toàn hệ thống có thể có tác động quan trọng như những lực cơ học hoặc hóa học trong việc kiểm soát sự phát triển và hình thái của một số sinh vật. Các tế bào khỏe có sự phân cực về điện: chúng tạo ra một điện thế vài chục hoặc hàng trăm milivôn giữa các thành tế bào bằng cách bơm ra các ion. Ngược lại, các tế bào ung thư có xu hướng không cực. Nhóm Levin cũng phát hiện ra rằng ở các sinh vật đa bào, sự phân cực tế bào trên các mô đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển, chữa lành vết thương và tái tạo cơ quan. Bằng cách phá vỡ các tính chất điện đó bằng hóa học, nhóm đã tạo ra các hình thái mới theo trật tự. Loài giun dẹp planaria là một đối tượng thí nghiệm thuận tiện. Nếu một con sâu bình thường bị chặt làm đôi, phần đầu mọc ra một đuôi mới và phần đuôi mọc ra một đầu mới tạo thành hai con giun hoàn chỉnh. Nhưng bằng cách thay đổi trạng thái phân cực điện gần vết thương, nhóm có thể tạo ra những con giun hai đầu hoặc hai đuôi, như trong hình 3.    Hình 3: Con giun hai đầu được tạo ra bằng cách thay đổi trạng thái phân cực điện gần vết thương. Nguồn: T. Nogi et al., PLOS Negl. Trop. Dis  Thật ngạc nhiên, nếu những con quái vật đó lần lượt bị cắt làm đôi, chúng không trở lại kiểu hình bình thường. Thay vào đó, giun hai đầu tạo ra nhiều giun hai đầu hơn, và tương tự như vậy với giun hai đuôi. Mặc dù tất cả đều có DNA giống hệt nhau nhưng những con giun này lại trông như những loài khác nhau. Thông tin hình thái học của cơ thể phải được lưu trữ một cách phân tán trong mô bị cắt và điều khiển sự tái sinh thích hợp ở cấp độ gene. Nhưng điều đó xảy ra như thế nào? Một mã điện được mã hóa có hoạt động cùng với mã di truyền không? Thuật ngữ di truyền biểu sinh đề cập đến các yếu tố quyết định kiểu hình, chẳng hạn như tổng lực vật lý, nằm ngoài gene. Chúng ta biết rất ít về cơ chế lưu trữ, xử lý và lan truyền thông tin biểu sinh nhưng vai trò của chúng trong sinh học là rất quan trọng.  Để đạt được tiến bộ, chúng ta cần khám phá cách thức các loại thông tin khác nhau – điện, hóa học và di truyền – tương tác để tạo ra một khuôn khổ quy định quản lý tổ chức của vật chất sống và chuyển nó thành các kiểu hình cụ thể. Suy luận về vật lý của sự sống theo các thuật ngữ thông tin hơn là các thuật ngữ phân tử thuần túy tương tự như sự khác biệt giữa phần mềm và phần cứng trong máy tính.  Cũng giống như để hiểu đầy đủ về một ứng dụng máy tính cụ thể — chẳng hạn như PowerPoint – đòi hỏi sự hiểu biết về các nguyên tắc của kỹ thuật phần mềm cũng như vật lý của mạch máy tính. Chính vì vậy sự sống chỉ có thể được hiểu đầy đủ khi các nguyên tắc của động lực học thông tin sinh học được làm sáng tỏ.□ (Còn tiếp)  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4546  ——  * Paul Davies là giáo sư Khoa Vật lý trường đại học Arizona ở Tempe và là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Các khái niệm cơ bản trong khoa học của trường.    Author                Paul Davies        
__label__tiasang Vật lý mới ẩn giấu bên trong sự sống (Phần 2)      Nằm ngoài sự tác động của con người nhưng quá trình tiến hóa sinh học trong tự nhiên lại tuân theo những quy luật riêng biệt. Nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học là khám phá các bí ẩn đó.      Bức tranh miêu tả sự tiến hóa sinh học trong cuốn “Kunstformen der Natur” xuất bản năm 1904 của nhà sinh vật học người Đức Ernst Haeckel (1834–1919). Nguồn: Public Domain. Narcomedusae  Một khái niệm mới về các hệ động lực  Kể từ thời của Isaac Newton, thuyết nhị nguyên cơ bản đã phổ biến. Mặc dù các trạng thái vật lý phát triển theo thời gian, các định luật vật lý cơ bản thường được coi là bất biến. Giả thiết này là cơ sở của động lực học Hamilton, tính khả tích của quỹ đạo hay tính “ergodicity”. Nhưng các định luật bất biến lại không phù hợp với các hệ sinh học trong đó các cấu trúc động lực học của thông tin phụ thuộc vào các mạng lưới hóa học biến đổi thời gian. Và khi thông tin xuất hiện – ví dụ như khi bật các gene – cơ chế của nó lại có thể phụ thuộc vào các lực vật lý mang tính hệ thống cũng như các tín hiệu hóa học mang tính cục bộ.  Quá trình tiến hóa sinh học với sự đa dạng, mới lạ không có điểm dừng, cũng như không thể dự đoán thì trái ngược hoàn toàn với cách thay đổi theo thời gian của những hệ thống ngoài sự sống. Tuy nhiên, sinh học không phải là hỗn loạn và vẫn có quy luật, lấy ví dụ như mã di truyền phổ quát ở đó bộ ba nucleotide CGT là các mã cho axit amin arginine. Không có trường hợp ngoại lệ nào khác với quy luật đó,  nhưng sẽ là sai lầm nếu coi nó như một quy luật tự nhiên giống như định luật hấp dẫn. Gần như chắc chắn là sự phân công từ CGT tới arginine đã từ hàng triệu năm trước, tiến hóa từ một số quy tắc sớm hơn và đơn giản hơn. Sinh học có rất nhiều những ví dụ như thế.  Có thể mô tả thực tế hơn về sự thay đổi trong hệ thống sinh học là sự thay đổi của các quy tắc động lực học theo trạng thái của hệ thống. học thuyết. Các cơ chế động lực phụ thuộc trạng thái mở ra một thế giới mới về hành vi nhưng nó còn xa lạ với các lý thuyết toán học chính thống. Ví dụ hãy xem xét trò đánh cờ. Trong cờ vua, tiêu chuẩn hệ thống là đóng và có các quy tắc cố định. Từ trạng thái ban đầu, người chơi có thể tự do di chuyển đến một tập hợp các trạng thái khác, mặc dù rất lớn nhưng bị các quy tắc bất biến ràng buộc. Và tập hợp các trạng thái khả dĩ này chỉ là một tập con của tất cả các cấu hình có thể có của các quân cờ trên bàn cờ. Mặc dù có thể có một số lượng lớn các trạng thái có thể xảy ra nhưng thực tế là số lượng các trạng thái không thể có còn lớn hơn nữa. Một ví dụ trạng thái không thể xảy ra là khi tất cả các con mã đứng ở các ô vuông cùng màu trên bàn cờ.  Bây giờ hãy tưởng tượng trò chơi cờ vua sửa đổi theo đó các quy tắc phụ thuộc vào trạng thái tổng thể của bàn cờ – một tiêu chí mang tính hệ thống hoặc “từ trên xuống”. Ví dụ đơn giản như nếu bên trắng thắng một quân, thì bên đen có thể được phép di chuyển các con tốt cả về phía sau cũng như về phía trước. Trong phiên bản mở rộng này, chúng ta có một hệ thống mở và các trạng thái mới sẽ phát sinh, đơn giản là không thể sử dụng các quy tắc cố định của cờ vua ban đầu nữa. Trò chơi tưởng tượng này giúp chúng ta hình dung trong sinh học, các sinh vật cũng là những hệ thống mở, có thể thực hiện những điều khác biệt, không thể có bởi các hệ thống phi sự sống.  Để tìm hiểu hệ quả của các hệ động lực phụ thuộc vào trạng thái với thông thu nhận từ trên xuống, nhóm nghiên cứu tại Đại học Bang Arizona đã sử dụng mô hình tế bào automat (cellular automaton  – CA) một chiều. Một CA tiêu chuẩn là một chuỗi các ô vuông có thể trống hoặc được tô đen. Chúng ta xác định một quy tắc cố định để cập nhật trạng thái của mỗi ô theo trạng thái hiện có và trạng thái của các ô lân cận gần nhất. Hệ thống có 256 quy tắc cập nhật có thể có.       Nhiều nhà vật lý ủng hộ việc đặt thông tin vào trung tâm của vật lý, trong khi những người khác phỏng đoán rằng vật lý mới ẩn náu trong thế giới đáng chú ý và khó hiểu của các sinh vật sinh học. Sinh học đang định hình trở thành biên giới lớn tiếp theo của vật lý.      Để chơi trò chơi CA người ta chọn một trạng thái (cấu hình) ban đầu biểu diễn dưới dạng một chuỗi các bit, 0 hoặc 1 — sau đó áp dụng quy tắc cập nhật lặp đi lặp lại để cho hệ thống tiến hóa. Một số quy tắc cập nhật dẫn đến kết quả buồn tẻ nhưng một số ít tạo ra các mô hình ngày càng phức tạp. Tiếp theo các nhà nghiên cứu đã kết nối hai trò CA tiêu chuẩn, một đại diện cho sinh vật và một CA khác đại diện cho môi trường.  Sau đó, họ cho phép quy tắc cập nhật cho sinh vật thay đổi ở mỗi lần lặp lại. Để xác định quy tắc nào trong số 256 quy tắc cần áp dụng ở một bước nhất định họ đã nhóm các ô CA của sinh vật thành các bộ ba liền kề — 000, 010, 110, v.v. — và so sánh tần số tương đối của mỗi bộ ba so với trong CA môi trường. Cách tiếp cận này khiến cho quy tắc cập nhật phụ thuộc vào cả trạng thái của sinh vật, làm cho nó tự quy chiếu, và trạng thái của môi trường, tạo nên một hệ thống mở.  Adams và Walker đã chạy hàng nghìn mô phỏng trên máy tính để tìm kiếm các mẫu thú vị. Họ muốn tìm ra những quá trình tiến hóa có tính không kết thúc (sinh vật không sớm quay trở lại trạng thái ban đầu) và tính đổi mới. Sự đổi mới được hiểu là trạng thái của CA sinh vật nhận được có thể không thể xảy ra nếu áp dụng bất kỳ quy tắc nào trong số 256 quy tắc cố định từ bất kỳ trạng thái bắt đầu nào. Nó tương tự như có cả bốn con mã đứng ở các ô vuông cùng màu trên bàn cờ. Những sự tiến hóa mở và sáng tạo thường hiếm khi xảy ra, nhưng đã xuất hiện, dù mất rất nhiều thời gian tính toán. Và Adams và Walker đã khám phá ra rằng các hệ động lực học phụ thuộc trạng thái có thể dẫn đến sự phức hợp và đa dạng dù chỉ sử dụng các mô hình đơn giản. Kết quả này cho thấy chỉ xử lý các bit thông tin là không đủ, mà cần thay đổi các quy tắc xử lý thông tin mới có thể mô phỏng đầy đủ được sự phong phú của sinh học.  Sự sống trong cách nhìn lượng tử  Nếu cần có những lý thuyết vật lý mới cho sinh học, chẳng hạn như các quy tắc động lực học phụ thuộc vào trạng thái, thì lý thuyết sẽ áp dụng ở đâu giữa các phân tử và tế bào sự sống? Các mô hình CA có thể có tính gợi ý nhưng chúng là giả định và không thực; chúng không cho chúng ta biết cách làm sau tìm kiếm và đo lường được các hiện tượng mới. Tuy nhiên Vật lý đã có một ví dụ quen thuộc về động lực học phụ thuộc vào trạng thái, đó là cơ học lượng tử.  Xét một hệ cô lập, một trạng thái lượng tử thuần túy được mô tả bởi một hàm sóng kết hợp và chúng tiến hóa theo cách có thể dự đoán được, theo toán học là tiến hóa đơn nhất. Nhưng khi chúng ta thực hiện một phép đo, trạng thái thay đổi đột ngột và một hiện tượng xảy ra thường được gọi là sự sụp đổ của hàm sóng. Trong một phép đo lý tưởng, hệ sẽ rơi vào một trạng thái riêng tương ứng của đại lượng đang được đo lường. Khi đó quy tắc tiến hóa đơn nhất được thay thế bằng quy tắc Born, cho phép dự đoán xác suất tương đối của các kết quả đo. Và cơ học lượng tử bao hàm sự không xác định hoặc không chắc chắn. Điều đó đánh dấu sự chuyển đổi từ lượng tử sang cổ điển. Liệu cơ học lượng tử có thể chỉ cho chúng ta điều gì giúp giải thích sự sống không?  Trong các bài giảng Dublin nổi tiếng, Schrödinger đã dùng cơ học lượng tử để giải thích tính ổn định của việc lưu trữ thông tin di truyền. Trước khi Crick và Watson làm sáng tỏ cấu trúc của DNA, Schrödinger đã suy luận rằng thông tin phải được lưu trữ ở cấp độ phân tử trong cái mà ông gọi là “tinh thể không tuần hoàn”, một mô tả dễ hiểu về loại polyme axit nucleic. Tuy nhiên khả năng các hiện tượng lượng tử có thể đóng một vai trò phổ biến trong các cơ thể sống thì vẫn còn bỏ ngỏ.  Trong những thập kỷ tiếp theo một giả định chung cho rằng trong môi trường ấm áp, ồn ào của sự sống thì các hiệu ứng lượng tử sẽ giảm đi và cách tiếp cận “quả bóng và keo dính” của hóa cổ điển đủ để giải thích sự sống. Tuy nhiên, trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, người ta bắt đầu quan tâm đến khả năng rằng các hiện tượng lượng tử có thể có vai trò quan trọng trong sự sống chẳng hạn như hiện tượng chồng chất, sự liên kết và hiệu ứng đường hầm. Mặc dù vẫn còn nhiều hoài nghi nhưng lĩnh vực mới của sinh học lượng tử hiện đang được nghiên cứu mạnh mẽ. Các nghiên cứu tập trung vào các chủ đề đa dạng như vận chuyển năng lượng kết hợp trong quang hợp, la bàn từ trường của chim và phản ứng khứu giác của ruồi.  Việc khảo sát các đặc tính lượng tử của vật chất sống trên quy mô nano đưa ra những thách thức đáng kể. Các hệ thống quan trọng đối với hoạt động của sự sống có thể chỉ bao gồm ít bậc tự do, khác xa với trạng thái cân bằng nhiệt động lực học, và còn liên kết chặt chẽ với môi trường nhiệt của chúng. Nhưng chính ở đây, trong lĩnh vực cơ học thống kê lượng tử không cân bằng chúng ta có thể kỳ vọng sự xuất hiện của vật lý mới.  Một số thí nghiệm liên quan là phép đo độ dẫn điện tử qua các phân tử hữu cơ. Gần đây, Gábor Vattay và các đồng nghiệp đã tuyên bố rằng nhiều phân tử quan trọng về mặt sinh học, chẳng hạn như sucrose và vitamin D3, có đặc tính dẫn điện tử độc đáo liên quan đến điểm chuyển tiếp quan trọng giữa chất cách điện và chất dẫn kim loại vô định hình. Vattay và các đồng nghiệp đã viết, “Những phát hiện chỉ ra sự tồn tại của một cơ chế vận chuyển điện tích phổ biến trong vật chất sống”. Trong khi những phát hiện của họ không cho thấy sự liên quan trực tiếp của tính lượng tử trong việc giải thích sự sống, họ đã gợi ý rằng lĩnh vực các phân tử lớn, nơi được điều chỉnh lượng tử, là nơi người ta có thể phát hiện ra sự xuất hiện của vật lý mới mà Schrödinger và những người cùng thời với ông đã nghi ngờ.  Sự va chạm của các ý tưởng  Nhà vật lý lý thuyết John Archibald Wheeler từng nói rằng tiến bộ lớn trong khoa học bắt nguồn từ sự xung đột của các ý tưởng hơn là từ sự tích lũy ổn định của các sự kiện. Lý sinh nằm ở giao điểm của hai lĩnh vực khoa học lớn: khoa học vật lý và khoa học đời sống. Mỗi lĩnh vực đi kèm với từ vựng riêng và những khung khái niệm đặc biệt của riêng nó. Lĩnh vực trước bắt nguồn từ các khái niệm cơ học, lĩnh vực sau là các khái niệm thông tin. Cuộc đụng độ sau đó đặt ra một biên giới mới của khoa học trong đó thông tin, hiện được hiểu chính thức như một đại lượng vật lý – hay đúng hơn là một tập hợp các đại lượng – chiếm một vai trò trung tâm và do đó là cơ sở cho việc thống nhất vật lý và sinh học.  Những tiến bộ to lớn trong sinh học phân tử trong vài thập kỷ qua có thể phần lớn là do việc áp dụng các khái niệm cơ học vào hệ sinh học – tức là vật lý xâm nhập vào sinh học. Thật kỳ lạ là điều ngược lại đang xảy ra. Nhiều nhà vật lý, đặc biệt là những nhà nghiên cứu cơ học lượng tử cơ bản, ủng hộ việc đặt thông tin vào trung tâm của vật lý, trong khi những người khác phỏng đoán rằng vật lý mới ẩn náu trong thế giới đáng chú ý và khó hiểu của các sinh vật sinh học. Sinh học đang định hình trở thành biên giới lớn tiếp theo của vật lý. □  Nguyễn Quang dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý nhìn vào vật chất sống và không sống      Có thể việc tách rời hai vương quốc vật chất sống và không sống trong nhiều thế kỷ chỉ là một biểu hiện rõ nét nhận thức còn hạn chế của chúng ta về sự sống.      Bức tranh miêu tả sự tiến hóa sinh học trong cuốn “Kunstformen der Natur” xuất bản năm 1904 của nhà sinh vật học người Đức Ernst Haeckel (1834–1919). Nguồn: Public Domain.  Nhiệt động học không cân bằng      Quá trình không cân bằng là quá trình dừng (stationary) với các điều kiện biên áp đặt vào hệ (như nhiệt độ, áp lực, mật độ,…) không cho phép hệ đi về trạng thái cân bằng.    Các trạng thái dừng không xa cân bằng lắm    Đối với những trạng thái dừng không xa cân bằng lắm thì σ   min (trạng thái dừng ổn định đối với các nhiễu loạn nhỏ), đó là  định lý Prigogine.    Các trạng thái xa cân bằng nhiệt động. Nguyên lý Glansdorff-Prigogine.     (Phần này đặc biệt quan trọng đối với sinh học).    Các cơ thể sống là những hệ mở nhiệt động, ở rất xa trạng thái cân bằng. Trong đoạn này đại lượng đóng vai trò quan trọng là sản lượng entropy s thay vì đại lượng entropy S.    Khi trạng thái dừng là cân bằng nhiệt động thì σ = 0 còn nếu trạng thái dừng chỉ là trạng thái bền (steady), không cân bằng nhiệt động thì σ > 0. Khi σ > 0 ta có hai loại trạng thái dừng (trạng thái bền tuyến tính và cấu trúc phát tán) (xem hình vẽ 2b). Trong vùng tuyến tính Prigogine chứng minh rằng hệ tiến triển theo chiều hướng nhỏ dần của sản lượng entropy σ, đó là định lý Prigogine.    Khi hệ vượt qua vùng tuyến tính và rơi vào vùng phi tuyến thì định lý Prigogine không còn đúng nữa. Trong trường hợp bền tuyến tính các thăng giáng của các thông số chỉ tạo nên những độ lệch dương của σ đưa hệ trở về trạng thái dừng vì vậy ổn định trong mọi trường hợp. Trái với điều đó trong vùng phi tuyến xa cân bằng các thăng giáng của trạng thái dừng có thể dẫn đến những độ lệch âm của σ, điều này làm cho hệ không ổn định. Sự ổn định buộc điều kiện là chỉ chấp nhận những độ lệch dương của sản lượng entropy. Đó là nguyên lý Glansdorff-Prigogine. Sự chuyển từ vùng tuyến tính sang phi tuyến liên quan đến sự hình thanh cấu trúc phát tán. Trong các cấu trúc cân bằng nhiệt động chỉ có các cấu trúc không gian trong khi trong các cấu trúc phát tán chúng ta có thể quan sát được cả những cấu trúc thời gian và cấu trúc trong continuum không-thời gian                                                  Hiện tượng tự tổ chức dưới quan điểm phức hợp     Khoa học  phức hợp (complexity theory) là môn khoa học nghiên cứu về các hệ phức hợp. Nói đơn giản, một hệ  là phức hợp nếu nó chứa nhiều thành phần con tương tác với nhau và nếu hệ đó lại biểu hiện những tính chất, những lối hành xử (behavior) mà chúng ta không thể suy ra một cách hiển nhiên từ tương tác của những thành phần cấu thành [3a].      Hiện nay chúng ta đã có nhiều công cụ hữu hiệu như nhiệt động học (thermodynamics), cơ học thống kê (statistical mechanics) để  nghiên cứu những hệ  nằm trong trạng thái cân bằng (equilibrium). Song những hệ cân bằng chưa phải hoàn toàn là những hệ phức hợp. Tuy nhiên việc nghiên cứu những hệ cân bằng sẽ cung cấp nhiều khái niệm, nhiều ý tưởng cho việc nghiên cứu những hệ phức hợp, vốn là những hệ nằm ngoài trạng thái cân bằng.    Những hệ động học nằm ngoài trạng thái cân bằng và do đó có tính phi tuyến mới là những hệ  quan trọng trong vũ trụ. Những hệ phức hợp là: kinh tế, thị trường chứng khoán, khí hậu thời tiết, các sinh vật và xã hội của chúng, môi trường, các dòng chảy cuộn xoáy, dịch bệnh, nhịp đập của tim,… [3b]    Như vậy chắc sẽ không có một lý thuyết đơn giản cho các hệ  phức hợp. Việc nghiên cứu các hệ phức tạp đòi hỏi một sự tổng hợp liên ngành (interdisciplinary). Đặc trưng quan trọng nhất của hệ phức hợp là gì?    Đó là hiện tượng đột sinh (emergence) [3c]. Hiện tượng đột sinh là hiện tượng xuất hiện những quy luật, những hình thái, những trật tự mới từ hiệu ứng tập thể của  các tương tác giữa các thành phần của hệ thống. Như vậy các hiện tượng đột sinh không phải là một tính chất nội tại của các thành phần con mà là những tính chất của hệ thống được xét một cách toàn cục. Hiện tượng tự tổ chức (self-organization) chủ yếu là một hiện tượng đột sinh.     Các định luật cơ học thống kê, nhiệt động học     Khi nghiên cứu một hệ nhiều hạt người ta không thể  sử dụng tương tác vi mô giữa chúng để  mô tả toàn hệ mà phải cầu cứu đến các định luật của cơ học thống kê, nhiệt động học.  Đây là một minh họa về hiện tượng đột sinh (emergence) khi lối hành xử của một hệ không thể suy từ hành xử của từng hạt, của từng thành phần con.    Như thế có thể nói cơ học thống kê, nhiệt động học là những khoa học cổ điển nhất của lý thuyết về phức hợp. Chúng ta đã thay thế cách tiếp cận  quy giản luận, vốn là cách tiếp cận dựa trên nhũng định luật vi mô tất định bằng cách tiếp cận thống kê và xác suất đối với hiện tượng đột sinh.    Người ta thường nói: toàn cục lớn hơn tổng cơ học các thành phần để biểu diễn hiện tượng đột sinh. Và điều này cũng có nghĩa  hệ thống là phi tuyến, những hệ quả bất ngờ đột xuất có thể xảy ra đối với một hệ thống phức hợp.     Cân bằng và không cân bằng (equilibrium & non-equilibrium)     Một khái niệm quan trọng trong lý thuyết về phức hợp là khái niệm tới hạn tự tổ chức (self-organised criticality). Theo khái niệm này các hệ phức hợp tự phát tiến triển về trạng thái tới hạn giữa bất trật tự và trật tự.         Quỹ đạo hút lạ  Việc tiến đến điểm tới hạn của quá trình tự tổ chức (self-organised criticality) là nguyên lý mà các hệ không cân bằng sử dụng để tự tổ chức mình vào một trạng thái nằm ở ranh giới bất trật tự (disorder) và trật tự (order). Như vậy các hệ  không cân bằng sẽ tự xếp đặt mình vào một trạng thái tới hạn. Các tổ chức sống là những minh họa về những hệ  này.    Các tổ chức sống là những hệ phức tạp nhất và một điều đáng lưu ý  là các hệ này phát triển đến một trật tự cao cấp trái ngược với chiều mũi tên thời gian điều khiển bởi định luật thứ hai của nhiệt động học. Thật ra sự tăng độ mất trật tự và entropy do định luật thứ hai của nhiệt động học chỉ áp dụng đối với các hệ cân bằng kín. Các hệ sống không cân bằng và cũng không kín cần một dòng năng lượng để làm tăng trật tự (như vậy làm giảm entropy) cho bản thân song lại phát tán nhiệt  và các chất thải để làm tăng bất trật tự (như thế làm tăng entropy) trong vũ trụ. Như thế các hệ sống là những cấu trúc phát tán (dissipative structures) có khuynh hướng tiến đến tự tổ chức (self-organisation). Các hệ phát tán không phải là những hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động nhưng luôn có khuynh hướng tiến triển về cân bằng nhờ dòng entropy và năng lượng.    Sự thoát khỏi trạng thái cân bằng là cần thiết để cho một cơ thể sống có thể có được một trật tự và hình thái phức hợp của nó.     Phức hợp & hỗn độn (Complexity & chaos)     Phức hợp và hỗn độn là hai khái niệm gắn liền nhau. Các hệ phức hợp nằm đung đưa ở ranh giới giữa hỗn độn và trật tự (balanced on the edge of chaos – not too orderly, not too disorderd). Cho nên việc nghiên cứu phức hợp gắn liền với lý thuyết hỗn độn.    Lý thuyết hỗn độn mô tả lối hành xử của một số hệ động học phi tuyến rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu. Vì sự nhạy cảm này mà lối hành xử của hệ dường như hỗn độn, mặc dầu động học của nó được mô tả một cách tất định bởi những hệ phương trình vi phân.    Hiện tượng trong đó một hệ hoàn toàn tất định có thể dẫn đến những hệ quả không tiên đoán được gọi là hỗn độn.     Các trạng thái của hệ phức hợp thường có thể mô tả bởi một hệ phương trình vi phân phi tuyến nối liền  các đại lượng  X 1, X 2, X 3,  … ( như nhiệt độ, áp suất,… và một số tham số  a 1, a 2, a 3,… (như số Prandtl, số Rayleigh,…là những thông số kỹ thuật). Hệ phương trình này xác định cách hành xử của hệ phức hợp. Một điều kiện cần (chưa phải là đủ) cho hỗn độn là tính phi tuyến của hệ thống.    Hỗn độn  là một tính chất của các hệ động học phi tuyến,  đó là tính siêu nhậy cảm đối với các điều kiện ban đầu. Cho nên các hỗn độn quan sát được thật ra là hệ quả của một trật tự nằm trong không gian pha (X 1, X 2, X 3,  …) tức không gian của các trạng thái (trong cơ học không gian pha là không gian tọa độ-xung lượng). Mỗi điểm trong không gian pha ứng với một trạng thái của hệ, các điểm đó làm thành quỹ đạo trạng thái. Nhiều hiện tượng tưởng chừng  như  ngẫu nhiên song đó là những hỗn độn của một hệ tất định.    Phần của không gian phản ứng với một hành xử nhất định của hệ phức hợp làm thành tập hút (attracting set) hay nói cách khác làm thành quỹ đạo hút (attractor).     Tâm hút trong các hệ phát tán     Quỹ đao hút có chu kỳ (periodic attractor)    Quỹ đạo hút có chu kỳ là một vòng lặp lại của các trạng thái. Ví dụ quỹ đạo của một hành tinh quanh một sao là một quỹ đạo hút có chu kỳ=1. Trên hình 3a là một quỹ đạo hút với chu kỳ = 4.                      Quỹ đạo hút lạ (strange attractor)    Tính nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu được biểu hiện ở sự phân kỳ các quỹ đạo trong không gian pha. Đối với các hệ phát tán khái niệm hỗn độn gắn liền với khái niệm  quỹ đạo hút lạ (strange attractor): vì có hỗn độn cho nên các điểm mô tả trạng thái không nằm trên một quỹ đạo hút bình thường ví như quỹ đạo của một hành tinh quanh một sao, mà nằm trên một quỹ đạo hút lạ.Chuyển động hỗn độn dẫn đến những quỹ đạo hút lạ (strange attractors). Quỹ đạo hút lạ là một quỹ đạo hút không có chu kỳ biểu hiện của hỗn độn. Một ví dụ được minh họa ở hình 6.    Không đi sâu vào định nghĩa toán học, chúng ta hãy xác định số chiều D của quỹ đạo hút lạ trên hình 6. Ta thấy các vòng này dày đặc chiếm gần hết không gian 3 chiều nhưng không chiếm hết! Mặt khác chúng cũng chiếm nhiều chỗ hơn không gian 2 chiều vì thế số chiều (dimension) của tâm hút  này là 2 < D < 3. Đó là một đặc trưng của fractal: có số chiều D không nguyên.    Hai loại tâm hút có chu kỳ (periodic) và lạ (strange) được quan sát trong các hệ phát tán.  (Còn tiếp)    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vatican bảo vệ  kho báu dữ liệu  bằng AI      Hơn 80.000 ấn bản cổ và các kiệt tác nghệ thuật của Thư viện Apostolic Vatican, một trong những thư viện lâu đời bậc nhất thế giới, đã phải nhờ cậy đến AI để có thể ngăn chặn các cuộc tấn công của tin tặc mà vẫn đảm bảo quyền truy cập mở cho bất cứ ai trên khắp thế giới.      Thái tử Charles (giữa) và bà Camilla, nữ công tước xứ Cornwall, đọc những cuốn sách tại Thư viện Vatican Library trong chuyến thăm vào năm 2017. Nguồn: Alessandro Bianchi/Reuters.  Rủi ro trong thời đại số      Thông thường, người ta không thể nghĩ là Vatican có thể cùng chung cảnh ngộ như những công ty công nghệ lớn như eBay, T-Mobile, hay Samsung nhưng trên thực tế Thư viện Apostolic Vatican, vẫn được biết đến với tên gọi Thư viện Vatican hoặc đơn giản là Vat, nơi có tuổi đời hơn 500 năm, hiện tại lại sử dụng “lá chắn” bằng công nghệ AI như các công ty này để bảo vệ thư viện số của mình. Vậy hãy hình dung là chỉ cần có kết nối internet là bạn có thể “lọt vào” kho báu của Thư viện Vatican.     Thư viện của Tòa thánh Vatican này được Giáo hoàng Nicholas V thành lập chính thức vào năm 1475 (có thể nó có từ trước đó khá lâu) và đến năm 1481 thì kho tàng này có nhiều sách hơn bất cứ nơi nào trong thế giới phương Tây. Điểm đặc biệt của thư viện này là lưu giữ rất nhiều văn bản lịch sử vô giá như bản chép tay Kinh Thánh cổ nhất với tuổi đời 1.600 năm, thư trao đổi của những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, các bức họa và thủ bút của Michelangelo, Galileo, Sandro Botticelli… cùng nhiều món quà đáng giá của những nhân vật hoàng gia như Maximilian I – Tuyển hầu xứ Bavaria, các tuyển hầu Urbino, nữ hoàng Christina Thụy Điển (thật may mắn là Giáo hoàng Alexander VIII đã kịp thời mua lại bộ sưu tập sách của nữ hoàng Christina sau khi bà qua đời bởi nếu còn ở lại Thư viện hoàng gia Thụy Điển, chúng có thể vĩnh viễn mất đi sau một trận hỏa hoạn cực lớn sau gần 10 năm)… Ngoài sách vở tài liệu, thư viện còn có các bộ sưu tập tiền đúc và huy chương, huân chương cổ.      “Chúng tôi không thể làm ngơ một việc là cấu trúc số hóa của chúng tôi thu hút sự quan tâm của tin tặc. Có thể là một cuộc tấn công thành công sẽ dẫn đến hậu quả là đánh cắp bộ sưu tập, thao túng sửa chữa hoặc thậm chí là xóa sổ nó”. Manlio Miceli, giám đốc công nghệ thông tin Thư viện Vatican.      Những rủi ro có thể xảy ra với một kho lưu trữ toàn cổ vật như Thư viện Vatican khiến những người làm công tác quản trị ở đây hết sức cẩn trọng. Do đó, họ đã bắt kịp làn sóng số hóa ở ngoài xã hội rộng lớn bằng việc lên kế hoạch số hóa toàn bộ kho tàng quý báu này và sẵn sàng cho truy cập mở. Trong thập kỷ qua, thư viện này đã số hóa toàn bộ bộ sưu tập sáng giá của mình, phần lớn là các văn bản, kinh kệ mà trong đó có khoảng 40 triệu bức hình nhằm mục tiêu “bảo tồn nội dung của các báu vật cổ xưa mà không làm ảnh hưởng đến các nguyên tác vốn rất mỏng manh”, theo giải thích của Manlio Miceli, giám đốc công nghệ thông tin của Thư viện. Dự kiến, dự án sẽ phải mất ít nhất 15 năm để hoàn thành với kinh phí khoảng 63 triệu USD và cuối cùng sẽ đem lại cho thế giới 43 petabyte dữ liệu đặc biệt.    Phiên bản số hóa của Thư viện Vatican mang tên Vergilius Vaticanus (https://digi.vatlib.it/) chính thức được ra mắt vào năm 2016. Một trong số ít bản thảo có minh họa còn sót lại của văn học kinh điển là những trang rời rạc Aeneid của Virgil, một áng sử thi bằng thơ miêu tả chi tiết chuyến đi của một người thành Troy tên là Aeneas và sự hình thành thành Rome. Văn bản cổ xưa này – được một bậc thầy chép lại và ba họa sĩ minh họa vào quãng năm 400 sau Công nguyên  – vẫn còn nguyên vẹn những bức họa sống động và dòng chữ mạ vàng.    Mặc dù bắt đầu từ gần 10 năm trước với “những tài liệu độc đáo nhất, nổi tiếng nhất và mỏng manh nhất” nhưng đến nay mới chỉ có khoảng 25% tài liệu trong thư viện được số hóa, Miceli nói và cho biết thêm  “dự án này còn hơn cả những bảo vệ vật lý thông thường khác”. Những tài liệu ẩn giấu những vòng xoáy lịch sử, trước đây chỉ thi thoảng lọt vào mắt công chúng qua những cuộc trưng bày và chỉ được những đôi tay đeo găng trắng của các nhà sử học chạm vào, ngày nay được hiển hiện trước mắt mọi người nhờ kết nối internet. “Đây là bước tiến lớn của sự bình đẳng trong giáo dục”.    Tuy nhiên mọi chuyện cũng bắt đầu từ đây. Nếu không kể đến những thách thức mà những người quản lý thư viện phải đối mặt khi số hóa kho báu thì có lẽ, sau khi họ có được trong tay phiên bản số của nó, mọi rủi ro trong thời đại chuyển đổi số mới thực sự bắt đầu. Trung bình mỗi tháng, thư viện phải đối mặt với hơn 100 mối đe dọa, kể từ khi chính thức số hóa kho báu từ năm 2012. “Chúng tôi không thể làm ngơ một việc là cấu trúc số hóa của chúng tôi thu hút sự quan tâm của tin tặc. Có thể là một cuộc tấn công thành công sẽ dẫn đến hậu quả là đánh cắp bộ sưu tập, thao túng sửa chữa hoặc thậm chí là xóa sổ nó”, Miceli nói với Observer.      Một bức minh họa từ “Aeneid” của Virgil trong bộ sưu tập của Thư viện Vatican. Nguồn: Dea Picture Library/De Agostini/Getty Images    Các cuộc tấn công mạng ngày một gia tăng chứ không giảm đi, ông cho biết thêm. “Tin tặc sẽ luôn cố gắng chui vào mạng lưới tổ chức để đánh cắp thông tin, tống tiền hoặc phá hoại”.     Tính chất của các cuộc tấn công cũng khác nhau. “Không hoàn toàn giống như các bộ phim Hollywood nhưng các cuộc tấn công này đều đáng lo ngại, ví dụ như dùng mã độc tống tiền (ransomware) khi xâm nhập vào thư viện số – một cách làm phổ biến với việc xâm nhập vào các công ty một cách lén lút và sau đó khóa tất cả các tệp thông tin một cách nhanh chóng cho đến khi bạn trả một số tiền lớn. Mã độc tống tiền ngày nay được thực hiện với tốc độ cực nhanh, vượt khỏi năng lực ngăn chặn và phát hiện của con người”, Micelli lí giải.    Trong thời đại ngày nay, thông tin trở thành món hàng quý giá. “Ở thời đại của tin giả (fake news), các bộ sưu tập này đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến với thông tin sai lệch (misinformation) và do đó cần bảo vệ chúng khỏi những hành động ‘đánh cắp niềm tin’ nghiêm trọng”, Miceli nói thêm. “Trong khi những hư hại vật lý thường rất rõ ràng và tức thì, một cuộc tấn công kiểu này rất khác biệt, vì nó có khả năng gây hại lâu dài, không chỉ cho thư viện mà còn cho với cả ký ức lịch sử của nhân loại”.       Lấy ý tưởng từ hệ miễn dịch con người, Darktrace đã tạo ra công nghệ phản hồi tự động như một “kháng thể số” trước các mối đe dọa từ người truy cập hoặc thiết bị cài đặt, vô hiệu hóa các cuộc tấn công kiểu virus xâm nhập tế bào vật chủ và đem lại cho đội ngũ an ninh mạng cơ hội quý báu về thời gian để kịp thời ứng phó.      Với những người chăm lo đến giá trị của kho báu mà Vatican đang nắm giữ, mức độ nghiêm trọng của các cuộc tấn công thật khủng khiếp. “Chúng có tiềm năng làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Thư viện Vatican – một trong những bảo vật mà Vatican dùng hết mọi nỗ lực để duy trì hàng trăm năm qua – và còn có thể làm phân tán nguồn lực tài chính mà chúng tôi dành để số hóa toàn bộ các bản thảo còn lại”.    Thư viện Vatican không phải là nơi duy nhất của Tòa thánh Vatican bị xâm nhập. Vào tháng 7/2020, New York Times đưa tin, tin tặc còn xâm nhập vào hệ thống máy tính ở đây trước thời điểm sẽ diễn ra một cuộc đàm phán quốc tế quan trọng.      AI thành “người giữ đền”     Đây là lúc thư viện Vatican nhờ cậy đến các nhà chuyên nghiệp, công ty Darktrace. Được các nhà toán học trường Đại học Cambride (Anh) thành lập vào năm 2013, Darktrace là một công ty sử dụng công nghệ AI được phát triển riêng để đối đầu với các cuộc tấn công mạng và đã tạo ra công nghệ phản hồi tự động (Autonomous Response technology) – khi đó AI có thể dò tìm và phản hồi các mối nguy hiểm trên mạng trước lúc thảm họa có thể xảy ra. Lấy ý tưởng từ hệ miễn dịch con người, Darktrace đã tạo ra công nghệ phản hồi tự động như một “kháng thể số” trước các mối đe dọa từ người truy cập hoặc thiết bị cài đặt, vô hiệu hóa các cuộc tấn công kiểu virus xâm nhập tế bào vật chủ và đem lại cho đội ngũ an ninh mạng cơ hội quý báu về thời gian để kịp thời ứng phó. Bởi theo quan điểm của họ, mạng như cơ thể con người, cần chấp nhận sự thật là anh sẽ bị nhiễm virus nhưng điều quan trọng là hệ miễn dịch của anh sẽ dò được mối nguy đó để chiến đấu lại nó và giảm thiểu nguy hại.     Trước khi Vatican gõ cửa, Darktrace đã có tới hơn 4.000 khách hàng là các tổ chức trên khắp thế giới, xử lý các vấn đề liên quan đến đám mây lưu trữ dữ liệu, email, IoT, các mạng lưới và các hệ thống sản xuất công nghiệp… Ngoài các chuyên gia toán và khoa học máy tính, công ty này còn tuyển cả những chuyên gia tình báo và mở nhiều văn phòng trên khắp thế giới. Một trong những chiến công huy hoàng của nó là tham gia xử lý vụ dùng mã độc tống tiền nổi tiếng WannaCry vào năm 2017.       Một ấn bản cổ quý giá ở Thư viện Vatican. Nguồn: www.pbs.org  Lý giải về lý do chọn giải pháp của Darktrace, Miceli nói: “Anh không thể hoàn toàn dùng con người vào giải quyết vấn đề này – anh cần tăng cường sức mạnh của công nghệ và những người có thể hiểu được những vùng xám bên trong các hệ thống vô cùng phức tạp và phòng vệ với tốc độ máy móc”.  Ưu điểm của AI là “không bao giờ ngủ lịm, không bao giờ nghỉ giải lao và có thể điểm ra và điều tra rất nhiều mối nguy hiểm hơn bất cứ đội chuyên nghiệp nào. Nó ra quyết định chỉ trong vài giây khi điều bất thường bắt đầu, cho dù thoạt tiên hoạt động đó có vẻ vô hại”, Micelli nói.     Có nhiều điểm để Thư viện Vatican có thể tự tin vào lựa chọn đối tác của mình. Dave Palmer, giám đốc công nghệ tại Darktrace, nói họ quá hiểu tội phạm mạng – những kẻ không ngừng tìm đủ cách “để kiếm tiền một cách nhanh chóng hoặc trở thành nguyên nhân gây ra hoảng loạn trên quy mô toàn cầu”. Với kinh nghiệm của mình, ông cho biết thêm “nhiều tổ chức như Thư viện Vatican đã chấp nhận thực tại này. Với sự hỗ trợ của hệ AI, họ có thể khám phá ra hành động bất thường và tinh vi của kẻ tấn công trước khi tạo ra một cuộc tấn công toàn diện. Do đó, họ cần phải tin AI để thay mặt con người nhận diện hiểm nguy trước khi mọi chuyện thực sự diễn ra”.    Khi cài đặt công nghệ “miễn dịch” của Darktrace, Thư viện Vatican có thể tạm yên tâm trước những cuộc tấn công tiềm năng trong tương lai làm ảnh hưởng đến các văn bản và tranh ảnh vô giá của mình. Tuy không công bố nhiều trong thông cáo báo chí nhân sự kiện hợp tác, Darktrace chỉ cho biết sẽ phát triển hệ AI để chúng hiểu được những hoạt động “bình thường” trong hệ thống số hóa của Thư viện, sau đó những thay đổi đáng chú ý có thể chỉ dấu ra sự xuất hiện của một mối đe dọa mạng. Trung bình, mỗi tháng thì hệ AI này của Darktrace có thể “chống cự” lại được khoảng 100 vụ nguy hiểm tại Thư viện, điểm ra những mối đe dọa thực sự trước khi nó leo thang thành khủng hoảng.    Micelli cảm thấy tạm hài lòng “AI của Darktrace AI vô cùng quan trọng với những bộ sưu tập của chúng tôi bởi chúng liên tục tiến hóa và tự tái huấn luyện để nhận biết đâu là hoạt động tra cứu bình thường trong hệ thống thư viện số của chúng tôi và hiểu được cái gì là bất bình thường. Điều này có nghĩa là nó có thể bắt kịp với những thay đổi trong môi trường số của chúng tôi và những thay đổi trong bối cảnh nguy hiểm nữa”.     Công ty Darktrace cũng xác nhận điều này. “Những gì chúng tôi làm là học hỏi mọi điều theo mẫu hình của cuộc sống bên trong các mạng lưới số của Thư viện Vatican hay nói cách khác là cơ sở hạ tầng số hóa của họ. Nếu chúng tôi biết mẫu hình thực là gì thì chúng tôi có thể dễ dàng nhìn thấy bất cứ thay đổi nào diễn ra trong bất kỳ thời gian nào, và điều đó cho phép chúng tôi có thể nhanh chóng thấy được những cuộc tấn công ở giai đoạn đầu, khi đó chúng tôi có thể ngăn cản được chúng trước khi chúng gây ra những cuộc khủng hoảng”, Palmer hứa hẹn.    Tuy nhiên, Micelli và những người ở bộ phận của anh thì thận trọng hơn bởi ông cho rằng không thể ngăn nổi 100% các cuộc tấn công. “Trong bối cảnh hiện nay, chỉ có một cách để khiến cho một tổ chức hoàn toàn an toàn là cắt đứt kết nối internet. Sứ mệnh của chúng tôi là đem Thư viện Vatican vào thế kỷ 21 – với ‘lưng vốn’ hơn 500 năm – vì vậy chúng tôi sẽ không làm điều đó mà sớm đưa thư viện số đến với công chúng và các học giả, những người cần tra cứu, tìm hiểu và nghiên cứu tư liệu”.□          Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2020/nov/08/vatican-enlists-bots-to-protect-library-from-onslaught-of-hackers  https://www.theguardian.com/world/2020/nov/08/vatican-enlists-bots-to-protect-library-from-onslaught-of-hackers  https://www.darktrace.com/en/press/2020/334/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vay 300 triệu USD cho dự án bô xít Tân Rai      Chiều 14-11, Tập đoàn Công nghiệp Than –  Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã ký hợp đồng với Ngân hàng Citi Vietnam để  vay 300 triệu USD cho dự án khai thác bô xít và sản xuất alumin Tân  Rai tại tỉnh Lâm Đồng.    Theo thông cáo báo chí từ Ngân hàng Citi Vietnam, khoản vay có kỳ hạn 13 năm này được bảo lãnh bởi Bộ Tài chính Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm Xuất Khẩu và Đầu tư của Nhật Bản (NEXI).  Trong đó, Ngân hàng Citi Vietnam đóng vai trò là ngân hàng điều phối, hợp tác với ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd., Ngân hàng Sumitomo Mitsui Trust Bank, Limited và Ngân hàng The Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, Ltd để thu xếp khoản vay này cho TKV.  Chiều 14-11, ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc TKV xác nhận việc ký kết khoản vay 300 triệu USD này.  Ông Biên cho biết thêm lâu nay dự án bô xít Tân Rai được triển khai bằng vốn của TKV bỏ ra, nay TKV sẽ sử dụng khoản vay này để bù lại, tiếp tục phục vụ cho việc đầu tư cho khai thác bô xít ở Tây Nguyên và sản xuất alumin của TKV trong thời gian tới.  Theo thông cáo báo chí từ Ngân hàng Citi Vietnam thì đây là lần đầu tiên NEXI cấp bảo lãnh không ràng buộc cho một dự án bô xít và alumin tại Việt Nam và đây cũng là hợp đồng tín dụng lớn nhất từ trước đến nay của TKV.  Thông cáo báo chí cũng trích dẫn lời ông Yumoto Yohei, Giám đốc phụ trách khối tín dụng xuất khẩu, Ngân hàng Citi Nhật Bản cho biết: “Giao dịch này giúp đảm bảo nguồn cung alumin ổn định cho Marubeni, công ty thương mại của Nhật Bản. Lợi ích này đóng vai trò quan trọng để NEXI cấp bảo lãnh tín dụng cho khoản vay này.”  Trước đó, TKV cho biết có nhiều công ty nước ngoài đàm phán với TKV muốn mua alumin từ dự án bô xít Tân Rai, trong đó có Công ty Chalco (Trung Quốc) và Marubeni (Nhật Bản).  Dự án alumin Tân Rai với tổng vốn đầu tư khoảng 700 triệu USD đang trong giai đoạn vận hành thử và dự kiến có sản phẩm đầu tiên vào đầu năm 2013 với công suất gần 600.000 tấn/năm.  Ngoài dự án Tân Rai, TKV cũng đang đầu tư dự án bô xít Nhân Cơ, tỉnh Đăk Nông dự kiến đi vào sản xuất vào năm 2014 với sản lượng 300.000 tấn và có thể lên tới 650.000 tấn vào năm 2016.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vay gần 800 triệu đô la cho dự án nhiệt điện      Ngày 9-12, Tập đoàn Dầu khí quốc gia  Việt Nam (PVN) đã ký các hợp đồng tín dụng vay các ngân hàng nước ngoài  tổng cộng 795 triệu đô la Mỹ để đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Thái  Bình 2 tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.    Theo thông tin từ PVN, các hợp đồng tín dụng ký kết gồm hợp đồng tín dụng xuất khẩu trị giá 330 triệu đô la Mỹ được tài trợ trực tiếp bởi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM), hợp đồng vay thương mại có bảo hiểm tín dụng của KEXIM trị giá 270 triệu đô la Mỹ và 195,25 triệu đô la Mỹ vay thương mại các ngân hàng nước ngoài để thực hiện dự án nhiệt điện Thái Bình 2.  Hợp đồng tín dụng tổng giá trị 795,25 triệu đô la Mỹ được ký kết hôm nay là khoản vốn PVN vay để thanh toán việc mua các thiết bị chính của nhà máy gồm máy phát, lò hơi và các máy móc, thiết bị phụ trợ do tổ hợp nhà thầu Sojtiz (Nhật Bản) – Daelim (Hàn Quốc) cung cấp.  Các ngân hàng nước ngoài tham gia ký kết tài trợ vốn cho dự án nhiệt điện Thái Bình 2 gồm ngân hàng KEXIM, Hongkong and Shanghai Banking Corporation Ltd (HSBC), Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, Ltd (BTMU), China Development Bank (CDB), Citibank, Mizuho Bank, Oversea – Chiness Banking Corporation Ltd (OCBC) và Standard Chatered Bank (SCB), theo thông tin đăng tải trên trang web của PVN chiều nay.  Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 do PVN làm chủ đầu tư khởi công vào tháng 3-2011 với tổng vốn đầu tư gần 1,6 tỉ dô la Mỹ (khoảng 31.500 tỉ đồng).  Nhà máy sử dụng công nghệ lò hơi phun than truyền thống, gồm 2 tổ máy với tổng công suất 1.200 MW, cung cấp cho hệ thống điện quốc gia lượng điện khoảng 6,7 tỉ kWh mỗi năm. Hiện nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 đang trong giai đoạn xây dựng và dự kiến đưa vào vận hành tổ máy đầu tiên và quí 2-2014.    Author                Quản trị        
__label__tiasang VCIC trao giải cho 21 ý tưởng ứng phó với biến đổi khí hậu      Cuộc thi Chứng minh ý tưởng do Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Ứng phó với Biến đổi khí hậu (VCIC) tổ chức không chỉ dừng lại ở việc trao giải cho các ý tưởng tiềm năng mà còn ươm tạo chúng thành sản phẩm, mô hình kinh doanh hoàn chỉnh hoặc có quy mô thị trường rộng hơn.    Ngày 20/9 vừa qua Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Ứng phó với Biến đổi khí hậu Việt Nam (VCIC) đã tổ chức lễ trao giải cuộc thi Chứng minh ý tưởng (Proof of Concept – PoC) lần thứ hai với 21 ý tưởng được chọn ra từ hơn 300 đơn đăng ký. Phần lớn các ý tưởng được trao giải năm nay đều thiên về ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp và xử lý môi trường. Trong đó, có hai ý tưởng xuất phát từ nghiên cứu trong trường Đại học là nhóm nghiên cứu FIMO, ĐHQG Hà Nội với công nghệ giám sát ô nhiễm không khí; nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Thế Nghĩa, đại học KHTN, ĐHQGHN với turbine gió cho vùng sâu, vùng xa. Còn lại là các dự án mới của những công ty lớn, từng có nhiều kinh nghiệm trên thị trường và các startup.   17 trong tổng số 21 ý tưởng này sẽ được  VCIC tài trợ tối đa 75.000 USD cho mỗi ý tưởng  và bước vào giai đoạn ươm tạo kéo dài trong vòng một năm. Được biết, kết thúc PoC lần thứ nhất chỉ có 7 trong tổng số 18 doanh nghiệp được nhận tài trợ, tốt nghiệp.  Cuộc thi PoC của VCIC được tổ chức nhằm tìm kiếm những doanh nghiệp khởi nghiệp góp phần giảm thiểu tác động hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu hiệu quả, trong đó năm lĩnh vực ưu tiên bao gồm: (i) tiết kiệm năng lượng; (ii) nông nghiệp bền vững; (iii) quản lý và lọc nước; (iv) công nghệ năng lượng tái tạo; (v) công nghệ thông tin và các công nghệ khác phục vụ ứng phó với biến đổi khí hậu.  Các ý tưởng dự thi phải trải qua ba vòng: (1) Nộp hồ sơ: Các ý tưởng khởi nghiệp, vẫn chưa có sản phẩm hoàn thiện đều có thể đăng ký tham dự PoC, ba tiêu chí quan trọng nhất để được chọn là dung lượng thị trường, tác động xã hội, và năng lực của đội ngũ sáng lập; (2) Tiền ươm tạo: Những hồ sơ được lựa chọn sẽ tham dự một khóa đào tạo hai tuần do các chuyên gia của VCIC tổ chức để hoàn thiện hồ sơ của mình. Sau đó họ sẽ được đánh giá và lựa chọn bởi một hội đồng gồm các nhà khoa học, nhà quản lý của Bộ KH&CN và các nhà đầu tư tư nhân để nhận đầu tư và đi tiếp vào giai đoạn sau. (3) Ươm tạo: Các doanh nghiệp sẽ được ươm tạo tối đa là một năm bởi các chuyên gia VCIC. Theo đó, doanh nghiệp phải có kế hoạch và kì vọng cụ thể trong việc sử dụng tài trợ để phát triển ý tưởng lên giai đoạn mới  (có thể là hoàn thiện sản phẩm, hoàn thiện mô hình kinh doanh, mở rộng quy mô thị trường lên một mức nhất định). Đây là cơ sở để VCIC đánh giá xem doanh nghiệp có thể được tốt nghiệp hay không. Sau đó, các doanh nghiệp vẫn có thể nhận được hỗ trợ tư vấn miễn phí của VCIC.    Một buổi đào tạo của VCIC  Trả lời phóng viên Tia Sáng, ông Nguyễn Đình Tiến, chuyên viên thương mại hóa của VCIC, chia sẻ, các chuyên gia của VCIC được lựa chọn từ khối tư nhân, có hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp. Họ phân chia doanh nghiệp tham dự thành hai loại: cần hoàn thiện mô hình kinh doanh và cần mở rộng thị trường để thiết kế chương trình đào tạo phù hợp. VCIC đặt mục tiêu hỗ trợ 48 doanh nghiệp công nghệ sạch trong vòng ba năm đầu hoạt động của trung tâm, qua đó cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thích ứng với biến đổi khí hậu cho hơn 1.700 hộ gia đình.   PoC là một hoạt động của VCIC – nằm trong khuôn khổ Chương trình Công nghệ Ứng phó với Biến đổi Khí hậu của Nhóm Ngân hàng Thế giới. Ra đời vào năm 2015, VCIC hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ, được Ngân hàng Thế giới tài trợ từ nguồn vốn lên tới 3,8 triệu USD của Chính phủ Úc và Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) và hơn 300 nghìn USD từ Chính phủ Việt Nam, kéo dài đến năm 2018.          DANH SÁCH 17 Ý TƯỞNG ĐƯỢC NHẬN TÀI TRỢ                   1      Ứng dụng IoT vào thủy canh hồi lưu trong sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn VietGap – Công ty Cổ phần công nghệ Hachi          2      FIMO Air Pollution monitoring Network – Nhóm nghiên cứu phát triển công nghệ giám sát tài nguyên môi trường          3      Nền tảng cơ sở dữ liệu địa lý không gian dùng chung – MAPDAS          4      Ứng dụng công nghệ thông minh và trí tuệ nhân tạo nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng tôm – SeA Square          5      Ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho các giải pháp giám sát, phân tích và xử lý ô nhiễm cho hầm đường bộ – CTCP Đầu tư và Phát triển công nghệ Trí Nam          6      Hệ thống đèn đường thông minh – CTCP Công nghệ S3          7      Cung cấp trọn gói dịch vụ bếp từ công nghiệp theo mô hình ESCO – CTCP Hà Yến          8      Nghiên cứu chế tạo Turbine gió cho vùng không tiếp cận được lưới điện quốc gia – Nhóm nghiên cứu với đại diện ông Nguyễn Thế Nghĩa          9      Sản xuất đạm tôm, chiết suất tôm làm thực phẩm cho người – CTCP Việt Nam Food Hậu Giang          10      Trông sake trên đất nhiễm phèn, nhiễm mặn ở Bình Thuận – CT TNHH Công nghệ cao Chữ Tâm          11      Quy trình canh tác lúa thông minh – Công ty cổ phần Rynan Technologies Vietnam          12      Ứng dụng công nghệ cao trong bảo quản  rau sau thu hoạch quy mô vừa và nhỏ – TS. Đào Thị Nhung          13      Phát triển vật liệu nano trong nông nghiệp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu – Hợp tác xã Nông nghiệp Trường Xuân-Evergreen Agricoop Giao Thủy-Nam Định          14      Sản xuất giống lúa chịu mặn thích ứng với biến đổi khí hậu – Nông nghiệp bền vững SHPDU          15      Kỹ thuật nuôi trồng nấm bào ngư trên rơm rạ giảm đốt rơm rạ tại ĐB sông Hồng – Công ty TNHH tư vấn dịch vụ quản lý hành chính và Thương mại quốc tế          16      Phát triển vật liệu nano tổ hợp dùng làm sạch nguồn nước, phòng và trị bệnh cho tôm – Trường Đại học Nông Lâm Huế/ Công ty cổ phần phát triển NTTS Thừa Thiên Huế          17      Hệ thống bơm, lọc nước tự làm sạch trong nuôi trồng thủy sản – Công ty TNHH MTV Dịch vụ và CN Nuôi trồng Thủy sản          DANH SÁCH 4 Ý TƯỞNG CHỈ NHẬN HỖ TRỢ TƯ VẤN          1      Va ly thăm khám tích hợp bệnh án điện tử trên nền tảng đám mây của Công ty Cổ phần Viễn thông NewTelecom          2      Giải pháp tổng đài cloud và chăm sóc khách hàng đa kênh AntBuddy – Tối ưu hoá nguồn lực, giảm tác động đến môi trường thông qua việc tăng cường giao tiếp điện tử, giảm thiểu điện năng tiêu thụ của Công ty Cổ phần AntBuddy          3      Tăm thân thiện môi trường của nhóm tác giả TS. Đỗ Ngọc Chung, PGS. TS. Phạm Hồng Dương, Phạm Thị Hường, CN. Đào Văn Đương, CN. Phạm Thị Ánh Mây          4      Tái sử dụng phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản để sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp hữu cơ bền vững – Công ty TNHH Sinh học Phương Nam            Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Vẽ bản đồ người cổ đại rời châu Phi 50.000 năm trước      Khoảng 55.000-50.000 năm trước, người cổ đại tổ tiên của chúng ta ngày nay rời châu Phi và bắt đầu chuyến đi khắp thế giới. Sau khi nhanh chóng băng qua lục địa Á-Âu và Đông Nam Á, họ đã đi qua các đảo của Indonesia, và cuối cùng đến tận lục địa Sahul (Úc và New Guinea ngày nay). Mới đây các nhà khoa học đã đưa ra bản đồ hành trình dịch chuyển và những lần tương tác với những nhóm người cổ đại khác (như Denisovan, Neandertal và cả các nhóm khác chưa được đặt tên), mới được công bố trên kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học Mỹ.    Điểm đáng chú ý là, trong hành trình ấy tổ tiên của người hiện đại ngày nay đã gặp gỡ và trộn lẫn gene với một số nhánh người cổ xưa khác, bao gồm người Neandertal, người Denisovan và một số nhóm người khác mà hiện tại chưa xác định rõ tên. Dấu vết của những tương tác này vẫn được thể hiện trong bộ gene của chúng ta. Ví dụ, tất cả các quần thể người hiện đại không phải người châu Phi đều có khoảng 2% gốc gác từ Neandertal.  Một trong tương tác đầu tiên đã diễn ra trên đường đi qua miền Nam châu Á. Nhóm người cổ xưa có tương tác (với Homo sapience) không phải là người Neandertals hay người Denisovans, mà là một nhóm tương tự – nhưng hiện chưa được xác định tên.    Bản đồ hành trình dịch chuyển của một nhóm người khoảng 55.000-50.000 năm trước, trong đó có tổ tiên của chúng ta ngày nay, rời châu Phi và những lần tương tác với những nhóm người cổ đại khác, mới được công bố trên kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học Mỹ.  Các dấu vết di truyền của nhóm cổ xưa này có thể được tìm thấy từ các quần thể hiện đại ở Punjab và Bengal đến tận New Guinea và Úc. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng sự kiện tương tác và có hòa huyết, trộn lẫn gene này (được đánh số 1 trên bản đồ) có thể đã diễn ra ở đâu đó phía bắc Ấn Độ.  Tổ tiên của người hiện đại sau đó dường như đã tách ra khi họ di chuyển khắp châu Á, với một nhóm phân tán về phía bắc vào lục địa châu Á, nơi họ gặp và trộn lẫn với một nhóm người Denisova ở khu vực đánh dấu 2 trên bản đồ – dãy núi Altai (một dãy núi ở trung tâm châu Á, nằm trên khu vực biên giới Nga, Trung Quốc, Mông Cổ và Kazakhstan, và là thượng nguồn của các con sông lớn như Irtysh, Obi và Enisei – ND).  Đảo Đông Nam Á: nhiều nhánh người cổ cư ngụ  Một nhánh khác trong dòng di chuyển này hướng về phía nam xuống Bán đảo Malaysia và vào khu vực Đảo Đông Nam Á (ISEA), nơi một bất ngờ lớn đang chờ đợi – khu vực này thực ra vốn đã đông đúc, bao gồm các loài hoàn toàn khác nhau mà đến giờ giới khoa còn chưa chắc chắn nguồn gốc và tên gọi. Các hóa thạch tìm thấy gần đây, cho thấy họ hàng của Homo erectus (người thẳng đứng – có hóa thạch phổ biến trên Java, Indonesia) đã tồn tại ở Philippines và người Homo flores (còn được biết đến với tên gọi là người “hobbits”) đã ở đây cho đến khoảng 52.000 năm trước.  Nhóm người hiện đại trước khi đến đây đã gặp gỡ và tương tác với một họ hàng xa của người Denisovans, điều này được phát hiện nhờ vào một tín hiệu để lại trong bộ gene của người Australo-Papuans và một số quần thể ISEA. Mà những tín hiệu này rất khác với sự kiện pha trộn ở số 2 trên bản đồ thuộc khu vực Đông Á nói trên, người Denisovan ở đây lại tách biệt về mặt di truyền với người Denisovan ở Altai vào khoảng 280.000 năm trước. Sự kiện trộn này dường như đã diễn ra ở đâu đó quanh miền nam Malaysia/ Borneo (được đánh dấu 3 trên bản đồ).  Trong khi di chuyển qua ISEA, nhóm người hiện đại dường như đã gặp  và tương tác với hai nhóm người cổ xưa hơn. Những dấu vết của cư dân săn bắn hái lượm ở Philippines cho thấy có sự tương tác với người Denisovan (được đánh dấu 4 trên bản đồ), sau khi họ tách khỏi nhóm chính đã di chuyển qua ISEA.  Tương tự, một nghiên cứu di truyền về Homo flores cho thấy DNA của họ không phải của người Homo erectus và cũng không phải là Neandertal hay Denisovan mà thực sự là một nhóm khác hiện chưa được biết đến (đánh dấu 5 trên bản đồ).  Như vậy, nghiên cứu di truyền khác nhau trong khu vực này cho chúng ta biết là tổ tiên của người hiện đại dường như đã gặp và tương tác với bốn họ người (hominin) khác nhau, trong ít nhất sáu thời điểm. Và tất cả những cuộc gặp gỡ này đã xảy ra trong một khoảng thời gian rất ngắn khi rời khỏi Châu Phi ở thời điểm 50.000 – 55.000 năm trước và đến Úc và New Guinea nhiều nhất là khoảng 5.000 năm sau đó. Đáng chú ý, không có lần tương tác nào trong số này dường như có liên quan đến như Homo luzonensis và Homo flores.  Khu vực ISEA rõ ràng là một nơi cư trú đông đúc vào khoảng 50.000 năm trước, với nhiều nhóm người cổ xưa khác nhau trên nhiều hòn đảo khác nhau. Nhưng ngay sau đó chỉ có một nhóm sống sót: chúng ta.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://theconversation.com/southeast-asia-was-crowded-with-archaic-human-groups-long-before-we-turned-up-119818    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẽ chân dung đầu tiên của người Denisovan cổ đại nhờ dữ liệu DNA      Các nhà khoa học đã phân tích những thay đổi hóa học trong DNA của người Denisovan để đưa ra dự đoán đầu tiên về đặc điểm hình thái của người Denisovan, và thấy họ có nhiều điểm giống với người Neanderthal.         Phác họa đầu tiên về người Denisovan (nữ), dựa vào dữ liệu DNA cổ còn sót lại.   Lần đầu tiên, các nhà khoa học phân tích DNA của người Denisovan – một nhánh thuộc họ người (hominin) đã tuyệt chủng, được phát hiện khoảng một thập kỷ trước –  và đưa ra một hình dung đầu tiên về diện mạo của họ.   Kể từ khi phát hiện ra mảnh xương đầu tiên của người Denisovan trong hang Denisova ở Siberia, các nhà nghiên cứu đã lùng sục khắp thế giới để tìm manh mối về diện mạo bề ngoài của nhóm người cổ này. Trong hang Denisova có một số mảnh di cốt nhỏ, chủ yếu là răng của người Denisovan. Sau đó trong năm nay các nhà khoa học phát hiện mảnh di cốt ở Cao nguyên Tây Tạng, và các nhà khoa học cũng đã gửi một mảnh xương tay tới các phòng thí nghiệm ở Nga, Mỹ và Pháp để phân tích bằng các kỹ thuật hiện đại. Nhưng không có mảnh di cốt nào trong số này đủ lớn hoặc đủ hoàn chỉnh để tái tạo lại nhiều chi tiết về cơ thể người Denisovan.  Đến nay, các nhà sinh học tính toán đã tạo ra một bản phác thảo sơ bộ về cơ thể người Denisovan dựa trên những nghiên cứu biểu sinh (epigenetic) – những thay đổi về mặt hóa học dủa DNA có thể khiến hoạt động của gene thay đổi. Phương pháp này cho thấy rằng người Denisovan có ngoại hình tương tự người Neanderthal nhưng có một số khác biệt tinh tế hơn, chẳng hạn như hàm và xương sọ rộng hơn.  “Việc này chưa giúp vẽ ra một bức tranh rõ ràng về diện mạo của họ. Chỉ là ý tưởng sử dụng DNA để dự đoán hình thái người rất ấn tượng”,  Bence Viola, nhà nghiên cứu cổ nhân học tại Đại học Toronto, Canada, người đã phân tích mảnh di cốt của người Denisovan, nhưng không tham gia vào nghiên cứu này nhận xét.  Sự thay đổi đổi biểu sinh DNA có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển, bệnh tật và hầu hết các đặc điểm sinh học trong suốt cuộc đời. Nó có thể giúp xác định sự khác biệt giữa các tế bào có bộ gene giống hệt nhau. Một trong những cách tốt nhất để nghiên cứu thay đổi biểu sinh là nghiên cứu quá trình nhóm hóa chất methyl – được tạo thành từ một nguyên tử carbon và ba hydrogens – thường kiềm chế hoạt động của gene được bổ sung vào DNA.  Nhóm methyl giảm đi sau khi chết, vì vậy không thể tìm thấy trong DNA cổ đại được. Nhưng một nhóm nghiên cứu do Liran Carmel, một nhà sinh học tính toán tại Đại học Hebrew ở Jerusalem dẫn đầu đã phát hiện ra một cách để xác định các phần của DNA cổ đã từng bị methyl hóa, bằng cách phân tích các mẫu đã thay đổi về thành phần hóa học theo thời gian. Vào năm 2014, nhóm của Carmel đã lập bản đồ các kiểu methyl hóa trên bộ gene của người Denisovan và người Neandethals, và xác định một gene phát triển chi đặc trưng cho các nhóm này và khác với người hiện đại ngày nay.  Trong nghiên cứu mới nhất này, Carmel và nhà sinh vật học tính toán David Gokhman, cũng ở Đại học Hebrew, đã dẫn đầu một nhóm xác định thêm hàng ngàn điểm trong bộ gene của người Neandethals và người Denisovan, trong đó có các kiểu methyl hóa khác biệt với người hiện đại. Họ đã so sánh những đặc điểm này với cơ sở dữ liệu về sửa đổi biểu sinh trong mô người và đưa ra một danh sách hàng trăm gene cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm cổ xưa này và người hiện đại.   Để kết nối danh sách này với các đặc điểm giải phẫu về diện mạo của người Denisovan, các nhà nghiên cứu đã xem xét một cơ sở dữ liệu khác, liệt kê các tác động vật lý của đột biến gene ở những người mắc bệnh hiếm gặp. Carmel và Gokhman lý giải rằng các đột biến gen e giảm do quá trình methyl hóa DNA gần giống với tác động của các đột biến gây bệnh.  So sánh với người Neanderthal  Trước khi áp dụng phương pháp của họ cho người Denisovan, nhóm Carmel và Gokhman đã kiểm tra xem liệu phương pháp này có thể đưa ra hình dung diện mạo của người Neanderthal hay không – nhánh này thì đã có hàng trăm di cốt được phát hiện.  Các dự đoán về diện mạo này là định tính và tương đối, Carmel giải thích: “Tôi có thể nói với bạn rằng ngón tay dài hơn, nhưng tôi không thể nói với bạn rằng chúng dài [chính xác là] hơn 2 milimet”.  Nhờ vào các kiểu methyl hóa, nhóm nghiên cứu đã dự đoán được 33 đặc điểm về diện mạo của người Neanderthal. Các kết quả dự đoán này đã chính xác ở 29 đặc điểm trong số đó, ví dụ, loài này có khuôn mặt rộng hơn và đầu phẳng hơn so với người hiện đại. Nhưng dự đoán này lại sai khi chỉ ra rằng vết lõm mềm giữa xương sọ ở phần đỉnh đầu rộng hơn ở người hiện đại.  Các nhà nghiên cứu sau đó sử dụng phương pháp này để phân tích nhân dạng người  Denisovan. Họ dự đoán nhánh người này có nhiều đặc điểm với người Neanderthal, như trán thấp và lồng xương sườn rộng, nhưng cũng có một số khác biệt, bao gồm cả hàm và hộp sọ rộng hơn. Mặc dù không thể biết hình ảnh của họ một cách chính xác,  nhưng có thể dự đoán được nhờ vào những mảnh di cốt còn sót lại.  Đặc điểm nổi bật nhất của người Denisovan trong các di cốt còn sót lại là răng hàm rất lớn. Do đó, các nhà khoa học dự đoán là người Denisovan có vòm hàm rộng – phù hợp với những chiếc răng to.  Xương hàm có niên đại 160.000 năm tuổi thu thập được từ Cao nguyên Tây Tạng phù hợp với dự đoán của Gokhman và Carmel về các đặc điểm vừa nêu. Và một mảnh hộp sọ từ hang Denisova mà Viola đã nghiên cứu cho thấy nhánh người này có đầu rộng – phù hợp với dự đoán từ phương pháp tái tạo biểu sinh. Tuy nhiên, một hình ảnh được dựng lại về một ngón tay người Denisovan, được công bố vào tháng 3, cho thấy họ có ngón tay mảnh dẻ giống như con người hiện đại – mà không giống ngón tay người Neandertal như dự đoán.   “Tôi nghĩ bức tranh toàn cảnh là đúng, nhưng với hình ảnh từng cá nhân, có thể có sự sai khác”, Viola nói. Mặc dù rất ấn tượng bởi các dự đoán hình ảnh nhờ phương pháp này, nhưng Viola cũng chưa chắc chắn được rằng có thể xác định chính xác hình ảnh người Denisovan thực sự trông như thế nào. Bởi vì di cốt người Denisovan rất ít ỏi, tới mức giờ đây chỉ có cách duy nhất xác định họ là thử DNA hoặc protein.  Manolis Kellis, một nhà sinh học tính toán tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge, làm về dữ liệu biểu sinh cho biết, đây là một cách tiếp cận hoàn toàn phù hợp, những kết quả thu được rất quan trọng.   Trong thời gian tới, các nhà khoa học có thể sử dụng biểu sinh để tái tạo cấu trúc giải phẫu của các họ người chỉ nhờ vào các di cốt còn sót lại, Pontus Skoglund, nhà di truyền học dân số tại Viện nghiên cứu Francis Crick ở London cũng nhận định.  Bảo Như dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02820-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẽ “chân dung khách hàng” trong khởi nghiệp      Bạn đang bán hàng cho ai?  Tôi đang bán một ứng dụng cho những người trẻ, để đọc XYZ trên mạng  Người trẻ của bạn bao nhiêu tuổi? Khoảng từ 18-35.  Tại sao họ phải dùng ứng dụng của bạn? Vì người trẻ hiện nay dùng smartphone nhiều và họ rất muốn đọc XYZ trên thiết bị cầm tay.  Tại sao bạn nghĩ họ sẽ trả tiền cho ứng dụng của bạn? Vì ứng dụng của tôi rất hay, có những tính năng A, B, C.    Ảnh: wakefly.com  Bạn nhận thấy điều gì qua đoạn hội thoại vừa rồi? Đó là đoạn hội thoại rất điển hình của nhiều cuộc gặp gỡ các bạn khởi sự kinh doanh mà chúng tôi thường thấy. Sự lờ mờ về chân dung khách hàng khiến không ít startup không biết chính xác mình đang nhắm đến ai, phải làm gì để tiếp cận họ và quay về những đặc điểm sản phẩm, tính năng sản phẩm để thuyết phục khách hàng. Một trong 10 nguyên nhân hàng đầu theo CBInsights.com (một công ty phân tích dữ liệu về thị trường công nghệ tại Mỹ) dẫn đến thất bại của startup chính là lỗi “không đếm xỉa” đến khách hàng, đồng nghĩa với việc bạn thu mình trong ốc đảo và phục vụ một nhu cầu giả tưởng của một khách hàng trong giả tưởng.    Vậy cần phải thay đổi như thế nào?   Chúng tôi xin giới thiệu với bạn một công cụ rất đơn giản nhưng vô cùng hữu ích để giúp các bạn khởi sự kinh doanh xác định chính xác mình đang phục vụ ai, cần làm gì để phục vụ tốt hơn cho họ?   Hãy theo dõi từ trái sang phải, từ trên xuống dưới hình vẽ đơn giản có bốn ô dưới đây và thực hiện từng bước.     Bước 1: Hãy tưởng tượng về khách hàng của bạn (vào ngày… tháng… năm…).   Lý do bạn phải ghi ngày tháng năm vì mọi thứ sẽ thay đổi theo những khám phá của bạn sau này.   Bước 2: Hãy thật cụ thể và huy động toàn bộ sức lực của bạn và đội nhóm để cùng thực hiện công việc.   Nếu có thời gian, bạn hãy để mỗi người, mỗi bộ phận trong công ty làm một bản khác nhau. Bạn chỉ cần đặt chung một yêu cầu: Hãy vẽ chân dung và đặc điểm của khách hàng tiềm năng nhất mà công ty chúng ta đang nhắm tới.   Bước 3: Bắt đầu với câu hỏi WHO? – Là ai? Ví dụ: Công ty của bạn đang bán sản phẩm hữu cơ, bạn sẽ nghĩ người mua hàng là các bà nội trợ.   Để trả lời được cụ thể, bạn đang bán cho ai, hãy đặt cho khách hàng một cái tên, một công việc cụ thể hãy nhớ càng cụ thể càng tốt về các thông tin nhân chủng học, đặc điểm    Ví dụ: Tên: Chị Mai, 35 tuổiNghề nghiệp: Nhân viên ngân hàngTốt nghiệp Đại học Ngân hàng, Thu nhập khoảng 12 triệu/thángĐã lập gia đìnhCó hai con (một cháu bốn tuổi và một cháu mười tuổi)   Đến đây, bạn sẽ thắc mắc tôi đâu chỉ bán hàng cho mỗi chị Mai, mà còn chị Đào làm cơ quan nhà nước v..v. Bạn đừng thắc mắc quá nhiều, hãy tập trung vào khách hàng tiềm năng nhất có thể nuôi sống công ty của bạn. Bạn sẽ còn có cơ hội thay đổi và vẽ thêm những chân dung khách hàng khác trong tương lai.   Bước 4: Hãy tập trung vào những vấn đề, sự khó chịu họ đang gặp phải (pain points): Hãy bắt đầu đặt mình vào vị trí của họ bằng những câu như:   Tôi cảm thấy khó chịu khi phải ăn những thứ không an toàn.Tôi mệt mỏi vì phải tìm kiếm các loại nguồn thức ăn sạch.Tôi cảm thấy lo lắng khi ngay cả rau sạch có mác vẫn bị làm giả.V..v   Bước 5: Hãy quan sát hành vi của khách hàng tiềm năng của bạn và điền vào ô thứ hai bên trái, bạn lại thử tưởng tượng tiếp, họ đang làm cách gì để giải quyết vấn đề của họ.   Tôi thường hỏi bạn bè làm thế nào để tìm được sản phẩm hữu cơ đáng tin cậy.   Tôi nhờ người nhà trồng ở quê và mang lên giúp.    Tôi thường tra trên mạng để học cách nhận biết các loại rau. V.v.   Bước 6: Hãy đặt mình vào mục tiêu họ muốn đạt được với giải pháp của bạn.   Tôi sẽ hạnh phúc khi đó là sản phẩm hữu cơ thực sự an toàn cho gia đình.   Tôi sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian, không phải tìm kiếm và đặt rau hằng ngày.   Sau khi hoàn thành sáu bước, bạn đã TƯỞNG TƯỢNG chi tiết hơn về khách hàng của mình. Nhưng đó mới là tưởng tượng của bạn, hãy thử so sánh nó với những tưởng tượng từ thành viên khác trong nhóm, bạn sẽ nhận ra một điều: Dường như cả nhóm đang nhắm đến những nhóm khách hàng tiềm năng khác nhau. Điều này tiềm ẩn rủi ro khi bán hàng bởi nếu các bạn không nhắm đến cùng mục tiêu, làm sao bạn biết bạn đang bán cho đúng người?   Vậy bước thứ bảy là hãy cùng cả nhóm đi ra ngoài và phỏng vấn những người như chị Mai trong tưởng tượng và những người giống như thế. Hoặc hay dùng một landing page (một dạng trang trực tuyến đơn giản với những tuyên ngôn giá trị sản phẩm của bạn, lợi ích bạn mang lại, kêu gọi hành động từ khách hàng cung cấp cho họ những thông tin cơ bản về sản phẩm dịch vụ của bạn để xem đối tượng nào thực sự sẽ là người quan tâm và mua nhiều nhất.    Tất nhiên bạn có rất nhiều cách để thử nghiệm thị trường, xác định phân khúc khách hàng. Tuy vậy, có những nguyên tắc bạn phải luôn ghi nhớ, hãy hình dung thật cụ thể về những người bạn sẽ hướng tới. Và khi đã hình dung và thử nghiệm tương đối đầy đủ về khách hàng, hãy dán bức chân dung khách hàng của bạn ở vị trí trung tâm của công ty nơi mọi người đều thấy và hiểu mình đang hướng đến ai. Bạn biết đấy: đó là cách bạn khiến mọi thứ trở nên dễ hình dung cho mọi thành viên trong công ty, bạn sẽ biến mọi nhân viên thành người bán hàng và làm marketing cho công ty tốt hơn bao giờ hết.   Với một khởi nghiệp, việc kể một câu chuyện hay là một kỹ thuật thu hút nhà đầu tư. Hãy thử tưởng tượng câu chuyện của bạn sẽ buồn tẻ và thiếu sức thuyết phục thế nào nếu không có nhân vật chính cụ thể với những vấn đề rất con người? Hãy tin tôi, nếu bạn có chân dung của một chị Mai, chắc chắn sẽ có 1000 người giống chị Mai, đó chính là những người mua hàng đầu tiên (early adopters) của bạn! Và nếu có hàng triệu chị Mai như vậy, đó chính là cơ sở để bạn kể một câu chuyện đầy sức thuyết phục với nhà đầu tư tiềm năng!    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Về chiến lược kinh tế biển của Việt Nam      Đã đến lúc cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển. Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang phương thức kết hợp: khai thác mặt tiền (biển – lợi thế địa chiến lược) + tự do hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi trước trong nỗ lực phát triển kinh tế biển để trở thành cường quốc biển.      1. Tiếp cận chiến lược kinh tế biển   Kinh tế biển của Việt Nam phát triển với hai lợi thế quan trọng.   Một là tiềm năng tự nhiên (lợi thế tĩnh) to lớn (bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có – thủy sản, dầu khí và nhiều loại khoáng sản khác, nhiều bãi biển đẹp, v.v.)(1).   Hai là vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt (nằm trên các tuyến hải hành và các luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới, nhất là trong thời đại bùng nổ phát triển của châu Á – Thái Bình dương)(2).   Tuy vậy, lâu nay, khi bàn đến lợi thế phát triển kinh tế biển của Việt Nam, sự chú tâm thường được dành cho loại lợi thế thứ nhất mặc dù loại lợi thế thứ hai đang ngày càng trở nên quan trọng do sự gia tăng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa.   Trên thực tế, cách tư duy về lợi thế như vậy được phản ánh trong việc đầu tư cho nghiên cứu, cho việc phát triển năng lực và các lĩnh vực kinh tế biển cụ thể – tập trung cho các ngành khai thác tài nguyên biển – thủy sản, dầu khí, làm muối, v.v.- dưới dạng “thô”. Khai thác hàng hải, du lịch và cảng biển chưa phát triển, ở trình độ nhìn chung còn thấp. Nhiều loại tài nguyên biển quý báu khác, ẩn sâu trong lòng biển, dưới đáy đại dương, hoàn toàn chưa được khai thác, chưa nói đến những ngành “công nghiệp biển” dựa trên công nghệ cao.   Sự thiên lệch đó là kết quả tự nhiên, tất yếu của sự tiếp nối tư duy phát triển truyền thống, coi khai thác tài nguyên thô, dựa vào trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp và những năng lực hạn chế là cách thức chủ đạo của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.  Với đặc trưng như vậy, cách tiếp cận phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay có hai thiếu sót lớn.   Một là xu hướng muốn vận dụng một cách đơn giản và dễ dãi tư duy phát triển nông nghiệp truyền thống – hay nói “riết róng” hơn – tư duy phát triển tiểu nông, gắn với “con trâu đi trước cái cày đi sau” – vào công cuộc phát triển kinh tế biển. Đó là cách thức khai thác biển theo lối “con cò lặn lội bờ sông”, “đánh bắt ven bờ”, không dám vươn ra biển khơi, không mang tư tưởng tìm kiếm và chinh phục đại dương. Về thực chất, đó là việc mang vác cách thức phát triển nông dân cổ truyền, làm ruộng trên cạn ra khai thác biển, chinh phục đại dương – một đối tượng khác căn bản về tính chất, về các điều kiện khai thác và mức độ rủi ro (phương thức, công cụ, gắn với những đòi hỏi về tri thức và công nghệ).  Hai là thiếu tư duy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chưa rõ tầm nhìn toàn cầu và thời đại trong công cuộc phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hiện đại, trong khi cả thế giới đang đồng loạt tiến ra biển, chiếm hữu không gian biển, khai thác biển ở tất cả các loại hình, cấp độ và với những công cụ và phương thức hiện đại chưa từng thấy.  Với cách tiếp cận biển truyền thống như vậy, trong điều kiện của thế giới hiện đại, thật khó kỳ vọng đạt được những kết quả mang tính đột phá trong nỗ lực chinh phục biển thông qua việc triển khai chiến lược kinh tế biển đầu tiên của Việt Nam, đã được thông qua tại Hội nghị Trung ương Đảng 4 khóa X, năm 2007(3).  Để phát triển kinh tế biển, mở rộng một không gian phát triển mới, tăng cường một động lực phát triển hiện đại ở tầm chiến lược mạnh bậc nhất, Việt Nam cần có cách tiếp cận mới, khác căn bản cách tiếp cận phát triển kinh tế “đất liền”  truyền thống(4).  Hướng ra biển, phát triển kinh tế biển một cách chiến lược – như Nghị quyết về Chiến lược phát triển kinh tế biển xác định, trở thành một nhu cầu bức bức bách, đồng thời, là một cơ hội lớn cho sự trỗi dậy mang tính bùng nổ của Việt Nam.  Với Chiến lược phát triển kinh tế biển đã được xây dựng, cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên WTO, thế giới đang chuyển sang thời đại toàn cầu hóa (tự do hóa) và công nghệ cao, khi phát triển kinh tế biển được mọi quốc gia coi là một trọng tâm chiến lược hàng đầu, chúng ta cần tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, trong đó, việc “nạp” kinh tế biển ở một tầm nhìn mới vào mô hình tăng trưởng mới là một nội dung quan trọng.   2. Hiện trạng kinh tế biển: nhận diện thực lực  Hiện nay, về nguyên tắc, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, chúng ta mới chỉ chú trọng hướng mở cửa – lên núi bằng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển.   Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển (xem bản đồ các cảng “chính”). Song động lực “vươn ra biển lớn” của phong trào rầm rộ này – rầm rộ đến mức đã trở thành “hội chứng” – thật sự không rõ ràng, bị chi phối bởi tư duy lợi ích dự án cục bộ thay vì một mục tiêu đua tranh phát triển lành mạnh và có tầm nhìn xa. Đó là bởi nền kinh tế vẫn theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên trên đất liền theo cách cũ, với công nghệ – kỹ thuật lạc hậu. Đến nay, mô hình đó đã “tận khai” năng lực “đất liền” của quốc gia.            Việt Nam đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo chiều dài đất nước. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn.   Như vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay được xem là đang hình thành rõ nét nhất và cũng chứng minh được tiềm năng to lớn khi có tính ảnh hưởng và liên kết mang tính liên vùng với các hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, nhất là sự bùng nổ về phát triển của một vùng rộng lớn ở Tây Nam Trung Quốc trong tương lai gần. Trong khi đó cửa ngõ chính hướng ra biển của khu vực bùng nổ này chính là Hải Phòng và cụm cảng của khu vực này.   Rõ ràng đây là những điều chúng ta phải có sự dự báo từ sớm để có kế hoạch chuẩn bị và đón đầu. Tuy vậy, thực tế đang diễn ra trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ của chúng ta lại chưa cho thấy điều này: các yếu tố về lợi thế, cơ cấu, thể chế điều phối và liên kết vẫn chưa rõ. Đây chính là các nút thắt trong số nhiều nút thắt gây trở ngại phát triển cho Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Điều này cũng đúng với các Vùng Kinh tế trọng điểm và các Khu Kinh tế ven biển khác.          Hiện nay, Việt Nam không tiến ra biển với “hành trang” thời Mai An Tiêm. Tư duy biển – chủ quyền lãnh hải, sự hiện diện, sự chinh phục, hợp tác quốc tế giải quyết tranh chấp, v.v. -; các định hướng phát triển biển theo nguyên lý hiện đại – phát triển ngành đóng tàu và hàng hải viễn dương, du lịch biển, thăm dò, khai thác biển, v.v. – đã bắt đầu định hình và được thực thi. Đó là những nền tảng ban đầu để hình thành một chiến lược biển với các nội dung cụ thể, khả thi, hay đúng hơn, các chiến lược kinh tế biển cụ thể (5) Chỉ với các chiến lược cụ thể đó, chúng ta mới trả lời được câu hỏi: Việt Nam sẽ vươn ra biển lớn như thế nào?   Nhưng đó chỉ mới là một mặt của vấn đề. Về khía cạnh thực lực, hai yếu tố nền tảng cơ bản của công cuộc chinh phục biển của Việt Nam – lực lượng doanh nghiệp và tiềm lực khoa học công nghệ – hãy còn rất yếu kém. Hình ảnh “hạm đội thuyền thúng ra khơi” mô tả một cách chính xác thực trạng đó. Nếu đo đếm sức mạnh kinh tế biển ở những khía cạnh cụ thể khác, có thể đánh giá thực lực cơ bản còn non yếu, manh mún, tự phát và trình độ thấp của hệ thống cảng biển, của ngành logistics, hệ thống đường giao thông dọc biển và đường kết nối cảng, ngành du lịch biển, các khu kinh tế biển, năng lực đánh bắt và chế biến hải sản, nguồn nhân lực kinh tế biển, v.v.   Có thể đưa ra một nhận xét tổng quát về sự phát triển kinh tế biển của Việt Nam với tư cách là một kết cấu mang tính hệ thống rằng mặc dù tiềm năng tự nhiên – điều kiện cần cho sự phát triển các ngành kinh tế biển – là tốt, song các điều kiện đủ để hiện thực hóa và thúc đẩy sự phát triển đó – bao gồm những yếu tố xác lập quỹ đạo phát triển hiện đại và cung cấp động lực phát triển kinh tế biển (như hệ thống hạ tầng cảng biển, giao thông, logistics, các khu công nghiệp và khu kinh tế gắn với kinh tế biển, các ngành khoa học và các hoạt động nghiên cứu liên quan, v.v.) – lại rất thiếu và yếu.   Tình trạng mất cân đối nghiêm trọng kéo dài giữa các điều kiện cần và điều kiện đủ như vậy giải thích tại sao hầu như tất cả những nơi “rừng vàng, biển bạc” của nước ta cho đến nay đều vẫn còn nghèo, hầu như cơ bản vẫn chưa thoát khỏi vạch xuất phát đói nghèo (poverty line) và chịu nhiều rủi ro phát triển. Thực trạng đó minh chứng cho việc theo đuổi quá lâu một chiến lược phát triển dựa chủ yếu vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên, theo kiểu “ăn sẵn”, “ăn xổi”, tận thu các cơ hội ngắn hạn mà ít chú trọng việc tạo lập các điều kiện thúc đẩy, cải cách, hiện đại hóa các hoạt động kinh tế biển, phát triển và phát huy các lợi thế “động” của các ngành kinh tế biển để đạt giá trị gia tăng cao(6).  Nhận diện thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam theo cấu trúc tổng quát nói trên – để khỏi sa lầy vào việc kiểm đếm các năng lực và thành tích cụ thể hiện có -, có thể thấy rằng ở cả ba vùng không gian, ba loại hình phát triển, trình độ phát triển kinh tế biển của Việt Nam nhìn chung còn thấp, thấp đến mức nhiều chuyên gia nói Việt Nam cho đến nay cơ bản vẫn chỉ là một quốc gia ven biển hơn là một quốc gia biển, chưa nói đến “một cường quốc biển” như mong ước.   Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hóa, được dẫn dắt bởi công nghệ cao và bị chi phối bởi hai thuộc tính – tự do hóa và tốc độ cao, cộng thêm vào đó là xu hướng tranh chấp và xung đột trên biển (biển Đông) tăng nhanh, những điểm yếu trên hàm nghĩa những thách thức to lớn cũng như những cơ hội tiềm tàng mà Việt Nam đối mặt trong nỗ lực phát triển kinh tế biển với những mục tiêu chiến lược to lớn, có thể nói là đầy tham vọng.  3. Định hình chiến lược kinh tế biển  3.1. Khuôn khổ chung  Mặc dù đến nay, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý.  Thứ nhất, kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện.  Một là khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển);  Hai là khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển);  Ba là phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.).  Ba phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát triển cho bất cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào. Thiếu một khâu bất kỳ nào, các ngành kinh tế biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện đại, hoạt động hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế.         Rõ ràng, Việt Nam không thể khai thác biển tốt nếu không khẳng định được sự hiện diện của mình trên đại dương với tư cách là một thực lực, tốt nhất là trong tư cách của một cường quốc biển. Mọi lời tuyên bố về chủ quyền chỉ mang lại lợi ích thực tế cho quốc gia khi nó gắn liền với thực lực và thông qua sự hiện diện sức mạnh quốc gia thực tế tại vùng có chủ quyền.    Theo logic đó, để khẳng định chủ quyền biển thực sự, Việt Nam phải có các hạm tàu lớn và có các doanh nghiệp kinh tế biển mạnh. Muốn vậy, trong điều kiện hiện tại Việt Nam cần phát triển ngành vận tải biển (cảng và hàng hải). Phát triển ngành công nghiệp đóng tàu tuy không phải là điều kiện bắt buộc để phát triển  ngành vận tải biển, song trong bối cảnh hiện đại, Việt Nam có thể làm điều đó một cách hiệu quả (nhưng không theo kiểu Vinashin). Đồng thời, cả hệ thống kinh tế “mặt tiền” – đô thị biển và du lịch biển (bờ, biển, đảo) – cũng phải phát triển mạnh.    Nhưng để có sự hiện diện thực chất đó, chúng ta còn phải có nhiều thứ khác – nền khoa học và công nghệ biển tiên tiến, nguồn nhân lực tốt, các cảng biển tầm cỡ và các khu kinh tế biển mạnh, có sức cạnh tranh và hấp dẫn quốc tế mạnh.          Thứ hai, cùng với cách tiếp cận chuỗi (hệ thống tổng thể), cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay.   Thực chất của yêu cầu này là căn cứ vào điều kiện cụ thể và lợi thế hiện có – hiện nay, đối với nước ta, chủ yếu là lợi thế “tĩnh”, bao gồm các lợi thế về tài nguyên biển và lợi thế địa – kinh tế, lợi thế địa – chiến lược  – để lựa chọn điểm đột phá cụ thể cho từng lĩnh vực, ngành kinh tế biển. Việc thực hiện nó nhằm khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán trong đầu tư phát triển kinh tế biển, gây lãng phí và kém hiệu quả.   3.2. Một số định vị tọa độ cụ thể của chiến lược kinh tế biển  a. Sự hiện diện để khẳng định chủ quyền  Thực lực hiện diện của Việt Nam trên các vùng biển và đại dương đã được xác lập và khẳng định, song chưa đủ mạnh.   + Không dừng lại ở “chủ quyền lãnh hải” tại biển Đông, trong tầm nhìn hiện đại, Việt Nam cần đặc biệt chú ý đến việc khẳng định sự hiện diện đại dương (trên các vùng biển quốc tế) – là cách chứng tỏ năng lực khẳng định chủ quyền thực tế, năng lực chinh phục, vươn xa thực sự của Việt Nam; cũng là cách để thoát khỏi lối tư duy và phương thức sinh tồn “quay lưng ra biển”, “đánh bắt gần bờ”, thiếu ý chí và văn hóa chinh phục.   + Muốn vậy, cần tập trung ưu tiên phát triển   i) lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi;   ii) xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển;   iii) củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa.  iv) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế.  v) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược.    b. Đổi mới tư duy phát triển kinh tế bờ biển với các điểm nhấn sau:  –    Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do).  Để làm được điều này, phải thoát khỏi cách tư duy chia đều các lợi ích phát triển từ ngân sách nhà nước cho các địa phương và các nhóm lợi ích lớn (ví dụ, coi phát triển cảng như là món “quả thực” mà Trung ương phải chia đều cho các địa phương hay các nhóm lợi ích), phải nhất quán xuất phát từ lập trường, quan điểm phát triển vì lợi ích quốc gia để nhanh chóng hình thành các đầu mối, các tọa độ đột phá lớn, phục vụ cho chiến lược quốc gia tổng thể chứ không phải vì lợi ích của từng địa phương hay lợi ích nhóm.   – Tư duy lại phương thức phát triển du lịch – nghỉ dưỡng ven biển để không xẩy ra khuynh hướng tận khai các tài nguyên du lịch sẵn có theo phương thức dễ dãi, ngắn hạn (chú ý học hỏi kinh nghiệm phát triển đầu tư du lịch của Trung Quốc). Đặc biệt chú ý xây dựng các trung tâm du lịch lớn tại những tọa độ có tài nguyên du lịch đặc sắc (ví dụ Hạ Long – Cát Bà, Phú Quốc – Côn Đảo – Bà Rịa-Vũng Tàu).  Cần lưu ý rằng bờ biển và các bãi biển Việt Nam chính là mỏ vàng lớn, là một trong những nội dung chính yếu tạo nên khái niệm “rừng vàng, biển bạc”. Ta đang khai thác một cách phung phí, ngắn hạn mỏ vàng này và gây ra những hệ lụy dài hạn không nhỏ. Điểm yếu chính là tư duy chiến lược. Cần chú ý cách khai thác bãi biển với tư cách là một trọng tâm ưu tiên quốc gia, không để xẩy ra những tranh chấp thể hiện sự tham lam ngắn hạn, sự ngu dốt tiểu nông kiểu như giưa một bên là khai thác cát, khai thác titan với một bên là băm nát bờ biển để làm resort chỉ phục vụ người giàu khi thế giới đã bước sang thế kỷ XXI.   c. Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai.  d/ Phát triển nghiên cứu biển – đại dương, cả ở khía cạnh khoa học – công nghệ (phục vụ khai thác – chế biến) lẫn ở khía cạnh lối sống và văn hóa biển hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa, bản lĩnh chinh phục biển chứ không phải tư duy “kiếm chác”, “nương nhờ” biển.  ***  Có nhiều vấn đề phải giải quyết để xây dựng và thực thi một chiến lược kinh tế biển hiện đại. Đặc biệt, trong môi trường cả thế giới cùng đồng loạt “nhảy xuống biển” để tìm kiếm không gian phát triển thì vấn đề biển càng trở nên phức tạp, ẩn chứa nhiều nguy cơ và rủi ro.   —  * Phó giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam  (1) Một số bằng chứng về tiềm năng kinh tế biển chủ yếu của Việt Nam: Bờ biển dài 3.260km, vùng biển chủ quyền rộng khoảng 1 triệu km2, trung bình 100 km2 đất liền có 1km bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới. Dọc biển có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang…) và 2.779 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636 km2; có 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, kể cả cảng trung chuyển quốc tế, 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du lịch biển. Ven biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng dầu khí dự báo địa chất của toàn thềm lục địa khoảng 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác 4 – 5 tỷ tấn; trữ lượng khí đồng hành 250 – 300 tỷ m3. Trữ lượng hải sản khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu phong phú, có giá trị kinh tế cao, chưa được khai thác đúng mức, chỉ mới đạt 60% mức có thể khai thác được hàng năm (1,5-2 triệu tấn). Có hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển.   Dân số vùng duyên hải chiếm khoảng 40% dân số cả nước.  (2) Biển Đông có diện tích 3.447.000 km2, một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, nối hai đại dương Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đây là con đường giao thương quốc tế chiến lược, có 5/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất thế giới đi qua. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật, và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này.  Nhưng vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược tốt đồng nghĩa với tình trạng tranh chấp và xung đột luôn tiềm tàng. Đây là điều đã và đang được thực tế chứng minh.    (3) Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản.  (4) Xin lưu ý rằng tại thời điểm hiện nay, ngay cả hiện thân cụ thể, sống động của cách tư duy phát triển đất liền – mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô, lao động tiền lương thấp và năng suất thấp được áp dụng trong khoảng ¼ thế kỷ qua ở Việt Nam – cũng đang đối mặt với yêu cầu phải được cấp bách thay đổi bằng một mô hình tăng trưởng mới.  (5) Chiến lược kinh tế biển được thông qua tại Hội nghị Trung ương 4 khóa X là một chiến lược định hướng tổng thể. Nó xác định các mục tiêu lớn, phương hướng hành động chung nhưng chưa vạch ra được các chiến lược hành động cụ thể, khả thi để phát triển kinh tế biển.   (6) Tuy nhiên, lập luận này cũng gợi ý khuyết thiếu cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung, phát triển kinh tế biển nói riêng của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Theo đó, có thể thấy việc cân đối lại hai vế, hai yếu tố cấu trúc nền tảng nêu trên của quá trình phát triển kinh tế biển chính là định hướng xuyên suốt của chiến lược kinh tế biển của Việt Nam trong giai đoạn tới.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Về chữ viết tay của Einstein      Một bức thư viết tay có công thức nổi tiếng E = mc2 của Einstein mới được bán gần đây với giá hơn một triệu USD. Nhưng những bản thảo viết tay của Einstein còn chứa đựng nhiều điều khác về bản thân nhà khoa học.       Albert Einstein vào năm 1920. Nguồn: ETH Library, University Archives, Hs 0304-1151-003, Public Domain.  65 năm sau khi qua đời, Einstein vẫn tiếp tục gây sự chú ý khi bức thư mà ông viết năm 1946 có công thức nổi tiếng E=mc2 vừa được bán đấu giá với giá 1,25 triệu USD (hình 1). Ông trở nên đại chúng đến mức một vài năm trước, một nhà sắp chữ Harald Geisler đã tạo ra một phông chữ máy tính dựa trên hàng trăm bản thảo viết tay của Einstein.    Font chữ này có thể không nổi tiếng bằng bức chân dung thè lưỡi của ông được treo đầy trong các phòng ký túc xá ở nhiều trường đại học, một biểu tượng khoa học mang tính đại chúng. Nhưng việc không chú ý đến những bản thảo viết tay của Einstein sẽ là một thiếu sót lớn. Bởi ngoài việc trị giá hàng nghìn hoặc hàng triệu đô la khi đấu giá thì chúng chính là một kho tàng thu nhỏ về cuộc đời đầy biến động của ông.     Chữ thảo1  trong tiếng Đức     Ở thời của Einstein, chữ viết tay quan trọng hơn nhiều so với bây giờ. Máy đánh chữ chỉ trở nên phổ biến khi Einstein đến tuổi 20 vào khoảng năm 1900 nhưng phần lớn các văn bản trao đổi, giao tiếp vẫn được viết tay. Điều đó có nghĩa là học viết bằng tay một cách sạch sẽ và dễ đọc là một kỹ năng sống quan trọng. Einstein đã dành phần lớn thời gian thời tiểu học để học viết. Các bài tập viết tay lặp đi lặp lại trong các hồ sơ chính là minh chứng của điều này.      Hình 1. Bức thư ngày 26 tháng 10 năm 1946 Albert Einstein gửi nhà vật lý người Mỹ gốc Ba Lan Ludwik Silberstein là một trong bốn trường hợp duy nhất bản viết tay phương trình E = mc2 nổi tiếng của Einstein. Bức thư được bán đấu giá vào tháng 5 với giá 1.243.708 USD. Nguồn: Ảnh do RR Auction cung cấp.  Phần lớn tuổi thơ của Einstein ở Munich, Đức, vốn là nơi mà tầm quan trọng của việc viết tay không phải là đặc biệt. Điều khác biệt là một số lượng lớn các bài tập viết tay mà ông đã học. Cùng với cách viết chữ in và chữ thảo mà đôi khi vẫn được dạy ngày nay, Einstein đã học một kiểu chữ viết thảo khác dành riêng cho tiếng Đức: Kurrentschrift, hay chữ viết Kurrent, ngày nay thường được gọi là “chữ viết cũ của Đức”.    Như trong hình 2, các chữ cái trong bảng chữ cái Latinh trong Kurrent trông khá khác với chữ thảo Latinh mà một số độc giả có thể đã học ở trường tiểu học. Bảng chữ cái Kurrent khó giải mã nổi tiếng; Hầu hết những người nói tiếng Đức bản ngữ ngày nay không thể đọc nó, và các nhà sử học như tôi cũng còn phải phàn nàn về nó.    Nó trông thật hoa mỹ, nét vòng quanh, thực sự mà nói là rất khó thông dụng. Rất nhiều chữ cái giống nhau. Chữ s và h viết thường trông rất khác so với chữ s và h trong bảng Latinh. Trong Kurrent, hai chữ này kéo rộng ra cả trên và dưới dòng của chúng. Còn nữa, s và h cũng trông rất giống nhau. Và nếu viết cẩu thả hoặc gấp gáp thì các chữ cái thường e, r, m và n trông cũng gần như giống hệt nhau. Do ngữ pháp của tiếng Đức thường liên quan đến việc phân biệt các mạo từ der, den và dem, trong số những mạo từ khác, sự giống nhau giữa các chữ cái đó trong tiếng Kurrent thường gây khó khăn cho việc phân tích ý nghĩa của một câu – đặc biệt là đối với những người không rành. Các chữ cái viết hoa cũng gây khó chịu tương tự: L, B và C rất giống nhau, J và T cũng vậy (Một mẹo là: Nếu bạn gặp một chữ cái viết hoa trong Kurrent mà không phân biệt được thì đó rất có thể là chữ G).      Hầu hết các tài liệu của Einstein được viết bằng chữ thảo Latinh, bao gồm cả bức thư được đấu giá gần đây. Nhưng những thư từ sớm nhất của ông thì viết bằng chữ Đức cổ; và ông hầu như chỉ sử dụng nó cho đến khi ngoài 20 tuổi. Điều thú vị là Einstein đã từ bỏ việc sử dụng chữ viết Đức cũ của mình vào chính năm kỳ diệu 1905. Tháng năm năm đó, Einstein đã viết một bức thư bằng chữ Kurrent cho người bạn Conrad Habicht của mình thông báo về bốn bài báo của năm kỳ diệu. Đến tháng 7/1905, ông chuyển sang chữ viết Latinh và không bao giờ sử dụng chữ cũ nữa. Lý do vì sao Einstein đổi kiểu chữ viết? Đầu tiên là tính phổ thông. Thứ hai là vào khoảng năm 1900, khi một cuộc chiến tranh văn hóa làm chao đảo đế chế Đức.      Tại sao tiếng Đức lại có hai chữ viết tay khác nhau? Câu trả lời cần phải quay trở lại thời Trung cổ. Vào khoảng năm 1150 xuất hiện một kiểu chữ mới gọi là “blackletter” (còn gọi là Gothic), biến đổi từ các tập lệnh thông thường khác. Nếu bạn đã từng xem một bản thảo thời Trung cổ thì rất có thể bạn đã xem kiểu chữ “blackletter”. Khi máy in được phát minh vào những năm 1400, những cuốn sách in đầu tiên – bao gồm cả Kinh thánh Gutenberg – được xếp chữ dạng “blackletter” (xem hình 3).    Không phải đến thời kỳ Phục hưng tiền thân của chữ viết tay hiện đại mới xuất hiện. Vào thời điểm đó, các nhà nhân văn như Petrarch (1304–1374) đã bắt đầu quan tâm đến các tác phẩm của người Hy Lạp và La Mã cổ đại. Họ đi khắp các tu viện để tìm kiếm những bản viết tay sớm nhất được biết đến của nhiều văn bản cổ khác nhau. Do tin nhầm rằng những bản thảo được viết vào đầu thời Trung cổ, phản ánh kiểu chữ của La Mã cổ đại, họ đã phát triển một loại chữ viết mới có tên là Antiqua. Vào cuối những năm 1700, các dẫn xuất của Antiqua đã dần thay thế các kiểu chữ “blackletter” ở Anh và phần còn lại của Tây Âu. Bạn đang đọc bài viết hiện tại bằng phông chữ dựa trên Antiqua. (Các loại bản tin dùng chữ “blackletter” vẫn tồn tại trong những trường hợp đặc biệt: Ví dụ: tiêu đề của tờ Thời báo New York vẫn sử dụng các phông chữ như vậy).       Hình 2. Bảng chữ cái tiếng Đức trong hệ Kurrent. Học sinh tại các trường học ở Đức được dạy bảng chữ cái này hoặc tương tự cho đến năm 1941. Ở dưới cùng là các tổ hợp chữ cái bao gồm ch, ck, th, sch và st, rất phổ biến trong tiếng Đức. Nguồn: Trang từ Der Damen-Briefsteller, của Johann Thomas Loth, 1866, với sự cho phép của Andreas Praefcke/Wikimedia Commons/Public Domain.    Ở những vùng nói tiếng Đức hay các nước Bắc Âu và các quốc gia vùng Baltic, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Đức, việc sử dụng kiểu chữ “blackletter” – ở dạng được gọi là Fraktur – vẫn tồn tại trong suốt thế kỷ 19. Ví dụ, hầu hết các tờ báo tiếng Đức đều được in bằng chữ Fraktur cho đến sau Thế chiến thứ hai. Kurrent chính là dạng viết tay của chữ Fraktur.    Nếu coi các chữ cái viết hoa và viết thường là những chữ cái riêng biệt thì sinh viên tiếng Đức phải học cách đọc tám bảng chữ cái khác nhau: kiểu chữ Antiqua chúng ta sử dụng ngày nay, chữ thảo viết tay Latinh, kiểu chữ Fraktur và chữ viết Kurrent.    Einstein và Kurrent     Hầu hết các tài liệu của Einstein được viết bằng chữ thảo Latinh, bao gồm cả bức thư được đấu giá gần đây. Nhưng những thư từ sớm nhất của ông thì viết bằng chữ Đức cổ; và ông hầu như chỉ sử dụng nó cho đến khi ngoài 20 tuổi. Điều thú vị là Einstein đã từ bỏ việc sử dụng chữ viết Đức cũ của mình vào chính năm kỳ diệu 1905. Tháng năm năm đó, Einstein đã viết một bức thư bằng chữ Kurrent cho người bạn của mình Conrad Habicht thông báo về bốn bài báo của năm kỳ diệu. Đến tháng 7/1905, ông chuyển sang chữ viết Latinh và không bao giờ sử dụng chữ cũ nữa.    Lý do vì sao Einstein đổi kiểu chữ viết? Theo những gì được biết thì ông chưa bao giờ nói công khai về quyết định đó, nhưng có thể có hai lý do. Đầu tiên là tính phổ thông. Mặc dù tất cả các nhà khoa học nổi tiếng nước ngoài trong thời đại đó đều có thể đọc được tiếng Đức – vốn là một trong những ngôn ngữ chính của khoa học thời đó cùng với tiếng Anh và tiếng Pháp – nhưng họ vẫn phải vật lộn để đọc các chữ cái viết bằng tiếng Kurrent. Ngay cả những nhà khoa học nói tiếng Đức đã sử dụng Kurrent như Max Planck và Erwin Schrödinger (xem hình 4), cũng sẽ viết thư cho các đồng nghiệp nước ngoài của họ bằng lối chữ thảo Latinh (tất nhiên là vẫn bằng tiếng Đức). Chính vì lý do này mà hầu hết các tạp chí khoa học của Đức được in bằng chữ Antiqua thay vì chữ Fraktur từ giữa thế kỷ 19.      Hình 3. Những dòng đầu tiên của sách Sáng thế kỷ trong bản sao của Kinh thánh Gutenberg do Thư viện Bang Berlin lưu giữ. Kinh thánh Gutenberg được in bằng phông chữ “blackletter”; những ánh sáng phức tạp đã được thêm vào bằng tay sau khi các trang được in. Nguồn: Johannes Gutenberg, quét bởi Jossi, Wikimedia Commons / Public Domain.    Nhưng cũng có thể do một nguyên nhân thứ hai mà Einstein thay đổi kiểu chữ viết. Đó là vào khoảng năm 1900, khi một cuộc chiến tranh văn hóa làm chao đảo đế chế Đức. Các xu hướng tiên phong trên thế giới về nghệ thuật, văn học, âm nhạc và kiến trúc cùng tồn tại trong sự căng thẳng không dễ dàng với tham vọng đế quốc toàn cầu của Đức.    Chữ viết tay và kiểu chữ cũng bị lôi vào cuộc chiến văn hóa. Trong suốt thế kỷ 19, kiểu chữ Antiqua và chữ thảo Latinh dần dần xâm nhập vào giới học thức của Đức (các quốc gia khác sử dụng Fraktur, như các nước Bắc Âu, cũng bắt đầu chuyển sang Antiqua vào cuối thế kỷ 19.) Chẳng hạn, anh em nhà Grimm là những người ủng hộ nổi tiếng về phông chữ Antiqua. Các phông chữ dần trở nên gắn liền với giới trí thức tự do và thường được coi là một tín hiệu cho thấy người viết có tầm nhìn quốc tế hơn.    Có thể đoán được là xu hướng đó đã gây ra phản ứng dữ dội từ những người bảo thủ, đặc biệt là trong số những người ủng hộ các lý thuyết dân tộc chủ nghĩa, tiền thân của chủ nghĩa Quốc xã. “Tranh chấp Antiqua-Fraktur”, như nó đã được biết đến, lên đến đỉnh điểm trong một cuộc tranh luận sôi nổi tại Đế quốc Đức vào ngày 4/5/1911, trong đó đề xuất bắt đầu dạy trẻ nhỏ bằng tiếng Antiqua và chữ thảo La tinh đã nhận được 85 phiếu ủng hộ và 82 phiếu chống. Tuy nhiên, nó đã thất bại vì 397 thành viên không đạt được số tối thiểu. Nói cách khác, phần lớn Nghị sĩ dân biểu của Đức đã chọn cách né tránh câu hỏi. (Tranh chấp Antiqua-Fraktur cũng không phải là một ngoại lệ trong lịch sử; các cuộc chiến tương tự về những cải cách chữ viết tay hoặc kiểu chữ đã xảy ra trong thời kỳ này ở những nơi bây giờ là Thổ Nhĩ Kỳ, Nga và Trung Quốc).      Với tư tưởng hòa bình của Einstein và sự ghê tởm của ông đối với chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc của Đức, có vẻ như rất có thể Einstein đã chuyển sang chữ thảo Latinh vào năm 1905 vì lý do chính trị cũng như thực tế. Mặc dù sống ở Thụy Sĩ vào thời điểm đó nhưng có lẽ ông muốn báo hiệu với các đồng nghiệp nước ngoài rằng ông là người khoan dung, cởi mở với giao tiếp quốc tế và không phải là một người theo chủ nghĩa dân tộc Đức điên cuồng.      Nói chung cũng có những ngoại lệ đối với những người bảo thủ thích Fraktur và Kurrent và những người theo chủ nghĩa tự do ưa thích chữ Antiqua và Latinh. Trước năm 1933, hầu hết các tờ báo tiếng Đức thuộc mọi khuynh hướng chính trị đều được in ở Fraktur. Vì vậy, nhiều bài viết phổ biến trước năm 1933 của Einstein đã được sắp chữ ở Fraktur. Những người lớn tuổi lớn lên cùng Kurrent – bao gồm cả những trí thức lỗi lạc như Planck và Sigmund Freud – thường tiếp tục viết chữ đó.    Nhưng khi đó dù thế nào thì việc chọn một kiểu chữ để viết tay cũng ngày càng trở thành một lựa chọn chính trị. Với tư tưởng hòa bình của Einstein và sự ghê tởm của ông đối với chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc của Đức, có vẻ như rất có thể Einstein đã chuyển sang chữ thảo Latinh vào năm 1905 vì lý do chính trị cũng như thực tế. Mặc dù sống ở Thụy Sĩ vào thời điểm đó nhưng có lẽ ông muốn báo hiệu với các đồng nghiệp nước ngoài rằng ông là người khoan dung, cởi mở với giao tiếp quốc tế và không phải là một người theo chủ nghĩa dân tộc Đức điên cuồng.     Chữ viết tay của Einstein     Sau khi thay đổi kiểu chữ thì chữ viết tay của Einstein vẫn nhất quán đáng kể. Nó rất giống chữ thảo vẫn được dạy ở một số trường học ngày nay.      Hình 4. Một bức thư của Max Planck ngày 11/1/1942. Chữ viết tay bằng Kurrent của Planck, mà ông chỉ sử dụng khi viết cho những người nói tiếng Đức bản ngữ khác, nổi tiếng trong giới sử học vì tính khó đọc của nó. Nhiều nhà khoa học thuộc thế hệ Planck đã sử dụng Kurrent cho đến khi họ qua đời. Nguồn: Max Planck, với sự cung cấp của Galerie Bassenge, Wikimedia Commons / Public Domain.    Một số người Đức vào thời Einstein đã chuyển sang viết bằng hệ thống chữ cái Latinh đã kết hợp các chữ cái kiểu Kurrent hoặc lai ghép vào hệ thống chữ viết Latinh của họ – phổ biến nhất là một dấu chấm nhỏ phía trên chữ u viết thường, trong Kurrent có nghĩa là để phân biệt nó với n và m. Nhưng Einstein đã tách khỏi Kurrent; chữ viết Latinh của ông không có bất kỳ dấu vết nào của chữ viết tiếng Đức cũ trong đó. Ông thậm chí còn ngừng sử dụng eszett (ß), chữ cái đặc biệt của Đức biểu thị sự kết hợp của “s dài” (ſ) và “s ngắn” (chữ viết thường được sử dụng ngày nay). (Chữ “s dài” không phải là duy nhất trong tiếng Đức mà nó được sử dụng trong tiếng Anh cho đến đầu thế kỷ 19, có thể thấy trên các tài liệu viết tay cũ hơn như Tuyên ngôn Độc lập). Hầu hết những người Đức chuyển từ Kurrent sang hệ chữ Latinh vẫn giữ lại eszett trong chữ viết tay của họ, và ngày nay nó vẫn được sử dụng trong tiếng Đức in và viết tay. Vòng lặp bổ sung vui nhộn trên chữ hoa E của Einstein không phải từ Kurrent; đó chỉ là một trong những điều thú vị riêng của mỗi người khiến tất cả chúng ta trở nên khác biệt.    Còn điều gì đã xảy ra với Kurrent và Fraktur? Trớ trêu thay, không phải chiến thắng của Đồng minh vào năm 1945 đã dẫn đến sự triệt tiêu của kiểu chữ này mà là một sắc lệnh của chính Đức Quốc xã. Mặc dù nhiều người Đức Quốc xã coi thường Antiqua nhưng Adolf Hitler thì không. Ông coi chữ Fraktur và Kurrent quá địa phương không xứng với những tầm nhìn cao siêu. Ông lập luận, nếu người Đức là tộc chủ, các dân tộc bị chinh phục sẽ cần phải có khả năng đọc ngôn ngữ của họ – và làm thế nào họ có thể làm được như vậy nếu tiếng Đức được in và viết bằng một thứ chữ khó giải mã như vậy? Trên đỉnh cao quyền lực của mình, vào tháng 1/1941, Hitler ra sắc lệnh loại bỏ Kurrent và Fraktur. Thật phi lý, ông ta tuyên bố rằng các chữ viết này được phát minh bởi người Do Thái. Những nỗ lực sau này nhằm hồi phục chữ Kurrent ở Tây Đức sau chiến tranh đã không đi đến đâu, và Đông Đức cộng sản không quan tâm đến việc phục hồi một kịch bản gắn liền với những người theo chủ nghĩa dân tộc bảo thủ. Ngày nay, hầu hết những người nói tiếng Đức hoàn toàn không thể đọc được kiểu chữ cổ này.□     Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/do/10.1063/PT.6.4.20210826a/full/  * Ryan Dahn là một nhà khoa học lịch sử, nghiên cứu về vật lý thế kỷ 19 và 20 trong các quốc gia nói tiếng Đức.  ————  1. Cách viết chữ liền nét, từ từ này qua từ khác    Author                Ryan Dahn        
__label__tiasang Vệ tinh F-1 lên quỹ đạo      Sáng 21/7, Vệ  tinh F-1 do phòng Nghiên cứu không gian FSpace, Đại học FPT chế tạo, đã được đưa lên vũ trụ trên tàu vận tải HTV-3 bằng tên lửa đẩy  HII-B từ Trung tâm vũ trụ Tanegashima, Nhật Bản.  &#160;      Bà Trịnh Thị Hường, Ban Truyền thông Đại học FPT đã cho biết như trên vào sáng ngày 21/7.  Cùng chuyến đi lên Trạm Vũ Trụ Quốc tế ISS lần này còn có bốn vệ tinh nhỏ khác của Nhật Bản và Mỹ gồm: RAIKO, FITSAT-1, WE WISH và TechEdSat. Các vệ tinh được đặt vào ống phóng J-SSOD trên trên tàu vận tải HTV-3.  Dự kiến sáu ngày sau khi phóng, tàu HTV-3 sẽ tiếp cận và lắp ghép với trạm ISS. Các phi hành gia trên trạm sẽ vận chuyển các vệ tinh nhỏ sang module Kibo. Sau đó, đến khoảng tháng 9, các vệ tinh nhỏ sẽ được đưa vào khoang điều áp (airlock). Phi hành gia người Nhật Akihiko Hoshide sẽ điều khiển cánh tay robot của module Kibo nắm lấy ống phóng có chứa năm vệ tinh đưa ra bên ngoài, hướng xuống phía dưới và thả các vệ tinh nhỏ ra khỏi trạm ISS để bắt đầu nhiệm vụ của mình.  Đây là lần đầu tiên các vệ tinh nhỏ được thả khỏi trạm ISS bằng cánh tay robot, mở ra con đường mới lên quỹ đạo cho các vệ tinh nhỏ.  Trưởng phòng Nghiên cứu không gian Fspace, Viện nghiên cứu Đại học FPT Vũ Trọng Thư, chia sẻ: “Với chúng tôi dự án vệ tinh F-1 chỉ thật sự được coi là thành công khi F-1 được thả ra ngoài không gian trong tháng 9 và thu phát được tín hiệu với trung tâm điều khiển tại trạm mặt đất. Nhưng dù sao lúc này tất cả thành viên FSpace và những người ủng hộ dự án đều cảm thấy rất vui mừng, vì ước mơ, công sức và những nỗ lực của mình trong bốn năm qua đã bước đầu được biến thành hiện thực”.  Vệ tinh nhỏ F-1 có kích thước 10x10x10 cm và nặng 1 kg, do nhóm FSpace bắt tay vào nghiên cứu và chế tạo từ cuối năm 2008, với mục tiêu là phải “sống” được trong không gian và phát tín hiệu về trạm điều khiển mặt đất, chụp được ảnh độ phân giải thấp (640×480) của Trái đất và tốc độ truyền dữ liệu từ vệ tinh đạt 1.200 bit/giây.  Trên thế giới, đặc biệt trong thời gian 10 năm trở lại đây, xu hướng nghiên cứu chế tạo những vệ tinh cỡ nhỏ (dưới 50kg) đang phát triển rất mạnh. Ưu điểm của loại vệ tinh cỡ nhỏ là thời gian chế tạo ngắn, chi phí thấp và càng phát huy năng lực khi sử dụng cả một chùm vệ tinh.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh F-1 sẽ lên quỹ đạo trong tháng 7      Nhóm nghiên cứu FSpace – Viện nghiên cứu Đại  học FPT cho biết, dự kiến vệ tinh F-1 do Fspace chế tạo sẽ được phóng  lên vũ trụ ngày 21/7 từ bãi phóng Tanegashima, Nhật Bản.    Cuối tháng 6, vệ tinh F-1 sẽ được chuyển sang Nhật. Vệ tinh F-1 cùng với 4 vệ tinh nhỏ khác (RAIKO, FITSAT-1, WE WISH và TechEdSat) sẽ được lắp ghép lên tàu vận tải HTV-3 và đặt lên trên tên lửa đẩy HII-B của Cơ quan không gian vũ trụ Nhật Bản JAXA để chuẩn bị phóng.   Nhân dịp này, FSpace dành cơ hội cho mọi người gửi tên và lời nhắn lên vũ trụ trên F-1 qua đường link http://fspace.edu.vn/?page_id=31&lang=vi  Đến nay đã có gần 4.000 người từ nhiều nơi trên thế giới đã tham gia chương trình này và gửi gắm ước mơ, hy vọng của mình bay cùng F-1.   Các thông tin này sẽ được ghi vào một thẻ nhớ microSD và được gắn lên F-1 trước khi gửi đi. Đây là một việc làm có ý nghĩa biểu tượng, với mong muốn đem lại niềm vui, niềm hy vọng vào tương lai cho những người tham gia và truyền tải thông điệp của tuổi trẻ Việt Nam “Không gian vũ trụ không còn quá xa xôi, con người hoàn toàn có khả năng làm được những điều tưởng như không thể nếu có quyết tâm!”.  Hiện tại, công việc đánh giá độ an toàn bay của F-1 sắp kết thúc, nhóm FSpace cùng với đối tác công ty NanoRacks đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn bên phía tên lửa đẩy đưa ra.  F-1 là vệ tinh đầu tiên của FSpace. Mục đích chính của nhiệm vụ này là để xây dựng đội ngũ, nắm bắt và làm chủ công nghệ vũ trụ qua việc thiết kế, chế tạo vệ tinh pico và trạm mặt đất dùng để điều khiển vệ tinh.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh lượng tử của Trung Quốc truyền dữ liệu siêu bảo mật      Thí nghiệm gửi các photon ở trạng thái rối – có thể củng cố việc mã hóa dữ liệu lượng tử – đã được tiến hành ở khoảng cách xa chưa từng thấy.      Một bức ảnh ghép từ tháng 12/2016 cho thấy sự liên kết được thiết lập giữa vệ tinh lượng tử mang tên Mặc Tử và một trạm mặt đất ở cao nguyên Tây Tạng.  Chỉ vài tháng thực hiện nhiệm vụ, vệ tinh truyền thông lượng tử đầu tiên trên thế giới đã đạt được một trong những mục tiêu tham vọng nhất của mình.  Theo công bố trên tạp chí Science của các nhà khoa học Trung Quốc, bằng các hạt photon được chiếu giữa vệ tinh và hai trạm mặt đất ở khoảng cách xa, họ đã chứng tỏ các hạt có thể giữ được trạng thái liên kết lượng tử tại khoảng cách xa tới mức kỷ lục, hơn 1.200 km. Hiện tượng này, hay còn gọi là rối lượng tử, có thể được dùng làm cơ sở xây dựng một mạng lưới truyền thông lượng tử có tính bảo mật cao trong tương lai.  Thành công này là kết quả đầu tiên có được từ nhiệm vụ nghiên cứu mang tên Mặc Tử tại Quantum Experiments at Space Scale (QUESS), Trung Quốc. Được phóng vào tháng 8/2016, vệ tinh này được thiết kế để [có thể] chứng minh những nguyên tắc cơ bản của truyền thông lượng tử. Nhóm nghiên sẽ phóng thêm nhiều vệ tinh lượng tử để bắt đầu xây dựng một mạng lưới [truyền thông lượng tử].   Truyền thông lượng tử có tính bảo mật cao bởi vì bất kỳ can thiệp (vào tín hiệu truyền tải) nào đều có thể bị phát hiện. Hai bên có thể trao đổicác thông điệp mã hóa bằng việc chia sẻ khóa mật mã được mã hóa trong các thuộc tính của các hạt trong trạng thái rối lượng tử; bất kỳ “kẻ trộm” thông tin nào xuất hiện cũng đều “đánh động” vào trạng thái rối và bị phát hiện.       Nhóm nghiên cứu Mặc Tử đã hoàn thành các thí nghiệm nhằm trả lời câu hỏi liệu có thể tạo ra các khóa mật mã nói trên bằng cách sử dụng các photon ở trạng thái rối lượng tử hay không, và thậm chí “viễn tải” thông tin bảo mật giữa trái đất và không gian, Pan Jian Wei, nhà vật lý làm việc tại trường ĐH KH&CN Hồ Bắc, Trung Quốc và là kiến trúc sư chính của hệ thống, cho biết. Tuy nhiên, ông và nhóm nghiên cứu của mình vẫn chưa sẵn sàng thông báo kết quả nghiên cứu này.  Thực nghiệm Bell  Theo lý thuyết, các hạt ở trạng thái rối có thể giữ liên kết sau khi tách ra tại bất kỳ khoảng cách nào (trong không thời gian). Điều này có thể được kiểm tra bằng thí nghiệm Bell cổ điển, một thí nghiệm được thiết kế để trả lời câu hỏi liệu thế giới thực (mà chúng ta đang tồn tại) có thoả mãn điều kiện “hiện thực địa phương” không 1.  Trung tâm của các thí nghiệm của QUESS là chùm tia laser được đặt trên vệ tinh. Với thí nghiệm Bell, chùm tia đã được tách ra để tạo thành các cặp photon cùng chia sẻ một trạng thái lượng tử chung, ví dụ như phân cực của cặp photon. Các hạt photon ở trạng thái rối được đưa vào hai ống kính thiên văn trên vệ tinh và bắn chúng tới các trạm vũ trụ ở hai địa điểm riêng rẽ: một tại Delingha, phía bắc cao nguyên Tây Tạng, và một ở phía nam cách đó 1.203 km, tại đài quan sát Gaomeigu ở Lệ Giang. Một khi các hạt được bắn tới, nhóm nghiên cứu dùng thí nghiệm Bell để kiểm chứng rằng chúng vẫn còn ở trạng thái rối.  Mỗi đêm, các nhà nghiên cứu có khung thời gian ít hơn 5 phút khi vệ tinh, đang ở tại quỹ đạo cao 500km, rơi vào tầm ngắm của hai đài quan sát. Trong khoảng vài tuần tiến hành thí nghiệm, mỗi giây các nhà khoa học có khả năng truyền một cặp photon ở trạng thái rối lượng tử – nhanh hơn 10 lần so với kỳ vọng. Thí nghiệm quan trọng này được hoàn thành vào cuối năm 2016, Pan cho biết: “Chúng tôi rất hạnh phúc khi thấy toàn bộ hệ thống làm việc một cách hoàn hảo”. Trước đây, kỷ lục thuộc về một thí nghiệm với khoảng cách giữa hai điểm quan sát cách nhau 144km.   “Kết quả này là một trong những yếu tố chứng minh có thể thực hiện truyền thông lượng tử tại những khoảng cách giữa các châu lục”, Frédéric Grosshans, nhà vật lý truyền thông lượng tử tại đại học Paris South ở Orsay nhận xét. Các hạt ở trạng thái rối là nhân tố chính của truyền thông lượng tử, ông cho biết thêm.  Vệ tinh thế hệ mới  “Tôi thật sự ấn tượng với kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc”, Wolfgang Tittel, nhà vật lý tại đại học Calgary, Canada, nói, “Với tôi, sau khi vệ tinh được phóng thì việc họ có thành công hay không vẫn chưa rõ ràng”, và liệu họ có muốn dùng kết quả đó cho nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo hay không.  Pan cho biết, ngoài các thí nghiệm về viễn tải lượng tử và khóa lượng tử, nhóm nghiên cứu còn có kế hoạch dùng Mặc Tử để kiểm tra xem  trọng lực ảnh hưởng như thế nào đến trạng thái lượng tử của các hạt photon. Và họ muốn phóng thêm một vệ tinh lượng tử thứ hai, dĩ nhiên được cải tiến, trong vòng hai năm. Thách thức lớn sẽ là nâng cấp công nghệ để có thể gửi và lưu trữ các tín hiệu trong ngày, khi có nhiều hơn các hạt photon và khó khăn hơn để lựa chọn ra những hạt được phóng ra từ vệ tinh.  Lúc này, Pan mới cảm thấy được “minh oan” về thiết kế của chiếc vệ tinh đầu tiên. Các đồng nghiệp của ông từng cho rằng, việc thiết kế ra vệ tinh này quá tham vọng bởi nó phải tạo được ra các photon ở trạng thái rối trong không gian và cần đến hai hệ thống bắn photon.  Một vài dự án tương tự đang trong quá trình lập kế hoạch, như Vệ tinh Khoa học và Mật mã lượng tử Canada (QEYSSat), có cách tiếp cận đơn giản hơn, như tạo ra những hạt photon ở trạng thái rối trên trái đất và truyền chúng lên vệ tinh. Trong nghiên cứu mới được xuất bản trên Quantum Sci. Technol, nhóm nghiên cứu ở QEYSSat đã báo cáo một thí nghiệm thành công dựa trên công nghệ của họ, truyền các hạt photon từ mặt đất lên một máy bay với khoảng cách 10km trên không trung.  Thomas Jennewein, đại học Waterloo – Canada, tham gia nghiên cứu này, cho biết, nhóm nghiên cứu của ông và các nhóm nghiên cứu khác trên toàn thế giới đang chạy đua để bắt kịp nỗ lực của các nhà khoa học Trung Quốc mà theo đánh giá của ông là “những người dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực vệ tinh lượng tử”.  Thanh Nhàn dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Công nghệ nano và năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: http://www.nature.com/news/china-s-quantum-satellite-clears-major-hurdle-on-way-to-ultrasecure-communications-1.22142  ———————————   1. Điều kiện “hiện thực địa phương” này được đưa ra bởi Einstein dựa trên mối quan hệ nhân quả khi vận tốc ánh sáng là hằng số trong mọi hệ quy chiếu quán tính và giả thuyết mọi hạt đều phải có sẵn một giá trị trước khi một phép đo thực nghiệm được tiến hành.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh viễn thám đã sẵn sàng lên quỹ đạo      Sau một thời gian dài chuẩn bị, vệ tinh viễn  thám đầu tiên của Việt Nam có tên VNREDSat-1 dự kiến sẽ được phóng lên  quỹ đạo vào cuối tháng 4.      Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng bởi khi vệ tinh đi vào hoạt động, Việt Nam có thể chủ động cung cấp ảnh vệ tinh độ phân giải cao cho các đơn vị để giám sát tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu…  Tiến sĩ Bùi Trọng Tuyên, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Vũ trụ, Trưởng ban quản lý vệ tinh nhỏ (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã cung cấp thêm một số thông tin xung quanh sự kiện này.    – Thưa ông, vệ tinh viễn thám đầu tiên của Việt Nam được kỳ vọng sẽ phục vụ tốt hơn công tác quan sát tài nguyên thiên nhiên, quản lý môi trường. Xin ông nói rõ hơn về việc này?  TS Bùi Trọng Tuyên: VNREDSat-1 là vệ sinh quan sát trái đất, hay còn gọi là vệ tinh viễn thám đầu tiên, khởi đầu cho hệ thống vệ tinh quan sát trái đất của Việt Nam.   Đây là vệ tinh có thể chụp ảnh những vị trí trên trái đất để phục vụ cho các mục đích như chủ động theo dõi diễn biến của thiên tai, biến đổi khí hậu (đặc biệt là khi xảy ra các sự cố như bão lụt, cháy rừng, tràn dầu…)  Ngoài ra, VNREDSat-1 cung cấp ảnh vệ tinh phân giải cao phục vụ cho việc điều tra, kiểm kê tài nguyên rừng, đất nông nghiệp các loại; chỉnh lý các bản đồ địa hình, xây dựng các bản đồ cấu trúc kiến tạo địa chất phục vụ việc khảo sát thăm dò tìm kiếm khoáng sản; theo dõi sự di chuyển của cá, phục vụ đánh bắt xa bờ…  Cũng cần phải nói rằng, nếu như trước đây để có được các bức ảnh của vệ tinh các cơ quan Việt Nam phải đặt mua về với giá 2.000-5.000 USD/ảnh và mất khoảng 1-2 tháng mới nhận được thì với VNREDSat -1 chúng ta sẽ có được những bức ảnh gần như tức thời tại thời điểm chụp.  – Lộ trình của dự án này được tiến hành ra sao, thưa ông?  Ngày 6/1/2009, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 21, đồng ý giao cho Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thực hiện Dự án “Vệ tinh nhỏ Việt Nam giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai” (VNREDSat-1). Ngoài ra, Thủ tướng cũng thống nhất nội dung báo cáo của Viện, lựa chọn Pháp là nhà cung cấp công nghệ và vốn ODA để thực hiện dự án này.  Ngay sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, phối hợp với các Bộ ngành liên quan-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã khẩn trương triển khai. Tháng 11/2009, chính phủ Pháp và Việt Nam đã ký nghị định thư tài chính, cấp nguồn kinh phí cho dự án.  Dự án này có tổng mức đầu từ từ vốn ODA của Chính phủ Pháp là 55,8 triệu Euro và vốn đối ứng của Việt Nam là 64.820 triệu đồng.  Tiếp theo, chúng tôi đã tiến hành các bước theo quy định để lựa chọn nhà thầu của Pháp thực hiện dự án. Nhà thầu chính thực hiện dự án VNREDSat-1 là EADS Astrium (Pháp) – công ty lớn thứ ba thế giới về sản xuất vệ tinh dân dụng. Thời điểm chính thức bắt đầu thực hiện dự án là từ tháng 1/2011.  Đến nay, quả vệ tinh VNREDSat-1 được chế tạo tại nhà máy của EADS Astrium tại Toulouse (Pháp) đã hoàn thành các công đoạn kiểm tra, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để sẵn sàng đưa đến bãi phóng.  Tại Việt Nam, chúng ta đã triển khai ba trung tâm để điều hành, tiếp nhận và xử lý ảnh vệ tinh VNREDSat-1 gồm Trung tâm điều hành (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); Trung tâm thu phát tín hiệu điều khiển vệ tinh (Khu công nghệ cao Hòa Lạc); Trạm thu ảnh vệ tinh (Bộ Tài nguyên và Môi trường). Hiện tại, các hệ thống lắp đặt ở 3 trung tâm này đã được hoàn thiện và trong tình trạng sẵn sàng tiếp nhận, điều hành và khai thác vệ tinh sau khi phóng thành công.  Về nhân lực, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã cử 15 cán bộ, kỹ sư sang học tập tại Toulouse. Đội này có 2 nhiệm vụ chính là làm chủ quá trình điều khiển, khai thác vệ tinh và bước đầu tiếp cận với các công đoạn trong quá trình thiết kế, chế tạo vệ tinh. Họ được thực tập 1-1,5 năm tùy vị trí và đã hoàn thành xuất sắc đợt đào tạo này.  Ngoài ra, trong khuôn khổ của Dự án, đội kỹ sư (5 người) vận hành hệ thống thu nhận và xử lý tín hiệu ảnh tại Trung tâm Viễn thám Quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cũng đã tham gia một khóa đào tạo ngắn hạn nâng cao tại Pháp.   Về tới Việt Nam, các nhóm kỹ sư này tiếp tục được các chuyên gia của Pháp tập huấn và đến nay hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc điều khiển và vận hành khai thác vệ tinh sau khi phóng thành công lên quỹ đạo.   – Trước VNREDSat-1, Việt Nam đã phóng thành công hai vệ tinh viễn thông là Vinasat 1 và Vinasat 2. Xin ông cho biết điểm khác biệt cơ bản của hai vệ tinh này?   Do mục đích sử dụng khác nhau nên cấu trúc của VNREDSat-1 và Vinasat 1, Vinasat 2 cũng khác nhau để tương thích với nhiệm vụ của nó.   Đặc biệt về quỹ đạo, vệ tinh viễn thông Vinasat 1, Vinasat 2 làm việc ở độ cao khoảng 36.000km cách mặt đất trên quỹ đạo địa tĩnh, tức là có vị trí tương đối không thay đổi so với Việt Nam. Còn vệ tinh viễn thám VNREDSat-1 nằm trên quỹ đạo đồng bộ mặt trời (SSO) cho phép vệ tinh chuyển động toàn cầu và có khả năng chụp ảnh bằng công nghệ quang học tất cả các vùng trên bề mặt trái đất từ độ cao khoảng 663 km. Tuổi thọ của VNREDSat-1 theo thiết kế là 5 năm, thời gian chụp lặp lại tại một vị trí xác định là 3 ngày.  – Khi nào thì VNREDSat-1 được phóng lên quỹ đạo? Từ thời điểm phóng cho đến khi mặt đất thu được tín hiệu vào khoảng bao lâu, thưa ông?  Vào ngày 8/3 tới, VNREDSat-1 sẽ được đưa đến bãi phóng Kourou ở Guyana (Pháp). Dự kiến ngày phóng vệ tinh này sẽ vào khoảng từ 18-20/4 và sau khi phóng khoảng 7 tiếng là có thể tiếp nhận được những tín hiệu đầu tiên.  – Xin cảm ơn ông!         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vén bức màn bí ẩn về người phụ nữ trong bức tiểu họa của Hans Holbein      Bằng chứng mới đây cho thấy bức tiểu họa “Portrait of a Young Woman” của Hans Holbein thực chất mô tả người vợ thứ tư của Vua Henry VIII – Anne xứ Cleves, thay vì vẽ Vương hậu Catherine Howard như lâu nay chúng ta vẫn tưởng.      Bức tiểu họa “Portrait of a Young Woman”. Ảnh: Royal Collection Trust     Hans Holbein (còn gọi là Hans Holbein con), họa sĩ triều đình dưới thời vua Henry VIII và là một trong những họa sĩ chân dung vĩ đại nhất mọi thời đại, đã tạo nên tác phẩm này vào khoảng năm 1540. Bức tiểu họa là một kho báu giá trị trong Bộ sưu tập Hoàng gia, nhưng không ai biết người trong tranh là ai, từ lâu bức họa đã được mô tả là “Chân dung của một quý bà, có lẽ là Catherine Howard” – người vợ thứ năm của vua Henry VIII.      Giờ đây, nhờ một nghiên cứu, người phụ nữ trong tranh đã có một danh tính mới: Anne xứ Cleves, người vợ thứ tư của vua Henry VIII. Nhà sử học nghệ thuật Franny Moyle đã thu thập được bằng chứng cho thấy đây là gương mặt của người phụ nữ quý tộc mà nhà vua đã kết hôn vào năm 1540 để hình thành nên một liên minh chính trị.      Moyle tin rằng Holbein đã để lại một manh mối ‘nhử’ bằng việc gắn bức tiểu họa (màu nước trên giấy da bê) lên trên một lá bài 4 rô (the four of diamonds) – có thể ông muốn ngụ ý rằng đây là vương hậu thứ tư.       Bà cho biết Holbein thường lồng ghép những biểu tượng và hình tượng kỳ lạ vào trong các tác phẩm của mình, và nhiều khả năng ông đã chọn một lá bài mà ông cho là sẽ “khiến một ai đó mỉm cười”. Những bức tiểu họa của ông sẽ được gắn trên một lá bài. Holbein không làm những việc thừa thãi mà không gửi gắm ý nghĩa nào đằng sau nó. Chẳng hạn, ông đặt lá át bích (Ace of Spades) vào mặt sau bức tiểu họa mô tả chân dung Thomas Cromwell, cố vấn chính của Henry VIII, điều này có vẻ khá phù hợp với một người đàn ông thường được mô tả là thẳng thắn, ‘có gì nói đó’ (spade a spade). Chính Eramus là người đã đặt biệt danh đó cho người đàn ông này. Một ví dụ khác là bức chân dung mà Holbein đã vẽ vợ của Ngài Đổng lý Văn phòng, Elizabeth Audley. Bức chân dung này được gắn trên lá Át Cơ (ace of hearts), hàm ý chỉ đây là một cô dâu mới. Vì vậy, bốn viên kim cương được cho là có ý nghĩa quan trọng.”     Manh mối từ ngoại hình và trang sức     Đám cưới giữa Anne và Henry VIII diễn ra vài ngày sau khi bà đến Anh để lần đầu tiên gặp vị hôn phu của mình, nhưng Vua Henry VIII không hài lòng với người vợ này nên cuộc hôn nhân nhanh chóng kết thúc sau sáu tháng, và lúc này ông đã chuyển sự chú ý của mình sang người hầu của Anne, Catherine Howard.     Mọi người thường cho rằng bức tiểu họa có liên quan đến Catherine, một phần vì nó xuất hiện từ năm 1540, cũng là năm bà kết hôn với Vua Henry, và vì người phụ nữ trong bức tranh đeo những món đồ trang sức xa xỉ – có thể sánh ngang với những món trang sức mà Catherine sở hữu. Người phụ nữ dường như đang đeo một mặt dây chuyền từng thuộc về người vợ thứ ba của Henry, Jane Seymour. Tài liệu của Bộ Sưu tập Hoàng gia cũng lưu ý rằng Jane đã lấy những món trang sức của mình làm quà tặng cho những thị tỳ thân tín, và một trong số họ, Mary Bradon – và cũng là người phụ nữ trong một bức vẽ của Holbein ở Thư viện Hoàng gia, Lâu đài Windsor – có một số điểm giống với người phụ nữ trong bức tiểu họa.      Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trang phục của người phụ nữ trong tranh cho thấy bà có địa vị cao. Moyle cho biết: “Khi Henry phế bỏ một người vợ, ông ta có thói quen chuyển đồ đạc của họ cho người kế vị. Vì vậy, nếu cho đây là đồ trang sức của Jane Seymour, thì có thể xác định người trong tranh là Anne xứ Cleves – người kế vị của bà.”     Moyle cho biết khi Anne kết hôn, bà ấy ở độ tuổi từ 25 đến 30 tuổi, trong khi Catherine hãy còn là một thiếu niên. “Bức chân dung này trông không có vẻ là mô tả một cô dâu trẻ con”, bà nói.      Điểm quan trọng, Moyle ấn tượng trước nét tương đồng kỳ lạ của người phụ nữ trong bức tiểu họa với bức chân dung Anne vào năm 1539 cũng của Holbein – hiện nằm trong Bảo tàng Victoria & Albert. Cả hai đều có mí mắt đặc biệt dày và lông mày rậm. “Hai bức vẽ cùng một người phụ nữ. Bà ấy có một biểu cảm mơ màng trong cả hai bức tranh.”     Holbein được cử đến để vẽ Anne lần đầu tiên vào năm 1539, nhằm phác họa vẻ ngoài của một người có thể sẽ là cô dâu mới cho Henry. Ngay lập tức, cuộc hôn nhân của họ gặp trục trặc. Henry chia sẻ với người cố vấn thân cận của mình rằng ông thấy Anne không đủ hấp dẫn. Trong mắt người Anh, trang phục của Anne trong thật khác thường. Lúc bấy giờ, một người đã nhận xét rằng, khi Henry nhìn thấy Anne, “ông ấy tỏ ra không hài lòng với người con gái trong bộ váy kiểu Đức đó.”         Anne xứ Cleves trong bức họa đầu tiên của Holbein. Ảnh: Ảnh cắt từ Wikimedia.      Moyle suy đoán rằng Holbein đã vẽ lại bà ấy một lần nữa ngay sau đó, vì Anne muốn được nhìn thấy bản thân một lần nữa, nhưng trong bộ trang phục hoàn toàn khác, với chiếc mũ trùm đầu của Pháp khi ấy đang là mốt ở Anh. Bộ trang phục trông cởi mở hơn so với vẻ ngoài kín mít của trang phục kiểu Đức. Moyle nhận định: “Vì vậy, tôi nghĩ rằng có một lý do chính đáng cho việc tại sao, vào đầu năm 1540, bà ấy – hoặc cũng có thể là Thomas Cromwell, người rất ủng hộ cuộc hôn nhân – lại đề nghị Holbein vẽ bà ấy một lần nữa, trong bức tiểu họa mà Henry để trong túi, ông ấy có thể thấy một phiên bản Anne hấp dẫn hơn.      Việc xác định người phụ nữ trong tranh là ai khó như thế, là vì không có chân dung nào về Catherine được vẽ vào thời đại đó. Mà giả sử bức tranh ấy có từng tồn tại, thì nó cũng sẽ nhanh chóng bị vứt bỏ, bởi về sau Catherine đã bị xử tử vì tội ngoại tình.      Moyle cho biết: “Catherine được mô tả là ‘trẻ trung và tươi mới’ và có ‘sắc đẹp mê hồn’. Quan niệm về vẻ đẹp phụ thuộc vào mỗi người, thật khó để áp dụng một trong hai mô tả này cho bức tiểu họa. Nhưng theo lời mô tả của một đại sứ Pháp, Anne “có vẻ đẹp vừa phải”.     Bộ Sưu tập Hoàng gia từ chối đưa ra bình luận về nghiên cứu này.     Moyle đã giới thiệu nghiên cứu này trong cuốn sách mới của bà, “The King’s Painter: The Life and Times of Hans Holbein”. Cuốn sách do Head of Zeus xuất bản vào ngày 27/5 vừa qua.      Anh Thư tổng hợp  Nguồn:  How Holbein left clever clue in portrait to identify Henry VIII’s queen    Anne of Cleves – queen of England      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vén bức màn bí ẩn Vườn treo Babylon      Vườn treo Babylon được biết đến như một công trình bí ẩn nhất trong số bảy kỳ quan thế giới. Sau nhiều thế kỷ tranh cãi, giờ đây các nhà khoa học đang đặt ra giả thuyết: Phải chăng Vườn treo này không nằm ở Babylon, mà thực chất nằm ở Nineveh – thành phố cổ cách Babylon 300 dặm?      Bảo tàng Anh ở London hiện đang lưu giữ bức phù điêu từ Nineveh, trong đó mô tả một khu vườn tươi tốt, được chăm bón thường xuyên. Các học giả xem bức phù điêu (đã tô màu) là bức tranh đầy đủ nhất về một khu vườn hoàng gia Assyria. Một số người cho rằng đây chính là phong cảnh của Vườn treo nổi tiếng đã lưu vào sử sách. Nhà vua đứng ở gian trung tâm và chiêm ngưỡng khu vườn lộng lẫy. Ở bên phải, một ống dẫn nước hình vòm dẫn nước chảy đến các kênh khác nhau để tưới cho toàn bộ khu vườn. Cây cối được trồng trên các sườn dốc, tựa như sự đều đặn của những bậc thang, một sự sắp xếp tương đồng với những mô tả trước đó về Vườn treo Babylon. Ảnh: The Trustees of the British Museum  Vào khoảng năm 225 TCN, Philo xứ Byzantium – một nhân vật tài ba người Hy Lạp thông thạo nhiều nghề từ cơ học, vật lý đến văn chương, đã đưa ra một danh sách gồm bảy temata – mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là Bảy kỳ quan của Thế giới Cổ đại: Kim tự tháp ở Giza, Tượng thần Zeus ở Olympia, Đền thờ Artemis ở Ephesus, Lăng mộ ở Halicarnassus, Tượng thần Mặt Trời ở Rhodes, Hải đăng Alexandria, và bí ẩn nhất là Vườn treo Babylon.   Dù sau đó đã có nhiều danh sách kỳ quan được đưa ra theo thị hiếu của thời đại, nhưng lựa chọn của Philo đã trở thành bảy kỳ quan kinh điển, đó là những di tích mà kích thước và kỹ thuật xây dựng nên chúng vẫn còn gây kinh ngạc cho thế hệ sau. Mặc dù hiện nay, chỉ có các Kim tự tháp ở Giza là còn nguyên vẹn, còn năm trong số đó đã biến mất hoặc bị vùi trong đống đổ nát, nhưng chúng ta vẫn có đủ bằng chứng về mặt tư liệu và khảo cổ học để xác định rằng chúng đã từng tồn tại lừng lẫy, chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng hay truyền thuyết.   Tuy nhiên, Vườn treo Babylon, vốn được xem là công trình của Vua Nebuchadnezzar II thời Tân Babylon (trị vì 605- 562 TCN), vẫn là một bí ẩn lớn. Không có văn bản thời Babylon còn tồn tại nào nhắc tới vườn treo, và không có bằng chứng khảo cổ vững chắc nào được tìm thấy tại Babylon. Công cuộc truy tìm khu vườn đã luôn là một nhiệm vụ bất khả, và các nhà khảo cổ học cho đến nay vẫn phân vân không biết những khu vườn như vậy có thể nằm ở đâu tại Babylon, hay chúng có đặc điểm gì đặc biệt. Họ vẫn đang tranh luận về thuật ngữ “treo” – từ này có thể hiểu theo nghĩa nào, khu vườn sẽ trông như thế nào, người ta sẽ tưới chúng ra sao – nói tóm lại, liệu chúng có thực sự tồn tại?       Ghi chép của Sennacherib cũng mô tả chi tiết rằng ông thiết kế khu vườn dựa theo nguyên mẫu núi Amanus – một dãy núi ở cực nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Từ đó, bà cho rằng Vua Nebuchadrezzar II không phải là người xây dựng nên Vườn treo, thậm chí Vườn treo cũng không nằm ở Babylon; mà người xây dựng Vườn treo chính là Sennacherib, và Vườn treo thực tế tọa lạc ở Nineveh.      Những khu vườn bí ẩn  Ngoài Babylon, tất cả các di tích trong danh sách của Philo đều nằm trong hoặc gần khu vực phía Đông Địa Trung Hải – nhưng vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của người Hy Lạp. Duy chỉ có Vườn treo là tách khỏi khu vực đó.  Philo viết, Vườn treo được đặt khéo léo trên một nền đá lớn phủ lớp cọ. Bao phủ trên đó là một lớp đất dày, trồng đủ loại cây trái, hoa thơm, có thể gọi đó là một “công trình trồng trọt lơ lửng trên đầu người xem”.  Theo Philo, ngoài đặc trưng treo lơ lửng, nét kỳ thú của khu vườn còn nằm ở sự đa dạng về thiên nhiên: “Tất cả các loài hoa, bất cứ loài hoa nào rực rỡ và dễ thích nghi nhất đều xuất hiện ở đó.” Hệ thống tưới tiêu cũng là một phần làm nên điều kỳ diệu: “Nước, trong những thùng chứa lớn từ trên cao, chảy đến khắp các ngõ ngách của khu vườn”.   Các nhà sử học còn dựa vào ghi chép của một số học giả cổ, những người đã nhắc đến khu vườn này. Vào thế kỷ thứ nhất TCN, nhà địa lý Strabo và nhà sử học Diodorus Siculus đều mô tả vườn treo như một “kỳ quan”. Diodorus xứ Sicily, một tác giả người Hy Lạp, đã mô tả khu vườn vô cùng chi tiết trong bộ sách Bibliotheca historyca của mình. Cũng như Philo, ông đã trình bày chi tiết một hệ thống “dầm” định hình đầy phức tạp: Chúng bao gồm “một lớp lau sậy trộn nhựa đường. Bên trên lát hai lớp gạch nung, được kết dính bằng xi-măng. Tiếp phía trên phủ lớp chì để độ ẩm của đất không thể thấm xuống tầng dưới.” Theo Diodorus, các lớp này tăng dần từ dưới lên theo từng bậc thang. Các loài cây được trồng dày đặc với kích thước to lớn và sức hấp dẫn lạ thường, có thể mang lại niềm vui cho người xem”, người ta tưới chúng “bằng hệ thống đưa nguồn nước dồi dào từ sông lên”.  Tài liệu cổ xưa nhất  Sau những dòng mô tả của Philo và Diodorus cũng như những tài liệu khác về Babylon và các di tích của nó từ thế kỷ thứ nhất TCN, các nhà sử học tiếp tục truy tìm những nguồn tài liệu cổ nhất của các học giả Hy Lạp sống trong và ngay sau thời trị vì của Alexander Đại đế. Chẳng hạn, Diodorus và Strabo đều mô tả vườn treo dựa trên những ghi chép từ thế kỷ thứ tư TCN của các tác giả như Callisthenes, sử gia trong triều đình Alexander và cháu trai của triết gia Aristotle. Các học giả tin rằng Diodorus đã tham khảo tác phẩm từ cuối thế kỷ thứ tư TCN của Cleitarchus, người viết tiểu sử về Alexander Đại đế, để viết nên những dòng mô tả vườn treo trong bộ sách Bibliotheca historica của mình. Dù tác phẩm của Cleitarchus không còn tồn tại nhưng nó vẫn được nhắc đến qua lời ám chỉ của những tác giả khác. Cuốn tiểu sử là một bản tường thuật đầy màu sắc nếu không muốn nói là có phần ‘ngồi lê đôi mách’ về thời đại của Alexander.      Với bậc thang ngập tràn cây trái, các tác giả cổ đại đã mô tả Vườn treo Babylon như một công trình kỳ vĩ. Đồ họa 3D: Kais Jacob  Berossus, một tư tế người Babylon sống vào đầu thế kỷ thứ ba TCN (ngay sau thời của Cleitarchus và vài thập kỷ trước thời của Philo) đã để lại một nguồn thông tin quan trọng về vườn treo. Theo như những tài liệu trích dẫn lại tác phẩm đã thất lạc của Berossus, có vẻ như ông đã mô tả chi tiết về khu vườn như một công trình vĩ đại truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ trong nhiều thập kỷ sau đó, ông cũng viết về những bậc thang bằng đá cao rợp bóng cây và hoa. Berossus còn kể rằng Vua Nebuchadrezzar II chính là người xây dựng nên vườn treo Babylon nhằm tôn vinh người vợ của ông, Amytis xứ Media, người luôn hoài niệm phong cảnh núi rừng tươi xanh ở quê hương Ba Tư.   Sai sót của các học giả cổ  Nhà sử học người Do Thái gốc La Mã sống vào thế kỷ thứ nhất, Flavius Josephus, đã viết rằng vườn treo nằm trong khu cung điện chính của Babylon. Trong lần khai quật đầu tiên tại tàn tích Babylon, nhóm khai quật đã phát hiện ra một công trình kiến trúc hình vòm vững chãi ở góc đông Bắc của Nam Cung điện.   Nhà sử học Hy Lạp Herodotus – người sống vào thế kỷ thứ năm TCN, chỉ một thế kỷ sau thời của Nebuchadrezzar – không hề nhắc đến khu vườn này khi mô tả Babylon trong Sử ký của ông. Thậm chí, những văn bản cổ xưa từ thời Nebuchadrezzar trị vì cũng không hề đề cập đến một khu vườn trên cao nào trong thành phố.    Nhà khảo cổ học người Đức Robert Koldewey – người phụ trách đoàn khai quật từ năm 1899 đến năm 1917 – tin rằng đây chính là cấu trúc nâng đỡ khu vườn treo nổi tiếng. Công trình được làm bằng đá chạm khắc, có khả năng chống ẩm tốt hơn gạch bùn. Những bức tường cực kỳ dày là đặc điểm lý tưởng để nâng đỡ cấu trúc thượng tầng nặng nề. Ngoài ra, còn có bằng chứng về sự tồn tại của những cái giếng, mà Koldewey cho là một phần của hệ thống tưới tiêu trong khu vườn.   Tuy nhiên, ngày nay, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng công trình có lẽ chỉ là một nhà kho. Các nhà khảo cổ đã khai quật được một số chum, vại lớn tại địa điểm này. Nhưng bằng chứng đáng tin cậy nhất là một phiến đất sét khắc chữ hình nêm có niên đại từ thời Nebuchadrezzar II, ghi chép chi tiết về công việc phân phối dầu mè, ngũ cốc, chà là, gia vị…  Đây là cuộc khai quật nổi tiếng nhất tại Babylon, bởi nó đã xác nhận sự tồn tại của một cấu trúc nền móng kỳ lạ: tháp tam cấp hay còn gọi là tháp bậc thang của Babylon. Một thập kỷ sau, trong lúc nhà khảo cổ học người Anh Leonard Woolley đang khai quật thành phố cổ đại của người Sumer ở ​​phía Đông Nam Babylon, ông nhận ra rằng trên thân gạch của các bệ núi – đài chiêm tinh Ziggurat – có những lỗ hổng đều đặn. Đây có thể là bằng chứng về một loại hệ thống thoát nước hoặc tưới tiêu cho các khu vườn mọc trên cao của các bệ núi? Wolley suy đoán rằng có lẽ hệ thống ở các bệ núi Ziggurat chính là nguyên mẫu để người xưa thiết kế nên hệ thống tưới tiêu trong khu vườn treo ở Babylon. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học phần lớn tán thành với phán đoán trước đó của ông: các lỗ khoan này nhằm mục đích giúp phần gạch khô đều hơn trong quá trình xây dựng.     Trước tình trạng thiếu vắng tài liệu và bằng chứng khảo cổ học, một số chuyên gia đã chọn cách lật ngược lại vấn đề: Có lẽ nào Vườn treo không nằm ở Babylon? Kỳ quan thế giới này biết đâu lại nằm ở một thành phố khác?   Giả thuyết này có thể hợp lý, bởi các nguồn tài liệu Hy Lạp – La Mã nhắc đến Vườn treo thường có xu hướng đan cài yếu tố thần thoại và truyền thuyết vào những câu chuyện lịch sử. Thậm chí, trong quá trình thuật lại lịch sử của các nền văn minh Lưỡng Hà, các tác giả thường nhầm lẫn giữa vương quốc Assyria và thành quốc Babylon cổ đại. Chẳng hạn, Diodorus đặt Nineveh, kinh đô của Đế chế Assyria, bên cạnh dòng sông Euphrates; mặc dù trên thực tế, thành phố này nằm bên bờ sông Tigris.   Trong một đoạn văn khác, Diodorus mô tả các bức tường của Babylon, trên đó khắc họa chi tiết cảnh “Nữ hoàng Semiramis cưỡi trên lưng ngựa, bà đang ném lao vào một con báo; trong khi đó Ninus – chồng bà – đang đâm ngọn giáo của mình vào chú sư tử.” Các nhà khảo cổ không tìm thấy cảnh săn bắt nào như vậy trên các bức tường ở Babylon. Tuy nhiên, cảnh tượng này lại tương ứng với phù điêu săn bắt thời Tân Assyria được khắc trên các bức tường đá của Cung địa phía Bắc ở Nineveh.   Vườn treo Babylon nhưng lại nằm ở Nineveh?  Trong một lần giải mã các chữ viết hình nêm của người Babylon và Assyria, Stephanie Dalley, nhà sử học thuộc Đại học Oxford, chuyên gia về Assyria và Babylon cổ đại, đã phát hiện ra các chuyên gia khảo cổ vào năm 1920 đã dịch sai một dòng chữ Assyrian từ thế kỷ thứ 7, từ đó biến tổng thể đoạn văn thành một mớ “hoàn toàn vô nghĩa”. Bà đã rất ngạc nhiên khi đọc những lời mô tả của vị vua Sennacherib người Assyria (704 – 681 TCN) về một “cung điện vô song” và một “Kỳ quan cho toàn nhân loại”. Theo đó, nhà vua tỏ ra tự hào về việc xây dựng một công trình bề thế: “Ta đã nâng độ cao của khu vực xung quanh cung điện nhằm biến nó thành một Kỳ quan cho toàn nhân loại… Một khu vườn cao mô phỏng theo dãy núi Amanus, nơi đây ta trồng đủ loại hoa thơm trái lạ…”.    Với việc đề cập đến ‘kỳ quan’ và ‘độ cao’, đoạn văn đã nhắc đến những đặc trưng quan trọng của Vườn treo. Cũng giống như những gì các tác giả cổ đại đề cập đến việc vua Babylon tái hiện cảnh quan của Ba Tư, ghi chép của Sennacherib cũng mô tả chi tiết rằng ông thiết kế khu vườn dựa theo nguyên mẫu núi Amanus – một dãy núi ở cực nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Từ đó, bà cho rằng Vua Nebuchadrezzar II không phải là người xây dựng nên Vườn treo, thậm chí Vườn treo cũng không nằm ở Babylon; mà người xây dựng Vườn treo chính là Sennacherib, và Vườn treo thực tế tọa lạc ở Nineveh.  Một bức phù điêu từ thời cháu trai của Sennacherib, Ashurbanipal (668-627 TCN), mô tả những khu vườn trồng cây trái với độ dốc, mà đỉnh dốc là một tòa lâu đài nhỏ. Nước chảy từ ống dẫn, đổ vào những rãnh nước. Nhiều giả thuyết cho rằng khu vườn Ninevah này có thể là Vườn treo còn bởi Sennacherib vốn nổi tiếng là người sáng tạo. Ông tự nhận mình là người “thông minh hiểu biết.” Những tài liệu cổ về triều đại của ông cũng ghi chép về các hệ thống tưới tiêu đầy kỹ thuật, bản thân ông cũng mô tả sự kỳ diệu của máy bơm trục vít – được tạo nên bằng phương pháp đúc đồng mới – và có trước khi Archimedes phát minh ra vít khoảng bốn thế kỷ. Dalley cho biết đây là một phần của hệ thống phức tạp bao gồm các kênh mương, đập và cống dẫn nước để đưa nước từ dòng suối trên núi cách đó 50 nặm đến thành của Nineveh và khu vườn treo. Nội dung trên phiến đá hình lăng trụ ghi lại rằng hệ thống này rút nước lên “cả ngày”.   Những nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy một hệ thống dẫn nước dưới triều đại của ông, được xây dựng từ hai triệu khối đá, dẫn nước qua thung lũng Jerwan đến thành phố. Đặc biệt, trên hệ thống có khắc những dòng văn: “Vị vua Sennacherib của thế giới … Bất chấp một khoảng cách rất xa, ta đã có được nguồn nước chảy thẳng đến các khu vực của Nineveh…”.   Hệ thống dẫn nước qua thung lũng Jerwan tình cờ thay cũng nằm trên tuyến đường dẫn đến trận quyết chiến tại Gaugamela giữa Alexander Đại đế với người Ba Tư vào năm 331 TCN. Dalley lập luận rằng rất có thể Alexander đã nhìn thấy ống dẫn nước khi đi qua Nineveh. Những thắc mắc của ông về hệ thống nước tinh vi và những khu vườn của thành phố đó đã gieo nên câu chuyện về Vườn treo, khiến giới học thuật nhầm lẫn về sau, và rồi tiếp tục gán ghép sai lệch Vườn treo này với Babylon.   Nếu giả thuyết này đúng, nó sẽ giải quyết được một bí ẩn lớn trong khảo cổ, và lúc đấy sẽ chẳng còn mấy ai nghi ngờ rằng Vườn treo Nineveh có thật sự là một kỳ quan hay không. □    Anh Thư dịch  https://www.nationalgeographic.com/history/magazine/2020/07-08/know-where-7-wonders-ancient-world-except-one-hanging-gardens-babylon/  https://www.theguardian.com/science/2013/may/05/babylon-hanging-garden-wonder-nineveh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi cầu phóng xạ Y-90: Ước mơ của những người làm hạt nhân      Tạo ra một chu trình trọn vẹn nghiên cứu, sản xuất dược chất phóng xạ, đồng vị phóng xạ và đảm bảo các dược chất phóng xạ ấy được đưa vào và tạo ra phân bố liều một cách vừa đủ trong cơ thể người bệnh là một việc rất nhiều khó khăn, nhất là khi còn hạn chế về nguồn lực, nhưng VINATOM đã chấp nhận thách thức chỉ để mong góp phần cứu chữa những người mắc ung thư gan ở Việt Nam bằng vi cầu phóng xạ Y-90.      Các nghiên cứu viên thao tác sản xuất hạt vi cầu Y-90 điều trị ung thư gan nguyên phát và thứ phát. Nguồn: VINATOM  Phải rất tham vọng mới tính đến việc làm trọn vẹn cả quy trình ấy.   Quá nhiều tham vọng ở một chu trình như vậy ư? “Dĩ nhiên rồi, ngay cả việc phát triển một công cụ chuẩn có khả năng tính toán được phân bố liều chính xác cho từng người bệnh trong trường hợp này cũng là điều từ trước đến nay chưa hãng nào làm trọn vẹn”, TS. Phan Việt Cương (VINAGAMMA, VINATOM), nói.  Dù tiên lượng được tất cả những điều đó nhưng từ ba năm nay, không hẹn mà gặp, các nhà vật lý hạt nhân và hóa học phóng xạ tại các cơ sở nghiên cứu khác nhau của VINATOM đã nhập cuộc. Khuyến khích họ nhiều nhất có lẽ là những người thực hành lâm sàng. “Tôi đi học kỹ thuật điều trị ung thư gan bằng vi cầu phóng xạ ở nước ngoài vào năm 2006 nhưng mãi đến năm 2013 mới chính thức áp dụng được tại Việt Nam trên thuốc nhập của Úc. Tiếc là với giá thuốc hiện nay thì chỉ có những người giàu mới có thể điều trị được…”, câu chia sẻ của giáo sư Mai Trọng Khoa (Bệnh viện Bạch Mai) hàm ý đến thực trạng của căn bệnh ung thư có tỉ lệ mắc cao nhất ở Việt Nam: năm 2020, có hơn 26.000 ca mắc mới và trên 25.000 ca tử vong.     Đó là lý do vì sao các nhà nghiên cứu ở VINATOM lại cố gắng làm được điều có ý nghĩa trọn vẹn này.  Khởi điểm của một ước mơ  Ở Việt Nam, lâu nay người ta vẫn thường gán cho nhiều nhà khoa học ở các trường, viện là “sống trong tháp ngà”, chỉ quan tâm đến thế giới riêng của mình mà không biết đến thế giới bên ngoài. Sự lầm tưởng này khiến cho trong ánh mắt của nhiều người, các nhà khoa học vẫn thường làm ra những sản phẩm chẳng liên quan mấy đến đời sống xã hội, hoặc nếu có thì cũng khó sử dụng trong thực tế.  Sự thiên lệch như thế không làm suy suyển ước mơ của những người trong cuộc. “Nhiều năm trước đây, anh Khoa có đặt vấn đề với tôi về một số sản phẩm đặc thù có thể điều trị được các loại bệnh hiểm nghèo, ví dụ như ung thư gan, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt… hoặc một số ung thư khác đang phổ biến ở Việt Nam”, ThS. Dương Văn Đông (Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt) cho biết như vậy về nguyên nhân khiến anh nung nấu muốn làm ra các dược chất phóng xạ mới, đặc biệt là loại điều trị ung thư gan.   Không dễ làm được điều này. Hiện tại trên thế giới, chỉ có hai hãng sản xuất và phân phối các hạt vi cầu Y-90 điều trị ung thư gan nguyên phát là SIR-Spheres® của hãng Sirtex Medical (Úc) và Thera Spheres® của hãng MDS Nordion (Canada). Tưởng chừng kỹ thuật tạo ra hạt vi cầu mang phóng xạ Y-90 đã có từ lâu và những nơi có hội tụ đủ nguồn lực kinh tế và nhân lực là có thể triển khai nhưng thực tế lại ẩn chứa nhiều vấn đề hơn người ta tưởng. “Tôi đã tự hỏi mình cách đây nhiều năm những câu hỏi vì sao có kỹ thuật rồi, quy trình biết cả rồi mà việc nghiên cứu và sản xuất dược chất này lại không quá phổ biến? Khi bắt tay vào làm mới thấy phải mày mò và tỉ mỉ rất nhiều thứ thì mới có thể ra được”, ThS. Dương Văn Đông nói.     Khảo sát trước khi đưa sản phẩm vào hệ gia nhiệt.Nguồn:VINATOM  Dù không phải là người làm về hóa học phóng xạ nhưng TS. Phan Việt Cương cũng thừa nhận “Anh Đông thực sự rất tham vọng khi đề xuất đề tài này”. Sự “liều lĩnh” của ThS. Dương Văn Đông cũng khiến TS. Phan Sơn Hải, khi đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, phải ngần ngại góp ý “Đông xem thử tính khả thi của đề tài nó đến đâu, nếu khó quá thì có thể mình dừng giữa chừng chứ không nhất thiết phải theo cho đến cùng”.   Là người dám đứng mũi chịu sào đề tài “Nghiên cứu điều chế dược chất vi cầu phóng xạ (Y-90 microspheres) tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt nhằm ứng dụng điều trị ung thư gan nguyên phát và thứ phát” (KC.05-16/25), ThS. Dương Văn Đông biết những khó khăn trên đường đến đích. “Tôi biết tôi có phần liều lĩnh nhưng nếu như không thành công thì cũng có được một vài bài học bởi đã làm nghiên cứu không phải lúc nào cũng 100% thành công được, do đó tôi cứ mạnh dạn làm”. Mặt khác, một số điều kiện thuận lợi trong nghiên cứu và sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ mấy năm gần đây khiến anh cảm thấy tự tin hơn.   Ban đầu, ThS. Dương Văn Đông đề xuất ba loại hạt khác nhau mang Y-90 là loại dạng hạt nhựa, dạng hạt gel, và dạng hạt thủy tinh. Sau khi tìm hiểu phương pháp điều chế, anh nhận ra hạt vi cầu thủy tinh Y-90 được chiếu neutron nhiệt hết sức phù hợp với lò phản ứng có công suất thấp như ở Đà Lạt trong khi dạng hạt nhựa không cần lò phản ứng còn dạng gel lại không bền, dễ bị biến dạng khi chiếu xạ. Ồ, hạt thủy tinh sẽ là chất mang phóng xạ ư, ý tưởng thật lạ lùng? “Đúng vậy, nó không phải là một hạt thủy tinh bình thường mà là thủy tinh đặc biệt, đảm bảo tương thích sinh học với cơ thể người, không gây ảnh hưởng đến các nội quan chứa nó hoặc không bị cơ thể đào thải”, anh giải thích.  Trong trường hợp này, cái khó không phải là công đoạn chiếu xạ – bởi ở Đà Lạt, các kỹ thuật trên lò phản ứng đã trở thành kỹ thuật thường quy – mà chính là việc tạo ra hạt vi cầu thủy tinh đạt tiêu chuẩn từ ô xít silic, ô xít nhôm siêu tinh khiết và Y-89. “Chế tạo một hạt cầu thủy tinh ở kích cỡ micro không dễ vì chỉ cần sai khác phần mười micro là bề mặt của nó đã không nhẵn rồi”, TS. Nguyễn Trần Thuật, nhà khoa học vật liệu ở ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), nhận xét.   Đó là lý do vì sao công đoạn làm cho ra một hạt vi cầu thủy tinh lại tốn nhiều thời gian và công sức. Hiện tại, để tạo ra một vi cầu thủy tinh hoàn hảo, người ta dùng duy nhất công nghệ plasma, tức là phun trực tiếp thủy tinh lên trên ngọn lửa plasma trong điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Đây là lý do khiến SIR-Spheres® và Thera Spheres® giá thành cao tới 400-500 triệu/liều. “Mình không thể nhập cả một thiết bị như thế bởi kinh phí của mình không cho phép, còn nếu cho phép thì giá thành sản phẩm sẽ bị đội lên, dẫn đến kết quả làm ra không còn mấy ý nghĩa”, suy nghĩ này khiến anh và cộng sự phải đi tìm cách khác.  Cách khác ở đây là họ mày mò tìm hiểu và đặt từ nước ngoài một hệ gia nhiệt cùng một số phụ kiện khác để có thể làm tròn và nhẵn vi cầu thủy tinh đường kính nhỏ hơn 32 μm bằng cách phun qua lửa khí có nhiệt độ khoảng 3.000 đến 3.5000C. “Tất cả các thông số trong quá trình chế tạo vi cầu, làm tinh sạch nó rồi đưa vào lò chiếu với thông lượng, thời gian, vị trí chiếu xạ, làm nguội… đều được tính toán tỉ mỉ trước. Việc này do một tiến sĩ trẻ mới ở Nga về là Phạm Thành Minh đảm trách. Tất nhiên, mô phỏng theo chương trình tối ưu của máy tính mới chỉ là lý thuyết thôi còn đưa ra thực tế thì nó khác nhiều lắm. Vì thế, mình cứ phải khảo sát, điều chỉnh liên tục để tìm ra thông số chuẩn”, ThS. Dương Văn Đông kể lại.   Rút cục, hạt vi cầu thủy tinh Y-90 của họ đã “qua cổng” các bước kiểm tra hình thái, kích thước, độ tinh khiết hóa học, tinh khiết phóng xạ, vô khuẩn, độc tố kim loại nặng… trên các thiết bị tiêu chuẩn như kính hiển vi điện tử quét SEM, phổ kế gamma… cũng như đối chiếu tiêu chuẩn trên Dược điển Anh 2016. Bước đầu thử nghiệm tiền lâm sàng, sản phẩm làm giảm 20% kích thước khối u trên chuột.  Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần của một giải pháp trọn vẹn…   Xác định sự phân bố liều phóng xạ   Người tiếp nối giải pháp này, tình cờ, lại là một nhà nghiên cứu khác của VINATOM nhưng sống và làm việc tại Đà Nẵng, TS. Phan Việt Cương. Với đề tài thực hiện cùng thời điểm và độc lập với đồng nghiệp của mình, anh muốn giải quyết việc tính toán phân bố liều ba chiều cho bệnh nhân ung thư gan được chỉ định điều trị sử dụng hạt vi cầu Y-90 thông qua đề tài “Phát triển phần mềm tính toán phân bố liều 3D phục vụ nghiên cứu và điều trị ung thư gan sử dụng hạt vi cầu gắn đồng vị phóng xạ Y-90” (ĐTCB.12/19/TTNCTK). “Ý tưởng của tôi xuất phát từ việc tham gia một số seminar cùng anh em đồng nghiệp ở Bệnh viện 108. Thấy họ chỉ định hoạt độ dược chất phóng xạ có vẻ chưa thật sự chính xác khi dùng một phương pháp cực kỳ đơn giản là khoanh vùng tổn thương bằng tay, sau đó tính hoạt độ đồng vị phóng xạ Y-90 cần đưa vào cơ thể bệnh nhân bằng một công thức bán thực nghiệm, tôi suy nghĩ là cần phải tìm cách khác, tối ưu về mặt định lượng liệu để thay thế”, anh cho biết.    Hiện tại sản phẩm dược chất phóng xạ và đồng vị phóng xạ từ lò phản ứng Đà Lạt hết sức hạn chế về chủng loại và số lượng. Nguồn; VINATOM  Tính toán mô phỏng phân bố liều tích lũy trong cơ thể là một bài toán khó. Thông thường, người ta phải ước lượng được liều hấp thụ của các khối u đích, tính được quá trình mất năng lượng của bức xạ phát ra từ dược chất theo thời gian để chỉ định đúng lượng cần thiết, đủ để không tác động đến các mô lành xung quanh. Trên thực tế, việc này rất phức tạp vì chất phóng xạ phải trải qua một quá trình trao đổi chất phức tạp trong cơ thể người, quá trình này có thể dẫn đến việc giải phóng đồng vị phóng xạ cũng như chất trao đổi và bị đảo thải qua một số con đường khác nhau, TS. Phan Việt Cương giải thích.   Việc tìm hiểu cái mới bao giờ cũng hết sức thú vị bởi đây là lần đầu tiên, một người quen làm thực nghiệm trên máy gia tốc và nếu có mô phỏng tính toán thì cũng thường là quá trình mất năng lượng hay độ đâm xuyên của bức xạ qua các lớp vật chất vô cơ, lại làm việc với hiệu ứng mất năng lượng vi mô trên cơ thể người. Tuy nhiên, anh có thể mường tượng ra những gì mình sẽ tác động đến, nếu thành công: “Mô phỏng của tôi sẽ giúp hạt vi cầu của anh Đông phát huy tác dụng tốt hơn trong cơ thể, đồng thời cũng giúp tối ưu việc định lượng phóng xạ trong quá trình sản xuất”..  Những gì cần giải quyết trên con đường phát triển một mô hình tính toán tối ưu như vậy thật thách thức, dù anh sử dụng mô phỏng Monte Carlo, một phương pháp mô phỏng quen thuộc của các nhà vật lý. Trong trường hợp này, hình ảnh chụp SPECT/CT của bệnh nhân là thông tin đầu vào cho mô phỏng, trong đó ảnh SPECT cho thấy hình ảnh phân bố phóng xạ và ảnh CT cho thấy cấu trúc giải phẫu. “Việc mô phỏng phân bố liều cho từng bệnh nhân chính là tính toán phân bố độ mất năng lượng của electron khi di chuyển trong cơ thể và tương tác với môi trường thông qua quá trình ion hóa,… Khó khăn lớn nhất ở đây là sự phân bố này không đồng đều bởi ảnh hưởng của bức xạ ở từng vùng khác nhau thì khác nhau, ví dụ như bức xạ tác động lên như khối u phải đủ để tiêu diệt nó nhưng không ảnh hưởng đến mô lành hay vùng xung quanh. Nhờ vậy mới tối ưu được quá trình điều trị”.  Là người quen sử dụng phương pháp Monte Carlo, TS. Phan Việt Cương hiểu những ưu nhược điểm của nó, vốn là lớp các thuật toán dựa trên việc gieo số ngẫu nhiên được sử dụng để mô phỏng các hiện tượng vật lý. “Monte Carlo là tiêu chuẩn vàng khi cho phép mình mô phỏng các quá trình vật lý có thể xảy ra, theo từng sự kiện một. Quá trình vật lý xảy ra ở đâu thì hạt mất năng lượng ở đó, rất tinh tế nhưng thời gian tính toán lại quá chậm”, anh giải thích và cho biết thêm, các hãng trên thế giới thường sử dụng các phần mềm khác để giảm thời gian tính toán xuống.   Cũng như ThS. Dương Văn Đông, TS. Phan Việt Cương cũng có nhiều tham vọng cho đề tài này, mặc dù mục tiêu chỉ là “thiết kế một phần mềm đơn giản là đọc hình ảnh vào và sau đó có thể tính được liều 3 D dựa vào phân bố của hoạt độ phóng xạ Y-90, người dùng không nhất thiết phải quá hiểu biết về phần mềm y học hạt nhân nhưng cũng có thể sử dụng được”. Qua quá trình tìm hiểu, anh thấy ngay cả các hãng cũng đi tìm một phần mềm như vậy mà chưa thành công. Giống như câu chuyện về đòn bẩy Archimedes lợi về lực nhưng lại thiệt về đường đi, thật khó để quy tụ cả hai yếu tố chính xác và giảm thời gian trong cùng một mô hình.  Trên con đường độc lập phát triển phần mềm phân bố liều ba chiều, anh đã gặp một số đồng nghiệp Nhật Bản. “Ngay các bệnh viện ở Nhật Bản cũng phải mua máy xạ trị, máy chụp cắt lớp và phần mềm thương mại của các hãng quốc tế nên họ cũng muốn tự phát triển phần mềm. Hiện tại họ song song sử dụng mô phỏng Monte Carlo để đánh giá lại phần mềm thương mại và mong muốn một ngày nào đó có thể thay thế bằng phần mềm của mình”, anh nói. Đây là điều khiến anh cảm thấy mình đã đi đúng đường.  Trên cơ sở kế thừa những nền tảng mà các nhà khoa học quốc tế thường sử dụng, anh và cộng sự đã phát triển phần mềm tính toán phân bố liều từ ảnh DICOM SPECT-CT, trong đó, thiết kế và tích hợp công cụ mã nguồn mở ITK (Insight Toolkit) và phát triển giao diện DICOM để giúp cho việc đọc ảnh dễ dàng và thuận tiện hơn. Bên cạnh đó, phát triển cả các mô đun hỗ trợ xử lý ảnh nâng cao như lọc nhiễu, phân mảnh ảnh… “Mỗi module sẽ đảm trách một nhiệm vụ, ví dụ việc phân mảnh ảnh sẽ giúp đơn giản hóa và thay đổi sự hiện diện các điểm ảnh rời rạc trong một hình ảnh thành các đối tượng khác dễ phân tích hơn. Điều này rất quan trọng vì trong ung thư gan, rất khó xác định được đường biên giữa khối u và các mô lành trong khi phát hiện biên giúp tìm ra vị trí chính xác khối u để điều trị đích”, TS. Phan Việt Cương cho biết.   Nghĩ về một ngày mai  Những ý tưởng nối tiếp như thế đã gặp nhau ở đích đến, đó là đưa ra một giải pháp tối ưu trên nhiều phương diện cho các bác sĩ ở các khoa ung bướu có thể chủ động điều trị cho bệnh nhân. “Nói thật là tôi mừng lắm, vì mình bắt đầu có cơ hội chủ động sản xuất. Trong điều trị ung thư gan hiện nay, gần như không thể có gì thay thế được hạt vi cầu vì chưa có giải pháp thứ hai và tái phát vẫn dùng được. Nhưng nếu tôi mừng một thì người bệnh mừng mười…”, giáo sư Mai Trọng Khoa nói như vậy bên lề lễ tổng kết Chương trình KC.05/16-20.   Trong 7 – 8 năm qua, tại Bệnh viện Bạch Mai, ê kíp của ông đã điều trị cho hơn 100 bệnh nhân bằng vi cầu phóng xạ, giờ vẫn còn mạnh khỏe. Lẽ ra, con số này đã có thể tăng lên, nếu giá thành của một liều điều trị không phải là 500 triệu đồng. Nhưng nếu dùng sản phẩm nội thì con số này có thể giảm xuống chưa đến 200 triệu đồng/liều, bao gồm cả chi phí nằm viện, theo tính toán của ThS. Dương Văn Đông.  Những người ở VINATOM đang dần mường tượng ra một tương lai, khi các giải pháp của mình được đánh giá, thậm chí có thể chỉnh sửa cho hoàn thiện hơn, để được chấp nhận cấp phép sử dụng. Nhưng đấy cũng chỉ là một trong số nhiều thứ họ nghĩ mình có thể làm được. Với ThS. Dương Văn Đông, một người thuần túy chỉ nghĩ đến việc làm sao có thật nhiều dược chất và đồng vị phóng xạ để đáp ứng nhu cầu chữa trị, mong đến ngày dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia (CNST) thành hiện thực. “Lò Đà Lạt 500 KW của mình là lò phản ứng nghiên cứu công suất nhỏ nhất thế giới, hệ quả kéo theo rất nhiều. Vì thông lượng neutron thấp thì buộc lòng phải vận hành lò nhiều ngày để chế tạo dược chất và đồng vị phóng xạ. Mình chạy 100 giờ mới tạo ra được 2 curie trong khi các lò công suất lớn chạy ngần ấy giờ là sản xuất được 100 curie. Nếu bây giờ làm vi cầu phóng xạ cho 5, 7 bệnh nhân thôi chẳng hạn, lò khác chiếu xạ trong vòng một, hai ngày là có ngay, còn mình phải chiếu xạ vài tuần”, anh nói. Bất cập không chỉ có vậy. “Nếu muốn hoạt độ phóng xạ cao lên để tạo ra nhiều dược chất thì phải đưa vào nhiều bia mà làm như vậy xong, bã thải phóng xạ nó nhiều và kéo theo nhiều bài toán cần phải xử lý khác”.   Nhưng điều mà anh ao ước là cái lò mới 10 MW có thể đem lại là cơ hội cung cấp đa dạng các loại dược chất phóng xạ, có thể tới 200 loại như thế giới đang có. “Về nguyên tắc, chúng tôi có thể sản xuất nhiều loại nhưng để cho nó có ý nghĩa thì phải sản xuất với số lượng nhiều, bởi cái lò mình nhỏ nên chỗ chiếu xạ nó cũng không đủ. Hiện nay sản phẩm của Đà Lạt chỉ còn có hai loại chính là đồng vị I-131 và P-32, còn đồng vị khác coi như để ngỏ, nếu ai có nhu cầu sẽ làm nhưng phải mất nhiều thời gian”, anh tiếc nuối.  Những kế hoạch như vậy còn được bồi đắp cho hoàn hảo bởi những mô hình tính toán mới mà TS. Phan Việt Cương đang ấp ủ: “Trong quá trình làm, có quá nhiều câu hỏi đặt ra như tính toán liều toàn thân cho bệnh nhân như thế nào? người chụp ảnh PET thì chịu liều là bao nhiêu? tiên lượng sau bao nhiêu ngày có thể xuất viện được? Có cách nào trả lời được những câu hỏi đó? Hiện nay thông tin rất mơ hồ trong khi mô phỏng tính toán có thể hỗ trợ khi cho mình biết rõ quá trình đào thải thuốc khỏi cơ thể”. Dĩ nhiên, đây là cả một vấn đề mà một nhóm nghiên cứu nhỏ với nguồn nhân lực hiện còn thiếu hụt như nhóm của anh chưa thể ngay một lúc làm được, “nhưng mình phải có mơ ước như thế, mà mình hoàn toàn có thể làm được những việc như thế nếu có đủ nhân lực và thời gian nghiên cứu. Không có lý gì khi mua một cái máy chẩn đoán hình ảnh, mua một máy xạ trị lại phải mua luôn thêm một phần mềm như thế của nước ngoài”.   Mơ ước của họ dĩ nhiên đồng điệu với suy nghĩ của những người ngành y. “Tôi nói thật, lò phản ứng Đà Lạt có chạy hết công suất cũng không đáp ứng được nhu cầu hiện nay đâu. Chúng tôi cần nhiều sản phẩm lắm, bởi có sản phẩm mới thì mới phát triển được kỹ thuật. Ví dụ khi chúng ta sản xuất được vi cầu thủy tinh Y-90 thì không chỉ ở Bạch Mai và Bệnh viện 108 mà tất cả các bệnh viện trên toàn quốc đều có thể nhận điều trị ung thư gan bằng phương pháp tắc mạch phóng xạ chọn lọc”, giáo sư Mai Trọng Khoa nói.  Thành hình từ ngày hôm nay, những ước mơ như thế đang chờ được kích hoạt trên lò phản ứng nghiên cứu mới.  □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vi khuẩn ăn nhựa có thể hỗ trợ các nỗ lực tái chế toàn cầu      Vi khuẩn từng chứng tỏ khả năng làm phân rã và đồng hóa nhựa và trở thành một hướng nghiên cứu mới kể từ năm 2016. Hiện tại, một nhóm nghiên cứu ở trường đại học Manchester đã tạo ra một đột phát về công nghệ sinh học có thể giúp con người sử dụng các tế bào vi khuẩn đã được chỉnh sửa để giảm thiểu rác thải nhựa.      Nhựa PET đã bị coi là một mối lo do số lượng nhựa được sử dụng trên toàn cầu không ngừng tăng lên và tác động của nó thông qua việc các loại chai nước, túi gói đồ sau đó không được tái chế làm ô nhiễm môi trường.  Một phần của lo ngại này là vô cùng khó phá vỡ được cấu trúc hóa học của nó, vốn được làm từ các monomer – các phân tử nhỏ được liên kết với nhau để hình thành các polymer. Để giải quyết vấn đề này, đã có nhiều nghiên cứu về khả năng của vi khuẩn trong việc phân hủy nhựa PET thành các monomer thành phần. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều giới hạn trong nghiên cứu về năng lực của các vi khuẩn trong việc nhận biết và hấp thụ những monomer phản hồi đó vào trong tế bào của chúng.  Trong nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Nature Communications “Structural basis of terephthalate recognition by solute binding protein TphC”, các nhà nghiên cứu từ Viện Công nghệ sinh học Manchester đã nghiên cứu về tiềm năng ghi nhận một protein chính tham gia vào việc hấp thụ tế bào của monomer terephthalate (TPA), bằng protein liên kết chất tan TphC 1.  Việc sử dụng nhựa được cho là sẽ tăng gấp ba vào năm 2050 và thường đều là nhựa dùng một lần. Bất chấp những nỗ lực tái chế của ngành công nghiệp và tại gia, vẫn còn tồn tại một vấn đề mang tính hệ thống về nhựa dùng một lần, tuy nhiên không ai phủ nhận đây là một cơ hội thương mại. Bởi việc phát triển nhựa có khả năng phân hủy bằng vi sinh có thể là vấn đề chủ yếu để giải quyết vấn đề toàn cầu này.  Nhóm nghiên cứu ở Manchester đã sử dụng các kỹ thuật sinh hóa và cấu trúc để xác định các hợp chất, TPA được ghi nhận bằng TphC. Tiến sĩ Neil Dixon, tác giả đầu của nghiên cứu cho biết “Hiểu về cách vi khuẩn nhận biết và phân hủy xenobiotic là điều quan trọng về cả sinh thái lẫn công nghệ sinh học. Nếu hiểu ở cấp độ phân tử cách các sản phẩm phân hủy nhựa được xâm nhập vào trong các tế bào vi khuẩn có nghĩa là chúng ta có thể dùng các chất vận chuyển này trong các tế bào được thiết kế cho các ứng dụng xử lý sinh học để giải quyết các vấn đề gây lo ngại cho môi trường”.  Sử dụng các kỹ thuật cho phép nhóm nghiên cứu hình dung ra TphC ở cả việc phù hợp mở và đóng liên kết TPA, sau đó sư dụng cách tiếp cận khai phá hệ gene để khám phá các protein vận chuyển homologous và cả các enzyme tham gia trong quá trình phá hủy và đồng hóa TPA.  Các phần khai phá hệ gene đó đem lại một nguồn gene cho các nỗ lực kỹ thuật công nghệ sinh học và chuyển hóa trong tương lai, hướng đến các giải pháp kinh tế sinh học nhựa tuần hoàn. Có nhiều quan tâm về tiềm năng sử dụng các enzyme và vi sinh vật được thiết kế để phân hủy và đồng hóa nhựa.  Các phát hiện mới này hiện tại hỗ trợ cho việc phát triển các tế bào vi khuẩn được thiết kế cho việc tái chế rác thải nhựa dựa trên phân hủy sinh học.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-plastic-eating-bacteria-aid-global-recycling.html  https://www.manchester.ac.uk/discover/news/plastic-eating-bacteria-could-help-aid-global-recycling-efforts/  ———————–  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-26508-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn cảm ứng ánh sáng tạo ra bức tiểu họa Mona Lisa      Các nhà nghiên cứu đã làm biến đổi các con vi khuẩn và đưa chúng thành bản sao kiệt tác Mona Lisa của họa sỹ da Vinci hay làm ra những chân dung giống hệt Albert Einstein, Charles Darwin thông qua kỹ xảo morphing.      Những khối kết vi khuẩn chuyển động chậm đã hình thành nên các vùng tối hơn của bức chân dung, trong khi những vi khuẩn chuyển động nhanh và trên phạm vi rộng hơn hình thành những vùng sáng hơn. Nguồn: Frangipane et al  Bất chấp sự thật là vi khuẩn Escherichia coli là một trong những nguyên nhân khiến rau diếp bị thối rữa và dẫn tới khả năng nhiễm trùng cho cơ thể con người, một số dòng vi khuẩn Escherichia coli thường được coi là ít gây hại và có sự linh hoạt đáng ngạc nhiên. Một nhóm các nhà nghiên cứu Italia mới đây đã lợi dụng khả năng bơi của  E. coli (loại vi khuẩn này có thể bơi được một quãng đường dài gấp 10 lần chiều dài cơ thể trong vòng 1 giây) để tạo ra một bản sao quy mô nhỏ một trong những kiệt tác hội họa thế giới, “Mona Lisa” của danh họa Italia Leonardo da Vinci.  Nghiên cứu của các nhà nghiên cứu này đã được trình bày một cách chi tiết trong công trình “Dynamic density shaping of photokinetic E. coli” và xuất bản trên tạp chí eLife, đề cập đến tiêu mao của E. coli. Chính “động cơ” nhỏ xíu này đã thúc đẩy các chuyển động của E. coli, cho phép chúng hình thành nên các mẫu hình riêng biệt và có thể kiểm soát được chuyển động với sự hỗ trợ của proteorhodopsin, một loại protein nhạy sáng.  Nhóm nghiên cứu này vẫn khéo léo dùng kỹ thuật gene để đưa loại protein được tìm thấy trong vi khuẩn dưới đáy đại dương này để đưa vào E. coli và các dòng vi khuẩn khác. Không phụ thuộc vào việc hấp thụ ô xi làm năng lượng cho các chuyển động của mình, những vi khuẩn đã được chuyển hóa này chuyển động bằng khả năng hướng sáng.  “Giống như những khách bộ hành đi chậm lại khi gia nhập một đám đông, hoặc giống như những chiếc ô tô bị mắc kẹt trên đường đông, các “tay bơi” vi khuẩn sẽ mất nhiều thời gian trong vùng chuyển động chậm hơn là vùng chuyển động nhanh, Giacomo Frangipane – tác giả chính của nghiên cứu và là một nhà vật lý tại trường đại học Rome, Italy, cho biết trong một thông cáo báo chí. “Chúng tôi muốn khám phá hiệu ứng này để thấy rằng liệu mình có thể định hình được khối tập trung của các con vi khuẩn bằng ánh sáng hay không.”  Để tạo ra bản sao nhỏ “Mona Lisa”, các nhà nghiên cứu đã lập ra một âm bản kiệt tác Phục hưng lên một “sân khấu” chứa các con vi khuẩn đã được biến đổi này. Đám E.coli chuyển động chậm trong các khu vực có ít ánh sáng chiếu, tụ tập thành đám với nhau và tạo ra các mẫu hình đậm đặc và xuất hiện ở những vùng tối của bức chân dung còn đám vi khuẩn chuyển động nhanh nhận được nhiều ánh sáng chiếu hơn thì chuyển động về phía xa hơn, tạo ra những sắc thái sáng hơn của bức chân dung.  “Nếu muốn ‘vẽ’ một nét trắng với màu vẽ là các con vi khuẩn, chúng tôi cần giảm tốc độ của vi khuẩn bởi khi ánh sáng giảm dần một cách cục bộ và tập trung vào khu vực mà các vi khuẩn chuyển động chậm chất thành đống”, Roberto Di Leonardo, một nhà vật lý tại trường đại học Rome và là đồng tác giả nghiên cứu, nói trên Digital Trends.  Dẫu E. coli đã tạo ra một màn biểu diễn bức họa của da Vinci, loài vi khuẩn này đã được dùng thí nghiệm về những hưởng ứng trễ theo nhiều dạng thay đổi của ánh sáng, dẫn đến hình ảnh cuối cùng trở nên mờ đi. Để khắc phục vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã thiết lập một hình chiếu ánh sáng có vòng lặp 20 giây một lần, cho phép họ tiếp tục so sánh sự hình thành các khối vi khuẩn với hình khối mà họ mong muốn. Kết quả là họ đã tạo ra được một lớp tế bào vi khuẩn quang chuyển động có khả năng đem lại bản sao gần như hoàn hảo của các hình ảnh đen trắng.  Để tái tạo lại bức chân dung “Mona Lisa”, các nhà nghiên cứu đã hướng dẫn E. coli đã được biến đổi này vào bức chân dung kiểu kĩ xảo morphing – kỹ xảo làm cho hình ảnh một người, vật, vật thể, chuyển hóa thành hình ảnh người, vật, vật thể khác một cách êm mượt, không đột ngột hoặc chuyển cảnh chồng mờ 1, qua đó tạo được gương mặt chuyển từ giống Albert Einstein sang Charles Darwin trong vòng năm phút.  Dù các khám phá nghệ thuật hết sức ấn tượng, Di Leonardo vẫn cho rằng đây vẫn chưa phải là mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu mà họ thực hiện: thậm chí, các nhà nghiên cứu còn hi vọng dùng các vi khuẩn biến đổi gene như các khối vi mô.  “Trong ứng dụng vật lý và kỹ thuật, các loài vi khuẩn này có thể được sử dụng như vật liệu có khả năng phân hủy sinh học cho in 3 D quang học của các cấu trúc có kích thước vi mô”, Di Leonardo giải thích. “Mặt khác, việc kiểm soát động năng của vi khuẩn có thể được khai thác cho các ứng dụng y sinh in-vitro để cô lập, phân loại và chuyển các tế bào cho phân tích hoặc cho các mục đích chẩn đoán ở cấp độ đơn tế bào bên trong các phòng thí nghiệm thu nhỏ. “  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/smart-news/light-reactive-bacteria-can-function-paint-living-building-blocks-180970062/#1x2EVEiAdPOG2Fzb.99  —-  1. http://24hinh.vn/threads/morph.1537    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn đem đến khả năng miễn dịch chống lại các loại virus khổng lồ      Một nhóm nghiên cứu do nhà vi trùng học Matthias Horn từ Trung tâm Khoa học Hệ thống Môi trường và Vi sinh vật tại Đại học Vienna dẫn đầu đã xem xét quá trình lây nhiễm virus của trùng amip khi bị nhiễm khuẩn chlamydia cùng lúc. Lần đầu tiên, họ đã chỉ ra rằng vi khuẩn nội bào (còn gọi là vi khuẩn cộng sinh) bảo vệ vật chủ của chúng chống lại virus.     Trùng amip là một vi sinh vật nguyên sinh, tức vi sinh vật đơn bào có nhân tế bào. Sinh vật nguyên sinh đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn và các quá trình hệ sinh thái. Do đó, kết quả của nghiên cứu cho thấy sự tương tác giữa vi khuẩn cộng sinh và virus ảnh hưởng đến dòng chảy của các chất dinh dưỡng trong hệ sinh thái.  Trong điều kiện tự nhiên, sinh vật nguyên sinh, bao gồm các amip được nghiên cứu, thường bị nhiễm vi khuẩn cộng sinh, bao gồm chlamydiae. Chlamydiae chủ yếu được coi là mầm bệnh ở người. Tuy nhiên, họ hàng gần của những chlamydiae gây bệnh này đã được phát hiện ở nhiều loài động vật và sinh vật nguyên sinh.  “Vì theo kiến thức hiện tại, nhiễm chlamydia khiến vật chủ tăng trưởng chậm hơn, nên chlamydiae thường được coi là ký sinh trùng”, Patrick Arthofer, tác giả thứ nhất của nghiên cứu đăng trên tạp chí PNAS và là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trung tâm Khoa học Hệ thống Môi trường và Vi sinh (CMESS) giải thích.  Vi khuẩn ký sinh có tác động tiêu cực đến vật chủ, trong khi vi khuẩn cộng sinh lại có tác động tích cực là tương hỗ. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chlamydiae thực sự theo hướng tương hỗ chứ không phải ký sinh trùng, vì chúng bảo vệ các sinh vật nguyên sinh chống lại nhiễm trùng gây chết người do các loại virus khổng lồ. Rốt cuộc, tăng trưởng chậm hơn vẫn tốt hơn là chết” Arthofer nói.  Nhiễm vi khuẩn hoặc virus định hình sự phát triển của các quần thể vi sinh vật nguyên sinh. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Vienna và Đại học Poitiers ở Pháp muốn biết tiến trình lây nhiễm virus sẽ diễn ra như thế nào nếu sinh vật nguyên sinh bị nhiễm vi khuẩn cùng lúc. Họ đã phân lập amip, vi khuẩn và một loại virus khổng lồ từ cùng một mẫu môi trường.  Virus khổng lồ chỉ mới được biết đến trong khoảng 20 năm gần đây. Khám phá của họ thách thức nhiều giả định trước đây về virus, vì chúng không chỉ lớn hơn nhiều lần so với tất cả các loại virus đã biết trước đây, mà còn sở hữu các gene từng được cho là đặc trưng của các sinh vật tế bào như vi khuẩn, động vật, thực vật và nấm. Theo kiến thức hiện tại, chúng hoàn toàn vô hại đối với động vật và con người. Vật chủ tự nhiên của chúng là các sinh vật đơn bào có nhân tế bào, sinh vật nguyên sinh.  Khi các virus khổng lồ lây nhiễm vào tế bào chủ, chúng sẽ tu sửa lại toàn bộ tế bào chủ và thiết lập một “nhà máy sản xuất virus”. Nhà máy sản xuất virus này sản xuất hàng trăm hạt virus mới cho đến khi tế bào chủ vỡ ra và giải phóng virus mới. “Nếu sinh vật nguyên sinh bị nhiễm vi khuẩn cộng sinh thì quá trình này sẽ bị chặn lại,” Matthias Horn, người đứng đầu nhóm nghiên cứu tại Đại học Vienna giải thích. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự hiện diện của chlamydia không ngăn được virus vào, nhưng virus sau đó không thể hình thành được một nhà máy sản xuất virus”.  Sự tương tác của vi khuẩn với các virus khổng lồ bên trong amip không chỉ tác động đến vật chủ. Horn nói: “Một giả thuyết phổ biến là những tương tác nội bào giữa các virus khổng lồ và vi khuẩn cộng sinh đã đóng vai trò quan trọng trong việc khiến các virus khổng lồ trở nên phức tạp như vậy”. Do đó, nghiên cứu về tương tác giữa virus – vi khuẩn cộng sinh có thể cung cấp câu trả lời cho câu hỏi virus khổng lồ đã tiến hóa như thế nào.  Sinh vật nguyên sinh trải dài khắp nơi – trong nước ngọt, nước biển, đáy biển, và nhiều địa điểm khác. Chúng ăn vi khuẩn, do đó hấp thụ các chất dinh dưỡng liên kết trong vi khuẩn và khi bị ăn thịt, chúng truyền lại chất dinh dưỡng cho động vật khác, ví dụ các loài giáp xác nhỏ. Bằng cách này, động vật cũng có thể dùng các chất dinh dưỡng do vi khuẩn cung cấp. Nhưng nếu các sinh vật nguyên sinh bị virus tiêu diệt, các chất dinh dưỡng được giải phóng ra chỉ có thể được chuyển hóa một lần nữa bởi vi khuẩn.  “Nếu chlamydiae bảo vệ sinh vật nguyên sinh trước virus, chúng không chỉ đảm bảo rằng vật chủ của chúng vẫn là nguồn thức ăn cho động vật nhỏ. Hơn thế giữa, việc cộng sinh với vi khuẩn còn ảnh hưởng tới toàn bộ chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái,” Arthofer giải thích.  “Nói chung, việc xem xét kỹ hơn các tương tác cộng sinh của virus cho chúng ta biết điều gì đó về động lực của hệ sinh thái”, Matthias Horn nói. Do đó, trong bước tiếp theo, các nhà khoa học muốn điều tra cơ chế chính xác đằng sau sự bảo vệ thông qua trung gian vi khuẩn của các sinh vật nguyên sinh khỏi virus khổng lồ.  Trang Linh (lược dịch)  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-bacteria-immunity-giant-viruses.html  https://www.pnas.org/doi/full/10.1073/pnas.2205856119    Author                .        
__label__tiasang Vi khuẩn đường ruột đa đề kháng lan rộng trong các bệnh viện ở Việt Nam      Công bố mới “Tình trạng xâm nhập  phổ biến của vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem giữa các bệnh nhân điều trị trong các bệnh viện Việt Nam: Những nguyên nhân rủi ro và gánh nặng bệnh tật” (High prevalence of colonisation with carbapenem-resistant Enterobacteriaceae among patients admitted to Vietnamese hospitals: Risk factors and burden of disease) trên tạp chí  Journal of Infection của các nhà khoa học Thụy Điển và Việt Nam đã phát hiện ra: khoảng một nửa các bệnh nhân đang điều trị trong các bệnh viện ở Việt Nam đang mang vi khuẩn đường ruột đa đề kháng, vốn có khả năng kháng carbapenems, một nhóm các kháng sinh có phổ tác dụng rộng nhất trong số các nhóm kháng sinh hiện hành.      Rửa tay và tiệt trùng các thiết bị, đồ dùng là biện pháp tiết kiệm và hiệu quả nhất để phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Nguồn: Bệnh viện Bưu điện.  “Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy tình trạng phổ biến là các vi khuẩn đường ruột kháng đa đề kháng trong các bệnh viện. Do các vi khuẩn đường ruột của các bệnh nhân đã kháng lại nhóm carbapenem nên họ phải điều trị lâu hơn và rủi ro về sức khỏe lớn hơn”, theo Håkan Hanberger, giáo sư Khoa Lâm sàng và Y học thực nghiệm tại trường đại học Linköping và là cố vấn của Khoa Lây nhiễm lâm sàng tại Bệnh viện trường đại học Linköping.  Có nhiều nguyên nhân giải thích tại sao vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem (Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae – CRE) lại trở nên nghiêm trọng. Chúng kháng lại gần như tất cả các loại kháng sinh, do đó việc điều trị hiện tượng nhiễm trùng do các vi khuẩn này gây ra trở nên vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, CRE có thể chuyển các gene kháng kháng sinh cho các loại vi khuẩn khác, dẫn đến việc các vi khuẩn này cũng kháng với các loại kháng sinh carbapenem. Các vi khuẩn đường ruột có thể lan truyền một cách dễ dàng và trở thành nguyên nhân gây ra nhiều loại nhiễm trùng, chủ yếu là nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng máu và viêm phổi. Các vi khuẩn đường ruột đa đề kháng này hiện đang lan truyền một cách nhanh chóng trên khắp thế giới, Tổ chức Y tế (WHO) đã ưu tiên việc đo lường và kiểm soát sự lây lan này của CRE lên hàng đầu và phát triển các loại kháng sinh mới để chống lại chúng.   Nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển và các bác sỹ Việt Nam (Bệnh viện Saint Paul, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Uông Bí, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Quân đội 108, Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM) đã thực hiện trên hơn 2.200 bệnh nhân thuộc 63 tỉnh thành đang được điều trị tại 12 bệnh viện. Các mẫu vật vi khuẩn đường ruột được lấy từ các miếng gạc từ trực tràng của bệnh nhân. Họ nhận thấy, khi một người mang CRE thì họ có thời gian điều trị dài hơn và dễ bị nhiễm một loại bệnh trong thời gian này, vẫn được biết đến với tên gọi “nhiễm trùng bệnh viện”. Chỉ sau 2 tuần nằm viện, 1/8 số bệnh nhân (13%) mang CRE đã tăng lên thành 7/8 bệnh nhân (87%) mang CRE. Một nguy cơ rủi ro khác cho bệnh nhân trong nghiên cứu này là họ đã được điều trị với thuốc carbapenem, góp phần tăng thêm số lượng vi khuẩn kháng thuốc.   Trong một nghiên cứu được thực hiện trước đó với 328 trẻ sơ sinh trong một khu chăm sóc đặc biệt, các nhà nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong có liên hệ chặt chẽ với người mang CRE và hiện tượng nhiễm trùng bệnh viện khi bệnh nhi được đưa vào điều trị tại đây. “Công bố này cho thấy tỷ lệ tử vong trong số những người nhiễm trùng bệnh viên và người mang CRE đã tăng lên 5 lần”, Håkan Hanberger nhận xét.  Theo các nhà nghiên cứu, bệnh dịch vi khuẩn đa đề kháng trong các bệnh viện Việt Nam đang lan truyền với tốc độ nhanh chóng giữa những bệnh nhân đang được điều trị.  “Sự lây lan trên diện rộng của các ví khuẩn CRE cho thấy, cần phải có các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu sự lan truyền của lây nhiễm trong các bệnh viện như vệ sinh chân tay, vô trùng khi phẫu thuật, xử lý ống thông tĩnh mạch hay cách ly bệnh nhân mang vi khuẩn đường ruột đa đề kháng. Bên cạnh đó cần theo dõi bệnh nhân ngay cả khi họ đã xuất viện nhằm giảm thiểu sự lây lan trong cộng đồng. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta làm tất cả điều đó thì cũng mất thời gian để đưa tình trạng lây nhiễm xuống tỷ lệ có thể chấp nhận được”, Håkan Hanberger cho biết như vậy. □    Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2019-06/lu-mib062519.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì lý thuyết chỉ là màu xám      Chỉ có thái độ chủ động đón nhận sự khác biệt trong quan điểm, và luôn biết lấy thực tiễn làm thước đo-để điều chỉnh nhận thức, mới là hành xử đúng đắn trong cuộc sống này!    “Mọi lý thuyết đều là màu xám   Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi.“  Đó là những lời thơ trong tác phẩm “Faust” của đại thi hào Johann Wolfgang (von) Goethe (1749-1832). Nó như muốn nhắc nhở con người, cần phải biết cảnh giác với mọi hiểu biết, cũng như áp dụng lý thuyết, thậm chí kể cả với những điều được coi là chân lý. Tại sao lại như vậy? Và có cái gọi là chân lý tuyệt đối, hay chân lý khách quan hay không?  Trở về với cuộc đối thoại diễn ra vào ngày 14/7/1930 gữa hai thiên tài Albert Einstein (1879-1955)-nhà vật lý lý thuyết và Rabindranath Tagore (1861-1941)-một triết gia, nhà thơ, người cũng từng đoạt giải Nobel như Einstein, bàn về tính khách quan của chân lý, đã để lại cho nhân loại nhiều suy ngẫm-học hỏi (xem bài “Einstein và Tagore: Đối thoại về tính khách quan của chân lý”, Tia Sáng, 20/08/2017). Tuy vậy, trước đó rất lâu, các nhà toán học đã đặt câu hỏi rằng, các chân lý trong toán học có khách quan hay không? Rồi có thể chứng minh tính khách quan của các chân lý trong toán học hay không? Và từ định lý Bất toàn-năm 1931 của Kurt Friedrich Gödel (1906-1978), người ta rút ra rằng, nói chung, việc chứng minh cho tính khách quan của các chân lý toán học là không thể. Như vậy, hóa ra xét đến cùng, để nhận thức chân lý không thể thiếu vắng vai trò của “đức tin”!  Bởi thế, những ai đã nhận thức được điều này thường sẽ lảng tránh những tranh luận tự do về quan điểm lý thuyết. Không phải là vì họ sợ tranh luận, mà do họ ý thức được rằng, mọi cuộc tranh luận quan điểm lý thuyết  một cách tự do, cho dù giữa những người cùng có năng lực nhận thức cao-có tâm sáng và biết phục thiện, cũng sẽ không thể có phân định đúng sai. Bởi một trong hai người, đều có cái “quyền” không tin-không chấp nhận cái lý thuyết cũng như cách lập luận mà đối phương sử dụng trong lập luận của họ.    Tranh minh họa. Internet.  Xem ra mọi cuộc tranh luận lý thuyết đều chỉ có thể ngã ngũ khi những người tranh luận, có cùng nhân sinh quan và thế giới quan, và cùng chấp nhận một hệ tiên đề hay những giả thuyết ban đầu nào đó. Cũng giống như những người học trò tranh cãi về những điều bị giới hạn trong khuôn khổ các giả định và quy tắc mà bài giảng từ thầy của họ đã định ra. Và tất nhiên khi các tiên đề, các giả thuyết, hay các giả định… không còn đúng nữa, thì các luận điểm tranh cãi cũng tức khắc trở nên vô nghĩa.  Cũng xin nói thêm rằng, khi người ta không ý thức được giới hạn chủ quan của lý thuyết mà họ tin vào, thì các cuộc tranh luận sẽ trở thành những cuộc “so găng” của những định kiến, và thường có kết thúc tồi tệ. Thậm chí đôi khi các đối tượng còn thóa mạ nhau, bất chấp cả đạo lý. Cái điều mà đã từng diễn ra không ít, nhất là trên các trang mạng xã hội.  Câu nói của nhà toán học nổi tiếng George Polya (1887-1985): “Thật ngu xuẩn nếu chỉ khư khư ôm lấy giả thuyết của mình” như nhắc nhở con người ta nhiều điều. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, khiến việc từ bỏ định kiến của con người, không thể dễ dàng. Vì thế mà biết bao kẻ bị nhồi nhét bởi những lý thuyết lỗi thời, hay giáo điều, vẫn cứ ôm lấy những lý thuyết đó, như một thứ chân lý tuyệt đối, thậm chí còn bảo vệ điên cuồng bằng bạo lực với những ai chống lại nó.      Người ta chỉ nghe thấy điều mình hiểu      Ở một nền giáo dục bị sai lệch, không có tinh thần “khai phóng”, sẽ tạo ra những lớp người học vẹt chỉ tin vào những thứ họ được học-được dạy. Do thiếu được giáo dục tư duy phản biện, họ trở nên mông muội-cuồng tín theo những quan niệm của các ông thầy dạy, mà không cần biết rằng, chính cái chỗ dựa-được họ coi là nền tảng ấy, cũng chẳng có gì đảm bảo là đúng đắn-khách quan cả. Đã thế họ còn mang thái độ ghẻ lạnh với những quan điểm khác biệt, và nguy hại hơn nữa khi họ máy móc áp dụng lý thuyết giáo điều hạn hẹp của mình vào thực tiễn đời sống xã hội, góp phần làm xã hội suy thoái.  Rõ ràng chỉ có thái độ chủ động đón nhận sự khác biệt trong quan điểm, và luôn biết lấy thực tiễn làm thước đo-để điều chỉnh nhận thức, mới là hành xử đúng đắn trong cuộc sống này! Bởi “cây đời” là thực thể của tự nhiên-chúng tồn tại khách quan, còn lý thuyết là của con người, được tạo lập bởi con người-không thể không mang dấu ấn chủ quan, nhằm muốn phản ánh bản chất cái thực thể khách quan kia. Do vậy dẫu lý thuyết có sâu-rộng đến mấy, cũng luôn có nguy cơ bị lạc hậu trước thực tiễn cuộc sống. Chính vì thế, mà từ lịch sử của loài người cho thấy, biết bao lý thuyết đã phải lần lượt ra đi, nhường chỗ cho những nhận thức mới.  Mặc dù “từ bỏ thành kiến không bao giờ quá muộn” như  Henry David Thoreau (1817-1862)-nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học mẫu mực người Mỹ, đã khuyến cáo, nhưng tiếc thay “người ta chỉ nghe thấy điều mình hiểu”- cái mà Goethe đã cảnh báo. Hơn thế nữa con người còn bị dẫn dắt bởi những tham vọng bất kham-cái khuyết tật vốn có của loài người, mà tạo hóa đã ký gửi. Vì thế mà thời đại nào cũng có thể xuất hiện những thế lực muốn thống trị và dẫn dắt xã hội, dựa trên những học thuyết phản động-lỗi thời, xa rời bản chất tự nhiên. Do vậy việc loại bỏ thành kiến, loại bỏ những tư tưởng hủ bại, luôn là một cuộc chiến dai dẳng-khốc liệt trong xã hội loài người.  Bởi những lý do trên, nhân loại tiến bộ luôn dùng mọi biện pháp, nhắc nhở, giáo dục, răn dạy hậu thế, và đặc biệt cảnh tỉnh họ-thông qua những bài học lịch sử về mối nguy cơ của những thế lực muốn đóng khung chân lý. Cùng với đó, là tạo lập những hệ thống ngăn chặn hiệu quả để “cây đời mãi mãi xanh tươi“ theo dòng chảy của tạo hóa.             Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Vì sao bạn thông minh mà vẫn không giàu?      Những người thành công nhất không phải là những người tài năng nhất mà chỉ là may mắn nhất. Điều này được khẳng định qua nghiên cứu của GS. Alessandro Pluchino tại ĐH Catania (Ý).      Nguồn ảnh: New York Times  Sự phân phối của cải trên thế giới tuân theo một nguyên tắc mà thi thoảng được gọi là định luật 80 – 201: 80% của cải trên thế giới do 20% những người giàu nhất nắm giữ. Điều này cũng được chứng minh trong báo cáo của Oxfarm vào tháng 1/2017, chỉ ra rằng, có tám người đàn ông có tổng tài sản tương đương với 3.8 tỉ người nghèo nhất thế giới.  Điều này dường như đúng cho mọi xã hội, mọi thước đo. Đây là quy tắc lũy thừa nổi lên bất ngờ trong nhiều hiện tượng xã hội. Nhưng phân phối của cải cũng là một trong các chủ đề gây tranh cãi nhất bởi nó dấy lên các vấn đề về sự công bằng và xứng đáng. Vì sao sự thịnh vượng lại chỉ dành cho một số quá ít người?  Câu trả lời thông thường là chúng ta đang sống trong một xã hội công bằng nơi mọi người được trả công nhờ tài năng, sự thông minh, nỗ lực,.. của họ. Qua thời gian, mọi người nghĩ rằng những điều đó sẽ được chuyển đổi thành phân phối của cải mà chúng ta đã nhìn thấy, mặc dù may mắn cũng có thể đóng một vai trò nhất định.  Nhưng một vấn đề trong quan điểm này: trong khi của cải được phân phối tuân theo quy tắc lũy thừa thì kỹ năng con người lại theo nguyên tắc phân phối thông thường, được quy đổi thành một giá trị trung bình, mà IQ, chỉ số đo lường trí thông minh là một ví dụ. IQ trung bình là 100 nhưng không ai có IQ 1.000 hay 10.000.  Và điều này vẫn đúng với sự nỗ lực – được đo bằng số giờ làm việc. Vài người có thể làm việc nhiều hơn hay ít hơn so với thời gian trung bình nhưng không ai làm việc gấp tỷ lần người khác.  Và khi nói về phần thưởng cho tài năng và sự cố gắng, một số người lại giàu gấp tỷ lần so với người khác. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người giàu nhất nói chung không phải người tài năng nhất.  Vậy, yếu tố nào quyết định một cá nhân trở nên giàu có? Liệu có phải sự ngẫu nhiên đóng vai trò quan trọng hơn chúng ta tưởng? Và làm thế nào để tận dụng điều đó nhằm tạo ra một thế giới tốt hơn và công bằng hơn?  Ngày nay chúng ta đã có câu trả lời nhờ công trình của Alessandro Pluchino và hai cộng sự tại ĐH Catania (Ý). Họ đã tạo ra một mô hình máy tính về tài năng của con người và cách con người sử dụng nó để khai thác các cơ hội trong cuộc sống. Mô hình cho phép nhóm nghiên cứu vai trò của sự ngẫu nhiên trong quá trình này.  Kết quả đã khiến chúng ta tỉnh ngộ. Mô phỏng của họ có kết quả trùng khớp với phân phối của cải trong thế giới thực. Nhưng những cá nhân giàu nhất lại không phải là tài năng nhất (dù cho họ phải đạt đến một cấp độ tài năng nhất định). Họ là những người may mắn nhất. Điều này đưa ra gợi ý quan trọng để xã hội có thể tối ưu hóa lợi nhuận của mọi khoản đầu tư từ kinh doanh đến khoa học.  Mô hình của Pluchino và cộng sự khá đơn giản. Nó bao gồm N người, mỗi người ứng với cấp độ tài năng nhất định (kỹ năng, trí thông minh, năng lực,…). Tài năng này thường được phân phối quanh một số cấp độ trung bình, với một vài sai số tiêu chuẩn. Vì thế vài người tài giỏi ở trên hoặc dưới mức trung bình nhưng không ai ở cấp độ cao hơn hẳn những người khác.  Đây là loại phân phối thường thấy ở các kỹ năng của con người hoặc các đặc điểm như cân nặng hay chiều cao. Một số người cao hơn hoặc thấp hơn trung bình, nhưng không ai ở kích cỡ con kiến hay tòa nhà chọc trời. Thực sự là tất cả chúng ta đều khá giống nhau.  Mô hình máy tính lập biểu đồ trong suốt 40 năm làm việc từng cá nhân. Trong khoảng thời gian này, các cá nhân trải nghiệm các sự kiện may mắn mà họ có thể tận dụng để tăng của cải nếu họ đủ tài năng.  Tuy nhiên, họ cũng trải nghiệm những sự kiện không may khiến của cải của họ bị giảm sút. Các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên.  Tại cuối năm thứ 40, Pluchino và cộng sự sẽ xếp hạng các cá nhân bằng của cải và nghiên cứu đặc điểm của những người thành công nhất. Họ cũng tính phân phối của cải và lặp lại mô phỏng nhiều lần để kiểm thử độ chính xác của kết quả.  Khi nhóm xếp hạng cá nhân theo sự giàu có, phân phối thực sự giống như trong xã hội thực. Pluchino báo cáo: “Quy luật 80 – 20 đã được tuân thủ, khi 80% dân số sở hữu 20% của cải và 20% người dân còn lại sở hữu 80% của cải.”  Điều này sẽ không gây ngạc nhiên hay không công bằng nếu như 20% giàu nhất là những người tài năng nhất. Nhưng không phải vậy, những cá nhân giàu nhất còn xa mới là người tài năng nhất. Các nhà nghiên cứu nói: “Thành công nhất không bao giờ trùng khớp với tài năng nhất, và ngược lại.”  Vậy nếu không phải tài năng, yếu tố nào khác đã gây ra phân phối của cải lệch lạc này? Pluchino và cộng sự trả lời: “Mô phỏng của chúng tôi chỉ ra rõ ràng rằng yếu tố đó đơn thuần là may mắn.”  Nhóm chỉ ra điều đó bằng việc xếp hạng cá nhân theo số sự kiện may và không may họ gặp trong 40 năm làm việc – “Rõ ràng là những người thành công nhất cũng là những người may mắn nhất và những người kém thành công nhất cũng là những người không may nhất.”  Điều đó có ý nghĩa đáng kể đối với xã hội. Chiến lược hiệu quả nhất để khai thác vai trò của may mắn trong thành công là gì?  Pluchino và cộng sự nghiên cứu từ quan điểm tài trợ nghiên cứu khoa học – vấn đề sát sườn với họ. Các cơ quan tài trợ trên thế giới đều quan tâm tới việc tối đa hóa lợi tức đầu tư vào thế giới khoa học. Có thể kể đến việc Hội đồng nghiên cứu châu Âu đã đầu tư 1,7 triệu USD vào chương trình nghiên cứu cơ may – vai trò của may mắn trong khám phá khoa học – và cách có thể khai thác cơ may nhằm cải thiện đầu ra tài trợ.  Pluchino và cộng sự đã trả lời câu hỏi này. Họ sử dụng mô hình để khám phá các loại mô hình tài trợ khác nhau từ đó nhận thấy cái nào sẽ mang lại lợi ích tốt nhất khi may mắn được thêm vào.  Nhóm đã nghiên cứu 3 mô hình, trong số tài trợ nghiên cứu được phân phối công bằng giữa các nhà khoa học, phân phối ngẫu nhiên tới một tập hợp các nhà khoa học hoặc ưu tiên với những người đã thành công nhất trong quá khứ. Và đâu là chiến lược tốt nhất?  Chiến lược mang lại kết quả tốt nhất là chia đều tài trợ cho tất cả các nhà khoa học. Và chiến lược tốt thứ 2 và thứ 3 là phân phối ngẫu nhiên tới 10 đến 20% các nhà khoa học. Trong những trường hợp này, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tốt nhất ưu thế của khám phá ngẫu nhiên mà họ tạo ra theo thời gian. Kế đó, có một thực tế rõ ràng là một nhà khoa học có một khám phá quan trọng ngẫu nhiên trong quá khứ không có nghĩa anh/cô ta có thể lặp lại điều đó trong tương lai.  Cách tiếp cận tương tự có thể ứng dụng trong đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup công nghệ, giáo dục để tăng tài năng hoặc thậm chí tạo ra các sự kiện may mắn ngẫu nhiên.  Thanh Trúc dịch.  Nguồn: https://www.technologyreview.com/s/610395/if-youre-so-smart-why-arent-you-rich-turns-out-its-just-chance/  1Định luật 80-20 hay định luật Pareto phát biểu rằng 80% ảnh hưởng của một hiện tượng được gây ra bởi 20% nguồn gốc của nó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao các startup kéo tới Hồng Kông?      Hồng Kông đang thu hút các startup từ châu Âu. Chỉ tính riêng các startup của Đức, đã có hơn 700 công ty có mặt tại đây. Hồng Kông có những điểm mạnh gì thu hút các nhà khởi nghiệp nước ngoài đến vậy?      Hiện Hồng Kông chưa phải là đối thủ ngang tầm với thủ đô Berlin của Đức (tại Berlin cứ khoảng 20 phút lại ra đời một startup). Tuy nhiên, Hồng Kông lại đang vươn lên, “Số lượng các startup ở Hồng Kông đã tăng 40% từ chỉ trong một năm (từ 2014 đến 2015)”, theo bà Margaret Fong, giám đốc điều hành Hội đồng phát triển Thương mại Hồng công (HKTDC). HKTDC là một tổ chức bán nhà nước và phi lợi nhuận, được thành lập từ năm 1966 và chuyên hỗ trợ, thúc đẩy cho các doanh nghiệp Hồng Kông.  Một trong số các startup của Đức chuyển tới Hồng Kông là Soundbrenner, nhà sản xuất thiết bị, phần mềm và các nền tảng ứng dụng chuyên dành cho các nhạc sỹ, ra đời năm 2014. Công ty này vốn được thành lập tại Berlin, nhưng chỉ ba bốn tháng sau khi thành lập thì hai nhà đồng sáng lập Florian Simmendinger và Julian Vogels của Soundbrenner đã chuyển doanh nghiệp sang Hồng công. “Chúng tôi chuyển đi không phải vì lý do thị trường mà vì nhu cầu sản xuất các sản phẩm của mình. Việc xây dựng một startup trong lĩnh vực phần cứng ở Đức là điều hết sức khó khăn. Bởi vì đơn giản là ở nước Đức không có cơ sở công nghiệp nào phục vụ startup thuộc lĩnh vực điện tử dân dụng. Các nhà máy ở Đức luôn yêu cầu một khối lượng hàng tối thiểu và điều này là rất khó đối với một startup”, Simmendinger nói.  Ở châu Á, các yếu tố trên thuận lợi hơn cho các startup. Bà Fong đánh giá: “Các doanh nghiệp ở Hồng công dễ dàng tiếp cận các cơ sở sản xuất ở Thẩm Quyến (Shenzhen). Tại đây họ có thể sản xuất nhanh với giá phải chăng”. Đây cũng là nơi Soundbrenner sản xuất sản phẩm của mình, nơi này chỉ cách Hồng Kông hai tiếng rưỡi đồng hồ đi ô tô nên các lãnh đạo của Soundbrenner có thể có mặt ở Thẩm Quyến ngay khi cần kiểm tra bất kỳ vấn đề gì trong quá trình sản xuất.  Ngoài ra Hồng Kông còn là một trong những trung tâm hậu cần (logistics) lớn nhất thế giới. Simmendinger nói: “Chúng tôi có thể gửi mọi hàng hóa đến khắp nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện. Giờ đây chúng tôi đã có một cửa hàng online và có thể dễ dàng cung cấp hàng hóa tới 170 quốc gia khác nhau. Nếu bây giờ chúng tôi cần gửi một bưu kiện, giá phải trả là 13 Euro và nội trong hai ngày là đến nơi, bất cứ ở đâu. Điều này thật tuyệt vời”. (Để so sánh: Nếu gửi một bưu kiện 1 – 5 kg từ Đức tới Hồng Kông, người ta phải trả cho hãng DHL express 43.99 Euro, và cái bưu kiện đó mất mười ngày mới tới nơi).      Simmendinger (giữa), CEO của Soundbrenner.  Lợi thế vị trí của Hồng Kông  Soundbrenner là trường hợp điển hình phổ biến cho một doanh nghiệp nước ngoài trụ lại Hồng Kông. Phần lớn các doanh nghiệp nước ngoài ở Hồng Kông đều làm về máy tính, công nghệ, phần mềm, thương mại điện tử… Simmendinger biết, doanh nghiệp của anh không phải là trường hợp duy nhất chuyển đến Hồng Kông, “Thường thì tất cả các startup phần cứng đều kéo tới châu Á – vì lý do sản xuất”. Ở gần nhà máy là một điều kiện có ý nghĩa quyết định với các công ty. Simmendinger biết nhiều trường hợp các startup chỉ liên hệ đặt hàng với đối tác ở châu Á thông qua Skype, điện thoại, email. Để rồi sau đó phải kinh hoàng khi nhận được thành phẩm. Sản phẩm bị hư hỏng chỉ sau ba ngày sử dụng do hiểu lầm giữa startup và đối tác, hoặc do lối làm ăn cẩu thả của cơ sở sản xuất.  Cũng có nhiều tổ chức tài chính khác, như DollarSmart Global hiện đã chuyển trụ sở tới Hồng Kông, vì tại đây có mạng lưới tài chính tương ứng và có thể khai thác thị trường châu Á tốt hơn so với đặt trụ sở từ các nơi khác như từ Australia. Việc tiếp cận thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu Á khác cũng là lý do quan trọng khiến các doanh nghiệp này chuyển trụ sở về Hồng Kông. Trung quốc và Nhật bản đã là thị trường lớn thứ hai và ba sau Mỹ.  Về hệ sinh thái khởi nghiệp, ở Hồng Kông, chính phủ rất thân thiện với các nhà khởi nghiệp. Các startup dễ dàng tiếp cận với nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần. Ở đây cũng có một hệ thống mạng lưới các sự kiện hỗ trợ các nhà khởi nghiệp. Nhà nước thực hiện một loạt hỗ trợ nhằm thu hút các nhà khởi nghiệp. “Gần đây, chính phủ mới thành lập Quỹ Đổi mới sáng tạo và công nghệ để đầu tư vào các startup phù hợp”, bà Fong kể. Dự kiến, quỹ có khoản vốn lên tới 2,3 tỷ Euro. Những yếu tố trên đặc biệt thu hút các nhà khởi nghiệp nước ngoài. Hiện nay, chỉ khoảng một nửa số startup ở Hồng Kông là của các nhà khởi nghiệp bản xứ. (Để so sánh: ở Đức có tới 90% start-up do các nhà khởi nghiệp Đức tạo dựng).  Tuy nhiên, các startup cũng cần biết rõ, Hồng Kông cũng có những bất lợi nhất định. Ví dụ, Soundbrenner vẫn duy trì văn phòng của mình ở Berlin, vì “Ở Hồng Kông khó có thể kiếm được các chuyên gia phát triển để hỗ trợ chúng tôi, trong khi ở Berlin họ đông như kiến”, Simmendinger nói. Nhìn chung, vấn đề tuyển dụng và thu hút lực lượng chuyên môn ở Hồng công nói chung còn nhiều khó khăn. HKTDC vẫn khen ngợi lực lượng chuyên môn trẻ được đào tạo bài bản, tuy nhiên theo nhận định của Simmendinger, những người có tài năng thực sự không nhiều.  Thứ hai, Hồng Kông vốn là một địa bàn đắt đỏ. Đây là nơi có giá bất động sản cao nhất thế giới, nếu tính theo giá thuê văn phòng trên một mét vuông. Vào 12/2014, Hồng Kông tiến hành các một khảo sát và cho thấy kết quả, bình quân mỗi doanh nghiệp phải chi tới  113.019 USD tiền thuê văn phòng và nhà ở. Những chi phí này thực sự là một gánh nặng lớn với các doanh nghiệp mới hình thành.  Hoài Trang lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.  Nguồn: http://www.wiwo.de/erfolg/gruender/hongkong-was-start-ups-nach-hongkong-zieht/14593884.html    Author                Hoài Trang        
__label__tiasang Vì sao chúng ta không thể tin tưởng Microsoft nữa      Nếu Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) đang  thực hiện điệp vụ trên các sản phẩm của Microsoft, thì liệu có ai còn  muốn sử dụng các sản phẩm đó nữa?    Nếu có ai đó đang điên đầu vì những dò xét lén lút của NSA, thì đó chính là Bộ Thương mại Mỹ chứ không phải là các luật sư. Những tiết lộ mới đây không đe dọa an ninh quốc gia nhiều như đe dọa nền kinh tế quốc gia. Và nếu tôi là Microsoft, tôi chắc phải tổ chức họp liên miên để bàn cách làm thế nào để sửa chữa ngay những chuyện đã xảy ra.  Microsoft, dù cố phủ nhận, dường như là đã cùng giường với NSA. Rõ ràng NSA và các cộng tác viên đã vượt qua tất cả các khóa mã và các phương pháp bảo mật để tiếp cận mọi tài liệu và trao đổi riêng tư. Điều này có nghĩa là một bên thứ ba, vì bất cứ lý do gì, đều có thể dễ dàng truy cập vào giao dịch kinh doanh bí mật, các bức thư tình, các biên bản tài liệu mật của chính phủ, các giao dịch tài chính, chương trình nội bộ công ty, và tất cả mọi ngóc ngách của các hoạt động đó.  Với những điều như đã nói đó, liệu bạn còn thực sự muốn mua một sản phẩm của Microsoft? Bạn có muốn mua bất cứ thứ gì mà khi hứng lên sẽ dễ dàng rình mò chọc ngoáy bạn? Đến một cá nhân như bạn còn phải suy đi nghĩ lại thì thử hỏi có chính phủ nước ngoài nào sẽ còn tin dùng Microsoft Office để ký thác bí mật của mình? Cá nhân tôi sẽ ngừng sử dụng ngay tức khắc tất cả các sản phẩm của Microsoft vì sợ Mỹ theo dõi tôi. Không còn gì là bí mật nữa.  Nếu tôi là cổ đông của bất kỳ công ty đại chúng nào, thì ngay lập tức tại đại hội cổ đông thường niên tôi sẽ đứng dậy chất vấn xem công ty có sử dụng sản phẩm của Microsoft không và nếu có, tôi yêu cầu cho biết tại sao không quẳng đi và dùng thứ khác. (Và sao Google Docs không phải là một lựa chọn). Thêm nữa, hệ điều hành Windows cũng quá nát. Kẻ thông minh bây giờ bỏ tiền dùng Linux. Mã Linux là mở và tự bạn có thể kiểm tra để xem liệu hệ điều hành có gửi thông tin cho cơ quan gián điệp nào hay không.  Một thảm họa tài chính đang chực chờ bùng phát. Microsoft sẽ rất nguy cấp nếu công ty không tìm được cách cắt đứt với NSA.  Còn Apple thì khác, có thể đang còn thơm mùi hương hoa hồng, nhưng ai biết sau sự vĩnh biệt của Steve Jobs, là người dường như đã từ chối bắt tay với NSA, liệu những người chèo lái bây giờ có ngớ ngẩn nhảy vào tham gia câu lạc bộ PRISM (phần mềm gián điệp) hay không.  Thật kỳ lạ, tất cả chúng ta đều đã biết về mối liên hệ giữa NSA và Microsoft kể từ thời Windows 2000 khi các file DLL dị thường bắt đầu xuất hiện, mà nhiều người phỏng đoán đó là các mã khoét ngạch ăn trộm (back-door codes). Qua các slide PowerPoint bị rò rỉ đã cho thấy rằng chính Microsoft là tay chơi đầu tiên với phần mềm gián điệp PRISM, điều này làm tôi tin rằng công ty đã làm ăn với gián điệp và đang tiếp tục một cách hăng hái nhất. Với những chuyện đó liệu bạn có còn cảm nghĩ tốt đẹp về công ty này và sản phẩm của nó không? Đấy phải chăng là cách Microsoft chăm sóc khách hàng của mình?    Tin tức đầu tiên tôi đọc được về Microsoft ngày hôm nay là Ballmer từ chối nói chuyện về chiến lược wearable computing (tạm dịch: điện toán vi trang phục) của công ty. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là, “Đây là ưu tiên của họ chăng? Máy tính vi trang phục (wearable computers) ư? Đó là những máy tính bé tí xíu đính trên hay dưới quần áo hoặc trở thành một phần của trang phục của bạn và hậu quả là có thể thám sát các hoạt động hằng ngày của con người bạn?”      Xuân Hoài dịch     Nguồn http://www.pcmag.com/article2/0,2817,2421733,00.asp         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao chúng ta lại yêu, ghét âm thanh của một số từ nhất định?      Có một số từ tạo ra cho chúng ta một cảm giác khó chịu, gai góc; nhưng cũng có một số từ lại mang đến cho chúng ta cảm giác êm dịu, nhẹ nhàng.      Ảnh: funbutterfly/Shutterstock  Trong thời kỳ đại dịch, nhiều người trong chúng ta cảm thấy bản thân trở nên căng thẳng hơn mỗi khi nghe thấy từ “virus”. Nhưng không phải ai cũng nhận ra rằng chỉ riêng âm thanh “virus” thôi cũng đủ làm tăng huyết áp – và có thể tình trạng này đã xảy ra từ trước khi COVID-19 bắt đầu xuất hiện.  Tất cả chúng ta đều đã từng trải nghiệm việc một số âm thanh nhất định có thể gây ảnh hưởng đến thần kinh của bản thân, chẳng hạn như tiếng rít khi cứa móng tay lên bảng đen hoặc tiếng khóc thét của một đứa trẻ; nhưng đáng ngạc nhiên là hoá ra âm thanh của một số từ cụ thể (như “virus”) cũng có thể ảnh hưởng đến cảm nhận và thậm chí hé lộ một chút về ý nghĩa tiêu cực của chúng. Hiện tượng này, trong đó âm thanh của một từ kích hoạt một cảm xúc hoặc một ý nghĩa, được gọi là “biểu tượng âm thanh” (sound symbolism). Tuy nhiên, quan điểm cho rằng có thể tồn tại mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa của từ đã đi ngược lại với tư duy ngôn ngữ được chấp nhận từ hơn một thế kỷ trước.  Trong cuốn sách Trò chơi Ngôn ngữ: Sự cải tiến đã tạo ra ngôn ngữ và thay đổi thế giới như thế nào, GS Morten H. Christiansen (Giáo sư Tâm lý học, Đại học Cornell) và GS Nick Chater (Giáo sư Khoa học Hành vi, Trường Kinh doanh Warwick, Đại học Warwick) đã phác thảo một quan điểm hoàn toàn mới về cách chúng ta, với tư cách con người, sử dụng ngôn ngữ ngay từ đầu; cách trẻ em có thể học và sử dụng nó một cách dễ dàng, và biểu tượng âm thanh đóng vai trò gì trong đó.  Mối quan hệ giữa âm thanh và ý nghĩa  Các ngành khoa học ngôn ngữ từ lâu đã cho rằng âm thanh của một từ không cho chúng ta biết ý nghĩa của nó. Điều này giúp giải thích lý do tại sao các ngôn ngữ khác nhau thường sử dụng các mẫu âm thanh rất khác nhau để diễn đạt cùng một ý nghĩa. Ví dụ, cây thân gỗ lâu năm mà chúng ta gọi là “tree” trong tiếng Anh thì là “Baum” trong tiếng Đức, “arbre” trong tiếng Pháp và “shù” (樹) trong tiếng Quan Thoại. Tất nhiên, các ngôn ngữ đều chứa những từ tượng thanh như tiếng bíp, tiếng nổ và tiếng vo ve – nhưng nhiều học giả, như Steven Pinker, đã lập luận rằng những từ bắt chước trực tiếp âm thanh trong tự nhiên như vậy chỉ là những ngoại lệ nằm ngoài quy luật.    Ảnh:  Cây thân gỗ lâu năm mà chúng ta gọi là “tree” trong tiếng Anh thì là “Baum” trong tiếng Đức, “arbre” trong tiếng Pháp và “shù” (樹) trong tiếng Quan Thoại. Ảnh: StocKNick/Shuttestock  Tuy nhiên, khi các nhà khoa học về ngôn ngữ tiến hành xem xét kỹ hơn hơn 7.000 ngôn ngữ trên thế giới, họ đã phát hiện ra rằng biểu tượng âm thanh không chỉ có những ngoại lệ hiếm hoi như trên, mà còn xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. GS Morten H. Christiansen và GS Nick Chater đã phân tích gần hai phần ba ngôn ngữ trên thế giới và nhận thấy có những mối tương quan đáng tin cậy giữa các âm cụ thể được sử dụng trong từ và ý nghĩa của từ.  Ví dụ: nếu bạn chọn ngẫu nhiên một ngôn ngữ mô tả khái niệm “red” (đỏ), thì từ tương ứng có nhiều khả năn sẽ có âm “r” trong đó – chẳng hạn như  “rød” trong tiếng Đan Mạch, “rouge” trong tiếng Pháp và “krasnyy” ( красный ) bằng tiếng Nga. Nhưng điều này không có nghĩa là âm “r” luôn có nghĩa là “red”, chỉ có điều các từ trên thế giới chỉ màu đỏ thường có âm “r”. Và sự trùng hợp này không phải vì những người nói những ngôn ngữ này đều sống ở cùng một nơi hay vì họ nói những ngôn ngữ có nguồn gốc từ một tổ tiên chung xa xưa.  Các từ chế cũng có thể mang tính biểu tượng. Trong một nghiên cứu kinh điển vào năm 1929, nhà tâm lý học người Đức Wolfgang Köhler đã cho những người nói tiếng Tây Ban Nha nhìn thấy một vật có đường nét tròn với một vật có các mũi nhọn, và hỏi họ nghĩ cái nào được gọi là “baluba” và cái nào là “takete”, hầu hết đều chọn baluba” là từ gắn với vật tròn trịa và “takete” là từ gắn với vật gai góc. Các nghiên cứu sau đó (thay thế baluba bằng bouba và takete bằng kiki) đã phát hiện cảm nhận tương tự giữa sinh viên người Mỹ và người nói tiếng Tamil ở Ấn Độ. Ngay cả trẻ sơ sinh dưới bốn tháng tuổi cũng có lựa chọn tương tự.     Hình nào là ‘bouba’ và hình nào là ‘kiki’?   Trong một nghiên cứu năm 2021, GS Christiansen và GS Chater đã chỉ ra rằng hiệu ứng bouba-kiki này có thể bắt nguồn từ sự kích thích cảm xúc (làm dịu và kích động). Những người tham gia thí nghiệm cảm thấy rằng những hình dạng có gai nhọn gây ra một mức độ cáu kỉnh, bức dọc, trong khi những hình tròn được cho là mềm mại và êm dịu hơn. Tương tự, “kiki” được đánh giá là có đặc tính âm thanh căng, cứng, trong khi “bouba” lại nhẹ nhàng hơn.  Trong thử nghiệm cuối cùng, những người tham gia được yêu cầu ghép một tập hợp các hình tròn và nhọn với một tập hợp các từ vô nghĩa. Kết quả xác nhận rằng mọi người có xu hướng ghép những hình có gai nhọn với các từ kích thích cao và những từ có dạng tròn với các từ kích thích thấp. Điều này cho thấy rằng phản ứng cảm xúc đối với những gì chúng ta nhìn thấy và nghe thấy đã thúc đẩy một số mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa trong vốn từ vựng của chúng ta.  Một khía cạnh khác của biểu tượng âm thanh  Sự kết nối biểu tượng âm thanh giữa âm thanh và ý nghĩa rất hữu ích: chúng giúp chúng ta học ngôn ngữ dễ dàng hơn, vì âm thanh của một từ có thể khơi gợi ý nghĩa của nó. Nhưng vẫn có một số hạn chế tồn tại.  Mô hình máy tính về cách trẻ em học ngôn ngữ đã tiết lộ rằng, khi vốn từ vựng của trẻ ngày càng phát triển, càng ngày càng khó có những âm báo hiệu các đặc trưng về ý nghĩa. Thật vậy, trong một nghiên cứu, nhóm tác giả phát hiện ra rằng những từ có xu hướng tiếp thu sớm khi còn nhỏ sẽ mang tính biểu tượng âm thanh hơn những từ được tiếp thu khi ta lớn lên.  Quả thật, có một lý do hợp lý ngăn cách âm thanh và ý nghĩa của nó. Giả sử tất cả các giống chó đều được định danh bằng những từ rất giống nhau như beagle, bagel và bugle, thì chỉ cần chúng ta ‘nghễnh ngãng’ một chút, chúng ta cũng có thể nghe nhầm thành một giống chó khác. Tuy nhiên, trên thực tế, beagle (chó săn thỏ), bagel (bánh vòng) và bugle (tù và) là những từ rất khác nhau. Vì vậy khi một người nói rằng họ đã mua một dây dắt mới cho “chó beagle” của họ thì chúng ta khó mà nghe nhầm thành mua một dây dắt cho chiếc “bage” (bánh vòng) hay “bugle” (tù và) được, chúng không có nghĩa gì. Việc ngắt kết nối âm thanh và ý nghĩa làm cho quá trình giao tiếp trở nên rõ ràng hơn – và các ngôn ngữ theo thời gian sẽ có xu hướng nới lỏng mối liên kết giữa âm thanh và ý nghĩa.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể phát hiện nhiều mối liên hệ lịch sử sâu sắc giữa âm thanh và ý nghĩa. Chẳng hạn, để xoa dịu những căng thẳng khi nghe về một loại virus, chính những phân tích âm học đã gợi ý một giải pháp: hãy thử tập trung vào những âm thanh nhẹ nhàng, êm dịu hơn như “sun” (mặt trời), “moon” (mặt trăng) và “mom” (mẹ).  Hoàng Nhi  dịch  Nguồn: Why people hate or love the sound of certain words    Author                .        
__label__tiasang Vì sao có bức vẽ của Picasso bị rạn nứt?      Một dự án nghiên cứu kéo dài ba năm đã nhìn vào các vật liệu trong bốn bức tranh được họa sĩ Picasso sáng tác trong cùng thời kỳ đã giải thích vì sao trong đó có bức họa lại chóng bị hủy hoại hơn.      “Hombre Sentado” (người đàn ông ngồi) là bức vẽ của Picasso xuất hiện nhiều vết nứt hơn các bức khác. Nguồn: Gasull Fotografia.  Là một người ưa đổi mới, họa sĩ lập thể Pablo Picasso không xa lạ với những vật liệu ngoại lai. Kể từ khi ông qua đời vào năm 1973, các nhà bảo tồn đã phát hiện ra họa sĩ dùng cả sơn tường thông thường để tạo ra hiệu ứng bóng bẩy, rắc mùn cưa vào những bức họa của mình và thường xuyên tái sử dụng những bức vẽ không ưng ý để tiết kiệm tiền mua vật liệu.    Vào giữa tháng 6 và tháng 11/1917, trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Picasso sống tại Barcelona và thường xuyên vẽ trong xưởng của bạn mình là Rafael Martinez Padilla. Ông sử dụng những tấm toan mới được làm từ vải bông (thay vì sử dụng lại những toan, dùng keo có nguồn gốc động vật, màu vẽ được trộn từ dầu hạt lanh, dầu hướng dương, nhựa thông.    Thời kỳ Picasso ở Barcelona ghi dấu một điểm quan trọng trong sự nghiệp của ông. “Được cách biệt khỏi bầu không khí ngột ngạt ở Paris, một thành phố chịu ảnh hưởng của chiến tranh, và khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa Lập thể của chính mình, Picasso có được sự tự do để làm việc, tìm kiếm những hình thức biểu hiện mới”, một thông tin từ Bảo tàng Picasso ở Barcelona cho biết. Đây là thời kỳ ghi dấu sự phát triển mới của họa sĩ với việc sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả đề tài tĩnh vật và nhân vật.    Trong thời gian ở Tây Ban Nha, Picasso tham gia vào đoàn Ballets Russes của ông bầu, nhà phê bình nghệ thuật Nga Sergei Diaghilev. Ông giúp Diaghilev thiết kế sáu vở ballet và tạo ra ít nhất bốn bức họa theo phong cách lập thể lấy cảm hứng từ chính các vũ công: Hombre Sentado (Người đàn ông ngồi), Woman on an Armchair (Người phụ nữ trên ghế bành), Man With Fruit Bowl (Người đàn ông với bát hoa quả) và một bức chân dung trừu tượng ca sĩ Tây Ban Nha Blanquita Suárez.    Picasso đã cất các tác phẩm nghệ thuật này trong nhà mình cho đến khi ông trở lại Paris. Vào năm 1970, chúng đã được hậu duệ của ông trao tặng cho Bảo tàng Picasso và ở đó cho đến ngày nay. Đó là điểm khởi đầu cho câu chuyện bảo tồn những kiệt tác của các nhà khoa học đa quốc gia, kéo dài trong vòng ba năm với công bố “Picasso’s 1917 paint materials and their influence on the condition of four paintings” (Các vật liệu vẽ năm 1917 của Picasso và những ảnh hưởng của chúng lên điều kiện của bốn bức họa) trên tạp chí SN Applied Sciences1.     Những vết rạn bí ẩn     Một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi các bức họa này được tạo ra, những biến đổi đầu tiên đã xuất hiện: tác phẩm Hombre sentado dường như lâm vào tình trạng xấu hơn ba bức còn lại. Các chuyên gia đã quan sát vô số điểm tổn thương trên bề mặt bức họa và muốn hiểu sâu hơn về hiện tượng này, ví dụ như hiểu tại sao nhiều bức họa tương tự, vốn được bảo quản trong cùng một điều kiện trong suốt một thế kỷ, lại có những tổn thương khác biệt nhau.    Câu hỏi này đã quy tụ được một nhóm nghiên cứu quốc tế liên ngành cho dự án ProMeSA (nghiên cứu về cơ chế và các đặc tính thứ nguyên của các màng mỏng vẽ thương mại) do Laura Fuster-López, giáo sư bảo tồn tại trường Đại học Bách khoa de València điều phối. “Dự án này tập trung vào việc kết hợp nghiên cứu thành phần phần hóa học và các quá trình phân rã mang tính cơ lý biểu thị đặc điểm của các tác phẩm nghệ thuật hiện đại và đương đại”, Laura Fuster-López nói. “Bởi vì không phải tất cả các vấn đề phát sinh lại cùng có chung một nguyên nhân, và nó khiến các tác phẩm nghệ thuật bị giảm giá trị một cách bí ẩn không ngừng, ngay cả khi các bức họa ấy được đưa vào bảo quản trong môi trường có những điều kiện được kiểm soát. Do đó các nhà nghiên cứu cần hiểu các đặc tính vốn có của vật liệu được các nghệ sĩ sử dụng, có thể là nguyên nhân gốc rễ của việc thiếu bền vững theo thời gian và có giải pháp bảo quản các bộ sưu tập”.    Laura Fuster-López đã mời nhiều đồng nghiệp quốc tế tham gia dự án: các nhà khoa học bảo tồn và khoa học di sản từ trường Đại học Ca’ Foscari Venice, khoa học vật liệu từ trường Đại học Queen Canada, chuyên gia về hủy hoại theo cơ chế (mechanical damage) từ Học viện Nghệ thuật hoàng gia Đan Mạch và các chuyên gia về kỹ thuật đánh giá không phá hủy từ Viện Vật lý ứng dụng Ý ở Florence. Bà muốn thử nghiệm trên nhiều nền tảng kiến thức, khám phá mối tương quan giữa vật liệu do Picasso sử dụng và điều kiện môi trường của nó. Việc áp dụng một cách tiếp cận đa phân tích và sử dụng công nghệ tiên tiến cho phép họ tìm hiểu về từng lớp màu vẽ và thu được thông tin không hiển thị dưới những cặp mắt ‘phàm’.    “Bức Hombre sentado cho thấy các dấu hiệu nứt vỡ trên khắp mọi điểm trên bề mặt bức tranh”, Laura Fuster-López nói với The Art Newspaper. “Nó giống như thể chúng ta nhìn vào lòng một dòng sông cạn, một khi nước đã rút sạch thì để lại những đường rạn và nếp gấp có thể thấy ngay trên bề mặt”.      Kết quả phân tích bốn bức họa của Picasso.  Cho dù tất cả các bức họa đều được bảo quản trong những điều kiện tương đồng thì chỉ có Hombre sentado là bị ảnh hưởng. Sự thật là các vết nứt trải dài khắp bề mặt toan nhưng lại ít xuất hiện ở các phần rìa khung tranh, điều này cho thấy ít có khả năng kết luận đây là hậu quả của môi trường bảo quản. Nếu đúng là như vậy thì câu hỏi thú vị là tạo sao những bức họa khác lại không ở tình trạng này? Một giải thích có thể chấp nhận được là có thể các nguyên liệu mà Picasso sử dụng rất khác nhau và do đó là nguyên nhân khiến bức này bị ảnh hưởng nhiều hơn.    Đây là điểm mấu chốt để các nhà khoa học tìm hiểu. Trước đây, người ta vẫn có xu hướng suy nghĩ khá hời hợt về các vết rạn và chủ yếu coi đó là kết quả của các phản ứng hóa học bên trong các lớp màu vẽ; tuy nhiên một số khác biệt về mức độ của các vết rạn giữa các màu vẽ khiến người ta phải nghĩ lại. Một mạng lưới vết rạn khắp toàn bộ bức Hombre sentado thể hiện ở mọi màu sắc, cả khu vực gồm màu đen và đỏ. Sự phản hồi của màu đen và màu đỏ trong những bức họa khác không cho thấy những vết rạn tương tự. Điều này cho thấy các lớp màu không chỉ là nguyên nhân duy nhất tạo ra lực ảnh hưởng mà phải có một dạng phá hủy khác là kết quả của sự tương tác giữa màu, nền và mặt toan.     Nguyên liệu hé lộ bí mật     Francesca Izzo, một chuyên gia về các bức họa thế kỷ 20 và 21 tại Trung tâm KH&CN Bảo tồn di sản văn hóa của trường Đại học Ca’ Foscari Venice, tập trung vào khám phá các lớp màu và lớp nền của các tác phẩm. Theo kết quả phân tích, tất cả các bức họa đều sử dụng một bảng màu tương tự với một vài màu vẽ truyền thống. Hầu hết các khu vực có màu trắng đều được bao phủ bằng chì trắng, màu đen về cơ bản là màu hữu cơ – bao gồm than ngà voi hoặc than xương. Màu xám và be là do Picasso trộn màu trắng, đen và một số màu khác có thể đem lại những màu ấm hơn hoặc lạnh hơn. Màu nâu và đỏ chủ yếu là sắt ô xít và thần sa. Màu vàng và xanh lá là màu chứa crôm, trong một số trường hợp có trộn thêm màu khác. Lớp màu vẽ được Picasso tô rất mỏng, chỉ với một hoặc vài lớp. Điều này khiến các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu kỹ hơn về sự tương tác giữa các màu, có thể là nguyên nhân dẫn đến các vết rạn.    “Kết quả phân tích mà chúng tôi có cho thấy Picasso sử dụng các loại dầu khác nhau để pha màu, chứa cả dầu hạt lanh truyền thống và loại dầu khi khô để lại một lớp màng cứng như dầu hướng dương và dầu hoa rum (hồng hoa)”, Izzo nói. “Hơn nữa, chúng tôi tin là ông đã thử nghiệm việc sử dụng màu bán tổng hợp chưa phổ biến vào năm 1917. Picasso vẽ trên vải bông theo hai lớp nền: đầu tiên là keo động vật và tiếp theo là dầu. Trong cả hai trường hợp, những màu khác nhau được trộn vào như chì trắng, barit, kẽm. Thú vị là chúng tôi thấy sự hiện diện của ‘xà phòng chứa kim loại’ (một loại xà phòng chứa muối kim loại của một a xít béo) – các hợp chất là khởi nguồn của chất liên kết phản ứng với một số ion được màu vẽ giải phóng”. Các nhà khoa học cho rằng, các xà phòng chứa kim loại có thể là nguyên nhân của những tổn hại trên tranh, cả về góc độ thẩm mĩ và độ bền hóa học lẫn độ bền cơ học.  Nhìn sâu vào màu sắc, họ còn thấy thêm một số thú vị khác. Màu đen và đỏ có xu hướng gây ra vết rạn hơn những màu khác của bức họa, không có vết rạn ở vùng xám nhạt và một vài vết ở vùng xám sẫm so với vùng màu đen. Có giả thuyết sớm đặt ra là có thể các màu tương tác với nhau nhưng phân tích quang phổ huỳnh quang tia X cho thấy sự hiện diện của chì trắng ở mọi nơi. Sự phân bố theo không gian của chì cho thấy chỗ nào nồng độ chì lớn thì lớp màu vẽ trở nên cứng và bền hơn, do đó ít bị tổn thương hơn trước các dao động của môi trường.    Điều làm các nhà khoa học đau đầu nhất là bảng màu Picasso sử dụng đều giống nhau ở cả bốn bức tranh. Vậy tại sao Hombre sentado lại dễ bị rạn nứt hơn các bức khác? Có thể là do sự khác biệt về lớp nền và toan vẽ chăng? Các lực do môi trường tạo ra trên mặt toan và lớp keo nền được biết là ảnh hưởng đến các bức họa. Các màng mỏng màu vẽ cũng có ảnh hưởng đến độ rạn ở một số địa điểm của tranh, do đó có thể là các màu vẽ khác nhau có những đặc điểm hóa học và vật lý khác nhau nhưng điều làm Hombre sentado trở nên khác biệt chính là chất liệu toan và keo động vật. Hóa ra, Picasso đã sử dụng một tấm toan bằng sợi bông với một kiểu dệt đan kết các sợi sít hơn cho bức Hombre sentado, sau đó phủ nó bằng một lớp nền dày hơn làm bằng keo động vật. Xu hướng của tấm toan vẽ phủ keo động vật là giãn nở khi không khí có độ ẩm cao hoặc co rút khi ở độ ẩm thấp đã góp phần hình thành sức căng bên trong lớn hơn khi bức họa rơi vào môi trường có độ ẩm dao động ở các mức khác nhau.    Bức Man with a Fruit Bowl không có vết rạn có thể là do sự hiện diện của kẽm ở lớp màu vẽ trên cùng cũng như việc sử dụng tấm toan được dệt thưa hơn và lớp màu vẽ đồng đều.    Bức Woman on an Armchair lại cho thấy một số vết rạn, có thể là do sự hiện diện của carboxylates khiến các lớp màu cứng hơn.    Còn với chân dung Blanquita Suarez, sự hiện diện của một lượng lớn protein trên lớp nền cho thấy có thể nó dễ bị ảnh hưởng bởi độ ẩm. Tuy nhiên vết rạn trên bức này cùng bức Woman on an Armchair lại là kết quả của những tác động liên quan đến công việc bảo tồn trước đó.     Gợi ý về bảo tồn tranh     Nghiên cứu của các nhà bảo tồn và khoa học vật liệu quốc tế cho thấy có nhiều câu hỏi và ý tưởng mới cho nghiên cứu tiếp theo. Họ vẫn đang cố gắng tìm hiểu tác động từ “sự dịch chuyển” có thể của vật liệu bên trong các lớp sơn dầu và lớp nền. Do đó, họ sẽ tiếp tục hợp tác với Bảo tàng Picasso để nghiên cứu về một số kiệt tác khác của danh họa Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Reyes Jiménez de Garnica, người phụ trách Ban Bảo tồn  và phục chế, Bảo tàng Picasso tại Barcelona, cho rằng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hiệu chỉnh lại chiến lược bảo quản và đánh giá điều kiện bảo quản các tác phẩm nghệ thuật (cụ thể là với điều kiện độ ẩm) và sự phơi sáng của nó.    Đây là điều rất quan trọng bởi nhiều bức tranh của Picasso hay của các họa sĩ khác đã được nhiều người trao tặng cho bảo tàng, nghĩa là có thể ở trong những điều kiện bảo quản không được nghiêm ngặt, và điều đó có thể làm ảnh hưởng đến các kiệt tác. Việc các nhà khoa học tham gia vào việc nghiên cứu sẽ giúp các bức họa không bị hủy hoại theo thời gian. Fuster-López hi vọng, những phát hiện của nhóm nghiên cứu sẽ hỗ trợ những nhà bảo tồn khác, “trách nhiệm của chúng tôi là cung cấp cho họ những công cụ tốt và hiểu biết về các vật liệu”.    Một tiềm năng nghiên cứu cho tương lai của họ là các dạng xà phòng kim loại (metal soaps), những hợp chất hình thành khi các a xít béo trong những tác nhân liên kết của màu vẽ phản ứng với chì và kẽm có trong bảng màu. Những điểm bất thường nhỏ xíu ấy mà người ta thường gọi là ‘mụn nghệ thuật” đã xuất hiện trên tranh của Picasso cũng như tranh của nhiều danh họa khác Rembrandt, Georgia O’Keeffe, Piet Mondrian, Vincent van Gogh… đang cần được các nhà bảo tồn xử lý. □     Tô Vân tổng hợp   —–  1. https://link.springer.com/article/10.1007/s42452-020-03803-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao có doanh nghiệp?      Với việc tìm được lời giải cho câu hỏi mà lý thuyết kinh tế tân cổ điển không trả lời được một cách trôi chảy, nhà kinh tế Ronald Coase đã được tặng giải thưởng Nobel năm 1991. Ông vừa mừng sinh nhật lần thứ 100 của mình.      Mở rộng ngôi nhà lý luận về kinh tế học   Tại sao lại có doanh nghiệp? Trước Coase không có một nhà kinh tế học nào nêu câu hỏi dường như đơn giản này. Với lý thuyết tân cổ điển người ta khó có thể giải thích thỏa đáng về sự tồn tại của doanh nghiệp. Nếu mọi giao dịch trên thị trường đều diễn ra hoàn toàn có hiệu quả thì nhẽ ra một doanh nghiệp có thể mua mọi tiền dịch vụ từ một nhà cung cấp tự do. Như vậy khỏi cần tuyển nhân viên cố định. Thí dụ thay vì phải tuyển một nữ thư ký khi cần người ta có thể thuê một nhân công đánh máy giá rẻ để giao việc.   Nhưng Ronald Coase, khi còn là một giảng viên trẻ làm việc tại London School of Economics, đã phát hiện: ngay cả khi sử dụng công cụ thị trường thì doanh nghiệp cũng phải tốn tiền (và thời gian). Khi xúc tiến, thương thảo và thực hiện một giao dịch sẽ hình thành cái gọi là phí giao dịch (Transaktionskosten). Vì thế đối với các loại công việc thường hay diễn ra và đòi hỏi phải thực hiện một cách chu đáo, tin cậy thì về lâu dài sẽ thuận lợi hơn nếu doanh nghiệp ký hợp đồng với nhân viên. Những doanh nghiệp bố trí theo đẳng cấp sẽ tiết kiệm được chi phí cọ sát diễn ra trong quá trình mua dịch vụ này trên thị trường. Đồng thời Coase cũng phản bác nỗi lo ngại của một số nhà kinh tế cảnh báo về việc các doanh nghiệp sẽ tăng trưởng vô hạn độ và trở thành các tập đoàn khổng lồ và độc quyền. Ngay trong nội bộ các hãng cũng hình thành chi phí giao dịch do quan liêu và từ đó hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp.  Ronald Coase vừa qua lễ mừng sinh nhật lần thứ 100 của mình. Ông là một con người giản dị, khiêm nhường nhưng có ảnh hưởng rất lớn trong ngành khoa học kinh tế. Với lý thuyết về phí giao dịch mà ông viết năm 1937 dưới dạng một tiểu luận mang tên “The Nature of the Firm”, ông đã mở rộng mạnh mẽ ngôi nhà lý luận về kinh tế học và chuẩn bị về lâu dài cho cái nền của cái gọi là thể chế kinh tế mới. Thoạt đầu bài tiểu luận này hầu như ít được chú ý, mãi hàng thập niên sau đó các nhà kinh tế học mới nhận thức được ý nghĩa của bài tiểu luận đó và năm 1991 Coase mới được tôn vinh bằng giải thưởng Nobel.  Ông vươn lên đỉnh cao về học thuật trong một gia đình hết sức bình dân. Coase, sinh ngày 29/12/1910 ở Willesden ngoại ô London trong một gia đình không liên quan gì đến học vấn (cả bố lẫn mẹ không ai theo học quá tuổi 12), ông là người đầu tiên trong gia đình học đến cấp ba, sau học hóa ở bậc đại học. Tuy nhiên ông cảm thấy môn hóa học quá toán học nên chuyển sang học kinh tế và trọng tâm là kinh tế doanh nghiệp. Trong những năm 1931 và 1932 ông sang Mỹ và trong thời gian này ông tìm hiểu thực tế ở một loạt doanh nghiệp. Việc tham quan tại chỗ đã đưa ông tới suy nghĩ về lý thuyết đối với phí giao dịch. Trước đó các nhà kinh tế học vẫn coi các doanh nghiệp như “black box” , nơi chuyển đầu vào thành đầu ra; nhờ Coase người ta bắt đầu nghiên cứu một cách hệ thống cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp. Ngày nay Internet làm giảm nhiều phí giao dịch vì vậy dẫn đến thay đổi hình thức doanh nghiệp.  Mở đường cho việc kinh doanh chứng chỉ khí thải   Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Coase chuyển tới Hoa Kỳ. Tại đây năm 1961 ông tiếp tục đưa ra lý thuyết thứ hai có tính đột phá và gây nhiều tranh cãi trong một luận đề mang tên “The Problem of Social Cost”. Trong luận đề này Coase chỉ ra rằng, đối với vấn đề hiệu ứng ngoại – thí dụ việc một nhà máy gây ô nhiễm đối với một dòng sông – thì không thể chỉ dựa vào giải pháp điều tiết thông thường theo cách của Arthur Cecil Pigou. Yếu tố quyết định là phải làm rõ quyền sở hữu. Sau đó tiến hành thương lượng tự do giữa một bên là kẻ gây hại và một bên là người bị hại để từ đó tìm ra giải pháp xử lý mang lại lợi ích tối đa cho toàn xã hội. Ý tưởng buôn bán chứng chỉ khí thải xuất phát từ quan niệm cơ bản này. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh khi đề cập đến Coase, một người có tư tưởng tự do, để giải quyết được các vấn đề không nhất thiết cần phải có sự tham gia của Nhà nước. Nhiều khi sự phối hợp tự do, phi tập trung lại mang lại hiệu quả lớn hơn.           Ý tưởng buôn bán chứng chỉ khí thải xuất phát từ luận đề mang tên “The Problem of Social Cost” của Ronald Coase          Cách tiếp cận này đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc thảo luận về phi tập trung hóa. Từ năm 1964 đến 1984 Coase giảng dạy tại Đại học Luật ở Chicago, ông đã mở rộng lĩnh vực khoa học kinh tế và đề cập cả tới khoa học pháp lý. Trong môn nghiên cứu hẹp của mình, khoa học kinh tế, ông không phải là người lúc nào cũng dễ dàng tiếp cận; dường như ngày nay môn khoa học này đối với ông đã trở nên quá toán học và xa rời thực tế . Giờ đây tuy tuổi cao, Coase vẫn hoạt động tích cực trong lĩnh vực nghiên cứu. Đầu năm tới cuốn sách mới của ông mang tựa đề “How China became Capitalist” dự kiến sẽ được xuất bản.   Xuân Hoài  dịch   Theo F.A.Z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao điện hạt nhân lại quan trọng trong thời kỳ chuyển giao năng lượng?      Marcello Losasso, nhà vật lý ứng dụng, Trung tâm chuyển giao kiến thức (CERN) đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về vai trò của điện hạt nhân hiện tại và tương lai.      Hành tinh của chúng ta cần một hệ năng lượng mới có khả năng cung cấp một cách bền vững nguồn điện năng tin cậy và liên tục. Là một trong những công nghệ điện năng ít phát thải GHG nhất mà chúng ta sẵn có ngày nay bởi với mỗi kWh thì điện hạt nhân chỉ tạo ra mức phát thải tương đương 15 gram CO2 trong vòng đời hoạt động của một nhà máy điện. Theo số liệu từ Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), giai đoạn 1970-2013, việc sử dụng nguồn năng lượng phát thải carbon thấp có thể giúp chúng ta tránh được 163 tổng dung tích các phát thải CO2. Điện hạt nhân đóng góp 41%, trong khi điện mặt trời và gió khoảng 6%. Trong nhiều nghiên cứu độc lập thì năng lượng hạt nhân cũng được xếp vào những nguồn phát khí thải GHG trong những công nghệ phát điện.  Các nhà máy điện hạt nhân ngày nay cung cấp 10% sản lượng điện thế giới, tất cả đều không phát thải carbon – hầu như gấp đôi mức đóng góp của cả điện mặt trời và điện gió. Để đạt được các mục tiêu năng lượng  chính của Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDG), Thỏa thuận Paris đã lập ra một mục tiêu tham vọng cụ thể về hạt nhân, hướng đến việc nâng cao gấp đôi mức công suất lắp đặt hiện nay vào năm 2050. Với ngành công nghiệp hạt nhân, điều này có nghĩa là tăng gấp đôi thách thức bởi sẽ còn phải thay thế một cách tuần tự các nhà máy chạm tới cuối vòng vận hành và xây dựng thêm các nhà máy mới vào danh sách các nhà máy đang có. Và dẫu sao, quá trình song song này là điều cần thiết cho đổi mới sáng tạo.  Thách thức và chi phí cho năng lượng hỗn hợp  Việc giải carbon đòi hỏi đề xuất thực tế vào năm 2050 là thay thế 81% mức năng lượng tạo ra ngày nay từ nhiên liệu hóa thạch. Lựa chọn được các năng lượng đúng đắn là một vấn đề phức tạp, và các công nghệ chúng ta có đều chưa đủ chín muồi để có thể tạo ra tác động trước năm 2050 như điện nhiệt hạch hoặc “bẫy’ carbon, lưu trữ điện năng có thể không đủ tin cậy. Các công nghệ năng lượng phát thải carbon thấp hiện ở mức có thể chấp nhận được là gió, mặt trời, thủy điện và hạt nhân. Ngoài ra, giới hạn của bất kỳ loại công nghệ nào trong số này đều làm ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và độ trễ trong giảm thiểu phát thải. Khả năng tăng trưởng của chúng đều bị giới hạn.  Những tiên tiến về công nghệ điện mặt trời và gió mà chúng ta đạt được ngày nay vẫn không thể vượt qua sự thiếu liên tục của nó, hoặc các dòng chảy vật lý tạo ra những giới hạn cho hiệu suất tạo ra điện của chúng. Việc làm giảm thiểu sự gián đoạn của điện gió và điện mặt trời bằng các hệ lưu trữ năng lượng là chuyện rất khó thực hiện; việc lưu trữ một một lượng nhỏ điện năng sẽ có thể đạt được ở mức chi phí phải chăng trong tương lai gần. Các loại pin nhiều hứa hẹn nhất đều chứa kim loại như lithium, cobalt và magnesium đều đòi hỏi khai thác mỏ ở mức rất lớn, tốn nhiều năng lượng và với cách làm đó thì không thể đạt được yêu cầu của Các mục tiêu phát triển bền vững.  Rút cuộc, sự đóng góp của điện hạt nhân có thể tạo ra một chuyển đổi năng lượng ở chính khả năng theo sát và nắm lấy điểm yếu của năng lượng tái tạo – tính gián đoạn. Đảm bảo sự cân bằng giữa nhu cầu điện năng và khả năng cung cấp điện năng, nguồn phụ tải nền hạt nhân có thể đóng vai trò chính, đáp ứng được những yêu cầu khác nhau theo mùa, ngày và giờ. Những nhu cầu này ngày càng trở nên quan trọng hơn.  Những người hoài nghi vào điện hạt nhân thường tập trung vào chi phí của nó: có nhiều ví dụ về chi phí và thời gian vận hành của nhà máy điện hạt nhân và sự thật là chi phí cho điện gió và điện mặt trời đang suy giảm. Nhưng khi tất cả các nhân tố được xem xét và mức độ xâm nhập thị trường của một công nghệ cụ thể được đo lường thì phân tích chi phí đưa ra những mẫu hình trái ngược. Các nhà máy điện không tồn tại một cách cô lập; chúng tương tác với nhau và các khách hàng của họ đều thông qua lưới điện và trong phạm vi môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên. Đó là lý do giải thích tạo sao việc đánh giá chi phi tổng có thể không bao gồm các chi phí đầu tư mà còn cả các chi phí kết nối, mở rộng và tăng cường lưới điện, các chi phí về tài chính và kỹ thuật của việc bị gián đoạn sản xuất điện năng, các chi phí an ninh trong cung cấp điện năng và tác động của nó, và những tác động vào môi trường địa phương và toàn cầu.  Một phân tích đã được thực hiện ở những quốc gia khác nhau về số lượng của các chi phí về phương diện mức độ gia nhập của năng lượng tái tạo trong một năng lượng hỗn hợp, bao gồm năng lượng hạt nhân, gió và mặt trời. Các chuyên gia tính toán, việc đưa nguồn năng lượng tái tạo lên tới 10% trong số tổng sản lượng điện cung cấp sẽ làm gia tăng vào mức chi phí mỗi MWh, dao động trong khoảng 5% và 50%, và còn phụ thuộc vào khả năng của mỗi quốc gia, trong khi việc đáp ứng 30% nhu cầu có thể làm tăng chi phí từ 16% đến 180%. Những khác biệt giữa các quốc gia đang ngày càng quan trọng hơn sự khác biệt về công nghệ. Một so sánh giữa hai thị trường khác nhau – Anh và Mỹ – đã cho thấy điều đó:    Sự gia tăng trong chi phí điện năng liên quan đến sự phân phối ngày càng tăng do sự kết hợp giữa chi phí đầu tư, chi phi cân bằng và phù hợp, chi phí bổ sung của truyền tải và phân phối điện năng cao hơn. Cân bằng chi phí cần thiết để đảm bảo hiệu suất hệ thống cơ bản trên từng phút của cung và cầu, trong sự bất định giữa cung và cầu. Những chi phí thích đáng xuất hiện để đáp ứng nhu cầu ở mọi thời điểm, đó là các chi phí cung cấp cho các bệnh viện cũng như điện năng trong thời kỳ đại dịch – ngay cả vào những ngày không có nắng và gió không thổi.  Ngày nay, trong các quốc gia, nơi các công nghệ có khả năng điều phối này có mặt, các chi phí này đều bằng không nhưng việc đưa năng lượng tái tạo vào hệ thống điện quốc gia khiến chi phí tăng đáng kể. Việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo là một vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến cấu trúc, tài chính, phương thức vận hành của các hệ thống điện. Trong phần lớn các quốc gia OECD, điện gió và điện mặt trời được trợ giá cho mỗi MWh tạo ra vào hệ thống điện bất chấp các mức giá thị trường. Khi nói ra điều này, chúng ta không muốn làm xói mòn vai trò của năng lượng tái tạo mà chỉ nhấn mạnh vào sự thật là không có sự đóng góp của điện hạt nhân, việc chuyển giao năng lượng sẽ trở nên chậm hơn, đắt đỏ hơn và rủi ro cao hơn. Việc làm cho các chi phí hệ thống này trở nên minh bạch có ý nghĩa quan trọng với các nhà đầu tư, khách hàng, các nhà hoạch định chính sách.  Tương lai của điện hạt nhân  Nhiều quốc gia đã cam kết gia tăng sản lượng điện hạt nhân để đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Nhưng môi trường chính trị và kinh tế, và sự thiếu hỗ trợ của công chúng khiến cho việc đạt dược các mục tiêu này trở nên khó khăn hơn. Nếu như tính toán các thông số kể trên thì chi phí của điện hạt nhân không phải là rào cản nhưng rác thải hạt nhân, an toàn hạt nhân và vũ khí hạt nhân vẫn là những chướng ngại khiến người ta e ngại công nghệ này.  Ngày ngay, một số doanh nghiệp đang đề xuất một cách tiếp cận mới về công nghệ, xây dựng một kiểu khác biệt về năng lượng phân hạch được tạo ra trên cơ sở những máy gia tốc hạt và các lò phản ứng tới hạn. Công nghệ này – được CERN mở đường vào năm 1990 – với mục tiêu giảm bớt vòng đời của rác thải hạt nhân và tạo ra năng lượng phi carbon tại mức giá chấp nhận được, thấp hơn 5 cents mỗi kWh. Công nghệ này an toàn hơn, có khả năng gia tăng quy mô hơn, bền vững và không tạo ra vũ khí hạt nhân. Nét  đổi mới sáng tạo chính của công nghệ này là sử dụng máy gia tốc proton để tạo ra nguồn neutron thông lượng cao, có thể tập trung các chuỗi phản ứng phân hạch trong lõi.  Và khi máy gia tốc dừng hoạt động, chuỗi phản ứng phân hạch cũng dừng lại. Điều đó khiến cho việc xảy ra một tai nạn kiểu như Chernobyl là không thể. Khi hệ thống này được đề xuất trang bị thêm phần loại nhiệt thụ động, tai nạn nóng chảy lõi lò phản ứng như ở Fukushima hay Three-Mile Island cũng có thể không xảy ra. Rác thải hạt nhân được tiết giảm bởi phản ứng sử dụng nhiên liệu từ thorium hơn là uranium và hệ thống này có khả năng tái sử dụng chất thải hạt nhân làm nhiên liệu. Với nhiên liệu thorium, việc tạo ra plutonium đã trở nên không đáng kể, do đó loại đi yếu tố chính cho làm bom hạt nhân. IAEA cũng tuyên bố chu trình nhiên liệu thorium có thể là “chống phổ biến vũ khí hạt nhân ngay trong bản chất”.  Đổi mới sáng tạo này góp phần cho công nghệ hạt nhân có thể tồn tại một cách bền vững bên cạnh các nguồn năng lượng tái tạo, cung cấp một nguồn phụ tải nền an ninh và tin cậy, cho phép thế giới đạt được mục tiêu không phát thải carbon cần thiết như Thỏa thuận Paris đề ra.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.weforum.org/agenda/2020/07/nuclear-power-energy-transition/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao giới trẻ Việt cần học tinh thần “fail fast, fail cheap”?      Ai cũng biết khởi nghiệp gắn liền với rủi ro rất cao, đa số các doanh nhân khởi nghiệp đều gặp thất bại và chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ là thành công. Như vậy, ngày nay khi chúng ta kêu gọi, động viên giới trẻ Việt Nam khởi nghiệp, phải chăng cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang khuyến khích cho sự thất bại?      Điều nghe chừng như vô lý đó, thực ra lại có lý, bởi những kinh nghiệm khởi nghiệp thất bại là vô cùng quý giá, thậm chí thất bại nhiều khi còn cần thiết hơn thành công. Chỉ có thông qua những kinh nghiệm thất bại, lớp trẻ mới thực sự học cách tự đứng trên đôi chân của mình, tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, và rèn giũa thêm nghị lực, ý chí để tiếp tục đến đích. Đặc biệt, thất bại buộc người ta phải có sự cởi mở, linh hoạt trong tư duy, loại bỏ những gì bất khả thi, không phù hợp với thực tiễn, theo cách nhanh chóng và ít thiệt hại nhất – hay nói theo ngôn ngữ của giới khởi nghiệp là “fail fast, fail cheap”, tạm dịch là thất bại sao cho nhanh nhất và rẻ nhất.  Điều đó thật cần thiết, đặc biệt với lớp trẻ Việt Nam, sản phẩm của một nền giáo dục còn mang nặng tính khoa cử xa rời thực tiễn. Các em đồng thời cũng là sản phẩm của tâm lý cầu an từ các bậc phụ huynh, những người chỉ mong sao con em mình học ra trường có được tấm bằng, rồi bằng cách này hay cách khác “xin” được một công việc ổn định trong một cơ quan, tổ chức nào đấy. Đối với họ, thành công nghĩa là được duy trì, bao bọc trong hệ thống sẵn có, kể cả khi cái hệ thống sẵn có ấy có thể vận hành kém hiệu quả, thậm chí đang mục ruỗng từ bên trong gây lãng phí vô vàn của cải, vật chất của xã hội – và cái lãng phí hơn cả chính là sự chôn vùi tiềm năng sáng tạo của những thanh niên lẽ ra đã có thể cống hiến những giá trị gia tăng lớn hơn nếu họ không lựa chọn sự an thân từ quá sớm.  Nhưng chúng ta không nên trách cứ tâm lý “cầu an” của các bậc phụ huynh ngày nay, những người đã phải trải qua những thập kỷ khó khăn, bấp bênh của đất nước giai đoạn Đổi Mới, chưa kể không ít người trong tư duy còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời kỳ được nhà nước bao cấp. Càng khó có thể trách họ, khi mà bản thân thể chế của chúng ta vẫn tiếp tục dung dưỡng cho tư duy ấy, với một bộ máy công quyền ngày càng phình to, lượng biên chế ngày càng lớn, và gánh nặng lên ngân sách ngày càng trầm trọng.  Trong một hệ thống như vậy, trái ngược với tư duy thất bại sao cho nhanh chóng nhất và ít tốn kém nhất của những người làm khởi nghiệp, ở đây người ta tìm cách thỏa hiệp, kéo dài sự tồn tại của những “xác sống” là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, bất chấp sự lãng phí các tài nguyên, nguồn lực của đất nước. Có lẽ cũng chính sự thỏa hiệp ấy dẫn tới sự hời hợt, duy ý chí và thiếu trách nhiệm trong việc thông qua các mô hình quản lý, các quyết sách và những dự án kinh tế trọng điểm sai lầm, mà hậu quả là những thiệt hại to lớn đã được thực tế chứng minh.  Xét từ điều kiện thực trạng trên đây của Việt Nam, rõ ràng việc truyền bá, giáo dục tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ là điều vô cùng cần thiết. Điều chúng ta hướng đến không chỉ là yếu tố kinh tế hay công ăn việc làm, mà quan trọng hơn, thế hệ những người chủ mới của đất nước phải là những công dân có tinh thần tự chủ cao, giàu tính năng động, và đầy tinh thần trách nhiệm, những người dám chấp nhận thất bại một cách sòng phẳng, và thông qua thất bại để có sự chuẩn bị cẩn trọng, chu đáo hơn cho những lựa chọn tiếp theo của mình.    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Vì sao Israel có nền công nghệ xử lý nước hàng đầu thế giới?      Tuy Israel nằm trên vùng đất rất khô hạn nhưng vẫn có đủ nước cho sản xuất nhờ vào nền công nghệ xử lý nước đầy sáng tạo. Tại sao quốc gia nhỏ bé này lại đạt nhiều thành tựu về công nghệ quản lý, tái chế nước như vậy?      Nhà máy tách muối ở Ashkelon, Israel.  Tại cuộc gặp gỡ của các chuyên gia về nước thải ở Hội chợ thương mại về công nghệ môi trường (IFAT), München, Đức, có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp Israel. Những năm gần đây, quốc gia này đã đi tiên phong về quản lý nước và là tấm gương cho nhiều nước khác noi theo.  Có khoảng 3.000 đơn vị từ nhiều ngành khác nhau như kinh tế nước, kinh tế chất thải và kinh tế nguyên liệu trên khắp thế giới tham gia hội chợ này để giới thiệu về các giải pháp về chu trình nguyên liệu bền vững. Trong số này có ba doanh nghiệp chuyên về truy tìm rò rỉ đường ống nước, lọc nước thải và quản lý tài nguyên nước đến từ Israel. Họ được rất nhiều đơn vị khác tại hội chợ quan tâm, tìm hiểu, trao đổi về công nghệ. Tại sao quốc gia này lại đạt nhiều thành tựu về công nghệ quản lý, tái chế nước như vậy?  Quay trở lại lịch sử đất nước này, cách đây trên 130 năm, những người Do Thái đầu tiên đã đặt chân trên rẻo đất giữa vùng Địa trung hải và Jordan, khi đó vùng đất này ít người, ít mầu xanh và rất ít nước. Còn ngày nay, đồng ruộng trải rộng trên vùng đất này. Bình quân đầu người, mỗi người dân Israel chỉ có khoảng 233 m3 nước từ nguồn nước tái sinh trong khi bình quân đầu người trên thế giới là 6000m3. Tuy nhiên cái khó không bó cái khôn, chính trong khốn khó đã nẩy ra sự sáng tạo. Nhất là từ cuối những năm 1990, Israel bị tác động bởi một vụ hạn hán nặng nề kéo dài. Trước tình hình đó, nhà nước Israel đề ra ba chiến lược lớn để chống lại tình trạng khan hiếm nước:  Thứ nhất: tiết kiệm – Tưới nước nhỏ giọt trong nông nghiệp  Trong canh tác nông nghiệp ở Israel, người ta sử dụng máy tính để điều khiển hệ thống tưới nước nhỏ giọt thay vì tưới phun đại trà, nước được đưa đến từng cây trồng, do đó giảm tối đa sự thất thoát. Rất nhiều nước đã học tập kinh nghiệm này và nhập khẩu hệ thống tưới nước nhỏ giọt của Israel.  Ngoài ra, để hạn chế sự thất thoát nước trong toàn bộ đường ống cấp nước, chỉ trong 10 năm, nhà nước Isareal chi khoảng 116 triệu Euro để củng cố hệ thống đường ông cấp nước trên toàn quốc.  Bên cạnh đó, Israel mở một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi về tiết kiệm nước, kết quả là chương trình này đã giúp tiết kiệm được 20% lượng nước sinh hoạt. Hiện nay Israel đứng hàng thứ sáu trên thế giới về tiết kiệm nước tính theo đầu người.  Thứ hai: khử mặn bằng phương pháp thẩm thấu ngược  Chỉ tiết kiệm không không đủ. Từ cuối thế kỷ trước, Israel đã đầu tư nhiều cho công nghệ khử mặn để biến nước biển thành nước ngọt. Trên toàn Israel có năm cơ sở khử mặn lớn và hàng chục cơ sở sản xuất nước lợ. Các hệ thống khổng lồ khử muối trong nước biển áp dụng công nghệ thẩm thấu ngược. Nước được bơm với  áp lực lớn qua các màng bán thấm để lọc. Hiện tại nước biển đã khử muối đáp ứng khoảng 30% tổng nhu cầu về nước ở Israel; nước này dự kiến đến năm 2050 tỷ lệ này sẽ tăng tới 70%.  Thứ ba: Xử lý nước thải  Israel là quốc gia đứng đầu thế giới về tái chế nước thải để tái sử dụng với 75% nước thải được sử dụng lại (xếp hạng thứ hai là Tây ban nha.) Nước tái chế được sử dụng chủ yếu trong nông nghiệp. Nhờ đó, Israel có đủ nước cho sản xuất nông nghiệp, thậm chí có thể xuất khẩu nhiều nông sản.  Theo chiến lược trên của Israel thì số tiền đầu tư cải tạo toàn bộ hệ thống nước đến năm 2050 sẽ lên tới khoảng 206 tỷ Schekel (tương đương 48 tỷ Euro). Tuy nhiên, nhà nước Israel sẽ không thực hiện đại công trình này một mình mà thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân trong cả nước cùng gánh vác bằng cách góp vốn và công nghệ.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.  Nguồn: http://www.wiwo.de/technologie/green/living/recycling-vorbild-israel-vom-wuestenland-zum-wasserweltmeister/13674614.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao không để họ phá sản      Việc mua lại bắt buộc cổ phần Ngân hàng TMCP  Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng/cổ phần là một ví dụ mới cho thấy Ngân  hàng Nhà nước (NHNN) chưa thoát khỏi quan điểm định kiến không cho phép  các ngân hàng thương mại yếu kém phá sản, và vẫn đang xoay xở với các  giải pháp tình thế khác.    Trong ba năm qua, NHNN vẫn loay hoay với kế hoạch sáp nhập các ngân hàng yếu kém, và loại bỏ khả năng để một/vài ngân hàng phá sản. Ví dụ vụ ép sáp nhập ba ngân hàng Cổ phần Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa, Cổ phần Đệ nhất năm 2011 thực chất rất gần với việc phá sản nếu chiếu theo luật Mỹ, nhưng ở Việt Nam, NHNN vẫn không dám sử dụng thuật ngữ “phá sản”.   Bên cạnh hoạt động sáp nhập, chính sách thứ hai của NHNN nhằm tháo gỡ bế tắc cho hệ thống ngân hàng là việc thành lập VAMC, với quan điểm “nợ xấu là một cục máu đông” trong nền kinh tế do TS Trần Du Lịch cổ súy. Tuy nhiên đây cũng là một chính sách không cần thiết, thậm chí lạc hướng. Nợ xấu nếu đã được thừa nhận và trích lập dự phòng đầy đủ thì không phải là trở ngại lớn cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên các ngân hàng có nợ xấu luôn có động cơ che giấu, cho nên vai trò của cơ quan quản lý phải là giám sát chặt chẽ không để ngân hàng làm điều này gây ngầm tích tụ rủi ro. Xét cho cùng, vai trò giám sát nhà nước ở đây vẫn là đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu và buộc những ngân hàng nào không đảm bảo điều kiện này phải phá sản để không ảnh hưởng đến cả hệ thống. Thay vào đó NHNN đưa ra “sáng kiến” VAMC hi vọng làm sạch sổ sách kế toán cho các ngân hàng, rồi lại tiếp tục loay hoay cân nhắc liệu có buộc các ngân hàng phải trích lập dự phòng đầy đủ hay không1. Tóm lại đây vẫn là tâm lý kỵ chữ “phá sản”.    Hai lí do không thỏa đáng   Vậy tại sao NHNN không chịu để một vài ngân hàng yếu kém phá sản? Hai lý do chính thường được viện dẫn là khi ngân hàng phá sản những người dân gửi tiền sẽ bị mất (một phần) và điều này có thể tạo ra khủng hoảng dây chuyền khi các ngân hàng lành mạnh khác cũng bị rút tiền hàng loạt.            Nếu NHNN kiểm soát chặt không để các ngân hàng che giấu nợ xấu (và không trích lập dự phòng) đồng thời thực thi qui định tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thì khó có chuyện một ngân hàng đã trên bờ vực phá sản mà vẫn huy động được nhiều người tới gửi tiền. Như vậy, trách nhiệm của NHNN là đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định giúp hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, chứ không phải là bằng mọi giá ngăn các ngân hàng phá sản.         Lý do thứ nhất nêu trên là không thỏa đáng, bởi đối với những ngân hàng nhỏ và đã có tai tiếng một thời gian thì những cá nhân/doanh nghiệp gửi một khoản tiền lớn vào đó phải hiểu được rủi ro khi gửi tiền, bởi xét cho cùng gửi tiền tiết kiệm cũng là một hình thức đầu tư không loại trừ rủi ro. Mặt khác, việc một ngân hàng đang rất khó khăn mà vẫn huy động được một lượng tiền gửi lớn còn có một phần lỗi lớn của cơ quan chức năng trong việc giám sát và công bố thông tin. Nếu NHNN kiểm soát chặt không để các ngân hàng che giấu nợ xấu (và không trích lập dự phòng) đồng thời thực thi qui định tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thì khó có chuyện một ngân hàng đã trên bờ vực phá sản mà vẫn huy động được nhiều người tới gửi tiền. Như vậy, trách nhiệm của NHNN là đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định giúp hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, chứ không phải là bằng mọi giá ngăn các ngân hàng phá sản, và trong trường hợp ngân hàng phá sản thì NHNN nói riêng và nhà nước nói chung không có trách nhiệm phải bảo vệ số tiền gửi của nhà đầu tư. Thậm chí nếu nhân viên ngân hàng lừa đảo chiếm dụng tiền của bạn, nhà nước chỉ có trách nhiệm truy tố những kẻ phạm tội trước pháp luật chứ không phải đền bù thiệt hại cho nhà đầu tư.    Lý do thứ hai thường được viện dẫn nêu trên về việc ngăn ngừa hiện tượng người gửi rút tiền hàng loạt để “tháo chạy” khỏi các ngân hàng (bank-run) hay khủng hoảng dây chuyền (contagion) cũng không thỏa đáng, bởi chống bank-run là nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương với chức năng người cho vay cuối cùng, mà một Ngân hàng Trung ương có năng lực cộng thêm trợ giúp của cơ quan bảo hiểm tiền gửi sẽ không quá lo ngại việc một vài ngân hàng phá sản. Trên thực tế, hằng năm ở Mỹ có vài chục ngân hàng phá sản mà thị trường không suy chuyển gì. Ngay trong giai đoạn khủng hoảng cao trào đầu năm 2009, hằng trăm ngân hàng thương mại Mỹ phá sản nhưng cơ quan bảo hiểm tiền gửi của Mỹ (FDIC) đều giải quyết ổn thỏa – tuy ở Mỹ xảy ra khủng hoảng từ sự kiện Lehman Brothers, nhưng câu chuyện này có bản chất rất khác2 và sẽ còn rất lâu cho đến khi chúng ta phải lo lắng một điều tương tự xảy ra ở Việt Nam.    Do đó theo tôi việc lần lữa trong việc chấp nhận để một vài ngân hàng thương mại phá sản chỉ có thể do NHNN không tự tin vào chính năng lực của mình và cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, và đây là một điều đáng tiếc.   Có thực NHNN mua VNCB không tốn đồng nào?   Trong trường hợp của VNCB, nợ xấu làm sụt giảm vốn tự có cũng như giá trị cổ phiếu của nó, và thậm chí nợ xấu đã trở nên lớn hơn vốn tự có của ngân hàng, khiến tỉ lệ vốn an toàn tối thiểu giảm sâu dưới mức quy định. NHNN không thể yêu cầu VNCB tăng tỉ lệ vốn tối thiểu bằng cách bán bớt tài sản, có thể vì các ràng buộc pháp lý sẵn có với các tài sản này, đồng thời việc vội vàng bán bớt tài sản trong trường hợp như vậy sẽ mất giá khiến giá trị ngân hàng càng giảm thêm. Cũng không thể buộc VNCB tăng thêm vốn điều lệ bởi các nhà đầu tư chẳng dại gì bỏ ra một số tiền để mua một mớ cổ phiếu ngân hàng có giá trị thấp hơn con số đó, chưa kể giá thị trường còn thấp hơn nữa.    Lúc này cơ quan quản lý có hai phương án: cho ngân hàng phá sản hoặc dàn xếp bailout (mà tiếng Việt thường dịch không đạt lắm là “giải cứu”). Bailout thông thường được hiểu là chính phủ bơm tiền cứu doanh nghiệp (hoặc cũng có thể là sự dàn xếp để các bên tư nhân bơm tiền cứu ngân hàng, nhưng tất nhiên để có bailout hoàn toàn bằng tiền tư nhân như vậy cơ quan quản lý nhiều khi phải đưa ra những đảm bảo hay nhượng bộ nào đó, và suy cho cùng nếu tính đúng tính đủ thì đó cũng là một dạng “tiền nhà nước”). Số tiền nhà nước bỏ ra bailout các ngân hàng tư nhân phần lớn dưới hình thức góp vào vốn chủ sở hữu để đảm báo tỉ lệ an toàn vốn đạt yêu cầu tối thiểu. Tùy vào mức độ thua lỗ của ngân hàng trước đó (tùy vào tỷ lệ nợ xấu cao bao nhiêu), số vốn góp vào của nhà nước có thể chiếm phần lớn tổng số vốn chủ sở hữu, và ngân hàng sẽ bị coi như đã được quốc hữu hóa nếu tỉ lệ vốn của nhà nước ở mức áp đảo. Như vậy, sở dĩ nhà nước phải quốc hữu hóa một ngân hàng vì số vốn chủ sở hữu của ngân hàng không còn đủ để hoạt động theo luật (hoặc đã âm) và ngân hàng đó không có khả năng huy động vốn trên thị trường.            Để một ngân hàng phá sản sẽ là một bài học tốt cho cả giới ngân hàng lẫn người dân gửi tiền, một biện pháp hữu hiệu chống lại thói “ỷ thế làm liều” (moral hazard) của cả hai bên. Hơn nữa để VNCB phá sản sẽ công bằng hơn vì như vậy nhà nước sẽ không phải bailout dựa trên tiền thuế từ những người dân không được lợi gì từ ngân hàng này (những người dân không phải là cổ đông hay người gửi tiền tại VNCB).        Tuy nhiên, với trường hợp VNCB, dù vốn chủ sở hữu đã âm nhưng NHNN vẫn khăng khăng không để VNCB phá sản, đồng thời cho đến nay họ vẫn chưa bailout đúng nghĩa bằng cách góp vốn nhà nước vào để nâng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu đáp ứng điều kiện cho phép nó hoạt động như một ngân hàng bình thường. Mặc dù NHNN có thể cho vay tái cấp vốn, nhưng cách đó chỉ có tính chất trợ giúp thanh khoản chứ không phải là góp vốn. Nếu NHNN tiếp tục cho VNCB vay tái cấp vốn để trả cho các khoản nghĩa vụ thanh toán tiền gửi đến hạn thì quyền lợi của người dân gửi tiền sẽ được đảm bảo đúng như cam kết của NHNN. Nhưng như vậy NHNN sẽ phải chịu lỗ vì tổng số tài sản của VNCB đã thấp hơn tổng nghĩa vụ thanh toán.    Số lỗ này (và số tiền góp vốn nếu có) là cái giá NHNN thực sự phải trả cho vụ bailout chứ không phải NHNN không tốn đồng nào vì mua cổ phiếu giá bằng không. Đáng tiếc là người dân sẽ khó có thể biết NHNN đã chấp nhận “lỗ” bao nhiêu.    Cần chúc mừng NHNN nếu bailout được làm đúng và công bằng   Nhưng NHNN cũng không sai khi nói rằng họ có thể lời khi bán VNCB sau này. Vì giá trị nghĩa vụ thanh toán là cố định còn giá trị tài sản thay đổi theo thị trường, nên hiện tại NHNN lỗ vì tổng tài sản thấp hơn tổng nghĩa vụ thanh toán, nhưng nếu sau này bất đẳng thức đổi chiều thì NHNN sẽ có lời.    Vấn đề là làm thế nào để nó đổi chiều? Liệu VCB, đại diện của NHNN quản lý VNCB, có tái cấu trúc thành công hay không và liệu tình hình thị trường lúc bán lại VNCB có tốt lên hay không. Tất nhiên không ai có thể biết trước và nhiệm vụ của NHNN cũng không phải là mua bán ngân hàng để kiếm lời mà là làm sao đảm bảo được sự an toàn/ổn định cho hệ thống ngân hàng dù có thể phải chịu lỗ (chi phí bailout). Lợi ích của một hệ thống tài chính lành mạnh lớn hơn nhiều chi phí bailout nếu bailout được làm đúng cách và công bằng.    Công bằng ở đây có nghĩa là những người đã có quyết định sai phải chịu trách nhiệm cho những quyết định đó. Cụ thể là cổ đông của VNCB phải bị mất hết cổ phần vì đã để ngân hàng làm ăn kém hiệu quả dẫn đến vốn chủ sở hữu bị âm. Đây là điều tôi đã cổ súy trong mấy năm nay, bất kỳ một cuộc cải tổ/bailout nào cũng cần phải buộc cổ đông chịu lỗ đầu tiên3. Vụ VNCB là lần đầu tiên NHNN làm được điều này và hi vọng đây không phải lần cuối cùng. Cần chúc mừng NHNN đã vượt qua được rào cản vô hình khi bailout/quốc hữu hóa VNCB.    Tóm lại tôi ủng hộ phương án giải quyết VNCB của NHNN, dù tôi vẫn cho rằng buộc VNCB phá sản là giải pháp tốt hơn. Tôi không nghĩ rằng một ngân hàng nhỏ và đã nằm trong diện kiểm soát đặc biệt một thời gian dài như vậy sẽ gây ra phản ứng dây chuyền khi phá sản. Ngược lại để một ngân hàng phá sản sẽ là một bài học tốt cho cả giới ngân hàng lẫn người dân gửi tiền, một biện pháp hữu hiệu chống lại thói “ỷ thế làm liều” (moral hazard) của cả hai bên. Hơn nữa để VNCB phá sản sẽ công bằng hơn vì như vậy nhà nước sẽ không phải bailout dựa trên tiền thuế từ những người dân không được lợi gì từ ngân hàng này (những người dân không phải là cổ đông hay người gửi tiền tại VNCB).             Cơ quan bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC)  Các công cụ có thể giúp ngăn chặn khủng hoảng ngân hàng lây lan bất chấp việc một số ngân hàng phá sản:  Bảo hiểm tiền gửi: về cơ bản, nhiệm vụ chính của bảo hiểm tiền gửi là bảo vệ hệ thống thanh toán của một quốc gia trong trường hợp Ngân hàng Trung ương không chống đỡ nổi một cuộc rút tiền hàng loạt (bank-run) khỏi hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, FDIC, cơ quan bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, trong suốt lịch sử của nó, chỉ duy nhất một lần vào năm 1933 (khi nó được thành lập) thực hiện chức năng này. Trên thực tế, vai trò của FDIC trong hệ thống tài chính hiện tại chủ yếu là giám sát và đứng ra dàn xếp quá trình phá sản/thanh lý/tái cấu trúc các ngân hàng thương mại – đáng tiếc là bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam chưa làm được điều này. Hiện nay, trên thế giới, nhiều nước không có bảo hiểm tiền gửi vì họ tin tưởng Ngân hàng Trung ương của mình có thể chống lại bank-run, vì vậy trên thực tế là vai trò của bảo hiểm tiền gửi khá mờ nhạt trong thời gian gần đây.   Stress Test: Một công cụ chống khủng hoảng khác rất mới và sáng tạo cũng được Fed và ECB đưa ra trong thời gian khủng hoảng tài chính gần đây là “kiểm tra sức chịu đựng” (Stress Test). Mặc dù Stress Test không được báo chí nhắc đến nhiều, công cụ này có vai trò khá quan trọng ngăn chặn khủng hoảng lây lan, giúp các tổ chức tài chính xác định được (một cách tương đối) rủi ro nằm ở chỗ nào, do vậy giúp phòng chống các nhà đầu tư rút chạy hàng loạt trên thị trường bán sỉ vì không đủ thông tin.              ————————————————  Chú thích:   1. http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nhnn-hoan-thoi-han-thuc-hien-thong-tu-02-la-can-thiet-201306041136491437.chn   2. Khi các tổ chức tài chính lớn phụ thuộc vào thị trường ngân hàng bán sỉ (whosale market) và các sản phẩm tài chính trở nên quá phức tạp khiến bank-run trở thành vấn đề nội bộ của giới ngân hàng, nói chính xác hơn là giữa các ngân hàng và ngân hàng ngầm (shadow bank).   3. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giả sử trong trường hợp một vài cá nhân nào đó ở một ngân hàng thương mại phạm tội hình sự, nếu Ngân hàng Trung ương của quốc gia biết điều này thì họ không được phép che giấu thông tin, và càng không thể sử dụng cách làm đó như điều kiện ép các cổ đông bán với giá bằng không.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao người Mỹ thống trị giải Nobel Kinh tế      Kể từ khi Giải Nobel Kinh tế được trao lần  đầu vào năm 1969 đến nay, khoảng 80 % số người nhận giải là công dân Mỹ. Tại sao  lại như vậy?     Giải Nobel Kinh tế đầu tiên được trao cho Ragnar Frisch, nhà kinh tế học người Na Uy, và Jan Tinbergen, người Hà Lan. Sau đó là một loạt nhà kinh tế học danh tiếng người Mỹ, thi thoảng xen kẽ vài nhà kinh tế học người châu Âu hay châu Á. Trong số 27 nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel Kinh tế gần đây thì 26 người làm công tác giảng dạy tại các trường đại học Mỹ. “Vật lạ” điểm xuyết vào danh sách các nhà kinh tế học được giải Nobel là ông Christopher Pissarides (2010), chuyên gia về tăng trưởng và thị trường lao động người Anh gốc Hy Lạp. Giải thưởng Nobel Kinh tế duy nhất dành cho chuyên gia kinh tế Đức đã được trao cách đây gần 20 năm cho nhà lý thuyết trò chơi Reinhard Selten.   Tại sao các nhà kinh tế học Mỹ lại có địa vị thống soái tại giải Nobel Kinh tế? Nguyên nhân là ý nghĩa của các môn khoa học xã hội như kinh tế học ở Mỹ lớn hơn nhiều so với ở châu Âu. Vì vậy số tiền đầu tư cho nghiên cứu cũng lớn hơn. “Nếu người châu Âu không trang bị tốt hơn cho việc giảng dạy và nghiên cứu về kinh tế quốc dân thì sẽ không thể thay đổi sự thống trị của Mỹ trong nhiều chục năm tới”, nhà kinh tế học Rüdiger Bachmann ở Aachen (Đức), người nhiều năm làm công tác nghiên cứu và giảng dạy tại Mỹ, đã lên tiếng chỉ trích hồi năm ngoái. Sau ý kiến này ít lâu thì giải Nobel đã rơi vào tay hai chuyên gia Mỹ Alvin Roth và Lloyd Shapley.  Các trường đại học Đức đặc biệt chú trọng các ngành kỹ thuật và khoa học tự nhiên. Trong khi ngành kinh tế quốc dân ở nhiều nơi lại bị đối xử như “con ghẻ”.  Trước khi giải Nobel Kinh tế năm nay được công bố, cũng có người dự đoán ông Ernst Fehr, giáo sư về kinh tế vi mô và nghiên cứu kinh tế thực nghiệm tại Đại học tổng hợp Zürich, sẽ đoạt giải.  Nhà khoa học người Áo này là nhà kinh tế học được trích dẫn nhiều nhất trong khối nói tiếng Đức và là người đi tiên phong về kinh tế học hành vi, khi phân tích về hành vi kinh tế ông còn vận dụng cả kiến thức của các bộ môn khoa học lân cận như tâm lý học và sinh vật học. Với các thí nghiệm trong phòng và nghiên cứu thực địa ông đã chứng minh, rằng giả định về hành vi hợp lý của con người dựa phần lớn trên cơ sở các lý thuyết về kinh tế, ông cho rằng nhận định này là không có cơ sở. Fehr cho rằng các yếu tố như sự công bằng, lòng vị tha và sự tương hỗ (có đi có lại) có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định về kinh tế.  Tuy nhiên, kết quả mà Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển vừa công bố ngày 14/10 lại tiếp tục khẳng định sự thống trị của các nhà kinh tế học người Mỹ ở giải Nobel Kinh tế.  Xuân Hoài dịch theo “Tuần kinh tế” (Đức)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Trung Quốc sẽ phải tăng giá đồng Nhân dân tệ      Trung Quốc sẽ phải tăng giá trị đồng tiền của mình, một mặt vì sức ép của phương Tây, mặt khác cũng vì lợi ích của bản thân. Bài viết của nhà kinh tế Mỹ Martin Feldstein.  &#160;    Trong những tháng tới, chính phủ Trung Quốc (TQ) sẽ để tỷ giá đồng Nhân dân tệ tăng nhanh hơn so với đồng USD so với năm vừa qua. Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính, tỷ giá chuyển đổi bị đóng băng, nhưng từ mùa hè 2010 đã lại được nới lỏng. Nội trong 12 tháng qua, giá trị đồng Nhân dân tệ tăng 6% so với đồng USD Mỹ.   Khi đồng Nhân dân tệ tăng giá nhanh thì xuất khẩu của TQ sẽ giảm và nhập khẩu của TQ sẽ tăng lên. Nhân dịp này các nước châu Á khác có thể tăng cường xuất khẩu của họ. Láng giềng của TQ sẽ hưởng lợi trong khi các nhà doanh nghiệp TQ bị thiệt thòi. Vậy thì tại sao Bắc Kinh lại sẵn sàng chấp nhận sự tăng giá đồng tiền của họ?  Có hai nguyên nhân: thứ nhất chính sách này sẽ giảm rủi ro đối với khối tài sản của TQ, mặt khác điều này sẽ làm giảm lạm phát ở trong nước. Trước hết chúng ta hãy xem xét sự lo lắng của Bắc Kinh về tài sản của họ dưới dạng giấy tờ có giá của nước ngoài. TQ hiện giữ trái phiếu của Mỹ và chứng từ có giá khác của nước ngoài trị giá 3 nghìn tỷ USD và họ đang đứng trước hai nguy cơ rõ rệt: lạm phát ở Mỹ và châu Âu và sự mất giá của đồng USD so với đồng Euro và các đồng tiền khác.          Martin Feldstein là Giáo sư kinh tế tại ĐH  Harvard và là Trưởng ban cố vấn về kinh tế dưới thời Tổng thống Ronald  Reagan đồng thời là Chủ tịch Cơ quan quốc gia về nghiên cứu kinh tế  Laif/Polaris.         Lạm phát ở Mỹ hay ở châu Âu làm giảm giá trị của trái phiếu dựa trên đồng USD hay đồng Euro. Ngay cả khi lạm phát ở Mỹ không tăng nhưng đồng USD mất giá so với đồng Euro hay các ngoại tệ khác  thì cũng làm giảm  sức mạnh của đồng USD khi mua các sản phẩm của châu Âu hay các nước khác. Năm ngoái, sau khi đồng USD mất giá 10% so với đồng Euro (và giảm nhiều hơn nữa so với các ngoại tệ khác) thì sự lo lắng của người TQ là có cơ sở. Khả năng duy nhất của TQ để giảm rủi ro này là giảm khối lượng chứng từ có giá của mình bằng ngoại tệ.  Lý do thứ hai vì sao giới lãnh đạo TQ lại tán thành một đồng Nhân dân tệ mạnh hơn, vì đây là khả năng có thể làm giảm lạm phát ở trong nước (năm ngoái giá tiêu dùng tăng 6,5%). Một đồng nhân dân tệ mạnh sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn và có lợi cho người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp TQ. Tuy rằng giá một thùng dầu vẫn ở mức 90 USD, nhưng do tỷ giá chuyển đổi đồng Nhân dân tệ so với USD tăng 10% nên giá dầu bằng nhân dân tệ cũng sẽ giảm 10% đối với người tiêu dùng TQ.   Giá nhập khẩu giảm rất có ý nghĩa với TQ vì TQ là nước phải nhập khẩu nhiều loại hàng tiêu dùng, máy móc, thiết bị cũng như nguyên liệu. Hàng năm nhập khẩu của TQ trị giá 1,4 nghìn tỷ USD, gần bằng 40% tổng sản phẩm quốc nội.  Một đồng Nhân dân tệ mạnh tác động giảm giá có hiệu quả hơn so với chính sách tăng lãi suất hiện nay. Trong tương lai điều này còn có ý nghĩa lớn hơn vì TQ chủ trương kích cầu trong nước đặc biệt là khuyến khích các hộ gia đình đẩy mạnh tiêu dùng. Một trong những mục tiêu chính của kế hoạch năm năm lần thứ 12 là, tăng thu nhập cũng như tăng chi dùng của các hộ gia đình nhanh hơn tăng trưởng GDP.  Trong tình hình xuất khẩu như hiện nay thì việc tăng tiêu dùng của các hộ gia đình sẽ dẫn đến thiếu hụt sản xuất điều này sẽ làm tăng nhanh giá hàng hóa sản xuất trong nước. Như vậy có nghĩa là để kích thích tiêu dùng thì phải giảm xuất khẩu – một trong những biện pháp được áp dụng là tăng giá trị đồng Nhân dân tệ.   Kết luận: trong những năm tới đồng USD sẽ tiếp tục mất giá so với đồng Euro và các đồng tiền khác. Người TQ cũng sẽ tăng đáng kể giá trị đồng Nhân dân tệ so với đồng USD, nếu họ muốn tăng giá trị toàn cầu của đồng nhân dân tệ để giảm rủi ro danh mục tài sản  tài chính (portfolio risk) của TQ và khống chế được áp lực lạm phát.                                                                                                      Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Việt Nam không có Uber/Grab của riêng mình ?      Với việc xem xét hạn chế trên một số phương diện hoạt động của các công ty taxi mô hình hiện đại như Uber và Grab, các thành phố Việt Nam đã vào cùng danh sách với những thành phố nổi danh quốc tế như London, New York, Paris. Nhìn chung chính sách hạn chế này ở các quốc gia đều có hại nhiều hơn lợi, nhưng với Việt Nam câu chuyện về Uber và Grab khiến chúng ta suy nghĩ nhiều hơn đến những trở ngại về thể chế đối với sự tăng trưởng bền vững trong tương lai.      Taxi truyền thống đã phổ biến ở Việt Nam trong vòng hai chục năm qua. Ảnh: Kinhtedothi.vn  Phí cao, lợi ít  Tính tại thời điểm cuối năm 2016, ở các nước Đông Nam Á giá bình quân một cuốc năm cây số trên xe Uber và Grab thấp hơn taxi truyền thống từ gần 20% đến 40%. Tại Việt Nam, giá Uber thấp hơn taxi truyền thống 1/3 và Grab thấp hơn 1/4 (xem Hình 1). Giá Uber và Grab còn thấp hơn nữa cho cuốc dài hơn. Nếu hai công ty này ngưng hoạt động, giá xe cho người tiêu dùng có thể tăng còn cao hơn mức chênh lệch 25-33% vì giá taxi truyền thống có khả năng tăng nữa khi không còn áp lực cạnh tranh. Chính sách tạo rào cản với Uber/Grab dù thực hiện ở quốc gia nào thì luôn làm tăng chi phí cho người tiêu dùng. Nhưng riêng với Việt Nam, chi phí này khá nặng nề so với những thành phố ở các nước phát triển do các thành phố Việt Nam không có nhiều phương tiện di chuyển tốt thay thế – người dân London có xe Tube, Paris có Metro, New York có Subway. Hơn nữa, mức thu nhập đầu người ở Việt Nam chỉ khoảng 1/20 so với ở các nước phát triển nên chi phí đi lại chiếm phần tương đối lớn trong ngân sách cá nhân. Vì thế, sự gia tăng giá đi xe sẽ làm giảm phần thu nhập còn lại để mua sắm và giảm tiêu thụ cho những ngành khác.    Hình 1: Giá Uber, Grab, và Taxi truyền thống.  Ở Paris và New York, các công đoàn tài xế taxi chống Uber là vì muốn giữ mức lương của họ. Bảo vệ quyền lợi người lao động là mục tiêu chính đáng, tuy nhiên, nhìn trên bình diện tổng thể, sự hiện diện của Uber và Grab trên thị trường mang lại lợi ích chung cho giới tài xế. Trước hết, vì giá đi xe giảm thấp, lượng khách và số lượt khách đi xe sẽ tăng lên. Nhu cầu đi xe tăng có nghĩa nhu cầu tài xế tăng, đồng thời người tài xế có thêm nhiều lựa chọn khách hàng khi bán dịch vụ lái xe của mình.1 Do đó, nhìn chung nhóm tài xế sẽ thiệt thòi nếu trở lại tình trạng độc quyền trong thị trường taxi.  Ngoài ra, có lập luận cho rằng cần bảo hộ taxi, một ngành công nghiệp non trẻ ở Việt Nam. Tuy nhiên, taxi truyền thống đã phổ biến ở Việt Nam trong vòng hai chục năm qua, nghĩa là vài thế hệ nếu xét trên phương diện kỹ thuật. Bởi vậy, lập luận nói trên là không thuyết phục, một sự biện minh cho việc ngăn cản những kỹ nghệ hiện đại để bảo vệ các kỹ thuật lỗi thời.  Tóm lại, việc ngăn chặn Uber và Grab tại Việt Nam tương đương với sự đánh đổi lợi ích người tiêu dùng và các tài xế để bảo vệ quyền lợi của taxi truyền thống. Nhìn chung, việc cân nhắc lợi ích chính sách ở đây không phải là bài toán quá khó – lợi ích của chính sách hầu như không có, còn chi phí khá cao. Vì vậy, sự dùng dằng của nhà nước trong quá trình đưa ra quyết sách về Uber và Grab có lẽ phản ánh những khó khăn khác.  Vì sao chưa có Viet-Uber hay Viet-Grab?  Trên mạng, có người đặt câu hỏi tại sao các công ty taxi truyền thống trong mấy năm qua chậm trễ trong đầu tư vào các kỹ thuật mới để có thể cạnh tranh trong thị trường hiện đại. Câu hỏi này quan trọng vì nếu sáng tạo mới đến từ các đơn vị đang sở hữu kỹ thuật cũ thì chuyện thay thế kỹ nghệ không có xung đột.  Có thể có hai lý do. Thứ nhất, trong lịch sử thường không thấy những kỹ thuật mang tính cách mạng ra đời từ những công ty lớn trong ngành, ví dụ Microsoft đã không phát triển kỹ thuật tìm kiếm khi có nhiều lợi thế và để lọt mối lợi đó vào tay Google, và tương tự như vậy, Google, với ưu thế gần như độc quyền trong thị trường kỹ thuật tìm kiếm và bản đồ, đã không tạo ra một app tương tự như Uber.  Các công ty lớn thường chỉ tập trung vào mô hình kinh doanh sẵn có của họ. Họ không cảm thấy có nhiều động lực để đầu tư vào những kỹ thuật mới cạnh tranh với kỹ thuật hiện tại của chính mình bằng những người ngoài công ty. Các công ty taxi truyền thống Việt Nam đã có mô hình kinh doanh rất thành công nên không có lý do để thay đổi, hơn nữa họ cũng không mạnh về năng lực công nghệ để có thể thay đổi đủ nhanh.  Lý do thứ nhì khiến các công ty đương nhiệm của Việt Nam không mặn mà đầu tư vào những kỹ thuật mới là họ coi trọng vốn chính trị hơn vốn con người. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng vĩ mô đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, xuất phát từ góc nhìn về tăng trưởng và thể chế2, cho rằng ngoài máy móc, sản xuất cần hai loại vốn: vốn con người (kiến thức chuyên môn, kỹ thuật, v.v.) và vốn chính trị (các mối quan hệ chính trị), trong đó vốn con người mang lại giá trị gia tăng cho sản xuất và tổng thể nền kinh tế, còn vốn chính trị thì không, bởi vậy một nền kinh tế với thể chế dùng nhiều vốn chính trị so với vốn con người sẽ tăng trưởng chậm hơn một nền kinh tế với thể chế dùng đến vốn con người nhiều hơn vốn chính trị.  Trở lại câu chuyện Uber,  Grab, và taxi Việt Nam. Uber ra đời năm 2009 cùng với những công ty như HomeAway, AirBnB, ZipCar, là những sáng kiến đầu tiên trong kinh tế chia sẻ. Sau đó rất nhiều công ty khác bắt chước như Grab, Lyft (Mỹ), Didi (Trung Quốc), Yandex (Nga) và rất thành công, trong khi bản thân Uber, tuy từng đi tiên phong, hiện đang thua lỗ. Khó khăn của Uber là các kỹ thuật trong app khi đã có mẫu rồi thì không khó bắt chước, do đó các công ty địa phương có thể cạnh tranh tuy nhập cuộc muộn hơn.  Câu hỏi quan trọng cho Việt Nam là tại sao không thể có những công ty nội địa tham gia vào kinh tế sẻ chia và những lãnh vực kỹ thuật hiện đại hoạt động tương tự như Grab hoặc Uber? Khó tin rằng nguyên nhân thuần túy do hạn chế kiến thức. Các nhà công nghệ trẻ Việt Nam có thể có nhiều kiến thức chuyên môn hơn những doanh nghiệp lớn; họ cũng có thể am hiểu xã hội và thị trường trong nước hơn những công ty nước ngoài.  Chuyện thị trường taxi khiến chúng ta suy nghĩ: Thể chế Việt Nam đang khuyến khích hay cản trở sáng tạo và đầu tư vào vốn con người?  ——  1 Báo New York Times (“As Uber Woos More Drivers, Taxis Hit Back,” March 18, 2017) báo cáo tại thành phố New York, số đăng ký bằng tài xế tăng 8% trong năm 2015 và tài xế “taxi vàng” được ưu đãi nhiều hơn do công ty truyền thống cần giữ tài xế cũng như thu hút tài xế mới.  2 Xem Isaac Erhlich và Francis Lui (1999) “Bureaucratic Corruption and Endogenous Economic Growth,” Journal of Political Economy, vol. 106, no. 6, pt. 2, pp. S270-S293,  và Kevin Murphy, Andrei Schleifer, và Robert Vishny (1991) “The Allocation of Talent:  Implications for Growth,” Quarterly Journal of Economics, vol. 106, no. 2, pp. 503-530.  Để nâng cao hiệu quả tăng trưởng, không chỉ cần đầu tư KH&CN để nâng cao năng suất của các chủ thể kinh tế sẵn có mà còn phải thay thế những chủ thể kinh tế sử dụng kỹ thuật lạc hậu bằng những chủ thể sử dụng kỹ thuật mới có hiệu quả cao hơn. Kinh tế gia Joseph Schumpeter vào giữa thế kỷ 20 đặt tên cho quá trình này là “sự đập phá của sáng tạo” (creative destruction), trong đó các chủ thể sử dụng kỹ thuật lạc hậu là thành phần bị thiệt thòi do quá trình đổi mới sáng tạo để phát triển của xã hội. Giải quyết bài toán lợi ích các bên sao cho thỏa đáng chính là thách thức lớn cho một thể chế nhằm nâng cao hiệu quả của kinh tế.      Author                Phạm Hoàng Văn        
__label__tiasang Vi sinh vật giúp giải quyết rác thải nhựa?      Tái chế nhựa và những vật liệu tổng hợp khác thường đòi hỏi rất nhiều chi phí và trong phần lớn các trường hợp là không thể. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu Anh đã tìm thấy một enzyme có khả năng phân hủy PET chỉ trong vài giờ và cho phép tạo ra những chai nhựa mới với giá rẻ hơn.      Trên thế giới, có khoảng 359 triệu tấn nhựa được sản xuất hàng năm.  Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Portsmouth, Anh đã tìm kiếm hơn 100.000 loài vi sinh vật khác nhau và cuối cùng đã tìm thấy điều mình cần. Enzyme vi khuẩn đột biến này đã phá vỡ được polyethylene terephthalate (PET): trong vòng 10 giờ, enzyme bị đột biến này đã phân hủy được một tấn chai nhựa cũ với tỷ lệ 90%. Kết quả nghiên cứu đã được họ trình bày trong một bài báo mang tên “An engineered PET depolymerase to break down and recycle plastic bottles” xuất bản trên Nature.  Giải pháp cho vấn đề rác thải nhựa toàn cầu?  Hi vọng vào các vi sinh vật có khả năng giải quyết vấn đề rác thải nhựa của chúng ta ở tương lai gần đang dấy lên bởi từ lâu, tái chế nhựa hiệu quả vẫn còn là một bí ẩn. Trên toàn thế giới, khoảng 359 triệu tấn nhựa được sản xuất hàng năm, ước tính có khoảng 150 đến 200 triệu tấn trong số đó kết thúc chu kỳ sử dụng của mình ở các bãi chứa chất thải hoặc ở ngoài môi trường.    Khoảng 150 đến 200 triệu tấn trong số đó kết thúc chu kỳ sử dụng của mình ở các bãi chứa chất thải hoặc ở ngoài môi trường  Polyethylene terephthalate (PET) là nhựa polyester được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới, với khoảng 70 triệu tấn mỗi năm. Ở hình thức tinh khiết nhất, PET được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm, ví dụ như trong sản xuất các chai nước uống, màng bọc và đóng gói thực phẩm. Các loại polyester bền không bị rách, chống chịu lại các điều kiện thời tiết và không nhăn cũng có khả năng dùng làm phụ gia ngành dệt. Dẫu vậy, người ta không thể tái chế được PET hoàn toàn mà chỉ có thể tận dụng nó cho những sản phẩm kém giá trị hơn. Trong quá trình xử lý cơ nhiệt, vật liệu này mất nhiều tính năng của nó mà chỉ có thể sử sụng làm nguyên liệu cho thảm chùi chân.  Trong khi đó các nhà nghiên cứu Nhật Bản ở Viện Công nghệ Kyoto đã khám phá ra loại enzyme có khả năng phá hủy nhựa vào năm 2016. Khi kiểm tra nước thải, các phần bã thải trong một nhà máy tái chế chai nhựa PET, họ tìm thấy loại vi khuẩn Ideonella sakaisensis 201-F6. Hai loại enzyme đã biết trước đây của loài vi khuẩn này có thể tham gia vào quá trình phân hủy nhựa tự nhiên. Enzyme ISF6_4831 chuyển PET thành một sản phẩm trung gian và enzyme khác mang tên ISF6_0224, thậm chí còn chuyển đổi loại sản phẩm trung gian này thành loại terephthalic acid và glycol ít nguy hiểm hơn.  Dẫu vậy kể từ sau quá trình xử lý phân hủy tự nhiên này, các nhà nghiên cứu trường đại học Portsmouth và Phòng thí nghiệm năng lượng tái tạo của Bộ Quốc phòng Mỹ (DOE) đã tiếp tục nghiên cứu và đã tạo được ra một enzyme mới có khả năng phân hủy PET nhanh hơn. Kết quả đầu tiên của nghiên cứu đã được xuất bản vào năm 2018 trên Proceedings of the American Academy of Sciences (PNAS).  Đức khám phá ra vi khuẩn làm phân hủy nhựa polyurethane    Các sản phẩm được làm từ nhựa polyurethane thường được dùng làm nguyên liệu cho xốp cách nhiệt, bỉm, giày thể thao  Nấm từng được cho là có khả năng phân hủy nhựa PET và polyurethane. Hàng triệu tấn nhựa polyurethane cũng được sản xuất hàng năm, chủ yếu dưới dạng bọt mềm được dùng làm nguyên liệu cho xốp cách nhiệt, bỉm, giày thể thao… Các sản phẩm được làm từ nhựa polyurethane thường được đến các bãi chôn lấp vì chúng không thể tái chế. Tuy vậy, vi khuẩn được các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu môi trường Helmholtz (UFZ) ở Leipzig tìm thấy trong một bãi rác thải lại không hề bị ảnh hưởng.  Nó thuộc chủng Pseudomonas, vốn có khả năng sống sót trong những điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ cao và môi trường có acid.  Dẫu không dễ dàng để dùng vi khuẩn này thay nấm cho các ứng dụng công nghiệp thì Hermann Heipieper từ nhóm nghiên cứu ở Helmholtz ước tính là có thể mất 10 năm trước khi vi khuẩn có thể hoạt động trong các quy mô phân hủy lớn. Do đó, điều quan trọng lúc này là giảm việc sử dụng nhựa khó tái chế và giảm lượng sản phẩm nhựa phát thải ra môi trường, Heipieper lưu ý.  Tương lai phân hủy nhựa  Loại enzyme mới được phát hiện này có thể không chỉ có lợi ích cho môi trường mà còn với cả Carbios – một công ty Pháp đang tập trung vào việc nghiên cứu phân hủy PET ở quy mô lớn bằng các enzyme đầu tư vào phát triển loại enzyme này.  Trong vòng năm năm, Carbios hướng đến việc tạo ra một quy trình tái chế mới và đưa nó thuwong mại hóa ở quy mô công nghiệp. Điều này có thể rất đáng giá bởi giá của loại enzyme này chỉ chiếm 4% trong giá thành của dầu thô được dùng để tái chế ra các chai nhựa mới.  Dẫu các chai nhựa PET vẫn cần được nghiền và gia nhiệt nhưng qúa trình xử lý mới vẫn ít otons kém hơn, Martin Stephan, phó giám đốc Carbios, nói. Để đảm bảo có đà thúc đẩy loại enzyme này, Carbios nhận được sự hỗ trợ tài chính lớn từ các công ty lớn như Pepsi và L’Oreal.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/can-microorganisms-solve-our-plastic-waste-problem/a-53258985    Author                Quản trị        
__label__tiasang Victoria Tauli-Corpuz: Chiến binh đấu tranh cho quyền của người bản địa      Nhờ những nỗ lực của bà mà cộng đồng quốc tế đã công nhận vai trò của người bản địa trong việc bảo vệ đa dạng sinh học và khí hậu.      Victoria Tauli-Corpuz. Ảnh: Annie Ling/The New York Times/ Redux/eyevine  Khi hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên hợp quốc COP26 bắt đầu tại Glasgow (Vương quốc Anh), một số quốc gia phát triển và hàng chục tổ chức nhân đạo đã bắt tay nhau cam kết  trợ 1,7 tỷ USD để giúp những nhóm người bản địa trên khắp thế giới bảo tồn rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu bằng cách giữ carbon trong thực vật và đất.  Đó là một khoảnh khắc quan trọng đối với những nhóm người bản địa, và đằng sau khoảnh khắc này là nhiều thập kỷ làm việc không mệt mỏi của Victoria Tauli-Corpuz, một người gốc Philippines đã từng dành sáu năm làm báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về quyền của người bản địa.  Tauli-Corpuz đã dành nhiều năm đi vòng quanh thế giới để thuyết phục chính phủ các nước, những nhà bảo vệ môi trường và các tổ chức nhân đạo rằng các thổ dân là những người quản lý rừng và các điểm nóng khác của đa dạng sinh học hiệu quả nhất – gần đây nhiều công bố khoa học cũng đã chứng thực điều này. “Thế giới bắt kịp bà ấy và khoa học cũng bắt kịp bà ấy”, David Kaimowitz, một nhà kinh tế tại Tổ chức Nông lương của LHQ ở Rome, nói. Kaimowitz cho biết chỉ trong vòng 5 hoặc 10 năm trở lại đây, các tài liệu khoa học mới cung cấp những dữ liệu cho thấy rằng các vùng đất bản địa đóng vai trò là vùng đệm bảo vệ giúp chống lại những hoạt động có hại cho môi trường như khai thác và phá rừng.  Lớn lên trong một ngôi làng của người Igorot ở vùng núi Philippines – nơi người dân sống trong cảnh không có điện, Tauli-Corpuz đã học được bài học này sớm hơn so với mọi người. Dưới thời cựu tổng thống Ferdinand Marcos, chính quyền đã tìm cách khai thác rừng của người dân và xây dựng một đập thủy điện trên sông của họ vào những năm 1970, bà quyết định tham gia vào nhóm phản đối. “Chúng tôi đã đánh bại kế hoạch xây dựng con đập, và việc khai thác rừng lấy gỗ đã dừng lại”, Tauli-Corpuz, người sáng lập và cũng là giám đốc điều hành của Quỹ Tebtebba ở thành phố Baguio, Philippines, kể.  Bà nhận ra rằng số phận của các dân tộc bản địa và những khu rừng trên thế giới gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong suốt 35 năm làm việc tại Liên Hợp Quốc, Tauli-Corpuz đã trở thành một nhà vận động tích cực nhằm phản đối cái mà bà gọi là “bảo tồn theo kiểu pháo đài” – một mô hình cho rằng thiên nhiên chỉ có thể được bảo tồn nếu được ngăn cách với loài người. “Phải thay đổi tư duy bảo tồn, bởi vì những khu rừng chứa nhiều carbon và đa dạng sinh học của Trái đất cũng là nơi sinh sống của các dân tộc bản địa trên thế giới”, bà nhận định. “Mọi người sống trong những khu rừng này, và chúng ta nên hợp tác với họ.” Trong những năm gần đây, nhờ hình ảnh từ vệ tinh, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận tương tự. Giống như các công viên quốc gia và các khu bảo tồn khác, các vùng lãnh thổ của người bản địa ít bị tàn phá, khai thác mỏ và xây đập hơn các vùng đất lân cận.  Bà đã dần hiện thực hóa ý tưởng này. Quyền của người bản địa đã được công nhận trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Đa dạng sinh học vào tháng 10 và nhận được sự chú ý tại đại hội bảo tồn thế giới ở Marseilles, Pháp, vào tháng 9. Các nhóm người bản địa lần đầu tiên tham dự với tư cách là thành viên và thành công kêu gọi chính phủ các nước hướng đến bảo vệ 80% diện tích Amazon vào năm 2025. Và lần đầu tiên, chính phủ các nước và những nhà tài trợ đã tham gia COP26 với các cam kết tài trợ thực sự.  Tinh thần hoạt động xã hội đến với Tauli-Corpuz một cách tự nhiên. Năm 1966, bà giành được suất vào một trường trung học ưu tú ở Manila, và tham gia các cuộc biểu tình phản đối sự tham gia của Philippines vào cuộc chiến tranh lúc bấy giờ đang diễn ra tại Việt Nam. Bà học đại học khi chế độ Marcos tuyên bố thiết quân luật vào năm 1972, và học để trở thành y tá nhằm chuẩn bị cho các cuộc nổi dậy đẫm máu có thể xảy ra. Sau khi tốt nghiệp đại học, bà trở về quê nhà để giúp tổ chức các chương trình y tế cộng đồng, đồng thời thúc đẩy làn sóng phản đối đề xuất xây dựng đập và khai thác gỗ.  Năm 1985, Tauli-Corpuz nhận được lời mời tham gia một hội đồng của Liên Hợp Quốc tại Geneva, Thụy Sĩ, khảo sát về quyền của người bản địa. Mất gần một phần tư thế kỷ và nhiều chuyến đi, nhưng Tauli-Corpuz đã tìm thấy ánh sáng trong cuộc hành trình của mình. Vào tháng 9 năm 2007, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại Thành phố New York đã thông qua một tuyên bố mang tính bước ngoặt, lần đầu tiên công nhận các quyền tập thể của những dân tộc Bản địa. Tauli-Corpuz sau đó tiếp tục nỗ lực của mình và giúp đạt được sự công nhận về quyền của người bản địa trong thỏa thuận Paris năm 2015. Tại hội nghị thượng đỉnh COP26, các quyền của người bản địa một lần nữa được công nhận trong một thỏa thuận nhằm điều chỉnh các hợp tác quốc tế và thị trường carbon.  “Trước đây, người bản địa không hề nhận được sự chú ý”, Jennifer Corpuz, một trong bốn người con của Tauli-Corpuz, người đã tiếp bước mẹ mình trong phong trào Quyền của người bản địa, cho biết. Hiện cô đang là luật sư của nhóm vận động phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ, Nia Tero. Corpuz thừa nhận rằng đôi khi cô ấy cũng cảm thấy căng thẳng trước sự kỳ vọng của mọi người, nhưng trên thực tế mẹ của cô thì lại chưa bao giờ tạo áp lực cho cô.  Từ năm 2014 đến năm 2020, với tư cách là báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc, Tauli-Corpuz đã đi khắp thế giới, tổ chức những cuộc gặp gỡ với các cộng đồng bản địa để nói về những thách thức mà họ đang phải đối mặt. Trong một báo cáo quan trọng vào năm 2016, bà đã làm rõ rằng việc thành lập và thực thi các khu bảo tồn thông thường như vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã ảnh hưởng như thế nào đến quyền và yêu sách đất đai của các cộng đồng bản địa.  Hiện tại, Tauli-Corpuz vẫn tiếp tục làm việc với các cộng đồng bản địa trên khắp thế giới, giúp họ hiểu được quyền và vai trò của bản thân trên chính vùng đất truyền thống của họ. Bà cũng đang giúp các cộng đồng bản địa củng cố hệ thống quản trị của riêng họ, điều này sẽ giúp họ dễ dàng đề xuất các dự án và tiếp cận các quỹ quốc tế.  “Đó thực sự là việc giúp đỡ những người dân bản địa trao quyền cho chính họ”, bà cho biết, “Hy vọng rằng, chúng tôi có thể tăng cường năng lực của người bản địa để họ có thể làm những gì họ cần làm.”  Hà Trang dịch  Nguồn: Ten people who helped shape science in 2021    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viễn cảnh nào cho kinh tế  Việt Nam 2012      Năm 2012 đã đến và Rồng sắp tới cửa nhà, mà lòng người còn nặng trĩu lo âu đến nỗi không dám kỳ vọng gì nhiều vào năm của con vật thiêng ấy.    Quả thực di sản cộng dồn từ 4 năm 2008-2011 và những căn bệnh kéo dài của cả hệ thống kinh tế ở nước ta đã và đang bộc phát, cùng đổ gánh nặng của chúng vào năm 2012. Lạm phát cao trong khi tăng trưởng giảm, những bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài, như bội chi ngân sách, nhập siêu cao, nợ công, nợ xấu của doanh nghiệp tăng với tốc độ đáng báo động, tỷ trọng hàng tồn kho không tiêu thụ được và số doanh nghiệp phải đóng cửa lên cao chưa từng có. Đời sống của người dân bị ảnh hưởng nặng nề khi thu nhập thực tế liên tục giảm theo đà vật giá leo thang, khi hàng triệu người lao động mất việc làm, mất nguồn sống hoặc bị giảm đáng kể thu nhập do hàng vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và không biết bao nhiêu doanh nghiệp khác liêu xiêu.   Bốn năm liên tục chèo chống với khó khăn vừa qua còn làm hao hụt đi không ít thành quả của hơn 20 năm cải cách, khi các biện pháp hành chính trở nên phổ biến hơn trong giải quyết các vấn đề kinh tế, khi năng lực thể chế và kỷ cương bị tham nhũng lấn át, khi nguồn lực bị phân bổ méo mó hơn theo sức mạnh tăng lên của các nhóm lợi ích, khi một lượng lớn của cải được tích tụ một cách không chính đáng trong tay số ít người giàu có, quyền uy và gây nên khoảng cách cùng sự bất bình ngày càng lớn trong xã hội, khi văn hóa, đạo đức xuống cấp nghiêm trọng và lòng tin sụt giảm nặng nề.   Nhìn ra thế giới, triển vọng kinh tế nói chung cũng không tốt đẹp gì. Bốn cuộc khủng hoảng tài chính, năng lượng, lương thực, môi trường vẫn đang phủ đám mây u ám lên bầu trời các quốc gia và châu lục, kể cả bốn trụ cột lớn của kinh tế thế giới – Mỹ, EU, Nhật , Trung Quốc. Vòng đàm phán Doha đổ vỡ, xu hướng tự do hóa thương mại bị đẩy lùi trước xu hướng bảo hộ tăng lên trên thực tế ở hầu hết các nền kinh tế. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đổ vỡ hẳn (kể cả ở Cuba, dinh lũy cuối cùng), trong khi các mô hình phát triển như thị trường tự do, thị trường xã hội hay cách thức tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, trên dòng vốn FDI đều bị thách thức phải điều chỉnh lại.  Vậy thì liệu có gì để vui không trong năm con Rồng này? Vẫn có chỗ cho niềm tin và hy vọng, điểm tựa trong cuộc sống của mọi người trên Trái đất này.  Trên thế giới, ngay từ đầu năm 2011 mùa xuân Ả Rập đã bừng lên thật đẹp, quét đi những đè nén ngự trị bao năm và tưởng như vĩnh cửu ở một số nước trong khu vực đặc biệt này của thế giới. Con đường của người dân nơi đây đi đến dân chủ, văn minh, thịnh vượng chắc chắn không hề dễ dàng, nhưng đã được mở ra rồi và không thế lực nào có thể chặn lại được nữa. Rồi nhân vật “Người biểu tình” mà tạp chí Times bình chọn cho năm 2011 xuất hiện ở Mỹ, ở Nga, ở một số nước khác, nói lên ý chí và sức mạnh của người dân đòi hỏi và sẵn sàng tham gia thay đổi những trật tự bất công – nguồn gốc của những bất ổn xưa nay trên thế giới – để xây dựng cuộc sống công bằng, bình đẳng hơn cho đông đảo người dân các nước đó. Mặt khác, cả thế giới đang chuyển mạnh sang hướng phát triển mới, phát huy sức sáng tạo bất tận của con người để phát triển khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế một cách thân thiện với môi trường, tăng cường sự hợp tác và trách nhiệm chung của mọi quốc gia trong việc bảo vệ cuộc sống an bình lâu dài trên Trái đất. Những điều đó sẽ tạo sức mạnh cho con người vượt qua những trở ngại trước mắt để đi tới tương lai.  Trong nước, năm 2011 cũng cho thấy những điểm sáng giữa muôn trùng khó khăn. Đó là nông nghiệp, cũng với sức dẻo dai đã mấy lần cứu vãn tình hình kinh tế trong các cuộc khủng hoảng những năm trước đây, lại một lần nữa nổi trội với kỷ lục mới về xuất khẩu và xuất siêu để tự khẳng định lại vị thế của mình trong chiến lược phát triển của đất nước, khẳng định lợi thế cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bản đồ nông nghiệp toàn cầu. Đó là các ngành xuất khẩu, với vai trò của dệt may, da giày, thủy sản, nông sản…, những sản phẩm tuy bị chê trách vì không tạo nhiều giá trị gia tăng nhưng vẫn vượt lên hơn hẳn những ngành được đầu tư rất lớn song lại không cạnh tranh được bằng chúng trên thị trường toàn cầu đầy sóng gió.   Về mặt thể chế, năm 2011 cũng để lại hy vọng cho năm 2012 với những bài học và quyết tâm thực hiện tiếp Nghị quyết 11 của Chính phủ về chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và với sự nhất trí cao về thay đổi mô hình tăng trưởng, tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế. Đã thấy rõ đây là những việc phải làm và phải làm sớm, làm mạnh, làm tới nơi tới chốn, nên nếu được có một điều ước thì xin ước rằng những việc này sẽ được thực hiện thực sự nghiêm túc ngay trong năm 2012 để năm Rồng này có thể đánh dấu một bước chuyển tới tương lai tươi sáng cho đất nước ta, dân tộc ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viễn cảnh nhà máy không có con người: khi nào xảy ra?      Trí tuệ nhân tạo (AI) đang thâm nhập và ngày càng có vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp, tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn mới đây của Tuần kinh tế Đức, Daniel Küpper, chuyên gia về tự động hoá ở tập đoàn tư vấn Boston Consulting nhận xét rằng con đường đi tới tương lai của nền công nghiệp chỉ gồm máy móc thông minh và các nhà máy tự động hoá hoàn toàn còn xa.           WirtschaftsWoche (Tuần kinh tế Đức): Thưa ông Küpper, trí tuệ nhân tạo (AI) có ý nghĩa như thế nào đối với ngành công nghiệp sản xuất?  Daniel Küpper: Trí tuệ nhân tạo nâng công nghiệp lên một tầng cao hoàn toàn mới. Vấn đề đặt ra trong mười năm tới là: làm sao để có các nhà máy gần như có thể tự động hoá hoàn toàn và tự điều khiển ? Nếu chúng ta muốn đạt được sự nhảy vọt về lượng thì không thể bỏ qua AI.  Từ nhiều năm nay tự động hoá luôn là chủ đề  mang tính xu hướng, ai ai cũng thường xuyên đề cập tới công nghiệp 4.0. Trong những năm qua các doanh nghiệp liên tục ứng dụng công nghiệp 4.0: họ đã lắp đặt các cảm biến ở trong nhà máy, đã đánh giá các dữ liệu mà họ thu thập được, từ đó có những nhìn nhận đúng thực tế về sản xuất cũng như về những khâu yếu kém ở trong nhà máy. Có thể nói người ta đã khai thác những tiềm năng đầu tiên của công nghiệp 4.0 – có lẽ ở các nước phát triển như Đức không có cơ sở sản xuất nào không áp dụng những bước đi đầu tiên này. Giờ đây trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ.  Vậy ông có thể dự đoán điều gì?  Đó là câu hỏi mà người ta sẽ thảo luận nhiều trong mười năm tới: Tôi phải làm gì để có thể thấy trước các sự việc? Tôi phải làm gì để có thể tiên đoán về khả năng tiêu thụ  hoặc để nắm bắt tốt hơn về vấn đề thời vụ? Trí tuệ nhân tạo sẽ giúp ta lên kế hoạch tốt hơn về các quá trình sản xuất cũng như về năng lực sản xuất. Ngoài ra nó cũng phục vụ cho cho bảo trì dự đoán (Predictive Maintenance): thuật toán giúp ta nhận ra được sự quan hệ giữa máy móc với môi trường xung quanh cũng như dự báo sớm về các sai sót và nguy cơ xảy ra sai sót.  Và từ đó sẽ dẫn đến những nhà máy không có bóng người?  Cách đây ba năm chắc chắn tôi đã phủ định câu hỏi này. Hôm nay thì tôi cho rằng trong một số lĩnh vực sản xuất thì về nguyên tắc điều này là có thể. Vì hiện nay đã có các công nghệ cơ bản được áp dụng trong công nghiệp  – như  nhận dạng đối tượng hay xe tự hành chẳng hạn. Mặt khác các công nghệ cơ bản sẽ thâm nhập vào các nhà máy, điều này giúp chúng ta từng bước thực hiện được mục tiêu hoà mạng  và thực hiện tự động hoá hoàn toàn trong hoạt động của nhà máy. Ở đây bên cạnh AI còn có các công nghệ cơ bản khác như Blockchain, 5G và điện toán cạnh (Edge Computing).  Phải chăng nhờ AI mà các robot vận tải sẽ khôn ngoan hơn?  Các hệ thống vận tải mới nhất sẽ tận dụng các Lidar – lấy cảm biến và camera làm con mắt nhân tạo, nhờ đó các hệ thống này sẽ bao quát được môi trường xung quanh. Chúng tận dụng thuật toán tự học để quét khu vực mà chúng đang vận hành. Chúng ta chỉ cần ra lệnh cho chúng đi từ A tới B –  nhưng chúng đi theo tuyến nào và tránh các vật cản như thế nào chúng sẽ tự tính toán. Nếu như phần mềm phát hiện có một trạm sản xuất bị chiếm dụng bất thường thì robot sẽ đi sang máy khác. Từ đó nhà máy có thể điều tiết sản xuất kịp thời đúng theo tình huống đang diễn ra.  Điều này có nghĩa là bản thân máy móc cũng phải khôn ngoan hơn?  Đúng vậy, Máy móc phải tự thích ứng với các bộ phận sản xuất, với nhiệt độ môi trường xung quanh và các yếu tố khác nữa – và chúng phải tự điều tiết các thông số của máy móc. Ví dụ bộ phận sản xuất cửa sổ ô tô: Ở khâu này có vô vàn mô hình với nhiều dạng và kích cỡ khác nhau. Máy phải chú ý đến kích thước khác nhau khi dùng keo dán hoặc chất làm kín để bảo đảm cửa sổ sau này thực sự kín hoàn toàn. Nhờ AI máy sẽ phát hiện các tấm kính khác nhau,  từ đó tự tính toán về lực ép hoặc lượng chất kết dính cần có. Trước đây người ta tìm cách lập trình về tất cả những gì có thể xảy ra. Ngày nay robot có thể chú ý tới mọi tình huống có thể xảy ra theo thời gian thực.  Hãy lấy một ví dụ khác trong công nghiệp chế biến: khâu chọn lựa quả chuối. Có loại chuối quả đẹp, sẽ được giao cho các siêu thị hạng sang, loại tầm tầm sẽ đưa vào chế biến thành mứt quả, những quả bị nẫu, bị thâm làm thức ăn gia súc. Việc chọn lựa này hiện phải làm thủ công. Phân loại, sắp xếp đóng hòm các vật, tỷ dụ như trái cây, nghe thì đơn giản nhưng trong thực tế đây là một quá trình phức tạp có tính tổng hợp cao  –  vì trong thực tế không có quả nào giống quả nào về kích cỡ, hình dáng, mầu sắc và độ chín. Nhưng điều đó giờ đây robot có thể học được.  Học như thế nào, thưa ông?  Thông qua camera và máy học  (Machine Learning) chúng có thể nhận biết mầu sắc, kích cỡ và hình dạng của quả chuối, từ đó AI sẽ quyết định về việc đánh giá phân loại chúng. Cuối cùng thì robot học sẽ biết nhặt và xếp chuối vào thùng – làm được việc này do robot phải tập hàng nghìn lần trên cơ sở AI phát triển các thuật toán cần thiết để làm công việc này. Điều này là một cuộc cách mạng đối với nhà máy của chúng ta. Tôi biết một nhà máy chuyên làm vỏ xe ô tô, ở đó người thợ hết ngày này sang ngày khác phải nhặt các bộ phận bằng kim loại rồi đặt thật chính xác vào một vị trí nhất định trên băng truyền để các robot có thể tóm được chúng. Những công việc như vậy có thể tự động hoá. Không chỉ ở lĩnh vực làm vỏ xe ô tô mà ở nhiều lĩnh vực sản xuất khác đều có các trường hợp tương tự để ứng dụng.  Máy móc sẽ ngày càng thông minh hơn. Có cơ sở để lo lắng sẽ tới ngày có một nền công nghiệp không có việc làm cho con người?  Với các nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến sản xuất thì đòi hỏi về nhân lực ngày càng ít hơn. Thay vào đó lại cần nhân lực cho vấn đề lập kế hoạch, và nhiệm vụ về bảo trì sẽ ngày càng quan trọng hơn và có tính đồng bộ nhiều hơn vì ngày có nhiều phần mềm, phần cứng và thuật toán mới được bổ sung vào. Nhu cầu về chuyên môn và trình độ đối với lĩnh vực này ngày càng lớn hơn. Dù cho có tự động hoá đến đâu thì con đường đến một nhà máy hoàn toàn không có người là một con đường còn dài.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.wiwo.de/technologie/digitale-welt/einsatz-von-ki-in-fabriken-bis-zur-unbemannten-fabrik-ist-es-noch-ein-langer-weg/22832688.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viễn chuyển lượng tử các qutrit: Nền tảng cho các hệ mạng thông tin lượng tử      “Tiếng lành đồn xa”, thành công viễn chuyển lượng tử của các nhà khoa học Áo và Trung Quốc đã trở thành thông tin “nóng” nhất thế giới vật lý cuối tháng 8/2019 bởi không chỉ xác nhận bằng thực nghiệm những gì trước đây chỉ là lý thuyết mà còn cho thấy vai trò quan trọng của viễn chuyển các trạng thái lượng tử nhiều chiều trong các máy tính lượng tử tương lai.         Lần đầu tiên các nhà khoa học Áo và Trung Quốc đã thành công trong việc viễn chuyển lượng tử các trạng thái lượng tử ba chiều (hình ảnh tượng trưng).    Cơ học lượng tử không cho phép sao chép, hay còn gọi là nhân bản, một trạng thái lượng tử bất kỳ của một hệ vật lý này sang một hệ vật lý khác. Đó là định lý không nhân bản (no-cloning theorem), với nội dung là cấm việc từ một trạng thái lượng tử bất kỳ có thể tạo ra nhiều trạng thái lượng tử giống y hệt như trạng thái ban đầu. Tuy nhiên, viễn chuyển lượng tử (quantum teleportation) – sự chuyển trạng thái lượng tử giữa hai hệ vật lý cách xa nhau – thì có thể. Trong quá trình viễn chuyển lượng tử này không có sự vận chuyển vật chất và không vi phạm định lý không nhân bản vì trạng thái lượng tử của hệ vật lý ở đầu vào bị xóa sạch và được chuyển một cách chính xác sang một hệ vật lý khác, là hệ ở đầu ra.  Ý tưởng cơ bản của viễn chuyển lượng tử là Alice (người gửi tin) và Bob (người nhận tin) chia sẻ từ trước một trạng thái rối cực đại của hai hệ vật lý (maximally bipartite entangled state): Alice giữ một hệ còn Bob giữ hệ kia. Sau đó Alice cho hệ mà trạng thái lượng tử của nó cần viễn chuyển tới Bob tương tác với hệ của trạng thái rối mà Alice đang nắm giữ, rồi làm phép đo Bell (là phép đo mang tên nhà vật lý nổi tiếng John Bell) để thu được một kết quả đo nào đó. Cơ học lượng tử không cho phép dự báo chính xác kết quả đo. Trên thực tế, nhiều kết quả đo khác nhau có thể xảy ra với các xác suất khác nhau. Nếu nhận được một kết quả đo nào đó (trong số các kết quả khả dĩ), thì Alice báo cho Bob biết thông qua một kênh cổ điển bất kỳ. Kết quả đo mà Alice nhận được ảnh hưởng tức thời tới trạng thái lượng tử của hệ vật lý mà Bob nắm giữ theo cách mà nếu biết kết quả đo của Alice thì Bob hoàn toàn có thể tác động lên hệ của mình một cách phù hợp để nhận được trạng thái lượng tử mà Alice muốn viễn chuyển tới Bob. Do vậy, viễn chuyển lượng tử sẽ được hoàn thành nếu Bob biết kết quả đo của Alice.  Các nhà khoa học Áo và Trung Quốc lần đầu tiên đã thành công trong việc viễn chuyển lượng tử các trạng thái lượng tử ba chiều (là các trạng thái lượng tử tồn tại trong không gian Hilbert với thứ nguyên 3, gọi là các qutrit). Viễn chuyển lượng tử các trạng thái lượng tử nhiều chiều có thể đóng vai trò quan trọng trong các máy tính lượng tử tương lai.      Viễn chuyển lượng tử các photon ở trạng thái lượng tử có thứ nguyên 3.    Các nhà nghiên cứu từ Viện Hàn lâm Khoa học Áo và Đại học Viên đã chứng tỏ được bằng thực nghiệm những gì trước đây chỉ là một khả năng trên lý thuyết. Cùng với các nhà vật lý lượng tử từ Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, họ đã thành công trong việc viễn chuyển lượng tử các trạng thái lượng tử có thứ nguyên cao. Kết quả này đã được đăng lần đầu tiên trong tạp chí Physical Review Letters.  Trong thực nghiệm của họ, các nhà nghiên cứu đã viễn chuyển trạng thái lượng tử của một photon (hạt ánh sáng) giữa hai vị trí cách xa nhau. Trước đây, chỉ các trạng thái có thứ nguyên 2 (“qubit”) là viễn chuyển được, tức là thông tin truyền đi có giá trị “0” hoặc “1”. Tuy nhiên, lần này, cũng là lần đầu tiên, các nhà khoa học đã thành công trong việc viễn chuyển một trạng thái có thứ nguyên 3 (“qutrit”). Trong vật lý lượng tử, không giống như trong khoa học máy tính cổ điển, không chỉ là “0” hoặc “1”, mà là cả hai đồng thời, hoặc bất cứ điều gì ở giữa đều có thể. Nhóm nghiên cứu Áo-Trung hiện đã chứng tỏ được điều này trong thực tế với khả năng thứ ba (ngoài “0” và “1”) là “2”.     Phương pháp thực nghiệm mới     Từ những năm 1990, người ta đã biết rằng viễn chuyển các trạng thái lượng tử có thứ nguyên bất kỳ d = 2, 3, 4,… là có thể về mặt lý thuyết. Tuy nhiên: “Trước tiên, chúng tôi phải thiết kế một phương pháp thực nghiệm để thực hiện viễn chuyển các trạng thái lượng tử có thứ nguyên cao, cũng như phải phát triển công nghệ cần thiết”, theo ông Manuel Erhard từ Viện Quang học Lượng tử và Thông tin Lượng tử của Viện Hàn lâm Khoa học Áo.  Trạng thái lượng tử dự định viễn chuyển được mã hóa theo các lộ trình khả dĩ mà một photon có thể truyền đi. Có thể hình dung những lộ trình này như ba sợi quang. Thú vị nhất là, trong vật lý lượng tử, một photon đơn lẻ cũng có thể truyền qua cả ba sợi quang cùng một lúc. Để viễn chuyển trạng thái lượng tử ba chiều (thứ nguyên 3) này, một phương pháp thực nghiệm mới đã được sử dụng. Cốt lõi của viễn chuyển lượng tử là phép đo Bell. Trong thực nghiệm này phép đo Bell dựa trên bộ tách chùm đa cửa (multiport beam splitter) để điều khiển các photon thông qua một số đầu vào và một số đầu ra và kết nối tất cả các sợi quang với nhau. Ngoài ra, các nhà thực nghiệm còn sử dụng thêm các photon phụ trợ – các photon này cũng được bắn vào bộ tách chùm đa cửa và có thể giao thoa với các photon khác.  Thông qua việc lựa chọn thông minh các cấu hình giao thoa nhất định, thông tin lượng tử đã mã hóa trong photon đầu vào có thể được chuyển sang một photon cách xa khác, mà hai photon này không hề có bất kỳ một tương tác vật lý nào trước đó. Phương pháp thực nghiệm mới này không bị hạn chế bơi thứ nguyên 3, mà về nguyên tắc có thể được mở rộng cho bất kỳ thứ nguyên d (d lớn hơn 3) nào, như Erhard nhấn mạnh.     Dung lượng thông tin cao hơn cho máy tính lượng tử      Với kết quả này, nhóm nghiên cứu quốc tế cũng đã thực hiện một bước tiến quan trọng đối với các ứng dụng thực tế như internet lượng tử trong tương lai, vì các hệ lượng tử với thứ nguyên cao (“qudit”) có thể vận chuyển các lượng thông tin lớn hơn so với qubit. “Kết quả này có thể giúp kết nối các máy tính lượng tử với lượng thông tin vượt xa lượng thông tin mà các qubit có thể vận chuyển”, theo Anton Zeilinger, nhà vật lý lượng tử tại Viện Hàn lâm Khoa học Áo và Đại học Viên, khi nói về tiềm năng đổi mới của phương pháp thực nghiệm mới này.  Các nhà nghiên cứu Trung Quốc tham gia trong thực nghiệm này cũng nhìn thấy những cơ hội tuyệt vời trong viễn chuyển lượng tử đa chiều. Jian-Wei Pan từ Đại học KH&CN Trung Quốc cho biết:  “Những điều cơ bản cho các hệ thống mạng lượng tử thế hệ tiếp theo sẽ  được dựa trên nghiên cứu cơ bản của chúng tôi ngày nay”. Gần đây, Pan đã có một bài giảng ở Viên theo lời mời của Đại học Viên và Viện Hàn lâm Khoa học Áo.   Trong tương lai, các nhà vật lý lượng tử sẽ tập trung vào cách mở rộng những kiến thức mới thu được để tiến hành viễn chuyển toàn bộ trạng thái lượng tử tổng quát của một photon hoặc một nguyên tử.  Để biết thông tin chi tiết hơn, có thểxem Yi-Han Luo et al.: “Quantum Teleportation in High Dimensions”, Physical Review Letters 123, 070505 (2019). □     Nguyễn Bá Ân tổng hợp  Nguồn:  https://phys.org/news/2019-08-complex-quantum-teleportation.html và https://physicsworld.com/a/quantum-teleportation-moves-into-the-third-dimension/     Author                Quản trị        
__label__tiasang Viên nang mini-computer theo dõi sức khỏe      Trong tương lai chúng ta sẽ uống những viên nang mini-computer để biết rõ tình trạng sức khỏe của mình.     Viên nang mini-computer thậm chí còn nhỏ hơn viên nang bình thường một chút, nhưng bên trong là cả một bộ máy kỳ diệu với các cảm biến khác nhau. Khi nuốt viên nang mini-computer, nó lập tức phát thông tin về nhiệt độ tại chỗ trong cơ thể và giám sát các chỉ tiêu khác về tình trạng sức khỏe. Viên nang mini-computer không bị phân hủy bởi axit trong dạ dày và nó vẫn hoạt động bình thường ngay cả ở trong đường ruột.   Theo báo New York Times, hãng HQ Inc. ở TP Palmetto, bang Florida, Mỹ, đã phát triển loại pin lắp trong viên nang này. Tuy nhiên viên nang tương tự của hãng Proteus Digital Health ở TP Redwood, bang California, lại hoàn toàn không cần pin mà sử dụng luôn năng lượng từ cơ thể. Hãng này đã ghép ma-giê và đồng vào hai mặt của cảm biến, điện được lấy từ dịch axít trong dạ dày với mức độ cần thiết để mini-computer hoạt động. Viên nang của hãng Proteus sau khi vào đến dạ dày phát thông tin vào thời điểm uống thuốc tới một điện thoại di động. Năm ngoái, loại viên nang mini-computer này đã được phép lưu hành.   Cho đến nay chỉ mới có một số người dùng viên nang mini computer – trong lĩnh vực du hành vũ trụ và ở một số nghề đặc biệt, viên nang mini computer được dùng nhiều hơn. Theo báo New York Times, trong năm tới, các bác sỹ gia đình ở Mỹ có thể sử dụng loại viên nang thần kỳ này, nếu như họ am hiểu về kỹ thuật.   Thông thường viên nang mini-computer chỉ ở trong cơ thể 24 tiếng đồng hồ, đây là khoảng thời gian cần thiết để nó đi qua dạ dày và đường ruột, sau đó nó được thải ra ngoài. Do viên nang có giá tới 46 USD nên một số người đã quyết định tái sử dụng chúng.   XH dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện nghiên cứu Tế bào gốc (ĐHQG TPHCM): Bước ngoặt từ tự chủ      Không “mạnh về gạo”, cũng chẳng “bạo vì tiền”, chỉ với đội ngũ các nhà khoa học trẻ sẵn sàng bám nghề và những sản phẩm nghiên cứu có nhiều tiềm năng thương mại hóa, Viện nghiên cứu Tế bào gốc (ĐHQG TPHCM) đã dám chấp nhận rủi ro để chuyển đổi thành đơn vị tự chủ, điều không phải bất cứ tổ chức KH&CN nào cũng dám thực hiện.       Các nhà nghiên cứu Viện Tế bào gốc trong phòng thí nghiệm. Nguồn: Viện Tế bào gốc  Tại Triển lãm thiết bị và công nghệ thử nghiệm VinaLAB 2019, một cuộc trưng bày về trang thiết bị phân tích, hóa chất vật tư, giải pháp kỹ thuật, giải pháp phần mềm phục vụ hoạt động thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y tế, môi trường…, diễn ra vào ngày 27/10 tại Hà Nội, gian hàng của Viện Tế bào gốc nằm ở một góc khuất, lọt thỏm giữa gần 20 gian hàng, phần lớn là những công ty đại diện cho các hãng sản xuất thiết bị của Mỹ, Nhật Bản, Đức, Ý… và chủ yếu chỉ có chức năng cung cấp dịch vụ vật tư, bán hàng. Gian của Viện Tế bào gốc – với tấm phông in một vài hình ảnh thông tin về Viện và chiếc bàn nhỏ bày 10 loại sản phẩm tiêu biểu, mang ý nghĩa đặc biệt: giới thiệu những sản phẩm liên quan đến tế bào gốc do chính các nhà nghiên cứu của Viện làm ra. ThS Phan Lữ Chính Nhân, Viện phó Viện Tế bào gốc, không khỏi tự hào khi giới thiệu về những sản phẩm đó: “Ví dụ đây là dung dịch để nuôi tế bào gốc trung mô MSCCult của Viện. Về chất lượng thì nó tốt bậc nhất Việt Nam, thậm chí tốt hơn nhiều sản phẩm cùng loại của nước ngoài mà lại có giá thành thấp hơn nhiều lần”. Có lẽ không phải nói nhiều về sức hút của MSCCult, bởi hiện phần nhiều các cơ sở y tế và viện nghiên cứu làm về tế bào gốc ở Việt Nam đều là khách hàng của Viện.   Chấp nhận rủi ro khi chuyển đổi     Gần hai năm nay, Viện Tế bào gốc đã trở thành đơn vị tự chủ về tài chính. Quá trình tự chủ của Viện diễn ra một cách bình lặng và ít ồn ào như tính cách của các nhà nghiên cứu nơi đây. “Ban đầu Viện tập trung vào nghiên cứu cơ bản là chính, nhưng qua nghiên cứu cũng phát hiện ra một số ‘quy luật’ có thể tận dụng để tạo ra sản phẩm chuyển giao được. Thông thường, việc chuyển giao sản phẩm phải qua một số cơ quan chức năng của trường, vì vậy mất nhiều thời gian, thậm chí lỡ cơ hội. Vậy là anh em trong Viện quyết định chuyển sang tự chủ”, TS. Vũ Bích Ngọc – trưởng Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển giao công nghệ (Viện Tế bào gốc), kể về lý do vì sao từ một đơn vị đơn thuần nghiên cứu với sản phẩm chính là công bố quốc tế, Viện Tế bào gốc lại chuyển hướng trở thành “tự chủ tự chịu trách nhiệm” vào đầu năm 2018.  Chuyển sang tự chủ, Viện Tế bào gốc sẽ không được hưởng những hỗ trợ như các khoản kinh phí chi thường xuyên, được đầu tư về cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị từ ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGTPHCM, như trước. Vì thế tính ra, lo cho một đơn vị nghiên cứu với 35 người thường trực và 50 người dạng “thời vụ” không phải đơn giản, đặc biệt với các nhà nghiên cứu kiêm nhiệm quản lý. “Tất cả mọi thứ sẽ phải tự lo, tự chi hết, gần như một startup vậy, cực lắm”, TS. Vũ Bích Ngọc nói một cách ngắn gọn về những khó khăn mà Viện phải trải qua khi tự chủ.  Và quả thật, trong năm đầu tiên “ra ở riêng”, áp lực nuôi đội ngũ nhà nghiên cứu, cán bộ và cung cấp vật tư hóa chất cho các nghiên cứu khiến Viện cũng lao đao. TS. Vũ Bích Ngọc kể về thất bại đầu tiên mà chị và các đồng nghiệp phải nếm trải: “Cuối năm tính toán sổ sách, chúng tôi lỗ 1 tỷ đồng”. Vậy điều này có làm các nhà nghiên cứu trẻ nhụt chí? “Thất bại đầu tiên này không làm chúng tôi nản mà ngược lại, khiến cả Viện quyết làm tốt hơn trong năm sau để bù lỗ”, chị cho biết.  Thật may, trong quá trình chuyển đổi tiềm ẩn nhiều rủi ro này, Viện Tế bào gốc không phải đơn thương độc mã. Áp lực đã được giảm thiểu nhờ cơ chế hỗ trợ của nhà nước theo nhiều cách, như kinh phí đầu tư cho các đề tài nghiên cứu cấp thành phố, cấp nhà nước, Quỹ NAFOSTED… do Viện thực hiện và đặc biệt là dự án “Nâng cao năng lực tự chủ thông qua nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc tế bào gốc phục vụ điều trị một số bệnh trên người” do Dự án FIRST (Bộ KH&CN) tài trợ tổng mức kinh phí 2,2 triệu USD (tương đương 50,4 tỉ đồng) vào tháng 5/2018. Theo TS. Vũ Bích Ngọc, Viện cũng bỏ một phần kinh phí đối ứng “từ nguồn tiết kiệm qua các hoạt động chuyển giao kết quả nghiên cứu trong nhiều năm” để thực hiện “dự án mơ ước” này.    Nhờ dự án FIRST, Viện Tế bào gốc có được Phòng thí nghiệm Đánh giá hoạt tính sinh học theo chuẩn ISO 17025 (LABA) và Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Sản xuất thực nghiệm (CIPP). Nguồn: Viện Tế bào gốc  Chỉ một năm sau khi triển khai dự án FIRST, Viện đã có được hai cơ sở vật chất quan trọng phục vụ công việc nghiên cứu và sản xuất, đó là Phòng thí nghiệm Đánh giá hoạt tính sinh học theo chuẩn ISO 17025 (LABA) và Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Sản xuất thực nghiệm (CIPP) đạt chuẩn GMP. Với việc trang bị gần như đầy đủ các thiết bị hiện đại về đánh giá các hoạt tính sinh học ở trên các dòng tế bào người và động vật, thiết bị nhân gene PRC thời gian thực 5 màu… cùng những thiết bị sản xuất các sản phẩm y sinh liên quan đến tế bào gốc ở quy mô bán công nghiệp, Viện Tế bào gốc đã có thể thiết lập một chu trình khép kín từ phòng thí nghiệm đến công xưởng, điều không phải đơn vị nghiên cứu nào cũng có được. Nhờ vậy, những sản phẩm nghiên cứu không còn chỉ ở dạng tiềm năng, Viện có thể hoàn thiện công nghệ và tự sản xuất chúng trong một quy trình đạt chuẩn ISO và GMP để có thể cung ứng theo đơn đặt hàng. TS. Vũ Bích Ngọc đánh giá, “không có dự án FIRST thì có lẽ sẽ còn rất lâu nữa, Viện mới có một cơ ngơi hoàn chỉnh như vậy và một cơ hội tự chủ như vậy”.   Do đó, ngay ở thời điểm chưa hết năm và chưa đóng lại dự án FIRST, Viện Tế bào gốc đã nhẩm tính, “năm nay không lo lỗ nữa mà với ước tính doanh thu khoảng 10 tỷ đồng, năm nay Viện có thể có lãi, có thể ‘sống khỏe’ rồi”, TS. Vũ Bích Ngọc nói như reo lên qua điện thoại.     Điểm tựa nghiên cứu  Dĩ nhiên, yếu tố quyết định cho bước ngoặt tự chủ của Viện Tế bào gốc không chỉ từ hệ thống cơ sở vật chất khá đầy đủ cũng như từ mong muốn một cách chủ quan của các nhà nghiên cứu. Nó còn có xuất phát điểm là nội lực nghiên cứu dày dặn, vốn được vun đắp trong suốt 10 năm qua với các hướng nghiên cứu  cơ bản về y học tái tạo, y học phát triển, ung thư… Trong cuộc trao đổi bên lề triển lãm, ThS Phan Lữ Chính Nhân chia sẻ, “tất cả các sản phẩm mà chúng tôi có đều là kết quả của những đề tài nghiên cứu khoa học và có công bố quốc tế đàng hoàng. Tuy không phải nghiên cứu cơ bản nào cũng có thể có được sản phẩm điều trị ngay nhưng khi thấy kết quả nào có triển vọng, chúng tôi đều triển khai các pha nghiên cứu tiếp theo để tối ưu công nghệ, trong đó có những quá trình thử nghiệm lâm sàng để đủ cơ sở pháp lý lẫn khoa học chứng minh là nó tốt và an toàn”. Đó gần như là công thức chung cho các sản phẩm của Viện Tế bào gốc, TS. Vũ Bích Ngọc bổ sung.   Với cách làm đầy cẩn trọng này, nhiều sản phẩm của Viện Tế bào gốc phải mất trung bình 5 năm, thậm chí lâu hơn mới thành hình hài và ra được thị trường, “ví dụ dung dịch để nuôi tế bào gốc trung mô là 5 năm còn Cartilatist điều trị thoái hóa khớp gối và thoái hóa cột sống thì phải mất 10 năm nhưng thực sự là chất lượng tốt”, ThS Phan Lữ Chính Nhân cho biết.   Vì vậy rất nhiều sản phẩm của Viện Tế bào gốc đã thuyết phục được khách hàng trong nước, thậm chí cả một số cơ sở ở Lào và Campuchia, chọn Viện làm nhà cung cấp, không chỉ những mặt hàng quen thuộc như dung dịch nuôi cấy tế bào gốc trung mô mà cả những sản phẩm mới, ví dụ công nghệ sản xuất thuốc tế bào gốc Cartilatist, công nghệ StemActive, Exosome, Micropierce (đều là công nghệ độc quyền của Viện) dùng để sản xuất các sản phẩm mĩ phẩm sinh học… đều đã được chuyển giao thành công.   Với Viện Tế bào gốc, cơ hội thương mại hóa hết sức lớn bởi “trong một vài cuộc khảo sát thị trường từng thực hiện trước đây, chúng tôi biết là nhu cầu điều trị và chăm sóc thẩm mĩ bằng công nghệ tế bào gốc rất lớn ở Việt Nam, nên cứ có sản phẩm mới ra đời ra là thắng”, ThS Phan Lưu Chính Nhân nói. Thành công hứa hẹn này khiến người ta dễ “say” và dễ rơi vào tình trạng chạy theo lợi nhuận, chạy theo chuyển giao mà quên đi những yêu cầu khắt khe của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Thật may mắn là các nhà nghiên cứu của Viện Tế bào gốc đã lường trước được tình huống này. “Chúng tôi không chuyển giao công nghệ một cách bất chấp cho khách hàng. Mỗi lần có đối tác tới làm việc, điều chúng tôi yêu cầu họ là chịu đầu tư thiết bị đồng bộ và sử dụng công nghệ nghiêm túc, đảm bảo đủ điều kiện để được Bộ Y tế cấp phép cho các kỹ thuật mà chúng tôi chuyển giao. Tất nhiên Viện cũng có trách nhiệm hỗ trợ tối đa”, TS. Vũ Bích Ngọc cho biết.    Quá trình Viện Tế bào gốc làm ra sản phẩm Cartilatist điều trị thoái hóa khớp gối và thoái hóa cột sống. Nguồn: Viện Tế bào gốc  Kinh doanh tốt nhưng các nhà nghiên cứu của Viện Tế bào gốc vẫn luôn giữ được thế cân bằng giữa sản xuất, chuyển giao công nghệ với nghiên cứu cơ bản. Theo quy định đã thành nếp, tiền thu được từ chuyển giao được trích lại để đầu tư ngược trở lại cho nghiên cứu. Nhờ vậy thật hiếm viện nghiên cứu nào ở Việt Nam lại có đề tài nghiên cứu cấp viện lại có kinh phí cỡ 500 đến 600 triệu đồng như Viện Tế bào gốc (thông thường, một đề tài khoa học cơ bản do Quỹ NAFOSTED tài trợ trong vòng hai năm cũng chỉ nhận được khoảng 800 triệu đến 1 tỷ đồng). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu của Viện còn dành nhiều tâm huyết gây dựng hai tạp chí được cộng đồng quốc tế công nhận là Biomedical Research and Therapy và Progress in Stem Cell để tạo nơi chốn trao đổi, thảo luận về khoa học và học hỏi những cách tiếp cận vấn đề mới từ các đồng nghiệp quốc tế.   Theo quan điểm của ThS Kim Ngọc, cố vấn của Viện, và PGS. TS Phạm Văn Phúc, Viện trưởng Viện Tế bào gốc thì trong bất cứ hoàn cảnh nào thì công việc nghiên cứu vẫn được ưu tiên. “Nhờ làm nghiên cứu tốt mà nay chúng tôi bắt đầu có được uy tín học thuật quốc tế và cả những sản phẩm thương mại được thị trường công nhận”, TS. Vũ Bích Ngọc nhận xét. □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Viên thuốc chữa bách bệnh?      Một nghiên cứu cho thấy, việc có được Polypills (viên tổng hợp) bao gồm nhiều hoạt chất trong một viên thuốc là thành công lớn để cứu những người bị bệnh tim hoặc đột quỵ.      Để đề phòng cơn đau tim hay đột quỵ, nhiều người bị áp huyết cao phải dùng tới bốn viên thuốc. Ba viên thuốc mầu đỏ, hai màu vàng và tiếp theo là ba viên trắng. Bênh nhân bị áp huyết cao có nguy cơ bị đột quỵ và bị bệnh tim thường phải uống nhiều viên thuốc. Điều này có thể khiến họ cảm thấy ngần ngại, thậm chí một số người dễ bị quên, lúc uống lúc không. Do đó các nhà nghiên cứu nghĩ ra Polypills, một viên thuốc chứa trong đó nhiều hoạt chất để giảm phiền toái, nhầm lẫn cho người sử dụng.  Nghiên cứu về sản phẩm kết hợp này đã được các nhà nghiên cứu tiến hành gần hai chục năm nay. Thành công bước đầu là thuốc hạ huyết áp và giảm cholesterol đã được chứng minh là tốt nhưng cơ sở để chứng minh thuốc cuối cùng có thực sự hiệu qảu trong việc chống áp huyết cao cũng như các bệnh về tim mạch vẫn chưa được chắc chắn. Một nhóm nghiên cứu thuộc đại học McMaster ở Hamilton của Canada do Salin Yussuf dẫn dắt đã có một nghiên cứu khá thành về vấn đề này. Trong hơn năm năm, họ đã theo dõi trên 5700 người cao tuổi, cả hai giới tính nam và nữ. Nhược điểm của họ là bị quá cân, hút thuốc lá, đái tháo đường hay có nguy cơ cao đối với các bệnh tim mạch do một số yếu tố khác.  Loại chế phẩm có tên là Polycap đã được dùng vào thử nghiệm, thuốc có ba chất giảm áp huyết và một chất giảm cholesterol là statin. Theo nghiên cứ chế phẩm này làm giảm đáng kể tỷ lệ các biến cố về tim mạch: giảm 15 % đột quỵ và sự cố tim mạch, thậm chí có thể giảm tới 30% khi sử dụng Polycap cùng với aspirin có tác dụng giữ sự lưu thông máu ổn định. Rất hiếm xẩy ra trường hợp bị tác dụng phụ như sa sẩm mặt mày hay tụt huyết áp. “Nếu trường hợp này xảy ra thì có thể giảm liều lượng xuống”,  Yusuf nhấn mạnh.  Bác sỹ Yusuf gốc Ấn Độ cho hay, loại thuốc Polypills chủ yếu để dùng tại những nước mà sự chăm sóc y tế cho toàn dân còn kém phát triển. “Đối với các nước này cần có các loại thuốc dễ sử dụng và giá cả phải chăng và có tác dụng phòng bệnh tim mạch có hiệu quả”, theo Yusuf. Do giá một viên thuốc như Polycap, ở Ấn Độ chỉ khoảng 33 cent cho nên đây là một phương án thích hợp để thay thế cho các điều trị trước đó. Hơn nữa việc xuất thuốc cũng đơn giản hơn, thay vì phải xuất bốn viên thuốc nay chỉ cần xuất một viên.  Thomas Eschenhagen thuộc bệnh viện trường đại học Eppendorf ở Hamburg và thành viên Hội đồng khoa học của Quỹ Tim của Đức, cũng cho rằng việc dùng Polypills cũng có ý nghĩa. “Nhìn  túi thuốc của các cụ cao niên với đủ loại, đủ mầu sắc, người ta thường tự hỏi, làm thế nào để các cụ nhớ nổi các loại thuốc mà họ phải dùng hàng ngày?”.  Tác dụng phụ của thuốc  Giáo sư Ulf Landmesser giải thích, những yếu tố nào thúc đẩy nhồi máu cơ tim và người ta có thể làm gì để hạn chế trường hợp này. Theo nhà dược học, sẽ đơn giản hơn nhiều khi để hạ áp huyết và hạ cholesterol, người ta chỉ cần uống một viên thuốc thay vì bốn viên. Các nghiên cứu cho thấy người bệnh không thực hiện chặt chẽ quy định về uống thuốc nếu mỗi lần phải uống quá nhiều loại thuốc khác nhau.  Hơn nữa viên thuốc đa thành phần cũng tỏ ra an toàn. “Ở Đức, ít nhất 27 triệu người dùng thuốc ức chế ACE hoặc thuốc chặn thụ thể angiotensin sartan mỗi ngày, và nhiều người trong số họ cũng sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp khác, statin và thuốc chống đông máu”, theo Eschenhagen. “Tất nhiên tất cả các loại thuốc này đều có tác đụng phụ, tuy nhiên chúng sẽ không lớn hơn khi người ta phối trộn các loại thuốc này với nhau trong một chế phẩm”.  Đối với một số polypills, người ta thậm chí còn giảm nồng độ tương đối ở thuốc hạ huyết áp, vì khi phối trộn chúng có thể bổ trợ cho nhau. “Khi giảm liều lượng có nghĩa tác động phụ  của thuốc cũng giảm theo”. Tuy nhiên khi dùng các loại chế phẩm riêng lẻ cũng có cái lợi của nó vì khi có tác đụng phụ, người ta dễ dàng thay thế bằng một loại thuốc khác. Đối với thuốc hỗn hợp mỗi khi thay thế có nghĩa phải thay thế nhiều loại hoạt chất. “Điều này sẽ gây rối, và cũng có trường hợp tác động phụ này bị triệt tiêu nhưng lại xuất hiện tác động phụ khác”, Eschenhagen cảnh báo.  Thực tế thành phần là vấn đề cốt lõi ở viên thuốc hỗn hợp. Mỗi nhà sản xuất lại có sở thích riêng mà nhiều khi người ta không hiểu được. Polycap có chất hạ áp huyết atenolol, theo đánh giá của Eschenhagen  thì “đây là một loại chế phẩm chẹn Beta tồi tệ nhất”. Hơn nữa chất chẹn beta hiện chỉ được một số nhóm người bệnh chọn là thuốc hạ áp huyết loại một. Điều này qua nghiên cứu cho thấy tác dụng riêng lẻ của Polycap chỉ vừa phải và chỉ khi kết hợp với aspirin chế phẩm này mới đạt kết quả vang dội.  Một thành phần khác trong Polycap, thuốc hạ huyết áp khử nước hydrochlorothiazide, có vấn đề vì nó làm tăng nguy cơ ung thư da trắng. Cũng có những lựa chọn thay thế tốt hơn, Eschenhagen nói.  Do đó, kết luận của nhà dược học về polypills là ý tưởng này chắc chắn là tốt nhưng nó còn phụ thuộc vào việc triển khai cụ thể như thế nào nữa.    Xuân Hoài dich  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus220792372/Bluthochdruck-Eine-Tablette-gegen-alles.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện Toán học duy trì đặc sản và tạo ra đặc sản mới      Sinh ra trong bối cảnh chiến tranh đặc biệt thiếu thốn, nguồn lực rất ít ỏi nhưng ngay từ buổi đầu thành lập, các nhà khoa học đặt nền móng cho Viện Toán học (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã mang tham vọng xây dựng một trung tâm toán học theo chuẩn mực quốc tế, với yêu cầu phải có công bố quốc tế và xây dựng được nhóm nghiên cứu mạnh có bản sắc riêng.      Các nhà Toán học lãnh đạo Viện Toán học qua các thế hệ (từ phải sang): Các giáo sư nguyên Viện trưởng: GS Phạm Hữu Sách, GS Hà Huy Khoái, GS Ngô Việt Trung, GS Lê Tuấn Hoa và Viện trưởng đương nhiệm GS Phùng Hồ Hải.  Cho đến nay, Viện Toán học vẫn luôn là một trung tâm hàng đầu về Toán học ở Việt Nam và thông qua Viện Toán học mà thế giới biết đến hình ảnh của Toán học Việt Nam. Không chỉ có những tên tuổi được giới Toán học quốc tế biết tới như GS Lê Văn Thiêm, GS Hoàng Tụy, nhiều nhà khoa học ở Viện Toán đã tham gia ban biên tập tạp chí quốc tế uy tín như GS Trương Xuân Đức Hà, GS Đinh Nho Hào, GS Hoàng Xuân Phú, GS Nguyễn Khoa Sơn, GS Nguyễn Đông Yên…    Nhờ định hướng đúng đắn đó, từ năm 1970 đến nay, Viện Toán học đã công bố tới hơn 3500 công trình khoa học, trung bình mỗi năm có khoảng 70 công bố và đại đa số là công bố quốc tế. Viện Toán cũng là nơi tiên phong trong công bố ở các tạp chí thuộc danh mục ISI/Scopus. Các công bố trong danh mục tạp chí ISI có uy tín của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED) trong thời gian đầu của Viện Toán chiếm tới gần 50% tổng số công bố của các nhà Toán học trong nước. Không dừng lại ở số lượng, mà Viện Toán học tập trung “lấy chất lượng làm tiêu chí” và kể từ những năm 2000 trở lại đây Viện chú trọng hơn vào công bố trên các tạp chí có uy tín top đầu. Những năm gần đây, cũng chính Viện Toán học là đơn vị có công bố đầu tiên, hoàn toàn là nội lực của nhà nghiên cứu trong nước, trên tạp chí top của ngành như Inventiones Mathematicae (GS Ngô Việt Trung và TS Nguyễn Đăng Hợp).    Sau nửa thế kỷ giữ vững vị trí đầu đàn của toán học Việt Nam, bước vào chặng đường mới, Viện Toán học xác định “nhiệm vụ của mình là nghiên cứu xuất sắc và đào tạo xuất sắc, để trở thành viện nghiên cứu có đẳng cấp quốc tế”, theo chia sẻ của GS.TS Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập.  Đồng ý với hướng đi tiếp nối truyền thống đó, GS Phạm Hữu Sách, nguyên Viện trưởng Viện Toán học bổ sung thêm một việc quan trọng nữa là nên “nghĩ tới việc xây dựng một trường phái”. Theo GS Phạm Hữu Sách, để làm được điều đó thì các nhà khoa học của Viện “nên nghĩ tới đặc sản của Viện toán, là cái để mọi người có thể phân biệt viện này với viện khác”. Bằng kinh nghiệm quản lý Viện Toán học (Viện trưởng giai đoạn 1990-1995 và là Viện phó một thập kỷ trước đó), và vẫn miệt mài nghiên cứu, công bố cho đến hiện nay, GS Phạm Hữu Sách cho biết, để tạo đặc sản cần dựa trên các bài công bố cũng như các công trình nghiên cứu được làm dài hơi trong nhiều năm, được giới học thuật quan tâm thảo luận, phát triển. Ông lưu ý điều này vì hiện nay Viện Toán học nói riêng và nền toán học Việt Nam nói chung “đã có đặc sản lý thuyết tối ưu toàn cục (của GS Hoàng Tụy)”, nhưng vẫn còn câu hỏi bỏ ngỏ là ai theo đuổi lý thuyết này. “Trong nước và Viện Toán cũng không ai theo. Ta có nên buông xuôi đặc sản này không? Tất nhiên [để theo đuổi được lý thuyết này cũng như xây dựng trường phái] cũng phụ thuộc vào nhiều điều kiện về nguồn lực nhưng tôi nghĩ là ta nên duy trì đặc sản này, và tạo ra đặc sản khác nữa”, GS Phạm Hữu Sách nói.   Trước đây, Viện Toán học và giới nghiên cứu khoa học cơ bản ở Việt Nam nói chung gặp phải nhiều khó khăn, không sống được bằng nghề trong một thời gian dài. Nhưng trong thời gian gần đây, Bộ KH&CN đã đã rất nỗ lực trong việc xây dựng các cơ chế tài chính hợp lý, dần phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, ví dụ như Quỹ NAFOSTED, theo TS Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN. Sau đó, Bộ KH&CN cũng đã xây dựng giải thưởng dành riêng để động viên các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản như giải Tạ Quang Bửu. “Điều đó nói lên sự tôn trọng, sự ngưỡng mộ của chúng tôi, những người làm quản lý đối với các nhà nghiên cứu khoa học”, TS Nguyễn Quân nói.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Viện Trần Nhân Tông : Tôn lên dòng lành mạnh, chân tu và trí tuệ của Phật giáo      Sáng 22/2, ĐH Quốc gia Hà Nội đã tổ chức lễ công bố quyết định thành lập viện nghiên cứu mang tên Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 –1308), vị tổ sáng lập của Thiền phái Trúc Lâm.      Tượng Giác Hoàng Trần Nhân Tông đặt trong tháp Huệ Quang (núi Yên Tử, Quang Ninh). Bệ và tượng được tạc trên cùng một khối đá vào đời Trần.  Phát biểu tại lễ ra mắt, ông Nguyễn Kim Sơn, Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội kiêm Viện trưởng Viện Trần Nhân Tông, cho biết, đây là lần đầu tiên, trong hệ thống nghiên cứu khoa học và công nghệ quốc gia có một đơn vị nghiên cứu chuyên sâu về Phật học và tư tưởng Trần Nhân Tông; cũng lần đầu tiên chương trình đào tạo bậc tiến sĩ về Phật học được đưa vào triển khai trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại.  Đề án thành lập Viện Trần Nhân Tông đã được ĐH Quốc gia Hà Nội xây dựng từ năm 2011 và được Thủ tướng chính phủ ký quyết định thành lập vào tháng 9/2016, theo ông Sơn.  Dự kiến khóa đào tạo tiến sĩ Phật học đầu tiên của Việt Nam sẽ tuyển sinh vào tháng 9/2017. Nguồn nhân lực để triển khai các hoạt động gồm đội ngũ các nhà khoa học và nhà tu hành. Các đề tài, luận án sẽ ưu tiên nghiên cứu giải quyết các vấn đề của Phật giáo Trúc Lâm, Phật giáo Việt Nam và các vấn đề Phật giáo và xã hội, con người đương đại.  Bài phát biểu tại lễ ra mắt của ông Sơn nhấn mạnh:  “Trong kinh tế thị trường, sự phát triển của đời sống kinh tế và vật chất đã đem lại cho hệ thống Phật giáo nhiều công trình mang tính vật chất to lớn, chùa tháp nguy nga hơn bao giờ hết, nhưng Phật giáo cũng bị đặt trước thách thức lớn và mới mang tính phi truyền thống. Chùa tháp, tượng vàng nhà ngọc to đẹp đó mới chỉ là phương tiện, nếu thiếu nhân tố con người dẫn dắt, thiếu tăng tài, ni đức, thiếu nhân tố trí tuệ sáng suốt và hạnh nguyện mẫu mực thì chẳng những phương tiện đó không phát huy tác dụng mà còn có thể dẫn người ta tới chỗ mê lầm lạc lối xa thêm. Và theo đó nếu chỉ biết chăm chú đầu tư cho phát triển vật chất chùa tháp, có thể có công đức to lớn nhưng cũng có thể ngược lại chất phủ thêm mê đắm cho người.  Chúng ta kỳ vọng, với một viện nghiên cứu mang tính học thuật cao trong lòng đại học hàng đầu của Việt Nam, Viện Trần Nhân Tông sẽ là nơi từ góc độ học thuật tôn lên dòng lành mạnh, chân tu và trí tuệ của Phật giáo, góp phần phát triển tinh hoa tốt đẹp của Phật giáo mang bản sắc Việt Nam, của tư tưởng Trần Nhân Tông và văn hóa đời Trần, cũng như văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung, góp phần vào sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam mới trong thời đại toàn cầu hóa.”  Viện Trần Nhân Tông được xây dựng và phát triển theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm, tự hạch toán và huy động nguồn lực từ xã hội cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo. Cơ sở của viện sẽ được xây tại núi Hòa Quang (núi Thằn Lằn), Hòa Lạc, trong thời gian tới.            Author                T.T        
__label__tiasang Viên uống hỗ trợ điều trị Covid-19 từ thảo dược      Sản phẩm do Viện Kiểm nghiệm thuốc TPHCM bào chế, có khả năng trung hòa virus SARS-CoV2, có thể dùng để hỗ trợ cho bệnh nhân COVID-19 ở thể nhẹ đến trung bình và phòng ngừa cho những trường hợp có nguy cơ cao.    Có nhiều loại dược liệu sẵn có tại Việt Nam đã được chứng minh có khả năng ức chế sự xâm nhập, nhân lên của virus SARS-CoV2, điều hòa miễn dịch, tăng cường sức đề kháng, ức chế và ngăn ngừa cơn bão cytokine ở bệnh nhân viêm phổi do virus SARS-CoV2 như: Thanh hao hoa vàng, Xuyên tâm liên, Vàng đắng, Nghệ, Diếp cá, Gừng,…        Trong đó, Xuyên tâm liên là cây thuốc nam có vị đắng, với hoạt chất chính là Andrographolide, đã được sử dụng từ rất lâu để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp, sốt, mụn rộp, đau họng và nhiều bệnh truyền nhiễm mãn tính khác. Thanh hao hoa vàng có hoạt chất chính là Artemisinin, được ứng dụng làm thuốc chống sốt rét.    Từ những nghiên cứu của thế giới về công dụng của các dược liệu trên, Viện Kiểm nghiệm thuốc TPHCM đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học bào chế sản phẩm dự phòng và hỗ trợ COVID-19. Sản phẩm (ở dạng viên uống) có các thành phần như cao khô Xuyên tâm liên (chứa hoạt chất Andrographolide 50%) 100mg, cao khô Thanh hao hoa vàng (chứa hoạt chất Artemisinin 20%) 50mg, Vitamin C 100mg, cao cát cánh 10mg, kẽm Gluconate 30mg.    Nhóm nghiên cứu đã làm thí nghiệm ngâm tế bào sống với dung dịch mẫu nghiên cứu (sản phẩm) trong 1 giờ, 2 giờ và 3 giờ. Lấy tế bào đã ủ cho tiếp xúc với virus trong vòng 3 ngày, sau đó bất hoạt virus, tiến hành nhuộm tế bào. Kết quả, ở thời điểm 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, 100% tế bào vẫn sống, không bị virus tấn công. Qua đó, cho thấy, sản phẩm có khả năng bảo vệ tế bào trước sự xâm nhiễm của virus SARS-CoV-2, có thể dùng hỗ trợ cho bệnh nhân COVID-19 ở thể nhẹ đến trung bình và phòng ngừa cho những trường hợp có nguy cơ cao.    Từ kết quả nghiên cứu và thử nghiệm đã được Viện Pasteur TPHCM chứng nhận, ngày 11/1, Viện Kiểm nghiệm thuốc TPHCM đã chuyển giao đề tài nghiên cứu khoa học cho Công ty Cổ phần Phát triển Dược liệu Gia Lai để phát triển sản phẩm.    Dược sĩ Phan Nguyễn Tường Thắng, Trưởng khoa nghiên cứu và phát triển Viện Kiểm nghiệm thuốc TPHCM, cho biết, hiện sản phẩm chỉ là thực phẩm bảo vệ sức khỏe, giúp phòng ngừa và hỗ trợ bệnh COVID-19. Để trở thành thuốc được Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) công nhận thì cần nhiều nghiên cứu lâm sàng và đảm bảo thêm nhiều yếu tố khác.     Thuyết Xuân    Author                phongvien        
__label__tiasang Việt – Bỉ: Tăng cường phát triển vườn ươm KH&CN      Ngày 20/1, tại Hà Nội, Thứ trưởng KH&amp;CN Trần Văn Tùng và Phó Thủ tướng Vương quốc Bỉ, kiêm Bộ trưởng Bộ Kinh tế – ông Johan Vande Lanotte – đã  đại diện cho hai Chính phủ ký Hiệp định cụ thể Dự án Hỗ trợ xây dựng  chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp (BIPP).    Theo đó, mục tiêu tổng quát của Dự án nhằm giúp Việt Nam tiếp tục tăng trưởng kinh tế để trở thành một nước công nghiệp hóa vào năm 2020 nhờ một lực lượng mạnh các doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ.   Cụ thể, Dự án hỗ trợ Bộ KH&CN xây dựng một môi trường hài hòa cho các doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ thông qua việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Bộ  KH&CN, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, thực thi chính sách về phát  triển hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN cũng như phát triển  doanh nghiệp KH&CN; các hoạt động tư vấn, môi giới đầu tư  trong quá trình hình thành/ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; nâng cao  năng lực thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học, phát triển công  nghệ của các viện nghiên cứu, các trường đại học,….  Đối tượng được thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp từ dự án gồm: Bộ KH&CN với tư cách cơ quan Chính phủ ban hành các chính sách hình thành và phát triển các doanh nghiệp KH&CN và các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; Hỗ trợ hoạt động cho một cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh, và một cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN mới thành lập tại Hà Nội; Cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, các doanh nghiệp hiện đang hoạt động, đặc biệt dự kiến khoảng 2000 doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ điều kiện hưởng các chính sách ưu đãi theo chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN; Cộng đồng KH&CN, bao gồm khoảng 1.500 tổ chức KH&CN,…     Được biết, ngày 22/6/2011 Ủy ban Hỗn hợp Việt – Bỉ đã họp và thông qua Chương trình hợp tác định hướng (ICP) giữa Việt Nam và Bỉ giai đoạn 2011-2015, trong đó có dự án “Xây dựng chính sách đổi mới và phát triển cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” do Bộ KH&CN chủ trì thực hiện.   Tiếp theo, ngày 26/9/2011 Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến tại công văn số 6759/VPCP-QHQT phê duyệt kết quả kỳ họp lần thứ sáu Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Bỉ và đồng ý đưa dự án nêu trên  vào Chương trình Hợp tác định hướng Việt Nam-Bỉ. Ngày 26/9/2013, tại Brussels, đại diện Bộ Ngoại giao, Ngoại thương và Hợp tác phát triển Vương quốc Bỉ và đại diện Bộ KH&CN Việt Nam đã ký kết Biên bản ghi nhớ về hợp tác và phát triển thông qua Dự án BIPP.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam ‘bách bộ’ vào kỷ nguyên AI      Thuật ngữ trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence, viết tắt là AI) không mới. Năm 1950, Alan Turing, một trong những người đầu tiên nghiên cứu về máy tính đã đưa ra câu hỏi: “Liệu máy móc có thể suy nghĩ không?”. Sáu năm sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ AI được sử dụng.      Diễn đàn về AI do Zalo tổ chức.    Tại sự kiện CES 2018 vừa được tổ chức tại Las Vegas (Hoa Kỳ), Ralph Haupter, chủ tịch Microsoft khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho rằng, 2018 là năm “AI sẽ chính thức bắt đầu tạo ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người trên nhiều phương diện”. Ông chia sẻ thêm, đến năm 2021, chỉ riêng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nguồn tiền đổ vào AI sẽ lên đến 6,9 tỷ USD! “AI sẽ bùng nổ. AI sẽ trở nên vô cùng phổ biến nhưng không hề đột ngột như những cuộc cách mạng công nghệ trước đây”, Ralph Haupter nhận định.  Thế giới là vậy. Còn Việt Nam sẽ như thế nào với xu hướng “thời thượng” này?  Là cơ hội…  Một ngày cuối năm 2017, tại sự kiện Zalo AI Summit (tại Sài Gòn), TS Bùi Duy Bách, đồng sáng lập công ty Arimo (Silicon Valley, Hoa Kỳ) chuyên AI bình luận: “Phải thừa nhận Trung Quốc rất nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội từ sản xuất đến công nghệ thông tin. Gần đây Chính phủ Trung Quốc đã có chương trình cấp quốc gia với mục tiêu trở thành quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực AI trên thế giới. Dự tính đến năm 2030, lĩnh vực AI sẽ đem lại doanh thu cho quốc gia này khoảng 150 tỷ USD. Tôi đủ niềm tin để nói rằng, AI là một trong những cơ hội hiếm hoi để Việt Nam có tên trên bản đồ công nghệ thế giới như cách Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đã làm”.  Còn TS Phạm Kim Cương, chuyên gia thu nhập thông tin và dữ liệu của Hoa Kỳ (đang làm việc tại một công ty có trụ sở ở Silicon Valley) nói: “AI là cơ hội để Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển”. Theo ông, vì AI là một lĩnh vực còn rất nhiều thứ để phát triển, vì vậy đây là cơ hội cho giới khoa học Việt Nam. Vị tiến sĩ trẻ này tiết lộ thông tin: từng có người Việt Nam ở Google đã có công đưa Deep Learning vào thực tế, và khôi phục lại làn sóng nghiên cứu và ứng dụng AI “dậm chân tại chỗ” trong nhiều năm. Tuy nhiên, ông Bách không tiết lộ tên tuổi cá nhân đó!  Cho đến nay, Việt Nam chưa hề công bố một chương trình quốc gia nào về AI. “Tại sao chúng ta có rất nhiều chương trình quốc gia ở nhiều lĩnh vực, còn với một lĩnh vực công nghệ nền tảng như AI, không có một chương trình quốc gia?”, ông Việt Hải, một chuyên gia đã nghiên cứu nhiều về AI, đặt câu hỏi. Theo ông Hải, việc có một chương trình quốc gia về AI, nghĩa là nhà nước cấp tiền để cộng đồng tạo “kho công nghệ” về AI, phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu, thậm chí cho doanh nghiệp mua hoặc thuê công nghệ này nếu có nhu cầu. Cách làm này tương tự như trung tâm Nghiên cứu và thiết kế vi mạch (ICDREC, ĐH Quốc gia TP.HCM) đã tạo ra kho IP, để nghiên cứu và kinh doanh.  Bách bộ…  Dù chưa có chính sách và chương trình quốc gia về AI, để tồn tại, đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào AI để tạo ra những sản phẩm có thể cạnh tranh tại thị trường nội địa, với các sản phẩm nước ngoài.  12 năm trước, với quan điểm “AI chính là tương lai”, từ năm 2006, những ông chủ của VNG đã “bật đèn xanh” cho các kỹ sư trẻ tiếp cận các thuật toán về mạng nơ-ron nhân tạo (neural network). Từ năm 2015, với việc xuất hiện kỹ thuật Deep Learning và một số thuật toán mới ra đời, cũng như phần cứng gia tăng sức mạnh, nhiều thuật toán xuất hiện trong các sản phẩm giải trí, tin tức và cả chatbot… của VNG. Ông Nguyễn Duy Vũ, trưởng phòng kỹ thuật phát triển và vận hành game của VNG cho biết, hiện các kỹ sư của VNG đang nghiên cứu mảng “Học tăng cường” (Reinforcement Learning). Đây là kỹ thuật có nhiều ứng dụng xuất sắc (như AlphaGO của Google đánh bại nhà vô địch cờ vây thế giới năm 2016, hay OpenAI trong game Dota 2 đã đánh bại nhà vô địch Dota). Không hứa hẹn trước nhưng theo lời ông Vũ, sẽ sớm công bố những game AI tại thị trường Việt Nam. Ông Vương Quang Khải, phụ trách dự án Zalo (thành viên của VNG) cho biết thêm, Zalo đã thành lập trung tâm nghiên cứu về AI với hai sản phẩm Zalo Brain và Zalo Assistant. Nhưng ông Khải không tiết lộ cơ chế và chức năng của hai sản phẩm này.  Ông Phạm Minh Tuấn, CEO công ty hệ thống thông tin FPT (viết tắt là FPT IS) cho biết đã đầu tư rất nhiều vào lĩnh vực AI, IoT… để nhận hơn 500 chứng chỉ nền tảng của các hãng GE, Siemens… “Với gia tài chứng chỉ đó, khi các hãng sản xuất xây dựng mô hình nhà máy thông minh, FPT đủ điều kiện để tham gia”, ông Tuấn nói. Đó là chuyện tương lai với những dự án lớn, còn hiện tại, FPT IS đã ứng dụng những kết quả đầu tiên về AI vào các dự án giao thông, y tế… tại Việt Nam. FPT IS đang thử nghiệm ứng dụng về giao thông để từng cá nhân biết được tình hình giao thông theo lộ trình, thói quen, giờ giấc… Từ những thông số tự động ghi lại từ nhu cầu di chuyển của cá nhân hàng ngày, ứng dụng sẽ đưa ra thông tin lộ trình đó cho cá nhân biết. Còn lĩnh vực y tế, theo ông Tuấn, công nghệ AI của FPT IS đã “học” được phần việc của từng bác sĩ trong bệnh viện, để hỗ trợ theo từng vị trí chuyên môn.  Dằng dặc…  Ông Hoàng Nam Tiến, chủ tịch FPT Software nói rằng, về công nghệ nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam đi sau thiên hạ vài ba chục năm! Còn với những công nghệ mới như AI, chuyển đổi số, big data…, “ta đi sau thiên hạ 2 – 3 năm”! Cũng theo lời ông Tiến, khoảng cách vài ba năm cũng là cơ hội cho doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực AI. “Nhưng nếu chúng ta không có tầm nhìn chiến lược và chính sách, khoảng cách tụt hậu ngày càng dài hơn”, ông Tiến nhận định.  Hai năm gần đây, với những công cụ mới xuất hiện đã giúp cho giới công nghệ trong nước giải quyết nhanh những bài toán mà trước đây không thể nào giải được. Nhưng theo ông Duy Vũ, khó khăn trước mắt là tìm kiếm nhân sự. “Với AI, người làm phải thực sự sáng tạo vì ứng dụng AI vào thực tế, như: nhận diện khuôn mặt, nhận dạng giọng nói, hệ thống chatbot… là những thách thức với các thuật toán phức tạp. Tìm được người hiểu đã khó, tìm được người làm khó gấp nhiều lần”, ông Vũ nói. Nhân tài Việt nhiều lắm nhưng hiện nay chúng ta chưa tìm ra cách để mời họ về nước làm việc, TS Đặng Hoàng Vũ, chuyên gia ban công nghệ FPT chia sẻ thêm.  Còn với Christian Nguyễn, làm được sản phẩm có AI không hề dễ dàng, phải “chảy nhiều mồ hôi” khi đối mặt với bài toán kinh doanh sản phẩm. “Đổ nhiều công sức, tiền của vào nghiên cứu các sản phẩm công nghệ cao, nhưng để bán được phải đổ nhiều tiền hơn”, Christian Nguyễn bình luận.  ” FPT đang xây dựng ứng dụng trợ lý ngôn ngữ cho lĩnh vực giao thông và y tế. Khi đang lái xe hơi, nếu cần biết tình hình giao thông ở những con đường muốn đi, tài xế chỉ cần nói để ứng dụng cho kết quả. Còn với ứng dụng về bệnh viện, khi bác sĩ cần tìm hồ sơ của bệnh nhân hay kê đơn thuốc, chỉ cần ra lệnh bằng giọng nói, ứng dụng sẽ hỗ trợ những phần việc trên. Ứng dụng này thông minh và cá thể hoá… theo ngữ cảnh của người sử dụng.  Công ty an ninh mạng Bkav vừa công bố phần mềm diệt virus Bkav 2018, đã được tích hợp giải pháp AI để thiết lập hệ thống giám sát thời gian thực, ghi nhận toàn bộ các đặc điểm, dấu hiệu, hành vi bất thường của các ứng dụng… Trên cơ sở đó, công cụ AI Antivirus của Bkav 2018 sẽ tổng hợp các dữ liệu, phân tích và chỉ ra các mối nguy hiểm có thể xuất hiện như bị xoá dữ liệu, bị phần mềm gián điệp theo dõi… để phát lệnh xử lý, ngăn chặn và tiêu diệt mã độc. Ông Vũ Ngọc Sơn, phó chủ tịch phụ trách mảng chống mã độc của Bkav, nói: “Với AI, Bkav 2018 là sản phẩm mang tính đột phá, tự động giúp người dùng ngăn chặn các mã độc và biến thể mới xuất hiện liên tục”.  Cuối tháng 1/2018, hãng Weezi Digital đã chạy thử ứng dụng ngân hàng có tên là Weebank. Theo giám đốc Christian Nguyễn, với việc tích hợp các công cụ AI, Weebank sẽ thiết kế cách tiếp cận mới của ngân hàng với những khách hàng thông minh hơn, thân thiện hơn. Với Weebank, trên các mạng xã hội Viber, Zalo, Whatsapp…, khách hàng giao dịch chuyển tiền trực tiếp mà không cần thông qua các giải pháp riêng của ngân hàng. Ngoài ra, Weebank còn tự động tư vấn khi khách hàng tìm hiểu những thông tin về lãi suất, dịch vụ của các ngân hàng có sử dụng ứng dụng này.”  bài Trọng Hiền ảnh  Đào Hải  Theo TGTT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam cần áp dụng nhiều biện pháp  để cải thiện chỉ số ĐMST      Tại hội thảo trực tuyến Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2018 ngày 12/7/2018 do Bộ KH&CN và Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức, ông Sacha Wunsch-Vincent – Chuyên viên cao cấp của WIPO, đánh giá, mặc dù còn tồn tại một số hạn chế trong các chỉ số đổi mới sáng tạo (ĐMST) đầu vào nhưng chỉ số ĐMST đầu ra của Việt Nam lại ở mức cao hơn trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp.      Việt Nam có sẵn nguồn nhân lực R&D trong các trường đại học và viện nghiên cứu. Ảnh: Phòng thí nghiệm Robotics của trường ĐH Công nghệ (ĐHQGHN). Nguồn: ĐHQGHN.    Tham dự cuộc họp từ Thụy Sĩ, ông Sacha Wunsch-Vincent và ông Dương Chí Dũng – đại sứ trưởng phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneve (Thụy Sĩ) đã phân tích bảy trụ cột của chỉ số GII 2018 của Việt Nam với năm trụ cột đầu vào là Thể chế (xếp hạng 78/120 quốc gia và nền kinh tế), Nguồn nhân lực và nghiên cứu (66/120), Cơ sở hạ tầng (78/120), Trình độ phát triển của thị trường (33/120), Trình độ phát triển của kinh doanh (66/120) và 2 trụ cột đầu ra là Sản phẩm kiến thức và công nghệ (35/120), Sản phẩm sáng tạo (26/120). Ông Sacha Wunsch-Vincent cho rằng, về tổng thể, Việt Nam đã thực thi nhiều giải pháp đồng bộ và xuyên suốt từ Chính phủ đến các, bộ ngành – điều mà không nhiều quốc gia trên thế giới làm được – để thúc đẩy ĐMST một cách toàn diện. Đây là lý do vì sao chỉ số GII năm 2018 của Việt Nam tăng lên hai bậc với hạng 45/120 và chỉ số ĐMST đầu ra là hạng 41/120.     Với góc nhìn của một chuyên gia kinh tế từng là Giám đốc KHCN, Công nghiệp và phụ trách Chiến lược ĐMST của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), ông cũng nêu vấn đề mà Việt Nam cần tập trung giải quyết, đó là cần cố gắng hơn nữa trong việc cải thiện các chỉ số ĐMST đầu vào để đạt được chỉ số hiệu quả ĐMST cao hơn nữa. “Mặc dù Việt Nam đã làm rất tốt để tạo ra chỉ số ĐMST đầu ra tốt so với năng lực của một quốc gia có trình độ phát triển và thu nhập trung bình thấp nhưng điều đó cũng hàm ý là Việt Nam cũng cần tiếp tục nâng cao những hoạt động ĐMST nhiều hơn nữa”, ông nhấn mạnh.  Trong năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Nghị quyết 19-2018/NQ-CP về việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo, giao cho các Bộ KH&CN, GD&ĐT, TT&TT, GT&VT, VHTT&DL làm đầu mối theo dõi quá trình thực hiện của các bộ, ngành phụ trách từng chỉ số. Tuy nhiên, những chuyển biến trong chỉ số của năm trụ cột đầu ra vẫn còn chưa rõ rệt. Ông Sacha Wunsch-Vincent cũng đưa ra một số gợi ý mà Việt Nam có thể áp dụng ngay trong hoàn cảnh hiện nay, ví dụ như trao đổi với một số doanh nghiệp nước ngoài và thuyết phục họ đặt các trung tâm R&D tại Việt Nam. Muốn làm được điều này, “Việt Nam phải thể hiện được năng lực ĐMST của mình trong các lĩnh vực hoạt động của họ”, ông nói.  Việc thuyết phục các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đầu tư cho R&D không dễ nhưng theo ông Sacha Wunsch-Vincent, Việt Nam có sẵn nguồn nhân lực R&D trong các trường đại học và viện nghiên cứu. Trong quá trình hợp tác với Việt Nam, ông nhận thấy nguồn nhân lực quý này “như ở trong ốc đảo”, vì vậy để phát huy năng lực này, cần xây dựng và vận hành tốt hệ thống ĐMST và hình thành mối liên kết chặt chẽ trường/viện với doanh nghiệp nhằm giải quyết những vấn đề đặc thù của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thị trường nội địa. Việc cùng nhau giải quyết những vấn đề chung như vậy sẽ phát huy tinh thần ĐMST trong cả hệ thống, qua đó nâng cao năng lực ĐMST trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Đây sẽ là giải pháp để Việt Nam tiếp tục hướng đến những vị trí cao và bền vững hơn trong bảng xếp hạng chỉ số GII toàn cầu trong những năm tới (T.N)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam cần chuẩn bị gì cho thời cơ  của suy thoái kinh tế      Khủng hoảng kinh tế là hiểm họa, nhưng cũng là thời cơ. Nếu nắm bắt được cốt lõi của vấn đề khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2009 thì chúng ta thấy được đây chính là thời cơ tốt nhất cho Việt Nam.      Như tôi đã nói ở kỳ I và II, đây là cuộc chiến  tiền tệ giữa các cường quốc, mà chủ yếu là giữa các nước tiên tiến và Trung Quốc. Họ đã gây áp lực đồng Nhân dân tệ (NDT) để giảm thâm thủng ngân sách thương mại. Họ đã tạo ra cuộc đánh vào hàng giá rẻ của Trung Quốc. Hai yếu tố trên là thời cơ để Việt Nam nhận các đầu tư lớn của các cường quốc, nhằm san sẻ bớt sự hùng mạnh của nền kinh tế Trung Quốc đang đe dọa vị trí các cường quốc, khi vị trí địa lý của chúng ta nằm cận kề Trung Quốc. Ta có một nền an ninh vững chắc và ổn định chính trị.. Trong vòng 1 thập niên tới, những cuộc đổ bộ đầu tư vào các nước Asean và Việt Nam sẽ diễn ra vì những lý do trên. Gần đây, người Mỹ đã ngỏ lời đầu tư lớn vào nước ta. Như vậy chúng ta cần chuẩn bị gì? Theo tôi, có 4 vấn đề lớn mà Việt Nam cần tăng tốc chuẩn bị cho cuộc di cư các đầu tư lớn sẽ đổ bộ vào nước ta trong tương lai gần.  Thay đổi tư duy: Đây là vấn đề bức thiết hàng đầu để tạo điều kiện thông thoáng trong các lĩnh vực đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam thông qua cải cách hành chính. Nạn tham nhũng cần được đẩy lùi mạnh mẽ hơn nữa, mà không làm nửa vời như lâu nay. Muốn thế phải nâng vai trò và vị trí của Quốc hội lên cao hơn và có tiếng nói quyết định về lập pháp. Quốc hội phải là đầu tàu thúc đẩy một xã hội sống và làm việc theo pháp luật thông qua tư pháp và hành pháp. Vì thế đất nước đang cần lắm một xã hội tam quyền phân lập. Và để thực hiện điều này cần thay đổi tư duy từ “tập trung dân chủ” sang quan niệm “dân chủ tập trung” và tự do học thuật. Đây là những điều kiện tiên quyết để đi đến thành công. Chúng ta cần một Quốc hội mà ở đó các ý chí chính trị không được vượt qua hiến pháp và pháp luật. Chúng ta cần một xã hội có sáng tạo và đủ tầm đáp ứng với thời đại yêu cầu. Muốn thế việc đãi ngộ nhân tài và tạo một môi trường làm việc tốt cho nhân tài nước Việt từ năm châu bốn bể hội tụ và xây dựng đất nước là điều phải làm.  Nguồn nhân lực: Có luật pháp và luật pháp ấy được thực hiện nghiêm minh rồi vẫn chưa đủ. Điều kiện cần và đủ là chúng ta phải nhanh chân đào tạo con người mới có kiến thức ngang tầm thời đại về mọi lĩnh vực từ lãnh đạo đến công nhân. Chúng ta không thể bán mãi sức lao động giản đơn cho các khu chế xuất đầu tư từ nước ngoài như lâu nay. Chúng ta cần một lực lượng lớn lao động có chất xám, những công nhân, kỹ sư, các nhân viên có khả năng lãnh đạo cho các khu chế xuất để đáp ứng thời cơ. Nếu chúng ta chậm chân, chúng ta sẽ không có nguồn nhân lực cung ứng kịp thời, các nước trong khu vực sẽ chớp mất thời cơ vàng này. Dự án Intel đầu tư vào Việt Nam rất chậm từ một thập kỷ qua, có nhiều lý do để lý giải sự chậm trễ này, trong đó nguồn nhân lực là một lý do hàng đầu. Ngoài nguồn nhân lực đào tạo tại chỗ, chúng ta cần biết mang nguồn chất xám người Việt khắp năm châu về để đáp ứng nhu cầu đất nước là không thể thiếu.  Giao thông vận tải: Một trong những vấn đề bức thiết cho xã hội chúng ta hiện nay không chỉ là giao thông vận tải ở các đô thị mà lớn hơn là vấn đề lưu thông phân phối hàng hóa trên khắp lãnh thổ và trên thế giới. Lưu thông phân phối hàng hóa sản xuất ra sẽ không thể tốt nếu ngành giao thông vận tải không đáp ứng được yêu cầu. Với vị trí địa lý rất thuận tiện, các cảng biển là huyết mạch để đưa hàng hóa ra thế giới. Chúng ta cần cải tạo những cảng biển đã có, và dần xây dựng những cảng nước sâu có vai trò lớn trong lưu thông phân phối hàng hóa đi khắp thế giới. Bên cạnh đó, một việc không kém phần quan trọng là phải cải tạo và nâng cấp hệ thống giao thông trên toàn quốc, để thuận tiện đưa được hàng hóa đến các cảng hàng không và cảng biển quốc tế. Đây là điều kiện cần để đi đến thành công khi thời cơ đến.  Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Bất kỳ một đất nước nào muốn xây dựng hệ thống hạ tầng về tất cả các ngành trong nước đều cần có một ngành công nghiệp hỗ trợ mạnh. Chúng ta không thể làm ra lợi nhuận khi ta lo nhà máy đóng tàu lớn tới hàng trăm ngàn tấn, nhưng chúng ta vẫn cứ sản xuất ra thép thô cho xây dựng như mấy chục năm qua. Các tập đoàn đa quốc gia không thể xây dựng một nhà máy sản xuất ở Việt Nam, mà họ phải đi mua các phụ kiện ở nước khác nhập khẩu về Việt Nam để xây. Lúc ấy, thời gian và giá thành là hai vấn đề làm cho việc đầu tư vào Việt Nam sẽ thất thế hơn là đầu tư ở các nước khác trong khu vực. Họ sẽ bỏ ta, và ta sẽ mất thời cơ vàng sau suy thoái kinh tế. Một thời cơ mà không phải đất nước nào cũng có thể có được.  Nếu chúng ta hoàn tất tốt 4 điều kiện cần và đủ như trên đã nêu, chúng ta có thể hi vọng trong vòng vài thập kỷ tới Việt Nam có thể hãnh diện với bạn bè năm châu, mà không phải cứ đi vay vốn để phát triển. Nếu chúng ta không đáp ứng thời cơ của suy thoái kinh tế.  Người Trung Quốc đã làm được những điều trên trong 3 thập kỷ qua, sao ta không làm được?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam chế tạo thành công thiết bị chụp cắt lớp điện toán công nghiệp      Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật Hạt nhân trong công nghiệp (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Bộ KH&amp;CN) đã chế tạo thành công Thiết bị chụp cắt lớp điện toán công nghiệp (GORBIT), có chức năng phục vụ kiểm tra các đường ống dẫn.     Chất lượng của thiết bị này được Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA công nhận, và đặt mua cho một số nước thành viên còn chưa tự chế tạo được, trong đó có những nước có trình độ khoa học công nghệ được coi là cao hơn Việt Nam, như Thái Lan hay Pakistan.  Đây là sản phẩm của hướng nghiên cứu về hình ảnh hạt nhân tại Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp, xuất phát từ ý tưởng của kỹ sư Nguyễn Hữu Quang, giám đốc Trung tâm về vấn đề đầu tư nghiên cứu và phát triển kỹ thuật hình ảnh hạt nhân. Với kinh phí ban đầu là 60 triệu đồng dành cho đề tài nghiên cứu cấp cơ sở này, Trung tâm tiếp tục tự đầu tư kinh phí để chế tạo, sau 3 năm đưa được vào thử nghiệm đến khâu thành phẩm. Ngày nay, giá trị của một thiết bị GORBIT trên thị trường lên tới vài chục nghìn USD.  Ông Đặng Nguyễn Thế Duy – chủ nhiệm công trình cho biết, đây là thiết bị  có cấu hình 1 nguồn – 1 đầu dò hoạt động theo nguyên lý của thế hệ thứ nhất kèm theo phần mềm dựng ảnh được xây dựng trên cơ sở 3 thuật toán tái tạo hình ảnh khác nhau: chiếu ngược có lọc, lặp đại số và tối đa hóa kỳ vọng.   Theo ông Duy, uu điểm của GORBIT là có thiết kế nhỏ gọn, linh hoạt, có thể thay đổi kích thước tuỳ theo từng đối tượng cần nghiên cứu. Đặc điểm này rất có ích cho việc chụp cắt lớp các đường ống dẫn có kích thước khác nhau trong việc xác định mức độ ăn mòn thành đường ống, mức độ đóng cặn, tắc nghẽn trong quá trình vận hành và phục vụ các nhu cầu về nghiên cứu, ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, kiểm tra, kiểm định, kiểm soát hàng hóa và an ninh. Hình ảnh thu được từ thiết bị GORBIT khá nhanh chóng, có chất lượng cao nhờ đặc trưng của thiết bị và chất lượng của phần mềm tái tạo hình ảnh. Ngoài chức năng chụp cắt lớp các đường ống, thiết bị còn có thể ứng dụng để chụp cắt lớp nhiều đối tượng đa dạng khác, như các thiết bị công nghiệp có kích thước nhỏ, vật đúc, thân cây gỗ, cột công trình xây dựng, v.v…  Để chế tạo thành công GORBIT, nhóm nghiên cứu phải dựa vào sự kết hợp khá phức tạp của kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật điện tử – điều khiển tự động và lập trình máy tính. Đi kèm theo GORBIT là phần mềm dựng ảnh (iGORBIT) với 3 thuật toán tái tạo hình ảnh khác nhau cùng với các thuật toán xử lý ảnh. Chất lượng của phần mềm dựng ảnh rất quan trọng (chiếm từ 30 – 40% giá trị của thiết bị) bởi nó sẽ phục vụ cho khâu cuối cùng của công nghệ chụp cắt lớp – tái tạo hình ảnh để có được hình ảnh chính xác nhất.  IAEA đánh giá cao chất lượng và phạm vi ứng dụng của thiết bị thông qua các báo cáo của Việt Nam tại cuộc họp và các lớp huấn luyện trong khuôn khổ RCA (Hiệp định hợp tác giữa các Quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về hợp tác phát triển khoa học công nghệ hạt nhân dưới sự bảo trợ của IAEA). Theo đề nghị của một số nước và kiến nghị của hội nghị chuyên gia về đánh giá tình hình hoạt động dự án RAS 8/111 (trong khuôn khổ RCA), IAEA đã quyết định đặt mua sáu thiết bị GORBIT của Trung tâm để cung cấp cho các nước đang bắt đầu nghiên cứu về công nghệ chụp cắt lớp điện toán công nghiệp gồm: Bangladesh, Myanmar, Sri Lanka, Philippines, Pakistan và Thái Lan.   Đây là một hình thức thúc đẩy các ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân cho các nước thành viên RCA thông qua việc cung cấp thiết bị, đào tạo, huấn luyện và cam kết hợp tác, phát triển. Ngay sau khi ký kết hợp đồng mua thiết bị, IAEA đã cấp kinh phí để Trung tâm tổ chức lớp tập huấn tại Đà Lạt cho chuyên gia từ các nước nhận thiết bị.  Theo ông Duy, IAEA chọn mua thiết bị GORBIT không chỉ bởi những ưu điểm ở khâu thiết kế mà còn ở giá thành rất hợp lý trong khuôn khổ hợp tác vùng. Với sự chủ động từ 80 – 100% trong khâu chế tạo cơ khí, điện tử và điều khiển tự động nên phần mềm tái dựng ảnh có giá thành thấp hơn rất nhiều so với các sản phẩm của nước ngoài như Hàn Quốc, Ấn Độ, v.v…  Được hỏi về định hướng của Trung tâm trong việc phát triển sản phẩm, ông Duy cho biết: “Chúng tôi không định hướng đưa sản phẩm này rộng rãi ra ngoài thị trường mà sẽ tập trung nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ để chế tạo thiết bị dạng tự hành, có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về khảo sát, kiểm tra, kiểm định các thiết bị và đối tượng trong công nghiệp. Thiết bị GORBIT chính là thành công bước đầu để chúng tôi có thể mạnh dạn đầy tư nghiên cứu về công nghệ và các sản phẩm liên quan đến hình ảnh hạt nhân như máy CT y tế, Gamma Camera (SPECT) y tế, máy CT/PET y tế, máy soi hành lý ở sân bay, trạm soi container ở các cửa khẩu, cảng biển…”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam chế tạo thành công vi mạch chuyên dụng mã hóa video      Sản  phẩm VNU-UET VENGME H.264/AVC@2014 (gọi tắt là VENGME  H.264/AVC), vi mạch chuyên dụng mã hóa video đầu tiên của Việt  Nam do Đại học Công  nghệ (ĐHQGHN) nghiên cứu chế tạo đã được chuyển giao cho công ty TNHH Giải pháp Thông minh Sài Gòn.&#160;  &#160;  &#160;    Lễ ký kết sản phẩm vi mạch VENGME H.264/AVC diễn ra vào ngày 18/5, nằm trong chuỗi các hoạt động khoa học nhân Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 của ĐHQGHN.        VENGME H.264/AVC là kết quả của đề tài nghiên cứu cấp ĐHQGHN “Nghiên cứu và thiết kế bộ mã hóa video cho các thiết bị đa phương tiện thế hệ mới” do PGS. TS Trần Xuân Tú, ĐH Công nghệ, ĐHQGHN chủ trì. VENGME H.264/AVC là vi mạch chuyên dụng thế hệ vi mạch đang sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trên thế giới và có độ phức tạp rất cao, tích hợp trên hai triệu cổng lô-gic (tương đương tám triệu transistors).      Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức cho biết, hiện trường đang thực hiện sáu chương trình nghiên cứu trọng điểm, trong đó có “Nghiên cứu và chế tạo các linh kiện micro-nano và mạch tích hợp ứng dụng trong các hệ thống đo lường, điều khiển, viễn thông và y tế. Các chương trình này có mục tiêu tham gia chương trình phát triển chín sản phẩm quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 439/QĐ-TTg ngày 16/4/2012.   Vi mạch là một sản phẩm công nghiệp cơ bản, mấu chốt trong tất cả các sản phẩm công nghiệp, nhất là công nghiệp điện tử. Việc chủ động thiết kế được các dòng vi mạch điện tử có chức năng đa dạng và cập nhật công nghệ hiện đại của thế giới sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm điện tử sản xuất tại Việt Nam với mức lợi nhuận đến 30%. Ngoài ra, việc nghiên cứu và chế tạo thành công vi mạch còn đóng góp vào công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế tri thức; giảm nhập siêu linh kiện điện tử và giải pháp công nghệ; tạo ra các sản phẩm có ảnh hưởng và tác động lớn đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước, có ưu thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.     Việc các nhà khoa học Việt Nam thiết kế và chế tạo thành công chip VENGME H.264/AVC mở ra hướng làm chủ công nghệ điện tử phục vụ an ninh quốc phòng, thiết kế và chế tạo các vi mạch điện tử quan trọng trong hệ thống vũ khí, khí tài quân sự, hệ thống định vị mục tiêu; bảo mật thông tin. Cùng với đó, Việt Nam có thể làm chủ công nghệ điện tử phục vụ an ninh quốc phòng, thiết kế và chế tạo các vi mạch điện tử quan trọng trong hệ thống vũ khí, khí tài quân sự, hệ thống định vị mục tiêu; bảo mật thông tin.      Trên cơ sở thành công này, nhóm nghiên cứu của PGS Trần Xuân Tú sẽ được tiếp tục đầu tư phát triển ứng dụng của vi mạch đã chế tạo và phát triển các thế hệ vi mạch mới có thể cạnh tranh ở tầm quốc tế. Ngoài ra, phòng thí nghiệm Tích hợp thông minh của ĐH Công nghệ sẽ được đầu tư thêm để trở thành một trung tâm đào tạo và thiết kế vi mạch mạnh khu vực phía Bắc.     Đại diện Công ty cung cấp công cụ thiết kế vi mạch Synopsys, ông Darence Tan đã đánh giá, việc thiết kế và chế tạo thành công sản phẩm vi mạch VENGME H.264/AVC đã góp phần khẳng định khả năng làm chủ công nghệ thiết kế vi mạch của người Việt, qua đó mở ra khả năng hợp tác chuyển giao kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước về thiết kế, chế tạo chíp.      Đại diện của Công ty TNHH Giải pháp Thông minh Sài Gòn, đơn vị ký kết văn bản chuyển chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển thiết bị ứng dụng VENGME H.264/AVC, cho biết, VENGME H.264/AVC có thể mở rộng ứng dụng ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống như camera an ninh, camera giao thông, camera giám sát hiện trường hay đơn giản là các camera giám sát tòa nhà, trường học, các địa điểm công cộng… đến các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy quay video.                                               Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam chưa có thị trường phần mềm mã nguồn mở      Ông Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Công ty phần mềm iSolutions cho rằng, hiện nay Việt Nam chưa có thị trường phần mềm mã nguồn mở (PMMNM) nên chưa thu hút các doanh nghiệp phần mềm trong và ngoài nước tham gia.    Nhận định trên được ông Hiền đưa ra tại hội thảo “Thúc đẩy ứng dụng và phát triển phần mềm mã nguồn mở” do bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với UBND TP.HCM tổ chức tại TP.HCM ngày 22/9. Ông Hiền dẫn chứng, đã có doanh nghiệp phần mềm có sản phẩm PMMNM nhưng đây chỉ là những đơn hàng do các địa phương đặt hàng.   Còn ông Võ Thái Lâm, Giám đốc Công ty phần mềm Lạc Tiên cho biết, đến nay công ty chỉ có hai hợp đồng giá trị nhỏ với thời gian là một năm cho hai tỉnh Bình Phước và Đăk Nông. “Từ đó đến nay, chúng tôi không có đơn hàng nào cả. Thị trường PMMNM tự do chưa có nên rất khó cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này”, ông Lâm nói thêm.  Trao đổi với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực PMMNM, TS Nguyễn Thanh Tuyên (vụ Công nghệ thông tin, bộ Thông tin và truyền thông) xác nhận Việt Nam chưa thể tạo ra thị trường PMMNM vì nhu cầu của xã hội với nhóm sản phẩm này còn quá yếu. Theo thống kê của vụ công nghệ thông tin, đến nay chỉ có 123 cơ quan sử dụng PMMNM, chủ yếu là cổng thông tin, hệ điều hành Ubuntu, bộ phần mềm văn phòng Open Office, email…  Vụ trưởng vụ Công nghệ thông tin Nguyễn Trọng Đường cho biết, để triển khai việc sử dụng PMMNM, theo quyết định 50/2009/QĐ-TTg, trong giai đoạn 2009 – 2012, các địa phương sẽ được duyệt 700 triệu đồng/ năm, trong đó ngân sách Trung ương chi 350 triệu đồng, còn lại là ngân sách địa phương. “Với số tiền trên, rất khó triển khai. Chưa kể bộ Tài chính còn cắt giảm nguồn kinh phí này vì cho rằng, đó là khoản đầu tư công”, vụ trưởng Đường nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có tận dụng được cơ hội ?      Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển hội nhập rất khác so với giai đoạn đổi mới và mở cửa trước đây. Nếu như “mở cửa” vẫn giữ lại cho chúng ta sự chủ động tương đối trong việc hoạch định chính sách và quyền lựa chọn đối tác, thị trường… thì với “hội nhập”, Việt Nam phải tuân thủ các luật chơi chặt chẽ hơn và không còn nhiều không gian cho những chủ động chính sách.         Với Hiệp định TPP hay Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (VEFTA), Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á-Âu (VEAUFTA), mức độ hội nhập của chúng ta đã tiến lên một nấc mới – không còn theo cách “tuần tự nhi tiến” thông thường. Việt Nam đã có bước nhảy vọt lên mức độ hội nhập ở đẳng cấp rất cao, thậm chí hàng đầu thế giới. Nhưng trên tất cả các tuyến hội nhập mới (kể cả với AEC), Việt Nam đều thuộc nhóm kém phát triển nhất so với các quốc gia còn lại. Thách thức hay cơ hội phát triển dành cho Việt Nam đều xuất phát từ đặc điểm này.   Cần tỉnh táo trước vận hội mới  Cơ hội từ vận hội mới là thông qua các điều khoản hiệp định về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư, sở hữu trí tuệ,… Việt Nam có thể “bám” vào những nền kinh tế lớn, phát triển cao – TPP là nơi hội tụ chỉ của 12 quốc gia nhưng sản xuất ra gần 40% GDP toàn cầu, với những nền kinh tế phát triển nhất thế giới như Mỹ, Nhật, Canada, Australia… – để tạo ra đột phá cho nền kinh tế vươn lên nhanh. Đây là cơ hội chiến lược có giá trị thời đại mà chúng ta không thể bỏ lỡ.   Ngược lại, chúng ta cũng phải tỉnh táo để nhận ra rằng, các đối tác trong các sân chơi này đều là những quốc gia đi trước Việt Nam và có rất nhiều kinh nghiệm trong sân chơi thị trường quốc tế. Khi chúng ta tạo thuận lợi về kinh tế cho đối tác ký thỏa thuận thương mại với mình thì họ cũng thu được những lợi ích to lớn khác. Ngay cả với những thuận lợi mà họ mang lại cho đối tác thì việc hưởng thụ chúng cũng không phải là điều dễ dàng. Một bài học nằm lòng trong kinh tế thị trường là lợi ích càng lớn thì tiềm ẩn càng nhiều rủi ro, mà bản chất ở đây là chúng ta phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt hơn. Ở một xuất phát điểm như Việt Nam thì khả năng trả giá sẽ rất cao. Khi hàng rào thuế quan hạ thấp, xuống tới mức bằng “không” thì việc xuất khẩu sản phẩm hàng hóa ra các thị trường lớn có lợi nhưng ngược lại, việc nhập khẩu hàng hóa với điều kiện tương tự sẽ khiến thị trường nội địa phải chịu sóng lớn. Vấn đề mấu chốt là những đòi hỏi của thị trường phát triển cao sẽ cao hơn rất nhiều, đặc biệt là đòi hỏi về hàng rào kỹ thuật. Ngay cả với nhóm mặt hàng nhiều lợi thế của Việt Nam như nông thủy sản, để thâm nhập các thị trường lớn sẽ phải vượt qua thách thức lớn là làm sao đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng, màu sắc, hình dáng đến tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Nếu không nghiêm túc thực thi những điều khoản cam kết, chắc chắn Việt Nam sẽ chẳng hưởng lợi được bao nhiêu, nếu không nói là không có gì.  Bên cạnh đó, cần thấy rằng các hiệp định thương mại này đều cam kết bảo vệ lợi ích của các quốc gia tham gia. Ví dụ điều khoản về đảm bảo nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nội khối trong chính sách ưu tiên miễn thuế nhập khẩu. Việt Nam có lợi thế về sản phẩm dệt may nhưng muốn tận dụng được ưu đãi dành cho thành viên TPP thì phải tuân thủ nguyên tắc “yarn forward”, tức là chỉ có sản phẩm may mặc được sản xuất bằng nguyên liệu nội khối ít nhất từ khâu sợi. Nếu chúng ta nhập khẩu sợi hay vải từ ngoài khối về để dệt và may rồi xuất sang các nước thành viên TPP thì sẽ không được hưởng bất kỳ ưu đãi nào nữa. Trên thực tế, nền công nghiệp của ta lại chủ yếu làm gia công và lắp ráp, nghĩa là đang lệ thuộc quá nặng vào việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để sản xuất, do đó sẽ khó tránh khỏi những bất lợi khi tham gia các FTA với các quy định chặt chẽ kiểu TPP.   Chiến lược nào cho Việt Nam?  Trước những thách thức kể trên, giải pháp gốc rễ cho Việt Nam là thay đổi cấu trúc nền kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để không chỉ gia tăng chất lượng, tiêu chuẩn cho hàng hóa mà còn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.   Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam cần phát huy nội lực và biết cách tăng thêm những giá trị mới cho nó. Chúng ta đã khai thác triệt để, hầu như cạn kiệt các loại tài nguyên thiên nhiên – quặng mỏ, đất và rừng, nhưng vẫn còn nhiều thứ tài nguyên khác, đặc biệt là lợi thế tuyệt đối của nền nông nghiệp nhiệt đới gió mùa hay tài nguyên du lịch đẳng cấp cao. Lâu nay các lợi thế tài nguyên nông nghiệp vẫn chưa được khai thác đúng mức, những đặc sắc của một nền nông nghiệp trải dài trên nhiều vĩ độ, với địa hình có núi cao, đồng bằng và bờ biển dài vẫn chưa được chú ý. Nếu phát huy được những mặt mạnh này và phát huy vai trò khoa học công nghệ, thì chúng ta sẽ có thể thay thế phương thức sản xuất nông nghiệp manh mún, tùy tiện bằng những mô hình phù hợp với điều kiện cạnh tranh quốc tế, chẳng hạn như cách thức Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đầu tư nuôi hàng trăm nghìn con bò tập trung ở Hà Tĩnh theo mô hình “chuỗi quốc tế” hiện đại, hay các cách thức đầu tư vào nông nghiệp của Tập đoàn Vingroup, của TH Truemilk, v.v.  Về du lịch, trong quá khứ mặc dù từng xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn nhưng chúng ta chỉ tập trung khai thác những thế mạnh trước mắt, “ăn xổi” mà không đầu tư bài bản theo quy hoạch có tầm nhìn xa. Hiện nay, cần phải thay đổi chiến lược phát triển du lịch thông qua hợp tác quốc tế (ví dụ phối hợp với các quốc gia Đông Nam Á, hình thành những chuỗi điểm đến đẳng cấp…), và gắn với phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc sắc nhiệt đới gió mùa. Việc tạo được mối liên kết bền vững giữa hai ngành không chỉ đem lại lợi thế mới cho du lịch mà còn giảm bớt rủi ro cho nông nghiệp.   Hai nguyên tắc mấu chốt doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng  Nguyên tắc chung đầu tiên là tìm kiếm những lợi thế – khác biệt, những ngành nghề mà Việt Nam có lợi thế tuyệt đối như sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, tài nguyên du lịch… Ngoài ra, bên cạnh những lợi thế tĩnh, Việt Nam còn có những lợi thế động dựa trên những ngành liên quan đến công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học trong một số sản phẩm đặc thù, đặc sắc của Việt Nam.  Thứ hai là thay đổi đẳng cấp sản phẩm, đẳng cấp cơ cấu. Cho đến nay, đẳng cấp cơ cấu kinh tế của ta vẫn rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và công nghiệp gia công lắp ráp. Chúng ta phải thay đổi đẳng cấp cơ cấu nền kinh tế: không dựa vào khai thác tài nguyên mà dựa vào công nghệ nhiều hơn, không dựa vào lắp ráp mà dựa vào chế tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ – công nghệ cao. Việc thay đổi đẳng cấp cơ cấu sẽ làm thay đổi đẳng cấp sản phẩm, không chỉ đối với các mặt hàng công nghiệp mà cả các mặt hàng nông nghiệp. Thay vì tập trung sản xuất các mặt hàng “cao sản”, cần chú trọng phát triển các loại cây trồng vật nuôi chất lượng cao, gắn với công nghệ, tạo ra những sản phẩm có phẩm cấp cao, những đặc sản gắn liền với các địa danh Việt Nam, đồng thời vượt qua thách thức lớn nhất hiện nay là các hàng rào kỹ thuật và đòi hỏi về an toàn thực phẩm.   Cải thiện môi trường kinh doanh?  Trước những đòi hỏi của cạnh tranh quốc tế mà doanh nghiệp phải đương đầu, nhất là trong giai đoạn hội nhập đang diễn ra rất nhanh hiện nay thì tốc độ cải thiện môi trường kinh doanh của nhà nước vẫn còn quá chậm.   Nền công nghiệp Việt Nam trong lịch sử vốn chủ yếu dựa vào doanh nghiệp nhà nước nên di truyền lại cho nền kinh tế chuyển sang thị trường cái di sản “chủ đạo” độc quyền, ưu đãi, phân phối vốn kiểu xin cho, làm méo mó môi trường kinh doanh nghiêm trọng và kéo dài. Trong môi trường đó, khối doanh nghiệp tư nhân muốn tồn tại, cũng phải bám vào nhà nước, thậm chí phải trở thành “sân sau” của doanh nghiệp nhà nước, hay bám vào những tín hiệu chính sách của nhà nước về đầu tư, về trái phiếu để “kiếm chác”, lâu dần thành ra có xu hướng đầu cơ, chộp giật.   Chậm phát triển các thị trường đầu vào cơ bản, ví dụ như thị trường đất đai, thị trường năng lượng, thị trường nhân lực, thị trường vốn… đều là những thị trường đầu vào quyết định của nền kinh tế, thành những thị trường cạnh tranh tự do. Từ khi gia nhập WTO, chúng ta cam kết đẩy mạnh thị trường hóa nền kinh tế nhưng trên thực tế nhà nước vẫn can thiệp vào các thị trường này quá nhiều, làm cho chúng duy trì quá lâu tình trạng méo mó, kém hiệu quả, và khiến nhiều loại giá cả đầu vào cơ bản không phải là giá thị trường đích thực.  Trong cải cách các thủ tục về thuế, hải quan, đăng ký hồ sơ…, mặc dù trong hai năm qua, chính phủ tập trung cải cách lĩnh vực này rất nhiều và đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng có lẽ do bị phân tán nhiều việc nên việc cải cách không đạt mục tiêu ban đầu đề ra. Tiến trình này cần được thúc đẩy mạnh hơn, nhất là sau Đại hội 12 của Đảng.  Bên cạnh đó, chính phủ còn thiếu những chương trình hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, như hỗ trợ tiếp cận thị trường, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng chung, cung cấp thông tin thị trường, tiếp cận khoa học công nghệ, phát triển nhân lực…  Doanh nghiệp nhà nước chậm cải tổ?  Những năm gần đây, chính phủ thể hiện ráo riết chủ trương cải cách doanh nghiệp để tránh/xóa độc quyền, nhưng tốc độ cổ phần hóa vẫn chậm và hiệu quả chưa cao. Mấy trăm doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa nhưng phần vốn nhà nước chuyển giao cho khu vực tư nhân vẫn còn quá ít, chỉ đạt 15 – 20%. Tỷ lệ này không đủ để thay đổi cấu trúc quản trị của doanh nghiệp được cổ phần hóa, do đó, không thể cải thiện hiệu quả sử dụng vốn.   Để cải thiện hiệu quả tái cơ cấu, trước hết nhà nước phải tăng tốc cổ phần hóa với tỷ lệ thoái vốn nhà nước ở mức độ mạnh mẽ hơn nhiều so với hiện nay. Thử nghiệm bán 100% vốn nhà nước của 10 doanh nghiệp nhà nước hồi cuối năm ngoái có thể coi là một cú đột phá tích cực trong quản lý kinh tế.   Thứ hai, với các thị trường đầu vào, cần đẩy mạnh quá trình tự do hóa, ví dụ thị trường điện cạnh tranh hơn, thị trường đất đai phải dịch chuyển quyền tài sản linh hoạt hơn. Thị trường này càng linh hoạt, càng thông thoáng thì việc lưu chuyển của cải trong xã hội càng tăng lên, đồng thời bớt được rủi ro. Đất đai đem đi thế chấp nhưng không ngân hàng nào dám nhận vì đó là tài sản của nhà nước – đây chính là nguồn gốc của rủi ro trong hoạt động ngân hàng.  Thêm một vấn đề nữa là bây giờ Việt Nam đã ký kết các FTA thế hệ mới với các ràng buộc rất chặt chẽ, theo đó chính phủ không thể tiếp tục ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước và không thể thực hiện chính sách mua sắm công như trước. Các hoạt động này giờ đây phải tuân thủ quy định của các FTA, phải theo nguyên tắc thị trường.   Bài học kinh nghiệm  Bài học quan trọng nhất là tiếp tục cởi bỏ các rào cản thể chế để phục vụ doanh nghiệp tốt nhất. Đây là nhiệm vụ bao trùm và định hướng hành động cho “nhà nước kiến tạo”, mà nếu chúng ta xao lãng thì sẽ gặp nguy hiểm khi bước vào hội nhập đẳng cấp cao.   Bài học thứ hai là kiên trì quyết liệt với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tránh sự thỏa hiệp. Trước đây, chính vì chúng ta quá thỏa hiệp nên chưa làm được gì nhiều. Ví dụ, khi tái cơ cấu đầu tư công, chính phủ đưa ra Nghị định 1792 rất đúng đắn, nhưng khi thực hiện lại thỏa hiệp trước các tồn tại hiện hành nên cuối cùng đầu tư vẫn rất dàn trải. Tương tự như vậy, Luật Ngân sách dù đã sửa lại nhưng tinh thần xin – cho vẫn còn phổ biến. Đồng thời cần tích cực hơn nữa trong việc bán vốn nhà nước cho khu vực tư nhân nhiều hơn để thay đổi cơ cấu quản trị.   Tựu chung lại, nếu theo đúng tư duy thị trường, phân vai nhà nước và thị trường “chuẩn”, cùng với mạnh tay làm bài bản và nghiêm túc thì sẽ thành công!         Bộ KH&CN rất tích cực hỗ trợ  cho các doanh nghiệp KH&CN, nhưng cần đảm bảo rõ ràng hơn khía cạnh  nghĩa vụ của các doanh nghiệp được trao chứng nhận doanh nghiệp  KH&CN, tránh chạy theo bệnh thành tích về số lượng. Nên có chính  sách khuyến khích những trung tâm R&D đặt trong các trường đại học,  thông qua việc hỗ trợ kinh phí hoặc hình thức quỹ để hỗ trợ doanh nghiệp  giải quyết các bài toán KH&CN của họ, đồng thời nhờ đó tạo ra một  không gian khởi nghiệp gắn kết nhà trường với doanh nghiệp.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có thể có “Steve Jobs” cà phê hoặc cá ba sa      Đó là hy vọng của Tiến sĩ Đào Hà Trung – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Công nghệ cao TP.HCM đồng thời là Lãnh sự danh dự Cộng hòa Áo tại TP.HCM về sản xuất nông nghiệp trong cuộc trao đổi với Tia Sáng.    Xin ông cho biết sự liên hệ giữa công việc của một Lãnh sự danh dự và vai trò của ông tại Hội Công nghệ cao?  TS Đào Hà Trung: Đây là điều kiện hết sức thuận lợi và may mắn cho tôi. Nhiều khi cùng một chương trình hoạt động, tôi vừa phục vụ cho Hội vừa thúc đẩy hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Áo. Chúng tôi đã đạt được một số kết quả cụ thể như kết nối ĐHQG TP.HCM với ĐH Y Khoa Wien để thành lập khoa Y ĐHQG TPHCM với phương pháp giảng dạy Y khoa tiên tiến hay phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Wien để đưa công nghệ luyện đồng tinh khiết của Áo hợp tác với tập đoàn Than Khoáng sản…  Ông đánh giá thế nào về tình hình đổi mới sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của Việt Nam trong tương quan với các quốc gia trong khu vực?  Nhìn chỉ số về năng suất lao động của Việt Nam so với các nước khác kém như thế nào là ta khắc biết về tương quan của chúng ta với thế giới trong việc áp dụng công nghệ tiên tiến. Nhìn cơ cấu hàng hóa xuất khẩu thì biết Doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) đang tạo ra loại sản phẩm gì, sáng tạo đến đâu. Tôi cho là chưa đến lúc chúng ta tự hào về sự sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của DNVN.   Theo ông, có những cơ hội và thách thức nào đối với nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập toàn cầu cùng với các hiệp định song phương, đa phương hiện nay?  Cơ hội thì rõ rồi, vấn đề nằm ở chỗ có khả năng đón nhận cơ hội không. Tôi không tin là nếu Việt Nam thành công trong việc gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình (TPP) chẳng hạn, thì nền kinh tế sẽ được cải thiện lập tức, các loại hàng hóa sẽ tự động xuất khẩu ào ào sang Mỹ, Nhật, Úc …các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam… Cái mà chúng tôi lo là ngược lại, nếu ta không tự đổi mới, DN Việt Nam sẽ không kịp chống đỡ trước sản phẩm dịch vụ từ ngoài tràn vào thị trường nội địa. Bài học WTO vẫn còn đó, tươi roi rói.  Hiện nay cơ hội đầu tư trong khu vực đang chạy sang nước khác như Indonesia, Philippines, Myanmar hay thậm chí là Lào và Cambodia. Bản chất của kinh tế toàn cầu là “phẳng” và “chảy” về chỗ được ưu đãi và bảo vệ cho sự làm giàu. Đấy cũng là thách thức cho Việt Nam lúc này.  Với Việt Nam, trước mắt nên xác định trọng tâm để phát triển nền kinh tế nội địa và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu dựa vào những gì mình có yếu tố thuận lợi nhất và có khả năng làm tốt nhất. Sau đó dùng các ưu đãi về chính sách, vốn… để áp dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực ấy tạo ra sản phẩm cạnh tranh toàn cầu  Vậy theo ông, chúng ta nên tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực, ngành nghề nào?  Tôi cũng đồng tình với đề xuất phát triển ngành công nghệ thông tin. Lý do là cần ít vốn, thu hồi nhanh và ta có nhiều nhân lực trẻ. Chỉ mấy cái laptop với đường truyền internet là bạn có thể tạo ra sản phẩm có giá trị chất xám cao.  Thứ hai là ngành Cơ khí: người Việt Nam rất khéo tay, với một số vốn đầu tư không lớn có thể sửa chữa được, sản xuất được rất nhiều thứ không cần mua mới hay nhập ngoại về. Ta còn nghèo, người chưa có việc làm thì đông mà đi nhập từng cái tăm đến con ốc vít thì xót ruột lắm.   Xong ta phải nhìn thấy cái lớn hơn, rõ hơn, mang tính chiến lược: gần 65 triệu dân Việt Nam là nông dân và còn nghèo lắm. Nếu phát triển được ngành nông nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến để giảm nghèo, giảm bất bình đẳng về thu nhập (dẫn đến giảm bất bình đẳng ở những vấn đề khác) sẽ làm cho xã hội Việt Nam phát triển an toàn hơn và cả xã hội Việt Nam hạnh phúc hơn. Chưa kể 65 triệu người nông dân là thị trường khổng lồ nếu họ có tiền mua sắm thì ai tham gia vào thị trường Việt Nam cũng được hưởng lợi.  Theo ông, mô hình liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước đối với việc ứng dụng công nghệ cao trong kinh doanh tại Việt Nam đang như thế nào? Là một người sống ở nước ngoài lâu năm, ông có so sánh gì với các quốc gia khác?  Tôi không định so sánh Việt Nam với nước nào và đánh giá mô hình của chúng ta vì mọi sự so sánh đều khập khiễng. Nhưng so với bản thân, chúng ta đang tăng trưởng đuối dần với mức tăng GDP khoảng trên 5% như hiện nay so với trước đây là 7-8%. Bây giờ là lúc xắn tay vào việc một cách thật sự cụ thể và ngay lập tức bắt đầu từ chỗ dễ đến khó, bắt đầu từ doanh nghiệp của mỗi người dù to hay nhỏ đến các tập đoàn lớn. Hãy xem mình có thể cải tiến được gì, tiết kiệm được gì, cần công nghệ gì để cạnh tranh hơn. Đừng chờ đợi nhà nước sẽ có một mô hình nào đó có sức mạnh thần kỳ cho doanh nghiệp của bạn phát triển. Đừng quên là với mô hình nào thì bạn cũng phải tự làm và tự rút ra các bài học từ kinh nghiệm thất bại.  Theo ông, các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để được tiếp cận các giải pháp về công nghệ để gia tăng sức cạnh tranh?  Chính phủ cần xác định các ngành nghề ưu tiên dựa trên tiêu chí khách quan như đã nêu trên. Sau đó chính phủ phải hỗ trợ cho ngành trọng điểm ấy áp dụng công nghệ tiên tiến tạo ra sản phẩm cạnh tranh bằng nhiều cơ chế khác nhau. Doanh nghiệp non trẻ Việt Nam mà không có sự hỗ trợ của nhà nước, phải tự bươn chải thì sẽ mất rất nhiều thời gian và xương máu mới hy vọng có chỗ đứng ở thị trường toàn cầu. Doanh nghiệp Việt Nam phải nói với chính phủ điều ấy để được hỗ trợ.  Thứ hai, doanh nghiệp phải ý thức được mình đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường cần tăng năng suất lao động, áp dụng công nghệ tiên tiến sản xuất các sản phẩm theo nhu cầu thị trường. Muốn vậy phải mạnh dạn thử nghiệm, liên kết, hợp tác với các đối tác, dùng nhân lực có thể hiểu biết và áp dụng công nghệ cao. Mỗi doanh nghiệp sẽ tìm ra hướng đi riêng cho mình qua quá trình tự đổi mới.    Hội Công nghệ cao có thể hỗ trợ gì cho các doanh nghiệp, thưa ông?  Thứ nhất là chúng tôi đóng góp ý kiến với các cơ quan chức năng về những vấn đề chúng tôi tâm huyết để hỗ trợ cho doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến.  Thứ hai, chúng tôi kết nối các doanh nghiệp công nghệ nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam.  Thứ ba, chúng tôi sẽ đầu tư vào một số công nghệ có triển vọng cho thị trường Việt Nam và cùng doanh nghiệp trong nước thực hiện dự án.  Cuối cùng, chúng tôi mong muốn được tham gia hỗ trợ việc đào tạo ra thế hệ lãnh đạo DN trẻ hiểu biết công nghệ và có khả năng sáng tạo cao. Chúng tôi hy vọng trong tương lai, Việt Nam cũng sẽ có “Steve Jobs” của mình trong lĩnh vực cá basa hay gạo hay cà phê hoặc thậm chí trong lĩnh vực IT.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có thể cung cấp giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu      Các nhà nghiên cứu giống lúa và ngân hàng gene lúa ở Viện Di truyền nông nghiệp đã hợp tác với Viện nghiên cứu Earlham (Anh) – dưới sự tài trợ của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) để xác định các giống lúa có thể phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ngày càng thất thường.      Ông Hoa Sĩ Hiền, người lai tạo giống lúa chịu mặn 5 phần ngàn​. Nguồn ảnh: nhandan.com.vn  Xuất bản trên tạp chí Rice, dữ liệu hệ gene mới sẽ hỗ trợ đáng kể trong việc tạo ra những giống lúa mới có khả năng thích ứng phục vụ cho sản xuất lúa tối ưu trên toàn cầu.  Để tìm hiểu trọn vẹn về tính độc đáo và tiềm năng của nguồn giống lúa bản địa đa dạng, nhóm nghiên cứu đã phân tích 672 hệ gene lúa Việt Nam; giải trình tự mới 616 hệ gene, bao gồm nhiều giống lúa sinh trưởng trong các hệ sinh thái đa dạng trên khắp Việt Nam. Họ đã phát hiện một quần thể phụ (subpopulation) lớn lúa “Indica 15” trước đây từng bị bỏ sót ở một số vùng của Việt Nam. Giống lúa này chưa từng được sử dụng để tạo ra những giống lúa ưu tú hơn trong các nghiên cứu cải tạo giống trước đây.   Những giống lúa địa phương này cung cấp nguồn gene tiềm năng mới với những đặc điểm nông học quan trọng, có thể được sử dụng trong các chương trình chọn tạo giống lúa trong tương lai. Điều này sẽ góp phần tạo ra một thế hệ “lúa siêu xanh” mới, được thiết kế nhằm giảm đầu vào sản xuất đồng thời tăng hàm lượng dinh dưỡng và khả năng thích ứng sinh trưởng trên các vùng đất cận biên (marginal land) – tạo ra một loại lúa bền vững và có khả năng thích ứng tốt hơn với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt.   TS. Janet Higgins (Viện nghiên cứu Earlham), tác giả chính, giải thích “Việt Nam có lịch sử phong phú về chọn tạo giống lúa, đặc biệt là ở cấp địa phương. Sự thích nghi với nhiều điều kiện môi trường và sự ưa thích của từng vùng đã tạo ra nhiều loại giống. Các nghiên cứu như thế này cho thấy rằng sự đa dạng trên đã tạo thành một nguồn gene lớn chưa được khai thác và có nhiều giá trị đối với các chương trình nhân giống trong nước và trên thế giới”.   Để tìm hiểu sự đa dạng của các giống lúa ở Việt Nam có mối liên hệ như thế nào với các giống lúa trên thế giới, nhóm nghiên cứu đã phân tích chín quần thể phụ lúa địa phương có khả năng thích nghi với điều kiện ở nhiều vùng khác nhau. Sau đó, họ so sánh dữ liệu này với nghiên cứu toàn cầu trước đây về các giống lúa ở châu Á, bao gồm 15 quần thể phụ của châu Á (từ 89 quốc gia) đã công bố rộng rãi trong “Dự án 3000 hệ gene lúa”. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra mối liên hệ giữa các giống lúa mới có nguồn gốc ở Việt Nam với bộ dữ liệu giống lúa châu Á – dẫn đến phát hiện về quần thể phụ 15 Indica.    Sự đa dạng di truyền này là một nguồn tài nguyên giá trị cao khi các vùng sản xuất lúa lớn nhất nằm dưới mực nước biển ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long đang phải chịu đựng mối đe dọa ngày càng tăng do biến đổi khí hậu – các hình thái thời tiết thất thường, mực nước biển dâng cao gây xâm nhập mặn và hậu quả là hạn hán ở các vùng cao.   TS. Higgins cho rằng “các giống lúa cải tiến, có năng suất cao và bền vững là điều cần thiết để đảm bảo chúng ta có thể đáp ứng nhu cầu lúa gạo trên thế giới. Chịu mặn và chịu hạn là những đặc điểm quan trọng cần phải giải quyết để đảm bảo việc sản xuất lúa gạo trong tương lai”.   “Chúng tôi hiện đang phân tích chi tiết hơn về quần thể phụ Indica 15. Chúng tôi hi vọng sẽ phát hiện ra các vùng của hệ gene được chọn trong quần thể phụ Indica 15 và mối liên hệ của chúng với các đặc tính cần thiết để tạo ra giống lúa bền vững”.  “Sẽ thật tuyệt nếu IRRI có thể kết hợp một số giống Indica 15 từ Việt Nam mà chúng tôi đã mô tả trong nghiên cứu vào các chương trình chọn tạo giống lúa trong tương lai của Việt Nam. Chúng tôi tin rằng dữ liệu mới sẽ góp phần quan trọng trong việc tối ưu hóa sản xuất lúa bền vững cho nhu cầu toàn cầu và bảo vệ hành tinh của chúng ta”, bà nói.□  Thanh An dịch  Nguồn: Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-rice-varieties-sustain-crop-climate.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có thể học gì từ kinh nghiệm khởi nghiệp của Israel?      Người dân Israel vẫn luôn nhận rằng Chúa đã ưu ái ban tặng miền Đất Hứa trù phú, màu mỡ cho họ. Nhưng những trao đổi của các diễn giả trong hội thảo “25 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Israel: Chia sẻ kinh nghiệm và sáng kiến vì sự phát triển chung” (Hội thảo), ngày 25/6, cho thấy rằng thực chất sự giàu có, sung túc hôm nay đến từ bàn tay và trí tuệ của người Israel.      Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Minh Thuận  Hội thảo là một trong chuỗi sự kiện kỷ niệm chặng đường 25 năm hợp tác của hai nước, trong đó các chuyên gia từ Israel sẽ chia sẻ các kinh nghiệm trong phát triển vốn con người, chính sách khởi nghiệp và tinh thần đổi mới sáng tạo.  Mở đầu hội thảo, ông Doron Lebovich – phó đại sứ Israel ở Việt Nam dẫn lời tỷ phú Warren Buffet (2006): “Một số người Mỹ đến Trung Đông để tìm dầu mỏ. Chúng tôi đến Trung Đông để tìm trí tuệ, và chúng tôi dừng lại ở Israel” để tổng kết rằng: tài sản quý giá nhất ở đất nước Do Thái này là vốn con người. Hiện nay, Israel có tỷ lệ tiến sĩ, kỹ sư và nhà khoa học cao nhất thế giới (135 người/10.000 dân số), đứng thứ 10 trong bảng xếp hạng HDI và thứ 11 trong số các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới vào năm 2011.  Dù mới thành lập được 70 năm (1948 – 2018) và phải trải qua nhiều khó khăn, mất mát cũng như đối đầu với các thế lực thù địch trong khu vực, Israel vẫn vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, công nghệ. Đặc biệt, trong những giai đoạn như khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, Israel vẫn tăng trưởng với tốc độ 35%, đứng thứ 2 trong 34 quốc gia thuộc OECD và gần gấp đôi so với tỷ lệ trung bình của OECD, nhờ vào sự ổn định tài chính với hơn 100 tỷ USD dự trữ ngoại hối và nền kinh tế linh hoạt cao – phân bổ đa dạng các lĩnh vực xuất khẩu. Israel cũng là quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thuộc hàng thấp nhất thế giới, đây là hiệu quả của việc mở rộng quy mô nền kinh tế. Ông Lebovich nhận xét: “Trong khi thế giới đang dần mất đi giao dịch nhanh chóng do tự động hóa và robot thì ngành công nghệ cao ở Israel phát minh ra các giao dịch mới thậm chí còn nhanh hơn.”  Con người Israel có đặc trưng là sẵn sàng mạo hiểm, thích đương đầu với thử thách. Ngoài ra, hầu hết người Israel đều là dân nhập cư. Quá trình “lang bạt” khắp thế giới đã trui rèn cho họ tinh thần kinh doanh, không sợ thất bại và tầm nhìn toàn cầu. Đây là những yếu tố quan trọng để có xây dựng được “văn hóa khởi nghiệp” và “quốc gia khởi nghiệp”. Ông Omri Toppol, từ Công ty An ninh thông tin LogDog chia sẻ rằng muốn khởi nghiệp, cần có tinh thần chấp nhận rủi ro, coi thất bại là cơ hội để học hỏi và bước tiếp, đồng thời có mạng lưới rộng và suy nghĩ lớn. Nhận xét về khởi nghiệp ở Việt Nam, ông cho rằng Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như thiếu chuyên gia, khó khăn khi tìm các nguồn đầu tư trong giai đoạn đầu,… và khuyến nghị rằng startup Việt Nam nên tập trung vào Đông Nam Á – đây là một thị trường rất rộng lớn, thay vì nhắm đến Mỹ hay châu Âu.  Đặc biệt, trong hội thảo, các diễn giả đều nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong phát triển kinh tế nói chung và hệ sinh thái khởi nghiệp nói riêng. Một trong những điểm cốt lõi là, sự can thiệp của Chính phủ cần “đúng chỗ, đúng thời điểm” – bởi vì Israel đã phải trải qua “thập kỷ mất mát” (1973 – 1985) với khủng hoảng, siêu lạm phát, thâm hụt sau những chính sách sai lầm về vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế. Trước “thập kỷ mất mát” , Israel thực hiện mô hình kinh tế bán xã hội chủ nghĩa, với đa số quyền sở hữu các ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc về Chính phủ. Tính độc quyền này và gánh nặng chi tiêu công cho các dòng người nhập cư, cùng với sự hạn chế về hạ tầng đã dần dần đẩy Israel rơi vào khủng hoảng. Chỉ đến khi Israel chuyển đổi mô hình nhằm thoát khỏi tình trạng chính phủ liên đới quá sâu vào nền kinh tế thì mới có thể giảm được chi tiêu công, ổn định lạm phát (từ 400% năm 1985 xuống còn 20% vào năm 1986). Đây là một bài học quý giá của Việt Nam bởi hiện tại chúng ta cũng đang rơi vào tình trạng chi tiêu công quá cao, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, nền kinh tế còn nặng tính độc quyền, sở hữu nhà nước.  Nhìn chung, các kinh nghiệm được chia sẻ trong hội thảo đều có giá trị học hỏi đối với Việt Nam, đặc biệt là kinh nghiệm đầu tư cho nguồn lực con người. PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh còn dẫn lời cố Tổng thống Shimon Peres: “Vốn liếng duy nhất mà chúng ta có thể sử dụng chính là con người” và so sánh với câu tục ngữ “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” để thấy rằng hai quốc gia đều hiểu rằng đầu tư cho con người là chìa khóa cho thành công tương lai. Cụ thể, để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm phát triển quốc gia khởi nghiệp của Israel, hai nước đang ngày càng có nhiều hoạt động hợp tác liên quan đến lĩnh vực khởi nghiệp, Israel còn cung cấp chuyên gia về khởi nghiệp để hỗ trợ Việt Nam.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Việt Nam có thể phải nhập khẩu quá nửa năng lượng vào năm 2035      Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam năm 2017 dự báo, tỉ trọng năng lượng nhập khẩu trên tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp của Việt Nam sẽ tăng lên 37,5% vào năm 2025 và 58,5% vào năm 2035.      Nhiên liệu hóa thạch sẽ vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong ngành năng lượng. Ảnh: Nhà máy nhiệt điện than Mông Dương. Nguồn: Báo Quảng Ninh.  Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam năm 2017 (Báo cáo) do Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Năng lượng, Hạ tầng kỹ thuật và Khí hậu Đan Mạch và Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam thực hiện và công bố ngày 20/9 tại Hà Nội.  Báo cáo được thực hiện với mục đích phân tích các yếu tố đầu vào cho việc xây dựng quy hoạch phát triển năng lượng để đưa ra các định hướng tổng quan cho phát triển ngành năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng trên cơ sở xác định các nguồn năng lượng tiềm năng và tối ưu hóa chi phí trong khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp và năng lượng cuối cùng cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trung hạn và dài hạn của Việt Nam.  Báo cáo đặc biệt chú trọng đến khả năng tích hợp nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) vào lưới điện quốc gia trong tương lai với các phân tích về cơ hội và thách thức trong triển vọng phát triển ngành và đưa ra các kịch bản và biện pháp giải quyết.  Vẫn tiếp tục phụ thuộc vào điện than  Theo Báo cáo, nhu cầu năng lượng của Việt Nam ngày càng lớn, đến năm 2035, tổng nhu cầu năng lượng sẽ tăng gấp gần 2,5 lần so với năm 2015. Mức tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải (chiếm tỷ trọng 27,5%) được dự báo sẽ gia tăng nhanh nhất (5,7%/năm), lĩnh vực công nghiệp (chiếm tỷ trọng 45,3%) có tốc độ tăng 5,0%/năm trong giai đoạn 2016-2035.  Mặc dù ngày càng “khát” năng lượng nhưng nguồn cung năng lượng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và về cơ bản vẫn phụ thuộc nhiều vào năng lượng hóa thạch. Vì tỉ lệ các nguồn năng lượng tái tạo bao gồm sinh khối và thủy điện đã có chiều hướng giảm, từ chỗ chiếm 53% tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2000 tới mức chỉ còn 24% vào năm 2015. Trong cùng giai đoạn đó, tỉ trọng của than trong tổng nguồn cung đã tăng từ 15% lên 35%. Xu hướng này dự kiến sẽ còn tiếp diễn trong tương lai do nguồn cung năng lượng từ thủy điện và sinh khối trong nước không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng. Các nhà máy điện đóng vai trò chủ yếu trong tiêu thụ than, sau đó là đến các ngành xi măng, phân bón, hóa chất và các hộ tiêu thụ khác. Tổng tiêu thụ than trong nước năm 2015 khoảng 43,8 triệu tấn, trong đó các nhà máy điện chiếm 23,5 triệu tấn.  Trong bối cảnh đó, Việt Nam từ một nước xuất khẩu năng lượng đang trở thành nước nhập khẩu ròng về năng lượng. Dự kiến tỉ trọng của năng lượng nhập khẩu trên tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp sẽ tăng lên 37,5% vào năm 2025 và 58,5% vào năm 2035. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến an ninh nguồn cung năng lượng và sự phụ thuộc của Việt Nam vào nhiên liệu nhập khẩu, đặc biệt là than. Tuy nhiên, có thể hạn chế sự phụ thuộc này bằng cách tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo trong nước.  Tiềm năng tiết kiệm năng lượng còn lớn  Báo cáo đánh giá Việt Nam đã có những định hướng rõ nét cho phát triển ngành điện trong những năm tới thông qua Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến 2030 điều chỉnh (QHĐ VII điều chỉnh) và Chiến lược phát triển Năng lượng tái tạo. Báo cáo dự đoán, khoảng 25% công suất nguồn điện ở Việt Nam sẽ được cung cấp từ năng lượng tái tạo (còn trong Chiến lược phát triển NLTT đến 2030, tầm nhìn đến 2050 theo quyết định 2068/QD-TTg đã đặt ra tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc đạt khoảng 32% vào năm 2030 và khoảng 43% vào năm 2050).  Để đảm bảo các mục tiêu giảm phát thải CO2 đồng thời giảm phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, Báo cáo khuyến nghị Việt Nam áp dụng giá phát thải CO2. Biện pháp này sẽ tạo động lực khuyến khích đầu tư thêm công suất phát điện từ khí thiên nhiên và các dạng năng lượng tái tạo, thông qua đó có thể đạt được các mục tiêu của chiến lược phát triển năng lượng tái tạo với mức chi phí tăng thêm thấp so với kịch bản phát triển bình thường, trong khả năng đáp ứng của nền kinh tế.  Ngoài ra, Báo cáo cũng đưa ra đánh giá khá lạc quan về tiềm năng tiết kiệm điện năng – được xác định ở mức 17% vào năm 2030 – bằng cách cải tiến công nghệ và áp dụng các giải pháp quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, với điều kiện khung chính sách về sử dụng năng lượng phải được củng cố.     Báo cáo được xây dựng trên cơ sở cập nhật các thông tin dự báo tăng trưởng kinh tế vĩ mô, tăng trưởng nhu cầu năng lượng sơ cấp và nhu cầu điện. Chương trình quy hoạch năng lượng tối ưu được sử dụng trong Báo cáo là mô hình Balmorel của Đan Mạch sẽ giúp thiết lập các kịch bản phát triển hệ thống điện Việt Nam, chú trọng đến các khả năng phát triển các nguồn năng lượng tái tạo. Đây là mô hình quy hoạch năng lượng đã được sử dụng hiệu quả tại Đan Mạch và một số quốc gia trên thế giới.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Việt Nam đã chế tạo được pin hoạt hóa nhiệt      Đồng tác giả, tiến sỹ Phạm Mạnh Thảo, Học  viện Kỹ thuật Quân sự và tiến sỹ Doãn Anh Tú, Trung tâm Nhiệt đới Việt  Nga (Bộ Quốc phòng) lần đầu tiên nghiên cứu, chế tạo thành công pin hoạt  hóa nhiệt ở Việt Nam.    Loại pin này đã được áp dụng tại Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.  Pin nhiệt là sản phẩm không chuyển giao trong dây chuyền chế tạo tên lửa phòng không tầm thấp Igla. Việc chế tạo được pin nhiệt trong nước giúp Việt Nam chủ động trong nghiên cứu chế tạo tên lửa, giảm chi phí do phải nhập ngoại, góp phần đảm bảo sẵn sàng chiến đấu của một số lượng lớn các tên lửa phòng không tầm thấp A72 và A87 hiện trong biên chế của quân đội, mà nguồn nhiệt hóa đi kèm đã hết hạn sử dụng.  Tiến sỹ Phạm Mạnh Thảo cho biết một phát hiện quan trọng là nhóm đã tìm được giải pháp nấu, đúc và cán được canxi kim loại dạng tấm từ nguyên liệu dạng hạt. Đây là kỹ thuật lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam.  Những kết quả đạt được là tiền đề để nghiên cứu, chế tạo các loại pin nhiệt khác dùng trong kỹ thuật tên lửa như tên lửa đối hạm Uran – E…, rocket, ngòi nổ đạn pháo, ngòi nổ chậm của bom, hệ thống mục tiêu giả, hệ thống điều chỉnh quỹ đạo, ghế nhảy dù trong ngành hàng không vũ trụ…  Về khả năng sáng tạo, nhóm đã áp dụng một số cải tiến về công nghệ và thiết kế trong nghiên cứu chế tạo pin nhiệt. Việc dùng lưới inox mạ niken làm chất mang hoạt chất cực dương làm giảm giá thành của pin nhiệt, đồng thời đa dạng hóa vật liệu chế tạo pin nhiệt.  Theo đó, chất mang cho hoạt chất cực dương không chỉ giới hạn trong số các loại lưới của các kim loại như niken hay bạc mà còn có thể sử dụng lưới inox mạ niken. Lá cách gồm hai lớp bằng vải thủy tinh mỏng, thay cho truyền thống chỉ một lớp giúp cực âm không bị phản ứng với chất điện ly trong quá trình lưu trữ pin nhiệt, vừa tránh được hiện tượng chập mạch do sự tạo thành liti kim loại và hợp kim Li-Ca khi pin làm việc.  Việc tạo lớp thụ động hóa trên bề mặt canxi trong giải pháp của tác giả có tác dụng bảo vệ bề mặt cực âm trong quá trình chế tạo và lắp ráp pin nhiệt, giảm tác dụng ăn mòn của môi trường; kéo dài thời gian lưu trữ của pin nhiệt trước khi sử dụng.  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/Home/Lan-dau-Viet-Nam-che-tao-duoc-pin-hoat-hoa-nhiet/20136/203818.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam – điểm đến cho các nhà đầu tư      Mới đây, Hội nghị doanh nghiệp Đức khu vực  châu Á – Thái Bình Dương (APK) đã được tổ chức tại TP.HCM. Nhân dịp này,  hãng truyền thông quốc tế DW của Đức có bài viết đánh giá tình hình  kinh tế cũng như các cơ hội thương mại của Việt Nam.     Hiện có khoảng 300 công ty Đức đang có mặt trên thị trường Việt Nam, trong đó bao gồm những tên tuổi lớn như Adidas, BMW và công ty chuyên về dụng cụ y tế Zwilling. Trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc đứng đầu các nguồn lực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Đức hiện là nhà đầu tư thứ 22 trong khu vực Đông Nam Á.   “Việt Nam muốn có được nhiều quan hệ hợp tác về kinh tế với Đức, một quốc gia châu Âu nổi danh về đầu tư nước ngoài”, ông Thomas Hundt của tổ chức về phát triển kinh tế, Thương mại và đầu tư Đức (GTAI), cho biết.  Hội nghị APK lần thứ 14, diễn ra vào ngày 20 đến 22-11 là cơ hội tốt để Việt Nam giới thiệu khả năng của mình trong lĩnh vực hợp tác, đầu tư với cộng đồng doanh nghiệp thế giới. Hội nghị được tổ chức luân phiên hai năm một lần tại nhiều quốc gia do Ủy ban châu Á – Thái Bình Dương của doanh nghiệp Đức (APA), Phòng Công nghiệp – Thương mại Đức (AHK) và Bộ Kinh tế Đức phối hợp tổ chức.   Hội nghị năm nay được tổ chức tại TP.HCM. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đức Sigmar Gabriel tham gia hội nghị.   Thị trường nội địa phát triển  Một ví dụ cho việc liên kết thương mại thành công tại Việt Nam là trường hợp nhà sản xuất đồ thể thao Adidas. Công ty này đã tìm nguồn cung ứng hàng hóa từ các nhà cung cấp Việt Nam trong nhiều năm qua. Đại diện của Adidas, Simone Lendzian nói với DW rằng, Việt Nam được đánh giá là một nơi sản xuất hàng hóa tốt.    Việt Nam, cùng với Trung Quốc và Indonesia, là một trong ba nhà cung cấp chính cho Adidas toàn cầu, Lendzian cho biết. “Hơn nữa, điều quan trọng là thị trường tiêu dùng  Việt Nam đang phát triển. Nhóm dân số trẻ của đất nước này say mê các nhãn hàng quốc tế. Chúng tôi trông chờ vào việc nâng cao nhận diện nhãn hàng và phát triển nó theo hướng phổ cập hơn nhằm dẫn đến khả năng tăng nhu cầu với các sản phẩm của chúng tôi”.   Với dân số khoảng 90 triệu người và thu nhập trung bình tăng lên đều đặn, thị trường tiêu dùng nội địa ở Việt Nam có sức thu hút lớn. Kể từ năm 2009, Việt Nam đã trở thành một quốc gia thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB).    Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng 5,4% trong năm 2013 và đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã đóng góp khoảng 20% vào tổng sản lượng kinh tế đất nước. Các nhà đầu tư ngoại đánh giá tích cực môi trường đầu tư Việt Nam, đặc biệt là sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, một nguồn lực lao động năng động, được đào tạo tốt, nhiều nét gần gũi với Trung Quốc, theo một báo cáo gần đây của WB về khả năng cạnh tranh của đất nước này.  Dẫu vậy thì vấn đề quản lý và huấn luyện tính chuyên nghiệp cho nhân công Việt Nam cần được cải thiện để thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài, cũng theo nguồn báo cáo trên.   “Nhân công thiếu kỹ năng là một trong những điểm yếu của nền kinh tế”, Thomas Hundt tiết lộ.   Chính nhược điểm này đã tác động không nhỏ đến chi phí lao động giá rẻ của Việt Nam, đem đến cho Việt Nam một lợi thế nhất định, ông giải thích. “Các công nhân thiếu kỹ năng chỉ nhận được đồng lương bằng hai phần ba so với công nhân Trung Quốc. Đó là nguyên nhân đằng sau làn sóng hiện tại của các nhà máy chuyển từ Trung Quốc tới Việt Nam”.   Như trước đây, lao động được đào tạo chuyên sâu đem lại cho đất nước nhiều cơ hội đầu tư lớn hơn. Nhưng bức tranh công nghiệp đang dần thay đổi. “Trong khi bắt đầu với nền công nghiệp dệt may vào những năm 1990, nền sản xuất của đất nước này đang dần chuyển sang những lĩnh vực công nghệ khác và hướng vào việc sản xuất ra những chiếc máy giặt, đồ điện tử, điện thoại thông minh,” Hundt nói.  Những cải cách và mở rộng nhu cầu  Đầu tư nước ngoài chất lượng cao sẽ phụ thuộc vào khả năng xây dựng một sân chơi bình đẳng của chính phủ Việt Nam với mọi thành phần tham gia thị trường, theo nhận định của WB. Các doanh nghiệp nhà nước đều được hưởng ưu đãi về vốn và nhiều nguồn lực khác, khiến cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo.     Các doanh nghiệp nhà nước được cho là nắm giữ ít nhất một phần ba tổng sản phẩm quốc nội, theo kết luận của một nghiên cứu gần đây. Tuy nhiên các doanh nghiệp này được biết đến như mô hình hoạt động không hiệu quả khi chỉ phụ thuộc một phần vào quy tắc thị trường tự do và được chính phủ bảo hộ nếu lâm vào tình trạng khó khăn. Vấn đề cải cách hoặc là bị trì hoãn hoặc là không được thực hiện.   Nhưng vào cuối năm 2014, chính phủ Việt Nam đã thông qua hai luật mới nhằm mục đích mở rộng cuộc cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp nhà nước, ít nhất là từng phần một. Qua động thái này, chính phủ hy vọng sẽ thu hút được các nhà đầu tư tư nhân.   Một ví dụ là hãng hàng không thuộc sở hữu của nhà nước, Vietnam Airlines, hiện đang có bước đi đầu tiên theo hướng này bằng việc cung cấp 3,5%  tổng số cổ phần của công ty lên thị trường chứng khoán tại TP.HCM vào ngày 14-11 vừa qua. Nhà nước dẫu sao vẫn còn sở hữu tới 75 % cổ phần của Vietnam Airlines.  Hợp tác với Đức  Trong nỗ lực cải cách nền kinh tế, chính phủ Việt Nam tiến gần hơn với Đức. Kể từ khi hai quốc gia ký kết một thỏa thuận đối tác chiến lược vào năm 2011, Berlin đã thiết lập nguyên tắc trong đối thoại luật pháp với Hà Nội, nhưng hai bên vẫn còn những rào cản  quan liêu dễ nhận thấy.  “Chính phủ Việt Nam luôn luôn lắng nghe mỗi khi các doanh nghiệp hoặc tổ chức như Phòng thương mại và công nghiệp châu Âu hay Mỹ trình bày những vấn đề họ đang phải đối mặt”, Hundt nhận xét.  Dẫu vậy thì tất cả các doanh nghiệp muốn hoạt động thương mại tại Việt Nam rất cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tư vấn mang tính chuyên nghiệp, Hundt lập luận. “Bất cứ ai muốn đầu tư vào Việt Nam hoặc thực hiện các giao dịch thương mại nhất thiết phải được chuẩn bị tốt. Và một lời khuyên pháp lý hữu ích cũng cần phải được đưa ra sớm”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.de/vietnam-a-country-for-investors/a-18073726       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam đứng thứ hai ASEAN về bảo hộ chỉ dẫn địa lý      Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&amp;CN), Việt Nam hiện đứng thứ hai ở ASEAN về số sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, chỉ sau Thái Lan.    Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) là hệ thống chứng nhận đối với quy trình sản xuất nông sản và thực phẩm độc đáo của các địa phương và khu vực. Trong một thập kỷ qua, CDĐL đã phát triển nhanh trên toàn thế giới và trở thành một công cụ quan trọng đối với thương mại, phát triển nông thôn, và giữ gìn bí quyết truyền thống…   Hiện nay ở khu vực ASEAN đã có hơn 120 CDĐL được đăng ký bảo hộ, trong đó Việt Nam có 38 sản phẩm, chỉ xếp sau Thái Lan với 59 sản phẩm. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm của Việt Nam mới chỉ được bảo hộ CDĐL trong nước, trừ trường hợp nước mắm Phú Quốc được bảo hộ CDĐL ở châu Âu.  Cục Sở hữu trí tuệ cho biết, sắp tới sẽ có thêm ba sản phẩm là chè Shan tuyết Mộc Châu, gạo Tám Xoan Hải Hậu và quế Văn Yên được hỗ trợ để đăng ký bảo hộ CDĐL tại nước ngoài trong khuôn khổ dự án “Tăng cường xây dựng nông thôn thông qua phát triển chỉ dẫn địa lý cấp khu vực ở châu Á”.  Dự án do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ, được thực hiện đồng thời ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong ba năm với ngân sách trên 2 triệu đô-la Mỹ.  Dự án sẽ tập trung vào các chương trình đào tạo, xây dựng năng lực cho các hiệp hội chỉ dẫn địa lý; xây dựng và phát triển chuỗi giá trị, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng và quảng bá sản phẩm. Ban Quản lý Dự án sẽ phối hợp làm việc với nông dân ở các địa phương tham gia dự án và cả người tiêu dùng để nâng cao sự công nhận chỉ dẫn địa lý.  Tại lễ khởi động dự án sáng 25/6 tại Hà Nội, ông Tạ Quang Minh – Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ – cho rằng, việc sử dụng hợp lý CDĐL sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, trong khi Trưởng Đại diện FAO tại Việt Nam, ông Jong-Ha Bae, nhấn mạnh, CDĐL còn là một công cụ quan trọng giúp các nhà sản xuất địa phương ở Việt Nam chuyển từ lượng sang chất, gia tăng cơ hội tiếp cận thị trường mới.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam đứng thứ  tư ASEAN về chỉ số ĐMST      Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) mới công bố Báo cáo chỉ số đổi mới toàn cầu (The Global Innovation Index) năm 2014, theo đó Việt Nam có sự tăng nhẹ về điểm số so với  năm ngoái (từ 34,8 lên 34,89), vượt năm bậc lên vị trí thứ 71 toàn cầu và xếp  thứ tư trong khối các nước ASEAN.    Báo cáo cho thấy, Thụy Sĩ  vẫn giữ vị trí đầu bảng, tiếp đến là Vương quốc Anh và Thụy Điển đổi chỗ cho nhau ở vị trí thứ hai và thứ ba. Các nước Đông Á như Singapore và Hồng Kông vẫn nằm trong Top 10, trong khi Hàn Quốc xếp thứ 16, Nhật Bản xếp thứ 21 và Trung Quốc xếp thứ 29 – đều thăng hạng so với 2013.  Chỉ số đổi mới toàn cầu do WIPO, Đại học Cornell (Hoa Kỳ) và Học viện Kinh doanh INSEAD hợp tác thực hiện hàng năm, kể từ năm 2009. Chỉ số này nhằm mục đích đánh giá năng lực và kết quả đổi mới của 143 nền kinh tế thế giới. Chỉ số được tổng hợp từ 84 chỉ tiêu trong các lĩnh vực: Thể chế; Nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu; Kết cấu hạ tầng; Sự tinh tế của thị trường và doanh nghiệp; Sản phẩm tri thức và công nghệ; Sản phẩm sáng tạo.  * Xếp hạng ĐMST 2014 của các nước ASEAN:  1. Singapore (7)  2. Malaysia (33)  3. Thái Lan (48)  4. Việt Nam (71)  5. Indonesia (87)  6. Brunei (88)  7. Philippines (100)  8. Campuchia (106)  9. Myanmar (140)  (Lào không có trong báo cáo)  * 10 nước đứng đầu bảng xếp hạng ĐMST toàn cầu 2014  1. Thụy Sĩ  2. Vương quốc Anh  3. Thụy Điển  4. Phần Lan  5. Hà Lan  6. Hoa Kỳ  7. Singapore  8. Đan Mạch  9. Luxembourg  10. Hồng Kông      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam giữ kỷ lục lạm phát trong khu vực      Công trình nghiên cứu của TS Đào Văn Hùng, Nguyễn Thạc  Hoát và các đồng sự thuộc Học viện Chính sách và Phát triển phát hiện,  trong tất cả các giai đoạn 5 năm suốt từ năm 1991 đến năm 2012, Việt Nam  đã vượt qua tất cả các nước trong khu vực về chỉ tiêu lạm phát.    Công trình được đưa ra tại buổi hội thảo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức cùng Học viện Chính sách và Phát triển và USAID tổ chức hôm 21/5 tại Hà Nội, cho biết, mức lạm phát của Việt Nam lên tới hơn 18% năm 2011 và 6,8% năm 2012, cao hơn nhiều so với mức trung bình khoảng 3% của các nước như Trung Quốc, Indonesia, Phillippines và Thái Lan.  Quốc gia có lạm phát cao nhất trong hai năm qua là Indonesia, song mức lạm phát của họ cũng chỉ 3,8-5% trong hai năm qua, thấp hơn nhiều so với của Việt Nam.  Tất cả các kỳ 5 năm được chọn để so sánh đều cho xu hướng như trên.  Nghiên cứu cho biết, trong 27 năm từ 1986-2012, Việt Nam có 13 năm và 4 giai đoạn lạm phát trên 2 con số, trong đó đáng kể nhất là từ 1986-1992 với mức lạm phát bình quân ba chữ số 225%/năm; 2007-2008 với 16,3% năm và 2010-2011 với 15%/năm.  Theo tiến sĩ Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, kể cả so với Trung Quốc thì lạm phát của Việt Nam cao hơn, trong khi tăng trưởng lại thấp hơn.  Trong giai 2008-2012 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là gần 5,9% năm, và lạm phát là 12,6%; còn Trung Quốc tương ứng là 9,3%/năm và 3,3%/năm.  Trong 20 năm (1991-2010), Việt Nam tăng trưởng bình quân năm khoảng 7,4%, lạm phát gần 11%; thì Trung Quốc tương ứng là 10,5% và 4,8%.  Ông Hồ đặt câu hỏi: “Tại sao trong 20 năm qua họ tăng trưởng gấp đôi ta nhưng lạm phát bằng nửa ta?”  Chỉ vào đồ thị về diễn biến của lạm phát 1992-2012 tại hội thảo sáng nay, ông Nguyễn Thạc Hoát nói: “Xu hướng biến thiên của đường lạm phát rất phức tạp, biến động mạnh, đỉnh nhọn, biên độ lớn. Điều đó cho thấy kiểm soát lạm phát ở Việt Nam chưa bền vững; sự bất ổn của tiền tệ và kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn lớn”.  Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh bày tỏ lo ngại, mức lạm phát cao triền miên như vậy đang làm chi phí vốn và chi phí đầu tư kinh doanh ở Việt Nam cao hơn các quốc gia khác.  Ông Sinh cho rằng, các quốc gia khác cho vay lãi suất thấp vì rủi ro vĩ mô của họ thấp, còn Việt Nam thì ngược lại.  Tuy nhiên, thứ trưởng nhận xét, sau một thời gian dài áp dụng các chính sách kinh tế nhằm giảm lạm phát, đến lúc này, doanh nghiệp đã có tâm lý không muốn làm ăn, người dân không muốn mua sắm tiêu dùng nữa.  “Các doanh nghiệp với lãi suất cho vay hiện nay và đầu ra khó sẽ chỉ gửi vốn ngân hàng lấy lãi, hơn là đầu tư kinh doanh. Đây là xu hướng rất nguy”, ông nói.  Ông khẳng định, số lượng doanh nghiệp biến mất khỏi thị trường là điều rất đáng lo ngại, và đặt câu hỏi: “Liệu nền kinh tế có giữ được không với lãi suất vẫn cứ cao như thế này”.  Tuy nhiên, là một trong những tác giả chính của các đề án phát triển kinh tế của Chính phủ, ông Sinh tỏ ra lo lắng làm sao tìm ra nguồn vốn cho nền kinh tế sôi động lại, nhất là khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cho năm nay (tương ứng với 360.000  tỉ đồng) không thể đạt được.  Tại hội thảo, các nhà kinh tế đề xuất mức lạm phát tối ưu khoảng 7-7,5%/năm trong giai đoạn 2013-2015.  Bên cạnh đó, họ kiến nghị cần có cơ quan phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ độc lập với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam hướng tới GDP/đầu người 18 nghìn USD/năm vào 2035      Trong buổi lễ công bố báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” diễn ra sáng nay (23/2) tại Hà Nội, đại diên phía chủ nhà Việt Nam cũng như phía Ngân hàng Thế giới đều khá thẳng thắn trong việc chỉ ra những hạn chế và thách thức cho sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới.      Với sự có mặt của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng nhiều bộ trưởng trong nội các Chính phủ Việt Nam, Chủ tịch Jim Yong Kim cùng một số lãnh đạo Ngân hàng Thế giới, các đại sứ quốc tế, buỗi lễ công bố báo cáo đã diễn ra trong không khí cởi mởi, nhìn thẳng vào những vấn đề gây trở ngại cho tiến trình phát triển lâu dài của Việt Nam, đó là năng suất bình quân còn thấp so với khu vực, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động lạc hậu, cơ chế về quyền sở hữu vốn, đất đai, các tài chưa thực sự vận hành theo cơ chế thị trường mà còn chi phối nặng nề bởi mệnh lệnh hành chính… Phát biểu của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh bày tỏ sự lo ngại về tình trạng cấu trúc nhà nước cát cứ, manh mún và thiếu trách nhiệm giải trình; quyền giám sát cũng như quyền dân chủ đại diện của người dân chưa được đảm bảo.  Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” xác định ba trụ cột quan trọng mà báo cáo khuyến nghị Việt Nam cần tập trung xây dựng trong giai đoạn tới là thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường, công bằng và hòa nhập xã hội, và nhà nước có năng lực cùng trách nhiệm giải trình. Mỗi trụ cột đều kèm theo những khuyến nghị thiết thực, đặc biệt với trụ cột ba về xây dựng nhà nước có năng lực giải trình đã đề ra những giải pháp cụ thể như xây dựng hệ thống hành chính dựa trên chế độ chức nghiệp thực tài, áp dụng nguyên tắc thị trường đối với các quyết sách kinh tế, tăng cường đảm bảo các quyền tài sản, tự do hóa thị trường các nhân tố sản xuất… Trao đổi từ buổi lễ công bố, các bên cho biết một mục tiêu quan trọng đặt ra cho Việt Nam trong năm 2035 là đưa mức thu nhập bình quân đầu người đạt mức trung bình cao (tức 18 nghìn USD/năm hoặc cao hơn, tính theo sức mua tương đương).  Báo cáo là kết quả từ sáng kiến chung của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Jim Yong Kim chấp thuận vào tháng 7 năm 2014, kế tiếp đó là 19 tháng nỗ lực nghiên cứu, xây dựng, soạn thảo của các chuyên gia của Việt Nam và Ngân hàng Thế giới dưới sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và ông Axel van Trotsenburg, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.  Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Jim Yong Kim của Ngân hàng Thế giới bày tỏ đánh giá cao việc các lãnh đạo hiện tại của Việt Nam không ngủ quên trên thành tựu đã qua của thời kỳ Đổi mới, tỉnh táo nhìn ra những khó khăn phía trước. Về phía Việt Nam, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết cá nhân ông đã học hỏi được nhiều trong thời gian hợp tác cùng các chuyên gia Ngân hàng Thế giới xây dựng Báo cáo, và khẳng định Chính phủ Việt Nam sẽ cân nhắc các khuyến nghị của Báo cáo trong quá trình hoạch định, thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển đất nước, trước mắt trong giai đoạn tới năm 2020, và tiếp theo là 2020-2030.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam lại rớt hạng năng lực cạnh tranh      Sau hai năm, Việt Nam đã lùi tổng cộng 16 bậc trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, hiện xếp áp chót trong tám nước ASEAN được khảo sát, chỉ cao hơn Campuchia.    Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012 – 2013 vừa được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, xếp Việt Nam ở vị trí thứ 75 trên tổng số 144 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát. Thấp hơn 10 bậc so với bảng xếp hạng năm ngoái, Việt Nam để Philippines vượt qua và trở thành nước đứng áp chót về năng lực cạnh tranh trong số 8 quốc gia ASEAN được lựa chọn khảo sát.  Năng lực cạnh tranh của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực.  Trong số 12 nhóm chỉ tiêu được WEF sử dụng để đánh giá, Việt Nam tụt hạng ở 9 nhóm, trong đó không có nhóm nào vượt được hạng 50 và phần lớn trong số này cận kề thứ hạng 100.  Nếu như ở báo cáo năm 2011, Việt Nam được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao ở sự ổn định kinh tế vĩ mô (tiến 20 bậc), thì đến 2012, hạng mục này lại bị hạ tới 41 bậc.   Nguyên nhân chủ yếu là do lạm phát 2011 gần chạm ngưỡng 20%, cao gấp đôi so với một năm trước đó. “Nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thắt chặt tiền tệ. Tuy nhiên, điều này lại khiến khả năng tiếp cận tín dụng trở nên khó khăn hơn”, báo cáo nhận định.  Cơ sở hạ tầng (xếp hạng 95) một lần nữa được nhắc đến như một trở lực chính cho sự phát triển của nên kinh tế, với những lo ngại được đặt nặng vào chất lượng đường xá (hạng 120) và cảng (113). Trong khi đó, khu vực công tiếp tục bị phàn nàn bởi nạn tham nhũng và thiếu hiệu hiệu quả, cùng với các vấn đề về tôn trọng tài sản cá nhân (xếp hạng 113), bản quyền (hạng 123).  Trong số ít những điểm tích cực WEF chỉ ra, Việt Nam được đánh giá cao bởi chất lượng thị trường lao động (hạng 51), quy mô thị trường (32) và mức độ hài lòng với chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản (64). Các chuyên gia thực hiện báo cáo cũng cho rằng những thách thức đang ngày một lớn đối với quá trình phát triển của Việt Nam và đỏi hỏi những chính sách hết sức quyết đoán nhằm duy trì đà tăng trưởng một cách bền vững.  Một lưu ý khác cũng được ẩn dụ khi WEF công bố GDP quy theo giá thực tế năm 2011 của Việt Nam là 122,7 tỷ USD, trong đó thu nhập đầu người là 1.374 USD. Tuy nhiên, biểu đồ của báo cáo lại cho thấy khoảng cách giữa thu nhập của người Việt so với mức trung bình của các quốc gia châu Á đang phát triển ngày càng bị nới rộng.  Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012 – 2013 do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thực hiện dựa trên khảo sát tại 144 quốc gia, vùng lãnh thổ dựa trên hơn 100 chỉ tiêu, được chia làm 12 nhóm: Thể chế, hạ tầng, kinh tế vĩ mô, sức khỏe và giáo dục cơ bản, giáo dục & đào tạo nâng cáo, thị trường hàng hóa, lao động, tài chính, mức độ sẵn sàng đón nhận công nghệ, quy mô thị trường, mức độ phát triển kinh doanh và tính tiên phong.  So với xếp hạng 2011, hsi vị trí dẫn đầu danh sách không thay đổi là Thụy Sĩ và Singapore. Phần Lan và Thụy Điển “đổi chỗ” ở vị trí thứ 3 và 4, trong khi Hà Lan và Mỹ thực hiện động tác tương tự ở vị trí thứ 5 và 7. Đức tiếp tục giữ vị trí thứ 6 trong khi 3 đại diện cuối cùng của Top 10 là Anh, Hong Kong (Trung Quốc) và Nhật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam làm chủ công nghệ định vị đa hệ thống      Trung tâm Quốc tế Nghiên  cứu và Phát triển công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (Trường đại học  Bách khoa Hà Nội) mới đây đã nghiên cứu thành công hai sản phẩm công nghệ định  vị sử dụng vệ tinh với độ chính xác cao.    Khi nhắc đến hệ thống định vị, người ta  thường nghĩ ngay đến cái tên quen thuộc GPS – một hệ thống định vị bản  đồ trên các thiết bị điện thoại thông minh, giúp người dùng tìm đường  khi bị lạc. Tuy nhiên, GPS mặc dù hoạt động ổn định nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế về độ chính xác. Trước thực trạng đó, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) thuộc Trường đại học Bách khoa Hà Nội) đã nghiên cứu thành công hai sản phẩm công nghệ định vị sử dụng vệ tinh: bộ thu định vị đa hệ thống NAVISOFT và bộ thu định vị độ chính xác cao NAVISA.  Hiện nay, các nước tiên tiến trên thế giới đều phát triển các hệ thống vệ tinh định vị của riêng mình. Ngoài GPS của Mỹ đã trở nên quá phổ biến do được đưa vào sử dụng ổn định hàng chục năm qua, trên thế giới còn có các hệ thống định vị như: GLONASS của Nga, GALILEO của châu Âu, BEIDOU của Trung Quốc… TS Tạ Hải Tùng, Giám đốc Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) – “tác giả” của hai sản phẩm định vị NAVISOFT và NAVISA cho biết: Trong tổng số 32 vệ tinh của GPS đang hoạt động trên quỹ đạo, có nhiều vệ tinh tuổi thọ vượt quá thiết kế từ năm đến mười năm, thậm chí có vệ tinh hoạt động trên quỹ đạo 23 năm.  Ngoài ra, tín hiệu GPS dân dụng được thiết kế dựa trên nền tảng công nghệ của 30 năm trước cho nên dễ bị can thiệp với các hình thức tiến công như phá sóng và giả mạo tín hiệu. Nếu điều này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ an toàn và tin cậy của giải pháp định vị trong bối cảnh GPS đang ngày càng trở nên thiết yếu với đời sống xã hội.  Nước ta nằm ở khu vực được coi là “điểm nóng” về nghiên cứu định vị sử dụng vệ tinh, có thể tiếp cận được dịch vụ của hầu hết các hệ thống định vị toàn cầu cũng như khu vực trên thế giới. Trước nhu cầu về hệ thống định vị đa hệ thống, từ tháng 6-2011 đến tháng 6-2013, NAVIS đã nghiên cứu thành công hai sản phẩm công nghệ trên. Hệ thống định vị đa hệ thống do NAVIS nghiên cứu, sản xuất không chỉ thu được tín hiệu từ các vệ tinh, xác định chính xác vị trí mà còn có thể chống phá sóng của các hệ thống định vị. Nhóm nghiên cứu NAVIS đã làm nhiều thử nghiệm trên thiết bị mới này, như đi vào giữa những khu vực có tòa nhà cao tầng, bộ thu (điện thoại) mất tín hiệu GPS.  Các điện thoại khác như LG, Sony hay Samsung đều không xác định được vị trí. Để khắc phục được sự cố này, nhóm nghiên cứu NAVIS đã sử dụng bộ thu NAVISOFT. Khác với GPS, NAVISOFT có khả năng phối hợp tín hiệu đến từ các vệ tinh của những hệ thống định vị khác nhau.  Bộ thu này có khả năng thu và giải mã được tín hiệu của tất cả các vệ tinh mà nó “nhìn” thấy trên bầu trời.  Nhờ đó, luôn bảo đảm cung cấp dịch vụ định vị một cách liên tục với độ an toàn, chính xác và tin cậy. Về nguyên tắc, để xác định được vị trí, bộ thu phải “nhìn” thấy ít nhất bốn vệ tinh, nhưng do bị che phủ bởi các tòa nhà cao tầng, nên bộ thu chỉ nhìn thấy hai đến ba vệ tinh. Vì vậy, nếu dùng từng hệ thống riêng lẻ, chúng ta không thể xác định được vị trí, nhưng khi phối hợp các vệ tinh định vị lại thì bộ thu NAVISOFT có thể xác định được vị trí với bán kính quanh đó khoảng 10 mét.  Còn với bộ thu định vị độ chính xác cao NAVISA, khi kết hợp với NAVISOFT định vị, độ chính xác đã chứng minh là gần như tuyệt đối. Hiện tại, NAVIS đã phối hợp một số đơn vị để triển khai hệ thống định vị đa hệ thống, giá thành chỉ bằng một phần năm giá nhập ngoại. Mới đây, NAVIS cũng đã tư vấn giúp Bộ Giao thông vận tải sử dụng công nghệ định vị đa hệ thống để giám sát hành trình đi lại của các phương tiện giao thông (30 giây/lần) nhằm so sánh tốc độ, phạt nguội. Tuy nhiên, ngành giao thông vận tải hiện phần lớn vẫn áp dụng hệ thống giám sát hành trình thông qua “hộp đen”.  Theo TS Tạ Hải Tùng, nhược điểm của thiết bị hộp đen mà ô-tô khách và ta-xi đang sử dụng độ chính xác thường không cao, đôi khi báo vị trí ảo. Chia sẻ với chúng tôi, nhóm nghiên cứu NAVIS khẳng định: Ở Việt Nam người dân có thể chưa quen với khái niệm hệ thống định vị.  Trên thực tế, ngành giao thông vận tải ở các nước phát triển không thể thiếu công nghệ này để duy trì trật tự giao thông và bảo đảm tính công bằng của pháp luật khi xảy ra những vụ va chạm hoặc xử phạt.  N AVIS hiện là cơ sở nghiên cứu duy nhất tại khu vực Đông -Nam Á chuyên sâu về công nghệ định vị sử dụng vệ tinh. Sự ra đời của NAVIS (tháng 10-2010) là kết quả của sự hợp tác lâu dài giữa Trường đại học Bách khoa Hà Nội và Liên minh châu Âu. Hiện tại, các cán bộ trẻ của NAVIS đang đóng vai trò nòng cốt trong nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Nhờ làm chủ công nghệ và sản xuất thành công bộ định vị đa hệ thống, cuối năm 2013, TS Tạ Hải Tùng và nhóm nghiên cứu NAVIS vinh dự được nhận giải thưởng Quả cầu Vàng lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Đây là hai sản phẩm lần đầu phát triển tại Việt Nam, giúp nâng cao chất lượng các dịch vụ định vị. Sản phẩm đang được ứng dụng hiệu quả, thay thế nhập ngoại và thúc đẩy ứng dụng định vị vệ tinh tại Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam làm chủ công nghệ dự báo bão hạn mùa bằng mô hình động lực      Thông qua hợp tác với Tổ chức Nghiên cứu KH&CN Úc (CSIRO) qua đề tài do Dự án FIRST tài trợ, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu khí hậu và khí tượng Việt Nam có thể ứng dụng công nghệ mô hình dự báo bão hạn mùa bằng mô hình động lực.      GS. TS Phan Văn Tân giới thiệu về mô hình động lực dự báo bão do Úc chuyển giao. Nguồn: ĐH Khoa học tự nhiên   Trong hội thảo tổng kết đề tài “Tiếp thu và làm chủ công nghệ dự báo bão hạn mùa bằng mô hình động lực, phục vụ công tác bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh tế – xã hội và an ninh trên khu vực Biển Đông – Việt Nam” vào ngày 30/5/2019, GS.TS. Phan Văn Tân (trường đại học KHTN, ĐHQGHN), chủ nhiệm dự án cho biết, dù trước đây, ở Việt Nam, người ta đã sử dụng mô hình thống kê để dự báo bão, nhưng đây là lần đầu tiên mô hình động lực mới được áp dụng một cách đầy đủ.  Với hỗ trợ của Dự án FIRST, sau 2 năm triển khai (từ ngày 1/6/2017-1/6/2019) với tổng mức kinh phí chưa đầy 180. 000 USD, đề tài đã bước vào giai đoạn kết thúc và đã hoàn thành được các mục tiêu chính là tiếp nhận được hệ thống dự báo bão hạn mùa bằng mô hình động lực và nâng cao năng lực của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khí hậu – khí tượng. GS.TS. Phan Văn Tân cho biết, nhóm nghiên cứu đã tiếp nhận thành công hệ thống mô hình Coupled CCAM (hệ thống mô hình kết hợp đại dương – khí quyển) dưới dạng mã nguồn mở do TS. John Mc Gergor và các chuyên gia ở CSIRO – tác giả của mô hình này trực tiếp chuyển giao. “Bộ mô hình mã nguồn mở này được phát triển phù hợp với khu vực Biển Đông và Việt Nam, cho lượng dữ liệu đầu ra rất chi tiết so với các phương pháp trước đây”, GS.TS. Tân cho biết.  Để sử dụng mô hình này, GS.TS. Phan Văn Tân cùng các nhà khoa học đã phát triển nhiều bộ chương trình mã nguồn mở như: bộ chương trình mã nguồn mở tiền xử lý và xử lý đầu ra của mô hình (PrePos); bộ chương trình dò tìm xoáy (TD-Detect) mã nguồn mở phù hợp với đầu ra của Coupled CCAM; bộ chương trình mã nguồn mở tạo sản phẩm dự báo tổ hợp (TC-Ens) từ các kết quả dự báo thành phần. Bên cạnh đó, một hệ thống điều khiển tự động dự báo nghiệp vụ (AUTO-Ope) cũng được viết cho hệ điều hành của hệ thống tính toán hiệu năng cao giúp “hệ thống tính toán chạy ở chế độ nghiệp vụ, tự động hoàn toàn từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc”, GS.TS. Phan Văn Tân cho biết.  Trong suốt quá trình phát triển các công cụ này, nhóm nghiên cứu đã thực hiện tất cả 240 mô phỏng và dự báo bão hạn mùa dựa trên số liệu do các nhà nghiên cứu của trường đã thu thập được trong vòng 20 năm (từ 1990-2010) để tiến hành dự báo trước 9 tháng cho mỗi năm – nhằm kiểm nghiệm tính năng. Kết quả mô phỏng dự báo số lượng xoáy thuận nhiệt đới mặc dù chưa sát với thực tế nhưng lại “tương đối chính xác về vị trí và thời gian xảy ra”, TS. Jack Katzfey, chuyên gia ở CSIRO nhận xét, “Kết quả này sẽ là bước khởi đầu để chúng tôi tiếp tục phát triển dự án trong tương lai”.  Không chỉ làm chủ được mô hình dự báo bão động lực, đề tài còn giúp nâng cao năng lực cho các nhà nghiên cứu với 4 cán bộ trẻ được đào tạo ở CSIRO trong vòng 3 tháng (tháng 8 đến 11/2018) và 3 nhà khoa học đi trao đổi thời gian từ tháng 8 đến 9/2018. Hiện, nhóm thực hiện đề tài đã gửi được hai công trình tới các tạp chí quốc tế. Giải thích về lý do chậm trễ, GS.TS. Phan Văn Tân cho biết, “do kinh phí cấp phát chậm nên đến đến tận tháng 4/2018, chúng tôi mới có thể mua máy, chạy mô hình, ảnh hưởng tới thời gian công bố”.  Đánh giá về đề tài, TS. Tạ Bá Hưng, Ban quản lý Dự án FIRST nhận xét: “Việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu nghiêm túc và đúng đắn ngay từ đầu đã giúp đề tài này được lựa chọn trong số hàng chục các đề tài khác cùng lĩnh vực, đồng thời giúp đạt được kết quả cuối cùng theo đúng hướng triển khai”. Ông kỳ vọng mô hình mà nhóm nghiên cứu làm chủ có thể được chuyển giao cho nhiều đơn vị khác để đưa vào ứng dụng thực tế và tiếp tục nghiên cứu.    Author                Thanh An        
__label__tiasang Việt Nam mất điểm trước nhà đầu tư Nhật Bản      Theo báo cáo mới công bố của Ngân hàng Hợp  tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Việt Nam xếp thứ 5 về mức độ hấp dẫn các  công ty Nhật Bản, giảm một bậc so với báo cáo trước đó.    Trong 160 công ty Nhật Bản tham gia trả lời cuộc khảo sát này, có 67,5% cho rằng Việt Nam hấp dẫn nhờ tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, 58,8% là do chi phí nhân công rẻ.  Các ngành công nghiệp được nhà đầu tư Nhật Bản chú ý nhất là sản xuất thiết bị điện và điện tử, máy móc, hóa chất, xe ô tô.  Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề đối tác chưa hài lòng về Việt Nam, như cơ sở hạ rầng kém phát triển, hệ thống văn bản pháp luật không rõ ràng, khó khăn trong kiểm soát lao động và chi phí lao động ngày càng tăng.  Thêm vào đó, các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá “Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi nhiều công ty bắt đầu thâm nhập vào thị trường Việt Nam”.  Cũng theo bảng xếp hạng này, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn giữ vững vị trí thứ nhất và thứ hai về thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản. Indonesia nhảy hai bậc lên vị trí thứ ba. Theo nhận xét của đa số công ty Nhật Bản, Indonesia được đánh giá cao nhất về tiềm năng phát triển của thị trường trong nước với nền công nghiệp ngày càng lớn mạnh.  ‘Hiện tượng” Myanmar tiến tới 9 bậc trong năm nay, lọt vào top 10 nước thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản với sự tiến bộ đáng kể trong cải cách thể chế, từ chế độ quân sự chuyển sang dân sự.  Trong khi đó, Thái Lan cũng giống Việt Nam tụt một bậc về độ hấp dẫn nhà đầu tư Nhật Bản.  Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/4/2013, Nhật Bản vẫn là nước dẫn đầu trong các quốc gia. vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với gần 2.000 dự án, tổng vốn hơn 32 tỷ USD. Ngoài ra, Nhật Bản cũng là nước tài trợ vốn ODA nhiều nhất cho Việt Nam với tổng vốn cam kết lên tới 21 tỷ USD.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam – Nhật Bản: Hợp tác ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp      Các nhà khoa học Việt Nam, Nhật Bản sẽ cùng phối hợp trong nghiên cứu về các thiết kế, chế tạo, ứng dụng cảm biến và&#160; công nghệ thiết bị kết nối Internet (Internet of Things – IoT) trong  nông nghiệp nhằm đưa đến ứng dụng tại Việt Nam và khu vực ASEAN.       Ngày 20/7, tại Tp. HCM, Khu CNC Tp. HCM phối hợp Hội Kỹ thuật chính xác Nhật Bản tổ chức Hội thảo quốc tế về lĩnh vực vi cơ điện tử và công nghệ IoT ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp với sự tham gia của các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam.   Tại hội nghị, nhiều báo cáo trong lĩnh vực cảm biến không dây được trình bày, chủ yếu tập trung vào ứng dụng kiểm soát trong chăn nuôi, nuôi trồng, kiểm soát các điều kiện cho sự phát triển cây trồng, ứng dụng về cảm biến, IoT phục vụ cho nông nghiệp… Một số đề tài, phương thức liên kết mà các nhà khoa học Việt Nam, Nhật Bản có thể cùng  hợp tác trong lĩnh vực này cũng được đề xuất.   Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch Tp. HCM (ICDREC) đã giới thiệu một điển hình về kết hợp cảm biến không dây thành công trên thực tế, đó là mô hình nuôi tôm ở Cần Giờ do công ty TNHH Cholimex là chủ đầu tư. Thông qua hệ thống tự động thông báo trên ứng dụng cài đặt tại điện thoại thông minh, máy tính bảng, người nông dân đã có thể kiểm tra được nhiệt độ, độ PH, lượng oxy trong nước... Vì vậy họ có thể an tâm có được những thông tin cần thiết nhất về ao tôm để có được biện pháp điều chỉnh thích hợp và kịp thời, dù không có mặt ở khu vực nuôi. Một nét độc đáo của mô hình ứng dụng này là các chuyên gia phòng thí nghiệm Khu CNC Tp. HCM (AHTP) cũng có thể đưa ra những tư vấn kịp thời với nông dân nuôi tôm thông qua việc kết nối hệ thống thông suốt từ Cần Giờ.   Cũng trong khuôn khổ hội nghị, Khu CNC Tp. HCM và Hội đồng Kỹ thuật thương mại Vi cơ điện tử thuộc Hội Kỹ thuật chính xác Nhật Bản đã ký kết thỏa thuận hợp tác về nghiên cứu, đào tạo lĩnh vực vi cơ điện tử; trao đổi chuyên gia và cùng xác định khả năng ứng dụng của sản phẩm vi cơ điện tử tại Việt Nam và khu vực ASEAN.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam sản xuất cột tháp turbine điện gió      Ngày 22/5, Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Văn Lạng đã thăm và làm việc với Công ty TNHH một thành viên tháp UBI (UBI Tower) – đơn vị 100% vốn tư nhân trong nước, đã sản xuất thành công cột tháp turbine điện gió phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.     Cột tháp turbine là một trong những thành phần quan trọng của hệ thống sản xuất điện gió. Theo một số chuyên gia, chi phí tính trên cơ sở một  turbine của REpower – MM92 với độ dài cánh là 45,3, cột tháp cao 100 mét thì cột tháp chiếm đến 26,3% tổng chi phí.  Dự án đầu tư xây dựng công trình điện gió tại các xã Bình Thạnh và Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, với quy mô công suất 30 MW (giai đoạn 1) do Công ty Cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) làm chủ đầu tư đã sử dụng các cột tháp  turbine do UBI Tower sản xuất và tiết kiệm được 30% chi phí so với cột tháp nhập khẩu từ nước ngoài.  UBI Tower đã đầu tư hơn 1 nghìn tỷ đồng để xây dựng hệ thống nhà xưởng, nhập khẩu và lắp đặt những trang thiết bị hiện đại, đào tạo đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật tay nghề cao để sản xuất đạt trình độ quốc tế. Sản phẩm của Công ty đã được chứng nhận chất lượng bởi các tổ chức uy tín quốc tế như Germanischer Lloyd Industrial Services GmbH (GL) -CHLB Đức, GAMESA-Tây Ban Nha.   Hiện nay, cột tháp điện gió đã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Ấn Độ và một số nước khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam sản xuất được nấm đông trùng hạ thảo      Viện Bảo vệ thực vật vừa công bố nghiên cứu thành công nấm đông trùng hạ  thảo, loại dược liệu quý hiếm với khả năng nâng cao năng lực chống ung  thư của cơ thể, và sẵn sàng chuyển giao công nghệ nuôi  trồng nấm cho các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu.     	Nhóm khoa học Viện Bảo vệ thực vật (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã nhập giống nấm với chi phí hơn 1.000 USD một mẫu để nhân nuôi và nghiên cứu.      Tiến sĩ Phạm Văn Nhạ, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, đông  trùng hạ thảo chứa rất nhiều giá trị dinh dưỡng cao, trong đó nhóm tập  trung vào hai hợp chất chính là Cordycepin có chức năng phòng chống u  xơ, tiền ung thư và Adenosin là thuốc điều trị trong tim mạch.     Sau khi nhập giống về, nhóm tập trung nghiên cứu công nghệ nuôi trồng, trong đó đi sâu tìm hiểu về thành  phần môi trường dinh dưỡng; các yếu tố tác động như sinh thái, thời  tiết, nhiệt độ, ánh sáng; từ đó tạo điều kiện trong phòng thí nghiệm phù  hợp cho nấm phát triển.       	Các nhà khoa học nuôi đông trùng hạ thảo bằng hai phương pháp ở môi  trường nhân tạo nhân sinh khối lượng và nuôi trực tiếp trên ký chủ là  con nhộng tằm. “Với ký chủ là nhộng tằm, chúng tôi có thể chủ động được  nguồn cung cấp và nó là loài côn trùng làm thức ăn cho con người nên  không gây hại”, ông Nhạ nói.      	Trong môi trường nhân tạo, có hai thành phần dinh dưỡng chính là dinh  dưỡng nuôi nấm đông trùng hạ thảo phát triển và giá thể để đỡ thường là  gạo lứt. Các nhà khoa học đã khử trùng hết yếu tố vi sinh vật bên ngoài,  sau đó mới cấy nấm đông trùng hạ thảo vào bên trong với thời gian phát  triển 60-75 ngày sẽ có được sản phẩm hoàn thiện.   Còn trong môi trường nuôi cấy trên ký chủ, Viện Bảo vệ thực vật sử dụng  nhộng tằm còn sống và đặt ở cơ sở uy tín không sử dụng hóa chất. Sau  thời gian cấy vào bên trong nhộng, đông trùng hạ thảo sẽ phát triển  thành hệ kín bên trong ký chủ và sinh ra hệ thống quả thể là các đầu tua  ra bên ngoài với độ cao 4-5 cm. Màu đỏ tươi trên quả thể chính là chỉ  thị của chất Cordycepin có chức năng phòng chống u xơ.  Theo tiến sĩ Nhạ, không phải doanh nghiệp hay cá nhân, tổ  chức nào cũng có thể tiếp nhận công nghệ này vì để nhân nuôi nấm đông  trùng hạ thảo, cần phải có chuyên môn nhất định về vi sinh vật, côn  trùng, sinh học và có cơ sở phòng thí nghiệm đảm bảo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam sáng chế máy bay không người lái      Sáng 3/5, Liên hiệp  Khoa học sản xuất công nghệ cao Viễn thông – Tin học (HTI), nhóm thực  hiện Đề tài “Nghiên cứu chế tạo tổ hợp máy bay không người lái phục vụ  nghiên cứu khoa học” – đã tiến hành thành công bay thử nghiệm 3 mẫu máy  bay không người lái trong số 5 mẫu máy bay chuyên dụng khác đã hoàn  thiện tại Viện Công nghệ Không gian.    Sự kiện nói trên diễn ra tại bãi thử nghiệm Viện Công nghệ  không gian thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.      Cả 5 loại máy bay trên đều được thiết kế chế độ điều khiển bay tự động theo chương trình lập sẵn trên nền bản đồ số. Máy bay được trang bị camera máy ảnh tác nghiệp trong cả ban ngày và ban đêm cùng các trang bị nghiên cứu khoa học chuyên dụng khác.      Đối với loại AV.UAV.S3, AV.UAV.S4 có thể mở rộng tầm bay xa hơn khi sử dụng liên lạc vệ tinh dẫn đường hoặc các trạm chuyển tiếp mặt đất.       Các máy bay này có thể cất cánh từ đường băng, từ nóc ôtô, trên bệ phóng di chuyển hoặc phi bằng tay.       Chủ nhiệm đề tài, TS Phạm Ngọc Lãng cho biết đề tài đã được đặt nền móng từ năm 2008 bởi nguyên Thứ trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng và được sự ủng hộ của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin  và Truyền thông, GS-TSKH Đỗ Trung Tá trên cương vị là Chủ tịch Hội đồng chính sách khoa học công nghệ quốc gia đồng thời được Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, giáo sư Châu Văn Minh sát sao chỉ đạo nhóm đề tài suốt quá trình thực hiện.      “Với tinh thần nghiên cứu, lao động khoa học nghiêm túc không ngừng nghỉ suốt 4 năm của các nhà khoa học, các kỹ sư và công nhân kỹ thuật trong nhóm đề tài và triển khai đề tài, ngày hôm nay kết quả bay thử nghiệm và kết quả đo kiểm tra kỹ thuật diễn ra từ ngày 27/4/2013 theo giấy phép do Bộ quốc phòng cấp, đến nay, các tính năng thiết kế đều đạt tiêu chuẩn.       Sự kiện bay thử nghiệm thành công khẳng định các nhà khoa học, các kỹ sư thuộc Viện Công nghệ không gian – HTI thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã chính thức ghi danh mình là những người Việt Nam đầu tiên tự nghiên cứu chế tạo thành công máy bay không người lái mang thương hiệu Việt Nam hoàn toàn bằng sự sáng tạo của người Việt Nam,” TS Phạm Ngọc Lãng nhấn mạnh.       Trong thời gian tới, nhóm đề tài tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các loại máy bay mới có trần bay cao hơn, tốc độ bay lớn hơn và mở rộng tầm bay trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, chủ nhiệm đề tài, TS Phạm Ngọc Lãng nói thêm.      Ông cũng cho biết, ngay sau khi chương trình bay thử nghiệm, Viện Công nghệ không gian sẽ hoàn thiện kỹ thuật và đưa vào sản xuất hàng loạt phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và đáp ứng nhu cầu chuyên dụng trong nước.       Tính năng kỹ thuật cơ bản:      – AV.UAV.MS1: Chiều dài 1,0m; sải cánh 1,2m; khối lượng tối đa 4kg; tải có ích 1kg; bán kính hoạt động 2km; trần bay 200m; tốc độ lớn nhất 70 km/h; thời gian hoạt động trên không 1,0h; được trang bị camera chuyên dụng, cự ly truyền 2km.       – AV.UAV.S1: Chiều dài 1,80m; sải cánh 2,70m; khối lượng tối đa 12,0kg; khối lượng tải có ích 1,5kg; bán kính hoạt động 15km; trần bay 3000m; động cơ 45 cm3; tốc độ lớn nhất 120km/h; thời gian hoạt động trên không 2h; đường cất hạ cánh 50m; có thể cất cánh bằng bệ phóng, hạ cánh bằng dù; truyền ảnh online từ camera khoảng cách 15km.       – AV.UAV.S2: Chiều dài 2,60m; sải cánh 3,20m; khối lượng tối đa 45kg; tải có ích 15kg; động cơ 80cm3; tốc độ lớn nhất 150km/h; trần bay 3000m; đường cất, hạ cánh 200m; có thể cất cánh bằng bệ phóng, hạ cánh bằng dù; thời gian hoạt động trên không 3h.       – AV.UAV.S3: Chiều dài 3m; sải cánh 3,4m; khối lượng tối đa 115kg; khối lượng tải có ích 35kg; bán kính hoạt động 70km; trần bay 3000m; động cơ 350 cm3; tốc độ nhanh nhất 180km/h; thời gian hoạt động trên không tối đa 5h.       – AV.UAV.S4: Chiều dài 4,20m; sải cánh 5,0m; khối lượng tối đa 170kg; khối lượng tải có ích 50kg; bán kính hoạt động 100km; trần bay 3000m; động cơ 400 cm3; tốc độ lớn nhất 180km/h; thời gian hoạt động trên không 6h; bay cả ban ngày và ban đêm.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam sẽ nằm trong số các quốc gia phát triển nhanh nhất trong thập kỷ tới      Trung Quốc, Việt Nam, Uganda, Indonesia và Ấn Độ được dự báo sẽ nằm trong số các nền kinh tế phát triển nhanh nhất từ đây đến năm 2030. Đó là kết luận được các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Tăng trưởng tại Đại học Harvard đưa ra trong báo cáo “The Atlas of Economic Complexity”.    Trị giá thu từ xuất khẩu gạo sang EU tăng mạnh. Nguồn: TTXVN  Báo cáo này hé lộ những thông tin chi tiết về dữ liệu thương mại năm 2020, bao gồm những rào cản, sự gián đoạn mà lĩnh vực du lịch và xuất nhập khẩu gặp phải do đại dịch toàn cầu. Trong bối cảnh nhịp sống đã trở lại bình thường, nhóm chuyên gia dự báo các nước châu Á, Đông Âu và Đông Phi sẽ bắt đầu tăng trưởng dài hạn. Trung Quốc được kỳ vọng sẽ là nền kinh tế phát triển nhanh nhất tính bình quân trên đầu người, ngay cả khi dự báo cho thấy tốc độ tăng trưởng đang chậm lại so với những gì quốc gia này đã đạt được trong thập kỷ qua. Nhóm chuyên gia cũng chỉ ra rằng các quốc gia, mà điển hình là Việt Nam và Trung Quốc, đã đa dạng hóa các lĩnh vực sản xuất của họ sang các lĩnh vực phức tạp hơn.  Các nhà nghiên cứu thuộc Phòng thí nghiệm Tăng trưởng đồng thời cũng công bố bảng xếp hạng mang tên Chỉ số phức hợp kinh tế (Economic Complexity Index – ECI), đánh giá mức độ đa dạng và phức tạp của năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của mỗi quốc gia. Bất chấp đại dịch, mức độ phức hợp kinh tế của các quốc gia vẫn rất ổn định. Xếp hạng cho thấy các quốc gia có chỉ số phức hợp cao nhất trên thế giới vẫn giữ được vị thế của mình, lần lượt theo thứ tự từ cao xuống thấp là Nhật Bản, Thụy Sĩ, Đức, Hàn Quốc và Singapore. Một số quốc gia giữ thứ hạng cao khác gồm gồm Vương quốc Anh ở vị trí thứ 10, Hoa Kỳ ở vị trí thứ 12, Trung Quốc ở vị trí thứ 16 và Ý ở vị trí thứ 17. Chỉ số này có thể xem là thước đo giải thích sự khác biệt về mức thu nhập của các quốc gia.  Trong số các quốc gia có chỉ số phức tạp cao, những quốc gia đã có nhiều nỗ lực nhất nhằm cải thiện chỉ số của mình là Philippines (xếp thứ 30), Trung Quốc (thứ 16) và Hàn Quốc (thứ 4). Những nền kinh tế đang phát triển đã đạt được nhiều bước tiến nhất trong việc cải thiện chỉ số bao gồm Việt Nam (thứ 51), Campuchia (thứ 72), Lào (thứ 89) và Ethiopia (thứ 97). Những quốc gia tụt hạng nhanh nhất trong bảng xếp hạng là những quốc gia ngày càng phụ thuộc vào sản phẩm, nguyên vật liệu thô, hoặc không đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu của mình, đó là Botswana (thứ 111), Zimbabwe (thứ 114), Ecuador (thứ 119) và Cuba (thứ 120). Trong số các quốc gia có chỉ số cao, Pháp sụt giảm mạnh nhất – từ vị trí thứ 10 vào năm 2000 xuống vị trí thứ 18 vào năm 2020.  Nhìn vào dự báo tăng trưởng đến năm 2030, các chuyên gia đã xác định được ba cực tăng trưởng. Một số nền kinh tế châu Á đã có mức độ phức tạp kinh tế cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng trong thập kỷ tới, dẫn đầu là Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ. Ở Đông Phi, một số nền kinh tế được kỳ vọng sẽ tăng trưởng nhanh như Uganda, Tanzania và Mozambique; song đó là nhờ dân số của những nước này đang tăng nhanh, hơn là nhờ nỗ lực phức tạp hóa nền kinh tế. Tính trên bình quân đầu người, Đông Âu có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ nhờ những tiến bộ liên tục trong việc phức tạp hóa nền kinh tế, nhờ đó Gruzia, Lithuania, Belarus, Armenia, Latvia, Bosnia, Romania và Albania đều giữ một vị trí trong 15 nền kinh tế hàng đầu được dự đoán trên cơ sở bình quân đầu người. Ngoài ra, các dự báo cũng cho thấy Ai Cập là quốc gia tiềm năng trong thời gian tới.  Mặt khác, một số khu vực đang phát triển sẽ gặp khó khăn trong việc tăng trưởng do mức độ phức tạp kinh tế của họ thấp, bao gồm Châu Mỹ Latinh, vùng Caribe và Tây Phi.  Theo ông Ricardo Hausmann, Giám đốc Phòng thí nghiệm tăng trưởng, giáo sư tại Trường Harvard Kennedy (HKS), “Ngày nay, có một thực tế là các nước nghèo sản xuất một số thứ mà mọi người đều biết cách để làm ra; trong khi các nước giàu sản xuất nhiều thứ, trong đó có một số thứ đòi hỏi phải có bí quyết riêng. Tăng trưởng đồng nghĩa với đa dạng và phức tạp hóa quá trình sản xuất”. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-china-vietnam-indonesia-fastest-growing-countries.html    Author                .        
__label__tiasang Việt Nam tạm giành vị trí quốc gia xuất khẩu gạo số một thế giới      Từ đầu năm 2012 đến thượng tuần tháng 10 này, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam  đạt gần 6 triệu tấn, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo  nhiều nhất trên thế giới nhưng Thái Lan vẫn&#160;đứng đầu về doanh thu bán ra.    Theo báo chí Thái Lan ghi ngày hôm nay, 25/10/2012, tính từ đầu năm đến thượng tuần tháng 10 này, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đạt mức gần 6 triệu tấn, giúp Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới.  Ấn Độ đứng thứ hai, còn Thái Lan, quốc gia thường xuyên giữ vị trí số một, đã bị đẩy xuống hàng thứ ba. Tuy nhiên, tính về doanh thu, Thái Lan vẫn đứng đầu thế giới do gạo Thái Lan có giá cao.  Số liệu do Bộ Thương mại Thái Lan tiết lộ hôm qua – được hai tờ báo lớn của Thái Lan (Bangkok Post và The Nation) trích dẫn cho thấy: tính đến ngày 09/10/2012, Việt Nam đã bán ra được khoảng 5,9 triệu tấn gạo, Ấn Độ bán 5,6 triệu tấn, và Thái Lan 5,2 triệu tấn.  Tuy nhiên, theo các quan chức Bộ Thương mại Thái Lan cũng như giới xuất khẩu nước này, từ nay đến cuối năm, Thái Lan có thể nhanh chóng giành lại vị trí số một truyền thống của mình.  Theo ông Tikhumporn Natvaratat, Phó vụ trưởng Vụ Ngoại thương thuộc Bộ Thương mại Thái Lan, căn cứ vào các kế hoạch xuất khẩu từ nay đến cuối năm của các nhà xuất khẩu tư nhân cũng như của Nhà nước Thái Lan trong khuôn khổ các hợp đồng giữa các chính phủ, trong năm 2012 này, gạo Thái Lan xuất đi có thể lên đến mức 7,5 triệu tấn, tương đương với khối lượng của hai đối thủ cạnh tranh là Việt Nam và Ấn Độ.  Ông này tỏ ý lạc quan về khả năng Thái Lan vươn lên vị trí thứ nhất vì dự kiến Việt Nam và Ấn Độ sẽ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu: Ấn Độ hiện đang vấp phải tình trạng quá tải ở các cảng xuất khẩu, trong khi đó, mức sản xuất của Việt Nam bị giảm do hạn hán.  Theo tờ The Nation, ông Tikhumporn còn nêu bật tình hình là cho dù đứng thứ ba về khối lượng gạo xuất khẩu, Thái Lan vẫn giữ vị trí số một thế giới về trị giá gạo bán ra do sản phẩm Thái Lan có giá hơn các đối thủ. Theo giá hiện nay, một tấn gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được bán với giá 570 đô la, trong lúc gạo Việt Nam chỉ là 490 đô la, và Ấn Độ 460 đô la.  Tính ra như vậy, Thái Lan vẫn là quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu với doanh số 3,5 tỉ đô la, Việt Nam theo sau với 2,45 tỉ, và Ấn Độ đứng thứ ba với 2,29 tỉ đô la.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam thu hút có chọn lọc FDI trong giai đoạn mới      Năm 2013, thu hút đầu tư trực tiếp nước  ngoài (FDI) được coi là điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam  khi vốn FDI vào Việt Nam đã chính thức vượt mốc 20 tỷ USD. Đây là con số  ấn tượng trong giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế thế giới.    FDI đã có đóng góp quan trọng trong cân đối xuất nhập khẩu, đóng góp vào ngân sách và có ý nghĩa quan trọng trong tăng trưởng GDP…  Để có cái nhìn rõ hơn về vai trò của FDI với nền kinh tế cũng như định hướng thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian tới, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Trung về vấn đề này.  – Thứ trưởng có đánh giá như thế nào về vai trò của FDI đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay?  Vài năm gần đây, trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp trong nước đứng trước nhiều thử thách chưa bao giờ có từ khi đổi mới. Trong bối cảnh đó, FDI nổi lên như một điểm sáng của nền kinh tế. Cụ thể, FDI chiếm khoảng 25% trong tổng đầu tư toàn xã hội; đóng góp 18% GDP, từ 64-67% trong kim ngạch xuất khẩu; từ 12-14% trong đóng góp cho ngân sách.  Ngoài ra, khu vực FDI còn tạo ra hơn 2 triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp cho nền kinh tế. Đặc biệt, trong năm 2013, FDI đã đóng góp quan trọng trong cân đối chính sách xuất nhập khẩu và cân đối ngoại tệ.  – Năm 2013, trong bức tranh chung về xuất khẩu, các doanh nghiệp FDI là điểm sáng tích cực khi tỷ lệ xuất khẩu của khối doanh nghiệp này chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp trong nước. Có ý kiến cho rằng điều này, vừa là tín hiệu vui, vừa tạo ra tâm lý lo ngại về sự “lấn át” của các doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp trong nước ở một số lĩnh vực. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về vấn đề này?  Từ năm 1999 đến nay, cụ thể từ khi Luật Doanh nghiệp được triển khai, doanh nghiệp trong nước đã có bước phát triển mới. Cơ bản, các doanh nghiệp trong nước cũng đã chiếm lĩnh thị trường thông qua các biện pháp về quản lý, quản trị, thu hút khách hàng… Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp trong nước gặp nhiều gian nan do chưa đi đúng bài bản. Trong hoàn cảnh đó, khối doanh nghiệp FDI đã nổi lên và đóng góp quan trọng đối với kinh tế Việt Nam.  Tuy nhiên, quan điểm của Đảng và Nhà nước từ lâu đã không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn nước ngoài vì doanh nghiệp FDI đóng trên lãnh thổ Việt Nam, là pháp nhân của Việt Nam, sử dụng phần lớn lao động của Việt Nam, đóng góp lớn vào ngân sách và tổng đầu tư toàn xã hội. Bởi thế, nếu nói doanh nghiệp FDI lấn át doanh nghiệp trong nước là cách nhìn trực tiếp, nhưng nhìn tổng thể thì điều đó không đáng lo ngại mà đây là môi trường, điều kiện tốt để các doanh nghiệp trong nước có đối trọng để vươn lên.  Tất nhiên, chúng ta cũng đang thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệp trong nước với khía cạnh là doanh nghiệp do người Việt Nam làm chủ sở hữu). Tuy nhiên, trong thực tế kinh doanh hiện nay có sự giao thoa, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI rất gắn kết thông qua các hoạt động liên kết trong kinh doanh.  – Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 103/NQ-CP về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới. Thứ trưởng có thể chia sẻ kế hoạch của Bộ trong việc triển khai Nghị quyết này?  Ngay sau khi Nghị quyết ban hành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai nhiều giải pháp trong đó tập trung vào một số việc như hoàn thiện khung khổ pháp lý về FDI, trong đó trọng tâm sửa đổi Luật Doanh nghiệp cũng như các văn bản liên quan; xem xét cơ chế phân cấp trong thu hút và quản lý FDI; xem xét lại hoạt động xúc tiến đầu tư, trong đó nhấn mạnh kênh xúc tiến đầu tư tại chỗ và các kênh xúc tiến đầu tư khác. Việt Nam tập trung mọi nguồn lực để làm sao thu hút được các dự án lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đồng thời thu hút các dự án của doanh nghiệp nhỏ và vừa.    – Trong định hướng thu hút trong thời gian tới có điểm mới nào không, thưa Thứ trưởng?  Có điểm khác biệt lớn là trước đây Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài bằng mọi giá do bối cảnh Việt Nam lúc đó, sự lựa chọn của chúng ta chưa nổi bật. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam đã thu hút FDI có chọn lọc theo hướng phù hợp hơn với giai đoạn phát triển mới. Việt Nam tập trung thu hút những dự án thân thiện với môi trường, có hàm lượng công nghệ cao, sử dụng ít năng lượng, tài nguyên, và chất lượng nhân lực được tăng lên. Đồng thời, Việt Nam cũng tập trung thu hút các dự án lớn, có mức độ lan tỏa để thu hút các dự án đầu tư khác. Ngoài ra, Việt Nam cũng đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư khác của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.  – Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.    Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/viet-nam-thu-hut-co-chon-loc-fdi-trong-giai-doan-moi/242571.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam tiếp tục được vay vốn ưu đãi cao      Đây là thông tin mới nhất do ông Axel van Trotsenburg cung cấp tại buổi họp báo chiều 8-5 ở Hà Nội nhân chuyến thăm và làm việc đầu tiên của ông tới Việt Nam trên cương vị phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB).    Thông thường các quốc gia có mức thu nhập  trung bình như Việt Nam chỉ có thể tiếp cận vốn vay của nhóm WB từ Ngân  hàng Quốc tế về tái thiết và phát triển (IBRD) với những điều kiện kém  ưu đãi hơn. Nhưng trong ba năm tới, Việt Nam vẫn được WB cho tiếp cận  vốn vay với khung ưu đãi cao như thời hạn 25 năm, 5 năm ân hạn và lãi  suất 1,25%.  Mức này kém ưu đãi hơn vốn vay ưu đãi IDA dành cho Việt Nam ở giai đoạn trước – thường chỉ có lãi suất 0,75% và thời hạn 30-40 năm – nhưng vẫn rất hấp dẫn so với các điều kiện vay từ những nguồn khác.        Nhận định về việc WB mới hạ dự báo tăng trưởng GDP cho  Việt Nam năm nay còn 5,2%, ông Trotsenburg nói bất cứ nền kinh tế nào  cũng chịu ảnh hưởng tác động từ kinh tế thế giới, dẫn tới tăng trưởng  chậm lại ở nhiều nơi. Theo ông, cải cách cơ cấu ở Việt Nam đóng vai trò  quan trọng về dài hạn, đặc biệt là các nỗ lực để cải thiện cơ sở hạ  tầng, giáo dục và xác định các thế mạnh cạnh tranh.        Ông Trotsenburg cho biết trong vòng thương lượng mới nhất (IDA lần thứ 16), 52 nhà tài trợ đã tham gia đóng góp tổng cộng 50 tỉ USD, trong số đó 4 tỉ USD được thống nhất sẽ dành cho Việt Nam vay. Từ tháng 3 năm nay, vòng thương lượng mới cho IDA 17 đã bắt đầu và sẽ kết thúc vào tháng 12-2013.  Do Việt Nam đã thành công trong tăng trưởng và tăng thu nhập bình quân đầu người nên chắc chắn trong tương lai sẽ không được tiếp cận vốn vay IDA mà phải vay từ IBRD với điều kiện vay gần với tín dụng thương mại hơn. Tuy nhiên, phó chủ tịch WB đánh giá việc Việt Nam có thể tiếp cận các nguồn lực mới cũng thể hiện sự công nhận của thị trường quốc tế về hiệu quả của hoạt động kinh tế và uy tín trả nợ của Việt Nam.  “Việc trả nợ của Việt Nam luôn đảm bảo. Có thể nói Việt Nam có một hồ sơ không tì vết trong việc trả nợ cho WB. Đến 2012, nguồn IDA cho Việt Nam là khoảng 8 tỉ USD và riêng năm 2012, Việt Nam đã trả nợ 120 triệu USD. Tôi cần nhấn mạnh Việt Nam luôn nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho WB” – ông Trotsenburg nói.  Có mặt tại buổi họp báo, giám đốc quốc gia của WB tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa, nhìn nhận tỉ lệ nợ công chiếm 55% GDP hiện nay của Việt Nam vẫn ở mức bền vững. Tuy nhiên, bà thận trọng đánh giá đó mới chỉ là nhận xét dựa trên những số liệu có sẵn vì có những lĩnh vực không có số liệu như nợ của các doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam tụt 8 bậc trên bảng xếp hạng môi trường kinh doanh      Trong bảng xếp hạng môi trường kinh doanh Doing Business năm 2012 do Ngân hàng Thế giới thực hiện, Singapore đã sáu lần liên tiếp được đánh giá là nước dễ dàng để khởi nghiệp nhất cùng với môi trường kinh doanh thuận lợi. Việt Nam đứng tốp giữa và đạt hạng 98.    Bảng xếp hạng khảo sát trên 183 quốc gia, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2004. Sau Singapore, những nước/vùng lãnh thổ trong tốp 5 không thay đổi so với năm 2010, là Hongkong, New Zealand, Mỹ và Đan Mạch.   Ở nhóm các nền kinh tế lớn mới nổi BRICS, ngoài trừ Nam Phi đứng thứ 35, còn lại đều có vị trí khá thấp trong bảng xếp hạng như Trung Quốc đứng thứ 91, Nga hạng 120, Brazil được xếp hạng 126 và Ấn Độ hạng 132.  Trong tổng thể bảng xếp hạng, Việt Nam tụt tám bậc và đứng thứ 98/183. Xét về từng tiêu chí riêng thì Tiếp cận tín dụng (Getting Credit) là hạng mục mà Việt Nam được đánh giá cao nhất: 24. Bảo vệ nhà đầu tư và Số tiền nộp thuế là hai tiêu chí bị đánh giá thấp, với thứ tự lần lượt là 166 và 151.  Morocco là nước tăng hạng nhanh nhất: từ 115 vào năm ngoái đã xếp thứ 94 trong năm nay sau khi quốc gia Bắc Phi này đơn giản hóa thủ tục cấp phép xây dựng. Hàn Quốc cũng tăng đến hạng 8 so với vị trí 15 của bảng xếp hạng trước nhờ thành lập quy trình đăng ký mở công ty trực tuyến, sáp nhập một số loại thuế và cho phép nộp hồ sơ kiện tụng qua mạng.  Một tiêu chí mới được bổ sung trong danh sách năm nay là khả năng được nối điện đến công ty. Giám đốc Hệ thống chỉ số và Phân tích toàn cầu của Ngân hàng Thế giới Neil Gregory, người đứng đầu nhóm thực hiện bảng phân tích, cho biết tại một số quốc gia có thể tốn hàng tuần hoặc hàng tháng thì các công ty mới thành lập có điện để hoạt động.  Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng Thế giới tập hợp thông tin từ những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu xây dựng hoặc mở rộng một doanh nghiệp. Ngoài ra, Ngân hàng cũng kêu gọi các tổ chức công cộng, các trường đại học, chuyên gia pháp lý và doanh nghiệp tham gia đo lường điều kiện kinh doanh. Thông tin được ghi nhận đến tháng 6.2011. Phần lớn khu vực châu Phi vẫn nằm ở cuối cuối danh sách bất chấp những nỗ lực để cải thiện trong thời gian qua. Năm 2011 được đánh giá là năm kỉ lục trong quá trình cải cách pháp lý và thúc đẩy điều kiện kinh doanh, đặc biệt ở các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển, khi tới 125 nền kinh tế đã thực hiện 245 cải cách về thể chế quản lý.                                                                                 Nam Liên (DoingBusiness, Reuters)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam tụt hạng về gia công phần mềm      Ngành CNTT nội địa đang xôn xao trước Báo cáo về 100 Thành phố hấp dẫn nhất thế giới về gia công phần mềm vừa được Công ty tư vấn Tholons công bố. Năm nay, TP.HCM đứng ở vị trí số 17, trong khi Hà Nội ở vị trí 21, lần lượt tụt 12 và 11 bậc so với năm 2009.     Mặc dù vậy, Tholons vẫn đánh giá tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia mạnh về cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT, có tiềm năng thay thế các cường quốc gia công như Trung Quốc và Ấn Độ.  Dưới đây là cuộc trao đổi với ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), bên lề Diễn đàn cấp cao CNTT-TT Việt Nam 2012, diễn ra trong hai ngày 26-27/6 tại Hà Nội, về vấn đề này.    – Ông nhận định thế nào về sự tụt hạng của TP.HCM và Hà Nội trong Báo cáo Tholons? Đây có phải là một tín hiệu đáng lo ngại cho nền gia công thô của Việt Nam hay không?  – Thực ra chúng ta tụt hạng không có nghĩa là chúng ta giậm chân tại chỗ, chúng ta không phát triển. Vấn đề là các nước khác họ cũng phấn đấu, cũng nỗ lực rất nhiều và họ tiến nhanh hơn chúng ta. Đây chính là thách thức rất lớn cho Việt Nam.  Một vấn đề nữa mà tôi muốn đề cập ở đây, là tuy chúng ta vẫn là thị trường outsource có giá tốt nhất trên thế giới (điều này đã được ghi nhận một cách rõ ràng), nhưng chúng ta lại thiếu nguồn nhân lực gia công một cách đáng tiếc.  Tôi tạm so sánh thế này, một thành phố của những quốc gia outsource hàng đầu đào tạo được 3 vạn nhân lực mới mỗi năm, trong khi cả Việt Nam chỉ có đầu ra 4.000 người/năm. Nói cách khác, các nước đối thủ họ tiến nhanh như vậy, nếu chúng ta không tự quyết liệt lên thì khó tránh khỏi tụt hạng.  – Trong Báo cáo của Tholons có nhắc đến giá trị 5,59 tỷ USD xuất khẩu phần mềm của Hà Nội. Ông có bình luận gì về con số này?  – Tôi không nghĩ con số này chính xác. Chúng ta chưa có quy mô lớn đến như vậy.    – Cá nhân ông, với cương vị Chủ tịch VINASA kiêm lãnh đạo doanh nghiệp, nhận thấy tình hình thực tế của công nghiệp phần mềm, dịch vụ CNTT nội hiện nay ra sao? Mức độ khó khăn đến đâu?  – Bên cạnh yếu tố vĩ mô là kinh tế khó khăn, thì bản thân nhiều công ty đang khó khăn, thậm chí phá sản là vì họ không có sức cạnh tranh. Chi phí cao, giá thành cao, khả năng thích ứng lại chưa tốt.  Tuy nhiên, nhận định chung thì những Doanh nghiệp nằm trong khối xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng trưởng, vì họ có năng lực cạnh tranh thực tế trong lĩnh vực gia công phần mềm. Những doanh nghiệp làm dịch vụ, theo tôi sẽ vẫn có cơ hội tăng trưởng. Chỉ những doanh nghiệp liên quan đến phần cứng, bán lẻ thì mới khó khăn nhiều.  – Các doanh nghiệp CNTT lớn, trong đó có cả FPT, đều than thở rất nhiều về bài toán nhân lực. Tuy nhiên dường như chúng ta vẫn chưa có được một giải pháp nào thực sự “tối hậu”?  – Cái này là hệ quả của cả một giai đoạn phát triển bong bóng thời gian vừa qua. Tất cả mọi người đều nghĩ phải chọn con đường làm giàu dễ nhất. Hãy đến với ngân hàng, bất động sản… Đó đều là những lĩnh vực phi sản xuất, nhưng một nguồn lớn tài năng đã bị kéo vào giá trị ảo đó. Trong khi Báo cáo của Chủ tịch Liên minh CNTT thế giới đã khẳng định, hướng đi đúng lẽ ra phải là chuyển từ tiêu dùng sang sản xuất. Nghĩa là chúng ta phải sản xuất, phải tạo ra giá trị thực. Đây là một vấn đề mà giới trẻ Việt Nam, các gia đình và ngay cả Chính phủ cũng cần nhìn nhận lại.  Có một thực tế nữa mà tôi muốn nhấn mạnh là, thị trường đang lớn hơn năng lực cung cấp của chúng ta. Chỉ đơn cử như ở FPT, một năm chúng tôi dự kiến tuyển trên 1000 người, thế nhưng không bao giờ tuyển được đủ chỉ tiêu, thường xuyên thiếu khoảng 300 người.  – Xin cám ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam và Bỉ hợp tác ươm tạo doanh nghiệp      Đại diện Bộ Ngoại giao, Ngoại thương và Hợp  tác phát triển Vương quốc Bỉ và đại diện Bộ KH&amp;CN Việt Nam mới đây đã ký kết  Biên bản ghi nhớ về hợp tác và phát triển thông qua Dự án “Hỗ trợ xây  dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp (BIPP)”.      Sự kiện này diễn ra trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại Bỉ từ ngày 25 đến ngày 27-9.  Hai bên thống nhất sẽ thúc đẩy hợp tác phát triển song phương trong các lĩnh vực nói trên thông qua dự án BIPP. Ước tính, Bỉ sẽ hỗ trợ cho dự án này khoảng 4 triệu Euro.  Biên bản ghi nhớ nói trên có hiệu lực kể từ ngày ký, 26 tháng 9 năm 2013.  Trước đó, hai bên đã phối hợp chặt chẽ để  xây dựng dự án “Quản trị tốt trong lĩnh vực hành chính công” được xác  định là một trong những lĩnh vực trọng tâm hợp tác phát triển giữa Chính  phủ hai nước trong khuôn khổ Chương trình hợp tác định hướng Việt Nam –  Bỉ  giai đoạn 2011-2015. Đồng thời chia sẻ quan điểm về tầm quan trọng  của một khung chính sách và môi trường thuận lợi cho ươm tạo doanh  nghiệp công nghệ, một yếu tố thiết yếu để tăng sức cạnh tranh của doanh  nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam và Hoa Kỳ hợp tác về năng lượng sạch      Một chương trình hỗ trợ kỹ thuật giữa Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Công Thương dự kiến kéo dài trong năm năm sẽ tập trung vào lĩnh vực năng lượng sạch.     Ngày 29/7, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Công Thương Việt Nam đã nhất trí tăng cường hợp tác về sử dụng năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả năng lượng để thúc đẩy phát triển phát thải thấp bền vững ở Việt Nam.  Bộ Công thương và USAID dự kiến sẽ tập trung vào các sáng kiến liên quan đến năng lực xây dựng và thực hiện các chính sách năng lượng sạch hiệu quả; các biện pháp nâng cao hiệu quả năng lượng trong các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng của nền kinh tế; và năng lực của chính phủ, khu vực tư nhân và các bên liên quan khác trong việc triển khai năng lượng tái tạo cho Việt Nam.   “Trong khuôn khổ ý định thư này, USAID và Bộ  Công thương sẽ hợp tác thông qua một chương trình hỗ trợ kỹ thuật dự  kiến kéo dài trong năm năm”, Giám đốc USAID Việt Nam Joakim Parker cho biết.   Quan hệ hợp tác này được xây dựng trên cơ sở Tuyên bố chung về quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó “tăng cường hợp tác song phương nhằm giảm phát thải khí nhà kính ở Việt Nam thông qua thúc đẩy năng lượng sạch và hiệu quả năng lượng”.   Trong nhiều năm, USAID đã hỗ trợ lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam, trong đó có dự án Rừng và đồng bằng Việt Nam, dự án Năng lượng sạch Việt Nam và dự án Tăng cường năng lực và cải cách thể chế cho Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam vươn lên dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp về chỉ số ĐMST      Ngày 24/7/2019 tại New Delhi – Ấn Độ, Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đã công bố Báo cáo về xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2019, theo đó Việt Nam đã vươn lên xếp thứ nhất trong nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp, và đứng thứ 3 trong ASEAN, sau Singapore và Malaysia.      Thứ trưởng Phạm Công Tạc phát biểu tại lễ công bố báo cáo. Ảnh: Bộ KH&CN  Chỉ số ĐMST toàn cầu (gọi tắt là GII) là một bộ công cụ đánh giá xếp hạng năng lực ĐMST của các quốc gia, được Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) phối hợp với Viện INSEAD, Pháp và Đại học Cornell, Hoa Kỳ. Đây là một bộ công cụ đo lường hệ thống ĐMST ở mức quốc gia.  Năm 2019, việc tính toán chỉ số GII có thay đổi về phương pháp, cụ thể là thay đổi về chỉ số, nguồn dữ liệu và phương pháp tính toán chỉ số. GII năm 2019 với 21 nhóm chỉ số và 80 tiểu chỉ số vẫn được chia thành 7 trụ cột chính với 5 trụ cột đầu vào là: Thể chế vĩ mô, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Thị trường và Môi trường kinh doanh và 2 trụ cột đầu ra là: Sản phẩm tri thức và công nghệ, Sản phẩm sáng tạo.  Theo báo cáo vừa được tổ chức WIPO công bố, Chỉ số GII năm 2019 của Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí, tăng 03 bậc, lên vị trí 42 trên 129 quốc gia/nền kinh tế được xếp hạng so với năm 2018. Thứ hạng này đã cải thiện 17 bậc so với xếp hạng năm 2016 và đưa Việt Nam vươn lên xếp thứ nhất trong nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp. Quan trọng hơn, Việt Nam có sự tiến bộ ở cả nhóm chỉ số đầu vào (tăng 02 bậc so với năm 2018) và đầu ra (tăng 04 bậc so với năm 2018), cũng như có điểm số cao trong cả 7 trụ cột, đều cao hơn mức trung bình.  Một số chỉ số có cải thiện đáng chú ý so với năm 2018 là: Trình độ phát triển của thị trường tăng 3 bậc; Tín dụng tăng 4 bậc; Tăng năng suất lao động tăng 3 bậc. Và đặc biệt là hai chỉ số liên quan đến đầu vào và đầu ra của Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có những bước nhảy vọt, cụ thể là: chỉ số Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển tăng 5 bậc; và chỉ số Sản phẩm dựa trên tri thức và công nghệ tăng 8 bậc.  Những chỉ số này thể hiện sự chỉ đạo và những giải pháp của Chính phủ trong việc đảm bảo kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế, cùng các giải pháp tập trung vào thu hút các nguồn lực của xã hội cho khoa học và công nghệ, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển giao, hấp thụ và phát triển công nghệ, góp phần tăng năng suất lao động và sưc cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ số GII năm 2019 cũng cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ tiêu Chính phủ đặt ra đến năm 2021.  Theo TTTT/Bộ KHCN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam xếp hạng 56 thế giới về R&D và đổi mới sáng tạo      Theo Chỉ số tri thức toàn cầu (Global Knowledge Index – GKI) do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp cùng với Quỹ Tri thức Mohammed Bin Rashid Al Maktoum (MBRF) công bố vào ngày 21/11/2017 vừa qua, Việt Nam hiện xếp hạng 56/131 thế giới về R&D và đổi mới sáng tạo.      Xếp hạng các chỉ số thành phần GKI của Việt Nam  Chỉ số GKI giúp các quốc gia “đo lường” tri thức  GKI là một nghiên cứu nằm trong một dự án thúc đẩy sự phát triển của tri thức giữa UNDP và Quỹ Tri Thức MBRF. Nhóm dự án gồm hơn 7 chuyên gia nghiên cứu chính trong từng lĩnh vực và một hội đồng 12 chuyên gia trong tổ tư vấn cao cấp thuộc các lĩnh vực KH&CN, đổi mới sáng tạo và phát triển đến từ các viện nghiên cứu hàng đầu về KH&CN như Viện nghiên cứu chính sách và KH&CN UNU-MERIT, Đại học Maastricht (Hà Lan), Đại học Lund (Thụy Điển), các tổ chức quốc tế như Worldbank, UNDP và các doanh nghiệp lớn tại các quốc gia phát triển (PwC).  Đây được xem là một trong những nỗ lực tiên phong nhằm đo lường khái niệm “tri thức” của từng quốc gia trên thế giới, nó đặc biệt có ích trong bối cảnh rất nhiều các nền kinh tế thuộc nhóm thu nhập trung bình và thấp đang tìm cách bắt kịp với các nên kinh tế phát triển thông qua những cải cách về chính sách KHCN và giáo dục. Chỉ số này cũng là một công cụ đo lường giúp cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách trong việc thúc đẩy sự phát triển của tri thức, KH&CN và đổi mới sáng tạo, làm nền tảng cho những mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững.  Chỉ số tri thức GKI gồm bảy chỉ số thành phần, bao gồm i) giáo dục cơ sở, ii) đào tạo nghề, iii) giáo dục đại học và sau đại học, iv) nghiên cứu phát triền và đổi mới công nghệ, v) công nghệ thông tin và truyền thông, vi) sự phát triển, mức độ hội nhập và tính cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, và vii) những yếu tố về thể chế, môi trường nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của tri thức. Mỗi chỉ số thành phần sau đó được xây dựng dựa trên một loạt các chỉ số cơ sở khác. Tổng cộng, chỉ số tri thức GKI được xây dựng dựa trên 133 chỉ số cơ sở, tổng hợp nên bảy chỉ số thành phần vừa nêu.      Việt Nam xếp hạng 56/131 quốc gia về thể chế môi trường tạo điều kiện cho việc phát triển tri thức      Việc tính điểm xếp hạng các quốc gia trong lĩnh vực R&D và đổi mới sáng tạo của chỉ số GKI dựa trên ba yếu tố là số lượng công bố khoa học, chất lượng các cơ sở nghiên cứu khoa học và tỷ lệ bằng phát minh sáng chế trên tổng dân số. Với số liệu do tổ tư vấn cao cấp gồm các chuyên gia của các viện nghiên cứu hàng đầu như Viện nghiên cứu chính sách và KHCN (UNU-MERIT), Đại học Maastricht (Hà Lan), Đại học Lund (Thụy Điển), các tổ chức quốc tế (World Bank, UNDP), các doanh nghiệp lớn tại các quốc gia phát triển (PwC) cung cấp, người ta đã xác định được thứ hạng của Việt Nam ở từng mục: hạng 104 về tổng số công bố quốc tế, hạng 86 về chất lượng của các cơ sở nghiên cứu khoa học, hạng 85 về tỷ lệ trung bình bằng phát minh, sáng chế trên tổng dân số.  Theo bảng xếp hạng này, Thụy Sĩ, Singapore, Phần Lan, Thụy Điển, Hà Lan là những quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng. Đáng chú ý, Singapore là đại diện Châu Á duy nhất nằm trong top 10 của bảng xếp hạng (đứng thứ 2), vượt cả Nhật Bản (xếp hạng thứ 14) và Hàn Quốc (xếp hạng thứ 19).  Các chỉ số khiêm tốn của Việt Nam   Theo cách xếp hạng này, Việt Nam đứng thứ 64/131 các nền kinh tế được xếp hạng, nằm cùng nhóm với Lebanon (Tây Á) và Georgia (giao giữa Đông và Tây Âu).  Các chỉ số thành phần GKI của Việt Nam đều ở mức khiêm tốn: xếp hạng 56 về R&D và đổi mới sáng tạo, hạng 77 về công nghệ thông tin truyền thông, hạng 47 về giáo dục cơ sở, hạng 74 về dạy nghề, hạng 101 về giáo dục đại học và sau đại học, hạng 56/131 nước về thể chế môi trường tạo điều kiện cho việc phát triển tri thức. Tín hiệu tích cực nhất đối với Việt Nam trong các chỉ số thành phần này là xếp hạng về môi trường vĩ mô: đứng thứ 32/131 quốc gia. Mặc dù còn nhiều thách thức, Việt Nam được xếp hạng là một nền kinh tế mở với sự hội nhập sâu rộng về thương mại và tỉ trọng của thương mại, đặc biệt là thương mại công nghệ cao. Tuy nhiên đáng chú ý là phần lớn sản phẩm công nghệ xuất khẩu của Việt Nam là từ các cơ sở lắp ráp của các tập đoàn thiết bị điện tử lớn tại Việt Nam.  Những chỉ số cơ sở khác của Việt Nam cũng đáng quan tâm, bao gồm tính hiệu quả và chất lượng của hệ thống ngân hàng hạng 108, tỉ lệ lao động có tay nghề cao trong tổng nguồn cung lao động hạng 103, sự có mặt của những công nghệ mới nhất tại Việt Nam hạng 108, chỉ số về hoạt động kinh doanh của giới doanh nhân xếp thứ 80.  Thuận lợi lớn nhất mà Việt Nam có được là có một nguồn cung dồi dào về nguồn nhân lực lao động trong lĩnh vực KH&CN khi xếp thứ 40 thế giới. Nếu chất lượng của các cơ sở nghiên cứu khoa học và cơ sở giáo dục đại học trong nước được cải thiện trong tương lai thì nguồn nhân lực này sẽ là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế đất nước.  Mặc dù là một chỉ số mang tính tổng hợp, GKI cũng cung cấp rất nhiều thông tin hữu ích khi phân tích chi tiết các chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số này. Trên lĩnh vực giáo dục, vấn đề tụt hậu của giáo dục đại học và sau đại học trong tương quan với giáo dục cơ sở của Việt Nam được thể hiện rất rõ nét. Cụ thể giáo dục cơ sở xếp hạng thứ 47 trong khi giáo dục đại học và sau đại học chỉ đứng ở vị trí 101. Phát hiện này hoàn toàn thống nhất với ý kiến của những chuyên gia giáo dục tại Việt Nam, đồng thời một lần nữa khẳng định nhu cầu cải cách hệ thống giáo dục đại học để bắt kịp với thế giới. Bên cạnh đó, điều này cũng giúp lý giải vì sao Việt Nam liên tiếp xếp thứ hạng cao trong nghiên cứu PISA của tổ chức Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển của các quốc gia thịnh vượng OECD vì nghiên cứu PISA chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá bậc giáo dục cơ sở mà không tính đến những bậc cao hơn. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực đào tạo nghề, những chỉ số về nguồn cung các cơ sở dạy nghề, chất lượng của bằng cấp là những chỉ số Việt Nam xếp hạng rất thấp (trên 100/133).   133 chỉ số cơ sở được sử dụng để xây dựng Chỉ số tri thức GKI 2017 được thu thập từ rất nhiều nguồn thông tin chính thống của các tổ chức quốc tế bao gồm UNESCO, Ngân hàng thế giới (WB), Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội Viễn thông quốc tế (ITU), Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển của các quốc gia thịnh vượng (OECD), Tổ Chức Lao động thế giới (ILO) và các tổ chức khác nằm trong hệ thống Liên hợp quốc (UN). Theo báo cáo đính kèm với chỉ số GKI, số liệu được nhóm nghiên cứu thu thập và kiểm tra nhiều lần bằng nhiều người khác nhau nhằm đảm bảo giảm thiểu sai sót. Thông tin thu thập thuộc giai đoạn 2007-2017, ngoại trừ một số chỉ số có sử dụng thông tin năm 2006 do thiếu số liệu. (Nguồn: Báo cáo GKI 2017)       Author                Lê Nga        
__label__tiasang Việt Nam xuất khẩu thanh long sang New Zealand      Với việc ký kết Chương trình Đảm bảo Chính  thức sáng nay, 28/5, Việt Nam trở thành nước đầu tiên và duy nhất được  cấp phép xuất khẩu thanh long sang New Zealand.      Theo Đại sứ quán New Zealand tại Hà Nội, Đại sứ Haike Manning và Cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật, Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Hồng đã tiến hành lễ ký dưới sự chứng kiến  của lãnh đạo Bộ Công thương và Bộ Ngoại giao Việt Nam.   Chương trình Đảm bảo Chính thức quy định các thủ tục và hoạt động trước xuất khẩu nhằm đảm bảo những trái thanh long Việt Nam khi nhập khẩu vào New Zealand đạt các yêu cầu an toàn sinh học và sức khỏe. Đại sứ Haike Manning cho biết, Việt Nam hiện là nước đầu tiên và duy nhất được cấp phép xuất khẩu thanh long sang New Zealand.     Được biết, trong khuôn khổ Dự án phát triển giống cây hoa quả mới chất lượng cao, do Chương trình Viện trợ New Zealand tài trợ, các chuyên gia nghiên cứu Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Việt Nam và Viện Nghiên cứu Cây trồng và Thực phẩm New Zealand đã tìm ra phương pháp hạn chế bệnh đốm trắng trên quả thanh long, và phương pháp này sẽ được áp dụng trên toàn Việt Nam.  Dự án nói trên cũng đã giúp bảo vệ pháp lý cho giống thanh long đặc biệt (LD5) và chuyển nhượng quyền sử dụng giống cho một trang trại thương mại. Đây là lần đầu tiên một giống cây trồng của Việt Nam được bảo vệ pháp lý và đảm bảo với thị trường chất lượng sản phẩm cao.  Trước đó, năm 2011, quả xoài của Việt Nam cũng đã được cấp phép để xuất khẩu sang New Zealand và hiện các nhà chức trách New Zealand đang xem xét việc cho phép nhập khẩu quả chôm chôm vào New Zealand.   Thương mại là lĩnh vực quan trọng trong quan hệ song phương Việt Nam – New Zealand. Cuối năm 2013, tổng kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước tăng từ 761,7 triệu lên 926,8 triệu đô la Mỹ, tăng 21,7% so với năm 2012.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt – Nhật hợp tác sản xuất pin sạc Lithium công nghệ cao      Dự  kiến tháng 7 tới nhà máy sản xuất vật liệu cực dương pin Lithium của Nhật Bản tại Khu công nghiệp Thăng Long II sẽ chạy thử và tháng 10 thì cho ra sản phẩm đầu  tiên.       Tại buổi làm việc  với Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Việt Thanh mới đây, ông Sekine Fukuichi,  Chủ tịch Công ty Sumitomo Osaka Cement (SOC) Nhật Bản, bày tỏ hi vọng sẽ được sử dụng nhân tài cũng như nguyên vật liệu của Việt Nam trong quá trình vận hành nhà máy.  Ông Sumitani Yoshihiko, Tổng Giám đốc Công ty TNHH SOC Việt Nam, cho biết, thị trường pin sạc của Nhật Bản hiện tại rất phát triển. Pin sạc được sử dụng rộng rãi trong hộ gia đình, văn phòng… Nhật Bản đã có những dự án sản xuất xe chạy điện sử dụng pin Lithium khá phát triển. Với tính an toàn cao, không gây cháy nổ, sản phẩm pin Lithium đang được thế giới rất quan tâm.   Tại Nhật Bản mới chỉ có nhà máy quy mô nhỏ để sản xuất thử loại pin này, tuy nhiên Nhật Bản đã quyết định chọn Việt Nam làm nơi sản xuất sản phẩm này ở quy mô lớn hơn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang VIETHERB: Cây thuốc trong thời đại Big data      Lần đầu tiên tại Việt Nam, một cơ sở dữ liệu về nguồn thảo dược đa dạng và phong phú ở Việt Nam trên nền tảng khoa học máy tính hiện đại được hình thành mang tên VIETHERB do PGS. TS Lê Thị Lý và nhóm nghiên cứu (trường Đại học Quốc tế, ĐHQG TP.HCM) thực hiện sẽ góp phần giới thiệu và định vị những giá trị y học cổ truyền Việt Nam trên bản đồ thế giới.      PGS. TS Lê Thị Lý hướng dẫn sinh viên trong phòng thí nghiệm.   Dẫu dự án xây dựng VIETHERB được nhóm nghiên cứu triển khai từ năm 2014 nhưng với riêng PGS. TS Lê Thị Lý, ý tưởng về việc cần phải có một cơ sở dữ liệu riêng cho các cây thuốc Việt Nam đã bắt nguồn từ nhiều năm trước, khi quan sát thấy nhiều cơ sở dữ liệu lớn trên thế giới về thực vật hoặc các loài dược liệu quý được xây dựng và phát huy hiệu quả trong bảo tồn, khai thác giá trị của những nguồn cây cỏ thiên nhiên. “Thực ra, việc tôi quan tâm đến các loại cây thường được dùng trong những phương thuốc của y học cổ truyền cũng có đôi chút ‘cá nhân’. Trong gia đình thì cả ông nội và ông ngoại đều là thầy thuốc đông y ở Thanh Hóa. Hồi bé, khi gia đình vào Lâm Đồng, ông nội từng dẫn tôi đi hái lá cây về sắc thuốc. Đó là nguyên nhân sâu xa khiến tôi muốn theo đuổi dự án này”, chị cho biết.    Tuy nhiên từ mối liên hệ gần gụi với cây thuốc cổ truyền đến một dữ liệu online còn tồn tại một khoảng trống rất lớn mà chỉ những kiến thức hiện đại mới có thể bắc cầu kết nối được. Đó cũng là “nghề” của PGS. TS Lê Thị Lý: “May mắn là tôi theo học cả hai chuyên ngành về Hóa và Khoa học máy tính ở bậc đại học, rồi làm nghiên cứu sinh về Tin Sinh học ứng dụng trong thiết kế dược phẩm ở Mỹ nên có điều kiện giải quyết vấn đề đó”. Sau năm năm triển khai, dự án nghiên cứu của PGS. TS. Lê Thị Lý và cộng sự đã hoàn thành với  công trình “VIETHERB: A Database for Vietnamese Herbal Species” (VIETHERB: Một cơ sở dữ liệu cho các loài thảo dược Việt Nam) xuất bản trên The Journal of Chemical Information and Modeling, một tạp chí của Hội Hóa học Mỹ chuyên về những phương pháp mới và những ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực thông tin hóa học và mô hình phân tử, và cơ sở dữ liệu trên địa chỉ vietherb.com.vn1.      VIETHERB trên địa chỉ vietherb.com.vn không đơn thuần là một “kho lưu trữ” thông tin thảo dược, cây thuốc thông thường mà còn là một nền tảng thông minh, thú vị với giao diện thân thiện và các thư mục được sắp xếp một cách khoa học.      Không chỉ là số hóa dữ liệu     Trước khi có VIETHERB, ngành dược Việt Nam đã có nhiều tài liệu quý về cây thuốc nam, từ một số bộ sách thời kỳ Trung đại như Nam dược thần hiệu (thiền sư – y sư Tuệ Tĩnh), Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác) đến những dược điển lớn xuất bản vào những năm 1960, 1990 như Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (giáo sư Đỗ Tất Lợi), Từ điển cây thuốc Việt Nam (giáo sư Võ Văn Chi)… Đây là những tư liệu rất quý về những cây thuốc nam với những mô tả hình dạng, phân bố, tác dụng dược lý… đi kèm cùng những bài thuốc với thành phần thảo dược đó và trở thành “sách gối đầu giường” cho những người làm nghề dược. Tuy nhiên theo thời gian, những thông tin đó cũng trở nên “lạc hậu” khi thiếu hụt những bổ sung sâu hơn và chính xác hơn (trong một cuộc trao đổi tại công ty Traphaco vào năm 2015, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Huy Văn, một dược sĩ tốt nghiệp trường Đại học Dược khoa HN, cũng cho biết như vậy).    Mặt khác, điểm bất lợi lớn của các dược điển này là vẫn còn tồn tại dưới dạng văn bản, chưa được số hóa, hoặc nếu đã “số hóa” thì dữ liệu vẫn còn ở dạng thô, chưa theo đúng quy chuẩn và mới dừng ở phiên bản tiếng Việt, nên việc tìm kiếm, khai thác dữ liệu và mở rộng liên kết với các cơ sở dữ liệu quốc tế còn hạn chế.    Trước hiện trạng đó, nhóm nghiên cứu của PGS. TS Lê Thị Lý – một nhóm nghiên cứu trẻ gồm 15 thành viên chuyên ngành khoa học máy tính, sinh học tính toán, công nghệ sinh học thực vật, và hóa dược đã suy nghĩ và tìm hiểu cách thức xây dựng dữ liệu của các nền tảng lớn trên thế giới như KnapSAcK của Viện KH&CN NARA (Nhật Bản), GBIF (một mạng lưới nghiên cứu quốc tế), TMC (Đài Loan)… để mong tìm ra cách thức phù hợp nhất với tình hình Việt Nam. Họ nhận thấy, muốn có được một cơ sở dữ liệu như quốc tế, VIETHERB phải đạt được những chuẩn mực quốc tế cả về nội dung và hình thức nhằm tạo điều kiện cho cả người truy cập Việt Nam cũng như nước ngoài. Do đó, có hai vấn đề lớn cần được giải quyết đồng thời, trước hết là phần nội dung về các loại cây dược liệu, trong đó mỗi cây đều có những thông tin cơ bản như tên khoa học, tên Việt Nam, họ (familia), chi (genus), hình ảnh mô tả; những thông tin chuyên sâu về các chất chuyển hóa (metabolites) được chiết xuất từ các cây thuốc đó với danh pháp (nomenclature), công thức (formula), cấu trúc hóa học (structure); đồng thời cả những thông tin chi tiết về hình thái cây (hoa, thân, lá, quả  và phân bố, phân loại, hiệu quả điều trị.    Để có được những thông tin mong muốn đó, nhóm nghiên cứu đã ưu tiên sử dụng các tài liệu tin cậy và đã được công nhận ở Việt Nam của các giáo sư Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi cùng với một số tài liệu về dược liệu, thảo dược từ các trường đại học uy tín trong và ngoài nước. Trong quá trình tìm kiếm thông tin như vậy, họ cũng phát hiện được những điều thú vị, “chúng tôi đã phát hiện ra nhiều cơ sở dữ liệu lớn trên thế giới đã lưu trữ rất nhiều thông tin mới, khá chi tiết và tin cậy về các cây thuốc Việt Nam. Đây thực sự là những nguồn dữ liệu rất quý để chúng tôi bổ sung vào VIETHERB”, PGS. TS Lê Thị Lý cho biết về quá trình thu thập dữ liệu.      VIETHERB có giao diện thân thiện và nhiều thông tin hữu dụng được trình bày một cách mạch lạc.   Theo cách làm như vậy, họ đã có trong tay nguồn dữ liệu “thô” đầu vào hết sức phong phú, tuy nhiên đây mới chỉ là bước đi đầu tiên. Theo thạc sĩ Nguyễn Võ Thanh Hoàng, một thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu và là tác giả thứ nhất công trình “VIETHERB: A Database for Vietnamese Herbal Species”, thì ở bước tiếp theo “nhóm tiến hành sàng lọc, đối chiếu thống tin giữa các tài liệu với nhau cũng như với các cơ sở dữ liệu của nước ngoài, qua đó rút trích những đặc trưng chung”. Việc làm này rất phức tạp bởi “như công việc xử lý ở bao cơ sở dữ liệu về thực vật, dược liệu khác, việc không thống nhất về tên gọi theo vùng miền, tên khoa học, hoặc các đặc trưng về hình thái là một trong những thách thức lớn nhất trong quá trình chuẩn hóa dữ liệu”, Thanh Hoàng giải thích.    Để giải quyết thách thức này, nhóm nghiên cứu của PGS. TS Lê Thị Lý đã mất tới phân nửa thời gian thực hiện dự án với sự hỗ trợ của một đội ngũ từ nhiều sinh viên cùng với các học viên cao học. ‘Với mỗi cơ sở dữ liệu tương tự trên thế giới, việc tập hợp và xử lý thông tin đòi hỏi một lượng nhân lực lớn hơn và một quá trình dài hơn nhưng các bạn trong nhóm đã nỗ lực trong việc sắp xếp công việc khoa học để hoàn tất công việc này”, PGS. TS Lê Thị Lý chia sẻ một cách tự hào về các thành viên. Nhờ vậy, “thông tin của VIETHERB đã được cập nhật về danh pháp khoa học, và các thông tin về hóa thực vật của các loại cây so với bản in giấy lấy tham chiếu từ các cơ sở dữ liệu lớn”, Thanh Hoàng cho biết.     Khoa học máy tính giúp giải quyết bài toán dữ liệu     Một trong những mục tiêu của nhóm nghiên cứu là tạo ra một nền tảng online phù hợp, đủ khả năng xử lý một lượng thông tin lớn, đa dạng, nhiều mối quan hệ nhằm tạo điều kiện cho người truy cập có thể tìm kiếm nhanh, thuận lợi và thủ pháp đơn giản. Đây chính là điểm yếu của nhiều cơ sở dữ liệu dược liệu nói riêng và các cơ sở dữ liệu khác ở Việt Nam nói chung. Theo cách đó thì VIETHERB cần được xây dựng trên một cấu trúc “thông minh” với nhiều thuật toán nền tảng phục vụ cho các bài toán thu thập, đánh chỉ số, xếp hạng dữ liệu khi có truy vấn.      Về lâu dài, VIETHERB có thể được mở rộng và bổ sung thông tin. Đó chính là ưu điểm của một cơ sở dữ liệu như VIETHERB so với tài liệu giấy.      Với VIETHERB, nhóm nghiên cứu có thêm bài toán thứ hai về thiết kế và cấu trúc, vốn được coi là ẩn chứa thách thức không kém việc thu thập và xử lý dữ liệu đầu vào. Để có được giải pháp tối ưu cho mình, nhóm nghiên cứu đã tham khảo và học hỏi cách xây dựng của các cơ sở dữ liệu quốc tế. “Việc tham khảo này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quát hơn về việc sắp xếp các thông tin và hình thức trình bày để người xem có thể dễ dàng tra cứu và sử dụng tùy vào các mục đích khác nhau”, Thanh Hoàng cho biết.    Việc tham khảo các cơ sở dữ liệu lớn đã giúp họ định hình được bộ khung của VIETHERB, đó là cấu trúc trên cơ sở ontology – một nền tảng lưu trữ dữ liệu được phân chia theo các cấp độ giúp cho việc quản lý thông tin và phân lớp thông tin hiệu quả hơn, do các nhà khoa học máy tính trường Đại học Stanford phát triển. “Ontology là khái niệm không mới nhưng hiệu quả đối với nhu cầu và mục đích của VIETHERB”, Thanh Hoàng giải thích về lựa chọn này. Bên cạnh đó, việc thiết lập một số kỹ thuật khác như Java và MySQL, phép phân tích thành phần chính (principal component analysis) giúp hỗ trợ các mục đích truy vấn cho mỗi mục tiêu cụ thể và đánh giá sự phân bố của số hợp chất được ghi nhận so sánh với số lượng thực vật được định danh.    Điểm thuận lợi lớn nhất mà nhóm có được là sự tư vấn của giáo sư Hiroshi Motoda (trường Đại học Osaka Nhật Bản), một chuyên gia hàng đầu thế giới về khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo 2. “Những tư vấn dựa trên sự hiểu biết rất rộng và kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm của ông đã giúp chúng tôi tránh được những lỗi có thể mắc và rút ngắn được thời gian xử lý dữ liệu cũng như cấu trúc VIETHERB”, PGS. TS Lê Thị Lý nhấn mạnh đến hỗ trợ đáng giá này với nhóm nghiên cứu.          Do đó, VIETHERB trên địa chỉ vietherb.com.vn không đơn thuần là một “kho lưu trữ” thông tin thảo dược, cây thuốc thông thường mà còn là một nền tảng thông minh, thú vị với giao diện thân thiện và các thư mục được sắp xếp một cách khoa học. Với “hình hài” như vậy, VIETHERB tạo cho người truy cập cảm giác thoải mái và hứng thú mỗi khi thực hiện các thao tác tìm kiếm. Nếu nhấp chuột vào hạng mục “cây thuốc, thảo dược”, cửa sổ biểu thị một loạt thông tin mang tính cơ bản về “tên khoa học”, “tên Việt Nam”, “họ”, “loài”, “hình ảnh mô tả”. Ví dụ như khi gõ thông tin về đậu bắp, một loài cây được trồng khắp Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, có quả được dùng như một loại rau xanh, một cửa sổ mở ra cho chúng ta biết đậu bắp có tên khoa học là Abelmoschus Esculentus, thuộc họ Malvaceae, loài Abelmoschus. Với cú nhấp chuột thứ hai, một cửa số tiếp theo cho chúng ta biết những đặc điểm hình thái chi tiết về hoa, thân, lá, quả. Nếu quan tâm đến các hoạt chất đã được nhận diện ở cây đậu bắp, chúng ta nhấp chuột vào thư mục “Các chất chuyển hóa” và thêm một cửa sổ mới với thông tin về 11 hoạt chất với tên được đánh số đi kèm với cấu trúc hóa học từng hoạt chất, địa chỉ nguồn trích dẫn, những cây thuốc liên quan…    Một chu trình tìm kiếm tương tự như vậy sẽ tiếp tục nếu người truy cập tìm hiểu các loài cây khác, hoặc theo tiêu chí thông tin khác. Tất cả được liên kết chặt chẽ với nhau nhưng thông tin truy xuất không bị rối và bất cứ lúc nào cũng có thể hữu ích cho những người tìm kiếm đơn thuần do tò mò về một loại cây thuốc cho đến những nhà nghiên cứu ngành dược, hóa dược, thực vật học… muốn tìm hiểu chuyên sâu về một loại hoạt chất, một phương thức điều trị… “Đó chính là lợi thế mà khoa học máy tính có thể mang lại”, PGS. TS Lê Thị Lý nói. “Nhờ vậy, chúng ta đã có một cơ sở dữ liệu cho các cây thuốc Việt Nam trong thời đại Big data với những công cụ của khoa học máy tính, khai phá dữ liệu hoàn toàn mới”.  Mặt khác, về lâu dài, VIETHERB có thể được mở rộng và bổ sung thông tin. Đó chính là ưu điểm của một cơ sở dữ liệu như VIETHERB so với tài liệu giấy, “việc cập nhật thông tin và điều chỉnh thông tin không tốn quá nhiều chi phí, nhân sự, và thời gian so với việc biên tập lại một tài liệu giấy”, Thanh Hoàng nói.     Những cơ hội kết nối và nghiên cứu     Trong năm năm thực hiện dự án nhiều tham vọng như VIETHERB, có nhiều điểm mà chỉ người trong cuộc mới nhận ra và thấm thía. Nó vượt qua những thông tin mang tính cảm nhận ban đầu. “Trước đây, tôi cũng biết Việt Nam là quốc gia nhiệt đới với sự đa dạng sinh học vào top 20 thế giới và có tỷ lệ các loài thực vật đặc hữu cao nhưng khi tiến hành chuẩn hóa, tổ chức dữ liệu, tôi thực sự cảm thấy choáng ngợp và thú vị với những thông tin mình tìm thấy”, Thanh Hoàng nói và cho biết thêm, có tới 1698 loài thực vật, tức là chiếm 56,24% loài đã được định danh trong cơ sở dữ liệu VIETHERB, không có sẵn trong bất kỳ cơ sở dữ liệu chuyển hóa thực vật hiện tại. Vậy thông tin này nói lên điều gì? “Nó cho thấy ở Việt Nam có nhiều loài thực vật đặc hữu, chưa có nhiều nghiên cứu về chúng cũng như chưa nhiều thông tin về các hợp chất tự nhiên của chúng”.      Bản đồ phân bố các loài thảo dược.  Ít được nghiên cứu, những cây thuốc đặc hữu của Việt Nam như những kho báu còn nép mình dưới tán rừng già và chưa được khai phá, ngoại trừ việc tồn tại trong các phương thuốc dân gian. Không chỉ chưa có đủ bằng chứng khoa học để làm cơ sở cho những biện pháp điều trị hiện đại mà đáng tiếc hơn, trên thế giới còn chưa có nhiều người biết đến sự tồn tại của một nền y học cổ truyền “Nam dược trị Nam nhân” (Thuốc nam chữa trị cho người Việt). “Hầu hết mọi người vẫn cho rằng, các cây thuốc Việt Nam cũng tương tự như Trung Quốc, không có sự khác biệt và do đó, việc sử dụng các cây thuốc này của các lương y Việt Nam cũng sao chép cách làm của các đồng nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, công trình của chúng tôi đã cho thấy đây là một cách hiểu sai lầm”, PGS. TS Lê Thị Lý nhận xét.    Theo quan điểm của chị, những điểm còn khuyết thiếu về các cây thuốc Việt Nam mà VIETHERB chia sẻ “sẽ tạo động lực cho các nghiên cứu sâu hơn trong tương lai về hóa thực vật, qua đó góp phần tìm ra nhiều loại thực vật có khả năng chữa bệnh hoặc các nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học hữu ích trong điều trị các bệnh hiểm nghèo như ung thư…” Nhìn rộng ra, những gợi ý như thế có thể đem đến những hợp tác nghiên cứu liên ngành giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam hoặc giữa Việt Nam với quốc tế để giải quyết những vấn đề lớn. “Tôi nghĩ điều này là hoàn toàn có thể, ví dụ nghiên cứu về metabolomics để tìm hiểu về các hoạt chất chuyển hóa được tổng hợp trong các cơ thể sống như tế bào, mô…, chính là một trong những xu hướng mà nhiều trung tâm nghiên cứu thực vật, công nghệ sinh học đang theo đuổi. Vì nghĩ đến những cơ hội này mà chúng tôi đã áp dụng cả ngôn ngữ Việt và Anh cho VIETHERB”, chị cho biết. “Và sau khi có một cơ sở dữ liệu về dược liệu bằng tiếng Anh xuất hiện, nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là châu Á, đã liên lạc với tôi để tìm hiểu và đề nghị cộng tác”.    Trước khi có được những cơ hội kết nối nghiên cứu như vậy, VIETHERB cần được bổ sung và cập nhật rất nhiều thông tin. Là một người cầu toàn và luôn đặt cho mình những cái mục tiêu cao hơn để vượt qua, PGS. TS Lê Thị Lý không ngần ngại “phê” những thành công bước đầu: “Những gì mà nhóm VIETHERB làm được vẫn còn ở mức thấp so với kỳ vọng của mình. Hiện nhóm mới chỉ xây dựng được cơ sở dữ liệu nền về hình thái, phân bố, hoạt chất, dược tính của các cây thuốc trong khi muốn đưa được nguồn dữ liệu quý này vào sử dụng đại trà thì vẫn cần rất nhiều nỗ lực hoàn thiện hơn về nội dung và xây dựng các ứng dụng trên nền dữ liệu ấy. Về lâu dài, tôi hi vọng VIETHERB sẽ giúp người Việt hiểu và dùng thuốc Nam nhiều hơn, cũng như mở ra cho Việt Nam cơ hội phát triển các vùng dược liệu”.    Với mong muốn đó, câu chuyện về VIETHERB sẽ không dừng lại ở những gì đã có. “Chúng ta cần tiếp tục phát triển cơ sở dữ liệu này để phục vụ tốt cho việc tra cứu, khám chữa bệnh, nghiên cứu phát triển tân dược từ dược liệu, cũng như việc xây dựng các vùng dược liệu chiến lược ở các địa phương phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Nguồn tài trợ ban đầu của Quỹ Nghiên cứu Không Quân Hoa Kỳ ở châu Á (AOARD) chỉ đủ để xây dựng cơ sở dữ liệu nền, VIETHERB cần được đầu tư thực sự để phát huy tiền năng của nền y học cổ truyền và nguồn dược liệu phong phú mà Việt Nam đang bị mai một dần”, đây là điều mà PGS. TS Lê Thị Lý luôn băn khoăn sau khi hoàn thiện giai đoạn đầu của dự án.    Tuy nhiên, điều mà chị cảm thấy hài lòng nhất là với dự án VIETHERB, nhiều thành viên đã cảm thấy yêu và gắn bó với khoa học. “Việc xây dựng cơ sở dữ liệu song ngữ Anh Việt tốn khá nhiều thời gian và công sức nhưng may mắn là các bạn sinh viên của Đại học Quốc tế có vốn tiếng Anh và tinh thần làm việc nhóm rất tốt. Nhiều thành viên của dự án hiện đã ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh ở Úc, châu Âu, New Zealand…, một bạn làm giám đốc kỹ thuật của một công ty về công nghệ sinh học. Nhìn chung, các em trưởng thành hơn nhiều sau dự án và tôi rất tự hào về họ”, PGS. TS Lê Thị Lý mỉm cười. “Rất có thể trong tương lai, họ sẽ trở về xây dựng VIETHERB như đúng quy mô và tầm vóc của nó, tại sao lại không hi vọng chứ?”.□  —  1. https://pubs.acs.org/doi/10.1021/acs.jcim.8b00399  2. http://www.ar.sanken.osaka-u.ac.jp/~motoda/motopreg.html  VIETHERB đã tập hợp được 2881 loài thực vật, 10.887 chất chuyển hóa, 458 địa điểm địa lý, 8.046 tác dụng điều trị cổ truyền đồng thời thiết lập được số liệu về các mối liên hệ nhị phân (binary relationship) giữa loài – chất chuyển hóa (17.602), loài – hiệu quả điều trị (2.718), loài – hình thái (11.943), loài – phân bố (16.089). “Nếu xuất bản theo phương thức sách giấy truyền thống, cơ sở dữ liệu này sẽ tương đương với rất nhiều tập sách dày mà một người bình thường khó lòng đọc hết trong một thời gian ngắn và vì thế việc tìm kiết thông tin về dược liệu sẽ tốn rất nhiều thời gian”, PGS. TS Lê Thị Lý nhận xét.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vietnam Silicon Valley sẽ trở thành đề án cấp quốc gia      &#160;Ngày 13/8, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức hội thảo: “Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo” nhằm góp ý đưa Vietnam Silicon Valley thành đề án cấp Quốc gia trình Chính phủ sắp tới.     Bà Thạch Lê Anh, chủ nhiệm đề án Vietnam Silicon Valley (VSV) cho biết, 9 doanh nghiệp tham gia khóa đầu tiên của dự án đều đã được định giá cao hơn từ 5-10 lần so với dự kiến. Bà cũng tiết lộ, đã có doanh nhân đề nghị mua lại toàn bộ cổ phần của bà trong 9 công ty với giá 350.000 USD (gấp 3.5 lần của bà lúc đầu). Phạm Kim Hùng, CEO của TechElite (một trong 9 doanh nghiệp tốt nghiệp khóa I của VSV) cho biết, nhờ VSV, đã có ba nhà đầu tư thiên thần góp vốn trong vòng gọi Seri A của TechElite. Hiện nay, Tech Elite đang được định giá là 1.8 triệu USD và tập trung xây dựng các giải pháp công nghệ cho doanh nghiệp. BigTime.vn (sản phẩm đầu tiên của TechElite được phát triển trong thời gian tham gia VSV), nền tảng giúp các doanh nghiệp tổ chức, quản lý và bán vé sự kiện nhanh nhất đang kinh doanh rất tốt. Anh cho biết, tháng 9 tới, TechElite sẽ cho ra mắt nền tảng Worktime Enterprise 2.0 hỗ trợ việc tương tác trong doanh nghiệp một cách hiệu quả.   Nhóm điều hành VSV, bên cạnh xây dựng VSV thành một tổ chức thúc đẩy doanh nghiệp, còn muốn tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp với mạng lưới các nhà đầu tư, nhà cố vấn trên nhiều lĩnh vực…để hỗ trợ cho các startups. Chia sẻ tham vọng này, Ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN cho rằng, thay vì rót tiền ngân sách để đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp và các cá nhân khởi nghiệp tiềm năng như trước kia theo kiểu xin-cho, cần tập trung vào đào tạo (ngoại ngữ, kỹ năng pitching, kỹ năng quản lý…) và hỗ trợ bằng cách tạo ra mạng lưới chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm. Bên cạnh đó, không phải chỉ dừng lại ở một VSV mà phải  tạo ra một mạng lưới tổ chức thúc đẩy doanh nghiệp tương tự với sự tham gia của các trường Đại học, Viện nghiên cứu…, trên nhiều lĩnh vực KH&CN.    Chị Trần Thị Thu Hương, thành viên Ban chỉ đạo IPP (Dự án Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan) cho biết, để trình đề án VSV lên Chính phủ, ban soạn thảo đề án cần những góp ý về mặt chính sách để thảo gỡ những khó khăn về định chế tài chính, thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp, cho các nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và tạo ra xu hướng, văn hóa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro, thất bại trong kinh doanh.  Kết thúc buổi Hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng cho biết, hôm qua (ngày 12/8), Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có buổi trò chuyện với đại diện các startups ở Việt Nam và ghi lại những khó khăn, vướng mắc về chính sách mà họ gặp phải, trong đó nổi bật là những vướng mắc về tài chính và thuế. Điều này hứa hẹn sự cam kết của chính phủ đối với việc hỗ trợ và phát triển khởi nghiệp.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Viettel mở rộng kết nối với các cá nhân sáng tạo      Từ ngày 1/7, bất kỳ ai cũng có thể trở thành  đối tác của Viettel trong việc phát triển ứng dụng, dịch vụ trên di động bằng cách gửi sáng kiến của mình đến cổng thông tin  http://viettelinnovation.vn.     Theo Viettel, “Thay vì chỉ tập trung vào các tổ chức, công ty, chúng tôi muốn kết nối với sự sáng tạo của hàng triệu nhà phát triển ứng dụng độc lập, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi trên thế giới.”   Chương trình này xuất phát từ điều Viettel luôn tâm niệm: “Sáng tạo là sức sống”.   Khi cùng chung tay với Viettel tạo ra những dịch vụ mới, các cá nhân có thể hưởng mức chia sẻ doanh thu lên tới 60% từ sự hợp tác đó.  Một cuộc hội thảo với chủ đề “Ý tưởng sáng tạo và tiềm năng hợp tác” dành cho các nhà phát triển ứng dụng sẽ được Viettel tổ chức vào đầu tháng 8 tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viettel mua Viber chỉ là lời đồn      Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn  Online, ông Lê Đăng Dũng, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông quân đội  Viettel, cho biết tập đoàn này không có ý định mua lại Viber như lời  đồn đoán của dư luận.    Sở dĩ có thông tin đồn đoán về việc Viettel muốn mua lại Viber là do tờ báo Tài chính Calcalist của Israel ngày 12-2 đưa tin Viber đang được một công ty ở châu Á đàm phán mua lại. Cùng lúc đó, nhiều nguồn tin từ trong nước cho biết Viettel đang muốn mua lại Kakao Talk, Zalo… do đó dư luận đã đồn đoán rằng có nhiều khả năng công ty châu Á muốn mua lại Viber kia chính là Viettel.  Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào chiều muộn ngày 13-2, ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng giám đốc của Viettel khẳng định tập đoàn này không hề có ý định cũng như đàm phán mua lại Viber.  Sau khi tờ báo Tài chính Calcalist của Israel đưa tin, trả lời phỏng vấn của Reuters, Giám đốc điều hành của Viber Talmon Marco cũng đã bác bỏ thông tin Viber đang được một công ty châu Á muốn mua lại với giá từ 300 đến 400 triệu đô la Mỹ. Ông Talmon Marco còn cho biết không có chuyện đàm phán để bán Viber.  Viber là ứng dụng gọi điện, nhắn tin trên mạng internet di động hiện đang có khoảng 200 triệu người sử dụng tại 193 quốc gia, gồm 67 triệu người dùng ở châu Á. Theo ước tính của các chuyên gia, hiện Viber là ứng dụng gọi điện thoại trên mạng Internet được dùng nhiều nhất tại Việt Nam với hơn 10 triệu người sử dụng.  Được biết, hiện Viber chưa thiết lập văn phòng đại diện hay mở công ty để khai thác thị trường Việt Nam. Song một nguồn tin cho biết đại diện của Viber đã đến Việt Nam để tìm hiểu thành lập đại lý quảng cáo nhằm khai thác kinh doanh tại thị trường này – giống như cách mà Google hay Facebook đã làm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viettel phủ sóng 4G toàn quốc      Đến giữa tháng 3/2017, Viettel đã phát sóng gần 18.000 trạm 4G, đưa công nghệ mới này hiện diện tại 704 quận, huyện thuộc 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc.      Như vậy, chỉ sau hơn 4 tháng triển khai, mạng 4G của Viettel đã có mặt rộng khắp ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước, phủ sóng gần 99% tổng số quận, huyện của Việt Nam.  Trước đó, trong dịp Tết Nguyên Đán, Viettel đã kịp thời phát sóng gần 150 trạm 4G tại 50 lễ hội trên toàn quốc với tốc độ nhanh hơn 3G từ 7-10 lần. Chất lượng mạng lưới đều được duy trì ổn định, thông suốt trên toàn quốc, kể cả các khu vực tập trung đông người, nơi diễn ra các lễ hội, sự kiện chào đón năm mới.  Không chỉ triển khai hạ tầng ở các khu vực thủ phủ tỉnh hay trung tâm huyện, Viettel còn đưa sóng 4G tới gần 6.300 xã trên toàn quốc, trong đó có nhiều xã ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Có tới trên 100 huyện biên giới thuộc 25 tỉnh đã có sóng 4G.  Đặc biệt, ở rất nhiều vị trí đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam cũng đã có sóng 4G của Viettel như cực địa đầu của Tổ quốc như xã Đất Mũi (huyện Ngọc Hiển, Cà Mau), xã Lũng Cú (huyện Đồng Văn, Hà Giang), xã Hòa Tâm (huyện Tuy hòa, Phú Yên) hay ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia tại xã Bờ Y (huyện Ngọc Hồi, Kon Tum). Đỉnh núi Fansipan tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai – nơi được mệnh danh là “nóc nhà Đông Dương” – cũng đã có sóng 4G.  Dự kiến từ nay đến hết tháng 3/2017, Viettel sẽ phát sóng hơn 7.300 trạm 4G, nâng tổng số trạm 4G của mạng viễn thông lên gần 28.000 trạm trên toàn quốc, sẵn sàng bảo đảm mạng 4G phủ sâu rộng với chất lượng tốt nhất vào thời điểm khai trương.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Viettel-da-phu-song-4G-toan-quoc/300955.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viettel: Thách thức cái khó và nghĩ khác biệt      Câu chuyện đầu tư phát triển KH&CN – một yếu tố có tính quyết định đến thành công vượt bậc của Viettel cho thấy nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu triển khai của các doanh nghiệp và mối liên hệ hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ quan nghiên cứu. Đó là trọng tâm cuộc trao đổi giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, TGĐ Viettel trong khuôn khổ Hội nghị Giám đốc Sở KH&CN năm 2017 do Bộ KH&CN tổ chức.    Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh: Trong quản lý KH&CN cần có quan điểm lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu triển khai. Các nhà quản lý cần rút ra bài học kinh nghiệm từ những thành công trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, đặc biệt là từ những thành công có tính chất đột phá. Vì vậy câu chuyện phát triển KH&CN với những bứt phá về công nghệ của Viettel, như xây dựng mạng viễn thông 4G – một yếu tố quyết định đến sự phát triển của Viettel từ một công ty “nhỏ bé” trở thành một tập đoàn viễn thông lọt vào Top 30 của thế giới, là một bài học kinh nghiệm về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp hết sức đáng quan tâm.  Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng: Thông thường việc xây dựng mạng viễn thông toàn quốc phải mất hàng chục năm, ví dụ như mất 20 năm (1992 – 2012) cả nước mới có mạng 2G phủ sóng tới hơn 90% dân số, tương tự, mất gần 10 năm để làm mạng 3G mới tương đối hoàn chỉnh. Tại sao lại chậm như vậy? Chủ yếu là do phải đầu tư lớn nên các nhà mạng đầu tư dần dần. Sự chậm trễ đó khiến hạ tầng viễn thông 3G của Việt Nam chỉ ở mức trung bình của thế giới. Do đó, chúng tôi suy nghĩ, chẳng lẽ chúng ta cứ chậm mãi và kém mãi như thế? Vậy là Viettel quyết tâm thúc đẩy nhanh việc triển khai hạ tầng 4G, đầu tư 1,5 tỉ USD là trong khả năng của Viettel. Mỗi tháng chúng tôi lắp 5.000 – 6.000 trạm BTS, và chỉ sau sáu tháng có 36000 trạm, phủ sóng 4G của chúng ta thuộc loại tốt nhất thế giới.  Câu chuyện 4G của Viettel cho thấy, nếu có quyết tâm và dám đầu tư thì có thể thay đổi hạ tầng viễn thông của đất nước chỉ trong vòng sáu tháng.  Theo suy nghĩ của tôi, để phát triển được cách mạng công nghiệp 4.0 thì viễn thông phải đóng vai trò số một, hạ tầng viễn thông là nền tảng cho chính phủ thông minh, thành phố thông minh. Khi đã có hạ tầng thì sẽ có muôn vàn dịch vụ ra đời theo. Ví dụ, có phóng viên đã kể chuyện, ở những vùng đất địa đầu của tổ quốc, khách du lịch có thể hát Karaoke “di động” nhờ vào những chiếc micro có kết nối không dây với Ipad sử dụng 4G của chúng tôi. Vấn đề ở đây là cách nghĩ.  Nghe anh kể lại chặng đường phát triển của Viettel, tôi thấy đó là cả quá trình dám đặt mục tiêu lớn gắn với rất nhiều thách thức. Mà có những thách thức chỉ có thể được giải quyết bằng những cách nghĩ rất khác, rất mới?  Vâng, anh đã chạm tới hai điểm cốt lõi của Viettel: thứ nhất là thách thức cái khó, thứ hai là khác biệt.  Cái gốc cho sự phát triển của Viettel ngày nay chính là ‘tìm việc khó nhất để làm’. Ở Viettel chúng tôi quan niệm làm lãnh đạo là thực hiện được ba việc: Một là phải nghĩ ra việc khó; hai là phải khó tính khi nghiệm thu sản phẩm, bởi vì khó tính thì mới có sản phẩm xuất sắc và ba là tranh luận. Chỉ khi nào chúng ta gặp bài toán khó nhất mới nghĩ tới người tài và nghĩ tới KH&CN. Bởi vì nhiều khi tài gắn với tật nên chúng ta sẽ chỉ dùng người tài khi rất cần thôi. Đối với KH&CN cũng vậy, chỉ khi nào khó nhất, không còn một biện pháp nào thay thế mới sử dụng tới KH&CN.  Quá trình phát triển của chúng tôi là những chặng “vượt khó”. Đầu tiên, Viettel có ước mơ mỗi người Việt Nam có một chiếc điện thoại và chỉ sau bốn năm là làm được. Làm được rồi thì chúng tôi lại nghĩ phải ra nước ngoài để cạnh tranh với thế giới. Năm 2006 Viettel bắt đầu thành lập ban quản lý dự án đầu tư nước ngoài với sáu người, trong tay không có nhiều tiền, ngôn ngữ bất đồng… Thế mà đến nay số khách hàng của Viettel ở nước ngoài đã lên tới 35 triệu, doanh thu 1.4 tỉ USD/ năm, tạo 10.000 việc làm cho người nước ngoài. Việc Viettel “nhảy vào” công nghệ cao cũng là cái khó, trên thế giới rất ít công ty viễn thông chuyển sang làm công nghệ cao, vì chỉ làm viễn thông là rất sung sướng. Nhưng chúng tôi nghĩ đã có nghìn tỉ để làm R&D thì phải làm công nghệ cao. Và chúng tôi tự làm vũ khí- thực hiện mơ ước của dân tộc Việt Nam nhiều đời nay. Chúng tôi sản xuất thiết bị viễn thông bởi vì nếu cứ mua của nước ngoài, trong đó có những thiết bị là của Trung Quốc và các nước khác thì liệu có an toàn không? Chúng tôi nghiệm ra rằng càng khó thì càng quyết tâm và trở nên thông minh hơn.  Nhiều người thường nghĩ thiết bị công nghệ cao thì giá phải đắt vì chi phí nghiên cứu rất tốn kém nhưng chúng tôi nghĩ khác, nếu sản xuất thiết bị công nghệ cao mà có một thị trường rộng lớn, nhiều khách hàng thì giá thành sẽ càng rẻ. Vậy là Viettel “nhảy” về nông thôn rồi mở ra cơ hội cho rất nhiều người có thể dùng di động.  Ở hội trường của Viettel tôi thấy khẩu hiệu “xuất sắc, khác biệt và bền vững” gắn với chặng đường phát triển của Viettel. Riêng về mặt quản lý KH&CN thì chúng tôi quan tâm tới việc làm thế nào để tích tụ KH&CN nhanh nhất có thể. Tôi muốn nghe chia sẻ của Viettel để các công ty khác rút làm kinh nghiệm.  Khi Viettel làm vũ khí công nghệ cao thì luôn nghĩ rằng phải hợp tác với “ông lớn” mới được, nhưng rồi cứ đàm phán mãi, mất nhiều thời gian, sáu tháng trời không kí được hợp đồng nào mặc dù mình đã phải mua vé máy bay để “nịnh” mời công ty bán vũ khí sang đàm phán. Rồi chúng tôi vỡ lẽ, họ không bao giờ chuyển giao công nghệ mà chỉ bán dây chuyền, bán sản phẩm vũ khí thôi. Việc chuyển giao công nghệ không chỉ là xây dựng nhà máy, mua thiết bị, đầu tư dây chuyền hay đào tạo…, mà có khi chỉ là một câu nói “khai sáng” thôi. Ví dụ khi chúng tôi nghiên cứu làm vũ khí công nghệ cao, thử nghiệm bắn thẳng, sang trái, phải, lên xuống đều được, nhưng khi hợp lệnh vừa sang trái vừa đi lên thì bắn bao nhiêu quả hỏng hết. Mà lại rất tốn kém. Chúng tôi mời chuyên gia các nước như Ba Lan, Ý, họ đều nói phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới tìm được cách giải quyết. May mắn một hôm chúng tôi tình cờ nói chuyện với một chuyên gia Mỹ thì ông ta nói: “nguyên tắc đầu tiên trong quản trị là một người không nhận lệnh từ hai người”. Chỉ một câu nói đó thôi, chúng tôi “ngộ” ra sai lầm là do đặt hai lệnh đặt cùng một lúc làm chúng loại nhau, và đưa ra giải pháp hợp hai lệnh thành một, rồi bắn thành công luôn (tất nhiên là có điều kiện mình phải làm, mày mò gần tới nơi rồi). Như vậy, quá trình tích lũy, học hỏi công nghệ trước hết đòi hỏi tự thân nỗ lực tới 80-90% chặng đường, còn việc tiếp thu know-how chiếm 10% mang tính quyết định sau cùng, giống như nghe được một câu kệ và bừng tỉnh ngộ đạo vậy.  Trong điều kiện hiện nay Viettel đã làm được 4G, thậm chí sau này sẽ làm 5G, đó là nền tảng của cách mạng công nghệ 4.0, mở ra cơ hội cho nhiều loại dịch vụ. Tuy nhiên nhìn từ bình diện khác, nước ta cơ bản là nông dân, những người rất cần hệ thống khuyến nông, rất cần những thông tin trực quan sinh động. Ví dụ như bà con xem TV vẫn rất thích cách GS Nguyễn Lân Hùng giải thích về cây trồng vật nuôi, người dân vùng sâu vùng xa rất cần thông tin chăm sóc sức khoẻ. Nhưng ở nhiều địa phương, người dân vẫn khó tiếp cận với các nguồn thông tin, ngay cả báo giấy vẫn thiếu, bưu điện vẫn không thể trở thành kênh thông tin đủ cho người dân. Vậy chúng ta làm thế nào để đưa tiến bộ KH&CN vào cuộc sống người dân ở vùng sâu, vùng xa nhanh nhất?  Chúng tôi đã nghĩ tới điều đó, có thể dùng một nền tảng internet của Việt Nam, chứa tri thức của Việt Nam, để khi có người tra cứu thông tin thì nền tảng đó sẽ dùng trí tuệ nhân tạo (AI) để chọn lọc, so sánh thông tin rồi chuyển câu hỏi tới cho chuyên gia, chuyên gia trả lời và thông tin được gửi lại cho người hỏi. Chúng tôi đang triển khai dự án này với ước mơ, khát vọng góp phần xoá mù thông tin.  Viettel đã rất thành công khi đầu tư vào hơn mười quốc gia và thuê chuyên gia nước ngoài trong hoạt động R&D – ngược lại với cách nghĩ phổ biến của chúng ta là “đi làm thuê cho Tây”, điều đó càng làm chúng tôi ấn tượng về quá trình đầu tư cho nghiên cứu KH&CN ở Viettel. Anh có thể chia sẻ về cách thức quản lý, sử dụng khoản trích đầu tư cho KH&CN ở Viettel để các đơn vị khác cùng học hỏi. Bởi vì, ví dụ như cả nước có 50 doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN như Viettel thì bộ mặt KH&CN sẽ thay đổi ngay.  Các doanh nghiệp được phép trích 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư nghiên cứu. Để xét duyệt đề tài nghiên cứu thì trước đây chúng ta hay có hội đồng nhưng nói thật là hội đồng không thể biết trước hết được liệu các kết quả nghiên cứu đó đi tới đâu. Nếu ông ta biết trước thì phải là tỉ phú chứ? Rồi hội đồng phải duyệt rất sâu, kỹ lưỡng tới mức đặt ra câu hỏi tại sao phải mua điện trở, tụ này, tại sao lại là hai đồng mà không phải một đồng? Cách quản lý như vậy là sai lầm, vì đáng lẽ phải quản lý mục tiêu thì lại đi quản lý cách làm. Mà mục tiêu của nghiên cứu là sản phẩm, mục tiêu của sản phẩm là bán được. Vì thế Viettel ra quy định: những người thực hiện đề tài xin bao nhiêu tiền tôi cũng cấp, nhưng sau hai năm phải trả lại đúng số tiền đó cộng với lãi, tức là nghiên cứu phải bán được, có lãi. Các viện nghiên cứu của Viettel được xác định là các công ty, như thế họ phải tiết kiệm, không ai dám xin nhiều luôn. Vì cầm nhiều tiền là chết. Nhờ đó mà số tiền R&D cứ sinh lãi, có 4500 tỉ thì năm sau có 9000 tỉ, cứ thế lớn lên. Quỹ dành cho KH&CN của mình là 2% chi ngân sách, nếu làm theo cách này thì nó sẽ tăng lên rất nhanh thôi. Tất nhiên cách làm này thì chỉ áp dụng được với nghiên cứu ứng dụng, còn nghiên cứu cơ bản thì vẫn phải “trả” bằng số lượng bài báo.  Đó là cách tư duy về quản lý khoa học mang tính gợi ý cho chúng tôi. Qua câu chuyện của Viettel, chúng tôi thấy được vai trò dẫn dắt của các tập đoàn lớn đối với hoạt động nghiên cứu trong từng lĩnh vực. Nhưng nếu các tập đoàn lớn lôi kéo được các doanh nghiệp khác, liên kết với các viện cùng làm KH&CN thì hẳn sẽ tốt hơn nhiều.  Hiện nay Viettel còn thuê các đơn vị ở bên ngoài cùng làm nữa vì nhu cầu sản phẩm công nghệ rất nhiều nhưng chúng tôi cũng không thể nghiên cứu hết. Do đó, chúng tôi đóng vai trò hạt nhân, đặt ra nhu cầu, vấn đề rồi đi thuê các viện nghiên cứu trong quân đội, trong nước. Tôi nghĩ mô hình này giống như Boeing, họ chỉ làm thị trường là chính thôi, còn lại thuê ngoài tới hơn 10.000 công ty, kể cả một số công nghệ cốt lõi. Làm theo mô hình này thì rất có thể Viettel sẽ liên kết được với các viện. Tôi rất muốn cùng Bộ KH&CN tìm hiểu thông tin và tận dụng nguồn lực của các đơn vị nghiên cứu trong nước. Hình thức hợp tác thì sẽ rất linh hoạt. Như Viettel thuê 35 chuyên gia giỏi ở nước ngoài nhưng họ chỉ làm việc ở nước họ và trả kết quả cho chúng tôi thôi.  Cảm ơn anh đã chia sẻ!   Thu Quỳnh lược ghi    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Viettel tự nghiên cứu sản xuất Router wifi và Modem EOC Slave      Trong “Ngày IPv6 Việt Nam” vừa được tổ chức ở TPHCM, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã trình diễn hai loại thiết bị tích hợp hỗ trợ IPv6 do tập đoàn này tự nghiên cứu và chế tạo là Router wifi và Modem EOC Slave.     Tại thời điểm này, đây là doanh nghiệp viễn thông duy nhất tại Việt Nam nghiên cứu và chế tạo thành công thiết bị tích hợp hỗ trợ IPv6.  Một trong những khó khăn của doanh nghiệp để ứng dụng rộng rãi IPv6 chính là thiết bị đầu cuối của khách hàng chưa hỗ trợ IPv6. Theo ước tính của Viettel, hiện có khoảng 85% thiết bị đầu cuối của khách hàng không hỗ trợ IPv6. Do vậy, để chủ động hưởng ứng kế hoạch hành động quốc gia về IPv6, Viettel đã đưa IPv6 vào công tác nghiên cứu sản xuất cho tất cả các dự án sản xuất thiết bị phục vụ cả trong và ngoài nước, Viettel đã nghiên cứu và chế tạo thành công 2 thiết bị tích hợp hỗ trợ IPv6: Router wifi và Modem EOC Slave. Phía Viettel còn cho biết, hiện đang chuẩn bị tiến hành sản xuất hàng loạt cho  hai thiết bị này với số lượng ban đầu dự kiến là 5.000 sản phẩm mỗi loại…  Để tạo ra hai sản phẩm công nghệ nói trên, từ tháng 6-2012, Ban giám đốc Tập đoàn Viettel đã giao nhiệm vụ cho Viện Nghiên cứu phát triển Viettel nghiên cứu sản xuất thiết bị WIFI Router và EOC Slave nhằm hướng tới mục tiêu chủ động cung cấp thiết bị đầu cuối cho hoạt động kinh doanh dịch vụ internet.  Đến tháng 10-2012, Viện Nghiên cứu và phát triển Viettel hoàn thành mẫu thử nghiệm WIFI Router đầu tiên (EVT1) và tháng 12-2012, Viện Nghiên cứu và phát triển Viettel hoàn thành mẫu thử nghiệm thứ 2 (EVT2) với nhiều nâng cấp cải tiến: mở rộng vùng phủ wifi, nâng cấp phần cứng sẵn sàng cho IPv6, sẵn sàng cho sản xuất hàng loạt với số lượng lớn. Chưa hết, đến tháng 1-2013 mới hoàn thành mẫu thử đầu tiên của thiết bị EOC Slave. Ngay từ mẫu thử đầu tiên đã hoạt động tốt. Viện Nghiên cứu và phát triển bắt đầu nghiên cứu tích hợp IPv6 Dualstack vào thiết bị WIFI Router và EOC Slave và vào tháng 4-2013, hoàn thành tích hợp IPv6 vào WIFI Router và EOC Slave. Chính thức thử nghiệm trên mạng IPv6 của Viettel cho kết quả hoạt động tốt, tương thích hoàn toàn chuẩn IPv6 Dualstack và các dịch vụ IPv6.   Là hai loại thiết bị quan trọng trong kết nối internet nên cả 2 thiết bị có tiềm năng thị trường lớn trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ internet của Viettel, đặc biệt là dịch vụ kết nối internet qua cáp quang FTTH và qua cáp truyền hình. Hiện Viettel đã lấy được giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trên toàn quốc, mở ra tiềm năng thị trường lớn đối với thiết bị EOC Slave. Đáng nói hơn, Viettel chủ động hoàn toàn về thiết kế phần cứng và phần mềm cho đến quá trình sản xuất, do đó đảm bảo về chất lượng và độ ổn định của thiết bị. Đây cũng là mục tiêu hàng đầu mà Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đặt ra khi giao nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất thiết bị cho Viện Nghiên cứu và phát triển Viettel.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vinacomin: Dừng bôxit thiệt hại sẽ rất lớn      Theo lãnh đạo Tập đoàn Than – Khoáng sản  Việt Nam (Vinacomin), sau khi xem xét đánh giá nếu dừng dự án bauxite  thiệt hại là rất lớn.    Tại buổi họp báo của Vinacomin, ông Nguyễn Tiến Chỉnh, Trưởng ban Khoa học công nghệ và Chiến lược phát triển của Vinacomin cho biết, Vinacomin từng xem xét tính toán việc dừng dự án bôxit, tuy nhiên đã không dám dừng bởi thiệt hại rất lớn.   Về phía doanh nghiệp, Vinacomin đang như “ngồi trên đống lửa” do tiền đã đầu tư vào dự án và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về hiệu quả của dự án trước Đảng và Nhà nước. Vinacomin đã tính toán, xem xét và khẳng định, tiếp tục làm sẽ tốt hơn so với việc dừng dự án.  Đại diện của Vinacomin thừa nhận, trong quá trình thực hiện dự án, do kinh tế thế giới suy thoái ảnh hưởng xấu tới thị trường tài chính Việt Nam và đầu tư bảo vệ môi trường đã tác động làm thay đổi tiến độ và hiệu quả kinh tế của 2 dự án so với ban đầu. Theo ông Chỉnh, dự kiến trong 3 -5 năm đầu cả hai dự án này phải chấp nhận lỗ vì phải gánh chi phí khấu hao cao. Thời gian hoàn vốn của hai dự án là từ 12 – 13 năm.  Trong chiến lược phát triển kinh tế Tây Nguyên có nói về phát triển alumin. Khi đưa hai dự án này vào, Tây Nguyên sẽ phát triển công nghiệp phụ trợ. Dự án đóng góp thuế phí cho ngân sách chung khoảng 400 tỷ mỗi năm.  Theo báo cáo của Vinacomin về tình hình thực hiện 2 dự án bauxit-alumin thử nghiệm tại Tây Nguyên, tổ hợp bôxit nhôm Lâm Đồng công tác xây dựng cơ bản mở đã hoàn thành, đến nay đã khai thác trên 1,6 triệu tấn quặng bauxite, sản xuất được trên 265.000 tấn quặng tinh bôxit. Về giá trị thực hiện đầu tư, tính đến tháng 4/2013 tổng giá trị đã thực hiện của toàn bộ dự án ước đạt 11.612 tỷ đồng, tổng giá trị giải ngân đạt khoảng 11.125 tỷ đồng.  Đối với dự án Alumin Nhân Cơ – Đăk Nông, trong quá trình san gạt mặt bằng các hạng mục công trình của dự án khu công nghiệp Nhân cơ, đã tận thu được khối lượng trên 1,5 triệu tấn quặng bôxit nguyên khai, để phục vụ công tác chạy thử của nhà máy tuyển quặng và nhà máy alumin của dự án. Nhà máy alumin Nhân Cơ đang tiến hành lắp đặt thiết bị dự kiến hoàn thành và có sản phẩm vào giữa 2014. Tổng giá trị đã thực hiện của toàn bộ dư án đạt khoảng 6.836 tỷ đồng.  Hiện tại, Vinacomin đã ký hợp đồng nguyên tắc tiêu thụ sản phẩm với công ty của Nhật Bản và Trung Quốc. Thời gian tới đơn vị này tiếp tục đàm phán với các đối tác để ký hợp đồng khi nhà máy đi vào hoạt động thương mại. Theo đánh giá của Vinacomin việc tiêu thụ sản phẩm của 2 dự án này là hoàn toàn khả thi. Vinacomin đã bán cho 8 khách hàng, trong đó có 6 khách hàng trong nước được 5.200 tấn alumin và 8.670 tấn hydrat và 2 khách hàng nước ngoài dự kiến tháng 3 là 15.100 tấn alumin.  Về công nghệ, hai nhà máy sử dụng công nghệ sản xuất alumin bằng phương pháp thủy nhiệt (BE) và là công nghệ tiên tiến, đang phổ biến trên thế giới.  Liên quan tới những tác động về môi trường, ông Chỉnh khẳng định, nếu nói về môi trường chung thì “chỉ có lợi cho môi trường chứ không gây hại. Ông Chỉnh giải thích: “Công nghệ ở đây rất đơn giản, phần đất alumin trở lại cho phát triển cây trồng, khi ta lấy phần quặng này đi, sau đó phục hồi, trồng cây chỉ có tốt hơn. Còn đối với nhà máy tuyển, chúng ta không thải ra gì ảnh hưởng tới môi trường”.  Trước những nghi ngại về vụ vỡ hồ chứa bùn đỏ ở Hungary, ông Chính cũng cho biết thêm, công nghệ thải bùn đỏ cho nhà máy Tân Rai cung cấp thải khô. Theo thiết kế trong quá trình trao đổi ngược, bùn đỏ được xử lý, có các thiết bị cô đặc, lắng lọc, làm đặc đạt 46,5%, tiêu chuẩn chỉ là 45%, và thải ra khu chứa bùn đỏ, khoảng 10-12 ngày sau thì bùn khô tự nhiên, thậm chí người dân có thể đi lại trên bùn.  Duy Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vinagamma:  “Tay trắng” lập cơ đồ      Từ nỗ lực và quyết tâm của những người trong cuộc, dự án do Bộ KH&CN phê duyệt và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)1 hỗ trợ không chỉ gây dựng hình hài một trung tâm ứng dụng công nghệ bức xạ đầu tiên ở khu vực phía Nam mà còn đưa trung tâm đó thành đơn vị đi đầu về tự chủ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM).      Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng (thứ hai từ phải sang) và TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng VINATOM (ngoài cùng), TS. Hoàng Anh Tuấn , Cục trưởng Cục Năng lượng Nguyên tử  (thứ hai từ trái sang) nghe cán bộ VINAGAMMA giới thiệu về dịch vụ chiếu xạ của Trung tâm. Ảnh: Kiều Anh.  Được xây dựng từ năm 1998 nhưng nền móng cho Trung tâm Nghiên ứng và triển khai công nghệ bức xạ (VINAGAMMA) đã bắt nguồn từ những nghiên cứu sơ khai trên lò phản ứng Đà Lạt vào những năm 1980. Trên nền tảng khoa học đó, VINAGAMMA đã nhanh nhạy đón lấy các cơ hội, dù nhỏ nhất, để tự gây dựng danh tiếng và trở thành một thành viên trong tập thể mà như lời nhận xét của giáo sư Phạm Duy Hiển (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt) trong lễ tổng kết hoạt động năm 2016 của VINATOM: “Chúng ta đã làm ra sản phẩm ứng dụng, qua đó giúp xác nhận được vị thế của ngành năng lượng nguyên tử trong nền kinh tế xã hội. Tất cả những cái đó đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học, theo cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp”.   Táo bạo trong cách nghĩ, cách làm  Thông thường, để có thể hoạt động tốt, một tổ chức khoa học cần có được những yếu tố cơ bản như nhân sự, kinh phí đầu tư, cơ sở vật chất thiết bị và một cơ chế vận hành… Nhìn bên ngoài, dường như VINAGAMMA không đi ngoài quy luật đó: một nhóm cán bộ nghiên cứu được chuyển từ Đà Lạt xuống, máy chiếu xạ công nghiệp đa năng nguồn Co-60 SVST-Co60/B mua của Hungary theo dự án chuyển giao công nghệ của IAEA, kinh phí 6,7 tỷ đồng từ Bộ KH&CN. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một phần của câu chuyện bởi trên thực tế, Trung tâm cần nhiều kinh phí hơn thế, dự kiến tổng đầu tư ban đầu cho Trung tâm vào khoảng 1,4 triệu USD. Vậy lấy thêm tiền cho Trung tâm ở đâu, nếu vay thì trả thế nào? Đây là những câu hỏi rất quan trọng với vận mệnh của VINAGAMMA bởi họ thậm chí còn phải hoàn trả Bộ KH&CN 70% kinh phí ban đầu (khoảng 4,7 tỷ) trong vòng 5 năm.      Những quyết tâm xây dựng VINAGAMMA xuất phát từ niềm tin rất giản dị của ban lãnh đạo VINATOM khi muốn thúc đẩy ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân vào phục vụ đời sống xã hội thông qua VINAGAMMA – điều mà họ tin rằng ngành năng lượng nguyên tử có thể làm được.      Vậy phải làm thế nào? Giải pháp “dĩ nhiên là phải đi vay ngân hàng”, câu trả lời bật ra từ ông Trần Khắc Ân, nguyên Giám đốc VINAGAMMA và là một trong những người đầu tiên tham gia thực hiện dự án. Hiện nay, việc vay vốn ngân hàng là chuyện hết sức bình thường nhưng vào cuối những năm 1990, chuyện “dĩ nhiên” ấy lại là một hành động táo bạo. “Người có ý tưởng dám làm là cố PGS. TS Nguyễn Tiến Nguyên (Viện trưởng VINATOM giai đoạn 1993-1998). Như vậy, mọi rủi ro [nếu có] thì người phải chịu là anh Nguyễn Tiến Nguyên và anh Bùi Văn Tuấn, viện phó – người ký các lần vay tiền)”, ông Trần Khắc Ân hồi tưởng lại những quyết tâm xuất phát từ niềm tin rất giản dị của ban lãnh đạo VINATOM khi muốn thúc đẩy ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân vào phục vụ đời sống xã hội thông qua VINAGAMMA – điều mà họ tin rằng ngành năng lượng nguyên tử có thể làm được.  Đi vay là một việc làm táo bạo, nhất là trong bối cảnh Trung tâm chiếu xạ Hà Nội – một cơ sở khác của VINATOM ở ngoài Bắc được thành lập năm 1991, hoạt động còn chưa hiệu quả do không đủ hàng chiếu xạ. Liệu VINAGAMMA có rơi vào hoàn cảnh này? Một vài ý kiến nội bộ không thật sự đồng thuận về tương lai của VINAGAMMA cũng khiến những người lãnh đạo VINATOM phải suy nghĩ. Nhưng nếu không làm lúc này thì còn lúc nào? Việt Nam đang trong giai đoạn mở cửa, nhiều mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là hàng thủy sản, cần được chiếu xạ diệt các vi sinh gây bệnh và kiểm soát lượng vi sinh trong sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn vào những thị trường quốc tế khó tính như Mỹ, châu Âu.  Vậy là VINATOM đã tới Quỹ Hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) vay số tiền 8 tỷ với lãi suất 1,1%/tháng và 3,5 tỷ với lãi suất 0,81%/tháng. “Theo tôi hiểu, vào thời gian đó chỉ có Quỹ Hỗ trợ phát triển với chức năng của nó mới dám cho một viện nghiên cứu vay tiền chứ các ngân hàng thương mại không dám cho vay bởi rủi ro cao, không có tài sản thế chấp và cũng chưa có tiền lệ”, ông Trần Khắc Ân nói.    Ngay từ những ngày đầu hoạt động, cán bộ Trung tâm đã nỗ lực  làm chủ công nghệ và nội địa hóa máy chiếu xạ công nghiệp đa năng nguồn Co-60 SVST-Co60/B mua của Hungary. Nguồn: motthegioi.vn.  Rút cục, VINAGAMMA đã có được những thứ mình cần nhờ những người lãnh đạo VINATOM và phụ trách dự án dám “liều” như vậy. Thiết bị đã được đưa về lắp đặt tại Thủ Đức, TPHCM và một nhóm cán bộ kỹ thuật được cử sang Hungary thực tập trong vòng 1 tháng để nắm toàn bộ quy trình vận hành.    Lúc này, khó khăn mới lại đến: VINAGAMMA phải đối mặt với bài toán tìm thị trường giống như Trung tâm chiếu xạ Hà Nội. “Nếu chỉ trông chờ vào chiếu xạ tiệt trùng các mặt hàng y tế thì chắc chắn là không biết bao giờ mới đủ tiền trả nợ”, ông Trần Khắc Ân – khi đó đã là Giám đốc VINAGAMMA, nhận xét. Để tìm khách hàng cho Trung tâm, ông và một số anh em đã phải tìm mọi cách gõ cửa từng doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhỏ, “thậm chí vét cả tiền mua cái bút ‘xịn xịn’ một chút, gài vào tài liệu gửi họ với mong muốn họ nhớ đến thiện chí của mình”…   “Trước đây khi tôi đến, người ta không muốn tiếp tôi nhưng đến năm 2000 thì tôi nói đùa là họ đến thì tôi cũng không muốn tiếp. Là vì sao? Hàng đã kín rồi, mình tiếp mà không xử lý được hàng của người ta thì chết…”, câu bộc bạch của ông Trần Khắc Ân đã gói gọn quãng thời gian mò mẫm tìm thị trường và thành công đến sớm của VINAGAMMA sau hai năm mở dịch vụ chiếu xạ. Ông tính sơ bộ, tiền đổ vào cái máy chiếu xạ SVST-Co60/B là 25 tỷ, trong đó tiền viện trợ của IAEA là hơn 5 tỷ cho nên “thực chất mình chỉ phải bỏ tiền đầu tư gần 20 tỷ, sau hai năm rưỡi thì VINAGAMMA trả lại Quỹ Hỗ trợ phát triển cả gốc lẫn lãi 15,1 tỷ, trả lại Bộ KH&CN 4,7 tỷ”.   Tự chủ đem lại đột phá  Trải qua vất vả những ngày đầu, VINAGAMMA đã trở thành một trong những đơn vị nghiên cứu triển khai hiệu quả nhất VINATOM qua việc phát triển dịch vụ chiếu xạ hàng hóa xuất khẩu cho các doanh nghiệp phía Nam – điều chứng thực cái “nhìn xa trông rộng” của lãnh đạo VINATOM. Hiệu quả kinh tế đã thấy rõ khi tính trung bình, hiện mỗi năm Trung tâm với 78 cán bộ làm ra được 65 tỷ đồng.  Một bài toán đặt ra cho VINAGAMMA: làm ra tiền “cao gấp 10 lần nhưng đồng lương trả cho anh em không thể cao gấp 10 lần, thật không phải với anh em”, ông Trần Khắc Ân kể. Do cơ chế vận hành của VINAGAMMA vẫn phải theo quy định của Nhà nước nên “vừa nghiên cứu và vừa kinh doanh trong cái áo quá chật”. Vậy tháo gỡ bằng cách nào?  Cái cảm giác “không phải với anh em” đó của lãnh đạo VINAGAMMA chỉ được cởi bỏ khi Nghị định 115 về cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập ngày 5/9/2005 ra đời. Chớp cơ hội này, VINAGAMMA đã bắt tay vào làm đề án chuyển đổi để ngày 1/1/2007 chính thức trở thành “đơn vị 115” đầu tiên của VINATOM. Theo ông Trần Khắc Ân, một trong những hiệu quả đầu tiên của VINAGAMMA  là “anh em không ai còn phải làm thêm ở ngoài nữa mà chỉ tận tâm làm việc ở đây”.      “Ý nghĩa của một cơ quan tự chủ tự chịu trách nhiệm cũng là ở chỗ đấy. Trước đây không ai làm được chuyện như thế cả, Nghị định 115 chính là cách để ‘cởi trói’, cho VINAGAMMA có điều kiện làm việc tốt hơn” (Ông Trần Khắc Ân, nguyên Giám đốc VINAGAMMA).      Tuy nhiên, hiệu quả lớn hơn là VINAGAMMA có quyền tự chủ trong hợp tác liên kết và đầu tư tăng cường năng lực nghiên cứu, mua thiết bị. “Nếu không có 115 thì làm sao tôi có thể đi vay Quỹ Nafosted 5 tỷ và huy động vốn từ anh em gần 5 tỷ để mua nguồn phóng xạ được”, câu nói của ông Trần Khắc Ân gợi lại một câu chuyện cũ của VINAGAMMA năm 2013, khi nguồn phóng xạ của Trung tâm đã giảm nhiều mà nguồn đặt mua ở Ấn Độ chưa về. Vậy là ông quyết định vay Quỹ Nafosted với bảo lãnh của TS. Nguyễn Quân – Bộ trưởng Bộ KH&CN thời kỳ đó, “vào TPHCM họp, anh nói vui ‘ai chứ ông Ân mà vay thì tôi sẵn sàng thế chấp cả nhà tôi’”. Mặt khác, mặc dù cũng mới thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh vốn vay, cho vay để thực hiện nhiệm vụ KH&CN đột xuất, mới phát sinh thì Quỹ NAFOSTED vẫn tin tưởng vào khả năng hoàn vốn của VINAGAMMA. Theo TS. Đỗ Tiến Dũng, giám đốc Quỹ NAFOSTED, nhìn vào chữ tín của Trung tâm, anh biết điều này sẽ đến, dù chuyện cho vay như vậy cũng ẩn chứa rủi ro.    Các cán bộ của VINAGAMMA đã thực hiện nhiều nghiên cứu để xác định được liều chiếu xạ hợp lý, có thể kiểm soát vi sinh và diệt vi sinh gây bệnh trên thực phẩm chiếu xạ. Nguồn: VINAGAMMA.  Đánh giá lại chuyện mạnh dạn vay vốn và có được sự đồng thuận của anh em trong công việc, ông Trần Khắc Ân tâm đắc: “Ý nghĩa của một cơ quan tự chủ tự chịu trách nhiệm cũng là ở chỗ đấy. Trước đây không ai làm được chuyện như thế cả, Nghị định 115 chính là là cách để ‘cởi trói’, cho VINAGAMMA có điều kiện làm việc tốt hơn”.  Thành công của “vụ vay vốn mua nguồn phóng xạ” đã góp phần giúp VINAGAMMA mạnh dạn đề xuất phương án mở rộng năng lực tiếp theo: mua máy gia tốc chùm tia điện tử UELR-10-15S2, kinh phí đầu tư 47,5 tỷ. TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng VINATOM, đánh giá, “việc đưa công nghệ chiếu xạ mới với máy gia tốc chùm tia điện tử là bước đột phá của Trung tâm. Họ dám bước ra khỏi ‘vùng an toàn’ quen thuộc để tiến tới làm chủ một thiết bị có công nghệ cao hơn và khó hơn: máy gia tốc chùm tia điện tử có độ phức tạp cao hơn rất nhiều so với máy chiếu xạ nguồn Co-60 về điện tử điều khiển, điện tử sóng cao tần, kỹ thuật chân không, cơ khí…” Tuy nhiên, cỗ máy mới này có khả năng mở ra khả năng nghiên cứu mới cho cho Trung tâm về xử lý chất thải độc hại như xử lý dioxin, loại bỏ khí SOx và NOx trong khói nhà máy nhiệt điện than, và nghiên cứu vật liệu như chế tạo vật liệu co nhiệt… – những vấn đề rất thiết thực với Việt Nam trong nhiều năm tới.  Mặt khác, là đơn vị tự chủ nên chỉ có mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng các dịch vụ khoa học mới giúp VINAGAMMA đảm bảo doanh thu. Việc đầu tư vào máy gia tốc chùm tia điện tử sẽ giúp VINAGAMMA có một tổ hợp 2 máy, trong đó SVST-Co60/B cũ chiếu xạ các mặt hàng nặng và UELR-10-15S2 thích hợp với hàng có mật độ nhẹ hơn, năng suất xử lý cao gấp 3 lần, đảm bảo tăng doanh thu ít nhất lên gấp 2 lần và đảm bảo chiếu xạ với hiệu suất cao nhất cho mọi loại hàng.  Và thực tế thì họ đã đúng, dự án hoàn vốn chỉ sau 3 năm vận hành và sau 6 năm, doanh thu Trung tâm liên tục gia tăng do máy gia tốc chùm tia điện tử đảm bảo chiếu xạ 62% lượng hàng còn nguồn Co-60 là 38%. “Tính ra VINAGAMMA còn ‘lãi’ về năng lực chuyên môn, cái này không tính được bằng tiền”, ông Nguyễn Thành Cương – giám đốc VINAGAMMA hiện nay, nhận xét. Từng là trưởng phòng Phòng vận hành máy gia tốc chùm tia điện tử những năm trước, ông Cương và anh em đã thực hiện phương án: giao cho cán bộ trẻ nhiệm vụ làm chủ công nghệ mới; xây dựng quy trình vận hành và bảo dưỡng máy, xây dựng tài liệu kỹ thuật với những giải thích cụ thể, chi tiết; giữ mối liên hệ với đơn vị cung cấp máy để họ hỗ trợ đào tạo song song với việc vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị. Do đó, “chỉ sau 6 năm vận hành, các cán bộ trẻ của VINAGAMMA đã làm chủ được công nghệ”, ông Cương cho biết.  Đưa công nghệ bức xạ đến với thị trường  Câu chuyện gây dựng “cơ đồ” của Vinagama trong 20 năm không chỉ gắn liền với những chuyển đổi về cơ chế quản lý của Bộ KH&CN mà còn theo sát những bước chuyển mình của ngành nông nghiệp với các mặt hàng xuất khẩu. Ông Trần Khắc Ân cho biết:“Ngày đầu, phần lớn mặt hàng chúng tôi chiếu xạ là tôm cá, đùi ếch đông lạnh theo khối nhưng sau này, các mặt hàng phong phú dần lên, có nhiều loại sản phẩm chế biến như phi lê cá tra, cá ngừ ngâm dầu, tôm tẩm bột… Để phù hợp với từng loại mặt hàng mới, chúng tôi phải nghiên cứu, tìm hiểu liều bức xạ phù hợp, chế độ chiếu thích hợp. Trước đây ta đã có một số nghiên cứu ở Đà Lạt tập trung vào kéo dài thời gian bảo quản của thực phẩm, tức là diệt nấm mốc, vi sinh gây bệnh nhưng nay mục đích là chiếu xạ để kiểm soát vi sinh và diệt vi sinh gây bệnh”.  Thành công của VINAGAMMA đã đem đến gợi ý cho các doanh nghiệp tư nhân nhập cuộc – những nơi không ngần ngại đầu tư “cả đống tiền” vào thiết bị nhưng lại thiếu kiến thức chiếu xạ. Do đó, họ tìm đến VINAGAMMA để nhờ tư vấn. Tất cả những kinh nghiệm chiếu xạ về chỉ số liều bức xạ các mặt hàng, thời gian chiếu… cũng như những hiểu biết về vận hành thiết bị đều được VINAGAMMA chia sẻ một cách tận tình với các doanh nghiệp tư nhân. Kết quả là nếu năm 1999, ở Việt Nam chỉ có một máy chiếu xạ công nghiệp thì 20 năm sau, đã có 10 máy chiếu xạ, trong đó 8 chiếc thuộc về các doanh nghiệp tư. Khi được hỏi vì sao không sợ cạnh tranh, cả ông Trần Khắc Ân và ông Nguyễn Thành Cương đều cười: không nên ôm khư khư kỹ thuật cho mình, hơn nữa “trung tâm vẫn có thể cạnh tranh bằng chất lượng chiếu xạ, tốc độ xử lý và giá cả vì rất đơn giản là máy đã khấu hao xong từ lâu”, ông Ân lý giải.  Không chỉ là tư vấn, mối quan hệ hợp tác giữa VINAGAMMA và giới doanh nghiệp còn hứa hẹn mở rộng thêm một bước nữa, đó là liên kết sản xuất dược chất phóng xạ để đáp ứng nhu cầu điều trị của người dân tại TPHCM và khu vực lân cận. Trước đây đã có phương án chuyển dược chất phóng xạ từ Hà Nội vào nhưng các dược chất này có chu kỳ bán rã khoảng 105 phút nên việc vận chuyển không khả thi. Theo ông Nguyễn Thành Cương, “dù chuyện hợp tác với công ty Rạng Đông mới chỉ bắt đầu nhưng chúng tôi hi vọng vào khả năng giảm giá thành dược chất phóng xạ trong thời gian tới”.     ***  Giữa những thành công như vậy, VINAGAMMA vẫn còn nhiều suy nghĩ để có thể làm tốt hơn. Sau hơn 10 năm, Nghị định 115 đã trở thành cái áo quá chật và Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập để thay thế Nghị định 115 có những giới hạn về lương bổng khiến VINAGAMMA còn “lấn cấn” nhiều điều, ví dụ như cán bộ của họ không được hưởng phụ cấp nghề nghiệp. “Thế là thế nào? Trong quy định nói là chỉ có những người được hưởng lương từ ngân sách mới được nhận phụ cấp nghề nghiệp. VINAGAMMA là đơn vị tự chủ tự chịu trách nhiệm nhưng vẫn là đơn vị của nhà nước, thực hiện nhiệm vụ của nhà nước giao thì tại sao anh em không được hưởng chế độ này? Tôi nhiều lần kiến nghị lên lãnh đạo Bộ: các anh không cần mất thêm kinh phí từ ngân sách mà chỉ cần cho phép cho anh em được hưởng phụ cấp nghề nghiệp, còn tôi lấy tiền từ dịch vụ cho anh em hưởng chứ có lấy tiền ngân sách đâu. Tuy nhiên cho đến giờ này thì vẫn chưa được…”, ông Ân nói.  Để thoát khỏi suy nghĩ “ông chỉ tốt với nhà nước nhưng xét cho cùng vẫn có lỗi với anh em”, ông Ân và ban lãnh đạo VINAGAMMA đã kiến nghị với Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng về những điều bất cập này ngay trong buổi lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng III và kỷ niệm khánh thành 20 năm máy chiếu xạ vào tháng 11/2018 vừa qua. “Thật may là Thứ trưởng đã ghi nhận những bất cập đó và nói sẽ có những văn bản hướng để tháo gỡ”, ông Nguyễn Thành Cương cho biết.  Rất có thể một số quy định mới về cơ chế tự chủ sẽ tới với các tổ chức KH&CN công lập, và có thể sẽ lại cho VINAGAMMA những cơ hội phát triển mới.¨  —  1. VINAGAMMA hình thành trên cơ sở dự án “Cơ sở chiếu xạ khử trùng TPHCM”do Bộ KH&CN phê duyệt và dự án án hợp tác kỹ thuật VIE/8/010 do IAEA tài trợ.      Trong quá trình làm chủ hai thiết bị chính, các cán bộ của VINAGAMMA luôn tìm nhiều cách cải tiến, nội địa hóa từng chi tiết nhằm đem lại những hiệu quả tốt nhất trong chiếu xạ sản phẩm, đặc biệt là máy chiếu xạ Cobalt 60. Đây là cơ sở để sau này, họ tiến tới lắp đặt hai máy chiếu xạ đầu tiên của Việt Nam mang tên VINAGA1, 2, trong đó chiếc thứ hai mới được bán cho Sở KH&CN Đồng Nai – nơi cũng mong muốn có được thiết bị chiếu xạ cho sản phẩm hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Với những kinh nghiệm đó, họ được Bộ KH&CN giao nhiệm vụ thực hiện dự án Nghị định thư “Lắp đặt hệ đảo hàng và hệ điều khiển máy chiếu xạ nguồn Cobalt-60 của Viện nghiên cứu Thực phẩm La Habana, Cuba”. Nhìn lại, ông Trần Khắc Ân cho rằng, việc cải tiến phần kỹ thuật không khó, “ăn nhau là có ý tưởng và dám làm”.     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vinamit thắng kiện tranh chấp thương hiệu tại Trung Quốc      Ngày 27/12, Công ty CP Vinamit cho biết đã  thắng kiện tại Trung Quốc và giành lại thương hiệu Đức Thành đã đăng ký  tại thị trường này nhưng bị một cá nhân tên Xie Hong Yi chiếm đoạt.    Xie Hong Yi vốn là đại diện nhà phân phối cho Vinamit tại thị trường Trung Quốc, nhưng lén lút đăng ký bảo hộ thương hiệu “Đức Thành”, sử dụng cho sản phẩm thức ăn nhanh làm từ trái cây, trái cây cắt lát, thực phẩm làm từ cá… Phát hiện ra điều này, năm 2011, Vinamit nộp đơn ra tòa yêu cầu thu hồi thương hiệu với lý do “Đức Thành” là tên sản phẩm và cũng là logo thương hiệu của Vinamit đã sử dụng trước.  Theo bản án phúc thẩm của TAND TP.Bắc Kinh (Trung Quốc), Xie Hong Yi và một số công ty liên quan chưa được sự cho phép của Vinamit đã tự ý đăng ký độc quyền cho thương hiệu, vi phạm quy định trong điều 15 của luật Thương mại, đồng thời vi phạm nguyên tắc uy tín trung thực, hình thành hành vi “thủ đoạn bất chính”. Tòa đã ra phán quyết thu hồi thương hiệu “Đức Thành” và trả lại cho Công ty Vinamit.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vincent thương mến!      125 họa sĩ sơn dầu chuyên nghiệp từ khắp nơi trên thế giới đổ về hai studio ở Ba Lan và Hy Lạp để cùng nhau biến một dự án lãng mạn, điên rồ trên giấy thành phim truyện dài – hoạt hình sơn dầu hoàn toàn đầu tiên trên thế giới, Loving Vincent (Vincent thương mến), bất chấp kinh phí làm phim hạn hẹp.      Hơn 100 họa sĩ chuyên nghiệp được tuyển chọn từ khắp nơi trên thế giới đã thực hiện 65.000 bức tranh sơn dầu tuân thủ chặt chẽ thủ pháp của Van Gogh. Từ đây các nhà làm phim đã dựng lại cuộc đời một con người vốn dĩ chỉ còn lại 800 manh mối là tranh và khoảng vài chục lá thư gửi cho người em trai. Trong ảnh: Anna Kluza, một trong những họa sĩ đầu tiên được mời tham gia dự án. Nguồn: cartoonbrew.com  Chuyện về cuộc đời và cái chết của Van Gogh, vừa quá quen nhưng cũng lạ lùng với công chúng số đông và ngay cả với các nghệ sĩ trong giới mỹ thuật. Bắt đầu vẽ từ năm 28 tuổi khi chưa hề qua trường lớp nào, Van Gogh trong giai đoạn cuối đời đang tĩnh dưỡng để chữa trị chứng bệnh tâm lí nặng nề đã một lần cắt tai, một lần tự bắn vào bụng mình rồi chết sau đó ít ngày, để lại 799 bức tranh hoàn toàn không bán được, trừ một bức.  Phim không hẳn đã tuyệt vời vì nhiều điều còn có thể khác đi nhưng như bức tranh độc bản – một lần và vĩnh viễn không bao giờ lặp lại, ngay cả những nét chưa tròn cũng là một lựa chọn làm nên tuyệt tác riêng tư. Thủ pháp kể chuyện cổ điển, dễ xem, dễ hiểu, rất từ tốn, xây dựng lại các manh mối về cuộc đời nhân vật thông qua cái nhìn (điều tra) của một nhân vật khác (mà ở đây là Armand Roulin, một nhân vật có thật trong tranh của ông). Bằng cách ấy, các nhân vật xung quanh (một dạng “nhân chứng”) sẽ cung cấp các dữ kiện – góc nhìn – kiến giải – phỏng đoán… Người xem ban đầu cảm thấy hơi tẻ, nhưng sau khoảng 10-15 phút thì bắt đầu bị cuốn. Nói cách khác, ban đầu chúng ta cũng như anh dẫn chuyện kia, có sự thờ ơ vì mọi sự rõ như ban ngày, nhưng rồi, bồi đắp từ từ, bóng dáng của Vincent Van Gogh hiện lên rõ dần, một khối cảm xúc lớn lên theo đó, và chúng ta bị cuốn vào phim lúc nào không hay. Đến tầm 1/3 phim trở về sau, nhịp kể đã đạt ngưỡng hấp dẫn nhưng vẫn giữ cho phim ở một ranh giới hoàn hảo (dẫu rất mảnh) của cảm giác “thương mến”! Người xem bắt đầu hồi hộp, bắt đầu hoài nghi, bắt đầu chất vấn ngược những giả thiết mà mình đã đọc từ rất lâu ở khắp mọi nơi.  Lựa chọn kể một phiên bản Van Gogh có phần kịch tính và hồi hộp như một phim điều tra theo kiểu trinh thám Agathe Christie, là lựa chọn quá thông minh của hai đạo diễn Dorota Kobiela và Hugh Welchman. Nhưng có lẽ với một phim “hoạt hình” tinh xảo hoàn toàn từ tranh sơn dầu mang phong cách chuẩn Van Gogh, “câu chuyện diễn ra” không phải yếu tố quan trọng nhất mà người xem đã biết trước là phim về cuộc đời Van Gogh – đặc biệt quãng trước khi ông chết. Cái cuốn hút hơn chính là từng khuôn hình làm theo lối 12 hình trên giây bám theo những kiến giải tinh vi về bút pháp trong tranh danh họa – nét đi, nét lại, nét đậm, nét mờ… – tất cả tạo ra một sự gián cách với việc “Phim kể về cái gì? Phim đang diễn tiến ra sao? Đã đến tình huống nào rồi?” Tôi tin, cảm giác này đến với hầu hết khán giả trên toàn thế giới, những người cuồng Van Gogh!  Sự phấn khích khi được xem cuộc đại – tiểu – vi phẫu bút pháp của Van Gogh kéo dài đến tận giữa phim, cách mà các họa sĩ hiểu từng đường đi, từng mạnh nhẹ của nét bút, cũng là cách mà họ sáng tạo nên – phục chế từng khung hình, mà mỗi khung đơn lẻ đều xứng là một bức tranh độc lập – duyên dáng – đáng giá, tất nhiên mang nặng phong cách của Van Gogh, với đầy sự nể vì, ngưỡng mộ và yêu thương!  Loving Vincent là một kho tàng đồ sộ và cực kỳ sáng tạo cho bất cứ ai ngưỡng mộ Van Gogh, bởi vì có lẽ lần đầu tiên, các nhân vật trong tranh – bác sĩ Gachet, thiếu nữ đánh dương cầm, thằng quỷ tóc đỏ, gã Rene, bác sĩ Mazuline, ông bưu tá, cô gái con ông chủ quán rượu, những người ở bến thuyền, thậm chí cả bọn quạ đen trên cánh đồng lúa, đám hoa diên vĩ, hay nhà thờ ngày chủ nhật… tất cả đột nhiên hiện ra, ngời ngời và rõ nét, kẻ u sầu, kẻ phớt đời, kẻ thô lỗ, gã say sưa… Họ ở đó, đúng như từ tranh của Van Gogh bước ra, nói chuyện, cử động, hành xử, phán quyết…, với sức sống do Van Gogh ban cho còn hơn cả nét chấm của Mã Lương trong thần thoại. Họ từng là những người có thật, nhờ đi vào tranh Van Gogh mà trở nên bất tử, và hôm nay, họ lên phim, không phải như một nhân vật trong tranh, mà như những nhân vật độc lập được lí giải qua cái nhìn – trí tưởng tượng của hơn 100 họa sĩ khác. Đó là sự kết nối kì diệu tạo nên màn trình diễn đương đại khổng lồ trong Loving Vincent…    Các diễn viên được chọn lựa sao cho giống nguyên mẫu nhất có thể và từ đó đạo diễn dàn cảnh để họ diễn trong trường quay, trên phông xanh lá, đưa vào máy tính thay đổi thành phông nền vẽ dựa trên các dữ liệu mà tranh Van Gogh cung cấp. Trong ảnh: Hai diễn viên Chris O’Dowd và Douglas Booth trong một cảnh phim. Nguồn: cartoonbrew.com  Tôi vẫn nhớ cả rạp đã ồ lên khi lần đầu tiên cận cảnh bác sĩ Gachet, người đàn ông sầu muộn tóc đỏ bị những ước vọng bủa vây. Vẫn chính là bức tranh đã thôi miên hàng triệu triệu lứa người yêu hội họa, giờ xuất hiện trên phim, chân xác và căng đầy biểu cảm. Trong phim, ông đã rời khỏi dáng nghiêng nghiêng buồn thảm, bắt đầu nói chuyện, sửa cổ áo, bắt đầu cãi vã, bắt đầu rưng rưng… Và khán giả thì rung động tận đáy lòng; lúc ấy cảm giác chẳng khác nào họ đang tham gia vào màn trình diễn bất tận dành cho Vincent Van Gogh – người mà qua bộ phim này, hình như cô độc nhất thế gian!  Yêu thương như tựa phim đã nói: Loving Vincent! Phải rồi, không mến thương không có bộ phim này – bộ phim này là kết quả và bằng chứng của tình yêu thương – bộ phim này nhân danh tình yêu, thứ tình yêu trong trẻo như những giọt lệ rớm trên mi mắt của nàng Margaret Gachet – người thiếu nữ đánh dương cầm đã sống độc thân 44 năm sau khi Van Gogh ra đi. Bức họa thiếu nữ chơi dương cầm mà Van Gogh họa bà luôn được treo trân trọng trong phòng ngủ suốt những năm tháng sau này, có khi cũng là một lời thì thầm Vincent thương mến!  Cầu kỳ nhất, khó tin nhất và lãng mạn nhất  Để tạo ra Loving Vincent, Dorota Kobiela và Hugh Welchman đã lựa chọn phương án cầu kì nhất, khó tin nhất nhưng cũng lãng mạn nhất thế gian. Nghĩa là một dạng sản xuất phim hoạt hình nhưng dựa trên ba nguồn dữ kiện: một là phần hình ảnh đóng diễn của diễn viên người thật; hai là nhân dạng và bối cảnh, màu sắc, không khí đã được quy ước trong 800 bức tranh của Van Gogh; ba là… sự sáng tạo cá nhân dựa trên niêm luật và bút pháp quy chuẩn của Van Gogh!  Các diễn viên được chọn lựa sao cho giống nguyên mẫu nhất có thể và từ đó đạo diễn dàn cảnh để họ diễn trong trường quay, trên phông xanh lá, đưa vào máy tính thay đổi thành phông nền vẽ dựa trên các dữ liệu mà tranh Van Gogh cung cấp, ghi hình lại bình thường, thực hiện cắt dựng rồi các họa sĩ sẽ vẽ từng khung hình sao cho đúng với yêu cầu của kịch bản và đạo diễn. Nhưng như thế chưa đủ, các khung hình này còn là những bức họa rất đặc sắc, hoàn toàn thủ công và cực kì tinh xảo cũng như sáng tạo, được thực hiện bởi hơn 100 họa sĩ chuyên nghiệp. Họ tham gia dự án bằng tình yêu và lòng ngưỡng mộ sâu sắc với Vincent Van Gogh. Chất liệu sơn dầu đã tạo nên một phim hoạt hình độc đáo và không thể lặp lại – hoàn toàn tương xứng với câu chuyện về số phận độc đáo của người nghệ sĩ chưa từng lặp lại: Vincent Van Gogh. Đạo diễn nữ của phim – Dorota Kobiela – vốn là một họa sĩ sơn dầu, nói rằng, chỉ tính riêng phần thời gian thôi, một họa sĩ làm việc liên tục không ăn ngủ cũng phải mất 80 năm để thực hiện xong chừng đó bức sơn dầu!    Loving Vincent do Dorota Kobiela (Ba Lan) và Hugh Welchman (Anh) đạo diễn, dài 94 phút, được chiếu ra mắt tại LHP Hoạt hình quốc tế Annecy, Pháp, hồi tháng Sáu mới đây và được cả khán phòng đứng dậy vỗ tay hoan nghênh 10 phút liền (sau đó, phim đã nhận giải do khán giả bình chọn). Phim được chiếu rộng rãi ở nhiều nước từ tháng Chín, và ở Việt Nam từ đầu tháng 10 này. Nguồn: hollywoodreporter.com  Kinh phí làm phim hết sức hạn hẹp, nếu bạn nhìn thẳng vào quy mô và hiệu quả của dự án này: Năm triệu đô không đủ để có từng đó tài hoa tham gia vào dự án, không đủ để tiến hành một bộ phim theo cách quá nhiều mơ mộng như Loving Vincent. Nhưng cũng chính sự mơ mộng của những nghệ sĩ đã kéo theo sự mơ mộng của những nghệ sĩ khác… Loving Vincent không còn là dự án lãng mạn điên rồ trên giấy. Những họa sĩ tuyệt vời từ khắp nơi trên thế giới đổ về hai studio ở Ba Lan và Hy Lạp, chỉ cần được vẽ, chỉ cần được tái hiện những rung động, những chắt chiu mà Van Gogh đã trải. Bốn năm ròng cho những bức vẽ mà cứ 12 bức mới tạo nên một giây hình. Bốn năm ròng những diễn viên có thật, giọng nói, cơ thể, biểu cảm, thần thái có thật được họa lại trên tranh. Các nhân vật trong tranh bước đi trong khung cảnh mà Van Gogh ghi lại theo cách của riêng ông, giờ đây đã thành thế giới được chia sẻ với tất thảy khán giả.  Bộ phim có lẽ là một minh chứng sống động và… lộ liễu nhất nhưng cũng nhuần nhụy nhất về sự tương hợp giữa kĩ thuật truyền thống và công nghệ hiện đại. Nếu có ở đâu ta nhìn rõ sự giao thoa (đến sờ cầm nắm chạm được) của các ngành nghệ thuật khác với điện ảnh thì chính là ở đây: Loving Vincent, phim truyện dài – hoạt hình sơn dầu hoàn toàn đầu tiên trên thế giới.  Và nhiều khả năng là… duy nhất!    Author                Nguyễn Hoàng Điệp        
__label__tiasang Vingroup và Dofico hợp tác sản xuất, cung ứng nông sản sạch      Chương trình hợp tác về sản xuất và cung ứng nông sản an toàn giữa Tổng công ty Dofico và Tập đoàn Vingroup sẽ đảm bảo đưa ra thị trường những nông sản “sạch từ trang trại đến bàn ăn”.    Ngày 20/7 tại Đồng Nai, Tổng Công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai (Dofico) và Tập đoàn Vingroup đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện. Theo thỏa thuận này, hai bên sẽ cùng hợp tác toàn diện và lâu dài trên các lĩnh vực phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao với quy mô lớn, phân phối tiêu thụ thực phẩm đủ tiêu chuẩn, chuyển giao công nghệ – quy trình – kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP.   Dofico là Tổng công ty Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con đầu tiên của tỉnh, lĩnh vực hoạt động chủ lực là chế biến và đầu tư hạ tầng khu công nông nghiệp… Còn đầu năm 2015, Vingroup công bố gia nhập lĩnh vực nông nghiệp với thương hiệu VinEco nhằm mục tiêu cung cấp nguồn thực phẩm sạch, an toàn, tiến tới đưa một số nông sản thế mạnh Việt Nam ra thế giới.  Qua việc hợp tác, cả hai bên sẽ đem lại cơ hội khai thác tối đa các thế mạnh sẵn có của đối tác: các nông phẩm của Đồng Nai như thịt lợn, thịt gà, thanh long, chôm chôm… do Dofico sản xuất, chế biến đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ được phân phối trên toàn quốc qua kênh phân phối mới là hệ thống siêu thị Vinmart và cửa hàng tiện lợi Vinmart+ mà Vingroup đang sở hữu trên toàn quốc; Vingroup sẽ tận dụng mạng lưới phân phối và các quan hệ hợp tác sẵn có của Dofico, qua đó mở rộng kênh phân phối, đảm bảo đưa nông sản sạch thâm nhập sâu hơn vào thị trường nội địa và quốc tế.   Mặt hàng nông sản sạch mà Vingroup đưa ra thị trường là của VinEco, công ty có tổng vốn điều lệ lên đến 2.000 tỉ đồng. VinEco sẽ triển khai các hoạt động nông nghiệp tại nhiều địa phương với việc áp dụng các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hàng đầu trên thế giới, sản xuất theo mô hình tập trung và khép kín từ nghiên cứu công nghệ giống, trồng trọt, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch đến khâu chế biến, vận chuyển….  Để nhận tư vấn và chuyển nhượng công nghệ, kỹ thuật, giống và thiết bị nông nghiệp, VinEco sẽ làm việc với các đối tác từ các nền nông nghiệp nổi tiếng thế giới như Israel, Nhật Bản, Hà Lan…  Đánh giá về việc liên kết hợp tác này, bà Nguyễn Thị Lệ Hồng, Chủ tịch Hội đồng thành viên – Tổng giám đốc Dofico, cho biết nó sẽ gắn kết chuỗi cung ứng giữa hai bên, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, sẵn sàng cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Còn ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, nhấn mạnh, việc đầu tư vào nông nghiệp tại Đồng Nai thông qua hợp tác với Dofico có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp sạch tại nhiều địa phương trên cả nước của Vingroup, qua đó giúp cung cấp sản phẩm nông nghiệp sạch cho người dân, mang đến cơ hội việc làm cho lao động địa phương và các vùng lân cận.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vĩnh Tiến: Thành công từ đổi mới sáng tạo      Vào mùa tựu trường, phụ huynh học sinh đi mua tập vỡ thường đi tìm tập Vĩnh Tiến. Cầm trên tay cuốn tập có bìa đẹp, giấy tập trắng kẻ ô li nhỏ, giá mềm, ít ai tưởng tượng được một hành trình dài hơn 20 năm Vĩnh Tiến đã chăm chút từng li từng tí mỗi chi tiết làm nên cuốn tập học sinh bé nhỏ và bình dị.    Ông Lương Chí Thanh, Giám đốc bán hàng Công ty Vĩnh Tiến kể về hành trình rất tỉ mỉ của cuộc đổi mới sáng tạo từ cuốn tập học sinh này.     Trước nhất là về nguyên liệu gốc. Dù nhiều sản phẩm có thể chấp nhận giấy tái sinh nhằm tiết kiệm nguyên liệu, bảo vệ môi trường, nhưng tập cho trẻ em phải làm từ nguyên liệu tinh khiết nhất. Vĩnh Tiến luôn chọn bột gỗ nguyên chất làm ra sản phẩm.      Từ quan sát thấy trên thị trường chỉ có các cuốn tập kẻ ô vuông nhỏ, gây khó cho những học sinh mới tập viết chữ không được ngay lối, thẳng hàng, đúng nét, các chuyên gia của Vĩnh Tiến đã cho ra đời sản phẩm tập giấy kẻ từng ô li nhỏ trên giấy.     Lại thấy người tiêu dùng ngày nay có xu hướng chuộng giấy “càng trắng càng tốt”, công ty kết hợp với Trung tâm Mắt của TP.HCM nghiên cứu về độ trắng phù hợp và cả độ giãn của các dòng kẻ . Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất, Vĩnh Tiến giải quyết được mối lo của các chuyên gia về mắt: mắt trẻ con nhìn mãi vào những trang giấy trắng quá, tạo ra độ bóng, chói sáng khiến phải điều tiết mắt nhiều hơn và có thể gây giảm thị lực.      Ngoài chất liệu giấy, độ trắng, hình thức dòng kẻ, Vĩnh Tiến còn nghiên cứu sử dụng mực in gốc nước, loại mực thân thiện hơn với môi trường nếu so với các loại mực dạng bột trước đây.      Về bìa tập, Vĩnh Tiến áp dụng công nghệ phun tia cực tím (UV) có màng POF có khả năng chống bụi bẩn, vi khuẩn, chống xước, và khả năng phân hủy nhanh. Với những vùng sông nước miền Tây Nam Bộ, hay nhiều bão lũ như miền Trung thì bìa tập bằng nhựa PP vẫn tiện dụng hơn để tập không dễ bị thấm ướt nên dùng bền hơn, phù hợp thời tiết các miền. Và ở mỗi trang bìa lót của quyển tập đều có in hướng dẫn cách đặt vở sao cho khi ngồi viết, trẻ không bị cong vẹo cột sống…     Vĩnh Tiến cũng là một trong rất ít những công ty tập vở của VN chú trọng đến việc mua bản quyền những tranh ảnh trên bìa tập, và đã lập phòng thiết kế riêng để tạo ra những hình ảnh sống động, phù hợp với tâm lý trẻ nhỏ.      Sự đổi mới công nghệ với độ am hiểu sâu sắc về kỷ thuật, tâm lý người tiêu dùng đã giúp Vĩnh Tiến luôn có nhiều sản phẩm mới và đạt đến sản lượng 1 triệu quyển tập/ngày với giá cả rất cạnh tranh trên thị trường.      Tiêu chí đổi mới của Vĩnh Tiến chúng tôi là luôn nghiên cứu sâu các khuyến cáo về y tế học đường, để các sản phẩm tập giấy của mình phù hợp với sức khỏe giới học sinh và cộng đồng. Từ đó, công ty luôn nghiên cứu sản phẩm để trẻ em thích ứng, đúng với khuyến cáo của y tế học đường.     Thêm vào đổi mới sáng tạo về công nghệ, để đưa được hàng đến đúng đối tượng, công ty tăng cường khuyến mãi, truyền thông đến các phụ huynh về chất lượng sản phẩm, đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống phân phối, tập trung huấn luyện nhân viên, tăng cường quan hệ với khách hàng. Cuốn tập học sinh mỏng và nhẹ, giá bán cũng là con số nhỏ, nhưng chất chứa trong đó bao tâm huyết và niềm say mê sáng tạo không ngừng của chúng tôi để hôm nay khẳng định mình với khách hàng trong nước, ngày mai phải khẳng định mình với thế giới”    Author                Quản trị        
__label__tiasang VINIF lần đầu tài trợ các dự án trong lĩnh vực Văn hóa – Lịch sử      Qua bốn năm triển khai, lần đầu tiên Quỹ VINIF mở rộng tài trợ các dự án Văn hóa Lịch sử sau thời gian đầu chỉ tài trợ các dự án Khoa học Công nghệ.      PGS. TSKH Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới Sáng tạo Vingroup – chia sẻ về thành quả của các dự án.   Cách đây gần 2 năm, trong một buổi hội thảo nhỏ, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) – đã chia sẻ từ năm 2021, Quỹ dự định triển khai chương trình tài trợ các dự án và hội thảo về văn hóa, lịch sử. Để chuẩn bị cho chương trình này, Quỹ VINIF đã tổ chức buổi hội thảo như một dịp “để các nhà khoa học, nhà văn hóa, nghệ sỹ cùng tham gia thảo luận, trả lời câu hỏi: Làm thế nào để bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử và phát huy văn hóa đọc”, PGS. Hà Dương chia sẻ. Ngay trong năm đó, Quỹ đã mở mới chương trình Lưu giữ các giá trị Văn hóa Lịch sử năm 2021 và tài trợ cho một số dự án văn hóa như “Bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống gắn với du lịch vùng Công viên địa chất non nước Cao Bằng” (Viện Dân tộc học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì), “Kiều tầm nguyên hay Truyện Kiều trong di cảo Hoàng Xuân Hãn” (Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam chủ trì)…  Mới đây, ngày 25/10, tại “Lễ công bố & sơ kết các dự án KH&CN và Văn hóa Lịch sử”, trong gần 90 tỷ đồng tài trợ cho các dự án nghiên cứu khoa học, VINIF đã công bố 5 dự án Văn hóa – Lịch sử và 9 sự kiện mà quỹ lần đầu tài trợ, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau như dự án “Bảo tồn nghi lễ và dân ca nghi lễ của người Dao ở Việt Nam” do Phân hiệu Đại học Thái Nguyên ở tỉnh Lào Cai thực hiện, “Chuông và minh chuông chùa Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến đời Lê (thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII)” do Đại học Phương Đông thực hiện. Nhìn lại những thay đổi sau gần hai năm từ khi Quỹ bắt đầu tiết lộ dự định tài trợ cho các chương trình văn hoá – lịch sử cho đến bây giờ, PGS. Phan Thị Hà Dương cho rằng, đây là một buổi lễ đặc biệt, “không chỉ vì mấy năm qua, chúng ta không thể tổ chức một lễ công bố với đầy đủ các chủ nhiệm dự án, các hiệu trưởng, viện trưởng của các đơn vị chủ trì, mà quan trọng hơn, đây là lần đầu tiên chúng tôi được đón chào các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, các văn nghệ sĩ tham gia chương trình Lưu giữ các giá trị Văn hóa lịch sử”.  Trong đợt mở quỹ này, VINIF vẫn lựa chọn các đề tài KH&CN để tài trợ: từ 150 hồ sơ, thuộc 15 lĩnh vực như Y sinh, Y dược, Vật lý, Vật liệu, Môi trường, Công nghệ thông tin…, các hội đồng xét duyệt 19 dự án, trong đó đáng chú ý như “Thiết kế, tổng hợp và đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn chất tetrazol đa chức năng mới hướng dùng điều trị bệnh Alzheimer” do Trường Đại học Dược Hà Nội chủ trì, “Nghiên cứu phát triển hệ thống tự động hoá quy trình trưởng thành noãn trong ống nghiệm tăng cường trên chip” do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) chủ trì v.v. Đại diện VINIF cho biết, tất cả các dự án nhận tài trợ đều đáp ứng đầy đủ 5 tiêu chí họ đề ra, bao gồm: mức độ cần thiết của đề tài; năng lực nghiên cứu của tác giả; cơ sở vật chất của đơn vị thực hiện; tính sáng tạo, ý nghĩa khoa học; tác động tới kinh tế – xã hội; tính thuyết phục của mục tiêu cũng như giá trị của sản phẩm, dịch vụ.    Ký kết tài trợ dự án “Asen trong lúa gạo Việt Nam: Hiện trạng, dự báo xu hướng trong tương lai và các giải pháp giảm thiểu” do trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) chủ trì.   Bên cạnh việc hỗ trợ tài chính, VINIF sẽ đồng hành cùng đội ngũ nghiên cứu trong việc tiếp cận nguồn lực khoa học, kết nối với mạng lưới chuyên gia tư vấn và truy cập cơ sở dữ liệu lớn từ hệ sinh thái Vingroup. Đặc biệt, một số dự án khoa học định hướng ứng dụng cũng sẽ được VINIF tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để tiếp tục triển khai vào các sản phẩm, giải pháp thực tiễn.  Cũng tại buổi lễ, VINIF đã tiến hành sơ kết các dự án được nhận tài trợ trong ba năm qua. Đến nay, VINIF đã đồng hành cùng 102 dự án KH&CN với tổng kinh phí tài trợ lên đến 530 tỷ đồng. Về Văn hóa – Lịch sử, sau hai năm triển khai, VINIF cũng hỗ trợ gần 8 tỷ đồng để phát triển 8 dự án và 11 sự kiện. Những dự án trên bước đầu đã cho thấy hiệu quả thực tiễn với các sản phẩm đa dạng từ hệ thống, thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu đến công bố khoa học và bằng sở hữu trí tuệ trong nước cũng như quốc tế. Từ quá trình tài trợ này, Quỹ ghi nhận được 430 công bố khoa học tại các tạp chí Q1 và hội thảo quốc tế uy tín  160 sản phẩm dạng phần mềm, cơ sở dữ liệu; 100 sản phẩm dạng máy móc, thiết bị; 100 sản phẩm dạng quy trình công nghệ; 60 nghiên cứu được chấp nhận và cấp bằng sở hữu trí tuệ trong nước và quốc tế, đặc biệt có dự án được thương mại hóa với doanh thu hàng chục tỷ. “Với tên gọi Đổi mới sáng tạo, chính bản thân Quỹ cũng không ngừng sáng tạo, trong thời gian qua, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, chúng tôi đã mở mới chương trình Lưu giữ các giá trị Văn hóa Lịch sử năm 2021. Trong hai năm, Quỹ đã tiếp nhận 51 đơn đăng ký tài trợ dự án, trong đó có 07 dự án và 13 sự kiện được tài trợ, phối hợp với 34 đơn vị tổ chức như các đại sứ quán, viện nghiên cứu, trường đại học, cục lưu trữ, bảo tàng, nghệ sĩ…”, PGS. TSKH Phan Thị Hà Dương nói.  Dù vậy, chị cũng nhấn mạnh VINIF không chạy theo những con số định lượng hay thành tích hình thức. “Việc xét chọn dựa một phần lớn vào năng lực của nhóm nghiên cứu, hơn là vào số lượng chẳng hạn bài báo mà họ cam kết. Vì với kinh nghiệm làm khoa học và quản lý trong nước và tại các đại học quốc tế, chúng tôi hiểu giá trị của một dự án là ở chất lượng công việc, ở những vấn đề mà dự án giải quyết, ở hàm lượng khoa học hay ý nghĩa ứng dụng của kết quả. Với quan niệm đó, các công trình là hệ quả tất yếu của kết quả nghiên cứu chứ không phải là đích đến”.    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Virus Corona có khả năng biến đổi để vô hiệu hóa vaccine hiện nay?      Một nghiên cứu mới về các biến thể SARS-CoV-2 ở Anh và Nam Phi dự đoán rằng, các vaccine hiện tại và một số kháng thể đơn dòng sẽ khó vô hiệu hóa các biến chủng mới làm tăng tỉ lệ tái nhiễm virus.      Ảnh minh họa: Antonio Rodriguez / stock.adobe.com     Nghiên cứu trên, được công bố trên tạp chí Nature vào ngày 8 tháng 3 năm 2021.     Ông David Ho – giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Aaron Diamond AIDS và Clyde’56 – tác giả chính của nghiên cứu cho biết, những dự đoán của nghiên cứu được đưa ra dựa trên những kết quả thử nghiệm đầu tiên với vaccine Novavax. Trước đó, vào ngày 28 tháng 1, Novavax đã báo cáo rằng loại vaccine này có hiệu quả lên tới gần 90% trong các thử nghiệm ở Anh, nhưng đối với các thử nghiệm ở Nam Phi, nơi hầu hết nhiễm biến thể B.1.351 của SARS-CoV-2, thì vaccine chỉ đạt hiệu quả 49.4%.     “Nghiên cứu của chúng tôi và dữ liệu thử nghiệm lâm sàng mới cho thấy virus đang biến đổi để “trốn” các loại vaccine cũng như liệu pháp của chúng tôi đối với gai virus (viral spike)”, ông David Ho và bà Helen Wu – Giáo sư Y khoa tại Đại Columbia cho biết.     “Nếu tình trạng lây lan rộng của virus vẫn tiếp diễn và có thêm nhiều dạng đột biến nghiêm trọng hơn, thì chúng ta buộc phải tiếp tục chạy đua với SARS-CoV-2, như cách đã làm đối với virus cúm trước đây”, Ho nói. “Chúng ta phải ngăn chặn sự lây lan của virus càng sớm càng tốt, bằng cách tăng gấp đôi các biện pháp giảm thiểu lây lan và tăng cường việc triển khai vaccine”. Ngăn chặn sự lây lan của virus sẽ ngăn chặn sự phát triển của các dạng đột biến mới.     Sau khi tiêm chủng, hệ thống miễn dịch sẽ phản ứng và tạo ra các kháng thể có thể vô hiệu hóa virus. Nhưng David Ho và nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng kháng thể trong mẫu máu lấy từ những người được tiêm vaccine Moderna hoặc Pfizer vô hiệu hóa hai biến thể, B.1.1.7, xuất hiện vào tháng 9 năm ngoái ở Anh, và B.1.351, xuất hiện ở Nam Phi vào cuối năm, kém hiệu quả hơn. Đối với biến thể ở Anh, hiệu quả vô hiệu hóa virus giảm khoảng 2 lần, còn với biến thể Nam Phi hiệu quả vô hiệu hóa giảm đến 6,5 – 8,5 lần.     “Dù hiệu quả của vaccine giảm 2 lần đối với biến chủng ở Anh, tuy nhiên nó ít có khả năng gây ra tác động tiêu cực bởi có hoạt động ‘nền’ của kháng thể còn sót lại”, David Ho nhận định, “và chúng tôi thấy điều đó đã được phản ánh trong kết quả nghiên cứu vaccine Novavax đạt hiệu quả 85,6% khi chống lại biến thể virus ở Anh.”     Tuy nhiên, dữ liệu từ nghiên cứu của David về hiệu quả của vaccine đối với biến thể Nam Phi cho thấy có sự suy giảm đáng kể.     Nghiên cứu mới đã không kiểm tra, giám định các biến thể gần đây được phát hiện ở Brazil (B.1.1.28), nhưng do dạng đột biến của các biến thể Brazil và Nam Phi giống nhau, ông David cho rằng biến thể virus ở Brazil sẽ hoạt động tương tự như biến thể Nam Phi.     Nghiên cứu cũng cho thấy một số kháng thể đơn dòng được sử dụng hiện nay để điều trị cho bệnh nhân COVID có thể không có tác dụng chống lại biến thể Nam Phi. Và dựa trên kết quả nghiên cứu huyết tương của những bệnh nhân COVID bị nhiễm trước đó trong đại dịch, biến thể B.1.351 từ Nam Phi có khả năng gây tái nhiễm.     Phân tích toàn diện về các biến thể     Nghiên cứu mới đã tiến hành phân tích sâu rộng về các đột biến trong hai biến thể SARS-CoV-2 so với các nghiên cứu tương tự khác gần đây.     Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã tiến hành kiểm tra tất cả các đột biến trong protein gai của hai biến thể (Vaccine và phương pháp điều trị bằng kháng thể đơn dòng hoạt động bằng cách phát hiện ra protein gai của SARS-CoV-2).     Các nhà nghiên cứu đã tạo ra các virus SARS-CoV-2 giả (pseudoviruses – virus tạo ra protein gai của virus Corona nhưng không thể gây nhiễm bệnh) với 8 đột biến có ở biến thể Anh và 9 đột biến có ở biến thể Nam Phi.     Sau đó, họ thử độ nhạy phản ứng của những virus giả này với các kháng thể đơn dòng, huyết thanh hồi phục từ những bệnh nhân đã bị nhiễm trước đó và huyết thanh từ những bệnh nhân đã được tiêm vaccine Moderna hoặc Pfizer.     Đối với biến thể ở Anh, hầu hết các kháng thể vẫn còn mạnh. Tuy nhiên, đối với biến thể Nam Phi, hoạt động của bốn kháng thể đã hoàn toàn tê liệt hoặc yếu đi rõ rệt. Những kháng thể đó bao gồm bamlanivimab (LY-CoV555, được phê duyệt để sử dụng ở Hoa Kỳ) hoàn toàn không chống lại được biến thể Nam Phi và casirivimab, một trong hai kháng thể trong kháng thể tổng hợp đã được phê duyệt (REGN-COV) kém hiệu quả hơn đến 58 lần khi đối chọi với biến thể Nam Phi so với virus ban đầu. Kháng thể thứ hai trong loại kháng thể tổng hợp, imdevimab, vẫn giữ được khả năng chống chọi của nó như loại kháng thể tổng hợp hoàn chỉnh.     David cho biết: “Quyết định về việc có sử dụng các phương pháp điều trị này hay không còn phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ lây lan tại địa phương của các biến thể Nam Phi và Brazil. Hãy luôn đề cao tầm quan trọng của việc kiểm tra bộ gen của virus và chủ động phát triển các phương pháp điều trị bằng kháng thể thế hệ mới”.     Kết luận tái nhiễm     Huyết thanh của hầu hết các bệnh nhân COVID đã khỏi bệnh trước đây có hiệu quả thấp hơn 11 lần khi gặp biến thể Nam Phi và thấp hơn 4 lần đối với biến thể Anh.     “Điều đáng lo ngại lúc này là khả năng tái nhiễm sẽ cao hơn nếu một người mắc phải những biến thể này, đặc biệt là biến thể Nam Phi”, David nói.     Nguyễn Nam dịch     Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2021/03/210308131712.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang VISSAN: Đầu tư triệu đô xây nhà máy hiện đại      Những đầu tư cho các hoạt động đổi mới sáng  tạo về nâng cao công nghệ và xây dựng hệ thống phân phối đã đưa công ty  TNHH MTV Việt Nam kỹ nghệ súc sản (Vissan) từ một doanh nghiệp bên bờ  phá sản trở thành đơn vị dẫn đầu ngành chế biến thực phẩm Việt Nam.    Khởi nguồn của các hoạt động đổi mới sáng tạo ở Vissan đều từ tổng giám đốc Văn Đức Mười, người không ngừng học hỏi trong suốt quá trình làm việc tại công ty, dù ở cương vị nào. Ông Văn Đức Mười đã theo học ĐH Kinh tế T.PHCM hệ tại chức, tự trau đồi vốn ngoại ngữ và tham gia nhiều khóa học ngắn hạn về kinh doanh tại Thụy Sỹ trước khi bước lên cương vị điều hành công ty.   Trong quá trình điều hành Vissan, ông Văn Đức Mười nhận định: “Chúng tôi ý thức rằng để phát triển bền vững luôn luôn phải đổi mới, có sự cải cách mạnh mẽ, tập trung nguồn lực để đầu tư nâng tầm thương hiệu Vissan”. Và để hoạt động đổi mới sáng tạo đạt hiệu quả cao, theo ông Mười “đòi hỏi lãnh đạo bộ máy phải đổi mới trước”.   Nâng cao chất lượng nhà máy chế biến  Xác định giá trị cốt lõi là cung ứng cho thị trường những mặt hàng thực phẩm tươi sống và chế biến đạt chất lượng an toàn thực phẩm và giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, Vissan đã mạnh dạn đổi mới công nghệ với chiến dịch “sạch từ trang trại đến bàn ăn”.   Để thực hiện được chiến dịch này, trước hết Vissan xây dựng khu tồn trữ gia súc đủ sức chứa một vạn con lợn và bốn nghìn con bò, tránh hiện tượng “đứt” nguồn cung cấp và rơi vào thế bị động trong sản xuất. Bên cạnh đó, Vissan còn thành lập xí nghiệp chăn nuôi Gò Sao (TP.HCM) được trang bị kỹ thuật hiện đại có khả năng xuất xưởng 2.500 lợn nái giống và 40.000 lợn thịt hàng năm.   Sau đó, Vissan nhập ba dây chuyền giết mổ lợn đạt công suất 2.400 con/ca và hai dây chuyền giết mổ bò công suất 300 con/ca. Nhằm đảm bảo giữ nguyên liệu và thành phẩm ở mức tốt nhất, Vissan đã xây dựng hệ thống kho lạnh với cấp độ khác nhau, có sức chứa trên 2000 tấn hàng.  Với mục đích đa dạng hóa sản phẩm, Vissan đã tự trang bị cho mình hệ thống dây chuyền sản xuất chế biến thịt nguội nhập từ Pháp và Tây Ban Nha với công suất 5.000 tấn/năm, hệ thống chuyên sản xuất xúc xích tiệt trùng theo thiết bị, công nghệ nhập khẩu từ Nhật Bản với công suất 10.000 tấn/năm, hệ thống dây chuyền sản xuất chế biến đồ hộp với công suất 5.000 tấn/năm theo thiết bị và công nghệ châu Âu.  Đầu tư nâng cấp hệ thống phân phối  Sau khi bị gián đoạn việc xuất khẩu ở thị trường Đông Âu, Vissan đã chuyển hướng phát triển kênh bán lẻ, chinh phục trở lại thị trường nội địa. Ngoài thị trường miền nam, Vissan còn mở rộng ra cả miền trung và miền bắc, chính thức đánh dấu nhận diện thương hiệu trên phạm vi cả nước.  Tránh hiện tượng hàng ứ đọng tồn kho và sản phẩm không đến được với người tiêu dùng, Vissan đã tập trung xây dựng, mở rộng hệ thống phân phối trên phạm vi toàn quốc. Riêng trong năm 2012, Vissan đã đầu tư 100 tỷ đồng nâng cấp hệ thống phân phối để giới thiệu sản phẩm. Ngoài mục đích này, Vissan còn mong muốn tiếp nhận những phản hồi của người tiêu dùng và để giúp công ty dưa ra những chính sách, chiến lược phù hợp với yêu cầu, đón đầu xu thế thị trường…  Qua đợt đầu tư quyết liệt này, Vissan đã tái cấu trúc chính sách kinh doanh, tỷ lệ lợi nhuận với các nhà phân phối và đại lý, chuyển đổi 1.000 đại lý thành 100 nhà phân phối. Song song với đó, Vissan còn dành 100 tỷ đồng nâng cấp, huấn luyện nhân lực để hỗ trợ các nhà phân phối chào hàng. Những “cánh tay nối dài” của Vissan đã góp phần vào việc xác định sức sản xuất của các nhà máy trực thuộc công ty và quá trình cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm.   Dự án triệu đô cho cụm công nghiệp  Những thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường đã đem lại lợi nhuận hàng nghì tỷ đồng mỗi năm cho Vissan. Trong năm 2012, tổng doanh thu của công ty đạt 4.320 tỷ đồng, lợi nhuận 150 tỷ đồng và nộp ngân sách 250 tỷ đồng.  Từ thành công này, Vissan đã lập kế hoạch mở rộng sản xuất với dự án Cụm công nghiệp Chế biến thực phẩm Vissan trên diện tích 22,4 ha tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An, cụm công nghiệp đầu tiên có quy mô lớn về chế biến thực phẩm của Việt Nam. Dự kiến tổng mức đầu tư hoàn chỉnh cho cụm công nghiệp là 150 triệu USD; riêng giai đoạn năm 2011- 2015 là 100 triệu USD.   Theo dự án này, cụm công nghiệp sẽ gồm nhà máy giết mổ lợn, công suất 360 con/giờ; nhà máy giết mổ bò, công suất 60 con/giờ; nhà máy giết mổ gia cầm, công suất 2.000 con/giờ; nhà máy chế biến thực phẩm với tổng công suất 75.000 tấn/năm; hệ thống cấp đông, trữ đông và trạm xử lý nước thải.   Toàn bộ các nhà máy đều được xây dựng khép kín liên hoàn, kết nối chặt chẽ các khâu giết mổ đến chế biến cũng như các khâu phụ trợ như đóng gói, sản xuất bao bì thực phẩm, chế biến gia vị cùng nhiều hệ thống cơ sở hạ tầng đi kèm.  Trong giai đoạn hai, từ năm 2015 đến năm 2020 sẽ triển khai xây dựng thêm nhà máy chế biến các sản phẩm từ phó sản động vật, mở rộng ngành hàng thực phẩm cao cấp có giá trị gia tăng cao. Cụm công nghiệp này sẽ đủ khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế như ISO, HACCP… về an toàn vệ sinh thực phẩm.   Doanh thu từ cụm công nghiệp này dự kiến sẽ đạt 15.000 tỉ đồng vào năm 2020 và 25.000 tỉ đồng năm 2025.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vitamin tổng hợp có thể giúp cải thiện chức năng não ở người lớn tuổi      Đây là nghiên cứu dài hạn với quy mô lớn đầu tiên cho thấy việc bổ sung các loại vitamin và khoáng chất cho người lớn tuổi có thể làm chậm quá trình lão hóa nhận thức.      Một nghiên cứu mới cho thấy việc bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất hằng ngày giúp cải thiện chức năng não, đặc biệt là ở những người già có tiền sử bệnh tim mạch. Ảnh: Carol Heesen / Alamy  Thử nghiệm cho thấy vitamin và khoáng chất có thể làm chậm quá trình suy giảm nhận thức ở người trên 65 tuổi, nhưng các chuyên gia về bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ cho biết cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu lớn hơn để xác nhận kết quả này.  Trong bối cảnh già hoá dân số đang là câu chuyện chung của các quốc gia, chứng sa sút trí tuệ đã trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng toàn cầu, nhưng không có loại thuốc nào có thể chữa dứt điểm chứng bệnh này. Ở Anh, hiện có khoảng 850.000 người sống chung với chứng sa sút trí tuệ, phần lớn trong số đó mắc bệnh Alzheimer hoặc sa sút trí tuệ não mạch. Những người trên 65 tuổi, bị tiểu đường, huyết áp cao, cholesterol cao và trầm cảm, có nhiều nguy cơ mắc bệnh nhất.  Các nhà nghiên cứu tại Đại học Wake Forest ở Bắc Carolina, Bệnh viện Brigham và Phụ nữ (BWH) ở Boston đã cùng nhau xem xét liệu việc bổ sung chiết xuất cacao hoặc vitamin tổng hợp với khoáng chất mỗi ngày có giúp cải thiện trí nhớ và nhận thức của người già hay không. Họ đã tiến hành một thử nghiệm kéo dài 3 năm với 2.262 người từ 65 tuổi trở lên. Trước và trong khi diễn ra thử nghiệm, tình nguyện viên sẽ phải thực hiện các bài kiểm tra về từ vựng, tính toán, mức độ trôi chảy của lời nói và khả năng nhớ lại câu chuyện.  Chiết xuất cacao rất giàu flavanols – một chất được chứng minh là có ích cho chức năng não. Nhưng thử nghiệm cho thấy việc bổ sung cacao hằng ngày không mang lại lợi ích gì đối với nhận thức của người cao tuổi. Ngược lại, việc bổ sung các loại vitamin và khoáng chất hằng ngày giúp cải thiện khả năng nhận thức, đặc biệt là đối với những người mắc bệnh tim mạch, một yếu tố nguy cơ của chứng sa sút trí tuệ.  “Chúng tôi tiến hành một thử nghiệm dài hạn, có đối chứng ngẫu nhiên, gồm phụ nữ và đàn ông lớn tuổi, nhằm chứng minh rằng việc sử dụng hằng ngày các loại vitamin và khoáng chất an toàn, chi phí thấp có thể giúp cải thiện khả năng nhận thức,” các nhà nghiên cứu viết trên Tạp chí của Hiệp hội Bệnh Alzheimer. Kết quả cho thấy các loại thực phẩm chức năng trên có thể làm chậm khoảng 60% quá trình suy giảm nhận thức – hoặc gần hai năm. Nhóm nghiên cứu ghi nhận tác động tích cực nhất ở những người già có tiền sử bệnh tim mạch.  Tuy nhiên Giáo sư Laura Baker, tác giả liên hệ của bài báo, thừa nhận rằng nhóm cần tiến hành thêm các nghiên cứu lớn hơn để kiểm chứng trước khi đưa ra khuyến nghị nên dùng vitamin tổng hợp hằng ngày để giảm thiểu mức độ suy giảm nhận thức. “Mặc dù đây là những phát hiện đầy hứa hẹn, nhưng vẫn cần thêm các nghiên cứu bổ sung trong một nhóm người lớn hơn và đa dạng hơn. Ngoài ra, chúng tôi cũng cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn lý do tại sao vitamin tổng hợp lại có lợi cho khả năng nhận thức của người lớn tuổi,” cô nói.  Giáo sư Tara Spiers-Jones, trưởng nhóm tại Viện Nghiên cứu Sa sút trí tuệ tại Đại học Edinburgh, nhận xét đây là một nghiên cứu tốt, nhưng vẫn cần lưu ý thêm rằng hầu hết những người tham gia đều là người da trắng có trình độ học vấn cao. Bên cạnh đó, “nghiên cứu này cũng không nêu rõ liệu việc sử dụng vitamin tổng hợp có giúp ngăn ngừa được các bệnh ảnh hưởng đến nhận thức như bệnh Alzheimer hay không.”  Tiến sĩ Maria Carrillo, giám đốc khoa học tại Hiệp hội Alzheimer, cho biết đây là “nghiên cứu dài hạn với quy mô lớn đầu tiên cho thấy việc bổ sung các loại vitamin và khoáng chất cho người lớn tuổi có thể làm chậm quá trình lão hóa nhận thức. Dù Hiệp hội Bệnh Alzheimer rất vui trước những kết quả này, chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng khuyến nghị người dân nên bổ sung vitamin để giảm nguy cơ suy giảm nhận thức ở người lớn tuổi”.  Bà mong đợi trong thời gian tới sẽ có các nghiên cứu độc lập kiểm chứng kết quả trong một quần thể lớn và đa dạng hơn. “Quan trọng là các phương pháp điều trị và phòng ngừa bệnh trong tương lai phải có hiệu quả trên tất cả các chủng tộc người trên toàn thế giới.”  Hà Trang dịch  Nguồn:  Daily multi-vitamins may improve brain function in older people – US study    Author                .        
__label__tiasang Viviane Slon: Người phát hiện con lai giữa Neanderthal và Denisovan      Viviane Slon và các đồng nghiệp đã phải sàng lọc ADN của hơn 2.300 mảnh xương không xác định để tìm ra Denny – con lai đầu tiên giữa hai chủng người cổ đại Neanderthal và Denisovan được phát hiện cho đến nay.      Nhà cổ nhân học Viviane Slon.  Trước đây, bằng việc phân tích các mô hình biến đổi di truyền ở con người cổ đại và hiện đại, các nhà khoa học đã biết rằng hai chủng người cổ đại Denisova và người Neanderthal có lai tạo với nhau và với cả Homo sapiens nhưng chưa từng phát hiện ra con cái thế hệ đầu tiên từ những cuộc hôn phối này. Phải tới năm 2018, các nhà khoa học mới giải trình tự gene của con lai đầu tiên được biết tới giữa hai chủng Neanderthal và Denisovan. Nhà cổ nhân học Viviane Slon ở Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, một trong những nhà khoa học tham gia nghiên cứu này đã xuất hiện trong danh sách 10 nhà khoa học của năm do Nature bình chọn.  Ba năm trước, Viviane Slon chắc chắn rằng hẳn cô đã mắc sai sót, khi xét nghiệm DNA trên một mảnh xương cổ và phát hiện thấy có dấu hiệu lai giữa Neanderthal và Denisovan – mảnh xương đó có một nửa bộ gene của người Neanderthal và một nửa của người Denisovan.  “Trong nhận thức của tôi, không thể có điều đó”, Slon nói. Slon đã không nói với ai về kết quả này trong vài ngày vì luôn tự vấn rằng liệu có phải mình đã mắc sai sót khi xét nghiệm.  Khi kiểm tra lại và không thấy có sai sót nào, cô đã trao đổi với các đồng nghiệp của mình và bắt đầu cân nhắc ý nghĩa của kết quả xét nghiệm. Các xét nghiệm sâu hơn đã xác định rằng mảnh xương đó thuộc về một thiếu niên – đã được nhóm nghiên cứu đặt tên một cách trìu mến là Denny – là con gái của một người phụ nữ Neanderthal và một người đàn ông Denisovan sống cách đây khoảng 90.000 năm.  Bộ gene này đã chỉ ra một cách rõ ràng về mối quan hệ phối ngẫu giữa hai chủng người cổ đại này. Báo cáo nghiên cứu đã ngay lập tức gây tiếng vang trong giới khoa học và công chúng khi được công bố vào tháng Tám năm 2018, là chủ đề của hàng trăm bài báo và hàng ngàn lượt tweet.  Quan điểm của Slon rất độc đáo, Hershkovitz, nhà cổ nhân học người Israel làm việc tại Đại học Tel Aviv, Israel cho biết. Ông theo dõi một số nghiên cứu của Slon, trải từ khảo cổ học, nhân chủng học, bệnh lý và giải phẫu học, thậm chí cô ấy còn tự mình bổ sung kiến thức bằng cách làm việc cả ở phòng thí nghiệm giải phẫu tử thi. Cô không chỉ quan tâm tới bộ gene của người Neanderthal mà cả các vấn đề về sinh lý học, giải phẫu học.  Slon cho biết, cô quan tâm đến việc sử dụng di truyền học và các phương pháp khoa học khác để nghiên cứu về thời tiền sử bởi vì không có ghi chép lại bằng văn bản ở giai đoạn này. “Tất cả những gì bạn có thể suy luận là từ những gì con người thời đó để lại. Nó giống như là giải đố vậy”, Slon nói.  Hầu hết các nghiên cứu cổ nhân học của Slon đều tập trung xung quanh những di vật còn sót lại ở hang Denisovan, một hang động rộng lớn ở miền nam Siberi với chủ nhân là người Denisovan. Dự án nghiên cứu đầu tiên từ những di cốt ở hang này của Slon là sắp xếp chuỗi ADN của một chiếc răng của một người thứ tư được tìm thấy ở hang này. Cô cũng đã dẫn dắt một nhóm nghiên cứu tìm kiếm ADN của người Denisova từ trong đất khai quật. Slon và các đồng nghiệp đã phải sàng lọc hơn 2.300 mảnh xương không xác định để tìm ra Denny.  Slon vẫn đang tiếp tục nghiên cứu di vật từ hang Denisova cũng như tiếp tục nghiên cứu để tìm kiếm trích xuất ADN của tông người từ các mẫu trầm tích. Cô không hi vọng sẽ tìm thấy một phát hiện đột phá như việc tìm thấy Denny vừa qua nhưng rất muốn sắp xếp các bộ gene cổ đại, để tìm kiếm mối tương tác, liên quan của người cổ đại, ví dụ như mối quan hệ thân tộc của người cổ đại, hoặc là điều kiện sống thời đó đã tác động tới sức khỏe của họ như thế nào. Cô cũng hi vọng sẽ nghiên cứu được đời sống của tông người ở những địa điểm ngoài lục địa Á – Âu. “Đó là cả một thế giới cần khám phá”, Slon nói.  Bảo Như dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang VN có thể hưởng gì từ gói Bali “nghìn tỷ USD” của WTO?      Ông Trần Bá Cường, Hàm Trưởng phòng WTO, Vụ  Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) cho biết tới thời điểm  này, mức độ hưởng lợi riêng từ Gói thương mại và phát triển của cam kết  Bali vẫn “chưa rõ ràng” đối với Việt Nam.    Vào tháng 12/2013, Tổ chức Thương mại thế giới WTO đã đạt được thỏa thuận đầu tiên, gói cam kết Bali sau 12 năm đàm phán trong Vòng Doha (DDA).  “Gói Bali” gồm cấu thành gồm Hiệp định thuận lợi hóa thương mại (TF); Gói cam kết nông nghiêp và Gói thương mại và phát triển; trong đó trọng tâm là Hiệp định thuận lợi hóa thương mại với mục tiêu xây dựng bộ quy tắc thống nhất, đơn giản hơn về thủ tục thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.  Theo đánh giá của WTO, Gói cam kết Bali sẽ tạo ra 1.250 tỷ USD mỗi năm nhờ giảm chi phí và tăng hiệu quả thương mại, đồng thời tạo ra khoảng 21 triệu việc làm và mở ra cơ hội tiếp cận thị trưởng nông sản mới ở các thị trưởng phát triển…  Tuy nhiên, tại hội thảo “Gói cam kết Bali, cơ hội và thách thức với Việt Nam” ngày 28/7, ông Trần Bá Cường, Hàm Trưởng phòng WTO, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) cho biết tới thời điểm này, mức độ hưởng lợi riêng từ Gói thương mại và phát triển của cam kết Bali vẫn “chưa rõ ràng” đối với Việt Nam.  Giải thích thêm ý ông Cường, ông Ngô Chung Khánh, Phó vụ trưởng, Vụ chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) cho biết thực tế Việt Nam sẽ đối diện với thách thức nhiều hơn thuận lợi.  Ông Khánh dẫn chứng, gói cam kết này mở ra các cơ hội xuất khẩu cho các nước đang và kém phát triển nhờ việc cải thiện hệ thống hạn ngạch thuế quan.  Đặc biệt, các nước kém phát triển (LDCs) sẽ có điều kiện tốt hơn để khai thác ưu đãi thuế quan theo các chương trình miễn giảm thuế và hạn ngạch của các nước phát triển nhờ quy tắc xuất xứ thuận lợi hơn.  “Nếu trong trường hợp chúng ta cũng có mặt hàng cạnh tranh với các nước kém phát triển khi xuất khẩu vào các thị trường lớn thì chúng ta sẽ chịu thiệt thòi hơn vì họ không phải chịu thuế, hạn ngạch”, ông Khánh nói.  Trong khi đó, bà Phạm Thị Hồng Hạnh, Trưởng phòng Hợp tác kinh tế Quốc tế, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng cho biết:  “Còn quá sớm nên chúng tôi cũng chưa dự báo hay thống kê được tác động hưởng lợi từ Gói nông nghiệp trong cam kết Bali đối với Việt Nam”.  Bà Hạnh nói, kỳ vọng gói cam kết nông nghiệp nhằm hỗ trợ người nghèo, nông dân ứng phó với các nguy cơ về an ninh lương thực cùng với đó cải thiện hơn nữa khả năng tiếp cận thị trưởng của các nông sản xuất khẩu…  Tuy nhiên, trong quá trình tham gia, Việt Nam sẽ gặp phải nhiều khó khăn thách thức, trong đó nổi cộm nhất là vấn đề rào cản kỹ thuật.  “Với nông sản, thuế không phải là vấn đề quá lớn, mà đó là tiêu chuẩn kỹ thuật nhất là đối với một nước công nghệ còn lạc hậu như Việt Nam”, bà Hạnh nhấn mạnh.  Theo vị này thì “rào cản kỹ thuật không chỉ là vấn đề các nước khác áp dụng với Việt Nam mà ngay chính bản thân nước ta khi áp dụng đối với các sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam”.  Cũng tại hội thảo, bà Hạnh cho biết, hiện 55% xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc. Khi thị trường này gặp khó khăn sẽ kéo theo khó khăn cho đầu ra nông sản Việt Nam.  Vì vậy, khi vấn đề đa dạng hóa thị trường đang đặt ra cấp bách thì bà Hạnh hy vọng Gói nông nghiệp trong cam kết Bali sẽ tác động tích cực cho nông sản Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang VN tiến năm bậc trong xếp hạng cạnh tranh toàn cầu      Thăng năm hạng, Việt Nam đã lấy lại được một nửa số bậc bị mất trong xếp hạng năm ngoái…    Trong báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (Global Competitiveness Index – GCI) vừa được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 70, thăng năm hạng so với năm ngoái.  Tuy thăng năm hạng, nhưng Việt Nam vẫn bị đánh giá là có năng lực cạnh tranh kém hơn so với nhiều quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á được xếp hạng, như Singapore (vị trí số 2), Malaysia (24), Brunei (26), Thái Lan (37), Indonesia (38) và Philippines (59). Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á có xếp hạng sau Việt Nam là Lào (81), Campuchia (88) và Myanmar (139).  “Tiến bộ này có được chủ yếu là kết quả của sự cải thiện trong xếp hạng môi trường kinh tế vĩ mô (hạng 87, tăng 19 bậc)… cũng như sự cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng, dù còn ở mức thấp (hạng 82, tăng 13 bậc)”, WEF đánh giá.  Tổ chức này cũng nêu rõ, Việt Nam đã đạt tiến bộ về hiệu quả thị trường hàng hóa (hạng 74, tăng 17 bậc). Tuy nhiên, theo WEF, nền móng của nền kinh tế Việt Nam còn yếu, trong đó Việt Nam bị tụt hạng ở một số yếu tố đánh giá như hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ…  Trên cơ sở GDP bình quân đầu người, báo cáo của WEF cũng phân loại các quốc gia và vùng lãnh thổ vào ba giai đoạn phát triển bao gồm tăng trưởng dựa vào nguồn lực như lao động hay tài nguyên thiên nhiên, tăng trưởng dựa vào hiệu suất sản xuất, và tăng trưởng dựa vào công nghệ đột phá. Trong đó, Việt Nam được xếp ở giai đoạn đầu tiên.  GCI được WEF công bố từ năm 1979, dựa trên 70% dữ liệu khảo sát từ các doanh nghiệp tư nhân trên thế giới, 30% dữ liệu từ thống kê. Có 141 tiêu chí được sử dụng để thực hiện đánh giá các quốc gia và vùng lãnh thổ.  Nhóm năm nền kinh tế dẫn đầu về năng lực cạnh tranh toàn cầu theo WEF xếp hạng năm nay là Thụy Sỹ, Singapore, Phần Lan, Đức và Mỹ. Nhóm 5 nước “đội sổ” tính từ dưới lên là Chad, Guinea, Burundi, Yemen và Sierra Leone.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vô địch Startup World Cup 2019, Abivin giành 1 triệu USD đầu tư      Ngày 17/05 (theo giờ Mỹ), Abivin – startup cung cấp phần mềm quản lý chuỗi cung ứng tối ưu vận tải, đại diện của Việt Nam thắng cuộc từ Techfest Vietnam 2018, đã vinh dự vượt qua hơn 40 quốc gia trên thế giới để trở thành quán quân của Startup World Cup (San Francisco) giành giải thưởng 1,000,000 USD đầu tư.      Abivin chiến thắng giải thưởng 1,000,000 USD tại Startup World Cup. Ảnh: Văn phòng đề án 844.  Abivin là quán quân tại Cuộc thi thuộc Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia – Techfest Vietnam 2018 và được Bộ Khoa học và Công nghệ kết nối trở thành đại diện của Việt Nam tham dự Startup World Cup tranh tài cùng các doanh nghiệp từ hơn 40 quốc gia trên thế giới như Nhật, Mỹ, Canada, Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc,…..  Abivin sở hữu sản phẩm Abivin vRoute – phần mềm sử dụng thuật toán độc quyền tối ưu hóa tuyến đường, trí tuệ nhân tạo, quản lý tồn kho, theo dõi trong thời gian thực, phân tích dữ liệu, quản lý vận tải toàn diện, Abivin giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được 40% chi phí nhân công và xăng dầu; tăng 30% khả năng giao hàng. Đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và số hóa quy trình vận chuyển. Mọi chỉ số giao hàng quan trọng như số đơn hàng, quãng đường, mức độ giao hàng thành công, tỷ lệ phân phối công việc của các tài xế, đều được lưu lại tự động, giúp việc giao hàng được quản lý chặt chẽ, dịch vụ khách hàng cũng được cải thiện. Phần mềm bao gồm ứng dụng web cho người giám sát và ứng dụng trên điện thoại di động cho người giao hàng. Hiện nay, Abivin có nhiều khách hàng tin dùng như P&G, Habeco, Mesa Group,…  Trước đó, Abivin đã được đào tạo và trưởng thành thông qua Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Giai đoạn 2 (IPP2) vận hành bởi Bộ Khoa học và Công nghệ, sau đó là tham gia hàng loạt các chương trình như Shark Tank Việt Nam, Techfest Vietnam 2018 và được kết nối để với các chương trình quốc tế như giải thưởng Rice Bowl Startup Awards và mới đây nhất là Startup World Cup 2019, Abivin vinh dự đưa khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam lên bản đồ của thế giới, khẳng định những sự thay đổi về chất của khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam.  Chia sẻ về những yếu tố thành công của Abivin, anh Phạm Nam Long – sáng lập Abivin cho biết 03 yếu tố cốt lõi là: tìm được vấn đề trong thị trường logistics thời điểm đó và lựa chọn giải quyết bằng sản phẩm công nghệ sử dụng trí tuệ nhân tạo; sự đồng lòng của các nhân sự của Abivin từ những ngày đầu dù công ty khởi nghiệp còn nhiều khó khăn về danh tiếng, khách hàng, sản phẩm; và những hỗ trợ từ phía Chính phủ, mà đặc biệt là Bộ Khoa học và Công nghệ với chương trình IPP, Đề án 844 đã giới thiệu các chuyên gia, cố vấn, đứng ra chủ trì tổ chức các chương trình và kết nối Abivin với hệ sinh thái khởi nghiệp trong nước và quốc tế. “Việc chúng ta có tầm nhìn quốc tế ngay từ đầu sẽ giúp cho startup với sản phẩm sáng tạo có được năng lực cạnh tranh quốc tế cao.” – anh Long nói.  Nguồn tin: Văn phòng Đề án 844    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vỏ hộp “xanh” của Dell, Coca-cola và Carlsberg      Để sản xuất vỏ hộp, vỏ chai, Dell sử dụng tre và nấm, Coca-cola sử dụng vỏ cây, vỏ hoa quả trong khi Carlsberg bảo hành vỏ chai của mình mãi mãi.    Vỏ hộp thường có quãng thời gian sử dụng ngắn là lí do mà các công ty phải xem xét việc sử dụng chế phẩm sinh học để sản xuất nhằm giảm thiểu lượng rác không thể tái chế thải ra môi trường. Cùng lúc đó, họ vẫn phải đảm bảo chất liệu tối ưu để đựng và bảo vệ sản phẩm của mình.   Hộp đựng bằng nhựa, với ưu điểm dễ thấy là nhẹ nhưng với những trường hợp có thể tái chế, những công ty chuyên làm nhiệm vụ này sẽ phải chật vật để tái sản xuất một số lượng cực lớn rác thải mà chất lượng giảm dần sau mỗi lần tái chế.  Một trong những đổi mới sáng tạo đang được áp dụng trong việc sản xuất vỏ hộp là sử dụng nhiều hơn những nguyên liệu từ chế phẩm sinh học như rơm, rạ, vỏ hoa quả và vỏ cây. Mục tiêu của công ty Dell là đến năm 2020, họ hoàn toàn không sử dụng vỏ hộp làm từ nhựa mà sẽ từ các vật liệu có thể tái chế hoặc sử dụng lại dễ dàng. Theo Oliver Campbell, giám đốc phụ trách đóng gói của Dell, công ty đã đi được 58% chặng đường trong việc thực hiện mục tiêu này.   Năm ngoái, Dell thêm thành phần rơm (từ lúa mì) trong nguyên liệu chế tạo vỏ hộp của mình. Trước đây, trong nguyên liệu vỏ hộp của Dell đã có tre, nấm. Trong 3 năm vừa qua, công ty này đã loại bỏ hơn 8.900 tấn nguyên liệu nhựa trong chuỗi cung ứng, tiết kiệm hơn 18 triệu USD.   Dell sử dụng phương pháp ảnh hưởng các bon (lượng khí thải ra trong sản xuất ra nguyên liệu) để lựa chọn sử dụng các chế phẩm nông nghiệp, nhưng với một sự cân nhắc sâu sắc hơn: họ so sánh vòng đời của nguyên liệu gốc và vòng đời của sản phẩm hoàn thiện với mục tiêu giảm tỉ lệ này ở mức thấp nhất có thể. (Ví dụ tuổi thọ của một vỏ hộp là 8 tuần trong khi một cây gỗ để sản xuất giấy phải trồng trong 15 năm. Như vậy, tỉ lệ này là 100:1)  Coca-Cola cũng đang nghiên cứu những chế phẩm tiềm năng như ngọn cây mềm, vỏ cây, vỏ hoa quả để chế tạo vỏ hộp. Hãng đồ uống này cam kết sẽ giảm 25% lượng carbon trong việc sản xuất vỏ chai đến năm 2020.  Theo giám đốc khu vực châu Âu phụ trách về cộng đồng và môi trường của Coca-Cola, Ulrike Sapiro, việc sử dụng các nguyên liệu tái tạo và tái chế là phương pháp chính để thực hiện mục tiêu này. “Chúng tôi có một chương trình nghiên cứu tập trung mở rộng việc sử dụng những nguyên liệu sẵn có từ nông nghiệp. Chúng đôi đã dùng lại chế phẩm từ quá trình chế biến mía và có một đối tác đang kiểm nghiệm việc sử dụng chế phẩm từ lúa”- Ông nói.  Tại Coca-Cola, một dự án để nâng cấp việc sử dụng lõi ngô và vỏ đậu trong việc sản xuất chai nước giải khát đang nhận được sự hỗ trợ lớn khi công ty này được chỉ định như một đối tác trong một hiệp định sinh thái giữa chính phủ Mỹ và Trung Quốc. Vị giám đốc cho biết, trong vài năm tới, Coca-Cola có thể sản xuất vỏ chai từ 100% các nguyên liệu có thể tái chế hoàn toàn.  Trong thị trường đồ uống có cồn, tập đoàn Carlsberg thiết lập một cộng đồng cung ứng, bắt đầu với sáu nhà cung cấp của họ để loại bỏ phế phẩm từ quá trình đóng gói thông qua quá trình tái chế nâng cấp (upcycling), cụ thể là sử dụng phương pháp thiết kế “từ sinh ra đến tái sinh” (cradle-to-cradle, là một phương thức mô phỏng sinh học áp dụng trong thiết kế sản phẩm hay hệ thống. Nó mô phỏng nền công nghiệp của con người giống như một quá trình tự nhiên và các nguyên liệu như các chất dinh dưỡng được vận chuyển trong một quá trình tiêu hóa khỏe mạnh và an toàn. Cụ thể là, nó khuyến khích một nền kinh tế, xã hội toàn diện tạo ra một hệ thống không chỉ hiệu quả mà còn không có rác thải bằng cách sử dụng lại các sản phẩm).  Cái hay của phương pháp này, Simon Hoffmeyer Boas, quản lý cấp cao về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho biết, bất kỳ nguyên liệu đóng gói nào đều có thể có thể tối ưu hóa từ góc độ “từ sinh ra đến tái sinh”: “Nguyên tắc đầu tiên của chúng tôi là tất cả các vỏ hộp đều có một vai trò tích cực trong chương trình đóng gói bền vững”.-  Calrsberg tập trung chủ yếu vào các vỏ hộp, vỏ chai có sẵn, bao gồm chai thủy tinh, vỏ lon, màng bọc nilon, chai PET cho bia tươi – đó là một khối lượng sản phẩm với ảnh hưởng thu lại cực lớn, Hoffmeyer Boas chỉ ra.  “Từ góc độ “từ sinh ra đến tái sinh”, rất quan trọng khi chú ý tới sản phẩm và nguyên liệu ở nơi chúng được sản xuất, thị trường chúng được bán ra và nơi nó được tái chế. Ví dụ, nhiều loại vỏ hộp có thể được tối ưu hóa tốt hơn ở những thị trường nhất định” – Ông nói thêm.  Carlsberg đặt ra một mục tiêu cụ thể cho cộng đồng của họ, đó là có tối thiểu ba sản phẩm được chứng nhận sử dụng phương pháp “từ sinh đến tái sinh” đến năm 2016 để tăng tỉ lệ hoàn lại chai thủy tinh mà nó sản xuất.  “Đích cuối cùng là chúng tôi loại bỏ việc bảo hành chai đựng trong một một lần sử dụng để chuyển sang bảo hành mãi mãi” – Hoffmeyer Boas nói.  Hảo Linh lược dịch  Nguồn:   http://www.theguardian.com/sustainable-business/dell-coca-cola-carlsberg-packaging      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vỡ mộng về điện-biển giá rẻ?      Những nhà máy điện gió khổng lồ ở biển Bắc và biển Đông (Nord- und Ostsee) tới đây sẽ đóng vai trò chủ lực trong&#160; việc cung cấp điện.&#160; Nhưng việc triển khai công nghệ – Offshore đang gặp trục trặc và giá thành năng lượng xanh này đắt hơn nhiều so với dự tính. Phải chăng giấc mộng về các nhà máy điện rẻ tiền ngoài biển khơi của Đức đã tiêu tan?      Cơ quan năng lượng Đức (Deutsche Energie-Agentur) (viết tắt Dena) ở Berlin, một doanh nghiệp nửa nhà nước, dự kiến đến năm 2020 sẽ sản xuất được 14.000 Megawatt (MW) ở trên biển. Trong khi đó Chính phủ Liên bang Đức dự kiến đến năm 2030 sẽ đưa sản lượng điện trên biển lên đến 25.000 MW.  Đến lúc đó công suất các cơ sở điện gió trên biển sẽ vượt công suất 17 nhà máy điện nguyên tử của Đức khoảng  5000 Megawatt.  Việc cộng các con số trên giấy thì khá đơn giản nhưng làm thế nào để đạt được những con số này trong thực tế thì cho đến lúc này khó có ai trả lời được. Nhưng có một điều mà giờ đây người ta có thể khẳng định là nếu việc mở rộng các cơ sở  Offshore tiến triển với tốc độ rùa bò như hiện nay thì đến năm 2030 số lượng tháp điện gió đưa vào hoạt động ở vùng biển Bắc và biển Đông sẽ thấp hơn nhiều so với kế hoạch. Mới đây Đức đã đưa hai nhà máy điện gió thí điểm vào vận hành với tổng công suất 150 MW, thấp hơn nhiều so với dự kiến ban đầu.  Điều này tác động  không nhỏ vào niềm tin đối với trụ cột quan trọng nhất về tương lai năng lượng xanh của nước Đức.   Một công trình nghiên cứu của các chuyên gia năng lượng Bremen thuộc wind: research thậm chí còn đi đến nhận định: Kế hoạch điện gió của Chính phủ chỉ có thể thực hiện được khi người đóng thuế và người mua điện sẵn sàng mở rộng hơn nữa túi tiền của mình. Theo các chuyên gia chỉ đến lúc đó năng lượng gió sản xuất trên biển cả mới có thể thay thế năng lượng nguyên tử  và trở thành một trong những trụ cột năng lượng điện quan trọng của nước Đức.  Các nhà phân tích của wind: research đã xem xét kỹ thực trạng và tiến độ của trên 30 dự án nhà máy điện gió trên biển đã được phê duyệt. Kết quả: nếu tình hình xây dựng tiến triển như hiện nay thì đến năm 2030 kế hoạch sản xuất điện gió trên biển sẽ thiếu hụt 10.000 Megawatt, tương đương với sản lượng điện của 10 nhà máy nhiệt điện chạy than cỡ lớn.    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Ở một số dự án thiếu tàu thủy chuyên dụng để vận chuyển cánh quạt gió cỡ lớn ra biển. Ở một số dự án khác lại gặp khó khăn vì doanh nghiệp phân phối điện từ chối hòa mạng lưới điện của các nhà sản xuất điện gió. Trong khi đó một số doanh nghiệp cung cấp điện lại thiếu lực lượng lao động chuyên môn để vận hành. Nhưng theo nhận định của các chuyên gia thuộc wind:research thì khó khăn lớn nhất của các dự án điện gió trên biển của Đức là thiếu vốn. Để thực hiện kế hoạch xây dựng các nhà máy điện gió trên biển từ nay đến 2030 nước Đức thiếu một khoản đầu tư khoảng 100  tỷ Euro.  Để xây dựng một cơ sở điện gió với 80 máy và có công suất 400 Megawatt cần khoảng l1,4 tỷ Euro. Thông thường hai phần ba khoản tài chính này là tiền đầu tư từ bên ngoài. Nếu các ngân hàng chấp nhận tham gia đầu tư thì do nhiều yếu tố rủi ro, họ cũng chỉ đóng góp khoảng 50 triệu. Vì thế để huy động được 930 triệu Euro từ vốn bên ngoài thì phải có sự tham gia của khoảng 20 ngân hàng. Đây là một vấn đề cực kỳ khó khăn.  Vấn đề sẽ khác đi nếu các doanh nghiệp cung cấp điện cỡ lớn của Đức như RWE, E.On, Vattenfall hay EnBW đứng ra xây dựng các nhà máy điện trên biển.  Nhưng việc quyết định đầu tư vào các nhà máy điện thông thường hay vào các dự án năng lượng sạch lại lệ thuộc vào suất lợi tức mà các nhà máy đó đem lại. Với các dự án Offshore của Đức thì lợi suất chỉ đạt từ 4 đến 7%, không đủ sức thu hút các nhà đầu tư.   Kết quả là các tập đoàn năng lượng và các nhà đầu tư quốc tế  thiên về  đầu tư vào các nhà máy điện gió của Anh quốc. Các dự án điện gió của Anh có mức độ rủi ro thấp hơn, chi phí xây dựng cũng thấp hơn vì các nhà máy điện gió của Anh tương đối gần bờ hơn. Do đó lợi suất cao hơn, các công ty điều hành thu được nhiều tiền hơn so với các dự án của Đức, thường là  2 Cent cho một  Kilowatt giờ.  Để tránh sự phản đối của dư luận vì tiếng ồn và  làm xấu cảnh quan, ảnh hưởng tiêu cực đến ngành du lịch vv…   các nhà máy điện gió của Đức bị “đày” ra ngoài biển khơi xa xôi , có khi cách đất liền đến 45 phút bay,  làm cho chi phí đầu tư xây dựng, chi phí vận hành cũng như chi phí truyền tải rất tốn kém, thuộc diện đắt nhất thế giới.   Các chuyên gia Đức đã đánh giá thấp yếu tố thời tiết ở biển Bắc. Nhiều khi người ta phải ngừng việc xây dựng  nhiều ngày vì lý do biển động mạnh, gió quá lớn vv…Việc vận chuyển, lắp đặt những thiết bị siêu trường, siêu trọng trên biển cả là một thách thức lớn đối với các chuyên gia lắp đặt thiết bị. Để khắc phục tình trạng chậm tiến độ người ta buộc phải huy động thêm tàu thủy chuyên dụng, điều này đội giá thành đầu tư từ 1,5 tỷ lên 1,7 tỷ Euro.   Chính vì vậy quan niệm của chính giới về điện gió trên biển giá rẻ là thiếu cơ sở.  Giờ đây những người ủng hộ xây dựng các nhà máy  điện gió ngoài biển khơi đề nghị Nhà nước hỗ trợ trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở tại bến cảng, hỗ trợ  việc sản xuất, vận chuyển  những thiết bị siêu trường siêu trọng và hỗ trợ trong việc bảo lãnh cho các khoản tài chính lớn phục vụ xây dựng, lắp đặt các nhà máy điện gió. Điều quan trọng nhất hiện nay là việc Nhà nước chấp thuận cho vay 5 tỷ Euro để xây dựng 10 nhà máy điện gió trên biển. Những biện pháp này sẽ tạo sinh lực cho điện gió ngoài khơi ở Đức.       Tuy nhiên  Hermann Albers, chủ tịch Hiệp hội năng lượng gió của Đức (BWE), không tán thành các biện pháp trên, ông kiến nghị Nhà nước xây dựng các nhà máy điện gió trên đất liền, cụ thể là ở miền Nam nước Đức. Theo nghiên cứu của Viện Fraunhofer về năng lượng gió và công nghệ hệ thống năng lượng (IWES)  thì việc xây dựng các nhà máy điện gió trên đất liền giảm được một nửa chi phí. Nếu xây dựng các cơ sở điện gió trên khoảng 2% diện tích nước Đức thì hằng năm tạo ra  390 Terawatt giờ, đáp ứng khoảng  65 % nhu cầu về điện của Đức.  Theo Alberts thì nếu trong tương lai xây dựng nhiều tháp điện gió gần các trung tâm tiêu thụ ở miền Tây và miền Nam nước Đức thì giảm được chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới điện làm cho điện gió còn thấp hơn nữa.                                     XUÂN HOÀI    theo Wiwo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Volocopter : chống ùn tắc bằng ô tô bay      Florian Reuter – Nhà doanh nghiệp muốn sớm tạo ra một sự thay đổi cơ bản về cơ bản tình trạng ùn tắc giao thông đô thị thông qua máy bay không người lái.    Reuter hoàn toàn không đơn độc với tầm nhìn của mình về cái gọi là Volocopter . Ở Muynchen, Lilium cũng đang xúc tiến dự án mang tên Lilium Jet, dự án này cũng rất giống với điều mà Reuter đang ấp ủ. Trên thế giới hiện cũng có nhiều chuyên gia hàng không và các nhà chế tạo ô tô cũng đang suy nghĩ về vận chuyền hàng không cá nhân và coi đây là một giải pháp chống ùn tắc ở các đô thị.  Ý tưởng về ô tô bay có lẽ ra đời chỉ ít lâu sau khi xuất hiện ô tô, cũng như sau khi máy bay ra đời. Tuy nhiên những vấn đề liên quan đến điều khiển, đến tiếng ồn của động cơ và nhất là về các loại giấy phép lưu hành cần thiết cộng với chi phí cao đối với người sử dụng nên ý tưởng này đành phải gác lại. Tuy nhiên đến thời kỳ này những vấn đề nói trên không còn là rào cản nữa. Chí ít thì đây là niềm tin của nhà tương lai học người Thuỵ Sỹ Lars Thomsen, ông tin rằng trong khoảng mười lăm năm nữa những chiếc ô tô con biết bay sẽ xuất hiện trên bầu trời ở các thành phố.  Để chứng minh cho điều này ông đã nêu ra một loạt yếu tố: cho đến nay nghiên cứu về ô tô bay luôn xuất phát từ quan niệm do người điều khiển, người điều khiển phải có bằng lái ô tô bay, cạnh đó lại phải có đường băng để ô tô xuất phát, giờ đây các chuyên gia phát triển lại định hướng theo loại ô tô bay bằng điện, điều khiển tự động, cất cánh theo chiều thẳng đứng. Theo Thomsen “Loại phương tiện này có thể bay lên ở mọi nơi và ai cũng có thể sử dụng được”.  Các tập đoàn lớn tham gia giao thông bay  Ngay cả các thành phần tham gia cuộc chơi cũng có sự thay đổi: trước đây tham gia vào xây dựng ý tưởng này là những người thích mày mò, sáng chế, phát minh và những người nung nấu ý tưởng với nguồn tài chính mạo hiểm hay từ những đồng tiền mà bản thân họ tích cóp được, vì say mê nghiên cứu nên dồn tất cả cho công cuộc này. Giờ đây tham gia vào quá trình này là các tập đoàn khổng lồ, các ông lớn như Google, Uber hay Skype và các nhà sản xuất ô tô hay máy bay có tên tuổi, họ chi hàng trăm triệu đôla cho các dự án loại này. “Điều này tăng sự khả tín cũng như tốc độ”, Thomsen giãi bày.  Các vấn đề về công nghệ dường như đã được giải quyết: chiếc Volocopter của Florian Reuter với 18 Rotor chạy điện và 9 bình ác quy đã có chuyến bay đầu tiên và mùa thu vừa qua có chuyến bay trình diễn ở Dubai. Theo các nhà chế tạo động cơ điện có đủ công xuất và các bình ác quy đủ sức vận chuyển trên 100 kg và bay được trên 300 km.       Florian Reuter    Florian Reuter, giám đốc điều hành Volocopter , muốn thông qua máy bay tự lái hạn chế ùn tắc giao thong ở các đô thị.  Ngay cả loại máy bay đồ chơi loại khá một chút đã cho thấy bộ phận điều khiển tự động đã tương đối hoàn hảo. Khi mà các máy bay tự lái giá vài ba trăm Euro đã có thể tự tránh các cột đèn hoặc tránh lẫn nhau trong một địa bàn hẹp vậy thì, theo Thomsen, không lý gì những thiết bị bay giá hàng nghìn lần đắt hơn lại không bay được an toàn từ điểm A đến điểm B?  Khi trình bày về kế hoạch của mình, Reuter, ông chủ của Volocoper, luôn nhận được sự chăm chú lắng nghe: trong năm tới ông dự định cho vận hành Volocopter – khi đó vẫn có phi công trong buồng lái, có giấy phép – và giới thiệu trên thị trường đây là loại phương tiện trong tương lai. Trong giai đoạn tiếp theo kế hoạch của ông là đưa vào vận hành ô tô bay có người điều khiển tại các khu dân cư đông đúc và trong giai đoạn ba cho xe hoạt động độc lập. “Và điều này sẽ diễn ra nhanh hơn so với những gì tất cả chúng ta nghĩ”, Reuter đoán chắc như vậy.  Với kịch bản này Reuter có thể mời Daimler là đối tác cùng vào cuộc. Daimler tham gia vào doanh nghiệp này với hy vọng sớm đưa được ác quy của mình từ Smart & Co để dùng cho Volocopter “cất cánh”. Qua đó họ thậm chí sẽ thực hiện được một yêu cầu của người sáng lập doanh nghiệp: một chiếc Mercedes người ta có thể vận hành trên mặt đất, mặt nước và cả trên không.  Toyota, Daimler và Geely đều mong đợi ô tô bay  Ngay cả một số tập đoàn lớn khác cũng muốn có mặt ngay từ đầu: Theo thông tin của Viện nghiên cứu thị trường Gartner, mới đây Toyota tuyên bố sẽ gây bất ngờ vào dịp Thế vận hội Olympic tại Tokyo vào năm 2020 với ô tô bay. Nhà chế tạo ô tô Trung quốc Geely tiếp quản dự án Terrafugia, với cái tên “Transition” hãng cũng sẽ phát triển xe ô tô có cánh.  Airbus cùng với công ty con của Audi Italdesign tại triển lãm ô tô ở Gionevo hồi đầu xuân đã giới thiệu phương án liên kết ba loại phương tiện giao thông với nhau: công trình nghiên cứu “Pop.up” dựa vào tế bào carbon dành cho hai hành khách, ý tưởng của phương án này là: một bộ khung với các Rotor có thể bay như một thiết bị bay, khi trên mặt đất thì chạy trên bánh xe và trở thành ô tô điện, khi phải di chuyển trên một tuyến đường dài có thể cho lên toa tàu hoặc phóng trong ống tựa như Hyperloop của Elon Musk.  Tất nhiên cần thời gian để con người làm quen với những ý tưởng này. Ban đầu là vận chuyển bưu kiện hay các vật dụng khác, Matthias Thomsen giải thích. Ông phụ trách mảng Urban Air Mobility tại Airbus. Công nghệ này có thể cải thiện đáng kể cuộc sống tại các thành phố lớn dân cư đông đúc, Thomsen tin chắc rằng: “Việc bổ sung chiều thứ ba vào mạng lưới vận tải đa phương thức đương nhiên sẽ cải thiện phong cách sống và cách thức đi lại của chúng ta.”  Nhà tương lai học Lars Thomson thậm chí còn đi xa hơn khi ông cho rằng giao thông hàng không cá nhân chính là hệ quả logic của quá trình phát triển cho tới ngày nay. “Do thiếu không gian về chỗ ở và chỗ làm việc nên từ lâu chúng ta đã hướng lên trời cao”, ông nói và nhìn lên những toà nhà cao tầng đan xen với nhau. Chỉ có các con đường là cho đến nay vẫn bám lấy mặt đất và chui sâu vào lòng đất. “Nếu chúng ta muốn tiếp tục di động thì nhất thiết phải phát huy hiệu quả của giao thông và phải tận dụng cả chiều thứ ba.”  Nguyễn Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://edison.handelsblatt.com/erleben/volocopter-und-co-luft-autos-gegen-den-stau/20718904.html?ticket=ST-3049603-br3aHYu4RNPcs932maaS-ap2       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn đầu tư đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp      Trong khi công cuộc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là tất yếu không thể trì hoãn, và sự đổi mới ấy về cơ bản chỉ thực sự đi vào đời sống thông qua doanh nghiệp, câu hỏi đặt ra là Nhà nước cần cải thiện chính sách ưu đãi của mình cho doanh nghiệp như thế nào để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào đổi mới công nghệ?      Hiện nay, chính sách ưu đãi của Nhà nước cho các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ mới chỉ giới hạn ở doanh nghiệp  công nghệ cao và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, và sự ưu đãi mới chủ yếu tập trung vào chính sách thuế. Đây là một bất cập vì việc đầu tư đổi mới công nghệ phải được khuyến khích cho mọi loại hình doanh nghiệp, và nên được hỗ trợ cho những đối tượng có nhu cầu cao (chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng được với những doanh nghiệp đã đầu tư thành công và có lợi nhuận, tức là những doanh nghiệp ít có nhu cầu được hỗ trợ nhất).  Cần xây dựng đội ngũ chuyên gia thẩm định các dự án đầu tư cho CN  Để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các dự án đổi mới công nghệ, chính sách hỗ trợ tốt nhất của Nhà nước là những khoản vay ưu đãi, được cấp căn cứ trên tính khả thi của dự án và giá trị gia tăng cho nền kinh tế, xã hội, và môi trường mà dự án đầu mang lại. Tuy đây là một hình thức hỗ trợ còn khá xa lạ ở Việt Nam, khi mà hầu hết mọi doanh nghiệp đi vay đều cần có tài sản thế chấp, nhưng thực tế này có thể thay đổi nếu Nhà nước cho triển khai rộng rãi hơn hoạt động cho doanh nghiệp vay đầu tư nghiên cứu và phát triển qua Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, và đặc biệt là tới đây cho doanh nghiệp vay đầu tư đổi mới công nghệ qua Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia.  Nhưng kỳ vọng đó sẽ không thành hiện thực nếu thiếu vai trò con người.  Cái thiếu rất cơ bản hiện nay của các quỹ trên đây là những chuyên gia thẩm định các dự án thương mại hóa công nghệ. Họ là người chỉ ra đâu là những công nghệ có giá trị gia tăng cao nhất, có tính khả thi cao, và cần được sự hỗ trợ cao nhất của Nhà nước, để từ đó các cơ quan chức năng và quỹ KH&CN có thể phân phối nguồn lực đầu tư hỗ trợ một cách hiệu quả. Công việc đó cần sự phối hợp của nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực khác nhau, không chỉ có những chuyên gia công nghệ mà cả chuyên gia về pháp lý, quản trị, và thị trường.  Do Việt Nam là đất nước phát triển đi sau so với thế giới, các nhà đầu tư thường quyết định theo cảm tính bầy đàn, trong khi không nắm bắt đầy đủ về vòng đời hữu hạn của các loại ngành nghề và các loại hình công nghệ gắn với chúng, mà nếu thiếu những thông tin cơ bản này, người ta không thể xây dựng được các luận chứng kinh tế đáng tin cậy. Hậu quả của tình trạng mù mờ thông tin là bản thân Nhà nước cũng có những quyết định đầu tư sai lầm vào những công nghệ, trang thiết bị lạc hậu, kém hiệu quả, thậm chí ở tầm vĩ mô Nhà nước có thể lựa chọn sai cả một ngành công nghiệp.  Như vậy, việc cấp bách cần làm hiện nay cho khoa học và công nghệ không phải là tìm thêm nguồn tiền, mà là xây dựng đội ngũ chuyên gia thẩm định và giám sát các dự án sử dụng kinh phí của Nhà nước. Cần mời các chuyên gia về hoạt động kinh doanh và các ngành công nghiệp tham gia các hội đồng thẩm định công nghệ, và ở tầm vĩ mô, nên có các nhà công nghiệp ở tầm quốc tế tham gia tư vấn công tác hoạch định chính sách – điều mà Singapore vẫn làm lâu nay.   Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có những quy định đòi hỏi các hội đồng chuyên gia giải trình trách nhiệm của mình, và có cơ chế chấm điểm các chuyên gia nhằm đảm bảo rằng những người được lựa chọn thẩm định và phản biện các dự án thực sự có đủ năng lực và phẩm chất chính trực, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ được giao – mô hình chấm điểm chuyên gia của quỹ KOTEC của Hàn Quốc là một ví dụ rất đáng học hỏi. Điều này giúp tránh tình trạng cơ quan quản lý nhắm mắt ỷ lại vào những hội đồng thẩm định kém năng lực hoặc phẩm chất đạo đức, hoặc thậm chí lập ra những hội đồng thuần túy mang tính hình thức.   Tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội để giảm rủi ro cho Nhà nước  Tuy nhiên, bản thân những nội dung này cũng lại đòi hỏi một sự thay đổi đáng kể về tầm nhìn, tư duy, và cung cách quản lý của Nhà nước mà chúng ta không thể trông chờ sẽ đi vào hiện thực trong một sớm một chiều – nhìn rộng ra có thể thấy rằng tình trạng yếu kém của các hội đồng thẩm định dự án, hội đồng chấm thầu, hội đồng nghiệm thu v.v. không chỉ tồn tại trong lĩnh vực KH&CN mà trên diện rộng trong nhiều ngành và lĩnh vực đã và đang góp phần không nhỏ gây ra tình trạng kém hiệu quả và thất thoát trong đầu tư công. Vì vậy, trước mắt trong bối cảnh nguồn lực chuyên gia còn hạn chế, cơ chế sử dụng và quản lý các chuyên gia còn chưa đầy đủ và hời hợt, Nhà nước cần dựa tối đa vào nguồn lực của xã hội và động lực bản thân doanh nghiệp để giúp giảm rủi ro đối với nguồn kinh phí hạn chế của mình.  Nguồn lực xã hội ở đây chính là nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Để tận dụng được nguồn lực này cho các khoản vay đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, Nhà nước một mặt cần có những quy định pháp lý mang tính ràng buộc để các ngân hàng không thể từ chối cho doanh nghiệp vay, mặt khác cần có những cách thức giúp đảm bảo ngân hàng không bị thiệt thòi và rủi ro đối với khoản vay được giảm thiểu.  Nhà nước có thể đứng chung với doanh nghiệp trong một khoản vay đầu tư đổi mới công nghệ, trong đó cơ quan chức năng và chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm thẩm định chuyên môn khoa học kỹ thuật, và Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ doanh nghiệp trả một phần nhỏ của khoản vay, trong khi doanh nghiệp tự phải nỗ lực tối đa trong tìm kiếm thông tin và thực hiện thương mại hóa, nhằm đảm bảo thu hồi vốn để trả nợ cho phần còn lại. Đây là một hình thức hỗ trợ của Nhà nước phù hợp với các dự án trong đó các chuyên gia thẩm định của Nhà nước không có đủ thông tin để khẳng định dự án có tính khả thi cao về khía cạnh thương mại hóa (có thể do thiếu chuyên gia trong lĩnh vực này) nhưng nhận thấy dự án có tính khả thi cao về mặt kỹ thuật và không chỉ có giá trị cho bản thân doanh nghiệp mà còn có giá trị công ích – giá trị công ích càng cao thì phần hỗ trợ của Nhà nước càng lớn.  Hoặc Nhà nước cũng có thể tiến hành phương thức theo mô hình bảo lãnh của quỹ KOTEC Hàn Quốc, đó là đứng ra bảo lãnh cho khoản vay, và yêu cầu bản thân doanh nghiệp và ngân hàng cho vay đóng phí bảo lãnh. Nếu doanh nghiệp trả được nợ mà không cần bảo lãnh của Nhà nước thì sẽ được Nhà nước hoàn lại khoản phí đã đóng. Cách làm này vừa tiết kiệm được nguồn lực cho doanh nghiệp cũng như Nhà nước, vừa đảm bảo doanh nghiệp có động lực để triển khai dự án thành công. Nếu nghiên cứu đặt ra được mức phí bảo lãnh phù hợp thì có thể nguồn thu từ phí bảo lãnh vừa đủ để thanh toán cho các khoản vay cần Nhà nước thanh toán giúp, ngay cả khi chất lượng của các chuyên gia thẩm định cấp bảo lãnh chỉ ở mức vừa phải. Tuy nhiên, cơ quan cấp bảo lãnh sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm liên tục nâng cao chất lượng duyệt bảo lãnh nhằm đảm bảo rằng tỷ lệ các khoản vay phải dùng đến bảo lãnh của Nhà nước giảm dần qua mỗi năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vòng đeo đầu có khả năng theo dõi giấc ngủ và sự tập trung      Thiết bị đeo có tên là FRENZ là một dạng vòng đeo đầu được tích hợp các cảm biến (sensor) và một hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) để theo dõi tín hiệu điện não, điện cơ, cử động mắt, mức độ oxy trong máu, nhịp tim, từ đó phân tích trạng thái của người dùng – đặc biệt là khi ngủ – và đưa ra tín hiệu kích thích não bộ dựa trên sở thích người dùng.    Công ty công nghệ Earable Neuroscience của nhà đồng sáng lập Tâm Vũ (Đại học Colorado) vừa ra mắt một thiết bị đeo thông minh có khả năng theo dõi giấc ngủ và sự tập trung. Các công nghệ tạo nên sản phẩm là kết quả của hơn 8 năm nghiên cứu tại trường Đại học Colorado (Mỹ) và Đại học Oxford (Anh) và đã được cấp 15 bằng sáng chế toàn cầu.        Tại lễ ra mắt sản phẩm ở Triển lãm Hàng điện tử tiêu dùng CES 2023 ngày 7/1, ông Tâm Vũ, giáo sư tại Đại học Colorado và là nhà sáng lập kiêm CEO của công ty Earable Neuroscience chia sẻ: “Tôi muốn cải thiện thế giới từ việc cải thiện giấc ngủ”.    Ông chỉ ra, mọi người có thể bật đồng hồ báo thức vào 6 giờ sáng và sau đó lại tắt đi ngủ tiếp, cuối cùng thức giấc vào lúc 7 giờ với thể trạng mệt mỏi. Vòng đeo đầu thông minh sẽ nhận biết người dùng đang ở trạng thái ngủ sâu, và từ từ đánh thức họ, giúp họ thức giấc tỉnh táo và sảng khoái.    Vòng đeo đầu FRENZ sử dụng một thư viện âm thanh khổng lồ được tích hợp trên ứng dụng điện thoại của sản phẩm để kích thích não bộ theo thời gian thực.    Vòng cũng hỗ trợ tăng cường khả năng tập trung, thư giãn, phù hợp đeo cả ngày cả khi ngủ lẫn khi làm việc, giúp các lái xe tránh ngủ gật khi đang lái hoặc tăng tính tập trung trong đào tạo…    “Ví dụ tôi là người chơi piano, lần đầu đeo vòng ngủ ngon, nó sẽ phát tín hiệu tương tự piano để đưa tôi vào giấc ngủ. Khi biết tôi đang ở trạng thái hoạt động, vòng sẽ chuyển sang âm thanh tự nhiên như sóng biển, mưa rơi… Chúng tôi dã mời hơn 1.000 người thử nghiệm, trung bình nó giúp đưa người ta vào giấc ngủ nhanh hơn 19 phút (tính năng Faster Sleep)”, ông Tâm Vũ giải thích thêm.    Bên cạnh ưu điểm tính năng về công nghệ, với thiết kế tối giản, thanh lịch và chất liệu nhẹ, vòng đeo đầu này có thể sử dụng trong thời gian dài lên đến 10 tiếng, cho phép người dùng có thể sử dụng ở nhiều hoàn cảnh.    Mỗi năm, 900 triệu thiết bị đeo tiêu dùng được bán ra trên toàn thế giới. Với 60% dân số thế giới mắc các vấn đề liên quan tới giấc ngủ, thế giới đang trải qua một vấn đề nhức nhối về giấc ngủ của con người. Do đó, các sản phẩm hỗ trợ giấc ngủ nổi lên như một ngành phát triển mạnh và nhanh chóng.    Quy mô thị trường thiết bị công nghệ hỗ trợ giấc ngủ được định giá 14,5 tỷ USD vào năm 2022 và dự kiến sẽ đạt 61,2 tỷ USD vào năm 2030, tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 17,1% trong giai đoạn 2023-2030.    Các nhà phát triển FRENZ cho rằng nó có thể cải thiện giấc ngủ trên toàn thế giới và giải phóng tiềm năng thực sự của con người. Công ty Earable cũng có tầm nhìn trở thành một trong những công ty khoa học thần kinh công nghệ chuyên sâu trên thế giới.    Earable đã nhận được khoản tài trợ 6,6 triệu USD từ quỹ đầu tư Founder’s Fund và công ty Smilegate Investment hồi đầu năm 2022, nâng tổng số vốn gọi được hiện nay của starup lên 8,7 triệu USD, theo báo cáo của Crunchbase.    Tại Vietnam Ventures Summit tháng trước, bà Đoàn Kiều My- Giám đốc tăng trưởng của Earable cho biết họ nhắm đến thị trường toàn cầu, nhưng sẽ chú trọng vào hai địa điểm quan trọng là Mỹ và Việt Nam. Nhân dịp ra mắt thị trường toàn cầu, người dùng có thể đặt mua vòng đeo đầu FRENZ với giá bằng 50% khi nhập mã CESFRENZ tại website từ ngày 03/01 đến ngày 15/01/2023.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Vòng tay khoa học      Lịch sử loài người có thể được coi như bắt đầu từ cách đây khoảng 200 nghìn năm khi người tinh khôn ra đời. Còn lịch sử các cộng đồng có thể coi như bắt đầu cách đây khoảng 10 nghìn năm, khi con người phát minh ra nông nghiệp và sinh sống dưới dạng quần cư.      Trường Hè Khoa học Việt Nam tổ chức ở Quy Nhơn năm 2020. Ảnh: Trang fanpage của Trường Hè Khoa học.  Những bước chuyển thời đại  Lịch sử loài người có thể được coi như bắt đầu từ cách đây khoảng 200 nghìn năm khi người tinh khôn ra đời. Còn lịch sử các cộng đồng có thể coi như bắt đầu cách đây khoảng 10 nghìn năm, khi con người phát minh ra nông nghiệp và sinh sống dưới dạng quần cư.   Nhưng ngạc nhiên thay, trình độ phát triển của các quốc gia hiện thời, và kéo theo đó là vị thế và số phận của các quốc gia đó trên trường quốc tế, lại được quyết định bởi một khoảng thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 250 năm trở lại đây, tức là chỉ từ khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu, từ khoảng nửa sau của thế kỷ 18.   Trước đó, tất cả các quốc gia đều được tổ chức và vận hành trên nền kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công. Tuy trình độ phát triển có chênh lệch khác nhau, nhưng về cơ bản, các quốc gia vẫn nằm trên cùng một mặt bằng chung và thuộc về cùng một thời đại.  Tuy nhiên, khi động cơ hơi nước ra đời và được đưa vào sử dụng rộng rãi trong các nhà máy, tàu hỏa, tàu thủy ở nước Anh… vào khoảng nửa sau của thế kỷ 18 thì câu chuyện đã khác hẳn. Một phương thức sản xuất mới – sản xuất công nghiệp – được khai sinh. Và rất nhanh sau đó, dưới sự thúc đẩy của công nghệ và sự mở rộng thị trường qua việc xâm chiếm các nước thuộc địa, nền sản xuất đại công nghiệp ra đời. Lúc đó, người ta chưa gọi đây là cách mạng công nghiệp, mà gọi là thời kỳ cơ khí hóa trong sản xuất.   Nước Anh là quê hương của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 1 này. Vì lẽ đó, nước Anh làm bá chủ thế giới trong suốt thế kỷ 19 cũng là điều dễ hiểu.   Rồi sau đó hơn 100 năm, đến cuối thế kỷ 19, điện và động cơ điện ra đời, được đưa vào sử dụng rộng khắp trong đời sống và sản xuất thì đã làm phát sinh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Kết hợp với quá trình cơ khí hóa trước đó, thời kỳ này thường được gọi là điện khí hóa.   Những phát minh đột phá về điện và động cơ điện ra đời ở nước Mỹ. Chính vì thế, nước Mỹ đã thay thế nước Anh để thống trị thế giới trong thế kỷ 20, âu cũng là điều dễ hiểu.  Những ai đã từng học qua môn kinh tế chính trị hẳn còn nhớ một câu thường xuyên được trích dẫn: Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc.     Ba cuốn sách khoa học cho thiếu nhi do TS. Giáp Văn Dương viết. Ảnh: giapcoach.com  Tại sao lại là điện khí hóa toàn quốc? Vì đơn giản đó là đỉnh cao của phương thức sản xuất công nghiệp mà loài người đã được chứng kiến cho đến lúc đó.   Nhưng câu chuyện không dừng lại. Chỉ sau đó khoảng 70 năm, mạch điện tử IC ra đời, làm phát sinh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, với sự xuất hiện của đồ điện tử, robot, dây chuyền tự động, ti vi, điện thoại, máy tính, mạng internet… Đây là thời kỳ điện tử hóa và tự động hóa.  Ngoài các nước Âu Mỹ đã làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 và vẫn giữ nhịp phát triển, thì một số nước mới ở châu Á đã bắt được làn sóng công nghiệp lần thứ 3 này để hồi phục hoặc vươn lên, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và gần đây nhất là Trung Quốc.   Nhưng cũng chỉ khoảng 50 năm sau đó thôi, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 xuất hiện, vào đúng những ngày tháng mà chúng ta đang sống này, với sự ra đời dữ dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, công nghệ gene… như chúng ta đã biết qua truyền thông đại chúng.   Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này chắc chắn sẽ thay đổi tận gốc rễ phương thức sản xuất và cách thức vận hành xã hội của các quốc gia, tương tự như những gì ba cuộc cách mạng trước đây đã thực hiện.   Đó là bốn sơ lược về bốn cuộc cách mạng công nghiệp, cũng là bốn bước chuyển lớn của thời đại trong khoảng 250 năm vừa qua, quyết định vị thế và vận mệnh của các quốc gia như chúng ta thấy hiện thời.  Giờ nhìn lại những bước chuyển này, chúng ta thấy:  Thứ nhất, nguyên nhân tạo ra và động lực thúc đẩy các cuộc cách mạng công nghiệp này là khoa học. Chính sự ra đời và phát triển của khoa học trong thời kỳ trước đó đã tạo ra các cuộc cách mạng công nghiệp này.   Mỗi khi có một đột phát lớn về khoa học, những công nghệ sản xuất mới sẽ được tạo ra, hình thành nên những nền công nghiệp mới.   Chính vì thế, khoa học chính là nguyên nhân trực tiếp tạo ra, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp.   Vì lẽ đó, trình độ phát triển của khoa học và công nghệ quyết định trình độ phát triển của các quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia có quy mô dân số cỡ vài chục triệu trở lên như Việt Nam, vì với quy mô như thế, đất nước không thể phát triển chỉ nhờ làm dịch vụ.   Thứ hai, không chỉ tạo ra các công nghệ sản xuất mới, khoa học còn tạo ra cách thức tư duy, cách thức làm việc, cách thức tổ chức đời sống và vận hành xã hội mới. Các khái niệm như tinh thần khoa học, tư duy khoa học, làm việc khoa học, tổ chức khoa học, sống khoa học… đã trở thành phổ biến và lan tỏa mọi ngõ ngách của đời sống. Nói cách khác, tinh thần khoa học đã trở thành tinh thần thời đại ở các nước công nghiệp, phát triển.  Thứ ba, trong hai cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, Việt Nam là kẻ ngoài lề. Khi hai cuộc cách mạng công nghiệp này diễn ra, chúng ta ở trong hoàn cảnh rất bi đát: Mất độc lập, chiến tranh hoặc chia cắt, 95% dân số mù chữ và không có ý niệm gì về sự phát triển của thế giới.   Còn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 thì hoàn cảnh của chúng ta cũng không khá gì hơn: Chiến tranh, chia cắt, dân trí thấp và bị cô lập với phần lớn thế giới. Đến khi chiến tranh thực sự kết thúc và Việt Nam bắt đầu hội nhập với thế giới vào đầu những năm 1990 thì đã quá trễ. Chuyến tàu công nghiệp 3.0 đã rời ga và chúng ta là kẻ lỡ tàu.  Cơ hội lịch sử  Nhìn lại ba cuộc cách mạng công nghiệp trước đây như thế, chúng ta sẽ thấy, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này sẽ là cơ hội vô cùng lớn cho sự phát triển của Việt Nam.   Thật vậy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta biết và được tham gia một cuộc chơi lớn, toàn cầu ngay từ những ngày đầu, trong hoàn cảnh không có chiến tranh, không có chia cắt, dân số đủ trẻ và dân trí đủ cao để tham gia cuộc chơi này.   Vì thế, đây là cơ hội lớn và chưa từng có trong lịch sử của chúng ta. Cơ hội này không phải do chúng ta tạo ra, mà do thời đại mang tới. Trách nhiệm của chúng ta là phải nhận rõ nó và làm chủ được nó nếu muốn thay đổi số phận và vị thế của chúng ta trên trường quốc tế.  Trong cuộc chuyển mình đó, mỗi người Việt Nam đều có trách nhiệm đóng góp phần công sức của chính mình. Các chính khách sẽ đóng góp theo cách của chính khách. Các doanh nhân sẽ đóng góp theo cách của doanh nhân. Các nhà khoa học sẽ đóng góp theo cách của nhà khoa học. Các nhà văn, nhà báo, văn nghệ sĩ, và nhiều tầng lớp xã hội khác… sẽ đóng góp theo cách của riêng họ.   Tất cả đều phải hướng đến mục tiêu làm chủ được cơ hội lịch sử này để cất cánh, trở thành một nước phát triển, có vị thế trên trường quốc tế.   Đó chính là hành trình Khai trí – Kiến quốc mà nhiều thế hệ người Việt đã khởi xướng và từng bước thực hiện, nay cần thế hệ chúng ta hoàn thành thông qua việc nắm bắt cơ hội lịch sử này.   Với tôi, ngay từ trước khi trở về và cho đến tận bây giờ, tôi đã chọn sẽ đóng góp phần sức lực nhỏ bé của mình trong hai lĩnh vực giáo dục – đào tạo và phổ biến khoa học cho đại chúng.   Mong muốn thì nhiều, nhưng việc làm cũng chưa được bao nhiêu. Một phần vì nguồn lực hạn chế, phần khác là vì phải làm quen trở lại và ổn định công việc và cuộc sống, trong một môi trường vừa cũ lại vừa mới.   Giờ nhìn lại, thấm thoát đã tám năm kể từ ngày trở về, những điều mình làm được thực quá ư bé nhỏ, đến mức nhiều khi cảm thấy ngượng ngùng với chính bản thân mình. Những lúc như thế, chỉ biết tự nhủ: Chỉ cần kiên định, sẽ có nhiều người cùng bước.  Và đúng là trên hành trình ấy có nhiều người cùng bước thật. Ngay cả với các dự án chưa thành công tôi đều nhận được những động viên và an ủi đáng quý.  Điều đặc biệt là trên hành trình đó, chúng tôi đã tìm thấy cộng đồng và sự kết nối với nhau. Không chỉ giữa những người cùng thế hệ, mà còn giữa các thế hệ với nhau. Chia sẻ cùng giá trị và bầu không khí khoa học. Nhiều khi thân thuộc như cùng một gia đình.   Viết đến đây, bỗng nhiên tôi thấy phải nêu ra một ví dụ, như một hoa trái của tinh thần cộng tác vô vị lợi trên hành trình xiển dương khoa học. Đó là Trường hè Khoa học Việt Nam, được tổ chức hằng năm, đến hè này là sang năm thứ chín.  Ban đầu, Trường hè chỉ là nơi ba người bạn quen nhau khi còn làm việc ở Singapore, muốn cùng nhau làm một điều gì đó cho các thế hệ trẻ, những người đi sau mình, những người muốn bước chân vào con đường khoa học, nhưng không biết bắt đầu tư đâu và như thế nào.   Nhưng rất nhanh sau đó, Trường hè đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học. Cho đến mấy năm trở lại đây, năm nào Trường hè cũng đào tạo cho khoảng 180 học viên, với sự tham gia của 10-15 nhà khoa học, và sự bảo trợ của Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE, Quy Nhơn).  Với mục đích xiển dương khoa học và giúp cho các học viên thấu hiểu về nghề làm khoa học, chuẩn bị tốt các kỹ năng và tâm thế để trở thành nhà khoa học, trong tám năm qua, rất nhiều cựu học viên của Trường hè lựa chọn khoa học và từng bước làm khoa học như một sự nghiệp.   Tuy chưa có thống kê đầy đủ, nhưng rất nhiều học viên Trường hè đã tự tìm học bổng để đi du học sau đó, và hơn 40 cựu học viên Trường hè đã hoặc đang làm tiến sĩ, một số đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ ở nhiều nước trên thế giới.   Ngoài ra, trong một vài năm gần đây, một số mô hình tương tự như Trường hè Khoa học đã bắt đầu xuất hiện. Việc xiển dương khoa học và gây dựng cộng đồng khoa học trẻ đã không còn là những đốm lửa nhỏ leo lét như khoảng chục năm về trước nữa.   Những biểu hiện đó, cùng với các phong trào xã hội khác, như xây dựng văn hóa đọc, xuất bản sách khoa học, cộng hưởng với phong trào khởi nghiệp và sản xuất công nghiệp của một số tập đoàn lớn… hứa hẹn sẽ mang lại một sức sống mới cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam.   Để đến một lúc nào đó, tinh thần khoa học không chỉ là một khái niệm ở trong sách vở và trường học, mà thực sự trở thành một thứ tinh thần thời đại, phổ biến và lan tỏa đến mọi ngõ ngách của đời sống trên mảnh đất này.   Vòng tay và hơi ấm  Tuy mong đợi tinh thần khoa học đến một ngày nào đó sẽ bén rễ sâu trên mảnh đất này, và trở thành một thứ tinh thần của thời đại, để đưa đất nước tiến lên, thoát khỏi thân phận của một nước nghèo, giành được vị thế xứng đáng trên trường quốc tế, nhưng tôi cũng luôn ý thức được những mặt trái mà khoa học có thể mang lại cho con người và xã hội.   Trong số những mặt trái đó, đáng lưu ý nhất có lẽ là sự hiệu quả và lạnh lùng của lý trí có thể sẽ làm nhạt đi hơi ấm và những cảm xúc thiêng liêng mà chỉ con người mới có được.   Khoa học thuộc về lý trí, thuộc về thực tại khách quan và logic sắc lạnh. Nhưng con người lại có cả trái tim, vòng tay và hơi ấm tình người, và trú ngụ trong thế giới chủ quan – nội tâm của chính mình.   Vì thế, nếu chỉ tôn sùng khoa học mà bỏ qua các giá trị về cảm xúc, nghệ thuật, đạo đức và tôn giáo; nếu chỉ hướng đến thế giới khoa học – khách quan mà bỏ qua thế giới nội tâm – chủ quan thì khi lên đến cực đoan, khoa học có thể sẽ làm nghèo nàn tâm hồn con người, suy giảm tính người và gây hại cho xã hội.  Vì lẽ đó, trên hành trình xiển dương khoa học, chúng ta cũng đồng thời cần xiển dương văn hóa, nghệ thuật và đạo đức, cũng như cần bảo vệ sự kết nối với tự nhiên, sự thiêng liêng của đức tin và sự cao quý của tâm hồn con người.   Chúng ta dùng khoa học để truy tìm chân lý, nhưng chỉ chân lý không thôi thì chưa đủ, mà phải cân bằng trong một tổng thể Chân – Thiện – Mỹ – Hòa.    Nếu không, dù có được khoa học, thì chúng ta sẽ đối mặt với việc đánh mất cân bằng trong đời sống cá nhân và xã hội, và qua đó, từng bước đánh mất chính bản thân mình. □    Author                Giáp Văn Dương        
__label__tiasang Thiết bị đeo cổ thông minh có khả năng theo dõi biểu cảm khuôn mặt      Các nhà khoa học thuộc Đại học Cornell phát triển một thiết bị đeo cổ thông minh có khả năng theo dõi biểu cảm khuôn mặt chỉ bằng cách sử dụng camera hồng ngoại để chụp cằm và phần dưới cổ.      Phần cứng của thiết bị đeo NeckFace, bao gồm camera hồng ngoại, đèn LED cận hồng ngoại và bộ lọc băng tần hẹp IR.     TS. Cheng Zhang, phó giáo sư khoa học thông tin ở ĐH Cornell, thiết kế thiết bị NeckFace, dựa trên một thiết bị tương tự có dạng tai nghe headset do anh phát triển trước đó. Anh cho biết thiết bị vòng đeo cổ mới này được cải tiến đáng kể cả về hiệu suất lẫn sự riêng tư, giúp người đeo có một lựa chọn công nghệ ít lộ liễu hơn.    Trong hội nghị video trực tuyến, người dùng không cần phải ở trong tầm ngắm của camera, thiết bị sẽ tái tạo gương mặt của một cách hoàn hảo khi họ di chuyển trong lớp hoặc thậm chí đi bộ ra bên ngoài, theo đồng tác giả GS. François Guimbretière.    TS. Zhang và các cộng sự đã tiến hành thử nghiệm với 13 người, mỗi người được yêu cầu thực hiện 8 nét mặt khi ngồi yên và 8 nét mặt khi đi bộ. Trong khi ngồi, họ được yêu cầu quay đầu nhưng thực hiện các biểu cảm gương mặt. Những người tham gia nghiên cứu đã biểu thị tổng cộng 52 dạng khuôn mặt.    NeckFace được thử nghiệm ở cả hai thiết kế: một dạng dây đeo cổ có camera đôi ngay dưới chỗ xương đòn, và một dạng vòng đeo cổ với camera hồng ngoại trông như mặt dây chuyền.    Nhóm nghiên cứu thu dữ liệu nền cơ bản về chuyển động khuôn mặt bằng camera 3D TrueDepth trên iPhone X, và so sánh với dữ liệu thu được bằng NeckFace. Sử dụng các phép tính học sâu, các tác giả nhận thấy NeckFace phát hiện chuyển động trên khuôn mặt với độ chính xác gần giống như các phép đo trực tiếp bằng máy ảnh điện thoại.    Thiết kế dạng dây đeo cổ có camera đôi tỏ ra hiệu quả quả hơn dạng dây chuyền, có thể vì dây đeo có 2 camera nên thu được thông tin nhiều hơn từ cả hai phía so với vòng cổ chỉ có 1 camera ở chính giữa.    TS. Zhang tin rằng khi thiết bị được tối ưu hóa, nó có thể theo dõi cảm xúc của con người trong suốt một ngày và các bác sĩ có thể dùng những thông tin như vậy để đưa ra quyết định, TS. Zhang nói.    Nghiên cứu đã được công bố trong Kỷ yếu ACM về các công nghệ tương tác, di động, thiết bị đeo và phổ biến tháng 6/2021.    Ngô Thành    Author                phongvien        
__label__tiasang VR3D: Đưa công nghệ ảo vào đời thực      Trên thế giới, bảo tồn các di sản bằng công nghệ 3D đã rất phổ biến trong khoảng 10 năm trở lại đây. Do thiếu một nền tảng công nghệ, các dữ liệu này không thể chia sẻ rộng rãi để cộng đồng cùng chung tay nghiên cứu, bảo tồn hoặc chỉ chia sẻ những file có chất lượng thấp. Tuy nhiên, công nghệ VR3D của Nguyễn Trí Quang, phát triển từ khi 15 tuổi có thể giải quyết được vấn đề này.      Con báo đá ở Phủ Dầy, Nam Định trên VR3D. Người xem có thể xoay, lật, thu nhỏ, phóng to để quan sát như đến tận nơi chiêm ngưỡng. Ảnh: VR3D.vn  Cuối năm lớp 9, Quang quyết định…bỏ học để tập trung vào việc phát triển nền tảng cho phép mọi người xem các mô hình 3D trên trình duyệt web của máy tính để bàn và điện thoại di động mà không cần cài thêm ứng dụng nào. Với những học sinh Hà Nội khác, quyết định này là bất thường, nhưng với Quang, đó lại là điều có thể hiểu được. Sinh ra trong một gia đình làm nghề chế tác đồ thủ công mỹ nghệ, Quang tiếp xúc vàđược hướng dẫn sử dụng máy quét 3D từ cách đây gần 10 năm để hỗ trợ việc sưu tầm và tạo mẫu của gia đình. Khi được giao cho việc thiết kế web để giới thiệu công ty và các sản phẩm của gia đình lên internet, Quang nảy ra ý tưởng đưa hẳn các file 3D đã quét lên cho sinh động. Nhưng file 3D vốn đòi hỏi phần mềm chuyên dụng và máy tính cấu hình cao mới có thể xem được. Hơn nữa, cách đây sáu năm, không sẵn có các nền tảng để chia sẻ và xem các file 3D một cách dễ dàng trên internet. Đó là lí do mà VR3D ra đời.  Tương tự như các nền tảng chia sẻ file 3D miễn phí trên web như Sketchfab (Pháp) và Clara.io (Canada) mở ra trong vài năm trở lại đây, VR3D được phát triển dựa trên nền tảngHtml5 và công nghệ WebGL (một giao diện lập trình ứng dụng website – API) cho phép hiển thị và tương tác với file 3D trên các trình duyệt web mà không cần phải cài thêm plug-in. Tuy nhiên, khác với hai doanh nghiệp trên, chỉ tạo ra một nền tảng chia sẻ chung giữa những nhà thiết kế đồ họa 3D, định hướng của Quang là phát triển vô số các giải pháp dựa trên VR3D tùy biến với nhu cầu thực tế của từng khách hàng không chuyên,  từ tạo mô hình 3D của một mẫu trưng bày nhỏ cho đến một công trình, không gian lớn. Vì vậy, Quang kết hợp kinh nghiệm xử lý file 3D lâu năm (tối ưu những cái “nho nhỏ” từ màu sắc, hình khối…) và tự phát triển công nghệ nén tích hợp vào VR3D, đảm bảo dung lượng file tải lên internet giảm nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên chất lượng của file gốc và chạy “mượt” ngay cả trên các thiết bị cấu hình thấp. Quang từ chối cho biết tên cụ thể nhưng tiết lộ rằng đã nhận được đề nghị chuyển giao từng phần công nghệ của một số công ty nước ngoài.  Tiềm năng lớn…  Nhiều người biết đến VR3D với bộ sưu tập linh vật Việt trên internet lên đến gần hai trăm mẫu, được quét 3D từ các chi tiết kiến trúc tại các di tích lịch sử của Việt Nam mà Quang tới thăm. Người xem có thể xoay, lật, phóng to, thu nhỏ các hình ảnh này và cảm thấy như được trực tiếp ngắm các hiện vật ở ngoài đời thực. Các mô hình 3D có ưu thế vượt trội so với ảnh và video trong việc bảo tồn và phục dựng di sản vì có thể đạt đến độ chính xác rất cao từ kích thước, màu sắc đến hiện trạng nứt, vỡ, xước của các công trình. Người bảo tồn có thể dựa vào đó để khôi phục chính xác những phần bị hư hỏng của vật thật trong tương lai. Hơn 10 năm trở lại đây, một loạt các tổ chức phi chính phủ và các nhà nghiên cứu trên thế giới rơi vào một cuộc “chạy đua” quét 3D các di sản văn hóa của thế giới trước khi nó bị tàn phá bởi những cuộc nội chiến, thiên nhiên hoặc bởi sự quên lãng của cộng đồng. Tuy nhiên, vì không có nền tảng công nghệ hỗ trợ, các dữ liệu số hóa này không được chia sẻ rộng rãi hoặc chỉ có thể chia sẻ các dữ liệu có chất lượng rất thấp. Nhưng công nghệ của Quang có thể giải quyết được vấn đề này. Nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Trần Hậu Yên Thế nhận định: “VR3D của Trí Quang có ưu điểm online nên tư liệu đến được với rất nhiều người. Mọi người cần xem và cần dừng chỗ nào tùy ý”.Nhiều hiện vật cổ đã được tái dựng lại từ nguồn dữ liệu của VR3D. Ví dụ, nhà điêu khắc Nguyễn Đức Vũ đã phục dựng thành công con nghê gỗ phủ sơn được đặt ở đền thờ Lê Thánh Tông (đã bị hư hỏng nặng và hiện nay đang trưng bày ở bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) dựa trên những hình ảnh 3D trên VR3D.  Bên cạnh đó, các file 3D có thể dễ dàng chuyển thành các file thực tế ảo (Virtual Reality – VR), cho phép người xem có thể bước vào một không gian sống, đi đứng, tương tác với các hiện vật trong đó như trong không gian thực hoặc chuyển thành các file thực tế tăng cường (Argumented Reality – AR), cho phép các hình ảnh 3D ảo hiện lên giữa không gian thực. Hiện tại, nền tảng VR3D của Quang hỗ trợ hiển thị cả AR và VR, cho phép người dùng không phải đầu tư những thiết bị đắt tiền mà trải nghiệm trên điện thoại mà trải nghiệm được ngay trên web, không cần cài các ứng dụng. Hiện nay, một số bảo tàng lớn trên thế giới đã sử dụng công nghệ AR, cho phép người tham quan đưa điện thoại gần một hiện vật và sẽ thấy các thông tin nổi lên trên hiện vật đó nhưng họ cần cài thêm ứng dụng di động mới có thể xem được.  Nhưng thương mại hóa thế nào?  Do các công ty phát triển nội dung 3D hoặc VR ở Việt Nam quá hiếm hoi, Quang hướng tới khách hàng trong lĩnh vực như bất động sản, thương mại điện tử hoặc giáo dục muốn quảng bá hoặc làm sản phẩm dưới dạng thực tế ảo hoặc 3D.Quang tự tin về giải pháp “trọn gói” từ quét cho đến hoàn thiện mẫu vật 3D của mình không chỉ tự chủ, linh hoạt về phần mềm mà còn ở phần cứng với kinh nghiệm của mình hơn 10 năm phối hợp, tùy chỉnh nhiều loại thiết bị quét 3D sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng.  Mặc dù VR3D là công nghệ đầy hứa hẹn nhưng để thương mại hóa ở quy mô lớn là một bài toán khó. Hiện nay, thời gian để xử lý hoàn thiện một hiện vật để đưa lên website trung bình là ba ngày. Còn với một công trình, quy trình này có thể diễn ra vài tháng (chẳng hạn như Đình Tiền Lệ trên website của VR3D mà Quang chia sẻ là công trình 3D lớn đầu tiên của mình, với nhiều bước “thử và sai” được thực hiện trong vòng 4 tháng). Anh Hoàng Quốc Việt, CEO của công ty Vietsoftpro, chuyên hỗ trợ số hóa các bảo tàng và di tích bằng phương pháp chụp ảnh 2D hoặc 360 chia sẻ, Quang phải đẩy nhanh tốc độ hơn bây giờ rất nhiều, nhu cầu của các bảo tàng là phải số hóa hàng vạn hiện vật trong vòng một năm hoặc các khu di tích rộng hàng trăm ha trong vòng một, hai tháng.  Hơn thế nữa, VR, AR là hai lĩnh vực còn xa lạ với cả thị trường trong và ngoài nước. Trong hội nghị Innovatube tổ chức hôm 30/7 vừa qua, Trịnh Tùng Anh, người sáng lập Lapentor – một startup cung cấp giải pháp chụp ảnh 360 chất lượng cao, cho người xem trải nghiệm đầu tiên về thực tế ảo, cho biết, các công ty trong lĩnh vực VR, AR rất khó để bước chân vào các lĩnh vực đặc thù như bất động sản, giáo dục, y tế… nếu người sáng lập không có hiểu biết sâu sắc, hoặc chưa từng làm việc trong những ngành đó.  Thừa nhận rằng, mặc dù về nền tảng tương tác đã khá vượt trội, nhưng quy trình tạo ra nội dung 3D vẫn còn nhiều bước thủ công, hơn một năm qua, Trí Quang đã tập trung vào việc tăng tốc quá trình tạo nội: thiết kế hệ thống quét tự động, viết phần mềm xử lý các công đoạn… để tạo mô hình 3D từ vật thật hàng loạt: “Tôi nghĩ giải pháp mới của VR3D nếu được ứng dụng rộng rãi có thể trở thành một thế mạnh riêng của Việt Nam mình trongnhiều lĩnh vực, đặc biệt là thương mại điện tử. Các ông lớn thương mại điện tử trên thế giới cũng chưa có ứng dụng này”.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vũ khí mới trong cuộc chiến chống vi khuẩn kháng kháng sinh      Trong cuộc chạy đua vũ trang dai dẳng giữa vi khuẩn và các loại thuốc kháng sinh do con người tạo ra, có một công cụ mới để mang lại lợi thế cho con người, một phần bằng cách tìm ra các điểm yếu của vi khuẩn và có tiềm năng dẫn đến các phương pháp điều trị trúng đích hơn hoặc phương pháp điều trị mới đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra.    Một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Texas ở Austin đã phát triển những  chứng minh sự hỗ trợ điều trị bằng những đầu dò hóa học để giúp nhận diện một enzyme do một số loại E.coli và vi khuẩn phế cầu khuẩn tạo ra, được biết đến là có khả năng phân hủy nhiều dạng kháng sinh thường dùng, khiến cho các loại vi khuẩn này kháng thuốc một cách nguy hiểm.       Phó giáo sư hóa học Emily Que, một trong những người dẫn dắt nhóm nghiên cứu này cho biết: “Để chống lại việc điều trị bằng kháng sinh, vi khuẩn đã phát triển những cơ chế khác nhau, một trong số đó là tạo ra các enzyme có khả năng ‘nhai nuốt’ kháng sinh trước khi chúng hoạt động. Công cụ mà chúng tôi phát triển sẽ cung cấp thông tin quan trọng để đi trước vi khuẩn có thể gây chết người một bước”.  Trong bài báo được công bố trên tạp chí Journal of the American Chemical Society vào cuối tháng 5/2021, các nhà nghiên cứu đã nhắm vào một loại enzyme vi khuẩn có tên là New Delhi metallo-beta-lactamase (NDM) do một số dòng vi khuẩn E. coli và phế cầu khuẩn sản xuất ra.  Trên thực tế, enzyme NDM có khả năng phá vỡ các loại kháng sinh thuộc nhóm penicillin, cephalosporin và carbapenem. Đây vốn là những kháng sinh an toàn và hiệu quả nhất dùng trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn. Các loại kháng sinh khác có thể mang đến nhiều tác dụng phụ hơn, gây ra nhiều phản ứng với thuốc hơn hoặc không sẵn có ở một số nơi trên thế giới.   Để phát hiện ra enzyme NDM, nhóm nghiên cứu đã phát triển các đầu dò hóa học (probe) có khả năng phát sáng khi tiếp xúc với enzyme này. Công cụ này sẽ cảnh báo cho báo sĩ loại vi khuẩn nào đang ảnh hưởng đến bệnh nhân và cho biết nên sử dụng loại kháng sinh nào.   Ngoài việc chỉ ra sự hiện diện của enzyme NDM, đầu dò hóa học phát sáng do Que và giáo sư chuyên ngành sinh hóa và hóa dược Walt Fast phát triển có thể giúp tìm ra cách chống lại những vi khuẩn kháng kháng sinh này.  Các bác sĩ thường kết hợp các loại thuốc kháng sinh thông thường với một chất ức chế để chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh. Mặc dù hiện chưa có chất ức chế nào cho hiệu quả lâm sàng với những loại vi khuẩn sản xuất ra enzyme NDM nhưng đầu dò của Que có thể giúp tìm ra một chất như vậy.   Khi đầu dò liên kết với enzyme NDM và bắt đầu phát sáng, nếu ta cho vào đó một chất ức chế hiệu quả thì đầu dò sẽ bị lỏng ra và ngừng phát sáng. Bằng cách này, các nhà khoa học có thể nhanh chóng thử nghiệm một lượng lớn các loại thuốc tiềm năng để tìm ra chất ức chế thích hợp. Que và Fast đều hi vọng có thể tiếp tục thực hiện những nghiên cứu như vậy trong tương lai.  Radhika Mehta, tiến sĩ mới tốt nghiệp tại Đại học Texas ở Austin và là tác giả chính của bài báo nhấn mạnh: “Công cụ này cho phép chúng tôi phát triển những phương pháp điều trị và dần dần hiểu về những đặc điểm tiến hóa của loại protein này”. Cô hiện đang là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại phòng thí nghiệm Merchant của Đại học California, Berkeley.   Nghiên cứu cũng xem xét đến quá trình miễn dịch dinh dưỡng, tức quá trình khi cơ thể sản xuất ra protein để phản ứng với nhiễm trùng. Những protein này sẽ chộp lấy tất cả kim loại có sẵn trong cơ thể, chẳng như kẽm rất cần để tạo ra enzyme NDM, làm giảm nồng độ nguyên tố này và khiến vi khuẩn dễ bị tấn công hơn.   Que nói rằng “kể từ khi được phát hiện vào năm 2008, sự tiến hóa của vi khuẩn [chứa NDM] cho thấy nó không chỉ phát triển khả năng kháng kháng sinh mà còn chống lại quá trình miễn dịch tự nhiên của con người. Điều này đặc biệt đáng sợ”. Đầu dò của Que có thể dùng để nghiên cứu khả năng miễn dịch dinh dưỡng và enzyme NDM vì nó sẽ chỉ phát sáng nếu có sự hiện diện của nguyên tố kẽm cần cho việc tạo thành enzyme.  Trang Linh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-antibiotic-resistant-bacteria-weapon.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vữa polymer vô cơ mới từ phế thải công nghiệp      Nhóm sinh viên trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội,  trên cơ sở những nghiên cứu nền tảng của thế giới, đã tiến hành ứng  dụng để sản xuất các mẫu vữa sử dụng chất kết dính Polymer vô cơ với  thành phần chủ yếu là tro  bay nhiệt điện đã qua sơ tuyển. Đề tài đã được trao giải nhất cuộc thi Tài năng khoa học trẻ Việt Nam 2011.    Xi măng portland là chất kết dính được dùng phổ biến trong các công trình xây dựng do có nhiều ưu điểm cả về tính dễ thi công và độ tin cậy. Tuy nhiên, sản xuất xi măng portland được cho là gây ô nhiễm nghiêm trọng do mức độ phát thải khí và bụi nhiều. Hơn nữa, các kết cấu sử dụng xi măng truyền thống bị phá hủy nhanh chóng khi chịu nhiệt độ cao.    Nhằm thay thế dần nguồn vật liệu này, một chất kết dính gọi là polymer vô cơ đang được nghiên cứu và từng bước ứng dụng vào thực tế xây dựng. Sản phẩm được tạo thành do phối hợp các vật liệu vô cơ giàu khoáng Silic – nhôm với một số hợp chất hoá học như xút và thuỷ tinh lỏng. Sản phẩm thu được là mạch polymer ba chiều có cấu trúc chuỗi của bộ khung Silic – nhôm – ôxi cứng rắn và bền vững. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các ưu điểm nổi bật của vật liệu này về các tính chất cơ học và độ bền, đồng thời tận dụng được chất thải công nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.  Hàng năm ở nước ta có hàng chục triệu chất thải công nghiệp như: tro bay của nhà máy nhiệt điện, xỉ lò cao của nhà máy luyện gang thép, bùn đỏ của ngành sản xuất bôxít, tro trấu của ngành nông nghiệp,… Việc tận dụng chất thải này là vấn đề cấp bách ở Việt Nam để bảo vệ môi trường sống. Nhóm sinh viên trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội, trên cơ sở những nghiên cứu nền tảng của thế giới, đã tiến hành ứng dụng để sản xuất các mẫu vữa sử dụng chất kết dính Polymer vô cơ với thành phần chủ yếu là các vật liệu khoáng giàu silic và nhôm, như tro bay nhiệt điện đã qua sơ tuyển, cát vàng, ngoài ra có phụ gia gồm hỗn hợp dung dịch kiềm là xút (NaOH) và thuỷ tinh lỏng (K2SiO3) được trộn với tỷ lệ thành phần hợp lý; sau đó sản phẩm được tiến hành kiểm tra chất lượng theo các Tiêu chuẩn hiện hành.  Quá trình nhào trộn được thực hiện bằng máy trộn vữa Holbat Mixer. Các hỗn hợp đối chứng sử dụng xi măng PCB30 và PCB40 được nhào trộn theo tiêu chuẩn. Việc nhào trộn các hỗn hợp có sử dụng chất kết dính Polymer cũng được tiến hành tương tự, nhưng thời gian trộn kéo dài hơn.   Đầu tiên, cát và tro bay được trộn khô trong vòng 2 phút. Sau đó, dung dịch kiềm hoạt hóa gồm xút và thủy tinh lỏng được rót vào và trộn tiếp trong vòng 5 phút để đạt được hỗn hợp đồng nhất. Hỗn hợp sau khi nhào trộn được đúc mẫu theo hình dầm kích thước 40X40X160 mm. mẫu sẽ được đầm chặt bằng bàn rung trong khoảng 2 phút. Sau đó, mẫu tiếp tục được đưa để bảo quản ở nhiệt độ 60 độ C. Và cuối cùng là khâu thử nghiệm, nung mẫu đến 1000 độ C và tiến hành nén để thử độ bền cơ học  Đánh giá về giá trị của đề tài, Ban tổ chức cuộc thi Tài năng khoa học trẻ Việt Nam 2011 đã trao giải nhất cho nhóm tác giả về nghiên cứu này. Những thử nghiệm thành công ban đầu đã chứng minh cho nguồn vật liệu mới đầy tiềm năng có thể sản xuất và ứng dụng trong xây dựng. Vấn đề còn lại là triển khai ở quy mô lớn hơn, để đưa vào thực tiễn và dần thay thế chất kết dính truyền thống là xi măng portland trong quá trình thi công xây dựng, góp phần bảo vệ môi trường.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Vua” túi giấy 21 tuổi của Uganda      Khởi nghiệp khi 16 tuổi với chỉ 14 đô-la,  giờ đây Andrew Mupuya- chủ công ty sản xuất túi giấy đầu tiên của Uganda  – đã trở thành một doanh nhân thành đạt với nhiều giải thưởng uy tín.    Tất cả bắt đầu vào năm 2008, khi cả bố và mẹ của Mupuya đều mất việc, Mupuya phải tự tìm cách trang trải cho bản thân.  Một cách tình cờ, chính phủ Uganda lại trở thành cứu tinh gián tiếp cho Mupuya. Đó là thời điểm mà các nhà chức trách đang tính đến chuyện ra lệnh cấm túi nylon để hạn chế các tổn hại cho môi trường. Mupuya, lúc đó vẫn còn đang là học sinh cấp 2, lập tức nhận ra cơ hội khởi xướng một công ty sản xuất túi giấy.   “Tôi đã tiến hành một nghiên cứu về tính khả thi, nghiên cứu thị trường tại các cửa hàng bán lẻ, các ki-ốt, siêu thị ở Kampala và thấy rằng thực sự có nhu cầu và thị trường tiềm năng cho túi giấy,” Mupuya kể.   Theo tính toán của mình, Mupuya thấy rằng cậu cần 14 đô-la để bắt đầu. Cậu kiếm 11 đô-la đầu tiên từ việc bán 70 kg chai nhựa mà cậu thu nhặt trong vòng một tuần. Mupuya vay 3 đô-la còn lại từ một giáo viên của cậu ở trường và bắt đầu sự nghiệp kinh doanh của mình với việc sản xuất túi giấy ở một quy mô nhỏ.   Kể từ đó, công việc kinh doanh của Mupuya bắt đầu lớn mạnh dần lên và hiện tại, ở tuổi 21, Mupuya đã là chủ của YELI, công ty đã đăng ký đầu tiên của Uganda sản xuất túi giấy.  Nhà doanh nghiệp trẻ này thuê 16 nhân công để sản xuất gần 20.000 túi giấy mỗi tuần. Khách hàng của cậu bao gồm các nhà hàng, cửa hàng bán lẻ, siêu thị, trung tâm y tế, và cả các công ty đa quốc gia như Samsung (YELI đã sản xuất 1.000 túi đặc dụng cho các đại lý tại địa phương của công ty điện tử này). Mupuya cho biết, hiện tại công ty có 72 khách hàng, và 90% khách hàng luôn quay lại.  Năm 2012, Mupuya nhận giải thưởng Anzisha trị giá 30.000 đô-la cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trẻ Châu Phi. Giải thưởng dành cho những sáng kiến giúp giải quyết những vấn đề cấp bách của cộng đồng. Tuy Chính phủ Uganda đã thử ra lệnh cấm túi nylon trong nỗ lực giảm tác hại tới môi trường, hiện nay tại Kampala, túi nylon vẫn còn được sử dụng và thường xuyên gây tắc các hệ thống thoát nước hoặc bị xả rác thành đống bên vệ đường.  Hiện tại, Mupuya lấy nguồn giấy từ thủ đô Nairobi của Kenya. Công ty của cậu đóng đô tại Kasokoso, một khu ổ chuột ngay ngoài trung tâm thành phố Kampala. Tại đây, tất cả được làm bằng tay rất cẩn thận: các công nhân của YELI tự cắt, gập và dán keo hàng nghìn túi giấy bằng tay mỗi ngày. Tuy vậy, quy trình này khá mất thời gian, và với lượng khách hàng ngày càng tăng, công ty bắt đầu không theo kịp lượng đặt hàng. Mupuya nói thách thức lớn nhất với công ty của cậu bây giờ là vấn đề cung-cầu, bởi hiện tại công ty mới chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu từ phía khách hàng.  Mupuya cho biết bước tiếp theo của cậu là sẽ đầu tư vào máy móc để tăng năng suất. Cậu còn mơ tới việc xây dựng một xí nghiệp sản xuất lớn để cung cấp túi giấy cho toàn Châu Phi, đồng thời kêu gọi chú ý của cộng đồng vào việc bảo vệ môi trường.  Khánh Minh dịch theo CNN       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vùng đất mới trên biển Bắc      Một hòn đảo phục vụ khai thác điện gió dự kiến được xây ở biển Bắc (North sea) sẽ góp phần thúc đẩy thị trường điện năng cho toàn châu Âu trong tương lai.    Điện gió  Các công viên gió (offshore wind farm) khổng lồ trên biển có vai trò hết sức to lớn trong quá trình chuyển đổi năng lượng. Hãng Tennet đang cố gắng xây dựng một hòn đảo với tham vọng đây sẽ trở thành điểm kết nối với hàng loạt công viên gió ở ngoài khơi biển Bắc. Điện từ hàng nghìn tuốc bin gió sẽ được kết nối trên đảo và từ đây chúng sẽ được truyền tải vào đất liền của nhiều quốc gia: Theo kế hoạch của Tennet, sẽ đưa điện đến Hà lan, Đức, Bỉ, Anh quốc, Đan mạch và thậm chí tới cả Na uy. Kroon, một quản lý của Tennet cho biết, hòn đảo này có thể thúc đẩy thị trường điện lực châu Âu đi lên, một mặt giúp phân phối hiệu quả hơn lượng điện gió đang ngày một gia tăng, mặt khác mạng lưới đường dây cao thế sẽ đẩy mạnh buôn bán điện giữa các nước cùng tham gia dự án. Tóm lại, hệ thống cơ sở hạ tầng do hãng này xâu dựng cùng với hòn đảo này có thể làm cho chi phí sản xuất điện gió giảm rõ rệt.   Hãng Tennet có trung tâm ở Hà lan nhưng phần lớn hoạt động của hãng lại ở nước Đức. Tennet là một trong bốn nhà khai thác hệ thống truyền tải điện lớn nhất ở Đức và cũng đã kết nối với một số công viên điện gió ở biển Bắc thuộc Đức. Tennet có tổng cộng 22.000 kilomet đường dây truyền tải điện và cung ứng điện cho 41 triệu khách hàng.  Nhiều nước châu Âu như Đức, Hà Lan, Anh – các quốc gia ven biển Bắc đều đang cải tạo hệ thống cung ứng điện các công viên điện gió ở ngoài khơi. Tính đến cuối năm ngoái, ở vùng duyên hải châu Âu, tổng lượng điện năng từ các tuốc bin gió đem lại vào khoảng 11 Gigawatt, tương đương công suất của 11 nhà máy điện nguyên tử cỡ lớn. Riêng trong năm 2015 đã tăng được 3 Gigawatt. Phần lớn các tuốc bin gió này được lắp đặt trên  biển Bắc. Hiệp hội điện gió ở châu Âu (European Wind Energy Association – EWEA) cho rằng đến năm 2030 có thể đưa công suất điện gió lên tới 66 Gigawatt. Hiện nay hai công viên điện gió đầu tiên ở biển Bắc và biển Ban tích đã sản xuất nhiều điện hơn so với kế hoạch ban đầu. Đến năm 2020 số lượng các công viên điện gió trên biển có thể nhiều hơn so với kế hoạch đặt ra.  Theo Kroon, đảo gió của Tennet có thể được đưa vào hoạt động vào khoảng năm 2030 – 2050. Theo kế hoạch dự kiến, đảo gió phải xây dựng ở vùng nước nông, có thể là Doggerbank, vùng biển không sâu, có chỗ chỉ sâu khoảng 13 mét dưới mặt nước biển. Khu vực này có chiều dài khoảng 300 kilomet và chiều rộng có nơi đạt 100 kilomet. Vùng biển này phía tây cách nước Anh chỉ độ  100 kilomet và phía đông cách Đan mạch 150 kilomet. Kroon cũng cho biết, sẽ có một cụm nhiều modul, một Modul có thể đáp ứng công suất của khoảng 30 Gigawatt điện gió. Ngoài ra, hòn đảo này cũng có thể được dùng làm cơ sở cho việc bảo trì các tuốc bin gió hoặc có thể cất giữ các phụ tùng thay thế.  Kroon kêu gọi, để tạo bước ngoặt về năng lượng, điều then chốt là châu Âu phải phối hợp cùng nhau giải quyết vấn đề, nghĩa là các chính phủ mỗi nước, các cơ quan điều phối, các nhà sản xuất điện gió, các nhà quản lý khai thác mạng lưới điện cũng như các tổ chức bảo vệ môi trường phải cùng nhau hợp tác trong sản xuất điện gió.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vườn ươm doanh nghiệp TPHCM: Chờ hái quả ngọt      Từ năm 2007 đến  2012, Sở KH-CN TPHCM đã  đầu tư gần 7 tỷ đồng xây ba trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ  cao, nhằm sớm khắc phục yếu kém trong mối liên kết giữa đào  tạo – nghiên cứu và sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đến nay số doanh  nghiệp “tốt nghiệp” rời vườn ươm còn khá khiêm tốn.    Vượt chỉ tiêu nhưng…  Báo cáo của Sở KH-CN TPHCM cho biết, hơn 5 năm qua, các trung tâm ươm tạo (TTUT) trong hệ thống của sở – gồm Đại học Nông Lâm, Đại học Bách khoa TPHCM, Khu Nông nghiệp  công nghệ cao – có 31 doanh ngiệp (DN) tham gia. Trong đó, hiện còn 26 DN đang thời gian ươm tạo, 6 DN đã tốt nghiệp ra khỏi vườn ươm để hoạt động độc lập. Số lượng DN được thu hút và ươm tạo đã vượt mục tiêu trong kế hoạch kinh doanh ban đầu. Một số ý tưởng công nghệ khả thi trở thành những sản phẩm công nghệ trên thị trường. Điển hình là các sản phẩm dựa trên công nghệ RFID của DN Inext Technology. Trong 2 năm 2010 và 2011, doanh thu của các sản phẩm này vào khoảng 30.000 USD/năm. Gần đây, Inext chuyển hướng sang nghiên cứu loạt sản phẩm về tổng đài IP, đồng thời bước đầu xây dựng hệ thống thử nghiệm về chẩn đoán trực tuyến cho Bệnh viện Nhân dân 115.  Tại Khu công nghệ cao, TTUT DN đã tiếp nhận 6 dự án thuộc 4 lĩnh vực: công nghệ thông tin, viễn thông; cơ khí chính xác, tự động hóa; công nghệ sinh học; vật liệu mới, công nghệ nano. Hiện nay, vườn ươm DN công nghệ cao (CNC) đang thực hiện ươm tạo 6 dự án. Trong đó, tiêu biểu như dự án của Công ty cổ phần Công nghệ ACIS với sản phẩm là hệ thống điều khiển điện thông minh, doanh thu trong năm 2013 đạt 300 triệu đồng.  Các sản phẩm hiện nay công ty đang thương mại hóa là: thiết bị tủ điều khiển Powercontrol và thiết bị cho nhà thông minh Easy control. Tín hiệu phản hồi từ khách hàng và đối tác khá tốt. Mẫu mã, tính năng và giá thành của sản phẩm là lợi thế cạnh tranh. Một số DN khác như Cenfotech, BK Nature, BK 368 (TTUT Đại học Bách khoa), Công ty Rau mầm Phương Thành, Công ty TNHH Công nghệ Nông lâm (TTUT Đại học Nông lâm)… cũng có các sản phẩm thâm nhập được vào thị trường với doanh thu tương đối tốt.  Tuy nhiên, cũng theo đại diện Sở KH-CN TPHCM, do sự phát triển của các DN, sự đa dạng về lĩnh vực ươm tạo nên các trang thiết bị, cơ sở vật chất hạ tầng hiện có chỉ mới đáp ứng được một phần nhu cầu của DN. Tại TTUT Đại học Nông lâm, các dịch vụ hỗ trợ về tiêu chuẩn, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu. Bên cạnh đó do hạn chế về quỹ đất, ngoài Khu Nông nghiệp CNC, các TTUT trong trường đại học chỉ mới cung cấp văn phòng hoạt động cho DN, chưa đủ khả năng cung cấp mặt bằng để phục vụ nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm.  Không vội vàng  Dễ dàng nhận thấy, phong trào làm vườn ươm DN đã nở rộ ở Việt Nam từ khá sớm. Ngoài TPHCM với 5 vườn ươm đang hoạt động, các địa phương khác cũng dần hình thành như tại Hà Nội, một số vườn ươm ở Khu CNC Hòa Lạc và một vài trường đại học, thậm chí là dự án của DN, cũng đã được triển khai. Vườn ươm Công nghệ Việt Nam – Hàn Quốc tại Cần Thơ có tổng vốn đầu tư 400 tỷ đồng, trong đó phía Hàn Quốc đóng góp tới 70%. Theo dự kiến, đến năm 2015, dự án sẽ vận hành thử, đồng thời triển khai công tác đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao khoa học công nghệ.  Tuy nhiên, theo đại diện các TTUT kể trên, tìm ra được hạt giống tốt để ươm là công việc không dễ dàng. Ông Lê Thành Nguyên, Giám đốc TTUT DN Khu Công nghệ cao cho rằng, tinh thần khởi nghiệp nơi các bạn trẻ, nhất là sinh viên còn rất hạn chế. Khi còn trên ghế nhà trường, các bạn cũng chưa được đào tạo kiến thức về khởi nghiệp. Do đó, mặc dù một số bạn trẻ có kiến thức chuyên môn, sở hữu công nghệ, mong muốn khởi nghiệp nhưng không biết cách để biến những kiến thức, những công nghệ đó thành những sản phẩm thương mại hóa. Còn nếu tìm được hạt giống, các TTUT cũng loay hoay tìm nguồn vốn mồi để giúp các dự án có được sự khởi đầu mạnh mẽ, giúp DN có thể tồn tại và phát triển bền vững.  Ông Mai Thanh Phong, Giám đốc TTUT Đại học Bách khoa TPHCM cho biết, các TTUT mới chỉ hoạt động 4-5 năm nên khó đòi hỏi có ngay những kết quả lớn. Chỉ mong sớm có một nguồn quỹ đầu tư mạo hiểm, giúp DN tự đứng bằng ý tưởng nghiên cứu của chính mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vườn ươm nhỏ từ tầm nhìn  của các tập đoàn lớn      Là “đứa con” của ngành công nghiệp Đài Loan và kết quả của nhiều chương trình đào tạo về khởi nghiệp, Garage+ là mô hình vườn ươm/trung tâm tăng tốc khởi nghiệp tại Đài Loan thu hút những công ty spin-off từ các trường đại học và tập đoàn lớn.       Garage+, một Accelerator/Incubator Đài Loan đang lên ở châu Á, được điều hành bởi một nhóm những người trẻ khởi nghiệp U30 với tầm nhìn toàn cầu, là sự kết hợp giữa tham vọng tái thiết nền kinh tế Đài Loan của những tập đoàn lớn và tinh thần đổi mới sáng tạo của những người trẻ tài năng của lãnh thổ này. Garage+ là kết quả từ một chuỗi các chương trình đổi mới sáng tạo của Epoch Foundation – một tổ chức bao gồm hơn 20 tập đoàn lớn nhất Đài Loan.  Xuất phát từ một tầm nhìn lớn hơn: Truyền lửa cho thế hệ kế tiếp  Hai người sáng lập Epoch: Paul Hsu, chuyên gia kinh tế của Đại học Quốc gia Đài Bắc và Lester. C Thurow, trưởng khoa Quản trị kinh doanh của MIT Sloan, đã tập hợp giới doanh nhân và khởi nghiệp Đài Loan vào đầu những năm 1990 nhằm định hướng nền kinh tế Đài Loan trong tương lai và đóng góp vào sự thịnh vượng của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, Epoch có 26 thành viên là những tập đoàn hàng đầu trong nhiều lĩnh vực của Đài Loan, từ công nghệ bán dẫn (TSMC, MediaTek, Foxconn…) đến điện tử (Acer, Philips Đài Loan), tài chính – bảo hiểm. Những hoạt động của Epoch tập trung vào hai nội dung: 1) Liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, think tank hàng đầu trên thế giới như MIT, UC Berkerly (Mỹ), Chatham House (Anh) nhằm được chia sẻ cơ sở vật chất hiện đại và các nghiên cứu về những lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ đóng vai trò chủ chốt trong tương lai (khoa học máy tính, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học) và tiếp cận những kết quả phân tích và dự báo về những xu hướng kinh tế, tài chính thế giới; 2) Đào tạo những tài năng trẻ, trang bị cho họ một tác phong làm việc chuyên nghiệp trong các tập đoàn lớn trên thế giới, tầm nhìn toàn cầu và kĩ năng khởi nghiệp.   Những thành viên trong Epoch Foundation nhận ra rằng vị thế của một tập đoàn lớn (phải đảm bảo việc làm và lương cho người lao động, chịu ảnh hưởng lớn của tình hình kinh tế – tài chính trong nước và thế giới,…) khiến họ khó linh hoạt trong đổi mới sáng tạo theo những xu hướng mới. Chính vì vậy, họ xây dựng những chương trình diễn ra bên ngoài hoạt động của tập đoàn nhằm thúc đẩy thế hệ trẻ tạo ra những công ty và công nghệ đột phá có tiềm năng thay đổi ngành công nghiệp Đài Loan trong tương lai.    Ra đời từ năm 2003, “Những nhà khởi nghiệp trẻ cho tương lai” (Young Entrepreneurs for the Future – YEF) là chương trình quan trọng nhất của Epoch nhằm đào tạo những người trẻ tài năng thành những con người chính trực, có kỷ luật, luôn vươn lên và có tầm nhìn toàn cầu. Chương trình này mỗi năm lựa chọn 200 sinh viên để đào tạo trong một môi trường “mô phỏng” thực tế khởi nghiệp.   YEF được chia làm bốn giai đoạn: 1) Trang bị cho các sinh viên cách tiếp cận thị trường và soi chiếu những vấn đề trong xã hội dưới nhiều góc độ; 2) Các sinh viên sẽ học cách nghiên cứu, viết kế hoạch kinh doanh để giải quyết vấn đề mà họ cho rằng khả thi; 3) Ra đề bài cho các sinh viên dưới dạng những vấn đề cần giải quyết trong lĩnh vực tài chính, nông nghiệp, công nghệ sinh học… để họ học cách tư duy rộng mở, đưa ra những giải pháp và trình bày trước toàn bộ ban giám khảo và 200 người tham dự hoàn toàn bằng tiếng Anh;  4) Lựa chọn 17 người đến thăm các trường đại học, các startup, những tập đoàn lâu năm trên thế giới và trao đổi với những nhà lãnh đạo tại đây.   Trong quá trình tham gia chương trình, ở giai đoạn một và hai, 200 người tham dự sẽ được chia thành 20 nhóm và mỗi nhóm được “kèm cặp” bởi hai huấn luyện viên: một người là sáng lập viên công ty khởi nghiệp và người còn lại là trưởng dự án nghiên cứu trong một tập đoàn lớn. Hiện nay, YEF có hơn 100 mentors và giám khảo không chỉ đến từ khối doanh nghiệp Đài Loan mà còn từ hai khu vực khởi nghiệp nổi tiếng của Mỹ là Silicon Valley và Boston.   Với chương trình YEF, các sinh viên không chỉ được tiếp xúc với môi trường khởi nghiệp mà còn cả phương thức làm việc trong các tập đoàn lâu đời; được trao đổi và làm việc với những nhà khoa học, nhà khởi nghiệp và lãnh đạo tập đoàn của Đài Loan và trên thế giới. “Chúng tôi giúp họ có một tầm nhìn rộng mở với vấn đề của Đài Loan, của thế giới và nghĩ về những giải pháp của tương lai. Chúng tôi giúp họ lựa chọn con đường của mình. Họ không chỉ học cách startup một công ty mà còn học cách startup chính mình”,  Jason Lu, quản lí của Garage+ nói.            “Chúng tôi giúp họ có một tầm nhìn rộng mở với vấn đề của Đài Loan, của thế giới và nghĩ về những giải pháp của tương lai. Chúng tôi giúp họ lựa chọn con đường của mình. Họ không chỉ học cách startup một công ty mà còn học cách startup chính mình.” – Jason Lu.          Không phải tất cả những người bước ra từ YEF đều khởi nghiệp, nhiều người trở thành  quản lí dự án trong các tập đoàn hàng đầu thế giới hoặc nhà khoa học trong các viện nghiên cứu và trường đại học liên kết với Epoch như MIT, UC Berkerly với hi vọng tạo ra những giá trị mới cho ngành công nghiệp của Đài Loan.    Vườn ươm “đáng đặt chân tới” nhất Châu Á  Nhiều học viên sau khi kết thúc chương trình YEF đã quay trở lại Epoch để xin tư vấn về ý tưởng khởi nghiệp của mình, đó là lí do mà Garage+ ra đời vào năm 2012. Hiện nay, trung tâm này là chỗ làm việc của những công ty giàu sức đổi mới sáng tạo như GAIUS (công ty sản xuất ô tô điện) và Aidmics (công ty sản xuất kính hiển vi siêu nhỏ gắn vào điện thoại để phân tích và xét nghiệm đối tượng quan sát).  Khác với đa số các vườn ươm của thế giới hoạt động theo mô hình của một quỹ đầu tư mạo hiểm, tức là hỗ trợ các startup, đầu tư và lấy cổ phần từ đó, Garage+ hoạt động phi lợi nhuận và hỗ trợ hoàn toàn miễn phí cho các startup được lựa chọn. Họ không giới hạn số lượng số startup được nhận hỗ trợ mỗi năm. Vì được hỗ trợ toàn bộ tài chính bởi tám tập đoàn hàng đầu Đài Loan, trong đó có TSMC, MediaTek (hai tập đoàn lớn nhất thế giới trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn); và các công ty điện tử như Phison, Delta Electronics, Quanta Computer… nên Garage+ thiên về hỗ trợ các startup trong lĩnh vực lợi thế của những tập đoàn trên như khoa học – kỹ thuật máy tính, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học, điện tử…          Garage+ trước tháng 12/2014 chỉ là vườn ươm ảo và hiện nay văn phòng Garage+ cũng chỉ vỏn vẹn 100m2 cho khoảng 63 startups làm việc nhưng đây được coi là một trong những trung tâm ươm tạo/tăng tốc khởi nghiệp “đáng tới” nhất Châu Á. 73% số startups làm việc tại Garage+ đều gọi vốn thành công. Trong số 74 công ty Garage+ ươm tạo, có tới 27 công ty (tương đương 36%) đã phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, trong khi con số này ở các cơ sở ươm tạo nổi tiếng nhất trên thế giới chỉ dừng lại ở 0,5-0,6%.           Xuất phát từ những trải nghiệm về thị trường của các tập đoàn lớn và chương trình đào tạo khởi nghiệp của Epoch Foundation, Garage+ không nhận những startup của sinh viên, lứa tuổi của người sáng lập phải trong khoảng 27-43 bởi đó là lứa tuổi khởi nghiệp có tỉ lệ thành công cao nhất. Các nhóm khởi nghiệp tới Garage+ phải đáp ứng được ba yếu tố: 1) Phải có sản phẩm (prototype) vì theo Jason Lu, “nó thể hiện người sáng lập cam kết và theo đuổi mục tiêu khởi nghiệp của mình. Chúng tôi không nhận những người chỉ có ý tưởng vì ý tưởng thì đổi thay hằng ngày, chúng tôi không biết làm thế nào để giúp họ cả”; 2) Có công nghệ đột phá và mang đến lợi ích to lớn cho cộng đồng, thậm chí có tiềm năng định hướng xã hội trong tương lai; 3) Có khả năng mở rộng quy mô toàn cầu.   Garage+ là một dự án của Epoch Foundation nên được thừa hưởng giá trị, nguồn lực và mạng lưới cơ sở vật chất của tổ chức này. Với tư tưởng chỉ cung cấp những giá trị bên ngoài trường đại học, toàn bộ huấn luyện viên khởi nghiệp của Garage+ đều đến từ nền công nghiệp và các quỹ đầu tư. Các startup làm việc tại Garage+ được phép sử dụng các phòng thí nghiệm, máy móc và thiết bị thuộc các tập đoàn lớn. Nhiều dự án khởi nghiệp tại các trường đại học liên kết với Epoch Foundation như MIT và UC Berkerly cũng tới Garage+ làm việc, trong đó có công ty spin-off  Rethink của MIT – sản xuất robot hợp tác với con người thực hiện những nhiệm vụ phức tạp trong công nghiệp. Bên cạnh đó, Garage+ cũng hỗ trợ các startup “chiêu mộ” nhân lực thông qua mạng lưới cựu học viên của YEF.    Jason Lu mô tả Garage+ không đơn thuần là một vườn ươm mà là một Hub (tổ) cho những người muốn khởi nghiệp. Mặc dù “sinh sau đẻ muộn” so với những vườn ươm trong trường đại học nhiều năm nhưng Garage+ lại có nhiều kinh nghiệm về thị trường và việc khởi nghiệp, đồng thời  là nơi ghé thăm của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài Đài Loan. Chính vì vậy, những công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ mới và cần nhiều vốn thường đến Garage+. Jason Lu cho biết, 40% startups tại đây xuất phát từ các trường đại học và các dự án nghiên cứu trong tập đoàn lớn.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vườn ươm vẫn chưa cho quả ngọt      Khởi nghiệp từ các vườn ươm là một công việc đã có từ lâu trên thế giới, và ở Việt Nam, từ năm 2005, một vườn ươm tạo doanh nghiệp khoa học công nghệ đầu tiên đã ra đời ở khu Công viên phần mềm Quang Trung. Đây sẽ là nơi hỗ trợ cả về nguồn lực tài chính lẫn kiến thức để cho các “hạt giống” ý tưởng được nảy mầm và phát triển vững mạnh, sau đó mới đi tìm các nhà đầu tư bỏ vốn vào để đưa sản phẩm ra thị trường.      Đến nay, một loạt các vườn ươm doanh nghiệp khoa học – công nghệ đã lần lượt ra đời và phát triển tại các khu công nghệ cao lẫn các trường đại học để ươm các “hạt giống tốt”: Ở TPHCM, các vườn ươm tạo đã được thành lập trong Đại học Bách khoa, Đại học Nông Lâm, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao…; Ở Hà Nội một số vườn ươm ở khu Công nghệ cao Hòa Lạc và một vài trường đại học, thậm chí là dự án của doanh nghiệp, cũng đã được triển khai.  Ở các địa phương khác cũng đã có những vườn ươm được đầu tư lớn, chẳng hạn như Vườn ươm Công nghệ Việt Nam – Hàn Quốc tại Cần Thơ có tổng vốn đầu tư là 400 tỉ đồng, trong đó phía Hàn Quốc đóng góp tới 70%. Theo dự kiến, đến năm 2015, dự án sẽ được vận hành thử, đồng thời triển khai công tác đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao khoa học công nghệ để hướng tới phía Cần Thơ vận hành độc lập.   Hàng năm, các vườn ươm của Việt Nam thường có các chương trình tuyển chọn các hạt giống, kết nối với một số doanh nhân hàng đầu trong ngành để tìm sự tư vấn, đỡ đầu và cả nguồn vốn. Thế nhưng, những khó khăn trong việc tìm vốn và thương mại hóa sản phẩm vẫn luôn cản bước phát triển và hiệu quả của các vườn ươm này.  Theo các chuyên gia, thách thức lớn nhất của hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học – công nghệ là chưa có đầu vào tốt và thiếu công cụ hỗ trợ, nhất là công cụ tài chính như các quỹ đầu tư mạo hiểm, bởi lẽ đầu tư vào lĩnh vực này cũng được xem là đầu tư mạo hiểm khi tỉ lệ thành công không nhiều.  Theo một chuyên gia ở Đại học Bách khoa TPHCM, ở Mỹ có hơn 1.200 vườn ươm, và 92% doanh nghiệp trong đó ra đời, tiếp tục phát triển và thành công sau năm năm, so với tỷ lệ chỉ 21% doanh nghiệp ngoài vườn ươm còn tồn tại được sau khoảng thời gian đó. Trong khi đó ở Việt Nam, theo một cuộc nghiên cứu sơ bộ, 30% doanh nghiệp “chết” trước một tuổi, 50% chết trước hai tuổi và 80% doanh nghiệp chết sau chưa tới ba năm hoạt động.  Ngay cả khi có “hạt giống tốt”, những khâu liên quan như tiếp thị, quảng bá, thương mại hóa các công trình nghiên cứu vẫn là một công việc đầy khó khăn và các doanh nghiệp vẫn phải tự bươn chải.   Hiện tại, vườn ươm của Đại học Bách khoa đang mở các khóa học hướng đến các đối tượng có ý tưởng kinh doanh bên ngoài thay vì chỉ hướng đến đối tượng sinh viên như trước đây, bởi cho đến nay rất ít ý tưởng kinh doanh của sinh viên được triển khai thành những mô hình kinh doanh có thể sản sinh lợi nhuận vì phần đông sinh viên bận rộn với kết quả học tập và không có điều kiện theo đuổi đến cùng những ý tưởng của mình.  Ở một vườn ươm khác cũng ở TPHCM, bỏ mức lương tháng 3.000 đô la Mỹ ở một công ty công nghệ lớn, T. cùng vài người bạn lao vào khởi nghiệp một phần mềm kiểm soát người dùng, ứng dụng trong các trường học, ngân hàng… Nhưng vấn đề lớn nhất là đầu ra của sản phẩm, T. không thể tìm được, và từ chỗ làm ăn khá giả, nay là một con nợ đến nhà cũng không còn vì vợ đòi ly dị.  Trong khi đó, dù không ở trong vườn ươm nào, nhưng với ý tưởng công nghệ tốt, Nguyễn Long, một sinh viên của Đại học Bách Khoa TPHCM lại kiếm được rất nhiều tiền. Năm 2011, Long đã viết ứng dụng Sayit, một một ứng dụng giao tiếp trên điện thoại thông minh BlackBerry bằng giọng nói mà người dùng chỉ cần đặt các câu hỏi bằng tiếng Anh, thiết bị sẽ trả lời, và đưa lên kho ứng dụng của hãng RIM, sau này đổi tên thành BlackBerry, với mức giá 4 đô la Mỹ cho mỗi lượt tải về. Và chỉ sau ba tháng, Long đã kiếm được 400 triệu đồng, sau khi đã trừ 30% số tiền mà kho ứng dụng của BlackBerry giữ lại.  Đến nay, hàng tháng, Long kiếm được khoảng 100 triệu đồng, và với cương vị  là nhà phát triển cấp cao của BlackBerry tại Việt Nam, anh đang viết ứng dụng mới chạy trên nền tảng mới BlackBerry 10 của chiếc điện thoại này.        Cơ quan chủ trì Chương trình Vườn ươm Sáng tạo Khoa học  và Công nghệ trẻ TPHCM, một chương trình tuyển chọn các dự án có ý  tưởng hay dành cho những người tuổi từ 35 trở xuống với việc mỗi dự án  được hỗ trợ tối đa kinh phí là 80 triệu đồng, đang tuyển chọn các dự án  ươm tạo công nghệ để thực hiện trong năm 2014.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Vương quốc Anh: Cần nỗ lực hơn để thu hút sinh viên EU      Các trường đại học tại Vương quốc Anh thu hút hàng trăm ngàn sinh viên quốc tế mỗi năm. Trong thập kỷ qua, phần lớn những sinh viên này đến từ các nước EU. Nhưng cuộc bỏ phiếu rời EU năm 2016 của Vương quốc Anh đã làm thay đổi bức tranh tại các trường đại học.      Các trường đại học Vương quốc Anh vẫn là điểm đến thu hút đối với sinh viên quốc tế, ngoại trừ sinh viên EU. Ảnh: Michael Brooks/Alamy  Năm học 2021-22, số lượng sinh viên EU năm nhất đăng ký nhập học vào các trường đại học ở Vương quốc Anh đã sụt giảm 53%. Theo số liệu do Cơ quan Thống kê Giáo dục Đại học (HESA) công bố, Brexit và chính sách nhập cư đang tái định hình đối tượng đến học tập và làm việc tại các trường đại học ở nước này.  “Xu hướng này không khiến chúng ta quá ngạc nhiên”, Simon Kemp, nhân viên báo chí và truyền thông tại HESA cho biết. Tình trạng sụt giảm xảy ra trùng hợp với sự kiện Vương quốc Anh thay đổi các chính sách về tài chính và nhập cư của sinh viên EU hậu Brexit.  Không còn được hưởng đặc quyền  Các trường đại học tại Vương quốc Anh thu hút hàng trăm ngàn sinh viên quốc tế mỗi năm. Trong thập kỷ qua, phần lớn những sinh viên này đến từ các nước EU. Nhưng cuộc bỏ phiếu rời EU năm 2016 của Vương quốc Anh đã làm thay đổi bức tranh tại các trường đại học.  Trong các năm học 2017–18 đến 2020–21, số lượng sinh viên năm thứ nhất đến từ các nước EU dao động trong khoảng 65.000 sinh viên. Nhưng vào năm 2021-22, con số đó giảm mạnh xuống còn 31.400 — giảm khoảng 53% so với năm học trước.  Charley Robinson thuộc Universities UK International, một nhóm đại diện cho các trường đại học Vương quốc Anh trên khắp thế giới, cho biết tình trạng sụt giảm nghiêm trọng này không có gì đáng ngạc nhiên. Trước Brexit, sinh viên từ EU được chi trả học phí giống như công dân Anh và có thể tiếp cận một số khoản vay sinh viên. Nhưng vào năm 2021, hậu Brexit, các sinh viên mới từ EU không còn được hưởng quyền lợi này và hiện phải trả các khoản phí giống như các sinh viên quốc tế khác.  Tình trạng tương tự – nhưng không trầm trọng bằng – cũng diễn ra trong đội ngũ nhân viên trường đại học. Tổng số công dân EU làm việc tại các trường đại học của Vương quốc Anh đã tăng lên trong vài thập kỷ qua; nhưng năm 2021-22 là năm thứ hai liên tiếp tổng số nhân viên của EU giảm xuống, dù chỉ 1%.  Điều này có thể bắt nguồn từ những rào cản về thể chế mà người lao động từ EU phải đối mặt. “Đơn giản là mọi chuyện không còn dễ dàng như trước đây đối với công dân EU đến làm việc tại Vương quốc Anh”, Robinson lý giải.  Tăng ở khu vực khác  Mặc dù số lượng sinh viên và người lao động từ các nước EU giảm, các trường đại học Vương quốc Anh vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với nhân viên và sinh viên quốc tế. Số lượng nhân viên quốc tế từ các quốc gia bên ngoài EU đã tăng 9% trong các năm học 2020–21 và 2021–2022. Số lượng sinh viên quốc tế năm nhất không phải là công dân EU cũng tăng lên, từ khoảng 189.500 trong năm 2017–18 lên hơn 350.300 trong năm 2021–22.  Vào năm học 2021-22, khoảng 27% trong tổng số sinh viên quốc tế – tương đương 183.600 sinh viên – đến từ Trung Quốc. Con số này cao hơn so với năm trước, có thể do sự phục hồi sau đại dịch COVID-19. Năm học vừa qua cũng ghi nhận ​​ số lượng sinh viên năm thứ nhất đến từ các quốc gia ở Đông Nam Á và Tây Phi tăng lên. Từ năm 2020-21 đến 2021-22, số lượng sinh viên Ấn Độ đã tăng 50%, chiếm khoảng 23% tổng số sinh viên quốc tế.  Ben Moore, nhà quản lý chính sách của Russell Group – đại diện cho 24 trường đại học hàng đầu ở Vương quốc Anh, cho biết số lượng sinh viên bên ngoài EU ngày càng tăng có thể là kết quả của các chính sách nhằm thu hút sinh viên quốc tế. Trong số đó phải kể đến chính sách về thị thực, cho phép một số sinh viên ở lại nước này tới ba năm sau khi tốt nghiệp.  Robinson cho hay việc thu hút và giữ chân nhân tài quốc tế sẽ đòi hỏi các chính sách nhập cư ổn định trong tương lai. “Sự hiện diện của các sinh viên quốc tế mang đến nhiều điều tích cực cho các vùng của Vương quốc Anh”, bà nhận định.  Kemp nghi ngờ xu hướng giảm số lượng sinh viên EU sẽ tiếp tục diễn ra trong vài năm tới. Nhưng ông nói thêm rằng các trường đại học Vương quốc Anh sẽ phải nỗ lực hơn để thu hút sinh viên từ EU, bởi “hiện tại đối với họ chi phí đã đắt đỏ hơn rất nhiều”.  Đinh Cửu  tổng hợp  Nguồn: UK universities report sharp post-Brexit drop in EU students    Author                .        
__label__tiasang Hơn cả AlphaFold: AI vượt trội trong việc tạo ra các protein mới      Hơn hai năm qua, học máy đã tiến hóa dự đoán cấu trúc protein. HIện tại, ba bài báo trên tạp chí “Science” miêu tả một tiến hóa tương tự trong thiết kế protein.    Trong những bài báo mới, các nhà sinh học tại trường Y Đại học Washington đã chứng tỏ là học máy có thể hữu dụng trong việc tạo ra các phân tử protein nhiều hơn và chính xác hơn nhiều so với khả năng trước đây. Các nhà khoa học hi vọng là sự tiến triển này sẽ dẫn đến nhiều loại vaccine mới, nhiều phương pháp điều trị mới và công cụ mới để bắt giữ carbon, và các vật liệu sinh học bền vững.  “Các protein là những vật liệu cơ bản trong sinh học nhưng chúng tôi biết là tất cả các loại protein tìm thấy trong các loài thực vật, động vật và vi sinh vật chỉ là một phần trăm so với những gì có thể. Với những công cụ phần mềm mới, các nhà nghiên cứu có thể tìm thấy những giải pháp để đối mạt với những thách thức tồn tại đã lâu trong y học, năng lượng và công nghệ”, tác giả chính của nghiên cứu là giáo sư sinh hóa David Baker, tại trường Y ĐH Washington và là một trong những người nhận giải thưởng Đột phá 2021 về Khoa hoc sự sống, nói.  Các protein đều được coi là “những khối cơ bản của sự sống” bởi vì chúng thiết yếu trong cấu trúc và chức năng của tất cả các hình thức sống. Chúng tiến hóa trong mọi quá trình hữu hình diễn ra bên trong các tế bào, bao gồm sự tăng trưởng, phân chia và sửa chữa. Các protein tạo nên các chuỗi dài hóa học gọi là các amino acids. Trình tự amino acids trong một protein được xác định có hình dạng ba chiều. Hình dạng phức tạp này rất quan trọng cho chức năng của protein.  Gần đây, các thuật toán học máy hiệu quả bao gồm AlphaFold và RoseTTAFold đều được huấn luyện để dự đoán các hình dạng chi tiết của các protein trong tự nhiên trên cơ sở các chuỗi amino acid của chúng. Học máy là một dạng của trí tuệ nhân tạo cho phép các máy tính học hỏi từ dữ liệu mà không cần được lập trình một cách cụ thể. Học máy có thể hữu dụng để mô hình hóa các bài toán khoa học phức hợp, vốn được coi là quá phức khó để con người có thể hiểu được.  Vượt qua các protein tìm thấy trong tự nhiên, nhóm của Baker đã phá vỡ thách thức thiết kế cho mỗi phần.  Đầu tiên, một hình dạng protein mới phải được tạo ra. Trong một bài báo xuất bản vào ngày 21/7 tại tạp chí Science, nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ là trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra các hình dạng protein mới theo hai cách. Thứ nhất là “ảo giác”, tương tự như cách DALL-E hay các công cụ AI khác tạo ra kết quả dựa trên những gợi ý đơn giản; thứ hai gọi là “tái tạo” tương tự như đặc điểm hoàn thành tự động trong các thanh tìm kiếm hiện đại.  Thứ hai, để tăng tốc quá trình này, nhóm đã viết một thuật toán mới để tạo ra các trình tự amino acid. Miêu tả trong bài báo xuất bản vào ngày 15/9 trên Science, công cụ phần mềm có tên gọi ProteinMPNN chạy trong vòng một giây, nhanh hơn 200 lần so với phần mềm tốt nhất trước đây. Kết quả của nó vượt trội so với những công cụ trước đây và phần mềm không đòi hỏi chuyên gia phải tùy chỉnh để vận hành.  “Các mạng thần kinh đều dễ dàng huấn luyện nếu anh có một lượng dữ liệu khổng lồ nhưng với protein, chúng tôi không có nhiều ví dụ như chúng tôi ao ước. Chúng tôi phải tìm và nhận diện những đặc điểm nào trong các phân tử đó là quan trọng nhất. Đó quả là quá trình thử và sai”, Justas Dauparas, một postdoct tại Viện Thiết kế Protein, nói.  Thứ ba, nhóm nghiên cứu sử dụng AlphaFold, một công cụ do Alphabet’s DeepMind, phát triển để đánh giá một cách độc lập xem liệu các trình tự amino acid mà họ tạo ra có gập theo những hình dạng được mong đợi hay không.  “Phần mềm dự đoán các cấu trúc protein là một phần của giải pháp nhưng không thể tự mình mang đến cái mới”, Dauparas giải thích.  “ProteinMPNN là thiết kế protein mà AlphaFold đã dự đoán cấu trúc”, Baker cho biết thêm.  Trong công trình khác xuất hiện trên Science vào ngày 15/9, một nhóm nghiên cứu từ Phòng thí nghiệm của Baker xác nhận là sự kết hợp các công cụ học máy mới có thể tạo ra trong phòng thí nghiệm các protein mới mang chức năng.  “Chúng tôi tìm thấy là các protein được tạo ra bằng ProteinMPNN dường như gập theo dự kiến nhiều hơn và chúng tôi có thể tạo ra các tổ hợp protein phức tạp bằng các phương pháp này”, Basile Wicky, một postdoct tại Viện Thiết kế Protein, nói.  Trong số những protein mới được tạo ra là các vòng ở kích thước nano mà các nhà nghiên cứu tin là có thể trở thành thành phần của các cỗ máy nano thương mại. Kính hiển vi điện tử đã được họ dùng để quan sát các vòng này với kích thước một tỉ lần nhỏ hơn một hạt cây poppy.  “Đây mới là điểm bắt đầu của học máy trong thiết kế protein. Trong những tháng tới, chúng tôi sẽ nghiên cứu để cải thiện các công cụ này để tạo ra những protein có chức năng và động lực hơn”, Baker nói.  Các nguồn lực máy tính dành cho công trình này do Microsoft và Amazon đóng góp.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-alphafold-ai-excels-proteins.html  https://www.technologyreview.com/2022/09/15/1059550/an-ai-that-can-design-new-proteins-could-help-unlock-new-cures-and-materials/    Author                .        
__label__tiasang Vượt qua “vũng lầy” của công nghệ IoT      Các dự án IoT thành công trên thế giới mới ở mức thí điểm và chưa vượt qua quy mô ngoài một thành phố. Các sáng kiến IoT chỉ tập trung ở một số ý tưởng na ná giống nhau. Đó còn chưa kể, chính sách và cơ sở hạ tầng, kể cả ở những nước phát triển cũng chưa đáp ứng được việc áp dụng IoT trên diện rộng.      Vòm dữ liệu, nơi tập trung và trực quan hóa các dữ liệu của thành phố Bristol – một phòng thí nghiệm sống của công nghệ IoT ở Anh. Nguồn: Bristol Is Open  Từ khóa “IoT” đã không còn là một khái niệm thời thượng trong vài năm gần đây. Công nghệ này đã vượt qua giai đoạn bị thổi phồng bởi truyền thông và kì vọng của xã hội để tiến đến giai đoạn đi vào thực tế  đầy gian nan: Theo báo cáo “Internet Vạn vật: Nền tảng mới cho quan hệ chính phủ – doanh nghiệp” của World Bank công bố trong một sự kiện được World Bank và Bộ KH&CN tổ chức gần đây, các dự án IoT thành công trên thế giới mới ở mức thí điểm và chưa vượt qua quy mô ngoài một thành phố. Các sáng kiến IoT chỉ tập trung ở một số ý tưởng na ná giống nhau. Đó còn chưa kể, chính sách và cơ sở hạ tầng, kể cả ở những nước phát triển cũng chưa đáp ứng được việc áp dụng IoT trên diện rộng.  Giai đoạn khó khăn này được gọi là “đầm lầy” mà mọi loại công nghệ đều phải vượt qua để có thể trở nên hiệu quả, rẻ và phổ biến. Báo cáo chỉ ra rằng, để IoT có thể áp dụng rộng rãi, chính phủ có vai trò quan trọng. Điểm chung của một số ít ỏi những dự án thành công trên thế giới nằm ở việc chính quyền kiên trì theo đuổi việc áp dụng IoT, thậm chí lãnh đạo còn là người am hiểu và thành thạo về công nghệ. Chính quyền mới có thể tạo ra một cơ chế, nền tảng để khối chính phủ, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng phối hợp phát triển các giải pháp phục vụ người dân trên diện rộng. Bên cạnh đó là đầu tư cho cơ sở hạ tầng viễn thông và tạo ra những “phòng thí nghiệm sống” cho những giải pháp và chính sách mới.  Theo anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc công ty DTT, từng triển khai một số các dự án IoT thử nghiệm ở Hải Phòng, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh, phát biểu tại sự kiện, Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể làm chủ các giải pháp phần mềm và phần cứng sơ bộ. Tuy nhiên, các dự án IoT do tư nhân triển khai chỉ có ảnh hưởng và quy mô khiêm tốn nếu nhà nước thiếu một tầm nhìn về việc phát triển công nghệ này. Anh cho biết, đây là “câu chuyện 20 năm” và trước hết chính phủ phải xác định được động lực để phát triển IoT là gì: để tạo ra những mô hình thành phố thông minh giống như Singapore, Estonia nhằm bán gói giải pháp cho cả thế giới hay để tối ưu hiệu quả kinh tế xã hội như các quốc gia khác? Ngoài ra, có hai hướng để chính phủ phối hợp với tư nhân: Đầu tư vào những công nghệ chưa thấy rõ hiệu quả, nhưng có thể làm được ngay hay đầu tư vào những công nghệ rất hiệu quả nhưng chưa ai làm được?  Những người tham gia sự kiện có phần nghiêng về đáp án thứ hai, cho cả hai vấn đề trên. Ông Nguyễn Thắng, Giám đốc Trung tâm phân tích và dự báo (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) gợi ý, trong rất nhiều lĩnh vực và công nghệ liên quan đến IoT, Việt Nam nên mạnh dạn đầu tư cho ngành Khoa học dữ liệu và giáo dục STEM, cụ thể là tập trung vào hai kỹ năng lập trình và toán (để phân tích, nhận diện các mẫu trong khối lượng dữ liệu lớn). Ông cũng cho rằng Việt Nam nên phát triển nền tảng IoT của mình, dù có thể mất một cái giá cao hơn việc nhập khẩu từ nước ngoài vì “thà đánh đổi hiệu quả kinh tế còn hơn là mất an ninh và quyền sở hữu tài nguyên số quốc gia”.  Đồng tình với ý kiến này, ông Nguyễn Thái Hưng, cựu nhân viên mảng Tự động hóa tại Siemens Việt Nam* cho biết, từ kinh nghiệm của cá nhân ông, Việt Nam từ trước đến nay quá chú trọng đến khâu tự động hóa mà bỏ qua việc “tối ưu hóa hiệu quả công việc dựa trên dữ liệu”. Ông cho rằng, khái niệm “vật” trong internet của vạn vật nên hiểu là những hệ thống nhà máy lớn và để kết nối chúng cần những trí tuệ chuyên ngành kết hợp với công nghệ thông tin. Về việc phát triển nền tảng, ông cũng gợi ý là nên xây dựng các nền tảng IoT tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo.  Trên thực tế, theo ông Trần Đình Khả, Vụ trưởng Vụ CNTT (Bộ TT&TT), chính phủ Việt Nam cũng bắt đầu nhận thức về tầm quan trọng của dữ liệu, và đang có ý tưởng xây dựng khung pháp lý về quản lý, tái tạo, tạo ra, làm chủ dữ liệu để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội.  *sửa lại so với thông tin trên bản in là Nguyên đại diện tập đoàn Siemens tại Việt Nam    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Wake It Up: Nền tảng chia sẻ những điều tử tế      Tháng ba vừa qua, khi dư luận trong nước đang “sững sờ” trước sự nghiêm trọng của nạn ấu dâm và bức xúc vì quá nhiều bên “liên đới” không có động thái ngăn cản vấn nạn này, mạng lưới ngăn ngừa và ứng phó với bạo lực giới tại Việt Nam (GBVnet) đã ra thông báo kêu gọi xã hội ký tên để kiến nghị yêu cầu các cơ quan chức năng vào cuộc. Chiến dịch này thành công sau khi có 30.000 người ký tên chỉ trong vòng hai ngày dựa trên một nền tảng công nghệ là Wake It Up.      Hoàng Đức Minh, người sáng lập Wake It Up và cũng là một nhà hoạt động môi trường. Anh là đại diện đầu tiên của thanh niên Việt Nam tham gia Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về Biến Đổi Khí Hậu COP 15 tại Copenhagen, Đan Mạch.   Gọi vốn nhờ … bức xúc xã hội  Nhìn lại quá trình thực hiện các chiến dịch xã hội trước khi Wake It Up ra đời, các nhà hoạt động xã hội thường kêu gọi sự ủng hộ, chia sẻ của cộng đồng trên mạng xã hội cho các chiến dịch của mình nhưng không thể đong đếm chính xác có bao nhiêu người ký tên, chia sẻ mà chỉ có thể “ước chừng” số lượng người quan tâm đến vấn đề đó. Nếu muốn sử dụng phần mềm ký tên, các nhà hoạt động xã hội chỉ có thể chọn một giải pháp công nghệ của nước ngoài như Change.org hay Google Form. Tuy nhiên “người Việt Nam bị hạn chế bởi rào cản ngôn ngữ, rất nhiều người không biết sử dụng Change.org để ký tên”, Hoàng Đức Minh, người sáng lập Wake It Up, một trong 30 gương mặt dưới 30 tuổi có ảnh hưởng nhất năm 2014 do tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn, cho biết. Một giải pháp khác mà các nhà hoạt động xã hội có thể làm là tự tạo ra một website tiếng Việt dành riêng cho hoạt động của chiến dịch, “nhưng điều này cần tới kiến thức công nghệ, đó cũng là cả một thách thức với những nhóm thực hiện chiến dịch”, Minh nói.  Như vậy, nếu không có nền tảng công nghệ “thân thiện” với người Việt bằng tiếng Việt, cho phép cộng đồng ký tên, ủng hộ và lưu lại sự kiện thì có thể những chiến dịch xã hội đầy ý nghĩa sẽ bị “trôi” đi trong “rừng” thông tin xuất hiện trên mạng xã hội mỗi ngày. Đây chính là lý do Wake It Up ra đời – đem giải pháp công nghệ để hỗ trợ các chiến dịch xã hội thu thập ý kiến và sự hỗ trợ của cộng đồng.  Wake It Up không chỉ được cộng đồng xã hội biết tới nhiều nhất bởi chức năng ký tên cho các chiến dịch mà còn đem tới một khái niệm rất mới mẻ: Sharefunding (hình thức gọi vốn dựa trên các lượt chia sẻ). Ví dụ: Bạn rất “bức xúc” trước vấn đề rác thải đô thị và chỉ cần share (chia sẻ) thông tin về chiến dịch “Biến rác thành hoa” được phát động ở Wake It Up trên mạng xã hội. Cú click chuột share đó đã đóng góp 20.000 đồng cho chiến dịch. Share có thể “chuyển” thành tiền được là nhờ vào các nhà tài trợ đã cam kết sẽ hỗ trợ chiến dịch xã hội với điều kiện tên của nhà tài trợ xuất hiện trong mục bảo trợ cho chiến dịch. Như vậy sharefunding được hình thành và duy trì dựa trên nguyên tắc chiến dịch càng thu hút nhiều người share thì càng có lợi cho nhiều bên: nhà tài trợ được quảng bá vì đã gắn nhãn hiệu của họ với trách nhiệm xã hội, dự án được nhiều người biết tới và lại tiếp tục phát triển theo nguyên tắc quả bóng tuyết (snowball) càng lăn càng to. Và trên hết, cộng đồng được hưởng lợi nhờ không gian sống xanh sạch hơn, nhận thức, hành vi bảo vệ môi trường sống cũng từ đó dần thay đổi.Trong toàn bộ quá trình gọi vốn cộng đồng nhờ sharefunding, Wake It Up cung cấp một “không gian” cho các chiến dịch xã hội và các nhà tài trợ hoạt động, Wake It Up chỉ chịu trách nhiệm về mặt công nghệ, còn trách nhiệm quảng bá chiến dịch thuộc về nhà hoạt động xã hội và nhà tài trợ.  Đứng trước nhiều vấn đề xã hội hiện nay, phần đông người dân, trong đó có rất nhiều người trẻ, đều có những mong muốn thay đổi, cải thiện. Nghiên cứu về tình hình thanh niên Việt Nam năm 2016 của Viện Nghiên cứu thanh niên đã cho thấy thanh niên rất quan tâm đến đời sống chính trị, xã hội của đất nước và thế giới như: các vấn đề về thể chế (trên 56% người được khảo sát), vấn đề thực phẩm bẩn (64,5%), Formosa xả thải chất độc hại ra môi trường (63%), tòa án quốc tế bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc (gần 58%)… Mỗi thông tin về các hiện tượng xã hội gây “nóng” dư luận đều được hàng nghìn lượt người share chỉ trong vài ngày. Đây rõ ràng là một nguồn “tài nguyên” để gọi vốn trong cộng đồng nhằm xây dựng các chiến dịch xã hội và làm thay đổi nhận thức xã hội.  Wake It Up ra đời từ tháng 10 năm 2015, được sáng lập bởi nhà hoạt động xã hội trẻ Hoàng Đức Minh. Nền tảng công nghệ này cung cấp các dịch vụ chủ yếu cho hoạt động xã hội gồm: Khởi tạo một thư ngỏ và thu hút chữ ký của cộng đồng; Tổ chức cuộc thi; Tổ chức sự kiện; Tổ chức các chiến dịch xã hội. Wake It Up hoàn toàn miễn phí với các tổ chức xã hội và cộng đồng. Hệ thống được duy trì bằng phí tư vấn dành cho các công ty tham gia tài trợ thông qua chức năng sharefunding.  Mặc dù hình thức sharefunding này rất mới mẻ nhưng Wake It Up đã bước đầu thu được những thành công nhất định. Sau một năm hoạt động bằng nguồn vốn của nhà đầu tư (trị giá 50.000 USD), hiện nay Wake It Up đã tự “sống”bằng dịch vụ cung cấp nền tảng sharefunding. Trong một năm qua, các chiến dịch xã hội thông qua hình thức sharefunding của Wake it up đã huy động được nguồn vốn khoảng hơn 2 tỉ đồng (Wake It Up thu 10% phí tư vấn và giám sát để duy trì hoạt động công ty). Tương lai phía trước của Wake It Up vẫn đang rất rộng mở vì  “hoạt động xã hội là một thị trường ngách, hầu như không có đối thủ cạnh tranh”, Minh tự tin nhận định.  Nghiên cứu kỹ lưỡng các chiến dịch xã hội  Hoàng Đức Minh là một nhà hoạt động xã hội tích cực trong bảy năm qua với các hoạt động sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Action4Future, là hạt nhân nòng cốt trong nhiều chiến dịch thành công như “Tử tế là”, “Bảo vệ Sơn Đoòng”, “6.700 cây xanh”… Chính thông qua các hoạt động này, anh nhen nhóm hình thành ý tưởng công nghệ để hỗ trợ các hoạt động xã hội và hình thức gọi vốn cộng đồng bằng sharefunding. Ý tưởng đó càng được củng cố bởi hiện trạng nhiều chiến dịch xã hội có cả nghìn người ủng hộ khi bức xúc xã hội đang lên thành cao trào, nhưng rất có thể ngay sau đó lại bị “hòa tan” và không đưa đến một kết quả thực sự, có thể định lượng, đong đếm, có tác động tới các nhóm cụ thể nào.  Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu bài bản về các chiến dịch xã hội từ đầu là điều tối cần thiết để Wake It Up đảm bảo khả năng hỗ trợ các chiến dịch xã hội một cách tốt nhất. Minh và nhóm đồng sự đã nộp hồ sơ để xây dựng một dự án nghiên cứu về các chiến dịch xã hội ở Việt Nam và được Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (ISEE) tài trợ. Qua khảo sát 30 chiến dịch xã hội và nghiên cứu trường hợp bảy chiến dịch tiêu biểu nhất, nhóm của Minh đã rút ra kết luận chung: một chiến dịch được coi là thành công sẽ tập hợp đầy đủ các yếu tố: 1/ Có một nhóm khởi xướng tâm huyết (thậm chí có thể là người bị hại trực tiếp); 2/ Nhận được sự hưởng ứng của báo chí ngay từ đầu; 3/ Có yếu tố biểu tượng rõ ràng,mang tính “phản diện”, có thể gây ra được cảm xúc tức giận hoặc thương xót: ví dụ như voọc ở Sơn Trà đem đến biểu tượng thương xót khiến cộng đồng mạng thấy cần thiết bảo vệ. 4/ Đưa ra được một giải pháp giải quyết vấn đề rõ ràng và có thể đạt được thành công. Ví dụ: giải pháp của phong trào “6.700 cây xanh” rất rõ ràng là yêu cầu thành phố Hà Nội dừng chặt cây xanh.  Từ những kết luận này, nhóm của Minh tập trung tư vấn hỗ trợ thúc đẩy các chiến dịch xã hội nhằm đem tới một chiến dịch thành công, giảm thiểu rủi ro thất bại. Minh và các thành viên của Wake It Up trực tiếp tham gia hoạt động xã hội và vận động các nhóm chiến dịch sử dụng chức năng sharefunding nhằm kêu gọi tài trợ để phát triển chiến dịch xã hội tốt hơn.  Trong thời gian tới, ngoài hình thức sharefunding ban đầu là biến số lượt share thành lượng tiền tương ứng cho các chiến dịch xã hội, để “hấp dẫn” được nhiều doanh nghiệp và cộng đồng tham gia hơn nữa vào các hoạt động xã hội, Wake It Up đang triển khai các hình thức khác kêu gọi vốn cộng đồng cho hoạt động xã hội khác như Kindmate: mỗi thành viên tham gia Kindmate.net khi mua hàng của nhà tài trợ sẽ nhận được một voucher (voucher đó được chuyển tới những nhóm xã hội đang cần). Nhiều hệ thống bán hàng đang thu hút đông đảo khách hàng hiện nay như quần áo Boo, dịch vụ thể thao Wefit, chuỗi nhà hàng Aroifood… đã tham gia cung cấp voucher cho người tham gia Kindmate. Minh chia sẻ: “Không gian để Wake It Up thiết kế các hình thức sharefunding còn rất nhiều. Wake It Up sẽ tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá phản ánh của thị trường để liên tục thay đổi cho phù hợp với xu hướng mới trong hoạt động xã hội”. “Về lâu dài, chúng tôi hướng tới hoạt động xã hội mang tính khu vực, quốc tế chứ không chỉ gói gọn vào các hoạt động xã hội trong nước”, Minh nói thêm.  Người sáng lập Change.org: Một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2012  Vào ngày 8 tháng 3 năm 2012, một chiến dịch kêu gọi ký tên để “Khởi tố kẻ giết Trayvon Martin 17 tuổi” đã được đăng trên Change.org nhằm yêu cầu truy tố George Zimmerman, kẻ bắn chết nạn nhân người da màu Trayvon Martin từ ngày 26 tháng 2 năm 2012 nhưng chưa hề bị bắt giam. Ngay sau đó, chiến dịch này nhận được hơn 2,2 triệu chữ ký – số lượng chữ ký lớn nhất cho bất kỳ chiến dịch nào trong lịch sử Change.org tại thời điểm đó. Chiến dịch này chỉ là một trong hàng chục nghìn chiến dịch được phát động trên Change.org, một nền tảng công nghệ hỗ trợ các chiến dịch xã hội do Ben Rattray thành lập từ tháng 7 năm 2007 với mục tiêu “trao quyền cho con người ở tất cả mọi nơi tạo ra thay đổi”. Chủ đề của các chiến dịch thường được khởi tạo trên Change.org là các vấn đề nhân quyền như công bằng về kinh tế và luật pháp, giáo dục, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm…Trong vòng 10 năm qua, Change.org duy trì hoạt động dưới hình thức sharefunding và được nhiều tập đoàn, các tổ chức quốc tế trả tiền bảo trợ, nhận được 177 triệu lượt người ký tên cho các chiến dịch xã hội. Nhiều trang tin lớn như The Guardian, BBC News, TIME… đã đánh giá Change.org tạo ra tác động hội lớn khi đem lại cơ hội để những người dùng internet trên khắp thế giới có thể tập hợp lại hành động, bày tỏ ý kiến và đạt được mục đích chính trị, xã hội. Tờ TIME bình chọn Ben Rattray là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2012.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang WB dự báo VN tăng trưởng 5,5% năm 2013      Ngày 21/1, tại Hà Nội,  Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã công bố Báo cáo triển vọng kinh  tế toàn cầu 2013, trong đó dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 1013  đạt 5,5% và 5,7% trong năm 2014 và 6% năm 2015.    WB dự báo, tăng trưởng toàn cầu nhìn chung sẽ giữ ở mức 2,4% trong năm 2013, trước khi dần dần mạnh lên để đạt 3,1% vào năm 2014 và 3,3% trong năm 2015. GDP các nước đang phát triển ước tính tăng trưởng 5,1% trong năm 2012, và dự báo sẽ tăng lên 5,5% trong năm 2013, 5,7% năm 2014 và 5,8% năm 2015. Tăng trưởng ở các nước thu nhập cao đã bị hạ thấp so với các dự báo trước, ở mức 1,3% năm 2012 và 2013, tăng lên 2,0% năm 2014 và 2,3% năm 2015.  Tăng trưởng khu vực đồng euro dự báo chỉ khôi phục được con số dương vào năm 2014, sau khi đã âm 0,1% vào năm 2013, sau đó lên được mức 0,9% năm 2014 và 1,4% năm 2015. Nhìn chung, thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu, với mức tăng trưởng khiêm tốn 3,5% năm 2012, dự báo sẽ tăng tốc, đạt 6,0% năm 2013 và 7,0% năm 2015.  Trong Báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam, chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam Deepak K. Mishra nhấn mạnh: Việt Nam đã hội nhập khá sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, do đó nền kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. Thời gian qua, Chính phủ đã áp dụng chính sách tiền tệ và tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, nhờ đó kinh tế vĩ mô của Việt Nam khá ổn định. Môi trường kinh tế vĩ mô đã có bước thay đổi, lạm phát giảm, dự trữ ngoại tệ tăng lên, cán cân thanh toán được cải thiện, tỷ giá ổn định. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2012 ở mức 5,2% và dự kiến sẽ tăng lên khoảng 5,5% vào năm 2013. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là ưu tiên của Chính phủ.  Nhận định về triển vọng tăng trưởng đối với nền kinh tế Việt Nam, ông Deepak K. Mishra cho rằng, cải cách doanh nghiệp nhà nước đã bắt đầu khởi động từ một số quyết định của Chính phủ về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011- 2015. Tuy nhiên kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng đối mặt với những rủi ro như sức ép việc nới lỏng các chính sách tài khóa hoặc tiền tệ quá sớm có thể làm lạm phát tăng trở lại, chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng và nợ công…  Chủ tịch Nhóm WB Jim Yong Kim cho rằng, phục hồi kinh tế vẫn còn mong manh và bất trắc, làm lu mờ triển vọng của nền kinh tế có thể cải thiện nhanh chóng và quay trở lại tăng trưởng mạnh mẽ. Ông Kim nhấn mạnh, các nước đang phát triển cho đến nay vẫn rất kiên cường, nhưng không thể đợi cho đến khi tăng trưởng quay trở lại đối với các nước có thu nhập cao. Do vậy, WB phải tiếp tục hỗ trợ cho các nước đang phát triển đầu tư vào cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục. Điều này sẽ giúp đặt nền móng cho sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn mà chúng ta biết các nước đang phát triển có thể đạt được trong tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang WB thúc giục Việt Nam công bố nợ xấu chính thức      Theo ông Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, hiện nay không biết chính  xác nợ xấu của Việt Nam là bao nhiêu, do đó sẽ không xác định được giải  pháp. Bởi vậy, Chính phủ Việt Nam cần xem xét đến tỷ lệ nợ xấu chuẩn xác.    “Hiện nay ngân hàng Nhà nước (SBV) công bố nợ xấu của Việt Nam chiếm 4,9% GDP, cơ quan giám sát nói là 8,83%, thống đốc thì cho rằng 10%, còn các nhà phân tích nhận định tỷ lệ cao hơn 10%. Các bạn nên nhớ rằng 1% GDP tương đương hơn 1 tỉ USD, do đó sự chênh lệch giữa các công bố không phải con số nhỏ”. Ông Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam nhấn mạnh tại cuộc họp báo trước hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) chiều 5.12 tại Hà Nội.  Theo ông Mishra, hiện nay không biết chính xác nợ xấu của Việt Nam là bao nhiêu, do đó sẽ không xác định được giải pháp. Bởi vậy, Chính phủ Việt Nam cần xem xét đến tỷ lệ nợ xấu chuẩn xác.  Nói đến triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam, ông Mishra lưu ý, tăng GDP của Việt Nam mấy năm qua cho thấy chu kỳ là đầu năm thấp và cuối năm cao. Ví dụ đầu năm 2012 GDP chỉ ở 4%, mọi người rất lo sợ, nhưng đến quý II thì tăng lên 4,5%. Đặc biệt là cuối năm khi Tết đến, sản xuất và tiêu dùng nhiều hơn thì tăng trưởng cao hơn. Do đó không nên vội lạc quan khi GDP tăng về cuối năm.  Ông Mishra cũng nhấn mạnh đến các nguy cơ mà kinh tế Việt Nam vẫn đang phải đối mặt như lạm phát cơ bản vẫn cao (đã loại trừ yếu tố lương thực thực phẩm và nhiên liệu). Và nếu nới lỏng các chính sách tài khóa hoặc tiền tệ thì có thể làm lạm phát tăng trở lại. Mức dự trữ ngoại tệ thấp so với quốc tế. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam cần tăng hơn nữa, vì ảnh hưởng đến tỷ giá và cung tiền.  Chuyên gia của WB cảnh báo, sở dĩ Việt Nam thực hiện tái cơ cấu chậm là do chính sách tài khóa chưa tính đến chi phí cải cách. Trong khi đó, kinh nghiệm của ông cho thấy, với các nước rất tốn kém, và nếu càng trì hoãn việc tái cơ cấu thì chi phí càng cao, ảnh hưởng đến động năng của nền kinh tế.  Để góp sức, hiện WB và IMF đang tiến hành đánh giá tài chính để đưa ra lộ trình cải cách cần thiết cho Việt Nam về lĩnh vực ngân hàng.  Dự báo năm tới 2013, ông Mishra đưa ra tỷ lệ GDP là 5,5%, cao hơn 5,2% của 2012.  Trả lời câu hỏi của Sài Gòn Tiếp Thị về việc có lạc quan khi Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định Chính phủ sẽ xử lý được nợ xấu và cổ phần hóa hết DNNN trong giai đoạn 2015 – 2020 tại VBF mới đây không, bà Victoria Kwakwa – Giám đốc WB cho hay, bà hoàn toàn tin tưởng Việt Nam có thể làm được.  Bà nói, các quốc gia gặp các khó khăn trong khủng hoảng tài chính châu Á 1997 như Thái Lan, Malaysia, Indonesia… đã trải qua những thách thức lớn với gánh nợ xấu lớn, nhưng nền kinh tế của họ đã thoát khỏi khó khăn và tăng trưởng. Không có lý do gì chúng ta không lạc quan không làm được điều đó. Việt Nam cũng từng gặp những khó khăn này trong quá khứ, từng gặp khủng hoảng trong ngành ngân hàng tài chính. Chúng ta cần có quyết tâm của hệ thống chính trị cũng như là của Chính phủ, phối hợp thực hiện các cải cách đó, điều này hoàn toàn làm được.  “Tôi nghĩ nếu chúng ta nhìn vào kinh nghiệm và bài học của các nước đi trước thì chúng ta hoàn toàn có thể làm được, đòi hỏi chúng ta có quyết tâm, cam kết và sẵn sàng tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nơi khác để giải quyết các khó khăn của chúng ta”, bà Victoria Kwakwa nói.  Giám đốc WB nhấn mạnh, với DNNN, đấy phải là quá trình chúng ta thực hiện theo một lộ trình chứ không phải ngay lập tức, và chúng ta phải lựa chọn ưu tiên xem là nên làm với DN nào trước và nên cổ phần hóa DN nào sau. Đấy là lộ trình mà Nhà nước sẽ phải quyết định, chúng ta phải vận động nhanh nhưng tôi nghĩ khung thời gian 5 năm là hoàn toàn khả thi.  Về chương trình CG lần này (diễn ra vào ngày 10.12), bà Kwakwa cho hay, WB và bộ Kế hoạch đầu tư sẽ nói về xu hướng phát triển kinh tế, chính sách vĩ mô, và bước tiến của Chính phủ; thảo luận về giáo dục đào tạo và dạy nghề, giúp Việt Nam thiết lập nền tảng cho tăng trưởng bền vững; và đặc biệt sẽ bàn sửa đổi đất đai mà Quốc hội đã đề cập vừa qua, bàn về chống tham nhũng.  Bà Kwakwa cũng nhấn mạnh, đừng quá quan tâm đến số tiền các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam vì hiện nay Việt Nam đã khác 20 năm trước (khi CG bắt đầu họp để viện trợ cho Việt Nam). “Bây giờ CG là diễn đàn để Việt Nam và các đối tác đối thoại về chính sách”, bà nói .    Author                Quản trị        
__label__tiasang We Love Reading: hình dung về một nền giáo dục kiểu mới      Chúng ta phải định hình giáo dục như một quá trình liên tục, toàn diện, và không bao giờ kết thúc.      GS Rana Dajani, nhà sáng lập và điều hành dự án We Love Reading    Trong thế giới ngày nay, chúng ta dần nhận ra rằng việc học không chỉ gói gọn trong hệ thống lớp học. Ví dụ, các nhà giáo dục đã hình thành hướng nghiên cứu về giai đoạn phát triển tuổi ấu thơ nhằm đồng hành cùng trẻ trong những năm tháng trước khi các em chập chững bước vào lớp một. Việc tham gia các chương trình mùa hè giúp củng cố kiến thức và kỹ năng mà trẻ đã tích lũy được trong năm học. Gần đây, các nhà giáo dục đã đề xuất khái niệm “học tập suốt đời” để mô tả quá trình học tập vượt ra ngoài hệ thống giáo dục chính quy. Chúng tôi nhận thấy rằng mọi người không còn hình dung về giáo dục như một thứ gắn chặt với tòa nhà trường học, và nó cũng chưa bao giờ thực sự là như thế.  Với sự xuất hiện của Internet, điều này lại càng trở nên đúng đắn hơn bao giờ hết. Trẻ em bắt đầu hoài nghi về lợi ích của việc đi học, khi mà dường như tất cả lượng kiến thức chúng cần đều sẽ hiện lên thông qua một cú nhấp chuột. Chúng ta cũng không được gạt các cộng đồng yếu thế và dễ bị tổn thương như người tị nạn chiến tranh hoặc thiên tai sang bên lề, những người không được hưởng một cơ chế giáo dục toàn vẹn.  Giờ đây, khi đại dịch xảy đến, kéo theo đó là hậu quả của giãn cách xã hội và đóng cửa trường học, việc học không còn có thể diễn ra như trước, bất kể bạn là ai và hoàn cảnh kinh tế xã hội như thế nào. Chúng ta đang được trao cơ hội để hình dung về một nền giáo dục kiểu mới.  Chúng ta cần phải định hình giáo dục như một quá trình liên tục, toàn diện, và không bao giờ kết thúc. Chúng ta luôn là một phần của cộng đồng, chứ không phải là một cá nhân riêng lẻ, do đó chúng ta cần tiếp cận giáo dục theo hướng gắn kết. Khi giải quyết tình trạng nghèo đói, chúng ta không nên giải quyết ở cấp độ của một cá nhân. Không ai nghèo đói một mình, cá nhân là một phần của gia đình. Vì vậy, chúng ta cần phải giải quyết nghèo đói ở cấp độ gia đình. Martin Burt đã đề xuất ý tưởng này nhằm giúp giải quyết tình trạng đói nghèo một cách toàn diện hơn. Tương tự, không thể được giải quyết những vấn đề của giáo dục ở cấp độ cá nhân. Mỗi người trong cộng đồng đều là một mắt xích trong tiến trình giáo dục.  Tất cả các dạng kiến thức đều có liên quan và tất cả các phương pháp chia sẻ kiến thức cũng vậy. Gần đây, Munir Fasheh, một nhà giáo dục người Palestine, đồng thời là nhà sáng lập của diễn đàn giáo dục Ả Rập tại Đại học Harvard đã đặt câu hỏi về lợi ích của việc dạy toán và lợi ích của giáo dục đại học, khi ông so sánh một sinh viên tốt nghiệp đại học với mẹ của ông – một thợ may, khi mà cách bà hiểu về toán học, cũng như kỹ năng vận dụng toán học vào đời sống của bà đều tốt hơn hẳn.  Nhìn về quá khứ, chúng ta có thể tìm thấy những bài học từ thời xa xưa, về cách mà ông cha ta đã tích lũy tri thức. Chẳng hạn, vào thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Ả Rập, những thành tựu khoa học được tạo ra phần lớn thông qua quá trình học nghề.  Kelly Lambert, giáo sư Đại học Richmond đã chia sẻ kết quả nghiên cứu mới nhất của mình trong bài nói chuyện ở sự kiện TEDxBermuda. Nghiên cứu chỉ ra rằng trong quá trình tiến hóa, bộ não của chúng ta đã hình thành nên những phần chịu trách nhiệm cho việc vận động. Tuy nhiên, chúng ta đang dịch chuyển nhanh chóng từ lối sống năng động sang lối sống ít vận động, ngồi yên một chỗ. Điều này tác động lớn đến sức khỏe tinh thần của chúng ta, vì chúng ta hầu hết đều không sử dụng phần não bộ phụ trách các cơ chuyển động. Tương tự, Matthew Crawford, trong cuốn sách Shop Class As Soulcraft: An Inquiry Into the Value of Work của mình đã thảo luận về cách mà hệ thống giáo dục không còn đưa những kỹ năng như hàn chì, đóng mộc… vào chương trình giảng dạy.  Làm thế nào để áp dụng hợp lý những điều này vào việc thiết kế trải nghiệm học tập?   Hãy đến với một trường hợp tiêu biểu: Chương trình We Love Reading.  We Love Reading (WLR) là ví dụ cho thấy một hình thức mới trong việc định nghĩa lại giáo dục. WLR áp dụng phương thức tiếp cận toàn diện ở cấp độ cộng đồng. WLR dựa trên nền tảng là sự tương tác giữa con người, và nhằm mục đích mang lại động lực học tập, trang bị cho trẻ kỹ năng và kiến thức để trở thành một người học tập suốt đời. Họ không vạch ra một con đường cụ thể nào. Mỗi người sẽ có một con đường học tập khác nhau. Thông qua hoạt động đọc sách giải trí, WLR thay đổi tư duy của mọi người, tạo ra những người có thể thay đổi xã hội, những người học lâu dài – có thể định hình lại thế giới của họ. WLR nuôi dưỡng tình yêu đọc sách, vượt ra ngoài phạm vi của hệ thống giáo dục chính quy, đi sâu vào tâm lý và trải nghiệm hằng ngày của con trẻ. Các trung tâm WLR tiếp cận và xây dựng năng lực theo hướng bền vững.   Chúng tôi nuôi dưỡng một tình yêu sâu sắc với việc đọc thông qua thực hành đọc to cho trẻ em. WLR triển khai các hoạt động này nhằm mục đích thúc đẩy tình yêu đọc sách ở trẻ, để từ đó giúp trẻ có được niềm ham mê học hỏi, nhằm mở khóa sự kỳ diệu ẩn sâu bên trong những cuốn sách. Và suy cho cùng, là vượt qua những rào cản ngăn các em học tập lâu dài. Động lực nội tại này sẽ giúp các em tìm kiếm cơ hội học tập dù cho phải đối mặt với những khó khăn: đổi chỗ ở liên tục, là lao động trẻ em và thiếu hệ thống giáo dục tại chỗ. WLR giúp các em nhận ra rằng mình có quyền được mơ ước, tưởng tượng về một tương lai khác, và thậm chí là trao cho các em một cuộc đời khác, giúp các em trở thành những người học suốt đời.   Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực hành đọc to giúp một đứa trẻ yêu thích việc đọc, và xa hơn là yêu thích việc học. Với một điều dưỡng viên, việc đọc to còn có điểm tích cực là tăng sự tương tác giữa người với người, thúc đẩy khả năng phục hồi và giảm căng thẳng ở cả trẻ em và người lớn. WLR tổ chức những buổi tập huấn cho các tình nguyện viên địa phương, để họ thành thục kỹ năng đọc to cho trẻ em từ 0-12 tuổi – bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, trong một không gian công cộng – nội dung của các cuốn sách mang màu sắc văn hóa địa phương. Những đứa trẻ mang sách về nhà để đọc cùng với anh chị em và bạn bè của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Bằng cách nuôi dưỡng tình yêu đọc thông qua trải nghiệm cá nhân ngay từ khi còn nhỏ, WLR tác động đến sự điều tiết cảm xúc, chức năng hành động, kỹ năng đọc viết và trạng thái tâm lý xã hội. WLR trao cho người tị nạn (phụ nữ chiếm 95%) cơ hội trở thành nhà lãnh đạo, bằng cách để họ dẫn dắt các phiên đọc to trong cộng đồng địa phương của mình. WLR khuyến khích cả trẻ em và người lớn theo đuổi việc học với tư tưởng vì họ thực sự “muốn” chứ không phải vì họ “buộc phải làm”, từ đó thúc đẩy hình thành chủ kiến và sự trách nhiệm ở họ.     Asma, một người tị nạn Syria, đồng thời là đại sứ We Love Reading, đang đọc sách cho trẻ em. Ảnh: Abdallah Dabu Dayak.  Thêm vào đó, 75% tình nguyện viên cho biết họ nhận thấy sự thay đổi tích cực trong hành vi và thái độ của trẻ sau khi tham gia các buổi học, trong đó hầu hết cho rằng trẻ trở nên ít hung hăng hơn, điềm tĩnh và kỷ luật hơn, cũng như bớt nhút nhát và sợ hãi. Các tình nguyện viên cũng nêu ra những lợi ích đối với bản thân, bao gồm: tăng cường sự tự tin, củng cố tính cách, hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc đọc sách, khả năng giao tiếp với trẻ em và khả năng hỗ trợ trẻ về mặt tâm lý.   Gần đây, chúng tôi đã hoàn thành một nghiên cứu trên trẻ em Jordan từ 6-8 tuổi. Tổng số mẫu là 69 trẻ em tham gia WLR. Ở cả thời điểm ban đầu và 3 tháng sau WLR, chúng tôi đã sử dụng Danh sách Kiểm tra Hành vi Trẻ em Achenbach (CBCL) để đánh giá khả năng vận hành não bộ của trẻ. Nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi, cho thấy WLR có tác động tích cực đến việc thực hành đọc sách trong nhà. Chúng tôi cũng có cơ hội quan sát tác động của WLR đối với sức khỏe tinh thần. Dữ liệu sơ bộ của chúng tôi cho thấy mức độ căng thẳng của trẻ đã giảm từ lúc chưa tham gia cho đến 3 tháng sau khi tham gia. Danh sách CBCL  cho thấy WLR đã giúp giảm thiểu các chứng như lo âu, trầm cảm ở trẻ.  WLR phát triển dựa trên các giá trị phổ quát và cơ bản, điều này giúp chương trình có thể áp dụng linh hoạt ở mức độ toàn cầu, có khả năng thích ứng với bất kỳ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội nào. WLR đã phát triển một giải pháp kỹ thuật số trên nền tảng ứng dụng di động để đào tạo, giám sát và đánh giá, cũng như kết nối các tình nguyện viên tị nạn trên toàn thế giới. Được hỗ trợ từ một nghiên cứu khoa học, đặt con người ở vị trí trung tâm, WLR là một chương trình ý nghĩa, có thể nhân rộng và phát triển theo hướng bền vững. Phong trào xã hội này là một ví dụ điển hình về hiệu ứng cánh bướm, bắt đầu ở Jordan hơn 10 năm trước, dần lan rộng tới 55 quốc gia, và tác động đến cuộc sống của hàng triệu người.   WLR thành công vì nó phát triển dựa trên sự gắn kết vô hình nhưng mạnh mẽ của các cộng đồng. WLR là một chương trình đơn giản nhưng hiệu quả, thu hút những đối tượng phù hợp, nó phụ thuộc vào mạng lưới thanh thiếu niên và phụ nữ – từ đó hình thành nên một phong trào thay đổi xã hội thông qua việc đọc. Trong các tình huống khẩn cấp, ví dụ Covid-19, rất khó để thiết lập một hệ thống giáo dục mới đáp ứng đầy đủ độ an toàn, tính thực tiễn, chi phí, tính bền vững và nhân viên có trình độ. Do đó, trẻ em buộc phải nghỉ học vô thời hạn. Lượng người tị nạn nhân lên gấp bội. Và WLR xuất hiện, cho phép họ triển khai chương trình mọi lúc mọi nơi.  WLR triển khai có hiệu quả vì người dân địa phương có thể đọc to cho con trẻ bằng tiếng mẹ đẻ của mình, từ đó duy trì văn hóa địa phương. Đây là một chương trình vận hành bởi tình nguyện viên, và đọc là một hoạt động suốt đời, vậy nên chi phí để triển khai rất thấp và chắc chắn sẽ bền vững về lâu dài. WLR giúp hàng trăm phụ nữ địa phương được thỏa thích sáng tạo. Các tổ chức cần hệ thống phân cấp nhưng các phong trào cần động cơ hợp lý, chia sẻ hệ giá trị chung, mục tiêu chung để gắn kết mọi người lại với nhau. Mỗi người đều có thể điều chỉnh hoạt động sao cho phù hợp với văn hóa và nhu cầu của họ, trong khi vẫn duy trì bản chất của mô hình.   Chúng ta không thể tập huấn cho tất cả các bậc cha mẹ kỹ năng đọc to và cách thể hiện niềm đam mê đọc sách. Nhưng chúng ta có thể tập huấn mỗi khu phố một người. Thế hệ trẻ em tới đây rồi sẽ lớn lên và nuôi dưỡng trong mình niềm đam mê đọc sách, trở thành những người có thể thay đổi hệ thống từ bên trong. Thông qua chương trình này, chúng tôi trang bị cho họ những công cụ để giải quyết các thách thức hiện tại và những thách trong tương lai mà chúng ta không thể lường trước được.   Chương trình được xây dựng dựa trên nghiên cứu khoa học đáng tin cậy, và được các nhà nghiên cứu tại các tổ chức giáo dục đại học hàng đầu, bao gồm Đại học Brown, Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học New York và Đại học Chicago tiến hành đánh giá. Chúng tôi hợp tác rộng rãi với các trường đại học và các nhà nghiên cứu để kiểm tra mô hình của mình, từ đó có được những điều chỉnh hợp lý. Chương trình đã được các tổ chức trên khắp thế giới vinh danh nhờ những cống hiến trong việc nâng cao chất lượng sống cho trẻ em, người tị nạn, xóa mù chữ, cải thiện sức khỏe tinh thần, trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái. Có thể kể đến: Giải thưởng Diễn đàn Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo của Liên Hợp Quốc (2019), Giải thưởng Hội đồng Xóa mù chữ Thế giới (2018), Giải thưởng Doanh nhân Xã hội Quỹ Jacobs (2018), Giải thưởng Xóa mù chữ của UNESCO (2017), Giải thưởng Giáo dục Đột phá của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (2017), Giải thưởng Ảnh hưởng Quỹ STARS (dành cho các tổ chức đạt thành tích xuất sắc trong việc cung cấp dịch vụ cho trẻ em) (2015), Giải thưởng IDEO.org cho Chương trình Giáo dục Tị nạn (2015) và một số giải thưởng khác.   Tiến sĩ Dajani là người đã vận hành và phát triển WLR. Thông qua quá trình thử – sai (trong khoảng ba năm), lấy con người làm trung tâm, cô đã có thể đơn giản hóa mô hình nhất có thể nhưng vẫn giữ được nó hoạt động hiệu quả. Hiện chương trình vẫn tiếp tục phát triển nhờ sự phản hồi từ các tình nguyện viên địa phương.   Chúng tôi đã mở rộng chương trình đến 55 quốc gia trên thế giới, tập huấn hơn 4400 tình nguyện viên đọc to cho trẻ em và tiếp cận hơn 498.000 trẻ em trên toàn thế giới. Chúng tôi đang tiến hành nhiều dự án nghiên cứu nhằm tiếp tục chứng minh giá trị của mình trên nhiều lĩnh vực, bao gồm trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái, hỗ trợ phục hồi chấn thương ở trẻ em, dịch vụ tị nạn và kinh doanh xã hội.  WLR đã đến Việt Nam  Bắt đầu từ một buổi trò chuyện Skype với TS Rana Dajani, một nhóm các nhà tâm lý học và giáo dục Việt Nam tại Pháp đã bày tỏ sự phấn khích của mình trong việc hỗ trợ WLR triển khai chương trình tại Việt Nam.   Hương Đặng, một nhà giáo dục Việt Nam tại Pháp, cho biết: “Trẻ em Việt Nam rất thông minh và khao khát học hỏi, nhưng không ai hướng dẫn chúng cách tiếp cận tri thức. Tôi muốn phát triển kỹ năng đọc sách cho trẻ em, và tôi tin rằng WLR sẽ mang lại những thay đổi đáng kể cho trẻ em Việt Nam”. Là cựu thành viên của Ban điều hành Khoa Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, bà Hương là người có nhiều kinh nghiệm làm việc trong các dự án liên quan đến trẻ em và giáo dục. Bà đã nghe về WLR khi chương trình được UNESCO trao Giải thưởng Xóa mù chữ vào năm 2017. Bà đã liên hệ TS Rana Dajani, và chỉ vài tháng sau đó, WLR đã bắt đầu triển khai chương trình tại Việt Nam. Lấy cảm hứng từ phong trào xã hội toàn cầu này, Reading Vietnam đã được thành lập vào cuối năm 2017.     Buổi đọc sách cho trẻ em của chương trình Reading Vietnam ở Phố sách Hà Nội vào năm 2018. Ảnh: Chí Tuệ | Tuổi Trẻ   Các chuyên gia giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu để mô hình chi phí thấp này có thể thích nghi với điều kiện văn hóa xã hội ở Việt Nam. Sau giai đoạn thử nghiệm, Reading Vietnam (RVN) đã chính thức ra mắt tại Hà Nội. Các nhà giáo dục và chuyên gia có trình độ đã tổ chức tập huấn cho những tình nguyện viên. Những tình nguyện viên này sẽ trở thành đại sứ đọc sách, phụ trách tổ chức các buổi đọc to cho nhóm trẻ nhỏ trong khu phố của mình. Họ cam kết tổ chức đọc một lần một tuần, và cung cấp sách cho các em đọc tại nhà, rồi một tuần sau đó các em nhỏ sẽ tiếp tục trao đổi sách với nhau.   Đến nay, WLR Việt Nam đã tập huấn khoảng 600 người, trong đó, 180 đại sứ của WLR đã đọc sách cho 5000 trẻ em tại 38 tỉnh thành của Việt Nam.  Việt Nam là một trong số nhiều quốc gia đã áp dụng thành công Chương trình WLR. Chúng tôi không muốn mở văn phòng đại diện ở mọi quốc gia, thay vào đó, chúng tôi hỗ trợ các tổ chức để họ triển khai chương trình. Mô hình này là một cách phát triển bền vững vì nó thuộc sở hữu cộng đồng. Mô hình sử dụng và tận dụng các nguồn lực địa phương, ứng dụng di động sẽ đảm bảo chất lượng và khả năng phát triển bền vững thông qua một cộng đồng ảo đầy gắn kết, các hình thức đào tạo trực tuyến và sách số hóa thì đảm bảo khả năng tiếp cận tri thức. WLR là một ví dụ tiêu biểu cho lý thuyết hỗn loạn: khi một con bướm vỗ cánh ở Trung Quốc, sẽ có một cơn bão ở Đại Tây Dương. WLR bắt đầu ở Jordan và đã lan rộng khắp thế giới. Mỗi người bắt đầu nó đều là một chú bướm, và chúng ta đang cùng nhau thay đổi tư duy, góp phần tạo nên những đứa trẻ có thể thay đổi cả thế giới.   Anh Thư dịch    Author                Rana Dajani        
__label__tiasang WEF: Hồng Kông là thị trường tài chính phát triển nhất thế giới      Lần đầu tiên Hồng Kông đã vượt qua Vương quốc Anh và Mỹ để trở thành thị trường tài chính phát triển nhất thế giới trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).    Mỹ tụt xuống vị trí thứ 2 vì sự ổn định tài chính của nước này vẫn còn là một mối lo ngại – báo cáo cho hay.   “Việc Hồng Kông vươn lên vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng của chúng tôi là một dấu mốc quan trọng” – ông Kevin Steinberg thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới, nói.  Kể từ năm 2008, WEF bắt đầu tiến hành xếp hạng hệ thống tài chính của 60 quốc gia, dựa trên hiệu quả và quy mô của ngân hàng cũng như các dịch vụ tài chính khác, môi trường kinh doanh và sự ổn định tài chính.  Ông Steinberg nói thêm rằng đây là lần đầu tiên kể từ khi bảng xếp hạng này ra đời, Vương quốc Anh và Mỹ không ở vị trí số 1.  Thị trường tài chính Hồng Kông thăng tiến là nhờ các dịch vụ phi ngân hàng như IPO (hay còn gọi là phát hành cổ phiếu lần đầu) và bảo hiểm, báo cáo cho hay. Ngoài ra, Hồng Kông cũng có thêm lợi thế do Mỹ và Anh đang tiến hành các biện pháp thắt chặt tài chính.  “Song dễ hiểu tại sao các trung tâm tài chính phương Tây đang tập trung vào những thách thức ngắn hạn, thì báo cáo này đóng vai trò như một lời cảnh tỉnh rằng sự lãnh đạo về dài hạn của họ có thể lâm vào tình thế nguy hiểm” – ông Steinberg nhận định.  Singapore, Australia, Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Thụy Sĩ và Na Uy lần lượt nắm giữ các vị trí từ 4 tới thứ 10.  Nguyễn Thảo dịch theo   http://www.bbc.co.uk/news/business-16172457     Author                Quản trị        
__label__tiasang WEF: Việt Nam không thuộc nhóm các nước sẵn sàng cho CMCN 4      Theo báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai “Readiness for the Future of Production Report 2018” do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) mới công bố, trong tổng số 100 quốc gia được đánh giá, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN4) và các chỉ số liên quan đến đổi mới sáng tạo còn ở mức thấp.      DTT là một trong số ít những công ty tư nhân đi tiên phong đầu tư nghiên cứu và giảng dạy giáo dục STEM cho học sinh ở Việt Nam. Trong ảnh: Bộ TUHOC do DTT phát triển để trẻ em tạo ra những đồ vật thông minh. Nguồn: DTT    Chỉ một số ít quốc gia hưởng lợi và vượt trội: Báo cáo đã phân tích, hệ thống sản xuất trên toàn cầu sẽ phải biến đổi để thích ứng, đáp ứng với những thách thức trong tương lai, và các nước trên thế giới sẽ phân cực: chỉ có 25 nước sẽ hưởng lợi từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ yếu các quốc gia thuộc khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á1, chiếm hơn 75% giá trị sản xuất toàn cầu và tiếp tục có khả năng tăng trưởng thị phần trong tương lai. Một số quốc gia thuộc nhóm này như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ, Đức sẽ chiếm 70% doanh thu của thị trường robot toàn cầu – một trong những công cụ quan trọng và được sử dụng phổ biến trong CMCN 4, đặc biệt Đức, Nhật Bản và Mỹ sẽ thống trị về mặt hàng robot có giá trị cao. Hơn 90% các quốc gia còn lại chủ yếu ở các khu vực Mỹ La tinh, Trung Đông, Châu Phi, châu Á được xếp vào hạng yếu kém trong việc chuẩn bị cho CMCN 4 (nascent countries), có nguy cơ rơi vào tình trạng tụt hậu.  Điểm số về công nghệ và đổi mới của Việt Nam thấp:Việt Nam được các chuyên gia xếp vào nhóm các quốc giayếu kém. Trong số các tiêu chuẩn nền tảng để đánh giá mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai thì các yếu tố về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo công nghệ – liên quan trực tiếp đến quá trình chuẩn bị cho CMCN 4 của Việt Nam đều có điểm số thấp. Cụ thể:  + Việt Nam chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn nhân lực, trong đó các chỉ số về lao động có chuyên môn cao, chất lượng đại học lần lượt xếp thứ 81/100 và 75/100;  + Việt Nam chỉ xếp hạng 90/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo (Technology& Innovation), trong đó, hạng 92/100 về công nghệ nền (Technology Platform), hạng 77/100 về năng lực sáng tạo.  Nếu so sánh một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta xếp sau Malaysia (xếp hạng thứ 23/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo và 21/100 về nguồn nhân lực), Thái Lan (41/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo, 53/100 về nguồn nhân lực) hay Philippines (59/100 công nghệ và đổi mới sáng tạo và 66/100 về nguồn nhân lực). Việt Nam chỉ xếp hạng gần tương đương Campuchia (có xếp hạng tương ứng 83/100 và 86/100).  Chúng ta có thể tham khảo một vài chỉ số cụ thể trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong bảng dưới đây:    Báo cáo cũng chỉ ra, dù có lợi thế nhưng các nước dẫn đầu như Mỹ và Nhật Bản cũng mới chỉ ở bước khởi đầu của quá trình chuyển đổi nền sản xuất cho phù hợp với CMCN 4. Cơ hội chuyển đổi nền sản xuất theo cách thức khác nhau vẫn rộng mở với các nước còn lại: có thể lựa chọn “kép”  – vừa chuyển đổi một số ngành chọn lọc sang sản xuất tiên tiến vừa tiếp tục duy trì sản xuất truyền thống ở một số ngành. Báo cáo khuyến nghị các quốc gia phải tự đánh giá, phân tích nền kinh tế của mình để có được chiến lược phát triển khôn ngoan, tận dụng tốt những lợi thế riêng có.  ———-  1 25 quốc gia sẽ dẫn đầu bao gồm: Hoa Kỳ, Anh, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Áo, Bỉ, Canada, Trung Quốc, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Israel, Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Hà Lan, Ba Lan, Singapore, Slovenia, Tây Ban Nha.  Nguồn báo cáo: https://www.weforum.org/reports/readiness-for-the-future-of-production-report-2018       Author                Bảo Như        
__label__tiasang “Women can lead”: Xóa bỏ định kiến giới      Thông điệp “Ai cũng có thể có khả năng lãnh đạo, bất kể là nam giới hay nữ giới” của Vòng chung kết khu vực phía Bắc cuộc thi “Women can lead – Tại sao không?” diễn ra vào ngày 1/10/2018 đã được gửi gắm qua các chân dung sống động của phụ nữ Việt Nam hiện đại, những người nêu cao sự chủ động trong công việc, dám theo đuổi đam mê và truyền cảm hứng cho cộng đồng.      Nữ diễn viên Minh Hòa và các bạn trẻ tham gia chương trình “Woman can lead – Tại sao không?”. Nguồn: Tienphong.vn  Cuộc thi “Women can lead – Tại sao không?” là phần tiếp nối của “Bình thường hay bất thường – Howabnormal”, một chiến dịch nhằm xóa bỏ định kiến giới dành cho đối tượng học sinh, sinh viên được Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và báo Sinh viên Việt Nam tổ chức trong năm 2016 và đầu năm 2017. Giải thích vì sao chương trình này được tiếp nối, nhà báo Nguyễn Huy Lộc – Tổng Biên tập báo Sinh viên Việt Nam, cho biết: “Trong giai đoạn một của chiến dịch “Bình thường hay bất thường”, chúng tôi nhận thấy các trường đại học và sinh viên không chỉ tham gia nhiệt tình mà còn gợi ý về cách thức tham gia. Vì thế, trong giai đoạn hai, chúng tôi đã mời các bạn sinh viên chủ động xây dựng các sản phẩm truyền thông và chủ động sáng tạo  các hình thức để truyền các thông điệp của chiến dịch đến cộng đồng một cách hiệu quả.”  Cuộc thi “Women can lead” nhằm tìm kiếm các sản phẩm truyền thông sáng tạo phản ánh vai trò chủ động của phụ nữ trong cuộc sống và công việc, từ đó khuyến khích họ vượt qua các định kiến về giới, tự làm chủ cuộc đời. Bà Akiko Fujii – Phó Giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam nói rõ hơn quan điểm của những nhà tổ chức: “Tôi muốn nhấn mạnh rằng phụ nữ có quyền theo đuổi đam mê, phát huy thế mạnh mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ định kiến và rào cản nào về giới.”  Để diễn đạt thông điệp này, 7 đội tham gia vòng chung kết phía Bắc đã khai thác các hình mẫu những cô gái đã thể hiện rõ sự chủ động trong công việc, theo đuổi đam mê và có khả năng truyền cảm hứng cho cộng đồng như Nguyễn Phương Thảo – thành viên của đội tuyển Việt Nam  đạt điểm cao nhất tại kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế 2018; Nguyễn Thị Minh Nguyệt – cầu thủ đạt danh hiệu Quả bóng vàng nữ Việt Nam 2016; Trang Moon – nữ DJ đầu tiên của Hà Nội… Giữa các phần thi sáng tạo này, phần thi của đội thi Học viện Y học cổ truyền với nội dung về nữ MC Mai Trang của VTV, người đăng ký hiến tất cả các mô tạng trong trường hợp không may bị chết não, đã giành giải nhất. Qua hình ảnh nữ MC chương trình “Cà phê sáng với VTV3” đăng ký hiến tất cả mô, tạng nếu không may qua đời hoặc chết não vào đầu năm 2018, các thành viên đội Học viện Y học cổ truyền đã truyền đi thông điệp: Không thể đo thành công của một người phụ nữ bằng tiền hay địa vị xã hội. Một người phụ nữ thành công, hay nhìn rộng hơn một người thành công, là người có thể được làm những gì họ mong muốn, làm được những điều tốt cho cộng đồng khi sống và ngay cả khi mất đi, họ vẫn có thể giúp ích nhiều người.  Với giải nhất giành được, đội Học viện Y học cổ truyền đã giành tấm vé duy nhất khu vực phía Bắc tham gia Chung kết toàn quốc cùng các đội vô địch vòng chung kết khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12/2018.  Chiến dịch Bình thường hay bất thường – Howabnormal tổ chức thành công lần đầu tiên vào 21/12/2015 với chuỗi phim về hình ảnh đảo ngược vai trò truyền thống của nam giới và nữ giới, phản ánh những định kiến về giới từ lâu tồn tại trong xã hội Việt Nam từ đó làm thay đổi quan điểm và hành vi của người xem về vai trò giới. Tiếp nối chiến dịch là “Ngày hội chung tay xóa bỏ định kiến giới” được tổ chức tại 13 cụm trường đại học năm 2016 với câu hỏi “Những điều được xem là bình thường trong cuộc sống thật ra bất thường như thế nào?” nhằm phá vỡ những khuôn mẫu về giới. Chương trình nhận được sự ủng hộ tích cực của sinh viên toàn quốc.    Author                Cẩm Tú        
__label__tiasang World Bank: Việt Nam đang kẹt trong tăng trưởng chậm      “Trong khi kinh tế thế giới dường như ấm  lên, thì Việt Nam lại đang kẹt trong tăng trưởng chậm so với chính mình  trước đây và so với các nước khác trong khu vực”, ông Deepak Mishra,  chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank (Ngân hàng thế giới) cho hay trong buổi  cập nhật tình hình Kinh tế Việt Nam sáng 12/7 tại Hà Nội.    Cụ thể, đầu tư giảm toàn diện, tổng đầu tư giảm còn 29.6 % GDP trong quý I.2013, so với từ 38.5 % năm 2010. Tăng trưởng bán lẻ và dịch vụ (tính giá trị danh nghĩa) đã giảm từ 24% năm 2011 xuống 16% năm 2012 và còn 11,9% trong nửa đầu năm 2013.  Đáng chú ý, chuyên gia của WB cảnh báo, mức tăng trưởng chậm hiện nay của Việt Nam kéo dài nhất kể từ khi cải cách kinh tế cuối những năm 80. Từ 2010 đến 2013, Việt Nam tăng trưởng chậm hơn Indonesia và Philippines, đây là lần đầu tiên trong hai thập kỉ vừa qua. “Đó là dấu hiệu đáng lo ngại, Việt Nam phải rất lâu mới theo kịp Indonesia, Philippines và Thái Lan”.  WB đánh giá, cải cách cơ cấu chậm, quá trình mới bắt đầu nhưng chưa được thực hiện quyết liệt. Việc thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) là bước đi cụ thể của Chính phủ trong việc sử nợ nợ xấu. Tuy nhiên, xử lý nợ xấu đòi hỏi cách tiếp cận tích cực và dài hạn.  Đặc biệt, tiến độ cải cách và cơ cấu lại DNNN vẫn hết sức chậm chạp sau 2 năm kể từ ngày Chính phủ phê duyệt chủ trương và lộ tình cải cải. Cần phân loại các DNNN thành các nhóm khác nhau, công khai tài chính. “Việc đang còn thiếu ở Việt Nam là những hành động trên thực tế”. Bên cạnh đó còn thiếu điều phối liên ngành, không có cơ quan nào tổng hợp, chịu trách nhiệm chung. Cần có cơ chế báo cáo tổng hợp. “Có thể Chính phủ đang có ý định thành lập cơ quan như thế”.  WB đánh giá, thách thức lớn nhất của Việt Nam là cải thiện tăng trưởng và đưa về mức 6%, cải thiện năng suất, hiệu quả thu ngân sách Nhà nước. Cần tăng tốc trong cải cách ngân hàng và DNNN.  Tăng trưởng kinh tế ước tính ở mức 5.3% trong năm 2013 và khoảng 5.4% vào năm 2014. Lạm phát dự kiến ở mức 8.2% vào thời điểm cuối năm 2013, cao hơn mục tiêu đề ra của Chính phủ do tăng lương tối thiểu ảnh hưởng tới nền kinh tế, giá cả điều tiết bằng hành chính về giáo dục, y tế, điện.  Rủi ro với kinh tế Việt Nam là tăng trưởng chậm lại có thể tạo sức ép tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, từ đó sẽ tạo áp lực lạm phát và làm xói mòn các thành quả mong manh của ổn định kinh tế vĩ mô. Việc triển khai chậm trễ các chương trình cải cách cơ cấu sẽ làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư và tiếp tục tác động tiêu cực tới triển vọng tăng trưởng.  Bình luận về gói kích cầu Chính phủ có thể đưa ra như năm 2009, ông Mistra nói, cần bổ sung cho cải cách cơ cấu, nền kinh tế phải dựa vào chính nó mới vận động được, chứ không phải dựa vào chính sách tiền tệ và tài khóa. Bà Victoria, giám đốc WB tại Việt Nam nói thêm, nhìn vào gói kích cầu 30.000 tỷ đồng cho bất động sản, cần xem lại thị trường bất động sản vài năm qua có những méo mó tạo nên bong bóng. Rủi ro là gói kích cầu vẫn tạo ra những méo mó, những động cơ bị bóp méo. Cần có đầu tư mang lại ý nghĩa kinh tế dài hạn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Worldbank đánh giá cao năng lực cạnh tranh của Đồng Tháp      Được biết đến như một địa phương nằm sâu ở miền Tây Nam Bộ, cơ sở hạ tầng giao thông tương đối kém, thủ tục hải quan chậm… nhưng gần đây Đồng Tháp lại trở thành điểm đến hấp dẫn cho sản xuất kinh doanh và xuất khẩu nông sản, thu hút vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ. Worldbank đã có một bài đánh giá về những thay đổi đáng ngạc nhiên ở Đồng Tháp.    Với các nhà đầu tư đang tìm kiếm cơ hội ở Việt Nam, Đồng Tháp chưa hẳn là địa phương đầu tiên họ nghĩ đến. Nằm sâu ở miền Tây Nam Bộ, Đồng Tháp được coi là vùng xa – để lái xe từ sân bay gần nhất đến đó cũng phải mất ba tiếng. Cơ sở hạ tầng giao thông tương đối kém, mà mới gần đây vẫn còn phức tạp do không đủ cầu bắc qua dòng Cửu Long. Đây là địa phương nổi tiếng vì thủ tục hải quan chậm trễ, có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng.  Trong bối cảnh thách thức trên, tại sao doanh nghiệp Nhật Bản Kameda Seika lại chọn Đồng Tháp để thành lập Thiên Hà Kameda, liên doanh với một công ty gạo lớn nhất Việt Nam? Trong đợt công tác vừa qua tại Việt Nam, chúng tôi đã biết được nhiều hơn về hướng đi để Đồng Tháp trở thành điểm đến hấp dẫn cho sản xuất kinh doanh và xuất khẩu nông sản.    Đoàn công tác Nhóm NHTG chuẩn bị thăm cơ sở sản xuất bánh gạo hiện đại tại Đồng Tháp. Ảnh: Worldbank.  Kameda Seika không phải mới đến Việt Nam. Trước đó vài năm, nhà đầu tư này đã thành lập một cơ sở sản xuất tại miền trung Việt Nam. Tuy nhiên, do hạ tầng kém, các vấn đề về an toàn môi trường liên quan đến xả thải phân bón và môi trường đầu tư chưa tối ưu khiến cho họ phải tìm phương án khác. Đồng Tháp có điều kiện lý tưởng về khí hậu và thổ nhưỡng để sản xuất lúa, nhưng phải nói là chính môi trường kinh doanh thân thiện với nhà đầu tư và các hoạt động xúc tiến đầu tư tích cực mới giúp cho địa phương này nổi lên trở thành điểm đến cạnh tranh nhất.  Hiện chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của các chính sách đầu tư của địa phương và chính quyền cơ sở đối với việc làm và tăng trưởng. Tuy nhiên, câu truyện ở Đồng Tháp cho thấy những nỗ lực xúc tiến đầu tư có mục tiêu có thể đem lại lợi thế riêng cho địa phương so với các đối thủ cạnh tranh khác, qua đó người dân địa phương được hưởng lợi trừ tiếp từ đầu tư mới.  Con đường dẫn đến cạnh tranh trên toàn cầu  Kể từ năm 2014, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp với Nhóm Ngân hàng Thế giới để hiện đại hóa phương thức xúc tiến đầu tư của địa phương. Chính sự phối hợp này đã giúp giải quyết được những hạn chế quan trọng trong thu hút và giữ chân nhà đầu tư tại địa phương. Cụ thể, ba thay đổi chính sách dưới đây đã góp phần đem lại kết quả tích cực tại Đồng Tháp:     Thể chế hóa về xúc tiến đầu tư và dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư  Đồng Tháp đã chính thức thể chế hóa bộ phận quan hệ nhà đầu tư, là đầu mối để tiếp cận nhà đầu tư, tạo thuận lợi đầu tư, hỗ trợ nhà đầu tư gia nhập và chăm sóc sau gia nhập.    Chú trọng quan hệ Nhà nước – Nhà đầu tư  Địa phương chủ động tăng cường quan hệ với nhà đầu tư mới và hiện có. Nhà đầu tư tiềm năng được quan tâm tới từng cá nhân ở bộ phận quan hệ nhà đầu tư, còn nhà đầu tư hiện có được sử dụng cơ chế phản hồi cho nhà đầu tư cởi mở (và sáng tạo) của địa phương. Cứ mỗi buổi sáng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân dành một giờ để nhà đầu tư chất vấn và thảo luận các vấn đề về kinh doanh trên bàn cà phê.      Định hướng theo kết quả thực hiện  Đồng Tháp theo dõi chất vấn và khiếu nại của nhà đầu tư một cách có hệ thống, đồng thời thực hiện khảo sát quan điểm của nhà đầu tư. Dữ liệu về hoạt động đầu tư thực tế và những rào cản mà nhà đầu tư mới, tiềm năng và hiện có đang phải đối mặt là căn cứ để địa phương xử lý những trở ngại quan trọng trong hoạt động đồng thời là căn cứ xác định những lĩnh vực cần đổi mới trong thời gian tới.  Các nỗ lực xúc tiến đầu tư của Đồng Tháp là phương tiện để truyền đạt lợi thế cạnh tranh của địa phương với các nhà đầu tư tiềm năng, như Kameda Seika. Khi chính quyền địa phương chủ động giải quyết những quan ngại và yêu cầu của các nhà đầu tư, chính quyền gây dựng được lòng tin với các nhà đầu tư để họ coi địa phương là điểm đến làm ăn kinh doanh khả thi. Nhìn chung, những đổi mới này và chính hoạt động đầu tư của Kameda Seika đã chứng tỏ thay đổi chính sách đầu tư có thể tác động tích cực đến các nhà đầu tư.     Kết quả   Các nhà đầu tư cả trongvà ngoài nước, như Kameda Seika, đã ghi nhận nỗ lực của Đồng Tháp trong quan hệ với nhà đầu tư.  Thể chế hóa công tác xúc tiến đầu tư, tạo thuận lợi và chăm sóc sau đầu tư giúp địa phương có được sự quan tâm đáng kể từ các nhà đầu tư kinh doanh nông nghiệp. Điều đó được phản ánh qua số lượng truy vấn tăng hơn gấp đôi và đầu tư tăng nhiều lần. Lòng tin và cảm nhận của nhà đầu tư về năng lực cạnh tranh của địa phương được cải thiện dẫn đến kết quả có thêm 6 nhà đầu tư nước ngoài và 42 nhà đầu tư trong nước. Đến nay Đồng Tháp đã thu hút được thêm 200 triệu US$ vốn đầu tư, trong đó có 138 triệu US$ đầu tư tromg nước và 62 triệu US$ của nhà đầu tư nước ngoài.  Sau sáng kiến cải cách trên, dòng vốn đầu tư đã tăng tới 21 triệu US$ mỗi năm so với mức khiêm tốn là 3 triệu US$ trong những năm trước cải cách. Đầu tư mới, kết hợp với cải thiện về công nghệ, giúp các cơ sở sản xuất nông nghiệp và canh tác theo hợp đồng hội nhập được với các chuỗi giá trị thực phẩm nông sản, tạo ra việc làm mới và có chất lượng.    Liên doanh Thiên Hà Kameda sau đó đã xây dựng một tổ hợp công nghiệp hiện đại ở Đồng Tháp, nổi bật trên quang cảnh nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cơ sở sản xuất tiên tiến này chế biến gạo chất lượng cao thành bánh gạo để xuất khẩu cho các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và châu Âu. Cơ sở sản xuất này có nhiều đóng góp cho kinh tế địa phương, tạo thêm 300 việc làm có chất lượng và là địa chỉ tiêu thụ sản vật của địa phương như gạo và dầu. Bên cạnh chế biến để xuất khẩu, doanh nghiệp còn có dây truyền riêng để sản xuất bánh gạo cho thị trường Việt Nam, theo nhu cầu và khẩu vị riêng của người tiêu dùng. Qua các buổi làm việc giữa đoàn công tác và quản lý nhà máy cho thấy, doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất để đáp ứng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, qua đó tạo thêm 200 việc làm.  Theo dữ liệu khảo sát các quốc gia của Báo cáo năng lực cạnh tranh đầu tư toàn cầu (GIC) (2017/2018), xúc tiến đầu tư và dịch vụ cho nhà đầu tư có vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế đang có nhiều rào cản về thu hút nhà đầu tư. Báo cáo cũng cho biết các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến các dịch vụ cho hoạt động hơn là hỗ trợ thành lập. Kinh nghiệm của Đồng Tháp chứng tỏ kết luận đó là đúng đắn. Là một địa phương vùng xa ở đồng bằng sông Cửu Long, công tác xúc tiến đầu tư chủ động đã giải quyết được những rào cản về thông tin và tạo ra vị thế cạnh tranh cho các nhà đầu tư nước ngoài về chế biến nông phẩm. Ngoài những hỗ trợ về gia nhập và thành lập, cách tiếp cận của địa phương nhằm chủ động quản lý quan hệ và cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư, đã tạo điều kiện để Đồng Tháp nổi lên trở thành điểm đến đầu tư được ưa chuộng. Đó là kết quả không tưởng mới chỉ chưa đến bốn năm về trước.  Nguồn tin: Worldbank Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Worldbank: Đông Á và Thái Bình Dương vẫn duy trì tăng trưởng dù bất ổn toàn cầu tăng lên      Dù môi trường bên ngoài kém thuận lợi, triển vọng tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) vẫn tích cực, theo báo cáo kinh tế khu vực vừa ban hành của Ngân hàng Thế giới. Tăng trưởng ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) dự kiến đạt 6,3% trong năm 2018, thấp hơn so với 2017 do tăng trưởng của Trung Quốc tiếp tục chững lại vì nền kinh tế tiếp tục tái cân bằng.      Thành phố Thượng Hải, Trung Quốc.  Chèo lái qua bất ổn, ấn bản tháng 10/2018 của Báo cáo Cập Nhật Kinh tế Khu vực Đông Á và Thái Dương do Ngân hàng Thế giới ban hành hôm nay nhấn mạnh rằng các yếu tố kết hợp như tình trạng căng thẳng thương mại, Hoa Kỳ tăng lãi suất, thị trường tài chính biến động ở nhiều nền kinh tế mới nổi trong những tháng qua đã làm tăng tình trạng bất định về triển vọng tăng trưởng của khu vực. Đồng thời, lạm phát bắt đầu tăng lại trên toàn khu vực, nhất là ở Miến Điện, Phi-líp-pin và Việt Nam.  “Tăng trưởng vững đã, đang và sẽ tiếp tục là yếu tố chính để giảm nghèo và tình trạng dễ tổn thương trong khu vực” theo lời bà Victoria Kwakwa, Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương. “Chủ nghĩa bảo hộ và biến động trên thị trường tài chính có thể gây tổn hại đến viễn cảnh tăng trưởng trong trung hạn, trong đó người nghèo và những người dễ tổn thương nhất phải chịu những hệ quả bất lợi nhất. Đây là lúc các nhà hoạch định chính sách trong khu vực phải cảnh giác và chủ động tăng cường khả năng chống chịu và đương đầu của quốc gia.”  Tăng trưởng của Trung Quốc dự kiến sẽ chậm lại còn 6,5% trong năm 2018, sau khi đạt mức tăng trưởng cao hơn dự kiến trong năm 2017. Tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP), ngoại trừ Trung Quốc, dự kiến vẫn ổn định ở mức trung bình 5,3% từ năm 2018 đến năm 2020, chủ yếu nhờ cầu trong nước. Tăng trưởng của Thái Lan và Việt Nam dự kiến sẽ đứng vững trong năm 2018 trước khi chững lại trong năm 2019 và 2020 do cầu trong nước mạnh hơn, nhưng cũng chỉ bù đắp được một phần tăng trưởng xuất khẩu ròng chững lại. In-đô-nê-xia giữ được tăng trưởng ổn định nhờ triển vọng về đầu tư và tiêu dùng tư nhân được cải thiện. Tăng trưởng của Phi-líp-pin trong năm 2018 sẽ chậm lại, nhưng đầu tư công tăng lên theo dự kiến sẽ đẩy mạnh tăng trưởng trong trung hạn. Tăng trưởng của Ma-lay-xia dự kiến sẽ chững lại do tăng trưởng xuất khẩu giảm và đầu tư công cũng đang giảm xuống do hủy bỏ hai dự án hạ tầng lớn.  Triển vọng tăng trưởng ở các nền kinh tế nhỏ hơn trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) vẫn vững, ở mức bình quân trên 6% mỗi năm tại Cam-pu-chia, CHDCND Lào, Mông Cổ và Miến Điện trong giai đoạn từ 2018 đến 2020. Tăng trưởng Đông Ti-mo dự kiến sẽ khôi phục sau khi bế tắc chính trị được giải quyết còn Pa-pua Niu Ghi-nê dự kiến sẽ phục hồi trong năm 2019 sau trận động đất lớn hồi đầu năm. Tăng trưởng ở các quốc đảo Thái Bình Dương được cho là vẫn tương đối ổn định, dù rất dễ bị tổn thương bởi những cú sốc thiên tai.  “Hội nhập khu vực và toàn cầu khiến cho nhiều nền kinh tế trong khu vực dễ bị tổn thương hơn với những cú sốc bên ngoài. Những rủi ro chính đối với duy trì tăng trưởng vững bao gồm chủ nghĩa bảo hộ leo thang, biến động trên thị trường tài chính tăng lên, kết hợp với tình trạng tài chính và ngân sách trong nước dễ tổn thương,” theo lời của Sudhir Shetty, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Ông bổ sung thêm “Trong bối cảnh rủi ro tăng lên, các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cần vận dụng đầy đủ các chính sách tái cơ cấu, cẩn trọng kinh tế vĩ mô sẵn có để bình ổn các cú sốc bên ngoài và nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng”.  Báo cáo chỉ ra cách tiếp cận theo bốn hướng để các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á xử lý những rủi ro phát sinh nêu trên:  ·         Giảm nguy cơ tổn thương trong ngắn hạn và tạo dư địa chính sách. Chủ động theo đuổi các chính sách cẩn trọng vĩ mô để giúp xử lý tình trạng dễ tổn thương ở khu vực tài chính, giảm biến động trên thị trường vốn và quản lý các lĩnh vực gặp nguy cơ biến động tỷ giá. Tỷ giá linh hoạt hơn có thể giúp quốc gia hấp thụ và điều chỉnh theo những cú sốc bên ngoài. Chính sách tài khóa thắt chặt là điều kiện để duy trì và tái tạo dư địa nhằm đối phó với diễn biến xấu trong tương lai mà không gây đe dọa đến bền vững nợ.   ·         Nhân đôi cam kết mở cửa hệ thống đầu tư và thương mại quốc tế dựa trên quy tắc, bao gồm tăng cường chiều sâu hội nhập kinh tế khu vực. Các nền kinh tế trong khu vực có thể được hưởng lợi thông qua tăng cường chiều sâu cảu những hiệp định thương mại ưu đãi hiện có và giảm các hàng rào phi thuế quan. Căng thẳng thương mại tiếp tục leo thang có thể tránh được bằng cách quay sang đàm phán song phương hoặc qua Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).    ·         Tăng cường chiều sâu cải cách cơ cấu, bao gồm tự do hóa một số lĩnh vực quan trọng, cải thiện môi trường kinh doanh và đẩy mạnh năng lực cạnh tra. Tạo sân chơi công bằng giữa DNNN và các doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, qua đó giúp giảm phân bổ nguồn lực không đúng chỗ và tạo việc làm.  ·         Tăng cường an ninh kinh tế và đẩy mạnh khả năng lưu chuyển trong nền kinh tế thông qua các chương trình như trợ cấp tiền mặt có mục tiêu, các hệ thống bảo hiểm xã hội bền vững về tài khóa, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ trước khi sinh và phát triển trẻ sơ sinh, tăng nguồn lực cho trường học ở các địa bàn khó khăn để giảm khoảng cách về tiếp cận và chất lượng giáo dục.  Đối với các quốc đảo Thái Bình Dương, báo cáo nhấn mạnh về nhu cầu chú trọng duy trì bền vững tài khóa và bền vững nợ đồng thời tiếp tục tăng cường khả năng chống chịu thiên tai. Điều kiện cần để cải thiện bền vững nợ là duy trì các nỗ lực nhằm tăng cường chính sách nợ và quản lý nợ, cải thiện về quản lý tài nguyên và nâng cao chất lượng chi tiêu. Các bước để giảm thiểu tác động thiên tai trong thời gian tớ bao gồm tạo thêm dư địa tài khóa, cải thiện khả năng ứng phó, quản lý và giảm thiểu tác động khủng hoảng, đồng thời mở rộng các cơ chế đảm bảo xã hội có mục tiêu.  Nguồn tin: Worldbank Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xa mà ngay bên ta      Những ghi chép của tôi trong bảy ngày của một chuyến đi công tác không thể gọi gì khác hơn là những thứ tản mạn. Tản mạn về một thứ tuy rất xa, rất lớn mà ngay ở bên ta. May ra gợi suy được gì cho hiện tại và tương lai.    Trivandrum, bang Kerala, Ấn Độ, ngày thứ hai …  Cuộc hội thảo đang đi vào giai đoạn cuối. Các chương trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo của 6 nước đang phát triển (3 ở Châu Á: Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam; 3 ở Châu Phi: Ai Cập, Tanzania, Uganda) tập hợp tại bang Kerala, một bang nghèo nhất của Ấn Độ để bàn về các nghiên cứu của mình, cả về nội dung và phương pháp luận. Chủ đề sôi động nhất là làm thế nào người dân nghèo của nhiều nước trên thế giới có thể tồn tại được trong bối cảnh mà một tấn thóc, hoặc hàng trăm nải chuối, mớ rau chỉ bán được có tí tiền, sau bao nhiêu thời gian đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Sản xuất nông nghiệp chắc chả còn cơ tồn tại vững chắc trong thời đại này, khi một năm thì hết mưa lại bão, hết hạn lại cháy, rồi sâu bệnh. Mà sản xuất ra xong đã chắc gì xuất khẩu được, cho dù bán với giá rẻ mạt. Xuất khẩu tôm mà dính tí kháng sinh vào coi như vứt, các nhà gác cổng Mỹ và Châu Âu sẽ đổ ngay xuống biển, hoặc nhà xuất khẩu lại phải mất tiền để chở đi chỗ khác mà hủy.  Các vấn đề nan giải không chỉ dừng ở sản xuất nông nghiêp, nó lan sang cả xã hội nông thôn, thôi thì đủ loại vấn đề: chiến tranh xuất phát từ bộ lạc đánh nhau, rồi các chính sách đòi đất của điền chủ da trắng chia lại cho dân nghèo da đen ở Zimbawe, rồi chính quyền huyện (gọi là Panchayat ở Ấn Độ) dung túng cho cán bộ xã ức hiếp dân (có nơi bồi thường việc cán bộ xã hiếp vợ của dân bằng 500 Rupi, tương đương với 200 nghìn đồng Việt Nam), hàng loạt trẻ em gái ở nông thôn bỏ học, kéo nhau về các thành phố lớn như Bombay, Dehli, Kalkuta để tìm việc, thực chất là đi vào nhà chứa, v.v. và v.v.  Nông dân bây giờ khổ thật. Trong cảnh khốn khó này, có một số học giả thậm chí đành đề cao chủ trương duy trì kiểu sống theo bộ lạc và coi sự tác động của chính quyền, của phát triển kinh tế bên ngoài vào các loại xã hội truyền thống là có hại.  Một số học giả vẫn cho rằng chẳng có con đường nào khác, ít nhất là trong nhiều năm sắp tới đa số dân trên thế giới vẫn phải tiếp tục duy trì sản xuất nông nghiệp, nhưng với cái giá nào? Tác động của toàn cầu hóa sẽ là như thế nào với sản xuất và sản phẩm nông nghiệp, với sự phát triển của xã hội nông thôn? Không thấy ai bàn nhiều đến công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn cả. Thật là lạ. Xem ra Việt Nam vẫn còn tìm cách bươn chải, thoát ra khỏi cái cảnh này, tuy rằng chẳng dễ tí nào.  Bombay, Ấn Độ, ngày thứ tư …  Sân bay quốc tế  Sân bay nội địa khá trật tự, có vẻ vắng vẻ một cách khác thường so với một nước có khoảng 1 tỷ dân. Nhưng sự thanh bình và dễ chịu này đã nhanh chóng nhường chỗ cho sự bực bội tăng dần lên. Thứ nhất, sau khi cho khách ngồi yên vị trong chiếc xe chuyển khách từ sân bay nội địa sang sân bay quốc tế, lái xe biến mất. Gần một tiếng sau, họ quay lại và chờ đón thêm khách của các chuyến sau. Cung cách “đầy xe mới đi”, chứ không phải theo lịch giờ đã định, có lẽ không chỉ là của riêng Việt Nam. Tôi còn nhớ có thời kỳ, có nơi rạp chiếu phim đầy rạp mới chiếu. Đành tự an ủi, đây không phải là Charles de Gaule, Paris, nơi các xe chuyển khách cứ chạy vòng quanh, không cần biết có ai ở trong hay không.  Khi tôi bắt đầu thở phào nhẹ nhõm khi xe chuyển bánh thì 3 phút sau, nó lại dừng lại để xếp hàng lấy xăng. Khoảng hơn một chục người, trong đó có cả 2 lái xe, xúm vào bàn thảo, xem xét và trao đổi các loại giấy tờ, tiền nong, chỉ chỗ nọ, chạy sang chỗ kia trước khi có thể mở máy bơm xăng vào xe. Tại sao họ lại không thể lấy xăng trong khi chờ đợi lấy khách đến cả tiếng đồng hồ nhỉ. Chẳng lẽ đây cũng là một cách tạo công ăn việc làm cho gần một tỷ dân. Sau khoảng nửa tiếng nữa thì xe cũng chuyển bánh được đi về sân bay quốc tế.  Sân bay quốc tế Bombay trông khá khang trang, rộng rãi, cửa kính sáng loáng. Nhưng chỉ có thể ra vào bằng đúng một cửa duy nhất, có lính gác cầm súng lăm lăm, các loại cửa khác, vốn được thiết kế cho ra vào tự động, mở ra bằng cảm ứng đều được đóng kín mít, không dùng được. Nếu họ mở ra thì sao nhỉ? Có lẽ dân quá đông, sẽ tràn khắp nơi và không quản lý (bảo vệ) nổi? Một xã hội 1 tỷ dân cộng với những vấn đề của nền an ninh phải đối chọi với khủng bố và nguy cơ chiến tranh hạt nhân với Pakistan ư? Nhưng Trung Quốc còn hơn một tỷ dân thì sao? Liệu có cảnh này không?  Rẽ vào quán ăn mua một cốc nước, tôi phải chờ mất nửa tiếng nữa. Cũng là cái hay vì có thời gian thư giãn, ngắm nhìn máy bay lên xuống, khoảng nửa tiếng một chuyến, nhộn nhịp hơn Nội Bài hoặc Tân Sơn Nhất nhiều. Nếu so với tốc độ chào hàng bia, mực, đậu phụ và lạc rang ở quán Lan Chín hay Hải Xồm ở phố Tăng Bạt Hổ, các dịch vụ ở đây chạy dài. Họ chậm và nhỏ nhẹ hơn nhiều. Không có lôi kéo tay cầm xe máy, không có hò hét, không quát tháo. Nhưng đúng là họ phục vụ chậm, quá chậm. Cũng không rõ thế nào thì hơn, tùy theo ý thích của từng người.   Tôi nhớ lại hôm trước phải nghỉ lại đêm vì chuyển máy bay tại một khách sạn ở Dehli, Thủ đô Ấn Độ. Tùng, một nhân viên trong cơ quan đang được biệt phái làm việc tại một tổ chức của Liên hợp quốc, ra đón chúng tôi đã phải thốt lên: “Dịch vụ kiểu này mà cũng xuất khẩu được 8 tỷ đô la phần mềm một năm đấy”. Quả thật, cả cơ sở vật chất và dịch vụ khách sạn của Ấn Độ không thể so với Hilton Nhà hát lớn hay Sofitel Plaza ở Hồ Tây. ở đây lấy đâu ra những bóng áo dài thướt tha đầy quyến rũ của các cô gái Việt Nam. Lấy đâu ra những nụ cười mê hồn, lấy đâu ra sự chiều khách vừa nhanh vừa nhiều của nhân viên. Vậy mà họ vẫn xuất khẩu được 8 tỷ đô la một năm phần mềm. Cũng không hổ danh đất nước đã nghĩ ra cờ vua. Cái gì chậm cứ chậm, nhưng những gì người Ấn Độ làm được là đáng kính nể.  Havana, Cuba, ngày thứ năm …  Khách sạn Palco          Tác giả đang đứng trước Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada        Nâng cấp công nghiệp, hội nhập và đầu tư nước ngoài là chủ đề của một hội thảo do Cuba cùng với Thuỵ Điển tổ chức, có mời nhiều nhà khoa học của các nền kinh tế đang và đã cải cách đến để trình bày kinh nghiệm cho đồng nghiệp Cuba học tập. Kể từ các nhà cải cách theo liệu pháp sốc như Nga, Hungary, cho đến các nhà cải cách theo kiểu đặc biệt mang màu sắc riêng như Trung Quốc đều có mặt. Bên cạnh đó là các học giả nền kinh tế thị trường gần như tuyệt đối như Hoa Kỳ và các nhà kinh tế thị trường mang màu sắc xã hội và nhân văn hơn như Thuỵ Điển. Các cuộc thảo luận đều xoay quanh làm sao Cuba có thể học được cái gì đó. Kể ra cũng khó thật. Cuba đâu phải Nga, Hungary, cũng chẳng phải Trung Quốc hay Việt Nam. Càng không phải Hoa Kỳ hay Thuỵ Điển. ấy vậy mà vẫn phải học, phải chắt lọc kinh nghiệm của người khác. Nhưng Việt Nam mình cũng đã từng phân vân, đã học, đã rút kinh nghiệm và đã thay đổi.  Cái chính là hình như không phải ai cũng muốn học. Bên cạnh đa số đại biểu thích thú khi nghe kinh nghiệm của Trung Quốc, hay Việt Nam, có một số người dường như hơi phân vân, thậm chí lo lắng. Liệu khuyến khích tư nhân phát triển doanh nghiệp có mất chủ nghĩa xã hội không, liệu đầu tư nước ngoài vào có bóc lột nhân dân không, và còn nhiều câu hỏi khác nữa. Tưởng chừng xã hội này chỉ muốn đứng một mình, ngoài những gì cả thế giới đang bàn đến. Mà có lẽ cũng vì cấm vận kinh tế mà đất nước này đã phải trải qua dài hơn ai hết.  Varadero, ngày thứ sáu …  Sau hai ngày hội thảo căng thẳng, tất cả đại biểu dự hội thảo được tổ chức cho đi nghỉ ở Varadero, một khu nghỉ mát nổi tiếng trên bờ biển khá xinh đẹp, kiểu như Nha Trang hay Phan Thiết của ta. Sau khoảng 2 tiếng đồng hồ đi cùng nhau trên một chuyến xe buýt giành cho du lịch quốc tế, chúng tôi đến thành phố du lịch. Đủ loại khách sạn nổi tiếng có mặt ở đây, Sofitel, Melia… như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, hơn cả thế, khách sạn rất lớn, hoành tráng, nối tiếp nhau xếp hàng dài trên vài cây số bờ biển. Sau khi tập hợp tại một khách sạn khá tốt, cỡ vừa kiểu như khách sạn Hòa Bình, mọi chuyện bắt đầu. Chúng tôi được thông báo là sẽ phải đi chọn khách sạn khác, vì các đại biểu trong nước (chính là ban tổ chức hội nghị, cơ quan chủ trì, v.v) người Cuba không được ở trong khách sạn này, vốn chỉ giành cho người nước ngoài, và thanh toán bằng ngoại tệ. Cả đoàn lại phải lên xe, đi tìm một khách sạn khác phù hợp hơn, ít sao hơn, cỡ nhỏ hơn và dành cho tất cả mọi người (tôi đã tưởng như vậy). Khoảng 10 phút sau, loanh quanh chúng tôi đã đến một khách sạn khác, người Cuba đầy trong khách sạn, tiếng Tây Ban Nha nghe ròn rã, rào rào. Trẻ em chạy rầm rập. Chả khác gì một nhà nghỉ ở Bãi Cháy đầy người Hà Nội xuống nghỉ cuối tuần. Ở đây chắc vui lắm đây, tôi đã khấp khởi. Sự phấn khích của tôi không kéo dài được lâu. Chúng tôi, những đại biểu nước ngoài, sau khi chờ đợi khoảng 30 phút lại được lệnh lên xe, quay trở lại khách sạn đầu. Một lý do đơn giản, người nước ngoài không được ở trong khách sạn chỉ giành cho người trong nước, không thanh toán bằng tiền ngoại tệ. Vắn tắt lại là người nước ngoài không thể ở chung cùng một khách sạn với người trong nước. Tất cả đã được lên kế hoạch, không có chỗ cho sự linh hoạt nào. Các đồng nghiệp Cuba có vẻ áy náy, thậm chí hơi ưu phiền khi việc này diễn ra. Các đại biểu đến từ các nước Âu, Mỹ thì tỏ vẻ kinh ngạc. Riêng tôi thấy mình như quay về Hà Nội những năm 70, thậm chí 80, không hề ngạc nhiên. Chỉ là một cảm giác khó tả. Và hơn thế là một cái thở phào. Dân ta, nước ta mà không có đổi mới, khéo vẫn còn thế này, hoặc không được như vậy. Thật khó mà tưởng tượng như bây giờ người mình phải vào khách sạn Kim Liên mà ở, còn đồng nghiệp nước ngoài thì ở khách sạn Dân Chủ, không vì nguyên nhân thiếu kinh phí.  Đã tưởng là sẽ khó tìm thấy được một dấu hiệu của kinh tế thế giới, của tinh thần làm ăn doanh nghiệp ngoài nhà nước ở đây. Tôi lại nhầm. Ngay xế trước cửa khách sạn chúng tôi ở, có một hàng cho thuê xe máy, của tư nhân, Khoảng 4-5 chiếc xe loại như Vespa cỡ nhỏ. Khách không cần để lại giấy tờ gì, kể cả tiền đặt cọc. Chỉ cần ghi nhận, nói khách sạn mình ở và lấy xe đi, xăng anh tự đổ, khi về thanh toán, 2 đô la một giờ. Một mình một xe, tôi rong ruổi suốt bán đảo Varadero dài khoảng 5 cây số, chạy dọc theo con đường trục của các khách sạn quốc tế lớn. Trời nắng, nóng, lác đác thỉnh thoảng mới gặp một cái xe đi ngược chiều. Một vài quán nhỏ bán nước giải khát, bán ảnh du lịch hoặc bản đồ. Ngay cả một xã hội tưởng chừng như cứng rắn như Cuba cũng bắt đầu thay đổi và hội nhập. Tác động của toàn cầu hóa đến hệ thống xã hội và từng người dân tuy chưa thấy mạnh mẽ, nhưng đã len lỏi khắp nơi. Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện. Nền kinh tế này thừa đủ tiềm năng cho phát triển, họ đã trở thành một cường quốc du lịch, và sẽ ngày càng mạnh hơn. Nếu tham gia đầy đủ hơn nữa vào hội nhập, vào phát triển kinh tế dân doanh, chắc chắn Cuba không thể không phát triển.  Tiếc một nỗi, công nghệ thông tin dường như dừng lại tại chỗ ở đây, Internet rất chậm, thậm chí hầu như không chạy, ngay cả trong các khách sạn quốc tế. Không phải ai cũng theo được con tầu cao tốc công nghệ thông tin. Công việc chỉ đạo từ xa thông qua mạng chắc “liệt” hẳn cho những ai muốn dùng chính phủ điện tử, vừa đi công tác vừa vận hành công việc ở nhà.          Một cánh đồng chè ở Ấn Độ        Toronto, ngày thứ bảy …  Nói đến công nghệ thông tin, có lẽ Canada là một xã hội gần như dẫn đầu thế giới. Ngoài phố có các quầy có cả màn hình cho người dân tra cứu tất cả các loại thông tin cần thiết. Cơ sở hạ tầng đáng tin cậy, nội dung thông tin phong phú. Tôi vào thư viện của khoa luật trường Đại học Tổng hợp Toronto làm việc với một anh bạn. Tranh thủ lên mạng kiểm tra thư điện tử, bằng cách vào trang chủ của chính cơ quan mình, hết đúng nửa phút. Nếu ngồi ngay tại phòng mình ở tầng hai của cơ quan trên phố Ngô Quyền, để đọc thư được lưu tại máy chủ lưu trữ trên tầng ba, tôi thường mất khoảng 5 phút để vào được nơi lưu giữ thư. Việc gửi một tệp tin từ phòng nọ sang phòng kia đôi khi còn mất nhiều thời gian hơn. Nếu thế thì ngồi ở Toronto cách Hà Nội nửa vòng quả đất để làm việc trên các tệp dữ liệu này, có khác gì ngồi ở ngay chính cơ quan mình, nếu không phải là nhanh hơn? Khoảng cách còn ý nghĩa gì nữa không? Thật là một nghịch lý.  Đặc biệt, sự kết nối bằng công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho các tỉnh có khoảng cách rất xa nhau, với các điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt đều có cơ hội ngang nhau. Ngồi ở Edmonton, thủ phủ tỉnh Alberta với cái lạnh vùng cực và dân cư thưa thớt cũng không thua kém gì như ngồi ở Toronto, một thành phố rất gần Mỹ và như Mỹ.  Ottawa, ngày thứ tám…  Thương mại điện tử cho doanh nghiệp là chủ đề mà tôi tham gia một cuộc tọa đàm với một số tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp của Canada. Cái hay ở đây, thực ra lại không phải là sự phô trương sức mạnh công nghệ thông tin mà một xã hội như Canada có thừa. Cái đáng nói ở đây là các đồng nghiệp nhấn rất mạnh đến sự rộng lớn của đất nước này, và vì vậy khoảng cách rất lớn giữa các điểm dân cư, các thành phố. Phương cách duy nhất để khắc phục khoảng cách là sử dụng công nghệ thông tin, là ứng dụng thương mại điện tử cho cả những tỉnh cách xa thủ đô đến vài ngàn cây số như cực đông. Một dự án của Viện công nghệ thông tin thuộc Hội đồng nghiên cứu Canada (National Research Council Canada, NRC) đang phát triển tại các vùng cực đông xa xôi như Nova Scotia là những ví dụ làm sao công nghệ thông tin có thể giúp cho nông dân, ngư dân tại vùng sâu, vùng xa. Ngồi ở một thị trấn dầu khí vùng New Foundland hay thậm chí một làng chài nhỏ tỉnh New Brunswick, người ta hoàn toàn có thể có giao dịch thưong mại, học hành và tiếp cận các nguồn thông tin như là ngồi ngay giữa thủ đô Ottawa vậy. Thế giới trở nên nhỏ hơn, khoảng cách rút xuống ngắn hơn. Người ta sống được theo tiêu thức thời gian thật (real time), bất chấp múi giờ.  Hà Nội, ngày thứ mười …  Ngồi trên máy bay về nhà, người bên cạnh tôi đang đọc cuốn sách của Stiglitz Toàn cầu hóa và những vấn đề của nó.1 Lật trang báo do hãng hàng không vừa mang lên trước khi cất cánh, trải dài các trang là một loạt tít liên quan đến toàn cầu hóa. Tôi chợt nghĩ, toàn cầu hóa là gì nhỉ. Có lẽ toàn cầu hoá không phải là cái gì trừu tượng mà là việc xảy ra hàng ngày, có tác động vào tất cả mọi loại hình sinh hoạt kinh tế-xã hội trong một bối cảnh thời gian thật, không gian rút ngắn, thu hẹp. Như Friedman đã phải thốt lên “Thế giới đã trở nên phẳng rồi”2. Mọi người, mọi công ty, mọi quốc gia đều có cơ hội tranh đấu trên một mặt phẳng như nhau, không cao, không thấp hơn.  Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó. Toàn cầu hóa chắc chắn không phải liều thuốc tiên, và có cả lợi và hại. Điều quan trọng là không thể để buông trôi, không có hành động hoặc giải pháp gì. Bên cạnh việc khai thác tối đa cái lợi của toàn cầu hóa, việc giảm thiểu những tác động gây thiệt thòi không kém quan trọng. Vấn đề là những nhóm người chịu thiệt sẽ tự phát hành động một cách đơn độc hay được chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức hành động. Đây là một cuộc chơi sẽ mang lại những cơ hội khổng lồ cho những ai biết cách khai thác, và sẽ không thương tiếc với những người chậm chân. Thế giới đang chuyển động.  —————-    Stiglitz, Joseph (2000) Globalization and its discontent.  2 Thomas L. Friedman là một tác giả có nhiều tác phẩm kinh tế-chính trị nổi tiếng như  “Thế giới phẳng” (2005) hoặc “Chiếc Lexus và cây ô liu” (1999) phân tích về toàn cầu hóa, và các vấn đề kinh tế quốc tế.    Trần Ngọc Ca      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định được gene đóng vai trò quan trọng gây trầm cảm      Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Thần kinh học (Journal of Neuroscience) cho thấy, mức độ hoạt động của gene Slc6a15 ở trong các tế bào thần kinh (neuron) có thể làm tăng hoặc giảm tình trạng căng thẳng. Nghiên cứu này có thể dẫn đến những liệu pháp tập trung vào gene Slc6a15 như một hướng mới trong điều trị trầm cảm.      Nghiên cứu này tập trung vào các neuron ở vùng não tưởng thưởng (reward circuit).   Mỗi năm, chứng trầm cảm tác động tới hơn 300 triệu người trên toàn thế giới. Có gần 800.000 người chết vì tự tử hằng năm – là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong ở độ tuổi từ 15 tới 29. Trên hết, trầm cảm hủy hoại chất lượng sống của hàng chục triệu bệnh nhân và gia đình họ. Mặc dù các yếu tố môi trường đóng vai trò trong nhiều ca trầm cảm, nhưng yếu tố di truyền học cũng vô cùng quan trọng.  Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học ở Đại học Y Maryland (UM SOM) đã xác định chính xác loại gene vừa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ thần kinh khỏi tình trạng căng thẳng, vừa đẩy nó rơi vào tình trạng lo âu dẫn tới trầm cảm, tùy thuộc vào mức độ hoạt động của nó.  Nghiên cứu nói trên, lần đầu tiên giải thích một cách cụ thể về hoạt động của gene đặc biệt này, được gọi là gene Slc6a15, có mặt trong một loại neuron thần kinh đóng vai trò chính trong chứng trầm cảm. Nghiên cứu này chứng minh được mối quan hệ giữa gene Slc6a15 và chứng trầm cảm ở cả động vật và con người.  “Nghiên cứu của chúng tôi thực sự làm sáng tỏ gene này tác động tới tâm trạngnhư thế nào khi hoạt động ở các mức độ khác nhau”, TS. Mary Kay Lobo thuộc Khoa Giải phẫu học và Sinh học thần kinh, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. “Nó cho thấy rằng, ở những người có gene này hoạt động ở mức độ khác thường tại một số vùng nhất định của não biến đổi thì nguy cơ mắc chứng trầm cảm và các rối loạn cảm xúc liên quan tới stress cao hơn nhiều.”.  Năm 2006, Lobo và các đồng nghiệp của bà phát hiện ra gene Slc6a15 xuất hiện phổ biến hơn ở một số neuron nhất định trong não và gần đây họ đã chứng minh được rằng những neuron này có vai trò rất quan trọng đối với chứng trầm cảm. Sau khi một số nhà nghiên cứu khác cũng đề cập vai trò của gene Slc6a15 đối với chứng trầm cảm, phòng thí nghiệm của TS. Lobo đã quyết định sẽ nghiên cứu về vai trò của những neuron đặc biệt này. Trong nghiên cứu nói trên, Lobo và các đồng nghiệp đã tập trung vào vùng nhân vòng (nucleus accumbens) ở não bộ. Vùng này đóng vai trò trung tâm trong “vùng tưởng thưởng” của não bộ. Ví dụ, khi bạn ăn một bữa ăn ngon, quan hệ tình dục, uống rượu, hoặc có bất kỳ một trải nghiệm thú vị nào khác, các neuron trong vùng nhân vòng sẽ được “kích hoạt”, tạo ra những cảm giác hưng phấn mong đợi. Với người bị mắc chứng trầm cảm, họ rất khó hoặc không thể cảm nhận bất kỳ sự thích thú nào – triệu chứng này được gọi là anhedonia – trong tiếng Latinh có nghĩa là không có khả năng trải nghiệm niềm vui.  Các nhà nghiên cứu tập trung vào nhóm các neuron ở vùng nhân vòng, được gọi là các neuron D2. Các neuron này phản ứng với chất dẫn truyền thần kinh dopamine, chất đóng vai trò quan trọng trong vùng não tưởng thưởng.  Họ đã nghiên cứu những con chuột có khả năng bị trầm cảm; khi gặp tình huống căng thẳng trong đời sống bầy đàn – như phải tiếp xúc với những con chuột khác lớn và hung hăng hơn – chúng có xu hướng trốn tránh và có hành vi cho thấy biểu hiện của chứng trầm cảm, chẳng hạn như rút lui khỏi đời sống bầy đàn và không còn hứng thú với những loại thức ăn chúng thích nữa. TS. Lobo phát hiện ra rằng, khi những con chuột này rơi vào trạng thái căng thẳng thường xuyên trong quan hệ bầy đàn, mức độ hoạt động của gene Slc6a15 trong các neuron D2 ở vùng nhân vòng giảm đáng kể.  Các nhà nghiên cứu cũng khảo sát những con chuột đã được làm giảm mức độ hoạt động của gene Slc6a15 trong các neuron D2. Khi những con chuột này gặp căng thẳng, chúng cũng thể hiện những dấu hiệu của trầm cảm. Ngược lại, khi các nhà nghiên cứu tăng cường mức độ hoạt động của gene Slc6a15 trong các neuron D2 thì những con chuột lại cho thấy chúng dễ dàng ứng phó và phục hồi khi gặp stress.  Sau đó, Lobo quan sát não bộ của những người có tiền sử trầm cảm nghiêm trọng và những người từng tự sát. Trong vùng nhân vòng của những bộ não này, mức độ hoạt động của gene Slc6a15 đã bị giảm. Điều này cho thấy cùng mối liên hệ giữa gene Slc6a15 với hành vi cả ở chuột và người.  Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chưa rõ gene Slc6a15 có cơ chế hoạt động như thế nào. Theo PGS.TS Lobo, có thể nó làm thay đổi nồng độ các chất truyền dẫn thần kinh trong não, một giả thiết đã có bằng chứng từ một số nghiên cứu khác. Bà nói, nghiên cứu của mình cuối cùng có thể dẫn đến những liệu pháp mong đợi, tập trung vào gene Slc6a15 như một hướng mới trong điều trị trầm cảm.  Lê Anh Vũ dịch  Nguồn:  https://www.sciencedaily.com/releases/2017/07/170706114559.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định hơn 140.000 loài virus trong ruột người      Các nhà nghiên cứu ở Viện Wellcome Sanger và Viện Tin sinh học châu Âu thuộc Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Châu Âu EMBL (EMBL-EBI) đã xác định hơn 140.000 loài virus sống trong ruột người, hơn một nửa trong số đó chưa từng được biết đến trước đây.      Xuất bản vào trên tạp chí Cell, bài báo đã phân tích hơn 28.000 mẫu vi sinh vật đường ruột được thu thập từ nhiều nơi trên thế giới. Số lượng và sự đa dạng của những loài virus do các nhà nghiên cứu tìm thấy ở mức cao đáng ngạc nhiên. Dữ liệu này sẽ mở ra những hướng nghiên cứu mới để tìm hiểu các virus trong ruột ảnh hưởng đến sức khỏe con người như thế nào.  Ruột người là môi trường vô cùng đa dạng sinh học. Bên cạnh vi khuẩn, hàng trăm ngàn loại virus được gọi là thể thực khuẩn (bacteriophages), có thể xâm nhiễm vi khuẩn, cũng sống ở đó. Sự mất cân bằng của vi sinh vật đường ruột có thể góp phần gây ra bệnh tật và các tình trạng phức tạp khác như bệnh viêm ruột, dị ứng và béo phì. Tuy nhiên, ít người biết về vai trò của vi khuẩn đường ruột và thể thực khuẩn xâm nhiễm chúng đối với sức khỏe và bệnh tật ở người.  Thông qua phương pháp giải trình tự DNA đa hệ gene (metagenomic), các nhà nghiên cứu ở Viện Wellcome Sanger và Viện Tin sinh học châu Âu thuộc Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Châu Âu EMBL (EMBL-EBI) đã khám phá và lập danh mục đa dạng sinh học của các loài virus được tìm thấy trong 28.060 đa hệ gene được lấy từ ruột người và 2.898 hệ gene phân lập được nuôi cấy từ ruột người. Nghiên cứu đã xác định được hơn 140.000 loài virus sống trong ruột người, hơn một nửa trong số đó chưa từng được biết đến trước đây.  TS. Alexandre Almeida, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại EMBL-EBI và Viện Wellcome Sanger, cho biết: “Điều quan trọng cần nhớ là không phải mọi virus đều có hại, chúng là đại diện cho một thành phần không thể thiếu của hệ sinh thái đường ruột. Vì thứ nhất, phần lớn các virus chúng tôi tìm thấy có vật liệu di truyền là DNA, khác với phần lớn mầm bệnh mọi người biết như SARS-CoV-2 hay Zika, là virus chứa RNA. Thứ hai, phần lớn những mẫu này đều từ những người khỏe mạnh không mắc bất cứ bệnh cụ thể nào. Thật hấp dẫn khi thấy có bao nhiêu loài chưa biết sống trong ruột của chúng ta, và cố gắng làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chúng và sức khỏe con người”.  Giữa hàng chục ngàn loài virus được phát hiện, một chủng virus mới phổ biến được cho là có chung tổ tiên – đã được xác định, được các tác giả gọi là Gubaphage, chủng virus phổ biến thứ hai được tìm thấy trong ruột người, sau crAssphage được phát hiện vào năm 2014. Cả hai loại virus này dường như đều xâm nhiễm lên các loại vi khuẩn đường ruột, nhưng nếu không nghiên cứu thêm thì sẽ rất khó để biết chính xác chức năng của chủng Gubaphage mới được phát hiện.  TS. Luis F. Camarillo-Guerrero, tác giả thứ nhất của nghiên cứu ở Viện Wellcome Sanger, cho biết: “Một khía cạnh quan trọng trong công việc của chúng tôi là đảm bảo các hệ gene virus được tái tạo có chất lượng cao nhất. Một hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt với hướng tiếp cận học máy cho phép chúng tôi giảm bớt ô nhiễm và có được hệ gene virus chất lượng cao. Điều này giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về vai trò của virus trong hệ vi sinh vật đường ruột, bao gồm phát minh những phương pháp điều trị mới, chẳng hạn như thuốc kháng sinh có nguồn gốc từ thể thực khuẩn”.  Kết quả nghiên cứu là nền tảng hình thành Cơ sở dữ liệu thể thực khuẩn đường ruột (Gut Phage Database), một cơ sở dữ liệu được quản lý chặt chẽ chứa 142.809 hệ gene thể thực khuẩn không dư thừa. Đây là nguồn tài nguyên vô giá cho những nghiên cứu về thể thực khuẩn và vai trò của chúng đối với việc điều hòa sức khỏe của vi khuẩn đường ruột và bản thân chúng ta.  TS. Trevor Lawley (Viện Wellcome Sanger), tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Nghiên cứu về thể thực khuẩn hiện đang trải qua thời kỳ phục hưng. Danh mục virus đường ruột có chất lượng và độ phân giải cao đến vào đúng lúc để trở thành bản thiết kế hướng dẫn phân tích sinh thái và tiến hóa trong các nghiên cứu hệ gene virus tương lai”.  Thanh An dịch      Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-scientists-virus-species-human-gut.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định kiểu đối thoại giữa hai người chỉ dựa trên các phản ứng sinh lý      Các kỹ sư tại Đại học Cincinnati cho biết họ đã đào tạo một máy tính có khả năng xác định kiểu đối thoại giữa hai người chỉ dựa trên các phản ứng sinh lý.    Cơ sở cho nghiên cứu này là một hiện tượng có tên sự đồng điệu về sinh lý. Khi hai người nói chuyện hay cộng tác với nhau, nhịp tim, hô hấp và các phản ứng tự động khác của hệ thần kinh trở nên đồng điệu. Ảnh hưởng này mạnh hơn khi hai người say sưa nói chuyện hay cộng tác chặt chẽ trong một nhiệm vụ.    Mức độ đồng điệu cũng liên quan tới mức độ cảm thông mà bệnh nhân cảm thấy ở nhà trị liệu hay mức độ gắn bó của học sinh với giáo viên.    Trong các thí nghiệm có người tham gia, máy tính có thể phân biệt bốn tình huống hội thoại khác nhau với độ chính xác lên tới 75%. Đây là nghiên cứu đầu tiên thuộc loại đào tạo trí tuệ nhân tạo cách nhận ra tính chất của cuộc đối thoại dựa trên phản ứng sinh lý của người tham gia.    Mười sáu cặp đôi tham gia thí nghiệm thảo luận về các chủ đề mà họ có thể đồng tình hoặc không đồng tình với nhau, trước khi bước vào bốn cuộc nói chuyện khác nhau:    – Một cuộc hội thoại tích cực, họ vui vẻ nói chuyện về một chủ đề mà hai bên đều có ý kiến tương tự.    – Một cuộc hội thoại tiêu cực, họ bực bội bàn về một chủ đề bất đồng ý kiến.    – Hai cuộc hội thoại về một chủ đề dễ chịu, từng người tham gia lần lượt làm chủ cuộc hội thoại.    Cứ ba trong bốn lần trò chuyện, AI có thể xác định loại hội thoại (một chiều, chỉ có một người nói; có sự trao đổi hai chiều; tích cực hay tiêu cực) dựa trên tín hiệu mà cơ thể người tham gia cho máy biết.        “Có thể sử dụng hệ thống này để xác định xem những ai trong tổ chức hợp tác với nhau tốt hơn, và những ai bẩm sinh đã có tính đối nghịch”, Iman Chatterjee, tác giả chính, nghiên cứu sinh tiến sĩ của ĐH Cincinnati, cho biết.    Đồng tác giả Vesna Novak, phó giáo sư kỹ thuật điện, hiện đang nghiên cứu robot phục hồi chức năng và công nghệ đeo trên người trong phòng thí nghiệm tại Trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng của ĐH Cincinnati. Theo bà, tính toán cảm ứng có tiềm năng lớn trong việc cung cấp phản hồi theo thời gian thực cho các nhà giáo dục, nhà trị liệu hoặc thậm chí là người tự kỷ.    Cá nhân bà cho rằng những phép đo phản ứng sinh lý tạm thời chưa nói được gì nhiều về các mối quan hệ giữa người với người nhưng nó đặt ra câu hỏi liệu máy tính còn có thể tiết lộ cho chúng ta những điều gì nữa về các mối quan hệ này.    “Bước tiếp theo, chúng tôi sẽ xem có thể xác định được bao nhiêu sắc thái của các cuộc hội thoại. Chúng tôi đã cho thấy rằng AI có khả năng xác định các cuộc hội thoại tích cực và tiêu cực, nhưng liệu nó có thể nhận biết những sắc xám mà con người không nhận ra hay không?”    Nghiên cứu được đăng trên tạp chí IEEE Transactions on Affective Computing.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Xác định sức tải môi trường thủy vực phá Tam Giang – Cầu Hai từ mô hình Delft-3D      TS. Cao Thị Thu Trang (Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và cộng sự đã đề xuất việc xây dựng các kịch bản đánh giá nguy cơ ô nhiễm môi trường thủy vực và giải pháp bảo vệ các khu vực này.    Đó là nội dung chính của công trình “Assessment of the environmental carrying capacity of pollutants in Tam Giang-Cau Hai Lagoon (Viet Nam) and solutions for the environment protection of the lagoon” (Đánh giá sức tải chất ô nhiễm của môi trường thủy vực ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và những giải pháp bảo vệ môi trường đàm phá), xuất bản trên tạp chí Science of The Total Environment 1.  Ba kịch bản phát thải vào môi trường    Ý tưởng đánh giá sức tải môi trường (EEC) được các nhà khoa học Mỹ đề xuất vào đầu thế kỷ 20, sau được áp dụng để đánh giá cho nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau. Ở đây, sức tải môi trường là lượng ô nhiễm tối đa mà nước có thể ‘tải’ mà vẫn đảm bảo giữ được sự tăng trưởng và phát triển của các loài thủy sinh. Mức ô nhiễm mà nước có thể tiếp nhận là khả năng ngưỡng ô nhiễm (carbon, nitrogen, phosphorous…) mà một thủy vực có thể chứa. Nếu vượt quá ngưỡng này, bất chấp các quá trình tự làm sạch ở thủy vực, các chất ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến đời sống của các loại động thực vật dưới nước 2.  Với nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường, trong đó có sự ô nhiễm nguồn nước. Để ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước, TS. Cao Thị Thu Trang và cộng sự đã nghĩ đến việc tính toán tổng lượng chất thải tối đa hằng ngày có thể thải vào một nguồn nước mà không gây ô nhiễm trên vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, một đầm phá lớn nhất nằm ở miền Trung. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, họ đã tổ chức hai cuộc khảo sát theo hai mùa: mùa mưa (tháng 11/2011) và mùa khô (tháng 5/2012) tại ba địa điểm là Tam Giang, Sam và Cầu Hai. Mục tiêu của các chuyến khảo sát này là xác định thủy lực và mô hình hóa chất lượng nước; thu thập dữ liệu kèm thêm về chất lượng nước ở Tam Giang – Cầu Hai.  Để tính toán sức tải thủy vực, các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình Delft 3D và mô phỏng thủy lực, chất lượng nước. Qua đó, họ có được kết quả mô phỏng chất lượng nước năm 2011–2012 và coi đây là điều kiện cơ sở. Sau đó, họ thiết lập kịch bản cho sức tải thủy vực với mức phát thải thấp vào năm 2030: nồng độ oxy hòa tan tại điểm theo dõi sẽ giảm 3,7% đến 20,3%, nhu cầu oxy cho các quá trình sinh hóa trong nước sẽ từ 3,0 và 5,0 mg l−1; giá trị COD (lượng oxy được sử dụng để oxy hóa các chất ô nhiễm trong nước thải) gia tăng từ 1,3 đến 1,8 lần; nồng độ ammonium sẽ tăng từ 1,9 đến 3 lần; nồng độ nitrate sẽ gia tăng từ 1,7 đến 2,2 lần; nồng độ phosphate sẽ tăng từ 1,3 đến 1,6 lần. Kịch bản này cho thấy là vào năm 2030, dẫu có một nhà máy xử lý nước thải ở thành phố Huế và các cơ sở công nghiệp thì đầm phá này vẫn sẽ bị ô nhiễm với vật chất hữu cơ và ammonium, đặc biệt trong mùa mưa.  Theo kịch bản phát thải cao vào năm 2030 với nước thải sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi xả thẳng xuống đầm phá tương tự như năm 2011–2012 do chưa có những nhà máy xử lý có công suất phù hợp, kết quả mô phỏng cho thấy hàm lượng ô xy hòa tan tại điểm quan trắc sẽ ở mức dưới 5 mg l−1 vào cả mùa mưa và mùa khô; nhu cầu ô xy cho các quá trình sinh hóa sẽ là 3,5 và 8,0 mg l−1 cao hơn giá trị ngưỡng; giá trị COD sẽ vào khoảng 10 and 18 mg l−1 trong mùa khô và từ 20 đến 35 mg l−1 trong mùa mưa, cao hơn giá trị ngưỡng; hàm lượng ammonium gia tăng từ 2,9 đến 4,4 lần; hàm lượng nitrate tăng từ 2,5 đến 3 lần; hàm lượng phosphate tăng từ 1,6 đến 1,8 lần.  Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn xây dựng kịch bản phát thải bất thường của năm 2030, chủ yếu ở Tam Giang và phá Sâm, nơi nhận nước thải từ Khu công nghiệp Phong Điền, Phú Bài. Kịch bản này dựa trên cơ sở kịch bản phát thải thấp nhưng có thêm lượng chất thải “đổ trộm”, không qua xử lý từ các nguồn công nghiệp với tần suất khoảng 7 ngày mỗi mùa. Theo các điều kiện đó thì chất lượng nước ở Tam Giang, Sam suy giảm đáng kể. Tại các điểm tiếp nhận nước thải, lượng ô xy hòa tan xuống thấp, nồng độ vật chất hữu cơ rất cao và nồng độ ammonium tăng lên, dẫn đến cái chết hàng loại của các loài thủy sinh.  Dựa trên các chỉ số thành phần của carbon, ni tơ và phốt pho, các nhà nghiên cứu đã tính toán được sức tải thủy vực. Tại mức chịu cao nhất, khu đầm phá này sẽ mất đi năng lực tự làm sạch và nước biển từ cửa biển Thuận An và Tư Hiền không thể hòa tan được hiệu quả nước của đầm phá Tam Giang – Cầu Hai để duy trì sự sống thủy vực. Sự phục hồi của các hệ sinh thái trong đầm phá này sẽ cần đến rất nhiều thời gian, nỗ lực của con người và tiền bạc của chính quyền.    Tình trạng ô nhiễm ở một góc phá Tam Giang.   Những giải pháp cho tương lai  Nhìn về quá khứ, so với những kết quả quan sát từ năm 1995 đến nay, chất lượng môi trường ở Tam Giang – Cầu Hai ngày một suy giảm. Kết hợp với kết quả từ nghiên cứu của các nhà khoa học Ý và Việt Nam giai đoạn 2006–2008, TS. Cao Thị Thu Trang và cộng sự đã phát hiện ra, từ năm 2006 đến năm 2011, nồng độ vật chất hữu cơ trong nước đã gia tăng từ 1,6 đến 4,5 lần trong khi hàm lượng dưỡng chất trong nước giảm 1,5 đến 2,2 lần với thành phần ni tơ và 1,3 đến 1,7 lần với thành phần phốt pho.  Theo mô hình của họ, trong kịch bản phát thải thấp vào năm 2030, chất lượng nước suy giảm và ô nhiễm hữu cơ, ammonium sẽ dẫn đến hàm lượng ô xy hòa tan ở mức cực thấp. Đáng chú ý, điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát triển của đời sống thủy vực. Còn theo kịch bản bất thường, nếu có hiện tượng nước xả trộm từ các khu công nghiệp thì nó sẽ dẫn đến hàm lượng ô xy hòa tan gần như cạn kiệt, trong khi ô nhiễm ammonia, phosphate tại khu vực quanh địa điểm tiếp nhận nước thải gia tăng đột biến, dẫn đến cái chết của các loài thủy sinh. Nước thải có thể lan đến khu vực giữa đầm phá, làm tăng hàm lượng ô nhiễm.  Trên cơ sở tính toán sức tải thủy vực cho đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, các nhà nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để bảo vệ môi trường:  – Cần thiết giảm thiểu giá trị ngưỡng của phosphate trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cho nước ven biển từ 0,2 mg l−1 đến 0.045 mg l−1 hoặc thấp hơn, để giảm thiểu quá trình phú dưỡng trong đầm phá.  – Các hệ sinh thái tảo biển và cỏ biển đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch thủy vực nên cần phải bảo vệ các hệ sinh thái được mệnh danh là “các nhà máy xử lý chất thải tự nhiên” này 3.  – Cần thiế gia tăng sự hoàn lưu giữa các thủy vực và biển để loại bỏ các loại chất thải để ngăn ngừa trôi nổi trong nước (đăng, đó, lưới, xốp…) để đảm bảo sự thông khí trên mặt nước đầm phá.  – Xây dựng các nhà máy xử lý nước thải ở các khu vực ven biển nhằm đảm bảo mọi loại nước thải khi xả vào đầm phá đều qua xử lý. Trong ngắn hạn, chính quyền cần hỗ trợ người dân địa phương xây dựng các nhà vệ sinh đủ tiêu chuẩn và các nhà vệ sinh công cộng để phục vụ khách du lịch. Cách làm này sẽ làm giảm thiểu lượng chất thải xả ra môi trường.  – Cần có quy định chặt chẽ hơn về các hoạt động công nghiệp trong Luật Bảo vệ môi trường, ngăn chặn không cho các khu công nghiệp xả thải vào đầm phá. Thêm vào đó, cần phát triển một cơ sở dữ liệu về nước thải để kiểm soát các khu công nghiệp cũng như năng lực xử lý nước thải của mỗi công ty. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu này sẽ giúp dò theo được hành động xả nước của các doanh nghiệp.  – Hỗ trợ các hộ gia đình chăn nuôi các khu vực xử lý chất thải chăn nuôi hầm biogas, sử dụng năng lượng cho sinh hoạt…; thu thập và xử lý nước thải chăn nuôi cũng góp phần làm giảm ô nhiễm.  Tô Thanh Vân  ————————————  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0048969720366602  2. https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/du-bao-nhung-vung-bien-sap-bi-o-nhiem/2022051202512596p1c160.htm  3. https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/suy-giam-co-bien-o-mien-trung-chuyen-khong-binh-thuong/20210617105029279p1c160.htm    Author                .        
__label__tiasang Xác nhận bí mật của cây đàn Stradivari      Nghiên cứu mới của các nhà khoa học trường đại học A&M Texas và các đồng nghiệp quốc tế đã xác nhận nghệ nhân làm đàn cự phách Antonio Stradivari và những người khác đã xử lý nhạc cụ của mình bằng nhiều loại hóa chất. Điều đó khiến cho âm thanh của các nhạc cụ này trở nên độc đáo và phần lớn các loại hóa chất đó đều là lần đầu tiên được nhận biết.      Joseph Nagyvary, giáo sư sinh hóa hồi hưu tại A&M Texas, là người đầu tiên đề xuất thuyết các hoạt chất được dùng trong quá trình làm đàn. Đây là nguyên nhân khiến cho các cây đàn Stradivari và những loại khác như Guarneri del Gesu, trở thành các nhạc cụ có âm thanh khác biệt trong suốt hơn 200 năm qua. Nhóm nghiên cứu quốc tế này do giáo sư hóa học tại trường ĐH Đài Loan Hwan-Ching Tai dẫn dắt xuất bản trên tạp chí Angewandte Chemie International Edition”Materials Engineering of Violin Soundboards by Stradivari and Guarneri” 1.  Trong 40 năm làm việc tại A&M Texas, Nagyvary đã chứng minh lý thuyết ông dành nhiều năm tìm kiếm: có một nguyên nhân ban đầu nào đó đã tạo ra âm thanh nguyên sơ, vượt qua khỏi khả năng của người thợ làm đàn xuất sắc nhất, đó là các hóa chất mà Stradivari và những người khác đã sử dụng để xử lý nhạc cụ do tránh bị sâu mọt hại phá hủy vào thời gian đó.  “Mọi nghiên cứu của tôi trong ngần ấy năm đều dựa trên cơ sở giả định là gỗ mà các bậc thầy sử dụng đều trải qua một cuộc xử lý bằng hóa chất cực mạnh, và nó có vai trò trực tiếp trong việc tạo ra được âm thanh tuyệt hay của Stradivari và Guarneri”, Nagyvary giải thích.  Phát hiện của ông đã được xác nhận trong một bài bình luận của Hội Hóa học Mỹ, một tổ chức khoa học lớn bậc nhất thế giới.  Kết quả nghiên cứu của nhóm chứng tỏ các nghệ nhân dùng borax, kẽm, đồng và nhôm – cùng với nước vôi – để xử lý loại gỗ làm đàn.  “Borax có một lịch sử dài được coi như chất bảo quản, nếu chúng ta quay trở lại thời Ai cập cổ đại. Người Ai Cập đã dùng nó trong nghệ thuật ướp xác và sau đó như một chất trừ sâu”, Nagyvary nói.  “Sự hiện diện của các hóa chất này đều cho thấy sự hợp tác giữa các nghệ nhân làm đàn và các cửa hàng bán đàn ở địa phương với người làm thuốc thời đó. Cả Stradivari và Guarneri có thể đều muốn xử lý cây đàn của mình để tránh mối mọt khỏi gặm gỗ bởi vì sự quấy phá của mối mọi lan tràn rất ghê”.  Ông cũng cho biết mỗi người thợ làm đàn đều có thể sử dụng một số phương pháp gia truyền khi thực hiện công đoạn đó trên gỗ.    “Nghiên cứu mới tiết lộ Stradivari và Guarneri đều có phương pháp độc quyền của chính họ trong việc xử lý gỗ”, ông nói. “Họ có thể đã đi đến việc nhận ra là những loại muối đặc biệt mà họ sử dụng để ngâm tẩm gỗ đã làm tăng sức mạnh cơ học đặc biệt và những thăng tiến về mặt âm học. Những phương pháp đó đều được giữ kín. Không có bằng phát minh, sáng chế vào thời điểm đó. Không thể kiểm tra trực quan thành phẩm cuối cùng để suy ra cách gỗ đã được các hóa chất “nhào nặn” như thế nào.  Ông cũng giải thích các công thức làm véc ni không mang bí mật về âm thanh bởi bản thân véc ni không phải là yếu tố quan trọng dẫn đến sự tuyể hảo về âm sắc. Ngược lại, quá trình xử lý các tấm ván gỗ vân sam tươi với những loại hóa chất ngâm trong nước lại tối quan trọng cho âm thanh của cây đàn thành phẩm.  Rất nhiều hiểu biết đóng vai trò là một “thứ lợi thế cạnh tranh” giữa những người thợ làm đàn, ông nói.  Nagyvary cũng cho biết thêm là nhóm nghiên cứu đã tìm thấy các hóa chất thường dùng ở bên ngoài và bên trong các tấm gỗ, không chỉ ở bề mặt của chúng, mà còn tạo ra ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh của đàn.  Antonio Stradivari (1644 –1737) đã làm tất cả 1.200 cây đàn trong cuộc đời mình và chỉ bán chúng cho những người hết sức giàu có, bao gồm cả hoàng gia. Ngày nay, còn lại khoảng 600 cây đàn violin Stradivari.  Ít nổi tiếng hơn một chút so với người cùng thời của mình, Guarneri del Gesu lúc sinh thời gặp rắc rối trong việc bán đàn nhưng nhạc cụ của ông hiện cũng được coi là có chất lượng âm thanh và giá cả tương đương với đàn của Stradivari.    “Các cây đàn violin của họ đều không có đối thủ về âm thanh và chất lượng trong suốt 220 năm”, Nagyvary nói và nêu là một cây đàn Stradivari ngày nay có thể được định giá 10 triệu đô la và một cây Guarneri có thể thậm chí còn đắt hơn.  Theo quan điểm của ông, cần có nghiên cứu sâu hơn để xác định thêm các chi tiết khác của việc các hóa chất và gỗ đã cùng tạo ra chất lượng âm thanh nguyên sơ như thế nào. “Đầu tiên, cần có hàng chục mẫu, không chỉ đàn của Stradivari and Guarneri mà của cả những người thợ làm đàn khác của Thời đại vàng (1660-1750) của Cremona, Italy”, ông nói. “Sẽ phải có sự hợp tác hiệu quả giữa những người phục chế bậc thầy về đàn cổ, những thợ làm đàn xuất sắc nhất của thời đại chúng ta, và các nhà khoa học sẵn sàng làm các thí nghiệm trong thời gian rảnh của mình”.  Nagyvary đã tham gia nghiên cứu về đàn violin trong 87 năm cuộc đời mình. Tất cả bắt đầu từ giây phút ông học đàn ở Thụy Sĩ trên một nhạc cụ được cho là từng thuộc về Albert Einstein – giây phút định đoạt việc ông tìm hiểu nhạc cụ trong suốt sự nghiệp nghiên cứu.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-secret-stradivari-violin.html  https://www.pennlive.com/nation-world/2021/08/new-research-reveals-the-secret-behind-the-unique-sound-of-a-stradivari-violin.html  —————————————–  1. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/anie.202105252    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác nhận lý thuyết cũ dẫn đến đột phá trong khoa học siêu dẫn      Các nhà khoa học Harvard đã dùng công nghệ mới để xác nhận về mặt thực nghiệm một lý thuyết về siêu dẫn đã tồn tại 23 năm do nhà nghiên cứu Valerii Vinokurov của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) phát triển.      Công trình này đã xác nhận lý thuyết của Valerii Vinokurov (Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne Mỹ).   .  Các chuyển pha xảy ra khi một vật chất thay đổi từ một trạng thái rắn, lỏng, hay khí thành một trạng thái khác – như băng tan hoặc hơi ngưng tụ. Trong suốt những chuyển pha này, có một điểm mà tại đó hệ này có thể hiển thị các đặc tính của cả hai trạng thái của vật chất một cách đồng thời. Một hiệu ứng tương tự xảy ra khi những kim loại thường chuyển pha thành các siêu dẫn – các đặc tính thay đổi và các đặc điểm được chờ đợi thuộc về một trạng thái được đưa vào một trạng thái khác.   Các nhà khoa học tại Harvard đã phát triển một chất siêu dẫn hai chiều chứa bismuth có độ dày chỉ 1 nanometer. Bằng việc nghiên cứu những thay đổi trong vật liệu siêu mỏng đó khi nó chuyển pha thành siêu dẫn, các nhà khoa học đã hiểu được các quá trình đem đến cho nó tính siêu dẫn. Vì chúng có thể mang các dòng điện với điện trở gần như bằng không, khi chúng được cải tiến, các vật liệu siêu dẫn sẽ có những ứng dụng trong hầu như bất kỳ công nghệ liên quan đến điện nào.  Các nhà khoa học Harvard đã dùng công nghệ mới để xác nhận về mặt thực nghiệm một lý thuyết về siêu dẫn đã tồn tại 23 năm do nhà nghiên cứu Valerii Vinokurov của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) phát triển.  Một hiện tượng được các nhà khoa học quan tâm là sự đảo ngược hoàn toàn của hiệu ứng Hall khi các vật liệu chuyển pha thành siêu dẫn. Khi một vật liệu thường, phi siêu dẫn mang một dòng điện được đặt vào và phụ thuộc vào một từ trường, một hiệu điện thế được sinh ra dọc theo vật liệu. Hiệu ứng Hall thông thường này có hiệu điện thế trong một hướng đặc biệt phụ thuộc vào định hướng của từ trường và dòng điện.  Thật thú vị là khi các vật liệu chuyển thành siêu dẫn, dấu của hiệu điện thế Hall đã bị đảo ngược. Cực dương của vật liệu trở thành cực âm, đây là hiện tượng đã được biết rất rõ ràng. Nhưng trong khi hiệu ứng Hall đã thành một công cụ chính để các nhà nghiên cứu sử dụng nhằm nghiên cứu về các loại tính năng điện tử mà được sử dụng làm cho một vật liệu trở thành siêu dẫn, nguyên nhân của việc đảo ngược hiệu ứng Hall vẫn còn là điều bí ẩn trong nhiều thập kỷ, đặc biệt là liên quan đến siêu dẫn nhiệt độ cao khiến hiệu ứng này trở nên mạnh hơn.  Vào năm 1996, nhà lý thuyết Vinokur, một nhà nghiên cứu nhận học bổng Argonne, và đồng nghiệp đã trình bày một bản mô tả đầy đủ hiệu ứng này trong các siêu dẫn nhiệt độ cao. Lý thuyết được đưa ra đã tính đến cả những lực liên quan và nó cũng bao gồm nhiều biến số dường như còn phi thực tế về mặt thực nghiệm – cho đến tận bây giờ.  “Chúng tôi tin rằng mình đã giải quyết được những vấn đề này”, Vinokur nói, “nhưng các công thức lại rơi vào trạng thái vô dụng tại thời điểm đó, bởi vì chúng có nhiều tham số khó so sánh với những thí nghiệm thực hiện bằng công nghệ cũ”.  Các nhà khoa học biết rằng việc đảo ngược hiệu ứng Hall là kết quả từ các xoáy từ xuất hiện trong vật liệu siêu dẫn được đặt trong từ trường. Các xoáy là những điểm kỳ dị trong các eletron siêu dẫn lỏng – các cặp cooper – xung quanh dòng chảy của các cặp cooper, tạo ra các dòng vi mô siêu dẫn tuần hoàn có thể mang các đặc điểm vật lý mới của hiệu ứng Hall trong vật liệu.  Thông thường, sự phân bố của các electron trong vật liệu này tạo ra hiệu điện thế Hall nhưng trong các siêu dẫn, cuộn xoáy di chuyển dưới ảnh hưởng của dòng điện đặt vào, điều này tạo ra chênh lệch áp suất điện tử mà về mặt toán học tương tự với những hiện tượng khiến cho một chiếc máy bay bay được. Những khác biệt về áp suất này thay đổi hướng của dòng điện đặt vào giống như những chiếc cánh của một chiếc máy bay thay đổi chiều của dòng không khí mà nó đi qua, giúp nâng máy bay lên. Chuyển động của cuộn xoáy này tái phân bố lại các eletron một cách khác biệt, thay đổi hướng của hiệu điện thế Hall theo hướng ngược lại của hiệu điện thế Hall eletron thông thường.  Lý thuyết năm 1996 miêu tả một cách định lượng các hiệu ứng của các cuộn xoáy này, vốn chỉ được hiểu một cách định tính. Giờ đây, với một vật liệu mới mà các nhà khoa học của Harvard đã mất 5 năm để phát triển, lý thuyết này đã được kiểm nghiệm và xác nhận.  Vật liệu mỏng được làm từ bismuth này gần như có độ dày bằng một lớp nguyên tử, khiến nó là vật liệu hai chiều. Nó cũng là vật liệu duy nhất thuộc loại này, một siêu dẫn nhiệt độ cao dạng film mỏng; việc tạo ra được vật liệu như vậy là bước đột phá về mặt công nghệ trong khoa học siêu dẫn.  “Bằng việc giảm thiểu số chiều từ ba xuống hai, những thay đổi của các tính năng trong vật liệu này trở nên rõ ràng hơn và dễ nghiên cứu hơn”, Philip Kim, trưởng nhóm nghiên cứu tại Harvard nói. “Chúng tôi đã tạo ra được một dạng vô cùng đặc biệt của loại vật liệu này, điều đó cho phép chúng tôi xác định định tính lý thuyết năm 1996”.  Lý thuyết 1996 đã đưa ra một dự đoán là hiệu ứng Hall ngược dị thường có thể tồn tại bên ngoài các nhiệt độ mà loại vật liệu này chuyển thành siêu dẫn. Nghiên cứu này đã đem đến một miêu tả mang tính định lượng về hiệu ứng phù hợp một cách hoàn hảo với dự đoán về mặt lý thuyết.  “Trước khi chắc chắn được vai trò của các xoáy trong hiệu ứng Hall đảo ngược, chúng tôi không thể sử dụng nó như một công cụ đo đạc”, Vinokur nói. “Nhưng hiện tại thì chúng tôi biết là mình đúng, chúng tôi có thể sử dụng lý thuyết này để nghiên cứu về các dao động khác trong các chuyển pha, cuối cùng sẽ dẫn đến những hiểu biết sâu sắc hơn về siêu dẫn”.  Dẫu vật liệu trong nghiên cứu này là hai chiều, các nhà khoa học vẫn tin tưởng là lý thuyết này có thể ứng dụng trong mọi loại siêu dẫn. Do đó nghiên cứu trong tương lai sẽ bao gồm nghiên cứu sâu hơn về các vật liệu này – động thái của các xoáy có thể ứng dụng trong nghiên cứu toán học.  Các xoáy là những ví dụ về những vật thể có nhiều cấu trúc hoặc các vật thể với các đặc tính hình học độc đáo. Chúng hiện là chủ đề phổ biến trong toán học bởi các cách chúng hình thành và biến dạng, cũng như cách chúng thay đổi các đặc tính của vật liệu. Lý thuyết 1996 sử dụng topo để miêu tả tính chất của các xoáy, và các đặc tính topo của vật chất có thể mang đến nhiều thông tin vật lý mới.  “Thi thoảng bạn khám phá ra điều gì đó mới mẻ và kỳ lạ”, Vinokur nói về nghiên cứu của anh và đồng nghiệp, “nhưng thi thoảng bạn chỉ xác nhận là mình đã tiến hành nghiên cứu chỉ để hiểu về tính chất của những điều thường nhật hiển hiện ngay trước mắt”.  Công bố miêu tả kết quả nghiên cứu “Sign reversing Hall effect in atomically thin high-temperature superconductors” đã xuất bản trên Physical Review Letters.  Thanh Phương dịch  TS. Lê Xuân Chung (Viện KH&KT hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://eurekalert.org/pub_releases/2019-06/dnl-coo062819.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác nhận lý thuyết tăng trưởng sóng hiệu dụng trong không gian      Một nhóm nghiên cứu từ trường ĐH Nagoya Nhật Bản đã quan sát, lần đầu tiên, sự dịch chuyển năng lượng từ các điện tích cộng hưởng trong không gian. Phát hiện của họ đem lại bằng chứng cho sự tăng trưởng hiệu dụng về mặt lý thuyết, đã được lý thuyết sự tăng trưởng phi tuyến của sóng dự đoán.     Điều này có thể giúp cải thiện hiểu về không chỉ cho vật lý plasma không gian mà còn cho nghiên cứu khí hậu không gian, một hiện tượng ảnh hưởng đến các vệ tinh.  Khi con người tưởng tượng về không gian bên ngoài, họ thường mường tượng ra đó là một chân không hoàn hảo. trên thực tế, ấn tượng này không đúng bởi vì chân không này được nhồi đầy các hạt mang điện tích. Trong những chiều sâu thẳm của không gian, mật độ của các hạt mang điện tích trở nên thấp hơn bởi chúng hiếm khi va chạm với nhau.  Thay vì các vụ va chạm, các lực liên quan đến các điện trường và từ trường tồn tại trong vũ trụ, chi phối chuyển động của các hạt mang điện tích. Việc thiếu các vụ va chạm xuất hiện khắp không gian, ngoại trừ ở rất gần các thiên thể như những ngôi sao, các mặt trăng hay các hành tinh. Trong trường hợp này, các hạt tích điện không còn di chuyển trong chân không vũ trụ nữa mà trong một môi trường để có thể va chạm với những hạt khác.  Khắp trái đất, các tương tác giữa các hạt tích điện tạo ra sóng, bao gồm các sóng điện từ tần số thấp (electromagnetic whistler-mode waves), vốn tán xạ và gia tốc một số hạt tích điện. Khi các cực quang khuếch tán xuất hiện ở các cực của hành tinh, những người quan sát sẽ thấy kết quả của một tương tác giữa các sóng và các điện tích. Vì các điện từ trường rất quan trọng với thời tiết không gian, nghiên cứu những tương tác này có thể giúp các nhà khoa học dự đoán các biến thiên của các hạt mang năng lượng. Điều này có thể giúp bảo vệ các phi hành gia và các vệ tinh khỏi những hiệu ứng cực đoan của khí hậu không gian.  Một nhóm nghiên cứu bao gồm trợ lý giáo sư Naritoshi Kitamura và giáo sư Yoshizumi Miyoshi của Viện nghiên cứu Vũ trụ và Khoa học trái đất (ISEE) tại ĐH Nagoya, cùng với các nhà khoa học từ ĐH Tokyo, ĐH Kyoto, ĐH Tohoku, ĐH Osaka, và Cơ quan Khám phá vũ trụ Nhật Bản (JAXA), và nhiều đối tác quốc tế khác, chủ yếu sử dụng dữ liệu thu thập được bằng các phổ kế electron năng lượng thấp là Quang phổ kế Electron lưỡng dụng Plasma nhanh của tàu vũ trụ Đa tỉ lệ từ quyển Magnetospheric Multiscale (NASA).  Họ phân tích những tương tác giữa các electron và sóng điện từ tần số thấp được tàu vũ trụ đo đạc. Với việc áp dụng một phương pháp sử dụng bộ phân tích tương tác sóng hạt, họ đã thành công trong việc dò trực tiếp sự chuyển giao năng lượng từ các electron cộng hưởng với sóng tần số thấp tại vị trí của tàu vũ trụ trong không gian. Từ đó, họ trích xuất tỉ lệ tăng trưởng của sóng. Các nhà nghiên cứu đã xuất bản kết quả trong Nature Communications 1.  Phát hiện quan trọng nhất là các kết quả quan sát được tương đồng với các giả thuyết về sự xuất hiện phi tuyến trong tương tác này. “Đây là lần đầu tiên quan sát trực tiếp sự tăng trưởng của sóng hiệu dụng trong không gian bởi tương tác sóng – hạt giữa các electron và sóng tần số thấp”, Kitamura giải thích.  “Chúng tôi mong đợi là những kết quả này sẽ đóng góp vào nghiên cứu về các tương tác sóng – hạt và cũng tăng cường hiểu biết của chúng ta về tiến trình nghiên cứu vật lý plasma. Như những hiện tượng đặc biệt khác, các kết quả này sẽ góp phần đem lại hiểu biết về sự gia tốc của các electron đến những mức năng lượng cao trong vành đai phóng xạ, thi thoảng còn được gọi là ‘các electron sát thủ’ bởi chúng gây ra những phá hủy với vệ tinh cũng như bvieejc mất mát năng lượng cao của các electron trong khí quyển để hình thành các cực quang khuếch đại”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-physicists-effective-growth-theory-space.html  https://www.azoquantum.com/News.aspx?newsID=9368  —————————-  1.https://www.nature.com/articles/s41467-022-33604-2    Author                .        
__label__tiasang Xác nhận tính hai-lần số Magic của hạt nhân giàu neutron 78Ni: Thí nghiệm thành công trên giới hạn của các thiết bị hiện tại      Sau bốn bài báo trên tạp chí Physics Review Letter vào năm 2017, một thành công nữa lại đến với nhóm Hợp tác quốc tế SEASTAR mà các nhà nghiên cứu Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tham gia: nghiên cứu xác nhận tính hai-lần số Magic của hạt nhân giàu neutron 78Ni tiếp tục được công bố trên tạp chí Nature. Với việc giải quyết được một vấn đề lớn cả về mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm, công trình đã ghi một điểm mốc quan trọng của vật lý hạt nhân trước sự ra đời của thế hệ máy gia tốc mới trong các thập niên tiếp theo.      Nhà nghiên cứu Lê Xuân Chung.  Lịch sử phát triển vật lý hạt nhân và sự tồn tại của các số Magic  Ngay từ khởi đầu với hiện tượng phân rã phóng xạ do Henri Becquerel và Marie Curie phát hiện vào cuối thế kỷ 19, thế giới nguyên tử đã ẩn chứa trong lòng nó những điều bí ẩn cần được khám phá về cả phương diện lý thuyết lẫn thực nghiệm. Vào năm 1901, Ernest Rutherford và Frederick Soddy ghi nhận sự chuyển hóa giữa các nguyên tố hóa học. Năm 1911, Rutherford phát hiện ra hạt nhân nguyên tử, đánh dấu sự ra đời của vật lý hạt nhân. Hơn 20 năm sau, James Chadwick ghi nhận hạt neutron là anh em “sinh đôi” của proton nhưng không mang điện. Đến năm 1934, Frédérique và Irène Joliot-Curie khám phá hiện tượng phóng xạ nhân tạo. Đây là những nghiên cứu đầu tiên về các hạt nhân lạ – hạt nhân không tồn tại trên trái đất mà được tạo ra trong phòng thí nghiệm.  Trong xu hướng đó, các số Magic (số kỳ diệu) được biết đến vào năm 1949, khi Maria Goeppert-Mayer và J. Hans D. Jensen chỉ ra liên kết của các hạt proton và neutron trong hạt nhân tuân theo quy luật cơ học lượng tử một cách nghiêm ngặt: hạt nhân khi có số proton hoặc neutron bằng số Magic (2, 8, 20, 28, 50, 58 và 126) sẽ trở nên bền vững, lớp vỏ nhất định sẽ được lấp đầy (hay còn gọi là lớp vỏ đóng). Mô hình mẫu vỏ trở thành căn cứ vững chắc để giải thích cấu trúc của các hạt nhân bền. Đến thập niên 1980, Aage Bohn và Ben Mottelson lại chứng minh các tính chất và cấu trúc của hạt nhân có thể được mô tả tốt thông qua xấp xỉ trường trung bình dẫn đến dao động tập thể của các nucleon (hạt proton hay neutron). Tuy nhiên, trong thập niên 1990 tiếp theo, khoa học đã khám phá ra rất nhiều hiện tượng mới liên quan đến hạt nhân lạ. Cùng với sự phát triển của thực nghiệm, vật lý hạt nhân đòi hỏi phải có các cách giải thích mới bằng lý thuyết về bản chất thật sự của vật chất đậm đặc được hình thành từ tương tác mạnh. Theo cách đó, sự phát triển của vật lý hạt nhân đã dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa lý thuyết và thực nghiệm: thực nghiệm giúp khám phá những hiện tượng mới và ngược lại, lý thuyết đưa ra dự đoán và gợi ý cho thực nghiệm thực hiện các thí nghiệm đo đạc.     Nghiên cứu các hạt nhân lạ – hướng đi của vật lý hạt nhân hiện đại     Kể từ thập niên 1990, rất nhiều hiện tượng mới liên quan đến các hạt nhân lạ được phát hiện. Ví dụ như sự mở rộng phân bố vật chất của hạt nhân giàu neutron, thực nghiệm cho thấy phân bố neutron trải dài xa lõi trong hạt nhân 11Li, 11Be và bán kính của chúng thậm chí có thể so sánh được với bán kính của hạt nhân nặng hơn rất nhiều là 208Pb. Hay một điều thú vị khác là mật độ của vật chất hạt nhân giàu neutron có thể đạt đến hai lần mật độ bão hòa của chất hạt nhân trong điều kiện xác định. Sự xuất hiện của những dạng cấu trúc mới như sự tồn tại của các hạt nhân có hai neutron hóa trị (hạt Boromean), cũng như sự biến mất hay xuất hiện các số Magic mới (các hạt nhân lạ có số Magic theo mô hình mẫu vỏ lại không bền vững bằng các hạt nhân lân cận) đặt ra hàng loạt câu hỏi: Khi hạt nhân giàu neutron, có chênh lệch số neutron-trên-proton (N/Z) lớn, thì biểu hiện của trường trung bình sẽ như thế nào? Lý thuyết cần phải điều chỉnh ra sao để giải thích cho kết quả thực nghiệm? Đối với vật lý thiên văn, có rất nhiều quan sát thực nghiệm không trùng với dự đoán lý thuyết, ví dụ như độ giàu của các nguyên tố trong hệ mặt trời, tại sao sắt lại nhiều hơn vàng, hay làm sao để hình thành các nguyên tố nặng? Có thể lý giải nguyên nhân của các vấn đề này là dự đoán về lý thuyết vốn chỉ dựa vào những suy luận hoặc được mô hình hóa dựa trên những số liệu đang có. Trong khi đó, còn rất nhiều tính chất và phản ứng hạt nhân chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng.      Hình 1: Bảng hạt nhân, biểu diễn theo số neutron (N) và proton (Z). Chỉ có khoảng 3000 hạt nhân không bền được nghiên cứu (phần màu vàng), trong khi có hàng chục nghìn hạt nhân có trạng thái liên kết chưa biết (phần màu xanh). Trong đó, số hạt nhân bền chỉ có ít hơn 300 hạt (phần màu đen).  Theo tính toán, có đến hàng chục nghìn hạt nhân có trạng thái liên kết, nằm trong đường giới hạn neutron (xem hình 1) – do có thời gian sống nhất định, có thể rất ngắn ~ ms, nên chúng còn được gọi là các hạt nhân không bền – nhưng người ta mới chỉ nghiên cứu được khoảng 3.000 hạt.  Khó khăn trong việc nghiên cứu các hạt nhân lạ, không bền là chúng có thời gian sống rất ngắn, không thể áp dụng bằng cách thông thường là tạo bia rồi bắn phá chúng bằng chùm hạt proton, alpha. Do đó, phương pháp động học ngược ra đời với việc gia tốc chùm tia không bền rồi bắn phá vào bia proton, alpha… tạo ra các phản ứng phân mảnh hay phân hạch. Để thực hiện cách tiếp cận này, cần có các máy gia tốc có năng lượng đủ lớn và là tổ hợp của nhiều quá trình như gia tốc hạt để tạo phản ứng phân mảnh, sau đó lựa chọn sản phẩm phân mảnh cần nghiên cứu rồi gia tốc bắn vào bia. Khó khăn tiếp theo mà các nhà nghiên cứu cần giải quyết là xác suất tạo thành các hạt nhân không bền rất nhỏ trong khi các nghiên cứu luôn cần số lượng sự kiện đủ lớn để kết luận một hiện tượng vật lý. Chính vì vậy hướng nghiên cứu các hạt nhân lạ không bền thường được thực hiện trên hệ máy gia tốc lớn tại các nước như Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Nga…        Thực nghiệm trực tiếp xác nhận tính hai-lần số Magic của hạt nhân giàu neutron 78Ni     Trong số các hạt nhân lạ, 78Ni có nhiều nét đặc biệt với số Z=28 và N=50. Theo mô hình lớp vỏ, đây sẽ là một hạt nhân hai-lần số Magic, thậm chí còn bền vững hơn hạt nhân Magic, mặt khác đây còn là hạt nhân lạ, giàu neutron. Cùng với những quan sát việc điều chỉnh lớp vỏ trong hạt nhân lạ trong rất nhiều thí nghiệm trước đó như 52,54Ca, lớp vỏ đóng tại Z=6 trong C…, việc nghiên cứu 78Ni sẽ giúp chúng ta mở rộng hiểu biết về cấu trúc hạt nhân. Từ kết quả đo đạc, lý thuyết sẽ có thể trả lời câu hỏi liệu rằng khi đi xa vùng Đảo bền (xem hình 1) thì tương tác 3 hạt hay sự điều chỉnh lớp vỏ là quan trọng? Thông tin về 78Ni cũng rất hữu ích trong việc giải thích độ giàu của các nguyên tố trong vật lý thiên văn bởi hạt nhân này có N/Z~1.79, là hạt nhân hai-lần số Magic giàu neutron nhất mà còn có trạng thái liên kết chặt chẽ.  Với sự hấp dẫn riêng của mình, 78Ni đã thu hút được nhiều nỗ lực nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, cả về mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm. Để nghiên cứu về cấu trúc của các hạt nhân lạ, người ta thường áp dụng một số phương pháp như: hệ thống hóa khối lượng các đồng vị, từ đó xác định năng lượng tách 2 neutron; hệ thống hóa thời gian bán rã phân rã beta của các đồng vị (T1/2-beta); đo hệ thống năng lượng kích thích đầu tiên E(2+1).  Theo tính toán lý thuyết, tiết diện tạo ra hạt nhân này rất nhỏ, dẫn đến khó khăn về mặt thực nghiệm và  nếu không có sự kết hợp ưu thế thiết bị thì chỉ có thể thực hiện thí nghiệm khi chùm tia phóng xạ gấp mười lần khả năng của máy gia tốc hiện đại nhất hiện nay. Điều này chỉ khả thi với thế hệ máy gia tốc tiếp theo trong những thập niên tới.  Năm 1995, lần đầu tiên các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu ion nặng GSI (Đức) công bố tạo được 3 sự kiện 78Ni trên các thiết bị của mình. 10 năm sau, lần đầu tiên thí nghiệm đo phân rã beta của 78Ni được thực hiện tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc siêu dẫn quốc gia Hoa Kỳ NSCL đặt tại trường Đại học Bang Michigan. Tuy nhiên, chỉ có 10 sự kiện được ghi nhận nên không đủ thống kê để kết luận về cấu trúc hạt nhân này bởi thông thường số liệu thống kê cần thiết cần lên đến hàng trăm sự kiện.  Trong bối cảnh đó, dự án nghiên cứu cấu trúc hạt nhân lạ mang tên SEASTAR (Shell evolution and search for two-plus energies At RIBF) với ba giai đoạn thí nghiệm, thực hiện tại Viện nghiên cứu Lý hóa (RIKEN), Nhật Bản từ năm 2014 đến 2017. Đúng như tên gọi của mình, Sự tiến hóa của lớp vỏ và cuộc tìm kiếm năng lượng trạng thái hai-cộng tại RIBF (RIBF – Radioactive ion beam facility: thiết bị gia tốc chùm tia phóng xạ), SEASTAR hướng tới đo đạc năng lượng trạng thái kích thích đầu tiên của hạt nhân và cung cấp thêm số liệu thực nghiệm, bao gồm rất nhiều số liệu lần đầu tiên được ghi nhận. Dự án này kết hợp ưu thế của những thiết bị tiên tiến nhất hiện tại như hệ máy gia tốc chùm tia phóng xạ cường độ lớn, detector đo đạc hiệu suất cao với góc mở xấp xỉ 4p (DAILI2 – Detector Array for Low Intensity radiation ) tại RIKEN và thiết bị bia hoạt (MINOS – Magic numbers off stability) có khả năng đo vị trí tương tác của Viện nghiên cứu các định luật cơ bản của vũ trụ (IRFU), Viện Năng lượng nguyên tử Pháp.  Một trong những trọng tâm của dự án là việc thực hiện thí nghiệm trên hạt nhân 78Ni. Ở phương pháp đo hệ thống năng lượng kích thích đầu tiên do SEASTAR sử dụng, giá trị E(2+1) của các hạt nhân Magic với lớp vỏ đóng thường rất cao so với của các hạt nhân lân cận với nó trên Bảng hạt nhân, hình 1.  Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, năm 2014, SEASTAR đã bắt đầu ghi nhận được những thống kê lớn hơn về cấu trúc hạt nhân. Mặc dù vậy, kết quả này cũng chưa đủ chặt chẽ để kết luận lớp vỏ đóng (tính Magic) trong 78Ni bởi vì phân rã beta phụ thuộc vào trạng thái của các hạt nhân mẹ và hạt nhân sản phẩm. Một số lý thuyết giải thích kết quả đo phân rã beta nói trên đã gián tiếp xác nhận tính hai-lần số Magic của hạt nhân 78Ni.  Theo kết quả thực nghiệm theo số Z và N (xem hình 2), giá trị năng lượng E(2+1) mà SEASTAR đo được trên 78Ni là bằng 2.6 MeV, cao hơn hẳn các hạt nhân lân cận của 78Ni trên Bảng hạt nhân. Đây là bằng chứng trực tiếp xác nhận tính bền vững với lớp vỏ đóng (tính hai-lần số Magic) của hạt nhân này. Một trạng thái nữa cũng được ghi nhận có năng lượng 2.9 MeV. Theo các tính toán lý thuyết, trạng thái 2.6 MeV tương ứng với dạng hình cầu của hạt nhân 78Ni còn trạng thái 2.9 MeV tương ứng với trường hợp hạt nhân biến dạng elip dẹt hình thành tử dao động tập thể của các nucleon (khi hạt nhân có hình dạng khác với hình cầu đều được gọi là biến dạng). Điều thú vị ở đây là hai năng lượng này khá gần nhau nên rất dễ có sự chuyển hóa lẫn nhau. Khi đó, hạt nhân thay đổi hình dạng từ cầu sang elip dẹt hoặc ngược lại (hình 3). Đây là một tính chất rất đặc biệt của các hạt nhân giàu neutron.      Hình 2: Hệ thống năng lượng kích thích E(2+1) theo số Z và N [1]. Giá trị tại 78Ni lần đầu ghi nhận bởi chiến dịch thí nghiệm SEASTAR, cao vọt so với các hạt nhân lân cận. Điều này khẳng định tính hai-lần số Magic của hạt nhân này.  Với ý nghĩa quan trọng khi giải quyết được vấn đề nghiên cứu hạt nhân 78Ni, kết quả của SEASTAR đã được đăng tải trên Nature, một trong những tạp chí uy tín với chỉ số impact factor là 41.577 và chỉ chấp nhận đăng những công trình tiêu biểu, giải quyết được vấn đề khoa học lớn.  Về mặt công nghệ, kết quả đo đạc 78Ni thành công trên giới hạn cho phép của các thiết bị hiện đại nhất hiện nay và là giới hạn trong khoảng một thập niên tiếp theo. Với sự cải tiến về năng lượng và cường độ chùm tia, đang được xây dựng và nâng cấp từ các thiết bị đang có của FRIB (Hoa Kỳ), FAIR tại viện GSI (CHLB Đức), SHE tại Viện Liên hợp hạt nhân Dubna (Liên bang Nga), CARIF tại trường Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc)…, thiết bị thế hệ mới đang được kỳ vọng sẽ hé lộ thêm nhiều bí ẩn của thế giới các hạt nhân không bền, trong đó, chắc chắn những nghiên cứu sâu hơn về 78Ni sẽ được tiếp tục thực hiện.       Hình 3: Sự cạnh tranh hình cầu (Spherical) và biến dạng elip dẹt (Deformed) trong hạt nhân 78Ni. Nguồn: Nature.  Cơ hội học hỏi của các nhà nghiên cứu Việt Nam     Giống như các dự án thực nghiệm hạt nhân khác, SEASTAR thu hút rất đông đảo số lượng các nhà nghiên cứu tham gia: gần 100 nhà khoa học đến từ 17 cơ sở nghiên cứu của các viện và trường trên khắp thế giới. Thông qua chương trình Nghị định thư “Nghiên cứu vật lý các hạt nhân không bền trong phòng thí nghiệm liên hợp Việt – Pháp LIA” với kinh phí hỗ trợ từ Bộ KH&CN cùng các đồng nghiệp quốc tế, các nhà nghiên cứu tại Viện KH&KT hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) đã tham gia SEASTAR. Khi chương trình Nghị định thư kết thúc, từ tháng 11/2018, họ tiếp tục nhận được sự tài trợ của Bộ KH&CN thông qua một đề tài thuộc Chương trình phát triển Vật lý đến năm 2020 “Nghiên cứu cấu trúc hạt nhân và phản ứng hạt nhân trên các thiết bị lớn của trung tâm nghiên cứu hạt nhân tiên tiến trên thế giới” (11/2018-10/2021).  Trong thời gian tham gia SEASTAR, chúng tôi đã cùng các đồng nghiệp quốc tế thu thập và phân tích số liệu trên cả ba đợt thí nghiệm vào các năm 2014, 2015 và 2017, trong đó thí nghiệm trên 78Ni được thực hiện trong thời gian đầu của SEASTAR năm 2014. Việc có mặt tại những dự án lớn như SEASTAR là cơ hội học hỏi cho các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam. Nếu thời gian ban đầu, chỉ có tôi tham gia nghiên cứu nhưng đến thời kỳ sau, khi SEASTAR mở rộng quy mô, Viện KH&KT hạt nhân đã có thêm hai đại diện nữa là nghiên cứu sinh Bùi Duy Linh và học viên Nguyễn Đức Tôn. Hiện tại Bùi Duy Linh đang phân tích số liệu SEASTAR đo đạc được năm 2017 để bảo vệ TS với chủ đề “Nghiên cứu cấu trúc của các hạt nhân giàu neutron 49Cl thông qua phân tích phổ năng lượng kích thích và phân bố xung lượng của phân mảnh sau phản ứng” và Nguyễn Đức Tôn cũng sẽ thực hiện luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu cấu trúc của các hạt nhân giàu neutron 63,65Cr thông qua phân tích phổ năng lượng kích thích”. Đây là những kết quả đẹp mà nhóm nghiên cứu thực nghiệm của Viện KH&KT hạt nhân có được qua dự án này. □      Author                Lê Xuân Chung        
__label__tiasang Xanh hóa điện năng: Chính sách sử dụng điện mặt trời ở Việt Nam      Trong các nghiên cứu mới đây của nhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam, các nhà khoa học đã chỉ ra cái giá rất đắt của việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch do các tác động của nó lên sức khỏe, môi trường sống và sinh kế người dân. Họ đề xuất các kiến nghị giải pháp xanh hóa điện năng với trọng tâm là phát triển các dự án năng lượng mặt trời.   Cái giá thực sự của nhiên liệu hóa thạch    Pin năng lượng mặt trời Nguồn ảnh: UNDP Việt Nam  Cái giá thực sự của nhiên liệu hóa thạch  Theo đánh giá mới đây nhất trong báo cáo “Xanh hóa gói điện năng” của Cơ quan phát triển liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), than đá là một trong những nhiên liệu tuy rẻ nhưng sẽ khiến môi trường và chất lượng sống ở Việt Nam phải trả giá đắt bởi những hệ lụy về môi trường, sức khỏe con người, sinh kế mà nó gây ra. Khai thác và vận chuyển than có các tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe, các sinh kế của người dân. Cụ thể, lượng chất thải rất lớn thải ra từ các nhà máy điện đốt than đặt ra yêu cầu phải vận chuyển, chôn lấp và/hoặc tái sử dụng trong khi đó, các quy định về tiêu chuẩn môi trường đối với các nhà máy điện đốt than đến nay rất thấp, gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Và về kinh tế, càng ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu than để sản xuất điện. Về môi trường, sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong ngành điện lực, chủ yếu điện đốt than, là nguyên nhân chủ yếu gây ra phát thải khí nhà kính trong tương lai. Trong đó, theo tính toán của các nhà KH, Việt Nam sẽ phát thải 7.4 tấn carbon dioxide theo đầu người vào 2030.   Các chính sách mới nhằm xanh hóa điện năng  Để giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng mục tiêu xanh hóa điện năng, cho đến nay, Việt Nam đã lập kế hoạch cho một số chính sách sách mới về điện nhằm đáp ứng mục tiêu cắt giảm 25% phát thải quốc gia. Cụ thể, Năm 2015, Việt Nam thỏa thuận các Mục tiêu phát triển bền vững và “Kết quả Paris” về Hội nghị các bên tham gia Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) và đưa ra Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo đến 2030, với tầm nhìn đến 2050.  Các chính sách này dự kiến, các mục tiêu về điện gió không thay đổi so với hiện nay, sẽ giảm nhập khẩu các nguồn nhiên liệu không tái tạo được như than đá, hoãn các kế hoạch về điện hạt nhân. Dự kiến chỉ tăng một chút sản lượng thủy điện và bổ sung mạnh các mục tiêu về điện mặt trời, cho đến 2050, điện mặt trời chiếm 20% tổng sản lượng điện toàn Việt Nam. Theo đánh giá của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam, nếu được thực hiện nghiêm túc, các chính sách này chắc chắn sẽ cắt giảm đáng kể các mức phát thải khí nhà kính của Việt Nam vào năm 2030 và góp phần thực hiện được công ướng khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.  Tiềm năng điện mặt trời   Điện mặt trời có lợi thế rất lớn so với các nguồn năng lượng hóa thạch bởi nó rất ít tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe hoặc sinh kế người dân, góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng và có chi phí ban đầu rất thấp. Với đặc trưng giá thành thấp nhất (ở những nước có điều kiện thuận lợi, điện mặt trời quy mô lớn có chi phí trung bình chỉ khoảng 6 – 7 cent Mỹ/ kWh, thấp hơn các chi phí điện đốt than, khí và thủy điện hiện nay ở Việt Nam), các dự án điện mặt trời có thể giúp các cộng đồng vùng sâu, vùng xa và hải đảo, các doanh nghiệp có khả năng cải thiện nguồn cung cấp điện và giảm chi phí tiền điện.   Các chuyên gia của UNDP Việt Nam nhấn mạnh lợi thế của quang điện mặt trời và khuyến nghị các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng. Cụ thể, UNDP khuyến nghị cần hỗ trợ tài chính cho các hệ thống quang điện mặt trời độc lập cũng như hoà lưới ở các vùng sâu và hải đảo, đồng thời có các chính sách ưu đãi nhằm giảm chi phí đầu tư vào các nhà máy quang điện mặt trời, hệ thống điện mặt trời trên nóc nhà và các hệ thống quang điện mặt trời phục vụ cộng đồng.   Ông Bakhodir Burkhanov, Phó Giám đốc Quốc gia của UNDP tại Việt Nam cho biết, “Trên thế giới, công nghệ và đầu tư vào năng lượng tái tạo được đang thay đổi tích cực và nhanh chóng; Việt Nam cần tiếp cận và tận dụng những đổi mới công nghệ này. Việt Nam cần có chính sách và hướng dẫn cụ thể nhằm khuyến khích việc áp dụng giao thông điện, túi ủ khí sinh học và lắp đặt các tấm quang điện mặt trời trên nóc nhà”.             Author                Bảo Như        
__label__tiasang Xây dựng bản đồ công nghệ phù hợp cho Việt Nam      Việt Nam đã thoát ra khỏi ngưỡng đói nghèo, trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Nền kinh tế của chúng ta không còn chỉ làm để đủ ăn. Vấn đề cấp thiết đang đặt ra là đầu tư cho cái gì và như thế nào để tăng trưởng một cách đúng hướng nhất, bền vững nhất. Tầm nhìn chiến lược đó đòi hỏi một tấm bản đồ công nghệ phù hợp.    Lịch sử cung cấp cho chúng ta những bài học sinh động về tầm quan trọng của bản đồ công nghệ. Người Trung Quốc mày mò tìm ra thuốc súng đầu tiên nhưng không dùng vào việc gì đáng kể hơn là tiêu khiển, trong khi người phương Tây là kẻ học lỏm và đến sau rất lâu, nhưng lại có thể dùng để thông đường, khai mỏ, và ứng dụng vào vũ khí tạo dựng quyền lực khuynh đảo thế giới trong vài thế kỷ. Qua đó thấy rằng vận dụng một công nghệ vào đúng công việc, đúng thời điểm, đúng điều kiện phù hợp, thì cơ hội có thể mở ra vô vàn.   Nhưng ngược lại, dùng sai công nghệ, hoặc lựa chọn sai công nghệ để đầu tư nghiên cứu, thì hậu quả cũng khôn lường. Quyết định của NASA trong việc nghiên cứu chế tạo kính viễn vọng James Webb Space Telescope nếu gặt hái thành công thì có thể sẽ là bản lề giúp đưa nền thiên văn của nhân loại sang hẳn một chương mới. Nhưng nếu thất bại, dự án này – vốn tiêu tốn nhiều tỷ USD và làm suy kiệt ngân sách dành cho các hướng nghiên cứu quan trọng khác – có thể làm chậm bước tiến của ngành thiên văn học xấp xỉ cả thập kỷ.   Con người hiện đại có ý thức rất rõ ràng về tầm quan trọng của việc lựa chọn nghiên cứu những công nghệ phù hợp cho mình. Họ xây dựng nên các bản đồ công nghệ để qua đó xác định rõ các phương hướng cần nghiên cứu và giúp phân phối nguồn lực đầu tư giữa các hướng nghiên cứu một cách hợp lý. Từ Chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, tới doanh nghiệp, mỗi đối tượng tương ứng với một quy mô bản đồ công nghệ đặc thù riêng.  Có thể định nghĩa: Bản đồ công nghệ là một kế hoạch phát triển công nghệ trong đó xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của một đối tượng chủ thể (ví dụ: doanh nghiệp, ngành công nghiệp, Chính phủ, …) và những công nghệ cần được làm chủ để đáp ứng các mục tiêu này. Bản đồ công nghệ cũng đồng thời là công cụ cơ sở giúp lên kế hoạch tập trung và điều phối các nguồn lực dành cho phát triển công nghệ.  Để xây dựng bản đồ công nghệ, người ta thường tìm hiểu xuất phát từ hai hướng:   – Thị trường đang cần sản phẩm gì, sản phẩm ấy cần công nghệ như thế nào?  – Trình độ công nghệ của chúng ta đang ở đâu, có thể dùng vào mục tiêu gì và khả năng nâng cấp tới mức nào?  Tư duy theo hai hướng nói trên khi gặp được nhau sẽ giúp giải đáp tiếp một loạt câu hỏi: Cần đầu tư cho ngành gì, và phải nắm giữ những công nghệ nào? Cái gì thì nên tự nghiên cứu, cái gì thì nên mua sẵn, cái gì thì nên mua về tìm hiểu rồi tự mô phỏng nhân rộng.   Đã có bản đồ công nghệ cho các vùng, ngành công nghiệp Việt Nam?   Thực tế cho thấy Việt Nam chưa có một bản đồ công nghệ đúng nghĩa ở tầm ngành công nghiệp chứ chưa nói tới tầm quốc gia. Chính vì thế, chúng ta đã phạm không ít sai lầm trong việc lựa chọn công nghệ cho nghiên cứu và ứng dụng vào đầu tư sản xuất, khiến tài nguyên và cơ hội phát triển bị lãng phí.   Mỗi bản đồ công nghệ đều phải gắn với lợi ích thiết thực của các vùng địa phương cụ thể, các ngành công nghiệp cụ thể. Vì vậy, khi chưa có những quy hoạch vùng, quy hoạch ngành hợp lý, thì chưa thể bàn đến bản đồ công nghệ.   Do quy hoạch ngành thiếu cân nhắc nên dù được Chính phủ ưu ái, công nghệ của ngành công nghiệp tàu thủy của Việt Nam vẫn chưa thấy có triển vọng sáng sủa, vốn Nhà nước bị đọng, nợ nần đè nặng lên cả doanh nghiệp lẫn Chính phủ, môi trường tự nhiên bị hủy hoại bởi các bến tàu, nhà xưởng.   Quy hoạch vùng thiếu cân nhắc nên một số dự án công nghiệp trọng điểm bị đưa vào miền Trung, nơi điều kiện hạ tầng và tự nhiên đều hạn chế, khiến việc triển khai chậm trễ kéo dài, hiệu quả đầu tư không cao. Chưa kịp rút kinh nghiệm về những khó khăn khi đầu tư cho Dung Quất và sa lầy với Vinashin, ngày nay người ta lại chủ trương đầu tư để thí điểm nội địa hóa công nghệ nhiệt điện ở Nghệ An. Đây là dự án còn đang trên giấy, nhưng tính rủi ro đã rất cao. Công nghệ điện than khó có khả năng nhân rộng hàng loạt ở Việt Nam trong tương lai gần cũng như xa vì nguồn than trong nước cũng như thế giới đang ngày càng hạn chế (có thể chỉ dăm năm nữa Việt Nam sẽ thành nước nhập khẩu than), đồng thời đòi hỏi sản phẩm có tính đồng bộ và tiên tiến về công nghệ của các nước công nghiệp phát triển. Việc đầu tư mang tính thí điểm, năm ăn năm thua, ở một địa phương đang chưa có nguồn điện đáng kể nào khác làm dự phòng cũng là dấu hỏi lớn. Nếu thất bại, Nghệ An sẽ phải chấp nhận chậm phát triển thêm ít nhất nửa thập kỷ nữa.                      Vì sao chúng ta còn những hạn chế trong việc đánh giá tính cần thiết và cân nhắc lợi ích thực tiễn của những công nghệ được lựa chọn đầu tư? Nguyên nhân cơ bản có lẽ là ở phương pháp điều hành của Nhà nước “đẽo chân cho vừa giày”. Những quyết định ở tầm chiến lược liên quan tới chuyên môn khoa học công nghệ được đưa ra để phù hợp với chủ trương chính trị – kinh tế – xã hội, nhiều hơn là căn cứ trên ý kiến của các hội đồng thực thụ đáp ứng được các đòi hỏi cần thiết về chuyên môn.        Phương hướng giải pháp  Đã đến lúc cần đổi mới về cách nghĩ, cách làm, và nâng cấp chất xám để có những bản đồ công nghệ phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển. Mỗi vùng, mỗi ngành công nghiệp phải có câu trả lời cho 3 câu hỏi cơ bản trước khi hoạch định chiến lược phát triển công nghệ: nhu cầu thực tiễn gì đang cần được giải quyết bằng các giải pháp công nghệ? Ai đủ trình độ làm bản đồ công nghệ? Nguồn tài chính và các nguồn lực khác sẽ được thu xếp và phân phối thế nào? Không phải địa phương nào, ngành công nghiệp nào cũng cần đến một tấm bản đồ công nghệ chi tiết tỉ mỉ, nhưng việc đặt ra và trả lời những câu hỏi cơ bản trên đây là điều thiết yếu đầu tiên.         Những quyết định đầu tư liên quan tới chuyên môn khoa học công nghệ ở tầm ngành công nghiệp không thể chỉ xây dựng căn cứ trên ý kiến của một số nhà quản lý, công chức Nhà nước. Phải có những hội đồng hoạt động chuyên nghiệp, với những cá nhân nhà khoa học có uy tín cao trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với những kế hoạch phát triển dài hơi ngốn nhiều tiền của từ ngân sách.        Trong các yếu tố giúp tạo nên một bản đồ công nghệ đúng nghĩa thì yếu tố con người là quan trọng nhất. Những quyết định đầu tư liên quan tới chuyên môn khoa học công nghệ ở tầm ngành công nghiệp không thể chỉ xây dựng căn cứ trên ý kiến của một số nhà quản lý, công chức Nhà nước. Phải có những hội đồng hoạt động chuyên nghiệp, với những cá nhân nhà khoa học có uy tín cao trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với những kế hoạch phát triển dài hơi ngốn nhiều tiền của từ ngân sách. Sản phẩm của các hội đồng phải có tính công khai cao để đông đảo đội ngũ các nhà khoa học, nhà kinh tế, chuyên gia trong nước và quốc tế có thể thường xuyên thẩm định, đánh giá, cập nhật. Chỉ khi có những hội đồng nghiêm túc như vậy chúng ta mới có thể sớm rà soát lại các lựa chọn về công nghệ phục vụ cho quy hoạch ngành, quy hoạch vùng. Căn cứ trên những quy hoạch ngành và quy hoạch vùng miền được khảo sát kỹ lưỡng, mới có thể có các bản đồ công nghệ đúng đắn, tạo ra những sản phẩm công nghệ cụ thể phù hợp với các mục tiêu và điều kiện thực tiễn khách quan trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.    Author                Quản trị        
0.007535795026375283
__label__tiasang Xây dựng chiến lược phát triển trong giai đoạn mới với quan điểm Phát triển và Thích nghi      Những th&#224;nh tựu to lớn đạt được trong hơn hai mươi năm đổi mới v&#224; cục diện quốc tế mới &#8211; đặc biệt từ khi nước ta gia nhập WTO &#8211; đ&#227; đặt ra y&#234;u cầu b&#225;ch phải đưa nước ta bước v&#224;o một giai đoạn ph&#225;t triển mới.  Trước hết thực tiễn cho thấy: Bản th&#226;n những th&#224;nh tựu x&#226;y dựng đất nước mọi mặt trong h&#242;a b&#236;nh, tự n&#243; đ&#227; đặt ra những y&#234;u cầu cao hơn về ph&#225;t triển; đồng thời phương thức ph&#225;t triển đ&#227; thực hiện trong những thập kỷ n&#224;y chủ yếu dựa tr&#234;n lợi thế so s&#225;nh về lao động rẻ v&#224; khai th&#225;c t&#224;i nguy&#234;n &#8211; tạm gọi l&#224; ph&#225;t triển theo chiều rộng (extensive development) – phương thức n&#224;y đ&#227; đi tới c&#225;i ngưỡng kh&#244;ng thể vượt qua. Sự nghiệp x&#226;y dựng đất nước đ&#242;i hỏi phải chuyển hướng sang phương thức ph&#225;t triển theo chiều s&#226;u (intensive development) &#8211; chủ yếu dựa tr&#234;n lợi thế ph&#225;t huy nguồn lực con người v&#224; hội nhập.        Các số liệu thống kê cho thấy: Trong khoảng 10 năm nay, chí ít là 5 năm nay, kinh tế nước ta có tăng trưởng mạnh – trước hết nhờ tăng đầu tư, nhưng phát triển rất chậm – vì hiệu quả kinh tế thấp: không có chuyển biến đáng kể nào về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Tình hình cho thấy: kết cấu hạ tầng các mặt tiếp tục bất cập, hiệu quả đầu tư từ nhiều năm nay thuộc loại thấp nhất trong khu vực (chỉ số ICOR là từ 4,5 – 5); tài nguyên quý nhất là nguồn nhân lực không phát huy được, tiếp đến là tài nguyên đất đai bị sử dụng manh mún và hủy hoại trầm trọng. Nhìn chung, cơ cấu kinh tế nước ta còn lạc hậu, lãng phí lớn và chất lượng thấp. Xung kích của nền kinh tế là khu vực tư nhân còn đang bị nhiều lực cản, trong khi đó hầu như chưa tạo ra được những điều kiện thỏa đáng cho phép thu hút FDI có hàm lượng công nghệ cao để đổi mới cơ cấu kinh tế.  Nhìn chung nước ta chưa hình thành được một nền kinh tế mạnh, cái đích hoàn thành CNH theo hướng hiện đại vào năm 2020 còn khá xa mà thời gian không còn nhiều. Nét nổi bật trong bức tranh chung lúc này của nền kinh tế nước ta là sự tăng trưởng và phát triển của các nền kinh tế GDP Tỉnh nhân với Tư tưởng nhiệm kỳ (GDP tỉnh x tư tưởng nhiệm kỳ)! Sau 32 năm xây dựng, GDP theo đầu người của nước ta hiện nay (tính theo sức mua – PPP) mới chỉ bằng 2/3 của Indonesia, 1/3 Thái Lan… – nghĩa là chậm và có khoảng cách khá xa. Đứng trước thách thức của hội nhập “cả thế giới thách thức một người, một người có thể coi cả thế giới là đối tác của mình, tuổi thọ của sản phẩm ngày một ngắn”, việc chuyển sang phương thức phát triển theo chiều sâu càng trở nên bức xúc. Càng trì hoãn việc chuyển giai đoạn, sẽ càng tụt hậu thêm, thậm chí có thể nguy hiểm.  Xin hãy nhìn lại, chỉ trong khoảng thời gian từ quý IV – 2007 đến hết quý II – 2008 lạm phát vọt lên 2 con số, thị trường chứng khoán đột nhiên sụt mất khoảng 50% giá trị với những gánh nặng lớn cho nền kinh tế nói chung và đặc biệt cho nguồn vốn của Nhà nước nói riêng. Tệ nạn tham nhũng, sự tha hóa trong hàng ngũ cán bộ đảng viên ngày càng nặng nề hơn; cải cách hành chính hầu như giẫm chân tại chỗ, có những nơi và những vấn đề còn tệ hại hơn trước. Hệ thống luật pháp và chính sách mới được phát triển mạnh, song khả năng thực thi rất kém, gần như trong tình trạng nói được mà không làm được.  Nói một cách hình ảnh: Lạm phát 2 con số, hiện tượng Vedan và hiện tượng khủng khoảng tài chính Mỹ hiện nay – đấy là 3 loại vấn đề lớn đòi hỏi nước ta phải rà soát lại chiến lược phát triển kinh tế của mình trên cả hai phương diện đối nội và đối ngoại, phải quan tâm hơn nữa đến phát triển bền vững, phải tận dụng tốt hơn nữa yếu tố Việt Nam là một nền kinh tế lớn, là một thị trường lớn – đừng vì quá thiên về hướng ngoại mà coi nhẹ những điều này. Gần đây tình hình được cải thiện đôi chút trong việc chống lạm phát, song nguy cơ lớn đối với nền kinh tế nước ta còn nguyên vẹn và vẫn đang ở phía trước. Tất cả nói lên: yêu cầu chuyển sang giai đoạn phát triển mới càng bức xúc.  Ngay trước mắt, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ của quốc gia của nước ta trước mọi nguy cơ hiểm nghèo hiện nay không có sức mạnh hay phép mầu nào, không có ý thức hệ hay liên minh xã hội chủ nghĩa nào có thể thay thế sức mạnh của chính tự thân nước ta được phát huy theo tinh thần dân tộc và dân chủ. Bảo vệ quốc gia trước mọi sự can thiệp của các loại “quyền lực mềm” lại càng đòi hỏi như vậy.  Trên thế giới chỉ trong vòng vài tuần lễ cục diện chiến tranh lạnh đã xảy ra ở vùng Caucase và lan ngay sang Nam Mỹ. Thực tế này gián tiếp tăng thêm những mối nguy tiềm tàng từ mọi hình thức uy hiếp đến sự thâm nhập của quyền lực mềm vốn có ở khu vực Biển Đông… Rồi đến khủng hoảng tài chính tiền tệ của Mỹ hiện nay (được coi là 100 năm mới xảy ra một lần – Alan Greenspan, nguyên Chủ tịch Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ, FED)1 đang loang rộng không chừa khu vực nào, đe dọa làm sụp đổ bất kỳ nền kinh tế nào.., nhiều quốc gia phải tính đến thay đổi chiến lược kinh tế của mình2. Thực tế này đang làm gay gắt thêm những thách thức từ bên ngoài đối với nước ta.  Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay sẽ làm gay gắt thêm mọi vấn đề nước Mỹ vốn có, nổi lên là chiến tranh (cam kết) + nợ + suy thoái kinh tế; đồng thời với sự suy sụp của đồng USD cuộc khủng hoảng này sẽ có nhiều tác động tàn phá đối với kinh tế thế giới.  Về dài hạn, cuộc khủng hoảng này đánh dấu thêm một báo hiệu xa về sự ra đi không thể cưỡng nổi của siêu cường Mỹ, thế giới chuyển sang cục diện đa cực với tốc độ nhanh hơn sự ứng phó của các quốc gia, mặc dù Mỹ vẫn sẽ giữ vị trí đi đầu trong một thời gian dài nữa, song không thể duy trì vị thế độc tôn.  Về ngắn hạn, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ có nguy cơ biến thành khủng hoảng kinh tế, sẽ đẩy kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế vào nhiều biến động mới khó lường. Kinh tế mỹ phải vài ba năm nữa mới có thể ổn định trở lại. Hơn bao giờ hết, cuộc khủng khoảng này đòi hỏi mọi quốc gia, trước hết là các nước nhỏ yếu, phải có khả năng thích nghi để tồn tại và phát triển. Ở vào vị thế địa chính trị và địa kinh tế rất nhạy cảm, đòi hỏi này đối với Việt Nam càng bức thiết.  Phát triển mà không thích nghi được thì cầm chắc thất bại, bởi vì so sánh lực lượng mọi mặt sẽ quyết định kết cục như vậy. Thích nghi mà không phát triển thì trở thành đất nước đi làm thuê, đất nước cho thuê và cuối cùng là một đất nước vong nô thời hiện đại!  Vì vậy, nhất thiết cần tạo ra cho nước ta có đủ cả hai khả năng phát triển và thích nghi – nhưng bằng cách nào?  Có con đường nào khác ngoài khơi dậy tinh thần tự cường của dân tộc và mở rộng dân chủ để phát huy nghị lực sáng tạo của từng cá nhân thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam để tạo ra khả năng thích nghi và phát triển?  Chỉ có chủ nghĩa yêu nước, dân chủ và tự do mới có khả năng tìm ra những câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi nêu trên.  Tất cả những điều vừa trình bày trên đang cho thấy giữa nhận thức chủ quan và đòi hỏi khách quan của cuộc sống đang có khoảng cách lơn. Mặt khác thực tế cuộc sống, nhất là trong vòng một năm nay, cũng cho thấy khả năng ứng phó của nước ta mong manh như thế nào đối với những thách thức mới bên trong và bên ngoài. Mọi thành tựu đạt được trong hơn hai mươi năm đổi mới dù lớn thế nào cũng không cho phép làm ngơ thực trạng này.      Vậy cần làm gì cho thời kỳ 2011-2020?  Hiện nay một số cơ quan đã bắt tay vào việc soạn thảo tiếp kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ 2010-2020 như là một bước đi tiếp theo bình thường của chiến lược CNH-HĐH đang tiến hành. Cách tiếp cận này không xử lý đòi hỏi phải chuyển đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới.  Xuất phát từ thực của đất nước như đã nêu, nay kiến nghị một cách tiếp cận khác:  (1) Nên tổng kết tình hình phát triển kinh tế 32 năm đầu tiên trong hòa bình, – trong đó có 22 năm đổi mới, nhăm làm rõ các mặt mạnh, yếu, những mất cân đối cần khắc phục, để có cơ sở xác định việc chuyển giai đoạn và dự định chương trình phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ 2011-2020.  (2) Trong 2 năm còn lại của kế hoạch 5 năm hiện nay (2009-2010) cần hoạch định xong chính sách và các bước đi khắc phục 3 thắt cổ chai (sự hẫng hụt về nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị quốc gia) đang kìm hãm gay gắt sự phát triển kinh tế – xã hội.  (3) Trên cơ sở các vấn đề đã được làm rõ trong các điểm (1) và (2), xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2010-2020 với quan điểm phát triển và thích nghi, nhằm vào mục tiêu chiến lược trở thành một nền kinh tế cầu nối giữa các quốc gia trong khu vực và với các khu vực khác.      Về đại thể, nên xác lập một lộ trình:  –  2009-2010: Khắc phục xong khủng hoảng hiện nay, khôi phục sự phát triển ổn định (cũng phải đề phòng kịch bản xấu từ hoàn cảnh kinh tế nước ta hoặc từ ngoại cảnh khu vực và quốc tế), tổng kết 32 năm và làm xong việc hoạch định chiến lược 2011-2020.  –  2011-2015: Khắc phục một bước cơ bản tình trạng của 3 thắt cổ chai, hoàn thành việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh cải cách khu vực kinh tế quốc doanh; tạo ra sự phát triển đột phá của khu vực tư nhân; tranh thủ FDI có chọn lọc theo yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế. Nếu cần thiết, phải tạm thời giảm bớt tăng trưởng, hoặc thậm chí có lúc phải hy sinh tăng trưởng để tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới cơ cáu kinh tế. Đây cũng là những năm chuẩn bị cho một hướng phát triển mới. Cải cách chính trị phải tiến lên đi trước và trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế  –  2016-2020: Bắt đầu thời kỳ phát triển năng động mới của giai đoạn phát triển mới, nhằm vào mục tiêu phát triển và thích nghi để trở thành nền kinh tế cầu nối trong khu vực. Vấn đề phát huy dân chủ để thực hiện đoàn kết dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội và tranh thủ được hậu thuẫn quốc tế trở thành đòi hỏi sống còn.      Tóm lại, đề nghị nên tập trung sức lực làm tốt các việc trong điểm (1) và (2) trước khi bàn đến chiến lược đột phá mới. Chúng ta không thể xây dựng chiến lược trên cơ sở chưa đánh giá xác đáng tình hình hiện tại và thiếu hẳn kế hoạch khắc phục khủng hoảng đang diễn ra, nhất là vấn đề chuyển giai đoạn phát triển đã trở nên chín muồi./.      Hà Nội 10-2008      Ý kiến của bạn?  ——————–  1 Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ phức tạp đến mức Giulio Tremonti, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ý, cho rằng: Đây là sự sụp đổ của hệ thống chứ không phải là sự sụp đổ của các ngân hàng, Alan Greenspan có lẽ không phải là ông thầy về tài chính tiền tệ, mà là người phá hoại nước Mỹ chỉ sau Osama bin Laden! Các ngân hàng Tây Âu toàn mua phải sản phẩm (tài chính tiền tệ) độc hại của Mỹ!.. (xem Los Angeles Times ngày 20-09-2008). Sự việc còn quá nóng bỏng, tuy nhiên có thể sơ bộ kết luận: Sau hơn một nửa thế kỷ vận hành, học thuyết tân tự do và hệ thống kinh tế do nó dẫn dắt – thể hiện tập trung nhất trong hệ thống tài chính – đã đem lại cho kinh tế của chủ nghĩa tư bản sự phát triển bột phá cùng với nhiều sự tàn phá ghê gớm đối với thế giới; tới mức độ vượt khỏi tầm kiểm soát, hệ thống và lý thuyết tân tự do đã đi tới sự sụp đổ như chúng ta đang thấy.  2 Đối với nước ta, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ sẽ có nhiều tác động lớn, vì kinh tế nước ta gắn khá mật thiết với đồng USD và Mỹ là một trong những thị trường xuất khẩu chính của ta. Cuộc khủng hoảng này còn gây ra những tác động chính trị toàn cầu bất lợi cho nước ta. Phát triển kinh tế thị trường đi đôi với nâng cao năng lực quản trị quốc gia là câu trả lời nước ta cần lựa chọn để đối mặt với tình hình mới này.  
__label__tiasang Xây dựng chính sách khuyến khích thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm      Bộ KH&amp;CN có trách nhiệm phối hợp với các bộ ngành liên quan đề xuất việc xây dựng chính sách khuyến khích thành lập quỹ đầu tư phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2016.      Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xây dựng chính sách khuyến khích thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao trong công văn số 381/VPCP-PL.  Trên cơ sở đề nghị của Bộ KH&CN, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và đầu tư rà soát, đánh giá việc thành lập và hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trong lĩnh vực phát triển công nghệ mới, công nghệ cao cũng như các quy định hiện hành về khuyến khích thành lập quỹ đầu tư chứng khoán trong lĩnh vực phát triển công nghệ mới, công nghệ cao. Đồng thời, Bộ KH&CN nghiên cứu đề xuất xây dựng chính sách khuyến khích thành lập quỹ đầu tư phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2016.  Để thực hiện các nhiệm vụ trên, Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ KH&CN, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan nghiên cứu, bổ sung các chính sách khuyến khích các quỹ đầu tư cho doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển công nghệ mới, công nghệ cao trong dự án Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa: Số hóa để mở      Số hóa là quá trình tất yếu của Việt Nam hay của bất cứ nền văn hóa nào trên thế giới nhưng để những tác phẩm văn hóa trong định dạng mới có thể mang lại giá trị mới thì quá trình này cần được song hành cùng mở.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chiêm ngưỡng bức họa “Em Thúy” của danh họa Trần Văn Cẩn trong chuyến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: vtv.vn  Khái niệm số hóa đã được nhắc đến Việt Nam vài năm nay kèm với một vài hoạt động của khối nhà nước và tư nhân, ví dụ như Thư viện Quốc gia có kho số hóa cổ tịch Hán Nôm với tổng số 133.495 trang sách thuộc 1.907 tài liệu, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có trải nghiệm bảo tàng ảo 3D các phòng trưng bày từ thời tiền sử cho tới thời Trần (kết hợp với công ty Vietsoftpro)… Sự chủ động đón nhận xu hướng thế giới này ở Việt Nam mới đây đã được tiếp sức bằng Quyết định số 1296/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu và công bố tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư” – một chương trình chính thức ở tầm quốc gia dành cho việc số hóa các tác phẩm văn hóa Việt Nam, qua đó đem lại cho kho báu dân tộc mà chúng ta đang sở hữu này một diện mạo mới bên cạnh hình thức thể hiện truyền thống.    Điều này khiến ngay cả những người ngoài ngành văn hóa cũng cảm thấy vui lây, không chỉ vì cảm thấy tự hào về việc có thể giới thiệu một cách dễ dàng hơn kho báu ấy với bạn bè trên thế giới mà ở góc độ của người làm công nghệ, họ đã nhìn thấy nhiều cơ hội đem lại giá trị mới cho nó ở phía trước.     Nhưng đạt được điều đó, câu chuyện sẽ không dừng lại ở việc số hóa.     Điểm xuất phát     Quyết định số 1296/QĐ-TTg có nêu rất rõ mục tiêu chung của chương trình là xây dựng hệ thống tư liệu, kho dữ liệu số và công bố các công trình, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới của KH&CN. Để đạt được mục tiêu lớn này có các chỉ tiêu công việc hết sức cụ thể như công bố 500 công trình, đầu sách truyền thống (sách in) tuyển chọn từ kho tài liệu các công trình, tác phẩm văn học nghệ thuật trong giai đoạn từ thế kỷ X đến năm 1945; công bố 100 tác phẩm sách 3D giới thiệu các công trình, tác phẩm nghệ thuật có giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu; công bố 2.000 đầu mục dữ liệu số về các công trình, tác phẩm văn học, nghệ thuật dưới dạng văn bản, hiện vật đơn chiếc, các tác phẩm phi văn bản và tác phẩm dạng khối; xây dựng 50 phim tài liệu, phim chuyên đề giới thiệu về tác giả, tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu và các hoạt động, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật cộng đồng đặc sắc trong đời sống xã hội; tạo lập Hệ thống phần mềm để lưu trữ, quản lý các sản phẩm của chương trình (sách 3D, dữ liệu số, phim tài liệu…), phục vụ tra cứu, khai thác cơ sở dữ liệu số về văn học nghệ thuật Việt Nam.      Quyết định số 1296/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu và công bố tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư” – một chương trình chính thức ở tầm quốc gia dành cho việc số hóa các tác phẩm văn hóa Việt Nam, qua đó đem lại cho kho báu dân tộc mà chúng ta đang sở hữu này một diện mạo mới bên cạnh hình thức thể hiện truyền thống.      Nhận xét về chương trình, TS. Lưu Vĩnh Toàn (công ty Move Digital AG, Thụy Sĩ) cho rằng, về thực chất, chương trình này là việc số hóa mảng văn hóa – nghệ thuật hiện đang do Bộ VHTT&DL đang quản lý. Với kinh nghiệm của một nhà khoa học dữ liệu từng tham gia hỗ trợ về công nghệ cho nhiều công ty của nước ngoài, anh nhận thấy “việc lập các cơ sở dữ liệu các tác phẩm văn hóa nghệ thuật khả thi trong thời đại số hiện nay và là việc nên làm”. Những công nghệ nền tảng mà các nhà nghiên cứu trong các trường, viện Việt Nam đã làm chủ đều có thể ứng dụng để số hóa được các dạng tác phẩm khác nhau, từ dạng văn bản đến dạng hình khối, với phần ký tự, hình ảnh mô tả, tạo dựng ứng dụng 3D, thực tại ảo (virtual reality), âm thanh lên hệ thống lưu trữ. Việc hiển thị những dữ liệu trên các kho dữ liệu số/nền tảng số phụ thuộc vào việc cài đặt các thuật toán về thu thập, đánh chỉ số, xếp hạng để phục vụ việc tra cứu nhanh hơn, thuận tiện hơn…    Việc ứng dụng công nghệ mới để tạo ra một phiên bản số cho các tác phẩm sẽ đem lại nhiều điều thú vị, TS. Lưu Vĩnh Toàn mường tượng. “Một ví dụ là các tác phẩm văn học được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm vốn được ít người biết đến, do đó sẽ rất thú vị nếu ai muốn tìm hiểu đều có thể thấy được văn bản nguyên mẫu. Thậm chí, nếu các cơ sở dữ liệu đó có cài đặt thêm các ứng dụng nhận dạng ký tự, tự động biên dịch thì còn có thể giúp người truy cập có thể tự tra cứu các từ gốc mà chưa cần biết nhiều về ngôn ngữ cổ, qua đó có thêm thông tin về tác phẩm này”, anh nói. Nhưng việc lập các cơ sở dữ liệu số không chỉ để thỏa mãn những tò mò đơn thuần mà còn dành cho các nhà nghiên cứu khi “các nghiên cứu chuyên sâu do những chuyên gia đã thực hiện có thể gắn kèm với tác phẩm đã được số hóa này để sẵn sàng cho những người quan tâm tra cứu, tìm hiểu”, anh lưu ý đến lợi ích mà việc số hóa có thể đem lại.    Lập các cơ sở dữ liệu như vậy còn có thể tạo ra một không gian hưởng thụ văn hóa mới, không phụ thuộc vào không gian truyền thống của các bảo tàng, thư viện… như cách thông thường chúng ta vẫn thường làm, vốn bị hạn chế trong thời kỳ diễn ra đại dịch Covid-19. “Có thể coi đây là một dạng xây dựng ‘bảo tàng số’ để chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm, tra cứu, chiêm nghiệm từng hiện vật văn hóa bằng trực giác nhưng cũng dễ tương tác để đào sâu các yếu tố liên quan với sự hỗ trợ của các công nghệ số”, TS. Lưu Vĩnh Toàn nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ trong việc hỗ trợ thưởng thức nghệ thuật. Rõ ràng theo cách này thì có thể là người hưởng thụ văn hóa sẽ có sự thấu hiểu ở mức sâu sắc hơn và trên diện rộng hơn về những tác phẩm văn hóa nghệ thuật của dân tộc.      Thư viện quốc gia đã số hóa các cổ tịch Hán Nôm. Nguồn: Minh An/kinhtedothi.  Với quan sát của người quan tâm đến công việc số hóa ở nhiều lĩnh vực ngành nghề của Việt Nam , anh nhận xét, sau khi được số hóa, một số tác phẩm văn hóa, nghệ thuật đang “tản mạn” trong thế giới số, “có hình ảnh ở chỗ này, chỗ kia, được nhắc đến ở chỗ này, chỗ kia nhưng chưa có một cơ sở dữ liệu tập trung để mọi người tìm đến một phiên bản gần ‘gốc’ nhất”. Do đó, việc tạo ra một cơ sở dữ liệu như vậy sẽ là một giải pháp hữu hiệu không chỉ để bảo tồn tác phẩm nghệ thuật mà còn đưa được người quan tâm đến phiên bản tác phẩm gần ‘gốc’ nhất, đầy đủ nhất với nhiều thông tin đi kèm để có thể lấy đó làm nền tảng cho các thông tin và sản phẩm tham chiếu trong tương lai. “Hiện Wikipedia đang triển khai một phần ý tưởng này trong việc số hóa một số tác phẩm văn học tiêu biểu của Việt Nam, ví dụ như ‘Truyền kỳ mạn lục’ của Nguyễn Dữ1, nhưng do đặc thù của nền tảng Wikipedia quá mở để biên tập, chỉnh sửa, lại không có nhiều công cụ hỗ trợ chuyên sâu cho việc lưu trữ hiển thị tác phẩm văn hóa nghệ thuật… nên không phải là nơi lý tưởng để lưu trữ dạng dữ liệu này”, TS. Lưu Vĩnh Toàn cho biết.    Tuy nhiên, để có một cơ sở dữ liệu tốt như mong đợi thì nhiệm vụ của những người làm công nghệ không phải đơn thuần chỉ là số hóa. Sự khác biệt của dữ liệu tác phẩm văn hóa còn đòi hỏi một cách nhìn khác cho quá trình này, đó là việc phải giải quyết được những yêu cầu rất riêng như ‘làm thế nào để có thể xác thực đó là các tác phẩm, hiện vật gốc?’, ‘Liệu quá trình lưu trữ, bảo quản các vật thế đó có xảy ra mất mát, có bằng chứng chứng minh, xác thực một cách khoa học không?’, ‘Việc tái hiện nó thế nào cho logic, dễ hiểu và hấp dẫn đối với người xem?’… “Tôi cũng cảm thấy khá e ngại là nếu vì lý do nào đấy như thiếu kinh phí hay người thực hiện việc số hóa không có nhiều chuyên môn, không đam mê với văn hóa nghệ thuật thì có thể dẫn đến việc số hóa ‘sơ sài’, làm cho có… Điều này có thể sẽ làm mất đi cái ‘hồn’ và ý nghĩa của những tác phẩm văn hóa nghệ thuật”, TS. Lưu Vĩnh Toàn lưu ý.      “Nếu vì lý do nào đấy như thiếu kinh phí hay người thực hiện việc số hóa không có nhiều chuyên môn, không đam mê với văn hóa nghệ thuật thì có thể dẫn đến việc số hóa ‘sơ sài’, làm cho có… Điều này có thể sẽ làm mất đi cái ‘hồn’ và ý nghĩa của những tác phẩm văn hóa nghệ thuật” (TS. Lưu Vĩnh Toàn)      Cần sẵn sàng với mở     Câu chuyện số hóa các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu. Để có thể mang lại những giá trị mới cho kho di sản và tri thức này, chúng cần được mở với công chúng, không phân biệt người truy cập. Chuyên gia Lê Trung Nghĩa (Ban Tư vấn Phát triển giáo dục mở, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) cho rằng, Việt Nam không nên đứng ngoài xu hướng thế giới mở hiện nay. “Trên thế giới có hẳn OpenGLAM, một phong trào kêu gọi mở trong các lĩnh vực trưng bày, thư viện, lưu trữ, bảo tàng. Nếu chúng ta làm đúng theo OpenGLAM thì sẽ thu được rất nhiều lợi ích như các bảo tàng ở Thụy Điển, Đức, Mỹ… đã đạt được”.    Muốn làm được điều này, chương trình số hóa các tác phẩm văn học nghệ thuật của Việt Nam cần có thêm yếu tố mở. “Tôi thấy về cơ bản nội dung chương trình của Việt Nam đều tương đồng so với quốc tế và điểm khác biệt lớn nhất chỉ là chữ ‘mở’ thôi. Đọc đi đọc lại, tôi không nhìn thấy gì giống OpenGLAM trong chương trình này cả”, chuyên gia Lê Trung Nghĩa nhận xét, “trong khi chỉ với chữ mở trong OpenGLAM nó làm thay đổi tất cả hầu như mọi khía cạnh của việc số hóa”.    Lấy ví dụ về Europeana – một dự án số hóa do Ủy ban châu Âu tài trợ tạo ra nền tảng tìm kiếm trên cơ sở kết nối với những bộ cơ sở dữ liệu về sách, tranh, phim và các tài liệu lưu trữ được số hóa của các thư viện, bảo tàng, phòng trưng bày châu Âu, ông cho rằng, việc xác định mở ngay từ khi lập dự án đã đem lại thành công ngay trong quá trình thực hiện. Với tiêu chí mở, Europeana xác định chiến lược phát triển cơ sở dữ liệu là “hãy để người truy cập/người hưởng thụ dẫn dắt”, “trao nội dung đúng cho đúng người vào đúng thời điểm”, từ đó nêu ba mục tiêu ưu tiên là cải thiện chất lượng dữ liệu, mở dữ liệu và tạo giá trị cho đối tác (người sử dụng, người tham gia số hóa).    Việc trao quyền sử dụng cho người truy cập khiến những người thực hiện Europeana tập trung vào chất lượng dữ liệu với tiêu chí tìm thấy được, đọc được, tiêu chuẩn hóa được, nhìn thấy được để dễ dàng sử dụng lại cho công việc, học tập và giải trí. Mặt khác, do hướng đến nhu cầu của người sử dụng, những người thực hiện dự án có thể tinh chỉnh lại các tư liệu số hóa theo phản hồi của người truy cập, đồng thời có được thông tin về các chủ đề để ưu tiên số hóa, khía cạnh chất lượng để ưu tiên cải tiến trước… Bằng việc kết nối nội dung với nhu cầu người sử dụng, họ có thể tham gia bản thảo với bộ phận kỹ thuật để cải thiện chất lượng dữ liệu, qua đó góp phần tạo thương hiệu tin cậy, sử dụng được. “Cách đó đã góp phần đem lại 58 triệu tài nguyên được cấp phép mở với những điều khoản rất rõ ràng cho người sử dụng biết họ có quyền gì khi sử dụng các tư liệu số đó”, chuyên gia Lê Trung Nghĩa nói.    Nhìn từ thành công của Europeana và phong trào OpenGLAM, ông cho rằng “bất kỳ nơi nào ở Việt Nam mà học được những thứ như vậy của Europeana đều tuyệt vời, nhưng rất không dễ. Chắc là một phần nhỏ nào đó làm được như Europeana cũng sẽ bước lên vị trí dẫn đầu Việt Nam về tinh thần mở rồi”.      Triển lãm “Thư pháp của các Hoàng đế nhà Nguyễn” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I – Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, khai mạc ngày 3/1/2020. Ảnh: Mỹ Hạnh    Điều ông e ngại nhất là việc những người thực hiện chương trình chưa nghĩ đến việc cấp phép mở cho dữ liệu – đây không chỉ là một trong những điều kiện tiên quyết để dữ liệu trở thành dữ liệu mở mà còn sẽ làm vô hiệu hóa vấn đề bản quyền. Là một chuyên gia có kinh nghiệm về mở, ông dự đoán về một tương lai không có cấp phép mở của các cơ sở dữ liệu số văn hóa “có thể sẽ dẫn đến khả năng tranh chấp bản quyền và cũng có thể khi số hóa xong, các tác phẩm số bỗng nhiên lại có bản quyền. Sự phi lý sẽ nằm đúng ở đây!” Ông phân tích một số trường hợp có thể xảy ra, “đôi khi việc đưa các hiện vật có từ 1.000 năm trước và đã thuộc phạm vi công cộng trở thành một hiện vật dưới dạng kỹ thuật số do ai đó đứng ra số hóa nó nắm bản quyền có thể làm mất cơ hội tiếp cận của tất cả những người còn lại, qua đó làm giới hạn việc quảng bá các hiện vật đó ở tầm thế giới”. Người ta có thể không nghĩ tới là những tư liệu, sách vở, tác phẩm nghệ thuật đang nằm trong phạm vi công cộng thì khi số hóa, phiên bản số của nó cũng phải nằm trong phạm vi công cộng.    Mặt khác, ông lưu ý, nếu gắn bản quyền vào các tác phẩm được số hóa, cũng cần chiểu theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019 để biết là một tác phẩm văn hóa sẽ nằm trong phạm vi công cộng khi tác giả của nó qua đời từ 50 đến 70 năm, tùy theo từng loại hình nghệ thuật. “Tất cả các hiện vật của bất kỳ tác giả nào trong viện bảo tàng từ thế kỷ 19 đổ về trước thường sẽ tuân theo kỳ hạn thời gian này. Theo nghĩa đó thì các tác phẩm trong mốc thời gian như vậy phải được mở với công chúng”, ông nhấn mạnh.      Du khách nước ngoài tham quan Triển lãm mỹ thuật Khu vực I (Hà Nội) lần thứ 25 năm 2020. Nguồn: toquoc.vn  Tuy nhiên theo xu hướng OpenGLAM mà nhiều bảo tàng trên thế giới đang áp dụng thì các hoạt động của bảo tàng và khả năng truy cập dữ liệu của người sử dụng không bị bản quyền chắn đường. Việt Nam cũng không nên nằm ngoài xu thế đó. Chuyên gia Lê Trung Nghĩa cho rằng, “Để tạo ra các tri thức mới, người ta ngày càng chia sẻ và cho phép truy cập mở (thông qua cấp phép mở) các tài nguyên tri thức để bất kỳ ai cũng có khả năng sử dụng lại vì bất kỳ mục đích gì, kể cả mục đích thương mại, nhưng phải đảm bảo tôn trọng bản quyền và các quyền hợp pháp của tác giả, tránh mọi rào cản về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, đặc biệt là các tài nguyên được tạo ra từ các nguồn vốn cấp của nhà nước”.    Nếu trong trường hợp còn lấn cấn về chuyện bản quyền và mở thì chúng ta ứng xử như thế nào với các cơ sở dữ liệu số có được từ việc thực hiện chương trình? Ông trầm ngâm, “nếu chúng ta tranh cãi việc này là đúng hay sai thì có lẽ sẽ mất rất nhiều thời gian nữa mới có thể ngã ngũ và có thể là việc số hóa văn hóa sẽ không thể đạt được thành công như quốc tế”. Có lẽ, quan điểm của ông trùng khớp với những quan điểm Taco Dibbits, Giám đốc phụ trách bộ sưu tập của Rijksmuseum – bảo tàng quốc gia Hà Lan dành riêng cho nghệ thuật và lịch sử ở Amsterdam, trả lời New York Times, khi giải thích vì sao bảo tàng lại trao toàn bộ quyền sử dụng các tác phẩm nghệ thuật với chất lượng hình ảnh, màu sắc đẹp như nguyên tác mà họ đã số hóa “Thật quá khó để kiểm soát bản quyền trên internet nên chúng tôi đã quyết định thà để mọi người sử dụng hình ảnh với độ phân giải cao của những bức họa như ‘Milkmaid’ (người rót sữa) từ Rijksmuseum hơn là sử dụng phiên bản rất tồi”.    Hành động mở của Rijksmuseum khiến phiên bản số các kiệt tác số chất lượng cao được nhiều nền tảng số khác sử dụng, khiến những phiên bản chất lượng kém nhanh chóng biến mất và nếu tìm kiếm trên Google thì người ta thấy phiên bản có gốc tích từ Rijksmuseum ở trên trang đầu. Nếu theo cách làm của mở, thì rất có thể, một ngày nào đó, những phiên bản số đẹp của các tác phẩm văn hóa Việt Nam từ những bảo tàng, phòng trưng bày Việt Nam cũng có được vị trí như thế. “Đi theo mở, có thể cần phải biết từ bỏ cái lợi nhỏ nhoi của một nhóm người nhỏ nhoi thì chúng ta mới có nhiều cơ hội để có được cái lợi lớn hơn nhiều, đôi khi là cái lợi của một ngành, của một quốc gia”, chuyên gia Lê Trung Nghĩa nói.  —  1. Ví dụ https://vi.wikipedia.org/wiki Truy%E1%BB%81n_k%E1% BB%B3_m%E1%BA%A1n_ l%E1%BB%A5c)    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin “đón” CMCN 4      Tương tự như các cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra trước đây, CMCN4 được kỳ vọng sẽ thay đổi phương thức sản xuất và đời sống xã hội của con người. Ở thế hệ CMCN3 máy tính và công nghệ thông tin đã được ứng dụng mạnh mẽ mang lại hiệu quả lớn cho quá trình sản xuất và lao động.         Viettel lắp đặt các trạm 4 G. Nguồn: ictnews.vn.  Tuy nhiên, hạn chế của CMCN3 là các hệ thống máy móc và hệ thống mạng mới chỉ được phát triển riêng biệt, chưa được tích hợp với nhau. Với CMCN4, không còn ranh giới giữa các hệ thống thực-ảo, sản phẩm dù vẫn được tạo ra trên các hệ thống máy móc vật lý nhưng quá trình quản lý, điều khiển và tối ưu sản xuất lại hoàn toàn diễn ra trên không gian mạng. Điều này mang lại nhiều lợi ích về quản lý vòng đời sản phẩm, thích nghi nhanh với các thay đổi về nhu cầu sản xuất và đặc biệt là cho phép thu hẹp khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Tuy nhiên, để thực hiện được các mục tiêu đặt ra của CMCN4 cũng có nhiều thách thức lớn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.  Cơ sở hạ tầng viễn thông là then chốt  Việc kết nối các hệ thống thực-ảo với nhau để phục vụ sản xuất, thương mại trên phạm vi quy mô lớn sẽ tạo ra lưu lượng rất lớn về trao đổi dữ liệu theo thời gian thực. Ước tính của các tập đoàn công nghiệp viễn thông cho thấy, số lượng kết nối vào Internet có thể lên tới hàng chục tỉ vào năm 2020. Internet vạn vật (Internet of Things – IoT) là công nghệ then chốt cho phép kết nối các cảm biến thông minh, máy móc trong các dây chuyền sản xuất với nhau theo phương thức máy móc-kết nối-máy móc (Machine-to-Machine – M2M) và kết nối máy móc với Internet. Để đáp ứng nhu cầu trao đổi dữ liệu này đòi hỏi cơ sở hạ tầng mạng phải có sự phát triển về băng thông đối với cả mạng lõi và mạng truy nhập. Các công nghệ mạng lõi tốc độ cao sẽ phải được đưa vào triển khai nhằm xoá bỏ ranh giới trao đổi trên không gian ảo giữa các vùng, giữa các quốc gia với nhau. Công nghệ mạng truy nhập cũng cần có sự thay đổi tương ứng. Xu thế sử dụng các đường cáp quang có tốc độ Gigabit và các kết nối IoT qua mạng di động thế hệ mới sẽ là tất yếu. Chuẩn di động 4G LTE hiện tại đã có khả năng hỗ trợ IoT băng hẹp. Chuẩn di động thế hệ mới 5G dự kiến ra đời vào năm 2020 ngoài khả năng cho phép kết nối IoT băng rộng còn cung cấp phương thức kết nối M2M để hỗ trợ cho CMCN4. Ngoài ra, công nghệ mạng LAN Ethernet truyền thống được sử dụng để kết nối các thiết bị có hiệu suất không cao và hạn chế trong trao đổi dữ liệu thời gian thực cũng cần phải thay thế bởi một công nghệ mới như CC-Link IE chuyên dụng cho công nghiệp.  An ninh mạng là thành phần đảm bảo thiết yếu  Với xu thế kết nối các hệ thống thực-ảo phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội của CMCN4.0 thì vấn đề đảm bảo an ninh mạng và an toàn thông tin là yêu cầu thiết yếu. Các giải pháp an ninh mạng và an toàn thông tin cao nhất cần phải được sử dụng để đảm bảo cho an toàn sản xuất, an ninh doanh nghiệp và thậm chí an ninh quốc gia. Bất cứ sự lơ là nào về an toàn mạng cũng sẽ tạo nên một lỗ hổng nghiêm trọng cho hệ thống. Ngoài các tấn công từ các hacker thì còn phải tính đến các tấn công có thể từ các đối thủ cạnh tranh không lành mạnh trong sản xuất cũng như các đối tượng thù địch nước ngoài.  Tốn kém nhưng vẫn cần đầu tư  Để đáp ứng các yêu về cơ sở hạ tầng viễn thông và an ninh mạng nhằm sớm đón đầu CMCN4 vào Việt Nam, cần có sự đầu tư kịp thời đến từ cả Nhà nước và các doanh nghiệp trong nước. Các đường trục (backbone) băng rộng, có vai trò quan trọng tương đương hệ thống đường quốc lộ, cần được đầu tư và triển khai ở quy mô quốc gia. Có thể lấy trường hợp của Nhật Bản làm ví dụ. Chính phủ Nhật Bản thông qua doanh nghiệp, NTT mà họ sở hữu một phần đã có chính sách đầu tư lớn vào hệ thống cáp quang băng rộng trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng đã có các chính sách khuyến khích đầu tư thông qua chương trình “u-Japan broadband” để giúp các tỉnh, thành phố xây dựng các mạng cáp quang băng rộng địa phương. Mô hình kết hợp đầu tư nhà nước với doanh nghiệp đã làm nên sự thành công cho mạng băng rộng của Nhật Bản. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN4, trong đó đã chỉ rõ cần tập trung thúc đẩy phát triển và tạo bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực CNTT-TT cũng như đảm bảo an toàn, an minh mạng. Chỉ thị kịp thời này sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời cho nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư của Chính phủ đối với hạ tầng viễn thông.         Các đường trục (backbone) băng rộng, có vai trò quan trọng tương đương hệ thống đường quốc lộ, cần được đầu tư và triển khai ở quy mô quốc gia.      Đối với các mạng truy nhập thì các doanh nghiệp viễn thông cần phải tính toán kỹ và có các quyết sách đầu tư kịp thời. Việc đầu tư triển khai mạng di động thế hệ mới có thể là một ví dụ điển hình. Mặc dù mạng di động 4G LTE mới được triển khai, và theo một báo cáo gần đây trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, hiện tại đã có 43.000 trạm phát sóng BTS 4G được triển khai trên cả nước đảm bảo phủ sóng tới 95% dân số, nhưng Chính phủ cũng đã cho phép các doanh nghiệp viễn thông được thử nghiệm hệ thống di động 5G từ năm 2020. Việc triển khai đầu tư sớm để hỗ trợ CMCN4 đồng nghĩa với việc thu hút được nhiều khách hàng sử dụng mạng 5G phục vụ cho sản xuất và kinh doanh, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường đầy tiềm năng.  Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam  Sự thay đổi về công nghệ và cơ sở hạ tầng viễn thông sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản về phương thức sản xuất trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, trước hết là các lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng phát triển như nông nghiệp. Đây có thể là lĩnh vực đi tiên phong trong việc đón nhận những thành tựu của CMCN4. Nông nghiệp thông minh, còn được biết đến với thuật ngữ Nông nghiệp 4.0, với các ứng dụng giám sát, quản lý và điều khiển môi trường nuôi trồng và sản xuất sẽ sớm được đưa vào sử dụng trong các nông trại sản xuất sữa, thuỷ hải sản và trồng trọt hoa quả xuất khẩu. Ngành công nghiệp dệt gần đây cũng đã có ý kiến cho thấy đã có sự chuẩn bị để sẵn sàng tiếp nhận công nghệ mới phù hợp với CMCN4.  Song song với việc tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ tiên tiến của CMCN4 thì việc tham gia vào việc phát triển các giải pháp kỹ thuật và công nghệ cũng là một cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển công nghệ. Nhu cầu phát triển các loại cảm biến thông minh, các giải pháp quản trị và điều khiển trên nền tảng điện toán đám mây, các thuật toán trí tuệ nhân tạo và xử lý dữ liệu lớn cũng như các công cụ đảm bảo bảo mật thông tin và an toàn mạng hứa hẹn sẽ là một động cơ thúc đẩy mạnh mẽ cho sự ra đời của các doanh nghiệp start-up của Việt Nam.  ———–  *PGS. TS, Học viện Kỹ thuật quân sự.       Author                Trần Xuân Nam        
__label__tiasang Xây dựng  cộng đồng mentor      Sáu năm trước, tôi bắt đầu nhận thức một cách rõ ràng rằng nền tảng của bất kì hoạt động, chương trình hay tổ chức khởi nghiệp nào cũng là sự liên kết giữa những doanh nhân khởi nghiệp trẻ tuổi với những doanh nhân và nhà khởi nghiệp giàu kinh nghiệm hơn.      Vườn ươm khởi nghiệp iStart X trong Khu công nghệ phần mềm ĐHQG TP HCM đang kết hợp với SECO EP để xây dựng cộng đồng mentor hỗ trợ khởi nghiệp. Ảnh: iStart X.   Mối quan hệ này tồn tại trong rất nhiều hoạt động khởi nghiệp từ những sự kiện pitching nơi các doanh nhân giàu kinh nghiệm phản biện kế hoạch kinh doanh của những startup trẻ trong vài phút, từ những vườn ươm khởi nghiệp kèm cặp các startup thường xuyên cho đến các khóa tăng tốc khởi nghiệp xây dựng mối quan hệ hỗ trợ dài lâu với các startup để thúc đẩy họ sớm tung ra các sản phẩm mới. Có nhiều cách để các chương trình khởi nghiệp thiết kế sự tương tác giữa các mentor và doanh nhân khởi nghiệp nhưng nếu không xây dựng được một cộng đồng những doanh nhân thành công, giàu kinh nghiệm thì những hoạt động này sẽ không mấy có giá trị. Các chương trình khởi nghiệp tôi hỗ trợ đều hiểu điều đó, nhưng lại không biết làm thế nào để xây dựng và duy trì một cộng đồng mentor. Đây là năm gợi ý mà tôi thường đưa ra:  Cứ làm đi: Rất nhiều người tôi gặp vật lộn với việc bước ra ngoài nhờ vả những doanh nhân hỗ trợ họ. Nói thẳng ra là họ sợ làm việc đó. Nhưng trên thực tế, điều đó không khó khăn như họ tưởng tượng, hỗ trợ và giúp đỡ người khác là mong muốn tự nhiên của con người và hầu hết các doanh nhân đều muốn làm nếu họ có thể, vậy nên cứ hỏi thôi.  Tận dụng mạng lưới quan hệ cá nhân của bạn: Xây dựng một mạng lưới mentor cũng giống như thực hiện một chiến dịch gọi vốn cộng đồng (crowdfunding). Nếu bạn muốn thành công thì bạn phải tìm đến những mối quan hệ trong mạng lưới cá nhân của bạn trước. Người quản lý hay người lãnh đạo các chương trình khởi nghiệp cần xem xét danh sách bạn bè, người quen trong mạng xã hội của họ và bắt đầu liên lạc với những doanh nhân thành công mà họ quen biết.  Tuyển những doanh nhân khởi nghiệp nghiêm túc vào chương trình của bạn.  Những mentor muốn làm việc với những doanh nhân khởi nghiệp thật sự nghiêm túc trong việc tạo lập công ty. Họ không hứng thú với việc phí hoài thời gian với những đứa trẻ đưa ra nhiều ý tưởng nhưng hóa ra mục tiêu thực sự mà chúng hướng đến là một công việc ổn định. Đảm bảo những người sáng lập trong chương trình của bạn sẵn sàng vượt qua rất nhiều chông gai để xây dựng công ty, những mentor sẽ có động lực để làm việc với những người như vậy.  Đối xử với những mentor như những anh hùng: Nếu những mentor tình nguyện dành thời gian của họ để hỗ trợ những doanh nhân khởi nghiệp của bạn, bạn cần thể hiện sự biết ơn và chia sẻ thành công với họ. Thi thoảng tôi lại gặp những chương trình khởi nghiệp tranh hết sự khen ngợi từ báo chí hay những lãnh đạo nhà nước cho những hoạt động hỗ trợ mà cả họ và các mentor cùng làm. Tôi cho rằng những chương trình khởi nghiệp thực sự thành công đảm bảo rằng những mentor nhận được sự ghi nhận xứng đáng.  Tạo mọi điều kiện cho mentor: Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp cần phải thiết kế quy trình đơn giản nhất có thể để những mentor có thể dễ dàng kết nối với các doanh nhân khởi nghiệp. Họ cũng cần phải thiết lập những yêu cầu, mục tiêu muốn đạt được đối với cả doanh nhân khởi nghiệp và mentor để hai bên biết rằng họ có thể giúp đỡ nhau như thế nào. Và cuối cùng là phải liên tục nhắc nhở và liên lạc với những mentor về các lịch hẹn bởi vì họ rất bận rộn.                Hảo Linh dịch  Bản nguyên gốc Tiếng Anh mà Mike Ducker gửi cho Tia Sáng:  Developing Mentor Communities  6 Years ago it started to become apparent to me what the core factor of ever entrepreneurship activity, program or organization was the interaction between young entrepreneurs with a more experienced business people / entrepreneurs. I would see this relationship in many entrepreneurship activities from the traditional pitch event which has experienced business people giving feedback to young entrepreneurs plans to an incubator that offer “office hours” with local lawyer or an accelerator that establish more long term mentor relationship that push startups to launch their business. The core of what they were doing was designing knowledge and experience exchanged with experienced business people. There are several ways for entrepreneurship programs to design the interaction between entrepreneurs and mentors but without having a community of experienced / successful business people these activities are difficult to make impactful. Most entrepreneurship programs I have been working with, see the value, but have a lot of questions on how to build and maintain a mentor community of business people. Here are my top five suggestions I typical give:  1. Just do it: Many programs I have worked with struggle to just start and going out and asking business people to support their program. To be frank they seem to be afraid to do it. But in fact its not hard, It’s human nature for people to support each other and most business people want to if they can, so entrepreneurship programs need to go out and ask.  2. Utilize your own network first: Building a mentor network is like a crowd funding campaign if you want to be successful you need to work the relationships with your personal network first. These relationships are built on personal trust so the mangers and leaders of entrepreneurship programs need to look at their rolodex and LinkedIn networks and start contacting successful business people who they have relationships with.  3. Recruit serious founders in your program: Mentors want to work with entrepreneurs who are serious about building a business. They are not interested in wasting their time with kids with ideas who really are more interested in a stable job. Ensure the founders in your program will run through walls to build their business, mentors will be motivated to work with entrepreneurs like this.  4. Treat Mentors like Heroes: If mentors volunteer their time to support your entrepreneurs they deserve to be shown appreciation and share in the glory for success. Sometimes I come across entrepreneurship programs that want to take all the glory that comes from the media and public officials for their and the mentors work. I find the entrepreneurship programs that are really successful ensure the mentors get the appreciation they deserve.  5. Make it easy for mentors: Entrepreneurship programs need to make the process as simple as possible for them to engage with the entrepreneurs. They also need to set up expectations between the entrepreneur and mentor so both parties know how they can help each other. And lastly they need to over communicate to business people about expectations and logistics because they are busy.  ———  Tác giả là chuyên gia của chương trình SECO EP (Thụy Sỹ) hỗ trợ xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu.    Author                Mike Ducker        
__label__tiasang Xây dựng đội ngũ sáng tạo công nghệ mới      Trên các trang mạng chuyên về công nghệ dành cho giới trẻ,&#160; các bạn trẻ Việt Nam đang bàn về Misfit Shine (MS): nghe nói là MS hoàn toàn khác với&#160; dòng sản phẩm cùng công năng đang có trên thị trường như Nike Fuel Band(không dùng được dưới nước hay Fitbit không có những tính năng phức tạp), MS đo được cả số vòng quay khi đạp xe và số sải tay khi bơi, và họ còn nêu nhiều thắc mắc, nghe nói MS không có nút bấm, không có dây cáp, không dùng Bluetooth cũng chẳng dùng bộ sạc pin, lại tương tác được với smartphone, vậy nó ứng dụng công nghệ gì ? Cùng với sự tò mò đó, nếu được cung cấp thông tin là team công nghệ R&amp;D hầu hết là người Việt, trẻ, đang hoạt động tại Việt Nam thì chắc các bạn trẻ còn lý thú hơn nữa.      Một cách đi ngược đời của việc xây dựng đội ngũ công nghệ  Có lần tôi nghe Sonny Vũ, người đề xướng sản phẩm MS, nói: mô hình thông thường làm một sản phẩm công nghệ ở Mỹ là xây dựng đội ngũ R&D ở Silicon Valley, rồi đưa những việc đơn giản hơn đến các nước đang phát triển như TQ, Ấn,VN… để gia công. Công ty Misfit Wearables sau một năm thành lập, qua tìm tòi và thể nghiệm, đã quyết định làm điều ngược lại. Đặt nhóm R&D tại Việt Nam, với những bạn trẻ tài năng về công nghệ, có nền tảng kiến thức công nghệ rất vững (nhiều bạn đã đoạt giải thưởng Olympic quốc tế, thủ khoa các Đại học). Nhóm này hoạt động song song với êkip kỹ sư của công ty ở Silicon Valley.  Tiến trình sáng tạo một công nghệ bao giờ cũng bắt đầu từ những nhà khoa học với bề dày những công trình nghiên cứu khoa học của họ. Kết nối những công trình này làm thành một chuối những thuật toán giải quyết các đầu đề khác nhau, thành một tổng thể cho một kết quả chung cuối cùng, ta có một công nghệ mới và khi công nghệ này đáp ứng tất cả đòi hỏi phức tạp của người tiêu dùng, của thị trường thì sản phẩm công nghệ hữu ích có thể cạnh tranh ra đời.  Cắt dọc những hoạt động về công nghệ của Misfit Shine,  khởi đầu là người đề xướng sản phẩm, thường được gọi là “người biên tập sản phẩm” (product editor) với các phẩm chất chính: nhạy cảm thị trường, có tầm nhìn và nắm được xu hướng thị trường, có bãn lỉnh chỉ huy, biết tạo động lực, thuyết phục đồng sự; Các kỹ sư, đầu tiên là kỹ sư phát triển sản phẩm (developper) lo viết lập trình cơ bản của sản phẩm, kỹ sư thiết kế công nghiệp thì thiết kế chung và nguyên tắc vận hành sản phẩm, đặc biệt là phần tương tác giữa sản phẩm với người tiêu dùng sao cho thuận lợi, dễ dàng nhất; kế đó là kỹ sư phần cứng (xử lý nguyên vật liệu, điện, điện tử); kỹ sư thiết kế những thuật toán cảm ứng cao cấp (phần “linh hồn” của sản phẩm, đòi hỏi cập nhật công nghệ mới cạnh tranh nhất); kỹ sư thiết kế phần mềm vận hành sản phẩm; và công nghệ về dữ liệu và với MS là ứng dụng công nghệ điện toán đám mây.   Ê kíp kỹ sư của công ty Misfit Wearables ở Hoa Kỳ lúc đầu cũng bất ngờ trước quyết định táo bạo của Sonny Vũ đặt phòng R&D của công ty, bộ não của Misfit Shine ở VN, làm các công việc thiết kế phần mềm, thiết kế chuỗi thuật toán cảm ứng cao cấp và xử lý kỷ thuật data bằng điện toán đám mây. Nhóm chuyên gia về dữ liệu sử dụng công nghệ điện toán đám mây được thành lập đầu tiên ở Việt Nam là nét đặc sắc của đội ngũ công nghệ của MS vì gồm có 8 tiến sĩ, thạc sĩ đào tạo từ các đại học hàng đầu của Hoa Kỳ và Pháp ( John Hopskin, MIT, Chicago, Stanford…) và trường Polytechnic Pháp. Họ cũng ngạc nhiên khi được mời làm cái công việc phức tạp này tại Việt Nam. Khi cầm trên tay thiết bị Misfit Shine nhỏ xinh, chắc ít ai hình dung được một nỗ lực “liều lĩnh” của nhà sản xuất để tận dụng kịp thời cái cơ hội xuất hiện trường phái “ big data” từ công nghệ đám mây mà những năm trước nằm mơ cũng không thấy. Công nghệ mới này cho phép tích lưu vô tận dữ liệu và lại còn có một ưu điểm, càng lưu nhiều data thì thuật toán phân tích chuỗi số liệu càng cải thiện và như vậy, nâng cấp không ngừng trí thông minh của sản phẩm, khả năng phân tích và tư vấn của sản phẩm. Với dữ liệu tích lũy mỗi ngày từ số bước đi, số calories, biểu đồ đối chiếu phân tích diễn tiến mỗi ngày đến từng tuần, tháng, năm…chỉ tích lũy, theo dõi, phân tích, tư vấn từng người , cứ theo thời gian đã là một kho dữ liệu, và dữ liệu của hàng trăm nghìn khách hàng, vài trăm nghìn, hàng triêu khách hàng, tất cả thông tin này được ghi nhận cùng lúc, liên tục không ngưng nghỉ, thành một khối dữ liệu khổng lồ thì làm sao lưu trữ, truy xuất với yêu cấu này, nếu không có công nghệ điện toán đám mây? Và MS đang tích hợp đầy đủ  ưu thế tiến bộ công nghệ này làm thành một ưu thế cạnh tranh cho sản phẩm.     Chất keo gắn kết đội ngũ công nghệ  Tôi hỏi Sonny Vũ nghĩ gì về hiệu quả làm việc của các kỹ sư VN? Họ giỏi, bền bỉ, chịu khó,  “máu lửa” và nay là “ chiến tướng”. Đó là điều không dễ tìm thấy ở Hoa Kỳ đối với công ty mới thành lập như Misfit Wearables. Chỉ có điều trong một năm đầu tiên, phải “chiến đấu” với họ rất cực vì họ thiếu hai thứ: thiếu kỹ năng làm việc theo nhóm và thiếu nhạy cảm thị trường. Nay họ đã dần thích nghi và thủ đắc được hai chiếc chìa khóa quan trọng này và đã góp phần làm nên sản phẩm công nghệ độc đáo.          Việc bố trí hai ê kip cùng thực hiện một sản phẩm, với hai nền văn hóa và môi trường làm việc khác nhau, với cự ly rất xa nhau lúc đầu đầy khó khăn, có khi khiến hai bên đều nãn và sự phối hợp tưởng như không thể. Cuối cùng bí quyết để họ làm việc được với nhau và hiệu quả tốt chỉ là: tin cậy và thực sự tôn trọng nhau.            Ê kíp ở Hoa Kỳ lo mấy việc: thiết kế công nghiệp (tương tác với NTD) và thiết kế phần cứng và lo việc điều hành hệ thống, kinh doanh chung. Có vẽ như kỹ sư VN giỏi về thuật toán cảm ứng, phát triển dữ liệu và thiết kế phần mềm hơn, vì việc học về phần cứng như nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc…thì họ không có điều kiện thực hành theo kịp với sự phát triển của thế giới .  Việc bố trí hai ê kip cùng thực hiện một sản phẩm, với hai nền văn hóa và môi trường làm việc khác nhau, với cự ly rất xa nhau lúc đầu đầy khó khăn, có khi khiến hai bên đều nãn và sự phối hợp tưởng như không thể. Cuối cùng bí quyết để họ làm việc được với nhau và hiệu quả tốt chỉ là : tin cậy và thực sự tôn trọng nhau.   Tin cậy nhau, giữa những nhà khoa học đều giỏi, đều có thành tích cá nhân đáng kể, và rồi mỗi người thấy rõ mình mạnh ở đâu, yếu ở điểm nào, cần bổ sung gì quả là một quá trình gian khổ. Nhà quản trị tên tuổi, giờ cũng là nhà đầu tư của Misfit, John Sculley từng ví von, sáng tạo công nghệ là một công việc tập thể, hoàn toàn là kiểu chơi của bóng đá chứ không phải là tennis. Một team công nghệ phải như một đội bóng, ai cũng phải giỏi, được đặt đúng ở chỗ mà họ giỏi nhất và không ai thay ai được, càng không thể bỏ trống vị trí nào. Từng người phải giỏi và cũng phải “hiếu chiến” như nhau mới chiến thắng được.Hai bạn trẻ Việt nam là Sonny Vũ và Kiều Trang đã truyền lửa và tạo được niềm tin giữa họ, chỉ vì một cái gốc quan trọng: họ tin khi được tạo điều kiện và phát huy đúng mực thì, cái gì kỹ sư Hoa Kỳ làm được thì kỹ sư Việt nam cũng làm được.    Vài gợi ý cho trường hợp Việt Nam  Tôi hỏi Kiều Trang vậy các bạn thử  đề nghị những gì cần làm cho việc đẩy mạnh  hoạt động sáng tạo trong các doanh nghiệp ở Việt Nam? Không ngần ngừ Kiều Trang nói, vấn đề mà cô thường trao đổi với ba (bố của Kiều Trang là ông Lê Ván Trí, nguyên Phó Tổng Giám Đốc Casumina) là, Việt Nam có thuận lợi lớn là lãnh đạo các công ty sản xuất (thường sử dụng công nghệ mới) hầu như đều là những người xuất thân từ sản xuất, am hiểu và yêu thích lãnh vực sản xuất. Cái họ thiếu là thường không xác định được khách hàng là ai, họ cần gì (về đủ mặt, chứ không như các nhà sản xuất Việt Nam thường chỉ coi năng về công năng); làm sao để sản phẩm cạnh tranh được, bán được. Vì cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, tốc độ làm mới sản phẩm và tung sản phẩm mới phải nhanh và bảo mật, doanh nghiệp cần xây dựng một đội ngũ R&D cơ hữu nằm bên trong doanh nghiệp. Khi hoạt động, nếu cần, họ có thể nhờ đến cố vấn của Viện, trường để xử lý vấn đề kỷ thuật, công nghệ nền tảng. Thế mạnh của các trường, Viện của Việt Nam là lòng say mê khoa học, lòng tự trọng khoa học, rất chịu khó chịu cực của các nhà khoa học. Trong những môi trường mới, khi hiệu quả nghiên cứu đo lướng được bằng hiệu quả kinh doanh, có thể họ sẽ thay đổi dần dần, dù thay đổi ở một độ tuổi đời tuổi nghề nhất định là rất khó, rất chậm… Cơ bản là các doanh nghiệp hãy tin các nhà khoa học, đặc biệt là các bạn trẻ, tạo điều kiện và đồng hành với họ thật cụ thể ngay từng động thái nho nhỏ bình thường để hình thành nếp nghĩ mới, cung cách hành động phù hợp. Ngoài ra chúng ta cần phải thay đổi nội dung đào tạo kỹ sư công nghệ ở các trường đại học. Khi tôi học MBA trường quản trị kinh doanh SLOAN của Đại Học Công Nghệ kỹ thuật Massachusset MIT, hàng ngày làm việc với Vườn ươm công nghệ của nhà trường, tôi thấy có một điều khác cơ bản, tất cả sinh viên ở đây, bất kỳ học cái gì họ cũng đều hỏi, học để làm gì, có làm được sản phẩm gì có ích, sản phẩm sẽ bán được không? Họ tự đầu tư tất cả trí lực thời gian để theo đuổi mọi tiến bộ mới nhất về công nghệ, cả phần cứng lẫn phần mềm, để không bị rớt ra ngoài cuộc đua thị trường và đó là yếu cầu sống còn của họ ngay từ khi còn ở nhà trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia – tình hình Việt Nam và bài học quốc tế      Bài viết chia sẻ những bài học kinh nghiệm thực tế từ quá trình xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp tại bang Ohio, Hoa Kỳ.    Logo của chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp OTFKhởi nghiệp: trào lưu mới của quốc gia  Nếu như khoảng 10 năm trước đây, các khái niệm như “doanh nghiệp khởi nghiệp” (startup), “quỹ đầu tư mạo hiểm” (venture capitals), hay “nhà đầu tư thiên thần” (angel investors) vẫn còn khá xa lạ với xã hội Việt Nam thì nay thật không khó để bắt gặp thông tin về những vấn đề này trên các phương tiện thuyền thông. Các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp của các doanh nghiệp thành công, những tọa đàm trao đổi về chiến lược kinh doanh, marketing, kêu gọi vốn đầu tư cho khởi nghiệp được tổ chức đều đặn và quảng bá thường xuyên trên các trang thông tin sự kiện lớn như Sukienhay.com hay Ticketbox.vn. Không dừng lại ở đó, những sự kiện ở quy mô thành phố, quốc gia đã và sắp diễn ra như Ngày hội Khởi nghiệp & Công nghệ Việt Nam (TechFest Vietnam) vào tháng 5/2015, cuộc thi Bánh xe Khởi nghiệp 2015 (Startup Wheel) do Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (BSSC) trực thuộc Hội LHTN Việt Nam và Hội Doanh nhân trẻ TPHCM (YBA) đồng tổ chức vào tháng 8/2015, Sự kiện khởi nghiệp Startup Fair tại Đà Nẵng vào tháng 11/2015 v.v… đang thật sự góp phần đem các thông tin, kiến thức về các hoạt động khởi nghiệp đến gần hơn với cộng đồng.  Bên cạnh các sự kiện, các hoạt động liên quan đến đào tạo, huấn luyện khởi nghiệp cũng đang xuất hiện ngày một nhiều và hướng đến các đối tượng đa dạng từ doanh nghiệp khởi nghiệp đến các huấn luyện viên, những tổ chức, cá nhân hỗ trợ khởi nghiệp, tiêu biểu có thể kể tới chương trình đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp trong 2 tháng của Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP), chương trình đào tạo khởi nghiệp của Hội đồng Anh với các chuyên gia đào tạo đến từ Anh Quốc, chương trình huấn luyện khởi nghiệp IstartX do Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức v.v…  Các CLB/Quỹ của các nhà đầu tư thiên thần (nhà đầu tư cá nhân cho khởi nghiệp) cũng dần được hình thành như CLB Hatch!Angels của một số nhà đầu tư thiên thần tại Hà Nội, CLB nhà đầu tư thiên thần thuộc CLB Doanh nghiệp Dẫn đầu (LBC) tại TP HCM, Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Vietnam Startup Foundation – VSF) do chủ nhiệm Đề án Thương mại hóa công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon tại Việt Nam – trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đứng đầu, Quỹ Seed For Action (Ươm mầm hành động) do các nhà đầu tư người Việt Nam ở nước ngoài khởi xướng,…  Cùng với đào tạo và các sự kiện quảng bá, kết nối, có thể thấy các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam hiện nay đang có không ít cơ hội để có thể kêu gọi nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế. Mới đây, sự quan tâm của xã hội đối với hoạt động khởi nghiệp tiếp tục được khẳng định một cách mạnh mẽ qua cuộc gặp mặt lần đầu tiên giữa Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và lãnh đạo các Bộ, ngành với cộng đồng khởi nghiệp để trao đổi, thảo luận về những khó khăn tồn tại và định hướng phát triển của hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam.  Nhu cầu về một hệ sinh thái khởi nghiệp  Tuy phát triển nhanh nhưng sự thật là đa số các hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam vẫn diễn ra một cách tự phát, chưa có hệ thống và sự kết nối chặt chẽ, thậm chí có ý kiến cho rằng nhiều hoạt động, sự kiện chỉ mang tính “phong trào” mà chưa thực sự giúp ích được hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Bên cạnh đó, từ trước đến nay cũng chưa có một nghiên cứu chính thức nào về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam (chỉ có con số sơ bộ khoảng hơn 1000 doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực CNTT do tạp chí Techinasia tổng hợp), năng lực và lĩnh vực kinh doanh của họ, cũng chưa có thống kê chính thức về các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, các sự kiện khởi nghiệp từ cấp tỉnh, thành phố cho đến cấp quốc gia. Những khó khăn về mặt thông tin và kết nối như vậy đang kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Việt Nam đang cần một “hệ sinh thái khởi nghiệp” nơi mọi đối tượng từ nhà đầu tư, huấn luyện viên khởi nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức ươm tạo, thúc đẩy kinh doanh có thể kết nối với nhau để có thể hỗ trợ một cách hiệu quả, đồng hành với doanh nghiệp khởi nghiệp trong cả quả trình phát triển, từ giai đoạn ý tưởng đến ươm mầm, tiếp cận thị trường, mở rộng quy mô và phát triển ổn định (thoái vốn).  Ohio Third Frontier – bài học cho Việt Nam  Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, ngày 25/08/2015 Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN đã tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của bang Ohio, Hoa Kỳ. Tại hội thảo, bà Lisa Delp, một trong những chuyên gia cố vấn của Chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp Ohio Third Frontier (OTF) đã có những trao đổi hữu ích với Ban Soạn thảo Đề án và các đại biểu về mô hình hỗ trợ khởi nghiệp của bang Ohio trong vòng 10 năm qua.   Hệ sinh thái khởi nghiệp Ohio có xuất phát điểm khá tương đồng với tình hình hiện tại ở Việt Nam khi nền kinh tế dựa nhiều vào ngành nông nghiệp, không có nhiều các doanh nghiệp khởi nghiệp nổi trội, văn hóa khởi nghiệp mới chỉ đang nhen nhóm, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp và luật của bang không cho phép Nhà nước đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau 10 năm triển khai, OTF đã tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp rất mạnh mẽ với các nguyên tắc cơ bản sau:  1) không hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp mà chỉ hỗ trợ cho các tổ chức trung gian để các tổ chức đó cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hoặc đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp.   Điều này thể hiện sự khẳng định bản thân Nhà nước sẽ không thể lựa chọn được doanh nghiệp “thắng cuộc” trên thị trường mà nhường lại việc lựa chọn đó cho thị trường quyết định. Một khi thị trường đã chọn ra được doanh nghiệp tiềm năng để hỗ trợ, Nhà nước sẽ cùng chia sẻ nguồn lực, rủi ro với các hỗ trợ đó để cùng đẩy nhanh quá trình phát triển của doanh nghiệp và giúp nhiều hơn các doanh nghiệp được hỗ trợ nâng cao năng lực, hỗ trợ về vốn.  2) không hỗ trợ cho từng tổ chức đơn lẻ mà lựa chọn các nhóm các tổ chức trung gian liên kết để cùng hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại một vùng, một lĩnh vực nhất định; Nhóm liên kết phải có đủ khả năng để hỗ trợ một cách hoàn thiện chuỗi quá trình phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp (ý tưởng – hoàn thiện công nghệ – thử nghiệm thị trường – mở rộng quy mô – phát triển ổn định).  Nếu các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp hoạt động một cách riêng rẽ sẽ dẫn đến việc từng đơn vị có thể làm quá nhiều (cung cấp các dịch vụ phục vụ tất cả các đối tượng khởi nghiệp hoặc tất cả các bước trong quá trình khởi nghiệp mà không thực sự có chuyên môn sâu về lĩnh vực hỗ trợ nào cụ thể khiến cho các hỗ trợ mang tính hời hợt, hình thức), hoặc làm quá ít (ví dụ đơn vị làm sự kiện khởi nghiệp sinh viên chỉ làm đến mức tạo ra cuộc thi để có đội thắng, đội thua nhưng không mang được các dự án có tiềm năng đến tay của cơ sở ươm tạo chuyên sâu để hỗ trợ nhóm sinh viên tiếp tục được huấn luyện, nâng cao năng lực để trở thành doanh nghiệp khởi nghiệp thực thụ).  Nguyên tắc này đảm bảo được các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp phải thực sự kết nối với nhau và đưa doanh nghiệp từng bước qua cả quá trình khởi nghiệp một cách thuận lợi nhất (ví dụ đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp ở bước ý tưởng sẽ kết nối với cơ sở ươm tạo để giúp phát triển những ý tưởng thật sự có tiềm năng; cơ sở ươm tạo sẽ phải kết nối với các tổ chức hỗ trợ về việc sản xuất thử nghiệm, marketing, tư vấn luật pháp, sở hữu trí tuệ để các doanh nghiệp sau khi hoàn thiện công nghệ thì có thể nhanh chóng xây dựng được sản phẩm/dịch vụ mẫu để đưa ra thử nghiệm thị trường và sau khi chứng minh được thị trường có thể xây dựng thương hiệu, mở rộng hoạt động kinh doanh).  3) Hỗ trợ của Nhà nước được thể hiện dưới dạng đối ứng vốn với các tổ chức trung gian đang tồn tại.  Điều này đảm bảo được Nhà nước không “tự nghĩ ra” các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp mới mà nâng cao năng lực, quy mô hoạt động của những tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp đang tồn tại và đã chứng minh được hiệu quả của họ trên thị trường. Tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp có thể đối ứng bằng tài chính hoặc bằng dịch vụ của mình. Ví dụ, một câu lạc bộ nhà đầu tư thiên thần sẽ đối ứng bằng chính khoản tiền mình đầu tư cho doanh nghiệp, chẳng hạn họ đầu tư 10,000 USD thì nhà nước có thể đối ứng thêm 10,000 USD nữa. Nhưng một văn phòng luật sư có thể đang cung cấp 20 giờ/tuần tư vấn miễn phí hoặc ít phí cho khởi nghiệp và dùng dịch vụ đó để đối ứng với khoản tiền nhà nước trả để họ cung cấp thêm 20 giờ/tuần nữa, như vậy có thể giúp họ hỗ trợ được gấp đôi nhu cầu của doanh nghiệp.  4) Cơ chế tuyển chọn dựa trên ý kiến của Hội đồng tuyển chọn và Ban cố vấn Chương trình là những nhà đầu tư, chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp có nhiều kinh nghiệm, được tuyển chọn dựa trên hồ sơ đăng ký độc lập. Hội đồng tuyển chọn có thể có một vài đại diện của Nhà nước nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Hội đồng tuyển chọn làm việc dựa trên trên tinh thần tự nguyện và tình nguyện (thậm chí không cần trả lương). Chỉ có Ban cố vấn Chương trình, những người thực hiện việc rà soát thông tin hồ sơ đăng ký, đánh giá trước thì có thể được trả lương công tác.  Toàn bộ quá trình tuyển chọn được công khai trên trang thông tin điện tử của Chương trình và thông qua các buổi tuyển chọn có sự tham gia của tất cả những người dân mong muốn chứng kiến;   Điều này đảm bảo được Chương trình có tính minh bạch một cách tuyệt đối, nâng cao hiệu quả chọn lựa. Hơn nữa giảm thiểu được tối đa các hoạt động quản lý, hành chính liên quan đến Chương trình.  5) Không phải doanh nghiệp khởi nghiệp mà các tổ chức được hỗ trợ phải báo cáo về hoạt động của mình và sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua hệ thống phần mềm chung.  Điều này giảm tải trách nhiệm và thủ tục báo cáo của doanh nghiệp mà chuyển trách nhiệm đó cho tổ chức hỗ trợ.  Các tổ chức hỗ trợ có thể cùng báo cáo về tình hình phát triển của một doanh nghiệp sẽ đảm bảo tính xác thực của thông tin.  6) Hiệu quả của Chương trình được đánh giá bằng số việc làm mà doanh nghiệp tạo ra và số vốn tư nhân mà các doanh nghiệp khởi nghiệp thu hút được.  Điều này khẳng định đó trách nhiệm của những người quản lý Chương trình không phải là trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn. Kể cả khi nhà nước không trực tiếp thu lại được số tiền mà mình bỏ ra thì hiệu quả cộng hưởng về mặt xã hội mới là quan trọng.  Hơn nữa, khi có thêm các doanh nghiệp được thành lập và phát triển tốt, nhà nước có thể thu lại được nhiều hơn từ các khoản thuế thu nhập của doanh nghiệp đó.   Những kinh nghiệm của bang Ohio được các đại biểu tại Hội thảo và Ban Soạn thảo cho rằng rất phù hợp để áp dụng tại Việt Nam, đặc biệt là khi sự liên kết giữa các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp của nước ta còn yếu và vấn đề về tính minh bạch, hiệu quả của nguồn vốn đầu tư nhà nước đang được xã hội quan tâm. Sau buổi hội thảo và thời gian trao đổi sâu với chuyên gia, Ban Soạn thảo đã tiếp thu một số kinh nghiệm của bang Ohio để sửa đổi, bổ sung vào Dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án.  Mô hình tổ chức của Third Frontier  Cơ chế hoạt động của Third Frontier   Kết luận  Xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp là một nhiệm vụ khó khăn, dài hạn và chưa có tiền lệ tại Việt Nam. Do đó, trong quá trình thực hiện, sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và các đơn vị tư nhân, chuyên gia có kinh nghiệm là vô cùng cần thiết để các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến gần hơn với cộng đồng, đồng thời những hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp được thực hiện chuyên nghiệp, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trên chặng đường phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.        Author                Phan Hoàng Lan        
__label__tiasang Xây dựng Hệ tri thức Việt số hóa để phổ biến tri thức và hỗ trợ đổi mới sáng tạo      Ngày 18/5/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phê duyệt Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa” nhằm  tổng hợp, hệ thống hóa, Việt hóa, số hóa, lưu trữ và phổ biến tri thức trong mọi lĩnh vực, trước hết là hỗ trợ cho giáo dục đào tạo, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống; tạo môi trường thuận lợi thu hút mọi người dân và doanh nghiệp tham gia; góp phần phát triển công nghiệp nội dung số của Việt Nam.      Dự án số hoá thư tịch Hán Nôm thực hiện tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. Ảnh: NomFoundation  Ban chỉ đạo Đề án sẽ do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban Chỉ đạo, Bộ trưởng Bộ KH&CN làm Phó trưởng ban và đại diện Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một số cơ quan, đại diện khối doanh nghiệp và cộng đồng. Bộ KH&CN sẽ giữ vai trò điều phối chung việc triển khai Đề án; tổng hợp, theo dõi và đánh giá mức độ phát triển của Hệ tri thức Việt số hóa để tham mưu, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện Hệ tri thức Việt số hóa; hỗ trợ các nhóm chuyên gia trong công tác tư vấn, chuẩn hóa tri thức.  Để thực hiện đề án, tháng 7/2017, sẽ thành lập Nhóm nòng cốt gồm khoảng 20 doanh nghiệp triển khai xây dựng Hệ tri thức Việt số hóa và tháng 8/2017, chuẩn bị hạ tầng, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật của hạ tầng và các công cụ cần thiết khởi tạo Hệ tri thức Việt số hóa. Lễ phát động triển khai Đề án sẽ diễn ra vào tháng 9/2017.  Một số ứng dụng trong lĩnh vực luật, y tế, giáo dục, nông nghiệp và thử nghiệm mô hình tương tác cộng đồng ở một số địa phương sẽ được thực hiện vào cuối năm 2017, năm 2018 sẽ tạo lập và phát triển nội dung của Hệ tri thức Việt số hóa; mở rộng xây dựng các ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực trên quy mô toàn quốc; triển khai Hệ tri thức Việt số hóa trên website, ứng dụng di động, ứng dụng thông minh, IoT, tài nguyên giáo dục mở, dịch vụ giá trị gia tăng của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông…  Từ năm 2019, tiếp tục phát triển và thúc đẩy khai thác sâu Hệ tri thức Việt số hóa để trở thành một hệ sinh thái số do người Việt làm chủ, có năng lực tích hợp mọi tri thức, thông tin, dữ liệu công cộng, tài nguyên số của Việt Nam.    Author                T. H        
__label__tiasang Xây dựng lực lượng giám sát tài nguyên biển Việt Nam      Để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển và đối phó với tầu thuyền của ngư dân và các lực lượng giám sát biển nước ngoài xâm phạm vào vùng biển Việt Nam, Việt Nam cấp thiết phải thành lập lực lượng thực thi pháp chế-giám sát tài nguyên trên biển nhằm góp phần bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.    Hiện tại trên Biển Đông, Trung Quốc đang dân sự hóa các lực lượng vũ trang và sửa dụng các lực lượng này để trấn áp không phải đối với những đối tượng khai thác trái phép trên vùng biển của họ, mà là trấn áp những ngư dân và tàu thuyền nghiên cứu của nước khác hành xử trên biển với tất cả các tàu thuyền trên Biển Đông và đang gây ra sự bối rối rất lớn cho các cơ quan quản lý biển dân sự của Việt Nam trong việc tìm những phương thức, đối sách tương đương để ứng phó trên các vùng biển của chính mình.  Trong khi đó việc giám sát khai thác tài nguyên vùng ven biển 28 tỉnh và ngoài khơi của nước ta còn nhiều điều chưa hợp lý. Công việc quản lý, thanh kiểm tra ngư nghiệp tuy đã có, nhưng chưa có hiệu quả gây ra việc đánh bắt không trật tự, không phép giữa tàu thuyền các tỉnh ven biển, tàu nước ngoài và bằng các phương pháp hủy diệt như thuốc nổ, tàu cào dẫn đến nguồn lợi ven bờ suy giảm nghiêm trọng. Tàu thuyền ngư dân Việt Nam vẫn còn vi phạm vào các vùng biển chủ quyền quốc gia khác. Trật tự, pháp lý trên biển còn chưa được thực thi nghiêm chỉnh đối với nghề khai thác tài nguyên biển như: hải sản, dầu khí và khoáng sản khác trên biển, với các khu bảo tồn biển-đa dạng sinh học biển, với các bãi cá, các loài động vật biển quý hiếm và các khu có hệ sinh thái san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn.   Năm 2008, Chính phủ đã thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam(1) với chức năng nhiệm vụ quản lý tổng hợp và thống nhất biển và hải đảo, nhưng thực tế Tổng cục chưa có lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên biển để thực thi pháp chế trên biển, nên công tác quản lý biển hầu như chưa thực hiện được gì. Lực lượng này cần phải được trang bị tàu thuyền và máy bay dân sự giám sát tài nguyên biển đối với toàn vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Nếu không có lực lượng giám sát tài nguyên và lãnh thổ biển đối với vùng ven bờ và vùng đặc quyền kinh tế thì chúng ta khó có thể đảm bảo thực thi luật pháp trên biển và việc phát triển kinh tế biển sẽ rất khó khăn và khó đạt mục tiêu đóng góp 53-55% vào năm 2020 như Chiến lược biển Việt Nam năm 2007 đã đề ra(2).             Lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên – lãnh thổ biển TQ   TQ là quốc gia có đủ cả 6 lực lượng thực thi pháp luật trên biển, bao gồm hải quân, cảnh sát biển, tuần tra biển, giám sát biển, hải quan và ngư chính. Đội tàu “hải giám”- chính là một phần lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên biển TQ, thuộc Tổng cục Hải dương- Bộ Tài nguyên và Đất đai TQ.    Tổng đội tàu hải giám Nam Hải tính tới nay đã có 12 năm lịch sử (được thành lập vào ngày 14.6.1999). Tính đến năm 2010, tổng đội Nam Hải này đã có 13 con tàu, 3 máy bay, 25 xe hơi chuyên dụng. Để giải quyết vấn đề này, từ năm 2011 đến 2016 TQ lập kế hoạch sẽ đóng mới 30 chiếc tàu tuần tra biển, tức là với tần suất 6 tàu/năm.   Hiện tổng đội Nam hải có 2 chiếc Hải giám 83 và 84 rất hiện đại được mệnh danh là “lá cờ đầu” của lực lượng “giám sát biển” TQ đã được biên chế cho Phân cục Nam Hải. Đây là những chiếc tàu tuần tra biển tiên tiến nhất, hiện đại nhất của TQ hiện nay.    Tàu “Hải giám TQ 83” có lượng giãn nước 3980 tấn, được trang bị hệ thống truyền dẫn thông tin – hình ảnh hiện đại, được biên chế phối thuộc một trực thăng số hiệu B-7112 thuộc dòng trực thăng do TQ tự chế tạo3.   Lực lượng Hải giám TQ gồm tàu thuyền và máy bay đang ở thế mạnh trên biển Đông và đang buộc các quốc gia khác phải thành lập lực lượng tương đương để có thể cùng được hoạt động như Hải giám TQ trên các vùng biển chủ quyền của mình. Các cơ quan quản lý tổng hợp về biển cần phải có phương thức ngồi đàm phán, hợp tác với Tổng Cục Hải dương TQ để phân định ranh giới biển về công ước Luật biển UNCLOS 82, luật biển của từng quốc gia.           Hiện chúng ta đang có quá nhiều cơ quan quản lý biển với vai trò chủ yếu là của lực lượng Hải quân thuộc Bộ Quốc Phòng có phương tiện tàu thuyền-máy bay. Các bộ ngành kinh tế biển chính như Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương, Tập đoàn dầu khí chưa có những phương tiện tàu thuyền và máy bay để giám sát quản lý tài nguyên biển chuyên ngành của mình vùng ven bờ và ngoài khơi. Trách nhiệm quản lý thì đã được giao cho từng bộ, ngành nhưng việc giám sát thực thi pháp luật của chúng ta còn hạn chế – chủ yếu là chỉ khai báo trên đất liền, còn trên biển (trừ vùng sát bờ) thì hầu như không có lực lượng tàu thuyền của cơ quan bộ ngành nào.  Để thực thi pháp chế trên biển chúng ta cần phải sớm:  •    Ban hành Luật Biển Việt Nam và Luật Tài nguyên môi trường biển và cần phải có qui định Lực lượng giám sát tổng hợp TN biển là lực lượng thực thi pháp luật-giám sát tổng hợp trên các vùng biển Việt Nam.  •    Thành lập ngay lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam, trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam với chỉ tiêu tương lai hướng tới đạt tiêu chuẩn 1 tàu/1000km2 và phân vùng và chia ra từng giai đoạn. Từ nay đến 2020 cố gắng chuyển đổi và đóng mới khoảng 30 tàu từ 1000-4000 tấn cho khu vực biển Trung Bộ.  •    Tiến tới xây dựng Hệ thống giám sát tài nguyên và lãnh thổ biển thống nhất bằng các phương tiện: vệ tinh VINASAT, máy bay do thám có và không người lái, lực lượng giám sát biển, các tàu thuyền hải quân, vận tải, ngư chính, đánh cá, các trạm, phao nghiên cứu khoa học.  •    Đề xuất với ASEAN và Trung Quốc thành lập ủy ban hỗn hợp hay quốc tế về Hải giám Biển Đông nhằm duy trì trật tự, hòa bình và tăng cường an ninh, hợp tác quốc tế.  ***  Nhằm duy trì phát triển kinh tế biển và an ninh quốc phòng ổn định của Việt Nam và các quốc gia khu vực Biển Đông, việc hoạt động của các tàu giám sát tổng hợp tài nguyên biển của các quốc gia cần được công khai minh bạch và đưa lên bàn đàm phán quốc tế. Nếu ở tầm khu vực thì các nước ASEAN cần thành lập một tổ chức hay ủy ban quốc tế nhằm kiểm soát hoạt động lực lượng giám sát biển sát biển của các nước trên Biển Đông để tăng cường lòng tin và duy trì sự hiểu biết lẫn nhau và đối phó với các hoạt động xâm phạm phá hoại của các lực lượng hải giám của Trung Quốc. Cần có sự thống nhất từ các nhà lãnh đạo về phương thức, giải pháp để các cơ quan quản lý dân sự về Biển của các quốc gia Biển Đông như Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Tổng Cục Hải dương Trung Quốc, Bộ công tác biển Indonexia,.. có các cuộc họp, trao đổi thường kì, thường niên để tránh xung đột tiếp diễn về giám sát tài nguyên biển. Dĩ nhiên chúng ta cũng cần phải cân đối các khả năng hợp tác thật chặt chẽ với các nước có cùng nhu cầu và lý tưởng về biển đảo để tránh đầu tư du thừa và chảy máu tài chính của đất nước.   —  Tài liệu tham khảo  1. Quyết định 116/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam  www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33…  2. Chiến lược Biển Việt Nam  http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30463&cn_id=239397  3. http://vtc.vn/10-264833/quoc-te/tin-tuc/tq-se-dong-moi-30-tau-tuan-tra-tren-bien-dong.htm       Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Xây dựng máy tính theo cách não người hoạt động      Chúng ta đang tiến gần tới giới hạn phát triển của các bộ vi xử lý. Do đó, GS. Gunnar Tufte Đại học KH&CN Na Uy (NTNU) đề xuất xây dựng máy tính theo cách hoàn toàn mới, từ bộ não con người và công nghệ nano.    Ông coi máy tính là phép lạ trong thế giới hiện đại nhưng cho rằng các linh kiện bán dẫn của chúng sắp hết vai trò. “Đã đến lúc cần phải suy nghĩ lại về máy tính bởi chúng vẫn đang được chế tạo theo nguyên tắc như cách đây 60-70 năm”, Tufte nhận xét. Trong hơn nửa thế kỉ nay, cứ sau mỗi 2 năm thì tốc độ các bộ vi xử lý lại tăng lên gấp đôi. Tufte tin rằng sẽ không thể theo kịp tốc độ đó lâu hơn. Việc giảm số lượng cấu phần khiến máy móc trở nên không đáng tin cậy, nhưng việc tăng số lượng các bộ phận lại khiến chúng tiêu tốn nhiều năng lượng hơn. Một trung tâm dữ liệu điển hình tiêu thụ năng lượng tương đương 40.000 hộ gia đình và sự phức tạp ngày càng tăng khiến chúng trở nên quá đắt đỏ khi sản xuất chế tạo.   Tufte tin máy tính nên có những đặc điểm của bộ não. “Bộ não cung cấp hiệu suất ổn định mặc dù các phần cấu thành không ổn định. Nó đòi hỏi rất ít năng lượng và có một quá trình tự tổ chức thiết kế. Nếu tìm được cách chuyển các thuộc tính này từ mạng thần kinh sang máy tính, ta sẽ cách mạng hóa được việc chế tạo máy tính”.  Bộ não thực hiện rất nhiều nhiệm vụ giống máy tính như xử lý thông tin, thực hành kiểm soát và có bộ nhớ nhưng cấu trúc của nó lại hoàn toàn khác với máy tính hiện nay. Các tế bào não có khả năng tự tổ chức và chúng tạo nên kiến ​​trúc riêng của mình với khả năng thích nghi liên tục mà không có bất kì kế hoạch chuẩn bị nào. Trong khi máy tính phải được lập trình để thực hiện các nhiệm vụ mới hoặc thích nghi với các công nghệ khác, bộ não lại có khả năng học hỏi.   “Mỗi tế bào đảm trách hai nhiệm vụ vừa là thợ vừa là thầy. Mặc dù rất phức tạp nhưng mạng lưới thần kinh cũng bắt đầu từ những bước đơn giản. Sinh vật phải thích nghi với môi trường và thế giới, nhưng khi chúng ta chế tạo máy thì mọi thứ lại diễn ra ngược lại. Máy tính được xây nên gồm các bộ phận đã được dự kiến và chế tạo trước một cách chính xác. Chúng được lắp ráp theo một bản kế hoạch lớn để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Ngay từ đầu, một cỗ máy đã rất phức tạp nhưng lại không có khả năng phát triển thêm”, Tufte chia sẻ.  Việc xây dựng loại máy tính dựa trên não người sẽ đòi hỏi phần cứng hoàn toàn khác so với những thứ máy móc hiện nay đang dùng. Ý tưởng này được theo đuổi trong một dự án nghiên cứu SOCRATE kéo dài đến năm 2022, một phần được Hội đồng nghiên cứu Na Uy tài trợ.   Nam châm nano là một cách tiếp cận vì “dễ chế tạo, dễ mở rộng quy mô bởi chúng khá đơn giản và cần ít năng lượng. Bằng việc cho chúng tự tổ chức, chúng ta không phải phụ thuộc vào từng cấu phần riêng lẻ. Một hoặc nhiều thành phần trong đó có thể khác biệt mà không gây sai lệch đến kết quả”, ông nói. Nam châm nano đã được sản xuất trong phòng thí nghiệm Nanolab của NTNU. Nhóm của Tufte đang hợp tác với các đồng nghiệp tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ETH, Đại học Sheffield (UK), Đại học Ghent (Bỉ), Đại học Oslo Metropolitan (Na Uy) và Đại học York (UK).   Tufte cho biết sự quan tâm đầu tư tài chính cho các nghiên cứu về lựa chọn thay thế bộ xử lý silicon đã tăng vọt trong vòng 5-6 năm qua. Hiện tại có những nghiên cứu như sử dụng nano ống carbon và một loạt các giải pháp khác. Ông cho rằng thế giới chắc chắn sẽ tồn tại ngay cả khi máy tính ngày nay không trở nên mạnh hơn, nhưng phát triển máy tính hiệu quả hơn sẽ có những tác động môi trường rõ rệt. □    Ngô Hà dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2019-08-brains.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng Nông thôn mới gắn với phát triển nông nghiệp sinh thái      Liệu những địa phương nơi người dân được cải thiện các điều kiện cơ sở vật chất, nhưng lại sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, chất cấm trong sản xuất nông nghiệp, gây tổn hại cho cộng đồng xã hội và môi trường, có thể được coi là đạt yêu cầu về xây dựng Nông thôn mới?       Hiện nay các chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn mới của chúng ta trên cùng một địa bàn vẫn tách rời nhau và phát triển nông nghiệp chưa thể là một hợp phần thực sự và là động cơ chính của phát triển nông thôn. Ta hãy nhìn lại mục tiêu của  phát triển nông thôn là gì? Là thay đổi bộ mặt nông thôn, thay đổi điều kiện sống ở nông thôn để nông dân, đặc biệt là nông dân trẻ có thể sinh cơ lập nghiệp ở nông thôn mà không phải di cư ra thành thị, phát triển sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, bảo tồn các bản sắc văn hóa địa phương, nông thôn, qua đó phát triển kinh tế nông thôn, giảm bớt khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.  Nhưng liệu có thể có xã huyện Nông thôn mới mà ở đó sản phẩm nông nghiệp cung cấp ra vẫn chưa đảm bảo an toàn, vẫn sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, chất cấm trong chăn nuôi và tất nhiên là điều kiện sống của người sản xuất vẫn chưa được đảm bảo trên khía cạnh môi trường, sức khỏe? Một số huyện hay xã đã đạt Nông thôn mới, nhưng sản phẩm rau thịt lợn của vùng này bán ra còn rất nhiều vấn đề về an toàn thực phẩm, ngoài tầm kiểm soát – là vấn đề bức xúc lớn nhất của xã hội hiện nay. Nông thôn mới có phải là giúp nông dân kiếm tiền bằng mọi cách để nâng cao thu nhập mà lại đang hủy hoại các giá trị môi trường và trách nhiệm xã hội?   Rõ ràng, phát triển nông thôn không thể tách rời phát triển nông nghiệp là hoạt động cơ bản ở nông thôn. Vậy nông nghiệp phục vụ phát triển nông thôn bền vững là nông nghiệp gì?        Chương trình Mục tiêu  quốc gia Xây  dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 cần bổ sung tiêu  chí ưu tiên kết  hợp chặt chẽ với các nội dung  phát triển nông nghiệp  sinh thái, an toàn  và bền vững theo tiêu chí An toàn thực phẩm và An  ninh lương thực.        Một trong những giải pháp cho nông nghiệp an toàn, không hủy hoại môi trường mà vẫn đảm bảo năng suất là Nông nghiệp sinh thái (bao gồm các thực hành hữu cơ, nông lâm kết hợp, nông nghiệp bảo tồn, thâm canh lúa cải tiến-SRI, vườn ao chuồng, quản lý dịch hại tổng hợp IPM…). Trên thế giới hiện nay có phong trào Cách mạng xanh lần thứ hai, hay còn gọi là Nông nghiệp sinh thái. Nông nghiệp sinh thái áp dụng các nguyên tắc thâm canh sử dụng nguyên lý sinh thái, canh tác tiết kiệm tối ưu hóa chất, sử dụng các kiến thức bản địa là một phương thức nông nghiệp thích ứng thông minh với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh lương thực.   Nông nghiệp sinh thái trước đây được coi là năng suất thấp, tuy nhiên gần đây người ta đã chứng minh rằng nông nghiệp sinh thái có thể cho năng suất tương đương với nông nghiệp cách mạng xanh sử dụng hóa chất mà lại bền vững hơn.      Bài học từ Đài Loan  Vừa rồi tôi đi Đài Loan, thấy Chương trình Tái thiết nông thôn của họ lấy Nông nghiệp sinh thái làm trụ cột chính của nội dung phát triển nông thôn. Tuy nhiên cách làm của họ khác của ta mặc dù cũng là do Nhà nước hỗ trợ cộng đồng phát triển. Mục tiêu của chương trình là để chăm sóc nông dân, ngư dân ở các làng nông nghiệp và nuôi cá trên khắp Đài Loan tạo ra các ngôi làng Hy vọng với ba tiêu chí. Sức sống nhằm thu hút thanh niên từ thành phố về nông thôn, bằng môi trường sống tốt; Sức khỏe nhằm tạo một nền nông nghiệp sinh thái, an toàn, phát thải thấp tốt cho sức khỏe của mọi người và Hạnh phúc nhằm bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần của các cộng đồng”.   Về phương thức thực hiện, họ tập trung vào điều quan trọng nhất trong việc tái thiết nông thôn là con người, cho rằng chỉ có thông qua sự gia tăng tự nhận thức của người dân, sau đó mới có thể thay đổi. Chương trình Trao quyền cho cộng đồng là bước đầu tiên của việc đào tạo con người của Tái thiết nông thôn, thông qua bốn khóa học thích hợp và để cho các cư dân phụ trách việc xây dựng của mình và rút ra một tầm nhìn cho các cộng đồng nông thôn. Việc phát triển các kế hoạch hành động và các khóa học thực tế để cho người dân có thể tự mình làm được, thực hiện các kế hoạch chi tiết và cùng nhau xây dựng các phương hướng hoặc phát triển nông thôn và kế hoạch chi tiết trong tương lai. Sau Chương trình Trao quyền là xây dựng dự án Tái thiết nông thôn. Dự án Tái thiết nông thôn được các tổ chức và các nhóm địa phương lập kế hoạch dựa trên nhu cầu của cư dân trong cộng đồng nông thôn, sử dụng các cộng đồng nông thôn như phạm vi dự án và đạt được sự đồng thuận thông qua thảo luận chung, sau đó đề xuất các chiến lược phát triển cộng đồng và kế hoạch hành động. Các nội dung được thực hiện bao gồm cải thiện môi trường tổng thể của các cộng đồng nông thôn, xây dựng công trình công cộng, cải tạo nhà cá nhân, phát triển sản xuất kinh doanh, bảo tồn và khai thác văn hóa bản địa, và bảo tồn môi trường sinh thái. Khái niệm cộng đồng ở Đài Loan cũng được nhấn mạnh, thực sự là một hiệp hội địa phương đóng vai trò tổ chức thực hiện các chương trình tái thiết nông thôn. Các dự án nông nghiệp sinh thái thường được thiết kế với sự tham gia của cả cộng đồng, trong cả thung lũng thì mới đảm bảo nguyên tắc nông nghiệp sinh thái.   Về mặt chính sách, Chính phủ Đài Loan xét duyệt các dự án và cấp tiền trợ cấp. Nhà nước còn hỗ trợ thông qua các chính sách thu hút khách du lịch, khuyến khích cán bộ nhà nước về tham gia chia sẻ mua bán sản phẩm nông nghiệp sinh thái với cộng đồng với hình thức là học tập về môi trường. Như vậy nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tạo môi trường thuận lợi để nông dân tiếp cận thị trường. Thu nhập của nông dân trong các dự án này giai đoạn đầu rất thấp, tuy nhiên họ vẫn kiên trì làm và đến nay thì thu nhập khá cao, sản phẩm nông nghiệp sinh thái không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Sở dĩ nông dân vẫn kiên định với định hướng vì họ đã nhận thức đúng thông qua các khóa đào tạo và tin tưởng ở chính sách nhất quán của nhà nước.  Từ kinh nghiệm Đài Loan và thực tiễn vừa qua ở Việt Nam chúng tôi thấy rằng Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 cần bổ sung tiêu chí ưu tiên kết hợp chặt chẽ với các nội dung phát triển nông nghiệp sinh thái, an toàn và bền vững theo tiêu chí An toàn thực phẩm và An ninh lương thực. Để làm được thì các hoạt động nghiên cứu phát triển khuyến nông cần phối hợp chặt chẽ với nông thôn mới để đào tạo cán bộ và nông dân thay đổi nhận thức. Các dịch vụ nghiên cứu chuyển giao công nghệ xanh cần được thúc đẩy để sẵn sàng tư vấn, đào tạo cho nông dân dưới dạng thị trường công nghệ. Một yếu tố quan trọng khác là thúc đẩy vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, các tổ hợp tác và hội để thúc đẩy các hành động tập thể và sáng kiến tập thể trong nông thôn mới. Vấn đề hợp tác xã nông nghiệp cần được thay đổi căn bản về chính sách thúc đẩy một cách khả thi chứ không nên làm hình thức như thời gian vừa qua, một số nơi chỉ giữ hợp tác xã cũ lại cho đủ tiêu chí xét Nông thôn mới. Không có sự đóng góp của các tổ chức nghề nghiệp của nông dân ở nông thôn thì các sáng kiến về nông nghiệp sinh thái khó có thể thực hiện được. Vấn đề kết hợp nông nghiệp sinh thái với du lịch nông thôn, nông nghiệp và quảng bá sản phẩm địa phương cũng sẽ là bước chuyển mới của Nông thôn mới.  Tóm lại, trong giai đoạn 2016-2020, chương trình Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới ở các địa phương cần phối hợp chặt chẽ với nội dung phát triển nông nghiệp bền vững của mỗi địa phương, dựa trên lợi thế cạnh tranh của địa phương mình và thị trường. Nông thôn mới cần gắn với các chuỗi giá trị nông sản an toàn trên địa bàn, tự hào để thu hút khách du lịch đến với địa phương. Trên cơ sở đó mới có cơ sở tăng thu nhập cho nông dân một cách bền vững.        Sau năm năm, Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông  thôn mới, kết quả đạt được theo hệ thống 19 tiêu chí là khá khả quan  với 14,5 % số xã đạt toàn bộ các tiêu chí nông thôn mới, và có 11 huyện  đạt tiêu chí nông thôn mới. Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông  thôn hiện đã đạt 24,4 triệu đồng/năm, tăng khoảng 1,9 lần so với năm  2010.         ———-  * Phó Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng nông thôn mới: Một số vấn đề cần trao đổi      Với Nghị quyết 26, khóa X của Đảng, lần đầu tiên Việt Nam có một văn kiện khẳng định phát triển nông nghiệp, và xây dựng nông thôn mới có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vậy sau gần hai năm thực hiện thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta đang gặp những vướng mắc gì?      Qui hoạch: Hiện nay, chúng ta thiếu chiến lược phát triển nông thôn và qui hoạch cấp vùng, do vậy sự liên kết kinh tế, giữa đô thị và nông thôn, công nghiệp và dịch vụ với nông nghiệp trong không gian vùng không có định hướng rõ ràng; đồng thời cần qui hoạch mạng lưới cụm nông công nghiệp hiện đại (cluster) làm động lực cho phát triển nông nghiệp tại các vùng, ở đó cần có những vùng sản xuất nông nghiệp quản lí hiện đại, sản xuất có quản lí tốt kết nối với công nghiệp, dịch vụ, thị trường.        Mục tiêu của Chương trình:              Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thực tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát , triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.              Thực hiện Chương trình đến năm 2015 có 20% số xã và đến 2020 có 50% số xã trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới theo tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.        Chương trình xây dựng nông thôn mới thực hiện chỉ ở cấp xã. Vì vậy việc qui hoạch nông thôn mới cấp xã, hiện nay đang đồng loạt làm ở nhiều địa phương, gây ra khan hiếm tư vấn, có nhiều tư vấn kém chất lượng, nhiều tư vấn chỉ chuyên ngành thực hiện trợ giúp các xã mà đôi khi cũng không hiểu rằng qui hoạch xây dựng nông thôn mới, khác với qui hoạch chuyên ngành bởi vì nó bao hàm tính chất tổng thể, thể hiện cả chiến lược phát triển nông thôn của xã đó, mà đôi khi từng nhà tư vấn còn thiếu hụt.   Thể chế nông thôn: Xây dựng nông thôn mới, cần thiết xây dựng được thể chế mới ở nông thôn, qui định luật chơi mới trong nông thôn giữa các cộng đồng dân cư, giữa các cộng đồng nghề nghiệp, giữa Nhà nước và cộng đồng, giữa Nhà nước và tư nhân, vai trò của hệ thống dịch vụ công. Những nội dung này, được đề cập trong Nghị quyết 26, nhưng đến thời điểm hiện nay ít được thực hiện trong Chương trình xây dựng nông thôn mới.   Khi chúng ta xây dựng được thể chế mới trong nông thôn, thì xây dựng nông thôn mới không là chương trình dự án của Nhà nước, mà là một quá trình xã hội, do các tác nhân nông thôn tự đầu tư, hành động theo định hướng, điều phối của Nhà nước. Vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, hộ nông dân cần được coi trọng và được thể chế hóa trong các văn bản chính sách, pháp luật.   Huy động vốn đầu tư: Chương trình xây dựng nông thôn mới, là một chương trình khung xây dựng định hướng, nền tảng cho toàn bộ xã hội, các chương trình đầu tư của Nhà nước, dân cư, doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển nông thôn. Nhưng hiện nay, phần lớn hoạt động xây dựng nông thôn mới ở các địa phương vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn Nhà nước, chưa tạo được một động lực đầu tư của nhân dân, toàn xã hội. Nguyên nhân chính của tình trạng này là chúng ta chưa tạo ra một môi trường an toàn đầu tư trong nông nghiệp nông thôn, nhất là về qui hoạch tổng thể, sử dụng đất, hạ tầng. Không một doanh nghiệp, hộ nông dân nào nghĩ đến đầu tư dài hạn, nếu vùng nguyên liệu luôn được qui hoạch thay đổi, chính sách hỗ trợ qui hoạch của Nhà nước không rõ ràng.   Nâng cao năng lực cư dân nông thôn: Là một trong những nhu cầu cấp thiết không chỉ cho sự phát triển của nông nghiệp, nông dân mà có sự quan hệ mật thiết với nhu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa dịch vụ, hiện đại hóa nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần đào tạo để cho một bộ phận lớn dân cư sẽ rời khỏi nông nghiệp, rời nông thôn ra đô thị sinh sống, mặt khác, xây dựng đội ngũ nông dân trẻ, có trình độ đủ sức làm chủ nền nông nghiệp hiện đại cả về công nghệ và quản lí.         Cần thống nhất nhận thức một cách sâu sắc về mục đích, ý nghĩa của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Có thể nói đây là một chương trình nhằm cụ thể hóa một nội dung rất cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là nông nghiệp, nông dân và xây dựng nông thôn mới.               Đó không phải là một dự án đầu tư xây dựng hạ tầng mà là một chương trình phát triển tổng hợp, cả về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, là chương trình cả Đảng và Nhà nước cùng chăm lo phát triển đời sống của nhân dân trên địa bàn nông thôn, hay nói cách khác là chăm lo cho 70% dân số của đất nước.  Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020         Việc cấp thiết hiện nay là đổi mới hình thức tổ chức đào tạo. Nhà nước nên xây dựng một mạng lưới các cơ sở sản xuất, trang trại, dịch vụ tại các thành phố, vùng trong cả nước để họ trở thành mạng lưới liên kết đào tạo. Một thanh niên nông thôn có thể có một thẻ tín dụng đào tạo, anh ta có thể đăng kí học nghề trong các cơ sở sản xuất trong mạng lưới cấp phép, sau đó chính các cơ sở sản xuất sẽ thẩm định trên cơ sở liên kết với trường nghề (Nhà nước, tư nhân) để cấp chứng chỉ nghề. Nguồn ngân sách đào tạo, nên để mở cho đấu thầu tự do cho những cơ sở cung cấp dịch vụ đào tạo nghề. Các sở lao động thương binh xã hội, sở giáo dục, làm nhiệm vụ giám sát, đánh giá hơn là tự tổ chức thực hiện như hiện nay.   Vai trò khoa học công nghệ: Khi xây dựng nông thôn mới, khó nhất, như Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã nhiều lần chỉ đạo, đó là cách làm, phương pháp làm. Do đó, có thể thấy, vai trò của các nhà nghiên cứu trong việc thử nghiệm, nghiên cứu, xây dựng các phương pháp, cách làm. Trong thời gian vừa qua, sự đóng góp của các cơ quan nghiên cứu, viện nghiên cứu cho các vấn đề đặt ra của Nghị quyết 26 Tam nông về xây dựng nông thôn mới, còn chưa tương xứng. Có thể các nhà nghiên cứu chưa thực sự hiểu đầy đủ tầm quan trọng của xây dựng nông thôn mới, thực hiện nghiên cứu đôi khi ít quan tâm đến định hướng chính sách của Nhà nước, nhu cầu thị trường, nhu cầu của xã hội. Cũng có thể, do nguồn kinh phí dành cho các dự án, đề tài về xây dựng nông thôn mới còn eo hẹp.  Vai trò các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài: Chúng ta cần đưa các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo cán bộ, đầu tư theo định hướng của các địa phương, Trung ương trong xây dựng nông thôn mới. Bộ NN & PTNT phối hợp với FAO và các tổ chức Liên Hiệp Quốc sẽ tổ chức diễn đàn quốc tế xây dựng nông thôn mới vào hai ngày 9 và 10 tháng 11. Hy vọng rằng, với sự tham gia của lãnh đạo các tỉnh, Bộ ngành, các tổ chức quốc tế, chúng ta sẽ xác định được những bài học kinh nghiệm quốc tế, những vấn đề hợp tác cần thiết.  ***  Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là một quá trình kinh tế xã hội, nhằm tạo ra những giá trị mới về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi  trường phù hợp với nhu cầu xã hội trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nông thôn mới thành công, cần sự quyết tâm chính trị ở mức cao nhất của Đảng và Nhà nước, và sự làm chủ thực sự cũng ở mức cao nhất của mọi tầng lớp trong nông thôn và toàn xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng nông thôn mới từ nguồn vốn xã hội      Bí quyết quan trọng của rất ít quốc gia thành công trong phát triển nông thôn bền vững là phải đầu tư cho nông thôn ngay từ đầu quá trình công nghiệp hoá, thay vì hy sinh nông nghiệp, nông thôn để đầu tư cho công nghiệp và đô thị.      Nguồn lực đầu tư cho nông thôn không là tài nguyên tự nhiên hay hỗ trợ từ bên ngoài mà từ chính “nguồn vốn xã hội” vốn rất dồi dào trong cộng đồng nông thôn khi chuyển được tư duy ỷ lại, bị động, chia rẽ của nông dân thành tinh thần tự lực, ý chí sáng tạo, cần cù và tác phong hợp tác. Thành công của phong trào Saemaul Undong (Làng mới) ở Hàn Quốc tạo ra những kỳ tích như: thay đổi chất lượng sống ở nông thôn nhờ phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ, thu nhập gia đình nông thôn phát triển cao bằng thu nhập của các hộ ở thành phố, rừng phủ xanh phần lớn đất trống, đồi núi trọc, các tổ chức kinh tế hợp tác phát triển thu hút hầu hết nông dân tham gia là một minh chứng điển hình.    Sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay đang đương đầu với đủ thứ thiếu: vốn, công nghệ, thị trường,… Nhiều chính sách được đưa ra để thu hút mọi nguồn lực từ đầu tư ngân sách, thu hút doanh nghiệp, đầu tư nước ngoài, vay vốn tín dụng,… nhưng phần huy động nội lực của dân thì không nhiều, chủ yếu là công sức, đất đai. Chiến lược này khó khả thi vì đi ngược lại sức mạnh của cả thị trường và chính sách trong giai đoạn công nghiệp hoá, đô thị hoá. Sức hút tự nhiên của đô thị và công nghiệp luôn mạnh hơn nông thôn và nông nghiệp. Chỉ có nội lực từ kinh tế nông thôn mới có thể là nguồn lực chính làm thay đổi căn bản tình hình. Muốn dân có lực thì họ phải giàu, muốn dân giàu thì họ phải mạnh.    Bài học từ phong trào Làng mới của Hàn Quốc cho thấy điều quyết định để khởi động sức mạnh tiềm tàng của dân nằm ở hai yếu tố: phát động tinh thần, thay đổi tâm lý của nhân dân nông thôn và kết nối cơ hội của toàn nền kinh tế quốc gia với nông thôn. Muốn làm được việc này, phải dung hoà mô hình hiện nay dựa vào cấp xã – đơn vị quản lý ngân sách với phân cấp, trao quyền cho cấp làng, bản – đơn vị cơ bản trong quan hệ cộng đồng nông thôn, phải tạo ra được những thủ lĩnh của nhân dân là người lãnh đạo tự nhiên của cộng đồng. Thứ hai, phải chuyển từ ý định dùng ngoại lực nhỏ bé của ngân sách hỗ trợ để xây dựng một vài cơ sở hạ tầng hay dịch vụ ở nông thôn mà chỉ dùng nó làm xúc tác để thu hút nông dân, các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư. Tiếp đó, phải kết nối đô thị với nông thôn, công nghiệp và dịch vụ với nông nghiệp trên mọi phương diện để cư dân nông thôn có cơ hội công bằng tiếp cận các thị trường vốn, tài nguyên, công nghệ, lao động,… Mục tiêu cuối cùng là thay đổi tâm lý và nếp sống, nếp làm để dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển.    Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên đột phá trong Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới của Việt Nam thời gian tới chính là phát huy nội lực của người dân, phải tạo nên tinh thần chủ động, sáng tạo, thái độ tích cực của người dân để không những cải thiện được sinh kế, thay đổi được nếp sống mà còn từng bước hình thành khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng để có thể chủ động vươn lên trong tương lai. Về địa bàn, cần hướng vào các vùng khó khăn, vùng nghèo. Về cách làm, cần chuyển từ nhà nước chỉ đạo, nhân dân thi hành, sang nhân dân làm chủ, nhà nước hỗ trợ. Muốn vậy, phải hình thành đội ngũ cán bộ phát triển thôn bản và phát huy sức mạnh cộng đồng. Quan hệ gia tộc, dân tộc, tôn giáo, làng bản,… là mối quan hệ bền chặt, đã liên kết, phối hợp người nông dân trong hoạt động sản xuất, chiến đấu hàng ngàn năm qua. Nguồn sức mạnh này nếu được khuyến khích, nâng đỡ, định hướng vào công tác phát triển, phối hợp đúng cách với cơ chế thị trường, sẽ tạo nên quan hệ hợp tác, thi đua, hỗ trợ lẫn nhau vô điều kiện trong phong trào nông thôn mới. Đây chính là bài học thành công của Hàn Quốc trong thập kỷ 1970 đã đưa nông thôn nước này chỉ sau mười năm phát triển, trở thành một xã hội hiện đại, giàu mạnh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng sân chơi sử dụng vật liệu tái chế ở miền núi      Trong năm qua, ChildFund Việt Nam đã và đang hỗ trợ nhiều trường học tại các tỉnh miền núi phía Bắc xây dựng sân chơi, vườn trường và lớp học sử dụng nhiều vật liệu tái chế thân thiện.    Tại tỉnh Bắc Kạn, 10 ngôi trường đã có sân chơi cho trẻ em được xây dựng mới, sử dụng các vật liệu tái chế từ nhựa hoặc lốp xe. Hơn 1000 trẻ em đã có những sân chơi an toàn, đầy cảm hứng với sắc màu sặc sỡ từ những hình trang trí.    Trẻ em tại trường tiểu học Quang Phong vui chơi bên những chú ngựa bập bênh làm từ lốp xe cũ.  Phụ huynh và giáo viên đã góp hàng ngàn giờ công lao động để làm đồ chơi, láng sân và trang trí lại vườn cảnh, tạo cảnh quan sinh động cho trường học. Trẻ em từ các trường như tiểu học và mầm non xã Quang Phong, một xã miền núi còn nhiều khó khăn của tỉnh Bắc Kạn, giờ đây không phải chơi trên sân sình lầy và mùa mưa và thay vào đó là một sân chơi nhiều màu sắc, an toàn, sạch sẽ, là nơi giao lưu thân thiện cho trẻ em giữa các buổi học.  Các trường mầm non được ChildFund hỗ trợ ở tỉnh Hòa Bình và Bắc Kạn đã biến rất nhiều đồ vật cũ, vật liệu tái chế như chai nhựa, đĩa từ cũ thành những đồ chơi và đồ trang trí sặc sỡ sắc màu trong các lớp học.  Một vài hình ảnh từ các trường học đã nỗ lực sử dụng, tái chế vật liệu để xây dựng sân chơi cho học sinh:    Anh Thủy, có con gái năm tuổi đang theo học tại trường mầm non xã Quang Phong, đang gia công biến một chiếc lốp cũ thành một chú thiên nga trang trí cho vườn trường       Trẻ em tại trường mầm non Quang Phong vui với các chú ngựa gỗ được làm từ ván và lốp xe cũ       Học sinh tại phân trường Nà Thác chơi bên bộ xích đu do phụ huynh làm từ tre và gỗ  Nguồn tin: Childfund Việt Nam.    Author                P.V        
__label__tiasang Xây dựng tập đoàn kinh tế mạnh hay giàu quyền lực?      &#8220;D&#249; tốc độ tăng doanh thu, lợi nhuận những năm qua của c&#225;c tập đo&#224;n, tổng c&#244;ng ty tương đối cao, nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng với vốn liếng c&#243; trong tay. Đồng thời Đo&#224;n cũng cho rằng cơ chế hiện h&#224;nh c&#243; kh&#244;ng &#237;t bất cập, trở ngại cho sự lớn mạnh của c&#225;c tập đo&#224;n, tổng c&#244;ng ty&#8220;, tr&#234;n đ&#226;y l&#224; tr&#237;ch đoạn nhận x&#233;t của Đo&#224;n gi&#225;m s&#225;t của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi c&#244;ng bố kết quả gi&#225;m s&#225;t về quản l&#253;, sử dụng vốn, t&#224;i sản Nh&#224; nước tại c&#225;c tập đo&#224;n, tổng c&#244;ng ty Nh&#224; nước ng&#224;y 13-08-2009 vừa qua.     Các số liệu cho thấy tổng nguồn vốn của 90 tập đoàn và tổng công ty Nhà nước (TĐ&TCTNN) thống kê được đến hết năm 2008 ước khoảng 1 triệu 241 nghìn tỉ đồng; nghĩa là chiếm giữ tới 80% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng trong nước, 70% tổng lượng vốn vay nước ngoài, cùng với các đặc quyền khai thác đất đai và hầu như toàn bộ các hầm mỏ, các tài nguyên quốc gia quan trọng khác. Với vốn liếng như vậy, 90 đơn vị kinh tế anh cả đỏ này làm ra khoảng 40% GDP, tạo ra gần 40% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu, đem lại khoảng gần 30% tổng thu nội địa, giải quyết việc làm ước khoảng 4% lực lượng lao động cả nước (toàn bộ lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước chiếm khoảng 10% lao động cả nước)…    Đoàn giám sát cho rằng nhiều TĐ&TCTNN đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường, ổn định giá cả; đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và đền ơn, đáp nghĩa; là lực lượng chủ yếu mở rộng phạm vi hoạt động đến tận các địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… những nơi vốn Nhà nước cấp phát ban đầu còn hạn chế, hạ tầng cơ sở còn yếu kém để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội…   Qua những thông tin được đưa lên báo chí, được biết đợt giám sát này Đoàn đã làm việc trực tiếp với 15 tập đoàn và tổng công ty (tính đến cuối tháng 7-2009). Phân tích công bố của Đoàn giám sát, nổi lên các vấn đề cần đặc biệt quan tâm là:  – Một số TĐ&TCTNN ra đời theo mô hình hành chính, nghĩa là chủ yếu bằng các biện pháp sắp xếp, lắp ghép, chứ không phải thông qua các biện pháp đầu tư vào nhau và qua sự phát triển của các hoạt động kinh doanh gắn kết hữu cơ với nhau. Hệ quả là phần nhiều TĐ&TCT hình thành theo mô hình này chỉ có cái “vỏ”, còn mối quan hệ giữa các công ty thành viên với nhau khá tách biệt, lỏng lẻo, hầu như không tạo ra được sức mạnh liên kết nào; phương thức quản lý, sản xuất, kinh doanh không có sự cải thiện đáng kể. Vì là “vỏ” nên cá biệt có TĐ hay TCT không ôm đồm nổi.  – Một số đơn vị kinh tế quốc doanh lớn vốn dĩ là chuyên ngành, song đang phát triển theo con đường “bành trướng” sang nhiều ngành khác từ khi trở thành TĐ hay TCT. Sự “bành trướng” sang các ngành khác này một mặt lấn át sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, tranh mất thị phần đáng kể lẽ ra nên dành cho các đơn vị kinh tế nhỏ hơn hoặc các thành phần kinh tế khác để cả nước cùng nhau phát triển. Mặt khác sự bành trướng này khuyến khích xu thế chạy theo lợi nhuận và làm giảm bớt nguồn lực cho phát triển ngành chính của TĐ hay TCT. Các TĐ hay TCT theo mô hình bành trướng này càng hoạt động đa ngành thì sự thao túng của chúng càng lớn.    – Một số TĐ&TCT đã không thực hiện được nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu. Riêng năm 2006, có tới 38 TĐ&TCT có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng cho phép gấp ba lần, năm 2008 vẫn còn 31 đơn vị ở trong tình trạng này. Nhiều TĐ&TCT lớn có tổng nợ cao gấp hơn 10 lần vốn sở hữu. Báo chí cho biết riêng Tập đoàn Vinashin có tổng nợ cao gấp 25 lần vốn sở hữu.  – Báo cáo của Đoàn cho thấy không có một cơ quan Nhà nước nào – dù là một Bộ hay là SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước)- có thể nắm đầy đủ thực trạng vốn của các TĐ và TCT, cũng như không có một cơ quan đầu mối nào của Nhà nước chịu trách nhiệm chính về quản lý vốn, về tài sản và việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu mà chủ sở hữu là Nhà nước giao cho các TĐ và TCT. Thay vào đó là tình trạng quản lý chồng chéo, cắt khúc, không thể nào thực hiện được sự công khai minh bạch, Nhà nước càng không thể thực hiện được đúng vai trò nhất thiết phải có của mình là chủ sở hữu mà nhân dân giao phó cho. (Thậm chí có một vài Bộ trưởng đã phải thừa nhận là hoàn toàn bất lực trước mọi quyết định của TĐ hay TCT).                     Chung quanh vấn đề giám sát, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Phùng Quốc Hiển đưa ra nhận xét rất đáng quan ngại: Không ít các TĐ và TCT xa rời nhiệm vụ chính của mình, lấn sân vào những lĩnh vực mà lẽ ra nên khuyến khích các thành phần kinh tế khác cùng tham gia. Đó là những hoạt động lập ngân hàng riêng, đầu tư chứng khoán, địa ốc, bảo hiểm… Có những TĐ và TCT có số nợ lớn hơn nhiều lần vốn sở hữu mà vẫn ném tiền vào các hoạt động “lấn sân” như vậy. Đã xảy ra nhiều trường hợp thua lỗ, thất thoát rất nặng nề (Đoàn cho biết cho đến nay không thể thống kê được con số cụ thể, vì các đơn vị này không khai báo đầy đủ; tuy nhiên xin lưu ý: Thị trường chứng khoán và thị trường địa ốc trong nhiều tháng của các năm 2007 – 2008 tổn thất khoảng 1/3 đến 1/2 tổng giá trị, qua đó có thể ước lượng số tài sản thất thoát). Kết quả giám sát của Đoàn cũng cho thấy có một số TĐ và TCT đã đầu tư vào lĩnh vực tài chính hơn 2.000 tỷ đồng, trong khi vẫn kêu với Nhà nước là thiếu vốn. Đoàn cũng thu thập được thông tin có tới 47 TĐ và TCT thực hiện phương châm “lấy ngắn nuôi dài” theo kiểu “lấn sân” như vậy, với tổng số tiền đầu tư tính đến hết 2008 là hơn 21.000 tỷ đồng…, vv…  Một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng khác là các TĐ và TCT với tất cả uy quyền và ảnh hưởng của mình đang nắm giữ trong tay khoảng 380.000 ha đất, nhưng nhìn chung hiệu quả sử dụng thấp, có nhiều lãng phí lớn. Ông Hà Văn Hiền cho biết không thể lấy đủ thông tin từ các TĐ và TCT để nêu lên chính xác thực trạng này. Song báo chí cho biết riêng một vài TĐ và TCT tại TP.HCM đang nắm giữ hàng triệu m2 đất đai, sử dụng rất lãng phí hoặc không đúng mục đích, Tập đoàn Vinashin vẫn còn tới hàng trăm ha đất chưa sử dụng, tình trạng một số TĐ và TCT là chủ đầu tư chiếm dụng hàng trăm ha đất cho các sân golf, biệt thự cao cấp hay các resort không phải là hiếm hoi… Khỏi phải nói trong khi đó doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác “vất vả” như thế nào trong việc tìm kiếm mặt bằng cho cơ sở sản xuất kinh doanh của mình, vân… vân…  Có thể nói Đoàn giám sát của Quốc hội mới chỉ làm được một số mẫu “sinh thiết”. Tuy nhiên những  “mẫu sinh thiết” này cũng  đủ cho thấy các  anh cả đỏ của nền kinh tế quốc dân còn nhiều vấn đề nghiêm trọng, tồn đọng từ nhiều năm nay, song tất cả vẫn giẫm chân tại chỗ, không được giải quyết1. Chung quy lại vẫn là những vấn đề: (1)Xử lý quyền sở hữu của Nhà nước thế nào là tối ưu? (2)Xác định vai trò của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế mới chuyển đổi như thế nào, để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế cả nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay. (3)Tập đoàn kinh tế quốc doanh ở Việt Nam nên được xác lập và phát triển như thế nào là phù hợp với Luật doanh nghiệp và là tối ưu nhất cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập. (4)Thực hiện công khai minh bạch và sự đối xử bình đẳng các thành phần kinh tế trước pháp luật, vân… vân…  Đáng chú ý là tất cả những vấn đề vừa nêu trên chưa được đề cập thỏa đáng và hầu như chưa được xử lý trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định “Về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước” đang diễn ra. Thực tế này đang gây ra tranh cãi. Bên cạnh những ý kiến tán thành việc soạn thảo Nghị định này, có không ít ý kiến bác bỏ quyết liệt, vì cho là nó mâu thuẫn với nội dung cốt lõi của Luật doanh nghiệp là khuyến khích tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, đối xử bình đẳng các thành phần kinh tế trước pháp luật và đòi hỏi công khai minh bạch.    Công bố của Đoàn giám sát tuy không nêu lên, song dựa vào những nhận xét cụ thể Đoàn đã đưa ra để nhìn lại tình hình các TĐ và TCT Nhà nước trong vài năm gần đây thấy nổi lên một vấn đề lớn: Nền kinh tế nước ta ngày càng nhiều TĐ và TCT giàu quyền lực, song nhìn chung vẫn còn nhiều TĐ và TCT là các đơn vị kinh tế yếu – yếu về hiệu quả kinh tế đạt được so với vốn liếng và nhiều lợi thế khác có trong tay, yếu so với các đối tác hay đối thủ cạnh tranh có tầm cỡ tương đương với mình ở trong nước hay trên thị trường nước ngoài. Vai trò quả đấm thép lẽ ra phải mở đường cho nền kinh tế cả nước đi lên, song nhiều trường hợp lại hướng vào đấm bên trong! Riêng quy định cho phép các TĐ và TCT được dành không quá 30% tổng vốn của mình cho kinh doanh trái nghề và những hiện tượng lấn sân Đoàn giám sát nêu ra đủ nói lên điều này.  Hiện tượng giàu quyền lực khá nổi bật ở chỗ khả năng “lobby” của các TĐ và TCT rất lớn không kiểm soát được, tác thành đáng kể vào nhiều quyết định kinh tế quan trọng – điển hình là việc cho phép ra đời một số ngân hàng riêng của các TĐ và việc mang về cho đất nước ngày càng nhiều công trình kinh tế lớn của đầu tư từ Trung Quốc dưới dạng chìa khóa trao tay (hợp đồng EPC) với công nghệ hạng 2, 3 gì đó, tiêu hao nhiều nguyên liệu và năng lượng, không thân thiện với môi trường, gây lãng phí lớn… (ví dụ một số nhà máy nhiệt điện, nhà máy luyện đồng Sinh Quyền, nhà máy alumin đang xây dựng..; Bộ Công thương đưa ra một nhận xét khái quát: Tiêu thụ năng lượng để làm ra một đơn vị sản phẩm ở nước ta cao gấp đôi so với Thái Lan, Malaysia, vv…)! Chính hiện tượng giàu quyền lực của các TĐ và TCT đã trực tiếp thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển theo xu thế trọng về số lượng và coi nhẹ chất lượng. Hơn thế nữa, sau gần 3 thập kỷ phát triển công nghiệp mà nước ta vẫn còn phải nhập vào quá nhiều công trình của đầu tư nước ngoài dưới dạng chìa khóa trao tay,  mọi thứ đều được nhập khẩu từ A đến Z (thậm chí có nơi là cả cái hố xí bệt!), với công nghệ lạc hậu như vậy là điều không thể chấp nhận được. Kéo theo các công trình chìa khóa trao tay này là hiện tượng lao động Trung Quốc ồ ạt nhập cư trái phép với nhiều hệ quả khôn lường. Trong khi đó công nghiệp nước ta đã làm ra hoặc xuất khẩu những sản phẩm công nghiệp có công nghệ tiên tiến hơn! Báo chí nhức nhối về chuyện các nhóm lợi ích.  Nếu lấy Vinashin  và một số đơn vị tương tự khác làm ví dụ, còn có thể đi đến kết luận: Sự giàu có về quyền lực của TĐ và TCT thường tỷ lệ nghịch với sức mạnh kinh tế của bản thân những đơn vị kinh tế ấy. Nếu thực hiện được công khai minh bạch, bức tranh về sự giàu có quyền lực của các TĐ và TCT chắc sẽ rõ nét hơn. Bài học về sự lũng đoạn của các Cheabol dẫn tới sự sụp đổ của kinh tế Hàn Quốc năm 1997 vẫn còn nguyên vẹn giá trị thời sự với nước ta.  Hiện trạng của các TĐ và TCT Nhà nước cho thấy: Ưu tiên lúc này không phải là xây dựng Nghị định về TĐ kinh tế Nhà nước một cách miễn cưỡng và cứ tiếp tục cho ra đời các TĐ mới thuộc sở hữu Nhà nước. Đúng hơn ưu tiên lúc này là phải đẩy mạnh cải cách các TĐ và TCT thuộc sở hữu Nhà nước để thực hiện nghiêm túc Luật doanh nghiệp. Sự nghiệp xây dựng đất nước không đòi hỏi phải có các TĐ và TCT giàu quyền lực, nhưng lại rất cần có các TĐ kinh tế mạnh, dù trong hay ngoài quốc doanh, được hình thành không phải theo mô hình hành chính hay mô hình bành trướng, mà hình thành trong quá trình phát triển tất yếu của sản xuất kinh doanh, đủ sức làm những động cơ mạnh thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển. 1  ————  1 Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, bài  Mô hình tập đoàn Nhà nước và mối lo vượt tầm kiểm soát   http://www.tuanvietnam.net/vn/ sukiennonghomnay/4756/index.aspx và bài Cải cách tập đoàn Nhà nước và một chữ “Dám”.  http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/4757/index.aspx, trên Tuần Việt Nam, ngày 9 và ngày 10-09-2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng trung tâm R&D bằng niềm tin      Sự hình thành và phát triển của Trung tâm R&amp;D Chiếu sáng Rạng Đông là kết quả của lòng tin giữa doanh nghiệp và nhà khoa học.       Thông thường, các trung tâm nghiên cứu trong doanh nghiệp được thành lập theo hai cách. Cách thứ nhất là doanh nghiệp nhập ngoại các máy móc, thiết bị thí nghiệm và thuê chuyên gia nước ngoài đào tạo đội ngũ chuyên làm R&D cơ hữu trong nước. Cách thứ hai là cách mà đa số doanh nghiệp ở Việt Nam đang thực hiện, đó là “tự làm lấy”. Sự hạn chế của các doanh nghiệp tự  xây dựng trung tâm R&D là thường thiếu nền tảng KH&CN, chậm cập nhật thông tin, thành tựu đổi mới công nghệ, thiếu sự tham gia tư vấn chuyên môn của những người am hiểu công nghệ và điều kiện sản xuất của Việt Nam.   Đi tìm tiếng nói chung   Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đi theo hướng hoàn toàn khác. Họ dành hơn năm năm “làm quen” với các nhà khoa học rồi mới thành lập trung tâm vào năm 2011. Ban đầu, để triển khai Thỏa thuận Hợp tác giữa Viện KH&CN Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và Rạng Đông, Chủ tịch Viện lúc bấy giờ, GS. Đặng Vũ Minh, đã tạo điều kiện và khuyến khích một số cán bộ khoa học có chuyên môn thích hợp của các viện nghiên cứu chuyên ngành tới giúp Rạng Đông đưa KH&CN vào sản xuất, hỗ trợ cán bộ kỹ thuật, kỹ sư trong Công ty giải quyết, tiếp cận các vấn đề kỹ thuật công nghệ một cách khoa học thay vì làm bằng kinh nghiệm như trước kia (chứ chưa tham vọng áp dụng các kết quả nghiên cứu tại viện vào sản xuất ngay). PGS.TS. Đỗ Xuân Thành coi đây là “bước khởi động” và đóng một vai trò quan trọng trong con đường hình thành Trung tâm R&D Chiếu sáng sau này vì “chúng tôi gặp nhau và tìm ra tiếng nói chung. Đó là khi phía doanh nghiệp “lớn lên”, có đủ trình độ tiếp nhận KH&CN và các nhà khoa học cũng nắm được thực tiễn để biết mình phải làm những gì”.   Với xuất phát điểm như vậy, bộ máy của Trung tâm R&D Chiếu sáng Rạng Đông khá đặc biệt. Cán bộ của Rạng Đông chỉ chiếm khoảng một nửa nhân lực trong Trung tâm, gồm các vị trí quản lý và các cán bộ kỹ thuật ưu tú được lấy từ các xưởng lên. Những thành viên còn lại, chiếm đa số là các chuyên gia đến từ các viện, trường đại học, còn được gọi là cộng tác viên, gắn kết với Rạng Đông theo từng nhiệm vụ và dự án cụ thể.           Khi sản phẩm Led chiếm tỷ  trọng đáng kể trong doanh số bán hàng của Rạng Đông vào năm 2020, sẽ mở  ra “khoảng trống sáng tạo” to lớn cho Trung tâm R&D Chiếu sáng Rạng  Đông, bắt đầu từ khâu thiết kế mô phỏng đến làm chủ quy trình sản xuất,  chế tạo sản phẩm.         Rạng Đông thu hút đội ngũ cộng tác viên bằng nhiều phương thức và lợi thế. Đội ngũ cộng tác viên có thể được hình thành bằng việc ký thỏa thuận hợp tác dài hạn, hoặc ngắn hạn giữa Rạng Đông và một đơn vị nghiên cứu. Chẳng hạn, liên kết dài hạn giữa Rạng Đông và Đại học Bách khoa, cụ thể là Viện Tiên tiến KH&CN (AIST) cùng thực hiện hướng nghiên cứu về vật liệu quang – điện tử hay hợp tác ngắn hạn giữa Rạng Đông và Học viện Nông nghiệp, cụ thể là Viện Sinh học Nông nghiệp, để nghiên cứu dòng sản phẩm chiếu sáng phục vụ nông nghiệp công nghệ cao. Cộng tác viên cũng có thể đến Trung tâm R&D của Rạng Đông với tư cách cá nhân. Bên cạnh đó, dù là cộng tác viên toàn thời gian hay bán thời gian, họ đều không phải tới công ty thường xuyên mà chỉ cần họp một-hai tuần một lần. Nhờ vậy, Rạng Đông vừa thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao (kể cả khi họ đang đương nhiệm tại một đơn vị công lập) vừa tận dụng được các trang thiết bị hiện đại trong các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia để tạo ra công nghệ mới ứng dụng vào sản xuất.   Đầu tư cho tương lai  PGS.TS. Đỗ Xuân Thành từng phát biểu trên Tia Sáng rằng: “Doanh nghiệp cần kiên nhẫn, không nên đòi hỏi đạt được thành quả ngay từ công việc nghiên cứu của nhà khoa học. Tuy nhiên, để có được sự kiên nhẫn đó, doanh nghiệp cần phải có niềm tin vào nhà khoa học”.   Đó gọi là sự đầu tư cho tương lai, bởi có những sản phẩm rất hiệu quả nhưng thị trường chưa đón nhận ngay. Một trong những nhóm sản phẩm rất tiềm năng của Rạng Đông là các loại đèn huỳnh quang, đèn compact chuyên dụng phục vụ  chiếu sáng nhân tạo cho nông nghiệp công nghệ cao. Lợi thế lớn của Rạng Đông để có thể cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập tương tự là tạo ra sản phẩm chuyên dụng phù hợp với trình độ canh tác và điều kiện sử dụng thực tiễn ở Việt Nam nhờ kết hợp đội ngũ chuyên gia về quang – điện tử, nông nghiệp, sinh học và cả những người nông dân giàu kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu tạo ra sản phẩm. Rạng Đông đã đưa ra thị trường đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact trong phòng nuôi cấy mô, điều khiển ra hoa trái vụ cho cây thanh long và hoa cúc, chứng minh được hiệu quả và tiết kiệm điện năng so với các thiết bị hiện dùng. PGS.TS. Đỗ Xuân Thành chia sẻ rằng, sự đầu tư vào lĩnh vực này chưa đem lại lợi nhuận ngay cho công ty nhưng sản phẩm chiếu sáng chuyên dụng cho nông nghiệp công nghệ cao vẫn là hướng phát triển chiến lược của Rạng Đông vì trong tương lai, hướng sản xuất theo quy mô lớn của nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam sẽ phát triển rất mạnh mẽ. Khi đó, các sản phẩm chiếu sáng chuyên dụng sẽ có thể bứt phá, mang lại doanh thu cao cho Công ty.   Sự đầu tư cho tương lai còn thể hiện ở việc Công ty mạnh dạn đầu tư lớn để phát triển những sản phẩm mới. Led là một ví dụ. Thị trường Led trên thế giới đang phát triển nhanh chóng và rất sôi động, trong khi đó các doanh nghiệp trong nước đa số chỉ lắp ráp, gia công còn việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm chiếu sáng dùng Led rất hạn chế. Tại Trung tâm R&D Chiếu sáng Rạng Đông việc nghiên cứu và phát triển đèn LED được tiến hành một cách bài bản, bắt đầu từ khâu thiết kế mô phỏng, tiến tới làm chủ công nghệ từ khâu thiết kế đến quy trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Quá trình này sẽ diễn ra rất nhanh khi sản phẩm Led chiếm tỷ trọng đáng kể trong doanh số bán hàng của Rạng Đông vào năm 2020, mở ra “khoảng trống sáng tạo” to lớn cho Trung tâm R&D Chiếu sáng Rạng Đông để tạo ra những sản phẩm khác biệt, giá thành hợp lí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng Việt Nam trở thành cường quốc biển      Trong niềm kỳ vọng về sự phát triển của đất nước, chúng ta đã có chiến lược phát triển kinh tế biển nhằm hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành cường quốc biển. Đó là một kỳ vọng tốt đẹp. Tuy nhiên, với tinh thần “ôn cố tri tân”, bài viết này sẽ sơ bộ tìm hiểu tại sao Việt Nam, dù nằm ngay sát biển và gần với một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới, lại đã không thể trở thành cường quốc biển.    Vì sao Việt Nam đã không là cường quốc biển?  Cuộc đua trở thành cường quốc biển chỉ diễn ra trong khoảng thời gian nhiều nhất là 600 năm trở lại đây. Việc Việt Nam có cơ hội trở thành cường quốc biển hay không ắt hẳn cũng rơi vào khoảng thời gian này. Vậy trong 600 năm vừa rồi, điều gì đã ngăn cản Việt Nam trở thành cường quốc biển?  Tìm hiểu quá trình các nước vươn ra chiếm lĩnh đại dương thì thấy rằng, việc trở thành cường quốc biển không thể là một sản phẩm duy ý chí, mà đòi hỏi phải thỏa mãn một tập hợp các điều kiện nhất định. Trong số đó, quan trọng nhất là bốn yếu tố: i) vị trí địa lý; ii) đặc điểm văn hóa và ý thức hệ chi phối; iii) sức mạnh kinh tế và kỹ nghệ; iv) năng lực tổ chức và tham vọng của chính quyền.  Lý do đầu tiên và quan trọng nhất khiến Việt Nam đã không thể phát triển thành cường quốc biển là cho đến tận ngày nay, Việt Nam vẫn rập khuôn theo mô hình kinh tế – xã hội của Trung Quốc.   Chính tư tưởng hướng về lục địa, coi mình là trung tâm của thế giới của người Trung Quốc, đã ảnh hưởng xấu đến mô hình phát triển của các nước chịu ảnh hưởng nặng về ý thức hệ Nho giáo xung quanh, trong đó có Việt Nam. Hậu quả là trong suốt thời phong kiến, thay vì hướng ra biển để hội nhập với thế giới, Việt Nam lại hướng về phương Bắc với tinh thần bám chặt vào đất trong việc xây dựng mô hình kinh tế – xã hội của mình. Đây chính là neo ý thức đã giữ chân người Việt không vươn ra được với thế giới. Tệ hại hơn, các triều đình phong kiến Việt Nam cũng bắt chước người Trung Quốc tự cho mình là văn minh hơn thế giới bên ngoài, nên đã bế quan tỏa cảng, không chịu canh tân cải cách để phát triển đất nước.  Một số nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, dù là quốc gia ven biển hoặc giữa biển, nhưng cũng không thể phát triển được thành cường quốc biển cho đến khi bứt ra khỏi quỹ đạo của Trung Quốc, với Nhật Bản từ giữa thế kỷ XIX và Hàn Quốc nửa sau thế kỷ XX.    Lý do thứ hai là sức mạnh kinh tế và kỹ nghệ của Việt Nam chưa bao giờ đủ lớn để phát triển các đội tàu chiến, thương thuyền lớn có thể chinh phục đại dương.   Cho đến thế kỷ XIV, người Việt Nam vẫn quanh quẩn tập trung làm ăn ở vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là vùng đất trũng, nhỏ hẹp, luôn bị thiên tai đe dọa nên người Việt đã không thể có đủ tích lũy cần thiết làm tiền đề cho các chuyến viễn du, các hoạt động vươn ra biển lớn.           Việc trở thành cường quốc biển không thể là một sản phầm duy ý chí, mà đòi hỏi phải thỏa mãn 4 yếu tố quan trọng nhất: i) vị trí địa lý; ii) đặc điểm văn hóa và ý thức hệ chi phối; iii) sức mạnh kinh tế và kỹ nghệ; iv) năng lực tổ chức và tham vọng của chính quyền.        Quy mô dân số nhỏ cũng là một hạn chế trong việc tích lũy để chinh phục thế giới bên ngoài. Ngay cả sau khi đã Nam tiến khoảng hơn 200 năm về trước, diện tích và quy mô dân số của Việt Nam có tăng lên, nhưng địa hình lại hẹp và dài từ Bắc chí Nam, dàn trải trên một dải có nhiều cấu trúc địa hình và khí hậu khác nhau, trong đó chủ yếu là đồi núi, dẫn đến hạn chế trong việc phát triển nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác ở quy mô lớn. Ngoài ra, đặc điểm dài và hẹp này cũng đã tạo ra tính cục bộ rất lớn trong các hoạt động kinh tế – xã hội của các địa phương. Điều này góp phần kìm chân người Việt Nam vươn ra biển vì nó trái ngược với tinh thần hội nhập của văn hóa đại dương.  Điều đáng lưu ý là sau khi đã chinh phục đồng bằng sông Mekong thì thói quen bám chặt đất từ ngoài Bắc chuyển vào, cộng với sự trù phú của đồng bằng phía Nam, chắc hẳn cũng đã góp phần giữ chân người Việt đi xa hơn ra biển cả.  Việc coi thường thương nghiệp trong suốt thời phong kiến, với việc xếp hạng thương nhân là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, cũng ảnh hưởng quyết định đến việc buôn bán trao đổi với nước ngoài. Sau khi giành độc lập, tình hình cũng không khá hơn với chính sách “ngăn sông cấm chợ”. Chính việc buôn bán thương mại quốc tế là một trong những động cơ lớn để thúc đẩy các cường quốc châu Âu đóng các tàu hàng lớn và thăm dò khám phá thế giới. Trong suốt lịch sử phát triển của mình, Việt Nam thiếu hẳn động cơ này, nên không thể vươn ra biển dù ở ngay cạnh một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất của thế giới.  Đến cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp nên không chủ động được sự phát triển của mình. Sau khi độc lập năm 1945, Việt Nam lại trải qua ba cuộc chiến lớn, nên chưa khi nào có tích lũy kinh tế – kỹ nghệ đủ mạnh để phát triển hải quân và những đội tàu lớn nhằm chiếm lĩnh đại dương. Còn nhớ, vua Minh Mạng nhà Nguyễn đã từng cho đóng tàu chiến bọc đồng, nhưng sau đó không thể phát triển tiếp vì không có một nền móng khoa học kỹ thuật và kinh tế đủ mạnh để hậu thuẫn. Các hoạt động quân sự đương thời không đủ cường độ cần thiết để thúc đẩy công nghệ đóng tàu chiến. Các hoạt động kinh tế và hệ thống phụ trợ như cảng biển, dịch vụ ven bờ cũng không đủ để thúc đẩy cho ngành hàng hải phát triển.     Thứ ba là về mặt lịch sử và chính quyền, Việt Nam thường trực trong tinh thần thời chiến.    Do nằm bên cạnh một nước lớn, lại luôn có tham vọng bành trướng xuống phía Nam, nên Việt Nam có rất ít thời kỳ hòa bình, tự chủ đủ dài để phát triển đến trình độ đủ cao khả dĩ vươn ra đại dương. Thêm vào đó, sự phân chia đất nước thành Đàng Trong – Đàng Ngoài từ cuối thế kỷ XVI đã đẩy Việt Nam vào tình trạng tranh chấp nội bộ hoặc nội chiến liên miên. Chính quyền phong kiến trong các thời kỳ này đều ưu tiên vào việc củng cố quyền lực, tranh giành nội bộ hoặc bị hút vào việc chống chọi lại sự bành trướng từ phía Bắc để tồn tại, nên đã không hoàn bị đủ mạnh để điều hành công cuộc vươn ra biển.   Sau khi bị Pháp xâm chiếm và đặt Việt Nam làm thuộc địa từ cuối thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến của Việt Nam hoàn toàn mất tác dụng trong việc định hướng sự phát triển của đất nước. Những cuộc chiến tàn khốc mà Việt Nam phải đương đầu trong phần lớn thế kỷ XX và một số sai lầm trong chính sách phát triển sau khi thống nhất đã lấy đi nhiều mất cơ hội phát triển của Việt Nam.   Việc vươn ra biển lớn để hội nhập với thế giới chỉ mới thực sự nhen nhúm trong khoảng mười năm trở lại đây, khi Việt Nam và Mỹ ký hiệp định Tự do thương mại song phương. Mười năm là khoảng thời gian quá ngắn để một nước nghèo, lại gặp phải vô số khó khăn về kinh tế và thể chế như Việt Nam, vươn ra mặt biển. Vì thế, cho đến giờ, Việt Nam chưa phải là cường quốc biển cũng là điều dễ hiểu.    Làm thế nào để vươn ra biển lớn?   Ngày nay, trong thời hội nhập và toàn cầu hóa, nhu cầu xây dựng một nền văn hóa đại dương, chinh phục biển lớn để vươn ra toàn cầu đã trở thành một niềm mong muốn đối với nhiều người Việt. Tuy nhiên, những lý do ngăn cản Việt Nam phát triển thành cường quốc biển trong quá khứ vẫn hiển hiện. Tư duy bám chặt đất liền, nay biến tướng thành bám chặt một hệ tư tưởng hay một khuôn mẫu cũ, an phận với đời vẫn còn nặng nề như hàng trăm năm về trước. Kiểu tư duy này trái ngược hoàn toàn với tư duy đổi mới, hội nhập, chinh phục của các cường quốc biển. Vì thế, nếu không đổi mới tư duy, từ bỏ những mô hình, thang giá trị cũ thì sẽ rất khó hình thành văn hóa đại dương để vươn ra chinh phục biển lớn.  Nếu trong thời đại công nghiệp, các hoạt động kinh tế biển và liên quan đến biển, thể hiện cụ thể ra ngoài bởi sự có mặt của các cảng biển, là tối quan trọng để một thành phố hay đất nước trở thành cường quốc, thì trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, đặc biệt với sự phát triển của hệ thống hàng không dân dụng, vai trò của hệ thống cảng biển đã giảm đi rất nhiều. Ví dụ cụ thể minh họa cho trường hợp này là hai thành phố Liverpool Manchester của nước Anh. Hai thành phố này có thể coi là địch thủ của nhau trong mọi lĩnh vực, từ bóng đá đến phát triển kinh tế. Do có cảng biển, Liverpool đã từng là một trong những cửa ngõ chính để nước Anh đi ra và chinh phục thế giới. Còn Manchester thì tuy nằm trong nội địa nhưng lại có một sân bay thuộc hàng lớn nhất của nước Anh. Vì thế, sự cạnh tranh của Liverpool và Manchester phần nào là sự cạnh tranh gián tiếp của hai mô hình phát triển kinh tế dựa vào cảng biển và cảng hàng không.          Muốn Việt Nam trở thành cường quốc biển thì trước hết cần rũ bỏ những mô thức tư duy cũ, trong đó quan trọng nhất là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa hướng vào lục địa, bế quan tỏa cảng, coi mình là trung tâm của thế giới.         Nếu như trước đây Liverpool chiếm ưu thế vì có cảng biển lớn thì ngày nay, Manchester luôn dẫn trước vì có sân bay lớn. Điều đó cho thấy, khi ngành hàng không dân dụng phát triển thì nếu biết khai thác, cảng hàng không có thể chiếm ưu thế trong việc thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế so với cảng biển.   Tuy nhiên, cả hai loại hình phát triển dựa vào cảng biển và cảng hàng không này đều có một điểm chung là tư duy hội nhập và chinh phục thế giới rất cao. Đó là một trong những đặc trưng chính của văn hóa đại dương. Vì thế, trong việc xây dựng văn hóa đại dương thì quan trọng nhất là xây dựng tư duy hội nhập và chinh phục thế giới ở bất cứ lĩnh vực nào, chứ không nhất thiết chỉ giới hạn trong việc dốc sức để đóng thuyền to tàu lớn hay xây dựng hệ thống cảng biển tràn lan không hiệu quả.  Muốn làm được điều này, trước hết phải dám từ bỏ tư duy bám chặt đất liền – nay còn thể hiện ở việc bám vào một neo ý thức hệ duy nhất – để chủ động học hỏi những thành tựu về tư tưởng học thuật, cách thức tổ chức xã hội khoa học – dân chủ của thế giới, nhằm thoát khỏi tình trạng tự ru ngủ trong các mô hình, ý thức hệ và thang giá trị đã lạc hậu nhưng lại có tác dụng như những neo ý thức giữ chân Việt Nam không thể vươn ra hội nhập cùng quốc tế.   Chính vì thế muốn Việt Nam trở thành cường quốc biển thì trước hết cần rũ bỏ những mô thức tư duy cũ, trong đó quan trọng nhất là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa hướng vào lục địa, bế quan tỏa cảng, coi mình là trung tâm của thế giới. Và chỉ như vậy, Việt Nam mới có thể hội nhập thực sự và từng bước chinh phục thế giới, ở bất cứ lĩnh vực nào chứ không nhất thiết chỉ giới hạn trong việc chinh phục mặt biển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây một “sân chơi” toán học để nghiên cứu thông tin lượng tử      Trong một nghiên cứu mới từ Viện Skoltech và trường đại học Kentucky, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một kết nối mới giữa thông tin lượng tử và lý thuyết trường lượng tử. Công trình này chứng thực cho vai trò ngày một lớn của lý thuyết thông tin lượng tử trên khắp các lĩnh vực vật lý.    Bài báo được xuất bản trên Physical Review Letters “Solutions of Modular Bootstrap Constraints from Quantum Code” 1.  Thông tin lượng tử đóng vai trò ngày một quan trọng như một yếu tố kết nối nhiều nhánh của vật lý. Cụ thể, lý thuyết hiệu chỉnh nhiễu lượng tử, vốn được miêu tả cách bảo vệ và phục hồi thông tin trong các máy tính lượng  tử và những hệ tương tác phức tạp khác, có thể trở thành một trong những yếu tố cơ bản làm nên hiểu biết về thuyết hấp dẫn lượng tử hiện đại.  “Thông thường, thông tin lượng tử lưu trữ trong nhiều hệ vật lý đã được địa phương hóa. Có thể nói, một tệp máy tính có thể được chứa trong một khu vực nhỏ cụ thể trong phần cứng. Với “nhiễu” chúng tôi muốn ngụ ý đến những điều không biết trước hoặc bất kỳ tương tác không mong mốn nào làm phân tán thông tin khắp một khu vực rộng. Trong ví dụ của chúng tôi, các phần của tệp máy tính có thể bị phân tán khắp các khu vực khác nhau của phần cứng. Những mã hóa hiệu chỉnh nhiễu là các công cụ toán học cho phép thu thập các phần đó lại với nhau hoặc phục hồi thông tin nguyên trạng. Chúng là điểm gây khó sử dụng trong lưu trữ dữ liệu và các hệ truyền thông. Các mã hóa hiệu chỉnh nhiễu lượng tử đóng vai trò tương tự trong nhiều trường hợp khi bản chất lượng tử của hệ vật lý đóng vai trò quan trọng”, Anatoly Dymarsky, phó giáo sư làm việc tại Trung tâm Khoa học và công nghệ năng lượng Skoltech (CEST), giải thích.  Trong một chuyển động bất ngờ, các nhà vật lý nhận ra không cách đây không lâu hấp dẫn lượng tử – một lý thuyết miêu tả động lực học lượng tử của không thời gian – được vận hành bằng các chuẩn thức toán học tương tự để trao đổi thông tin giữa các phần khác nhau của không gian. “Định xứ của thông tin trong hấp dẫn lượng tử vẫn là một trong vài bài toán mở cơ bản của vật lý lý thuyết. Điều đó giải thích tại sao xuất hiện các cấu trúc toán học đã được nghiên cứu nhiều như các mã hóa hiệu chỉnh nhiễu lượng tử lại hấp dẫn”, Dymarsky lưu ý. Vai trò của mã hóa vẫn còn được hiểu một cách sơ lược và cơ chế bên trong định xứ của thông tin vẫn còn chưa được biết hết.  Trong nghiên cứu mới, anh và đồng nghiệp là Alfred Shapere ở Khoa Vật lý và Thiên văn của trường đại học Kentucky, đã thiết lập một kết nối mới giữa các mã hóa hiệu chỉnh nhiễu lượng tử và các lý thuyết bảo giác hai chiều. Các công trình trước miêu tả các tương tác của những hạt lượng tử và đã trở thành những công cụ lý thuyết tiêu chuẩn để miêu tả nhiều hiện tượng khác nhau, từ các hạt cơ bản đến sự đột sinh của các giả hạt trong các vật liệu lượng tử như graphene. Một vài lý thuyết trong các lý thuyết trường bảo giác đã miêu tả hấp dẫn lượng tử thông qua tương ứng toàn ảnh.  “Hiện giờ chúng ta đã có một sân chơi mới để nghiên cứu về vai trò của các mã hóa hiệu chỉnh nhiễu lượng tử trong bối cảnh lý thuyết trường lượng tử. Chúng tôi hi vọng đây là bước đầu tiên để hiểu về cách định xứ thông tin hoạt động trên thực tế như thế nào và cái gì còn ẩn giấu đằng sau tất cả những vẻ đẹp toán học lộng lẫy này”, Dymarsky kết luận.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-physicists-built-mathematical-playground-quantum.html  https://www.techexplorist.com/quantum-information-quantum-field-theory-study-found-new-connection-between/40556/  ——  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.126.161602    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây nhà bằng bê tông làm từ gáo dừa      Với gần bốn tấn nguyên liệu chính là gáo dừa phế thải, qua các công đoạn xử lý, chủ dự án “Bê tông nhẹ cốt liệu gáo dừa”, anh Nguyễn Tấn Khoa, tốt nghiệp ĐH Bách khoa TP.HCM, đã hoàn thiện một ngôi nhà ở xã Thanh Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.    Dự án “Bê tông nhẹ cốt liệu gáo dừa” đạt một trong ba giải thưởng cao nhất của cuộc thi Ý tưởng Xanh 2009 và được công ty Toyota Việt Nam (TMV) hỗ trợ 250 triệu đồng để triển khai vào thực tế.   Nguyễn Tấn Khoa triển khai dự án từ tháng 7/2010, dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ trực tiếp từ ThS Lê Anh Tuấn, giảng viên ĐH Bách khoa TP.HCM. Sau khi Khoa nhận được học bổng du học Hàn Quốc, ThS Tuấn đã trực tiếp đảm nhận việc thi công và hoàn thành dự án.  Với nguyên liệu chính là gần bốn tấn gáo dừa phế thải, các thành viên tham gia dự án đã cho triển khai sản xuất thử nghiệm các tấm bê tông nhẹ – nguyên liệu chính để xây dựng nhà. Gáo dừa được thu gom từ các nhà máy cơm dừa nạo sấy của tỉnh Bến Tre. Sau khi sơ chế, gáo dừa được gia công, đập nhỏ thành cỡ hạt nguyên liệu có kích thước tương đương với đá xây dựng 1x2cm và được xử lý bằng dung dịch NaOH để tách các thành phần có hại của gáo dừa. Sau đó, gáo dừa sơ chế lại được nhào trộn với xi măng, cát, nước và tạo hình với các kích thước 30x60cm, 40x80cm và 50x100cm, tùy theo yêu cầu của công nghệ nhà lắp ghép. Bê tông được xây dựng như quy trình xây dựng một căn nhà bình thường.   Ưu điểm của nhà được xây bằng bê tông nhẹ cốt liệu gáo dừa là khả năng chống thấm, cách âm, cách nhiệt tốt, khả năng chịu va đập cũng như chịu ăn mòn trong môi trường nước ngọt, lợ và mặn. Sản phẩm có thể sử dụng để thay thế hoàn toàn nguyên liệu đá tự nhiên vừa tận dụng nguyên liệu phế thải của địa phương, giảm trọng lượng vật liệu, góp phần bảo vệ môi trường từ việc giảm phá núi để lấy đá. Chi phí thi công căn nhà bằng bê tông nhẹ cốt liệu gáo dừa chỉ bằng 80% so với nguyên liệu đá tự nhiên.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe bay: tương lai của giao thông đô thị      Có thể trong tương lai chúng ta sẽ di chuyển bằng xe bay trong đô thị với những sân bay nội đô nhỏ, có nhiều tầng với đường băng rất ngắn.    Mô hình “Citybird”Đã bao giờ bạn tự hỏi trong tương lai các phương tiện giao thông sẽ phát triển tới mức nào? Có thể chúng ta sẽ đi bằng xe bay trên những quãng đường dài và điều đó sẽ giải quyết được tình trạng quá tải của giao thông đô thị tại các thành phố đông dân. Đó là ý tưởng của các nhà khoa học tại triển lãm ILA Berlin Air Show 2016 (triển lãm thường niên về công nghiệp hàng không và vũ trụ) tại Đức.  Tại triển lãm này, các đơn vị tham gia đã giới thiệu những sản phẩm công nghệ tân tiến nhất, các dịch vụ nổi trội, những sáng kiến mới trong ngành công nghiệp chế tạo máy bay và thiết bị hàng không vũ trụ. Đặc biệt, một nhóm các nhà khoa học đã trình bày ý tưởng về giao thông đô thị trong tương lai. Trong đó, họ đưa ra các khái niệm mới “CentAirStation” để chỉ các sân bay trong thành phố, “CityBird” là các máy bay cỡ rất nhỏ được thiết kế riêng để cất – hạ cánh chặng ngắn.  Mô hình sân bay đô thị “CentAirStation”  “CentAirStation” chỉ dài 640 m và rộng 90m, có ít nhất bốn tầng, có thể hoạt động 16 giờ/ ngày với khoảng 30 lượt bay  mỗi giờ để đáp ứng nhu cầu đi lại của khoảng 10.5 triệu khách mỗi năm. Các máy bay cỡ rất nhỏ “Citybird” được thiết kế để đáp ứng nhu cầu đi lại ở các thành phố có mật độ dân số rất cao. Vì máy bay có kích cỡ rất nhỏ nên nhóm nghiên cứu phải tập trung nhiều vào các yếu tố kỹ thuật để bảo vệ người đi trên những chiếc máy bay này khỏi tiếng ồn, an toàn khi cất – hạ cánh ở những chặng rất ngắn.  Hành khách sử dụng những phương tiện giao thông mới này chỉ phải đợi ở sân bay “CentAirStation” khoảng 15 phút trước mỗi lần cất cánh. Trong lúc hành khách chờ đợi, những chiếc máy bay siêu nhỏ “Citybird” sẽ được thang nâng đưa từ các tầng dưới của sân bay lên tầng trên cùng để sẵn sàng bay. Các nhà khoa học trên cũng thiết kế tuyến đường sắt chuyên biệt để người tham gia giao thông có thể di chuyển từ các địa điểm khác nhau trong thành phố đến được các sân bay “CentAirStation” này.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe bus chạy bằng phân bò lập kỷ lục tốc độ      Chiếc xe có tên Bus Hound của công ty  Reading Buses (Anh quốc) vừa lập kỷ lục tốc độ 123,57 km/h trên bãi thử  xe Bedford’s Millbrook Proving Ground.      Bus Hound này chạy bằng khí methane sinh học sinh ra từ phân bò. Thân xe được sơn hai màu đen trắng của loại bò Friesian, một giống bò sữa nổi tiếng ở châu Âu.  Hội Tính thời gian Anh quốc (UK Timing Association) đã chứng nhận kỷ lục vận tốc nói trên. Thông thường xe bus đều bị hạn chế tốc độ ở mức 90 km/h.  John Bickerton, kỹ sư trưởng công ty Reading Buses, nói công ty muốn rằng kỷ lục vừa đạt được sẽ giúp mọi người hiểu biết hơn về tính khả thi, công suất và tính tin cậy của loại xe bus chạy bằng phân bò này.   “Chúng tôi đang thách thức các công ty xe bus khác phá kỷ lục vận tốc của chúng tôi; chúng tôi cố gắng không để cho họ vượt qua mình. Điều quan trọng nhất là chúng tôi muốn đạt được hình ảnh xe bus không bẩn, không hôi hám và không chạy chậm như rùa. Reading Buses có những chiếc xe bus hiện đại, tốc độ cao và công ty chúng tôi luôn đi đầu trong sáng tạo đổi mới. Thật là ấn tượng khi thấy xe bus chạy nhanh như gió trên đường,” Bickerton nói.  Nhiên liệu để chạy loại xe bus này làm từ chất thải của động vật – phân bò, thứ chất thải có rất nhiều ở Anh, một nước nuôi nhiều bò sữa. Chất thải được nghiền vụn trong một quá trình công nghệ gọi là tiêu hóa yếm khí (anaerobic digestion), qua đó làm ra khí đốt sinh học, sau đấy đem hóa lỏng thành dung dịch. Loại nhiên liệu sinh học này được chứa trong bảy thùng đặt trên mui xe bus.  Cái tên Bus Hound đặt cho chiếc xe bus nói trên được truyền cảm hứng từ chiếc xe siêu âm Bloodhound đang đặt mục tiêu chạy với tốc độ kỷ lục hơn 1.609 km/h vào năm 2016.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe bus điện không người lái      Vừa qua, Đức đã tiến hành thử nghiệm chạy loại có tên Olli, với các ưu điểm không cần lái xe, không khí thải và không có tiếng ồn của động cơ.    Hãng Local Motors trình diễn xe không người lái ở Berlin  Olli  do hãng Local Motors, Mỹ, sản xuất, trong đó nhiều bộ phận của xe được sản xuất bằng máy in 3D, nhờ đó giảm được thời gian chế tạo và có thể sản xuất với số lượng nhỏ.  Olli được coi là một giải pháp đầy tiềm năng đối với hệ thống đường giao thông bị quá tải ở những vùng tập trung đông dân cư. Loại xe buýt điện chạy tự động này có một camera và nhiều cảm biến khác nhau (Radio/Light Detection & Ranging, RADAR, LIDAR) nhờ đó xe có khả năng nhận biết các tuyến đường và các thành phần tham gia giao thông. Olli có thể hoạt động trên những tuyến đường cố định nhưng cũng có thể gọi xe thông qua ứng dụng smartphone.  Xe Olli dự kiến sẽ được sử dụng cho các tuyến đường ngắn trong giao thông công cộng và cũng có thể được dùng tại sân bay, bến cảng hoặc trong khuôn viên trường đại học. Loại xe bus điện này có thể vận chuyển 12 hành khách. Khi muốn dừng xe khách nói vào Tablet-PC, một loại máy tính có màn hình cảm ứng, ở bên trong xe.  Xuân Hoài dịch theo Tuần Kinh tế Đức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe đạp đã thay đổi thế giới của chúng ta như thế nào?      Trong thời gian giãn cách xã hội, nhiều tờ báo của quốc tế đều đưa tin Coronavirus đã dẫn tới sự bùng nổ việc đi lại bằng xe đạp ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng đây không phải là lần đầu tiên xe đạp trở thành những “phương tiện hot” nhất trên thị trường.      Vào những năm 1890, xe đạp trở thành biểu tượng của người phụ nữ mới, độc lập, tiến bộ và muốn có tiếng nói chính trị. Như Godey, một tạp chí hàng tháng của phụ nữ thời đó viết: “Bằng cách sở hữu chiếc xe đạp của mình, cô gái của thế kỷ 19 cảm thấy như lời tuyên bố độc lập của cô đã được khẳng định.  Ngay cả khi LỊCH SỬ KHÔNG lặp lại y hệt, nó rõ ràng có sự tương đồng giữa hiện tại và quá khứ. Với nhu cầu về xe đạp tăng vọt, và các quốc gia chuẩn bị chi hàng tỷ đồng để thiết kế lại thành phố với trọng tâm mới là dành cho người đi xe đạp và đi bộ, sẽ thật thiếu sót khi quên rằng sự ra đời của xe đạp vào cuối thế kỷ 19 đã thay đổi thế giới.  Đó là một công nghệ cực kỳ đột phá, thậm chí tương đương với điện thoại thông minh ngày nay. Trong một vài năm đầu thập niên 1890, xe đạp là phương tiện di chuyển nhanh nhất, giá cả phải chăng và phong cách nhất có thể đưa bạn đến bất cứ nơi nào bạn quan tâm, bất cứ khi nào bạn thích, và hoàn toàn miễn phí.   Hầu như bất cứ ai cũng có thể học lái xe, và hầu như tất cả mọi người đều làm như vậy. Các sultan (vua) của Zanzibar cũng đi xe đạp. Nga hoàng cũng vậy. Người thừa kế của Kabul đã mua xe đạp cho toàn bộ hậu cung của mình. Nhưng chính tầng lớp trung lưu và lao động trên toàn cầu đã thực sự biến chiếc xe đạp thành của riêng họ. Lần đầu tiên trong lịch sử, quần chúng đã thực sự di động, có thể đến và đi như họ muốn. Không cần thêm ngựa và xe ngựa đắt tiền. Xe đạp được “cưng chiều” bởi nó không chỉ nhẹ, giá cả phải chăng và dễ bảo trì, mà còn là thứ nhanh nhất trên đường.  Từ tò mò đến điên cuồng  Xã hội đã biến đổi. Phụ nữ trở nên cực kì nhiệt tình, loại bỏ những chiếc váy Victoria rườm rà mà thay vào đó là quần áo bó sát hợp lý, và họ lên đường. “Tôi nghĩ rằng việc đi xe đạp đã giúp giải phóng phụ nữ hơn bất cứ điều gì khác trên thế giới”, nhà hoạt động nữ quyền Susan B. Anthony nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Sunday World vào năm 1896. “Tôi đứng chiêm ngưỡng và vui mừng mỗi khi nhìn thấy một người phụ nữ đi trên chiếc xe hai bánh… Đó chính là hình ảnh của người phụ nữ tự do, không bị gò bó”.    Cuộc đua xe đạp Tour de France đầu tiên được tổ chức vào tháng 7 năm 1903. Trong số 60 người đi xe đạp đã tham gia cuộc thi, chỉ có 21 người kết thúc chặng đua dài 1.500 dặm. Nhà tổ chức nổi tiếng Henri Desgrange nói rằng một “Tour de France” lý tưởng phải khó khăn đến mức chỉ có một người duy nhất có thể về đích.  Đến năm 1898, việc đi xe đạp đã trở thành một hoạt động phổ biến ở Hoa Kỳ đến nỗi tạp chí Thương mại New York tuyên bố rằng nó đã khiến các nhà hàng và nhà hát tốn hơn 100 triệu USD mỗi năm do doanh số sụt giảm. Sản xuất xe đạp trở thành một trong những ngành công nghiệp lớn nhất và sáng tạo nhất của Mỹ. Một phần ba trong số tất cả các ứng dụng bằng sáng chế là liên quan đến xe đạp – và chúng nhiều đến nỗi văn phòng bằng sáng chế của Hoa Kỳ phải xây dựng một phụ lục riêng dành cho xe đạp.   John Kemp Starley, một người Anh đã được cho là nhà phát minh ra chiếc xe đạp hiện đại. Người chú của ông, Starley cho rằng mọi người có thể có nhu cầu lớn hơn về xe đạp nếu chúng không quá đáng sợ và nguy hiểm, do đó vào năm 1885, nhà phát minh 30 tuổi bắt đầu thử nghiệm trong xưởng của mình với một chiếc xe đạp chạy bằng xích có hai bánh xe nhỏ hơn nhiều. Sau khi thử nghiệm một số nguyên mẫu, ông đã thiết kế ra chiếc xe đạp an toàn Rover, một “cỗ máy” nặng 45 pound, ít nhiều giống với những chiếc xe đạp thời hiện đại.    Nữ công nhân chế tạo bánh xe đạp tại nhà máy Hercules Cycle ở Birmingham, Anh vào những năm 1940. Được thành lập vào năm 1910, tới những năm 1930 Hercules là một trong những nhà sản xuất xe đạp lớn nhất thế giới, chế tạo ra hơn 1.000 chiếc xe đạp mỗi ngày.  Khi trưng bày lần đầu tiên tại một triển lãm xe đạp vào năm 1886, phát minh của Starley đã khiến mọi người tò mò. Và hai năm sau, khi được kết hợp với lốp khí nén mới được phát minh, nó không chỉ giúp tạo lớp đệm mà còn làm cho chiếc xe đạp an toàn với tốc độ nhanh hơn khoảng 30% so với phiên bản đầu tiên – một kết quả thật kỳ diệu.   Các nhà sản xuất xe đạp trên khắp thế giới tranh giành để cung cấp các phiên bản của riêng họ, và hàng trăm công ty mới mọc lên để đáp ứng nhu cầu đó. Tại Triển lãm xe đạp Stanley ở London năm 1895, khoảng 200 nhà sản xuất xe đạp đã trưng bày 3.000 mẫu.    Siêu sao đầu tiên của môn đua xe đạp, American Marshall Walter “Major” Taylor đã trở thành tay đua chuyên nghiệp vào năm 1896 khi đang ở tuổi thiếu niên và lập bảy kỷ lục thế giới trong suốt sự nghiệp đạp xe của mình.  Một trong những nhà sản xuất lớn nhất là Xe đạp Columbia, với nhà máy ở Hartford, Connecticut. Công ty này có thể tạo ra một chiếc xe đạp trong một phút nhờ dây chuyền lắp ráp tự động của hãng, một công nghệ tiên phong mà một ngày nào đó sẽ trở thành đặc trưng của ngành công nghiệp ô tô. Là một nhà tuyển dụng tiên phong trong ngành công nghiệp đang bùng nổ, hãng Columbia cũng cung cấp cho nhân viên của mình bãi đậu xe đạp, tủ khóa riêng, các bữa ăn được trợ cấp tại căng tin của công ty và thư viện.    Cuốn sách đầu tiên thuộc thể loại này, The Road Rights of Wheelmen (Quyền đường bộ của người đi xe đạp), được luật sư George B. Clementson viết vào năm 1895 đã đặt ra các quyền hợp pháp của người đi xe đạp khi sử dụng các con đường.  Nhu cầu vô tận đối với xe đạp đã sinh ra các ngành công nghiệp khác: vòng bi, dây cho nan hoa, ống thép, dụng cụ chế tạo chính xác – chính những ngành công nghiệp này sẽ giúp hình thành nên thế giới sản xuất như chúng ta vẫn biết, thậm chí kể cả khi xe đạp đã trở thành một thứ đơn giản như đồ chơi. Hiệu ứng này lan đến cả ngành quảng cáo. Các nghệ sĩ được thuê để tạo ra các áp phích đẹp, cung cấp một thị trường đầy tiềm năng sinh lời cho các quy trình in thạch bản mới được phát triển mà cho phép in với màu sắc phong phú, sống động. Các chiến lược tiếp thị, chẳng hạn như xây dựng chiến lược để khiến các mẫu xe trở nên lỗi thời theo kế hoạch và tung ra các mô hình mới mỗi năm, đã bắt đầu với việc thương mại hóa xe đạp vào những năm 1890.    “Outing”, một trong những tạp chí thể thao sớm nhất của Hoa Kỳ, dành nhiều trang để nói về đi xe đạp. Cơn sốt xe đạp của những năm 1890 tạo ra nhu cầu lớn cho các tạp chí đi xe đạp, hướng dẫn viên du lịch, bản đồ và sách hướng dẫn, có tới mười phần trăm tất cả các quảng cáo in liên quan đến xe đạp.  Chạm tới mọi khía cạnh của cuộc sống  Với một chiếc xe đạp, mọi thứ dường như đều có thể và những người bình thường trong xã hội đã bắt đầu những chuyến đi phi thường. Vào mùa hè năm 1890, một trung úy trẻ trong quân đội Nga đã đạp từ St Petersburg tới London với vận tốc trung bình 70 dặm một ngày. Vào tháng 9 năm 1894, Annie Londonderry, khi ấy 24 tuổi, đã khởi hành từ Chicago, với trang phục mới và cầm theo khẩu súng lục đính ngọc trai để trở thành người phụ nữ đầu tiên đạp xe vòng quanh thế giới. Chỉ chưa đầy một năm sau, cô đã quay lại Chicago và nhận được giải thưởng 10.000 USD.  Ở Úc, những người cắt lông cừu du cư đã chạy xe hàng trăm dặm qua những vùng hẻo lánh khô cằn để tìm việc làm. “Họ đi như thể đang lái xe trong công viên”, phóng viên Bean của tờ C.E.W nhớ lại trong cuốn sách “On The Wool Track” (Trên con đường lông cừu).   Và ở miền Tây nước Mỹ, vào mùa hè năm 1897, Trung đoàn 25 của Quân đội Hoa Kỳ – một đơn vị người Mỹ gốc Phi được gọi là những người Lính Buffalo – đã thực hiện một chuyến đi dài 1.900 dặm từ Fort Missoula, Montana, đến St. Louis, Missouri để chứng minh sự hữu ích của xe đạp cho quân đội. Mang theo đầy đủ tư trang, súng và lái xe trên những con đường thô sơ lầy lội, những người lính Buffalo đã lái xe trung bình gần 50 dặm một ngày – nhanh gấp đôi một đơn vị kỵ binh, với chi phí chỉ bằng một phần ba.  Sự ra đời của chiếc xe đạp đã chạm đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống nghệ thuật, âm nhạc, văn học, thời trang, thậm chí cả nguồn gene của con người. Hồ sơ giáo xứ ở Anh cho thấy các cuộc hôn nhân giữa các làng khác nhau đã gia tăng đáng kể trong cơn sốt xe đạp của những năm 1890. Những người trẻ tuổi mới được giải phóng nhờ xe đạp đã lang thang khắp vùng nông thôn tùy thích, cùng trò chuyện trên đường, và gặp gỡ ở những ngôi làng xa xôi.  Nhạc sĩ người Anh Henry Dacre đã tạo nên một hit lớn ở cả hai bờ Đại Tây Dương vào năm 1892 với Daisy Bell và đoạn điệp khúc nổi tiếng “a bicycle built for two” (chiếc xe đạp dành cho hai người). Nhà văn H.G. Wells, một tay đua xe đạp cuồng nhiệt và là một nhà quan sát xã hội sắc sảo, đã viết vài cuốn tiểu thuyết về xe đạp với những câu chuyện nhẹ nhàng xoay quanh những khả năng lãng mạn, tự do và đầy hòa nhập của hình thức vận chuyển mới tuyệt vời này.  Wells không phải là người duy nhất nhìn thấy vai trò của chiếc xe đạp trong việc định hình tương lai. “Tác dụng [của xe đạp] trong sự phát triển của các thành phố sẽ mang tính cách mạng”, ông viết trong một tạp chí xã hội học của Mỹ vào năm 1892.     Những người trẻ tuổi đi xe đạp ở Công viên Trung tâm của New York vào năm 1942. Sau khi gây bão trên toàn thế giới trong những năm 1890, xe đạp đã sớm bị rớt xuống vị trí của một loại “đồ chơi” khi ô tô dần chiếm ưu thế.  Trong một bài báo có tựa đề “Ảnh hưởng kinh tế và xã hội của xe đạp”, nhà văn dự đoán những thành phố sạch hơn, xanh hơn, yên bình hơn với những cư dân hạnh phúc hơn, khỏe mạnh hơn và hướng ngoại hơn. “Nhờ chiếc xe đạp”, ông viết, “những người trẻ tuổi nhìn thấy thế giới nhiều hơn và được mở mang bởi sự tương tác. Nếu không có điều đó, họ sẽ ít khi đi ra quá xa khỏi khu vực gần nhà. Trên chiếc xe đạp, họ liên tục đi lang thang qua nhiều thị trấn xung quanh, trở nên quen thuộc với cả quận và trong thời gian nghỉ hè, họ thậm chí còn khám phá các bang khác. Những trải nghiệm như vậy tạo ra sự tăng trưởng về năng lượng, sự tự lực và sự độc lập trong tính cách…”   Chính hàng triệu người đi xe đạp cộng với một trong những ngành công nghiệp lớn nhất của quốc gia lúc bấy giờ đã tạo động lực chính trị dẫn đến những cải tiến nhanh chóng trên đường phố và đường ở nông thôn. Thật vậy, những người đi xe đạp đã thực sự mở đường cho thời đại của ô tô – mà thời điểm bấy giờ chưa ai có thể lường trước được.  Brooklyn đã mở một trong những con đường đầu tiên dành riêng cho xe đạp vào năm 1895 – tuyến đường từ Công viên Triển vọng đến Đảo Coney. Khoảng 10.000 người đi xe đạp đã sử dụng nó vào ngày đầu tiên khánh thành. Hai năm sau, thành phố New York ban hành luật giao thông đầu tiên trên toàn quốc để đối phó với số lượng ngày càng tăng của những “con ma tốc độ” trên xe đạp. Teddy Roosevelt, ủy viên cảnh sát thành phố, giới thiệu đội cảnh sát dùng xe đạp với khả năng bắt giữ những người lái xe tốc độ. Cho đến thời điểm ấy, chiếc xe đạp kiểu cổ điển được mệnh danh là “con cưng của công chúng” (People’s nag) vẫn là phương tiện nhanh nhất trên đường.   Nhưng đó chỉ là tạm thời. Trước khi thập kỉ kết thúc, những người bán xe đạp ở cả hai bờ Đại Tây Dương đã phát hiện ra rằng lốp xe căng, ổ đĩa xích và vòng bi có thể được kết hợp với động cơ để tạo nên những chiếc xe nhanh hơn, dù không yên tĩnh cũng không có lợi thế chi phí vận hành rẻ như xe đạp, nhưng thú vị hơn và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho người bán.   Ở Dayton, Ohio, hai anh em thợ sửa xe đạp, Wilbur và Orville Wright, đang khám phá ý tưởng về một cỗ máy bay nặng hơn không khí, buộc cánh cho xe đạp để kiểm tra khả năng khí động học. Chi phí cho các nghiên cứu được trang trải bằng lợi nhuận từ cửa hàng xe đạp của họ.  Quay trở lại thị trấn Coventry, miền Bắc nước Anh, James Kemp Starley, người đã tạo ra chiếc xe đạp an toàn Rover đột ngột qua đời vào năm 1901 ở tuổi 46. Sau đó, công ty của ông đã chuyển từ việc sản xuất những chiếc xe đạp khiêm tốn sang xe máy và cuối cùng là ô tô. Đây dường như là con đường của tương lai: Ở Mỹ, một người cựu thợ sửa xe đạp khác tên Henry Ford chuyển đổi từ xe đạp sang xe máy, ô tô và mở ra kỷ nguyên ô tô. □  Hạnh Duyên dịch  https://www.nationalgeographic.com/history/2020/06/how-bicycles-transformed-world/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe đạp điện đầu tiên trên thế giới chạy bằng hydrogen      Pragma Industries (Pháp) mới giới thiệu xe đạp điện đầu tiên trên thế giới chạy bằng dòng điện từ pin nhiên liệu hydrogen và chỉ cần năm phút bơm khí hydrogen là có thể đi được 100 km.       Pierre Forté CFO công ty Pragma cho biết: ở loại xe nhãn hiệu Alpha này, pin nhiên liệu hydrogen (Hydro Fuel Cell) đặt trong khung xe, nó chỉ thải ra nước mà không thải ra CO2. Các trạm bơm nhiên liệu dọc đường dùng điện mặt trời hoặc điện gió để tự sản xuất hydrogen nhằm giảm tới mức tối đa khí thải carbon.  Năm 2016, Pragma sẽ sản xuất 100 chiếc Alpha, năm 2017 nâng lên 1.000 chiếc. Với mức sản xuất như vậy, giá thành một xe sẽ bằng khoảng 2.300 Euro, không đắt hơn loại xe đạp điện hiện dùng.   Theo tin các báo, Tổng cục Bưu chính Pháp đã tỏ ý sẽ đặt mua một lô xe đạp điện Alpha.  Pin nhiên liệu hydrogen hoạt động theo nguyên lý kết hợp hydrogen với oxygen trong một phản ứng điện hóa có xúc tác để tạo nên dòng điện, chỉ thải ra nước. Hydrogen được bơm vào bình chứa, oxygen lấy từ không khí. Loại nguồn điện này có các ưu điểm: không gây ra bất kỳ sự ô nhiễm nào, vì sản phẩm thải ra chỉ là nước tinh khiết; sản xuất điện với hiệu suất cao (40% trở lên); vận hành êm, không gây chấn động và tiếng động, động cơ có hiệu suất sử dụng cao gấp hai đến ba lần động cơ đốt trong.  Nhiều năm qua, hãng Toyota đã chế tạo ô tô điện nhãn hiệu Mirai chạy bằng pin nhiên liệu hydrogen. Sau khi đã chạy thử hàng triệu km, Toyota đang chuẩn bị bán xe Mirai tại Mỹ vào năm 2015, với giá 57.500 USD. Hiện Toyota đang lắp đặt 12 trạm bơm hydrogen rải rác khắp một số bang nước Mỹ. Hai bình nhiên liệu trên xe chứa 5kg hydrogen; mỗi lần bơm hydrogen chỉ cần 5 phút, đủ chạy 483 km. Giá hydrogen khoảng 7-13 USD/kg.  Hải Hoành tổng hợp  Nguồn: http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/france/11904005/French-unveil-world-first-hydrogen-powered-electric-bike-emitting-only-pure-water.html  http://www.freep.com/story/money/cars/2015/08/04/toyota-mirai-fuel-cell-vehicle-car-seminar-traverse-city/31104205/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe đẩy chân động cơ điện sẽ tạo cuộc cách mạng về đi lại      Xe đẩy chân với động cơ điện đang “bừng tỉnh”. Tại Hoa Kỳ đã có những thành phố tràn ngập loại xe này và ở châu Âu, chúng cũng đã xuất hiện ở Paris.    Trên một con lộ ở Paris người ta đã thấy bên lề đường một chiếc xe đẩy bằng chân màu đen của hãng Bird, Hoa Kỳ sản xuất. Chiếc xe này trông hệt như loại xe đẩy chân thông thường và hoạt động cũng gần như loại xe đó. Người đạp xe phải dùng chân đẩy mạnh một hai cái để khởi động sau đó xe sẽ chạy khi người dùng gạt cần ga. Động cơ điện lắp trong xe có thể giúp xe chạy với tốc độ lên đến 25 km/giờ. Tại thủ đô nước Pháp chi phí thuê xe nửa tiếng đồng hồ là 1 Euro, người thuê xe có thể trả lại xe ở bất cứ đâu miễn là ở đó có chổ để dựng xe.  Loại xe này từ lâu đã khá phổ biến ở Paris và một số thành phố ở Hoa Kỳ. Ông Travis VanderZanden, cựu quản lý của Uber là người sáng lập doanh nghiệp Bird và cách đây khoảng một năm đã cho loại xe đẩy chân chạy điện đi vào hoạt động ở Santa Monica, California và ngày càng có nhiều dịch vụ tương tự với những cái tên như Lime, Scoot và Skip. Ngay cả một số hãng dịch vụ giao thông như Uber hay Lyft cũng tham gia vào hoạt động này. Tuy nhiên loại xe đẩy chân này đang gây khá nhiều tranh cãi trong xã hội.  Ngày càng có nhiều người tham gia giao thông sử dụng phương tiện này vì nó khá cơ động, tuy nhiên nó lại tranh giành đường dành cho xe đạp và tuyến đường này vốn đã không rộng rãi. Hơn nữa loại xe này không phải không nguy hiểm. Hiện chưa có quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm, tuy điều này là cần thiết. Ngoài giới trẻ ở các khu đô thị tán thưởng loại phương tiện giao thông này, những người còn lại tỏ ra hoài nghi, e ngại.  Vì những lý do trên nên cơ quan chính quyền có những thận trọng. Mới đây thành phố San Francisco đã cho đấu thầu để cấp năm giấy phép đối với dự án thí điểm này. Đã có 12 doanh nghiệp đăng ký tham gia đấu thầu và chính quyền thành phố trước mắt đã cấp phép cho hai doanh nghiệp: Skip và Scoot được đưa vào sử dụng trong sáu tháng, với mỗi doanh nghiệp 625 xe đẩy chân. Sau đó họ có thể tăng gấp đôi số xe nửa năm tiếp theo. Sau 12 tháng sẽ đánh giá kết quả. Santa Monica cũng áp dụng cách tương tự. Tại đây có 4 doanh nghiệp trúng thầu: Bird, Lime, Lyft và Jump, công ty con của Uber.  Giờ đây cả hai doanh nghiệp Lime và Bird đều được đánh giá có giá trị cỡ một tỷ Euro. Trong khi đó ở một số nơi như nước Đức, người ta vẫn phải chầu chực chờ đợi xu hướng mới mẻ này. Các quy định về giao thông đang là rào chắn. Ngay cả hình thức taxi chung, tức đón nhiều khách lên một xe sau đó khách chia tiền để trả cũng, có địa phương cho phép có địa phương không.   Tuy nhiên chính phủ liên bang Đức đã nhận ra vấn đề và sẽ có sự sửa đổi những lỗ hổng này trong thời gian tới. Tuy nhiên chưa ai có thể khẳng định “thời gian tới” là bao nhiêu lâu.  Ở Đức xe đẩy chân phải chạy trên đường dành cho xe đạp (nếu có) và vận hành về nguyên tắc như xe đạp. Người đi xe đẩy chân không nhất thiết phải đội mũ bảo hiểm và tốc độ xe chạy không quá 20km/h. Theo thống kê ở Đức hiện có trên 2,3 triệu hộ gia đình sử dụng xe đạp điện, xe đạp điện công cũng được dùng ngày càng phổ biến hơn.   Xuân Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/umwelt/tretroller-mit-elektromotor-so-sieht-die-naechste-mobilitaetsrevolution-aus/23128952.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe tải điện của Đức thâm nhập châu Phi      Xe bán tải chạy điện như aCar có thể góp phần giải quyết vấn đề giao thông vận tải ở châu Phi.    Bản thân người dân châu Phi coi thị trường của họ không thích hợp với loại xe ô tô điện nhưng sinh viên đại học München muốn chứng minh điều ngược lại. Họ đã phát triển một loại ô tô điện hết sức đơn giản, phù hợp với thị trường châu Phi.   aCar là loại xe ô tô chạy bằng pin phát triển theo nhu cầu của thị trường châu Phi. Đường giao thông ở châu Phi thường có rất nhiều ổ voi, ổ gà và mùa mưa thì lầy lội, nhiều rãnh sâu ngập nước. Trường đại học München cũng tạo ra một cung đường rất giống với điều kiện thực tế ở châu Phi để phát triển aCar của họ. Trong khi các tập đoàn ô tô như Tesla, BMW hay Daimler đổ tiền tỷ vào cuộc chạy đua để tạo ra công nghệ hiện đại nhất để chế tạo những loại ô tô điện hàng đầu thế giới thì hai nhà phát triển Sascha Koberstaedt và Martin Šoltés, hai nghiên cứu sinh thuộc Đại học kỹ thuật München (TUM), lại đi theo hướng ngược lại: tìm giải pháp công nghệ giản tiện nhất và ít tốn kém nhất. Cách đây năm năm hai nhà kỹ thuật này có kế hoạch đầy tham vọng: chế tạo ra loại ô tô dành cho các nước đang phát triển và các nước mới nổi. Cho đến nay người dân ở đây còn xa lạ với cảnh ùn tắc triền miên và hít không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng, song cái mà họ được hưởng chỉ là những chiếc ô tô chạy xăng hay dầu diesel bị châu Âu hay Hoa kỳ thải loại.  Thiếu phương tiện giao thông vận tải thực sự là một yếu tố kìm hãm sự phát triển của châu Phi. Sự dịch chuyển của con người và hàng hoá diễn ra chậm chạp, nhiều khi sản phẩm bị ôi thiu vì không đưa ra thị trường kịp thời, nhiều chị em phụ nữ phải bỏ bê con cái, gia đình vì đi làm ở thành phố không thể về nhà hàng ngày. Các kỹ sư trẻ trăn trở và họ hiểu rằng cần phải có ô tô điện. Các chuyên gia làm việc tại Bayern đã kiểm nghiệm 40 loại mẫu xe khác nhau để tìm ra loại xe thích hợp nhất với các điều kiện ở châu Phi. Họ đã tìm ra loại xe bán tải aCar là mẫu xe thích hợp nhất, “loại xe này bảo đảm vận chuyển nông sản giữa các thôn bản ở phía nam sa mạc Sahara, nhờ sự thông thương này nên giảm được tình trạng người nông dân phải ly hương”, kỹ sư Koberstaedt phát biểu.  Xe aCar chỉ có hai chỗ ngồi, thích nghi với địa hình phức tạp. Mặc dù xe chỉ dùng loại pin cỡ nhỏ nhưng có thể chở một lượng lớn sản phẩm. Chỉ cần thực hiện một số thao tác đơn giản, không cần có những dụng cụ phức tạp người ta có thể biến xe bán tải này thành trạm chế biến nước hoặc thành trạm y tế di động. Nếu có nguồn điện bên ngoài có thể vận hành máy bơm nước và làm lạnh để bảo quản các loại vắc xin tiêm chủng.  “Ở châu Phi số ổ cắm nhiều hơn các cây xăng“, theo nhận xét của Markus Lienkamp, giáo sư cấp cao về kỹ thuật ô tô thuộc TUM.    Elektro-Unimog, aCar, loại xe vận tải giá rẻ hoạt động trong các bản làng   Để hỗ trợ sự phát triển kinh tế sở tại người ta đã tìm mọi cách chế tạo nhiều nhất có thể các loại phụ tùng, thiết bị để lắp ghép aCar ngay tại châu Phi. “Nhờ các mối đúc và bắt ốc vít hết sức đơn giản nên hạ được chi phí sản xuất cũng như chi phí đầu tư“, Wolfram Volk, phụ trách bộ môn đột dập, tạo hình và đúc thuộc TUM cho hay. Cả chiếc xe ô tô được tạo thành chỉ từ 200 bộ phận và ở khâu gá lắp chỉ cần thực hiện hai bước là hàn và bắt ốc vít.  Nói chung việc chế tạo chiếc xe aCar chủ yếu làm thủ công. Điều này khác hoàn toàn so với khâu chế tạo ô tô điện tại các hãng như Tesla, Daimler hay BMW. Sản xuất thủ công sẽ tiếp tục được duy trì vì tiết kiệm chi phí đầu tư mua sắm thiết bị máy móc hiện đại, mặt khác tạo thêm công ăn việc làm cho dân sở tại. Do chi phí lao động ở châu Phi còn thấp nên có thể tiến hành sản xuất thủ công. Trước khi thực hiện sản xuất hàng loạt aCar ở châu Phi người ta đã tiến hành thử nghiệm dây chuyền sản xuất tối ưu tại một nhà máy mô hình ở Đức. “Chúng tôi đã tiến hành đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật người Phi tại đây, họ sẽ là những người tiếp tục đào tạo tại chỗ lực lượng chuyên môn”, Koberstaedt nói.  Vì dự án châu Phi của mình, hai nhà phát triển đã thành lập doanh nghiệp Evum Motors, dự kiến từ năm 2020 doanh nghiệp sẽ cho xuất xưởng 700 aCars mỗi năm và từ 2025 trên 100.000 xe một năm. Với các phương tiện đơn giản nhất là cờ lê và máy hàn người ta có thể lắp ráp chiếc xe này, không cần phải có các thiết bị đắt tiền như máy ép tấm, máy sơn hay rô bốt hàn. Cuối năm 2019 aCar sẽ được lắp ráp ở châu Phi.  “Động cơ điện không chỉ thân thiện hơn với môi trường mà nó còn là một giải pháp tốt hơn về kỹ thuật, loại động cơ này hầu như không cần bảo trì và có thể phát huy triệt để momen xoáy ngay khi khởi hành”, Šoltés nhấn mạnh, “hơn nữa hầu hết các khâu bảo trì tốn kém như thay đai răng hay thay dầu đều không cần làm”. Nhà chế tạo quyết định chọn loại ắc quy Lithium-Ionen chỉ với công xuất 20 Kilowatt/giờ. Loại ắc quy cỡ nhỏ của aCar chỉ cần nạp điện trong sáu tiếng đồng hồ ở ổ điện bình thường, 230 Volt. Ngoài ra trên mui xe còn có tấm pin mặt trời để sản xuất thêm điện.  Tại các vùng nông thôn châu Phi không có điện một chiều như ở Hoa kỳ hay điện ba pha xoay chiều như ở châu Âu, việc tải điện cho các ắc quy cỡ lớn ở châu Phi sẽ mất rất nhiều thời gian. Theo khảo sát của các chuyên gia München kết hợp với các chuyên gia tại các trường đại học ở Ghana, Kenia, Nigerria và Tanzania thì các loại xe bán tải và xe buýt bình quân chạy khoảng 68 km trên các tuyến đường.  Giá một aCar ở châu Phi chỉ khoảng 8000 Euro. Giá đó thấp hơn hẳn so với loại xe chạy xăng cỡ nhỏ nhất. Tầm đi xa thực tế của xe khoảng 150 km. Trọng lượng xe là 800 kilo và có thể chở 1 tấn hàng, xe hai cầu nên thực sự khoẻ. Tuy nhiên tốc độ tối đa chỉ đạt 70 km/h. Theo Soltes những con số này hoàn toàn đáp ứng nhu cầu trong điều kiện Phi châu và điều này đã được chứng minh qua các khảo sát tại chỗ. Những quãng đường có nhiều ổ gà và lầy lội trong thực tế không thể chạy quá 30 kmh. Trong điều kiện ở châu Phi cái duy nhất mà người sử dụng xe yêu cầu phải có là radio, xe ô tô mà không có ra đi ô thì không đáng gọi là ô tô.  Hoài Trang dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/industrie/globalisierung/elektrolaster-acar-deutsches-e-auto-soll-afrika-erobern/23089072.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe tự lái được lập trình để bảo vệ ai?      Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một số cuộc khảo sát lấy ý kiến người dân xung quanh vấn đề lập trình xe tự lái có nên mạo hiểm tính mạng người ngồi trên xe để cứu số đông người đi đường?   Bảo vệ số đông người đi đường?    Robot Taxi (Taxi tự lái) – được kì vọng sẽ phục vụ  du khách đến Nhật Bản vào Olympic 2020 Nguồn ảnh: caradvice.com.au  Hiện nay, xe tự lái (autonomous vehicles) đã không còn là khái niệm xa lạ, với nhiều hãng xe lớn đang cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường trong tương lai. Ước tính đến năm 2020, cả thế giới sẽ có khoảng 10 triệu chiếc.   Tuy nhiên, ngay cả khi xe tự lái được trang bị nhiều công nghệ để đối phó với các tình huống bất ngờ có thể xảy ra, tai nạn vẫn có thể xảy ra với những nguyên nhân khách quan khác nhau. Đây là một ví dụ điển hình: Một chiếc xe tự lái chở hành khách A đang đi trên đường, phía trước có một xe tải, bên phải là một người đi xe máy và bên trái là một xe ô tô cỡ lớn. Bất ngờ những thùng hàng trên chiếc xe tải rơi xuống. Trong trường hợp không kịp dừng lại, xe sẽ tiếp tục đi thẳng làm A gặp tai nạn nghiêm trọng; hay rẽ phải với khả năng làm người đi xe máy thương vong nhưng A sẽ được an toàn; hay rẽ trái vào xe ô tô với xác suất cả hai xe đều bị thiệt hại ít nhiều? Đối với một chiếc xe bình thường, phản ứng của người lái xe là hoàn toàn ngẫu nhiên và không đoán định được. Tuy nhiên với xe tự lái, những phản ứng này hoàn toàn có thể được lập trình trước. Lúc đó, vấn đề đạo đức được đưa ra và chúng ta phải đối mặt với những sự lựa chọn không hề dễ dàng.   Trong một khảo sát mới đây trên Science, các nhà nghiên cứu không tập trung vào việc xe tự lái cần được lập trình như thế nào khi phải đối mặt với những sự lựa chọn khó khăn, mà thay vào đó, thực hiện các cuộc khảo sát online lấy ý kiến của người tham gia giao thông. Những người này đều là công dân Mĩ và có hiểu biết nhất định về công nghệ. Một tình huống giả định được đặt ra: khi bất ngờ có (một số lượng nhất định) người đi bộ băng ngang qua xe và xe không kịp dừng lại, xe sẽ tiếp tục đi thẳng gây ra tai nạn cho người đi bộ, hay sẽ rẽ chệch hướng đâm vào tường và mạo hiểm tính mạng của người ngồi trên xe?   Hơn ¾ số người được hỏi cho biết, xe tự lái nên mạo hiểm mạng sống của một người ngồi trên xe nếu số lượng người đi bộ cần được bảo vệ lên đến 10 người. Họ cũng đồng ý rằng, chiếc xe cần được lập trình theo nguyên tắc bảo vệ số lượng người càng nhiều càng tốt, bất chấp việc đó có nguy hiểm đến tính mạng của người ngồi trong xe hay không. Nhiều người vẫn giữ quan điểm này ngay cả khi người ngồi trong xe là bản thân họ hoặc một người thân trong gia đình.  Tuy nhiên khi được hỏi liệu họ có sẵn lòng mua một chiếc xe được kiểm soát bởi thuật toán giảm thiểu số người bị nạn hay không, họ lại bày tỏ mong muốn mua một chiếc xe đảm bảo an toàn cho người sử dụng.   Ai quyết định các nguyên tắc lập trình?  Một vấn đề khác được đặt ra là: Ai sẽ là người quyết định các nguyên tắc lập trình? Nhà sản xuất hay chính phủ? Trước khi tiến hành các cuộc điều tra, các nhà nghiên cứu đặt giả thiết cách tốt nhất để đảm bảo giao thông an toàn là dựa vào những quy định của chính phủ. Tuy nhiên, kết quả từ cuộc điều tra lại cho thấy hầu hết mọi người phản đối ý kiến này. Nếu các nhà sản xuất buộc phải lập trình xe tự lái theo nguyên tắc giảm thiểu tối đa người bị nạn theo quy định của chính phủ, phần lớn những người được hỏi đều cho biết họ thà mua một chiếc xe bình thường còn hơn.  Nghiên cứu trên Science cho rằng có hai khả năng xảy ra. Trường hợp thứ nhất là trên thị trường bày bán các loại xe được lập trình theo cả hai cách: hoặc bảo vệ người sử dụng xe hoặc giảm thiểu số người bị nạn. Trong trường hợp này, những xe lập trình theo cách bảo vệ người sử dụng sẽ được tiêu thụ nhiều hơn, và các nhà sản xuất rất có thể sẽ lập trình theo cách này để tăng doanh số bán hàng. Hậu quả là xe có thể gây nên những vụ tai nạn với thương vong lớn. Trong trường hợp thứ hai, các xe sẽ được lập trình theo nguyên tắc đảm bảo an toàn cho số đông theo quy định của chính phủ. Tuy nhiên, tình hình vẫn sẽ không sáng sủa hơn. Việc các nhà sản xuất bị buộc phải tuân theo quy định của chính phủ sẽ làm giảm một lượng lớn người mua xe tự lái, dẫn đến việc có nhiều tài xế trên đường, và vì vậy tăng nguy cơ tai nạn do lỗi của người cầm lái.  Alan Winfield thuộc phòng thí nghiệm Bristol Robotics (Anh) cho biết, nghiên cứu đã cho chúng ta thấy một điều không hề mới: lợi ích cá nhân luôn được quan tâm nhiều hơn lợi ích cộng đồng. Ông phát biểu: “Người ta chỉ chấp nhận xe tự lái mạo hiểm tính mạng của thiểu số để đảm bảo an toàn của số đông khi họ không nằm trong thiểu số đó”.  Vi Thị Hương Thơm tổng hợp   Nguồnhttps://www.theguardian.com/science/2016/jun/23/will-your-driverless-car-be-willing-to-kill-you-to-save-the-lives-of-othershttp://science.sciencemag.org/content/352/6293/1573http://www.businessinsider.com/report-10-million-self-driving-cars-will-be-on-the-road-by-2020-2015-5-6http://ed.ted.com/lessons/the-ethical-dilemma-of-self-driving-cars-patrick-lin    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xem phim 3D không cần kính      Để xem phim 3-D, thông thường khán giả phải  đeo kính hỗ trợ phân cực hình ảnh khá bất tiện. Nhưng nay các nhà khoa  học có thể đã giải quyết sự bất tiện này.    Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc vừa đưa ra một phương pháp mới cho phép khán giả xem phim 3-D mà không cần thiết bị hỗ trợ nào khác. Nghiên cứu này được công bố ngày 20/8/2012 trên Optics Express.  “Về cơ bản, đây là bước tiến cần thiết trong công nghệ hiển thị 3D không cần kính”, nhà vật lí học John Koshel, chuyên nghiên cứu quang học tại Đại học Arizona nhận xét.  Con người có thể nhìn thấy thế giới ba chiều vì giữa vị trí hai mắt có một khoảng cách nhất định, và mỗi mắt nhìn ở một góc độ khác nhau. Bộ não kết hợp các thông tin từ cả hai mắt, xác định vị trí của vật trong tầm mắt để tạo ra nhận thức về chiều sâu.  Để tạo ra các bộ phim 3-D, thủ thuật ở đây là gửi riêng biệt hai phần của một hình ảnh tới hai mắt. Kính đặc biệt xử lý các nhiệm vụ này ở hầu hết các bộ phim bom tấn 3-D hiện đại bằng cách phân cực ánh sáng, đưa mỗi hình ảnh riêng lẻ vào đúng mỗi bên mắt (rồi sau đó não bộ nhận các hình ảnh riêng lẻ ở từng bên mắt này rồi xử lý như khi tiếp nhận hình ảnh ngoài đời thực). Cơ chế phân cực hình ảnh theo hướng của sóng điện từ trong dao động của ánh sáng, có thể đưa hình ảnh lên-xuống, sang trái – phải hoặc đặt hình ảnh vào giữa.  Khi bạn xem một bộ phim như Avatar, hai máy chiếu hiển thị hai hình ảnh trên cùng một màn hình, với ánh sáng từ một máy phân cực trái-phải và từ một máy phân cực lên-xuống. Đây là lý do tại sao màn hình trông hơi mờ khi bạn bỏ kính ra, vì khi đó bạn nhìn thấy cả hai phim đang cùng được chiếu một lúc. Kính 3D hiệu chỉnh điều này bằng cách tách các hình ảnh đó, cho phép hình ảnh từ máy chiếu phim bên trái đi vào mắt trái của bạn và hình ảnh từ máy chiếu bên phải đi vào mắt phải của bạn.  Tuy nhiên, để có hai máy chiếu được đồng bộ hóa một cách chính xác trong một nhà hát là điều rất bất tiện và tốn kém. Trong khi đó, có một số phương pháp xem không cần tới kính, với một bộ lọc đặc biệt phủ lên màn hình sẽ gửi một số hình ảnh tới mắt phải, một số tới mắt trái của bạn, tạo nên một hình ảnh 3 chiều. Đây là công nghệ trong hệ thống chơi game 3DS của Nintendo và một số màn hình điện thoại thông minh như HTC Evo 3D. Trong một rạp hát, kỹ thuật xem 3D không kính như vậy sẽ cần tới máy chiếu đặt ở phía sau màn hình, nhưng hầu hết các nhà hát không được thiết kế cho việc này.  Tuy nhiên, phương pháp mới nhất hiện nay sẽ cho phép các rạp chiếu phim giữ cho máy chiếu ở nguyên chỗ cũ – phía sau khán giả, và sử dụng công nghệ quang học khá đơn giản. Một màng đặc biệt nằm ở phía trước máy chiếu sẽ phân cực ánh sáng của nó. Sau đó, một bộ lọc phủ lên màn hình làm mờ các vùng khác nhau theo chiều dọc của màn hình, giống như các sợi của một bức mành mỏng. Mỗi mắt ở một góc độ ánh sáng riêng sẽ chỉ nhìn thấy một phần của màn hình, phần còn lại sẽ bị chặn lại và chỉ mắt kia mới thấy được. Bộ phim có những hình ảnh dành cho mắt trái và hình ảnh cho mắt phải đan xen nhau tại các cột dọc. Thủ thuật ở đây là làm sao để ánh sáng mà mắt trái nhìn thấy được chứa các điểm ảnh dành cho mắt trái, và ngược lại, ánh sáng đi vào mắt phải chứa các điểm ảnh dành cho mắt phải.  Phương pháp mới ít rắc rối hơn so với phương pháp hiện nay là sử dụng hai máy chiếu, cũng như phương pháp đặt máy chiếu sau màn hình. Nhưng vì phương pháp mới này ngăn chặn một số luồng ánh sáng đến các bên mắt khác nhau của bạn nên độ phân giải hình ảnh hiện tại khá thấp. Koshel hy vọng rằng công ty điện ảnh 3D sẽ quan tâm đến việc nâng cấp các chức năng và độ phân giải của phương pháp xem phim 3D không cần kính này đến công chúng.  “Công nghệ này vẫn còn trong giai đoạn phôi thai nhưng là bước đột phá mới sau một thời gian dài”, Koshel nói.  Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://www.wired.com/wiredscience/2012/08/glasses-free-3d/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xem xét 3 tháng điều chỉnh giá điện một lần      Chiều 9/7, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Nam Hải cho biết, Bộ đang xem xét về việc điều chỉnh giá điện 3 tháng một lần theo đúng Quyết định 24.    Theo Quyết định 24, giá điện có thể được điều chỉnh 3 tháng một lần, trong trường hợp thị trường cho phép. Sau khi đăng ký điều chỉnh thì giá điện sẽ được tăng giảm theo cơ chế thị trường và biến động của thông số đầu vào. Bộ Công thương và Bộ Tài chính sẽ cân nhắc từng thời điểm điều chỉnh và xin ý kiến Thủ tướng.  Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Nam Hải bổ sung, việc điều chỉnh giá điện sẽ được cân nhắc từng bước, tránh đột ngột ảnh hưởng đến tâm lý người dân. “Bộ sẽ xem xét và cân nhắc tới việc 3 tháng điều chỉnh giá điện một lần. Tuy nhiên, điều chỉnh ở đây được hiểu theo cả nghĩa giảm giá điện chứ không phải chỉ tăng giá”, ông Hải nhấn mạnh.  Xung quanh thị trường phát điện cạnh tranh, ông Cường cho hay, thị trường điện rất nhạy cảm, ảnh hưởng lớn đến trong nước nên Quyết định 24 đề ra 3 cấp độ là phát điện cạnh tranh, bán buôn cạnh tranh và bán lẻ cạnh tranh. Bộ Công thương đã thành lập 3 tổng công ty phát điện và dự kiến sẽ tiến tới cổ phần hóa trong tương lại gần. Dù nằm trong EVN nhưng các doanh nghiệp này bình đẳng trong việc phát điện.  Theo lãnh đạo Cục điều tiết điện lực, việc tái cơ cấu ngành điện hết sức nhạy cảm và cần tiến hành từng bước. Bộ trưởng Công thương cũng đã trả lời trước Quốc hội là sẽ đẩy nhanh mục tiêu này và dù ở cấp độ nào cũng phải đảm bảo đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng. Hiện các nước trên thế giới vẫn chỉ dừng ở thị trường bán buôn cạnh tranh, còn để đạt đến thị trưởng bán lẻ cần rất nhiều công nghệ. “Khi chúng ta tiến tới thị trường bán buôn và bán lẻ điện cạnh tranh sẽ có những điều chỉnh phù hợp với lộ trình”, ông Cường nói.  Trước đó, từ ngày 1/7, giá điện sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh đồng loạt được điều chỉnh với mức tăng bình quân 65 đồng lên 1.369 đồng mỗi kWh chưa bao gồm VAT (tương đương tăng 5%).  Tại buổi họp báo chính phủ thường kỳ vào hồi đầu tháng 7, câu chuyện EVN bất ngờ tăng giá điện cũng được Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho rằng “cần rút kinh nghiệm”. Cái “không khéo” của ngành điện, theo đại diện của Chính phủ chính là việc không làm tốt khâu tuyên truyền, công khai lý do tăng giá.   Tham khảo:  http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-24-2011-QD-TTg-dieu-chinh-gia-ban-dien-theo-co-che-thi-truong-vb122153t17.aspx    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xem xét thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm KH&CN Quốc gia      Sau Quỹ Phát triển KH&amp;CN  (Nafosted), Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Khởi nghiệp KH&amp;CN,  Bộ KH&amp;CN tiếp tục nghiên cứu mô hình Quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm tạo  điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp mới thành lập đầu tư phát triển  công nghệ cao, công nghệ mới.    Tại buổi làm việc vào chiều ngày 3/6 do Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh chủ trì, Viện Chiến lược chính sách KH&CN đã trình bày những kinh nghiệm thành công của mô hình Quỹ Đầu tư mạo hiểm ở nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, Israel, Trung Quốc…, qua đó gợi mở nhiều ý tưởng về mô hình, cách vận hành Quỹ cũng như những đối tượng chính thụ hưởng ưu đãi về vốn từ Quỹ tại Việt Nam.  Trên thực tế, Việt Nam chưa có chính sách cụ thể nào quy định về việc khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, tuy bắt đầu có những Quỹ đầu tư hoạt động theo phương thức mạo hiểm như IDG Venture, Mekong Capital, Vina Capital. Tuy nhiên do các quỹ này thường hướng tới đối tượng chính là các công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán, hoạt động từ hai năm trở lên và chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực bất động sản, thương mại điện tử, truyền thông giải trí, mạng xã hội. Rất hiếm hoi các dự án về công nghệ cao, công nghệ mới ở giai đoạn khởi nghiệp nhận được đầu tư từ các quỹ này. Vì vậy việc thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia được coi là một trong những giải pháp quan trọng giúp huy động nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp KH&CN, nhất là khi các doanh nghiệp này có cơ hội tiếp cận vốn vay để đầu tư trực tiếp vào các công nghệ mới và công nghệ cao.   Tuy nhiên theo phân tích của ông Tạ Doãn Trịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách KH&CN, vốn của nhà nước chỉ mang tính chất xúc tác, tạo cú hích để doanh nghiệp đầu tư vào phát triển công nghệ chứ không phải để sinh lời. Ở nhiều nước, đặc biệt là Mỹ, người lập ra các Quỹ đầu tư mạo hiểm là tư nhân nhưng ở một số nước khác như Trung Quốc, Israel…, chính phủ đóng vai trò thành lập và rót vốn ban đầu, bên cạnh việc tạo dựng môi trường đầu tư, chính sách chung.   Với trường hợp của Việt Nam, vai trò đầu tư ban đầu của nhà nước là không thể thiếu, tuy nhiên, để Quỹ hoạt động hiệu quả, cần phải làm rõ cơ chế vận hành, vai trò giám sát của nhà nước đối với công tác điều hành, thực hiện đầu tư nhằm kịp thời khắc phục những vấn đề phát sinh, ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp.   Học tập kinh nghiệm thành công của quốc tế, ông Tạ Doãn Trịnh cho biết, để hạn chế rủi ro mất vốn đầu tư, Quỹ Đầu tư mạo hiểm ở cấp quốc gia của Việt Nam cần hoạt động với hai hình thức là đồng đầu tư (nhà nước và doanh nghiệp cùng bỏ vốn) và quỹ trong quỹ, trong đó đầu tư vào những dự án đã được quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân lựa chọn.    Theo những đề xuất ban đầu, đối tượng thụ hưởng của những ưu đãi về vốn vay từ Quỹ Đầu tư mạo hiểm sẽ là doanh nghiệp tư nhân mới thành lập từ sáu đến 18 tháng có ý tưởng đầu tư vào phát triển công nghệ mới, công nghệ cao và những doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển công nghệ thuộc định hướng ưu tiên của quốc gia.   Từ những nghiên cứu và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế này, Viện Chiến lược chính sách KH&CN sẽ tiếp tục bổ sung, hoàn thiện văn bản để tham mưu cho Bộ KH&CN đề xuất với Chính phủ ban hành chính sách nhằm khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với nhà nước để thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, dự kiến vào cuối năm 2015. Trước đó, Viện Chiến lược Chính sách KH&CN sẽ tiếp tục mời các chuyên gia quốc tế tư vấn, trao đổi kinh nghiệm về thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm, đồng thời lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành có liên quan.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm máu có thể dò được ung thư nhiều năm trước khi có triệu chứng      Một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã phát triển xét nghiệm có thể nhận diện được các bệnh ung thư khoảng bốn năm trước khi xuất hiện các dấu hiệu nhận biết về bệnh. Điều này làm tăng lên hi vọng về việc có thể sớm dò được ra bệnh.      Xét nghiệm máu mới có thể nhận diện một cách chính xác số người không mắc ung thư tới 96%  Một nhóm nghiên cứu do các nhà nghiên cứu Trung Quốc dẫn dắt cho biết xét nghiệm máu không xâm lấn mang tên PanSeer có khả năng dò được ung thư với tỷ lệ 95% số người thử nghiệm, không có các triệu chứng nhưng sau đó lại được chẩn đoán có bệnh.  “Chúng tôi đã chứng minh là có năm dạng ung thư có thể dò được thông qua một xét nghiệm máu liên quan đến metyl hóa DNA và sớm hơn chẩn đoán thông thường tới bốn năm,” họ viết như vậy trong bài báo xuất bản trên Nature Communications.  Họ cho biết, xét nghiệm này không giống như việc dự đoán ung thư mà chỉ là chỉ ra sự phát triển ung thư chưa đem lại những triệu chứng hoặc được phát hiện bằng các phương pháp khác. Có nhiều xét nghiệm sinh thiết lỏng đã trở thành tâm điểm của nhiều nghiên cứu vì chúng đưa ra cách chẩn đoán không xâm lấn để sàng lọc bệnh nhân.  Nghiên cứu mới không phải là nghiên cứu đầu tiên nêu những kết quả tích cực của một xét nghiệm máu để phát hiện ung thư sớm. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu nói nghiên cứu này thú vị bởi nó cho thấy các bệnh ung thư có thể dò được trước khi các bệnh nhân cho thấy có bất kỳ chỉ dấu nào của các triệu chứng, một số nghiên cứu đã từng làm được điều này trước đây.  Các nhà nghiên cứu cho biết xét nghiệm mới sàng lọc dựa trên các vùng riêng biệt của DNA trong plasma máu cho những thẻ gắn hiển thị, hay còn gọi là các nhóm metyl hóa, vốn thường xuất hiện trong DNA khối u. Họ đã sử dụng các kỹ thuật cho phép họ chọn được từng mức rất nhỏ DNA. Sau đó sử dụng các thuật toán học máy để phát triển một hệ có thể xác định liệu DNA nào được tìm thấy đang lưu thông trong máu có thể xuất phát từ các khối u thông qua sự hiện diện của các nhóm metyl.  Để phát triển xét nghiệm này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mẫu máu plasma từ những người ở Trung Quốc giữa năm 2007 và 2014 như một phần của một nghiên cứu có quy mô lớn hơn.  Về tổng thể, 414 mẫu máu được lấy từ những người tham gia, vốn là những người còn chưa mắc bệnh ung thư hoặc ít nhất là chưa phát hiện ra bệnh sau khi lấy mẫu máu được 5 năm, và 191 mẫu được dùng từ máu của các bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, gan, phổi hoặc thực quản trong vòng bốn năm. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mẫu từ 223 bệnh nhân được lưu trữ ở ngân hàng sinh học mới được chẩn đoán mắc một trong số năm bệnh ung thư trên.  Sau khi huấn luyện hệ do họ phát triển với một nửa số mẫu, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra cách tiếp cận của mình trên nhóm còn lại.  Các kết quả cho  thấy PanSeer đã điểm trúng bệnh ung thư với độ chính xác 88% số người có mẫu xét nghiệm từng được chẩn đoán có bệnh và 95% số người có mẫu xét nghiệm chưa từng bị phát heienj có ung thư nhưng sau đó có phát triển bệnh. Xét nghiệm này đã nhận diện một cách chính xác số người không mắc ung thư tới 96%.  Nghiên cứu này cũng có những giới hạn của nó, bao gồm việc mới chỉ được thực hiện trên số lượng mẫu tương đối nhỏ, việc bảo quản mẫu cũng chưa tối ưu và nhóm nghiên cứu cũng làm tăng lo ngại về khả năng làm mất độ tinh sạch của mẫu. Do đó, xét nghiệm không thể nhận diện được các loại ung thư cụ thể mà một người có thể mắc.  Nhưng tiến sĩ Eric Klein, của Viện ung thư Taussig Cleveland Clinic, trước đây từng tham gia vào một nhóm nghiên cứu về sinh thiết lỏng có thể phát hiện 10 loại ung thư khác nhau tại giai đoạn sớm của bệnh và dự đoán nội quan nào bị ảnh hưởng, lại cảm thấy hào hứng với nghiên cứu mới. “Đây là một nghiên cứu thú vị khi đem lại sự xác nhận thuyết metyl hóa có thể dò được sự lưu thông phi tế bào qua DNA của khối u và có thể hình thành cơ sở cho những xét gnhiemej sàng lọc mới có khả năng dò được ung thư tại những giai đoạn sớm”, ông nói. “Cần thiết có nhiều xét nghiệm ung thư để bổ sung cho những xét nghiệm sàng lọc chưa hiệu quả hiện nay”.  Samantha Harrison, một nhà quản lý về chẩn đoán bệnh giai đoạn đầu tại Cơ quan nghien cứu Ung thư Anh, nói: “Xét nghiệm PanSeer đã thành công trong việc khuyến khích cac xét nghiệm ban đầu. Nó hứa hẹn có thể dò được ung thư trong các mẫu máu nhiều năm trước khi biểu hiện bệnh ra ngoài. Nhưng những kết quả ban đầu đó cho thấy vẫn cần phải thực hiện những nghiên cứu ở quy mô lớn hơn trong tương lai”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/jul/21/researchers-unveil-test-that-can-detect-cancer-years-before-symptoms    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm máu giúp phát hiện tám loại ung thư      Kỹ thuật sinh thiết lỏng giúp phát hiện các đột biến di truyền và các protein có liên quan đến các khối u.      Tới đây, một xét nghiệm máu có thể phát hiện một loạt các bệnh ung thư, trong đó có ung thư tử cung (ảnh). Nguồn ảnh: Eye of Science/SPL.  Vài năm gần đây, đã có hàng loạt các xét nghiệm sinh thiết lỏng (Liquid biopsy’), hứa hẹn có thể giúp phát hiện và theo dõi các khối u chỉ bằng việc lấy máu xét nghiệm. Nhiều xét nghiệm đã được thực hiện để phát hiện ung thư bằng cách phát hiện các đột biến trong chuỗi DNA có liên quan đến khối u trong máu.  Nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Science ngày 18 tháng Một đã rất được chú ý, bởi vì các xét nghiệm mà họ thực hiện, không chỉ phát hiện được các đột biến DNA, mà còn phát hiện ra được những dấu hiệu bất thường của một số protein, từ đó giúp phát hiện ra 8 loại ung thư khác nhau. Xét nghiệm này có thể phát hiện bệnh ở khoảng 70% số người trong số hơn 1000 người đã được chẩn đoán mắc ung thư.  Mò kim đáy bể  Rất nhiều nhóm nghiên cứu ở các cơ quan nghiên cứu hàn lâm cũng như ở các công ty đã tập trung sử dụng sinh thiết lỏng để theo dõi tiến trình ung thư và hướng dẫn các bác sĩ khi họ lập kế hoạch điều trị. Tuy nhiên TS. Nickolas Papadopoulos, bác sĩ chuyên khoa ung thư tại Trung tâm Ung thư Kimmel Johns Hopkins ở Baltimore, Maryland, và các đồng nghiệp của ông muốn phát triển một xét nghiệm có thể phát hiện ung thư sớm, khi đó có thể dễ điều trị hơn. Nhưng để thực hiện các xét nghiệm như vậy thực sự có nhiều khó khăn: Các khối u nhỏ thường không giải phóng nhiều DNA vào trong máu nhiều như các khối u lớn. Và có thể dẫn tới kết quả dương tính giả – kết quả xét nghiệm không chính xác có thể dẫn đến các biện pháp điều trị không cần thiết và có hại.  Nhóm nghiên cứu đã tìm cách để đảm bảo các sinh thiết lỏng này chính xác hơn mà không làm tăng nguy cơ kết quả dương tính giả. Phương pháp xét nghiệm mà họ phát triển – được gọi là CancerSEEK đã kiểm tra được 8 protein và đột biến ở 16 gene.  Họ đã thử nghiệm sử dụng phương pháp sinh thiết lỏng cho những bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc một trong tám bệnh ung thư: buồng trứng, gan, dạ dày, tụy, thực quản, trực tràng, phổi hoặc vú. Để tập trung phát hiện ung thư từ giai đoạn sớm nên xét nghiệm sẽ không thực hiện trên những bệnh nhân ung thư đã có dấu hiệu di căn. Hiệu quả của CancerSEEK rất khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh ung thư: phương pháp này phát hiện ra 98% các trường hợp ung thư buồng trứng, nhưng chỉ phát hiện được 33% trường hợp ung thư vú. Xét nghiệm này cũng có tính chính xác cao hơn ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối: phát hiện được 78% trường hợp ung thư ở giai đoạn III so với 43% trường hợp mắc ung thư ở giai đoạn I.  Mặc dù vậy, những con số này cũng đủ để tiếp tục các nghiên cứu đi sâu hơn. Rosenfeld, giám đốc khoa học tại công ty sinh thiết chứa chất lỏng Inivata ở Cambridge nói: “Ngay cả khi bạn chỉ xác định được một nửa số ca ung thư, điều đó cũng thật là tuyệt vời”. Tuy nhiên, có một điều chưa rõ là liệu CancerSEEK có thể phát hiện những trường hợp ung thư mà chưa được chẩn đoán trước đó như thế nào, Rosenfeld cho biết thêm.  TS. Catherine Alix-Panabières, nhà nghiên cứu ung thư tại Đại học Montpellier, Pháp, có quan ngại khác là về tỉ lệ dương tính giả. Một số người có vẻ như là khỏe mạnh nhưng có thể đang mắc một số chứng viêm sẽ làm thay đổi số lượng các protein được xét nghiệm.  Có thể mất nhiều năm để giải quyết những lo ngại đó. Nhưng TS. Papadopoulos, cũng từng là từng là cố vấn cho một công ty sinh thiết lỏng Personal Genome Diagnostics ở Baltimore, cho biết nhóm nghiên cứu đã bắt đầu một nghiên cứu thử nghiệm CancerSEEK ở ít nhất 10.000 người khỏe mạnh. Các nhà nghiên cứu dự kiến sẽ ​​theo dõi những người tham gia thử nghiệm trong vòng 5 năm.  Lê Anh Vũ lược dịch  https://www.nature.com/articles/d41586-018-00926-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm máu phát hiện bệnh Alzheimer có độ chính xác cao      Một xét nghiệm máu do các nhà khoa học trường Y Đại học Washington ở St. Louis đã chứng minh có độ chính xác cao trong dò những dấu hiệu sớm của chứng bệnh Alzheimer. Đó là kết quả của một nghiên cứu có sự tham gia của gần 500 bệnh nhân khắp ba lục địa.     Nghiên cứu đem lại những bằng chứng xa hơn cho thấy xét nghiệm máu này phải được xem xét là quy trình chẩn đoán và sàng lọc thường quy.  Nghiên cứu này đã được xuất bản trên tạp chí Neurology (Targeting human CALR-mutated MPN progenitors with a neoepitope-directed monoclonal antibody) 1.  “Nghiên cứu của chúng tôi chứng tỏ là xét nghiệm máu đem lại một biện pháp đảm bảo cho dò mảng amyloid có liên kết với bệnh Alzheimer, ngay cả với những bệnh nhân không có trải nghiệm về suy giảm nhận thức”, Randall J. Bateman, giáo sư thần kinh học Charles F. và Joanne Knight, nói.  “Một xét nghiệm máu về bệnh Alzheimer đem lại một bước tiến lớn cho nghiên cứu và chẩn đoán Alzheimer, giảm thiểu thời gian và chi phí để phát hiện bệnh nhân cho thử nghiệm lâm sàng và thúc đẩy sự phát triển của các phương thức điều trị mới”, Bateman nói. “Khi những loại thuốc mới sẵn sàng, một xét nghiệm máu mới có thể dùng để xác định ai có thể được hưởng lợi ích từ điều trị, bao gồm cả những người ở giai đoạn sớm của chứng bệnh này”.  Được Bateman và cộng sự phát triển, xét nghiệm máu đã đánh giá xem là mảng amyloid đã bắt đầu được tập hợp trong não theo các tỉ lệ có trong máu của protein amyloid beta Aβ42 và Aβ40.  Các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian để theo đuổi một phương pháp xét nghiệm máu dễ thực hiện, chi phí thấp cho bệnh Alzheimer, coi nó như một giải pháp thay thế cho các bước chụp não đắt đỏ và xét nghiệm có xâm lấn như chọc dò thắt lưng vẫn được sử dụng để đánh giá sự hiện diện và tiến triển của căn bệnh này trong não.  Đánh giá căn bệnh này bằng các bức ảnh quét não PET – vẫn là tiêu chuẩn vàng cho phát hiện Alzheimer, đòi hỏi việc quét não bằng đồng vị phóng xạ với mức giá từ 5.000 đến 8.000 USD mỗi lần chụp. Một xét nghiệm chung khác, với việc phân tích các mức độ của amyloid-beta và protein tau trong dòng chảy não tủy, chi phí khoảng 1.000 đô la nhưng đòi hỏi một quá trình chọc dò thắt lưng khiến một số bệnh nhân không muốn thực hiện.  Nghiên cứu này ước tính là việc sàng lọc với một xét nghiệm máu cỡ 500 USD có thể làm giảm một nửa chi phí và thời gian để các bệnh nhân tham gia các ca điều trị lâm sàng như quét PET. Sàng lọc với các xét nghiệm máu có thể làm hoàn tất ít nhất trong sáu tháng và cắt giảm chi phí xuống còn phần mười hoặc nhiều hơn nữa, theo kết quả nghiên cứu.  Một xét nghiệm thương mại trên cơ sở nghiên cứu của Bateman đã được cấp giấy chứng nhận vào năm 2020 trong chương trình CLIA. Chương trình này do Cơ quan Quản lý dược và thực phẩm trong hợp tác với Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh (CDC) và Trung tâm Dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CMS).  Precivity AD, phiên bản thương mại của xét nghiệm này đã được một công ty là C2N Diagnostics sản xuất. Đây là một startup của trường ĐH Washington do Bateman và cộng sự của ông là David Holtzman, giáo sư thần kinh học Barbara Burton & Reuben M. Morriss III lập ra. Bateman và Holtzman cùng là nhà sáng chế được ghi lên trong văn bằng sáng chế C2N được bảo hộ.  Chứng nhận của CLIA khiến xét nghiệm này sẵn sàng cho các bác sĩ ở Mỹ áp dụng. Nó cũng hướng đến cung cấp thông tin hỗ trợ đánh giá y khoa và chăm sóc bệnh nhân sẵn có triệu chứng suy giảm nhận thức. Một chứng nhận tương tự sẽ giúp nó sẵn sàng được lưu hành ở châu Âu. Xét nghiệm này hiện vẫn chưa được phần lớn các chi trả bảo hiểm sức khỏe chấp nhận.  Nghiên cứu mới chứng tỏ xét nghiệm máu vẫn còn có độ chính xác cao, ngay cả khi có sự khác biệt giữa các phòng thí nghiệm do áp dụng các bộ hướng dẫn khác biệt và các thành phần tham gia khác biệt trong khắp ba lục địa.  Các nhà khoa học không rõ là những khác biệt nhỏ trong các phương pháp lấy mẫu, như liệu máu được thu thập sau khi nhịn ăn hay dạng thuốc chống đông máu được sử dụng trong quá trình xử lý máu, có thể có một tác động lớn lên độ chính xác của xét nghiệm hay không bởi vì các kết quả đều dựa trên sự thay đổi nhỏ của lượng protein amyloid beta trong máu. Những khác biệt ảnh hưởng đến việc đo lường chính xác các tỷ lệ protein amyloid và có thể tạo ra kết quả âm tính hoặc dương tính giả.  Để xác nhận độ chính xác của xét nghiệm, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nó trên các mẫu máu từ những người tham gia vào nghiên cứu về Alzheimer ở Mỹ, Australia và Thụy Điển, mỗi nơi sử dụng các bộ hướng dẫn khác nhau cho quá trình xử lý các mẫu máu và liên quan đến hình ảnh não.  Phát hiện từ nghiên cứu này xác nhận xét nghiệm máu Aβ42/Aβ40 bằng việc sử dụng kỹ thuật khối phổ kết tủa miễn dịch chính xác cao do đại học Washington phát triển đem lại tỷ lệ chính xác và bền vững cho cả những người có sự suy giảm về nhận thức và bình thường trong số ba nghiên cứu.  Khi các mức amyloid trong máu kết hợp với những nhân tố rủi ro Alzheimer khác – sự hiện diện của biến thể di truyền APOE4 – độ chính xác của xét nghiệm máu là 88% khi so sánh với hình ảnh não và 93% khi so với chọc dò thắt lưng.  “Các kết quả đó cho thấy xét nghiệm có thể hữu dụng trong việc nhận diện các bệnh nhân không bị suy giảm nhận thức có thể có rủi ro với bệnh này trong tương lai, đề xuất hiện cơ hội tham gia vào điều trị lâm sàng khi các biện pháp can thiệp sớm có tiềm năng mang lại hiệu quả tốt nhất”, Bateman nói. “Kết quả xét nghiệm âm tính cũng có thể giúp các bác sĩ loại trừ bệnh Alzheimer ở ​​những bệnh nhân bị suy giảm nhận thức có thể liên quan đến một số vấn đề sức khỏe, bệnh tật hoặc thuốc men khác”.  Nhân Nguyễn tổng hợp  Nguồn:  https://medicalxpress.com/news/2022-02-blood-alzheimer-highly-accurate-large.html  https://www.biotechniques.com/neuroscience/detecting-alzheimers-a-blood-test-is-all-it-takes/  ————————–    https://n.neurology.org/content/98/7/e688      Author                .        
__label__tiasang Xét trên bình diện toàn cầu thì cuộc chiến chống virus mới bắt đầu      Gần 10% dân số thế giới đã tiêm chủng vaccine COVID xong đợt một nhưng các biến thể virus đang làm dấy lên nỗi lo các loại vaccine có thể bị vô hiệu hóa. Tuy nhiên, trong cuộc trao đổi gần đây với tờ Welt của Đức, giáo sư Andrew Pollard, chuyên gia phát triển vaccine Oxford-AstraZeneca lại cho rằng, đó không phải là điều đáng lo nhất.      Giáo sư Andrew Pollard.  WELT: Giáo sư Pollard, liệu đến mùa thu này chúng ta có phải tiêm chủng nhắc lại chưa?  Andrew Pollard: Từ đây nảy sinh nhiều câu hỏi. Khả năng miễn dịch giảm sút nhanh chóng như thế nào? Liệu những đột biến mới xuất hiện có con đường nào thoát khỏi vaccine hay không? Ngoài ra còn có các chiến lược như tăng cường miễm dịch, hoặc phát triển các vaccine mới nhắm vào các đột biến. Trường chúng tôi (ĐH Oxford) đang làm các nghiên cứu về những vấn đề này, tôi hy vọng sẽ sớm có kết quả. Cũng có khả năng với chương trình tiêm chủng hiện nay con người có thể tự vệ được trong những năm tới.  Ông lo lắng về đột biến Ấn Độ đến đâu?  Chúng ta không nên tập trung quá nhiều vào đột biến Ấn Độ, nó chỉ là một trong nhiều đột biến. Các nghiên cứu cho đến nay có thể giúp chúng ta yên lòng, vì các vaccine đang được sử dụng đều rất có hiệu quả nên có thể không xẩy ra các diễn biến bệnh nghiêm trọng.  Việc kết hợp các loại vaccine với nhau, như hiện nay đang tiến hành, liệu có nguy hiểm gì không?  Xét về mặt sinh học thì một hỗn hợp sẽ cho kết quả tốt. Tất cả các loại vaccine được dùng ở Châu Âu đều tạo ra một hệ thống miễn dịch dựa trên protein gai (spike protein). Dùng riêng rẽ tốt hơn hay là phối trộn hai loại vaccine với nhau sẽ tốt hơn? cho tới nay chưa có đủ số liệu. Hiện đang tiến hành thử nghiệm phối trộn, khoảng một hoặc hai tháng nữa sẽ có câu trả lời. Tuần trước, chúng tôi đã có kết quả rằng người lớn tuổi gặp phải tác dụng phụ mạnh hơn với các sản phẩm khác nhau trong những ngày đầu tiên sau khi tiêm chủng lần thứ hai. Điều này thậm chí có thể xảy ra với những người ít tuổi hơn.  Khi sử dụng vaccine phối trộn cần có sự giải thích và điều trị phù hợp. Muốn vậy chúng tôi còn phải chờ các kết quả nghiên cứu.  Phát hiện mới nhất về máu đông sau khi tiêm vaccine là gì?  Dữ liệu gần đây của Cơ quan quản lý Dược phẩm Vương quốc Anh, MHRA, cho thấy tỷ lệ đông máu sau khi tiêm vaccine thứ hai là rất, rất thấp. Nó cực kỳ thấp ngay từ liều đầu tiên. Nếu bạn còn lái xe ô tô, lái xe ô tô ở Châu Âu còn nguy hiểm hơn nhiều so với việc tiêm phòng.  Chúng ta nên có chiến lược tiêm chủng ưu tiên như thế nào?   Để hệ thống y tế không bị quá tải thì lối thoát duy nhất là phải tiêm chủng cho nhóm người trên 50 tuổi và có bệnh nền. Ưu tiên số một là không để người ta bị bệnh nặng phải đi viện điều trị để cho nền kinh tế và cuộc sống của chúng ta trở lại bình thường. Sau đó tiêm chủng rộng rãi cho toàn dân vì qua đó mới chặn đứng sự lây lan.  Vậy khi nào sẽ đạt được sự miễn dịch quần thể?  Chúng ta nên quên ý tưởng về miễn dịch quần thể đi. Nếu chúng ta đối diện với một loại virus không thay đổi thì các nhà toán học có thể tính toán ra tỷ lệ (miễn dịch cộng đồng) cần thiết. Với bệnh sởi tỷ lệ này là 95%.  Đối với COVID-19 ví thử số người bị lây nhiễm như năm vừa qua thì có thể dựa vào miễn dịch quần thể. Nhưng ai cũng biết nó lại không như vậy. Đáng ra câu hỏi phải là, chúng ta phải tiêm chủng cho bao nhiêu người để có thể giảm thiểu nhiều nhất các ca bệnh nặng phải đi viện điều trị?  Nếu chúng ta chỉ tiêm chủng cho những người trên  50 tuổi thì những người ít tuổi hơn vẫn có thể bị bệnh nặng. Chí ít đối với châu Âu chúng ta có thể cho rằng, trong mùa hè này đại đa số dân chúng sẽ không có nguy cơ bị bệnh nặng. Như vậy đã là thành công vĩ đại rồi.      Với góc nhìn toàn cầu thì cuộc chiến chống đại dịch mới bắt đầu. Lúc này, ở châu Âu chúng ta dường như đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Nhưng nếu người ta lúc này ở Nepal hay Ấn Độ thì lại nghĩ, làm gì có đường hầm nào!      Liệu có nguy cơ gì không, nếu chỉ tiêm chủng một lần rồi đi nghỉ thoải mái?  Sau một lần tiêm chủng thì nguy cơ bị lây nhiễm giảm đáng kể. Nhưng ở đây còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố. Liệu nơi bạn đến có đột biến mới không, vì cho dù bạn đã tiêm chủng vẫn có thể tha nó theo về nhà. Hễ có một chuyến đi đâu đó luôn có một rủi ro đi kèm. Tuy nhiên có một điều mà chúng ta cần chú ý đó là sự lây lan virus ở nơi đó như thế nào, quy chế tiêm chủng ở đó ra sao, từ đó tính ra sự đi lại thích hợp giữa các nước.  Liệu có đúng không khi ở Châu Âu tiêm chủng dứt điểm cho cả một quốc gia sau đó mới tính dần đến các nước nghèo?  Về mặt đạo đức việc ưu tiên mạng sống của những người cao tuổi ở các nước nghèo là đúng, trước khi châu Âu tiêm chủng cho giới thanh niên trai tráng, những người thực tế không bị đe dọa bởi virus. Thêm vào đó là lý do thứ hai, điều này thể hiện rõ qua biến thể Ấn Độ mà chúng ta vừa đề cập: một khi chúng ta hạn chế sự lây lan và từ đó hạn chế cả đột biến trên toàn thế giới thì bản thân chúng ta cũng ít bị đe dọa hơn. Và thứ ba, chúng ta sẽ mất cơ hội giao dịch buôn bán với các nước này vì nền kinh tế các nước đó có nguy cơ bị sụp đổ vì các làn sóng đại dịch liên tục đổ vào.  Ông có tán thành việc thu hồi  việc bảo hộ bằng sáng chế đối với các loại vaccine corona?  Nếu tiếp cận được với bằng sáng chế thì trên thế giới sẽ sản xuất được  nhiều vaccine hơn, mục tiêu đó là đúng. Cái khó là ở đây có các lợi ích về thương mại. Ngay cả chúng ta ở châu Âu cũng thấy có những trục trặc trong khâu bổ sung vì sản xuất vaccine hàng loạt là một điều rất khó khăn. Vả lại hủy chế độ bảo hộ bằng sáng chế cũng không giải quyết được các khó khăn hiện nay. Riêng trong tháng này đã có gần một triệu người bị chết vì corona, điều này sẽ không thay đổi dù có thay đổi việc tiếp cận với bằng sáng chế. Do đó chúng ta phải tìm ra các cách để phân phối lại lượng vaccine đang dư thừa, tồn đọng hoặc số dùng để tiêm chủng cho thanh thiếu niên.  Không phải chỉ có tổng thống Pháp Emmanuel Macron dè bỉu cho rằng loại vaccine do ông phát triển không có tác dụng và gây tai tiếng, ông có cảm giác như thế nào về điều này?  Vấn đề không ở chỗ vaccine của AstraZeneca bị bôi nhọ. Mà là, những lời nói như vậy hủy hoại niềm tin của dư luận đối với chương trình tiêm chủng. Thực tế kết quả rất xuất sắc, công dụng của AstraZeneca cũng tốt không khác gì các loại vaccine khác. Tại nước Anh, nhờ tiêm chủng đã cứu được mạng sống của trên một vạn người. Trên toàn thế giới, cụ thể ở 160 quốc gia cho đến nay đã phân bổ được khoảng  400 triệu lọ AstraZeneca qua đó cứu được mạng sống của hàng trăm nghìn người.  Về phía mình, trong mọi việc chúng tôi luôn rất công khai, minh bạch, luôn nói rõ những gì mình đã làm. Chúng tôi đăng tải nhiều dữ liệu hơn bất kỳ nhà phát triển vaccine nào khác.   Từ cuộc đua phát triển vaccine, nếu so sánh với công nghệ vector (mà các hãng như AstraZeneca, Johnson&Johnson phát triển – ND) thì công nghệ mRNA (do Pfizer, Moderna phát triển -ND) có phải là kẻ thắng cuộc?  Những phương pháp được Pfizer hoặc Moderna sử dụng là những công nghệ mới đầy hấp dẫn và  thú vị. Chúng là một nền tảng nữa cực kỳ hữu ích đối với tương lai. Thành công thực sự trong đại dịch này là chúng ta có một danh sách vaccine lớn đến như vậy. Nhưng nếu chỉ tập trung vào một công nghệ, điều đó khiến thế giới có thể bị rủi ro.    Theo giáo sư có phải chúng ta đang dần đi tới giai đoạn cuối của đại dịch?  Với góc nhìn toàn cầu thì cuộc chiến chống đại dịch mới bắt đầu. Lúc này, ở châu Âu chúng ta dường như đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Nhưng nếu người ta lúc này ở Nepal hay Ấn Độ thì lại nghĩ, làm gì có đường hầm nào!  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus231304997/AstraZeneca-Chefentwickler-erklaert-wie-Impfstoffe-die-Pandemie-beenden-koennen.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xi măng bền vững: công tắc giúp cắt giảm lượng khí thải carbon toàn cầu      22 tháng 8 năm nay là Ngày Trái đất vượt ngưỡng (Earth Overshoot Day – cột mốc đánh dấu ngày nhân loại sử dụng hết nguồn tài nguyên thiên nhiên mà Trái đất có thể tái tạo trong năm đó). Đây chính là hồi chuông cảnh báo chúng ta đang tiêu thụ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà phần lớn trong số này đến từ ngành công nghiệp nặng và cách chúng ta xây dựng thành phố của mình.      Kể từ khi xi măng Portland ra đời cách đây khoảng 200 năm, không gian sống của chúng ta ngập tràn trong các công trình xây dựng, lấn át cả không gian thiên nhiên đã tồn tại hàng triệu năm. Ảnh: aggbusiness.com.  Đã hai năm trôi qua kể từ khi Greta Thunberg khởi xướng cuộc bãi khóa đầu tiên vì khí hậu. Trong hai năm, hàng triệu người đã đứng lên đấu tranh vì môi trường và một tương lai tốt đẹp hơn, cùng với đó Nghị viện châu Âu đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp về khí hậu và môi trường”.  Cũng trong hai năm đó, con người đã thải ra hơn 80 tỷ tấn CO₂ và Trái đất đã trải qua một trong những năm nóng nhất lịch sử. Mặc dù nhận thức về khủng hoảng khí hậu đã được nâng cao, nhưng rõ ràng là còn rất nhiều điều cần phải làm.  Vào buổi bình minh của cuộc cách mạng công nghiệp cách đây khoảng 200 năm, lượng khí thải carbon của nhân loại gần bằng không. Ngày nay, lượng khí thải carbon của nhân loại chiếm hơn một nửa tổng thể dấu chân sinh thái của chúng ta, dẫn đến việc con người sử dụng nhiều tài nguyên hơn mức có thể tái tạo mỗi năm.  Ngành công nghiệp và nền kinh tế khử carbon là yếu tố cần thiết nếu muốn cải thiện sự cân bằng giữa dấu chân sinh thái của chúng ta với các nguồn tài nguyên tái tạo của hành tinh. Điều này sẽ giúp nhân loại giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Do đó, chúng ta cần phải suy ngẫm lại về cách ta đang xây dựng các thành phố của mình. Và để làm được điều này, cần phải nhắc đến xi măng.   Xi măng, một thứ “keo” trong bê tông, là vật liệu bền, không thấm nước và vô cùng phổ biến trong ngành xây dựng hiện đại. Bê tông chỉ đứng sau nước về mặt hàng phổ biến thường xuyên được sử dụng. Mỗi năm, thế giới sản xuất hơn 10 tỷ tấn bê tông.   Các báo cáo gần đây đã chỉ ra rằng, kể từ khi xi măng Portland ra đời cách đây khoảng 200 năm, không gian sống của chúng ta ngập tràn trong các công trình xây dựng, lấn át cả không gian thiên nhiên đã tồn tại hàng triệu năm. Đến năm 2050, dự kiến 80% dân số thế giới sẽ sống ở các thành phố.  Tuy nhiên, đi kèm với những công trình đẹp đẽ như Cầu cạn Millau và tòa nhà Burj Khalifa là những thiệt hại về môi trường quá lớn. Chỉ riêng sản xuất xi măng (không bao gồm các vật liệu khác trong xây dựng) đã chiếm khoảng 8% lượng khí thải CO₂ toàn cầu, khoảng một nửa trong số đó sinh ra từ các phản ứng hóa học trong quá trình sản xuất. Khi các ngành công nghiệp khác như năng lượng và nông nghiệp giảm tỷ trọng phát thải, thì sản xuất xi măng có thể chiếm gần một phần tư tổng lượng khí thải CO₂ do con người tạo ra vào năm 2050.   Việc chuyển hoàn toàn sang xi măng bền vững có thể giảm từ 1,72 đến 2,75 tấn khí thải CO₂ phát thải hằng năm, dời Ngày Trái đất vượt ngưỡng diễn ra trễ hơn khoảng 10 ngày. Đến năm 2050, chúng ta có thể giảm từ 7,25 đến 11,60 tỷ tấn phát thải CO₂ phát thải hằng năm, lùi Ngày Trái đất vượt ngưỡng khoảng 40 ngày.   Chỉ bằng cách thay đổi loại xi măng mà chúng ta đang dùng để xây dựng các thành phố và cơ sở hạ tầng, chúng ta có thể hiện thực hóa được điều này. Thậm chí, chúng ta có thể giảm thiểu lượng carbon phát thải nhiều hơn nữa nếu có được bản thiết kế hiệu quả, giúp sử dụng xi măng bền vững với hiệu suất cao – dùng ít xi măng hơn nhưng vẫn xây được những công trình vững chãi.   Tạo ra loại xi măng bền vững  Nhiều loại xi măng có hàm lượng CO₂ thấp đã trở thành lựa chọn thay thế hấp dẫn, bền vững hơn so với xi măng Portland truyền thống. Người ta sản xuất xi măng Portland bằng cách nung hỗn hợp đá vôi và các khoáng chất khác đến khoảng 1.450°C, các phản ứng hóa học trong quá trình này giải phóng một lượng lớn CO₂.  Nhưng ngoài ra, trong bê tông cũng có nhiều loại vật liệu khác, bao gồm cả những vật liệu phần lớn được tạo ra từ chất thải công nghiệp hoặc các sản phẩm phụ như tro bay, xỉ lò cao, đất sét nung, đá vôi nghiền mịn hoặc muội silic. Người ta trộn chúng với xi măng truyền thống, hoặc là chất kết dính mà không cần bất cứ xi măng Portland nào.   Điều quan trọng là quy trình sản xuất các vật liệu này dẫn đến lượng khí thải CO₂ thấp hơn nhiều so với xi măng Portland. Điều này có thể giúp giảm lượng khí thải CO₂ từ 50% đến 80%, tùy thuộc vào công nghệ sử dụng.    Người ta sản xuất xi măng Portland bằng cách nung hỗn hợp đá vôi và các khoáng chất khác đến khoảng 1.450°C, các phản ứng hóa học trong quá trình này giải phóng một lượng lớn CO₂. Ảnh: azom.   Sử dụng các vật liệu này trong xi măng giúp tăng cường độ bền và độ bền, đồng thời cũng cải thiện tính bền vững bằng cách giảm phát thải CO₂ liên quan và tái chế chất thải công nghiệp. Nhiều loại xi măng trong số này đã được nêu rõ trong báo cáo năm 2016 của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc là có tiềm năng lớn nhất trong việc giảm phát thải CO₂ liên quan đến xi măng.  Mặc cho những ưu điểm về môi trường và kỹ thuật, ngành xây dựng vẫn không mấy hào hứng với các công nghệ xi măng bền vững, thay vào đó chủ yếu tập trung vào các thị trường ngách nhỏ hơn. Điều này đã hạn chế khả năng khử cacbon của ngành.  Nếu thực sự muốn giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường, chúng ta cần phải hành động ngay từ bây giờ. Các nhà lãnh đạo trên thế giới đã cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách giữ cho nhiệt độ trung bình toàn cầu không tăng quá 2°C và nỗ lực giới hạn mức tăng ở mức 1.5°C.  Để làm được điều này, chúng ta phải cách mạng hóa cách thức xây dựng các thành phố, chuyển sang sử dụng xi măng bền vững, tái sử dụng chất thải công nghiệp và thúc đẩy một nền kinh tế tuần hoàn. Các giải pháp nằm trong tầm tay. Và một phần tương lai của chúng ta phụ thuộc vào nó.   Anh Thư dịch  Nguồn: Sustainable cement: the simple switch that could massively cut global carbon emissions       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Xin chúc mừng! Chúng ta đã sai rồi!”      Chấp nhận thất bại vốn là một trong những tố chất phân biệt người lựa chọn làm kinh doanh với những người lựa chọn những phương án ổn định và an toàn hơn trong cuộc sống. Tuy vậy, hiểu về thất bại như thế nào cho đúng và ứng xử như thế nào với thất bại là điều mà tôi muốn đề cập với các bạn trong bài viết này.       Chấp nhận THẤT BẠI – một văn hóa nên khuyến khích trong kinh doanh  Trong kinh doanh, không ai nản và từ bỏ sau một vài lần thất bại. Vì đã là kinh doanh, thất bại là một tất yếu. Cũng chính vì vậy, khởi nghiệp kinh doanh là một công việc nghiêm túc, không thể và không bao giờ nên là một phong trào, vì phong trào sẽ không giúp bạn giữ được lửa lâu bền và dễ khiến bạn nản. Tuy vậy, việc khởi nghiệp trở thành một xu hướng khắp nơi, xuất hiện những câu chuyện thành công cũng có những mặt tích cực nhất định. Nó đưa những bạn trẻ vốn thụ động chờ đợi một công việc an toàn ra khỏi quan niệm cũ, dám thử nghiệm những cái mới và dám va chạm để dũng cảm hơn trước những thách thức của môi trường kinh doanh khắc nghiệt. Quan trọng hơn, nó đưa xã hội đến gần hơn với một quan niệm: thất bại là một tất yếu trên con đường kinh doanh và nên được khuyến khích.           Vòng lặp “Xây dựng – kiểm chứng/ đo lường – học hỏi” được Eric Ries nhắc đến trong cuốn Khởi nghiệp tinh gọn (Lean Startup).          Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng nhận định rằng, nước Mỹ sở dĩ vẫn là nơi sản sinh ra những ý tưởng kinh doanh dẫn đầu thế giới vì họ có văn hóa chấp nhận thất bại, điều mà không phải quốc gia nào, nền văn hóa nào cũng chấp nhận. Trong văn hóa đề cao tính ổn định, sự thất bại được định nghĩa bằng nhiều kịch bản khác nhau, thất bại về thu nhập tài chính không ổn định, thất bại là theo đuổi cái gì đó mà không đi được đến cùng, thất bại là không thành người nổi tiếng trong kinh doanh v..v. Sự thất bại là một cái gì đó minh chứng cho một điều rằng, không tuân thủ những lựa chọn an toàn thì thất bại là phải. Đây chính là điểm khiến những người khởi nghiệp dễ bị nản khi gặp những ý kiến phản đối, thậm chí cản trở từ gia đình, bạn bè và cộng đồng.   Chấp nhận thất bại như thế nào?  Hiểu thế nào về văn hóa thất bại ở Silicon Valley: Nơi khơi nguồn của “thất bại nhanh, thất bại thường xuyên” (Fail fast – Fail often)? Những tấm gương của Mark Zuckerberg hay Bill Gates khiến nhiều người nhầm tưởng rằng, cứ nghỉ việc, bỏ học, cứ khởi nghiệp thật nhiều và xây dựng những dự án vĩ đại sẽ có ngày thành công vang dội. Nhiều người cũng nhầm tưởng rằng, họ khuyến khích thất bại tới mức thất bại nhiều, khởi nghiệp nhiều là một thành tích giúp bạn ghi điểm trong con mắt nhà đầu tư. Những quan niệm sai lầm khiến không ít các bạn trẻ khởi nghiệp lao vào như thiêu thân cho các dự án lớn lao mà quên mất rằng, thất bại trong khởi nghiệp là kinh nghiệm quý nhưng học gì từ những kinh nghiệm đó mới là quan trọng.   Vậy nên hiểu như thế nào? Để hiểu và áp dụng hiệu quả về “Thất bại nhanh, Thất bại thường xuyên”, chúng ta hãy bắt đầu từ vòng lặp “Xây dựng – kiểm chứng/ đo lường – học hỏi” được Eric Ries nhắc đến trong cuốn Khởi nghiệp tinh gọn (Lean Startup). Vòng lặp này thực chất cho chúng ta thấy rằng, việc tối ưu hóa những gì học hỏi được từ việc có một ý tưởng, xây dựng một sản phẩm, đem ra thử trên thị trường và học rồi tiến hành tiếp những bước tiếp theo là để phát triển sản phẩm/dịch vụ ngày một tốt hơn. Quy trình này không bao giờ dừng lại, ngay cả đối với những doanh nghiệp đã phát triển rất mạnh mẽ. Bằng chứng là chính General Electric đã tận dụng tối đa ý tưởng này từ lean startup để thử nghiệm và đổi mới sáng tạo thành công để tạo ra một ngành công nghệ số mới. Vòng lặp này thực chất nhấn mạnh vào câu chuyện bạn có thể xây dựng một giả định hoặc một ý tưởng ban đầu nhưng không bao giờ nên lao vào thực hiện ý tưởng đó. Tất cả mới chỉ là những giả định chưa được kiểm chứng. Mặc dù bạn có niềm tin vào sản phẩm dịch vụ sẽ thành công nhưng bạn cần phải mang ý tưởng đó kiểm chứng thật nhanh, thật nhiều và nếu phủ nhận được những giả định đó bằng những kiểm chứng tốt hơn, đó là lúc bạn chấp nhận rằng mình đã sai trong giả định, mình thất bại. Những thất bại nhỏ liên tiếp này là một bước quan trọng để bạn tiến đến thành công vững chắc hơn trong tương lai.   Và sự thức tỉnh cho nhiều startup   Chấp nhận thất bại không đồng nghĩa với việc bạn lấy những thất bại trong khởi nghiệp trở thành một thành tích cho bản thân, đơn giản vì hai lý do: (1) Nhà đầu tư và sự kiên nhẫn của họ không phải là vô hạn. Họ cũng chỉ có thể chấp nhận sự thất bại của bạn ở mức độ nhất định. Liên tục thất bại đồng nghĩa với việc bạn không học được gì từ những thất bại của mình và bạn không thực sự đáng tin cậy để trao tiền đầu tư. (2) Ngay cả khi nhận được đầu tư, cũng mới chỉ là thành công bước đầu, và rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại sau khi nhận đầu tư vài tháng, hoặc thất bại sau khi bị ngưng rót vốn. Chuẩn bị cho những kịch bản thất bại và chuẩn bị nội lực để có thể đứng vững quan trọng hơn rất nhiều so với niềm tự hào “có thất bại cũng thất bại bằng tiền của người khác”  Bên cạnh đó, rất đáng lưu ý khái niệm Phát triển khách hàng (customer development) mà Steve Blank đưa ra, một doanh nghiệp khởi nghiệp có thể thất bại ở bất kỳ bước nào trong bốn bước đó. Theo Steve Blank, phát triển khách hàng trải qua bốn bước: Khám phá khách hàng; Kiểm chứng khách hàng; Tạo ra khách hàng; Xây dựng công ty. Nhiều người quá yêu và tin vào sự thành công của sản phẩm mà thường cắt bỏ hai bước đầu tiên.           Khái niệm Phát triển khách hàng  (customer development) mà Steve Blank đưa ra, một doanh nghiệp khởi  nghiệp có thể thất bại ở bất kỳ bước nào trong bốn bước đó.          Để hình dung những kịch bản chấp nhận thất bại, tôi xin thử lấy một ví dụ.  Tôi là một lập trình viên và có khả năng học ngoại ngữ tốt. Tôi thấy xung quanh bạn bè mình học ngoại ngữ gặp nhiều khó khăn và vì vậy tôi quyết tâm lập trình một phần mềm học ngoại ngữ cho các bạn lập trình viên như tôi và nói chung là cho giới trẻ Việt Nam. Tôi tin vào thành công của mình vì qua khảo sát sơ bộ tôi thấy, phần mềm của đối thủ cạnh tranh nhiều, nhưng công nghệ không tốt bằng tôi và không nhiều người dùng.   Kịch bản thất bại sẽ là:   Tôi lao vào lập trình ngay một phần mềm học ngoại ngữ, ngốn của tôi vài tháng trời mất ăn mất ngủ, nhưng khi tung sản phẩm ra thì không có nhiều người dùng ngoài bạn bè và những người quen. Tôi sẽ đổ lỗi vì mình chưa có tiền làm marketing chứ không phải sản phẩm không tốt. Và rất có thể tôi sẽ lao đầu đi tìm nhà đầu tư.  Kịch bản chấp nhận thất bại sẽ là:  – Có thể mình đúng nhưng cũng chưa chắc đã có nhiều người cần, mình phải đi hỏi xem mọi người học ngoại ngữ bằng phần mềm thế nào? Họ dùng cái gì rồi, họ thích hay không thích, tại sao? Họ có trả tiền để cho một sản phẩm như vậy không?  – Rồi tôi lân la đến các quán trà đá sinh viên, hỏi chuyện vài bạn, hỏi đến người thứ năm tôi phát hiện ra rằng, mọi người có muốn học bằng phần mềm, các phần mềm đều thú vị nhưng họ không chống lại được căn bệnh lớn là LƯỜI học ngoại ngữ, họ chưa thấy sức ép phải học quá mức. Hóa ra, MÌNH ĐÃ NGHĨ SAI về nhu cầu học ngoại ngữ. Vấn đề thất bại của những đối thủ không nằm ở sản phẩm, tính năng mà ở chính hành vi của người dùng và tiếp theo tôi sẽ đặt câu hỏi: “rõ ràng mọi người đều dùng Facebook, tốn tới tối thiểu hai giờ mỗi ngày, tại sao không thể dành thời gian để học ngoại ngữ? Dường như phải làm cái gì đó vui vui để học ngoại ngữ cũng hấp dẫn như Facebook hoặc tận dụng Facebook để học ngoại ngữ chăng? v.v… và tôi lại tiếp tục khám phá để kiểm chứng, trước khi đi vào bước xây dựng sản phẩm mẫu, đo lường và học hỏi tiếp.   Bạn thấy đấy, chấp nhận thất bại thực chất là chấp nhận mình sai, và hóa ra việc chấp nhận mình giả định sai cũng không quá khó khăn như ta tưởng, nếu không muốn nói là quá trình đi chứng minh mình sai là một quá trình giúp ta khám phá ra những thứ hết sức thú vị, gợi ý cho ta nhiều điều và thậm chí mở ra những hướng đi mới mẻ. Vì vậy, văn hóa chấp nhận thất bại cũng không cần phải đao to búa lớn, nó có thể bắt đầu từ những thứ rất nhỏ. Nếu bạn sẵn sàng để học cái mới, hãy chấp nhận mình có thể sai. Một vài câu test nhỏ dưới đây sẽ giúp bạn khẳng định mình đã sẵn sàng học từ thất bại chưa:   1. Bạn có sẵn sàng bước chân ra ngoài, hỏi chuyện người lạ về những vấn đề họ đang gặp phải không?  2. Bạn có sẵn sàng ngừng nói về sản phẩm của mình và lắng nghe người khác nói về vấn đề của họ không?   3. Bạn có chỉ trích người khác khi người đó không hiểu gì về ý tưởng của bạn không?  4. Bạn có hạnh phúc khi khám phá ra rằng mình đã nghĩ sai không?  5. Nhìn kết quả khảo sát, bạn có sẵn sàng nói câu: Mình sai rồi không?   Nếu các câu trả lời 1. Có; 2. Có; 3. Không; 4. Có; 5. Có : Xin chúc mừng, bạn đã bước những bước đầu tiên trên con đường mà bạn đã chọn: KHỞI NGHIỆP.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Xin lỗi, nàng Mona Lisa không ngắm bạn      Theo một nghiên cứu mới, đôi mắt của nàng Mona Lisa không dõi theo những người say mê trong phòng mà nhìn sang bên phải.      Các nhà nghiên cứu đã dùng thước để đo đạc. Nguồn: CITEC/ Bielefeld University  Có nhiều huyền thoại và bí ẩn về Mona Lisa- ví dụ đó là bức chân dung của Da Vinci, rằng nó ẩn chứa nhiều liên quan đến các tác phẩm văn học cổ xưa, rằng nhiều mật mã được dấu kín bằng các con số và chữ cái trong mắt. Một trong những ý tưởng tồn tại một cách bền bỉ nhất là hiệu ứng Mona Lisa. Trong khoa học, hiệu ứng Mona Lisa nhằm diễn tả ấn tượng mà đôi mắt của người được vẽ chân dung dường như theo sát những người xem như khi họ đi qua phía trước bức tranh.  Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm xuất sắc Công nghệ tương tác nhận thức (CITEC), trường đại học Bielefeld, mới đây đã đặt hiệu ứng Mona Lisa vào cuộc thí nghiệm của mình, đề nghị những người tham gia đặt một cái nhìn gần hơn vào bức tranh. Những gì họ thấy là hiệu ứng huyền thoại này là không có thật, ít nhất ở bức Mona Lisa.  Họ đã mời 24 người tham gia thí nghiệm của mình để nhìn thẳng vào kiệt tác của DaVinci trên một màn hình máy tính và đánh giá cái nhìn trực tiếp của Mona Lisa. Những người tham gia ngồi phía trước màn hình. Một thước gấp thợ mộc được đặt giữa họ và màn hình với nhiều khoảng cách khác nhau. Những người tham gia đánh dấu địa điểm nơi ánh mắt của Mona Lisa chạm đến cái thước. Để kiểm tra liệu các đặc điểm cá nhân của gương mặt Mona Lisa có ảnh hưởng đến nhận thức của những người xem tranh về cái nhìn của nàng hay không, các nhà nghiên cứu đã áp dụng tới 15 phần khác nhau từ bức chân dung – bắt đầu từ toàn bộ đầu nàng đến đôi mắt và mũi nàng. Mỗi bức ảnh đều được xem ba lần ngẫu nhiên. Về tổng thể, hai nhà nghiên cứu Horstmann và Loth đã thu thập được 2000 kết quả đo đạc bằng cách này – và hầu như mọi đánh giá đều hiển thị cái nhìn của Mona Lisa không chiếu thẳng mà lệch sang bên tay phải người xem.  “Những người tham gia nghiên cứu của chúng tôi đều có ấn tượng là cái nhìn của Mona Lisa hướng đến phía tay phải họ. Đặc biệt hơn, cái nhìn đều lệch trung bình một góc 15,40”, GS.Gernot Horstmann nhận xét.  “Không nghi ngờ gì về sự tồn tại  của hiệu ứng Mona Lisa- nhưng nó chỉ không tình cờ xảy ra với chính Mona Lisa thôi”, nhóm nghiên cứu viết trong bài “Bức họa Mona Lisa – các nhà khoa học thấy cái nhìn của nàng vào họ, dẫu nàng không thế” xuất bản trên tạp chí i-Perception.    Vậy Mona Lisa có nhìn vào những người ngắm nàng hay không? GS. Gernot Horstmann (trái) và TS. Sebastian Loth đã theo đuổi câu hỏi này trong nghiên cứu mới của mình. Nguồn: CITEC/ Bielefeld University  Ngay cả khi kiệt tác của DaVinci không thể hiện đúng hiệu ứng mang tên mình nhưng có thể nhiều bức khác lại có điều đó. “Người ta có thể cảm nhận là họ đang được nhìn từ cả những bức tranh và bức ảnh- nếu ai đó được khắc họa với cái nhìn thẳng ra khỏi hình ảnh, nghĩa là ở góc nhìn 00″, GS. Gernot Horstmann cho biết trong một thông cáo báo chí. “Với một cái nhìn hơi nghiêng sang một bên, bạn có thể vẫn cảm thấy như bạn đang được nhìn ngắm. Điều này được cảm nhận như một người được miêu tả trong tranh/ảnh đang nhìn vào tai bạn, tương ứng với một góc 5 độ từ khoảng cách ngắm bình thường. nhưng nếu góc ngắm tăng lên, bạn có thể không có được ấn tượng là được nhìn ngắm”.  Có nhiều bức họa có hiệu ứng Mona Lisa, bao gồm cả cái nhìn chăm chú và ranh mãnh trong The Laughing Cavalier của Frans Hals, bức tranh giúp các nhà nghiên cứu hiểu về hiện tượng này. Nhưng tại sao nhiều người lại gán sức mạnh tương tự cho kiệt tác đang được treo ở bảo tàng Louvre của DaVinci? Giáo sư Horstmann giải thích trong thông cáo báo chí là ý nghĩ về bức họa nổi tiếng bậc nhất thế giới đang ngắm nhìn bạn chỉ là một phần của bản chất tự nhiên của con người. “Nó diễn tả khao khát mãnh liệt được nhìn ngắm và trở thành trung tâm chú ý của ai đó, có liên quan đến ai đó, ngay cả khi bạn không rõ người đó là ai”.  “Mọi người rất giỏi trong việc đo lường là liệu có hay không ai đó đang nhìn ngắm mình. Tâm lý học nhận thức đã từng miêu tả nó vào những năm 1960”, GS. Gernot Horstmann nói. Ông là thành viên của nhóm nghiên cứu Tâm lý học nhận thức – thần kinh tại khoa Tâm lý học và Trung tâm xuất sắc CITEC của trường, đồng thời là một chuyên gia về chuyển động mắt và chú ý.  Vì vậy nếu Mona Lisa đang nhìn qua vai bạn, nó cũng làm dấy lên một câu hỏi lớn – ai là người đứng đằng sau vai phải bạn và tại sao “nàng” lại rất hạnh phúc khi nhìn thấy người đó?  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2019-01-myth-mona-lisa-magical-debunked.html  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/sorry-mona-lisa-not-looking-you-180971207/    Author                Quản trị        
__label__tiasang “X-MEN” Việt Nam thắng kiện X-MEN ngoại      Nhãn hiệu X-MEN đã chính thức trở thành sở hữu Công ty TNHH Hàng gia dụng Quốc tế, Việt Nam (ICP) sau khi bên khởi kiện là Marvel Characters, Inc, có trụ sở tại Mỹ hết thời hạn mà không kháng cáo bản án của Tòa án Nhân dân TP Hà Nội.      Tháng 3 năm nay, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel Characters, Inc về việc đề nghị hủy Quyết định số A05811/QĐ-ĐK ngày 08/6/2005 của Cục Sở hữu trí tuệ về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 63481 bảo hộ nhãn hiệu “X-MEN” cho ICP.  Theo Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, năm 2003, Công ty ICP nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “X-MEN” (hình ảnh) và Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nói trên đối với “các sản phẩm hóa mỹ phẩm gia dụng” cho IPC hai năm sau đó. Đến năm 2006, Công ty Marvel Characters, Inc, một công ty chuyên sản xuất phim hoạt hình, truyện tranh và trò chơi ở Mỹ, đã yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam hủy chứng nhận trên, với lý do nhãn hiệu “X-MEN” ICP không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ do trùng với tên nhân vật và các hình ảnh X-MEN sử dụng trong các tác phẩm truyện tranh và phim truyện, đồng thời trùng với nhãn hiệu “X-MEN” nổi tiếng của họ; đồng thời còn cáo buộc ICP sử dụng nhãn hiệu “X-MEN” nhằm lợi dụng sự nổi tiếng của các nhân vật, hình ảnh và nhãn hiệu “X-MEN” của Marvel Characters, Inc  gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Nhưng yêu cầu và những lý do trên đã bị Cục Sở hữu trí tuệ cho là  không hợp lý, vì thế cơ quan này đã bác đơn đơn nói trên. Do vậy Marvel Characters, Inc đã đưa vụ việc đi xa hơn khi nộp đơn khiếu nại lên Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội và được thụ lý ngày 08/10/2010 số 08/2010/TLST-HC.  Ngày 29/3/2013 phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trên được tổ chức với sự tranh luận và trình bày quan điểm của các bên liên quan, và bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel Characters, Inc. Theo Hội đồng xét xử, việc tòa án nhân dan TP. Hà Nội quyết định sự thắng kiện của ICP là do  Tại thời điểm ICP nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “X-MEN” tại Cục Sở hữu trí tuệ ngày 27/6/2003 thì Công ty Marvel chưa đăng ký nhãn hiệu “X-Men” tại Việt Nam. Tại Mỹ là nước mà Marvel Characters, Inc mang quốc tịch thì họ cũng chưa được chứng nhận sở hữu nhãn hiệu “X-Men” với sản phẩm thuộc nhóm 03 (theo cơ sở dữ liệu của Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ tại địa chỉ www.uspto.gov).  Thực tế Marvel Characters, Inc không có sản phẩm cùng loại là hóa mỹ phẩm đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam. Tài liệu mà Marvel Characters, Inc cung cấp về doanh thu chưa được cơ quan chức năng xác định.   Khái niệm X-Men của Marvel Characters, Inc được biết đến như những dị nhân, siêu nhân trong các tác phẩm truyện, phim, gồm nhóm người có chứa gen X (đột biến) có khả năng khác thường chứ không phải là nhân vật cụ thể, mỗi nhân vật trong nhóm có tên gọi khác nhau. Trong khi đó hình ảnh X-MEN của ICP là “Người đàn ông đích thực”. Hơn nữa, theo Cục Bản quyền tác giả thì tên nhân vật không được bảo hộ trong pháp luật Việt Nam. Mặt khác, sản phẩm của ICP xin đăng ký nhãn hiệu thuộc nhóm 03 là mỹ phẩm, người tiêu dùng Việt Nam chưa biết sản phẩm nào của Marvel Characters, Inc trong nhóm sản phẩm này nên không thể gây nhầm lẫn. Vì vậy có cơ sở kết luận ICP không lợi dụng uy tín, khai thác bản quyền của  Marvel Characters, Inc.  Marvel Characters, Inc cũng không có căn cứ chứng minh là ICP không trung thực và lợi dụng sự nổi tiếng của nhãn hiệu “X-Men”, và họ không có căn cứ để hủy Quyết định A05811/QĐ-ĐK ngày 08/6/2005 của Cục Sở hữu trí tuệ. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Marvel Characters, Inc  là không có cơ sở chấp nhận.   Đến nay, Marvel Characters, Inc không kháng cáo vì thế bản án chính thức có hiệu lực, và nhãn hiệu X-MEN chính thức trở thành sở hữu của ICP.  Sự kiện này một lần nữa gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng hơn nữa đến quyền sở hữu trí tuệ để có thể được bảo vệ và tự bảo vệ bản thân mình trong quá trình thương mại hóa toàn cầu.  Nguồn: noip.gov.vn     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xóa bỏ rào cản trong thu hút đầu tư công nghệ cao      Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp CNC. Quyết định này được các nhà đầu tư đánh giá cao và coi là bước tiến của chính sách thu hút đầu tư CNC của Việt Nam.      Với quyết định mới, các tỷ lệ liên quan đến doanh thu và lao động dành cho R&D đã giảm một nửa so với quy định trước đây tại Điều 18 Luật Công nghệ cao, bước đầu, các rào cản đối với khuyến khích đầu tư vào CNC đã được tháo gỡ.  Theo đó, doanh nghiệp CNC là doanh nghiệp đáp ứng 5 tiêu chí. Trong đó tiêu chí 1 và 2 là tiêu chí được đặt ra tại Luật Đầu tư và ba tiêu chí mới), gồm:   1. Sản xuất sản phẩm CNC thuộc Danh mục sản phẩm CNC được khuyến khích phát triển;   2. Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành;   3. Doanh thu từ sản phẩm CNC của doanh nghiệp phải đạt ít nhất 70% trong tổng doanh thu thuần hàng năm.   4. Tổng chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại Việt Nam trên tổng doanh thu thuần hàng năm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đạt ít nhất 1%. Đối với các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng và tổng số lao động trên 300 người tỷ lệ này phải đạt ít nhất 0,5%.   5. Số lượng lao động có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên trực tiếp thực hiện R&D trên tổng số lao động của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đạt ít nhất 5%. Đối với các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng và tổng số lao động trên 300 người tỷ lệ này phải đạt ít nhất 2,5%, nhưng không thấp hơn 15 người.   Với ba tiêu chí sau, đã có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, để quy định các tỷ lệ R&D tương ứng.    Trước đây, theo quy định của Điều 18, Luật Công nghệ cao, không phân biệt doanh nghiệp lớn hay nhỏ, để được ưu đãi như một doanh nghiệp CNC, các doanh nghiệp phải chi 1% tổng doanh thu và 5% tổng lao động dành cho R&D.   Quy định này khiến cho ngay cả các doanh nghiệp lớn, thậm chí càng lớn, thì càng khó với tới. Liên quan tới quy định này, nhiều quan điểm cho rằng, Việt Nam muốn khuyến khích thu hút đầu tư vào CNC, nhưng đặt tiêu chí quá cao như vậy, thì chẳng khác nào tự dựng lên rào cản.   Vì thế, với quyết định mới, các tỷ lệ liên quan đến doanh thu và lao động dành cho R&D đã giảm một nửa so với quy định trước đây tại Điều 18 Luật Công nghệ cao, bước đầu, các rào cản đối với khuyến khích đầu tư vàoCNC đã được tháo gỡ.   Bên cạnh đó, việc Chính phủ ban hành Quyết định về các Tiêu chí xác định doanh nghiệp CNC là bước đi cần thiết để hướng dẫn thực thi Luật Đầu tư năm 2014.  Nguồn: http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/92-3167-xoa-bo-rao-can-trong-thu-hut-dau-tu-cong-nghe-cao-.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng công nghệ 2019      Đầu năm 2018, dư luận đều đổ dồn vào Facebook trong vụ bê bối Cambridge Analytica, khi cơ quan nghiên cứu này được tiếp cận thông tin cá nhân của 87 triệu người dùng mạng xã hội Facebook mà không có sự đồng ý của họ. Năm nay cũng có sự sụt giảm kéo dài cả năm trong thị trường tiền ảo, với đồng bitcoin giảm từ mức cao kỷ lục gần 20.000 USD vào tháng 12/2017 xuống dưới mức 3.500 USD một năm sau đó.  Tuy nhiên, năm 2019 có vẻ như sẽ là một năm tuyệt vời cho công nghệ. Dưới đây là những dự đoán của tạp chí The Week cho các công nghệ hàng đầu cho năm 2019:      Virus wannacry đã tấn công 200.000 máy tính trên phạm vi 150 nước, gây thiệt hại hàng triệu tỉ USD.  Chuyển đổi sang mạng 5G  Về cơ bản, 5G là tiêu chuẩn mới cho các mạng di động, hứa hẹn “tốc độ tải xuống tương đương với băng thông rộng” và khả năng kết nối tốt hơn ở các khu vực đông đúc, theo như đánh giá của tạp chí Wired. Khi bắt đầu triển khai trong 12 tháng tới, tín hiệu 5G sẽ được sử dụng song song với các kết nối 4G và 3G hiện đang được sử dụng trên toàn nước Anh.  Theo tờ Daily Telegraph, nhà mạng EE sẽ bắt đầu cung cấp tín hiệu 5G tại 16 thành phố của Anh quốc vào năm 2019, bao gồm London và Cardiff. Nhưng EE không phải là nhà cung cấp duy nhất nâng cấp mạng vào năm tới, vì Vodafone, Three và O2 cũng đã công bố kế hoạch chuyển sang kết nối 5G.  Vậy làm thế nào để sử dụng được tín hiệu mới này? Dĩ nhiên, người dùng sẽ cần một điện thoại thông minh có thể nhận tín hiệu 5G. Ngoài một vài thiết bị mẫu, chưa có nhà sản xuất điện thoại thông minh lớn nào tiết lộ các thiết bị có khả năng kết nối với 5G. Tuy nhiên, tại Hội nghị công nghệ Snapdragon ở Hawaii vào tháng trước, Cristiano Amon, người đứng đầu nhà sản xuất chip Qualcomm, nói rằng ông tin rằng “mọi nhà sản xuất thiết bị cầm tay dựa trên hệ điều hành Android” sẽ giới thiệu tính năng hỗ trợ 5G trên các thiết bị mới của họ vào năm tới.  Trong khi đó, Apple được đồn đoán là sẽ chờ đến năm 2020 mới ra mắt một chiếc iPhone 5G nhằm tránh vấn đề “phạm vi phủ sóng còn lác đác” của mạng 5G hiện nay, một nguồn tin nội bộ trao đổi với Bloomberg cho biết.  An ninh mạng chiếm vị trí trung tâm  Có ít nhất bốn vụ vi phạm lớn về dữ liệu trong bốn tháng qua, và nhiều vụ trước đó đã xảy ra vào đầu năm 2018.  Trong khi các cuộc tấn công thường nhắm vào các công ty toàn cầu lớn, đặc biệt là những kho lưu trữ dữ liệu khách hàng khổng lồ, chúng vẫn là mối đe dọa ngày càng tăng đối với an ninh quốc gia.  Vào tháng 11, ủy ban về Chiến lược an ninh quốc gia của Anh đã cảnh báo Chính phủ Anh rằng chính phủ hiện đang không được chuẩn bị đầy đủ trước các cuộc tấn công có thể xảy ra từ các cường quốc công nghệ như Nga, Trung Quốc và Iran, theo báo cáo của tờ Financial Times. Các thành viên của ủy ban cũng nói thêm rằng cách tiếp cận của chính phủ đối với an ninh mạng quốc gia là “nói nhiều làm ít”.  Các luật mới được Liên minh châu Âu đưa ra vào tháng 1 đã cố gắng buộc các quốc gia phải cải thiện an ninh mạng, kênh truyền hình Sky News cho biết. Các cơ sở hạ tầng trọng yếu của quốc gia (CNI) như lĩnh vực quốc phòng nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn an ninh mạng do EU đưa ra có thể phải đối mặt với khoản tiền phạt lên tới 17 triệu bảng.  Không biết liệu điều này có thay đổi khi Anh rời khỏi EU hay không, nhưng Sky News lưu ý rằng Anh đã có kế hoạch riêng – Chỉ thị Hệ thống Thông tin và Mạng (NIS) – để thúc đẩy an ninh chống lại các cuộc tấn công mạng trên toàn quốc.  Diện mạo hoàn toàn mới của điện thoại thông minh  Sự chú ý của thế giới công nghệ sẽ dành cho Samsung vào đầu năm nay, vì công ty này dự kiến sẽ công bố điện thoại thông minh gập – được gọi là Galaxy X, F hoặc Fold. Theo tạp chí Alphr, việc sản xuất điện thoại gập dự kiến sẽ bắt đầu trong vài tháng tới  và sẽ đưa ra thị trường trong năm 2019. Google được cho là đang tạo ra phần mềm để hỗ trợ thiết bị gập, đây là chỉ báo rằng công nghệ này cũng có thể xuất hiện trên các thiết bị của các công ty khác chứ không chỉ Samsung.  Trong khi đó, các nhà sản xuất điện thoại thông minh vẫn sẽ đưa ra những cách sáng tạo hơn để ngụy trang cho chiếc “tai thỏ”- một khoảng trống nhỏ ở phía trên màn hình điện thoại thông minh để chứa camera trước và các cảm biến.  Samsung Galaxy A8 và Huawei Honor View 20 đang dẫn đầu trong việc hạn chế “tai thỏ”; hai mẫu điện thoại này chỉ còn một lỗ đen nhỏ trên màn hình để chứa camera.    Tên lửa của Xspace  Hành trình đến những vì sao  Cuộc đua đưa khách du lịch vào vũ trụ sẽ cũng nóng lên trong 12 tháng tới. Khác với thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ và Liên Xô đua nhau trở thành quốc gia đầu tiên đưa con người vào vũ trụ, các công ty tư nhân hiện nay mới là những người dẫn đầu trong cuộc đua vũ trụ. Các công ty lớn trong cuộc đua này là SpaceX của Elon Musk, Virgin Galactic của Sir Richard Branson và Blue Origin do Jeff Bezos sáng lập. Tất cả đều có kế hoạch đưa du khách lên vũ trụ vào năm 2019 bằng những con đường khác nhau.  Theo Branson, Virgin Galactic có thể đưa một khách hàng vào không gian sớm nhất là vào tháng 3. Hãng dự định sẽ sử dụng một chiếc máy bay phản lực nhỏ để đưa du khách đến rìa vũ trụ, theo Sky News đưa tin. Còn tàu vũ trụ của Virgin Galactic cất cánh  cùng với một chiếc máy bay chở hàng trước khi được phóng ra ở độ cao 8 dặm so với Trái đất. Theo tờ Wired, công ty có thể bắt đầu các chuyến bay chở người thử nghiệm vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2020. Blue Origin cũng sẽ mang đến cho khách hàng trải nghiệm tương tự với con tàu mang tên New Shepard – theo tên của Alan Shepard, nhà du hành người Mỹ đầu tiên đi vào vũ trụ.  Còn SpaceX đã có kinh nghiệm triển khai các vệ tinh lên quỹ đạo cho Chính phủ Mỹ và NASA.  SpaceX có kế hoạch bắt đầu gửi phi hành gia lên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) cho cơ quan vũ trụ Mỹ vào năm tới bằng cách sử dụng tàu Dragon. Các thử nghiệm với tàu có người lái dự kiến sẽ được khởi động vào tháng 4.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.theweek.co.uk/98527/tech-trends-2019-folding-phones-cyber-crime-and-space-tourism    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng đầu tư vào xe tải chạy điện      Chi phí bảo trì thấp, hầu như không có tiếng ồn, xe tải chạy điện đang ngày càng được các hãng lớn đầu tư sản xuất và tung ra thị trường nhiều hơn.      Xe tải điện của Volvo  Chiếc xe tải xanh nhạt chở rác dừng ở trung tâm thành phố Göteborg. Hai người bước ra khỏi xe, đó là bà thị trưởng thành phố Ann-Sofie Hermansson và người quản lý của mảng xe tải Volvo, Claes Nilsson. Chiếc xe tải chở rác này thuộc diện “của độc”, khác hoàn toàn các loại xe chở rác hiện nay, nó thuộc diện xe tải cỡ lớn chạy bằng động cơ điện của hãng Volvo, sẽ được sản xuất hàng loạt trong thời gian tới.  Volvo bước vào một phân khúc mà cho đến nay hầu như ít nhà sản xuất nào quan tâm. “Cho đến nay các hãng sản xuất xe tải hầu như chỉ nghĩ đến động cơ Diesel”, ông Peter Fintl, một chuyên gia ngành ô tô làm việc tại hãng tư vấn công nghệ Altran nói. “Tuy nhiên một số đối thủ cạnh tranh mới như xe Streetscooter và các cuộc tranh cãi về chuyện cấm xe Diesel đã tạo ra sự thay đổi tư duy ở lĩnh vực này.”  Xe tải chạy điện này có tổng trọng lượng 16 tấn thích hợp làm xe vận chuyển hàng hóa, chở chất thải trong thành phố và phục vụ một số yêu cầu của chính quyền địa phương. Xe chạy bằng động cơ điện với công xuất tối đa là 185 Kilowatt (250 mã lực) và có hộp số với hai tốc độ. Tùy theo lĩnh vực hoạt động loại xe tải điện này có từ 2 đến 6 bình ắc quy – Lithium-Ionen với công xuất mỗi bình là 50 Kilowatt giờ và có trọng lượng 520 Kilogram. Xe có thể chạy tối đa 300 km một lần sạc.  Thời gian nạp ắc quy để đạt tối đa 300 kWh đối với điện xoay chiều 22 kW sẽ rơi khoảng trên 13 giờ đồng hồ. Thời gian sạc này với xe tải thường đỗ tại sân nhà máy vào ban đêm thì hoàn không có vấn đề gì. Khi nạp nhanh với điện 150 kW thì thời gian nạp có thể giảm từ 1 đến 2 giờ.   “Chúng tôi tin chắc rằng đã đến lúc xe tải chạy điện xuất hiện nhiều hơn ở các thành phố”, Claes Nilsson, chủ tịch Volvo Trucks nói. Loại xe tải điện có nhiều ưu điểm đối với cư dân ở các đô thị cũng như đối với môi trường: “giảm khí thải, giảm tiếng ồn, chất lượng sống tăng.” Do xe tải điện không phát sinh khí thải, giảm tiếng ồn nên có thể tham vào nhiều hoạt động mới. Thí dụ có thể dùng xe tải điện để hoạt động trong nhà kho, nhà ga và vào những khu vực bảo vệ môi trường mà không. Ở Thụy Điển, xe tải điện còn được miễn lệ phí đường. Do tiếng ồn giảm nên xe tải điện được hoạt động ban đêm ở nội đô và nhờ thế nên giảm được lượng xe hoạt động ban ngày. Hơn nữa xe giao hàng cũng chạy được nhanh hơn, theo điều tra của Volvo, do mật độ xe chạy ban ngày giảm nên rút ngắn được thời gian hoạt động của xe giao hàng, ở thủ đô Stockholm giảm được một phần ba thời gian. Từ 2019, Volvo sẽ bắt đầu sản xuất hàng loạt đồng thời bán rộng rãi lọai xe này trên thị trường châu Âu.       Xe tải của hãng Renault  Không chỉ Volvo, các hãng sản xuất xe tải khác cũng đang sẵn sàng vào cuộc. Thí dụ năm 2019 Renault sẽ sản xuất xe tải điện. Ngay từ năm 2009 hãng xe của Pháp đã tiến hành thử nghiệm xe điện khí hóa hoàn toàn loại từ 12 và 16 tấn. Việc Volvo và Renault gần như cùng lúc tung ra thị trường xe tải điện không phải là ngẫu nhiên: Từ năm 2001 Renault Trucks đã thuộc về tập đoàn Volvo qua đó tạo ra lợi thế về nghiên cứu và phát triển.  Ngay từ giữa năm ngoái, công ty con Fuso của Nhật bản thuộc hãng Daimler đã sản xuất với số lượng hạn chế xe tải điện cỡ nhỏ có tầm hoạt động đạt khoảng 100 km. Động cơ điện loại 129 Kilowatt (180 mã lực). Và Daimler đã tiến thêm một bước, trong năm nay hãng này sẽ ra Model eActros sẽ có mặt trên thị trường, đây là loại xe tải hạng nặng với hai loại, một loại có tổng trọng lượng là 18 và 25 tấn và có tầm hoạt động tới 200 km.  Đang có khá nhiều thay đổi trên thị trường xe tải điện. Theo các chuyên gia công nghệ, dự kiến đến năm 2025 sẽ có khoảng một nửa xe tải cỡ nhỏ tới 3,5 tấn được chuyển đổi sang dạng xe tải chạy điện.   Hoài Nam lược dịch  Nguồn ảnh và bài: http://www.spiegel.de/forum/auto/elektro-lkw-brummi-brummt-nicht-mehr-thread-740678-1.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng giảm giá bất động sản còn kéo dài      Phát biểu tại tọa đàm về triển vọng phục hồi  thị trường bất động sản tại TP Hồ Chí&#160; Minh, ông Chris Brown, Giám đốc  điều hành Công ty tư vấn Bất động sản Cushman &amp; Wakefield Việt Nam,  cho rằng cả ở phân khúc văn phòng và nhà ở, xu hướng giảm giá dự tính còn kéo dài.    Theo ông Chris, ở phân khúc văn phòng, thị trường thành phố Hồ Chí Minh chứng kiến xu hướng giảm giá đồng bộ từ đầu năm đến nay. So với thời điểm năm 2008, giá thuê văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh giảm hơn 45%. Trong vòng ba năm tới, ít nhất một triệu mét vuông diện tích sàn dự kiến sẽ được tung ra thị trường, đặt thêm áp lực giảm giá lên các nhà đầu tư. Với thị trường dồi dào nguồn cung này, năm 2013 tiếp tục là năm của khách thuê bởi họ được tiếp cận các khu văn phòng chất lượng cao hơn ở một mức giá ưu đãi hơn.  Ông Chris nhận định, nhìn chung, việc nhu cầu của thị trường nhà ở chưa được đáp ứng và việc cung ứng quá mức cần thiết tại phân khúc văn phòng phản ánh nhiều thiếu sót trong phân phối vốn đầu tư và công tác thiết kế, quản lý tòa nhà. Trong tương lai gần, khi nhiều dự án mới hoàn thành được chào bán, yếu tố giá cả và sự minh bạch về thông tin sẽ là yếu tố quyết định điều chỉnh thị trường.  Ở phân khúc nhà ở, ông Chris cho rằng, cả thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều có nguồn cung căn hộ hạng B và C khá dồi dào tại thị trường sơ cấp, tuy nhiên hoạt động giao dịch các dự án sơ cấp này không mấy sôi động. Trong khi đó, giao dịch tại các dự án thứ cấp và các hoạt động mua bán đất đai diễn ra tương đối ổn định. Các chủ đầu tư hiện đang tìm lối thoát cho các dự án bằng các biện pháp như chia nhỏ diện tích căn hộ, hoặc cho thuê tạm thời,… Như vậy, trong năm 2013, xu hướng giảm giá dự tính sẽ còn kéo dài.  Tại thị trường bán lẻ, khoảng 1.500 dự án dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong vòng bảy năm tới trên toàn Việt Nam. Trong 2012, Việt Nam ra khỏi danh sách 30 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới (theo A.T Kearney). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là thị trường hấp dẫn đối với các nhà bán lẻ quốc tế. Nhu cầu cho mặt bằng bán lẻ tại khu trung tâm dự kiến vẫn tăng cao. Tuy nhiên, do quỹ đất trung tâm hạn hẹp, và giá đất cao, hầu hết nguồn cung tương lai tập trung tại khu vực ngoại thành.  Về các chính sách kinh tế, tiền tệ mới được Nhà nước đưa ra, ông Chris nói: “Gói tín dụng trị giá 30.000 tỷ VND sẽ hỗ trợ các nhà đầu tư hiện đang thiếu vốn trầm trọng và khuyến khích họ phát triển phân khúc nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp. Đồng thời, người lao động thu nhập thấp cũng có cơ hội sở hữu nhà ở, góp phần tăng cầu thị trường và thúc đẩy thị trường Bất động sản đã đóng băng”. Tuy nhiên, ông Chris cũng nhắc tới nhiều khó khăn tiềm tàng trong thủ tục cũng như tính khả thi của nghị định. Bên cạnh đó, vẫn chưa có một thông tin dự thảo về lộ trình thay đổi lãi suất cho vay. Ba năm tới khi lãi suất thay tăng cao, những người lao động thu nhập thấp nhiều khả năng sẽ đứng trước nguy cơ không trả được nợ.    Ông Chris bày tỏ thái độ tích cực trước việc Chính phủ thành lập Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) nhằm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam: “Việc thành lập VAMC sẽ đẩy mạnh tiến độ giải quyết nợ xấu, vốn là tác nhân chính gây nên tình trạng thanh khoản yếu trong hệ thống ngân hàng”.  Tọa đàm do Cushman & Wakefield phối hợp với Thời báo Đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam) tổ chức ngày 13/6, nhằm thảo luận về ảnh hưởng của các gói chính sách kinh tế, tiền tệ lên thị trường bất động sản trong thời gian gần đây và đánh giá về triển vọng phục hồi của thị trường bất động sản trong năm 2013.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng phát triển các thế hệ lò phản ứng hạt nhân      &#160;Sau khi sự cố hạt nhân tại Fukushima diễn ra, việc giới truyền thông dồn dập đưa tin về các trục trặc xảy ra tại các lò phản ứng nước sôi thuộc vào loại cũ nhất của thế hệ lò phản ứng thứ II đã giúp công chúng tiếp cận được với một lĩnh vực trước đây vẫn được coi là mang tính kỹ thuật quá cao và rất khó tiếp cận đối với đông đảo công chúng, đó là các thế hệ lò phản ứng hạt nhân và xu hướng phát triển của chúng.        Kể từ khi AM-1 (Atom-Mirny hay “Nguyên tử hòa bình”), nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới, được đưa vào hoạt động tại Obninsk, Liên Xô cũ năm 1954 cho tới nay, ngành công nghiệp hạt nhân đã cho ra đời 3 thế hệ lò phản ứng, và đang hướng tới việc thiết kế và xây dựng thế hệ lò phản ứng thứ IV hiệu quả hơn, nhiều tác dụng và an toàn hơn.  Các công nghệ lò phản ứng từ tổ máy đầu tiên AM-1 cho đến các công nghệ tiên tiến nhất như AP1000 hay VVER1200 đều sử dụng một nguyên lý chung đó là dùng neutron được làm chậm để gây ra phản ứng dây chuyền có kiểm soát trong lõi lò phản ứng, từ đó tạo ra nhiệt lượng để trực tiếp hoặc gián tiếp sinh ra hơi nước làm quay tuốc-bin và phát ra điện.           Các thế hệ lò phản ứng hạt nhân          Trước đây, các lò phản ứng thuộc thế hệ thứ I (Generation I) chủ yếu là các lò mang tính thử nghiệm còn hiện nay phần lớn các lò phản ứng đang hoạt động thương mại trên thế giới là các lò thuộc thế hệ lò phản ứng thứ II (Generation II). Thế hệ lò này có thể chia làm 4 nhóm chính là lò phản ứng nước nhẹ (LWR – Light Water Reactor) sử dụng nước thông thường (H2O hay “nước nhẹ”) làm chất tải nhiệt và làm chậm neutron; lò phản ứng nước nặng (CANDU – CANada Deuterium-Uranium reactor) sử dụng nước nặng (D2O hay Deuterium) làm chất tải nhiệt và làm chậm neutron, đây là công nghệ được thiết kế và xây dựng đầu tiên tại Canada; lò phản ứng và lò phản ứng khí cải tiến (AGR – Advanced Gas-Cooled Reactor) sử dụng khí CO2 làm chất tải nhiệt và graphit để làm chậm neutron, các nhà máy sử dụng công nghệ này hiện chỉ còn hoạt động ở Vương quốc Anh. Cùng sử dụng graphit để làm chậm neutron nhưng dùng nước nhẹ để tải nhiệt là công nghệ lò RMBK (Reaktor bolshoy moshchnosti kanalniy) của Liên Xô cũ.   Bản thân nhóm lò phản ứng nước nhẹ cũng lại được chia thành hai nhánh nhỏ hơn là lò phản ứng nước sôi (BWR – Boiling Water Reactor) và lò phản ứng nước áp lực (PWR – Pressurized Water Reactor hay lò VVER – Vodo-Vodyanoi Energetichesky Reactor của Nga). Công nghệ lò BWR được công ty General Electric (GE) của Hoa Kỳ bắt đầu triển khai thiết kế và xây dựng từ thập niên 1950, công nghệ này chỉ sử dụng duy nhất một vòng nước làm mát theo đó nhiệt từ lò phản ứng trực tiếp làm sinh hơi nước để quay tuốc-bin phát điện. Khác với BWR, lò phản ứng nước áp lực sử dụng hai vòng nước làm mát, trong đó vòng nước đầu tiên có áp suất rất cao được sử dụng làm trung gian để tải nhiệt sang vòng nước thứ hai, nơi hơi nước được sinh ra để quay tuốc-bin. Hai quốc gia khởi xướng cho công nghệ lò nước áp lực vào thập niên 1960 là Hoa Kỳ (công ty Westinghouse) và Liên Xô cũ.           Giản đồ hoạt động của lò phản ứng nước áp lực: Vòng nước sơ cấp (màu đỏ) truyền nhiệt từ lò phản ứng (reactor vessel) tới vòng nước thứ cấp (màu xanh) để sinh hơi làm quay tuốc-bin (turbine) và máy phát điện (generator). Vòng nước sơ cấp và lò phản ứng được đặt trong cấu trúc bảo vệ (containment structure).          Kể từ giữa thập niên 90 của thế kỉ trước, thế hệ lò phản ứng thứ III và III+ (Generation III/III+) bắt đầu được một số nước có công nghiệp điện hạt nhân tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Liên bang Nga phát triển. Đây là thế hệ lò có công suất lớn (từ 1000 – 1700 MW) với đại diện thuộc cả ba nhóm chính:  Trong số các công nghệ lò thuộc thế hệ thứ III/III+ thì hiện 4 lò phản ứng sử dụng công nghệ lò ABWR đã đi vào hoạt động tại Nhật Bản (tại các nhà máy Kashiwazaki-Kariwa, Hamaoka và Shika), một số lò sử dụng công nghệ EPR, AP1000, APR1400, APWR1700 và VVER1200 đang được xây dựng còn các công nghệ khác mới chỉ dừng lại trên bản vẽ. Đặc điểm của công nghệ lò phản ứng thuộc thế hệ thứ III/III+ là những cải tiến mang tính cách mạng đối với mọi khía cạnh của lò phản ứng từ độ an toàn, tính kinh tế, điều kiện xây dựng, vận hành cho tới tăng tính ổn định cho hoạt động của lò.             Công nghệ      Công ty phát triển      Quốc gia          Lò nước sôi          ABWR (Advanced Boiling Water   Reactor)      GE-Hitachi, Toshiba      Hoa Kỳ, Nhật Bản          ESBWR (Economic Simplified   Boiling Water Reactor)      GE-Hitachi      Hoa Kỳ, Nhật Bản          EU-ABWR (ABWR tiêu chuẩn châu Âu)      Toshiba  Westinghouse Thụy Điển      Nhật Bản  Hoa Kỳ,  Thụy Điển          KERENA      AREVA  E.ON      Pháp  Đức          Lò nước áp lực          EPR (European Pressurized   Reactor)      AREVA      Pháp          AP1000      Westinghouse      Hoa Kỳ          APR1400 (Advanced Pressurized   Reactor)      KHNP      Hàn Quốc          APWR1700 (Advanced Pressurized   Water Reactor)      Mitsubishi      Nhật Bản          VVER1200 (gồm 2 phiên bản V-392 và V-491)      Atomstroyexport  (ROSATOM)      Liên bang Nga          ATMEA1      AREVA  Mitsubishi      Pháp  Nhật Bản          EU-APWR (APWR tiêu chuẩn châu Âu)      Mitsubishi      Nhật Bản          Lò nước nặng          ACR1000 (Advanced CANDU Reactor)      AECL      Canada          Để tăng tính an toàn, thế hệ lò phản ứng thứ III/III+ sử dụng vỏ bảo vệ (containment) kép, có thể đứng vững kể cả trong trường hợp bị máy bay đâm vào (một khía cạnh thường xuyên được đề cập đến trong thiết kế lò phản ứng kể từ sau sự kiện 11/9 khi hai chiếc máy bay bị không tặc tấn công, đâm và phá hủy hoàn toàn Trung tâm Thương mại Quốc tế tại New York). Bên cạnh đó thế hệ lò phản ứng thứ III/III+ còn được trang bị thêm hệ thống điều khiển (I&C) kỹ thuật số, các hệ thống bảo vệ bổ sung trong đó có cơ cấu bảo vệ đáy lò (core catcher) trong trường hợp lõi lò bị nóng chảy và các hệ thống an toàn thụ động. Các hệ thống an toàn thụ động là đặc điểm tiêu biểu của công nghệ lò AP1000 do hãng Westinghouse (Hoa Kỳ) thiết kế và chế tạo. Sử dụng các nguyên lý tự nhiên như đối lưu, truyền nhiệt, công nghệ lò AP1000 cho phép trong trường hợp nhà máy xảy ra tai nạn nghiêm trọng thì lò phản ứng vẫn có thể tiếp tục tự làm nguội mà không cần các biện pháp đối phó và can thiệp từ bên ngoài của nhân viên vận hành trong vòng 72 giờ.            Tần suất hư hỏng lõi lò (Core damage frequency) của các lò thuộc thế hệ III/III+. Có thể thấy lò VVER1200 (AES-2006) của Liên bang Nga có tần suất hư hỏng vào loại thấp nhất, nhỏ hơn nhiều so với 5×10-7/năm hoạt động của lò phản ứng hay 1 triệu năm hoạt động của lò phản ứng mới có 1 lần hỏng hóc.          Về mặt kinh tế, đặc điểm chung của công nghệ lò thuộc thế hệ thứ III/III+ là thiết kế được tiêu chuẩn và đơn giản hóa nhằm tăng hiệu suất và thời gian sử dụng của nhà máy, thường là 60 năm và có thể đạt tới 80 năm (so với 30 – 40 năm của các lò thuộc thế hệ thứ II). Để giảm thời gian xây dựng, một số công nghệ lò thuộc thế hệ III/III+ như AP1000 có các mô-đun được chế tạo trước tại nhà máy và sau đó chỉ cần lắp đặt với nhau tại địa điểm xây dựng. Nhờ sử dụng phương pháp xây dựng này mà việc xây dựng các lò phản ứng AP1000 tại Tam Môn, Trung Quốc dự kiến sẽ được hoàn thành trong thời gian kỷ lục là 4 năm. Việc tiêu chuẩn hóa, đặc biệt là tuân thủ theo các hướng dẫn an toàn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và các tiêu chuẩn quốc tế khác, cũng giúp công nghệ lò thuộc thế hệ thứ III/III+ giảm bớt được thời gian bảo trì và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho nhân viên vận hành nhà máy. Với những ưu điểm đáng kể nói trên, các công nghệ lò thuộc thế hệ thứ III được hy vọng sẽ dần thay thế cho các lò thuộc thế hệ thứ II trong tương lai gần.  Không dừng lại ở thế hệ III/III+, hiện nay, một số quốc gia trên thế giới đã triển khai nghiên cứu công nghệ lò thế hệ thứ IV (Generation IV) nhằm tăng cường hơn nữa tính bền vững của công nghệ lò, cải thiện hiệu quả sử dụng nguyên liệu và giảm thiểu vấn đề chất thải phóng xạ. Một diễn đàn quốc tế về thế hệ lò thứ IV có tên GIF (Generation IV International Forum) đã được thành lập với thành viên là tất cả các quốc gia có nền công nghiệp điện hạt nhân phát triển như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp, Liên minh châu Âu, Thụy Sĩ và Nam Phi với hy vọng trong tương lai gần, những công nghệ lò phản ứng mới với công nghệ mang tính đột phá sẽ được phổ biến rộng rãi để đem lại điện hạt nhân cho các quốc gia với giá thành rẻ hơn và độ tin cậy cao hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng phát triển Internet: Doanh thu quảng cáo trên mạng vượt truyền hình      Ngày 31/5/2017, bà Mary Meeker, người được gọi là Nữ hoàng Internet[1] đã công bố Báo cáo về xu hướng phát triển Internet năm 2017. Đây là lần thứ 22 bà công bố bản báo cáo thường niên này. Báo cáo rất dài, dưới đây là một số điểm chính.      Với 355 triệu users, Ấn Độ trở thành thị trường Internet thứ hai sau Trung Quốc  – Số người sử dụng Internet trên toàn cầu hiện đã vượt quá 3,4 tỷ, tăng 10% cùng kỳ. Mức độ phổ cập Internet đạt 46%. Trong đó có 355 triệu người Ấn Độ, tăng 28% cùng kỳ, nước này trở thành thị trường Internet thứ hai sau Trung Quốc.  – Người Mỹ mỗi ngày dành 5,6 giờ vào việc dùng các thiết bị kỹ thuật số; 3,1 giờ trên điện thoại di động (ĐTDĐ) và 2,2 giờ trên máy tính.  – Lượng điện thoại thông minh (ĐTTM) bán ra trên toàn cầu tăng 3%. Nếu so với mức tăng 10% năm 2015 và 28% năm 2014, có thể thấy tốc độ tăng ĐTTM đã chậm lại.  – Năm 2016 chi phí quảng cáo trên mạng đạt 3,7 tỷ USD, tăng 22% (năm 2015 tăng 20%). Dự kiến trong sáu tháng tới, chi phí quảng cáo trên mạng sẽ vượt quảng cáo trên truyền hình. Doanh thu quảng cáo trên Internet của Google bằng 35 tỷ USD, của Facebook – dưới 15 tỷ USD (nhưng tăng trưởng nhanh). Các công ty khác – dưới 25 tỷ USD. Doanh thu quảng cáo trên mạng ở Trung Quốc đạt 40 tỷ USD, tăng 30% cùng kỳ.  – Doanh số bán lẻ trên mạng năm 2017 sẽ bằng khoảng 400 tỷ USD, tăng bình quân 15% một năm kể từ 2010. Nhờ thương mại điện tử phát triển mạnh, số kiện hàng gửi trong năm 2016 tăng 9%.  – Trò chơi (game) trên ĐTDĐ bắt đầu phổ cập trong đời sống hằng ngày. Năm 2017 có 2,6 tỷ người chơi game trên ĐTDĐ. Doanh thu chơi game trên toàn cầu có thể đạt 100 tỷ USD. Từ tháng 7/2015 đến tháng 3/2017, thời gian chơi game trên ĐTDĐ hằng ngày của những người chơi đã tăng 33%. Các doanh nhân ngày càng thích chơi game, như CEO của Facebook hoặc nhà sáng lập LinkedIn…  – Thiết bị cơ sở hạ tầng của điện toán đám mây tăng nhanh. Năm 2016 chi tiêu cho các thiết bị này đạt 36 tỷ USD, chiếm 37% tổng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng IT, tăng 37% so năm 2014.  Amazon (AWS) chiếm 57% thị trường điện toán đám mây công cộng, tiếp theo là Microsoft (34%), Google (15%) và IBM (8%).  – Số người Trung Quốc dùng Internet trên ĐTDĐ lên tới 700 triệu, tăng 12% cùng kỳ. Năm 2016 Internet chiếm 55% thời gian dành cho media của các thuê bao ở Trung Quốc, thời gian dùng Internet trên ĐTDĐ đã vượt thời gian xem truyền hình. Người Trung Quốc ngày càng muốn chơi game trên mạng, xem truyền hình trực tiếp trên mạng, xem video trên Internet. Thị trường game ở Trung Quốc đã vượt Mỹ, trở thành lớn nhất toàn cầu. Các mạng Trung Quốc Tengxun và Wangyi đang dẫn đầu các trò chơi MOBA và MMORPG trên ĐTDĐ. Thương mại điện tử phát triển mạnh ở Trung Quốc, chiếm 15% tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa cả nước.  – Các công ty hiện dẫn đầu trên thị trường Internet là Apple, Google, Amazon, Facebook, Tengxun, Alibaba.          NHH dịch  Nguồn:  – https://www.insidehighered.com/blogs/technology-and-learning/32-highlights-meekers-2017-internet-trends-report  – http://tech.sina.com.cn/i/2017-06-01/doc-ifyfuvpm6996877.shtml            [1] “Queen of the Internet” Mary Meeker, sinh 1959, người Mỹ, nhà đầu tư mạo hiểm, chuyên gia phân tích chứng khoán phố Wall, từng đầu tư 50 triệu USD cho dịch vụ SoundCloud (chia sẻ video và nhạc). Năm 2010 được tạp chí Fortune gọi là một trong 10 nhà công nghệ thông minh nhất, năm 2014 được tạp chí Forbes xếp thứ 77 trong danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng sống khỏe đang làm ngành sản xuất đường điêu đứng      Ngành sản xuất đường vốn được coi là vững như bàn thạch, song từ khi ngày càng có nhiều người giảm sử dụng đường và chính sách của nhà nước cũng chống lại tiêu thụ đường thì thị trường hàng tỷ USD này đang bị rung chuyển – gây hậu quả nặng nề cho nhà sản xuất, thương nhân và nông dân.      Kinh doanh đường ăn từng được coi là ngành không sợ khủng hoảng nay đang ngày càng khó khăn hơn. Sự thay đổi thói quen tiêu dùng, trật tự mới về thị trường và các luật lệ mới đang làm rung chuyển tận gốc rễ ngành kinh tế này. Mọi bộ phận của chuỗi giá trị đều bị ảnh hưởng: Chuỗi siêu thị thử nghiệm các sản phẩm ít đường, các nhà chế biến thực phẩm thay đổi công thức sản phẩm của mình, nhà sản xuất đường ăn tự cứu mình bằng cách tìm các thị trường mới. Nông dân trồng củ cải đường lâm vào tình trạng thụ động và đang phải đấu tranh để tồn tại.  Cuộc chiến chống lại đường ăn xuất phát từ quan niệm sống mới. Ngày càng có nhiều người lên tiếng về tác hại của tiêu thụ đường. Béo phì, tiểu đường loại 2 bị coi là căn bệnh phổ biến, là gánh nặng đối với hệ thống y tế gây phí tổn hàng năm ở Đức lên tới 20 tỷ Euro. Bản thân người tiêu dùng tự nguyện hạn chế tiêu thụ đường và nhà nước cũng báo động về tác hại của việc sử dụng đường.  Tại nước Anh, từ đầu tháng tư nhà nước đánh thuế vào nước uống có đường. Ngay lập tức các hãng nước ngọt có ga giảm hàm lượng đường. Ở Na uy, Mexico và Nam Phi cũng có loại thuế tương tự. Tổ chức Y tế thế giới WHO nhận thấy điều này có tác dụng. Các Hội bảo vệ người tiêu dùng, như Foodwatch, Liên minh của trên 2000 bác sĩ và quỹ bảo hiểm y tế ở Đức cũng lên tiếng đòi chính phủ ban hành thuế đường ăn! Các cơ quan và các tổ chức có thẩm quyền yêu cầu xây dựng chiến lược  quốc gia về giảm lượng đường, chất béo và muối ăn trong thực phẩm ăn sẵn ngay trong năm nay.   Một số siêu thị ở Đức thực tế đã tiến hành giảm lượng đường, muối và chất béo trong thực phẩm chế biến từ nhiều năm nay do nhu cầu thay đổi của người tiêu dùng xuất phát từ ý thức bảo vệ sức khỏe của bản thân họ.  Ngành công nghiệp thực phẩm cũng tìm cách thích ứng với tình hình mới. Coca Cola dự tính đến năm 2020 sẽ giảm 10% hàm lượng đường trong nước giải khát của mình. Tập đoàn nước trái cây khổng lồ Eckes-Granini cũng có biện pháp tương tự. Một loạt doanh nghiệp lớn chuyên sản xuất các loại bánh kẹo, cũng giảm lượng đường từ từ xuống tới 30%.  Do giảm sử dụng đường công nghiệp các doanh nghiệp thực phẩm đẩy mạnh tìm các chất ngọt khác để thay thế. Từ năm 2015 tập đoàn khổng lồ Nestle của Thụy sĩ đã huy động hơn 250 chuyên gia về cảm giác, các nhà khoa học dinh dưỡng, chuyên gia làm bánh ngọt, chuyên gia phát triển sản phẩm, chuyên gia phân tích về mua sắm để phát triển một loại đường mới, nghèo ca lo hơn. Loại chất ngọt này không ở dạng tinh thể mà có cấu trúc vô định hình, xốp, tương tự như đường bông vậy.  Các siêu thị, nhà hàng khi muốn thay đổi công thức những sản phẩm mà họ kinh doanh luôn có sự bàn bạc với nhà sản xuất. Ông Meyer, nhà quản lý của Rewe Group ở Đức nói “chúng tôi yêu cầu họ làm thử sản phẩm mẫu có hàm lượng đường giảm 10 – 30%.” Sau đó bản thân ông này và các nhân viên cùng thử các sản phẩm mới. Câu hỏi đầu tiên là, “sản phẩm này có chấp nhận được không? Khách hàng mua một cái bánh ngọt vì nó ngọt chứ không phải vì cái bánh giảm hàm lượng đường.”  Mùa thu năm ngoái EU kết thúc “trật tự về thị trường đường” trong gần 50 năm vấn đề này đã điều chỉnh về giá cả cũng như về xuất, nhập khẩu đường ở châu Âu. Kể từ đó giá đường lao xuống dốc từ trên 500 Euro một tấn chỉ còn không quá 300 Euro. Tuy nhiên giới am hiểu dự đoán giá đường sẽ lên.  Đức là nhà sản xuất đường lớn nhất châu Âu. Ba doanh nghiệp sản xuất đường lớn nhất châu Âu đều ở Đức, đó là Südzucker, có niêm yết trên thị trường chứng khoán, Nordzucker ở Braunschweig và doanh nghiệp gia đình khá kín tiếng Pfeifer & Langen ở Köln. Mô hình kinh doanh của doanh nghiệp này là sản xuất đường từ củ cải đường mua từ nông dân trồng củ cải đường.   Các doanh nghiệp Đường của Đức để đối phó với sự tụt dốc của ngành kinh tế đường đang thực hiện đa dạng hóa sản phẩm. Thí dụ Südzucker không những chỉ sản xuất nước trái cây, sữa chua mà còn đẩy mạnh sản xuất loại Pizza ăn ngay và trở thành nhà cung cấp vào loại lớn nhất ở Đức.  Nguyễn Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/unternehmen/handel/ungesundes-geschaeft-der-gesundheitstrend-zerlegt-die-zucker-industrie/22683938.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng thâu tóm trong ngành công nghiệp ô tô ở Nhật Bản      Quá nhiều nhà sản xuất, quá ít đổi mới, sáng tạo– ngành công nghiệp ô tô Nhật bản đang bị mất khả năng cạnh tranh và xu hướng sáp nhập là điều khó tránh khỏi.      Một buổi giới thiệu xe của hãng Suzuki.    Ngay từ sáng sớm, lái xe và phụ lái đã kiểm tra săm lốp, dầu, còi thậm chí cả ốc vít ở biển số, sau đó họ còn làm mấy động tác để sưởi ấm cơ thể, đóng cửa xe và nổ máy. Cuối cùng thì đoàn xe gồm các loại xe địa hình như  Fortune, RAV4-Crossover và Hilux-Pickup lăn bánh. Đây là chuyến đi băng qua 5 châu lục của đoàn xe Toyota với tổng chiều dài là 200.000 km, thực hiện trong vòng sáu năm trên những cung đường thuộc diện khắc nghiệp nhất thế giới!  Thoạt trông thì chiến dịch này có vẻ như là một hành động mang tính PR kiểu tổ chức giải Camel Trophy (thử thách đi những cung đường rất khó dành cho xe Land Rover), nhưng trong thực tế đây là một hoạt động đầu tư về nhân sự của Toyota: Đây là dịp để nhân viên từ các bộ phận tiếp thị, hành chính cho đến phát triển và sản xuất của tập đoàn trải nghiệm các điều kiện thực tế mà những người lái xe trên thế giới hàng ngày phải trải qua  –  đó là những đoạn đường xuyên rừng lầy lội cho đến những đoạn đường đèo đầy ổ gà, ổ voi. Sau khi kết thúc dự án trở về với công việc hàng ngày họ sẽ không quên những điều đã từng trải nghiệm trong thực tế.  Dự án này là do ông chủ của Toyota,  Akio Toyoda đích thân đề xướng. Ông quan niệm “con đường làm nên ô tô”. Vị chủ tịch tập đoàn luôn nhấn mạnh, muốn chế tạo được những chiếc xe tốt hơn thì phải hiểu cặn kẽ các con đường. Không như nhiều nhà quản lý trong ngành công nghiệp ô tô, ông Toyoda luôn đau đáu nỗi lo doanh nghiệp của mình sẽ như những con khủng long bị tuyệt chủng vì sự thay đổi quá nhanh của môi trường xung quanh.  Nỗi lo lắng trước nguy cơ bị khủng hoảng của ông Toyoda giờ đây được nhiều nhà lãnh đạo ngành công nghiệp ô tô Nhật bản chia sẻ. Tuy hai chục năm qua ngành công nghiệp ô tô Nhật bản vẫn duy trì sự ổn định và cung cấp 30%  tổng số ô tô của thế giới. Tuy nhiên các nhà phân tích cảnh báo ngành chế tạo ô tô Nhật Bản sẽ đối diện với sự đi xuống như đã từng diễn ra đối với ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng nếu như các nhà quản lý trong ngành này xao nhãng sự xu hướng biến đổi đang diễn ra đối với ô tô, đó là ô tô tự điều khiển, ô tô chạy điện và ô tô nối mạng.  Xu hướng hợp nhất  Cách đây không lâu Nhật bản vẫn có tới tám tập đoàn chế tạo tô tô trong khi Hoa Kỳ chỉ còn có ba nhà chế tạo ô tô hoàn toàn độc lập với nhau là  Ford, General Motors và Tesla. Ngay cả Đức, vốn là đất nước của ô tô hiện cũng chỉ còn ba tập đoàn BMW, Daimler và Volkswagen. Vì thế xu hướng hợp nhất cũng là điều không thể tránh ở Nhật bản, và trong thực tế điều này đã diễn ra từ năm ngoái: Toyota nuốt gọn Daihatsu, Nissan cũng sáp nhập với Mitsubishi. Sự hợp tác và liên minh sẽ còn diễn ra mạnh mẽ hơn. Giới am hiểu trong ngành thì cho rằng nội trong mười năm tới ở Nhật sẽ chỉ còn tồn tại bốn tập đoàn công nghiệp ô tô. Ngân hàng đầu tư Úc Investmentbank Jeffries cũng tiên đoán từ nay đến năm 2020 sẽ chỉ còn tồn tại ba tập đoàn. “Nhật bản có quá nhiều nhà sản xuất, dẫn đến lãng phí tài nguyên”, theo nhà phân tích thị trường Takashi Nakanishi. “Sự hợp nhất là tất yếu và sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh”, ông nói thêm.  Hơn bao giờ hết, lợi thế về tầm vóc ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với ngành công nghiệp ô tô. Điều này không chỉ thể hiện ở số lượng ô tô: Ví dụ trong năm kinh doanh vừa qua, Toyota đã chi khoảng  1,1 nghìn tỷ Yên (8,8 tỷ  Euro) cho nghiên cứu và phát triển, bằng tổng khoản đầu tư tương ứng của các hãng  Nissan, Subaru, Suzuki, Mazda và Mitsubishi cộng lại. Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể tồn tại. Tuy nhiên hiện nay số lượng các dự án nghiên cứu và phát triển tăng vọt. Thứ nhất, các nhà sản xuất ô tô phải cải tiến các loại động cơ chạy xăng và diesel – do yêu cầu quy định về khí thải ngày càng khắt khe hơn và nhu cầu của người tiêu dùng ở các nước mới nổi. Thứ hai là tiêu chuẩn hoá nhiều chi tiết máy và nền tảng cơ bản (platform). Chỉ bằng cách này, một nhà sản xuất ô tô mới có thể hiện diện cùng một lúc trên nhiều phân khúc khác nhau. Thứ ba, ô tô đang “biến đổi” thành một dạng máy tính được nối mạng đặt trên bốn bánh xe. Trong tương lai, việc bán dữ liệu và dịch vụ mới chính là nguồn thu chứ không chỉ từ việc bán xe. Do vậy “những tập đoàn nhỏ bé không thể đáp ứng nổi nhu cầu đầu tư cao cho nghiên cứu và phát triển”, theo nhà phân tích Karl Brauer thuộc hãng nghiên cứu thị trường Kelley Blue Book của Hoa kỳ.  Một thách thức nữa đối với ngành công nghiệp ô tô Nhật bản là phải mở sợi dây trói của mạng lưới hợp tác kinh doanh kiểu Nhật Keiretsu đã cũ kỹ, lỗi thời và toàn cầu hoá chuỗi cung ứng. Trong một thời gian dài, mỗi tập đoàn sản xuất ô tô Nhật bản đều có riêng một chuỗi cung ứng của mình và hoạt động theo đơn đặt hàng. “Hệ thống này trở thành nút thắt cổ chai nguy hiểm đối với nghiên cứu đổi mới và sáng tạo ở Nhật bản”, nhà tư vấn Markus Schaedlich của CBI Partners ở Tokyo phân tích. Sự tụt hậu càng trở nên trầm trọng hơn do sự khan hiếm chuyên gia kỹ thuật vì tình trạng già hoá ngày càng nghiêm trọng ở Nhật bản. Do đó ngay từ năm 2014 tám nhà sản xuất ô tô ở Nhật đã thành lập một liên minh phát triển động cơ, tuy nhiên cho đến nay liên minh này vẫn loay hoay chưa lớn lên được.  Ai sẽ sống sót bên cạnh “ông lớn” Toyota?  Bộ phận sản xuất của ngành công nghiệp ô tô Nhật bản đã chuyển ra nước ngoài. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA) thì số lượng xe ô tô Nhật được sản xuất ở nước ngoài đã tăng từ 10 triệu xe vào năm 2005 lên 18 triệu xe vào năm 2015. Hai phần ba sản phẩm trong số 27 triệu xe ô tô du lịch của Nhật bản ra đời và được tiêu thụ ở nước ngoài. Tuy nhiên thị trường nội địa, vốn được coi là trụ cột, không còn nữa.  Số ô tô tiêu thụ hàng năm tại Nhật nay teo tóp chỉ còn 4,2 triệu xe. Về lý thuyết thì hai doanh nghiệp Toyota và Nissan có thể thoả mãn với hoạt động sản xuất nội địa của mình, tuy nhiên họ còn có tới nửa tá đối thủ ở trong nước. Thị trường ô tô trong nước của Nhật Bản cũng đang cạnh tranh rất gay gắt. Tuy Toyota, Mazda và Subaru cũng vẫn sản xuất trong nước để phục vụ cho xuất khẩu nhưng với số lượng xuất khẩu hàng năm 3,6 triệu xe, rủi ro về kinh doanh khá lớn vì với đồng Yen quá mạnh thì việc sản xuất các mẫu xe đại trà cũng nhanh chóng lâm vào tình trạng  thua lỗ.  Vậy thì ai sẽ có thể sống sót ? Mitsubishi vốn dĩ là ứng viên yếu. Nissan vừa bị choáng váng vì bê bối khí thải bị bóc mẽ. Subaru, một nhãn hiệu của Fuji Heavy, thực chất đã thuộc về Toyota – có 16,5 % cổ phần thực chất đã trở thành cổ đông lớn nhất của Fuji Heavy và có khả năng mở rộng cổ phần. Thông qua Toyota, Subaru có khả năng tiếp cận các công nghệ cần thiết và có thể tiếp tục tồn tại về trung hạn.  Có lẽ  Suzuki là trường hợp thú vị và hấp dẫn nhất. Đáng ra chuyên gia về dòng xe cỡ nhỏ này có thể ung dung tự tại, với ba triệu xe mỗi năm và các nhà máy ở 11 nước, Suzuki nằm trong số mười nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Kế hoạch kinh doanh trung hạn của doanh nghiệp 107 tuổi vẫn khá tự tin “về 100 năm tới” để nhấn mạnh đến sự tiếp tục tồn tại lâu dài. Song Osamu Suzuki, năm nay 87 tuổi, người từng lèo lái Suzuki trong suốt hơn 30 năm qua từ lâu luôn lo lắng về khoản chi phí to lớn để nghiên cứu phát triển. Tập đoàn áp dụng chế độ tiết kiệm cao nhất so với các hãng sản xuất ô tô khác trong việc sản xuất xe con, tuy nhiên vẫn phải bán nhiều đơn vị trực thuộc để có thể duy trì sự sống còn. Tuy nhiên để phát triển trong tương lai thì Suzuki nhất thiết cần có sự hỗ trợ. Hồi tháng mười năm 2016, Suzuki và Toyota đã xem xét tới khả năng hợp tác. Hai vị trưởng lão ngồi ở hàng ghế lãnh đạo của hai tập đoàn, cụ Suzuki 86 tuổi và cụ Shoichiro Toyoda, 91 tuổi, chủ tịch danh dự của Toyota đã thoả thuận một hợp tác. Hồi đầu tháng hai năm nay, hai Hội đồng quản trị đã thoả thuận sớm hiện thực hoá liên minh hợp tác kinh doanh. Các lĩnh vực có khả năng hợp tác là kỹ thuật môi trường, kỹ thuật an ninh, an toàn và công nghệ tin học cũng như cung cấp cho nhau các sản phẩm và linh kiện. Khả năng sẽ có liên minh về vốn. Như vậy, về trung hạn Suzuki cũng sẽ có một chỗ đứng trong Garage của Toyota.  Mazda có cơ hội tốt để có thể hoạt động độc lập tuy mỗi năm chỉ sản xuất được khoảng 1,5 triệu xe nhưng nhà sản xuất ở Hiroshima này vẫn có con đường riêng của mình. Khác với các đối thủ cạnh tranh, Mazda dựa vào nhiên liệu Diesel. Và tại Nhật bản cứ hai xe ô tô chạy Diesel thì có một xe của Mazda. Mazda đang nghiên cứu thế hệ động cơ kết hợp động cơ Otto (xăng) và động cơ Diesel thông qua đánh lửa nén khí đồng nhất, sẽ trình làng vào tháng 3/2019.  Ngoài ra Mazda thông báo sẽ đưa ra thị trường Plug-in-Hybrid (xe lai sử dụng cả động cơ đốt trong và động cơ sử dụng điện) và xe chạy động cơ điện năm 2019. Tháng 5/2015  Mazda cho hay sẽ liên kết với đối tác Toyota về lĩnh vực này. Tuy không có chuyện liên minh vốn đối với Toyota như trước kia từng diễn ra đối với General Motors,  song do quá trình điện khí hoá đang diễn ra nhanh chóng đối với xe ô tô nên vấn đề này cũng khó loại trừ với Mazda.  Ba “ông lớn” có cơ hội sống còn tốt nhất, Nissan là tập đoàn ô tô Nhật Bản có sự toàn cầu hoá mạnh mẽ nhất. Nissan tạo mối liên minh “khủng” với Mitsubishi và Renault  cùng các thương hiệu giá rẻ Dacia và liên doanh Nga Avtovaz. Honda là nhà chế tạo ô tô Nhật bản duy nhất (không tính Toyota) chưa từng phải bán cổ phiếu của mình cho các đối tác.  Tuy nhiên trong mọi trường hợp, Toyota vẫn là ông lớn nhất. Do đó không có gì ngạc nhiên khi Suzuki và  Mazda đang tìm các cơ hội để kết nối. Ông Toyoda phân bua với tinh thần tự phê “Chúng tôi hợp tác chưa được tốt” nhưng khi các nhân viên của ông kết thúc chuyến đi xuyên qua năm châu lục và có mặt tại Tokyo vào Thế vận hội mùa hè năm 2020 sẽ là lúc đội hình các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản liên kết và sáp nhập lại gọn nhẹ hơn. Đó cũng là cách tốt nhất để họ hướng tới tương lai.  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.  Nguồn:  http://www.wiwo.de/unternehmen/auto/japans-autobauer-wer-neben-toyota-ueberleben-wird/19594510.html    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Xu hướng thúc đẩy công nghệ gene trong chăn nuôi      Sự can thiệp vào vật chất di truyền ở động vật luôn gây sự nghi ngờ. Tuy vậy, công ty công nghệ sinh học Recombinetics  (Hoa Kỳ) muốn thông qua việc chọn lựa chiến lược được “tối ưu hoá” để đưa công nghệ này vào cuộc sống.      Doanh nghiệp Semex cũng tham gia vào dự án Recombinetics để phát triển loại bò cái không có sừng.  Bò cái Oakfield có thể chào đời mà không có sừng hoặc có khả năng chịu nóng tốt hơn; Lợn con lớn lên mà không bị động dục do đó khỏi cần thiến (hoạn). Tiềm năng của công nghệ gene vô cùng to lớn – chí ít thì những người tán thành công nghệ này nghĩ như vậy. Để thuyết phục cơ quan nhà nước đồng thời nhằm xoa dịu những lo ngại trước các đột biến quái dị trong ngành chăn nuôi, người ta đang cố tình tập trung vào các vấn đề tiểu tiết liên quan đến sự đau đớn của con vật.  Tammy Lee, người phụ trách công ty start-up công nghệ sinh học Recombinetics có trụ sở tại St. Paul thuộc tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, cho hay doanh nghiệp của bà muốn làm cho đời sống của vật nuôi dễ chịu hơn bằng cách bổ sung hoặc khử bỏ trong phòng thí nghiệm một vài đặc tính di truyền nhất định. Việc làm này có thành công hay không sẽ không chỉ lệ thuộc vào tính khả thi của phương pháp mà chủ yếu vào sự chấp nhận của xã hội.  Chính vì vậy công ty Recombinetics muốn tạo ra một hình ảnh đẹp đẽ hơn đối với công nghệ gene. Cho đến nay người ta thường đưa ra lập luận rằng thay đổi nhân tạo gene di truyền nhằm tạo ra năng xuất cao hơn, tuy nhiên bà Lee và các đồng nghiệp lại viện vào lý do bảo vệ động vật để thi hành. Từ trước đến nay, những người hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ động vật thường chỉ trích việc người chăn nuôi thường nung nóng sắt hoặc dùng các chất ăn mòn để loại bỏ sừng bò tránh không để chúng gây thương tích lẫn nhau, nhưng việc làm này gây đau đớn cho con vật.  Trong khi đó. Recombinetics chỉ gây tác động vào một loại gene nhất định làm cho sừng không thể mọc và phát triển.  Những thử nghiệm đầu tiên đem lại kết quả khả quan. Năm ngoái, từ một con bò đực giống mà  công ty đã biến đổi gene sản sinh ra một loạt bê con.  Đúng như mong đợi của các chuyên gia, các bê con này đều không có sừng. Hiện tại những con bê này đang được nuôi dưỡng tại khu nghiên cứu chăn nuôi trường ĐH California, Davis. Khi các con bê cái trưởng thành và cho sữa, người ta sẽ tiến hành nghiên cứu tiếp xem có gì khác thường không.    Nhà di truyền học động vật Alison Van Eenennaam thuộc Đại học California, Davis, cùng nhóm bê sữa không sừng có nguồn gốc từ một con bò đực bị biến đổi gen. (Ảnh AP / Haven Daley/ Ngày 11/7/2018)  Trong một dự án khác người ta nghiên cứu về lợn. Khi lợn con đến tuổi phát dục, một số người tiêu dùng có thể cảm thấy thịt có mùi vị khó chịu. Để tránh “mùi lợn đực” này, người ta thường phải thiến (hoạn) lợn ở tuổi mới lớn và thường không dùng thuốc mê. Trong trường hợp này, Recombinetics cũng muốn xử lý vấn đề bằng biện pháp can thiệp vào gene. Hiện tại công ty này cũng đang phát triển phương pháp nữa để tạo ra các con “bò chịu nóng” đối với những giống bò không có khả năng chống chịu nắng nóng.  Theo quan điểm của doanh nghiệp Hoa Kỳ này thì về nguyên tắc, công nghệ sinh học cũng không khác gì phương pháp chọn giống thông thường đã được áp dụng từ hàng trăm năm nay –  chỉ khác ở khoản nhanh hơn và chính xác hơn. Tuy nhiên hiện còn nhiều trở ngại đối với việc đưa các sản phẩm  mới này ra thị trường, đó là những quy định về pháp lý. Những người tán thành phương pháp này đòi hỏi trong tương lai không được có những yêu cầu đặc biệt đối với sản phẩm sữa và thịt biến đổi gene.  Bà Lee cho rằng, khi nào dư luận ủng hộ công nghệ gene tăng lên thì trong nông nghiệp người ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến các phương pháp cải tiến, nâng cao năng xuất. Trong khi đó ông Paul Thompson thuộc ĐH bang Michigan lại tỏ ra nghi ngờ. Sự dè dặt của xã hội không chỉ liên quan đến việc con người “đóng vai thượng đế” mà nói chung về cách ngành công nghiệp thực phẩm hiện đại đối xử với vật nuôi. “Ít nhất trong hai chục năm qua đã có các cuộc thảo luận về vấn đề đạo đức, rằng liệu chúng ta nên thay đổi vật nuôi hay nên thay đổi hệ thống”, chuyên gia nông nghiệp này cho biết.  Chính vì tiềm năng ứng dụng phong phú và đa dạng nên công nghệ gene tiếp tục đối mặt với thái độ thận trọng. Chừng nào vấn đề chỉ xoay quanh việc nâng cao chất lượng thịt thì – theo một cuộc trưng cầu ý kiến do Viện nghiên cứu Pew tiến hành hồi tháng tám – khoảng 43 % dân Mỹ coi phương pháp này là tích cực.  Tổ chức bảo vệ động vật Humane Society ủng hộ công nghệ gene trong các trường hợp như hoạn lợn con hay không cho bò mọc sừng, tuy nhiên họ cảnh báo trước việc cấp phép một cách tổng quát cho việc biến đổi này. “Nếu như ta can thiệp để con gà có thể to như con voi thì điều này không ổn chút nào”, Josh Balk, nhân viên chịu trách nhiệm về lĩnh vực bảo vệ vật nuôi của tổ chức này, phát biểu.  Một số người chỉ trích khác lại tỏ ra nghi ngờ về sự cần thiết đối với công nghệ gene nếu như nó chỉ thực sự muốn thúc đẩy quá trình nhân giống thông thường như những người ủng hộ phương pháp này lập luận. Vì nhờ những tiến bộ đối với các phương pháp truyền thống nên năng xuất chăn nuôi gà, lợn và bò đã tăng lên đáng kể. Thí dụ, các chủ trang trai bò sữa khi mua tinh trùng bò giống đã có thể chọn khá chính xác những đặc tính nhất định của con giống mà họ muốn có.  Semex, một tổ chức có trụ sở tại Canada chuyên về gene di truyền gia súc, đang chào bán một phiên bản “Robot Ready” nhằm tạo ra các giống bò sữa phù hợp với việc vắt sữa tự động tại các cơ sở chăn nuôi lớn. Semex cũng tham gia dự án của Recombinetics về phát triển loại bò sữa không có sừng.  Trong chừng mực nào đó, ông John Burket, một nông dân chuyên lai tạo bò sữa không sừng ở bang Pennsylvania, đã đi trước cả hai doanh nghiệp này. Tại trang trại của ông từ lâu đã có bò không sừng do lai tạo tự nhiên mà có. Về cơ bản, ông nói mình không chỉ trích công nghệ gene, tuy nhiên hiện tại ông vẫn còn nghi ngờ liệu người ta có giữ lời hứa khi áp dụng công nghệ gene hay không. Đối với các doanh nghiệp như Recombinetics hay Semex, cuối cùng thách thức là ở chỗ các doanh nghiệp này có thuyết phục được người nông dân về lợi ích kinh tế của dự phát triển công nghệ gene hay không.  Hơn nữa người nông dân thật sự không mấy hứng thú về việc tăng năng xuất vì kinh nghiệm những năm qua cho thấy tăng năng xuất luôn đi kèm với giảm giá sản phẩm nông sản.  “Liệu chúng ta có cần đến một thứ công nghệ khiến cho sữa tràn ngập thị trường nhiều hơn nữa?”,  bà Lorraine Lewandrowski, chủ một trang trại sữa ở tiểu bang New York than vãn.  Ông Jonathan Lamb, chủ một cơ sở chế biến sữa thì cho rằng, do giá sữa quá thấp hiện nay nên ông không sẵn sàng chi thêm tiền cho các sản phẩm công nghệ gene. Tuy nhiên ông nghĩ rằng chỉnh sửa gene có thể đem lại những cải tiến khác.  Xuân Hoài dịch.  Nguồn: Theo www.usnews.com 15.11.2018  https://www.usnews.com/news/news/articles/2018-11-15/farm-animals-may-soon-get-new-features-through-gene-editing    Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Xu hướng tìm kiếm các nguồn  năng lượng sạch trên thế giới      Theo một nghiên cứu mới đây, đến năm 2035  tiêu thụ năng lượng toàn cầu sẽ tăng 53%, và các doanh nghiệp khắp nơi  trên khắp thế giới đang không ngừng nghiên cứu tìm nguồn năng lượng  sạch. Xin giới thiệu một số dự án lý thú:    Nhà máy điện nổi trên mặt nước  Hãng Startup Sway đang thử nghiệm nhà máy điện nổi kiểu mới: tuốc bin không đặt trên nền bê tông mà được thả neo ở vùng nước sâu rất xa bờ và khai thác năng lượng gió ở ngoài biển khơi với công nghệ hoàn toàn mới. Theo tính toán của chuyên gia năng lượng biển Jochen Bard thuộc Viện Fraunhofer của Đức thì vùng biển của châu Âu có đủ tiềm năng xây dựng các nhà máy điện gió ở những vùng có độ sâu tới 200m để tạo ra sản lượng điện lên tới 8000 Terawatt/giờ. Lượng điện này nhiều gấp đôi lượng điện mà EU đã sử dụng trong năm 2010. Hiện nay người ta đã thử nghiệm cáp ngầm dẫn điện dài hàng trăm km vào đất liền tại các công viên gió ở ngoài khơi (Windpark- Offshore).  Hãng Startup Ocean Power Technologies của Hoa Kỳ còn có ý định tận dụng năng lượng sóng thành năng lượng điện thông qua các máy phát điện được đặt trên phao ở vùng biển sâu khoảng 50m. Nhà máy thử nghiệm đầu tiên hoạt động ở ngoài khơi Schottland và cũng đạt công suất 150 kw. Các nhà nghiên cứu hy vọng khi lắp đặt hàng trăm hệ thống như thế gần kề nhau cũng có thể tạo ra một sản lượng điện tương đương một nhà máy điện chạy than cỡ trung bình hiện nay.  Viện nghiên cứu Scienza Industria Tecnologia của Italia đã thử nghiệm một loại công nghệ khác ở trên hồ thuộc vùng Toscana: lắp đặt hàng loạt mô-đun năng lượng Mặt trời (Solarmodule) trên một phao nổi theo nằm chênh chếch với bầu trời. Nhà máy điện nổi này xoay xung quanh Mặt trời và được làm mát nhờ hệ thống dàn phun nước. Công nghệ này có thể giúp công suất điện tăng hai phần ba so với nhà máy điện Mặt trời trên mặt đất.  Đại lộ mặt trời  Doanh nghiệp Start-Up Solar Roadways đang muốn lắp thêm các mô đun năng lượng Mặt trời trên đường và biến các đại lộ giao thông trở thành nhà máy phát điện tương lai. Các mô đun này hình vuông, mỗi chiều 3m và được che bằng một tấm kính cường lực, xe tải có thể chạy qua mà không gây sự cố. Những mô đun này nằm liền kề với nhau trên cả tuyến đường. Theo tính toán của các chuyên gia tại Start-Up Solar Roadways, nếu như trên các tuyến đường của Hoa Kỳ đều ứng dụng công nghệ này thì sản lượng điện được tạo ra từ các tuyến đường gấp ba lần lượng điện mà người dân Hoa Kỳ sử dụng hằng năm. Tuy chi phí lắp đặt một tấm lên tới 10.000 USD nhưng họ vẫn tin rằng chỉ sau 20 năm sẽ hoàn vốn. Ngoài ra, Start-Up Solar Roadways còn lắp đặt hệ thống đèn LED để chiếu sáng các biển báo giao thông. Ngay trong năm nay doanh nghiệp này đã có bước đi đầu tiên – xây dựng tại bang Idaho nhà máy phát điện đầu tiên trên một bãi đỗ xe.  Tế bào nhiên liệu vi sinh  Tế bào nhiên liệu vi sinh vật có thể giải quyết vấn đề hiện nay của ắc quy là hiệu suất thấp và nhanh hết điện. Hãng Toshiba đã đưa ra thị trường tế bào nhiên liệu có kích thước như một bàn tay và có thể nạp điện vào bình ắc quy trên đường đi. Methanol được tạo thành từ rác thải hay phụ phẩm nông nghiệp. Viện Fraunhof đã chế tạo một tế bào nhiên liệu to bằng khuy áo, không lâu nữa nó có thể lấy hydro từ một phản ứng hóa học của kim loại và nước.  Tế bào quang điện hữu cơ  Martin Pfeiffer, giám đốc kỹ thuật hãng Solar-Startups Heliatek Dresden (Đức) đưa ra một miếng nhựa hết sức đặc biệt có thể, được tạo thành từ các tế bào quang điện hữu cơ có khả năng biến ánh sáng thành điện. Tuy loại tế bào này chỉ có khả năng biến nhiều nhất 10,7 % năng lượng Mặt trời mà nó thu được thành năng lượng điện, trong khi đó loại tế bào silizium thông thường có thể tận dụng tới 20%. Nhưng loại nhựa tổng hợp này chỉ có trọng lượng  500 gram/m2, chỉ bằng 1/15 so với tế bào silizium và giá bán 1 Watt là 50 Cent trong khi giá bán siliziummodulle  là 73 Cent.   Tế bào quang điện hữu cơ có khả năng tạo nhiệt cả từ ánh sáng nhân tạo, nên trong tương lai có thể kết hợp với các bình ắc quy cỡ nhỏ để thay thế cho pin lắp trong thiết bị điều khiển tự động, thiết bị báo khói và các thiết bị rất nhỏ khác. Khi tích hợp trong dãy hành lang ở các tòa nhà thì tế bào chất dẻo này sẽ biến các tòa nhà thành những nhà máy điện mini.   Dầu tảo  Hãng Startups Sapphire Energy của Mỹ đang nhân giống và nuôi trồng trên diện rộng một loại lục tảo có khả năng sản xuất một chất có thể thay thế dầu đốt. Chất dầu này sẽ được tách lọc khỏi nước và tinh luyện thành dầu công nghiệp. Khác với dầu mỏ khi bị đốt cháy sẽ sản sinh ra một lượng lớn khí thải gây hiệu ứng nhà kính CO2 và làm cho khí hậu nóng lên loại dầu tảo mới này lại không có tác động phụ đó. Loại tảo này có thể sinh sôi, nảy nở trong điều kiện nuôi trồng nhân tạo, ánh sáng trời và khí CO2 là nguồn phân bón của chúng. Hãng Sapphire có kế hoạch nhân rộng diện tích nuôi trồng tảo để từ đó từng bước thay thế nguồn tài nguyên quan trọng nhất hiện nay là dầu mỏ đang ngày càng khan hiếm và đắt đỏ. Tập đoàn ô tô VW của Đức đã bắt đầu thử nghiệm loại nhiên liệu mới này. 1  Hoài Trang dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xử lí ô nhiễm môi trường bằng vi sinh vật: Thiếu đầu tư nên chưa thể nhân rộng      Việc sử dụng các chủng vi sinh vật môi  trường được coi là biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô  nhiễm nước thải, rác thải mà các công nghệ trước đây như kỹ thuật kỵ  khí, hiếu khí chưa làm được. Tuy nhiên, ở Việt Nam, công nghệ này vẫn chưa được đầu tư đúng mức nên không ít các mô hình hiệu quả chưa được nhân rộng.    Công nghệ không hóa chất  Công nghệ sinh học đã được ứng dụng từ khá lâu trong chế biến và bảo quản nông, lâm, thuỷ sản và lai tạo mới giống cây trồng. Những năm gần đây, việc sử dụng các chủng vi sinh vật được tuyển chọn, phân lập từ tự nhiên hoặc tạo ra từ các chủng giống vi sinh vật mới, có khả năng nuôi dưỡng tạo thành các chế phẩm sinh học đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, mang hiệu quả rõ rệt trong quan trắc, đánh giá mức độ ô nhiễm, xử lí và phòng chống ô nhiễm, góp phần giải quyết triệt để vấn đề chất ô nhiễm trong nước thải, rác thải.  Từ nguồn phế phẩm của các nhà máy sản xuất mía đường, các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên (Viện KH&CN Việt Nam) đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất chế phẩm sinh học đa năng Hudavil (HUD 5) để xử lí môi trường ở các hồ nuôi thủy sản, đặc biệt là hồ nuôi tôm sú, cá tra. Từ các chủng vi sinh vật hữu ích, các nhà khoa học tạo ra các chế phẩm vi sinh và kỹ thuật sản xuất dịch men vi sinh đạt mật độ cao hơn, giúp chuyển hóa các chất gây ô nhiễm sang dạng dinh dưỡng hữu ích, không độc hại với con người, vật nuôi và cây trồng, tạo sự cân bằng sinh thái cho hồ nuôi với sự có mặt của tôm (cá), tảo, thức ăn thừa, phân của tôm cá.  Thử nghiệm sử dụng HUD 5 trên đồng ruộng 3 năm liền ở Trà Vinh, Sóc Trăng và Cà Mau cho thấy, tỷ lệ tôm, cá nuôi thành công đạt hơn 90%. Các hộ nuôi mật độ 25-30 tôm/m3 cho sản lượng từ 3,5-6,5 tấn/ha/vụ, vượt 58,3% so với năng suất của các lô đối chứng. Đến nay, hơn 30 nhà máy, doanh nghiệp đã tiếp nhận thành công công nghệ sản xuất HUD 5 của Viện Hóa học các hợp chết thiên nhiên để sản xuất các chế phẩm vi sinh, vi lượng hoạt lực cao cho vùng nhiễm phèn nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.  Phòng vi sinh vật môi trường, Viện Công nghệ Môi trường (Viện KH-CN Việt Nam) cũng thành công với chế phẩm sinh học xử lí nguồn nước ô nhiễm. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân lập và tuyển chọn được 30 chủng xạ khuẩn và 20 chủng vi khuẩn ưa nhiệt, có ưu điểm phân hủy mạnh các chất hữu cơ trong nước thải.  Chế phẩm đã được sử dụng kết hợp với thực vật thủy sinh (bèo Nhật Bản) để xử lí ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề tái chế nhựa Đông Mẫu, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau 1 tháng, nước ao từ loại bị ô nhiễm nặng đã đạt nước mặt loại B (theo QCVN 08:2008/BTNMT). Không những thế, chế phẩm vi sinh còn được áp dụng để xử nước thải chăn nuôi và nước thải làm bún, bánh đa tại các rãnh thoát nước tại xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đều cho kết quả xử lí rất tốt, về cảm quan giảm được mùi hôi thối, các chỉ tiêu ô nhiễm như COD, BOD, vi sinh vật gây bệnh giảm được 5- 6 lần so với khi không sử dụng chế phẩm.  Hiệu quả nhưng khó nhân rộng  TS Tăng Thị Chính, Viện Công nghệ môi trường, đánh giá, công nghệ vi sinh vật đang được nghiên cứu, áp dụng trong xử lí nước thải công nghiệp, sản xuất các sản phẩm tự nhiên thân thiện môi trường, cải tạo, phục hồi các hệ sinh thái, các vùng đất bị ô nhiễm. Đồng thời, công nghệ vi sinh vật còn được coi là một công nghệ sạch, tạo đà cho sự phát triển bền vững. Sản phẩm thu được sau quá trình xử lí bằng công nghệ sinh học rất thân thiện với môi trường…  Giảm chi phí so với các phương pháp khác bên cạnh tính hiệu quả và tiết kiệm năng lượng cũng là một trong những ưu điểm nổi bật của công nghệ sử dụng vi sinh vật trong xử lí ô nhiễm môi trường. Theo Th.S Phạm Hương Quỳnh, Giảng viên khoa Quản lí Công nghiệp và Môi trường (Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên, nếu xử lí nước thải bằng phương pháp hoá học có ưu điểm hiệu quả rất nhanh, chi phí ban đầu thấp, nhưng nguồn nước sau xử lí lại có những tác dụng phụ không mong muốn và phải xử lí lại nhiều lần, như vậy chi phí sẽ tăng lên rất nhiều. Trong khi xử lí bằng vi sinh vật chỉ phải đầu tư một lần nhưng hiệu quả kéo dài, bền vững.  Vai trò của việc ứng dụng công nghệ vi sinh vật trong bảo vệ môi trường đã rõ. Tuy nhiên, tại Việt Nam việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Công nghệ sinh học nói chung là một ngành tương đối mới nên tiềm lực nghiên cứu của ngành này còn khá yếu, ít kinh nghiệm. Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao về công nghệ sinh học môi trường còn thiếu.  Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thí nghiệm cho công tác nghiên cứu còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ. Theo TS Tăng Thị Chính, phần lớn các thiết bị nghiên cứu hiện đại tại Viện đều do các tổ chức nước ngoài tài trợ, còn nguồn kinh phí của Nhà nước cấp rất eo hẹp chỉ đủ mua những thiết bị nhỏ, đơn giản. “Các trang thiết bị nghiên cứu ở các viện nghiên cứu, trường đại học chỉ là các thiết bị nghiên cứu cơ bản, còn các trang thiết bị nghiên cứu chuyên sâu thì chưa được đầu tư nhiều. Kinh phí phục vụ nghiên cứu còn thấp nên không thể thực hiện được những đề tài nghiên cứu mang tính quy mô lớn” TS Chính nói.  Bên cạnh những nguyên nhân trên, ý thức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường chưa cao. ThS Phạm Hương Quỳnh cho hay, nâng cao ý thức của mọi người trong việc bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp là rất cần thiết. Có làm được điều đó, trong tương lai chúng ta mới có một môi trường sống trong lành, phục hồi trái đất trả lại màu xanh vốn có, tránh những hậu quả nặng nề mà bản thân chúng ta và thế hệ mai sau phải gánh chịu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xử lý hạt giống bằng súng điện tử      Các nhà khoa học thuộc Viện Fraunhof đã tiếp tục phát triển công nghệ của các nhà nghiên cứu Cộng hòa dân chủ Đức trước đây để diệt các loại vi sinh vật độc hại mà không cần dùng đến thuốc hóa học.    Theo Tuần kinh tế Đức    Thiết bị đầu tiên có thể đặt trên xe bán tải  để có thể vận hành di động  Thường vi sinh vật có mặt trong hạt giống và chúng thường bắt đầu gây hại khi được gieo trồng. Để loại trừ hiện tượng này, nông dân thường dùng thuốc để xử lý hạt giống và diệt vi sinh vật gây hại, tuy biện pháp này hiệu quả nhưng những loại hóa chất bám trên vỏ và bề mặt hạt giống này thường gây hại đến môi trường khi được vùi vào đất.  Các nhà nghiên cứu về tia điện tử và công nghệ plasma (FEP) của Viện Fraunhofer đã chứng minh người ta vẫn có thể bảo vệ hạt giống mà không phải dùng đến hóa chất độc hại khi phát triển một phát minh của nhà vật lý ứng dụng Manfred von Ardenne của Cộng hòa Dân chủ Đức, người nắm giữ 600 bằng sáng chế trong các lĩnh vực kính hiển vi điện tử, công nghệ y tế, công nghệ hạt nhân, vật lý plasma, công nghệ truyền hình-radio và tự lập một phòng thí nghiệm về vật lý điện tử (Forschungslaboratorium für Elektronenphysik). Trong quá trình nghiên cứu, ông đã sáng chế ra súng điện cực, loại súng này có thể diệt sạch vi sinh vật trên vỏ hạt giống, đem lại gợi ý cho các nhà nghiên cứu về FEP tiếp tục phát triển kỹ thuật này và làm ra một thiết bị xử lý hạt giống có thể xử lý 15 tấn hạt trong một giờ. Do thiết bị nguyên bản lớn đến mức các kỹ sư phải nghiên cứu để lắp đặt loại thiết bị nhỏ hơn để phục vụ các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ với mục tiêu là loại súng điện cực mới công suất thấp hơn nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả kinh tế. Để làm được điều đó phải hạ giá thành các bộ phận của thiết bị. Hơn nữa bên cạnh khả năng xử lý hạt ngũ cốc, thiết bị này cũng xử lý được các loại hạt rau, hoa có kích thước nhỏ hơn nhiều so với hạt lúa mì hay đại mạch.  Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã phát triển một nguồn điện mới có khả năng làm giảm nhiệt tiêu thụ, qua đó tiết kiệm điện năng. Về nguyên tắc, thiết bị này hoạt động như một bóng hình ở tivi loại cũ. Từ đầu nóng của miếng kim loại gắn ở các điện cực, điện được hình thành và gia tốc trong một trường điện từ rồi bay thẳng và xuyên qua các hạt giống được đưa quay vòng liên tục. Năng lượng từ nguồn điện này tác động vào vi sinh vật và tiêu diệt chúng. Phương pháp này không để lại lượng tàn dư hóa chất như phương pháp dùng hóa chất.  “Việc xử lý hạt giống bằng điện góp phần đáng kể vào việc bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp”, ông Andreas Prelwitz, giám đốc điều hành hãng Nordkorn, bình luận. Tuy nhiên hạn chế của phương pháp điện từ là không diệt trừ được những vật gây hại tồn tại trong đất.  Thiết bị đầu tiên, có thể để trên xe bán tải để có thể vận hành di động, dự kiến sẽ xuất xưởng vào năm 2017 và được bán trên thị trường Đức cũng như xuất khẩu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xử lý hiệu quả khí thải nhà máy công nghiệp nhỏ bằng công nghệ xúc tác mới      Các kỹ sư tại Đại học Bách khoa Hà Nội đã phát triển các công nghệ nhiệt độ thấp sử dụng các xúc tác hỗn hợp oxit kim loại chuyển tiếp để xử lý từ 70-100% khí thải chứa hydrocarbon, VOCs, CO, NOx, SOx và bụi sinh ra trong những quá trình sản xuất công nghiệp.    Việt Nam có hàng nghìn nhà máy công nghiệp cỡ trung và cỡ nhỏ, nhưng phần lớn đều không có công nghệ xử lý khí thải triệt để mà chỉ sử dụng các biện pháp hấp thụ bằng nước hoặc hấp phụ bằng than đơn giản.    GS. TS Lê Minh Thắng tại Viện Kỹ thuật Hóa học, Đại học Bách khoa Hà Nội, người đã có hơn 20 năm nghiên cứu về xử lý khí thải của quá trình đốt nhiên liệu, cho biết dù các phương pháp này có thể giải quyết được phần nào bài toán môi trường nhưng hiệu quả của chúng không cao và chỉ giữ lại các chất ô nhiễm chứ không xử lý, do đó vẫn tạo nên gánh nặng xử lý sau này.            Ngoài giải pháp thông thường này, các nhà máy quy mô lớn có thể tính đến việc sử dụng chất xúc tác – tức các chất có thể đẩy nhanh quá trình chuyển hóa khí thải ô nhiễm thành những chất trung hòa hơn như carbon dioxit, nito và nước. Tuy nhiên, đây cũng không giải pháp tối ưu bởi các chất xúc tác thường được làm từ kim loại quý hoặc vật liệu đắt tiền, phải mua ở nước ngoài và được cung cấp đồng bộ theo gói công nghệ của nhà máy nên “ở Việt Nam, chưa có thị trường cho các chất xúc tác công nghiệp”, theo nhận định của GS. Lê Minh Thắng.    Đó là lý do từ nhiều năm nay, nhóm nghiên cứu của GS.TS Lê Minh Thắng đã tìm cách phát triển công nghệ nội địa sử dụng lõi gốm Cordierit và các chất xúc tác từ hỗn hợp oxit kim loại chuyển tiếp Mn, Co, Ce, Zr, Ba để xử lý các loại khí thải của nhà máy.    Kết quả cho thấy sản phẩm xúc tác này có thể làm giảm 100% khí CO, hơn 90% hydrocarbon và 70% NOx trong dòng khí thải ở điều kiện thích hợp.    “Vì khí thải của các nhà máy rất đa dạng và đặc trưng theo các lĩnh vực sản xuất, nên chúng tôi hướng đến việc tạo ra sản phẩm không chỉ có một loại xúc tác với một thành phần cố định mà là một số loại với tỷ lệ khác nhau tùy theo các lĩnh vực sản xuất”, GS. Thắng giải thích.    “Chẳng hạn, với những nhà máy sản xuất hóa chất, cao su, dung môi… thường thải ra nhiều hydrocarbon, VOCs, CO và bụi, hỗn hợp của chúng tôi sẽ tăng cường những chất xúc tác có đặc tính oxy hóa mạnh như MnO₂-Co₃O₄. Với những nhà máy thải ra nhiều NOx thì chúng tôi sẽ tăng tỷ lệ các oxit như CeO₂-BaO-ZrO₂, vì những chất này có khả năng hấp phụ NOx và thúc đẩy phản ứng khử NOx bằng NH₃”. Chị nói thêm rằng ưu điểm của phương pháp này là có thể xử lý được nhiều chất trong không khí cùng lúc thay vì phải xử lý riêng biệt từng đối tượng.    Quá trình mà GS.TS Lê Minh Thắng cùng các đồng nghiệp của mình tìm ra hỗn hợp xúc tác là một chặng đường dài mà nền tảng của chúng dựa trên nhiều nghiên cứu cơ bản. Mặc dù trên thế giới đã có không ít nghiên cứu về xúc tác hỗn hợp oxit kim loại chuyển tiếp với nhiều ứng dụng nhưng yếu tố quyết định hoạt tính của xúc tác chính là tỷ lệ từng thành phần oxit.    Một kim loại chuyển tiếp thường chưa có hoạt tính vượt trội, do vậy cần sử dụng một số kim loại chuyển tiếp phối hợp với nhau để cung cấp nhiều tâm hoạt tính cho các giai đoạn khác nhau của phản ứng. “Tìm ra được các oxit cần sử dụng và tỷ lệ thích hợp chính là điều khác biệt trong nghiên cứu của chúng tôi và cũng là bí quyết công nghệ đã được đăng ký bản quyền”, GS.TS Thắng chia sẻ.    Hỗn hợp xúc tác từ oxit kim loại chuyển tiếp đã được so sánh đối chứng với các xúc tác từ kim loại quý (thường là Pt-Pd) sử dụng trong động cơ xe Vespa. Kết quả cho thấy chúng có khả năng xử lý tương đương nhưng chuyển hóa các chất ở nhiệt độ thấp hơn đáng kể, chỉ từ 250-300 độ C, so với mức 350-500 độ C của chất xúc tác thương mại thông thường.    Theo GS.TS Lê Minh Thắng, điều này rất quan trọng bởi phần lớn các nhà máy hiện nay đã có sẵn công nghệ đốt và thiết bị hạ tầng nên không phải lúc nào họ cũng có thể lắp đặt bộ xúc tác xử lý khí thải ở những vị trí tốt nhất để tận dụng được nguồn nhiệt sẵn có. Đôi khi, người ta phải dẫn khí thải ra một đường mới và có thể phải bổ sung thêm nhiệt để xử lý, do vậy giảm được năng lượng cần thiết để gia nhiệt là giảm được chi phí lớn.    Thêm vào đó, hỗn hợp xúc tác oxit kim loại có khả năng hoạt động ở nhiệt độ thấp nên ngay khi quá trình nhiệt trong nhà máy chưa đạt đến nhiệt độ cao, các quá trình xử lý khí ô nhiễm đã có thể diễn ra.    Ưu điểm của sản phẩm của nhóm nghiên cứu, ngoài việc giảm được đáng kể giá thành so với các sản phẩm nhập ngoại từ kim loại quý đắt tiền, còn có khả năng ổn định cao hơn vì những xúc tác kim loại quý dễ bị thiêu kết trong môi trường nhiệt độ cao và dễ mất hoạt tính sau một thời gian ngắn khi gặp clo và lưu huỳnh trong khí thải.    Vậy sản phẩm này đã hoàn thiện đến đâu? GS.TS Lê Minh Thắng tiết lộ, chúng đã “sẵn sàng để áp dụng thương mại”. Hiện nay, một số nhà máy nhiệt phân cao su phế thải ở Hải Dương đã lắp đặt bộ xúc tác này trên hệ thống ống xả với chi phí khoảng 100 triệu đồng/lần. Phải sau tối thiểu 2-3 năm, các nhà máy này mới cần phải thay thế bộ xúc tác.    Các kỹ sư của nhóm nghiên cứu cho biết sau khi lắp đặt, người sử dụng không phải điều chỉnh gì ngoại trừ việc đảm bảo các yếu tố công nghệ như thiết kế. Trước khi sử dụng xúc tác xử lý khí thải, các nhà máy phải được khảo sát công nghệ để “may đo” ra những hỗn hợp xúc tác tối ưu và có được sự tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật tốt nhất trong quá trình vận hành.    Tuy nhiên cơ hội ra thị trường của sản phẩm xúc tác xử lý khí thải vẫn còn hạn chế do các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường. Đại diện nhóm nghiên cứu tin rằng họ có thể góp phần thúc đẩy phần nào sự quan tâm đó bằng cách tạo ra một thị trường mới cho những chất xúc tác xử lý khí thải công nghiệp ở Việt Nam, bởi khi sản phẩm sẵn có với chi phí hợp lý thì doanh nghiệp sẽ chủ động hơn.    Báo cáo của The Catalyst Group cho biết nhiều thị trường quan trọng ở châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Úc/New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc – được dự báo là tăng trưởng cao về công nghiệp xúc tác trong thập kỷ tới. Một số nhu cầu sẽ được các nhà sản xuất địa phương cũng như các công ty phương Tây “đồng điệu” đáp ứng.    GS.TS Lê Minh Thắng, người đang là thành viên của Hiệp hội xúc tác châu Á – Thái Bình Dương (APACS), mong muốn tìm kiếm một doanh nghiệp xúc tác nước ngoài để chuyển giao công nghệ và tạo sản phẩm thương mại. Trong thời gian đó, nhóm của chị vẫn sẵn sàng đón nhận những yêu cầu xử lý khí thải trực tiếp của các nhà máy trong nước.    Công nghệ chế tạo bộ xúc tác hỗn hợp oxit kim loại của GS.TS Lê Minh Thắng và các cộng sự đã được Cục Sở hữu trí cấp Bằng độc quyền sáng chế số 1-0020257 công bố vào ngày 25.01.2019.    Minh Long     Author                .        
__label__tiasang Xử lý nợ của Vinashin như thế nào?      Tình hình tài chính khó khăn khiến Vinashin đã và đang khó chi trả được các khoản thanh toán nợ trước mắt. Câu hỏi đặt ra là: ai sẽ thay Vinashin trả những khoản nợ này, và bằng cách nào?    Có vay thì phải có trả, và phải trả đúng hạn. Nếu pháp nhân không trả được nợ và không được gia hạn thanh toán thì phải chấp nhận phá sản, và tài sản sẽ được sử dụng để đền bù cho chủ nợ theo quy định của luật pháp. Đây là những quy định, nguyên tắc về tài chính và pháp lý cơ bản.   Nhưng Vinashin trước mắt không thanh toán được nợ, và cũng không được phép sụp đổ.   Lựa chọn duy nhất của tập đoàn này là xin gia hạn thanh toán. Ngày 20/12/2010, Vinashin đã phải xin gia hạn 1 năm cho khoản thanh toán 60 triệu USD nợ gốc trong số 600 triệu USD trái phiếu phát hành qua Credit Suisse Group AG. Tiếp theo đó, gần đây Vinashin xin đề nghị các chủ nợ trong nước cho giảm trừ nợ và thông báo rằng sẽ không thể thanh toán được trước năm 2015.   Những hệ lụy  Việc xin gia hạn thanh toán không phải là giải pháp lâu dài, và cũng không phải là vô hại. Ngay khi Vinashin lỡ hẹn thanh toán 60 triệu USD, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tài chính quốc gia đã hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam. Ngày 26/12/2010, Việt Nam bị Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm xuống còn BB- , tương đương với Bangladesh và Mông Cổ. Tín nhiệm quốc gia giảm nghĩa là việc huy động vốn trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế của Việt Nam sẽ tốn kém hơn, các nhà đầu tư đòi hỏi mức lãi suất cao hơn. Không chỉ Chính phủ mà các tập đoàn khác cũng bị ảnh hưởng. Tập đoàn Than khoáng sản bị Standard & Poor’s hạ đánh giá triển vọng tín nhiệm từ ổn định sang tiêu cực.   Đồng thời, các chủ nợ nước ngoài cũng gây sức ép, yêu cầu Chính phủ Việt Nam giúp Vinashin trả các khoản thanh toán đến hạn, dù các khoản vay này không hề được Chính phủ bảo lãnh. Lý luận họ đưa ra là trước đây họ đồng ý cho Vinashin vay với lãi suất thấp là vì hồ sơ khoản vay có kèm theo thư ủng hộ của Chính phủ.   Đòi hỏi trên của các chủ nợ nước ngoài là không có cơ sở pháp lý, vì thư ủng hộ của Chính phủ hoàn toàn không phải thư bảo đảm hay bảo lãnh. Tuy nhiên, trước sức ép của giới tài chính quốc tế, Chính phủ rất có thể đang phải cân nhắc lại.   Nếu tiếp tục để Vinashin phải khất nợ với nước ngoài thì uy tín tài chính quốc gia, Chính phủ, và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục giảm, lãi suất huy động trái phiếu quốc tế sẽ càng cao. Ngược lại, nếu Chính phủ đồng ý dùng tiền ngân sách (tức tiền thuế của nhân dân) để giúp Vinashin thanh toán nợ cho các chủ nợ nước ngoài thì liệu có thể nào không giúp thanh toán cho các chủ nợ trong nước?    Cần một giải pháp công khai rõ ràng  Trước mắt, Vinashin cần Chính phủ hỗ trợ tài chính để tồn tại và thanh toán được nợ. Nhưng hỗ trợ như thế nào phải thông qua một kế hoạch thật công khai và rõ ràng, trong đó xác định rõ: hỗ trợ bao nhiêu; như thế nào; liên quan tới quyền lợi của ai (ví dụ: chủ nợ trong nước hay chủ nợ nước ngoài); và trong bao lâu thì Vinashin có nghĩa vụ hoàn trả cho Chính phủ; ai chịu trách nhiệm giám sát; ai báo cáo cho ai. Một kế hoạch như vậy, nếu có, thì Quốc hội nên được hỏi ý kiến và chịu trách nhiệm thông qua hạn mức chung và hạn mức hằng năm.   Còn giả sử như Chính phủ hỗ trợ Vinashin thanh toán nợ, dù là nhiều hay ít, nhưng với những điều khoản không công bố, thì sẽ tạo tiền lệ rất xấu để các doanh nghiệp đi vay và cả các chủ nợ cho vay khai thác trong các trường hợp sau này. Người đi vay kỳ vọng vào một cái ô vô hình mà không cần đăng ký bảo lãnh Chính phủ và không phải trả phí bảo lãnh, như vậy chắc chắn sẽ vay một cách tùy tiện hơn, sử dụng vốn vay cũng cẩu thả hơn. Chủ nợ nếu biết rằng có thể cho doanh nghiệp vay và bất cứ khi nào cũng có thể quay sang đòi nợ từ Chính phủ thì việc xét duyệt cho vay cũng sẽ liều lĩnh hơn. Người bị lợi dụng và chịu thiệt thòi không ai khác, là Chính phủ và nhân dân đóng thuế.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Xử lý rác nhựa trong đại dương: Chàng trai và biển cả      Với một cánh tay vơ rác khổng lồ, Boyan Slat hy vọng có thể giải phóng các đại dương khỏi tai hoạ rác thải nhựa. Chỉ ít tuần nữa chúng ta sẽ biết anh là một nhà phát minh tài ba hay chỉ là một kẻ bị  loá mắt với ước mơ cải tạo thế giới bằng các giải pháp công nghệ.      Boyan Slat  Boyan Slat giơ cao cái cốc bên trong chứa nhiều mảnh nhựa bé tí xíu đủ các mầu trắng, xanh lá cây, xanh lam và mầu vàng, chỉ không có mầu đỏ, “vì những thứ gì có màu hồng hay đỏ dễ làm cho các loài cá tưởng đó là thứ ăn được”. Sau lưng anh là một tấm ảnh có hình xác một con chim nằm trên bãi biển: bụng chim phanh ra, bên trong chứa đầy rác nhựa.  Đó là thời điểm Slat thu hút người nghe. Giọng nói có lúc run run, chân bước thiếu chắc chắn chứng tỏ anh đang hồi hộp và căng thẳng. Tuy vậy khi buổi trình bày trong khuôn khổ hội nghị về các ý tưởng TEDx kết thúc, anh đã nhận được những tràng vỗ tay tán thưởng của người nghe. Chàng trai trẻ với mái tóc nhàu nhĩ, cái áo khoác rộng quá khổ đã truyền được cảm hứng tới khán giả về sứ mạng của mình.  Từ bấy đến nay sáu năm đã trôi qua.  Đây là mở đầu câu chuyện về một chàng trai muốn giải phóng biển cả khỏi rác thải nhựa. Đó là câu chuyện về sự quyết tâm hành động và về trí sáng tạo của con người, về niềm tin vào khoa học công nghệ và về những thất bại, về hai mặt trận – một bên là những người bảo vệ môi trường và một bên là những người đam mê, lạc quan tin tưởng vào khoa học, kỹ thuật. Và từ đây cũng thấy, để giải quyết những vấn đề lớn của nhân loại con người thường tự gây khó cho mình biết bao.    Chạy ngược dòng – một cánh tay vơ rác thu gom những rác thải trôi trên mặt biển.  Chuyện mở đầu như sau: Năm 2011, Slat có kỳ nghỉ ở Hy Lạp, anh lặn xuống biển và thay vì thấy đàn cá muôn mầu tung tăng Slat chỉ thấy rác tải nhựa dưới đáy biển. Cậu quyết định phải làm một cái gì đó để chống lại tình trạng này. 16 năm đã trôi qua. Slat đọc nhiều cuốn sách, tìm gặp các nhà nghiên cứu, thức tỉnh sự hăng hái nhiệt tình nhưng cũng nhận được không ít chỉ trích, chê bai. Tuy nhiên Slat đã quyên góp được 40 triệu Euro cho ý tưởng của mình – dùng tay vơ rác khổng lồ để thu gom rác trên biển cả.  Chỉ vài tuần nữa người ta sẽ biết khi kết thúc câu chuyện này, Boyan Slat là vị cứu tinh đối với biển cả – hay chỉ là một gã khờ mộng mơ và với ước mơ của mình lợi ít, hại nhiều. Hiện tại Slat và các cộng sự đang tiến hành những bước kiểm tra cuối cùng. Trong tháng tám anh sẽ đưa hệ thống của mình ra khơi. Tại khu vực có diện tích khoảng 240 hải lý trên Thái Bình Dương –  nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp thì Slat sẽ đưa cả hệ thống thu gom rác đó ra vùng xoáy rác nhựa khổng lồ. Bởi vì theo anh thì đây là nơi rác nhựa tập trung với khối lượng lớn nhất. “Diện tích bãi rác này rộng gấp hai lần rưỡi nước Pháp”, anh nói. Trên chặng đường di chuyển tới Hawaii, anh đã bắt đầu triển khai thử nghiệm, -công việc này Slat đã làm thử không biết bao lần trên máy tính trước đó.  Hệ thống thiết bị của Slat thực chất là một hệ thống ống nổi trải dài ven biển. Các ống này cùng trôi theo dòng nước, và ở hai đầu đường ống có tàu ngầm ở độ sâu ba mét. Tàu ngầm có nhiệm vụ hãm đường ống và do rác nhựa trôi nhanh hơn nên sẽ tích tụ tại đây và hàng tháng sẽ có tầu thuỷ chuyên chở rác rác nhựa thu gom được. Theo tính toán của Slat, mỗi mẻ có thể thu gom được 5 tấn rác, đây là số liệu trên cơ sở hệ thống thiết bị hiện nay có tay vơ rác vươn dài 600 mét. Sau này tay vơ rác sẽ lớn hơn, từ 1 đến 2 km. Và tổng cộng sẽ có tới 60 đội tàu. Nếu mọi chuyện thông đồng bén giọt thì sau năm năm Slat sẽ thu gom được khoảng một nửa xoáy rác khổng lồ này.  Mỗi năm có trên 300 triệu tấn sản phẩm nhựa xuất xưởng. Trong khi đó, chỉ khoảng 10% rác plastic được tái chế. Ước tính khoảng 150 triệu tấn rác nhựa bị tống ra các đại dương, đó là chai lọ, ống nhựa, túi ni long các cỡ, bàn chải răng, can đựng chất lỏng, vv… Cứ mỗi năm lại tăng lên từ 5 đến 13 triệu tấn.   Hiện tại công ty Procter & Gamble trả cho 1 kg nhựa thu gom ở bãi biển là 30 Euro – từ đó họ làm ra các chai lọ đựng sữa tắm, dầu gội đầu…, Slat kể. Anh hy vọng với các loại nhựa thu gom trên đại dương có thể cao giá hơn. Trước mặt anh là một cái kính râm, mắt kính mầu xanh óng ánh, gọng mầu đen được làm từ nhựa thu gom ở đại dương. “Đại để chúng tôi sẽ làm những thứ tương tự như vậy, hoặc làm thanh chắn ở xe ô tô. Tóm lại chúng tôi có một số ý tưởng thú vị”, Slat nói. Năm tới anh sẽ tiết lộ về các ý tưởng mà họ sẽ làm.  Có nhiều người có ý tưởng khác nhau để thu gom rác ở biển. Nhưng có lẽ không có ý tưởng nào thu hút được nhiều sự chú ý và gây nhiều tranh cãi như ý tưởng của Boyan Slat.  Mark Lenz, một nhà khoa học về sinh thái biển làm việc tại Trung tâm Helmholtz về nghiên cứu đại dương (Đức) thì cho rằng giải pháp của Slat là nguy hiểm: ông không tin vào sự giải thích của Slat rằng tất cả các động vật có thể thoát được cánh tay vơ rác. Lenz e rằng các động thực vật bé nhỏ như sứa, các loại tảo hay cá con sẽ bị nghiền nát. Và ông ta cũng không thể tưởng tượng hệ thống khổng lồ này có thể hoạt động một cách an toàn giữa biển cả mênh mông.   Lenz cho rằng, tốt nhất nên thu gom nhựa ở các cửa sông trước khi chúng bị trôi ra biển. Lúc này các mảnh nhựa cũng chưa bị nghiền nhỏ và không phải vớt để thu gom một cách tốn kém.  Cũng có ý kiến cho rằng không có giải pháp toàn cầu đối với vấn đề rác nhựa trên biển. Cần tiếp cận vấn đề này từ nhiều hướng khá nhau, với nhà sản xuất, cần thuyết phục họ sử dụng những nguồn nguyên liệu khác, với người tiêu dùng thuyết phục họ bỏ thói quen dùng túi nilon, túi màng mỏng. Trong khi đó, một số nước thậm chí còn chưa có hệ thống thu gom rác. Mọi sáng kiến giải phóng biển cả khỏi hoạ nhựa đều có một mục đích chung, tuy nhiên các tổ chức lại không có sự chung tay chung sức để giải quyết vấn nạn này, thậm chí còn tấn công nhau tổ chức nào cũng muốn mình nổi trội hơn để thu hút được đầu tư, thu hút được nhiều nguồn tài chính hơn.  Slat tự coi mình là nhà sáng chế chứ không phải là nhà đấu tranh bảo vệ môi trường. Mày mò, tìm hiểu một vấn đề gì đó luôn cuốn hút anh. Anh vốn là sinh viên học ngành kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không ai có thể thuyết phục Slat rằng dự án của anh không khả thi và anh bỏ ra rất nhiều công sức để chứng minh tính khả thi của dự án. Mỗi ngày anh làm việc từ 12 đến 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày.  Đôi khi anh có cảm giác các nhà bảo vệ môi trường không tin vào tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, bản thân Slat lại không tin rằng người ta có thể vận động con người thay đổi cuộc sống của mình. Slat nói, tất cả chúng ta  đều mang theo một hành trang tiến hoá, nói chung con người là lười biếng và tham lam. Con người không sẵn sang bỏ món thịt bò bít tết để cho các con vật đỡ bị giết chết, không sẵn sang bỏ ô tô để cho không khí ít chất độc hại và trong sạch hơn. Và con người cũng không sẵn sang bỏ các loại túi nhựa muôn mầu muôn sắc: “Những điều trên nghe thật bi quan nhưng thực tế là vậy.”  Vì vậy Slat nói, con người cần suy nghĩ xem mình có thể làm gì thực sự tốt nhất: hãy tưởng tượng về những thứ chưa hề tồn tại. Những thứ như cái cánh tay thu gom khổng lồ giữa đại dương. Đến cuối năm nay Slat dự định đưa mẻ rác nhựa đầu tiên vào cảng San Francisco – và anh muốn chứng minh cho các nhà bảo vệ môi trường thấy rằng họ có thể tin tưởng vào phát minh của anh.  Nguyễn Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/umwelt/plastikmuell-im-ozean-der-junge-mann-und-das-meer/22714242.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu thế tích cực đang nhen nhóm      Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý  kinh tế trung ương Võ Trí Thành trao đổi về các vấn đề kinh tế và tình trạng sức khỏe của  các doanh nghiệp hiện nay.    Các số liệu thống kê chính thức cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp “chết” là đáng lo lắng, song cũng có nhiều ý kiến ngược lại. Quan điểm của ông thế nào?  – Tình hình khó khăn chung mà các doanh nghiệp đang đối mặt là thực tế. Nhưng, khó khăn cụ thể như thế nào thì phải phân tích theo ngành. Những doanh nghiệp khó khăn phần lớn là liên quan đến sản xuất hàng tiêu dùng trong nước, bất động sản (BĐS), và xuất khẩu nông sản.  Tuy nhiên, nếu đi vào chi tiết, các doanh nghiệp liên quan đến BĐS lại có hai loại. Thứ nhất là các doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến BĐS, họ thực sự rất khó khăn, và các doanh nghiệp cung cấp đầu vào cho bất động sản cũng khó khăn theo. Nhưng cũng có các doanh nghiệp cung cấp đầu vào lại làm ăn được, vì họ liên quan đến các kết cấu hạ tầng, ví dụ đường cao tốc, hay làm cầu vượt,…  Trong bối cảnh đó, bản thân tôi thấy các yếu tố tích cực đang được nhen nhóm. Đó là cách làm ăn giờ đây đang theo xu hướng thực hơn, doanh nghiệp phải suy tính hơn. Chứ trước đây phần nhiều là đánh quả do cung tiền ra nhiều dẫn đến đầu cơ.  Đến bây giờ cuộc tranh luận về kích hay không kích cầu nền kinh tế dường như vẫn tiếp tục. Điều này cụ thể như thế nào, thưa ông?  – Trước bức tranh kinh tế vĩ mô hiện nay từng có 2 luồng quan điểm. Có luồng ý kiến cần kích cầu ồ ạt. Tuy nhiên, tôi khẳng định luồng ý kiến này giờ đã bị lép vế vì nguy cơ sẽ tạo ra rủi ro cao về thông điệp, và tác động chính sách.  Nhóm chúng tôi vẫn kiến nghị Chính phủ, rằng cần rất thận trọng. Thành tựu vĩ mô đã đạt được là giá trị phải giữ. Hơn nữa, để đảm bảo tính nhất quán của chính sách, thì không thể lơi lỏng được. Mặt khác bất ổn vĩ mô, lạm phát vẫn hiện hữu. Nghị quyết 01, 02 cho thấy, Chính phủ kiên quyết làm triệt để cùng các biện pháp để ổn định kinh tế vĩ mô.    Vậy câu chuyện gói 30.000 tỉ đồng cho bất động sản, và dự kiến phát hành thêm trái phiếu là như thế nào?  – Hiện nay có 2 hướng đang cần bàn thêm. Thứ nhất là làm sao có thể chấp nhận mức thâm hụt ngân sách thêm một chút để có vốn đối ứng cho các dự án ODA; và hai là xem xét phát hành thêm trái phiếu Chính phủ. Chúng tôi có đề nghị, ví dụ làm quốc lộ 1 và 14 cần khoảng hơn 17.000 tỉ đồng, và cho 4 tỉnh cần thêm 20.000 tỉ đồng nữa. Nên có những khoản bổ sung để làm kết cấu hạ tầng nông thôn.  Bên cạnh đó, cần nhanh chóng rút vốn khỏi doanh nghiệp nhà nước, tức là bán bớt tài sản doanh nghiêp nhà nước để có thêm nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề cải cách cơ cấu, đầu tư sao cho đảm bảo tính hiệu quả hơn. Tóm lại, tình hình chung là vẫn kiên trì thực hiện Nghị quyết 02, để là ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng có thêm vài giải pháp bổ sung. Về trung hạn, vẫn phải tiếp tục chương trình ổn định vĩ mô, phục hồi kinh tế, và phải gắn với tái cấu trúc kinh tế.    Vì sao cũng có nhiều chuyên gia vẫn tích cực cổ vũ cho thúc đẩy tăng trưởng?  – Tôi biết là nhiều người từng yêu cầu thúc đẩy quyết liệt, song gần đây có vẻ mềm mại hơn. Theo nghĩa nhỏ thì gói 30.000 tỉ đồng cũng là kích rồi, còn gói lớn như năm 2009 thì không có đâu. Tôi khẳng định như thế.  Gói kích cầu được tuyên bố lên đến 8 tỉ đô la Mỹ năm 2009 đã để lại quá nhiều hệ lụy. Vì sao lại có gói đó, ông còn nhớ không?  – Lúc đó có mấy yếu tố. Thứ nhất, nước nào cũng làm thế. Tín dụng tắc, tư nhân không đầu tư, thì Chính phủ phải đầu tư, tiêu dùng thay. Đó là xu hướng toàn cầu lúc đó.  Thứ hai, lúc bấy giờ nhiều người bảo dự trữ ngoại tệ đang có 23 tỉ đô la Mỹ. Nhiều như thế để làm gì mà không dùng trong lúc này.  Thứ ba, đã cứu thì phải cứu cho đích đáng, vì kinh tế giảm sâu. Vậy là có 7 tỉ đô la và 1 tỉ đô la Mỹ hỗ trợ lãi suất.  Lúc đó, quan điểm của tôi là cũng cứu nhưng không cứu nhiều như thế. Và quan trọng hơn, cứu phải gắn với tái cấu trúc. Hỗ trợ lãi suất chỉ 2% chứ không phải 4%, gây méo mó đạo đức, thị trường kinh khủng. Khi có gói đó ra, thị trường chứng khoán từ tháng 4 đến tháng 8-2009 vọt thẳng đứng. Nhưng hồi đó những người như chúng tôi ít có vai trò gì.  Xin cảm ơn ông!  Tư Hoàng thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất bản các bài báo du ký của nhà khoa học Việt Nam thế hệ đầu Nguyễn Công Tiễu      Sau gần 80 năm lưu lạc và thất tán, những ghi chép của cụ Nguyễn Công Tiễu (1892 – 1976), nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam và thành viên Việt Nam đầu tiên trong Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Đông Dương, đã được xuất bản thành sách với tên gọi “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris”.      Bức chân dung duy nhất còn sót lại ngày nay của cụ Nguyễn Công Tiễu. Nguồn: Tư liệu gia đình cụ Nguyễn Công Tiễu  Với giới trẻ hiện nay, cái tên Nguyễn Công Tiễu không gợi lên nhiều điều nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ, vào thời kỳ thuộc Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hòa, cụ được biết đến như một nhà nghiên cứu về nông nghiệp hàng đầu Việt Nam. Các công trình nghiên cứu của cụ Tiễu về những cây, những con quen thuộc của làng quê đồng bằng Bắc Bộ như bèo hoa dâu, cây vối, con cà cuống, con tằm… đã lần lượt được xuất bản trên các tạp chí quốc tế (chủ yếu là Pháp) 1. Nhà văn hóa Hữu Ngọc trong buổi làm việc với Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam đã nhấn mạnh, “hoạt động khoa học của Nguyễn Công Tiễu còn diễn ra trước cả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu…” và lưu ý Trung tâm nên nghiên cứu, sưu tầm những nhà khoa học thế hệ đầu tiên này của Việt Nam 2.  Bên cạnh việc nghiên cứu, cụ Nguyễn Công Tiễu còn viết một số sách phổ biến khoa học, trong đó cuốn “Những kỳ quan vũ trụ”, “Những điều bí mật về bèo hoa dâu”, “Xem cây mọc dại biết loại đất hoang” – tập sách miêu tả 171 loài thực vật Việt Nam với đầy đủ tên bản địa, tên khoa học và được coi là công trình tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu dược liệu của nước ta. Cũng nhằm phổ biến khoa học trong công chúng Việt Nam bấy giờ, cụ đã đứng ra làm chủ bút hai tờ báo, Khoa học tạp chí cho đối tượng rộng rãi và Vệ nông báo dành riêng cho nông dân 3.  “Cảo thơm lần giở trước đèn”  Trông không khí ấm cúng của buổi ra mắt sách tại Trung tâm Văn hóa Pháp Hà Nội tối ngày 18/4, với sự tham gia của một số người biết tiếng cụ Nguyễn Công Tiễu và một vài hậu duệ của cụ, PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn (Tạp chí Văn học, Viện Văn học), người đã cất công đi tìm hiểu và sưu tầm đầy đủ các bài báo của cụ Tiễu về chuyến sang Pháp vào năm 1937, được đăng dài kỳ (feuilleton) trên Khoa học tạp chí (từ số 170 ra ngày 11-9-1937 đến số 230, ra ngày 1-5-1940), đã kể về quá trình ông tập hợp và xuất bản cuốn “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris”.  Quá trình ấy bắt đầu từ năm 1982, khi ông về công tác tại Viện Văn học và quan tâm đến một số tạp chí xuất bản vào thời kỳ Pháp thuộc như Tri Tân, Nam Phong, Hà Thành ngọ báo, Khoa học tạp chí… Trong một số Khoa học tạp chí có trong kho lưu trữ của Viện Văn học, ông chú ý đến loạt bài ký dài kỳ của Nguyễn Công Tiễu kể về chuyến đi sang Pháp dự hội chợ Marseille và đấu xảo quốc tế Paris mà tác giả được chính phủ Pháp mời đích danh với tư cách là chủ bút Khoa học tạp chí và là diễn giả như lời kể của cụ “có được một lần lên diễn đàn để giảng nghĩa về cái máy chạy bằng ánh sáng mặt giời, mà ông Trần Công Tiến đã cùng tôi sáng chế ra năm nọ. Máy ấy gọi là Turbine solaire Tiêu – Tiên” 4. Tuy nhiên kho lưu trữ của Viện Văn học cũng không đủ các số Khoa học tạp chí nên PGS Sơn phải vào Thư viện Quốc gia để tìm thêm nhưng cũng chỉ có vỏn vẹn 1/3 số tạp chí đăng tải các bài này.  Vậy là PGS Sơn bắt đầu hành trình đi tìm những phần còn khuyết thiếu trong loạt bài ký của cụ Tiễu cũng như thân thế, sự nghiệp của ông, cuộc hành trình kéo dài tới hai năm vì đã trải qua quãng thời gian khá lâu, vật đổi sao dời nên “hỏi thêm rất nhiều người khác nhưng không ai biết cụ Tiễu”. PGS. Sơn đã cất công xuống tận Hưng Yên, quê cụ Tiễu, hỏi các trưởng phòng văn hóa huyện, xã nhưng “ở đó cũng không ai biết”. Rút cục, ông phải lọ mọ xuống tận các làng, bất ngờ lần mò ra những manh mối đầu tiên và tìm được cháu ngoại cụ, TS. Phạm Gia Minh. Nhờ đó, không chỉ hiểu được gia thế cụ Tiễu, PGS. Sơn còn có thêm một số Khoa học tạp chí khác. Tuy nhiên, gia đình cụ Tiễu cũng không có đủ số tạp chí.  Cuối cùng, PGS. Sơn đã liên hệ được với chị Nguyễn Thị Giáng Hương, cán bộ Viện Văn học khi chị đang làm tiến sỹ ở Pháp, và qua sự giúp đỡ của chị mới có được đầy đủ tư liệu cần thiết.    Cuốn sách do nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2017. Nguồn: NXB Tri thức  Sau khi “cặm cụi gõ từng trang trên máy tính”, PGS Sơn đã “sắp xếp các mục bài theo thứ tự thời gian tác phẩm xuất hiện trên tạp chí” và hợp tác với nhà xuất bản Tri thức để xuất bản sách “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris”. Trong lời giới thiệu sách, ông cho biết thêm, việc chỉnh sửa “chỉ dừng lại ở các chữ và chi tiết cụ thể, tên người và địa danh, một số các diễn đạt và lỗi in cần vi chỉnh theo ngữ pháp và chính tả hiện hành, trước sau chỉ nhằm tạo nên quy cách thống nhất tương đối trong toàn sách…” 4.    Cái nhìn của nhà khoa học thuộc địa  Ở góc độ một nhà nghiên cứu, TS. Phùng Ngọc Kiên (Viện Văn học) nhận định, cụ Nguyễn Công Tiễu là “một nhân vật rất đặc biệt”. Trong lịch sử văn học trước nay, Việt Nam rất ít sách du ký, ngoại trừ cuốn “Thượng kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ghi lại hành trình từ Hà Tĩnh ra Thăng Long thời kỳ cuối thế kỷ 18 thì mãi đến đầu thế kỷ 20 mới nở rộ một số sách ghi chép, trong đó tiêu biểu là “Tây hành nhật ký” của quan đại thần Phạm Phú Thứ, “Pháp du hành trình nhật ký” của Phạm Quỳnh, “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris” của Nguyễn Công Tiễu. Nét đặc sắc ở ba cuốn sách kể trên là ra đời cách nhau quãng 30 năm, nó “đem lại ba góc nhìn khác nhau về nước Pháp” của ba người Việt Nam ở ba thời kỳ khác  nhau.  TS. Phùng Ngọc Kiên nhận định, nếu hai cuốn sách đầu được xuất phát từ tâm thế của một vị quan lại, một nhà trí thức thì cuốn sách thứ ba được hình thành trên tâm thế của một nhà khoa học với “cấu trúc chặt chẽ và có nhiều nội dung khoa học” như lời bổ sung của PGS. Sơn.  Không đơn thuần là một cuốn sách du ký, “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris” là cái nhìn của một nhà khoa học, một nhà sáng chế ra “cái máy chạy bằng ánh sáng mặt giời… Máy ấy gọi là Turbine solaire Tiêu – Tiên”. Nhà khoa học từ một quốc gia thuộc địa ấy đã có cái nhìn tò mò và ham hiểu biết vào những “kỳ quan khoa học, kỹ thuật” của thế giới được trưng bày, giới thiệu tại Đấu xảo quốc tế Paris 1937 – cách gọi thời bấy giờ của người Việt với Hội chợ thế giới (Exposition Universelle Internationale, Exposition Mondiale: Expo). Cụ đã tỉ mỉ “xin kê tên và địa chỉ mấy nhà xuất cảng gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, vân vân, để các nhà sản xuất ra những món hàng ấy biết chỗ mà bán”, tham dự Hội nghị khảo cứu khoa học ở các thuộc địa Pháp…, quan tâm đến những kết quả nghiên cứu và sản phẩm khoa học kỹ thuật ở các lĩnh vực toán học, thiên văn, hóa học, vật lý, y học, sinh học, giải phẫu…  Bên cạnh đó, cụ còn dành thời gian về vùng nông thôn Pháp, tìm hiểu đời sống của bà con nông dân, cách thức tổ chức làng xã và tận mắt chứng kiến việc áp dụng những thành tựu khoa học về điện, điện tín, điện thoại thời kỳ đó: “Ở hai dãy nhà có lắm cái thật cổ, làm từ thế kỷ thứ mười bảy, nghĩa là đến nay đã ba trăm năm; có lắm cái tối tân, như trường học, nhà giây thép (có máy điện tín và điện thoại), nhà thờ, tòa xã trưởng (trên tòa xã trưởng có gác chuông, chuông treo lộ thiên, có báo giờ). Đường rộng đến 10 thước có giải nhựa, có lề đường; có đèn điện thắp suốt đêm, có máy nước, nước do máy bơm điện dẫn từ nhà máy nước riêng của làng lên lầu chứa nước” (trích “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris”).  Khi chứng kiến tất cả những điều tốt đẹp mà khoa học kỹ thuật đem lại cho đời sống Pháp, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu không khỏi liên hệ đến đời sống của người dân Việt Nam và mong muốn đem lại một cái gì đó mới mẻ cho họ, “biết đâu một ngày kia, mình lại không phát minh ra những điều bổ ích cho xã hội, nhân quần” (trích “Du lịch châu Âu – Hội chợ Marseille, đấu xảo quốc tế Paris”)… Đây cũng là điều mà ông thường suy nghĩ khi tiến hành nghiên cứu về nông nghiệp và miệt mài phổ biến kiến thức trong hai tờ tạp chí mà ông chủ biên.    Chính vì luôn có tâm thế của một nhà khoa học vì nhân dân, cụ Tiễu đã có những công trình nghiên cứu giá trị. Theo lời của TS. Phạm Gia Minh, cháu ngoại cụ, tại cuộc ra mắt sách thì sau 75 năm, công trình nghiên cứu về bèo hoa dâu của cụ vẫn được trích dẫn với lần gần nhất là năm 2005. Năm 2015, trong hội nghị khoa học do Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tổ chức, báo cáo “Giá trị dinh dưỡng và kinh nghiệm chế biến từ côn trùng thành các món ăn ở Việt Nam” của Phạm Quỳnh Mai, Nguyễn Tiến Đạt, Khuất Đăng Long đã trích dẫn kết quả nghiên cứu về nhộng tằm của cụ Tiễu xuất bản năm 1928 “Note sur les insects comestibles au Tonkin, Bull Econ”. Indochine, p. 735 với nội dung về thành phần dinh dưỡng: lượng protein 13%, chất béo 2,8%, chất khoáng 1,1%, phốt pho 0,40% và canxi 0,05% 5.  ——————————————–  Chú thích:    1. http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/dom-sang-9740      http://baohungyen.vn/dat-va-nguoi-xu-nhan/201511/nha-khoa-hoc-nguyen-cong-tieu-647743/  2. http://cpd.vn/news/detail/tabid/77/newsid/576/seo/Can-quan-tam-nghien-cuu-the-he-cac-nha-khoa-hoc-dau-the-ky-XX/Default.aspx  3. http://nongnghiep.vn/nguyen-cong-tieu-the-chap-tai-san-de-lam-bao-post167065.html  4. http://www.nxbtrithuc.com.vn/Tin-tuc/2654755/304/DU-LICH-AU-CHAU-HOI-CHO-MARSEILLE-DAU-XAO-QUOC-TE-PARIS.html  5. http://iebr.ac.vn/database/HNTQ6/1178.pdf      Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Xuất hiện loại virus mới bùng phát qua USB      Hệ thống giám sát virus của Công ty An ninh  mạng Bkav vừa phát hiện một loại virus mới W32.UsbFakeDrive có tốc độ  lây nhiễm chóng mặt. Các chuyên gia nhận định đây sẽ là mã độc thay thế  các dòng virus AutoRun, phát tán qua USB trước đây.  &#160;    Khi mở USB bị nhiễm virus, người sử dụng sẽ thấy một ổ đĩa nữa trong USB đó và phải mở tiếp ổ đĩa thứ hai này mới thấy được dữ liệu. Thực chất, ổ đĩa thứ hai chính là một shortcut chứa file virus. Khi người dùng mở dữ liệu cũng là lúc máy tính bị nhiễm mã độc từ USB.  Trước đây, virus AutoRun từng hoành hành với cơ chế mở ổ đĩa là kích hoạt mã độc. Điều đó khiến tốc độ lây lan của dòng virus này trở nên không thể kiểm soát. Microsoft đã buộc phải quyết định cắt bỏ tính năng AutoRun đối với USB từ Windows 7 và trên cả Windows XP phiên bản cập nhật. Dù cơ chế AutoRun đã bị loại bỏ, nhưng với sự xuất hiện của W32.UsbFakeDrive, virus có thể lây lan bùng phát chỉ với thao tác đơn giản là mở ổ đĩa của người dùng.  Ông Vũ Ngọc Sơn, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu của Bkav (Bkav R&D) cho biết: Theo nghiên cứu gần đây nhất của Bkav, tại Việt Nam USB vẫn là nguồn lây nhiễm virus phổ biến với tỉ lệ lên tới 88%. Với sự xuất hiện của virus W32.UsbFakeDrive thì nguy cơ này sẽ còn tăng cao trong thời gian tới.  Các chuyên gia khuyến cáo trường hợp đã mở USB ra mà chưa thấy dữ liệu ngay, thay vào đó là một ổ đĩa khác, cần nghĩ ngay đến việc đó có thể là virus và không tiếp tục bấm mở. Tốt nhất, người sử dụng cần cài phần mềm diệt virus để được bảo vệ tự động.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất khẩu gạo: Dẫn đầu vẫn kém vui      Nhiều khả năng Việt Nam sẽ trở thành nước  xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong năm 2012 với khối lượng xuất khẩu  ước đạt 7,7 triệu tấn, vượt qua cả Thái Lan và Ấn Độ. Thế nhưng, vẫn còn nhiều điều đáng phải lo…    Giá trị thấp…    Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2012 đạt 6,5 triệu tấn, tăng gần 6,5% so với 6,1 triệu tấn trong cùng kỳ năm ngoái và tăng khoảng 27% so với 5,1 triệu tấn trong cùng kỳ năm 2010.  Xét về khối lượng, hiện Việt Nam đã vượt lên để trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, xét về kim ngạch xuất khẩu, trong số ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới hiện nay thì Việt Nam lại đứng hạng cuối cùng.  Theo thống kê của Bộ Thương mại Thái Lan, 9 tháng đầu năm 2012, Thái Lan xuất khẩu 5,3 triệu tấn, thu về 3,5 tỷ USD. Ấn Độ, trong cùng thời điểm, xuất khẩu 5,8 triệu tấn, kim ngạch đạt 3 tỷ USD. Trong khi 6,5 triệu tấn gạo xuất khẩu 10 tháng đầu năm nay của Việt Nam chỉ mang về gần 2,9 tỷ USD,  Ông Tikhumporn Natvaratat, Phó Tổng giám đốc Cục Ngoại thương của Bộ Thương mại Thái Lan cho biết, hiện Thái Lan vẫn là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới nếu tính theo giá trị bởi vì giá gạo xuất khẩu Thái Lan cao hơn gần 30% so với Việt Nam và 14,6% so với Ấn Độ. Gạo trắng 5% tấm của Thái Lan có giá 570 USD/tấn, trong khi gạo Ấn Độ là 460 USD/tấn và của Việt Nam là 490 USD/tấn.  “Nhất” để làm gì?  Với chương trình trợ giá cho nông dân, gạo Thái Lan mất khả năng cạnh tranh trên thị trường bởi giá gạo xuất khẩu cao do giá thu mua ở thị trường nội địa cao.  Mặc dù đã có nhiều ý kiến phản đối chương trình này, cho rằng, chương trình thế chấp gạo là hiểm họa đối với kinh tế Thái Lan nhưng Chính phủ Thái Lan vẫn tiếp tục bảo vệ chương trình này do chương trình vẫn đang mang lại lợi ích cho nông dân Thái Lan. Theo Thủ tướng Thái Lan, bà Yingluck Shinawatra nói: Việc trợ giá đã nâng thu nhập và mang đến lợi ích cho nông dân.  TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho biết: Trong năm 2012, Thái Lan có thể đứng sau Việt Nam về xuất khẩu gạo [xét về số lượng] nhưng nông dân của họ được hưởng lợi từ chính sách trợ giá, còn Việt Nam đứng đầu mà giá thu mua lúa thấp hơn năm trước thì cũng không giúp nông dân cải thiện thu nhập. Vừa qua, Lãnh đạo Cục Lúa gạo Thái Lan sang thăm Viện Lúa ĐBSCL và họ chia sẻ rằng, Thái Lan không quan tâm đến vị trí nhất, nhì thế giới mà quan trọng là nông dân được hưởng lợi.  Còn TS Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ) chia sẻ: Việt Nam không nên quá bận tâm với vị trí thứ nhất hay nhì trong xuất khẩu gạo mà nên dành sự quan tâm đến chính sách dài hạn của phát triển và lợi ích lâu dài của nông dân. Vị trí nhất hay nhì chưa chắc mang lại sự giàu có, sung túc mà đó có thể là một cái bẫy với nhiều ảo tưởng và mang lại nhiều rủi ro.  Đọc thêm  * Việt Nam tạm giành vị trí quốc gia xuất khẩu gạo số một thế giới  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5792  * Thái Lan tăng giá gạo nhân hạn hán ở Mỹ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=7&News=5520      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xúc tiến hợp tác viện/trường-doanh nghiệp: Thành công đến từ hai phía      Được chính phủ hỗ trợ nguồn lực và vận hành một cách chủ động, linh hoạt – đó là hai lý do quan trọng đưa Trung tâm Xúc tiến Hợp tác Viện/Trường – Doanh nghiệp (Executive Operation Center for Industry – Academia Cooperation – EOCIA) trở thành một trong những trung tâm thành công nhất về thương mại hóa công nghệ ở Đài Loan.    Bắt đầu từ chuyển giao kiến thức  Vào những năm 2000, Đại học Trung Nguyên (Chung Yuan Christian University) thành lập Văn phòng Chuyển giao công nghệ (Technology Licensing Office) và Trung tâm ươm tạo (Incubation Center). Đến năm 2009, để đẩy mạnh hợp tác giữa các trường đại học với doanh nghiệp, hai trung tâm này được sáp nhập thành Trung tâm Xúc tiến Hợp tác Viện/Trường – Doanh nghiệp EOCIA – lúc đó, chỉ vỏn vẹn có bốn nhân viên và được Chính phủ hỗ trợ kinh phí sự nghiệp.   Giám đốc EOCIA, Ông Vương Thế Minh, người đã phác thảo một kế hoạch dài hạn cho EOCIA, trong cuộc trò chuyện với Tia Sáng tại Hà Nội mới đây cho biết, khi đó, các nhân viên của ông nghĩ rằng, một khi chính phủ ngừng đầu tư thì trung tâm cũng đóng cửa và họ sẽ mất việc nên họ coi công việc ở trung tâm chỉ mang tính tạm thời. Ông thuyết phục và cam kết với họ rằng, trong vòng ba năm, trung tâm sẽ có doanh thu, hoàn toàn tự chủ, và họ sẽ có mức lương thưởng xứng đáng.  Nhưng nhân viên không phải là những người duy nhất cần thuyết phục. Ông còn phải đến từng khoa trong trường, gặp gỡ các giáo sư, đề nghị họ cho phép nhân viên của mình được đại diện đàm phán và thỏa thuận với doanh nghiệp; sau mỗi thương vụ thành công, các giáo sư được hưởng 85% giá trị thương vụ, 11% đóng góp cho Đại học Trung Nguyên và 4% còn lại thuộc về trung tâm.   Trong những năm đầu, việc chuyển giao công nghệ không đáng kể, phần lớn doanh thu đến từ các dịch vụ tư vấn, đào tạo doanh nghiệp nhằm quảng bá kiến thức về sáng chế, sở hữu trí tuệ, và chuyển giao công nghệ.  Tìm thị trường trước khi tìm công nghệ  Đến nay, EOCIA đã có 26 cán bộ và bốn trung tâm chính: Trung tâm Sáng tạo và Khởi nghiệp, Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khởi nghiệp, Trung tâm Gieo mầm, và Vườn ươm Sáng tạo. EOCIA đã tạo dựng, phát triển nhiều công ty và thực sự trở thành một trong những trung tâm thành công nhất về thương mại hóa công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp tại Đài Loan.  GS Minh cho rằng, một trong những yếu tố chính dẫn đến thành công của Trung tâm là đội ngũ “nòng cốt” tinh nhuệ, bao gồm các nhân viên marketing, hợp tác quốc tế, và quản lý công nghệ. Trong đó, người quản lý công nghệ được đào tạo bài bản về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, chính sách KH&CN và hiểu nhu cầu của thị trường chính là cầu nối giữa các giáo sư đại học với doanh nghiệp.  Những người quản lý công nghệ không chỉ cập nhật kết quả nghiên cứu mới nhất trong trường đại học, phạm vi và khả năng áp dụng vào sản xuất mà còn nắm rõ nhu cầu của các doanh nghiệp trên thị trường và biết lựa chọn doanh nghiệp nào để “tiếp thị” các công nghệ mới. Theo GS Vương Thế Minh, họ là người đầu tiên tiếp cận doanh nghiệp, đồng thời có thể định giá các thương vụ với doanh nghiệp sao cho “vừa lòng” các giáo sư để họ sẵn lòng đồng hành với doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai kết quả nghiên cứu. Quan trọng hơn, những người quản lý công nghệ góp phần đem đến một hướng chuyển giao công nghệ đặc thù của EOCIA.          Các trung tâm chuyển giao công nghệ khác thường cố gắng dùng những kết quả nghiên cứu có sẵn từ trường đại học để “chào mời” doanh nghiệp. Chúng tôi tiếp cận theo hướng ngược lại, những người quản lí công nghệ sẽ tìm hiểu thị trường trước, tiếp cận doanh nghiệp và thu thập tất cả những yêu cầu của họ rồi tới gặp những giáo sư và đề xuất họ điều chỉnh hướng nghiên cứu để phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. –      GS Vương Thế Minh, Giám đốc EOCIA        “Các trung tâm chuyển giao công nghệ khác thường cố gắng dùng những kết quả nghiên cứu có sẵn từ trường đại học để ‘chào mời’ doanh nghiệp. Nhưng đó là hướng đi sai lầm. Chúng tôi tiếp cận theo hướng ngược lại, những người quản lí công nghệ sẽ tìm hiểu thị trường trước, tiếp cận doanh nghiệp và thu thập tất cả những yêu cầu của họ rồi tới gặp các giáo sư và đề xuất họ điều chỉnh hướng nghiên cứu để phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp,” GS. Vương Thế Minh nói.   EOCIA xây dựng ở Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, Trung Quốc mỗi nước một trung tâm ươm tạo và các trung tâm này đã hỗ trợ nhau một cách hiệu quả. Ví dụ, khi Đài Loan có dự án hỗ trợ nghiên cứu nguyên liệu sinh khối (biomass), EOCIA đã hợp tác với Khoa Hóa của Đại học Trung Nguyên phát triển công nghệ này, đồng thời liên hệ với trung tâm ươm tạo ở Indonesia để trồng cây dầu mè – nguyên liệu chính cho việc sản xuất biomass – và thành lập công ty phát triển công nghệ biomass tại đây.   EOCIA trực thuộc Đại học Trung Nguyên, vốn là một đại học tư nên không chịu quá nhiều ràng buộc và can thiệp như đối với các đại học công lập nên ngay từ những ngày đầu, Trung tâm đã được toàn quyền quyết định chiến lược phát triển, việc tuyển dụng, chế độ lương – thưởng và giờ làm việc như một tổ chức kinh doanh độc lập. Nhờ vậy, Trung tâm có thể hình thành một số bộ phận tiến hành xây dựng nhiều dịch vụ giá trị gia tăng (chủ yếu là tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng KH&CN) để dần tự chủ.  Định hướng của Chính phủ  Sau khi Luật KH&CN Cơ bản được ban hành năm 1999, tất cả các trường đại học ở Đài Loan đều được Chính phủ khuyến khích và hướng dẫn thiết lập trung tâm chuyển giao công nghệ và vườn ươm thông qua các dự án khác nhau do các Bộ tài trợ: Bộ Kinh tế hỗ trợ việc thành lập các vườn ươm, Bộ KH&CN đầu tư cho những dự án thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ.   Đồng thời, Chính phủ Đài Loan gửi những người giàu kinh nghiệm về chuyển giao công nghệ, đăng kí sáng chế và am hiểu Luật KH&CN đến các trường đại học chia sẻ kiến thức; hỗ trợ kinh phí cho những người muốn ra nước ngoài học tập các mô hình tương tự; thiết lập liên minh giữa các tổ chức trong trường đại học nhằm tạo ra một hệ sinh thái các trung tâm với lĩnh vực nghiên cứu đa dạng, có thể giải quyết những khúc mắc liên ngành. Một điều không kém phần quan trọng nữa là, các trung tâm trực thuộc trường đại học đều không phải đóng thuế.   Đến năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo có các chính sách và dự án hỗ trợ các trường đại học huy động mọi nguồn lực, sáp nhập trung tâm chuyển giao công nghệ và vườn ươm trong mỗi trường thành trung tâm xúc tiến hợp tác giữa viện/trường với doanh nghiệp. Tuy vậy, đến nay chỉ 15 trường đại học với tiềm năng nghiên cứu mạnh mẽ, điều hành thành công các tổ chức vườn ươm và chuyển giao công nghệ mới được chọn tham gia vào dự án sáp nhập này. Trong số đó, chỉ có hai trường được tham gia vào dự án thành lập các trung tâm tăng tốc khởi nghiệp (accelerator) để hỗ trợ các công ty khởi nghiệp của trường.  Ngoài việc lựa chọn các trung tâm phù hợp, Chính phủ còn có trách nhiệm lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của quốc gia, nhờ vậy phát triển được một số lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, làm cơ sở cho việc thành lập các trung tâm chuyển giao công nghệ. Những dự án phục vụ các lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến sẽ được nhận khoảng 70-75% kinh phí thực hiện từ Chính phủ để giảm rủi ro và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất.  Trả lời câu hỏi “Có thể xây dựng một trung tâm như EOCIA mà không có sự trợ giúp của chính phủ được không?”, GS. Vương Thế Minh khẳng định: “không bao giờ”. Ông cho rằng, điều mà Chính phủ Đài Loan làm được là có chính sách, định hướng đúng, tạo điều kiện để các trường đại học phát triển tiềm năng trong chuyển giao công nghệ. “Cách đây 15 năm, họkhông biết gì về những khái niệm này, cũng giống như tôi, không hề biết tới sáng chế. Nhưng bây giờ, tôi đã có 40 cái,” ông nói            Trung tâm Gieo mầm (Germination Center) và Trung tâm khởi  nghiệp (Entrepreneurship Center) là hai trung tâm được mở về sau của  EOCIA. Trung tâm Gieo mầm lựa chọn những kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng nhất của Đại học Trung Nguyên và trao đổi với các doanh nghiệp cùng các giáo sư để kiểm nghiệm khả năng thương mại hóa của chúng. Sau đó, với mỗi kết quả nghiên cứu, họ sẽ lập một dự án trình lên Chính phủ. Sau từ một đến hai năm, nếu được phê duyệt, họ sẽ nhận được vốn đầu tư từ chính phủ và bắt tay vào thành lập công ty, triển khai dự án trên thị trường. Trong khi đó, Trung tâm khởi nghiệp là dành cho những  sinh viên muốn thành lập startup. Họ tuy không có nhiều thành quả nghiên  cứu như các giáo sư nhưng có những ý tưởng sáng tạo như viết các phần  mềm và ứng dụng. Trung tâm có một loạt khóa đào tạo, các hoạt động thực  nghiệm, chương trình liên kết với sinh viên khởi nghiệp nước ngoài, các  cuộc thi khởi nghiệp… để họ có thể học hỏi và cọ xát.                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xương heo hé lộ sự tồn tại của một cộng đồng Cơ đốc giáo ở Iberia vào thế kỷ 12      Kết luận này chống lại quan điểm của rất nhiều nhà sử học cho rằng, vào thế kỷ 12, những người Cơ đốc giáo đã biến mất khỏi bán đảo Iberia – khu vực do người Hồi giáo cai trị.      Ghi chép dữ liệu khảo cổ học động vật. Ảnh: Theconversation     Vào thế kỷ 12, Cercadilla, khu dân cư nằm ở khu vực ngoại thành Cordoba, miền nam Tây Ban Nha, nằm dưới sự kiểm soát của người Hồi giáo. Lúc bấy giờ, các cộng đồng Hồi giáo, Cơ đốc giáo và Do Thái giáo sống cùng nhau trong một khu vực được gọi là al-Andalus.     Các nhà sử học đã đưa ra những ý kiến khác nhau về cách thức hoạt động của xã hội liên tôn giáo ở al-Andalus, trong đó có hai luồng quan điểm chủ đạo. Quan điểm phổ biến được hầu hết các nhà sử học lúc bấy giờ đưa ra, đó là không có xung đột tôn giáo nghiêm trọng và công khai nào giữa ba cộng đồng tôn giáo chính ở al-Andalus. Ý tưởng này được gọi là La Convivencia (Sự chung sống), do nhà bác ngữ học người Tây Ban Nha Américo Castro đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1940.      Tuy nhiên, một số người đã chỉ trích rằng La Convivencia là một quan điểm lý tưởng hóa giai đoạn lịch sử phức tạp này. Nhóm này tin rằng đặc trưng của Tây Ban Nha thời trung cổ là xung đột chứ không phải hợp tác. Nhiều nguồn tài liệu tiết lộ rằng phần lớn cộng đồng Cơ đốc giáo từ thế kỷ 12 ở bán đảo Iberia (bán đảo tọa lạc tại miền tây nam châu Âu, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai quốc gia chiếm phần lớn diện tích bán đảo) – khu vực do người Hồi giáo cai trị – đã biến mất như hệ quả của những cuộc đàn áp, trục xuất, di cư, hoặc chỉ đơn giản là họ bị buộc phải cải sang đạo Hồi.      Luồng quan điểm nào chính xác hơn?     Khảo cổ học động vật     “Hãy cho tôi biết bạn ăn gì và tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai”. Câu nói này của luật sư người Pháp Jean Anthelme Brillat-Savarin, đã nêu bật tầm quan trọng của thói quen ăn uống trong việc định hình và xác định danh tính của cả con người ở cấp độ cá nhân và xã hội ở cấp độ tập thể.      Khảo cổ học động vật góp phần vào việc nghiên cứu những chủ đề này và cả các chủ đề khác liên quan đến lịch sử. Nói chung, khảo cổ học động vật liên quan đến việc phân tích các vật chất còn sót lại từ các đống rác, có chứa rác thải thực phẩm liên quan đến môi trường sống trong khu vực. Vì lý do này, vật liệu mà chúng tôi* nghiên cứu chứa thông tin vô cùng quý giá về những gì con người đã ăn trong quá khứ, và thậm chí là hé lộ nhiều điều hơn nữa.      Khảo cổ học động vật đặc biệt hữu ích trong việc nghiên cứu đời sống của các xã hội phức tạp về văn hóa như al-Andalus. Ngoài những tín ngưỡng đặc thù, mỗi nhóm tôn giáo còn được định danh bởi các thực hành tôn giáo hằng ngày. Trong số đó bao gồm những tiêu chuẩn về chế độ ăn uống liên quan đến động vật.      Việc phân tích rác thải thực phẩm sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa xã hội của các nhóm người trong quá khứ. Chúng tôi thực hiện điều này bằng cách đánh giá tần suất xuất hiện của một số loài động vật nhất định trong lượng rác thải thực phẩm. Theo đó, sự tồn tại của xương heo trong các bãi rác thải từ thời trung cổ ở Iberia có ý nghĩa đặc biệt, vì luật tôn giáo của cả người Hồi giáo và người Do Thái đều cấm ăn thịt heo.     Trước chúng tôi, hướng nghiên cứu này đã được áp dụng vào việc xác định bản thể văn hóa của những người đã ăn thức ăn và tạo ra chất thải ở một địa điểm nằm ở Cartuja, Granada, có niên đại từ sau sự sụp đổ của nhà nước Hồi giáo Iberia.     Nhận diện danh tính người dân ở al-Andalus     Vậy chúng tôi đã áp dụng phương pháp tương tự để nghiên cứu địa điểm khảo cổ ở Cercadilla ra sao?        Địa điểm khảo cổ ở Cercadilla. Ảnh: Mª del Camino Fuertes.     Mặc dù lịch sử của địa điểm này rất phức tạp – bao gồm cả một khu phức hợp nguy nga từ thời La Mã được tái sử dụng làm nơi chôn cất cho người Cơ đốc giáo – chúng tôi tập trung vào giai đoạn chiếm đóng cuối cùng khi Córdoba nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước Hồi giáo, trước khi diễn ra cuộc chinh phục của người Công giáo (Catholic) vào năm 1236.      Các cuộc khai quật tại địa điểm khảo cổ này giúp tìm thấy hai loại mẫu động vật. Loại đầu tiên là phần rác thải thực phẩm chủ yếu là xương heo, và mẫu còn lại, một vỏ sò đục lỗ được tìm thấy ở nơi trước kia là phòng khách.     Tần suất xuất hiện của xương heo cho thấy thịt heo được tiêu thụ tại chỗ, một hành động vi phạm quy tắc ăn uống quan trọng nhất của Hồi giáo. Trong khi đó, chúng tôi xác định vỏ sò là một phần của văn hóa vật thể liên quan đến những biểu tượng của Cơ đốc giáo thời trung cổ, do sự tương đồng của nó với những huy hiệu vỏ sò thường gắn với cuộc hành hương đến đền thờ St James ở Santiago de Compostela, ở phía tây bắc Tây Ban Nha ngày nay.        Vỏ sò đục lỗ được nhóm nghiên cứu tìm thấy trong quá trình khai quật. Ảnh: Mª del Camino Fuertes.     Do đó, cuộc nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, cho đến thế kỷ 12, vẫn có một nhóm người Cơ đốc giáo ở Andalusia (còn được gọi là “mozárabes”) sinh sống ở ngoại ô Córdoba, phản biện quan điểm cho rằng hầu hết những người Cơ đốc giáo đã biến mất khỏi vùng đất này do bị ngược đãi, trục xuất, di cư hoặc bị buộc phải cải sang đạo Hồi.      Tóm lại, nghiên cứu khảo cổ học động vật chỉ ra số lượng Cơ đốc nhân còn lại trong khu vực của chúng tôi cho thấy rằng thời kỳ này phức tạp hơn chúng ta tưởng nhiều và cần tiến hành thêm rất nhiều nghiên cứu để hiểu rõ, thay vì chỉ mô tả đơn giản rằng họ đã chung sống “hòa hợp” hay “xung đột dữ dội” như hai luồng quan điểm trước đây.       (*) Tác giả bài viết là Marcos García García (Nghiên cứu viên sau tiến sĩ, Đại học York) và Guillermo García-Contreras Ruiz (Giáo sư Khảo cổ học Trung cổ và Hậu trung cổ, Đại học Granada)     Hà Trang dịch  Nguồn: How food waste helped us discover the existence of a Christian community in 12th century Islamic Iberia    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xương sống của nền nông nghiệp Nhật Bản      Trải qua nhiều biến động về kinh tế, xã hội, hệ thống hợp tác xã vẫn đóng vai trò nền tảng trong nền nông nghiệp Nhật Bản.  &#160;    Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp của Nhật Bản giảm từ 11.7 nghìn tỷ Yên vào năm 1960 xuống còn 8.2 nghìn tỷ Yên vào năm 2011. Vai trò của nông nghiệp trong kinh tế Nhật Bản ngày càng giảm (đóng góp của kinh tế nông nghiệp Nhật Bản vào GDP giảm từ 9% vào năm 1960 xuống còn 1% vào năm 2005) nhưng số người tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản lại có xu hướng tăng lên. Hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản, hiện nay có gần 10 triệu thành viên, không chỉ là tổ chức kinh tế mà đã trở thành  tổ chức chính trị – xã hội, bảo vệ quyền lợi của đa số nông dân Nhật Bản, chẳng hạn có thể gây áp lực, phản đối việc chính phủ Nhật tham gia vào hợp tác Liên Thái Bình Dương – TPP.  Hệ thống quyền lực  Ra đời từ thế kỷ 19, hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đặc trưng bởi việc thực hiện đa nhiệm vụ. Một hợp tác xã cấp địa phương có thể kinh doanh hàng loạt các dịch vụ kinh tế-xã hội như: cung cấp nguyên liệu đầu vào, tổ chức thị trường đầu ra, cho vay tín dụng, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, phân phối hàng tiêu dùng, cung cấp dịch vụ y tế, đi lại, nhà ở… và thậm chí là một trung tâm cộng đồng cho các hoạt động văn hóa. Ảnh hưởng của hợp tác xã nông nghiệp bao trùm lên toàn bộ cuộc sống sinh hoạt thường ngày của nông dân Nhật Bản. Trong hơn một thế kỉ, trải qua nhiều lần thay đổi cấu trúc hoạt động nhưng các hợp tác xã ở địa phương vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng cộng đồng và thúc đẩy sự gắn kết giữa những người nông dân.  Tuy nhiên, các hợp tác xã địa phương không đủ nguồn lực và kinh phí để thực hiện các hoạt động marketing (lãi từ dịch vụ tín dụng và bảo hiểm cũng không đủ để bù vào các chi phí cho thương mại). Chính vì vậy, Nhật Bản đã cấu trúc lại hệ thống hợp tác xã của mình gồm ba bậc, bao gồm: cấp địa phương, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Trong đó, các hợp tác xã địa phương là những hợp tác xã đa nhiệm vụ nói trên và các liên minh hợp tác xã cấp tỉnh và cấp quốc gia chỉ chuyên sâu vào một lĩnh vực kinh doanh như marketing-thương mại hoặc tín dụng hoặc bảo hiểm hay phúc lợi xã hội. Các liên minh hợp tác xã quốc gia có “sức mạnh” tương đương với những tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản: Ngân hàng của Liên minh Hợp tác xã Quốc gia (JA) là ngân hàng lớn nhất Nhật Bản trong lĩnh vực tín dụng và cho vay, Zeh-noh (liên minh hợp tác xã quốc gia trong lĩnh vực marketing, mua bán và sản xuất) là công ty thương mại lớn nhất Nhật Bản hay Zenkyoren (liên minh hợp tác xã trong lĩnh vực bảo hiểm) cũng là một trong hai công ty bảo hiểm lớn nhất Nhật Bản nếu tính trên số hợp đồng dài hạn… Chính nhờ tầm ảnh hưởng kinh tế của các liên minh hợp tác xã mà nông dân Nhật Bản (đặc biệt là những người đến từ các hộ kinh doanh nhỏ và vừa) có tiếng nói chính trị mạnh mẽ.  Chính phủ Nhật Bản từng giới hạn điều kiện thành viên của hợp tác xã chỉ là những người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và đặc biệt hạn chế các công ty hay tập đoàn tham gia vai trò lãnh đạo (họ không được nắm quá 50% cổ phần trong một công ty sản xuất nông nghiệp). Chính vì vậy, hợp tác xã Nhật Bản đã trở thành một hệ thống độc quyền, kiểm soát toàn bộ nền nông nghiệp Nhật Bản. Không thể phủ nhận rằng, với những dịch vụ mà nó mang lại cho nông dân, đặc biệt là hỗ trợ vay vốn, bảo hiểm và toàn bộ khâu sản xuất từ đầu vào đến đầu ra của nông sản nên hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản vẫn thu hút nhiều người tham gia làm thành viên mặc dù vai trò của nền nông nghiệp Nhật Bản đang ngày càng giảm sút khi nông sản nội địa phải chịu cạnh tranh gay gắt với nông sản nhập khẩu khi nước này tham gia vào WTO và TPP.   Đại diện của nông dân Nhật Bản  Hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản là do người dân lập ra và hoạt động vì người nông dân. Những người điều hành hợp tác xã là những người được đào tạo nghiệp vụ bài bản và có kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng phải chịu sự giám sát từ ban giám đốc (hoạt động độc lập, không tham gia điều hành). Tất cả chức vụ này đều do người dân bầu ra một cách dân chủ. Người điều hành chịu áp lực rất lớn từ các thành viên của hợp tác xã: nông dân không phải là người phụ thuộc vào hợp tác xã mà trái lại, sự sống còn của hợp tác xã phải phụ thuộc vào người nông dân. Nói cách khác, hợp tác xã phải bám sát nhu cầu của người nông dân, đưa ra các dịch vụ thiết thực với đời sống của họ. Chính vì vậy, tuy là một tổ chức độc quyền nhưng hoạt động của hợp tác xã Nhật Bản lại khá linh hoạt theo điều kiện kinh tế và nhu cầu của người nông dân. Đầu những năm 2000, hệ thống hợp tác xã Nhật Bản được chuyển dần từ ba bậc xuống hai bậc: các ngân hàng và công ty bảo hiểm của liên minh hợp tác xã cấp tỉnh sẽ được hợp nhất với cấp quốc gia để người nông dân có thể tiếp cận với những khoản vay và những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn hơn và an toàn hơn trong khi những hợp tác xã địa phương vẫn duy trì tất cả dịch vụ thiết yếu với đời sống nông dân. Bên cạnh đó, gần đây, hợp tác xã Nhật Bản đã mở rộng đối tượng thành viên sang các công ty tư nhân và công ty nước ngoài để chuyên nghiệp hóa các hoạt động thương mại và marketing nhằm thu hút nhiều người trẻ trở lại với hoạt động nông nghiệp.  Hoạt động của hệ thống hợp tác xã Nhật Bản được tổ chức một cách chặt chẽ với những mục tiêu và định hướng rõ ràng. Tất cả các nông sản sản xuất bởi hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đều đảm bảo một quy chuẩn chất lượng chung (nông nghiệp 3H- Healthy, High quality, High technology – sức khỏe, chất lượng cao, công nghệ cao), được gắn cùng một nhãn hàng – JA và có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế.  Không bó hẹp trong việc hỗ trợ quy trình sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản thúc đẩy tư duy và tầm nhìn của người nông dân Nhật Bản với những mục tiêu: duy trì năng suất, duy trì giá cổ phiếu thực phẩm, quảng bá các chương trình hỗ trợ lương thực, thực phẩm, liên kết với các chương trình hỗ trợ quốc tế, mở rộng các chương trình về an ninh lương thực quốc tế, hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình và phúc lợi xã hội, hỗ trợ các nghiên cứu nông nghiệp liên quốc gia, thiết lập hệ thống thương mại nông nghiệp.   Là một tổ chức với 2/3 nông dân tham gia làm thành viên, hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản là đầu mối áp dụng khoa học – kĩ thuật từ khi mới được thành lập. Tổ chức này là địa chỉ để những người dân có thể chia sẻ các thiết bị công nghệ nông nghiệp hiện đại và đắt tiền: với chính sách mỗi vùng một sản phẩm, toàn bộ khu vực sản xuất đều được giám sát bằng camera và các thiết bị cảm ứng. Để làm được điều này, những người nông dân Nhật phải có trình độ nhất định và tinh thần hợp tác cao. Từ khi hợp tác xã là đơn vị công lập, chính phủ Nhật Bản đã chú trọng phát triển dịch vụ tư vấn nông nghiệp, trong đó không chỉ tư vấn, đào tạo về cách ứng dụng khoa học công nghệ mà còn kết hợp tư vấn về chi tiêu, tài chính, tiềm năng của từng giống cây trồng… Đến nay, toàn bộ nông dân Nhật Bản có thể tự cập nhật và chia sẻ các thông tin về giá cả thị trường, cổ phiếu nông nghiệp, thời tiết, khoa học-kỹ thuật… thông qua một nền tảng trực tuyến kết nối những cá nhân, tổ chức nông nghiệp. Các hợp tác xã cũng hợp tác với các trường đại học và thành lập một liên minh gọi là: “Liên đoàn Đại học Hợp tác xã” (NFUCA) với hơn 1.4 triệu thành viên. Trong đó, các sinh viên, giảng viên của các trường vừa là người tiêu thụ nông sản do hợp tác xã sản xuất, đồng thời cũng quảng bá, đào tạo các công nghệ mới và liên kết thực hiện các nghiên cứu ứng dụng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Y học cá thể hóa: xu hướng tất yếu trong tương lai?      Điều trị bệnh sẽ ngày càng hướng tới từng người bệnh hơn nữa, do đó hiệu quả điều trị cũng tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên cần phải có những quy định mới để tất cả các bên đều được hưởng lợi. Trong bài viết mới đây trên tờ The Welt, Christoph Franz, chủ tịch Hội đồng hành chính Tập đoàn dược phẩm Hoffmann-La Roche của Thụy sỹ đã đưa ra những dự báo về y học cá thể, và cả những lưu ý.    Y học cá thể hóa là xu hướng phát triển có nhiều ý nghĩa nhất đối với hệ thống y tế trong tương lai. Rõ ràng là đã qua rồi cái thời “one size fits all” – Điều trị theo kiểu đồng loạt, đại trà. Liệu pháp trong tương lai dựa trên mọi dữ liệu thu thập được từ người bệnh cũng như dựa trên kiến thức y học của thế giới; từ đó liệu pháp sẽ được điều chỉnh cho từng người bệnh.  Ba xu hướng phát triển trong việc chữa trị gần đây đã cho thấy y học cá thể hóa sẽ là tương lai của điều trị. Thứ nhất, việc giải mã DNA và kiến thức thu được từ đó về “dấu vân tay” di truyền của một người và những ảnh hưởng đến sức khỏe của người đó có vai trò ngày càng quan trọng. Nhờ tiến bộ kỹ thuật số, các bộ xử lý ngày càng tốt hơn, giải mã gene ngày càng ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn. Cùng với kiến thức được cải thiện về sinh học phân tử cho phép việc điều trị cho nhiều nhóm bệnh nhân được điều chỉnh chính xác hơn.   Thứ hai, thông tin được thu thập trong ngân hàng dữ liệu, từ bộ gene đến thông tin theo dõi sức khỏe hàng ngày cho phép chúng ta hiểu về con người và sức khỏe của bệnh nhân tốt hơn và toàn diện hơn, do đó có thể trả lời cho các câu hỏi quan trọng: Tại sao những người khác nhau lại phản ứng khác nhau trước cùng một liệu pháp? Các liệu pháp cần điều chỉnh cho thích ứng như thế nào để thành công hơn? Chắc chắn các hướng dẫn điều trị chuẩn hóa trước đây sẽ được sửa đổi dần từng bước. Thay vào đó, hướng dẫn điều trị dành riêng cho từng cá nhân ngày càng phổ biến hơn, qua đó có thể giải quyết vấn đề của từng bệnh nhân hoặc loại bệnh khác nhau.   Thứ ba, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và khả năng tính toán tăng theo cấp số nhân của máy tính là động lực quan trọng thúc đẩy y học cá nhân hóa. Các thuật toán ngày càng thông minh hơn giúp xác định các mẫu dữ liệu trong ngân hàng dữ liệu và phân tích chúng. Trong tương lai, sự thành công của các công ty dược phẩm sẽ không chỉ phụ thuộc vào các nhà sinh học và hóa học tài giỏi nhất mà còn phụ thuộc vào các kỹ sư phần mềm xuất sắc nhất và khả năng truy cập các ngân hàng dữ liệu y tế tốt nhất.  Y học cá nhân hóa mang lại những gì? Trước hết, việc điều trị đối với từng người bệnh sẽ tốt hơn. Ngày nay trong điều trị ung thư, các khối u đã được phân tích ngày càng nhiều hơn ở cấp độ phân tử để xác định liệu pháp nào có khả năng đáp ứng tốt nhất.    Chữa trị sẽ chuyển từ đại trà sang cá thể hóa.   Thuốc được cá nhân hóa làm tăng hiệu quả  Hiện nay, nhiều loại thuốc được sử dụng theo kiểu đồng loạt, dàn trải theo nguyên tắc “chữa trị mò”, có nghĩa là kê đơn cho người bệnh mà không chắc có hiệu quả. Tới đây, y học cá thể hóa còn làm tăng lợi nhuận, các loại thuốc và liệu pháp được áp dụng nhanh hơn và đúng mục tiêu. Việc cá nhân hóa y học xúc tiến nhanh sẽ làm tăng đáng kể hiệu quả và giảm thiểu tác dụng phụ.   Nhân viên kỹ thuật số cũng là một phần của y học cá thể hóa. Bởi vì nhân viên này tiếp cận với từng người bệnh, giống như một “huấn luyện viên cá nhân”. Nhưng các huấn luyện viên kỹ thuật số có thể mở rộng diện phục vụ do đó giá cả phải chăng hơn – nhờ huấn luyện kỹ thuật số nên y học cá nhân hóa có thể được áp dụng ngay cả ở những nước có nền kinh tế kém phát triển.  Ví dụ cho điều này là ứng dụng bệnh tiểu đường mySugr, Meru Health – huấn luyện viên kỹ thuật số giúp chữa bệnh tâm thần hoặc Kaia Health – ứng dụng đề xuất các bài tập lưng dành riêng cho bệnh nhân đau lưng và sử dụng máy quay video để kiểm tra xem việc luyện tập có đúng hay không. Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe trong tương lai, nhiều người sẽ có huấn luyện viên kỹ thuật số của mình ở bên cạnh.  Nhưng y học cá nhân hóa cũng đặt ra những thách thức đáng kể. Các quy định về cấp phép lưu hành thuốc và hệ thống thanh toán phải được cải cách, điều chỉnh cho phù hợp với biện pháp phòng ngừa và chữa trị cho từng nhóm bệnh nhân nhỏ lẻ.  Tuy nhiên các nhà khoa học cũng cảnh báo rằng, cần có các quy định mới đối với những thiết bị chẩn đoán kỹ thuật số. Ngoài ra còn có vấn đề bảo vệ dữ liệu và quyền tự do của bệnh nhân. Phải xử lý như thế nào với các dữ liệu ghi trong bệnh án đã được thu thập và đánh giá, phân tích  một cách có hệ thống?  Cần có quy định về xét nghiệm di truyền  Phải xử lý thế nào với những bệnh nhân làm xét nghiệm di truyền để làm rõ một vấn đề nào đó và tình cờ phát hiện họ là người mang bệnh di truyền nghiêm trọng? Làm thế nào để bảo vệ được quyền riêng tư?  Các xét nghiệm di truyền và các phương pháp “Profilings” (lập hồ sơ) y tế khác có thể sẽ là tiêu chuẩn chẩn đoán trong tương lai, giống như xét nghiệm máu ngày nay. Một nguyên tắc quan trọng là: Các xét nghiệm di truyền luôn phải có bác sĩ đồng hành.  Nhà nước phải tạo ra các quy tắc và tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng cho các xét nghiệm Gene Do-it-yourself (xét nghiệm tự thực hiện). Xét nghiệm di truyền là một quá trình phức tạp và câu trả lời của nó cho các câu hỏi về y học thường không trắng đen rõ ràng, mà là màu xám. Ví dụ, nên giải quyết như thế nào nếu một phụ nữ khi xét nghiệm di truyền cho thấy người đó bị đột biến tương tự Angelina Jolie ở gien BRCA-1 và do đó có nhiều nguy cơ bị ung thư vú? Ngoài con đường triệt để mà Angelina Jolie đã thực hiện là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ còn có một lựa chọn khác là theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe.  Do đó, trong việc chăm sóc y tế cần tiêu chuẩn hóa giải thích kết quả xét nghiệm. Không phải mọi xét nghiệm di truyền trực tuyến hiện đều cho lời khuyên về y tế này, vì vậy cần xem xét một cách nghiêm túc vấn đề tư vấn. Tư vấn y tế cũng có thể được thực hiện thông qua y học từ xa. Điều quan trọng hơn hết là không bỏ rơi bất kể ai.  Ngoài ra, cơ quan lập pháp phải đảm bảo chất lượng của các nhà cung cấp các xét nghiệm di truyền và các xét nghiệm tổng hợp phức tạp khác. Ngày càng có nhiều công ty tham gia vào thị trường này. Cần có các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu và phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện các xét nghiệm này.  Trung Quốc và Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chạy đua   Y học cá thể sẽ là tương lai của y học. Nhưng vấn đề là: ngân hàng dữ liệu càng lớn, dữ liệu càng mở rộng và chất lượng càng cao, thì kiến thức về y học  càng có cơ hội được nâng cao và lợi thế về tiềm năng kinh tế cũng càng lớn hơn. Trung Quốc và Mỹ đang dẫn đầu cuộc đua toàn cầu, với mục tiêu thống trị lĩnh vực y học đầy hứa hẹn và mới mẻ này. Kể từ sáng kiến thúc đẩy y học chính xác của Tổng thống Obama, trình tự một triệu bộ gene người đã được xác định và tổng hợp trong ngân hàng dữ liệu của Hoa Kỳ, nhà nước đầu tư hơn 200 triệu USD.   Trung Quốc cũng phát triển y học chính xác nhanh chóng và dự định đầu tư hơn 9 tỷ USD cho đến năm 2030. Ngoài ra, Trung Quốc có phòng thí nghiệm di truyền lớn nhất thế giới và là kho lưu trữ vật liệu di truyền lớn nhất.   Còn ở châu Âu, năm 2016 Liên minh châu Âu đã thành lập Consortium ICPerMed, Thụy Sỹ và Canada cũng tham gia vào tổ chức này.ICPerMed quy tụ hơn 30 đối tác phi lợi nhuận của châu Âu và quốc tế cũng như các bộ và cơ quan tài trợ của Ủy ban châu Âu cùng nghiên cứu và trao đổi ý kiến về các phương pháp tiếp cận y học cá nhân hóa. Mục đích là để chống lại sự phân mảnh trên thị trường châu Âu và phát triển các giải pháp và sự hợp tác để châu Âu cũng có thể đóng vai trò hàng đầu trong lĩnh vực đổi mới y học cá nhân hóa.  Xuân Trang lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wirtschaft/article225703047/Christoph-Franz-Personalisierte-Medizin-verbessert-Behandlungen.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý tưởng đến từ đâu?      Một trong những câu hỏi tôi thường gặp khi làm việc với các bạn trẻ có nhiều ý tưởng khởi sự kinh doanh là, tôi có nhiều ý tưởng, không biết nên bắt đầu từ đâu. Những lúc như vậy chúng tôi thường đặt ngược một yêu cầu: hãy nói về một vấn đề mà bạn thực sự muốn giải quyết hoặc hãy viết nó ra trong vòng khoảng 12 từ. Chừng nào bạn chưa thể diễn tả vấn đề mình đang cố gắng giải quyết một cách đơn giản và dễ hiểu, có nghĩa là bạn chưa thực sự tìm ra vấn đề. Ý tưởng ban đầu không quan trọng, quan trọng là vấn đề bạn cố gắng giải quyết.      Không phải ngẫu nhiên, Paul Graham, nhà đầu tư mạo hiểm, đồng sáng lập Y Combinator – nơi khởi đầu của hàng nghìn startup, trong đó có Airbnb hay Dropbox, gợi ý cho chúng ta: “Cách để có ý tưởng khởi sự kinh doanh không phải là nghĩ về ý tưởng. Đó là phải tìm kiếm vấn đề, mà tốt hơn cả là bắt đầu từ vấn đề mà bạn gặp phải”.1  Ý tưởng có thể đến từ rất nhiều nguồn khác nhau và có rất nhiều ý tưởng của bạn có thể trùng với nhiều người khác. Tuy vậy, điều làm các ý tưởng trở nên khác nhau trong quá trình thực thi chính là gốc rễ phát sinh ra nó. Hãy cùng tìm hiểu những xuất phát điểm cơ bản của các ý tưởng khởi sự kinh doanh từ góc nhìn của Paul Graham.  Vấn đề: Nên là những vấn đề chính bạn đang gặp phải (để chắc chắn vấn đề đó tồn tại), ngay cả khi bạn bắt đầu đi từ đam mê.  Ví dụ: Nguyễn Hà Đông muốn tạo ra một loại game cho những người như mình với vấn đề rõ ràng: bận rộn, áp lực và luôn di chuyển, “một tay cầm điện thoại, một tay treo lơ lửng trên không trung vào tay cầm ở tàu điện”. 2  Cái giếng: Hãy đào sâu và nhanh để tìm ra và tìm hiểu một số người đầu tiên đang cần giải quyết vấn đề đó rất gấp gáp.       Ví dụ: Facebook sẽ không phải là một ý tưởng tốt nếu chỉ dừng lại ở sự hấp dẫn với một nhóm sinh viên Harvard. Thực ra, nó bắt đầu từ một thị trường nhỏ nhưng tìm ra con đường thoát nhanh ra khỏi thị trường đó. Câu chuyện diễn ra tương tự với Uber, Airbnb.  Bản thân: Khi không thể biết chính xác ý tưởng nào sẽ khiến ta đi nhanh và có tiềm năng mở rộng, hãy chắc chắn bạn là người phù hợp nhất để triển khai ý tưởng đó, bạn là người dẫn đầu trong một lĩnh vực mới đang phát triển nhanh chóng. Có lúc, bạn cần sử dụng giác quan thứ sáu để cảm nhận.  Ví dụ: Mark Zuckeberg có thể hiểu là người dẫn đầu trong việc sống trong thế giới ảo. Nếu như hỏi một ai đó 40 tuổi trong năm 2004 rằng họ có muốn phô diễn cuộc đời họ công khai ở trên mạng, chắc chắn họ sẽ khiếp sợ ý tưởng đó. Nhưng cuộc sống của Mark gắn liền với máy tính, với internet, chàng trai này vốn đã sống trực tuyến rồi. Vậy nên, Mark nghĩ ra Facebook là điều rất dễ hiểu.    Mảnh ghép còn thiếu: Hãy đặt mình trong không gian của tương lai nhưng tìm vấn đề còn thiếu ở hiện tại bằng cách tìm kiếm, nói chuyện và mô tả vấn đề một cách chính xác. Hãy tạo ra thứ gì đó thật sự độc đáo và hấp dẫn.       Ví dụ: Khi robot còn là một khái niệm gắn với khoa học, và khi trẻ em ở Việt Nam còn đang mê mải với những chiếc ô tô chạy pin và thị trường tràn ngập hàng Trung Quốc với giá rẻ, chất lượng không an toàn, thì TOSY Robotics, một doanh nghiệp Việt Nam đã đưa TOSY, một chú robot vào thành một mảnh ghép trên thị trường: Robot nhảy múa theo điệu nhạc thân thiện với trẻ em, tạo ra một hiệu ứng vô cùng thú vị.  Học hành nghiên cứu: Hãy nghiên cứu và kết hợp vấn đề của mình với những lĩnh vực mới. Nếu muốn khởi sự kinh doanh với chuyên ngành máy tính, thay vì đi học về kinh doanh hãy bắt tay vào làm và/hoặc tham gia khóa học về lĩnh vực hoàn toàn mới. Bạn sẽ phát triển được những sản phẩm độc đáo và thú vị.       Ví dụ: Sáng lập của BrandBeats – Lê Tấn Thanh Thịnh đã tìm ra một hướng đi riêng khi kết hợp làm thương hiệu với âm nhạc, từ đó phát triển dịch vụ marketing âm nhạc (music marketing).  Hiểu về thị trường và cạnh tranh: Không nên quan tâm quá nhiều về đối thủ cạnh tranh hay thị trường đã quá đông đúc. Không nên kỳ vọng sẽ bước chân vào thị trường không có đối thủ cạnh tranh.  Ví dụ: Để thành công trong một thị trường đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, hãy trang bị cho mình những vũ khí bí mật có thể “kéo tất cả người dùng vào” (như Google) hay vào một thị trường tưởng như nhỏ nhưng hóa ra lại là một thị trường lớn (Microsoft ban đầu chỉ cung cấp phần mềm cho những người không biết sử dụng máy tính, lúc đó chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ vì máy tính bấy giờ vẫn là công cụ nghiên cứu xa xỉ. Cuối cùng, khi máy tính trở nên phổ biến, ai cũng sở hữu một cái, vì vậy mọi người đều sử dụng sản phẩm của Microsoft).  Chọn lọc ý tưởng: Hãy chọn những ý tưởng mà bạn thấy thú vị nhất và sẵn sàng “xả thân” vì nó.        Ví dụ: Khi phải lựa chọn giữa hai hoặc nhiều ý tưởng, bạn có thể cân nhắc sử dụng mô hình ma trận 2×2 3 để xác định thứ tự ưu tiên và khả thi của chúng.  Công thức: Khi bạn không phải là người xuất chúng, dẫn đầu một lĩnh vực và nảy ra một ý tưởng tuyệt diệu, công thức để có một ý tưởng tốt là hãy tìm kiếm những vấn đề trong lĩnh vực mà bạn có kiến thức chuyên môn, gắn với nhu cầu của chính mình mà chưa thấy ai giải quyết. Khi nhu cầu chưa được đáp ứng của bạn cũng là nhu cầu chưa được đáp ứng của người khác, hãy nói chuyện với họ và dựa vào những xu hướng để nắm bắt các cơ hội phát triển.      Ví dụ: Người sáng lập Uber- Garrett Camp là người sáng lập mạng lưới giao thông trực tuyến xuất phát từ nhu cầu bản thân mong muốn thuê xe sang với giá rẻ hơn. Ban đầu anh bắt đầu với dòng xe cao cấp, nhưng họ nắm được nhu cầu đi xe giá rẻ hơn của thị trường taxi truyền thống. Họ đã trở thành người thách thức cuộc chơi mới: nền tảng gọi xe trực tuyến và vươn ra thị trường toàn cầu. Nó mở đầu cho xu hướng kinh tế chia sẻ.  Hữu cơ (hay rủi ro của sự phát triển tự nhiên): Ngay cả khi bạn khởi sự kinh doanh trong lĩnh vực có chuyên môn mạnh, ý tưởng thú vị nhưng hãy nhìn tỷ lệ thất bại 95% của các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo- Mọi thứ không thể đến ngay. Mọi thứ đều cần thời gian.      Ví dụ: Ngay cả khi trở thành startup đình đám nhất thế giới, Uber vẫn đang thua lỗ đến hàng tỷ USD. Điều đó cho thấy, thành công không thể đến trong ngày một ngày hai.  Khi trải qua những bước như trên, bạn có thể nghĩ rằng ý tưởng được chắt lọc lại chắc chắn là thứ vô cùng quý giá mà khi nói ra, bạn có thể bị ai đó ăn trộm. Nỗi sợ này khiến rất nhiều bạn dè dặt khi chia sẻ với người khác. Tuy nhiên, ý tưởng có hay đến mấy thì cũng sẽ chỉ nằm trên giấy nếu bạn không bắt tay vào hành động. Hành động ở đây không phải là bắt tay viết một kế hoạch kinh doanh, mà viết tất cả những những giả định kinh doanh và tiếp theo là bước chân ra ngoài để kiểm chứng giả định của mình, liên tục “sai và sửa sai”. Steve Blank – Mentor của Eric Ries- và cũng là cha đẻ của khởi nghiệp tinh gọn từng nói: “Không một kế hoạch kinh doanh nào sống sót trong cuộc gặp đầu tiên với khách hàng” Nếu bạn đã có một sản phẩm, bạn vẫn cần phát hiện vấn đề để hoàn thiện, mài giũa sản phẩm dịch vụ của mình bằng cách trả lời câu hỏi – Ai đang có vấn đề mà sản phẩm dịch vụ của bạn có thể giải quyết? Bạn đã hiểu gì về họ? Chính bạn có những vấn đề đó không? Thực tế, việc đi lại từ đầu những bước đi tưởng chừng đơn giản này có thể sẽ giúp bạn nhìn rõ hơn động cơ khởi sự và nhân tố thúc đẩy quyết tâm và những điểm yếu trong mô hình kinh doanh của bạn.  ——–  1“The way to get startup ideas is not to try to think of startup ideas. It’s to look for problems, preferably problems you have yourself” – Paul Graham. Nguồn: http://paulgraham.com/startupideas.html  2http://www.rollingstone.com/culture/news/the-flight-of-the-birdman-flappy-bird-creator-dong-nguyen-speaks-out-20140311  3 http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/2×2-%E2%80%93-Cong-cu-thiet-lap-thu-tu-uu-tien-trong-khoi-nghiep-9952       Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Ý tưởng thiên tài đến từ những điều nhỏ nhặt      Ý tưởng dường như là một điều khó nắm bắt. Có khi chúng ta đi khắp nơi, lục tung mọi chốn mà không tìm ra ý tưởng nào cả, nhưng cũng có khi ý tưởng chỉ đơn thuần là một cái ngoái đầu nhìn lại, một thoáng băn khoăn trước những điều tưởng chừng như hết sức nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày. Sáu ý tưởng về năng lượng đầy sáng tạo của những người trẻ dưới đây là một ví dụ.   Khu vườn mặt trời    David Amster-Olszewski  bên khu vườn mặt trời của mình  David Amster-Olszewski, 29 tuổi, nghĩ đến việc thành lập SunShare khi một lần ngồi nghe mẹ than phiền về việc bà muốn dùng điện mặt trời nhưng lại không thể lắp pin trên mái nhà được. Từ gợi ý ban đầu này, anh đã lập nên SunShare, một “khu vườn mặt trời” cho các hộ gia đình hoặc doanh nghiệp trong một cộng đồng cùng sử dụng chung các pin năng lượng mặt trời. Điểm khác biệt so với các khu vườn thông thường là “vườn mặt trời” không trồng cây mà chỉ lắp các bảng pin mặt trời. Người sử dụng đăng ký “mua” một số bảng pin trong khu vườn này và mỗi tháng họ sẽ được tính điểm thưởng dựa trên lượng điện năng mà các bảng pin đó tạo ra; số điểm thưởng tích lũy được sẽ dùng để trừ vào hóa đơn tiền điện hàng tháng của người sử dụng. Với chính sách này, người sử dụng vừa có điện dùng lại vừa tiết kiệm được chi phí sinh hoạt hàng tháng.    SunShare là công ty đi đầu trong trào lưu phát triển vườn mặt trời tại Mỹ và xu hướng này dự kiến sẽ còn tiếp tục phát triển, bởi vì tuy giá thành pin năng lượng mặt trời đang có xu hướng giảm, song không phải hộ gia đình nào cũng có thể lắp đặt pin trên mái nhà. Hiện nay tại Mỹ đã có 89 dự án pin mặt trời cộng đồng tại 25 bang khác nhau.  “Bắt” sóng biển  Khi nói tới năng lượng tái chế, thường người ta sẽ nghĩ ngay đến điện gió và điện mặt trời, ít ai nghĩ đến năng lượng từ sóng biển. Nhưng Inna Braverman, 29 tuổi, lại quan tâm tới điều đó. Cô nhận thấy tiềm năng năng lượng từ sóng biển là rất lớn bởi sóng luôn chuyển động. Và Eco Wave Power ra đời với một công nghệ rất mới được xây dựng dựa trên việc biến chuyển động của sóng biển thành áp suất làm quay máy phát điện để tạo ra điện năng. Trên lý thuyết, một trang trại sóng chiếm chưa đầy nửa dặm vuông diện tích mặt biển cũng có thể tạo ra đủ điện năng dùng cho 20.000 hộ gia đình. Nhưng công nghệ này cũng có nhiều thách thức, bao gồm chi phí thực hiện, những rủi ro về việc các đường truyền năng lượng do sóng biển tạo ra có thể làm hại tới môi trường biển, ngoài ra còn phải thiết kế các loại phao có thể hấp thụ được đầy đủ năng lượng từ chuyển động của sóng.  Sau khi phát triển và thử nghiệm nhiều thiết kế khác nhau trong nhiều năm, Eco Wave Power đã tạo ra được hai thiết bị gọi là “Wave Clapper” và “Power Wing” có thể tự động điều chỉnh theo độ cao ngọn sóng để tạo nguồn năng lượng một cách nhịp nhàng và đồng nhất. Chúng cũng có các bộ cảm biến thực hiện nhiệm vụ phát hiện những cơn bão đang đến và điều chỉnh độ cao của phao chứa để tránh tác động của bão.  Cuối tháng Năm vừa qua, công nghệ bắt sóng đầy sáng tạo trên đã ra mắt công chúng thế giới với địa điểm lắp đặt đầu tiên là trên một cầu tàu nhỏ ở bờ biển Gibraltar, Tây Ban Nha. Đây là nhà máy điện sóng đầu tiên được kết nối với một lưới điện tại châu Âu. Nhà máy tiếp theo của Eco Wave Power có thể sẽ được lắp đặt tại một bờ biển ở Trung Quốc theo kế hoạch hợp tác giữa công ty này với trường Đại học Hàng hải Trung Quốc.    Hiện Eco Wave Power, một startup Israel, đã vươn lên trở thành công ty đi đầu thế giới định hình công nghệ “thu hoạch” năng lượng từ biển cả.   Cá bơi và năng lượng gió  Khi nhắc đến năng lượng gió, có lẽ nhiều người sẽ hình dung đến những turbine khổng lồ quay tròn. Nhưng nhiều năm qua, giảng viên đại học John Dabiri, 35 tuổi, ở Stanford đã nêu ý tưởng về một phương án thay thế khả thi hơn dựa trên những cụm turbin gió trục đứng. Ý tưởng này xuất hiện khi anh để ý cách cá làm giảm lực kéo khi di chuyển theo đàn thay vì bơi riêng lẻ. Anh băn khoăn không biết liệu hiệu ứng này có xảy ra không nếu các turbine gió cũng được sắp xếp theo cách tương tự.  Rõ ràng, không thể áp dụng giả thiết này với những turbine gió cỡ lớn bởi turbine lớn thì cần phải đặt cách xa nhau và do đó chiếm nhiều diện tích sử dụng. Vì vậy, Dabiri bắt tay vào xây dựng một mô hình dựa trên việc sắp xếp các turbine nhỏ hơn (cao khoảng 9m thay vì 90m như các turbine truyền thống) theo một hình thái giống hình viên kim cương mà đàn cá tạo thành khi di chuyển, qua đó giúp tận dụng diện tích sử dụng hiệu quả hơn rất nhiều.  Theo kết quả nghiên cứu đầu năm 2016 của Dabiri, việc bổ sung các cụm turbine trục đứng nhỏ hơn vào một trang trại gió truyền thống sẽ giúp gia tăng lượng điện gió lên 32%, đồng thời điều này cũng khiến các turbine lớn hoạt động hiệu quả hơn 10%. Tuy mới dừng ở bước mô phỏng trên máy tính, song nghiên cứu này có thể làm hồi sinh ngành turbine gió nhỏ lẻ vốn từ lâu đã bị “thất sủng” vì hoạt động không hiệu quả. Mô hình sắp xếp turbine mới có thể mang lại một lợi ích tiềm năng khác là với độ cao vừa phải, các turbine sẽ không đe dọa tới chim chóc và đời sống hoang dã.  Năng lượng từ bã cà phê  Arthur Kay, 25 tuổi, nảy ra ý tưởng mới khi quan sát lớp màng mỏng và nhờn xuất hiện trên bề mặt cốc cà phê để qua đêm. Anh tò mò nghiên cứu xem nó xuất hiện từ đâu thì phát hiện ra rằng cà phê có một giá trị calo cao hơn so với củi nên nó có thể giải phóng năng lượng.  Phát hiện này đã khiến Kay chấm dứt sự nghiệp kỹ sư của mình để đứng lên thành lập một công ty mang tên Bio-Bean, một công ty có trụ sở tại London chuyên cung cấp các sản phẩm năng lượng từ bã cà phê thu thập từ các cửa hàng cà phê, văn phòng và ga tàu điện trên khắp nước Anh. Sản phẩm của họ là bã cà phê dạng viên tròn nhỏ, dạng bánh và dạng thanh, có thể đốt lên để sưởi hoặc nấu nướng. Theo ước tính của Kay, năm nay Bio-Bean sẽ có thể chuyển 10% bã cà phê của Anh – khoảng 50.000 tấn – thành các sản phẩm có thể đốt cháy.   Kay nhìn ra rất nhiều tiềm năng trong bã cà phê. Thực ra, Bio-Bean hiện đang phát triển một nhiên liệu diesel sinh học, và anh hình dung rằng một ngày nào đó, những chiếc xe bus ở London sẽ có thể chạy trên đường phố bằng bã cà phê.  Năng lượng từ đất   Ý tưởng về cây phát điện nghe có vẻ “tầm phào”, nhưng đó là những gì đã nảy ra trong đầu ba nữ sinh viên người Chile – Camila Rupcich, Evelyn Aravena và Carolina Guerrero – khi họ đang nghỉ giải lao giữa các phần thi và điện thoại của cả ba cùng… hết pin. Sau một thời gian nghiên cứu, họ nhận thấy rằng ý tưởng này không quá khó thực hiện. Trong quá trình quang hợp, cây chuyển ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học, một phần năng lượng này đi vào đất xung quanh cây. Và đó chính là nơi mà thiết bị của ba sinh viên này – có tên là E-Kaia – lấy năng lượng.  E-Kaia là một vi mạch sinh học với bản điện cực có thể hút được các electron trong đất. Nói một cách ngắn gọn, ta chỉ cần cắm thiết bị này xuống đất là nó sẽ tạo ra điện mà không làm hại tới cây cối. Nguồn điện năng thu về không nhiều – chỉ khoảng 5 volt – nhưng cũng đủ để xạc pin cho một chiếc điện thoại, thắp một bóng đèn LED, hay bật một chiếc quạt trong khoảng 1,5 giờ.  Sản phẩm này hiện đang được Cục Phát triển Kinh tế Chile hỗ trợ và dự kiến sẽ ra mắt thị trường vào cuối năm nay.  Năng lượng từ xe lưu thông trên đường  Một lần, khi đang đứng cạnh một đường đua tại Malaysia, Sanwal Muneer cảm nhận được luồng gió từ những chiếc xe đua đang lao qua tạo ra. Điều đó khiến anh nghĩ rằng có thể tận dụng chuyển động của xe cộ. Chẳng bao lâu, ý nghĩ đó biến thành một startup có tên là Capture Mobility.  Sản phẩm của Capture Mobility là một turbine xoắn ốc đặt ở đường cao tốc để hấp thụ gió và sự chuyển động từ những chiếc xe đang lưu thông trên đường và chuyển chúng thành năng lượng. Trên thiết bị này có gắn những pin mặt trời nhỏ và có những bộ lọc di động giúp lọc bỏ những chất ô nhiễm/ bụi bẩn từ xe cộ trên đường.  Những turbine này có thể không tạo ra nhiều điện, nhưng khi được xạc đầy thì nó có thể chứa 1 kw điện năng, đủ để thắp một chiếc đèn hay bật một chiếc quạt trong 40 giờ.  Muneer cho rằng một ngày nào đó thiết bị này có thể được sử dụng làm một nguồn điện cho các cộng đồng nông thôn tại các quốc gia đang phát triển. Ở khu vực đô thị, những thiết bị này có thể cung cấp năng lượng để bật đèn giao thông hoặc các biển báo trên đường.  Chi Nhân dịch từ Smithsonian        Author                Quản trị        
__label__tiasang Yahoo và cái chết của gã khổng lồ công nghệ      Những gì đã và đang xảy đến với Yahoo là một sự minh họa hoàn hảo cho cái chết của những công ty Internet khổng lồ – họ không kịp thích nghi và dần trở nên lạc lõng.    Yahoo sắp trở thành dĩ vãng  Có thể coi thương vụ hãng viễn thông Verizon mua lại Yahoo là một thời điểm mang tính bước ngoặt trong lịch sử Internet, bởi dường như nó đã đặt dấu chấm hết cho cả một thời đại – ta hãy tạm gọi đó là thời đại Web 1.0. Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ nhớ về Yahoo của những năm “một nghìn chín trăm hồi ấy”như nhớ về điện tín hay điện thoại quay số của một thời đã quá đỗi xa xôi. Giữa vô vàn những lựa chọn hấp dẫn ngày nay như Instagram, Snapchat, Musical.ly và Spotify, hẳn các cư dân mạng của tương lai có nằm mơ cũng không thể nghĩ tới chuyện mình sẽ quay trở về sử dụng các dịch vụ của Yahoo. Hơn nữa, công nghệ phần mềm đang vận động và phát triển theo những chiều hướng ngày càng xa rời với thế hệ Web đời đầu, khi mà các giao diện kích hoạt bằng giọng nói như Alexa và Google’s Home đang phá vỡ dần quan niệm truyền thống của chúng ta về Internet với lỉnh kỉnh những trình duyệt và smartphone. Thực ra, nhiều chuyên gia trong làng công nghệ từ lâu đã nhất trí với nhau rằng cơn hấp hối của Yahoo đã bắt đầu từ cách nay gần một thập kỷ rồi. Việc cái tên Yahoo sẽ bị xóa sổ chỉ còn là vấn đề thời gian. Và thời gian ấy đã điểm.   Bước lùi dài của kẻ tiên phong  Những gì đã và đang xảy ra với Yahoo ngày nay nhắc cho chúng ta nhớ rằng, khác với Wall Street, ở thung lũng Silicon, không có gì là quá-lớn-không-thể-sụp-đổ cả. Chỉ có điều, sự sụp đổ của Yahoo không đến một cách bất ngờ: họ đã “lết” một chặng đường dài để đến với cái kết đã được báo trước này.   Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là các cư dân mạng thế hệ đầu tiên, hẳn vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm đầy trìu mến về Yahoo, người bạn đồng hành đã đưa chúng ta vào thế giới kết nối gần như vô tận của Internet. Từ một công ty cung cấp dịch vụ tổng hợp danh bạ các website đơn thuần (dịch vụ Yahoo Directory vẫn hoạt động cho tới đầu năm 2014), Yahoo đã vươn mình trở thành một cỗ máy tìm kiếm khổng lồ và dần dần tích hợp thêm những dịch vụ mới như e-mail, trang nhà tùy chỉnh, MyYahoo, bản tin tài chính, bản tin chứng khoán,… Thời điểm ấy, Yahoo đã thu hút được hàng triệu người sử dụng trung thành, và giá trị của Yahoo trên thị trường chứng khoán cũng nhờ đó mà ngày một tăng cao như diều gặp gió.  Nhưng Yahoo đã thất bại trong việc thích nghi với sự phát triển của băng thông rộng và sự bùng nổ của các trang web. Những danh bạ website và hyperlink của họ trở nên lạc hậu so với phương pháp sử dụng từ khóa đơn giản. Trong khi đó, sự nhanh nhẹn của Google đã biến nó trở thành công cụ được yêu thích cho kỷ nguyên Web 2.0, và các dịch vụ khác của họ cũng phát triển một cách mau chóng trong khi Yahoo dần dần bị tụt lại đằng sau. Sự trỗi dậy của mạng lưới truyền thông xã hội như Facebook và Twitter càng góp phần đẩy nhanh đà đi xuống của Yahoo. Không chắc là thế hệ Snapchat bây giờ còn biết Yahoo là gì.  Cơ hội bị bỏ lỡ gần đây nhất của Yahoo là thời điểm bùng phát của web di động. Thực ra, năm 2012, Yahoo đã có trong tay một ứng dụng tin nhắn rất phổ biến, nhưng sự trì trệ và lưỡng lự đã khiến họ không thể tận dụng được lợi thế này để phát triển thành một dịch vụ di động khả dĩ. Ngày nay, các ứng dụng khác của họ, chẳng hạn như Yahoo Weather, có chưa đến 5 triệu người sử dụng hàng tháng, trong khi công cụ tìm kiếm và các ứng dụng mới chỉ thu hút được khoảng trên 1 triệu người sử dụng mỗi tháng. Nếu như Yahoo là một startup thì có lẽ họ đã phải đóng cửa từ lâu rồi.  Yahoo là một sự minh họa hoàn hảo cho cái chết của những công ty Internet khổng lồ – họ không kịp thích nghi và dần trở nên lạc lõng. Một dịch vụ Internet bền vững sở hữu ba tính chất: (1) nó khuyến khích sự hình thành thói quen sử dụng của cư dân mạng; (2) nó hấp dẫn với thế hệ trẻ, sao cho thế hệ này có thể lớn lên và già đi cùng nó; và (3) nó có thể vận động và phát triển theo thời gian. Đã có thời Yahoo sở hữu cả ba yếu tố trên, còn bây giờ họ chẳng còn lại gì.   Những nỗ lực cuối cùng  Theo nhận định của giới chuyên gia, nguyên nhân chính cho những thất bại trên của Yahoo nằm ở quản lý yếu kém, không có mục tiêu rõ ràng, những “luẩn quẩn” khi tuyển dụng và sử dụng CEO, những thương vụ mua lại và sáp nhập tốn kém hàng tỉ đô la mà hiệu quả chưa thấy đâu, và sự thiếu dứt khoát trong việc quyết định nên tập trung phát triển công nghệ hay truyền thông. (Thực ra, sự tồn tại của Yahoo là nhờ vào một thứ “thập cẩm” gồm truyền thông, công nghệ, và dịch vụ, tuy có tập trung hơn vào truyền thông.)  Marissa Mayer gia nhập Yahoo từ tháng 7/2012 và được ca ngợi là nhân tố lý tưởng có thể cứu giúp cho Yahoo đang trên đà lão hóa. Nhưng có vẻ như Mayer thất bại vì vướng vào một loạt những sai lầm tương tự các CEO tiền nhiệm. Khi được hỏi về những vấn đề gặp phải dưới triều đại của Mayer, một cựu nhân viên đưa ra một câu trả lời đơn giản: “Cứ hỏi bất kỳ vị CEO nào trước bà ấy thì biết.”  Theo nhận định của một chuyên gia tại Jackdaw Research, “Mayer đã đầu tư sai chỗ; [bà] đã bỏ ra rất nhiều tiền nhưng không thu được kết quả gì khả quan.” Dưới thời Mayer, Yahoo đã mua lại hàng tá startup để đẩy mạnh mảng dịch vụ di động của mình; tuy nhiên, theo nhiều nguồn tin khác nhau, do những lộn xộn trong quản lý mà những nhân viên mới được sát nhập vào được giao việc một cách rất “ngẫu hứng”, làm giảm đi hiệu quả hoạt động của cả công ty. Họ còn bỏ ra 1,1 tỉ USD để mua lại Tumblr nhằm mở rộng cơ sở người dùng, bất chấp thực tế rằng bản thân mạng xã hội này đã và đang chật vật hoạt động từ trước đó khá lâu rồi. Không chỉ có thế, tin tức về những quyết định tuyển dụng các “sếp lớn” của Mayer luôn luôn là điều khiến giới truyền thông giật mình, song kết quả công việc của những người này lại tỏ ra rất kém thuyết phục. Những hình ảnh lòe loẹt và rẻ tiền như những tờ báo lá cải trên website của Yahoo vẫn liên tục xuất hiện và khiến không ít người ngao ngán lắc đầu. Một điều khá thú vị ở đây, theo lời một cựu lãnh đạo Yahoo, là không hiểu vì lý do gì mà Mayer lại không thể tuyển dụng được những tài năng lãnh đạo từ công ty cũ của mình, Google. Vị lãnh đạo duy nhất của Google mà Mayer “lôi kéo” được là Henrique de Castro, nhưng ông này chỉ tại nhiệm được vẻn vẹn 15 tháng rồi bị sa thải kèm theo một khoản bồi thường hấp dẫn: 58 triệu USD.   Verizon sắp trở thành nhà sưu tập “đồ cổ”?  Tất cả những điều trên làm nảy sinh câu hỏi: tại sao Verizon lại quyết định bỏ ra gần 5 tỉ USD để mua Yahoo? Tim Armstrong, CEO của AOL, người sẽ quán xuyến quá trình sáp nhập của Yahoo tới đây, phát biểu rằng Verizon mơ ước được trở thành một lựa chọn thứ ba, sau Google và Facebook, trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến. Bằng cách kết hợp cơ sở người dùng của AOL và Yahoo, cùng với lượng khách hàng của chính mình, Verizon hi vọng sẽ có được khoảng 2 tỉ người dùng – một con số mà họ cho rằng cần thiết để có thể trở thành một nền tảng bền vững. Nhưng với Google và Facebook đang kiểm soát khoảng 85% trong tổng số doanh thu từ quảng cáo trực tuyến như hiện nay, có vẻ như Verizon đang bỏ ra một nỗ lực lớn để giành lấy phần nào trong mẩu bánh bé xíu còn lại mà thôi.  Trên blog cá nhân, nhà đầu tư mạo hiểm Fred Wilson cho rằng mục tiêu của Verizon có phần hơi… lạc quan tếu. Ông viết: “Những mảng kinh doanh này không còn trong giai đoạn phát triển nữa mà đã chuyển sang giai đoạn chín muồi. Vì thế, đây phải là lúc gặt hái lợi nhuận chứ không phải là lúc tập trung đẩy mạnh doanh thu nữa.” Yahoo nói rằng họ có 1 tỉ người sử dụng tích cực hàng tháng, trong đó có 600 triệu người sử dụng dịch vụ di động. Những con số này xuất phát từ các thông số nội bộ của Yahoo và rất nên nghi ngờ. Bởi lẽ, nếu cơ sở người dùng của họ lớn và tích cực đến vậy thì làm gì có chuyện doanh thu của Yahoo liên tục bị thu hẹp, từ 4,7 tỉ USD năm 2013 xuống còn 3,6 tỉ USD năm 2016. Doanh thu ròng từ quảng cáo hiển thị trực tuyến của họ dậm chân tại chỗ ở mức 1,7 tỉ USD từ năm 2013 đến nay, trong khi doanh thu ròng từ hoạt động tìm kiếm của họ giảm đi từ 1,7 tỉ USD năm 2013 xuống còn 1,2 tỉ USD năm 2016. Giấc mơ của Verizon về việc trở thành một lựa chọn thứ ba dường như là phi thực tế. Hiện không rõ cả Yahoo và AOL – cả hai đều đã trở thành những gã khổng lồ lạc hậu – còn được bao nhiêu người sử dụng và mức độ gắn kết của họ tới đâu. Dường như cũng chưa có kế hoạch cụ thể để hợp nhất nguồn dữ liệu của Yahoo và AOL một cách hiệu quả. Trong khi đó, các đối thủ mà họ tự nhận là của mình – Google và Facebook – được xây dựng để thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu thời gian thực, và cung cấp quảng cáo cá nhân hóa trên quy mô lớn. Có vẻ như cả Yahoo và AOL đều không thể cạnh tranh nổi trên lĩnh vực này.   Dẫu vậy, đây không phải là nước đi ban đầu cực kỳ đắt đỏ đối với Verizon – giá trị họ bỏ ra mua Yahoo bây giờ chỉ vào khoảng 1 1/3 doanh thu dự tính của Yahoo cho năm nay. Nếu kế hoạch của họ thành công, đó sẽ là một kỳ tích sánh ngang với việc tạo nên một chiếc xe hơi thời thượng từ những phụ tùng cũ kỹ. Nếu không thành công, họ sẽ có thêm một “di tích Internet” nữa trong bộ sưu tập của mình.  Chi Nhân tổng hợp            Author                Quản trị        
__label__tiasang Yello Mobile: Sự phát triển thần tốc của một startup Hàn Quốc      Yello Mobile đang trên đà phát triển thần tốc và đang  vươn lên trở thành một trong những công ty cung cấp ứng dụng lớn nhất  Hàn Quốc. Chiến lược đầu tư mới của họ có thể khiến đại tiệc “mua sắm”  các công ty di động của Yahoo phải bẽ mặt.       Yello vừa huy động được thêm  47,2 triệu USD từ các nhà đầu tư hiện tại và nhà đầu tư mới, đưa tổng  giá trị công ty lên 4 tỉ USD.Tháng 11 năm ngoái, Yello gọi được 100 triệu USD và được định giá là 1 tỉ USD. Như vậy, chỉ trong vòng một năm, giá trị thị trường của công ty này đã tăng gấp bốn lần. Yello cho hay họ hy vọng sẽ gọi được thêm nhiều nhà đầu tư nữa trong mấy tuần tới để có thể thực hiện được tham vọng mở rộng sang các khu vực khác ở châu Á.  Với kết quả này, Yello sẽ trở thành một trong những startup giá trị nhất Hàn Quốc sau Coupang, công ty thương mại điện tử từng huy động được 1 tỉ USD từ Softbank với giá trị định giá là 5 tỉ USD vào tháng Sáu năm ngoái.  Là một tập đoàn ứng dụng di động đang phát triển, Yello đã trở thành một trong những chaebol (tên gọi chung của các tập đoàn gia đình hùng mạnh của Hàn Quốc) danh tiếng tại Hàn Quốc và đang không ngừng mở rộng đế chế của mình như Samsung và LG.  Yello phát triển nhờ tận dụng được tỉ lệ sử dụng điện thoại di động cao tại các thị trường châu Á và đỡ đầu cho những startup viễn thông nào tìm được thị trường niche bên ngoài các lĩnh vực truyền thống như tin nhắn và game.  Yello hiện đang tham gia vào hoạt động đầu tư và hỗ trợ các startup viễn thông như hãng thương mại điện tử Coocha, ứng dụng hẹn hò trên mạng xã hội 1km và hãng web Emotion. Kể từ khi được Sanghyuk Lee, CEO hiện nay của công ty, thành lập năm 2012, Yello đã đầu tư vào hơn 80 công ty. Mục tiêu của Yello là trở thành tập đoàn truyền thông di động lớn nhất châu Á.  Sau đó, Yello còn đóng vai trò là một vườn ươm doanh nghiệp, thực hiện việc mua lại hay đầu tư vào các startup sau khi họ hoạt động được hai năm và giúp họ tiếp tục phát triển. Chẳng hạn, khi Yello mua lại Coocha vào tháng 5/2013, startup này đã có được 850.000 người sử dụng hàng tháng; ngày nay công ty này đã có trên 3 triệu người sử dụng với doanh thu hơn 800.000 USD/tháng.  Nguồn doanh thu của Yello chủ yếu đến từ hoạt động quảng cáo trên di động. Họ cũng tích cực quảng bá các ứng dụng của mình trên các mạng lưới công ty thành viên. Sức phát triển của Yello cũng được tận dụng từ thị trường mua bán ứng dụng đang hoạt động khá “lờ đờ” tại Hàn Quốc, bởi các đại gia công nghệ như Samsung thường không muốn mua công nghệ từ bên ngoài mà dựa vào các phòng thí nghiệm R&D riêng của mình; hơn nữa, việc hỗ trợ cho các startup ở Hàn Quốc cũng khó khăn hơn so với các khu vực khác trên thế giới như Mỹ.  Mô hình mua lại các startup viễn thông có nhiều triển vọng của CEO Lee cũng tương tự như mô hình mà Yahoo theo đuổi kể từ khi Marissa Mayer lên làm CEO năm 2012. Tính tới nay, Yahoo đã mua lại các startup “hot” như Summly (30 triệu USD), Flurry (240 triệu USD), và Tumblr (1,1 tỉ USD) để hưởng lợi nhuận từ sức phát triển của các startup này. Tuy nhiên, trong trường hợp của Yahoo, do các nhà đầu tư lo ngại về mô hình kinh doanh chính của họ, kéo theo đó là tốc độ phát triển chung yếu kém nên Yahoo không có nhiều hy vọng cho những khoản đầu tư tiếp theo.  Ngược lại, Yello lại đang có đà phát triển thần tốc. Doanh số của họ tăng gần 1.000% hàng năm, đạt 87,3 triệu USD. Công ty này đặt mục tiêu kiếm được 2,7 tỉ USD doanh số và 906 triệu USD lợi nhuận hoạt động tới năm 2019.  CEO Lee cho hay Yello dự định sẽ thực hiện IPO vào năm tới trên sàn Nasdaq hay sàn Kosdaq của Hàn Quốc . Tại một cuộc họp báo diễn ra đầu năm nay, Lee nói: “Chúng tôi không phải là Facebook hay TenCent nhưng chúng tôi đặt mục tiêu muốn sánh vai cùng với họ bằng con đường kết liên minh với các startup. Tôi không có dự định mua lại hay sáp nhập với công ty nào. Tôi muốn Yello trở thành một nhà cung cấp nền tảng di động bằng cách kết hợp với các công ty tương tự mình.”  Nhà đầu tư chính của Yello là Formation 8, một hãng đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại San Francisco. Formation 8 cũng từng đỡ đầu cho nhà sản xuất headset thực tế ảo Oculus Rift trước khi công ty này được Facebook mua lại với giá 2 tỉ USD.  Thu Trang dịch    http://www.forbes.com/sites/insertcoin/2015/12/14/with-100m-in-crowdfunding-star-citizen-may-not-be-a-scam-but-it-feels-like-a-cult/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Yến Hàng, từ bảo tồn đến phát triển      Thời gian qua, nhờ áp dụng các kỹ thuật chuyên ngành như nhân đàn, di đàn, mà tiềm năng phát triển các hang đảo yến Hàng (Aerodramus Fuciphagus Germaimi) vùng duyên hải trên cả nước đang được vực dậy mạnh mẽ.    Là đơn vị dẫn đầu về nghiên cứu khoa học kỹ thuật chuyên ngành yến sào với truyền thống bề dày kinh nghiệm, Công ty Yến sào Khánh Hoà hiện đang làm chủ những bí quyết kỹ thuật trong quản lý, khai thác và phát triển các hang, đảo yến tại Khánh Hòa và trên cả nước với hiệu quả cao.   Hình thành hang, đảo mới           Hơn mười năm  qua, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã phát triển các hang đảo yến mới  từ tám đảo ban đầu với 40 hang lên 29 đảo với hơn 138 hang lớn  nhỏ thuộc vùng biển Khánh Hòa.         Ngay từ năm 2001, Công ty yến sào Khánh Hòa nhận thấy trên các đảo thuộc vùng biển Khánh Hòa vẫn còn một số hang chưa có chim yến sinh sống, nhiều đảo trong tỉnh từ Vạn Ninh đến Cam Ranh có cấu trúc tương đối phù hợp cho yến cư trú nhưng cũng không có chim sinh sống. Công ty tiến hành khảo sát các hang đảo yến từ huyện Ninh Hòa đến thị xã Cam Ranh dài trên 100km, qua đó, nghiên cứu một số các giải pháp nhằm phát triển và nhân đàn chim yến tại các hang chưa có chim thuộc các đảo yến cũ, phát triển các hang yến nhân tạo mới, lập các đảo yến mới.   Để cải tạo các hang, đảo mới phù hợp với điều kiện phát triển đàn chim yến, Công ty đã áp dụng các giải pháp kỹ thuật như:   + Nghiên cứu biện pháp cấu trúc và cải tạo lòng hang đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng; làm mái che chắn mưa, gió; tạo cấu trúc hang kín phù hợp, đảm bảo điều kiện đặc trưng cho đàn chim yến sinh sống.  + Cải tạo đặc điểm riêng biệt của hang như: làm mái che, dọn đá, làm lại mặt bằng lòng hang, dùng vữa với dung dịch đặc biệt chuyên ngành xây kín các lỗ ảnh hưởng vị trí hang, khoan đục đá để tạo cấu trúc hang phù hợp vòng đảo lượn của chim yến.   Di đàn và dẫn dụ  Khi các hang đảo đã đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển đàn chim yến, Công ty tiến hành nghiên cứu giải pháp di dời đàn chim yến sang hang mới, đảo mới qua các biện pháp sau:  + Với những hang có mật độ chim yến quá dày, Công ty áp dụng giải pháp kỹ thuật nhằm di dời đàn chim yến đến hang chưa có chim yến. Điều này giúp cải thiện diện tích sinh sống, môi trường sống của chim yến tại hang cũ, khắc phục hiện tượng các tổ chim làm chồng chéo lên nhau, nâng cao sản lượng và chất lượng của tổ yến.  + Nghiên cứu ấp nở nhân tạo nguồn giống chim yến Hàng thành công để cung cấp cho hang mới phát triển quần thể nhằm tăng số lượng chim yến di đàn đến hang mới, đảo mới.  + Thành lập tổ cứu hộ chim yến con bị rơi xuống đáy hang, đem về nuôi nhân tạo đến khi  trưởng thành thì cho di đàn đến các đảo mới để phát triển hang yến mới.  + Thực hiện biện pháp dẫn dụ chim yến nhằm giữ đàn chim con di dời ở lại đảo mới, hang mới bằng các giải pháp như phun dung dịch đặc trưng hang yến vào vách hang mới, cải tạo độ nhám vách hang phù hợp để chim yến bám sinh sống và làm tổ, gắn tổ chim mô phỏng có mùi đặc trưng trên tổ ấp của chim yến, dùng nguyên liệu phù hợp để chim đeo bám, áp dụng giải pháp âm thanh phức hợp để dẫn dụ chim yến.  Với các giải pháp kỹ thuật này, Công ty đã tiến hành di đàn chim yến thành công đến các đảo: Hải Đăng, Bàng Lớn, Đông Tằm, Mũi Tàu( Nha Trang), đảo Hòn Mai, Hòn Đỏ (Ninh Hòa), Hòn Cò, Hòn Nhàn (Cam Ranh), nâng tổng số hang yến mới lên 98 hang yến. Bên cạnh đó, Công ty thực hiện bảo tồn và phát triển quần thể chim yến Hàng tại Vườn Quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa, Vũng Tàu), Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải trên cả nước.  Tăng mật độ làm tổ        Các công trình sáng kiến và giải pháp trên  đã góp phần hình thành luận điểm khoa học mới:”Sự phát triển quần thể  chim yến Hàng gắn liền với sự hình thành và phát triển hang yến nhân tạo  mới”.         Bên cạnh đó, nhờ thực hiện giải pháp kỹ thuật cải tiến mái che, Công ty đã nâng cao mật độ làm tổ của chim yến tại các hang có cấu trúc hình lòng chảo.   Kỹ thuật này được áp dụng đầu tiên ở hang Trống trên đảo Hòn Ngoại (A1), giúp đưa sản lượng tại hang tăng cao; tốc độ làm tổ của chim yến tại hang cũng tăng mạnh mỗi năm. Sau thử nghiệm thành công tại đảo A1, Công ty tiếp tục tiến hành làm mái che tại nhiều hang có lòng chảo trên các đảo Hòn Nội, Hòn Hố, Hòn Chà Là, Hòn Mun, Hòn Xà Cừ và một số đảo thuộc các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên, Quảng Bình với kết quả rất khả quan.     Hiện nay, công ty đang triển khai áp dụng kỹ thuật di đàn trên diện rộng hơn đối với toàn bộ các hang còn diện tích làm tổ trên vách ở các đảo yến do Công ty quản lý nhằm tăng nhanh số lượng quần thể, bề mặt diện tích làm tổ trên vách hay hang, nâng cao sản lượng yến sào thu hoạch. Nếu như sản lượng nguyên liệu yến sào thu hoạch năm 2001 đạt 2.136 kg thì đến năm 2011, sản lượng thu hoạch tại các đảo yến thiên nhiên Khánh Hòa đã đạt 3.151 kg, tăng trên 1 tấn so với năm 2001.  —  (*) Tổng Giám Đốc Công ty Yến Sào Khánh Hòa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Yêu cầu đổi mới giáo dục ở Hàn Quốc      Hàn Quốc cảm thấy nguy cơ tiềm ẩn trước thềm cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dù trước đây quốc gia này từng có bước phát triển thần kỳ về kinh tế nhờ những nỗ lực to lớn trong đầu tư đổi mới, nâng cao trình độ KH&CN. Bài nói chuyện của GS.TS Ju-Ho Lee, Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Khoa học công nghệ Hàn Quốc chỉ rõ về những thách thức trước mắt mà đất nước ông phải đối diện, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.      Học sinh Hàn Quốc đang bị “đè nặng” bởi áp lực học tập quá lớn, học để thi cử. Ảnh: Học sinh tranh thủ ngủ ngay tại lớp học. Nguồn: abc.net.au.  Hàn Quốc đang có nguy cơ bị hụt hậu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư – sẽ gây ra sự tách biệt rõ ràng người chiến thắng và kẻ thua cuộc giữa các quốc gia. Cụ thể, một số ngành công nghiệp như đóng tàu, thép, hóa dầu đã không còn đảm bảo tính cạnh tranh trong một thị trường đã bão hòa. Mặc dù Hàn Quốc vẫn duy trì khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực bán dẫn, màn hình, ô tô, máy móc, điện thoại di động và thiết bị gia dụng nhưng cũng đang phải đối mặt với tình trạng thị trường dần bão hòa, trong khi các nước như Trung Quốc đang nhanh chóng bắt kịp. Chỉ trong các ngành công nghiệp mới như năng lượng tái tạo, công nghệ thông tin và truyền thông, y tế, vật liệu mới tiên tiến, hàng tiêu dùng cao cấp thì nhiều công ty Hàn Quốc đang thể hiện tiềm năng. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực chính yếu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư như Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và ô tô tự lái thì các công ty Hàn Quốc chưa thể đảm bảo tính cạnh tranh.  Những điều đó đặt ra yêu cầu phải thay đổi đối với Hàn Quốc. Để tạo công việc và tăng trưởng liên tục, Hàn Quốc cần chuyển vị thế từ “người theo nhanh” trở thành “người dẫn đầu”. Cụ thể hơn, cần phải có một bước tiến xa, từ việc trước đây chỉ chế tạo các sản phẩm tốt do nước khác thiết kế cho tới việc tạo ra các sản phẩm, ngành công nghiệp hoặc nền tảng hoàn toàn mới. Để làm được điều này, rất cần thiết phải xây dựng hệ sinh thái sáng tạo của “người dẫn đầu” và cải cách về hệ thống giáo dục trong nước.  Trong hệ thống sinh thái sáng tạo của “người theo nhanh” Hàn Quốc, các công ty tăng tính cạnh tranh quốc tế bằng cách tiếp thu kĩ năng của các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, hệ sinh thái sáng tạo của “người dẫn đầu” đòi hỏi quá trình sáng tạo liên tục để cho ra đời các sản phẩm mới, nền tảng và ngành công nghiệp mới dựa trên các nghiên cứu – có thể mang tính rủi ro cao. Quá trình mới này đòi hỏi các nghiên cứu cơ bản tiếp tục đóng vai trò nền tảng cho tới giai đoạn cuối của sáng tạo, thay vì xa rời nghiên cứu ứng dụng hay giai đoạn thương mại hóa của các doanh nghiệp. Do đó, nhiều trường đại học nghiên cứu đang được chuyển đổi thành các trung tâm đổi mới của hệ sinh thái với việc thúc đẩy nghiên cứu lấy cảm hứng từ sử dụng, giáo dục về kinh doanh và hỗ trợ khởi nghiệp. Hệ sinh thái sáng tạo này đòi hỏi chính phủ phải tập trung nuôi dưỡng hệ sinh thái cho phép các công ty, trường học và viện nghiên cứu nhà nước phụ trách hợp tác và sáng tạo dựa trên sự cởi mở và tính tự chủ lớn hơn.  Cần phải đổi mới giáo dục vì nền giáo dục Hàn Quốc đang trang bị cho học sinh sinh viên phương pháp học “thụ động” thay vì suy nghĩ sáng tạo. Học sinh Hàn Quốc đang bị “đè nặng” bởi áp lực học tập quá lớn, học để thi cử. Thậm chí, giáo dục Hàn Quốc đang đứng trước nguy cơ chỉ có sự gia tăng về “lượng”. Các học sinh Hàn Quốc học toán trung bình 9,32 giờ/tuần, nhiều hơn mức trung bình của OECD (6,83 giờ/tuần), Phần Lan (5,02 giờ/tuần). Sinh viên Hàn Quốc còn phải học ngoài giờ ở trường, học gia sư, trung bình khoảng 2,28 giờ/tuần, nhiều hơn mức trung bình của OECD (1,07 giờ/ tuần), Phần Lan (0,37 giờ/tuần). Sinh viên Hàn Quốc tự học toán bao gồm làm bài tập về nhà 2,31 giờ/tuần, nhiều hơn Phần Lan (1,2 giờ/tuần). Điều gì sẽ xảy khi trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hàn Quốc đặt yêu cầu phải trở thành “người dẫn đầu” nhưng trên thực tế học sinh chỉ được đào tạo để trả lời mà không phải là đặt câu hỏi? Khi đó, số lượng năm tháng học tập của học sinh sẽ không có ý nghĩa cho việc bồi đắp nguồn vốn con người.  Do đó, hệ thống giáo dục Hàn Quốc phải chuyển đổi: chuyển mục tiêu từ học để kiểm tra sang học để hiểu, có hứng thú và có khả năng học tập suốt đời; học “hời hợt” chỉ nhằm học thuộc lòng để thi cử sang học theo chiều sâu; về phương pháp, chuyển từ học theo chiều dọc sang học theo chiều ngang (học sinh sinh viên cùng xác định và giải quyết vấn đề chứ không nghe giảng thụ động, đây là những kỹ năng rất quan trọng cần có trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư).  Thu Quỳnh lược ghi theo phát biểu của GS.TS Ju-Ho Lee tại Worldbank Việt Nam ngày 15/6/2017.       Author                Ju-Ho Lee        
__label__tiasang Yêu khách hàng thay vì yêu sản phẩm      Sau bài thứ nhất về đi tìm lợi thế cạnh tranh khó bắt chước nhất, chúng tôi nhận được sự phản hồi từ nhiều startup đã từng thất bại và đóng cửa dự án, cho rằng mạch phân tích kỹ thuật là cần thiết để thực sự học hỏi được từ thất bại của người khác. Nhiều startup cho rằng mình cũng có những câu chuyện tương tự, vì vậy soi rọi lại qua thất bại của người khác sẽ giúp mình thực sự hiểu mình thất bại vì cái gì cụ thể. Bài học thành công có thể giống nhau: chăm chỉ, lắng nghe v..v. nhưng bài học thất bại thì lại muôn hình muôn vẻ. Trong bài viết số 2, chúng tôi cùng bạn phân tích chuỗi “thất bại tinh gọn” của một sản phẩm trong lĩnh vực thực phẩm.      Người sáng lập đã cải tiến vỏ của nem truyền thống để khi chế biến không cần chiên, rán.  Ở một đất nước với thế mạnh nông nghiệp và ẩm thực, việc xuất phát công việc kinh doanh từ thực phẩm là điều khá phổ biến. Song đi từ thế mạnh của một thị trường bản địa sang câu chuyện của mô hình kinh doanh nhân rộng ra được và lặp lại được là cả một vấn đề. Câu chuyện của sản phẩm này chưa có hồi kết, nhưng những thành công nhỏ ban đầu của nó chứng minh một điều rằng, dũng cảm từ bỏ định hướng ban đầu, đặt tình yêu vào khách hàng chứ không phải vào sản phẩm là một “thất bại tinh gọn”.  Xuất phát điểm của dự án  NemZone là một dự án tái sinh từ một sản phẩm đã từng rất nổi tiếng trên thị trường Việt Nam, được khách quốc tế vô cùng ưa chuộng, vốn phải đóng cửa do tốc độ mở rộng quá nhanh và khó kiểm soát chất lượng. NemZone trở lại sau nỗ lực của Vũ Thái Hà về việc phát triển sản phẩm lấy cảm hứng từ nem truyền thống nhưng phải cải tiến để đưa đến cho người tiêu dùng một món ăn không chiên rán, lành mạnh và tốt cho sức khỏe.  Sau rất nhiều thử nghiệm, Hà quyết định phát triển sản phẩm mới với thông điệp mới: sản phẩm lành mạnh cho sức khỏe, không dùng dầu chiên rán. Từ thành công cũ của mình, có nhiều lý do khiến Hà tin tưởng rằng, con đường phát triển một nhà hàng là hướng đi đúng đắn và chắc chắn sẽ giúp NemZone có những bước tiến mới. Chọn địa điểm trên phố cổ, Hà quyết định mở lại nhà hàng với phân khúc khách hàng mục tiêu là nhóm văn phòng công sở độ tuổi từ 25-45, thu nhập từ 8 triệu/tháng trở lên.  Hiểu về vấn đề của khách hàng và Tình yêu với sản phẩm  ● Vấn đề với nem truyền thống: món ăn cầu kỳ, phức tạp, chế biến theo ngày và ít lựa chọn.  ● Có rất nhiều bạn bè là nhóm văn phòng công sở khiến Hà nhận ra đặc điểm chung của nhóm này là nỗi sợ ăn nhiều và bị béo. Với những hiểu biết về thị trường của nhóm văn phòng công sở, Hà cũng nhận ra rằng, họ cần những không gian yên tĩnh, có thể nói chuyện, cần được phục vụ chu đáo.  ● Là người quyết tâm xây dựng một thương hiệu đồ ăn nhanh của Việt Nam, phát triển một sản phẩm lành mạnh cho sức khỏe, Hà tin rằng sản phẩm nem có rất nhiều đất sống. Nem của Nemzone được đổi mới sáng tạo từ nhân, cải tiến vỏ, phương pháp chế biến hạn chế rán và chuyển sang nướng. Là một sản phẩm tiên phong trong bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng chắc chắn sẽ giúp doanh nghiệp thành công. Từ chối mọi đề nghị phát triển dòng sản phẩm nem rán vốn rất thành công, Hà tập trung hoàn toàn cho nem nướng.    Không gian cửa hàng của NemZone.  Tiến triển của dự án  ● Nhà hàng có những bước thành công khi số lượng khách đến ăn khá đều đặn. Đặc biệt là những khách nước ngoài đến ăn đều rất ấn tượng và yêu sản phẩm, có những phản hồi vô cùng tích cực về sự lành mạnh của đồ ăn, thái độ phục vụ tốt của nhà hàng.    ● Tuy nhiên trên thực tế, doanh thu của nhà hàng không ổn định và không tăng trưởng đột biến như chủ doanh nghiệp dự tính ban đầu  ● Việc tính toán mở một nhà hàng khác là bất khả thi do nhà hàng đầu tiên chưa đạt hiệu quả như mong muốn, doanh thu sẽ không tăng lên mà có nguy cơ giảm xuống.  Xây dựng – Đo lường – Học hỏi  Ở thế tiến thoái lưỡng nan, chủ doanh nghiệp đồng ý suy nghĩ một số câu hỏi Huấn luyện viên của chúng tôi đặt cho doanh nghiệp và sẽ tự trả lời theo thời gian.  Câu hỏi 1: Dòng doanh thu của doanh nghiệp đến từ những nguồn nào?  Trên thực tế, doanh thu của doanh nghiệp đến từ ba nguồn là: khách đến ăn tại nhà hàng; khách đặt cho sự kiện và khách hàng mua về tự nướng ở nhà. Việc nhìn nhận kỹ lại dòng doanh thu đến từ ba nhóm khách hàng giao động qua thời gian giúp doanh nghiệp nhận ra rằng, doanh thu đến thừ nhóm thứ ba đang có xu hướng gia tăng trong khi nhóm một có xu hướng thu hẹp lại và biến động theo thời tiết. Ví dụ những ngày nắng nóng, số lượng khách hàng đến với nhà hàng sụt giảm hẳn trong khi số người gọi giao hàng tận nơi lại tăng lên.  Câu hỏi 2: Điểm yếu nào của việc theo đuổi nhóm khách hàng hiện tại đang khiến doanh nghiệp không mở rộng ra được?  Việc đưa ra định hướng tập trung vào nhóm đầu tiên gặp phải những cản trở rất lớn như:  ● Nhạy cảm về giá (có khuyến mại nhiều thì mới dùng sản phẩm, không có khuyến mại sẽ không chủ động). Với tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành giao động từ 20-30%, việc khuyến mại liên tục là điều không thể và có thể giết chết doanh nghiệp do cạn dòng tiền.  ● Bị giới hạn về địa điểm: chỉ có mở rộng ra nhiều địa điểm thì doanh nghiệp mới mong phủ được nhóm thị trường này, còn nếu chỉ có 1 địa điểm thì không thể nào hút được những khách hàng ở xa đến với nhà hàng  ● Độ trung thành với sản phẩm không cao: trên thực tế cho thấy, do nhạy cảm về giá và đặc tính thay đổi thường xuyên về thử món mới, rất khó có sự trung thành của nhóm này. Vì vậy kỳ vọng về việc họ trở thành những khách hàng trung thành thường xuyên hằng ngày hoặc hằng tuần là khó.  Câu hỏi 3: Từng nhóm khách hàng thích sản phẩm nhất về điểm nào?  Sau khi xác định rõ cả 3 nhóm khách hàng, chủ doanh nghiệp đồng ý tiến hành phỏng vấn những nhóm khách hàng khác nhau để thực sự tìm ra được khách hàng thích nhất sản phẩm ở điểm nào.    Hiện nay, doanh nghiệp này đang chuyển sang nhóm khách hàng hộ gia đình, đặc biệt là trẻ nhỏ.    Kết quả của khảo sát cho thấy, điểm mà Nhóm khách hàng 1 thích nhất là đồ ăn sạch, không gian không quá đông đúc, đồ ăn lạ, giá vừa phải, hay có khuyến mại. Nhóm khách hàng 2 thích nhất là sản phẩm được trình bày đẹp mắt, ăn lạ và ngon miệng, người tham dự sự kiện rất hài lòng, góp phần vào thành công trong trải nghiệm của sự kiện. Nhóm khách hàng 3 thích nhất là sản phẩm vô cùng tiện lợi, chỉ mất 12 phút nướng là trẻ em trong gia đình có cái ăn ngay, và trẻ em ăn nhiều nhưng không bị ngấy, nhiều nhà đã sử dụng làm bữa sáng do đủ dưỡng chất.  Thất bại tinh gọn  Khác với những gì chủ chủ doanh nghiệp quan niệm, trong số những lý do mà khách hàng chọn sản phẩm của Nemzone, không hề có lý do “tốt cho sức khỏe”, “không lo béo” mà người sáng lập NemZone tự hào. Hơn thế nữa, đa số khách hàng không quá mặn mà với việc đến quán, nếu cứ tập trung vào phục vụ họ và tham vọng mở rộng nhiều cửa hàng không phải là một phương án khả thi. Người mua hàng cuối cùng lại không phải là nhóm văn phòng, công sở mà lại là hộ gia đình, trẻ em. Có thể với một huấn luyện viên, việc tìm ra được những điểm khách hàng thích khác hoàn toàn so với những giá trị mà doanh nghiệp nghĩ là một thành công, chúng tôi gọi đó là những “wow moment” (điểm bừng sáng) nhưng trên thực tế, với chủ doanh nghiệp đó là một thời điểm vô cùng khó khăn. Chấp nhận từ bỏ tạm thời tình yêu với những giá trị mình sáng tạo ra để tập trung vào những giá trị mà khách hàng theo đuổi là một “thất bại”, điều đó đồng nghĩa với trước đây bạn nghĩ sai. Chấp nhận mình sai không phải là dễ dàng. Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp có tâm lý, khách hàng thiếu hiểu biết nên chưa hiểu cái hay của sản phẩm của mình chứ không phải mình sai.  Sau một thời gian quan sát và suy nghĩ nghiêm túc về các câu hỏi và cùng phân tích cấu trúc chi phí, chủ doanh nghiệp đã đưa ra một hướng đi hoàn toàn mới cho doanh nghiệp của mình dựa trên những con số. Phân khúc tiềm năng giúp doanh nghiệp mở rộng được chính là nhóm thứ 3, các hộ gia đình mua về để làm đồ ăn nhanh và phục vụ bữa ăn chính. Phát triển chiến lược marketing mới và kênh bán hàng mới cho phân khúc khách hàng này khó thực hiện trong một sớm một chiều nhưng sự thay đổi đã mang lại cho doanh nghiệp những kết quả rất khả quan về doanh thu, mức độ trung thành và sự ổn định của tương tác. Các kênh bán hàng trực tuyến cũng được tối ưu hóa. Tập trung vào đúng 3 giá trị mà khách hàng đánh giá cao nhất là tiện dụng, lành mạnh, ngon và đẹp doanh nghiệp đã cho ra đời rất nhiều các sản phẩm dịch vụ mới đa dạng và được đón nhận.  Chưa phải là một kết thúc về một thành công rực rỡ, mọi mô hình đều cần thời gian để kiểm chứng và tiếp tục điều chỉnh, nhưng “thất bại tinh gọn” của NemZone chứng minh cho một điều, để đến được những thành công nhỏ, bạn cần học và lắng nghe từ những thất bại nhỏ (nếu bạn nhận ra đó là thất bại). Khó khăn hơn cả là khi chủ doanh nghiệp phải đối diện với chính bản thân mình, bảo thủ giữ lại những giá trị mà mình cho là đúng hay thực sự yêu và lắng nghe những giá trị khách hàng cho là đúng. Điều ngạc nhiên với NemZone chính là sau một thời gian sử dụng, rất nhiều người bắt đầu nhận ra sản phẩm rất lành mạnh cho sức khỏe do không phải chiên rán. Trên thực tế, không phải bạn sai hay đúng mà là vấn đề thời điểm. Nếu sản phẩm của bạn mới và thị trường cần giáo dục, thì chấp nhận định hướng ban đầu của mình sai và điều chỉnh lại cũng không phải là một lựa chọn tồi. Quan trọng nhất là bạn đặt khách hàng vào trung tâm để lái chiếc xe khởi nghiệp của mình trên con đường ấy. Chủ doanh nghiệp cũng chia sẻ với chúng tôi khi nhận ra điều này: “thật may mắn vì đã nhận ra rằng định hướng ban đầu là sai lầm sớm. Nếu dồn toàn bộ tâm sức để đi thuyết phục khách hàng về những giá trị mà chính họ chưa nhận ra, rồi quên đi những vấn đề lớn hơn của họ, thì chúng tôi sẽ còn sai lầm hơn nữa”.    Author                Nguyễn Đặng Tuấn Minh        
__label__tiasang Yozma, nền tảng ngành đầu tư mạo hiểm Israel      Cũng giống như Việt Nam, Israel từng có những nỗ lực ươm tạo các doanh nghiệp công nghệ dựa vào nguồn lực của Nhà nước. Tuy nhiên, thành công chỉ thực sự đến sau khi chính phủ giao phó nguồn lực của mình cho một tổ chức đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp, đó là Yozma, trụ cột đầu tiên của ngành đầu tư mạo hiểm ở quốc gia này.     Quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Yozma, có tên gọi Yozma I, được thành lập năm 1993, là quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Israel, có nguồn gốc từ một chương trình của chính phủ – giá trị nguồn vốn ban đầu được chính phủ Israel đổ vào Yozma là 100 triệu USD – nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường đầu tư mạo hiểm ở Israel. Vào lúc này, tại Israel đã có một số quỹ đầu tư mạo hiểm, nhưng nguồn lực và sự hỗ trợ dành cho các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp trong giai đoạn mới hình thành, còn rất thiếu.   Trong vòng 2 năm kể từ khi thành lập, Yozma đã thành lập ra 10 quỹ con, mỗi quỹ có nguồn vốn 20 triệu USD. Để thu được nguồn vốn này, ngoài nguồn tiền từ chính phủ Israel, các quỹ còn thu hút thêm hàng trăm triệu USD từ khu vực tư nhân. Đó là nhờ chính sách của chính phủ Israel, cho phép mỗi quỹ con của Yozma đều có quyền bán lại cổ phần của Nhà nước, với mức giá tương đương chi phí Nhà nước bỏ ra cộng thêm lãi suất, qua đó mở đường cho việc tư hữu hóa Yozma. Chương trình cũng yêu cầu mỗi quỹ con đều phải hợp tác với các tổ chức tài chính của nước ngoài là những công ty đầu tư mạo hiểm giàu kinh nghiệm.          “Yozma giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trên mọi khía cạnh của doanh nghiệp: kết nối với các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế, đóng góp tích cực vào xây dựng chiến lược phát triển, hỗ trợ thu hút, tuyển dụng những giám đốc điều hành hàng đầu, và chắp cánh cho chúng tôi chinh phục thị trường Mỹ. Tôi không thể hình dung một nhà đầu tư nào khác hữu ích và quyết tâm cao như vậy” (Eldad Maniv, nhà sáng lập và điều hành NextNine Ltd.).        Kết quả là tới năm 1998, khi thị trường đầu tư mạo hiểm ở Israel đã phát triển đủ lông đủ cánh thì toàn bộ Yozma cũng được tư hữu hóa thành công. Đến nay, Yozma cùng các quỹ con của mình vẫn tiếp tục đóng vai trò trụ cột cho ngành đầu tư mạo hiểm của Israel. Thu hút được sự hậu thuẫn từ các nhà đầu tư trong nước phối hợp với các nhà đầu tư uy tín từ Mỹ và châu Âu, Yozma đã hình thành nên quỹ mẹ thứ hai, Yozma II, vào tháng 9 năm 1998, và tới năm 2002 tiếp tục hình thành Yozma III. Đến nay, cả ba quỹ mẹ của Yozma quản lý tổng cộng 220 triệu USD, được đầu tư vào 50 công ty chưa lên sàn. Nhiều trong số các công ty này sau khi được đầu tư đã lên các sàn chứng khoán ở Mỹ và châu Âu. Nếu như tới cuối thập kỷ 1980 số lượng các công ty Israel được chào bán lần đầu trên sàn chứng khoán NASDAQ của Mỹ còn không đáng kể, thì đến nay con số này đã đứng hàng thứ 3, chỉ sau số lượng doanh nghiệp chào bán lần đầu của Mỹ và Canada.    Chiến lược đầu tư vào các doanh nghiệp   Yozma có mối quan hệ mật thiết với mạng lưới 20 vườn ươm công nghệ trên khắp Israel. Lợi thế này gắn liền với thực tế là các thành viên cao cấp của Yozma đều từng tham gia vào quá trình xây dựng và triển khai Chương trình Ươm tạo Công nghiệp và Công nghệ Israel, trong đó có tới 1500 nhà khoa học và 300 dự án được triển khai trên toàn đất nước. Nhờ vậy, Yozma có thể thường xuyên theo sát các vườn ươm tạo công nghệ của Israel và chọn ra những doanh nghiệp có tiềm năng cao nhất.  Yozma chủ yếu đầu tư vào các doanh nghiệp trong những lĩnh vực công nghệ mà Israel có thế mạnh như công nghệ thông tin, truyền thông, và y tế. Trong đó chú trọng vào những doanh nghiệp phát triển công nghệ và hạ tầng. Yozma thường lựa chọn đầu tư vào những doanh nghiệp có năng lực chuyên sâu trong nghiên cứu công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, và có ý thức vươn xa ra thị trường quốc tế.  Sự hỗ trợ của Yozma xuyên suốt các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, nhưng tập trung nhiều vào giai đoạn khởi đầu. Các khoản đầu tư ban đầu thường có quy mô từ 1 tới 6 triệu USD, và có thể tiếp tục được đầu tư bổ sung trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của doanh nghiệp.           “Là nhà đầu tư Israel duy nhất trong công ty, Yozma thực sự là một đối tác hữu ích, hỗ trợ chúng tôi từ những ngày đầu tiên cho tới khi công ty được tập đoàn Johnson & Johnson mua lại với giá gần nửa tỷ USD. Đồng thời mối quan hệ đặc biệt với Yozma trở thành động lực tự nhiên thôi thúc chúng tôi quay trở lại tiếp tục tái đầu tư mạo hiểm [tại Israel]” (GS. Shlomo Ben Haim, nhà sáng lập và điều hành BioSense).          Lý do Yozma chọn đầu tư vào những doanh nghiệp khởi nghiệp vì đây là những đối tượng mà Yozma có thể đóng góp giá trị gia tăng cao nhất. Tuy nhiên, Yozma cũng đầu tư cả vào những doanh nghiệp đã trưởng thành có nhiều tiềm năng tiếp tục phát triển. Trong mọi trường hợp, các quyết định đầu tư của Yozma đều được thực hiện sau một quy trình thẩm định (due diligence) kỹ lưỡng.  Mỗi khi xác định được một doanh nghiệp tiềm năng, các giám đốc phụ trách của Yozma sẽ tập trung vào đánh giá, phân tích, trước khi quyết định tiến hành thẩm định doanh nghiệp (due diligence) một cách kỹ lưỡng, bao gồm nghiên cứu thẩm định về quản lý, thị trường, mô hình kinh doanh, công nghệ, và các đối thủ cạnh tranh. Các tiêu chí cần thiết đề một doanh nghiệp được lựa chọn đầu tư bao gồm:  Có thị trường tiềm năng đáng kể, và doanh nghiệp có những tố chất cần thiết để dẫn đầu thị trường về vị thế thị phần;  Bộ máy quản lý có đủ năng lượng thực hiện kế hoạch kinh doanh và hài hòa trong kỹ năng đầu tư kinh doanh cũng như quản trị;  Sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng rộng rãi và tính năng không dễ bị sao chép bởi các đối thủ cạnh tranh.  Yozma sẽ cử các giám đốc điều hành của mình trực tiếp tham gia vào hội đồng quản trị của công ty được góp vốn đầu tư, đồng thời đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ tuyển dụng những nhân sự giàu năng lực đóng vai trò làm nhà quản lý cao cấp, các thành viên hội đồng quản trị, và các chuyên gia công nghệ. Yozma cũng giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển, và huy động thêm vốn từ khu vực tư nhân và thị trường tài chính, thu hút các nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư tài chính, và hỗ trợ mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài cho doanh nghiệp.    Các cố vấn và mạng lưới đối tác rộng khắp  Nhờ mạng lưới quan hệ và đối tác rộng khắp ở Mỹ và châu Âu, Yozma đã giúp các doanh nghiệp của mình thu hút và lựa chọn những nhà đầu tư quốc tế hàng đầu, trong đó có các tập đoàn lớn trên thế giới như America On Line, Cisco, Computer Associates, ECI Telecom, General Instruments, Johnson & Johnson, Medtronic, Microsoft, Sequoia Capital hay Benchmark.  Nhiều doanh nghiệp và tổ chức hàng đầu ở Israel trong các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ, tài chính rất quan tâm tới Yozma và trở thành những nhà đầu tư tham gia vào các quỹ Yozma II. Đáng kể như Tập đoàn Ofer là tập đoàn công nghiệp và công nghệ hàng đầu của Isarel với tổng tài sản toàn cầu trên 6 tỷ USD. Tập đoàn này chiếm cổ phần chi phối trong  United Mizrahi Bank (ngân hàng lớn thứ 4 của Israel) và công ty Israel Corp., một trong những công ty hàng đầu ở Israel đầu tư vào công nghệ bán dẫn, viễn thông, hóa chất, đóng tàu, dầu mỏ, và năng lượng, với tổng doanh thu hằng năm đạt trên 5 tỷ USD.           “Năm 1993,  tôi tìm đến Yozma với một mảnh giấy tóm tắt ý tưởng cung cấp dịch vụ  điện thoại qua cáp quang. Yozma đã có một kế hoạch giúp tôi chuyển ý  tưởng này thành một doanh nghiệp trong thực tế, đóng vai trò quyết định  trong việc thiết lập một nhóm các nhà đầu tư ban đầu cho Telegate. Qua 6  năm đầy thách thức, Yozma đã thể hiện một quyết tâm sắt đá đối với  doanh nghiệp của chúng tôi cho tới khi ước mơ biến thành hiện thực: sau  khi cổ phần của doanh nghiệp được bán lại với giá hàng trăm triệu USD  cho Telcos, toàn bộ doanh nghiệp đã được bán lại thành công cho Terayon  Communicationsi” (Ehud Iloni, nhà sáng lập và điều hành Telegate).        Bên cạnh đó, Yozma còn có một nhóm các nhà tư vấn giàu năng lực, am hiểu các ngành công nghiệp, thị trường tài chính, và giới nghiên cứu. Hội đồng tư vấn của quỹ Yozma II là những cá nhân có uy tín trên thế giới, có thể được coi là những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực của họ. Ví dụ như Yigal Erlich, người kiến tạo nên thị trường đầu tư mạo hiểm của Israel; Frederick Frank, Phó chủ tịch và Giám đốc Tập đoàn Lehman Brothers, một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các dịch vụ đầu tư và ngân hàng phục vụ các ngành công nghệ dược – dinh dưỡng, công nghệ sinh học, thiết bị y tế;  Moshe Stark, cựu Tổng Giám đốc Intel ở Israel, từng là nhà quản lý nhiều tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới; Giáo sư Itzhak Kronzon, của Đại học New York, một chuyên gia y dược nổi tiếng thế giới. Họ là những người hỗ trợ đắc lực cho Yozma trong quá trình thẩm định chuyên sâu về các doanh nghiệp, công nghệ, và các dự án đầu tư, đồng thời giúp tối đa hóa kết quả đầu ra cho các doanh nghiệp được đầu tư.  Kết luận  Thành công của Yozma đến cùng với những điều kiện thuận lợi khách quan, như sự trùng hợp với thời kỳ hàng loạt nhân lực trình độ cao gốc Do Thái từ các nước thuộc Liên Xô cũ di cư đến Israel, đồng thời những thay đổi đầu thập kỷ 1990 về đặc thù chính trị, kinh tế, văn hóa tại Israel càng tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp và các nhà đầu tư mạo hiểm. Trong khi đó trên bình diện toàn cầu, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin và truyền thông mở ra nhiều cơ hội, phù hợp với thế mạnh công nghệ của Israel, và Yozma cũng được hưởng lợi đáng kể từ sự phát triển đi lên của sàn chứng khoán NASDAQ ở Mỹ.    Tuy nhiên, yếu tố then chốt làm nên thành công cho Yozma là con người, với đội ngũ chuyên gia giàu năng lực, kinh nghiệm trong các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ, tài chính, đồng thời có mối quan hệ rộng rãi để kết nối hiệu quả với các đối tác trong và ngoài nước. Sự hình thành các quỹ con của Yozma gắn liền với quá trình phát triển nhân lực quản lý cốt lõi. Qua quá trình tích lũy kinh nghiệm, đội ngũ nhân lực cốt lõi này tiếp tục mở rộng hoạt động để hình thành thêm những quỹ mới – trung bình mỗi quỹ con của Yozma kéo theo hình thành từ 2 tới 3 quỹ bên ngoài.  Như vậy, qua quá trình hình thành và phát triển, Yozma đã không chỉ đáp ứng mục tiêu ban đầu là hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, mà còn giúp xây dựng đội ngũ chuyên gia quản lý và tư vấn giàu kinh nghiệm, khắc phục những thiếu sót ban đầu của thị trường đầu tư mạo hiểm, thu hút nguồn lực tư nhân tạo động lực hình thành một thị trường đầu tư mạo hiểm hoàn thiện và sôi động như ngày nay.          Thanh Xuân  tổng hợp từ trang điện tử của Yozma (www.yozma.com) với nhiều dữ liệu được cung cấp từ Zafrir Asaf, Bí thư thứ nhất phụ trách kinh tế của Đại sứ quán Israel tại Việt Nam        Yigal Erlich, cha đẻ của dự án Yozma                Yigal Erlich có thể coi là người kiến tạo ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm của Israel là một trong những nhân vật nhiều ảnh hưởng nhất trên đấu trường công nghệ cao của Israel trong vòng 15 năm trở lại đây. Ông là người đứng ra thành lập Hiệp hội Đầu tư mạo hiểm Israel, và giữ chức Chủ tịch hiệp hội này.              Từ đầu thập kỷ 1990, Erlich đã nhận ra nhu cầu vô cùng cấp bách của Israel là thúc đẩy phát triển ngành đầu tư mạo hiểm, trong khi thị trường đang bất lực trước nhu cầu này. Cuối năm 1992, Erlich thuyết phục chính phủ Israel đầu tư 100 triệu USD cho dự án Yozma. Sau đó trong vòng ít năm, Erlich cùng các cộng sự chủ chốt tại Yozma đã thành lập 10 quỹ đầu tư mạo hiểm, trong đó có Gemini, JPV, Nitzanim (Concord), Polaris, STAR và Walden Israel. Chúng tạo thành xương sống cho thị trường đầu tư mạo hiểm tại Israel ngày nay.    Yigal Erlich là ai?              Erlich có bằng cử nhân và thạc sĩ ngành hóa học, và bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh từ Đại học Hebrew ở Jerusalem. Ông là Giám đốc Khoa học (Chief Scientist) của Viện Công thương Israel từ 1984 tới 1992. Trong tám năm ở vị trí này, hằng năm ông phụ trách quản lý một ngân sách trị giá 200 triệu USD, chủ yếu dành cho các dự án nghiên cứu và phát triển của các công ty công nghệ. Erlich đồng thời cũng là người đề xuất thành lập chương trình Công nghệ chung nhằm tăng cường mối hợp tác giữa doanh nghiệp với các đại học và viện nghiên cứu của Israel và thế giới trong các hoạt động R&D dài hạn.               Đặc biệt là Chương trình Ươm tạo Công nghiệp của Israel do Erlich khởi lập, đã tạo ra 24 trung tâm ươm tạo trên khắp đất nước. Ông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập một số thỏa thuận hợp tác trong R&D cho các ngành công nghiệp và công nghệ mang tính song phương giữa Israel và các quốc gia Canada, Pháp, Hà Lan, Singapore, và Tây Ban Nha. Erlich là Chủ tịch Ủy ban Điều hành Quỹ Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Mỹ – Israel, và là Phó Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia của Israel cho tới năm 2010, cùng nhiều chức vụ quan trọng tại một số tập đoàn, tổ chức công nghệ khác. Ông cũng là nhà tư vấn cao cấp cho một số chính phủ như New Zealand, Hàn Quốc, Canada, Latvia, Slovakia, Estonia, và là thành viên hội đồng quản trị Công ty Đầu tư Mạo hiểm Nga (RVC), là một quỹ đầu tư của chính phủ Nga quản lý số vốn lên tới 1 tỷ USD.                Từ tháng 10 năm 2010 tới tháng 6 năm 2011, Erlich là chủ tịch một ủy ban trong chương trình Eureka, có mục tiêu tạo ra những đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính. Ông cũng tham gia các dự án chuyển giao kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel cho các nước châu Âu, và tư vấn cho Ngân hàng Thế giới trong việc thực thi các chính sách và giám sát hiệu quả đầu tư mạo hiểm ở Tây Trung Quốc.          —    1 Bản thân Terayon Communications, một tập đoàn cung cấp dịch vụ cáp quang của Israel tới năm 2006 cũng được Motorola thâu tóm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Yuan Cao: Tiên phong về graphene      Dù mới là nghiên cứu sinh, Yuan Cao đã khám phá được tính siêu dẫn từ các tấm carbon có độ dày cỡ một nguyên tử.      Yuan Cao và giáo sư Pablo Jarillo-Herrero tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Nguồn: MIT News  Yuan Cao trải qua thời kỳ niên thiếu một cách bình thường: tốt nghiệp THPT ở tuổi 18, anh thi vào trường đại học KH&CN Trung Quốc ở Hợp Phì rồi tới Mỹ làm nghiên cứu sinh. Nhưng rồi mọi thứ đã khác: năm 2018, ở tuổi 21, Yuan Cao đã có hai công bố về tính chất kỳ lạ của các lớp carbon có độ dày cỡ nguyên tử có khả năng thúc đẩy một lĩnh vực mới của vật lý. Mặc dù biết khả năng khác thường của mình nhưng Cao vẫn nói mình không có gì đặc biệt. Anh vẫn theo học tại trường đại học và “chỉ bỏ qua những thứ nhàm chán lúc học trong trường cấp hai”.   Vào năm 2014, nhóm nghiên cứu của giáo sư Pablo Jarillo-Herrero tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge vừa mới chuyển sang nghiên cứu về những góc độ khác nhau của những tấm carbon quay và xếp lớp khi Cao tham gia nhóm. Công việc của Cao là tìm hiểu những gì diễn ra trong các chồng hai lớp khi một tấm graphene xoắn hờ lấy một tấm khác, vốn được một lý thuyết dự đoán là có thể làm thay đổi một cách hoàn toàn tính chất của loại vật liệu này.  Nhiều nhà vật lý đã hoài nghi về ý tưởng đó nhưng khi Cao thiết lập cách tạo ra các chồng hai lớp xoắn tinh tế, anh đã chỉ ra những điểm kỳ lạ. Tiếp xúc với một điện trường có cường độ nhỏ và được làm lạnh đến 1,7 độ trên độ không tuyệt đối, vật liệu graphene này – thông thường vẫn dẫn điện– trở thành một thứ vật chất có tính cách điện (Y. Cao et al. Nature 556, 80–84; 2018: trong công bố này, Cao là tác giả thứ nhất). Bản thân điều đó đã đủ gây ngạc nhiên. “Chúng tôi biết, công bố này có thể tạo ra một tác động lớn vào cộng đồng khoa học”, Cao nói. Nhưng sau đó còn một công bố xuất sắc hơn: với một chỉnh sửa nhỏ về điện trường, các phiến graphene xoắn này đã trở thành chất siêu dẫn, cho phép dòng điện truyền qua mà không bị cản trở (Y. Cao et al. Nature 556, 43–50; 2018: trong công bố này, Cao là tác giả chính). Phải đến khi quan sát hiệu ứng này trong mẫu thử thứ hai, nhóm nghiên cứu của Pablo Jarillo-Herrero mới tin điều đó là sự thật.  Khả năng đưa lớp carbon có độ dày cỡ một nguyên tử vào một trạng thái electron phức hợp thông qua một phép quay đơn giản hiện giờ khiến các nhà vật lý tập trung vào việc tìm ra các trạng thái thú vị trong những vật liệu hai chiều khác. Một số nhà vật lý thì hi vọng là graphene có thể gợi ý cho những vật liệu phức tạp hơn như siêu dẫn tại các nhiệt độ cao hơn nhiều. “Chúng tôi còn có thể làm nhiều điều nữa. Giờ có vô số các cơ hội trong tầm tay”, Cory Dean, một nhà vật lý tại trường đại học Columbia tại New York, nhận xét.  Điểm trúng “góc ma thuật” của graphene – một vòng quay giữa các phiến được đặt gần như đồng thời với góc nghiêng 1.1° – là kết quả của nhiều lần “thử và sai” nhưng Cao sớm nhận ra cách nào là hợp lý. Kỹ năng làm thực nghiệm của anh là điều cốt yếu, Jarillo-Herrero nói. Cao đi tiên phong trong phương pháp chia tách một tấm graphene đơn vì anh có thể tạo ra một chồng lớp gồm hai lớp với sự định hướng đồng nhất, từ đó anh có thể tinh chỉnh nó. Anh cũng ngắt được hệ cryo để đạt đến một nhiệt độ cho phép hiện tượng siêu dẫn xuất hiện một cách rõ ràng hơn.  Cao yêu thích việc tách các vật ra xa và tái tạo chúng. Ở sâu thẳm bên trong, anh chính là “một kẻ thích vọc vạch các loại máy móc”, Jarillo-Herrero nhận xét. Anh thích “chụp ảnh” bầu trời đêm bằng máy quay và kính viễn vọng tự chế – những thứ thường vương vãi trong khắp phòng của Cao. “Lúc nào tới, tôi cũng thấy bàn làm việc của cậu ta một đống lộn xộn các mảnh máy tính, các mảnh kính viễn vọng”, ông cho biết thêm.  Dù cậu còn ít tuổi và hay bẽn lẽn, đồng nghiệp vẫn cho rằng sự trưởng thành sớm của Cao đã lộ rõ. Từng bỏ lỡ cơ hội có một chỗ đứng trong chương trình vật lý của MIT, Cao đã tìm được cách theo đuổi lĩnh vực này bằng việc nhảy vào cùng nhóm nghiên cứu của Jarillo-Herrero qua chương trình Kỹ thuật điện. Cũng từng có khởi đầu đáng thất vọng khi làm nghiên cứu sinh, sau khi nhận thấy dữ liệu tưởng chừng rất thú vị mà anh dành ra 6 tháng để cố hiểu có ẩn chứa vấn đề từ việc thiết lập thí nghiệm. “Dĩ nhiên là cậu ta không vui nhưng cậu ấy vẫn xắn tay áo lên và tiếp tục làm việc”, Jarillo-Herrero nói.  Ỏ tuổi 22, Cao vẫn còn chưa rõ mình sẽ hướng công việc tới đâu. “Chúng tôi vẫn còn quá nhiều việc để làm với graphene góc ma thuật”, anh nói. Các trường đại học trên khắp thế giới đang ‘để mắt” tới anh không chỉ cho postdoc mà thậm chí là một vị tri trong trường, theo nhà vật lý Changgan Zeng – người thầy của Cao tại trường đại học KH&CN Trung Quốc. “Cộng đồng vật lý các chất đậm đặc Trung Quốc đều biết đến cậu ấy,” Zeng nói. Ngôi trường này cũng tự hào muốn đưa anh trở lại nhưng Zeng thì mong đợi Cao sẽ ở lại Mỹ bởi “ở tại đó có thể dễ dàng nhìn thấy các ngôi sao” – hàm ý cho rằng anh có thể cộng tác với những người giỏi nhất.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Zepto giây: Kỷ lục mới về đo đạc trong thời gian ngắn      Trong năm 1999, nhà hóa học Ai Cập Ahmed Zewail đã nhận được giải Nobel do đã đo lường được tốc độ mà tại đó các phân tử thay đổi hình dạng của chúng. Ông đã lập ra lĩnh vực hóa học femto – một lĩnh vực hóa lý nghiên cứu về các phản ứng hóa học ở mức thang thời gian cực độ theo trật tự để nghiên cứu tương tác của các nguyên tử bên trong phân tử tái sắp xếp chính mình để hình thành các phân tử mới.    Ahmed Zewail đã dùng các tia laser siêu ngắn bởi việc hình thành và phá vỡ các liên kết hóa học xuất hiện trong khoảng thời gian đo bằng femto giây (một femto bằng 10−15 giây).    Hiện tại, các nhà vật lý nguyên tử trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Reinhard Dörner tại trường đại học Goethe đã lần đầu tiên nghiên cứu về một quá trình còn diễn ra thang thang thời gian còn ngắn hơn cả femto giây. Họ đo lường xem cần bao nhiêu thời gian để cho một photon đi qua một phân tử hydro: khoảng 247 zepto giây ((một zepto giây bằng 10−21 giây) cho một trung bình độ dài liên kết của phân tử đó. Đây là khoảng thời gian ngắn nhất đã được đo một cách thành công.  Các nhà khoa học đã thực hiện việc đo đạc thời gian trên một phân tử hydro (H2)\, vốn được họ chiếu xạ bằng các tia X từ nguồn phát tia X tên là PETRA III tại DESY, cơ sở máy gia tốc Hamburg. Họ đã thiết lập mức năng lượng của các tia X để cho phép một photon đẩy được thành công cả hai electron khỏi phân tử hydro. Kết quả phát hiện được xuất bả trên Science với tiêu đề “Zeptosecond Birth Time Delay in Molecular Photoionization”.   Các electron hành xử như cả hạt lẫn sóng cùng lúc, do đó việc đẩy electron đầu tiên khỏi phân tử hydro dẫn đến kết quả là các sóng electron lần đầu tiên xuất hiện trong phân tử thứ nhất và sau đó trong nguyên tử phân tử thứ hai cũng xảy ra hiện tượng tương tự, cùng với việc sáp nhập các sóng.  Photon đó cũng hành xử như một viên sỏi mỏng nhảy lướt trên mặt nước: khi một sóng thấp gặp một đỉnh sóng, các con sóng của dòng nước thứ nhất và thứ hai tiếp xúc với nhau và làm triệt tiêu nhau, kết quả là xuất hiện mẫu hinh giao thoa.  Các nhà khoa học đã đo đạc mẫu hình giao thoa của electron bị loại thứ nhất bằng việc sử dụng kính hiển vi phản ứng COLTRIMS, một thiết bị mà Dörner đã giúp phát triển và dùng để các quá trình phản ứng diễn ra nhanh hơn trong các nguyên tử và phân tử có thể quan sát được. Song song với mẫu hình giao thoa đó, kính hiển vi các phản ứng COLTRIMS cũng cho phép xác định hướng của phân tử hydro. Các nhà nghiên cứu đã tận dụng lợi thế của việc electron thứ hai cũng rời phân tử, vì vậy hạt nhân hydro còn lại bay ra và họ có thể dò được.  “Kể từ lúc chúng tôi biết định hướng không gian của phân tử hydro, chúng tôi đã dùng sự giao thoa của hai sóng electron để đo đạc một cách chính xác khi nào thì photon chạm đến sóng đầu tiên và khi nào nó chạm đến nguyên tử hydro thứ hai”, Sven Grundmann, postdoc và người tham gia thực hiện nghiên cứu giải thích. “Và con số này lên tới 247 zepto giây”.  Giáo sư Reinhard Dörner cho biết thêm: “Lần đầu tiên, chúng tôi có thể quan sát được lớp vỏ electron trong một phân tử không tương tác với ánh sáng ở mọi nơi trong cùng thời điểm. Thời gian trễ xuất hiện bởi vì thông tin bên trong phân tử không chỉ lan truyền theo tốc độ ánh sáng. Với phát hiện này, chúng tôi đã mở rộng công nghệ COLTRIMS của chúng tôi cho những ứng dụng khác”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-zeptoseconds-world-short.html              Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 gợi ý hữu ích cho những nhóm khởi sự      Báo chí đã nhiều lần khai thác về nội dung bộ sách cũng như đường lối của nhóm Cánh Buồm, nhưng hiện tượng Cánh Buồm có thể nhìn từ nhiều góc độ khác, và hẳn sẽ có nhiều bài học thú vị. Dưới đây là 10 gợi ý hữu ích rút ra từ câu chuyện của Cánh Buồm cho những nhóm có ý đồ khởi sự, xắn tay vào giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội.     1. Nhìn vấn đề theo hướng tích cực, làm một việc tích cực  Đứng trước thực trạng khủng hoảng của giáo dục Việt Nam, nhiều người đã lên tiếng cảnh báo, nhiều người đã góp ý, nhiều người gay gắt phản biện. Phần nhiều tỏ ra rất bi quan chán nản, người sáng lập Cánh Buồm chọn cách khác:“làm một việc tích cực”, đó là tập hợp các bạn trẻ để cùng làm ra một bộ sách tiểu học. Đưa ra một sản phẩm tích cực là cách “góp ý” tốt nhất. Rốt cục bi quan không những không giải quyết được vấn đề mà còn làm cho nó tệ hơn.   2. Nguồn lực không phải là tiên quyết  Khi bắt đầu một dự án, phần nhiều các nhóm đều nghĩ tới vốn và nguồn lực. Đó không phải là cách duy nhất để bắt đầu một công việc. Cánh Buồm bắt đầu với nguồn lực gần như bằng không, và vẫn liên tục cho ra sản phẩm mới với nguồn lực vô cùng hạn chế trong suốt nhiều năm. Không phải là cứ nguồn lực dồi dào thì sẽ giải quyết được các vấn đề nóng bỏng. Cái cần là một mục đích tốt đẹp, một đội ngũ cùng chí hướng kiên trì lao động. Khi đó, ắt sẽ có cách vượt qua những khó khăn.   3. Bắt đầu bình thường  Nhà giáo Phạm Toàn nói “làm gì có ai giỏi, cứ làm đi thì biết”. Năng lực là cái có được trong làm việc, chứ không phải cái có sẵn cứ thế mà dùng. Ông còn nhiều lần dặn, “chúng mình dám làm một công việc quá sức, không màng đến thành công mà chỉ nghĩ đến trẻ em Việt Nam”. Nhóm vừa làm vừa học, làm-mà-học như chính phương châm của mình. Cánh Buồm cho thấy: các nhóm khởi sự có thể kiến tạo giá trị mới với những con người bình thường sẵn có, bắt đầu ngay hôm nay chứ không phải chờ đến lúc giỏi rồi mới làm.  4. Một mục đích có ý nghĩa sẽ thu hút sự góp sức của cộng đồng          Ngày 24/3/2015, nhà giáo Phạm Toàn và nhóm Cánh Buồm đã  được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng  “Vì sự nghiệp văn hóa  giáo dục” cho những cống hiến liên tục nhằm canh tân nền giáo dục nước  nhà. Trước đó, bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm mang tư tưởng và  phương pháp giáo dục hiện đại đã được một số trường tiểu học đưa vào  giảng dạy.           Cánh Buồm không có sẵn nguồn lực, nhưng có một mục đích rất rõ ràng là đưa ra cái mẫu (không phải là mẫu mực) về cách làm và tư tưởng để xã hội cùng chung tay trong công cuộc gian nan kéo nền giáo dục thoát khỏi tình trạng xuống dốc triền miên. Tất cả những việc làm của nhóm là vì trẻ em Việt Nam. Được thu hút bởi mục đích cụ thể mà cao đẹp đó, những cá nhân còn trẻ và không còn trẻ xúm vào góp sức, những tổ chức cũng giơ tay chào đón và nâng đỡ để ý tưởng của Cánh Buồm được hiện thực hóa.   5. Hãy nói về sản phẩm, sản phẩm và sản phẩm  Trong lĩnh vực giáo dục và hoạt động xã hội, bạn có thể thấy nhiều người rất thích “bàn”, thích “triết lí”. Có một cách khác để thể hiện ý kiến, đó là đưa chúng vào trong hành động của mình, vào sản phẩm của mình. Có sản phẩm, bạn sẽ nói được cái ý của mình. Đó là cách thể hiện “triết lí” giản dị, không màu mè mà mạnh mẽ nhất trong bối cảnh xã hội dường như đang lạm phát lời bàn.   6. Tập trung vào sản phẩm cốt lõi  Cánh Buồm từng thử nghiệm với việc soạn sách Khoa học, Tin học, Tiếng Anh bên cạnh những bộ sách thế mạnh là Tiếng Việt, Văn và Lối sống. Sau nhiều năm, với lực lượng mỏng, nhóm quay lại tập trung làm thật tốt các môn cốt lõi. Thời gian đã kiểm chứng sự tập trung đó mang lại kết quả tốt: bộ sách Tiếng Việt, Văn, Lối sống được bản thân nhóm tự đánh giá là “cao hơn, xa hơn, và dễ tự học hơn” và đã được xã hội đánh giá rất cao.   7. Đưa sản phẩm ra thật sớm, sẵn sàng đón nhận những “hòn đá”, cải tiến liên tục  Kể từ 2009, năm nào Cánh Buồm cũng ra sách mới. Khi thì sách mới viết, khi thì đưa ra phiên bản mới. Mỗi một lần ra sách là những lần bị “ném đá” tơi bời, bên cạnh những lời tán dương và động viên khích lệ. Tất cả những phản hồi đó đều giúp cho Cánh Buồm điều chỉnh sản phẩm của mình để đến gần hơn với xã hội, gần với cái “đúng” hơn. Bạn có thể thấy Cánh Buồm vận dụng rất thành thạo nguyên tắc của Khởi nghiệp Tinh gọn: biến ý tưởng thành sản phẩm thật nhanh, đưa đến tay người dùng thật sớm, để những ý tưởng của mình được kiểm chứng, học thật nhanh từ phản hồi của người dùng và tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của mình. Để đến với bộ sách “cao hơn, xa hơn và dễ tự học hơn” cả về hình thức lẫn nội dung phát hành cuối năm 2014, sách Cánh Buồm đã trải qua ba lần nâng cấp.   8. Nếu ý tưởng của bạn đúng, sẽ có người chấp nhận, hãy kiên trì  Sách Cánh Buồm không được chấp nhận ngay. Ngay cả khi đã có trường tiểu học đầu tiên tại Hà Nội thí điểm, nhiều người vẫn còn hết sức nghi ngại. Điều đó không cản trở Cánh Buồm tiếp tục cải tiến sách của mình để thuyết phục xã hội. Cho đến nay, đã có hai trường tiểu học chọn sách Cánh Buồm để dạy Tiếng Việt, Văn và Lối sống; nhiều trường khác đang chờ để hợp tác triển khai. Thành công bền vững không đến với những kẻ thiếu kiên trì.  9. Việc hay sẽ nối tiếp việc hay  Ban đầu nhóm chỉ tự giao nhiệm vụ soạn sách giáo khoa tiểu học, sau đó là xây dựng bộ sách kinh điển Tâm lí học Giáo dục Cánh Buồm. Nhưng được yêu cầu từ chính ngôi trường thực hành sách tiểu học Cánh Buồm, nhà giáo Phạm Toàn lại cùng nhóm của mình tiếp tục nhận nhiệm vụ soạn nối lên Trung học Cơ sở. Bộ sách mới tinh này có thể sẽ lại là một thành tựu quan trọng nữa, không chỉ của riêng Cánh Buồm.   10. Người lãnh đạo quyết tâm, đam mê và bám đuổi đến cùng  Điều cuối cùng nhưng có lẽ là quan trọng nhất: sự lãnh đạo có vai trò quan trọng sống còn với mỗi nhóm, mỗi tổ chức. Mọi người đều biết, không có một nhà giáo Phạm Toàn lăn lộn suốt mấy chục năm với giáo dục nước nhà thì không có Cánh Buồm. Về điều này, chúng ta không cần phải nói gì thêm.   ***  Trong giáo giới, Cánh Buồm là một hiện tượng thú vị; trong các nhóm xã hội dân sự, Cánh Buồm là một đội tiên phong. Từ góc độ khởi sự, các nhóm đang ấp ủ hiện thực hóa ý tưởng của mình để giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội có thể coi Cánh Buồm như một “ca” để nghiên cứu, và từ cái “mẫu” làm việc mà nhà giáo Phạm Toàn và nhóm tự đề xuất và thực hành, các nhóm khởi sự có thể nhận được nhiều gợi ý tốt. Theo đó, Cánh Buồm còn là một bài học quý.     Author                Quản trị        
__label__tiasang 100% cơ sở giáo dục cả nước đều có Internet      Ngày 20.7, tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) chính thức công bố hoàn thành 100% chương trình kết nối mạng Internet cho toàn ngành giáo dục Việt Nam. Theo đó, có 29.547 các cơ sở giáo dục đã được Viettel triển khai, đảm bảo 100% đơn vị giáo dục có internet thông qua công nghệ Leased line, FTTH, ADSL, EDGE và 3G.                    Như vậy, gần 30 triệu thầy cô, học sinh và sinh viên của các trường, các cơ sở giáo dục của cả nước đã có điều kiện tiếp cận với dịch vụ internet phục vụ trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập, tìm kiếm tài liệu, thông tin.  Viettel cho biết hiện đang tiến hành chuyển đổi từ modem EDGE đã cấp lên modem 3G cho các cơ sở giáo dục đã nằm trong vùng phủ 3G. Dự kiến sẽ hoàn thành xong trước ngày 31.8.2010 đảm bảo cho các trường khi khai giảng năm học mới 2010 – 2011.  Bước tiếp theo của dự án, sẽ phối hợp với cục Công nghệ thông tin của bộ Giáo dục và đào tạo để phát triển các dịch vụ, ứng dụng chạy trên hạ tầng kết nối của các trường, như dịch vụ E-mail, hệ thống E-learning, hệ thống quản lý thông tin giáo dục, các ứng dụng blog cho giáo viên, Thư viện sách điện tử, hệ thống hội nghị truyền hình qua web…  Theo SGTT online    Author                Quản trị        
__label__tiasang 13 giải pháp đào tạo nhân lực công nghệ cao      Trong bối cảnh đại khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh v&#224; suy tho&#225;i kinh tế to&#224;n cầu, Việt Nam muốn từng bước ngăn chặn suy giảm kinh tế, tạo tiền đề bước v&#224;o giai đoạn ph&#225;t triển mới với chất lượng cao hơn trong tiến tr&#236;nh c&#244;ng nghiệp h&#243;a, hiện đại h&#243;a đất nước, ch&#250;ng ta phải t&#225;i cơ cấu lại nền kinh tế, trong đ&#243; đổi mới c&#244;ng nghệ đặc biệt l&#224; ứng dụng CNC v&#224;o một số lĩnh vực kinh tế mũi nhọn l&#224; một yếu tố hết sức quan trọng. Vấn đề đặt ra l&#224; l&#224;m thế n&#224;o để c&#243; nguồn nh&#226;n lực c&#243; chất lượng cao đ&#225;p ứng y&#234;u cầu của nhiệm vụ đ&#243;. Cuộc hội thảo Đ&#224;o tạo nh&#226;n lực CNC theo nhu cầu x&#227; hội do Bộ GD&amp;ĐT v&#224; Bộ KH&amp;CN phối hợp tổ chức vừa qua tại B&#236;nh Dương nhằm t&#236;m lời giải đ&#225;p cho c&#226;u hỏi đ&#243;.    Thực trạng …  Từ đầu những năm 1990, chúng ta đã tập trung nguồn lực vào phát triển 4 lĩnh vực CNC là công nghệ thông tin (CNTT), công nghệ sinh học (CNSH), công nghệ vật liệu mới và tự động hóa (CNVLM&TĐH) qua nhiều chương trình trọng điểm cấp Nhà nước và một số chương trình kinh tế kỹ thuật với mục tiêu nghiên cứu ứng dụng, tiếp thu để tiến tới làm chủ các công nghệ nhập tiên tiến, sáng tạo công nghệ trong nước phục vụ các ngành kinh tế quốc dân và đã làm chủ được một số CNC trong các lĩnh vực điện tử-tin học-viễn thông, thăm dò khai thác dầu khí, công nghệ tạo giống cây trồng vật nuôi, y tế… Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bành Tiến Long: Việt Nam chưa sở hữu hay làm chủ được bất kỳ công nghệ nguồn, công nghệ cốt lõi nào thuộc lĩnh vực CNC mà mới chỉ dừng ở mức độ làm chủ được một vài công đoạn, một số quá trình hoặc một số yếu tố CNC nào đó mang tính chuyên ngành, CNC hầu như còn vắng bóng ở hầu hết các ngành kinh tế. Theo khảo sát của Sở KH&CN TP.HCM, phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn đều nhập các thiết bị lạc hậu, xuất xứ từ Trung Quốc, Đài Loan, và ngay cả một số doanh nghiệp có vốn nước ngoài cũng sử dụng những thiết bị có trình độ công nghệ ở mức trung bình.          Khái niệm nhân lực công nghệ cao              Theo qui định của Luật CNC thì Nhân lực CNC được hiểu “đội ngũ những người có trình độ và kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng CNC, dịch vụ CNC, quản lý hoạt động CNC, vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất sản phẩm CNC”. Trong cơ cấu nhân lực CNC, những chuyên gia, nhà khoa học… chỉ chiếm khoảng từ 5-10%, còn lại là công nhân, kỹ thuật viên, lao động phổ thông.        Thực trạng này do một số nguyên nhân như phát triển CNC đòi hỏi chi phí rất lớn trong khi đầu tư cho nghiên cứu phát triển của ta còn thấp, các hướng nghiên cứu chưa được định hướng đúng, chưa có mối liên kết chặt chẽ trong nghiên cứu triển khai giữa viện, trường và các doanh nghiệp… nhưng trước hết là do nguồn nhân lực CNC còn thiếu, yếu về năng lực thực hành, mà việc chúng ta không đáp ứng được yêu cầu tối thiểu về nhân lực để Intel triển khai xây dựng nhà máy tại Việt Nam và việc cho đến nay hầu như chưa có nhân lực để triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân là những ví dụ điển hình. Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Văn Lạng cho biết, theo điều tra tiềm lực KH&CN năm 2006 của Bộ KH&CN, tuổi đời của cán bộ khoa học khá cao, trong đó giáo sư và phó giáo sư gần 60 tuổi, số dưới 50 tuổi chỉ có 12%. Số lượng tiến sĩ là hơn 10.000 người nhưng trình độ so với chuẩn quốc tế rất thấp. Chỉ có khoảng 25% số cán bộ khoa học có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh. Đặc biệt là thiếu các chuyên gia và tổng công trình sư. Điều đáng lưu ý nữa là cơ cấu nguồn nhân lực mất cân đối nghiêm trọng giữa công nhân, kỹ sư thực hành, bộ phận quản lý giữa các ngành KHCN so với kinh tế và KHXH&NV.  … và giải pháp   Trong hoàn cảnh hiện nay của ta, để ứng dụng và phát triển CNC trong một số lĩnh vực kinh tế, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng trước hết cần phải chuyển giao và ứng dụng nhanh công nghệ của nước ngoài vào Việt Nam; có cơ chế chính sách phù hợp để nghiên cứu sáng tạo CNC trong nước với chi phí thấp (thực tế ở TP.HCM năm 2002 các nhà khoa học đã thiết kế chế tạo được 50 thiết bị bán cho các doanh nghiệp với giá chỉ bằng 10% đến 60% giá nhập, tiết kiệm được hơn 50 tỉ đồng so với nhập khẩu); tiếp đến là các viện nghiên cứu, trường ĐH tiếp nhận CNC cần có giải pháp phổ biến rộng CNC đó cho các ngành kinh tế và nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực CNC đáp ứng yêu cầu của xã hội. Các giải pháp này chỉ có thể mang lại hiệu quả khi có mối liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa viện, trường và các doanh nghiệp và có một chính sách phát triển nguồn nhân lực CNC căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước – Phó Thủ tướng nhấn mạnh.              Trong khuôn khổ hội thảo lần này, Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN cùng các DN lớn và một số trường đại học uy tín đã tổ chức ký kết hợp tác đào tạo về nhân lực CNC cho một số ngành trọng điểm với tầm nhìn 2015-2020.         Ngoài những chính sách đối với nhân lực CNC trước đây đã được thể hiện trong các văn bản Luật, trong tham luận tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Văn Lạng cho rằng cần bổ sung và cụ thể hóa một số chính sách có tính đột phá như chính sách tiền lương, chính sách ưu đãi đối với các nhà khoa học (kể cả những nhà khoa học Việt kiều), chính sách hỗ trợ kinh phí từ các quỹ đào tạo nhân lực CNC theo các dự án, đề tài… đặc biệt là chính sách xã hội hóa đào tạo với chủ thể là sự liên kết chặt chẽ giữa viện-trường-doanh nghiệp. Một ví dụ cụ thể cho sự liên kết này là dự án khu đô thị Đại học Bình Dương với diện tích 630ha nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội của Bình Dương đến năm 2020 và các tỉnh thuộc khu vực phía Nam do UBND tỉnh Bình Dương giới thiệu tại hội thảo.   Để đạt được mục tiêu từ nay đến năm 2020 có được số lượng lớn nhân lực CNC đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Phó Thủ tướng cho rằng cần nỗ lực thúc đẩy các chương trình đào tạo CNC hiện có và quyết tâm xây dựng những chương trình mới. Theo đó, Phó Thủ tướng đã đề xuất một số giải pháp cụ thể hóa về đào tạo nhân lực CNC.   P.V            13 giải pháp đào tạo nguồn nhân lực CNC              1. Cụ thể hóa chương trình đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội của Chính phủ.              2. Khuyến khích và đẩy mạnh hình thành việc đào tạo có chất lượng quốc tế ở các trường đại học để có thể phục vụ được các nhu cầu đào tạo CNC.               3. Đẩy mạnh việc đào tạo theo hợp đồng, thử nghiệm các cơ chế đào tạo nhân lực cho tập đoàn Intel.              4. Khẩn trương đưa trung tâm hỗ trợ  đào tạo, cung cấp nhân lực của Bộ GD&ĐT vào hoạt động.              5. Sớm hình thành các chuỗi phòng thí nghiệm trong cả nước, qua đó để có thể chuyển giao công nghệ nhanh cho các doanh nghiệp.              6. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thành lập trường học trên cơ sở Nghị định 69 của Chính phủ.               7. Hình thành và tiếp tục phát huy các trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động.               8. Đẩy mạnh chương trình đào tạo 2 vạn tiến sĩ, đặc biệt chú ý tỷ lệ của nhóm ngành CNC.              9. Xây dựng chính sách để khuyến khích nhân tài đi đào tạo ở nuớc ngoài sau đó trở về xây dựng khoa học CNC.               10. Hình thành các phương tiện thông tin đặc thù như tạp chí, bản tin chuyên ngành để có sự giao lưu giữa nhà đào tạo và các DN có nhu cầu đào tạo.              11. Sẽ tiến hành hội nghị quốc gia hằng năm về CNC, gắn nghiên cứu, đào tạo với sử dụng của DN trong nước và quốc tế.               12. Có cơ chế khen thưởng trong lĩnh vực này, khen thưởng các nhà khoa học, các  nhà trường và các DN đã đóng góp công sức vào đào tạo CNC.              13. chương trình, cơ chế  khuyến khích Việt kiều, các nhà khoa học và doanh nghiệp nước ngoài đến hỗ trợ đào tạo CNC ở Việt Nam.              Author                Quản trị        
__label__tiasang 200 đại học hàng đầu châu Á      Hàng năm Công Ty Đánh Giá Đại Học – QS World University Rankings – công bố kết quả đánh giá đại học trên khắp thế giới dựa theo 6 tiêu chuẩn tuyển chọn:    (i) Thang điểm về danh tiếng đại học (Academic reputation score), (2) thang điểm danh tiếng về tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp tại các doanh nghiệp nỗi tiếng (Employer reputation score), (3) thang điểm về sỉ số sinh viên/giáo sư (Faculty – student ratio score), (4) thang điểm về giảng dạy cho quốc tế (International Faculty score), (5) thang điểm về số lượng sinh viên quốc tế (International students score), và (6) thang điểm về tài liệu nghiên cứu (publication) được ghi trong tài liệu tham khảo (citations per Faculty score). Từ 6 thang điểm này kết hợp thành thang điểm tổng kết (Overall score) đánh giá của mỗi đại học.  Đầu tháng 9/2012, cơ quan đánh giá QS đã công bố kết quả toàn cầu  (đọc http://khoahocnet.com/2012/09/12/tran-dang-hong-phd-200-dai-hoc-hang-dau-the-gioi-nam-2012/).  Theo đó danh sách quốc gia có tên trong danh sách 200 đại học hàng đầu Á Châu năm 2012 bao gồm:  1.   Nhật Bản: 56 đại học.  2.   Trung quốc: 48 đại học  3.   Đại Hàn (Nam Hàn): 31 đại học  4.   Đài Loan: 20 đại học  5.   Ấn Độ: 11 đại học  6.   Thái Lan: 9 đại học  7.   Hồng Kông: 8 đại học  8.   Mã Lai: 8 đại học  9.   Indonesia: 6 đại học  10. Phi Luật Tân: 4 đại học  11. Singapore: 2 đại học  12. Pakistan: 2 đại học  Trong đó các quốc gia không có thay đổi số lượng đại học trong danh sách trong 2 năm 2011 và 2012 là Hồng Kông (6 đại học), Mã lai (5 đại học), Philippines (2 đại học), Ấn Độ (8 đại học), Singapore (2 đại học), Pakistan (1 đại học).  Quốc gia có gia tăng đại học trong danh sách là  Trung quốc (từ 14 năm 2011 lên 20 năm 2012), Hàn Quốc (từ 16 năm 2011 lên 19 năm 2012), và Đài Loan (từ 11 năm 2011 lên 12 năm 2012).  Quốc gia giảm số đại học trong danh sách là Nhật Bản (từ 26 năm 2011 xuống 25 năm 2012), Thái Lan (từ 5 năm 2011 xuống 3 năm 2012), Indonesia (từ 4 năm 2011 xuống 1 năm 2012).  Quốc gia có đại học số 1 châu Á vẫn là Hồng Kông, năm 2012 là The Hong Kong University of Science and Technology (nhảy lên từ hạng 3 năm 2011) , trong lúc năm 2011 hạng 1 là University of Hong Kong, năm 2012 tụt xuống hạng 3 của Châu Á.  National University of Singapore (NUS) của Singapore vẫn giữ hạng 2 suốt trong 2 năm.  Seoul National University số 1 của Hàn Quốc nhảy từ hạng 6 năm 2011 lên hạng 4 năm 2012, và đại học Korea Advanced Institute of Science & Technology nhảy từ hạng 11 năm 2011 lên hạng 7 năm 2012.  The University of Tokyo số 1 của Nhật tụt từ hạng 4 năm 2011 xuống hạng 8 năm 2012.    Đại học Peking University số 1 của Trung quốc nhảy vọt từ hạng 13 năm 2011 lên hạng 6 năm 2012.  Đại học dẫn đầu của Đài Loan là National Taiwan University (NTU) tăng từ hạng 21 năm 2011 lên hạng 20 năm 2012.  Đại học số 1 của Thái Lan là  Mahidol University tụt từ hạng 34 năm 2011 xuống 38 năm 2012.  Đại học số 1 của Mã Lai là  Universiti Malaya (UM) tăng từ hạng 39 năm 2011 lên hạng 35 năm 2012.  Đại học số 1 của Indonesia là University of Indonesia tụt hạng từ 50 năm 2011 xuống hạng 59 năm 2012.  Đại học số 1 của Phi Luật Tân là University of the Philippines tụt từ hạng 62 năm 2011 xuống 68 năm 2012.  Vị  trí của Đại học Việt Nam  Việt Nam không có trong danh sách 100 đại học hàng đầu châu Á năm 2011, cũng  không hiên diện trong số 200 đại học hàng đầu Á Châu năm 2012.  Nếu truy tầm thêm trong danh sách tới 300 đại học Á Châu thì Viêt Nam có 1 đại học duy nhất là Vietnam National University Hanoi, trong lúc đó Hàn Quốc có 55 đại học, Mã Lai 15 đại học, Thái Lan 12 đại học, Indonesia 10 đại học và Philippines 5 đại học nằm trong danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á.  Đại học Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội với 4 ngàn năm văn hiến nằm đồng hạng với các đại học tỉnh lẻ như Walailak University của Thái Lan, hay University of Brawijaya và Diponegoro University của Indonesia.          Author                Quản trị        
__label__tiasang 200 năm Đại học HUMBOLDT      Ngày 10 tháng 10 đúng 200 năm trước, Đại học Berlin, rồi được gọi Đại học&#160; Friedrich-Wilhelm, và sau Thế chiến thứ hai được đổi tên thành Đại học Humboldt, chính thức ra đời với những lớp học đầu tiên trong một tinh thần hoàn toàn mới: tinh thần Đại học Humboldt. Những ý tưởng mới về một nền đại học của Wilhelm von Humboldt (1767- 1835) – nhà chính trị, ngoại giao, nghiên cứu ngôn ngữ, và cũng là nhà giáo dục hàng đầu của Đức, nhằm cải cách nền đại học và giáo dục đang xuống cấp và mất phương hướng nghiêm trọng – giống như những tiếng đập đầu tiên của đôi cánh bướm tại Berlin nhưng đã gây ra hiệu ứng của một cuộc cách mạng đại học trên thế giới, cuộc cách mạng của những cuộc cách mạng trong thế kỷ 19 và 20.      Với nước Đức, đó là một cuộc cải cách để qua đó “Nhà nước Phổ phải lấy sức mạnh tinh thần để bù đắp những gì nó đã mất về vật chất”. Nhưng với thế giới, đó là một cuộc cách mạng vĩ đại. “Ý tưởng về các thể chế khoa học cao như là đỉnh cao, mà ở đó tất cả những gì đã diễn ra trực tiếp cho nền văn hóa quốc gia được hội tụ lại, dựa lên sứ mệnh được trao cho các thể chế là vun bồi khoa học theo nghĩa sâu rộng nhất của nó như một chất liệu của sự giáo dục tinh thần và đạo đức” như Humboldt viết mở đầu cho bị vong lục của mình về Đại học Berlin năm1809.   Hai trong các đặc tính được viết lên ngọn cờ của đại học cải cách quan trọng này là “Tự do ” và “Nghiên cứu”. Đại học phải là nơi có đầy đủ tự do cho không gian học thuật, và phải là nơi nghiên cứu để tìm ra chân lý mới. Không có hai tính chất này, đại học trở nên tầm thường như trường học muôn thuở.                                    Cứu cánh đích thực của con người – cái không phải được định đoạt bởi xu hướng đổi thay, mà bởi lý tính mãi mãi bất biến – là sự giáo dục cao nhất và hài hòa nhất những năng lực của nó thành một tổng thể. Điều kiện đầu tiên và không thể thiếu cho giáo dục này là tự do. Ngay cả bên cạnh tự do, sự phát triển những năng lực con người còn đòi hỏi một cái gì hơn nữa, dù có liên quan mật thiết đến tự do: sự đa dạng của các hoàn cảnh. Ngay cả con người tự do nhất, độc lập nhất, nếu bị đặt vào hoàn cảnh đơn điệu, cũng sẽ phát triển nghèo nàn đi.                                                                Wilhelm von Humboldt          Các ý tưởng giáo dục khai phóng của phong trào tân-nhân-văn đã được nhiều con người cao quý gieo trồng: Rousseau, Kant, Herder, Goethe, Schiller và Fichte, nhằm đưa con người tìm lại bản thể và phát triển nó toàn diện như mẫu người Hy Lạp thời Hellen. Người Đức thấy mình ít gần gũi với người La Mã, một dân tộc chiến binh, hơn là gần gũi với người Hy Lạp, một dân tộc đã thiết lập sự hiện hữu vĩnh cửu của mình trong thế giới ý tưởng của triết học, khoa học, giáo dục, văn học và nghệ thuật hơn là chính trị hay quân sự. Nước Đức vào cuối thế kỷ 18 đã sống trong một thế giới những ý tưởng cao cả về phẩm chất con người và về sự giáo dục toàn diện của nó, và đang đứng trên đỉnh cao văn hóa. Các nhà cải cách của Phổ may mắn đều là những học trò khai sáng của Immanuel Kant. Những biến đổi lớn lao gây ra bởi các cuộc chiến của Napoleon đã làm cho miền đất nhân văn ấy chín muồi cho một sự phát triển mạnh mẽ, và cuối cùng được thể hiện trong chương trình cải tổ giáo dục và đại học của Humboldt. Nguồn gốc tai họa của quốc gia chính là sự không trưởng thành, sự lệ thuộc tuyệt đối của con người, kết quả là sự thờ ơ và xa lạ đối với Nhà nước và Tổ quốc, sức sáng tạo to lớn của dân tộc không được phát huy. Cho nên con người phải được giáo dục thành những công dân tự do, trưởng thành, “tự sử dụng cái đầu của mình mà không cần sự hướng dẫn của kẻ khác” (Kant), ra khỏi sự thụ động để trở thành người tự do, tự hành động, biết ước muốn, có đạo đức và phát triển toàn diện nhất.  Mô hình Đại học Humboldt từ đó có một cuộc tiến hóa ngoạn mục, vượt biển Manche để vào nước Anh, vượt Đại Tây Dương để thâm nhập vào nước Mỹ, đi vòng quanh thế giới để vào nước Nhật, rồi nhiều vùng xa xôi khác trên thế giới, mỗi lần thâm nhập sinh ra những “hạt giống mới” phù hợp những điều kiện môi trường đặc thù xã hội ở đó giống như quy luật sinh học. Đặc biệt nhất là ở Mỹ. Các đại học tiên phong như Harvard, Johns Hopkins, Columbia và Chicago đã được truyền cảm hứng từ mô hình đại học Đức, những người thuộc thế hệ thành lập đều đã từng học ở Đức. Mô hình này đã thay đổi hướng đi của nền đại học Mỹ, và từ sau Thế chiến thứ hai, do hội tụ được những nhân tố thuận lợi chưa từng có trong lịch sử, các đại học Mỹ đã bùng lên thành một cuộc cách mạng trong khoa học, kéo dài từ những năm 1954, làm nên cái gọi là “thời đại vàng” của đại học Mỹ. “Giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ” đã trở thành thể thống nhất mới. Đại học Mỹ trở thành một “multiversity”, khó diễn tả hết, có học giả đặc trưng “hệ thống đại học Mỹ là hệ thống không theo hệ thống nào”. Nó đã trở thành một “Incorporation”, một “Tổng công ty” đồ sộ, “một hệ sinh thái” với nhiệm vụ không những giảng dạy, học tập, nghiên cứu, mà còn là “đại học dịch vụ” cho các nhu cầu xã hội, đặc biệt là thực hiện chuyển giao công nghệ, không phải chỉ đi “bán các gói công nghiệp”, mà quan trọng hơn hết là đào tạo chính các sinh viên khoa học công nghiệp tài năng có óc kinh doanh thành những người giải đáp các bài toán tương lai, để sau này họ trở thành những nhà lãnh đạo với cái máu hàn lâm còn tươi rói đã tạo được.                                     Ở đâu Nhà nước phá hủy đại học, trung tâm điểm và là trường ươm mầm của mọi nhận thức, cô lập tất cả khuynh hướng khoa học và bốc chúng ra khỏi mối quan hệ sinh động của nhau, ở đó chúng ta không nghi ngờ: ý đồ hoặc tác động không ý thức của một hành động như thế là sự đè nén nền giáo dục tự do và cao cấp nhất, cũng như tất cả tinh thần khoa học và uyên bác, và hậu quả không thể tránh được là một sự thắng thế của tính thủ công và một sự dốt nát thê thảm trong tất cả mọi ngành. Hành động nông nổi là những người đề nghị một sự biến đổi hay phân tán các trường đại học thành những trường chuyên môn; cũng như trong mỗi đất nước mà ở đó dạng kia (đại học) tự nó sẽ chết dần, hay ở đó, ngay cả khi chính quyền không ngăn cản nó, nhưng không bao giờ hình thành một đại học đích thực, mà tất cả chỉ vẫn là trường trung học, thì khoa học và sự uyên bác tất yếu phải thoái hóa và tinh thần phải chìm vào giấc ngủ.                                               Friedrich Daniel Ernst Schleiermacher (1768-1834)                   Một người đồng hành của Humboldt và người cha đỡ đầu của đại học.          Trong khi Hoa Kỳ là quốc gia đã đưa công việc nghiên cứu khoa học về cho hệ thống đại học một cách toàn diện sau bị vong lục nổi tiếng của Vannevar Bush năm 1945 mang tên “Khoa học – Biên giới không bến bờ”, thì Ấn Độ là một trong những quốc gia đã không theo mô hình đại học của Humboldt, đã tách các viện nghiên cứu ra khỏi đại học. Một năm sau khi giành lại độc lập, với sự thúc đẩy của Thủ tướng Nehru, Nghị quyết về khoa học đầu tiên ra đời năm 1958 tuy nhấn mạnh sự cần thiết tiếp thu và áp dụng khoa học để tạo ra phúc lợi xã hội, nhưng nghị quyết này cũng như nghị quyết về khoa học và công nghệ tiếp theo năm 1983 không hề nhắc đến vai trò của đại học hay giáo dục đại học trong chiến lược phát triển khoa học quốc gia. Mãi đến năm 2003, Nghị quyết về khoa học và công nghệ mới làm rõ vai trò của đại học và giáo dục đại học trong sự phát triển khoa học. Có thể nghe qua như một sự nghịch lý, nhưng có quan niệm cho rằng chính sự thành lập các viện nghiên cứu như TIFR (Tata Institute of Fundamental Research, được thành lập đêm trước của độc lập) là có trách nhiệm cho việc xuống cấp hiện nay trong việc phát triển khoa học cơ bản trong sinh viên. Sự chia cắt giữa giảng dạy và nghiên cứu, tức ngược lại tinh thần Humboldt, có lẽ đã gây ra thiệt hại lớn nhất cho các đại học như trung tâm của tri thức.   Các quốc gia đang phát triển trên thế giới như Hàn Quốc, Trung Quốc, Saudi Arabia, đang quyết tâm xây dựng những “đại-học-đẳng-cấp-thế-giới” với những quyền tự chủ và tự do hàn lâm lớn hơn theo mô hình đại học Mỹ. Quốc gia quyết tâm và quyết liệt nhất là Trung Quốc hiện nay. Quốc gia này đang muốn nổi lên như một người cạnh tranh với các đại học quốc tế phương Tây. Họ bỏ ra tiền tỉ đầu tư, cơ sở hạ tầng đồ sộ mọc lên như nấm. Họ trải thảm đỏ cho giới hàn lâm thế giới về đó, biến đất nước trở thành nơi giao lưu của sự trác việt (excellence) thế giới. Họ mong mỏi cũng có nhiều huy chương như trong Olympic. Nhưng trước hết họ hiểu rằng đại học đẳng cấp quốc tế là đầu tàu cho sự phát triển kinh tế không thể thiếu.  Giờ đây, trong “thế bí” của đại học Đức, ý tưởng đại học Mỹ cũng đã vượt Đại Tây Dương để trở thành niềm hy vọng, và để trả ơn cho quê hương đã sản sinh ra tinh thần đại học hiện đại! Đại học Đức đã không kịp thời đổi mới toàn diện trong những thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 khi cao trào đại chúng hóa dâng cao, như các đại học Mỹ đã từng làm. Trước nhu cầu đa dạng tăng lên của xã hội, nền đại học của Đức đã tỏ ra cứng nhắc. Chỉ một số ít đại học được xây dựng mới, và vẫn mang nặng tính hàn lâm. Đại học Đức không phát triển thành những “multiversities”. Nhưng thay đổi là một mệnh lệnh. Quá trình Bologna đã được thực hiện cho toàn Liên minh châu Âu để hòa nhập về mặt hình thức với tinh thần đại học Mỹ. Nước Đức cũng đã biến hơn chục đại học hàng đầu của họ thành “những trung-tâm-trác-việt” để nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu. Nhưng để “bà mẹ già cỗi” đổi mới thật sự và trở thành một công chúa trẻ đẹp, con đường đó còn khó khăn, tuy quốc gia này vẫn đứng đầu về xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp cao cấp. Các viện nghiên cứu của họ rất mạnh và rất đông, đa dạng, so với Mỹ, nhưng bị chia cắt khỏi hệ thống đại học quốc gia.  Đại học Việt Nam đang đứng đâu trên bản đồ thế giới? Có lẽ câu hỏi đó không cần câu trả lời. Hệ thống giáo dục đại học không có được các viện nghiên cứu mạnh kiểu Ấn Độ, mà cũng không có những đại học nghiên cứu mạnh kiểu truyền thống Humboldt để làm đầu tàu, lại càng không phải là “đại học dịch vụ” theo kiểu Mỹ. Nó vẫn còn sống trong một thế giới ảo, với những giá trị ảo. Sáu mươi năm trước Việt Nam có một nhà khoa học đã có những ý tưởng về đại học theo truyền thống Humboldt: GS Hồ Đắc Di. Rồi hai mươi năm sau có vị Bộ trưởng có tầm chiến lược và tinh thần đại học Humboldt: GS Tạ Quang Bửu. Nhưng mảnh đất mà họ đã gieo những hạt giống chưa cho phép chúng nảy mầm như trên thế giới.   Nếu danh sĩ Thân Nhân Trung thế kỷ 15 dâng sớ vua Lê Thánh Tông “Chiêu nạp hiền tài” và cho rằng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” thì ngày nay người ta hỏi lấy đâu ra những hiền tài nếu không phải là họ được đào luyện từ các trường đại học cao cấp? Xã hội xưa chỉ cần vài hiền tài giúp vua trị nước, nhưng xã hội hôm nay cần đến hàng vạn hiền tài.   Ngày nay ta phải nói “Đại học là nguồn nguyên khí của quốc gia” để đào tạo hàng loạt hiền tài cho đất nước. Tại Đức, cách đây đúng hai trăm năm, trước sự sụp đổ của Nhà nước Phổ, Đại học Humboldt đã ra đời để lãnh trọng trách ấy cứu đất nước. Đó chính là “Nguồn nguyên khí của quốc gia” để góp phần làm một cuộc tạo dựng mới cho giang san.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2020: Vì một nền giáo dục tốt hơn      Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra sáu nhiệm vụ cấp bách cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, một trong số đó là “chống nạn mù chữ”, bởi “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ba phần tư thế kỷ sau, nhiệm vụ chấn hưng nền giáo dục nước nhà vẫn còn cả chặng đường dài phía trước. Vì thế, một mùa xuân mới là lúc chúng ta tự hứa với mình rằng: hãy dành mọi nỗ lực cần thiết để cải cách giáo dục vì sự tiến bộ của đất nước.    Giáo dục không phải là nhồi nhét, bắt con trẻ phải học thuộc lòng các luận điểm, nhất là ngày nay Wikipedia hay Google hoàn toàn có thể giúp mọi người dễ dàng tra cứu thông tin. Giáo dục trước hết phải là khuyến khích một thái độ phản biện khách quan trước mọi quan điểm. Cũng giống như các nhà khoa học phải liên tục thách thức các lý thuyết và kiểm chứng chúng trước thực tiễn, chúng ta phải thường xuyên kiểm chứng các hành động của mình bằng lý trí. Sự vâng lời và kỷ luật không thể theo cách mù quáng mà phải mang tính chủ động và có căn cứ xác đáng.   Bản chất và ý nghĩa tinh thần mới là giá trị cốt lõi chứ không phải câu chữ hay hình thức. Những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và viết vào thời kỳ giữa thế kỷ 20 gắn với bối cảnh Việt Nam vừa trải qua giai đoạn dài bị áp bức bóc lột bởi thực dân Pháp, sau đó là cuộc xâm lược của Pháp và Mỹ. Nhưng giá trị cốt lõi Người để lại không nằm ở câu chữ riêng rẽ cụ thể, mà ở các giá trị phổ quát đã truyền cảm hứng và dẫn dắt Người tới hành động. Đó là các giá trị của trí tuệ và đạo đức, công lý, tình đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau, và nhân ái. Chúng tạo nên nhân phẩm con người. Là những đại lượng bất biến giúp chúng ta tiến bộ – cho dù đáng buồn là còn rất chậm – kiên trì hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn trong suốt hai mươi lăm thế kỷ qua, kể từ thời kỳ của Pericles và Khổng Tử.  Giáo dục giúp chúng ta áp dụng những giá trị đó vào thế giới hiện tại mình đang sống, một thế giới không ngừng biến đổi. Nếu không làm được điều đó, chúng ta sẽ chung sống với những giáo điều là nền tảng cho một xã hội đã thuộc về ngày hôm qua. Không một hệ thống xã hội nào trên thế giới có thể ngủ quên, tự coi mình miễn nhiễm trước nguy cơ trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với những khuôn khổ không ngừng thay đổi, vốn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các xã hội loài người.        chúng ta phải không ngừng sáng tạo lại mô hình xã hội của mình, để luôn đảm bảo những giá trị vĩnh hằng của sự công bằng và nhân văn mà lý tưởng nhân loại luôn hướng tới.      Trong thập kỷ 50 của thế kỷ trước, nhiều nhà tư tưởng đã từng phân tích sự phát triển xã hội châu Âu trong vòng một thế kỷ, từ đó khuyến cáo chúng ta về nguy cơ trở thành nô lệ cho một xã hội tiêu thụ. Thông điệp ấy vang vọng mạnh mẽ với những phong trào sinh viên làm rung chuyển châu Âu hồi cuối thập kỷ 1960. Chúng làm ta nhớ lại Juvenal từng phê phán các hoàng đế La Mã ưa vỗ về quần chúng bằng cách thỏa mãn những thị hiếu “panem et circenses”, tương ứng với “bóng đá và cơm gạo” trong các xã hội hiện đại, thay vì chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.   Thực tế ấy phần nào hiện rõ khi chúng ta nhìn vào màn trình diễn của vị lãnh đạo của cường quốc số một thế giới hiện nay, vốn từng là một gương mặt của một sô truyền hình thực tế. Việc chiếm được lá phiếu của một đám đông ít học luôn dễ hơn giành sự ủng hộ của những người trí thức, những người thường là trở ngại cho quyền lực bởi luôn đòi hỏi sự minh bạch và không chấp nhận một hệ thống chính trị bị chi phối bởi các nhóm lợi ích.   Những vấn đề nhức nhối của hành tinh ngày hôm nay không còn hoàn toàn giống với của thế kỷ 19, 20. Chúng vừa là các vấn đề tự nhiên, vừa mang tính xã hội.   Vấn đề tự nhiên là sự bùng nổ dân số và xu thế đô thị hóa gây ra vấn nạn ô nhiễm và buộc con người phải thay đổi cách sử dụng những tài nguyên sống còn như nước, lương thực và năng lượng. Sự suy giảm nguồn nhiên liệu hóa thạch và những biểu hiện ngày càng rõ cho sự giới hạn của tăng trưởng.  Vấn đề xã hội là thế giới đang ngày càng ý thức rõ về sự bất bình đẳng sâu sắc trong việc chia sẻ các nguồn lực của hành tinh, dẫn tới sự di cư hàng loạt từ những nơi thiếu thốn, chính sách đóng cửa của những quốc gia được ưu đãi với sự lên ngôi của chủ nghĩa dân túy ở Châu Âu và Mỹ. Bên cạnh đó là nguy cơ xung đột hạt nhân và nạn khủng bố ở mọi nơi.  Để có cơ hội thành công, chúng ta cần nhận thức đầy đủ những bài học từ quá khứ cũng như thực tiễn của ngày hôm nay: điều đó đòi hỏi những con người được giáo dục và trở thành những công dân có trách nhiệm.  Chúng ta cần lắng nghe những ý kiến ủng hộ sự tiến bộ, nhưng cũng lắng nghe cả những ý kiến ở chiều ngược lại. Cần hiểu những ý tưởng tiến bộ để có thể thúc đẩy chúng, đồng thời hiểu rõ những quan điểm bảo thủ để phản biện chúng. Việc giáo dục phải giúp mọi người có tư duy cởi mở, hướng dẫn họ cách tự độc lập tư duy thay vì áp đặt. Một xu thế đổi mới như vậy cần được thúc đẩy để có thể đưa đất nước thoát khỏi mô hình kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và bị khai thác bởi chủ nghĩa kinh tế thực dân kiểu mới. Hãy thúc đẩy sự sáng tạo, xây dựng một môi trường trí tuệ nơi tâm trí con người có thể phát triển cởi mở vì lợi ích tốt nhất của xã hội và đất nước.  Các nhà khoa học chúng ta giữ một vị trí quan trọng đặc biệt đóng góp cho xu thế đổi mới nói trên, bởi những giá trị trụ cột của nó cũng chính là nền tảng cho văn hóa khoa học. Vì thế, chúng ta hãy làm tốt nhất khả năng của mình giúp đổi mới phong cách giáo dục để thích ứng tốt nhất với thế giới mà chúng ta đang sống. □       Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang 3 mô hình viện Toán      C&#225;c viện hay trung t&#226;m nghi&#234;n cứu To&#225;n học (m&#224; ta sẽ gọi chung l&#224; Viện) đ&#243;ng vai tr&#242; hết sức quan trọng trong việc nghi&#234;n cứu v&#224; th&#250;c đẩy ph&#225;t triển To&#225;n học ở mọi nước tr&#234;n thế giới, d&#249; l&#224; nước c&#243; tr&#236;nh độ cao hay l&#224; nước bắt đầu ch&#250; &#253; tới ph&#225;t triển To&#225;n học.  Hiện tr&#234;n thế giới c&#243; khoảng 100 viện nghi&#234;n cứu to&#225;n v&#224; được tổ chức theo 3 m&#244;&nbsp; h&#236;nh chủ yếu sau:     Mô hình 1: Ở các nước tư bản, phần lớn các viện được tổ chức theo mô hình là trung tâm nghiên cứu chung cho cả nước (thậm chí quốc tế). Cụ thể hơn: những viện này có rất ít biên chế cố định, thường chỉ 4-10 giáo sư là biên chế cố định. Họ đồng thời cũng đảm nhiệm là giám đốc hoặc trưởng một hướng nghiên cứu. Cán bộ chủ yếu là khách mời nghiên cứu có thời hạn (1-2 tuần, một vài tháng, hoặc một số năm), tùy thuộc vào trình độ của từng người và trọng tâm nghiên cứu của viện. Phần lớn những người được mời là những nhà toán học xuất sắc. Tuy nhiên những viện đó cũng dành một khoản kinh phí lớn cho các tân tiến sĩ đến làm việc theo chế độ sau tiến sĩ (post-doctoral). Sau một thời gian làm việc ở đó, năng lực của những tiến sĩ trẻ này sẽ nâng cao hơn hẳn, có điều kiện xin được ghế phó giáo sư, giáo sư chính thức ở các trường đại học. Những viện tổ chức theo mô hình này không được đánh dấu (vì phổ biến). Có thể nói, những hướng nghiên cứu triển khai ở các viện này (đặc biệt là các viện như Princeton IAS của Mỹ, IHES của Pháp, MPI của Đức,…) là những định hướng chiến lược cho phát triển Toán học trên toàn thế giới.  Với cách tổ chức này, nhiều nhà toán học ở các lứa tuổi khác nhau ở các trường đại học đều có cơ hội đến làm việc không chỉ một lần, mà có thể nhiều lần khác nhau. Trình độ nghiên cứu của họ không những được nâng cao, mà còn tạo điều kiện cho họ có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với các nhà toán học khác. Để làm được điều này, một trong những tiền đề cơ bản là phải tìm được nhà toán học thực sự xuất sắc làm giám đốc (viện trưởng). Chỉ những người đó mới có đủ tầm nhìn để định hướng, đồng thời mới đủ khả năng và các mối liên hệ để mời các nhà toán học có trình độ đến làm việc.  Việc những viện toán này dành chỗ cho các nhà toán học xuất sắc (có thể còn trẻ) từ khắp mọi nơi trên thế giới đến, một mặt là ưu đãi của họ đối với nhân tài của nhân loại, nhưng mặt khác đó là cách nhập khẩu chất xám rất thông minh. Bởi vì, những người đến làm việc không chỉ học, nghiên cứu, mà còn trực tiếp giảng dạy và lãnh đạo nghiên cứu! Như vậy không chỉ kết quả nghiên cứu của họ sẽ được sử dụng (dù sớm hay muộn), mà sinh viên, nghiên cứu sinh và các tân tiến sĩ của họ được theo học với những bộ óc thông minh nhất. Cách nhập khẩu này vừa rẻ tiền, lại mang vẻ trí thức, không tạo cho ai cảm giác khó chịu, mà ngược lại là một cảm giác tự hào chính đáng! Đây là một hình thức các nước giàu sử dụng, gián tiếp tạo ra tình trạng chảy máu chất xám của các nước lạc hậu. Tuy nhiên chính hình thức này cũng tạo cơ hội cho những nước còn kém về khoa học bứt phá, đi tắt đón đầu nếu dám dũng cảm đầu tư. Hàn Quốc, Singapore vài thập kỷ trước và Trung Quốc hiện nay là những ví dụ điển hình. Nhờ mạnh dạn xây dựng những viện như vậy, không chỉ nhiều nhà toán học hàng đầu của họ đã bỏ ghế giáo sư ở các trường đại học danh tiếng để trở về, mà họ còn lôi kéo được chuyên gia quốc tế hàng đầu đến với họ!  Mô hình 2: Viện nghiên cứu Toán độc lập. Đây là mô hình chủ yếu được áp dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và hiện nay vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, ở các nước tư bản cũng có một số viện như vậy, chẳng hạn như  Viện Weierstrass ở Đức (số 5), SAMSI, MBI, DIMACS của Mỹ (các số 14, 15,16). Riêng ở Pháp, về thực chất mô hình này khá phổ biến, nhưng họ không lập thành các viện to, độc lập, mà thành lập những đơn vị nghiên cứu thuộc CNRS và đặt tại các trường đại học như Viện Poincare (số 18), Trung tâm nghiên cứu Schwarzt (số 19)… Viện Toán học của ta tổ chức theo mô hình này. Chức năng chủ yếu của các viện này là tổ chức nghiên cứu ở trình độ cao và đào tạo tiến sĩ. Vì vậy các viện này có biên chế cố định lớn.              Viện Toán học – Viện KH&CN Việt Nam  (mô hình 2)        Ý tưởng của mô hình này là tập hợp một đội ngũ mạnh các nhà nghiên cứu, để có thể nghiên cứu những vấn đề lớn. Những nhà toán học làm việc ở đó được ưu tiên làm nghiên cứu. Giảng dạy chỉ là theo nguyện vọng và nhu cầu. Việc tập trung số lượng và sức lực của mỗi người đã tăng hiệu quả nghiên cứu rõ rệt, tạo nên những đột phá trong nghiên cứu Toán học. Điển hình của mô hình này là Viện Toán Steklov của Nga (số 45). Đây cũng là một viện nghiên cứu Toán học hàng đầu của thế giới. Trong các nước Tây Âu, Pháp có thành tích nghiên cứu Toán nổi bật nhất có lẽ cũng nhờ hệ thống các đơn vị nghiên cứu của CNRS.  Tại hầu hết các viện Toán này, họ cũng có một khoản tài chính lớn chỉ dành cho khách quốc tế và các nhà toán học của các trường đại học trong nước họ đến nghiên cứu ngắn hạn (nhưng có thể đến 1-2 năm). Qua đó cũng thực hiện được một phần tương tác với các trường đại học trong nước và thực hiện nhập khẩu chất xám như mô hình 1. Tuy nhiên, do hạn chế về số lượng khách đến, nên chức năng này yếu hơn nhiều so với mô hinh 1.   Mô hình 3: Là các trung tâm tổ chức quanh năm các hội thảo, hội nghị. Mô hình này không phổ biến: Viện Toán                      Trong khi chúng ta chưa có những trường đại học – nghiên cứu, thì biện pháp thích hợp và chủ yếu chính là lập Viện nghiên cứu và đào tạo cấp cao về Toán với mô hình như của các nước (mô hình 1, trong đó có chức năng đào tạo mà các nước đang phát triển thực thi). Trước mắt chỉ thành lập một viện tại Hà Nội. Khi có đủ cán bộ và điều kiện kinh tế sẽ xây dựng thêm các viện ở nơi khác.         Oberwolfach của Đức (số 2), CIRM của Pháp (số 20), (Banff, BC, Canada (số 29). Tuy không có cán bộ nghiên cứu, nhưng thông qua việc tổ chức thường xuyên các hội nghị, hội thảo, các trường đào tạo ngắn ngày, một mặt là nơi gặp gỡ của các nhà toán học lớn để hoạch định hướng nghiên cứu, mặt khác là môi trường đào tạo tốt cho lực lượng trẻ. Lẽ hiển nhiên, rất nhiều nghiên cứu sinh và tân tiến sĩ của nước sở tại được tài trợ (từ các nguồn tài chính khác nhau) đến dự các hoạt động khoa học đó.   Mặc dù không thay thế các trường đại học, nhưng việc lập ra các viện nghiên cứu Toán góp phần nâng cao tiềm lực nghiên cứu, không chỉ cho các viện đó, mà cả cho các trường đại học. Xét về mặt kinh tế thì đây là sự tập trung đầu tư để đem lại hiệu quả cao, chứ không phải là một sự xa xỉ trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo. Vấn đề chỉ là chỉ thành lập khi điều kiện đã chín muồi, đảm bảo trình độ nghiên cứu Toán ở những cơ sở đó là rất cao, xứng đáng là đầu tàu dẫn dắt sự phát triển Toán ở một khu vực.   Theo Dự thảo CTTĐQGPT TH đến năm 2020    Author                Quản trị        
__label__tiasang 31 trường ĐH, CĐ đề xuất tuyển sinh riêng      Thứ trưởng Bộ GD&amp;ĐT Bùi Văn Ga cho biết  đã có 31 trường ĐH, CĐ đăng ký đề án tuyển sinh riêng trong kỳ tuyển  sinh năm nay tại buổi gặp gỡ báo chí ngày 10/2.      Dự thảo đề án tự chủ tuyển sinh của các trường ĐH, CĐ sẽ được công bố và lấy ý kiến của dư luận, đồng thời có sự giám sát của Bộ về những tiêu chí tuyển sinh phù hợp với từng ngành học và đào tạo (gồm bốn tiêu chí: kết quả xếp loại tốt nghiệp THPT; kết quả học tập trong quá trình học THPT; điểm ba môn học lớp 12 tương ứng với ngành đào tạo mà thí sinh đăng ký xét tuyển; xếp loại hạnh kiểm).  Trong số các trường đăng ký tuyển sinh riêng thì phần lớn các trường vẫn thi theo kỳ thi “ba chung” do Bộ GD&ĐT tổ chức nhưng kết hợp xét tuyển riêng.   Đến 10/3, sau khi lấy ý kiến dư luận, Bộ GD&ĐT sẽ công bố chính thức các đề án tuyển sinh riêng đạt yêu cầu và áp dụng ngay trong kỳ tuyển sinh 2014.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 340 tỷ đồng xây dựng xã hội học tập      Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân vừa phê duyệt  Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020” với kinh phí dự  kiến 340 tỷ đồng.    Bốn mục tiêu cơ bản  Cụ thể, đề án sẽ tập trung giải quyết bốn mục tiêu cơ bản: Xoá mù chữ và phổ cập giáo dục; nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cho lao động; hoàn thiện kỹ năng sống, xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn.  Đề án cũng phấn đấu nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ với mục tiêu cụ thể là 100% cán bộ, công chức, viên chức tham gia các chương trình học tập nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm.  Tiếp tục duy trì 100% cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện được đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn quy định; 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc;  Đề án cũng phấn đấu 90% công nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp có trình độ học vấn trung học phổ thông hoặc tương đương; tiếp tục tăng tỷ lệ công nhân lao động có tay nghề cao ở các ngành kinh tế mũi nhọn; phấn đấu 95% công nhân được qua đào tạo nghề.  Hằng năm, tiếp tục tăng tỷ lệ học sinh, sinh viên và người lao động tham gia học tập các chương trình giáo dục kỹ năng sống để xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn. Trong đó phấn đấu 50% học sinh, sinh viên được học kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục.  Phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục  Một trong các giải pháp được đưa ra là tổ chức các hoạt động học tập suốt đời thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ.  Đồng thời, củng cố, phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng địa bàn hoạt động đến các thôn, bản, cụm dân cư; đa dạng hóa nội dung giáo dục; phấn đấu tăng số lượng trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả; phát triển mô hình trung tâm học tập cộng đồng kết hợp với trung tâm văn hóa thể thao xã hoạt động có hiệu quả.  Đối với Trung tâm giáo dục thường xuyên, mở rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, cấp huyện đã được thành lập; đồng thời thành lập mới trung tâm giáo dục thường xuyên ở các quận, huyện, tỉnh, thành phố hiện nay chưa có; phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng mỗi huyện có một trung tâm thực hiện các nhiệm vụ: Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, dạy nghề.  Bên cạnh đó, đẩy mạnh các hoạt động đào tạo từ xa ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục đại học; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến (E-learning); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc cung ứng các chương trình học tập suốt đời cho mọi người.  Kinh phí của Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020” được phê duyệt là 340 tỷ đồng và được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 2012-2015 – 150 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 – 190 tỷ đồng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang 350 tỉ đồng xây dựng trung tâm thực hành khoa học học sinh Hà Nội      Skycare&#160; – công viên khoa học đầu tiên dành cho học sinh các cấp, từ mầm  non tới THPT khu vực Hà Nội, Vĩnh Phúc và các vùng phụ cận sẽ được đầu  tư xây dựng trong thời gian tới.      Skycare  được đặt tại Vĩnh Phúc, có tổng diện tích 55.000 m2, tổng vốn đầu tư 350 tỉ đồng chia làm 3 giai đoạn đầu tư.     Giai đoạn 1 (3/2016-3/2017) hoàn thiện  toàn bộ hạ tầng công viên, hoàn thành khu thí nghiệm sinh học, vườn khoa  học, trung tâm chiếu phim khoa học, trung tâm trải nghiệm và sáng tạo,  khu nghỉ dưỡng cho cán bộ, chuyên gia, giáo viên và học sinh.         Giai đoạn 2 (1/2017-5/2018) tiếp tục xây  dựng trung tâm thể thao quốc tế cho học sinh, trung tâm đào tạo nghệ  thuật, trung tâm hội thảo quốc tế, trung tâm khoa học thể chất cho học  sinh.          Giai đoạn 3 (1/2018-3/2019) hoàn thiện trung tâm y tế dinh dưỡng học sinh, trung tâm khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.          Đây là một dự án phù hợp với những định  hướng về đổi mới giáo dục đào tạo của Bộ GD&ĐT, đó là giảm bớt lý  thuyết, tăng thực hành qua các chương trình học ngoại khóa trực quan  sinh động, đồng thời coi trọng việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh  Việt Nam.          Chủ trương tăng cường các buổi học ngoại  khóa của Bộ GD&ĐT đã triển khai xuống các trường từ lâu. Tuy nhiên,  do thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất, quỹ đất hạn hẹp, nên hiện  nay học sinh Hà Nội nói riêng và học sinh các tỉnh khác trên cả nước nói  chung vẫn chưa có một địa điểm để thực hành kiến thức, học dã ngoại  theo đúng nghĩa.          Đa số các trường đều rất linh hoạt năng  động khi tận dụng các khoảnh ruộng, trang trại cá nhân để cho các em  tham quan và học hỏi thực tế. Do đó, với Skycare, học sinh Thủ đô và các  vùng lân cận sẽ có thêm một trung tâm thực hành khoa học, dã ngoại đúng  chuẩn quốc tế để “học mà chơi, chơi mà học”.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Skycare-trung-tam-thuc-hanh-khoa-hoc-cho-hoc-sinh-Ha-Noi/246924.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang 375 năm Đại học Harvard      Năm nay Đại học Harvard sẽ kỷ niệm 375 năm thành lập trường (1636-2011). Đây là sự kiện quan trọng đối với Harvard và những ai quan tâm tới nền giáo dục của nước Mỹ.          Harvard là trường đại học lâu đời nhất tại Mỹ. Được thành lập năm 1636, tức 140 năm trướcngày thành lập Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (1776), thủa ban đầu đây chỉ là một trường nhỏ đào tạo mục sư Thanh Giáo. Ngày 28/10/1636, Nghị viện thuộc địa Massachusetts biểu quyết thành lập một trường cao đẳng theo kiểu ĐH Cambidge của Anh quốc, với ngân sách được cấp mỗi năm 400 bảng Anh.  Trong số những người sáng lập trường có nhiều người từng tốt nghiệp ĐH Cambridge ở Anh, vì thế thị trấn nơi trường Harvard tọa lạc cũng được họ đặt tên là Cambridge. Thoạt tiên trường này cũng được gọi là Cambridge College. Ngày 13/9/1638, Nghị viện nói trên quyết định đổi tên trường là Harvard College, theo tên ông John Harvard (1608-1638), một mục sư trẻ tốt nghiệp ĐH Cambridge ở Anh, ân nhân đầu tiên của Cambridge College, người trước khi qua đời đã hiến tặng nhà trường một nửa tài sản riêng (779 bảng Anh) cùng thư viện khoảng 400 cuốn sách. Với một nhà trường năm đầu chỉ có 9 học sinh thì số tài sản hiến tặng ấy rất lớn và vô cùng quý giá. Có người tính toán: số tiền ấy mỗi năm tăng 6%, cứ 12 năm thì gấp đôi, đến nay giá trị lên tới nhiều tỷ bảng.                  ĐH Harvard nổi danh khắp thế giới vì đào tạo được nhiều nhân tài. Hầu như tất cả các nhà tiên phong trong Chiến tranh Độc lập đều từng học dưới mái trường này. Trong số cựu sinh viên Harvard có 8 người trở thành Tổng thống Mỹ, 50 chủ nhân giải Nobel và 36 chủ nhân giải báo chí Pulitzer. Các nhà sáng lập Microsoft, IBM, FaceBook từng học ở Harvard.  ĐH Harvard được tư nhân hóa từ năm 1830, nghĩa là được nhận tiền tài trợ không những của các nhà thờ và công ty, mà còn của các cá nhân. Đây là bước quan trọng làm cho Harvard trở thành ĐH giàu nhất thế giới, nhờ thế không ít thanh niên nghèo được miễn học phí học ở đây. Nhiều cựu sinh viên làm ăn khá giả, nhiều phụ huynh có con học Harvard đều muốn đóng góp để trường ngày một phát triển.  Là trường tư thục, Harvard độc lập với chính quyền. Nhà trường đặt dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Quản trị Harvard Corporation, một công ty chuyên lo gây nguồn tài chính cho nhà trường (và quản lý công việc nội bộ). Nhờ thế Harvard cỏ nguồn tài chính cực lớn: năm 2010 lên tới 27,4 tỷ USD, tương đương ngân sách giáo dục của một quốc gia tiên tiến. Hội đồng này bổ nhiệm Hiệu trưởng. Lương Hiệu trưởng cao hơn lương Tổng thống Mỹ. Giám đốc các Học viện và các Chủ nhiệm Khoa do Hiệu trưởng bổ nhiệm. Ngoài ra còn một Ủy ban Giám sát công việc nhà trường.  Nguyên tắc trong mọi hoạt động giáo dục của ĐH Harvard là độc lập tư tưởng, quy chế học thuật nghiêm, chú trọng kết hợp chặt chẽ nhân văn, giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  Chính là với những ý tưởng giáo dục tiên tiến như vậy, Harvard trở thành trường ĐH được cả thế giới ngưỡng mộ.  Lễ kỷ niệm 375 năm  Hôm 26/5 vừa qua, bà Drew Faust Hiệu trưởng Harvard đã công bố chương trình kỷ niệm Harvard 375 kéo dài tới hết tháng 5/2012 với các hoạt động văn hoá nghệ thuật, hội thảo khoa học sẽ được triển khai với quy mô lớn, trong đó có hoạt động tự kể “Câu chuyện Harvard” của mình và du lịch ảo Harvard trên mạng qua điện thoại di động. Cũng hôm ấy, trang web http://375.harvard.edu được khai trương để phục vụ chương trình đó.  Theo chương trình, chiều 14/10, các ký túc xá sinh viên mở tiệc liên hoan. 7 giờ tối, toàn thể cán bộ, nhân viên, sinh viên tới Nhà hát Ba Trăm Năm (Tercentenary Theatre) dự Lễ khai mạc các hoạt động kỷ niệm gồm có diễu hành, liên hoan văn nghệ với chương trình biểu diễn của nghệ sĩ cello số một thế giới Yo-Yo Ma, người Mỹ gốc Hoa lai Pháp, cựu sinh viên Harvard khóa 1976 và vũ hội dưới ánh sao. Bà Joanne Chang cựu sinh viên khoa Toán ứng dụng và Kinh tế Harvard khóa 1991, đầu bếp chính của tiệc kỷ niệm, sẽ làm một chiếc bánh ga tô đặc biệt để mừng ngày sinh của trường.  Ngày 14/10 cũng là ngày hội hàng năm của Hội Cựu sinh viên Harvard. Nhà trường sẽ kết nối với các cựu sinh viên Harvard trên khắp nước Mỹ và thế giới để tổ chức các hoạt động kỷ niệm một cách phong phú nhất. Đã có 700 người hứa dự hoạt động này.          Nghệ sĩ cello số một thế giới Yo-Yo Ma, người Mỹ gốc Hoa lai Pháp, cựu sinh viên Harvard khóa 1976          Một trong những hoạt động quan trọng nhất rong lần kỷ niệm này của Harvard là ôn lại những thành tựu trên các mặt khoa học, phục vụ công chúng và nghệ thuật.  Hơn 200 năm sau ngày thành lập, Harvard mới bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu khoa học; trước đó họ chỉ làm giảng dạy. Năm 1788 một nhà báo Pháp đến đây đã hết sức ngạc nhiên khi thấy trường này coi nhẹ nghiên cứu khoa học.  Người có công chuyển đổi Harvard thành một ĐH kiểu nghiên cứu là Charles William Eliot, Hiệu trưởng Harvard lâu nhất (1869-1909). Sau cải cách quan trọng này Harvard trở thành ĐH tổng hợp đa ngành có tính quốc tế và tên tuổi Eliot gắn liền với Harvard. Ông đề xuất và thi hành chế độ để sinh viên tự chọn môn học (elective system) thay cho chế độ cũ đã tỏ ra xơ cứng. Từ đó Harvard tiến rất nhanh trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Ngày nay riêng bộ môn vật lý trường này đã có 10 chủ nhân giải Nobel.  Năm 2007 khi nhậm chức hiệu trưởng Harvard, bà Drew Faust đề xuất ý tưởng giáo dục cao đẳng phải chịu trách nhiệm với tương lai của đất nước, vì thế Harvard có sứ mệnh đưa các ý tưởng của mình đi vào thị trường. Thời gian 2006-2010, Harvard sáng lập 39 công ty, được cấp 216 bằng sáng chế; số lượng phát minh của các giáo viên lên tới 1270. Nhà trường lập Văn phòng phát triển công nghệ và các cơ quan tương ứng để hỗ trợ, phục vụ công chúng.  Trong hồi ký viết về năm 1923, William Eliot nhận xét: phục vụ nhân dân là một trong các truyền thống chủ yếu của Harvard. Truyền thống này khởi nguồn từ thời Nội chiến (1861-1865) rất nhiều học sinh Harvard xung phong ra trận chiến đấu. Tinh thần hy sinh quên mình ấy được tiếp nối đến ngày nay. Sau 40 năm gián đoạn, từ tháng 3/2011 Harvard phục hồi chế độ Đoàn huấn luyện sĩ quan dự bị (Reserve Officers’Training Corps); theo đó Hải quân Mỹ sẽ phụ trách huấn luyện quân sự cho sinh viên. Mấy năm qua đã có hơn 200 sinh viên Harvard đang học xin nhập ngũ, đi chiến đấu tại Iraq và Afghanistan.  Phục vụ xã hội trở thành nội dung quan trọng trong chương trình học tập. Tại trường Luật Harvard, sinh viên phải hoàn thành 40 giờ phục vụ xã hội không lấy thù lao mới có tư cách dự thi tốt nghiệp. Tại trường Chính trị Kennnedy, phục vụ xã hội lại càng được coi là sứ mệnh quan trọng.  Tính quốc tế là một trong các đặc điểm nổi bật của Harvard. Người nước ngoài hiện chiếm 1/5 tổng số sinh viên nhập học Harvard. Năm ngoái Harvard College (một trong 14 trường thành viên ĐH Harvard) cử 1500 giáo viên đến 104 quốc gia làm nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy. Năm nay các giáo viên trường Harvard Mùa hè sẽ tham gia 28 đề tài nghiên cứu khoa học tại 18 nước.            Lễ kỷ niệm 300 năm Harvard (năm 1936) được giới sử học đánh giá là sự kiện bản lề làm cho Harvard trở thành Đại học đẳng cấp thế giới. Hồi đó, nhà trường đã triển khai nhiều hoạt động kỷ niệm phong phú và sôi nổi nhằm đưa Harvard đi lên vũ đài quốc tế. Các hoạt động ấy đã thu hút hơn 70 nghìn người đến thăm Harvard vào mùa hè năm 1936. Đêm hội hoa đăng bên sông hồi tháng 9 thu hút 300 nghìn người xem. Sau lễ khai giảng, nhà trường tổ chức một cuộc hội thảo kéo dài hai tuần, ngày cuối cùng có 15 nghìn người dự. Lễ kỷ niệm 300 năm Harvard có sự hiện diện của các đại biểu đến từ 502 trường Đại họcdưới trời mưa tầm tã của đương kim Tổng thống Franklin Roosevelt ngồi trên xe lăn, cựu sinh viên Harvard, cựu chủ bút báo Màu đỏ Harvard  (The Harvard Crimson, tờ báo ra hàng ngày của sinh viên Harvard), làm nức lòng những người có mặt. Và từ sau những lễ hội ấy ĐH Harvard ngày càng nổi tiếng khắp thế giới. Thanh niên nhiều nước mơ ước được học tại Harvard. khắp thế giới.               Nếu Harvard College hồi thế kỷ XVII – nơi đào tạo mục sư Thanh Giáo – coi hoạt động sáng tác nghệ thuật là hành động phản nghịch, thì giờ đây ĐH Harvard hết mức đề cao và tôn trọng các hoạt động ấy. Sáng tác nghệ thuật đóng vai trò nhận thức thế giới, là phần quan trọng trong đời sống lý trí của Harvard. Tháng 4 vừa rồi, Văn phòng Nghệ thuật Harvard cùng Khoa Âm nhạc tổ chức hoạt động “Chào mừng 40 năm nhạc Jazz”. Âm nhạc sẽ chiếm vai trò quan trọng trong lễ hội 14/10 sắp tới.  Những năm gần đây Harvard được xếp hạng thứ nhất trong các bảng xếp hạng ĐH ở Mỹ như ARWU World, ARWU National, Times Higher Education và USNWR National University.         Author                Quản trị        
__label__tiasang 65% và những vấn đề của nền giáo dục quốc gia      Với 65% học sinh vượt qua được kì thi này và ở nhiều địa phương- con số này còn xuống tới dưới 1% – dường như có một sự đồng thuận chung trong toàn xã hội rằng kì thi năm nay là một thành công của ngành giáo dục. Song đằng sau những thành tích đáng phấn khởi (?!) của kì thi này, liệu có những điều gì bất thường? Và quan trọng hơn cả, từ thực tế của kì thi tốt nghiệp phổ thông trung học năm nay, có thể rút ra những vấn đề gì về thực trạng cũng như những giải pháp cải tổ, nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục ở Việt Nam? Tại cuộc tọa đàm do tạp chí Tia Sáng tổ chức, ý kiến của các nhà khoa học, nhà giáo, trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết với sự nghiệp giáo dục: GS. Phạm Duy Hiển, GS. Văn Như Cương, GS. Hồ Ngọc Đại, GS. Nguyễn Văn Trọng, GS. Nguyễn Xuân Chánh, Nhà thơ Lê Đạt, Nhà văn Nguyên Ngọc, đã không chỉ dừng ở những đánh giá có tính cách chuyên môn và cụ thể về kì thi tốt nghiệp PTTH vừa qua, mà nhân sự kiện này, hướng tới những vấn đề ở tầm chiến lược của sự nghiệp cải cách nền giáo dục đang được tiến hành ở Việt Nam.    “Nghiêm” mà chưa “ngặt”  Đánh giá đầu tiên nhận được sự tán thành của đa số cử tọa, đó là năm nay, thi tốt nghiệp đã được tổ chức mới và nghiêm hơn. Nghiêm ít nhất là ở bên ngoài của trường thi. Dẫu vậy, đây lại là một sự “nghiêm không đều” (GS Văn Như Cương) nên có thể tiềm ẩn nguy cơ mất công bằng. Không những thế, đây lại là một sự “nghiêm” nhưng không “ngặt”. Theo GS Cương, đề thi năm nay dễ đến mức “không thể hiểu nổi”, đặc biệt là môn toán. Trong đề thi này, có những câu hỏi học sinh không cần kiến thức của lớp 12 cũng có thể làm được một cách dễ dàng mà những câu hỏi này lại chiếm một tỉ lệ khá cao trong tổng số điểm của bài thi. Điển hình là câu hỏi về thể tích của một hình chóp với chiều cao và độ dài đáy cho trước (1,5/10,0 điểm). Đánh giá về độ dễ đến mức “không thể tưởng tượng nổi” này đã nhận được sự đồng tình của GS Phạm Duy Hiển và TS Nguyễn Xuân Chánh.  Độ dễ của đề thi phải chăng chính là một “bảo hiểm” cho kì thi và nếu vậy thì con số 65% học sinh tốt nghiệp phải chăng cũng vẫn chưa phản ánh đúng thực chất học sinh bởi nếu ra đề thi với độ khó của những năm trước, tỷ lệ này chắc chắn sẽ thấp hơn rất nhiều. Cũng phải nói thêm rằng, không chỉ đề thi toán mà các đề thi văn của kì thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học khối D vừa qua cũng bị nhiều người, từ các học sinh phổ thông cho tới chuyên gia của chính Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá là “không bao quát và đáp ứng được yêu cầu toàn diện của chương trình. Nội dung thiếu chuẩn xác. Đáp án không phù hợp với yêu cầu của đề”(1).  Cùng với sự “dễ dãi” của đề thi, việc tổ chức thêm một đợt thi thứ hai ngay trong mùa hè này cũng chính là một chiếc phao bảo hiểm cho độ “nghiêm” của kì thi này. Cho đến nay, ngoài những quyết tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chưa có điều gì đảm bảo rằng kì thi này sẽ được tiến hành nghiêm túc chứ không phải chỉ là một kì thi “vớt”. GS Cương lo ngại tất cả những điều này là một biến tướng của căn bệnh thành tích mà Bộ Giáo dục đang quyết tâm bài trừ (theo lôgích có thể sẽ có tổn thất nhưng vẫn có những biện pháp để bảo đảm tổn thất ấy là chấp nhận được và kiểm soát được).  Không chỉ chất lượng của đề thi mà phương thức ra đề thi cũng đang có vấn đề. Một trong những nét mới của các kì thi năm nay là việc áp dụng phương pháp thi trắc nhiệm. Theo các nhà giáo, thi trắc nhiệm mặc dù có những ưu điểm nhất định trong việc chống gian lận, thuận lợi trong việc tiến hành chấm nhưng rõ ràng cũng có nhược điểm trong việc đánh giá khả năng tư duy và tính sáng tạo của thí sinh. Tất nhiên, một vấn đề khác của việc áp dụng thi trắc nhiệm đó là đội ngũ người ra đề. Liệu chúng ta có thể tập hợp đuợc một đội ngũ những người ra đề và những người thẩm định đủ khả năng sản xuất ra được những đề thi trắc nhiệm đảm bảo chất lượng? Nhiều người đưa ra lí lẽ rằng hình thức thi trắc nhiệm đã được áp dụng thành công tại nhiều nước tiên tiến nên Việt Nam cần phải học tập. Dẫu vậy, liệu Việt Nam có đủ điều kiện văn hóa, nền tảng sư phạm và cả điều kiện vật chất như những nước nọ để đảm bảo cho sự thành công của hình thức thi này hay không lại không hề được những người chủ trương thi trắc nhiệm nói đến.  Cần một triết lý cho nền giáo dục  Những thay đổi ở kỳ thi tốt nghiệp PTTH vừa qua chứng tỏ Bộ Giáo dục đã có những cố gắng thể hiện bằng những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình. Những giải pháp này, một cách cục bộ, đều xuất phát từ một hạt nhân hợp lí (chẳng hạn như việc tổ chức thi trắc nghiệm để chống gian lận thi cử). Vấn đề là liệu những giải pháp này có thực sự là những giải pháp có thể giải quyết một cách cơ bản những vấn đề của giáo dục quốc gia? Có ba vấn đề cần phải được nghiêm túc nhìn nhận lại.  Trước hết, liệu những giải pháp cải thiện tình trạng giáo dục quốc gia của Bộ Giáo dục là những giải pháp tác động đến những vấn đề cơ bản của nền giáo dục hay chỉ là những biện pháp có tính tình thế để đối phó với tình hình? Công cuộc cải cách giáo dục đang được tiếp cận từ góc độ trị an (chống gian lận thi cử, cải tiến thi để đỡ tốn kém, phiền hà…) trong khi đó, về bản chất, vấn đề cần phải được tiếp cận từ góc độ văn hóa. Không những thế, các biện pháp của ngành lại là những biện pháp tình thế. Nhà thơ Lê Đạt đưa ra một hình ảnh so sánh hết sức thuyết phục: Căn bệnh của giáo dục là căn bệnh mãn tính và trầm kha, tương tự bệnh ung thư. Vậy mà người ta đang chữa căn bệnh này bằng phác đồ chữa cảm cúm, sơ nhiễm và chờ mong những biến chuyển tức thời. Một định hướng như vậy liệu có thể mang đến những thành công? Lấy chuyện thi cử làm một ví dụ. Nhiều người đang băn khoăn về việc lựa chọn giữa thi trắc nhiệm và thi tự luận và sợ rằng thi trắc nhiệm không thể kiểm tra được khả năng tư duy và sự sáng tạo của học sinh nhưng thực ra thì ngay cả với những đề thi tự luận như kiểu trước đây, liệu khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh có được thử thách? Tự luận hay trắc nhiệm suy cho cùng chỉ là những phương tiện. Vấn đề của các kì thi ở Việt Nam không phải là chuyện chúng ta lựa chọn phương tiện đo lường nào mà là chuyện chúng ta đã xác lập được một hệ thống mục đích thiết thực, thuyết phục và thực tế cho việc đo lường người học hay chưa. Khi đã xác lập được vấn đề người học cần phải có những gì thì việc áp dụng những phương pháp kiểm tra để đo lường xem học đã có những điều đó hay chưa sẽ trở nên đơn giản hơn.  Thứ hai, công cuộc giáo dục dường như đang được tiến hành trên cơ sở những giải pháp và mô hình du nhập từ nước ngoài. Thi trắc nhiệm hay một vấn đề khác của ngành giáo dục gần đây là mô hình đào tạo tín chỉ là những ví dụ. Trong hoàn cảnh hiện nay, việc học tập những mô hình của nước ngoài là cần thiết nhưng cũng lại tiềm ẩn những nguy cơ. GS. Phạm Duy Hiển dùng một hình tượng là “lối học hớt ngọn”. Có những giải pháp mà nước ngoài thực hiện rất hiệu quả nhưng muốn có được kết quả đó phải có những điều kiện nền tảng cần thiết. Về Việt Nam, những điều kiện đó không đầy đủ. Vậy khi đó, những giải pháp này liệu có còn hiệu quả?  Thứ ba là vấn đề về mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn Việt Nam. Trước tình hình giáo dục nước ta, không phải không có những góp ý bằng những giải pháp cụ thể như trả lại quyền tự chủ về tuyển sinh cho các trường đại học, trả lại quyền tổ chức thi tốt nghiệp cho các sở giáo dục. GS. Hồ Ngọc Đại thậm chí còn cho rằng nên thay thế việc thi cuối cấp bằng một quá trình kiểm tra liên tục trong toàn bộ quá trình học tập của học sinh và như vậy thì sổ học bạ có thể được coi là một trong những cơ sở để tuyển học sinh vào đại học. Những ý kiến này chắc chắn xuất phát từ tâm huyết và trí tuệ của các nhà giáo quan tâm tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Tuy vậy, một yếu tố cũng cần phải tính đến là những điều kiện đặc thù của Việt Nam. Khi mà hiện tượng “chạy trường” tồn tại từ bậc học phổ thông, khi mà hệ thống đại học mới chỉ đáp ứng chưa đến 50% nhu cầu học tập của người dân, khi đó, liệu việc trả quyền tự chủ cho các trường đại học trong khâu tuyển sinh có thể làm phát sinh những tiêu cực kiểu mới? Và nếu vậy thì phải chăng Bộ nên tiếp tục xây dựng một hình thức thi cử tập trung hóa triệt để hơn hình thức hiện nay thay vì trả lại một cách vội vã quyền tự chủ cho các trường đại học.  Trong hoàn cảnh nền giáo dục nước nhà còn yếu kém về hàm lượng công nghệ, cũ kĩ về phương pháp giảng dạy; nội dung kiến thức lạc hậuvà nhất là thiếu vắng một triết lí của nền giáo dục,  nhà văn Nguyên Ngọc đề nghị: Bộ Giáo dục & Đào tạo nên chăng dừng các biện pháp cải cách “theo phong trào”, chấp nhận thực tế yếu kém trong một số năm để dồn sức cho một cuộc thay đổi có tính cơ bản với sự đóng góp trí tuệ và tâm huyết của toàn bộ giới trí thức và chuyên gia.  P.V    1. Xin xem bài của một học sinh lớp 12 trường PTTH Hà Nội– Amxtécđam tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/giaoduc/tuyensinh/thacmac/2007/07/716880/ và bài của ông Đỗ Ngọc Thống, chuyên viên Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/717298/.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang 7 Chính sách cải cách Giáo dục Đại học trên Thế giới      LTS. Ngày 4/5 vừa qua, khi thăm Đại học Quốc gia TP HCM, Thủ tướng Phan Văn Khải có nói: “Việt Nam (VN) cần có một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học” (GDĐH). Ngày 10 và 11/5 sau đó, ngành GDĐH trên cả nước cũng đã có cuộc họp khá quy mô để bàn về “Đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH VN giai đoạn 2006-2020” với một số chủ đề được đặc biệt quan tâm như: giao quyền tự chủ cho các trường ĐH, giao chỉ tiêu tuyển sinh, đào tạo theo tín chỉ… Nhân dịp này, TIA SÁNG xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của GS Phạm Phụ về bức tranh chung của cải cách GDĐH trên thế giới để chúng ta có thêm dữ liệu so sánh và suy ngẫm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và VN sắp tham gia WTO, thiết nghĩ việc so sánh như vậy là hết sức cần thiết.    CÓ MỘT “CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ” CẢI CÁCH GDĐH KHÁ GIỐNG NHAU  Năm 1994, Ngân hàng thế giới (WB) tuyên bố: “GDĐH đã lâm vào khủng hoảng trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, cải cách GDĐH cũng đã trở thành một hiện tượng chung, phổ biến ở hầu hết các nước trong suốt 15 năm qua. Và đặc biệt là, theo WB, có một “Chương trình nghị sự” (agenda) cải cách cơ bản lại khá giống nhau, khá “nhất quán” ở hầu hết các nước, tập trung vào 2 mảng Tài chính và Quản lý, cho dù có sự khác nhau về hệ thống chính trị – kinh tế, về trình độ phát triển công nghiệp và công nghệ, đang ở giai đoạn phát triển lành mạnh hay đang trì trệ, hệ thống GDĐH đang còn là “tinh hoa” hay đã bước sang “phổ cập”, GDĐH chủ yếu là công lập hay tư thục… Chính vì vậy, có thể cho rằng, những “Chương trình nghị sự” đó sẽ là những dữ liệu rất đáng tham khảo cho công cuộc cải cách GDĐH ở VN trong 15 năm đến.  5 XU THẾ TẠO NÊN BỐI CẢNH             Ngày nay, mảnh bẳng ĐH là “tấm hộ chiếu vào đời”        Bối cảnh GDĐH trên thế giới ngày nay có thể được biểu thị qua 5 xu thế được xem như: vừa là tất yếu vừa là hợp lý sau đây: (1)Mở rộng nhanh quy mô và đa dạng hóa; (2)Áp lực ngày càng tăng về tài chính; (3)Định hướng thị trường hơn; (4)Trách nhiệm xã hội lớn hơn; và (5)Chất lượng cũng như hiệu quả hơn.    1. Mở rộng nhanh quy mô và đa dạng hóa. Ngày nay mảnh bằng ĐH đã là “tấm hộ chiếu vào đời”. Hơn nữa, GDĐH còn là sự khẳng định vị trí của con người trong xã hội. Do đó đã có một nhu cầu rất lớn được tiếp cận GDĐH từ phía người dân. Về phía Nhà nước, để đảm bảo cho khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu người ta nói rằng, con đường khôn ngoan cho các nhà ra-quyết-định là phải tìm mọi cách để cổ vũ và hỗ trợ cho nhu cầu này của dân chúng. Hai mong muốn này gặp nhau đã tạo thành xu thế tăng rất nhanh quy mô GDĐH trong suốt 3-4 thập niên qua trên thế giới. Tốc độ tăng sinh viên (SV) bình quân hàng năm ở Hàn Quốc thời kỳ 1970-1980 lên đến 20%, thời kỳ 1980-1990 là 14,8%. Ở Trung Quốc, SV nhập học từ 1998 đến 2002 tăng đến 135,2%. (Con số tăng SV ở VN trong 5 năm qua là khoảng 6%/năm và vừa được hiệu chỉnh từ năm 2005 là 10%/năm). Từ đó, ở nhiều trường ĐH của Mỹ, người học đã nộp đơn là gần như chắc chắn được vào học, hầu hết cao đẳng cộng đồng là nhập học tự do. Ở Thái Lan người ta đã tuyển đến 83,1% (2003) số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào ĐH, “cung” đã xấp xỉ bằng “cầu”. (Con số này ở VN hiện nay khoảng 25-30%, “cung” còn thấp xa “cầu”, tốn rất nhiều công sức cho công tác tuyển sinh và nhiều tiêu cực cũng đã nảy sinh từ đây). Mặt khác, phải đa dạng hóa nền GDĐH cả về sứ mệnh, chức năng và phương thức đào tạo. Ngày nay ở nhiều nước có đến 3/4 số SV đang học ở các chương trình GDĐH “không truyền thống”, tuổi học ĐH không còn ở độ tuổi 18-22 mà đã kéo dài đến tuổi 30 và còn thường không phân biệt giữa giai đoạn đi học và giai đoạn đi làm. Chính vì vậy, ở nhiều nước người ta đã xây dựng một loạt cơ sở GDĐH, được gọi là “không thuộc kiểu trường ĐH” (non-university sectors) và mở rộng các dạng đào tạo có chi phí thấp như ĐH mở, ĐH từ xa… Ở Thái Lan, số SV của ĐH mở dạng ghi danh chiếm đến 36,9% tổng số SV. Chi phí cho 1 SV trong 1 năm gọi là “chi phí đơn vị” ở đây (2001) chỉ có 116 USD/năm, trong khi ở các ĐH công lập chất lượng cao là 3.344 USD/năm, ở ĐH tư thục kiểu truyền thống là 767 USD/năm (Chi phí đơn vị ở VN hiện nay giữa các trường có lẽ chênh nhau lớn nhất chưa đến 3 lần, khoảng từ 170 USD/năm ở các ĐH ngoài công lập đến 500 USD/năm ở một số ĐH công lập).             Tăng học phí trở thành một xu thế trên thế giới        2. Áp lực ngày càng tăng về tài chính. Một chủ đề nổi cộm khác là “sự cùng quẫn” về mặt tài chính của GDĐH. Người ta nói rằng, có 4 nguyên nhân của thực trạng này. Thứ nhất là khi quy mô GDĐH tăng nhanh, không có một ngân sách nhà nước (NSNN) nào gánh chịu nổi, kể cả những nhà nước phúc lợi ở Châu Âu, nơi có đến trên 40% GDP được huy động vào NSNN (Con số này ở VN hiện nay khoảng 22%). Do đó, xu thế chung là NSNN tính trên đầu SV luôn bị giảm xuống. Ở Anh từ 1980 đến 2000, mức chi NSNN tính trên đầu SV đã giảm xuống còn khoảng 50%. Thứ hai, trong khi đó, để đảm bảo chất lượng trong GDĐH ngày nay, chi phí đơn vị lại có xu thế tăng lên, tăng nhanh hơn mức tăng chi phí chung của nền kinh tế. Vấn đề tăng chi phí đơn vị này (và do đó là học phí) gay cấn đến nỗi, năm 1997 Quốc hội Mỹ đã buộc phải thành lập một Ủy ban quốc gia để xem xét và đưa ra những khuyến cáo đối với các cơ sở GDĐH. Thứ ba là áp lực chính trị không cho phép tăng quá cao mức đóng góp của người học. Vấn đề tài chính cho ĐH ở Anh, trong đó có vấn đề học phí, luôn là nội dung tranh cử của các đảng phái chính trị trong suốt 15 năm qua. Và, thứ tư là GDĐH, với những lập luận của lý thuyết kinh tế “tân-tự do” (neo-liberal) thịnh hành hiện nay, luôn khó khăn trong việc cạnh tranh nguồn lực từ NSNN so với GD cơ bản, y tế, công trình công cộng, ổn định môi trường, chương trình giảm nghèo… Do vậy, những quyết sách về kinh tế, tài chính trong GDĐH đã trở thành hết sức phức tạp và khó khăn. Từ đó, ở Tây Ban Nha đã có hẳn một Hiệp hội những nhà nghiên cứu kinh tế GD. (Ở VN thì gần như không có một chuyên gia thực thụ nào về kinh tế GD, Đề án học phí thì được soạn thảo một cách rất “nghiệp dư”).    3. Định hướng thị trường hơn. Trước hết, về thực chất, dịch vụ GDĐH không có đủ những đặc trưng để được xem là loại hàng hóa công cộng thuần túy và lại có nhiều tính chất quan trọng của một loại hàng hóa tư nhân. Sau nữa, người ta còn cho rằng, “khách hàng” của GDĐH có thể biết rõ nhu cầu của mình trong khi người cung cấp lại thường khó biết. Và, đây là điều kiện lý tưởng cho cơ chế thị trường phát huy được tính hiệu quả của nó. Từ đó, đưa đến 5 động thái trong định hướng thị trường sau đây. Thứ nhất là tin cậy hơn vào những tín hiệu giá cả của thị trường và chuyển quyền ra quyết định từ chính phủ và các cơ sở GDĐH sang khách hàng của họ, khách hàng có thể là SV, là các doanh nghiệp hoặc công chúng nói chung. Thứ hai là chuyển một phần, thậm chí toàn bộ, chi phí của GDĐH, cho chính người học. Thứ ba là phát triển ĐH tư thục, kể cả một số ít cơ sở ĐH vì lợi nhuận. Thứ tư là chuyển giao thẩm quyền quản lý từ trung ương về địa phương và tăng thêm quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH. Và, thứ năm là quản lý tài chính ở trường ĐH gần giống như một doanh nghiệp, các cơ sở GDĐH cũng phải có cạnh tranh, có cạnh tranh mới có chất lượng, cạnh tranh nguồn lực tài chính, cạnh tranh để có thầy giáo và SV giỏi. (Ở VN do “cung” còn thấp xa “cầu” nên gần như chưa có cạnh tranh).  4. Trách nhiệm xã hội lớn hơn. Trách nhiệm xã hội (accountability) là trách nhiệm của trường ĐH đối với SV, cha mẹ SV, người sử dụng lao động và công chúng nói chung. Trách nhiệm này bao gồm: việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thông tin minh bạch cả về chất lượng và tài chính, báo cáo giải trình với công chúng và đem lại sự thỏa mãn cho cộng đồng. Để đảm bảo trách nhiệm xã hội, một mặt cần phải có cơ chế Hội đồng quản trị hay “Hội đồng trường” ở trường ĐH, mặt khác phải xây dựng các độ đo tốt hơn về việc hoàn thành các chức năng của nhà trường. Hội đồng quản trị là hội đồng quyền lực của nhà trường, thường có thành phần độc lập bên ngoài nhà trường nhiều hơn thành phần bên trong trường. Và, quản trị tốt là quản trị: có trách nhiệm xã hội, minh bạch và có hiệu quả. Trách nhiệm xã hội lớn hơn còn có nghĩa là sự kiểm soát, bao gồm cả giám sát, so sánh và hiệu chỉnh của Nhà nước nhiều hơn. Ngay ở Mỹ nơi có tự trị GDĐH rất cao, Tổng thống Reagan cũng từng có dự kiến chấm dứt chế độ biên chế suốt đời (tenure) của các giáo sư, chính phủ nhiều bang cũng đã đưa ra trần học phí, ở nhiều bang khác chính phủ không cho phép tăng học phí nhanh hơn mức tăng chi phí. Ở Canada, chính phủ kiểm soát rất chặt chẽ mức tăng học phí. Ở Hàn Quốc, “cung” như đã vượt “cầu”, nhưng Nhà nước vẫn có quota cho các cơ sở GDĐH. Nhìn chung, người ta nói: “Tăng quyền tự chủ phải được “đánh đổi” (trade-off) bằng trách nhiệm xã hội lớn hơn của các cơ sở GDĐH. (Ở VN, đang sôi nổi vấn đề giao quyền tự chủ cho các trường ĐH nhưng lại chưa có cơ chế trách nhiệm xã hội).    5. Chất lượng hơn và hiệu quả hơn. Một báo cáo của WB cho rằng, việc giảm sút chất lượng là do: (a)GDĐH bị quá tải, thường là do luật lệ cho phép tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học được quyền nhập học, bất kể đến sự sẵn sàng của người học cũng như khả năng của nhà trường; (b)Kiểm soát thiếu chặt chẽ chất lượng và hành vi của đội ngũ giảng viên, có một phần do trả lương thấp và chính sách biên chế suốt đời; và (c)Chương trình đào tạo không thích hợp. Vì vậy, WB cũng khuyến cáo các nhà lập chính sách là “Chương trình nghị sự” cải cách tài chính và quản lý không được tách rời các yếu tố về chất lượng và năng suất. Do vậy, cần phải chú ý những vấn đề sau: (a)Giảng dạy có hiệu quả, gồm cả phương pháp giảng dạy và trang thiết bị như phòng thí nghiệm, thư viện, khả năng tiếp cận internet…; (b)Chương trình đào tạo thích hợp; (c)Học tập có hiệu quả; (d)Cấu trúc hành chính và quản lý có hiệu quả… Họ cho rằng, tất cả những điều đó, cùng với việc kiểm soát chi phí và tạo thêm nguồn lực, về lâu về dài sẽ giúp cho các quốc gia đang phát triển giải quyết được những vấn đề về chất lượng.    7 CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH CƠ BẢN  5 xu thế nói trên thường được xem như là những định hướng cho cải cách. Từ đó, chương trình cải cách cơ bản đã tập trung vào 7 giải pháp về tài chính và quản lý, (phải làm như thế nào, chứ không chỉ là làm cái gì như thường thấy ở VN), có tính chiến lược, có tính chính sách để chuyển nền GDĐH theo các định hướng đó. “Bức tranh” chung như sau:    1. Chính sách “chia sẻ chi phí” (cost sharing). Chia sẻ chi phí là “chi phí đơn vị” sẽ được phân chia như thế nào, tính theo %, giữa: (1)NSNN, (2)học phí từ người học, và (3)đóng góp của cộng đồng, trong đó có cả đóng góp của chính cơ sở GDĐH. Muốn xây dựng chính sách này, trước hết cần xác định mức chi phí đơn vị hợp lý để đầu tư cho GDĐH, sau đó cân đối NSNN dành cho GD giữa GD phổ thông và GDĐH cũng như khả năng đóng góp của cộng đồng để định ra mức chia sẻ này. Trên thế giới, mức chi phí đơn vị ở các nước đã phát triển thường là vào khoảng 50% GDP/đầu người, còn ở các nước có trình độ phát triển thấp thường là phải ở mức trên dưới 150% GDP/đầu người. Còn tỷ lệ phần NSNN trong chi phí đơn vị tùy thuộc vào truyền thống phát triển GDĐH của từng nước, tỷ lệ này khá khác nhau. Tuy nhiên, trong cải cách GDĐH 15 năm qua, , tỷ lệ này nhìn chung ngày càng giảm xuống, hiện nay ở ĐH công lập thường chiếm 40% đến 70%. (Ở VN hiện nay, mức chi phí đơn vị mới chỉ khoảng 50-60% GDP/đầu người, còn tỷ lệ phần NSNN trong chi phí đơn vị thì đang ở mức trên 55% đối với các ĐH công lập).  2. Chính sách tăng học phí. Đầu tư cho GDĐH là một loại đầu tư có hiệu quả. Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, người ta đã ước tính được suất thu lợi bình quân trong đầu tư ở đây vào khoảng 15-20% về mặt cá nhân và khoảng 10-15% về mặt xã hội. Nói riêng suất thu lợi về mặt cá nhân ở các nước mới phát triển là rất cao, ví dụ ở Hồng Kông: 25,2% (1976), ở Malaysia: 34,5% (1978), ở Singapore: 25,4% (1966), ở Brazil: 28,2% (1989)… Hơn nữa, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của những người có trình độ từ ĐH trở lên cũng cao hơn rất nhiều tỷ lệ này của những người có trình độ từ GD phổ thông trở xuống, chênh nhau bình quân 20-30%. Đặc biệt với phụ nữ, hai tỷ lệ này là 81% và 34% ở Ý, 71% và 22% ở Thổ Nhĩ Kỳ (2001). Vả lại, tỷ lệ thanh niên ở độ tuổi được tiếp cận GDĐH cho đến nay nói chung còn thấp (ở VN mới khoảng 12%). Vì vậy, người học phải gánh chịu phần lớn chi phí chẳng những là hợp lý mà còn là công bằng hơn. Từ đó, tăng học phí cũng đã trở thành một xu thế trên thế giới.                Áp lực về hiệu quả, chi phí buộc các trường ĐH phải tái cấu trúc          3. Chính sách cho SV vay vốn. Khi áp dụng chính sách thu học phí và tăng học phí, khả năng SV nghèo và   tương đối nghèo sẽ phải bỏ học là rất lớn. Vì vậy, bên cạnh chính sách học bổng, miễn học phí cho SV nghèo, khoảng 10 năm gần đây, có rất nhiều nước như Anh, Thụy Điển, Nam Mỹ, Úc, Thái Lan… đã nghiên cứu và vận dụng một chính sách mới cho SV vay vốn gọi là “Income Contingent Loans”, để SV trang trải cho chẳng những học phí mà còn cả chi phí ăn ở để mở rộng khả năng tiếp cận GDĐH cho số đông. Phần lớn SV được vay vốn với mức lãi suất rất thấp. Sau khi ra trường, nếu họ chưa xin được việc làm hoặc mức lương còn thấp hơn một ngưỡng nào đó thì chưa phải trả. Nếu mức lương cao hơn ngưỡng thì trích một phần, ví dụ 10-20%, của phần cao hơn để trả dần, có thể kéo dài đến 20-25 năm, gần giống như thuế thu nhập cá nhân lũy tiến. Nếu sau thời gian đó mà trả chưa xong thì được xóa nợ. Bản chất của chính sách này là chuyển sự chi trả của SV từ hiện tại sang tương lai. Hơn nữa, Nhà nước cũng đã gánh chịu toàn bộ rủi ro cho họ cũng như có tài trợ một phần qua lãi suất thấp. Nhà nước trích một phần NSNN cấp cho GDĐH để trang trải “chi phí” cho chính sách này. Ở Thái Lan năm 2003, dự toán ngân sách cho Quỹ cho vay có con số đến 350 triệu USD. (VN có dự kiến tăng học phí nhưng hoàn toàn chưa có đề cập đến chính sách này).  4. Chính sách mở rộng sự đóng góp của cộng đồng. Trước hết là cho phép và tăng cường các hoạt động có tính kinh doanh của các cơ sở GDĐH như: mở các chương trình đào tạo ngắn hạn và hoạt động nghiên cứu, tư vấn… theo hợp đồng, mở các công ty thuộc trường ĐH… Năm 1996, các hoạt động này đã đóng góp vào tổng thu của các cơ sở GDĐH đến 14% ở Argentina, 17% ở Trung Quốc (ở VN con số này mới chỉ khoảng 2-3%). Sau nữa là sự đóng góp của cộng đồng và các nhà tài trợ. Ở Mỹ, năm 1995-1996 đóng góp của cộng đồng đã lên đến con số 14, 25 tỷ USD. Những khoản đóng góp này được xem như là những chi phí hợp lý của các tổ chức và cá nhân, do đó được miễn thuế thu nhập. Điều đó có nghĩa, Nhà nước cũng đã có đóng góp một phần ở đây, biểu thị qua sự “tổn thất” trong thuế thu nhập. (Ở VN có lẽ còn chưa có chính sách này).    5. Chính sách phát triển ĐH tư thục. ĐH tư thục vốn có vai trò rất quan trọng ở nhiều nuớc Châu Á và Mỹ Latin. Tỷ lệ SV tư thục trong GDĐH ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines đã đạt đến con số trên dưới 80%, ở Indonesia là 60% (2001), Malaysia là 38% (2000). Còn gần đây, ĐH tư thục cũng đã phát triển rất nhanh ở Nga, Trung và Đông Âu, Argentina, Trung Quốc, và còn chú trọng cả việc mở các campus của ĐH các nước tiên tiến ở nước mình (như Malaysia) và cơ sở GDĐH trong các công ty lớn. Tuy nhiên, khi phát triển ĐH tư thục, cần lưu ý những điểm sau đây: (1)Nhà nước phải tăng cường trách nhiệm của mình trong việc tạo khung pháp lý và chính sách cho việc thành lập cũng như vận hành các ĐH tư thục, (2)Nhà nước hỗ trợ về cấp đất, miễn thuế, tiếp cận vốn ODA…; (3)SV ở đây được bình đẳng với SV ở các ĐH công lập về chính sách học bổng và vay vốn; (4)Tuy nhiên, đa số ĐH tư thục là “không vì lợi nhuận” hoặc chỉ có “mức lợi nhuận thích hợp”. Ở Mỹ, năm 2003, có 1.859 ĐH tư thục 4 năm, nhưng chỉ có 318 cơ sở là vì lợi nhuận (ở VN, theo quy chế, ĐH tư thục là ĐH vì lợi nhuận, tuy không nêu ra một cách tường minh(!)); (5)Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ về mặt chất lượng, tránh hiện tượng “cỗ máy cấp bằng” (Degree Mills). (Chưa thấy Chính phủ nước nào chủ trương “cổ phần hóa ĐH công lập để có ĐH tư thục” và cho phép học phí có thể cao đến mức còn để mở rộng đầu tư cho cơ sở GDĐH như một số đề nghị gần đây ở VN). Cũng xin lưu ý đến một khuyến cáo của WB năm 1997 về vấn đề chất lượng và tài chính ở ĐH tư thục: “Có những ĐH và cơ sở GDĐH tư thục ở các nước đang phát triển hoạt động vì lợi nhuận, chỉ thu một mức học phí rất khiêm tốn nhưng lại dựa hoàn toàn vào học phí…”. Nghĩa là, có những nguy cơ về mặt chất lượng.  6. Chính sách cung cấp NSNN theo các chỉ số hoàn thành nhiệm vụ. Thực chất đây là việc chuyển chính sách cung cấp NSNN theo kiểu “thảo luận”, căn cứ vào con số năm trước và số SV nhập học, sang chính sách cung cấp “trọn gói” (lump sum) dựa trên một số chỉ số hoàn thành. Các chỉ số này có thể bao gồm, ví dụ như: Số SV tốt nghiệp theo từng lĩnh vực, số năm học trung bình để tốt nghiệp, số hợp đồng có được trong hoạt động nghiên cứu, sự đánh giá của các đơn vị đồng nghiệp… Từ đó, cơ sở GDĐH có thể hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng các nguồn thu của mình. Mục đích của chính sách này là để cơ sở GDĐH có thể sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực công và phản ứng tốt hơn với những yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, cũng thực là sai lầm nếu đã vội kết luận rằng, những quyết định ở cơ sở GDĐH sẽ luôn tuân theo những lợi ích của phúc lợi công cộng. Vì vậy, các điều kiện phải kèm theo là: (a)Nhà nước vẫn phải tiếp tục đóng vai trò chỉ đạo: xác định sứ mệnh của nhà trường, xây dựng các nguyên tắc quản trị học thuật, kiểm định chất lượng các chương trình, đánh giá tổng thể nhà trường, đánh giá trách nhiệm và thẩm quyền…; (b)Phải củng cố cơ cấu Hội đồng quản trị ở cơ sở GDĐH để có thể đại diện cho lợi ích của cộng đồng chứ không phải chỉ là lợi ích của riêng nhà trường hoặc một thế lực nào đó; và (c)Phải quản lý minh bạch và có trách nhiệm xã hội để giảm thiểu sự ngờ vực, đồng thời có thể cổ vũ cho một số hoạt động có rủi ro.  7. Tái cấu trúc các cơ sở GDĐH. Tái cấu trúc có thể bao gồm: (a)Sáp nhập các cơ sở GDĐH để củng cố, thay đổi sứ mệnh hoặc đảm bảo quy mô có hiệu quả về mặt kinh tế (economies of scale); (b)Giải tán các cơ sở, các chương trình kém hiệu quả và hiệu suất; (c)Thay đổi nhiệm vụ, đào tạo lại, cho nghỉ hưu sớm, tinh giản biên chế… đối với đội ngũ cán bộ của nhà trường, sắp xếp lại tổ chức nhà trường… Có thể nói, đây là những công việc khó khăn nhất và có nhiều phản ứng nhất trong cải cách GDĐH. Tuy nhiên, khi GDĐH đã có “cung” xấp xỉ “cầu”, mức độ cạnh tranh về nguồn lực, về thầy giáo, về SV giữa các cơ sở GDĐH là rất cao, sự “sống còn” về mặt tài chính của nhiều cơ sở GDĐH, đặc biệt là các cơ sở tư thục, thực không dễ dàng. Khi đó, áp lực về năng suất, về hiệu quả, về chi phí… sẽ buộc các cơ sở GDĐH phải tái cấu trúc.  Phạm Phụ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình*      Tôi may mắn có trong tay bản thảo cuốn sách  đã ba tháng nay, và phải làm cái công việc khó khăn là không dám “khoe”  vì sợ lộ bí mật. Nay cuốn sách đã ra mắt, xin đưa lên bài viết về cảm  nhận của tôi khi đọc sách. Cũng có thể xem là lời giới thiệu cuốn sách  với bạn đọc.    Một cuốn sách trình bày những kiến thức toán học dưới dạng “ngây thơ” nhất, và vì thế, bản chất nhất. Ta gặp ở đây những khái niệm đầu tiên về số,  những vấn đề “cao siêu” như trường số, tính không giải được bằng căn thức của phương trình bậc 5 tổng quát, cho đến hình học phi Euclid, đường trắc địa…Một cuốn lịch sử toán học, từ sự ra đời của số vô tỷ đầu tiên đến sự xuất hiện của phương pháp tọa độ và giải tích vô cùng bé. Nhưng trước tiên, cuốn sách là một câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp, với nắng vàng trên bãi cát, với bầu không khí trong vắt của trí tuệ và tình người, với những nghịch lý và âm mưu. Ta chợt nhận ra rằng, thế giới của những con số cũng huyền ảo, kỳ bí và lãng mạn như cuộc đời.  Tác giả đưa ta vào câu chuyện cổ tích, mà ở đó cùng với Ai và Ky, ta bắt gặp những con người của nhiều thế kỷ khác nhau đang sống cùng nhau trong một thế giới chung: Toán học. Ta gặp Euclid (thế kỷ III TCN) và Thales (624-546 TCN), hai nhà phù thủy chỉ dùng cây thước và compa mà dựng nên cả “thế giới hữu tỷ”; thấy Pythagoras (570-495 TCN) nghiêm khắc trừng phạt anh học trò Hyppasus (thế kỷ V TCN) vì đã dám tạo ra số vô tỷ đầu tiên, phá vỡ cái hài hòa của thế giới hữu tỷ. Ta gặp Zeno xứ Elea (490- 430 TCN) hiện  thân thành cô gái Zena với cặp mắt mê hoặc, mà khi nhìn vào đó, thời gian dường như bị chia thành những mảnh nhỏ vô cùng  mà ta không thể vượt qua. Nhưng cuối cùng, Alice (lực sĩ Achilles?) đã dũng cảm vượt qua cái “nghịch lý Zeno” đó, dù biết là phải chịu trừng phạt. Để vượt qua cái việc chia cắt thời gian thành những mảnh nhỏ, Alice phải nhờ tới “chuỗi hội tụ”, nhờ tới giải tích vô cùng bé. Ông Chico hiểu điều đó, nhưng vẫn trừng trị Alice, để không làm phật ý Đức Vua, người chỉ biết dùng phép khai căn để tìm ra gốc gác từng thần dân (số) của mình. Ta nhận ra trong bóng dáng Chico hình ảnh của Cauchy (1789-1857), nhà toán học thiên tài, một trong những người đặt nền móng cho giải tích vô cùng bé, nhưng cũng là một người bảo hoàng cực đoan. Cũng vì phụng sự Đức Vua mà Chico trừng phạt chàng Elaci, người đã phát hiện ra rằng Đức Vua không thể chỉ dùng phép khai căn mà tìm được những “thần dân” là nghiệm của phương trình bậc năm. Ông Chico muốn dìm đi phát hiện đó của chàng Elaci, và Elaci đã phải quyết đấu với con rồng. Nhưng trong câu chuyện cổ này, Elaci không chết ở tuổi 21 như Evariste Galois (1811-1832)  trong buổi sáng định mệnh sau trò đấu súng, mà chỉ bị đày đến “xứ p-adic”, xứ sở mới của những con số khác với số thực và phức nhưng cũng không kém phần hấp dẫn.  Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình còn là cuốn sách vỡ lòng về triết học của toán học. Với cặp mắt ngây thơ của Ai, ta nhìn ra mâu thuẫn ẩn chứa trong các chứng minh phản chứng, mâu thuẫn giữa cái  hữu hạn và vô hạn, của sự chứng minh được hay không một chân lý toán học. Bởi thế nên ông già Cartesius (René Descartes, 1596-1650) mới nhận ra rằng, để “tồn tại”  thì chỉ “suy nghĩ” thôi là chưa đủ: “Ta đang nghi ngờ, việc của ta là nghi ngờ. Ta sợ một lúc nào đó ta không còn nghi ngờ được nữa, thì bản thân ta cũng sẽ trở nên tàng hình”. Cũng bởi vì thế mà Diogenes xứ Sinop (412 hoặc 404 – 323 TCN) mới cầm đèn đi giữa ban ngày để tìm cho ra người lương thiện.  “Giải quyết một bài toán cũng như ăn từng miếng nhỏ của trái táo. Làm như thế một là để thưởng thức, hai là để tránh nghẹn”, ông già Cartesius đã khuyên Ai như thế. Cuốn sách trên tay các bạn cũng cần được thưởng  thức chậm rãi như thế, để có thể cảm nhận được hương vị đậm đà của nó. Và trên hết, phải có cặp mắt ngây thơ như cậu thiếu niên Ai, để nhìn ra chân lý. Bởi vì chân lý chỉ dành cho những người không bị che mắt bởi cái vụn vặt thường nhật.  Lời nhắn nhủ của Elaci từ xứ sở p-adic cũng là lời nhắn cho tất cả chúng ta: “Hãy lắng nghe những người khác nói nhưng luôn suy nghĩ bằng cái đầu của mình. Cuối cùng và quan trọng nhất là đừng bao giờ để rơi mất tiếng cười hồn nhiên của Alice”.  Cuốn  sách giản dị, thông thái, sâu sắc, vừa dễ gần, vừa không dễ hiểu –  như chính tác giả của nó vậy.“  Gấp sách lại, cái “cảm giác tiếc nuối trở nên mơ hồ như làn khói lam chiều. Có một tiểu hành tinh vừa băng qua mùa thu của Trái đất”.   —  * Tác giả: Ngô Bảo Châu và Nguyễn Phương Văn; NXB Thế Giới và Nhã Nam ấn hành tháng 3/2012      Author                Quản trị        
__label__tiasang Albert Einstein bàn về giáo dục      Trong thế giới đang biến đổi quá nhanh ngày nay, bên cạnh nhiều vấn đề đòi hỏi cách tiếp cận mới, nhiều giá trị cần được nhìn nhận lại, dường như vẫn có những điều trường tồn với thời gian. Một trong số đó là mục đích tối thượng của giáo dục: tạo ra những con người tìm được ý nghĩa của cuộc đời và biết cách chung sống hòa bình.&#160; Mục đích tối thượng này đã được thể hiện hết sức sâu sắc qua hai bài viết cách nhau hơn nửa thế kỷ: bài nói chuyện của nhà vật lý vĩ đại người Đức Albert Enstein năm 1949, và bài viết về giáo dục tổng quát của nhà triết học Mỹ lừng danh Andrew Chrucky năm 2003.&#160; Tia Sáng xin lần lượt giới thiệu hai bài viết này qua chuyển ngữ của&#160; Phạm Thị Ly*.                        Giáo dục tương tự như bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và liên tục bị đe dọa chôn vùi bởi cát chảy. Luôn cần có những bàn tay chăm sóc để bức tượng cẩm thạch ấy tiếp tục tỏa sáng trong ánh Mặt trời. Tôi thấy mình cũng cần góp bàn tay vào chăm sóc bức tượng ấy.   Xưa nay nhà trường bao giờ cũng là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao sự phong phú của truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay, điều này thậm chí còn rõ ràng hơn so với các thời đại trước đây, bởi vì trong sự phát triển của đời sống kinh tế hiện đại, chức năng chuyển giao truyền thống và giáo dục của gia đình đã suy yếu đi nhiều. Do vậy sự tiếp diễn lành mạnh của xã hội loài người vẫn phải tùy thuộc vào học đường với tầm quan trọng còn to lớn hơn cả trước đây.           Ước vọng được nhìn nhận chắc chắn là một trong các mãnh lực ràng buộc quan trọng nhất của xã hội. Trong mối cảm xúc phức hợp này, hai lực lượng xây dựng và phá hủy luôn nằm kề cận bên nhau. Ước mong được tán thành và nhìn nhận là một động cơ lành mạnh, nhưng khao khát được người khác thừa nhận rằng ta là một cá nhân giỏi hơn, mạnh hơn và khôn ngoan hơn những cá nhân khác rất dễ dẫn đến tâm lý vị kỷ thái quá, có thể làm tổn thương cá nhân và cộng đồng.        Nhiều khi người ta nhìn nhận mục tiêu của nhà trường đơn giản chỉ là chuyển giao một khối lượng tối đa tri thức nào đó cho thế hệ trẻ. Điều này không đúng. Tri thức có tính xơ cứng và bất động, trong khi học đường phục vụ cho những con người sinh động. Nhà trường phải giúp từng cá nhân phát triển những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng điều này không có nghĩa là cá tính sẽ bị triệt tiêu và cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng như là con ong hay cái kiến. Bởi lẽ một cộng đồng gồm những thành viên bị tiêu chuẩn hóa cũng như thiếu vắng sự độc đáo và mục đích cá nhân sẽ là một cộng đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Trái lại, mục tiêu của giáo dục phải là huấn luyện cho cá nhân đạt đến hành động và suy nghĩ độc lập, đạt đến chỗ nhận thức rõ ràng ý nghĩa quan trọng nhất trong đời sống của mình là phục vụ cộng đồng. Theo nhận xét của tôi, hệ thống trường học của người Anh đã đạt đến gần lý tưởng này hơn cả.   Nhưng làm cách nào để đạt được lý tưởng ấy? Liệu có thể thực hiện mục tiêu vừa nói bằng cách răn dạy những bài giảng đạo đức? Không thể được. Ngôn từ là- và chỉ là – những âm thanh rỗng tuếch; con đường dẫn đến diệt vong từng được đồng hành bởi những lời lẽ đầu môi chót lưỡi về lý tưởng. Nhưng nhân cách không hình thành từ những gì được nghe và nói, mà từ hành động và lao động không ngừng.   Do đó, biện pháp quan trọng nhất của giáo dục bao giờ cũng phải nhất quán với những giá trị có thể thôi thúc con người đạt tới thành tựu thực sự. Điều này đúng với việc tập làm văn của một em học sinh tiểu học, cũng như luận văn tốt nghiệp của một vị tiến sĩ; đúng với việc học thuộc lòng một bài thơ, viết một bài tiểu luận, dịch một đoạn văn, cũng như giải quyết một vấn đề toán học, hay tập luyện một môn thể dục thể thao.   Đằng sau mọi thành tựu luôn có một động cơ làm nền tảng, và đổi lại, động cơ được nuôi dưỡng và củng cố nhờ sự hoàn tất mỹ mãn các nhiệm vụ. Ở đây, có những khác biệt to lớn, và đồng thời, những khác biệt ấy đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối với giá trị giáo dục của nhà trường. Động cơ đưa đến thành tựu có thể là sự sợ hãi và cưỡng bách, là khát vọng quyền uy và danh tiếng, là lòng say mê tìm hiểu, là khao khát chân lý và tri thức, là tính hiếu kỳ mà mọi đứa trẻ lành mạnh đều có, nhưng thường sớm lụi tàn. Ảnh hưởng của giáo dục đối với học sinh thông qua việc thực hiện một nhiệm vụ có thể rất đa dạng; tùy thuộc vào việc những thứ như sự sợ hãi hình phạt, nỗi đam mê vị kỷ, những khao khát khoái lạc và sự thỏa mãn có tồn tại đằng sau công việc mà đứa trẻ thực hiện hay không. Không ai có thể khẳng định rằng việc quản lý của nhà trường và thái độ của người thầy không tạo ra một ảnh hưởng nào đến việc hun đúc nền tảng tâm lý của học sinh.           Động cơ quan trọng nhất trong học tập và trong đời sống chính là niềm vui có được qua công việc, niềm hạnh phúc khi gặt hái thành quả và khi nhận thức giá trị của thành quả đối với cộng đồng.                      Albert Einstein        Đối với tôi, điều tệ hại nhất của nhà trường chủ yếu là việc dùng sự khiếp sợ, cưỡng bách, và quyền hành giả tạo làm phương pháp giáo dục. Cách thức đối xử như thế sẽ hủy hoại những cảm xúc lành mạnh, lòng trung thực và tính tự tin nơi học sinh. Nó sản sinh ra loại người chỉ biết phục tùng. Không có gì ngạc nhiên khi loại trường học đó đã tạo ra nền cai trị của nước Đức và nước Nga. Tôi cho rằng trường học ở Hoa Kỳ cũng như ở Thụy Sĩ và nhiều quốc gia khác đã tránh được điều này. Biện pháp để có thể giữ trường học không rơi vào tình trạng độc đoán và tệ hại trên xem ra cũng tương đối giản đơn. Hãy giảm đến mức thấp nhất các biện pháp cưỡng bách trong uy quyền của người thầy, để cho nguồn gốc duy nhất của lòng tôn sư nơi học trò là phẩm chất trí thức và nhân cách của người thầy giáo.   Hai là, động cơ, khát vọng, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, mong muốn được thừa nhận và quan tâm, vốn sẵn có trong bản chất con người. Không có tác nhân kích thích tinh thần này, sự hợp tác của con người sẽ hoàn toàn không thể thực hiện được; ước vọng được nhìn nhận chắc chắn là một trong các mãnh lực ràng buộc quan trọng nhất của xã hội. Trong mối cảm xúc phức hợp này, hai lực lượng xây dựng và phá hủy luôn nằm kề cận bên nhau. Ước mong được tán thành và nhìn nhận là một động cơ lành mạnh, nhưng khao khát được người khác thừa nhận rằng ta là một cá nhân giỏi hơn, mạnh hơn và khôn ngoan hơn những cá nhân khác rất dễ dẫn đến tâm lý vị kỷ thái quá, có thể làm tổn thương cá nhân và cộng đồng. Do đó, nhà trường và người thầy phải cảnh giác trước việc áp dụng những biện pháp dễ dãi để tạo ra tham vọng cá nhân nhằm khuyến khích tính chuyên cần của học sinh.   Lý thuyết Darwin về đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên đã được nhiều người mang ra biện giải như một khái niệm có thẩm quyền trong việc khuyến khích tinh thần cạnh tranh. Một số người cũng bằng phương thức này đã cố gắng chứng minh một cách ngụy biện về mặt khoa học sự thiết yếu của hành động cạnh tranh kinh tế có tính chất loại bỏ lẫn nhau giữa các cá nhân. Nhưng điều này hoàn toàn sai lầm, bởi vì con người có được sức mạnh trong cuộc đấu tranh sinh tồn là nhờ vào sự thật hiển nhiên rằng chúng ta là một sinh vật có đời sống hợp quần. Chỉ có rất ít cuộc giết nhau của những con kiến trong tổ là cần thiết cho sự tồn vong; và đối với từng cá nhân trong cộng đồng nhân loại cũng như vậy.   Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác việc in vào tâm trí những người trẻ tuổi rằng thành công là mục đích của cuộc đời; bởi vì người thành công thường là kẻ nhận được nhiều từ đồng loại của mình, và những gì anh ta nhận lại thường không tương ứng với những gì anh ta xứng đáng nhận nhờ phục vụ cộng đồng. Giá trị của một người là ở những gì người ấy cho đi, chứ không phải những gì người ấy có khả năng nhận được.   Động cơ quan trọng nhất trong học tập và đời sống chính là niềm vui có được qua công việc, niềm hạnh phúc khi gặt hái thành quả và khi nhận thức giá trị của thành quả đối với cộng đồng. Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của học đường là khơi dậy và củng cố sức mạnh tâm lý này trong thanh niên. Chỉ một nền tảng tâm lý như thế mới dẫn đến khát vọng cao thượng trong việc giành lấy những thành tựu cao cả nhất của con người, đó là tri thức và kỹ năng thẩm mỹ.   Đánh thức sức mạnh tâm lý hữu ích này chắc chắn dễ hơn là cưỡng bách hay khơi dậy tham vọng cá nhân, mà lại có giá trị hơn nhiều. Vấn đề là phát triển khuynh hướng giống như trẻ con đối với các hoạt động vui chơi và khát vọng thơ ngây trong việc nhận thức, đồng thời hướng dẫn học sinh tiếp cận các lĩnh vực kiến thức quan trọng của xã hội. Giáo dục chủ yếu được thiết lập dựa trên khát vọng thành công và ước muốn được thừa nhận. Nếu nhà trường đạt được hiệu quả theo quan điểm như thế, nó sẽ được người học tôn trọng và các bổn phận mà nhà trường giao phó cho họ sẽ được tiếp nhận như một món quà. Tôi đã biết những đứa trẻ thích được đi học hơn nghỉ hè.   Loại nhà trường như vậy đòi hỏi người thầy phải là một nghệ sĩ trong địa hạt chuyên môn của mình. Điều gì có thể góp phần xây dựng tinh thần này trong nhà trường? Có một biện pháp chung và đơn giản cho vấn đề này, cũng như cho việc duy trì và phát triển các đức tính tốt đẹp nơi cá nhân. Tuy nhiên, có một số điều kiện cần thiết nhất định mà ta có thể đáp ứng được.   Trước tiên, người thầy phải được trưởng thành trong những ngôi trường như thế. Kế đến, họ phải được tự do lựa chọn kiến thức và phương pháp giảng dạy. Có một thực tế không thể phủ nhận là lòng yêu nghề sẽ bị giết chết bởi những sức mạnh áp chế từ bên ngoài.   Nếu quý vị đã chăm chú theo dõi xuyên suốt những ý tưởng của tôi đến đây, thì chắc cũng sẽ thắc mắc ở một điểm. Tôi đã phát biểu trọn vẹn, theo ý kiến riêng của mình về việc thanh niên nên được giáo dục trong một bối cảnh tinh thần như thế nào. Nhưng tôi không nói gì về sự lựa chọn môn học và phương pháp giảng dạy. Giáo dục nhân văn hay giáo dục khoa học và kỹ thuật nên chiếm ưu thế?   Đối với câu hỏi này, tôi xin trả lời như sau: theo ý kiến của tôi, tất cả những gì thuộc về vấn đề này đều nằm ở tầm quan trọng thứ cấp. Nếu một chàng trai đã tập thể dục và đi bộ để rèn luyện sức chịu đựng của cơ bắp và thể chất của mình, tức là chàng ta sẽ có đủ sức khỏe cho mọi công việc lao động chân tay. Điều này cũng tương tự việc rèn luyện tinh thần và kỹ năng. Vì vậy, không có gì sai khi định nghĩa giáo dục như sau: “Giáo dục là những gì còn lại khi người ta đã quên hết mọi điều được học ở nhà trường”. Vì lẽ đó, tôi không lo về chuyện phải đứng bên nào trong cuộc xung đột giữa những người ủng hộ trường phái giáo dục nhân văn cổ điển và những người đề cao nền giáo dục ưu tiên khoa học tự nhiên.   Mặt khác, tôi muốn phản đối ý tưởng cho rằng nhà trường phải trực tiếp giảng dạy kiến thức và đem lại những thành quả cụ thể mà người học sau đó lập tức sử dụng được ngay trong cuộc sống. Cuộc sống có những yêu cầu đa dạng đến nỗi việc đào tạo như thế khó lòng có thể đem lại thành công cho học đường. Ngoài ra, đối với tôi, hơn thế, thật đáng chê trách khi xem cá nhân như một công cụ vô tri. Mục tiêu của nhà trường luôn luôn phải là mang lại cho thanh niên một nhân cách hài hòa, chứ không phải chỉ giúp họ trở thành một chuyên viên. Điều này, theo tôi, trong ý nghĩa nào đó, cũng hoàn toàn đúng đối với các trường kỹ thuật, những trường mà người học sẽ dành trọn cuộc đời mình cho một nghề nghiệp chuyên môn cụ thể. Việc phát triển khả năng tổng quát về suy nghĩ và xét đoán độc lập, luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải việc thu nhận những kiến thức cụ thể. Nếu một người nắm vững yếu tố cơ bản của các môn học và biết cách tự suy nghĩ và làm việc độc lập, chắc chắn anh ta sẽ tìm được lối đi cho chính mình, và ngoài ra, sẽ có khả năng thích nghi với sự tiến bộ và những đổi thay của hoàn cảnh tốt hơn những kẻ được đào tạo chủ yếu để gom góp những kiến thức vụn vặt.   Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng những gì được phát biểu tại đây, dưới một hình thức không có ý nghĩa nào khác hơn là ý kiến cá nhân, đã được hình thành chỉ từ những kinh nghiệm mà tôi thu thập được trong vai trò của một sinh viên và thầy giáo. Nguồn: Albert Einstein, Out of My Later Years, Philosophical Library Inc., New   York, 1950.   Xem tiếp kỳ 2: Mục tiêu của giáo dục tổng quát  ——————  * TS. Phó Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ đầu tư vào các trường đại học trọng điểm      Sau nhiều tháng bàn thảo, Ấn Độ đã ra quyết định giảm bớt số lượng các trường đại học và viện nghiên cứu trong Sáng kiến Các Viện nghiên cứu trọng điểm (Institutes of Eminence) – một chính sách nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu của quốc gia này tới tầm quốc tế, tuy nhiên vẫn còn lo ngại về khả năng chính phủ Ấn Độ không đủ kinh phí hỗ trợ.      Viện nghiên cứu khoa học Ấn Độ, một trong các viện nghiên cứu trọng điểm của Ấn Độ. Ảnh: thehindu.com  Sáng kiến “Đại học trọng điểm” nhằm tạo ra một cơ cấu pháp lý cho phép chính phủ lựa chọn các trường đại học xuất sắc của quốc gia để tập trung đầu tư thành các học viện nghiên cứu và đào tạo ở tầm quốc tế. Trước đó, Chính phủ đã thông báo kế hoạch đầu tư, theo đó, mỗi trường đại học công lập sẽ nhận được 10 tỷ ruppee (110 triệu bảng) trong vòng 5 năm.  Dự kiến, chính phủ Ấn Độ sẽ chọn 20 trường đại học vào danh sách Đại học trọng điểm (10 trường công và 10 trường tư), tuy vậy danh sách đề xuất ban đầu đã bị loại bỏ vì các chỉ số được sử dụng để lựa chọn không chính xác. Hiện tại họ rút danh sách xuống còn 6 trường đại học (3 trường công và 3 trường tư).  N. Gopalaswami, người đứng đầu Ủy ban chuyên gia được trao quyền (Empowered Expert Committee) – bộ phận phụ trách tuyển chọn trường cho Sáng kiến này, đã trả lời CNN-News 18 là “không thể tìm đủ con số 20” trường đại học phù hợp, nguyên nhân là do nền tảng chất lượng giảng dạy và nghiên cứu của Ấn Độ còn thấp. Theo nhiều nguồn tin mới thì Ủy ban này đã đưa thêm 5 trường đại học công khác nhưng không được Bộ phát triển Nguồn nhân lực công nhận. Trong một cuộc phỏng vấn khác với The Hindu, ông Gopalaswaki cho rằng các trường không được chọn trong vòng này có thể nộp đơn xin lại.  Alan Ruby, học giả cao cấp tại Liên minh Giáo dục Đại học và Dân chủ ở Đại học Pennsylvania, người đã gợi ý cho Chính phủ Ấn Độ về sáng kiến này, khẳng định rằng đây là “một quyết định hợp lý để tập trung” nguồn lực đầu tư và “chọn những trường đã sẵn sàng” để trở thành trường đẳng cấp quốc tế.  Ông cũng chia sẻ: “Một lời khuyên mà chúng tôi đưa ra cho Bộ về ‘đủ tiêu chuẩn 20’. Không nhất thiết cần phải có đủ 20 trường, quan trọng là phải sử dụng các nguồn lực vào những trường có tiềm năng thành công”. Nhìn chung, đây thực sự là một quyết định sáng suốt. Không cần phải đáp ứng đủ các hạn ngạch chỉ để ‘đủ tiêu chuẩn 20’ hoặc vì ai đó bảo ‘sẽ có 10 trường công lập và 10 trường tư’. Bộ không nên chấp thuận các trường đại học không đủ tiêu chuẩn”.  Nhưng Antara Senguta, một nghiên cứu viên chuyên về giáo dục đại học ở Observer Research Foundation, một think tank độc lập có trụ sở ở Ấn Độ, thắc mắc về quyết định này rằng “tại sao không để số lượng các úng viên trường Đại học trọng điểm tối thiểu là 11”. Bà cũng cho biết thêm: “Với ngân sách hàng năm là 10 crore rupees (110 triệu bảng Anh) cho 10 Đại học trọng điểm, mức tiền này có thể  hỗ trợ cho nhiều trường đại học công hơn để giúp họ chuẩn bị cho quá trình cải thiện chất lượng lên xuất sắc, thậm chí là có thể đạt vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng toàn cầu. Tương tự như vậy, Chính phủ không thực hiện bất kỳ cam kết tài chính nào với các trường đại học tư nhân, nhưng vẫn cần phải có một số hướng dẫn cụ thể để tư vấn và khuyến khích họ thực hiện”.  Ngoài ra, bà nhấn mạnh: “Nếu được thực hiện có chiến lược, đầu tư vào giáo dục không bao giờ là lãng phí đối với sự phát triển của đất nước”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.timeshighereducation.com/news/indias-slimmer-excellence-initiative-intelligent-approach    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ: Hậu quả không thể tránh của việc mở cửa trong giáo dục đại học      Bộ trưởng Bộ Ph&#225;t triển Nguồn Nh&#226;n lực Ấn độ, Kapil Sibal, đ&#227; hứa sẽ mở cửa thị trường gi&#225;o dục đại học Ấn cho c&#225;c trường đại học nước ngo&#224;i v&#224; đẩy mạnh đầu tư tư nh&#226;n trong gi&#225;o dục đại học. Cần&nbsp; biết rằng trước đ&#226;y những ch&#237;nh s&#225;ch trong qu&#225; khứ đ&#227; tỏ ra ho&#224;i nghi về sự tham gia của nước ngo&#224;i trong gi&#225;o dục đại học Ấn độ. V&#236; Ấn độ đang bắt đầu dấn bước v&#224;o hướng đi mới của gi&#225;o dục đại học,&nbsp; thật rất đ&#225;ng phải xem x&#233;t những hậu quả rất c&#243; thể xảy ra của việc mở cửa, dựa tr&#234;n kinh nghiệm của c&#225;c quốc gia kh&#225;c. &nbsp;&nbsp;    Nếu ông Sibal ngỡ rằng sự tham gia của nước ngoài sẽ trợ giúp Ấn độ nhanh chóng cải thiện sự lạc hậu trong giáo dục đại học, thì ông đã lầm.  Trừ một số rất ít ngoại lệ, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài chỉ muốn thu lợi nhuận nhanh chóng bằng cách mở ra các ngành đào tạo thu hút được  nhiều người học và không quá tốn kém.  Trên toàn thế giới, có vô số những chương trình liên kết hợp tác với nước ngoài trong các ngành công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh và những ngành liên quan.  Phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài này không phải là các trường đỉnh mà là các trường ở hạng trung hạng thấp hoặc trong thang bậc tôn ti ở nước họ. Một số trường gặp khó khăn về tài chính hoặc về việc tuyển sinh và muốn giải quyết những vấn đề này bằng cách mở chi nhánh đào tạo ở nước ngoài. Một số khác là những trường  “dưới đáy”, những trường sẽ mang đến thứ sản phẩm giáo dục dưới chuẩn cho Ấn độ. Một sự mở cửa thực sự sẽ cho phép cả những thứ sâu bọ gây hại lẫn những người khách được chào đón bước vào. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng “thị trường” phát hiện ra chất lượng kém một cách rất chậm- và dường như nói gì thì nói họ cũng vẫn là khách quen của chất lượng thấp.   Một số ít các trường đỉnh sẽ quan tâm đến Ấn độ vì vài lý do kết hợp với nhau- để kiếm tiền và đồng thời xây dựng những quan hệ dài hạn với những trường tốt nhất của Ấn, cũng như tạo dựng cơ sở để chiêu mộ những giảng viên và sinh viên xuất sắc nhất của Ấn độ.      Nâng cao chất lượng thông qua sự tham gia của nước ngoài?   Một số người cho rằng phải thừa nhận là hệ thống giáo dục đại học đang hấp hối của Ấn độ sẽ nhận được liều thuốc cần thiết nhờ sự cải cách và nâng cấp từ các chương trình liên kết với nước ngoài. Đây có vẻ như là một chẩn đoán không lấy gì làm chắc chắn. Những người Ấn có suy nghĩ sâu sắc biết những trục trặc của hệ thống, những yêu cầu ở mức độ cao, kể cả lộ trình cải cách mà Ủy ban Kiến thức đưa ra. Hơn thế nữa, rất nhiều người Ấn đã được đào tạo tại những trường đại học tốt nhất ở nước ngoài và hiểu rõ cách vận hành của những trường như thế. Việc nâng cao chất lượng sẽ phải đến từ bên trong chứ không phải từ một trường nước ngoài hoạt động ở Ấn,đó là điều không tránh khỏi. Hơn nữa, các chương trình đào tạo nước ngoài sẽ không tập trung vào cải cách giáo dục đại học Ấn mà thay vào đó là cạnh tranh với các trường địa phương. Cũng không có người nước ngoài nào mang đầy đủ bộ đồ lề phức tạp và đắt đỏ của trường họ vào Ấn độ, trái lại,họ sẽ mang những ngành đào tạo cụ thể và những phương tiện cần thiết đủ để kiếm được lợi nhuận ở Ấn. Chỉ khi nào nước chủ nhà trả giá đầy đủ, như các nước Trung Đông, thì họ mới xây dựng đầy đủ cơ sở vật chất và đào tạo những ngành tốn kém như trường hợp Trường Y thuộc Đại học Cornell ở  Qatar.      Khó khăn của việc duy trì hoạt động  Nếu Bộ trưởng Sibal tin rằng ông có thể dễ dàng có các trường chất lượng cao và hoạt động tốt được mở ra nhanh chóng ở Ấn độ, thì ông đã lầm. Nhiều khả năng là những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục vì lợi nhuận như Laureate và Apollo, sẽ quan tâm đến Ấn độ nhiều nhất. Những trường này đã hoạt động thành công ở nhiều quốc gia nhưng không hề được coi là những trường có uy tín. Những trường liên kết thường trải nghiệm nhiều trục trặc trong những vấn đề hậu cần. Một thách thức đối với họ là thuyết phục giáo sư và cán bộ quản lý của mình ra nước ngoài làm việc. Thực ra điều này vẫn thường được xem là gót chân Asin của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài, trong hầu hết mọi trường hợp, họ kết thúc vấn đề bằng cách thuê mướn giảng viên tại chỗ để dạy. Đối với người Ấn, học trong một trường có vẻ như trường nước ngoài với những giảng viên địa phương có thể xem là đủ, sinh viên sẽ kết thúc việc học với tấm bằng nước ngoài nhưng không có bao nhiêu trải nghiệm quốc tế.  Điều quan trọng là nếu một trường nước ngoài không kiếm được lợi nhuận một cách nhanh chóng, họ sẽ cuốn gói rất nhanh hoặc sẽ giảm chi phí bằng cách hạ thấp chất lượng.       Những ví dụ quốc tế  Ấn độ có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các nước khác với những chi nhánh nước ngoài và những hoạt động hợp tác quốc tế. Một số nước đã mở rộng cửa với rất ít quy định nhận thấy rằng hầu hết các trường nước ngoài bước vào thị trường đều là những trường dưới chuẩn. Tiêu biểu cho điều này là trường hợp Israel. Tình trạng thiếu cơ hội tiếp cận giáo dục trong nước khiến nhà nước mở cửa cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. Hầu hết các trường nước ngoài đến Israel là những trường hoạt động một cách kém cỏi và ở bên lề hệ thống giáo dục đại học của nước họ. Thế là cánh cửa bèn đóng sập lại. Người mất mát nhiều nhất chính là sinh viên, những người đã trả giá cao cho một chất lượng thấp.   Phần lớn những nước có kinh nghiệm tương đối tích cực với các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài đều có những quy định rõ ràng để kiểm soát ai có thể bước vào thị trường và những điều khoản, điều kiện phải đáp ứng để có thể hoạt động. Chẳng hạn nhà nước Trung Quốc đòi hỏi các trường nước ngoài phải liên kết với một đối tác Trung Quốc và được nhà nước Trung Quốc chấp thuận. Tuy vậy, cũng có những người có thẩm quyền ở cấp địa phương đã sai lầm khi phê chuẩn các đối tác nước ngoài.   Khi bộ trưởng Sibal khẳng định rằng nhiều nước khác không duy trì những cơ chế điều chỉnh mạnh như Ủy ban Tài trợ các trường Đại học hay Hội đồng Đào tạo Công nghệ Ấn độ, quan điểm này có vẻ không đúng với thực tế. Nhiều nước vận hành bằng những cơ chế điều chỉnh mạnh và hoạt động rất tốt. Singapore, với lịch sử thành công trong hợp tác quốc tế, điều chỉnh các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài một cách nghiêm ngặt và  đang mong muốn đóng cửa những chương trình như chương trình liên kết với Johns Hopkins University ở United States, mà người Singapore cảm thấy là những chương trình đã không thực hiện đúng như lời hứa hẹn. Bộ Giáo dục hoặc cơ quan tương đương ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay vài nước châu Á khác đang điều chỉnh một cách thận trọng ai có thể bước vào thị trường địa phương và quy định về hoạt động của họ.   Bảo đảm chất lượng là một mối quan tâm hàng đầu, và chỉ có rất ít quốc gia gỉai quyết được vấn đề này. Một số ít quốc gia có thể giám sát tiêu chuẩn trường đại học của họ một cách hiệu quả và các trường nước ngoài tạo ra thêm những thách thức cho họ. Các chi nhánh nước ngoài của các trường đại học Hoa Kỳ được các tổ chức kiểm định Hoa Kỳ giám sát, dù các tổ chức kiểm định này cũng thấy rằng họ thật khó mà hoàn thành được nhiệm vụ ấy. Các cơ quan kiểm định chất lượng của Ấn độ thực hiện chức năng của họ không lấy gì làm hiệu quả. Giám sát và đánh giá vô số những chương trình hợp tác liên kết đào tạo với nước ngoài có lẽ là một nhiệm vụ vượt quá năng lực của hệ thống kiểm định này.      Có thể làm được gì?  Bộ trưởng Sibal đã nói đúng rằng Ấn độ không thể mãi mãi đóng chặt cánh cửa thị trường đào tạo. Ấn độ, nói cho cùng, ngày càng trở thành một phần trọng yếu của thế giới toàn cầu hóa. Tuy vậy, mở cửa một cách thình lình sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Ấn độ, như những quốc gia đang phát triển khác, cần một chính sách và những quy tắc điều chỉnh rõ ràng và minh bạch. Có những lý do gì thuyết phục cho việc tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa giáo dục đại học? Những trường nào, những hình thức đầu tư nào của nước ngoài là thích hợp cho Ấn độ? Đâu là tiêu chuẩn lựa chọn, giám sát, và đánh giá các trường nước ngoài?Khôngc ó câu trả lời cho những câu hỏi này và một bộ khung chính sách đi kèm với những câu trả lời ấy thì việc mở cửa sẽ chỉ tạo ra những vấn đề trục trặc lâu dài cho hệ thống đào tạo của Ấn độ.   Phạm Thị Ly dịch  Nguồn:  http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number56/p6_Altbach.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh: Chuyển gánh nặng tài chính sang sinh viên      Nhiều nhà nghiên cứu tại các trường đại học của Anh vừa kịp thở phào vì ngân sách Chính phủ dành cho nghiên cứu được giữ nguyên thì nỗi lo mới lại xuất hiện: ngân sách dành cho các trường đại học bị cắt giảm 40%.    Để bù lại mức ngân sách bị cắt giảm, các trường đại học Anh sẽ phải tăng học phí. Mức học phí bậc cử nhân tăng từ 3.290 bảng (5.275 USD) lên mức tối thiểu 6.000 bảng (9.620 USD) cho phần lớn cơ sở đại học. Một vài trường đại học của Anh sẽ được phép thu học phí 9.000 bảng/năm (14.430 USD) gần gấp ba mức phí hiện nay.   Các học giả cho rằng, việc cắt giảm ngân sách dành cho giáo dục có thể sẽ gây khó khăn cho các trường đại học trong việc duy trì cơ sở vật chất cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và cũng ảnh hưởng tới khả năng thu hút tài năng trên thế giới. Tại Anh, nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các trường đại học (khác với hệ thống của Pháp, Đức) và giống như Mỹ, quốc gia này có nhiều trường đại học xếp đầu bảng trong xếp hạng trường đại học toàn cầu. Năm nay, Anh đã giành được 3 giải Nobel khoa học và một giải Nobel kinh tế. Hai nhà vật lý người Nga Andrei Geim và Konstantin Novoselov, vừa đoạt giải Nobel 2010, thuộc trường đại học Manchester, bị thu hút tới Anh vì nguồn tài trợ thoả đáng và môi trường thuận lợi tại trường đại học.   Thậm chí một số nhà phân tích còn lo ngại, liệu các cơ sở giáo dục của Anh có “sống sót” được qua đợt cắt giảm này. “Một vài trường đại học đã sẵn sàng đương đầu với nguồn  ngân sách hạn chế nhưng có thể họ sẽ thất bại”, Bahram Beckhradnia, giám đốc Viện chính sách giáo dục đại học nói.   N.T (Theo Science, The Chronicle of Higher Education)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảnh hưởng sâu đậm của Rousseau      Rất ít người có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài  lên việc tổ chức, phương pháp và nội dung của giáo dục như Rousseau.      Mặc dù vai trò lịch sử của ông là phê phán  nền giáo dục cổ truyền, và  nhiều chủ trương trong triết học giáo dục  “tự nhiên” của ông được đời  sau chỉnh sửa hoặc bác bỏ, nhưng không ít  những nguyên lý lớn trong nền  giáo dục hiện đại thừa hưởng di sản tư  tưởng của ông.  Ngày nay, nếu nền giáo dục nào cũng chấp nhận rằng trẻ em cần được đối xử như là trẻ em, điều đó là nhờ công của Rousseau. Khi ta nói đến việc thống nhất tri và hành, kết hợp trí dục, thể dục và đức dục, ta không thể quên ông. Ông cũng là người nhấn mạnh đặc biệt đến giáo dục con tim bên cạnh khối óc và bàn tay. Sự phê phán mạnh mẽ như bão táp của ông buộc mọi người phải ra sức biện hộ cho hệ thống giáo dục hiện hành, và, khi họ thấy không thể duy trì hiện trạng, ít ra cũng có những nỗ lực cải tiến. Có thể nói, Rousseau đã mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong giáo dục. Trước khi có những nhận định về ưu, khuyết điểm của triết học giáo dục “duy nhiên”, ta cần nhìn nhận ảnh hưởng to lớn của Rousseau trên các lãnh vực sau đây.  GIÁO DỤC NHỮNG MỐI QUAN TÂM TỰ NHIÊN  Rousseau cho rằng giáo dục là tiến trình tự nhiên, chứ không phải là cố gắng giả tạo. Nó là sự phát triển từ bên trong, không phải từ bên ngoài. Nó hình thành từ hoạt động của những bản năng và mối quan tâm tự nhiên, chứ không phải từ việc phản ứng trước sức mạnh bên ngoài. Giáo dục là sự triển khai những năng lực tự nhiên hơn là thu hoạch và tích lũy thông tin. Với Rousseau, giáo dục là bản thân đời sống, chứ không phải là sự chuẩn bị cho trạng thái tương lai xa vời với cuộc sống thực của đứa trẻ. Vui học đồng thời là vui sống!  Trước đây, giáo dục nhằm “cải tạo” bản tính của đứa trẻ, bằng cách cưỡng bách nó tuân theo cách nghĩ, cách làm truyền thống, kể cả cách cảm xúc. Thay cho phản ứng “tự nhiên” là những phản ứng giả tạo được phát triển thông qua vô vàn thế hệ đi trước. Xúc cảm của con người bị cho là xấu, nên phải làm cho trái tim ta tách rời với những đối tượng của ham muốn tự nhiên. Xúc cảm của con người bị xem là không đáng tin cậy, nên không thể dùng làm nền tảng cho tri thức hay đào tạo. Bản năng và xu hướng tự nhiên luôn hướng đến cái xấu, nên phải “khắc kỷ phục lễ”, phải kiềm chế nếu không thể tận diệt chúng!  Trong xã hội cổ truyền, những mối quan tâm tự nhiên cần được “uốn nắn” trong mọi tiến trình giáo dục. Một hoạt động có giá trị giáo dục là khi nó khó thực hiện và trái với lòng ham thích tự nhiên!  Vì quan niệm như thế, nên bước đầu tiên trong giáo dục là bẻ gãy ý chí của đứa trẻ, vốn đại diện cho bản tính xấu. Tiếp theo tất nhiên là phải khuôn đúc đứa trẻ vào những cung cách ứng xử “vừa mắt” của người lớn, cho dù chỉ là giả tạo, che dấu những động cơ ngược với biểu hiện bên ngoài: “đứa trẻ được xem là người lớn thu nhỏ, không có giá trị và quyền hạn gì hết, cho đến khi nó bắt chước được cung cách của người lớn”.  Trước Rousseau, trẻ em bị nhìn từ ống nhòm… lộn ngược! Ăn, nói, đi, đứng như người lớn. Học cùng những môn như người lón, đến với chúng từ cùng một lối nhìn lôgíc. Điển hình là nhồi nhét bằng trí nhớ. Mục đích là biết sử dụng những môn học ấy trong đời sống xã hội cũng được tổ chức một cách giả tạo.  Ta thấy mọi “bài bản” về sau của Rousseau chỉ toàn là việc áp dụng cụ thể những gì ông phản đối nền giáo dục cổ truyền. “Chỉ cần làm ngược lại những gì đang làm, tức là làm đúng!”. Khẩu hiệu của Rousseau công phá mãnh liệt thành trì của giáo dục Tây phương có từ thời Phục Hưng. Sách của ông (cả hai quyển: Khế ước xã hội và Émile) đều bị tịch thu và cấm lưu hành, tác giả của chúng bị truy nã là… phải!  GIÁO DỤC LÀ TIẾN TRÌNH?  Như đã nói, Rousseau hiểu tiến trình là cái gì kéo dài suốt đời, ít ra từ khi mới sinh cho đến lúc trưởng thành. Giáo dục tìm thấy ý nghĩa của nó trong từng giai đoạn, nghĩa là trong bản thân tiến trình, chứ không phải trong tương lai: “Ta phải nghĩ gì về nền giáo dục dã man, hy sinh hiện tại cho tương lai không chắc chắn, tròng vào cổ trẻ em đủ loại xích xiềng, làm cho chúng thảm hại để gọi là nhìn xa trông rộng, chuẩn bị cho chúng một thứ hạnh phúc mơ hồ nào đó mà có lẽ chúng sẽ chẳng bao giờ được hưởng?”.  Do đó, với Rousseau, giáo dục sẽ không còn là việc làm nặng nề, khó nhọc, dưới bàn tay gia công quá mức cần thiết của người thầy. Để cho những sức mạnh tự nhiên đi con đường của chúng, tiến trình này sẽ trở nên vui thú, hợp tình hợp lý, cân đối, hài hòa. Mục tiêu đã đạt được, không phải nơi cuộc sống của người lớn, mà trong từng ngày!  NHÀ TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC TIỀN PHONG  Trong học thuyết của Rousseau, người ta tìm thấy nền tảng cho nền giáo dục Tây phương suốt thế kỷ 19 và 20. Ông là nhà tiên tri về sự sụp đổ của cái cũ và dự báo, tuy còn mơ hồ, cái mới đang đến. Rất nhiều nhà giáo dục đi theo chân ông, dù có ý thức hay không, cho đến khi thấy mở ra trước mắt những đại lộ thênh thang. Với quan niệm giáo dục như là tiến trình, Rousseau truyền cảm hứng cho những nhà cải cách, trở thành người tiền phong cho tâm lý học giáo dục và sư phạm học. Khi xem chất liệu giáo dục chủ yếu phải là những sự kiện và hiện tượng trong tự nhiên, ông góp phần tăng cường xu hướng khoa học trong giáo dục hiện đại. Hầu như ai cũng đồng thanh nhận định rằng mọi nỗ lực cải cách giáo dục của Humboldt, Dewey, Pestalozzi, Herbart, Froebel… đều bắt nguồn từ Rousseau.  Sau cùng, giáo dục nơi Rousseau cũng chuẩn bị cho cá nhân sống trong xã hội. Rousseau mở đường cho các trào lưu xã hội học trong giáo dục. Bên trong cá nhân luận của ông hàm chứa ý tưởng về giáo dục xã hội theo kiểu mới. Xem nghề nghiệp là bộ phận cấu thành của giáo dục, ông đề xướng “thực học”, vượt khỏi khuôn khổ giáo dục từ chương quý tộc. Nhấn mạnh tình cảm và đạo đức, ông bổ sung cho phương diện trí tuệ, ngăn ngừa xu hướng thực dụng thô thiển và cảnh báo nguy cơ của một nền khoa học công nghệ thiếu lương tâm và hủy diệt môi trường sống.  Ảnh hưởng sâu đậm của Rousseau không thể hiện ngay lập tức trong nhà trường. Émile không phải là đề án giáo dục theo nghĩa hẹp, mà là một thử nghiệm tư duy, một suy tưởng triết học. Nó lại gắn liền với một học thuyết chính trị (Khế ước xã hội) có nhiều hệ quả gây tranh cãi. Ta sẽ không quên tính chất phức tạp ấy khi đi vào nhận định ưu, khuyết điểm của triết học giáo dục “duy nhiên”.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 10, 27.03.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Áp dụng VNEN ở Bắc Giang: Quan trọng nhất  là tập huấn      Để áp dụng Mô hình trường học mới (VNEN) tại các trường thí điểm trong dự án VNEN và diện mở rộng, thách thức lớn nhất chính là tập huấn giáo viên chứ không phải các yếu tố cơ sở vật chất, tài chính. Có thể thấy điều đó qua trường hợp các trường tiểu học (TH) ở Bắc Giang.      Một giờ đọc sách tại phòng reading room của trường TH Hoàng Ninh 3: Học sinh tự lựa chọn sách và đọc theo nhóm, sau đó từng nhóm trình bày kết quả nhóm mình thu thập được trước cả lớp.   Một ví dụ thành công nhờ áp dụng VNEN linh hoạt  Bắt đầu bước vào trường TH Tăng Tiến, xã Tăng Tiến, một trong hai trường của huyện Việt Yên và trong số 13 trường của Bắc Giang thí điểm tham gia dự án VNEN kể từ năm học 2013 – 2014, chúng tôi rất ngạc nhiên khi điệu nhạc tiếng Anh vui nhộn được bật, các em học sinh lớp lớn đang đứng trên bậc thềm cao giữa sân trường để sắp xếp cho các khối lớp vào hàng ngũ. Nhún nhảy theo nhạc, các em bắt đầu giờ học thể dục của mình mà không có giáo viên nào hướng dẫn. Hết giờ thể dục, một số em vây quanh hỏi chúng tôi từ đâu tới, giới thiệu về bản thân và ngôi trường bằng … tiếng Anh. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, cô hiệu trưởng Đinh Thị Soạn giải thích, hai năm nay giáo viên trường Tăng Tiến khá “nhàn” vì học sinh khối lớp 4,5 có thể giúp thầy cô giáo hướng dẫn khối lớp nhỏ hơn tham gia hoạt động ngoại khóa. Còn ở giờ giảng trên lớp, các em cũng đã thể hiện vai trò chủ động của mình.  Tăng Tiến triển khai dự án VNEN trong điều kiện có những yếu tố khá thuận lợi như sĩ số học sinh thường dưới 30 em/ lớp; cơ sở hạ tầng tương đối tốt với các lớp học rộng rãi. Về tài chính, trường được dự án hỗ trợ học liệu gồm sách giáo khoa (SGK) VNEN và các dụng cụ học tập khác. Nhưng quan trọng hơn cả là “Phụ huynh ở đây tin tưởng và gần như ‘giao’ con cho nhà trường. Nếu các thầy cô giáo áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy mà vẫn đảm bảo học sinh không bị ‘hổng’ kiến thức thì họ đều đồng tình”, bà Đinh Thị Soạn cho biết.  “Vượt qua” được những trở ngại về cơ sở vật chất và tư tưởng của phụ huynh, thì điểm mấu chốt quyết định tới kết quả thực hiện VNEN ở đây chính là tập huấn và sự “linh hoạt” của giáo viên, lãnh đạo nhà trường. Giáo viên được tập huấn theo hai cấp: trực tiếp trong các đợt tập huấn của Bộ GD&ĐT và gián tiếp do ngành giáo dục ở Bắc Giang tổ chức. Tuy nhiên, các đợt tập huấn mới chỉ trang bị thông tin cơ bản về VNEN và chưa cho phép giáo viên trải nghiệm thực hành dạy cho học sinh, mặt khác, triết lý và phương pháp giáo dục có rất nhiều điểm “ngược” hẳn với mô hình giáo dục truyền thống, nên quá trình thực hiện VNEN rất cần sự linh hoạt điều chỉnh. “Thú thực là chúng tôi rất bỡ ngỡ và xoay như chong chóng”, cô Phan Thị Minh Ngọc, giáo viên lớp hai trường TH Tăng Tiến kể lại về năm đầu tiên dạy theo VNEN. Hàng loạt cuộc thảo luận chuyên môn giữa các tổ bộ môn và giữa toàn thể giáo viên trong nhà trường được thực hiện trong suốt năm đầu tiên để rút kinh nghiệm và điều chỉnh phương thức giảng dạy sao cho phù hợp nhất. Ví dụ, đối với khối lớp hai – khối đầu tiên “chuyển giao” từ phương pháp dạy cũ sang mới, các thầy cô cũng “lồng ghép” cả cách giảng theo phương pháp truyền thống với một số nội dung giảng để đảm bảo học sinh nắm vững những kiến thức, khái niệm mới.  Kết quả đạt được rất khả quan, “giáo viên nhận xét các em được đảm bảo kiến thức và năng động hơn nhiều so với cách dạy học cũ”, bà Đinh Thị Soạn cho biết, trường TH Tăng Tiến đã lên kế hoạch tiếp tục thực hiện mô hình VNEN mà không cần xin bổ sung kinh phí của ngành giáo dục. Mặt khác, toàn bộ SGK VNEN do dự án tài trợ từ ba năm học trước vẫn được giữ lại cho học sinh khóa sau để các em không phải mua sách mới. Trong cuộc thảo luận nhóm với chúng tôi, giáo viên trường Tăng Tiến đều khẳng định mô hình VNEN là hợp lý (tuy nhiên riêng khối lớp 2 là “vất vả” nhất và cần được hướng dẫn chuyên môn nhiều hơn). Các khối lớp đã “vào guồng theo mô hình dạy học mới, nhất là ở các lớp lớn như lớp 3, 4, 5 thì học sinh đã quen tự học nên giảng bài cũng dần ‘nhàn’ hơn”, cô Nguyễn Thị Hậu, giáo viên dạy lớp 5 ở trường TH Tăng Tiến cho biết. “Nếu bây giờ quay lại phương pháp dạy cũ thì tôi và nhiều thầy cô khác ở trường không đồng ý đâu”, cô Hậu cười và nói thêm.  Mấu chốt là tập huấn đầy đủ cho giáo viên  Không có những thuận lợi như TH Tăng Tiến, giáo viên trường TH Hoàng Ninh 3, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, đơn vị áp dụng VNEN trong diện mở rộng1, lại khá e ngại trước cuộc đổi mới giáo dục vì vấp phải không ít thách thức. Trước hết, nhà trường không nhận được sự đồng tình của nhiều phụ huynh khi trường không nhận được hỗ trợ về học liệu, do đó phụ huynh học sinh phải đăng ký mua SGK VNEN với nhiều quyển, giá đắt gần gấp đôi so với SGK hiện hành. Mặt khác, nguồn nhân lực cho thực hiện VNEN chưa được chuẩn bị kỹ càng. Chỉ có một số giáo viên ở trường TH Hoàng Ninh 3 tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, còn lại chủ yếu dự giờ mẫu và thảo luận chuyên môn tại trường Tăng Tiến. Sau đó, “đa phần chúng tôi tự ‘tập huấn’ cho nhau là chính”, thầy Thân Đức Hướng, giáo viên trường TH Hoàng Ninh 3 cho biết. Mặt khác, trong kỳ học đầu tiên theo VNEN – giai đoạn chuyển giao giữa mô hình giáo dục cũ và mới, giáo viên trường Hoàng Ninh 3 không linh hoạt mà áp dụng “chặt” nguyên tắc “quan sát và hỗ trợ” học sinh chứ không giảng bài. Hệ quả là “hết học kỳ đầu tiên tôi thấy các em học sút kém hẳn”, chị Hoàng Thị Thuận, giáo viên trường TH Hoàng Ninh 3 nói. Mặc dù đã có điều chỉnh hoạt động dạy và học linh hoạt hơn bằng cách kết hợp với cách giảng truyền thống, nhưng Hoàng Ninh 3 vẫn cảm thấy lúng túng trong việc áp dụng VNEN ở tất cả các khối lớp. Hơn nữa, hai giáo viên chủ chốt được tập huấn đầy đủ về phương pháp dạy học theo mô hình VNEN đều đã chuyển công tác nên trường TH Hoàng Ninh 3 rất thiếu giáo viên am hiểu về phương pháp này.  Vì vậy, trong năm học 2017 – 2018, trường TH Hoàng Ninh 3 sẽ không áp dụng dạy học theo mô hình VNEN ở tất cả các khối lớp mà chỉ áp dụng các thành tố tích cực của VNEN như tạo không gian cho học sinh chủ động thảo luận trong nhiều tiết học, đặc biệt là các tiết thực hành, ngoại khóa.    Một giờ học ở trường TH Hoàng Ninh 3, đơn vị không triển khai mô hình VNEN ở tất cả các khối lớp nhưng vẫn tiếp tục áp dụng các thành tố tích cực của VNEN vào giảng dạy. Trên tường lớp học là các sản phẩm từ hoạt động ngoại khóa theo phương pháp VNEN của học sinh như “Sơ đồ cộng đồng”, bảng “Sản phẩm của em”, bảng theo dõi “tiến độ” của “Đôi bạn cùng tiến”.  Sẽ không quay lại mô hình truyền thống  Trong tháng 8 vừa qua, trước thềm năm học mới, HĐND huyện và UBND huyện Việt Yên đã cùng họp với cán bộ ngành giáo dục huyện để phân tích về mô hình VNEN. “Chúng tôi đã trả lời HĐND huyện là mô hình này mang lại lợi ích rất lớn như sự tự tin, sáng tạo cho học sinh. Nhưng giáo viên thì chắc chắn vất vả hơn trước nhiều. Do đó, chúng tôi cũng để các trường tự chủ động trong việc lựa chọn tiếp tục dạy theo mô hình VNEN ở tất cả các khối lớp, hay chỉ áp dụng các thành tố tích cực vào trong từng hoạt động cụ thể”, ông Trần Văn Huân, Phó trưởng phòng GD&ĐT huyện Việt Yên cho biết.  Như vậy, từ trường hợp của hai trường trên có thể thấy rằng tập huấn giáo viên, thảo luận chuyên môn liên tục cũng như áp dụng một cách linh hoạt phương pháp dạy học của mô hình VNEN là một trong những điểm cốt lõi quyết định tới kết quả thực hiện VNEN. Một mô hình giáo dục với triết lý và phương pháp hoàn toàn mới có thể thực hiện tốt trong dự án thí điểm, nhưng trong diện mở rộng sẽ khó có khả năng thành công nếu không có một lộ trình tập huấn (có thực hành giảng dạy cho học sinh) và thảo luận chuyên môn cho giáo viên kỹ lưỡng. Ngoài ra, vấn đề truyền thông cho phụ huynh ở những trường thuộc diện mở rộng cũng cần được chú trọng hơn nữa.  ————–  Chú thích   [1] Sau năm đầu đánh giá mô hình VNEN được thực hiện và đem lại kết quả tốt ở các trường trong dự án VNEN, một số trường ở Bắc Giang đăng ký thí điểm dạy VNEN ở một khối lớp để đánh giá điều kiện của trường có phù hợp hay không.       Author                Bảo Như        
__label__tiasang AUN nhìn từ bảng xếp hạng ĐH châu Á      Mới đây, một số trường đại học của Việt Nam bắt đầu nói về kế hoạch tham gia đánh giá chất lượng theo Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN). Bài viết dưới đây nhằm xem xét uy tín của AUN, dựa vào vị trí của các trường thành viên AUN trên bảng xếp hạng đại học châu Á của QS năm 2014.    AUN (ASEAN University Network1) là một tổ chức dạng hiệp hội, ra đời năm 1995 theo sáng kiến của Bộ trưởng Giáo dục các nước ASEAN với mục tiêu nâng cao chất lượng của các trường đại học thành viên, để khu vực này không còn bị nhìn nhận như một vùng trũng của giáo dục đại học trên thế giới, mà ngược lại, được tăng cường hình ảnh, uy tín và sức cạnh tranh với các trường đại học của các nước tiên tiến. AUN hiện có 30 thành viên thuộc 10 nước ASEAN, trong đó có ba thành viên chính thức của Việt Nam là hai Đại học Quốc gia và Đại học Cần Thơ.   Bảng xếp hạng các trường đại học châu Á của tổ chức QS (QS Asia Ranking)2, một trong những bảng xếp hạng đại học khu vực được nhiều người biết đến, ra đời vào năm 2009 cùng với phong trào xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế và tăng cường tính cạnh tranh của các trường đại học trên thế giới, đặc biệt là tại châu Á. Trước đó, trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2010, QS đã phối hợp với Times Higher Education thực hiện bảng xếp hạng đại học thế giới nhằm xác định vị trí tất cả các trường đại học trên toàn cầu không phân biệt khu vực.   Sáng kiến tạo ra các bảng xếp hạng riêng cho từng khu vực của QS là nhằm đáp ứng nhu cầu được xếp hạng của nhiều trường trên thế giới nhưng không thể hoặc chưa thể lọt vào bảng xếp hạng thế giới.  70% các trường AUN có tên trên bảng xếp hạng QS 2014  AUN được xem là một tổ chức gắn kết các trường đại học tốt nhất của khu vực ASEAN, nhưng thực tế có đúng như vậy không? Theo kết quả xếp hạng trường đại học châu Á năm 2014, được công bố vào đầu tháng Năm3, có tổng cộng 21/30 trường đại học thành viên AUN nằm trong danh sách 300 trường đại học tốt nhất châu Á, chiếm tỷ lệ 70%, một tỷ lệ rất cao. Như vậy có thể khẳng định AUN quả thực là một mạng lưới bao gồm những trường đại học tốt nhất của từng nước trong khối ASEAN. Ngoài ra, nếu theo dõi qua nhiều năm, sẽ thấy sự có mặt trong bảng xếp hạng châu Á của các trường thành viên AUN ngày càng tăng về số lượng và được nâng cao về vị trí. Điều này chứng tỏ các hoạt động đảm bảo chất lượng của AUN quả thực đã có tác dụng tốt đối với các trường thành viên.               Vị trí 1-50 trên bảng xếp hạng QS 2014  1. NUS (Singapore) xếp thứ nhất với số điểm tuyệt đối 100/100.              2. NTU (Singapore) xếp thứ 7 – 97,3 điểm.              3. UM (Malaysia) xếp thứ 32 – 80,4 điểm.              4. Mahidol (Thái Lan) xếp thứ 40 – 72,7 điểm.              5. Chulalongkorn (Thái Lan) xếp thứ 48 – 67,4 điểm.               ĐHQG Hà Nội (Việt Nam) nằm trong khoảng 161-170.             Kết quả xếp hạng cũng cho thấy, trong 10 nước thành viên ASEAN có sự phân nhóm rất rõ về đẳng cấp giáo dục đại học. Thuộc đẳng cấp cao là năm nước có tên trong danh sách 100 trường tốt nhất. Sắp xếp theo thứ tự của ngôi trường chiếm vị trí cao nhất trong danh sách của từng nước, chúng ta có Singapore (hạng 1), Malaysia (hạng 32), Thái Lan (hạng 40), Philippines (hạng 63), và Indonesia (hạng 71). Trong khi đó, ba nước không có bất kỳ trường nào lọt vào bảng xếp hạng là Campuchia, Lào và Myanmar. Brunei và Việt Nam nằm ở giữa, có xuất hiện trong bảng xếp hạng nhưng không có trong danh sách 100 trường tốt nhất. Tóm lại, có thể tạm xếp hạng vị trí của nền giáo dục đại học của các nước ASEAN như sau: 1. Singapore; 2. Malaysia; 3. Thái Lan; 4. Indonesia; 5. Philippines; 6. Brunei; 7. Việt Nam. Ba nước còn lại – Campuchia, Lào, Myanmar – đứng ở vị trí cuối bảng và có thể xem là đồng hạng. Điều đáng chú ý là ba nước dẫn đầu về giáo dục đại học trong khối ASEAN (Singapore, Malaysia và Thái Lan) cũng là ba nước được đánh giá có hệ thống đảm bảo/kiểm định chất lượng giáo dục tốt nhất.   Cuối cùng, có thể thấy, vị trí của các nước dựa trên bảng xếp hạng cũng trùng khớp gần như hoàn toàn với vị trí của các nước này dựa trên GDP theo sức mua tương đương bình quân đầu người (GDP/PPP)4. Sự trùng khớp này cho thấy có một mối tương quan chặt chẽ giữa chất lượng của giáo dục đại học với sự phát triển kinh tế.            Ngay từ khi ra đời, AUN đã đặt nặng công tác đảm bảo chất lượng vì đây là cơ sở tạo sự tin cậy giữa các trường thành viên đến từ các nước có điều kiện kinh tế xã hội rất khác nhau  Bộ tiêu chuẩn chất lượng chương trình đào tạo của AUN gồm 15 tiêu chuẩn và có thể phân thành ba nhóm:  – Nhóm 1, bao gồm từ tiêu chuẩn 1 đến tiêu chuẩn 5, liên  quan đến việc thiết kế và vận hành chương trình đào tạo, từ xây dựng kết  quả đầu ra dự kiến (ở Việt Nam thường gọi là “chuẩn đầu ra”), đặc tả  chương trình, cấu trúc và nội dung chương trình, chiến lược dạy và học,  và đánh giá sinh viên;  – Nhóm 2, bao gồm từ tiêu chuẩn 6 đến tiêu chuẩn 10, liên  quan đến các điều kiện đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo, từ chất  lượng giảng viên, sinh viên, đội ngũ hỗ trợ, hoạt động tư vấn và hỗ trợ  sinh viên, và cơ sở vật chất và thiết bị; và  – Nhóm 3, bao gồm năm tiêu chuẩn cuối cùng, liên quan đến  các hoạt động đảm bảo chất lượng và thông tin về hiệu quả của chương  trình, từ đảm bảo chất lượng hoạt động dạy và học, phát triển đội ngũ,  hệ thống phản hồi từ các bên liên quan, hiệu suất đầu ra, và sự hài lòng  của các bên liên quan.  Từ năm 2007 đến năm 2013, Mạng lưới đảm bảo chất lượng  của AUN (AUN-QA) đã tổ chức 24 đợt đánh giá cho tổng cộng 58 chương  trình thuộc 8/30 trường thành viên của AUN. Trong số đó có 18 chương  trình của Việt Nam5, chiếm 31% tổng số chương trình đã được đánh giá và  công nhận đạt chuẩn. Việt Nam tham gia đánh giá chính thức lần đầu tiên  vào cuối năm  2009.                ————————  Tài liệu tham khảo  AUN (2013). Guidelines for AUN quality assessment and assessors & Framework of AUN-QA strategic plan 2012-2015. Bangkok: Chulalongkorn University.  QS (2014). Kết quả xếp hạng các trường đại học châu Á năm 2014. http://www.topuniversities.com/university-rankings/asian-universityrankings/2014#sorting=rank+ region=+country=+faculty=+ stars=false+search=  —————  1 http://www.aunsec.org  2 http://www.topuniversities.com/  3http://www.topuniversities.com/university-rankings/asian-university-rankings/2014#sorting=rank+region=+country= +faculty=+stars=false+search=   4http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_%28PPP%29_per_capita5 aunsec.org/programmelevel.php     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba cấp độ của sự học      Học là một quá trình thụ đắc, chuyển đổi, thiết lập quan niệm mới, là bước đi trên con đường truy tìm chân lý với nhiều cấp độ. Mọi cá nhân và mọi quốc gia đều phải đi trên con đường này. Thế nhưng, cũng như trên những con đường khác, có người đi trước kẻ đi sau; có quốc gia tiến bộ và có những quốc gia lạc hậu. Theo Giordan Andre (2016), chúng ta có thể phân ra ba cấp độ của con đường học tập này.      Cấp độ sơ đẳng nhất nhưng lại phổ biến nhất trong trường học hiện nay xem hành động học như là hành động thâu nhận thông tin.   Cấp độ 1: truyền tải – thâu nhận  Đây là cấp độ sơ đẳng nhất nhưng lại phổ biến nhất trong trường học hiện nay, đó là xem hành động học như là hành động thâu nhận thông tin. Giáo viên làm công việc truyền tải kiến thức, cung cấp thông tin, học sinh được thông tin một chiều từ giáo viên, từ sách giáo khoa, hay từ các nguồn khác trong khuôn khổ học đường.    Mô hình truyền tải này có thể mang lại cho người học một số kiến thức, những điều mà học sinh hiểu, thấy đúng, thấy phù hợp với quan niệm của mình. Nghĩa là sự thâu nhận này kèm theo một số điều kiện: thứ nhất, người học phải có khả năng giải mã kiến thức, tức là khả năng hiểu ý nghĩa của kiến thức đó; thứ hai, kiến thức đó phải phù hợp với quan niệm sẵn có vốn đóng vai trò như bộ lọc của anh ta; và thứ ba, người học đang quan tâm về kiến thức đó hay về mảng kiến thức đó bởi chúng liên quan đến những lợi ích, đụng chạm đến những chờ đợi của anh ta.   Hành động này cũng giống như việc chúng ta được thông tin từ việc đọc báo hay xem truyền hình, chúng ta có thể nhận được một số thông tin mới có giá trị, chúng mở rộng sự hiểu biết của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta nghe tin về sự xuất hiện của một biến thể mới của Covid 19 đang hoành hành, tên là Omicron được phát hiện tại Nam Phi. Đây là một điều mới, chúng ta thâu nhận thông tin này vì chúng ta đã hiểu về Covid 19 là gì, hiểu về biến thể là gì và Nam Phi nằm ở đâu trên địa cầu. Hơn nữa chúng ta đang quan tâm theo dõi đề tài này, bởi nó liên quan đến cuộc sống và cả sự sống của chính chúng ta.       Học sinh không bao giờ ở trong tình trạng của một “tờ giấy trắng” và giáo viên có thể ghi lên đó những gì giáo viên muốn nhưng luôn là chủ thể, là tác giả của những gì em ấy thâu nhận được, do đó học là một quá trình thụ đắc mang tính cá nhân và mang tính phức hợp.      Thế nhưng hãy hình dung, với một người không hiểu, chưa bao giờ biết đến Covid 19, cũng không có ý niệm gì về thuật ngữ biến thể hay quốc gia Nam Phi xa xôi, thì anh ta không thể giải mã thông tin thời sự đó. Hay nếu anh ta hiểu ý nghĩa của thông tin, nhưng không hề quan tâm vì thông tin không liên quan gì đến anh ta, thì thông tin đó không có chỗ trong trí nhớ lâu dài, hay chỉ lưu lại trên bề mặt của não bộ của anh ta trong một thời gian ngắn.   Bởi lẽ, cá nhân nhìn nhận các vấn đề, các sự kiện được thông tin thông qua những gì anh ta có, thông qua những gì anh ta là, chứ kiến thức bên ngoài không đến với người học theo một đường thẳng “khách quan” như cách của một máy ghi hình. Học sinh không bao giờ ở trong tình trạng của một “tờ giấy trắng” và giáo viên có thể ghi lên đó những gì giáo viên muốn, nhưng luôn là chủ thể, là tác giả của những gì em ấy thâu nhận được, do đó học là một quá trình thụ đắc mang tính cá nhân và mang tính phức hợp.  Nếu trong một lớp học, tất cả học sinh đều có nền tảng tốt như nhau, có một quan niệm giống nhau liên quan đến kiến thức mà giáo viên chuyển tải và có một thái độ sẵn sàng đón nhận kiến thức mới, thì giáo viên chỉ cần “trình chiếu” các kiến thức này một cách bài bản là đủ, học sinh nắm bắt và lưu chúng lại trong trí nhớ. Thế nhưng đời không như mơ, trên thực tế, một lớp học đồng đều như thế dường như không hiện hữu, kể cả các “lớp tài năng”, bởi lẽ mỗi người học là một chủ thể duy biệt xét trên tất cả các mặt.   Còn nếu việc giảng dạy chỉ đơn thuần là hành động cung cấp thông tin, kiến thức cho số đông học sinh mặc kệ tính duy biệt nơi từng học sinh như trong các trường học hiện nay, thì giáo viên ngày nay nhìn chung, không thể cạnh tranh với các phương tiện truyền thông xét về mặt kỹ thuật, thậm chí không thể cạnh tranh được với youtube cá nhân.    Nhà trường cần trang bị cho học sinh khả năng biện luận, tư duy phân tích từ tấm bé. Trong ảnh: Một buổi học về lòng đồng cảm theo phương pháp Cánh Buồm ở CLB Ô Xinh. Ảnh của nhóm Cánh Buồm.   Do đó, điều phổ biến xảy ra là học trò “trả chữ cho thầy” sau khi học, những kiến thức chỉ được lưu lại ở bề mặt não bộ sẽ sớm bốc hơi. Một số nghiên cứu đã chỉ ra, người xem chỉ nhớ tầm 5% lượng thông tin sau khi xem một chương trình thời sự của đài truyền hình trong một thời gian ngắn (Giordan, 2016, tr 39).  Xét về mặt kỹ thuật, các thông tin trong một chương trình thời sự thường được sắp xếp bài bản bởi biên tập viên với sự góp phần của các kỹ thuật viên về âm thanh, ánh sáng, các cảnh quay được thay đổi liên tục để làm tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn người xem, nhưng kết quả của nó vẫn khiêm tốn như thế, trong khi các giáo viên làm công việc truyền tải tương tự một mình với máy chiếu, phấn trắng và bảng đen, thì việc học sinh trả chữ cho thầy cũng là điều dễ hiểu!   Thế nhưng trường học, đặc biệt là trường học tại Việt Nam vẫn đang miệt mài làm công việc truyền tải kiến thức kiểu như thế.  Cấp độ 2: học chủ động  Người học tích cực hơn, muốn mở rộng sự hiểu biết liên quan đến điều mình đang học. Sinh viên học về một lý thuyết, thì không dừng lại ở sự hiểu biết về lý thuyết cụ thể đó, mà còn mở rộng tìm hiểu lịch sử phát triển, các nguồn ảnh hưởng, sinh viên biết ứng dụng lý thuyết đó để làm các bài tập, biết giải thích một số tình huống liên quan xảy ra trong đời sống thường nhật từ lăng kính của lý thuyết đó. Nói tóm lại, người học không chỉ giải mã được kiến thức và còn biết vận dụng chúng.  Học với một thái độ chủ động như thế là một cách tốt để thụ đắc kiến thức. Edgar Dale, tác giả của tháp học nổi tiếng (pyramid of learning) đã cho rằng người học có thể nhớ tới 90% những gì họ làm.  Trong  thực tế giảng dạy, tuy hiếm hoi, nhưng vẫn có những học sinh, sinh viên học với thái độ chủ động và tích cực như thế. Những kiến thức họ nhớ được thông qua làm, vận dụng sẽ ở lại lâu hơn trong vốn văn hóa mà họ sở đắc.   Thế nhưng nếu các lý thuyết, các kiến thức mà người học thụ đắc đã bị vượt qua, hay với thời gian đã tỏ ra bất cập, lạc hậu thì sao? Bởi lẽ, không có lý thuyết hay quan niệm nào đúng tuyệt đối, tồn tại vĩnh viễn và có giá trị khắp nơi, kể cả các lý thuyết trong khoa học tự nhiên. Lịch sử khoa học đã chứng minh điều đó, các lý thuyết khoa học ra đời, xâm nhập, phổ biến và bị vượt qua, bị đánh đổ bởi các lý thuyết khác ra đời sau đó.  Các lý thuyết, các kiến thức chúng ta đang có, đang học là những gì đã có sẵn, với thời gian, nó có thể trở nên giáo điều, lạc hậu, có thể trở thành vật cản trở ngáng đường trên hành trình đi tìm “chân lý” của chúng ta. Bởi lẽ, khi chúng ta thực sự thụ đắc được một kiến thức, kiến thức đó sẽ là một phần trong quan niệm (conception) của chúng ta, và đến lượt, quan niệm này trở thành bộ lọc, trở thành căn chuẩn để chúng ta nhận định, phán đoán trước những thực tế khác, và trong nhiều trường hợp, chúng ta từ chối các kiến thức mới chỉ vì những điều mới này không phù hợp hay đe dọa đến sự ổn định của não trạng có sẵn của chúng ta.   Học là một quá trình chuyển đổi quan niệm, hành trình biến đổi được ví như một sự “lột xác” về mặt tư tưởng, chứ không chỉ là chuyện thâu nhận những gì có sẵn và chỉ dừng lại trong nguyên trạng đã có.   Cấp độ 3: Học, một sự lột xác  Đây là cấp độ quan trọng và cao nhất của sự học. Giáo sư Giordan đã sử dụng khái niệm “lột xác” (metamorphose) để mô tả sự biến đổi trong quan niệm và nhận thức của người học. Học, đồng nghĩa với một sự lột bỏ cái cũ và thụ đắc cái mới. Người học không chỉ dừng lại ở sự thụ đắc các kiến thức và biết cách vận dụng chúng, mà còn phải nhận diện những hạn chế của những gì bản thân đã thụ đắc, đã vận dụng và có khả năng tinh chỉnh, hoặc thay đổi khi những điều này tỏ ra không còn phù hợp với các thực tế và tình huống mới.  Sự lột xác này nơi cá nhân cũng như một xã hội không phải là vấn đề đơn giản bởi nó đụng chạm đến cuộc sống, đụng đến niềm tin, đến thói quen và cả đến vùng “an toàn” của cá nhân và xã hội. Hãy hình dung, chúng ta đã có một thế giới quan, một lý tưởng đẹp, mà chúng ta đã tin yêu, thậm chí là đã thề thốt, chúng ta đã dấn thân phục vụ cho quan niệm đó trong nhiều năm, nhưng rồi một ngày nào đó, chúng ta nhận ra nó sai, lạc hậu, niềm tin bị sụp đổ, những nỗ lực thực hiện được bỗng dưng trở thành vô nghĩa ! Người học dĩ nhiên là sẽ đau khổ, sẽ bị khủng hoảng, nhiều người không thể vượt qua, và như một cách phòng vệ, họ ra sức bảo vệ hiện trạng, bảo vệ quan niệm cũ, tìm cách ẩn mình trong các giá trị cũ…  Tuy vậy, vẫn có những người bứt phá vươn lên, lột bỏ quan niệm cũ, vượt lên khỏi các ràng buộc của truyền thống, của “ý thức chung”, của những điều đã được xem là hiển nhiên, để thiết lập lại nhận thức, đặt nền móng và dấn thân theo đuổi những điều mới. Đó là các nhà tư tưởng, các nhà phát minh, các nhà cách mạng, những người kiến tạo nên những nền văn hóa mới cho nhân loại, họ là những trường hợp xuất sắc, có khả năng thay đổi thế giới.  Sự lột xác lần này rồi đến lần khác là hành trình trưởng thành về nhận thức của cá nhân, và cũng là hành trình phát triển của lịch sử các khoa học trên thế giới. Chất lượng của các xã hội, của các hệ thống giáo dục là tạo ra những con người có khả năng “lột xác” như thế.      Học là một quá trình chuyển đổi quan niệm, hành trình tiến đổi được ví như một sự “lột xác” về mặt tư tưởng, chứ không chỉ là chuyện thâu nhận những gì có sẵn và chỉ dừng lại trong nguyên trạng đã có. Để có được điều này, nhà trường cần trang bị cho học sinh ngay còn tấm bé các khả năng biện luận, khả năng tư duy độc lập, thói quen và khả năng phản biện, phân định, truy xét những gì mình đang có, cũng như những điều đang hiện hữu phổ biến xung quanh.      Và để có được điều này, nhà trường cần trang bị cho học sinh ngay còn tấm bé các khả năng biện luận, khả năng tư duy độc lập, thói quen và khả năng phản biện, phân định, truy xét những gì mình đang có, cũng như những điều đang hiện hữu phổ biến xung quanh. Những kỹ năng này là hết sức cần thiết, là chất lượng của người học, của các công dân tương lai, chứ không phải là khối lượng kiến thức. Những điều này là mục tiêu xuyên suốt của các hệ thống giáo dục tại các nước phát triển, được thể hiện xuyên qua từng môn học, từng hoạt động giáo dục, từng lần đánh giá. Những điều này là gốc, còn những thông tin và kiến thức cụ thể chỉ là ngọn.   Những khả năng này không những là tối quan trọng của người học trên đường truy tìm chân lý và thay đổi bản thân, mà còn là các kỹ năng sống cần thiết trong một thế giới đầy những thông tin thật giả lẫn lộn, trong một thời đại ham chứa nhiều bất toàn như hiện nay (Edgar Morin, 2014).  Thế nhưng thật không may, cỗ máy giáo dục Việt Nam chúng ta dường như đang chạy tối đa chỉ để có được phần ngọn, chủ yếu đang làm công việc truyền tải thông tin và tạo ra những người học thụ động ở cấp độ thứ nhất như đã trình bày ! Đây có lẽ cũng là lý do mà chúng ta “Thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ” như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận thấy trong bài phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc 2021 vừa qua.□  Tài liệu tham khảo  Giordan André, 2016. Apprendre. Paris: Belin  Bruno Hourst, 2014. J’aide mon enfant à mieux apprendre. Paris: Eyrolles  Edgar Morin, 2014. Enseigner à vivre. Paris: Play Bac.    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Ba đặc điểm của kiểm định chất lượng GDĐT Mỹ      Giáo dục đại học Mỹ được thừa nhận rộng rãi  là có chất lượng tốt nhất thế giới. Thành công này một phần do Mỹ đã xây  dựng được hệ thống kiểm định chất lượng hoàn chỉnh, linh động, hiệu  quả, và thực sự hỗ trợ cho cải tiến chất lượng. Bài viết dưới đây sẽ điểm qua một vài đặc điểm chính của hệ thống kiểm định chất  lượng tại Mỹ, qua đó rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam.    Phi tập trung hoá (decentralization)   Khác với phần lớn các nước trên thế giới, Chính phủ Liên bang cũng như Chính phủ Bang tại Mỹ không trực tiếp thực hiện công tác kiểm định chất lượng. Hiện nay, trong tổng số 56 tổ chức kiểm định chất lượng tại Mỹ, chỉ có duy nhất một tổ chức tại New York là do Nhà nước thành lập, 55 tổ chức còn lại đều do khu vực tư nhân hoặc hiệp hội nghề nghiệp đảm nhiệm. Thay vào đó, nhà nước chỉ quản phần kiểm soát và công nhận tư cách pháp lý của các tổ chức kiểm định nói trên.  Nhìn lại lịch sử phát triển của nền giáo dục đại học Mỹ, ta có thể lý giải được hiện tượng thú vị này. Cho đến những năm 1950, Chính phủ Liên bang cũng như các Chính phủ Bang tại Mỹ hầu như không kiểm soát hay quản lý các trường đại học. Mặc dù vậy, ngay từ giữa thế kỷ 19, các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ đã phát triển nhanh chóng với số lượng bùng nổ. Đến cuối thế kỷ 19, nhu cầu cấp bách nảy sinh là phải có một cơ chế giúp phân định trình độ giữa các bậc học khác nhau, từ trung học, cao đẳng, cho đến đại học. Trong bối cảnh đó, Vùng New England đã đi tiên phong với việc thành lập Hiệp hội các trường Đại học và Trung học vào năm 1885. Cho đến năm 1923, với việc ra đời của Hiệp hội các trường Đại học và Trung học phía Tây, toàn nước Mỹ đã có sáu tổ chức độc lập, hoàn toàn do khu vực tư nhân quản lý và điều hành, chia nhau đảm nhiệm công tác kiểm định chất lượng trong cả nước.   Phải đến năm 1944, khi Mỹ thông qua đạo luật G.I. Bill, và tiếp đến đạo luật Giáo dục quốc phòng quốc gia năm 1952 và đặc biệt là Luật giáo dục đại học 1965, Nhà nước Liên bang mới bắt đầu có những “can thiệp” nhất định đối với lĩnh vực kiểm định chất lượng, mà cụ thể là việc thành lập Uỷ ban tư vấn quốc gia về chất lượng và liêm chính đại học (NACIQI). Uỷ ban này có trách nhiệm công nhận, quản lý và hỗ trợ 56 trung tâm kiểm định chất lượng độc lập trên toàn nước Mỹ (tính đến 2013) và chỉ có những sinh viên học tại các chương trình được kiểm định bởi một trong 56 trung tâm kể trên mới đủ điều kiện nhận trợ cấp hoặc vay vốn của Chính phủ.   Đồng nghiệp đánh giá (peer review)   Mặc dù sau 1965, Nhà nước bắt đầu đã có nhiều “can thiệp” hơn, nguyên tắc đồng nghiệp đánh giá vẫn được duy trì như là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất đối với hệ thống kiểm định chất lượng tại Mỹ. 56 tổ chức kiểm định chất lượng, trong thực tế đều do chính các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục đại học uy tín quản lý và điều hành; đánh giá viên thuộc 56 tổ chức nói trên và thậm chí 18 thành viên của NACIQI cũng đều là những người của giới đại học. Việc duy trì nguyên tắc đồng nghiệp đánh giá (chứ không phải do nhà nước hay bất kỳ thành phần nào khác đánh giá) giúp cho việc các quy trình, quy định chi tiết về kiểm định chất lượng thực sự gắn sát và đánh giá “đúng” và “trúng” với thực tế đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng trên toàn nước Mỹ.   Cải tiến liên tục (Continuous improvement)   Mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của hệ thống kiểm định chất lượng là hỗ trợ cho cải tiến chất lượng tại các chương trình đại học và cao đẳng trên toàn nước Mỹ. Vì vậy, việc vận hành của toàn bộ hệ thống kiểm định chất lượng, từ hoạt động của NACIQI cho đến 56 tổ chức kiểm định chất lượng độc lập đều hướng tới mục tiêu này.   Ví dụ, NACIQI, ngoài chức năng công nhận 56 tổ chức kiểm định chất lượng độc lập, vẫn thường xuyên tổ chức nhiều hội thảo, nghiên cứu về kiểm định chất lượng, qua đó khuyến nghị các giải pháp nâng cao chất lượng trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học nước Mỹ. Một ví dụ khác liên quan đến cơ cấu thành viên của NACIQI: trước 2008, NACIQI có 15 thành viên đều do Bộ Giáo dục Liên bang bổ nhiệm; từ năm 2008, nhằm tránh quyền lực tập trung trong Bộ Giáo dục, Luật sửa đổi về Giáo dục đại học quy định lại theo hướng tán quyền hơn trong đó NACIQI có 18 thành viên, nhưng Bộ Giáo dục chỉ được bổ nhiệm sáu thành viên, 12 thành viên còn lại do Thượng viện và Hạ viện bổ nhiệm.   Nguyên tắc cải tiến liên tục còn được thể hiện trong việc ngày càng có nhiều “sắc thái” hơn trong việc đánh giá kết quả kiểm định chất lượng do 56 tổ chức kiểm định thực hiện. Nếu như trước kia, kết quả đánh giá kiểm định chất lượng chỉ có hai mức “được kiểm định” và “không được kiểm định” thì ngày nay, nhiều mức “trung gian” xuất hiện nhiều hơn “Được kiểm định với một số yêu cầu theo dõi”, “Lưu ý và cảnh báo” hay “thử thách”… Việc có nhiều “sắc thái” này một mặt giúp cho các trường đại học, cao đẳng hoặc các chương trình đào tạo có cơ hội để “sửa sai” (qua đó nâng cao chất lượng đào tạo) trong trường hợp tạm thời chưa thoả mãn các tiêu chí về kiểm định chất lượng theo yêu cầu của các trung tâm kiểm định chất lượng; mặt khác giúp không dẫn đến quá nhiều “xáo trộn” bởi một khi một chương trình bị đóng dấu “không được kiểm định” hoặc “kiểm định hết hiệu lực” thì gần như chắc chắn chương trình đó sẽ bị đóng cửa bởi sẽ không có sinh viên nào chịu đăng ký vào học chương trình không được kiểm định, và vì vậy, không đủ điều kiện để nhận trợ cấp hoặc tham gia chương trình vay vốn từ chính phủ.     Một vài khuyến nghị cho Việt Nam   Hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo đại học và cao đẳng mới chỉ bắt đầu xuất hiện trong thực tiễn chính sách ở Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây. Thừa hưởng di sản từ nền quản lý “tập trung hoá” cao với việc Nhà nước vẫn là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho giáo dục đại học, chúng ta khó có thể mong đợi khu vực tư nhân ở Việt Nam có thể sớm tự xây dựng được một hệ thống kiểm định chất lượng tương đối hoàn chỉnh như Mỹ đã làm được từ đầu thế kỷ 20. Nói cách khác, việc “can thiệp”, thậm chí là “can thiệp” sâu của Nhà nước đối với kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết. Tuy vậy, việc “can thiệp” đó diễn ra như thế nào, với từng bước đi cụ thể ra sao, lại là điều đáng bàn mà trong đó có rất nhiều điểm chúng ta có thể học tập được từ mô hình kiểm định chất lượng của Mỹ.   Từ năm 2010, với việc phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 – 2020” (Quyết định 4138/QĐ-BGDĐT), Bộ đã vạch ra nhiều bước cải cách mới về kiểm định chất lượng giáo dục đại học trong tương lai gần. Cụ thể, trong năm 2013 vừa qua, trong khuôn khổ của Đề án nói trên, việc Bộ GD&ĐT thành lập hai trung tâm kiểm định chất lượng trực thuộc hai ĐH Quốc gia có thể xem là bước đột phá đáng chú ý, phù hợp với nguyên tắc “phi tập trung hoá” và “đồng nghiệp đánh giá” mà Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới đã áp dụng thành công. Rõ ràng, trong bối cảnh giáo dục đại học đại chúng, khi mà ngày càng nhiều chương trình đào tạo mới được mở ra trên khắp cả nước, một mình Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng đào tạo thuộc Bộ chắc chắn sẽ không đủ cả “sức” lẫn “chuyên môn” để có thể “kham nổi” nhiệm vụ trực tiếp đi kiểm định chất lượng đào tạo tại từng đơn vị, từng chương trình cụ thể. Nói cách khác, việc giao lại nhiệm vụ kiểm định chất lượng cho hai trung tâm thuộc hai ĐH Quốc gia (và nhiều trung tâm mới dự kiến sẽ được thành lập trong tương lai gần) là hướng đi đúng đắn của Nhà nước ta, phù hợp với nguyên tắc “phi tập trung hoá” và “đồng nghiệp đánh giá” như đã phân tích ở trên.   Tuy vậy, với việc tạm dừng 207 chương trình đào tạo đại học vừa qua – một quyết định mang tính “tập trung hoá” cao và hoàn toàn “hành chính” (không có“đồng nghiệp đánh giá”), có vẻ như Bộ đang vẫn chưa “yên tâm” giao phó hoàn toàn công tác kiểm định chất lượng cho các trung tâm kiểm định độc lập được thành lập theo Quyết định 4138/QĐ-BGDĐT kể trên.   Theo quan điểm của người viết, sẽ là phù hợp nếu việc tạm dừng 207 chương trình vừa qua chỉ là một quyết định tạm thời với mục đích cảnh báo cho các trường; còn về lâu dài, khi hai trung tâm kiểm định độc lập tại hai ĐH Quốc gia đã đi vào hoạt động ổn định; đồng thời nhiều trung tâm độc lập khác cũng đã được thành lập trên khắp cả nước, Bộ nên trả lại công việc trực tiếp kiểm định chất lượng cho các trung tâm kể trên. Bên cạnh đó, Bộ cần tập trung nhiều thời gian và nguồn lực hơn cho mục tiêu “cải tiến chất lượng liên tục”, vốn được xem như là mục tiêu khó khan nhất, mà nếu như không có sự đầu tư của Nhà nước, khu vực tư nhân khó lòng đảm nhiệm được.   —  * Nghiên cứu sinh, Đại học Văn hoá Trung hoa, Đài Loan     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba lần cải cách, giáo dục vẫn nhiều yếu kém      Ngành giáo dục đã qua ba lần cải cách nhưng  chưa giải quyết được các yếu kém trong hàng chục năm qua bởi vẫn chưa  đổi mới phương pháp dạy và học một cách thực thụ.    Các yếu kém đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận nêu ra tại hội nghị “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” diễn ra hôm 6-1 tại TPHCM.  “Kiến thức học nặng về hàn lâm, không gắn với yêu cầu thực tế của cuộc sống khiến học sinh và nhà trường quá tải, gây lãng phí nguồn lực đầu tư của xã hội cho giáo dục”, ông đề cập đến những vấn đề mà ngành giáo dục đang phải đương đầu hiện nay.  Tại hội nghị này, ông Luận đã chỉ ra nhiếu yếu kém của ngành giáo dục là dạy thêm học thêm tràn lan, thiếu liên thông ở nhiều cấp học, lạc hậu trong phương pháp dạy học và kiểm tra dẫn đến việc quá chú trọng điểm số, chất lượng giáo viên và đội ngũ quản lý ngành giáo dục không đồng đều, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục không hiệu quả….  Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho rằng, cả ba lần cải cách giáo dục đều có mục tiêu và định hướng rõ ràng song không giải quyết được các yếu kém của ngành giáo dục do nặng về đổi mới chương trình giáo dục mà chưa chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy và học.  “Vì sao nhiều yếu kém đã được chỉ ra nhưng nhiều năm qua ngành giáo dục không thể giải quyết được và căn bệnh yếu kém ngành càng trầm trọng thêm?”, ông Luận đặt câu hỏi.  Theo ông Luận, nguyên nhân sâu xa dẫn đến yếu kém của ngành giáo dục chính là sự nhận thức không đúng về giáo dục toàn diện dẫn đến sự quá tải cho người dạy cũng như người học. Do đó, ông Luận cho rằng ngành giáo dục cần một cuộc đại phẫu toàn diện và có hệ thống ở mọi cấp học mà trong đó đổi mới phương pháp dạy và học là đổi mới căn bản nhất.  Bước sang năm 2014, để thực hiện tốt chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện, ngành giáo dục và đào tạo sẽ điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản; các trường được chủ động xây dựng kế hoạch giảng dạy trên cơ sở bảo đảm mục tiêu chương trình giáo dục và phù hợp với điều kiện thực tiễn. Tăng cường việc học đi đôi với hành, chú trọng kỹ năng mềm, tư duy tự học và tự nghiên cứu độc lập của học sinh.  “Trước đây, chúng ta thường tư duy ‘học được cái gì’ thì nay phải suy nghĩ là làm sao học thì phải ‘làm được cái gì’ để tránh lãng phí trong đào tạo con người”, ông Luận nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba thứ cần trang bị cho học sinh nghèo      Số đông dân nghèo thường chỉ học hết bậc tiểu học là đã phải đi làm kiếm sống để nuôi bản thân và phần nào giúp gia đình. Họ muốn học những gì cần thiết nhất để trước mắt có thể sinh sống được trong xã hội hiện tại cái đã. Vì vậy mọi chính sách của Nhà nước và chiến lược giáo dục hãy phải xuất phát từ thực tiễn hiện nay của số đông và nhìn về tương lai lâu dài của sự phát triển đất nước. Tôi nghĩ trước mắt cũng như lâu dài có ba thứ cần trang bị cho đa số học sinh nghèo ngay từ cấp một.    Tiếng Việt. Tôi muốn các thầy cô giáo dạy các em đọc thông viết thạo, bắt các em đọc to trên lớp để xem các em phát âm có đúng không, rồi bắt viết chính tả và học thuộc lòng những bài văn thơ hay. Qua mỗi lần như vậy, tôi đề nghị thầy cô giáo chấm điểm cho cả lớp biết rồi mới ghi vào sổ. Đến cuối cấp I, tôi đề nghị các thầy cô giáo giúp các em đọc một bản tin trên báo, một bài văn trong sách, viết một bức thư, một cái đơn xin việc, một thư tố cáo cán bộ tham nhũng… Tiếng mẹ đẻ là nền tảng của lịch sử, văn hóa Việt Nam, thế hệ cháu chắt những người Việt định cư ở nước ngoài nếu không còn nói được tiếng Việt thì có lẽ không còn tự coi là Việt kiều nữa, mặc dầu còn mang dòng máu Việt! Tôi tin rằng việc dạy xuất phát từ thực tiễn cuộc sống sẽ làm cho học sinh hứng thú học tập và thầy cô giáo đánh giá đúng thành tích của từng em một. Và cuối năm hiệu trưởng cũng không thể vì tư tưởng thành tích mà ép các giáo viên báo cáo sai thành tích học tập của học sinh lớp họ được.  Môn Toán. Toán cho phép học sinh bước đầu làm quen với tư duy trừu tượng về các con số, làm thành thạo các phép tính cơ bản. Đối với học sinh, điều gây hứng thú có lẽ là thầy cô giáo bắt tính thử lỗ lãi trong kinh doanh của cha mẹ ở thành thị hoặc sản xuất ở nông thôn. Cách đây trên 70 năm, khi học lớp nhất tiểu học, trong sách số học tôi đã gặp khái niệm cổ phiếu (action), nhưng tất nhiên không hiểu gì vì khi ấy đâu đã có thị trường chứng khoán như ngày nay! Nhưng bây giờ trên các kênh thông tin và khi nghe cha anh chơi chứng khoán, thì việc đưa khái niệm cổ phiếu vào sách toán bậc tiểu học ở các đô thị có lẽ không phải là một việc gượng ép mà chính là để các em sớm tiếp xúc với cuộc sống thực tiễn. Nhưng toán trước hết là một phương tiện không thể thiếu để sau này các em có thể đi xa vào các khoa học chính xác và công nghệ thông tin.  Ngoại ngữ. Trên thế giới hiện nay và có lẽ trong vài ba chục năm nữa, tiếng Anh vẫn là tiếng giao tiếp phổ biến nhất. Trong thực tế cuộc sống hiện nay, việc biết tối thiểu hoặc bập bẹ vài câu tiếng Anh rất cần cho anh lái xích lô, lái tắc xi và cả xe ôm chở khách, cho chị bán hàng ở chợ cũng như ở các siêu thị và cho người đi lao động ở nước ngoài. Tất nhiên, ngoài tiếng Anh thì người hướng dẫn du lịch còn cần biết ngoại ngữ để tiếp các khách đến từ Nga, Trung Quốc, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha… nhưng xem ra không tiếng nào phổ biến bằng tiếng Anh. Ngoài ra các trường đại học hàng đầu trên thế giới đều dạy bằng tiếng Anh nên việc bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh từ tuổi nhỏ là cần thiết. Vả lại càng ít tuổi các em càng dễ phát âm ngoại ngữ hơn.  Những suy nghĩ sơ bộ trên đây của tôi nếu phần nào có thể chấp nhận được thì đó là bước đầu để chuẩn bị xây dựng chương trình, sách giáo khoa và nhất là một kế hoạch lâu dài đào tạo cán bộ cho bậc giáo dục phổ thông trong số đó phải có hàng vạn giáo viên ngoại ngữ.  GS.NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục      Như ở mọi nơi khác, công việc giáo dục thời  xa xưa nhất ở Hy Lạp được thực hiện trong một khuôn khổ rộng lớn hơn gọi  là xã hội hóa. Đây là quá trình qua đó một đứa trẻ tiếp thu cách suy  nghĩ, cảm nhận, hành xử, sinh hoạt… của ông cha và kẻ xung quanh, để trở  thành người Hy Lạp trọn vẹn.&#160;     1/ Vai trò giáo dục của thần thoại và các thi sĩ   Do quá trình này xưa được thực hiện đầu tiên và chủ yếu thông qua thần thoại và huyền sử trước khi được tiếp nối bởi lịch sử, phong tục, tập quán, … đời sau cho rằng những nhà giáo dục Hy Lạp đầu tiên là các thi sĩ mà Hesiod và Homer chỉ là những người nổi tiếng nhất, chứ không phải là độc nhất (ngoài họ ra, ít nhất phải kể đến các thi sĩ của bộ Sử thi thành Thebes và bộ Sử thi thành Troy)1. Họ là những kẻ đã ghi lại và truyền bá bao mẩu chuyện truyền khẩu về các vị thần được xem là thủy tổ của loài người nói chung (Gaia – Uranus) và của chủng tộc Hy Lạp nói riêng (Hellen, Hellas)2.   Sự xã hội hóa này trải qua hai bước quyết định. Bước thứ nhất là khi thần thoại và huyền sử truyền khẩu được các thi sĩ định hình trong trước tác của họ (TK thứ VIII – VII tCn). Bước thứ hai là khi mọi du khách từ 4 phương đến Athens đều được yêu cầu đọc lại những phiên bản thần thoại mà họ biết và còn nhớ cho giới thư lại tại chỗ ghi chép, nhằm bước đầu chuẩn hóa dưới thời bá vương của Peisistratus và các con (560-507 tCn).   2/ Chính sách giáo dục của Athens thời quý tộc  Sau đó, một nền giáo dục theo nghĩa chính xác hơn (paideia) bắt đầu được phổ biến dưới chế độ đại tộc, khi nhu cầu gìn giữ đất đai, tài sản buộc giới quý tộc Athens phải cố gắng đào tạo ra những kẻ nối dõi xứng đáng.   Về cứu cánh, thứ giáo dục này được xây dựng trên lý tưởng mà giới quý tộc Athens thường dùng khi nói về bản thân họ, đấy là Kalokagathia (do Kalos kagathos, viết tắt của Kalos kai Agathos = Đẹp đẽ và Phẩm hạnh), đồng thời trên ý niệm người Hy Lạp gọi là aretê.   Có thể tóm tắt Kalokagathia như thứ lý tưởng hiệp sĩ của một nhân cách toàn vẹn. Bởi vì người Hy Lạp thời quý tộc luôn tin rằng cái đẹp bề ngoài biểu thị cái đẹp bên trong. Còn aretê thì chỉ sự hoàn hảo trong chức năng được xem là mục đích của một sự vật hoặc cơ quan nào đó. Chẳng hạn: aretê của cái kéo là sự cắt xẻ; của mắt là sự nhìn thấy. Áp dụng cho con người, aretê chỉ tập hợp những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người, sự hoàn hảo trong tính người, hay con người lý tưởng – cụ thể ở đây là những đức tính quý tộc như ý thức trách nhiệm, ý thức danh dự, sự cường tráng, lòng dũng cảm, quyền uy và năng lực điều khiển.   Để đạt đến cứu cánh trên, một nền giáo dục cơ bản chỉ dành riêng cho trẻ em nam lành mạnh khoảng từ 7 tuổi được giao cho thế hệ cha anh: trong khuôn khổ một thứ tình bạn rắn rỏi, thiếu niên con nhà quyền quý (gọi là eromenos) được uốn nắn theo loại phẩm hạnh quý tộc, dưới sự chăn dắt hay hướng dẫn của một đàn anh cao tuổi hơn (gọi là erastês)3. Ở loại trường lớp phôi thai này, paideia không nhằm trao truyền một nghề hay một kỹ năng (bị chê là máy móc, tầm thường) cho đứa trẻ, mà nhằm giáo huấn nó về thể dục (gymnastikê) và văn hóa (mousikê, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả ngôn ngữ tự nhiên lẫn nhiều thứ ngôn ngữ biểu tượng khác hơn là âm nhạc theo nghĩa hẹp). Như vậy, nội dung trọn vẹn của thứ paideia thời đó (nay còn dấu vết trong từ encyclopedia, do enkyklios = vòng tròn, toàn vẹn + paideia) luôn luôn được thực thi trong khuôn khổ truyền thống gọi là sunousia (tiền tố sun- có nghĩa là “chung với”; sunousia chỉ sự kết hợp, cộng tác, cùng làm). Trong suốt quy trình giáo dục, qua sự cọ xát thực tế với các vấn đề hệ trọng của thành quốc, bậc cha anh sẽ từ thần thoại và sử thi mà nêu lên loại gương sáng trong quá khứ có khả năng giúp các thế hệ con em mở mang tâm trí.   Đến 18 tuổi, mọi thanh niên đều phải tham dự vào thời kỳ quân huấn do nhà nước quản lý gọi là ephebeia, bắt đầu bằng một biện pháp khai tâm tôn giáo: lớp công dân dự bị này được hướng dẫn hành hương tại các đền thờ của thành quốc. Sau thời kỳ tập luyện quân sự, các epheboi (sn của ephebos, kẻ đã trải qua khóa quân huấn) sẽ tuyên thệ trung thành với thành quốc, nhận lãnh vũ khí như một bộ binh, rồi được phân phối cho các trại quân trong khắp vùng Attica để làm nghĩa vụ quân sự và dân sự (xây thành lũy, làm đường sá, cầu cống, v. v…). Chỉ sau thời kỳ ephebeia nói trên, họ mới được xem là công dân trọn vẹn (epitimoi, kẻ có tất cả mọi quyền công dân: sở hữu nô lệ, đất đai, có người thừa kế, tham dự các nghi lễ tôn giáo, và tham gia vào các định chế chính trị theo điều kiện hiến định); ngược lại, họ phải luôn luôn sẵn sàng bị động viên (cho đến tuổi 60, theo một số tài liệu).   Ngoài hai thời kỳ giáo dục nói trên, căn cứ vào sự kiện là các triết gia lớn “trước Socrates” (thế kỷ thứ VI tCn) đều có một số đệ tử, và ngay cả vào giai thoại về các cuộc gặp gỡ của Socrates với Xenophon4 và với Plato5 (thế kỷ thứ V tCn), đời sau có thể phỏng đoán rằng truyền thống quý tộc ở Athens còn để chỗ cho một hình thức giáo dục không chính thức khác, dựa trên mô hình “tầm sư học đạo” hay “tâm truyền cho kẻ có căn cơ”, và chỉ bị giới hạn bởi tài sản hay ý chí học hỏi của giới thanh niên quý tộc cầu tiến.   Dù sao, bất kể nó là hồi ức hay tàn tích của một thời khói lửa xa xưa hơn, nền giáo dục quý tộc này ở Athens vẫn còn là mềm, so với thứ giáo dục hoàn toàn hướng về chiến tranh của chính quyền đại tộc Sparta, nơi mà mọi thiết chế đều nhằm vào mục đích duy nhất là chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tự vệ chống mọi kẻ thù của thành quốc.   —      1. Nói chung, thần thoại Hy Lạp bao gồm 4 mảng sử thi chính sau đây (nay chỉ còn là những mảnh rời): 1) Cuộc Chiến chống các Thần Khổng lồ (Titanomachy) của Eumelus xứ Corinth và Thần phả (Theogony) của Hesiod; 2) Bộ Sử thi thành Troy (Trojan Cycle) của nhiều tác giả, 3) nổi tiếng nhất là Iliad và Odyssey của Homer; 4) Bộ Sử thi thành Thebes (Theban Cycle) của nhiều thi sĩ khác. Các mảng chính trên có thể được bổ túc với Danh mục Anh thư (dù tác giả là Hesiod hay ai khác), tập thơ cổ về phả hệ của những anh thư Hy Lạp, không phân biệt thần hay người phàm.  2. Gaia là Thần biểu thị Đất, Uranus là Thần biểu thị Trời, được xem là thủy tổ của loài người. Thần Hellen được xem là thủy tổ của giống dân Hellas (phiên âm thành Hy Lạp).   3.  Quan hệ erastes – eromenos ở cổ Hy Lạp là khá phức tạp và đã làm tốn không ít giấy mực. Cụ thể, đời sau không biết chắc chắn là nó có hay không có yếu tố đồng dâm.  4. Theo giai thoại, khi lần đầu tiên gặp Xenophon (lúc ấy chỉ độ 20 tuổi), Socrates hỏi: “Cần mua nhu yếu phẩm cho cuộc sống hằng ngày thì đi đâu?”. Xenophon trả lời: “Ra chợ”. Socrates lại hỏi: “Còn muốn nên người phẩm hạnh thì đi đâu?”. Xenophon ngẩn mặt, không trả lời được. Socrates bảo: “Không biết à? Theo ta sẽ biết”. Từ đó, Xenophon theo Socrates, xem Ông là thầy, rồi thành người đầu tiên ghi lại những lời lẽ cùng hành động của Ông, sau tập hợp thành tác phẩm Những điều đáng ghi nhớ (Memorabilia).  5. Sau khi thừa hưởng phần giáo dục gia đình căn bản kiểu truyền thống (mousikê và gymnastikê), Plato bắt đầu lui tới với Socrates khoảng năm 20 tuổi (408-407 tCn). Theo Diogenes Laertius, người ta kể lại rằng Socrates nằm mơ thấy một con thiên nga hạ cánh đậu trên đầu gối Ông rồi bay đi, đến hôm sau thì gặp Plato. Về phần Plato, sau khi gặp và đàm thoại với Socrates trước hội trường Dionysus, ông đã đốt hết các kịch bản mang đến nhà hát để ghi tên dự thi giải bi kịch, rồi theo Triết gia nghe tranh luận về triết học.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 2: Chế độ dân chủ      Đời sống của người dân Athens bị bẻ ngoặt sang một hướng khác trong thế  kỷ thứ VI, với sự thiết lập chế độ dân chủ thông qua hai bản hiến pháp  của Solon (594 tCn) và của Cleisthenes (507 tCn).     Mặc dù giữa hai bản hiến pháp này, chế độ dân chủ đã bị gián đoạn bởi 53 năm bá vương của Peisistratus, song chế độ phi hiến sau thực ra cũng thuận lợi cho con đường dân chủ hóa thành quốc, bởi vì để giữ chính quyền, Peisistratus và các con cũng phải tìm mọi cách làm suy giảm quyền lực của giai cấp quý tộc.    Bằng sự lập ra các thiết chế mới như Hội đồng Đại biểu Thành quốc (Boulê) và một hệ thống tòa án (dikasteria) mở rộng quyền tố tụng và quyền được xét xử cho mọi công dân, song song với việc thay đổi cách vận hành của những định chế cai trị cũ, Solon đã đặt chính quyền vào tay các tầng lớp xã hội phi  quý tộc. Nhưng về giáo dục, tầm cải cách của ông chỉ giới hạn vào việc gỡ bỏ thành kiến đối với các nghề, và khuyến khích mỗi gia đình nghèo phải dạy cho con cái một kỹ năng. Chính những cải tổ của Cleisthenes về sau mới thổi vào các định chế quyền lực của Athens ngọn gió “bình đẳng” thực sự: bình đẳng trước pháp luật (isonomia), về quyền hành (isokrateia), về lời nói (isogoria). Kết hợp với khía cạnh cuối của quyền bình đẳng này, thói quen và nhiệt tình bàn luận về mọi vấn đề của thành quốc vốn có sẵn ở người dân Athens (nhờ không phải bận tâm về sản xuất vì đã có nô lệ lo, và về việc nhà vì đã có đàn bà lo), đã mau chóng tạo nên một không khí tự do ngôn luận chưa hề có ở bất cứ nơi nào khác.   Trong lịch sử, lãnh tụ dân chủ uy tín nhất của Athens là Periklès. Và kẻ đã giữ vị thế áp đảo trong chính quyền gần như liên tục suốt 30 năm (461-429 tCn) này đã ca ngợi chế độ dân chủ của thành quốc như sau:   “Hiến pháp của ta không mô phỏng luật lệ của các xứ láng giềng; chúng ta là mẫu mực để nơi khác noi theo hơn là kẻ đi bắt chước. Chính quyền của ta gọi là dân chủ, bởi vì thành quốc không phải do một thiểu số mà do đa số [công dân] cai trị. Về luật pháp, nó mang lại phần công lý bằng nhau cho mọi người trong những tranh chấp riêng tư; về địa vị xã hội, sự thăng tiến trong việc công tùy thuộc tiếng tăm về khả năng, phân biệt giai cấp không được phép xen lẫn vào sự thẩm định công trạng; sự nghèo khó cũng không được phép cản đường tiến thân của bất cứ ai, hễ ai có khả năng phục vụ nhà nước thì điều kiện tăm tối của đương sự không hề là một trở ngại” … “Tóm lại, tôi nói rằng, như một thành quốc, chúng ta là trường học của toàn thể Hy Lạp” (Trích đoạn từ: Ai điếu chiến sĩ trận vong Athens = Funeral Oration (năm 431 hay 430). Trong: Thucydides, The History of the Peloponnesian War, t. 2 – ch. 6).  Đoạn văn này nhấn mạnh trên cách vận hành của chế độ. Nó cho ta thấy một khía cạnh nữa trong nền dân chủ ở đây: đó là sự bình đẳng về cơ hội, sau được nhà xã hội học Alexis de Tocqueville (1805-1859) xem là một trong những ý tưởng mấu chốt của nền dân chủ hiện đại ở Hoa Kỳ. Và trên thực tế, đam mê bình đẳng này đã đẩy những cải cách hành chính xa đến mức mọi chức vụ quan trọng của Athens về sau đều do bốc thăm, trừ vai trò tư lệnh quân đội (strategos, sn strategoi), vô tình đặt lên tương lai của thành quốc một thứ chủ nghĩa bình quân trước số phận, với những hậu quả nói chung là tai hại về lâu về dài.       Chế độ dân chủ này ảnh hưởng như thế nào trên đời sống tinh thần nói chung, và trên sinh hoạt giáo dục nói riêng ở Athens?  Đọc thêm:  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 3: Trào lưu du giáo      Chế độ dân chủ ảnh hưởng như thế nào trên đời sống tinh thần nói chung, và trên sinh hoạt giáo dục nói riêng ở Athens? Trước  hết, nó đã lôi triết học từ thế giới tự nhiên về thế giới con người, từ  các thiên thể và vật thể trở lại trung tâm thành quốc.     Từ khoảng giữa thế kỷ thứ V tCn, xuất hiện ở rất nhiều nơi, một trào lưu triết lý mới6. Một mặt, bi quan trước những kết luận bất đồng, thậm chí đôi khi trái ngược của các nhà tư tưởng đi trước về căn nguyên của thế giới hiện tượng (vật thể đến từ đâu?, được cấu tạo từ chất thể gì?), hay về thực thể (cái gì là tồn tại thực sự?), và chuyển động (phải giải thích sự đa tạp và biến chuyển của vạn vật trong thế giới hiện tượng như thế nào?), lớp triết gia này cho rằng chân lý khách quan là một ảo tưởng không bao giờ có thể đạt tới được. Đối với Protagoras, «con người là thước đo của vạn vật». Tương tự, Gorgias cho rằng: 1) không có thực hữu, 2) nếu có đi nữa, nó cũng không thể được biết, 3) mà nếu có thể biết được đi nữa, nó cũng không thể được diễn đạt bằng ngôn từ. Vì vậy, từ nay họ lấy ngôn ngữ, chính trị, luật pháp, đạo lý… – nói chung là mọi vấn đề liên quan đến con người – làm đối tượng của tư duy. Mặt khác, vì đi giảng dạy khắp nơi trên đất Hy Lạp (trừ Sparta), lớp triết gia mới này cũng có ý thức rất sâu sắc về tính tương đối của loại sự vật (luật pháp, luân lý) mà họ lấy làm đối tượng để tư duy và trao truyền.   Do điều kiện ở Athens được xem là thích hợp nhất, hứa hẹn nhất cho sự thi thố tài năng của họ, nhiều triết gia thuộc khuynh hướng này về sau đều không hẹn mà cùng đổ về Athens: sự tiến hóa của xã hội dân chủ ở đây đòi hỏi người công dân phải có những hiểu biết nằm ngoài loại đức tính quý tộc. Và các triết gia thuộc trào lưu này tự hào: 1) sở hữu thứ tri thức thiết yếu đó; 2) đồng thời có thể trao truyền chúng cho bất cứ ai. Họ được gọi là những sophistai (sn của sophistês = tựa như viết wis(e)-ist trong tiếng Anh); từ sophistês này xuất phát từ sophia, nghĩa là hiểu biết (wisdom)7, phải được hiểu là người làm việc với tri thức hay kẻ dùng hiểu biết của mình làm kế sinh nhai, khác với sophós là người hiểu biết (wise man). Đấy đúng là điều các triết gia này làm: trao truyền tri thức của mình đổi lấy thù lao; và trong nghĩa này, họ chính là những thầy giáo chuyên nghiệp đầu tiên.  Dù sao, chính nhờ trào lưu sophistai này mà hệ thống giáo dục truyền thống từ nay có thêm một cấp học thuộc bậc cao đẳng (higher education), với một chương trình có phần văn hóa được mở rộng rất nhiều so với thời quý tộc; nó bao gồm nhiều bộ môn, từ ngôn ngữ học và các môn học phụ thuộc (hùng biện, từ nguyên, bút pháp), sang thơ văn, âm nhạc, đến luật pháp, chính trị, lịch sử, và ngay cả các bộ môn khoa học như toán học, luận lý, thiên văn, vật lý, sinh học – nói tóm lại,  họ nhận dạy tất cả những gì mà người đương thời có thể xem là tri thức. Và chính vì sự đa tạp này mà đời sau, tuy có thể phân chia họ thành nhiều nhóm, vẫn không thể xem các khuynh hướng sophistai như tập hợp thành một trường phái triết học nhất quán.   Khắp nơi, sự thành công của các nhà du giáo đối với giới trẻ thuộc thành phần quý tộc là không thể chối cãi, như bài biện vu trước tòa của Socrates cho thấy8. Nhưng ở Athens, kết quả này cũng gây ra nhiều phản ứng. Một mặt, nó khiến các thành phần khác trong xã hội băn khoăn (sự triển khai các môn học trí tuệ, chưa biết giá trị đến đâu, sẽ làm cho thành quốc yếu thế hơn trong cuộc chiến bá quyền với Sparta chăng?) hay lo âu (vì việc mở trường lớp đang phá đổ truyền thống sunousia, và uy tín của họ đang lật đổ uy quyền của các bậc cha anh ở Athens) trước đường lối giáo dục mới (như ta có thể thấy trong kịch của Aristophanes và những tràng cười đồng lõa ở khán giả của hài kịch The Clouds9). Mặt khác, nó vấp phải sự chống đối của Socrates và nhóm triết gia quây quần quanh Ông, quyết liệt nhất là Plato (người đã tạo ra đối kháng philosophos – sophistês trong lịch sử triết học). Thực ra, quan hệ giữa Socrates với giới sophistai là khá phức tạp: từ thời đó và ngay cả ngày nay, không ít người vẫn xem triết lý của Socrates như chỉ là một xu hướng khác trong trào lưu sophistai không hơn không kém.  Triết lý của Socrates là đối lập với hay chỉ là một phần của trào lưu triết gia du giáo? Để trả lời câu hỏi này, cần phải nhìn qua các khuynh hướng sophistai10 từ giữa thế kỷ thứ V đến giữa thế kỷ thứ IV tCn, dù thật ra trong mỗi xu hướng ta sẽ chỉ ghé thăm một tác giả tiêu biểu.   1/ Protagoras xứ Abdera (khoảng 492-420 tCn)                    Xu hướng đầu tiên xuất hiện vào khoảng 447, và có thể được gọi là nhóm «du giáo văn hóa (sophistry of culture)», do ý muốn truyền dạy những gì thiết yếu nhất để thành đạt trong nền văn hóa mới của lối sống dân chủ. Đại biểu nổi tiếng nhất của nó là Protagoras11 xứ Abdera (Thrace).   Protagoras không chỉ là nhà dân chủ kiên định và có quan hệ gắn bó với Perikles; ông còn là một lý thuyết gia độc đáo về dân chủ. Như nhà giáo, Protagoras không bàn về “Chân lý (Alêthéia)” hay “Hiểu biết (Sophia)” mà chỉ nói về “phẩm hạnh” hay sự “hoàn hảo” (aretê) trong đời sống xã hội, không thuyết giảng về vũ trụ mà chỉ chăm truyền bá loại kỹ năng sống tập thể, nghĩa là ông chỉ nhằm “đào tạo ra những công dân tốt”. Để hoàn tất nhiệm vụ giảng dạy, Protagoras chủ yếu dựa trên ngôn ngữ và các môn học phụ thuộc, kể cả các bộ sử thi: theo ông, Homer, Hesiod, Simonides… chính là lớp sophistai đầu tiên, chỉ khác là họ đã phải tự ngụy trang để tránh phải đương đầu với quyền thế và đám đông.   Kết nối với thần thoại, Protagoras nhắc lại thời phát sinh của loài người. Khi tạo ra muôn loài, Zeus giao cho hai anh em thần Prometheus và Epimetheus nhiệm vụ ban phát cho mỗi loài động vật thứ năng lực và lợi thế tự nhiên cần thiết để “không loài nào phải bị diệt vong”. Epimethus giành anh làm, song do bất cẩn, đem ban phát hết cho muôn loài dã thú; đến lượt con người thì chẳng còn gì trong kho vũ khí tính năng dự trữ. Đến kiểm tra, Prometheus hoảng hốt, bèn trở lên đỉnh Olympus đánh cắp lửa và nghệ thuật tôi rèn của thần Hephaestus, cùng với những thứ nghệ thuật khác của nữ thần Athena, rồi bất chấp hình phạt nặng nề chắc chắn sẽ đến của Zeus, đem xuống cho loài người. Nhưng dù có lửa và biết tự chế tạo ra vũ khí để kiếm ăn và tự vệ, con người vẫn bị đe dọa tiêu vong trước nhiều sinh vật và hiểm nghèo tự nhiên khác, do không thể xây dựng được đời sống cộng đồng, vì hễ cứ họp lại với nhau là sinh sự, gây tổn thương cho nhau. Thấy vậy, Zeus bèn sai thần Hermes đem xuống cho loài người hai món quà tinh thần khác, với mệnh lệnh là: 1) phải chia đều cho tất cả mọi người, nghĩa là ai cũng phải có phần; 2) phải giết hết kẻ nào không có khả năng tiếp nhận chúng.       Hai món quà này mang tên là dikê và aídós. Dikê luôn được dịch là công lý hay công chính (justice); trong khi tùy người dịch, aídós thường được chuyển ngữ ra là sự tôn trọng (reverence) hay sự xấu hổ (sense of decency, shame); ta có thể hiểu nó như một thứ ý thức có mặt tích cực là sự tôn trọng (tôn trọng bản thân, người khác, điều tốt đẹp), và mặt tiêu cực là sự hổ thẹn (khi mất tự trọng, mất sự tôn trọng của kẻ khác, khi làm điều xấu xa). Dikê là quy chiếu về khả năng thiết lập những quy tắc và tuân thủ những quy phạm được lập ra trong đời sống tập thể. Aídós là quy chiếu về hình ảnh của ta trong mắt ta, về sự quan tâm đến hình ảnh của ta trong mắt kẻ khác; nó được dùng để xây dựng quan hệ giữa những cá nhân thành viên của một cộng đồng. Nhờ chúng, con người mới bắt đầu xây dựng được các thành quốc lớn nhỏ; nói cách khác, chúng chính là điều kiện khả tồn hay khả hữu (conditions of possibility) của đời sống cộng đồng, và do thành quốc là polis, ta có thể gọi nó là politikê tekhnê (nghệ thuật hay phẩm hạnh chính trị, hệ quả tổng hợp của chúng), và xem bộ đôi dikê – aídós song sinh đó như những dữ kiện “bẩm sinh”, theo nghĩa chúng đã có mặt và được bảo đảm cho tất cả mọi người ngay từ buổi bình minh của nhân loại, nên đều có bản chất linh thiêng, phổ quát và vĩnh hằng.           Huyền thoại của Protagoras ở trên còn dẫn đến một hệ quả khác nữa. Do con người ai cũng phải có phần dikê và aídós như nhau và bằng nhau, chế độ duy nhất biểu thị mệnh lệnh thần linh và nguyên lý nhân bản này chính là thể chế dân chủ – bởi vì hiển nhiên là từ sự bình đẳng trên nguyên tắc này (sự sở hữu phần ý thức công lý và ý thức tôn trọng, như nhau và bằng nhau), ai cũng có quyền tham gia điều hành thành quốc, bởi vì ai cũng có khả năng thi thố nghệ thuật chính trị. Như vậy, Protagoras đã không biện chính cho chế độ dân chủ bằng cách nói tại sao ta phải thiết lập nó như ở nhiều tác giả đời sau, mà vạch ra rằng nó tồn tại ngay từ thời điểm xuất hiện của loài người. Đây không phải là cái-phải-có mà ta phải làm mọi cách để thực hiện; đây là cái-đã-có mà ta phải bảo tồn và phát huy.  Tất nhiên, trong tư cách nhà giáo lưu động, Protagoras có thừa kinh nghiệm về sự khác biệt giữa các hệ thống luật pháp và luân lý ở những thành quốc khác nhau, cũng như sự bất bình đẳng về năng lực thực thi quyền dân chủ ở mỗi công dân trong hiện thực. Bởi vì thật ra «huyền thoại của Protagoras» chỉ là một biểu văn (discourse) về hai điều kiện tồn hữu của chế độ dân chủ mà thôi. Một mặt, dikê và áidos không kết hợp thành một bộ những luật lệ đã được thiết định sẵn, mà chỉ là hai điều kiện về khả năng sáng tạo, tiếp nhận và sử dụng những quy phạm thiết yếu, song song với những quan hệ hữu ích cho đời sống xã hội. Mặt khác, dikê và áidos cũng đồng thời là điều kiện về khả năng tiến hóa của những quy phạm và quan hệ xã hội đó: bất cứ công dân nào, ở bất cứ thời điểm lịch sử nào, cũng có quyền đề nghị thay đổi một luật lệ đã có, với điều kiện là đề nghị này phù hợp với ý thức công lý và ý thức tôn trọng sơ khởi. Làm thế nào để mỗi thành quốc xây dựng được các bộ luật ngày càng tốt đẹp hơn? Làm thế nào để mỗi công dân có khả năng lấy những quyết định chính trị ngày càng khôn ngoan hơn? Đấy là vai trò của giáo dục.    Với Protagoras, giáo dục chính là cột xương sống của chế độ dân chủ, và nói giáo dục tức là nói công dân giáo dục. Bởi vì nếu ông tự hào là thầy dạy nghệ thuật chính trị, thứ politikê tekhnê của ông không nhằm đào tạo ra các nhà lãnh đạo, mà nhằm đào tạo ra những công dân có khả năng thực thi vai trò công dân của mình, ở bất cứ thành quốc dân chủ nào. Khác với nhiều nhà du giáo khác, ông không đề nghị ngay một chương trình học tập mà dạy theo yêu cầu của học viên, cụ thể là dạy cái mà họ cần và tìm đến ông để học: nghệ thuật đạt tới một quyết định đúng trong việc riêng cũng như việc công, bằng ngôn từ và hành động – cái mang tên là euboulía12 –, mà không quay lưng lại với nền giáo dục truyền thống. Protagoras đặt nền móng của chương trình học nơi ngôn ngữ, bởi vì nó được dùng để truyền đạt mọi luật lệ và giá trị, bởi vì nó tác động lên đời sống của mọi công dân, bởi vì nó là phương tiện quyết định hơn kém trong các định chế chính trị dân chủ (Ekklêsía, Boulê, Heliaía) ở Athens. Bên trên, ông triển khai một thứ phê bình văn học vừa là phân tích từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, vừa tìm hiểu giá trị tư tưởng hay luân lý chất chứa trong sử thi và ca kịch truyền thống.   Điểm mới mà Protagoras chia sẻ với các triết gia du giáo khác, và do đó bị chê bai là “biện sĩ”, là sự giảng dạy thuật hùng biện. Hai công thức thường bị đả kích nhất của ông là: “con người là thước đo của vạn vật” (man is the measure of all things = anthrôpos métron) và «biến một biểu văn yếu (hettôn logos) thành biểu văn mạnh (kreittôn logos)”. Về công thức thứ nhất, từ sau Hegel (1770-1831) và Nietzsche (1844-1900), triết học đã có nhiều lối hiểu khác hơn là cách do Plato truyền đạt (chỉ có những sự thực chủ quan – xin miễn bàn ở đây vì quá xa khuôn khổ của bài này). Còn về công thức thứ hai, thực ra nó không có nghĩa là biến một biểu văn sai thành một biểu văn đúng, mà chỉ có nghĩa là giúp một biểu văn được ít người ủng hộ thành một biểu văn được nhiều người tán thành hơn – và đấy chính là điều xảy ra hằng ngày trong các buổi họp chính trị lớn nhỏ, đồng thời cũng là mục đích của thuật hùng biện – một quan tâm hàng đầu khác của Protagoras, đồng thời cũng là công cụ dạy học chung của các triết gia cùng trào lưu.    2/ Hippias xứ Elis (khoảng 465-390)   Xu hướng thứ hai thường được gọi là nhóm “du giáo bách khoa13”. Đại biểu chính của nó là Hippias xứ Elis, người chẳng những bị các đối thủ đương thời là Plato và Aristoteles phê phán rất khắt khe, mà ngay cả đồng nghiệp  Protagoras cũng công kích khá nặng nề, mặc dù theo những tác giả gần đây hơn, ông thật ra cũng là một nhà tư tưởng có tầm vóc.   Hippias là nhà chính trị dân chủ. Trong tư cách sứ giả thành Elis (vùng Peloponnese), ông đã chu du nhiều nơi trong và ngoài khối Hy Lạp, học hỏi được nhiều thứ, kể cả nhiều ngôn ngữ phi Hy Lạp, nên nổi tiếng là polymathês (kẻ hiểu biết nhiều). Điểm độc đáo ở Hippias là ông tiếp nối các nhà sinh học trước kia bằng một quan điểm mới mẻ về tự nhiên. Ông xem thiên nhiên là một thể thống nhất bao gồm vô số vật thể đặc thù có đặc tính riêng (ta pragmata = things), độc lập với nhận thức con người, song sinh động và liên đới với nhau, đồng thời có sức thu hút lẫn nhau (phusis ở vật thể, philia ở con người), nhờ vậy, tự nhiên vận hành theo nguyên lý homoiôsis: “cái giống nhau tự nhiên sẽ liên kết với nhau”. Từ quan điểm tự nhiên này, không khó rút ra một số hệ quả về nhận thức luận: 1) có hiện thực khách quan và có chân lý khách quan; 2) hiểu biết thực phải là hiểu biết về cái toàn thể; 3) định nghĩa đúng là một định nghĩa không tách rời bản chất sự vật khỏi sự vật cụ thể (cái đẹp là cô gái đẹp, không phải là sự dự phần của ý thể đẹp vào cô gái, như ở Plato).  Mặt khác, nhân học của Hippias còn là sự tiếp nối học thuyết về tự nhiên ở trên. Athens đương thời đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng: chiến tranh triền miên đã xác minh rằng thần linh không luôn luôn đứng về phía chính nghĩa, và sự mất tin tưởng nơi thần linh kéo theo sự nghi ngờ mọi giá trị truyền thống: công lý chỉ là “lời hoa mỹ (onomata kala)”, luật pháp ở các nơi chẳng những khác nhau mà chính là bạo lực và quyền lợi phe đảng được ngụy trang. Hippias đối lập tự nhiên với các bộ luật nhân tạo. Theo ông, tự nhiên đã tạo ra một tính xã hội bộc phát mà chính thứ “bạo quyền của con người trên con người” gọi là pháp luật đã phá hủy. Do tính xã hội tự nhiên này bắt nguồn từ nguyên lý homoiôsis nói ở trên, nên: 1) nền tảng của cộng đồng nằm nơi thiện cảm tự nhiên giữa con người với nhau; 2) dân chủ là thể chế tự nhiên nhất, bởi vì nó được xây dựng trên nguyên tắc “như nhau và bằng nhau”.  Theo Hippias, vai trò quy phạm của tự nhiên hiện rõ nhất trong vấn đề công lý. Công lý thật xuất phát từ tự nhiên, vì có một thứ luật tự nhiên không do ai viết ra, và nếu công lý đúng là sự tuân thủ luật pháp, thì đấy là thứ luật không do ai viết ra đó (cái sau này Aristoteles gọi là phusikon dikaion), chứ không phải là luật nhân tạo. “Luật pháp tự thân bao gồm luôn cả hình phạt cho bất cứ ai vi phạm nó”. Kẻ vi phạm một luật tự nhiên, như sự ngăn cấm loạn luân, chắc chắn sẽ phải chịu hình phạt là họa suy thoái dần từ đời này sang đời khác, không giống như luật nhân tạo, có thể bị uốn cong bẻ quẹo theo mọi chiều. Do luật tự nhiên cao hơn luật thành quốc bởi tính phổ quát và ổn định, quan điểm về công lý và luật pháp của Hippias là cánh cửa mở vào chủ nghĩa thế giới (cosmopolitism) ở đời sau. Nhưng ngay từ thời ông, trái với nhiều người Athens khác còn nhìn về phương Đông với đối kháng Hy Lạp/mọi rợ trong đầu (mọi rợ = không biết nói = không biết nói tiếng Hy Lạp!), Hippias đã gọi châu Á cũng như châu Âu là “con của Đại dương”.    Trở lại với Athens, Hippias cho rằng một cộng đồng người chỉ nên thu nhận chứ không nên khai trừ – đấy là một lý do khác khiến ông tán thành chế độ dân chủ ở đây. Tuy nhiên, ông chủ trương phải làm một số cải cách, cụ thể là vất bỏ thủ tục chỉ định người ra gách vác việc công bằng cách rút thăm mà ông cho là mị dân, phi lý và mạo hiểm. Hippias đề xuất một chế độ dân chủ được khai sáng, nhưng không phải từ trên xuống dưới bởi một bậc lãnh đạo anh minh, mà từ dưới lên trên, bằng cách nâng cao trình độ văn hóa của công dân, nhất là công viên chức. Do đó, sau khi chứng minh rằng sự kiện có một nghề đặc thù không hề là trở ngại cho hiểu biết chính trị, bất chấp sự nghi ngờ và mỉa mai của nhiều đối thủ đương thời, lớp học bách khoa của ông dạy đủ loại tri thức khoa học (episteme, sn êpistemai) và kỹ thuật (tekhnê, sn tekhnai) – từ ngữ pháp, từ nguyên, bút pháp, đến thơ văn, âm nhạc, tranh biện, sang luật pháp, chính trị, lịch sử, và cuối cùng toán học, thiên văn, vật lý, sinh học.   Hippias là người bị Plato đả kích nặng nhất trong số các nhà du giáo. Plato mỉa mai rằng ông tự hào có thể phát biểu trên mọi vấn đề; điều này có thể hiểu được, vì ông muốn làm nhà giáo bách khoa, và biết nhiều thường khó đi đôi với biết sâu. Theo Plato, ông còn tự hào đã sáng tạo ra được một phương pháp tranh luận có thể đem áp dụng trong mọi trường hợp và trên mọi đề tài; mặt khác, ông chỉ tranh cãi để giành chiến thắng, chứ không màng đến chân lý. Đây có thể chỉ là những khẳng định có tính bút chiến, ít nhiều mang hậu ý xuyên tạc: mặc dù ảnh hưởng của Hippias trên quyển chuyên luận Dissoi Logoi14 sau này được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận, chẳng có gì ở phần còn lưu giữ được trong trước tác của ông có thể buộc đời nay phải đánh giá Hippias quá thấp và quá tiêu cực như ở Plato.   3/ Gorgias xứ Leontini (khoảng 485-375)  Xu hướng thứ ba là nhóm “du giáo hùng biện (sophistry of rhetoric)”. Đại biểu chính của nó là Gorgias15 xứ Leontini (Sicily, Nam Ý), nhà hùng biện nổi tiếng nhất cổ đại. Gorgias nói hay đến nỗi: tên ông được gắn thêm đuôi (vĩ tố) để trở thành động từ, với nghĩa là nói hay như Gorgias; ông còn được tạc tượng bằng vàng ở Olympia, được đề cử viết và đọc diễn từ tại các ngày lễ hội liên Hy Lạp hay trong những ngày trọng đại liên quan đến sinh mệnh của toàn khối Hy Lạp.  Gorgias được biết đến nhiều nhất qua ba luận điểm (xem đoạn III ở trên) đã khiến ông từng bị nhận định là triết gia theo chủ nghĩa hư vô hay bi quan triệt để. Ngày nay, người ta xem chúng như một phản biện đối với bản thể luận của Parmenides bằng chính những nguyên lý của nó. Thật ra, từ sự sụp đổ của bản thể luận, Gorgias chỉ rút ra một thứ tư duy phục hồi giá trị cho thế giới hiện tượng kiểu Nietzsche sau này, nghĩa là ông khẳng định sự đồng nhất giữa cái thực có (being) với cái hiện ra (appearing). Nếu nói là hiện tượng thay đổi, thì cũng phải nói là thực hữu cũng đổi thay, vì thực ra hiện thực cũng đầy dẫy mâu thuẫn; và những mâu thuẫn này là không thể vượt qua, không thể hòa giải, không thể bị vô hiệu hóa. Do đó, giữa hai vế của mâu thuẫn, con người phải chọn một, và thường người ta tự thuyết phục mình, hay dùng ngôn từ thuyết phục kẻ khác, hãy chọn vế nào mang lại sự yên bình cho tâm hồn. Tất nhiên, Gorgias cũng đối lập ý kiến với hiểu biết, và khi phải chọn lựa, cũng chọn hiểu biết; nhưng ở ông, ý kiến (vẫn gọi là doxa) chỉ trạng thái tinh thần bị xâu xé bởi những trái ngược, trong khi hiểu biết (ông không dùng từ sophia ở đây mà thay bằng lúpê) chỉ trạng thái tinh thần yên nghỉ trên mặt nào đó của hiện thực mà ta lựa chọn. Nghĩa là Gorgias xác định ngôn từ chính là ông thầy thuốc của tâm hồn.   Thứ ngôn từ này không hủy diệt được mâu thuẫn (cái không thể tiêu vong),  và không có nội dung bản thể luận (nó không chuyên chở hiện thực, hiện vật), mà chỉ có nội dung tâm lý học (cô kết lại một cảnh quan tuy đơn phương song nhất quán trong tâm hồn, giúp cho tâm hồn tìm được sự an bình). Giống như trong thi ca, ở đây ngôn từ không đòi bóc trần hiện thực mà chỉ muốn vuốt ve mơn trớn tâm hồn, không đòi chuyên chở sự vật mà chỉ mong truyền đạt cảm xúc. Và cảm xúc càng được nhiều người chia sẻ thì tính chính đáng của nó càng được củng cố. Nếu sự hiệp thông giữa người với người qua thứ ngôn ngữ có tham vọng truyền đạt chân lý là bất khả thi  (vế thứ ba của phát biểu ở đầu đoạn III bên trên), thì ở đây nó hoàn toàn khả thi, hoàn toàn chính đáng, qua loại ngôn từ hướng về sự truyền đạt cảm xúc, nghĩa là thứ ngôn từ lấy cảm thông làm mục đích. Điều này giả định một quan điểm tâm lý trong đó tâm hồn con người có tính năng cảm thụ cao, không chỉ rộng mở trước nhận thức cảm quan, mà còn mở rộng trước sự quyến rũ của ngôn từ.   Từ các quan điểm trên, Gorgias xây dựng một học thuyết về nghệ thuật dẫn dắt tâm hồn đến nơi nào ta muốn nó đến, trong đó sự dẫn dắt bằng ngôn từ là phần chính yếu, mang tên là thuật hùng biện. Đấy cũng chính là một trong bộ ba nghệ thuật về biểu văn cố hữu của Hy Lạp cổ đại: ngữ pháp, biện chứng, và hùng biện (rhêtorikós, do erô = nói; rhêma = cái được nói ra, chữ hay lời; rhếtôr = kẻ nói nơi công cộng). Và khác với mọi nhà du giáo khác ở điểm họ luôn luôn dạy thuật hùng biện như một phần của chương trình học, Gorgias chỉ chuyên dạy mỗi khoa rhêtorikós mà ông xem như bộ môn thế chân cho triết học. Và ở Gorgias, thuật hùng biện dựa trên hai khái niệm kỹ thuật chính là thuyết phục (peithô) và thời cơ (kaiiros).   Một mặt, thuyết phục chủ yếu là tạo dựng ra một bầu không khí cảm xúc thuận tiện cho chủ ý lôi cuốn sự tán thành, nghĩa là thứ không khí làm cho luận cứ được sử dụng có thêm sức nặng, bằng cách tạo ra sự sẵn sàng chấp nhận nơi người nghe. Tác động quyến rũ của peithô thường được đối chiếu với tác động của thi ca, âm nhạc, thần chú, dược liệu (pharmakon, trong cả hai nghĩa thuốc chữa bệnh và thuốc độc). Mặt khác, hiệu quả của peithô cũng tùy thuộc vào thời cơ nó được sử dụng: xuất phát từ một quan điểm thời gian không liên tục và đồng nhất mà đứt đoạn và khác biệt, kaiiros không chỉ đòi hỏi sự khôn ngoan mà cả sự đúng lúc; nó là cái thiên tài quyết định thời điểm tốt nhất cho mọi hoạt động, từ việc định nghĩa phẩm chất (aretê), phân tích tình hình, đào tạo nhân sự, giải quyết mâu thuẫn, đến việc phát biểu bằng ngôn từ.   Dù sao, thuật hùng biện của Gorgias đã xuất hiện rất đúng thời cơ, và chính thời thế của Athens đương thời là lý do giải thích sự thành công của ông đối với thành phần công dân trẻ đang náo nức tìm cách nổi trội trên chính trường, và nhất là trong hệ thống pháp lý ở đây.             4/ Lycophron, Antiphon, Critias    Xu hướng thứ tư là nhóm “du giáo chính trị (political sophists)”, có lẽ là nhóm đông đảo và phức tạp nhất. Quan hệ của Athens với các thực thể chính trị ngoài Hy Lạp, cũng như với các thành quốc Hy Lạp đối địch hay đồng minh bên trong, đã tạo ra nhiều vấn đề chính trị, pháp lý, và ngay cả triết học, đòi hỏi phải được suy ngẫm, bàn bạc và giải quyết. Đến từ nhiều quan điểm triết học tổng quát khác nhau (xin miễn bàn vì quá xa khuôn khổ của bài này), họ đều gặp nhau trên một số vấn đề.   Vấn đề tiêu biểu nhất là sự đối lập giữa tự nhiên với cái nhân tạo, luật tự nhiên với luật nhân tạo. Nhưng từ sự đối lập này, các tác giả nhiều khi đưa ra những kết luận chính trị trái ngược.   – Theo Lycophron16, tự nhiên tạo ra cá nhân, trong khi thành quốc tạo ra công dân. Nói cách khác, cá nhân tồn tại tự nhiên, còn thành quốc chỉ là cái nhân tạo, cái quy ước, cái không có nền tảng nào ở tự nhiên cả. Nó chỉ có tính chính đáng ở tính hữu dụng: mỗi cộng đồng người có thể được xem như một liên minh, và chỉ có giá trị hữu hạn của loại liên kết này: giới hạn trong thời gian, và hạn chế bởi điều kiện phải có sự tôn trọng những quy định của liên minh bởi mọi thành viên khác. Vì vậy, mọi kiến tạo bên trong thành quốc đều chỉ là quy ước. Cái gọi là luật pháp chỉ là quy ước, chính vì thế mà nó không thay đổi được bản chất con người (“không khiến con người tốt hơn hay công chính hơn”), tuy sự vô hiệu về mặt đạo lý này thật ra không ngăn cản các thành quốc hoạt động (chỉ cần có đủ số công dân sáng suốt để ý thức rằng quyền lợi của họ là tôn trọng những gì đã được thỏa thuận). Cái gọi là “quý tộc bẩm sinh” cũng chỉ là một nhãn hiệu xã hội, thực tế không có gì khác ngoài những cá nhân bình đẳng, do đó theo Lycophron, dân chủ vẫn là loại thể chế gần với điều kiện tự nhiên hơn cả.    – Antiphon17 cũng đối lập tự nhiên với luật pháp. Theo ông, vì tự nhiên là lĩnh vực của cái tất yếu, nên mệnh lệnh của nó là có cơ sở, và do đó, mạnh mẽ hơn mệnh lệnh của luật pháp. Mọi cộng đồng người đều được xây dựng trên sự có cùng những nhu cầu như nhau. Vì vậy, tự nhiên có liên hệ chặt chẽ với tự do và sự thân thiện: một mặt, vì tự do của con người nằm nơi sự thỏa mãn mọi cái thiết yếu xuất phát từ tự nhiên (nếu làm ngược lại mệnh lệnh của tự nhiên, ta sẽ phải trả giá bằng sự đau đớn hay đau khổ); mặt khác, vì sự thân tình (bắt nguồn từ sự tương đồng giữa người với người) cũng đồng thời là cơ sở của sự hòa đồng và hòa hợp. Sự hiểu sai bản chất của tự nhiên ngăn cản con người bắt tay cộng tác với nhau, do đó, cần phải giáo dục con người theo chiều hướng hòa đồng (vất bỏ sự phân biệt Hy Lạp – man di) và dân chủ (vất bỏ sự phân biệt quý tộc – thường dân). Nói cách khác, phải tự nhiên hóa luật pháp, bởi vì luật pháp nhân tạo chỉ là một cỗ máy chống lại tự nhiên, cái mang tên là công lý và luật pháp thành quốc thực ra chỉ có tác dụng là che giấu sự chà đạp đạo lý con người bằng thủ đoạn nói một đàng làm một nẻo của kẻ cầm quyền trong xã hội.    – Critias18 không đối lập luật pháp với tự nhiên mà với cá tính (tropos). Khác với Antiphon, ông khẳng định: con người bình đẳng do tự nhiên, song bất bình đẳng bởi cá tính. Xem cá tính như biểu hiện của tư tưởng, Critias tin rằng tư tưởng (gnômè) đối lập với cảm xúc như cái đơn nhất với cái đa tạp, và tư tưởng cũng như cá tính đều có thể trở thành sắc bén, mạnh mẽ hơn nhờ sự rèn luyện. Nếu hiện thực có những mặt đối lập, sự đối kháng đó sẽ biến mất không phải bởi trò xào trộn bất đắc dĩ, mà bởi sự thống trị của mặt này trên mặt kia. Trong xã hội, do giai cấp quý tộc đã tự áp đặt cho mình một thời gian rèn luyện lâu dài và nặng nhọc, giai cấp này có tư tưởng và cá tính xứng đáng để cai trị. Mặt khác, luật pháp là cần thiết cho xã hội, song thứ luật lệ được biểu quyết ở Đại hội Quốc dân Athens bởi đám đông vô cá tính là èo uột, có thể bị bẻ cong bẻ quẹo tùy ý; chỉ luật pháp của chế độ quý tộc mới có đủ tính cứng rắn để không bị lay chuyển, vì mọi trò huyền ảo của thuật hùng biện đều dễ bị cá tính của nhà lập pháp quý tộc vô hiệu hóa. Rốt cuộc, đứng trên quý tộc chỉ còn thần linh, nhưng Critias khẳng định rằng thần linh chỉ là chuyện hư cấu, dù là một hư cấu có ích (khi nào còn sợ uy quyền của thần linh, kẻ xấu ác còn tránh phạm tội). Do đó, nếu vai trò của nhà du giáo là thuyết phục dân chúng tin vào thần thánh, bổn phận của nhà chính trị quý tộc là không bao giờ được phép tin.  —  6 Như trong trường hợp Socrates, đời sau chỉ biết về các sophistai chủ yếu qua tác phẩm của Plato và Aristoteles, với nhãn quan ít nhiều méo mó của hai triết gia đối thủ này. Đấy là hạn chế thứ nhất; hạn chế thứ hai là ngay số tác phẩm của các sophistai tìm lại được cũng rất ít, cả phần trước tác (chỉ còn những mảnh rời hoặc mất hẳn, như của hầu hết các tác giả cổ đại khác), lẫn phần giáo khoa (vì là những bài dạy lấy thù lao).  7 Trong số những người theo đuổi sophia, người xưa phân biệt sophos (sn sophoi, như thần thánh, hiền giả) với philosophos (sn philosophoi, kẻ đi tìm sophia bởi vì mình không có, tức là các triết gia) và với sophistês (chuyên gia về một kỹ năng nào đó, như nhạc sĩ). Trên thực tế, tên sophistês đã lần lượt chỉ: a) bất cứ ai xuất sắc trong một lĩnh vực nào đó (bói toán, thi văn, âm nhạc); b) triết gia = philosophoi; c) rồi từ giữa thế kỷ thứ V, đặc biệt là trào lưu các triết gia dạy học trên. Tiếng Việt thường dịch sophistês là “biện sĩ”; nhưng dịch như thế là vô tình đánh giá thấp họ, dựa trên quan điểm của các triết gia đối lập với họ – cụ thể là của dòng triết học thường vẫn được xem là chính thống của Cổ Hy Lạp (Socrates, Plato và Aristoteles). Ở đây, ta có thể tạm dịch là “giáo sư lưu động” hay “nhà  du giáo”, trên cơ sở trong tiếng Việt đã có “du tăng” để chỉ các vị tăng không trụ trì ở một ngôi chùa nào nhất định.  8 “Các nhân vật lừng danh này đã đi khắp mọi thành quốc Hy Lạp, và ở đâu họ cũng thuyết phục nổi thanh niên bản xứ rời bỏ các vị thầy đồng hương đang dạy dỗ mình miễn phí để theo học họ, chẳng những chịu trả học phí rất cao, mà còn xem đấy như một đặc ân” (Plato, Socrates tự biện, 20a)  9 Xem vở kịch này bằng tiếng Việt trong: Aristophane, Hài kịch Hy Lạp. Hoàng Hữu Đản biên dịch. Tp Hồ Chí Minh : Nxb Giáo dục, 2005, tr. 201-302. Cụ thể là đoạn tranh cãi về hai nền giáo dục cũ và mới giữa “Suy luận phải” với “Suy luận trái”, tr. 263-276.  10 Ở đây, sự phân biệt các khuynh hướng triết gia du giáo phỏng theo mục từ Sophists trong Encyclopaedia Britannica, 1911 (còn dựa rất nhiều trên quan điểm của Plato).  11 Protagoras sinh tại Abdera (Thrace), khoảng giữa 492-485. Đến Athens khoảng 460-454, ông gia nhập nhóm bạn trí thức của Periklès, rồi năm 444 được Periklès giao cho trọng trách thảo ra bộ luật hiến pháp dân chủ cho thành Thurii (hay Thurium), một thuộc địa của Athens. Bị buộc tội báng thần năm 41?, Protagoras phải rời Athens, sách vở bị đốt trước công chúng. Ông mất khoảng giữa 422-415, sau 40 năm dạy học.  12 Từ xuất phát từ Iliad, với nghĩa là “xuất sắc trong bàn hội nghị” hay “có những phán đoán lành mạnh, vững chãi”.   13  Trong mục từ Sophists của Encyclopaedia Britannica, tác giả gọi là khuynh hướng “du giáo tranh cãi (sophistry of disputation)”, do quá dựa vào ý kiến của Plato. Ở đây, chúng tôi đổi tên gọi như trên, có lẽ trung thực hơn, ít ra cho trường hợp của Hippias xứ Elis.  14  Tên của một chuyên luận khuyết danh, viết vào khoảng tk thứ V hay thứ IV tCn, dạy học viên tập cãi lý từ cả hai phía trong một cuộc tranh luận.    15  Gorgias (485?-380?), y sĩ và nhà hùng biện. Được gửi đến Athens năm 427 để cầu viện, rồi ở lại làm nhà giáo ở Athens, và sau đó ở nhiều thành quốc khác.    16  Lycophron (sống khoảng nửa đầu thế kỷ thứ IV?)    17  Antiphon xứ Athens (khg 480?-410, có khi được xem là cùng một người với Antiphon xứ Rhamnus ?). Từng làm logographer trước khi dạy học. Tham gia cuộc đảo chính quý tộc năm 411, bị xử tử năm 410 khi cuộc chính biến thất bại.    18 Critias (khg 460-403), chính trị gia quý tộc. Bị dính vào vụ án báng thần năm 415, bị tù nhưng sau được thả. Tham gia chính quyền do Sparta dựng lên sau chiến thắng năm  404, tỏ ra rất tàn bạo trong thời gian cai trị, cuối cùng bị giết năm 403 trong cuộc chiến tái lập chế độ dân chủ.   —  Đọc thêm:  Bài 2: Chế độ dân chủ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5892  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 4: SOCRATES (469-399)      Phải chăng Socrates cũng là một sophistês, song có xu hướng khác với bốn nhóm du giáo trên? Cả hai giải đáp khẳng định và phủ định đều có người bênh vực, suốt từ thời cổ đại cho đến nay.      Giữa Socrates với giới sophistai có nhiều điểm giống nhau. Trước hết, cả hai bên đều thiết tha với giáo dục; thứ hai, cả hai đều nhất trí trên quan điểm rằng cứu cánh của giáo dục là sự hiểu biết; thứ ba, cả hai đều sử dụng và  đều xem ngôn từ, đàm thoại là phương tiện nhập thế chính yếu; và cuối cùng, cả hai đều dẫn người nghe đến những quan điểm học hỏi nặng tính cách mạng so với nền giáo dục truyền thống.   Tuy nhiên, giữa Socrates với trào lưu du giáo biện sĩ thực ra vẫn có những khác biệt sâu sắc hơn số điểm tương đồng rất nhiều. Chưa kể bản thân Ông và các “học trò” đều luôn thiên về phê phán hơn là ca ngợi họ, đối lập từ căn bản hơn là đồng thuận với họ. Chẳng hạn (nếu dựa vào những đối thoại của Plato):             Theo Socrates:      Theo các nhà du giáo          Có những chuẩn mực phổ quát      Mọi chuẩn mực đều chỉ là quy ước          Phải sống có lý tưởng      Chỉ cần sống sao để thành công          Không bao giờ làm điều xấu ác      Cứu cánh biện minh cho phương tiện          Hiểu biết để phục vụ chân lý, đạo lý      Hiểu biết để dùng ở chính trường, tòa án            1/ Ý thức về sự không biết  Riêng về câu hỏi trước ngưỡng cửa của mọi đề án giáo dục – “hiểu biết là gì” hay “thế nào là hiểu biết”, quan điểm của hai bên hoàn toàn khác nhau. Trước tòa án Heliaía, Socrates phân biệt hai loại hiểu biết: một là thứ hiểu biết trực tiếp liên quan đến con người gọi là “kiến thức”1, mà Ông công nhận “có thể đúng là tôi có, bởi vì ai cũng có khả năng đạt đến”; hai là thứ hiểu biết ở một cấp bậc cao hơn, do kinh nghiệm – học hỏi – suy luận đem lại gọi là “tri thức”, mà Socrates cho là nằm ngoài tầm với của Ông (Plato, Socrates tự biện, 20d-20e). Vì vậy, trong khi các nhà du giáo tự hào là bậc thầy có khả năng trao truyền tri thức cho bất cứ ai chịu trả thù lao, thì ngược lại, Socrates khẳng định “tôi không biết gì cả, và điều tôi không biết, tôi cũng không tưởng là mình biết”, trước khi kết luận rằng Ông không thể, và cũng chưa từng tự nhận là thầy của ai hết. Dù thành khẩn hay mỉa mai, sự khiêm tốn trên của Socrates che giấu một khát vọng: vươn tới sự hiểu biết chân thực mà ý thức về cái không biết chính là bước đầu.       Như vậy, tuy cùng chia sẻ với các nhà du giáo lý tưởng hiểu biết, ở Socrates đây là thứ hiểu biết hướng đến chân lý và đạo lý – “hiểu biết là đức hạnh”, nói theo một công thức nổi tiếng của Ông, chứ không phải chỉ là những hiểu biết thực dụng. Nói cách khác, nếu cứu cánh của việc giáo dục ở cả hai bên đều có mặt tiếp nối với truyền thống quý tộc cổ xưa ở chỗ đều nhắm tới sự hoàn hảo (aretê = excellence) nơi học viên, thì chương trình giáo dục của trào lưu sophistai thực chất là nhằm đào tạo ra, và đào tạo một cách trực tiếp, những công dân hay viên chức có phẩm chất cũng như năng lực đóng góp vào sự vận hành của loại chế độ dân chủ, trong khi ở Socrates, sự hoàn hảo này luôn luôn hướng đến con người lý tưởng – nghĩa là một con người đã phát huy tất cả phần nhân tính tốt đẹp tiềm ẩn nơi mình – bởi Ông tin rằng, trong bất kỳ loại chế độ nào, chỉ trên cơ sở một con người hoàn hảo như thế mà người công dân hay viên chức hoàn hảo mới có thể xuất hiện.  2/ “Đỡ đẻ” trí tuệ  Và sự phát huy tất cả phần nhân tính tiềm tàng ấy chỉ tùy thuộc nơi mỗi cá nhân. Thần linh, nhà nước, gia đình hay nhất là những kẻ tự cho rằng mình hiểu biết hơn người hoàn toàn không có khả năng mang lại hiểu biết cho bất cứ ai. Hiểu biết là một quá trình mà mỗi cá nhân phải tự trải nghiệm, trước tiên bằng cái ý thức về sự ngu dốt của chính mình, rồi sau đó bằng cái ý chí đi tìm điều mình chưa có là sự hiểu biết. Thần linh và “thầy giáo” nhiều lắm chỉ giữ vai trò “bà đỡ” – như thần Apollo đã khiến Socrates sửng sốt vì lời khen nghịch lý của Ngài, như Socrates đã khiến bao kẻ đối thoại phải sững sờ khi phát hiện ra sự thông thái rởm của bản thân họ.   Socrates chỉ đối thoại với những cá nhân trưởng thành ở nơi công cộng, và không tự xem mình là bậc thầy của bất cứ ai, nhưng thật ra, trong cách nhận thức mới mẻ nhất của thời nay, Ông chính là nhà giáo đầu tiên của một mô hình giáo dục độc đáo: một mặt, Socrates đã chỉ ra vì sao ta phải TỰ HỌC, và trong điều kiện nào việc tự học có thể đạt đến hiệu quả cao nhất; mặt khác, Ông cũng đồng thời chỉ ra rằng, mặc dù tự học là chính, ta cũng cần phải có ĐỐI TÁC. Bởi vì, xuất phát từ ý tưởng là sự hiểu biết chân lý vốn đã tiềm ẩn trong tinh thần con người do điều kiện bẩm sinh của lý tính, và vì thế, bất cứ ai cũng có thể tự mình tìm đến chân lý nếu được hỗ trợ bằng phương pháp thích hợp, Socrates cho rằng nhiệm vụ của Ông chỉ là giúp cho kẻ khác tìm đến chân lý bằng một hình thức tương tự như ở các bà đỡ. Bằng một số động thái, bà đỡ giúp cho thai nhi rời lòng mẹ; bằng những câu hỏi thích hợp, Triết gia khiến chân lý thoát ra từ trí não kẻ đối thoại:   “Vâng, thuật hộ sinh của tôi cũng giống như nghệ thuật của các bà đỡ trong những nét chính, chỉ khác ở chỗ là tôi đỡ đẻ cho đàn ông chứ không phải đàn bà, và trong khi họ vật vã sinh hạ, tôi chú trọng đến phần hồn chứ không phải phần xác; thành tựu của thuật này là khi tôi xét nghiệm được thấu đáo xem ý tưởng mà chàng trai đã đẻ ra là một thành kiến sai lầm hoặc một sinh nở cao quý, chân thực. Giống như các bà đỡ, tôi không sinh đẻ được, và lời thiên hạ thường chê trách rằng tôi chỉ đặt câu hỏi cho người khác chứ không có đủ khôn ngoan để tự trả lời là rất đúng – lý do là vì thần bắt tôi đỡ đẻ mà không cho phép tôi sinh sản. Vì thế mà bản thân tôi không khôn ngoan, và cũng chẳng có gì để trưng bày như phát kiến hay sản phẩm do tâm hồn mình sinh ra, nhưng bất kỳ ai chuyện trò với tôi đều được lợi. Vài người lúc đầu có vẻ khờ khạo, nhưng sau đó, khi sự trao đổi giữa chúng tôi đã chín muồi, và nếu Thần cũng thuận tình phù hộ, họ đều làm nổi những tiến bộ đáng ngạc nhiên, như cả kẻ bàng quan lẫn bản thân họ đều nhận thấy. Thật rõ ràng là họ chưa bao giờ học được bất cứ điều gì từ tôi cả, và nhiều phát hiện hay đẹp mà họ thấy gắn bó thiết thân đều do công phu của họ. Nhưng họ nợ tôi và Thần sự hộ sinh ra chúng” (Plato, Theaetetus, 150b-d).  So với thao tác chăn dắt truyền thống của tầng lớp quý tộc xây dựng trên quan hệ tuổi tác (lớn bảo trẻ nghe), hay ý muốn thuyết phục đặt trên quan hệ thầy trò cao thấp (người biết nhiều trao truyền tri thức cho kẻ không biết) vừa được giới du giáo đưa vào xã hội, chiến lược “đỡ đẻ” trí tuệ (maieutikê = maieutics)2 của Socrates mở ra kỷ nguyên của quan hệ bình đẳng trong giáo dục giữa hai cá nhân cùng đi tìm chân lý trong tư cách đối tác. Do đó, đúng như triết gia Kierkegard (1813-1855) từng nhận định, Socrates phải được xem là nhà triết lý giáo dục tương tác đầu tiên, bởi vì chủ trương cách mạng của Ông đã thay đổi toàn bộ quan hệ thầy – trò theo chiều hướng tùy thuộc lẫn nhau: “Làm thầy không phải là ban phát những khẳng định dứt khoát, hay các bài học… làm thầy thực ra là làm học trò. Sự dạy dỗ bắt đầu khi ông bạn, người thầy, học ở học trò, khi ông bạn đứng vào vị thế đã hiểu những gì và hiểu như thế nào của học trò… Học trò là cơ hội để người thầy tự tìm hiểu, đồng thời người thầy cũng là cơ hội để kẻ đi học tự hiểu mình”. (S. A.  Kierkegaard, trích dẫn bởi P. Hadot, Eloge de Socrate, tr. 29-30)    3/ Biện chứng pháp  Tuy nhiên, dù là tự học hay học với đối tác, thì cứu cánh của cái học vẫn luôn luôn là để hiểu, để biết. Nhưng thế nào là hiểu, là biết, thế nào là hiểu biết? Dựa trên cuộc truy tìm người hiểu biết hơn mình mà Socrates đã bỏ hết  thời gian, tâm trí theo đuổi nhằm chứng minh rằng ý kiến của thần Apollo về Ông là sai (Plato, Socrates Tự Biện, 21b-22e), ta có thể suy ra rằng, đối với Triết gia, hiểu biết không phải là có nhiều ý kiến về một đối tượng x nào đó, mà là có một ý kiến đúng về nó, và đúng có nghĩa là trùng hợp với bản chất hay thực chất của nó, nói đơn giản là với cái nó vốn như thế. Và thứ thao tác hoàn toàn nhắm đến việc tiếp cận thực thể (nói tổng quát hơn là chân lý) thông qua tiến trình hỏi đáp qua lại với đối tác này còn được Ông gọi là “biện chứng pháp” (dialektikê)3.  4/ Khảo hạch ba hồi elenchos  Dựa trên hai động tác này, trò chơi vấn đáp trở thành một cuộc “khảo hạch” ba hồi (chất vấn, xem xét và phản bác) gọi là elenchos (hay elegkhos, còn viết là elenchus), nghĩa là một biện chứng vấn đáp nhằm bác bỏ cái sai, nhằm phát hiện ra những mâu thuẫn ngay trong luận điệu của kẻ đối thoại bằng một cuộc đối chất trực tiếp (cross-examination), đầy nghiêm túc song cũng đầy mỉa mai (eirônia, xuất phát từ từ eiron = người giả vờ). Chiến thuật elenchos thuộc lĩnh vực ngôn ngữ và luận lý. Một elenchos điển hình thường gồm có các giai đoạn sau: 1) kẻ đối thoại X khẳng định quan điểm của mình trong chính đề A; 2) Socrates tìm sự tán đồng của X trên một số tiên đề khác, thí dụ như các mệnh đề B và C; 3) sau đó, Triết gia lập luận và, có khi sau một vài đợt điều chỉnh, khiến X phải công nhận rằng cả B lẫn C đều mâu thuẫn với chính đề A, bởi vì nó hoặc dẫn đến phản đề không-A, hoặc dẫn đến một kết luận vô lý. Cuối cùng, Triết gia kết luận, với sự công nhận của X, rằng hoặc quan điểm của X là sai, hoặc cả hai đang đứng trước một nan đề (aporia) hay một vấn đề cho tới lúc ấy vẫn chưa tìm ra giải đáp.   Mục đích của elenchos là làm cho kẻ đối thoại phải giật mình xấu hổ vì tưởng là mình biết điều mình không biết, và từ đó, ở vào trạng thái tinh thần của người muốn đi tìm sự thật (nghĩa là triết gia, bởi vì triết lý bắt đầu bằng sự kinh ngạc, rồi hiếu kỳ), muốn tìm hiểu thêm trước một nan đề.   5/ Thái độ mỉa mai eirôneia  Khác với elenchos, chiến thuật eirôneia thuộc lĩnh vực tâm lý. Trong một cuộc đối thoại hàng ngày, có thể hai kẻ trò chuyện đôi khi cũng tâng bốc nhau là tài giỏi, thông thái, đức hạnh, v. v… mà không thực sự tin như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại. Nhưng đấy chỉ là lối mỉa mai đểu cáng thường tình; ở Socrates, eirôneia vượt quá thói thường này để đóng vai trò của một biện pháp kích động tư duy đối với cả Ông lẫn kẻ đối tác, rồi dần dà hóa thân thành một phong cách hành xử riêng, gắn liền với nhân cách độc đáo của Triết gia: thói quen chất vấn kẻ đối thoại như thể là Ông không có chút hiểu biết nào – “điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả”! “Bằng những câu hỏi, Socrates giả vờ muốn kẻ trò chuyện truyền cho Ông tri thức hay sự hiểu biết của y; nhưng sự thực là, qua trò vấn đáp, kẻ trò chuyện này khám phá ra rằng y không có tri thức gì hay hiểu biết nào để dạy cho Socrate hết cả; thế là y theo học Socrate, thực ra là từ nay y muốn được dẫn dắt bởi ý thức về sự không biết” (Pierre Hadot, Eloge de Socrate, tr. 43).  Trong sự tương tác với các chiến thuật khác, eirôneia vừa là mặt bổ túc cho elenchos, vừa có mặt đối lập với maieutikê. Thao tác maieutikê được áp dụng cho những người không biết là mình biết, và nhằm giúp cho sự hiểu biết tiềm tàng từ bên trong đối tác đó thoát ra; trái lại, eirôneia được sử dụng cho những kẻ tưởng là mình có hiểu biết, tuy thực ra chẳng biết gì cả, và nhằm làm cho đương sự lúng túng, bàng hoàng trước sự ngu dốt chưa từng được phát hiện của mình. Nó là một chiến thuật đỡ đẻ đích thực khi ta chấp nhận quan điểm của Socrates: biết rằng không biết chính là bước đầu của cái biết!   6/ Sống là suy xét  Socrates thực sự nghĩ gì về đối tượng của cuộc đàm luận? Socrates là người không biết gì cả như Ông tự nhận, hay là người không ai hiểu biết hơn trên đời, như lời phán của vị thần ở đền Delphi? Trước kẻ đối thoại đương thời và độc giả của bao đời sau, Ông lần lượt ẩn hiện và được nhận diện như tên hành khất lắm lời, như tấm gương soi hồn kẻ trò chuyện, như chiếc mặt nạ, như pho tượng Silenus, như nhân dương Marsyas, hay như con cá đuối điện4 … Bản thân Triết gia cũng đã từng tự cho rằng dường như Thần đã trói Ông vào thành quốc như “một con ruồi trâu trên lưng ngựa, để thức tỉnh, quở trách, và thuyết phục mỗi công dân thành quốc, bất kỳ lúc nào và bất cứ ở đâu, không ngừng không nghỉ” (Plato, Socrates Tự biện, 30e-31a), rằng “phải tự xét mình và xét người, bởi vì sống không suy xét không đáng gọi là sống” (Plato, Socrates Tự biện, 38a).  Mặt khác, nếu đấy là toàn bộ những vũ khí tư tưởng mà Socrates vận dụng để chữa bệnh thông thái rởm và kích thích người đời “hãy tự biết mình”, thì từ các xác minh kể trên, khuyến dụ này không còn có thể bị đánh đồng với hình thức nội tỉnh chủ quan quen thuộc trong tâm lý học, như một khuynh hướng triết lý từ Hegel trở đi vẫn luôn nhầm lẫn. Bởi vì “một trong những mục tiêu chính của triết lý kiểu Socrates– sự tự biết mình – có nghịch lý sau là nó cần tới trung gian của tha nhân”: không có trao đổi với kẻ đối thoại, sẽ không có sự phản tỉnh; không có cố gắng nhìn lại vào bên trong của chính mình, chắc chắn không thể có cái ý thức “tôi không biết gì cả”, để cất bước lên đường tìm học. “Khác xa với sự tìm tòi đơn độc mà ta có thể dấn vào trong sự tĩnh lặng của thú đọc sách hay viết lách, với Socrates, triết lý là một hành trình tìm tòi được chia sẻ với kẻ khác qua đối thoại”5. Thế nên, với Socrates, sự chia sẻ ấy còn lan ra cả đến nỗi bối rối và buồn bã trong thất bại. Khi Meno so sánh Ông với con cá đuối điện, Triết gia trả lời: “Nếu con cá đuối điện cũng bị tê điếng khi nó chích kẻ khác, thì đúng tôi là con cá ấy, bằng không thì không phải; bởi vì khi tôi làm người khác bối rối, đâu phải vì tôi trong sáng, mà chính vì tôi cũng hoàn toàn bối rối như họ” (Plato, Meno, 80c)  7/ Cải thiện con người để cải tạo thành quốc  Bằng phong cách sống và tư duy độc đáo đến mức trở thành lạ lùng trong mắt người đương thời như trên, Socrates dấn thân vào một dự phóng cũng đồng thời là sự nghiệp suốt đời và muôn đời của Ông: cải tạo thành quốc bằng cách cải thiện con người, nghĩa là dấn vào con đường chính trị thông qua giáo dục. Tại sao lại có sự tương tác giữa ba mặt này? Vì đối với người Hy Lạp xưa, con người tự nhiên là con người sinh ra, lớn lên và chết đi bên trong một cộng đồng – gia đình, thị tộc, bộ tộc, và ở vào mức phát triển của thế kỷ thứ V tCn, thành quốc (polis). Thế nên, một mặt, con người tự nhiên chỉ có thể là con người tập thể, thành viên của một tập hợp nào đấy, và do đó được gọi là politès (con dân của polis) để đối lập, một mặt với thú vật, mặt khác với thần linh, mà họ gộp chung dưới nhãn hiệu idiotès (bởi vì chỉ có hoặc thiên thần, hoặc súc vật mới không cần đến đời sống cộng đồng, và do đó, có thể vừa sống bên trên hay bên ngoài xã hội, vừa không màng tìm hiểu hay luận bàn về sự tồn tại của thành quốc với những vấn đề liên hệ); mặt khác, do “con người là một sinh vật chính trị” (Aristoteles) như thế, nên không có một kích thước nào của chính trị, dù mang tên politika (công việc của polis), politikê (loại kiến thức liên quan đến polis) hay politeia (sự tổ chức polis) mà lại không liên quan đến, thậm chí bắt rễ từ con người. Làm thế nào cải tạo thành quốc (polis), cải tổ chính sự (cả 3 góc độ trên) mà lại không bắt đầu bằng việc cải thiện, nghĩa là bằng biện pháp giáo dục, mỗi người?       Tựu trung, cánh cửa của thành quốc chính là ngõ vào triết lý nhân sự, đồng thời cũng là triết lý giáo dục của Socrates. Nó là cái lăng kính xuyên qua đấy Ông nhận diện và xác định không những chỉ con người, mà ngay cả mọi giá trị nhân bản như sự hiểu biết, sùng tín, công chính, dũng cảm, tiết độ, nói chung là đức hạnh hay sự hoàn hảo, v. v… Điều này không có nghĩa là Socrates hờ hững với chính trị theo nghĩa chính quyền và là kẻ bài xích luật pháp nhà nước cùng với chế độ dân chủ – là một misodêmos. Số phận run rủi, Triết gia đã từng chấp chính hai lần, và cả hai lần đều hành xử hoàn toàn xứng đáng như người lãnh đạo, trong tinh thần trách nhiệm và công chính (Socrates Tự biện 32b-32e).     8/ “Tên hành khất”6 và “bà đỡ” thành Athens  Mang dự phóng ấy, Socrates bôn ba khắp mọi nẻo đường thành quốc, với một “chương trình giáo dục” thoạt trông khá đơn giản. Xenophon đã kể lại một ngày của Socrates như sau: “Sáng sớm, Ông đến những nơi dạo chơi hay các bãi đánh vật; buổi trưa Ông xuất hiện ở chỗ nào đông người tại Agora7; rồi đến khi ngày sắp tàn thì Ông tới nơi nào có nhiều người tụ họp nhất, phần lớn để trò chuyện với những ai chọn đứng lại nghe” (Xenophon, Memorabilia, t. I – ch. 1). Cuộc chuyện trò, với một hay nhiều người, như vậy đều diễn ra nơi công cộng, và trên những vấn đề liên quan đến đời sống hàng ngày của mỗi công dân trong thành quốc: thế nào là tham lam, thế nào dối trá, thế nào là can đảm, thế nào là thân tình, luật pháp là gì, công lý là gì, sùng tín là gì, hiểu biết là gì, tiết độ là gì, thế nào là đức hạnh, thế nào là làm người? Nghĩa là, về cả hình thức lẫn nội dung, Socrates không hề đi chệch ra ngoài cả truyền thống sunousia lẫn yêu cầu cọ xát với những vấn đề thiết yếu của thành quốc. Thế nhưng hai cái bình cũ ấy lại chứa rượu mới. Triết gia không chăn dắt trẻ thiếu niên; Ông ưa tranh luận với người lớn, nhất là những kẻ tiếng tăm hơn. Triết gia không ngửa nhìn thần linh để noi hay nêu gương, mà lôi các vị ra khảo sát rồi đánh giá. Để giải đáp băn khoăn x là gì?, Ông không dừng lại ở ý kiến của người đời về mỗi đối tượng, hoặc sự liệt kê những ví dụ về nó, mà đòi hỏi phải phát hiện ra chính “cái khiến cho nó là nó” trong một định nghĩa bản chất…   Thế nên loại câu hỏi “ngô nghê” của Socrates đã khiến bao nhà thông thái rởm ngỡ ngàng, khi nhìn thấy cái lâu đài tưởng là hiểu biết của họ sụp đổ. Nó cũng đã khiến bao lĩnh tụ bất tài vô hạnh của cái đảng Dân chủ đã biến chất ở Athens thấp thỏm: sau thần linh liệu sẽ đến lượt ai phải minh bạch về hạnh kiểm của mình đây? liệu đòi hỏi “phải tự xét mình” sẽ dừng lại chăng trước ngưỡng cửa của quyền lực? liệu những “onomata kala” (lời hoa mỹ) về tài đức và về các chủ trương chính sách mị dân của họ sẽ rơi rụng tựa lá nho chăng, trước những cặp mắt từ nay sẽ tinh tường hơn của bọn ngu dân, do đã biết tư duy theo kiểu triết gia? Để trừ hậu hoạn, bọn họ đã bắt tay nhau nhằm nhổ đi cái gai trước mắt. Đó là ý nghĩa của phiên tòa, bản án tử hình, và cái chết của Socrates năm 399 tCn.     Trở lại với câu hỏi ở đầu phần IX trên, có lẽ ta nên tách Socrates khỏi trào lưu du giáo, bởi vì thật ra có nhiều dị biệt hơn là tương đồng giữa Ông với trào lưu sophistai đương thời. Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh giáo dục, cả hai bên đều đã không hẹn mà cùng góp phần thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại ở Athens xưa, và đã để lại hai truyền thống vẫn còn tác động mạnh mẽ lên hệ thống giáo dục trên toàn thế giới cho đến nay.  —————  1  Kiến thức, “những điều thấy và biết” theo định nghĩa trong Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, chỉ cái biết trực tiếp do cảm thấy, nhìn thấy.  2 Maieutikê hay maieutikos (thuật đỡ đẻ, đến từ maia = bà đỡ). Về nguồn gốc, một mặt, từ này có thể liên hệ đến Maia (con của thần Atlas với Pleione, mẹ của thần Hermès), thường được xem là hộ thần của sự sinh sản và bà đỡ; mặt khác, nó cũng có thể ít nhiều liên hệ đến giáo phái gọi là orphism (xuất phát từ huyền thoại Orpheus trở lại được dương thế sau khi xuống địa ngục Hades), bởi vì thời đó, theo sự tin tưởng của giáo phái này, maieutikê hay maieutikos là nghệ thuật làm cho tinh thần sản sinh ra những tri thức đã tích tụ được từ nhiều kiếp trước.  3 Xuất phát từ dia (giữa, qua) + legein (nói), và từ dialektos (cuộc nói chuyện, diễn từ), đồng thời nằm trong cùng một hệ từ với dialektikos (người tranh biện giỏi) và dialegomai (tham dự vào một cuộc nói chuyện), dialektikê lúc đầu đơn giản chỉ nghệ thuật đối thoại. Ở Socrates, nó chỉ có nghĩa nguyên thủy này, và chỉ nghệ thuật trao đổi tư tưởng qua vấn đáp như một phương pháp tiếp cận chân lý. Chỉ từ Plato, dialektikê mới có thêm ý nghĩa là khoa học về chân lý, trước khi cao hứng đi bằng đầu với G. W. F. Hegel trong gia đình thần thánh duy tâm, rồi sau lại chạy bằng chân với Karl Marx trong một gia đình thần thánh duy vật khác.  4 Tất cả những so sánh trên đều nhằm hiển thị: một mặt, sự tương phản giữa hình thù với tâm hồn của Socrates; mặt khác, ảnh hưởng của lời nói của Triết gia trên kẻ đối thoại. Socrates luôn luôn tự nhận mình không biết gì, nhưng phải chăng đây chỉ là chiếc mặt nạ che giấu bao hiểu biết chân chính đáng quý? Người đương thời không ngần ngại so sánh thân xác ông với pho tượng đất lão Silenus xấu xí (sói, phệ, lùn, mũi tẹt, môi dày, mắt lồi) mà trong bụng lại chứa đầy tượng thần con bằng bạc, và lời lẽ ông với tiếng sáo thiên thai của nhân dương Marsyas mà tác dụng có thể làm cho người nghe tê điếng như khi chạm vào loại cá đuối điện.  5 L.-A. Dorion, Pour la philosophie, un père libérateur, tr. 68. Trg: Socrate, un maitre à vivre, Magazine Littéraire, no 487, Juin 2009, tr. 64-89.  6 Lời phỉ báng Socrates trong một hài kịch của Eupolis (khg 446-411): “Tôi cũng ghét Socrates, tên hành khất lắm lời, kẻ đã nghĩ đến đủ thứ chuyện, trừ việc kiếm đâu ra miếng ăn”. Danh hiệu “hành khất” có lẽ xuất phát từ thói quen lang thang khắp Athens trong lối ăn mặc đạm bạc, thậm chí lôi thôi của Triết gia: chỉ một tấm himátion hay tribôn (loại áo khoác bằng vải hay len thô) đơn sơ trên người, bất kể thời tiết.    7 Agora liên hệ đến 2 từ: agoreuein (nói) và agoreuzein (mua bán), do đó, chỉ nơi người ta đến để trao đổi lời nói, hàng hóa, tiền bạc; đây là nơi tập trung mọi sinh hoạt công cộng,  với các kiến trúc và địa điểm chính liên quan đến mọi lĩnh vực sinh hoạt của thành quốc.  —  Đọc thêm:  Bài 2: Chế độ dân chủ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5892  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6  Bài 3: Trào lưu du giáo  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5895    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 5: Tóm tắt ba quan điểm giáo dục      Trước khi bàn về ảnh hưởng riêng của mỗi  truyền thống, ta có thể thử tóm lược triết lý giáo dục của cả ba xu  hướng đã lần lượt được trình bày trong bài này– tầng lớp quý tộc, trào  lưu du giáo, và Socrates.    Bảng tổng kết bên dưới lần lượt nêu lên những câu hỏi tổng quát nhất mà mọi nhà giáo dục, bất cứ ở đâu và vào thời nào, cũng đều phải quan tâm, và câu trả lời của cả ba xu hướng. Từ đấy, ta sẽ dễ trông thấy hơn phần ảnh hưởng còn được lưu truyền hoặc đã mất của các bên trên nền giáo dục hiện đại.       – Về lý tưởng, cứu cánh: Giáo dục phải hướng đến cái gì? Nhằm đào tạo ra loại người nào, để có những phẩm chất hay khả năng nào?…    – Về tổ chức, trách nhiệm: Việc giáo dục con em thuộc trách nhiệm của ai? Phải được tổ chức như thế nào? Phải trang trải phí tổn ra sao?   – Về chương trình, phương pháp: Phải thiết lập loại quan hệ nào giữa kẻ trao và người nhận tri thức? Phải quảng bá loại hiểu biết nào, truyền đạt nó như thế nào, gồm có những môn học gì cụ thể, và theo trình tự nào?    Đọc thêm:  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6    Bài 2: Chế độ dân chủ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5892    Bài 3: Trào lưu du giáo  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5895  Bài 4: SOCRATES (469-399)  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5947      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 6: Di sản của trào lưu du giáo      Trong khuôn khổ của một sự chuyên nghiệp hóa  giáo dục vận hành bình thường, quan hệ THẦY/TRÒ (cung, kẻ có tri  thức/cầu, kẻ cần tri thức) và việc dạy học lấy THÙ LAO thời nay không  còn là món kiêng kị nữa. Nhà giáo cũng phải có lương để sống, như mọi  người. Đấy là thành công lớn, di sản lớn thứ nhất của trào lưu du giáo  trong tổ chức giáo dục&#160; ngày nay ở mọi quốc gia.    1/ Quan hệ thầy – trò    So sánh quá nghiêm khắc, nếu không muốn nói là cực đoan, của Socrates xưa – “kẻ bán kiến thức cho bất kỳ ai trả giá gọi là sophistês, y hệt như người ta gọi kẻ bán nhan sắc cho bất cứ ai muốn mua là đĩ điếm” (Xenophon, Memorabilia, t. I, ch. VI) chỉ có thể hiểu nổi trong tổ chức chính trị – xã hội thành Athens vào thế kỷ thứ V tCn: tham gia vào sự nghiệp xây dựng đời sống chung trong polis cần được nhìn nhận như một nghĩa cử mà mọi công dân đều phải vui lòng cáng đáng không cầu mong lợi lộc, và còn gì quan trọng hơn là việc dạy bảo con em thành quốc? Nhưng nếu đòi hỏi phải dạy miễn phí là khả thi đối với giới quý tộc, kẻ có thể bỏ hết thời gian cho việc công – được xem là đặc trưng (proprium = property, attribute) của con người tự do so với thành viên của các bộ lạc mọi rợ, bởi vì việc kinh tế đã có nô lệ lo, còn việc nhà đã có đàn bà đảm đương! –, thì nó lại là bất khả thi đối với phần lớn công dân khác. Tất nhiên, dù không thuộc thành phần đại gia, Socrates vẫn có thể triết lý quên cả ăn uống, ngủ nghê; và tùy quan điểm, đấy có thể là một kỳ tích đáng ca ngợi hoặc thói ba hoa đáng phỉ nhổ, song chắc chắn là không phải ai cũng theo đuổi được.  2/ Trường lớp chuyên biệt  Thành công lớn, đồng thời là di sản thứ hai của trào lưu du giáo là sự công nhận một MÔI TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT cho việc giáo dục ở khắp nơi trên thế giới. Ngày nay, mọi nền giáo dục đều diễn ra dưới hình thức những trường lớp được điều hành bởi các thầy cô chuyên nghiệp đã trải qua một thời gian đào tạo nghiêm túc. Thật ra, sự tiến hóa của mô hình chung này đã có nhiều bước trung gian ngay từ thời cổ đại, với sự xuất hiện từ thế kỷ thứ IV của hai ngôi trường là Akademeia (Academy) của Plato và Lykeion (Lyceum) của Aristoteles. Ta sẽ trở lại hai thiết chế này khi bàn về triết lý giáo dục của Plato và Aristoteles; hiện giờ chỉ cần ghi nhận đôi ba điều liên quan đến ý niệm một môi trường học chuyên biệt: khởi đầu Akademeia (Academy) là một học hội hay câu lạc bộ nghiên cứu (được xây dựng như một cộng đồng người sống và sinh hoạt chung kiểu như ở giáo phái Pythagoras8), với vài thành viên là những nhân vật đã thành danh và có khả năng tự túc, chỉ về sau mới có sự phân biệt tuổi tác, nghĩa là rốt cuộc trình độ hiểu biết, giữa các thành viên với nhau; Lykeion (Lyceum) giống một đại học ngày nay hơn, nhờ sự hỗ trợ của Alexander Đại đế (vốn là học trò của Aristoteles), về tài chính (khoảng 4 triệu USD ngày nay theo ước lượng của một tài liệu) cũng như phương tiện (sách để lập thư viện; cây, trái, thú lạ để nghiên cứu).    3/ Hiểu biết bách khoa và thực dụng  Thành công và di sản thứ ba của trào lưu du giáo nói chung được thể hiện trong tính BÁCH KHOA và THỰC DỤNG của cái học. Trong tương quan mật thiết với sự phổ biến và củng cố lý tưởng dân chủ ở Athens, ý hướng đào tạo ra những công dân có hiểu biết pháp luật song song với khả năng phát biểu và tranh luận tại các hội trường thành quốc dần dà trở thành đòi hỏi họ phải đóng góp thiết thực hơn nữa vào sự phát triển xã hội, bằng những hiểu biết ngày một chuyên, một sâu. Thời nay, mọi nền giáo dục quốc gia đều phải bị đánh giá là thất bại, nếu không đào tạo đủ nhân tài để điều hành các guồng máy kỹ thuật đa dạng trong nước; hoặc ngược lại, chỉ đào tạo được những kẻ tốt nghiệp mà không có việc làm tương xứng, thậm chí không tìm ra việc. Hướng phát triển này thường được liên hệ với trào lưu sophistai; sự thật là, trên con đường từ Protagoras- Hippias… đến các trường cao đẳng, đại học ngày nay, đã có rất nhiều cầu nối trung gian, kể cả hai định chế giáo dục cổ đại vừa nhắc tới ở đoạn trên. Mặc dù chương trình học của Akademeia không được biết rõ mấy – có ý kiến cho rằng nó chỉ giới hạn vào triết học và chính trị học – sự kiện câu khuyến dụ “Đừng để ai bước vào đây nếu không phải là nhà kỷ hà học (Let None But Geometers Enter Here)” được ghi ngay tại cổng trường, đã khiến nhiều tác giả nghĩ rằng toán học, và có thể cả một số vấn đề đời nay xếp vào loại khoa học nữa, cũng từng được giảng dạy ở đây. Trường hợp Lykeion còn rõ ràng hơn: Aristoteles là nhà bác học, và không ít sách của ông để lại là những giáo trình đã được soạn để dạy “lịch sử tự nhiên” (khoa học thực nghiệm ngày nay) tại đây.      4/ Từ nói hay đến hay nói  Ngược lại, di sản thứ tư của trào lưu – thuật HÙNG BIỆN (rhêtorikós) – có duyên số nhập nhằng hơn với giáo dục. Đành rằng đã làm nghề dạy học thì nói hay tốt hơn là nói dở, và được cử tọa lắng nghe tốt hơn là làm cho họ ngủ gật. Đây là một lợi thế không thể chối cãi đối với loại tộc người thích nói và nghe như dân Hy Lạp xưa. Tuy nhiên, ngay từ thời cổ đại, đã nổi lên sự đối lập giữa logos (biểu văn lý tính, được xây dựng trên cái có thực) với muthos (biểu văn hoang tưởng, được xây dựng trên huyền thoại, dù có vẻ như thật). Người ta đi học để hiểu biết – và hiểu biết nhất thiết phải có nghĩa là biết cái gì là thật (đúng) và tại sao nó là thật (đúng) – chứ không phải chỉ để có ý kiến – nếu không có cái gì là thật (đúng) cả, thì mọi ý kiến đều có giá trị bằng nhau, đi học làm gì? Sự kiện có nhiều triết gia từ bỏ ý niệm “Chân lý (Alêthéia)” hay “Hiểu biết (Sophia)” trong thế kỷ thứ V vì quá thất vọng trước loại kết luận bất nhất, mơ hồ của các học thuyết trước đấy là điều hiểu được. May thay, vẫn còn có những người không cam chịu với sự bi quan đó, và tiếp tục tìm cho bằng được một giải đáp thỏa đáng trước loại câu hỏi: “x là gì?”, “tại sao x lại như thế?” – nghĩa là, vô tình đi trước thời đại của mình: họ không nhìn chân lý như chốn bồng lai, mà như đường chân trời, luôn có mặt đấy, song cũng đồng thời luôn lùi lại mỗi khi ta có cảm tưởng đã tiến được đến gần hơn đôi chút. Nhờ họ, ngày nay chúng ta mới được sống bao bọc trong tiện nghi của bao sản phẩm do khoa học mang lại.   Tuy nhiên, ngay trong thế kỷ 21 sCn này, vẫn còn không ít người nghĩ như Gorgias hay Protagoras xưa, và cứ mỗi lần một bộ môn khoa học nào đó rơi vào khủng hoảng, thì lại thấy xuất hiện những lời bài bác giễu cợt “cái gọi là chân lý”! Vô tình hoặc cố ý, họ chủ trương một thứ biểu văn khoa học không khao khát bóc trần hiện thực mà chỉ muốn vuốt ve mơn trớn tâm hồn, không muốn chuyên chở cái đúng mà chỉ mong truyền đạt cảm xúc, và cảm xúc càng được nhiều người chia sẻ thì tính chính đáng của nó càng được củng cố. Do đó, nhà giáo có thể (và tất nhiên là có nhiệm vụ) “biến một biểu văn yếu thành biểu văn mạnh”, nghĩa là giúp cho một biểu văn được ít người ủng hộ thành một biểu văn được nhiều kẻ tán đồng hơn, vừa bằng tài nói hay xưa kia (thuật hùng biện), vừa bằng thói hay nói đời nay (nhồi sọ, tuyên truyền). Giá trị của một nền giáo dục được xây dựng trên loại nguyên lý ấy sẽ dẫn ta đến đâu, trong sử học chẳng hạn? Trường hợp khá nhất: đến sự tưởng cái có vẻ thật là thật; trường hợp tệ nhất: đến sự chấp nhận dối trá là chân lý. Với cùng một hậu quả là chẳng ai còn muốn học sử nữa cả.   Về cái đúng và cái có vẻ đúng, người ta có thể vô tình nhầm hay cố ý đánh đồng lừa với ngựa, vì lừa có dáng dấp giống ngựa. Nhưng “khi một nhà hùng biện không phân biệt nổi đúng / sai nói chuyện với một cử tọa cũng dốt như ông ta về vấn đề này, và nhờ biết rõ tâm lý đám đông, xui khiến được đồng bào của mình chọn điều sai thay vì cái đúng, chứ không chỉ đơn giản là lừa thay vì ngựa nữa, thì liệu thuật hùng biện sẽ gặt hái được gì, sau khi đã gieo thứ hạt giống ấy”? (Plato, Phaedrus, 260a-d). Câu cật vấn trên của Plato đã lột trần được nhược điểm của trào lưu sophistai – cái điểm yếu có tác động tiêu cực lên cả mục đích lẫn phương pháp luận giáo dục – đã khiến cho những đóng góp tích cực khác của họ rơi vào lãng quên trong hơn 20 thế kỷ, bởi sự đối kháng quyết liệt triết gia (philosophos) / biện sĩ (sophistês) mà chính Plato – dù không hoàn toàn trung lập, nghĩa là cũng mang đâu đó ít nhiều tính chất… biện sĩ – đã có đủ cơ sở để dựng lên, từ chính một số phát biểu và hành tung của nhiều sophistai.   —    8 Pythagoras (khg 570-495), nhà toán học và triết gia có khuynh hướng huyền bí (ông đề xướng thuyết luân hồi). Tập hợp đệ tử do ông đứng đầu vừa là triết phái, vừa là hội kín tín hữu, vừa là tổ chức chính trị có ảnh hưởng lớn trong nhiều lãnh vực ở Croton (Nam Ý). Cơ sở này bị địch thủ đốt vào khoảng năm 450. Pythagoras có thể đã bỏ mình trong cuộc hỏa hoạn; một số đệ tử của ông quay về Hy Lạp chính địa, lập học hội ở Phliús (Peloponnese) và Thebes (Boeotia)  —  Đọc thêm:  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6    Bài 2: Chế độ dân chủ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5892    Bài 3: Trào lưu du giáo  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5895  Bài 4: SOCRATES (469-399)  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5947  Bài 5: Tóm tắt ba quan điểm giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5955    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài 7: Di sản của Socrates      Nhược điểm của trào lưu du giáo dẫn ta  tới cái tương phản với nó, đồng thời là cái di sản đầu tiên và thắng lợi  huy hoàng nhất của truyền thống giáo dục mà khởi điểm là Socrates.     1/ “Không biết và cũng không tưởng là mình biết”  Có thể chúng ta không biết gì nhiều về Ông, song hầu như ai cũng biết câu khuyến dụ “HÃY TỰ BIẾT MÌNH”9 được gán cho Ông. Câu văn biểu thị thái độ khiêm tốn trước sự hiểu biết ấy, ngày nay còn thiết yếu cho việc học hỏi hơn bao giờ hết. Không phải chỉ vì nó đơn giản mang cái nghĩa mà thời xưa Socrates đã giải thích (về thứ hiểu biết do kinh nghiệm – học hỏi – suy luận đem lại gọi là “tri thức”) và cho là nằm ngoài tầm với của bản thân Ông (Plato, Socrates tự biện, 20d-20e): “tôi không biết gì cả (không có loại tri thức đó), và điều tôi không biết, tôi cũng không hề tưởng rằng mình biết”. Về vế thứ nhất– sự không biết – Karl Jaspers (1883-1969) nhận định: “Socrates chính là triết gia của thứ tư duy luôn bôn ba trên đường, với hiểu biết duy nhất là sự không-biết (…), với lòng tin rằng chân lý sẽ hiện ra ở cuối con đường khảo hạch không nhân nhượng, rằng chính trong ý thức chân thật về sự không-biết mà sự hiểu biết cốt tủy, sinh tử chứ không phải là hư vô sẽ xuất hiện” (K. Jaspers, Socrates, tr. 17). Về vế thứ hai – sự tưởng là biết – Maurice Merleau-Ponty (1908-1961) bàn: “Bản Tự biện từng nhận định buồn bã: “Mỗi khi tôi thuyết phục được ai là anh ta chẳng biết gì, người ta tưởng là tôi biết tất cả những gì anh ta không biết”. Socrates đâu biết nhiều hơn họ, Ông chỉ biết rằng không có sự hiểu biết tuyệt đối, và chính nhờ thiếu hụt đó mà lý trí của chúng ta còn rộng mở trước chân lý” (M. Merleau-Ponty, Eloge de la philosophie, tr. 43).  Tưởng rằng mình biết luôn luôn là một chướng ngại cho sự hiểu biết. Tuy nhiên, đối với các nhà khoa học đương đại, ngay cả những tri thức có giá trị nhiều khi cũng vẫn là một trở ngại cho sự hiểu biết sâu hơn, rộng hơn, khác  hơn. Hãy nhìn vào lịch sử của vài bộ môn khoa học. Vật lý của Newton và hình học của Euclid đều là những mảnh đất vững chãi của hiểu biết. Thế nhưng nếu ai cũng sùng bái Newton như vị sứ giả có một không hai mà Thượng đế gửi xuống để khai trí con người10, thì có lẽ ta đã không bao giờ vượt qua được vật lý của thế giới trung mô, để tìm hiểu vật lý của thế giới  vĩ mô và thế giới vi mô. Nếu ai cũng tin rằng Euclid là “không thể vượt qua”, thì có lẽ ta đã không bao giờ xây dựng được những mô hình hình học phi-Euclid. Hơn bao giờ hết, ta cần luôn luôn tự nhủ: hiểu biết tuyệt đối, cũng như chân lý vĩnh hằng, là đường chân trời mời mọc hay ám ảnh ở tít đằng xa, không bao giờ là chốn bồng lai vây bọc quanh ta. Và nếu cái thái độ cởi mở trước sự học này đã không bắt nguồn từ chính Socrates, thì ít ra nó cũng có nhiều liên hệ với một truyền thống khoa học không xa lạ với Triết gia.   Bởi vì ở Socrates, ý thức “không biết”, song song với sự “không tưởng rằng mình biết”, cùng dẫn đến động thái tích cực là sự dấn thân đi tìm cái biết đúng, thực (được xem là đặc trưng của triết gia philo-sophos = kẻ yêu-hiểu biết – với định nghĩa này thì tất cả chúng ta đều là triết gia), chứ không phải là sự buông xuôi chịu đựng họa dốt nát. Và sự dấn thân ấy, cái thái độ sapere aude (hãy dám biết) ấy, một mặt, không ai có thể làm thay ta được, kể cả thần thánh (Plato, Symposium, 204a), mặt khác, ta cũng không thể làm một mình được, mà cần có đối tác. Đối với chúng ta ngày nay, đối tác đó chủ yếu là thầy cô – một quan điểm trên / dưới lệ thuộc thừa hưởng được từ trào lưu du giáo. Ở phương Đông, ông cha ta từng tuyên phán: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, dù chỉ hơn có nửa chữ cũng vẫn là thầy. Ở Athens, Socrates từng hoài nghi: “Giá mà qua tiếp xúc, sự hiểu biết có thể được truyền từ người có nhiều hơn sang kẻ có ít hơn, tựa như nước có thể chảy từ ly đầy hơn sang ly vơi hơn qua mảnh len, thì tốt biết bao!” (Plato, Symposium, 175a); và sự ngờ vực này không chỉ giới hạn vào loại hiểu biết đạo đức hay chính trị, mà còn lan ra cả nhiều lĩnh vực khác. Thế nên, do Ông không tự nhận là thầy của bất cứ ai, và cũng không công nhận ai thực sự là thầy, Socrates bất ngờ thiết lập một quan hệ mới giữa những người cùng đi tìm hiểu biết, nghĩa là cùng học dựa vào nhau: quan hệ đối tác bình đẳng.  Trong quan hệ đó, người này “đỡ đẻ” cho người kia. Như thần Apollo “đỡ đẻ” cho Socrates. Thần phán: “Không có ai hiểu biết hơn Socrates trên đời này cả”; nhưng nếu Socrates kiêu hãnh xem đấy là chân lý thay vì kinh ngạc bởi tự biết rằng mình không biết chi hết, rồi tìm cách chứng minh là câu thần dụ ấy sai, thì chẳng đời nào Ông ngộ ra được ý thần: “Hỡi con người, kẻ thông thái nhất trong số các anh sẽ là ai tự biết rằng hiểu biết của mình không là gì cả, như Socrates vậy”, nghĩa là Socrates hiểu biết hơn người, chính vì ông ta biết rằng mình không biết chi hết (Plato, Socrates tự biện, 23b). Như Socrates “đỡ đẻ” cho bất cứ ai trò chuyện cùng Ông. Socrates chỉ hỏi “x là gì”, đôi khi còn mớm cho họ một ý, nhưng chính kẻ đối thoại phải động não để tìm ra câu trả lời thích đáng, có khi còn khiến Ông phải đổi hướng trò chơi hỏi đáp. Trong quan hệ này, đâu có ai dạy ai. Cho nên Socrates mới kết luận: “Thật rõ ràng là họ chưa bao giờ học được bất cứ điều gì từ tôi cả, và nhiều phát hiện hay đẹp mà họ thấy gắn bó thiết thân đều do công phu của họ” (Plato, Theaetetus, 150d). Kierkegaard bình: “Cách hiểu Socrates tốt nhất chính là hiểu rằng chẳng ai mắc Ông món nợ nào cả, đấy là điều Ông thích hơn hết, và có thể ưa thích như vậy thì quả là đẹp” (S. A. Kierkegaard, trích dẫn bởi P. Hadot, Eloge de Socrate, tr. 29-30).  2/ Quan hệ đối tác: kẻ “đỡ”, người “đẻ”  Trong quan hệ đối tác bình đẳng đó, người này “đỡ” song người kia cũng phải “đẻ”. Socrates cho rằng: “thần bắt tôi đỡ đẻ mà không cho phép tôi sinh sản” (Plato, Theaetetus, 150c); đây là một kiểu nói nhằm vừa xác định vai trò “bà đỡ” của Ông như một thiên chức, vừa xác lập là bất cứ ai khác (trừ loại “bà đỡ” như Ông) cũng có thể sinh sản, dù giá trị của sản phẩm ra đời có thể không đồng đều về phẩm chất. Nghĩa là ai cũng có lý trí, hay nói cách khác, lý tính là bẩm sinh ở mỗi người. Và với lý tính bẩm sinh này, ai cũng có thể đạt được những tri thức đúng đắn, nếu được cật vấn đúng phương pháp. Thần linh hay người khác không có vai trò nào ở đây. Ngày nay, có thể ta ít bi quan hơn Socrates: nhất định là thầy cô có thể dạy học trò biết nhiều thứ, cho dù phải nhắc đi nhắc lại rằng “tri phải đi đôi với hành”. Tuy nhiên, cũng cần nhớ lại rằng, ở Socrates, chữ hành đi xa hơn chuyện thực tập nhiều: nó là sự vận dụng toàn bộ trí năng của chính mình để tự suy nghĩ xem xét, tự trải nghiệm khám phá, và ngay từ bước đầu tiên.   Và dù ở Socrates xưa, thứ hiểu biết được đem ra bàn luận thường là hiểu biết đạo lý: đức hạnh là khoa học chân chính, trước hết vì nó là khoa học về bản thân ta, nhưng cũng vì vậy mà nó luôn luôn vuột khỏi tầm tay của bao kẻ tuy thông minh mà không hề nghĩ suy gì về mình. Nhưng ngày nay không ai cấm ta mở rộng lĩnh vực áp dụng, và nhận thức rằng mọi khoa học chân chính đều không thể được tiếp thu từ bên ngoài mà phải được (tái) phát hiện từ bên trong, dưới ảnh hưởng của sự kinh ngạc trước một vấn đề, bất cứ là vấn đề gì. Đóng góp lớn thứ hai của Socrates cho giáo dục thời nay là tinh thần TỰ HỌC. Dù có cắp sách đến trường, ta cũng phải tự mình học, nghĩa là tự suy nghĩ xem xét, tự trải nghiệm khám phá, chứ có ai làm hộ mình đâu? Như vậy, tại sao ta lại không nuôi dưỡng ý thức tự học này ngay từ đầu, để đề phòng hoặc đối phó với những thời nhân tai  (có thể xảy ra ở khắp nơi!), khi nền giáo dục quốc gia bị lũng đoạn, thậm chí tiêu vong, vì đủ thứ tệ hại chính trị, xã hội, kinh tế, đạo đức do con người gây ra đã cùng tác động song song để đẩy trình độ hiểu biết của cả nước xuống cấp?   Trở lại với phương Đông và lời căn dặn “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Nghĩa là dù chỉ dạy được có nửa chữ cũng là thầy, và do đó, phải được kính trọng trong tư cách là thầy 100%, chứ không phải chỉ trong giới hạn của 1/2 chữ. Vâng, về tình nghĩa thì đúng thôi! Với điều kiện là nó không sinh ra thứ đầu óc nô lệ. Muốn tránh tình cảnh này, từ nay, hãy xem thầy – cô như bà đỡ theo nghĩa của Socrates: cứ đường hoàng cật vấn, phản biện. Hãy xem bạn học như đối tác: cứ thân tình hỏi, đáp, tranh luận. Hãy xem sách như bà đỡ: ở phương Đông, ta cũng hay nói: “Không thầy, đố mày làm nên”; từ nay, nên tự nhủ: “Không sách, đố thầy làm nên”; hãy đọc thật nhiều để có vốn mà suy tư, và nhất là đừng cho phép bất cứ ai cấm mình đọc sách. Hãy xem Internet như đối tác: ngày nay, mọi thông tin khoa học đều được truyền tải trên mạng, không ai còn lấy thúng úp voi được nữa; hãy học thật giỏi ngôn ngữ của một xứ sở tự do và văn minh, rồi lên Internet tự tìm lấy thông tin, hiểu biết – vì đấy là một quyền không thể chuyển nhượng của con người.  3/ “Xét mình, xét người”  Điều này dẫn ta tới đóng góp lớn thứ ba của Socrates cho giáo dục thời nay. Đấy là khuyến dụ: “XÉT MÌNH, XÉT NGƯỜI”.  Thoạt nghe, có vẻ như đây chỉ đơn thuần là một đòi hỏi đạo lý; thật ra, ở Socrates, yêu cầu “tu dưỡng tâm hồn với đức hạnh” luôn luôn cặp đôi với một mệnh lệnh khác bao trùm tất cả là “trau dồi hiểu biết” (Plato, Socrates tự biện, 29e), bởi vì theo Triết gia, “chỉ có một thiện căn, đó là sự hiểu biết, và chỉ có một ác căn, ấy là sự ngu muội” (D. Laërtius, Life of Socrates, t. 2 – đ. 14). Để rồi sự tin tưởng tuyệt đối rằng lý trí có thể hoàn toàn chế ngự được cả lĩnh vực đạo đức này, cuối cùng, đã dẫn Ông tới kết luận “không ai cố ý làm điều bất chính”, được diễn đạt một cách khái quát qua công thức trứ danh “hiểu biết là đức hạnh” mà đời sau gọi là “nghịch lý Socrates” (“the Socratic paradox”). Ở đây, Triết gia dường như đã bỏ qua một hiện tượng hiển nhiên mà người Hy Lạp gọi là akrasia: mặc dù biết một điều gì đó là không nên làm, người đời rốt cuộc vẫn cứ làm, chỉ vì thiếu ý chí để tự kiềm chế.   a/ Óc phê phán  Dù sao, để xét mình, xét người (như trong khuyến dụ trên), xét cả mọi hiện tượng, sự vật, sự việc… (vì cuộc sống luôn đòi hỏi), nhất thiết vừa phải có phần lý tính bẩm sinh gọi là tinh thần phê phán (ý muốn cùng với khả năng phân biệt đúng / sai, thật / giả, phải / trái, xấu / đẹp,…), vừa phải có chỗ dựa (một hệ thống tư tưởng hay giá trị nào đấy) để phê phán. Và không có gì thiết yếu cho sự hiểu biết hơn là óc phê phán, trong giáo dục cũng như trong đời sống hàng ngày.   Chẳng hạn như, một trong những đòi hỏi của đời sống hằng ngày hiện nay trong một cộng đồng người là văn hóa ứng xử. Thứ văn hóa này đòi hỏi bức thiết khả năng phân biệt thiện/ác, phải/trái, tốt/xấu, giữa những kẻ cùng chia sẻ một tinh cầu, một quốc gia, một mái trường… Đây là một vấn đề luôn được xem là thuộc lĩnh vực luân lý. Và từ thời sophistai, tính tương đối của các hệ thống luân lý đã trở thành câu khẳng định đầu lưỡi của nhiều thế hệ, đến nỗi đã có tác giả đề nghị thay luân lý học bằng phong tục – tập quán học. Và thực tế là, ở nhiều quốc gia tiên tiến, môn luân lý đạo đức đã biến mất trong chương trình trung học, vì bị xem là vấn đề riêng tư (như tôn giáo, và do đó) thuộc thẩm quyền gia đình và cá nhân hơn là học đường, lúc đầu còn được thay thế bởi môn công dân giáo dục, nhưng về sau ngay cả môn học này cũng biết mất. Kết quả là sự tràn lan ngày nay của loại công dân tốt nghiệp có tri thức nhưng nguy hiểm, ngay ở tầng lớp cao cấp nhất. Một y sĩ chẳng hạn, với tri thức chuyên môn của mình, có thể trở thành tên sát nhân, nếu không phải là người tốt. Việc thành lập bác sĩ đoàn, luật sư đoàn, hay những tổ chức tương đương trong một số ngành nghề hoạt động, với các bộ “đạo lý tác nghiệp” ít nhiều hiệu lực, biểu thị song song một khoảng trống từ cơ sở học đường và một nhu cầu bức bách trong xã hội.  b/ Từ luân lý đến công dân giáo dục   Ở phương Tây, Socrates là người đầu tiên đã tách rời luân lý ra khỏi tôn giáo (thời đó là thần thoại) để đặt nó trên một nền tảng khác là lý tính. Và trên con đường tìm hiểu thế nào là một con người hoàn hảo (aretê, con người đúng với cái ý nghĩa và giá trị NGƯỜI của mình), Ông đã lần lượt phát hiện ra, ngoài hiểu biết (sophía), những phẩm chất người gọi là đức hạnh khác: đấy là công chính (dikaiosunê), dũng cảm (ándreía) và tiết độ (sôphrosunê). Rồi, trong hoàn cảnh đảo điên của đời sống chính trị ở Athens (định chế chồng chéo, luật pháp như mớ bòng bong, lãnh đạo mị dân, dân tình phân tán…), với hệ quả là sự sa đọa song song của xã hội (mê tín, bói toán, kiện cáo, làm tiền…), Triết gia đã bôn ba khắp các nẻo đường thành quốc trong hy vọng cải tạo thành quốc không chân chính bằng cách cải thiện bất cứ ai gặp gỡ trên đường thành những con người chân chính. Bởi vì “sự không chân chính này của hiện trạng thành quốc không thể được cải thiện bằng loại hành động hoành tráng, cho dù là dưới hình thức chính quyền nào – dân chủ, quý tộc hay bá vương. Không chế độ nào có thể cải thiện được gì, trừ phi mỗi cá nhân chịu tự giáo dục lấy mình, trừ phi bản chất con người tiềm ẩn bên trong hắn được vực dậy trước thực tại, thông qua một cảm thức đồng thời cũng là hành động nội tâm, một kiến thức cũng đồng thời là đức hạnh. Cứ trở nên con người chân chính, tự khắc sẽ trở thành công dân chân chính” (K. Jaspers, Socrates, tr. 17). Trong mắt Karl Kaspers, đấy là dự án mà Socrates đã mang cả cuộc đời Ông ra đánh cược.    Để rồi chính cái chết của Ông đã khiến đời sau không ngừng băn khoăn về mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với tập thể: tập thể phải được tổ chức như thế nào để cá nhân có thể phát huy hết cá tính và nhân phẩm của mình; và ngược lại, cá nhân phải có những phẩm hạnh nào để tập thể có thể tiến hóa tốt đẹp hoặc không rơi vào cảnh đảo điên? Và lịch sử chính trị – xã hội – văn hóa của loài người chính là cuộc hành trình đầy sóng gió nhằm tìm giải đáp cho hai câu hỏi trên. Về câu hỏi thứ nhất, sau nhiều cuộc cách mạng với hai cuộc thế chiến, câu trả lời chính là bản Tuyên ngôn Nhân quyền, được công bố vào năm 1948: con người chỉ có thể phát huy được hết nhân phẩm trong điều kiện những quyền con người căn bản của hắn được tôn trọng, dưới một nhà nước cộng hòa, tự do và dân chủ. Về câu hỏi thứ hai, sự phát triển của xã hội về mọi phương diện làm nổi bật và củng cố hai giá trị con người là sự hiểu biết (nghĩa là sự trân trọng chân lý), và công lý (hay công chính), bên cạnh những giá trị cộng đồng khác như tự do và bình đẳng. Tất cả những giá trị đó đều do con người dựng lên để tự phân biệt mình với súc vật, đều lấy con người làm gốc, nên được gọi là những giá trị nhân bản – theo nghĩa là nếu chúng không được tôn trọng, con người không còn xứng đáng làm người và sẽ rơi trở xuống điều kiện súc vật.  c/“Xét mình, xét người” dựa trên những quy tắc nào?   Văn hóa ứng xử trong xã hội ngày nay không chỉ giới hạn vào lãnh vực luân lý mà còn bao gồm cả pháp luật nữa. Và trong điều kiện cả thế giới đã trở thành một cái làng toàn cầu (planetary village) nói theo khái niệm của nhà xã hội học Mac Luhan (1911-1980), thì bộ quy tắc ứng xử mà con người ở khắp nơi phải dựa vào để “xét mình, xét người”, ngoài loại đòi hỏi luân lý, cũng phải bao gồm cả những quy định của luật quốc tế, và cụ thể là bộ luật về nhân quyền nay đã được cả thế giới xem như một thứ luật nền tảng. Nói chung, yêu cầu luân lý đương đại vẫn tập trung trên sự tôn trọng tính người, và thật ra không xa lạ gì với những đòi hỏi đạo giáo xưa11, một khi đã gỡ bỏ cái vỏ bọc tôn giáo hoặc cái trật tự phong kiến (“không quân thần phụ tử đếch ra người”) đã lỗi thời đi kèm. Con người tốt trong thế kỷ 21 phải là kẻ biết tôn trọng những giá trị nhân bản như chân lý, công chính, thiện hảo, song song với những giá trị cộng đồng như tự do, bình đẳng, và quyền con người của chính mình cũng như của kẻ khác. Và đấy chính là điều mà một nền giáo dục chân chính phải hướng tới, song song với những hiểu biết chuyên môn.       KẾT LUẬN  Để kết luận, có thể khẳng định rằng cả hai truyền thống giáo dục mà cổ Hy Lạp để lại đã tác động lâu bền lên nền giáo dục của đời sau trên khắp thế giới. Sự tổ chức giáo dục ở mọi nơi, với cấu trúc trường lớp, chức năng thầy cô, quan hệ thầy – trò, hệ thống lương bổng… là phần di sản mà ta phải nhận nợ từ các nhà du giáo. Sự chuyên môn hóa ngày càng tăng, với hệ quả là sự phát sinh mỗi ngày một nhiều các môn học mới, ngày càng chuyên sâu và càng tinh tế, là một món nợ di sản khác từ trào lưu sophistai này mà ta cũng phải công nhận (bởi dấu ấn của nó còn đọng lại trên các từ nước đôi sophisticated = sophistiqué, sophistification trong Anh và Pháp ngữ, do danh hiệu “biện sĩ” phũ phàng mà Plato gán cho họ!). Hai món nợ lớn trên đã làm cho người phương Tây có vẻ như đã quên mất cái truyền thống thứ hai từ Socrates trong một thời gian khá dài, qua sự xao lãng cả luân lý học lẫn công dân giáo dục ở nhà trường, nghĩa là sự thờ ơ với một vấn đề căn bản của giáo dục là phải đào tạo con người song song với việc đào tạo chuyên gia. Nhưng làm sao có thể có chuyên gia, có cán bộ, có lãnh đạo… tốt trên cơ sở những kẻ bất lương, bất hảo, nói tóm lại là bất nhân hay chưa thành người? Thế nên, đào tạo con người trước hết là phải đánh thức tinh thần phê phán vẫn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, để hắn luôn luôn nhớ: một mặt, rằng học hỏi thực chất là một quá trình tích cực tự suy nghĩ xem xét, tự trải nghiệm khám phá, chứ không phải chỉ là sự thụ động tiếp thu; mặt khác, rằng học là “tập sống trong tinh thần tự xét mình và xét người” trên nền tảng những giá trị đã khiến con người không phải hay không còn là thú vật nữa. Và đấy là phần di sản chúng ta vĩnh viễn nợ Socrates; từ ngàn xưa và bất kỳ ở đâu, truyền thống giáo dục này vẫn luôn âm ỉ như than hồng trong bếp lửa gia đình, Tổ quốc, và chỉ bùng lên thành ngọn lửa thiêng những lúc hữu sự – nghĩa là vào những thời điểm mà nền giáo dục quốc gia cũng đang ngả nghiêng xuống dốc theo vận mạng chao đảo của đất nước.   —     9 “Gnôthi se autón” hay “Gnôthi seautón” (“Know thyself = Hãy tự biết mình”). Thật ra, lời mời gọi này đã được người đương thời gán cho ít nhất là 6 nhân vật: Chilon thành Sparta, Heraclitus xứ Ephesus, Pythagoras ở Samos, Socrates và Solon thành Athens, và Thales xứ Miletus; có nguồn cho là xuất phát từ thần Apollo. Dù sao, nó đã được ghi lại trên cổng đền Delphi trong một câu văn dài hơn, được dịch nghĩa như sau: “Know thyself and thou shalt know all the mysteries of the gods and of the universe” = “Connais-toi toi-même, et tu connaîtras l’univers et les dieux” = “Hãy tự biết mình, tự khắc sẽ biết hết những bí mật của cả vũ trụ lẫn thần thánh”. Tự biết mình là bước đầu của mọi hiểu biết.  10 Kiểu câu thơ ca tụng Newton của Alexander Pope: “Nature and nature’s laws lay hid in night, God said “Let Newton be”, And all was light” = “Tự nhiên và quy luật của tự nhiên ẩn trong đêm tối, Thượng đế phán “Hãy đưa Newton tới”, Và ánh sáng tràn ngập khắp nơi”.  11 Một mặt, trí (hiểu biết), dũng đều có mặt trong nhiều bộ giá trị luân lý cạnh tranh, dù với cấp bậc khác biệt; mặt khác, nhiều giá trị như tín nghĩa hay tiết chế, dù không được ghi lại trong tất cả các bảng giá trị, đều có thể được chấp nhận bởi tất cả không mấy khó khăn. Hơn nữa, sự đối xử với kẻ khác trong tình người cũng cùng có mặt trong nhiều bộ quy tắc ứng xử, dù với những tên gọi và điểm nhấn khác nhau (bác ái, từ bi, nhân nghĩa).  —    Đọc thêm:  Bài 1: Từ xã hội hóa đến giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5888&CategoryID=6    Bài 2: Chế độ dân chủ  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5892    Bài 3: Trào lưu du giáo  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5895  Bài 4: SOCRATES (469-399)  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5947  Bài 5: Tóm tắt ba quan điểm giáo dục  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5955  Bài 6: Phần di sản của trào lưu du giáo  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5959           Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài giảng bậc đại học hay hành trình suy ngẫm      Bài viết phân tích một số điểm trong cuốn  sách “Justice: what’s Right Thing to do?” để xác định đặc điểm của một  dạng bài giảng phổ biến ở đại học Phương Tây, thuộc ngành khoa học xã  hội và nhân văn. Đồng thời, tác giả cũng liên hệ, đối chiếu với quan  niệm về bài giảng ở đại học Việt Nam, trong lĩnh vực này.      Hành trình suy ngẫm  Trước mắt tôi là bản dịch tiếng việt của cuốn “Justice: what’s the Right Thing to do?”1. Nội dung cuốn sách là bài giảng2 của Michael Sandel, Giáo sư ĐH Harvard. Tôi dựa vào việc phân tích vài điểm trong cuốn sách này để trả lời câu hỏi: bài giảng ở bậc đại học (ngành khoa học xã hội và nhân văn) là gì?3  Chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ đoạn xác định mục tiêu này của Michael Sandel để làm rõ một số đặc điểm của một dạng bài giảng ở bậc đại học:           Bài giảng là kết quả của hoạt động tư duy,  của sự suy nghĩ cá nhân, là đóng góp riêng của giảng viên; chứ không chỉ  là kết quả của một sự tóm lược hay giới thiệu các tác giả khác.        Aristotle, Immanuel Kant, John Stuart Mill, John Rawls4 sẽ xuất hiện trong quyển sách này. Nhưng thứ tự họ xuất hiện không phải theo thời gian. Cuốn sách này không phải giới thiệu lịch sử tư tưởng mà là cuộc hành trình suy ngẫm đạo đức và chính trị. Quyển sách không cố gắng chứng minh triết gia nào ảnh hưởng tới triết gia nào trong lịch sử tư tưởng chính trị, mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy.5  Chúng ta thấy gì ở đây?  Trước hết, bài giảng là một vấn đề khoa học, ở đây là vấn đề công lý (justice). Và đó là một “hành trình suy ngẫm” (cụ thể trong bài này là suy ngẫm về đạo đức và chính trị) của người giảng viên, Michael Sandel.   Thứ hai, để có thể suy ngẫm, giảng viên phải tìm hiểu toàn bộ lịch sử của vấn đề này, kể từ Aristotle trở đi, để xem vấn đề đã được khai thác như thế nào, xử lý như thế nào, quan niệm của các triết gia ra sao. Tuy nhiên, như ông nêu rõ, ông không làm công việc giới thiệu lịch sử tư tưởng, không so sánh đối chiếu để xem xét các ảnh hưởng hay sự phát triển. Nghĩa là ông không nghiên cứu các tác giả của quá khứ như là một đối tượng tĩnh, không nghiên cứu kiến thức như là kiến thức trong sách vở. Mà các kiến thức đó được dùng như là nền tảng, cơ sở trên đó ông tiến hành quá trình “suy ngẫm” của mình. Như vậy bài giảng này là kết quả của hoạt động tư duy, của sự suy nghĩ cá nhân, là đóng góp riêng của giảng viên; chứ không chỉ là kết quả của một sự tóm lược hay giới thiệu các tác giả khác.          Giảng viên biến đối tượng suy tư của mình  thành ra đối tượng suy tư của sinh viên, đưa họ tới việc nhận thức xã  hội của họ, và tự nhận thức về chính họ, tự xem xét các suy nghĩ của họ.        Thứ ba, đối tượng của sự suy ngẫm là thực tại, là những gì đang diễn ra trong đời sống hiện tại. Kiến thức của quá khứ được dùng để soi chiếu vào thực tại, để nhằm giải quyết các vấn đề của thực tại. Sandel không nhằm mục đích giới thiệu Aristotle, Kant… mà cùng với họ tiếp tục suy nghĩ về vấn đề công lý trong thời đại của ông, về những nan đề mà nó tiếp tục đặt ra trong xã hội Mỹ và trên toàn thế giới hiện tại.   Sandel đặt vấn đề bằng những sự kiện trong đời sống Mỹ: vấn đề giá cắt cổ, huân chương Tử Tâm và gói cứu trợ. Michael Sandel suy ngẫm về các hiện tượng đang xảy ra: hiện tượng mua bán các bộ phận của cơ thể con người, cụ thể là trường hợp mua bán thận; hiện tượng thuê mang thai hộ; chính sách chống kỳ thị; vấn đề tuyển sinh đại học; hiện tượng mộ lính: việc bắt lính hay thuê lính ở Mỹ thể hiện sự công bằng hay vi phạm sự công bằng như thế nào; v.v… Chính trên những thực tế này của thời đương đại mà Sandel đối thoại với các triết gia quá khứ, xem xét những quan điểm rất khác biệt của họ và những điểm cần tranh cãi ở họ. Cách làm này khiến ông có thể đặt vấn đề theo kiểu: “Kant có bảo vệ Bill Clinton không?”6  Như vậy, bài giảng thuộc dạng này không hướng đến mục đích trình bày kiến thức trong sách vở của người khác. Bài giảng hướng tới việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của đời sống thực, của xã hội trong đó giảng viên đang sống. Sandel nói rõ: “Đây không phải chỉ là vấn đề triết học. Nó nằm ở trung tâm của những nỗ lực tiếp sinh khí cho các thảo luận chính trị và đổi mới đời sống dân sự của chúng ta.”7  Cuối cùng, mục tiêu của bài giảng không phải chỉ là trình bày hành trình và kết quả suy ngẫm của giảng viên, không phải chỉ là sự giới thiệu thành quả của tư duy, mà “mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả [trên giảng đường là sinh viên] xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy”.   Điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là những suy tư của giảng viên phải hướng tới việc khơi dậy sự suy tư ở trong mỗi một đối tượng giao tiếp, mỗi sinh viên. Giảng viên biến đối tượng suy tư của mình thành ra đối tượng suy tư của sinh viên, đưa họ tới việc nhận thức xã hội của họ, và tự nhận thức về chính họ, tự xem xét các suy nghĩ của họ. Mục đích của sự giảng dạy cuối cùng là giúp sinh viên biết cách đặt ra các vấn đề, nhận diện các vấn đề của xã hội, nhận thức các thao tác xử lý vấn đề, nhận thức về chính mình, về những gì đang có trong đầu mình, về những gì đang diễn ra xung quanh mình.   Để có thể thực hiện một bài giảng theo cách thức mà Sandel đã làm đòi hỏi người giảng viên phải sử dụng tự do của mình trong việc lựa chọn nội dung chủ đề bài giảng, đòi hỏi người giảng viên phải tự do đối diện với thực tế đời sống, tự do sử dụng các dữ liệu thực tế thuộc mọi lĩnh vực, mọi phạm vi: từ đường lối, chính sách của nhà nước, phương thức điều hành của chính phủ, cho đến các sự kiện, hành động thuộc về các nhóm xã hội hoặc mỗi cá nhân trong xã hội.  Giảng viên Việt Nam: Nguy cơ cùn mòn và lạc hậu  Ở đại học Việt Nam, tình trạng chung là ngành khoa học xã hội lạc hậu rất nhiều so với khu vực và thế giới. Vì sao? Do nguyên nhân chủ quan của người giảng dạy? Do các yếu tố khách quan? Dĩ nhiên là do cả hai.  Bài viết này không có tham vọng đề cập một cách toàn diện tới các nguyên nhân tạo nên sự yếu kém của ngành này, mà chỉ nêu lên một số lí do, chắc chắn là chưa đầy đủ, khiến cho bài giảng ở đại học mang tính phổ thông nhiều hơn là tính đại học, và khiến cho nội dung giảng dạy bị lạc hậu.  Trước hết, đó là quy định về chương trình cố định và các môn học bắt buộc. Quy định về chương trình khung và các môn học cụ thể mang tính chất bắt buộc, trên thực tế, là một cách thức hữu hiệu để buộc giảng viên trở nên lạc hậu và cùn mòn, dù muốn hay không. Người ta không thể không lạc hậu nếu trong vòng mười năm hay hai mươi năm buộc phải giảng đi giảng lại một bài giảng.   Nếu không có cơ chế để mỗi giảng viên tự quyết định các bài giảng của mình, nếu không có cơ chế để giảng viên có thể trình bày các kết quả nghiên cứu độc lập của mình như là nội dung của các bài giảng8, thì không thể khuyến khích họ phát triển nghiên cứu. Quy định về chương trình cố định đi ngược lại với những đòi hỏi về sự phát triển của nghiên cứu. Chừng nào nghịch lý này còn chưa được giải quyết, cộng với điều kiện làm việc quá nhiều khó khăn, thì đại học Việt Nam vẫn cứ là nơi hủy hoại nguồn năng lượng chất xám của giảng viên.           Quy định về chương trình khung và các môn  học cụ thể mang tính chất bắt buộc, trên thực tế, là một cách thức hữu  hiệu để buộc giảng viên trở nên lạc hậu và cùn mòn, dù muốn hay không.         Liên quan đến nhận xét về việc bài giảng đại học của chúng ta nặng tính phổ thông, chỉ cần làm một so sánh nhỏ về tên các bài giảng ở đại học Phương Tây và ở đại học Việt Nam trong lĩnh vực này, ta sẽ thấy bài giảng đại học Phương Tây mang tính vấn đề, còn bài giảng của đại học Việt Nam mang tính chất giới thiệu kiến thức. Ví dụ, các bài giảng của chúng ta, ở các khoa văn học, thường là: Văn học Việt Nam (thế kỷ…), Văn học Việt Nam (giai đoạn…), Văn học Pháp (thế kỷ…), v.v… Hoặc là tên của các tác gia: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hugo, Balzac, Faulkner, v.v… Như vậy bài giảng thường nặng về văn học sử, giới thiệu kiến thức tổng quát. Giảng viên có thể soạn bài một lần để giảng trong nhiều năm. Ở Phương Tây, đối với những năm đầu của bậc đại học, các bài giảng vẫn phải hướng tới mục đích cung cấp các kiến thức nền tảng của ngành học cho sinh viên. Tuy vậy, giảng viên vẫn có quyền thực hiện việc cung cấp kiến thức nền thông qua các vấn đề cụ thể, chứ không chỉ nhất thiết phải trình bày lịch sử của vấn đề hay giới thiệu kiến thức một cách khái quát. Xem chương trình cho sinh viên hai năm đầu của Khoa Lettres, Art et Cinéma, ở đại học Paris 7, Pháp, ta thấy: bài giảng của Félix Perez, Vụ án và cái chết của Socrate – Thành bang trong quan niệm của Platon. Bài giảng của Jean-Christophe Reymond: Vấn đề diễn giải và nhận thức về bản thân ở thời Phục Hưng. Bài giảng của Régis Salado: Hư cấu và sự thật trong thơ v.v… Đấy là một số bài giảng dành cho sinh viên hệ Licence của Khoa Lettres, Art et Cinéma, năm học 2010-2011. Các bài giảng này không lặp lại chương trình của năm trước.  Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn ở đại học Việt Nam ít có liên hệ với thực tế. Tình trạng chung là có một khoảng cách, nhiều khi rất xa, giữa kiến thức được giảng dạy (kiến thức trong sách vở) cho sinh viên và thực tế đời sống, giữa các nghiên cứu về quá khứ và xã hội hiện tại. Bài giảng thường nặng về truyền thụ lại kiến thức của người khác, chứ ít khi là một “hành trình suy ngẫm” của giảng viên. Những nghiên cứu, phát hiện về thời quá khứ của giảng viên ít khi được sử dụng để góp phần vào việc suy nghĩ về các vấn đề của xã hội đương thời.          Bài giảng đại học Phương Tây mang tính vấn đề, còn bài giảng của đại học Việt Nam mang tính chất giới thiệu kiến thức.        Một ghi nhận khác là ngành khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học Việt Nam không những chỉ lạc hậu so với các đại học quốc tế, mà còn lạc hậu so với chính các hoạt động xuất bản trong nước và so với những nỗ lực riêng lẻ của các cá nhân ngoài xã hội.  Bình thường, đại học là bộ phận đi tiên phong trong việc đề xuất các tư tưởng, các khuynh hướng nghiên cứu, các giải pháp cho xã hội; và ở mức độ thấp hơn, đại học đi tiên phong trong việc ứng dụng và cập nhật các nghiên cứu của thế giới. Nhưng ở Việt Nam, thời gian gần đây, xem ra đại học lại lẽo đẽo đi sau, không tiến kịp sự vận động của xã hội. Trong khi bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển của Kant, Hegel, Nietzsche, John Stuart Mill, Durkheim, Deleuze9…, bản dịch những nghiên cứu mới của thế giới về triết học Marx, đã lưu hành nơi nhiều tầng lớp độc giả thì thử hỏi có bao nhiêu trường đại học đưa các tác phẩm đó vào chương trình giảng dạy, trong lúc mà, về nguyên tắc, sinh viên của khoa nào cũng phải học môn triết?   Chừng nào mà người nghiên cứu và giảng dạy vẫn còn gạt sang một bên các vấn đề đặt ra trong xã hội họ đang sống, không chọn lựa các vấn đề của thời đại họ làm đối tượng nghiên cứu, chừng đó vẫn còn chưa có khoa học xã hội thực sự. Kể cả đối với những chủ đề tưởng như mang tính vĩnh cửu: chân lý, công lý… thì người ta cũng không thể tư duy một cách thực sự nếu không xuất phát từ những dữ liệu của đời sống hiện tại, như cách mà Sandel đã làm. Và nếu giảng viên không tư duy thực sự thì làm sao có thể dạy cho sinh viên cách tư duy?   Chừng nào mà nội dung nghiên cứu và giảng dạy ở đại học còn chưa theo kịp với thời sự nghiên cứu của thế giới, không đi cùng nhịp với những quan tâm và không nắm bắt được các vấn đề đang đặt ra cho giới học thuật quốc tế, chừng đó vẫn còn chưa thể nói tới việc hội nhập với thế giới một cách bình đẳng. Chúng ta có thể tổ chức các hội thảo với sự tham gia của các nhà khoa học trên thế giới, nhưng điều đó không đảm bảo cho các nghiên cứu của chúng ta đạt tới đẳng cấp quốc tế. Khi nào chúng ta có các tham luận được trình bày trong các hội thảo quốc tế có uy tín, có các bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế, và ở mức độ cao hơn có các chuyên luận được tham khảo trong giới nghiên cứu và được dịch ra tiếng nước ngoài, lúc đó chúng ta mới thực sự khẳng định được vị thế của mình so với các đồng nghiệp trên thế giới.  Dĩ nhiên, không phải mọi giảng viên đại học đều ở mức độ của Sandel. Song các giảng viên đại học đều làm việc theo cùng cách thức như vậy (họ suy nghĩ và công bố các suy nghĩ của họ trong các bài giảng, rồi xuất bản thành bài báo hoặc thành sách), và đại học cũng phải được tổ chức theo một mô hình nhất định để đảm bảo cho các nhân vật như Sandel xuất hiện.   Để có thể phát triển thì không thể không thay đổi. Bởi lẽ bản thân khái niệm “phát triển” bao hàm trong nó ý niệm về sự thay đổi. Có lẽ đây là thời điểm ta cần trả lời dứt khoát một số câu hỏi: Ta có muốn thay đổi không? Ta có đủ các điều kiện cần cho sự thay đổi hay không? Ta có khả năng tạo ra các điều kiện cho sự thay đổi và có khả năng thực hiện các thay đổi hay không? Nếu từ chối thay đổi thì ta sẽ tồn tại như thế nào trong cái thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt này?  Cuối cùng, xin mượn lại câu hỏi của Sandel, “Justice: What’s the Right Thing to do?” Tôi biến đổi câu hỏi ấy chút ít để kết thúc, hoặc để mở ra:   Đại học Việt Nam: cái gì là điều đúng phải làm?  —  1. Bản dịch tiếng Việt của Hồ Đắc Phương vừa được NXB Trẻ ấn hành năm 2011, với nhan đề: Phải trái đúng sai.  2. Đây là các đường dẫn giới thiệu về bài giảng của Michael Sandel:  http://www.justiceharvard.org/  http://www.justiceharvard.org/watch/  Chúng ta có thể vào đường dẫn dưới đây để xem nội dung của tiết giảng thứ nhất  http://www.justiceharvard.org/2011/03/episode-01/#watch  3. Hiện tượng nhiều công trình giá trị được xuất bản từ bài giảng ở đại học là một hiện tượng tương đối phổ biến ở các nước có nền khoa học phát triển. Ta biết những trường hợp điển hình như cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure, cuốn L’herméneutique du sujet và Le courage de la vérité của Michel Foucault.   4. Thực ra trong cuốn sách còn xuất hiện cả David Hume, Jean-Jacques Rousseau, Jeremy Bentham và nhiều người khác.  5. Michael Sandel, Phải trái đúng sai, Hồ Đắc Phương dịch, NXB Trẻ, Tp HCM, 2011, tr. 46  6. Phải trái đúng sai, sđd, tr. 198  7. Phải trái đúng sai, sđd, tr. 362  8. Chính cơ chế tạo điều kiện cho giảng viên phát triển nghiên cứu, kết hợp với cơ chế để cho sinh viên tự do lựa chọn môn học, sẽ là một trong những yếu tố góp phần xác định giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của đại học không, có đủ năng lực để làm việc ở đại học không. Đại học muốn có chất lượng thì một trong những điều kiện căn bản nhất là phải có một đội ngũ giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học. Và một trong những điều kiện căn bản để giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học (ngoài phẩm chất tư duy và nỗi lực tự thân của họ) là đời sống của họ phải được đảm bảo để họ có thể tập trung cho công việc của mình ở trường đại học. Chừng nào các nhà quản lý còn chưa nhận thức được điều này và chưa có những chính sách để hiện thực hóa nó, chừng đó vẫn chưa có hy vọng gì đối với việc nâng cao chất lượng đại học, và chuyện hội nhập với thế giới chắc vẫn chỉ là một mơ ước mang tính không tưởng.   9. Ta biết rằng ở đại học phương Tây, Kant, Nietzsche, Heidegger… các triết gia nói chung (cả các triết gia phương Đông), không chỉ được giảng dạy ở khoa Triết, mà còn được nghiên cứu ở tất cả các khoa về khoa học xã hội và nhân văn.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp trung học gây chấn động nước Mỹ      Phát biểu trong lễ tốt nghiệp của các học  sinh lớp 12 Trường trung học Wellesley High ở bang Massachusetts (Mỹ)  tuần trước, giáo viên tiếng Anh David McCollough Jr đã gây sốc khi nói  thẳng.    Thế nhưng, bài phát biểu của David McCollough lại được nhiều tờ báo và hãng tin Mỹ đăng tải, và thu hút được hàng chục ngàn comment (bình luận) trên mạng Internet, phần lớn đều ủng hộ thông điệp của ông McCollough.  Trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp năm 2012, thay vì lặp lại những câu sáo mòn như “Chúng tôi rất tự hào về các em”, “Các em rất tài năng”, “Thế giới là của các em”…, ông McCollough đưa ra một thông điệp mà giới truyền thông Mỹ mô tả là “Xin chào mừng các em đến với cuộc đời thực”.  Wellesley High là trường công nổi tiếng ở thị trấn giàu có Wellesley, có truyền thống lâu đời và từng sản sinh nhiều nhân tài cho nước Mỹ. David McCollough Jr là con trai của nhà sử học – nhà văn David McCollough, người từng đoạt giải thưởng Pulitzer.  Trước các học sinh của mình đang xúng xính trong bộ đồng phục tốt nghiệp giống nhau, đang háo hức cầm trên tay tấm bằng, McCollough dõng dạc nói rằng “Các em chẳng có gì là đặc biệt”, “chẳng có gì là phi thường”! Một gáo nước lạnh như được giội xuống mọi thành tích vẻ vang của trường!  Được chăm bẵm quá mức  Trước bao ánh mắt mở to sửng sốt, McCollough điềm nhiên nói tiếp: “Các em đã được hầu hạ tận miệng, nâng niu mỗi ngày, được nuông chiều, được bảo bọc cẩn thận. Vâng, người lớn đã ôm hôn các em, cho các em ăn, lau miệng… cho các em. Họ dạy dỗ, hướng dẫn, lắng nghe, động viên và an ủi các em. Các em được nâng niu, phỉnh phờ, dỗ ngon dỗ ngọt, được nghe toàn những lời nài nỉ.  Các em được người lớn ngợi khen đến tận trời xanh, được gọi là cục cưng. Đúng vậy đó. Chúng tôi đã ở bên cạnh các em trong các trò chơi, vở kịch, các cuộc biểu diễn âm nhạc, hội chợ khoa học. Những nụ cười tỏa sáng khi các em bước vào phòng, đáp lại mỗi tin nhắn trên Twitter của các em là những tiếng hô hào hứng. Và giờ các em đã chinh phục được trường trung học. Nhưng đừng lầm tưởng rằng các em là đặc biệt. Không có chuyện đó đâu nhé!”.  Đến đây, McCollough dẫn các học sinh vào một hiện thực đang chờ đợi mình. “Mỗi năm có ít nhất 3,2 triệu học sinh tốt nghiệp từ hơn 37.000 trường trung học trên toàn quốc. Đó là 37.000 học sinh tiêu biểu của các trường, 37.000 chủ tịch hội học tập, 92.000 giọng ca nổi bật, 340.000 vận động viên… Nhưng tại sao lại tự giới hạn chúng ta ở trường trung học thôi? Hãy thử nghĩ xem. Nếu cả triệu người mới có một người như các em thì trên thế giới 6,8 tỉ dân này sẽ có tới gần 7.000 người như các em. Hãy nhìn toàn cảnh. Hành tinh của chúng ta không phải là trung tâm Hệ mặt trời, Hệ mặt trời không phải là trung tâm Ngân hà, Ngân hà cũng chẳng phải là trung tâm vũ trụ. Các nhà thiên văn đã khẳng định vũ trụ không có trung tâm đâu, do đó các em không thể là “cái rốn” của vũ trụ. Ngay cả tỉ phú Mỹ nổi tiếng Donald Trump cũng chẳng là “cái đinh” gì”.  McCollough dẫn dắt tiếp: “Người Mỹ chúng ta giờ đây yêu các danh hiệu hơn là những thành công thật sự. Chúng ta coi danh hiệu là mục tiêu và sẵn sàng thỏa hiệp, tự hạ thấp các chuẩn mực, hoặc phớt lờ thực tế khi cho rằng đó là cách nhanh nhất hoặc duy nhất để có được những thứ có thể đem ra khoe mẽ, để có một vị trí tốt hơn trong xã hội… Hậu quả là chúng ta đang coi rẻ các trải nghiệm đáng giá, thế nên việc xây dựng một cơ sở y tế ở Guatemala trở thành chìa khóa để chạy xin vào học tại Bowdoin (học viện nghệ thuật nổi tiếng ở Mỹ) hơn là việc này vì cuộc sống của người dân Guatemala”.  Hạnh phúc không tự tìm đến  McCollough nhấn mạnh mục tiêu thật sự của giáo dục không phải đem lại lợi thế vật chất mà là sự hiểu biết, yếu tố quan trọng của hạnh phúc. “Trước khi các em tỏa đi khắp nơi, tôi kêu gọi các em hãy làm những gì mình yêu thích và tin tưởng. Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. Hãy xứng đáng với những lợi thế mà mình có”.  Sau khi khuyên các học sinh hãy tiếp tục đọc sách thường xuyên, phát triển ý thức về đạo đức, khẳng định cá tính, dám ước mơ, làm việc chăm chỉ và tư duy độc lập, yêu những người mình yêu hết mình, McCollough nhắc nhở: “Hãy làm như vậy một cách nhanh chóng, bởi mỗi giây phút đều quý giá. Cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa là một thành tựu đòi hỏi nỗ lực, chứ không phải là thứ từ trên trời rơi xuống vì các em là người tốt hay vì cha mẹ đưa đến tận tay các em.  Các em hãy nhớ rằng những người tạo dựng nên nước Mỹ đã nỗ lực đảm bảo quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Mưu cầu là một động từ, và tôi nghĩ các em sẽ không có nhiều thời gian để nằm ườn một chỗ xem mấy trò nhảm nhí trên YouTube. Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến với các em. Hãy đứng dậy, bước ra bên ngoài, tự mình khám phá, tìm kiếm cảm hứng cùng niềm đam mê và hãy giữ chắc nó bằng cả hai bàn tay”.  Kết thúc phát biểu của mình, ông McCollough nhắn nhủ các học sinh hãy tự chủ, độc lập, sáng tạo không vì sự thỏa mãn do hành động đó mang lại, mà vì những điều tốt đẹp nó đem đến cho người khác. “Và khi đó, các em sẽ phát hiện sự thật vĩ đại và lạ lùng của cuộc sống. Đó là lòng vị tha, sống vì người khác, và đó là điều tuyệt vời nhất các em có thể làm được cho bản thân. Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì là đặc biệt”.  Sự quan tâm thái quá của người lớn khiến cái tôi của bọn trẻ phình to. Do đó, tôi nghĩ chúng cần một cách suy nghĩ mới. Đưa chúng vào đời với cái tôi quá lớn chẳng khác nào làm hại chúng.  McCollough khẳng định. Trả lời phỏng vấn Fox News, McCollough giải thích ông muốn các học sinh hiểu rằng chúng phải nỗ lực nếu muốn thành công trong cuộc đời.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán 1000 trí thức Việt kiều      Phát biểu trên báo chí gần đây, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết “Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục VN.” Có thể nói đây là một chương trình qui mô và tham vọng lớn, và nếu thành công có thể làm thay đổi tình hình khoa học nước nhà theo chiều hướng tích cực hơn trong tương lai. Vì thế chúng ta cần xét lại thực lực và cơ chế thực hiện để có thể biến chương trình đó thành hiện thực.    Đáp số cho bài toán “1000 trí thức Việt kiều”?  Chúng ta có bao nhiêu giáo sư hay nhà khoa học gốc Việt có tầm cỡ quốc tế ở nước ngoài? Tuy báo chí thường hay đề cập đến con số 300 ngàn chuyên gia trong cộng đồng người Việt hải ngoại, nhưng nguồn gốc và cơ sở khoa học cho con số đó hình như vẫn là một dấu hỏi. Con số chuyên gia có hàm giáo sư càng hiếm. Ở Mỹ, nơi có người Việt định cư đông đảo nhất ở nước ngoài, hiệp hội giáo sư gốc Việt chưa có đến 150 thành viên. Có lẽ con số giáo sư gốc Việt trên toàn nước Mỹ chưa đến con số 500. Ở các nước có khá đông người Việt định cư như Canada, Pháp và Úc, con số người Việt mang hàm giáo sư chỉ có thể nói là “đếm đầu ngón tay”. Đó là chưa kể một số khá nhiều các vị giáo sư đã hay đang sắp nghỉ hưu. Ngay cả nếu con số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên là 1000 đi nữa, thì không phải ai có học vị tiến sĩ đều có khả năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học độc lập, và số người đứng vào hàng “tầm cỡ quốc tế” chắc chắn không quá con số 100.  Do vậy, theo tôi không nên đặt ra những chỉ tiêu hay con số trong khi chưa có một cơ sở hay khảo sát đáng tin cậy. Vấn đề không phải là cần thu hút một con số (chẳng hạn như 1000 trong vòng 10 năm) giáo sư và nhà khoa học; vấn đề là làm sao tạo điều kiện và môi trường khoa bảng để mọi người – trong và ngoài nước – có thể góp một phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng như chất lượng nghiên cứu khoa học lên một tầm ngang hàng các nước trong vùng và làm cơ sở để cạnh tranh với các nước khác.  Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.  Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”. Vấn đề đặt ra là tại sao?   Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến), lí do chính là cho đến nay, Nhà nước vẫn chỉ… nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”.  Phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ… tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính xách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!  Cần một chương trình nghiên cứu  Do đó, để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt kiều về nước làm việc là thiết lập các chương trình nghiên cứu (ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program”). Có thể gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP). Chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: (i) khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; (ii) đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”); (iii) xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ; (iv) khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và (v) khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ty kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của CCNC là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế.  Có thể giao việc quản lí chương trình này cho Bộ Khoa học và Công nghệ hay Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ cần lập ra một hội đồng cố vấn gồm các nhà khoa học trong và ngoài nước có uy tín và có công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế cố vấn về các vấn đề chuyên môn. Hàng năm, hội đồng cố vấn ra thông cáo tuyển dụng các chuyên gia (sẽ gọi chung là “fellow” theo cách gọi ở nước ngoài). Thông báo không chỉ gửi đến tất cả các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, mà còn công bố trên Internet để các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có thể đệ đơn. Thông báo kèm theo tất cả các mẫu đơn, các tiêu chuẩn cụ thể cho từng hạng fellow, và qui trình cũng như thời gian xét duyệt. Tôi đề nghị nên có 3 hạng VFP: hạng một dành cho các nhà khoa học cấp phó giáo sư hay tương đương, cấp hai dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương, và cấp ba dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư xuất sắc.   Sau khi nhận đơn từ các ứng viên, hội đồng cố vấn sẽ gửi đơn cho 4 chuyên gia (trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để bình duyệt. Khi nhận được báo cáo bình duyệt của 4 chuyên gia trong ngành, hội đồng sẽ dựa vào 4 báo cáo này để loại bỏ những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Nếu ứng viên được bổ nhiệm VFP, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm cho nghiên cứu. Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu, hay sẽ do Bộ hay hội đồng cố vấn chỉ định. Cố nhiên, trong thời gian này, ứng viên có thể xin tài trợ nghiên cứu từ các nguồn nước ngoài, nhưng trong giai đoạn đầu Nhà nước cần phải tạo điều kiện tài chính cho họ ổn định.  ***  Nói gì thì nói, hai yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định “về hay ở” vẫn là vật chất và tinh thần.  “Vật chất” ở đây là lương bổng và môi trường làm việc, và “tinh thần” là lòng yêu quê hương, tinh thần dấn thân… Một giáo sư không phải là doanh nhân. Doanh nhân về nước có thể tìm cơ hội kinh doanh và kiếm lời, nhưng một vị giáo sư đại học chỉ tùy thuộc vào lương bổng là nguồn thu nhập chính. Một quyết định về hay ở tùy thuộc vào sự quân hòa giữa hai yếu tố vật chất và tinh thần.   Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD/năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học phương Tây vì họ không muốn mất những giáo sư có tài). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.  Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Mặt khác phải thấy một sự thực là lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài đâu hùng hậu đến như thế. Và ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, Việt kiều vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và Internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt kiều và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân.   Ở thời điểm này, có thể nói nhà nước và Việt kiều đã gặp nhau tại một giao điểm: ước nguyện làm cho Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định. Nhưng vấn đề còn lại là làm sao biến chính sách và ước nguyện thành hiện thực, tạo điều kiện cho Việt kiều tham gia vào công cuộc kĩ nghệ hóa đất nước. Chính sách và những lời nói hoa mĩ chưa đủ, mà cần phải có một cơ chế thông thoáng và cụ thể, một sự đổi mới về tư duy là nền tảng cho những bước đi cụ thể kế tiếp. Một khi đã có một chương trình cụ thể thì “Bài toán 1000 trí thức Việt kiều” không cần phải đặt ra nữa.  ———-  Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hàn Quốc              GS Lý Chính Đạo thăm Viện Vật lý tiên tiến ở Lan Châu (TQ)        …  Từ những năm đầu thập niên 1990 cho đến nay, Hàn Quốc đã có một chính sách ngày càng hấp dẫn hơn thế để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu. Các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ty như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ. Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD/năm. Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều (những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.  …  Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Trung Quốc đã thu hút được trên một ngàn nhà khoa học và chuyên gia về nước làm việc. Trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế. Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa.  Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học. Trung Quốc đã có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.  Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông… Mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) để thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc. Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc được trả lương đến 40.000 USD/năm (lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD/năm). Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.      Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán hóc búa cho các ĐH Mỹ      Người Trung Quốc lâu nay vẫn coi cơ hội du học Mỹ là điều đáng mơ ước và đó là lý do khiến số sinh viên Trung Quốc du học Mỹ tăng lên gấp ba chỉ trong vòng ba năm nay, trở thành nhóm sinh viên quốc tế đông nhất ở Mỹ.      Phần đông số sinh viên Trung Quốc đến từ các gia đình khá giả và có điều kiện để trả học phí toàn phần, điều mà các trường ĐH Mỹ đang mong như hạn gặp mưa trong tình cảnh bị cắt giảm ngân sách những năm gần đây. Thoáng nhìn thì tưởng đây là điều có lợi cho cả hai phía – các trường ĐH Mỹ cũng như các sinh viên Trung Quốc, nhưng thực tế cho thấy vấn đề này không hề đơn giản.   Để tăng thêm tính quốc tế hóa, các trường ĐH Mỹ đã mở rộng tuyển sinh ở Trung Quốc nơi mà sự cạnh tranh vào ĐH trở nên khốc liệt và cũng là nơi ngành công nghiệp tư vấn du học tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu luôn nóng hổi của những sinh viên muốn một suất du học sang Mỹ. Các trường ĐH Mỹ cho rằng họ bắt đầu nhận thấy số lượng các hồ sơ giả mạo có chiều hướng tăng, có nhiều bài tự luận xin học được các công ty tư vấn du học viết hộ, hoặc chứng chỉ điểm tiếng Anh không thật sự phản ánh khả năng giao tiếp của sinh viên. Các trường ĐH Mỹ đứng trước một thị trường lớn như Trung Quốc đang lúng túng khi phải tìm cách phân biệt hồ sơ của những ứng viên thực sự giỏi và những bộ hồ sơ tốt một cách giả tạo.    Vai trò của các công ty tư vấn du học   Theo một nghiên cứu mới đây của ĐH Iowa đăng trên Tạp chí Tuyển sinh ĐH (Journal of College Admission), phần lớn các sinh viên Trung Quốc khi nộp đơn vào ĐH Mỹ đã nhờ đến các các công ty môi giới hoặc các công ty tư vấn du học trong quá trình chuẩn bị hồ sơ. Để viết hộ bài luận xin học, có sinh viên đã phải trả 4.000 USD, chưa kể khoản 3.300 USD bồi dưỡng luyện các bài thi chuẩn hóa.    Từ cách đây nhiều thập kỷ khi đồng USD còn bị cấm lưu hành ở Trung Quốc, các công ty tư vấn du học ở đây đã biết cách chuyển tiền sang Mỹ để đóng học phí và do đó có công đáng kể đưa rất nhiều thế hệ sinh viên Trung Quốc sang Mỹ học. Các chuyên gia tuyển sinh cho rằng các công ty tư vấn du học Trung Quốc cung cấp một loại dịch vụ quan trọng là hướng dẫn sinh viên trong quá trình nộp hồ sơ vào ĐH Mỹ và quá trình này thực sự mới mẻ ở Trung Quốc. Mới mẻ vì hồ sơ tuyển sinh vào ĐH Mỹ bao giờ cũng bằng tiếng Anh, và các sinh viên Trung Quốc thường bị loại vì không có ý thức tham gia vào các hoạt động ngoại khóa hoặc không biết cách viết các bài tự luận. Bênh cạnh đó, việc xin thư giới thiệu của giáo viên tư vấn (¹) ở một trường trung học phổ thông là bất cập ở Trung Quốc, một đất nước mà chỉ có vài trường có chức danh này. Rất nhiều người Trung Quốc còn thiếu thông tin tới mức ngộ nhận rằng danh sách xếp hạng các trường ĐH được đăng tải trên U.S. News và World Report là thông tin chính thống được Chính phủ ban hành.    Trong khi một số công ty tư vấn chuẩn bị hồ sơ một cách trung thực, thì nhiều nơi khác có những hành vi gian lận. Một người lãnh đạo ở một trường phổ thông ở Bắc Kinh cho biết một vài các công ty tư vấn đã bắt chước phom mẫu văn bản của trường để in ra bảng điểm giả và viết những thư giới thiệu giả mạo mà nhà trường đã tình cờ phát hiện ra khi một phụ huynh gọi điện đến than phiền là công ty tư vấn bắt họ phải trả phí cho các giấy tờ chứng thực do trường cấp. James E. Lewis, giám đốc bộ phận tuyển sinh quốc tế của ĐH Kansas có lần cũng nhận được một tập hồ sơ tuyển sinh ĐH rõ ràng là được gửi đến từ cùng một công ty tư vấn du học với các hóa đơn và lệ phí từ một ngân hàng hệt như nhau trong khi các sinh viên ở các vùng xa hẳn nhau. Ông cho biết ba trong số năm bảng điểm trong các bộ hồ sơ giống hệt như nhau.                    Năm ngoái công ty tư vấn Zinch China chuyên giúp các trường ĐH & CĐ Mỹ tìm hiểu về Trung Quốc đã đăng tải một báo cáo dựa trên các cuộc phỏng vấn với 250 học sinh trung học chuẩn bị du học Mỹ, phụ huynh của các học sinh này và khoảng một chục các công ty tư vấn du học. Báo cáo này tổng kết trong số các hồ sơ của sinh viên Trung Quốc nộp cho các trường ĐH Mỹ, 90% có thư giới thiệu mạo danh, 70% có người viết hộ bài tự luận, 50% gian dối với bảng điểm, và 10% liệt kê những giải thưởng và danh hiệu mà học sinh đó chưa hề nhận. Báo cáo này tiên đoán “xu hướng làm giả các hồ sơ” sẽ có thể ngày càng tệ hơn nữa vì ngày càng có nhiều sinh viên sang Mỹ.     Học chỉ để thi   Học sinh Trung Quốc dành rất nhiều thời gian trong những năm trung học để luyện thi gao kao, một kỳ thi duy nhất để vào được các trường ĐH Trung Quốc ngày nay đã quá tải. Vì thế chẳng có gì lạ khi những học sinh Trung Quốc dự định đi du học ở Mỹ dành nhiều tháng trời nhồi nhét chuẩn bị cho các kỳ thi như SAT hay TOEFL.    Một người quản lý tuyển sinh ở ĐH Iowa đã chia sẻ bà đã từng thấy có những sinh viên Trung Quốc có điểm TOEFL tăng thêm 30 hoặc 40 điểm (tổng điểm thi tối đa của một kỳ thi TOEFL là 120) chỉ sau một kỳ nghỉ hè nhưng trình độ tiếng Anh thì không hề chuyển biến. “Các sinh viên này chỉ ôn luyện để qua được kỳ thi, chứ không phải học tiếng Anh thực sự”. Bà cũng thường xuyên phải liên hệ với cơ quan tổ chức kỳ thi, Educational Testing Services (ETS) (²) để kiểm tra những bài thi đáng nghi ngờ.   Vào kỳ nhập học mùa thu năm nay tại ĐH Kansas, có vài sinh viên Trung Quốc có ảnh thẻ không hề giống với ảnh họ chụp khi làm bài thi TOEFL mới vài tháng trước. ETS cho biết họ sẽ làm một vài biện pháp phòng ngừa khác như thu thập mẫu chữ viết tay để giảm nguy cơ sinh viên thuê người khác vào làm tiếp thay họ sau mỗi phần thi. Điều lệ của ETS là kết quả thi sẽ bị hủy nếu có tìm ra gian dối nhưng ETS cũng không cho biết chuyện này có thường xuyên xảy ra không và đã xảy ra ở đâu. ĐH Kansas cũng không giải thích về các biện pháp kỷ luật nhưng nhà trường đã thành lập cả một hội đồng soạn thảo ra các chính sách nhằm đối phó với gian lận trong thi TOEFL. Giám đốc Ban Tuyển sinh Quốc tế, ông Lewis nói: “rất khó khi ngồi ở Mỹ và phải phán đoán bài thi nào đến từ Trung Quốc là gian dối”.   Không tôn trọng tác quyền, và không nhập gia tùy tục   Tại chương trình giới thiệu định hướng đầu năm học tháng 9 vừa qua ở ĐH Delaware – Newark, ông Scott Stevens, Giám đốc Viện Anh ngữ của trường đã nói bóng gió với các sinh viên mà phần đông là sinh viên Trung Quốc “Các bạn là những sinh viên rất thông minh. Hãy dùng trí tuệ của bản thân mình khi phải viết các bài luận”.    Ông Stevens hiểu rất rõ những thách thức mà ĐH Delaware đang gặp phải sau khi số sinh viên Trung Quốc từ lúc chỉ có vài sinh viên tăng lên vài trăm như bây giờ. Có sinh viên đã học tủ thuộc lòng cả đến bốn dẫn luận trong Wikipedia để sau đó chỉ việc chép lại tùy thuộc vào đề thi nào gặp phải trên lớp – một nỗ lực đầy ấn tượng nhưng mục đích hoàn toàn sai lệch, vi phạm vào quyền sở hữu trí tuệ, một khái niệm cơ bản ở Mỹ.    Tương tự như sự không hiểu biết về tác quyền, thói quen không nhập gia tùy tục là một thuộc tính văn hóa khác. “Chúng ta ai cũng biết người Trung Quốc được nuôi dưỡng lớn lên với những tuyên truyền không đẹp cho lắm về nước Mỹ. Cho nên họ chỉ tin những người Trung Quốc ở quanh mình, họ không tin chúng tôi”, ông Stevens nhận xét.    Thay vì dễ dãi sống chung với một nhóm sinh viên Mỹ nào đó, sinh viên Trung Quốc năm thứ nhất một mặt vẫn trả tiền thuê phòng ký túc xá, mặt khác lại chung tiền đi thuê nhà ở bên ngoài, một sự xâm phạm điều lệ trường, ông Steven cho biết. Và hiếm khi họ tham gia các hoạt động tình nguyện ở trường. Họ cũng thường thay đổi đăng ký lớp để được học chung cùng nhau, thay vì nghe theo sự phân công của các giáo viên cố vấn.   Jennifer Gregan-Paxton, trưởng cố vấn sinh viên bậc đại học khoa kinh doanh của trường cho biết, bà thấy sinh viên Trung Quốc học tập rất chăm và cũng rất khéo. Họ thường xuyên tặng bà và các giáo viên khác những món quà nhỏ. Có ngày bà nhận được tới ba món quà từ các sinh viên, một chiếc quạt, một vòng đeo cổ, và một khăn quàng lụa tơ tằm. Tuy nhiên, bà cũng nhận xét rằng các sinh viên Trung Quốc thường học chung với nhau, vì từng cá nhân sinh viên Trung Quốc khi tách ra bước vào một tập thể lạ nào đó, thì không phải khi nào họ cũng được chào đón nồng hậu.  Học chỉ vì điểm    Mặc dù khác biệt về phương pháp học nhưng điểm số của các sinh viên Trung Quốc ở ĐH Delaware không kém hơn các sinh viên khác. Một phần là vì sinh viên Trung Quốc thường rất khá trong những kỹ năng tính toán và điều này giúp họ học giỏi các chương trình học sử dụng nhiều kiến thức như kinh doanh và kỹ thuật – hai ngành được nhiều sinh viên Trung Quốc theo học nhất, trong đó ngành kỹ thuật không yêu cầu nhiều về khả năng tiếng Anh. Trên thực tế, thành tích học của sinh viên Trung Quốc không phải là tệ, một số đã được nhận vào những trường ĐH hàng đầu ở Mỹ, ví dụ như ĐH Havard có 40 sinh viên Trung Quốc năm học 2010-2011.    Tuy nhiên, nhiều giáo sư đã phải thay đổi phương pháp dạy cho phù hợp với sinh viên Trung Quốc. Ví dụ như có thầy giáo phải yêu cầu toàn bộ sinh viên để sách lên trước lớp trong giờ thi để tránh quay cóp, một việc mà vị giáo viên này chưa bao giờ làm trong hai thập kỷ làm công tác giảng dạy ở Mỹ. Việc tích cực tham gia thảo luận trên lớp không còn được thưởng quá nhiều điểm nữa và các sinh viên chỉ phải làm một bài thuyết trình trên lớp thay vì hai hoặc ba như trước đây do khả năng thuyết trình bằng tiếng Anh của sinh viên Trung Quốc quá hạn chế.  Damon Ma, một sinh viên Trung Quốc từng học ở một trường chuyên ngữ của Trung Quốc, lẽ ra phải có trình độ tiếng Anh khá tốt, nhưng anh này cho biết: “Ở Trung Quốc cái gì cũng quay cóp được. Thế nên người ta có thể làm một bài luận 25 trang chỉ mất có 2 tiếng mà vẫn được điểm A”. Anh này cũng cho biết, khi mới học trường mới ở Mỹ đã chọn học môn đầu tiên ở trường là giới thiệu về Lịch sử Trung Quốc. “Nhưng sau vài tuần mà tôi vẫn chật vật vì rào cản ngôn ngữ, chỉ hiểu được khoảng 70% bài giảng, và không thể nào hiểu tất cả các chi tiết và các từ vựng.”    Rất nhiều sinh viên khi bắt đầu nhập học tại ĐH Delaware đã nghĩ chỉ học chương trình dự bị tiếng Anh trong khoảng vài tháng, nhưng thay vì đó họ đã học cả năm và phải trả 2.850 USD cho mỗi khóa học tiếng Anh kéo dài trong 8 tuần. Edison Ding, một sinh viên Trung Quốc nhớ lại trước khi sang Mỹ đã trả cho công ty tư vấn du học khoảng 3.000 USD để công ty này giúp anh chuẩn bị các giấy tờ liên quan đến chứng chỉ tiếng Anh như điền hộ đơn và viết hộ bài luận xin học. Nhưng bây giờ anh cũng không nhớ nổi bài luận mà họ viết hộ về chủ đề gì nữa. Khoảng 5% sinh viên không qua được kỳ thi sát hạch và phải trở về Trung Quốc sau thời gian học dự bị tiếng Anh tại Mỹ.   Thị trường mang tính đích ngắm của các đại học Mỹ   Hiệu trưởng ĐH Delaware Patrick T. Harker phản đối quan điểm cho rằng trường mình tuyển sinh viên Trung Quốc vào vì tiền. “Các sinh viên Mỹ từ bang New Jersey được tuyển vào trường cũng mất tiền đấy chứ”, ông nói. “Điều quan trọng chúng tôi thực sự hướng đến ở đây là đa dạng hóa thành phần xuất xứ của sinh viên”. Nhưng đa số sinh viên quốc tế ở Delaware là sinh viên Trung Quốc. Đây là một sự thiên lệch, theo quan điểm của Louis L. Hirsh, giám tuyển của trường. Ông nói Delaware muốn thay đổi điều này, và sẽ nỗ lực đem cơ hội đến với các sinh viên Trung Đông và Nam Mỹ.  Tuy nhiên với những trường muốn  nhanh chóng tìm kiếm cơ hội ở thị trường toàn cầu, điểm đến có sức hút nhất chính là Trung Quốc. Trường Oklahoma Christian, năm 2007 từng chỉ có một sinh viên quốc tế duy nhất, nhưng đến năm nay có 250 sinh viên quốc tế trong đó tới một phần tư là sinh viên Trung Quốc. ĐH Ohio năm nay nhận khoảng 2.900 hồ sơ từ sinh viên Trung Quốc cho bậc ĐH. ĐH Mount Holyoke cũng có cả một lớp sinh viên năm thứ nhất chỉ toàn là sinh viên Trung Quốc. Chỉ tính riêng ở một triển lãm giáo dục mùa thu này ở Bắc Kinh do một trường đại học Mỹ đứng ra tổ chức mà đã có đến 30.000 người đến tìm hiểu.    Thị trường lớn và mới nào cũng khó đoán định. Trong khi một số ĐH Mỹ có quan hệ đối tác lâu đời với nhiều trường ĐH Trung Quốc và giữ liên lạc với nhiều thế hệ sinh viên tốt nghiệp, phần lớn các trường ĐH Mỹ đều không biết gì về hệ thống các trường phổ thông trung học ở Trung Quốc. Trước kia khi số sinh viên Trung Quốc giỏi ra nước ngoài học còn ít thì các trường ĐH Mỹ đã rất dễ dàng tập trung vào một số ít các trường phổ thông nổi tiếng. Nhưng ngày nay các giáo viên tuyển sinh ĐH Mỹ phải làm quen với hàng ngàn các trường phổ thông khác nhau ở Trung Quốc. Và điều đó là một khó khăn đặc biệt cho những người làm công tác tuyển sinh khi họ chỉ có thể đến tìm hiểu ở Trung Quốc một đến hai lần mỗi năm.   Một số ĐH như Delaware thậm chí đã thuê cả các công ty tư vấn du học để giúp họ tuyển sinh ở các thị trường nước ngoài (điều này bị cấm làm trong nội địa nước Mỹ) và điều này gây ra những tranh luận trong nội bộ Ban Tư vấn Tuyển sinh ĐH Quốc gia Hoa Kỳ(³) vì người ta cho rằng mặc dù các công ty tư vấn đại diện và giúp quảng bá để các ĐH Mỹ thu hút nhiều hồ sơ xin học, nhưng không có gì đảm bảo là các công ty này biết rõ xuất xứ của từng hồ sơ cũng như độ chính xác của từng lớp hay từng bảng điểm. Đối với những người đang làm công việc tuyển sinh này, ai cũng lo ngại vì ĐH Mỹ đã thâm nhập vào thị trường Trung Quốc mà chưa thật sự hiểu thấu đáo về thị trường này.    Không lâu trước đây, Tom Melcher, một chuyên gia giám tuyển của Zinch China, được liên lạc tới bởi một hiệu trưởng một trường đại học lớn ở Mỹ, người đề nghị ông này tìm giúp 250 sinh viên từ Trung Quốc. Khi hỏi tại sao, vị hiệu trưởng này cho biết là do ngân sách quá eo hẹp nên nhà trường cần tăng nguồn thu bằng việc tăng số sinh viên phải trả học phí toàn phần, mà ở Trung Quốc thì không thiếu những sinh viên như vậy.    Đỗ Thu Hương dịch với sự cho phép từ “The Chronicle of Higher Education”, số ra ngày 3/11/2011   —————  (¹)  Chú thích của người dịch: Ở các trường phổ thông Mỹ từ bậc tiểu học đến phổ thông trung học, mỗi trường thường có một người phụ trách việc tư vấn học sinh bao gồm: tư vấn học thuật, tư vấn nghề nghiệp, tư vấn lựa chọn trường ĐH/CĐ phù hợp và có thể cả tư vấn những thế mạnh hoặc tư chất cá nhân.   (²) ETS – Tổ chức phi lợi nhuận Hoa Kỳ chuyên cung cấp các dịch vụ thi chuẩn hóa   (³) The National Association for College Admission Counseling    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản chất xã hội hóa giáo dục      Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) đang bị lạm dụng và bóp méo, dẫn đến tình trạng lạm thu và đẩy gánh nặng tài chính cho dân. Vì thế, nhìn lại bản chất của xã hội hóa giáo dục, từ đó có những chấn chỉnh thích hợp là việc làm cần thiết.    Nhiệm vụ của giáo dục (GD) là tạo ra những công dân có chất lượng cho xã hội, đồng thời vun đắp những giá trị mà xã hội theo đuổi. Sự phát triển cũng như trình độ phát triển của một đất nước được thúc đẩy và quyết định bằng chính những công dân của đất nước đó. Do tầm quan trọng sống còn như thế, GD cần được quan tâm một cách đặc biệt. Mỗi chính sách GD cần được xem xét dựa trên bản chất xã hội của GD.  Chồng lấn do bản chất  Xã hội có thể được xem như sự hợp thành của bốn thành phần: Nhà nước, Thị trường, Gia đình và Tổ chức dân sự. Nhìn vào cấu trúc của xã hội thì thấy, GD nằm trong vùng chồng lấn của cả bốn thành phần này. Vì thế, GD không phải là công việc của riêng ai, mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội. Nói cách khác, XHHGD là tất yếu, nhưng cách thức tiến hành thế nào, ở nội dung và mức độ nào, còn là vấn đề cần thảo luận. Nếu không, một chủ trương đúng dễ bị lạm dụng vì lợi ích cục bộ và khó trở thành hiện thực. Nhìn vào bản chất chồng lấn của GD (hình trang 15) thì thấy: GD không phải và không thể 100% thuộc bất cứ thành phần nào. Cho nên, đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ GD và huy động sự đóng góp của tất cả các thành phần vào GD là cần thiết và tất yếu.  Tuy nhiên, do vai trò điều hành và quản lý xã hội của Nhà nước cũng như do nguồn lực vượt trội so với các thành phần khác, Nhà nước phải là người cung cấp dịch vụ GD chính và chịu trách nhiệm về những phân khúc quan trọng nhất, đòi hỏi nhiều nguồn lực nhất. Đầu tư cho GD khi đó phải được coi là đầu tư cho hạ tầng quốc gia trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn. Nếu không, sẽ dẫn đến tình trạng Nhà nước thả nổi GD và đẩy gánh nặng GD cho dân như tình trạng lạm thu đã xuất hiện ở nhiều nơi.  Không chỉ là tài chính  Sự tham gia của các thành phần ngoài Nhà nước vào GD không chỉ đơn thuần ở khía cạnh đóng góp tài chính, mà phải ở toàn bộ nội dung và phương thức GD.   Gia đình cần phối hợp cùng Nhà trường GD con em cả về tri thức lẫn đạo đức chứ không thể giao khoán cho Nhà trường mọi việc. Do đó, gia đình phải được tham gia việc hình thành và điều chỉnh nội dung GD trong Nhà trường thông qua những cơ chế hợp lý, như Hội đồng trường chẳng hạn.  Thị trường, cụ thể là các công ty, với tư cách là người sử dụng các tri thức và kĩ năng của sản phẩm GD, phải tham gia tư vấn, thiết kế một phần nội dung GD, nhất là với GD đại học và dạy nghề. Nếu không, chương trình GD dễ lạc hậu và xa rời thực tế, những tri thức và kĩ năng mà nhà trường trang bị cho người học không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động.   Các tổ chức dân sự, hội nghề nghiệp tham gia vào GD với chức năng bồi dưỡng nghiệp vụ, tư vấn chương trình sao cho nội dung GD đáp ứng được những đòi hỏi của đời sống thực bên ngoài nhà trường.  Đó mới là nội dung đúng của XHHGD. Nhưng thật đáng buồn, điều này đã ít nhiều bị hiểu sai và bóp méo. Việc huy động sự đóng góp của các thành phần ngoài Nhà nước, chủ yếu là gia đình vào GD chỉ tập trung vào khía cạnh đóng góp tài chính, một phần rất nhỏ trong tổng thể GD, lại là phần Nhà nước cần phải chịu trách nhiệm chính dưới sự ủy nhiệm thông qua việc đóng thuế của người dân, dẫn đến tình trạng lạm thu và đẩy gánh nặng tài chính cho gia đình như báo chí phản ánh1.                Những  cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, nếu nhân danh xã hội hóa giáo dục để  lạm thu thì đó là sự mạo danh. Vì về bản chất, xã hội hóa giáo dục không  nhằm huy động tài chính của dân, mà nhằm thu hút sự tham gia của tất cả  các thành phần trong xã hội – Nhà nước, gia đình, thị trường và các tổ  chức dân sự – tham gia tư vấn, thiết kế về nội dung và triển khai chương  trình, cách thức giáo dục cùng với Nhà trường để tạo ra  những công dân  tốt hơn.            Một biểu hiện lệch lạc khác của việc bóp méo XHHGD là xu hướng thị  trường hóa GD. Nhà trường có nguy cơ trở thành nơi kinh doanh thu lợi.  Các trường đua nhau mở ra, chạy theo số lượng mà bỏ rơi chất lượng2. Kế  hoạch cổ phần hóa các trường đại học, dù chỉ mới ở dạng dự thảo3, cũng  là con đẻ của tư duy XHHGD méo mó. Hệ quả của việc hiểu sai, cố tình  hiểu sai, hoặc bóp méo bản chất tích cực của XHHGD đã biến một chủ  trương đúng đắn thành một gánh nặng cho người dân.  Xã  hội hóa không gian và quyền tham gia giáo dục  XHHGD trước hết phải là XHH không gian và quyền tham gia GD, tham gia quản lý Nhà trường, thiết kế chương trình và triển khai các hoạt động GD của tất cả các thành phần trong xã hội. Quyền học tập của mọi công dân phải được đảm bảo và mở rộng. Từ đó hình thành những chính sách phù hợp để hỗ trợ những trẻ em khó khăn vẫn có thể đến trường. Quyền tự chủ của Nhà trường, quyền lựa chọn nội dung và phương thức giảng dạy của giáo viên cũng cần được tăng cường. Biểu hiện rõ ràng của điều này là quyền tự chủ của các trường đại học về chương trình, nhân sự; quyền lựa chọn sách giáo khoa dựa trên khung chương chình chuẩn của các trường phổ thông; quyền được điều tiết nội dung và cách thức giảng dạy tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của người học, vùng miền hoặc nội dung đào tạo…  Các loại hình GD khác nhau và khác với GD truyền thống, như GD trực tuyến, GD di động, cũng cần được sử dụng để mở rộng không gian học tập sao cho phù hợp với nhiều đối tượng cụ thể.  Không gian GD sẽ không chỉ gói gọn ở  trong Nhà trường, mà cần mở rộng về  đến Gia đình, Thị trường (các công ty), Tổ chức dân sự (Hội nghề nghiệp). Vì thế, một cơ chế cho phép tất cả các thành phần này tham gia tích cực vào hoạt động GD là cần thiết và cần được khuyến khích.     Thay lời kết  Chất lượng của xã hội và sự giàu mạnh của đất nước, suy cho cùng, được quyết định bởi chất lượng của chính những công dân tạo ra xã hội đó. Do vậy, huy động mọi nguồn lực để phát triển GD là một chính sách đúng. Nhưng chỉ chú ý đến huy động tài chính thì đó là sự bóp méo nội dung của XHHGD và phần nào là thiếu trách nhiệm, đẩy gánh nặng tài chính cho người dân. Cách thức XHHGD, với đặc điểm nổi bật là huy động tài chính của dân, là lệch lạc về bản chất, vì thế cần được chấn chỉnh để trả lại sự trong sáng và tích cực vốn có của khái niệm này.  ————–  1 Loạn thu nhân danh xã hội hóa giáo dục, báo Tiền Phong, ngày 4-6/12/2009.  2 Mở trường đại học: Càng nhiều càng kém?, báo Người Lao động, ngày 15/4/2008.  3 Dự thảo thí điểm chuyển trường học thành công ty cổ phần, Bộ Tài chính, 2009.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Băn khoăn về sách giáo khoa điện tử      Phiên bản sách giáo khoa điện tử tích hợp  chương trình sách giáo khoa và sách tham khảo của 12 năm học mới ra  mắt đã thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng. Tuy nhiên vẫn còn những e dè và lo ngại về tính  phổ cập của sách giáo khoa điện tử này.        Sách giáo khoa điện tử quá đắt  Giá thành 4,8 triệu đồng cho một classbook với kích thước 8inch và pin dùng liên tục từ 8 giờ đến 10 giờ, nhiều ý kiến cho là quá đắt so với công nghệ hiện đại. Nếu so sánh một máy tính bảng giá rẻ thì classbook của Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng không có tính cạnh tranh về mặt giá thành.  Hiện nay, nhiều chương trình học được cập nhật trên các ứng dụng của Apple store hoặc google store với giá thành thường từ 0.99 USD trở lên. Với bất kỳ máy tính bảng giá rẻ thì phụ huynh cũng có thể cập nhật được các ứng dụng này vì nó sẽ bổ ích cho việc học của học sinh. Mặc dù không được quy chuẩn như sách giáo khoa nhưng điều quan trọng là nó được tùy ý lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của con mình.  Hơn nữa vì đây là sách điện tử nên không thể bảo đảm là nó sẽ được dùng 12 năm. Tất cả các thiết bị điện tử đều có thời gian bảo hành, tuy nhiên không thể liên tục sử dụng và ổn định trong suốt quãng đời học sinh được. Chính vì vậy không thể lấy giá thành là 4,8 triệu chia đều cho 12 năm học để tính giá thành một năm dùng sách điện tử.  Một băn khoăn nữa, ứng dụng công nghệ điện tử sẽ luôn được cập nhật những phiên bản mới. Vậy với mỗi phiên bản mới được phát hành, phụ huynh sẽ tiêu tốn bao nhiêu tiền vào sách giáo khoa điện tử? Liệu có cơ chế nào cho việc mua lại phiên bản sách giáo khoa điện tử cũ và có giá mua ưu đãi phiên bản mới cho học sinh?  Tạo nên tình trạng phân biệt đối xử ở trường học    Với giá gần 5 triệu đồng, không phải ai cũng đủ tiền để trang bị sách giáo khoa điện tử cho con, dù không phủ nhận những bổ ích và hữu dụng của nó. Thế nên sẽ xảy ra tình trạng trong một lớp học có hiện trạng dùng sách giáo khoa thông thường và sách giáo khoa điện tử, dẫn đến việc học sinh không tránh khỏi tâm lý so sánh. Không khí trong lớp học sẽ bị xáo trộn vì sự tò mò của các em không có sách điện tử trước những hình ảnh sôi động và phong phú trong sách điện tử của bạn cùng lớp.  Sinh hoạt cùng nhau, cùng sắc màu đồng phục… các trường đang tạo môi trường bình đẳng cho tất cả học sinh, không phân biệt giàu nghèo. Tuy nhiên với việc trang bị sách giáo khoa không đồng đều trong lớp học thì mục tiêu này của trường học vô hình trung bị phá vỡ. Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng quan ngại khi tình trạng lớp học có hai hình thức sách giáo khoa sẽ gây khó khăn trong việc dạy và học.  Lo ngại về việc bảo quản tài sản  Mặc dù sách giáo khoa điện tử nhỏ gọn kích thước chỉ bằng quyển sách thông thường và có trọng lượng 0.5kg, nhưng việc bảo quản nó là cả một vấn đề đối với học sinh. Để cho các em mang một tài sản giá trị lớn như vậy trong cặp sách liệu có an toàn không? Đây là phân vân của rất nhiều phụ huynh.   Vấn đề an toàn cho bản thân các em học sinh và an toàn cho tài sản học sinh khi dùng sách điện tử là mối quan tâm không chỉ ở phụ huynh mà cả giáo viên đứng lớp. Cô Thanh, giáo viên tiểu học ở quận Từ Liêm, cho biết: “Các em ở trường còn quá bé để chịu trách nhiệm bảo quản sách điện tử giá trị như vậy. Nói thật, nếu có em nào trong lớp tôi mang sách đi học, tôi cũng lo lắm. Vì nhỡ có xảy ra mất mát hay các bạn tò mò, nghịch ngợm gây hỏng hóc gì thì cũng rất khó giải trình với phụ hụynh.”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn lại vấn đề học vị Tiến sĩ      Trong bối cảnh dư luận hết sức quan tâm về vấn đề chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước, Tia Sáng xin chia sẻ lại với bạn đọc một bài viết cũ của GS. Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Tokyo, từng đăng trên tạp chí Tia Sáng, số 9 năm 2003, bởi tính thời sự của nó đến nay vẫn còn nguyên vẹn.    Năm 1996, nhân dịp về giảng dạy trong nước, tôi đã tham dự 8 buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ (sau đó văn bằng này được tự động chuyển thành tiến sĩ). Thấy rõ nguy cơ của việc đánh giá văn bằng này ở Việt Nam, tôi đã nêu ý kiến và đưa kiến nghị cụ thể về vấn đề này trên mục Ý kiến nhà khoa học của báo Nhân Dân số ra ngày 17/7/1997. Theo yêu cầu của Vụ trưởng Vụ đào tạo sau đại hoc (Bộ Giáo dục và đào tạo), tôi cũng có dịp thuyết trình về đề tài này tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 6/3/2000. Thế nhưng tình hình sau đó không những không được cải thiện mà có vẻ còn trầm trọng hơn. Vì vậy, Tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến (chủ yếu về lãnh vực kinh tế học) về bản chất của vấn đề là gì và làm sao để chấm dứt tình trạng hiện nay?    Theo tôi, việc văn bằng tiến sĩ ở Việt Nam tiếp tục là đối tượng bị chế giễu trong thiên hạ nhưng người ta vẫn tiếp tục đổ xô vào việc lấy  bằng và nhà nước vẫn tiếp tục cho đào tạo và cấp bằng này là do chúng ta hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng này.    Thế nào là một luận án tiến sĩ?    Trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình (trong kinh tế học đó là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô), và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình (chẳng hạn kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, kinh tế lao động…). Những kiến thức cơ bản này được trang bị từ bậc đại hoc và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tuc ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị này hội đủ các điều kiện đó.    Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thiết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.  Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận, và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại Việt Nam, chí ít là trong lĩnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là “Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để huy động vốn trong dân, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá…). Dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vấn đề có tính lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một người với phí tổn đào tạo chưa tới 3 triệu đồng 1 năm1?    Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở VN chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành.    Học và nghiên cứu như thế nào để viết được luận án tiến sĩ?    Ở nước ngoài, để có đủ kiến thức nhận tư cách ứng viên và để viết được luận án tiến sĩ có đủ tính học thuật và tính độc sáng, nghiên cứu sinh phải tập trung học liên tục và rất vất vả trong nhiều năm. Tôi xin kể trường hợp của 2 sinh viên mà tôi đã hướng dẫn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ 2 năm qua. Sinh viên Trung Quốc lấy tiến sĩ năm 2002, là sinh viên du học tự túc nên phải làm thêm mỗi tuần 2 ngày nhưng 5 ngày còn lại tập trung học, nghiên cứu và đã mất tất cả 5 năm sau khi lấy bằng thạc sĩ và thi đỗ vào bậc tiến sĩ. Sinh viên Việt Nam bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đầu năm 2003, có học bổng của chính phủ Nhật nên chuyên tâm vào việc học và làm luận án, nhưng cũng mất 4 năm. Trừ những kỳ nghỉ hè, nghỉ Tết, hằng tuần tôi có trách nhiệm mở lớp hướng dẫn nghiên cứu gọi là seminar và tất cả các nghiên cứu sinh học với tôi (thuộc nhiều năm học khác nhau trong hai bậc thạc sĩ và tiến sĩ.) đều phải tham dự. Mỗi tuần có 1 hoặc 2 nghiên cứu sinh báo cáo về sự tiến triển của đề tài nghiên cứu của mình, các nghiên cứu sinh khác tham gia thảo luận để vừa giúp bạn gợi mở các ý tưởng mới vừa tham khảo phuơng pháp luận nghiên cứu và thông tin về động hướng nghiên cứu của từng đề tài mà giáo sư hướng dẫn chỉ ra cho người báo cáo. Nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ trong năm đầu phải theo học nhiều môn cơ bản và chuyên môn liên hệ với nhiều giáo sư khác, song song với việc tham gia seminar của giáo sư hướng dẫn mình để từng bước xây dựng đề cương nghiên cứu. Việc xây dựng đề cương là quá trình lao động vất vả nhất vì đề cương phải cho thấy luận án khi hoàn thành sẽ có đủ 2 tính chất học thuật và độc sáng nói trên. Các nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ cứ độ vài ba tháng báo cáo trong seminar một lần và khi cần thiết đến phòng nghiên cứu của giáo sư để được hướng dẫn thêm. Nhiều sinh viên không xây dựng được đề cương, cuối cùng phải bỏ cuộc.    Ở Việt Nam, việc học ở bậc tiến sĩ quá đơn giản. Tại một cơ sở đào tạo nọ, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề và được biết trong mỗi chuyên đề thầy giáo chỉ giảng 1 ngày sau đó nghiên cứu sinh tự làm các tiểu luận liên hệ (các chuyên đề nhiều khi cũng chỉ là những vấn đề thực tế, không nhất thiết là chuyên đề giúp cho nghiên cứu sinh nắm vững hơn về mặt lý luận và phương pháp luận nghiên cứu. Đây cũng là hệ quả tất yếu khi luận án tiến sĩ không đòi hỏi phải có tính học thuật). Quan hệ với giáo sư hướng dẫn cũng lỏng lẻo (vấn đề giáo sư hướng dẫn sẽ nói thêm sau). Cũng vì việc học không đòi hỏi sâu về mặt lý luận và luận án không đòi hỏi có tính học thuật và độc sáng nên nhiều người học tại chức cũng có thể bảo vệ “thành công” luận án trong 3-4 năm. Ở nước ngoài khó có thể tưởng tượng được là một người đương phải đảm trách công việc quản lý xí nghiệp hay quản lý nhà nước mà chỉ trong 3-4 năm có thể lấy được bằng tiến sĩ! (trừ trường hợp người đó được biệt phái 3-4 năm để đi học). Ở Nhật thỉnh thoảng có trường hợp một quan chức ở một bộ kinh tế hay ngân hàng nhà nước bảo vệ thành công luận án tíến sĩ nhưng đó là trường hợp rất đặc biệt của những người có khả năng nghiên cứu ký luận và công việc hằng ngày của họ cũng liên quan đến nghiên cứu, và nhất là có công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín (cũng cần nói thêm là những quan chức ấy muốn lấy bằng tiến sĩ là để trong tương lai chuyển sang nghề dạy học hoặc nghiên cứu ở các viện, chứ văn bằng không liên quan gì đến việc đề bạt ở các cơ quan quản lý).    Về giáo sư hướng dẫn viết luận án tiến sĩ    Để cho dễ hiểu tôi mạn phép bắt đầu bằng trường hợp cụ thể của tôi. Tôi phụ trách dạy môn kinh tế ngoại thương và môn kinh tế chuyển đổi (từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị truờng) cho sinh viên bậc đại học và phụ trách dạy môn kinh tế phát triển cho sinh viên (nghiên cứu sinh) sau đại học. Nói chung phạm vi chuyên môn của tôi về mặt lý thuyết là kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế, và về mặt thực tiễn là kinh tế châu Á. Để cập nhật nội dung các bài giảng, để hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án, và để tiến hành các đề tài nghiên cứu của riêng mình, dĩ nhiên tôi phải theo dõi thường xuyên động hướng nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chuyên môn của mình. Ngoài việc theo dõi trên sách và tạp chí chuyên môn, phải thường xuyên tham gia báo cáo, thảo luận tại các hội thảo khoa học, nhất là tham gia các hoạt động của hội khoa học chuyên ngành. Các hội này tổ chức báo cáo khoa học hàng tháng tại vùng mình sinh sống và hằng năm tổ chức đại hội toàn quốc để hội viên (đã được chọn) báo cáo thành quả nghiên cứu của mình.    Nói chung đây là hoạt động thông thường của một giáo sư ở đại học Nhật nhưng mới chỉ là điều kiện cần của một ngưòi có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ. Điều kiện đủ là công trình, thành quả nghiên cứu của giáo sư đã được đánh giá trong giới khoa học. Ở các đại học lớn mỗi khoa thường có độ 50 giáo sư nhưng chỉ có độ 20 ngưòi có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ . Tóm lại, điều kiện tối thiểu của một ngưới có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án phải là một giáo sư đương nhiệm mà công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu tại một đại học hay một viện nghiên cứu. Nếu không là đương nhiệm thì về mặt cơ chế không có tư cách hướng dẫn hay phản biện luận án tiến sĩ, và về mặt thực tế không thể giúp sinh viên chọn một đề tài có tính độc sáng vì người đó không có điều kiện theo dõi những nghiên cứu mới trên thế giới về ngành của mình.    Một điều rất lạ với thế giới nhưng rất phổ biến ở Việt Nam là có nhiều vị có học hàm, học vị nhưng đã chuyển sang làm quản lý và các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lại được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh. Dĩ nhiên có thể có truờng hợp ngoại lệ là các vị đó vẫn tiếp tục phát biểu các công trình nghiên cứu về học thuật trên các tạp chí khoa học, được giới khoa học trong ngành đánh giá cao, nhưng truờng hợp này rất hiếm và và khó thấy ở các nước khác.    Cơ chế phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ    Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư thành viên chấm luận án nói ở trên được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là 1 năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới.    Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật và các nước tiên tiến khác đặt cơ chế xã hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 hoặc 3 (tuỳ trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định (referee). Tạp chí có thẩm định là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (thừờng là sau khi che dấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. Các bài viết đăng ở các tạp chí không có chế độ thẩm định khách quan này không được xem là công trình nghiên cứu.  Một hình thức nữa là cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hàng năm của ngành chuyên môn (Tôi đã cho sinh viên Trung Quốc và sinh viên Việt Nam nói trên ra báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội nghiên cứu chính trị và kinh tế châu Á). Ở Nhật, nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn. Trong trường hợp đó, về mặt khách quan, xem như nghiên cứu sinh ấy không thể bảo vệ ngay ở đại học được nữa mà phải nghiên cứu thêm.    Dưới cơ chế đào tạo nói trên và sau khi đã xã hội hoá việc đánh giá, cuộc bảo vệ cuối cùng đương nhiên sẽ đưa lại kết quả tốt. Cần nói thêm rằng trong khi nêu ý kiến đánh giá của mình trong hội đồng, không có giáo sư nào phát biểu những câu như “luận án này văn phong sáng sủa, bố cục chặt chẽ…”, mà chỉ xoay quanh tính học thuật và tính độc sáng của luận án. Ngay cả trường hợp nghiên cứu sinh người Trung Quốc và người Việt Nam của tôi viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Nhật cũng không có ai khen theo kiểu như vậy. Có dịp tham dự mấy buổi bảo vệ tại Việt Nam, tôi rất ngạc nhiên khi nghe những câu đánh giá như vậy và có cảm tưởng như người phát ngôn đương nói về một luận án tốt nghiệp đại học.  Vài lời kết và kiến nghị    Việt Nam phải đứng trước một sư chọn lựa giữa hai con đường: (1) Duy trì cơ chế hiện tại, tiếp tục sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình, và văn bằng này xem như hàng nội địa chỉ tiêu thụ tại nước mình. (2) Xem học vị tiến sĩ sản xuất trong nước phải tương đương hoặc gần như tương đương với văn bằng ở nước ngoài.    Nếu chọn con đường thứ hai thì tôi đề nghị như sau:    Thứ nhất, cần đặt lại vấn đề chuẩn mực của luận án tiến sĩ, nhấn mạnh tính học thuật và tính độc sáng phải có của một luận án tiến sĩ.    Thứ hai, tham khảo các truờng hợp điển hình ở nước ngoài, rà soát lại các tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn làm luận án và các cơ sở được phép đào tạo tiến sĩ theo hướng nâng cao hẳn các tiêu chuẩn để theo gần với nước ngoài.    Thứ ba, người có học hàm học vị cao nhưng không phải là giáo sư đương nhiệm ở đại học hoặc cơ quan nghiên cứu thì không được phép tham gia hội đồng đánh giá luận án.    Thứ tư, 3 điểm nói trên thực hiện triệt để sẽ thấy rằng Việt Nam hiện nay chưa đủ điều kiện để đào tạo và cấp hàng loạt văn bằng tiến sĩ, do đó vấn đề tiếp theo là chuẩn bị cơ chế và nhân tài để 10 năm tới có thể đào tạo nhiều hơn văn bằng nầy.    Thứ năm, không xem văn bằng tiến sĩ là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt ở các cơ quan quản lý của nhà nước hoặc các cơ quan khác. Không cấp kinh phí và không tạo các điều kiện khác cho cán bộ đi học tại chức bậc tiến sĩ.    Ta có thể tự hào rằng giới trẻ Việt Nam rất thông minh. Nhiều nghiên cứu sinh người Việt Nam thành công xuất sắc trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ tại Nhật. Tôi cũng đã gặp nhiều bạn trẻ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, Úc, …về đang làm việc tại Hà Nội , Thành phố Hồ Chí Minh,.. tất cả đều rất giỏi. Nếu ta có cơ chế, chính sách đúng đắn, trong tương lai tại Việt Nam cũng sẽ có nhiều tiến sĩ tài giỏi.    —-  Chú thích:  1Theo Lưu Quang, Tiến sĩ giá rẻ, Báo Lao động cuối tuần, ngày 03/11/2002, chi phí này khoảng 2,77 triệu đồng/ năm.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bạn rất quan trọng!      Giáo dục công dân là một nội dung giảng dạy quan trọng trong các trường học ở Mỹ, nhằm mục tiêu xây dựng xã hội công dân trong đó mỗi một người công dân thực sự làm chủ bản thân và quốc gia. Sách giáo khoa Giáo dục công dân thường do những học giả biên soạn và rất phong phú. Do đó giáo viên tại Mỹ có rất nhiều sự lựa chọn giáo trình phù hợp.&#160; Dưới đây xin giới thiệu về một cuốn sách Giáo dục công dân do một nhóm giáo sư giáo dục học trường Đại học Michigan biên soạn.      Phần mở đầu sách Giáo dục công dân trích dẫn câu nói của một triết gia vĩ đại “Hãy hiểu chính bản thân bạn”. Tác giả sách cho rằng nếu muốn làm một công dân tốt, trước hết bạn (You) phải hiểu rõ bản thân mình.  Phần này gồm 4 chương. Chương I bắt đầu bằng câu: “Bạn: một con người”, bàn về “Một con người lành mạnh”, “Bạn và cá tính của bạn”, “Chung sống với người khác”… cho tới “Làm một công dân tốt”.  Chương II là “Bạn: một học sinh”, bàn về “Sự khác nhau về năng lực học tập”, “Cải tiến việc học tập của bạn”, “Tỉnh táo suy nghĩ”.  Chương III là “Bạn: một thành viên gia đình”, bàn về “Các gia đình đều khác nhau”, “Các vấn đề của gia đình”, “Làm một thành viên tốt của gia đình”.  Chương IV là chương “Bạn: một công dân”, bàn về “Chính quyền trong cuộc đời của bạn”, “Lý do phải tồn tại chính quyền”.  Sở dĩ sách Giáo dục công dân mở đầu như vậy là do ngay câu đầu tiên của sách đã nói cho các em học sinh biết rằng: Nhà nước này được “xây dựng trên ý tưởng mỗi một cá nhân con người đều quan trọng cả. Chế độ chính quyền Nhà nước, hệ thống kinh tế, mối quan hệ giữa người với người xây dựng trên ý tưởng đó”. Với tư cách là một con người, một cá nhân, bạn là một yếu tố quan trọng (You are important); cho nên trong chế độ này bạn cần phải được “tự do mua bán và sở hữu, tự quyết định mình làm gì”. Chính quyền chỉ là cơ quan phục vụ bạn mà thôi. “Khi chính quyền là đầy tớ của bạn thì bạn được tự do; khi chính quyền trở thành chủ nhân của bạn thì bạn sẽ như kẻ nô lệ, không còn quan trọng gì nữa”.   Sách còn dạy các em học sinh: Vì “Cá nhân là quan trọng nhất”, nên chính quyền không thể áp đặt ý chí của mình lên các nhà kinh doanh, nhà kinh doanh không thể lừa dối khách hàng, và công đoàn phải đại diện cho lợi ích của mỗi một thành viên công đoàn, vì “Sự tự tôn của mỗi cá nhân là cao nhất”.  Các học sinh biết tự nhận thức bản thân, tôn trọng cá nhân, song đó không có nghĩa là coi cá nhân mình trên hết. Là một cá nhân, không ai hoàn hảo nên tự mỗi người phải nhận thức được và sửa chữa các nhược điểm của mình.   Một công dân tốt thì phải có tính dân chủ. Bàn về dân chủ đưa tới kết luận là chớ nên bắt người khác phải chịu cái gì chính mình không muốn. Bạn không muốn bị thiệt ư? Thế thì bạn chớ có làm người khác bị thiệt.        Một công dân tốt thì phải có tính dân chủ. Bàn về dân chủ đưa tới kết luận là chớ nên bắt người khác phải chịu cái gì chính mình không muốn. Bạn không muốn bị thiệt ư? Thế thì bạn chớ có làm người khác bị thiệt.        Do đó các em học sinh phải biết kiềm chế bản thân. “Một công dân tốt là một người giỏi điều chỉnh bản thân mình”, “là một người luôn luôn học hỏi”, “biết suy nghĩ”, dưới tiền đề đó mới là “một người có thể hành động”.  Một công dân tốt là một người trung với đất nước mình. Điều đó nghĩa là bạn phải có thái độ xây dựng chứ không được có thái độ phá hoại: Giả thử chính quyền làm gì sai trái thì bạn phải nghiêm khắc phê bình chính quyền – như thế là bạn mong muốn họ cải tiến công việc; thái độ như vậy của bạn là có tính xây dựng. Giả thử rõ ràng bạn phát hiện thấy Nhà nước đi theo con đường sai lầm mà bạn lại vẫn nói rằng Nhà nước đi đúng đường, đúng lắm – thì đó là thái độ phá hoại.  Với tư cách là một công dân mẫu mực thì “điểm số môn học chỉ có tác dụng rất hữu hạn trong việc đánh giá hoạt động tinh thần”, điểm số cao chỉ đánh giá “thành tích học ở trường” mà thôi, chứ không đánh giá “thành tích cuộc đời của bạn”. “Chỉ số trí tuệ là thứ luôn thay đổi” mà “trí lực là tổ hợp của các năng lực khác nhau”.   Là một công dân mẫu mực thì cần phải nắm được cách “suy nghĩ tỉnh táo”. Tác giả cuốn sách cho rằng biết tỉnh táo suy nghĩ là một trong những phẩm chất cơ bản nhất để làm người công dân tốt. Nếu không biết tỉnh táo suy nghĩ thì dù ban cho bạn quyền dân chủ đi nữa thì bạn vẫn có thể bị người khác chi phối và lợi dụng.  Vậy như thế nào mới gọi là tỉnh táo suy nghĩ?  Trước hết, “sự suy nghĩ của bạn phải dựa trên cơ sở sự thật”. Cho nên một tiền đề vô cùng đơn giản là bạn phải có quyền biết toàn bộ sự thật. Một chính quyền phục vụ xã hội công dân thì phải để cho thông tin tin tức được tự do lưu thông, để cho toàn bộ công dân đều nắm được sự thật. Một xã hội không có tiền đề như thế thì rất khó có các công dân đạt tiêu chuẩn.  Sách còn kiến nghị các học sinh không những biết sự thật mà còn phải “không ngừng nhận thức các sự vật phát hiện mới nhất”; sau khi nắm được sự thật, một người tỉnh táo suy nghĩ “cần phải có thể giải quyết được các vấn đề”.  Sách còn vạch ra cho học sinh thấy các chỗ sai lầm, thấy “dòng suy nghĩ không rõ ràng” mà họ rất dễ rơi vào. Trước hết, không thể có “suy nghĩ nguyện vọng” với khuynh hướng lý tưởng hóa; chẳng hạn không thể trong lòng mong muốn thực hiện một xã hội lý tưởng hóa thì nhận định là xã hội đó chắc chắn sẽ thực hiện được.   Cũng nên tránh “tư duy theo tâm trạng”: mỗi người chúng ta đều có cách nhìn một chiều, chúng ta đều có những việc mình thích và không thích, song ta chớ nên để chúng ảnh hưởng tới suy nghĩ tỉnh táo của ta”, nếu không sẽ khó tránh khỏi đi tới chỗ cực đoan. Những cách suy nghĩ cực đoan ấy “đều sẽ gây thiệt hại lớn nhất cho Nhà nước và xã hội”. Các em học sinh không nên vội vã kết luận sự việc. Suy nghĩ phải xuất phát từ sự thực, tức là nói “chớ nên xuất phát từ quan niệm”, chớ nên xuất phát từ chủ nghĩa mình theo đuổi.  Bạn là những người chồng, người vợ, các bậc cha và mẹ trong tương lai: Làm một thành viên gia đình tốt là cơ sở để làm một công dân tốt. Trong xã hội có nhiều loại gia đình khác nhau, gia đình nào cũng có các vấn đề tồn tại của mình, giải quyết các vấn đề trong gia đình là việc rất không dễ dàng mà hạnh phúc thì tùy thuộc vào cách sống của bạn, vào sự quan tâm và tình yêu của bạn đối với các thành viên gia đình.   Tuy sách Giáo dục công dân không thể giải quyết được những chuyện phức tạp trong cuộc sống mà các trẻ em sau này sẽ phải đối mặt, nhưng nó chuẩn bị tư tưởng cho bạn, bảo cho bạn hiểu rằng “giá trị gia đình” là điều kiện cơ bản của một công dân tốt. Trước khi quan tâm đất nước, xã hội và người khác, cần quan tâm và yêu quý người trong gia đình mình.  Sau cùng cuốn sách mới đưa ra cho các em học sinh khái niệm “tự quản”. Tự quản được xây dựng trên cơ sở mỗi công dân đều có tính dân chủ; cách quản lý bằng quyền lực không phải là sự tự quản dân chủ. Trong gia đình có vấn đề quản lý gia đình, trong trường học có vấn đề quản lý trường học. Sách khuyến khích các trẻ em: Ngay từ nhỏ các bạn đã có thể thử nghiệm, nắm được cách tổ chức các kiểu đoàn thể quần chúng; trước khi “nhân dân định ra quy chế” thì mỗi cá nhân cần nhận thức và tự hoàn thiện bản thân, dám gánh chịu trách nhiệm; học được cách chung sống bình đẳng với người khác.  Sách Giáo dục công dân nói trên dạy cho bạn biết một cách rất cụ thể về dân chủ. Bạn muốn cải tạo xã hội ư? Trước hết hãy bắt đầu bằng cách cải tạo bản thân mình thành một công dân tốt. Và cuối cùng bạn sẽ thấy sự chuẩn bị (thành một công dân tốt) ấy lại làm cho cuộc sống của bạn và của người khác đều trở nên dễ dàng hơn. Điều đó nhất trí với điểm xuất phát ban đầu, đó tức là: Hạnh phúc của cá nhân là điều quan trọng nhất. Bởi vậy bài học đầu tiên của sách giáo dục công dân là nói về “bạn” (You).□  Nguyên Hải  Lược dịch theo Duzhe 2005.21    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn thờ đích thực      Bàn thờ là một trong những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam, là  nơi để biểu thị lòng tôn kính của thế hệ sau đối với các thế hệ trước  trong gia đình.  Hơn thế, bàn thờ còn thể hiện một khát khao sâu thẳm của người sống:  mình tôn kính, nhớ tới tổ tiên để sau này con cháu sẽ tôn kính, nhớ tới  mình.    Cái bàn thờ sẽ trở nên quan trọng hơn khi người ta không có gì để lại ngoài con cái: không có phát minh nào, không có sáng tạo nào, không có tác phẩm nào, không có công trình xây dựng nào, không có công thức toán lý hóa nào… Nghĩa là không có gì để ghi dấu sự tồn tại của họ sau khi chết.   Còn một người như Aristote có cần đến bàn thờ không? Không. Dù không có bàn thờ thì cả thiên hạ vẫn phải nhớ đến ông. Ông vẫn luôn hiện diện trong ký ức của tập thể, qua suốt cả chiều dài hàng ngàn năm. Chúng ta cần những con người có thể sống cùng trí nhớ tập thể như vậy.   Người ta sẽ không nói về Hy Lạp cổ đại nhiều đến thế nếu ở thời kỳ đó chỉ có những con người biết săn bắn, chăn nuôi và trồng trọt. Chính những Socrate, Aristote, Platon, Pithagor… đã đưa cả Hy Lạp cổ đại vào ký ức chung của nhân loại.  Sở dĩ văn học Việt Nam giai đoạn 30-45 được yêu mến và được nhắc tới nhiều như vậy là nhờ những người như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Hàn Mặc Tử… Nhưng chúng ta cũng phải trung thực mà nói rằng họ cũng chưa đủ sức để giúp chúng ta thực sự có một chỗ vững chắc trong ký ức chung của lịch sử văn học thế giới, dù rằng họ đã làm hết khả năng, đã đốt cháy hết mình. Trong khi đó thì chúng ta đã để lãng phí những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường…   Vậy cần phải có những con người có khả năng sáng tạo, có khả năng kiến thiết, có ý tưởng, nghĩa là có khả năng giữ cho họ và cho chúng ta một chỗ trong ký ức của các thế hệ mai sau. Những người như thế sẽ ở đâu đây quanh ta, ở trong số con cái của những nông dân, những công nhân, những viên chức, những doanh nhân, những trí thức… Nếu không cho họ cơ hội, không để cho họ có quyền bình đẳng về cơ hội, thì ta sẽ mất năng lực của họ; con người họ vẫn còn nhưng năng lực thì sẽ mất. Sẽ mất ngay cả khi chưa có dịp bộc lộ, sẽ mất khi không được sử dụng.  Bao giờ ta ý thức được rằng sự tồn tại lâu dài của tất cả chúng ta gắn với những người có khả năng đưa họ và chúng ta vào ký ức lịch sử, những người có được lòng tôn kính và có thể sống trong trí nhớ của người khác mà không cần đến một bàn thờ nào, lúc đó ta sẽ hiểu cần phải làm gì:   Phải cho tất cả mọi người cơ hội phát triển như nhau. Phải tạo cơ hội cho họ làm việc. Phải bỏ thói quen kìm hãm họ, phải bỏ cả cái thói quen đố kỵ, nghi ngờ và chèn ép họ. Phải bỏ cả nỗi sợ hãi rằng họ sẽ gây nguy hiểm, xóa bỏ được nỗi sợ hãi đó mới có thể mạnh dạn sử dụng các ý tưởng của họ. Hình dung xem những Copernic, Bruno, Gallilé đã nguy hiểm như thế nào dưới mắt giáo hội đến mức phải bị kết tội lên giàn thiêu? Nhưng nếu họ không “nguy hiểm” như vậy, thì cũng không có những thành tựu của khoa học thế giới ngày hôm nay.   Làm được như vậy thì chúng ta mới có thể mong một chỗ trong ký ức của các thế hệ tương lai, nơi đó mới là cái bàn thờ đích thực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn tròn giáo dục Việt Nam tại Pháp      Trong hai năm 2014 và 2015, Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam (AVSE)  sẽ tiến hành tại Paris (Pháp), chuỗi bàn  tròn về giáo dục Việt Nam bằng phương pháp so sánh quốc tế với các đồng  nghiệp là những nhà nghiên cứu, giáo sư đại học, quan chức hoặc chuyên  gia làm trong lĩnh vực giáo dục (của Pháp và châu Âu).     Phương pháp làm việc và trao đổi này nhằm mục đích đối chiếu, phân tích những hoàn cảnh hay đặc điểm giáo dục của Việt Nam và các quốc gia khác, để học hỏi kinh nghiệm, qua đó tìm ra các phương hướng hay giải pháp góp phần cải thiện hoặc chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.   Bàn tròn đầu tiên, diễn ra vào ngày 10/5/2014, với chủ đề các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục Việt Nam, vì đây có thể coi là “bộ não” chỉ huy sự vận hành của một nền giáo dục. Cuộc bàn tròn này trao đổi xung quanh ý nghĩa, giá trị và mục tiêu đào tạo con người và gây dựng một nền giáo dục.   Ông Roger-François Gauthier, diễn giả đại diện cho nước Pháp, khẳng định sự quan tâm trở lại, ít nhất là trong nước Pháp, đối với các nguyên tắc cơ bản của giáo dục, đặc biệt kể từ Luật Tái thiết nhà trường nền Cộng hòa ban hành năm 2013. Các diễn giả người Việt, thuộc hai thế hệ khác nhau, đều là những giáo sư giảng dạy và nghiên cứu ở cả hai môi trường giáo dục Việt và Pháp. Thực trạng, tồn đọng hay vấn nạn trong nền giáo dục đương đại Việt Nam được các vị phân tích đều là những điều không chỉ “mắt thấy tai nghe” mà thực sự còn là những trải nghiệm trong đời đi học của nhiều khán thính giả trẻ của bàn tròn, nay đang tiếp tục học tập và làm việc tại Pháp. Tuy nhiên, cách tiếp cận của các giáo sư người Việt để bình luận chủ đề này có khác nhau. Có vị lựa chọn hẳn hệ quy chiếu chính trị vào hiện trạng giáo dục, coi đó là mối quan hệ hữu cơ và coi giáo dục là công cụ của chính trị. Có vị khác dùng quan điểm thực tiễn và cái nhìn tổng quan, coi giáo dục như là một bộ phận của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia, nên nó chịu tác động từ tổng hòa các nhân tố đó.  Các diễn giả người Việt và ngoại quốc đều thống nhất một quan điểm là khi bàn về chủ đề này, cái cần tìm hiểu không phải là định nghĩa như thế nào về các nguyên tắc mà là đặt lại vấn đề hay chất vấn xung quanh khái niệm này bằng một câu hỏi tổng quát “Các nguyên tắc cơ bản của một nền giáo dục đã được lập ra như thế nào?”. Câu hỏi này được cụ thể hóa hơn như sau: “Ai là người lập ra các nguyên tắc: bộ trưởng, nhà lập pháp, chính trị gia hay giáo sư?, Dựa vào đâu để lập ra: từ đặc điểm của lịch sử quốc gia, từ phương diện chính trị hay pháp lý?, Chu trình thiết lập đi từ dưới lên hay từ trên xuống?, Trẻ em, gia đình hay xã hội có dự phần ý kiến trong quá trình dựng nên các nguyên tắc không?”…   Trước hết, các vị cùng đưa ra một nhận xét, đó là, ở Việt Nam hay trên thế giới (cụ thể là Âu châu), luôn có những chênh lệch và khoảng cách giữa nguyên tắc và thực tiễn. Thảo luận giữa các diễn giả và khán phòng, trong vòng hơn hai tiếng, giúp chúng ta khẳng định một điều: giáo dục và chính trị luôn có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau dù ở bối cảnh văn hóa, xã hội hay chính trị nào. Tuy nhiên, giáo dục cũng như một cơ thể con người, nó có những logic vận hành riêng bởi giáo dục là một môi trường trong đó các nhân tố, cá nhân và thiết chế, tương tác với nhau: học sinh, phụ huynh, giáo viên, nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục và toàn thể xã hội.   Vì vậy, muốn cải thiện các nguyên tắc cũ hay “cách mạng” hơn, tạo dựng nên những nguyên tắc mới, thì một trong những thao tác mang tính chỉ đạo là sự lựa chọn và phân bậc các yếu tố chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội… để sao cho các nguyên tắc cơ bản của một nền giáo dục là sự hợp thành từ các yếu tố này. Và để cho các nguyên tắc cơ bản không trở thành những lời hứa thì chúng phải được xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của chính học sinh, gia đình và nhà trường. Để làm được điều này, nền giáo dục của các quốc gia phải đặt cho mình một đài quan chiếu sâu trong lịch sử và xa trong tương lai, tìm ra cho mình một cái nhìn đa dạng và trong tính toàn thể, khi mà cả thế giới đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu và kết nối. Khi mà giáo dục và đào tạo vừa có thể là bệ phóng kinh tế xã hội cho một đất nước vừa có thể là nạn nhân của trào lưu thương mại hóa, nghĩa là giáo dục trở thành một thứ hàng hóa, mua – bán, ngã giá – mặc cả. Đây là lúc Nhà nước phải đóng vai trò của mình, không những chỉ ngăn chặn để không bán nền giáo dục quốc dân mà còn phải đảm bảo cho giáo dục trở thành một giá trị chứ không phải là cái giá phải trả.         Các diễn giả:        Luisa LOMBARDI, chuyên gia của Eurydice         Roger-François GAUTHIER, Thành viên Hội đồng chương trình cấp cao, Tổng thanh tra giáo dục Pháp        GS Lê Văn Cường, trường IPAG Business School & Paris School of Economics        GS Nguyễn Khắc Nhẫn, Học viện Bách khoa quốc gia Grenoble, cựu cố vấn chiến lược của EDF        GS Hà Dương Tường, Đại học Công nghệ Compiègne        PGS Lại Ngọc Điệp, Đại học sư phạm Cachan            * Tiến sỹ Giáo dục học, Đại học Paris Descartes      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn về tự chủ đại học      Trong những ngày qua, nhiều các cá nhân, tổ chức đã góp ý cho bản dự thảo Luật Giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam. Những ý kiến này rất đa dạng và tập trung vào các khía cạnh khác nhau của bản dự thảo, nhưng hầu hết đều thống nhất ở một điểm: dự thảo Luật Giáo dục đại học hiện nay chưa đủ mạnh để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học trong thời gian tới. Một vấn đề được xem là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay là quyền tự chủ của các trường đại học, tiếc thay, lại chưa được đề cập một cách đầy đủ trong bản dự thảo đang được góp ý.      Tự chủ đại học:  từ “Nhà nước kiểm soát” đến “Nhà nước giám sát”  Trao quyền tự chủ cho các trường đại học là điều không có gì mới ở các nước phương Tây, nhưng cũng không phải là một hiện tượng phổ biến ở mọi nơi. Theo báo cáo về quản trị đại học trên thế giới của World Bank năm 2008, hiện vẫn đang tồn tại 4 mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mức độ hoàn toàn không tự chủ là mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) ở Malaysia, đến các mô hình tự chủ ngày càng nhiều là bán tự chủ (semi-autonomous) ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc [1]. Mặt khác, cũng theo báo cáo này, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là thay đổi từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn – một sự thay đổi có tên gọi là sự chuyển dịch từ mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) sang mô hình Nhà nước giám sát (state supervision) [2].   Chuyển đổi từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình tự chủ là điều không dễ dàng. Đối với những quốc gia đang phát triển, có hai lý do thường được đưa ra để giải thích cho sự duy trì vai trò tuyệt đối của Nhà nước; đó là (1) yêu cầu kiểm soát chất lượng, và (2) mục tiêu công bằng xã hội. Tuy nhiên, trước những thay đổi lớn trong bối cảnh hiện nay như sự gia tăng nhu cầu học tập ở bậc đại học của người học, sự phát triển cả về số lượng lẫn loại hình của các trường đại học-cao đẳng, đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, cũng như sự phát triển vũ bão của các ngành khoa học-kỹ thuật, thì phương pháp quản lý bằng sự kiểm soát tuyệt đối của Nhà nước ngày càng tỏ ra kém hữu hiệu. Cũng vậy, không thể tạo ra sự công bằng thông qua việc áp dụng cùng một phương pháp quản lý cho tất cả mọi trường đại học khi chúng có các sứ mạng, điều kiện, và bối cảnh hoạt động khác xa nhau. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình Nhà nước kiểm soát sẽ chỉ có tác dụng cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia.        Không thể tạo ra sự công bằng thông qua việc áp dụng cùng một phương pháp quản lý cho tất cả mọi trường đại học khi chúng có các sứ mạng, điều kiện, và bối cảnh hoạt động khác xa nhau. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình Nhà nước kiểm soát sẽ chỉ có tác dụng cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia.        Khi xem xét các dự án cải cách giáo dục được tiến hành trên thế giới trong thời gian vừa qua, trong đó bao gồm cả việc xây dựng mới và ban hành luật giáo dục đại học lần đầu tiên, hoặc điều chỉnh bổ sung các đạo luật mới cho giáo dục đại học, có thể thấy vấn đề tự chủ luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi nhất cần giải quyết trước khi có thể quyết định những khía cạnh cụ thể khác [3]. Với việc xây dựng luật giáo dục đại học lần đầu tiên tại Việt Nam hiện nay, chúng ta đang có cơ hội hiếm có để tạo ra một thiết kế tổng quát có tính hội nhập và hướng đến sự phát triển cho nền giáo dục đại học của Việt Nam trong tương lai. Việc bỏ qua không đề cập đến vấn đề tự chủ đại học trong bản dự thảo Luật Giáo dục đại học hiện nay quả là một thiếu sót không nên có.   “Danh xưng” của các cơ sở giáo dục  và các mức độ tự chủ  Nên trao quyền tự chủ cho các trường đại học của Việt Nam như thế nào, khi hiện nay chúng ta đã có hơn 400 trường đại học và cao đẳng với các đặc điểm rất khác nhau? Những trường này thuộc các địa phương, các ngành nghề, các loại hình trường khác nhau, với bề dày lịch sử và điều kiện hoạt động vô cùng đa dạng đến độ có thể không có bất kỳ đặc điểm gì chung, vậy liệu có thể giao quyền tự chủ cho tất cả các trường này hay chăng? Thực ra, việc trao quyền tự chủ cho các trường không nhất thiết phải xảy ra đồng đều trong toàn bộ một hệ thống giáo dục đại học. Trên thế giới hiện nay, có thể thấy trong cùng một quốc gia vẫn tồn tại nhiều hơn một mô hình quản trị được áp dụng. Ngay cả ở những nước phát triển, nơi có nhiều trường được hoàn toàn độc lập (mô hình 4), vẫn có thể có những trường bị kiểm soát hoàn toàn (mô hình 1).   Mức độ tự chủ của cơ sở giáo dục đại học ở một số nước trên thế giới được biểu hiện rõ ràng thông qua tên gọi của từng cơ sở giáo dục đại học, trong đó không phải bất kỳ một trường nào có đào tạo cấp bằng cử nhân trở lên cũng có thể được gọi là “university” (dịch sang tiếng Việt là “đại học”), mà còn có nhiều danh xưng khác như “college”1, “academy”2, “institute” 3 – những từ này hiện khó dịch sang tiếng Việt một cách chính xác do chúng ta chưa phân biệt rõ các loại hình cơ sở giáo dục đại học khác nhau. Ở nhiều nước có nền giáo dục đại học phát triển cao, việc cho phép một cơ sở giáo dục được công nhận “danh xưng đại học” (tạm dịch cụm từ “university status” trong tiếng Anh) là một quy định rất chặt chẽ ở mức độ cao nhất là mức độ lập pháp, có nghĩa là được ghi rõ trong luật giáo dục. Và một khi một trường đã được hệ thống giáo dục đại học của một nước công nhận “danh xưng đại học” thì trường đó cũng đồng thời được trao cho mức độ tự chủ cao nhất trong hệ thống đó.                  “Danh xưng” của một cơ sở giáo dục đại học vì thế không phải là một việc làm tùy tiện do mỗi cơ sở giáo dục tự quyết định, mà phải được quy định chặt chẽ bằng luật, vì sự khác biệt về danh xưng của trường này so với trường khác có liên quan đến sự khác biệt về mức độ tự chủ và quyền hạn của một trường trong mối quan hệ với Nhà nước. Điều này cũng cho phép một hệ thống giáo dục đại học cung cấp thông tin về đẳng cấp và năng lực của trường đó cho các đối tượng bên ngoài. Do hiện nay điều này còn chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam, nên việc xây dựng Luật Giáo dục đại học tại Việt Nam vào lúc này chính là cơ hội để xác định ở mức độ lập pháp thế nào là một cơ sở giáo dục xứng đáng được công nhận “danh xưng đại học”. Việc xác định các loại danh xưng cho một cơ sở giáo dục đại học là một biện pháp quan trọng để giải quyết bài toán liên quan đến “tự chủ đại học” đã được thảo luận trong những phần trên.   Quay trở lại việc áp dụng các mức độ tự chủ khác nhau tại các loại trường khác nhau (với những danh xưng khác nhau), có thể nói đây là biện pháp duy nhất khả thi để có thể giải quyết bài toán lớn của giáo dục đại học ngày nay, đó là: Làm thế nào vừa mở rộng tiếp cận giáo dục đại học cho mọi đối tượng nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để đạt được mục tiêu phát triển nhân lực và tính cạnh tranh quốc gia. Khi giao quyền tự chủ cho những trường đã có đủ điều kiện về năng lực, Nhà nước sẽ có nhiều điều kiện hơn để có thể kiểm soát chặt chẽ và hữu hiệu những trường chưa có đủ điều kiện để tạo ra chất lượng. Trong khi đó, những trường được tự chủ cũng sẽ có điều kiện phát huy tính sáng tạo của mình để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, và tồn tại thành công trước thách thức của sự cạnh tranh từ các trường đại học trên thế giới. Nói cách khác, nó giải quyết cả hai vấn đề chất lượng và công bằng đã nêu ở phần trên.   Góp ý cho Dự thảo Luật giáo dục đại học Việt Nam về vấn đề tự chủ  Để Luật Giáo dục đại học của Việt Nam có thể đạt được những mục tiêu như phát biểu của GS Đào Trọng Thi, chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội trong bài viết trên báo Tuổi trẻ ngày 21/4/2011, là “phải giải quyết được hai vấn đề lớn. Một là chất lượng đào tạo – vấn đề đang gây bức xúc lớn trong xã hội, hai là giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục ĐH”, rõ ràng vấn đề tự chủ đại học (ở các mức độ khác nhau cho các loại hình trường khác nhau) phải được đưa vào luật. Nhưng đưa như thế nào? Chúng tôi xin đề nghị:        Ở nhiều nước có nền giáo dục đại học phát triển cao, việc cho phép một cơ sở giáo dục được công nhận “danh xưng đại học” (tạm dịch cụm từ “university status” trong tiếng Anh) là một quy định rất chặt chẽ ở mức độ cao nhất là mức độ lập pháp, có nghĩa là được ghi rõ trong luật giáo dục. Và một khi một trường đã được hệ thống giáo dục đại học của một nước công nhận “danh xưng đại học” thì trường đó cũng đồng thời được trao cho mức độ tự chủ cao nhất trong hệ thống đó.        Trong Chương 1, “Những quy định chung”, cần có thêm phần giải thích ý nghĩa và các đặc điểm phân biệt của các “danh xưng” hiện đang được sử dụng tại Việt Nam để chỉ các loại hình trường khác nhau như “đại học” (trong các cụm từ “đại học quốc gia”, “đại học vùng”), “trường đại học”, “trường thành viên” (“học viện”, “trường cao đẳng”, “trường cao đẳng nghề”, vv. Đồng thời, cần xác định các từ tương đương của các từ này trong tiếng Anh; đây cũng sẽ là căn cứ để dịch các văn bằng, chứng chỉ của Việt Nam ra tiếng nước ngoài một cách chính xác và thống nhất. Những định nghĩa này cần giúp phân biệt rõ những đặc điểm của một cơ sở giáo dục có thể được công nhận “danh xưng đại học” (university status) với những loại hình trường khác thấp hơn về quy mô, về trình độ đào tạo, hoặc về năng lực triển khai các hoạt động đào tạo và nghiên cứu.  Trong Chương 2, “Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ sở giáo dục”, cần có thêm những điều có liên quan đến các mức độ tự chủ gắn với danh xưng của một cơ sở giáo dục. Các mức độ tự chủ này có thể liên quan đến 4 khía cạnh khác nhau là tự chủ trong hoạt động chuyên môn, tự chủ trong việc quyết định cơ cấu tổ chức và nhân sự, tự chủ trong mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức khác trong và ngoài nước, và tự chủ về tài chính mức. Đặc biệt, rất cần làm rõ mô hình “đại học quốc gia”, một loại mô hình thí điểm về tính tự chủ cao trong giáo dục đại học của Việt Nam, tồn tại gần hai thập niên nay với những thành tựu và kinh nghiệm có thể chia sẻ cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam, nhưng đến nay vẫn hoàn toàn chưa được nhắc đến trong luật giáo dục.  Trước khi kết thúc, xin trích dịch một vài phần trong các điều khoản của Luật Giáo dục đại học Ba Lan 2005, có liên quan đến hai góp ý của chúng tôi trên đây để mọi người tham khảo:  Điều 3  Danh xưng “đại học” (university) được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất là 12 chuyên ngành, trong đó có tối thiểu 2 chuyên ngành về các ngành khoa học nhân văn, khoa học xã hội hoặc thần học, toán học, vật lý, khoa học công trình và công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học kinh tế, luật học.  […]  Danh xưng “đại học kỹ thuật” (technical university) để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất 12 chuyên ngành, trong đó có ít nhất 8 chuyên ngành về khoa học công nghệ (technological sciences) và công trình (engineering).  Danh xưng “học viện”(academy)  được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất hai ngành học (disciplines).  Điều 4  Các cơ sở giáo dục đại học được quyền tự chủ trong mọi mặt hoạt động của mình, nhưng phải tuân thủ những quy định nêu trong đạo luật (act) này.   Mọi hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học được hướng dẫn bởi các nguyên tắc tôn trọng tự do trong giảng dạy, tự do trong nghiên cứu khoa học, và tự do trong sáng tạo nghệ thuật.  Các cơ quan quản lý Nhà nước cấp Trung ương và địa phương chỉ có quyền ra quyết định liên quan đến các cơ sở giáo dục đại học trong những trường hợp được các đạo luật cụ thể của Quốc hội cho phép.   […]  Điều 6  1. Các trường đại học có các quyền hạn sau:  (i) ra quyết định về các điều kiện tuyển sinh, kể cả số lượng sinh viên sẽ tuyển, trừ trường hợp tuyển sinh cho ngành Y;  (ii) lập các kế hoạch học tập và chương trình giảng dạy, theo các tiêu chuẩn được quy định tại Điều 9, đoạn 2 và 3 dưới đây;  (iii) kiểm tra kiến thức và kỹ năng của sinh viên;  (iv) cấp phát văn bằng chứng chỉ phù hợp khi sinh viên đã hoàn tất việc học ở các trình độ đào tạo chuyên nghiệp, tiến sĩ, cũng như các chứng chỉ sau đại học và các chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng khác.   […] [4]   —————-  Tài liệu tham khảo  1. Fielden, J.  (2008) Global Trends in University Governance. Education Working Paper Series, number 9. Washington, D. C.: World Bank. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của World Bank. Địa chỉ truy cập: http://siteresources.worldbank. org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664109907 9956815/Global_Trends_University_ Governance_webversion. pdf   2. Act of 27 July 2005. Law on Higher Education Law. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của Hiệp hội hiệu trưởng các trường đại học Ba Lan (KRASP). Địa chỉ truy cập: http://www.krasp.org.pl/en/documents/ documents   Các chú dẫn:  [1] Fielden 2008, trang 13  [2] Fielden 2008, trang 15  [3] Fielden 2008, trang 18  [4] Poland’s Law on Higher Education, trang 3-4  1Có thể đọc thêm trao đổi về “university status” trên trang web của trường Mercyhurst College (Mỹ), một trường đang trong quá trình chuyển đổi sang danh xưng “university” tại trang thông tin điện tử của trường. Địa chỉ truy cập: http://www.mercyhurst.edu/about/university-status-faqs/    2 Xem thêm phần giải thích về tên gọi của các cơ sở giáo dục đại học của Ba Lan ở phần cuối bài viết này.  3 Đọc thêm mẩu tin về việc các trường ở Ấn Độ nộp đơn xin công nhận “university status” đăng trên tờ Times of India vào  ngày 12/1/2011. Địa chỉ truy cập: http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-01-12/ahmedabad/28374538_1_university-status-institutions-education    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảng xếp hạng đại học Việt Nam: Chỉ là “một lát cắt”      Chỉ nên coi bảng xếp hạng như một lát cắt tham khảo, và càng có nhiều lát cắt thì cái nhìn về giáo dục đại học sẽ càng chi tiết và toàn diện hơn, Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam chia sẻ quan điểm tại buổi công bố Bảng xếp hạng đại học Việt Nam đầu tiên do nhóm tiến hành.      TS Lưu Quang Hưng, chủ biên báo cáo xếp hạng, cũng là diễn giả chính của buổi tọa đàm. Ảnh: Thu Quỳnh  Nhìn chung, cho đến nay, đại học Việt Nam chưa được xếp hạng một cách định lượng:  trong các bảng xếp hạng đại học uy tín trên thế giới như Times Higher Education (THE), World University Rankings (QS), Webometrics…, Việt Nam chưa có trường đại học nào lọt vào danh sách Top 1000; trong khi đó, bảng xếp hạng phân tầng đại học thành ba hạng theo Nghị định do Chính phủ ban hành từ năm 2015 cũng chưa thấy được công bố. Trong bối cảnh đó, Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam[1], một nhóm chuyên gia độc lập với cơ quan quản lý nhà nước, đã tiến hành đề án xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam với kỳ vọng, báo cáo xếp hạng sẽ trở thành nguồn tham khảo khả tín cho xã hội, tạo ra động lực cải cách cho các trường, đồng thời mở ra phương pháp và tiền lệ đánh giá xếp hạng đại học cho các năm tới.  Không thể rập khuôn cách làm của các bảng xếp hạng quốc tế  Tại buổi tọa đàm công bố bảng xếp hạng nói trên diễn ra chiều 6/9/2017 do Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Namphối hợp cùng Tạp chí Tia Sáng cùng tổ chức, TS Lưu Quang Hưng, chủ biên báo cáo xếp hạng, nhận định sẽ không khả thi nếu chỉ áp dụng một cách rập khuôn toàn bộ các tiêu chí của những tổ chức xếp hạng đại học danh tiếng thế giới như Times Higher Education, Quacquarelli Symond (QS), hay Đại học Giao thông Thượng Hải. Chẳng hạn, phần lớn các tiêu chí do Đại học Giao thông Thượng Hải xây dựng, như: số cựu sinh viên đạt giải Nobel hay Fields; số các nhà nghiên cứu có tỷ lệ trích dẫn cao trong 21 nhóm ngành; và chất lượng nghiên cứu dựa trên số bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như Nature hay Science … là điều rất khó tìm thấy ở Việt Nam. Do đó, việc áp dụng các tiêu chí này sẽ không có tác dụng phân hạng với các trường, chí ít là trong tương lai gần.  Vì vậy, nhóm nghiên cứu của TS Hưng đã tự xây dựng một hệ thống những tiêu chí khác, dựa trên các nguyên tắc: phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, định lượng được, khả tín, khách quan và hướng tới chuẩn mực quốc tế. Để đảm bảo yêu cầu về tính định lượng, nhóm cũng loại bỏ hơn một nửa số cơ sở giáo dục đại học (cung cấp dữ liệu không đầy đủ), chỉ chọn ra 49 trong tổng số hơn 100 trường được khảo sát, vì việc thiếu, dù chỉ một phần số liệu của các trường, cũng sẽ ảnh hưởng tới kết quả xếp hạng. Nhóm nghiên cứu cho biết họ thực hiện công việc hoàn toàn độc lập, không chịu sự ràng buộc, không nhận tài trợ, cũng như không chịu những tác động từ các đơn vị được đánh giá hay bên ngoài trong quá trình xây dựng tiêu chí.  Các tiêu chí xếp hạng, bao gồm ba thước đo: hoạt động nghiên cứu khoa học, chất lượng giáo dục và đào tạo, cơ sở vật chất và quản trị. Cụ thể, với thước đo thứ nhất, nhóm nghiên cứu đã sử dụng số liệu về các công trình nghiên cứu khoa học xuất bản trên những tạp chí quốc tế, chuyên ngành, nguồn dữ liệu duy nhất được tiếp cận là các tạp chí thuộc danh mục ISI. Với  thước đo thứ hai, nhóm chọn khảo sát dữ liệu về số lượng cán bộ giảng dạy và nghiên cứu viên có trình độ tiến sĩ, cùng với số lượng sinh viên đang theo học và chất lượng thi đầu vào của sinh viên. Trong thước đo thứ ba, diện tích giảng đường và số lượng đầu sách trong thư viện trường, bên cạnh việc đo chất lượng quản trị bằng chỉ số minh bạch thông tin là hai yếu tố được tính để xếp hạng. Như nhóm nghiên cứu thừa nhận trong báo cáo, chất lượng quản trị là một nhân tố rất quan trọng nhưng rất khó có thể lượng hóa, vì có quá nhiều cách tiếp cận đánh giá: như việc tuân theo các tiêu chuẩn ISO, ứng dụng CNTT và nền tảng trực tuyến trong quản lý, hay việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ, v.v … Tuy nhiên, để có số liệu của những yếu tố đó, đòi hỏi một khảo sát chi tiết và chuyên sâu, nằm ngoài khả năng của nhóm thực hiện trong báo cáo lần này.   Bảng xếp hạng được thực hiện cho 49 cơ sở giáo dục đại học trong cả nước, bao gồm 5 đại học cấp quốc gia và cấp vùng, 5 học viện và 39 trường đại học công lập và tư thục. Danh sách này không đưa vào cơ sở giáo dục thuộc khối an ninh, quân đội, chính trị (Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Quốc phòng, v.v..), các cơ sở giáo dục đại học mới thành lập, một số trường liên kết với nước ngoài, một số cơ sở giáo dục đại học địa phương, chủ yếu vì thiếu số liệu công khai hoặc không đáng tin cậy; ngoài ra các trường cao đẳng và tương đương cũng chưa được xếp hạng. Số liệu đầu vào được lượng hóa từ các nguồn khả tín nhất mà nhóm nghiên cứu có được. Theo TS Nguyễn Ngọc Anh, khi thu thập, ngoài việc lưu thông tin, nhóm còn lưu lại cả nguồn thông tin để đảm bảo có thể kiểm chứng trực tiếp. Nhờ đảm bảo công khai số liệu thu thập được và có so sánh, kiểm tra chéo với các trường, nhóm kỳ vọng hạn chế tối đa sai sót trong khảo sát, lấy mẫu, qua đó tránh thiên lệch, chủ quan, thiếu minh bạch cũng như việc phải đầu tư nguồn tài chính lớn. Để chuẩn hóa các tiêu chí xếp hạng, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp chuẩn hóa tham số được áp dụng bởi tổ chức QS cho bảng xếp hạng World University Rankings.   Những mảnh ghép còn thiếu    Ba đại diện của Nhóm Xếp hạng Giáo dục Việt Nam tại tọa đàm. Từ trái qua: TS Giáp Văn Dương, TS Lưu Quang Hưng, TS Nguyễn Ngọc Anh. Ảnh: Thu Quỳnh.  Nhận xét chung, các đại học quốc gia và đại học vùng có thứ hạng rất cao như Đại học Quốc gia Hà Nội (xếp hạng 1), Đại học Đà Nẵng (hạng 4), Đại học Quốc gia TPHCM (hạng 5), Đại học Huế (hạng 8) và Đại học Thái Nguyên (hạng 17). Các cơ sở giáo dục này được biết tới với quy mô đào tạo lớn, đội ngũ cán bộ có trình độ và đầu tư nhiều cho nghiên cứu khoa học. Trong top 10 cũng không thể thiếu vắng sự hiện diện của những đại học lớn như Học viện Nông nghiệp (hạng 3), Đại học Cần Thơ (hạng 6), Đại học Bách khoa Hà Nội (hạng 7) và Đại học Sư phạm Hà Nội (hạng 10). Đây cũng là những cơ sở có quy mô đào tạo lớn, đội ngũ cán bộ đông đảo và nhiều nghiên cứu khoa học có chất lượng. Điều ngạc nhiên lớn nhất là một số trường đại học trẻ, ít danh tiếng lại chiếm vị trí rất cao trong bảng xếp hạng, như Đại học Tôn Đức Thắng (hạng 2) và Đại học Duy Tân (hạng 9). Thành tích này có được là nhờ vào những nỗ lực vượt trội trong công bố quốc tế, phản ánh thành quả của chính sách khuyến khích các tác giả trong và ngoài nước tham gia hợp tác để có ấn phẩm quốc tế đứng tên trường.  Trong phần trao đổi giữa diễn giả và cử tọa, nhiều ý kiến thắc mắc xoay quanh việc các trường đại học thuộc khối kinh tế rất có danh tiếng lại chỉ được xếp hạng ở mức trung bình, mặc dù những trường này đều có điểm thi đầu vào luôn nằm trong top 10-30% của phổ điểm, sinh viên năng động, ra trường dễ kiếm được việc làm và được nhà tuyển dụng đánh giá cao. Cụ thể, Đại học Ngoại thương chỉ đứng hạng 23, cao hơn một chút so với Đại học Thương mại (hạng 29), Đại học Kinh tế Quốc dân (hạng 30), Học viện Tài chính (hạng 40), và Học viện Ngân hàng (hạng 47). Nguyên nhân chủ yếu, theo TS Nguyễn Ngọc Anh, là do sự hiện diện của những trường này trên các ấn phẩm khoa học quốc tế còn mờ nhạt, đồng thời có thể do tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trên tổng số sinh viên của những trường này chưa cao. Tuy nhiên, TS Lưu Quang Hưng cũng thừa nhận, việc xếp các đại học theo chuyên ngành hẹp (theo mô hình Liên Xô) như Ngoại thương, Kinh tế Quốc dân, Quan hệ quốc tế đều thuộc khối KHXH… với những đại học tổng hợp đa ngành (như Đại học Quốc gia) thuộc khối khoa học tự nhiên và công nghệ khiến các trường này bị thiệt thòi và bị đẩy xuống vị trí thấp hơn (do quy mô đào tạo bé hơn, lợi thế về công bố quốc tế cũng thấp hơn). Chưa kể, dữ liệu về việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ hiện diện ở rất ít trường nên nhóm chưa thể đưa tiêu chí về khả năng tìm được việc của sinh viên vào bảng xếp hạng. Đây là một tiêu chí mà nếu được đưa vào sẽ giúp những trường như Ngoại thương, Quan hệ quốc tế cải thiện đáng kể thứ hạng.  TS Giáp Văn Dương khẳng định, thứ hạng trong bảng xếp hạng trên chưa thể phản ánh 100% thực tế chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam, vì vậy không nên lấy nó làm kết quả tham chiếu duy nhất. Nói cách khác, bảng xếp hạng như một lát cắt, càng có nhiều lát cắt thì xã hội càng có cái nhìn chi tiết và toàn diện hơn về nền giáo dục đại học. Báo cáo của Nhóm là một nỗ lực nhằm thử xây dựng một bộ tiêu chí xếp hạng cho các cơ sở giáo dục đại học và đánh giá kết quả của nó từ những phản hồi xã hội. Bộ tiêu chí được lựa chọn sao cho có thể đo lường được, khả thi trong thu thập số liệu, tự kiểm chứng được một cách độc lập, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và điều quan trọng nhất là có thể thực hiện được trong điều kiện sẵn có. Nhóm nghiên cứu thừa nhận, báo cáo này còn rất nhiều hạn chế liên quan đến việc lựa chọn tiêu chí và thiếu số liệu, và họ kỳ vọng trong tương lai sẽ hoàn thiện phương pháp, cũng như có thêm nguồn lực để thu thập được nhiều số liệu hơn, nhằm đưa ra những đánh giá đầy đủ, toàn diện, chi tiết hơn về chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt là theo các chuyên ngành đào tạo.  Tham dự tọa đàm, Tiến sĩ, chuyên gia về giáo dục đại học Phạm Thị Ly chia sẻ, mặc dù bản thân là một người “chống xếp hạng đại học” vì xếp hạng nào cũng là phiến diện, chưa kể đến khả năng nhiều trường chạy theo xếp hạng mà xa rời sứ mệnh chính là đào tạo con người và làm ra tri thức mới phục vụ cộng đồng, nhưng bà cho rằng những nỗ lực vô vị lợi của nhóm nhằm cung cấp cho xã hội thông tin tham khảo về một số trường đại học là rất đáng trân trọng. Bà cũng đề xuất, nếu Nhóm còn tiếp tục tiến hành bảng xếp hạng cho những năm tới thì nên cân nhắc tiêu chí phục vụ cộng đồng của các trường.  Xem đầy đủ Báo cáo Xếp hạng đại học Việt Nam tại đây: http://www.xephangdaihoc.org/2017/        [1] Nhóm nghiên cứu xếp hạng đại học Việt Nam 2017 gồm sáu thành viên: Lưu Quang Hưng (chủ biên), Nguyễn Ngọc Anh (đồng chủ biên), Giáp Văn Dương, Ngô Đức Thế, Trần Thanh Thủy, và Nguyễn Thị Thu Hiền.           Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Báo Mỹ bình luận về giáo dục Việt Nam      Anh Đào Quốc Huy và vợ là hai trong số những người “cắm rễ” bên ngoài cổng trường Thực Nghiệm lúc 3 giờ sáng. Khi mặt trời lên, đám đông ùa vào, xô đổ cả cổng sắt, giẫm bồn hoa, chỉ để tranh suất mua hồ sơ vào học lớp một.      Trường tiểu học Thực nghiệm là một trong số những trường công hiếm hoi ở Việt Nam đi theo mô hình dạy học của Mỹ, thay vì cách dạy học thuộc lòng thường thấy. Khoảng 600 trẻ mẫu giáo trên khắp Hà Nội sẽ phải cạnh tranh nhau để giành 200 đơn xin học lớp một mùa thu này.  “Giống như chơi xổ số vậy”, anh Huy, 35 tuổi, đi nộp hồ sơ cho con gái chia sẻ. “Chúng tôi cần phải gặp may”.  Vụ chen lấn ở trường Thực nghiệm mới đây, chỉ gây ra một vài xô xát nhỏ và không ai bị bắt, nhưng lại phản ánh một vấn đề vốn là gánh nặng ở Việt Nam. Nền giáo dục nước nhà vẫn ở trong tình trạng trì trệ và lạc hậu, cản trở sự tăng trưởng của nền kinh tế. Và tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo hiện nay rơi vào tình trạng tuyệt vọng vì không thể thay đổi được tình hình.  Tại quốc gia từng theo Nho giáo đề cao giáo dục và thi cử, các trường học ở mọi cấp đều đối mặt với tình trạng gian lận, hối lộ và thiếu các nhà nghiên cứu cũng như các chương trình tiêu chuẩn thế giới. Kết quả là số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam theo học các trường tư có chương trình quốc tế và sau đó ra nước ngoài học cao đẳng, đại học, ngày càng tăng.  Dù thu nhập trung bình của người Việt Nam chỉ dừng ở mức 1.400 USD, năm ngoái vẫn có hơn 30.000 người Việt theo học ở các trường của nước ngoài. Việt Nam xếp thứ 5 về số du học sinh ở Australia và thứ 8 ở Mỹ, trên cả Mexico, Brazil và Pháp.  Số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ đã tăng gấp 7 lần kể từ con số 2.000 học sinh trong thập kỷ vừa qua. Hầu hết trong số gần 15.000 học sinh theo học ở Mỹ năm ngoái không đi theo diện học bổng của các trường danh tiếng, mà thay vào đó là ghi tên vào các trường cao đẳng cộng đồng với học phí do gia đình chi trả, theo Viện Giáo dục Quốc tế ở New York.  Không giống những trường đại học ở nước láng giềng Trung Quốc, nơi các nhà lãnh đạo đã đi vào cải cách sâu rộng từ những năm 1980, các trường đại học ở Việt Nam vẫn chưa thể bắt kịp tốc độ với một thế giới đang toàn cầu hóa không ngừng, các chuyên gia nhận xét. Thay vào đó, giáo dục ở Việt Nam vẫn duy trì một hệ thống quản lý tập trung kém hiệu quả và thiếu tư duy phê phán.  Hình mẫu giáo dục Việt Nam là “một cho tất cả” và vì thế các nhà lãnh đạo “cần hành động nhiều hơn để biến giáo dục trở thành một trong những tài sản của quốc gia”, Mai Thanh, một chuyên gia giáo dục cao cấp của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Hà Nội cho biết. “Tôi xem đó như một cơ hội bị bỏ lỡ”.  Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của Việt Nam vẫn ở mức 6%, dù là một trong những nước châu Á có tỷ lệ lạm phát cao nhất và nền kinh tế đang còng lưng gánh những công ty nhà nước trì trệ. Nhưng các nhà phân tích nhận định rằng khủng hoảng giáo dục sẽ khiến lực lượng lao động trong nước “cằn cỗi” và cản trở sự phát triển của quốc gia.  Intel, nhà sản xuất chip máy tính lớn nhất thế giới, vừa phải vật lộn để tuyển dụng được các nhân viên lành nghề cho cơ sở sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu từ trường Kennedy thuộc đại học Harvard cho biết.  Sứ quán Mỹ ở Hà Nội cho hay “cơ sở hạ tầng nguồn nhân lực” của Việt Nam không hỗ trợ cho nhu cầu giáo dục đang tăng lên của quốc gia, trong khi các nhà nghiên cứu của Harvard nói rằng việc cải cách hệ thống giáo dục của Việt Nam đã bị “đóng băng” dù cho công cuộc cải cách và tự do hóa bắt đầu vào giữa những năm 1980.  Dù Việt Nam đã đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, tương đương một phần trăm trong tổng sản phẩm quốc nội, hơn so với nhiều nước khác trong khu vực châu Á-Thái Bình dương, vấn đề cốt lõi nằm ở quản lý kém chứ không do thiếu đầu tư.  “Chính phủ nhận thức sâu sắc rằng đang có sự bất mãn đối với thực trạng giáo dục hiện nay, trong những người kể cả người có điều kiện kinh tế và chính trị cao hơn lẫn những người bình dân đại chúng”, Ben Wilkinson, đồng tác giả một báo cáo quan trọng năm 2008 và là phó giám đốc Chương trình Việt Nam của trường Kennedy ở TP. HCM, nói. Ông thêm rằng vẫn còn quá sớm để nói về những hệ lụy của trào lưu học sinh Việt Nam đi du học nước ngoài đối với tương lai của đất nước.  Một vấn đề khác là thực trạng các bậc phụ huynh hối lộ cho giáo viên để con em được điểm cao và khiến bằng cấp trở nên tầm thường. Trong một báo cáo năm 2010, Tổ chức Minh bạch Quốc tế có trụ sở tại Berlin đã kết luận rằng giáo dục là ngành tham nhũng thứ hai, sau ngành hành pháp, ở Việt Nam.  Truyền thông quốc gia thường xuyên đưa tin về những vụ bê bối liên quan đến giáo dục, trong đó vụ việc gây xôn xao gần đây nhất là việc giám thị ở một trường THPT dân lập tại tỉnh Bắc Giang ném đáp án cho các thí sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp cấp ba. Sau khi bị một thí sinh quay lại hành động gian lận này bằng camera, 6 giáo viên và cán bộ đã bị cách chức.  Đầu tháng này, Quốc hội Việt Nam đã thông qua một điều luật cho phép các trường đại học tự quản nhiều hơn, nhưng các nhà cải cách giáo dục thì vẫn tỏ ra hoài nghi.  “Nhiều trường đại học chỉ quan tâm đến chuyện làm sao để tuyển dụng được nhiều sinh viên nhất”, đại biểu quốc hội Mỹ Hương cho biết. “Rồi các cử nhân sẽ đi về đâu? Liệu họ có thể tìm được công ăn việc làm không?”.  Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam vẫn đang loay hoay nghĩ xem làm thế nào để giúp con em họ học tập tốt trong một hệ thống trường lớp lạc hậu như thế. Một trong những giải pháp phổ biến là đăng ký vào các lớp học thêm ban đêm do các giáo viên trường công, những người có mức lương khoảng 5 triệu đồng/tháng (250 USD), giảng dạy. Không giống các quan chức cấp cao, hầu hết các gia đình ở Việt Nam không đủ tiền cho con em theo học ở các trường tư và đi du học.  Tuy nhiên, vợ chồng anh Đào Quốc Huy, những người đã đợi cả đêm cùng nhiều bậc cha mẹ khác bên ngoài cổng trường Thực nghiệm, vẫn còn may mắn hơn nhiều phụ huynh. Cô con gái 6 tuổi của anh mới đây đã đỗ vào một trường khác với học phí 870.000 đồng/tháng (40 USD), rẻ hơn 10 lần so với một số trường tư thục.  “Mọi người đều muốn cải cách giáo dục nhưng chẳng thể làm gì cả”, anh nói.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ người tiêu dùng trong giáo dục đại học xuyên biên giới: Quyền được cung cấp thông tin      Qu&#225; tr&#236;nh to&#224;n cầu h&#243;a gi&#225;o dục đại học trong v&#224;i thập ni&#234;n vừa qua đ&#227; th&#250;c đẩy sự ra đời của c&#225;c dịch vụ gi&#225;o dục c&#243; yếu tố quốc tế dưới nhiều h&#236;nh thức đa dạng. B&#234;n cạnh việc cung cấp th&#234;m cơ hội học tập cho người học, sự tồn tại của c&#225;c dịch vụ n&#243;i tr&#234;n &#8211; được biết đến tr&#234;n thế giới với t&#234;n gọi chung l&#224; gi&#225;o dục đại học xuy&#234;n bi&#234;n giới (GDĐHXBG) &#8211; đang đ&#242;i hỏi c&#225;c quốc gia điều chỉnh hoặc thiết lập một h&#224;nh lang ph&#225;p l&#253; ph&#249; hợp để tạo điều kiện cho c&#225;c hoạt động GDĐHXBG, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người học trong c&#225;c loại h&#236;nh gi&#225;o dục mới mẻ n&#224;y.     Đối với Việt Nam, vấn đề này đang cần được sự quan tâm của các nhà chính sách hơn bao giờ hết. Việt Nam là một trong số không nhiều các quốc gia có quan điểm chủ động, tích cực trong việc thực hiện GATS. Mức độ cam kết mở cửa đối với dịch vụ giáo dục đại học của Việt Nam là khá sâu và rộng so với nhiều nước trên thế giới. Cần nhắc lại rằng từ ngày 1/1/2009, Việt Nam đã hoàn toàn mở cửa cho các cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn nước ngoài hoạt động trong nước, và hiện đang có khá nhiều đề án thành lập trường đại học quốc tế đang trong giai đoạn chờ phê duyệt của Chính phủ.      OECD và các nguyên tắc cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng  Trước tình hình này, việc xem xét lại các khuyến nghị mà OECD đã công bố trong tài liệu Các nguyên tắc cung cấp GDĐHXBG có chất lượng (Guidelines for Quality Provision in Cross-Border Higher Education)  là điều cần thiết. Tài liệu này được công bố cách đây 4 năm vào năm 2005 sau một thời gian dài thảo luận rộng rãi với sự tham gia của 90 quốc gia cùng đại diện các tổ chức phi chính phủ và liên chính phủ như UNESCO và World Bank. Mục đích biên soạn tài liệu cũng không ngoài việc “bảo vệ người học và các bên có liên quan khác khỏi các nhà cung cấp dịch vụ chất lượng thấp và thiếu uy tín[1]”mà người tiêu dùng của cả các nước phát triển cũng có thể là nạn nhân.   Các khuyến nghị của OECD dành cho 6 đối tượng có liên quan khác nhau: (1) chính phủ, (2) cơ sở GDĐHXBG, (3) tổ chức đại diện người học, (4) cơ quan kiểm định, (5) cơ quan công nhận văn bằng chứng chỉ, và (6) hội nghề nghiệp. Trong bối cảnh của Việt Nam, do vai trò của các hội nghề nghiệp trong giáo dục vẫn còn mờ nhạt, và chưa tồn tại các cơ quan kiểm định và công nhận văn bằng chứng chỉ độc lập, trước mắt cần quan tâm đến hai đối tượng có liên quan trực tiếp nhất là chính phủ và người học, trong đó Chính phủ là người có trách nhiệm cao nhất.     Các khuyến nghị của OECD dành cho chính phủ   Đối với Chính phủ các nước, OECD đã đưa ra 7 khuyến nghị sau để quản lý hoạt động GDĐHXBG:     a. Thiết lập hệ thống quy định công bằng, minh bạch và đầy đủ về đăng ký và cấp phép cho các cơ sở GDĐHXBG muốn hoạt động trên lãnh thổ quốc gia  b. Thiết lập và tăng cường độ bao quát và đáng tin cậy của hệ thống đảm bảo chất lượng  và kiểm định đối với GDĐHXBG, chú trọng cả hai phía cung cấp và tiếp nhận dịch vụ  c. Tham vấn và hợp tác với các bộ phận  đảm bảo chất lượng và  kiểm định có uy tín  trong và ngoài nước  d. Cung cấp thông tin chính xác, đáng tin cậy và dễ tiếp cận liên quan đến các tiêu chí., tiêu chuẩn đăng ký, cấp phép, đảm bảo chất lượng và kiểm định GDĐHXBG, nêu rõ  hậu quả liên quan đến việc tài trợ của chính phủ đối với người học, chương trình giảng dạy hoặc cơ sở đào tạo (nếu có), và tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện của các quy định này   e. Xem xét khả năng tham gia và đóng góp vào việc phát triển và/ hoặc cập nhật các công ước trong khu vực về công nhận trường đại học và văn bằng chứng chỉ, và thiết lập các trung tâm thông tin quốc gia theo quy định của các công ước này  f. Trong điều kiện phù hợp, phát triển hoặc khuyến khích các hiệp ước công nhận song phương hoặc đa phương, thúc đẩy việc công nhận hoặc quy đổi tương đương các văn bằng chứng chỉ của mỗi quốc gia dựa trên các quy trình và tiêu chí đã nêu rõ trong các hiệp ước giữa các bên  g. Đóng góp vào nỗ lực cải thiện tính dễ tiếp cận ở tầm quốc tế các thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật về các cơ sở giáo dục được công nhận.     Thực tại và nhu cầu của Việt Nam  Xét theo 7 khuyến nghị trên, có thể thấy Chính phủ Việt Nam đang cần rất nhiều nỗ lực để thiết lập một hành lang pháp lý đầy đủ và có hiệu quả nhằm quản lý GDĐHXBG, trong đó ba điểm đáng lưu ý nhiều nhất là năng lực của hệ thống BĐCL và kiểm định trong GDĐHXBG, tính minh bạch và dễ tiếp cận của thông tin, và nhu cầu hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ lợi ích các bên có liên quan.   Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, khi việc quản lý các hoạt động GDĐHXBG vẫn chưa thực sự hiệu quả nếu không muốn nói là gần như hoàn toàn bỏ ngỏ, có thể nói người tiêu dùng Việt Nam vẫn luôn bị đe dọa bởi các rủi ro tiềm ẩn như sự biến mất của SITC trước đây, hoặc việc tồn tại các văn bằng, chứng chỉ được in ra từ các lò sản xuất văn bằng chứng chỉ “dỏm” (diploma mills), các chương trình hoặc cơ sở giáo dục được kiểm định bởi lò cấp giấy chứng nhận kiểm định “ma” (accreditation mills), như đã từng xảy ra và tạo ra dư luận râm ran trong các trường đại học và các cơ quan nhà nước trong thời gian qua, mặc dù hiện nay vẫn chưa có được các thống kê chính thức.   Bên cạnh việc ngăn ngừa, cũng cần nhanh chóng xây dựng các biện pháp xử lý phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và thông lệ quốc tế khi xảy ra các tranh cãi, kiện tụng và yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến GDĐHXBG. Khi tất cả những yêu cầu này vẫn chưa tồn tại một cách có hệ thống thì người chịu thiệt thòi nhiều nhất và trực tiếp nhất bao giờ cũng vẫn là người tiêu dùng, trong trường hợp này là các trường đại học Việt Nam có các chương trình liên kết với nước ngoài, và sau hết là từng cá nhân người học.     Vai trò của các tổ chức đại diện người học   Trong điều kiện như vậy, tự bảo vệ chính mình hầu như lựa chọn duy nhất của người học. Tài liệu năm 2005 của OECD nhấn mạnh vai trò quan trọng của các tổ chức đại diện người học trong việc cung cấp các thông tin và những hướng dẫn cho người học để giúp họ lựa chọn đúng. Các tổ chức đại diện người học nếu đủ mạnh về nhân lực, đủ dồi dào về kinh phí  hoạt động, và có hiết sâu sắc về GDĐHXBG chắc chắn sẽ hỗ trợ đươc rất nhiều cho chính phủ trong việc bảo vệ quyền lợi của người học. Dưới đây là 3 khuyến nghị của OECD dành cho các tổ chức đại diện người học.  a)  Tham gia tích cực ở cả 3 cấp độ nhà trường, quốc gia, và quốc tế để phát triển, giám sát và duy trì việc cung cấp dịch vụ GDĐHXBG có chất lượng, và thực hiện các bước cần thiết để đạt được mục tiêu này.  b)  Tích cực đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ có chất lượng bằng cách tăng cường ý thức của người học về các rủi ro tiềm ẩn như các thông tin và hướng dẫn sai lệch, các chương trình giáo dục có chất lượng thấp dẫn đến các văn bằng chứng chỉ có giá trị hạn chế, và các cơ sở giáo dục thiếu uy tín. Tổ chức đại diện người học cũng cần hướng dẫn cho người học về các nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy liên quan đến GDĐHXBG. Có thể thực hiện điều này bằng cách làm cho người học biết đến sự tồn tại của các nguyên tắc mà OECD đã đề ra,[2] và tích cực tham gia vào việc triển khai các nguyên tắc này.   c) Khuyến khích người học và người học tiềm năng đặt những câu hỏi phù hợp khi đăng ký các chương trình GDĐHXBG. Có thể chuẩn bị sẵn danh mục các câu hỏi có liên quan, được thực hiện bởi các tổ chức đại diện người học, kể cả người học nước ngoài, và kêu gọi sự tham gia của các trường đại học, cơ quan đảm bảo chất lượng và kiểm định, và cơ quan công nhận văn bằng chứng chỉ. Danh mục này có thể gồm những câu hỏi như cơ sở GDĐHXBG có được công nhận hoặc kiểm định bởi một cơ quan có uy tín hay không; văn bằng, chứng chỉ do cơ sở GDĐHXBG cấp có được công nhận tại quốc gia sở tại cho các mục đích học thuật hoặc nghề nghiệp hay không.  Cả ba khuyến nghị dành cho các tổ chức đại diện người học đều liên quan đến quyền được thông tin. Biện pháp quan trọng và hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giáo dục là có được các thông tin đầy đủ, minh bạch và chính xác  Trong khuyến nghị của OECD, tất cả các bên có liên quan đều phải có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác đến người học. Vai trò của từng cá nhân người học là xử lý các thông tin đã được cung cấp để đưa ra những quyết định đúng đắn cho việc học của mình.  Ở đây, một lần nữa lại có thể thấy rằng hai tổ chức đại diện chính thức cho người học tại Việt Nam hiện nay là Đoàn thanh niên và Hội sinh viên vẫn chưa làm tốt chức năng thông tin của mình. Về phương diện này, các “tổ chức” không chính thức đang tồn tại khá nhiều tại Việt Nam, tức các nhóm bạn cùng quan tâm đến việc học tập ở một quốc gia nào đó, lại đang làm tốt hơn rất nhiều với các trang web thông tin của mình. Có thể nói, nếu không kể các thông tin phi lợi nhuận do các tổ chức đại diện cho giáo dục của các quốc gia cung cấp, hiện nay phần lớn nguồn thông tin về giáo dục xuyên biên giới là do các nhóm không chính thức này cung cấp, tất nhiên với tất cả những nhược điểm đương nhiên của nó.     Vai trò của các cơ quan  truyền thông tại Việt Nam?  Trong một xã hội như Việt Nam hiện nay, khi các tổ chức dân sự vẫn chưa đủ mạnh để thực hiện được vai trò thông tin và giám sát cần thiết, thì vai trò thông tin quan trọng nhất vẫn chủ yếu là do Chính phủ và sau đó là giới truyền thông. Với chức năng và nguồn lực sẵn có của các cơ quan truyền thông do nhà nước quản lý hiện nay, nên chăng cần xem các cơ quan này như những tổ chức đại diện cho người học về mặt thông tin để thực hiện các khuyến nghị mang tính ngăn ngừa của OECD nhằm bảo vệ quyền lợi người học một cách hữu hiệu hơn tại Việt Nam? Vì mặc dù những thông tin mang tính khuyến nghị và ngăn ngừa có thể không hấp dẫn độc giả như các scandal tương tự như vụ SITC trước đây, nhưng chắc chắn tác dụng của chúng trong việc bảo vệ người học sẽ cao hơn rất nhiều (mặc dù cũng sẽ âm thầm hơn). Một khi các rủi ro trong GDĐHXBG với những hậu quả tai hại của nó đã xảy ra thì đối với các nạn nhân các tin tức ấy có được thông báo rộng rãi cũng chẳng để làm gì. Bởi lúc ấy, mọi việc đều đã là quá muộn!     Tài liệu tham khảo  1.  OECD (2003) Enhancing Consumeer Protection in Cross-Border Higher Education Activities (Bảo vệ người tiêu dùng trong các hoạt động GDĐHXBG).   2. OECD (2005) Guidelines for Quality Provision in Cross-Border Higher Education (Các nguyên tắc cung cấp GD ĐHXBG có chất lượng).    3. UNESCO (2006) UNESCO-APQN Toolkit: Regulating the Quality of Cross-Border Education (Bộ công cụ của UNESCO-APQN: quy định các hoạt động giáo dục xuyên biên giới)              [1] Nguyên văn tiếng Anh: “The Guidelines for Quality Provision in Cross-border Higher Education provide an international framework to protect students and other stakeholders from low-quality provision and disreputable providers” (trích lời nói đầu của Tài liệu).      [2] Tức các nguyên tắc trong tài liệu đã nêu của OECD năm 2005.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắt đầu từ việc cải cách tư duy và tầm nhìn lãnh đạo      Tôi viết những dòng này sau khi đã dự Hội thảo “Khởi nghiệp – kiến quốc, công thức thành công từ các cường quốc và bài học cho Việt Nam” tại Dinh Thống Nhất ngày 23/11/2013. Các học giả, chuyên gia, nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng với rất đông thanh niên tề tựu để thảo luận về hiện tình đất nước cũng như để nghe những bài học thành công từ các quốc gia phát triển gần gũi xung quanh chúng ta như Dubai, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Israel…      Những câu hỏi về hiện tình đất nước  Trong rất nhiều những phát biểu, tôi và có lẽ rất nhiều người khác ấn tượng nhất, nhớ nhất là những câu hỏi đại ý: Một Dubai chỉ hơn 2 triệu dân, sống trên một sa mạc, vậy mà có thể phát triển thần kỳ trong vòng 20 năm, còn Việt Nam thì sao ? Hay từ một làng chài nghèo của Malaysia, Singapore đã vươn lên đứng trong tốp hàng đầu thế giới, trong khi Việt Nam có “rừng vàng biển bạc”, có một vị trí thuận lợi, có một lực lượng lao động đông, trẻ lại không thể ? Điều gì khiến Hàn Quốc từ một đống đổ nát do nội chiến trong thập niên 1950, đã trở thành một trong mười cường quốc trên thế giới hiện nay, trong khi Việt Nam vẫn nghèo khổ mặc dầu chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm ?   Những câu hỏi đặt ra không thể không suy nghĩ. Tại sao? Yếu tố nào đã cản trở chúng ta? Kinh nghiệm rút ra từ bài học của các nước xung quanh đều cho thấy, những yếu tố đóng vai trò quyết định nhất, đó là tầm nhìn, là quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo, là giáo dục.  Cũng trong hội thảo này, trong lời đề dẫn của mình, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói đại thể: Việt Nam đang trong một giai đoạn quan trọng buộc phải lựa chọn. Trước mặt chúng ta có hai con đường: một là chúng ta phải bứt phá để đi lên; hai là chúng ta dẫm chân tại chỗ, cũng đồng nghĩa với chấp nhận sự tụt hậu. Các vấn đề lớn của xã hội đang bộc lộ qua những câu chuyện hằng ngày mà bất kỳ ai lưu tâm cũng có thể thấy rõ sự đi xuống của xã hội. Các thống kê so sánh của các tổ chức trong thời gian gần đây đã phản ánh vị trí thua kém của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như Ngân hàng thế giới trong “Đánh giá giáo dục và nguồn nhân lực của các quốc giá châu Á 2000 – 2012” đã xếp Việt Nam thuộc tốp cuối bảng, chỉ trên Lào, Campuchia và Miến Điện.  Vấn đề cốt lõi của giáo dục   Không có quốc gia nào phát triển mà không có nền giáo dục phát triển, bởi lẽ giáo dục là nơi tạo ra nguồn nhân lực mà nhân lực là yếu tố quyết định sự thành bại của một xã hội. Nhìn vào hiện tại, vào thực trạng của nền giáo dục hiện nay, tôi thấy bi quan cho tương lai. Giáo dục của chúng ta thay vì là nơi phát triển, dưỡng dục vun trồng tâm hồn, trí tuệ của con trẻ, lại đang tước bỏ nơi những khả năng, những tính cách có riêng ở từng cá thể để rồi cho ra lò những sản phẩm đồng loạt tương tự nhau. Nhà trường phổ thông tựa như một dây chuyền sản xuất, nơi đó người thầy chỉ đóng vai trò của một người “thợ dạy”, chỉ biết tìm cách nhồi nhét vào đầu trẻ những kiến thức đã được thiết kế sẵn theo ý của một số người. Hành động này cũng như việc bắt tất cả trẻ em trong cả nước ăn cùng một thứ thức ăn, cùng một thực đơn theo gu của một nhóm người bất chấp sự khác biệt nơi từng đứa trẻ, mặc kệ sự riêng biệt trong văn hoá ẩm thực vùng miền.          Đơn giản là, khi đã tự đặt mình vào một cái khung, con người sẽ mất tự  do, tư duy con người sẽ bị giới hạn vì chẳng còn thấy rõ những con đường  khác, những tư tưởng khác để có thể so sánh đối chiếu, để kích thích  não bộ suy nghĩ, sáng tạo tìm tòi những điều mới.        Một dân tộc sẽ không thể phát triển được nếu cố tình đào tạo ra các công dân tương tự nhau về cách tư duy và hành động, hướng tất cả người trẻ vào một cái khung duy nhất, vào một chủ nghĩa có sẵn. Đơn giản là, khi đã tự đặt mình vào một cái khung, con người sẽ mất tự do, tư duy con người sẽ bị giới hạn vì chẳng còn thấy rõ những con đường khác, những tư tưởng khác để có thể so sánh đối chiếu, để kích thích não bộ suy nghĩ, sáng tạo tìm tòi những điều mới. Tại các nước có nền giáo dục phát triển nhất, người ta không sử dụng một triết thuyết duy nhất nào để bắt tất cả người học phải bám theo, nhưng trên hết, họ tìm cách phát triển tư duy độc lập, khả năng và thói quen phản biện nơi học sinh để các em có thể dùng lý trí của riêng mình soi rọi vào các vấn đề của bản thân và cộng đồng, đủ năng lực để giải quyết chúng, cũng như có năng lực để cùng với những người khác kiến tạo ra những cái mới cho xã hội.  Những vấn đề của giáo dục mà báo chí nêu hằng ngày chẳng qua là biểu hiện của “lỗi hệ thống”. Bao nhiêu năm qua, chúng ta đã loay hoay, cam chịu làm nô lệ cho chính cái lỗi hệ thống đó, mà không đủ dũng cảm vượt thoát ra để đưa dân tộc đi lên.   Ba mươi năm trước, Đài Loan cũng y hệt như chúng ta hôm nay trong từng chi tiết từ quan niệm tư tưởng của các nhà lãnh đạo, cách thức tổ chức giảng dạy, cách thức biên soạn nội dung chương trình giảng dạy, cách thức tổ chức các hội đoàn trong trường học, cách thức kiểm soát sinh viên và giáo sư. Ngày nay Đài Loan phát triển, đặc biệt có một nền giáo dục đại học hùng mạnh trong khu vực. Đây không phải là một món quà từ trên trời rớt xuống, mà là kết quả của cả một quá trình phấn đấu cho sự tiến bộ, nhất là nhờ vào sự sáng suốt, biết vì dân vì nước của vị tổng thống Tưởng Kinh Quốc (Trần Văn Đoàn, Kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học Đài Loan, Toạ đàm tại IRED ngày 15/11/2013).  Giải pháp căn cơ  Trong tình trạng cấp bách hiện nay, thiết nghĩ, các nhà lãnh đạo hãy dũng cảm thay đổi một cách “căn bản và toàn diện” về tư duy của mình trước khi tiến hành “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”. Nếu không, dự án đổi mới giáo dục sắp tới theo tôi lại sẽ là một loạt thay đổi chóng mặt mà cuối cùng vẫn là bế tắc như bao nhiêu năm qua mà thôi.  Chúng ta phải làm như các nước tiến bộ là hãy áp dụng nguyên tắc “thế tục” (laicité) trong hệ thống giáo dục công để đảm bảo rằng các công dân tương lai không phụ thuộc vào bất kỳ một cái khung duy nhất nào. Các em sẽ theo khuynh hướng nào, lựa chọn cái khung nào, hay tự tạo ra một đường đi mới đó là quyền của người trẻ sau khi đã trưởng thành.        Nhà trường phải đề cao giáo dục đạo đức, đó là giáo dục tinh thần dấn  thân và trách nhiệm đối với cộng đồng, đó là thái độ tôn trọng sự khác  biệt và những ứng xử phù hợp để có thể sống trong một xã hội với bản  chất là “chínn người mười ý”.        Nhiệm vụ của nhà trường là dưỡng dục vun trồng các mầm non của đất nước lớn lên một cách toàn diện theo cách riêng của từng con trẻ như nhà nông chăm chút cho các mầm non tự lớn lên, chứ không nên là một dây chuyền sản xuất hàng loạt như cách chế tạo robot. Nhiệm vụ của trường học là làm cho các em có đầy đủ khả năng minh định về bản thân, về thời cuộc để thực hiện những lựa chọn, hay trang bị cho học sinh khả năng để có thể tự các em thiết kế, phát triển cuộc đời của chính các em và qua đó góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.   Nhà trường phải đề cao giáo dục đạo đức, đó là giáo dục tinh thần dấn thân và trách nhiệm đối với cộng đồng, thái độ tôn trọng sự khác biệt và những ứng xử phù hợp để có thể sống trong một xã hội với bản chất là “chín người mười ý”. Xã hội nào cũng có những giá trị tiêu chuẩn, nó đóng vai trò như chất xi măng gắn kết các thành phần xã hội lại với nhau, tạo thành những quan điểm chung, những ký ức chung, những chuẩn mực và rộng hơn là nền văn hoá chung. Giáo dục có trách nhiệm bảo tồn và chuyển tải những giá trị tiêu chuẩn tốt đẹp được lựa chọn từ thế hệ trước tới thế hệ sau. Các giá trị tiêu chuẩn được lọc chọn phải là dung hoà và kế thừa các giá trị tiêu chuẩn chung của nhân loại, của thế giới tiến bộ, nó phải đặt con người làm trung tâm, các quyền con người phải được tôn trọng.    Giáo dục cũng phải xem trọng và dựa trên tinh thần khoa học, kỹ thuật, lề lối kỹ trị, tính chặt chẽ trong cách tư duy, cách tổ chức và làm việc.   Chỉ khi thực hiện tốt những điều  này mới mong đào tạo được những nhà khoa học, những nhân cách lớn nhằm đưa đất nước đi lên cũng như để góp phần mình vào xây dựng thế giới này. Chỉ như vậy mới mong phát triển tối đa trí tuệ tiềm ẩn của hàng chục tiệu công dân tương lai, tạo thành nguyên khí quốc gia thúc đẩy sự phát triển.   Tóm lại, theo tôi, muốn đưa đất nước vượt thoát khỏi tình trạng hiện nay, thực hiện thành công lộ trình cải cách trong giáo dục, việc đầu tiên nên làm là các nhà lãnh đạo cao nhất phải thay đổi lề lối tư duy, thay đổi tầm nhìn nhằm có một viễn kiến chính xác, không tách biệt với đường đi chung của nhân loại. Từ đó mới đưa ra những mục tiêu giáo dục quốc gia và các địa phương, thiết kế lại nội dung chương trình và cách thức tổ chức giảng dạy thi cử trong nhà trường.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảy nguyên tắc dạy tốt ở bậc đại học      N&#226;ng cao chất lượng giảng dạy lu&#244;n l&#224; một trong những mối quan t&#226;m h&#224;ng đầu của gi&#225;o dục đại học Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đ&#226;y. “Đổi mới phương ph&#225;p dạy học, kiểm tra đ&#225;nh gi&#225; kết quả học tập, kiểm định v&#224; đ&#225;nh gi&#225; c&#225;c cơ sở gi&#225;o dục” l&#224; một trong số 11 giải ph&#225;p&nbsp; n&#226;ng cao chất lượng gi&#225;o dục trong Dự thảo Chiến lược gi&#225;o dục 2009-2020 của Bộ GD&amp;ĐT. Tuy nhi&#234;n, l&#226;u nay hệ thống c&#225;c trường đại học Việt Nam vẫn chưa c&#243; một &#8220;chuẩn&#8221; chung như thế n&#224;o l&#224; dạy tốt để định hướng hoạt động giảng dạy. B&#224;i viết n&#224;y giới thiệu &#8220;Bảy nguy&#234;n tắc dạy tốt ở bậc đại học&#8221; đ&#227; được phổ biến rộng r&#227;i ở c&#225;c trường đại học Hoa Kỳ nhằm l&#224;m tư liệu tham khảo đối với c&#225;c trường đại học ở Việt Nam. Mỗi nguy&#234;n tắc được tr&#236;nh b&#224;y gồm hai phần: phần đầu được dịch từ nguy&#234;n bản, phần sau được tổng hợp từ kinh nghiệm triển khai của c&#225;c trường đại học Hoa Kỳ.    Xuất xứ“Bảy nguyên tắc dạy tốt ở bậc đại học” (Seven Principles for Good Practice in Undergraduate Education) được xây dựng bởi Arthur W. Chickering (George Mason University) và Zelda F. Gamson (University of Massachusetts at Boston) và được phổ biến lần đầu bởi Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ (AAHE) vào năm 1987. Sau đó, Quỹ Johnson đã cho in khoảng 200.000 tài liệu này để phân phát đến các trường đại học ở Hoa Kỳ, Canada và Anh. Trong những năm gần đây, nhiều trường đại học và tổ chức nghiên cứu giáo dục tiếp tục bổ sung những kinh nghiệm triển khai đối với bảy nguyên tắc này nhằm làm cho chúng cụ thể và phù hợp hơn nữa với các điều kiện và hình thức giáo dục hiện nay, ví dụ như hướng dẫn của University of Tennessee at Chattanooga, minh họa của University of Texas at El Paso, tổng hợp của TLT Group. Sở dĩ bảy nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi ở các trường đại học Hoa Kỳ là do chúng đã được đúc kết từ rất nhiều nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng người học và ngành học khác nhau. Đối tượng chính của bảy nguyên tắc này là giảng viên (GV) của các trường đại học, tuy nhiên sinh viên (SV) cần biết để điều chỉnh định hướng học tập của mình, và cán bộ quản lý nhà trường cũng cần biết để hoạch định và hỗ trợ công tác đào tạo tốt hơn.  Nội dung Nguyên tắc 1: Tăng cường sự tiếp xúc giữa GV và SV  Sự tiếp xúc giữa thầy và trò trong và ngoài lớp học là yếu tố quan trọng nhất giúp khuyến khích sinh viên học tập. GV cần quan tâm giúp SV vượt qua những lúc khó khăn, thử thách để theo đuổi việc học. Việc tiếp xúc với GV giúp cho SV gắn bó với học tập và định hướng tương lai tốt hơn.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                      ấn định thời gian tiếp xúc SV tại nơi làm việc  –                      tổ chức gặp gỡ SV ngoài giờ lên lớp hoặc tham dự các hoạt động của SV  –                      cố gắng nhớ tên càng nhiều SV càng tốt  –                      giúp SV giải quyết các thắc mắc nằm trong lẫn ngoài chương trình dạy  –                      tư vấn cho SV về chương trình học và nghề nghiệp, quan tâm giúp đỡ những SV cá biệt  –                      khuyến khích SV trình bày quan điểm riêng và tham gia vào các buổi thảo luận  –                      trao đổi riêng lẽ với SV để tìm hiểu mục tiêu học tập của họ và chia sẻ kinh nghiệm bản thân  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                      khuyến khích SV trao đổi qua hệ thống thư điện tử  –                      định kỳ tổ chức thảo luận trực tuyến cùng SV  –                      tổ chức các nhóm làm việc theo địa phương  –                      đến thăm các điểm làm việc nhóm khi có điều kiện  –                      mời đồng nghiệp cùng tham gia hướng dẫn môn học  Nguyên tắc 2: Khuyến khích các hoạt động hợp tác giữa SV  Chất lượng học tập trong môi trường làm việc nhóm phát triển tốt hơn so với làm việc cá nhân. Cũng giống như trong làm việc, học tập tốt cần đến sự hợp tác và trao đổi chứ không phải ganh đua và biệt lập. Làm việc nhóm giúp phát triển tính tích cực học tập, chia sẻ và trao đổi ý kiến giúp phát triển trí tuệ và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của mỗi cá nhân.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                     khuyến khích mọi SV cùng tham gia trao đổi tại lớp  –                     tổ chức các nhóm học tập và giao đề tài để SV làm việc nhóm  –                     tổ chức và khuyến khích SV tự giúp đỡ nhau trong học tập  –                     tính đến yếu tố chất lượng hoạt động nhóm khi đánh giá mỗi SV  –                     khuyến khích SV tham gia các hoạt động tập thể trong trường  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                     xây dựng đề tài để SV làm việc nhóm  –                     tổ chức các địa điểm trao đổi giữa SV trong cùng địa phương  –                     tổ chức trao đổi giữa SV trong các nhóm qua thư điện tử hoặc điện thoại  –                     lập diễn đàn trên mạng để chia sẻ thông tin giữa các SV  –                     định kỳ tổ chức thảo luận trực tuyến  Nguyên tắc 3: Khuyến khích các phương pháp học tập tích cực  SV không học được gì nhiều nếu chỉ đến lớp để nghe giảng, ghi nhớ các dạng bài tập để làm các bài kiểm tra. SV cần được trao đổi về những điều được học, viết về chúng, liên hệ chúng với những điều đã biết và áp dụng chúng vào cuộc sống hằng ngày. SV cần được sở hữu thật sự những điều họ được dạy.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                      giúp SV liên hệ những điều được học với thực tế  –                      cung cấp những tình huống thực để SV phân tích  –                      khuyến khích SV đưa ra các đề xuất và hoạt động mới đối với môn học  –                      xây dựng các bài tập giải quyết vấn đề dựa trên nhóm SV và tổ chức cho SV báo cáo trước lớp  –                      khuyến khích SV tranh luận với GV, với những SV khác, và có ý kiến về những nội dung trong tài liệu môn học với thái độ đúng mực  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                     đa dạng hóa tài liệu học tập môn học để SV có thể có nhiều lựa chọn  –                     xây dựng diễn đàn trên mạng để trao đổi với SV và giữa các SV với nhau  –                     tổ chức chia sẻ, giới thiệu các kết quả làm việc tốt của SV trên mạng  –                     tổ chức các nhóm làm việc qua thư điện tử, điện thoại, hội thảo trực tuyến  Nguyên tắc 4: Cung cấp thông tin phản hồi kịp thời  Sự học đòi hỏi phải biết những gì mình biết lẫn những gì mình chưa biết. SV cần được cung cấp thông tin phản hồi về năng lực của họ trong các khóa học. Khi bắt đầu vào trường, SV cần được đánh giá năng lực đầu vào. Tại lớp học, SV cần được thường xuyên thể hiện năng lực đồng thời nhận được nhiều ý kiến góp ý để không ngừng tiến bộ. Trong suốt thời gian ở trường, cũng như trước lúc ra trường, SV cần có nhiều cơ hội để thể hiện mình, để biết những gì mình còn phải học, và biết cách tự đánh giá năng lực bản thân.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                     cho nhận xét vào bài làm của SV, góp ý cách khắc phục lỗi  –                     thảo luận về kết quả làm bài của SV trước lớp hoặc với từng SV  –                     sử dụng nhiều phương thức đánh giá khác nhau  –                     sử dụng các phần mềm đánh giá có cung cấp thông tin phản hồi  –                     tổ chức các buổi giải đáp thắc mắc đối với môn học  –                     chấm và trả lại bài kiểm tra kịp thời cho SV  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                      thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho SV qua thư điện tử  –                      sử dụng các phần mềm đánh giá có cung cấp thông tin phản hồi  –                      thực hiện các bài kiểm tra trước và sau khi kết thúc môn học để giúp SV nhận thấy sự tiến bộ  –                      tổ chức các buổi giải đáp thắc mắc trực tuyến đối với môn học  –                      cung cấp lời giải cho các bài kiểm tra sau khi chấm  Nguyên tắc 5: Xem trọng yếu tố thời gian  Học tập yêu cầu thời gian và sự nỗ lực. Không có thời gian thì sự học không thể diễn ra. Sử dụng thời gian một cách hiệu quả là rất quan trọng đối với SV lẫn GV, vì vậy SV cần được hướng dẫn cách sử dụng thời gian tốt nhất cho việc học. Nhà trường cần định ra thời gian hợp lý dành cho SV, GV và cán bộ quản lý để mọi người đều có thể làm việc hiệu quả.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                      hướng dẫn SV cách sử dụng thời gian hợp lý  –                      dành thời gian hợp lý để SV hoàn thành các bài kiểm tra  –                      trao đổi với SV về những mất mát nếu họ không tham gia lớp học  –                      tổ chức gặp gỡ những SV không thường xuyên đến lớp để tìm hiểu nguyên nhân  –                      tránh để mất nhiều thời gian do sử dụng các công nghệ dạy học  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                     chú ý quỹ thời gian của các đối tượng SV khác nhau  –                     xác định khung thời gian và những kết quả cần đạt được cho mỗi bài học   –                     thiết kế qui trình tham gia buổi học hoặc trao đổi qua mạng sao cho ít tiêu tốn thời gian của SV  –                     xây dựng qui định về việc SV tham gia học tập hoặc thảo luận qua mạng  Nguyên tắc 6: Kỳ vọng nhiều vào SV  Kỳ vọng cao thường cho kết quả tốt. Mọi người đều muốn được kỳ vọng cao, kể cả những người có năng lực còn hạn chế lẫn những người thông minh. SV sẽ cảm thấy phấn khởi để cố gắng hơn trong học tập nếu họ được GV và nhà trường đặt nhiều kỳ vọng và hỗ trợ họ đạt được những kỳ vọng đó.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                      cung cấp cho SV chương trình chi tiết của môn học cùng những yêu cầu về bài kiểm tra, hạn phải nộp và thang điểm  –                      khuyến khích SV chịu khó học tập và thể hiện năng lực của họ một cách cao nhất  –                      góp ý cho SV về những mục tiêu học tập họ cần đạt được  –                      có lời khen kịp thời về những nỗ lực và kết quả tốt từ SV  –                      định kỳ cải tiến bài giảng theo hướng giúp SV luôn nỗ lực hơn nữa  –                      tiếp xúc những SV có hạn chế về năng lực để tìm hiểu và có biện pháp hỗ trợ  –                      lưu ý SV chú trọng vào việc nâng cao tri thức hơn là vào điểm số môn học  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                      cung cấp cho SV chương trình chi tiết của môn học cùng những yêu cầu về bài kiểm tra, hạn phải nộp và thang điểm  –                      xây dựng bài giảng và cho bài kiểm tra phù hợp với các đối tượng SV  –                      đưa lên diễn đàn trên mạng của lớp các bài làm tốt của SV  –                      xác định các mục tiêu cụ thể cần đạt được cho mỗi bài giảng  –                      tạo điều kiện để SV góp ý về các hoạt động của lớp học  –                      khuyến khích SV tham gia vào các hoạt động của môn học  Nguyên tắc 7: Tôn trọng sự khác biệt về năng khiếu và cách học  Sự học có thể diễn ra theo nhiều cách thức và mức độ khác nhau. SV vào trường với những năng khiếu và cách thức học tập không như nhau. Những SV tỏ ra vượt trội tại lớp học lý thuyết có thể lại chậm chạp trong các buổi thực hành và ngược lại. SV cần có cơ hội để phát triển năng khiếu và cách thức học tập riêng của họ đồng thời với việc họ được yêu cầu phát triển thêm các năng lực mới.  ·         Đối với các lớp học truyền thống, GV nên:  –                     giới thiệu cho SV những cách thức học tập khác nhau và cho phép sự lựa chọn  –                     sử dụng đa dạng các phương thức giảng dạy và hoạt động học tập  –                     khuyến khích sự chia sẻ về kiến thức và kinh nghiệm học tập trong SV  –                     tổ chức các nhóm học tập sao cho SV có thể bổ trợ lẫn nhau  –                     xây dựng các bài tập tình huống với nhiều lời giải khác nhau  ·         Đối với các lớp học từ xa, GV nên:  –                      khuyến khích SV đưa ra các quan điểm khác nhau  –                      xây dựng các hoạt động học tập có tính đa dạng và gắn với thực tế ở các địa phương  –                      chú ý đến sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của SV khi xây dựng bài giảng và thiết kế các hoạt động, các bài kiểm tra.          *Học giả VEF 2008-09 tại Washington State University, WA, Hoa Kỳ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bị bắt nạt và bạo hành, trẻ già trước tuổi      Đây là kết luận của một nhóm nghiên cứu quốc  tế phân tích các dữ liệu từ Nghiên cứu Rủi ro Môi trường (Environmental  Risk Study, hay E-Risk), kiểm tra trên 2.232 trẻ sinh ra trong thời gian  1994-1995 ở Anh và xứ Wales.     Các nhà nghiên cứu tập trung vào 236 trẻ mà họ theo dõi trong các năm từ độ tuổi 5 tới 10. Gần một nửa số trẻ này từng chịu bạo hành ở một mức độ nhất định, dưới dạng gián tiếp như khi người mẹ chịu những hành vi bạo lực, hoặc khi trẻ bị bắt nạt, hoặc là nạn nhân trực tiếp dưới tay một người lớn.  Tác giả chính của nghiên cứu, Idan Shalev, từ khoa tâm lý và thần kinh học của trường Duke University, cho biết rằng ông và các cộng sự của mình quan tâm tới việc tìm hiểu liệu những tác động tiêu cực dài hạn của bạo lực với trẻ em, về mặt sức khỏe và hành vi sau này, có liên quan tới sự lão hóa sớm trước tuổi ở các tế bào. Vì vậy, họ đã thu thập các mẫu DNA của từng đứa trẻ ở độ tuổi 5 và sau này ở độ tuổi 10, và nghiên cứu các telomere, những chuỗi DNA lặp đi lặp lại có mỗi đầu là nhiễm sắc thể. Qua thời gian, người ta thấy rằng các telomere trở nên ngắn hơn, do mỗi lần tế bào phân chia thì một phần telomere bị mất đi. Sau khi telomere bị rút ngắn tới một độ dài nhất định, tế bào sẽ chết. Đây là lý do khiến một số chuyên gia cho rằng telomere có thể coi là một đồng hồ phản ánh sự lão hóa của tế bào.  Trong những năm gần đây, các nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể làm telomere bị ngắn đi, làm già tế bào trước tuổi. Nghiên cứu mới nhất lần này cũng cho thấy rằng những trẻ em chịu từ hai tới ba dạng bạo hành từ độ tuổi từ 5 đến 10 sẽ có telomere ngắn hơn so với những trẻ có đời sống ít căng thẳng hơn. Mỗi dạng bạo hành mà Shalev và nhóm của ông nghiên cứu đều cho thấy có ảnh hưởng làm ngắn đi các telomere, nhưng điều đáng quan tâm hơn nữa ở đây là việc chịu đựng nhiều dạng bạo hành sẽ gây ảnh hưởng cộng dồn.  “Trẻ em bị bạo hành sẽ già đi nhanh hơn”, Shalev khẳng định trong một thông cáo cho nghiên cứu, được ông bố trên tạp chí Molecular Psychiatry. “Kết quả nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các telomere làm căn cứ đánh giá mức độ căng thẳng trong các nghiên cứu đánh giá tác động của căng thẳng”.  Nghiên cứu lần này là nghiên cứu đầu tiên theo dõi những thay đổi ở DNA có thể liên quan tới việc chịu đựng bạo hành. Kể cả sau đã điều chỉnh phân tích để loại bỏ tác động của những yếu tố kinh tế xã hội và thể chất có thể ảnh hưởng tới sự lão hóa trước tuổi của tế bào, như nghèo đói và béo phì, thì mối quan hệ giữa sự thay đổi ở DNA và việc chịu đựng bạo hành vẫn tồn tại.  Theo Shalev, việc chịu đựng bạo hành có thể tạo ra một dạng căng thẳng làm gia tăng quá trình oxy hóa và viêm nhiễm trong cơ thể, khiến các tế bào già đi và phân chia nhanh hơn, và hậu quả là con người già trước tuổi. Ông cũng cho rằng những hậu quả được thấy rõ ràng này càng cho thấy “sự cần thiết ngăn chặn những tổn hại gây ra với trẻ em”.     TS lược dịch   http://healthland.time.com/2012/04/24/how-bullying-and-abuse-may-age-children-prematurely/#ixzz1t8bmGKim    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật của Harvard      Kể từ năm 1865, Ban giám hiệu Harvard  (Harvard Board of Overseers) hoàn toàn nằm trong tay các cựu sinh viên  của trường – và đó là mô hình quản lí sáng tạo quyết định vị thế hàng  đầu của đại học này từ bấy lâu nay.    Không có nước nào nắm được vị trí áp đảo trong bất cứ lĩnh vực nào so với vị thế của Mĩ trong lĩnh vực giáo dục đại học. Thí dụ, theo bảng xếp hạng các trường đại học đứng đầu thế giới của trường Đại học Giao thông Thượng Hải, trong số 20 trường đại học hàng đầu thế giới, Mĩ chiếm tới 17 vị trí. Harvard đứng đầu bảng với khoảng cách khá xa những trường còn lại.  Trước đây người ta thường giải thích là do Mĩ giàu, đông dân, tài trợ hào phóng cho lĩnh vực nghiên cứu, các tổ chức từ thiện tư nhân có  mặt khắp nơi và khả năng lôi kéo các học giả từ khắp nơi trên thế giới. Chỉ có thế thôi. Mặc dù Mĩ thường khoe là có nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng kinh tế của họ chỉ chiếm một phần tư GDP toàn cầu, dân số cũng chỉ chiếm một phần hai mươi dân số thế giới mà thôi. Còn sự ủng hộ của họ đối với công việc nghiên cứu cũng không phải độc nhất vô nhị.  Hơn nữa, cứ theo cách giải thích như thế thì những nước như Pháp, Đức, Nhật, thậm chí là Trung Quốc hay Ấn Độ cũng phải có những trường đại học đứng đầu bảng xếp hạng. Nhưng các trường của họ chỉ nằm rải rác trong bảng xếp hạng, nếu quả thật có rơi được vào đấy.   Trên thực tế, các nước này không có yếu tố quyết định nhất: mô hình quản lí mang tính sáng tạo của các trường đại học Mĩ.  Harvard được chính quyền lãnh thổ Vịnh Massachusetts (Massachusetts Bay Colony) thành lập vào năm 1636. Giá trị của nó đối với Massachusetts được thể hiện trong hiến pháp bang sau khi giành được độc lập, được thông qua vào năm 1780, trong đó có hẳn phần nói về chức năng và giới hạn của trường đại học này.  Khi những sinh viên cũ của Harvard giữ thế thượng phong trong cơ quan lập pháp bang Massachusetts, trường đại học này đã được ưu đãi và tài trợ. Nhưng trong những năm 1840, cuộc di cư ồ ạt diễn ra cùng với nạn đói ở Ireland đã làm thay đổi cán cân nhân khẩu học ở bang này và tạo điều kiện cho những kẻ mị dân kiểm soát được cơ quan lập pháp bang.   Ngay sau đó, Harvard đã bị người ta tấn công vì chỉ giành cho giới tinh hoa, quá chọn lọc và học phí quá đắt. Ngay chương trình học tập cũng bị nghi ngờ. Trong hai thập kỉ sau đó, hoạt động của nhà trường đã bị chính quyền bang cản trở bằng cách không chịu giải ngân và gây khó khăn trong việc bổ nhiệm các giáo sư. Đỉnh điểm là vào năm 1862, đấy là khi cơ quan lập pháp bang ngăn chặn việc bổ nhiệm hiệu trưởng nhà trường.  Đáp lại, Harvard đòi đưa họ “ra ngoài những tranh chấp và thay đổi chính trị thông thường” và đưa vào “tay những cựu sinh viên, tức là những người quan tâm nhất tới công tác giáo dục”. Ngày 29 tháng 4 năm 1865, đề nghị cấp tiến này – được những cựu sinh viên Harvard có đóng góp xuất sắc cho Hợp chúng quốc trong thời nội chiến ủng hội – được đưa ra thảo luận tại cơ quan lập pháp tiểu bang Massachusetts. Từ đó trở đi, Ban giám hiệu Harvard (Harvard Board of Overseers) hoàn toàn nằm trong tay các cựu sinh viên của trường.   Được thắng lợi của Harvard cổ vũ, các trường khác – bắt đầu là Đại học Yale (Yale University) và College of William and Mary – cũng có hành động tương tự. “Phương pháp Mĩ chính cống này”, như ông Charles William Eliot, người giữ chức hiệu trưởng lâu nhất tại Harvard, gọi như thế, đã trở thành tiêu chuẩn không chỉ cho các đại học tư thục mà còn cho các các đại học công lập như Đại học Michigan (University of Michigan) và Đại học Purdue (Purdue University), thậm chí là đại học tôn giáo như Đại học Notre Dame (University of Notre Dame) và đại học Duke (Duke University) nữa.  Hiện nay 19 trong số 20 trường đại học hàng đầu của Mĩ, theo bảng xếp hạng của tờ US News and World Report, nằm dưới quyền kiểm sóat của các cựu sinh viên (được định nghĩa là khi có từ 50% trở lên các cựu sinh viên nằm trong ban giám hiệu). Ngoại lệ duy nhất là trường Đại học công nghệ California (California Institute of Technology), nơi chỉ có 40% cựu sinh viên nằm trong ban giám hiệu mà thôi. Trong nhóm năm trường đứng đầu thì ba trường (Harvard, Yale và Columbia) hoàn toàn do các cựu sinh viên lãnh đạo, hai trường còn lại (Princeton và Stanford) có tới 90% cựu sinh viên nằm trong ban lãnh đạo. Các cựu sinh viên còn nắm hầu hết các vị trí lãnh đạo tại các trường công lập như Purdue (90%) và Michigan (63%). Trung bình, các cựu sinh viên chiếm tới 63% thành viên ban lãnh đạo của 100 đại học hàng đầu của Mĩ, cả công lập lẫn tư thục.  Nói chung, tỉ lệ cựu sinh viên trong ban giám hiệu càng nhiều thì trường càng giữ vị trí cao trong bảng xếp hạng, mức độ chọn lọc càng cao và sự ủng hộ cũng càng lớn. Nói cho cùng, không có nhóm người nào quan tâm tới uy tín của trường bằng các cựu sinh viên, những người sẽ được tôn trọng khi vị trí trường cũ của họ trong bảng xếp hạng được nâng lên và ngược lại.  Thực vậy, các cựu sinh viên là những người hăng hái nhất trong việc ủng hộ về mặt vật chất và quản lí trường một cách hiệu quả. Với kiến thức sâu sắc về ngôi trường mình đã học, các cựu sinh viên còn là những nhà lãnh đạo hiệu quả nhất. Thông qua mạng lưới của các cựu sinh viên, thành viên ban giám hiệu có thể thu được thông tin một cách nhanh chóng và hành động ngay lập tức.  Những trường đại học lớn là những tổ chức phi lợi nhận, được xây dựng lên nhằm thực thi việc giáo dục đại học vì lợi ích của tòan xã hội. Nhưng các trường đại học Mĩ lại tìm được cách liên kết lợi ích của cạnh tranh vào khái niệm phi lợi nhuận của châu Âu. Không có lợi nhuận không thui chột tinh thần cạnh tranh giành uy tín của các ban giám hiệu do các cựu sinh viên chiếm đa số, thí dụ thông qua việc thuê những giáo sư có tài, nhận những sinh viên có năng khiếu và thành công trong lĩnh vực nghệ thuật và thể thao.  Sử dụng các cựu sinh viên chính là cách đưa lợi ích của cạnh tranh vào những định chế phi lợi nhuận là thí dụ của cách thích nghi điển hình của Mĩ. Những nước muốn cạch tranh với các trường đại học Mĩ cần phải nhớ điều đó.   Shailendra Raj Mehta là giáo sư thỉnh giảng của trường đại học quản trị Ahmedabad và là giám đốc kho học của Duke Corporate Education thuộc đại học Duke (Duke University).  Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn:  http://www.project-syndicate.org/commentary/the-secret-of-harvard-s-success-by-shailendra-r–mehta    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật thành công của Singapore      Kể từ ngày qua đời, thành tích của Lý Quang  Diệu đã trở thành đề tài của nhiều cuộc thảo luận diễn ra trên toàn cầu.  Nhưng người ta lại ít nói tới một khía cạnh của sự thành công của ông:  những khoản đầu tư mà ông và người kế nhiệm ông, đã làm cho ngành giáo  dục.     Như ông thường nói, chiến lược của ông là:  “Phát triển nguồn tài  nguyên thiên nhiên sẵn có duy nhất của Singapore,  đấy là con người”.  Hiện nay, Singapore thường xuyên đứng trong số những nước có thành tích cao nhất trong lĩnh vực giáo dục, được đánh giá theo chương trình đánh giá học sinh quốc tế của OECD (OECD’s Program for International Student Assessment – PISA). Ngoài ra, mặc dù là thành phố-quốc gia chỉ có năm triệu người, nhưng Singapore tự hào là trong lần xếp hạng mới nhất của tờ Times (Times Higher Education World University Rankings), họ có hai trường đại học nằm trong top 75 trường đại học hàng đầu trên thế giới, ngang với Trung Quốc, Nhật Bản và Đức.  Chuyện đó xảy ra như thế nào? Lý Quang Diệu và Singapore làm việc gì đúng?  Trước hết, cần phải nhấn mạnh rằng hệ thống giáo dục của Singapore không phải do Lý Quang Diệu và các cộng sự của ông thiết kế ngay từ đầu. Mà nó được xây dựng trên những nền tảng rất vững chắc được thừa hưởng từ quá khứ vì Singapore là thuộc địa của Anh. Khác với nhiều lãnh đạo hậu thuộc địa cùng thời với mình, Lý Quang Diệu không sợ nắm lấy những yếu tố của quá khứ nhưng vẫn có lợi cho công cuộc xây dựng đất nước.   Rõ nhất là trong lĩnh vực giáo dục. Nhiều thiết chế giáo dục hàng đầu của nước này – ví dụ, Đại học Quốc gia Singapore (National University of Singapore – thành lập năm 1905), Viện Raffles (Raffles Institution – thành lập năm 1823), và Trường Anh-Trung (Anglo-Chinese School – thành lập năm 1886) – có từ khá lâu, trước khi Singapore giành được độc lập vào năm 1963. Hơn nữa, chương trình trung học mô phỏng theo bằng cấp O và A của Anh (với một số sửa đổi phù hợp với thành tích trung bình thường cao hơn của học sinh Singapore). Và, mặc dù không bỏ qua cơ sở hạ tầng, trọng tâm chính của đầu tư giáo dục là học sinh và giáo viên.  Hệ thống học bổng hào phóng của nhà nước tạo điều kiện cho những học sinh giỏi nhất được hưởng nền giáo dục ở một số trường đại học hàng đầu trên thế giới, thậm chí ngay cả khi Singapore đã xây dựng được những thiết chế giáo dục đẳng cấp thế giới của riêng mình. Ngoài ra, với mức lương khởi điểm cao hơn mức lương trung bình, nghề dạy học đã thu hút, phát triển và giữ lại được một số sinh viên tốt nghiệp thuộc loại giỏi nhất.  Ngoài ra, hệ thống giáo dục của Singapore là hệ thống coi trọng hiền tài (một số người có thể gọi là “tinh hoa”) trong việc phát hiện và phát triển những người có tài năng nhất và, quan trọng không kém, hướng giáo dục vào lĩnh vực dịch vụ công. Người nhận học bổng của chính phủ phải phục vụ trong lĩnh vực công, mỗi năm học phải phục vụ ít nhất là hai năm.   Các cách tiếp cận theo lối trọng hiền tài như thế quyết định sự phát triển và thăng tiến của giáo viên. Những giáo viên có thành tích cao được giao trách nhiệm lãnh đạo mà không quan tâm quá nhiều tới thâm niên, và có sự hoán đổi chức vụ giữa các chức vụ trong Bộ Giáo dục, giáo viên và ban lãnh đạo nhà trường. Các nhà giáo dục thường xuyên được phái đi để đưa chính sách vào thực tiễn. Nhiều người sau đó đã quyết định quay về làm giáo viên.   Xu hướng tinh hoa trong hệ thống giáo dục của Singapore bị kiềm chế bớt bởi thực tế là giáo dục chất lượng cao đã hiện diện trên tất cả các cấp học. Singapore có quyền tự hào về các thiết chế giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học tinh hoa của mình, nhưng ta có thể khẳng định rằng những viên ngọc quý ẩn danh của hệ thống là hàng trăm trường học, các trường kỹ thuật và bách khoa, cung cấp một nền giáo dục chất lượng cao cho tất cả mọi người.  Hệ thống giáo dục của Singapore luôn luôn nhìn về phía trước. Từ việc áp dụng song ngữ, tức là cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Quan thoại, tiếng Malay hay Tamil) và tiếng Anh, đến việc tập trung vào khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (science, technology, engineering và mathematics – STEM), Singapore đã đoán trước được nhiều chiến lược giáo dục quan trọng mà hiện nay những người lập chính sách đang áp dụng.   Chọn tiếng Anh là do lịch sử và xã hội đa sắc tộc cần một ngôn ngữ chung. Nhưng đây cũng là một sự nhận thức mang tính tiên tri về sự nổi lên nhanh chóng của tiếng Anh, trong vai trò một ngôn ngữ chung của thương mại và khoa học trên toàn thế giới và một khi đã bám chắc được vào xã hôi, có khả năng nó sẽ tiếp tục làm được như thế trong nhiều thập niên, nếu không nói là hàng thế kỷ tới. Về vấn đề này, Lý Quang Diệu cũng là người nổi bật so với những nhà lãnh đạo thời hậu thuộc địa thuộc thế hệ mình. Không những không chiều theo tình cảm dân tộc hẹp hòi và chọn ngôn ngữ và nền văn hóa của đa số, ông và các đồng nghiệp của mình đã chọn ngôn ngữ toàn cầu cho thành phố toàn cầu này.  Cuối cùng, hệ thống giáo dục của Singapore phát triển cùng với thời gian và dưới ánh sáng của những bằng chứng mới. Trong những năm 1990, các nhà lập chính sách của Singapore lo ngại rằng phương pháp tiếp cận của họ với giáo dục có thể là hơi cứng nhắc và quá tập trung vào STEM và họ bắt đầu mở đường cho những người xuất sắc trong khoa học nhân văn, nghệ thuật và thể dục thể thao. Quá trình tái lập trật tự vẫn còn đang tiếp tục, bây giờ là nhấn mạnh vào việc tìm cho ra những biện pháp mới nhằm thúc đẩy tinh thần sáng tạo và kinh doanh.  Đối với Lý Quang Diệu, giáo dục đã vượt ra ngoài trường học chính quy. Như ông nói trong một bài phát biểu vào năm 1977: “Định nghĩa của tôi về một người có học là người không bao giờ ngừng học hỏi và luôn luôn muốn học hỏi”.  Thật vậy, hệ thống giáo dục đẳng cấp thế giới của Singapore sẽ là một trong những di sản lâu dài nhất của Lý Quang Diệu. Tang lễ cấp nhà nước của ông được tổ chức tại Đại học Quốc gia Singapore là hoàn toàn phù hợp.  Stavros N. Yiannouka, cựu phó trưởng khoa Trường chính sách công mang tên Lý Quang Diệu tại Đại học Quốc gia Singapore, hiện là Giám đốc điều hành của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về đổi mới giáo dục (WISE), một sáng kiến của Quỹ Qatar.  Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/lee-kuan-lew-singapore-education-legacy-by-stavros-n–yiannouka-2015-04         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết dạy con của người Pháp      Sau ít năm sống ở Pháp, tôi vẫn không lý  giải được nguyên nhân đằng sau sự ngoan ngoãn của những đứa trẻ, và tôi  bắt đầu thực sự quan tâm tới cách người Pháp dạy dỗ con cái họ.     Có nhiều câu hỏi tôi thấy cần phải đặt ra. Vì sao sau hàng trăm giờ đồng hồ quan sát ở các sân chơi cho trẻ em ở Pháp, tôi chưa hề nhìn thấy một đứa trẻ nào (ngoại trừ con của tôi) tỏ ra cáu kỉnh? Vì sao những người bạn Pháp của tôi chẳng bao giờ phải vội vã dập điện thoại để giải quyết đòi hỏi nào đó từ con cái họ? Vì sao phòng khách của họ chẳng bao giờ thấy vương vãi đồ chơi trẻ con? Vì sao trong bữa ăn trẻ em Pháp không nghịch phá đồ ăn, và bố mẹ chúng chẳng bao giờ phải la mắng? Mỗi khi những gia đình Mỹ tới thăm chúng tôi, các ông bố bà mẹ thường phải mất công giải quyết những vụ cãi cọ của bọn trẻ, dắt chúng đi chơi quanh nhà, hay cùng chơi đồ chơi trên sàn nhà. Ngược lại, những ông bố bà mẹ Pháp khi tới thăm chúng tôi thường bình thản ngồi uống cà phê, trong khi bọn trẻ có thể tự chơi một cách vui vẻ.   Chắc chắn là tôi không quá thiên vị người Pháp, thậm chí không ưa thích sống ở Pháp cho lắm. Chắc chắn tôi không muốn con mình sau này lớn lên sẽ giống với những người Paris luôn có vẻ ngoài kiêu kỳ và lạnh lùng. Nhưng bản năng người mẹ đã khiến tôi phải bỏ công dành vài năm nghiên cứu về cách dạy con của họ. Và hôm nay, khi Bean của tôi đã được 6 tuổi, cặp em sinh đôi của bé cũng đã được 3 tuổi, tôi có thể kết luận rằng: người Pháp không hoàn hảo, nhưng họ có những bí quyết dạy con rất hiệu quả.          Một nghiên cứu của các nhà kinh tế từ Đại  học Princeton sau khi so sánh kinh nghiệm của những bà mẹ từ Columbus,  Ohio, Mỹ, với những bà mẹ ở Rennes, Pháp, đã kết luận rằng những bà mẹ  Mỹ cảm thấy vất vả gấp đôi các bà mẹ Pháp khi chăm con mình. Một nghiên  cứu khác cũng của nhóm nghiên cứu này cho thấy các bà mẹ ở Texas coi  những công việc nội trợ khác là dễ thở hơn chăm con.         Những ông bố bà mẹ Pháp thuộc tầng lớp trung lưu mà tôi biết đều rất quan tâm tới việc trò chuyện với con cái, đưa chúng đi chơi ngoài thiên nhiên, đọc sách cho con nghe. Họ đưa con đi học tennis, học vẽ, và dẫn tới thăm các bảo tàng khoa học.  Nhưng người Pháp không phải khi nào cũng phải sa đà với con cái. “Đối với tôi, các buổi tối là thời gian riêng của cha mẹ”, một bà mẹ Paris nói với tôi như vậy. “Con gái tôi có thể ở bên chúng tôi nếu nó muốn, nhưng đó là thời gian riêng của người lớn”. Các bậc cha mẹ Pháp muốn con cái họ được kích thích trí tuệ, nhưng không phải khi nào cũng vậy. Trong khi một số em bé Mỹ phải học đánh vần sớm và học với gia sư, thì trẻ em Pháp đơn thuần chỉ ngồi tự chơi lấy.   Khi tôi hỏi các phụ huynh Pháp rằng họ rèn kỷ luật cho con mình như thế nào, họ phải mất vài giây mới hiểu ra ý tôi muốn hỏi. “À, có phải cô muốn hỏi là chúng tôi giáo dục con như thế nào?”, họ hỏi. Từ đó, tôi sớm nhận ra rằng, đối với các bậc cha mẹ Pháp, “kỷ luật” là một khái niệm eo hẹp, liên quan nhiều đến sự trừng phạt, và ít khi dùng đến. Còn “giáo dục” (không nhất thiết phải liên quan tới trường lớp) mới là điều mà các bậc cha mẹ Pháp lúc nào cũng thực hiện.   Dạy con biết kiên nhẫn chờ đợi và tự chơi một mình            Delphine Porcher và con gái Pauline. Một  trong các công việc hằng ngày của cô là               dạy con biết kiên nhẫn chờ đợi.                Ảnh: Nicolas Héron/WSJ         Một mấu chốt của sự giáo dục này, đơn giản là dạy cho trẻ phải biết chờ đợi. Đó là lý do tại sao tất cả những em bé Pháp mà tôi biết đều ngủ ngon lành qua đêm ngay từ hai tới ba tháng tuổi. Cha mẹ chúng không bế chúng lên ngay tức khắc khi chúng bắt đầu khóc. Thay vào đó, họ khiến đứa bé học cách tự yên lặng và ngủ trở lại. Đó cũng là lý do tại sao trẻ em Pháp có thể tự bằng lòng và ngồi vui vẻ trong quán với cha mẹ, thay vì ăn vặt cả ngày như trẻ em Mỹ. Đa số trẻ em Pháp đều đặn có ba bữa ăn chính và một bữa ăn vặt mỗi ngày, và đều phải chờ đến đúng giờ mới được ăn.   Một ngày thứ Bảy, tôi đến thăm nhà Delphine Porcher, một phụ nữ ngoài 30 tuổi, làm nghề luật sư lao động, sống ở ngoại ô phía Đông Paris. Khi tôi đến, chồng của cô làm việc với máy tính xách tay trong phòng khách, trong khi bé Aubane mới 1 tuổi ngủ ở gần đó. Pauline, con gái 3 tuổi, ngồi nặn vỏ bánh ngọt ở bàn ăn. Cô bé rất tập trung, và hoàn toàn cưỡng lại được sự thèm ăn trước đám bột bánh.   Delphine nói rằng cô không bao giờ đặt ra mục tiêu phải dạy con mình tính kiên nhẫn. Nhưng những nếp sống hằng ngày trong gia đình khiến đứa trẻ buộc phải học cách trì hoãn sự hưởng thụ. Delphine cho biết đôi khi cô mua kẹo cho Pauline, nhưng cô bé không được phép ăn kẹo cho đến khi tới giờ ăn vặt, dù là phải đợi nhiều tiếng đồng hồ.   Khi Pauline tìm cách xen vào câu chuyện của chúng tôi, Delphine nói, “chờ 2 phút con nhé, mẹ đang nói chuyện chưa xong.” Cách nói của cô vừa tế nhị, vừa cứng rắn. Tôi ấn tượng bởi sự âu yếm của người mẹ này cũng như sự hoàn chắc chắn của cô rằng Pauline sẽ nghe lời. Delphine cũng dạy các con mình một kỹ năng liên quan khác: tự chơi một mình. “Điều quan trọng nhất là thằng bé học cách tự làm cho mình cảm thấy hạnh phúc”, cô nói về bé trai Aubane.   Đây là kỹ năng mà các bà mẹ Pháp có sự cố gắng rất ràng để truyền cho con mình, hơn hẳn các bà mẹ Mỹ. Trong một nghiên cứu năm 2004 mà đối tượng là những người mẹ đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và Pháp, các bà mẹ Mỹ thường xếp việc khuyến khích con mình tự chơi một mình là ở tầm quan trọng mức trung bình. Nhưng các bà mẹ Pháp thì tin rằng điều này là rất quan trọng.   Nói không một cách uy lực  Các phụ huynh Pháp cảm thấy khó tin rằng ở Mỹ người ta ít quan tâm tới việc dạy trẻ em biết kiên nhẫn chờ đợi. Một cặp vợ chồng người Paris kể lại cho tôi nghe kỷ niệm của họ về thời gian họ sống ở Nam California, một gia đình Mỹ mời họ tới chơi nhà. Nhiều năm sau, họ vẫn nhớ ấn tượng về những đứa trẻ Mỹ thường xuyên ngắt lời người lớn trong câu chuyện, và không thời gian cố định nào cho việc ăn vặt, bọn trẻ Mỹ bất cứ khi nào cũng có thể mở tủ lạnh và lấy đồ ăn mà chúng thích. Đối với người Pháp, trẻ em Mỹ hành xử như thể chúng mới là người chủ gia đình.  Điều người Pháp lấy làm lạ, là các phụ huynh Mỹ không biết nói “không”. Điều đó có nghĩa là trẻ em Mỹ không có được những khuôn phép chắc chắn, còn các bậc phụ huynh Mỹ thì bị thiếu quyền uy. Các phụ huynh Pháp thì ngược lại, họ luôn hành xử theo một khuôn phép (cadre) trong việc dạy con. Khuôn phép nghĩa là có những giới hạn rất chắc chắn mà đứa trẻ phải chấp hành theo, nhưng ngược lại, các phụ huynh Pháp giao cho con cái khá nhiều quyền tự do và độc lập, miễn là chúng cư xử trong vòng khuôn phép.    Uy lực là một trong những sắc thái ấn tượng nhất trong cách dạy con của người Pháp – và có lẽ là kỹ năng khó nhất cho các bậc cha mẹ. Nhiều vị phụ huynh Pháp mà tôi gặp có được vẻ uy lực một cách dễ dàng, tự nhiên, và bình thản trước con cái, điều khiến tôi phải ghen tị. Đó là điều khiến trẻ em Pháp thực sự phải nghe lời cha mẹ, thay vì tảng lờ, cãi lời, hoặc kỳ kèo.  Một buổi sáng Chủ nhật, Frédérique, cô hàng xóm của tôi, phải chứng kiến tôi vất vả cố gắng kiểm soát con trai mình, Leo, khi đó mới 2 tuổi. Leo là đứa bé rất lanh lẹ, và khi ngồi trong công viên, nó thường xuyên tìm cách trốn ra ngoài cổng, khiến tôi phải liên tục canh chừng.   Frédérique mới cách đây 3 tháng có nhận nuôi một đứa trẻ 3 tuổi tóc đỏ từ một trại mồ côi của Nga. Nhưng chỉ cần 3 tháng trong vai trò làm mẹ, với phẩm chất cố hữu của người Pháp, cô ta đã có cái nhìn khác hẳn so với tôi về cách thể hiện uy lực.  Trong khi tôi và Frédérique ngồi trong công viên, Leo luôn tìm cách lẩn ra ngoài cổng. Mỗi lần như vậy tôi lại phải đuổi theo, la mắng, và kéo đứa bé về trong khi nó gào thét. Ban đầu Frédérique chỉ quan sát một cách im lặng. Nhưng rồi cô ta không giữ sự tế nhị nữa, và nói rằng nếu cứ lúc nào cũng chạy theo Leo, thì chúng tôi không thể nào ngồi nói chuyện yên ổn được vài phút.  “Đúng vậy”, tôi nói. “Nhưng tôi có thể làm gì được?” Frédérique cho rằng tôi nên nghiêm khắc với Leo. Tôi nói rằng đã mắng Leo trong suốt 20 phút đấy thôi. Frédérique chỉ mỉm cười, và khuyên rằng tôi nên nói “không” một cách mạnh mẽ hơn. Tôi e là Leo có thể cảm thấy sợ, nhưng Frédérique nói rằng tôi chớ có lo. Lần tiếp theo Leo chạy ra ngoài cổng, tôi “không” một cách đanh sắc hơn bình thường. Nhưng nó vẫn chạy ra ngoài. Tôi đuổi theo và lôi nó về. “Cô thấy không?”, tôi nói. “Không thể trị nó được”.  Frédérique lại cười và bảo tôi đừng nên quát to, chỉ nên nói với âm điệu có trọng lượng hơn. Nhưng Leo vẫn không chịu nghe lời lần tiếp theo. Nhưng dần dần tôi cảm thấy tiếng “không được” của tôi đã có vẻ thuyết phục hơn. Âm thanh vang lên không to hơn, nhưng có tính tự tin và chắc chắn hơn. Tới lần thử thứ tư, khi tôi hoàn toàn cảm thấy sự tự tin ở trong mình, Leo vẫn tới gần cái cổng – nhưng kỳ lạ thay – không mở cánh cửa ra. Nó quay lại nhìn tôi một cách đề phòng. Tôi mở to mắt ra và cố tỏ vẻ không chấp thuận.     Sau khoảng 10 phút, Leo không còn tìm cách trốn ra nữa. Dường như nó quên mất về cái cổng và chỉ tập trung chơi với những đứa trẻ khác, trong khi tôi và Frédérique có thể ngồi duỗi chân thoải mái trò chuyện. Tôi vẫn còn sốc vì đột nhiên Leo bỗng nhìn tôi như một nhân vật đầy quyền uy.  “Bạn thấy đấy”, Frédérique nói. “Vấn đề là ở sắc thái giọng nói”. Đó là lần đầu tiên, tôi được thấy con mình tỏ ra ngoan ngoãn hệt như một đứa bé Pháp.  Thanh Xuân lược dịch trích đoạn cuốn sách “Bringing Up Bébé: One American Mother Discovers the Wisdom of French Parenting” của Pamela Druckerman vừa được Penguin Press xuất bản hồi đầu tháng 2/2012        Walter Mischel, một giáo sư 80 tuổi ngành  tâm lý học của Đại học Columbia, Mỹ. Ông là chuyên gia hàng đầu thế giới  về phương pháp dạy trẻ biết trì hoãn hưởng thụ. Mischel nổi tiếng với  “thí nghiệm kẹo mềm” hồi cuối thập kỷ 1960, khi ông làm việc ở Đại học  Stanford. Trong thí nghiệm này, những đứa trẻ tầm 4-5 tuổi được dẫn vào  một căn phòng, trong đó trên bàn đặt một viên kẹo mềm. Người làm thí  nghiệm dặn đứa trẻ rằng anh ta sẽ phải vắng mặt một lát, và nếu khi quay  lại mà đứa trẻ vẫn chưa ăn viên kẹo mềm, thì sẽ được thưởng thêm một  viên kẹo mềm nữa. Còn nếu đứa trẻ ăn mất viên kẹo mềm thì sẽ không được  thưởng.   Đa số các đứa trẻ thường chỉ có thể chờ  trong vòng 30 giây. Cứ ba đứa trẻ thì chỉ có một đứa có thể chờ đợi đủ  15 phút. Các nhà nghiên cứu cho rằng, bí quyết để đứa trẻ chờ đợi lâu  như thế mà không ăn mất viên kẹo, là nhờ nó biết tự phân tán sự chú ý  của mình sang việc khác.   Tới giữa thập kỷ 1980, giáo sư Mischel và  các cộng sự nhận ra rằng những đứa trẻ biết trì hoãn hưởng thụ khi tham  gia thí nghiệm trước đây, lúc lớn lên đã trở thành những người có khả  năng tập trung và suy luận tốt hơn, và “không bị suy sụp khi gặp phải áp  lực”.   Liệu việc dạy cho trẻ em biết trì hoãn hưởng  thụ – như các bậc phụ huynh trung lưu ở Pháp vẫn làm – thực sự khiến  chúng trở nên bình tĩnh hơn và vững vàng hơn? Liệu có phải điều này phần  nào lý giải tại sao những đứa trẻ từ các gia đình trung lưu Mỹ, do được  đáp ứng các nhu cầu ngay tức thời, nên thường ít có khả năng chịu đựng  các áp lực? Giáo sư Mischel cho rằng so với ở trẻ em Pháp, dường như trẻ  em Mỹ kém khả năng tự kiểm soát hơn.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Biết để làm – hiểu để dạy      “Trung đạo vàng”, như được trình bày trong  số trước, là quan niệm duy thực của Aristoteles về việc giáo dục tình  cảm và đạo đức, hay về nhân sinh quan nói chung. Đi tìm chỗ “chính  trung” trong thái độ ứng xử, không nhắm đến các lý tưởng quá xa vời,  không trở thành những nhà không tưởng về chính trị, đó là những “thông  điệp” của vị thầy lão luyện.     Dù đồng ý hay phản bác, thông điệp duy thực ấy vẫn còn sức vang vọng, nhất là trên phương diện giáo dục :  1. Thật hệ trọng khi cần thừa nhận bài học từ kinh nghiệm rằng: con người có thể hành động sai trái, phản lý tính;  2. Thừa nhận có sự đa dạng của những điều tốt; chúng có thể mâu thuẫn và xung đột với nhau (giàu sang, danh vọng là tốt, nhưng có thể đi ngược lại đức vị tha và công bằng v.v…).  3. Ta không khỏi có lúc bị dẫn dắt hay bị buộc phải quyết định và làm những điều ta biết là không tốt. Chính ý thức về sự kết hợp bi đát này, hay, nói khác đi, ý thức về những xung đột không thể giải quyết được, cũng là nét đặc sắc và tinh tế trong cái nhìn duy thực của Aristoteles.  Tính đa dạng trong đời sống thực hành của con người sẽ song hành với tính đa nguyên trong đời sống lý thuyết khi nhận thức về thực tại, là hai hòn đá tảng cho tòa nhà triết học Aristoteles, nhất là cho triết thuyết giáo dục của ông.  BỐN XÁC TÍN CỦA THUYẾT DUY THỰC TRONG CÁI NHÌN NGÀY NAY  Ta đã biết bốn xác tín của thuyết duy thực: 1. Ta đang sống trong thế giới có thực; 2. Thế giới ấy độc lập với việc ta có “sử dụng” nó hay không; 3. Ta có thể nhận thức về nó một cách vững chắc; và 4. Nhận thức ấy là cơ sở đáng tin cậy trong việc định hướng hành động của ta.  Ngày nay, sau khi nhận ra vai trò to lớn của ngôn ngữ trong đời sống (chẳng hạn, trong lý thuyết “hành vi ngôn ngữ” của J. Searle), bốn xác tín nói trên trở nên chính xác hơn. Theo đó, 1. Thế giới bên ngoài, tuy kỳ cùng chỉ có thể được hình dung một cách “nhân tạo” thông qua ngôn ngữ, nhưng không vì thế mà chỉ đơn thuần có tính chủ quan; 2. Sự thật tương ứng với sự hình dung thích hợp (bằng ngôn ngữ) về thực tại ở trong đầu óc ta, có tính khách quan, không phụ thuộc vào thái độ hay tình cảm; 3. Tính lô gíc và tính thuần lý là thước đo để đưa ra những phán đoán về thực tại; và 4. Những thước đo trí tuệ ấy là cần thiết để nhận thức cũng như để kiểm tra nhận thức.  Giống như các triết thuyết khác, thuyết duy thực cũng có nhiều “phiên bản” khác nhau. Chẳng hạn, ta có thuyết duy thực cổ điển của Hy lạp cổ đại hay của những nhà duy thực hiện đại, rất phổ biến trong giới khoa học, vững tin rằng, với phương pháp nghiên cứu và dụng cụ quan sát ngày càng tinh vi, khoa học tự nhiên là phương tiện tốt nhất để nắm bắt và lý giải thực tại. Lại cũng có thuyết duy thực của những nhà thần học hay những nhà tôn giáo tin vào thế lực siêu nhiên sáng tạo hoặc chi phối thế giới thực tại. Nhưng mọi “phiên bản” hầu như đều thừa hưởng bộ khung khái niệm từ các đại công trình của Aristoteles nhằm mô tả và phân loại các cấp độ của thực tại. Nhìn chung, ông xứng danh là cha đẻ và người đặt nền móng cho khoa học hiện đại, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn.  Ta thử kể qua một số trong rất nhiều sơ đồ khái niệm mang tính phân loại của ông. Chúng mềm dẻo nhưng có giá trị định hướng rất lớn. Ta có bộ ba, chẳng hạn, trong thế giới sinh vật (trên bộ, dưới nước và trên không), ba ham muốn (danh dự, tiền tài, khoái lạc), ba động lực hành động (cái cao cả, cái hữu ích, cái dễ chịu); bộ tứ: bốn đức hạnh căn bản, bốn xúc cảm (sợ hãi, thèm muốn, lo âu, sung sướng), và quan trọng nhất là học thuyết về bốn nguyên nhân để giải thích thực tại, sẽ đề cập kỹ hơn ở sau; bộ năm: năm giác quan, năm hoạt động tinh thần (nghệ thuật, khoa học, sự khôn ngoan, sự minh triết, tinh thần).  Từ quan sát và phân loại của mình, Aristoteles đi đến nhận định về sự thăng tiến tự nhiên (sự phát triển ngày càng cao hơn) của vạn vật: từ vật vô tri (đất đá), lên thực vật, động vật và con người. Trong khi Platon quan tâm đến thế giới thuần túy của ý niệm, đến hình thức hoàn hảo của sự vật, đi từ những cái trừu tượng thuần túy đến hành động và tồn tại cụ thể, tức tiến hành theo kiểu diễn dịch, thì Aristoteles lại theo lối quy nạp, đi từ những quan sát đặc thù tiến lên cái phổ biến.  HỌC THUYẾT BỐN NGUYÊN NHÂN VÀ TINH THẦN GIÁO DỤC  Tuy nhiên, cảm tưởng về sự khác nhau nói trên mờ nhạt dần khi đi vào học thuyết nổi tiếng về bốn nguyên nhân của Aristoteles. Ông giải thích sự vật từ bốn loại nguyên nhân; 1. Nguyên nhân vật chất hay chất liệu (vd: vật liệu xây dựng), 2. Nguyên nhân hình thức (bản vẽ thiết kế), 3.Nguyên nhân tác động (chủ đầu tư, thợ xây dựng), và 4. Nguyên nhân cứu cánh hay mục đích (có nhà ở).  Chất liệu khi chưa được hình thức hóa thì chưa phải là hiện thực mà chỉ mới là tiềm năng. Nhưng, chất liệu nào cũng mang theo mình “hạt mầm” (entelechie), nhờ đó, có thể được hình thức hóa qua nỗ lực bền bỉ để hướng đích. Ví dụ dễ hiểu trong thế giới vật chất: pho tượng ra đời từ khối đá hoa cương vô hình thể. Nhưng, nơi con người thì sao? Theo ông, thân xác là chất liệu, linh hồn là hình thức luôn vận động và tạo hình thể cho thân xác, trong khi tinh thần là năng lượng thuần túy phi vật chất và bất tử. Vậy, thật ra, ông không hoàn toàn “chia tay” với thầy của mình: giống như ý niệm nơi Platon, hình thức nơi Aristoteles vẫn là điều kiện khả thể cho sự hiện hữu. Nói cách khác, như thầy mình, thế giới quan của ông, đàng sau tính đa dạng, hầu như vẫn mang tính nhị nguyên (hai nguồn gốc).  Trong giáo dục, đây lại là một thuyết nhị nguyên tích cực. Giống như pho tượng tuyệt mỹ ẩn mình trong khối đá sù sì, đứa trẻ mang trong lòng nó vô vàn khả thể cho tương lai. Chính cái nhìn “nhị nguyên” trong giáo dục mở ra sự khác biệt giữa hiện thực (người trưởng thành, đã phát triển) và khả thể (đứa trẻ). Cái gì càng có nhiều “hình thức”, thì càng “hiện thực” hơn, tức, càng phát triển hơn. Đạt đến hình thức tối hậu thì hoàn hảo, không phát triển nữa, và ông xin dành nó cho… Thượng Đế bất biến (hiểu như hình thức và hiện thực thuần túy)! Còn con người bất toàn chúng ta – ít “thần thánh” hơn – chỉ tham gia đôi chút vào những hình thức thuần túy ấy thôi: đó là khi ta “tư duy”, và thế là đã được hưởng những phút giây “thiên phúc” hiếm hoi rồi! Theo ông, chỉ ai “hiểu” được điều ấy mới có tư cách làm “thầy”, và, không phải ngẫu nhiên, khi “giáo dục”, trong nhiều ngôn ngữ Âu châu, có nghĩa đen là: tạo hình thể (formation/Bildung).  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 9, 14.11.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Biết mấy dòng thơm mở giữa đường…” *      Theo Heidegger, trong “Bản chất của Chân lý”  (1931-32), ta vốn sống “trong thế giới”, không hề có sự phân ly, cô lập  giữa đầu óc và thực tại, và không bao giờ “nhìn thấy” thế giới hoàn  toàn đúng hoặc hoàn toàn sai cả. Đúng hơn nên nói: con người “khai mở”  chân lý từ nhiều viễn tượng, gồm nhiều mức độ thấu hiểu khác nhau, chen  lẫn ánh sáng lẫn bóng tối. Sự khai mở ấy là vô tận và thực tại là phong  phú đến khôn dò.      Trong một giờ học, triết gia Martin Heidegger (1889-1976) đặt câu hỏi: nếu giả thử một người thời nguyên thủy bước vào lớp học của chúng ta ngày nay, người ấy sẽ “nhìn” và “thấy” những gì? Chắc hẳn người ấy sẽ “nhìn” như chúng ta thôi: bàn ghế, bảng đen, sách vở, giấy bút… Nhưng sẽ “thấy” khác! Bàn và bảng đen có thể là những tấm khiên che rất tốt khi săn thú, ghế là vũ khí, sách vở, giấy bút là những vật lạ lùng chưa biết để làm gì, và nếu có quạt và đèn, chúng có thể là những gì thần linh, đáng để thờ phượng! Về một phương diện, người ấy “sai”, xét theo cái “thấy” của chúng ta. Nhưng thật ra, người ấy chỉ “thấy” khác, bởi mọi sự vật xuất hiện ra đâu phải là những tri giác rời rạc, vô nghĩa, trái lại, luôn kết thành một mạng lưới ý nghĩa theo “nhãn quan”, trong “thế giới cuộc sống”, của mỗi người. Người nào chưa bao giờ nhìn xe hơi, máy bay, sẽ thấy chúng bằng con mắt khác, có khi rất mới mẻ, độc đáo, khác với những người đã quá quen thuộc, theo lối mòn. Ai không tin, xin cứ đến với các thi sĩ, như Cao Bá Quát “thấy” dòng sông Hương: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” hay Lưu Trọng Lư “thấy” ngược lại: “Mắt em là một dòng sông”!  Từ cách hiểu khác về “chân lý”   Quan niệm thông thường của ta về chân lý là sự trùng hợp giữa đầu óc của ta và thực tại. Theo mô hình này, đầu óc một đàng, thực tại một nẻo, vấn đề là phải làm cho cả hai đối ứng với nhau. Nhưng, theo Heidegger, trong “Bản chất của Chân lý” (1931-32), ta vốn sống “trong thế giới”, không hề có sự phân ly, cô lập giữa đầu óc và thực tại, và không bao giờ “nhìn thấy” thế giới hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai cả. Đúng hơn nên nói: con người “khai mở” chân lý từ nhiều viễn tượng, gồm nhiều mức độ thấu hiểu khác nhau, chen lẫn ánh sáng lẫn bóng tối. Sự khai mở ấy là vô tận và thực tại là phong phú đến khôn dò.  Trong thực tế, ta không nhìn thấy một mớ hỗn mang, mà nhìn thấy cây cối, nhà cửa, sông núi, trăng sao, tức luôn “thấy” cái gì đó “như là” cái gì đó. Chính cái cấu trúc “như là” ấy qui định nhãn quan của ta, vừa cho thấy năng lực diễn giải của ta về thế giới (điều kiện thiết yếu để sống còn), vừa cho thấy sự hữu hạn của mọi tầm nhìn. Nhưng dù sao, để diễn giải, phải có một không gian mở. Đất đá vô tri không biết mình là ai. Thú vật không biết đặt câu hỏi “tại sao” vì không vươn lên khỏi được cái trước mắt. Ta sở dĩ nhận thức được sự vật theo một cách nào đó là nhờ ở trong không gian mở cho sự gặp gỡ của đôi bên. Đúng hay sai, phong phú hay nghèo nàn, sâu sắc hay hời hợt tùy thuộc vào sự mở ngỏ này. Vì thế, sự mở ngỏ xứng đáng được gọi là bản chất của chân lý theo nghĩa chặt chẽ nhất. Vì sự mở ngỏ đòi hỏi sự tự do, nên cũng có thể nói bản chất của chân lý là tự do. Tự do có nghĩa là mở lòng ra đón nhận sự khai mở của thực tại. Hay nói cách khác, bản chất của chân lý là hãy để cho thực tại, cho sự vật có thể xuất hiện ra cho ta đúng với thực chất của chúng, mà không qui giản chúng một cách thô bạo thành sự méo mó, dị dạng, dù việc này không dễ dàng tránh khỏi.  Với cách nói có vẻ ngược đời, Heidegger cho rằng bản chất của chân lý thật ra không phải là chuyện của con người, mà của chính bản chất. Bản chất của thực tại tự xuất hiện ra, vừa khai mở, vừa giấu mình, khiến ta phải tập làm quen với sự tương tác giữa ánh sáng và bóng tối, giữa vùng được khai quang và vùng bị che phủ. Tư duy như thế sẽ không chỉ thường xuyên mang lại cho ta những khái niệm, hình ảnh mới mẻ, mà còn thay đổi quan hệ của ta với thực tại. Thực tại, mỗi lần xuất hiện hay “khai mở” cho ta, là một “sự biến” khiến ta bỡ ngỡ, kinh ngạc như mới gặp lần đầu (trong ví dụ về người nguyên thủy bước vào lớp học). Cũng là một sự “tương ứng”, nhưng không tĩnh tại như cách nhìn truyền thống, mà như một sự dọn mình từ cả hai phía để sẵn sàng trao và nhận thực tại như một quà tặng ân cần (như sông Hương chỉ “ban tặng” thanh trường kiếm cho người có đủ khí độ là Cao Bá Quát). Lần đầu tiên, bằng lối chơi chữ tế nhị dựa vào sự gần gũi ngữ âm giữa hai động từ trong ngôn ngữ Âu châu, Heidegger đồng nhất “suy tư” (denken/thinking) với sự “biết ơn” (danken/thanking)!  Một quan niệm như thế không thể không ảnh hưởng sâu đậm đến tư duy giáo dục độc đáo của Heidegger.  “Dạy khó hơn học”  Trong “Ngôn ngữ truyền thống và ngôn ngữ kỹ thuật” (1960), Heidegger viết câu khá bí hiểm: “Người thầy đích thực chỉ hơn trò ở một chỗ, đó là phải học nhiều hơn trò, đó là: học cách để (yên) cho trò học. (Học có nghĩa là đưa những gì ta làm vào sự tương ứng với những gì mang lại cho ta như là bản chất cốt yếu)”. Trước đó, từ 1934, trong “Trách vụ mới của Đại học”, ông nói rõ hơn: “Dạy không phải là đơn thuần truyền đạt kiến thức. Dạy là: để cho việc học xảy ra (…) Dạy là mang người học đến chỗ họ không còn mãi mãi là học trò nữa”. Trong “Suy tư là gì?” (1951-52), ông lại giải thích: “Dạy khó hơn học rất nhiều. Ta biết thế nhưng hiếm khi suy nghĩ về điều ấy. Thế tại sao dạy lại khó hơn học? Không phải vì người thầy phải có nhiều thông tin hơn và luôn có sẵn một bụng chữ. Dạy khó hơn học rất nhiều vì điều đòi hỏi nơi việc dạy là: hãy để cho học. Người thầy thật sự không để cho điều gì khác được học ngoài việc học”.  “Để cho người học (biết) học”, theo Heidegger, là giúp người học hồi đáp một cách tự do – chân thành, đích thực – đối với những gì họ thấy cần học. Ông gọi tiến trình này là “sự (đồng thanh) tương ứng” (Entsprechung/correspondence) giữa thầy và trò, giữa người học và đối tượng suy tư, nó còn tương đương với “để cho sự vật là-chính-nó” (Gelassenheit/”letting-be/releasement”) như là thái độ thích đáng đối với vạn vật quanh ta. Tiến trình này cho phép việc học “xảy ra” như một sự biến đầy kỳ diệu, bất ngờ.  Dọn sẵn lòng mình để việc dạy và học có thể “xảy ra” là điều kiện cần thiết nhất, trước khi có bước thứ hai: biến “chân lý” bên ngoài thành của chính mình. Học là “tiếp nhận”, là “lấy” một cách rất đặc biệt: người lấy chỉ lấy những gì mình vốn có sẵn! Việc dạy, do đó, cũng tương ứng với việc học này. Dạy là cho, là hiến tặng, nhưng nếu người học chỉ đơn thuần tiếp nhận, họ không học được gì cả. Họ chỉ học khi trải nghiệm rằng những gì họ lấy thật ra họ đã có sẵn. Việc học đích thực chỉ diễn ra khi việc lấy những gì vốn có sẵn nơi mình trở thành việc “tự ban tặng” cho mình và thực sự trải nghiệm đúng như thế.  “Biết mấy dòng thơm”…   Khi Heidegger đảo ngược quan hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy và cho “việc giảng dạy là căn nguyên hơn”, ý ông muốn nói rằng việc nghiên cứu không có cơ sở sẽ làm cho việc giảng dạy trở thành vô mục đích. Bởi, nghiên cứu và giảng dạy, hay đúng hơn, nghiên cứu trong giảng dạy, cần nhắm đến mục đích chung, nếu không muốn nói là duy nhất: mở rộng lòng người, đón nhận những tặng vật của trần gian và biết tri ân chúng. Đừng để “mặc hồn hương nhạt với chiều”, đừng để “hoa đẹp rơi trên đá”, oan uổng “một đời thơm”.   ——————————————————————————–  Chú thích:         * Xuân Diệu, Gửi hương cho gió  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 38, 18.06.2015)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ cẩm nang giúp trẻ sống vui vẻ      Bộ sách What-to-do Guides for Kids – Cẩm nang dành  cho trẻ em của nhà tâm lý người Mỹ Dawn Huebner sẽ cung cấp giải pháp  cho các vấn đề mà trẻ thường hay gặp: quá lo lắng, khó ngủ một mình, dễ  nóng giận, có các thói quen xấu khó bỏ, hội chứng ám ảnh cưỡng chế  (OCD), hay than phiền…    Làm sao để con có một hành trình trưởng thành thuận lợi là điều mà mọi cha mẹ đều mong ước. Trong thực tế, sự phát triển của mỗi trẻ em hầu như rất khác nhau và không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Nhiều trẻ gặp phải một hoặc nhiều khó khăn riêng gây ra những rào cản trong cuộc sống thường nhật làm ảnh hưởng tới bản thân, gia đình và các mối quan hệ xã hội. Ở độ tuổi từ 6-12, trẻ thường có xu hướng mắc phải một số thói quen và suy nghĩ tiêu cực, gây ra không ít rào cản trong học tập và sinh hoạt. Là một nhà tâm lý có bề dày kinh nghiệm của Mỹ, tiến sĩ Dawn Huebner đã viết ra bộ sách What-to-do Guides for Kids – Cẩm nang dành cho trẻ em, hướng dẫn cha mẹ tương tác cùng với con cái để các em có một hành trình trưởng thành thuận lợi hơn, hạnh phúc hơn.  Bộ sách gồm sáu cuốn, là sáu giải pháp cho các vấn đề mà trẻ thường hay gặp: quá lo lắng, khó ngủ một mình, dễ nóng giận, có các thói quen xấu khó bỏ (như mút tay, cắn móng tay, nhai áo, gãi da, xoắn tóc…), hội chứng ám ảnh cưỡng chế (OCD), hay than phiền…  •   Những đứa trẻ dễ nổi giận hẳn sẽ làm cho cha mẹ lo lắng, thậm chí nhiều người cảm thấy bất lực trong việc giúp con mình sửa chữa thói tật này. Trong cuốn Khi cơn giận của trẻ bùng nổ, tác giả khuyến khích trẻ dùng trí tưởng tượng đầy sáng tạo để giúp chế ngự cơn giận, làm chủ cảm xúc.  •   Khi trẻ quá lo lắng là cuốn sách giúp trẻ thoát khỏi những lo lắng bằng những mẹo rất thú vị, như viết hoặc vẽ ra nỗi lo lắng, cãi lại lo âu trong đầu, giảm thời gian lo lắng lại bằng cách tạo một chiếc hộp tưởng tượng để “nhốt” các lo lắng vào đó cho đến các mẹo thư giãn tâm trí và cơ thể…  •   Khi trẻ mắc những thói quen xấu, chúng sẽ dễ dàng bị khóa chặt vào những thói quen xấu đó. Cuốn sách “trao” cho trẻ chùm chìa khóa năm chiếc, mỗi chiếc có một tính năng riêng có thể giúp giải phóng khỏi các thói quen không tốt mà trẻ vô tình bị chúng khống chế.  •   Rất nhiều cha mẹ bất lực trong việc tìm cách giúp trẻ có thói quen tự ngủ một mình. Cuốn sách Khi trẻ sợ chiếc giường ngủ sẽ bày cho trẻ những “thủ thuật” có thể vượt qua những rắc rối về giấc ngủ để một mình ngon giấc suốt đêm.  •   Khi não của trẻ gặp rắc rối là một cách thức giúp các bậc cha mẹ đồng hành với con chống lại chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD – Obsessive- Compulsive   Disorder).   •  Cuốn Khi trẻ than phiền quá nhiều giúp trẻ loại bỏ những “than phiền tiêu cực”, chuyển sang cách suy nghĩ tích cực. Vấn đề này sẽ được giải quyết một cách hết sức linh hoạt, qua việc trẻ trò chuyện cùng tác giả – với vai trò một người bạn – và làm những bài tập giống như những trò chơi thú vị, từ đó học được lối suy nghĩ lạc quan.  Bằng cách đặt vấn đề rất đơn giản nhưng thiết thực và gần gũi, tác giả đã dẫn dắt các câu chuyện thật hấp dẫn, linh hoạt để các độc giả nhí khám phá những bí quyết giúp thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực hơn. Sách không chỉ phù hợp với tâm lí của trẻ em mà còn rất thuyết phục các bậc làm cha mẹ.  Bộ sách được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ xuất bản và giới thiệu, từng đoạt nhiều giải thưởng danh giá như iParenting Media Award, Young Voices Award, National Parenting Publications Awards, The Mom’s Choice Awards®….  Đến nay, DTbooks đã giới thiệu tới bạn đọc Việt Nam ba cuốn đầu tiên trong bộ sách:  * Khi cơn giận của trẻ bùng nổ: Cẩm nang hướng dẫn trẻ phương pháp dập tắt cơn giận. (120 trang).  * Khi trẻ mắc những thói quen xấu: Cẩm nang giúp trẻ thoát khỏi thói quen cắn móng tay, mút tay, ngoáy mũi, nhai áo, cào cấu da… (96 trang).  * Khi trẻ quá lo lắng: Cẩm nang giúp trẻ vượt qua cảm giác lo âu (84 trang)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bỏ “đọc – chép” – Liệu có trị bệnh từ ngọn?      Theo chỉ thị của Bộ GD&amp;ĐT, th&#236; &#8220;trong v&#242;ng 2 năm bắt đầu từ năm học 2009-2010, chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua &#8220;đọc – ch&#233;p&#8221; ở Trung học cơ sở (THCS) v&#224; Trung học phổ th&#244;ng (THPT)&#8221;1. Vấn đề đặt ra l&#224;, trong v&#242;ng 2 năm ngắn ngủi, liệu ch&#250;ng ta c&#243; thể &#8220;chấm dứt&#8221; được c&#225;ch dạy học &#8220;chủ yếu qua đọc ch&#233;p&#8221; đ&#227; tồn tại h&#224;ng trăm, h&#224;ng ng&#224;n năm? V&#224; rằng, quan trọng hơn, bỏ &#8220;đọc – ch&#233;p&#8221; c&#243; phải l&#224; một phương ph&#225;p hiệu quả để cải c&#225;ch phương ph&#225;p dạy v&#224; học ở c&#225;c cấp phổ th&#244;ng, hay thực tế chỉ l&#224; một c&#225;ch chữa bệnh nan y kh&#244;ng phải từ căn nguy&#234;n của n&#243;?    Phải thừa nhận rằng, hiện nay không thiếu những giáo viên, với hàng ngàn lý do từ việc lười suy nghĩ, sợ giảng sai, sợ “cháy” giáo án,… đã lựa chọn giải pháp “an toàn” là đọc những gì được ghi trong giáo án mẫu. Và thế là học sinh chỉ còn cách gò lưng chép lại những gì thầy cô giáo “đọc” và về nhà học thuộc lòng. Việc “đọc – chép” theo cách đó là hiện tượng đang tồn tại phổ biến trong các trường phổ thông ở ta (thậm chí nhiều trường đại học hiện nay vẫn còn cách dạy và học như vậy!). Cách dạy và học này đương nhiên sẽ làm cùn mòn sự chủ động và sáng tạo trong việc truyền thụ cũng như nắm bắt tri thức. Việc dạy của giáo viên sẽ chỉ đơn giản là đọc sao cho đúng và hết giáo trình, còn việc học của học sinh sẽ chỉ còn là nghe – chép và học thuộc. Hiện tượng này đương nhiên sẽ là mối nguy hại thực sự đối với bất kỳ nền giáo dục nào trên thế giới chứ không phải chỉ riêng Việt Nam.  Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, như thế, là chuyện không thể không làm. Tuy nhiên, dù theo cách nào, công việc trên mọi giảng đường vẫn là truyền thụ và tiếp nhận tri thức. Nhiệm vụ của bất cứ người giáo viên nào khi lên lớp bằng mọi cách phải truyền thụ và hướng dẫn học sinh nắm bắt được tri thức. Phía học sinh, công việc chính là làm cách nào để tiếp nhận và hiểu tri thức do giáo viên truyền thụ. Công việc truyền thụ và tiếp nhận tri thức đối với độ tuổi học sinh THCS và THPT càng trở nên quan trọng khi ở lứa tuổi này, nhiệm vụ của các em vẫn chủ yếu là tiếp nhận tri thức chứ không phải là sáng tạo tri thức. Theo đó, giáo viên khi lên lớp không thể, dù dưới hình thức nào, bỏ được việc “đọc” và học sinh không thể bỏ được việc “ghi chép”.   Nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục giai đoạn THCS và THPT là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội. Do đó, như đã nói ở trên, ở giai đoạn này, công việc của học sinh chưa phải là sáng tạo tri thức mà là tiếp thu tri thức. Và cũng theo đó, nhiệm vụ của giáo viên là phải làm sao, theo cách dễ hiểu nhất truyền thụ cho học sinh những kiến thức tối cơ bản, khả dĩ giúp các em có đủ hành trang bước vào cho những cấp học cao hơn. Nhiệm vụ đó sẽ là “bất khả thi” nếu như giảng viên lên lớp không dùng phương pháp truyền thống là “khẩu truyền”. Đã có ý kiến về việc nhiều nơi, để chấm dứt nạn “đọc – chép” và thực hiện việc vận dụng công nghệ vào giảng dạy, giáo viên đã biến từ việc “đọc – chép” truyền thống thành việc “nhìn – chép” khô khan hay “hỏi – trả lời” nặng nề.   Ngoài ra, bên cạnh tri thức, ở lứa tuổi THCS và THPT, là giai đoạn học sinh đang phát triển và định hình nhân cách, người giáo viên còn phải dạy cho học sinh phương pháp tiếp thu và vận dụng tri thức, dạy cho các em từ cách ứng xử, cho đến cách rung cảm, xúc động trước mọi vấn đề của cuộc sống. Đó là điều mà không có chiếc máy tính, hay máy chiếu điện tử nào thay thế được ở một người thầy. Và xét cho cùng, những gì được giáo viên trình bày trên lớp cũng là một cách “đọc”. Họ đang “đọc” những tri thức đã được họ tích lũy và nghiền ngẫm để học sinh nghe và hiểu vấn đề, họ đang “đọc” những kinh nghiệm, cảm xúc của chính họ để truyền thụ cho học sinh cách ứng xử trong cuộc sống. Tất nhiên, việc “đọc” này sẽ trở thành một “vấn nạn” thực sự nếu như người thầy chỉ biết rập khuôn máy móc những gì được ghi trong các giáo án mẫu. Chính vì thế, ở đây, nếu phải bỏ, phải “chấm dứt” thì trước hết là ở sự thay đổi nhận thức và năng lực của đội ngũ giáo viên, vì vậy họ cần phải được đào tạo một cách tương xứng và phải là những người được chuẩn hóa đầu tiên, chứ không phải là bỏ hay không việc “đọc – chép”.  Năm 1981, Barnatt, một nhà tâm lý học người Mỹ đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của việc ghi chép trên giảng đường đối với kết quả học tập của học sinh. Kết quả thực nghiệm cho thấy, thành tích học tập của những học sinh chủ động ghi chép trọng tâm của bài giảng một cách thường xuyên khi lên lớp cao hơn hẳn so với hai nhóm những học sinh chỉ nghe giảng, dẫu cho họ có nắm được trọng tâm của bài giảng hay không. Trên thực tế, trí nhớ của con người là có hạn, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin và tri thức như ngày nay, người ta không thể biết và nhớ được tất cả mọi thứ. Việc ghi chép trên lớp, do đó, sẽ giúp học sinh khắc phục được những giới hạn của trí nhớ. Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia chỉ ra rằng, việc chủ động ghi chép những điểm trọng tâm của bài giảng sẽ giúp cho học sinh tập trung tốt hơn, tăng cường hiệu quả của việc nghe từ đó giúp các em nắm bắt và vận dụng kiến thức dễ dàng hơn. Hơn nữa, có ghi chép, có nắm bắt được trọng tâm của bài giảng, người học mới có thể tham gia thảo luận, trao đổi với học sinh khác hay với ngay cả giáo viên của mình. Như thế, việc ghi chép của học sinh mỗi khi lên lớp là một việc làm rất quan trọng, nếu như không muốn nói rằng, học sinh lên lớp không thể không “ghi chép”.   Hiện nay, ở Trung Quốc, đất nước có truyền thống văn hóa, trong đó có giáo dục, khá gần gũi với Việt Nam, thì vấn đề sôi động nhất trên các diễn đàn giáo dục của họ không phải là việc có hay không việc tiến hành ghi chép trên giảng đường mà là vấn đề học sinh làm cách nào để ghi chép sao cho hiệu quả nhất khi lên lớp. Bên cạnh đó, việc ghi chép của học sinh không phải đến hiện nay, trong nền giáo dục hiện đại mới được tiến hành mà đã có cách đây từ hàng ngàn năm. Rất nhiều các tác phẩm của các nhà giáo, nhà trí thức lớn của Việt Nam và trên thế giới từ trước tới nay đều được xuất bản nhờ những cuốn vở ghi chép trên lớp học của các sinh viên.   Như vậy, giải pháp cho vấn đề “đọc – chép” ở ta có lẽ không phải ở việc bỏ hay không bỏ “đọc – chép”, mà là “đọc” và “chép” như thế nào cho có hiệu quả? Vì rằng, ngay cả khi “đọc – chép” mà cả hai phía, thầy và trò đều là những người chủ động thì hiệu quả còn khả quan hơn rất nhiều so với việc đổi mới một cách cứng nhắc và theo phong trào. Điều quan trọng nhất của giáo dục Việt Nam, như nhiều người đã nói, có lẽ vẫn là làm sao phát huy được tính trách nhiệm, chủ động, sự sáng tạo của cả người dạy và người học đồng thời đưa ra được những chiến lược mang tính toàn diện, lâu dài và phù hợp với nhu cầu thời đại, chứ không phải là những “mục tiêu ngắn hạn” như nội dung “chấm dứt đọc – chép trong vòng 2 năm” vừa được ban hành.  —————-  1 Xem Từ 2009, chấm dứt đọc chép ở phổ thông, báo điện tử Vietnamnet  (http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2009/08/861767/)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ GD&ĐT nói về đào tạo 20.000 tiến sĩ      Liên quan lộ trình đào tạo 20.000 tiến sĩ theo chủ trương của Chính phủ, ông Cục trưởng Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&amp;ĐT) Nguyễn Xuân Vang có cuộc trao đổi với PV Tiền Phong.    Khi nào đề án 322 sẽ kết thúc và đề án 911 tiếp nối như thế nào, thưa ông?   Đề án 322 hiện nay đã dừng tuyển sinh và kết thúc vào năm 2014. Từ năm 2000 đến ngày 31-10-2011 đề án 322 đã cử được 5.467 người đi học nước ngoài. Đề án 322 tập trung đào tạo cán bộ KHKT, trong đó có giảng viên các trường ĐH, CĐ ở tất cả các trình độ.  Đề án 911 sẽ chỉ tập trung đào tạo trình độ tiến sĩ (TS) cho giảng viên các trường ĐH, CĐ chứ không phải cho toàn ngành giáo dục. Do vậy, Đề án 911 chỉ tiếp nối một phần của Đề án 322 mà thôi. Đề án 911 nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ cho các trường ĐH, CĐ, trong đó có 10.000 người sẽ gửi đi đào tạo ở nước ngoài.   Hiện nay, trong tổng số 50.951 giảng viên các trường đại học mới có 7.338 giảng viên có trình độ tiến sĩ, chiếm 14%. Với đề án 911, mỗi năm sẽ bổ sung thêm khoảng 2.000 giảng viên có trình độ tiến sĩ thì đó vẫn là một tỉ lệ rất khiêm tốn so với các nước trong khu vực, chưa kể số giảng viên có trình độ tiến sĩ sẽ về hưu cần phải có thêm nguồn tiến sĩ để thay thế.  Hiện có hơn 400 trường ĐH, CĐ trên cả nước, con số 20.000 tiến sĩ có vẻ là nhiều nhưng trong thời gian 10 năm, mỗi trường bình quân mỗi năm sẽ bổ sung thêm chưa được 5 giảng viên có trình độ TS thì con số này vẫn còn là rất nhỏ.   Đối với đề án 911, việc tuyển chọn ứng viên chủ yếu sẽ do các trường thực hiện và các trường sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn giảng viên để giới thiệu cho Bộ GD&ĐT xét cấp học bổng giống như phương thức đổi mới đang thực hiện đối với Đề án 322. Việc quản lý lưu học sinh, chuyển tiền sẽ được thực hiện thông qua hệ thống quản lý thông tin trực tuyến của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT).  Những bất cập bộc lộ trong 10 năm qua của Đề án 322 sẽ được khắc phục ở giai đoạn tiếp theo như thế nào cho từng vấn đề: Tuyển chọn người đi học thích hợp, công khai minh bạch; cấp và chuyển tiền cho lưu học sinh; quản lý con người sau khi học; cơ chế xử phạt?? Đặc biệt Bộ GD&ĐT có phân cấp cho các trường ĐH trong việc nắm giữ hồ sơ để xử phạt những người không thực hiện cam kết làm lãng phí tiền của nhà nước không?  Đề án 322 được thực hiện từ năm 2000 và những năm đầu của đề án, có rất nhiều khó khăn trong việc tuyển chọn, cử đi học, chuyển tiền… và đúng là có những bất cập mà báo chí nêu trong thời gian đầu. Kể từ năm 2008, khi Chính phủ cho phép thành lập Cục Đào tạo với nước ngoài (Cục ĐTVNN), việc thực hiện Đề án 322 có những thay đổi tích cực, đã có bộ phận chuyên trách thực hiện đề án chuyên nghiệp và bài bản hơn.   Từ năm 2009, tất cả ứng viên được các cơ quan xét chọn và giới thiệu dự tuyển phải nộp hồ sơ trực tuyến tại hệ thống tuyển sinh của Cục Đào tạo với nước ngoài.  Kể từ năm 2008, việc chuyển tiền cho lưu học sinh đã cải tiến chuyển thẳng vào tài khoản cá nhân của lưu học sinh 6 tháng 1 lần và không còn tình trạng chuyển kinh phí chậm như thời kỳ trước đó. Mức sinh hoạt phí cũng tăng lên 20% từ tháng 1-2011 và lưu học sinh rất phấn khởi. Tuy nhiên với việc đồng đôla mất giá và giá cả leo thang như hiện nay trên thị trường quốc tế nên không riêng lưu học sinh mà đòi hỏi tất cả đều phải cố gắng.   Còn một vài nước, việc cấp sinh hoạt phí cho lưu học sinh Bộ GD&ĐT vẫn phải chuyển tiền thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài như Lào, Campuchia, Cuba, Ba Lan, Hungary,… và cho đối tượng lưu học sinh chủ yếu là đi theo diện học bổng hiệp định. Theo quy định của Bộ GD&ĐT, lưu học sinh phải gửi báo cáo kết quả học tập về Bộ 6 tháng một lần để được cấp sinh hoạt phí. Những trường hợp gửi báo cáo về muộn thì sẽ phải nhận sinh hoạt phí muộn.  Cục ĐTVNN đang hoàn thiện phần mềm quản lý lưu học sinh trực tuyến và bắt đầu áp dụng từ năm 2012. Với phần mềm quản lý này, thông tin trao đổi giữa lưu học sinh và cơ quan quản lý sẽ thuận tiện, công khai, minh bạch và hiệu quả hơn nữa.  Sau khi tốt nghiệp về nước, lưu học sinh phải hoàn thành thủ tục báo cáo tốt nghiệp và nhận văn bản giới thiệu trở về cơ quan cũ. Hồ sơ cán bộ đi học đều được các cơ quan lưu giữ. Mọi vấn đề thay đổi trong quá trình học tập của lưu học sinh đều phải được cơ quan cử đi học đồng ý.   Trong bản cam kết của lưu học sinh, cơ quan cử đi học phải ký xác nhận và bảo lãnh về tài chính cho người đi học. Người đi học phải trở về cơ quan công tác và nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, phải bồi hoàn kinh phí cho nhà nước.   Trường hợp sinh viên khi đi học do gia đình bảo lãnh nếu thuộc diện phải bồi hoàn thì gia đình và lưu học sinh trực tiếp thực hiện nộp kinh phí bồi hoàn cho ngân sách nhà nước theo hướng dẫn của Cục ĐTVNN.   Đối với cán bộ đã có cơ quan công tác, Cục ĐTVNN gửi công văn thông báo tổng kinh phí đã cấp cho lưu học sinh để cơ quan có cơ sở lập hội đồng xét bồi hoàn và xử lý thủ tục bồi hoàn của cán bộ. Sau đó, người nộp tiền bồi hoàn phải gửi chứng từ đã nộp tiền bồi hoàn cho Bộ GD&ĐT để làm căn cứ quyết toán với Bộ Tài chính.   Hai năm một lần, Kiểm toán Nhà nước đều kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước gửi lưu học sinh đi học nước ngoài của Cục ĐTVNN, trong đó có việc thực hiện thu kinh phí bồi hoàn của lưu học sinh.   Xin cảm ơn ông.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ mặt mới của đại học Việt Nam?      Hệ thống đại học ở một nước như Việt Nam phải ph&#225;t triển theo một quỹ đạo tối ưu giữa số lượng v&#224; chất lượng. Cần mở rộng quy m&#244; để thỏa m&#227;n nhu cầu được học ng&#224;y c&#224;ng cao của người d&#226;n (phương nằm ngang), đồng thời phải n&#226;ng cao chất lượng đ&#224;o tạo v&#224; nghi&#234;n cứu khoa học (NCKH) ở một số trường trọng điểm, được xem như những chiếc m&#225;y c&#225;i cho nền khoa học v&#224; đại học nước nh&#224; (phương thẳng đứng). Đ&#226;y l&#224; những đại học nghi&#234;n cứu theo c&#225;c ti&#234;u ch&#237; v&#224; chuẩn mực quốc tế. Tại đ&#226;y người thầy phải nghi&#234;n cứu khoa học ở tr&#236;nh độ quốc tế, qua đ&#243; n&#226;ng cao chất lượng đ&#224;o tạo, nh&#224; trường phải x&#226;y dựng được c&#225;c trung t&#226;m đ&#224;o tạo v&#224; NCKH ngang tầm quốc tế – Centers of Excellence – được l&#227;nh đạo bởi những nh&#224; khoa học c&#243; vị tr&#237; tr&#234;n mặt tiền khoa học -c&#244;ng nghệ của thế giới. Theo đ&#224; tăng trưởng kinh tế của đất nước, tốc độ ph&#225;t triển theo phương thẳng đứng (c&#225;c trường đại học nghi&#234;n cứu) phải nhanh hơn tốc độ theo phương nằm ngang (mở rộng quy m&#244; đ&#224;o tạo). Nếu kh&#244;ng, c&#225;c trường đại học sẽ thiếu nh&#226;n lực, chất lượng ng&#224;y c&#224;ng sa s&#250;t, v&#224; xu hướng thương mại h&#243;a sẽ l&#234;n ng&#244;i, ph&#225; n&#225;t cả hệ thống. Nguy cơ n&#224;y đang dần lộ diện ở nước ta. Bởi ch&#250;ng ta chưa quyết t&#226;m x&#226;y dựng một bộ mặt mới cho đại học Việt Nam theo những ti&#234;u ch&#237; được thế giới nh&#236;n nhận.     Bức tranh NCKH của các nước Đông Á  và Đông Nam ÁSố lượng công bố quốc tế (CBQT) và số trích dẫn (citation) được xem như thước đo năng lực khoa học của quốc gia. Tiêu chí này cũng được dùng để đánh giá và xếp hạng các trường đại học ở nhiều nước và trên thế giới. Song những tiêu chí này lại chưa được nhìn nhận đúng mức ở nước ta. Chỉ mới gần đây chúng ta mới chấp nhận chúng trong nghiên cứu cơ bản. Các nghiên cứu ứng dụng, công nghệ, xã hội, nhân văn, vốn áp đảo trên các tạp chí khoa học quốc tế và trực tiếp tác động đến đời sống, kinh tế của đất nước vẫn còn bỏ ngỏ về mặt kiểm định chất lượng.               Hình 1        Bức tranh NCKH của 11 nước Đông Á (Hình 1) cho thấy không có bất cứ lý do nào để khước từ CBQT nếu chúng ta muốn đất nước sánh vai với các nước tiên tiến trong khu vực.Tính trên một triệu dân, Singapore đứng đầu khu vực về CBQT, gấp 170 lần Việt Nam. Theo sát sau Singapore là Đài Loan, Hàn Quốc, HongKong và Nhật Bản, năm nước này tạo thành nhóm tiên tiến nhất trong khu vực. Dưới cùng trở lên là Indonesia, Philippines và Việt Nam. Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia thuộc nhóm giữa, nhưng vẫn vượt khá xa ba nước vừa nêu trong nhóm cuối. Năm 2008, 65 triệu dân Thái Lan công bố 3904 công trình, trong khi đó Việt Nam đông dân hơn (87 triệu) nhưng chỉ mới có 806 công trình. Thành tích CBQT của Việt Nam khá hơn Indonesia và Philippines, mặc dù thu nhập bình quân của hai nước này cao hơn ta gấp hai lần. Hơn nữa, trong nhiều năm liền, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao về công bố quốc tế, 16%/năm, ngang với tốc độ của Thái Lan và Malaysia.  Vậy điều gì làm chúng ta lo ngại? Thứ nhất, các trường đại học chỉ chiếm 55% số CBQT của Việt Nam trong khi ở Thái Lan nghiên cứu khoa học tập trung chủ yếu ở các trường đại học (95%). Gắn NCKH với đào tạo đại học là ưu thế của các nước đi sau mà ta không tận dụng. Xem nhẹ sự gắn kết này dẫn đến chất lượng đại học sa sút và những tri thức khoa học mới nhất không được lan tỏa đến cộng đồng để góp phần nâng cao dân trí.  Thứ hai, CBQT của ta còn dựa quá nhiều vào nước ngoài, những công trình do nội lực tạo ra, và đồng thời gắn kết hơn với đời sống của đất nước, chỉ chiếm một phần ba, còn lại chủ yếu làm ở các nước tiên tiến thông qua con đường đào tạo hoặc hợp tác, có nội dung liên quan trực tiếp với đất nước họ. Trong khi đó, tỷ lệ công trình nội lực ở nhiều nước khác đều cao hơn nhiều, Philippines: 55%, Thái Lan: 65%, Malaysia: 75%, Trung Quốc: 80%, chứng tỏ nhiều nước trong vùng đã xây dựng được tiềm lực khoa học đủ mạnh để giải quyết những đề tài khoa học do kinh tế và đời sống của họ đặt ra.Thứ ba, những công trình do nội lực được trích dẫn ít hơn hẳn so với những công bố có nước ngoài hợp tác (thậm chí có công trình hầu như không được ai trích dẫn), phản ảnh sự khác biệt quá xa giữa trình độ khoa học trong và ngoài nước. Thứ tư, dẫn đầu danh sách các công trình do nội lực của Việt Nam là Toán và Vật lý lý thuyết, hai ngành được đầu tư rất ít và hầu như không cần những cơ sở hạ tầng nghiên cứu tốn kém. Ở các nước khác tình hình hoàn toàn ngược lại. Ở Đại học Chulalongkorn chẳng hạn, CBQT do nội lực tập trung vào các lĩnh vực ứng dụng gắn liền trực tiếp đến đời sống như hóa học, y dược, công nghệ v.v… Trên thực tế chúng ta đầu tư không ít cho khoa học ứng dụng, công nghệ, xã hội nhân văn v.v…., song đầu ra trên các diễn đàn quốc tế chỉ lác đác. Bốn đặc điểm trên đây là bất bình thường, không giống những gì diễn ra ở các nước khác, chúng khoét sâu thêm những yếu kém bên trong những thành tích CBQT “đúng quy luật” của Việt Nam. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận và giải quyết để đại học và khoa học Việt Nam có tư thế ngày càng vững vàng hơn trong quá trình hội nhập với thế giới. Hội nhập quốc tế có nghĩa là đại học của nước ta phải bước lên các sân chơi quốc tế với đầy đủ tư thế, đặc biệt là các sân chơi về NCKH.    Bản thân ta phải đủ mạnh mới hội nhập được với thế giớiCó lẽ nên bắt đầu từ câu hỏi tại sao không ít ấn phẩm khoa học nội địa có chất lượng tốt lại không thể xuất hiện trên các tạp chí quốc tế? Mà chỉ nơi đây mới có thước đo tương đối đúng đắn chất lượng NCKH và giảng dạy đại học. Trước hết, phải nói ngay rằng từ một công bố nội địa đến CBQT trên tạp chí có uy tín là cả một khoảng cách rất xa, không dễ vượt qua đối với nhiều người làm khoa học ở nước ta. Trên đoạn đường này lại có rất nhiều rào cản làm nản lòng họ, dù họ biết rất rõ cái đích “quốc tế” cần vươn tới ấy giá trị đến nhường nào. Kinh nghiệm cho thấy từ khi hoàn thành một đề tài NCKH được nghiệm thu tốt ở Việt Nam cho đến khi nội dung khoa học ấy được xuất hiện trên tạp chí quốc tế là khoảng thời gian rất dài, đầy gian nan thách thức. Nhưng đây cũng chính là khoảng thời gian thể hiện tính chuyên nghiệp cũng như đẳng cấp của nhà khoa học. Đây là lúc nhà khoa học phải mang những nội dung nghiên cứu của mình đặt lên mặt tiền tri thức nhân loại. Đối thoại với các phản biện đồng nghiệp quốc tế sừng sỏ nhất còn chính là dịp để khẳng định kỹ năng trình bày, lập luận logic, vươn tới mức chính xác cao nhất v. v…, những kỹ năng thiết yếu nhất của các thầy giáo đại học làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức khoa học cho sinh viên. Lại một lần nữa ta thấy tại sao các trường đại học trên thế giới lại yêu cầu các thầy giáo phải có CBQT.  Những khó khăn trên đây giải thích vì sao chưa có một tạp chí nội địa nào của nước ta, dù xuất bản bằng tiếng Anh đã lâu, được lọt vào danh sách ngót một vạn tạp chí quốc tế hiện nay; vì sao gần hai phần ba công bố quốc tế của Việt Nam được thực hiện tại các nước tiên tiến (qua các chuyến đi công tác, thực tập ở nước ngoài), hoặc được thực hiện tại Việt Nam nhưng lại do nhà khoa học nước ngoài chủ trì.            Nếu Đại học Việt Nam muốn hội nhập với thế giới, chúng ta cần có tư duy mới về cách tổ chức hoạt động NCKH và giảng dạy đại học ở nước ta. Phải phấn đấu xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh (center of excellence) ở các trường đại học, như những đơn vị cấu trúc hoàn toàn mới của nền khoa học và đại học Việt Nam.           Tuy nhiên, cũng không ít nhà khoa học Việt Nam có công bố quốc tế đều đặn, một số ngành như Toán và Vật lý công bố nhiều hơn hẳn các ngành khác, đặc biệt là các ngành công nghệ và khoa học xã hội, nhân văn, và cũng nhiều hơn hẳn một số nước Đông Nam Á. Lý giải chuyện này chắc sẽ giúp chúng ta nhận ra những ưu việt của chính mình và tìm lối đi nhanh đến các sân chơi quốc tế về khoa học và đại học. Từ thực trạng trên dễ thấy ngay rằng cần có tư duy mới về cách tổ chức hoạt động NCKH và giảng dạy đại học ở nước ta. Phải phấn đấu xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh (Center of Excellence) ở các trường đại học, như những đơn vị cấu trúc hoàn toàn mới của nền khoa học và đại học Việt Nam. Hội nhập khoa học và đại học Việt Nam với thế giới chính là xác lập chỗ đứng của các nhóm nghiên cứu này trong cộng đồng khoa học quốc tế. Đòi hỏi một nghiên cứu sinh có ít nhất một công bố quốc tế trước khi trình luận án sẽ là bất khả thi nếu người thầy không có công bố quốc tế đều đặn, không có chỗ đứng nào đó trong cộng đồng quốc tế. Do đó, trong việc xét duyệt và phong hàm giáo sư, công bố quốc tế phải là tiêu chí quan trọng nhất, thậm chí ở nhiều nước còn là tiêu chí độc tôn. Có thể việc này chưa làm được đối với các thế hệ trước, nhưng không có lý do gì minh chứng cho việc tiếp tục duy trì tư duy này cho các thế hệ từ nay về sau. Không thể vì hư danh của một số người trong thế hệ này mà làm hỏng các thế hệ tương lại. Cho nên chính thức chấp nhận công bố quốc tế như một tiêu chí cho giáo sư và phó giáo sư sẽ là bước đột phá đầu tiên cần làm ngay. Từ đó sẽ còn nhiều bước đột phá tiếp theo để tác động đến toàn bộ cách quản lý và tạo ra môi trường lành mạnh cho NCKH và giảng dạy đại học.Tuy nhiên, những bước đột phá ấy vẫn chưa đủ. Về phía người NCKH cũng phải cố gắng vượt qua chính mình mới có đủ hành trang bước lên các sân chơi quốc tế.         Vượt qua chính mìnhMuốn có CBQT, trước hết phải thường xuyên đọc các tạp chí quốc tế cùng chuyên ngành. Có đọc mới thấy mình nghiên cứu đúng hướng, đi tìm đúng cái mới, và tự lượng định liệu mình đủ sức chen chân vào các sân chơi quốc tế hay chưa, còn phải tiếp tục hoàn thiện mình thêm ở những khâu nào nữa. Thiếu tạp chí quốc tế để các nhà khoa học tra cứu là khó khăn cần phải được giải quyết ngay ở cấp quốc gia hiện nay. Phải đọc những gì các đồng nghiệp quốc tế đã viết ra trong ít nhất 5 năm gần đây là điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành một đề tài nghiên cứu. Gần đây Trung tâm Thông tin khoa học thuộc Bộ KH&CN đã mua được quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu của Thomson Reuters, ISI Web of Knowledge http://db.vista.gov.vn/login.aspx, qua đó có đầy đủ thông tin cập nhật cho một vạn đầu tạp chí khoa học được xem là có uy tín nhất hiện nay trên thế giới. Vào trang web này ta có thể tìm thấy rất nhiều thông tin liên quan đến hoạt động NCKH của từng nước, từng cơ sở nghiên cứu, trường đại học, số lượng và chất lượng (số lần được trích dẫn) và bản tóm tắt từng công trình của từng nhà nghiên cứu. Trang mạng Scholar Google, với khẩu hiệu “hãy đứng trên vai những người khổng lồ” cũng rất phổ dụng và hữu ích. Chẳng những đọc công trình các đồng nghiệp cùng chuyên ngành mà còn phải tìm cách đối thoại với họ qua email, thông qua các kênh hợp tác quốc tế để mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc, và nhất là trực tiếp gặp gỡ họ qua các hội nghị quốc tế. Đây là những diễn đàn quan trọng, dễ tiếp cận, cho nên cần khuyến khích và cấp kinh phí đủ để các nhà nghiên cứu nước ta có điều kiện hội nhập với đồng nghiệp khắp năm châu. Viết bài đăng trên các tạp chí quốc tế có nghĩa là đối thoại với đồng nghiệp quốc tế. Ta luôn tưởng tượng có người đang nghiêm khắc “vặn vẹo” mình sau từng câu chữ được viết ra. Hiện nay phần lớn các tạp chí quốc tế đều bằng tiếng Anh. Nên thạo tiếng Anh là điều kiện bắt buộc để tòa soạn nhận đăng công trình. Ở đây không hề có sự nhân nhượng nào về ngôn ngữ, một công trình có giá trị về nội dung học thuật vẫn bị từ chối nếu viết tiếng Anh không ra hồn. Lại không nên nghĩ rằng có thể viết bài báo bằng tiếng Việt rồi nhờ ai đó dịch ra tiếng Anh, bởi ngôn ngữ chuyên môn rất khác ngôn ngữ thông dụng, nhiều khi mỗi tạp chí lại có những yêu cầu và phong cách riêng. Trên thực tế, người nghiên cứu phải suy nghĩ bằng tiếng Anh, chứ không phải theo tiếng mẹ đẻ, rồi sau đó chuyển thể ra tiếng Anh. Ngoại ngữ là rào cản rất lớn đối với những người nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn. Vượt qua rào cản ngôn ngữ là cả một quá trình luyện tập. Kinh nghiệm cho thấy cần phải học tiếng Anh từ đầu, bài bản, nếu không rất khó thành công. Đây là khó khăn của rất nhiều nhà khoa học lớn tuổi muốn khẳng định chỗ đứng của mình trong cộng đồng quốc tế. Cho nên cần khuyến khích một số trường đại học chất lượng cao giảng dạy bằng tiếng Anh. Tin rằng một thế hệ mới các thầy giáo đại học Việt Nam sẽ xuất hiện, họ có thể nói chuyện với đầy đủ tư thế cùng các đồng nghiệp nước ngoài. Họ sẽ là bộ mặt mới của đại học Việt Nam. Còn thế hệ cũ đang đóng vai các lão làng: hãy vượt qua chính mình để thúc đẩy nhanh chóng một thế hệ mới!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường sư phạm      Trong nhiều năm qua, ở tất cả các khoa của các trường đại học sư phạm đều có bộ môn phương pháp giảng dạy, trong đó không ít nơi đã và đang là những cơ sở đào tạo ra nhiều tiến sĩ, và không ít thành viên của họ nhanh chóng đạt được học hàm cao.      Truyền thụ kiến thức chuyên môn cho người học vẫn là chưa đủ. Nguồn: chinhphu.vn   Như vậy, đó hẳn phải là những người làm ra các kết quả nghiên cứu mới đóng góp cho khoa học giáo dục, và do đó, theo logic các bộ môn này hẳn phải là những cơ sở mạnh về nghiên cứu, có nhiều đóng góp tích cực cho khoa học giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế có đúng như vậy không? Đây là vấn đề không chỉ các nhà quản lý mà toàn xã hội cần quan tâm, bởi bộ môn phương pháp giảng dạy, đúng như tên gọi của nó, phải có vai trò và ảnh hưởng mang tính nền tảng trong mọi nền giáo dục.  Lựa chọn các phương pháp giảng dạy, hay các phương pháp học tập, trong quá trình dạy và học, đương nhiên phải là sự gắn kết cao giữa khoa học chuyên ngành với khoa học giáo dục, cùng với thực tiễn. Nếu chỉ trong một tiết dạy, thì ảnh hưởng của việc lựa chọn phương pháp giảng dạy đúng hay sai, không lớn. Nhưng nếu đưa ra một phương pháp giảng dạy mới, hay một phương pháp học tập mới, và được phổ biến như một kết quả khoa học, thì đó là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vì vậy tối thiểu trước hết nó cần phải được công bố, thông thường là trên các tạp chí có uy tín, và đương nhiên phải được phản biện kỹ càng qua các chuyên gia. Rồi ngay cả khi đã được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, thì việc ứng dụng những kết quả đó, người ta cũng cần phải hết sức thận trọng. Điều này cũng như các phương pháp điều trị bệnh trong ngành y vậy!  Điều gì sẽ xảy ra, khi hầu hết các kết quả nghiên cứu mới của các tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư của chuyên ngành phương pháp giảng dạy ở ta không có khả năng công bố trong các tạp chí quốc tế. Chẳng hạn, theo thống kê của GS Hoàng Xuân Phú: “Ngành giáo dục học có 272 tạp chí ISI, nhưng tất cả 34 PGS và GS được phong năm 2016 của ngành này gộp lại chỉ có mỗi một bài ISI/Scopus” (xem bài “Nghịch lý giáo sư, phó giáo sư: Sững sờ trước những con số”, Chuyên mục Giáo dục, Thanh Niên, 11-4-2017). Rõ ràng với tư cách là một khoa học, thì khoa học giáo dục với các kết quả của nó, không có lý do gì, không thể cất cánh ra khỏi biên giới quốc gia. Vậy thì những bài báo đã công bố của các tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư của chuyên ngành phương pháp giảng dạy ở dạng nào, chúng có phải là những bài báo khoa học (original articles) hay không, có thể mang ra để tính điểm công trình trong việc xét học hàm PGS/GS được không? Và nếu chúng được áp dụng thì rủi-may trong giáo dục sẽ ra sao, và ai là người chịu trách nhiệm?  Một thực tế nhức nhối là sự xuất hiện những phương pháp dạy và học kiểu “mỳ ăn liền”, được sử dụng công khai ở không ít các trung tâm, thu hút không ít người học, đặc biệt là trẻ em, không thể không liên quan đến các bộ môn phương pháp giảng dạy. Cần nhấn mạnh rằng, ngay cả lối dạy học có khuynh hướng thực dụng cũng luôn được cảnh tỉnh, huống chi lại là phương pháp kiểu “mỳ ăn liền”.  Xin lắng nghe Einstein cảnh báo: “Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái gì là đáng để phấn đấu trong cuộc đời. Anh ta phải được dạy để có được một ý thức sống động về cái gì là đẹp và cái gì là thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cộng đồng” (A. Einstein, Thế giới như  tôi thấy, NXB Tri thức 2007, trang 48).  Như vậy việc giảng dạy ngay cả khi đã đạt được kiến thức chuyên môn cho người học vẫn chưa đủ, mà còn cần phải hướng tới mục tiêu cao cả trong giáo dục con người. Điều này càng đòi hỏi gắt gao về độ chuẩn xác của phương pháp giảng dạy. Do đó những kết quả nghiên cứu, được sản sinh ra từ các “chuyên gia phương pháp giảng dạy”,  không có khả năng công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín, cần phải được đánh giá lại đúng thực trạng của nó. Rằng nếu nó chỉ được “đắp chiếu” để đấy, và chủ nhân của chúng chỉ lấy những học hàm, học vị cốt để có danh, hay hưởng lương thì là một nhẽ(!) Nhưng khi những kết quả ấy cùng chủ nhân của chúng, được thừa nhận và được trọng dụng trong giáo dục, thì hệ quả sẽ không chỉ là sự không tương thích giữa học hàm, học vị với năng lực nghiên cứu khoa học, sự sinh sôi nhanh chóng ra rất nhiều lứa tiến sĩ kém chất lượng tiếp theo, mà còn là vô vàn những hệ lụy tiêu cực mà học sinh, sinh viên, và xã hội phải gánh chịu. Rõ ràng đó là một vấn đề nghiêm trọng của quản lý giáo dục.  Xin nhắc lại rằng, phương pháp giảng dạy các bộ môn chỉ có thể tin cậy được, nếu nó thể hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khoa học chuyên ngành với khoa học giáo dục, cùng với nhu cầu của thực tiễn. Việc tùy tiện đưa ra và phổ biến các phương pháp giảng dạy mới, là điều không thể, nhất là nếu chưa được công nhận bởi một hệ thống phản biện đủ mạnh. Vì vậy các trường đại học sư phạm cần phải đánh giá đúng thực trạng của bộ môn phương pháp giảng dạy, từ chương trình và giáo trình trong đào tạo đại học, đến những đề tài luận án tiến sĩ… Nên chăng cần phải xác định rõ đối tượng và nhiệm vụ của bộ môn này một cách khoa học, trên cơ sở tham khảo từ các nền giáo dục tiên tiến, từ đó định ra những yêu cầu tối thiểu về trình độ của giảng viên. Vì vai trò quan trọng của nó, trong việc đào tạo nghề cho những nhà giáo tương lai, nên nó cần phải được đặc biệt quan tâm, từ khâu tuyển chọn giảng viên, đến việc đòi hỏi gắt gao tính chuẩn mực và công bố quốc tế đối với các kết quả nghiên cứu mới!    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Bổ nhiệm giáo sư – kinh nghiệm Malaysia      Quy trình bổ nhiệm chức danh giáo sư minh bạch, linh hoạt và nhất quán với bộ tiêu chuẩn đơn giản, phản ảnh thực chất những đòi hỏi cốt lõi của Malaysia có thể là một tham khảo tốt cho Việt&#160; Nam.    Giáo sư được coi là thang bậc cao nhất trong sự nghiệp của giới hàn lâm, và theo truyền thống, điều này phản ảnh những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ cộng đồng. Tuy vậy ngày nay, do sự thay đổi của các trường đại học, do tính chất quốc tế hóa ngày càng tăng, và do sự phát triển của xã hội tri thức, tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư đang trở nên ngày càng đa dạng và linh hoạt.     Malaysia là một nước tương đối gần với Việt Nam, cùng chia sẻ những đặc điểm khu vực và không quá xa về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, nhưng những năm gần đây, Malaysia bứt phá lên khá xa trong giáo dục đại học.     Đối với Việt Nam, học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển, đặc biệt những nước đã có kinh nghiệm lâu đời và đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục và khoa học như Mỹ hay châu Âu là điều quan trọng. Tuy vậy, nhiều điều rất khó áp dụng do những khác biệt trong hệ thống chính trị và văn hóa, cũng như trong trình độ phát triển của nền kinh tế. Có những chính sách có thể áp dụng được ở những nước thu nhập 40.000-50.000 USD/năm, nhưng sẽ không thể sao chép ở một đất nước thu nhập đầu người chỉ 2.000 USD/năm. Vì vậy, có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu chúng ta tìm hiểu những nước gần với mình, xem họ đã học hỏi kinh nghiệm phương Tây như thế nào, đã vượt qua những khác biệt ra sao, và đạt được thành tựu gì. Malaysia là một trường hợp như vậy khi chúng ta muốn tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế trong việc bổ nhiệm chức danh giáo sư.     Quy trình đề bạt linh hoạt nhưng nhất quán cho các trường    Thực tế phổ biến ở nhiều nước là, thang bậc vị trí trong nghề hàn lâm bao gồm năm bước từ thấp đến cao: trợ giảng, giảng viên, giảng viên cao cấp, phó giáo sư và giáo sư. Giáo sư, vị trí cao nhất trong thang bậc học thuật này, được mong đợi thực hiện vai trò lãnh đạo hoạt động chuyên môn trong chuyên ngành của họ. Vai trò của giáo sư ngày nay không chỉ là giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng, mà còn là tạo ra tri thức mới và đem những tri thức ấy ứng dụng vào cuộc sống. Với cương vị lãnh đạo về học thuật, giáo sư có vai trò là mẫu mực cho thế hệ sau. Người ta kỳ vọng các giáo sư hỗ trợ, hướng dẫn đồng nghiệp và học trò, cũng như đóng vai trò là hình ảnh của nhà trường, hành động như một “đại sứ” của nhà trường trong việc giao tiếp với cộng đồng rộng lớn ngoài xã hội.     Tương tự như trên, ở Malaysia, bậc thang hàn lâm có sáu mức độ: trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư (được chia thành ba cấp C, B, A từ thấp đến cao), và giáo sư xuất sắc (distinguished professor).     Bộ Giáo dục Malaysia ban hành tiêu chuẩn khung cho mỗi chức danh, đồng thời cho phép các trường linh hoạt điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và bối cảnh của mình. Việc xây dựng bộ khung hướng dẫn này rất quan trọng, vì nó đưa ra một quy trình đề bạt công bằng, minh bạch và nhất quán, đảm bảo sự liêm chính và uy tín của những người được bổ nhiệm.     Thông thường, một giảng viên sẽ tuần tự đi qua từng bậc thang, nhưng cũng có quy định bổ nhiệm vượt cấp trong trường hợp có thành tựu nổi bật. Hội đồng xét duyệt do nhà trường thành lập với sự cân nhắc, chọn lọc rất thận trọng. Hướng dẫn của Bộ chỉ đóng vai trò là cột mốc đối sánh giúp các trường xây dựng tiêu chuẩn và quy trình của riêng mình. Vì vậy nó có ý nghĩa tham khảo hơn là một quy định bắt buộc, cả ở trường công lẫn trường tư.  Tiêu chí cụ thể để bổ nhiệm giáo sư ở Malaysia như sau:            STT      Tiêu chí      Trọng số          1      Nghiên cứu và công bố quốc tế  –            Lãnh   đạo năm dự án nghiên cứu với tổng kinh phí khoảng 350.000 USD  –            Có   20 bài báo khoa học, 20% trong đó là tác giả chính trong tạp chí ISI         30-40          2      Giảng dạy và hướng dẫn:  –            Đào   tạo ít nhất một tiến sĩ hoặc hai thạc sĩ;  –            Giảng   dạy 60 tín chỉ và được đánh giá tốt.         30-40          3      Khả năng lãnh đạo học thuật và mức độ   được công nhận:  –            Là   diễn giả chính của hai hội thảo quốc gia/quốc tế; hoặc  –            Là   chuyên gia bình duyệt của một tạp chí có trong danh mục ISI (năm bài); hoặc  –            Được   mời bình duyệt trong hội đồng đề bạt phó giáo sư.         10-20          4      Phục vụ đại học và cộng đồng:  Là thành viên của các hội đồng/ủy ban quốc gia và quốc tế   (bất cứ hoạt động gì).         5-15          5      Tư vấn, quan hệ với giới doanh nghiệp,   chuyển giao tri thức:  – Thực hiện   năm hoạt động phục vụ trong lĩnh vực chuyên môn.      5-15            Điều mà chúng ta có thể học ở Malaysia là: (1) kết hợp giữa việc bảo vệ tiêu chuẩn với sự linh hoạt của các trường; (2) bộ tiêu chuẩn rất đơn giản và phản ảnh thực chất những đòi hỏi cốt lõi đối với chức danh giáo sư.    Giáo sư xuất sắc phải do Bộ Giáo dục bổ nhiệm    Chỉ có giáo sư hạng A mới được nộp đơn xin xét đề bạt giáo sư xuất sắc. Riêng hội đồng xét duyệt giáo sư xuất sắc thì do Bộ Giáo dục thành lập. Tiêu chuẩn khung mà Bộ Giáo dục đưa ra hướng dẫn các trường xem xét đánh giá hồ sơ thành tích của ứng viên ở các mặt sau:    – Năng suất công bố khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành;  – Được sự công nhận và khen ngợi của đồng nghiệp trong nước lẫn quốc tế;  – Thiết lập được một mạng lưới cộng tác đồng nghiệp sâu rộng trong nước và quốc tế;  – Có những hoạt động xuất sắc trong việc lãnh đạo chuyên môn cũng như trong việc quản lý hoạt động khoa học của đơn vị;  – Chứng tỏ một tinh thần cộng sự và hợp tác mạnh mẽ trong giới chuyên môn.    Giáo sư xuất sắc phải đạt được thành tựu trong những lĩnh vực nói trên ở một mức độ đặc biệt nổi bật, thể hiện qua các giải thưởng quốc tế, và có những đóng góp to lớn cho đất nước cũng như cho kho tàng tri thức của nhân loại. Cho tới nay, chỉ có rất ít người được bổ nhiệm vị trí danh dự này.            Trong thời gian từ 2009-2013, Malaysia công bố 33.472 bài báo khoa học, trong khi Việt Nam công bố 7.7271 bài báo khoa học.             ——–    1http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2013/11/nang-suat-khoa-hoc-viet-nam-2009-2013.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bổ nhiệm giáo sư ở Đại học Harvard?      Bổ nhiệm giáo sư (GS) ở trường Đại học Harvard là một quy trình nghiêm ngặt và rất công minh. Quy trình bổ nhiệm này xuất phát từ nhu cầu của Khoa nào đó trong trường đại học mà tổ bộ môn đó thiếu giáo viên. Với họ, từ khởi đầu cho đến kết thúc là cả một chặng đường rất dài tốn khá nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, nhưng không phải vì thế mà họ dễ dàng tìm được một ứng viên phù hợp. Đi kèm với nhu cầu đó là một loạt các tiêu chí rất cao dựa trên thành tích trong quá trình hoạt động khoa học của các ứng viên. Bởi lẽ, GS ở đại học Harvard là chức danh khoa học cao nhất dành cho giáo viên.    Mặc dù vậy, không có chuyện tranh cử hay bỏ phiếu, quy trình này trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có sự bàn bạc của nhiều GS, nhiều nhà khoa học, những người hiểu biết nhất về lĩnh vực đó để đi đến thống nhất. Do vậy, quy trình được tiến hành rất công khai và minh bạch.  Trước tiên, khi có nhu cầu về nhân lực, những người có trách nhiệm là những vị GS hàng đầu họp bàn và nhận định đúng lĩnh vực này rất cần một GS, trên cơ sở đó họ tập hợp một uỷ ban tìm kiếm ứng viên đáp ứng được vị trí này. Tất cả các sinh viên, các giáo viên cấp thấp không được tham gia vào quá trình này.  Sau khi uỷ ban tìm kiếm được lập ra, suốt nhiều tháng họ tìm kiếm, xem xét các công trình khoa học của nhiều người, lên danh sách những người có khả năng, loại bớt những ứng viên không phù hợp. Nói chung, tiêu chí cao nhất vẫn là thành tựu khoa học của ứng viên đó có tạo được bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học này? Và họ có tiềm năng nghiên cứu trong tương lai hay không?  Phải rất thận trọng và tỉ mỉ, những thành viên của uỷ ban tìm kiếm mới tìm ra được tên của một ứng viên đáp ứng được những đòi hỏi của trường đại học. Có được tên của ứng viên này họ phải tranh luận, bàn bạc, đưa ra kiến nghị, lập trường của mình nhằm bảo vệ đến cùng những luận cứ đó. Như thế, rất lâu sau uỷ ban tìm kiếm mới tìm ra được một cái tên thích hợp. Khi ứng viên đã được chọn không có nghĩa là đã kết thúc quá trình tìm kiếm. Việc đánh giá đạo đức và nhân cách của ứng viên là tiêu chí quan trọng thứ hai để thống nhất các ý kiến lần cuối xác định rõ chọn  hay không chọn ứng viên này.  Sau việc xác định nhu cầu, một loạt các cuộc tranh luận để đạt được mục tiêu, quy trình bổ nhiệm bắt đầu bước vào giai đoạn thứ hai đó là thăm dò dư luận. Không có chuyện công khai xin ý kiến, cuộc thăm dò này được tiến hành rất công phu và kĩ lưỡng, các đối tượng trưng cầu ý kiến là những chuyên gia, những người hiểu biết nhất về lĩnh vực khoa học này.  Hình thức thăm dò kín dưới dạng gửi thư đến các đối tượng, trong mỗi bức thư có một bản danh sách (gồm cả tên người được chọn nhưng họ không đề cập đến) kèm theo những kiến nghị và yêu cầu trả lời. Rất đơn giản chỉ cần họ sắp xếp danh sách trên theo thứ hạng và cho biết tại sao lại làm như vậy?  Cùng với việc đó là các danh mục công trình và vài ba tiểu luận của ứng viên đó được các GS nghiên cứu cặn kẽ. Ngoài ra, các công trình khác của ứng viên cũng được đưa tới cho những người khác tham khảo.  Phải mất đến vài tháng sau, kết quả mới được thu về, lúc này các GS mới ngồi lại bàn bạc để đi đến thống nhất. Họ bỏ phiếu công khai và ghi vào biên bản nghiệm thu. Tất cả các kiến nghị, các lập luận phản đối, những lá thư, các yêu cầu, mục tiêu… được lưu lại và tổng hợp thành một bộ hồ sơ hoàn chỉnh nhất.  Như vậy, quá trình thăm dò dư luận từ thăm dò kín đến bỏ phiếu công khai đã kết thúc. Có thể vì một lý do nào đó ứng viên được chọn biết được mình có trong danh sách tìm kiếm nhưng không vì thế mà họ biết được mình đã nằm trong danh sách người được chọn để bổ nhiệm.  Kết thúc toàn bộ quá trình tìm kiếm ứng viên, quy trình bổ nhiệm bước sang một giai đoạn- giai đoạn mời ứng viên nhập cuộc. Ứng viên được mời đến, họ có toàn quyền quyết định xem có tham gia hay không vào quy trình bổ nhiệm GS này. Đại đa số là đồng ý, tuy nhiên một số trường hợp vì những lý do cá nhân không tham dự, uỷ ban tìm kiếm cũng không bất ngờ với kết quả này vì đó cũng là một trong những cuộc thử nghiệm và họ buộc phải tiến hành lại từ những bước đầu tiên.  Khi ứng viên nhận lời cũng là lúc họ có quyền bàn bạc về các điều kiện vật chất. Tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà các đòi hỏi, yêu cầu về quyền lợi khác nhau. Trên thực tế không có bảng lương cố định nào cho các GS, cũng không có đòi hỏi nào quá khắt khe mà các trường đại học không thể thực hiện được. Kết quả phụ thuộc vào khuôn khổ cuộc đàm phán giữa hai bên.  Ứng viên khi nhận lời họ phải đối mặt với rất nhiều thách thức ở giai đoạn sau không ít người bị thất bại khi đã lọt vào vòng chung kết. Nhiều người đã rất thất vọng khi không đi được đến đích cuối cùng bởi họ đã không đạt được một vài yêu cầu nào đó, hoặc vì một lý do cá nhân nào đó.  Quy trình bổ nhiệm tiếp tục bước vào giai đoạn mới, giai đoạn cuối cùng của quá trình bổ nhiệm. Đầu tiên các giáo viên bộ môn viết một lá thư cho trưởng khoa ghi rõ các kiến nghị đề xuất đồng tình hay phản đối ứng viên này. Trưởng khoa thu thập tất cả và nộp kèm hồ sơ hoàn chỉnh nhất cho Chủ tịch.  Trước khi họp bàn lần cuối cùng người ta tổ chức một ủy ban ad hoc (ủy ban đặc biệt) gồm ba thành viên. Thành viên thứ nhất là người hiểu rất rõ đề tài nhưng phụ trách ở một bộ môn khác trong trường. Hai người còn lại là hai vị GS có uy tín đến từ trường đại học nổi tiếng trong nước hoặc nước ngoài. Ba người này đã nhận được đầy đủ trước những công trình khoa học tiêu biểu của ứng viên. Họ nghiên cứu và góp tiếng nói nhận định về khía cạnh khoa học đối với người được bổ nhiệm. Hình thức này nhằm loại bỏ việc bè cánh trong giới hoa học, như thế họ cũng loại bỏ luôn mối quan hệ mà ứng viên có thể tổ chức được trước khi quy trình bổ nhiệm kết thúc.  Một cuộc họp quan trọng đi đến quyết định cuối cùng được tổ chức tại phòng Chủ tịch. Những thành viên tham gia gồm Chủ tịch, tổ trưởng tổ bộ môn, trưởng khoa và ủy ban ad hoc, tất cả họp lại và nhìn nhận tất cả các ý kiến từ đồng thuận đến phản đối.  Tại đây, tất cả các ý kiến được bàn luận, xem xét, đánh giá cùng với việc tìm hiểu kĩ hồ sơ của ứng viên.  Kết thúc cuộc họp, Chủ tịch là người có quyết định tối cao cuối cùng dựa trên toàn bộ quy trình đánh giá ứng viên. Trong đại đa số trường hợp Chủ tịch đồng ý với đa số ý kiến đồng thuận, tuy nhiên ở một số tình huống nào đó cũng có những ngoại lệ.  Chỉ khi ứng viên nhận được chức danh GS, khi bắt đầu tiến hành công việc trên cương vị mới, lúc đó quyền lợi của ứng viên mới thật sự bắt đầu.  GS là chức danh rất vinh dự dành cho những người có thành tích khoa học, nhưng chức danh đó chỉ có được từ những đòi hỏi thực tế cần một người có thể làm việc và đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra. Khi đã là GS họ không phải lo lắng quá nhiều về thu nhập hay về việc định danh trong một thời kì. Với họ chức danh GS thuộc về một lĩnh vực khoa học cụ thể, chức danh này theo họ mãi mãi, không giới  hạn tuổi tác và không giới hạn về điều kiện phát triển khoa học.  Dù bất cứ lí do gì, đã ở cương vị này, GS có toàn quyền quyết định ở lại hay ra đi tìm cơ hội ở môi trường khác, không có bất cứ ràng buộc nào từ người sử dụng đối với họ. Dù cho một số ít những vị GS khả kính này sau khi được bổ nhiệm không đáp ứng được mong đợi của người sử dụng (trừ trường hợp ngoại lệ GS vi pháp pháp luật, hoặc mắc một số bệnh liên quan đến khả năng tư duy thì việc định danh lại hay xóa bỏ chức danh GS mới được phép bàn đến). Đây vừa là ưu tiên đặc biệt đối với vị trí này đồng thời cũng là môi trường an toàn và tự do nhất cho phép họ bộc lộ hết khả năng của mình.  Thật vinh dự cho ai có được chức danh GS ở đại học Harvard, nhưng không phải vì thế mà chỉ có GS mới là người thành công, rất nhiều dẫn chứng cho thấy, những người chưa qua được quy trình bổ nhiệm, hay những người không có được chức danh này, họ vẫn có được những thành quả mà nhiều vị GS trong cùng lĩnh vực khoa học phải nghiêng mình thán phục.  Dù sao quy trình bổ nhiệm GS ở đại học Harvard (được lược thuật trên đây) đã gây cho tác giả Kornai János (người viết những dòng hồi kí này) một ấn tượng thật sâu sắc khi ông tham dự với tư cách một thành viên trực tiếp: “dẫu thủ tục bổ nhiệm có mặt trái của nó, tôi cảm động theo dõi và phục vụ với niềm vinh dự, cho đến tận lúc tôi tham gia”.    (Trích trong cuốn: Bằng sức mạnh tư duy – A Gondolat Erejével của Kornai János, người dịch Nguyễn Quang A)    Author                Quản trị        
0.4827586206896552
__label__tiasang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bồi dưỡng học sinh giỏi một số nước phát triển      Quan niệm về giáo dục học sinh giỏi  Trên thế giới việc phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi đã có từ rất lâu. Ở Trung Quốc, từ đời nhà Đường (618 TCN) những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân Rồng để học tập và được giáo dục (GD) bằng những hình thức đặc biệt. Trong tác phẩm phương Tây, Plato (427-347 TCN) cũng đã nêu lên các hình thức GD đặc biệt cho HS giỏi. Ở châu Âu trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc, văn học… đều được nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ. (Colangelo &amp; Davis; Hansen &amp; Hoover, 1994)    Nước Mỹ mãi đến thế kỉ 19 mới chú ý tới vấn đề GD học sinh giỏi và tài năng. Đầu tiên là hình thức GD linh hoạt tại trường St. Public Schools Louis 1868 cho phép những HS giỏi học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm; sau đó lần lượt là các trường Woburn, MA in 1884; Elizabeth, NJ in 1886; and in Cambridge, MA in 1891 (Colangelo & Davis; Piirto). Và trong suốt thế kỉ XX, HS giỏi đã trở thành một vấn đề của nước Mỹ với hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng học sinh giỏi ra đời. Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục HS giỏi (Gifted & Talented Student Education Act) trong đó 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc GD học sinh giỏi.  Nước Anh thành lập cả một Viện hàn lâm quốc gia dành cho học sinh giỏi và tài năng trẻ (The National Academy for Gifted and Talented Youth, website  http://www.nagty.ac.uk ) và Hiệp hội quốc gia dành cho học sinh giỏi (The National Association for Gifted Children  http://www.nagcbritain.org.uk), bên cạnh Website hướng dẫn GV dạy cho HS giỏi và HS tài năng (Guidance for teachers in teaching gifted and talented students: http://www.nc.uk.net/gt/).  Từ năm 2001 chính quyền New- Zealand đã phê chuẩn kế hoạch phát triển chiến lược HS giỏi (website http: //www .tki.org.nz/e/gifted/). CHLB Đức có Hiệp hội dành cho HS giỏi và tài năng Đức (German Society for the Gifted and Talented Child, website: http: //www .dghk. de/welcome. html) …  Giáo dục Phổ thông Hàn Quốc có một chương trình đặc biệt dành cho HS giỏi (sppecial progammes for gifted children) nhằm giúp chính quyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm. Năm 1994 có khoảng 57/ 174 cơ sở GD ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đặc biệt dành cho HS giỏi. (www.inca.org.uk)                      Từ năm 1985, Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình GD đặc biệt dành cho hai loại đối tượng HS yếu kém ( slow learners ) và HS giỏi, trong đó cho phép các HS giỏi có thể học vượt lớp (to skip grades).  Một trong 15 mục tiêu ưu tiên của Viện quốc gia nghiên cứu giáo dục và đào tạo (NCERT) Ấn Độ là phát hiện và bồi dưỡng HS tài năng…  Nhìn chung các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có năng khiếu) và talent (tài năng). Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HS giỏi như sau:  “HS giỏi là HS chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao/và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt/và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết/khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt/ và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó”. (Georgia Law)  Cơ quan GD Hoa Kỳ miêu tả khái niệm “HS giỏi” (“giftedness”) như sau: Đó là những HS có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt. Những HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế”. (Education of Gifted Students- Encarta Encyclopedia 2005).  Nhiều nước quan niệm: HS giỏi là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo (Leadership) hoặc lĩnh vực lí thuyết (Academic). Những HS này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên.  Có thể nói, hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) trong chiến lược phát triển chương trình GD phổ thông. Nhiều nước ghi riêng thành một mục dành cho HSG (for gifted hoặc for talented students), một số nước coi đó là một dạng của giáo dục đặc biệt (special education) hoặc chương trình đặc biệt (special programmes).  Các hình thức giáo dục HS giỏi  Nhiều tài liệu khẳng định: HS giỏi có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp vì thế cần có một Chương trình HS giỏi để phát triển và đáp ứng được tài năng của họ.  Từ điển bách khoa Wikipedia trong mục Giáo dục HS giỏi (gifted education) nêu lên các hình thức sau đây:   Lớp riêng biệt (Separate classes): HS giỏi được rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học riêng, thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu. Nhưng lớp hoặc trường chuyên (độc lập) này có nhiệm vụ hàng đầu là đáp ứng các đòi hỏi cho những HS giỏi về lí thuyết (academically). Hình thức này đòi hỏi ở nhà trường rất nhiều điều kiện ( không dựa vào được các gia đình phụ huynh) từ việc bảo vệ HS, giúp đỡ và đào tạo phát triển chuyên môn cho giáo viên đến việc biên soạn chương trình, bài học…   nhóm tuổi, nhà trường mang lại cho HS những cơ hội vượt lên so với các bạn cùng nhóm tuổi. Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng được các mức độ khá tự do, nó hết sức có lợi cho những HS giỏi trong hình thức học tập với tốc độ cao.   Tăng gia tốc (Acceleration): Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS. Một số trường Đại học, Cao đẳng (Colleges) đề nghị hoàn thành chương trình nhanh hơn để HS có thể học bậc học trên sớm hơn. Nhưng hướng tiếp cận giới thiệu HS giỏi với những tài liệu lí thuyết tương ứng với khả năng của chúng cũng dễ làm cho HS xa rời xã hội.  Học tách rời (Pull-out) một phần thời gian theo lớp HS giỏi, phần còn lại học lớp thường.  Làm giàu tri thức (Enrichment) toàn bộ thời gian HS học theo lớp bình thường, nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà.   Dạy ở nhà (Homeschooling) một nửa thời gian học tại nhà học lớp, nhóm, học có cố vấn (mentor) hoặc một thầy một trò (tutor) và không cần dạy.  Trường mùa hè (Summer school) bao gồm nhiều course học được tổ chức vào mùa hè.   Sở thích riêng (Hobby) một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành để cho HS thử trí tuệ sau giờ học ở trường.  Phần lớn các nước đều chú ý bồi dưỡng HS giỏi từ Tiểu học. Cách tổ chức dạy học cũng rất đa dạng: có nước tổ chức thành lớp, trường riêng… một số nước tổ chức dưới hình thức tự chọn hoặc course học mùa hè, một số nước do các trung tâm tư nhân hoặc các trường đại học đảm nhận…  Tuy vậy, cũng có một số nước không có trường lớp chuyên cho HS giỏi như Nhật Bản và một số bang của Hoa kỳ. Chẳng hạn: Từ 2001, với đạo luật “Không một đứa trẻ nào bị bỏ rơi” (No Child Left Behind Act) giáo dục HS giỏi ở Georgia về cơ bản bị phá bỏ. Nhiều trường không còn là trường riêng, lớp riêng cho HS giỏi, với tư tưởng các HS giỏi cần có trong các lớp bình thường nhằm giúp các trường lấp lỗ hổng về chất lượng và nhà trường có thể đáp ứng nhu cầu giáo dục HS giỏi thông qua các nhóm và các course học với trình độ cao.  Chính vì thế vấn đề bồi dưỡng HS giỏi đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận (current issues): “Nhiều nhà GD đề nghị đưa HS giỏi vào các lớp bình thường với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phương pháp giáo dục như nhau. Tuy nhiên nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng giáo viên các lớp bình thường không được đào tạo và giúp đỡ tương xứng với CT dạy cho HS giỏi. Nhiều nhà GD cũng cho rằng những HS dân tộc ít người và không có điều kiện kinh tế cũng không tiếp nhận được CT GD dành cho HS giỏi. Trong khi quỹ dành cho GD chung là có hạn nên sẽ ảnh hưởng nhiều tới hiệu quả đào tạo tài năng và HS giỏi”.              Mục tiêu dạy học sinh giỏi  Mục tiêu chính của chương trình dành cho HS giỏi và HS tài năng nhìn chung các nước đều khá giống nhau. Có thể nêu lên một số điểm chính sau đây:  – Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của trẻ.  – Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo  – Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời  – Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm  – Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp xã hội  – Phát triển phẩm chất lãnh đạo  Các môn học cho HS giỏi cũng khá đa dạng: Hàn Quốc chú ý các môn khoa học, toán, ngoại ngữ, khoa học máy tính, nghệ thuật và điền kinh; Mỹ chú ý toán và khoa học; Pháp chú ý về thể thao và ngoại ngữ; Anh chú ý toán, khoa học, thiết kế và công nghệ; Đức chú ý toán, khoa học tự nhiên, triết học, ngôn ngữ, âm nhạc; Autralia là các môn: toán, tiếng Anh, khoa học, sáng tạo nghệ thuật, nghiên cứu xã hội và môi trường, giáo dục sức khỏe và thể chất, nghiên cứu ứng dụng công nghệ …  Đỗ Ngọc Thống      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn trụ cột là triết lý giáo dục của UNESCO?      Một số nhà nghiên cứu cho rằng, nội dung “Bốn trụ cột” là: “Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; và Học để chung sống” trong bản báo cáo nổi tiếng của Jacques Delors năm 1996 chính là nội dung triết lý giáo dục của UNESCO. Nhưng có nhiều đồng nghiệp đọc xong “Bốn trụ cột” đó nghi ngờ: “Có phải như thế là triết lý giáo dục không?”…    XUẤT XỨ BẢN BÁO CÁO CỦA JACQUES DELORS   Như mọi người đều biết, với tư cách là một Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Văn hóa, Khoa học và Giáo dục, UNESCO đã dành nhiều mối quan tâm cho những nghiên cứu về giáo dục. Chúng ta dễ dàng tìm được trên mạng những công trình nghiên cứu rất quan trọng của UNESCO về chủ đề này.  Chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, UNESCO đã thành lập Nhóm chuyên trách nghiên cứu về Giáo dục cho thế kỷ XXI (Task Force on Education for the Twenty-first Century). Kết quả, năm 1996, Chủ tịch Ủy ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI (UNESCO Commission on Education for the Twelty-First Century) Jacques  Delors đã công bố bản báo cáo có tiêu đề tiếng Anh là: Learning: The Treasure Within1, có thể dịch sang tiếng Việt là “Học tập: Một tài sản tiềm ẩn” (từ đây gọi tắt là Báo cáo).   Đọc kỹ Báo cáo, chúng ta dễ dàng nhận ra, đây không phải một bản báo cáo viết đơn thuần về “Learning”, nghĩa là “Học tập”, mà nó bàn về một nội dung bao quát hơn, đó là “Giáo dục”.  Tôi thấy lạ, nên tìm đọc bản tiếng Pháp, và đã nhận ra có một sự khác biệt rất quan trọng: Bản tiếng Pháp có tiêu đề là “L’Education: Un Trésor est caché Dedans”, có thể dịch sang tiếng Việt là “Giáo dục: Một tài sản đang được cất giấu tiềm ẩn”.  Như vậy, một bản bàn về “Education”, còn một bản bàn về “Learning”. Chẳng lẽ “Education” lại đồng nhất nghĩa với “Learning”?  Trước hết, tôi nghi ngờ vốn từ vựng tiếng Anh của mình. Vì vậy, tôi đã tra cứu rất kỹ các Từ điển Oxford và Từ điển Cobuild, không thấy một từ điển nào đồng nhất “Education” với “Learning” . Chẳng hạn, Oxford Advanced Learner’s Dictionary định nghĩa “Education” là “A process of teaching, training and learning, especially in schools or colleges, to improve knowledge and develop skills”, nghĩa là “Education” có nghĩa rộng hơn “Learning” rất nhiều.  Chúng ta chưa hiểu được vì sao cùng một bản báo cáo lại có những cái tên khác biệt nhau như thế với hai ngôn ngữ. Chúng ta biết, Jacques  Delors là người Pháp, chắc ông hiểu rất sâu sắc sự phân biệt giữa khái niệm “Education” trong tiếng Pháp với khái niệm “Learning” trong tiếng Anh. Trong tiếng Pháp cũng có thể tìm được một khái niệm tương đương với “Learning”, là “Étude”. Đọc kỹ cả hai bản và so sánh, chúng ta thấy bản tiếng Pháp và bản tiếng Anh có đôi chỗ khác biệt nhau: Bản tiếng Pháp bàn về toàn bộ mối quan hệ giữa “Quá trình giáo dục” (Processus éducatif) với các quá trình xã hội khác, trong khi bản tiếng Anh chỉ bàn về “Quá trình học tập” (Learning process).  NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA BẢN BÁO CÁO  Bản báo cáo xác định giáo dục tiểu học phải được ưu tiên tuyệt đối, và nhấn mạnh vai trò bản lề của giáo dục trung học trong quá trình học tập của thế hệ trẻ. Báo cáo xác nhận vai trò trung tâm của giáo dục là người thầy (nguyên văn đoạn này như sau: The central role of teachers and the need to improve their training, status, và nêu rõ sự cần thiết phải cải thiện quá trình đào tạo, vị thế và điều kiện làm việc cho giáo viên), và cần thiết sử dụng công nghệ để phục vụ giảng dạy.   Báo cáo gồm ba phần với nội dung như sau:  Phần 1. “Các quan điểm”, gồm các nội dung:  Từ cộng đồng địa phương đến xã hội toàn cầu  Từ gắn kết xã hội đến tham gia dân chủ  Từ tăng trưởng kinh tế đến phát triển con người  Phần 2. “Các nguyên tắc”, gồm các nội dung:  Bốn trụ cột của giáo dục  Học tập suốt đời  Phần 3. “Phương hướng”, gồm các nội dung:   (1) Từ giáo dục tiểu học đến đại học   (2) Người thầy và sự tìm tòi các triển vọng   (3) Lựa chọn giáo dục: yếu tố chính trị   (4) Hợp tác quốc tế: giáo dục trong ngôi làng toàn cầu”.   Trong phần “Các nguyên tắc” của Báo cáo, tác giả đưa ra “Bốn trụ cột của giáo dục”, mà nhiều tác giả Việt Nam đã xem đó là “Triết lý giáo dục” của UNESCO. Đó là:  (1) Học để chung sống2  (2) Học để biết   (3) Học để làm, và     (4) Học để tồn tại   Thực ra, chúng tôi không thấy UNESCO viết ở đâu, rằng bốn cột trụ đó được gọi là “Triết lý giáo dục của UNESCO”. Không những thế, đọc toàn bộ Báo cáo, chúng ta có thể nhận ra, tất cả các nội dung, quan điểm được nêu trong Báo cáo đều mang tính triết lý.  Một điều nữa: Đọc rất kỹ các nội dung của Báo cáo, ngoài việc khẳng định “Vai trò trung tâm của người thầy” (The central role of teachers), chúng tôi chưa phát hiện chỗ nào nói về “Lấy người học làm trung tâm” như một số học giả nói là đã viện dẫn từ nội dung của Báo cáo này.   KẾT LUẬN RÚT RA TỪ BẢN BÁO CÁO   Tóm lại, hoàn toàn có thể nói, Báo cáo của Jacques Delors quả thật là một tuyên ngôn triết lý về giáo dục thế kỷ XXI. Nó chứa đựng triết lý về mục đích của sự học, về bản thân sự học, triết lý về bản chất hệ thống giáo dục, từ tiểu học đến đại học và hệ thống giáo dục trong môi trường xã hội, chứ không chỉ có nội dung về “bốn trụ cột” như một số nhà nghiên cứu đã viện dẫn.  Từ những phân tích trên đây về tư tưởng phát triển giáo dục của thế kỷ XXI, chúng tôi cho rằng, bàn về triết lý giáo dục, chúng ta cần đề cập cả sáu mối quan hệ như UNESCO đã đề cập trong Báo cáo vừa viện dẫn trên đây.  Có thể nói, liên quan triết lý giáo dục, bản báo cáo của UNESCO đã xem xét sáu mối quan hệ:  (1) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục và Văn hóa;   (2) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục và Quyền công dân;   (3) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục và Gắn kết xã hội;   (4) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục, Lao động và Việc làm;   (5) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục và Phát triển;   (6) Triết lý về mối quan hệ giữa Giáo dục, Nghiên cứu và Khoa học.  Đến đây, chúng ta nhận ra, sự hiểu lầm “Bốn trụ cột” là triết lý có lẽ là do người ta đã chuyển ngữ “Education” từ bản tiếng Pháp thành “Learning” trong bản dịch tiếng Anh. Điều này khiến một số đồng nghiệp xem “Bốn trụ cột” về “Learning” là toàn bộ tư tưởng của văn bản có tên tiếng Anh là “Learning”.   Tôi xin mạnh dạn khẳng định nguyên bản được viết bằng tiếng Pháp, và bản tiếng Anh chắc chắn là bản dịch, vì Jacques Dulors là người Pháp, ông có thể đã không viết bản khởi thảo bằng tiếng Anh.  —  1 Xem: unesdoc.unesco.org/images/0010/001095/ 109590eo.pdf  2 Nhiều tài liệu của chính UNESCO lại trình bày theo một trật tự khác: Học để biết, Học để làm, Học để tồn tại, Học để chung sống.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bong bóng đại học      Phải chăng, một vụ nổ “bong bóng đại học” đang sắp xảy ra, tương tự như vụ nổ bong bóng địa ốc làm suy thoái cả nền kinh tế thế giới gần đây? Đó là câu hỏi được đặt ra trong bài viết với cái tựa cùng tên của Kevin Ryan, vừa được đăng trên tờ báo mạng MercatorNet vào ngày 26/8/2010 vừa qua.       Giáo dục đại học Việt Nam đang ở trong giai đoạn mở rộng và tăng trưởng nóng. Theo số liệu được đưa ra trong kỳ họp Quốc hội vào tháng 6/2010 vừa qua, số trường đại học được thành lập tại Việt Nam trong giai đoạn 1998 đến 2009 là hơn 300 trường, tức cứ trung bình chưa đến hai tuần lại có một trường đại học mới  (1) – một con số quá sức ấn tượng, đến mức làm cho một số người có cái nhìn thận trọng không khỏi nghi ngại.  Tất nhiên, mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục đại học là điều rất quan trọng đối với bất kỳ đất nước nào để đào tạo ra nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế. Nhưng câu hỏi đặt ra là, liệu có nên mở trường đại học bằng mọi giá, đặc biệt khi chưa có những nghiên cứu kỹ lưỡng về giá trị của việc học đại học đối với chính người học và sự phát triển nền kinh tế của đất nước?   Nếu không có tầm nhìn sáng suốt và sự quy hoạch kỹ lưỡng, thì chúng ta rất có thể đi vào vết xe đổ của một số nước, khi số sinh viên tốt nghiệp nhưng không tìm được việc làm – tức nạn “thất nghiệp có bằng cấp”, như đã được đề cập đến trên báo chí quốc tế thời gian gần đây. Khi tình trạng thất nghiệp đó xảy ra, thì các trường đại học được mở ra tràn lan như hiện nay sẽ không dễ thu hút sinh viên đến học, thậm chí có lẽ đứng trước khả năng phải đóng cửa – điều cũng đã và đang xảy ra tại Trung Quốc với những trường tư nhỏ ở địa phương.  Phải chăng, một vụ nổ “bong bóng đại học” đang sắp xảy ra, tương tự như vụ nổ bong bóng địa ốc làm suy thoái cả nền kinh tế thế giới gần đây? Đó là câu hỏi được đặt ra trong bài viết với cái tựa cùng tên của Kevin Ryan, vừa được đăng trên tờ báo mạng MercatorNet vào ngày 26/8/2010 vừa qua.   Theo giới thiệu của tờ báo, tác giả bài báo nguyên là Giáo sư ĐH Boston, đã viết và biên tập hơn 20 đầu sách, và từng cộng tác với đài CNN và CPS về vấn đề giáo dục nhân cách (character education).  Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết với góc nhìn mới mẻ này, lời cảnh báo cho ngành giáo dục đại học không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới.  * * *  Tiếp theo ”bong bóng bất động sản”, dường như sắp có một “bong bóng đại học” để thêm vào danh sách những ước vọng không thành của thế kỷ XXI. Hãy nhớ lại khuôn mặt chảy dài của sinh viên mới tốt nghiệp đau khổ gõ cửa các doanh nghiệp để xin việc trong mùa hè vừa qua. Các tấm bằng mới “cáu cạnh” của họ cùng các hồ sơ căng phồng những bằng cấp chẳng gây được mấy ấn tượng ở “người mua”. Họ cần phải được nhắc rằng tiệc đã tàn và đèn đã tắt.   Sự sụp đổ của thị trường bất động sản phải chăng là một thông điệp cho ngành giáo dục? Mới chỉ một vài năm trước đây, mọi người đều tin đầu tư vào bất động sản là khôn ngoan, vì giá bất động sản chỉ lên chứ không bao giờ xuống. Cần nhanh chóng tham gia vào “hội những người sở hữu bất động sản” trước khi quá muộn. Đừng lo mắc nợ — hãy lấy mỡ nó rán nó. Còn hôm nay, chúng ta đang sống giữa những đổ vỡ: những mơ ước vỡ tan của hàng triệu người và nền kinh tế quốc gia bị suy sụp đến mức xấu hổ.   Rõ ràng xã hội Mỹ đang bước vào giai đoạn điều chỉnh. Những năm tháng phồn vinh của thời sau Thế chiến thứ hai chỉ là sản phẩm của sự phát triển bất thường về kinh tế. Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến với những ngành công nghiệp còn nguyên vẹn để cung cấp hàng hoá cho một châu Âu bị tàn phá và một châu Á mới nổi. Chỉ cần mở rộng, tăng trưởng, rồi lại mở rộng, tăng trưởng. Nhưng ngày ấy đã qua rồi. Cái gọi là Thế giới thứ ba đã bắt kịp họ, và ngày nay nước Mỹ cùng các đối tác kinh doanh dài hạn của nó dường như đang di chuyển trên làn đường dành cho xe tốc độ chậm.   Điều này dẫn đến câu hỏi, “Phải chăng giáo dục đại học cũng là một phần của kịch bản chung này?” Sau một thời gian tăng trưởng và mở rộng, phải chăng sự giảm sút của giáo dục đại học sẽ chẳng còn xa nữa?   Thế hệ trẻ hiện nay của Mỹ được dạy rằng “giáo dục-là-con đường-dẫn đến-thành công” từ ngày còn mặc tã. Mà tại sao lại không chứ? Đó đã là con đường thành công kinh điển của rất nhiều người. Cho đến rất gần đây, sinh viên tốt nghiệp đại học có thu nhập tiềm năng suốt đời cao gần gấp đôi những người bạn thời trung học mà không học đại học của mình. Nhưng tất cả dường như đang thay đổi một cách nhanh chóng.   Trong những tháng gần đây có một loạt những cuốn sách và bài báo trên tạp chí cho rằng giáo dục đại học là một ngành công nghiệp khủng hoảng thừa và rối loạn, một điều kiện chín muồi cho sự bùng nổ từ bên trong. Hai tựa sách gần đây nhất đã tóm tắt toàn bộ sự phê phán này. Cuốn thứ nhất có tên Giáo dục đại học? Các trường đang lãng phí tiền bạc và thất bại trong việc giáo dục người trẻ của chúng ta ra sao, và chúng ta có thể làm được gì, và cuốn thứ hai là Bữa tiệc kéo dài năm năm: Các trường đã ngưng giáo dục những người trẻ ra sao và bạn có thể làm gì. Luận điểm chung của cả hai cuốn sách: giáo dục đại học chỉ phục vụ mong muốn của các nhà giáo dục mà chẳng thèm quan tâm gì đến những sinh viên, vốn cũng chính là khách hàng của mình.   Hai cuốn sách mới này đày ắp các dữ kiện như một bữa đại yến, chắc chắn đủ khả năng làm cho hội đồng quản trị các trường đại học phải lên cơn đau bao tử vì bội thực. Ví dụ, trong vòng 30 năm qua, học phí tại các trường đại học tư của Mỹ đã tăng lên 250% và tại các trường cộng là 300%. Mà đó mới là tính bằng đồng USD không đổi. Tiền lương của các giáo sư đã vượt xa đồng nghiệp của họ trong các ngành nghề khác. Đồng thời, họ đã trực tiếp giảng dạy ít hơn, đẩy công việc nặng nề này cho những người đóng thế – các trợ lý giảng viên. Hiện nay 70% sinh viên đại học ở Mỹ được học, không phải với các giáo sư, mà là với các học viên sau đại học hoặc giảng viên phụ giảng. Lao động của họ được trả với giá bằng một phần sáu mức lương của các giáo sư mà họ thay thế. Thật mỉa mai rằng một nền kinh tế chủ nô và nông nô lại đang phát triển mạnh mẽ tại một trong những thành lũy cuối cùng của hệ tư tưởng Mác-xít.   Tuy nhiên, phải xem xét tiền lương của cán bộ quản lý giáo dục đại học mới thấy đây thật là một phép lạ tài chính thật sự. Trong khi sinh viên và gia đình đang chạy cuống lên vì các khoản nợ học phí khổng lồ, thì khoảng một chục vị hiệu trưởng các trường đại học đang có tên trong danh sách những người có thu nhập hàng năm tính theo triệu USD. Ví dụ, trong khoảng mười sáu năm từ 1992 đến 2008, tiền lương của Hiệu trưởng Đại học New York đã tăng gấp ba lần, từ  443.000 USD lên đến 1.270.000 USD. Tất cả điều này xảy ra trong khi thị trường đang than phiền về các “sản phẩm” của họ.     Mặc dù yêu cầu đầu vào tuyển sinh đại học đã có mềm đi, vẫn chưa có được một cuộc nổi dậy chống lại sự bóc lột trong giáo dục. Những cuốn sách được trích dẫn ở trên cho thấy, cuộc nổi dậy đó đang đến. Các gia đình bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế đang suy đi nghĩ lại nhiều lần về các chi phí học tập. Những người lên kế hoạch để đi đến một trường đại học bốn năm tư nhân đang đi đến bốn năm trường đại học công lập. Những người đã lập kế hoạch vào các đại học tư có uy tín nay chuyển sang học đại học trong khu vực của nhà nước. Những người đã định đi học tại các trường đại học bốn năm nay chuyển sang trường cao đẳng cộng đồng tại địa phương.   Theo cách nói của những người thuộc phong trào chống thuế mới đây ở Mỹ, “nợ” là một ngôn từ tục tĩu của thời nay. Và cũng đúng thôi, khi hàng ngàn trường sinh viên tốt nghiệp đại học còn nợ tiền học phí ở ngân hàng đang đứng ủ rũ và câm lặng trước những câu hỏi của người sử dụng lao động chỉ chăm chăm nhìn vào lợi nhuận: “Bạn đã học được gì trong trường đại học để có thể đóng góp vào lợi nhuận của công ty? Bốn năm đại học thoải mái và không ai kiểm soát của bạn đã giúp bạn chuẩn bị ra sao để kiếm tiền cho doanh nghiệp của tôi?” “Bạn tốt nghiệp ngành xã hội học môi trường ư, tốt lắm. Nhưng bạn có thể làm gì cho công ty của tôi?”   Những câu hỏi quả là khó. Và rất ít người có được câu trả lời.     Theo http://www.mercatornet.com/articles/view/the_college_bubble/   —-    (1) Nguồn:http://vneconomy.vn/201006061123236P0C9920/dau-tu-cho-giao-duc-dai-hoc-dang-bi-chia-nho.htm            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bông hồng ngày 20/11 cho… Internet      Ngày 20/11 được xem như một ngày lễ dành riêng cho các giáo viên Việt Nam, một ngày để học sinh-sinh viên, các bậc cha mẹ, tất cả những người đi học nói chung, bày tỏ lòng biết ơn và tinh thần tôn sư trọng đạo đến những thầy cô giáo mến thương của mình.      Và như vậy, có lẽ sẽ là một điều hơi lạ khi nhân ngày 20/11, chúng ta lại đặt ra vấn đề “dân chủ trong giáo dục”. Khái niệm dân chủ trong giáo dục không bao gồm “tam quyền phân lập”, “bầu cử tự do”… như trong chính trị, nhưng chắc chắn nó cũng có những hàm ý liên quan đến “quyền”, đến sự tự do, bình đẳng của người học trong quan hệ với người dạy. Liệu dân chủ trong giáo dục có đi ngược với truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam không?  Để có câu trả lời, trước hết phải xác định dân chủ trong giáo dục nghĩa là gì. Nó nghĩa là “tự trị”, “tự quyết”: Bất kỳ khi nào có thể, người học phải được hướng dẫn để học hoặc tự học vì mục đích của mình, vì những mục tiêu do chính mình đặt ra. Nó nghĩa là đa dạng về chương trình, nội dung đào tạo, không nhằm tạo ra hàng trăm, hàng nghìn con người cùng một phương pháp suy nghĩ và làm việc, mà trái lại, phải kích thích sự sáng tạo và năng lực đặc thù của mỗi người. Nó nghĩa là “công khai, minh bạch”: Mọi người đều có thể tự do tham gia hoặc ra khỏi hệ thống giáo dục – như thể đó là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo.   Dân chủ trong giáo dục còn có nghĩa là “tương tác”, tức tương tác giữa trường học với chính quyền, doanh nghiệp, xã hội dân sự, tóm lại là với cả cộng đồng. Điều đó khiến cho kiến thức của người học luôn luôn được cập nhật và mở rộng, theo kịp với thực tiễn cuộc sống.   Với những đặc điểm ấy, một nền giáo dục dân chủ không hề triệt tiêu tinh thần tôn sư trọng đạo. Trên bình diện cá nhân, một người thầy có khuynh hướng yêu chuộng dân chủ sẽ tạo điều kiện cho các học trò mình thực hiện được bốn nguyên tắc trên để trở thành một con người sáng tạo, năng động, gắn kết với cộng đồng.   Căn cứ vào các tiêu chí “dân chủ trong giáo dục” nêu trên, thì chúng ta có thể thấy rằng đang có một “người thầy” dân chủ như thế góp mặt trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Đó là… mạng Internet.   Với Internet, 24 triệu người sử dụng mạng ở Việt Nam (trong đó một tỷ lệ rất cao là thanh niên) có thể tự do tiếp cận bất kỳ nội dung nào mình quan tâm. Họ được toàn quyền quyết định vào mạng để chơi game, xem phim online, hay để tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức cho mình và chia sẻ với bạn bè. Họ cũng có thể truy cập cả những nội dung mà vì những lý do khác nhau, chưa hoặc không xuất hiện công khai trong chương trình học ở nhà trường. Với ý nghĩa đó, Internet kích thích sự tìm tòi và phản biện trong bản thân mỗi học sinh-sinh viên, và thậm chí quay trở lại tạo sức ép với chính người đi dạy: Một giáo viên trẻ, dạy sử ở cấp phổ thông trung học, nói rằng lâu nay cô phải duy trì cập nhật giáo án thường xuyên và chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp, vì đã có những học sinh vào mạng tìm hiểu thêm thông tin ngoài phần cô dạy, chưa kể các em còn có xu hướng “kiểm tra” xem cô dạy có gì… khác Internet không. Như vậy Internet đương nhiên, tạo ra cả những sức ép khiến thầy cô phải nỗ lực mà vươn lên không ngừng.   Ngày 20/11, giữ truyền thống tôn sư trọng đạo và biết ơn các thế hệ thầy cô, nhưng có lẽ chúng ta cũng nên đặt thêm một bông hoa hồng bên bàn phím chiếc máy tính của ta, và nghĩ đến những gì chúng ta đã và đang được hưởng từ Internet – người thầy cổ súy dân chủ trong giáo dục?                                  Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đầu tiên      Như vậy là kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia mang tính cách mạng với nhiều lo lắng, chờ mong, bàn ra tán vào cũng đã hoàn tất và giờ là lúc cần điểm lại những cái được và chưa được của kỳ thi để có thể rút kinh nghiệm cho tương lai.    Điểm cộng: Giảm áp lực và chi phí, tăng quyền lựa chọn của thí sinh    Trước hết, việc giảm bớt một kỳ thi, dù không hẳn đã giải quyết ngay những hệ lụy của nền giáo dục “ứng thí” mà báo chí đã nhắc tới trong nhiều năm qua, nhưng đã có tác dụng làm giảm một phần không nhỏ áp lực thi cử vốn rất nặng nề với những học sinh ở giai đoạn cuối cùng của giáo dục phổ thông.     Để thấy rõ sự tiết kiệm về thời gian và công sức của kỳ thi năm 2015, có thể xem xét những số liệu của kỳ thi năm 2014. Kỳ thi năm 2015 có khoảng một triệu thí sinh dự thi với cả hai mục đích xét tốt nghiệp và xét vào đại học, trong đó có khoảng gần 300.000 thí sinh đăng ký thi ở địa phương và 700.000 thí sinh đăng ký thi ở các cụm thi liên tỉnh do các trường đại học tổ chức. Năm 2014, có 900.000 thí sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT, và 1,3 triệu thí sinh tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học (cả ba đợt). Như vậy, nếu so riêng mục đích tuyển sinh đại học thì số lượt thí sinh dự thi năm 2015 đã giảm gần một nửa so với kỳ thi năm 2014. Nếu tính cả mục đích xét tốt nghiệp THPT thì còn giảm thêm được hơn 600.000 lượt thí sinh nữa. Nói cách khác, trong khi năm 2015, ngành giáo dục chỉ phải tổ chức thi cho tổng cộng hơn một triệu thí sinh, thì năm 2014, chỉ phải tổ chức kỳ thi cho hơn hai triệu lượt thí sinh, và cùng với số lượng thí sinh đó là những sự căng thẳng của việc ra đề thi, chấm thi, thông báo kết quả dồn dập cho hai kỳ thi liên tiếp trong thời gian kéo dài cả tháng. Một sự lãng phí vô cùng lớn.    Cách tổ chức kỳ thi quốc gia năm nay dù vẫn có những ý kiến trái ngược sẽ được bàn ở phần sau, nhưng đã có mặt tiến bộ quan trọng là lần đầu tiên trong lịch sử thi cử tại Việt Nam, thí sinh có quyền lựa chọn môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông/tuyển sinh đại học. Không còn sự ràng buộc phải thi từng nhóm môn học theo khối thi của từng trường như trước, giờ đây học sinh được phép chọn nhiều môn thi để tổ hợp thành các khối thi theo yêu cầu xét tuyển của từng trường. Cũng không còn cảnh cứ gần đến mùa thi là cả thầy lẫn trò đều hồi hộp chờ đợi một lời “phán quyết” từ Bộ Giáo dục và Đào tạo để biết xem kỳ thi ấy sẽ bao gồm những môn nào. Rồi sau khi các môn thi tốt nghiệp được công bố thì những môn học không may (hoặc may mắn – tùy theo quan điểm của từng người) nằm trong danh sách các môn không thi sẽ bị cả thầy lẫn trò hồ hởi vứt bỏ, để còn dồn sức vào học những môn trong danh sách phải thi. Một điều vô lý vừa buồn cười, vừa chua chát.     Việc để cho thí sinh tự chọn môn thi mới xem qua tưởng chừng là việc làm nhỏ nhưng thực ra rất có ý nghĩa đối với các em học sinh lớp 12. Bởi, để có những lựa chọn đúng, các em phải cân nhắc, xem xét đánh giá những mặt mạnh mặt yếu của chính mình, từ đó quyết định đăng ký tổng cộng bao nhiêu môn, môn nào dùng để xét vào đại học, môn nào chỉ để xét tốt nghiệp – quyết định này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của chính các em. Mặt khác, việc kết hợp điểm trung bình của cả năm lớp 12 với điểm thi để xét tốt nghiệp cũng có tác dụng làm cho học sinh tôn trọng tất cả các môn học, vì điểm học của tất cả các môn sẽ được phản ánh trong kết quả cuối cùng của các em.  Điểm trừ: Giá trị của kỳ thi chưa được nâng cao    Một trong những điều bị phê phán nhiều nhất của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2015 là sự tồn tại hai loại hội đồng thi, một do các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương quản lý và một do các trường đại học quản lý. Cả hai hội đồng này sử dụng cùng một đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, cùng chấm theo một thang điểm, và cùng theo một bộ quy chế về thi cử như nhau, nhưng kết quả thi lại có giá trị khác nhau.     Theo quy định hiện nay, chỉ có điểm thi từ các hội đồng do các trường đại học tổ chức mới có giá trị xét tuyển đại học, còn điểm thi từ các hội đồng địa phương tổ chức chỉ có giá trị xét tốt nghiệp THPT. Điều này đồng nghĩa với hàm ý cho rằng các hội đồng thi do địa phương tổ chức không thực sự nghiêm túc và vì thế không đáng tin cậy, một giả định vừa không có căn cứ vừa phản sư phạm. Không ai có quyền giả định rằng mọi địa phương đều không nghiêm túc trong thi cử nếu không đưa ra được chứng cứ rõ ràng. Nhưng nếu quả thực có những địa phương không nghiêm túc thì điều cần làm là có những biện pháp để các địa phương ấy trở nên nghiêm túc hơn, chứ không phải là đương nhiên chấp nhận sự không nghiêm túc đó, để rồi căn bệnh thành tích, giả dối trong giáo dục Việt Nam và trên nhiều lĩnh vực khác trong xã hội Việt Nam không bao giờ được chữa khỏi.    Một điểm không hay khác mà báo chí thường nhắc đến, và cũng là mặt trái của việc cho phép thí sinh tự chọn môn thi, đó là việc có rất ít thí sinh chọn thi các môn học thuộc nhóm ngành xã hội- nhân văn, đặc biệt là môn Sử. Báo chí đã nhắc đến việc trong kỳ thi vừa qua, có một hội đồng với hơn 60 người chỉ phục vụ cho một thí sinh. Tuy nhiên, cũng tương tự vấn đề đã nêu ở trên, việc học sinh không thích học Sử và vì thế không thi môn Sử không thể được giải quyết bằng những biện pháp hành chính như biến môn Sử thành môn thi bắt buộc, mà phải bằng cách đổi mới phương pháp dạy Sử sao cho nó trở thành một môn học hấp dẫn và có ích cho sự phát triển trí tuệ của học sinh – như môn học này vốn phải như vậy.    Có lẽ, điều mà mọi người mong muốn nhất về kỳ thi này sự nâng cao giá trị của kỳ thi, để nó thực sự có tác động tích cực đến cách học và cách dạy trước đó. Nói cách khác, nếu thi cử là khâu then chốt trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam thì chúng ta vẫn chưa thể tự bằng lòng với chất lượng của kỳ thi này, và nhiều điều mà Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn làm vẫn chưa thể làm được, chẳng hạn như việc tích hợp nhiều môn thi vào một bài thi tổng hợp, và tăng thêm tính mở và tính sáng tạo cho bài thi. Nhìn chung, chất lượng đề thi vẫn chưa có thay đổi nào đáng kể, và vẫn còn cần nhiều nỗ lực để cải thiện hơn nữa.    Tuy có những hạn chế, nhưng có thể nói kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2015 vẫn là một bước quan trọng trong việc đổi mới thi cử ở Việt Nam, và đã được tổ chức thực sự an toàn và nghiêm túc – thậm chí quá nghiêm túc so với các năm trước, nếu xét theo số lượng thí sinh bị kỷ luật tăng vọt trong kỳ thi năm nay. Tất nhiên, mọi việc chỉ mới bắt đầu, và chưa thể nói là có nhiều thành tựu. Nhưng, như một ngạn ngữ cổ đã nói, “con đường ngàn dặm luôn bắt đầu từ bước đầu tiên.”     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đi mạo hiểm của nền giáo dục thành công nhất thế giới?      Phần Lan- một trong những nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới- đang bắt tay vào một trong những cải cách có thể nói là triệt để nhất trong giáo dục thời hiện đại. Đất nước này lên kế hoạch từ nay đến năm 2020 sẽ từng bước giảm thiểu việc dạy từng môn học riêng biệt và thay vào đó sẽ dạy học sinh theo các chủ đề thực tế, tích hợp nhiều lĩnh vực. Liệu đây có phải là một bước đi quá táo bạo?      Từ lâu, Phần Lan đã nổi tiếng thế giới với nền giáo dục “khác thường” và thành công của mình. So với các nước khác, họ có vẻ coi nhẹ học thuật hơn: học sinh không phải trải qua kỳ thi sát hạch nào cho tới hết trung học; môi trường học tập trong nhà trường cũng ít cạnh tranh mà chú trọng việc cộng tác và vui chơi (học sinh Phần Lan được nghỉ 15 phút giữa mỗi tiết học). Mặc dù vậy, học sinh nước này luôn nằm trong nhóm dẫn đầu các bảng xếp hạng quốc tế về khả năng đọc, viết và tính toán. Phần Lan cũng đạt kết quả cao nhất trong số các nước phát triển trong bảng xếp hạng Pisa (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế độ tuổi 15) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Bởi vậy mà các chính trị gia và chuyên gia giáo dục từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Anh, Mỹ, đã đổ về Helsinki với hi vọng có thể học hỏi và áp dụng lại những bí quyết thành công của nền giáo dục Phần Lan.   Như vậy, thật đáng ngạc nhiên khi quốc gia có nền giáo dục được công nhận là tuyệt vời này lại chuẩn bị tiến hành một trong những chương trình cải cách giáo dục quyết liệt nhất ở cấp quốc gia trên thế giới, đó là bỏ phương pháp dạy theo môn học truyền thống như toán, lý, hóa, văn, sử, địa, v.v.  để chuyển sang dạy theo các chủ đề tích hợp, thực tế.         Ví dụ về một tiết học theo “hiện tượng” ở trường tiểu học  Siltamaki có 240 trẻ độ tuổi 7-12 ở Helsinki: với một bản đồ châu Âu  treo trên bảng, học sinh phải tìm những từ miêu tả thời tiết trong tiếng  Anh để dán đúng vào các nước tương ứng trên bản đồ, ví dụ “sunny”  (nắng) ở Phần Lan và “foggy” (sương mù) ở Đan Mạch. Như vậy các em học  tiếng Anh và Địa lý cùng một lúc.            Học theo “hiện tượng”  Ông Pasi Silander- quản lý phát triển của Helsinki- giải thích, kế hoạch cải cách xuất phát từ  nhận thức rằng họ cần giáo dục con em mình theo một cách khác để chúng có thể thích nghi tốt hơn với bối cảnh công việc và xã hội hiện đại hoàn toàn khác trước của thế kỷ 21. Phương pháp giáo dục truyền thống đã sản xuất ra được nguồn nhân lực cần thiết và có ích cho nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 20; nhưng trong nền kinh tế tri thức và xã hội đang thay đổi chóng mặt từng ngày, nhiệm vụ của giáo dục là phải phát triển cá tính, khả năng thích nghi và kiên cường trước các thay đổi, cùng với các kỹ năng giao tiếp, chứ không phải là đẩy học sinh qua những “nhà máy thi cử”.  Khi ta dạy từng môn học riêng rẽ tức là ta đã tách bạch những nội dung mà trong thực tế cuộc sống lại không thể tách bạch được. Với phương pháp học tích hợp nhiều lĩnh vực, học sinh sẽ không còn phải đặt câu hỏi: “Học môn này để làm gì?” nữa.          Khi ta dạy từng môn học riêng rẽ tức là ta đã tách bạch những nội dung mà trong thực tế cuộc sống lại không thể tách bạch được. Với phương pháp học tích hợp nhiều lĩnh vực, học sinh sẽ không còn phải đặt câu hỏi: “Học môn này để làm gì?” nữa.            Thủ đô Helsinki đang đi đầu trong chương trình cải tổ này. Các tiết học chuyên về các môn học cụ thể theo kiểu truyền thống đã được dần cắt bỏ cho học sinh độ tuổi 16 ở các trường trung học ở Helsinki từ hai năm nay. Thay vào đó, các trường bắt buộc phải có một số tiết học nhất định dạy theo chủ đề – người Phần Lan gọi là dạy theo “hiện tượng”. Ví dụ, một khóa học nghề có thể bao gồm tiết học về việc cung cấp dịch vụ quán cà phê, như vậy học sinh sẽ được học các kỹ năng tính toán, ngoại ngữ (để phục vụ khách nước ngoài), viết và giao tiếp v.v. Các môn học hàn lâm cũng sẽ được dạy theo các chủ đề tích hợp, ví dụ như các tiết học về Liên minh Châu Âu sẽ tổng hợp các kiến thức về kinh tế, lịch sử, ngôn ngữ, địa lý.  Tất nhiên điều này cũng sẽ dẫn đến các thay đổi khác trong cách tổ chức lớp học. Biểu hiện rõ ràng nhất sẽ là không còn cảnh lớp học truyền thống với học sinh ngồi thụ động nghe giáo viên giảng nữa. Thay vào đó sẽ là cách tiếp cận mang tính cộng tác, tức là các học sinh sẽ làm việc theo nhóm nhỏ để giải quyết các vấn đề. Như thế kỹ năng giao tiếp của các em cũng sẽ được trau dồi hơn. Một quy định quan trọng nữa là học sinh phải cùng tham gia vào xây dựng giáo án cho các tiết học theo hiện tượng và cũng phải tự đánh giá kết quả mình học được những gì sau mỗi tiết học đó.   Marjo Kyllonen – nhà quản lý giáo dục của Helsinki – đã trình bày kế hoạch cải cách chi tiết trước hội đồng vào cuối tháng Ba vừa qua, theo đó, đến năm 2012, tất cả các trường học cho trẻ 7-16 tuổi ở Phần Lan bắt buộc phải có một số tiết học tích hợp. Bà tuyên bố, không chỉ Helsinki mà toàn thể đất nước Phần Lan sẽ ủng hộ thay đổi này.  Một bước đi mạo hiểm?  Ý tưởng về bức tranh giáo dục mà Phần Lan đang hướng tới thông qua cải cách lần này thực ra không có gì mới mẻ cả. Mô hình học tập kiểu tích hợp, với trường học hoạt động như một xã hội thu nhỏ và trẻ em tham gia các hoạt động thực tế của cuộc sống đã được khởi xướng cách đây một thế kỷ từ thời của nhà triết học và cải tổ giáo dục John Dewey. Trước Thế Chiến thứ Hai ở Mỹ, phương pháp này đã được các nhà sư phạm tiến hành trong một thời gian ngắn tại trường Thực nghiệm thuộc Đại học Chicago của Dewey; nó cũng được áp dụng trong làn sóng giáo dục tiến bộ (progressive education) ở Mỹ và châu Âu trong các thập niên 60-70. Nhưng các phong trào này đều chỉ bùng nổ rồi lại lụi tắt. Chương trình học kiểu tích hợp bị chỉ trích là xem nhẹ tính học thuật và kỷ luật, dẫn đến kết quả thấp của học sinh trong các kỳ thi.   Theo Larry Cuban- giáo sư giáo dục học tại Đại học Stanford, kinh nghiệm đã cho thấy cách tiếp cận tích hợp không phù hợp với mô hình trường công lập phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó học sinh cần phải học một lượng kiến thức nhất định trước khi được chuyển lên các lớp tiếp theo. Không chỉ vậy, hệ thống mới đòi hỏi cao hơn từ giáo viên, bắt buộc giáo viên phải có kiến thức sâu ở nhiều môn học khác nhau và phải có khả năng thiết kế các bài học dựa vào thế mạnh và mối quan tâm của từng cá nhân học sinh.   Ngoài ra, vẫn còn ít người có thể chấp nhận được ý tưởng xóa bỏ mọi môn học truyền thống trong nhà trường. Porter-Magee, thành viên của Viện Fordham-một think-tank nghiên cứu giáo dục ở Mỹ và là giám sát viên của sáu trường tiểu học, cho rằng chính phủ Phần Lan có vẻ đang đi quá đà trong việc cải tổ. Như nhiều giáo viên khác, bà cho rằng một số môn như văn học vẫn luôn cần có chỗ đứng độc lập trong chương trình giảng dạy.   Kể cả ở Phần Lan, việc cải tổ đã gặp phải sự phản đối của nhiều giáo viên và hiệu trưởng- những người đã dành cả đời tu nghiệp ở một môn học cụ thể mà giờ đây bị buộc phải thay đổi cách tiếp cận. Đáp lại vấn đề này, bà Kyllonen đã đưa ra chủ trương “cộng tác trong giảng dạy” (co-teaching) trong việc soạn giáo án, theo đó yêu cầu phải có nhiều hơn một giáo viên bộ môn tham gia soạn giáo án. Những giáo viên tham gia vào hệ thống mới này sẽ được tăng một khoản lương nhỏ.   So với giáo viên ở các nước khác trên thế giới thì phải nói là giáo viên Phần Lan có nền tảng chuẩn bị tốt hơn để hiện thực hóa mô hình trường học tích hợp đã từ lâu là ước mơ của các nhà giáo dục theo tư tưởng của Dewey. Bộ trưởng Giáo dục Phần Lan Krista Kiuru tự hào khẳng định rằng giáo viên Phần Lan được trao quyền tự chủ rất lớn; họ có bằng cấp cao (ít nhất là thạc sĩ), phải đạt được những yêu cầu khắt khe và trải qua những tuyển chọn hết sức cạnh tranh để có thể trở thành giáo viên. Họ cũng được trả lương xứng đáng, thường ở mức ngang ngửa các ngành nghề đào tạo cấp đại học khác trong nước và cao hơn so với giáo viên ở các nước khác như Mỹ.   Theo ông Pasi Silander thì khoảng 70% giáo viên trung học của Helsinki đã được đào tạo để áp dụng cách tiếp cận mới này. Ông cho biết, họ đã thực sự thay đổi được tư duy của giáo viên; mặc dù rất khó khăn để thuyết phục các giáo viên thay đổi cách tiếp cận nhưng những người đã chuyển sang phương pháp mới nói rằng họ không thể quay lại cách dạy cũ được nữa. Những dữ liệu ban đầu cũng cho thấy mô hình mới đã có tác động tích cực đến học sinh. Trong hai năm kể từ khi phương pháp giảng dạy mới được áp dụng, kết quả học tập của học sinh đã có sự cải thiện (theo Richard Garner, The Independent).     Như vậy, có vẻ như với nền tảng hệ thống và nhân lực phù hợp đã được xây dựng với tầm nhìn xa trong nhiều năm nay, Phần Lan đã sẵn sàng cho những cải tổ có thể đánh giá là mạo hiểm nếu nhìn từ kinh nghiệm quá khứ. Những cải cách mới của giáo dục Phần Lan đang được cả thế giới dõi theo- nhiều con mắt hi vọng, nhưng cũng nhiều con mắt nghi ngại. Liệu Phần Lan có giữ vững hoặc nâng cao kết quả trong bảng xếp hạng PISA? Kết quả của bước đi này chắc hẳn sẽ có tác động lớn lên nền giáo dục không chỉ của Phần Lan mà của cả thế giới nữa.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước ngoặt mới của Thành Tây      Mô hình tới đây Đại học Thành Tây theo đuổi sẽ rất mới mẻ, từ cách thức tổ chức các khoa tối ưu cho hoạt động nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo linh hoạt cho đến tài trợ cho viện nghiên cứu trực thuộc trường theo cơ chế quỹ. Còn đội ngũ nòng cốt xây dựng đại học hầu hết là những nhà khoa học trẻ, nhiệt thành và có khả năng hợp tác quốc tế cao.      Phòng thí nghiệm của Đại học Thành Tây.  Tập trung vào các nhóm nghiên cứu thay vì các bộ môn  “Quan điểm của tôi, cốt lõi của đại học là phải nghiên cứu, chứ không phải là dạy nghề. Nếu định hướng đi dạy nghề thì tôi và các anh em đã không về đây làm gì. Tôi đã trao đổi với anh Hồ Xuân Năng (chủ tịch tập đoàn Phenikaa – chủ đầu tư của Trường Đại học Thành Tây-PV) rất kỹ và thống nhất quan điểm thì mới bắt tay vào làm”, GS.TS Nguyễn Văn Hiếu, người đã cùng các đồng sự tự gom góp tiền công từ các đề tài nghiên cứu để xây dựng Phòng Thí nghiệm nghiên cứu phát triển và ứng dụng cảm biến nano thuộc Viện Đào tạo quốc tế về khoa học vật liệu (ITIMS), Đại học Bách khoa HN từ năm 2007 giờ trở thành Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thành Tây, khẳng định.  Nhưng đây không phải là câu chuyện xây dựng một trường đại học từ một nền móng mới. Đây là câu chuyện bẻ lái một cơ sở đào tạo đã hoạt động gần một thập kỉ, với nhân sự và cách thức vận hành theo hướng dạy nghề để trở thành một đại học nghiên cứu, tiến tới đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Ngay cả với nguồn lực dồi dào của một tập đoàn lớn đằng sau, trường đại học này vẫn không khỏi đối mặt với sự nghi ngờ từ phía cộng đồng khoa học với tên tuổi hiện nay của nó.  Vì vậy, “bước ngoặt” của Trường Đại học Thành Tây sẽ khởi đầu bằng việc lập ra một viện nghiên cứu khoa học cơ bản – TIAS (Thanh Tay Institute for Advanced Study) hoàn toàn mới. TIAS sẽ không chịu ảnh hưởng từ con đường cũ mà Thành Tây theo đuổi. “Làm từ con số 0 nó có vất vả của con số 0 nhưng cũng có sự thuận lợi của con số 0 […] Nó cho phép mình được lựa chọn” – PGS.TS Đỗ Vân Nam, Viện trưởng TIAS cho biết. TIAS là nơi tập hợp một nhóm nòng cốt ban đầu, gồm những nhà khoa học có năng lực, họ thảo luận và vạch ra những định hướng nghiên cứu sẽ trở thành trọng tâm của Viện trong tương lai; hoàn thiện cơ sở vật chất và hình thành văn hóa làm việc. Anh Nam nhấn mạnh nhiều lần rằng, Viện của anh trong giai đoạn trước mắt sẽ đóng vai trò như một hạt giống để lan tỏa những giá trị mới và xây dựng một đội ngũ mới cho Trường Đại học Thành Tây. Lí do là bởi, từ nhóm nhân sự ban đầu của TIAS sẽ tạo ra những nhóm nghiên cứu mạnh, đóng vai trò là nền tảng cho các khoa của trường về sau.      Ít nhất chúng tôi có tập đoàn đầu tư bài bản ngay từ đầu nên sẽ không quá khó khăn để xây dựng một đại học nghiên cứu thực sự. GS.TS Nguyễn Văn Hiếu      Trường Đại học Thành Tây sẽ có một mô hình tổ chức mới, mà điểm cốt lõi là thay vì phân chia thành các bộ môn theo truyền thống ở hầu hết các đại học ở Việt Nam hiện nay, các khoa được tổ chức theo các nhóm nghiên cứu -“phù hợp với xu thế đã phổ biến ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và cả trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc”, GS.TS Nguyễn Văn Hiếu cho biết. Cụ thể, trong một khoa, tùy theo chỉ tiêu tuyển sinh, sẽ có số lượng giảng viên khác nhau, trong số đó sẽ có các vị trí giáo sư (khoảng 5-7 vị trí giáo sư trong một khoa). Mỗi vị trí giáo sư sẽ đảm nhiệm một hướng nghiên cứu và có nhóm nghiên cứu riêng bao gồm các tiến sĩ, nghiên cứu sinh và sinh viên. Mô hình ở nước ngoài có thêm các nghiên cứu sinh post-doc nhưng điều này khó mà thực hiện ở Việt Nam vì rất khó tuyển các post-doc một cách thường xuyên để đảm bảo tính liên tục trong định hướng nghiên cứu của phòng thí nghiệm.  Mô hình tập trung vào các nhóm nghiên cứu không chỉ giúp tăng cường chất lượng công bố quốc tế, đào tạo chuyên sâu hơn cho sinh viên mà còn khắc phục được một tồn tại cố hữu của cách tổ chức các khoa phân chia theo từng bộ môn. Đó là tình trạng bộ môn nào cũng muốn giữ môn học, thời lượng tiết học của bộ môn mình tối đa, đã khiến cho chương trình giảng dạy trở nên cứng nhắc khó thay đổi. Cách tổ chức mới này còn cho phép nhóm nghiên cứu mạnh cập nhật chương trình đào tạo chuẩn đầu ra quốc tế và tùy biến theo sự thay đổi định hướng của các ngành công nghiệp một cách nhanh chóng, tăng cơ hội tìm việc làm và thích nghi với yêu cầu thực tiễn cho sinh viên.  Đặt cược vào nhau bằng sự tin tưởng  Tập hợp các nhà khoa học về làm việc thường không bao giờ chỉ là “phép cộng” đơn thuần giữa những nhà khoa học hay một giao kèo sòng phẳng với cam kết có bao nhiêu sản phẩm. Việc đặt ra thước đo cho công việc như đánh giá cơ sở vật chất, số lượng công bố quốc tế ISI, các mối quan hệ đối tác quốc tế… là đương nhiên, nhưng đó không phải là đích đến. Theo PGS.TS Đỗ Vân Nam, tầm nhìn lớn hơn ở đây là cùng nhau kiến tạo môi trường làm việc cho phép các nhà khoa học có được sự tự do tối đa trong phát triển, sáng tạo khoa học. Chính vì vậy, Trường Đại học Thành Tây và TIAS chú trọng tìm đến các nhà khoa học trẻ ở trong và ngoài nước, cũng như GS.TS. Nguyễn Văn Hiếu hay PGS.TS Đỗ Vân Nam, đang có sức trẻ, năng lượng để làm việc, “rất active” và có nhu cầu chia sẻ, gắn bó cơ hữu với nhau, với công việc.  Anh Đỗ Vân Nam trước đây là phó phòng KH&CN nano, Viện Tiên tiến về KH&CN (AIST) tại Đại học Bách Khoa Hà Nội. Trẻ và chưa từng có kinh nghiệm quản lý một viện nghiên cứu, điểm nổi bật của anh, theo PGS.TS Phạm Thành Huy, viện trưởng AIST, là sự quyết tâm xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh, xác định một mục tiêu và định hướng nghiên cứu rõ ràng và theo đuổi nó đến cùng. Và sự thực là anh đã làm được việc đó ở AIST trong hơn 10 năm qua. Có lẽ, đó là lí do mà Phenikaa mạnh dạn trao cho anh chức viện trưởng Viện TIAS.  Với tinh thần như vậy, Trường Đại học Thành Tây sẽ trao cho các trưởng nhóm nghiên cứu toàn quyền quyết định từ nội dung, định hướng nghiên cứu cho đến đề xuất xây dựng cơ sở vật chất. “Hiện nay trường đang xây dựng tám tòa nhà, mỗi tòa nhà tám tầng dành cho các khoa. Nhưng việc mua sắm trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm cho các nhóm nghiên cứu sẽ phải đợi trưởng các nhóm nghiên cứu quyết định chứ nhà trường không thể quyết định thay hoặc quyết định trước”, GS.TS Nguyễn Văn Hiếu nói. Đồng thời, các nhóm nghiên cứu cũng sẽ tham gia vào quy trình xây dựng kế hoạch đầu tư và sử dụng các phòng thí nghiệm dùng chung trong trường và các viện trực thuộc trường hoặc Phenikaa: các nhóm nghiên cứu sẽ phải cùng thảo luận hiệu quả sử dụng trang thiết bị đó tới đâu, có bao nhiêu nhóm, bao nhiêu người cam kết sử dụng các trang thiết bị đó thì trường mới quyết định đầu tư.  Để vận hành các nhóm nghiên cứu, quan điểm đầu tư cho con người ở đây không chỉ dừng lại ở việc tập trung đầu tư cho các nhà nghiên cứu đã có trình độ chuyên môn cao và đóng góp nhiều cho khoa học (Tập đoàn Phenikaa cam kết trả lương cao để các nhà nghiên cứu trong nước hoặc từ nước ngoài trở về yên tâm làm việc, hỗ trợ chỗ ở, đi lại, báo cáo hội thảo hội nghị ở nước ngoài, cam kết trả lương cao cho các giáo sư mời ở nước ngoài…), mà còn trả lương đủ sống hoặc cấp học bổng cho nghiên cứu sinh tiến sĩ và nghiên cứu sinh post doc khi họ thực hiện các nghiên cứu phục vụ cho định hướng của các nhóm hoặc theo đặt hàng của tập đoàn.  Cách làm này nếu được thực hiện bài bản sẽ có thể khắc phục được hiện trạng bấy lâu nay ở Việt Nam thường “bỏ lơ” các nghiên cứu sinh, để họ tự bơi hoặc có cấp học bổng nhưng không đủ sống và nghiên cứu toàn thời gian. “Bài học của các nước như Singapore là các đại học thường cấp học bổng rất cao để thu hút nghiên cứu sinh, nhất là nghiên cứu sinh post doc giỏi từ các nước khác về, còn điểm yếu của các đại học Việt Nam là không đủ tiền để thu hút tinh hoa như vậy”, theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV Hà Nội. “Bởi vì nghiên cứu sinh tiến sĩ và post doc có thể coi là giai đoạn nhà nghiên cứu tập trung, hăng say làm việc nhất trong quãng đời nghiên cứu, những tư tưởng, định hướng nghiên cứu của cả cuộc đời người ta có thể đều bắt nguồn từ giai đoạn này,” PGS.TS Nguyễn Văn Chính nói.  “Mong muốn, khát vọng của nhà khoa học là làm được một ‘cái gì đó’ cho khoa học. Do đó cần những chiến lược phát huy được yêu cầu tự nhiên về nghề nghiệp-nhu cầu sản xuất ra tri thức khoa học của các nhà khoa học”, PGS.TS Đỗ Vân Nam nói. Để thực hiện được điều này, việc  phân bổ kinh phí cho nghiên cứu khoa học sẽ căn cứ vào năng lực của các nhóm nghiên cứu với thủ tục linh hoạt và thời gian nhanh chóng. Ngoài việc tiếp tục xin tài trợ nghiên cứu cơ bản từ các nguồn trong và ngoài nước để thực hiện các định hướng nghiên cứu của mình, các nhà khoa học ở Trường Đại học Thành Tây có thể xin tài trợ từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ mà Phenikaa rót vốn với số tiền 100 tỉ ngay trong năm đầu tiên (mỗi năm rót thêm 100 tỉ trong 4 năm tiếp theo). Trong trao đổi với chúng tôi, TS. Hồ Xuân Năng nhấn mạnh cam kết về việc đầu tư tài chính cho các nhóm nghiên cứu hoạt động ngay trong giai đoạn đầu khi chưa xin được tài trợ từ các nguồn khác. Cơ chế cấp tài chính cho các nghiên cứu cơ bản ở Quỹ này cũng tương tự cơ chế Quỹ Nafosted: xét duyệt đề tài bởi một hội đồng ngành độc lập, có các nhà khoa học trong và ngoài nước cùng tham gia hội đồng. Quỹ cũng có một hội đồng quản lý quỹ độc lập hoàn toàn với Trường Đại học Thành Tây và TIAS.      Cần những chiến lược phát huy được yêu cầu tự nhiên về nghề nghiệp-nhu cầu sản xuất ra tri thức khoa học của các nhà khoa học. PGS.TS Đỗ Vân Nam      Dự định của Trường Đại học Thành Tây là tìm kiếm khoảng 30 – 40 nhà khoa học trẻ xuất sắc để từ đó thu hút, tập hợp lực lượng là thành viên của các khoa, các nhóm nghiên cứu vẫn là khá khó khăn. “Tìm giảng viên chỉ để giảng dạy thì đơn giản, nhưng tìm được nhà khoa học thực sự vừa làm giảng viên, vừa chăm chú vào nghiên cứu lại rất khó. Ví dụ, tuyển một người nghiên cứu về công nghệ thông tin và tự động hóa ngày đêm, rồi hướng dẫn sinh viên nữa là rất khó, bởi vì làm doanh nghiệp bên ngoài kiếm được rất nhiều tiền. Giảng dạy và nghiên cứu ở đại học sẽ không thể bằng”, PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu nói. Hiện nay Viện TIAS mới thu hút được hơn 10 nhà khoa học trẻ về làm việc và có nhiều nghiên cứu sinh tiến sĩ, post doc đã cam kết sẽ trở về làm việc tại Thành Tây, nhưng việc tìm kiếm, thuyết phục các nhà khoa học sẽ vẫn cần nhiều thời gian, mà chính TS. Hồ Xuân Năng và ban giám hiệu nhà trường sẽ phải tỉ mỉ, trao đổi với từng nhà khoa học để tìm tiếng nói chung. Ở đó có sự đồng cảm, nhìn thấy ở nhau sự cam kết giữa doanh nghiệp và nhà khoa học, sự dũng cảm của đôi bên, “là cả hai đều đặt cược vào nhau bởi sự tin tưởng”, như PGS.TS Đỗ Vân Nam trao đổi.          Author                Bảo Như        
__label__tiasang Bụt chùa nhà không thiêng      Cách đây vài ngày khi sắp xếp lại giấy tờ, tài liệu của mình, tình cờ tôi nhìn thấy tập tài liệu có tên “Đại học và Nghiên cứu”, trong đó có nhiều bài báo của những tác giả như Hoàng Tụy với cái nhìn sắc sảo và những nhận xét xác đáng. Tập tài liệu cũng có nhiều báo cáo bao gồm tổng kết năm 1998 về Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới của Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế Canada, do Keith Bezanson điều hành và báo cáo về Giáo dục Đại học Việt Nam của Đại học APEX do Vallelly và Wilkinson thực hiện năm 2008.  Khi xem lướt lại tập tài liệu này, tôi bắt gặp vài dòng chữ viết vội bằng tiếng Pháp mà tôi không nhớ mình đã chép từ đâu. Những dòng chữ đó để lại ấn tượng trong tôi bởi chúng thể hiện rõ ràng và súc tích các nguyên tắc cơ bản để xây dựng Đại học và Nghiên cứu. Ban đầu, tôi nghĩ đã chép những dòng đó từ bài nói chuyện của Feynman cho các tân sinh viên tại Viện Công nghệ Caltech vào năm 1965, nhưng sau khi kiểm tra lại thì không phải vậy. Những dòng này được viết vào khoảng giữa năm 1947 và 1949 tại Việt Bắc và tác giả là Giáo sư Hồ Đắc Di.  Tôi xin được mạn phép ghi lại những dòng đó dưới đây, và xin lỗi nếu bản ghi chép hoặc bản dịch của mình có vài lỗi nhỏ, nhưng tôi đảm bảo rằng những dòng dưới đây trung thành với nguyên văn của tác giả.      – Nếu cuộc đời mà từng giây phút trôi qua đều có ý nghĩa thì đó là cuộc đời cống hiến cho tương lai của con em chúng ta.   –  Một người thầy càng ngày càng trở nên giỏi hơn nhờ những người học trò của mình thì người thầy đó càng xứng đáng được tôn vinh.  – Giáo dục bậc cao và nghiên cứu như là hai anh em sinh đôi; việc học ở trường chỉ là bước đệm cho công việc nghiên cứu sau này.  – Đại học không chỉ là một tổ hợp gồm nhiều trường, một trung tâm truyền đạt kiến thức và kỹ thuật mà còn là một trung tâm nghiên cứu. Trong khoa học, sự tiến bộ gắn liền với sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, mà nếu không có điều đó thì chẳng khác gì xây nhà trên cát.                Giáo sư Hồ Đắc Di  (1900 – 1984) là người bác sĩ y khoa đầu tiên, người sáng lập Trường Đại học Y Hà Nội và là Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam từ ngày thành lập tới 1984. Trong thời gian ở Pháp, được tiếp xúc với đồng chí Nguyễn Ái Quốc và một số nhà trí thức Việt Nam yêu nước khác, Giáo sư đã cảm thấy nỗi đau đớn tủi nhục của người dân mất nước và muốn đem khả năng của mình phục vụ đồng bào. Trở về Tổ quốc, Giáo sư làm bác sĩ phẫu thuật tại bệnh viện Huế và Phủ Doãn. Sau Cách mạng tháng Tám, Giáo sư được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao nhiều trọng trách Tổng thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Đại học vụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Y- Dược khoa và nhiều chức vụ quan trọng khác. Tuy bản thân tham gia công tác lãnh đạo, Giáo sư vẫn liên tục làm công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học…               Ông đã từng được Nhà nước ta tặng thưởng nhiều huân chương cao quý và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.        – Trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy kiến thức khoa học mà còn là nơi khoa học tồn tại và phát triển.  – Nghiên cứu là làm việc theo nhóm. Nó đòi hỏi sự chăm chỉ và nhẫn nại. Nó bao gồm những kỹ năng, đặc biệt đối với những người trẻ tuổi, luôn không ngừng tìm kiếm phát minh để có thể nắm bắt cơ hội. Cùng với công việc, trí tưởng tượng và  phương pháp, cơ hội và sự quan tâm sẽ đến trong tầm tay.   – Nghiên cứu khoa học tạo nên sự nhiệt tình cho những người trẻ tuổi. Và thực sự chúng ta mang ơn họ vì rất nhiều phát minh quan trọng.   – Giảng viên có nhiệm vụ phát hiện ra những sinh viên yêu thích công việc nghiên cứu và giúp đỡ họ phát triển kỹ năng quan sát, khả năng phán xét, trí tò mò, đam mê tri thức, trực giác và trí tưởng tượng.   – Nhà khoa học phải có một phông văn hoá rộng để không chỉ như những người thợ thủ công lành nghề được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp. Đào tạo các nhà khoa học phải chú trọng phát triển cả về trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả khoa học và nghệ thuật.  – Tinh thần học thuật là một đặc trưng của đào tạo giáo dục bậc cao so với bậc trung học và trung học chuyên nghiệp; đó là sự thỏa hiệp giữa sinh viên và giảng viên mà không có chỗ cho việc lạm dụng quyền hạn. Chỉ khi đó, thông qua mối quan hệ không áp đặt, năng lực phán xét mới có thể nở rộ hoàn toàn tự do-đó là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa trí tuệ nhân loại, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với khoa học.   – Học để biết Chân lý và quý trọng Cái đẹp, để từ đó giúp ta làm điều tốt.   – Học để biết Chân lý hàm ý việc vượt lên trên những đặc điểm cụ thể để tìm ra quy luật chung, điều đó đòi hỏi sự phân tích lô-gíc, chính xác, vô tư và trung thực trước sự thật.   – Chỉ sau khi học hỏi từ những nhà khoa học tiền bối chúng ta mới có thể đứng trên vai họ để nhìn qua bên kia bức tường, nơi cất giấu những điều chưa biết.   – Hãy thành thật với quá khứ như dòng sông chảy ra đại dương luôn thủy chung với nguồn cội. Bằng cách thừa hưởng truyền thống tốt đẹp, Đại học sẽ có thể tạo nên sức mạnh để đối mặt với những khó khăn hiện tại và tìm thấy niềm tin ở tương lai.   – Cái làm nên sự khác biệt giữa hai thứ, Phát minh và quá trình làm việc để đạt được nó, là chúng ta luôn bị ấn tượng bởi điều thứ nhất trong khi ngay lập tức quên điều thứ hai. Suy nghĩ theo lối mòn thì bị động còn sự sáng tạo đòi hỏi con người phải tự quyết.  – Khi học thì phải nghi ngờ và khi làm thì phải có niềm tin.  – Phải hành động có suy nghĩ và suy nghĩ tích cực.   – Hãy hình dung một nhà khoa học trở thành một nhân viên kế toán chịu nhiều áp lực từ các thủ tục hành chính, phải có mặt tại cơ quan vào những giờ cố định. Nếu anh ta không phản ứng lại điều đó thì anh ta sẽ quên hết những điều đã học khi còn là sinh viên. Người ta có thể hành chính hóa một nhà khoa học… chứ không thể hành chính hóa Khoa học. Hãy nhìn lại bản chất của Tự nhiên; có khi nào nó hành xử đúng thời gian và theo quy luật không?   – Thật quý giá cho nhà khoa học nào có một công việc kết hợp được cả Khoa học và Lương tâm. Có tài là chưa đủ; mà phải có đạo đức trong sáng.   – Trường đại học phải tự hào vì đã quyết tâm gìn giữ di sản trí tuệ của những người đang đấu tranh vì tự do.   ***  Tôi cứ nghĩ trong việc xây dựng một nền KH&CN phát triển và đại học đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam chúng ta đâu cần viết và thảo luận nhiều, chỉ cần thực thi những ý kiến trên của GS Hồ Đắc Di.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cả làng nuôi dạy một đứa trẻ  (Quan điểm giáo dục của bà Hillary Clinton)      Mọi người đều biết, con cháu của các nhân vật nổi tiếng thường hay có tính quậy phá, khó bảo. Thế nhưng so với con cái của mấy vị cựu Tổng thống Mỹ gần đây thì cô Chelsea con của ông bà Bill Clinton lại được dư luận Mỹ đánh giá là rất ngoan. Chelsea là con một của một gia đình vào loại nổi tiếng nhất nước Mỹ. Bố cô từng 12 năm làm Thống đốc Bang và 8 năm làm Tổng thống nước Mỹ, bà mẹ cũng nổi tiếng không kém, từng được tạp chí Luật Quốc gia chọn vào danh sách 100 luật sư có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ hai năm 1988 và 1991. Trong một gia đình cha mẹ bận rộn với công việc như vậy, con cái rất ít có điều kiện được cha mẹ kèm cặp dạy dỗ và do đó dễ chịu ảnh hưởng xấu của xã hội. Thế thì vì sao Chelsea lại ngoan?&#160; Bí quyết là ở chỗ bà mẹ biết cách giáo dục con và biết tận dụng sự giúp đỡ của cộng đồng xã hội trong việc đó. Câu chuyện nghe ra có vẻ bình thường, nhưng lại chứa đựng nhiều điều đáng để các vị phụ huynh toàn thế giới quan tâm.                        Bà Hillary Rodham Clinton đã chia sẻ kinh nghiệm dạy con của mình với mọi người qua cuốn sách dày 352 trang có tên It Takes a Village (dịch nghĩa: Điều đó cần sự cố gắng chung của cả làng) do nhà xuất bản Simon and Schuster ấn hành năm 1996, được Thời báo New York xếp vào loại best seller ngay trong năm ấy.   Hillary Clinton viết sách này khi đã sang năm thứ tư trên cương vị Đệ nhất Phu nhân nước Mỹ, Chelsea đã 16 tuổi – cái tuổi bắt đầu rời cha mẹ và sống tự lập, có thể đã yêu đương.   Tên sách lấy từ một câu ngạn ngữ của người Nigeria châu Phi Ora na azu nwa, dịch ra tiếng Anh là It Takes a Village to Raise a Child, nghĩa là Cần cả một làng để nuôi dạy một đứa trẻ. Trong văn hóa Nigeria, từ Nwa Ora nghĩa là con cái của cộng đồng. Chắc hẳn Hillary Clinton muốn nhấn mạnh trẻ em không phải chỉ là của một gia đình mà là của cả xã hội; cộng đồng xã hội cần quan tâm đến sự giáo dục mọi trẻ em, phải huy động toàn bộ sức người sức của của cộng đồng (“làng xóm”) để làm tốt công tác giáo dục lớp trẻ.   Đây là một khái niệm vô cùng quan trọng. Nếu cộng đồng xã hội nào cũng nghĩ và làm như vậy thì mọi trẻ em dù xuất thân gia đình giàu nghèo đều được hưởng sự chăm sóc, dạy dỗ của toàn cộng đồng, do đó sẽ khó mà có những trẻ em hư hỏng từ nhỏ, lớn lên trở thành kẻ có hại cho xã hội.  Hillary Rodham từ trẻ đã quan tâm đến công tác xã hội, đặc biệt là công tác trẻ em. Năm 1969, bà tốt nghiệp cử nhân ngành khoa học chính trị, vào học trường Luật thuộc Đại học Yale, đồng thời làm biên tập tạp chí Luật và Hành động Xã hội của nhà trường, bà thường xuyên đến giúp đỡ trẻ bất hạnh tại bệnh viện Yale-New Haven. Năm sau bà được tài trợ để làm việc tại Quỹ Bảo vệ Trẻ em ở Cambridge, bang Massachusetts. Trong năm thứ hai tại trường Luật, bà tự nguyện làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Yale, tìm hiểu những nghiên cứu mới về sự phát triển não của trẻ. Bà khảo sát các trường hợp lạm dụng trẻ em ở Bệnh viện New Haven và làm việc tại văn phòng Dịch vụ Luật pháp của thành phố, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho dân nghèo. Năm 1973, Hillary Rodham nhận bằng Tiến sĩ Luật tại Yale với luận án về quyền trẻ em, rồi bắt đầu nghiên cứu theo chương trình cao học về trẻ em và y học tại Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Yale, đồng thời làm luật sư cho Quỹ Bảo vệ Trẻ em. Năm 1977, bà làm việc cho Công ty Luật Rose, chuyên về các vụ án quyền sở hữu trí tuệ trong khi vẫn tiếp tục các hoạt động pháp lý bảo vệ trẻ em thiện nguyện. Năm 1978, bà được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm vào ban giám đốc Công ty Dịch vụ Pháp lý.                   Do có quá trình lâu dài làm việc về chủ đề giáo dục trẻ em, sau khi sinh con (1980) bà đã áp dụng các kiến thức ấy vào việc nuôi dạy con mình. Ở cương vị Đệ nhất phu nhân, trong cuốn sách trên bà đã phát triển quan điểm giáo dục trẻ em của mình trên bình diện toàn xã hội để mọi người bình thường đều có thể tiếp nhận. Bà chỉ nói về giáo dục thông thường, hoàn toàn không nói gì tới việc giáo dục thiên tài, thần đồng. Bằng thể loại tự sự và ngôn ngữ bình dân, bà kể lại bản thân mình đã được giáo dục như thế nào và bà đã giáo dục con mình ra sao, cũng như quá trình bà giúp Tổng thống Clinton cải tiến việc giáo dục trẻ em Mỹ.   Thế giới hiện nay ngày một thu nhỏ chỉ còn là một cái làng. Máy bay, tàu hỏa siêu tốc, thông tin hiện đại, Internet và các phương tiện truyền thông đang đẩy nhanh quá trình đó. Nuôi dạy con không còn là việc của gia đình hoặc nhà trường, mà toàn xã hội, thậm chí toàn thế giới đều có trách nhiệm. Một đứa trẻ hư hỏng có thể tác động xấu tới nhiều trẻ khác, tới cả xã hội.  Hillary Rodham đề tặng cuốn sách này cho gia đình bên mẹ, bên chồng và gia đình mình. Trong mấy chương đầu, bà kể khá chi tiết về gia đình mẹ và gia đình chồng. Qua đó người ta mới biết vợ chồng bà xuất thân từ những gia đình không hoàn hảo, khác với điều mọi người từng nghĩ. Bà ngoại của Hillary Rodham mới mười mấy tuổi đã sinh ra mẹ Hillary, vì thế bà cụ không làm tròn bổn phận giáo dục con gái. May sao, nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng và nhà trường, mẹ Hillary trở thành một người có ý chí tự lập và kiên nhẫn vượt khó – điều này đã tác động lớn hình thành tính cách độc lập tự chủ của Hillary. Gia đình chồng (tức Bill Clinton) cũng ở cảnh bất hạnh: Bill đầu tiên mang họ bố là Blythe, nhưng ông bố bị chết vì tai nạn xe cộ ba tháng trước khi con trai chào đời. Năm Bill 4 tuổi, mẹ tái giá với Roger Clinton một người nát rượu; mãi 10 năm sau Bill mới chịu mang họ Clinton của bố dượng. Thông thường con trẻ trong hoàn cảnh như vậy dễ hư hỏng, may sao Bill nhận được tình yêu thương “như điên cuồng” của mẹ và họ hàng. Nhờ được mẹ giáo dục nghiêm khắc, Bill Clinton học giỏi và ngoan, từng tham gia đoàn học sinh đến thăm Nhà Trắng, được Tổng thống Kennedy tiếp và bắt tay. Cuộc gặp đó đã thức tỉnh ở cậu bé ý chí phấn đấu trở thành Tổng thống nước Mỹ.  Hillary Rodham và Bill Clinton đều trưởng thành rất tốt và thành đạt xuất sắc. Dĩ nhiên nguyên nhân chính là sự phấn đấu của của họ, song như Hillary nói, sự quan tâm và giáo dục của gia đình và xã hội (nhà trường, phường xóm, đoàn thể quần chúng) đóng vai trò khởi đầu cực kỳ quan trọng mà nếu không có thì chưa biết chừng số phận hai người sẽ ra sao.   Sách của Hillary có riêng một chương Trẻ sinh ra không mang theo bản thuyết minh, trong đó tác giả trình bày sự quan trọng của việc hướng dẫn phụ nữ khi mang thai và sau khi sinh con, cũng như chính sách liên quan của Nhà nước. Thời kỳ trước 3 tuổi rất quan trọng cho sự phát triển trí não của trẻ, ngay khi là bào thai đã cần sự kích thích từ bên ngoài như vuốt ve, trò chuyện nhằm kích thích trí não nhận thông tin. Vì thế không ít phụ nữ khi có thai là xin nghỉ việc để chăm sóc con cho tới khi trẻ tròn 3 tuổi. Nhà nước nên có chính sách ưu đãi họ về thuế thu nhập, về cung cấp thực phẩm. Tác giả không tán thành cách bắt trẻ phải học quá nhiều thứ, chẳng hạn mới 2-3 tuổi đã học chơi dương cầm, học vẽ, múa ballet. Hillary cho biết bà và ông Clinton rất hẫng hụt khi thấy Chelsea lớn lên đã tự quyết định học múa ballet chứ không thích chơi thể thao như bố mẹ cô.   Hillary viết: “Hiện nay Nhà nước ta nói trẻ em là tài nguyên quan trọng nhất, nhưng chúng ta lại đang phí phạm các sinh mạng quý giá ấy! Dường như chúng không có ý nghĩa gì nữa. Vấn đề trẻ em bị coi là một “vấn đề mềm”, chỉ thuộc về những người có tấm lòng mềm yếu (thường là phụ nữ). Nó luôn bị đặt ra ngoài lề các vấn đề kinh tế và xã hội hùng vĩ hơn.”     Hillary không tán thành thuyết Đường cong hình chuông, một lý thuyết đưa ra năm 1994 từng làm chấn động thế giới vì nó khẳng định: trí lực con người được quyết định ngay từ khi mới sinh ra, là một phần của gene, không thể thay đổi được; từ đó họ chứng minh “chủng tộc có liên quan tới trí lực”, trí lực người da đen thấp hơn người da trắng1. Để bác thuyết nói trên, Hillary chọn ra 100 trẻ sơ sinh người Mỹ gốc Phi, cha mẹ chúng nói chung chưa học hết phổ thông trung học, có IQ bình quân là 85, phần lớn các gia đình này sống nhờ trợ cấp xã hội. Khoảng một nửa số trẻ đó khi đầy 4 tháng tuổi được đưa vào các vườn trẻ, tại đấy chúng được ăn uống tốt, được giáo dục, có các đồ chơi và nhiều môi trường ngoại cảnh tốt, lại được các thầy cô giáo định kỳ đến thăm, hướng dẫn phụ huynh cách dạy trẻ. Khi trẻ lên 3 tuổi, IQ bình quân của nhóm trẻ thực nghiệm này cao hơn 17 điểm (101:84) so với một nửa số trẻ còn lại (không đi nhà trẻ). Chênh lệch này kéo dài cho tới 10 năm sau. Điều đó chứng tỏ giáo dục có thể thay đổi được chỉ số trí tuệ IQ của trẻ em, khác với thuyết Đường cong hình chuông.    Cũng vậy, Hillary còn dùng kinh nghiệm của mình kết hợp lý luận chứng tỏ sự hình thành và phát triển lành mạnh của chỉ số tình cảm EQ có liên quan nhiều tới thời kỳ đầu của trẻ. Điều đó như cảnh báo chúng ta: cho dù thuyết Đường cong hình chuông lẫn lộn phải trái song chúng ta chớ nên coi nhẹ cơ sở dữ liệu đã xây dựng nên thuyết này. Chênh lệch về giáo dục trẻ em giữa các vùng phát triển và vùng lạc hậu cũng tồn tại Hiệu ứng Matthew2, điều đó nhất trí với quan điểm tích lũy vốn văn hóa do P. Bourdieu3 trình bày. Trong khi đó người ta lại chỉ chú trọng tăng cường giáo dục cao đẳng đại học mà coi nhẹ giáo dục phổ thông, tuy rằng tại các vùng nghèo thì số học sinh thi vào đại học rất ít.  Tóm lại, cuốn sách của bà Hillary Clinton muốn nói lên một quan điểm: nuôi dạy trẻ em là vấn đề căn bản nhất của một dân tộc, một quốc gia; Nhà nước và xã hội cần tập trung công sức vào vấn đề này, chớ nên khoán trắng cho gia đình. Trong thực tế, nền giáo dục phổ thông ở Mỹ hiện nay còn nhiều thiếu sót nghiêm trọng tuy giáo dục đại học của họ đứng đầu thế giới – điều đó cho thấy lý luận giáo dục của Hillary Clinton rất đáng để người Mỹ cũng như chúng ta suy ngẫm.  Ngày nay giáo dục đã trở thành chuyện lớn nhất được cộng đồng xã hội tất cả các nước đều quan tâm. Nói chung người Việt Nam quan tâm nhiều tới giáo dục đại học (nói chính xác là chỉ quan tâm tới việc thi vào đại học) mà thiếu quan tâm tới giáo dục trước tuổi đi học (vườn trẻ-mẫu giáo). Đó là do họ chưa nhận thức được tính chất quan trọng của việc này, mặt khác cũng là do chi phí cho việc học vườn trẻ mẫu giáo hiện nay rất tốn kém, nhất là học các lớp chất lượng cao, thậm chí còn tốn kém hơn cả học đại học. Từ việc lựa chọn lớp mẫu giáo song ngữ, trường tiểu học rồi trung học, trường chuyên…, khoản chi này chiếm phần khá lớn ngân sách gia đình. Tầng lớp trung lưu châu Á gọi đó là khoản đầu tư có rủi ro cao, vì chưa thể biết trước kết quả sẽ ra sao; nhưng họ đã bắt đầu quan tâm tới giáo dục trước tuổi đi học – đây là một lựa chọn đúng hướng.   Thế nhưng các gia đình thu nhập thấp giờ đây khó lòng cho con em họ được đi vườn trẻ mẫu giáo, dù là của Nhà nước mở và chất lượng rất thấp. Do giáo dục mẫu giáo chưa được đưa vào diện giáo dục bắt buộc, hệ thống vườn trẻ mẫu giáo của Nhà nước ta hiện nay không đủ sức nhận toàn bộ số trẻ em trước tuổi đi học. Các vườn trẻ mẫu giáo tư thì thu học phí quá cao. Một số trường mẫu giáo tư ở Hà Nội đang thu học phí 200-300 USD/tháng. Đây là tình trạng chung của các nước đang phát triển. Tại Trung Quốc cũng vậy: thu nhập bình quân hằng tháng của người dân Bắc Kinh bằng 4000 RMB (Nhân dân tệ, 1 RMB đổi 0,147 USD) nhưng học phí các lớp mẫu giáo công lập ở đây là 1000-4000 RMB/tháng, đắt hơn cả học đại học; thí dụ trường Đại học Bắc Kinh thu học phí và tiền trọ của sinh viên khoảng 700 RMB/tháng. Vì thiếu các lớp mẫu giáo công lập mà Bắc Kinh năm nay có 250 nghìn trẻ phải ở nhà với ông bà (tin ngày 23/2/2010).   Nếu đồng ý với quan điểm giáo dục của bà Hillary Clinton, Nhà nước ta nên quan tâm phát triển hệ thống vườn trẻ mẫu giáo công cả về số lượng lẫn chất lượng để phần lớn trẻ em trước tuổi đi học đều có thể được hưởng sự giáo dục của xã hội, thu hẹp dần tình trạng đa số trẻ em hiện nay phải ở nhà để ông bà hoặc ô-sin trông nom.  ——————–  1Thuyết này được trình bày trong sách The Bell Curve: Intelligence and Class Structure in American Life. Tác giả: Richard Hernnstein (nhà tâm lý, giáo sư ĐH Harvard) và Charles Murray (nhà chính trị học). Trong sách có đưa ra quan điểm: IQ của người da đen bằng 85% của người da trắng, và tỷ lệ nghịch với chiều dài cái penis của họ. Chủ nhân giải Nobel 1962 James Watson (nổi tiếng về thành tích đồng khám phá cơ chế gene) do tán thành thuyết này mà bị lên án mạnh, vì thế năm 2007 phải từ chức giám đốc Cold Spring Harbor Laboratory.  2 Mathew Effect: hiệu ứng có vẻ nghịch lý “Đã giàu thì càng giàu, đã nghèo thì càng nghèo, đã xấu thì càng xấu …” (The rich get richer and the poor get poore …), do nhà xã hội học Robert K. Merton đưa ra, lấy tên từ Phúc Âm Matthew trong Kinh Thánh.   3 Pierre Bourdieu (1930-2002): nhà xã hội học, triết gia, viện sĩ Pháp, viết nhiều về vấn đề tích lũy vốn văn hóa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các bảng xếp hạng có phải là khuôn vàng thước ngọc?      Gần đây, tại Hội thảo “Nâng cao chất lượng và uy tín quốc tế của các trường đại học Việt Nam”, do Bộ Giáo dục & Đào tạo và Đại học Quốc gia Hà nội phối hợp tổ chức, theo người chủ trì hội thảo, xếp hạng đại học là một công cụ để đánh giá chất lượng đại học, đây là biện pháp bắt buộc đối với các cơ sở giáo dục, quy định về xếp hạng sẽ đưa vào Luật Giáo dục đại học và Nghị định, Thông tư để các trường thực hiện. Thực tế, xếp hạng chỉ là một (trong nhiều) công cụ để đánh giá chất lượng đại học, không nên quá kỳ vọng vào nó; hơn thế, công cụ này cũng không phải là khuôn vàng thước ngọc với những hạn chế và khiếm khuyết.      Các sinh viên đang tổng hợp vật liệu mới tại phòng thí nghiệm tự chủ của TS Trần Đình Phong, Đại học KH&CN Hà Nội. Ảnh: Loan Lê.  (a) Ban đầu, bản thân việc xếp hạng có mục đích ‘tử tế’ và ‘lương thiện’, nhằm (i) cung cấp thông tin tham khảo trung thực, khách quan để phục vụ cộng đồng, phục vụ người học, phục vụ xã hội trong việc đánh giá và lựa chọn trường đại học; (ii) tạo ra ‘sân chơi’ bình đẳng, công khai, định lượng, khả tín giữa các trường đại học để không ngừng nâng cao chất lượng đại học. Người hưởng lợi miễn phí là học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh, cộng đồng, chính phủ, toàn xã hội; nên về bản chất đó là một thứ dịch vụ công (public services) miễn phí, hoàn toàn không có yếu tố thương mại. Khi tham gia xếp hạng, các trường không phải đóng bất kỳ một loại phí hay lệ phí nào, và ai muốn sử dụng các thông tin trong các bảng xếp hạng thì cứ thế mà sử dụng, không phải trả tiền.  Ngày nay, thời thế đã đổi thay, hình như câu châm ngôn ‘không ai cho không ai cái gì’ đã hiện hình trong không ít bảng xếp hạng, những cái tốt đẹp thuở sơ khai đã dần bị biến dạng, trở thành trò chơi của giới quản lý, chứ không phải chỉ phục vụ cho mục tiêu đào tạo và khoa học như ‘cái thuở ban đầu’. Người ta có thể dễ dàng chứng minh các tiêu chí, chỉ số, trọng số của bất kỳ tổ chức xếp hạng nào (thường đồng thời là các cơ quan truyền thông) đều vừa thiếu tính khoa học vừa không hợp lý. Có người đã cảnh báo rằng cách xếp hạng hiện nay có thể gây hại cho khoa học và giáo dục nhiều hơn là lợi ích mà chúng mang lại.  Vì chạy theo mục đích thương mại, nên các tổ chức xếp hạng uy tín ngày nay đã kiếm bội tiền nhờ các dịch vụ khác, đánh thẳng vào các trường đại học muốn tham gia xếp hạng: phí tư vấn, phí tổ chức tập huấn, phí các loại dịch vụ khác. Bạn chỉ việc liên hệ với đại diện của QS, THE về việc bạn muốn nâng hạng, bạn sẽ biết ngay cái giá phải trả cho sự nổi tiếng. Không ai dám chắc là, không có tình trạng trường có chất lượng kém hơn lại được xếp thứ hạng cao hơn vì họ có nhiều tiền, và khi ấy việc xếp hạng trở thành cuộc đua khôn cùng của những ‘anh nhà giàu’.    Sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng trao đổi cùng sinh viên nước ngoài trong một khóa học ngắn hạn. Nguồn ảnh: ĐH Tôn Đức Thắng.  (b) Xếp hạng đại học do đó liên quan mật thiết đến việc phân tầng, xếp hạng theo nhóm, theo sứ mệnh, mục tiêu, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi của một trường đại học. Các bảng xếp hạng được coi là có uy tín cao hiện nay đều được xây dựng để xếp hạng cho các trường đại học Âu-Mỹ và các trường đại học ở các châu lục khác nhưng theo mô hình Âu-Mỹ (như Nhật bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore), theo tiêu chí ‘university’ của thế giới. Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam có nhiều khác biệt với thông lệ chung của các nước phương Tây, và nhìn chung là còn khá lộn xộn. Dĩ nhiên, cũng có một số trường đại học đã hội đủ tiêu chuẩn và điều kiện để được gọi là đại học (university), nhưng số đông thì chưa. Các trường đại học của Việt Nam đa số có cơ cấu và chức năng không hoàn chỉnh, xuất phát điểm là các trường đơn ngành, hoặc vốn là trường đa ngành nhưng sau đó bị đơn ngành hóa; nhưng dù đơn hay đa gì, thì đều tự xưng là đại học trong tiếng Việt và tiếng Anh; số trường hội đủ các điều kiện và tiêu chuẩn để được gọi là đại học theo các chuẩn mực phương Tây chưa nhiều. Các trường đại học nghiên cứu đúng nghĩa lại càng hiếm hơn nữa, đúng hơn là chưa có; đa phần vẫn là các trường đại học nhưng ‘không thèm’ nghiên cứu (theo đúng nghĩa của từ này). Về quản trị, các trường đại học phương Âu-Mỹ về cơ bản là các trường tự trị (autonomy, hay như cách dịch của ta thì gọi là tự chủ); còn chúng ta mới lò dò những bước đi đầu tiên của quá trình ‘tập’ làm tự chủ, còn mang nặng tính hình thức và đối phó, còn đang lùng bùng và chưa rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn giữa trường đại học với các thiết chế bên ngoài (bộ chủ quản, bộ Giáo dục & Đào tạo, bộ KH&CN, bộ Tài chính; tóm lại là mối quan hệ giữa trường đại học với nhà nước) và giữa 3 thiết chế đồng tồn tại trong một trường đại học (đảng ủy, hội đồng trường và ban giám hiệu). Những ‘đặc thù’ này của Việt Nam hoàn toàn xa lạ với tinh thần tự chủ của các trường đại học Âu-Mỹ. Nghĩa là giữa hệ thống đào tạo Âu-Mỹ và hệ thống đào tạo Việt Nam không có nhiều sự tương thích.  Thêm nữa, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay có nhiều loại: trường công, trường tư thục, trường dân lập, trường có yếu tố nước ngoài, trường hoàn toàn của nước ngoài; trường công lại chia ra trường tự chủ, trường chưa tự chủ, trường quốc gia, trường vùng, trường đại học, học viện; ngay trường đại học lại có trường đại học thuộc đại học quốc gia, thuộc đại học vùng và các trường đại học ‘độc lập’. Các loại trường đại học này đang được ‘đối xử’ không công bằng cả về qui định quản trị, quản lý và tiền bạc, đầu tư. Có trường được nhà nước đầu tư hàng năm cả ngàn tỷ đồng (không tính đầu tư xây dựng cơ bản), đếm đầu sinh viên ăn tiền, trong khi có trường không nhận được xu nào từ nhà nước để chi cho thường xuyên và chi đầu tư (trường tự chủ hoàn toàn). Trường ‘ngàn tỷ’ công bố hàng năm 500 bài báo trên ISI/Scopus chưa chắc đã ích nước lợi dân bằng trường không lấy xu nào từ tiền thuế của dân nhưng chỉ công bố được 100 bài báo cùng loại! Đấy là còn chưa nói đến trường ‘ngàn tỷ’ có 3000 giảng viên, còn trường kia chỉ có 500 giảng viên. Phải chăng nhà nước không khuyến khích các trường đại học cố gắng cùng nhau vươn tới các đỉnh cao trí tuệ theo các chuẩn mực quốc tế khi tạo ra sân chơi thiên vị? Và như vậy xếp hạng đại học phỏng có động lực gì cho các trường không phải trường ‘ngàn tỷ’?  Vậy là, các bộ tiêu chí được xây dựng cho các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, tự chủ kiểu Âu-Mỹ có thể áp dụng thành công cho đa số các trường đại học đơn ngành, tự chủ giả vờ, dạy là chính, và nghiên cứu khoa học chỉ là một thứ ‘bình hoa trong phòng khách’ kiểu Việt Nam không?  (c) Xét một cách căn cơ hơn, việc xếp hạng bị chỉ trích và phản đối còn là vì bản chất của nó là đơn giản hóa một thực thể phức tạp và vì vậy không thể phản ánh chính xác bản chất, đặc điểm và giá trị thực sự của một trường đại học. Hơn thế nữa, mỗi trường đại học tồn tại trong một không gian lịch sử và văn hóa cụ thể khác nhau, có những sứ mạng và mục tiêu khác nhau, phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của xã hội, vì vậy dùng chung một ‘thước đo’ liệu có ổn? Chính vì vậy, việc chạy đua theo các thứ hạng của bảng xếp hạng mà nhiều nước châu Á đang rơi vào có thể làm tổn hại đến việc phát triển những giá trị chân chính của một trường đại học, mặc dù xét về mặt ‘tiếp thị’ hình ảnh một quốc gia, thứ hạng cao trong bảng xếp hạng vẫn là một điều đáng mong muốn.  (d) Việc xếp hạng có mang lại ảnh hưởng tích cực nhiều hơn là tiêu cực cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam?  Các trường khi tham gia xếp hạng, như một lẽ tự nhiên, tư tưởng ‘chiếu trên chiếu dưới’ sẽ như một lực hút vô hình cuốn vào nó không ít thời gian, công sức, tiền bạc của các trường, của xã hội. Trong cơn sốt xếp hạng, giống như căn bệnh thi gì học nấy, các trường sẽ ùa theo con đường sai lệch: xếp hạng thế nào thì hoạt động thế ấy, xếp hạng trở thành hoạt động chi phối các trường, các trường sẽ chạy theo ‘thành tích’, chạy theo bài báo, làm mọi cách để có những con số thật đẹp thay vì tập trung nguồn lực thực hiện sứ mạng của trường đại học. Nguy hiểm là, cuộc đua thứ hạng này tạo ra một thứ giả khoa học, không phản ánh đúng thực chất chất lượng của một trường đại học. Hiện nay, chưa cần chạy theo các bảng xếp hạng, nghe đâu có người đã sẵn sàng ‘nuôi’ cả một nhóm nghiên cứu ‘quân thuê tướng mướn’, để hàng năm ‘đẻ’ ra các bài báo quốc tế, dùng đề đánh bóng thương hiệu phục vụ mục đích tuyển sinh! Thực tế những nghiên cứu đó hầu như không gắn gì với đào tạo và chất lượng sinh viên của trường đại học ấy. Nếu xếp hạng đại học được luật hóa thật, thì có lẽ sẽ kích thích sự phát triển một ‘thị trường mới nổi’, thị trường ‘soldier of fortune’ (lính đánh thuê) trong làng khoa học Việt Nam!  ***  Trong một thế giới phẳng, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, việc học lấy cái hay cái tốt trong quản lý khoa học, giáo dục và đào tạo của năm châu bốn biển để áp dụng cho đất nước là việc cần làm và phải làm, nhưng học như thế nào thì lại là câu chuyện khác; học một cách thiếu hệ thống dễ dẫn đến những hệ lụy không mong muốn; chúng ta đã có nhiều bài học vừa khôi hài vừa cay đắng về việc ‘học’ ấy rồi.  (Còn tiếp)    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Các em giỏi quá !      Thầy gi&#225;o bắt đầu giờ học văn bằng Chuyện C&#244; b&#233; Lọ lem. Trước ti&#234;n thầy gọi một học sinh l&#234;n kể chuyện C&#244; b&#233; Lọ lem. Em học sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.    Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa rồi?  Học sinh (HS): Thích Cô bé Lọ lem Cinderella ạ, và cả hoàng tử nữa. Không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.  Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?  HS:Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm!  Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất lịm, cả lớp cười ồ). Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy!  HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.  Thầy: Vì sao thế?  HS: Vì …vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con mình trở thành hoàng hậu.  Thầy: Đúng. Vì thế chúng ta thường cho rằng các bà mẹ kế dường như đều chẳng phải là người tốt. Thật ra họ chỉ không tốt với người khác thôi, chứ lại rất tốt với con mình. Các em hiểu chưa? Họ không phải là người xấu đâu, chỉ có điều họ chưa thể yêu con người khác như con mình mà thôi.  Bây giờ thầy hỏi một câu khác: Bà mẹ kế không cho Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử, thậm chí khóa cửa nhốt cô bé trong nhà. Thế tại sao Cinderella vẫn có thể đi được và lại trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong vũ hội?  HS: Vì có cô tiên giúp ạ, cô cho Cinderella mặc quần áo đẹp, lại còn biến quả bí thành cỗ xe ngựa, biến chó và chuột thành người hầu của Cinderella.  Thầy: Đúng, các em nói rất đúng! Các em thử nghĩ xem, nếu không có cô tiên đến giúp thì Cinderella không thể đi dự vũ hội được, phải không?  HS:  Đúng ạ!  Thầy:  Nếu chó và chuột không giúp thì cuối cùng Cinderella có thể về nhà được không ?  HS: Không ạ!   Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý: dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong các em có càng nhiều bạn càng tốt.  Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem, nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không?  HS: Không ạ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng tử, không được hoàng tử biết và yêu.  Thầy: Đúng quá rồi! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử?  HS: Chính là Cinderella ạ.  Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cản trở Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào   HS: Phải biết yêu chính mình ạ!  Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng không?  HS:  Đúng ạ, đúng ạ!  Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa hợp lý không ?  HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.  Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn vĩ đại (nhà văn Pháp Charles Perrault, tác giả truyện Cô bé Lọ lem) mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này trong số các em có ai muốn trở thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?  Tất cả học sinh vỗ tay reo hò hoan hô.            Huy Đường Lược dịch theo báo Trung Quốc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các mô hình đại học tư ở Malaysia      Trong khi các trường đại học ngoài công lập tại Việt Nam đang đứng trước những khó khăn đôi khi tưởng chừng không vượt qua nổi, thì tại Malaysia, với lịch sử phát triển của đại học tư khá giống Việt Nam, nhưng các trường đại học tư ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, và thậm chí còn trở thành một niềm tự hào của giáo dục đại học Malaysia.     Vị thế của các đại học tư của Malaysia không  chỉ được khẳng định trong nước mà còn vượt qua khỏi biên giới quốc gia  để tồn tại và cạnh tranh với những trường đại học Âu – Mỹ trong việc thu  hút sinh viên quốc tế từ khu vực Đông Nam Á nữa.  Bài  viết của Mohamed Ali Abdul Rahman, của một viên chức của Bộ Đại học  Malaysia giới thiệu mô hình đại học tư ở Malaysia (đã đăng trên tờ báo  mạng University World News năm 2010) gợi ý những chính sách đối với đại  học tư của Mlaysia mà Việt Nam có thể tham khảo để giúp các trường đại  học ngoài công lập của Việt Nam thoát khỏi nguy cơ đổ vỡ và phát triển  đúng hướng.  Phương Anh dịch và giới thiệu  Ở châu Á, tấm bằng đại học không còn là một lựa chọn, mà là một điều kiện bắt buộc để được tuyển dụng, được toàn xã hội coi trọng, vì vậy số học sinh tốt nghiệp phổ thông có nguyện vọng vào đại học đã tăng lên đều đặn trong những năm qua.  Tuy nhiên, số trường đại học công lập tại Malaysia chỉ có thể cung cấp chỗ học cho một số lượng người học có hạn, vì thế đã cản trở khả năng tiếp cận giáo dục đại học của các học sinh nghèo.  Vì vậy, Chính phủ Malaysia cho rằng cần phải tạo ra các cơ hội học tập cho các học sinh những người không dành được chỗ học trong các trường đại học công lập bằng cách cho phép thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục đại học của tư nhân. Đồng thời, Chính phủ Malaysia cũng nhận thức rằng sự ra đời và phát triển của đại học tư không thể giống với các trường đại học công. Nhưng các trường này cũng phải có khả năng cung cấp các chương trình đào tạo có chất lượng tương đương với các trường đại học công, để đảm bảo cho người học dù học ở trường công hay trường tư đều nhận được dịch vụ giáo dục đại học có chất lượng như nhau.  Do đó, trách nhiệm của Bộ Giáo dục Đại học là xây dựng các chính sách, những ưu đãi và các chương trình ​​nhằm hỗ trợ các trường đại học tư để cải thiện và tăng cường các dịch vụ giáo dục của mình sao cho thu hút người học và đáng giá đồng tiền mà họ phải chi trả.  Khu vực đại học tư nhân lại trở thành thiết yếu khi nhu cầu học tập từ các sinh viên quốc tế tăng lên trong những năm qua. Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học Malaysia, riêng trong năm 2010 đã có đến 75.000 sinh viên quốc tế ghi danh vào các trường đại học tư tại đất nước này. Và hiện nay, Malaysia chiếm vị trí thứ 11 trên thế giới như một điểm đến của các sinh viên quốc tế, chiếm khoảng 2% tổng số sinh viên quốc tế trên thế giới.  Giáo dục đại học tư nhân được xem là “cỗ máy tăng trưởng” của Malaysia trong thời gian tới.    Thời kỳ do Bộ Giáo dục quản lý  Trước năm 2004, các trường đại học tư chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục (Bộ GD). Trong thời gian đó, vai trò của các doanh nghiệp trong giáo dục đại học chỉ giới hạn việc cung cấp học bổng và các khoản vay giáo dục, cung cấp chỗ thực tập, tư vấn cho các trường đại học về chương trình học và sử dụng các sinh viên tốt nghiệp.  Trong thời kỳ đó, các công ty khi muốn thành lập, đăng ký và điều hành một trường đại học tư đều phải được sự chấp thuận của Bộ GD. Sau đó, khi vai trò của các cơ sở giáo dục đại học tư nhân trở nên cần thiết hơn trong việc cung cấp các chương trình giáo dục ở trình độ đại học để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cả người học địa phương lẫn quốc tế, Bộ GD đã thông qua một chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các trường đại học tư thục. Số trường đại học tư phát triển nhanh chóng, bao gồm một loạt các mô hình kinh doanh và cách thức tuyển sinh khác nhau, cung cấp các chương trình đào tạo với các mức độ chất lượng khác nhau.           Khu vực  tư nhân đã trở thành thiết yếu khi nhu cầu học tập từ các sinh viên quốc  tế tăng lên trong những năm qua. Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học  Malaysia, riêng trong năm 2010 đã có đến 75.000 sinh viên quốc tế ghi  danh vào các trường đại học tư tại đất nước này.              Giáo dục đại học tư  nhân được xem là “cỗ máy tăng trưởng” của Malaysia trong thời gian tới.  Hiện nay, Malaysia chiếm vị trí thứ 11 trên thế giới trong số các điểm  đến của các sinh viên quốc tế, chiếm khoảng 2% tổng số du học sinh toàn  cầu.        Với tư cách là các doanh nghiệp, các tổ chức đại học tư nhân rất có thể sẽ không sẵn sàng phát triển các chiến lược hoặc các hoạt động nhằm phối hợp với đại học công trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu phát triển của đất nước.   Hiểu rõ điều này, Bộ GD đã áp dụng Đạo luật về Cơ sở giáo dục đại học tư nhân năm 1996 (còn gọi là Đạo luật 555) và các quy định nhằm đảm bảo sự thành công cho việc can thiệp của nhà nước đối với các trường đại học tư.  Thời kỳ do Bộ Đại học quản lý  Từ tháng 5/2004, việc quản lý các cơ sở giáo dục đại học tư nhân đã trở thành trách nhiệm của Bộ Đại học (MoHE). Sự tách rời giữa Bộ ĐH và Bộ GD đã cho phép việc quản lý các cơ sở giáo dục đại học tư nhân được tập trung hơn. Đạo luật 555 cũng đã được điều chỉnh và triển khai thực hiện trong năm 2009 để đáp ứng những thách thức mới. Những nỗ lực này dẫn đến sự phát triển của khối đại học tư, bao gồm cả các trường đại học, trường cao đẳng, và cả các chi nhánh của các trường đại học nước ngoài nữa.  Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2009, ở Malaysia đã có 20 trường đại học đa ngành, 20 trường đại học đơn ngành, 5 chi nhánh của các trường nước ngoài và 470 trường cao đẳng đăng ký hoạt động với Cục Quản lý các cơ sở giáo dục đại học tư nhân. Những cơ sở giáo dục tư nhân này cung cấp được chỗ học cho 450.531 sinh viên, trong đó có 50.679 sinh viên quốc tế.  Chính sách của Chính phủ Malaysia về hoạt động của các trường đại học tư trên đất nước này đã cho phép một số doanh nghiệp lớn, các loại tổ chức phi chính phủ và thậm chí cả các tổ chức chính trị thành lập cơ sở giáo dục đại học của mình.  Ví dụ, Đại học Kỹ thuật Petronas, Đại học quốc gia Tenaga và Đại học Đa truyền thông (Multimedia University) đã được thành lập bởi các công ty có quan hệ với chính phủ. Trường Cao đẳng Sunway thuộc Tập đoàn Sungei Way và Trường ĐH KBU của Tập đoàn Toàn quốc Đệ nhất là những ví dụ của các trường đại học do các tập đoàn lớn thành lập. Các cơ sở giáo dục đại học tư được thành lập bởi các đảng phái chính trị bao gồm Trường Cao đẳng nghề Seremban của Tổ chức MIC, Trường ĐH Tunku Abdul Rahman của UMNO, và ĐH UNITAR của UMNO.  Chính phủ Malaysia cho rằng việc cải thiện chất lượng các chương trình đào tạo đại học trong cả hai khu vực công lập lẫn ngoài công lập phải là một quá trình liên tục nhằm cạnh tranh với thế giới trong việc cung cấp các chương trình giáo dục có chất lượng, nhằm thực hiện mục tiêu của Chính phủ Malaysia là đạt được các tiêu chuẩn của một nền giáo dục đẳng cấp thế giới và biến Malaysia thành một trong những tâm điểm giáo dục toàn cầu vào năm 2015.  Để thực hiện mục tiêu đó, năm 2007, Kế hoạch chiến lược quốc gia về giáo dục đại học với 7 sáng kiến quốc gia tức các kế hoạch chiến lược bao gồm việc mở rộng tiếp cận giáo dục và sự công bằng trong cơ hội học tập, nâng cao chất lượng dạy và học, tăng cường nghiên cứu và đổi mới công nghệ, củng cố các cơ sở giáo dục đại học, tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh học tập suốt đời, và tăng cường năng lực của hệ thống giáo dục thường xuyên của Bộ Giáo dục, bảo đảm sau khi tốt nghiệp, sinh viên phải có những kiến ​​thức cập nhật nhất của thế giới và thái độ đúng đắn về nghề nghiệp – những thứ mà đất nước Malaysia cần để có thể tồn tại trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, cũng như đổi thay trong nền kinh tế.  Hỗ trợ tài chính  Các chính sách của chính phủ, thông qua Quỹ quốc gia về giáo dục đại học, cung cấp các khoản vay giáo dục cho các công dân có nhu cầu và đủ điều kiện để ghi danh vào học tại các trường đại học tư. Sáng kiến ​​này đã là một trong những yếu tố chính góp phần tăng cường sự tham gia của sinh viên Malaysia vào các trường đại học tư. Các chương trình học có liên kết với các công ty thường được sinh viên ưa thích vì những chương trình này thường được các công ty tài trợ một phần.  Danh xưng “đại học”  Đa số sinh viên sẽ muốn ghi danh vào các cơ sở giáo dục “có đẳng cấp”, vì hồ sơ của họ khi tốt nghiệp sẽ “đẹp” hơn và khả năng tìm việc làm sẽ dễ dàng hơn. Hiểu được điều này, chính phủ đã khuyến khích các trường tư có thể nâng cấp lên một mức độ cao hơn: từ cao đẳng lên thành cơ sở đại học, rồi từ cơ sở đại học thành trường đại học, nếu, và chỉ nếu, các trường này có thể đáp ứng được các yêu cầu chất lượng đào tạo nhất định.  Trình độ của giảng viên  Để sinh viên có thể đạt được trình độ cử nhân và sau đại học, các trường đại học tư được khuyến khích tuyển dụng giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, và các giảng viên giàu kinh nghiệm người nước ngoài hoặc những người có kinh nghiệm làm việc từ các ngành công nghiệp. Điều này sẽ nâng cao chất lượng của quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu và phát triển. Điều này đến lượt nó sẽ giúp các trường thu hút sinh viên sau đại học.  Đào tạo  Các trường đại học tư có các chương trình thực tập và vườn ươm doanh nghiệp thường sẽ hấp dẫn hơn đối với sinh viên, vì điều này sẽ làm tăng giá trị gia tăng của nhà trường và cung cấp các cơ hội việc làm tốt hơn cho sinh viên khi tốt nghiệp. Bộ Đại học khuyến khích các trường tích hợp hai chương trình này để vừa thực tập nghề nghiệp vừa học kinh doanh.  Hoạt động ở nước ngoài    Ngoài việc khuyến khích các trường đại học nước ngoài mở trường ở Malaysia, chính phủ cũng khuyến khích các trường đại học tư của Malaysia nâng cao năng lực và khả năng của mình nhằm cung cấp giáo dục đại học ở nước ngoài.  Hiện nay, có khoảng 25 trường đại học tư của Malaysia cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở nước ngoài. Trong số đó có Viện Công nghệ Thông tin đang hoạt động ở Sri Lanka, Pakistan và Ấn Độ khu vực châu Á Thái Bình Dương, và Đại học Limkokwing hoạt động ở Anh, Lesotho, Botswana, Campuchia và Indonesia.  ***  Bộ Đại học hy vọng rằng những nỗ lực nói trên được các trường đại học tư chia sẻ để thực hiện tầm nhìn biến Malaysia thành một trung tâm giáo dục đạt tiêu chuẩn thế giới, tạo ra các sinh viên tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh trong một thế giới toàn cầu.1  Nguồn: http://www.university worldnews.com/article.php?story=20101105220921112  —    * Tiến sĩ Mohamed Ali Abdul Rahman là Trợ lý chính Vụ trưởng Vụ Tuyển sinh và Tiêu chuẩn giáo dục thuộc Bộ Đại học Malaysia.                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các ngành nhân văn của Việt Nam sẽ đi về đâu?      Nếu chỉ dùng một từ để mô tả tình trạng của  các ngành nhân văn tại Việt Nam trong năm 2011 thì có lẽ không có từ nào  thích hợp hơn là từ “báo động”. Phải chăng xu thế hiện nay cho thấy các  ngành nhân văn đã quá lỗi thời và không còn cần thiết cho thế kỷ 21 này  nữa?     Tại Việt Nam, chúng ta thường gộp chung “các ngành xã hội – nhân văn”, hoặc thậm chí chỉ là “các ngành xã hội”, như thể “xã hội” và “nhân văn” chỉ là một. Nhưng thực ra, sự khác biệt giữa các ngành xã hội và nhân văn là khá rõ ràng, và số phận của chúng tại Việt Nam cũng đang rất khác nhau. Cũng thuộc về khối ngành “xã hội và nhân văn” nhưng hiện nay các ngành Kinh tế, Luật, và Tâm lý học – những ngành xã hội – đang rất được ưa chuộng. Trong khi đó các ngành nhân văn, những ngành truyền thống được đào tạo tại hầu hết các trường đại học lâu đời như Văn học, Ngôn ngữ học, Triết học, Sử học, Nhân học, Chính trị học, hoặc một vài ngành có liên hệ khác1 lại lâm vào tình trạng khủng hoảng và không có người học.   Một cuộc khủng hoảng   Sự sụt giảm của các ngành nhân văn ở Việt Nam đã được bộc lộ trong những năm gần đây. Ở các trường trung học phổ thông, ban xã hội-nhân văn2 là ban được ít học sinh chọn nhất, đến nỗi rất nhiều trường không thể tổ chức lớp học cho ban này vì số học sinh đăng ký không đủ dù chỉ một lớp. Trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, năm nào cũng có những bài Văn ngô nghê, ngớ ngẩn đến nực cười của các cô tú, cậu cử tương lai được đưa lên báo chí. Nhưng sự kiện hàng ngàn điểm không (0) cho bài thi môn Sử trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cũng như việc hàng loạt các trường phải đóng cửa một số ngành nhân văn3 như Ngoại ngữ, Đông phương, Việt Nam học, Văn hóa học, cho thấy tình trạng của các ngành nhân văn ở Việt Nam thực sự đã ở mức báo động.  Tình trạng báo động nói trên tất nhiên không chỉ xảy ra ở Việt Nam, và cũng không hoàn toàn bất ngờ. Tương lai ảm đạm này thực ra đã được báo trước từ thập niên cuối của thế kỷ trước. Trong bài phát biểu nổi tiếng năm 1998 có tựa đề là “Giáo dục nhân văn cho thế kỷ 21”, W. R. Connor, trước tình hình suy giảm của các ngành nhân văn ở Mỹ vào thời gian ấy, vị Giám đốc đương nhiệm của Trung tâm Nhân văn quốc gia thuộc Hiệp hội giáo dục khai phóng Hoa Kỳ, đã phải thốt lên rằng nếu không ai chịu làm gì để thay đổi tình hình thì khối ngành nhân văn có thể sẽ “tuyệt chủng” hoàn toàn trong vòng một thế hệ nữa.  Ngành nhân văn trong thế kỷ 21  Vào thời điểm sắp bước sang thế kỷ 21, Connor đã từng đưa ra nhận định rằng vai trò của các ngành nhân văn trong thế kỷ 21 không những không giảm đi mà càng được khẳng định mạnh mẽ hơn. Bởi vì trong một xã hội với quá nhiều đổi thay và biến động như ngày nay, những kỹ năng mà các ngành nhân văn giúp phát triển ở người học – khả năng hiểu các lập luận, cảnh giác với sự ngụy biện, tư duy logic, kỹ năng diễn đạt và thuyết phục, hiểu biết về con người và xã hội, kỹ năng giải quyết vấn đề, phán đoán và ra quyết định – lại càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết và gần một thập niên sau lời phát biểu của Connor, vị Hiệu trưởng đương nhiệm của Đại học Harvard là Derok Bok đã tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của các ngành nhân văn trong thế kỷ này trong một phát biểu vào năm 2007. Theo ông, những tiến bộ của khoa học đã giúp con người dễ dàng kéo dài hoặc hủy diệt, biến đổi sự sống bằng những biện pháp nhân tạo, đến nỗi sự sống của con người dường như cũng cần được định nghĩa lại. Trong bối cảnh như vậy, Derok Bok cho rằng những câu hỏi cốt lõi của ngành nhân văn như các giá trị, ý nghĩa của cuộc sống, các vấn đề về đạo đức càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Vì vậy, thay vì đẩy các ngành nhân văn ra bên lề, các trường đại học cần phải tạo điều kiện cho các ngành nhân văn phát triển, sao cho chúng ta không bị choáng ngợp bởi sự phát triển vũ bão của công nghệ, mà bắt công nghệ phải phục vụ chúng ta một cách nhân văn hơn.    Đánh mất chính mình   Nếu các ngành nhân văn có tầm quan trọng lớn lao như vậy, thì phải giải thích như thế nào cho sự sụt giảm trên phạm vi toàn cầu của các ngành nhân văn hiện nay? Trong bài phát biểu năm 1998, Connor đã lý giải điều này bằng một phán xét vô cùng khe khắt: sự sụt giảm này là do các ngành nhân văn đã tự đánh mất chính mình!  Để hiểu các ngành nhân văn đã đánh mất chính mình như thế nào, cần quay ngược về với giai đoạn khởi thủy và lần theo những phát triển của nó cho đến ngày nay.           Khôi phục các ngành nhân văn như thế nào?  Cách làm ở mỗi nơi có lẽ sẽ khác nhau tùy theo hoàn cảnh và điều kiện ở  nơi đó, nhưng định hướng thì đã được Connor chỉ ra từ cách đây hơn một  thập niên: Hãy kiên trì với mục tiêu khởi thủy của giáo dục khai phóng,  đó là cung cấp cho người học những kỹ năng của một con người tự do, tức  kỹ năng tự giải phóng (the skills of freedom). Đồng thời, hãy gắn chặt  nội dung đào tạo với thực tế của cuộc sống, để giải quyết những vấn đề  của ngày hôm nay, chứ không phải là của một thời vàng son, xa xôi nào  khác.        Theo Connor, các ngành nhân văn như ta biết hiên nay có nguồn gốc từ những môn học đầu tiên của nền giáo dục khai phóng (liberal education) được bắt đầu tại thành Athens nhằm phục vụ cho nền dân chủ sơ khai của xã hội Hy Lạp thời ấy, với một mục tiêu duy nhất là tạo ra những con người biết suy nghĩ độc lập, có tư duy phản biện, và có những kỹ năng cần thiết để có thể tham gia vào xã hội với tư cách là một chủ thể tự do. Nói cách khác, mục tiêu duy nhất của các ngành nhân văn chính là để “giải phóng” con người ra khỏi những trói buộc của tinh thần nô lệ và phụ thuộc – nô lệ cho những tư duy do người khác áp đặt, và nô lệ cho những cách tiếp cận vấn đề theo thói quen và lối mòn.  Để tạo ra những “người tự do”, nền giáo dục khai phóng của Hy Lạp ở thế kỷ thứ 5 nhấn mạnh các kỹ năng tư duy, lập luận, giải quyết vấn đề, và đặc biệt là các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói (kỹ năng diễn thuyết). Các môn học của giáo dục khai phóng ở buổi đầu chỉ gồm có 3 môn: ngữ pháp (grammar), tu từ (rhetorics), và biện chứng (dialectic) – tất cả đều là những môn có liên quan đến các kỹ năng ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ được quan niệm như là một công cụ tối quan trọng của tư duy, đồng thời là phương tiện để biểu đạt ý tưởng của cá nhân đến những người khác trong xã hội.  Với những mục tiêu như vậy, các ngành nhân văn không nhằm chuẩn bị cho người học đi vào một ngành nghề cụ thể nào. Làm như vậy là trái với tinh thần “khai phóng”. Khác với đào tạo nghề nghiệp mà mục đích chính là truyền lại cho người học những quan điểm và cách tiếp cận đã được thiết lập bởi các bậc thầy trong nghề, các ngành nhân văn nhắm đến việc cung cấp cho người học những năng lực tổng quát mà bất cứ người học nào cũng cần khi tham gia vào các hoạt động xã hội trong mọi tình huống và mọi ngành nghề. Những năng lực ấy bao gồm khả năng độc lập tư duy, phán đoán sắc bén, ra quyết định hợp lý và giải quyết vấn đề có hiệu quả, cũng như kỹ năng diễn đạt và giao tiếp thành công với người khác.   Cần nhấn mạnh thêm rằng những năng lực nói trên hết sức quan trọng cho sự phát triển của một xã hội dân chủ đang hình thành như Hy Lạp lúc ấy. Với những kỹ năng mang tính tổng quát do các ngành nhân văn trang bị như vậy, một người được xem là “có học” cũng đồng nghĩa với việc người ấy là một con người tự do, có thể tự mình tư duy và đưa ra những quyết định phù hợp cho mình trong bất kỳ một tình huống hoặc một bối cảnh nào. Điều này rõ ràng là rất cần thiết cho xã hội của hiện nay chúng ta.  Tiếc thay, những đặc điểm mang tính “khai phóng” ban đầu đã bị nhạt phai nhanh chóng cùng với sự phát triển về uy thế và số lượng của các ngành nhân văn trong giới hàn lâm sau đó. Các tác phẩm kinh điển của các nhà tư tưởng lớn qua các thời đại đã được đưa vào giảng dạy và phân tích, với mục đích ban đầu là nhằm phát triển kỹ năng tư duy và ngôn ngữ của người học. Nhưng dần dà, mục tiêu của các ngành nhân văn không còn là để giải phóng con người nữa, mà trở nên thực dụng và được sử dụng vào những mục đích cá nhân. Và, thật oái oăm, thay vì biến những con người nô lệ thành những người tự do, thì lúc này hay lúc khác chính các ngành nhân văn lại muốn biến người học từ những người tự do thành những người nô lệ. Nô lệ cho cách nghĩ, cách nói và cách hiểu của các nhà tư tưởng lớn mà các tác phẩm đã được đưa lên thành kinh điển để dạy trong các nhà trường mà ở đó người học chỉ có quyền ngưỡng mộ và nhất nhất làm theo các bậc thầy.          Trong một xã hội với quá nhiều đổi thay và  biến động như ngày nay, những kỹ năng mà các ngành nhân văn giúp phát  triển ở người học – khả năng hiểu các lập luận, cảnh giác với sự ngụy  biện, tư duy logic, kỹ năng diễn đạt và thuyết phục, hiểu biết về con  người và xã hội, kỹ năng giải quyết vấn đề, phán đoán và ra quyết định –  lại càng quan trọng và cần thiết        Và cứ thế, qua thời gian, nội dung học tập của các ngành nhân văn không còn gắn liền với xã hội nữa. Người đi học cũng không còn mục tiêu đạt được những kỹ năng thiết yếu cho việc tham gia vào một xã hội dân chủ, mà chỉ để được lọt vào giới thượng lưu, có học, trong đó việc học được xem như một công cụ thăng tiến về mặt xã hội hoặc nhằm đạt được những lợi ích về kinh tế của thời ấy.  Tất nhiên, một nền giáo dục như vậy cũng đem lại những lợi ích trước mắt cho người học – chẳng hạn, để được lọt vào giới thượng lưu – nhưng nó rất xa với ý nghĩa nguyên thủy của giáo dục khai phóng. Và điều quan trọng hơn là nó hoàn toàn không bền vững, vì những kiến thức nó cung cấp cho người học sẽ trở nên hoàn toàn vô ích mỗi khi xã hội có những thay đổi, biến động, khi những giá trị cũ đã bị đào thải.  Phải chăng đây chính là lý do của sự suy giảm đến báo động của các ngành nhân văn tại Việt Nam trong những năm gần đây, mà đỉnh điểm là năm 2011 vừa qua? Khi các ngành nhân văn – các môn học như Văn, Triết, Sử – không còn là những môn giúp rèn luyện khả năng tư duy phê phán, sáng tạo, lập luận chặt chẽ, diễn đạt thuyết phục, mà trở thành những môn biến học sinh thành các con vẹt, như quan niệm phổ biến hiện nay về các thí sinh dự thi khối C trong kỳ thi đại học?  Khôi phục các ngành nhân văn để cứu vãn tương lai  Thật là một nghịch lý khi các nhà tuyển dụng và toàn xã hội thì cứ mãi kêu ca về việc sinh viên ra trường không có năng lực tư duy và kỹ năng giao tiếp – cả bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, lẫn tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế rất cần thiết cho nền kinh tế toàn cầu ngày nay, thì các ngành nhân văn – vốn là những ngành giúp rèn luyện năng lực tư duy, khả năng ngôn ngữ, kể cả ngoại ngữ, và kỹ năng giao tiếp tốt nhất – lại liên tục suy giảm đến nỗi một vị trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ của một trường đại học lớn trong nước phải đưa ra lời cảnh báo về tình trạng “báo động đỏ”.           Mục tiêu duy nhất của các ngành nhân văn  chính là để “giải phóng” con người ra khỏi những trói buộc của tinh thần  nô lệ và phụ thuộc – nô lệ cho những tư duy do người khác áp đặt, và nô  lệ cho những cách tiếp cận vấn đề theo thói quen và lối mòn.           Và cùng với tình trạng báo động ấy là hàng loạt những vấn đề trong xã hội hiện nay đang khiến cho sự phát triển về kinh tế đã chẳng hề làm chất lượng cuộc sống tăng lên mà thậm chí có thể còn kém đi. Hàng ngày ta đều nghe những chuyện về hành xử tàn nhẫn giữa con người với nhau, và những tai họa do ai đó thiếu lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm với đồng loại, với những tai họa bất ngờ như đứt cáp thang máy, xe máy, xe hơi tự phát nổ hoặc cháy giữa đường. Dường như chúng ta đang trở thành một loại nô lệ mới, không có tư duy, cắm đầu làm theo đám đông, không còn chút khả năng phê phán, và đang dần đánh mất khả năng tự quyết định vận mạng của mình, khi lúc nào cũng phải nơm nớp lo sợ không biết khi nào xe gắn máy của mình bị bốc cháy trên đường.    Rõ ràng là chúng ta phải khôi phục lại các ngành nhân văn để cứu vãn tương lai của chính mình và thế hệ con cháu. Không thể chịu bó tay nhìn những ngành nhân văn – ngành học về con người – đi dần đến “diệt chủng”. Việc cứu vãn này là một điều không dễ, đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay, nhưng vẫn phải làm, và vẫn có thể làm nếu ta có đủ quyết tâm và sự kiên trì.  —  1. http://www.humanitiesroundtable.org/forum/topics/what-are-the-humanities-for?page=1&commentId=2871265%3AComment%3A8625&x=1#2871265Comment8625   2.http://vietbao.vn/Tuyen-sinh/Hoc-chuong-trinh-trung-hoc-pho-thong-phan-ban-ra-sao/40147498/294/   3. http://www.tienphong.vn/Khoa-Giao/Giao-Duc/554517/Hang-loat-nganh-hoc-phai-dong-cua-tpp.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trào lưu và xu thế của hệ thống giáo dục VN trong bối cảnh quốc tế: Từ góc độ nghiên cứu so sánh      T&#243;m tắt  Sau khi ph&#226;n t&#237;ch c&#225;c tr&#224;o lưu v&#224; xu thế gi&#225;o dục tr&#234;n thế giới, ch&#226;u &#193; v&#224; Trung Quốc, b&#224;i viết sẽ đi v&#224;o tr&#236;nh b&#224;y c&#225;c vấn đề của gi&#225;o dục Việt Nam đ&#227; được b&#225;o giới đề cập. Nối tiếp những b&#236;nh luận về c&#225;c vấn đề tr&#234;n, b&#224;i viết sẽ đưa ra những đề xuất giải quyết những kh&#243; khăn hiện tại v&#224; thảo luận xu hướng ph&#225;t triển tương lai trong bối cảnh quốc tế h&#243;a hệ thống gi&#225;o dục Việt Nam. Những ph&#226;n t&#237;ch chi tiết ở đ&#226;y sẽ được đặt từ lăng k&#237;nh nghi&#234;n cứu so s&#225;nh.  -Những &#253; kiến tr&#236;nh b&#224;y trong b&#224;i nghi&#234;n cứu n&#224;y l&#224; &#253; kiến ri&#234;ng của t&#225;c giả. Mọi g&#243;p &#253; xin gửi về t&#225;c giả qua h&#242;m thư: ulas@teori.org  – B&#224;i viết n&#224;y xin d&#224;nh tặng GS.TS.Rifat Okcabo.    1) Các Trào Lưu và Xu Thế trên thế giới, châu Á và Trung Quốc  Một trong những câu hỏi chính mà bài viết này hướng tới là: “Trong bối cảnh hệ thống giáo dục Việt Nam đang ngày càng được quốc tế hóa, những vấn đề của nền giáo dục Việt Nam liệu mang tính quốc tế đến mức nào?” Để trả lời câu hỏi này, bài viết sẽ đưa ra một cái nhìn tổng thể về những xu thế quốc tế trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, và sau đó đi sâu vào toàn cảnh các vấn đề của giáo dục Việt Nam đã được báo chí đề cập. Trong phần kết luận, bài viết sẽ thảo luận các vấn đề này từ góc độ quốc tế.  Nghiên cứu giáo dục so sánh không còn xa lạ ở châu Á. Bray (2002) chỉ ra rằng nhắc đến nghiên cứu giáo dục so sánh là nhắc tới châu Á, vì hàng năm tại châu lục này, các tạp chí giáo dục so sánh được phát hành tới hàng ngàn bản, và bằng các thứ tiếng khác nhau cho người Á. Ngoài ra, cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, hội viên người Á trong các hiệp hội nghiên cứu giáo dục so sánh châu Á đều áp đảo các thành phần khác, số lượng các trung tâm và viện nghiên cứu dành cho lĩnh vực này cũng đang ngày càng tăng. Các chủ đề nghiên cứu phổ biển ở đây là: Vai trò của giáo dục với phát triển kinh tế ở châu Á; ảnh hưởng của đạo Khổng và các tư tưởng truyền thống khác tới giáo dục; mối liên hệ giữa giáo dục và chuyển giao chính trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu hầu như giới hạn trong việc so sánh với hệ thống giáo dục Bắc Mỹ và châu Âu; các đề tài liên quan đến giáo dục Nam Mỹ hoặc châu Phi gần như không có (Bray, 2002).  Shin và Harman (bài sắp đăng) cho biết nền giáo dục ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng như ở các khu vực khác chịu ảnh hưởng lớn của hai xu thế mới là: Toàn cầu hóa và đại chúng hóa. Trong khi toàn cầu hóa đem đến quá trình thương mại hóa song song với quốc tế hóa các trường học; đại chúng hóa, đồng nghĩa với mở rộng phạm vi giáo dục, cũng đặt ra những thử thách mới, đặc biệt là nhiệm vụ phát triển giáo dục cả về lượng (số người được đi học) và chất. Trước bài toán hóc búa trong việc cân bằng lượng và chất, và tình hình tư nhân hóa các cơ sở giáo dục, các trung tâm đảm bảo chất lượng đã ra đời và đảm nhận công viêc giám sát chất lượng mà trước đây thuộc về các cơ quan của chính phủ. Theo Shin và Harman (bài sắp đăng), quá trình đại chúng hóa giáo dục dẫn đến sự ra đời của các khung chương trình tương tự nhau, do đó tầm quan trọng và tính chủ động sáng tạo của giáo viên ngày càng bị giảm đi. Gần đây, việc giáo viên không có bằng Tiến Sỹ nhưng lại tham gia giảng dạy các chuyên ngành ở bậc đại học là khá phổ biến. Như ở Việt Nam, 75% số giảng viên chỉ tốt nghiệp cử nhân (Gezgin, 2009a). Một hậu quả khác nữa là việc lơ là nghiên cứu khoa học ở nhiều trường đại học, vì tiền thu học phí mới là nguồn thu ngân sách chính của các trường.  Vì thế khó mà còn có thể phân biệt được một giáo viên phổ thông và một giảng viên đại học. Ngoài ra, quá trình đại chúng hóa cũng làm cho giờ lên lớp của giảng viên ngày càng tăng.  Một hệ quả chung của quá trình toàn cầu hóa và đại chúng hóa là sự gia tăng các trường tư. Đáng chú‎ ý là chính sự kết hợp của toàn cầu hóa và tư nhân hóa lại dẫn đến một thực tế là nhà nước không còn sẵn lòng làm nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nữa, mà trở thành người điều phối những nhà cung cấp tư nhân (Lu & Zhang, 2008). Điều này ảnh hưởng đến quá trình cung ứng giáo dục. Việc coi số lượng sinh viên tốt nghiệp là cơ sở chính để quyết định cấp ngân sách có thể cho thấy nhà nước đang chuyển từ việc kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra giáo dục. Shin và Harman (bài sắp đăng) còn cho biết tỉ lệ sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục đại học tư nhân chiếm 80% ở Nhật và Hàn Quốc. 25.5% ở Mỹ, 16.5% ở Pháp và 2.19% ở Úc. Các trường tư bị chỉ trích vì hai lý do chính:  1) Các trường này đi ngược lại nguyên tắc về bình đẳng cơ hội giáo dục.  2) Trong khi số lượng các trường tư đang tăng lên như nấm vì mục đích lợi nhuận, chất lượng lại không được đảm bảo vì các quy định cho các trường tư có vẻ lỏng lẻo hơn.  Shin và Harman (bài sắp đăng) nhắc tới một xu thế nữa cũng dẫn đến quá trình tư nhân hóa, đó là: các trường công đang tăng học phí vì thiếu ngân sách. Trên thực tế, do đầu tư của nhà nước cho giáo dục đại học vẫn chưa thể bắt kịp với sự gia tăng số lượng sinh viên,  đầu tư của nhà nước tính trên từng sinh viên ngày càng giảm (Shin và Harman, trên báo). Shin và Harman (bài sắp đăng) cũng dự đoán rằng nhìn chung, học phí thấp sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh cho các trường đại học, nhưng chính học phí cao mới cho thấy chất lượng giáo dục tốt.  Xu thế tiếp theo gắn với quá trình toàn cầu hóa và đại chúng hóa mà Shin và Harman (bài sắp đăng) nhắc tới là sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) và môi trường dạy-và-học trực tuyến. Ruperes (2003) rất lạc quan về xu thế này:  Nhờ có những bước tiến trong hệ thống mạng Internet và viễn thông, cũng như khả năng tái sử dụng nguồn tài liệu giáo dục được các nước tiên tiến đang và sẽ không ngừng phát triển trên các website, viễn cảnh giáo dục từ xa thắp sáng niềm hi vọng về một quá trình toàn cầu hóa, khi gắn với sự phát triển, có thể đem đến cho con người khả năng giải quyết hầu hết các thiếu sót về kiến thức cơ bản chỉ trong vòng một thế hệ. (Ruperes, 2003, tr.259)  Mặc dù ở Việt Nam đến nay đây chưa có vấn đề nghiêm trọng nào được ghi nhận, chất lượng của các chương trình giáo dục trực tuyến là một đề tài nóng hổi. Ngoài ra còn có những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận dịch vụ CNNT thường được nhắc tới một cách ngắn gọn trong cụm từ ‘chia cắt số.’[1]  Xu thế thứ tư là các trường đại học phát triển thêm các cơ sở ở nước ngoài (off-shore campuses) (Ka & Xiaozhou, 2008). Xu thế này đặc biệt phổ biến ở châu Á. Mặc dù Altbach & Knight (2007) đã có một nghiên cứu rất hay về đề tài này, chúng tôi sẽ vẫn tập trung thêm về châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, trước khi đi sâu phân tích tình hình ở Việt Nam. Giờ đây, các chương trình liên kết giữa một trường đại học trong nước và một trường nước ngoài đã trở thành một thành tố chính thức của hệ thống giáo dục Trung Quốc. Theo Ka và Xiaozhou (2008), trong năm 2004 đã có tới 754 chương trình liên kết trên trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, một bước tiến khổng lồ từ chỉ 2 chương trình trong năm 1995. Các chương trình này hầu hết tập trung quanh các thành phố biển phía đông có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong vài thập kỷ gần đây ở Trung Quốc (Ka & Xiaozhou, 2008). Các đối tác nước ngoài tham gia và thị phần của họ trong các chương trình hợp tác này là: Úc (28%), Mỹ (26%), Hồng Kông (13%), Canada (9%), Pháp (7%), Anh (5%), Na-uy (2%), Ai-len (2%); Singapore, Hà Lan, Hàn Quốc, Đức, Niu-zi-lân, Bỉ (mỗi nước 1%), và các nước khác (2%) (Ka & Xiaozhou, 2008). Từ đây có thể thấy Úc và Mỹ là hai nhà cung cấp chính các chương trình liên kết. Một số chương trình liên kết ở đây không được hợp tác với các trường đại học đẳng cấp quốc tế và hầu hết các chương trình đều tập trung vào các ngành Kinh Doanh, Thương Mại và Kinh Tế (Ka & Xiaozhou, 2008). Trung Quốc trở thành đỉểm đến hấp dẫn của các trường quốc tế vì dân số Trung Quốc đã biến nước này thành một thị trường khổng lồ về các dịch vụ giáo dục, trong khi đó các trường đại học Trung Quốc vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục này. Ka & Xiaozhou (2008) cho biết không như ở Singapore, Malaysia hay Hồng Kông, các trường đại học nước ngoài không được phép xây dựng các cơ sở chi nhánh của mình ở Trung Quốc, và với các trường này, cơ hội mở rộng quy mô tối đa chỉ là thành lập các chương trình liên kết với các trường đại học Trung Quốc. Điều này có thể ngăn cản các trường đại học quốc tế thật sự đặt chân vào Trung Quốc Đại Lục.  Li (2004) cho rằng việc Trung Quốc đặt trọng tâm của cuộc cải cách giáo dục vào phát triển các trường đại học đẳng cấp quốc tế đã gây ra những ảnh hưởng ngược lại với giáo dục cơ bản, đó là: ngân sách đáng lẽ phải dành cho việc nâng cấp và mở rộng giáo dục tiểu học và trung học nay lại đổ vào giáo dục đại học, và do đó, các trường tiểu học và trung học khi không nhận được sự quan tâm đầy đủ từ phía một Chính phủ Trung Quốc-lúc-nào-cũng-chỉ-đại-học-đẳng-cấp-quốc-tế sẽ đẩy gánh nặng chi phí về phía học sinh thông qua việc thu học phí cao. Nếu xu thế này tiếp tục, Trung Quốc sẽ trở thành một Ấn Độ thứ hai, vì trong khi các trường công nghệ ở Ấn Độ có thể cho ra lò các chuyên gia CNTT đẳng cấp quốc tế, đây cũng lại là nước có số người mù chữ cao nhất thế giới. Nguyên nhân nghịch lý này cũng bắt nguồn từ sự thiên lệch về đầu tư ngân sách (Gezgin, 2009b). Ở Trung Quốc, nỗi ám ảnh về các trường đẳng cấp quốc tế đã đẩy sang một bên quyền được giáo dục cơ bản của con người. Không giống thời kỳ Mao Trạch Đông, chính phủ cải cách của Trung Quốc coi trọng thành thị hơn nông thôn. Điều này làm nảy sinh các vấn đề liên quan đến sự bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao. Theo báo cáo của Li (2004), một số học sinh tiểu học và trung học đã phải bỏ học vì không thể chi trả tiền học phí. Ngoài ra, số lượng giáo viên trình độ cao, dù đã tăng, vẫn chưa thể bắt kịp được với tốc độ gia tăng học sinh ở Trung Quốc (li, 2004). Cùng chung quan điểm này, Wanhua (bài sắp đăng) thảo luận các ảnh hưởng ngược của việc thương mại hóa giáo dục đại học ở Trung Quốc: từ năm 1991, các chương trình học MBA và các chương trình tương tự đã mọc lên như nấm ở Trung Quốc, và hiện giờ ở Trung Quốc phải có hàng trăm các chương trình MBA. Thay vì đầu tư cho các chương trình khác, ngân sách đổ vào các chương trình MBA này. Các khoa còn được chia thành loại kinh doanh được và loại không kinh doanh được.  Wanhua (bài sắp đăng) còn chỉ ra một xu thế nữa của giáo dục đại học Trung Quốc, đó là: việc chuyển dịch từ bằng chuyên ngành, di sản của hình mẫu giáo dục Sô-viết, sang bằng chung (generic degree) để có thể thích nghi tốt hơn với những thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Trung Quốc. Wanhua (bài sắp đăng) cũng nhắc lại thời mà nhu cầu lao động của nền kinh tế thay đổi, những lao động chuyên ngành trở nên vô dụng và lỗi thời.[2] Một ví dụ tương tự ở Việt Nam là khoa kỹ thuật nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp của trường Đại Học Nông Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có kế hoạch phải đóng cửa (Viet Nam News, 2009a). Hệ thống giáo dục đang loạng choạng dò theo thay đổi của nền kinh tế. [3] Tuy nhiên, xét ở thái cực khác, nếu các chương trình cấp bằng chung mà thống trị thì thị trường lao động sẽ ngập tràn những sinh viên tốt nghiệp không có những kỹ năng chuyên ngành như yêu cầu của nhà tuyển dụng.  Học thuộc lòng cũng là một vấn đề nghiêm trọng của nền giáo dục Trung Quốc mà Wanhua (bài sắp đăng) nhắc đến. Kỳ thi đại học tập trung kiểm tra kiến thức học thuộc lòng. Vì thế, tác giả kết luận là không thể giải quyết các vấn đề của giáo dục đại học Trung Quốc nếu không cải cách giáo dục tiểu học và trung học. Đồng tình với ý kiến này, Zhu (2007) liệt kê ra các vấn đề của giáo dục Trung Quốc cần phải giải quyết trong cuộc cải cách chương trình học như sau:  1) Các môn học nặng về l‎ý thuyết và không có tính ứng dụng với học sinh,  2) Phụ thuộc quá nhiều vào sách,  3) Kỳ thi đại học tập trung.[4]  Để giải quyết hai vấn đề đầu tiên, các cuộc cải cách giáo dục cơ bản đã cho thêm các môn học ứng dụng hoặc phân theo địa phương (Zhu, 2007). Nhờ có các môn học phân theo từng địa phương, học sinh có thể biết về lịch sử Trung Quốc cũng như lịch sử của nơi mình sinh sống, và chương trình học có thể được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu của địa phương. Ví dụ, học sinh ở nông thôn có thể được học về các chủ đề liên quan đến nông nghiệp.[5] Quyền soạn các chương trình ở đây được phi tập trung, chuyển từ chính phủ về các địa phương (Zhu, 2007). Ngoài ra, các môn học tự chọn cũng được giới thiệu vào chương trình. Nhờ có cuộc cải cách này, hệ thống giáo dục Trung Quốc đang chuyển dịch từ đường hướng lấy môn học làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm (Zhu, 2007).  Luận điểm thứ ba mà Zhu (2007) đưa ra về kỳ thi đại học tâp trung được Zheng (2008) bàn tới như sau: với những người khởi xướng kỳ thi này, đây là một cách công bằng để chọn sinh viên, vì sinh viên thuộc mọi điều kiện xã hội đều được thi chung một kỳ thi. Còn với những người phản đối, cách này không hiệu quả trong việc tuyển chọn sinh viên có kỹ năng và sở thích phù hợp với nhu cầu của từng trường (Zheng, 2008). Thật ra, kỳ thi tập trung không hẳn đảm bảo được sự công bằng, vì trong khi những học sinh từ những gia đình thu nhập cao hoặc trung bình có thể đi học thêm các lớp ôn thi, phần lớn là những học sinh nghèo còn lại thì không thể. Kể cả có hay không có kỳ thi đại học tập trung, giáo dục vẫn đang tồn tại và xới thêm những bất bình đẳng xã hội. Tuy nhiên, rõ ràng là nếu kỳ thi đại học không còn nữa, vấn đề thiên vị sẽ không thể tránh khỏi. Khi đó, vấn đề ở đây không phải là về bản thể học nữa, mà là nhận thức luận. Điểm mấu chốt ở đây không phải là giữ hay bỏ kỳ thi đại học, mà là nội dung kỳ thi đó là gì. Một cách để hạn chế tiêu cực của hai thái cực này là kết hợp kỳ thi tập trung (như SAT hoặc GRE) với quyền lựa chọn riêng của từng trường dựa vào điểm số và các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, thậm chí dùng cách này thì thiên vị trong tuyển chọn vẫn là một vấn đề nan giải.  Để nâng cao tiêu chuẩn của các trường đại học Trung Quốc, nhiều trường đại học đã sát nhập thành một trường. Quan điểm xuất phát ở đây là các trường đại học tốt nhất phải đủ lớn để dạy hầu hết các chuyên ngành học thuật. Với mục đích này, hầu hết các trường Y đã trở thành thành viên của những trường lớn hơn (Chen, 2002). Trong quá trình này, một trong những khó khăn mà hệ thống giáo dục Trung Quốc sẽ gặp phải là lớp học quá đông ở bậc đại học (một ví dụ khó mà tin được là có tới 200 sinh viên học trong cùng một thính phòng). Đội ngũ giảng viên lại thiếu, không bắt kịp được số lượng ngày càng tăng các trường đại học (nhưng số liệu thực tế lại giảm vì sát nhập (Chen, 2004)) và tỉ lệ sinh viên nhập học trong vài năm đã tăng gấp đôi. Thêm vào đó là áp lực phải nhận thêm nhiều sinh viên ngày càng lớn, vì các trường dựa vào học phí làm nguồn thu ngân sách. Rồi khi chi phí học đại học tăng, con cái của những gia đình thu nhập thấp sẽ gần như bị loại khỏi bậc đại học (Yinmei, 2006). Một vấn đề nữa nảy sinh từ tham vọng có trường đại học đẳng cấp quốc tế là: theo Wanhua (bài sắp đăng), vì hệ thống xếp hạng quốc tế hiện nay rất coi trọng số lượng các nghiên cứu được xuất bản, nhưng lại không quan tâm liệu là những nghiên cứu này có thật sự giải quyết các vấn đề của xã hội hay không. Theo Wanhua, ‎ý tưởng về trường đại học đẳng cấp quốc tế nên dựa trên khả năng giải quyết các vấn đề thực tế; nếu không, các nghiên cứu của các trường đại học sẽ ngày càng nhiều mà chẳng có giá trị thực tế gì.  Mặc dù mối liên quan trực tiếp giữa phát triển kinh tế và giáo dục vẫn còn là một vấn đề phải bàn luận (đó là, liệu kinh tế phát triển là nhờ nâng cao chất lượng giáo dục, hay nhờ có kình tế phát triển, mọi người có điều kiện để chi trả cho giáo dục nhiều hơn nên giáo dục cũng phát triển theo?), chính phủ Trung Quốc đã tăng số chỉ tiêu đầu vào bậc đại học trong thập kỷ vừa qua (Yimmei, 2006). Yimmei (2006) bàn đến 4 nguyên nhân vì sao chính phủ Trung Quốc quyết định mở rộng đầu vào bậc đại học:  1) Để nâng cao chất lượng nguồn nhận lực lao động Trung Quốc,  2) Để đáp ứng nhu cầu giáo dục của người dân,  3) Khi giảm được số lượng học sinh tốt nghiệp phổ thông phải đi làm ngay, chính phủ sẽ giải tỏa được áp lực phải tạo thêm nhiều việc làm để đáp ứng nhu cầu khổng lồ của thị trường lao động. Điều này cũng kích thích tiêu dùng và tăng GDP vì các gia đình phải tiêu tiền cho con cái họ.  4) Giảm áp lực phải chuẩn bị cho học sinh thi đại học với các trường phổ thông.  Nhưng việc mở rộng đầu vào này bị chỉ trích vì tạo ra bất bình đẳng, đồng thời gây lo ngại về chất lượng giáo dục không đảm bảo và gia tăng số lượng sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm (Yinmei, 2006). Phần lớn các sinh viên đại học xuất thân từ thành thị, mặc dù số người nông thôn ở Trung Quốc chiếm đa số. Vì thế, Yinmei (2006) nhận xét rằng trong thời gian ngắn nữa, việc mở rộng đầu vào đại học này sẽ lại tạo ra những bất bình đẳng vùng miền và xã hội.  Về bất bình đẳng vùng miền, có thêm những luận điểm là: Vì cuộc cải cách năm 1978 tôn sùng tăng trưởng kinh tế thay vì nguyên tắc bình đẳng cao qu‎ý thưở nào (Gezgin, 2009c), đặc trưng của hệ thống giáo dục thời kì hậu-Mao là phi chính trị hóa giáo dục và đặt hiệu quả lên hàng đầu, hơn cả tính công bằng (Ngok, 2007). Mặt khác, trong quá trình phi tập trung hóa tài chính, các trường đại học theo kiểu phương Tây của Trung Quốc bị ảnh hưởng do không còn nhận đươc tài trợ ngân sách từ chính phủ nữa. Vì thế, chính sách phi tập trung hóa tài chính đã gia tăng khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn, miền đông và tây (Ngok, 2007). 75% số người mù chữ và bán mù chữ sống ở vùng nông thôn phía Tây Trung Quốc (Ngok, 2007). Học phí cao lại càng làm kiệt quệ các gia đình nghèo ở nông thôn (Ngok, 2007). Tổng chi phí học đại học tương đương với 35 lần thu nhập thực hàng năm của một nông dân Trung Quốc (Ngok, 2007). Đáng buồn hơn, tỉ lệ thất nghiệp những người tốt nghiệp đại học còn cao hơn 50% những đối tựợng khác (Ngok, 2007). Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch để giải quyết các vấn đề này (Ngok, 2007).  Trước khi chuyển sang tình hình ở Việt Nam, chúng ta cần có một chú ý về những vấn đề nảy sinh từ việc so sánh hệ thống giáo dục giữa các nước. Grant (2000) nhắc nhở không nên so sánh một cách khập khiễng nền giáo dục của các nước khác nhau để rồi sao chép máy móc hệ thống của nước này sang nước khác. Ông cũng chỉ ra rằng muốn áp dụng một hình mẫu thành công của nước khác vào nước mình, cần phải cân nhắc các yếu tố về hoàn cảnh, văn hóa và địa l‎ý. Ví dụ, so sánh Việt Nam với Singapore và Hồng Kông là khập khiễng vì hai nước này không phải chịu gánh nặng của việc phải mở rộng giáo dục đến các vùng nông thôn. Tương tự, theo Broadfoot (2000), phải đề phòng không bị mê hoặc bởi những “phương thuốc nhiệm màu” của giáo dục so sánh. Theo đó, nỗ lực kiếm tìm những nguyên tắc chung để xây dựng thành công các chính sách giáo dục cho tất cả các nước là một sai lầm, và điều này thường sẽ làm ta quá quan tâm đến các số liệu thống kê và phớt lờ những dữ liệu định tính quan trọng. Hơn nữa, ‎ ý nghĩa của giáo dục và các thuật ngữ liên quan trong các ngôn ngữ khác nhau có thể mang nội hàm khác nhau (Grant, 2000). Vì thế, một chính sách giáo dục, khi áp dụng ở các nước khác nhau, có thể đem lại những kết quả khác nhau đến nỗi ta khó có thể tin được đây là hệ quả của cùng một chính sách đó (Carnoy & Rhoten, 2002).  Vậy câu hỏi đặt ra là sao trong bài viết về hệ thống giáo dục Việt Nam này, tác giả lại tốn nhiều giấy mực nói về các vấn đề của giáo dục Trung Quốc đến vậy. Rõ ràng là Việt Nam và Trung Quốc khác nhau rất nhiều về quy mô: ở Trung Quốc, có tới 10 triệu giáo viên và 600 nghìn trường học giảng dạy hơn 200 triệu học sinh tiểu học và trung học (Zhu, 2007). Việt Nam thì không thể so sánh được với những con số này. Tuy nhiên, hai nước lại có nhiều điểm tương đồng: rõ ràng nhất là ảnh hưởng của đạo Khổng, hệ thống chính trị và tư duy kinh tế. Vì thế, việc so sánh hai nước sẽ song song với quá trình thảo luận‎ ý nghĩa quốc tế của các trào lưu và xu thế của hệ thống giáo dục Việt Nam.     2) Các vấn đề của Hệ Thống Giáo Dục Việt Nam  Sau đây là các vấn đề của giáo dục Việt Nam được đề cập trên các báo ra từ tháng Một đến tháng Năm năm 2009 (theo thứ tự bất kỳ)  –                     Bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao (Loan & Nguyen, 2009; Thanh Nien Daily, 2009b; Thanh Nien Daily, 2009c)  –                     Bỏ học vì nhà nghèo (Viet Nam News, 2009b)  –                     Thương mại hóa giáo dục (Thanh Nien Daily, 2009d; 2009e)  –                     Đào tạo nghề (Van, 2009; Viet Nam News, 2009c; 2009d; 2009e; 2009f)  –                     Phi tập trung giáo dục đại học (Le, 2009)  –                     Chuẩn hóa giáo dục (Viet Nam News, 2009g; 2009h)  –                     Hướng nghiệp (Thanh & Khoi, 2009; Viet Nam News, 2009i)  –                     Việc tán thành đường hướng lấy người học làm trung tâm (Nguyen & Hoang, 2009; Thanh Nien Daily, 2009a)  –                     Chảy máu chất xám (Lien, 2009)  –                     Các chính sách cho giáo viên (Nguyen & Ha, 2009)  –                     Kỳ thi bậc trung học phổ thông (Ha & Anh, 2009; Nguyen, 2009)  –                     Lớp tiếng Anh bậc tiểu học (Loan, 2009; Thanh Nien Daily, 2009e)  –                     Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế (Pomfret, 2009)  –                     Các vấn đề khác như giáo dục nhân cách (Quang & Nam, 2009), gian lận (Nam, 2009) và giáo dục giới tính (Tran, 2009)  Các vấn đề chính mà giáo dục Việt Nam gặp phải cũng khá giống với Trung Quốc. Sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao thậm chí nảy sinh ngay từ bậc mẫu giáo vì những phụ huynh nào có điều kiện thường cho con đi nhà trẻ học tập đọc tập viết và tiếng Anh cơ bản (Loan & Nguyen, 2009). Xu thế này tiếp diễn đến các bậc học khác và đỉnh cao là giai đoạn ôn thi tốt nghiệp và ôn thi đại học. Những học sinh từ gia đình khá giả có thể theo học các lớp “luyện thi”, số còn lại thì không thể (Thanh Nien Daily, 2009b). Liên quan đến vấn đề bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, năm 2009 ở Việt Nam có hơn 86.200 trong tổng 15.3 triệu học sinh phải bỏ học (Viet Nam News, 2009j). Nguyên nhân chính là lực học yếu (33%) và nhà nghèo (30%). Mặc dù chính sách mới cho phép đóng học phí dựa trên mức thu nhập của học sinh sẽ tạo ra những bước tiến lớn đến bình đẳng cơ hội giáo dục (Viet Nam News, 2009k), khó có thể nói rằng sự chuyển biến này sẽ hoàn toàn nhổ tận gốc vấn đề. Giáo dục chất lượng cao vẫn thường quá cao với túi tiền của các gia đình nghèo. Cần phải có một nghiên cứu điều tra tỉ lệ học sinh nghèo và học sinh các vùng nông thôn và các tỉnh tiếp cận với giáo dục chất lượng cao là bao nhiêu, sau đó đem so sánh và đối chiếu với tỉ lệ của các học sinh có điều kiện tốt hơn. Theo xu thế này, sự xuất hiện các trường đại học nước ngoài tại Việt Nam sẽ có thể càng tạo ra thêm nhiều bất bình đẳng vì các trường tư này có mức thu học phí vượt quá khả năng chi trả của các hộ nghèo. Tỉ lệ sinh viên nghèo nhận học bổng của các trường nước ngoài còn quá khiêm tốn so với tỉ lệ người nghèo trong xã hội. Điều này nghĩa là học sinh nghèo sẽ không được hưởng bình đẳng trong tiếp cận giáo dục quốc tế. Đề xuất của người viết ở đây là thay vì tài trợ cho sinh viên du học ở nước khác, chính phủ Việt Nam có thể cấp học bổng chính phủ cho sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục trong nước của các trường nước đại học nước ngoài. Đây có thể là một giải pháp có tính kinh tế cao. Việt Nam nên tìm cách tránh lối suy nghĩ là “Ai trả tiền thì người ấy có quyền.”  Thương mại hóa trường học và các cơ sở nghiên cứu là một đề tài nóng hổi ở Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Người ta chỉ trích xu thế này vì lợi nhuận được đặt lên hàng đầu thay vì quan tâm đến các vấn đề sư phạm và khoa học (Thanh Nien Daily, 2009d; 2009e). Tương tự, thương mại hóa cũng là một xu thế dễ thấy nhất của các trường đại học Úc vì ngân sách chủ yếu là từ tiền học phí của sinh viên nước ngoài. Tài trợ của chính phủ giảm mạnh theo đường hướng các chính sách tân tự do (Lu & Zhang, 2008)  Hệ thống giáo dục cũng nên phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường lao động. Gần như một nửa lao đông Việt Nam làm viêc trong lĩnh vực nông-lâm nghiệp (Gezgin, 2009a). Thách thức với hệ thống giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục vẫn là đào tạo nghề và nâng cao tay nghề lao động nông nghiệp (Gezgin, 2008a) vì lao động nông nghiệp đang không ngừng ra thành phố để tìm việc làm (xem Van, 2009). Chuyển đổi đất canh tác sang đất công nghiệp và khu vực nhà ở lại càng làm cho kỹ năng của lao động nông nghiệp không phù hợp với nhu cầu thị trường (xem Viet Nam News, 2009f). Giữa năm 2001 và 2005, 3.85% đất nông nghiệp ở Việt Nam đã bị chuyển sang mục đích phi-nông nghiệp (xem Viet Nam News, 2009f). Trong xu thế này, chất lượng đào tạo nghề được bàn tới nhiều vì sinh viên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo nghề không có những kỹ năng thị trường lao động cần, và vì thế họ cần phải đào tạo lại khi đi làm (Viet Nam News, 2009e). Chương trình đào tạo khổng lồ cho 830.000 lao động nông thôn trước năm 2010 là một trong những kế hoạch giải quyết của chính phủ Việt Nam (Van, 2009). Để tạo đà cho đào tạo nghề, cũng cần phải cải cách chương trình hướng nghiệp đã được bổ sung vào chương trình học phổ thông (lớp 10) năm 2006 (Viet Nam News, 2009i; Thanh & Khoi, 2009). Giáo viên cũng cần đựoc đào tạo để đáp ứng yêu cầu về kỹ năng dạy chương trình này. Phải thừa nhận là bản thân hướng nghiệp là một chuyên ngành riêng.  60.000 người Việt Nam đang học ở nước ngoài trong khi chỉ 30% về nước sau khi tốt nghiệp (Lien, 2009). Khi bàn về cách xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc, Yingkjie (2001) đã đưa ra một vấn đề như sau:  Xu thế này đặt các trường đại học hàng đầu ở các nước đang phát triển vào thế khó xử. Khi muốn trở thành các trường đẳng cấp thế giới, các trường này phải theo sát các chuẩn chất lượng mà phương Tây đặt ra. Nhưng càng gần đạt tới các chuẩn này, thì lại càng nhiều sinh viên tốt nghiệp từ đây lại rời đến ở các nước phát triển. Vấn đề chảy máu chất xám này là một phần của việc trao đổi quốc tế không công bằng về giáo dục đại học. Công luận sẽ đặt ra câu hỏi là liệu có khôn ngoan nếu đầu tư rất nhiều tiền vào các trường đại học như thế này để rồi biến chúng thành các cơ sở đào tạo dự bị cho các trường đại học phương tây? Thật không dễ để trả lời câu hỏi này (Yingjie, 2001, tr. 4-5).  Để giải quyết vấn đề này ở một khía cạnh nào đó, chính phủ Trung Quốc đã triển khai kế hoạch nâng cấp 9 trường đại học Trung Quốc lên đẳng cấp thế giới trước năm 2015 (Li, 2004). Điều này có vẻ phi thực tế vì phải mất nhiều thập kỷ mới có thể có một trường đại học tốp trên, trong khi đó đầu vào đại học ở Trung Quốc lại tăng 15% (Li, 2004). Trung Quốc cũng phải đối mặt với một trở ngại tương tự như Việt Nam, là phải đồng thời tăng cường cả chất và lượng. Với Việt Nam, các cơ sở ngay trong nước của các trường đại học nước ngoài sẽ giúp hạn chế chảy máu chất xám vì những sinh viên được đào tạo ở nước ngoài khi về nước có thể được tuyển dụng vào các trường đại học này. Nhưng để giải quyết vấn đề chảy máu chất xám ở Việt Nam, vẫn cần có một chính sách rõ ràng.  Mặc dù trên báo chí không đề cập thường xuyên, một hạn chế chính của hệ thống giáo dục Việt Nam là lương giáo viên và các cơ chế khuyến khích giáo viên đổi mới. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi, sự chênh lệch giữa lương của giáo viên và các ngành nghề lao động trí óc khác ngày càng lớn.[6] Nhưng thậm chí nếu trả lương giáo viên thấp, một đất nước vẫn cần giáo viên. Vậy sẽ giải qu‎yết vấn đề này như thế nào? Tôi cho rằng vì nam giới được coi là trụ cột về thu nhập của gia đình, tỉ lệ giáo viên là nữ sẽ tăng theo từng năm và nghề dạy học sẽ bị coi là một đặc thù của phụ nữ giống như công việc chăm con cái (Gezgin, 2008b). Nếu nghề dạy học không được tôn trọng cả về mặt tài chính và xã hội, phát triển kinh tế sẽ không thể bền vững được. Về lâu về dài, thu hút nhân tài vào đội ngũ giáo viên sẽ đem lại nhiều lợi ích kinh tế hơn xây các trung tâm mua sắm. Nếu tập trung vào phát triển các trung tâm mua sắm hơn đội ngũ giáo viên, đất nước sẽ chỉ có các tòa siêu thị và một lực lượng lao động không có trình độ. Ngoài ra, cũng cần phải khuyến khích giáo viên đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ biết làm đúng theo quy định.  Suy thoái kinh tế là vấn đề lớn cuối cùng bài viết này bàn tới. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, ngày càng nhiều người mất việc làm. Điều này có thế phần nào giải thích tỉ lệ bỏ học cao trong năm 2009 ở Việt Nam. Thứ hai, do kinh tế suy thoái, ngày càng nhiều người nước ngoài và các con trong độ tuổi đi học của họ bỏ về nước, do đó ảnh hưởng tiêu cực tới các trường quốc tế ở khắp châu Á (Pomfret, 2009).  Bên cạnh các vấn đề lớn trên, thói quen xả rác bừa bãi, tiểu tiện nơi công cộng và có thai ngoài ‎ ý muốn ở tuổi vị thành niên cũng là các vấn đề giáo dục cần tham gia giải quyết. Các vấn đề này rõ ràng là hệ quả tiêu cực của quá trình đô thị hóa quá nhanh các vùng nông thôn. Ở thành phố Hồ Chí Minh, xả rác bừa bãi và tiểu tiện nơi công cộng khá phổ biến. Điều này cho thấy cần phải có cả giáo dục con người. Tuy nhiên, chính sách này thành công hay không còn phải dựa vào việc đặt thêm thùng rác và nhà vệ sinh nơi công cộng (Quang & Minh, 2009). Thứ hai, vì số lượng vị thành niên có thai ngoài ý muốn ngày càng tăng ở Việt Nam, giáo dục giới tính cũng trở nên cần thiết. Bên cạnh những vấn đề này, cũng cần phải giải quyết thêm tệ nạn ma túy và nạn nghiện chơi games.  Kết luận lại, các vấn đề chính của giáo dục Việt Nam là:  –                     Bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng   –                     Thương mại hóa giáo dục   –                     Đào tạo nghề và hướng nghiệp   –                     Nạn bỏ học  –                     Chảy máu chất xám   –                     Thói học thuộc lòng   –                     Các chính sách cho giáo viên   –                     Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế      3) Kết luận và đề xuất  Thông thường, quốc tế hóa được cho là liên quan đến 4 khía cạnh sau của giáo dục:  1) Hợp tác quốc tế bao gồm các chương trình liên kết, trao đổi, v.v…  2) Chương trình học  3) Sinh viên  4) Giáo viên  Ở khía cạnh đầu tiên, theo cách này hay cách khác, Việt Nam đã luôn có một nền giáo dục quốc tế hóa, mặc dù thuật ngữ “quốc tế hóa” có thể được hiểu theo cách khác nhau trong từng thời điểm. Như ta biết, trước đây Việt Nam đã từng sử dụng hệ thống giáo dục của Trung Quốc, và đến chế độ thực dân Pháp, hệ thống này đã thay đổi tương ứng. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng rõ ràng từ Trung Quốc, và tiếp đến là Sô-viết. Khi mối quan hệ Viêt Nam – Mỹ được bình thường hóa trong thập niên 90, có thể thấy rõ ảnh hưởng của giáo dục Mỹ, ví dụ như số lượng sinh viên Việt Nam du học Mỹ ngày càng tăng. Những người khai sinh ra nước Việt Nam mới độc lập đều được học trong trường Pháp, điển hình là Bác Hồ – công dân quốc tế hóa và cũng là nhà quốc tế học lớn nhất của Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều người Việt Nam cũng đã được đào tạo ở các nước XHCN thời đó. Như vậy, hệ thống giáo dục Việt Nam mang tính quốc tế khá cao. Một bằng chứng nữa thường ít được chú ý là ngày Nhà Giáo Việt Nam được tổ chức với sự nhất trí của các nước XHCN. Mặc dù ở nhiều nước, ngày Nhà Giáo chỉ là một sự kiện quan trọng mang tính quốc gia, nhưng theo nghĩa này, ngày Nhà Giáo Việt Nam lại mang tính quốc tế (Gezgin, 2009d). Vì thế, không cần phải nghiên cứu thêm về Mỹ nữa. Khái niệm quốc tế hóa đã không còn xa lạ ở Việt Nam. Tuy nhiên, xét về số lượng các chương trình liên kết thì quá khứ không thể sánh với hiện tại được.  Ở khía cạnh thứ hai, quốc tế hóa là đưa vào chương trình học, thậm chí là toàn bộ hệ thống sách giáo khoa, các hình mẫu quốc tế. Thật ra, với nền giáo dục Việt Nam, khu vực hóa có vẻ là một chiến lược khả thi hơn toàn cầu hóa. Hiện giờ, Việt Nam đã là thành viên của ASEAN. Tuy trong thời điểm này, đây có thể là một điều không tưởng, nhưng giống như EU, 10 nước thành viên có thể cùng xây dựng giáo trình chung dành riêng cho các nước ASEAN. Những môn học có thể khu vực hóa là địa l‎ý, văn học và lịch sử. Sách địa l‎ý có thể đặt trọng tâm vào khu vực ASEAN, còn sách văn học có thể chú ý hơn đến các tác phẩm trong nền văn học của khu vực. Với lịch sử thì đây sẽ là công việc khổng lồ vì quyển sách giáo khoa lịch sử cần phải thể hiện được tất cả quan điểm của các nước thành viên, nhưng để thỏa mãn ý nguyện của tất cả các nước thì sẽ là một khó khăn lớn. Ngoài ra, các ngôn ngữ ASEAN có thể được dạy bên cạnh tiếng Anh. Đề xuất này còn mở rộng đến việc mở cơ sở các trường đại học ASEAN khắp khu vực và vì thế sẽ hứa hẹn nhiều đóng góp quan trọng. Nhưng không may là đây vẫn chỉ là một giấc mơ viển vông trong thời điểm hiện giờ. Dù sao, vẫn có một cách là mỗi nước ASEAN có thể chọn ra một trường đại học tham gia vào thử nghiệm về xây dựng các chương trình học chung của khối theo đúng nghĩa khu vực hóa, từ đó, có thể mở rộng mạng lưới các trường đại học ASEAN.  Ở hai khía cạnh cuối, quốc tế hóa phải bao hàm giảng viên và sinh viên quốc tế. Theo nghĩa này, Việt Nam vẫn còn ở rất xa đích (Nguyen, 2009). Ở Việt Nam, chỉ có một vài sinh viên quốc tế, chủ yếu theo học các ngành về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Giảng viên nước ngoài thì hầu như không có. Để có thể thu hút sinh viên nước ngoài theo học các chuyên ngành khác, cần phải có chất lượng giáo dục cao; để có giáo dục chất lượng cao, thì bắt buộc phải có giảng viên quốc tế. Theo các hình mẫu thành công của quốc tế hóa giáo dục, các giảng viên quốc tế phải được trả theo mức lương quốc tế. Câu hỏi là liệu ở Việt Nam ngân sách ở đâu để chi trả mức lương này. Nếu điều này có thể thực hiện được, có khả năng là sinh viên quốc tế sẽ đến Việt Nam. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ bài học Trung Quốc, cần phải có những biện pháp để tránh thị trường giáo dục quốc tế ở Việt Nam chỉ giới hạn trong các chương trình MBA hoặc các chương trình tương tự. Nếu Việt Nam có thể mời các giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy, Việt Nam sẽ là một đối thủ đáng gờm trong khu vực, sánh vai với Singapore và Thái Lan. Mặc dù hiện giờ Việt Nam chưa thể so sánh với Singapore, nhưng Thái Lan có thể là một cơ sở đối chiếu hợp l‎ý. Nếu Việt Nam có thể thu hút các giảng viên quốc tế hiện đang làm việc ở Thái Lan, bức tranh quốc tế hóa nền giáo dục Việt Nam sẽ có những thay đổi lớn.  Nếu quốc tế hóa là trải nghiệm những vấn đề tương tự với các nước khác, thì hệ thống giáo dục Việt Nam đã gần như quốc tế hóa hoàn toàn. Những vấn đề như bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng, thương mại hóa giáo dục, đào tạo nghề và hướng nghiệp, nạn bỏ học, chảy máu chất xám, các chính sách cho giáo viên và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, đều là các vấn đề chung ở châu Á và ở nghĩa rộng nhất, là chung trên toàn thế giới. Khi đó, có thể có hai câu hỏi là: Liệu quốc tế hóa liệu có thật sự tốt? Hai là, liệu đó có phải thật sự quốc tế hóa là phải như vậy? Trong bối cảnh hiện nay, các nghiên cứu ứng dụng vẫn còn hiếm ở Việt Nam. Những hình mẫu từ nước ngoài cần phải được kiểm tra, thử nghiệm trước khi được áp dụng trên cả nước. Các so sánh cần phải thận trọng suy xét đến sự khác nhau giữa hai nước hơn là chỉ tập trung mong đợi những kết quả tích cực.  Một vấn đề nóng hổi nữa trong tương lai gần là tính tự chủ học thuật ở Việt Nam. [7] Đối lập với sự lạc quan của Yingjie (2001) về việc trao quyền tự chủ học thuật cho các trường đại học Trung Quốc, Wanhua (bài sắp đăng) lo ngại về nạn tham ô ngân sách của lãnh đạo chủ chốt các trường đại học, cho rằng tự do học thuật phải đi kèm với các quy định giải quyết vấn đề này.  Kết luận lại, quốc tế hóa nền giáo dục Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài phía trước, với những đặc điểm và xu thế riêng. Nhưng cần phải lưu ‎‎ý là quốc tế hóa không phải là thần dược cho nền giáo dục Việt Nam. Những năm tới sẽ là những tiền đề thử nghiệm những ‎ý tưởng và đề xuất trong bài viết này. Một góp ‎ ý cuối cùng là nên tăng số lượng các bài báo và hội nghị khoa học ở Việt Nam để xúc tiến hợp tác quốc tế. Với hội nghị này, nếu thông tin mời đăng ký bài viết được đăng cả trên các báo tiếng Anh ở Việt Nam và Đông Nam Á thì sẽ tốt hơn.  Người dịch: Vũ Thị Phương Thảo  —————-  * Trưởng Bộ Môn Kinh Tế Vĩ Mô  Đại Học RMIT, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam    Tài liệu tham khảo  Altbach, P.G. & Knight, J. (2007). The internationalization of higher education: Motivations and realities. Journal of Studies in International Education, 11, 290-305.   Bray, M. (2002). Comparative education in East Asia: Growth, development and contributions to the global field. Current Issues in Comparative Education, 4(2), 70-80.   Broadfoot, P. (2000). Comparative education for the 21st century: Retrospect and prospect. Comparative Education, 36(3), 357-371.   Carnoy, M. & Rhoten, D. (2002). What does globalization mean for educational change? A comparative approach. Comparative Education Review, 46(1), 1-9.   Chen, D.Y. (2004). China’s mass higher education: Problem, analysis, and solutions. Asia Pacific Education Review, 5(1), 23-33.   Chen, D.Y. (2002). A study on the amalgamation of Chinese higher educational institutions. Asia Pacific Education Review, 3(1), 48-55.    Gezgin, U. B. (2009a). Vietnam & Asia in flux, 2008: Economy, tourism,  corruption, education and ASEAN regional integration in Vietnam and  Asia. Darmstadt, Germany: H@vuz Publications.  http://www.dergi.havuz.de/001-OCAK-SUBAT-2009/ulas-basar-gezgin.html  Gezgin, U.B. (2009b). Asya-Pasifik’te Bu Hafta (97): Hindistan’da ve Cin’de bilisim [This Week at Asia-Pacific(97): IT in India and China]. Evrensel Newspaper, Evrensel Hayat Supplement, 253, 10 May 2009.   Gezgin, U. B. (2009c). Cin ve Vietnam’da yeni-serbestcilik ve direnis [Neo-liberalism and resistance in China and Vietnam]. Baris Coban (ed.) In Kuresellesme, direnis, utopya – Yeni toplumsal hareketler: Kuresellesme caginda toplumsal muhalefet [Globalization, resistance, utopia: Social opposition in the age of globalization]. Istanbul: Kalkedon Publications. http://www.pandora.com.tr/urun.aspx?id=175792   Gezgin, U. B. (2009d). Asya-Pasifik’te Bu Hafta (82): Ogretmenler gunu ve ogretmen olmak. [This Week at Asia-Pacific(82): Teacher’s day and being a teacher]. Evrensel Newspaper, Evrensel Hayat Supplement, 243, 1 March 2009.   Gezgin, U. B. (2008a). Asya-Pasifik’te Bu Hafta (45): Vietnam’da egitim ve toplum. [This Week at Asia-Pacific(45): Education and society in Vietnam]. Evrensel Newspaper, Evrensel Hayat Supplement, 205, 8 June 2008.   Gezgin, U. B. (2008b). Asya-Pasifik’te Bu Hafta (71): Asya’da kadin olmak. [This Week at Asia-Pacific(71): Being a woman in Asia]. Evrensel Newspaper, Evrensel Hayat Supplement, 231, 7 December 2008.   Grant, N. (2000). Tasks for comparative education in the new millenium. Comparative Education, 36(3), 309-317.   Ha, Q. & Anh, N. (2009). Proposed exam-changes worry bureaucrats. Thanh Nien Daily, 20 February, p.12.   Ka, H.M. & Xiaozhou, X. (2008). When China opens to the world: A study of transnational higher education in Zhejiang, China. Asia Pacific Education Review, 9(4), 393-408.   Le, H. (2009). Vietnam’s universities need greater autonomy: US expert. Thanh Nien Daily, 19 February, p.12.   Li, L. (2004). China’s higher education reform 1998-2003: A summary. Asia Pacific Education Review, 5(1), 14-22.   Lien, H. (2009). Best and brightest disappear down the brain drain. Thanh Nien Daily, 5 March, p.12.   Loan, P. (2009). City bans prep classes for first-grade intensive English test. 12 May, p.12.   Loan, P. & Nguyen, T. (2009). The cut-throat world of preschool. Thanh Nien Daily, 24 April, p.12.   Lu, N. & Zhang, Y. (2008). The changing role of the state vis-à-vis higher education in a global context. Frontiers of Education in China, 3(1), 45-63.   Nam, N.T. (2009). Campus cheats pay for assignments. Thanh Nien Daily, 2 February, p.12.   Ngok, K. (2007). Chinese education policy in the context of decentralization and marketization: Evolution and implications. Asia Pacific Education Review, 8(1), 142-157.   Nguyen, H. & Hoang, M. (2009). Teachers learn to be more student-friendly. Sunday Viet Nam News, 22 February, p.3.   Nguyen, T. (2009). Changes to be applied to final school exam proctoring. Thanh Nien Daily, 26 February, p.12.   Nguyen, T. & Ha, T.V. (2009). Support pledged for struggling teachers. Thanh Nien Daily, 7 January, p.12.      Nguyen, T.A. (2009). The internationalization of higher education in Vietnam: National policies and institutional implementation at Vietnam National University, Hanoi. GIARI Working Paper, 2008-E-21.   Pomfret, J. (2009). Boom cools in international schools in Asia. Viet Nam News, 7 April, p.14.  Quang, N. & Minh, N. (2009). Students say adults, government set bad examples. Thanh Nien Daily, 1 February, p.3.    Ruperez, F.L. (2003). Globalization and education. Prospects, 33(3), 249-261.   Shin, J.C. & Harman, G. (in press). New challenges for higher education: global and Asia-Pacific perspectives. Asia Pacific Education Review.   Thanh, B. & Khoi, L.M. (2009). Follow your smarts or your heart? Thanh Nien Daily, 25 February, p.4.   Thanh Nien Daily (2009a). Culture shock jolts education system. 5 May, p.12.  Thanh Nien Daily (2009b). Students suffer from exam-cram blues. 23 April, p.12.   Thanh Nien Daily (2009c). The perils of preschool. 10 April, p.12.   Thanh Nien Daily (2009d). To change or not change. 7 May, p.12.   Thanh Nien Daily (2009e). Public sci-tech agencies stumble trying to stand on their feet. 23 February, p.12.   Thanh Nien Daily (2009e). Cradle snatching. 27 April, p.12.   Tran, K. (2009). Sex education goes on holiday. Viet Nam News, 24 April, p.24.   Van, B. (2009). Government to spend $1.82 billion for rural vocational training. Thanh Nien Daily, 6 May, p.3.   Van Dijk & Hacker (2003). The digital divide as a complex and dynamic phenomenon. The Information Society, 19(4), 315-326.   Viet Nam News (2009a). VN agriculture needs skilled workers. 13 February, p.4.   Viet Nam News (2009b). Hard times force kids to quit school. 10 March, p.4.   Viet Nam News (2009c). Youth choose higher education over immediate jobs. 21 February, p.5.   Viet Nam News (2009d). Better job prospects sought for graduates. 17 February, p.3.   Viet Nam News (2009e). Significant gap remains between labour market demand, training. 3 February, p.4.   Viet Nam News (2009f). Landless farmers lack job training. 20 January, p.4.   Viet Nam News (2009g). Schools lack official quality standards. 13 January, p.4.   Viet Nam News (2009h). Test to measure teaching quality. 5 January, p.5.   Viet Nam News (2009i). Schools fail to offer enough job guidance. 24 February, p.5.   Viet Nam News (2009j). Over 86,000 drop out since beginning of school year. 25 March, p.5.   Viet Nam News (2009k). Income-based tuition policy puzzles impoverished students. 12 May, p.4.   Wanhua, M. (in press). The prospects and dilemmas in Americanizing Chinese higher education. Asia Pacific Education Review.   Yingjie, W. (2001). Building the world-class university in a developing country: Universals, uniqueness, and cooperation. Asia Pacific Education Review, 2(2), 3-9.  Yinmei, W. (2006). Expansion of Chinese higher education since 1998: Its causes and outcomes. Asia Pacific Education Review, 7(1), 19-31.  Zheng, R. (2008). Chinese college entrance examination: Review of discussions and the value orientation of reforms. Frontiers of Education in China, 3(1), 137-148.   Zhu, M. (2007). Recent Chinese experiences in curriculum reform. Prospects, 37(2), 223-235.              [1] Xem Van Dijk & Hacker (2003)  [2] Điều này phần nào giải thích tại sao một số nhà du hành vũ trụ và kỹ sư ở Liên Bang Nga lại tham gia hoạt động mại dâm sau khi liên bang Sô-viết sụp đổ. Bằng chuyên ngành của họ không phù hợp với nhu cầu lao động mới của các nhà tư bản.  [3] Thực ra, các môn học này không hẳn không có ích vì phần lớn lao động Việt Nam vẫn làm nông nghiệp. Vấn đề có thể là do ví trí của các khoa này. Để có ích hơn cho xã hội, các khoa này có thể nên chuyển về khu vực nông thôn.  [4] Xin phép nhắc lại là giáo dục Việt Nam bị chỉ trích vì thiên quá nhiều về  lý thuyết và học thuộc lòng (Thanh Niên Daily, 2009a).  [5] Cách tiếp cận này giống như dự án Các Trường Làng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Dự án này sau đó đã bị hủy bỏ do những thay đổi về chính phủ.  [6] Vấn đề này cũng phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ  [7] Đây là chủ đề tranh cãi nóng hổi nhất của giáo dục đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ từ khi sau cuộc đảo chỉnh quân sự năm 1980, một hội đồng đã được thiết lập để kìm kẹp tự do học thuật. Vấn đề này cần được tập trung bàn riêng trong một nghiên cứu khác.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trường đại học kiểu mới:  MỘT CƠ HỘI VÀNG      Quyết định th&#224;nh lập những trường đại học kiểu mới với tham vọng đạt tr&#236;nh độ quốc tế v&#224; c&#243; &#237;t nhất một trong những trường n&#224;y lọt v&#224;o top 200 trường h&#224;ng đầu thế giới trước năm 2020, c&#249;ng với những quy định gần đ&#226;y về việc t&#224;i trợ cho nghi&#234;n cứu cơ bản theo chuẩn mực quốc tế l&#224; một cơ hội v&#224;ng kh&#244;ng thể bỏ lỡ, trong việc tiến l&#234;n ph&#237;a trước, x&#243;a bỏ sự tr&#236; trệ đ&#227; t&#237;ch lũy nhiều năm trong nghi&#234;n cứu khoa học v&#224; đ&#224;o tạo tr&#236;nh độ cao.&nbsp;     Một thử thách cho cộng đồng khoa học Theo tôi hiểu, các trường đại học kiểu mới, như Đại học Khoa học Công nghệ được xây dựng ở Hòa Lạc, có nhiệm vụ cách mạng là tạo ra một kiểu mẫu mới về đào tạo chất lượng cao, với tham vọng về sự ưu việt và một sứ mạng, về lâu dài là phục vụ như một mô hình kiểu mẫu và là hạt giống cho việc nâng cấp các trường đại học hiện hữu. Một cách tiếp cận như thế chắc chắn là thực tế và hữu hiệu hơn là những cố gắng thay đổi theo kiểu đoạn nhiệt (adiabatic) những gì đang tồn tại hiện nay. Tuy vậy, nó cần một cam kết rất sâu sắc không chỉ về phía Nhà nước, mà còn của cộng đồng khoa học để có thể thực hiện thành công. Song song với những quyết định từ trên xuống nhằm biến giấc mơ ấy thành hiện thực, những mối liên hệ cố kết từ dưới lên và những sự ủng hộ tích cực cũng là điều rất thiết yếu.  Sự thành công dựa trên mối quan hệ hoàn toàn tin cậy giữa người ra quyết định và người thực hiện, một phía là Nhà nước và các quan chức Chính phủ, và phía kia là cộng đồng các nhà khoa học, giảng viên và người nghiên cứu. Điều kiện để xây dựng mối quan hệ tin cậy ấy, nếu tôi hiểu đúng, đã được bảo đảm trong các điều khoản về mức lương thỏa đáng và điều kiện làm việc, về tự chủ và tự do học thuật trong các trường đại học kiểu mới. Bây giờ là lúc cộng đồng khoa học nhận lấy những thách thức ấy. Cái gì sẽ giúp những trường đại học kiểu mới này thành công trong lúc những trường khác thất bại? Trả lời câu hỏi này tức là đã sơ bộ định nghĩa một cách nghiêm ngặt và trung thực về những nguyên nhân đã ngăn chặn những trường đại học hiện nay nâng cao trình độ của họ với tốc độ mong muốn. Những nguyên nhân ấy ai cũng biết, trong đó có tình trạng đánh giá tri thức và kỹ năng thiếu nghiêm khắc, có tình trạng làm thêm, đã khiến giảng viên xao nhãng việc giảng dạy và nghiên cứu, có sự xơ cứng và thiếu linh hoạt của hệ thống… Đó thực sự là những căn bệnh cơ bản cho đến nay đã ngăn chặn mọi con đường tiến tới hiện đại hóa nền đại học. Xác định rõ những căn bệnh ấy và bày tỏ quyết tâm chống lại nó mạnh mẽ không thua kém gì quyết tâm của Nhà nước, là nhiệm vụ của cộng đồng các nhà khoa học.    Vấn đề hợp tác quốc tế Trong giai đoạn mới thành lập còn non trẻ, các trường đại học kiểu mới sẽ được tận hưởng sự hỗ trợ của các trường đại học nước ngoài. Trong trường hợp cụ thể của Hòa Lạc, nếu tôi hiểu đúng, nước Pháp sẽ có một vai trò quan trọng. Tôi sẽ trình bày một vài vấn đề ít nhiều có liên quan với ý nghĩa của một quan hệ hợp tác quốc tế như thế. Học tập nhưng không sao chép                   Trường Đại học Việt – Đức        Nửa sau của thế kỷ qua đã chứng kiến một sự mở rộng chưa từng có tiền lệ và sự dân chủ hóa giáo dục nói chung và trong giáo dục đại học nói riêng. Đây là một thực tế trên toàn cầu và sẽ được ghi nhận như một bước tiến lớn lao trong lịch sử nhân loại. Điều này càng đặc biệt đúng ở Việt Nam, nơi chỉ cách đây chưa đầy một thế kỷ, phần lớn dân chúng còn mù chữ. Nhưng các trường đại học, một lần nữa trên toàn cầu, chưa thể thích nghi với tình hình mới theo một phương cách có thể làm chúng ta hoàn toàn hài lòng. Một yếu tố hiển nhiên đã làm nhiệm vụ của họ thành ra bất khả thi, là những thế hệ lớn tuổi ít được học hành đã mong đợi quá mức sự thăng tiến xã hội nhờ tấm bằng đại học mà họ cố lo cho con cháu, thường là phải trả giá bằng sự hy sinh nhiều thứ. Giáo dục đại học bởi vậy cần được xem xét và lên kế hoạch trong bối cảnh xã hội và lịch sử cụ thể của từng nước, và bối cảnh Việt Nam hiển nhiên là rất khác biệt so với Hoa Kỳ hay châu Âu. Vì người Pháp có mối quan hệ gần gũi với Việt Nam, chúng ta hãy xem tình hình của Pháp như một ví dụ. Đào tạo trình độ cao của Pháp có đặc điểm là một hệ thống song song bao gồm các trường đại học và các trường chuyên nghiệp được gọi là “Grandes Ecoles”. Không có sự hiểu biết đầy đủ về vai trò của từng loại trường này người ta sẽ khó cưỡng lại phép ngoại suy từ hệ thống của nước Pháp đến hệ thống của các nước khác cụ thể là Việt Nam. Nước Pháp có thể tự hào về việc có một số trường uy tín, nhưng họ vẫn đang đấu tranh với nhiều thứ trở ngại mà chưa tìm được giải pháp nào vừa ý, chẳng hạn, vấn đề về quyền tự chủ trong nghiên cứu khoa học. (Pháp đã tập trung việc đầu tư cho nghiên cứu vào trường Centre National de la Recherche Scienlifique (CNRS) – một trường hoạt động cực kỳ hiệu quả trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học. Nhưng hiện nay CNRS đã hơn 70 tuổi đời và đang gặp vô số khó khăn. Năm ngoái, như các bạn đã biết, một cuộc đình công bất tận đã làm tê liệt các trường đại học Pháp khiến nó không thể giảng dạy hay đào tạo như đáng lẽ phải làm được nữa). Nói vắn tắt, có nhiều thứ phải học hỏi từ thành công và thất bại trong kinh nghiệm của các nước, nhưng không có gì có thể sao chép được trừ khi thông qua sự phân tích các bối cảnh tương ứng có thể thấy rằng sao chép như thế là có lý. Hợp tác quốc tế trong sự tôn trọng lẫn nhau về lợi ích các bên Hợp tác quốc tế mang ý nghĩa tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong trường hợp cụ thể, nó dựa trên mong muốn chung là đẩy mạnh văn hóa khoa học nhằm mục đích nâng cao sự thịnh vượng của người dân. Nó có những ý nghĩa đạo đức và văn hóa được các quốc gia đối tác cùng chia sẻ và là nhân tố thiết yếu để quan hệ hợp tác ấy có thể thành công. Đồng thời, nó có ý nghĩa công nhận rằng mỗi bên có những lợi ích của mình và những lợi ích ấy rất có thể khác nhau. Điều rất quan trọng là phải nhận thức đầy đủ về những khác biệt này và ghi nhớ những điều ấy trong khi hợp tác.                    Các nhà vật lý trẻ thuộc phòng thí nghiệm VATLY và GS Pierre Darriulat        Nước ngoài có thể có quan tâm hợp tác với Việt Nam trong việc thành lập những trường đại học kiểu mới vì nhiều lý do khác nhau. Một trong những lý do ấy là xây dựng những mối liên hệ gần gũi nhằm chia sẻ nhiều hơn văn hóa của mỗi nước, để hiểu biết đầy đủ hơn về nhau nhằm xây dựng mối quan hệ hòa bình hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Một lý do khác có thể là mở rộng thị trường Việt Nam cho các doanh nghiệp của họ bằng cách giúp đào tạo các kỹ sư, kỹ thuật viên có năng lực đạt yêu cầu và bằng cách xây dựng những mối quan hệ gần gũi giữa các nhà khoa học và doanh nhân nước họ với đồng nghiệp ở Việt Nam. Một ví dụ sau cùng: ngày càng nhiều người Việt Nam được đào tạo sau tiến sĩ ở nước ngoài, và những nước không thể mang lại việc làm cho tất cả những người ấy và sẽ vui lòng thấy họ quay về Việt Nam. Còn điều Việt Nam quan tâm là làm sao trong hợp tác sẽ nhận được hỗ trợ càng nhiều càng tốt từ nước ngoài trong lúc vẫn giữ được sự tự chủ cao.  Quan hệ hợp tác sẽ thành công khi cả hai có sự hiểu biết đầy đủ về lợi ích của nhau, từ đó dành ưu tiên cho những hoạt động phục vụ lợi ích của cả hai, đồng thời tránh những hoạt động có thể làm tổn hại lợi ích của một trong hai nước. Chẳng hạn khi hợp tác trong nghiên cứu, những vấn đề thiết yếu về sự đầu tư phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, người ta có thể gặp những quan điểm khác nhau. Nước ngoài sẽ thiên về nghiên cứu ứng dụng vì điều này phục vụ lợi ích của họ tốt hơn trong ngắn hạn, còn đối với Việt Nam nếu duy trì như vậy về lâu dài, khoa học cơ bản không có cơ hội phát triển; điều đó đồng nghĩa với việc các trường đại học không thu hút được những giảng viên và sinh viên tài năng nhất.   Cách tiếp cận từ dưới lên và có tính chất thực dụng               Trong kỳ thi Olympic vật lý quốc tế diễn ra ở Hà Nội, tôi rất vui được góp một tay cho một hội đồng khoa học chịu trách nhiệm tổ chức sự kiện này. Tôi đã được chứng kiến công việc khó khăn mà hội đồng gặp phải cùng với sự nhiệt tình không mệt mỏi của họ để kỳ thi đạt được thành công lớn. Trong cuộc họp hội đồng để xem xét lại lần cuối các đề lựa chọn cho các thí sinh, có bốn nhà khoa học trẻ Việt Nam đang làm việc tại các trường đại học của Hoa Kỳ. Họ đã có những nhận xét rất phù hợp, mang tính xây dựng và hiệu quả giúp cải thiện chất lượng của đề thi cả về hình thức lẫn nội dung. Thật là quý giá biết bao cho đất nước nếu có thể lôi kéo được những người như thế trở về! Tôi thường đọc được rằng Việt Nam khuyến khích những Việt kiều giàu có dành một phần vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhưng sự thịnh vượng của một dân tộc không chỉ được tạo nên từ đô-la mà còn được tạo nên từ những khối óc đã tiếp nhận được những kỹ năng, kinh nghiệm từ nước ngoài, hữu dụng cho sự phát triển của đất nước.          Có thể khẳng định không thể tạo ra một trường đại học kiểu mới nếu chỉ có quyết định từ trên xuống- quyết định của các nhà chính trị và quản lý. Cần phải tiếp cận từ dưới lên bằng cách trước hết xác định nhóm các nhà khoa học, giáo dục nào có thể đưa các trường kiểu mới lên đến trình độ quốc tế. Có thể dự đoán một áp lực lớn trong động cơ chính trị và chiến lược của cả Việt Nam lẫn đối tác nước ngoài nhằm xây dựng nhóm nòng cốt này, nhằm phục vụ cho lợi ích của mỗi bên. Đây là một điều hệ trọng mà Việt Nam cần xem xét đúng mức.  Không phải là quá sớm để bắt đầu xác định tên tuổi một số nhóm người Việt Nam có thể trở thành bộ phận của trường đại học tương lai, để họ có thể định hướng vai trò và  hiệu quả công việc của mình trong tương lai. Họ có thể xây dựng những mối liên hệ mạnh mẽ hơn với các trường đại học nước ngoài nơi họ mong được nhận hướng dẫn và hỗ trợ, chẳng hạn nhận các sinh viên do họ đồng hướng dẫn cùng với một giáo sư nước ngoài (được gọi là “cotutelle” ở Pháp). Họ có thể tiếp cận các Việt kiều hay các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài và khuyến khích họ gia nhập. Những hoạt động như thế cần có thời gian, nó mang ý nghĩa một sự cam kết ban đầu về phía Việt Nam. Tôi mới vừa thảo luận vấn đề này với các nhà khoa học Trung Quốc vừa về nước sau khi được đào tạo ở nước ngoài; tất cả đều đồng ý rằng họ cần có thời gian để quyết định và để sắp xếp gia đình họ thích ứng với cuộc sống mới; họ cũng đồng lòng cho rằng nhân tố quan trọng nhất khiến họ quyết định quay về là vì họ nhận ra quyết tâm và cam kết của Nhà nước Trung Quốc  muốn họ quay về và công nhận tầm quan trọng của họ trong việc đóng góp cho sự phát triển đất nước, vì tài năng và kinh nghiệm của họ. Chuẩn bị bây giờ không phải là quá sớm Tôi biết rằng người ta đang nói về việc có ba phần tư giảng viên và cán bộ nghiên cứu ở Việt Nam và một phần tư ở nước ngoài [để vận hành trường đại học kiểu mới này]. Tôi cũng biết rằng người ta đã nói đến việc đào tạo 400 tiến sĩ ở nước ngoài trong 10 năm tới để phục vụ mục đích này. Một hiểu biết sớm và đầy đủ về việc những điều này sẽ được thực hiện như thế nào là việc bắt buộc phải làm. Nhưng với tôi nó không mấy rõ ràng. 400 tiến sĩ này sẽ được đào tạo trong những lĩnh vực nào? Liệu Việt Nam có nên gây ảnh hưởng lên sự lựa chọn của họ bằng cách công bố trước những định hướng chính trong chính sách khoa học của quốc gia? Hay sẽ cùng với các quốc gia đối tác đưa ra chương trình đào tạo dựa trên một số hướng dẫn tổng quát, chẳng hạn như tỉ lệ nghiên cứu sinh tiến sĩ được đồng hướng dẫn, hay về những chủ đề sẽ được giảng dạy, nhằm bảo đảm chất lượng của tấm bằng mà họ sẽ được nhận. Không phải tất cả các nhà khoa học của trường đại học tương lai này sẽ được đào tạo ở nước ngoài. Nên xây dựng những ngành nào để khuyến khích những người Việt Nam có trình độ sau tiến sĩ (và/hoặc các giáo sư trẻ của Việt Nam) làm việc tại Việt Nam gia nhập vào trường đại học kiểu mới này? Sự lựa chọn giảng viên và các nhà khoa học của trường đại học tương lai này phải được thực hiện hết sức minh bạch theo thông lệ quốc tế nhằm mục tiêu duy nhất là phục vụ tốt nhất lợi ích của trường đại học cũng như chính sách khoa học của nhà trường? Việc đào tạo tại trường đại học kiểu mới sẽ được thực hiện bằng tiếng Anh. Phải chăng đây là lúc xây dựng những chương trình nhằm nâng cao khả năng nói tiếng Anh lưu loát cho các giáo viên tương lai? Qua kinh nghiệm của mình, tôi biết chưa đầy một nửa trong số họ có thể nghe giảng được bằng tiếng Anh. … Quá nhiều câu hỏi, câu hỏi nào cũng quan trọng, mà chẳng có câu trả lời nào là hiển nhiên, khi mà cuộc chơi mới bắt đầu. Các trường đại học Việt Nam kiểu mới là một cơ hội vàng cho nền đại học Việt Nam để  khắc phục sự chậm trễ của mình. Không nên đánh mất cơ hội làm ngừng lại, hay ít nhất là làm giảm hiện tượng chảy máu chất xám hiện nay. Không nên đánh mất cơ hội trao trách nhiệm và mang lại giá trị xứng đáng cho những người tài năng nhất trong thế hệ trẻ Việt Nam, những người sẽ gánh vác tương lai của đất nước.  Tuy nhiên, chỉ có thể tận dụng được cơ hội vàng khi có sự cam kết ngay từ đầu về phía Chính phủ cũng như về phía cộng đồng khoa học, trong sự tin cậy lẫn nhau và minh bạch hoàn toàn. Không có sự tin cậy và minh bạch ấy thì tham vọng về sứ mạng của những trường đại học kiểu mới chỉ là một ảo tưởng.——–                                                                                        Pierre Darriulat*  * Viện KHKT hạt nhân Phạm Thị Ly  dịch                 Không ai có thể làm thay ta…   Trong mấy thập kỷ vừa qua, giới chức chính trị và quản lý giáo dục đại học ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển như bị cuốn vào cơn lốc tham vọng xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế. Và sau rất nhiều nỗ lực đầu tư những nguồn lực khổng lồ mà chưa đạt được thành công như mong đợi, người ta bắt đầu nhận ra rằng muốn có những trường đại học đẳng cấp quốc tế thì phải bắt đầu từ những trường được xây dựng theo chuẩn mực quốc tế. Nói đến chuẩn mực không phải là nói đến những con số, mà là nói đến những giá trị được thừa nhận rộng rãi. Những chuẩn mực này biểu hiện trước hết trong quan hệ giữa các thành viên của nhà trường, cũng như quan hệ giữa nhà trường và Nhà nước, nhà trường và xã hội. Những chuẩn mực ấy tuy là những giá trị vô hình nhưng có thể đóng vai trò xây dựng và điều chỉnh các mối quan hệ này. Những trường đại học tốt nhất thế giới là những biểu hiện cao nhất của các chuẩn mực ấy. Thành công và thất bại của các nước đang phát triển trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, như có thể thấy trong trường hợp Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc, gắn với việc hướng về hoặc đi ngược lại những chuẩn mực này. Hợp tác quốc tế có một vai trò trọng yếu trong tiến trình thực hiện một chủ trương lớn của Nhà nước – xây dựng trường đại học Việt Nam theo những chuẩn mực quốc tế để tiến đến có những trường đại học đẳng cấp quốc tế trong tương lai. Tuy vậy, cần thấy rằng không ai có thể thay thế người Việt để giải quyết những vấn đề của người Việt. Kinh nghiệm các nước cho thấy việc xây dựng năng lực nội tại thông qua hợp tác quốc tế là một hướng đi đúng, chứ không phải là sao chép hay nhập khẩu toàn bộ mô hình quản lý và chương trình đào tạo của nước ngoài. Mặc dù sự tham gia của các đối tác nước ngoài là không thể thiếu để nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo cũng như xây dựng một thiết chế vận hành hợp lý cho một trường đại học theo chuẩn mực quốc tế, chúng ta vẫn cần nhấn mạnh vai trò quyết định của những nỗ lực tự thân của Nhà nước, của giới quản lý đại học và giới học giả trong nước. Những nỗ lực này không phải chỉ giới hạn trong vấn đề nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn và cốt yếu hơn, là trong quyết tâm đổi mới cơ chế và chính sách. Việt Nam đang có một quyết tâm rất lớn của Chính phủ. Mọi nguồn lực cũng đã sẵn sàng. Tất cả những gì Việt Nam đang cần, là một khởi đầu đúng. Mục tiêu dù có xa, nhưng chỉ cần bước đi đầu tiên đặt đúng đường, thì sẽ có ngày đến đích. Nói như giáo sư Hoàng Tụy, tụt hậu không phải là điều đáng ngại, mà đáng ngại nhất là đi sai hướng.                                                             Phạm Thị Ly————Trích tham luận tại Hội thảo Hợp tác quốc tế trong GD&ĐT ĐH                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trường đại học Nga: Đi tìm sự ưu tú đã mất hay xây dựng những trường hoàn toàn mới? (Kỳ 1)*      Hệ thống giáo dục đại học Nga đã từng là  niềm tự hào của đất nước trong một thời gian rất dài, và dù rằng hiện  nay đang có những dấu hiệu khủng hoảng rõ ràng, chúng ta vẫn cố tìm  những bằng chứng cho thấy hệ thống của chúng ta vẫn là một trong những  nền giáo dục đại học hàng đầu thế giới.    Tổng quan  Chưa bao giờ trong lịch sử thế kỷ XX của nước Nga, giáo dục, nhất là giáo dục đại học (GDĐH) lại không đóng một vai trò cốt yếu đối với đất nước. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, câu hỏi về một lực lượng lao động mới với cách suy nghĩ mới về mặt ý thức hệ đã nảy sinh trên một đất nước mới. Giáo dục trở thành một phương tiện đầy sức mạnh của những động lực xã hội tạo điều kiện cho việc hình thành tầng lớp tinh hoa mới. Mấy thập kỷ sau đó, trong thời Đệ nhị Thế Chiến, người ta đã dùng những tiêu chuẩn rất cụ thể để thực hiện việc đào tạo các chuyên gia quân sự. Sau chiến tranh lại càng cần có những chuyên gia có thể giúp đất nước phục hồi nền kinh tế, cũng như những người có thể phát triển kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong nhiều lĩnh vực.  Hệ thống GDĐH Nga đã từng là niềm tự hào của đất nước trong một thời gian rất dài, và dù rằng hiện nay đang có những dấu hiệu khủng hoảng rõ ràng, chúng ta vẫn cố tìm những bằng chứng cho thấy hệ thống của chúng ta vẫn là một trong những nền GDĐH hàng đầu thế giới.  Một trong những vấn đề xã hội đang phải đối mặt hiện nay là liệu có nên cố gắng khôi phục lại sự ưu tú đã bị đánh mất, hay là nên khởi sự xây dựng những gì hoàn toàn mới, và đó là một thách thức lớn trong bối cảnh GDĐH Nga ngày nay. Một số trường đã trở thành thuộc về thế giới (như những hệ thống giáo dục quốc gia được cô lập riêng và quốc tế hóa cao độ), trong khi những trường khác thì đặc biệt rất Nga và bám rễ sâu trong bối cảnh hiện tại cũng như trên nền tảng di sản của nó.   Để hiểu rõ hơn những thách thức hiện nay và những giải pháp khả dĩ, người ta cần phân tích dấu vết của hệ thống Xô-viết và đánh giá tác động của nó với hệ thống hiện tại. Hơn thế nữa, điều quan trọng là bản chất của những thay đổi cốt lõi gần đây. Tất cả những thứ đó sẽ dẫn đến một cuộc thảo luận có cơ sở về những thách thức mà GDĐH Nga thời đương đại phải đối mặt, cùng với những phương tiện khả dĩ có thể chống lại sự khủng hoảng.  Trước hết chúng tôi sẽ nói về những đặc điểm của hệ thống GDĐH Xô-viết có ý nghĩa quan trọng đối với việc tạo thành hệ thống GDĐH mới (đặc biệt là do sự thừa kế trực hệ của nó). Sau đó chúng tôi sẽ miêu tả những thay đổi chính mà hệ thống GDĐH Nga đã trải qua trong 20 năm vừa qua. Chúng tôi sẽ chú ý đặc biệt đến những thách thức hiện nay trong môi trường GDĐH và trong những thước đo được nhà nước và giới học thuật sử dụng. Bài viết này sẽ thảo luận vấn đề ở mọi cấp: cấp vĩ mô, cấp trường/viện, và cấp vi mô (từng khoa và từng cá nhân).   Chúng tôi cho rằng những vấn đề chính là: chủ nghĩa phong kiến1 như một đặc điểm thống trị của văn hóa học thuật cả ở cấp độ giữa các trường lẫn trong phạm vi từng trường; thiếu hụt về tài chính; và sự phổ biến của tình trạng không hiệu quả trong quản lý khoa học (cả ở cấp quốc gia lẫn cấp trường/viện và trong bản thân nội bộ các trường). Những vấn đề này đã hạn chế tính hiệu quả của ngân sách nhà nước và khiến cho cuộc cải cách trên quy mô lớn càng kém hiệu quả hơn.  Những đặc điểm chính của hệ thống GDĐH Xô-viết   Biết những đặc điểm chính của hệ thống GDĐH Xô-viết là điều quan trọng để có thể hiểu cách nó vận hành hiện nay.  Trước hết và trên hết, GDĐH đã từng là một sức mạnh của những động lực xã hội, đem lại cho những ngừơi có bằng đại học nhiều cơ hội mà những người chỉ tốt nghiệp trung học không có. Trong thập kỷ 70-80, chỉ 25% thanh niên trong độ tuổi 18-22 là vào đại học. Bởi vậy, các trường có thể chọn những thanh niên tài năng để họ học những ngành được xác định là ưu tiên quốc gia, còn việc học sinh trung học có nhu cầu về những nghề này hay không thì không thành vấn đề.   Hơn thế nữa, không dễ tiếp cận giáo dục do nhiều rào cản, mà ta thường liên hệ tới địa vị xã hội. Trong thực tế, có cả những hạn chế công khai lẫn những hạn chế ngầm trong việc vào đại học đối với một số nhóm dân tộc hoặc nhóm xã hội nhất định.  Việc thuộc về hệ thống đại học sẽ bảo đảm một địa vị xã hội và thu nhập khá cho các giáo sư (xem Androushchak, Kuzminov, Yudkevich (2012)). Quá trình bước vào môi trường này là một quá trình cạnh tranh cao độ, cùng với khao khát tạo lập sự nghiệp và được bảo đảm lúc nào cũng cần thiết cho xã hội, là những điều đã kích thích mọi người bước vào nghiệp giáo sư đại học (bởi vì việc tiếp cận với quyền lực và nguồn lực phụ thuộc vào địa vị trong thang bậc học thuật.  Cuối cùng, hệ thống này có tính tập trung cao độ bởi vì hầu như mọi vấn đề quan trọng kể cả thực tế phân công chỗ làm bắt buộc cho sinh viên (SV) tốt nghiệp (liên quan tới kế hoạch nhà nước và việc xác định nhu cầu chuyên môn cần thiết thông qua chỉ tiêu tuyển sinh). Tính chất tập trung ấy cũng thể hiện ở tiêu chuẩn đào tạo cho từng chuyên ngành hẹp và hệ thống tài chính đại học công dựa trên những bảng tính giá chi li nghiêm ngặt, khiến các trường không thể nào có lựa chọn gì trong việc tái phân bổ nguồn lực trong phạm vi nhà trường.  Những thay đổi gần đây và đặc điểm của hệ thống hiện tại   Quá trình tự do hóa mở rộng ở nhiều lãnh vực sau khi Liên bang Xô-viết sụp đổ cũng đồng thời diễn ra trong GDĐH, là nơi trải nghiệm rất nhiều đổi thay, chủ yếu gây ra do sự chấm dứt nền kinh tế kế hoạch hóa của nhà nước.  Trong hai mươi năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của giáo dục tư ở Nga. Số người vào đại học đã và đang tăng rất đáng kể. Khoảng cách về chất lượng giữa các trường cũng đang tăng. Sự kiểm soát thực sự của nhà nước về nhiều mặt của đời sống đại học không còn nữa, khiến chức năng quản lý nội bộ (là điều đáng lẽ có thể do hiệp hội các trường đại học hoặc các tổ chức tư nhân thực hiện) giờ đây chẳng thuộc về ai cả.     Quả thật là hệ thống hiện tại vẫn còn đang phải hứng chịu những giới hạn rất sơ đẳng và có tính chất hệ thống của quá khứ khi nó vẫn còn đó. Những hình thức cũ vẫn đang tồn tại nhưng nó không còn sức mạnh như xưa, dù đang suy tàn, nó vẫn đang là một nhân tố tiêu cực.   Một trong những mục tiêu chính của hệ thống GDĐH Nga ngày nay là đạt được một vị trí cao trên thị trường toàn cầu. Điều này đòi hỏi một cơ chế lãnh đạo mới đối với thị trường giáo dục và tổ chức lại hệ thống giáo dục với mức độ thay đổi rất đáng kể. Người ta thường có thái độ luyến tiếc quá khứ đối với hệ thống cũ: “Nhưng nó đã từng hoạt động tốt lắm mà!”. Họ tin là “Mọi thứ sẽ lại tốt ngay lập tức nếu chúng ta khôi phục lại được hệ thống cũ”. Ví dụ, một số người gần đây thường hay nói về việc tái lập hệ thống phân công công tác sau khi ra trường cho SV như trước kia từng làm. Hẳn nhiên là những đề nghị như thế sẽ không dẫn đến kết quả tích cực nào cả bởi vì những điều kiện bên ngòai nhà trường nay đã thay đổi vô cùng nhiều so với xưa kia.   Hệ thống GDĐH ở Nga: Một cái nhìn tổng quan và những đặc điểm quan trọng   Hiện nay, có 1.115 cơ sở đào tạo đại học ở Nga với tổng số 7,049 triệu SV. Giảng viên (GV) có 3,248 triệu người trong các trường đại học công và 32 ngàn người trong các đại học tư. Khu vực công có 653 trường (với 2,85 triệu SV chính quy và 2,98 triệu SV học từ xa). Tính trung bình, các trường tư có quy mô nhỏ hơn và hiện nay đang có 1,2 triệu SV trong đó chỉ có 214 ngàn SV học toàn thời gian. Trong lúc ở khu vực công các chương trình đào tạo chính quy chiếm phần lớn (khoảng75% SV) thì ở các trường tư, con số này chỉ là 25% . Tỉ lệ học đại học khá cao: hiện nay cánh cửa đại học dưới nhiều hình thức đang mở rộng cho phần lớn thanh niên. Tỉ lệ học sinh trung học vào đại học đã và đang tăng, hiện đạt đến mức gần 90%. Tuy vậy, một số rất lớn SV học từ xa (45%), hoặc bán thời gian (4%).   Các chi phí cho việc học ở các trường công do nhà nước hoặc sinh viên chi trả. Việc tuyển sinh vào trường công chỉ dựa vào kết quả của kỳ thi tuyển sinh quốc gia và bởi vậy, không phụ thuộc khả năng tài chính của gia đình người học. Lúc nào cũng có cạnh tranh cao độ để vào các trường công được nhà nước bao cấp trong khi thường không hề có cạnh tranh nếu SV tự trả tiền. Hậu quả là, khả năng và năng lực của SV do nhà nước tài trợ và SV tự trả tiền (hay là thương mại hóa, như mua một món hàng hay dịch vụ) khác biệt rất đáng kể ngay từ đầu trong việc học tập của họ. Cả hai loại SV cùng học với nhau trong cùng một hệ thống có hai loại học phí song hành.   Nghiên cứu cơ bản hầu như bao giờ cũng được thực hiện ở khu vực khác tách biệt với hệ thống GDĐH (tương tự như hệ thống của Pháp). Cụ thể là, cùng với các trường ĐH, ở Nga còn có Viện Hàn lâm Khoa học là nơi thực hiện những nghiên cứu cơ bản. Hiện nay có sáu viện hàn lâm khoa học2; viện lớn nhất là Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Các đơn vị nghiên cứu của những viện hàn lâm này3 có thể đào tạo sau ĐH, nhưng, như một quy tắc, họ không đào tạo cử nhân và thạc sĩ. Tài trợ cho nghiên cứu khoa học cơ bản hầu hết rơi vào các đơn vị này. Chỉ rất ít trường đại học ở Nga nhận được kinh phí nhà nước cho nghiên cứu cơ bản.   Các trường đại học chủ yếu nhằm vào việc đào tạo chuyên môn. Họ nhận kinh phí theo kế hoạch nhà nước giao cho (dựa trên số lượng SV). Hệ thống này có hai đặc điểm và cả hai đều gây ra những vấn đề đặc hữu.  Trước hết, vì phần lớn ngân sách cấp cho việc đào tạo, các trường có lợi khi tăng số lượng sinh viên (trong điều kiện mọi yếu tố khác vẫn thế). Điều này hẳn nhiên có hại cho chất lượng đào tạo. Hai là, hệ thống này xoay quanh cái gọi là chỉ tiêu tuyển sinh. Mỗi trường có một chỉ tiêu nhất định về số SV họ được phép tuyển cho mỗi ngành và được nhà nước cấp ngân sách cho số chỗ ấy. Các trường áp dụng chỉ tiêu được cấp trước cho mỗi kỳ tuyển sinh, trong lúc các bộ liên quan thì rà soát và điều chỉnh việc áp dụng ấy. Kết quả duyệt xét thường là dựa trên kỳ tuyển sinh trước, nói cách khác, việc lập kế hoạch là dựa tren những gì đã đạt được trước đó. Nếu không tuyển đủ SV cho một ngành nào đấy, nhà trường sẽ phải chịu rủi ro nhận một chỉ tiêu thấp hơn trong năm sau, điều này dĩ nhiên có nghĩa là ngân sách được cấp sẽ giảm đi. Bởi thế nhà trường càng nhận nhiều SV thì càng có lợi nhằm lấp đủ mọi khoảng trống trong chỉ tiêu được cấp, dù phải nhận cả những em có kết quả thi tuyển sinh thấp.   Cơ chế tuyển sinh theo chỉ tiêu đã bắt đầu thay đổi chỉ mới rất gần đây. Hiện nay, nó dựa trên hiệu quả hoạt động của nhà trường thay vì dựa trên những thông số trong quá khứ. Một cơ chế như thế là điều cốt yếu để tạo ra những động lực kích thích nhà trường tăng cường chất lượng đào tạo.   Xét về tổng thể, các trường đại học công ở Nga rất không thuần nhất. Ở các trường top, sự ưu tú của SV và các giáo sư vượt xa các trường bậc trung. Các trường tư nói chung gắn với chất lượng đào tạo kém và điều này thể hiện ít nhất trên ba mặt: chất lượng đầu vào kém (điểm thi tuyển sinh thấp hơn rất nhiều so với SV trường công); cơ sở hạ tầng khá nghèo nàn; và chi phí trên mỗi SV khá thấp (rõ ràng là những trường này tập trung đào tạo những ngành không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng trang thiết bị, như những ngành khoa học xã hội, nhân văn, v.v. Cuối cùng, đội ngũ GV ở trường tư khá yếu: hầu hết làm việc bán thời gian theo hợp đồng hưởng thù lao theo giờ dạy trong khi vẫn làm toàn thời gian ở các trường công. Bởi thế, các tiêu chuẩn quản lý và các chương trình phát triển cần đưa ra một cách tiếp cận khác biệt với những trường khác nhau. Cuộc cải cách đang được nhà nước khởi xướng và do Bộ Khoa học-Giáo dục tiến hành hiện nay, tập trung vào ba bộ phận sau đây, mà phạm vi áp dụng của nó là tất cả các trường:   Bộ phận thứ nhất là những hoạt động hỗ trợ có mục tiêu xác định nhằm vào các trường top. Vào năm 2008, nhà nước bắt đầu một chương trình nhằm hỗ trợ các Đại học Quốc gia và hiện nay chương trình này vẫn đang tiếp diễn. Một phần của chương trình này là các trường sẽ nộp kế hoạch phát triển năm năm của mình, sau khi duyệt xét, 29 trường được công nhận địa vị là trường đại học nghiên cứu quốc gia (12 trường năm 2009 và thêm 17 trường năm 2010). Địa vị này cho phép các trường có đủ tư cách để xin tài trợ các dự án nhằm nâng cao năng lực các giáo sư, cải thiện hạ tầng cơ sở cho nghiên cứu, hay đẩy mạnh chất lượng quản lý điều hành. Tuy nhiên khoản ngân sách này không được trực tiếp dùng cho nghiên cứu. Chương trình này có xu hướng thiên về các trường kỹ thuật: trong số 29 trường nói trên, có 17 trường kỹ thuật công nghệ, 9 trường cổ điển, một trường y, một trường về khoa học xã hội và kinh tế, và một trung tâm học thuật trực thuộc Viện Hàn lâm. 11 trong số 29 trường ấy nằm ở Moscow.        Một trong những đề xướng gần đây nhất, bắt đầu năm 2013, là chương trình Nâng cao Năng lực cạnh tranh Toàn cầu. Như đã khẳng định trong nghị quyết của tổng thống vào tháng 12-2012, một mục tiêu trọng yếu của chương trình này là đạt được ít nhất 5 trường đại học Nga nằm trong danh sách 100 trường hàng đầu thế giới trong các bảng xếp hạng trước năm 2020. Chương trình này nhằm vào mục tiêu ấy. 15 trường được chọn dựa trên kế hoạch phát triển của họ sẽ nhận được tài trợ lớn trong những năm sắp đến. Điều kiện để nhận được khoản tài trợ này và những gì không được làm trong việc sử dụng nó, vẫn còn chưa rõ ràng.  Trong mọi trường hợp, các trường được chọn có vẻ như có những cam kết thực sự đầy tham vọng về việc cải thiện các chỉ số (thí dụ như số bài báo khoa học, chỉ số trích dẫn, mức độ quốc tế hóa của SV và giáo sư). Khi tham gia chương trình, quá trình ra quyết định của các trường này có thể sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ bên ngoài. Xét về tổng thể chúng ta có thể nói rằng nhà nước coi vị trí của các trường đại học Nga trong bảng xếp hạng quốc tế như là vấn đề của niềm tự hào quốc gia, và nóng lòng tiêu rất nhiều tiền để cải thiện tình hình. Điều này đòi hỏi không chỉ một hệ thống kích thích có hiệu quả, và việc tạo điều kiện cho các trường trong bối cảnh cơ cấu tổ chức hiện tại (khi các trường và các viện nghiên cứu vẫn còn tồn tại tách biệt) mà còn là sự đánh giá lại một cách tổng thể vai trò của trường đại học trong nghiên cứu khoa học cơ bản.  Bộ phận thứ hai, một lĩnh vực trọng tâm khác, là điều chỉnh và xây dựng lại những trường kém chất lượng. Phải làm gì với những trường nhận tài trợ của ngân sách để nhận những SV kém cỏi nhất vào những chỗ ngồi trong đại học được nhà nước trả tiền cho? Đóng cửa những trường như thế là một giải pháp đang được thảo luận rộng rãi hiện nay nhưng nhiều chuyên gia tin rằng một kịch bản như thế sẽ gây ra bùng nổ giận dữ trong một xã hội mà GDĐH đã trở thành một cái gì tối cần. Một lựa chọn khác đang được xem xét là sáp nhập những trường này vào những trường mạnh hơn. Tuy thế, lựa chọn này sẽ phải chịu nhiều vấn đề nhất định vì nó sẽ gây ra gánh nặng cho những trừơng chất lượng cao (Salmi (2013), Yudkevich (2013)). Đến nay, giải pháp này đã được thực hiện trong vài trường hợp và sẽ còn được tiếp tục vận dụng.  Một câu hỏi tất nhiên nảy sinh ở đây là các tiêu chí để đánh giá một trường nào đó là không hiệu quả. Năm 2012, Bộ Giáo dục Nga đã khởi xướng một cơ chế giám sát hiệu quả hoạt động của các trường. Kết quả hoạt động của các trường được dựa vào năm tiêu chí chủ yếu, trong đó có: điểm trung bình đầu vào của kỳ thi tuyển sinh quốc gia; thu nhập của nhà trường tính trên mỗi GV/nhân viên, và diện tích sàn (lớp học, phòng thí nghiệm) tính trên mỗi sinh viên. Tất cả các trường trực thuộc Bộ Giáo dục đều được đánh giá theo các tiêu chí ấy. Kết quả là, một số trường chuyên ngành nghệ thuật (chẳng hạn trường nhạc) bị coi là không hiệu quả, nhiều trường công được công nhận là thành công và có hiệu quả. Cả các trường đại học cộng đồng lẫn các trường công đều phản ứng tiêu cực với lối đánh giá giám sát ấy, họ tin rằng họ được sử dụng để đạt được những mục đích chính trị. Đã rõ ràng là những tiêu chí ấy chỉ có thể được sử dụng lại nếu nó được điều chỉnh.     Nói về hệ thống một cách tổng thể, nhà nước thừa nhận rằng đáng lẽ phải trả lương GV tử tế hơn, để có thể thu hút những nhà chuyên môn giỏi và để họ có thể tập trung cho giảng dạy và nghiên cứu. Bộ Giáo dục mới đây đã trình bày một lộ trình cải cách GDĐH đến năm 2020. Kế hoạch này gồm có giảm số lượng GV (do cơ cấu nhân khẩu học của đội ngũ và do sự phát triển của công nghệ giảng dạy đã cho phép tăng số SV mà chi phí không lớn). Các tác giả của cải cách tin rằng điều này sẽ giúp làm tăng lương GV ngay cả nếu ngân sách cấp cho các trường vẫn thế. Họ cũng có kế hoạch xem xét lại hợp đồng làm việc với GV theo lối khuyến khích những nghiên cứu có chất lượng.  Việc xem xét lại ấy có lẽ sẽ được các truờng đứng ra tổ chức thực hiện, vì họ có thể tự xác định ai là người làm việc không hiệu quả, và áp dụng những cơ chế đánh giá mới. Tuy thế, vấn đề là, hệ thống GDĐH hiện tại không có cơ chế hay kích thích nào cho việc tự thân vận động. Các trường lo phản ứng với những dấu hiệu từ bên ngoài và cố gắng tạo ra những kết quả được mong muốn một cách hình thức. Hầu như không có lòng tin giữa nhà nước và các trường.   Thay vào đó, các trường đang quá tải với hàng núi báo cáo hình thức; phần lớn công việc của các nhà quản lý là mô phỏng nhằm sản xuất ra những báo cáo thỏa mãn những yêu cầu rất hình thức của cơ quan quản lý. Đó là lý do vấn đề lương bổng gây tranh cãi rất nhiều trong cộng đồng học thuật.   (Kỳ tới: Giảng viên đại học, việc nghiên cứu và văn hóa học thuật)  Phạm Thị Ly dịch  —  * Báo cáo tại hội thảo “Bàn tròn Thảo luận về Nghiên cứu và Chính sách giáo dục đại học quốc tế” tại Thượng Hải, ngày 2 và 3/11/2013     1 Một dạng hệ thống chính trị và kinh tế thống trị ở Châu Âu thời kỳ trung cổ. Chủ nghĩa phong kiến được đặc trưng bởi một tháp xã hội bắt đầu từ người nông dân lệ thuộc thông qua các chúa đất và tước hầu ở thái ấp lên đến tận nhà vua (Chú thích của người dịch).  2 Sáu viện hàn lâm này là: Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Y khoa, Viện Hàn lâm Nông nghiệp, Viện Hàn lâm Kiến trúc và Xây dựng; và Viện Hàn lâm Nghệ thuật.  3 Tính đến tháng 7/2008, nước Nga có 470 viện nghiên cứu, hơn 55 ngàn chuyên viên nghiên cứu, trong đó có 500 viện sĩ hàn lâm được bầu và 800 thành viên được gọi là “viện sĩ thông tấn” (corresponding members).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trường đại học Nga: Đi tìm sự ưu tú đã mất hay xây dựng những trường hoàn toàn mới? (Kỳ 2)*      Lương giảng viên đại học ở Nga nằm trong số thấp nhất trên thế giới (đánh giá dựa trên sức mua tương đương). Lương chính thức thấp đến nỗi đội ngũ giảng viên về cơ bản không thể nào sống nổi nếu không có việc làm thêm nào khác (hoặc trong môi trường học thuật như giảng dạy ở trường khác, hoặc thậm chí ở ngoài lĩnh vực học thuật).    Giảng viên đại học, việc nghiên cứu và văn hóa học thuật   Về những điều “có vấn đề” chính yếu của giảng viên đại học, lương thấp là chuyện quan trọng nhất, và thiếu chuyên gia có trình độ cũng là vấn đề nan giải. Lương chính thức thấp đến nỗi đội ngũ giảng viên (GV) về cơ bản không thể nào sống nổi nếu không có việc làm thêm nào khác (hoặc trong môi trường học thuật như giảng dạy ở trường khác, hoặc thậm chí ở ngoài lĩnh vực học thuật).      Theo Altbach và cộng sự (2012), lương GV ở Nga nằm trong số thấp nhất trên thế giới (đánh giá dựa trên sức mua tương đương). Kết quả của việc thiếu hụt tài chính trên quy mô rộng như thế là gì? Trước hết, phần đông GV phải tìm việc làm thêm, khiến họ không còn thời gian cho chuyên môn, như giảng dạy hay nghiên cứu. Một số người – thường là những người thông minh nhất – rời khỏi môi trường học thuật để làm cho các doanh nghiệp hay cho các trường đại học ngoại quốc. Điều này dẫn đến việc thiết lập một thứ chuẩn mực hàn lâm mới, ngụ ý là chẳng có gì sai khi nhận thêm tiền phụ thêm trực tiếp từ SV. Sự nảy nở của thứ chuẩn mực này được tạo điều kiện và hợp thức hóa nhờ sự thiếu hụt tài chính được xem như một lý do biện bạch phổ biến. Ngày nay những SV tài năng khi tốt nghiệp không thiết tha gì đến việc trở thành GV (xem Yudkevich và cộng sự (2014)), và lương thấp chỉ là một trong nhiều lý do.     Những lý do khác là điều kiện làm việc thiếu thốn (khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu rất hạn chế, thông tin, thiết bị, dụng cụ v.v.) và định hướng thang bậc theo chiều dọc của công ty là một phần của văn hóa học thuật ở Nga. Văn hóa học thuật là một vấn đề khá nghiêm trọng bao gồm nhiều yếu tố, chúng ta sẽ liệt kê ra vài thứ ở đây.     Mối liên hệ với xã hội có một vai trò quan trọng trong đời sống học thuật và ở Nga cơ chế phát triển sự nghiệp thực thụ đã bị thay thế bằng sự trung thành, mối quan hệ, và việc ra quyết định dựa trên các kiến nghị. Thiên về đồng huyết là một chuẩn mực phổ biến trong đời sống hàn lâm (xem Horta (2010) về tình trạng đồng huyết nói chung và xem thêm Sivak, Yudkevich (2012) về tình trạng này trong các trường đại học Nga).      Một vấn đề liên quan là văn hóa nhấn mạnh lòng trung thành trong sinh hoạt học thuật. Ví dụ như sự tác động của các tiêu chuẩn và chuẩn mực địa phương vào thực tế giảng dạy và nghiên cứu. Các trường vẫn đang duy trì một cơ chế khép kín với rất ít trao đổi thông tin với nhau. Chúng ta có thể nói rằng chủ nghĩa phong kiến đã trở thành một đặc điểm của hệ thống. Nó ngụ ý sự khép kín của các trường đại học và sự nảy nở sinh sôi các thứ rào cản đã ngăn chặn không chỉ sự cạnh tranh và đánh giá mà còn cản trở luôn cả sự hợp tác. Chủ nghĩa phong kiến rất gần với những hiện tượng phổ biến như tình trạng đồng huyết hay có rất ít luân chuyển GV giữa các trường. SV cũng vậy, học trường nào thì chỉ học mãi ở trường ấy. Quả thật là trong tình thế hiện nay, các trường đều thiết tha muốn giữ lại SV giỏi và tạo điều kiện cho họ học tiếp lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ.     Chương trình đào tạo được thiết kế theo lối chuyên môn hóa rất hẹp. Trong thời Xô viết, điều này cho phép các trường bắt đầu giữ độc quyền về mặt đào tạo SV và thuê GV. Hiện nay, những nguyên tắc sơ đẳng như thế chỉ có tác dụng làm manh thêm “chủ nghĩa phong kiến” giữa các trường.     Một vấn đề khác là chất lượng và khả năng cạnh tranh của đội ngũ GV, những người mà năng lực của họ còn xa mới đạt mức mong muốn. Theo dữ liệu thăm dò ý kiến, GV thường tự đánh giá mình khá cao về kỹ năng giảng dạy và nghiên cứu (xem Sivak, Yudkevich (2013) về kết quả khảo sát ở Nga dựa trên phương pháp CAP). Trong lúc đó, đánh giá ngoài cho một kết quả trái ngược. Số GV yêu cầu SV phải đọc tài liệu tiếng Anh và bản thân họ thường xuyên tiếp cận thư viện điện tử với những tập san khoa học chuyên ngành mới nhất, là một con số rất thấp.      Số liệu khảo sát về năng suất nghiên cứu cũng chẳng lạc quan gì hơn. Một mặt, đội ngũ GV Nga có rất nhiều ấn phẩm ở cấp vi mô (xem dữ liệu về Giám sát các Tổ chức Giáo dục và Thị trường giáo dục), nhưng mặt khác, hầu hết đó là các ấn phẩm địa phương, thường là tập san của các trường, bằng tiếng Nga và hiếm khi có quá trình bình duyệt. Sự hiện diện của các nhà khoa học Nga trong các cơ sở dữ liệu ấn phẩm khoa học quốc tế như Web of Science hay Scopus là rất rất thấp (xem Pislyakov (2013)). Chỉ có 20% GV đại học ở Moscow và Saint Petersburg, những người đã tham dự cuộc khảo sát dựa trên phương pháp CAP nói trên, là có ít nhất một bài báo khoa học không phải bằng tiếng Nga trong ba năm trước đó. Thế nhưng, hơn 40% GV chưa từng bao giờ có một bài báo khoa học bằng tiếng nước ngoài đã khẳng định rằng họ có một nền tảng nghiên cứu xuất sắc (Sivak, Yudkevich(2013)). Mức độ hội nhập quốc tế còn tệ hơn nữa ở những trường cấp khu vực.      Một câu hỏi nảy ra khi nói về ấn phẩm khoa học. Liệu các nhà nghiên cứu Nga có nên hội nhập hoàn toàn vào cộng đồng hàn lâm dùng tiếng Anh làm phương tiện giao tiếp như là một ngôn ngữ của khoa học, và do đó, xói mòn thị trường khoa học trong nước, hay là họ nên trước hết nhằm vào người đọc tiếng Nga trong nước? Cách nghĩ thứ hai hiện nay đang rất phổ biến (nhất là trong số những người không có lấy một bài báo khoa học nào bằng tiếng nước ngoài). Ngay cả những người thiên về hội nhập quốc tế cũng thấy khó mà cố gắng và đạt được cả hai mục tiêu cùng lúc. Kết quả là, cộng đồng khoa học – ngay cả trong phạm vi từng lĩnh vực chuyên ngành – thường bị chia thành hai nhóm đối lập, những người dĩ nhiên là được hướng dẫn bởi những tiêu chuẩn học thuật khác nhau. Giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, tình trạng này cũng có nhiều khác biệt.     Về tổng thể, có thể nói rằng mức độ quốc tế hóa trong giới hàn lâm Nga là khá thấp. Ít người có kinh nghiệm giảng dạy hay nghiên cứu ở nước ngoài, the dữ liệu của hai cuộc khảo sát nói trên. Số người nước ngoài đến giảng dạy ở các đại học Nga cũng thấp: chỉ một số ít giảng viên, nghiên cứu viên người nước ngoài làm việc tại Nga, và vô cùng ít có trường đại học Nga nào thử tuyển dụng giới hàn lâm quốc tế.     Mức độ quan liêu và các thứ quy định trong đời sống học thuật và quy trình đào tạo ở Nga khiến ngừơi nước ngoài khó lòng thích nghi nổi. Muốn thành công trong việc tuyển dụng giới hàn lâm quốc tế thì trước hết phải giải quyết một số vấn đề, như xuất nhập cảnh (giấy phép lao động, v.v.), bảo hiểm và hưu bổng, an ninh và nơi ở (vì ở Nga hầu hết mọi giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày trong xã hội là bằng tiếng Nga). Đồng thời, cũng có những vấn đề về tổ chức và về mặt học thuật trong nhà trường: thiếu những hợp đồng biên chế, hệ thống thuế không minh bạch (theo quan điểm của người nước ngoài), việc tính lương và nghỉ phép. Bên cạnh đó, chế độ visa gây ra những hạn chế nhất định cho việc giao lưu quốc tế (khá là hạn chế đối với những người nước ngoài quen với việc tự do di chuyển). Bởi thế, cả hệ thống nhìn chung có vẻ có rất nhiều cấm đoán đối với người nước ngoài, tuy là hầu hết những cấm đóan ấy là từ bên ngoài, tức là từ những lực lượng bên ngoài trường đại học. Đã có một số bước đi nhằm giải quyết vấn đề này. Ví dụ, cho đến mãi gần đây, nghiên cứu sinh tiến sĩ là người nước ngoài vẫn phải trải qua một quy trình dài dằng dặc để xác nhận tương đương văn bằng, kể cả phải dịch toàn văn luận án sang tiếng Nga. Hiện nay, theo một nghị định của phủ tổng thống, bằng cấp của những trường đại học hàng đầu thế giới được chấp nhận mà không cần một thủ tục đặc biệt nào cả.     Tất cả những thay đổi tiêu cực trong hai mươi năm qua đều có tác động đến văn hóa học thuật. Đầu thập kỷ 90 đến đầu những năm 2000, những người với các giá trị học thuật truyền thống đã từ từ bị đẩy bật ra khỏi không gian học thuật, thay vào đó là những người có những giá trị khác bắt đầu quan tâm đến công việc của đại học. Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hay theo đuổi sự nghiệp của các GV đại học đã thay đổi. Uy tín khoa học của khoa hay trường, cũng như sự hợp tác khoa học giữa các GV được xem là quan trọng đối với trên 80% GV vào năm 1992, thì nay chỉ còn quan trọng với ít hơn 50% người tham gia cuộc khảo sát năm 2012.     Đội ngũ GV ở Nga cũng công nhận rằng các nhà quản lý cấp khoa và cấp trường đều đang tăng cường chức năng kiểm soát (xem Altbach (1996), Yudkevich và cộng sự (2012)). Đồng thời, họ thấy mình chẳng liên quan gì đến việc ra quyết định về những vấn đề quan trọng. Quả thật là cơ chế quản lý đại học ở Nga khiến những quyết định về đào tạo hay học thuật chủ yếu là quyết định của giới quản lý chứ không phải giới hàn lâm. Mức độ tự trị trong khoa học và sự gắn bó của GV với quá trình ra quyết định của nhà trường là rất thấp. Kết quả là, phần lớn cơ chế kiểm soát là thẳng đứng từ trên xuống. Cơ chế đánh giá được tổ chức theo lối ấy đã thay thế cho cơ chế bình duyệt, và điều này đã tạo ra tác dụng phụ lên hành động của GV. Họ nhận thức rằng kiểu đánh giá từ bên ngoài và từ trên xuống như thế – như một cái gì đối lập với đánh giá cùng cấp trong nội bộ – như một “áp lực” và dấu hiệu của ‘quan liêu hóa”. Trong lúc đó, cơ chế đồng quản trị  lại là điều cốt lõi để xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế (Rozovsky (2012)).     Chúng ta cũng nên xem xét một số vấn đề quan trọng trong lịch trình kế hoạch của cộng đồng học thuật Nga.     Trước hết, giá trị hiệu lực của bằng cấp và chất lượng của các luận án tiến sĩ đang bị nghi ngờ ở Nga (nhất là hệ thống hai cấp tiến sĩ và tiến sĩ khoa học) Trong những tháng gần đây, một số vụ scandal đạo văn nổ ra với bị cáo là các nhà chính trị và quan chức nhà nước cao cấp với luận án của họ, trong đó có cả các quan chức ngành giáo dục. Tuy quy mô của những vi phạm ấy chỉ mới được chính thức công nhận gần đây, nó đã tồn tại từ lâu trong thực tế và có nhiều lý do để lo ngại về điều này. Bởi vì cầm một tấm bằng (nhất lại là bằng tiến sĩ) được coi là rất oai, mà đạt được nó thì cũng chẳng tốn kém bao nhiêu thông qua những chương trình học phải trả tiền, nên số bằng được cấp đã tăng rất nhanh những năm qua, nhất là bằng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên chất lượng của những luận án đã dẫn tới những tấm bằng ấy thì rất thấp, về cơ bản nó chỉ dẫn đến cơ hội mua bằng (mua một luận án đã viết xong hoặc bảo vệ luận án theo một sự “sắp xếp” đặc biệt). Cuối cùng thì, điều đó dẫn đến.  giảm giá trị cả hệ thống bằng cấp của Nga trong lúc bằng cấp của nước ngoài được coi trọng bất kể uy tín của trường đó ra sao (ít ra nó cũng được coi ngang với các trường top của Nga).      Vấn đề bằng cấp cũng liên quan tới cuộc cải cách quá chậm trễ trong đào tạo sau ĐH, hiện nay đã không còn khả năng cạnh tranh trong một số lĩnh vực. Một vấn đề khác là hầu hết nghiên cứu sinh chẳng hề có ý định làm việc trong lĩnh vực học thuật. Hầu hết (kể cả nghiên cứu sinh toàn thời gian) đều đang làm việc toàn thời gian ở các doanh nghiệp. Học bổng nghiên cứu sinh quá thấp, bởi vậy những người trẻ không thể nào theo đuổi việc học nếu không làm thêm. Mặt khác, các chương trình đào tạo sau đại học toàn thời gian thường không mấy nghiêm ngặt với các đề tài nghiên cứu, điều này đặc biệt hấp dẫn với nam vì địa vị nghiên cứu sinh có nghĩa là rất dễ bị làm cho thoái chí.      Những vấn nạn của đào tạo sau đại học thậm chí còn sâu sắc hơn do sự thiếu vắng một thị trừơng khoa học thực sự ở trong nước và thiếu triển vọng việc làm tương lai bên ngoài cánh cổng trường đại học cho giới hàn lâm. Điều này có nghĩa là nhà trường không có động lực kích thích để tạo ra những SV giỏi nghề nghiên cứu, bởi năng lực của họ dù sao cũng không được thị trường coi trọng.  Cùng với tình trạng đồng huyết, hiện tượng này đã góp phần vào việc SV không cạnh tranh vào những vị trí tốt nhất và không có động lực để rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu.      Thị trường khoa học và một cơ chế gắn với uy tín khoa học của các nhà hàn lâm vẫn còn là điều sẽ đến trong tương lai. Một trong những điều đã ngăn cản quá trình này là đến nay, các trường đại học vẫn không được tự mình cấp văn bằng mà phải qua một hội đồng xác thực đặc biệt do Bộ Giáo dục và Khoa học quản lý. Nói cách khác, bằng cấp của tất cả các trường đều có giá trị như nhau trên thị trường, khiến các trường chẳng được lợi lộc gì khi tạo ra những luận án xuất sắc và chẳng mất mát gì khi sản xuất ra những luận án kém cỏi. Các trường được cấp ngân sách tùy theo số lượng SV, đối với SV sau đại học nhà trường được cấp nhiều tiền hơn so với SV, bởi thế các trường sẽ có lợi hơn khi mở nhiều ngành sau đại học và tuyển vào thật nhiều nghiên cứu sinh. Hiệu quả hoạt động của các trường được đánh giá dựa trên số luận án được bảo vệ thành công, điều này đã xui giục họ chấp nhận luận án chất lượng kém.      Công nghệ bằng cấp cũng liên đới với công nghệ làm tập san khoa học (xem Sokolov (2012)). Ấn phẩm khoa học ngày nay không chỉ là phương tiện truyền thông khoa học mà còn là tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động khoa học của các nhà nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, bởi vậy làm tập san khoa học đã trở thành một hoạt động kinh doanh. Các tập san được thương mại hóa (chủ yếu đóng tại Moscow hoặc khu vực) nhận tiền để xuất bản những bài báo chất lượng kém, đã trở thành cực kỳ phổ biến. Các tác giả bị tính tiền theo đủ cách: có khi họ bị yêu cầu trả tiền cho việc “biên tập” hay đăng ký nhận tập san. Trong tình hình này, ngay cả các tập san không thỏa hiệp về chất lượng cũng phải bắt tác giả đóng tiền mới có thể tồn tại được, và thật khó mà phân biệt chân giả về chất lượng với hai thứ tập san ấy.      Trong mọi trường hợp, các trường hiện nay đều có tính đến số lượng ấn phẩm khoa học khi đánh giá kết quả hoạt động nghiên cứu, vì vậy các tập san khoa học đang đứng trước nhu cầu rất cao. Không may là thị trường không đáp ứng theo lối hiệu quả nhất, và tình thế nước Nga cũng không ngoại lệ. Có những vấn nạn tương tự ở Trung Quốc, Ấn Độ, và một số nước khác. Có những tập san khoa học và những nhà xuất bản trên thị trường toàn cầu đưa ra những bài báo khoa học có thể phá hủy uy tín khoa học của người ta thay vì thêm vào một giá trị nào đó (Altbach, Rapple (2012)).      Có lẽ tốt hơn là tính đến chất lượng của tập san thay vì số lượng bài báo khoa học mà người ta trình ra. Nhưng ở Nga điều này thật là khó vì thiếu một hệ thống đánh giá các tập san dựa trên những tiêu chí khách quan của ngành đo lường thư mục khoa học, như là chỉ số ảnh hưởng (IF) chẳng hạn. Chúng ta đã đề cập trong phần trên về việc thiếu bình duyệt cùng cấp, ít ra là trong một số ngành, vì vậy chúng ta có thể thấy kết quả hoạt động thường được đo bằng những tiêu chí số lượng, là điều dĩ nhiên sẽ phương hại cho toàn bộ hệ thống.      (Kỳ cuối: Sinh viên, chính sách tuyển sinh, cơ cấu và chất lượng giáo dục)     Phạm Thị Ly dịch     —     * Báo cáo tại hội thảo “Bàn tròn Thảo luận về Nghiên cứu và Chính sách giáo dục đại học quốc tế” tại Thượng Hải, ngày 2 và 3/11/2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trường đại học Nga: Đi tìm sự ưu tú đã mất hay xây dựng những trường hoàn toàn mới? (Kỳ cuối)*      Về sinh viên, có một số vấn nạn chính. Trước  hết là vấn đề cơ hội tiếp cận GDĐH nói chung, và tiếp cận GDĐH có chất  lượng nói riêng.       Sinh viên, chính sách tuyển sinh, cơ cấu và chất lượng giáo dục   Cho đến rất gần đây, tức kể cả trong thời Xô-viết lẫn hậu Xô-viết, việc tuyển sinh vào các trường đều là dựa trên kỳ thi tuyển sinh đại học. Hệ thống này có nghĩa là mỗi SV tương lai đều phải trải qua kỳ thi do mỗi trường tổ chức, luôn luôn do các giáo sư của trường đó thực hiện. Kết quả là, tài liệu thi về hình thức thì dựa trên chương trình phổ thông nhưng trong thực tế các trường sẽ có những yêu cầu cụ thể nhất định đòi hỏi những kỹ năng quan trọng để làm được bài tức là để vào được đại học. Để đạt được những kỹ năng cụ thể ấy, các em học sinh thường phải học những khóa luyện thi ở trường đại học hoặc thuê thầy dạy kèm (thường là giảng viên của đại học mà các em định thi). Một hệ thống như thế có nghĩa là tham nhũng đầu vào ở mức độ cao, động lực chuyên môn thấp, và nhìn chung là dựa trên khả năng tài chính của gia đình người học. Ví dụ, nhiều em học sinh trung học ở vùng sâu vùng xa không thể lo liệu được tiền đến Moscow hay Saint Petersburg để dự thi đại học, nói gì đến việc học luyện thi như thế.  Từ năm 2009, việc tuyển sinh dựa vào kết quả kỳ thi thống nhất trong cả nước, bắt buộc đối với mọi học sinh phổ thông. Kỳ thi này vừa là tốt nghiệp phổ thông, vừa là tuyển sinh đại học. Quy trình mới này có nhiều hệ quả (xem chi tiết Prakhov, Yudkevich (2012)). Trước hết, các trường đại học mất kiểm soát với việc tuyển sinh. Họ không thể đưa ra những đòi hỏi cụ thể đối với thí sinh như trước và cũng không có quyền lựa chọn đối với từng thí sinh. Hơn nữa, chi phí nộp đơn thi đã giảm đáng kể (học sinh không cần đến thành phố nơi trường tọa lạc để thi nữa mà có thể gửi hồ sơ qua bưu điện). Giờ đây họ có thể dễ dàng nộp đơn nhiều trường cùng lúc, và cũng không tốn kém mấy để dự thi, do các trường không còn những yêu cầu cụ thể như trước. Việc áp dụng kỳ thi thống nhất cả nước này là một bước thay đổi cơ chế tổ chức lớn nhất gần đây ở Nga. Nó cũng đã thay đổi những khích lệ đối với các vai chính yếu của GDĐH. Tuy thế, dù có một số kết quả tích cực, vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Ví dụ, một trong những kỳ vọng ban đầu là kỳ thi này sẽ giúp có thể đánh giá kết quả hoạt động của các trường phổ thông, từng trường và từng vùng. Một kỳ vọng khác là kết quả thi và điểm đầu vào của các trường sẽ là chỉ báo tốt cho mức độ chọn lọc của từng trường và cung cấp thông tin tham khảo cho học sinh khi chọn trường. Tuy nhiên trong thực tế những thông tin này không phải lúc nào cũng được công bố trong lúc dữ liệu về các trường và các vùng thì bị hạn chế. Một số chuyên gia cho rằng lý do để giữ kín những số liệu ấy là do những thay đổi quy mô lớn liên quan tới gian lận thi cử ở một số vùng. Trong mọi trường hợp, những dữ liệu này thậm chí còn không được cung cấp cho người nghiên cứu, nên nó không thể dùng để đánh giá các trường phổ thông và đại học.   Một vấn đề khác là cơ cấu của các chương trình đào tạo và chất lượng giáo dục nói chung. Xưa nay trong hệ thống giáo dục Xô-viết, học sinh về cơ bản phải lựa chọn ngành học trước khi được nhận vào trường hoặc đôi khi và năm thứ ba khi bắt đầu phân chuyên ngành. Các môn trong chương trình học của SV được xác định dựa trên chuyên ngành này. Ngày nay đã có xu hướng cho SV nhiều cơ hội hơn để xây dựng con đường học tập của riêng họ, bằng cách đưa ra nhiều môn tự chọn, nhưng kết quả của việc này xem ra vẫn còn khá mơ hồ. Nhiều trường vẫn làm theo lối cũ vì như thế lên kế hoạch sẽ dễ dàng hơn.   Một hệ thống lỗi thời như thế là một trong các nhân tố dẫn đến tình trạng thất nghiệp phổ biến trong SV tốt nghiệp. Nhiều SV bắt đầu làm việc (thường là toàn thời gian) ngay từ năm đầu thậm chí cả những SV chính quy toàn thời gian. Sự cân bằng này, trong đó các bên không có động lực nào để thay đổi hành vi của mình, dựa trên một thực tế là nhà tuyển dụng không quan tâm tới việc SV đang học năm thứ mấy hoặc trường nào (chỉ trừ một vài trường top là ngoại lệ) mà quan tâm hơn đến khả năng và kinh nghiệm (Apokin, Yudkevich (2011)), là điều khiến cho GDĐH ít quan trọng hơn với tư cách là dấu hiệu của năng lực trên thị trường lao động.   Một vấn đề sâu xa hơn đã khiến SV bắt đầu làm việc từ sớm là động lực học tập của họ. Ngày nay khi hầu hết học sinh phổ thông đều được đào tạo sau trung họ cách này hay cách khác, người ta có những động lực rất khác nhau, có nền tảng văn hóa và vốn xã hội rất khác nhau khi vào ĐH, những điều hẳn nhiên là quan trọng để có quyết định đúng. Kết quả là, hệ thống GDĐH đã nhận nhiều SV yếu kém không đủ năng lực để theo học. Thí dụ, nghề kỹ nghệ đang là nghề óach nhất hiện nay, thế là nhiều học sinh có kết quả thi rất xoàng cũng nộp đơn vào ngành này, đơn giản là vì đàng nào thì cũng sẽ chẳng có nơi nào nhận họ. Một số em có điểm toán rất thấp bắt đầu học những ngành kỹ thuật, nơi mà kỹ năng toán là cốt yếu. Họ thậm chí không nghĩ về việc mình sẽ làm công việc gì trong ngành này bởi vậy cũng không chú tâm vào việc học. Như đã nói trên, các trường không muốn mất SV vì lý do tài chính, kết quả là nhà trường phải thỏa hiệp và hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng cũng như yêu cầu đối với SV tương lai. Kết cục là, cái vốn xã hội tích lũy được ở các trường đại học là cực kỳ thấp.  Cuối cùng, đó là vấn đề quốc tế hóa, có thể nói là quá thấp cả với SV lẫn GV. Trong thời Xô-viết, các trường có những chương trình đặc biệt dành cho các nước đang phát triển nhưng những SV này không phải tự mình trả tiền, mà chi phí của họ được chính phủ nước họ chi trả trong khuôn khổ những chương trình dự án lớn. Năm 2003, nước Nga ký hiệp ước Bologna tức đã tham gia Tiến trình Bologna, nhưng sự luân chuyển SV – cả đến và đi – vẫn rất thấp (tuy có chút ít thay đổi tích cực đối với việc ra nước ngoài học của SV. Số SV đến học tại Nga thấp là do vấn đề ngôn ngữ, chi phí sinh hoạt đắt đỏ, chỗ trọ khó khăn, hạ tầng cơ sở địa phương chưa tốt. Việc chuyển đổi tín chỉ ECTS cũng thường khá khó khăn. Tuy thế, những SV đến từ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc phá vỡ sự khép kín và chỉ biết tập trung vào chính họ của hệ thống quốc gia Nga. Họ cũng có thể có một tác động với SV Nga thông qua việc đem lại cho SV Nga những trải nghiệm trong giao tiếp quốc tế.  Những vấn đề quan trọng cần nghiên cứu   Tuy có rất nhièu vấn đề thú vị trong lĩnh vực GDĐH Nga, chúng tôi muốn tập trung vào bốn điểm quan trọng sau đây trong lịch trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về GDĐH Nga, mỗi chủ đề đều có những thách thức nhất định.  Trước hết, cần tạo ra một hệ thống phân tích với những dữ liệu tương thích với nhau và có thể so sánh được giữa các trường ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô. Có nhiều thông tin đầy tiềm năng và lý thú với các nhà nghiên cứu. Các trường công đáng lẽ phải nộp dữ liệu này cho Bộ Giáo dục và Khoa học, hoặc Bộ chủ quản của họ. Họ cũng sẽ phải nộp dữ liệu theo yêu cầu của các bộ trong trường hợp khảo sát giám sát định kỳ (ví dụ như giám sát vấn đề lương GV). Thế nhưng, hiện nay những thông tin như thế không hề có sẵn cho các nhà nghiên cứu, tuy họ có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tham gia vào việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các trường (cả về phương pháp và việc thực hiện), và xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả.  Khu vực tư thậm chí còn ít minh bạch hơn và điều này chẳng phải chỉ có ở mỗi nước Nga, bởi vậy dữ liệu về khu vực GDĐH tư thậm chí còn ít hơn. Tuy nhiên, tình trạng có rất ít thông tin (chẳng hạn, về điểm trung bình kỳ thi tuyển sinh đại học thống nhất quốc gia, số lượng GV hay tổng diện tích phòng học, v.v) gợi ý một tình thế rất không may. Sự có sẵn những thông tin minh bạch có thể góp phần thực hiện tốt hơn các chức năng của khu vực tư (ví dụ như làm giảm mức độ thiếu công bằng về thông tin cho những khách hàng tiềm năng). Nhìn tổng thể, sự có sẵn nhiều thông tin và dữ liệu chi tiết là điều tối cần cho hiệu quả của cải cách và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách đúng mục tiêu.  Một mục tiêu khác là tạo ra một cái nền phân tích của chuyên gia cho những cải cách trong GDĐH. Khu vực GDĐH đang trải qua những thay đổi về tổ chức hết sức lớn lao, những thay đổi sẽ tác động đến tất cả mọi bộ phận, mọi thành viên đang tham gia vào thị trường, ví dụ các gia đình có con đi học, các trường ĐH, các nhà tuyển dụng. Thay cho những cuộc tranh luận đang bị chính trị hóa về việc ai được ai mất trong cuộc cải cách, cộng đồng chuyên gia cần xây dựng một thước đo đánh giá kết quả của cải cách dựa trên nghiên cứu và phân tích thực nghiệm. Trong số những vấn đề cần xem xét là hậu quả của cơ chế tuyển sinh đại học mới áp dụng (xem Ampilogov, Prakhov, Yudkevich (2013) và Prakhov, Yudkevich (2012)) hay hiệu quả của những chương trình tài trợ có mục tiêu cho các trường đại học nghiên cứu. Mô hình nào khả dĩ để có thể đánh giá những thay đổi nhất định về tổ chức và thể chế ở các trường? Cần những dữ liệu nào cho một kiểm tra thực nghiệm? Những câu hỏi như thế rất cần được trả lời. Có một số thử nghiệm trên quy mô lớn đang được tiến hành (ví dụ như về lương GV). Sự tham gia của các chuyên gia GDĐH, các nhà kinh tế và xã hội học là điều hết sức cốt yếu trong việc lập kế hoạch và điều chỉnh kết quả của những thực nghiệm ở tầm quốc gia.   Một sự hiểu biết đầy đủ hơn về mô hình tổ chức cấp trường của GDĐH Nga và thiết chế tổ chức cụ thể của nó cũng là một nội dung trong lịch trình của các chuyên gia nghiên cứu GDĐH cả cơ bản lẫn ứng dụng. Những kinh nghiệm thành công của các trường nước ngoài có thể cấy trồng ở mức độ nào trong thị trường GDĐH Nga? Đâu là vai trò của các chuẩn mực văn hóa trong việc làm nảy nở sinh sôi một cách vững chắc những quy tắc và thực tiễn không hiệu quả?  Đó vẫn là những câu hỏi mở đối với rất nhiều trường đại học trong thị trường GDĐH Nga.  Một chủ đề tranh luận căng thẳng trong giới chuyên gia Nga là khái niệm họp đồng lao động có hiệu quả đối với GV đại học (Kuzminov (2012)). Hợp đồng này nên được soạn thảo như thế nào để thu hút được các nhà chuyên môn giỏi nhất và thúc đẩy họ làm nghiên cứu? Triển vọng của việc áp dụng các hợp đồng biên chế ở Nga sẽ là như thế nào? Vai trò của những hợp đồng như thế là gì trong việc tạo dựng những trường đại học nghiên cứu? (xem Khovanskaya, Sonin, Yudkevich (2009))? Tất cả những câu hỏi ấy chỉ có thể trả lời bằng nghiên cứu nghiêm túc của các chuyên gia về lý thuyết hợp đồng cùng với chuyên gia về GDĐH.   Cuối cùng, các nhà nghiên cứu Nga cần tham gia vào các hội đồng hay các dự án nghiên cứu so sánh giữa các nước trong nhóm như các nước BRIC, các nước hậu Xô-viết, các nước châu Âu. Họ đang tham gia một số dự án như thế (xem Altbach và cộng sự (2012), Altbach và cộng sự (2013), Carnoy (2013), Gokhberg (2011)) nhưng cần thường xuyê hơn nữa. Những sự tham gia như thế có thể đưa một cộng đồng chuyên gia lớn hơn đến với nước Nga, nhưng quan trọng hơn là điều đó cần cho các nhà nghiên cứu Nga bởi vì nhiều vấn đề và giải pháp không thể nào thấy được từ vị trí của người ngoài cuộc mà cần phải nghiên cứu từ bên trong. Các công trình nghiên cứu so sánh sẽ giới thiệu với các nhà nghiên cứu những điều kiện trong đó những tác động này bị triệt tiêu bởi tác động khác, tạo ra sự quân bình ổn định hay một hệ thống không đổi, những mặt tích cực và tiêu cực của nó, và những nhân tố ổn định, nhờ đó giúp họ nhìn thấy những giải pháp khả dĩ cho những vấn đề của nước họ. Ví dụ, các nhà nghiên cứu Nga đã tham dự một dự án nghiên cứu so sánh thu nhập của GV trong 28 nước (Altbach và cộng sự (2012) và một dự án nhằm vào triển vọng nghề nghiệp của GV trẻ trong 10 nước (Yudkevich và cộng sự (2014)).  Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng việc nghiên cứu về GDĐH hiện nay đang đối mặt với một số mục tiêu chính trị cũng như những mục tiêu thuần túy học thuật, những thứ vốn đan quyện vào nhau. Những cải cách thể chế mới trong không gian GDĐH chỉ có thể dựa trên những mô hình phân tích và dữ liệu thực nghiệm cho phép nhìn thị trường hàn lâm Nga trong tương quan so sánh toàn cầu. Những cải cách như thế là hết sức cốt yếu để tăng cường năng lực cạnh tranh của các trường đại học Nga trong thị trường học thuật toàn cầu và tạo ra một hệ thống GDĐH đủ sức đáp ứng với những thách thức của thị trường lao động thế giới. Những mục tiêu này chỉ có thể đạt được bằng cách tiến về phía trước thay vì cố sửa chữa hay chống đỡ cho quá khứ.   Tài liệu tham khảo  Altbach P. và cộng sự. (eds.) The Global Future of Higher Education and the Academic  Profession. Palgrave McMillan, 2013.  Altbach P. (ed.) International Academic Profession. Portraits of Fourteen  Countries. Jossey-Bass Publishers, 1996.  Altbach P. và cộng sự. (eds.) Paying the Professoriate. A Global Comparison of  Compensation and Contracts. Routledge, 2012.  Altbach P., Rapple B. (2012) Anarchy, Commercialism, and “Publish or Perish”,  International Higher Education, No. 67, P. 5-6. 315  Ampilogov A., Prakhov I., Yudkevich M. (2013) One or Many? Using the new  opportunities of the Unified State Exam, HSE Working paper, 2013.  Androushchak G., Kuzminov Y., Yudkevich M. (2013) Changing Realities:  Russian Higher Education and the Academic Profession, P. 56 – 92 // in  Altbach P. và cộng sự. (eds.) The Global Future of Higher Education and the  Academic Profession. Palgrave McMillan, 2013.  Apokin, A., Yudkevich M. “Analysis of Student Employment in the Context of  Russian Labor Market.” Voprosy Ekonomiki 6 (2011).  Carnoy M., Loyalka P., Dobryakova M. S., Dossani R., Froumin I., Kuhns  K., Tilak J. B., Rong W. University Expansion in a Changing Global  Economy: Triumph of the BRICs? Stanford: Stanford University, 2013.  Gokhberg L., Kuznetsova T., Zaichenko S. Russia: Universities in the Context of  Reforming National Innovation System, in: Goransson B., Brundenius C.  (eds.) Universities in Transition: The Changing Role and Challenges for  Academic Institutions. Springer, 2011. P. 247-260.  Horta, H., F. M. Veloso, R. Grediaga. “Navel gazing: Academic inbreeding and  scientific productivity.” Management Science 56.3 (2010): 414-429.  Khovanskaya, I., Sonin K., Yudkevich M. A Dynamic Model of the Research  University (October 2009). Available at SSRN:  http://ssrn.com/abstract=1103291  Kuzminov, Y. (2012) Academic Community and Contracts: Modern Challenges  and Responses, P. 331 – 340 // in Altbach P. và cộng sự. (eds.) Paying the  Professoriate. A Global Comparison of Compensation and Contracts.  Routledge, 2012.  Pislyakov (2013)  Prakhov I., Yudkevich M. University Admission In Russia: Do the Wealthier  Benefit from Standardized Exams? (February 16, 2012). Higher School of  Economics Research Paper No. WP BRP 04/EDU/2012. Available at  SSRN: http://ssrn.com/abstract=2005108  Rozovsky H. (2012) Presentation at the seminar “At the Forefront of International  Higher Education”: https://www.youtube.com/watch?v=jqpUUOWa4Ec  (accessed August 24 2013)  Salmi, J. (2013) Inside Higher Ed Blog. University Mergers in Russia: Not an Easy  Route to Success April 7, 2013.  http://www.insidehighered.com/blogs/world-view/university-mergersrussia-  not-easy-route-success (accessed at August 24 2013)  Sivak E., Yudkevich M. (2013) Academic Profession in a Comparative  Perspective: 1992–2012 // Foresight Russia, P. 32 – 41.  Sokolov (2012)  Yudkevich M. (2013). Inside Higher Ed Blog. University Mergers in Russia:  Happy Marriage or Misalliance April 22, 2013.  http://www.insidehighered.com/blogs/world-view/university-mergersrussia-  happy-marriage-or-misalliance-0 (accessed at August 24 2013)  Yudkevich M. và cộng sự (2014) The Future of the Academic Profession: Young Faculty  in International Perspective. Forthcoming.  Yudkevich M. và cộng sự. (2012) Changing Academic Profession: Russia country  report, HSE.316  Yudkevich M., Sivak E., University Inbreeding: An Impact on Values, Strategies  and Individual Productivity of Faculty Members (January 31, 2012).  Available at SSRN: http://ssrn.com/abstract=199641  Phạm Thị Ly dịch  —  * Báo cáo tại hội thảo “Bàn tròn Thảo luận về Nghiên cứu và Chính sách giáo dục đại học quốc tế” tại Thượng Hải, ngày 2 và 3/11/2013      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các trường ĐH nghiên cứu sẽ dẫn đầu hay theo sau?      Tham vọng của Trung Quốc (TQ) về hệ thống  GDĐH đang đâm chồi nảy lộc cũng như nỗi khao khát đưa khá nhiều trường vào bảng xếp hạng các trường ĐH tinh hoa trên  thế giới dường như là không có giới hạn. Chuyện này bắt đầu từ cách  đây 14 năm, gắn với nhiều chính sách rộng hơn nhằm mở cửa một phần kinh  tế của TQ cũng như mở cửa các trường ĐH cho những lực lượng của thị  trường.     Trước một cử tọa đông đảo trong lễ Kỷ niệm 100 năm ĐH Bắc Kinh vào năm 1998, chủ tịch Giang Trạch Dân đã đặt ra mục tiêu cải cách và mở rộng các trường ĐH của TQ. Hệ thống GDĐH bị teo tóp của TQ lúc đó chỉ cho ra trường có 200.000 sinh viên mỗi năm, hầu hết là bằng cử nhân và hầu như không có đào tạo sau ĐH.   Từ đó đến nay, GDĐH đã tăng gấp ba lần về quy mô và đào tạo ra 6,3 triệu người tốt nghiệp mỗi năm với hơn ba ngàn cơ sở GDĐH. Với 29 triệu sinh viên, hệ thống GDĐH TQ hiện nay là lớn nhất trên thế giới. Năm 2010, khoảng chừng 24% số người trong độ tuổi truyền thống 18-24 đã vào ĐH.   Nhưng tham vọng của chính phủ trong nhiệm kỳ của Giang không phải chỉ giới hạn trong sự tăng trưởng về số lượng. Trong vòng một thập kỷ qua, TQ đã ngày càng tập trung vào chất lượng của một nhóm các trường ĐH trọng điểm của quốc gia, và đặc biệt là tập trung vào việc làm thế nào để những trường ĐH đó góp phần xây dựng TQ thành một nền kinh tế dựa trên tri thức.  Khát vọng ấy đã dẫn đến hàng loạt chính sách quốc gia, bắt đầu là Dự án 985 (khởi động năm 1998) nhằm xây dựng một nhóm các trường có khả năng cạnh tranh toàn cầu, và gần đây hơn điều này cũng đã được thể hiện trong Kế hoạch Quốc gia Trung hạn và Dài hạn về Cải cách và phát triển Giáo dục 2010-2020 (cũng được biết tới dưới tên gọi Kế hoạch 2020).   Kế hoạch này đã đánh dấu một bước tiến trong việc hỗ trợ một nhóm nhỏ những trường được chọn lọc để họ có thể vận dụng những đặc điểm của những trường ĐH tốt nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất thế giới, trong đó có việc đảm bảo cho các trường một mức độ tự chủ cao hơn và một nguồn ngân quỹ dồi dào nhằm cải thiện việc quản lý khoa học.  Chính phủ TQ tuyên bố rằng họ cam kết hỗ trợ không chỉ GDĐH đại chúng cho số đông mà còn nhằm xây dựng những trường được gọi là đẳng cấp quốc tế bởi đó là một phần của quan niệm rộng hơn cho rằng các trường ĐH tinh hoa này là nhân tố trọng yếu cho năng lực cạnh tranh và là niềm tự hào của quốc gia.   Thách thức    Tuy nhiên, những tham vọng về GDĐH ấy đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đó là vấn đề khoảng cách thu nhập và cơ hội về kinh tế ngày càng cách biệt giữa nông thôn và thành thị, nhất là những đô thị mới đang phát triển nhanh chóng. Đó là yêu cầu ngày càng cao của dân chúng về việc được tiếp cận GDĐH. Đó là số sinh viên nhập học ngày càng tăng trong lúc tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên ra trường cũng rất cao. Đó là những yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến quá trình học tập và có thể hạn chế sự sáng tạo. Đó là sự thiếu rõ ràng về vai trò thích hợp của các cơ sở đào tạo của nước ngoài đặt tại TQ; và những mối lo ngại về khả năng quản trị và lãnh đạo ở những trường lớn của TQ.  Tất cả những vấn đề nêu trên đang được thảo luận rộng rãi cả trong giới lãnh đạo học thuật ở TQ lẫn giới quan sát. Đó là những vấn đề về việc nâng cao chất lượng thực sự nổi bật của các trường ĐH, từ chỗ là một biểu tượng của một đặc ân tốn kém và bị coi thường dưới thời Mao trở thành một nhân vật trung tâm trong quá trình chuyển đổi nhanh chóng về hướng thị trường tự do và gắn bó với quốc tế của TQ.  Hơn bất cứ ngành công nghiệp nhà nước hay tư nhân nào– hơn bất kỳ tổ chức đơn lẻ nào khác – các trường ĐH tiêu biểu cho một TQ mới. Có hai vấn đề truyền thống nhiều khả năng là sẽ quyết định mức độ thành công của TQ trong việc cải thiện chất lượng của GDĐH, và đặc biệt là trong việc tạo ra những trường ĐH ĐCQT có năng lực cạnh tranh toàn cầu.  Trước hết, cũng như ở những trường ĐH khác trong những nước khác, có một động lực– thậm chí còn được phóng đại hơn –ở TQ: một sự thay đổi từ những đòi hỏi và can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ đến một thứ văn hóa nội bộ của nhà trường – tìm kiếm theo cách của riêng mình những gì nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, và những hoạt động phục vụ lợi ích cộng đồng.   Vấn đề thứ hai liên quan đến câu hỏi điều gì thực sự tạo thành một trường ĐH ĐCQT. Đến nay, TQ (cũng như nhiều nước khác) tập trung chủ yếu vào một số tham số hẹp: số người được giải Nobel và những giải thưởng quốc tế hàng đầu, chỉ số trích dẫn, số tiền mà các kết quả nghiên cứu tạo ra, tỉ lệ nghiên cứu sinh, số bằng đã cấp, và những dữ liệu tương tự – chẳng hạn, như những tiêu chí của hệ thống xếp hạng mà ĐH Giao thông Thượng Hải đưa ra, hay còn gọi là ARWU.  Thế nhưng những nhân tố khác đã không được tính đến trong lúc nó thực sự rất đáng được xem xét.   Phải chăng các trường ĐHNC chỉ đơn giản là phản ánh cái xã hội mà nó đang sống, tùy thuộc vào những chuẩn mực chính trị và văn hóa của địa phương? Hay các trường ĐH là người lãnh đạo xã hội, là nơi cho những tư tưởng mới nhất nảy sinh và cho các cuộc thảo luận về những tư tưởng ấy?   Đây là câu hỏi đã không được thảo luận cởi mở trong các nhà lãnh đạo khoa học và cơ quan quản lý cấp Bộ ở TQ. Thay vì vậy, câu hỏi ngầm ẩn này là nguồn cội của những mâu thuẫn, có khả năng sẽ nổi lên từ từ và mở ra nhiều hơn khi nhà nước trung ương tiếp tục quá trình dân chủ hóa kinh tế không mấy bằng phẳng.  Cho đến nay, các trường ĐH TQ đã và đang là kẻ đi theo sau trên sân chơi toàn cầu, bị kìm hãm và định hình bởi thứ văn hóa chính trị do nhà nước dẫn dắt, và còn bị làm phức tạp thêm do những sự kiện trên thế giới như mùa xuân Ả Rập.  Tuy thế, có những dấu hiệu cho thấy điều này sẽ thay đổi. Toàn cầu hóa, bao gồm sự tương tác ngày càng tăng với các nhà lãnh đạo và giảng viên ở Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và nhiều nơi khác, đang tạo ra sự đồng thuận trong các nhà lãnh đạo học thuật ở TQ về việc tăng cường sự độc lập của các trường, trong đó có một mức độ mới về tự do học thuật, cũng như kiểm soát chất lượng nội bộ. Đó là những điều cần thiết để các trường ĐH của họ có thể trưởng thành đầy đủ. Nhưng đó sẽ là một quá trình tiệm tiến, được định hình bởi những chuẩn mực xã hội TQ và vẫn trong bàn tay thống trị của nhà nước trung ương.   Kinh tế đang phát triển chậm lại   Trong thập kỷ vừa qua, giới truyền thông rất chú ý đến sự tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế của TQ. Tràn ngập tin tức về điều này trên mọi phương tiện thông tin đại chúng. Năm 2010, người ta dự đoán rằng TQ sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trước 2030, và đến 2040 kinh tế TQ có thể tăng gấp ba lần so với thành quả kinh tế của thế giới năm 2000.  Với một quốc gia đã trải nghiệm mức tăng trưởng GDP trung bình khoảng 10% hàng năm trong ba thập kỷ qua, có một ước lượng khác là khoảng 500 triệu người đã thoát cảnh đói nghèo.   Tuy vậy có những dấu hiệu cho thấy tỉ lệ tăng trưởng kinh tế đã có hiện nay của TQ sẽ không thể bền vững, và thực ra là đang chậm lại, phản ánh những ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu và sự xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới với giá lao động rẻ hơn. Tình trạng chậm lại này cũng có thể cho thấy sự thiếu tiến bộ trong việc tạo ra một xã hội cởi mở và công bằng hơn.   Một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới đã nhận định rằng TQ phải theo đuổi những cải cách thể chế cơ bản để tăng cường “nền tảng của kinh tế dựa trên thị trường”. Bản báo cáo cũng lưu ý rằng, để đạt được mong muốn về một “xă hội hài ḥa”cũng sẽ phải có những tiến bộ trong việc đạt được tăng trưởng một cách công bằng hơn, bền vững hơn về mặt môi trường, và có tính chất quân bình hơn”.   Một sự chuyển đổi kinh tế như thế đòi hỏi tăng cường chất lượng giáo dục và cải thiện phẩm chất cũng như năng suất của khu vực GDĐH. Do nhiều phê bình từ bên trong và bên ngoài về một nhà nước quá chú trọng đến an ninh, quá trình chuyển đổi này cũng đòi hỏi một sự mở rộng quyền tự do của công dân. Ở hầu hết những nước đang phấn đấu cho một nền kinh tế và xã hội năng động, các trường ĐH đóng một vai trò độc nhất trong xã hội như là nơi cho những đổi mới và nghiền ngẫm về thực tại, cho sự bất đồng và khoan dung.   Tuy thế, sự trưởng thành đầy đủ của các trường ĐH, ở Mỹ cũng như ở những nơi khác, đòi hỏi phải có thời gian, có sự hiểu biết của xã hội và cần một sự hỗ trợ nhất quán, lâu dài về chính trị và về tài chính.   Người ta có thể nhìn những biến đổi nhanh chóng và ngoạn mục của hệ thống GDĐH TQ, và vấn đề quản trị phù hợp hay mức độ tự chủ như là một phần của khúc quanh phát triển, và mức độ trưởng thành của các trường là mối quan tâm của chính phủ cũng như nhân dân TQ.   “Trước cương vị đang trỗi dậy của TQ, các trường ĐH đã và đang ngày càng được xem là một nguồn quan trọng cho tính chính đáng của nhà nước hiện đại và thẩm quyền chính trị của nó”, Qiang Zha, phó giáo sư khoa giáo dục, DH York, lưu ý như thế.   “Sự thay đổi này có thể sẽ đưa họ vào một vị trí không thể dự đoán trước bởi vì lợi ích của việc thương lượng về tự chủ ĐH và tự do học thuật, đến lượt nó sẽ là chất xúc tác cho sự cởi mở của cả xã hội như một tổng thể.”  Đây là một cái nhìn hy vọng. Nói cách khác, các trường ĐH là con chim bạch yến trong một cái mỏ than– là cái mốc đối sánh để đo lường sự tiến bộ của quốc gia trên đường trở thành một xã hội cởi mở hơn, và rút cục, có năng suất cao hơn nhiều.  Nhiều người là lãnh đạo trường ĐH và giảng viên biết rằng sự kiểm soát quá đáng của nhà nước là một trở ngại; nhờ kinh nghiệm hay kiến thức về những trường ĐH vĩ đại khác, họ hiểu những trở ngại của hệ thống, nhu cầu xây dựng văn hóa nội tại về việc tự cải thiện, và vai trò trọng yếu của tự chủ trong học thuật. Đó là những vấn đề trọng yếu trong việc xây dựng một trường ĐH thực sự đẳng cấp quốc tế, và quan trọng hơn, một trường ĐH thực sự là tác nhân tạo ra thay đổi xã hội.   Liệu các trường ĐH TQ, cụ thể là các trường trong Dự án 985, sẽ là người dẫn đầu hay kẻ đi sau trong những thập kỷ sắp tới? Sự trưởng thành, những thành tựu, và địa vị của các trường ĐH TQ, cũng như ảnh hưởng của họ đối với xã hội TQ và đối với nền kinh tế, sẽ lớn mạnh rất đáng kể nếu như được cho phép.   Phạm Thị Ly dịch  Nguồn: http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20121212160450595.   (Đây là bản rút ngắn của bài báo khoa học “China Futurisms: Research universities as leaders or followers?”; in trong Social Research: An International Quarterly of the Social Sciences.)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng giáo dục      Các nhu cầu mới của xã hội tạo thành một lực đẩy lớn, đồng thời các tiến bộ mới trong khoa học và công nghệ tạo thành một lực kéo lớn, kết hợp với nhau đang tạo thành một cuộc cách mạng mới về giáo dục, có triển vọng làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của các hệ thống giáo dục trên thế giới trong một hai thập kỷ tới.      Ở đây, tôi muốn trình bày tóm tắt một số xu hướng trong cuộc cách mạng về giáo dục đang diễn ra này.  Điện tử hóa giáo dục  Các học sinh sẽ không còn phải đeo những chiếc cặp nặng chình chịch đến trường. Thay vào đó là cái “cặp điện tử” đa chức năng, vừa là sách, vừa là vở, vừa là bảng, vừa là bàn tính, vừa là sổ liên lạc, vừa là từ điển tra cứu mọi thông tin, v.v. Các bài thi viết hay khóa luận cũng sẽ đều ở dạng điện tử. Bảng to ở lớp cũng là bảng điện tử, có thể dùng để chiếu phim hoạt hình 3 chiều sinh động về các sự kiện hay khái niệm cần học, và những thứ viết lên bảng có thể lưu lại được, v.v.  Về mặt công nghệ, thế giới đã sẵn sàng cho việc điện tử hóa giáo dục này. Máy tính bảng đã trở nên rẻ và  tiện lợi đến mức có thể trang bị cho mọi trẻ em và thay thế sách vở bằng giấy. Rất nhiều thứ trong giáo dục đã và đang được điện tử hóa, từ sách giáo khoa, bài giảng, đến bài thi và chấm thi, đến thời gian biểu, v.v. Trẻ em sinh ra trong thế kỷ 21 đã được làm quen với máy tính và các công cụ thông tin hiện đại ngay từ khi còn rất nhỏ, rất dễ thích nghi với cái cặp điện tử. Những người sẽ chậm thích nghi nhất, làm cản trở quá trình cải cách,  chính là các nhà quản lý giáo dục, và các giáo viên đã nhiều tuổi không quen sử dụng những công nghệ mới này.  Các công ty công nghệ lớn như Apple hay Google, cho đến vô vàn các công ty nhỏ hơn, đang chạy đua để chiếm lĩnh thị trường giáo dục điện tử. Ở Việt Nam cũng có các công ty đi vào lĩnh vực này, ví dụ như là School@net (www.schoolnet. vn). Tham gia việc điện tử hóa giáo dục còn có các chính phủ, trường học, và các tổ chức từ thiện, phi lợi nhuận. Một ví dụ là Khan Academy (khanacademy.org) do một người Mỹ gốc Bangladesh lập nên, phục vụ hàng trăm triệu lượt học sinh từ khắp nơi trên thế giới với các bài giảng trực tuyến (online) miễn phí, và được nhận tài trợ hàng triệu USD từ quĩ từ thiện của Bill Gates.  Học từ xa trở thành hiện thực  Việc học từ xa đã tồn tại từ lâu, nhưng cho đến gần đây, việc học này vẫn luôn vấp phải vấn đề lớn về chất lượng, do người học từ xa ít có dịp được nghe giảng, thảo luận hỏi đáp, động viên đôn đốc, và kiểm tra nghiêm túc, v.v. Công nghệ thông tin đang cho phép giải quyết vấn đề chất lượng này, và tạo nên các khóa học online với chất lượng không kém gì, thậm chí có khi còn cao hơn, so với các khóa học “cổ điển”.  Thế mạnh đặc biệt của các khóa học online, là nó đến được với rất nhiều người cùng một lúc. Một ví dụ điển hình là khóa giảng trực tuyến về trí tuệ nhân tạo vào năm 2011 (https://www.ai-class.com/) ở Đại học Stanford của Peter Norvig (http://en.wikipedia. org/wiki/Peter_Norvig) và Sebastian Thrun (http://en. wikipedia.org/wiki/Sebastian_Thrun) với cùng một lúc một trăm bốn mươi nghìn (140000) sinh viên đăng ký tham dự! (Xem thêm giới thiệu ở đây: http:// www.ted.com/talks/peter_norvig_the_100_000_student_classroom.html). Càng ngày càng có nhiều các khóa giảng hay bài giảng trực tuyến như vậy, trong đủ các ngành. Việc học trực tuyến từ xa này thực sự là một bước tiến lớn trong quá trình “dân chủ hóa giáo dục, đem con chữ lên non”. Các học sinh ham học, kể cả rất nghèo và ở những vùng rất hẻo lánh xa xôi, ngày nay cũng sẽ có điều kiện tham dự các khóa học chất lượng do những chuyên gia giỏi nhất dạy, mà không hề tốn kém mấy.  Những việc liên quan đến học từ xa, như là  kiểm tra kiến thức, trả lời câu hỏi, đôn đúc học sinh, v.v. cũng được công nghệ thông tin giải quyết. Ví dụ, theo nguyên tắc “học thầy không tày học bạn”, mạng xã hội của các khóa học cho phép bất kỳ câu hỏi nào của học sinh đưa lên cũng được nhiều học sinh khác quan tâm trao đổi và cùng nhanh chóng tìm ra được câu trả lời thỏa đáng. Một trong các cách đôn thúc là bài giảng trực tuyến được chia thành nhiều khúc nhỏ, sau mỗi khúc đều có câu hỏi kiểm tra, các học sinh phải điền vào câu trả lời đúng trước khi được xem tiếp khúc sau. Việc kiểm tra liên tục từng khúc nhỏ một này khiến từng học sinh ngồi nhà phải theo dõi chú ý toàn bộ các khúc của bài giảng thay vì lên lớp ngồi ngủ gật hoặc làm việc riêng.  Tất nhiên, khi giảng viên có đến cả hàng nghìn hay hàng trăm nghìn học sinh cho một khóa giảng, thì không thể tự tay chấm hết các bài thi được, nhưng cũng đã có các cách đánh giá khác không kém phần chính xác, ví dụ qua việc cho các học sinh chấm điểm lẫn nhau theo một thiết kế nào đó. Xem chẳng hạn bài giới thiệu của Daphne Koller, một người tiên phong trong lĩnh vực giáo dục trực tuyến (https://www.coursera.org/), về vấn đề đánh giá này: http://www.ted. com/talks/daphne_koller_what_we_re_learning_from_online_education.html.  Ngay tại các trường “bình thường”, thì công nghệ thông tin và các bài giảng điện tử cũng làm giảm gánh nặng giảng bài và chấm bài của các giáo viên và nhà trường. Thời gian “thừa ra” đó có thể được sử dụng và các hoạt động khác rất có ích cho học sinh, ví dụ như làm thí nghiệm, đi thăm quan, hướng dẫn kèm cặp một cách quan tâm hơn đến từng học sinh, v.v.  Từ thần kinh học đến giáo dục  Cuộc các mạng về giáo dục không chỉ do công nghệ thông tin hiện đại đem lại, mà còn do các tiến bộ trong khoa học, đặc biệt là về thần kinh học (neuroscience), đem lại.  Trong giáo dục học, cũng như trong tâm lý học, có những lý thuyết có thể nói là thiếu cơ sở khoa học vững vàng, và thậm chí trái ngược nhau. Các tiến bộ về thần kinh học trong những thập kỷ qua  (đạt được cũng nhờ các tiến bộ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác) đang khiến người ta hiểu rõ hơn rất nhiều về cấu trúc vật lý, hóa học, nguyên tắc hoạt động và sự thay đổi của hệ thần kinh của con người, qua đó hiểu rõ hơn rất nhiều về tâm lý con người, về sự phát triển của trí tuệ, với những hệ quả vô cùng quan trọng trong giáo dục học. Từ đó có thể rút ra là những lý thuyết nào về giáo dục là khoa học, và những lý thuyết nào là giả khoa học, không đúng với thực tế. Nhờ đó, giáo dục học sẽ trở nên mang tính khoa học nhiều hơn, các chương trình giáo dục, các sách giáo khoa, v.v. sẽ được thiết kế thích hợp hơn với các nguyên tắc hoạt động và phát triển của não. Có thể hình dung là, trong tương lai gần, mảng kiến thức về thần kinh học sẽ trở thành không thể thiếu cho tất cả những người làm về giáo dục.  Ngôi trường – Phòng thí nghiệm và thực hành  Một trong các điểm yếu của nhiều trường học và chương trình giáo dục là “học gạo”, ít có thí nghiệm, thực hành, và cũng ít có sự liên quan giữa những cái học ở trong trường và những điều xảy ra bên ngoài.  Lối “học gạo” hợp với “thi gạo” nhưng không có lợi cho học sinh, vì thi xong thì chữ thầy trả thầy, chứ học sinh không hiểu được bản chất của các kiến thức và không có được kỹ năng dùng các kiến thức đó trong thực tế. Các tiến bộ mới trong công nghệ và trong giáo dục học sẽ cho phép thay đổi điều này. Các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành trong các trường học sẽ được chú trọng đầu tư nhiều hơn. Học sinh sẽ được làm thí nghiệm nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, đi thăm quan nhiều hơn, và được bổ sung thêm các kiến thức thiết thực hơn cho cuộc sống trong thế giới hiện đại của thế kỷ 21.  Điều chỉnh chương trình cho từng học sinh  Một điểm yếu khác của các lớp học hiện tại là các học sinh với các mức kiến thức và tốc độ học rất khác nhau trong một môn nào đó ngồi học cùng một bài giảng của môn đó, dẫn đến những tình trạng như kiểu 1/3 lớp thì thấy chán vì đã biết rồi, 1/3 lớp khác thấy chán vì không hiểu gì, chỉ có 1/3 lớp là thực sự hợp với bài học. Trong kinh nghiệm dạy học của tôi, thì đây là tình trạng đặc biệt hay xảy ra ở năm thứ nhất đại học của Pháp. Ở các nơi khác có thể không đến mức như vậy, nhưng luôn luôn vẫn có những học sinh ngồi “nhầm lớp”, với bài giảng quá thấp hay quá cao so với trình độ học sinh, hoặc là đúng trình độ nhưng giảng theo kiểu không thích hợp với kiểu tư duy của học sinh. Và điều này gây nên thiệt thòi cho rất nhiều học sinh.  Ví dụ như một nghệ sĩ ba lê nổi tiếng, thời trẻ đi học thì bị chê là học kém và bị “bệnh mất tập trung”, chẳng qua là vì ngồi “nhầm lớp”, khi được chuyển đến trường thích hợp hơn thì tài năng mới phát triển. Không phải ai cũng được may mắn như nghệ sĩ đó. Xem chẳng hạn một bài nói chuyện về chuyện tài năng sáng tạo bị nhà trường làm thui chột trong video sau: http://www.ted.com/playlists/24/re_imagining_ school.html.  Việc điều chỉnh chương trình học sao cho thích hợp với từng học sinh, sao cho từng học sinh học được theo nhịp độ của mình và có cơ hội phát triển tốt các năng khiếu của mình, là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội nhưng cũng hết sức khó thực hiện trên thực tế. Công nghệ thông tin và các cách tổ chức giáo dục hiện đại sẽ trở thành cứu cánh trong vấn đề này.  Học là công việc của cả đời  Từ quan điểm thần kinh học, một bộ não khỏe mạnh chính là một bộ não hoạt động nhiều, não càng hoạt động thì người càng khỏe mạnh minh mẫn cả về tinh thần lẫn thể xác. Bởi vậy, quan niệm rằng con người chỉ cần học ở độ tuổi đến trường, hay là học ở độ tuổi đi làm để lên chức hoặc chuyển việc mới, còn ngoài ra thì thôi không cần học nữa, là quan niệm sai lầm. Việc học không phải là việc dành riêng cho một độ tuổi nào đó, mà là một hoạt động của cả đời, tuy rằng tất nhiên khi còn nhỏ tuổi thì có nhiều thời gian dành cho học hơn là khi đã lớn tuổi phải đi làm. Không có độ tuổi nào là “quá muộn” cho việc học cái mình yêu thích. Kể cả những người 90 tuổi vẫn có thể tìm hiểu học hỏi những cái gì đó, không phải là để “làm cái gì”, mà là vì bản thân việc học đó giữ cho con người được mạnh khỏe, vui vẻ, minh mẫn, yêu đời, và văn minh hơn. Ở một số nơi tiên tiến trên thế giới, việc “học cả đời” này đã trở thành thực tế, nhiều người đã về hưu cũng đi học đại học. Các tiến bộ về công nghệ sẽ cho phép việc học cả đời này có thể được lan rộng ra trên toàn thế giới.  Ngôn ngữ chung của toàn thế giới  Khi toàn thế giới trở thành một “ngôi làng chung”, thì cũng cần có ngôn ngữ chung. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên giữa các thứ tiếng, tiếng Anh đã thắng cuộc. Không phải vì người Anh hay người Mỹ cố tình muốn vậy (suýt nữa thì tiếng Đức trở thành tiếng chính thức của nước Mỹ thời nước này mới độc lập), mà có nhiều sự tình cờ trong quá trình phát triển thế giới tạo ra thành như vậy. Ở Trung Quốc, chính sách hiện tại bây giờ cũng là mọi học sinh đều học tiếng Anh. Họ thậm chí tổ chức các lớp học tiếng Anh ngoại khóa ở sân vận động, với cùng một lúc hàng nghìn người học nói theo một người. Ngay ở nước Pháp, là một nước luôn tự hào về nền văn hóa tiếng Pháp rất lớn, các chương trình cao học cũng đang được chuyển dần từ tiếng Pháp sang tiếng Anh để có thể thu hút được các học sinh quốc tế. Hệ quả tất yếu của xu hướng này là, tiếng Anh sẽ trở thành thứ tiếng thứ hai (sau tiếng mẹ đẻ) của hầu hết trẻ em trên thế giới, và trẻ em sẽ được học tiếng Anh ngay từ lúc mới đi học. Các tiến bộ về công nghệ cũng giúp cho việc phổ cập tiếng Anh trở nên thuận tiện hơn rất nhiều so với cách đây chỉ có 20 năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mạng giáo dục nhìn từ Đài Loan      Giáo dục của Đài Loan cách đây 30 năm gần  như giống hệt nền giáo dục chúng ta hiện nay. Nhưng chỉ sau 15 năm cải  cách, họ đã làm cả thế giới kinh ngạc.    Về bậc tiểu học, Đài Loan (ĐL) thuộc về 10 nước thành công nhất trên thế giới. Ở cấp trung học, ĐL xếp hàng thứ 4 (5) trong bảng đánh gía của PISA (2013). Trong bậc đại học, hiện nay có tới 96% học sinh sau trung học tiếp tục bậc đại học. Trong các bảng xếp hạng của THES và QS, tuy ĐL tương đối nhỏ bé (cả diện tích lẫn dân số), nhưng vẫn có mặt trong tốp 100 đại học hàng đầu thế giới – National Taiwan University (NTU – ĐH Quốc Gia Đài Loan) xếp trong khoảng 51-60 – và gần 20 đại học xếp trong số 500 đại học hàng đầu thế giới.  1. Mục đích của giáo dục không thể tách rời khỏi những cuộc cách mạng chính trị và kinh tế, hay tôn giáo, nhưng nó không đồng nhất với những cuộc cách mạng trên; đồng thời mục đích của giáo dục khác với mục đích của chính trị, tôn giáo, kinh tế, do vậy, phương thế giáo dục cũng không đồng nhất với đường lối của các cuộc cách mạng khác.           Tại đại học, sinh viên có quyền nhận xét  chấm điểm giảng viên, tham dự vào nhiều sinh hoạt của khoa, viện, đại  học… gồm cả những hoạt động quan trọng và có tiếng nói trong việc chọn  hiệu trưởng, viện trưởng, giảng viên, chủ nhiệm, vân vân…          ĐL ý thức được sự khác biệt này khi họ tách giáo dục ra khỏi chính trị, và tổ chức khiến các cơ quan giáo dục có thể độc lập không bị giới quan chức (trung ương và địa phương) lũng đoạn. Luật giáo dục, luật giáo viên và những bộ luật liên quan ra đời nhắm bảo vệ sự độc lập này.  Cách mạng giáo dục bắt đầu với việc đặt lại chính mục đích giáo dục. Chính con người, hay gần hơn, con người đi học, mới là mục đích giáo dục. Người học vì chính mình chứ không phải vì ai khác. Cái học cho gia đình, cho nhà nước, cho đảng phái hay giáo hội không còn là mục đích chính nữa. Tương tự, người công tác giáo dục, hay người đem kiến thức đến cho người học là những cộng tác viên, chứ không giữ vai trò chính yếu như thấy trong nền giáo dục hiện nay của Việt Nam. Chỉ khi đã xác định mục đích, thì sau đó giáo dục mới nhắm đến phương thế, và từ phương thế tìm ra phương pháp, kỹ thuật để đạt tới mục đích chính. Nói cách khác, phương thế, phương pháp, kỹ thuật chỉ là những mục tiêu mang tính cách công cụ và tạm thời (instrumental purposes) thuộc tầm chiến thuật nhiều hơn.   Sự thành công của bất cứ nền giáo dục nào cũng phải được đánh gía bằng chính cái kết qủa, tức đạt tới mục đích chính, đó là người học: làm thế nào để học sinh tự có khả năng sống, khả năng giao tiếp, và khả năng tự phát triển hoàn thiện. Từ nhận định như vậy, hệ thống giáo dục xứ Đài được đa diện hóa, đa nguyên hóa để cho mỗi học viên có thể lựa chọn tùy theo mục đích, ý thích lựa chọn của họ. Các đại học được tự do cạnh tranh, mở những môn học thích hợp, và chọn lựa mục đích đeo đuổi của họ. Tài chánh được phân chia hợp lý hơn, công bằng hơn. Mọi người công dân đều có quyền được trợ cấp. Học sinh trường công hay tư 12 năm bắt buộc, đều miễn phí. Tại đại học, hay cao đẳng, sinh viên trường công cũng như tư đều được trợ cấp một phần học phí. Nhà nước giám sát học phí, giữ lại ở mức thấp nhất để mọi con em có thể theo học. Cần phải nói, đó là học phí ở xứ Đài rất thấp (so cả với Việt Nam, nếu tính theo thu nhập bình quân). NTU, tuy xếp hạng trong khoảng 51-60 trên thế giới, nhưng học phí chỉ bằng 1/20 của những đại học cùng hạng bên Mỹ, Nhật hay ngay bên Hồng Công. Cần phải nói thêm, con cái của cán bộ, giáo viên, binh sĩ, cảnh sát, bưu điện, vân vân… và của những gia đình thu nhập thấp đều được trợ cấp học phí hoàn toàn.   2. Lấy học sinh làm chủ thể của giáo dục          Cách mạng giáo dục bắt đầu khi nhận ra tính  sai lầm của mục đích và phương pháp cũ. Do vậy, cách mạng giáo dục (hay  trong trường hợp nhẹ hơn, mà chúng ta gọi là cải cách) đòi buộc hoặc  phải phá bỏ quan niệm, mục đích, và phương pháp cũ, phải sửa sai, định  hướng và tìm kiếm những phương pháp mới để cải tiến nền giáo dục cũ.         ĐL giảm các sức ép lên học sinh. Thi cử được đa dạng hóa, và giảm bớt những nội dung không cần thiết, tăng thêm nhiều kỳ tuyển sinh, trao lại cho đại học quyền tự tuyển sinh. Những môn học gần gũi với đời sống hơn. Ngôn ngữ mẹ đẻ được khuyến khích, và nhà nước trợ cấp các trường học mở những khóa ngoại ngữ cho những học sinh trong gia đình dị chủng hay khác ngôn ngữ (Đã có nhiều lớp Việt ngữ trong nhiều trường tiểu học và trung học cho con em những gia đình Đài-Việt). Vì chú ý đến con người toàn diện, nên giáo dục thể lực, giáo dục giao tiếp, giáo dục nghệ thuật… cũng rất được chú trọng. Bất cứ trường học nào cũng có sân vận động, hồ bơi, giáo viên thể dục, giáo viên nghệ thuật, âm nhạc1…  Học sinh, sinh viên đều có tiếng nói của họ. Tại đại học, sinh viên có quyền nhận xét chấm điểm giảng viên, tham dự vào nhiều sinh hoạt của khoa, viện, đại học… gồm cả những hoạt động quan trọng và có tiếng nói trong việc chọn hiệu trưởng, viện trưởng, giảng viên, chủ nhiệm, vân vân…  3. Là “đồng chủ thể”, giáo viên, giảng viên tự điều hành khoa, viện, trường. Họ bầu ra các Ủy ban điều hành, giám sát. Họ quyết định sinh hoạt chính của khoa, viện, trường. Họ có quyền quyết định nhân sự, thăng chức, vân vân. Chủ nhiệm khoa chỉ mang tính đại biểu, và chỉ có 1 phiếu trong Ủy ban. Quyền hành của hiệu trưởng bị hạn chế. Có lẽ, hiệu trưởng là người mang rất nhiều trách nhiệm nhưng lại rất ít quyền lực. Bộ Giáo dục hoàn toàn không có quyền chen vào trong nhà trường. Các đảng phái chính trị, tổ chức tôn giáo… hoàn toàn bị cấm sinh hoạt trong bất cứ nhà trường nào.  4. Một lớp học tự chủ, trọng con người  Đài Loan, chuyển mình từ một xã hội đóng kín, độc đảng, bảo thủ… qua một xã hội mở, đa nguyên với người dân là chủ thể đích thực. Tương tự, giáo dục ĐL cũng chuyển mình, từ lối học khoa cử, từ chương, bắt chước, thụ động sang một lối học tự chủ, trọng năng lực sáng tạo, cởi mở, đa nguyên và nhất là trọng con người hơn. Sự chuyển đổi tương đối thành công, không tạo ra bất an, hay bạo lực. Giống như thành công trong kinh tế và chính trị, giáo dục ĐL hôm nay đã có một chỗ đứng đáng nể ở Á châu, và trên thế giới. Công nghệ, kỹ thuật, cũng như khoa học của xứ Đài đã được trọng thị, và đương đóng góp một phần rất quan trọng vào sự “phát triển trong ổn định” của xứ Đài.   5. Chính sách tài chính   Một yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển giáo dục ĐL là ĐL đầu tư gần tới 2% của GDP cho giáo dục đại học (1.93% cho năm 2008), và số tiền đó được phân phát “công bằng” cho mọi sinh viên (học phí tại trường công hay tư đều rất thấp, và không cách biệt lắm. Vì tất cả tư hay công đều được nhà nước trợ cấp từ 2.000- 4.000 USD cho mỗi đầu sinh viên. Những sinh viên xuất sắc, con nhà nghèo, hay con cái giới công chức, quân nhân, giáo viên, bưu điện… đều được học bổng trợ cấp tiền học). Lí do, số tiền có được là do mọi người dân đóng thuế, do đó mọi người đều có quyền được phân chia một cách công bằng. Chính vì vậy mà tuyệt đại đa số học sinh sau trung học đều tiếp tục học đại học, hay sau đại học2.  Và đây cũng là một nguyên do về sự thành công của ĐL trong đào tạo nhân tài.  ***  Sự thành công giáo dục của Nhật, rồi Đại Hàn, và những nước thuộc vùng Đông Á khiến chúng ta phải suy nghĩ. Hình như có một đặc tính gì chung giữa các nước này. Có lẽ không ít người sẽ đặt câu hỏi, tại sao Đài Loan, Nhật, Đại Hàn, Hương Cảng và Tân Gia Ba nhưng không phải là Việt Nam, một nước có nhiều nhân tài và cùng nền văn hóa Đông Á như họ?   —  1 Tại Đài Loan với 23 triệu dân họ có trên 30 âm nhạc viện. Rất nhiều đại học đều có Khoa âm nhạc, và dàn nhạc giao hưởng. Nổi tiếng có ĐH Sư Phạm ĐL, ĐH Đông Ngô, ĐH Văn Hóa, ĐH Phụ Nhân, ĐH Đông Hải, ĐH Nghệ Thuật (hầu hết là tư thục). Bất cừ trường nào từ tiểu học đến đại học cũng có hồ bơi, sân vận động.   2 ĐHQGĐL (NTU) là trường công với khoảng 30.000 sinh viên (15.000 cấp đại học, 15.000 cấp nghiên cứu), và với diện tích trên 36.500 ha đất (365 km vuông). NTU chưa phải là trường có tỉ lệ nghiên cứu sinh cao nhất ở Đài Loan.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách giáo dục đòi hỏi sự kiên nhẫn      TS Nguyễn Thụy Phương và Nguyễn Thúy Uyên Phương đã thực hiện dự án nghiên cứu về lịch sử Giáo dục mới tại Việt Nam và tái hiện chân dung của những người tiên phong thể nghiệm Giáo dục mới cũng như bối cảnh giáo dục Việt Nam giai đoạn những năm 1940. Chúng tôi đã có dịp trao đổi với hai chị xung quanh hành trình và những trăn trở đã thôi thúc những người tiên phong đó tìm kiếm một triết lý giáo dục khai phóng, tự do.      Tia Sáng: Cơ duyên nào khiến các chị tiến hành làm dự án nghiên cứu lại về lịch sử của Giáo dục Mới ở Việt Nam này?  Nguyễn Thúy Uyên Phương: Chúng tôi vẫn thường nói với nhau rằng dự án này là một “hành trình không định trước”, vì nó xảy ra hết sức tình cờ. Trong một lần nói chuyện với Nguyễn Thụy Phương, chị kể cho tôi nghe về một nhân vật mà chị đang nghiên cứu – giáo sư Nguyễn Phước Vĩnh Bang, từng là cộng sự đắc lực của Jean Piaget ở Đại học Geneva và là người mở trường mẫu giáo đầu tiên theo Giáo dục Mới của người Việt. Khi nghe câu chuyện ấy, tôi cảm thấy hết sức hứng thú vì là người thực hành và mở trường theo Giáo dục Mới đã nhiều năm mà tôi hoàn toàn chưa được nghe về nhân vật này. Và càng khám phá nhiều hơn về ông, cả hai chúng tôi lại càng cảm thấy vô cùng ngạc nhiên lẫn bối rối vì nếu như nhân vật người Việt này nổi tiếng ở Geneva bao nhiêu thì chính cộng đồng giáo dục Việt Nam lại không một ai biết gì về ông.  Động cơ lớn nhất khiến chúng tôi bắt đầu hành trình “khai quật” này, có lẽ là từ cảm giác đơn độc của chính mình khi theo đuổi các triết lý giáo dục mới. Nên khi biết được trên con đường này đã có dấu chân của các bậc tiền nhân đi trước, tôi cảm thấy mừng lắm, rằng mình không lẻ loi đơn độc nữa. Tôi nghĩ rằng nhiều người làm giáo dục khác cũng đang có cảm giác ấy, nên nếu câu chuyện này được kể một cách rộng rãi, nó sẽ là một nguồn cảm hứng, một sự động viên rất lớn để cộng đồng giáo dục tiến bộ vững tin hơn với sự chọn của mình.    Từ phải qua: Chị Nguyễn Thụy Phương, Nguyễn Thúy Uyên Phương Phỏng vấn GS Pascal Zesiger – Hiệu trưởng trường Tâm lý giáo dục, ĐH Geneva. Ảnh: NVCC. Các chị có thể cho biết những kết quả, sản phẩm cụ thể của dự án ?   Nguyễn Thúy Uyên Phương: Chúng tôi đã mất gần hai năm để lần dò lại vết chân của những người tiên phong từ Pháp, Thụy Sỹ sang đến Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn; xoay đủ mọi cách để tìm lại những nhân chứng còn lưu giữ ký ức về giai đoạn đó. Nhưng trong suốt quá trình thực hiện dự án, chúng tôi luôn cảm thấy một sự may mắn kỳ lạ, như thể là có “các cụ” đi theo phù hộ, bởi gõ đến đâu là cửa mở đến đó. Và một dự án nghiên cứu thế này không dễ xin được tài trợ, vậy mà chúng tôi cũng lại có được sự ủng hộ một cách vô vị lợi, nhiệt thành từ các mạnh thường quân.  Điều chúng tôi trăn trở nhất, là làm sao để những nghiên cứu từ dự án không chỉ là một công trình học thuật nằm trong “tháp ngà” mà phải chạm được đến công chúng, đặc biệt là tới các bậc cha mẹ trẻ, các giáo viên trẻ. Nên chúng tôi quyết định chọn những cách thức mới mẻ, hiện đại, dễ tiếp thu để phổ biến các kết quả của dự án ra cộng đồng. Sẽ có 2 cuốn sách được xuất bản, một cuốn viết dưới dạng du khảo kể về trường Bách Thảo cũng như các mô hình trường lớp nuôi dạy trẻ vào những năm 1940; cuốn còn lại có sự cộng tác viết của giáo sư Đại học Geneva để tóm tắt về triết lý chính và các nhà tư tưởng thuộc phong trào Giáo dục Mới cho những ai muốn bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về phong trào này. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sản xuất một bộ phim ngắn có tựa đề “Giáo dục Mới và Các nhà tiên phong tại VN” cho những ai…lười đọc, và còn tổ chức một chuỗi hội thảo, chương trình học dành cho các bậc cha mẹ để giúp họ hiểu Giáo dục Mới là gì và làm sao để nhận biết đâu là trường có phương pháp tiến bộ, phù hợp với con mình.         Làm giáo dục, dù ở bất kỳ vai trò hay cương vị gì, thì phải có mục đích nhân văn, một quyết tâm và tầm nhìn dài hạn và quy tụ những người cùng chính hướng để thực thi.        Qua hai chị, chúng tôi được biết về những thể nghiệm của GS Vĩnh Bang và các cộng sự về Giáo dục mới ở trường Bách Thảo. Về triết lý giáo dục của Bách Thảo – hẳn là mang nội hàm của mô hình Giáo dục Mới, nhưng có những tư tưởng riêng mà Bách Thảo muốn nhắm tới cho những học sinh người Việt trong bối cảnh thời Pháp thuộc đó không?  Nguyễn Thụy Phương: Điểm duy nhất trong lập thuyết sư phạm mầm non của Vĩnh Bang gắn với Việt Nam, đó là việc ông lưu tâm đến những điều kiện khách quan (như thời tiết) mà ông gọi là “Trẻ em Việt Nam – đặc điểm và đặc tính –  quê chợ và thôn quê”, đến điều kiện và hoàn cảnh của gia đình. Còn nhà thể nghiệm sư phạm giáo dục Vĩnh Bang không phân biệt trẻ Việt với trẻ Tây ở phương Tây, nơi được thụ hưởng trực tiếp Giáo dục Mới, trên phương diện trí tuệ, nhân cách hay thể chất. Theo chúng tôi, đây thực sự là một quan điểm cấp tiến ở thời điểm đó. Bởi lẽ, trẻ em là nguồn gốc trong sáng và là bản thể sơ khai của nhân loại, không nên phân biệt trẻ bằng “thước đo” văn hóa, chủng tộc, đặc trưng xã hội của người lớn. Một cách lý tưởng, vai trò và trách nhiệm của nhà giáo dục là hướng trẻ đến những giá trị phổ quát của nhân loại.  Thật đáng tiếc là trường Bách Thảo chỉ tồn tại được trong một thời gian rất ngắn, chỉ trong 2 năm. Vậy đâu là nguyên nhân khiến Bách Thảo cũng như Giáo dục Mới ở Việt Nam bị “lãng quên”?Nguyễn Thụy Phương: Trước hết, phong trào sư phạm Giáo dục mới phải chịu một cú đòn giáng ngăn cản sự phát triển và lan tỏa là cuộc đại chiến thế giới thứ hai. Bách Thảo cũng chịu cảnh tương tự ở Việt Nam. Chúng ta thừa hiểu rằng mọi cải cách hay thể nghiệm giáo dục hay sư phạm đều cần thời gian đầu tư và tiến hành, thời gian đó thậm chí tối thiểu phải là 12 năm, đủ dài như đời đi học, thì chúng ta mới có thể đánh giá kết quả của cả quá trình đó. Mọi biến động từ đời sống xã hội như chiến tranh, bao loạn đều tác động tiêu cực đến giáo dục. Cuốn sách tôi viết ra trong khuôn khổ dự án này hé mở cho bạn đọc rằng thực ra vẫn có những nỗ lực của những người khác, từ cả cá nhân lẫn chính thể, tiếp thu trực tiếp hoặc gián tiếp giáo dục mầm non theo phương pháp Giáo dục mới, nhưng quả là chiến tranh đảo chiều mong muốn. Nguyễn Thúy Uyên Phương: Thực ra thì cũng không hẳn là Giáo dục Mới bị mất hẳn ở Việt Nam kể từ sau Bách Thảo mà đây đó vẫn có những người thực hành và những ngôi trường mang hơi hướng này, tuy nhiên phần nhiều là tự phát hơn là dựa trên một nền tảng, chủ trương rõ ràng. Có thể sau chiến tranh, xã hội tập trung vào chuyện vực dậy đời sống kinh tế nhiều hơn đầu tư cho giáo dục. Đặc biệt là giáo dục tuổi đầu đời lại càng bị “bỏ lơ” vì phần lớn mọi người vẫn cho rằng trẻ nhỏ dưới 6 tuổi chưa có mấy năng lực nhận thức, chỉ cần cho ăn cho ngủ, chăm giữ tốt là đủ. Phần lớn cha mẹ gửi con đến trường mẫu giáo cũng chỉ quan tâm đến chuyện con ăn gì, cân nặng ra sao hơn là phương pháp, triết lý giáo dục của ngôi trường đó thế nào. Thành ra, rất nhiều người thực hành Giáo dục Mới trong giai đoạn sau này là xuất phát từ đam mê cá nhân rồi tự mình mày mò, thể nghiệm và còn phải đi thuyết phục ngược lại cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục cho trẻ ở tuổi đầu đời.  Sau giai đoạn hội nhập, đời sống kinh tế khá lên nhiều thì lại bắt đầu xuất hiện một khao khát đầu tư cho con những gì được cho là tốt nhất, đẳng cấp nhất, đặc biệt là trong tầng lớp trung thượng lưu. Đấy là lúc mà những cái tên của Giáo dục Mới bắt đầu quay lại Việt Nam và những ngôi trường treo bảng giáo dục mới như Montessori, Steiner, Reggio Emilia… bắt đầu nở rộ. Nói là “treo bảng”, vì bên cạnh những trường thực sự theo đuổi Giáo dục Mới thì vẫn có những trường chỉ xem đó như một cái tên lấp lánh để phụ huynh chịu đóng học phí cao hơn là chính. Cũng nhiều cha mẹ chỉ biết tin rằng mình bỏ nhiều tiền hơn thì con sẽ được thụ hưởng sự giáo dục tốt hơn mà không hiểu bản chất hay biết cách kiểm chứng chất lượng thực sự như thế nào.     GS Vĩnh Bang (giữa) và người thầy GS Jean Piaget. Ảnh: Lưu trữ gia đình GS Vĩnh Bang. Việc Bách Thảo và GS Vĩnh Bang bị chìm đi trong dòng lịch sử giáo dục và lịch sử Việt Nam cho thấy sự đứt gãy trong việc theo đuổi triết lý giáo dục tân tiến một cách liên tục, và dường như số phận của những tư tưởng cải cách, canh tân thật sự … khó có chỗ đứng.   Nguyễn Thụy Phương: Quả thật chúng ta không thể kiểm soát được ngoại cảnh. Có thể nó quá cấp tiến, cần đầu tư cơ sở vật chất tốn kém, cần phải có đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên biệt… nên khó áp dụng ở diện rộng, đại trà?! Mà phải chăng các thể nghiệm này ở Việt Nam hay ngoại quốc đều dành cho con cái giới trung lưu, tinh hoa hơn là cho đại chúng?!  Nhưng điều quan trọng, theo tôi đó là làm trong giáo dục, dù ở bất kỳ vai trò hay cương vị gì, thì phải có mục đích nhân văn, một quyết tâm và tầm nhìn dài hạn và quy tụ những người cùng chính hướng để thực thi. GS Vĩnh Bang và các cộng sự thể nghiệm giáo dục trong bối cảnh đất nước bị trị, tức là ngoại cảnh không hề thuận lợi. Nhưng ông và thế hệ đó vẫn ao ước và quyết tâm sự nghiệp “trồng người”. Hoàng Đạo Thúy, một người anh cả của đại diện nhóm trí thức hướng đạo sinh đó, còn xác định vị trí và vai trò của trí thức trẻ, đó là “làm thầy” như cách ông lập ngôn trong cuốn sách “Người thầy”, ra mắt độc giả năm 1944.   Nguyễn Thúy Uyên Phương: Tôi nghĩ rằng, làm những việc chưa ai từng làm, đi những con đường chưa ai từng đi thì bao giờ cũng khó. Nhất là trong bối cảnh một xã hội có quá nhiều xáo trộn như ở Việt Nam thì những việc mang tính chất cải cách lại càng khó và đòi hỏi sự kiên nhẫn vô cùng lớn, có khi là để thành toàn thì phải mất vài ba thế hệ. Nhưng nếu ai cũng thấy khó mà không bắt tay vào thì vĩnh viễn không có điểm bắt đầu, không có gì để lại cho người sau nối tiếp. Dù chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn ngủi, nhưng không phải vì thế mà trường Bách Thảo hay những gì mà các nhà tiên phong như Giáo sư Vĩnh Bang đã làm là vô ích. Trong lịch sử cũng có một ngôi trường khác chỉ tồn tại có 9 tháng là trường Đông Kinh Nghĩa Thục mà dấu ấn nó để lại cũng hết sức to lớn đấy thôi. Và đến hôm nay, những thế hệ đi sau như chúng ta lại nhắc về Bách Thảo, về Vĩnh Bang và tiếp tục viết tiếp câu chuyện của những nhà tiên phong ấy, càng chứng tỏ là mỗi nỗ lực cải cách đều có giá trị đóng góp riêng của nó trong dòng chảy lịch sử.  Xin quay lại một chút về dự án nghiên cứu này của các chị. Sau dự án này, dự định của các chị là gì? Nguyễn Thúy Uyên Phương: Chúng tôi mong muốn sẽ tìm được cách bền vững, dài hơi để phổ biến những sản phẩm của dự án rộng rãi hơn nữa đến với cộng đồng, không chỉ những giới nghiên cứu hay giới thực hành giáo dục như chị Thụy Phương và tôi, mà cả những người làm gia mẹ hay bất kỳ ai quan tâm đến giáo dục con trẻ. Tôi vẫn thường có cảm giác chạnh lòng mỗi khi thấy những cuốn sách, những tác phẩm rất hay và rất quan trọng cho người làm giáo dục chỉ được biết đến trong một nhóm ít ỏi. Chúng tôi hy vọng rằng dự án này sẽ vượt qua được giới hạn đó.  Cảm ơn hai chị về cuộc trò chuyện!Bảo Như thực hiện    Giáo dục mới là một quan điểm đặt trẻ em vào trung tâm của hệ thống giáo dục và coi trẻ em như một chủ thể vận động trong sự phát triển tự nhiên của chúng trên bình diện thể chất, tinh thần và trí tuệ. Quan điểm này đã được nhen nhóm vào thế kỷ 18, đặc biệt thông qua ngòi bút của Jean-Jacques Rousseau trong cuốn Emile hay là về giáo dục (1762), thể hiện một tinh thần tiên phong và khai phóng vì ông cho rằng cần phải có phương pháp giáo dục tôn trọng trẻ em và bản chất của trẻ. Tư tưởng này của Rousseau chỉ thực sự thiết lập và phát triển thành một tư tưởng giáo dục, một phong trào canh tân sư phạm mang tầm quốc tế từ cuối thế kỷ 19 trở đi và để đến đầu thế kỷ 20, người ta bắt đầu định danh đó là “thế kỷ của trẻ em”, như tiêu đề cuốn sách của Ellen Key (1899), một thế kỷ hướng đến sự am hiểu và bảo vệ trẻ em. Trên phương diện thực hành sư phạm, chúng ta chứng kiến một loạt mô hình trường học kiểu mới, mang tên trường học chủ động, được đưa vào hoạt động tại châu Âu và Mỹ: tại Pháp, Edmond Demolins lập Ecole des Roches (1899), Cecil Reddie mở Abbotsholme School (1889) tại Anh, Gustav Wyneken mở trường Wikerdorf (1906) ở Đức, tại Ý Maria Montessori mở Casa dei Bambini (1904), ở Thụy Sĩ, Édouard Claparède lập Maison des Petits (1913),… Phương pháp dạy ở những trường học kiểu mới này hướng đến việc học thông qua thực hành và khả năng tự quản (self-government). Thời kỳ vàng son của phong trào canh tân sư phạm này diễn ra vào giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến thông qua sự thiết chế hóa phong trào ở tầm quốc tế với sự ra đời của Văn phòng Quốc tế Trường học Mới (Bureau international des Ecoles nouvelles, 1899), Liên minh Quốc tế vì nền Giáo dục Mới (Ligue internationale pour l’Education Nouvelle, 1921) nơi hội tụ những nhà giáo dục, nhà khoa học và giới trí thức.   Giáo dục mới thực sự là một thuyết nhật tâm của Kopernik trong ngành sư phạm vì nó “dám” đảo ngược và đổi chiều tư duy giáo dục truyền thống. Trường học phải thích ứng trước nhu cầu và mối quan tâm, sở thích, hứng thú của học sinh, nhà trường phải là nơi vừa học vừa hành và môi trường hợp tác và tương tác giữa học sinh với nhau và giữa giáo viên với học sinh. Giáo dục phải tự nhiên, gắn với đời thực, chuẩn bị hành trang vào đời, giáo dục phải dạy lòng vị tha và tôn trọng sự khác biệt. Đồng thời, phong trào này là một cuộc tái tư duy và tái định nghĩa về mục tiêu của giáo dục, về quan niệm về trẻ em, về chức năng của nhà trường, vai trò của người dạy và về phương pháp và giáo cụ sư phạm.  TS Nguyễn Thụy Phương     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách giáo dục từ dưới lên      Cải cách giáo dục, dưới góc độ lịch sử, có  thể được chia làm hai loại: cải cách từ trên xuống và cải cách từ dưới  lên. Cải cách giáo dục từ trên xuống được hiểu là cuộc cải cách xuất  phát từ phía nhà nước – các cơ quan quản lý giáo dục, đứng đầu là Bộ  Giáo dục và Đào tạo, thông qua các chính sách và chỉ đạo có tính chất  hành chính, bắt buộc. Trái lại, cải cách giáo dục từ dưới lên được tiến  hành bởi các giáo viên ở các trường học và bằng các “thực tiễn giáo  dục”.     “Thực tiễn giáo dục” là gì?  Có thể hiểu một cách đơn giản rằng “thực tiễn giáo dục” là tất cả những gì người giáo viên thiết kế, tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn như một vài tiết học khi thực hiện một chủ đề học tập, trong một học kỳ, một năm học hoặc cũng có thể là cả quãng đời dạy học, và thu được ở hiện trường giáo dục. Các thực tiễn giáo dục là kết quả tự chủ và sáng tạo của giáo viên trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu giáo dục, chương trình khung, SGK, tình hình thực tế của nhà trường, học sinh. Thực tiễn giáo dục có thể không hoàn toàn trùng khớp hay chỉ là sự minh họa, diễn giải những gì được trình bày trong SGK, nó là sản phẩm của sự sáng tạo mang đậm dấu ấn của giáo viên, của ngôi trường họ đang dạy học. Chính vì vậy, thực tiễn giáo dục thường được gọi bằng cái tên gắn liền với ngôi trường hoặc người giáo viên sáng tạo ra nó.   Vai trò của “thực tiễn giáo dục”  Có thể coi thực tiễn giáo dục là một con đường đi giữa những chỉ đạo về nội dung và phương pháp giáo dục của cơ quan hành chính giáo dục và tình hình thực tế trường học nhằm đi đến cái đích là “mục tiêu giáo dục”. Đây là nơi thể hiện tài năng nghề nghiệp của giáo viên. Khi thiết kế và thực thi thực tiễn giáo dục, giáo viên phải xử lý một cách khéo léo nhất mối quan hệ giữa chương trình, SGK, mục tiêu giáo dục, yêu cầu thực tế của xã hội, nguyện vọng của phụ huynh, nhu cầu truy tìm chân lý nội tại của học sinh và tình hình thực tế của nhà trường, địa phương.   Bằng việc thiết kế và thực hiện các thực tiễn giáo dục có tính độc lập tương đối và mang tính sáng tạo cao, các giáo viên sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực ở ngay hiện trường giáo dục. Hàng ngàn, hàng vạn thực tiễn giáo dục như vậy khi hợp lại, với hiệu quả cộng hưởng, sẽ làm nên cuộc “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, các cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống cho dù ban đầu có quy mô đến bao nhiêu đi nữa thì về sau nó cũng dần dần nguội lạnh. Vì vậy, các cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên với vô vàn các thực tiễn giáo dục vừa có tác dụng thúc đẩy, duy trì vừa có tác dụng điều chỉnh cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống. Nói cách khác, trong cuộc cải cách giáo dục, người giáo viên sẽ không chỉ đóng vai trò như một người thợ, một người thừa hành thuần túy mà họ, bằng lao động nghề nghiệp giàu tính chủ động, sáng tạo, thấm đẫm tinh thần tự do, sẽ dẫn dắt giáo dục đi đúng hướng và thực hiện mục tiêu giáo dục.   Ở phạm vi hẹp hơn, các thực tiễn giáo dục còn tạo cơ hội cho các giáo viên trong trường học và các đồng nghiệp xa gần trao đổi chuyên môn thực sự. Thực tiễn giáo dục được ghi chép, tổng kết lại cũng sẽ là những tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu.   “Thực tiễn giáo dục” được ghi lại như thế nào?  Tiến hành các thực tiễn giáo dục là công việc thường xuyên của giáo viên. Đó là sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Tuy nhiên, công việc của giáo viên không chỉ dừng lại ở việc thiết kế và tiến hành các thực tiễn giáo dục. Giáo viên cần ghi lại, tổng kết các thực tiễn giáo dục của bản thân và công bố chúng. Thông thường, một thực tiễn giáo dục ở quy mô nhỏ (thường là một chủ đề học tập với dung lượng ba đến bảy tiết học) được ghi lại với cấu trúc sau:   + Tên “thực tiễn giáo dục”: Có thể trùng với tên của chủ đề học tập hoặc tên riêng thể hiện mục tiêu, phương châm giáo dục của giáo viên.   + Thời gian-địa điểm: Ghi rõ ràng, chính xác thời gian bắt đầu, kết thúc, địa điểm tiến hành thực tiễn (trường, địa phương, lớp).   + Đối tượng: Học sinh lớp mấy, số lượng, đặc điểm học sinh.   + “Giáo tài”: Tài liệu dùng để giảng dạy và “chuyển hóa” nội dung giáo dục thành nội dung học tập của học sinh.   + Mục tiêu của “thực tiễn” (chủ đề học tập): Về tri thức (hiểu biết), kĩ năng, mối quan tâm, hứng thú, thái độ…  + Kế hoạch chỉ đạo (giáo án): Bao gồm các chỉ đạo cụ thể của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.   + Quá trình thực hiện: Ghi lại khách quan, trung thực và đầy đủ tối đa về diễn tiến của thực tiễn trong thực tế, chú trọng các phát ngôn và hành động của giáo viên và học sinh.   + Hồ sơ giờ học: Tập hợp các cảm tưởng, bài viết, bài kiểm tra, ghi chép của học sinh, sản phẩm của học sinh tạo ra trong thực tiễn…  + Tổng kết thực tiễn: Giáo viên tự đánh giá về thực tiễn trong tham chiếu với mục tiêu đặt ra và những điểm cần lưu ý rút ra cho bản thân.   + Phụ lục: Tài liệu sử dụng hoặc liên quan đến thực tiễn.Các thực tiễn giáo dục khi đã được “văn bản hóa” như trên có thể được trao đổi thông qua các buổi thuyết trình, thảo luận chuyên môn hoặc công bố trên các tập san, tạp chí. Gần đây, với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật số, giáo viên có thể ghi lại thực tiễn giáo dục bằng hình ảnh.   Cơ hội tiến hành các thực tiễn giáo dục ở Việt Nam  Ở Việt Nam, do nhiều yếu tố trong đó có sự tồn tại quá lâu của cơ chế “SGK quốc định” (một chương trình – một sách giáo khoa), các thực tiễn giáo dục với ý nghĩa như vừa phân tích ở trên gần như không tồn tại. Sự giống nhau từ nội dung, phương pháp đến tài liệu giảng dạy, ngày giờ tiến hành của các bài học trên cả nước là biểu hiện cụ thể cho hiện thực đó. Nhận thức của giáo viên về thực tiễn giáo dục và vai trò chủ động, sáng tạo khi tiến hành các thực tiễn giáo dục cũng là một vấn đề đang được đặt ra.   Tuy nhiên, bằng việc chấp nhận cơ chế “một chương trình – nhiều sách giáo khoa” trong cuộc cải cách giáo dục đang tiến hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên tiến hành các thực tiễn giáo dục. Đây là “cơ hội vàng” cho các giáo viên ở hiện trường giáo dục thực thi và tổng kết các thực tiễn. Các thực tiễn giáo dục sẽ trở thành chủ đề của các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc được công bố trên các tạp chí có liên quan. Các blog cá nhân của giáo viên hay website của các trường phổ thông cũng có thể là nơi công bố các thực tiễn giáo dục. Sự phong phú của các thực tiễn giáo dục sẽ tạo ra sinh khí cho các trường học và đem đến niềm vui cho cả giáo viên và học sinh. Bằng việc tiến hành hàng ngàn, hàng vạn các thực tiễn giáo dục trên cả nước, cải cách giáo dục từ dưới lên nhất định sẽ thành công, góp phần tạo ra những người công dân mơ ước có tư duy độc lập và tinh thần tự do.             Thực tiễn từ Nhật Bản  Ở  Nhật Bản, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhà nước thực hiện chế  độ kiểm định SGK thay cho chế độ quốc định đã trở nên lỗi thời, như vậy  có nghĩa là có nhiều bộ SGK cho các trường lựa chọn. Giáo viên có thể  dạy bám sát nội dung SGK hoặc cấu trúc lại, tự mình thiết kế nên một nội  dung riêng phù hợp với mục tiêu, nội dung cơ bản đề ra trong “Bản hướng  dẫn giảng dạy”. Đây gọi là quyền tự do thực tiễn giáo dục và quyền này  được đảm bảo bằng Hiến pháp (ban hành năm 1947) và các bộ luật giáo dục  như Luật Giáo dục cơ bản, Luật Giáo dục trường học, Luật Giáo dục nghĩa  vụ…  Để minh họa cho mối quan hệ giữa chương trình – SGK và thực tiễn  giáo dục của giáo viên ở Nhật Bản, tôi xin dẫn ra một ví dụ cụ thể mà  tôi được chứng kiến một vài công đoạn, do cô Kawasaki ở Trường tiểu học  Hiyoshidai (TP Takatsuki, phủ Osaka) tiến hành. Thực tiễn giáo dục này  được cô Kawasaki đặt tên là “Hai nông gia chuyên nghiệp: ông Fujita và  ông Naito”.   Để thực hiện loạt giờ học về chủ đề nói trên, cô Kawasaki đã  đi điều tra thực tế, thu thập thông tin và phỏng vấn một nông gia nổi  tiếng trong vùng là ông Naito. Cô phát hiện ra điểm mấu chốt là 10 năm  trước, ông dùng thuốc bảo vệ thực vật nhưng rồi sau vụ ngộ độc thuốc trừ  sâu, ông suy nghĩ và đi đến quyết định không sử dụng thuốc bảo vệ thực  vật trong quá trình sản xuất nữa. Cô Kawasaki đã sử dụng bước ngoặt này  như điểm nhấn quan trọng trong nội dung giáo dục mà cô thiết kế, gồm hai  phần chính:  Phần 1. Thực phẩm và thuốc bảo vệ thực vật  (Trước đó, cô  Kawasaki đã hướng dẫn học sinh tiến hành hoạt động ngoại khóa, điều tra  thu thập thông tin mua bán thực phẩm, sản xuất nông nghiệp, sử dụng  thuốc bảo vệ thực vật ở xung quanh nơi các em sinh sống). Phần này gồm  bốn tiết học, mỗi tiết kéo dài 45 phút với các nội dung cụ thể như sau:    Tiết 1: Bắp cải đẹp và bắp cải bị sâu cắn: Nếu là người mua em sẽ chọn  cái nào? Tiết 2: Chúng ta thường mua thực phẩm ở đâu?   Tiết 3: Chúng ta  cần chú ý điều gì đối với thực phẩm?   Tiết 4: Nông dược là gì?  Phần 2.  Nông gia vùng Tainaka: ông Naito và ông Fujita.  Phần này được tiến hành  qua bảy tiết học với nội dung cụ thể như sau:   Tiết 1: Tainaka là vùng  nào?   Tiết 2-3-4: Ông Fujita (dùng thuốc bảo vệ thực vật) và ông Naito  (không dùng thuốc bảo vệ thực vật): Nếu là người sản xuất em chọn làm  theo cách của ông nào?   Tiết 5-6: Nghe ông Naito kể chuyện.   Tiết 7: Suy  nghĩ của các em sau câu chuyện kể (cho học sinh viết tiểu luận).  Những  thông tin giáo viên thu thập được như: Tình hình sản xuất, khó khăn,  niềm hạnh phúc, thu nhập bình quân hằng năm của nông gia… được giáo  viên chỉnh lí cho dễ hiểu và in dưới dạng tài liệu phân phát cho học  sinh.   Thí dụ nêu trên thể hiện rất rõ vai trò của giáo viên trong việc  xử lí mối quan hệ giữa SGK – nội dung chương trình và thực tiễn dạy học  của giáo viên.  Nước Nhật từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã giải bài  toán giáo dục tương đối thành công bằng cuộc cải cách giáo dục triệt để,  toàn diện, có triết lí và lộ trình rõ ràng, trong đó, các giáo viên  trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông đóng một vai trò vô cùng to lớn.  Họ không đơn thuần là người thực hiện những chỉ dẫn cải cách mang tính  hành chính từ Bộ Giáo dục mà bằng thực tiễn giáo dục phong phú, sáng tạo  tương ứng với điều kiện cụ thể của từng trường học, lớp học, học sinh,  họ đã tạo ra cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên bằng muôn nghìn dòng  chảy.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề      Cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông.      Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn. Lãng phí thứ nhất là hằng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành nghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng  chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.   Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.  Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hóa cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này. Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng. Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân một mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiện nay ở THPT.       Trích Đề cương Cải cách giáo dục    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách tuyển sinh tại TQ – nhưng chỉ một chút thôi*      Gần 10 triệu học sinh tốt nghiệp THPT Trung Quốc vừa trải qua kỳ thi tuyển sinh đại học căng thẳng vào đầu tháng 6 vừa qua. Kết quả của kỳ thi này không chỉ quyết định các em sẽ học ở đâu, mà sẽ ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của các em.                          Tổng cộng có đến 9.57 triệu học sinh vừa trải qua kỳ thi 2 ngày, trong số đó sẽ có 2/3 các em được nhận vào đại học, từ những trường đại học nghiên cứu nổi tiếng đến những trường cao đẳng nghề, tùy theo kết quả thi. Những em nào làm tốt và được nhận vào những trường đại học có tiếng sẽ có quyền mong đợi một cuộc sống phong lưu khi ra trường trong nền kinh tế đang phát triển  của Trung Quốc, trong khi những em thi không được tốt sẽ phải chấp cuộc sống vất vả với những nghề lương thấp như giáo viên ở thôn quê hoặc làm phải làm việc chân tay trong các nông trại hoặc xí nghiệp.  Trước áp lực khủng khiếp của kỳ thi tuyển sinh đại học quan trọng này, Bộ Giáo dục Trung Quốc và chính quyền các địa phương cũng như lãnh đạo các trường đang tìm mọi cách làm giảm sự trầm trọng của kỳ thi, dù chỉ mới cải cách một cách khiêm tốn. Trong kế hoạch cải cách và phát triển giáo dục 10 năm (2011-2020) mới đây, quan chức Bộ Giáo dục Trung Quốc đã thừa nhận sự bất công của việc chỉ sử dụng một kỳ thi duy nhất để định đoạt số phận của các thí sinh”.  Mặc dù kỳ thi tuyển sinh vẫn sẽ là căn cứ chính để quyết định ai sẽ vào đại học, nhưng chính phủ Trung Quốc đang khuyến khích các trường tự tạo ra các bài kiểm tra riêng nhằm xác định các thí sinh có tài năng đặc biệt. Nỗ lực này nằm trong mục tiêu chung của nhà nước là tạo ra một hệ thống giáo dục đại học có tính tự chủ cao hơn hệ thống hiện nay, vốn được đánh giá là khá cứng nhắc.  Các trường đại học tốt nhất của Trung Quốc hầu hết ở thành phố giàu có phía bờ đông Trung Quốc, vì vậy việc phân bố chỉ tiêu tuyển sinh theo địa phương trong từng trường và từng chuyên ngành đã làm tăng thêm những thuận lợi sẵn có của học sinh có hộ khẩu thường trú tại Bắc Kinh hoặc Thượng Hải, vì các chỉ tiêu này khiến các em đương nhiên có cơ hội cao hơn để được chọn vào một trường hàng đầu so với những người từ địa phương khác, dù họ đạt được điểm tốt hơn.  Mặc dù tình trạng bất công này sẽ khó thay đổi trong tương lai gần, nhưng gần đây một số tỉnh đã cải cách bằng cách tặng thêm điểm thưởng cho các thí sinh đã đoạt giải thưởng trong các kỳ thi Toán và Tiếng Anh. Những cuộc thi này rất phổ biến ở Trung Quốc và được đưa lên truyền hình. Tuy nhiên, những người phê phán việc sử dụng điểm thưởng đã cho rằng việc này sẽ tạo thêm áp lực cho thí sinh, đồng thời tạo ra một hệ thống giáo dục thậm chí còn chọn lọc khắt khe hơn hiện nay, khiến cho văn hóa dạy thêm – học thêm tại Trung Quốc càng trầm trọng hơn chứ không phải là giảm đi.  Hơn nữa, một số trường hiện nay đang tự ra đề thi và tổ chức phỏng vấn sinh viên, và  dựa vào những kết quả này để gọi thí sinh nhập học. Tuy nhiên, thực tế vẫn là học sinh từ các tỉnh và thành phố giàu có đang được hưởng một nền giáo dục trung học tốt hơn nhiều so với ở thôn quê.    Một mô hình tuyển sinh khác cho phép một số trường, chủ yếu là trường ưu tú, nhận sinh viên vào học dựa trên thư giới thiệu của các vị hiệu trưởng trường trung học. Từ mùa thu năm rồi, Đại học Bắc Kinh bắt đầu nhận 3% sinh  viên của mình dựa trên những thư giới thiệu này. Tuy nhiên chính sách này cũng gây tranh cãi, vì có người lo rằng nó sẽ tạo cơ hội cho tham nhũng len lỏi vào trong quá trình tuyển sinh. Vả lại nó cũng chẳng thể làm tăng sự đa dạng trong trường đại học, vì các vị hiệu trưởng thì cũng sẽ chỉ giới thiệu những học sinh có điểm thi tốt mà thôi.  Cải cách tuyển sinh ở Trung Quốc có lẽ sẽ vẫn còn là một chuyện dài nhiều tập.                      Phương Anh dịch  ———————–    * http://www.wes.org/ewenr/10june/asiapacific.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách về học hàm và học vị      Trong b&#224;i viết n&#224;y, t&#244;i muốn ph&#226;n t&#237;ch&nbsp;về những cải c&#225;ch cần thiết trong hệ thống học vị học h&#224;m cao cấp (GS, PGS, tiến sĩ) ở đại học v&#224; nghi&#234;n cứu khoa học của nước ta, v&#224; đưa ra một số đề nghị cụ thể.    Thay đổi quan điểm về chức danh giáo sư  Ở các nước tiên tiến (như Mỹ, Pháp, Nhật, …) hiện nay, các giáo sư (professor) thường là những người 1) có uy tín cao về chuyên môn, và 2) có làm việc ở một trường đại học hoặc một viện (các viện nghiên cứu có thể không có giảng dạy ở bậc đại học, nhưng có đào tạo và hướng dẫn nghiên cứu ở bậc sau đại học). Một người là giáo sư, khi mà người đó có một hợp đồng làm việc trong đó có ghi chức danh là giáo sư (hợp đồng đó có thể là vô thời hạn trong trường hợp giáo sư có biên chế, hay ngắn hạn trong trường hợp giáo sư mời, hay “part-time” trong trường hợp giáo sư đồng thời có làm ở nơi khác, v.v.). Điều đó có nghĩa là, “giáo sư” là một “job”, một công việc cao cấp, gắn liền với những trách nhiệm và quyền lợi có ghi trong hợp đồng. Trong các trách nhiệm của giáo sư, thường có 2 trách nhiệm chính: 1) giảng dạy đào tạo, 2) nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, các giáo sư còn có thể được mời làm  những công việc khác, ví dụ cố vấn cho chính phủ hay doanh nghiệp, tham gia vào các hội đồng chuyên gia, v.v. Khi tuyển giáo sư, cái mà các nơi tiên tiến trên thế giới chú trọng nhất chính là uy tín về chuyên môn, tuy rằng người ta cũng có quan tâm đến khả năng sư phạm (những ai chuyên môn giỏi nhưng có nhiều tiếng xấu về việc giảng dạy trước đó, thì các trường đại học cũng ít muốn nhận làm GS). Theo lập luận logic, những ai không giỏi về chuyên môn thì khó có thể dạy học hay ở bậc đại học và cao học (đặc biệt là khó dạy được những kiến thức mới nhất), còn những ai giỏi về chuyên môn nhưng còn ít kinh nghiệm về đào tạo, thì có thể nhanh chóng có được kinh nghiệm về mặt đó sau một thời gian làm việc (tuy rằng tất nhiên có những ngoại lệ) và kể cả nếu có dạy không được hay thì vẫn có thể mang lại uy tín khoa học cao cho nơi làm việc, và bởi vậy uy tín về chuyên môn là điều luôn được đặt lên hàng đầu trong việc xét duyệt giáo sư trên thế giới.  Quan điểm ở Việt Nam hiện tại về chức danh giáo sư (và phó giáo sư), tuy có phần nào giống thế giới, nhưng còn khác xa thế giới rất nhiều. Muốn thay đổi được hệ thống, trước hết chúng ta (đặc biệt là những người trực tiếp lập ra các luật lệ) cần thay đổi quan điểm. Về ý tưởng chung, giống như thế giới, chúng ta cũng muốn những giáo sư của chúng ta cần phải có uy tín cao về chuyên môn, có nhiều đóng góp trong nghiên cứu khoa học, và có nhiều đóng góp trong đào tạo. Tuy nhiên, đi vào cụ thể, chúng ta sẽ thấy rất nhiều điểm khác biệt so với thế giới:  – “Giáo sư” ở Việt Nam hiện tại không phải là một “job”, không có một hợp đồng làm việc có gắn liền với những trách nhiệm và quyền lợi cụ thể, mà mang tính “danh hão”. Trong ngạch đại học đa có chức danh “giảng viên cao cấp” hay trong các viện nghiên cứu đa có chức danh “NCV cao cấp” (là những chức danh có tính công việc, để tính lương), lại có thêm chức danh GS chồng chéo lên đó (nhưng chức danh GS chỉ để cho “oai”, không dùng để tính lương). Vì GS không liên quan tới công việc cụ thể, nên ở VN mới có nhiều “quan” GS.  – Ở các nơi tiên tiến trên thế giới người ta tuyển GS (một phần lớn là người từ những nơi khác) vào, còn Việt Nam phong GS những người đang ngồi tại chỗ (mới đây đa có cách tân theo chiều hướng “bổ nhiệm GS” tại các cơ sở [2], nhưng hiện tại chủ yếu vẫn là phong tại chỗ tuy có đổi từ “phong” thành “bổ nhiệm”). Chức danh GS ở VN như là một danh hiệu khen thưởng, tương tự như một thứ “huân chương” (mượn lời của GS Hoàng Xuân Sính [3]). Nói về danh hiệu dạng khen thưởng, ở Việt Nam đa có các danh hiệu như “nhà giáo ưu tú” hay “nhà giáo nhân dân”, những người có khiếu về sư phạm và có tâm huyết thực sự trong giáo dục đào tạo nhưng trình độ khoa học “vừa phải” nên phấn đấu đạt danh hiệu “nhà giáo nhân dân” thì có lẽ thích hợp hơn là cố dành cho được cái danh hão GS hay PGS.  – Các GS trên thế giới là những người có trình độ cao được tuyển vào để làm việc (với điều kiện tốt, hiệu quả cao, …) còn ở VN các GS được phong sau khi đa làm việc chứ không phải là để làm việc. Bởi vậy trên thế giới thông thường các GS được tuyển ở quãng tuổi trên dưới 40 lúc đang sung sức, còn ở Việt Nam phần lớn những người được phong GS là khi đa gần về hưu. (Tuổi trung bình các GS được phong ở VN năm 2005 lúc được phong là 58 tuổi [4]).  – Tiêu chuẩn phong GS ở VN [2] vừa dễ dãi hơn thế giới nhiều về mặt chất lượng uy tín khoa học (nói theo GS Đỗ Trần Cát [5] thì “với tiêu chuẩn thấp, Việt Nam mới có giáo sư”), vừa rất hình thức và có nhiều điều kiện mà các nơi tiên tiến trên thế giới không cần đến. Ngay trong việc xét uy tín khoa học, hình thức chủ nghĩa đa làm cho nhiều người “không đáng gọi là GS, PGS” vẫn được phong (theo GS Hoàng Tụy thì có 1/3 số GS & PGS “đáng bị miễn nhiệm chức danh” [6]), trong khi có những người có nhiều bài báo khoa học đăng ở tạp chí quốc tế có uy tín thì vẫn chưa đủ điểm khoa học [7]. Trong những tiêu chuẩn để phong GS ở Việt Nam mà trên thế giới người ta lại không cần đến, xin đưa ra ở đây 2 tiêu chuẩn “trời ơi” tiêu biểu (chữ “trời ơi” là mượn lời bài viết [8] của một giảng viên đại học): phải có 1 quyển sách, và phải hướng dẫn xong ít nhất 2 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công. Các tiêu chuẩn này sẽ chọn được người “đa làm việc” chứ không phải chọn người “để làm việc”. Chất lượng của những cuốn sách được in ra để “chạy GS” có thể cũng đáng bị nghi vấn như chất lượng của nhiều luận án TS bảo vệ tại VN. Nếu theo thế giới thì cần làm ngược lại: tức là các GS có trách nhiệm viết sách và hướng dẫn NCS (sau khi đa thành GS, và phải đảm bảo chất lượng cao), chứ không phải là phải viết sách và hướng dẫn NCS (bất kể chất lượng) để thành GS. Nhà vật lý vĩ đại Werner Heisenberg trở thành PGS (privatdozent) năm 23 tuổi, và GS (ordinarius professor) năm 26 tuổi sau khi xây dựng nền tảng cơ học lượng tử (xem [9]) còn theo các tiêu chuẩn của Việt Nam hiện tại thì chắc ông ta sẽ còn phải “đợi rất lâu” mới ngoi lên GS. Bản thân người viết bài này được nhận làm GS ở Pháp cách đây 7 năm từ khi chưa có nghiên cứu sinh nào hay quyển sách nào, về trình độ và đóng góp trong khoa học có thể coi là tương đương trung bình của các GS Pháp trong ngành (và chỉ là epsilon so với Heisenberg), nhưng nếu theo các tiêu chuẩn của Việt Nam thì cũng “còn lâu”.  – Chúng ta ở Việt Nam đánh giá quá rẻ cái danh GS, thể hiện ở chỗ lỏng lẻo về chất lượng trong việc chọn (phong) GS, và đồng thời trả thù lao cho GS quá thấp. Có những người cho rằng Việt Nam rất thiếu GS, và bởi vậy phải để chất lượng lỏng lẻo “cho đủ GS”. Nói như vậy cũng tương tự như nói “chúng ta nghèo do thiếu tiền, bởi vậy phải in thêm nhiều tiền cho đủ tiền”. In thêm nhiều tiền (trong khi lượng hàng hóa và dịch vụ không tăng tương ứng) không làm cho chúng ta giàu lên, mà chỉ làm đồng tiền giảm giá trị đi. Phong thêm nhiều GS (trong khi nền khoa học giáo dục không đi lên tương ứng) không làm cho chúng ta mạnh lên về khoa học giáo dục, mà chỉ làm lạm phát, giảm giá trị cái chức danh GS. Cái chức danh GS hiện ở Việt Nam đa “bèo” đến mức nhiều người thấy chuyện GS lương chỉ có vài trăm đô la một tháng là “đương nhiên”, trong khi trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam đa có hàng trăm nghìn người có thu nhập hàng nghìn đô la một tháng. Tuy rằng về số lượng GS chúng ta có ít hơn thế giới thật, nhưng cái chúng ta thiếu nhất vẫn không phải là số lượng, mà là chất lượng. Chúng ta muốn hội nhập thế giới, thì cần nâng cao chất lượng (trong một quá trình liên tục kéo dài nhiều năm) cho đến mức ngang tầm thế giới, chứ không phải chạy theo số lượng. Những “sản phẩm kém chất lượng” càng ngày sẽ càng bị thế giới tẩy chay.  Quan điểm về học hàm tiến sĩ của Việt Nam hiện tại có thể nói là tương tự thế giới, trừ việc về chất lượng và sự nghiêm túc thì còn thua kém thế giới, và có nhiều luận án tiến sĩ chỉ cần đọc đầu đề đa có thể “cười vỡ bụng” mà cũng bảo vệ thành công [10], và việc có một số “ngành đặc biệt” mà ở Việt Nam có bảo vệ tiến sĩ còn trên thế giới không hề có. Có một điều tôi muốn lưu ý là “tiến sĩ” là một văn bằng (thể hiện một trình độ học vấn), tức là ai có bằng tiến sĩ (xịn, không phải bằng rởm hay bằng đi mua) thì “cả đời là tiến sĩ”, dù có nghiên cứu khoa học sau đó hay không. Thông lệ quốc tế cũng như vậy, và không có gì xấu khi một người không làm khoa học ghi chức danh của mình là TS, hay PhD theo tiếng Anh. (Tôi không đồng ý với những người chế nhạo những TS không tham gia giảng dạy hay nghiên cứu). Tuy rằng về mặt chi tiết thì các hệ thống học hàm học vị ở các nước tiên tiến khác nhau trên thế giới có khác nhau nhiều, nhưng họ có nhiều điểm chung mà Việt Nam cần học tập. Việt Nam có thể có hệ thống riêng của Việt Nam, không nhất thiết phải đi theo nước nào, nhưng hệ thống đó phải được dựa trên các quan điểm thích hợp có thể hòa nhập được với thế giới, và bởi vậy chúng ta phải rũ bỏ những quan điểm “chỉ có ở Việt Nam”, nếu chúng ta muốn đuổi kịp thế giới về khoa học và giáo dục trong những thập kỷ tới.     Một số đề nghị cải cách qui trình bổ nhiệm GS  Dưới đây là một số đề nghị cụ thể cho việc cải cách qui trình bổ nhiệm GS ở Việt Nam. (Tôi sẽ chỉ tập trung vào GS, các đề nghị về PGS có thể coi là tương tự, theo nguyên tắc là PGS tương tự như GS nhưng với các đoi hỏi và trách nhiệm ở mức thấp hơn). Những đề nghị này dựa trên lý luận logic, những kinh nghiệm trên thế giới mà tôi được biết đến trong quá trình làm việc nhiều năm (và đa từng tham gia các hội đồng tuyển GS, cũng như làm phản biện độc lập cho việc xét GS ở một số trường Đại học tiên tiến trên thế giới), và sự tìm hiểu của tôi về tình hình thực tế ở Việt Nam. Hy vọng rằng khi có các qui định mới “thoáng” hơn và đi vào bản chất hơn, thì chúng ta sẽ không còn phải làm những việc “đặc cách GS” như trước, mà những nhà khoa học trẻ tài giỏi của Việt Nam vẫn được phong GS một cách đàng hoàng. Những đề nghị của tôi có thể đa từng được những người khác đưa ra từ trước (tôi không biết hết các bài đa viết hay các đề nghị về vấn đề này, nhưng trong các bài tôi đa đọc thấy có những quan điểm giống với tôi, ví dụ như ý kiến của GS Hoàng Tụy về việc cần có phản biện độc lập) – việc có nhiều người có cùng một đệ nghị sẽ càng chứng tỏ là đó là một đề nghị đáng được các cơ quan chủ quản xem xét một cách  nghiêm túc.  1) Việc xác định uy tín khoa học để bổ nhiệm GS cần được đặt lên hàng đầu. Bỏ cách tính điểm khoa học hiện tại, thay bằng các hình thức khác khách quan hơn và phản ánh đúng chất lượng hơn. Không thể đánh đồng một công trình đăng một tạp chí quốc tế có uy tín cao được thế giới trích dẫn, với một công trình đăng “báo vườn” không ai quan tâm. (1 công trình chất lượng cao có thể có giá trị hơn hàng ngàn lần một công trình vớ vẩn). Cần dùng các hình thức định lượng tinh vị hơn là tính điểm theo kiểu 1 bài 1 điểm, 1 bài viết chung ½ điểm. Cần tính đến cả uy tín của báo, số lần được trích dẫn, v.v. Tuy nhiên tất cả các cách tính định lượng đều chỉ có giá trị tham khảo. Việc quyết định uy tín khoa học của một ứng cử viên phải được thực hiện bằng việc biểu quyết của một hội đồng khoa học, dựa trên các báo cáo của các phản biện (để đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy).  1a) Cần có các phản biện, trong đó có cả phản biện bên ngoài và phản biện bên trong (nằm trong hội đồng ngành). Các phản biện phải là những người có uy tín cao trong ngành liên quan (trong những ngành khoa học cơ bản, có thể yêu cầu có ít nhất 2 phản biện độc lập là chuyên gia nước ngoài). Bảo mật để ứng cử viên không biết ai làm phản biện bên ngoài, để đảm bảo tính độc lập, trung thực và khách quan. Yêu cầu các phản biện bỏ thời giờ nghiên cứu các công trình khoa học của ứng cử viên và đánh giá về chúng (có thể trả tiền phí cho công sức phản biện bỏ ra để làm việc này). Làm các câu hỏi để phản biện có thể tiện trả lời. Ví dụ: theo phản biện công trình như vậy có tương đương một (assistant, associate, full) professor ở trường XYZ không ? Impact của công trình của ứng cử viên ra sao ? v.v.  1b) Cần có các hội đồng khoa học theo ngành. Đối với những nơi khoa học phát triển như Pháp, có cả hội đồng ngành ở mức quốc gia và các hội đồng ngành ở các trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong điều kiện số lượng nhà khoa học có uy tín còn ít, hiện tại việc lập hội đồng ngành ở mức trường hay viện có thể không khả thi. Nhưng cần có hội đồng ngành của quốc gia. Hội đồng có nhiệm vụ cho ý kiến (tín nhiệm hay không tín nhiệm về mặt khoa học) cho các ứng cử viên GS (khi có nhiều ứng cử viên cho cùng 1 suất GS, hội đồng có thể cho sắp xếp thứ tự về khoa học của các ứng cử viên). Để được bổ nhiệm GS, điều kiện tiên quyết là phải được sự tín nhiệm về khoa học của hội đồng ngành. Hội đồng ngành biểu quyết dựa trên ý kiến của các phản biện, và của các thành viên hội đồng. Hội đồng ngành cần có sự độc lập (không bị sức ép từ các cơ quan chủ quản, hay từ các thế lực chính trị khác), nên có sự tham gia của các nhà khoa học Việt Kiều và quốc tế để đảm bảo chất lượng.  1c) Ứng cử viên có trách nhiệm nộp hồ sơ khoa học đầy đủ, cả bằng tiếng Anh và tiếng Việt (có một số phần chỉ cần tiếng Anh là đủ), trong đó có danh sách các công trình khoa học, và nếu trong trường hợp công trình không đăng ở tạp chí quốc tế dễ tìm thì phải nộp cả nguyên văn công trình để phản biện và hội đồng khoa học có thể dựa vào đó mà đánh giá. (Những cái gì không nộp, phản biện có thể coi là không tồn tại).  2) Bỏ đi các tiêu chuẩn không cần thiết trong qui định về điều kiện để trở thành GS. Các tiêu chuẩn có thể bỏ đi là: 2a) Đa làm PGS ít nhất 3 năm (bỏ đi); 2b) Đa hướng dẫn NCS (bỏ đi); 2c) Đa có 1 quyển sách (bỏ đi); 2d) Đa có chủ trì đề tài cấp bộ trở lên (bỏ đi); 2e) Sử dụng thành thạo một ngoại ngữ (bỏ đi); 2f) Có viết một báo cáo khoa học dưới dạng 1 công trình tổng quan (bỏ đi). Về điểm 2a), bỏ hẳn yêu cầu đa từng làm PGS đi. Nếu một người trẻ chưa phải là PGS mà có trình độ khoa học của một GS, thì người đó còn đáng được làm GS hơn là một người nhiều tuổi hơn nhiều, đa làm PGS lâu năm, nhưng trình độ cũng chỉ tương đương (và triển vọng thì chắc sẽ kém hơn). Đấy chính là nguyên tắc chọn GS của những nơi danh tiếng trên thế giới (ví dụ như viện IHES ở Pháp: các GS khi được chọn vào IHES đều còn rất trẻ). Về điểm 2b) và 2c) tôi đa có bàn phía trên: vấn đề cần đặt ngược lại, tức là khi làm GS thì cần viết sách và hướng dẫn NCS, chứ không phải là cần viết sách và hướng dẫn NCS để làm GS. (Khi trình độ khoa học còn chưa cao đến mức có thể được coi là GS mà đa viết sách hay hướng dẫn NCS thì chất lượng có thể không đảm bảo). Điểm 2d) cũng chỉ là một điều kiện gây khó dễ, và vấn đề cũng nên đặt ngược lại thì tốt hơn: chú trọng giao các đề tài và cấp kinh phí cho các GS. Về trình độ ngoại ngữ (điểm 2e)), nếu đa có uy tín khoa học quốc tế nhất định (có các bài báo đăng tạp chí quốc tế, để phản biện quốc tế có thể công nhận về trình độ khoa học) thì hiển nhiên phải biết sử dụng ngoại ngữ đủ tốt đến mức đọc và viết được bài báo bằng ngoại ngữ rồi, còn đoi hỏi thêm chứng chỉ về trình độ làm gì. Đối với những ngành mà không cần thiết đăng công trình ra quốc tế, thì ngoại ngữ cũng không quan trọng đến mức cần biết thông thạo để làm GS. Việc kiểm tra trình độ ngoại ngữ cho tiêu chuẩn GS, nếu có xảy ra chắc chắn sẽ mang tính hình thức, không hiệu quả. Về điểm 2f), không cần “1 báo cáo khoa học tổng quan” mà là một “hồ sơ khoa học đầy đủ” để phản biện có thể đánh giá chi tiết. Tất nhiên trong hồ sơ khoa học ứng cử viên cần nhấn mạnh những đóng góp khoa học chính của mình.  3) Tuyển GS thay vì phong GS. Muốn tuyển thì phải có suất. Như vậy phải xây dựng cơ chế tạo ra và dịch chuyển các suất GS. Các suất GS có thể là do Bộ phân phát cho các cơ sở theo các chỉ tiêu. Các chỉ tiêu đó sẽ dựa theo các tiêu chí như số lượng sinh viên, nhu cầu phát triển của các ngành, khả năng tìm ứng cử viên thích ứng, khả năng tài chính của Bộ, v.v. Mỗi suất GS phải có kèm theo gói tài chính tương ứng để tạo điều kiện sống và làm việc cho GS. Các trường và viện khi có tính độc lập đủ cao có thể tự tạo ra một số suất GS mà không cần xin Bộ, những xuất tự tạo ra đó thì trường hay viện phải tự đảm bảo về vấn đề tài chính. Việc tuyển chọn GS cần được thực hiện chủ yếu ở mức địa phương (trường, viện) chứ không phải ở mức trung ương, tức là các trường tự chịu trách nhiệm về việc chọn lựa GS cho mình (và có thể cạnh tranh với nhau trong việc đó). Tuy nhiên trung ương vẫn có thể có vai trò trong những việc như: đảm bảo về chất lượng khoa học (qua hội đồng khoa học ngành của trung ương), và duyệt các quyết định bổ nhiệm GS của địa phương. Ngoài các suất GS có biên chế, có thể tạo thêm những suất GS mời ngắn hạn (rất cần thiết lập ra các suất GS mời để trao đổi về khoa học đào tạo, và có thể đơn giản hóa việc xét duyệt cho những suất này), và những suất GS thỉnh giảng (các cơ sở đào tạo cần thường xuyên mời những chuyên gia trong các lĩnh vực công nghiệp, tài chính, quản lý, v.v. làm GS thỉnh giảng hay part–time, đến giảng bài cho SV cho có thực tế).  4) Lập hội đồng tuyển GS ở các cơ sở địa phương cho việc tuyển GS. Các hội đồng này, tuy là hội đồng địa phương (thuộc trường hay thuộc viện), nhưng cần có sự tham gia của nhiều thành viên bên ngoài (có thể qui định đến ½ là người bên ngoài), để đảm bảo tính minh bạch khách quan. Hội đồng có thể là chung cho toàn địa phương (không nhất thiết phải theo ngành, trong điều kiện Việt Nam), nhưng sẽ chủ yếu dựa trên các đánh giá và lời khuyên của hội đồng khoa học ngành về các ứng cử viên. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện tại, khi hầu hết các địa phương chưa đủ khả năng tự chủ về khoa học và tài chính, ngoài các hội đồng tuyển việc địa phương cần giữ Hội đồng GS trung ương . Hội đồng trung ương không có trách nhiệm tuyển GS cho địa phương, mà chỉ có trách nhiệm kiểm tra các quyết định tuyển GS (cụ thể hơn là “GS quốc gia”) ở địa phương, và có quyền phủ quyết các quyết định đó nếu thấy cần thiết. Trong mô hình Mỹ thì các trường hoàn toàn độc lập trong việc tuyển GS, không có trung ương nào kiểm tra, và GS cũng không phải là công chức nhà nước, không phải là “GS quốc gia”. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện tại các GS là công chức nhà nước, và hiện tại nên duy trì như vậy (cho hầu hết các GS, trừ một số suất GS mà một vài cơ sở địa phương có điều kiện tự lập ra). Trong mô hình Pháp, hầu hết các GS là công chức cao cấp nhà nước (haut fonctionnaire), và sau khi qua hội đồng địa phương tuyển, cần qua hội đồng quốc gia duyệt (trên thực tế rất hiếm khi hội đồng quốc gia phủ nhận quyết định của hội đồng địa phương) và cuối cùng là tổng thống ký quyết định bổ nhiệm. Như vậy trong mô hình Pháp thì GS là GS của quốc gia, tuy khi tuyển thì là do một trường tuyển; khi đa là GS thì có thể xin chuyển sang trường khác trong hệ thống quốc gia (nếu cả hai bên đồng ý) và khi chuyển như vậy vẫn giữ nguyên chức danh GS và thang bậc lương. Việt Nam có thể xây dựng hệ thống “hybrid”, vừa tuyển các GS quốc gia như Pháp, vừa cho phép các cơ sở nếu có điều kiện lập ra các “ghế” GS địa phương (các GS địa phương này sẽ không có một số quyền lợi của công chức nhà nước như GS quốc gia, bù lại được địa phương tùy ý trả lương cao, không bị hạn chế như trong hệ thống quốc gia). Hệ thống ở Pháp thực ra cũng là hybird, với một số trường tư và GS tư (chất lượng không kém gì GS công, nhưng không phải là công chức nhà nước). Để đảm bảo chất lượng của các GS , địa phương ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi (cho đến khi chất lượng các trường ĐH ở Việt Nam đa đủ cao), dù là tuyển theo suất do địa phương tự tạo ra, vẫn cần có hội đồng quốc gia duyệt mới được gọi là giáo sư (nếu không đủ điều kiện về trình độ khoa học, thì địa phương không được gọi đấy là GS, mà có thể dùng những tên gọi khác, ví dụ như giảng viên hay giảng viên cao  cấp).     Cải cách hệ thống đào tạo tiến sĩ  Đối với các NCS du học ở các nước tiên tiến, chúng ta tin tưởng họ sẽ đảm bảo chất lượng cho những bằng tiến sĩ của người Việt bảo vệ ở chỗ họ, và chúng ta có thể công nhận những bằng PhD đó là nhưng bằng “tiến sĩ quốc tế”. Vấn đề tôi muốn bàn ở đây, là phải cải cách chiến lược và qui trình đào tạo và bảo về luận án tiến sĩ ở trong nước ra sao, để cho các tiến sĩ bảo vệ trong nước cũng xứng đáng là tiến sĩ ngang như tiến sĩ bảo vệ ở nước ngoài, để họ khỏi trở thành tiến sĩ giấy. Bỏ đi các chỉ tiêu bất hợp lý về số lượng tiến sĩ cần được đào tạo trong nước. Khả năng chúng ta có thể đào tạo được bao nhiêu thì đào tạo bấy nhiêu, nhưng phải đảm bảo chất lượng của mỗi tiến sĩ được đào tạo. Nếu có sự thiếu hụt về số lượng, thì phần thiếu hụt phải được bù lại bằng việc đào tạo ở nước ngoài, và bằng việc đầu tư thêm nhiều tiền của để kích thích hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong nước. Những “khẩu hiệu” như “phải đào tạo được 10 nghìn tiến sĩ trong nước trong vòng 10 năm” rất vô lý nếu như chúng ta không có khả năng tương ứng. Nếu như có thể “bắt ép” các cán bộ đi học cao học để “phổ cập cao học cho cán bộ” được (tuy rằng nhiều người học xong cao học trình độ không cao lên), thì “việc phổ cập tiến sĩ” rất bất hợp lý vì nó sẽ tức khắc đẻ ra nhiều tiến sĩ giấy. Ít ai đem khoe mình có bằng thạc sĩ, tuy rằng bằng tiến sĩ giấy dễ bị đem ra để “lòe” thiên hạ. Bỏ đi các chỉ tiêu về việc GS hay PGS phải đào tạo được bao nhiêu tiến sĩ. Đào tạo được 1 tiến sĩ trình độ quốc tế, còn hơn là vẽ ra 10 tiến sĩ giấy.  Quốc tế hóa các hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ. Tôi đa có nói đến điểm này trong bài [1]. Để đảm bảo tiến sĩ có chất lượng quốc tế, bản thân hội đồng cần có chất lượng quốc tế. Ngay các nơi tiên tiến trên thế giới cũng hay mời các phản biện người nước ngoài vào các hội đồng bảo vệ tiến sĩ, để đảm bảo tính quốc tế các luận án. (Bản thân người viết bài này cũng từng tham gia các hội đồng bảo vệ tiến sĩ ở các nước châu Âu khác nhau). Ở Việt Nam, việc có phản biện quốc tế trong hội đồng bảo vệ tiến sĩ là đặc biệt cần thiết. Nếu như chúng ta chưa thể áp dụng đoi hỏi này cho tất cả các luận án tiến sĩ, thì trong quá trình chuyển đổi có thể tạo 2 mức tiến sĩ khác nhau: mức “tiến sĩ nội địa” (qui trình bảo vệ như trước), và mức “tiến sĩ quốc tế” (qui trình khắt khe hơn nhiều, và đồng thời những người này phải được trọng dụng hơn).  Đầu tư thích đáng cho mỗi NCS trong nước. Việc gửi một NCS đi học ở nước ngoài tốn cho chính phủ khá nhiều tiền: riêng tiền học bổng đa hơn 10 nghìn đô la một năm cho một NCS. Đào tạo trong nước có thể đỡ tốn kém hơn như vậy, nhưng cũng cần được đầu tư không quá thấp so với như vậy nếu muốn đảm bảo chất lượng. Nếu không được đầu tư bằng 1 NCS đi học nước ngoài, thì ít ra cũng phải được bằng ½ NCS đi học nước ngoài, tức là phải đầu tư tối thiểu 25–30 nghìn đô la cho một NCS trong nước (cho toàn bộ thời gian làm NCS). Tiền đó để cấp học bổng cho NCS đủ cao để họ yên tâm sống mà làm việc ngiêm chỉnh và tự hào về công việc của mình, và để trang trải các chi phí khác, ví dụ như đi dự hội nghị khoa học quốc tế, mời GS nước ngoài vào hội đồng bảo vệ, phụ cấp cho GS hướng dẫn, v.v.  Một số tài liệu tham khảo:  [1] Nguyễn Tiến Dũng, Con đường hội nhập quốc tế của khoa học Việt Nam, 01/2009.  [2] Quyết định 174/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh GS, PGS)  [3] “Chức danh giáo sư ở Việt Nam như một thứ huân chương” — phỏng vấn GS Hoàng Xuân Sính, 18/03/2008, http://dantri.com.vn/c25/s25-223425/chuc-danh-giao-su-o-viet-nam-giong-nhu-  mot-thu-huan-chuong.htm  [4] Tuổi trung bình các giáo sư được phong năm 2005 là 58,  http://www2.vietnamnet.vn/giaoduc/2005/11/510830/  [5] “Với tiêu chuẩn … thấp, Việt Nam mới có giáo sư” — phỏng vấn GS Đỗ Trần Cát, 11/2004,  http://vietnamnet.vn/giaoduc/2004/11/350682/  [6] 1/3 GS, PGS xứng đáng “bị” miễn nhiệm chức danh – phỏng vấn GS Hoàng Tụy, 05/2003,  http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2003/5/12255/  [7] Trở thành GS nước ngoài “dễ” hơn GS quốc nội, bài nói chuyện với GS Hoàng Tụy, 01/2008,  http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=8&categoryId=89&id=3680  [8] Công nhận chức danh GS: một qui định “trời ơi”, 12/2005,  http://vietnamnet.vn/giaoduc/2005/12/517811/  [9] http://en.wikipedia.org/wiki/Werner_Heisenberg  [10] Hồ Tú Bảo, Một số ý kiến về nghiên cứu khoa học và giáo dục cao học ở Việt Nam, tạp chí Thời Đại  Mới, số 13, 03/2008, http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_HoTuBao.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái giá khoa danh ấy mới hời      Cũng cờ cũng biển cũng c&#226;n đai  Cũng gọi &#244;ng Ngh&#232; c&#243; k&#233;m ai&#8230;  Nhiều người vẫn d&#249;ng từ &#8220;Tiến sĩ giấy&#8221; c&#243; nguồn gốc từ b&#224;i thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến để chỉ những kẻ c&#243; học vị nhưng kh&#244;ng c&#243; thực t&#224;i, những kẻ c&#243; &#8220;bằng cấp giả&#8221;.     Cách dùng từ như vậy thật rất thâm thúy, có điều lại không phải bản ý của Nguyễn Khuyến. Cứ đọc lại bài thơ thì thấy ngay tác giả không hề có ý nói rằng vị “Tiến sĩ giấy” kia chạy chọt lo lót để mua bằng cấp. Vả lại Yên Đỗ là một bậc Tam nguyên đậu đầu cả thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông không có cái tâm lý như Tú Xương đối với loại người dốt nát mà thi đậu. Vị “Tiến sĩ giấy” trong bài thơ của Nguyễn Khuyến là chỉ vào chính ông, hay nói đúng hơn là chỉ vào nhiều trí thức khoa bảng cuối thế kỷ XIX, có khoa danh nhưng không làm được gì cho dân cho nước, nên cũng giống như một loại hàng mã lòe loẹt vô dụng mà thôi.  Ngày xưa theo cái học quản lý xã hội kiểu Nho giáo, đề thi Tiến sĩ đều có phần hỏi về thời cuộc, khác với cái học ngày nay chú trọng nhiều về khoa học kỹ thuật để phát triển sức sản xuất. Mà cái học quản lý xã hội thì không có công thức, nên học vị của nó là kết tinh học vấn và trí tuệ, năng lực thực tiễn và khuynh hướng chính trị của người thi (và cả người chấm thi). Việc Tần Cối thời Nam Tống vào thi Điện đối nhờ làm bài chủ trương hòa nghị với quân Kim nên được lấy đậu Trạng nguyên làm một ví dụ. Tiến sĩ ngày xưa là một loại học vị chính trị – hành chính chứ không phải là học vị chuyên môn. Dĩ nhiên học vị chính trị – hành chính hay chuyên môn mà rơi vào tay kẻ không xứng đáng cũng đều nguy hiểm cho xã hội, nhưng đó là chuyện khác. Điều cần nói là hầu hết những cái học chuyên môn đều có công thức, dễ đào tạo hàng loạt nên bằng cấp ở đây dễ giả mạo cũng như dễ mua bán hơn. Và tất nhiên bất cư ai giả mạo hay mua bằng cấp cũng đều nhằm lợi dụng nó để kiếm thêm một quyền lực và quyền lợi nào đó trong xã hội với “cái giá khoa danh”…  Bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến kết thúc với câu “Tưởng rằng đồ thật, hóa đồ chơi”, vì vào cuối đời ông đã chứng kiến sự suy đồi có nguyên nhân chính trị của nền khoa cử Hán học, khi Nhà nước phong kiến triều Nguyễn không còn là một chính quyền độc lập và các Cử nhân Tiến sĩ lúc ấy dù có học vấn thật sự cũng không thể tiến thân trên con đường hoạn lộ nếu không chịu ngoan ngoãn hay cúc cung tận tụy với ngoại nhân. Nhưng ngày nay thì học vị Tiến sĩ và hoàn cảnh đất nước lại khác hẳn, nên xin những người có lương tâm và trách nhiệm đừng coi thường các Tiến sĩ giấy của thời hiện đại. Bởi về học vấn thì đó quả không phải là đồ thật, nhưng về chức vụ, quyền hạn và vì vậy cả tác hại thì đó hoàn toàn không phải là đồ chơi chút nào…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái gốc văn hóa của đời người      Việc dạy học phải  được đặt ra ở tầm tư duy chiến lược nhằm tạo ra “chất người và chất cá  nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người”.    Câu chuyện sách giáo khoa Tiếng Việt lớp ba né tránh việc chỉ rõ tên kẻ thù đang gây nên sự phẫn nộ. Chuyện này có cái lý của nó khi mà từ ngàn xưa thái độ đối với giặc ngoại xâm đang là điểm quy chiếu chính tà mọi hành động của người Việt Nam xưa nay. Thế nhưng người viết sách giáo khoa Tiếng Việt lớp ba ấy cũng có cái lý khi nói về mục tiêu quy định nội dung biên soạn.   Thật ra, vấn đề không chỉ động chạm đến công việc quen thuộc của nhà giáo, nó đặt ra một tầm vóc lớn hơn nhiều. Nhân chuyện này xin bàn về một vấn đề chung, rộng hơn: vấn đề sách giáo khoa trong sự nghiệp trồng người. May mắn là trong tay tôi đang có cuốn sách “Vấn đề dạy văn” của nhà giáo Hồ Ngọc Đại với lời bạt của nhà văn Ma Văn Kháng. Vì vậy tốt nhất là lượm lặt trong món quà vừa được tặng này vài ý tâm đắc ngõ hầu góp đôi điều vào chuyện lớn đang đặt ra kia.  Nhà văn thì nhã nhặn lưu ý “Đại ơi! Quan tâm tới mức lo lắng đến việc dạy văn trong nhà trường là tâm trạng của xã hội ta trong những ngày này. Huống hồ là bọn tôi, một số những nhà văn có đoạn văn và bài văn hiện có mặt trong sách giáo khoa của học sinh từ bậc tiểu học đến trung học”. Ma Văn Kháng thổ lộ: “Ở đời muôn sự là chung, giữa anh và cánh nhà văn chúng tôi vẫn có một mẫu số chung đấy anh ạ. Thành ra, đọc sách này của anh, cảm tưởng đầu tiên là thấy như đang đọc một áng văn, một áng văn đầy cá tính”… Nhà giáo thì vẫn thế, ngang như cua, nói toẹt ra: “Văn chẳng là gì hết. Văn chỉ là văn thôi. Văn tức là cuộc sống nói một cách văn mà thôi!… “Theo cách ấy, tôi khoanh cái vùng “vấn đề dạy văn” ở chỗ nào có văn… Đối tượng nghệ thuật có cái lý của nó là những quan hệ người đời. Văn là “sự vật thể hóa” cái lý ấy theo kiểu văn ..”. Thế rồi anh ta hạ một câu có sức nặng ngàn cân của triết lý Hồ Ngọc Đại về chuyện dạy văn, học văn để từ đó mà quy định việc soạn sách giáo khoa: “Dạy văn là nhằm tạo cho trẻ em một nhu cầu nhân văn, một năng lực thuần túy người”! Đến đây thì quả là việc dạy văn và “chuyện sách giáo khoa” được đặt ra ở cái tầm của tư duy triết lý trong sự nghiêp trồng người.  “Thời tiểu học là thời hình thành nhân cách, với chất người và chất cá nhân, làm nên cái gốc văn hóa của đời người. Từ 0 đến 11-12 tuổi, em có chất văn hóa gì thì sau này văn hóa cá nhân em đặc trưng bởi tính chất ấy”. Quan điểm này Hồ Ngọc Đại trình bày trong “Giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”. Cụ thể hơn, ở trang 15 của cuốn sách chỉ vỏn vẹn 35 trang kể cả mục lục, in khổ nhỏ, kiểu bỏ túi, mà lại chữ to để cho mắt kèm nhèm cũng đọc được mà tác giả tặng người viết này cách đây mấy tháng. Cầm cuốn sách trên tay mà nghĩ bụng “hắn chơi chua với đời đây, theo kiểu Voltaire: “Hai mươi tập sách khổ lớn không bao giờ làm nổi một cuộc cách mạng; chính những quyển sách nhỏ giá ba mươi xu mới thực sự đáng sợ” [Jamais vingt volumes in-folio ne feront de révolution ; ce sont les petits livres portatifs à trente sous qui sont à craindre].   “Chất người và chất cá nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người” gợi lại công trình nghiên cứu “Phạm trù Người” của anh, bản thảo đánh máy chưa in dày 300 trang Đại chuyển cho đọc cách nay đã hơn 20 năm. Từ ba trăm trang đánh máy ấy mà nội dung chắt lọc lại thành chỉ mấy câu này trong loại sách “ba xu” Voltaire nói là nó đây! Và chắc chắn không chỉ từ công trình đậm chất triêt học ấy, còn phải từ nhiều công trình nghiên cứu đã in và chưa đưa in khác, mới chưng cất được 35 dòng trong cuốn sách “bỏ túi” kia. Phải bằng những công trình như vậy của một người dành toàn bộ sự nghiệp và tâm huyết cả đời người cho chuyện “trồng người” mới chưng cất lên được mấy dòng chữ chắt lọc kia!   “Nghề chơi cũng lắm công phu” huống hồ nghề dạy học, nghề làm khoa học, mà xét đến cùng, cái cần hướng tới không thể là gì khác là con người, là chất người và chất cá nhân với cái gốc văn hóa của đời người! Cái gốc văn hóa của đời người này được Hồ Ngọc Đại trình bày trong “Vấn đề dạy văn” với nội dung rất súc tích cô đọng: “phải lấy sự sống thực, sự cảm nghiệm của chính mình làm nền tảng. Sự phong phú về tâm hồn, về văn chỉ là bông hoa của cây đời, mà lúc đầu chỉ là hạt giống được gieo trên mắt đất phù sa đầy nhựa sống của cuộc đời ” để từ đó mà đưa ra một kết luận chắc nịch: “Cuộc sống là nguồn gốc cuối cùng, là nơi xuất phát, nơi đi, nơi đến của quá trình hình thành tiếng nói và văn”.   Chính từ đó mà Ma Văn Kháng hạ một lời khen cũng kiệm lời kiệm chữ súc tích không kém “Cuốn sách của anh như một tảng đá bật ra từ cuộc sống… Cuốn sách có lối viết của một áng văn. Đó là một kết cấu đẹp với những câu văn và ý tưởng đẹp. Sức quyến rũ của nó với tôi là sức quyến rũ của cái đẹp!”. Rồi từ đó, nhà văn bạn tôi bộc bạch “với ai thì tôi không biết, nhưng với tôi thì nó đã giúp tôi thoát ra khỏi bao nhiêu là ràng buộc không nên có đấy giáo sư ạ. Ôi cái nghĩa đời, nghĩa văn giản đơn và sâu xa là vậy” của trái tim anh…”, và nhà văn bạn tôi đã “biểu lộ sự đồng tình, hơn nữa, niềm cảm hứng tràn trề của một tri kỷ trươc rất nhiều câu văn anh viết vừa phản ánh trình độ tư duy thấu đáo, kghoa học vừa mang hơi ấm nồng nàn của trái tim anh”.  Rõ ràng là cuốn sách bàn về chuyện dạy văn với cách đặt vấn đề của nó đã vượt xa khung khổ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đây là chuyện của cả xã hội. Vì rằng “cái lớn thì đủ sức bao dung cái nhỏ, mà cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn” như Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ triều Nguyễn thế kỷ XVIII, đã chỉ ra. Vậy mà “cái lớn” thì lại đang còn quá nhiều vấn đề, ở đây xem ra “những chứng bệnh ngoài da” đã chuyển vào “bên trong nội tạng” như lời cảnh báo của M. Gorki ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần”. Vì thế, văn hào Nga chỉ rõ: “Dân tộc này còn phải được trui rèn trong ngọn lửa cháy không bao giờ dứt của văn hóa”. Để rồi quyết liệt mà tuyên bố: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”*  Ấy vậy mà, đâu chỉ có “Vấn đề dạy văn”! Gần đây, trên báo Tuổi Trẻ ra ngày 20.8.2012 người ta còn đòi hỏi “Phải “lột xác” môn sử” nữa cơ! Mà đây lại là lời của vị giáo sư đứng đầu ngành sử học Việt Nam. Những người nghiên cứu lịch sử, theo ông, “sẵn sàng cộng tác với Bộ GD-ĐT trong hành trình “lột xác” dạy và học môn lịch sử này”. Mà vì thế mà vị Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử khuyến cáo phải “rà soát lại toàn bộ chương trình, từ sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy đến công tác đào tạo giáo viên…”.  Nhưng nếu chỉ thế thôi thì e lại rơi vào tình thế của “cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn” mà danh sĩ triều Nguyễn đã chỉ ra. Để làm được tốt việc soạn sách giáo khoa môn sử, phải chăng cần rà soát lại chất lượng của các công trình nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là phải thẳng thắn nhìn lại tính trung thực lịch sử của các công trình nghiên cứu lịch sử đã được xuất bản. Để làm gì? Để các nhà sử học dám nhìn thẳng vào sự thật và nói lên sự thật về những sự kiện lịch sử đã được công bố với những lời phán xét của các nhà sử học đôi lúc chưa thật khách quan và trung thực, đặng nhặt ra những nhầm lẫn, xuyên tạc!   Vấn đề đặt ra chính là các nhà sử học phải đối diện với những đòi hỏi của lương tâm và trách nhiệm của chính mình, để “lột xác” những công trình nghiên cứu lịch sử, trả về cho chúng giá trị thật của chính nó!  Cần biết bao một cuốn sách “về vấn đề dạy sử” na ná như cuốn sách về “vấn đề dạy văn” của GS Hồ Ngọc Đại. Ở đó, vấn đề dạy văn, dạy sử phải được đặt ra ở tầm tư duy chiến lược nhằm tạo ra “chất người và chất cá nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người”.  —  * Maxim Gorky Những ý tưởng không hợp thời đăng trên nhật báo Novaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918. NXB Surkamp Taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện chất lượng giáo dục đại học bằng tư duy  kinh tế      Việc cải thiện chất lượng gi&#225;o dục đ&#224;o tạo đại học được nhắc đến thường xuy&#234;n trong c&#244;ng luận như một vấn đề bức thiết nhưng cho đến nay vẫn chưa c&#243; những giải ph&#225;p mang t&#237;nh to&#224;n diện v&#224; triệt để, vừa đạt được mục ti&#234;u về cải thiện chất lượng dạy v&#224; học đồng thời gi&#250;p cho b&#224;i to&#225;n quyền lợi của c&#225;c c&#225; nh&#226;n li&#234;n quan được giải quyết hợp l&#253;. Một giải ph&#225;p như vậy đ&#242;i hỏi được xem x&#233;t qua tư duy kinh tế với ba c&#226;u hỏi căn bản l&#224;: x&#227; hội c&#243; nhu cầu g&#236; ở gi&#225;o dục đại học; hiện trạng đ&#224;o tạo đại học hiện cung ứng tới đ&#226;u; lộ tr&#236;nh n&#224;o để từng bước gi&#250;p cung v&#224; cầu gặp nhau.    Cung và cầu tri thức chưa gặp nhau  Nói theo tư duy kinh tế thì con người cần tri thức để thỏa mãn tối ưu cho các nhu cầu của nó trong điều kiện hạn chế các nguồn tài nguyên. Như vậy là xã hội cần tri thức để có thể sử dụng các nguồn tài nguyên với hiệu quả tối ưu. Bên cạnh đó, xã hội cũng cần đội ngũ nhân lực có khả năng vận dụng những tri thức này. Trong hoàn cảnh các nguồn tài nguyên của đất nước còn hạn hẹp, nhu cầu tri thức để giúp tối ưu hóa là rất lớn, không đâu là không có.   Đứng trước nhu cầu với tri thức và nhân lực như vậy, các trường đại học đáp ứng được tới đâu? Thu nhập bình quân người Việt Nam còn rất nghèo chính vì thiếu khả năng tận dụng các nguồn lực. Đa số các sản phẩm con người làm được trong nền kinh tế chỉ mới dừng ở mức độ sử dụng trực tiếp hoặc sơ chế các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Điều đó hiển nhiên là do xã hội thiếu tri thức, thiếu nhân lực chất lượng cao. Hai cái thiếu này hiển nhiên là do nguồn cung ứng tri thức và nhân lực còn chưa đáp ứng được.           Vì cung và cầu tri thức không gặp nhau nên trường học buộc phải biến thành công cụ để cân bằng một thức cung – cầu khác, cung – cầu bằng cấp và danh hiệu.             Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thiếu khả năng cung ứng với việc thiếu khả năng sản xuất. Đây là hai vấn đề riêng biệt. Nếu đứng trước các đơn đặt hàng chính xác, cụ thể, nhà sản xuất có thể thực hiện đúng theo yêu cầu. Nhưng nếu không có đơn đặt hàng, không có các yêu cầu cụ thể, không biết nơi đưa hàng, không biết các mức giá cả, đãi ngộ, nhà sản xuất sẽ không cung ứng được cho dù có khả năng làm ra sản phẩm. Đây chính là vấn đề trong cung ứng giáo dục ở nước ta hiện nay.   Người đi dạy không xác định rõ được xã hội cần những sản phẩm tri thức gì và mức độ năng lực nào. Người đi học thì lệ thuộc thụ động vào thầy cô chứ không biết được cần phải tự mình chủ động rèn luyện những phẩm chất và kiến thức gì. Nhưng không hẳn là thầy cô và sinh viên thiếu khả năng đáp ứng thị trường. Nếu thị trường đưa ra các đơn đặt hàng cụ thể và thiết thực, rất có thể nhà cung ứng giáo dục sẽ có xu hướng phát triển để từng bước đáp ứng được nhu cầu.  Khi xã hội không đặt ra các yêu cầu cụ thể, thầy và trò sẽ tập trung vào sản xuất những tri thức và nhân lực xa rời thực tiễn. Quá nhiều những nhân lực xa rời thực tiễn khiến cho khi các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp có các nhu cầu cụ thể về tri thức và nhân lực thì họ không biết ai là người có thể làm được việc. Vì cung và cầu tri thức không gặp nhau nên trường học buộc phải biến thành công cụ để cân bằng một thức cung – cầu khác, cung – cầu bằng cấp và danh hiệu.     Lộ trình nào để cung và cầu tri thức trong xã hội gặp nhau?  1) Cải thiện phương pháp cung ứng                Đăng ký thi tuyển vào các trường ĐH, CĐ        Nhìn sang phương pháp cung ứng của các trường đại học tiên tiến trên thế giới thì thấy rằng họ tổ chức nhiều hội chợ việc làm (job fair) để các bên quan tâm có thể gặp được nhau. Ở đó, các nhà tuyển dụng và lứa sinh viên chuẩn bị ra trường có cơ hội gặp được nhau. Từng nghe câu “trai khôn kén vợ chợ đông”. Những hội chợ việc làm như vậy tạo điều kiện cho các bên liên quan có hàng chục, hàng trăm lựa chọn một cách chủ động thay vì trông chờ vào một hai lựa chọn mang tính thụ động. Yếu tố chủ động rất quan trọng. Nó cho phép con người có sự chuẩn bị đầy đủ hơn để đáp ứng các đòi hỏi thiết thực từ phía đối tác.  Hội chợ việc làm chỉ là một trong nhiều hình thức để cung và cầu nhận biết lẫn nhau trong lĩnh vực giáo dục. Một trường đại học tiên tiến còn phải tổ chức các hội thảo chuyên ngành, trong đó không chỉ các nhà nghiên cứu và giảng dạy gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm, mà họ có cơ hội để trực tiếp gặp gỡ các doanh nghiệp và tổ chức xã hội. Nhà nghiên cứu khoa học và nhà giảng dạy phải biết xã hội cần gì thì mới có định hướng đúng cho công việc. Qua đó nhân lực mà họ đào tạo ra mới đáp ứng được đòi hỏi của thị trường.  2) Tạo cơ hội để sinh viên động não  Có hệ thống cung ứng rồi nhưng để bán được hàng về lâu dài thì sản phẩm phải có chất lượng đủ sức cạnh tranh. Sản phẩm ở đây là nhân lực cho xã hội. Cần những con người nhìn ra vấn đề cần giải quyết và những người giải quyết được vấn đề. Tóm lại là cần những người biết cách động não.   Cách giáo dục đại học ở nước ta hiện nay chưa bắt người học phải động não. Không có những buổi thảo luận giữa thầy và trò hay giữa trò với trò, để phân tích góc cạnh các vấn đề học trên lớp. Không có những bài thuyết trình diễn tập để người học thể hiện khả năng tổng hợp và chắt lọc nội dung kiến thức. Ít ra trong giáo dục phổ thông thì với từng môn học còn có nhiều bài kiểm tra và bài tập bắt buộc, nhưng đến cấp đại học thì các yêu cầu này sút giảm hẳn. Chỉ có quá nhiều buổi học nối tiếp nhau trong đó người học chỉ ngồi nghe câu được câu mất một cách thụ động. Như vậy là người học không phải động não. Ngược lại, người muốn được động não thì lại không có cơ hội, không được khuyến khích và khẳng định. Đây cũng là một vấn đề với bản chất cung – cầu không gặp nhau.          Đội ngũ trợ giảng là cánh tay nối dài của người giảng viên, giúp công tác giảng dạy đạt hiệu quả sâu và rộng hơn.          Nếu chỉ trông cậy vào đội ngũ giảng dạy hiện nay để giải quyết những thiếu thốn, bất cập kể trên thì sẽ là đòi hỏi quá sức đối với các thầy, cô, nhất là với những lớp học đông hàng trăm sinh viên (ở đây chưa bàn đến vấn đề đãi ngộ cho người đi dạy). Vậy ở các nước phát triển họ làm thế nào? Câu trả lời rút gọn là: họ có một hệ thống trợ giảng . Trong hệ thống này, những người đi học sau khi đã khẳng định được khả năng am hiểu của mình với một môn học thì có thể đăng ký làm trợ giảng môn học này. Tùy vào quy mô của lớp mà số lượng trợ giảng nhiều hay ít. Họ giúp ra bài tập và chấm bài hằng tuần. Họ cũng có nhiệm vụ tiếp xúc và giúp đỡ mọi cá nhân gặp vướng mắc khi tiếp thu bài giảng. Đội ngũ trợ giảng là cánh tay nối dài của người giảng viên, giúp công tác giảng dạy đạt hiệu quả sâu và rộng hơn. Đổi lại, người trợ giảng sẽ được trả lương để tự trang trải một phần chi phí ăn học. Cái được khác là họ có cơ hội trau dồi thêm kiến thức chuyên môn và rèn luyện khả năng tổng hợp thông tin, trình bày, và giao tiếp. Tính hiệu quả trong công việc trợ giảng được sinh viên chấm điểm (theo lối bỏ phiếu kín) khi môn học kết thúc. Đây là điều kiện ràng buộc về trách nhiệm và quyền lợi. Với căn cứ một thành tích trợ giảng tốt, người đi học sẽ tự làm tăng thêm điểm cho hồ sơ xin việc của mình.    3) Xây dựng hệ dữ liệu để tự hoàn thiện mình  Chúng ta chỉ chấm điểm người đi học mà không cho người đi học chấm điểm và nhận xét người đi dạy. Lại không có hệ thống trợ giảng để truyền đạt nguyện vọng của người đi dạy tới các giảng viên, từ đó lưu giữ, chọn lọc, và hệ thống hóa các nguyện vọng này vào phương pháp giảng dạy. Cũng không có biện pháp lưu giữ các bài giảng, từ đó chọn ra bài giảng hay để người sau học hỏi và rút kinh nghiệm từ người trước. Các thiếu sót này khiến người dạy và người học xa rời nhau.  Các trường đều có phòng hợp tác phát triển nhưng không có bộ phận thăm dò, khảo sát các ngành, nghề, các đơn vị doanh nghiệp, qua đó đoán biết thị trường đang cần tri thức gì, năng lực gì. Đã có các hội thảo và lớp đào tạo ngắn hạn để đối tượng khách hàng là các tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp tham gia hòng tiếp thu kiến thức và tìm nhân sự từ trường đại học; tuy nhiên do thiếu sự hỗ trợ của những người trợ giảng nên người thuyết giảng chỉ cốt thuyết phục người nghe chứ chưa chắc đã giúp giải quyết vấn đề cụ thể của từng người nghe, càng không thể học hỏi thêm từ dòng thông tin phản biện từ phía người nghe. Không có thông tin nên không thể lập thành kho dữ liệu, qua đó tự mình chắt lọc lại kiến thức và định hướng làm việc cho phù hợp. Các thiếu sót này khiến cho môi trường học thuật và thực tiễn đời sống xa rời nhau.     4) Độc lập về tài chính              Giảng viên trẻ của trường  ĐH Y tế công cộng        Nếu coi trường đại học như một cơ sở sản xuất ra tri thức đáp ứng nhu cầu từ thị trường thì trách nhiệm của nó là phải làm ra đủ để tự nuôi sống mình. Đã có không ít bài viết phê phán thành quả giáo dục và nghiên cứu khoa học của Việt Nam căn cứ trên số lượng ít ỏi những công trình nghiên cứu khoa học công bố trên các tạp chí có uy tín của thế giới. Tuy nhiên, mấu chốt của việc công bố nghiên cứu khoa học là sáng tạo ra những kiến thức mới cho nhân loại. Nhưng những kiến thức hữu ích đóng góp thiết thực cho xã hội ta hiện nay đâu nhất thiết phải là kiến thức mới cho thế giới?  Khi nào ta biết mình đã có đóng góp thiết thực? Khi ta làm ra cái xã hội cần, được xã hội công nhận và trả công xứng đáng. Chưa có nhiều bài nghiên cứu lý thuyết đóng góp vào kho tàng tinh hoa của nhân loại, chưa đến mức phải buồn. Nhưng chưa có đóng góp thiết thực để xã hội có thể vui vẻ trả công cho anh một cách sòng phẳng, đó là điều phải trăn trở.          Việc để cho các trường đứng độc lập về tài chính không có nghĩa là cắt trợ cấp từ NN cho giáo dục. Việc duy trì trợ cấp của NN cho đào tạo giáo dục là cần thiết vì đây là loại dịch vụ mang đặc thù hàng hóa công cộng (public good). Tuy nhiên, không thể duy trì tình trạng hiện nay ở nước ta, đó là các trường học vì ỷ lại vào trợ cấp mà không coi cải thiện chất lượng là mục tiêu sống còn. Một chính sách giáo dục đã phổ biến ở nhiều quốc gia là chú trọng trợ cấp cho người đi học thay vì trợ cấp cho các trường học. Với cách làm này, người đi học được tự do lựa chọn trường đúng với khả năng và nguyện vọng trong khi các trường sẽ phải chú trọng vào chất lượng giảng dạy trong quá trình cạnh tranh nhau để tồn tại và phát triển.             Xã hội nên khuyến khích những trường học tự đứng vững về tài chính nhờ vào đáp ứng nhu cầu tri thức (không phải nhu cầu bằng cấp) của xã hội. Động cơ để một người tự đứng độc lập là được hưởng thành quả lao động chính đáng. Tức là không có giới hạn về thu nhập, thu nhập tỉ lệ với lợi nhuận.   Giải pháp toàn diện để các trường đại học cải thiện chất lượng giáo dục đại học bao gồm bốn mấu chốt:  – Phát triển hệ thống cung ứng kết nối trường học với nhu cầu tri thức xã hội.  – Tạo hệ thống trợ giảng để giúp học và người giảng dạy liên tục được động não.  – Lập kho lưu trữ thông tin để liên tục tự rút kinh nghiệm, tự cải thiện cho phù hợp với đòi hỏi thực tiễn  – Thu nhập không giới hạn và tỉ lệ với thành quả từ công việc.  Bốn yêu cầu này có thể chưa khả thi cho nhiều trường đại học của chúng ta. Nhưng rất hi vọng trong tương lai không quá xa sẽ có những cơ sở đi tiên phong. Xã hội đang đòi hỏi bức thiết cải thiện chất lượng giáo dục và sẽ đền đáp xứng đáng cho những cải cách đúng hướng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện chất lượng giáo dục đại học bằng tư duy kinh tế      Việc cải thiện chất lượng gi&#225;o dục đ&#224;o tạo đại học được nhắc đến thường xuy&#234;n trong c&#244;ng luận như một vấn đề bức thiết nhưng cho đến nay vẫn chưa c&#243; những giải ph&#225;p mang t&#237;nh to&#224;n diện v&#224; triệt để, vừa đạt được mục ti&#234;u về cải thiện chất lượng dạy v&#224; học đồng thời gi&#250;p cho b&#224;i to&#225;n quyền lợi của c&#225;c c&#225; nh&#226;n li&#234;n quan được giải quyết hợp l&#253;. Một giải ph&#225;p như vậy đ&#242;i hỏi được xem x&#233;t qua tư duy kinh tế với ba c&#226;u hỏi căn bản l&#224;: x&#227; hội c&#243; nhu cầu g&#236; ở gi&#225;o dục đại học; hiện trạng đ&#224;o tạo đại học hiện cung ứng tới đ&#226;u; lộ tr&#236;nh n&#224;o để từng bước gi&#250;p cung v&#224; cầu gặp nhau.          Cung và cầu tri thức chưa gặp nhau  Nói theo tư duy kinh tế thì con người cần tri thức để thỏa mãn tối ưu cho các nhu cầu của nó trong điều kiện hạn chế các nguồn tài nguyên. Như vậy là xã hội cần tri thức để có thể sử dụng các nguồn tài nguyên với hiệu quả tối ưu. Bên cạnh đó, xã hội cũng cần đội ngũ nhân lực có khả năng vận dụng những tri thức này. Trong hoàn cảnh các nguồn tài nguyên của đất nước còn hạn hẹp, nhu cầu tri thức để giúp tối ưu hóa là rất lớn, không đâu là không có.   Đứng trước nhu cầu với tri thức và nhân lực như vậy, các trường đại học đáp ứng được tới đâu? Thu nhập bình quân người Việt Nam còn rất nghèo chính vì thiếu khả năng tận dụng các nguồn lực. Đa số các sản phẩm con người làm được trong nền kinh tế chỉ mới dừng ở mức độ sử dụng trực tiếp hoặc sơ chế các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Điều đó hiển nhiên là do xã hội thiếu tri thức, thiếu nhân lực chất lượng cao. Hai cái thiếu này là do nguồn cung ứng tri thức và nhân lực còn chưa đáp ứng được.                 Vì              cung và cầu tri thức không gặp nhau nên trường học buộc phải biến thành              công cụ để cân bằng một thức cung – cầu khác, cung – cầu bằng cấp và              danh hiệu        Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thiếu khả năng cung ứng với việc thiếu khả năng sản xuất. Đây là hai vấn đề riêng biệt. Nếu đứng trước các đơn đặt hàng chính xác, cụ thể, nhà sản xuất có thể thực hiện đúng theo yêu cầu. Nhưng nếu không có đơn đặt hàng, không có các yêu cầu cụ thể, không biết nơi đưa hàng, không biết các mức giá cả, đãi ngộ, nhà sản xuất sẽ không cung ứng được cho dù có khả năng làm ra sản phẩm. Đây chính là vấn đề trong cung ứng giáo dục ở nước ta hiện nay.   Người đi dạy không xác định rõ được xã hội cần những sản phẩm tri thức gì và mức độ năng lực nào. Người đi học thì lệ thuộc thụ động vào thầy cô chứ không biết được cần phải tự mình phải chủ động rèn luyện những phẩm chất và kiến thức gì. Nhưng không hẳn là thầy cô và sinh viên thiếu khả năng đáp ứng thị trường. Nếu thị trường đưa ra các đơn đặt hàng cụ thể và thiết thực, rất có thể nhà cung ứng giáo dục sẽ có xu hướng phát triển để từng bước đáp ứng được nhu cầu.  Khi xã hội không đặt ra các yêu cầu cụ thể, thầy và trò sẽ tập trung vào sản xuất những tri thức và nhân lực xa rời thực tiễn. Quá nhiều những nhân lực xa rời thực tiễn khiến cho khi các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp có các nhu cầu cụ thể về tri thức và nhân lực thì họ không biết ai là người có thể làm được việc. Vì cung và cầu tri thức không gặp nhau nên trường học buộc phải biến thành công cụ để cân bằng một thức cung – cầu khác, cung – cầu bằng cấp và danh hiệu.        Lộ trình nào để cung và cầu tri thức trong xã hội gặp nhau?  1) Cải thiện phương pháp cung ứng  Nhìn sang phương pháp cung ứng của các trường đại học tiên tiến trên thế giới thì thấy rằng họ tổ chức nhiều hội chợ việc làm (job fair) để các bên quan tâm có thể gặp được nhau. Ở đó, các nhà tuyển dụng và lứa sinh viên chuẩn bị ra trường có cơ hội gặp được nhau. Từng nghe câu trai khôn kén vợ chợ đông. Những hội chợ việc làm như vậy tạo điều kiện cho các bên liên quan có hàng chục, hàng trăm lựa chọn một cách chủ động thay vì trông chờ vào một hai lựa chọn mang tính thụ động. Yếu tố chủ động rất quan trọng. Nó cho phép con người có sự chuẩn bị đầy đủ hơn để đáp ứng các đòi hỏi thiết thực từ phía đối tác.  Hội chợ việc làm chỉ là một trong nhiều hình thức để cung và cầu nhận biết lẫn nhau trong lĩnh vực giáo dục. Một trường đại học tiên tiến còn phải tổ chức các hội thảo chuyên ngành, trong đó không chỉ các nhà nghiên cứu và giảng dạy gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm, mà họ có cơ hội để trực tiếp gặp gỡ các doanh nghiệp và tổ chức xã hội. Nhà nghiên cứu khoa học và nhà giảng dạy phải biết xã hội cần gì thì mới có định hướng đúng cho hướng đúng cho công việc. Qua đó nhân lực mà họ đào tạo ra mới đáp ứng được đòi hỏi của thị trường.     2) Tạo cơ hội để sinh viên động não  Có hệ thống cung ứng rồi nhưng để bán được hàng về lâu dài thì sản phẩm phải có chất lượng đủ sức cạnh tranh. Sản phẩm ở đây là nhân lực cho xã hội. Cần những con người nhìn ra vấn đề cần giải quyết và những người giải quyết được vấn đề. Tóm lại là cần những người biết cách động não.   Cách giáo dục đại học ở nước ta hiện nay chưa bắt người học phải động não. Không có những buổi thảo luận giữa thầy và trò hay giữa trò với trò, để phân tích góc cạnh các vấn đề học trên lớp. Không có những bài thuyết trình diễn tập để người học thể hiện khả năng tổng hợp và chắt lọc nội dung kiến thức. Ít ra trong giáo dục phổ thông thì với từng môn học còn có nhiều bài kiểm tra và bài tập bắt buộc, nhưng đến cấp đại học thì các yêu cầu này sút giảm hẳn. Chỉ có quá nhiều buổi học nối tiếp nhau trong đó người học chỉ ngồi nghe câu được câu mất một cách thụ động. Như vậy là người học không phải động não. Ngược lại, người muốn được động não thì lại không có cơ hội, không được khuyến khích và khẳng định. Đây cũng là một vấn đề với bản chất cung – cầu không gặp nhau.            Đội ngũ trợ giảng là cánh tay nối dài của người giảng viên, giúp công tác giảng dạy đạt hiệu quả sâu và rộng hơn.          Nếu chỉ trông cậy vào đội ngũ giảng dạy hiện nay để giải quyết những thiếu thốn, bất cập kể trên thì sẽ là đòi hỏi quá sức đối với các thầy, cô, nhất là với những lớp học đông hàng trăm sinh viên (ở đây chưa bàn đến vấn đề đãi ngộ cho người đi dạy). Vậy ở các nước phát triển họ làm thế nào? Câu trả lời rút gọn là: họ có một hệ thống trợ giảng . Trong hệ thống này, những người đi học sau khi đã khẳng định được khả năng am hiểu của mình với một môn học thì có thể đăng ký làm trợ giảng môn học này. Tùy vào quy mô của lớp mà số lượng trợ giảng nhiều hay ít. Họ giúp ra bài tập và chấm bài hằng tuần. Họ cũng có nhiệm vụ tiếp xúc và giúp đỡ mọi cá nhân gặp vướng mắc khi tiếp thu bài giảng. Đội ngũ trợ giảng là cánh tay nối dài của người giảng viên, giúp công tác giảng dạy đạt hiệu quả sâu và rộng hơn. Đổi lại, người trợ giảng sẽ được trả lương để tự trang trải một phần chi phí ăn học. Cái được khác là họ có cơ hội trau dồi thêm kiến thức chuyên môn và rèn luyện khả năng tổng hợp thông tin, trình bày, và giao tiếp. Tính hiệu quả trong công việc trợ giảng được sinh viên chấm điểm (theo lối bỏ phiếu kín) khi môn học kết thúc. Đây là điều kiện ràng buộc về trách nhiệm và quyền lợi. Với căn cứ một thành tích trợ giảng tốt, người đi học sẽ tự làm tăng thêm điểm cho hồ sơ xin việc của mình.       3) Xây dựng hệ dữ liệu để tự hoàn thiện mình  Chúng ta chỉ chấm điểm người đi học mà không cho người đi học chấm điểm và nhận xét người đi dạy. Lại không có hệ thống trợ giảng để truyền đạt nguyện vọng của người đi dạy tới các giảng viên, từ đó lưu giữ, chọn lọc, và hệ thống hóa các nguyện vọng này vào phương pháp giảng dạy. Cũng không có biện pháp lưu giữ các bài giảng, từ đó chọn ra bài giảng hay để người sau học hỏi và rút kinh nghiệm từ người trước. Các thiếu sót này khiến người dạy và người học xa rời nhau.  Các trường đều có phòng hợp tác phát triển nhưng không có bộ phận thăm dò, khảo sát các ngành, nghề, các đơn vị doanh nghiệp, qua đó đoán biết thị trường đang cần tri thức gì, năng lực gì. Đã có các hội thảo và lớp đào tạo ngắn hạn để đối tượng khách hàng là các tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp tham gia hòng tiếp thu kiến thức và tìm nhân sự từ trường đại học; tuy nhiên do thiếu sự hỗ trợ của những người trợ giảng nên người thuyết giảng chỉ cốt thuyết phục người nghe chứ chưa chắc đã giúp giải quyết vấn đề cụ thể của từng người nghe, càng không thể học hỏi thêm từ dòng thông tin phản biện từ phía người nghe. Không có thông tin nên không thể lập thành kho dữ liệu, qua đó tự mình chắt lọc lại kiến thức và định hướng làm việc cho phù hợp. Các thiếu sót này khiến kho môi trường học thuật và thực tiễn đời sống xa rời nhau.                                Việc để cho các trường đứng độc lập về tài chính              không có nghĩa là cắt trợ cấp từ NN cho giáo dục. Duy trì trợ cấp của NN              cho đào tạo giáo dục  ở một mức độ nhất định là cần thiết vì đây là loại dịch vụ mang đặc thù hàng hóa              công cộng (public good). Tuy nhiên, không thể duy trì tình trạng hiện nay ở              nước ta, đó là các trường học vì ỷ lại vào trợ cấp mà không coi cải thiện chất              lượng là mục tiêu sống còn. Một chính sách giáo dục đã phổ biến ở nhiều quốc              gia là chú trọng trợ cấp cho người đi học thay vì trợ cấp cho các trường học.              Với cách làm này, người đi học được tự do lựa chọn trường đúng với khả năng và              nguyện vọng trong khi các trường sẽ phải chú trọng vào chất lượng giảng dạy              trong quá trình cạnh tranh nhau để tồn tại và phát triển.             4) Độc lập về tài chính     Nếu coi trường đại học như một cơ sở sản xuất ra tri thức đáp ứng nhu cầu từ thị trường thì trách nhiệm của nó là phải làm ra đủ để tự nuôi sống mình. Đã có không ít bài viết phê phán thành quả giáo dục và nghiên cứu khoa học của Việt Nam căn cứ trên số lượng ít ỏi những công trình nghiên cứu khoa học công bố trên các tạp chí có uy tín của thế giới. Tuy nhiên, mấu chốt của việc công bố nghiên cứu khoa học là sáng tạo ra những kiến thức mới cho nhân loại. Nhưng những kiến thức hữu ích đóng góp thiết thực cho xã hội ta hiện nay đâu nhất thiết phải là kiến thức mới cho thế giới?  Khi nào ta biết mình đã có đóng góp thiết thực? Khi ta làm ra cái xã hội cần, được xã hội công nhận và trả công xứng đáng. Chưa có nhiều bài nghiên cứu lý thuyết đóng góp vào kho tàng tinh hoa của nhân loại, chưa đến mức phải buồn. Nhưng chưa có đóng góp thiết thực để xã hội có thể vui vẻ trả công cho anh một cách sòng phẳng, đó là điều phải trăn trở.  Xã hội nên khuyến khích những trường học tự đứng vững về tài chính nhờ vào đáp ứng nhu cầu tri thức (không phải nhu cầu bằng cấp) của xã hội. Động cơ để một người tự đứng độc lập là được hưởng thành quả lao động chính đáng. Tức là không có giới hạn về thu nhập, thu nhập tỉ lệ với lợi nhuận.         Giải pháp toàn diện để các trường đại học cải thiện chất lượng giáo dục đại học bao gồm bốn mấu chốt:  –                     Phát triển hệ thống cung ứng kết nối trường học với nhu cầu tri thức xã hội.  –                     Tạo hệ thống trợ giảng để giúp học và người giảng dạy liên tục được động não.  –                     Lập kho lưu trữ thông tin để liên tục tự rút kinh nghiệm, tự cải thiện cho phù hợp với đòi hỏi thực tiễn  –                     Thu nhập không giới hạn và tỉ lệ với thành quả từ công việc.  Bốn yêu cầu này có thể chưa khả thi cho nhiều trường đại học của chúng ta. Nhưng rất hi vọng trong tương lai không quá xa sẽ có những cơ sở đi tiên phong. Xã hội đang đòi hỏi bức thiết cải thiện chất lượng giáo dục và sẽ đền đáp xứng đáng cho những cải cách đúng hướng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chia sẻ thiết thực với nghề giáo      Cuộc sống đi kèm với mưu sinh, khi đồng lương không đủ lo cho gia đình một cách tươm tất, khiến cho mối  quan tâm của người thầy đối với chất lượng bài giảng hay thời gian  nghiên cứu phục vụ giảng dạy cũng bị giảm đi. Bởi vậy, việc cải thiện  chế độ tiền lương cho thầy cô giáo là thiết yếu thời điểm hiện nay.     Tiền lương phần nào thể hiện sự trả công cho các thầy cô giáo trong quan hệ “mua chữ, trả tiền”. Hơn nữa, chế độ tiền lương hợp lý sẽ thể hiện được sự kính trọng, biết ơn của toàn xã hội đối với nghề trồng người.   Cải cách giáo dục, người thầy không còn là người giảng lý thuyết đơn thuần mà còn là những người nghiên cứu và hướng dẫn học trò tìm kiếm cái mới, gợi mở tư duy sáng tạo. Một khi người thầy không phải nghĩ đến chuyện mưu sinh, họ sẽ toàn tâm với trách nhiệm trồng người của mình.   Ngoài ra, cũng giống như một công ty tuyển người làm. Tiền lương kém hấp dẫn thì khó thu hút được người giỏi. Chế độ tiền lương hiện nay cũng đang là rào cản rất lớn khi các trường muốn chiêu mộ những người ưu tú nhất trong xã hội, chẳng hạn như, khó mời được các luật sư có kinh nghiệm vào giảng dạy tại các trường luật… Và cũng chính vì sự bất cập của tiền lương mà ngành giáo dục vẫn chưa tạo được “thị trường việc làm” cạnh tranh, do đó chưa có điều kiện và cơ chế để “thanh lọc” những người không đủ trình độ ra khỏi các tiết giảng. Một khi người thầy được nhận mức lương “đãi ngộ”, nhà nước và người dân có quyền chất vấn những người thầy ấy về chất lượng của các sản phẩm là người học khi ra trường.    Chú trọng đầu ra thay vì đầu vào là sự lựa chọn của các nước tiên tiến trên thế giới. Hệ thống lương bậc của giáo viên cũng nên dựa vào các tiêu chí nhất định theo xu hướng đó, chẳng hạn như:  (i)    Các giáo viên uyên thâm sẽ được nhận lương cao hơn so với các giáo viên có trình độ trung bình (hiện nay, việc lương cao hay thấp ở nước ta chủ yếu dựa vào số năm công tác).  (ii)    Các giáo viên không đủ trình độ sẽ bị thanh lọc.  (iii)    Các giáo viên giảng dạy môn học càng khó, càng quan trọng thì sẽ được trả lương cao.  Như vậy, cùng với những lời tán dương “tôn sư trọng đạo” hay “không thầy đố mày làm nên” với các nhà giáo tại các cuộc mít tinh, kỷ niệm và những bó hoa sắc màu chỉ mang ý nghĩa khích lệ tinh thần thì sự quan tâm đến chế độ tiền lương cho những người dạy học nhằm chia sẻ khó khăn với người thầy cũng như gia đình của họ mới thực sự bù đắp được công lao trồng người của các nhà giáo. Điều này cũng được xem như bước cải cách mang tính đột phá và sự sống còn của ngành giáo dục trong bối cảnh hiện nay.  —  * Đại học Victoria, New Zealand    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chuẩn hóa dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường      “Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường nhưng ở Việt Nam, công tác này vẫn bị xem nhẹ do chưa được nhìn nhận thấu đáo”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Ths Hồ Thu Hà (Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội) trao đổi với Tia Sáng.      Tư vấn tâm lý học đường tại một trường  THPT ở TP HCM. Nguồn: nld.com.vn  Tia Sáng: Xin các chị cho biết vai trò cũng như công việc cụ thể của cán bộ làm công tác hỗ trợ tâm lý học đường?  PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Chúng ta đều biết, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên có thể gặp phải nhiều vấn đề liên quan đến việc học tập, các mối quan hệ xã hội, quản lý cảm xúc, stress hay nặng hơn là các rối loạn tâm lý như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi, v.v. Cán bộ tâm lý học đường có thể giúp các em cũng như gia đình, giáo viên và những người có liên quan hiểu và giải quyết những vấn đề này, đặc biệt, giúp các em vượt qua các trạng thái tâm lý bất ổn trong thời gian ngắn và tránh tái diễn. Đồng thời, họ phối hợp cùng gia đình, nhà trường và các cán bộ chuyên môn khác nhằm tạo ra một môi trường học tập an toàn và lành mạnh, hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện. Nếu cần một định nghĩa chuẩn thì có thể sử dụng định nghĩa đáng tin cậy nhất do Hiệp hội Tâm lý học đường Mỹ đưa ra: Cán bộ tâm lý học đường áp dụng các kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực sức khỏe tâm thần, sự học và hành vi để giúp học sinh thành công trên các phương diện học đường, xã hội, hành vi và cảm xúc.  Ths. Hồ Thu Hà: Cụ thể hơn, cán bộ tâm lý học đường có ba vai trò. Thứ nhất, hỗ trợ trực tiếp và tư vấn can thiệp với học sinh; thứ hai, tư vấn cho giáo viên, gia đình và các cán bộ khác trong nhà trường về các chiến lược – kế hoạch nhằm hỗ trợ học sinh phát triển một cách toàn diện. Thứ ba, họ cũng làm việc với ban lãnh đạo nhà trường để cải thiện các chính sách giáo dục trong phạm vi nhà trường, cộng tác với các tổ chức trong cộng đồng để cung cấp các dịch vụ giáo dục, tâm lý mang tính chất phòng ngừa và có lợi cho học sinh. Thông qua các hoạt động đó, cán bộ tâm lý học đường và các bên liên quan cần hợp tác sao cho dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đạt được các mục tiêu chính là: nâng cao thành tích học tập của học sinh; đảm bảo sức khỏe tâm thần và hành vi tích cực ở học sinh; nhận diện và hỗ trợ nhu cầu của các nhóm học sinh đa dạng; tạo ra một môi trường học đường an toàn và tích cực.  Ngoài ra, cán bộ tâm lý học đường không chỉ hoạt động ở trường học (từ mẫu giáo tới bậc đại học) mà còn làm việc tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần liên quan đến trường học, cơ sở chăm sóc cộng đồng, chương trình giáo dưỡng, phòng khám tư hoặc các viện nghiên cứu và trường đại học.  Ngoài việc tiến hành sàng lọc và các trị liệu bước đầu, đối với các em học sinh bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng, liệu cán bộ tâm lý học đường có thể đảm đương việc trị liệu mang tính chuyên sâu?  PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Thông thường, cán bộ tâm lý học đường sẽ là người can thiệp ban đầu, thực hiện các bước mang tính cơ bản. Trong trường hợp  các em bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng, vượt quá khả năng hỗ trợ của cán bộ tâm lý học đường thì cần có sự can thiệp của cán bộ tâm lý lâm sàng. Cán bộ tâm lý lâm sàng được đào tạo chuyên nghiệp và có các kĩ năng lâm sàng để giúp khách hàng đương đầu một cách hiệu quả hơn với các vấn đề trong cuộc sống và các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Cán bộ tâm lý lâm sàng có thể làm việc ở bệnh viện, phòng khám tư hay tất cả những cơ sở có chức năng hỗ trợ con người giải quyết các vấn đề về: rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, xung động kéo dài; các trạng thái mãn tính ảnh hưởng tới cuộc sống hay sức khỏe thể chất như ở người mắc bệnh ung thư, tim mạch; các bất ổn tâm lý ngắn hạn như một số người bị suy sụp sau khi trải qua cái chết của người thân. Cán bộ tâm lý lâm sàng giúp khách hàng học cách đương đầu với các tình huống gây stress, điều hòa cuộc sống trong các tình huống mắc bệnh mãn tính, vượt qua các vấn đề về sức khỏe tâm thần và tự phá bỏ các rào cản ngăn họ đạt được mục tiêu của mình.  Cán bộ tâm lý học đường sau khi hoàn thành bậc cử nhân phải được đào tạo chuyên sâu cả về tâm lý và giáo dục. Một số nước yêu cầu ứng viên tối thiểu phải có bằng  thạc sĩ, nhiều nước khác yêu cầu bằng tiến sĩ và thời lượng thực tập lên tới 1200 giờ mới được tham dự kỳ sát hạch cấp chứng chỉ cán bộ tâm lý học đường.  PGS.TS Đặng Hoàng Minh.  Ths. Hồ Thu Hà: Khác với các bác sĩ, cán bộ tâm lý lâm sàng không điều trị các trạng thái bất ổn tâm lý nặng nề bằng thuốc hay các phương pháp y học khác. Họ xác định vấn đề của khách hàng bằng cách tiến hành các trắc nghiệm cần thiết, đánh giá tình trạng,  đưa ra chẩn đoán và định hình cơ chế hình thành vấn đề, từ đó, có kế hoạch trị liệu, chủ yếu là các liệu pháp tâm lý. Việc trị liệu bằng liệu pháp tâm lý cũng đã được chứng minh mang lại hiệu quả cao. Tùy thuộc vào từng trường hợp, cán bộ tâm lý lâm sàng có thể lựa chọn nhiều liệu pháp phù hợp, như: làm việc với cá nhân, cặp đôi, gia đình hay nhóm.. Nhiều nghiên cứu cho thấy,  hiệu quả trị liệu cho khách hàng thường đạt kết quả tốt nhất khi có sự tham gia của một nhóm các chuyên gia, bao gồm: bác sĩ tâm thần, cán bộ tâm lý, y tá…  PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Ngoài ra, trong trường hợp cực kỳ đặc biệt, đối với  trẻ em có nghi ngờ tổn thương về não bộ sẽ cần tới cán bộ tâm lý thần kinh. Họ sẽ sử dụng các công cụ đánh giá để xác định chất lượng hoạt động chức năng của não bộ liên quan đến tổn thương não và từ đó, đưa ra các khuyến nghị cho kế hoạch trị liệu, bao gồm: liệu pháp tâm lý, thuốc hoặc phẫu thuật.  Như vậy, cán bộ tâm lý (ở nhiều cấp độ) có  vai trò rất quan trọng trong sự phát triển lành mạnh và toàn diện của trẻ em, thanh thiếu niên. Tại các nước dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến, những người làm công tác hỗ trợ tâm lý phải trải qua  quy trình đào tạo như thế nào để được cấp chứng chỉ hành nghề?  PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Đối với cán bộ tâm lý, để có được chứng chỉ hành nghề không hề đơn giản. Đào tạo bậc cử nhân thường dừng lại ở các kiến thức chung về tâm lý học. Ở các nước phát triển, sau khi hoàn thành bậc đại học, bạn trở thành cử nhân tâm lý học nhưng chưa được phép hành nghề tâm lý. Như ở Mỹ, để trở thành cán bộ tâm lý, bạn buộc phải trải qua một kỳ sát hạch (hoặc đáp ứng các yêu cầu do cơ quan có thẩm quyền ban hành) rồi mới được cấp chứng chỉ hành nghề (licence). Nhận được chứng chỉ có nghĩa là cán bộ tâm lý đã hoàn thành các yêu cầu về đào tạo (chương trình thạc sĩ, tiến sĩ kèm theo thời gian thực tập có giám sát ở các cơ sở cung cấp dịch vụ tâm lý), được quyền hành nghề và được pháp luật bảo vệ.  Quá trình đào tạo cán bộ tâm lý thường rất nghiêm ngặt, kéo dài và mỗi một lĩnh vực lại có một nội dung đào tạo khác nhau. Cán bộ tâm lý học đường sau khi hoàn thành bậc cử nhân phải được đào tạo chuyên sâu cả về tâm lý và giáo dục. Một số nước yêu cầu ứng viên tối thiểu phải có bằng  thạc sĩ, nhiều nước khác yêu cầu bằng tiến sĩ và thời lượng thực tập lên tới 1200 giờ mới được tham dự kỳ sát hạch cấp chứng chỉ cán bộ tâm lý học đường. Họ cần được trang bị các kiến thức về sức khỏe tâm thần của học sinh, mô hình can thiệp cho học sinh trong môi trường học đường, các chương trình nâng cao sức khỏe tâm thần học đường, hệ thống học đường và chính sách, đạo đức nghề nghiệp. Đặc biệt, cán bộ tâm lý lâm sàng còn phải trải qua quá trình đào tạo gắt gao hơn, thông thường lên tới 5-7 năm sau khi hoàn thành bậc cử nhân. Họ được đào tạo về đạo đức, các kiến thức tâm lý học liên quan tới cơ sở sinh học, nhận thức – cảm xúc và xã hội của hành vi, các rối loạn tâm thần, các kĩ năng cụ thể liên quan tới đánh giá và trị liệu tâm lý. So với các chuyên gia khác trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, họ phải trải qua một quá trình đào tạo vất vả và kéo dài hơn rất nhiều do tích hợp các học phần khác nhau về khoa học tâm lý cũng như thời gian thực tập.  Để đảm bảo về chuyên môn, ai sẽ là người giám sát các cán bộ tâm lý khi họ tiến hành công tác hỗ trợ tâm lý học đường?  Ths. Hồ Thu Hà: Theo đúng quy trình, việc giám sát quá trình hành nghề cũng rất nghiêm khắc, đòi hỏi cán bộ tâm lý phải nghiêm túc với công việc và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Do nghề cán bộ tâm lý là nghề (professional) được pháp luật công nhận nên pháp luật sẽ ban hành luật, quy chế/ đạo đức hành nghề-cũng là công cụ để giám sát công việc của cán bộ tâm lý. Điều đó có nghĩa là nếu cán bộ tâm lý vi phạm đạo đức, quy chế hành nghề, cán bộ tâm lý sẽ bị kiện, dẫn đến bị treo bằng hoặc các hình thức kỉ luật khác. Ở nhiều nơi, quy chế hành nghề cũng quy định số giờ làm việc/tuần của cán bộ tâm lý, số giờ phải học tập/bồi dưỡng thêm theo năm, v.v. Thêm vào nữa, về mặt chuyên môn, cán bộ tâm lý chịu sự giám sát của các chuyên gia độc lập có chuyên môn sâu hơn, hoặc họ trao đổi chuyên môn và giám sát đồng đẳng lẫn nhau.  Xin cảm ơn sự chia sẻ của các chị!  Bảo Như thực hiện !    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần cung cấp thông tin đầy đủ và không thiên vị      … Việc li&#234;n kết đ&#224;o tạo đại học với nước ngo&#224;i c&#225;c đại học Việt Nam được g&#236;? Trước hết l&#224; sự san sẻ &#225;p lực học tập của người học l&#234;n c&#225;c đại học. Sau đ&#243; l&#224; việc học tập ngay trong nước c&#225;ch thức tổ chức đ&#224;o tạo của c&#225;c đại học nước ngo&#224;i. V&#224; đứng trước nguy cơ cạnh tranh, c&#225;c đại học Việt Nam buộc phải l&#224;m mới m&#236;nh tr&#234;n nhiều lĩnh vực: chương tr&#236;nh, tổ chức đ&#224;o tạo, cơ sở vật chất (ph&#242;ng th&#237; nghiệm, ph&#242;ng học, thiết bị dạy học – th&#237; nghiệm), thư viện, gi&#225;o tr&#236;nh, nghi&#234;n cứu khoa học&#8230; Tất nhi&#234;n, c&#225;c giảng vi&#234;n cũng phải thay đổi c&#225;ch thức dạy học cho ph&#249; hợp với việc đ&#224;o tạo theo t&#237;n chỉ; thay đổi c&#225;ch đ&#225;nh gi&#225;, nh&#236;n nhận sinh vi&#234;n&#8230;    Tuy vậy sự “bùng nổ” trong liên kết đào tạo đại học thời gian gần đây cho thấy những mặt trái và hệ lụy mà nếu không kịp thời chấn chỉnh, kiểm soát thì nguy cơ rủi ro với người học là rất lớn, vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo và giảm rủi ro cho người học. Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo cần:– Có một cơ quan có thể cung cấp thông tin đầy đủ và không thiên vị về các trường đại học liên kết mở các hệ đào tạo tại Việt Nam, các chương trình liên kết đào tạo giữa các đại học Việt Nam và các đại học nước ngoài. – Cho phép các đại học Việt Nam chủ động liên kết và chịu trách nhiệm trước Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như trước người học và xã hội về chất lượng các chương trình liên kết. Phía Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ kiểm tra việc liên kết (Ví dụ, với các chương trình liên kết đào tạo đại học của Hoa Kỳ là việc các đại học này đã được kiểm định, đang đứng ở “top” nào trong các đại học được xếp hạng ở Hoa Kỳ); khuyến khích các chương trình liên kết có cam kết cấp học bổng cho những sinh viên giỏi; xử phạt và ra quyết định chấm dứt các chương trình liên kết nếu không giữ đúng các cam kết khi mở các chương trình liên kết.Về phía Nhà nước, cần có một chương trình tín dụng cho học sinh giỏi nhưng không có khả năng tài chính theo học các chương trình liên kết, bên cạnh chương trình tín dụng cho sinh viên vay tiền theo học các chương trình đào tạo ở nước ngoài; có chính sách khuyến khích các đại học nước ngoài mở các chương trình liên kết, nhất là các chương trình chưa có ở Việt Nam; khuyến khích các chương trình liên kết có chuyển giao đào tạo cho phía các đại học Việt Nam, các chương trình có cam kết trao đổi giảng viên và đào tạo giảng viên có trình độ cao cho các đại học Việt Nam…1——–Trích tham luận tại Hội thảo Hợp tác quốc tế trong GD&ĐT ĐH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đập vỡ bao nhiêu quả trứng?      Cần và được phép đập vỡ bao nhiêu quả trứng  để có được một đĩa trứng rán lý tưởng mà có lẽ chẳng bao giờ có được  trên đời này? Isaiah Berlin (1909-1997), tác giả nổi tiếng của luận văn  “Hai khái niệm về Tự do” (1958), trong một tác phẩm khác, đã đặt câu hỏi  đầy băn khoăn như thế đối với mô hình giáo dục lý tưởng kiểu Platon.     Từ giác độ của “nạn nhân”, câu hỏi sẽ trở thành: bao nhiêu quả trứng đã bị đập vỡ cho một giấc mơ lý tưởng?   BA NIỀM TIN CHẮC NỊCH  Mô hình Platon, theo I. Berlin, gồm ba niềm tin chắc nịch:   1.  Đối với mọi câu hỏi, phải và chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất đúng; mọi câu trả lời khác tất yếu phải sai;  2.  Nhất định có một con đường đáng tin cậy để phát hiện những “chân lý” ấy;   3. Các câu trả lời đúng – một khi đã được tìm ra – tất yếu phải phù hợp với nhau và kết thành một toàn bộ hoàn chỉnh, vì chân lý thì không thể tương thích với cái gì khác nó.   Niềm tin thứ nhất là thuyết nhất nguyên trong triết học hay tôn giáo, xuất phát từ niềm tin vào sự hiện hữu của một – và chỉ một – nguyên lý nền tảng. Niềm tin này lan sang lĩnh vực khoa học, chính trị, xã hội, theo đó chỉ có một viễn tượng đúng để giải quyết vấn đề, còn những viễn tượng khác là không hoặc ít chính đáng hơn và câu trả lời của chúng nhất định phải sai. Ngay cả khi không hoặc chưa tìm ra câu trả lời đúng, người ta vẫn tin rằng chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất đúng mà thôi.  Niềm tin thứ hai có tác động lớn đến tư duy giáo dục. Phải có một con đường đi đến chân lý và có thể tìm ra nó! Lý tưởng có ích gì nếu ta tuyệt nhiên không biết có thể đến gần hơn với nó hay không? Thế nhưng, sự hiện diện của một lý tưởng – dù hấp dẫn và tốt đẹp đến mấy – có nhất thiết bảo đảm sẽ có một con đường dẫn đến nó không? Chưa chắc! Tuy thế, niềm tin này vẫn cứ ăn sâu vào nền văn hóa giáo dục: vẫn có một con đường để đi từ hiện tượng đến bản chất, từ cái vô thường, tương đối đến cái vĩnh hằng, tuyệt đối. “You can get it, if you really want” (“Bạn có thể đạt được nó, nếu bạn thật sự mong muốn”), hầu như là tín điều khó lay chuyển của mọi nỗ lực sư phạm.  Niềm tin thứ ba là về sự hài hòa, trong đó mọi bộ phận đều phù hợp hoặc có thể trở nên hòa hợp với nhau trong một tổng thể. “Vương quốc” của những câu trả lời đúng là một cái toàn bộ có sự nhất trí nội tại, do đó, không có mâu thuẫn, hàm hồ, nghịch lý, nghĩa là, rành mạch, nhất phiến, không có bi kịch. Trong tâm thức ngày nay, niềm tin ấy tuy có trở nên khả nghi, nhưng vẫn chưa đánh mất sức hấp dẫn!  Nói chung, niềm tin rằng chân lý là cái gì có sẵn và có thể được tìm ra chứ không phải được cấu tạo nên, là hòn đá tảng của tư duy siêu hình học Tây phương kết hợp từ hai truyền thống lớn: tư duy Hy lạp – Platon và đức tin Kitô giáo. Dưới nhiều hình thức khác nhau, niềm tin này hóa thân vào trong nhiều lý tưởng luân lý, giáo dục, chính trị, xã hội cho tới ngày nay. Ít ra là ở hai “thái độ” cơ bản: tin rằng tư tưởng có thể thay đổi thế giới, và tin vào sự phát triển ngày càng cao hơn (tuy có thể có sự bất liên tục) của cá nhân, xã hội và, thậm chí, của cả nhân loại.   Dưới ánh sáng của “lý tưởng đúng”, xã hội và nền luân lý cần được biến đổi. Câu hỏi chỉ còn là: điều gì sẽ xảy ra khi không phải ai cũng chia sẻ lý tưởng ấy hoặc xem đó là mục tiêu để phấn đấu. Trong khi Karl Popper nhận ra mầm mống của tư tưởng toàn trị trong mô hình Platon và lưu ý rằng con người có quyền hy sinh cho lý tưởng của riêng mình, nhưng không nên bằng “máu của người khác”, thì Max Brod viết một cách mạnh mẽ: “địa ngục ắt sẽ không hoàn chỉnh, nếu thiếu những lời hiệu triệu của… thuyết duy tâm (thuyết lý tưởng)”!  Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, mô hình lý tưởng tỏ ra ít nguy hại hơn, vì dường như không thể thiếu việc nhìn con người theo khả thể hơn là theo hiện trạng của họ. Giáo dục sẽ ra sao nếu không có lòng tin vào năng lực tiềm tàng của trẻ em và không có sự tin cậy được “ứng trước” cho thầy cô giáo? Bạn có yên tâm giao phó con em mình cho những người thầy không có “tâm hồn” và lý tưởng?  TỪ TẦM CAO CỦA LÝ TƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THỰC TẾ  Một trong những vấn đề lớn của mô hình giáo dục lý tưởng nằm ngay trong “tầm cao” của lý tưởng! Lý tưởng không nhất thiết lúc nào cũng “phi thực tế”, nhưng sẽ mất đi sức hấp dẫn khi nó đòi hỏi quá nhiều và quá cao nơi con người. Một khi cái “phải là” và cái “có thể là” có khoảng cách quá xa, lý tưởng sẽ đẩy con người vào chỗ thất vọng, yếm thế, chán chường hơn là nâng họ lên khỏi thực tế tầm thường.   Một cách tóm tắt, người ta có thể nêu những điểm yếu không thể phủ nhận của mô hình lý tưởng trong giáo dục:   1. Xã hội công nghiệp hiện đại đặt ra những yêu cầu cho nhà trường và giáo dục mà mô hình lý tưởng ít có khả năng thỏa ứng;  2. Mô hình ấy thiếu một quan niệm về “giáo dục kỹ thuật”;  3.  Mô hình “duy thực” mà ta sẽ làm quen tiếp theo đây tỏ ra đáp ứng nhiều yêu cầu của thời đại một cách hiệu quả hơn;  4.  Mô hình lý tưởng có thể trở nên đặc tuyển, đặc quyền và ít quan tâm đến sự bình đẳng xã hội trong thế giới dân chủ hiện đại.  Tuy vậy, mô hình ấy vẫn có những điểm mạnh không thể xem nhẹ:  1. Nhờ mô hình lý tưởng, con người ngày càng đạt tới những thành tựu giáo dục và khoa học ở mức độ cao;  2. Chú ý nhiều đến việc vun bồi nền văn hóa tinh thần trong lĩnh vực giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức và tính cách;  3.Đặt vai trò người thầy vào trung tâm của trách nhiệm giáo dục;  4. Nhấn mạnh viễn tượng “nhân bản” trong đời sống cá nhân và xã hội.   Trong “hoàn cảnh hậu-hiện đại” của một xã hội toàn cầu hóa ngày nay, mô hình lý tưởng trong giáo dục dễ trở thành đối tượng của sự nhạo báng và nghi ngại. Tuy nhiên, vẫn không đủ lý do để hoàn toàn loại bỏ nó, hay, để nói ngược lại với Max Brod: trần gian ắt sẽ không hoàn chỉnh, nếu thiếu đi những lời hiệu triệu của mô hình lý tưởng trong giáo dục!    (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 6, 24.10.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần hoàn thiện Qui chế 43      Việc vận dụng &#8220;Qui chế đ&#224;o tạo đại học v&#224; cao đẳng hệ ch&#237;nh quy theo hệ thống t&#237;n chỉ&#8221;&nbsp; (thường được gọi tắt l&#224; Qui chế 43) ở một v&#224;i trường đại học đ&#227; nảy sinh một số bất cập (chẳng hạn như “sự cố” trong năm 2008 ở Trường ĐH B&#225;ch khoa thuộc ĐH Đ&#224; Nẵng). Tr&#234;n cơ sở tiếp cận c&#225;c qui định về đ&#224;o tạo theo t&#237;n chỉ ở một số quốc gia c&#243; nền gi&#225;o dục đại học ti&#234;n tiến, nhất l&#224; của Hoa Kỳ, t&#225;c giả ph&#226;n t&#237;ch một số nội dung của Qui chế 43 v&#224; đề xuất v&#224;i &#253; kiến nhằm g&#243;p phần ho&#224;n thiện hơn qui chế quan trọng n&#224;y.     1. Về cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần, điểm trung bình chung (Điều 22 & 23)  Theo Qui chế 43, việc cho điểm học phần được tiến hành theo trình tự: Giảng viên (GV) chấm theo thang điểm 10, điểm này sau đó được chuyển sang thang điểm chữ: A (8.5 – 10), B (7.0 – 8.4), C (5.5 – 6.9), D (4.0 – 5.4), F (dưới 4). Điểm chữ này sau đó lại được chuyển đổi sang thang điểm 4 để tính điểm trung bình chung (ĐTBC): A=4, B=3, C=2, D=1, F=0.  Việc sử dụng thang điểm chữ giúp cho sự giao lưu/trao đổi học vấn với các nước trên thế giới được thuận lợi hơn, nhưng sự chuyển đổi qua nhiều bước như trên cùng với tính không liên tục của các thang đo đã làm cho sai số của kết quả cuối cùng tăng lên đáng kể. Thử xem một ví dụ:  Ví dụ 1: So sánh ĐTBC của hai sinh viên (SV) sau năm thứ nhất theo hai thang điểm 10 và 4, với giả định cả hai đều tích lũy được 30 tín chỉ ứng với 10 học phần, mỗi học phần 3 tín chỉ:  –  SV 1: 10 học phần đều đạt 5đ/10  ĐTBC (thang 10): A = 5x3x10/30 = 5đ  ĐTBC (thang 4): A = 1x3x10/30 = 1đ  –  SV 2: 5 học phần đạt 5đ/10, 5 học phần đạt 5.5đ/10  ĐTBC (thang 10): A = (5x3x5 + 5.5x3x5)/30 = 5.25đ  ĐTBC (thang 4): A = (1x3x5 + 2x3x5)/30 = 1.5đ  Kết quả trên cho thấy nếu theo thang điểm 10 thì ĐTBC của SV 2 chỉ cao hơn ĐTBC của SV 1 là 5%, trong khi sự chênh lệch theo thang điểm 4 lên đến 50%!  Để hạn chế sự chênh lệch quá lớn như trên, nhiều nơi áp dụng hệ tín chỉ cho phép GV chấm điểm trực tiếp theo thang điểm chữ và sau đó điểm này được qui đổi sang thang điểm số với thang đo chi tiết hơn. Một vài ví dụ đặc trưng:  – Washington State University, Hoa Kỳ: A=4.0, A-=3.7, B+=3.3, B=3.0, B-=2.7, C+=2.3, C=2.0, C-=1.7, D+=1.3, D=1.0, F=0.0 (thang điểm được dùng ở nhiều trường đại học Hoa Kỳ)  – Simon Fraser University, Canada: A+=4.33, A=4.00, A-=3.67, B+=3.33, B=3.00, B-=2.67, C+=2.33, C=2.00, C-=1.67, D=1.00, F=0.00  – National University of Singapore: A+=A=5, A- =4.5, B+=4.0, B=3.5, B-=3.0, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0  –  Chulalongkorn University, Thái Lan: A=4.0, B+=3.5, B=3, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0  Mặc dù Qui chế 43 cho phép các trường có thể sử dụng (hay không) thang điểm chữ có nhiều mức, thiết nghĩ đây là điều nên bắt buộc để tránh sự thiệt thòi cho SV và tạo sự thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi kết quả học phần giữa các trường một khi có sự liên thông. Việc Qui chế 43 yêu cầu GV chấm theo thang điểm 10 (với một số lẻ) là phù hợp với thói quen lâu nay, tuy nhiên để tăng độ chính xác khi chuyển sang thang điểm chữ thì thang chuyển đổi cần được chi tiết hơn. Xem ví dụ ở Bảng 1 (do tác giả đề xuất, tương ứng với thang chuyển đổi của nhiều trường đại học Hoa Kỳ và khá phù hợp với Qui chế 43).    Bảng 1: Bảng chuyển đổi các thang điểm đề xuất            Thang điểm 10      Thang điểm chữ      Thang điểm 4          9.1 – 10      A      4.0          8.5 – 9.0      A–      3.7          8.0 – 8.4      B+      3.3          7.5 – 7.9      B      3.0          7.0 – 7.4      B–      2.7          6.4 – 6.9      C+      2.3          5.8 – 6.3      C      2.0          5.2 – 5.7      C–      1.7          4.6 – 5.1      D+      1.3          4.0 – 4.5      D      1.0          0 – 3.9      F      0.0            Nếu áp dụng bảng chuyển đổi này cho ví dụ 1 thì ĐTBC của hai SV 1 và 2 theo thang điểm 4 lần lượt là 1.3đ và 1.5đ. Sự chênh lệch bây giờ chỉ còn khoảng 15%.  2.  Về các qui định cho phép tiếp tục học và tốt nghiệp (Điều 16 & 27)  Trước khi xem xét các qui định về cho phép tiếp tục học và tốt nghiệp của Qui chế 43 có so sánh với các qui định của các trường đại học Hoa Kỳ (mà có lẽ Bộ GD&ĐT tham khảo chính khi xây dựng Qui chế 43), có một yếu tố rất quan trọng cần được quan tâm là quan niệm và thực tế đánh giá của GV Việt Nam tương đối khác nhiều so với các GV của Hoa Kỳ. Trong khi phần đông GV Việt Nam cho điểm tương đối “chặt chẽ” thì phần nhiều GV Hoa Kỳ có vẻ “rộng rãi” hơn. Ở Việt Nam chưa có mấy nghiên cứu về vấn đề này nhưng ở Hoa Kỳ, hiện tượng “lạm phát điểm” (grade inflation) ở bậc đại học đã được nhiều cơ quan/nhà nghiên cứu giáo dục báo động trong suốt hơn 15 năm qua, chẳng hạn qua những bài viết của The Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching hoặc The Chronical of Higher Education. Một trang web (http://www.gradeinflation.com/) chuyên thống kê hiện tượng lạm phát điểm ở các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ cho biết ĐTBC bình quân của các trường đã tăng đều từ 2.94 (theo thang điểm 4) trong năm học 1991-92 lên 3.00 trong năm học 1996-97, rồi đến 3.09 trong năm học 2001-02 mặc dù điểm thi đầu vào SAT của các trường đại học Hoa Kỳ nhìn chung giảm trong suốt 30 năm qua (dựa theo bài viết nói trên của Carnegie Foundation).  Ngoài ra, trong khi ở Việt Nam lâu nay xem điểm 5/10 là điểm đạt yêu cầu (và khó có lý gì để bác bỏ) thì Qui chế 43 lại xếp vào mức D (Trung bình yếu) để rồi sau đó qui đổi thành điểm 1 theo thang điểm 4! Trong khi đó ở Hoa Kỳ, các GV thường cho mức C (tương đương 2đ theo thang điểm 4) đối với các bài thi thuộc loại “đạt yêu cầu”, chứ còn mức D thường chỉ dành cho những bài thi thuộc loại “dưới trung bình” hoặc “kém” và rất ít khi phải dùng đến (xem Bảng 2).    Bảng 2: Định nghĩa điễm chữ của một số trường đại học Hoa Kỳ            Trường      A      B      C      D      F          Miami University      Excellent      Good      Satisfactory      Poor      Failure             Stanford University      Excellent      Good      Satisfactory      Minimal Pass      (Không dùng)          Boston University      Excellent      Good      Satisfactory      Low      Fail          University of Maryland      Excellent      Good      Acceptable      Borderline      Failure          Yale University      Excellent      Good      Satisfactory      Passing      Fail          Georgia State University      Excellent      Good      Average      Poor      Failure          University of Arizona      Excellent      Good      Satisfactory      Poor      Failure          Cornell University      Excellent/ Very Good      Good      Satisfactory      Marginal      Failing             University of Buffalo      High Distinction      Superior      Average      Minimum Passing      Failure            Với những phân tích trên, có thể thấy rằng việc nhiều trường đại học của Hoa Kỳ yêu cầu SV phải có ĐTBC tối thiểu là 2 (theo thang điểm 4) mới được phép tiếp tục học sau mỗi năm hoặc để có thể được xét tốt nghiệp (xem ví dụ của WSU) thì không phải là yêu cầu cao. Theo Qui chế 43, SV bị buộc thôi học nếu “Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1.20 đối với SV năm thứ nhất; dưới 1.40 đối với SV năm thứ hai; dưới 1.60 đối với SV năm thứ ba hoặc dưới 1.80 đối với SV các năm tiếp theo và cuối khóa”, và phải có “điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2.00 trở lên” để có thể được xét tốt nghiệp. Nhìn qua thì có vẻ như các qui định này của Việt Nam là tương đối thấp so với mặt bằng chung của thế giới, nhưng thật ra không dễ chút nào đối với các SV có sức học trung bình nếu theo cách chuyển đổi điểm của Qui chế 43:  Ví dụ 2:  –  SV 3 có điểm 5/10 đối với tất cả các học phần của năm thứ nhất. ĐTBC (thang 4) của SV này là 1đ: bị buộc thôi học  – SV 4 đến hết năm thứ 4 tích lũy được 120 tín chỉ từ 40 học phần (giả định mỗi học phần có 3 tín chỉ), với 10 học phần có điểm 5/10 và 30 học phần có điểm 6/10. ĐTBC (thang 4) của SV này là: A = (1x3x10 + 2x3x30)/120 = 1.75đ: bị buộc thôi học hoặc không đủ điều kiện để được xét tốt nghiệp  Nếu thử áp dụng bảng chuyển đổi được đề xuất (Bảng 1) cho hai SV 3 và 4 thì ĐTBC của họ lần lượt là 1.3đ và 1.82đ. Như vậy nếu áp dụng bảng chuyển đổi này thì hai SV trên đủ điều kiện để được tiếp tục học theo Qui chế 43, tuy SV 4 không được xét tốt nghiệp nếu vẫn yêu cầu ĐTBC tích lũy tối thiểu là 2.00đ.  Cũng cần lưu ý là nếu xét theo Qui chế 25 đang dùng, hai SV 3 và 4 trên đây đều đủ điều kiện về điểm để được tiếp tục học hoặc xét tốt nghiệp (SV 4). Tất nhiên một qui chế mới cũng nên hướng đến việc nâng cao yêu cầu về chất lượng đào tạo, nhưng không vì vậy mà tạo ra những “đột phá” quá lớn để có thể dẫn đến nguy cơ “lạm phát buộc thôi học”!  3.  Về cách chuyển đổi giữa đơn vị học trình và tín chỉ (Điều 3)  Thực hiện theo Qui chế 25, các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã xây dựng các môn học dưới dạng học phần bao gồm một số đơn vị học trình (ĐVHT). Theo Qui chế 43, các ĐVHT phải được đổi thành tín chỉ (TC) theo công thức: “1.5 ĐVHT được qui đổi thành 1 TC”. Đây là một cách qui đổi hoàn toàn mang tính cơ học vì chỉ dựa vào những định nghĩa mang tính ước lệ của hai khái niệm ĐVHT và TC: một ĐVHT (có thể) có 15 tiết lý thuyết và 15 giờ chuẩn bị cá nhân, còn một TC (có thể) có 15 tiết lý thuyết và 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Với cách qui đổi như vậy, thực tế triển khai Qui chế 43 ở các trường có thể rơi vào những cách làm không đúng sau:  –  Giữ nguyên hệ thống các học phần đã xây dựng, chỉ áp dụng qui đổi theo công thức để làm “giảm tải” chương trình (ví dụ một chương trình đào tạo cử nhân 210 ĐVHT thì nay chỉ còn tương đương 140 TC)  –  Cắt giảm bớt thời lượng dành cho các học phần hiện hữu để làm tăng quỹ thời gian chuẩn bị cá nhân của SV.  Theo ý kiến của người viết, không cần đưa vào Qui chế 43 một công thức qui đổi nào giữa ĐVHT và TC (vì chỉ làm thêm rối rắm!) mà chỉ cần qui định thêm khoảng TC cho phép đối với các chương trình đào tạo, các bậc đào tạo khác nhau (như cách làm của Malaysia) để tránh tình trạng có những trường bắt SV phải học quá nhiều.  4.  Về học phần tự chọn (Điều 3)  Một trong những khó khăn của SV khi chọn lựa các học phần tự chọn để theo học là không biết rõ vai trò của mỗi học phần tự chọn đối với chuyên ngành của mình. Để góp phần làm giảm bớt khó khăn này, Qui chế 43 nên thống nhất (hoặc các trường tự qui định) các loại học phần tự chọn khác nhau, chẳng hạn như ví dụ sau đây (được dùng ở nhiều trường đại học Hoa Kỳ):  –  Học phần tự chọn chính (major elective subject): là các học phần cần thiết cho kiến thức tổng quát hoặc rất gần với chuyên ngành.  –  Học phần tự chọn tự do/mở rộng (free elective subject): là các học phần giúp SV mở rộng kiến thức sang những lĩnh vực ngoài chuyên ngành học.  –  Học phần dự thính/nhiệm ý (audit subject): là bất cứ học phần nào SV muốn học một cách tự nguyện nhằm mở rộng kiến thức. Kết quả các học phần này không tính vào ĐTBC của khóa học.  5. Về văn bằng tốt nghiệp (Điều 28)  Qui chế 43 có phân loại “hạng tốt nghiệp” dựa trên ĐTBC tích lũy toàn khóa học của mỗi SV. Theo cách làm ‘truyền thống’ lâu nay của Việt Nam, hạng tốt nghiệp được ghi thẳng lên bằng đại học hoặc cao đẳng của SV.  Đối với nhiều quốc gia, việc ghi hạng tốt nghiệp lên bằng cấp của người học là điều không cho phép bởi nó vi phạm quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân của người học. Ở Hoa Kỳ, quyền này được xác định dựa theo bộ luật Family Educational Rights and Privacy Act (FERPA) bắt đầu có hiệu lực từ năm 1974. Hạng tốt nghiệp, nếu có, chỉ có thể ghi vào hồ sơ học tập hoặc bảng điểm cá nhân chứ không được công khai dưới bất cứ hình thức nào (ví dụ qui định của Ball State University hoặc của University of Southern Mississippi).  Ở nhiều nước, cá nhân hoạt động trong một số lĩnh vực (chẳng hạn y, dược, luật,…) thường muốn (hoặc được yêu cầu) công khai bằng cấp tại nơi làm việc. Thử tưởng tượng: mấy ai dám bước vào phòng mạch của một bác sĩ nếu nhìn thấy trước cửa một bằng tốt nghiệp y khoa với hạng “Trung bình”! Với tinh thần hội nhập quốc tế về giáo dục, có lẽ đã đến lúc chúng ta không cho phép việc ghi hạng tốt nghiệp trên các văn bằng được cấp. Điều này cũng phù hợp với việc khuyến khích tinh thần “học tập suốt đời” mà nền giáo dục Việt Nam đang hướng tới.   ——————  Bài viết được thực hiện với sự tài trợ của Quỹ Giáo dục Việt Nam – VEF. Những ý kiến nêu ra trong bài viết chỉ phản ảnh quan điểm của tác giả, không nhất thiết là của VEF. Địa chỉ email trao đổi với tác giả: haolv@cb.ntu.edu.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần lập quỹ học bổng nghiên cứu sinh quốc gia      Thật không may, một trong những nguyên nhân chính khiến chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh trong nước rất thấp là do phần đông những người đi làm nghiên cứu sinh phải bỏ kinh phí tự túc theo học (hiện nay cũng có nhiều đề tài nghiên cứu chi trả lương cho nghiên cứu sinh, nhưng việc này chưa phổ biến), nên nhiều nghiên cứu sinh dù làm theo hình thức học toàn thời gian (full time) nhưng lại không dành toàn thời gian cho công việc nghiên cứu mà vẫn chạy “sô” làm việc kiếm sống hoặc làm các công việc chính tại cơ quan mình đang làm, và chỉ tham gia nghiên cứu như việc bán thời gian…    Do vậy việc thành lập quỹ học bổng nghiên cứu sinh quốc gia để giải quyết vấn đề tài chính cho nghiên cứu sinh trong nước chắc chắn sẽ là một bước tiến đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh cũng như nghiên cứu khoa học trong nước.  Các ước tính cụ thể  Giả thiết việc thành lập một quỹ học bổng nghiên cứu sinh quốc gia (tạm gọi là QNCS), cấp học bổng toàn phần cho đối tượng theo học các chương trình nghiên cứu sinh tại các trường đại học trong nước, bao gồm: (1) tiền lương tháng (chi trả 12 tháng/ năm), (2) bảo hiểm y tế, (3) tiền học phí, (4) chi phí hỗ trợ nghiên cứu cho, (5) trợ cấp cho giáo viên hướng dẫn. Bảng dưới đây đề xuất một số con số cụ thể bảng dưới.          Mục      Tháng (VNĐ)      Năm (triệu VNĐ)      Ghi chú          (1) Lương cho NCS      6.000.000      72.000.000                 (2) Bảo hiểm y tế      180.000      2.160.000      3% lương          (3) Học phí      1.200.000      14.400.000      1          (4) Hỗ trợ nghiên cứu      1.000.000      12.000.000      2          (5) Giáo viên hướng dẫn      2.000.000      24.000.000      2 giáo viên3          Thành tiền      10.380.000      124.560.000                 Theo bảng trên, chi phí lớn nhất chi trả cho nghiên cứu sinh là lương hằng tháng, giả sử được trả theo mức trên mức lương bình quân của người lao động hiện nay (là 5,04 triệu)4, và trợ cấp cho giáo viên hướng dẫn nghiên cứu sinh (1 triệu đồng/giáo viên/tháng), thì chi phí mỗi năm cho một nghiên cứu sinh vào khoảng hơn 124 triệu VNĐ, tương đương với hơn 5500 USD. Nếu quy định thời gian cấp học bổng là bốn năm học, thì tổng trị giá của một học bổng sẽ là chưa tới 500 triệu VNĐ (chính xác theo ước tính trên là 498.240.000 VNĐ – tương đương hơn 22 ngàn USD). Con số này chưa bằng học phí theo học tại một trường đại học trong top 50 ở Mỹ, hay một trường trong top 30 ở Anh. Nếu mỗi năm quỹ học bổng cấp khoảng 1000 suất học bổng, thì tổng chi phí sẽ chi trả cho nghiên cứu sinh sẽ là gần 500 tỉ đồng, và nếu giả sử xây dựng một quỹ trong thời gian hoạt động ban đầu là 10 năm, thì chi phí vào khoảng 5,000 tỉ đồng, chỉ bằng khoảng 1/3 so với đề án 9115.  Một số giải pháp  Tất nhiên, học bổng không nên được cấp một cách tùy tiện mà cần có những quy định và tiêu chuẩn cụ thể, cũng như các chính sách nhằm quản lý hiệu quả công tác nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Học bổng có thể được cấp theo cách thi tuyển của Đề án 911 hiện nay, nhưng nên được cải tiến giống với các quy trình chuẩn mực trên thế giới nhằm nâng tính cạnh tranh và chuyên nghiệp của học bổng. Quy trình nên vừa giảm bớt các thủ tục hành chính mà vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và chuyên nghiệp. Học bổng có thể được cấp mỗi năm 1-2 đợt định kỳ và theo hình thức nộp hồ sơ cạnh tranh. Các ứng viên là những người thỏa mãn điều kiện chung về nền tảng và bằng cấp chuẩn quốc gia: ví dụ như có bằng thạc sĩ phù hợp với ngành (hoặc có bằng đại học với mức tốt nghiệp xuất sắc cộng với kinh nghiệm làm nghiên cứu), có bằng tiếng Anh (hay ngoại ngữ phù hợp với đòi hỏi của lĩnh vực) theo tiêu chuẩn quốc tế (IELTS, TOEFL, TOEIC,…), có lý lịch khoa học (academic CV) với kinh nghiệm nghiên cứu và đầu ra nghiên cứu tốt cộng với một dự thảo kế hoạch nghiên cứu (research proposal) hợp lý, và thư giới thiệu của ít nhất hai nhà khoa học uy tín hiểu rõ về ứng viên, cùng với thư xác nhận bảo trợ và đảm bảo điều kiện nghiên cứu tại cơ sở đào tạo mà thí sinh đăng ký theo học. Tiêu chuẩn đầu vào ngoại ngữ chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng từ đầu vào, và chỉ miễn cho ứng viên được đào tạo tại nước có chương trình đào tạo bằng ngôn ngữ đó. Hồ sơ có thể được nộp trực tuyến và được chấm theo hình thức phản biện của các chuyên gia trong ngành được mời bởi hội đồng trong vòng chấm thứ nhất, và thông qua phỏng vấn ở vòng cuối cùng. Để đẩy mạnh nghiên cứu, các kết quả về nghiên cứu, cũng như kinh nghiệm nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu nên được xem xét và đặt trọng số cao khi chấm điểm hồ sơ ứng viên.  Nhằm giảm thiểu tiêu cực, các quá trình chấm cũng như điểm chấm ứng viên nên được công khai minh bạch. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể lập một danh sách các trường đại học với các ngành đào tạo nghiên cứu sinh đủ chất lượng để có thể cấp học bổng. Các trường hoặc đơn vị không đủ chất lượng sẽ không lọt vào danh sách và không đủ điều kiện làm bảo trợ cho ứng viên nhận học bổng. Tất nhiên, danh sách này có thể cập nhật hằng năm khi các đơn vị nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo. Ngoài ra, việc cấp học bổng cũng xem xét cả hồ sơ khoa học của giáo viên hướng dẫn. Nếu giáo viên hướng dẫn không tham gia nghiên cứu, không có đầu ra khoa học tốt cũng sẽ không đủ điều kiện để nhận hướng dẫn và bảo trợ cho ứng viên nhận học bổng. Việc này tạo sức ép buộc cả ứng viên và người hướng dẫn khoa học đều phải tham gia nghiên cứu khoa học thật sự nhằm đạt được chuẩn ngay từ đầu vào. Khi được cấp học bổng, ứng viên nghiên cứu sinh sẽ phải ký hợp đồng làm nghiên cứu toàn thời gian tại đơn vị đăng ký (thời hạn của hợp đồng là thời hạn của học bổng – ví dụ bốn năm), và đơn vị này phải chịu trách nhiệm đảm bảo việc học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh như cam kết trong thư giới thiệu ở quá trình xin học bổng. Đơn vị cũng có trách nhiệm cập nhật tình hình học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh định kỳ, ví dụ 1-2 lần hằng năm, với cơ quan chủ quản cấp học bổng. Có thể tăng tính ràng buộc bằng cam kết nếu nghiên cứu sinh bỏ dở công việc giữa chừng không có lý do và bị đơn vị hướng dẫn tố cáo, nghiên cứu sinh sẽ phải bồi hoàn lại khoản kinh phí đã sử dụng kể từ ngày bắt đầu nhận học bổng.  ***  Những con số ước tính và giải pháp kể trên cho thấy việc xây dựng một quỹ học bổng như vậy là tiết kiệm hơn so với các đề án đào tạo ở nước ngoài mà vẫn đẩy mạnh đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa học bằng chính nội lực.  ——-  1. Tham chiếu theo một mức học phí đào tạo nghiên cứu sinh tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm học 2015 là 13.750.000 VNĐ (http://ussh.vnu.edu.vn/ke-hoach-thu-hoc-phi-nam-hoc-2014-2015/16618)  2. Chi phí này nên được trả trực tiếp cho nhóm nghiên cứu hoặc khoa chủ quản của đào tạo NCS.  3. Trợ cấp cho giáo viên hướng dẫn NCS, 1 triệu VNĐ/tháng/giảng viên (mỗi NCS có trung bình 2 giáo viên hướng dẫn).  4. Theo thống kê chính thức, lương trung bình của người lao động Việt Nam vào quý 1 năm 2016 là 5,04 triệu VNĐ (http://vnexpress.net/infographics/thoi-su/nguoi-co-trinh-do-dai-hoc-that-nghiep-nhieu-nhat-3389265.html )  5. Đề án 911 thực hiện trong 10 năm, tổng kinh phí là 14 ngàn tỉ đồng: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/145332/bat-nhat-hoc-phi-dao-tao-tien-si-bang-ngan-sach.html    Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Cần một giải pháp đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực ngành hạt nhân      Lịch sử phát triển điện hạt nhân của thế giới cho thấy vấn đề nhân lực, trình độ, vấn đề con người là quan trọng nhất trong đảm bảo an toàn và kinh tế cho điện hạt nhân. Các sự cố lớn trong ngành hạt nhân (Three Miles Island, Chernobyl, hay Fukushima) đều cho thấy yếu tố con người là nguyên nhân chính của các tai nạn hạt nhân. Như vậy, để có thể thực hiện thành công chương trình điện hạt nhân, Việt Nam phải thực hiện chiến lược, nhiệm vụ đào tạo nhân lực ngành điện hạt nhân như thế nào? Đó là băn khoăn và là chủ đề được đề cập và phân tích trong bài viết này.      Sau gần 40 năm phát triển ngành năng lượng nguyên tử, với sự ưu tiên tập trung vào ngành vật lý hạt nhân, hiện nay, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của ngành tập trung chủ yếu vào 3 đơn vị năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ là Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (với khoảng 800 cán bộ), Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (khoảng 90 cán bộ) và Cục Năng lượng nguyên tử (khoảng 30 cán bộ). Tại Bộ Công thương (Tổng cục Năng lượng) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), số lượng cán bộ có chuyên ngành về hạt nhân hoặc liên quan không nhiều (EVN có khoảng 100 cán bộ làm việc tại Ban Quản lý dự án điện hạt nhân Ninh Thuận). Ngoài ra, các trường đại học có một số cán bộ giảng dạy, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào vật lý hạt nhân và kỹ thuật hạt nhân, trong khi đội ngũ cán bộ giảng dạy các ngành liên quan khác (như nhiệt, cơ khí …) lại không có đủ kiến thức và kinh nghiệm về hạt nhân. Với lực lượng cán bộ như vậy, trong khi việc triển khai 2 dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận đang vào thời kỳ hoàn thành Nghiên cứu khả thi (FS), cũng như các nhiệm vụ liên quan đến nghiên cứu công nghệ, thiết kế cơ sở nhà máy điện hạt nhân v.v. đang đòi hỏi thì rõ ràng các nhiệm vụ đặt ra sẽ là bài toán vô cùng hóc búa.  Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với bất kỳ nước nào phát triển điện hạt nhân, nguồn nhân lực phải có đầy đủ ở ba lĩnh vực:         Xét về khía cạnh nhiệm vụ đang triển khai trước mắt là nghiên cứu để hiểu thiết kế, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài, thực hiện các nhiệm vụ liên quan là FS và thiết kế kỹ thuật cho Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 trước mắt, thì đội ngũ R&D, chuyên gia về điện hạt nhân cần được ưu tiên phát triển sớm.        Nguồn nhân lực cho các công ty điện lực, chính là cán bộ quản lý, vận hành, kỹ thuật viên bảo dưỡng, sửa chữa cho các nhà máy điện hạt nhân. Số lượng nguồn nhân lực này phụ thuộc vào công nghệ, vào số lượng tổ máy, việc đào tạo cán bộ vận hành các tổ máy điện hạt nhân cần thời gian không ít hơn 10 năm, thời gian đào tạo kỹ thuật viên cho các nhiệm vụ bảo dưỡng, sửa chữa sẽ ít hơn.   Nguồn nhân lực cho các cơ sở nghiên cứu triển khai (R&D). Đây là đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, có năng lực triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ để hỗ trợ kỹ thuật tốt nhất có thể cho vận hành an toàn, kinh tế các nhà máy điện hạt nhân. Tại Nga, Pháp, một số nước châu Âu, các cơ sở nghiên cứu là các Viện nghiên cứu (là chính) và một phần nhỏ ở các trường đại học. Tại Mỹ, các cơ sở nghiên cứu là các Viện nghiên cứu quốc gia và các trường đại học (đóng vai trò đáng kể). Ở Nhật Bản, việc nghiên cứu được thực hiện chủ yếu ở các trường đại học. Tại Hàn Quốc, KAERI là Viện nghiên cứu chính về hạt nhân, và các trường đại học cũng có vai trò ở mức độ nhất định, mà không giữ vai trò chính v.v. Khi các đơn vị nghiên cứu là cơ sở hỗ trợ kỹ thuật, họ có thể thực hiện nhiệm vụ của công ty điện lực đưa ra, cũng như nhiệm vụ cơ quan pháp quy hạt nhân đưa ra, miễn sao từng nhiệm vụ khoa học công nghệ phải được thực hiện bởi đơn vị độc lập, tránh rơi vào tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.         Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hạt nhân phải dựa vào thực tế, đòi hỏi, yêu cầu, nhu cầu, định hướng của ngành hạt nhân và cần phải được xây dựng cùng với các chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân một cách kỹ lưỡng và chi tiết. Tuy nhiên việc triển khai đào tạo nguồn nhân lực cho ngành hạt nhân trong 3-4 năm vừa qua của chúng ta hầu như chưa hướng đến thực tế đó.        Nhân lực của cơ quan pháp quy hạt nhân, cán bộ quản lý nhà nước về hạt nhân. Thường thường, nguồn nhân lực này là các cán bộ giỏi, có kiến thức và kinh nghiệm, được lựa chọn từ các công ty điện lực, hoặc từ các cơ sở nghiên cứu liên quan. Nhiệm vụ của họ là nhìn ra các vấn đề liên quan đến an toàn của các nhà máy điện hạt nhân, để đưa ra được các yêu cầu, hay quy định về an toàn để bảo vệ con người và môi trường.   Như vậy, đánh giá về tính đáp ứng của 3 nhóm nhân lực này thì hiện nay Việt Nam đang ở vạch xuất phát. Nhóm thứ hai (R&D) hiện nay ta đã có một lực lượng đáng kể, nhưng xét trên khía cạnh về điện hạt nhân, cũng có thể xem như chưa đáng kể. Như vậy, việc đào tạo nhân lực là cấp bách, cần thực hiện song song đối với các nhóm nêu trên. Xét về khía cạnh nhiệm vụ đang triển khai trước mắt là nghiên cứu để hiểu thiết kế, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài, thực hiện các nhiệm vụ liên quan là FS và thiết kế kỹ thuật cho Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 trước mắt, thì đội ngũ R&D, chuyên gia về điện hạt nhân cần được ưu tiên phát triển sớm. Chính đội ngũ nhân lực R&D nếu có được, sẽ không những thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ trước mắt, mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới, cung cấp nguồn cán bộ chuyên gia giỏi cho cơ quan pháp quy hạt nhân, vì đội ngũ cán bộ giỏi của cơ quan pháp quy khó có thể có được với đào tạo ngắn hạn một cách thuần túy từ những cán bộ không có chuyên môn phù hợp.  Nguồn nhân lực hạt nhân của Việt Nam hiện nay đang yếu và thiếu, trong khi việc triển khai nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân chưa đáp ứng yêu cầu thực tế đòi hỏi. Nhân lực cho các nhà máy đang được chuẩn bị và đào tạo, hằng năm Việt Nam vẫn đang gửi sinh viên sang Nga học về điện hạt nhân (khoảng 70 sinh viên), đồng thời EVN đang gửi cán bộ sang Nhật Bản đào tạo về điện hạt nhân (số lượng ít). Đây là những chuẩn bị cần thiết cho nguồn nhân lực của nhà máy để có thể xây dựng được đội ngũ quản lý, vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Có thể thấy rằng hiện nay việc đào tạo cán bộ cho nhà máy đang là nhiệm vụ được triển khai thực hiện đúng theo yêu cầu nhất. Về nguồn nhân lực nghiên cứu triển khai, hiện nay đang rất khó khăn để phát triển nguồn nhân lực này, vì chưa có chính sách, chiến lược đào tạo đúng đắn, Nhà nước chưa chú trọng phát triển nguồn nhân lực này, vì ngành hạt nhân không hấp dẫn cán bộ giỏi, hay sinh viên giỏi. Hầu như không có nguồn cán bộ đầu vào chất lượng cao cho các cơ sở nghiên cứu hạt nhân. Một khó khăn khác là vấn đề ngoại ngữ. Muốn trở thành chuyên gia, cán bộ giỏi trong lĩnh vực R&D, yêu cầu ngoại ngữ giỏi để có thể đọc và nghiên cứu hiệu quả các tài liệu tiếng nước ngoài. Nguồn nhân lực cho cơ quan pháp quy hạt nhân, quản lý nhà nước lại khó xây dựng do đặc thù Việt Nam chưa có ngành điện hạt nhân, nên không có nguồn cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm thực tế để lựa chọn. Trong khi Đề án Phát triển nguồn nhân lực ngành hạt nhân (Đề án 1558) lại đang rất khó khăn và lúng túng trong triển khai thực hiện. Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hạt nhân phải dựa vào thực tế, đòi hỏi, yêu cầu, nhu cầu, định hướng của ngành hạt nhân và cần phải được xây dựng cùng với các chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân một cách kỹ lưỡng và chi tiết. Tuy nhiên việc triển khai đào tạo nguồn nhân lực cho ngành hạt nhân trong 3-4 năm vừa qua của chúng ta hầu như chưa hướng đến thực tế đó.  Trong điều kiện và tình hình thực tế hiện nay, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cần được xây dựng dựa trên một số quan điểm.         “Điện hạt nhân đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, điều này không phụ thuộc vào nước giàu hay nước nghèo”.  GS Đinh Trúc Nam (Khoa Công nghệ ĐHN, ĐH Bắc Carolina, Mỹ)        Tiếp tục gửi sinh viên sang Nga và cả Nhật Bản học về điện hạt nhân, có nghĩa là đào tạo đại học đúng chuyên ngành điện hạt nhân (mỗi năm gửi khoảng 100-120 sinh viên đi học). Nếu thực hiện tốt việc này, sau 7-10 năm Việt Nam sẽ có tương đối đầy đủ nguồn cán bộ về quản lý và vận hành nhà máy. Về cán bộ kỹ thuật đảm nhận nhiệm vụ bảo dưỡng sửa chữa nhà máy, cần sớm đưa ra kế hoạch đào tạo, phối hợp xây dựng cùng 2 đối tác là Nga và Nhật Bản.   Đối với nhân lực cho R&D, việc đào tạo chuyên gia đầu đàn theo các định hướng chiến lược của điện hạt nhân là thiết yếu. Trong 5-7 năm tiếp theo, cần đào tạo khoảng 20-25 chuyên gia, cán bộ nghiên cứu đầu đàn về các lĩnh vực chiến lược này (an toàn, công nghệ, thiết kế, vật lý lò, thủy nhiệt, cơ học dòng chảy, nhiên liệu hạt nhân, chất thải phóng xạ, vật liệu sử dụng trong nhà máy điện hạt nhân, cơ khí, kinh tế v.v.). Các chuyên gia, cán bộ đầu đàn này cần được đào tạo ở nước ngoài, với những giáo sư, người hướng dẫn là các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực điện hạt nhân tại các nước Nga, Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Để rút ngắn thời gian đào tạo, đối tượng đào tạo phải được chọn từ những cán bộ giỏi của ngành hạt nhân, là kỹ sư giỏi các ngành liên quan mới tốt nghiệp từ các trường đại học trong nước. Cần có một học bổng ưu tiên đặc biệt đủ để thu hút cán bộ giỏi vào ngành. Để việc đào tạo có hiệu quả, trước khi gửi cán bộ sang đào tạo dài hạn (nhiều năm) ở nước ngoài để trở thành chuyên gia đầu đàn, cần đào tạo ngoại ngữ và kiến thức cơ bản về hạt nhân trong nước.   Việc đào tạo cán bộ cho các cơ quan quản lý nhà nước (bao gồm pháp quy hạt nhân, quản lý) nên được thực hiện theo cách gửi cán bộ giỏi, theo từng nhóm sang các nước Nga, Mỹ, Nhật Bản học trực tiếp từ công việc cụ thể. Để thực hiện được việc này, cần có chính sách để chọn được cán bộ giỏi và cần đạt được các thỏa thuận với các cơ quan pháp quy hạt nhân của các nước về đào tạo nhân lực cho Việt Nam theo hình thức “đào tạo tại chỗ” – On the Job Training).   Ngoài 3 định hướng để đào tạo theo 3 nhóm cán bộ chuyên gia nêu trên, cần có kế hoạch triển khai đào tạo trong nước một cách hiệu quả, trong đó cần sử dụng tối đa cơ sở hạ tầng nghiên cứu, đội ngũ cán bộ của ngành hạt nhân được hình thành và phát triển gần 40 năm qua.  Về việc triển khai đào tạo công nghệ điện hạt nhân tại các trường đại học trong nước, cần tập trung đào tạo tại một vài trường đại học có điều kiện thuận lợi nhất (ví dụ Đại học Bách khoa Hà Nội, và một trường đại học ở phía Nam, nơi có đủ các chuyên ngành liên quan và sử dụng được hiệu quả đội ngũ giảng viên hiện có). Việc đầu tư dàn trải vào nhiều trường đại học sẽ lãng phí tiền của đất nước, không mang lại hiệu quả, và hơn thế các thế hệ sinh viên được đào tạo ra sẽ khó có cơ hội được nhận vào làm việc trong ngành vì chất lượng đào tạo không được đảm bảo.  Chính sách ưu tiên thu hút cán bộ giỏi của ngành cũng là một yếu tố quan trọng để chương trình đào tạo nhân lực hạt nhân thực hiện thành công. Ngoài việc ưu tiên học bổng cho các cán bộ, sinh viên khi học tập, đào tạo, cần có chính sách hỗ trợ về lương đối với cán bộ đang làm việc trong ngành. Việc tạo môi trường vị trí làm việc tốt, phù hợp cũng là một yếu tố thu hút đối với cán bộ sau khi được học tập, đào tạo ở nước ngoài. Có như vậy thì ngành hạt nhân mới thu hút được những cán bộ giỏi, xuất sắc.  Cách đây khoảng 50 năm khi còn chiến tranh, Việt Nam đã có những chính sách đặc biệt để đào tạo nhân lực cho ngành hạt nhân, Chính phủ đã gửi những sinh viên xuất sắc nhất của đất nước đi đào tạo tại Liên Xô về hạt nhân. Chúng ta đã đào tạo được những chuyên gia ưu tú cho ngành, như Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu v.v. Trong giai đoạn hiện nay, khi chương trình điện hạt nhân đang được tích cực triển khai, thì việc áp dụng một chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài, thu hút những người xuất sắc cho ngành hạt nhân là điều vô cùng cần thiết, bảo đảm cho sự thành công của chương trình điện hạt nhân Việt Nam.  —–  * TS, Viện trưởng Viện NLNT Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một giải pháp khác (kỳ 1)      Theo dự thảo “Một số điều chỉnh phương án thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông trong những năm trước mắt” ngày 02/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hai nội dung lớn là việc miễn thi tốt nghiệp dựa theo điểm trung bình cả năm lớp 12 của học sinh, và việc tổ chức 4-5 môn thi tốt nghiệp với 2 môn tự chọn. Khi áp dụng hai nội dung trên vào thực tế những hệ luỵ nào có thể xảy ra ? Và liệu có giải pháp nào khác phù hợp hơn cả với thực tế hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai hay không?    Về việc miễn thi tốt nghiệp THPT     Ngoài những quy định có lẽ giống như trước đây dành cho đối tượng đạt giải các kì thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, điểm “đổi mới” quan trọng nhất của dự thảo là quy định miễn thi tốt nghiệp THPT cho tối đa 20 % học sinh ở mỗi Sở GD&ĐT, dựa trên kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trong 3 năm học THPT. Tỉ lệ này dự kiến được áp dụng cho năm đầu tiên thi theo phương án mới, và mỗi Sở GD&ĐT được giao quyền xây dựng phương án miễn thi của địa phương mình.     Mặc dù bản dự thảo có dự liệu các điều kiện tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, với sự tham gia của nhiều thành phần ban bệ,… ý tưởng miễn thi này vẫn tỏ ra thiếu tính thuyết phục.     Tỉ lệ miễn thi “tối đa là 20 %” không rõ từ đâu mà có. Chúng ta chỉ có vài lời giải thích sơ sài của một vị có trách nhiệm, nhưng thiếu hẳn những dữ liệu khoa học chứng minh tính đúng đắn và hợp lí về mặt giáo dục của con số kia.      Khi nói “tối đa là 20 %” và giao quyền quyết định về cho mỗi Sở GD&ĐT, có nghĩa là sẽ có thể có nhiều tỉ lệ miễn thi khác nhau, tuỳ mỗi tỉnh thành, vùng miền, miễn là không lớn hơn 20 %. Vấn đề là, chất lượng giáo dục phổ thông ở mỗi tỉnh thành không hề đồng đều nhau, thậm chí có thể có sự cách biệt khá lớn. Và ngay cả trong cùng một tỉnh thành, chất lượng giữa quận huyện này với quận huyện khác, hay giữa trường này với trường khác trong cùng quận huyện, vẫn luôn có sự khác biệt. Thực tế cho thấy dù cùng thuộc sự quản lí của một Sở GD&ĐT, cùng mẫu học bạ và sổ điểm, nhưng hiện nay một trường phổ thông dân lập không thể có chất lượng giống như một trường công lập, và một trường công lập bình thường không thể so sánh được với một trường chuyên hay phổ thông năng khiếu. Mỗi Sở GD&ĐT sẽ chia đều hay phân phối theo tỉ lệ cho các trường? Chia đều thì có công bằng chưa? Phân phối thì dựa vào tỉ lệ nào và tỉ lệ ấy có cơ sở xác tín hay không? Những câu hỏi ấy không dễ tìm được câu trả lời thoả đáng, nhưng đó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho những lời bàn ra tán vào, những sự so sánh thiệt hơn, và không loại trừ cả những câu chuyện chạy chọt để có phần trong “miếng bánh 20 %”.      Nhìn ở cấp độ quốc gia, sẽ nảy sinh tiếp câu hỏi về tính công bằng trong giáo dục: vì sao tỉnh này miễn nhiều, thành phố kia miễn ít (hoặc ngược lại), nơi này xét dễ, nơi kia xét gắt?… 20 % học sinh giỏi của một tỉnh miền núi như Hoà Bình không giống với 20 % học sinh giỏi của thủ đô Hà Nội. Những em thứ 21 % của những nơi của truyền thống hiếu học hay có mức độ cạnh tranh học tập cao sẽ nói gì khi phải “bị thi” trong khi những bạn có thực lực kém hơn mình lại được miễn thi vì nằm trong tốp 10 hay 20 % của một nơi xa xôi hẻo lánh nào đó? Bằng tốt nghiệp THPT là văn bằng đầu tiên công nhận trình độ học vấn ở cấp độ quốc gia của mỗi công dân, là điều kiện tối thiểu để bước vào cuộc đời nghề nghiệp hoặc tiếp bước ở các bậc học cao hơn. Mặt bằng chất lượng kì thi này càng ngày càng thấp, đó là thực tế không thể phủ nhận. Nhưng buông cho mỗi địa phương tự quyết định điều kiện và tỉ lệ miễn thi như trong dự thảo cũng đồng nghĩa với việc tạo ra sự mất công bằng giữa các địa phương cũng như giữa các cơ sở giáo dục trong cùng một địa phương. Và điều đó cũng sẽ là một nguy cơ lớn làm phá hỏng mọi cơ may đổi mới thực sự để đưa kì thi tốt nghiệp THPT về đúng với vị trí vốn có của nó.     Về việc tổ chức 2 môn thi tự chọn     Trong cả hai phương án tổ chức môn thi tốt nghiệp THPT nêu ra trong dự thảo, có 2 môn thi chắc chắn bắt buộc là Toán và Ngữ văn, 2 môn thi do học sinh tự chọn từ danh sách chắc chắn gồm 5 môn là Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí và Lịch sử. Riêng môn Ngoại ngữ, trong phương án 2 là bắt buộc, còn phương án 1 là tự do, chỉ dùng để cộng điểm khuyến khích. Tất nhiên, với triển vọng bớt được 1 hoặc 2 môn thi tốt nghiệp so với cách thi 6 môn bắt buộc từ nhiều năm nay, không có gì ngạc nhiên khi đa số học sinh hồ hởi, phần lớn phụ huynh phấn khởi, một bộ phận xã hội với sự tiếp sức của giới truyền thông nhiệt tình ủng hộ. Nhưng sau khi mọi sự hưng phấn nhất thời qua đi, suy nghĩ thật kĩ về vấn đề này sẽ thấy có nhiều điểm cần cân nhắc thận trọng:      Bản dự thảo này cho ta cảm giác là giảm số môn thi, nhưng thực chất là số môn thi sẽ tăng lên. Vì sao? Khi cho học sinh tự chọn 2 môn thi, số môn thi chỉ giảm đối với từng học sinh, nhưng theo nguyên tắc phân phối ngẫu nhiên thì tổng số môn có khả năng được học sinh chọn thi sẽ tăng lên, tức là sẽ có tất cả 8 môn thi: 2 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn), 5 môn tuỳ chọn (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Lịch sử), 1 môn tự do hoặc bắt buộc (Ngoại ngữ). Chỉ có một trường hợp duy nhất để có ít hơn 8 môn thi, đó là khi tất cả các Sở GD&ĐT cùng thoả thuận với nhau theo một cách nào đó để hướng toàn bộ học sinh của địa phương mình lựa chọn các môn thi giống nhau. Nhưng khi đó, bản chất ý định cho học sinh tự chọn môn thi sẽ phá sản.      Về nguyên tắc tổ chức thi cử, khi đã có học sinh chọn thi thì dù ít hay nhiều vẫn phải có đề thi và ngày thi riêng. Như vậy từ 3 ngày như hiện nay (6 buổi cho 6 môn thi), tổng thời gian tổ chức thi sẽ phải kéo dài lên ít nhất 4 ngày (8 buổi cho 8 môn thi). Các hội đồng thi sẽ phải làm việc cật lực hơn, với hiệu suất chắc chắn thấp hơn. Đơn giản là vì khi thi tất cả các môn bắt buộc, việc bố trí phòng thi và giám thị sẽ tương đối thuận tiện và dễ có được phương án tối ưu về con người và cơ sở vật chất. Khi có các môn thi tuỳ chọn và tự do, sẽ có môn được chọn nhiều, tức cần nhiều phòng thi hơn thông thường, và có môn được chọn ít nhưng vẫn cần phải có phòng thi riêng. Như thế, mỗi hội đồng thi sẽ cần có thêm một số lượng đáng kể phòng thi và giám thị. Diễn biến thực tế kì thi tốt nghiệp THPT từ nhiều năm nay cho thấy nếu tổ chức thi theo cách nói trên sẽ còn làm nảy sinh nhiều điều phức tạp khó lường trước hết được.      Ý kiến nói rằng cho học sinh tự chọn môn thi là tốt để các em tự lựa chọn định hướng nghề nghiệp cho mình. Đó là quan niệm chưa chính xác, nếu không muốn nói là sai. Công tác định hướng nghề nghiệp hay phân luồng học sinh nếu muốn làm phải làm ngay từ đầu vào, và cần phải có một hệ thống đồng bộ từ mục đích giáo dục, chương trình và nội dung dạy-học, phương pháp và công cụ dạy-học cũng như phương thức kiểm tra đánh giá và thi cử trong toàn bộ cấp học (ít nhất 3 năm THPT). Riêng một kì thi tốt nghiệp và một động tác lựa chọn 2 trong 5 môn thi không thể nào đảm bảo được mục đích hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.      Công thức tính điểm xét tốt nghiệp và xếp loại tốt nghiệp THPT, với tỉ lệ 50 % cho tổng điểm các bài thi tốt nghiệp, và 50 % cho điểm trung bình cả năm học lớp 12 (ở đây tạm bỏ qua phần điểm khuyến khích) có ba nhược điểm cơ bản: vừa không đảm bảo tính công bằng về chất lượng giáo dục ở cấp độ quốc gia, vừa giảm nhẹ vai trò đánh giá của một kì thi bị làm phức tạp lên (như đã nói ở trên), vừa tạo thêm cơ hội cho “căn bệnh nan y” dạy thêm-học thêm hoành hành. Thực tế là từ nhiều năm nay, mặc cho bao nhiêu văn bản hành chính được ban ra, tình trạng dạy thêm-học thêm tràn lan vẫn mãi không giải quyết được tận gốc. Đối với việc thầy cô dạy thêm, trò đi học thêm, tự thân hành động ấy không có lỗi. Lỗi nằm ở chỗ hành động ấy bị lạm dụng vô lối, biến từ nhu cầu học hỏi và tinh thần cầu tiến của người học thành phương tiện cải thiện thu nhập của người dạy. Trong thực tế trường lớp, có không ít thầy cô giáo dạy hay, được học trò yêu mến, mong muốn, mời mọc thậm chí cả năn nỉ dạy thêm để các em có cơ hội rèn luyện thêm để học tốt hơn hoặc chuẩn bị đi thi đại học. Nhưng bên cạnh đó, ở những nơi mà dạy thêm-học thêm trở thành vấn nạn hay nỗi bức xúc của cộng đồng, rất dễ dàng thấy có nhiều thầy cô giáo đã lạm dụng quyền đánh giá, cho điểm học sinh để ép các em đi học thêm môn của mình, mà không có bất cứ công cụ kiểm soát hữu hiệu nào để giới hạn tình trạng lạm quyền này, từ gia đình học sinh cho đến đồng nghiệp, từ tổ chuyên môn cho đến ban giám hiệu rồi thanh tra giáo dục các cấp… Đó là chỉ mới nói đến điểm số của từng bài kiểm tra qua từng học kì. Nếu quyền “sinh sát” ấy còn góp phần vào đến 50 % cơ may tốt nghiệp của học sinh, tình trạng lạm quyền vô kiểm soát ấy sẽ còn đi đến đâu? Rồi nhân lên với sự dị biệt vùng miền giữa các tỉnh thành trong cả nước, cả về mức độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ nhận thức chung của cộng đồng và mặt bằng chất lượng giáo dục phổ thông của từng địa phương trong cả nước, ta sẽ thấy rằng cái hố sâu mất công bằng sẽ ngày càng được đào sâu và nới rộng.      Giải pháp thi 2 môn tự chọn không cho thấy sự đồng bộ trong xu hướng cải cách thi cử, cụ thể là hai kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đầy căng thẳng và tốn kém liền kề nhau trong vòng hai tháng. Bằng chứng là dù các trường đại học đã được “bật đèn xanh” trong việc tự chủ phương án tuyển sinh, nhưng hầu hết đều rất dè dặt và thận trọng, đặc biệt là trong việc xét tuyển hàng loạt dựa trên học bạ. Nguyên nhân chính, một mặt có thể nói là vì thiếu chuẩn mực quốc gia về mục tiêu giáo dục cũng như về kiến thức, kĩ năng của học sinh, mặt khác là do sự cách biệt nhiều khi quá lớn giữa các địa phương trong việc quản lí chất lượng giáo dục phổ thông. Hơn thế nữa, học bạ là do trực tiếp từng giáo viên bộ môn ghi điểm, giáo viên chủ nhiệm nhận xét, hiệu trưởng các trường THPT kí tên đóng dấu xác nhận. Bất cứ ai đã từng đứng lớp ở trường phổ thông đều biết rằng sửa học bạ của học sinh là việc khá dễ dàng và đây đó vẫn có những trường hợp học sinh được làm lại học bạ cho “đẹp” hơn với những lí do không nói ai cũng biết. Nay, nếu thi tự chọn 2 môn và dùng điểm trung bình năm học lớp 12 để xét tốt nghiệp, nhu cầu sửa học bạ tăng lên là điều tất yếu, và đây sẽ lại là một cái “ổ” lí tưởng cho tình trạng nhũng nhiễu nhân lên tràn lan ở khắp hơn 2.700 trường THPT trong cả nước. Điều đó sẽ càng làm cho kì thi tốt nghiệp THPT đánh mất vai trò kiểm soát mức sàn chất lượng đầu ra của giáo dục phổ thông, và càng là lí do để phải duy trì kì thi tuyển sinh đại học hàng năm. Không chỉ vậy, thi tốt nghiệp tự chọn 2 môn còn có nguy cơ “làm khó” học sinh và các trường đại học có chủ trương tuyển sinh dựa trên kết quả thi tốt nghiệp: mỗi ngành đào tạo có thể phải tuyển theo kết quả của những môn thi khác nhau, học sinh đã chọn thi môn này sẽ không còn cơ hội thi lại môn khác nếu muốn thay đổi nguyện vọng về ngành học. Kết quả sẽ là, một kì thi vốn đã yếu thì ngày càng yếu, và một kì thi cần thay đổi lại càng có nhiều lí do để tiếp tục tồn tại.      Mọi sự thay đổi phương thức thi cử cuối khoá phải được áp dụng theo hình thức “cuốn chiếu”, ứng với tinh thần chung (quy định chính thức hay “thoả thuận ngầm”) ở đầu vào. Học sinh lớp 12 năm nay đã vào cấp III từ ba năm trước, cũng như bắt đầu năm học này với tinh thần thi tốt nghiệp 6 môn. Áp dụng một sự thay đổi lớn một cách đột ngột “giữa dòng”, không có kế hoạch không phải là cách tốt trong giáo dục. Xét ở góc độ nào đó, thay đổi như vậy là không công bằng với chính các em học sinh lớp 12 năm nay, và không công bằng giữa niên khoá này với các niên khoá khác, trước đây hay cả về sau. Cho dù áp lực của xã hội về chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT nói riêng và chất lượng giáo dục phổ thông nói chung là rất lớn, mọi sự thay đổi phải được tiến hành một cách cẩn trọng, có cơ sở khoa học chặt chẽ, có lộ trình chuyển tiếp hợp lí, vì liên quan đến từng cá nhân học sinh, “nguyên liệu” cho toàn bộ nền giáo dục đại học và thị trường lao động trong tương lai, đến và từng gia đình, “tế bào” cơ bản cấu thành nên toàn bộ xã hội.     Xem tiếp Một giải pháp khác cho kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học  ———-  *Nghiên cứu sinh, ngành Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg, Pháp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một “sáng kiến tổng thể”  cho toàn hệ thống      Trao đổi chung quanh bài viết Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới của tác giả Lê Trường Tùng, nhà nghiên cứu Phạm Toàn cho rằng, thay vì những sáng kiến riêng (đã rất có hệ thống), cần có một “sáng kiến tổng thể” cho toàn hệ thống.    Phác thảo của anh Lê Trường Tùng rất hay, cần được đem ra nghiên cứu, song tốt nhất là trước đó nên đạt được một sự đồng thuận giữa các nhóm sáng kiến về một điều cơ bản hơn nữa: cuộc Giáo dục được cải cách theo định hướng nào? Thay cho những sáng kiến riêng (đã rất có hệ thống) cần có một “sáng kiến tổng thể” cho toàn hệ thống.   Tôi xin phép lấy vài thí dụ:  Quan tâm sao cho cái “vùng trũng” tiếng Anh vượt lên, kể cũng cần, vô cùng cần thiết. Nhưng giúp nó “vượt lên” theo định hướng nào? Nếu vẫn nhắm mắt đi theo đường lối “giao tiếp– lấy giao tiếp nuôi giao tiếp …” như hiện nay thì vùng trũng đó sẽ thành “bình địa”.  Tiểu học, trung học, đại học… thay đổi mấy năm thành mấy năm, thay đổi một đường học duy nhất “vào đại học” thành nhiều nhánh đào tạo… đó là điều bây giờ ai cũng thấy. Nhưng cũng rất cần là quan niệm cho rõ mỗi bậc học đó là cái gì và nó như thế nào trong cả hệ thống lớn?  Tôi rất nghi ngờ những công thức tính toán số phận một dân tộc kiểu như công thức Ray Cline. Rồi vài ba năm nữa những nhà bác học của các nước tuyệt đối dân chủ ấy lại sẽ có những công thức khác không kém hoành tráng. Có lẽ vì tôi dốt Toán, nên tôi ưng những “công thức” của sự cảm nhận triết học thể hiện ở những gương mặt ngời ngợi của Thầy Cô giáo và Học trò ở ngay nhà trường và trong lớp học của họ. Còn khi các em nhỏ lớn lên và vào đời, đó lại là một loạt số phận khác nữa, không ai nói mạnh được.   Hiện nay, những ý kiến về cải cách giáo dục nở rộ. Nhóm Cánh Buồm chúng tôi chủ trương như ông Picasso khi người ta hỏi về lý thuyết hội họa của ông. Ông chỉ vào tranh của mình: đấy, lý thuyết của tôi đấy.   Nói cách khác, có lẽ vào thời điểm này, ta cần hai điều đã.   Một là TỰ DO, để các nhóm sáng kiến thay cho phản biện bằng lời (đã quá nhiều lời rồi, từ thời Hamlet ông hoàng điên này đã lầm bầm la hét Words! Words! Words!) hãy để các nhóm thể hiện hết ý tưởng và năng lực tổ chức thực tiễn triển khai các ý tưởng.   Hai là DÂN CHỦ, dân chủ triệt để trong đối xử với các nhóm sáng kiến.  Tình thế hôm nay càng cho thấy rõ: không vội được! Mà có vội cũng không được!1                —    Đọc thêm:  * Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5511  * Nếu chính sách giáo dục chỉ hướng đến mục tiêu kinh tế   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5615&CategoryID=6    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cận nhân tình”: Khởi điểm của giáo dục hiện đại      Hầu như ai cũng đồng ý rằng tư duy giáo dục  hiện đại thật sự bắt đầu từ J. J. Rousseau, nhưng rõ ràng không phải là  một sự bắt đầu đột ngột. Như nhiều cuộc “cách mạng” trong tư duy, nó là  cao điểm của một quá trình được chuẩn bị lâu dài.     THOMAS AQUINO: TỪ LÝ TÍNH TỰ NHIÊN ĐẾN QUYỀN TỰ NHIÊN  Thomas Aquino (1225-1274), nhà thần học và nhà tư tưởng lớn nhất và có hệ thống nhất của kinh viện học thịnh thời, xem giáo dục là phương cách cơ bản nhất của đời sống tinh thần. Dưới dạng đối thoại, bộ “Tổng luận thần học” của ông hướng trực tiếp đến người đọc, được tiếp nhận nồng nhiệt, vì ông không muốn “rao giảng” mà muốn khêu gợi sự ngạc nhiên và tra hỏi.  Trước hết là một thái độ khiêm tốn: ông không giữ tư thế của người thấy mình có trọng trách với sự an nguy của… vũ trụ, bởi đó là sự nhận thức và an bài của Thượng đế! Theo ông, không thể có thế giới nào là tốt nhất, vì lẽ đơn giản là ta không làm sao biết được điều gì là tốt nhất cho thế giới. Là vật thụ tạo, ta chỉ biết những cái tốt đặc thù, phù hợp với bản tính của mình thôi. Cái tốt đặc thù nói lên trách nhiệm của con người hành động trong vai trò riêng biệt của họ trong bối cảnh xã hội. Chẳng hạn, người con thì tìm mọi cách che giấu cho người cha phạm tội trước sự trừng phạt của pháp luật vì tình cốt nhục và tình yêu gia đình. Ngược lại, quan tòa, vì lợi ích chung của xã hội, lại tìm cách bắt giữ và trừng phạt người phạm tội cho kỳ được. Ông nghĩ sao về chủ trương của Platon: người công chính thì không được che giấu tội phạm trong mọi trường hợp? Ông dứt khoát không chấp nhận, vì cho rằng quan niệm ấy quá “phổ quát” đến mức bất cận nhân tình. Như vậy, ta không nên suy nghĩ về đạo đức đơn thuần và lạnh lùng từ quan niệm về sự tự trị của lý trí mà nên như cái gì phù hợp với bản tính tự nhiên và hoàn cảnh của con người. Con người không chỉ là một sinh vật có lý trí, mà còn có xương có thịt thuộc về một loại người nhất định nào đó. Và vì thế, hành động cũng thuộc nhiều loại khác nhau: ngộ sát hay giết người vì tự vệ khác với mưu sát; cướp bóc khác với trộm cắp thông thường…  Tuy nhiên, việc dành một không gian cho bản tính tự nhiên và hoàn cảnh luôn có giới hạn của nó, và không thể làm cho những nguyên lý cơ bản trở nên hoàn toàn tương đối. Theo ông, ít nhất có bốn “mệnh lệnh” cơ bản mà không ai được chà đạp: bảo vệ mạng sống của con người và sự sinh tồn của nhân loại; tôn trọng những quyền có tính sinh vật: sinh sản và dưỡng dục con cái; trách nhiệm đối với xã hội; tăng tiến về trí tuệ và tâm linh. Chính “ánh sáng tự nhiên của lý trí” (lumen naturale) dẫn ta đến những luật tự nhiên và hằng cửu (lex naturalis, aeterna) ấy, và, tuy là tự nhiên, lại gián tiếp cho thấy ý nghĩa và ánh sáng siêu nhiên (lumen supernaturale) của chúng. Với tư cách ấy, chúng là thước đo cho mọi phong tục, tập quán riêng tư cũng như công cộng, độc lập với mọi dị biệt tín ngưỡng, chính trị hay địa lý. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, quan niệm của ông về tính có-điều kiện của những luật lệ địa phương (ius civile) như là điều kiện cần, và về tính vô-điều kiện của quyền tự nhiên có giá trị toàn cầu (ius gentium) như là điều kiện đủ cho một nhân loại phổ quát trở nên có tính thời sự hơn bao giờ hết. (Xem thêm cuộc tranh luận về sự thiếu chính đáng của cái gọi là “những giá trị châu Á” trong Jacobson. M và O. Bruun: Human rights and Asian values, London, Routledge, 2000).  MARTIN LUTHER: ĐÀNG SAU VẺ KHẮC NGHỊ CỦA… “CON NGƯỜI MỚI”  Martin Luther (1483-1546), cha đẻ của phong trào Cải cách (tôn giáo) đầy mãnh lực, phân tích thẳng thừng mọi hình thức hoạt động của con người, đi đến kết quả thật trần trụi: không có hành vi nào không từ động cơ vị kỷ và kiêu mạn! Sau khi “vạch trần” không thương tiếc chân tướng của con người, ông chia con người thành hai loại: con người cũ và con người mới. “Con người cũ” có thể chia tiếp thành ba loại. Ở trạng thái tự nhiên, mông muội (kể cả đến ngày nay!), sống theo bản năng sinh vật, dù nghèo hay giàu. Ở trạng thái đã được xã hội hóa, thì tin vào sự tự trị của con người, không thấy sự hữu hạn và giới hạn của chính mình. Loại thứ ba là những kẻ đạo đức giả, chỉ bịp đời và bịp chính mình. Nói chung, “con người cũ” xem mình là thành quả của chính mình, là kẻ sáng tạo nên chính mình, tự biến mình thành ngẫu tượng của chính mình!  Ngược hẳn lại, “con người mới” nhận thức rằng thân xác của mình là quà tặng của đấng sáng tạo, vì thế, phải trở thành kẻ gìn giữ và “điều tiết” nó. Con người “mới” không dùng trí tuệ và tài năng để tự tôn vinh mình mà để phục vụ cho “người bên cạnh mình”, nhận ra chỗ bất toàn để không ngừng phấn đấu. Ta thấy gì đàng sau vẻ khắc nghị ấy?   Trước hết, sự thay đổi “tâm thức” này không nằm trong quyền năng của con người riêng lẽ và cả của nhà giáo dục, mà là “sự giáo dục của đấng sáng tạo”. Nhà giáo dục chỉ là kẻ trợ giáo cho một kế hoạch thiêng liêng, chứ không có ảnh hưởng quyết định. Giáo dục khoa học và đạo đức là trọng tâm để chuyển hóa tâm thức, còn mọi việc khác không thuộc quyền năng của mình. Ngay trong giáo dục con cái cũng từ bỏ thói quen uốn nắn đứa trẻ yếu đuối theo quyền uy của cha mẹ, trái lại, vừa yêu thương vừa dẫn dắt nó trong tư cách của một kẻ trợ giáo mang tinh thần phục vụ một sinh thể tự do – một tư tưởng sẽ hồi sinh rực rỡ nơi John Dewey và Montessori sau này!  Quyền giáo dục trở thành trách nhiệm phục vụ, một bước ngoặt không hề nhỏ trong tư duy giáo dục!  VOLTAIRE VÀ SỰ KHOAN DUNG  Một vụ án chấn động ở Toulouse (Pháp) năm 1762: người cha, theo Tin lành, bị hành quyết do đám đông theo Công giáo cuồng tín vu oan đã hạ sát người con trai muốn cải đạo từ Tin Lành sang Công giáo! Một nghịch lý khủng khiếp: tư tưởng đầy khoan dung “yêu thương cả kẻ thù của mình” tại sao có thể trở nên vô hiệu bởi sự cuồng tín? Nguyên nhân thật dễ phát hiện: ngay cả lý tưởng cao đẹp nhất lúc ban đầu cũng có thể thoái hóa khi có quyền lực, nhất là khi quyền lực được định chế hóa và bị đồng nhất hóa với quyền lực nhà nước (mất sự thống nhất của đức tin cũng có nghĩa là mất sự thống nhất của nhà nước!). Sự khoan dung (chấp nhận ý kiến khác với cả sự mâu thuẫn của nó: chịu đựng được sự yếu đuối của người khác và tôn trọng những niềm tin khác) thực ra đã từng bước được phục hồi qua tiến trình giải phóng con người cá nhân trong thời Phục Hưng và Cải cách (tôn giáo) nay trở nên cấp bách qua vụ án chấn động này. Luận văn “Về sự khoan dung” nảy lửa và thống thiết của Voltaire nhân vụ oan án này đã làm nên lịch sử: sự khoan dung, từ nay, trở thành một giá trị đạo đức tự thân, một nguyên tắc điều hướng cho lý trí trưởng thành, trong đêm trước của Đại Cách mạng Pháp.  Luận văn lừng danh ấy của Voltaire được công bố năm 1763, một năm sau vụ án và sau tác phẩm “Emille hay là về giáo dục” của Rousseau (1762) như là những bước chuẩn bị chật vật cho một cuộc cách mạng trong tư tưởng giáo dục.           Bất đồng là căn bệnh nặng của nhân loại. Khoan dung là phương thuốc duy nhất!   Voltaire           (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 12, 05.12.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần nhiều chương trình, nhiều bộ SGK hơn giảm tải      Mỗi ý tưởng thay đổi giáo dục một khi chuyển thành phương án cải cách giáo dục, tất yếu sẽ mang lại một cách trực quan cho toàn xã hội một bộ chương trình khác gửi trong một bộ sách giáo khoa khác mang tư cách “những bản vẽ kỹ thuật”, giúp người giáo viên tổ chức việc học ở các cấp.      Nói một lần cho xong về giảm tải  Người viết bài này thực tình chưa một lần cảm thấy xúc động vì “tầm quan trọng” của chuyện “giảm tải” chương trình và sách giáo khoa hiện đang dùng theo luật định trên cả nước – mà chỉ thấy buồn cười.  Bề ngoài nó giống câu chuyện thời chiến tranh, có anh thanh niên tong teo cân nhẹ nhưng hăng hái muốn tòng quân, đã đeo thêm mấy cục gạch trước khi bước lên bàn cân. Cân xong, anh tung tăng về nhà, trong túi vẫn còn nguyên mấy cục gạch dối trá mà thật đáng yêu. Và rồi anh chợt thấy mấy cục gạch kia đã hết nhiệm vụ lịch sử, liền quăng cả đi, thực hiện “giảm tải”, và còn “giảm tải sâu” nữa – giống như ngôn từ quen thuộc thời Giáo dục đại khủng hoảng.  Đâu là chỗ khác nhau giữa sự giảm tải của anh thanh niên gầy gò ước ao thực hiện nghĩa vụ quân sự với chủ trương giảm tải của những nhà sư phạm chịu trách nhiệm trước Tổ quốc đã được mấy thế hệ những anh thanh niên thiếu cân kia gìn giữ? Khác nhau chỗ này: anh thanh niên nhẹ cân kia rất thông minh, anh biết rõ mấy hòn gạch không tạo nên cân nặng của cơ thể anh một cách hữu cơ. Anh biết thừa mấy hòn gạch đó không khi nào biến thành phủ tạng của mình, vì thế mà anh đã chọn cái giải pháp ít tính chất “hàn lâm” đến thế!  Thảm hại thay, các nhà sư phạm lại quá hàn lâm (như quý vị lâu nay vẫn tự nhận xét mỗi khi trả lời công luận) và đưa quá nhiều cục gạch hàn lâm vào chương trình học và sách giáo khoa, thực lòng định tạo nên sức mạnh trí tuệ và tinh thần cho đời đời thế hệ trẻ của đất nước. Và bây giờ, làm cách gì để rút bớt đi bao nhiêu phần trăm nhân tố gạch trong máu, trong não, trong phủ tạng, trong cơ bắp, trong xương cốt con em?   Điều nực cười của giảm tải là ở đó. Hãy đọc những chỉ thị giảm tải.   Người ta vội vã soạn thảo một chương trình khung, gọt cái chân theo đôi giày cỡ CT-2000, để rồi căn cứ theo đó mà tính chuyện giảm tải.   Thử xem, có đúng hay không cái việc bỏ bớt một hai cách chứng minh trong ba bốn cách chứng minh sự vật nào đó? Người ta quên rằng, trẻ em cần học một lần cho trọn vẹn những gì cần học mang tính nguyên lý. Thời đại mới và tâm lý con trẻ khó chấp nhận cách học đồng tâm, nay một tí, mai một tí, bậc dưới học một tí, lên bậc học trên sẽ thêm một tí nữa… cả đời không một lần học trọn vẹn một điều cần học!  Có bộ môn được người ta chuyển cả loạt bài được soạn trịnh trọng “chính khóa” sang dạng “đọc thêm”. Có nghĩa là “đọc thêm” thì đọc cũng được mà không đọc cũng chẳng chết ai. Người ta nhầm một điều này: trong một chương trình học, không thể có những thứ được cho “bám vào” một cách không máu thịt. Thức ăn cho một chương trình học cùng với phương thức thực hiện chương trình đó phải giống như thức ăn cho một cái dạ dày lành mạnh, “ăn tất cả, để biến thành dòng máu tươi”. Dĩ nhiên trong cái “tất cả” đó không nên và không được trao cho cục gạch bất cứ vai trò dinh dưỡng thiêng liêng nào.   Giải pháp số một: tái cơ cấu  Ta cần tập trung nghĩ cách làm lại chương trình và sách giáo khoa – bộ phận nhân lõi của tái cơ cấu ngành Giáo dục.   Nói đến chương trình và sách tức là phải ưu tiên nghĩ đến người học và cách học. Sai lầm xưa nay của các lần cải cách giáo dục là chỉ nghĩ đến người học như những thực thể mơ hồ được nhào nặn theo một định hướng mang tính ý thức hệ và tin chắc rằng định hướng đó là đúng đắn một cách tất yếu. Bây giờ, trong cuộc tái cơ cấu này, ta cần đến với người học cụ thể hơn nữa, tỉ mỉ hơn nữa, tức là đi sâu vào cách làm việc – tức là cách học – của các lứa học sinh khác nhau.   Nghĩ rằng, ít nhất có thể coi mấy điều sau như là một định hướng khác đi trong việc tổ chức lại chương trình học và sách giáo khoa.   Học sinh bậc tiểu học cần được quan tâm đến hai mặt này: chiếm lĩnh phương pháp học các môn học khác nhau và toàn bộ hoạt động học cần phải được tổ chức vui vẻ, nhẹ nhàng, tình cảm.   Học sinh bậc tiểu học làm cách gì đến được với phương pháp học được đề cập ở đây? Chương trình và sách giáo khoa tiểu học sẽ không còn là nơi tích cóp kiến thức – đây là những “bản vẽ kỹ thuật” dẫn dắt người giáo viên tổ chức các hoạt động học của trẻ em, những hoạt động học sẽ khiến các em sở hữu phương pháp học được gửi trong phương pháp làm việc của những người đi trước.   Xin lấy một thí dụ trong bộ sách Văn 5 tập cho bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm. Tập 1 dùng cho lớp Một cấu tạo gồm những trò chơi đóng vai để giáo dục cái lòng đồng cảm từng có ở người nghệ sĩ, cái tài sản tinh thần khiến người nghệ sĩ có được cảm hứng làm ra tác phẩm nghệ thuật. Từ lớp Hai đến lớp Ba, lớp Bốn, học sinh được thực hiện ba thành tố của bộ ngữ pháp nghệ thuật nằm trong các thao tác mọi người nghệ sĩ đều đã tiến hành: tưởng tượng, liên tưởng và sắp xếp (bố cục) – và chỉ thế thôi là đủ, có ai tìm thấy yếu tố nào khác nữa của ngữ pháp nghệ thuật, xin vui lòng chỉ giáo. Lên lớp Năm, các em có thể áp dụng cái ngữ pháp nghệ thuật cùng với tinh thần đồng cảm để “làm lại” tác phẩm theo tinh thần “tự tạo ra” các sản phẩm nghệ thuật khác nhau: âm nhạc, nhảy múa, tạo hình, văn xuôi tự sự, thơ trữ tình, kịch – quý vị nào thấy còn thêm lĩnh vực nghệ thuật phổ thông tiêu biểu nào nữa, xin vui lòng chỉ giáo.   Xin lấy một thí dụ khác trong bộ sách Tiếng Việt 5 tập cho bậc tiểu học cũng của nhóm Cánh Buồm. Tập 1 dùng cho lớp Một có những thao tác nghiên cứu ngữ âm học của các nhà ngôn ngữ học tiêu biểu: thao tác phát âm, thao tác phân tích âm, thao tác ghi lại (và đọc lại để tự kiểm tra việc ghi âm). Sách Tiếng Việt lớp Hai tập trung vào việc học từ vựng học, đi từ sự phát sinh từ ngữ tới những giải pháp từ ngữ mà người Việt Nam đã trải qua từ thượng cổ tới thời đương đại. Sách Tiếng Việt lớp Ba tập trung vào việc học cú pháp học, bao gồm hai phương diện gắn bó trong câu tiếng việt và tư duy bằng câu của con người: cấu trúc cứng Chủ ngữ – Vị ngữ của câu, và cấu trúc mềm theo logic Đề – Thuyết của câu tiếng Việt. Sách Tiếng Việt lớp Bốn tập trung vào việc học viết đoạn văn theo tổ chức năm câu và bài văn theo tổ chức mở rộng đoạn văn. Sách Tiếng Việt lớp Năm có nội dung là các dạng hoạt động ngôn ngữ trong cuộc sống: ngôn ngữ khoa học (chính xác), ngôn ngữ hành chính (minh bạch), và ngôn ngữ (xã giao) trong đời thường.  Sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm không dạy viết văn nghệ thuật (là điều khó dạy nếu không muốn nói là không thể dạy được), nhưng lại dạy chắc chắn cách viết văn phi hư cấu (là điều có thể tổ chức việc học một cách tương đối chắc chắn). Trong quá trình học Tiếng Việt và Văn (theo sách Cánh Buồm), học sinh không “viết văn” dạng nghệ thuật, nhưng được chuẩn bị cho việc viết văn đó bằng những bài tập sinh động các kiểu – nếu như trong môn Tiếng Việt sách Cánh Buồm dạy các em tự tổ chức hội thảo (seminar) theo các chủ đề do các em chọn, thì với môn Văn, các em được quyền chọn các bài tập, từ đóng kịch câm tới viết đối thoại (một dạng của chuyển thể kịch) đến vẽ tranh, làm tranh truyện, cho tới việc chọn nói hoặc viết những đoạn ngắn dưới dạng “hãy kéo dài thêm đoạn kết”, “hãy viết lại đoạn kết” của một tác phẩm…   Một chuyện vui đáng để kể lại ở đây.  Ông NTL, Tiến sĩ văn chương, vào năm 2011 hoặc 2012 gì đó, có đăng trên báo Công an nhân dân hai kỳ liền bài viết phê phán sách Văn Cánh Buồm.  Nhóm Cánh Buồm biết là Tiến sĩ NTL nhầm, nhưng vẫn không trả lời, vì quá bận bịu hoàn thành bộ sách.  Đầu năm 2013, tại cuộc triển lãm tranh ở Viện Goethe, Tiến sĩ NTL tới gặp tác giả Cánh Buồm, nắm tay chặt “Em xin lỗi anh…”   “Về việc gì, tôi biết rồi, có gì mà đáng xin lỗi.”  “Nhưng anh cũng có lỗi, anh ghi tên sách là Văn, lẽ ra anh phải ghi sách của anh là Giáo dục nghệ thuật”.  “Chúng mình có viết như thế ở lời nói đầu mà!”  “Em đọc không kỹ, xin lỗi anh…”     Chúng ta dễ hình dung, với những trẻ em được học theo cách trên cho hết tiểu học, các em sẽ biết cách tự học để tự tìm đến tri thức khi lên cấp học bên trên.   Nội dung về chương trình và cách học này sẽ được gửi vào trong cuốn sách nhóm Cánh Buồm sẽ công bố sớm nhất là cuối năm 2013, muộn nhất là trước mùa hè năm 2014, chờ nhau cùng công bố với hai cuốn sách dịch của nhà tâm lý học Jean Piaget, Sự hình thành trí khôn con trẻ (nhà thơ Hoàng Hưng dịch) và Sự hình thành biểu trưng ở con trẻ (nhà văn Nguyễn Xuân Khánh dịch).   Nhiều chương trình – nhiều bộ sách  Nhóm Cánh Buồm ra đời và hoạt động trên tinh thần tự do của con người có trách nhiệm – và thái độ tự do đóng góp đó cần được đáp ứng bởi tinh thần dân chủ của xã hội theo lối không “ưu tiên” ai hết, chỉ lấy hiệu quả làm thước đo.   Từ thái độ “Một chương tình – Một bộ sách” bắt buộc dùng trong phạm vi cả nước theo Luật định, nhờ lắng nghe dư luận, đã chuyển được sang thái độ khác gửi trong ý tưởng “Một chương tình – Nhiều bộ sách”, đó đã là một bước tiến.  Nhưng bước tiến đó xem ra vẫn chưa thể hiện hết sự am tường công cuộc giáo dục quốc dân.   Một cá nhân như Hoàng Xuân Hãn đã từng soạn chương trình học và gợi ý về sách giáo khoa cho bậc Trung học phổ thông qua việc làm đầu tiên chuyển ngữ Việt hóa các Danh từ khoa học. Tư tưởng của chương trình và sách đó là tinh thần xây nền móng cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam độc lập.   Đã có quá nhiều ý kiến đòi thay đổi. Mỗi ý tưởng thay đổi giáo dục một khi chuyển thành một phương án cải cách giáo dục, tất yếu sẽ mang lại một cách trực quan cho toàn xã hội một bộ chương trình khác gửi trong một bộ sách giáo khoa khác – xin nhắc lại – mang tư cách “những bản vẽ kỹ thuật” giúp người giáo viên tổ chức việc học của con em ở các cấp học.  Hiện nay đang có những ý kiến đòi học Phần Lan, học Singapore, học Pháp và học cả Colombia nữa thì phải. Ngày xưa, từng có cao trào học giáo dục của Nhật Bản và của CHDC Đức. Cũng được thôi, nhóm nào thấy có cái gì hay của nhân loại thì xin hãy Việt Nam hóa nó đi cho thành một phương án khả thi.   Rồi cũng có người hô hào: Nhà nước có chương trình khung đi, các bộ sách sẽ thi nhau thực hiện chương trình khung đó một cách thông minh nhất. Nhưng, ngộ nhỡ, chính cái chương tình khung đó lại thiếu cái phẩm chất mà các bộ sách thi nhau và đinh ninh mình sẽ có, thì sao nhỉ?   Vậy thì, mỗi nhóm tác giả hãy thử đưa ra cái khung của mình đặt ra. Cái khung do cái chương trình mình đề đạt với cuộc sống xã hội. Cái khung – chương trình học – với bộ sách giáo khoa chỉ rõ con đường tự học và tự giáo dục của thanh thiếu niên cả nước.  Kể cả khi đó là cái khung cho người lùn tè. Chả kể là lùn hay cao, thấp cao gì cũng có giá trị, miễn là hãy nhận trách nhiệm đối với phương án cải cách giáo dục của mình, cốt thế là đã!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần sớm chấm dứt tình trạng đơn ngữ ở Việt Nam      Từ thế kỷ X đến năm 1945, Việt Nam luôn là lãnh thổ sử dụng song ngữ (Hán- Việt, với hai văn tự chữ Hán và chữ Nôm), có khi là tam ngữ (Hán, Việt, Pháp) trong thời Pháp thuộc. Theo TS Trần Trọng Dương, cần sớm chấm dứt tình trạng đơn ngữ hiện nay và giải pháp thỏa mãn tất cả các chiều kích và các khía cạnh về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam là chính sách tam ngữ Việt – Anh – Hán.    Trần Trọng Dương*    Văn bản về “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” của Hồ Chủ tịch,  vừa dùng tiếng Hán hiện đại vừa dùng tiếng Việt.  Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.  Ảnh: Đình Hưng.  Sau báo cáo của PGS Đoàn Lê Giang (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) tại hội thảo do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức, vấn đề đưa chữ Hán vào chương trình học phổ thông đã gây nên những tranh luận sôi nổi và đa chiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và các diễn đàn xã hội. Các nhà chuyên môn (phần lớn là các nhà Hán học, các giảng viên đại học) đều ủng hộ tầm quan trọng của chữ Hán đối với sự giữ gìn văn hóa và bản sắc dân tộc, cũng như một phát triển bền vững dài hơi cho tương lai của đất nước. Những người phản đối cũng đưa ra không ít các lý do để phản biện, khoa học cũng có, không khoa học cũng có.  Song vấn đề dạy chữ Hán, muốn nói gì thì nói, lại là một vấn đề thuộc phạm vi quản lý vĩ mô, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục và chủ trương chính trị. Bài viết này sẽ thảo luận về nguyên nhân lịch sử của viêc sử dụng chữ Hán ở Việt Nam trong quá khứ cũng như những ý kiến về vấn đề chính sách ngôn ngữ, và việc dạy chữ Hán ở xã hội Việt Nam hiện nay.  Sử dụng chữ Hán tiếng Hán để chơi với Hán?  Nhiều người sẽ nghĩ tôi đang giật tít chi đây. Nhưng chuyện này đúng là có thật. Nếu như 1.000 năm Bắc thuộc tiếng Hán/ chữ Hán được sử dụng tại Giao Châu (Bắc Việt Nam) thông qua tầng lớp quan lại (người Hán và người Việt) ở bộ máy hành chính các cấp; thì đến giai đoạn độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã chủ động coi tiếng Hán / chữ Hán như ngôn ngữ – văn tự chính thống của nhà nước trong vòng 1.000 năm (từ thế kỷ X đến năm 1945). Đã từng có ý kiến cho rằng, việc sử dụng tiếng Hán ở Việt Nam gây nên những lệ thuộc về tư tưởng. Song thực tế không hẳn như vậy, tiếng Hán và chữ Hán chỉ là những công cụ văn hóa để người Việt thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng: (1) duy trì nền độc lập dân tộc; và (2) xây dựng nền văn hóa Đại Việt có khả năng hòa nhập với khu vực và thế giới.  Nếu như các triều đại phong kiến Trung Hoa luôn lấy tiếng Hán và văn hóa Hán làm tiêu chuẩn khuôn mẫu để đánh giá và xâm lăng các dân tộc khác; thì người Việt đã chủ động “đà đao” học lấy ngôn ngữ và văn tự Hán để tự cường dân tộc và chống giặc ngoại xâm. Bài học ấy có được sau 1.000 năm Bắc thuộc; và được triển khai một cách chặt chẽ và quyết liệt trong 1.000 năm tự chủ sau đó.  Không nghi ngờ gì rằng, việc quyết định chọn lựa tiếng Hán/ chữ Hán như là ngôn ngữ văn tự quốc gia của các triều đại Khúc- Đinh- Lý- Trần- Lê- Nguyễn, là một thủ pháp chính trị mang tính chiến lược. Dùng tiếng Hán, chữ Hán như một công cụ để người Việt “chơi với người Hán”. Dùng tiếng Hán là để hiểu văn hóa của họ, để hiểu tư duy của họ, để nhận thức rõ hơn cái tư tưởng Đại Hán của họ. Hiểu đối phương cả ở mặt tốt và những mặt xấu, cả ở mặt nhân văn lẫn mặt phản văn hóa, đó là một cách để bảo vệ chính mình. Nếu như các triều đại phong kiến Trung Hoa luôn lấy tiếng Hán và văn hóa Hán làm tiêu chuẩn khuôn mẫu để đánh giá và xâm lăng các dân tộc khác; thì người Việt đã chủ động “đà đao” học lấy ngôn ngữ và văn tự Hán để tự cường dân tộc và chống giặc ngoại xâm. Bài học ấy có được sau 1.000 năm Bắc thuộc; và được triển khai một cách chặt chẽ và quyết liệt trong 1.000 năm tự chủ sau đó. Chúng ta vẫn luôn tự hào về những “bản tuyên ngôn độc lập” dân tộc như bài Thơ thần thời Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt, bài “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi… Những áng văn bất hủ ấy đâu phải chỉ viết riêng cho người Việt đọc, mà còn cho cả người Hán đọc nữa. Nếu không dùng tiếng Hán, Nguyễn Trãi (1380-1442) làm sao có thể có “Quân trung từ mệnh tập”- một tập văn thư ngoại giao quan trọng trong cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh. Nếu không có tiếng Hán, Phan Bội Châu làm sao có thể viết nên danh tác “Việt Nam vong quốc sử” (Lịch sử mất nước của Việt Nam) thấm đẫm niềm ái quốc để hy vọng tìm đường lật đổ sự đô hộ của Pháp! 1     Nhiều người bảo rằng tôi đang ngụy biện chăng? Bởi trong thế kỷ XX, Việt Nam đã đánh cả Pháp lẫn Mỹ và Trung Quốc mà chẳng cần đến chữ Hán. Xin thưa rằng, đúng! Chúng ta đã đánh cả ba cường quốc bằng hai thứ vũ khí khác: cách mạng và chiến tranh. Nhưng chiến tranh chỉ là một cách giải quyết bất đắc dĩ; bảo vệ độc lập dân tộc bằng chiến tranh, đi đến hòa bình bằng chiến tranh chỉ là tình thế “ở cuối chân tường” khi chúng ta chỉ là một quả bóng trong chân các nước lớn. Muốn giữ vững độc lập dân tộc một cách bền vững, muốn xây dựng đất nước an toàn thì lại phải bằng công cụ văn hóa, phải tự cường dân tộc. Dùng văn hóa để thoát khỏi tình trạng tụt hậu, dùng văn hóa để thoát khỏi sự kiềm tỏa của các thế lực ngoại bang, đặc biệt là Trung Quốc, là bài toán đặt ra cho chúng ta hôm nay.  Khi không có tiếng Hán/ chữ Hán làm sao chúng ta có thể chơi với Trung Quốc, làm ăn với Trung Quốc, buôn bán và đấu tranh với Trung Quốc? Lại cũng sẽ có người lạc quan nói rằng, ta vẫn đang làm ăn bình thường với Trung Quốc đấy thôi. Xin thưa, vấn đề ở chỗ chúng ta đã/ đang chơi với Trung Quốc như thế nào, làm ăn với Trung Quốc như thế nào, và đấu tranh với Trung Quốc trên Biển Đông như thế nào? Làm sao chúng ta chỉ có thể buôn bán, ngoại giao, đấu tranh với Trung Quốc mà chỉ bằng nhõn… tiếng Việt? Công việc ấy không chỉ thuộc về mấy nhà ngoại giao, vài nhà nghiên cứu, mà phải là sự cố gắng của các chính khách, các cơ quan kinh tế, hệ thống thông tấn,… các tầng lớp nhân dân, các giai tầng xã hội, các lực lượng trong toàn thể khối đại đoàn kết dân tộc.  Việt Nam chỉ có thể chọn một chính sách ngôn ngữ và văn hóa hợp lý chứ không thể nào thay đổi/ lựa chọn được vị trí địa lý nào khác. Muôn đời Trung Quốc vẫn là láng giềng của ta, muôn đời Trung Quốc vẫn là bạn của ta, và muôn đời Trung Quốc vẫn cứ là mối nguy hiểm tiềm tàng của ta. Chơi/làm ăn với Trung Quốc chẳng phải là chuyện thời sự hiện tại mà là vấn đề sống còn của nhiều thế hệ nữa.  Đến đây, mọi người chắc cũng đoán ra, người viết bài này định nói gì. Phải, tôi nghĩ rằng Việt Nam cần phải xóa bỏ chính sách đơn ngữ đơn văn tự (tiếng Việt và chữ Latin) để dần trở thành một quốc gia song ngôn ngữ- thậm chí đa ngôn ngữ.  Bài toán nào để giải quyết chính sách đơn ngữ ở Việt Nam?  Như trên đã viết, tôi đề xuất một sự thay đổi về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam: chính sách đa ngôn ngữ- đa văn tự.  Từ thế kỷ X đến năm 1945 (trong quãng 2000 năm), Việt Nam luôn là lãnh thổ sử dụng song ngữ (Hán- Việt, với hai văn tự chữ Hán và chữ Nôm), có khi là tam ngữ (Hán, Việt, Pháp) trong thời Pháp thuộc2. Từ năm 1945 trở lại đây, Việt Nam chính thức là một nước đơn ngữ3. Việc sử dụng duy nhất tiếng Việt và chữ cái Latin khiến cho ai cũng có thể biết đọc biết viết, đó là một ưu điểm. Nhưng tình trạng đơn ngữ quá lâu, khiến cho Việt Nam ngày càng trở thành “ốc đảo”, lạc hậu so với khu vực và thế giới. Nếu so sánh với Malaysia, Singapore, Philippines và một số nước có chính sách song ngữ-đa ngữ khác thì tình hình tụt hậu của Việt Nam quả là đáng ái ngại.       Biểu đồ sử dụng ngôn ngữ tại Việt Nam (Nguyễn Tài Cẩn 2001)4  Vì thế, cần chấm dứt càng sớm càng tốt tình trạng đơn ngữ ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là bên cạnh tiếng mẹ đẻ, người Việt buộc phải biết sử dụng ít nhất một ngoại ngữ đủ để sử dụng trong đời sống xã hội và giao tiếp với thế giới.  Vấn đề là nhà nước cần phải có chính sách và chiến lược cụ thể trong vòng tối thiểu quãng 20- 50 năm tới để đào tạo những thế hệ mới và nâng cấp thế hệ cũ. Lộ trình tiến hành có thể thực hiện dần dần từng bước một.  –    Nhà nước cần phải ra một quyết định về chính sách ngôn ngữ công nhận một ngoại ngữ nào đó là ngôn ngữ chính thức thứ hai/ hoặc thứ ba bên cạnh tiếng Việt.  –    Mọi văn bản hành chính giấy tờ (từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất), các giao dịch, buôn bán, bằng cấp,… đều phải dùng tối thiểu hai thứ tiếng.  –    Hệ thống giáo dục phải dần dần coi một ngoại ngữ là ngôn ngữ giảng dạy chính thức trong các trường. Để từ đó, giáo dục đại học sẽ giảng dạy bằng ngoại ngữ.  Một vấn đề quan trọng nữa là cần phải xác định nên chọn ngoại ngữ nào làm ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam. Có hai lựa chọn đưa ra, đó là tiếng Anh và tiếng Hán hiện đại (còn gọi tiếng Trung/ tiếng Hoa).  + Tiếng Anh có lẽ sẽ là giải pháp nhiều người lựa chọn nhất, trong đó có cả người viết bài này. Điều này hẳn không phải bàn cãi nhiều.  + Tiếng Hán hiện đại sẽ bị không ít người phản đối. Nhưng cũng nên nhắc lại rằng, “biết mình biết người” ấy là một vũ khí để tự bảo vệ chính mình.  Chính sách tam ngữ (Việt, Anh, Hán) thỏa mãn tất cả các chiều kích và các khía cạnh về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam hiện tại.  Nếu quyết định chọn riêng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức thứ hai, liệu Việt Nam sẽ có vấn đề gì tế nhị với Trung Quốc hay không? Còn nếu chỉ chọn tiếng Hán hiện đại, thì sự thiếu hiểu biết5 và tinh thần cực đoan của nationalism (như trên các trang mạng xã hội về vấn đề này) sẽ gây nên những phản ứng phản tác dụng! Giải pháp trung hòa nhất cho sự lựa chọn ấy là chính sách tam ngữ (Việt, Anh, Hán). Giải pháp này thỏa mãn tất cả các chiều kích và các khía cạnh về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam hiện tại. Bởi nếu chỉ biết tiếng Hán, người Việt sẽ khó chơi với phần còn lại của thế giới (chủ yếu dùng Anh ngữ); hoặc chỉ biết tiếng Anh, người Việt rất dễ rơi vào tình trạng bất lợi với Trung Quốc và khó kết nối với quá khứ, cũng như các nước khác ở Đông Á (Nhật, Hàn, Đài Loan…). Phương án tam ngữ cho Việt Nam, theo ý kiến cá nhân tôi, là phương án tối ưu nhất, lý tưởng nhất, nhưng cũng khó thực hiện nhất, bởi nhiều lý do chủ quan khác nhau.  Và bài toán đưa chữ Hán vào nhà trường  Đến đây, bạn đọc thấy rằng tôi đã đi quá xa và quá rộng so với chủ đề ban đầu. Song, mọi việc sẽ là vô ích (do phản ứng ngược từ xã hội), khi các chuyên gia đề xuất giảng dạy chữ Hán trong trường phổ thông, mà không đặt nó vào bối cảnh chính trị và văn hóa của Việt Nam đương đại. Chữ Hán (dạy theo kiểu Hán Nôm) mặc dù rất cần thiết6, song vẫn chỉ là vấn đề thứ yếu khi đặt cạnh chính sách song ngữ. Chữ Hán cần phải được cung cấp một “sinh quyển”.  Nếu như, tiếng Hán hiện đại (chứ không phải Hán cổ, Hán Nôm7) được công nhận là một trong ba ngôn ngữ chính thức ở Việt Nam, thì lúc đó việc dạy chữ Hán8 trong trường phổ thông chỉ là vấn đề về kĩ thuật. Vấn đề này giới khoa học của Việt Nam hoàn toàn có thể vạch ra một lộ trình khoa học trong chừng mực có thể trong vòng 20-50 năm tới. Khi ấy, giảng dạy các chữ Hán đơn lẻ (với tư cách là những thành tố của tiếng Việt, được lồng ghép trong môn tiếng Việt; và trong môn văn học) chỉ đặt ra một lộ trình vừa phải cho mỗi cấp. Ví dụ, cấp 1: 100-300 chữ; cấp 2: 1.000 chữ thông qua việc dạy tiếng Hán và các từ vựng Hán Việt; cấp 3: dạy tiếng Hán hiện đại, song song với tiếng Anh; đại học và sau đại học: tiếng Hán và tiếng Anh cho chuyên ngành. Mô hình giáo dục theo hình kim tự tháp (xem ở dưới) với các tri thức khoa học được giảng dạy bằng ngoại ngữ sẽ là một nền tảng cơ bản để biến các công dân tương lai của đất nước trở thành công dân quốc tế.     Nếu như, Việt Nam có một chính sách tam ngữ, thì văn hóa xã hội Việt Nam sẽ có một đời sống mới. Bởi, tăng cường ngôn ngữ toàn dân là nâng cao sức kháng thể, sức tự cường của toàn dân tộc.  Nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi rằng, liệu có nhất thiết phải là giảng dạy tiếng Hán/ tiếng Anh đại trà không, hay chỉ những người cần sử dụng mới phải học? Tôi cho rằng, ở đây, chúng ta đang dạy công cụ, dạy kĩ năng. Bởi ở đời, không ai có thể biết trước sau này mình sẽ làm gì. Một nền giáo dục mà chúng ta cần có là chuẩn bị các tri thức nền tảng, các công cụ thiết yếu, các kĩ năng mềm để có thể tồn tại và xoay xở trong một thế giới đang phát triển với tốc độ vũ bão, nhưng cũng không ít nguy cơ rủi ro. Cho nên, giáo dục đa ngữ là giáo dục đa văn hóa, là giáo dục đa kĩ năng để con người có thể hòa nhập một cách hiệu quả nhất. Giáo dục đa ngữ đại trà, như trên trình bày, là một mô hình tháp nhọn. Khi càng có nhiều người học đa ngữ, học trong môi trường đa ngữ, sống trong môi trường đa ngữ thì chúng ta càng có nhiều cơ hội để có được những lớp người tinh hoa kiểu như Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp,…  Mặt khác, đào tạo đa ngữ đại trà sẽ giúp chúng ta luôn có những người hoạt động ở mọi phương diện của cuộc sống. Ngành nghề nào ở Việt Nam mà chẳng không làm việc với tiếng Anh hay tiếng Hán? Dù sản xuất công- nông- ngư nghiệp, hay văn hóa xã hội, dù là du lịch thương mại hay nghiên cứu học tập, ở đâu cũng cần ngoại ngữ? Nếu không có ngoại ngữ chúng ta chỉ có thể xuất khẩu lao động thô, xuất khẩu dầu thô, bán tài nguyên khoáng sản…  Nếu như, Việt Nam có một chính sách tam ngữ, thì văn hóa xã hội Việt Nam sẽ có một đời sống mới. Bởi, tăng cường ngôn ngữ toàn dân là nâng cao sức kháng thể, sức tự cường của toàn dân tộc. Việt Nam vừa muốn hòa bình với Trung Quốc, lại vừa muốn làm bạn với tất cả các nước. Việt Nam muốn vừa giữ được bản sắc dân tộc, lại vừa muốn phát triển trở thành một nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu (như lời dạy của Hồ Chủ tịch). Không còn cách nào khác ngoài nhiệm vụ giáo dục (điều 61 của Hiến pháp 2013), mà trong giáo dục thì giáo dục song ngữ, giáo dục đa ngữ là một nền giáo dục kĩ năng, nhằm chắp cánh cho các công dân tương lai hòa nhập vào thế giới đương đại.  Nên nhớ rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu của một con người quốc tế đa văn tự- đa ngôn ngữ- đa văn hóa. Học theo tấm gương của Bác, ngoài việc học đạo đức, phải chăng còn là học theo trí tuệ của Người?  Tất nhiên, sẽ còn rất nhiều vấn đề khác cần thảo luận tiếp, bởi vấn đề vừa đề xuất không nằm trong phạm vi của một cá nhân, hay một cơ quan nào, mà thuộc về phạm vi của Nhà nước, của Quốc hội và Chính phủ. Nhưng thiết nghĩ, thay vì cứ suốt ngày loay hoay chữa cháy, sửa sang chỗ này chỗ nọ, thì chúng ta thử cùng nhau suy nghĩ về một kế hoạch dài hơi cho giáo dục và tương lai của đất nước!  * Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm  —-  1 David Marr. 1971. Vietnamese Anticolonialism,1885-1925, Berkeley- Los Angeles- London: Unviversity of California Press. P.114-119.  2 DeFrancis, John.1977. Colonialism and Language Policy in Vietnam. The Hague: Mouton. Paris & New York.  3 Sắc lệnh 19 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 08/9/1945, ra lệnh: “Việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam trên 8 tuổi mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ đó sẽ bị phạt tiền”. Điều thứ 18 trong Hiến pháp năm 1946 quy định: “Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, v�phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. [Nguyễn Thiện Giáp. 2006. Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. TC Ngôn ngữ. Số 1. Tr. 1 – 10].  4 Nguyễn Tài Cẩn. 2001. Một số vấn đề về ngôn ngữ văn tự- văn hóa. Nxb Đại học Quốc gia. Hà Nội. tr. 401- 404. [Chuyển dẫn theo biểu đồ của Nguyễn Thị Hiệp. 2016. Nghiên cứu từ gốc Hán trong sách Ngữ văn 9, bậc trung học cơ sở. Luận văn Thạc sĩ. Học viện Khoa học Xã hội].  5 Ví dụ như nhiều người (kể cả một số giáo sư) cho rằng chữ Hán là chữ tượng hình, thực tế nên là loại hình văn tự biểu âm kiêm biểu ý! Hoặc không phân biệt được các khái niệm cơ bản của tiếng Hán với chữ Hán, tiếng Hán cổ đại với tiếng Hán hiện đại…  6 Trần Trọng Dương. 2013. Hán Nôm học: khoa học liên ngành để phát triển đất nước. www.vietnamnet.com     7 Còn giảng dạy Hán Nôm (tức các văn bản Hán văn Việt Nam, thì nên lồng vào các chương trình ngôn ngữ, văn học), chứ không nhất thiết phải “đẻ” ra môn mới. Vì Hán Nôm thực sự cần thiết cho các lĩnh vực về lịch sử văn học, lịch sử triết học, lịch sử tín ngưỡng tôn giáo, lịch sử văn hóa,…  8 Xin lưu ý là dạy tiếng Hán hiện đại thì lại có hai loại chữ là giản thể và phồn thể. Nhưng vấn đề này có thể giải quyết  về sau.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thay đổi cách gửi người đi học nước ngoài      Thật không hợp lý khi chúng ta tiếp tục lãng phí tiền bạc tài trợ cho người đi học nước ngoài và duy trì tình trạng chảy máu chất xám ở mức độ cao. Chúng ta nên dùng kinh phí đó để giúp những ai ở lại trong nước có quyết tâm cống hiến mang lại những điều tốt đẹp hơn.     Phải chăng chúng ta không thể hình dung về tình yêu nếu thiếu sự chia ly? Phải chăng Kim Trọng chia ly với Thúy Kiều là điều không tránh khỏi? Vì sao nàng Tô Thị hóa thân thành đá vĩnh viễn chờ chồng lại trở thành biểu tượng cho tình yêu của người Việt? Có lẽ, chiến tranh và nỗi buồn đã hằn sâu trong lịch sử Việt Nam và trở thành một phần của văn hóa dân tộc. Từ Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm tới Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tình yêu và sự chia ly đều hòa làm một.      Ông tơ ghét bỏ chi nhau, Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi! Nguyễn Du (Kiều)      Những suy nghĩ ấy đến trong tâm trí tôi gần đây khi đọc những bài luận giới thiệu bản thân của các bạn trẻ đăng ký làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Về nguyên tắc, những bài luận ấy là cần thiết; nhưng trên thực tế, chúng đều na ná nhau và tôi nghĩ chúng đều được cắt dán từ Internet. Mô thức chung đại khái là: “Từ hồi nhỏ tôi đã có niềm đam mê (dành cho công nghệ nano/phương trình vi phân/vũ trụ học…) và nay tôi mong muốn hiện thực hóa ước mơ của mình: được học ở một đất nước nổi tiếng về văn hóa và hệ thống giáo dục. Sau khi hoàn thành chương trình thạc sỹ, tôi muốn được đăng lý làm tiến sỹ và nghiên cứu ở nước ngoài tại những viện nghiên cứu danh tiếng. Sau này, tôi sẽ có khả năng trở lại Việt Nam thân yêu và khao khát thiết tha nhất của tôi là đóng góp kinh nghiệm của mình cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của đất nước…”  Ôi Việt Nam, tôi yêu người thật nhiều tới mức phải chia ly! Liệu có thật đó là cách tốt nhất để thể hiện tình yêu? Tôi thật tò mò vì sao con em của những người thành đạt ở đất nước này, các vị giáo sư, quan chức cấp cao, và nhiều lãnh đạo, lại chính là những người yếu đuối nhất, thay vì khỏe khoắn nhất [trong tinh thần]. Chẳng phải cha mẹ họ chính là những người ở vị trí thuận lợi nhất để truyền cho họ niềm tin vào năng lực của đất nước trong việc mang lại sự giáo dục và cơ hội phát triển cho thế hệ trẻ?  Nhìn nhận một cách nghiêm túc hơn, tôi hoàn toàn hiểu vai trò của những người tha hương đối với lịch sử Việt Nam giai đoạn 1912 tới 1920, với năm con người được gọi là “ngũ long”, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Ái Quốc. Tôi hiểu rằng từ tha hương, một khi thốt ra thì không tránh khỏi dấy lên những nỗi đau và xúc cảm buồn rầu gắn liền với nó. Nhưng phương thuốc để chữa lành những vết đau ấy là hãy nhìn về phía trước. Ngày nay, nước nhà mới chính là nơi chúng ta cần xây dựng một cơ đồ mới, đủ sức hấp dẫn cho giới trẻ, ngăn họ nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có ở phía bên kia hàng rào. Chính tại nước nhà là nơi chúng ta cần xây dựng những trường đại học tốt hơn, với những học giả uyên thâm, chính trực, và chăm chỉ hơn. Chính tại nước nhà chúng ta cần nâng cao phẩm cấp nghiên cứu khoa học trên trường quốc tế và đưa nó tới vị thế xứng đáng. Chính tại nước nhà chúng ta cần khôi phục sự tôn trọng dành cho văn hóa.         Hãy mời một cách có hệ thống các giáo sư quốc tế và Việt kiều về nước giảng dạy, và ngừng gửi đi quá nhiều con em chúng ta ra nước ngoài. Nên khuyến khích hình thành các nhóm bạn trẻ tự hướng dẫn nhau, khai thác lợi thế to lớn của Internet, và qua đó phát huy năng lực những người tài giỏi nhất trong số họ.      Tôi nghĩ thật không hợp lý khi chúng ta tiếp tục lãng phí tiền bạc gửi con em mình ra nước ngoài và duy trì tình trạng chảy máu chất xám ở mức độ cao. Thay vì tiêu quá nhiều tiền cho các học bổng tài trợ người đi học nước ngoài, chúng ta nên dùng kinh phí đó để giúp những ai ở lại trong nước có quyết tâm cống hiến mang lại những điều tốt đẹp hơn. Tất nhiên, cách tài trợ sẽ phải thay đổi: việc sàng lọc phải kỹ hơn, thuần túy dựa trên tài năng và năng lực; nguồn lực tài trợ bao gồm cả lương bổng và môi trường làm việc phải đủ hấp dẫn đối với họ. Hoạt động của họ phải được định hướng trong khuôn khổ một chính sách có tính dài hạn, được công bố công khai rõ ràng. Qua đó tạo cho nhà khoa học niềm tin rằng nguồn lực tài trợ của Nhà nước là thực sự ổn định bền vững, khiến họ tự hào về những đóng góp của mình, cảm thấy rằng mình đang phụng sự cho quốc gia, và quốc gia ghi nhận những nỗ lực của mình.  Tại nhiều buổi seminar do các nhà khoa học Việt kiều làm nghiên cứu ở nước ngoài tổ chức mà tôi được tham dự, có một số người thường khuyên bảo những điều chúng ta nên làm, dù họ cũng không thực sự hiểu hết về môi trường làm việc và thực trạng nghiên cứu cơ bản trong nước, nhưng khi được hỏi vì sao không về để trực tiếp cống hiến cho nền khoa học và công nghệ trong nước thì họ chỉ im lặng.  Như tôi thường nói, chúng ta chỉ chú trọng đầu tư cho bê tông và mua sắm thiết bị đắt tiền thay vì đầu tư cho chất xám như lẽ ra cần làm. Nhưng để đầu tư cho chất xám một cách đúng đắn thì bản thân chúng ta phải thay đổi: sự chuyên nghiệp, tinh thần liêm chính và đạo đức học thuật phải nâng cao, đồng thời phải đặt niềm tin vào tài năng của thế hệ trẻ. Hãy cho họ nhiều cơ hội để tự học hỏi, ngay ở trong nước; cho họ cơ hội vấp váp những sai lầm không tránh khỏi, vốn cũng là một phần của quá trình học hỏi. Hãy mời một cách có hệ thống các giáo sư quốc tế và Việt kiều về nước giảng dạy, và ngừng gửi đi quá nhiều con em chúng ta ra nước ngoài. Nên khuyến khích hình thành các nhóm bạn trẻ tự hướng dẫn nhau, khai thác lợi thế to lớn của Internet, và qua đó phát huy năng lực những người tài giỏi nhất trong số họ.  Tôi không nói rằng chúng ta hãy dừng tuyệt đối việc gửi sinh viên ra nước ngoài. Nhưng cần có những đánh giá xác đáng để thấy trường hợp nào cử người đi là thực sự cần thiết. Và khi đã gửi người đi thì cần khai thác họ sao cho tốt nhất: các tổ chức trong nước cần có kế hoạch sử dụng để khi họ quay về thì sớm phát huy tối đa những kỹ năng và các nguồn lực có được từ nước ngoài; khuyến khích và ưu tiên việc truyền lại những kỹ năng đó cho các đồng nghiệp trong nước thông qua các bài giảng, khóa đào tạo, hay các chương trình liên kết quốc tế đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sỹ.  Lâu nay, tôi vẫn ủng hộ phương thức đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sỹ, kết hợp giữa một giáo sư trong nước và một giáo sư nước ngoài. Theo đó Việt Nam được hưởng lợi ích kép: người làm nghiên cứu sinh vẫn duy trì được các mối liên lạc công việc ở trong nước, chia sẻ thời gian giữa hai quốc gia, và những gì người đó học được từ nước ngoài sẽ dễ dàng chuyển giao cho cả một nhóm nghiên cứu ở trong nước. Nhưng những lời kêu gọi của tôi có lẽ không được lắng nghe, khi mà các điều kiện, yêu cầu đặt ra cho các thỏa thuận đồng hướng dẫn như vậy ngày một khó khăn, thay vì trở nên dễ dàng, linh hoạt hơn như Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga từng nói với tôi; gần đây tôi có kiến nghị việc này với hiệu trưởng một trường đại học ở Hà Nội, nhưng ông ấy nói rằng mình không có chức năng thay đổi các quy định của Việt Nam, mà chỉ có thể thực hiện theo các quy định sẵn có…         Trong hơn hai mươi năm chúng ta đã gửi ra nước ngoài những nghiên cứu sinh làm tiến sỹ ngành vật lý lượng tử; nhưng chúng ta lại không thể xây dựng và tài trợ được nổi một nhóm nghiên cứu trong nước. Phải chăng đó là một sự lãng phí?      Hiện nay tôi làm việc tại một viện nghiên cứu có nhiệm vụ phát triển công nghệ không gian ở Việt Nam. Nhiều kỹ sư trẻ đã được tuyển dụng và được đào tạo trong hai năm ở các trường đại học của Nhật Bản. Nay họ đang trở về nước, đầy năng lượng và nhiệt huyết. Chúng ta cần cho họ cơ hội để phát huy những vốn quý ấy, để họ tham gia các dự án giúp họ phát huy tối đa những kỹ năng của mình, tạo động lực để họ làm việc chăm chỉ, đạt được những thành công mà họ cảm thấy đáng tự hào. Ví dụ, trao cho họ cơ hội chế tạo các vệ tinh nhỏ có khả năng chụp hình ảnh Trái đất. Chúng ta không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của việc trao cho họ những cơ hội như vậy, bởi chỉ qua đó họ mới có thể tiếp tục phát triển năng lực và tính hiệu quả trong công việc. Nếu không làm vậy thì những kỹ năng của họ sẽ trở nên uổng phí.  Nhìn vào các bạn trẻ quanh mình, tôi thấy họ hoàn toàn đủ khả năng đào tạo và giảng dạy các sinh viên vật lý thiên văn ở Việt Nam. Những gì họ cần là được trao sự tin tưởng cùng các nguồn lực cần thiết để tham dự các hội thảo, mời các giảng viên nước ngoài cùng tham gia; và đặc biệt điều họ cần nhất là sự ghi nhận tài năng, và động viên, khuyến khích từ các cấp quản lý.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Cần thiết kế lại chương trình đại học      Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tất yếu mô hình đào tạo, chương trình đào tạo, cung cách giảng dạy ở đại học phải thay đổi để đào tạo ra những con người làm chủ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vì vậy, phần chương trình đào tạo trong dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học cần phải đáp ứng được những yêu cầu đó.      Tại hội thảo “Liberal Art” (giáo dục khai phóng) do ĐH Việt Nhật tổ chức ngày 16/10/2017, nhiều nhà giáo dục cho rằng, các trường đại học tập trung đào tạo các chuyên ngành hẹp khiến sinh viên tốt nghiệp thiếu nhiều kỹ năng, khả năng tư duy và tầm nhìn để thích ứng với những thay đổi của thời đại. GS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH-NV (ĐHQGHN) cho rằng, quan trọng nhất là phải thiết kế lại chương trình đào tạo. Ảnh: Vietnamnet.  Giáo dục phổ thông là nhằm tạo ra các công dân tốt cho tương lai, nên giáo dục đầu đời (từ nhà trẻ, mẫu giáo, đến tiểu học) cần có sự phối hợp chặt chẽ và hữu cơ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, vì đây là giai đoạn quan trọng nhất để hình thành nhân cách, phẩm chất, năng lực của con người, để đất nước có được những con người yêu nước, tự trọng, trung thực, yêu quý gia đình, làng xóm, quý trọng đồng loại và tôn trọng thiên nhiên, thấm đẫm văn hóa và tâm hồn Việt. Đồng thời đó còn phải là những con người sáng tạo, tự chủ, tự tin, độc lập và có bản lĩnh, theo đúng năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng (yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm…), cung cấp ‘đầu vào’ chất lượng cao cho giáo dục đại học.  Giáo dục đại học là giai đoạn tiếp nối và hoàn thiện cơ bản việc giáo dục và bồi đắp thêm phẩm cách và năng lực mà người học đã có qua những năm học phổ thông, đồng thời với việc đào tạo cho sinh viên một ‘nghề’ để kiếm sống, là đào tạo chuyên gia và xây dựng đội ngũ trí thức về khoa học kỹ thuật, về  quản lý, cần phải được quốc tế hóa càng sớm càng tốt, càng sâu rộng càng tốt, để có những chuyên gia, các nhà khoa học đầu đàn, các nhà quản lý tài ba, tiệm cận nhanh chóng với các chuẩn mực quốc tế về chuyên môn, ngoại ngữ và kiến thức nhân văn; có như thế, chúng ta mới có thể sớm trở thành đất nước xuất khẩu chuyên gia, xuất khẩu tri thức; chứ không phải chỉ xuất khẩu lao động như hiện nay.      Cách tiếp cận lý thuyết và phương pháp luận trong đào tạo theo mô hình chuyên môn hẹp không thực sự phù hợp với nền kinh tế thị trường; cũng như những lý thuyết và phương pháp luận ấy khó giúp VN vượt qua những thách thức mà VN đang phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi xã hội nhanh chóng để hội nhập vào hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa khu vực cũng như toàn cầu.        Các đại học đẳng cấp trên thế giới đều dựa trên bốn trụ cột chính là (i) chất lượng giảng dạy thể hiện qua phẩm chất, năng lực của sinh viên sau tốt nghiệp. Danh tiếng của một trường đại học thường gắn liền sự thành đạt của sinh viên tốt nghiệp từ trường đó; (ii) chất lượng nghiên cứu; (iii) chất lượng dịch vụ xã hội và tầm ảnh hưởng xã hội; và (iv) mức độ quốc tế hóa của trường đại học. Luật cần thể hiện rõ việc nhà nước đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng như thế nào để tạo động lực và nguồn lực cho sự vững mạnh của bốn trụ cột trên của nền giáo dục đại học Việt Nam (VN).    Cần làm rõ chương trình đào tạo đại học có cần phải ‘tái cấu trúc’ không khi xung quanh chúng ta đã có rất nhiều ‘tấm gương’ tốt về chương trình, sách giáo khoa, về phương pháp giảng dạy? Thiết nghĩ, để hội nhập và để phù hợp với nền kinh tế thị trường, rất cần phải đổi mới, phải thay đổi. Chương trình đào tạo của chúng ta về cơ bản vẫn như những gì đã có trước ‘đổi mới’ theo mô hình đào tạo đơn ngành, đào tạo chuyên môn sâu. Có lẽ nên bắt đầu từ cái gốc của từ này: University – “đại học” xuất phát từ khái niệm “tri thức rộng hay tri thức toàn cầu” (universal knowledge); và hơn hết, nó có nghĩa khởi thủy là giáo dục nhân văn, giáo dục con người biết làm người bình thường để nhận biết và khám phá thế giới, khám phá thực tại khách quan. Vì vậy, cùng với các môn học chuyên ngành để đào tạo chuyên gia, các môn học về Triết học, Lịch sử, Văn học, Ngôn ngữ và các môn về Văn hóa-Nghệ thuật được coi là các môn học cốt lõi của giáo dục đại học chất lượng cao. Có người gọi cách giáo dục như thế là giáo dục khai phóng (liberal arts education), điều làm nên sự thịnh vượng của các cường quốc kinh tế hiện nay.  Các chương trình đào tạo đại học theo chuyên ngành hẹp trước đây (và hiện nay nữa) hầu như không có phần giáo dục khai phóng, mà chỉ có các môn giáo dục ý thức hệ. Rõ ràng là, cách tiếp cận lý thuyết và phương pháp luận trong đào tạo theo mô hình chuyên môn hẹp không thực sự phù hợp với nền kinh tế thị trường; cũng như những lý thuyết và phương pháp luận ấy khó giúp VN vượt qua những thách thức mà VN đang phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi xã hội nhanh chóng để hội nhập vào hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa khu vực cũng như toàn cầu. Cần nhớ là, đào tạo đại học không phải chỉ là đào tạo nghề, dù là nghề ‘cao cấp’, vì thế một đại học tốt khác rất xa với một cơ sở đào tạo nghề tốt. Sau khi học xong đại học, người sinh viên tốt nghiệp ngành kĩ thuật và công nghệ, ngoài nắm vững các kiến thức và kĩ năng liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp, họ còn cần có hiểu biết nhất định về những thứ được gọi là ‘kĩ năng mềm’ để có thể kiếm được một việc làm, đồng thời họ còn cần những kiến thức tổng quát hơn mà một người trí thức thật sự cần phải có để tham gia vào đời sống dân sự; nghĩa là họ cần nắm được các kiến thức của các môn học nằm ngoài các môn chuyên ngành kỹ thuật; nhờ thế, họ có thể tự phát triển ý thức về trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân cũng như các kỹ năng thực tiễn và tri thức về giao tiếp, phân tích và giải quyết vấn đề, làm việc theo nhóm, cũng như  thể hiện một năng lực áp dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn đời sống. Muốn vậy, họ cần có kiến thức về các môn xã hội và nhân văn. Điều đó tạo ra sự khác biệt về năng lực trí tuệ của một người tốt nghiệp đại học với một người tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp hay một trường nghề. Sản phẩm của nền đào tạo này không dễ dàng bị những giá trị giả tạo của chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu dùng mua chuộc, họ biết trân quý và giữ gìn các giá trị và văn hóa truyền thống, cái làm nên hồn cốt của dân tộc họ, đất nước họ. Và cũng vì thế, trường đại học mới có thể là nơi dẫn đầu những phát kiến làm thay đổi sản xuất, kinh doanh, thói quen tiêu dùng; mới có thể trở thành trụ cột tinh thần của xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội như sứ mệnh của bất kỳ trường đại học bình thường nào trong thế giới văn minh.  Những kiến thức và kĩ năng đó chính là những gì một người cần có để kết hợp nghệ thuật thiết kế với các yếu tố kĩ thuật để tạo ra những chiếc xe ô tô, quần áo, điện thoại, và các thứ đồ dụng điện tử và dân dụng khác đủ sức cạnh tranh và mang lại giá trị gia tăng lớn cho sản phẩm, nâng cao năng suất lao động. Những kiến thức và kĩ năng ấy sẽ chuẩn bị cho họ đối diện với nhiều khía cạnh luôn biến động của đời sống trong nền kinh tế thị trường.  Luật cần làm rõ giải quyết mâu thuẫn trên như thế nào trong 5-10-20 năm tới, và tạo ra hành lang pháp lý đủ rộng cho các tư tưởng đổi mới này?       Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Cánh buồm đã mở      Tin về nhóm nhà giáo Cánh buồm biên soạn và ra mắt bộ sách giáo khoa mới thu hút sự quan tâm đặc biệt của những người đang trăn trở với sự nghiệp giáo dục VN. Đặc biệt quan tâm vì nhiều lẽ.    Ý tưởng lớn của nhóm muốn biến triết lý “đi học là hạnh phúc” từ khẩu hiệu lâu nay thành hiện thực. “Đi học là hạnh phúc” từ lâu đã là tâm nguyện của những ai đi học và mong được học suốt đời, là mơ ước của các bậc cha mẹ ngày ngày phải giúp con học một cách nhọc nhằn, phải đưa đón con “chạy sô” học thêm mệt lả.  Nếu biến khẩu hiệu “đi học là hạnh phúc” thành hiện thực cho tuyệt đại đa số học sinh tiểu học cả nước để các cháu cảm nhận trên thực tế hạnh phúc lớn lao của việc học thì đó sẽ là sự đóng góp vô giá cho giáo dục VN đang hướng đến xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời. Ngày nay dốt vì không có điều kiện đi học đã không còn là trở ngại không thể vượt qua đối với tuyệt đại đa số trẻ em nước ta. Dốt vì chán học, vì thấy học là việc vô bổ, là việc khổ sai mới là nguyên nhân rất phổ biến khiến trẻ em bỏ học, khiến người lớn ngại học nâng cao hiểu biết của mình.  Ý tưởng của nhóm “học gắn với hành”, với hiện tượng quan sát được và cách thức giải quyết vấn đề trong thực tế tuy không mới nhưng lâu nay chưa được thực thi hữu hiệu khiến học sinh không biết cách tự phát hiện vấn đề, tự đề ra bài toán từ cuộc sống mà chỉ biết nói giỏi kiểu thuộc lòng, kể cả nói đạo đức giỏi để rồi không làm vì không biết cách làm hay hờ hững vì không muốn làm.  Cũng cần ghi nhận lòng nhiệt thành, sự tin tưởng của cha mẹ học sinh cho con theo học chương trình Cánh buồm là làn gió thổi cho cánh buồm tiến lên. Tấm lòng này vô cùng đáng trân trọng nhưng phải được nuôi dưỡng, củng cố bằng cơ chế – đó là một trường thực nghiệm mà nhóm đang cần. Giai đoạn đầu mới “giong buồm” thì còn được nhưng lâu dài đã “ra khơi” rồi thì không thể. Nhà nước phải làm “bà đỡ” trong việc này.  Nhóm cũng có ý tưởng thay đổi cấu trúc và mục tiêu từng bậc học, từ 5 + 4 + 3 + đại học(?) hiện nay thành 8 + (2+2) + (học nghề/ đại học). Ở lớp 1 khi mới bắt đầu vào học thì sự tương đồng của chương trình Cánh buồm và chương trình của bộ hiện nay về mục tiêu cụ thể là rất lớn: biết đọc, biết viết, biết làm toán, biết cư xử. Khác nhau chăng là phương pháp.  Song càng lên lớp trên thì sự khác biệt về mục tiêu từng lớp, từng cấp sẽ càng rõ rệt và đến một lúc nào đó, học sinh sẽ không thể chuyển từ một chương trình này qua một chương trình khác. Khi đó, chương trình chính thống dù có khuyết nhược điểm gì cũng cứ chiếm ưu thế, chương trình Cánh buồm dù có ưu điểm gì cũng bị thất thế và rất có thể bị “chết một cách anh hùng”.  Rõ ràng, trước yêu cầu bức thiết của xã hội muốn giáo dục phải đổi mới, phải cải cách sâu rộng thì việc thống nhất cấu trúc, mục tiêu của chương trình học, đề ra một chương trình chuẩn cho mỗi bậc học là việc chỉ có thể do Nhà nước làm, mà phải làm sớm. Có những thứ đó rồi thì sách giáo khoa, số năm của từng bậc học, phương pháp dạy… có thể đua nở.  Cuối cùng, nghiên cứu và triển khai một dự án lớn tầm cỡ chiến lược này mà chưa có một sự ủng hộ, tài trợ nào là điều khiến người ngoài cuộc phải ray rứt mà đặt câu hỏi: Vì sao chỉ cần nghiên cứu một dự án về một công trình nào đó (khai mỏ, xây dựng một công trình cầu đường hay công trình “phi vật thể”…) là nhóm nghiên cứu dự án đã có thể được “duyệt” nhiều nghìn tỉ đồng, thậm chí nhiều hơn từ Nhà nước hay nguồn khác, trong khi dự án này lại bị bỏ quên như vậy?  Dự án của nhóm Cánh buồm là một dự án khoa học nghiêm túc do những nhà sư phạm tâm huyết và đầy lòng tự trọng thực hiện, hơn nữa là dự án nghiên cứu và triển khai về giáo dục con người, mức ảnh hưởng tốt xấu nếu có, còn lớn lao và lâu dài hơn mọi đường sắt cao tốc nên rất xứng đáng nhận được sự quan tâm cụ thể của Bộ GD-ĐT và Chính phủ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cánh Buồm năm năm rời bến      Nhà giáo Phạm Toàn, trưởng nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm, trả lời phỏng vấn về những việc nhóm đã làm được trong năm năm qua và những kế hoạch trước mắt, bao gồm việc biên soạn bộ sách Trung học.    Tôi gặp nhà giáo Phạm Toàn vào buổi trưa một ngày cuối năm. Bấy giờ tôi nghĩ, giờ này hẳn ông đang ngồi nhâm nhi tách trà nóng, ngắm hoa đào hay thưởng thức một vài câu đối Xuân. Điều đó rất phù hợp với không khí sát Tết, và với tâm hồn của một nhà văn như ông.  Nhưng hóa ra tôi nhầm. Khi tôi đến, Phạm Toàn đang cầm trên tay một xấp tài liệu. Biết tôi muốn tìm hiểu về công việc của Cánh Buồm, ông không ngần ngại trả lời tôi cả những câu hỏi mà báo chí đã hỏi đi hỏi lại ông từ rất lâu. Thực bụng, tôi muốn được tự mình hỏi ông những câu hỏi cũ rích ấy, để được tận tai nghe ông nói về những điều mà bấy lâu tôi quan tâm, thậm chí là tò mò về Cánh Buồm: họ đang làm gì, với mục đích gì và vì sao lại làm không công như thế?Tại sao bắt đầu với môn Văn và môn Tiếng Việt? Vì sao chọn làm từ cấp Tiểu học…?  Tôi bị cuốn theo những câu trả lời giản dị, hấp dẫn của một Phạm Toàn làm gì cũng chân thành, khiến cho kịch bản cầm sẵn trên tay “bay” đi đâu hết. Thật may là cuối cùng, tôi cũng trả lời được những câu hỏi của mình, thậm chí là nhiều hơn.  Bến bờ trong lòng mình  PV: Thưa ông, tính đến thời điểm này, nhóm Cánh Buồm đã thành lập được tròn năm năm. Vậy năm năm qua, Cánh Buồm đã đi đến được những bến bờ nào?  Nhà giáo Phạm Toàn (PT): Chúng tôi đi đến những bến bờ của tâm hồn mình. Với chúng tôi, xác định được những thứ mà nhóm Cánh Buồm muốn cùng làm với nhau mới là điều quan trọng. Tôi nhớ có một lời khuyên của một nhà triết học như thế này: “Muốn đóng một con tàu thì không chỉ cần có đủ gỗ, sắt, thép, dây, dợ… mà phải có những người thích đi biển”. Rõ ràng một con tàu quý ở những thủy thủ. Bởi lẽ, dù nó lớn đến đâu nếu không có thủy thủ thì nó vẫn chỉ nằm bờ. Trong khi đó, một con tàu nhỏ bé, mong manh vẫn có thể căng buồm xa khơi nếu có người muốn đưa nó đi. Vậy nên, cái “được” lớn nhất của Cánh Buồm chính là đến được chính bến bờ trong lòng mình.   Cái “bến bờ trong lòng mình” của Cánh Buồm có thể gọi tên là gì, thưa ông?  Đó là nguyện vọng thay đổi nền giáo dục. Nhóm Cánh Buồm ngày càng nhận thức điều đó rõ hơn. Chúng tôi muốn xây dựng một nền giáo dục hiện đại, cho những con người hiện đại, của một dân tộc hiện đại. Chúng tôi biên soạn sách là làm ra một cái mẫu như thế để ai cũng có thể nhìn vào xem cách đó đúng hay sai.  Theo cách nghĩ của chúng tôi, không phải cứ “trốn” ra nước ngoài mới thành con người hiện đại, mà phải là những người làm cho dân tộc này trở nên hiện đại, làm được như thế mới bõ công làm!  Vậy ông định nghĩa thế nào là giáo dục hiện đại?  Câu hỏi này rất hay. Bây giờ người ta đưa công nghệ, máy móc nghe nhìn tân tiến ra và tuyên bố: trường của tôi hiện đại lắm (!). Nhưng liệu những ngôi “trường hiện đại” nghĩ gì khi trẻ em chỉ nghe-nhìn những thiết bị đó một lúc rồi ngủ gật? Rõ ràng, hiện đại không hề nằm ở các thiết bị nghe, nhìn đắt tiền kia.      Hiện đại là ở cách học, chứ không phải ở phương tiện học. Nghĩa là biết cách tự học chứ không chờ người ta nhồi vào đầu mình bằng các máy móc hiện đại, rồi coi các kiến thức học được là hiện đại.      Nhân nói về cách học hiện đại, nhóm Cánh Buồm hiện nay đang biên soạn sách lớp Sáu và lớp Bảy. Trong bộ sách này, học sinh được hoàn toàn tự học. Giáo viên chỉ là người cầm trịch, tổ chức ở lớp. Sách chỉ cung cấp tài liệu cho học sinh tự nghiên cứu, tự thảo luận, tự tổ chức seminar, tự làm kỷ yếu… chẳng cần điểm 10 hoặc nhận xét của giáo viên.  Cải tổ phải bắt đầu từ bậc Tiểu học  Tôi nghe nói, chủ trương nhà trường của ông là không cho điểm, không thi?  Chính xác, nếu bạn xem bộ sách Tiểu học của chúng tôi sẽ thấy chúng tôi có phần để trẻ em tự đánh giá. Làm xong một việc hay một bài tập, chúng tôi đưa ra mấy cái chuẩn để trẻ có thể tự đánh giá. Chúng tôi coi đó như một sự đối thoại với học sinh, chứ không phải một cách “nghiệm thu công trình”. Học sinh học hết lớp Bốn theo sách Cánh Buồm có thể viết các bài văn nghị luận chững chạc. Lên đến lớp Năm, các em có thể tự học. Như vậy, đâu cần thầy cô hay người khác đánh giá hộ? Khi trẻ em tự đánh giá được, thì mới học tiếp được các lớp cao hơn.    Thưa ông, liệu trẻ em Tiểu học có tự đánh giá được không?  Vai trò của giáo viên là người tổ chức việc tự học, việc tự đánh giá cho học sinh. Nếu không thì các thầy cô ngồi ở trên lớp làm gì? (cười). Nhưng giáo viên không ngồi đó để đánh giá, cho điểm, hay khen chê học sinh như trước nay vẫn làm.  Cũng chính vì tâm lý e ngại học sinh còn bé quá nên trước nay người ta hay bắt đầu cải tổ từ phần “ngọn”, tức là từ các cấp học cao hơn, thay vì bắt đầu từ Tiểu học. Từ những năm 1980, đã có chủ trương làm hai bộ sách Văn bậc trung học ở hai miền, nhưng có ý tưởng mà không làm được. Là vì, để làm được bậc trung học, thì phải hiểu học sinh Tiểu học như thế nào, học ra sao, hào hứng, chán ghét… như thế nào. Đấy là chính là lý do Cánh Buồm xác định phải bắt đầu từ bậc Tiểu học. Và việc đầu tiên là hiểu trẻ em. Các hội thảo Cánh Buồm tổ chức cũng đi từ thứ tự này: Đầu tiên là hiểu trẻ em – dạy trẻ em, rồi đến chào lớp Một, tiếp đến là tự học – tự giáo dục… Chúng tôi đưa dần ý tưởng và sản phẩm ra cho xã hội đánh giá và thẩm định.          Chúng tôi muốn gợi ý với xã hội và nhà nước một số vấn đề: Thứ nhất, hết lớp Chín, học sinh có thể tự chủ, tự kiếm sống được. Thứ hai, bậc trung học chỉ nên học hai năm, học các môn chuyên sâu để chuẩn bị cho đại học. Bậc này là bậc tập nghiên cứu, để đại học sẽ phải là tập độc lập nghiên cứu và sau đại học là bậc hoàn toàn độc lập nghiên cứu, thay vì “vác sách đi xin đề tài”.          Nhóm Cánh Buồm có tự đánh giá công việc của mình không và trên cơ sở nào?  Chúng tôi hướng cho trẻ em tự đánh giá, thì mình cũng phải tự đánh giá, trên tiêu chí: đã thể hiện được triết lý giáo dục mong muốn (nền giáo dục hiện đại, con người hiện đại, dân tộc hiện đại) hay chưa?  Chúng tôi đúc lại những trải nghiệm của mình ít nhất trong 40 năm. Không phải đến 2009, nhóm Cánh Buồm mới “chợt nhớ ra” cái khẩu hiệu nào đó. Bản thân tôi đã thể hiện khẩu hiệu của mình qua nhiều chục năm, ở nhiều cương vị khác nhau, và phải liên tục soi lại xem mình làm đã đúng chưa. Và các trường thực hiện bộ sách soạn trong hơn 40 năm đã cho chúng tôi câu trả lời.  Như vậy, trẻ em của chúng tôi thì hoàn toàn tự đánh giá, chúng tôi là người lớn, chúng tôi vừa tự đánh giá vừa lắng nghe sự đánh giá của cuộc sống thực.    Xin ông cho biết, sách Cánh Buồm đã đạt những tiêu chí gì để đáp ứng cuộc sống?  Ở những nơi đã thực hiện sách của chúng tôi thì trẻ con thích học và giáo viên dạy nhẹ nhàng. Giáo viên hứng thú khi tự soạn bài, trẻ em của chúng tôi không bao giờ học và làm theo những bài văn mẫu, các em có thể làm những bài thơ Haiku, những bài viết đầy tình cảm. Các cô giáo một trường thực hành của chúng tôi vừa gửi tặng “quà Tết” là những bài thơ luật Đường và cả những bức tranh ngẫu hứng sau khi học bài “Thu điếu” nữa. Có cô giáo nói: “Thôi thì vẫn còn gian khổ túng thiếu, nhưng thấy học sinh giỏi thì có thể được coi là một sự tăng lương về tinh thần”.  Sự “hiện đại trong cách học” như nhà giáo nói mới chỉ thể hiện ở môn Văn và môn tiếng Việt, còn với các môn khác thì sao?  Nhóm Cánh Buồm bắt đầu làm sách ở bậc Tiểu học. Ở cấp này, các môn khoa học xã hội và nhân văn là khó nhất. Một giáo sư ở Viện Toán học nói với tôi như thế này: “Môn toán thì tạm thế đã, nhưng nếu không chữa lại những môn học về xã hội và nhân văn thì dân tộc này sẽ lụi bại”. Chúng tôi xác định, phải dạy cho trẻ em tiếng Việt để nó trở thành người Việt Nam.    Mở sách tiếngViệt lớp Hai của Cánh Buồm ra, bạn sẽ thấy chúng tôi dạy cho trẻ em hệ thống tạo ra từ ngữ. Trẻ em sẽ là những nhà sản xuất và sử dụng những từ ngữ đó. Ví dụ, chúng tôi dạy trẻ hiểu và sử dụng được các nghĩa khác nhau trong chuỗi những từ có yếu tố “làm” như: làm đẹp, làm duyên, làm đỏm, làm dáng, làm bạn, làm lành, làm lụng, lam làm. Có giỏi từ thuần Việt thì mới giỏi từ Hán Việt.  Chúng tôi đã soạn được sách Văn, tiếng Việt từ lớp Một đến lớp Năm, đang biên soạn cho lớp Sáu, và chữa lại sách Lối sống, sách khoa học từ lớp Một đến lớp Năm.     Mục tiêu của chúng tôi là, hết lớp Năm, trẻ em phải nắm được phương pháp học các bộ môn. Sau lớp Năm, các em hoàn toàn làm chủ các cách học và tự học các môn học phổ thông ở trình độ cao hơn, xa hơn… những yêu cầu lùn tè (cười).  Chúng tôi muốn gợi ý với xã hội và Nhà nước một số vấn đề: Thứ nhất, hết lớp Chín, học sinh có thể tự chủ, tự kiếm sống được. Thứ hai, bậc trung học chỉ nên học hai năm, học các môn chuyên sâu để chuẩn bị cho đại học. Bậc này là bậc tập nghiên cứu, để đại học sẽ phải là tập độc lập nghiên cứu và sau đại học là bậc hoàn toàn độc lập nghiên cứu, thay vì “vác sách đi xin đề tài”.  Với tư tưởng đó, chúng tôi muốn sự thay đổi ngay từ bậc Tiểu học đã phải định hướng tới các bậc học bên trên.  Tôi muốn phỏng vấn ngược một chút: vì sao bạn lại muốn tìm hiểu công việc của chúng vào thời điểm năm năm thành lập của Cánh Buồm?  Với bất kỳ tổ chức nào, năm năm là một chu kỳ đủ dài để kiểm định niềm tin, giá trị thực tế của những hoài bão và khát vọng. Cánh Buồm là tổ chức giáo dục vô vị lợi đầu tiên ở Việt Nam mà tôi biết, lại cô đơn giữa những cuộc cải cách giáo dục “như những trận đánh lớn”, chính vì thế, đến thời điểm này, tôi tin rằng, không chỉ có tôi, mà cả rất nhiều người khác trong xã hội cũng rất quan tâm đến các hoạt động tiếp theo của Cánh Buồm.    Ba điều vui, ba công việc nặng nề    Nhân dịp năm mới Ất Mùi, xin ông chia sẻ một vài kế hoạch của nhóm Cánh Buồm.  Năm nay tôi có ba điều vui, và cũng là ba công việc nặng nề.  Đầu tiên, và cũng thú vị nhất, là chúng tôi được một công ty giáo dục mời chúng tôi kết hợp mở trường. Cơ sở giáo dục này đã trải qua việc mở trường mẫu giáo mẫu mực tại Hà Nội. Tiếp theo, họ sẽ mở trường Tiểu học cho lứa học sinh này. Tôi đã cử ba cốt cán sang làm việc với trường. Một người đã được mời làm Hiệu phó, phụ trách về nội dung. Hai người khác phụ trách môn Văn, Tiếng Việt và Lối sống.  Thứ hai, nhiều phụ huynh và giáo viên yêu cầu chúng tôi mở những lớp hướng dẫn cách dùng sách Cánh Buồm. Giáo viên thì học để dạy lớp của mình còn phụ huynh thì dạy cho con ở nhà. Lớp gần đây nhất có hai học viên đã trở thành thành viên nhóm, tham gia biên tập sách bài tập và chữa sách khoa học.  Thứ ba, một trường tư thục tại Hà Nội sau khi thực hiện bộ sách Tiểu học của chúng tôi vào năm 2013-2014 và quan sát sự phát triển của trẻ em, đo lường trình độ Tiểu học của con em, đã hỏi: “Học thế này, trình độ này thì lên lớp Sáu các em học gì?” Điều này đã thôi thúc chúng tôi tiếp tục biên soạn sách Trung học để đáp ứng các em đã có trình độ Tiểu học Cánh Buồm.  Hiện chúng tôi đã mời được đủ cộng tác viên làm bộ sách và họ đều rất hào hứng. Sách sẽ sớm ra mắt, và trước khi ra mắt thì thế nào nhà báo cũng sẽ gặp chúng tôi để cật vấn về bộ sách đó (cười).          Tôi ước có nhiều người hiểu chúng tôi, và có nhiều người hiểu rồi làm cùng chúng tôi. Nếu sách của chúng tôi tốt thì dùng, nếu có sai sót thì chữa cho chúng tôi, còn nếu sách chỉ là đồ bỏ thì xin hãy làm một bộ khác “cao hơn, xa hơn và dễ tự học hơn”. Đó sẽ là một cuộc chạy đua lành mạnh trong một thế giới lành mạnh.          Thế Bộ Giáo dục có ủng hộ không?  Chúng tôi làm công việc này với trách nhiệm công dân. Công dân ấy thấy việc gì đáng phải làm thì cứ làm, còn Nhà nước của công dân ấy có nhìn vào nó hay không, hoặc giả nhìn vào nó, rồi “tổ chức sự im lặng”, thì đấy lại là một việc khác. Chúng tôi chỉ biết, nhiệm vụ tự giao cho mình là phải làm.   Liệu Cánh Buồm có nên xin phép rồi hãy làm cho chắc ăn?  Đang lúc hào hứng thì giăng buồm ra chứ, gió của sự cảm hứng, yêu đời, tự nhận trách nhiệm đang lên, thì còn đợi gì? Nhóm Cánh Buồm có khẩu hiệu: Mình không làm thì ai làm? Theo tôi, đó là tinh thần công dân tuyệt vời. Nếu tất cả những người tài giỏi, có trách nhiệm đều tự hỏi: mình không làm thì ai làm, thì chắc chắn sẽ có một cuộc chạy đua, rồi chọn lọc ra cái gì tốt nhất cho xã hội. Chẳng có gì đáng trách cho việc tự làm này. Tôi chắc Bộ Giáo dục sẽ yêu chúng tôi!  Để tôi kể cho bạn nghe, ngày 3/2/2012, Bộ Giáo dục đã yêu cầu Vụ Tiểu học mời chúng tôi giải trình trước ba vị lãnh đạo: ông Vụ trưởng Lê Tiến Thành, bà vụ phó Trần Thị Thắm, ông Vụ phó (nay là vụ trưởng) Trần Ngọc Định, có nhiều chuyên viên tham dự. Tôi nghĩ là chúng tôi đã nhận được thiện cảm của Bộ Giáo dục. Vì bà Nguyễn Thị Bình sau khi tìm hiểu tình hình có khen chúng tôi. Tại một cuộc họp với Ban Tuyên giáo Trung ương, ông Phó ban thứ nhất khen nhóm Cánh Buồm là “tổ lao động cộng sản”. Sau đó, Ban Tuyên giáo Trung ương và bà Nguyễn Thị Bình đã giới thiệu cho chúng tôi thực nghiệm bộ sách của mình ở một tỉnh nọ, nhưng sau đó có sự “thất hứa” của bên thực hiện (tất nhiên không phải từ phía Cánh Buồm).  Với các kế hoạch lớn đề ra, nhà giáo có ước vọng gì trong năm 2015?  Tôi ước có nhiều người hiểu chúng tôi, và có nhiều người hiểu rồi làm cùng chúng tôi. Nếu sách của chúng tôi tốt thì dùng, nếu có sai sót thì chữa cho chúng tôi, còn nếu sách chỉ là đồ bỏ thì xin hãy làm một bộ khác “cao hơn, xa hơn và dễ tự học hơn”. Đó sẽ là một cuộc chạy đua lành mạnh trong một thế giới lành mạnh.    Xin cảm ơn nhà giáo Phạm Toàn và chúc ông năm mới sức khỏe, niềm vui để tiếp tục dẫn dắt Cánh Buồm vươn xa hơn.     Nguyễn Thị Vân thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cánh Buồm ra mắt hai cuốn tâm lý học giáo dục      Hai tác phẩm đầu tiên trong Tủ sách Tâm lý học giáo dục của nhóm Cánh Buồm sẽ ra mắt vào cuối tháng này tại Hà Nội, đó là «Sự hình thành trí khôn ở trẻ em» và «Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em» của Jean Piaget.     Jean Piaget (1896 – 1980) là triết gia, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ sử dụng tiếng Pháp, nổi tiếng thế giới qua sự nghiệp nghiên cứu quá trình nhận thức của trẻ em. Lý thuyết về phát triển nhận thức và quan điểm tri thức học của ông được gọi chung là “tri thức học di truyền” (genetic epistemology). Ông hết sức coi trọng việc giáo dục trẻ em. Là Giám đốc Văn phòng Giáo dục Quốc tế, năm 1934 Piaget đã tuyên bố: “Chỉ có giáo dục có khả năng cứu các xã hội của chúng ta khỏi sự sụp đổ có thể xảy ra, sụp đổ dữ dội hay từng bước”.  Xuất phát từ quan sát tỉ mỉ ba con của mình (Laurent, Lucienne và Jacqueline) từng ngày trong suốt hai năm đầu đời của chúng, Jean Piaget khám phá thấy trẻ nhỏ xây dựng những «kiến thức» thông qua chính hành động của chúng (tìm vú, mút ngón trỏ, nhặt đồ vật hoặc buồng đồ vật…). Ông nhận ra mối quan hệ giữa trí khôn với hai quá trình cơ bản đồng hóa và điều tiết: trẻ nhỏ đồng hóa các dữ liệu của thế giới xung quanh và điều tiết chúng thành «hiểu biết» thông qua những cấu trúc tư duy. Những tiến trình trí khôn mô tả trong sách này bắt đầu trong hai năm đầu đời mang tính thực hành, tiến trình «cảm giác-vận động». Những tiến trình đó càng ngày càng được «tái tạo» theo cùng mô thức mỗi lúc một thêm trừu tượng – vì lẽ đó mà tác phẩm «Sự hình thành trí khôn ở trẻ em» trở thành công trình cơ bản của ông. Piaget nêu rõ các giai đoạn phát triển mà bất kỳ con người nào cũng phải đi qua. Trí khôn ban đầu mang tính cảm giác-vận động (táy máy đồ vật) dần dần được «chuyển vào bên trong tâm lý» và chuyển dần thành tư duy ban đầu thì cụ thể, sau càng lúc càng trừu tượng cho tới khi hoàn toàn trừu tượng…  Kể từ khi ra đời năm 2009, bên cạnh việc  công bố dần những cuốn sách giáo khoa tiểu học hàm chứa định hướng Tâm  lý học Giáo dục, nhóm Cánh Buồm còn xác nhận mối quan tâm quán xuyến đến  cái lý thuyết làm nền cho các hoạt động của mình bằng việc biên soạn ba  cuốn “Cẩm nang sư phạm” và xây dựng Tủ sách Tâm lý học giáo dục, mà mở đầu sẽ là ba tác phẩm của Jean Piaget (Sự hình thành trí khôn ở  trẻ em, Sự tạo dựng cái thực ở trẻ em, Sự tạo thành biểu tượng ở trẻ em)  và ba tác phẩm của Howard Gardner (tái bản Cơ cấu trí khôn, dịch mới  Trí khôn phi học đường, Trí khôn sáng tạo).    Thông tin chi tiết:  Thời gian: 14:00 – 16:00, thứ Tư, ngày 23/04/2014  Địa điểm: L’espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn (trưởng nhóm Cánh Buồm) cùng hai dịch giả Hoàng Hưng và Phạm Xuân Khánh  Dẫn chương trình: GS Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri thức    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cánh Diều” – bộ sách giáo khoa xã hội hóa đầu tiên      Dựa trên quan điểm: “Mang cuộc sống vào bài học – Đưa bài học vào cuộc sống”, bộ SGK “Cánh Diều” được biên soạn với kỳ vọng sẽ giúp học sinh có điều kiện tốt hơn để phát triển năng lực và phẩm chất theo các yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018.    NXB Đại học Sư phạm, NXB Đại học Sư phạm TP HCM và Công ty Đầu tư Xuất bản – Thiết bị giáo dục Việt Nam (VEPIC) ra mắt bộ sách giáo khoa (SGK) lớp 1 mới mang tên “Cánh Diều”.    Đây là một trong năm bộ SGK lớp 1 vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt để sử dụng trong Chương trình Giáo dục Phổ thông (GDPT) mới từ năm 2020 và cũng là bộ SGK xã hội hóa đầu tiên thực hiện theo Nghị quyết số 88/2014 của Quốc hội về Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông với mong muốn đảm bảo mỗi môn học sẽ có một hoặc một số sách giáo khoa trở lên.  Đây là bộ sách duy nhất hiện nay có đầy đủ SGK dành cho tất cả các môn học (Toán 1, Tiếng Việt 1, Tự nhiên và Xã hội 1, Đạo đức 1, Âm nhạc 1, Mĩ thuật 1, Giáo dục thể chất 1) và hoạt động giáo dục bắt buộc (Hoạt động trải nghiệm 1) của lớp 1 theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.  Bộ sách này quy tụ 41/56 thành viên Ban Phát triển Chương trình GDPT 2018, trong đó có Tổng chủ biên Chương trình GDPT 2018, Chủ biên Chương trình các môn Ngữ văn, Toán, Vật lí, Địa lí, Hóa học, Khoa học tự nhiên, Tin học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục thể chất, tham gia biên soạn SGK. Đây cũng là bộ sách có 100% bản mẫu được các hội đồng thẩm định quốc gia thông qua với tỉ lệ phiếu đồng thuận tuyệt đối.  Các tác giả của bộ sách cho rằng, nhờ hiểu nhất về tư tưởng cốt lõi của Chương trình GDPT mới nên có khả năng hiện thực hóa, cụ thể hóa những yêu cầu cần đạt của Chương trình vào từng bài học trong SGK lớp 1. “Đây chính là điểm thành công lớn nhất của bộ SGK ‘Cánh Diều’. Bởi chúng tôi ‘đẻ’ ra chương trình môn Toán, nên chúng tôi hiểu rõ ‘đứa con’ của mình, và hiểu rõ những chỗ nào là những chỗ cần xử lý để đảm bảo đúng tinh thần của chương trình mới” – GS.TSKH Đỗ Đức Thái – Tổng chủ biên chương trình môn Toán mới, Tổng chủ biên sách giáo khoa Toán “Cánh Diều” cho biết.  Dựa trên quan điểm: “Mang cuộc sống vào bài học – Đưa bài học vào cuộc sống”, bộ SGK “Cánh Diều” được biên soạn với kỳ vọng sẽ giúp học sinh có điều kiện tốt hơn để phát triển năng lực và phẩm chất theo các yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018.  GS.TS Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên Chương trình GDPT 2018 kiêm chủ biên sách Tiếng Việt 1 – trao đổi rõ hơn về những phẩm chất, năng lực sẽ được đưa vào bộ sách: “Chúng ta nên đặt câu hỏi rằng, học xong chương trình này thì học sinh có thể làm được gì. Chúng tôi đã cố gắng để thể hiện trung thành mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Bộ SGK tiếng Việt lớp 1 tập trung phát triển các năng lực đặc thù, chủ yếu là năng lực ngôn ngữ, và phát triển cố định những kỹ năng đọc – viết – nói – nghe. Thứ hai là phát triển các năng lực chung, bao gồm năng lực tự chủ, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Và cuối cùng, tất cả các môn đều góp phần phát triển năm phẩm chất chủ yếu của học sinh, bao gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.”  Để có thể soạn thảo được một bộ SGK đáp ứng được những yêu cầu đó, nhóm biên soạn đã đến các trường thực nghiệm để dự giờ tất cả giờ dạy, đơn cử như môn tiếng Việt là 420 tiết/năm để lắng nghe phản ánh từ giáo viên, ghi chép phản ứng của học sinh. Chính những góp ý của giáo viên và khó khăn của học sinh là những yếu tố quan trọng để góp phần hoàn thiện bộ sách này.  “Trong quá trình thực nghiệm, tôi luôn nói với các thầy cô dạy thực nghiệm rằng ‘Các thầy cô là thầy của tôi đấy, chính các thầy cô là người dạy cho tôi là cần phải viết thế nào’.” – GS.TSKH Đỗ Đức Thái chia sẻ. “Bộ sách này không phải được viết từ năm 2016 hay 2017, nó được viết lần đầu tiên vào năm 2015, và được thực nghiệm rất nhiều lần. Chúng tôi rất tự tin rằng mình đã viết ra được một quyển SGK với tất cả tâm huyết của mình, và chắc chắn, nó sẽ góp phần thực hiện đúng mục tiêu mà chương trình môn Toán mới mong muốn.”          Author                Anh Thư        
__label__tiasang “Cảo thơm” trường Nguyễn Hoàng      Gói ghém những khối ký ức và chân tình trong hàng ngàn trang giấy, bộ sách “Trường Nguyễn Hoàng: Chân dung và kỷ niệm” không chỉ là một khối tư liệu lớn về mái trường này mà còn ẩn chứa một giá trị tinh thần riêng biệt của những người gắn bó và lớn lên trên mảnh đất Quảng Trị…      Biết nói gì về một trời ký ức thuở hoa niên khi mỗi người có hàng trăm ngàn điều để nhớ trong những năm cắp sách đến trường? Không chỉ những người nổi tiếng như đạo diễn Lê Cung Bắc, nhà thơ Võ Quê, nhà sử học Đỗ Bang, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa, nhà giáo Nguyễn Hữu Liêm… mà cả hàng trăm, hàng ngàn người bình thường khác cùng trưởng thành từ mái trường Nguyễn Hoàng cũng đều có những ký ức vẹn nguyên thơ ngây và đẹp đẽ về nơi này. Dù thân phận có khác biệt sau này thì những gắn bó yêu thương với “thời thơ thiếu nhỏ” 2 ở trường Nguyễn Hoàng đều được san sẻ rộng khắp… Và nay, họ gửi lại những mối thâm tình đó trong những bài thơ, mẩu ký ức tưởng chừng vụn vặt, đôi khi chỉ là một dáng hình hay một buổi học như trăm nghìn buổi học khác… Lật giở từng trang như thấy cả rưng rưng nước mắt hoài nhớ một khung trời Nguyễn Hoàng, gần gụi đến mức tưởng chừng chạm được vào ký ức, vậy mà thoáng chốc đã vụt qua:  “…Thi tú tài hai, ai không sợ rớt?   Môn Triết, “chống gậy” đi thì đừng quay lại!  Tội nghiệp thầy Tâm vẫn say sưa giảng mãi  Mà lũ học trò nghịch phá vẫn không tha  Thầy hiểu quá rồi tuổi ‘nhất quỉ nhì ma’” 2  Có lúc, nhiều người đã nghĩ đến chuyện những ký ức ấy rồi sẽ phai nhạt hoặc đứt đoạn theo sự chảy trôi, xô dạt của cuộc đời, nhưng chỉ ngấm ngầm lo lắng “thì thôi…” mà không dám nói ra. Thế rồi “kẻ vô tình, người hữu ý’, mạch chảy ngầm tưởng chừng mong manh ấy đã được những hậu duệ thời Nguyễn Hoàng ấy nối dài mãi. Trong hàng vạn thế hệ tiếp nối thưở trường Nguyễn Hoàng, tôi ngẫu nhiên bắt gặp một “người quen” đứng tên bài viết trong tập “Trường Nguyễn Hoàng: Chân dung và kỷ niệm” số 10A. Đó là PGS. TS Lê Huy Bắc, con trai của cựu học sinh Nguyễn Hoàng Lê Văn Đông, hiện là cán bộ giảng dạy Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, từng được phong phó giáo sư năm 36 tuổi và là thầy của nhiều tiến sĩ văn học trong nước. Do thân phụ anh đã mất, anh gửi mấy bài thơ trong di cảo của ông và ghi lại một số kỷ niệm gia đình để in vào tập sách.      “…Với ba tôi, bất kỳ một trí thức Quảng Trị đương thời đúng nghĩa nào cũng đều đi qua Nguyễn Hoàng. Vùng quê Triệu Phong vốn đất học ngày xưa luôn xem Nguyễn Hoàng là ‘Harvard’ của lòng mình. Những ai được vào trường đồng nghĩa với việc được cấp phép đứng vào hàng ngũ những trí thức của vùng và đất nước… Thế hệ của ba tôi vốn đầy tài hoa nhưng không ít người phải mai một theo thế cuộc. Riêng cá nhân tôi không xuất phát từ tư cách là con, tôi luôn ngưỡng mộ ba tôi ở phong cách hào hoa với nền kiến thức uyên thâm, tấm lòng nhân ái và cái nhìn đầy hoài bão, bao dung về cuộc đời…  …Ba tôi mê sách và giáo dục con cái bằng sách. Nhà tôi luôn nhiều sách. Ba tôi là một trí thức kiểu cũ, những người học chỉ để nâng cao nhận thức, tự mình biết lẽ phải để sống cho đẹp với đời, chứ hoàn toàn không mang tri thức đó ra để kiếm tiền theo cách giáo dục tân thời ngày nay… Những người có học, tự họ tỏa sáng để những cái xấu, cái ác không có cơ hội hoành hành.  Sự học ở Nguyễn Hoàng thưở đó là học chiều sâu, cách học đặt nền tảng để con người có thể học mãi đến cuối đời…”   Công bằng mà nói, nếu nhìn rộng ra toàn quốc, nhiều nơi cũng có những ngôi trường giàu truyền thống như Nguyễn Hoàng nhưng nếu tôi không nhầm, chưa có trường nào có được bộ sưu tập ký ức đầy đủ như Nguyễn Hoàng. Các cuốn sách, dù chỉ là tập hợp ký ức chứ không phải những áng văn chương, nhưng chan chứa ân tình của những cựu học sinh Nguyễn Hoàng đang tản mát khắp mọi nơi, và cả chan chứa thâm tình của những người lặng lẽ cặm cụi liên lạc với bạn thưở hoa niên, với các thầy các cô, tiếp nhận những trang bản thảo, biên tập và đưa vào những cuốn sách dày gần nghìn trang…, trong đó có cô giáo Võ Thị Quỳnh. Là cô giáo dạy chuyên văn có tiếng của trường Quốc học Huế, Võ Thị Quỳnh còn được biết đến với bộ sưu tập tranh ép hoa – lá – cây từng đem đi triển lãm nhiều nơi. Mỗi khi ghé lại căn phòng chật hẹp trong ngõ bên đường Phan Đình Phùng, chưa kịp hỏi đã thấy tiếng Quỳnh thanh trong cất lên ríu rít như chim giữa những thùng sách chất đống nơi góc nhà:  – Vừa xong thêm một cuốn Nguyễn Hoàng nữa đó. Anh xem ni…  Cầm những tập sách dày trên dưới ngàn trang nặng chịch, dù biết không có lời khen nào xứng với công lao của Võ Thị Quỳnh, tôi vẫn buột miệng:  – Bái phục cô!… mà thầy trò Nguyễn Hoàng nay ở khắp thế giới, rồi làm sao gửi sách cho họ?  – Thì từ từ thôi anh. Khi tàu biển, khi máy bay…  Bằng cách “từ từ” nhẹ nhõm ấy, Quỳnh đã gửi sách bay qua nửa vòng trái đất, tới tận tay người nhận. Và gần 300 địa chỉ thầy cô giáo và hơn 2.500 cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã được kết nối… để tới lúc cả người nhận và người gửi cùng rưng rưng “cảo thơm lần giở trước đèn…”  *Bài viết được biên tập trên cơ sở bài “Người đưa ‘Nguyễn Hoàng’ đi khắp ‘thế giới’” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê gửi tòa soạn nhân dịp bộ sách do cô giáo Võ Thị Quỳnh biên soạn, nhà xuất bản Thuận Hóa mới được hoàn thành.  —  1. Mượn ý thơ trong bài “Bóng chữ” của nhà thơ Lê Đạt “Chia xa rồi anh mới thấy em/Như một thời thơ thiếu nhỏ”.  2. Trích bài thơ “Môn Triết – Thầy Lê Mậu Tâm” của cựu học sinh lớp 12A1 Lê Thị Phụng trong cuốn “Trường Nguyễn Hoàng: Chân dung và kỷ niệm” (tập 10B). Thầy Lê Mậu Tâm là học sinh trường Nguyễn Hoàng từ năm 1952 đến năm 1956 và sau dạy học tại trường từ năm 1966 đến năm 1973.    Author                Nguyễn Khắc Phê        
__label__tiasang CEO@Faculty: Đưa ngành công nghiệp lại gần trường đại học      Chương trình CEO@Faculty đã đưa trường đại học và ngành công nghiệp ở Malaysia tới gần nhau hơn thông qua việc tăng cơ hội chia sẻ, hướng dẫn từ các CEO cho các sinh viên và giảng viên.      Nguồn: CEO@Faculty Program.  Hãy luôn khám phá các cơ hội khác khi chúng đến với bạn thay vì lặp lại những gì người khác đã làm. Sau vụ đánh bom ở Bali năm 2002, mọi người đều sợ đến đây du lịch và các hãng hàng không phải loại bỏ chặng này. Nhưng tôi lại thấy đây là cơ hội vàng, do đó đã đưa ra khuyến mãi 5.000 chỗ ngồi miễn phí. “Mánh” quảng cáo này không chỉ giúp bán sạch vé các chuyến bay tới Bali mà còn khiến mọi người quên đi vụ tai nạn.” Đây là những gì Tony Fernandes, CEO AirAisa, hãng hàng không giá rẻ tốt nhất thế giới, chia sẻ trong buổi giảng tại Universiti Putra Malaysia (UPM).  Đây không phải lần đầu tiên Fernandes diễn thuyết, nhưng lần này ông xuất hiện ở UPM với tư cách giảng viên kiêm nhiệm. Fernandes đã tham gia vào chương trình CEO@Faculty (CFP), một sáng kiến của Bộ Giáo dục Đại học Malaysia, thuộc Pha 2, mang tên “Tài năng xuất sắc” của Kế hoạch Giáo dục Malaysia 2015 – 2025.  Học từ người chuyên nghiệp  Ý tưởng thiết lập CFP xuất phát từ một thực tế là các chương trình đào tạo hiện nay của Malaysia chưa đáp ứng được các yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp của ngành công nghiệp. Theo số liệu năm 2015, chỉ một nửa số sinh viên Malaysia tốt nghiệp được tuyển dụng ngay sau khi rời giảng đường, và trong 6 tháng tiếp theo, vẫn có đến một phần tư tổng số sinh viên chưa có việc làm. TS. Noorul Ainur Mohd Nur, Tổng thư ký Bộ Giáo dục Đại học cho rằng: “Nền học thuật của chúng ta tốt. Nhưng để ra thực tế, bạn cần học hỏi từ những người chơi thực thụ [trên thị trường]”. Vì vậy, CFP đã được khởi động, với mục tiêu chính là tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp từ ngành công nghiệp như một phần của hệ thống giáo dục đại học qua việc chia sẻ kinh nghiệm và chuyên môn của các nhà lãnh đạo đầu ngành. Đây cũng là cơ hội để các sinh viên tự tiếp thị bản thân đến những nhà lãnh đạo ngành công nghiệp, chuẩn bị cho mình một vị trí sau khi tốt nghiệp.  Kể từ năm 2015, CFP bắt đầu đưa các CEO từ cả khu vực quản lý công (Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Nội thương, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông,…), doanh nghiệp tư (AirAsia, Huawei, Samsung, Shell, Nestle,..) và doanh nghiệp Nhà nước, tới làm giảng viên kiêm nhiệm tại các trường đại học như Universiti Utara Malaysia, Universiti Putra Malaysia,… Mỗi CEO cam kết sẽ dành tối thiểu 30 giờ/năm để làm cố vấn cho sinh viên, giảng viên, thậm chí là nêu những vấn đề quan trọng cho các trường đại học như cách phát triển khung chương trình đảm bảo liên quan đến ngành công nghiệp. Trong năm đầu tiên, chỉ có 24 CEO tham gia vào chương trình nhưng sang năm 2016, con số này đã là 60. Đến hết năm 2017, tổng số CEO tham gia là 72 người, trong đó có 12 lãnh đạo các cơ quan nhà nước, 22 CEO các doanh nghiệp quốc doanh và và 38 CEO khu vực tư nhân. Tính đến năm 2017, hơn 1500 giờ giảng dạy, 200 bài giảng đã được tổ chức. Hơn 96.000 sinh viên và đội ngũ giảng viên, nhân viên trường đại học đã được hưởng lợi từ CFP.  Không chỉ chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, các CEO còn dạy cho sinh viên cách tự nhìn lại mình, tham vọng, trách nhiệm và tiềm năng của họ. Đa số những cái nhìn của các CEO đều độc đáo, dựa trên kinh nghiệm sống của họ – trong buổi chia sẻ tại Universiti Institut Teknology Mara (UiTM), Syed Zainal Abidin, nguyên CEO Proton, đã tổng kết những yếu tố dẫn đến thành công: “Làm việc chăm chỉ, kỷ luật, kiến thức, không làm tắt và không bỏ cuộc.” Những chia sẻ này đã được truyền lại tới 4.000 sinh viên có mặt trực tiếp trong khi 26.000 sinh viên khác xem trực tuyến tại các cơ sở khác của (UiTM), đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ.  Đặc biệt, việc các CEO trực tiếp chia sẻ những câu chuyện thành công của bản thân thông qua những buổi trao đổi trực tiếp như vậy, có sức truyền cảm hứng mãnh liệt hơn hẳn với việc để cho sinh viên đọc chúng trên báo chí. TS. Noorul Ainur Mohd Nur khẳng định: “Những câu chuyện thành công đó cần được nhấn mạnh tới các sinh viên. Mọi người đều có một xuất phát điểm bình thường, thậm chí là thấp, nhưng với việc xác định rõ ràng và tri thức đúng, ai cũng có thể trở nên vĩ đại. Chúng tôi muốn sinh viên trở thành những người giỏi cả trên lớp và trong cuộc sống thường nhật.”  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học Idris Jusoh đánh giá: “Những hiểu biết và kinh nghiệm của các CEO đã giúp sinh viên có được cơ hội hiểu những trải nghiệm thực tế từ vị trí một người trong ngành. Điều này là quan trọng bởi nó sẽ cho thấy sự khác biệt giữa những điều sinh viên học trong sách vở và trong các lớp học từ ngành công nghiệp thực sự.”  Huấn luyện bởi người chuyên nghiệp  CFP đã thành công ngoài mong đợi, một số CEO thậm chí còn làm nhiều hơn thay vì giới hạn trong lời kêu gọi của chương trình. Sau lần diễn thuyết tại UPM, Air Asia đã đánh dấu việc hợp tác với trường này theo một cách độc đáo – lần đầu tiên trên thế giới, logo một trường đại học được sơn lên thân máy bay. Trong tương lai, hình ảnh sinh viên của các chương trình đào tạo của UPM sẽ được dán trên tường khoang hành khách. Việc lên ý tưởng và thực hiện sẽ do chính các khoa trong trường đảm nhận; qua đó cung cấp một nền tảng thực hành cho các khối ngành thiết kế, sáng tạo và nghệ thuật của trường. Trong khi đó, Samsung lại kết hợp với Universiti Teknikal Malaysia Melaka (UTeM) triển khai Học viện Công nghệ thông tin UTeM Samsung, nhằm đào tạo và cung cấp cơ hội thực hành về phát triển phần mềm và phần cứng; tính đến nay, có khoảng 100 sinh viên và hơn 50 giảng viên được hưởng lợi từ dự án. Yasmin Mahmood, CEO của Tập đoàn Kinh tế số Malaysia đã tập hợp được các công ty CNTT hàng đầu như Oracle, Microsoft, VADs, TM, HILTI tham gia vào chương trình đào tạo “Kỹ sư dữ liệu” của UTeM được thực hiện theo hình thức 2u2i – 2 năm lên lớp, 2 năm làm việc thực tế trong ngành công nghiệp.  CFP cũng đã củng cố mối quan hệ giữa công nghiệp và học thuật. Các buổi đào tạo ở trường không đơn giản chỉ là việc CEO đến – giảng – và đi, nó là một cơ hội làm việc giữa đội ngũ trong trường đại học và ngành công nghiệp. Từ đây, nhiều mối quan hệ đã được xây dựng và mở ra khả năng hợp tác cũng như chuyển giao công nghệ trong tương lai giữa hai bên. Ngoài ra, một số CEO còn nhìn xa hơn và thấy khả năng đào tạo những sinh viên, giảng viên tiềm năng trở thành những doanh nhân xuất sắc trong tương lai. Irwan Serigar Abdullah, Tổng thư ký Kho bạc, sau khi tham gia CFP, đã mở chương trình cố vấn “Masterclass Entrepreneur” tại Universiti Kebangsaan Malaysia – một khóa học tự chọn, lựa chọn gắt gao những sinh viên đại học và sau đại học của trường để đào tạo họ trở thành những doanh nhân trẻ, đầy tham vọng, thông minh và xuất sắc. Irwan là người hướng dẫn chính trong suốt khóa học kéo dài 14 tuần, với sự hỗ trợ từ Trung tâm Sáng tạo và Đổi mới toàn cầu của Malaysia.  Những kết quả trên là cơ sở để CFP triển khai pha 2 – CFP 2.0 với tên gọi: “Coach by the Pro” vào năm 2017, trong đó các CEO trở thành những người huấn luyện và cố vấn cho những tiến sĩ tuổi từ 30 đến 40, tiềm năng trở thành nhà lãnh đạo trong tương lai. Họ sẽ tới văn phòng của các CEO trong 6 tháng để học, hiểu và nắm bắt văn hóa doanh nghiệp trong việc quản lý một công ty cao cấp. Những kinh nghiệm học hỏi từ đây cùng với sự hướng dẫn liên tục với các CEO ngành công nghiệp, sẽ góp phần trao quyền để những học giả trẻ tham gia vào vai trò lãnh đạo cao cấp khác nhau trong trường đại học. Đây cũng là cách thức xây dựng và tăng cường mối quan hệ bền vững giữa học thuật và công nghiệp, bằng cách bồi dưỡng những người hiểu về cả hai lĩnh vực.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn:  https://www.pressreader.com/malaysia/the-star-malaysia/20180506/282553018867103  http://ceo.myain.my/ceo  http://www.thestar.com.my/opinion/online-exclusive/whats-your- status/2016/11/25/my-university-lecturer-and-mentor-the-ceo/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chăm lo nhiều hơn nữa cho sự nghiệp “trồng người”      Nhân dịp khai giảng năm học mới 2011-2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có thư gửi các thầy, cô giáo, cán bộ công nhân viên chức ngành Giáo dục, các bậc phụ huynh và học sinh, sinh viên cả nước. Toàn văn bức thư của Chủ tịch nước như sau:    Các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên thân mến!  Nhân dịp khai giảng năm học mới 2011-2012 và ngày “Toàn dân đưa trẻ tới trường”, tôi thân ái gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ, công chức, viên chức, ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên trong cả nước Năm học 2010-2011, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng, tiến bộ. Quy mô và mạng lưới giáo dục tiếp tục được mở rộng; chất lượng giáo dục ở các cấp học được nâng lên; giáo dục đạo đức, pháp luật, lý tưởng sống cho học sinh, sinh viên được chú trọng; công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đạt kết quả tốt; cơ sở vật chất của nhà trường được tăng cường.  Tôi nhiệt liệt biểu dương sự nỗ lực cố gắng và những kết quả của ngành giáo dục, nhất là các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, các thầy giáo, cô giáo tâm huyết, tận tụy với công việc, các em học sinh nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã vượt khó vươn lên trong học tập.  Năm học 2011-2012, có ý nghĩa rất quan trọng, là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”, cùng với sự góp sức của toàn xã hội, ngành giáo dục cần đổi mới căn bản, toàn diện, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học; đẩy mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt”; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lịch sử, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; huy động các nguồn lực tăng cường đầu tư phát triển giáo dục, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với học sinh, sinh viên giỏi, nghèo, khuyết tật, con em gia đình có công với cách mạng, dân tộc thiểu số, giáo viên công tác ở vùng khó khăn.  Tôi mong muốn và tin tưởng các em học sinh, sinh viên phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc ta, nỗ lực phấn đấu vươn lên, rèn luyện tốt, đạt nhiều thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học.  Tôi đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể và toàn xã hội tiếp tục quan tâm, chăm lo nhiều hơn nữa cho sự nghiệp “trồng người”, tạo mọi điều kiện thuận lợi để con em chúng ta được học tập, rèn luyện đạt kết quả tốt.  Chúc các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục và toàn thể các em học sinh, sinh viên đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong năm học mới. Chúc sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  Thân ái,  Trương Tấn Sang    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấn chỉnh quy trình đào tạo tiến sĩ      TT (H&#192; NỘI) – Sẽ c&#243; những chấn chỉnh trong quy tr&#236;nh lấy bằng tiến sĩ tại VN. Quy chế đ&#224;o tạo tiến sĩ mới đang được Vụ Gi&#225;o dục đại học soạn thảo v&#224; đưa ra lấy &#253; kiến từ ng&#224;y 2-3, trước khi ch&#237;nh thức ban h&#224;nh để &#225;p dụng từ kh&#243;a tuyển sinh năm 2010.     Có thể đọc thấy những nội dung mới như: trên 50% số trang của luận án là dành để trình bày các kết quả nghiên cứu và bàn luận của riêng nghiên cứu sinh, tác giả luận án phải có cam đoan danh dự về công trình khoa học của mình, khuyến khích nghiên cứu sinh viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh…  So với quy định hiện hành, về phương thức đào tạo, quy chế mới siết chặt hơn về thời gian đào tạo tập trung (ít nhất là ba năm đối với người có bằng thạc sĩ, bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp ĐH). Trường hợp nghiên cứu sinh không theo học tập trung liên tục được và được cơ sở đào tạo chấp nhận thì chương trình đào tạo và nghiên cứu của nghiên cứu sinh phải có ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu.  Dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ mới cũng quy định rõ hơn về yêu cầu trình độ ngoại ngữ khi dự tuyển và trước khi bảo vệ luận án. Trong đó, dù thí sinh có thể đăng ký dự tuyển bằng một trong năm ngoại ngữ Anh, Đức, Nga, Pháp, Trung nhưng bắt buộc phải có đủ trình độ tiếng Anh để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án.   Cũng theo dự thảo quy chế mới, cơ sở đào tạo có từ 30% số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh năm kế tiếp, có từ 30% số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ. Cơ sở đào tạo còn có trách nhiệm xây dựng trang web và công bố, cập nhật, duy trì trên trang web toàn văn và tóm tắt luận án, những điểm mới của từng luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) từ khi chuẩn bị bảo vệ, danh sách nghiên cứu sinh hằng năm; các đề tài nghiên cứu đang thực hiện, danh sách nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấn hưng giáo dục trong tình hình mới      Gần đây, do những tiêu cực nghiêm trọng trong thi cử tiếp theo việc thay đổi người lãnh đạo giáo dục, dư luận xã hội lại rộn lên bàn luận sôi nổi chuyện dạy và học. Nhân ông tân Bộ trưởng kêu gọi người dân góp ý kiến xây dựng giáo dục, nhiều người lại nhớ đến bản kiến nghị mà cách đây hơn hai năm GS Hoàng Tụy, thay mặt một nhóm trí thức tâm huyết trong nước và Việt kiều, đã chính thức gửi lên Trung Ương, với tiêu đề: CHẤN HƯNG, CẢI CÁCH GIÁO DỤC LÀ MỆNH LỆNH CUỘC SỐNG.  Nhiều người muốn biết bản kiến nghị ấy đã có tác động gì đối với giáo dục và hiện nay nó có còn hay đã hết ý nghĩa thời sự. Dưới đây xin ghi lại những ý kiến thẳng thắn của GS. Hoàng Tụy trong buổi phỏng vấn ông đã dành cho Tia Sáng.    P.V: Hai năm trước đây, bản kiến nghị “Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục” đã được dư luận rộng rãi hoan nghênh và ủng hộ, đón nhận như một sự kiện nổi bật trong đời sống giáo dục ở nước ta. Ông đánh giá thế nào về tác dụng của bản kiến nghị  ấy đối với tiến trình đổi mới giáo dục hai năm qua? Nó đã được các cơ quan hữu trách tiếp nhận ra sao?  GS. Hoàng Tụy:  Ai cũng biết ba mươi năm qua giáo dục trên thế giới biến chuyển sâu sắc như chưa hề thấy, trong lúc đó giáo dục nước nhà lâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên. Quá bức xúc trước tình hình trì trệ đó nên vì trách nhiệm chung, chúng tôi buộc phải bày tỏ ý kiến với cấp lãnh đạo cao nhất trước khi quá muộn. Chứ thật tình không ai trong chúng tôi đặt quá nhiều kỳ vọng vào tác dụng của bản kiến nghị. Bởi chúng tôi biết đổi mới là một quá trình đấu tranh nhọc nhằn để từ bỏ những thói quen, cách sống, cách suy nghĩ, làm việc, thì ở đâu cũng khó, mà ở nước ta, trong lĩnh vực giáo dục càng khó hơn vì tùy thuộc quá nhiều yếu tố phi giáo dục.  Thiếu quyết tâm từ cấp cao thì cải cách giáo dục khó thành công. Trong ý nghĩa đó, tôi đánh giá cao ý kiến của Thủ tướng Phan Văn Khải khi từ nhiệm đã can đảm nhìn nhận sự không thành công trong hai lĩnh vực giáo dục và khoa học, công nghệ  thời gian qua.     Nếu tới đây giáo dục tiếp tục không thành công thì đó sẽ là điều bất hạnh lớn cho dân tộc, vì không ai lường hết được hậu quả của nó đối với mọi mặt đời sống của đất nước khi hội nhập. Thực tế ngày càng xác nhận, đúng như chúng tôi đã nêu trong bản kiến nghị: chấn hưng giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống. Hy vọng giờ đây, với nhận thức đó, ông Bộ trưởng mới sẽ có điều kiện thuận lợi hơn người tiền nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của mình.                Thứ hai, giáo dục của ta đã tụt hậu ở mức không bình thường và trong thời gian quá dài. Do đó, muốn khắc phục nhanh sự lạc hậu, giáo dục phải được cải cách, xây dựng lại từ gốc, tức là từ nhận thức, quan niệm, tư duy cơ bản về mục tiêu, phương hướng, nội dung, phương pháp, tổ chức, quản lý, để phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới. Không thể làm tùy tiện, gặp đâu làm đó, nay sửa, mai sửa, gây bất ổn liên miên như đã làm trong hai chục năm qua, mà phải nghiên cứu nghiêm túc, có một kế hoạch chu đáo và chuẩn bị kỹ lưỡng để thực hiện từng bước chắc chắn, theo một lộ trình thống nhất được Quốc hội thông qua trước khi thực hiện.  Đó là hai điều cơ bản chúng tôi đã kiên trì thuyết phục các cơ quan hữu trách trong nhiều năm, và đã nói lại một lần nữa trong bản kiến nghị.  Sẽ là may mắn nếu với người lãnh đạo mới, giáo dục sẽ có một quyết tâm mới, một tư duy mới và một tầm nhìn chiến lược về cải cách và phát triển để không đi theo vết xe đổ hai mươi năm qua.  Về sự cần thiết cấp bách phải chấn hưng giáo dục và xây dựng lại từ gốc, hình như bây giờ ngày càng có nhiều người chia sẻ quan niệm ấy. Nhưng bên cạnh đó, bản kiến nghị còn nêu ra nhiều  đề nghị cụ thể về những việc cấp bách cần chấn chỉnh, ông có thể cho biết  những đề nghị cụ thể này có được hưởng ứng không và những thay đổi vừa qua trong ngành giáo dục có gì phù hợp với các đề nghị ấy?   Trong bản kiến nghị chúng tôi có nêu ra mười vấn đề cấp bách cần và có thể giải quyết ngay để cải thiện tình hình và ngăn chặn sự suy sụp hơn nữa của giáo dục (3 vấn đề cho phổ thông: thi cử, dạy thêm học thêm, sách giáo khoa; 7 cho đại học: thi cử, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, chức danh GS, PGS, chính sách đối với người dạy đại học, đổi mới sư phạm, xây dựng mới một đại học hiện đại làm “hoa tiêu”, tăng và nâng cao hiệu quả đầu tư cho đại học).   Xin ghi nhận rằng, ngay từ đầu, bản kiến nghị đã nhận được sự quan tâm  của người đứng đầu Chính phủ và Bộ GD&ĐT. Thủ tướng đã có buổi làm việc trực tiếp với chúng tôi để nghe trình bày về từng đề nghị cụ thể. Ông Bộ trưởng GD&ĐT cũng đã tham dự nhiều buổi thảo luận của chúng tôi để nghe trực tiếp các ý kiến. Qua thực tế, tôi nghĩ rằng dù ít hay nhiều những đề nghị của chúng tôi cũng đã có tác động trực tiếp đến các chủ trương giáo dục hai năm qua.                 Nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận ở TƯ cũng như ở Bộ GD&ĐT không phải ai cũng hoan nghênh bản kiến nghị. Hơn nữa, hoan nghênh là một việc còn hưởng ứng là việc khác. Còn nhớ từ 1996, trong một phiên họp do Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc ấy triệu tập, nhiều người đã báo động gay gắt những căn bệnh chính của giáo dục, sau đó nghị quyết TƯ cũng đã đòi hỏi ngành giáo dục phải quyết liệt chống các căn bệnh ấy, thế mà cả chục năm trời những “khối u” ấy vẫn phát triển, có mặt còn trầm trọng hơn. Công bằng mà nói, đây không phải chỉ là vấn đề năng lực và trình độ của bộ máy quản lý giáo dục, mà còn có cái gốc ở những khuyết tật trầm trọng kéo dài của hệ thống. Lấy ví dụ chuyện gian lận thi cử, đâu chỉ có nguyên nhân ở “căn bệnh thành tích” (nghe sang trọng quá!) mà cái gốc của nó là thói gian trá (đây mới là cách gọi đúng tên) đang lan tràn trong xã hội, vì được nuôi dưỡng bởi một cơ chế và tổ chức rất thuận lợi cho nó phát triển.  Nói vậy để thấy hết sự gian nan của công cuộc chấn hưng, cải cách giáo dục, tuy không vì thế mà được quyền coi nhẹ trách nhiệm của ngành.  Vừa qua, trên nhiều mặt công tác, ngành giáo dục đã có một số thay đổi theo chiều hướng tốt, phù hợp với các đề nghị của chúng tôi (mà cũng là của nhiều người khác), song những thay đổi ấy còn quá chậm, quá vất vả, trầy trật, và còn xa yêu cầu. Tình trạng chung là dùng dằng nửa muốn đổi mới nửa còn luyến tiếc lối cũ (phần vì trình độ, vì quán tính, phần vì lo phải chia sẻ quyền lợi) đồng thời cũng đã xuất hiện xu hướng chạy theo những giải pháp tự do quá trớn, coi nhẹ nghĩa vụ của Nhà nước và biến giáo dục thành một ngành kinh doanh kiếm lời đơn thuần.  Hầu như trong quá trình đổi mới ở lĩnh vực nào cũng có  những hiện tượng dùng dằng đó và bao giờ người ta cũng có đủ lý do. Nhiều người cho rằng vì lợi ích chung thì ít mà thường vì những suy tính thiệt hơn cho những nhóm quyền lợi nào đó. Ông có thể nói rõ hơn sự dùng dằng trong một số chủ trương giáo dục?  Trước hết và thời sự nhất là chuyện cải cách thi cử và đánh giá. Chúng tôi kiên trì kiến nghị bỏ các kỳ thi cuối cấp (tiểu học, THCS, tú tài) mà thay vào đó thực hiện thi, kiểm tra nghiêm túc thường xuyên, đều đặn, từng chặng, từng môn, đến cuối cấp xét kết quả học tập và đánh giá tổng hợp để cho tốt nghiệp. Không tổ chức thi đại học như hiện nay mà chỉ nên có một kỳ thi nhẹ nhàng, bằng trắc nghiệm, với mục đích sơ tuyển, để loại những người quá kém, không đủ trình độ tối thiểu theo học đại học. Còn việc tuyển sinh vào đại học thì do từng trường đại học tự làm, chủ yếu dựa trên hồ sơ học THPT, và phỏng vấn hoặc thi nếu cần thiết.   Kết quả là đến nay đã bỏ được hai kỳ thi tiểu học và THCS, như vậy đã có tiến bộ, nhưng vẫn cố giữ thi tú tài và thi đại học, hai kỳ thi vừa tốn kém, căng thẳng, vừa phơi bày biết bao chuyện tiêu cực đáng xấu hổ lặp đi lặp lại không dứt.   Vấn đề thứ hai thể hiện sự dùng dằng là phân ban chương trình THPT.  Đây là vấn đề nhùng nhằng đã hơn mười năm nay. Bộ GD&ĐT, từ những năm đầu 90 thế kỷ trước đã cho thí điểm khá rộng một chương trình “chuyên ban” quá “chuyên” nên bị phản đối và đến 1996 phải đình lại để nghiên cứu thêm. Sau đó vài năm lại tiếp tục nghiên cứu, thí điểm, và từ đó thí điểm đi thí điểm lại nhiều lần, vẫn chưa thành công. Năm 2005, dự thảo phân ban chính thức đưa ra hỏi ý kiến rộng rãi vẫn theo phương án chia nhiều ban. Sau khi góp ý kiến mà không thấy có phản hồi tích cực, tháng 11/2005, tôi đã đến Bộ một buổi chiều để trình bày và trao đổi ý kiến với Bộ trưởng và các bộ phận hữu trách về cách tổ chức chương trình THPT. Dựa theo kinh nghiệm nhiều nước tiên tiến, tôi đề nghị chương trình THPT cần tạo điều kiện cho học sinh có nhiều sự lựa chọn để học sao cho phù hợp với sở thích, khả năng riêng của mình, mà vẫn bảo đảm được học vấn phổ thông cần thiết, đồng thời cách tổ chức chương trình phải uyển chuyển để cho phép học sinh điều chỉnh sự lựa chọn khi cần thiết. Theo tinh thần đó không chia ban cứng nhắc, mà mỗi môn có thể có hai chương trình: một bình thường, và một nâng cao, học sinh tùy chọn mà học. Từng năm, học chương trình nào thì thi theo chương trình đó. Chỉ chú ý là ai muốn sau này học đại học ngành nào thì cần chọn chương trình nâng cao về những môn cần thiết theo ngành đó để ghi vào học bạ khi tốt nghiệp phổ thông (học bạ này phải đính trong hồ sơ xin vào đại học). Như vậy, chỉ có một ban là ban cơ bản, chứ không có hai ban kia (KHTN và KHXH). Trong thực tế học sinh chỉ cần chọn hai hay ba môn để học chương trình nâng cao. Như thế cho phép sự khác nhau giữa hai chương trình nâng cao và bình thường tăng dần lên, để đến lớp 12 thì những học sinh có khả năng đã có thể học hết một phần chương trình đại học về môn sở trường của mình.  Sau buổi thảo luận đó tôi hy vọng sẽ không còn cách phân ban cứng nhắc đã thất bại qua nhiều đợt thí điểm trước đây. Thế nhưng rất tiếc, cuối cùng thì chương trình THPT chính thức vẫn theo phương án chia 3 ban cứng nhắc, chỉ có tiến bộ so với trước là bây giờ có ban cơ bản linh hoạt như phương thức chúng tôi đã đề nghị. Vừa qua khi đưa ra thực hiện thì đúng là đại đa số học sinh chọn ban cơ bản. Thật ra, nếu không có hai ban KHTN hay KHXH  học sinh vẫn có thể chọn ban cơ bản rồi học nâng cao về các môn họ cần. Nhưng điều cứng nhắc bất lợi là đã chọn các ban này thì phải học nâng cao về tất cả các môn của ban đó – một sự lãng phí không cần thiết đối với nhiều học sinh chỉ cần học nâng cao hai ba môn trong đó.  Sở dĩ vẫn cố giữ hai ban KHTN và KHXH có lẽ là vì nhiều năm nay đã trót có hai ban đó và sách giáo khoa về hai ban đó đã biên soạn và in sẵn cả rồi nay bỏ đi thì không nỡ.  Một vấn đề khác là cải cách đại học. Từ lâu chúng tôi đã báo động sự tụt hậu của đại học còn nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần so với giáo dục phổ thông. Vừa qua, Bộ GD&ĐT cũng đã nhận ra sự yếu kém bất thường đó của đại học, nên đã bắt tay xây dựng “Đề án đổi mới đại học”. Tuy nhiên, trong tình hình của ta hiện nay, cải cách giáo dục không nên tách rời đại học với phổ thông và hơn nữa, đây là việc lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ, nên không thể làm vội vã và bỏ qua sự chấp thuận của Quốc hội tức là, theo một nghĩa nào đó, sự đồng thuận của xã hội. Trước đây đã có kinh nghiệm bản chiến lược giáo dục 2000-2010 tuy còn nhiều điểm chưa được tính toán cân nhắc kỹ vẫn được thông qua để rồi sau vài năm thấy rõ đó là một chiến lược… tụt hậu.  Về đào tạo ThS, TS và tuyển chọn GS, PGS, thì công tác này vốn bê bối lộn xộn từ hàng chục năm nay, lẽ ra phải được chấn chỉnh để khắc phục nạn lan tràn học vị và chức danh dỏm, nhưng trong nhiều năm các đề nghị tâm huyết của nhiều nhà khoa học trong nước, ngoài nước, đều bị bỏ ngoài tai. Lần này, những đề nghị ấy được nhắc lại khẩn thiết, và nhờ thế đến năm 2005 đã có ít nhiều kết quả. Một đề án cải tổ công tác chức danh GS, PGS, trên căn bản phù hợp các đề nghị của chúng tôi, đã được đem ra bàn thảo, những tưởng sẽ là một bước tiến lớn đối với đại học, song cuối cùng vẫn không vượt qua được tư duy bảo thủ lạc hậu và công việc này đã phải quay 180 độ để trở về những kiểu làm việc kỳ quặc cũ. Ở đây cũng như trong những trường hợp tương tự, cái người ta quan tâm là tôi còn quyền gì, mất quyền gì, chứ không phải lợi ích sự nghiệp khoa học, giáo dục.  Đó chỉ là mấy ví dụ. Nói chung, cần ghi nhận những cố gắng vừa qua của Bộ GD&ĐT để đổi mới tư duy và xây dựng lại giáo dục. Song có lẽ cũng cần thông cảm với ông Bộ trưởng cũ, “lực bất tòng tâm”, do quán tính, xu hướng trì trệ còn nặng ngay trong Bộ, trên Bộ, và ở những tổ chức ngoài Bộ nhưng phụ trách những công tác lẽ ra phải thuộc thẩm quyền của Bộ. Nói rộng ra cơ chế còn quá nhiều vướng mắc, cho nên dù ai cũng khó vượt qua nếu không đủ bản lĩnh.                     Hiện nay vấn đề nóng bỏng đang nổi  lên như một yêu cầu bức bách của giáo dục là chống tiêu cực, làm trong sạch nhà trường. Trong một bài viết đăng ở báo Người lao động gần đây ông có đề xuất hai việc cần làm để chống tiêu cực trong giáo dục có kết quả là giải quyết tiền lương thỏa đáng cho thầy cô giáo các cấp và bỏ thi đua. Có ý kiến cho rằng cả hai giải pháp ấy đều ít khả thi. Ông nghĩ sao?      Tôi quan niệm tiêu cực trong giáo dục không chỉ ở việc gian lận thi cử, mà ở mọi biểu hiện gian dối trong các hoạt động giáo dục: chạy điểm, chạy bằng, báo cáo thành tích ảo, trục lợi bất chính… Như vậy, thực chất cũng là tham nhũng, nhưng với những biểu hiện đặc thù trong giáo dục. Cho nên muốn chống tiêu cực trong giáo dục có kết quả thì phải triệt cái mầm sản sinh ra nó ngay từ trong cơ chế quản lý.  Thi đua là một biện pháp động viên tinh thần lao động để nâng cao năng suất, về ý nghĩa không khác gì các biện pháp khuyến khích năng suất vẫn được thực hiện ở các xí nghiệp tư bản. Nhưng cách thi đua của ta có những đặc thù cho nên trước đây bao giờ cũng nói là thi đua xã hội chủ nghĩa, để nhấn mạnh tinh thần tự giác xã hội chủ nghĩa và kèm theo nó là cách tổ chức: cá nhân hay đơn vị tự báo, rồi bình bầu, rồi khen thưởng. Tuy vậy, ngay thời đó cũng đã thấy rằng nó không thích hợp với ngành giáo dục cho nên ngay ở Liên Xô cũ là xuất xứ của thi đua, người ta đã bỏ thi đua trong giáo dục từ những năm 30 của thế kỷ trước. Ở nước ta trước đây ở miền Bắc cũng không phải không thấy khó khăn của thi đua trong giáo dục, nhưng dẫu sao thời chiến tinh thần tự giác xã hội chủ nghĩa nói chung khá cao cho nên chuyện bóp méo thành tích để tăng điểm thi đua không nghiêm trọng. Còn bây giờ, khi thang giá trị trong xã hội đã thay đổi thì thi đua, với cách tổ chức như ta làm, là một cơ chế tạo ra những thành tích ảo như đã thấy trong nhiều năm qua. Vì vậy nên mạnh dạn bỏ thi đua trong giáo dục mà nên học tập kinh nghiệm các nước tiên tiến, dùng những biện pháp quản lý thích hợp hơn để động viên tính tích cực của người lao động.  Gắn với thi đua là chế độ lương cực kỳ phi lý, không thể biện minh bằng bất cứ lý do nào, mà phải xem là một cơ chế “đục nước béo cò” chỉ thích hợp để nuôi dưỡng tham nhũng. Trong nhiều bài viết trên các báo và phát biểu với các vị lãnh đạo ở cấp cao tôi đã nói rõ vì sao cơ chế trả lương này là thủ phạm chính gây ra tham nhũng tràn lan, làm một vỏ bọc kiên cố bảo đảm cho tham nhũng đi dần từ dưới lên cao một cách “an toàn”. Riêng về giáo dục thì trong một bài viết nhan đề: “Những chỉ tiêu giật mình trong giáo dục” đăng trên Vietnamnet năm 2005, TS Vũ Quang Việt, dựa trên cơ sở phân tích số liệu thống kê nghiêm túc, đã chứng minh rằng chỉ cần chấn chỉnh các khoản ngân sách chi tiêu cho giáo dục thì hoàn toàn đủ để trả lương đàng hoàng cho cán bộ giáo viên, chứ không phải chỉ trả cho họ một đồng lương còm rồi buộc họ xoay xở để kiếm thêm thu nhập cho đủ sống.                     Vì vậy, nếu chúng ta thật tâm muốn chống tiêu cực trong giáo dục thì một việc cần làm ngay là hãy mở một cuộc tổng điều tra về các cách chi tiêu tiền ngân sách và các khoản thu khác (tiền nhân dân đóng góp, tiền vay cho các dự án) trong giáo dục. Trên cơ sở đó lập lại kỷ cương tài chính và giải quyết chế độ lương cho cán bộ, giáo viên một cách cơ bản, đúng như đã ghi trong nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Chỉ khi mọi người lao động giáo dục đều có lương đủ sống theo mức phù hợp với năng suất của mình thì mới có cơ sở pháp lý và đạo lý buộc ai nấy phải làm việc nghiêm túc. Còn như hiện nay thì có chống được tiêu cực cũng chỉ chống ở phần ngọn, không thể giải quyết được vấn đề một cách cơ bản.  Đương nhiên hai giải pháp trên là bài thuốc rất đắng vì nó sẽ vấp phải sự phản đối quyết liệt của những người lâu nay được hưởng lợi từ cơ chế có thể gọi là “lương mà bất lương” này.  Vừa rồi GS  P.Darriulat, một nhà vật lý nổi tiếng đã sống và làm việc ở Việt Nam vài năm nay, có gửi cho tôi một bài viết đề cập đến giáo dục đại học Việt Nam. Trong đó ông nói rõ: “Nếu có ai hỏi tôi biện pháp gì đột phá có thể nâng cao chất lượng đại học Việt Nam, tôi không chút ngập ngừng trả lời ngay đó là: sửa đổi chế độ lương cực kỳ phi lý, bất công, vô hiệu quả”.      Lưu Thủy (thực hiện)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Charter School – một thử nghiệm “thị trường hoá”  giáo dục phổ thông ở Mỹ      Ý tưởng về Charter school (tạm dịch trường Đặc cách hoặc trường Ủy quyền) đầu tiên do Giáo sư tiến sĩ Ray Budde (1923-2005) ở University of Massachusetts, Amherst đưa ra vào thập niên 70. Vì thế Budde được coi là người khởi đầu phong trào cải cách giáo dục hồi ấy. Sau đó vào năm 1988, đề xuất này được Albert Shanker Hội trưởng Hội Giáo chức Mỹ (American Federation of Teachers) tiếp nhận, khi ông hô hào cải cách hệ thống trường phổ thông công lập bằng cách thành lập những “trường được phép đặc biệt” hoặc “trường (của sự lựa) chọn”.    Ban đầu họ hình dung mô hình lý tưởng của trường Đặc cách là một loại trường công được chính quyền cho phép tự quản về quy chế và tài chính, không thu học phí, không có quan hệ với tôn giáo, không kén chọn học sinh; hoạt động tương tự trường tư, không phụ thuộc luật pháp giáo dục của bang hoặc quy chế của địa phương và chịu trách nhiệm nhiều hơn về thành tích học tập của học sinh. Ở đây “Chịu trách nhiệm nhiều hơn” có nghĩa là nếu học sinh có thành tích học tập kém thì nhà trường sẽ bị chính quyền đóng cửa.  Thập niên 80 ở Philadelphia bắt đầu xuất hiện những nhà trường trong nhà trường (schools-within-schools), được gọi là “charters”, tức trường được (cơ quan giáo dục chính quyền) ủy quyền. Loại trường này hoạt động tương đối thành công. Tiếp đó một số nhà giáo ở bang Minnesota cũng có các cố gắng theo hướng tương tự.  Trường Đặc cách đầu tiên ở nước Mỹ ra đời vào năm 1991. Đó là trường trung học St.Paul City Academy ở bang Minnesota; do hai giáo viên đứng ra thành lập, chủ yếu nhận những học sinh không được vào học các trường công, ở độ tuổi 16-21. Trường có 35 học sinh. Nhà trường chú trọng giáo dục học sinh tinh thần trách nhiệm với cuộc sống và năng lực giải quyết vấn đề. Trường được trang bị phương tiện giảng dạy hiện đại, nội dung giáo dục đa dạng, tạo môi trường phát triển cá tính lành mạnh của học sinh. Thành tích của trường rất nổi bật, phần lớn học sinh đều tốt nghiệp và được lên lớp tiếp.   Kinh nghiệm này đã cổ vũ phái cải cách trong ngành giáo dục, lại thêm được chính quyền bang ủng hộ; vì thế nhiều nơi hăng hái mở trường Đặc cách, diện chiêu sinh mở rộng ra từ mẫu giáo tới tiểu học và trung học nhưng chủ yếu là trung tiểu học. Các trường Đặc cách mạnh dạn cải cách cơ chế quản lý, chế độ sử dụng người, sửa đổi chương trình học, sửa đổi phương pháp giảng dạy, áp dụng lớp ít học sinh, tăng phụ đạo học sinh cá biệt, hiện đại hoá trang bị giảng dạy.   Năm 1991 Minnesota trở thành bang đầu tiên thông qua Luật về trường Đặc cách; tiếp đó đến bang California. Tính tới năm 2008 đã có 40 bang và tiểu khu District of Columbia ban hành Luật về trường Đặc cách; cả nước Mỹ có hơn 4600 trường Đặc cách với tổng số hơn 1,4 triệu học sinh. Cũng cần chú ý là đã có 11% trường Đặc cách bị đóng cửa vì các lý do học thuật, tài chính, quản lý và đôi khi do sự can thiệp của địa phương.    Bối cảnh ra đời trường Đặc cách          Ray Budde        Từ thập niên 80 trở đi, dư luận xã hội Mỹ ngày càng quan tâm tới các khiếm khuyết trong ngành giáo dục phổ thông.   Trước hết là cơ chế giáo dục xơ cứng, không chú ý tới các mối quan tâm của học sinh, thiếu coi trọng các ý tưởng cải cách giáo dục, không có sự cạnh tranh giữa các trường, hậu quả dẫn đến chất lượng giáo dục sa sút, năng lực đọc, viết, tính của học sinh sút kém. Nguyên nhân sâu xa là ở chỗ hệ thống trường công trung học và tiểu học ở Mỹ hoàn toàn do cơ quan giáo dục chính quyền địa phương quản lý, trên nhiều mặt các nhà trường thiếu quyền tự chủ cần có, bị ràng buộc bởi các quy chế của chính quyền địa phương.   Thứ hai, tình trạng bất công về giáo dục ngày càng nghiêm trọng. Trường tư có chất lượng cao hơn trường công nhưng do học phí đắt nên chỉ con em nhà khá giả mới học trường tư; con em nhà nghèo, người da màu, dân tộc ít người thông thường chỉ được cha mẹ cho học ở trường công gần nhà, không có điều kiện tới các trường tư, thậm chí trường công chất lượng cao nhưng ở xa nhà. Các học sinh năng lực học tập kém, hoặc nghịch ngợm, hư hỏng không được chú ý kèm cặp dạy dỗ giúp đỡ riêng. Tóm lại, con em các quần thể yếu thế không được hưởng nền giáo dục như các quần thể khác.  Trong hoàn cảnh đó, dư luận đòi hỏi phải tăng thêm quyền tự chủ cho nhà trường phổ thông.  Mặt khác, phong trào thị trường hoá giáo dục cũng là nhân tố xúc tiến sự ra đời trường Đặc cách…  Phong trào thị trường hoá giáo dục khởi đầu bằng việc một số nhà kinh tế chủ trương đưa cơ chế cạnh tranh trong hoạt động kinh tế vào hệ thống nhà trường phổ thông, nhằm kích hoạt cơ chế xơ cứng của hệ thống này.   Chủ nhân giải Nobel kinh tế 1976 Milton Friedman (người Mỹ) đầu tiên đề xuất ý kiến các ngành dịch vụ công như giáo dục, phúc lợi nên áp dụng cơ chế thị trường.  Trong bài “Tác dụng của chính quyền trong giáo dục” ông viết: do chính phủ độc quyền về giáo dục trong một thời gian dài nên giữa các trường thiếu sự cạnh tranh cần thiết, hiệu suất giáo dục ngày một thấp. Tuy rằng chính quyền nên tài trợ giáo dục và chịu trách nhiệm tương ứng, nhưng cá nhân hoặc tổ chức ngoài chính quyền cũng có thể mở trường (công và tư) để triển khai cạnh tranh, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời do nhiều học sinh được quyền chọn trường nên có thể tăng được tính công bằng trong giáo dục.   Nhà kinh tế kiêm triết gia nổi tiếng thế giới Friedrich Hayek (người Áo), chủ nhân giải Nobel kinh tế 1974 cũng cho rằng thị trường là cơ sở và căn cứ của hoạt động giáo dục, nên đưa cơ chế cạnh tranh vào lĩnh vực giáo dục. Tư tưởng ấy đã ảnh hưởng mạnh tới người Mỹ.   Có thể nói trường Đặc cách là một hình thức chính quyền và thị trường cùng gánh vác trách nhiệm giáo dục, là một thị trường dịch vụ giáo dục do chính quyền quản lý. Cơ chế thị trường giúp các trường thoát ra mô hình giáo dục quan liêu cổ lỗ do Nhà nước độc quyền đưa ra.   Sự ủng hộ của chính quyền  Chính quyền Mỹ đóng vai trò quan trọng đỡ đầu sự ra đời của trường Đặc cách. Sau khi bang Minnesota ban hành luật xác nhận địa vị hợp pháp của trường Đặc cách, Tổng thống Clinton và Bộ trưởng Giáo dục Riley đã ra sức ủng hộ sáng kiến này, coi đó là yếu tố có sức sống nhất trong kế hoạch cả gói cải cách giáo dục.   Trong Thông điệp Liên bang năm 1997, Tổng thống Clinton đề xuất tăng gấp đôi kinh phí hỗ trợ thành lập các trường Đặc cách lên tới 100 triệu USD. Nhờ đó năm 1998 đã lập thêm 1100 trường Đặc cách do các nhà giáo hoặc phụ huynh học sinh tổ chức. Chính phủ Clinton còn thông qua Chương trình trường Đặc cách (Public Charter Schools Program) dành cho các bang kinh phí phát triển loại trường kiểu mới này.  Năm 2002, Tổng thống Bush ban hành Luật không để một học sinh nào rớt lại (No Child Left Behind Act, NCLB) quy định trường công nào 3 năm liền không đạt tiêu chuẩn thi cử của bang thì sẽ bị đóng cửa. Những trường này sẽ được các cơ quan chính quyền bang, hoặc các công ty, các nhà giáo, các nhóm phụ huynh học sinh, thậm chí cá nhân tiếp quản để lập trường Đặc cách.  Đặc điểm của trường Đặc cách  Bất cứ tổ chức, đoàn thể, tập thể hoặc cá nhân nào đều có thể xin cơ quan giáo dục của chính quyền địa phương cho phép mở trường Đặc cách. Nếu được phép, đơn vị hoặc người phụ trách nhà trường sẽ ký thoả thuận với cơ quan giáo dục của chính quyền, trong đó quy định các chi tiết cụ thể về trách nhiệm của hai bên.  Người xin mở trường phải có trách nhiệm trước chính quyền, cụ thể phải nêu rõ mục tiêu rõ ràng về giáo dục và phải cam kết thực hiện được mục tiêu đề ra. Chính quyền địa phương dùng thoả thuận này để giám sát tình hình hoạt động của nhà trường, nếu thấy trường không đạt được mục tiêu đã định thì có quyền đình chỉ thoả thuận, ngừng cấp kinh phí và giải thể trường.  Trường Đặc cách là một loại trường công, nghĩa là được hưởng kinh phí giáo dục do Nhà nước (tức chính quyền bang) cấp. Kinh phí được cấp tuỳ theo số lượng học sinh thực có, theo tiêu chuẩn như mọi trường công. Ở Mỹ, chính quyền các bang đều ấn định tiêu chuẩn kinh phí giáo dục bình quân 1 học sinh được hưởng trong một năm; tiêu chuẩn này ở các bang không giống nhau. Ngoài ra trường có thể tiếp nhận tiền hoặc tài sản quyên tặng từ các đoàn thể giáo dục, trường cao đẳng- đại học, các công ty, các cá nhân…   Về nguyên tắc, trường Đặc cách phải tiếp nhận tất cả học sinh muốn xin học, không được kén chọn học sinh, không được phân biệt chủng tộc, không được thu học phí từ học sinh, không được giảng dạy các nội dung về tôn giáo và phải đảm bảo chất lượng giáo dục theo quy định.   Trường Đặc cách có quyền tự chủ nhiều hơn các trường công thông thường, như quyền tự chủ về tuyển dụng người, sử dụng kinh phí, bố trí giáo trình giảng dạy, về giáo dục cá tính học sinh. Giáo viên được công khai tuyển dụng, không buộc phải nhận giáo viên do cơ quan giáo dục chính quyền phân công, vì thế trường Đặc cách có thể chọn được thầy giỏi. Giáo viên ký hợp đồng với nhà trường, được hưởng quyền làm chủ nhiều hơn, như được tham gia quản lý nhà trường, trong Hội đồng Quản trị nhà trường nhất thiết phải có đại biểu giáo viên.    Nhìn chung các trường Đặc cách đều khác nhau, do đó trong bài này không thể nêu ra một hình mẫu loại trường này.   Đa số trường Đặc cách có 200-300 học sinh, cũng có trường tới vài nghìn học sinh. Một số nguyên là trường công cũ, một số là trường mới lập. Có cả các trường tư gặp khó khăn về kinh phí xin chuyển thành trường Đặc cách. Đơn vị mở trường thông thường là một nhóm giáo viên, nhóm phụ huynh học sinh, công ty, xí nghiệp, hoặc trường đại học, hoặc cá nhân. Một số trường dùng hình thức giảng dạy bình thường, một số trường dùng hình thức học ở nhà và học từ xa.  Tình hình hoạt động của các trường Đặc cách và vấn đề tồn tại  Nhìn chung các trường Đặc cách đạt kết quả tốt về thành tích học tập của học sinh, về mức độ hài lòng của phụ huynh, và về công bằng giáo dục.   Năm 2003 có 73% số trường Đặc cách đạt mục tiêu tăng được chỉ số thành tích học tập API (Academic Performance Index), trong khi chỉ có 67% số trường công đạt được mục tiêu đó. Số liệu điều tra các trường Đặc cách ở 35 bang năm 2007 cho thấy tại 19 bang các trường này có thành tích AYP (Academic Year Program) cao hơn trường công.  Một điều tra ý kiến của giới phụ huynh 100 trường Đặc cách ở bang California năm 2000 cho thấy 66% phụ huynh nói “Rất hài lòng” với nhà trường. Một điều tra khác cho thấy 70% phụ huynh đánh giá cao nhất (loại A) cho trường Đặc cách con em mình học. Nhiều thầy và trò các trường Đặc cách cho rằng hiệu quả học ở đây cao hơn ở trường công thông thường.  Số lượng trường Đặc cách ngày một tăng, thí dụ năm 1997 có 693 trường thì năm 2006 đã có 3977 trường; tỷ lệ tăng năm 2006 là 11%. Bang California năm học 1993-1994 có 31 trường, năm 2007 có 621 trường với 220 nghìn học sinh.  Hệ thống trường Đặc cách đã có đóng góp tốt vào việc nâng cao tính công bằng giáo dục. Điều tra cho thấy 53% học sinh các trường Đặc cách là sắc tộc thiểu số, 54% là con em nhà nghèo. Năm học 2004-2005 có 52% học sinh các trường Đặc cách phù hợp tiêu chuẩn được ăn bữa trưa miễn phí hoặc giảm giá. Một điều tra tiến hành trong 3 năm tại bang California cho thấy các trường Đặc cách đã làm tốt việc nâng cao thành tích API cho các học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn. Nói cách khác, trường Đặc cách đã giúp được nhiều cho các học sinh cần được giúp.  Nước Mỹ và một số bang có riêng các trang mạng trường Đặc cách, thí dụ http://www.uscharters chools.org.  Mặt khác cũng cần thấy là dù đã có hai thập niên phát triển, ý tưởng trường Đặc cách vẫn gặp không ít sự phản đối từ nhiều phía. Hiện nay 10 bang chưa có Luật trường Đặc cách, nghĩa là họ không thừa nhận loại trường này. Công đoàn giáo viên có thái độ chống đối rõ rệt.   Phái phản đối cho rằng trường Đặc cách trở thành đối tượng của thị trường, hoạt động có tính chất như một ngành kinh doanh, chịu sức ép của các lực lượng thị trường, do đó có thể làm cho việc học tập của học sinh bị gián đoạn, mất cơ hội học tập. Trường Đặc cách chỉ là loại trường công nửa độc lập, chỉ có quyền tự chủ về trách nhiệm chứ chưa được tự chủ trên nhiều mặt. Hiện nay số lượng trường Đặc cách ở một số bang có xu hướng giảm.   Tân Tổng thống Obama và tân Bộ trưởng Giáo dục Arne Duncan ra sức ủng hộ trường Đặc cách. Mới đây nhất Tổng thống Obama ra tuyên bố tổ chức Tuần Toàn quốc trường Đặc cách (National Charter Schools Week) từ ngày 2 đến ngày 8 tháng 5 năm 2010.   Trong bản tuyên bố phát đi ngày 29/4, ông Obama nói: “Tương lai đất nước ta phụ thuộc vào nền giáo dục chúng ta cung cấp cho những người con trai và con gái của chúng ta, và các trường Đặc cách ở khắp nước Mỹ đang làm việc như những phòng thí nghiệm giáo dục. Các ý tưởng được trường Đặc cách triển khai và thử nghiệm đã giải phóng tiềm năng của các học sinh có những hoàn cảnh khác nhau và đang xúc tiến công cuộc cải cách ở nhiều khu vực. Trong Tuần lễ Toàn quốc các trường Đặc cách, chúng tôi tái cam kết ủng hộ sự đổi mới trong học tập và giảng dạy tại các trường Đặc cách chất lượng tốt và bảo đảm mọi học sinh của chúng ta đều có cơ hội thực hiện Giấc mơ Mỹ…”.  Cải cách giáo dục phổ thông là quá trình cực kỳ gian truân; nó đụng chạm tới lợi ích của hầu hết dân chúng và hàng triệu giáo viên, vì thế mọi ý tưởng cải cách rất khó đạt được sự đồng thuận cao. Hơn nữa, kinh phí ngân sách giáo dục phổ thông rất lớn, việc cải cách cần hết sức thận trọng và phải tiến hành theo cách thử nghiệm dần dần từng bước, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, hoàn thiện dần. Quá trình ra đời và phát triển trường Đặc cách ở Mỹ cũng không ngoài quy luật đó; cuộc tranh luận về trường Đặc cách vẫn còn tiếp tục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất lượng giáo dục từ góc nhìn quản lý      Gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Qui định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học gồm 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí. Có thể thấy, cách làm này là phù hợp xu thế quản lý chất lượng hiện đại. Tuy nhiên, vấn đề là: giả sử đến năm 2010 tất cả các trường Đại học Việt Nam đều tham gia kiểm định chất lượng và nhận chứng chỉ đầy đủ, liệu chất lượng giáo dục đại học lúc đó có thật sự được nâng cấp đúng như chúng ta mong đợi, hay lại lâm vào tình trạng như hiện nay ở rất nhiều doanh nghiệp: có chứng chỉ ISO 9001:2000, nhưng chất lượng lại hoàn toàn không ISO tí nào. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, chúng ta phải trở lại một chút với các lý thuyết quản lý chất lượng hiện đại.    Chất lượng giáo dục – từ góc nhìn quản lý  Edwards Deming, chuyên gia hàng đầu về quản lý chất lượng, người có công lớn góp phần tạo nên chất lượng cho nền công nghiệp Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2, đã từng nói: “Trong tương lai sẽ chỉ có hai loại doanh nghiệp. Một, là các doanh nghiệp triển khai Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM), hai là các doanh nghiệp phá sản. Bạn hoàn toàn có thể không cần triển khai TQM nếu sự sống còn của doanh nghiệp đối với bạn không phải là điều quan trọng”. Nói vậy thì TQM là gì mà ghê gớm thế? Hơn nữa, TQM thì có liên quan gì đến chất lượng giáo dục Việt Nam?  Người ta nói rằng, Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000:2000 là một hình thức quản lý chất lượng bằng văn bản theo tư tưởng TQM. Không biết có đúng không, nhưng những ai đã làm chất lượng, dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, đều công nhận, TQM hiện nay vẫn là triết lý quản lý chất lượng phổ biến và hiện đại nhất. Bản chất của TQM cũng rất đơn giản, gói gọn trong tám chữ: Khách hàng – Quản lý – Chất lượng – Toàn diện. Muốn làm chất lượng thì khách hàng phải thực sự là trung tâm. Mọi hoạt động đều phải hướng tới cái đích cuối cùng là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (cần lưu ý, nhu cầu ở cả hai dạng: đã có hoặc tiềm ẩn). Nguyên tắc quản lý cơ bản là dựa trên lòng tin, tin và mạnh dạn trao quyền cho các nhóm chất lượng cũng như từng thành viên. Chất lượng sẽ được đảm bảo nhờ quá trình cải tiến liên tục. Và cuối cùng, làm chất lượng sẽ không có kết quả nếu không có sự tham gia toàn diện của tất cả mọi người, ở tất cả mọi công đoạn xuyên suốt quá trình (xem Hình 1).  Không biết vô tình hay cố ý, nhưng hầu hết những định hướng cải cách giáo dục gần đây mà chúng ta đã và đang thực hiện đều ít nhiều mang hơi hưởng triết lý TQM. Chúng ta phát động phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy – người học làm trung tâm; mạnh dạn trao quyền tự chủ cho các trường đại học; ra sức đào tạo theo tình huống và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm; cải tiến chất lượng không ngừng nghỉ; và giáo dục đã từ lâu trở thành sự nghiệp của toàn dân. Đủ cả 8 chữ của TQM, nhưng sao chất lượng giáo dục Việt Nam vẫn cứ ì ạch? Chúng ta đã sai ở đâu?             Hình 1. Các yếu tố cơ bản của TQM1        Một trong những bí quyết để thực hiện TQM thành công đó chính là mọi hoạt động đều phải xoay quanh nhân vật trung tâm. Nếu ta thống nhất chọn nhân vật trung tâm của hệ thống giáo dục là người học – thì đúng ra mọi hoạt động cải cách, dù ở đâu, cấp nào, làm gì ta đều phải đặt lợi ích của người học lên trên hết. Chúng ta đã không làm như thế, nên mới có bệnh thành tích, mới có gian lận trong thi cử, mới có học thêm, dạy thêm, mới có nhiều dự án đặc biệt (như thay sách giáo khoa, đại học đại cương, dạy một ngoại ngữ…).  Có người nói, giáo dục là một sản phẩm đặc biệt, không thể áp dụng máy móc các lý thuyết quản lý cho dù đó là thuyết gì. Đúng, giáo dục thực sự là một sản phẩm đặc biệt. Trước hết, đó là một sản phẩm dịch vụ. Mà sản phẩm dịch vụ khác với sản phẩm vật chất ở một điểm cơ bản. Nếu sản phẩm vật chất là kết quả của quá trình biến đổi vật chất thì dịch vụ chính là kết quả của quá trình tương tác giữa nhà cung ứng và người sử dụng. Như vậy, có thể thấy ngay, chất lượng của một dịch vụ chỉ có thể thay đổi được khi chúng ta thay đổi chất lượng của quá trình tương tác. Đối với giáo dục, đó là sự tương tác giữa ba nhân vật: người học – người dạy – người tuyển dụng. Như vậy, muốn thay đổi chất lượng giáo dục, chúng ta phải tập trung thay đổi chất lượng tương tác của ba NGƯỜI nêu trên. Hay nói một cách khác, tất cả những cải cách chúng ta đang làm sẽ không đem lại kết quả gì nếu chúng không góp phần nâng cao chất lượng tương tác.  Thi trắc nghiệm không làm chất lượng tương tác tốt hơn, chưa nói lạm dụng hình thức trắc nghiệm sẽ cho tác dụng ngược lại. Trắc nghiệm trong bối cảnh thầy ít, trò đông, có thể giúp các trường giảm thiểu gánh nặng thi cử, hạn chế tiêu cực, nhưng về lâu dài nếu chúng ta chỉ dùng mỗi trắc nghiệm để kiểm định chất lượng thì hậu quả thật khó lường.  Kiểm định chất lượng giáo dục theo 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí là bước đi đúng đắn, nhưng cũng sẽ không đưa lại kết quả gì nếu quá trình này chỉ mang tính hình thức, thiếu sự tham gia tích cực của ba thành viên căn bản. Không ít trường tuy đã hoàn tất khâu đánh giá ngoài (giai đoạn 2), mà sinh viên không hề hay biết gì. Thử hỏi như vậy chứng chỉ đạt chất lượng liệu có ý nghĩa thực tế gì không?    Làm gì để nâng cao chất lượng tương tác?  Muốn nâng chất lượng tương tác, thiết nghĩ, trước mắt chúng ta cần giải quyết tốt ba vấn đề cơ bản. Phải làm thế nào để các thành viên muốn tương tác, biết tương tác và tương tác hiệu quả.  Đây lại là đề tài của một câu chuyện khác. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh: tương tác tốt chỉ có thể là tương tác giữa những con người thật sự là NGƯỜI. Cho nên bất kỳ một cải cách nào nếu không góp phần nâng cao chất lượng con người, chất lượng tương tác giữa thầy, trò và nhà tuyển dụng thì chúng ta không nên làm. Việc cần làm thì rất nhiều, ví dụ, đầu tiên ta hãy nghĩ cách nâng cao chất lượng người thầy, muốn vậy hãy bảo đảm thu nhập cho họ – độc lập, đàng hoàng, đủ sống (khác với thu nhập có được nhờ dạy thêm), sao cho họ có thể tự hào, tự tin, sẵn sàng chuyên tâm vào giảng dạy; phải khai tâm cho người học, giúp người học thấu hiểu ý thức và trách nhiệm của người làm trung tâm; phải mở rộng cửa khuyến khích các nhà tuyển dụng tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo… Nhìn chung, có rất nhiều việc phải làm, nhưng tất cả đều phải hướng tới một mục đích “cho con người thật sự Người hơn!” – bởi đây cũng chính là điểm đến cuối cùng của mọi lý thuyết quản lý.  ———–  1 Business Edge. Tìm hiểu chất lượng. TP.HCM.: TRẺ, 2003. Tr. 42  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu tăng đầu tư cho giáo dục*      Trong khi tiến hành phân bố ngân sách châu  Âu giai đoạn 2014-2020, các chính phủ EU đã có quyết định thông minh là  gia tăng đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu – họ chỉ làm như thế với hai  lĩnh vực này mà thôi.     Châu Âu đang phải vật lộn với những thách thức cực kì to lớn – to lớn đến mức không nước nào có thể tự mình giải quyết đước. Đối mặt với khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp lan tràn, và sự cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các nền kinh tế đang phát triển, châu Âu phải thích nghi với những cải tiến về công nghệ và cách làm việc mới – trong khi dân số đang già đi lại tạo ra những căng thẳng mới đối với ngân sách công vốn đã cạn kiệt rồi. Trong bối cảnh dễ đổ vỡ như thế, EU phải tập trung vào giáo dục nhằm nuôi dưỡng tài năng và tiềm lực của người dân và bằng cách đó thúc đẩy được sự phục hồi về kinh tế và xã hội.   Giáo dục nắm giữ chìa khóa không chỉ cho những công việc tốt hơn và tốc độ tăng trưởng GDP mạnh mẽ hơn mà còn cho sự phát triển văn hóa, chính trị và xã hội, tức là những điều kiện cần để bảo đảm rằng công dân được phát triển toàn diện và có nền tảng vững chắc để trở thành những người dẫn đầu cả ở địa phương, quốc gia và quốc tế. Bằng cách tập trung vào những chính sách đúng đắn, các nhà lãnh đạo EU có thể bảo đảm rằng nền giáo dục của châu Âu có thể giúp họ trở thành những công dân toàn cầu năng động và những tác nhân kinh tế đầy tiềm năng.  Có một tin vui là các nhà lãnh đạo châu Âu dường như đã công nhận giá trị của việc truy tầm tri thức. Trong khi tiến hành phân bố ngân sách châu Âu giai đoạn 2014-2020, các chính phủ EU đã có quyết định thông minh là gia tăng đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu – họ chỉ làm như thế với hai lĩnh vực này mà thôi. Sự cam kết với việc bảo vệ những khoản đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu như thế phải được thể hiện ở tất cả các cơ quan lập chính sách.  Hơn nữa, để đưa quá trình chuyển hóa của châu Âu vào trung tâm của quá trình sáng tạo mang tinh thần trách nhiệm và nền sản xuất lành mạnh về mặt đạo đức thì các nhà lập chính sách phải bảo đảm rằng các thiết chế giáo dục đại học phải trang bị cho sinh viên những kiến thức tiên tiến nhất và những kĩ năng có mức độ linh hoạt cao, đặt nền tảng trên những giá trị được cộng đồng cùng chia sẻ. Có nghĩa là phát triển những hệ thống giáo dục đa dạng, từ các trường dạy nghề đến các chương trình đào tạo tiến sĩ, và tạo điều kiện cho sinh viên tiếp xúc với kinh nghiệm quốc tế, điều đó có thể cung cấp cho họ những cơ hội bên ngoài đường biên giới quốc gia.  Thí dụ chương trình Erasmus (viết tắt của European Community Action Scheme for the Mobility of University Students – tạm dịch: Chương trình hành động của cộng đồng châu Âu về trao đổi sinh viên), tạo điều kiện cho sinh viên các trường đại học học tập và làm việc ở nước ngoài như là một phần của chương trình học tập, mở rộng tầm nhìn của người tham gia và gia tăng ước muốn cũng như khả năng đi đến bất cứ nơi nào có việc làm. Những chương trình như thế còn giúp làm giàu thêm kiến thức của các sinh viên địa phương và cung cấp cho các giáo sư hiểu biết sâu sắc đầy giá trị về truyền thống giáo dục đại học của những nước khác.  Hơn nữa, các nhà lãnh đạo châu Âu phải công nhận rằng công tác giảng dạy với chất lượng cao cũng quan trọng như những công trình nghiên cứu tiên phong. Có thể nói, trong khi tất cả mọi người đồng ý rằng các nhà nghiên cứu cần được đào tạo một cách bài bản thì những giả định đang giữ thế thượng phong: thầy giỏi là bẩm sinh và giảng dạy giỏi là ngẫu nhiên – là quan điểm đang đang cản trở nền giáo dục ở tất cả các cấp học.  Cải thiện chất lượng giảng dạy ở bậc đại học là điểm nhấn của Bản báo cáo thứ nhất trình Hội đồng châu Âu do Nhóm chuyên gia cao cấp của Cộng đồng châu Âu về hiện đại hóa giáo dục đại học của EU (tôi là Chủ tịch của Nhóm) thực hiện. Trong số 16 khuyến nghị của Báo cáo có khuyến nghị phát triển chất lượng giảng dạy thông qua quá trình huấn luyện nghề nghiệp bắt buộc thường xuyên và công nhận cũng như tưởng thưởng cho thành tích đã đạt được. Cách tiếp cận như thế sẽ cung cấp cho các nhà giáo dục những kĩ năng và động cơ mà họ cần nhằm tạo ra một hình thức giáo dục mà châu Âu cần.   Một vấn đề cực kì quan trọng khác và là chủ đề của bản báo cáo tiếp theo của nhóm liên quan đến những phương thức giáo dục mới, thí dụ như MOOCs (Massive Open Online Courses – tạm dịch: Các khóa học trực tuyến mở qui mô lớn). Trên thực tế, một số người tuyên bố rằng sắp xảy ra cuộc cách mạng về cách thức tìm kiếm và chuyển giao kiến thức và thông tin.  Trong khi những phương thức giáo dục mới này chắc chắn sẽ làm thay đổi nền giáo dục, nhất là giáo dục đại học, nhưng điều đang xảy ra có thể giống quá trình tiến hóa hơn là một cuộc cách mạng. Nói cách khác, thay vì đưa cách học theo lối truyền thống (brick-and-mortar) đến chỗ cáo chung, MOOCs và những cải tiến khác sẽ khuấy động quá trình chuyển tiếp đến cách học gọi là “trực tuyến và truyền thống” (click-and-mortar). Điều này ám chỉ rằng các khuyến nghị của nhóm trong lĩnh vực này sẽ bao gồm những cải tiến bổ xung cho các hệ thống chính thức và phi chính thức hiện có, cũng như những cơ chế nhằm phục hồi lại quá trình học tập suốt đời trong giáo dục đại học.  Đối với người học, nền tảng của thành công phải được xây dựng ngay từ sớm, bắt đầu từ mẫu giáo và tiểu học. Và các nhà lập chính sách phải nhận thức được nguy cơ của việc làm cho sự bất bình đẳng giữa các nhóm người trở thành vĩnh viễn, một sự bất bình đẳng có lợi cho những người vốn đã có lợi thế rồi. Ví dụ, các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn những người tham gia vào MOOCs – những khóa được ca ngợi vì khả năng tiếp cận của chúng – đều đã có bằng đại học. Các nhà lãnh đạo châu Âu phải làm việc để bảo đảm rằng những phương thức giáo dục mới sẽ chuyển thành những cơ hội tốt hơn cho những thành phần dân chúng rộng rãi hơn.  Bước đi và phạm vi của tiến bộ công nghệ làm cho việc dự đoán những phát triển đang diễn ra cũng như cách thức mà chúng sẽ tác động tới giáo dục trở thành hầu như bất khả thi. Nhưng, dù có công nghệ mới nào đi nữa thì giáo dục cũng rút lại để trở về với giáo viên và học sinh. Cung cấp phương tiện và cơ hội hỗ trợ cho sự phát triển vai trò của từng cá nhân là yếu tố cần thiết cho việc xây dựng lực lượng lao động có khả năng thích ứng với những tình huống đang thay đổi. Đấy chính là thách thức thực sự mà châu Âu đang phải đối mặt.  Mary McAleese, là cựu Tổng thống Ireland,  hiện là Chủ tịch Nhóm chuyên gia cao cấp của Cộng đồng châu Âu về hiện  đại hóa giáo dục đại học của EU.   Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn:   http://www.project-syndicate.org/commentary/mary-mcaleese-offers-recommendations-for-improving-europe-s-education-and-training-systems  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt lại    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chỉ còn con đường phê phán là rộng mở” *      Triết thuyết giáo dục đương đại đề cao tinh thần hoài nghi (khoa học) thừa hưởng nhiều di sản tinh thần quý báu từ quá khứ.       Công việc chủ yếu của nhà hoài nghi là khảo nghiệm, tra hỏi. Từ “hoài nghi” ở phương Tây xuất phát từ gốc Hy Lạp là  sceptikos: người tra hỏi đến cùng. Triết học hoài nghi là tra hỏi xem nhận thức và mọi khẳng định có đáng tin cậy không. Còn thuyết hoài nghi thì triệt để hơn mọi sự hoài nghi thông thường; nó thường phủ nhận khả năng nhận thức nói chung. Nhưng, một sự hoài nghi triệt để như thế lại cũng mang tính giáo điều, vấp phải sự tự mâu thuẫn (hóa ra sự hoài nghi triệt để lại là không thể hoài nghi!), vì thế thái độ giáo điều ấy cũng cần được nhận diện, phê phán.  Với vô số phiên bản của sự hoài nghi trong lịch sử, từ Sextus Empiricus cho đến Montaigne, Bayle, Hume và Santayana, vấn đề ngày nay không phải là xét xem lập trường hoài nghi nói chung có đứng vững hay không về mặt triết học, mà chú ý nhiều hơn đến chất lượng của những luận cứ và những phản bác của nó chống lại các yêu sách của các nền triết học và học thuyết giáo điều. Dù sao cũng phải thừa nhận: thái độ hoài nghi và thuyết hoài nghi bao giờ cũng là nguồn suối cho sự đổi mới tư duy và khoa học.  Vậy sự hoài nghi và sự phê phán khác nhau ở chỗ nào? Kant là người đầu tiên nêu ra sự phân biệt có ảnh hưởng sâu rộng đến ngày nay. Kant phân biệt giáo điều, hoài nghi và phê phán (Phê phán lý tính thuần túy, A 388 và tiếp). Người giáo điều nêu ra một khẳng định hay lập trường chắc như đinh đóng cột. Chống lại khẳng quyết giáo điều ấy, ta có thể đề ra một khẳng quyết ngược lại, nhưng cũng không kém giáo điều. Nói một cách hình ảnh, trong cuộc ác chiến ấy, ta chọn đứng về một phe và hăng hái múa gươm xông vào trợ chiến! Thái độ hoài nghi thì đem hai lập trường tương phản ấy đối chiếu với nhau, kết luận rằng cả hai tuy tương phản nhưng đều là giáo điều cả, nên tốt hơn hết là không tin theo cái nào và “hoàn toàn bác bỏ mọi ý kiến về sự việc”. Trong khi đó, thái độ phê phán thì khác! Nó không cho rằng mình “giỏi hơn” để có thể dạy bảo người khác, nghĩa là, thay vì cho rằng phe này, phe kia hoặc cả hai phe là “sai”, sự phê phán tập trung vào việc xem xét sự chứng minh của mỗi bên “có cơ sở” hay không (từ đâu và nhờ cái gì bạn đi đến khẳng định ấy? Bạn đã kiểm tra năng lực nhận thức của bạn chưa? v.v.) và kết luận rằng cả hai bên đều “không có cơ sở”, không thích đáng về mặt khoa học. Trong cách hiểu này, ta thấy thái độ phê phán “khiêm tốn” hơn thái độ hoài nghi, nhưng, về mặt nhận thức và lập luận, lại “khó” hơn nhiều, đòi hỏi nhiều tri thức, nhất là về cung cách tư duy được Kant gọi bằng một thuật ngữ khá đặc biệt: “tư duy siêu nghiệm” (transzendental). “Siêu nghiệm” là biết giữ khoản cách, nhưng thay vì để vươn lên cái siêu nhiên (gọi là “siêu việt”/transzendent), thì đi lùi lại để đặt câu hỏi cơ bản hơn về điều kiện khả thể của những mệnh đề, phát biểu, kinh nghiệm, quan niệm, ý tưởng v.v., tức về những điều kiện có trước kinh nghiệm.  Tiếp thu và vận dụng di sản hoài nghi và phê phán vào tư duy giáo dục đương đại gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà triết học giáo dục. Wolfgang Fischer không phải ngẫu nhiên định danh cho triết thuyết giáo dục của mình một cách khá rườm rà là: “hoài nghi – phê phán siêu nghiệm”! Cũng trong chiều hướng ấy, Lothar Wigger xem mục tiêu của phân tích giáo dục trong tinh thần hoài nghi-phê phán là sự “giải ảo“, xoay quanh bốn khả thể:  1. nhận ra thuyết giáo điều khó tránh khỏi, ẩn giấu trong những đề án giáo dục;  2. nhận ra rằng những đề án hay lý luận giáo dục đang cạnh tranh nhau cũng chỉ có giá trị tương đối;  3. nhận ra sự cần thiết lẫn khả năng của một nền tân giáo dục; và sau cùng,   4. nhận ra việc cần phải bàn thảo và cân nhắc thật cởi mở và cầu thị về các lựa chọn khác nhau.  Dân chủ và đạo đức trong hoài nghi và phê phán  Đâu là giá trị giáo dục của sự hoài nghi – phê phán? Trong nhiều câu trả lời, tác động của nó đến nếp sống dân chủ trong cộng đồng là đặc biệt quan trọng. Theo cách nói của W. Fischer, sự hoài nghi – tự phê phán giúp ngăn ngừa chủ trương “bảo căn” (fundamentalist) cực đoan và nền giáo dục dựa vào quyền uy. Như nhận xét tinh tế của Hannah Arendt, giáo dục bảo căn và quyền uy, phản phê phán dẫn đến việc lười tư duy và vô tư tưởng. Điều này thường xảy ra trong thực tế và nguy hại hơn là việc tư duy sai lầm!  Bên cạnh đó là kích thước đạo đức. Hoài nghi – phê phán có thể dẫn đến việc cảm thấy bơ vơ, bất lực như đã nói trong bài trước. Nhưng, như khi cha mẹ thấy “bất lực” trong việc dạy dỗ con cái, ít ra cảm giác ấy cũng có mặt tích cực: không thể đổ hết lỗi cho người khác và dám thừa nhận trách nhiệm của mình.  “Tu thân” hiện đại hóa!  Michel Foucault là người có công “đào bới” trong di sản đạo đức học Socrates và Hy Lạp cổ đại ý niệm về “vun bồi bản thân”, đặc biệt được định hình ở các thế kỷ đầu tiên sau công nguyên. Foucault, trong Tính dục và Chân lý (tập 3, 1989) không làm công việc của nhà sử học cho bằng của nhà triết học giáo dục. “Vun bồi bản thân”, trong truyền thống hoài nghi-phê phán và khắc kỷ không chú trọng đến “nội tâm” kiểu chàng Narciss tự nhìn nhắm chính mình, mà mang đậm tính cộng đồng và truyền thông, gồm nhiều thể cách: – được rèn luyện nhiều “kỹ năng” hay bài tập cụ thể trong thể dục và trí dục (đọc và viết); – sự phản tỉnh triết học là “phương thuốc” điều trị tâm hồn. Trường học không đặt trọng tâm vào truyền đạt kiến thức và chuẩn bị nghề nghiệp mà phải là… “bệnh viện” (iatreion): người học nhận rõ tình trạng “bệnh lý” của mình; khi ra trường, càng thấy mình không hoàn thiện, không biết gì, cần được tu sửa và tiếp tục đào tạo. – nguyên tắc của giáo dục “điều trị” là “quay trở về với chính mình”, không theo nghĩa vị kỷ mà là tự kiểm và tự tại.  Toàn bộ “động lực” của tư tưởng “tu thân” này là nhắm đến sự chuyển hóa chứ không phải sự hoàn hảo hay hoàn tất. Theo kết luận của Foucault – và theo ông, hoàn toàn có thể áp dụng cho ngày nay -, “điều quan trọng nhất trong cuộc sống và lao động là trở thành cái gì vốn chưa có ngay từ lúc đầu”. Tức là, biến cuộc đời mình thành “sự nghiệp”, với giá trị thẩm mỹ và phong cách riêng biệt, đặc sắc.  Thời đại chúng ta khác xa thời cổ đại, nhưng, theo Foucault, có một điểm chung: không muốn chỉ đặt cơ sở cho luân lý, đạo đức bằng những nguyên tắc siêu nhiên và không muốn đời sống riêng tư lẫn nhân cách của ta hoàn toàn bị chi phối bởi hệ thống pháp lý và chính trị ngoại tại. Nhưng, liệu “con ruồi trâu” giáo dục và “con cá đuối điện” triết lý ngày nay có còn đủ sức mạnh như trước đây?  ———————————————————–  * Kant: Phê phán lý tính thuần túy, B 884.  Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 44, 24.12.2015      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chia sẻ chi phí trong phát triển GDĐH      Trong bối cảnh giáo dục đại học (GDĐH) tăng trưởng nhanh  về mặt quy mô, bên “cung” (nhà  nước) sẽ không còn đủ  sức bao cấp miễn phí GDĐH như trước kia nữa. Chính sách chia sẻ chi phí  (cost-sharing), hay sự chuyển dịch một phần gánh nặng tài chính từ  chính phủ (thực chất là người đóng thuế) sang phía sinh viên và phụ  huynh, dần được chấp nhận (hoặc buộc phải chấp nhận  nhưng không chính thức thừa nhận) như một giải pháp phù hợp.    Một trong những vấn đề làm lúng túng các nhà hoạch định  chính sách trên khắp thế giới là làm sao có thể cân bằng được cùng lúc  hai mục tiêu đảm bảo chất lượng và cơ hội tiếp cận trong giáo dục đại  học (GDĐH). Trong bài viết này, dựa trên những nghiên cứu cập nhật trên  thế giới, chúng tôi hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến vấn đề chia sẻ  chi phí trong GDĐH; đồng thời gợi ý một vài cơ chế tài chính phù hợp  nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có thể cùng lúc giải quyết được  hai mục tiêu cơ bản kể trên của GDĐH.   Trong bối cảnh giáo dục đại học (GDĐH) tăng trưởng nhanh về mặt quy mô, bên “cầu” (sinh viên) trở nên quá lớn, bên “cung” (nhà nước) chấp nhận mở rộng dịch vụ để thỏa mãn bên “cầu” nhưng không còn đủ sức bao cấp miễn phí GDĐH như trước kia nữa. Chính sách chia sẻ chi phí (cost-sharing), hay sự chuyển dịch một phần gánh nặng tài chính từ chính phủ (thực chất là người đóng thuế) sang phía sinh viên và phụ huynh (Johnstone, 2004), dần được chấp nhận (hoặc buộc phải chấp nhận nhưng không chính thức thừa nhận) như một giải pháp phù hợp, kể cả ở các nước có truyền thống bao cấp giáo dục như một số nước Bắc Âu, châu Phi hay thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước kia (Johnstone, 2004).     Chính sách chia sẻ chi phí có thể được thể hiện qua nhiều cách thức khác nhau: từ cách thức trực tiếp như yêu cầu sinh viên – phụ huynh đóng học phí để chi trả một phần chi phí đào tạo tại những chương trình vốn được nhà nước bao cấp toàn bộ hay việc cho phép ra đời khu vực GDĐH tư nhân/ngoài công lập (nơi sinh viên thường phải đóng học phí bằng hoặc hơn chi phí đào tạo); cho đến những cách thức nhằm hỗ trợ tài chính cho sinh viên như học bổng hay vay vốn tín dụng.      Tại Việt Nam, sau gần ba thập niên tăng trưởng không ngừng, nền GDĐH ở Việt Nam đã mở ra cơ hội tiếp cận GDĐH cho khoảng 2,18 triệu người vào năm 2012 (Bộ GD&ĐT, 2013), gấp 16 lần so với con số của năm 1987 (Pham, 2011), thu tăng nhanh nhất thế giới về quy mô GDĐH.      Tuy vậy, nếu xem xét đến các chỉ số thường được dùng để đánh giá chất lượng và cơ hội tiếp cận trong GDĐH, ta có thể thấy, trên mọi phương diện, kết quả của phát triển GDĐH ở nước ta vẫn còn ở mức trung bình trong khu vực.      Cũng như nhiều nước khác, Việt Nam đang loay hoay làm sao để có thể cùng lúc cân bằng hai mục tiêu chất lượng và cơ hội tiếp cận. Việc đầu năm nay, Chính phủ bất ngờ điều chỉnh chỉ tiêu phát triển GDĐH xuống còn 2,2 triệu sinh viên, 256 sinh viên/10.000 dân (Thủ tướng Chính phủ, 2013) so với con số tương ứng được nhắc lại nhiều lần trong các quy hoạch chiến lược trước kia phần nào phản ánh điều này. Phải chăng, Việt Nam đang tạm hy sinh phần số lượng trong mục tiêu cơ hội tiếp cận để ưu tiên cho chất lượng trong thời gian tới? Hay đó cũng chỉ là phản ứng tạm thời của các nhà làm chính sách trong bối cảnh chịu quá nhiều sức ép từ dư luận về các bất cập của chất lượng GDĐH trong thời gian vừa qua?      Dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm cập nhật trên thế giới, bài viết này giúp các nhà làm chính sách ở Việt Nam nhận diện có hệ thống các vấn đề liên quan đến chính sách chia sẻ chi phí trong GDĐH; đồng thời, giới thiệu một vài cơ chế tài chính hiệu quả và bền vững trong việc cùng lúc có thể cân bằng được mục tiêu chất lượng và cơ hội tiếp cận trong bối cảnh đại chúng hóa GDĐH.       1. Bốn câu hỏi cho các nhà làm chính sách trong bối cảnh GDĐH đại chúng      Theo chúng tôi, để giải quyết được bài toán cân bằng giữa hai mục tiêu của GDĐH, các nhà làm chính sách cần xem xét bốn vấn đề:      1.1. Mối quan hệ giữa chi phí đơn vị và chất lượng      Chi phí tài chính không làm nên chất lượng nhưng đó là điều kiện cần để đảm bảo chất lượng. Ước tính chi phí đơn vị đào tạo một sinh viên trong một năm học để làm cơ sở tính toán cho các chính sách liên quan đến học phí, học bổng, hỗ trợ của nhà nước… cũng là gợi ý của Ngân hàng phát triển châu Á trong một báo cáo gần đây (ADB, 2009).     Hayden et al. (2012) là một trong những nhóm đầu tiên cho đến giờ đề cập chính thức về việc ước tính lại chi phí đơn vị cho GDĐH ở Việt Nam. Theo ước tính của nhóm này, đối với những nước thu nhập tương tự như Việt Nam, chi phí đơn vị hợp lý để duy trì chất lượng cạnh tranh với thế giới rơi vào khoảng 120%-150% GDP đầu người. Dựa trên tính toán này, với GDP đầu người 2012 của Việt Nam là 1.755 USD, chi phí đơn vị tối thiểu cho sinh viên đại học ở Việt Nam phải rơi vào khoảng 2.100 USD (120% x 1.755 USD), vượt xa con số trung bình tương ứng tại phần lớn các chương trình GDĐH chính quy tại Việt Nam hiện nay (khoảng 500-600 USD). Do (Hayden et al., 2012) không nêu rõ cách tính toán để đạt được con số 120%-150% GDP đầu người, chúng tôi không thể kiểm chứng tính chính xác của con số này1. Tuy vậy, chúng tôi cũng hoàn toàn ủng hộ quan điểm: nâng cao chi phí đơn vị là điều kiện cần2 để nâng cao chất lượng GDĐH ở Việt Nam. Việc tính toán kỹ chi phí đơn vị tới từng loại trường, từng nhóm ngành là việc các nhà làm chính sách cần làm sớm trong thời gian tới.       1.2. Tỷ lệ đóng góp giữa các bên liên quan vào chi phí đơn vị      Theo ước tính của (Hayden et al., 2012), tỷ lệ đóng góp của nhà nước (người đóng thuế), sinh viên – phụ huynh (học phí) và các nguồn thu khác (hiến tặng, nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và dịch vụ) cho chi phí của GDĐH ở Việt Nam hiện nay lần lượt là 55%, 42% và 3%. Tỷ lệ tương ứng tại ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2012 là 56%, 39,3% và 4.7% (ĐH Quốc gia Hà Nội, 2013), tại ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh năm 2011 là 37%, 51% và 12% (ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2013). Với cơ chế tự chủ cao và năng lực khoa học – công nghệ cao hơn các cơ sở GDĐH khác trong cả nước, việc hai ĐH Quốc gia thu hút được nhiều nguồn thu khác hơn mức độ trung bình của cả nước là điều dễ hiểu. Tuy vậy, về ngắn hạn và trung hạn, rõ ràng kinh phí trợ cấp của nhà nước và học phí vẫn là nguồn đóng góp chủ yếu cho chi phí đơn vị trên đầu sinh viên. Bảng 1 thể hiện tính toán của chúng tôi về tỷ lệ đóng góp giữa trợ cấp nhà nước trên học phí theo quy định hiện hành. Ví dụ với đối tượng sinh viên thuộc nhóm 1, tỷ lệ này hiện nay trung bình khoảng 1.3; với đối tượng 7, tỷ lệ này vào khoảng 3.6.      Theo quan điểm của chúng tôi, các nhà làm chính sách cần sử dụng tỷ lệ này như là một trong những thông số chính thức phản ánh mức độ ưu tiên và đầu tư cho các “đối tượng thụ hưởng” (tỷ lệ càng cao càng thể hiện mức độ ưu tiên của Nhà nước, trong trường hợp tỷ lệ này là +∞, sinh viên được miễn hoàn toàn học phí). Đồng thời, nhóm đối tượng theo tổng hợp của chúng tôi tại Bảng 1 cũng cần phải xem xét lại theo hướng mở rộng hơn nữa để phù hợp với tình hình phát triển của thực tế GDĐH Việt Nam, đặc biệt trong trường hợp chi phí đơn vị được nâng lên cao hơn nhiều so với hiện nay như đã phân tích ở mục 1.1.             Bảng 1: Tỷ lệ đóng góp giữa trợ cấp nhà nước và học phí cho một   số đối tượng sinh viên ở Việt Nam          Đối tượng      Tỷ lệ Trợ cấp nhà nước/học   phí       Ghi chú          (1) Sinh viên trường công lập   (hệ theo chỉ tiêu tuyển sinh được Bộ GD&ĐT phê duyệt)      1.3       =55%/43%          (2) Sinh viên trường công lập   (hệ mở rộng)      0      Không có trợ cấp nhà nước          (3) Sinh viên trường ngoài   công lập      0      Không có trợ cấp nhà nước          (4) Sinh viên là người dân tộc   thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ   nghèo.      +∞      Miễn học phí hoàn toàn          (5) Sinh viên một số ngành đặc   thù: sư phạm, điện hạt nhân, lý luận chính trị; Sinh viên thuộc chương trình   Tiến tiến      +∞      Miễn học phí hoàn toàn          (6) Sinh viên các chuyên   ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc và một số chuyên   ngành, nghề nặng nhọc, độc hại.      6.6       = (55% +              0.7*43%)/0.3*43%  Miễn học phí 70%          (7) Sinh viên là con cán bộ,   công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề   nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên      3.6      = (55% +              0.5*43%)/0.5*43%  Miễn học phí 50%          Nguồn: Nhóm tác giả tính toán   dựa trên Hayden   et al. (2012) và Chính   phủ (2010)          1.3. Thời điểm xác định tỷ lệ đóng góp giữa trợ cấp nhà nước trên học phí    Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này được xác định ngay từ khi sinh viên đỗ vào trường đại học và được giữ cố định trong suốt bốn – năm năm học đại học. Cơ chế là phù hợp trong phần lớn các trường hợp; tuy vậy vẫn còn có một số điểm bất cập, điển hình trong hai trường hợp sau đây:     Thứ nhất, đối với sinh viên ngành sư phạm (đối tượng 7-Bảng 1): thực tế trong những năm qua cho thấy, có rất nhiều sinh viên học ngành này không làm nghề giảng dạy sau khi tốt nghiệp và ngược lại. Hệ quả không kỳ vọng của việc này là việc đầu tư nhầm chỗ gây lãng phí nguồn lực của nhà nước.     Thứ hai, đối với sinh viên trường công lập, chính sách hiện nay không tạo động lực học tập giữa hai hệ thuộc chỉ tiêu tuyển sinh (đối tượng 1 – Bảng 1) được hưởng trợ cấp nhà nước và hệ mở rộng (đối tượng 2 – Bảng 1) không được hưởng trợ cấp nhà nước trong suốt 4-5 năm học đại học. Sinh viên thuộc đối tượng 1 chỉ cần thi đỗ đại học đầu vào một lần duy nhất (với điểm số cao hơn) mặc nhiên được hưởng hỗ trợ của nhà nước mà không cần nỗ lực học tập trong thời gian tiếp theo.      Theo chúng tôi, một chính sách linh hoạt hơn về thời điểm xác định tỷ lệ đóng góp giữa trợ cấp nhà nước trên học phí giúp “sàng lọc” tốt hơn và công bằng hơn trong cơ hội tiếp cận với trợ cấp của nhà nước là vấn đề các nhà làm chính sách cần xem xét trong thời gian tới.       1.4. Thời điểm đóng học phí      Như khuyến nghị đã đưa ra ở mục 1.1, để có thể cạnh tranh với quốc tế về mặt chất lượng, chúng ta cần phải nâng chi phí đơn vị lên cao hơn nhiều so với mức chi phí đơn vị tối thiểu hiện nay (500-600 USD). Câu hỏi đặt ra, ai/bên liên quan nào sẽ phải trả mức chênh lệch giữa hai mức chi phí đơn vị mới và cũ? Như đã phân tích ở trên, về ngắn hạn và trung hạn, chúng ta khó có thể trông chờ sự đóng góp nhiều hơn từ các nguồn thu khác, xét trên điều kiện về cơ chế chính sách cũng như năng lực của các trường đại học Việt Nam hiện nay. Trừ đối với một số ngành đặc thù hoặc một số đối tượng thuộc chế độ chính sách hoặc được cấp học bổng, theo chúng tôi, nhà nước cũng khó nâng mức hỗ trợ (khoảng 300 USD như hiện nay) để bù vào phần chênh lệch này trên diện đại trà vì hai lý do:     Thứ nhất, ngân sách nhà nước hạn hẹp không còn đủ sức tiếp tục chi thêm cho GDĐH (bản thân việc duy trì mức hỗ trợ như hiện nay đã là một gánh nặng quá lớn đối với nhà nước)3.      Thứ hai, trong bối cảnh GDĐH chưa mở rộng đến mức phổ cập – cho tất cả mọi người (trên 90% số người ở độ tuổi đi học đại học là sinh viên). Cơ chế nhà nước bao cấp vô hình trung lại tạo ra sự “bất bình đẳng ngược”. Thực vậy, nhiều nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm trở lại đây (Johnstone, 2004; Mark Gradstein, 2004; World Bank, 2003) đã chỉ ra rằng, bất bình đẳng trong giáo dục chủ yếu được thể hiện ở các bậc học phổ thông – nơi mà, con em tại các khu vực thành thị hoặc từ các gia đình có điều kiện được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục tốt hơn (bao gồm cả giáo dục phi chính thức hay học thêm), lại có nhiều cơ hội đỗ vào học tại các chương trình học được sự bao cấp của nhà nước. Vô hình trung, cơ chế này lại tạo ra một nghịch lý ngân sách nhà nước (tiền thuế của toàn dân) lại chỉ dùng để bao cấp cho một nhóm người xuất thân từ khu vực hoặc có điều kiện tốt hơn.      Như vậy, phần chi phí chênh lệch này chỉ có thể do sinh viên – phụ huynh chi trả. Điều đó có nghĩa là mức học phí trần hiện nay (năm học 2013-2014) từ 4,85 triệu đồng/năm – 6,85 triệu đồng/năm theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP (Chính phủ, 2010) cần phải được gỡ bỏ hoặc nới lỏng. Nhưng làm thế nào để cho tất cả sinh viên, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn hơn về kinh tế (nhưng chưa đủ điều kiện để nhận học bổng miễn học phí và các học bổng khác) có khả năng chi trả mức học phí cao đến hàng chục triệu/năm? Một cơ chế tín dụng phù hợp giúp sinh viên chỉ phải trả học phí sau khi đã tốt nghiệp (khi đã đi làm) có thể giúp giải quyết vấn đề này.      Trong thực tế, tại Việt Nam cũng đang có một chương trình tín dụng sinh viên được áp dụng trên cả nước từ năm 2007 (Thủ tướng Chính phủ, 2007) (Chương trình 157). Tuy vậy, Chương trình 157 chưa đạt được nhiều hiệu quả rõ rệt trong việc nâng hướng tới hai mục tiêu nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho người nghèo cho sinh viên nghèo. Hình 1 minh họa rõ cụ thể hơn vấn đề này. Đường thẳng nét đứt là đường “bình đẳng” (hay đường 45 độ) khi tỷ lệ những người đi học đại học giữa năm nhóm từ nghèo nhất đến giàu nhất là bằng nhau. Đường cong nét liền (đường cong Lorentz) thể hiện thực trạng bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục đại học ở Việt Nam bắt nguồn từ lý do khác biệt thu nhập trong hai năm 2004 và 2011. Điều này chứng tỏ các chính sách về chia sẻ chi phí ở Việt Nam hiện nay chưa đủ mạnh “hỗ trợ” người nghèo trong việc tiếp cận giáo dục đại học và thực trạng bất bình đẳng đang diễn ra theo hướng ngày “xấu đi” kể từ năm 2004 cho đến năm 2011 (đường cong Lorentz năm 2011 nằm dưới đường cong Lorentz năm 2004).                 Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ World Bank (2008) và UNESCO (2014)              Ghi chú: Q1-Q5 tương ứng với 20% nhóm gia đình nghèo nhất đến giàu nhất           Như vậy, để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, Việt Nam cần một vài cơ chế tài chính hiệu quả hơn chương trình 157 và các cơ chế tài chính khác đang được áp dụng, nhất là trong trường hợp học phí và chi phí đơn vị được nâng lên như đã phân tích ở trên. Phần 2 của bài viết này giới thiệu một vài cơ chế hiệu quả hơn đồng thời lưu ý các điều kiện để có thể áp dụng chúng thành công.      2. Một vài cơ chế tài chính hiệu quả hỗ trợ chính sách chia sẻ chi phí       2.1. Tín dụng tùy theo thu nhập (Income contingent loan)      Tín dụng tùy theo thu nhập lần đầu tiên được áp dụng tại ĐH Illinois trong những năm 1970; nhưng phải đến năm 1989 mới được áp dụng đại trà trên phạm vi quốc gia lần đầu tiên tại Australia. Cho đến nay, có khoảng 25 nước trên thế giới, trong đó có cả các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương áp dụng cơ chế là cơ chế tài chính “sáng tạo” này như Indonesia, Papua New Guinea, và Philippines (Chapman, 2005). Theo Chapman & Hunter (2009), “tín dụng tùy theo thu nhập là hình thức cho vay vốn để sinh viên trang trải chi phí học sau trung học mà sau đó, người đi vay (là sinh viên sau khi tốt nghiệp) chỉ phải bắt đầu trả nợ khi mức thu nhập hằng tháng vượt quá một mức nhất định. Đồng thời, số lượng tiền phải trả nợ hằng tháng sau đó cũng tỷ lệ thuận với mức thu nhập của người đi vay theo một mức nhất định, nhằm đảm bảo số tiền trả nợ không phải là một gánh nặng quá lớn đối với người trả nợ”.      Tín dụng tùy theo thu nhập ưu việt hơn tín dụng thế chấp ở điểm một mặt, nó giúp sinh viên nghèo có đủ tài chính để chi trả chi phí cho việc học đại học nhưng mặt khác, lại không tạo gánh nặng phải trả nợ trong trường hợp sinh viên đó chưa kiếm được việc làm hoặc kiếm được việc nhưng lương chưa đủ cao sau khi tốt nghiệp. Tại phần lớn các nước, tín dụng tùy theo thu nhập được thiết kế nhằm hướng đến mục tiêu cơ hội tiếp cận. Tuy vậy, trong bối cảnh Việt Nam, theo Hayden et al. (2012) cơ chế tài chính này còn có thể được dùng làm cơ sở để nâng học phí để chi phí đơn vị đạt mức có thể cạnh tranh với thế giới (120% GDP đầu người) như đã phân tích ở mục 1.1.       2.2. Thuế tốt nghiệp (graduate tax)     Thuế tốt nghiệp là hình thức tương tự như tín dụng tùy theo thu nhập. Sinh viên có thể được cho vay tiền để trang trải học phí và sinh hoạt trong thời gian đi học và việc trả nợ được thực hiện thong qua việc đóng thêm thuế tốt nghiệp của sinh viên này sau khi tốt nghiệp và đi làm (ADB, 2009)      2.3. Hợp đồng vốn nhân lực (human capital contract)      Với cơ chế tài chính này, khu vực tư nhân (là một hoặc một nhóm các doanh nghiệp hoặc một quỹ tư nhân) có thể hỗ trợ kinh phí cho sinh viên trong thời gian đi học; việc trả nợ có thể thực hiện bằng cách trừ thẳng vào lương của người vay trong trường hợp sau khi tốt nghiệp sinh viên đi làm cho chính doanh nghiệp cho vay (theo như cam kết trong hợp đồng cho vay ban đầu) hoặc trả nợ giống như hình thức vay vốn thông thường (ADB, 2009)      2.4. Một vài lưu ý      Điều kiện tiên quyết để áp dụng hiệu quả các chương trình tín dụng sinh viên nói trên là việc khả năng thu hồi vốn. Đối với các cơ chế tài chính giới thiệu ở trên, khả năng này lại phụ thuộc vào việc bên cho vay có kiểm soát được thu nhập thực tế của người vay sau khi tốt nghiệp và đi làm hay không. Đối với trường hợp hợp đồng vốn nhân lực mà tại đó, sinh viên làm việc cho chính bên cho vay (doanh nghiệp) sau khi tốt nghiệp thì việc kiểm soát thu nhập tương đối dễ dàng; trong các trường hợp vay vốn sinh viên như tín dụng tùy theo thu nhập, theo Chapman & Hunter (2009) giải pháp cho việc kiểm soát thu nhập này là việc xây dựng một hệ thống thuế thu nhập cá nhân đủ mạnh để kiểm soát toàn bộ thu nhập của người vay (sinh viên) khi đi làm.      Bên cạnh đó, Chapman & Hunter (2009) lưu ý khi thiết kế các chương trình tín dụng kể trên, các nhà làm chính sách cần tính cả đến điều khoản cam kết/ràng buộc với người vay (sinh viên) trong trường hợp người vay (sinh viên) chuyển sang nước ngoài sinh sống trong khi chưa hoặc đang trong thời gian trả nợ.      Hơn thế nữa, kinh nghiệm thế giới cho thấy, một trong những sai lầm thường gặp khi thiết kế chương trình tín dụng sinh viên trên thế giới là việc không áp dụng hình thức đánh giá năng lực tài chính của sinh viên làm cơ sở cho việc cho vay như đang áp dụng với Chương trình 157 hiện nay. Điều này dẫn đến hệ quả là người cần vay thì chỉ được vay ít còn người không cần vay cũng được vay và lại dung khoản tiền vay đó vào mục đích khác như đã diễn ra ở Malaysia (ADB, 2009).      Riêng đối với trường hợp Hợp đồng vốn nhân lực (bên cho vay là khu vực tư nhân) do khu vực tư nhân thực hiện nhưng cũng cần sự “can thiệp” chính sách của nhà nước như: ưu đãi thuế cho bên cho vay; hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi bên cho vay trong trường hợp bên vay cố tình hoặc không có khả năng chi trả nợ. Ngoài ra, bên cho vay có thể tham khảo mô hình tín dụng nhỏ đã được áp dụng rất thành công trong tại Pakistan trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo trong đó hợp đồng vay vốn do bên cho vay ký với nhóm năm người vay cùng lúc . Theo điều khoản ràng buộc của mô hình này, nếu một trong người vay trốn nợ hoặc không có khả năng trả nợ thì bốn người còn lại phải có trách nhiệm trả nợ hộ người đó. Mô hình này giúp giảm thiểu tình trạng trốn nợ, nợ xấu, vốn được xác định là một trong những nguy cơ chính ảnh hưởng đến sự bền vững của tất cả chương trình vay vốn.      3. Một vài gợi ý chính sách      Trong bối cảnh đại chúng hoá GDĐH, chia sẻ chi phí là giải pháp bắt buộc bởi không một nhà nước nào có đủ năng lực để trợ cấp toàn bộ cho số lượng lớn sinh viên đại học. Tuy vậy, chia sẻ chi phí như thế nào lại là một bài toán phức tạp. Chia sẻ chi phí có thể là động lực nhưng cũng có thể lại là rào cản tác động đến chất lượng, cơ hội tiếp cận (bao gồm yếu tố số lượng và bình đẳng) trong GDĐH. Như đã phân tích ở trên, để phát huy hết những mặt tích cực của chia sẻ chi phí, các nhà làm chính sách cần quan tâm đến bốn việc sau đây:     Thứ nhất, tính toán lại chi phí đơn vị tối thiểu cho từng loại trường, nhóm ngành nhằm đảm bảo chất lượng cạnh tranh với thế giới.      Thứ hai, một mặt, ban hành chính sách nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc nâng cao nguồn thu cho trường đại học từ hoạt động khoa học, công nghệ, dịch vụ và hiến tặng; mặt khác tính toán tỷ lệ hợp lý giữa phần đóng góp của nhà nước (người đóng thuế) và sinh viên – phụ huynh nhằm đảm bảo tính công bằng trong cơ hội tiếp cận giữa các nhóm đối tượng khác nhau.     Thứ ba, sau khi đã xây dựng được chính sách ưu tiên đầu tư trên cơ sở tính toán được tỷ lệ hợp lý giữa phần đóng góp giữa trợ cấp nhà nước và học phí cho từng đối tượng, xác định thời điểm thích hợp (trước, trong và sau quá trình học) để quyết định việc áp dụng chính sách đó cho đối tượng thụ hưởng nhằm đảm bảo đầu tư của nhà nước đi tới được đúng đối tượng, đồng thời tạo động lực học tập tích cực cho sinh viên.      Thứ tư, xây dựng các cơ chế tín dụng mới (như tín dụng tùy theo thu nhập, thuế tốt nghiệp hay hợp đồng vốn nhân lực) thay thế chương trình 157 đang được áp dụng hiện nay nhằm giúp quá trình chuyển dịch thời điểm đóng học phí trong thời gian học đại học sang thời điểm sau khi tốt nghiệp đi làm hiệu quả, linh hoạt và bền vững hơn.      Bên cạnh đó, chúng tôi nhấn mạnh lại những tính toán trên cần phải được xem xét trên cơ sở số liệu tổng hợp, tin cậy và cập nhật trong nhiều năm, bao gồm cả những số liệu về sự phù hợp về chất lượng, số lượng và cơ cấu đầu ra của sinh viên tốt nghiệp đối với yêu cầu của thị trường lao động – một vấn đề chưa được nhắc đến cụ thể trong bài viết này.    * Bài viết là bản rút gọn bài trình bày tại diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.    Đọc thêm:   Tự chủ đại học – thực trạng và giải pháp  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7739  —  Tài liệu tham khảo   ADB. (2008). Education and Skills: Strategies for Accelerated Development in Asia and the Pacific. Retrieved from http://www.adb.org/documents/education-and-skills-strategies-accelerated-development-asia-and-pacific  ADB. (2009). Good practice in cost sharing and financing in higher education. Manila, Philippines: ADB.  Bộ GD&ĐT. (2013). Thống kê giáo dục đào tạo năm 2013. Hà Nội. Retrieved from www.moet.gov.vn  Chapman, B. (2005). Income Contingent Loans for Higher Education: International Reform (CEPR Discussion Paper No. 491). Centre for Economic Policy Research, Research School of Economics, Australian National University. Retrieved from http://ideas.repec.org/p/auu/dpaper/491.html  Chapman, B., & Hunter, B. H. (2009). Exploring Creative Applications of Income Contingent Loans. Australian Journal of Labour Economics, 12(2), 133.  Chính phủ. (2005). Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Retrieved from http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet-14-2005-NQ-CP-doi-moi-co-ban-va-toan-dien-giao-duc-dai-hoc-Viet-Nam-giai-doan-2006-2020-vb5013.aspx  Chính phủ. (2010). Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015. Retrieved from http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?mode=detail&document_id=94653  ĐH Quốc gia Hà Nội. (2013). Báo cáo ba công khai năm học 2013-2014. Hà Nội. Retrieved from http://vnu.edu.vn/home/?C2192  ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh. (2013). Báo cáo thường niên ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh. Retrieved from http://www.vnuhcm.edu.vn/Default.aspx?DocumentId=f1ca5019-d325-41e2-8f5d-cb59e0539caa  Hayden, M., Pham, P., Lam, Q. T., Pettigrew, A., Meek, L., Ryan, N., … Nguyen, D. C. (2012). Master plan for Vietnam’s higher education system. Hanoi: Southern Cross University.  Johnstone, D. B. (2004). The economics and politics of cost sharing in higher education: comparative perspectives. Economics of Education Review, 23(4), 403–410.  Nguyễn, M. H., & Phạm, H. H. (2014). Tín dụng sinh viên – kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán, (02 (127)).  Pham, H. (2011, July 24). VIETNAM: Young academic talent not keen to return. Retrieved from http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20110722201850123  QS University Rankings. (2013). QS University Rankings: Asia 2013. Retrieved June 26, 2014, from http://www.topuniversities.com/university-rankings/asian-university-rankings/2013  Thủ tướng Chính phủ. (2007a). Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020. Retrieved from http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30340&cn_id=67242  Thủ tướng Chính phủ. (2007b). Quyết định số 157/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Retrieved from http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=279&mode=detail&document_id=41275  Thủ tướng Chính phủ. (2011a). Quyết định 579/QĐ-TTg năm 2011 về phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020. Retrieved from http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-579-QD-TTg-phe-duyet-Chien-luoc-phat-trien-nhan-luc-Viet-Nam-vb122715t17.aspx  Thủ tướng Chính phủ. (2011b). Quyết định số 2474/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Retrieved from http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&mode=detail&document_id=153381  Thủ tướng Chính phủ. (2013). Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Về việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020. Retrieved from http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=168322  UNESCO. (2014). Higher Education in Asia: Expanding Out, Expanding Up. Scribd. Retrieved June 26, 2014, from http://www.scribd.com/doc/226664049/Higher-Education-in-Asia-Expanding-Out-Expanding-Up  Welch, A. R., Banta, S., & ADB. (2012). Counting the cost: financing Asian higher education for inclusive growth. Mandaluyong City, Philippines: ADB.  World Bank. (2008). Vietnam : Higher Education and Skills for Growth (World Bank Other Operational Studies No. 7814). The World Bank. Retrieved from http://ideas.repec.org/p/wbk/wboper/7814.html  —    *  Nghiên cứu sinh, Khoa quản trị Kinh doanh, ĐH Văn hoá Trung Hoa, Đài Loan  ** Phó Giáo sư, Khoa Chính sách và Các vấn đề Môi trường, ĐH Indiana Bloomington, Hoa Kỳ       1 Năm 2013, Bộ GD&ĐT đã đưa kiến nghị chi phí đơn vị tổi thiểu bằng 120% GDP vào Đề án Đổi mới giáo dục – đào tạo năm 2013 nhưng sau đó vấn đề này đã không được Trung Ương thông qua trong Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo.    2Điều kiện đủ là các yếu tố liên quan đến lĩnh vực quản trị đại học như: chất lượng nhân lực nghiên cứu và giảng dạy; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; năng lực quốc tế hoá…   3Theo (Welch, Banta, & Asian Development Bank, 2012), Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực tăng mức độ đầu tư của Nhà nước trên đầu sinh viên trong những năm qua (trong giai đoạn 2001-2008, tổng số sinh viên ở Việt Nam tăng 172% từ 974,100 lên 1,675,700 trong khi mức đầu tư của Nhà nước trên đầu sinh viên một năm tăng 283%, từ 1,845,806 VNĐ lên 5,222,892 VNĐ).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiếc búa lớn hơn      Ở Việt Nam, tôi được biết về các loại gỗ mới, cứng như thép. Để đóng một cái đinh lên chúng, bạn cần phải đập hết lần này đến lần khác mà vẫn khó nhận thấy sự dịch chuyển. Mỗi nhát búa chỉ làm nó nhích vào thớ gỗ ít hơn một milimet, và mỗi lần đập lại là một lần chiếc đinh có nguy cơ bị quằn đi. Ở Việt Nam, tôi đã học được ý nghĩa của cụm từ “dần dần từng bước một”.    Cách đây mười một năm, trước khi đến Việt Nam, tôi không biết về gỗ lim. Tôi chỉ biết về bạch dương và vân sam. Để đóng một cái đinh vào thân gỗ chắc như hai loại gỗ này, bạn chỉ cần đặt đinh đúng vị trí, với một góc thích hợp, giữ chặt nó giữa ngón cái và ngón trỏ và đóng bằng một nhát búa duy nhất. Thật thú vị khi cảm nhận chiếc đinh đâm thẳng vào thớ gỗ. Vô tình thay, nhát búa thứ hai sẽ gắn chiếc đinh vào thớ gỗ mãi mãi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tôi lại được biết về các loại gỗ mới, cứng như thép. Để đóng một cái đinh lên chúng, bạn cần phải đập hết lần này đến lần khác mà vẫn khó nhận thấy sự dịch chuyển. Mỗi nhát búa chỉ làm nó nhích vào thớ gỗ ít hơn một milimet, và mỗi lần đập lại là một lần chiếc đinh có nguy cơ bị quằn đi. Ở Việt Nam, tôi đã học được ý nghĩa của cụm từ “dần dần từng bước một”.  Cách đây vài năm, tôi có vinh dự rất lớn khi được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sở dĩ có cuộc gặp này là do ông đã nghe về những hoạt động của tôi nhằm thúc đẩy sự phát triển giáo dục và đào tạo tại Việt Nam. Đó là một cuộc gặp gỡ hết sức cảm động. Ông đã nắm tay tôi và nói rằng đại học Việt Nam cần một cuộc cách mạng, anh hãy tiếp tục đấu tranh. Tôi không bao giờ quên điều đó*. Đấy là lý do tại sao tôi đồng ý viết thêm vài dòng về đại học và nghiên cứu ở Việt Nam mặc dù tôi tin rằng tất cả những điều cần phải nói đã được nói và chúng đã được lặp đi lặp lại nhiều lần, và những gì chúng ta cần bây giờ không phải là nói nữa mà là hành động. Hy vọng thêm một nhát búa nữa sẽ không hại gì và chiếc đinh sẽ không bị quằn.  …  Mới đây một nữ phóng viên trẻ của báo Tuổi Trẻ đã phỏng vấn tôi. Cô muốn gặp tôi vì nghe nói tôi có một số ý tưởng về cải cách giáo dục ở Việt Nam. Tôi giải thích với cô ấy rằng tôi không phải là người đưa ra ý tưởng ban đầu, đó không phải là ý tưởng của riêng tôi mà bất cứ ai có một chút kinh nghiệm với giáo dục đại học và nghiên cứu cũng sẽ nói những điều tôi đã nói và đó là những điều đã được nói đến nhiều năm nay bởi rất nhiều người Việt có kinh nghiệm, có năng lực và hiểu biết hơn tôi và rằng đã đến lúc phải lắng nghe họ. Không người nào điếc hơn người không muốn nghe, không người nào mù hơn người không muốn nhìn. Chúng ta cần một chiếc búa lớn hơn.  Thật vậy, không khó để có thể xác định được những cái cần phải thay đổi. Đó không phải là vấn đề về quan điểm mà là vấn đề về lương tri và sự trung thực, vấn đề về tính nghiêm ngặt của tri thức và đạo đức. Hãy cùng xem lại những điểm chính mà Tướng Giáp và Giáo sư Hoàng Tụy đã đề cập và diễn đạt những điểm đó một cách ngắn gọn. Những gì họ nói có thể được tóm lược lại thành bốn câu: chúng ta phải dừng việc nói một đằng, làm một nẻo; chúng ta phải khôi phục lại phẩm giá cho giới trí thức và học giả; chúng ta phải có kế hoạch rõ ràng cho nghiên cứu và giáo dục cho tương lai; chúng ta phải chấm dứt nạn chảy máu chất xám.   Nhiều gia đình Việt Nam đã tiêu tốn rất nhiều tiền của để gửi con cái đi du học. Các trường đại học Việt Nam hiện đang trở thành những phòng chờ cho các trường đại học nước ngoài. Những khoản tiền như vậy đã có thể dùng để đầu tư tốt hơn nhiều vào việc cải thiện chất lượng các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trong nước.             Chúng ta phải dừng việc nói một đằng, làm một nẻo; chúng ta phải khôi phục lại phẩm giá cho giới trí thức và học giả; chúng ta phải có kế hoạch rõ ràng cho nghiên cứu và giáo dục cho tương lai; chúng ta phải chấm dứt nạn chảy máu chất xám.         Chúng ta chưa nỗ lực trong việc khuyến khích các sinh viên Việt Nam tài năng học tập ở nước ngoài quay trở về phục vụ đất nước. Không nên chờ đến khi họ nhận được huy chương Fields hay giải Nobel mới nhận ra tài năng của họ. Cần phải nói cho họ biết trước khi đi học nước ngoài rằng đất nước này cần họ và họ chính là tương lai của đất nước. Những sinh viên đó phải được biết trước khi đi du học về những kế hoạch, chính sách của nhà nước được soạn thảo liên quan tới lĩnh vực của họ, để họ biết họ có thể trông đợi được những gì khi quay trở về. Chúng ta nên theo dõi quá trình học tập và công tác của những sinh viên đó trong thời gian ở nước ngoài, để họ không cảm thấy bị đất nước bỏ rơi mà ngược lại đất nước quan tâm đến họ. Khi trở về, họ cần nhận được sự trợ giúp để xây dựng nên một đội ngũ xung quanh mình và sử dụng hiệu quả nhất những kiến thức và kỹ năng mà họ đã tiếp thu được ở nước ngoài.  Chúng ta cần có chính sách rõ ràng về các vấn đề giáo dục đại học và nghiên cứu. Chính sách đó cần phải được phổ biến rộng rãi, tới tất cả mọi người để có thể hành động theo đường lối vạch ra. Ngày nay, hầu hết các sinh viên giỏi đều theo học các ngành kinh tế. Kinh tế là khoa học của việc tạo ra tiền bằng tiền. Chúng ta có chắc rằng Việt Nam cần nhiều nhà kinh tế đến như vậy không? Phải chăng chúng ta không cần tài năng của họ để phát triển các lĩnh vực quan trọng khác hay sao? Điều này gợi cho tôi nhớ lại một câu chuyện đã từng nghe. Chuyện xảy ra ở một vương quốc châu Á nhỏ bé đã biến mất từ lâu. Các tầng lớp quý tộc và triều đình sống trong cảnh giàu sang và cách ứng xử của họ phát triển đến độ tinh tế, trong khi đó những người nông dân sống trong cảnh nghèo khó và thiếu văn hoá. Các quý tộc ăn cơm trên bàn làm bằng gỗ quý, dùng đũa bạc, bát vàng, còn những người nông dân thì ngồi trên mặt đất, đựng thức ăn trên lá chuối và ăn bốc. Sự bất bình đẳng, với những bất công rõ ràng, làm nổ ra một cuộc cách mạng, nhà vua và triều thần bị giết. Khi những người nông dân lên nắm quyền, họ mong muốn con cái của mình có được cuộc sống hạnh phúc mà họ đã bị tước đoạt; họ muốn chúng học cách ứng xử cao sang của giới quý tộc; họ cho con cái mình theo học các trường học mới nơi dạy cách ứng xử như vậy. Họ đã rất thành công, thế hệ con cháu họ nhanh chóng trở nên thông thạo những cách ứng xử tinh tế và phức tạp; chúng biết chính xác phải cầm đũa, đặt trên bàn như thế nào tùy vào tình huống. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, các công dân của nước cộng hoà mới không còn biết thế nào là trồng lúa, không thể nấu cơm và rồi tất cả đều nhanh chóng chết đói trong một nạn đói khủng khiếp.  Người ta nói rằng đến năm 2020 Việt Nam sẽ đào tạo được hai mươi ngàn tiến sĩ mới. Tôi đã mất mười năm để đào tạo ba tiến sĩ. Thử hỏi, chúng ta tìm đâu ra được hơn năm nghìn giáo sư những người có thể dành thời gian hướng dẫn và đào tạo một số lượng lớn nghiên cứu sinh như vậy? Tuyên bố thực hiện mục tiêu đầy thử thách này cần phải giải thích về cách thức để đạt được mục tiêu đó. Tháng mười hai năm ngoái, một sinh viên của tôi đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại một trường đại học uy tín của Pháp. Cô ấy đã xuất sắc, nhận được đánh giá cao từ hội đồng chấm luận văn. Luận án đã được thực hiện theo bản thoả thuận ký kết trước đó giữa Việt Nam và Pháp: bản thoả thuận ghi rõ cách tiến hành thực hiện luận án để công bằng cho cả hai nước, nghiên cứu sinh dành thời gian thực hiện luận án ở cả Việt Nam và Pháp và sẽ nhận bằng tiến sĩ do cả hai nước cấp. Cô đã nhận được bằng của Pháp từ lâu nhưng vẫn chưa nhận được bằng của Việt Nam vì gặp phải khó khăn với những quy định lỗi thời có lẽ đã được soạn thảo cho những năm năm mươi của thế kỷ trước nên hoàn toàn bất hợp lý trong thế giới khoa học hiện nay.   Một cách ngây thơ, tôi đã nghĩ rằng đáng lẽ đại học Việt Nam phải rất vui mừng và tự hào khi có một luận án tiến sĩ thực hiện dưới dạng hợp tác đồng hướng dẫn với một trong các trường đại học uy tín nhất châu Âu. Nhưng không phải như vậy. Ông hiệu trưởng của trường, một người đầy hiểu biết mà tôi rất tôn trọng, đã làm hết sức để giải quyết vấn đề, nhưng ngay cả ông, người đứng đầu hệ thống phân cấp, cũng không thể thay đổi các quy tắc đã trở nên hoàn toàn không phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Quy tắc được tạo ra để được tôn trọng khi chúng có ý nghĩa và cần phải được thay đổi khi trở nên lạc hậu. Nhưng ngay cả hiệu trưởng cũng không có đủ thẩm quyền để thay đổi quy định để làm cho chúng trở nên tốt hơn. Vậy ai là người có khả năng? Làm sao chúng ta có thể hy vọng có một trường đại học Việt Nam lọt vào top 200 trường đại học của thế giới vào năm 2020 như đã tuyên bố trong khi chúng ta thậm chí không thể sửa đổi những thiếu sót hiển nhiên như vậy?  Ngày nay, một sinh viên trẻ mới tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân thường tìm được công việc có lương cao hơn so với một giáo sư đại học. Phải có điều gì đó sai trái trong việc này. Vấn đề không phải là với số tiền sinh viên đó kiếm được, nó hoàn toàn xứng đáng, mà là với tiền lương của giáo sư đại học. Hậu quả của việc đó thật là một thảm hoạ. Trước tiên, với các giáo sư, điều đó giống như một sự xem thường, giống như nói với họ rằng đất nước không cần họ, không quan tâm về những gì họ đang làm. Như thế làm sao chúng ta có thể hy vọng họ sẽ quan tâm đến sinh viên của mình và tương lai của các em trong khi chính họ bị đối xử một cách thiếu tôn trọng? Thứ hai, với mức lương không đủ trang trải cuộc sống gia đình, họ phải làm thêm công việc khác để có thể đủ sống. Làm sao chúng ta có thể trông mong họ là những giáo sư tốt hay có thể làm tốt công việc nghiên cứu khi họ chỉ có thể dành một phần thời gian để thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình? Tất nhiên, chính phủ không có chiếc đũa thần để có thể cho phép tăng lương một cách đột ngột, gấp năm lần hoặc cỡ như thế, cho các cán bộ, viên chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học giáo dục và các công nhân viên chức ở hoàn cảnh tương tự. Chính phủ cần xây dựng chi tiết việc tái cơ cấu nhân lực và kế hoạch nghỉ hưu sớm, dành vị trí cho các postdoc trẻ, tạo ra chứng chỉ mới (ví dụ “habilitation” ở Pháp, là chứng chỉ cho phép hướng dẫn nghiên cứu sinh, muốn xin làm giáo sư thì phải có chứng chỉ này) như ở nhiều nước để xác định tốt hơn những yêu cầu đối với cán bộ làm việc trong lĩnh vực học thuật.  Một điểm nữa là về đạo đức. Bất cứ ai yêu khoa học đều nhạy cảm với vấn đề đạo đức học thuật. Tính chính xác của tri thức luôn gắn liền với sự nghiêm túc về đạo đức. Trong khoa học, gian lận là tự sát. Sớm hay muộn, gian lận sẽ bị phát hiện, hãy nhớ trường hợp của Lyssenko. Gần đây, tại TP HCM, một giáo sư đại học đã bị phát hiện đạo văn: ông đã sao chép công trình của một người khác và gửi cho một tạp chí khoa học danh tiếng và bài báo được đăng. Sự gian lận nhanh chóng bị phát hiện. Như GS Hoàng Tụy nói: “Ở trường, chúng ta dạy con em mình sự thẳng thắn và ngay thẳng; chúng ta, những người lớn, phải là những tấm gương cho chúng.” Có quá nhiều tham nhũng, gian lận, dối trá trong thế giới quanh ta, chúng ta phải đẩy xa chúng ra khỏi các trường đại học. Chúng ta phải bỏ việc cho điểm giữa 9 và 10 cho các học sinh kém, phải ngăn chặn gian lận thi cử, phải khôi phục lại giá trị của các văn bằng. Cho dù chúng ta thích hay không, hiện nay chúng ta đã trở thành các công dân thế giới. Mạng Internet đã xoá bỏ các đường biên giới, các nước không thể che giấu sự thật với dân chúng của mình. Chúng ta nên tránh việc giảng dạy những điều không đúng sự thật cho trẻ em và học sinh sinh viên, họ không dễ gì bị che mắt và hậu quả sẽ làm cho họ không tin chúng ta nữa ngay cả khi chúng ta dạy họ sự thật.  Đã đến lúc dừng lại. Những gì tôi muốn nói, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Hoàng Tụy đã nói hay hơn rất nhiều trong các bài viết của họ. Vậy tại sao tôi cần nhắc lại những điều đó? Chỉ có một điều hơi mang tính cá nhân mà tôi muốn nói thêm. Mười một năm nay, tôi đã sống ở Việt Nam và dành rất nhiều thời gian cho các sinh viên Việt Nam của mình. Những điều tôi nói ra đều xuất phát từ trái tim, vì tôi quan tâm tới họ, vì tôi mong muốn đất nước sẽ đem lại cho họ tương lai mà họ xứng đáng có được. Tôi biết rõ lịch sử gần đây của Việt Nam và nỗi đau mà đất nước đã phải hứng chịu một cách phi lý trong rất nhiều năm. Bất cứ ai biết điều đó đều không thể không yêu đất nước này và mong muốn đất nước có được tương lai tươi sáng hơn. Tôi biết sáu mươi năm qua đã có ảnh hưởng lớn như thế nào đến ba thế hệ người Việt Nam, những vết thương chiến tranh hằn sâu đến mức nào và khoảng cách giữa các thế hệ rộng chừng nào. Những hiểu biết đó chỉ có thể đem đến cho tôi cảm giác khiêm nhường và tôn trọng, và nó đã ngăn tôi đưa ra những phán xét và chỉ trích. Nhưng tôi tin chắc rằng đã đến lúc chúng ta phải hành động, phải tạo cơ hội cho thế hệ trẻ tham gia nhiệt tình vào thời kỳ phục hưng trí tuệ của đất nước bằng cách thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục đại học và nghiên cứu. Thế hệ trẻ không trải qua sự áp bức thuộc địa, họ không trải qua các cuộc chiến tranh, họ không biết đến những năm tháng khó khăn sau chiến tranh, họ là những người con của Đổi Mới. Chiếc búa lớn hơn mà Việt Nam cần đang ở trong tay họ. Chúng ta đừng bỏ lỡ cơ hội này và chúng ta hãy làm hết khả năng để động viên, giúp đỡ và hỗ trợ thế hệ trẻ.   (*) Những chỗ in đậm là do Tia Sáng nhấn mạnh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách giáo dục ở Pháp và tại Nam Kỳ trước năm 1906: Những điểm đứt gãy      Tưởng chừng là giải pháp sáng suốt nhưng việc áp dụng một cách máy móc và cứng nhắc chính sách giáo dục ở chính quốc vào Việt Nam đã dẫn đến thất bại: không thể khai tử nền giáo dục Nho học truyền thống, lại càng không thể ép Việt Nam là một bản sao của chính quốc.      Những cải cách giáo dục của người Pháp ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ đã đặt nền tảng cho sự ra đời của Viện Đại học Đông Dương (Université Indochinoise). Nguồn: flickr.  Cùng lúc với những cải cách giáo dục ở chính quốc, các nhà thực dân và các chuyên gia giáo dục thực dân của Pháp cũng bắt đầu thực thi chính sách giáo dục tại Việt Nam. Trong đó, thuộc địa Nam Kỳ sẽ ở trên tuyến đầu của quá trình xây dựng một nền học chính tại Đông Dương, còn quá trình chuyển đổi giáo dục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ lại diễn ra chậm hơn một mặt do Pháp bình định hai xứ này muộn hơn, mặt khác là hai xứ bảo hộ.     “Pháp hóa trường học” thất bại     Ngay trong buổi đầu bình định Nam Kỳ, người Pháp nhận ra rằng mình phải đối diện với một nền giáo dục Nho học bắt rễ từ hàng ngàn năm trong lịch sử của người Việt và việc phát triển một chế độ giáo dục hoàn toàn mới cho người bản xứ cần phải được tiến hành ngay. Trong thời gian đầu, các đô đốc một mặt phải dựa vào lực lượng giáo sĩ và các trường tôn giáo, cung cấp học bổng, hỗ trợ tài chính cho hoạt động của các trường tôn giáo trước đó, mặt khác tiến hành mở các trường đào tạo thông ngôn cho cả người Việt lẫn người Pháp như các trường Trường Collège d’Adran và Trường Thông ngôn (Collège des Interprètes – từng do Trương Vĩnh Ký làm Chánh đốc học, trường đào tạo giáo viên tiểu học người bản địa như Trường Sư phạm Thuộc địa (Ecole Normale coloniale), đồng thời bắt đầu mở các trường tiểu học thế tục từ năm 1864, phần lớn trong số các trường mới thành lập đó đều do các giáo sĩ phụ trách điều hành. Bên cạnh đó, để xóa bỏ giáo dục cũng như văn hóa truyền thống của người Việt, các Đô đốc cho đóng cửa các trường học truyền thống đồng thời chấm dứt chế độ khoa cử truyền thống kể từ sau kỳ thi Nho học ở Nam Kỳ năm 1864.    Sau khi nền Cộng hòa thứ ba được thành lập năm 1870 ở chính quốc Pháp và Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa của Pháp vào năm 1874, các nhà thực dân Pháp đã rất hào hứng trong việc xuất khẩu “trường học khai sáng” của nền cộng hòa sang thuộc địa. Để làm được điều đó ngay tại Nam Kỳ, họ sẽ phải dày công “giải Hán hóa” – chuyển Việt Nam từ vùng thuộc ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa sang quỹ đạo ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.    Để khởi động, chính quyền Pháp ban hành Quy chế Giáo dục ngay trong năm 1874 sau đó thành lập Sở học chính Nam Kỳ năm 1879 nhằm tổ chức lại hệ thống học chính và bước đầu xây dựng hệ thống giáo dục công sau 15 năm chinh phục Nam Kỳ. Tuy vậy, hiệu quả của trường công rất hạn chế khi tỉ lệ người đi học tại đây chưa đến 1% dân số, bất chấp việc Le Myre de Viliers – Thống đốc dân sự đầu tiên, được cho là cực kỳ nhiệt thành với công cuộc khai hóa, Pháp hóa thông qua việc xóa bỏ trường Nho học truyền thống, xóa bỏ chữ Hán làm ngôn ngữ giao tiếp và mở trường Pháp – Việt một cách ồ ạt đồng thời kiên quyết chỉ sử dụng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ làm phương tiện giảng dạy. Vào năm 1886, dù dân số Nam Kỳ lúc đó vào khoảng 2 triệu người nhưng rút cục số trường hàng tổng và hàng xã chỉ là 300 trường; số giáo viên người Việt là 503; số học sinh các cấp 18.231. Số lượng trường công quá ít nên chế độ giáo dục bắt buộc không thể thực hiện được, bằng chứng là tỉ lệ người học chưa tới 1% dân số 2 triệu người ở Nam Kỳ.    Thêm một thất bại nữa của chính sách giáo dục ở Nam Kỳ cho đến cuối thế kỷ XIX là không những không thực hiện được mục tiêu thế tục hóa giáo dục như đã định mà còn phải chứng kiến số lượng trường tôn giáo tiếp tục tăng: nếu năm 1886 chỉ có 68 trường với 3.567 học sinh thì năm 1892 đã tăng lên 149 trường với 7.490 học sinh (chiếm khoảng 1/2 số học sinh của cả Nam Kỳ). Thậm chí đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, chính quyền thuộc địa phương buộc phải dùng “thủ thuật” bằng cách “gạt” các trường tôn giáo (cùng các trường dạy chữ Nho truyền thống) sang hệ thống trường tư thì mới tuyên bố được rằng, nền học chính của xứ này đã hoàn toàn mang tính thế tục vào năm 1904.      Trương Vĩnh Ký đang giảng bài ở Trường thông ngôn. Ông là người thành lập tờ báo tiếng Việt đầu tiên, “Gia Định báo”. Ảnh: Báo GD&TĐ.    Mặt khác, chế độ giáo dục miễn phí cũng chỉ được thực hiện trong thời gian đầu cho các trường thông ngôn và trường sư phạm nhằm thu hút người học. Sau đó vì gánh nặng tài chính nên các trường buộc phải thu học phí, thậm chí còn thu ở mức rất cao.     Dù đã viện dẫn nhiều lý do lý giải cho thất bại như thiếu nguồn lực kinh tế, điều kiện ngân sách hạn hẹp, thiếu giáo viên được đào tạo hoặc chất lượng giáo viên rất thấp, v.v.. giới thực dân ở thuộc địa không thể phủ nhận nguyên nhân cơ bản nhất cho thất bại của chính sách “Pháp hóa học đường” tại Nam Kỳ, (sau này là cả ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ cuối thập niên 1880-1890 trở đi), nằm phía người dân bản địa.    Trong khi đó, đối lập với “sự tầm thường” của hệ thống giáo dục thực dân, giáo dục truyền thống “giống như một con phượng hoàng phục sinh từ đám tro tàn” trong khung cảnh chung của hệ thống giáo dục thuộc địa, mặc cho cảnh “bị công kích mạnh mẽ ở miền Nam, bị kiềm chế và chèn ép ở miền Bắc và miền Trung” như nhận xét của Trịnh Văn Thảo. Số liệu được ghi lại trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ là minh chứng đầy thuyết phục cho sức sống của giáo dục truyền thống: “Mặc dù bị thu nhỏ tới mức tối thiểu ở Nam Kỳ, nơi chỉ còn 487 trường học chữ Nho, nhà trường Khổng giáo tiếp tục hoạt động mạnh không ngờ ở miền Bắc và miền Trung với 15.000 trường hàng xã, thu nhận 200.000 học sinh, chuẩn bị cho 10.000 thí sinh dự các kỳ thi Nho học. Mặt khác, nhìn vào tỉ lệ trẻ em (so với tổng dân số) được đi học tại các trường thuộc địa ở Việt Nam lúc bây giờ càng có thêm căn cứ để đánh giá “sự tầm thường” của hệ thống giáo dục thực dân: Nam Kỳ: 6/10.000, Bắc Kỳ: 9/10.000 và Trung Kỳ: 5/10.000”.    Thất bại “Pháp hóa trường học” của các Thống đốc Nam Kỳ khiến người Pháp bớt đi một chút tự tin, rút kinh nghiệm và điều chỉnh một cách khôn ngoan hơn thông qua hệ thống trường Pháp cho người bản xứ, thường được gọi là trường Pháp – Việt. Đầu thế kỉ XX, Toàn quyền Paul Beau đi đến quyết định: Cải cách giáo dục vào năm 1906. Có thể nói đây là lần đầu tiên và cũng là trường hợp duy nhất trong toàn xứ Đông Dương, Việt Nam có một hệ thống giáo dục hoàn thiện ba cấp dành riêng cho người bản xứ, bên cạnh hệ thống trường Việt truyền thống và hệ thống trường Pháp.     Đồng hóa ngôn ngữ bất thành     Cũng giống như ở chính quốc, quyết tâm chính trị thứ hai của người Pháp ở thuộc địa là “đồng hóa ngôn ngữ bằng tiếng Pháp”. Họ kỳ vọng sẽ đưa tiếng mẹ đẻ thành phương cách hiệu quả nhất để thay đổi tâm lý của một xã hội thuộc địa, qua đó mang lại “sự tiến hóa” cho người dân thuộc địa của Pháp. Muốn truyền bá tiếng Pháp vào Việt Nam, thực dân Pháp phải vượt qua những lực cản khó nhằn: thứ nhất là vấn đề “giải Hán hóa”, cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ đến chữ Hán và văn hóa Hán; thứ hai, nếu theo lý thuyết của “sứ mệnh khai hóa” thì xã hội thuộc địa bị coi là thấp kém, hạ đẳng, tuy nhiên thực tế hoàn toàn trái ngược, như chính Toàn quyền Đông Dương J. Marie de Lanessan thừa nhận: “Có rất ít nước, kể cả những nước văn minh mà việc học được coi trọng cho bằng ở An Nam… không một làng An Nam nào là không có trường học của nó…”. Hay như TS Nguyễn Xuân Thọ đã viết: “Rất lâu trước khi người Pháp đến, người Việt Nam đã có một nền học riêng và trường đại học riêng của mình. Thật vậy, … năm 1070, thành Thăng Long (tức Hà Nội ngày nay) đã chứng kiến hoạt động của trường đại học đầu tiên của nó, 30 năm – trước trường Đại học Bologne (Ý) và 80 năm – trước trường Đại học Sorbonne (Pháp)”.      Khoa thi cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn vào năm 1919. Nguồn: belleindochine.free.fr  Sau gần nửa thế kỷ cai trị, người Pháp vẫn lúng túng, thậm chí bế tắc trong truyền bá tiếng Pháp vào Việt Nam. Có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc tranh luận gay gắt ở cả chính quốc lẫn thuộc địa, nhất là những tranh luận tại các Hội nghị về thuộc địa trong các năm 1889-1890 và trong thập niên 1900.    Trong khi chưa thể phổ biến rộng rãi ngay tiếng Pháp, một số nhà giáo dục tiêu biểu như Emile Roucoules, nguyên Hiệu trưởng trường Trung học Chaseloup Laubat ở Sài Gòn và là Phó Chủ tịch Hội nghiên cứu Đông Dương, đề nghị dạy chữ Quốc ngữ với kí tự Latinh sẽ là cầu nối giúp người dân bản xứ tiếp nhận tiếng Pháp nhanh chóng hơn. Emile Roucoules cho rằng “Bất kỳ một biện pháp nào, khi đưa ra thi hành cũng cần một giai đoạn chuyển tiếp”, nhất là đối với việc quảng bá tiếng Pháp một thứ tiếng có hệ chữ viết hoàn toàn khác với hệ chữ viết của thuộc địa lại càng cần phải có giai đoạn chuyển tiếp là chữ Quốc ngữ. Ông chỉ ra ưu điểm lớn nhất của chữ Quốc ngữ so với chữ Nho là dễ học, học nhanh chỉ trong vài tuần, không những thế chữ Quốc ngữ còn giúp hội nhập vào từ ngữ hằng ngày rất nhiều từ tiếng Pháp không có tương đương trong tiếng An Nam. Do vậy, “Dùng chữ Quốc ngữ theo đường hướng chúng tôi đề xướng có lợi điểm tức khắc là không cắt đứt với quá khứ và tạo ra những thói quen tập tục, có thể nói là do áp đặt cũng được, nhưng sẽ được tiếp thu hoàn toàn. Thứ chữ này sẽ là một phương tiện dù chậm nhưng chắc chắn và cần thiết để… từ từ tiêm nhiễm tiếng Pháp không ngừng nghỉ” (Aymonier và cộng sự 2018).    Tuy vậy, nhiều người Pháp khác, với đại diện là Etienne Francois Aymonier,  nguyên là Công sứ tại Nam Kỳ, sau này là Giám đốc Trường Thuộc địa ở Paris, lại phản đối vì lo chữ Quốc ngữ tiềm ẩn nhiều yếu tố chính trị, giúp cho chữ Quốc ngữ phát triển là giúp cho người Việt có được một ngôn ngữ, chữ viết hiện đại một cách độc lập. Ông cực lực phản bác giải pháp Quốc ngữ để “giải Hán hóa” bởi chủ trương của ông ta là chỉ có thể giải Hán hóa bằng chính tiếng Pháp. Do đó, ông kiên quyết dạy tiếng Pháp trực tiếp cho cả trí thức lẫn bình dân vì đó “là phương sách chắc chắn nhất, hữu hiệu nhất để đạt được mục tiêu tối hậu” vừa “giải Hán hóa” vừa “biến người Việt thành người Pháp Á châu”: “Trong chương trình giáo dục chính thức, phải bằng mọi cách thay thế tiếng Hán, vốn đang được truyền dạy đến tận cùng thôn xóm hẻo lánh, bằng tiếng Pháp – ngôn ngữ của những kẻ đi chinh phục với mục tiêu là khiến ngôn ngữ này mỗi ngày một lan tỏa rộng rãi”. Aymonier tin tưởng “nội trong vòng ba thế hệ, nước Pháp mới sẽ phát triển một cách tự nhiên tại Á Đông”, ông tranh biện thêm “Nếu chúng ta không từ từ truyền tiếng nói của chúng ta cho dân bị trị, một cách liên tục và đều đặn, ta sẽ luôn chỉ là người ngoài, là người chủ thô bạo, là người mà trong thâm tâm, họ luôn tìm cách đuổi đi, là những người xâm lăng, những kẻ thù. Đông Dương sẽ chỉ hòn sắt buộc vào chân nước Pháp với một sợi dây xích dài 3.000 dặm… Cái chữ Quốc ngữ kia cầm giữ chúng ta ở vị trí là người ngoài, càng ngày càng tiếp thêm sức nặng cho hòn sắt, theo đà tiến triển của tri thức dân sở tại” (Aymonier và cộng sự 2018).  “Rõ ràng Đông Dương là một trường hợp đặc biệt trong đế quốc Pháp: Là mảnh đất … in dấu ấn những nền văn hóa bác học có lịch sử lâu dài và đồng thời, ở đây có sự hiện diện đầy sức sống của tầng lớp trí thức …Chính vì vậy mà mọi sự xảy ra không như dự kiến: Trong khi ở các thuộc địa khác, trật tự văn hóa tuân theo trật tự chính trị, và cùng với thời gian, công cuộc “khai hóa” trở thành bằng chứng cho tính chính đáng của đế quốc, thì ở Đông Dương, mầm “ghép” văn hóa bắt rễ một cách rất khó khăn, và trường học mới phát triển chậm chạp đến nỗi một số người có trách nhiệm, kể cả ở cấp cao, đã phải công khai đặt câu hỏi về lợi ích của nó”. GS Trịnh Văn Thảo, trong công trình “Nhà trường Pháp ở Đông Dương”.    Có một thực tế trớ trêu là mặc cho các nhà thực dân tranh cãi, nền học chính vẫn do đa số các nhà quản trị người Pháp không nói được ngôn ngữ bản địa điều hành còn người Việt vẫn nói tiếng Việt, thậm chí “chỉ chưa đầy một thế hệ kể từ lúc kết thúc thập niên 1870, sự thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ đã đạt được” (theo Osborne 1969: 102). Do nhận thức được sự tiện dụng và lợi ích to lớn của chữ Quốc ngữ, nhiều người Việt đã thúc đẩy nhau học chữ Quốc ngữ, sử dụng chữ Quốc ngữ để làm phương tiện trao đổi, sáng tác văn chương. Và tất yếu việc sử dụng chữ Quốc ngữ cho mục tiêu chính trị đã bắt đầu nhen nhóm ở nhiều tờ báo bằng chữ Quốc ngữ như Gia Định báo (ấn hành năm 1865), Nam Kỳ (1897), hay Nông Cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh Tân văn (1908), mặc dù tất cả đều bị chính quyền Pháp kiểm duyệt gắt gao. Như vậy khía cạnh đồng hóa về ngôn ngữ thông qua giáo dục có thể xem là thất bại.    Thất bại trong chính sách thuộc địa của Pháp ở Algeria cho đến nửa sau thế kỷ XIX tiếp tục lặp lại ở Việt Nam: Thành công rất hạn chế, vừa tốn kém vừa không thể đồng hóa một cách hoàn toàn (theo nghĩa biến người dân thuộc địa thành người Pháp da màu), cũng như việc được trở thành người Pháp (theo luật quốc tịch của Pháp) cũng chẳng hấp dẫn nhiều người dân thuộc địa như các nhà đồng hóa Pháp mong đợi. Thậm chí nó còn có tác dụng ngược: chính sách đồng hóa bị phản bác gay gắt, các Đại hội thuộc địa đều tập trung thảo luận và phê phán coi “‘đồng hóa’ là một trong những từ ngữ nguy hiểm nhất trong từ vựng về thuộc địa” và bị đề nghị thay thế bằng chính sách hợp tác từ khoảng những năm 1890-1900 trở đi với những khuyến nghị là phải tôn trọng các thiết chế bản xứ, các phong tục tập quán và luật pháp của thuộc địa.    Tuy vậy, phát biểu là một chuyện, thực thi tại thuộc địa lại là chuyện khác. Tại Việt Nam, các nhà thực dân, dù chủ trương hợp tác vẫn tin tưởng tuyệt đối vào việc tiếp tục truyền bá tiếng Pháp như là chìa khóa của sứ mệnh khai hóa. Do đó, liên tục vào các năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt các quyết định được thông qua liên quan đến vấn đề ngôn ngữ như quyết định của Hội đồng Giáo dục Nam Kỳ tại cuộc họp ngày 20/9/1897 về việc phổ biến tiếng Pháp đại trà sao cho đến năm 1908 tất cả các văn bản phải viết bằng tiếng Pháp, hay các Nghị định ngày 8/3 và ngày 6/5/1906 liên quan đến việc xóa bỏ chữ Hán. Cuối cùng, đến 1919, triều đình Huế buộc phải tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học, chuyển sang Tây học. □  —-  * TS Lý Tường Vân, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.  Tài liệu tham khảo  1 Số liệu thống kê của cuộc khảo sát do Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp tiến hành năm 1863 (Theo Eugen Weber. 1976. Peasants into Frenchmen: The Modernization of Rural France, 1870-1914. Stanford, CA: Stanford University Press, pp. 67, 71, 73)  2 Thống kê của Paullus và Boinais trong La France en Indochine, Tư liệu Viện Sử học, bản dịch của Nguyễn Gia Phu (Dẫn theo Trần Thị Thanh Thanh. 2014. “Nho học và Giáo dục Công lập ở Nam Kỳ thuộc Pháp thời kỳ 1867-1917”. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 60: 19-33, tr. 26).  3 J. Besançon (1886).  Rapport sur l’ enseignement en Indochine. Tư liệu Viện Sử học, bản dịch của Nguyễn Gia Phu (Trần Thị Thanh Thanh 2014: 26).  4 Dẫn theo Trần Thị Phương Hoa. 2020. “Giáo dục Nam Kỳ từ 1861 đến 1904: Phổ biến chữ quốc ngữ và thế tục hóa trường học” (http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/giao-duc-nam-ky-tu-1861-den-1904-pho-bien-chu-quoc-ngu-va-the-tuc-hoa-truong-hoc). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2020.  5 Có 2 loại trường ở Nam Kỳ: trường bản xứ (3 cấp I, II và III tương đương với trường hàng tổng, hàng quận và hàng tỉnh) và trường Pháp (sử dụng chương trình hoàn toàn của Pháp chính quốc); Ngoài ra còn có một số trường kỹ thuật, dạy nghề.  6 Trịnh Văn Thảo. 2009. Nhà trường Pháp ở Đông Dương. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới, tr. 55.  7 Nguyễn Xuân Thọ. 2018. Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897). Hà Nội: Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 541.  8 Aymonier, Etienne Francois và Emile Roucoules. 2018. Chính sách giáo dục của Pháp tại Nam Kỳ cuối thế kỉ XIX. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới. Bài viết của Roucoules, tr. 123-148.  9 Osborne, Milton E. 1969. The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905). Ithaca and London: Cornell University Press, tr.102.    Author                Lý Tường Vân        
__label__tiasang Chính sách nào cho đại học tư phi lợi nhuận?      Báo cáo của Hiệp hội các Trường ĐH-CĐ ngoài công lập tại Hội nghị Đánh giá 20 năm Phát triển Mô hình giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam 1993 – 2013, các trường đều tự nhận là trường tư phi lợi nhuận trong khi phần lớn đều hoạt động vì lợi nhuận.Vì sao lại có tình trạng đó?    Tình trạng tự phong “phi lợi nhuận” tại Việt Nam   Sau khi Luật Giáo dục ra đời năm 2005, hệ thống các trường ngoài công lập thu lại chỉ còn hai loại hình là trường tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài. Hình thức trường bán công và dân lập bị xóa bỏ. Từ đó đến nay, khái niệm về trường tư phi lợi nhuận và vì lợi nhuận dường như bị “bỏ ngỏ” và chỉ nóng lên trong thời gian gần đây.   Khái niệm “đại học phi lợi nhuận” đã được nhắc đến nhiều lần trong hơn 20 năm trở lại đây – kể từ khi đại học ngoài công lập đầu tiên ra đời năm 1989. Nhưng phải đến năm 2012 khi Luật Giáo dục đại học (GDĐH) ra đời, khái niệm “phi lợi nhuận” mới được “thiết chế hoá” và định nghĩa cụ thể lần đầu tiên. Mục 7 điều 4 của Luật GDĐH 2012 giải thích rằng: Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học, các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.   Tuy nhiên, cách giải thích này vẫn chưa giải quyết được điểm mấu chốt trong tranh luận liên quan đến quyền sở hữu và việc cho phép kinh doanh tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư trong giáo dục đại học. Cụ thể là:   • Điều 20 luật Giáo dục 2005 và khoản 3 điều 11 của Luật GDĐH 2012 đều cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi. Trong khi đó, Quy chế Đại học tư thục (ĐHTT) cho phép chia cổ tức và tổ chức trường đại học giống như một công ty cổ phần. Hoạt động của trường đều nhằm tìm kiếm lợi nhuận để làm lợi cho các nhà đầu tư.   • Quyết định 61/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ĐHTT quy định “Tài sản là vốn góp được công nhận sở hữu tư nhân. Tài sản tăng thêm thuộc sở hữu chung của trường”. Tài sản tăng thêm thuộc sở hữu chung của nhà trường và do Hội đồng quản trị (HĐQT) quản lý. HĐQT lại bao gồm cả những cá nhân không góp vốn ban đầu. Chính sách này thể hiện hai mâu thuẫn. Một là các nhà đầu tư đầu tư vào các hoạt động gây lời nhưng lại không được hưởng lợi nhuận – mâu thuẫn trực tiếp với động lực đầu tư. Hai là những người không đóng góp gì lại có quyền quản lý điều hành phần tài sản chung của trường.   Những mâu thuẫn trong các quy định này khiến cho tình trạng quản lý khó khăn. Hệ quả là đúng như nhận định tại Báo cáo của Hiệp hội các Trường ĐH-CĐ ngoài công lập tại Hội nghị Đánh giá 20 năm Phát triển Mô hình giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam 1993 – 2013, các trường đều tự nhận là trường tư phi lợi nhuận trong khi phần lớn đều hoạt động vì lợi nhuận.   Vậy làm thế nào để có thể xây dựng một cơ chế chính sách hợp lý, và giải quyết được những mâu thuẫn nêu trên. Phần tiếp theo của bài viết này sẽ điểm qua chính sách đối với các tổ chức phi lợi nhuận, trong đó bao gồm các trường tư phi lợi nhuận của Mỹ – quốc gia được đánh giá là có hệ thống pháp quy hoàn chỉnh nhất trong việc phân biệt giữa các tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận; từ đó, rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam.    Phân định ranh giới phi lợi nhuận và vì lợi nhuận tại Mỹ  Trường đại học tư đầu tiên của Mỹ là trường Harvard, thành lập năm 1636. Cho đến nay, nước Mỹ có 1.600 trường đại học, cao đẳng tư phi lợi nhuận, chiếm 36% tổng số trường đại học và cao đẳng cộng đồng trên cả nước, so với tỉ lệ của trường tư vì lợi nhuận là 27%. Số sinh viên nhập học ở các trường phi lợi nhuận là 3,4 triệu.  Các trường tư phi lợi nhuận được xếp cùng trong hệ thống các tổ chức phi lợi nhuận, thường được gọi là các tổ chức 503 (c) theo điều khoản 503 (c) của Quy định về Mã số thu nhâp (Internal Revenue Code). Đây là điều khoản quan trọng của đạo luật bởi nó quy định những điều mà các trường phi lợi nhuận được phép và không được phép làm.   Điều 503 (c) ra đời bắt nguồn từ Luật Thuế quan (Tariff Act) 1894, quy định việc miễn thuế cho các pháp nhân tổ chức hoạt động hoàn toàn vì mục đích từ thiện, tôn giáo hay giáo dục bởi các lợi ích mà các tổ chức này mang đến cho xã hội. Quốc hội Mỹ sau đó đã tái khẳng định quan điểm này ở Luật về Thu nhập (Revenue Act) năm 1938.      Để được công nhận là một tổ chức phi lợi nhuận, các trường tư phải đạt được các yêu cầu liên quan đến bảy nội dung về tổ chức, vận hành, sử dụng lợi nhuận, vận động hành lang, vận động chính trị, lợi ích công và chính sách công:   Về mặt tổ chức, các tổ chức này phải được thành lập vì một trong số các mục đích sau: làm từ thiện, tôn giáo, giáo dục, khoa học, văn học, hỗ trợ cho an toàn cộng đồng, thúc đẩy tinh thần thể thao cạnh tranh chuyên nghiệp hoặc không chuyên, và việc chống lại hành hung trẻ em và động vật.   Về mặt vận hành, trường tư phi lợi nhuận được phép tiến hành các hoạt động tạo lợi nhuận tuy nhiên những hoạt động này không thể trở thành các hoạt động chính của tổ chức và sẽ phải chịu thuế. Nếu như bị phát hiện các hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận nhiều hơn các hoạt động phi lợi nhuận, tổ chức phi lợi nhuận này có thể bị tước đi sự công nhận là tổ chức phi lợi nhuận. Do đó, để không làm ảnh hưởng đến pháp nhân phi lợi nhuận của tổ chức mẹ, các tổ chức này thường sẽ thành lập những pháp nhân vì lợi nhuận, chịu thuế, và trực thuộc tổ chức mẹ phi lợi nhuận.   Cách sử dụng lợi nhuận được coi là sự phân định cơ bản giữa tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận. Các trường tư phi lợi nhuận là các cơ sở giáo dục hoạt động không vì mục đích làm giàu cho các cá nhân; tài sản của trường phải được dành cho các mục đích từ thiện mãi mãi, và thu nhập ròng không được phép chuyển lại cho chủ sở hữu hay chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức. Các trường tư vì lợi nhuận không có những đặc tính kể trên. Thay vào đó, mục đích cuối cùng của các trường là làm lợi cho các cổ đông hoặc chủ sở hữu của trường.   Hai quy định tiếp theo là các trường tư phi lợi nhuận phải hạn chế các hoạt động vận động hành lang cho nhóm lợi ích (lobbying) và tuyệt đối không tham gia vào các chiến dịch vận động tranh cử cho đảng phải chính trị.   Các tổ chức phi lợi nhuận phải hoạt động vì lợi ích của cộng đồng số đông, không phải vì lợi ích của cá nhân. Những người được hưởng lợi từ các hoạt động của tổ chức phải là số đông.   Cuối cùng, các hoạt động của trường không được vi phạm hay ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của chính sách công liên quan đến quyền lợi của số đông cộng đồng.    Bài học cho Việt Nam   Như vậy, việc vận hành một trường tư phi lợi nhuận của Mỹ không chỉ nằm ở một vài dòng định nghĩa được ghi trên Luật mà có một loạt các tiêu chuẩn liên quan đến tổ chức và hoạt động. Việt Nam tuy đã đưa ra được một định nghĩa về trường tư phi lợi nhuận dựa trên việc sử dụng thu nhập ròng nhưng chưa có các chính sách và quy định đảm bảo việc thực hiện quy định của các trường tự nhận là phi lợi nhuận. Dựa vào kinh nghiệm của hệ thống chính sách Mỹ, tác giả cho rằng Việt Nam có thể đưa ra những khuyến nghị về chính sách để phân biệt đại học vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận cũng như các chính sách khuyến khích, ưu đãi đại học không vì lợi nhuận như sau:   • Công nhận sự tồn tại của các trường tư vì lợi nhuận và các trường tư phi lợi nhuận là một phần tất yếu của quá trình mở rộng đại học ra ngoài khu vực công.  • Ban hành quy định và chuẩn mực để phân biệt hai loại hình trường tư phi lợi nhuận với các trường vì lợi nhuận.   • Các trường tư phi lợi nhuận được Nhà nước công nhận hoặc bị Nhà nước tước đi pháp nhân phi lợi nhuận nếu không duy trì được tính phi lợi nhuận. Để giúp đỡ quá trình giám sát này, Nhà nước cần có quy định yêu cầu minh bạch tài chính và kiểm toán đối với các trường. Yêu cầu kiểm toán sẽ giúp Nhà nước quản lý việc lợi nhuận được sử dụng cho mục đích chung thay vì phân chia lại cho các nhà đầu tư hay chủ sở hữu.   Bên cạnh đó, Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích sự phát triển của các trường tư phi lợi nhuận:  • Miễn thuế thu nhập và thuế đất cho các trường tư phi lợi nhuận.   • Có những hỗ trợ về mặt tài chính hoặc giúp đỡ về nguồn lực cho các trường phi lợi nhuận đang đào tạo các ngành giúp bổ sung nguồn nhân lực cho nền kinh tế.   • Khuyến khích các trường, nếu có ý tưởng và nguồn lực, có thể tham gia thực hiện các hoat động sinh lời theo mô hình pháp nhân mẹ – nhánh con như ví dụ nêu trên.   • Khuyến khích việc hiến tặng của cá nhân cho các trường bằng cách miễn giảm thuế cho phần thu nhập sau khi hiến tặng.    —  * Đại học Victoria, New Zealand         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỗ đứng của triết học trong chương trình giáo dục phổ thông tại Pháp      Sáng thứ tư, ngày 18/06/2015, 684.734 thí sinh lớp 12 trên toàn nước Pháp bước vào ngày thi môn triết, môn thi truyền thống đầu tiên trong kỳ thi tú tài hàng năm và là “môn vua” trong các môn mà học sinh phải thi.     Mấy ngày hôm nay báo đài tại Pháp thường xuyên đề cập về sự kiện quan  trọng này, nhiều tờ báo mở chuyên mục đặc biệt về “tú tài triết” để đưa  tin, bình luận.   Dưới đây là 2  đề trong 3 đề thi của mỗi ban:  Các chủ đề thi  Ban Văn chương (Bac de Littérature)  Đề 1 : Tôn trọng tất cả những bản thể sống là một nghĩa vụ đạo đức ?  Đề 2 : Phải chăng tôi chính là thành phẩm của quá khứ bản thân ?  Liên quan đến đề thi trên, trang Web Pédagogique khuyên các thí sinh chọn đề 1 phải nắm vững các khái niệm như tôn trọng, đạo đức, sống ; ngoài ra thí sinh cũng phải phân biệt giữa đạo đức học và đạo đức. Liên quan đền đề 2, thí sinh được gợi ý là phải suy nghĩ về cái tôi chủ thể, về những gì tôi là, về quá trình hình thành cái tôi, hình thành căn tính bản thân.  Ban Khoa học (Bac Scientifique):  Đề 1 : Phải chăng một tác phẩm nghệ thuật luôn có cùng một ý nghĩa ?  Đề 2 : Phải chăng chính trị có thể thoát ly ra khỏi sự ràng buộc của chân lý ?  Ban Kinh tế và Xã hội (Bac Economique et Social):  Đề 1: Ý thức cá thể phải chăng chỉ là sự phản ánh của xã hội trong đó cá thể sống ?  Đề 2 : Phải chăng người nghệ sĩ đem ra điều gì đó để hiểu ?   Ban Kỹ thuật (Bac Technologique):  Đề 1 : Văn hoá có làm nên con người ?  Đề 2 : Chúng ta có thể hạnh phúc mà không cần tự do không ?  Tất cả các đề thi đều ở dạng mở, muốn làm bài tốt, các thí sinh được khuyên phải có kiến thức rộng về các triết gia và các khái niệm triết học trong các tác phẩm của họ, cũng như khả năng liên hệ giữa các khái niệm với nhau, giữa các khái niệm này và thực tại xã hội.   Tại sao triết học lại chiếm chỗ quan trọng trong nhà trường Pháp ?   Triết học là một trong những môn học khai phóng, có chỗ quan trọng trong chương trình giáo dục, nhất là ở bậc trung học phổ thông tại Pháp : Học sinh lớp 12 – Ban Văn Chương phải học 8 giờ/tuần ; Ban Kinh tế và Xã hội là 4 giờ/tuần ; Ban Khoa học là 3 giờ/tuần và Ban Kỹ thuật là 2 giờ/tuần.   Giảng dạy và thi cử triết học trong nhà trường liên quan đến lý tưởng của nền cộng hòa. Theo nhà báo Annabelle Laurent1 (2010) thì Napoleon đã lập ra môn thi này năm 1808 với mục đích là đào tạo các « công dân khai minh ». Triết học liên quan đến tự do tư tưởng, mà điều này lại được xem như một trong những phẩm chất của người công dân trong nền cộng hòa Pháp.  Trong một thông tư được ban hành ngày 26 tháng 9 năm 1922, môn triết học được định nghĩa như là «học về tự do thông qua thực hành suy tư », theo đó mục tiêu của việc giảng dạy môn này là tập cho học sinh « thể hiện các suy tư và phán đoán ». Thông tư này cũng nói rằng nhiệm vụ của triết học là chuẩn bị nơi các « công dân khai minh » tinh thần trách nhiệm.  Tóm lại, vai trò của việc giảng dạy triết học trong nhà trường là mở mang trí tuệ, rèn luyện kỹ năng lập luận, tranh biện, phương pháp tư duy, truy vấn, cũng như tinh thần trách nhiệm cho học sinh. Nhờ vậy, nước Pháp luôn được đánh giá là đã nuôi dưỡng tốt văn hóa phản biện và giàu có về vốn trí tuệ trong dân chúng.   Những điều trên nằm trong truyền thống tinh thần của Socrates, triết gia đã sống cách chúng ta gần 24 thế kỷ và đã đưa ra một tuyên bố nổi tiếng «Cuộc sống không truy vấn là cuộc sống không xứng đáng với con người », tinh thần này của ông đã trở thành linh hồn của các nền giáo dục không những chỉ ở Pháp mà còn tại nhiều nước Phương Tây cho đến hôm nay (xem Martha C. Nussbaum, 2010 2).  ———————————————————————————————————————-   1 Pourquoi la France philosophe? Theo đường dẫn: http://www.slate.fr/story/23119/pourquoi-la-france-tient-tant-la-philo.   2 Martha C. Nussbaum. (2010).  Vô vị lợi – Vì sao nền dân chủ cần các môn học nhân văn (dịch bởi Bùi Thanh Châu  (2015). Tp. HCM : Nxb. Hồng Đức & Đh Hoa Sen.     * Viện IRED    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chợ phiên hay chợ chiều?      Trong bối cảnh dư luận đang xôn xao về vấn đề chất lượng đào tạo tiến sỹ tại một học viện lớn ở Hà Nội – khiến đơn vị chủ quản phải tổ chức một cuộc họp báo vào sáng ngày 22/4 mới đây – bài viết này đưa ra những trao đổi mang tính xây dựng về một số bất cập của quy định đào tạo tiến sỹ trong lĩnh vực khoa học xã hội ở nước ta.    Người đông lại có kẻ chợ chiều    Theo quy định chung đang được áp dụng, một GS không được cùng lúc hướng dẫn quá năm nghiên cứu sinh (NCS) (đối với PGS hay TSKH con số đó chỉ là ba). Quy định này đảm bảo cho người hướng dẫn có đủ thời gian, trí tuệ, sức lực hỗ trợ cho sinh viên của mình trong suốt quá trình học. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít GS, PGS cùng lúc hướng dẫn cả chục NCS. Những vị này đa phần đồng thời là cán bộ quản lý, những người luôn bộn bề với bao chức phận khác. Điều đó khiến công luận được quyền ưu tư về chất lượng hướng dẫn mà họ có thể đem lại cho học trò của mình.  Người ta cũng phải đặt câu hỏi khi nhiều vị luôn được mời ngồi vào hội đồng chấm luận án dù cho chuyên môn của họ chẳng hề liên quan với đề tài luận án, đến độ ở một số ngành họ được mệnh danh là “tuần chay nào cũng cỗ” (có hay không yếu tố “lợi ích nhóm” nhất là khi càng hướng dẫn nhiều NCS thì người hướng dẫn càng được trả thêm phụ cấp?) Ngược lại, Thông tư 05 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2012 quy định rõ thành viên Hội đồng thẩm định phải am hiểu về đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; có công trình công bố về lĩnh vực của đề tài luận án trong ba năm tính đến ngày thành lập hội đồng. Ấy nhưng, sẽ không khó để tìm thấy nhiều vị trong hội đồng đã nghỉ hưu từ lâu, ngót chục năm không có nổi một công trình khoa học được công bố chứ chưa nói đến công trình có liên quan.   Những điều kể trên khiến người ta được băn khoăn về tính dân chủ, vị khoa học của việc tuyển chọn hội đồng và hoài nghi về chất lượng thẩm định, đau đáu lo âu về sức sống của các luận án.  Hành chính hóa hoạt động khoa học  Theo quy định hiện hành, trước khi bảo vệ, NCS phải trực tiếp gửi tóm tắt luận án đến ít nhất 13 nhà khoa học (có trình độ từ TS trở lên) đến từ hai tổ chức hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến chuyên ngành của NCS để mời các vị này đọc và cho nhận xét. Bản tóm tắt này được quy định có dung lượng trong khoảng 24 trang. Câu hỏi đặt ra là liệu có thực sự phải thêm vào quy định này không bởi để có thể đưa ra những nhận xét thấu đáo, người ta phải đọc kỹ cả luận án chứ không chỉ dựa vào bản tóm tắt. Việc chấm luận án là việc của hội đồng, những người được cơ sở đào tạo chính danh mời và trả công cho việc thẩm định. Hơn nữa, từ trải nghiệm của tác giả bài viết, không ít vị viết nhận xét hết sức qua loa, mang tính hình thức, phần vì cả nể, phần vì không đọc hết cả tóm tắt, phần vì họ cảm thấy ý kiến của mình không quan trọng.   Trong mỗi buổi bảo vệ, phần “lễ” mở đầu bao giờ cũng khiến cho cả “chủ” và “khách” mệt mỏi. Vị thư ký hội đồng buộc phải đọc một bản dài lê thê tiểu sử, quá trình học tập, bảng điểm…của NCS như là minh chứng cho việc họ đã đủ tiêu chuẩn được bảo vệ luận án. Đây là công việc của cơ sở đào tạo và dĩ nhiên nếu không đủ điều kiện, làm sao họ cho phép tổ chức buổi bảo vệ của NCS đó. Khai mạc một buổi trao đổi sinh hoạt khoa học bằng những thủ tục hành chính rối rắm như vậy khiến người tham dự mất đi hứng thú khi cứ phải nghe những thông tin nằm ngoài mối quan tâm cũng như thẩm quyền của họ.   Ở nhiều nơi, luận án nào cũng phải có một chương khuyến nghị về chính sách. Đây là điều hết sức vô lý bởi đó là nhiệm vụ của các đề tài, dự án được đặt hàng với địa chỉ cụ thể. Luận án là công trình khoa học của một cá nhân, được thực hiện nhằm mục đích học thuật nên việc thực hiện yêu cầu phải có một chương khuyến nghị về chính sách là quá tầm, quá sức và không cần thiết. Tôi hoài nghi việc độc giả thích thú khi đọc chương này và tin tưởng đa phần sẽ chán chường với những kiến nghị không địa chỉ và hết sức chung chung theo kiểu: cần phải bảo tồn, phát huy…  Bảo vệ hay trình diễn luận án  Nếu dành thời gian đến dự buổi bảo vệ luận án, đa phần sẽ có cảm giác đang dự những trình diễn đã được xây dựng kịch bản, phân vai, lịch trình vận hành trơn tru. NCS trình bày vắn tắt luận án trong chừng 15-20 phút, từng vị đọc nhận xét và cố gắng đưa ra đôi bình luận, 1-2 câu hỏi. NCS trả lời, được đến đâu hay đến đó, không thì xin phép được tiếp tục nghiên cứu…  Dù cho khẩu hiệu liên ngành luôn được tung hô nhưng hiếm khi người ta thấy một hội đồng chấm luận án bao gồm những nhà khoa học có uy tín, đến từ các ngành kế cận. Đa phần đến từ một ngành, thậm chí một trường phái…              Luận án là công trình khoa học của một cá nhân, được thực hiện nhằm mục đích học thuật nên việc thực hiện yêu cầu phải có một chương khuyến nghị về chính sách là quá tầm, quá sức và không cần thiết.      ———————        Luận án nào cũng được đánh giá cao bởi tính mới, lần đầu  tiên, hệ thống, chiều sâu, có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn, thiếu sót  nếu có chỉ là lỗi kỹ thuật, khách quan…            Hiếm khi người ta được nghe những tranh luận đa chiều, trao đi đổi lại giữa NCS và các thành viên hội đồng hay giữa người tham dự với NCS. Một buổi sinh hoạt khoa học ở cấp độ cao lại nhạt nhòa đến độ khiến người tham dự có cảm tưởng như đang ở một buổi mít tinh hay một lễ phát động thi đua nào đó. Không khí buổi bảo vệ cứ bình bình, nhàn nhạt, hời hợt mặc cho các thành viên hội đồng không mệt mỏi nỗ lực thổi vào những lời khen hơn là chê. Luận án nào cũng được đánh giá cao bởi tính mới, lần đầu tiên, hệ thống, chiều sâu, có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn, thiếu sót nếu có chỉ là lỗi kỹ thuật, khách quan…Người nghe những nhận xét cứ vu vơ buồn khi liên hệ với bức tranh thực trạng của nền khoa học nước nhà. Ngần ấy luận án đóng góp được cụ thể gì cho sự phát triển của đất nước?    Luận án tiến sỹ: manh áo hay thầy tu?   Điều 20 cũng của Thông tư 05 quy định luận án tiến sỹ phải là một công trình nghiên cứu khoa học sáng tạo của chính nghiên cứu sinh, có đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu, giải quyết sáng tạo các vấn đề của ngành khoa học hay thực tiễn kinh tế – xã hội. Đây là quy định về cơ bản tương đồng với quy định của nhiều cơ sở đào tạo có uy tín trên thế giới.  Thế nhưng, tác giả bài viết đã dự không ít buổi bảo vệ luận án, nơi mà cả hội đồng thẩm định dù thừa nhận mối liên hệ giữa lý thuyết với nội dung của luận án còn mơ hồ, thậm chí là không có song họ cho đó chỉ là những thiếu sót nhỏ! Do vậy cần đặt câu hỏi về sự thiếu trách nhiệm này. Người ta thậm chí được quyền hoài nghi về kiến thức lý thuyết, nhận thức về yêu cầu chất lượng luận án của ngay cả những thành viên trong hội đồng…  Không ít luận án “hồn nhiên” liệt kê dăm ba trường lý thuyết định danh là sẽ được áp dụng trong khi ở các nền giáo dục phát triển, luận án tiến sỹ chỉ cần thảo luận, tranh biện với một cách tiếp cận cụ thể của một trường lý thuyết nhất định. Tác giả của nhiều luận án cũng “vô tâm” tột cùng khi họ chỉ đơn thuần liệt kê mà không hề áp dụng, thảo luận những lý thuyết đó trong phần nội dung nghiên cứu.  Điều đó giống như việc mời khách đến nhà chơi nhưng chỉ mời đến ngoài ngõ. Cổng, cửa vào nhà cứ khóa chặt, gia chủ cứ ngủ vùi trên giường êm, đệm ấm, khách cứ thầm lặng vãn cảnh cùng gió, cùng mây…            Author                Quản trị        
__label__tiasang Chu trình phát triển giá trị: Một công cụ thực hiện đảm bảo chất lượng bên trong cho trường đại học      Đảm bảo chất lượng b&#234;n trong l&#224; một y&#234;u cầu kh&#244;ng thể thiếu đối với c&#225;c trường đại học trong qu&#225; tr&#236;nh tham gia kiểm định chất lượng. B&#224;i viết n&#224;y nhằm g&#243;p phần cung cấp cơ sở l&#253; luận về đảm bảo chất lượng b&#234;n trong v&#224; giới thiệu l&#253; thuyết Chu tr&#236;nh ph&#225;t triển gi&#225; trị, một c&#244;ng cụ quản l&#253; kinh tế được vận dụng v&#224;o gi&#225;o dục đại học nhằm hỗ trợ c&#244;ng t&#225;c đảm bảo chất lượng b&#234;n trong ở c&#225;c trường.      I. CHẤT LƯỢNG VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG  I.1 Khái niệm ‘chất lượng’ đối với ‘khách hàng’ của giáo dục đại học  Chất lượng là một khái niệm có tính phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng thực ra nó không được định nghĩa một cách thống nhất, ngay cả trong lĩnh vực giáo dục bởi lẽ mỗi bên có liên quan (stakeholder) quan niệm ‘chất lượng’ giáo dục theo những chuẩn mực riêng của họ.   Trong lĩnh vực giáo dục đại học (GDĐH), khi nói đến chất lượng, chúng ta thường quan tâm đến phần giáo dục, tức hay bàn đến chất lượng đào tạo (training quality). Chất lượng đào tạo thường được xác định qua các tiêu chí liên quan đến kiến thức, kỹ năng, thái độ sinh viên (SV) có được sau những khóa học hoặc sau khi ra trường. Tuy nhiên, ở một bình diện rộng hơn và nếu dựa trên quan niệm của ‘khách hàng’ (client/consumer), chất lượng GDĐH (higher education quality) thường được xác định là mức độ hài lòng của họ đối với các loại ‘sản phẩm’ mà GDĐH tạo ra (phần sau sẽ phân tích về ‘khách hàng’ và ‘sản phẩm’ của GDĐH).   Đối với GDĐH, việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ‘khách hàng’ khó có thể diễn ra một cách triệt để, bởi lẻ sản phẩm của GDĐH cần thời gian ‘sản xuất’ khá lâu (chẳng hạn 4-6 năm cho một khóa đào tạo bậc đại học), trong khi nhu cầu và thị hiếu thường thay đổi nhanh chóng hơn. Vì vậy, hoạt động ‘sản xuất’ của GDĐH cần có sự định hướng mang tính chiến lược hơn là sự thõa mãn những nhu cầu và thị hiếu trước mắt.  I.2 Đảm bảo chất lượng bên trong  Có hai khái niệm song hành về đảm bảo chất lượng: đảm bảo chất lượng bên trong (internal quality assurance) và đảm bảo chất lượng từ bên ngoài (external quality assurance). Trong khi đảm bảo chất lượng bên trong là trách nhiệm của mỗi tổ chức thì đảm bảo chất lượng từ bên ngoài được tiến hành bởi các cơ quan chịu trách nhiệm về kiểm định chất lượng.  Đối với một cơ sở GDĐH, “đảm bảo chất lượng bên trong bao gồm bộ máy, các nguồn lực và các nguồn thông tin nhằm thiết lập, duy trì, và phát triển chất lượng các hoạt động dạy, học, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng” (AUN, 2007, tr.22). Đảm bảo chất lượng bên trong nếu được phối hợp có hiệu quả với đảm bảo chất lượng từ bên ngoài sẽ tạo ra một cơ chế bền vững cho việc duy trì và phát triển chất lượng của nhà trường.  Năm 2005, Hiệp hội Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học châu Âu (European Association for Quality Assurance in Higher Education – ENQA) đã đề ra bảy tiêu chí và nội dung hướng dẫn cho hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong ở các trường ĐH như sau:  –                      Chính sách và qui trình đảm bảo chất lượng: Nhà trường cần có chiến lược, chính sách và các qui trình hoạt động nhằm không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện; xây dựng và phát triển nếp văn hóa chất lượng trong toàn bộ các hoạt động.  –                      Xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn bằng, chứng chỉ: Nhà trường cần có cơ chế, qui trình để duyệt xét và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.  –                      Đánh giá người học: Người học được đánh giá dựa trên các chuẩn mực, qui định và qui trình được công khai và có tính nhất quán.  –                      Đảm bảo chất lượng đối với đội ngũ giảng dạy: Đội ngũ giảng dạy được đảm bảo về chất lượng, được tham gia ý kiến vào các báo cáo đánh giá chất lượng của nhà trường.  –                      Nguồn tài nguyên hỗ trợ học tập: Người học được tiếp cận các nguồn tài nguyên học tập tương ứng với chương trình đào tạo.  –                      Hệ thống thông tin: Nhà trường có đủ những thông tin cần thiết cho công tác quản lý các chương trình đào tạo và các hoạt động khác trong nhà trường.  –                      Công khai thông tin: Nhà trường định kỳ cập nhật và công khai thông tin về các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.  (Xem chi tiết nội dung hướng dẫn tại: http://www.enqa.eu/files/ESG_v03.pdf)  Hội thảo thường niên năm 2008 tại Chiba, Nhật Bản của Mạng lưới Đảm bảo chất lượng châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Quality Network) cũng đã đề ra bảy nguyên tắc (được gọi là Chiba Principles) của đảm bảo chất lượng bên trong mà mỗi cơ sở giáo dục ĐH cần áp dụng như sau:  –                      Xây dựng và phát triển nếp văn hóa đảm bảo chất lượng trong toàn trường  –                      Đảm bảo chất lượng được thể hiện trong những mục tiêu hoạt động của nhà trường  –                      Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong cùng các chính sách và qui trình hoạt động  –                      Tổ chức xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn bằng, chứng chỉ  –                      Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển chất lượng toàn diện  –                      Chất lượng của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu được duy trì và phát triển  –                      Công khai các thông tin về nhà trường, về các chương trình đào tạo, văn bằng chứng chỉ được cấp và những thành tựu của nhà trường  (Trích dịch từ: http://www.brisbanecommunique.deewr.gov.au/NR/rdonlyres/F7C48BD9-DA8D-4CFD-8C6A-914E001E2E39/23073/FinalQAPrinciples.pdf)  Một trong những điểm tương đồng đáng lưu ý của hai hướng dẫn trên đây đối với công tác đảm bảo chất lượng bên trong của mỗi nhà trường là việc xây dựng và triển khai có hiệu quả chiến lược phát triển chất lượng toàn diện. Để làm được điều này, rất cần có một công cụ tư duy quản lý mang tính tổng thể. Chu trình phát triển giá trị được trình bày ở phần sau có thể được xem là một công cụ tư duy mạnh, giúp ích rất tốt cho việc đánh giá thực trạng nhà trường để từ đó xây dựng chiến lược phát triển chất lượng các nguồn lực, các sản phẩm của GDĐH, và các hoạt động cần phải có ở một trường ĐH.  II. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ – MỘT CÁCH TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN  II.1 Giới thiệu Chu trình phát triển giá trị  Chu trình phát triển giá trị (Value-creation Cycle), biểu diễn trên (Hình1), được xây dựng vào cuối thế kỷ 20 theo một dự án tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu khoa học Na Uy. Chu trình đã được chính thức giới thiệu lần đầu tại Việt Nam thông qua “Hội thảo nâng cao năng lực quản lý” được tổ chức tại Trường ĐH Thuỷ sản (nay là Trường ĐH Nha Trang) vào năm 2004 (Olsen, 2004).         Hình 1: CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ  (VALUE-CREATION CYCLE)  (NSX: Nhà sản xuất; SP: Sản phẩm; KH: Khách hàng)     Đây là một chu trình nhằm cung cấp một cách nhìn hệ thống về mối liên hệ giữa “nhà sản xuất” (organisation), “sản phẩm” (product), và “khách hàng” (target group); đồng thời nhấn mạnh bốn yếu tố nguồn lực giúp cho mối liên hệ nói trên không ngừng được phát triển: nguồn nhân lực (human resource), nguồn lực tài chính (finance resource), nguồn lực cấu trúc (structural resource), và nguồn lực hợp tác (co-working resource). Chu trình này có thể được áp dụng cho tất cả các tổ chức có tạo ra ‘sản phẩm’ nhằm đáp ứng yêu cầu của ‘khách hàng’.   Theo chu trình trên, trong quá trình NSX sản xuất ra SP (production), SP đó cần phải được quảng bá đến KH (marketing). Sau khi KH tiêu thụ SP, NSX cần phải chủ động lấy thông tin phản hồi từ KH về chất lượng SP. Dựa trên thông tin này, NSX điều chỉnh hoặc phát triển SP của mình (market orientation). Cứ như vậy, chất lượng của SP sẽ không ngừng được nâng cao và ngày càng đáp ứng yêu cầu của KH. Các yếu tố nguồn lực của chu trình có thể được mô tả tóm tắt như sau:                  NGUỒN LỰC      MÔ TẢ        Tài chính  Các nguồn vốn / tài chính mà NSX có thể tập hợp được      Nhân lực  Đội ngũ CBVC của NSX cùng những giá trị văn hóa, tinh thần (sự đoàn kết, tin tưởng, quí trọng,..), sự hợp tác bên trong giữa các cá nhân, đơn vị      Cấu trúc   Bao gồm hệ thống cơ sở vật chất; cơ cấu bộ máy; các kế hoạch chiến lược; các qui định, qui tắc, tiêu chí… cần phải có để vận hành hoạt động SX; các giá trị vật chất (bằng sáng chế, hệ thống bài giảng, cơ sở dữ liệu, mạng lưới thông tin…) được xây dựng nhằm giúp NSX hoạt động ổn định      Hợp tác   Bao gồm các mối liên hệ hợp tác với bên ngoài (quan hệ với các đối tác có tác động đến hoạt động SX)        
__label__tiasang Chưa nên cải cách cấu trúc hệ thống giáo dục phổ thông      Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng  đăng tải nhiều ý kiến về cải cách giáo dục Việt Nam bằng cách rút ngắn  cấu trúc giáo dục phổ thông từ 12 năm xuống còn 11 năm. Là người có  nghiên cứu về giáo dục và đang nghiên cứu sâu về giáo dục đại học, tác  giả bài viết này xin nêu ra ba lý do không nên đặt nặng vấn đề thay đổi  cấu trúc giáo dục phổ thông tại thời điểm hiện nay.     Một là, từ trước tới nay phân ban thất bại, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở thất bại dù nhà nước đã trợ giúp, trợ cấp cho các chính sách vĩ mô này là vì người dân làm theo cách của họ chứ không theo cách lập luận của nhà làm chính sách. Cấu trúc giáo dục phổ thông hiện nay vẫn là khuyến khích phân luồng sau trung học cơ sở, tức là học sinh và phụ huynh lựa chọn hướng giáo dục hàn lâm hay giáo dục nghề nghiệp khi học sinh ở tuối 15-16 nên không có gì là lạc hậu so với thế giới cả. Hơn thế nữa, với những lời kêu ca về chương trình phổ thông quá tải, nếu rút ngắn lại nữa thì chương trình phổ thông sẽ trở thành “quá quá” tải.   Hai là, cải cách cấu trúc giáo dục quốc dân có tác động rất rộng tới đời sống xã hội và đòi hỏi sự đầu tư tốn kém về sức người sức của. Đó là một bài toán thực nghiệm đầy rủi ro cho ít nhất cả một thế hệ con người và một đất nước. Không nên ứng dụng mô hình của các nước tiên tiến cho Việt Nam khi chưa cân nhắc kĩ rằng các hệ thống giáo dục tiên tiến thường có lịch sử giáo dục ít nhất là vài trăm năm. Ở các nước đó, cấu trúc hệ thống giáo dục là sự đúc kết từ văn hóa của dân tộc và nguyện vọng của người dân chứ không phải được thiết kế trong một thời gian chốc lát, ví dụ như đo bằng nhiệm kỳ của một nhà cầm quyền.   Ba là, cho đến nay, hiếm có một nghiên cứu nào về nguyện vọng của người đi học là được đi học bao nhiêu năm, 11 năm hay 12 phổ thông. Nguyện vọng phổ biến của người dân hiện nay là được hưởng một nền giáo dục có chất lượng theo nghĩa con trẻ sẽ trở thành người lương thiện và có năng lực để tự tồn tại và đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Vì thế, tại thời điểm hiện tại cải cách giáo dục theo hướng có được một nền giáo dục tôn vinh các giá trị nhân văn và phát triển tiềm năng con người nên được ưu tiên trước hết. Đây cũng là quan điểm được đông đảo các trí thức, các nhà giáo dục nêu ra để đóng góp vào những nỗ lực cải cách giáo dục của Việt Nam.  Những vấn đề cốt lõi hơn nhằm cải cách giáo dục Việt Nam là tìm ra đường hướng chấn hưng giáo dục. Phần tiếp theo đây tác giả kết hợp các nhận định của mình với những ý kiến của các nhà trí thức nổi tiếng về đổi mới giáo dục Việt Nam để phác thảo ra một số trụ cột cơ bản cho quá trình cải cách giáo dục Việt Nam.  Thứ nhất, triết lý và mục tiêu của giáo dục phải thể hiện tình yêu thương con người, tức là tính nhân văn. Giáo sư Hoàng Tụy và nhiều nhà trí thức khác cũng đã đề cập đến trụ cột cải cách này. Người học phải được tạo điều kiện để đón nhận các cơ hội đa dạng để phát triển nhân cách và năng lực. Giảm thiểu tính áp đặt trong các mục tiêu, trong các điều luật, kế hoạch phát triển về giáo dục. Hệ quả của tính áp đặt không dựa trên thực lực là sự phá sản thường xuyên của các „kế hoạch, mục tiêu duy ý chí”. Nếu chỉ chăm chăm đạt được mục tiêu mà bỏ qua các trình tự phát triển nội tại của quá trình đạt đến mục tiêu thì tất yếu sẽ dẫn đến gian dối và đổ vỡ.  Thứ hai, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và nhiều giáo sư uy tín cũng nhận định, mắt xích mấu chốt của đổi mới giáo dục là nhà giáo. Nhiệm vụ chăm lo cho giáo dục phổ thông là của nhà nước chứ không thể đùn đẩy cho xã hội chung chung. Trước tiên, nhà nước cần phải phục hồi lại vị trí xã hội của nhà giáo bằng cách đãi ngộ công bằng với họ bằng mức lương chính thức mà họ có thể sống tươm tất. Chính mức lương cạnh tranh của khu vực giáo dục so với ngành nghề khác sẽ giúp ngành giáo dục thu hút được nhân lực giảng dạy chất lượng.   Việc sử dụng công cụ công khai thông tin về cơ sở giáo dục để huy động tối đa công suất giám sát quản lý của toàn xã hội cũng là một biện pháp nâng cao đạo đức trong ngành giáo dục. Khi thông tin được công khai, toàn xã hội tham gia giám sát giáo dục thì tiêu cực trong ngành giáo dục sẽ sớm bị phát hiện. Hiện tượng chạy việc làm trong ngành giáo dục, cơ sở giáo dục từ chối sinh viên tốt nghiệp từ các trường uy tín sẽ chấm dứt.    Thứ ba, chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, lấy đạo đức trong trường học, nhân cách nhà giáo để lan tỏa ra xã hội, phục hồi lại các hệ thống giá trị cốt lõi của toàn xã hội.   Thứ tư, cũng liên quan tới con người trong hệ thống giáo dục nhưng mà là con người nắm giữ chức vụ quản lý, dẫn dắt, lèo lái quá trình cải cách; cần phải cải cách đánh giá và giám sát đội ngũ lãnh đạo quản lý trong ngành giáo dục. Lãnh đạo có giỏi thì mới chiêu nạp người giỏi dưới trướng của mình. Hiệu trưởng có giỏi, có tâm thì nhà trường mới có giáo viên có năng lực và đạo đức. Tuy nhiên, đánh giá nhân lực lãnh đạo không phải là một việc dễ dàng nhất là đánh giá về đạo đức. Mặc dù vậy, đột phá trong đánh giá, bổ nhiệm, và kỉ luật cán bộ có nhiều yếu tố khả thi. Các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng giáo dục của Việt Nam đã được nhận diện rõ ràng. Nếu bổ nhiệm lãnh đạo dựa trên thực lực về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một hướng làm đúng thì dần dần sẽ tìm ra công cụ và kĩ thuật thực hiện.   Trên đây là những ý kiến của tác giả nhằm đóng góp vào những nỗ lực cải cách giáo dục Việt Nam. Chiến lược quốc gia và chính sách công cần được thiết kế hợp quy luật phát triển của xã hội và thuận lòng dân mới thành công và được trân trọng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa nên thông qua luật giáo dục đại học      “Nay chúng ta bàn về luật giáo dục đại học mà chưa bàn cải cách chẳng khác nào đặt cái cày đi trước con trâu,” – đó là góp ý thẳng thắn của GS Hoàng Tuỵ tại buổi lấy ý kiến các giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực giáo dục cho dự thảo luật giáo dục đại học do Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam tổ chức mới đây.    Tham dự buổi hội thảo còn có các giáo sư đầu ngành khác như GS Chu Hảo, GS Nguyễn Đăng Hưng cùng các nhà quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Các ý kiến thẳng thắn cho rằng, dự thảo luật giáo dục đại học lần này chưa mang tầm chiến lược, còn nặng tính bao cấp, vụn vặt và góp ý chưa thể đưa ra trình Quốc hội trong kỳ tới.  Quốc hội chưa nên thông qua!  GS Hoàng Tuỵ cho biết, muốn thông qua luật hay xây dựng luật giáo dục đại học trước hết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục (cải cách giáo dục). Phải xác định nội dung, phương hướng lộ trình rồi mới bàn tới luật giáo dục đại học.   “Nay chúng ta bàn về luật giáo dục đại học mà chưa bàn cải cách chẳng khác nào đặt cái cày đi trước con trâu. Tôi nói, trước đây giáo dục phổ thông cũng đã có cách làm ngược đời này, tức là chưa bàn cải cách giáo dục đã vội bàn tới sửa đổi chương trình sách giáo khoa với đề án 70.000 tỉ, đã bị dư luận phê phán. Nếu chúng ta cứ tiếp tục tiến hành theo cách làm như vậy là tiếp nối một tư duy tuỳ tiện, không hệ thống, chạy theo thành tích. Có thể có tích cực trong thời gian ngắn hạn ở mức độ nào đó với mục đích để báo cáo lấy công”, GS Hoàng Tuỵ thẳng thắn góp ý.  Những bất cập trong nền giáo dục đại học hiện nay cũng được GS Hoàng Tụy chia sẻ. Theo ông, lâu nay nền giáo dục của chúng ta đang có xu hướng chạy theo thành tích của một nhóm lợi ích, chính vì vậy, vấn đề mà Nhà nước hô khẩu hiệu chống tham nhũng vẫn liên tiếp kéo dài.  Xác định phương hướng cho tương lai của nền giáo dục nước nhà, GS Hoàng Tuỵ vạch rõ, luật ra đời làm sao để đưa nền giáo dục của chúng ta đi đúng theo quỹ đạo. Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. “Lạc hậu thì còn có thể khắc phục nhưng đi lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp được các nước”, GS Hoàng Tuỵ cho biết.  Đóng góp về bản dự thảo luật giáo dục đại học lần này, nhà văn Nguyên Ngọc cho biết, khi dự thảo luật này được đưa ra, ông nhận thấy nó có điểm đi ngược lại với xu thế. Trong dự thảo không nói gì tới cải cách giáo dục. Như vậy, chẳng khác nào chúng ta đưa luật vào thực thi mà không xác định được phương hướng.  Tự chủ chưa rõ ràng            Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. Lạc hậu thì còn có thể khắc phục nhưng đi lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp được các nước.    GS Hoàng Tuỵ        Một vấn đề lâu nay vẫn thường bàn cãi rằng, liệu nền giáo dục của chúng ta hiện nay có thực sự được quyền tự chủ? Theo quan điểm của ông Nguyễn Quang Kính, nguyên chánh văn phòng bộ Giáo dục và đào tạo, tự chủ ở đây là cơ chế quản lý, quản trị cần có để đạt được mục đích, chất lượng hiệu quả trong đào tạo, nghiên cứu phục vụ cho xã hội của một trường đại học. Lâu nay, nhiều người vẫn nghĩ, tự chủ phải đạt được chất lượng hiệu quả trong nghiên cứu thì mới được hưởng quyền tự chủ. Theo ông Kính, hai chuyện này hoàn toàn khác nhau.  “Tôi nghĩ phải sửa ngay những quy định có khả năng duy trì cơ chế xin – cho đối với quyền tự chủ của nhà trường. Không nên xem quyền xác lập tự chủ của nhà trường là quá trình phân chia quyền lực giữa nhà trường và các nhà quản lý cấp trên. Muốn vậy, cần có sự nhất trí, và nhận định quyền tự chủ là một thuộc tính cần có để một trường đại học tự khẳng định vị trí trong “hệ sinh thái đại học”, ông Kính nói. Muốn làm được những việc trên, theo ông Kính, bộ Giáo dục và đào tạo cần đóng vai trò là người giám sát thay vì duy trì điều hành hệ thống giáo dục.  Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, tính tự chủ của chúng ta hiện nay vẫn còn lặt vặt, không có tính hệ thống vì tư duy kém. Những kết luận nêu trên theo nhà văn Nguyên Ngọc do bản dự thảo lần này xuất phát từ chỗ chưa hiểu thế nào là quan niệm đại học. “Do vậy, Quốc hội chưa nên thông qua trong kỳ tới, mà cái cần làm lúc này là điều chỉnh các văn bản dưới luật, đó mới là cái đáng làm trước”, nhà văn Nguyên Ngọc cho biết.  Đồng quan điểm với nhà văn Nguyên Ngọc, GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng băn khoăn: “Tôi tự hỏi, trước khi soạn thảo luật lần này ban soạn thảo có tham khảo các nền giáo dục phát triển ở các nước gần chúng ta hay không. Tôi xem bản dự thảo lần này thấy rằng, tư duy bao cấp vẫn chưa thoát khỏi nền giáo dục chúng ta, những tư duy đó có tác hại lớn với xã hội vì đi chệch với xu thế chung của nhân loại”.        Những điểm bất cập trong Dự thảo Luật Giáo dục đại học    GS Trần Hồng Quân (chủ tịch hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam) vạch ra những điểm bất cập như sau:   Thứ nhất: bản dự thảo chưa hình dung, chưa phác thảo, chưa xây dựng được chiến lược phát triển giáo dục đại học, chưa phù hợp với tinh thần của nghị quyết lần thứ 11 của Đảng là: đổi mới căn bản nền giáo dục đại học nước nhà.    Thứ hai: dự thảo lần này mới chỉ mang tính chất luật của các trường đại học chứ chưa mang tính chất luật của hệ thống giáo dục đại học nói chung.    Thứ ba: chưa kế thừa được một số quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về luật giáo dục đại học.    Thứ tư: một số vấn đề lớn của giáo dục đại học chưa được nghiên cứu thấu đáo. Điển hình nhất là quan niệm thế nào là đại học đại chúng và đại học tinh hoa.    Ngoài ra, theo GS Trần Hồng Quân, vấn đề công bằng xã hội chưa được thể hiện đúng. “Đã là một công dân Việt Nam được học đại học, đương nhiên người nào cũng được thụ thưởng các ưu đãi của Nhà nước dành cho sinh viên. Không có lý gì sinh viên trường này được, sinh viên trường khác lại không?” GS Quân so sánh.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa phát huy được những giảng viên, nghiên cứu viên “nguồn”      Các trường đại học Việt Nam có những chính  sách như giữ sinh viên có năng lực ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp,  thậm chí gửi đi đào tạo ở nước ngoài, nhưng chất lượng giảng dạy và  nghiên cứu của các trường này vẫn chưa cải thiện đáng kể.    Hiện nay, do số sinh viên đầu vào tăng theo từng năm, để đảm bảo có đủ giảng viên đáp ứng chỉ tiêu giảng viên/sinh viên như Bộ Giáo dục đề ra, các trường đại học luôn tìm cách giữ sinh viên giỏi vừa tốt nghiệp lại để gây dựng nguồn giảng viên sau này. Đây có thể là một phương thức hiệu quả nếu những người được giữ lại tiếp tục học tập, nghiên cứu để bồi đắp thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, và hướng dẫn sinh viên. Tuy nhiên, áp lực của “cơm-áo-gạo-tiền” trong hoàn cảnh đồng lương eo hẹp khiến họ phải làm thêm để kiếm thu nhập, và một trong những cách thức đơn giản nhất là dạy thêm, từ luyện thi đại học cho tới dạy thêm ở các trường dân lập mới thành lập – nơi thiếu trầm trọng đội ngũ giảng viên. Tốn nhiều công sức cho những hoạt động mưu sinh bên ngoài khiến họ không có đủ thời gian và sức khỏe để hoàn thành các bậc học cao hơn hay những hoạt động nghiên cứu khoa học nghiêm túc.   Thực trạng trên là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng giảng dạy và nghiên cứu ở các trường ngày càng giẫm chân tại chỗ rồi tụt lùi. Có thể do đã nhận thức được vấn đề này nên Bộ giáo dục từ năm 2000 đã tiến hành đề án 322* nhằm nâng cao trình độ của các giảng viên, nghiên cứu viên trẻ. Những giảng viên, nghiên cứu viên trẻ đáp ứng một số tiêu chuẩn đầu vào sẽ được gửi đi học cao học hoặc đi làm nghiên cứu sinh ở các nước phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước. Họ sẽ không phải lo sức ép của “cơm-áo-gạo-tiền”, sẽ tập trung vào việc học và nghiên cứu.   Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng do chế độ đãi ngộ của các trường đại học trong nước còn hạn chế, một bộ phận các giảng viên, cán bộ nghiên cứu tốt nghiệp sau khi được gửi đi học tập nước ngoài đã phá vỡ “hợp đồng” kí kết trước lúc đi. Một số còn không sử dụng địa chỉ cơ quan trong nước, nơi mình đang là thành viên, trong các công trình công bố khoa học. Điều này dẫn tới số lượng các công trình có địa chỉ Việt Nam rất ít trong khi số lưu học sinh là không nhỏ.   Như vậy, có thể thấy rằng những chính sách mang tính lối mòn mà Nhà nước và các trường đại học áp dụng từ lâu nay, bắt đầu từ việc giữ sinh viên có năng lực ở lại trường sau khi tốt nghiệp, sau đó gửi đi đào tạo theo đề án 322, đã không phát huy được hiệu quả như mong muốn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, hay tăng cường số lượng công bố khoa học ở các trường này, và nguyên nhân chính là do thiếu một chế độ đãi ngộ hợp lý về tài chính.   Để thay đổi lối mòn trên, giải pháp tất yếu mà các trường đại học Việt Nam cần làm hiện nay là thực hiên chính sách tài chính cho nghiên cứu, giảng dạy đủ sức hấp dẫn thu hút người giỏi, người có trình độ cao, đặc biệt là các tiến sĩ trẻ từ các nước phát triển về làm việc. Chế độ đãi ngộ về tài chính cần phải gắn với quy chế chặt chẽ, rõ ràng từ các trường đại học trong quản lý công việc của giảng viên, nghiên cứu viên. Mỗi mức đãi ngộ phải tương xứng với những định mức cụ thể về lượng công việc giảng dạy và nghiên cứu cụ thể, như số lượng giờ giảng và công trình công bố khoa học trong từng giai đoạn từ 1 tới 3 năm. Những quy chế này phải được nghiêm túc thực hiện. Có như vậy, các trường trường đại học trong nước mới có thể cải thiện chất lượng của mình, gây dựng được tên tuổi, từng bước nâng khả năng cạnh tranh với các trường trong khu vực.  —  * Mới đây đề án 322 đã kết thúc do không tìm được kinh phí.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuẩn bị cho việc du học Mỹ      Hàng năm có rất nhiều sinh viên nước ngoài tự tìm xin được học bổng đến Mỹ để học cử nhân hay Cao học- Tiến sĩ nhưng trong đó có rất ít sinh viên của nước ta, đặc biệt là ở các trường Đại học hàng đầu của Mỹ như Harvard University, Princeton University, University of Pennsylvania, Yale University, MIT, Stanford University, California Instutute of Technology… thì hầu như không có một sinh viên nào của Việt Nam. Chẳng hạn, mùa nhập học tháng 8 năm 2005 vừa qua (lớp sẽ ra cử nhân năm2009), Đại học Harvard có 175 sinh viên quốc tế trong tổng số 2074 sinh viên được nhập học; ở Đại học Princeton tỉ số này là 163/1807; ở Đại học Darmouth College là 157/2139; ở Đại học Cornell là 505/6384; ở Đại học University of Pennsylvania là 463/2455… nhưng không thấy sinh viên đến từ Việt Nam. Lý do không phải là trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam thua kém người ta mà do thiếu chuẩn bị trong việc đáp ứng các điều kiện tuyển sinh của họ.    Học đại học  Với những học sinh nước ta muốn xin du học tự túc, trước hết cần biết rõ trường mình sẽ đến học có phù hợp với việc chọn ngành nghề và con đường học lâu dài của mình không. Muốn thế, chỉ cần tìm qua Internet. Những học sinh xin du học tự túc, nếu không phải là học sinh xuất sắc và chưa chuẩn bị kỹ các yêu cầu của các đại học 4 năm thì tốt hơn hết là nên xin vào các Đại học cộng đồng 2 năm (2 year community college) vì các Đại học này không đòi hỏi cao về trình độ Anh ngữ, cao về bài thi SAT, đồng thời học phí tương đối thấp. Học ở đó là cơ hội vừa để trau dồi khả năng Anh ngữ, vừa làm quen phong cách học tập, thích nghi với nếp sống, học các kiến thức cơ bản, để sau 2 năm đủ sức được chuyển vào năm thứ 3 của các Đại học 4 năm mà 2 năm trước hầu như không thể xin vào được để vào học năm thứ nhất. Chính rất nhiều sinh viên Mỹ vẫn phải theo con đường này. Để có thể chọn Đại học cộng đồng thích hợp, các học sinh chỉ cần tìm qua Internet. Chẳng hạn, vào Yahoo.com rồi tìm  Universities in the USA-Directory (có khi Yahoo hỏi Did you mean Universities in the USA-Directory, hãy click chuột vào đó). Trong trang web này, bạn chỉ cần chọn 2year/community colleges thì bạn sẽ có một số Đại học cộng đồng trong từng bang ở Mỹ, theo đó bạn biết được toàn bộ thông tin của từng Đại học cộng đồng như các yêu cầu về trình độ Anh ngữ, điểm thi SAT, học phí, thời hạn nộp đơn. Thông tin quan trọng mà bạn cần phải biết là Đại học ấy có ghi là đã được công nhận giá trị (accredited) hay không và sau khi học 2 năm để có Associate Degree thì được chuyển (transfer) lên năm thứ 3 ở những trường Đại học nào. Chỉ nên theo học trường cộng đồng nào có ghi đã được accredited và được chuyển tới Đại học ở đó có ngành mà bạn muốn theo học và có những điều kiện thích hợp với yêu cầu của bạn             Cổng vào Đại học Stanford        Với những học sinh ưu tú, mà không có đủ tài chính du học tự túc, chỉ có thể đi học với học bổng thì cần biết rằng ở cấp Cử nhân, các Đại học công lập ở Mỹ hầu như không cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài, chỉ có thể nộp đơn xin vào các trường Đại học tư. Có thể tìm thông tin ở cùng trong màn hình với Universitues in the USA-Directory trên đây, bạn click vào Colleges and Universities in the Yahoo Directory, rồi click vào United States(1613), nghĩa là vào địa chỉ của 1613 Đại học ở Mỹ, rồi click vào Private(50) (nghĩa là địa chỉ các trường tư trong 50 bang của nước Mỹ), rồi click vào bang nào thì toàn bộ địa chỉ các Đại học tư của bang ấy hiện ra, chọn xem trường nào thì chỉ việc click vào tên của trường ấy để biết mọi thông tin về xin nhập học và học bổng ở trường ấy.  Về chuẩn bị: biết thông tin sớm mới có thể chuẩn bị đủ điều kiện xin nhập học và xin học bổng. Ngay các học sinh Mỹ vẫn thường chuẩn bị trong 3 năm hay 4 năm cuối trung học, để thi SAT ít nhất 2 lần vào năm lớp 10, 11 hay 12. Những học sinh giỏi thường hoàn tất thi SAT I và 3 bài thi SAT II trước cuối năm lớp 11 để kịp nộp đơn vào đầu năm lớp 12 (trước ngày 1 tháng 11) theo chế độ Early Decision hay Early Action tại các Đại học hàng đầu của Mỹ.Các Đại học cộng đồng và các Đại học bình thường có thể không cần thời hạn nộp đơn lâu trước ngày khai giảng; các Đại học từ hạng khá trở lên thường yêu cầu  nộp đơn trước ngày 1 tháng 2 hay 1 tháng 1 cho khóa học bắt đầu vào tháng 8. Thế thì các học sinh ưu tú của ta lại cần phải chuẩn bị sớm hơn vì mọi bài thi từ TOEFL, SAT I, SAT II đều bằng Anh ngữ. Việc này đòi hỏi sự hợp tác giữa phụ huynh, nhà trường và sở giáo dục nếu như chúng ta  muốn tạo cơ hội học tập đến nơi đến chốn cho số đông các học sinh có tiềm năng trí tuệ, đặc biệt các học sinh tại các trường chuyên. Các học sinh muốn xin học bổng cần nộp đơn sớm (khoảng giữa tháng 10 cho đến tháng 1 năm sau) khi đang học học kỳ 1 của lớp 12, và phải nộp vào nhiều trường, từ 5 đến 10 trường. Chỉ những học sinh thật xuất sắc, có vị thứ trong 10% đầu lớp, đạt các thành tích cao trong các kỳ thi địa phương, quốc gia hay quốc tế, có điểm thi TOEFL cỡ 600 trở lên, điểm  SAT I khoảng 1400(tối đa 1600) trở lên với SAT cũ (vào học từ năm 2007 về sau thì cần SAT mới với điểm khoảng 2100 (tối đa 2400) trở lên) và có điểm khá tốt trong 3 bài thi SAT II thì mới nên nộp đơn vào các trường hàng đầu của Mỹ như đã nói trên.  Tất nhiên rất khó được chọn vào các trường này vì là nơi tranh đua của những học sinh ưu tú nhất không những của nước Mỹ mà còn của cả thế giới và chi phí cho một năm học cấp cử nhân rất cao, khoảng từ 42.000 tới 45.000USD theo thời giá năm 2005 (chẳng hạn năm học 2005-2006, ở Harvard tốn 44.350USD, ở  MIT tốn 44.600USD).  Nhưng nhờ chính sách “mù tài chính” (“need – blind”) trong tuyển sinh của họ, mà các học sinh thật sự ưu tú, dù nghèo vẫn theo học được tại các trường hàng đầu này.  Điều đáng tiếc cho học sinh nước ta là hầu hết các Đại học chỉ áp dụng chế độ need blind cho người có quốc tịch Mỹ, thường trú nhân, có quốc tịch Canada hay Mexico, chỉ có 4 Đại học là Princeton, Harvard, MIT và Yale chơi đẹp nhất là áp dụng chế độ need blind cho mọi ứng viên trên thế giới. Vì vậy các học sinh xuất sắc của nước ta cứ mạnh dạn nộp đơn xin nhập học vào khoảng 10 trường Đại học tư có cho học bổng ở Mỹ trong đó có 4 trường hàng đầu thế giới nói trên. Nhưng cần lưu ý rằng, mặc dầu các trường hàng đầu này chủ yếu dựa trên thành tích trong lớp gồm điểm trung bình trong học bạ của 3 năm cuối trung học, vị thứ trong lớp, điểm thi tú tài, điểm các bài thi SAT để tuyển chọn, nhưng họ cũng rất quan tâm đến thành tích ngoài lớp học như khả năng lãnh đạo, tài hùng biện, hoạt động xã hội, đóng góp cho cộng đồng, khả năng vượt trội trong thể thao, âm nhạc, văn hóa, vượt trội trong nghiên cứu hay tranh tài về khoa học, toán, lý, hóa… và giấy giới thiệu của các thầy đã dạy hay các người có điều kiện xác nhận được khả năng và tư cách bên ngoài lớp học của ứng viên.Vì vậy các trường chuyên của ta nên góp phần tạo điều kiện cho các học sinh tham gia vào các chương trình sinh hoạt bên ngoài lớp học vừa giúp giải tỏa các căng thẳng do phải học chương trình khá nặng, vừa tạo cho học sinh có bản lĩnh, thấy được ý nghĩa của sự đóng góp phần mình vào cộng đồng xã hội và có thành tích để dễ xin vào học các trường Đại học danh tiếng.             Học Cao học – Tiến sĩ:  Ở Mỹ cả Đại học công lẫn tư đều cho học bổng sinh viên nước ngoài dưới nhiều hình thức và mức độ tùy theo chuơng trình học. Các trường có đào tạo cấp Tiến sĩ thường không bắt buộc sinh viên phải lấy bằng Cao học (Master) rồi mới được học và làm luận án Tiến sĩ như ở nước ta. Các sinh viên sau cử nhân sẽ được học các giáo trình cao học từ một năm rưỡi tới hai năm, sau đó sẽ dự kỳ thi hợp cách (qualifying examination), nếu vượt qua được kỳ thi này thì mới là sinh viên Tiến sĩ và bắt đầu thời kỳ làm luận án thường từ 2 tới 5 năm. Những ai muốn lấy bằng Master thì có thể hoàn tất trước khi thi hợp cách. Một trong những hình thức xin học bổng cấp Cao học – Tiến sĩ mà sinh viên nước ta, đặc biệt là các ngành khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hóa… có thể xin được là Trợ giảng (TA: Teaching Assistant). Hầu như gần 50% sinh viên Cao học-Tiến sĩ tại nhiều Đại học Mỹ làm trợ giảng cho các Giáo sư để được nhà trường cho miễn đóng học phí và mỗi năm nhận được khoảng 15.000USD để ăn, ở mà học tập. Rất nhiều sinh viên ngoại quốc tới học tại Mỹ dưới dạng Trợ giảng. Công việc của Trợ giảng có thể gồm giải bài tập, chấm bài cho một nhóm sinh viên của lớp do các Giáo sư dạy lý thuyết. Có những Đại học như Đại học Yale thì tất cả mọi sinh viên mà được nhận vào học chương trình Tiến sĩ đều được miễn đóng học phí và đươc cấp 15.000USD mỗi năm trong 4 năm học đầu tiên.  Điều đáng tiếc là hiện nay có quá ít sinh viên nước ta tự xin được học bổng để theo học cấp Cao học- Tiến sĩ so với sinh viên các nước khác. Nguyên do chính là không biết thông tin và thiếu chuẩn bị sớm. Các sinh viên có khả năng trí tuệ mà muốn du học cấp Cao học- Tiến sĩ ở Mỹ thì cần phải chủ động tìm thông tin về chương trình, về trường có thể xin theo học qua Internet (chẳng hạn vào trang web Colleges anh Universities in the Yahoo Directory nói trên) từ khi vào học năm thứ nhất Đại học. Lập kế hoạch học Anh ngữ, học thi GRE (Graduate Record Examinations) hay GMAT (Graduate Management Admissions Test, nếu muốn xin học MBA, có thể tìm thông tin bằng cách vào Yahoo, và tìm GRE, hay GMAT) sớm sao cho đến cuối năm thứ 3 hay thứ 4 thì thi TOEFL điểm phải trên 550 và GRE hay GMAT cũng phải có điểm tương đối cao hay khá cao, và tất nhiên học bạ Đại học phải  tốt, có vị thứ trong 10% đầu lớp. Hiện nay những người dự thi lấy học bổng của nhà nước ta để đi du học cấp Cao học- Tiến sĩ nếu không chuẩn bị để có điểm cao về GRE hay GMAT, và học bạ Đại học không tốt thì dù có được học bổng của nhà nước cũng không dễ tìm được trường tốt để theo học. Riêng đề cương nghiên cứu đã trình và bảo vệ trong nước để lấy được học bổng thì hầu như ít khi được dùng trong khi theo học ở nước ngoài bởi phải học các giáo trình cao học của họ rồi sau đó mới chọn đề tài nghiên cứu với sự chấp thuận của Giáo sư hướng dẫn tại chỗ thì đề tài được chọn trong hoàn cảnh mới này gần như là hoàn toàn không liên quan gì đến cái đã trình và bảo vệ trong nước mấy năm trước.  ***   Tóm lại, biết thông tin sớm và biết cách chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu của trường muốn xin theo học là vô cùng quan trọng để xin được học bổng. Việc này đối với sinh viên thì phải tự lo lấy từ năm thứ nhất vào Đại học, còn với các học sinh thì cần phải có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và sở giáo dục. Đặc biệt các trường chuyên, nơi quy tụ hầu hết các học sinh ưu tú, cần nên tổ chức các chương trình học tập trong lớp và các chương trình sinh hoạt ngoài lớp từ thể thao, văn hóa, khoa học, phục vụ cộng đồng… một cách khoa học, hài hòa thì học sinh của ta mới có thể vào được các trường hàng đầu thế giới để dễ có điều kiện trở thành các nhà khoa học lớn trong tương lai.  Mỗi năm, Mỹ cấp học bổng cho khoảng 100 học sinh lớp 11 được tới Mỹ học lớp 12 ; khoảng 25 sinh viên nhận học bổng Fulbright đi học Cao học hầu hết về kinh tế, quản lý hay y tế cộng đồng, khoa học xã hội,… và khoảng vài chục tới 100 sinh viên được học bổng VEF đi học cấp Cao học-Tiến sĩ trong các ngành khoa học tự nhiên và xã hội.  Chính sách “need – blind”: Khi xét đơn xin nhập học, nhà trường không cần biết là gia đình và bản thân ứng viên có đủ tiền để trả học phí, ăn ở, sách vở,…hay không, nói cách khác là việc ứng viên có nộp đơn xin tài trợ hay không thì không ảnh hưởng gì đến việc ứng viên được chấp nhận vào học cả. Sau khi một ứng viên được chấp nhận thì nhà trường mới xem thử ứng viên ấy có nộp đơn xin tài trợ hay không. Nếu không, nghĩa là ứng viên ấy đủ tiền để trả mọi chi phí; nếu ứng viên có nộp đơn xin tài trợ thì nhà trường căn cứ thu nhập của gia đình, của bản thân ứng viên và hoàn cảnh sống của gia đình (kê khai theo các mẫu nhà trường chỉ định) để biết được phần đóng góp của gia đình và bản thân ứng viên trong năm học, thiếu bao nhiêu so với tổng chi phí thì nhà trường bảo đảm có cách tài trợ để ứng viên yên tâm học. Sự tài trợ này là dựa trên nhu cầu tài chính (need – based) để theo học chứ các trường này không cấp học bổng như là phần thưởng cho sinh viên vì học giỏi, vì các tài nghệ trong thể thao, âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa,… như ở các trường khác để thu hút các học sinh tài năng. Chỉ tại các Đại học tư và thuộc loại hàng đầu ở Mỹ mới có chính sách tuyển sinh “mù tài chính” này. Nếu bạn có giỏi, có tài năng ngất trời đi nữa mà bạn là con nhà giàu, có đủ tiền để ăn học thì bạn phải trả mọi chi phí, và nếu bạn có được các cơ quan bên ngoài thưởng tiền hay cấp học bổng thì bạn phải kê khai và đem tất cả vào trường để nhà trường tính lại phần đóng góp của bạn. Chính nhờ chính sách mù tài chính mà các Đại học hang đầu này đã tuyển chọn được rất nhiều sinh viên ưu tú của Mỹ và thế giới và đã đào tạo được rất nhiều nhân tài.  Lê Tự Hỷ (Atlanta, Hoa Kỳ)      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chúng ta không chỉ nhằm đạt đến mơ ước của mình, chúng ta giúp người khác cũng đạt được mơ ước của họ”      Bài nói chuyện của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tại trường trung học Masterman, Philadelphia, ngày 14-09-2010        Xin chào các bạn!  Thật tuyệt vời khi có mặt ở đây hôm nay! Hôm nay là ngày mọi người chào đón tất cả các bạn, cũng như tất cả sinh viên học sinh Mỹ trở lại trường học – tôi cho rằng Masterman là chỗ tốt nhất để làm việc ấy. Đây là một trong những trường tốt nhất của bang Philadelphia- nơi đi đầu trong việc giúp học sinh đạt được thành công trong học tập. Và chỉ mới tuần trước đây thôi, các bạn đã được công nhận danh hiệu National Blue Ribbon School vì thành tích của mình. Đó là một sự khẳng định đối với tất cả mọi người ở đây – học sinh, cha mẹ học sinh, giáo viên, và lãnh đạo nhà trường. Và đây là một ví dụ về sự ưu tú mà tôi hy vọng xã hội Mỹ sẽ noi theo.    Trong mấy tuần qua, Michelle và tôi cũng chuẩn bị cho Sasha và Malia đến trường. Và tôi dám chắc là nhiều người trong các bạn cũng có những cảm xúc giống như chúng tôi. Các bạn hơi buồn vì mùa hè đã hết, nhưng cũng thấy hứng thú với việc năm học mới đang mở ra những khả năng mới. Đó là khả năng xây dựng những tình bạn mới và củng cố những tình bạn cũ; hay gia nhập những câu lạc bộ và đội nhóm mới. Đó là khả năng trở thành một học sinh giỏi hơn, một người tốt hơn, và mang lại niềm tự hào cho gia đình các bạn.    Nhưng tôi biết một số em cũng có thể lo âu khi năm học mới bắt đầu. Có thể là các em đang trong bước chuyển từ tiểu học lên trung học, hay từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông, và lo lắng không biết cái bậc học mới mẻ ấy nó sẽ như thế nào. Có thể các em vừa chuyển sang trường mới, và không biết liệu mình có thích ngôi trường mới ấy hay không. Hay các em có thể là học sinh sắp tốt nghiệp và đang lo lắng về việc học đại học; liệu mình sẽ nộp đơn xin học ở đâu và có đủ sức để theo học hay không.  Và ngoài những âu lo ấy, tôi biết nhiều em còn cảm thấy một chiều hướng căng thẳng trong thời khắc khó khăn này. Các em  biết những gì đang xảy ra qua tin tức báo chí và qua cuộc sống gia đình của bản thân các em. Các em đã đọc về cuộc chiến ở Afghanistan. Các em đã nghe nói về cuộc suy thoái mà chúng ta đang trải qua. Các em thấy những điều đó trên gương mặt cha mẹ các em và cảm nhận được những điều ấy trong giọng nói của họ.  Nhiều em đã phải có những hành động già dặn hơn nhiều so với tuổi của các em, phải mạnh mẽ hơn để làm chỗ dựa cho gia đình khi anh hay chị các em đang phục vụ ngoài nước; phải chăm sóc em nhỏ khi mẹ làm tăng ca; phải làm thêm những công việc phụ khi cha các em mất chỗ làm.  Có quá nhiều thứ phải giải quyết, mà đúng ra không phải là việc mà lứa tuổi các em phải giải quyết. Và những điều ấy có thể khiến các em tự hỏi tương lai của chính các em rồi sẽ ra sao; liệu mình có thể thành công trong việc học; liệu mình có nên hạ thấp tầm nhìn ít nhiều, hay cân nhắc lại những mơ ước của mình.   Nhưng đây là điều tôi đến đây để nói với các em: không ai làm nên số phận của các em ngoài chính các em. Tương lai của các em nằm trong bàn tay của chính các em. Cuộc đời của các em là cái mà chính các em tạo ra. Và không một thứ gì – tuyệt nhiên không– là bên ngoài tầm với của các em, chừng nào các em còn muốn nuôi dưỡng những mơ ước lớn lao, chừng nào các em còn muốn  làm việc hết mình, chừng nào các em còn muốn tập trung cho việc học.  Phần cuối trong những lời tôi vừa nói là vô cùng quan trọng– bởi vì chưa bao giờ giáo dục lại quan trọng hơn hiện nay. Tôi tin rằng sẽ có lúc trong những tháng ngày sắp tới khi thức khuya gạo bài thi, khi lê mình ra khỏi giường ngủ trong một buổi sáng đầy mưa, các em sẽ tự hỏi mình liệu sự học có đáng cho ta cực khổ như thế chăng.  Tôi sẽ nói với các em rằng, không có gì phải nghi ngờ điều này cả. Không có gì tác động to lớn đến sự thành công của các em trong đời như nền giáo dục mà các em đã được nhận.        Không ai làm nên số phận của các em ngoài chính các em. Tương lai của các em nằm trong bàn tay của chính các em. Cuộc đời của các em là cái mà chính các em tạo ra. Và không một thứ gì – tuyệt nhiên không– là bên ngoài tầm với của các em, chừng nào các em còn muốn nuôi dưỡng những mơ ước lớn lao, chừng nào các em còn muốn  làm việc hết mình, chừng nào các em còn muốn tập trung cho việc học.        Càng ngày, những cơ hội mở ra cho các em sẽ càng tùy thuộc vào mức độ học vấn mà các em thụ đắc trong nhà trường. Nói cách khác, càng được học nhiều, các em càng có thể đi xa hơn trong cuộc sống. Và trong lúc các nước khác đang cạnh tranh với chúng ta với một mức độ chưa từng có trước đó, trong lúc học sinh sinh viên trên toàn thế giới học hành quyết liệt hơn bao giờ hết, học giỏi hơn bao giờ hết, thì thành công của các em sẽ quyết định thành công của nước Mỹ trong thế kỷ 21.  Bởi vậy, các em có nghĩa vụ với chính mình, và nước Mỹ có nghĩa vụ với các em, để bảo đảm cho các em có được một nền giáo dục tốt nhất trong khả năng của chúng ta. Để làm cho các em được thụ hưởng một nền giáo dục như thế, tất cả chúng ta sẽ phải tay trong tay làm việc cùng nhau một cách chặt chẽ.   Nó đòi hỏi tất cả những người làm việc trong Chính phủ như chúng tôi – từ Harrisburg  cho đến Washington – làm tốt phần việc của mình để chuẩn bị cho tất cả mọi học sinh có thể thành công trong việc học, trong trường đại học cũng như trong một nghề nghiệp nào đó. Nó đòi hỏi phải có những người hiệu trưởng, người thầy giáo lỗi lạc như những người đang làm việc ở nơi đây; những người đi trước và vượt lên vì học sinh của họ. Và nó sẽ đòi hỏi cha mẹ các em phải thiết tha với việc giáo dục con cái.    Đó là điều chúng tôi phải làm cho các em. Đó là trách nhiệm của chúng tôi. Đó là công việc của chúng tôi. Nhưng đây là công việc của các em: đi học đúng giờ, chú ý học trong lớp, làm bài tập ở nhà, chuẩn bị cho thi cử, và tránh xa những rắc rối. Thứ kỷ luật và  nỗ lực ấy– một loại lao động cần mẫn– là tuyệt đối cần thiết cho sự thành công.  Tôi biết,– bởi vì không phải lúc nào tôi cũng có thứ kỷ luật và nỗ lực ấy. Lúc còn trẻ tuổi, không phải lúc nào tôi cũng là học sinh ngoan,  tôi cũng đã có ít nhiều lầm lỗi. Thực ra, tôi vẫn còn  nhớ cuộc nói chuyện với mẹ tôi  hồi học trung học, khi tôi xấp xỉ bằng tuổi các em ở đây hôm nay. Mẹ tôi nói về việc điểm số của tôi đã trượt dốc như thế nào, làm sao mà tôi lại không lo nộp đơn thi vào đại học, và tôi đã làm những trò gì, theo lời mẹ tôi, mà không biết chuẩn bị kỹ càng cho tương lai. Đó là câu chuyện tôi nghĩ khá quen thuộc với nhiều học sinh và các bậc cha mẹ ngày nay.    Và thái độ của tôi cũng tương tự như mọi thiếu niên khác trong cuộc trò chuyện kiểu ấy. Tôi đã tỏ ra là tôi không cần nghe những điều như vậy. Khi tôi vừa mở miệng  mẹ tôi đã ngắt lời tức thì. “Con không thể ngồi đấy mà chờ vận may đến với mình”, mẹ tôi nói. Con có thể vào bất cứ trường nào trong nước mà con muốn, nếu con bỏ ra một ít nỗ lực. Rồi bà nhìn tôi một cách nghiêm khắc và nói thêm: “Nhớ chưa? Nỗ lực, con nhé?”.  Kể cũng khá điếng người khi nghe mẹ tôi nói thế. Nhưng quả thật, lời nói của bà có tác dụng. Tôi nghiêm túc hơn trong việc học hành. Tôi nỗ lực. Và tôi bắt đầu thấy điểm số của mình – cả triển vọng tương lai của mình nữa, bắt đầu được nâng cao. Và tôi biết rằng nếu như sự làm việc cần mẫn có thể tạo ra thay đổi nơi tôi, thì nó cũng có thể tạo ra thay đổi cho các bạn.  Tôi biết một số em có thể nghi ngờ điều này. Các em có thể nghĩ người ta giỏi trong một lĩnh vực nhất định nào đấy bởi vì người ta vốn có năng khiếu. Quả là mỗi chúng ta đều có những tài năng và thiên khiếu mà chúng ta cần khám phá và nuôi dưỡng. Nhưng chỉ vì các em chưa phải là người giỏi nhất hôm nay không có nghĩa là em không thể trở thành người giỏi nhất ngày mai. Ngay cả nếu các em không cho rằng mình sinh ra là để làm toán hay làm khoa học – các em vẫn có thể xuất sắc trong những môn ấy nếu các em mong muốn và nỗ lực. Và các em rất có thể phát hiện những tài năng mà các em chưa từng mơ đến.  Các em thấy đấy, xuất sắc trong nhà trường hay trong cuộc sống không phải chủ yếu có nghĩa là thông minh hơn người khác. Nó có nghĩa là làm việc cần mẫn hơn người khác. Đừng né tránh những thách thức mới – hãy tìm ra nó, hãy bước ra khỏi cái vùng tiện nghi thoải mái của các em, và đừng e ngại nhờ giúp đỡ; thầy cô và gia đình sẵn sàng hướng dẫn các em. Đừng nản long hay bỏ cuộc nếu các em không thành công một điều gì đó – hãy thử lần nữa, và học hỏi từ những sai lầm của mình. Đừng cảm thấy bị đe dọa nếu các bạn khác học giỏi hơn, hãy tự hào về họ, và xem các em có thể học được gì từ những việc làm đúng của các bạn ấy.  Đó là văn hóa về sự ưu tú mà các bạn đang thúc đẩy ở nơi đây, và là thứ văn hóa mà chúng ta cần thúc đẩy trong mọi trường học ở Mỹ.  Đó là lý do khiến hôm nay, tôi công bố Thách thức cho Lễ Phát bằng Lần thứ hai,  nếu trường các em là người thắng cuộc, nếu nhà trường cho thấy các thầy cô giáo, cha mẹ các em, và các em đã làm việc cùng nhau tốt như thế nào để chuẩn bị cho các em  vào đại học và bước vào một nghề nghiệp, nếu các em cho thấy các em đã mang lại những gì cho cộng đồng xã hội và cho đất nước,– tôi sẽ hoan nghênh các em bằng sự hiện diện của mình và sẽ đến nói chuyện tại lễ tốt nghiệp của các em.  Nhưng sự thật là, một nền giáo dục thực chất có nghĩa rộng hơn là đi học hay có một việc làm tốt sau khi tốt nghiệp. Nó mang lại cho mỗi chúng ta cơ hội để thực hiện những hứa hẹn của mình, để trở thành phiên bản tốt nhất của chính chúng ta trong phạm vi khả năng của mình. Và một phần của điều đó là đối xử với người khác theo cách chúng ta muốn người khác đối xử với mình– với lòng tốt và sự kính trọng.  Giờ đây, tôi biết điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra, nhất là ở trường trung học cơ sở hay trung học phổ thông. Vượt qua tuổi đang lớn không phải là điều dễ dàng. Đây là lúc chúng ta vật lộn với bao nhiêu thứ. Khi tôi ở tuổi các em, tôi đã phải vật lộn với câu hỏi tôi là ai, là con trai của một người mẹ da trắng và một người cha da đen thì có ý nghĩa như thế nào, và về việc không có người cha ấy trong đời.  Một số em có thể đang đi qua những câu hỏi của chính mình, và đạt đến cái điều làm nên sự độc đáo của các em.  Và tôi biết rằng việc hình dung ra những điều ấy còn khó hơn nữa khi các em bị bắt nạt trong lớp, khi có người cố ý dùng những nét khác biệt ấy để chế nhạo hay cười giễu các em, để làm các em cảm thấy mình thật dở tệ. Có những nơi vấn đề còn nghiêm trọng hơn. Có những nơi như ở quê nhà tôi Chicago, trẻ em còn gây tổn thương cho nhau, và ở đây, Philly, cũng thế.   Vì vậy, điều tôi muốn nói với các em hôm nay– điều tôi muốn các em rút ra từ bài nói chuyện này– cuộc sống là quý giá, và một phần vẻ đẹp của cuộc sống là sự đa dạng. Chúng ta không nên bối rối vì những điều làm cho chúng ta khác biệt so với người khác. Chúng ta nên tự hào về điều đó. Bởi vì đó chính là những điều làm nên sự độc đáo và tạo nên bản sắc của chúng ta, xác định rõ chúng ta là ai. Sức mạnh và tính cách của đất nước này bao giờ cũng bắt nguồn từ khả năng của chúng ta trong việc nhận diện chính mình, bất kể chúng ta là ai, nguồn gốc thế nào, diện mạo ra sao, có khả năng hay khuyết tật gì.   Tôi nhớ lại cái ý tưởng nảy sinh trong một ngày nọ khi tôi đọc bức thư của một em gái 11 tuổi ở Georgia tên là Tamerria Robinson. Cô bé ấy kể cho tôi nghe rằng cô đã làm việc cần mẫn như thế nào, về những việc phục vụ cộng đồng cô đã làm cùng với anh trai mình. Cô bé viết: “Tôi cố gắng đạt được ước mơ của mình, và giúp người khác cũng đạt được ước mơ của họ. Đó là điều thế giới này cần làm”.   Tôi đồng ý với Tamerria. Đó là điều thế giới này cần làm. Vâng, chúng ta cần làm việc cần mẫn. Vâng, chúng ta cần có trách nhiệm với việc học tập của chính mình. Vâng, chúng ta cần có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình. Điều đã làm nên chúng ta chính là, ở đây, trên đất nước này, chúng ta không chỉ đạt đến mơ ước của chính mình, chúng ta giúp người khác cũng đạt được mơ ước của họ. Đây là một đất nước mang lại cho tất cả con trai con gái của mình một cơ hội công bằng. Một cơ hội để tận dụng tốt nhất cuộc đời của chính mình. Một cơ hội để hoàn thiện những tiềm năng mà Thượng đế đã ban cho mỗi người.    Và tôi hoàn toàn tự tin rằng nếu tất cả học sinh của chúng ta – ở nơi đây, Masterman, và trên khắp cả nước– làm tốt phần việc của mình, nếu các em làm việc cần mẫn và tập trung cho sự học; nếu các em đấu tranh cho mơ ước của mình; và nếu tất cả chúng tôi giúp các em đạt được mơ ước ấy, thì không chỉ bản thân các em thành công trong năm nay và cho cả cuộc đời các em, mà nước Mỹ sẽ thành công trong thế kỷ 21.  Xin cám ơn các em. Cầu mong Thượng đế phù hộ các em và phù hộ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.  Người dịch: Phạm Thị Ly  Nguồn:  http://www.whitehouse.gov/the-press-office/2010/09/13/remarks-president-barack-obama-prepared-delivery-back-school-speech       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta nghèo nhưng phí phạm      Bài viết của GS. Pierre Darriulat đã chỉ ra những sự thật nhức nhối mà chúng ta cần dũng cảm nhìn nhận, trong đó đặc biệt đáng quan tâm là vấn đề lãng phí chất xám và các nguồn lực của xã hội.    Lãng phí chất xám là vấn đề thực sự nghiêm trọng và đang diễn ra ở mọi nơi dưới rất nhiều hình thức, trong đó tập trung cao ở các cơ quan nhà nước. Đây là nơi người có tài năng không được sử dụng, thậm chí có thể bị bạc đãi nếu có ý kiến khác biệt với lãnh đạo; công tác khen thưởng cán bộ hằng năm không chú trọng đúng mức về chuyên môn, khiến những ai có năng lực và đóng góp hiệu quả về chuyên môn nhưng không đầu tư vào những việc khác (quan hệ quần chúng, hoạt động đoàn thể, phong trào) sẽ rất dễ bị đánh giá thấp.      Trong một hệ thống như vậy thì chất xám chắc chắn không dược nuôi dưỡng, người tài phải ra ngoài làm cho cơ quan tư nhân hoặc nước ngoài nếu không muốn bị thui chột hoặc thậm chí bị… đì. Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp, những người đi du học bằng học bổng nhà nước hoặc do cơ quan nhà nước tài trợ cử đi đa số không muốn trở về làm cho Nhà nước. Du học sinh đi bằng con đường tự túc lại càng dễ có ý định ở lại chứ không muốn về nước. Đây là một khuynh hướng ngày càng tăng và đáng lo ngại.      Mặt khác, do không thực sự sử dụng hiệu quả tài năng nên các cơ quan nhà nước khi tuyển dụng nhân sự không chú trọng đến năng lực thực chất mà chỉ chú trọng tấm bằng và điểm số, gây ra tình trạng lạm phát bằng cấp, chạy điểm, mua thầy, tất cả chỉ để cho có một hồ sơ học bạ đẹp để nộp khi xin việc. Đây là một trong những tác nhân quan trọng khiến công tác đào tạo, giáo dục ngày càng thiếu tính thực chất, xa rời thực tiễn.     Ở chiều ngược lại, chất lượng giáo dục yếu kém sẽ tiếp tục gây lãng phí chất xám cho những thế hệ tiếp theo, khiến người học lãng phí nhiều thời gian quý báu mà không được đào tạo đúng mực để đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân và xã hội. Hậu quả là tình trạng người người đổ xô đi học nước ngoài hoặc ít ra là các chương trình liên kết với nước ngoài ở trong nước, để rồi nếu không may mắn thì gặp phải những trường kém chất lượng khiến tiền mất tật mang, vừa làm lãng phí chất xám bản thân, vừa gây hao hụt nguồn ngoại tệ mà đất nước đang rất cần để phát triển.      Lãng phí của cải     Có nhiều thí dụ về tình trạng này ở Việt Nam, tôi chỉ nêu hai trường hợp cụ thể mà tôi biết rõ nhất. Thí dụ thứ nhất là từ những năm 2000 khi phần mềm Blackboard, một hệ thống quản lý học tập trực tuyến, mới ra đời và được bán với giá cắt cổ khiến ngay cả các trường đại học của Mỹ cũng ngần ngại không dám mua, thì một trường đại học ở TP. HCM (xin không nêu tên) bằng nguồn vốn vay cho giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới đã mạnh dạn mua về rồi để đó không dùng vì quá phức tạp, sau đó phải vứt bỏ. Trong khi đó, chỉ vài năm sau người ta đã có thể mua phiên bản cập nhật hơn của cùng một hệ thống ấy với mức giảm giá rất nhiều lần.         Ví dụ thứ hai cùng xảy ra trong thời kỳ trên là việc xây dựng một số thư viện to đẹp, hiện đại ở một số trường, trong đó thiết kế và lắp đặt máy lạnh đầy đủ, nhiều sách vở được mua, tất cả cũng đều bằng tiền vay từ nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới cho giáo dục đại học. Nhưng cuối cùng khi hết tiền của dự án thì thư viện bị đóng cửa hoặc được sử dụng rất hạn chế, do… không có tiền để trả tiền điện, mà phòng thiết kế quá kín để dùng máy lạnh nên khi không mở máy lạnh sẽ bí và nóng! Người ta mua cho các thư viện này những cơ sở dữ liệu bài báo khoa học rất tốn kém (các trường đều mua chứ không chịu dùng chung), nhưng người biết tiếng Anh và đủ trình độ để đọc thì rất hiếm nên cuối cùng …không mấy ai sử dụng.    Từ những vấn đề tồn tại phổ biến như trên, chúng ta có thể thấy rằng thay vì tiếp tục theo đuổi những mục tiêu ảo tưởng, như đưa giáo dục đại học Việt Nam lọt vào top này hay top kia, Việt Nam cần phát triển nền giáo dục đại học của mình thật vững chắc bằng cách tập trung đáp ứng các nhu cầu thiết thực nội tại của xã hội và nền kinh tế. Đó là: một nền giáo dục tử tế ở trình độ sau trung học (gồm cả dạy nghề, cao đẳng, và đại học); hạn chế bớt các chương trình sau đại học kém chất lượng; quan tâm đến chất lượng đầu ra sao cho đáp ứng thị trường lao động, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội v.v. Nếu không làm vậy thì nền giáo dục Việt Nam sẽ không thể đứng vững qua cơn khủng hoảng hiện nay, và càng không thể cất cánh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chúng tôi đang học cách đặt từng viên gạch”      Không lâu sau khi viết thư gửi Bộ trưởng  Giáo dục, nói về những điểm thiếu thực tế của SGK tiếng Anh phổ thông ở  Việt Nam, Võ Thị Mỹ Linh cũng đồng thời bắt tay vào thành lập một dự án  dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Cô chia sẻ về  những kết quả ban đầu của dự án này, sau khi kết thúc giai đoạn thử  nghiệm.    Gần đây bạn khởi động dự án Volunteer House Vietnam với mong muốn dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em. Bạn có thể chia sẻ, dự án đã bắt đầu như thế nào?     Dự án Volunteer House Vietnam dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em từ 9-12 tuổi, đặc biệt ưu tiên trẻ em nghèo. Tham gia dự án này, khách du lịch có trình độ tiếng Anh, không phân biệt người Việt hay người nước ngoài, sẽ được cấp chỗ ở miễn phí, đổi lại bằng việc dạy tiếng Anh cho trẻ em, hoặc cùng làm việc với người dân địa phương. Mục đích của dự án là không chỉ giúp trẻ em nghèo cải thiện kĩ năng Anh ngữ mà còn thay đổi thói quen du lịch check–in/ngắm cảnh, hướng đến hình thức du lịch trải nghiệm, thử thách bản thân.    Bắt đầu hoạt động từ tháng 2/2015, đến nay, dự án đã có hơn 500 tình nguyện viên trong nước và quốc tế đăng ký tham gia; năm cơ sở dạy tiếng Anh miễn phí – ba cơ sở ở TP HCM và hai cơ sở ở Hà Nội – đã đi vào hoạt động. Dự án cũng vận động được 80 nhà trống trên 18 tỉnh thành. Mục tiêu của chúng tôi là dự án được triển khai trên toàn quốc và mỗi tỉnh thành có ít nhất một ngôi nhà Volunteer House Vietnam.  Vì sao bạn lại chọn việc dạy tiếng Anh cho trẻ em làm hoạt động chính của dự án?  Khi lập dự án này, chúng tôi không quan tâm sẽ phổ cập tiếng Anh được cho bao nhiêu em. Cứ tính trung bình mỗi lớp học có 15 em, với năm cơ sở của chúng tôi, mỗi năm chỉ tốt nghiệp được 75 em thì đâu có nhiều nhặn gì. Dự án này ra đời là để lan tỏa thông điệp rằng, tiếng Anh rất quan trọng, đã đến lúc các bạn cần phổ cập nó như thời chúng ta xóa mù tiếng Việt vậy. Bởi, một cô gái phải bỏ việc để đi vì dốt tiếng Anh như tôi, hơn ai hết, tôi hiểu rõ người ta phải chịu thiệt thòi thế nào nếu dốt tiếng Anh. Lúc bỏ việc, tôi đã ước, với một cô gái chịu học như tôi, giá mà hồi nhỏ bố mẹ nhắc nhở rằng tiếng Anh quan trọng lắm thì tôi sẽ sống chết mà học. Nhưng bố mẹ tôi ngày đó chỉ quan tâm chuyện làm sao kiếm đủ tiền để không bị chết đói, chứ đâu biết học tiếng Anh để làm gì.          Sau khi dẫn chứng bài học đầu tiên của các  SGK Tiếng Anh từ tập 1 đến tập 5 đều dạy đi dạy lại ba câu “Hello”,  “Where are you from”, “How’re you”, trong thư gửi Bộ trưởng Giáo dục  tháng 11/2014, Võ Thị Mỹ Linh đặt câu hỏi vì sao có mỗi ba câu đó mà học  sinh phải học đi học lại suốt năm năm học.           Thách thức lớn nhất đối với bạn khi điều hành dự án này là gì?  Dĩ nhiên, làm một công việc tình nguyện không hề dễ dàng tí nào, nhất là dự án chưa huy động được bất kỳ nguồn vốn nào cho đến thời điểm này. Tôi hình dung nó còn khó hơn quản lý một công ty. Nếu điều hành một công ty, tuyển nhân viên về làm, nhân viên làm không được đuổi việc thì quá dễ. Nhưng ở đây tôi lại không có một đồng nào để trả lương cho tình nguyện viên. Làm thế nào để họ ở lại với dự án mới là khó.  Tôi cũng thấy buồn khi một số phụ huynh có con em tham gia đi học miễn phí bắt đầu ra yêu sách. Nào là học vào giờ đấy họ đón con không kịp, nào là sao không dạy cái gì giúp con họ có thể đạt điểm cao ở trường…    Những người ủng hộ bạn và dự án nói gì? Và với những người không ủng hộ, bạn có nghe ý kiến nào từ họ?    Năm 2014, Võ Thị Mỹ Linh từng bỏ việc đi du lịch trong nửa năm ở Ấn Độ và Nepal.   Tháng 10 năm đó, cô đã may mắn sống sót sau trận bão tuyết khiến ít nhất 40 người   thiệt mạng ở dãy núi Annapurna (cao 5.000mm, thuộc dãy Himalaya ở Nepal).  Đã có rất nhiều phóng viên báo đài đều tìm đến phỏng vấn tôi. Họ ca ngợi vì tôi làm một điều tốt cho xã hội. Nhưng đó chỉ là trên báo thôi. Chứ thực ra, tất cả phóng viên gặp tôi ngoài đời đều hỏi một câu: sao về nước hết tiền sao không lo kiếm việc mà lại đi làm chuyện thiện nguyện.  Câu hỏi này nhắc tôi liên tưởng đến hình ảnh ngày nhỏ. Một chiều cuối năm, tôi chứng kiến cảnh ông cụ hàng xóm chạy đi khắp các hẻm nhặt rác để cả xóm có một con đường sạch đón Tết. Những người dân nơi khu tôi ở thấy ông già đi nhặt rác thì chạy lại tỏ lòng biết ơn. Nhưng khi ngồi nói chuyện với nhau, họ bảo, “Cái lão già ấy điên nhỉ, nhà lão bẩn không ai dọn, thế mà lão lại đi nhặt rác cho cả xóm”. Dĩ nhiên, cả tôi, những bạn bè đã và đang chung tay gầy dựng dự án cùng tôi, cũng như ông già nhặt rác ấy, chẳng ai buồn vì những lời bình luận của thiên hạ. Bởi chúng tôi không cố gắng làm điều tốt đẹp để nhận lại những lời tử tế. Chúng tôi làm nó, đơn giản chỉ vì nếu không làm, chúng tôi sợ những thứ xấu xa còn lại sẽ quyến rũ chúng tôi mất.  Tôi cũng thấy những người ở thế hệ trước lắc đầu nhìn thế hệ trẻ bây giờ và bảo rằng, giới trẻ chỉ biết ăn chơi, hưởng thụ, không lo xây dựng đất nước. Tôi muốn nói với họ rằng, đã có hơn 500 tình nguyện viên trẻ đang tham gia vào dự án của tôi. Chúng tôi đang học cách đặt từng viên gạch. Và câu hỏi còn lại bây giờ là: thế họ có muốn giúp thế hệ trẻ chúng tôi làm điều này không?  Xin cảm ơn những chia sẻ của bạn!         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình học bổng Quốc gia UNESCO – L’OREAL: “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học”      Ra đời từ năm 1998, Chương trình “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học” bao gồm 3 cấp độ. Ở cấp độ quốc tế có giải thưởng L’Oreal-UNESCO, chương trình học bổng nghiên cứu quốc tế L’Oreal-UNESCO. Ở cấp độ quốc gia là chương trình học bổng quốc gia UNESCO- L’Oreal của từng nước.   Giải thưởng “For Women in Science” (Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học) của&#160; L’oreal-Unesco trị giá 100,000 USD là giải thưởng quốc tế đầu tiên trên thế giới dành cho phụ nữ cống hiến đời mình cho khoa học. Ngày nay, chương trình này đã được phát triển rộng khắp thế giới phát hiện các tài năng khoa học và vinh danh các thành tựu khoa học của các nữ nghiên cứu ở từng châu lục.    10 năm với 52 nhà khoa học nữ được vinh danh, giải thưởng này đang thể hiện lời hứa của chúng tôi bà Béatrice Dautreme, Phó Chủ tịch Tập đoàn L’oreal, Giám đốc điều hành quỹ cộng đồng L’oreal, thành viên sáng lập quỹ chia sẻ. Những nữ khoa học được tôn vinh là những người xuất sắc được chọn từ hội đồng khoa học thế giới, họ đang trở thành các đại sứ và đóng vai trò mẫu mực cho thế hệ các nhà nghiên cứu trẻ trên khắp toàn cầu.  Từ ngay năm đầu tiên của giải thưởng, chương trình đã quyết định trao tặng 5 giải thưởng, mỗi một giải thưởng cho một châu Lục. Những người ứng cử cho giải thưởng sẽ được các nhà khoa học ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đề cử cho hai hội đồng giám khảo thế giới- một hội đồng về khoa học sự sống và một hội đồng về khoa học vật lý thay đổi luân phiên theo từng năm. Chủ tịch hội đồng giám khảo là các nhà khoa học đạt giải Nobel như sinh học Gunter Blobel và nhà vật lý quá cố Pierre –Gilles de Gennes.  Để hỗ trợ cho các nhà nữ nghiên cứu trẻ trên khắp toàn cầu, Chương trình học bổng nghiên cứu quốc tế đã được thành lập. Kể từ năm 2000, Chương trình học bổng quốc tế đã trao tặng cho các nhà nghiên cứu nữ có học vị tiến sĩ và sau tiến sĩ từ 67 quốc gia để hỗ trợ họ làm nghiên cứu tại một số phòng thí nghiệm danh tiếng nhất trên thế giới. Mỗi năm chương trình học bổng quốc tế UNESCO-L’Oreal sẽ trao tặng cho 15 nhà khoa học nữ trẻ tuổi có học vị tiến sĩ và sau tiến sĩ, có các nghiên cứu tiềm năng trong ngành Khoa học Đời sống được các học viện danh tiếng nước ngoài chấp nhận. Mỗi học bổng trị giá tối đa 40.000 USD cho 2 năm.  Vào cuối năm 2008, thêm một Chương trình học bổng nghiên cứu ở cấp quốc gia dành hỗ trợ cho các phụ nữ đang theo đuổi các ngành nghề khoa học ở từng quốc gia được giới thiệu trên 50 quốc gia khắp thế giới.  Được thành lập từ các chi nhánh của L’Oreal khắp thế giới, Chương trình học bổng này chủ yếu dành cho các phụ nữ trẻ có học vị tiến sĩ đang theo đuổi các nghiên cứu khoa học ở tại quê hương. Chương trình học bổng quốc gia đã trao tặng học bổng cho 340 nhà nghiên cứu ở 35 quốc gia. Vào cuối năm 2008, chương trình này sẽ có mặt tại hơn 50 quốc gia như Bulgaria. Columbia, Estonia, Israel, Lebanon, Lithuania, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Peru, Philippines, Romania, Serbia, Singapore, Slovakia, Thụy Điển, Ukraine, Uruguay, Venezuela và Việt Nam.            L’Oreal là tập đoàn mỹ phẩm hàng đầu của thế giới, được biết đến qua các dòng mỹ phẩm chất lượng cao được cải tiến liên tục để đáp ứng nhu cầu đa dạng cho khách hàng từ 130 quốc gia trên thế giới. Có gần 3.000 chuyên gia của tập đoàn làm việc trong 14 trung tâm nghiên cứu tại Pháp, Mỹ và châu Á. Các phát minh từ các nhà nghiên cứu này đã mang đến cho tập đoàn L’Oreal hàng trăm bằng sáng chế mỗi năm. Có hơn 63.000 nhân viên làm việc cho tập đoàn L’Oreal trong đó nữ giới chiếm 55%.   L’Oreal Việt Nam được chính thức thành lập tháng 12 năm 2007 với nhiệm vụ chiến lược của tập đoàn là làm cho thế giới ngày càng đẹp hơn.         Tại Việt Nam, ngày 17/10/2008, Chương trình học bổng Quốc gia được L’Oreal Việt Nam tài trợ dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về UNESCO và được cố vấn bởi Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam đã ra mắt tại Hà Nội. Chương trình học bổng với mục đích “ươm mầm tài năng khoa học” sẽ được dành riêng cho các nhà khoa học nữ trẻ tuổi của Việt Nam có các đề án nghiên cứu khoa học tiềm năng trong 2 lĩnh vực: Khoa học Đời sống và Khoa học Vật liệu sẽ được thực hiện tại Việt Nam.  Các đề án sẽ được xem xét và trao tặng bởi hội đồng khoa học L’Oreal-UNESCO gồm một số nhà khoa học có uy tín của Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng là Giáo sư Tiến sĩ Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam cùng với Hội đồng danh dự là Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu và Giáo sư Hoàng Tụy. Năm 2008 sẽ có 3 đề án được chọn để trao tặng học bổng, mỗi học bổng trị giá 100.000.000 đồng.  Trong một thập niên cộng tác giữa L’Oreal và UNESCO, chương trình Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học đã có 52 phụ nữ đoạt giải thưởng L’Oreal-UNESCO được vinh danh cho nghề nghiệp của mình, 120 phụ nữ nhận học bổng quốc tế để tiếp tục theo đuổi ngành khoa học của mình và chương trình học bổng quốc gia đã có mặt trên 35 quốc gia đã giúp cho hơn 340 nhà nghiên cứu nữ trẻ tuổi tiếp tục các nghiên cứu của mình. Với ba chương trình song hành, chương trình “Vì sự nghiệp phát triển phụ nữ trong khoa học” đã có trên 500 nhà khoa học nữ được vinh danh cho các công trình nghiên cứu hoặc được hỗ trợ để tiếp tục theo đuổi ngành khoa học của họ.                                                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình mới, cách làm cũ?      Chương trình giáo dục phổ thông mới môn toán chuẩn bị đi vào lộ trình thực hiện. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn lo lắng về thực tiễn triển khai chương trình này, khi việc tập huấn giáo viên chưa hợp lý và kỳ thi không tương thích với các mục tiêu giáo dục của chương trình mới.    Có bao nhiêu số phức z thỏa mãn |z|(z – 5 – i) + 2i = (6 – i)z?  A.1 B.4 C.3 D.2  Nói về bài toán này trong buổi hội thảo về giảng dạy toán học ở VN tại Viện Toán, GS. Đỗ Đức Thái, chủ biên chương trình giáo dục Toán phổ thông mới (bắt đầu triển khai từ năm học 2020 – 2021, theo Thông tư 32/2018-BGDĐT) nửa đùa nửa thật: “Tôi tin chắc từ giờ đến 5 giờ chiều GS. Lê Mậu Hải (chuyên ngành giải tích phức – PV) không thể giải được bài này nếu không biết lời giải trước”. GS. Đỗ Đức Thái và GS. Lê Mậu Hải đã có nhiều năm làm việc cùng nhau tại Khoa Toán tin, Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội. Bài toán khó này vốn không đặt ra cho các nhà nghiên cứu, mà được đưa ra trong đề thi Toán trung học phổ thông quốc gia năm 2018 (câu số 45, mã đề 120) để đánh giá năng lực của học sinh cấp 3.    Thí sinh thi vào lớp 10 năm học 2018 – 2019 TP HCM. ảnh: Pháp luật Việt Nam.  Đây chỉ là một trong nhiều những bài toán mà theo GS. Đỗ Đức Thái “cả cuộc đời những người làm toán chuyên nghiệp lẫn những người không làm toán học không bao giờ nhìn thấy”, nhưng đang được đưa ra cho học sinh phổ thông. Điều này phản ánh cách học và dạy hiện nay, với mục đích tối thượng không phải là phát triển khả năng tư duy hay giải đáp một vấn đề thực tiễn nào, mà là giải bài tập lắt léo để đi thi đạt điểm cao.  May mắn là chương trình giáo dục phổ thông mới, với những mục tiêu đào tạo thiết thực hơn, sẽ bắt đầu đi vào lộ trình thực hiện từ năm học 2020 – 2021 với lớp 1 và đến năm học 2024 – 2025 sẽ thực hiện ở tất cả các lớp. Nhìn chung chương trình mới đặt ra mục tiêu phát triển năng lực người học, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo và khả năng tự học.  “Đối với chương trình môn toán nói riêng, và các môn khác nói chung,thay đổi căn bản nằm ở cách tiếp cận chương trình và đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học”, GS. Đỗ Đức Thái cho biết. Và rất có thể việc “đổi mới phương pháp dạy học” sẽ gặp điểm nghẽn ngay từ quá trình tập huấn giáo viên.    GS. Đỗ Đức Thái. Ảnh: KH&PT  Với bất kỳ chương trình giáo dục nào, thì người trực tiếp truyền tải và hướng dẫn học sinh sẽ là giáo viên đứng lớp, và “chương trình mới dạy ra làm sao, triển khai ra làm sao phải được thẩm thấu với đúng tinh thần của nó đến từng giáo viên, nếu không là hỏng”, GS. Đỗ Đức Thái nói. Theo kế hoạch chi tiết của Bộ GD&ĐT, hoạt động bồi dưỡng giáo viên thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới 2019 (Công văn 263/KH-BGDĐT ngày 29/3/2019) sẽ bắt đầu từ bồi dưỡng 200 báo cáo viên nguồn, sau đó từ 200 người này mở rộng ra bồi dưỡng 800 giảng viên chủ chốt ở các ĐHSP (những người sẽ đi bồi dưỡng các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên phổ thông). Các trường ĐHSP sau đó sẽ bồi dưỡng cho 6.956 tổ trưởng chuyên môn, 28.000 giáo viên chủ chốt và cuối cùng là 100% giáo viên đại trà.  Điểm khó của quá trình bồi dưỡng này là chương trình phải trải qua vài lần tập huấn bắc cầu mới đến được giáo viên đứng lớp. Mà “Trong quá trình tập huấn sợ nhất là tam sao thất bản. Đến khi giáo viên đứng lớp nghe thì có phải chương trình môn toán nữa không, hay nghe một thứ trên đời chưa từng có?”, GS. Đỗ Đức Thái bày tỏ lo ngại.  GS. Đỗ Đức Thái, cũng như các chủ biên chương trình các môn học khác, là những người đã trực tiếp xây dựng chương trình mới từ cách đây 6 năm. Có thể nói đây là những “kỹ sư trưởng” am hiểu về các chương trình môn học mới, những yêu cầu, mục đích, phương pháp đào tạo mà nó đặt ra. “Nhưng tôi chưa bao giờ tập huấn cho bất kỳ một giảng viên nào, các chủ biên môn học theo tôi biết thì cũng không ai được mời cả”, GS. Thái nói. Liệu chương trình môn học mới có thể được truyền tải trung thực, chính xác đến mức nào khi chủ biên các môn học, người trực tiếp xây dựng chương trình, không phải là người đứng ra tập huấn giáo viên nguồn và giảng viên chủ chốt.  Lo ngại thứ hai chính là kỳ thi, yếu tố quyết định cách dạy và học ở Việt Nam, không tương thích với mục tiêu giáo dục mới. Giả sử bằng một cách nào đó hình thức tập huấn này thành công, thì câu hỏi tiếp theo đặt ra là giáo viên có thể dạy theo chương trình mới hay không khi kỳ thi, yếu tố chi phối cách dạy và học, vẫn đòi hỏi học mẹo, dò mẹo để đạt điểm cao.  “Câu hỏi tôi nhận được nhiều nhất từ giáo viên là: nếu dạy theo thầy thì đúng là hay thật nhưng thi cử người ta có thi như thế đâu”, GS. Đỗ Đức Thái kể lại. “Trắc nghiệm multiple choice như chúng ta thực hiện vài năm gần đây ở kỳ thi THPT Quốc gia là mâu thuẫn và cản trở việc hình thành năng lực toán học. Chúng ta không thể đo được năng lực tư duy, lập luận, giao tiếp, mô hình hóa toán học bằng multiple choice”. Vài năm gần đây, hình thức thi trắc nghiệm multiple choice (chọn đáp án đúng trong 4 đáp án cho trước) càng đẩy tinh thần học mẹo, dạy mẹo lên cao hơn, và việc phát triển năng lực toán học cho học sinh càng trở thành thứ yếu. Một thống kê của Khoa Toán tin ĐHSPHN về điểm các môn cơ bản của khoa toán ở năm nhất của sinh viên các khóa từ 2014 đến 2018 cho thấy điểm của hai khóa gần đây nhất thấp hẳn so với những khóa trước đó (trùng hợp với mốc thời gian bắt đầu thi trắc nghiệm multiple choice). Tuy thời gian và phạm vi khảo sát của thống kê này tương đối hẹp, nhưng nó cho thấy cách dạy, học và thi hiện nay đang để lại nhiều dấu hiệu đáng lo ngại ở “đầu nguồn” nhân lực ngành sư phạm toán – những sinh viên sẽ trở thành giáo viên và nhà nghiên cứu trong tương lai. Do vậy cần có những nghiên cứu đánh giá các tác động của hình thức thi này. “Phải nghiên cứu thay đổi lại cách tổ chức các kỳ thi của Việt Nam trên tinh thần giảm nhẹ áp lực của thi cử đến học sinh, không làm biến dạng và cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình mới”, GS. Đỗ Đức Thái khuyến nghị.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp: Để đủ thầy đủ thợ?      Lâu nay ta thường nghe một câu nói là nước mình “thừa thầy thiếu thợ”. Muốn biết câu nói này chính xác đến đâu cần phải có những con số cụ thể, những thống kê và so sánh với nhu cầu của thị trường lao động. Nhưng nhận định trên chắc được rút ra từ thực tế sản xuất và dễ nhận thấy những hàm ý bên trong. Đó là sự mất cân bằng của nhân lực lao động so với nhu cầu sản xuất. Đó là ở ta, thừa người biết nói nhưng thiếu người biết làm. Đó là ở ta rất trọng khoa bảng nhưng chưa trọng người thợ như cần phải có.      Các em học sinh tiểu học đang tham quan gian hàng trình diễn in 3D trong ngày hội STEM do Tia Sáng và Liên minh STEM tổ chức, năm 2017. Ảnh: BN.  Chuyển đổi số và giáo dục nghề nghiệp     Chuyển đổi số toàn cầu bắt nguồn từ sự xuất hiện hơn hai chục năm qua của không gian mạng (cyberspace)–  được hiểu là môi trường Internet nơi ở đó mỗi người, với một định danh, có thể giao tiếp dễ dàng với những người khác để trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin, cùng làm việc, thưởng thức nghệ thuật, chơi trò chơi, bàn luận thời cuộc…     Không gian mạng đã và đang len lỏi vào các hợp phần trong môi trường sống của con người– môi trường tự nhiên (như núi non, sông ngòi, bầu trời, cây cối, chim muông), môi trường nhân tạo (như nhà cửa, đường xá, cầu cống, xe cộ), môi trường xã hội (con người và các quan hệ, như luật lệ, thể chế, tôn giáo, họ tộc, gia đình)– và tạo thành một môi trường sống mới, môi trường thực-số, còn thường được gọi là môi trường số.     Môi trường thực-số chính là môi trường ta sống nay được nối với không gian mạng, ở đó các thực thể dần được số hóa và tạo ra các phiên bản số (là những con số– tức dữ liệu– mô tả các thực thể đó) và do vậy có thể kết nối được với nhau. Không gian mạng không chỉ là phần “cộng thêm” mà còn là phần “nhập vào” môi trường truyền thống của con người. Nói môi trường thực-số là hàm ý nhấn mạnh mỗi thực thể giờ đây sẽ có cả phần thực và phần số gắn bó và đan xen nhau. Nói cách khác, mọi thứ trên môi trường ta đang sống đều đã và đang gắn với những con số, nhờ đó nối được với nhau và có thể hoạt động tốt hơn nhờ được tính toán và điều khiển. Nói cách khác là con người có thể thông minh hóa mọi hoạt động trên môi trường thực-số.      Chuyển đổi số được hiểu một cách ngắn gọn là “quá trình thay đổi cách sống và cách làm việc trên môi trường thực-số với các công nghệ số”2, và do vậy giáo dục nghề nghiệp có thể được hiểu là “quá trình thay đổi cách làm giáo dục nghề nghiệp trên môi trường thực-số với các công nghệ số”.      Môi trường thực-số với hai đặc điểm dữ liệu và kết nối đem đến cơ hội phát triển và bứt phá cho nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia đi sau, và cho phép tạo ra những phá hủy sáng tạo trong kỷ nguyên số. Đó là cách giao tiếp, cách sản xuất, cách mua bán, cách vui chơi… Đó là Amazon, là Airbnb, là Estonia…1.     Môi trường thực-số là một hiện thực khách quan. Dù muốn hay không môi trường ta sống vẫn đang thay đổi thành thực-số và khai thác các cơ hội số để phát triển và thích nghi là phương thức cơ bản để phát triển hiện nay và trong tương lai.     Giáo dục nghề nghiệp là một trong bốn lĩnh vực trụ cột của hệ thống giáo dục và đào tạo quốc gia (Hình 1): Giáo dục mầm non và phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục và đào tạo thường xuyên3. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan nhà nước phụ trách hai lĩnh vực đầu, và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phụ trách hai lĩnh vực sau.    Mỗi trụ cột của hệ thống giáo dục quốc gia có tầm quan trọng và sứ mạng riêng của mình. Giáo dục nghề nghiệp nhằm cung cấp nhân lực được đào tạo với kỹ năng nghề cao cho thị trường lao động, và do đó không những thiết yếu trong phát triển kinh tế đất nước mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến an sinh xã hội. Hiện cả nước có gần 2000 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó 397 trường Cao đẳng; 512 trường Trung cấp và 1031 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Trong chuyển đổi số quốc gia, giáo dục nghề nghiệp phải chuyển đổi mạnh mẽ để người làm nghề có kiến thức và kỹ năng số cần thiết trong những thay đổi nghề nghiệp toàn cầu.       Hình 1. Bốn lĩnh vực trụ cột trong hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam.  Chuyển đổi số được hiểu một cách ngắn gọn là “quá trình thay đổi cách sống và cách làm việc trên môi trường thực-số với các công nghệ số”2, và do vậy giáo dục nghề nghiệp có thể được hiểu là “quá trình thay đổi cách làm giáo dục nghề nghiệp trên môi trường thực-số với các công nghệ số”.       Hệ sinh thái số của giáo dục và đào tạo     Mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp của Chương trình chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp cơ bản được xây dựng trên mô hình hệ sinh thái số của giáo dục và đào tạo với sáu hợp phần cần thay đổi4:    1. Nội dung giáo dục và đào tạo   2. Phương pháp dạy và học   3. Người học và người dạy   4. Hạ tầng, nền tảng, và học liệu số   5. Quản trị và quản lý giáo dục  6. Thể chế và hành lang pháp lý    Cơ sở để xây dựng hệ sinh thái số này là những điểm khác nhau về dạy và học trên môi trường truyền thống và trên môi trường thực-số (Bảng 1).  Các hợp phần của hệ sinh thái số của giáo dục và đào tạo được tóm tắt dưới đây.                    Dạy và học trên môi trường truyền thống      Dạy và học trên môi trường thực-số          Cách dạy và học      Luôn từ lý thuyết đến ứng dụng.  Dựa theo sách giáo khoa, giáo trình.      Thường từ vấn đề, dự án, trường hợp… đến lý thuyết.  Dùng thêm nhiều học liệu số với nội dung chia theo mô-đun          Người học      Thụ động theo nội dung được dạy      Chủ động, tự định hướng, tự học, hợp tác và hứng thú          Người dạy      Người giảng bài      Người huấn luyện          Nơi dạy và học      Lớp học, giảng đường      Mọi chỗ, mọi nơi          Tốc độ học tập      Theo chương trình và giáo trình      Theo năng lực người học và lĩnh vực quan tâm          Đơn vị dạy và học      Khoá học và môn học      Mô-đun và năng lực          Theo dõi tiến độ      Kiểm tra vào ngày ấn định, nhằm đánh giá khả năng nhớ và hiểu kiến thức.      Liên tục, lặp, và tập trung vào mức đạt năng lực, văn hóa hợp tác và tư duy phản biện.          Vai trò của CNTT-TT      Đưa nội dung tới từng người học      Tạo môi trường kết nối người học với nhau, với môi trường            Bảng 1. Dạy và học trên môi trường truyền thống và trên môi trường thực-số.  1. Chuyển đổi số nội dung giáo dục nghề nghiệp    Vấn đề quan trọng nhất của chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp là chuyển đổi nội dung cho phù hợp với tương lai của các nghề. Các chương trình đào tạo nghề cần bỏ đi những nội dung không cần hoặc ít cần và thêm vào những nội dung mới, kỹ năng mới sẽ cần hoặc rất cần, phù hợp với thay đổi của các nghề trong những ngày đang đến. Các nội dung dạy nghề cần được thiết kế theo mô-đun để có thể dễ dàng thay đổi và thích hợp với các phương pháp dạy và học mới.       Hình 2. Hệ sinh thái số của giáo dục và đào tạo.    2. Chuyển đổi số phương pháp dạy và học    Cần thay đổi cách dạy và học trên môi trường thực-số, tiêu biểu là các phương pháp sau.     Học tập kết hợp (blended learning): Hài hòa việc dạy và học trên lớp hay ở xưởng với dạy và học trực tuyến, chú trọng việc dùng các công nghệ và học liệu số.    Học theo dự án (project-based learning): Hướng người học đến việc lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc bắt tay vào một dự án cần thực hiện.     Học đảo ngược (flipped learning): Việc hiểu, ghi nhớ và vận dụng một nội dung  được thực hiện trước, và trên lớp chủ yếu cho phân tích, tổng hợp và đánh giá.       Vấn đề quan trọng nhất của chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp là chuyển đổi nội dung cho phù hợp với tương lai của các nghề. Quản trị số với cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu tình hình nhân lực làm nghề của cả nước.      Học tập thích nghi (adaptive learning): Dạy và học phù hợp với năng lực và trình độ của từng người học, tức cá thể hóa việc học.    Thay đổi phương pháp dạy và học là một quá trình dài, nhưng không thể khác.    3. Người học và người dạy trên môi trường thực-số    Năng lực chủ yếu cần cho việc học tập suốt đời là tự chủ và tự học. Tự chủ là việc biết tự định hướng, tự xác định cần học gì. Tự học là chính mình biết học thế nào cho hiệu quả. Trên môi trường thực-số, người học sẽ dần là chủ thể, đóng vai trò trung tâm và người dạy sẽ chủ yếu dẫn dắt người học, là “huấn luyện viên” đồng hành cùng người học trên con đường tìm kiếm tri thức.    4. Hạ tầng, nền tảng, và học liệu số     Hạ tầng số trên môi trường thực-số trước hết là hạ tầng kết nối (máy tính và mạng internet cùng các phần mềm cơ bản) và hạ tầng dữ liệu (các cơ sở dữ liệu về giáo viên và học viên, hoạt động đào tạo và quản lý… được kết nối và chia sẻ). Hạ tầng số cơ bản này là nền móng để tạo nên khuôn viên thông minh trong hệ sinh thái, để trên đó thực hiện các hợp phần của hệ sinh thái.    Nền tảng số là hệ thống công cụ số hoặc một môi trường nền giúp cho việc phát triển ứng dụng hoặc kết nối con người, xây dựng từ các công nghệ số trong hạ tầng ứng dụng– một hợp phần của hạ tầng số.     Học liệu số là “các tài liệu, dữ liệu thông tin, tài nguyên được số hóa, lưu trữ phục vụ cho việc dạy và học.” Nếu như người học trước kia chủ yếu học với sách giáo khoa, thì ngày nay và trong tương lai, người học cần dùng phối hợp một cách hài hòa sách giáo khoa và học liệu số.     5. Chuyển đổi số quản trị và quản lý giáo dục    Hạ tầng số và các nền tảng số cho phép công tác quản trị, hoạch định, tổ chức, lãnh đạo việc dạy và học, cũng như điều hành, dự báo và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Rất nhiều vấn đề quản trị của giáo dục nghề nghiệp, từ vĩ mô đến vi mô, đều có thể thay đổi sâu sắc khi sử dụng hiệu quả dữ liệu và những kết nối phong phú trên Internet. Công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp cũng sẽ tăng được hiệu quá rất mhiều khi bộ phận hành chính sử dụng hiệu quả các công nghệ số qua các nền tảng số để quản lý các hoạt động thường xuyên ở cơ sở giáo dục. Quản trị số với cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu tình hình nhân lực làm nghề của cả nước.      Hình 3. Tóm tắt phương pháp luận 2-3-5 về chuyển đổi số.  6. Xây dựng thể chế và hành lang pháp lý     Cũng như ở các lĩnh vực khác, chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp là sự thay đổi tổng thể và toàn diện mọi hoạt động dạy và học trên môi trường thực-số. Sự thay đổi lớn lao và sâu sắc này đòi hỏi những thay đổi về thể chế và hành lang pháp lý để cho phép thay đổi hoạt động giáo dục nghề nghiệp, trong đó có:    – Thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học trên môi trường số.    – Dạy và học, kiểm tra, đánh giá trực tuyến, kiểm định chất lượng, công nhận kết quả.    – Quy định công nhận và cấp chứng chỉ cho hình thức học online.    – Các quy định về mô-đun hóa chương trình đào tạo và công nhận lẫn nhau giữa các chứng chỉ, tín chỉ.    – Quy định về bản quyền, sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin cá nhân, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu và kho học liệu số.    Cùng với hệ sinh thái số định ra những nội dung đặc thù của giáo dục và đào tạo, một phương pháp luận về chuyển đổi số, còn gọi phương pháp luận 2-3-5, tóm tắt trong Hình 3, cũng được giới thiệu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp4.      Bước đầu của chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp     Ngay sau khi Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp đã tích cực chủ trì và triển khai các hoạt động chuyển đổi số. Đây là một hành trình mới chưa có tiền lệ, chưa có những bài học kinh nghiệm, là một hành trình vừa đi, vừa học, vừa tìm đường. Tiên phong trong kế hoạch của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp là 11 trường cao đẳng đối tác của chương trình hợp tác kỹ thuật Việt-Đức “Đổi mới đào tạo nghề Việt Nam” (chương trình TVET), tài trợ bởi Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Đức (BMZ) và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam, thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác Quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức (GIZ). Chương trình TVET có mục đích hỗ trợ cho “giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam được điều chỉnh phù hợp hơn với thế giới việc làm đang thay đổi”.    Những kết quả và bài học thu được từ những hoạt động kể trên là những kinh nghiệm quý báu để các trường TVET tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, lan tỏa và chia sẻ với các đơn vị khác trong ngành để cùng thực hiện Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp. □  Mùa Xuân của giáo dục nghề nghiệp  Vào năm 1957 trong bài “Học sinh và lao động” Bác Hồ đã viết:  “Thi đỗ tiểu học rồi, thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi, thì muốn lên đại học. Riêng với mỗi cá nhân của người học sinh, thì ý muốn ấy không có gì lạ. Nhưng nhìn chung đối với nhà nước, thì ý muốn ấy thành vô lý; vì bất kỳ ở nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học càng ít hơn trường trung học. Thế thì những học trò tiểu học và trung học không được chuyển cấp, sẽ làm gì?”.  Câu trả lời trong bài viết được Bác gạch chân là “họ sẽ lao động”. Nhưng họ sẽ lao động thế nào trong kỷ nguyên số, trong những năm tới đây? Cả xã hội đang chờ câu trả lời.  Và lúc này phải chăng câu trả lời chỉ có nếu chúng ta làm chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp thành công?  Mùa Xuân đến mang cho ta thật nhiều niềm tin vào công cuộc chuyển đổi số ngành giáo dục nghề nghiệp đang làm.  ——-  Một số tài liệu sử dụng  1. Hồ Tú Bảo (2019), Nguồn nhân lực số và kỹ năng lao động mới, Chương 7, Việt Nam thời chuyển đổi số, Thinktank Vinasa, NXB Thế giới.  2. Hồ Tú Bảo, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Nhật Quang (2020). Hỏi đáp về Chuyển đổi số. NXB Thông tin và Truyển thông.  3. Hồ Tú Bảo (2021). Chuyển đổi số và Giáo dục, sách Việt Nam Hôm nay và Ngày mai, Trần Văn Thọ & Nguyễn Xuân Xanh (chủ biên). NXB Đà Nẵng.  4. Hồ Tú Bảo, Nguyễn Nhật Quang (2022). Chuyển đổi số thế nào. NXB Thông tin và Truyển thông.    Author                Hồ Tú Bảo - Nguyễn Nhật Quang        
__label__tiasang Chuyển đổi số trong giáo dục: Những thách thức và nguy cơ      Vài năm trở lại đây, người ta nhắc ngày càng nhiều đến ‘chuyển đổi số’ (digital transformation), nhất là ở các ngành kinh tế, kinh doanh, dịch vụ. Còn trong giáo dục, phải đến khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu làm đình trệ mọi hoạt động kinh tế xã hội, học sinh, sinh viên không thể đến trường, chuyển đổi số mới thực sự trở thành một quá trình mà kết quả của nó có thể là một diện mạo giáo dục hoàn toàn mới, với phương thức, cách thức, phương pháp, kĩ thuật, công cụ và phương tiện mới.       Các em học sinh vùng sâu vùng xa phải lên đỉnh đồi để bắt sóng học trực tuyến. Ảnh: Dân Trí     1. Giáo dục mở – học liệu mở – khoa học mở     Chuyển đổi số hẳn không phải là câu chuyện mới chỉ của ngày hôm qua. Từ hai thập kỷ qua khi công nghệ thông tin, mạng Internet được sử dụng rộng rãi trong đào tạo, giáo dục, chuyển đổi số đã được đặt ra, nhưng phần nào còn mơ hồ, bởi chưa thực sự có những lý do để bắt buộc phải thực hiện nó.    Những tiến bộ về CNTT và sự thâm nhập của mạng Internet đã dẫn tới những sáng kiến về giáo dục mở với sự xuất hiện của các khóa học trên các nền tảng trực tuyến MOOCs như Coursera, Udemy, edX, về học liệu mở với sự ra đời của các chương trình ứng dụng học tập, kiểm tra thích ứng (adaptive learning and assessment apps) như Acellus, IXL, Mathletics, và khoa học mở với các cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học trực tuyến chia sẻ miễn phí (Open Access databases). Sự ra đời và ngày càng phát triển về cả thị trường và công nghệ cho những nền tảng này cho thấy ‘giáo dục số’ có lý do để tồn tại, và hoàn toàn có tiềm năng là tương lai của giáo dục. Tuy nhiên, khi vẫn còn có lựa chọn khác, giáo dục theo phương thức truyền thống vẫn còn có thể, thì vẫn còn có lý do để từ chối chuyển đổi, giáo dục trực tuyến vẫn chỉ là phụ thêm khi có hoặc thiếu một số điều kiện.    Nhưng…     2. Thiên tai, dịch bệnh quy mô lớn ± Covid- 19     Năm 2020 chứng kiến những diễn biến có thể nói là chưa từng có trong lịch sử thế giới hiện đại. Nhiều hoạt động xã hội bị đình trệ trên phạm vi cục bộ địa phương, quốc gia và toàn cầu do đại dịch Covid-19. Khi giáo dục đã từ lâu là nhu cầu đương nhiên được đáp ứng, chúng ta bỗng dưng phải đối mặt với câu hỏi ‘làm sao để được giáo dục’. Triển khai được hoạt động giáo dục không chỉ là vấn đề cá nhân, mà còn là sự sống còn đối với các nhà trường và các cơ quan quản lý và sự vận hành xã hội. Khi giáo dục trực tiếp tại trường lớp là không thể, vấn đề chuyển đổi số trở thành giải pháp cứu cánh ở nhiều cấp từ vi mô đến vĩ mô. Đương nhiên trong hoàn cảnh này, chuyển đổi số không thể hời hợt, bề ngoài mà phải toàn diện, đầy đủ, chuẩn xác… để có thể đem lại kết quả mong muốn.     Vậy…      Chuyển đổi số không đơn giản chỉ là số hóa các nguồn tài liệu mà còn bao gồm việc chuyển đổi phần cứng, kéo theo việc quản trị các nguồn lực dành cho giáo dục, đào tạo cũng thay đổi.         3. Chuyển đổi số trong giáo dục là chuyển đổi những gì?      Một câu hỏi lớn đặt ra là chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm sự chuyển đổi ở lĩnh vực, khía cạnh nào và mức độ ra sao. Câu trả lời không giống nhau đối với các cá nhân, các tổ chức và các quốc gia, bởi lẽ xuất phát điểm của chuyển đổi số là rất khác nhau. Có một điểm chung là chuyển đổi số phải cho phép giáo dục được thực hiện toàn diện và đầy đủ mà không có gặp mặt, giao tiếp trực tiếp, có nghĩa rằng phương thức chuyển tải giáo dục thay đổi. Đào tạo trực tuyến rõ ràng không phải là điều mới mẻ, lạ lẫm, nhưng đào tạo trực tuyến trong hoàn cảnh hoàn toàn không có lựa chọn tiếp cận trực tiếp dẫn đến thay đổi ở nhiều khía cạnh khác,  đòi hỏi nhiều điều kiện mới.     Dễ thấy nhất là những thay đổi về các yếu tố đầu vào. Để giáo dục trực tuyến có thể, toàn bộ đầu vào cho quá trình giáo dục phải được số hóa, trong đó quan trọng nhất là học liệu, tài liệu, sách giáo khoa. Toàn bộ dữ liệu về người học cũng cần phải số hóa để thực hiện quy trình quản lý người học và thực hiện đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập. Một trong những vấn đề lớn nhất của đào tạo trực tuyến là tính xác tín của quá trình đào tạo. Làm thế nào để đảm bảo việc đào tạo, đánh giá, kiểm tra, công nhận kết quả và cấp bằng và chứng chỉ cho đúng đối tượng? Làm thế nào để xác thực danh tính của người học, người thi? Những công nghệ mới nhất đã hỗ trợ việc này nhưng việc đảm bảo tính nghiêm ngặt của việc thi cử truyền thống vẫn còn để ngỏ.    Hơn nữa, khi phương thức đào tạo thay đổi, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và giáo dục cũng thay đổi. Chuyển đổi số không đơn giản chỉ là số hoá các nguồn tài liệu mà còn bao gồm việc chuyển đổi phần cứng, kéo theo việc quản trị các nguồn lực dành cho giáo dục, đào tạo cũng thay đổi.    Thứ hai, quá trình giáo dục có những thay đổi căn bản. Phương thức thay đổi dẫn đến phương pháp, kỹ thuật sư phạm truyền thống không còn hiệu quả. Cách thức thực hiện, triển khai phương pháp bắt buộc phải thay đổi, đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt trong vận dụng và sử dụng các thiết bị, tính năng của công nghệ sao cho việc giảng dạy đạt kết quả kỳ vọng. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa bài giảng, hay ứng dụng các phần mềm vào soạn bài dạy, mà còn là sự chuyển đổi toàn bộ cách thức, phương pháp giảng dạy, kỹ thuật quản lý lớp học, tương tác với người học sang không gian số, khai thác công nghệ thông tin để tổ chức giảng dạy thành công. Công việc này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và ứng dụng khoa học tâm lý học thần kinh (neuroscience), trí tuệ nhân tạo AI vào thiết kế nội dung cũng như công cụ thực hiện giảng dạy, tận dụng thế mạnh của công nghệ để thực hiện cá nhân hoá chương trình giáo dục, điều không thể thực hiện được khi đào tạo trực tiếp truyền thống với sĩ số học sinh đông (50-60 học sinh/lớp) như ở các thành phố lớn ở Việt Nam. Bên cạnh đó, toàn bộ dữ liệu về quá trình học tập của học sinh cũng được theo dõi và lưu trữ bằng công nghệ chứ không phải thông qua hệ thống hồ sơ sổ sách thông thường.    Tiếp đó, về kết quả đầu ra, chuyển đổi số phải đảm bảo việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện trong quá trình giáo dục, kể cả đánh giá kết quả đào tạo. Không chỉ kết quả đánh giá được số hoá, mà quá trình đánh giá cũng phải được triển khai, thực hiện bằng ứng dụng công nghệ trên máy tính. Giáo viên cần tập trung vào công việc giảng dạy, và cần được giải phóng khỏi các công việc hành chính, giấy tờ như làm sổ sách, sổ điểm, học bạ, quản lý hồ sơ học tập của người học.    Cuối cùng, về môi trường giáo dục, cần có hệ thống chính sách cấp hệ thống và cấp cơ sở giáo dục phù hợp để đào tạo trực tuyến được công nhận hợp pháp. Việc xây dựng và ban hành chính sách đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng và khoa học nhưng về cơ bản không phải là thách thức lớn. Thách thức chủ yếu nằm ở việc thực thi chính sách, bởi lẽ để chính sách đi vào đời sống, cần phải có hệ thống các công cụ giám sát, quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục trực tuyến để đảm bảo tính giá trị của hình thức đào tạo này. Tức là các thiết chế tạo điều kiện cho giáo dục (enablers) cần phải được chuyển đổi sang số hóa cả về cách thức thực hiện, từ khâu lấy dữ liệu đầu vào cho đến khâu trích xuất dữ liệu đầu ra.    Tóm lại, chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình xảy ra mà sự thay đổi không nằm ở đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục hay các bên liên quan mà nằm ở phương thức thực hiện giáo dục. Sự thay đổi về phương thức tất yếu dẫn tới những thay đổi về phương pháp, cách thức, kỹ thuật thực hiện giảng dạy, đào tạo. Phần lớn các yếu tố đầu vào cũng thay đổi để phù hợp với phương thức và những phương pháp và kỹ thuật mới, sản phẩm đầu ra cũng vì thế mà có thể thay đổi tương ứng. Khi thực hiện chuyển đổi số, có thể nói toàn bộ cái cách giáo dục, đào tạo được tổ chức, thực hiện và quản lý thay đổi. Trải nghiệm giáo dục khác sẽ khiến cho một số năng lực, kỹ năng đầu ra của người học không còn, nhưng đồng thời một số năng lực, kỹ năng mới sẽ hình thành. Trọng tâm của chuyển đổi số là trải nghiệm của người học sẽ hoàn toàn thay đổi. Hiển nhiên tư duy quản lý giáo dục cần phải chuyển đổi, mở hơn và linh hoạt hơn để có thể hình dung và nắm bắt được những yếu tố vô hình.      4. Chuyển đổi số: cần những gì để thành công?     Có thể thấy rằng việc chuyển đổi số tác động tới nhiều bên liên quan khác nhau trong đó trực tiếp và chịu tác động lớn nhất là người học và giảng viên, kế tiếp là đội ngũ hành chính văn phòng, đội ngũ quản lý, những người phải trực tiếp thao tác, vận hành hệ thống. Các nhà lãnh đạo và ra quyết sách cấp cao trong ngành giáo dục cũng cần phải thay đổi tư duy quản lý.    Trước nhất, chuyển đổi số đòi hòi hạ tầng công nghệ mới, trang thiết bị mới cho cả người học, người trực tiếp giảng dạy, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Đi kèm thiết bị phần cứng là các ứng dụng phần mềm, các nền tảng (platform) để toàn bộ mọi hoạt động giáo dục và quản lý của các cấp diễn ra trên đó. Nếu như ứng dụng CNTT vào giáo dục chủ yếu đề cập đến những chương trình, phần mềm riêng lẻ, tách biệt, chuyển đổi số yêu cầu tất cả những thứ riêng lẻ này phải tương thích và kết nối với nhau, tích hợp và ‘có thể tiếp cận được’ (accessible) trên cùng một nền tảng. Nền tảng này cho phép các hoạt động giảng dạy, quản lý, học tập, kiểm tra, đánh giá, thi cử, quản lý người học và việc giảng dạy, cũng như toàn bộ việc tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường cùng diễn ra. Đường truyền Internet ổn định là yếu tố đương nhiên cần phải có để platform này hoạt động.    Để vận hành một hệ thống như vậy đương nhiên đòi hỏi tư duy và năng lực quản lý của lãnh đạo ngành giáo dục cũng như lãnh đạo nhà trường phải thay đổi. Họ phải tìm ra cách thức nắm bắt những gì có thể trên không gian ảo, khai thác hiệu quả công nghệ cho mục đích này. Họ cần trang bị hiểu biết và tư duy số để có thể làm chủ công nghệ và hiểu rõ giới hạn của công nghệ.    Chuyển đổi số cũng không thể thành công nếu những người trực tiếp thực hiện việc đào tạo không có đủ kỹ năng sử dụng công nghệ. Giáo viên cần phải hình dung được họ sẽ ‘nhìn thấy’ học sinh của mình học tập như thế nào nếu không trực tiếp gặp mặt và họ có thể nắm bắt và đánh giá được những gì từ phía người học. Tất nhiên trong quá trình này họ luôn phải có sự hỗ trợ đồng hành của các nhân viên kỹ thuật và các chuyên gia công nghệ để đảm bảo việc giảng dạy diễn ra suôn sẻ, trôi chảy. Họ cũng cần có những kỹ năng mới để tổ chức hoạt động giảng dạy, ‘giữ’ được học sinh trong ‘lớp học’, duy trì sự chú tâm của học sinh vào các nhiệm vụ và hoạt động học tập. Họ là yếu tố hàng đầu và quan trọng nhất quyết định sự thành công của đào tạo trực tuyến và quá trình chuyển đổi số.     Nhà trường truyền thống hầu như không có ‘định biên’ cho nhân viên IT. Nhưng khi triển khai đào tạo trực tuyến diện rộng, một số vị trí hành chính không còn, thay vào đó là nhu cầu lớn đội ngũ kỹ thuật viên. Tất nhiên các nhà trường luôn có giải pháp thuê ngoài dịch vụ này nhưng phân bổ chi thường xuyên thay đổi, dẫn tới việc thực hành quản trị và quản lý tài chính nhà trường cũng thay đổi theo.     Yếu tố quan trọng tiếp theo quyết định ý nghĩa của chuyển đổi số là sự sẵn sàng tiếp nhận của người học.      Hình 1 Khung chuyển đổi số trong giáo dục cấp hệ thống.    Khi năm học 2019-2020 bị gián đoạn do dịch Covid-19, chúng tôi đã thực hiện một khảo sát về ‘mức độ sẵn sàng đối với học tập trực tuyến’ với giảng viên và sinh viên đại học. Kết quả khảo sát cho thấy người học có mức độ sẵn sàng để học trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với giáo viên. Có tới trên 76% số sinh viên tham gia khảo sát (nhiều ngành và nhiều tỉnh, thành khác nhau) chưa sẵn sàng cho học tập trực tuyến, vì nhiều lý do. Bên cạnh những lý do kỹ thuật như trang thiết bị và hạ tầng viễn thông, có những vấn đề do phương pháp và kỹ thuật giảng dạy của giảng viên đã chưa thuyết phục được người học. Người học cần được chuẩn bị về tâm thế, tinh thần và kỹ năng, và được hỗ trợ để đảm bảo điều kiện hạ tầng thiết bị đủ để thực hiện học tập trực tuyến. Họ cũng cần được hướng dẫn về phương pháp học tập trực tuyến sao cho hiệu quả.     Văn hóa giáo dục số, gồm các vấn về đề thái độ học tập, hiểu biết về đạo đức học thuật, tính tự giác, ý thức về học tập suốt đời (lifelong learning) cũng như cần được xây dựng phát triển trong cộng đồng người học và người dân nói chung. Đối với đào tạo trực tiếp, việc kiểm soát quá trình đào tạo phần lớn thuộc về cơ sở giáo dục và giáo viên, trong khi đối với đào tạo trực tuyến, người học cũng phải chia sẻ nhiệm vụ này.      Về môi trường giáo dục, cần có hệ thống chính sách cấp hệ thống và cấp cơ sở giáo dục phù hợp để đào tạo trực tuyến được công nhận hợp pháp.      Cuối cùng, về lâu dài để giáo dục trực tuyến có thể phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học giáo dục và đào tạo sư phạm cần bổ sung các nội dung và trọng tâm nghiên cứu ứng dụng về giáo dục trực tuyến để hỗ trợ các nhà quản lý và giáo viên phát triển chuyên môn và năng lực.    Trên cơ sở những phân tích này, chúng tôi đề xuất khung định hướng chuyển đổi số cấp hệ thống trong giáo dục gồm 6 yếu tố. Khung này được phát triển có tham khảo khung chuyển đổi số cấp tổ chức do Bumann và Peter (2019) đề xuất (Hình 1)*.     5. Những thách thức: Ai có thể bị bỏ lại phía sau khi chuyển đổi số?      Trước tiên, điều dễ thấy là chuyển đổi số đòi hỏi hạ tầng viễn thông phát triển ở một mức độ nhất định, mà yếu tố này liên quan nhiều đến mức độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Do vậy, ngành giáo dục không thể đi một mình mà phải đồng hành, phối hợp với các ngành khác. Việc này có thể là thách thức đáng kể bởi họ vốn quen hoạt động và vận hành độc lập.     Thêm vào đó, khi chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bối cảnh, nó là cơ hội cho nhóm đối tượng này, cho địa phương hay quốc gia này lại là thách thức cho đối tượng khác, địa phương và quốc gia khác. Cách thức và quá trình chuyển đổi không có một công thức chung, đòi hỏi lãnh đạo ngành cần phải đề ra chiến lược, giải pháp và lộ trình chuyển đổi riêng cho mình mà không có nhiều sự tham khảo từ kinh nghiệm và thực tiễn từ các ngành khác, các quốc gia khác.    Thứ ba, chuyển đổi số trong giáo dục được kỳ vọng sẽ giúp tối đa hóa hiệu quả đào tạo. Tuy nhiên nếu bài toán về hạ tầng mạng, thiết bị và giải pháp công nghệ không được đáp ứng, bài toán về chuyển đổi năng lực của giáo viên không được giải quyết, trải nghiệm học tập ‘số’ đối với cả giáo viên và người học có thể trở thành thảm họa. Một loạt các nguy cơ hiển hiện như hành vi học tập có thể bị lệch lạc, hoạt động giáo dục không được kiểm soát; chất lượng giáo dục bị thả lỏng. Sẽ rất nguy hiểm nếu như chúng ta ‘đánh rơi’, để lạc mất người học trong không gian ảo mênh mông.     Vấn đề thứ tư, chuyển đổi số sẽ liên hệ thế nào với câu chuyện bất bình đẳng trong giáo dục. Ta thường nghĩ việc số hóa hoạt động giáo dục sẽ đem lại ‘sự bình đẳng số’ (digital equity) nhờ ưu thế tiếp cận công nghệ không giới hạn không gian và thời gian. Tuy nhiên việc này cũng có thể đào sâu hơn nữa sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền và học sinh có điều kiện kinh tế xã hội (SES) khác nhau. Những học sinh không được tiếp cận hạ tầng viễn thông tốt ở miền núi hoặc vùng nông thôn sẽ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, không chỉ trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao mà còn cả giáo dục căn bản như các nguồn tài liệu, học liệu quan trọng cho việc học tập. Những học sinh xuất thân từ những gia đình khó khăn không có những thiết bị tối thiểu hoặc không đủ khả năng chi trả chi phí dịch vụ viễn thông cũng sẽ là đối tượng có nguy cơ tụt hậu.     Học sinh khuyết tật (khiếm thính, khiếm thị hoặc các khuyết tật vận động cản trở thao tác, điều khiển thiết bị) cũng có nguy cơ lớn phải hứng chịu bất bình đẳng số do những vấn đề liên quan tới các yếu tố đầu vào (sách vở, tài liệu, ngôn ngữ, trang thiết bị…) lẫn quá trình giáo dục (thao tác điều khiển, giao tiếp với thiết bị, phần mềm, giáo viên…). Đơn cử việc số hóa tài liệu, học liệu cho nhóm đối tượng phải sử dụng hệ ngôn ngữ riêng như ngôn ngữ ký hiệu chắc chắn sẽ có nhiều hạn chế, không được ưu tiên, gây nhiều bất lợi, thiệt thòi cho nhóm người học này.     Cuối cùng, chuyển đổi số tạo điều kiện phát triển các cộng đồng học tập chuyên nghiệp cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên quy mô rộng thông qua các diễn đàn trực tuyến. Ngoài ra còn có rất nhiều công cụ hay hỗ trợ giáo viên thiết kế tài liệu, xây dựng bài dạy. Đây được xem là cơ hội phát triển nghề nghiệp chuyên môn rất tốt cho đội ngũ giáo viên, nhưng những công cụ công nghệ này cũng khiến cho việc sao chép, nhân bản hồ sơ, giáo án, bài soạn, thậm chí cả việc đánh giá, nhận xét người học trở nên đơn giản và dễ dàng. Điểm thách thức lớn nhất đối với chuyển đổi số có lẽ là làm thế nào để đảm bảo việc học tập và giảng dạy cũng như các hoạt động giáo dục là thực chất.     Có lẽ còn nhiều vấn đề nữa sẽ nổi lên trong quá trình thực hiện mà chúng tôi chưa lường hết trong phạm vi bài viết này.      Kết luận     Trong giáo dục, chuyển đổi số là chuyển đổi toàn bộ những gì cần để có thể triển khai giáo dục trực tuyến. Không có một công thức dành riêng cho quá trình này, nhưng hoàn toàn có thể vận dụng các khung đánh giá hiệu quả giáo dục cũng như các khung đảm bảo chất lượng giáo dục để định hướng quá trình chuyển đổi. Vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều phối, huy động nguồn lực cấp hệ thống sẽ là then chốt quyết định hình hài của giáo dục mới. Bên cạnh việc hướng đến đảm bảo hiệu quả giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho mọi đối tượng người học, kể cả học sinh nghèo và khuyết tật, để không ai bị bỏ lại phía sau là một mục tiêu quan trọng mà chuyển đổi số phải đạt được.□  ———-  Chú thích:   * Bumann, Jimmy & Peter, Marc. (2019). Action Fields of Digital Transformation – A Review and Comparative Analysis of Digital Transformation Maturity Models and Frameworks.    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Chuyện học và thi      Một điều đáng mừng là kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay có tiến bộ nhiều. Sau hàng chục năm, lần đầu tiên mới có một kỳ thi trung thực, nghiêm túc. Song mừng vui cũng chỉ mới được một nửa. Vì sao?    Vì tuy thi cử có cải tiến nhưng cũng chỉ mới là cải tiến để bảo đảm tính nghiêm túc, chứ chưa thật sự có đổi mới căn bản. Không ở đâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước văn minh, có những kiểu thi kỳ lạ như ở nước ta trong hơn chục năm qua. Mất biết bao thời gian bàn thảo về thi cử,  về cải cách, hiện đại hóa giáo dục, nhưng rốt cuộc thi cử vẫn cứ loay hoay ba chung, hai chung, rồi trắc nghiệm, tự luận… mà không kỳ thi nào cho nghiêm túc, và kỳ thi nào cũng cực kỳ tốn kém, cả cho Nhà Nước và cho nhân dân. Khó hiểu tại sao ta cứ duy trì mãi kiểu thi cử căng thẳng đó, mà không chịu khó suy nghĩ xem có cần thiết phải thi kiểu này không, tại sao các nước văn minh không có nhiều kỳ thi như ta, mà học hành tốt hơn? Sau nhiều buổi tranh cãi trong Quốc hội, mãi đến gần đây mới bỏ được hai kỳ thi Tiểu học và THCS, bây giờ còn lại kỳ thi THPT và thi tuyển ĐH, CĐ. Vì thi cử quá nhiêu khê như thế nên cách đây một năm tôi có đề nghị nên theo kinh nghiệm nhiều nước bỏ hẳn kỳ thi THPT, thay vào đó học hành nghiêm chỉnh ngay từ những lớp dưới, học tới đâu kiểm tra tới đó, theo dõi từng học kỳ, từng lớp, không cho lên lớp bừa bãi, đến cuối lớp 12 học sinh nào đủ điểm thì được cấp bằng tốt nghiệp. Làm được như vậy thì tỉ lệ tốt nghiệp càng cao càng tốt chứ đâu sợ bệnh thành tích! Còn làm như ta, cứ để ngồi nhầm lớp thoải mái, rồi kết thúc bằng kỳ thi dối trá như mọi năm thì tai hại đã đành, mà dù có thi nghiêm túc như năm nay cũng chỉ vớt vát được một phần.                        Bộ GD và ĐT có kế hoạch vài năm tới sẽ hợp nhất hai kỳ thi THPT với tuyển sinh ĐH, CĐ thành một, nhưng theo tôi thi tuyển vào ĐH thì dù thi riêng hay thi chung với THPT cũng bất cập. Dựa theo kinh nghiệm các nước,  tôi đã nhiều lần đề nghị chỉ nên có một kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng để loại bớt những người quá kém, sau đó việc xét tuyển vào đại học giao cho từng đại học quyết định, dựa trên kết quả điểm số trong kỳ thi sơ tuyển, kết hợp với xem xét học bạ ba năm cuối THPT. Trên thế giới phần lớn đại học không tổ chức thi tuyển sinh, chỉ trừ những trường rất danh tiếng ở một số nước thì phải thi vào, nhưng thi của họ cũng không giống mình. Kỳ thi sơ tuyển ở Mỹ như SAT chỉ chủ yếu kiểm tra năng lực diễn đạt, phân tích, suy luận lôgíc, rất cần thiết để học đại học. Vượt qua được kỳ thi đó không có nghĩa đã trúng tuyển vào đại học, mà cùng với kết quả tốt ở kỳ thi SAT còn phải có học bạ tốt ở phổ thông, đáp ứng được yêu cầu của trường thì mới được nhận. Cách làm như thế ít tốn kém mà chọn được người học đúng yêu cầu đào tạo hơn là thi tuyển.   Vừa qua thi THPT nghiêm túc là một dịp bộc lộ rõ thực trạng yếu kém của giáo dục. Nhớ lại những năm trước, hiện tượng đáng xấu hổ phao rải trắng sân trường sau mỗi buổi thi, còn trong khi thi thì quang cảnh nhốn nháo, người dân bắc thang qua tường, trèo tường, ném bài giải vào phòng thi. Để ngăn chặn cảnh đó năm nay có nơi như Hà Tây xây tường rất cao quanh một số trường thi, làm cho các trường trông giống nhà tù hay trại tập trung hơn là trường học. Tốn kém xây bức tường có nơi lên tới cả mấy trăm triệu đồng. Thật kỳ quái, chống tiêu cực thi cử bằng biện pháp xây tường cao cũng chẳng khác nào thời bao cấp chống nạn ăn cắp thìa trong các quán ăn mậu dịch bằng cách đục lỗ tất cả các thìa. Để bảo đảm kỳ thi nghiêm túc chẳng lẽ phải trả bằng cái giá hạ thấp văn hóa như thế ư?  Với phần đông thí sinh, 12 năm đèn sách được kết quả gì? Đề thi dễ thế mà cũng chỉ 2/3 đỗ, nhiều người đánh giá nếu đề thi thật sự nghiêm túc thì tỉ lệ đỗ có lẽ chỉ khoảng 30 đến 40%. Như vậy một nửa số thí sinh đươc cấp bằng tốt nghiệp không xứng đáng với tấm bằng. Cái ý tốt cấp bằng xứng đáng cuối cùng chỉ mới thực hiện nửa vời.                Không biết kỳ thi lần II sắp tới sẽ như thế nào nhưng khi đã đặt thêm một kỳ thi tốn kém thì chắc người ta cũng phải hy vọng vớt thêm được một số đáng kể thí sinh nữa. Thực ra đấy cũng là cách làm rất hình thức. Đề thi lần I dễ như vậy mà không qua nổi, làm sao chỉ học thêm vài tháng mà khá được.  Đã lâu quá rồi chúng ta quen cho lên lớp thoải mái, thi cử lấy lệ, không nghiêm túc. Bây giờ sít chặt thì đúng, nhưng cũng chỉ mới nghiêm túc ở đoạn cuối. Khác nào một qui trình sản xuất gồm nhiều công đoạn mà chỉ đến khi ra thành phẩm mới kiểm tra chất lượng thì hết sức lãng phí. Dẫu sao cái tốt là bây giờ thấy rõ chất lượng tồi tệ của giáo dục. Điều này trước đây cũng đã có nhiều người cảnh báo, nhưng nhiều vị lãnh đạo, nhiều quan chức cấp cao, cứ một mực khẳng định thành tựu tuyệt vời, thành tựu vĩ đại của giáo dục, cho nên mới đến nông nỗi  này. Âu cũng là bài học.  Đương nhiên tình trạng này không thể chấn chỉnh một sớm một chiều. Khi chúng ta đã vô trách nhiệm để chất lượng sút kém kéo dài tích lũy qua nhiều năm, thì bây giờ có hậu quả đó,  cần phải nghĩ cách khắc phục cho hợp lý, chứ không nên đổ hết tai họa lên đầu học sinh và cha mẹ các em. Đối với cả hệ thống quản lý, đương nhiên phải chấn chỉnh nghiêm túc ngay từ lớp 1. Chúng ta nói hai không rất hay nhưng thiếu kiểm tra ráo riết mọi khâu mà chỉ tập trung lo cho kỳ thi nghiêm túc, trong khi đáng ra phải theo dõi chỉ đạo việc học tập thường xuyên trong từng trường theo tinh thần nghiêm túc ngay từ đầu năm, ngay từ lớp dưới. Việc tổ chức thi kỳ II xuất phát từ ý tốt, song sẽ tốn kém, căng thẳng, mà kết quả có thể nhìn thấy trước sẽ chẳng bao nhiêu, trừ khi lại ra đề thật dễ để vớt hết đa số. Bấy nhiêu vấn đề phức tạp, căn bản đều do vẫn cố bám những quan niệm cũ kỹ về học và thi. Vì vậy, tuy những cải tiến vừa qua rất đáng trân trọng, nhưng thật lòng tôi vẫn cảm thấy chưa ổn. Trong thời buổi hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu chúng ta cứ mải mê luyến tiếc những cái cũ kỹ, lỗi thời, không chịu bứt ra để có những đột phá lớn thì bao giờ mới theo kịp thiên hạ. Còn nhớ cách đây khoảng 8, 9 năm có vị ở bộ giáo dục còn lớn tiếng tuyên bố thi cử như chúng ta làm là tối ưu rồi ! Không hiểu các vị ấy giờ đây nghĩ thế nào. Muốn thật sự chấn hưng giáo dục thì trước hết lãnh đạo cấp cao phải có quyết tâm thay đổi tư duy, xác định lại quan niệm về dạy, học, thi cử  cho hợp với xu thế thời đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Người ta đi nhanh thì ít ra mình cũng phải cố chạy, đừng ai nghĩ trong cuộc chạy đua này người ta đều là thỏ con ham chơi, còn mình là rùa già kiên nhẫn bò từng bước chắc ăn.  Đối với số học sinh thi trượt cả lần II nghe nói sẽ có thể có ba giải pháp: hoặc là cho học lại lớp 12, hoặc chuyển qua học ở các trường bổ túc, hoặc tập trung lại để dạy thêm (bao lâu ?).  Song giải pháp nào là tốt nhất không phải là vấn đề chính. Căn bản là quan niệm học hành và thi cử như thế nào, từ đó mới có hướng xử lý đúng đắn các vấn đề cụ thể. Còn trong khuôn khổ hiện tại, giải quyết mấy vấn đề trên theo cách này hay cách khác, nếu có tốt hơn thì cũng chỉ tốt hơn một tí chút chứ chẳng có ý nghĩa gì lớn. Đề thi dễ thế mà không qua được tức là đã mất cơ bản rồi, dù có học lại phổ thông hay bổ túc thêm môt  năm cũng chẳng mấy hy vọng, tốt hơn nên để các em ấy học nghề rồi ra làm việc, sau này khi đủ điều kiện và nếu muốn vẫn còn có cơ hội học thêm lên đại học qua các hình thức đào tạo liên thông hoặc giáo dục thường xuyên. Khó khăn ở đây là không có đủ trường dạy nghề đàng hoàng. Lẽ ra trong một đất nước như ta, phải chăm lo phát triển từ sớm để có được những trường dạy nghề hiện đại, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Học nghề để có nghề vững vàng giúp ích cho xã hội còn tốt hơn nhiều lần học đi học lại phổ thông để cố vào đại học, trở thành những ông cử ông nghè dỏm.  Mặc dù tất cả những điều không hay nói trên, tôi vẫn mừng rằng từ một năm nay ngành giáo dục đã có một số chuyển biến rõ, nhờ người lãnh đạo năng nổ và có tinh thần phụ trách. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều cái đáng lo. Muốn thay đổi mạnh theo hướng đúng đắn còn quá nhiều việc phải làm, nhiều quan niệm phải xác định lại, nhiều tổ chức phải sửa đổi, nhiều chức trách phải thay người, chỉ sợ một mình ông bộ trưởng khó kham nổi, nếu thiếu sự hỗ trợ tích cực và đầy đủ từ cấp lãnh đạo cao nhất. Tôi tin rằng trước xu thế hội nhập, muốn hay không giáo dục phổ thông rồi cũng phải sớm ổn định và đi vào quỹ đạo đúng đắn. Mối lo lớn nhất hiện nay tập trung vào dạy nghề và đại học gắn liền với nghiên cứu mà xem ra ta đang có nguy cơ bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển quý báu.  Hoàng Tụy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện Thày Trò, Tây Ta…      Giống như hầu hết các bạn hôm nay, tôi có may mắn được làm học trò từ bé. Và chính hôm nay, may mắn thay, tôi vẫn được làm học trò, vẫn đi học thêm những cái mình thích học trong thể thao, âm nhạc… Rồi tôi cũng đã làm thày giáo ở trường đại học đôi chút ở quê nhà, gần nhất là tí chút hè năm nay. Và tôi cũng đã làm thày giáo một thời gian ở trường đại học xứ ngoài, ở Paris. Cho nên những kỉ niệm thày trò đan nhau thật chồng chéo, nhiều hương vị, nhiều thứ chung nhau, mà nhiều thứ cũng thật khác nhau mênh mang.        Học trò ở ta khi nhỏ thấy thế giới thày cô thật xa vời. Nền giáo dục xưa thì chỉ có thày. Cô là mãi gần đây. Cô chính là thày, thày giáo nữ.  Chữ thày trong tiếng ta chính là “bố”. Trong nhà xưa có thể gọi bố mẹ là “thày bu”, xưng là con hoặc em. Khi đến lớp (hoặc thày đến nhà dạy), thày thay mặt bố mà dạy con, nên quan hệ tiếp tục là “thày – con” hay “thày – em”. Nhưng sau này người ta không gọi giáo viên nữ là “bu”, không biết có nên đáng tiếc việc đó hay không? Một chữ là ơn thày, nửa chữ là nhờ thày. Trẻ phải kính thày như kính cha. Cha xử con chết, con không chết là đồ bất hiếu.  Các bố mẹ xưa góp gạo nuôi thày thường đều là những người chưa từng được có chữ. Họa chăng đôi nhà cũng có biết chữ, nhưng mới vài ba chữ, chưa đủ để dạy nhau. Chữ ngày xưa là thứ chữ thiêng liêng của thánh hiền, thứ chữ không đánh vần được, học chữ nào biết chữ đó, nhầm là chuyện thường. Sự hơn kém nhau ở thời xưa hóa ra rất lượng tử, rất rõ ràng, chứ không rối rắm như hôm nay : đếm xem tổng số lượng chữ mỗi ai đã biết là biết tài. Cứ thế mà ra tiêu chuẩn bầu giáo sư với tiến sĩ thì kể cũng tiện. Trong một xã hội sơ giản như thế, ai có chữ cũng thành thày. Ta có thày chữ. Ngoài ra thì ai có hiểu biết hơn người xung quanh chút đỉnh, thậm chí có vẻ hơn thôi, thì cũng thành thày : có thày thuốc, thày võ, thày địa lý, cũng có cả thày tướng, thày số, thày bói, thày mo.  Cái nếp đó, học trò và gia đình ta đến hôm nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn, với những hiệu ứng tân kì.  Các cô (hầu như không có thày) dạy trẻ ở nhà trẻ có vai trò giáo dục thật ra rất quan trọng, nhưng do các cô chưa dạy “chữ”, nên xã hội ngầm coi thường họ hơn, xem như họ “chưa phải ra thày”. Chuyện này lại sẽ phải có bài bàn riêng.  Các giáo viên phổ thông thì giữ được ảnh hưởng cổ truyền lớn lao nhất. Gia đình và trẻ em cư xử với các thày cô này gần như trong mối quan hệ cổ truyền nguyên trạng, thày cô là cha là mẹ học sinh. Ngày nhà giáo, trẻ em đã đành, nhiều bạn bè nay đã trở thành ông thành bà, có cháu nội ngoại rồi, cũng vẫn nô nức í ới từ cả tháng để rủ nhau đi thăm thày cô dạy phổ thông hồi xưa. Đó là một nét đặc biệt nhất trên thế giới ! Nhưng kì lạ thay, các thày cô dạy Đại học thì lại không còn được hưởng cái lòng thành kính trung trinh này! Ngày lễ này rất thoảng qua ở các trường đại học, so với bậc phổ thông. Nhất là khi các sinh viên đã tốt nghiệp, thì hầu như không có chuyện họ phải í ới nhau đi thăm lại thày với cô của thời đi học đại học nữa. Họ chỉ phải lo cái bổn phận đi thăm lại thày với cô thời tiểu học và trung học mà thôi.  Từ điều này ta có thể thấy ra nhiều mặt.  Đối với xã hội, gia đình, học đại học không phải là cái thứ sống chết nữa. Các thày cô ở đại học nay dạy kiến thức, chứ không phải là những bậc « dạy chữ », bậc « khai chữ » thiêng liêng.  Đối với sinh viên, họ không còn là đám trẻ con ne nét nữa. Cái yêu mến thày cô ngày xưa ở tiểu học và trung học có nội dung lấm lét ở bên trong, nay với thày cô ở đại học, « sợ » thì có “sợ” nhưng không đến nỗi “khiếp”. Bỗng nhiên mặc cảm cha mẹ – con cái ở họ tan biến đi. Nếu thày với cô lại mới ra trường, thì sự chênh lệch tuổi tác so với sinh viên lại càng ít đáng kể hơn. Các thày cô ở đại học mặt khác cũng biết tự kiềm chế hơn, cư xử bình đẳng hơn đối với các sinh viên… Cho nên người ta có cảm giác, và tự cho phép nữa, rằng quan hệ thày trò ở bậc đại học được phép “nhạt” đi.        Khi sang Paris, tôi lại có dịp đi học, với những xúc cảm mới.  Có những giáo viên tận tình đến thế. Để kịp chuẩn bị tài liệu cho năm học tới, một ông giáo gọi điện hỏi tôi địa chỉ, rồi mấy hôm sau chạy ôtô đến tận nhà để đưa cho tôi giáo trình, rồi động viên cố gắng, rồi hẹn khi vào năm học sẽ gặp lại nhau để trao đổi chương trình! Lúc này đang là mùa hè ! Thày trò quả là những người bạn, làm sao để cùng nhau thành công cái việc chung : viêc dạy và học.  Cả năm học trôi qua, không thấy xã hội có cái ngày lễ giáo viên ầm ĩ nào cả. Ở các trường phổ thông cũng vậy. Rất nhiều bố mẹ hầu như còn không hề biết tên, không biết cả mặt giáo viên! Bận quá, ai việc nấy thôi. Trong xã hội cũng vậy, không thấy đài báo tuyên truyền, ngợi ca thống thiết gì về giáo dục, về thày cô cả.  Thế rồi về sau tôi cũng bắt đầu tham gia giảng dạy về bộ môn Công nghệ Thông tin và Quản lý ở vài trường đại học.  Đi dạy CNTT cho sinh viên các ngành khoa học tự nhiên, như khoa Toán – CNTT, thì … vất vả! Các vị này có tư duy gần gụi với các thuật toán. Cả lớp toàn con trai, may được vài ba cô gái kéo mắt lại. Những giờ bài tập thì mình phải chuẩn bị ém số lượng bài lên gấp đôi lên, kể cả các cách giải, đề phòng các vị giải bài nhanh quá rồi ngồi chơi, không biết làm gì. Coi chừng nhất là mấy anh chị cao thủ giải bài như bay ! Được cái các bạn giỏi ở đây thường cũng không có lối chơi trội, mà nhã nhặn đợi chờ bạn bè, hoặc giúp đỡ lẫn nhau.  Còn đi dạy ở bên mấy trường KHXH thì như đi chấm thi hoa hậu. Cả lớp chỉ có mấy mống con trai nhút nhát, còn lại toàn là các bạn gái thanh tú, tao nhã, thích nói chuyện bên lề nhiều hơn là giải bài… Giờ nghỉ thì cùng xuống lấy càfê, ra bãi cỏ ngập nắng mênh mông, ngả ngốn tán đủ thứ chuyện.  Nhưng chả bao giờ có cái ngày lễ học trò ôm hoa thẹn thùng chúc thày gì cả! Chạnh lòng nhớ năm nào về chuyện trò vui vẻ với các bạn ở khoa Quản lý trường ĐHQG HN, cuối giờ được các bạn tặng hoa, phát biểu cảm tưởng, được chụp ảnh, lúc chụp ảnh bạn lớp trưởng lại còn khéo ý tứ đẩy mấy bạn gái xinh nhất lên đứng cạnh thày… Làm thày như thế, thích quá a.  Cũng phải công bằng, có một năm nọ, vào cuối một buổi học, một cô sinh viên vốn khá thân trong lớp, cô Marie, đã nhã ý mời mấy bạn trong nhóm cùng đề tài và tôi cùng thưởng thức đĩa bánh cô làm, và dùng nước quả… Thế rồi Marie bất ngờ tặng tôi cây hoa xương rồng bé xíu thật xinh xắn ! “Hôm nay là Tết ! Chủ nhật vừa rồi bọn em đi ăn phở nên phát hiện ra ngày này ! Với sáu giờ lệch pha, nào ta nâng cốc chúc Giao Thừa! “. Lòng tôi bất ngờ tràn dâng sung sướng, chợt nuôi nao nhớ quê nhà… Tôi ôm hôn cảm ơn Marie và chúng bạn.  Mình bao giờ cũng phải sống hai lần. Sống, và nghĩ lại về cuộc sống.  Đáng nhẽ Thiên nhiên phải cho ta hai cuộc đời để làm hai cái việc đó thật tách bạch thảnh thơi.  Nghề nào cũng đáng tôn quí. Ở các xứ sở đã phát triển, nếu các ngành mà bãi công, ta sẽ thấy ngay rằng ngành vệ sinh công cộng là quan trọng nhất, rồi thì năng lượng, giao thông, y tế, thương mại… Ngành giáo dục mà bãi công thì cũng chưa chết ai ngay. 😉  Tại sao xã hội người ta nền nếp như thế về giáo dục, từ nhà trẻ cho đến trên đại học, mà không cần tuyên truyền, không cần tôn vinh, không cần phải nô nức đi thăm thày thăm cô dạt dào cảm xúc ? Vì ngành giáo dục của họ, như mọi ngành khác trong xã hội, đã sống thật, đã chạy trong qui củ. Trường sở khang trang. Chương trình đàng hoàng. Giáo viên được trả đồng lương chính đáng. Đơn giản, có thế thôi.  Sự tôn kính ồn ào, đẫm lệ ở xứ ta nhiều khi lại chính là cái vỏ vờ vĩnh để che lấp đi cái chật vật nhọc nhằn của ngành giáo dục,  nhiều khi đành chịu cả nhục, của đời sống của các thày cô. Có lẽ không gì khổ bằng việc người giáo viên không có đồng lương đàng hoàng, phải để dành những ngón nghề để dạy tủ thêm mà kiếm sống ! Đáng nhẽ khi dạy học, khi san sẻ kiến thức, lúc đó chính là những khoảnh khắc của niềm vui vô bờ. Đằng này phải sống như đi đêm, thày vào lớp dạy, nửa này của lớp tối qua đã học thêm với mình, còn nửa kia của lớp thì không hề hay biết gì, hay nghi hoặc hoặc nghi…  Và người đi học, cứ phải lo suốt năm “cư xử thế nào đây, phong bì, quà cáp, học thêm…” để rồi được thày cô dạy cho cái đáng dạy, cái đảm bảo thi đỗ, chứ không dạy cái thứ vô tích sự cho xong ?  Không phải lập tức mà chúng ta sẽ giải được câu chuyện này, nhưng phải có quyết tâm, phải có lộ trình, để rồi phải có bằng được cái nền giáo dục giản dị ấy. Và toàn xã hội, mọi lĩnh vực rồi phải vào nếp, phải vào qui củ, phải đĩnh đạc, phải đàng hoàng.  Không lúc nào tôi quên đươc cái hình ảnh tuy đã rất lâu, cái ngày nào tôi đã bất chợt thoáng  gặp lại người thày rất quí mến khi xưa dạy ở lớp ba, nhưng lại rất ưu ái với tôi đang học lớp hai ngay bên cạnh… Thày lúc đó đã thật già cả, phải còng lưng ngồi trước cái cân sức khỏe trên đường phố để kiếm sống… Tôi lúc đó nghẹn ngào, không dám chào thày, sợ thày mủi lòng… Tôi không thể còn biết làm gì nữa… Mà những năm tháng đó, chính trong túi tôi cũng không có mấy đồng xu…  Một ngày lễ thịnh soạn trong một năm để tôn vinh các nhà giáo không thể thay thế được 364 ngày thường còn lại trên đường đời, chưa kể một khi nhà giáo đã già cả, còm cõi, và đồng lương hưu trí còn còm cõi hơn. Chúng ta hãy thay đổi cách nghĩ, cách sống, hãy chân thật, giản dị, không thỏa hiệp với những thứ lễ lạt tự dối mình đằng đẵng làm gì nữa.  Hãy giản dị, chân thật như cây hoa xương rồng bé xíu xinh xắn mà cô Marie đã tặng nhân Giao Thừa Tết năm nao.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện “thi đua” trong giáo dục      Đâu là nguyên nhân của căn bệnh thành tích trong giáo dục? Có đúng thi đua là động lực của nhà giáo? Làm thế nào để thực sự “cởi trói” cho nhà giáo, và trả lại môi trường sư phạm cho nhà trường?    Tại ba cuộc hội thảo với lãnh đạo các sở giáo dục ở ba miền do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức trong cùng một ngày vào cuối tháng 8 vừa qua nhằm thảo luận về chuyện thi đua và về cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, nhiều nhận định khá thẳng thắn đã được nêu ra nhằm nhận diện căn bệnh thành tích trong giáo dục. Trong số các phát biểu, tập trung và nổi bật nhất có lẽ là những ý kiến cho rằng căn bệnh này xuất phát từ việc áp đặt các chỉ tiêu thi đua từ trên xuống. Tuy nhiên, riêng tại cuộc hội thảo ở Hà Nội, một vị thứ trưởng giáo dục sau khi nhìn nhận căn bệnh thành tích đã có từ lâu, vẫn tiếp tục khẳng định rằng thi đua khen thưởng là “động lực” để giáo viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình (1). Một câu hỏi có thể được đặt ra ở đây: có đúng thi đua là động lực trong giáo dục? Trong bài này, chúng tôi muốn bàn về chuyện động lực và chuyện thi đua, từ đó thử góp phần vào việc nhận diện ra nguyên nhân của căn bệnh thành tích trong nhà trường hiện nay.  Thế nào là động lực?  Có thể định nghĩa vắn tắt “động lực” là cái lực thúc đẩy người ta đi đến một hành động hay một ứng xử nào đó. Người ta thường phân biệt hai loại động lực, ngoại lai và nội tại. Động lực ngoại lai là loại động lực đến từ bên ngoài, tác động từ bên ngoài: đó là khi người ta làm một việc gì đó nhằm đạt được một điều nằm bên ngoài nội dung công việc này, chẳng hạn để được phần thưởng, để khỏi bị chê trách, hay để được người khác khen ngợi. Đối với học sinh, đó là học để đạt danh hiệu học sinh giỏi, để được thầy cô và cha mẹ khen, hoặc để khỏi bị la mắng…; đối với giáo viên, đó là dạy sao cho đạt “chỉ tiêu” học sinh lên lớp, để được tuyên dương, hoặc chỉ để tránh bị phê bình… Còn với những động lực nội tại, người ta làm một việc gì đó vì quan tâm đến chính công việc này (do động cơ đạo đức, do lương tâm chức nghiệp…), hay vì sự hứng thú mà người ta tìm thấy ngay trong bản thân công việc, chứ không trông chờ một phần thưởng nào đó đến từ bên ngoài công việc, và cũng không quan tâm tới lời chê trách của người khác, nếu có (2). Đối với học sinh, đó chẳng hạn là việc học môn văn hay môn toán vì thấy thích những môn này; đối với thầy cô, đó chẳng hạn là dạy học vì sự thôi thúc của lương tâm giáo chức hay nghĩa vụ sư phạm của mình, hoặc vì sự say mê với môn mà mình dạy, hoặc vì một thứ tình cảm tự nhiên đối với những mái đầu xanh còn non nớt luôn dõi theo từng lời nói và cử chỉ của mình…  Nhiều cuộc điều tra ở các nước đã kết luận rằng những động lực nội tại luôn luôn dẫn tới những hành vi và tâm thế hoàn toàn mang tính chất tự quyết (self-determination), trong khi ngược lại, nhiều động lực ngoại lai thường được cảm nhận như là những cái gì áp đặt, cưỡng bách (constraint). Các kết quả điều tra còn cho thấy có những hoạt động tuy lúc đầu được coi là đầy hứng thú, nhưng một khi bị đưa vào trong khuôn khổ áp đặt thì người ta sẽ mau chóng mất đi sự hứng thú. Nói cách khác, sự áp đặt thường tiêu diệt sự hứng thú(3).  Có đúng thi đua là động lực của nhà giáo?  Nếu hiểu động lực theo ý nghĩa như trên, tức là chú trọng tới chiều kích “tự quyết” của những động lực nội tại, thì chủ trương coi thi đua là động lực trong giáo dục, theo thiển ý chúng tôi, là một quan điểm sai lầm, ít ra trên hai phương diện.  Xét về mặt phương pháp luận, “thi đua” chỉ là một trong những biện pháp hay đòn bẩy nhằm mục tiêu góp phần động viên tinh thần trong lao động, học tập… do đó không thể coi nó như yếu tố duy nhất hay quyết định đối với động lực lao động và học tập của con người, càng không phải là yếu tố có thể làm khôi phục hay giúp nâng cao chất lượng giáo dục vốn đang xuống cấp nghiêm trọng. Coi thi đua là động lực để giáo viên và học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cũng không khác gì đặt lộn ngược đầu ý nghĩa của động lực: đó là quan niệm chỉ coi trọng những động lực bên ngoài (chỉ tiêu, thành tích, khen thưởng…) hơn là các động lực thực chất bên trong, tức là các động lực tinh thần và đạo đức, mặt khác biến những biện pháp thi đua thành những điều áp đặt và vô hình trung ngay từ đầu đã là mầm mống triệt tiêu những sự hứng thú có thể có nơi giáo viên và học sinh. Chính vì đảo lộn thang bậc giá trị như vậy nên mới ngày càng sinh sôi nảy nở các tệ học vẹt, dạy chay, chạy theo thành tích và báo cáo thành tích ảo, mua bằng bán điểm, chạy trường… Theo lời một nhà giáo, chính vì “thi nhau chạy theo các chỉ tiêu duy ý chí” do cấp trên ấn định, mà điều này lại “phù hợp với ý muốn và lợi ích của lãnh đạo trường và các cấp trên trong ngành, có khi của cả chính quyền và cấp ủy địa phương”, cho nên “vô tình sự gian dối mặc nhiên được cả trên và dưới đồng tình chấp nhận”(4).  Thứ hai, xét về mặt triết lý sư phạm, cái sai lầm của quan điểm trên là giản lược hóa động lực của nhà giáo cũng như của học sinh vào hoạt động thi đua. Khó có ai tin được rằng ngày nào thầy cô giáo cũng bước lên bục giảng với tâm thế “thi đua” và chỉ nhằm đạt được những chỉ tiêu thành tích nào đó, bởi vì phần lớn chắc hẳn đã chọn lựa nghề dạy học và dành tâm huyết với học trò của mình vì những cái lẽ lớn lao hơn chuyện thi đua nhiều! Nếu học sinh chỉ học vì động cơ thi đua mà không hề yêu thích các môn mình học thì chuyện chỉ thuộc bài văn mẫu hay chuyện quay cóp cũng là điều dễ hiểu và gần như tất yếu. Suy cho cùng quan điểm coi thi đua là động lực thực chất phản ánh thái độ “tầm thường hóa” hoạt động giáo dục(5), và không thực sự tôn trọng nhân cách của nhà giáo cũng như học sinh.  Chúng tôi cho rằng không phải do cách đề ra chỉ tiêu, cũng chẳng phải do cách tổ chức phong trào thi đua, mà chính quan điểm coi thi đua là động lực mới là nguyên nhân trực tiếp của căn bệnh thành tích, và từ đó dẫn tới bệnh gian dối và bệnh thực dụng về mặt đạo lý ngay trong môi trường giáo dục hiện nay. Vì vậy, nếu các nhà lãnh đạo giáo dục tiếp tục duy trì quan điểm này thì tình hình sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn và khó thay đổi được gì về thực chất.  Ở Liên Xô, vốn là nơi xuất xứ của chuyện thi đua, người ta đã bãi bỏ việc thi đua trong giáo dục từ thập niên 1930. Và nói như GS. Hoàng Tụy, cần “mạnh dạn bỏ thi đua trong giáo dục mà nên học tập kinh nghiệm các nước tiên tiến, dùng những biện pháp quản lý thích hợp hơn để động viên tính tích cực của người lao động”(6).    Hai nguyên nhân sâu xa  Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân sâu xa của căn bệnh thành tích nói riêng của tình hình xuống cấp trong giáo dục. Thứ nhất, nguyên nhân về mặt phương thức tổ chức và quản lý : đó là tình trạng “hành chính hóa” hay “nhà nước hóa” nhà trường, thể hiện qua cách tổ chức bộ máy và cách chỉ đạo nặng về hình thức và định lượng (các chỉ tiêu) chứ không quan tâm tới nội dung và chất lượng, chỉ chú tâm vào những biện pháp hành chính (áp đặt từ trên xuống) chứ không coi trọng những biện pháp mang tính sư phạm (gợi mở, hướng dẫn…) và tôn trọng quyền tự chủ sư phạm của người thầy.  Nguyên nhân thứ hai là triết lý giáo dục: đó là quan niệm rằng giáo dục là dạy dỗ, bảo ban, nặng về phương pháp mệnh lệnh và kiểm soát hơn là phương pháp hướng dẫn, gợi mở và khai phóng; đó là quan niệm áp đặt và độc quyền về tư duy, không dám chấp nhận những ý kiến khác (từ đó việc dạy và học chủ yếu diễn ra theo kiểu “nhồi nhét”, thầy đọc trò chép…), và hệ quả không tránh khỏi là “đào tạo những mẫu người chỉ biết ngoan ngoãn chấp hành, quen được dẫn dắt, bao cấp cả về tư duy và hành động hơn là biết suy nghĩ độc lập và tự chịu trách nhiệm”(7).        ***  “Quyết sách” then chốt bây giờ không thể chỉ dừng lại ở chuyện “chống tiêu cực”, bởi lẽ “những việc chống tiêu cực trong giáo dục đang làm là cần thiết, nhưng cần nói rõ đấy không phải là chiến lược”(8). Vả lại, có lẽ cũng cần tỉnh táo lưu ý tới một khả năng phản tác dụng của phong trào chống tiêu cực mà một nhà giáo vừa cảnh giác: “…Nhưng lo là phong trào tố cáo [tiêu cực] sẽ đi đến đâu? Hay là sẽ tạo nên phong trào học sinh tố cáo thầy, phụ huynh học sinh tố cáo thầy giáo, rồi đồng nghiệp ghi âm, chụp hình tố cáo lẫn nhau. Với nhà giáo, tố cáo đồng nghiệp là việc làm bất đắc dĩ, khổ tâm của nhà giáo. Cần làm thế nào để tránh cho người thầy phải làm việc đó…”(9).  Vấn đề chính yếu bây giờ cũng không phải là nên gia giảm thế nào các chỉ tiêu thi đua hay số lượng phong trào, mà là cần dứt khoát giã từ quan điểm coi thi đua là động lực của giáo dục, bãi bỏ các chỉ tiêu thi đua và những phong trào vô bổ vừa lãng phí vừa hành hạ cả thầy lẫn trò, sửa đổi căn bản những qui định quá máy móc và ngặt nghèo liên quan tới cách phân phối chương trình cũng như cách soạn giáo án… vốn là những điều lâu nay trói tay nhà giáo(10). Và một điểm cốt tử nữa cũng không thể không nhắc lại, đó là làm sao cho nhà giáo sống được bằng đồng lương của mình. Có như vậy mới mong khởi động được tiến trình khôi phục lại môi trường sư phạm và tinh thần sư phạm trong nhà trường, “cởi trói” cho các thầy cô giáo, trả lại quyền tự chủ sư phạm vốn dĩ phải thuộc về họ. Công việc khó khăn hơn hết mà cũng bao trùm lên tất cả, đó là làm sao xây dựng lại một nền triết lý giáo dục.     Chú thích :  (1) Xem Pháp luật TPHCM, 23-8-2006, tr. 4.  (2) (3) L.E. Deci, R.M. Ryan, Intrinsic Motivation and Self-determination in Human Behavior, New York, London, Plenum Press, 1985. Dẫn lại theo Fabien Fenouillet, “La motivation à l’école”, bài trong trang web Apprendre autrement aujourd’hui (www.cite-sciences.fr).  (4) Trần Thượng Tuấn, “ Tư duy chỉ tiêu”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 7-9-2006, tr. 22.  (5) Nguyên Ngọc, “Quốc sách và quyết sách”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 31-8-2006, tr. 18-19.  (6) Lưu Thủy, bài phỏng vấn GS Hoàng Tụy, “Chấn hưng giáo dục trong tình hình mới”, tạp chí Tia sáng, số 15, tháng 8-2006, tr. 30.  (7) Bản kiến nghị của GS Hoàng Tụy và một số nhà giáo, nhà khoa học về việc chấn hưng, cải cách và hiện đại hóa giáo dục, Tuổi trẻ Online, 3-9-2004.  (8) Nguyên Ngọc, bài đã dẫn.  (9) Bài phỏng vấn GS. Dương Thiệu Tống của Diệu Hằng, “Phải đưa giáo dục đến với mọi người”, Người lao động, 2-9-2006, tr. 3.  (10) Trần Hữu Quang, “Cần bãi bỏ ngay các ‘chỉ tiêu’ trong giáo dục”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 6-11-2003, tr. 38-39, và Trần Hữu Quang, “Tính tự chủ sư phạm”, Tia sáng, số 14, 20-10-2005, tr. 52-54.    Chú thích ảnh:  Anh 1+2: Ảnh: Phạm Bá Thịnh      Trần Hữu Quang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyên Toán      Chuyên toán, theo tôi, được lập ra là để bồi dưỡng những học sinh thuộc lớp cuối cùng nói trên, những học sinh có năng lực nhất về toán học. Tuy nhiên các lớp chuyên toán hiện nay nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu kể trên.         Mục tiêu của giáo dục toán học, ở mức đại trà nhất, cần đảm bảo người học thực hiện được những thao tác cơ bản có ích cho cuộc sống, như thuộc bảng cửu chương, nắm được quy tắc tam suất, hơn một chút là hiểu được khái niệm biến thiên, hàm số, hay những nguyên tắc cơ bản nhất của phép tính xác suất… Ở mức cao hơn, nghĩa là đối với những học sinh có năng lực hơn, giáo dục toán học cần trang bị cho các em những tư duy toán học căn bản, nhất là khả năng phân tích vấn đề. Đối với mục tiêu này tất nhiên những bài tập sẽ cần có độ phức tạp cao hơn, không dừng lại ở việc lặp lại những tính toán theo công thức. Tiếp theo là truyền đạt cho các em những cảm nhận sâu sắc, tinh tế hơn của toán học, chẳng hạn nguyên lý “chuồng và thỏ”, phương pháp quy nạp, khái niệm giới hạn, đạo hàm… Ở mức cao nhất, mang dáng dấp nghệ thuật, là giúp các em thấy được vẻ đẹp của toán học, truyền niềm đam mê cho các em. Vẻ đẹp của toán học thường rất phức tạp và sâu sắc, độ trừu tượng cao và chỉ những học sinh thực sự có năng khiếu về toán mới cảm nhận được, tất nhiên phải trải qua quá trình lao động, học tập lâu dài.  Mặt trái của các lớp chuyên toán  Giáo viên và học sinh các lớp chuyên toán hiện đang bị áp lực hoàn thành hai nhiệm vụ: đạt thành tích trong các kỳ thi học sinh giỏi và đạt kết quả cao trong các kỳ thi đại học. Việc đào tạo với mục tiêu cụ thể tại các kỳ thi như vậy khiến cho các trường chuyên gần như trở thành những trung tâm luyện thi, luyện thi học sinh giỏi và luyện thi đại học, tất cả vì những mục đích thực dụng ngắn hạn chứ không hướng đến việc trang bị một cách toàn diện và hiệu quả kiến thức toán học cho học sinh. Mặc dù năng lực toán học đang được sử dụng như một tiêu chí quan trọng để đánh giá học sinh, ngay cả trong những hoạt động tuyển chọn ít liên quan, thậm chí không liên quan tới toán học, nhưng do cơ chế thi cử, quan niệm về thành tích, các chế độ ưu tiên, công tác giảng dạy toán nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng đã không đáp ứng được nhiệm vụ của nó. Cần phải nói ngay rằng không phải cơ chế hiện có của ta không chọn được học sinh giỏi – cuối cùng thì những học sinh giỏi nhất vẫn là những người thắng cuộc trong các kỳ thi. Nhưng để đạt được điều đó các em phải đầu tư quá nhiều sức lực và thời gian cho những nội dung kiến thức mà về căn bản sẽ không có mấy ý nghĩa cho công việc tương lai của các em, nguy hiểm hơn, việc học tập quá căng thẳng có thể sẽ hạn chế khả năng phát triển, sức bật của các em trong tương lai.  Kỳ thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc được tổ chức lần đầu vào khoảng năm 1960-1961 (tôi không có thông tin về một kỳ thi tương tự tại miền Nam lúc bấy giờ). Sau năm 1975, kỳ thi này được đổi tên thành Kỳ thi học sinh giỏi toán toàn quốc. Từ năm 1974, Việt Nam bắt đầu cử đội tuyển tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Do đó ngay sau kỳ thi Học sinh giỏi (HSG) toán quốc gia còn có kỳ thi chọn đội tuyển dự thi toán quốc tế. Cả hai kỳ thi này đều là những kỳ thi quốc gia.   Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều những kỳ thi học sinh giỏi về toán ở trong nước cũng như trong khu vực có sự tham gia của học sinh Việt Nam. Những kỳ thi đó nói chung đều có tác dụng tích cực tới niềm ham mê toán của học sinh phổ thông cũng như giúp các em học toán tốt hơn. Nhưng việc đầu tư thái quá cho các kỳ thi cũng không phải là điều tốt. Việc dạy toán ở phổ thông được thực hiện chủ yếu thông qua việc rèn luyện kỹ năng toán học dưới dạng giải bài tập. Ở mức cao hơn có các bài tập nhằm mục đích rèn luyện trí thông minh, phát triển tư duy sáng tạo. Tuy nhiên việc luyện quá nhiều bài tập và theo một cách rập khuôn để đạt thành tích tại các kỳ thi sẽ phản tác dụng, giết chết khả năng sáng tạo của học sinh, và nguy hiểm hơn, làm mất niềm vui của học sinh đối với toán học. Toán học lúc đó được coi như phương tiện để đạt được những mục tiêu khác, khiến cho việc học trở nên lãng phí, tốn kém.  Cần phải nói rằng quan điểm “học để thi”, lấy thi cử làm mục đích, mang tính truyền thống trong xã hội Việt Nam từ xưa tới nay. Học sinh Việt Nam nói chung thi gì cũng giỏi, mà không chỉ học sinh, cả sinh viên, công nhân, nông dân, thi cũng giỏi, nhưng làm không tốt.  Đột phá trong khâu thi cử  Dưới đây tôi xin đề xuất một số giải pháp để phần nào cải thiện chất lượng dạy toán, học toán ở các trường chuyên, theo những tiêu chí đề ra ở trên: nâng cao khả năng tư duy cho học sinh, mang tới cho học sinh những hiểu biết sâu sắc hơn về toán học, tạo niềm say mê toán học cho học sinh.  Từ thực tế hiện nay có thể thấy, khâu đột phá là “thi cử”. Cần phải giải quyết vấn đề từ cao xuống thấp, nghĩa là từ những kỳ thi mang tính đỉnh cao, cấp quốc gia xuống tới những kỳ thi cấp huyện.  Cần giảm bớt vai trò, ý nghĩa của kỳ thi học sinh giỏi toán quốc gia cũng như việc tham gia Kỳ thi Olympic Toán quốc tế (IMO). Trong thực tế, tôn chỉ của IMO cũng giống như bất kỳ một Olympic nào khác về thể thao. Đây là một kỳ thi dành cho cá nhân, cho những người đam mê, giải thưởng chỉ được trao cho cá nhân. Chúng ta vui mừng và tự hào về thành tích của các học sinh Việt Nam tại kỳ thi này. Nhưng những thành tích đó không thực sự phản ánh chất lượng của nền giáo dục cũng như khoa học của đất nước. Vì thế nhà nước không cần quá quan tâm tới nó, ngành giáo dục cũng không nên coi nó như là thành tích quan trọng của ngành.  Kỳ thi HSG quốc gia vì thế cũng cần được coi như một kỳ thi Olympic, và được tổ chức như một kỳ thi Olympic. Nghĩa là một kỳ thi cho các cá nhân, nhằm động viên phong trào học toán, nhất là tại các trường chuyên. Song song với điều này, nên xã hội hóa kỳ thi, mời các đơn vị không thuộc thành phần quản lý nhà nước tham gia tổ chức kỳ thi, trao giải thưởng.  Trong nhiều năm qua, kỳ thi HSG quốc gia được chú trọng chủ yếu ở khâu tổ chức, vấn đề bảo mật. Lý do là các học sinh được giải tại kỳ thi này được hưởng nhiều quyền lợi, như miễn thi tốt nghiệp, vào thẳng đại học… Tuy nhiên vấn đề chuyên môn của kỳ thi chưa được quan tâm đúng mức. Chẳng hạn đối với môn toán, đề cương kiến thức bồi dưỡng và thi chọn học sinh giỏi quốc gia vẫn chưa được xây dựng một cách khoa học, đầy đủ và chi tiết, cũng như vẫn chưa có một bộ giáo trình tài liệu tham khảo đáp ứng yêu cầu. Điều này hạn chế khá nhiều công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của các giáo viên cũng như việc tạo điều kiện cho các học sinh giỏi có thể tự học. Việc phối hợp với nhiều đơn vị khác, nhất là những đơn vị có trình độ chuyên môn, sẽ nâng cao chất lượng của kỳ thi.  Để những thay đổi ở các kỳ thi HSG có tác dụng tích cực tới công tác giảng dạy tại các trường chuyên, cũng cần có những thay đổi trong công tác quản lý đối với các trường chuyên. Trước tiên cần xác định trường chuyên lập ra không phải để mang lại thành tích cho địa phương. Hiện nay tư duy này đang phổ biến trong các sở giáo dục trên toàn quốc. Ở một vài nơi lãnh đạo tỉnh thậm chí muốn đóng cửa trường chuyên vì nhà trường nhiều năm không mang giải nào tại các kỳ thi quốc gia về cho tỉnh. Phải đổi mới được tư duy (chính xác hơn là quay lại với tư duy cũ) coi trường chuyên là nơi bồi dưỡng tài năng, nhằm đóng góp cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Trên bình diện quốc gia chúng ta thấy không phải mọi học sinh giỏi đều quay trở về làm việc trong nước, nhưng dù ở nước ngoài họ vẫn có thể có những đóng góp hết sức quan trọng cho sự phát triển đất nước. Điều tương tự cũng xảy ra tại từng địa phương. Ở mỗi miền của đất nước đều có nhân tài, và trách nhiệm của các địa phương, thông qua các trường chuyên là phát hiện và bồi dưỡng những nhân tài đó. Những nhân tài đó có đóng góp gì cho địa phương sau này hay không phụ thuộc vào việc địa phương lúc đó quan tâm đối xử với họ như thế nào.  Năng lực toán học trong mỗi học sinh không phải là một lượng bất di bất dịch, nó thay đổi theo thời gian và phụ thuộc rất nhiều vào sự cố gắng của mỗi học sinh cũng như môi trường đào tạo. Mô hình lớp chuyên toán vì thế cũng cần phải được xây dựng để phù hợp với những sự thay đổi này. Cụ thể, có những học sinh chưa bộc lộc ngay năng lực về toán ở bậc THCS mà chỉ thể hiện nó khi vào THPT hay thậm chí khi vào đại học. Vì thế các trường chuyên nên tổ chức hằng năm kỳ thi tuyển chọn học sinh. Một mặt nó tạo động lực cho học sinh trong lớp chuyên học tốt hơn, mặt khác nó cũng tạo cơ hội cho trường chuyên phát hiện thêm được học sinh có năng lực.  Để có thể thu hút những học sinh có năng lực và đam mê toán, hay bất kỳ môn học nào khác, vào các trường chuyên với mục đích tìm hiểu sâu hơn về môn học mà mình yêu thích, cần có chế độ phụ cấp sinh hoạt đặc biệt cho học sinh chuyên. Sự quan tâm đúng mức tới giáo viên dạy chuyên cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Đối với lực lượng này trước hết cần có cơ chế đãi ngộ đặc biệt song song với cơ chế chọn lọc, đánh giá thường xuyên cũng như công tác bồi dưỡng chuyên môn.  Cuối cùng, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại các trường trung học phổ thông chuyên chỉ là bước đầu tiên của quá trình bồi dưỡng tài năng. Ngày nay, đào tạo đại học mới là khâu căn bản để tạo nguồn nhân lực cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Mặc dù cùng nằm trong một bộ chủ quản nhưng giáo dục phổ thông và đào tạo đại học vẫn đang là hai mảng gần như độc lập. Trong môn toán có thể thấy trình độ học sinh ngành toán khi vào đại học ngày càng yếu. Không phải những học sinh đó không có năng lực, mà các em càng ngày càng không được chuẩn bị một cách phù hợp cho bậc học đại học. Vì thế cần tổ chức nhiều hoạt động trao đổi, gặp gỡ giữa giáo viên và giảng viên, giữa học sinh và sinh viên. Chẳng hạn có thể cho các giáo viên phổ thông, trước tiên là các giáo viên chuyên tới tu nghiệp tại các trường đại học, và ngược lại, tổ chức cho các giảng viên xuống trực tiếp giảng dạy tại các trường trung học phổ thông.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện viết tiếng Việt      Một câu hỏi đang được đặt ra là “có cần thêm một số chữ cái latinh vào bộ chữ tiếng Việt, ví dụ như F, J, W, Z? “. Nguyên tắc chung, nếu nhu cầu là rõ ràng, thì sự đáp ứng là cần thiết. Còn sử dụng cụ thể như thế nào những chữ cái thêm vào này là công việc tiếp theo.    Chữ cái vẫn dùng mà không chính thức hóa    Trước hết, trong đời sống tiếng Việt hôm nay, chúng ta thực tế đã sử dụng những chữ này!   Nếu bạn đọc dòng văn bản “Thông báo của TW Hội LHPNVN” thì bạn hiểu rằng chữ W ở đây định nói cái gì, tuy có khi bạn chưa học chữ này bao giờ. Người ta không viết “TW” là “TƯ”, vì lo đọc chuyện này lại thành ra chuyện khác.  Người nông dân chúng ta thì đã quen với chuyện lợn lai: lợn F1 hay lợn F2, chứ không phải lợn PH1 hay lợn PH2.  Câu “từ A đến Z” ai cũng nói cũng viết, và nếu bạn nói và viết “từ A đến Y” thì không ai hiểu bạn muốn gì.   Nhưng câu chuyện không dừng ở đây.  Hôm nay, thế giới đã mở ra với chúng ta. Việc mỗi người cần học để biết lấy một đến vài ngoại ngữ đã trở nên cần thiết. Và có lẽ chẳng mấy mà chúng ta sẽ phải giảng dạy khoa học, trước hết là các khoa tự nhiên, khoa công nghệ, khoa thương mại, bằng song ngữ Anh -Việt, trên phạm vi đại trà, nếu chúng ta lập chí hiện đại hóa dứt điểm.  Khái niệm du nhập  Chưa đến mức đó, thì việc sử dụng các khái niệm du nhập đã bắt chúng ta phải đọc thông viết thạo các chữ cái latinh “chưa được đưa vào chính thức”.   Tìm hiểu khái niệm WTO, đó là bổn phận và lợi ích sát sườn của người Việt hôm nay đã tham gia tổ chức này. Phải biết chữ W.   Mỗi xứ sở có điểm mốc “Zero”,”cây số không” (không viết “Dê rô”) của mình, để tính khoảng cách đi tới trung tâm này từ trên các quốc lộ hướng tâm này. Phải biết chữ Z.  Đo độ dài còn có “Foot”: 1 Foot US (ft) = 0,3048006 mét. Phải biết chữ F.  Nghe nhạc thì cũng có “Jazz”, không viết nhạc “Giagigi”. Phải biết chữ J.  Viết tên riêng  Phổ biến hàng ngày hơn nữa, là việc đọc và viết tên riêng.  Sau những thói quen ban đầu cố gắng mòn mỏi để hán-việt hóa bằng được các tên riêng trên thế giới cho bùi tai mình, chúng ta đã vượt được dần ra khỏi cái thói quen cố hữu lấy mình làm trung tâm này. Nhiều bạn trẻ hôm nay khó biết đâu là Á Căn Đình, đâu là Gia Nã Đại, ai Là Mạnh Đức Tư Cưu, ai là Nã Phá Luân. Yêu bóng đá thì hôm xưa có Zico, hôm qua có Zidan khắc trong trí nhớ mình, không phải viết dịch Di Cô hay Di Đan.   Tôi phản đối việc nhất nhất cố gắng viết chuyển dịch các tên Đông Á sang Hán – Việt. Điều đó gây ra những cảm xúc phản nhận thức. Từ bao giờ chúng ta tự cho mình có nghĩa vụ phải chuyển âm Hán – Việt các tên riêng Trung Hoa hay Triều Tiên, và rồi từ đó chúng ta có cảm giác như họ gần gũi với mình hơn cả những người láng giềng Lào hay Miên, thậm chí gần gũi hơn cả các tên riêng của người thiểu số trên đất mình! Đó là tự lừa mình. Tất nhiên khi bạn gọi “Hoa Thịnh Đốn” hay “Mạc Tư Khoa”, bạn sẽ có cảm giác tương tự, “thân thiết hơn”, vì âm thanh này quen thuộc và bùi tai chúng ta hơn. Nhưng nay bạn đã gọi Washington, Moscow, có lẽ rất nên gọi Beijing, Pyongyang để mà tinh thần ta có được sự bình đẳng, bình tâm sáng suốt trong nhận thức.  Tên người cũng thế, tại sao ngay cả với người Nhật, chúng ta không cố sống cố chết Hán – Việt hóa tên riêng của họ, trong khi mọi tên người Trung Hoa chúng ta cứ như có bổn phận phải Hán – Việt hóa chúng bằng được? Nếu không phải lo Hán – Việt hóa tên ông tổng thống Mỹ là “Ô Bá Mã”, tên ông thủ tướng Nga là “Bá Tín”, thì cũng rất nên gọi tên ông thủ tướng Trung Hoa theo âm là Wen Jiabao, và bạn sẽ tìm thông tin về thủ tướng Trung Hoa trên Internet bằng tên đó dễ dàng hơn nhiều, thay vì mù tịt khi phải tìm hiểu về ông ấy vì chỉ biết cái tên đã Hán – Việt hóa.  Giữa cái tên ghi âm và cái tên Hán – Việt hóa nhiều khi có khoảng cách rất xa, ví dụ tên ông chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il được hán-việt hóa là Kim Chính Nhật, không biết đâu mà lần.  Một thói quen nữa là ngay ở Đông Á, nơi đâu “thân thiện” thì người ta gắng Hán – Việt hóa, bằng không thì thôi. Hongkong xưa là nhượng địa của Anh, nên thôi, không cần gọi là “Hương Cảng”. Các tên riêng ở Đại Hàn cũng khỏi bị cố gắng được Hán – Việt hóa nhiều vì “không thân lắm”. Tên riêng của Nhật Bản thì miễn phải Hán – Việt hóa.  Phải học tránh sự thiên vị trong nhận thức, bởi vô hình chung chúng ta cổ vũ cái lý tưởng “đồng văn đồng chủng” cho dân chúng, thông qua việc nhất nhất Hán – Việt hóa tên riêng của Trung Hoa hay của Triều Tiên trên thông tin đại chúng. Từ đó thậm chí ta hình dung như họ có họ hàng với mình khi suy từ tên gọi!  Từ kép    Một vấn đề rất quan trọng khi viết tiếng Việt là vấn đề từ kép.  Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn không có cách gì để xác định nghĩa thực của câu này.  Các ngôn ngữ dùng hệ thống chữ cái đều biết ghép các từ bằng cách viết liền chúng lại. Nếu trong tiếng Anh bạn có “net” là mạng lưới, “inter” là nối kết, bạn sẽ tạo ra chữ “internet” mà không phải là “inter net”. Và bạn có thể ghép nhiều hơn hai chữ để có một chữ mới.  Bạn ghép chữ “sinh” và “vật”, bạn phải có một chữ mới, đáng lẽ là “sinhvật”, chứ không phải là “sinh vật” cạnh nhau.  Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn phải cố làm một thao tác tinh thần để nối “học sinh” thành “họcsinh”, rồi kiểm tra xem có được hay không theo hiểu biết chủ quan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểm tra câu này, và bạn nghi ngờ “được, nhưng chắc không phải thế“.  Tiếp đến bạn phải cố làm một thao tác tinh thần khác để nối “sinh vật” thành “sinhvật”, rồi kiểm tra xem có được hay không theo hiểu biết chủ quan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểm tra câu này, và bạn tự bảo “được, chắc là thế“.  Hơn thế nữa, một người nước ngoài học tiếng Việt thì sẽ đánh vật với cái câu vô định này!   Lối viết tách rời các từ trong một từ kép làm tăng tính mất chính xác của câu chữ, khuyến khích tính chủ quan thẩm định, làm giảm tốc độ đọc hiểu, làm tốn kém lưu trữ trên giấy tờ văn bản hoặc trên các bộ nhớ điện tử, làm khó khăn cho người nước ngoài học tiếng Việt.  Tất cả nguyên do chỉ vì xưa kia chúng ta dùng chữ vuông! Mỗi chữ vuông phải kê cách nhau ra, không có thì không ai hiểu!   Và công cuộc xây dựng chữ quốc ngữ dùng bảng chữ cái latin đã thiếu cái chí đi đến cùng để giải chuyện này. Chính chúng ta là người phải giải nó.  Đây là một dịp để tưởng nhớ tới người có công lao đề xuất giải pháp viết từ kép này đã từ rất lâu, ông Hoàng Xuân Hãn. Ông đã soi rằng việc viết chữ kép như thế sẽ có rất hãn hữu trường hợp có thể gây nhầm nghĩa, và trong trường hợp đó thì một dấu gạch ngang sẽ là giải pháp.  Hy vọng rằng người Việt chúng ta sẽ đến lúc đủ quyết tâm để thực hiện ý tưởng đơn giản và tuyệt vời này của ông Hoàng Xuân Hãn.  Không cần phải ngay một lúc viết liền hết các từ kép: chỉ cần chúng ta tiến lên từng bước một, thống nhất từng chữ kép một, và chúng ta sẽ đi dần được rất xa. Công việc này có thể được giao cho một tổ chức có năng lực và thẩm quyền.  Để làm ví dụ giống như ông Hoàng Xuân Hãn đã làm trước đây, tôi chép đoạn cuối của bài viết ra đây nhưng viết liền các từ kép để chúng ta cùng đọc thử, và để thấy chúng ta sẽ được lợi về đủ đường: chính xác, tốc độ, và tiết kiệm lưu trữ.  Từkép  Một vấnđề rất quantrọng khi viết tiếng Việt là vấnđề từkép.  Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn không có cách gì để xácđịnh nghĩa thực của câu này.  Các ngônngữ dùng hệthống chữ cái đều biết ghép các từ bằng cách viết liền chúng lại. Nếu trong tiếng Anh bạn có “net” là mạnglưới, “inter” là nốikết, bạn sẽ tạo ra chữ “internet” mà không phải là “inter net”. Và bạn có thể ghép nhiều hơn hai chữ để có một chữ mới.  Bạn ghép chữ “sinh” và “vật”, bạn phải có một chữ mới, đáng lẽ là “sinhvật”, chứ không phải là “sinh vật” cạnh nhau.  Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn phải cố làm một thaotác tinhthần để nối “học sinh” thành “họcsinh”, rồi kiểm tra xem có được hay không theo hiểubiết chủquan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếptục kiểmtra câu này, và bạn nghingờ “được, nhưng chắc không phải thế“.  Tiếp đến bạn phải cố làm một thaotác tinhthần khác để nối “sinh vật” thành “sinhvật”, rồi kiểmtra xem có được hay không theo hiểubiết chủquan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểmtra câu này, và bạn tự bảo “được, chắc là thế“.  Hơn thế nữa, một người nướcngoài học tiếng Việt thì sẽ đánhvật với cái câu vôđịnh này!   Lối viết táchrời các từ trong một từ kép làm tăng tính mấtchínhxác của câuchữ, khuyếnkhích tính chủquan thẩmđịnh, làm giảm tốcđộ đọchiểu, làm tốnkém lưutrữ trên giấytờ vănbản hoặc trên các bộ nhớ điệntử, làm khókhăn cho người nướcngoài học tiếng Việt.  Tấtcả nguyêndo chỉ vì xưakia chúngta dùng chữ vuông! Mỗi chữ vuông phải kê cách nhau ra, không có thì không ai hiểu!   Và côngcuộc xâydựng chữ quốcngữ dùng bảng chữ cái latin đã thiếu cái chí đi đến cùng để giải chuyện này. Chính chúngta là người phải giải nó.  Đây là một dịp để tưởngnhớ tới người có cônglao đềxuất giảipháp viết từkép này đã từ rất lâu, ông Hoàng Xuân Hãn. Ông đã soi rằng việc viết chữ kép như thế sẽ có rất hãnhữu trườnghợp có thể gây nhầm nghĩa, và trong trườnghợp đó thì một dấu gạchngang sẽ là giảipháp.  Hyvọng rằng người Việt chúngta sẽ đến lúc đủ quyếttâm để thựchiện ýtưởng đơngiản và tuyệtvời này của ông Hoàng Xuân Hãn. Chỉ cần tiếnlên từng bước một, thốngnhất từng chữkép một, và chúngta sẽ đi được rất xa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Clark Kerr: Nhà lãnh đạo giáo dục đại học hàng đầu của Mỹ thế kỷ 20      Không chỉ thay đổi toàn bộ hệ thống Đại học  California, biến nó thành mô hình kiểu mẫu cho nước Mỹ sau Chiến tranh  Thế giới thứ hai, Clark Kerr còn là người sẵn sàng hy sinh địa vị của  mình để khẳng định quyền tự do, tách biệt với quyền bính chính trị của  môi trường đại học.    “Sau bánh mì, giáo dục là nhu cầu đầu tiên của một dân tộc”.                                                                                                         Georges J. Danton (1759-1794)  Tại Mỹ, giáo dục là công việc của mọi người.                                                                                          Clark Kerr (1911-2003)  Xây dựng mô hình đại học kiểu mẫu cho quốc gia   Bóng mát của Kerr trải dài trên quang cảnh của nền giáo dục Mỹ. Hiểu biết của ông về sự xuất hiện của đa đại học, multiversity, “đã làm kết tinh cái nhìn chúng ta về những thay đổi có tính chất kiến tạo đã diễn ra tại các đại học nghiên cứu Mỹ vào giữa thế kỷ XX”. Đó là những lời Charles M. Vest, nguyên chủ tịch MIT, dành cho Kerr. Với đa đại học, hay các “thành phố của tri thức”, Kerr muốn nói đến những đại học khổng lồ như Đại học California của ông, MIT, Đại học Michigan, Chicago, Stanford, và nhiều đại học khác trong hàng chóp bu khoảng một trăm trường.          Clark Kerr sinh ngày 17/5/1911, con của một  gia đình nhà nông ở bang Pennsylvania có học thức và trọng giáo dục.  Trong thời gian theo học ở Swarthmore College, ông gia nhập tổ chức  những người Quaker (Hội tôn giáo của những người bạn, Religious Society  of Friends, mà ông trở thành thành viên suốt đời), tham gia những hoạt  động thiện nguyện để giúp đỡ người nghèo thời Đại suy thoái, từ đó ông  bỏ ý định học luật để học kinh tế tại UC Berkeley.Ông mất ngày 1/12/2003  tại nhà riêng ở California, hưởng thọ 92 tuổi.        Sau Thế chiến II, nhiều yếu tố “thiên thời địa lợi” đã hợp lưu để đưa đại học Mỹ lên vị trí thống lãnh thế giới, bên cạnh sự thống lãnh về kinh tế: Luật GI (1944), nhằm tạo điều kiện cho binh sĩ và nhân viên phục vụ chiến tranh được bước vào đại học miễn phí để có tương lai tốt đẹp hơn; báo cáo “Khoa học – Biên giới vô tận” (1945) của cố vấn khoa học Vannevar Bush lên Tổng thống Franklin Delano Roosevelt đưa nghiên cứu khoa học cơ bản về các đại học theo một chế độ hợp đồng cạnh tranh để đổi lấy tài trợ của liên bang; “baby boom” thời hậu chiến; và chiến tranh lạnh.   Để thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trên, lịch sử đã chọn Đại học California (UC) làm mô hình mẫu, mà Clark Kerr là kiến trúc sư trưởng và người thực hiện chương trình cải tổ toàn diện có tên Quy hoạch tổng thể California cho giáo dục đại học (California Master Plan for Higher Education) những năm 1960 để cải tổ và mở rộng UC. California là bang có số dân cao nhất (và giàu nhất) với 15,7 triệu năm 1960, và đến 2010 con số này tăng lên gấp đôi. Một trong những nhiệm vụ của đại học cũng là đáp ứng sự tăng trưởng dân số đó. Nhưng tầm nhìn của Kerr không chỉ ngắn hạn, mà hướng đến thế kỷ 21.  Clark Kerr làm Hiệu trưởng của UC Berkeley từ năm 1952, rồi Chủ tịch Đại học California từ năm 1958-1967. Với 15 năm tại chức, ông đã thay đổi toàn bộ hệ thống Đại học California, biến nó thành một mô hình kiểu mẫu cho quốc gia. Đầu tiên ông hiện đại hóa đại học nghiên cứu, cho tới năm 1940 hầu hết nằm trong khu vực tư nhân phi lợi nhuận như Chicago, Columbia, Cornell, Harvard, Johns Hopkins, Pennsyvania và Yale.   Đại học California được thiết kế lại có ba khu vực: khu vực UC dành cho nghiên cứu, khu vực các state college (đại học bang), với chương trình học trung bình bốn năm, có thể lên thạc sĩ, và khu vực các community college (đại học cộng đồng) với hai năm.   Ông giữ cho số lượng sinh viên ở khu vực UC không quá lớn (dưới 30.000 sinh viên) để chúng thành những đại học nghiên cứu chứ không phải đại học giáo dục như ở một số đại học khác: Đại học bang Arizona (70.000 sinh viên), Đại học bang Ohio (64.000 sinh viên), hay Đại học Minnesota (53.000 sinh viên). Các UC cũng không thể giống nhau hết về nghiên cứu, mà cần có trọng tâm và trác việt ở đó. “Tôi ủng hộ sự đa dạng trong Đại học California. Thay vì chỉ có một hay hai campus khổng lồ, chúng ta nên có nhiều campus được phân bố khắp bang, với qui mô hợp lý, phụng sự các cộng đồng chính của bang. Mỗi một campus nên có sự khác biệt – có tính cách riêng, đặc tính riêng, và có ý thức riêng về bản sắc”, Kerr nói. Chẳng hạn UC Riverside sẽ là một đại học các môn nhân văn, UC Irvine về nghệ thuật, văn chương và khoa học, UC San Diego về khoa học và kỹ thuật, US Santa Cruz về các liên ngành v.v. Kerr cũng tổ chức theo nguyên tắc phân quyền và dân chủ hơn. Các UC trở thành một liên bang các campus dưới một chủ tịch và một ban quản trị.  Có thể tóm tắt ý tưởng của Kerr trong những dòng sau đây của ông:  Tiếp cận phổ quát cần được dành cho mọi học sinh tốt nghiệp trung học thông qua sự mở rộng của phong trào các community college.   Những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho kinh tế cần được cung cấp đặc biệt bằng cách mở rộng các state college (tầng thứ hai) bốn năm để bao gồm luôn các chương trình năm năm (nghĩa là để thêm chương trình thạc sĩ) và mở rộng chúng đến tất cả những chương trình ở trình độ này, xa hơn giáo dục giảng dạy.  Đại học California (UC) cần được bảo vệ trong chức năng nghiên cứu, đào tạo cho Tiến sĩ và cho các nghề cao hơn.Các mức độ chức năng không được phép trộn lẫn nhau – chúng dành cho những đối tượng sinh viên khác nhau, cho các thành viên giảng dạy có định hướng khác nhau, và những gói khác nhau về quy định tuyển chọn và tiến bộ của sinh viên. Những sự khác nhau này không thể được giải quyết tốt trong một bộ thể chế.  Với cách tổ chức này, thị phần sinh viên của các UC giảm từ 15% xuống 12,5%, của các state college từ 50% xuống còn 33%, số còn lại 55% thuộc về các community college, nhưng sự di chuyển từ các community college vào các state college và UC tăng nhanh (tính liên thông). Tất cả khu vực đều là những người “chiến thắng”.     Tác phẩm Quy hoạch tổng thể California  của ông đã trở thành một mô hình để thế giới nghiên cứu. Sau Thế chiến  thứ hai, tại châu Âu, cái nôi của đại học, giáo dục đại học không phát  triển được mạnh mẽ như tại Mỹ.   “Không phải lẽ, và cũng không ý nghĩa,  nếu đem so sánh GS Clark Kerr với Nam tước von Humboldt, nhưng dù thế,  ông có lẽ là người gần nhất với Humboldt mà chúng ta có được trong thế  kỷ qua!” nhà  nghiên cứu giáo dục đại học Thụy Điển T. Nybom viết.   Không sợ mất chức   “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Sự nổi tiếng, vị trí đứng ngay đầu sóng giáo dục, đại biểu cho tinh thần truyền thống độc lập và tự chủ của đại học, đã khiến Kerr phải trả giá cho chính trị.   Những năm 1960, làn sóng tả của sinh viên lớn mạnh, tràn vào UC Berkeley đầu tiên vì sự thu hút đặc biệt của nó gây bất ổn. Kerr từ chối sử dụng bạo lực để trấn áp và chủ trương tự thương lượng với sinh viên, do đó đã trở thành mục tiêu loại bỏ của FBI thời J. E. Hoover.   Năm 1961, Kerr đã phát biểu bảo vệ quan điểm của mình khi ông cho phép một sinh viên cộng sản phát biểu tại đại học: “Đại học không cam kết làm cho các ý tưởng an toàn cho sinh viên. Nó cam kết làm cho sinh viên an toàn cho các ý tưởng. Do đó nó cho phép sự phát biểu tự do nhất các quan điểm trước sinh viên, tin tưởng vào tri giác tốt của họ trong việc đánh giá các quan điểm này. Chỉ bằng cách này đại học mới có thể phục vụ tốt nhất nền dân chủ Mỹ.”   Tháng 2/1967, sau khi Ronald Reagan lên làm Thống đốc bang California, Clark Kerr bị buộc tự rút lui, nhưng hai lần ông đều từ chối, buộc Hội đồng quản trị của UC sa thải ông trong đó có một phiếu của Reagan (Thống đốc là chủ tịch của Hội đồng). Kerr tuyên bố ông rời Đại học California y như lúc ông bước vào nó: “thấm lửa nhiệt tình”. Nhưng trong vòng bạn bè thân thiết, ông cảm thấy sự sa thải phũ phàng đã làm tổn thương ông.  Sau khi Kerr ra đi, bạo loạn lại nổ ra khiến một người chết, hàng chục người khác bị thương. Reagan ra lệnh đưa vệ binh quốc gia tiến vào UC Berkeley để trấn áp. Mười ngày sau, gần 1.000 người bị bắt. “Sự hòa giải, tôi tin thế, là cách tiếp cận ưu việt trong thế giới hàn lâm” chứ không phải bạo lực hoặc áp đặt, Kerr nói.   Kerr yêu tự do, hiếu hòa và cởi mở, không thích giáo điều, đúng theo tinh thần và đức hạnh của những người Quaker.   “Tôi muốn nói điều này: rằng một đại học được quản lý một phần dựa trên tự do. Một đại học không thể được quản lý như một nhà nước cảnh sát, hay ít nhất nó không thể được quản lý như một đại học tốt giống một nhà nước cảnh sát,” Kerr tuyên bố trong buổi họp báo sau khi bị bãi chức. Ông được giới báo chí nhiệt liệt tán thưởng đứng kéo dài rất lâu, một hiện tượng hiếm thấy tại một buổi họp báo.   Và một cách gián tiếp để trả lời quyền lực chính trị, ông phát biểu: “Và tôi không tin vào nguyên tắc rằng bởi vì có một thống đốc mới nên cần có một chủ tịch đại học mới. Điều này không bao giờ xảy ra tại các trường đại học công tốt ở Mỹ. Ngay cả điều đó cũng lỗi thời ở những đại học công tốt vừa phải hay yếu kém. Đó là khía cạnh tự chủ [của đại học]. Tôi tin người dân của bang này cần thấu hiểu, và tôi tin phần lớn họ làm điều đó, rằng đại học có thể phụng sự cho nhân dân tốt nhất khi được quản lý dài hạn bằng [nguyên tắc quyền] tự chủ.  Các nhóm tôn giáo đã từng chiến đấu nhiều thế kỷ để được độc lập với quyền bính chính trị, với lý do rằng họ muốn phụng sự Thiên Chúa chứ không phải phụng sự Caesar, và tôi nghĩ một đại học (cũng) cần một sự tách biệt như thế giống như sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước: sự tách biệt giữa đại học và nhà nước. Thay vì nói phụng sự Thiên Chúa chứ không phải Caesar, tôi muốn nói phục vụ chân lý chứ không phải một đảng phái chính trị.” (Kerr, Hồi ký II)          Chủ tịch Arthur Levine của Teachers College tại Đại học Columbia, viết trên New York Times một ngày sau khi Kerr mất: “Ông đã tạo ra hàng loạt cơ sở giáo dục có chất lượng với chi phí thấp và tiềm năng nghiên cứu cho một quốc gia đang khao khát cả hai thứ.”          Kerr là người không bao giờ sợ mất chức, và vì thế giữ được tính độc lập của mình để sẵn sàng nói ‘không’ hay nói ‘có’ khi mình muốn. Một con người tự tin vào tầm nhìn, sức hiểu biết và tài năng của mình thì chẳng bao giờ biết sợ cả. Ra đi, dù được các Đại học Harvard và Stanford mời, nhưng Kerr chọn vị trí là người đứng đầu của Ủy ban Carnegie về Giáo dục Đại học từ năm 1967-1973, và tiếp theo của Hội đồng Carnegie về Nghiên cứu Chính sách. Ở đó trong vòng 13 năm, ông xuất bản hơn 140 tập nghiên cứu và bình luận về giáo dục đại học có giá trị. Đó là một công trình khảo sát toàn diện nhất về giáo dục đại học chưa từng có. Ngoài ra, ông cũng cho xuất bản nhiều quyển sách của riêng ông tiếp theo Các công dụng của đại học, đặc biệt hai quyển Hồi ký vào cuối đời, đúc kết lại những trải nghiệm của ông trong thời gian hoạt động tại UC Berkeley và UC. Tất cả những bài viết của ông đều toát ra tinh thần khai sáng, tính học thuật cao và có sức truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc. Nổi tiếng nhất của ông là tác phẩm “Các công dụng của Đại học”.2  Ông liên lạc với trí thức và học giả hải ngoại, và họ làm những cuộc ‘hành hương’ để được gặp ông. Ông được biết đến nhiều ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ La tinh, và thường xuyên được mời diễn thuyết, tham vấn, cố vấn cho các đồng nghiệp và chính phủ. Ông là thành viên của Hội đồng quản trị của Đại học Hồng Kông những năm 1960.   “Clark Kerr làm cho giáo dục đại học điều mà Henry Ford đã làm cho ngành xe hơi”, Chủ tịch Arthur Levine của Teachers College tại Đại học Columbia, viết trên New York Times một ngày sau khi Kerr mất. “Ông đã tạo ra hàng loạt cơ sở giáo dục có chất lượng với chi phí thấp và tiềm năng nghiên cứu cho một quốc gia đang khao khát cả hai thứ.”                                                      Chú thích:  1: Xin xem thêm các bài của cùng tác giả viết về đại học Hoa Kỳ, về Clark Kerr trong Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 Năm (1810-2010). Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam. NXB Tri Thức, 2011; Về Clark Kerr, Các công dụng của Đại học. “Tủ sách phát triển giáo dục” và NXB Tri Thức, 2013.  2: Xem Clark Kerr, Các công dụng của Đại học như đã nói trên.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Có cần lọt vào Top 200?      Gần đ&#226;y ch&#250;ng ta n&#243;i nhiều đến mục ti&#234;u: năm 2020 Việt Nam c&#243; một đại học lọt v&#224;o Top 200 của c&#225;c trường đại học tr&#234;n thế giới. Ngo&#224;i t&#237;nh thiếu thực tế của mục ti&#234;u n&#224;y, vấn đề quan trọng hơn cần b&#224;n l&#224; ch&#250;ng ta c&#243; cần lọt v&#224;o danh s&#225;ch c&#225;c Top 200, Top 500, khi m&#224; những ti&#234;u ch&#237; để c&#225;c nh&#243;m truyền th&#244;ng lập bảng xếp hạng thiếu t&#237;nh khoa học v&#224; hợp l&#253;. Do đ&#243;, kh&#244;ng cần v&#224; kh&#244;ng n&#234;n chạy theo những mục ti&#234;u mơ hồ như thế; thay v&#224;o đ&#243;, n&#234;n tập trung đầu tư v&#224;o những việc thực tế hơn để n&#226;ng cao ti&#234;u chuẩn đ&#224;o tạo ở tr&#236;nh độ quốc tế, sao cho sinh vi&#234;n khi tốt nghiệp c&#243; thể hội nhập với cộng đồng quốc tế dễ d&#224;ng.    Ước vọng thiếu thực tế     Không phải chỉ riêng đại học nước ta có ước vọng lọt vào Top 200, mà ngay tại Úc, một số đại học cũng từng có ước vọng này, nhưng nay thì họ đang xét lại mục tiêu đó có xứng đáng để tập trung tài lực hay không.  Nhưng trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, bất cứ có quan tâm đến giáo dục đại học nước nhà đều có thể nói rằng ước vọng 200 vẫn chỉ là ước mơ và nguyện vọng vì nó rất khó thành hiện thực.   Có nhiều nhóm truyền thông đứng ra lập những danh sách “top 200” và “top 500” cho các trường đại học trên thế giới nhằm mục tiêu hướng dẫn “khách hàng” và sinh viên.  Trong số này phải kể đến nhóm Phụ trang giáo dục đại học của tờ Thời báo (THES – Times Higher Education Supplement) và nhóm thuộc Đại học Giao thông Thượng Hải (GTTH) được nhiều người biết đến từ 2003.  Hai nhóm này sử dụng những tiêu chí khác nhau để đánh giá và xếp hạng đại học.  Các tiêu chí mà THES sử dụng là: đánh giá của giới khoa bảng từ các trường khác ; số sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các công ti toàn cầu ; phần trăm giáo sư là người nước ngoài ; phần trăm sinh viên là người nước ngoài ; tỉ số sinh viên / giáo sư ; và số lần trích dẫn tính trên đầu mỗi giáo sư.  Nhóm GTTH dựa vào một số tiêu chí chính như số nhà khoa học đoạt giải Nobel và giải Fields; số nhà khoa học có công trình được trích dẫn nhiều; số bài báo nguyên thủy trên các tập san Science và Nature; tổng số bài báo công bố trên các tập san quốc tế.   Trong những tiêu chí trên, chúng ta thấy tiêu chí quan trọng nhất của một đại học top 200 hay “đẳng cấp quốc tế” là nghiên cứu khoa học.  Một thước đo chính về nghiên cứu khoa học là số lượng và chất lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế.  Tính đến tháng 10 năm 2008, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 910 bài báo khoa học.  Con số này chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 1/5 của Singapore.  Tôi ước tính rằng nếu sự tăng trưởng như hiện nay được duy trì, thì đến năm 2020, con số bài báo khoa học của Việt Nam còn thấp hơn con số của Thái Lan hay chỉ bằng 1/3 của Singapore năm 2008.  Cả Thái Lan và Singapore chưa có đại học nào được xem là đẳng cấp quốc tế.   Thật ra, có đến 60% những công trình khoa học Việt Nam được công bố trên các tập san quốc tế là do hợp tác hay làm việc chung với các nhà khoa học ngoại quốc.  Nói cách khác, chỉ có khoảng 40% công trình nghiên cứu là “thuần Việt”, tức do các nhà khoa học Việt Nam chủ trì và thực hiện.  Do đó, trong thực tế, thực lực khoa học nước ta còn rất thấp, chưa đủ để cạnh tranh trên trường quốc tế.   Đó là số lượng, còn chất lượng thì vẫn còn quá thấp.  Đại đa số những nghiên cứu khoa học của Việt Nam chỉ công bố trên những tập san có hệ số ảnh hưởng rất thấp.  Ở bất cứ lĩnh vực khoa học nào, chỉ số trích dẫn của các nghiên cứu Việt Nam thuộc vào hàng thấp nhất.  Nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực “mạnh” của Việt Nam có số lần trích dẫn không cao và có thể chẳng có ảnh hưởng gì lớn trên thế giới.  Khoảng 20 đến 30% các bài báo về toán và vật lí Việt Nam chưa bao giờ được ai trích dẫn.  Tỉ lệ không trích dẫn này trong ngành kĩ thuật lên đến 41% !  Nói cách khác, có nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chẳng ai quan tâm.   Chúng ta chưa có nhà khoa học nào được trao giải Nobel hay giải Fields. Chúng ta chưa có những công trình khoa học thuần Việt trên các tập san khoa học hàng đầu như Nature, Cell, Science, v.v… Chúng ta chưa có những nhà khoa học có trích dẫn cao (highly cited researchers).  Nói tóm lại, trong bất cứ tiêu chí nào, khoa học Việt Nam nói chung và trường đại học Việt Nam nói riêng xuất phát từ một vị thế rất bất lợi để phấn đấu vào danh sách “Top 200”.    Do đó, những ai qun tâm đến giáo dục đại học đều biết rằng ước vọng 200 khó thành hiện thực, chứ không không phải đợi đến một nhà khoa học giáo dục người Úc lịch sự nói “Việt Nam chưa sẵn sàng cạnh tranh được một cách nghiêm túc trên cơ sở công bố công trình và khối lượng được trích dẫn” và “Tóm lại con đường dẫn đến bảng xếp hạng 200 trường ĐH hàng đầu do Trường ĐH Giao thông Thượng Hải công bố đối với ĐH Quốc gia Hà Nội hay một trường ĐH nào khác của VN là một con đường dài và việc đạt được nó vào năm 2020 là nằm ngoài khả năng hiện thực.”  (Tuổi Trẻ, 14/11/2008).               Các trường đại học hàng đầu thế giới luôn lấy chất lượng đào tạo (output) làm uy tín              Những tiêu chí thiếu tính khoa học  Như nói trên, có nhiều nhóm lập ra những danh sách top 200, nhưng chẳng có danh sách nào, kể cả danh sách của GTTH, được xem là có cơ sở khoa học vững vàng cả; đó chỉ là những danh sách phục vụ cho mục tiêu thương mại, chứ không phải khoa học. Xin lấy các tiêu chí của GTTH để phân tích.    Thứ nhất là đếm số nhà khoa học chiếm giải Nobel hay giải Fields, tuy phản ảnh một phần nào về chất lượng nghiên cứu khoa học của trường, nhưng trong thực tế thì không hẳn như thế, bởi vì nhiều nhà khoa học đang tại chức tại một đại học từng chiếm giải Nobel nhờ các công trình nghiên cứu thực hiện ở trường khác.  Trong số 22 nhà khoa học chiếm giải Nobel y học 1997-2006, có đến 15 người là nhờ công trình nghiên cứu từ trường khác trước khi tham gia trường hiện tại.  Do đó, tiêu chí này phản ảnh khả năng thu hút nhân tài, chứ không hẳn phản ảnh chất lượng nghiên cứu khoa học.  Thứ hai là số nhà khoa học có nhiều trích dẫn tuy trên lí thuyết thì có vẻ phản ảnh chất lượng khoa học, nhưng trong thực tế thì không đơn giản như nhóm GTTH làm.  Lí do đơn giản là chỉ số trích dẫn tùy thuộc vào cơ sở dữ liệu sử dụng.  Ngoài ra, còn có vấn đề tác giả.  Chẳng hạn như một bài báo với 1 tác giả được trích dẫn 100 lần và một bài báo với 865 tác giả (và nhà khoa học đứng tên tác giả số 342) cũng được trích dẫn 100 lần không thể xem tương đương, nhưng cách làm của GTTH thì lại xem là tương đương!  Thêm vào đó là chỉ số trích dẫn thường tính cho 2 thập niên trước, như vậy không phản ảnh chất lượng hiện tại.  Trong số 10 tác giả có chỉ số trích dẫn cao trong thời gian 1996-1999, 5 người đã chuyển chỗ làm hay qua đời.    Thứ ba là số bài báo trên tập san Science và Nature không hẳn phản ảnh chất lượng nghiên cứu khoa học, bởi vì trong thực tế có nhiều tập san khác có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao hơn Science và Nature rất nhiều.  Nên nhớ rằng trong số những bài báo được trích dẫn nhiều, chỉ có 22% được công bố trên hai tập san này.  Do đó, tính hợp lí (validity) của số bài báo trên Science và Nature có vấn đề nghiêm trọng.   Thứ tư là số lượng bài báo trên các tập san cũng tùy thuộc vào cơ sở dữ liệu sử dụng.  Số lượng bài báo chắc chắn không nói lên ảnh hưởng của các bài báo này.  Đó là chưa tính đến tình trạng “salami publication” (kiểu cắt nem chua ra từng miếng nhỏ), tức là công bố nhiều bài báo để nâng số lượng mà chẳng quan tâm đến chất lượng.    Nói tóm lại, không có một tiêu chí nào có tính hợp lí cao, và cũng chẳng có một cách làm nào của GTTH và THES được xem là mang tính khoa học.  Đó là sự thật.  Chính vì thế mà hai danh sách này không nhất quán với nhau.  Một số trường xuất hiện trên danh sách top 200 của THES thì lại vắng mặt trong danh sách của GTTH (và ngược lại).  Theo xếp hạng năm 2006, 4 trong số 50 trường hàng đầu của GTTH không nằm trong top 500 của THES.  Có thể xem qua danh sách trong bảng sau để thấy sự bất hợp lí của cách xếp hạng.                Một số đại học trong danh sách top 70 của GTTH nhưng không có trong top 500 của THES      Một số đại học trong danh sách top 70 của GTTH nhưng không có trong top 500 của THES          ·        University of California, San Francisco (GTTH hạng 18)  ·        ĐH Rockefeller (GTTH hạng 30)  ·        ĐH Paris 6 (GTTH hạng 45)  ·        Viện Karolinska (GTTH hạng 48)         ·        Fondation des Scienes Politique (THES hạng 52)  ·        Ecole Polytech fed Lausanne (THES hạng 64)  ·        Indian Institutes of Management (THES hạng 68)  ·        School of Oritental and African Studies (THES hạng 70)                  Biểu đồ sau đây cho thấy chẳng có mối tương quan nào giữa xếp hạng của THES và GTTH.  Một số trường trong danh sách top 50 của GTTH thậm chí không nằm trong danh sách top 500 của THES.  Tính tổng cộng, chỉ có 133 trường nằm trong cả hai danh sách!  Phân tích này một lần nữa cho thấy cách xếp hạng của cả hai nhóm không đáng tin cậy.                             Biểu đồ về mối tương quan giữa xếp hạng top 500 của THES (trục hoành) và xếp hạng top 500 của Đại học GTTH (trục tung).  Nguồn: Ioannidis JAP, et al. BMC Medicine 2007;5:30.             Chính vì tính phi khoa học này nên trong thực tế đã xảy ra chuyện khôi hài.  Năm 2004, Đại học Malaya (một đại học lâu đời nhất của Mã Lai) được THES xếp hạng 89.  Trước “tin vui” này, hiệu trưởng trường ra chỉ thị treo biển to tướng ở cổng trường với hàng chữ “University of Malaya a world’s top 100 university”.  Nhưng chỉ một năm sau, khi THES xếp hạng lại thì Đại học Malaya tụt xuống hạng 169, dù trong thời gian ngắn đó đại học này chẳng có thay đổi gì về nghiên cứu khoa học hay nhân sự!  Hệ quả là sau đó vị hiệu trưởng này mất chức.   Chính vì những bất cập và phi khoa học này mà có tác giả đã nghiêm khắc cảnh báo rằng cách xếp hạng hiện nay có thể gây tác hại cho khoa học và giáo dục.   Có cần xem trọng danh sách top 200 ?  Nhưng một câu hỏi nghiêm túc cần đặt ra là chúng ta có cần tập trung công sức tài lực để chỉ có tên trong danh sách top 200?  Theo tôi thì không, chúng ta không cần phải có tên trong danh sách đó.  Chúng ta không cần quá bận tâm với những danh sách đó, vì như tôi trình bày trên, chẳng có danh sách nào mang tính khoa học và đáng tin cậy.   Thế thì chúng ta cần tập trung vào vấn đề gì ?  Giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập.  Có thể xem ba khía cạnh đó của giáo dục đại học là một hệ thống đặc trưng bởi ba khía cạnh trên.  Vì là hệ thống nên phải có đầu vào (input), qui trình (process), và đầu ra (output).  Do đó, chất lượng giáo dục đại học là tập hợp một số nguyên tố liên quan đến đầu vào, qui trình đào tạo, và đầu ra. Chúng ta nên tập trung để nâng cao tiêu chuẩn cho ba khía cạnh trên.    Đầu vào là những tiêu chuẩn liên quan đến sinh viên được nhận vào học tại trường đại học.  Hiện nay chúng ta có quá nhiều đại học nhưng chất lượng đầu vào là một câu hỏi lớn. Một số nghiên cứu cho thấy số điểm trung bình của thí sinh được nhận vào đại học có tương quan đến số điểm tốt nghiệp: sinh viên với số điểm cao lúc nhập học đại học thường là những sinh viên có xác suất tốt nghiệp đại học cao.  Nếu xem điểm thi tốt nghiệp hay điểm tuyển sinh đại học phản ảnh trình độ của học sinh, thì trường có nhiều học sinh giỏi cũng có nghĩa là môi trường học tập được nâng cao, và qua đó tác động tích cực đến chất lượng giáo dục của trường.    Qui trình ở đây bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến người thầy, giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, nghiên cứu khoa học, và cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ dành cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  Giáo dục đại học bao gồm giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  Có thể nói chung rằng “sức khỏe tài chính” của một trường được phản ảnh qua sự tài trợ hay thu hút tài trợ từ Nhà nước và các nguồn tư nhân.  Nhưng sử dụng tài chính vì lợi ích của sinh viên cần được quan tâm đặc biệt; vì thế, các tiêu chuẩn như chi tiêu, dịch vụ, cơ vật chất, v.v…    Ở bậc đại học, người thầy (hay cô) không chỉ đơn giản là một người giảng bài, mà còn là một chuyên gia về một lĩnh vực chuyên môn (khác với bậc trung học, người thầy không phải là một chuyên gia).  Để truyền đạt hữu hiệu đến sinh viên, ngoài những kĩ năng sư phạm, người thầy cần phải có kiến thức về chuyên ngành để có thể khai triển những lí thuyết và ý tưởng từ nội dung của giáo trình.  Những kiến thức này có thể tiếp thu qua nghiên cứu khoa học.  Nhưng “hộ chiếu” để làm nghiên cứu khoa học là học vị tiến sĩ.  Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các trường đại học Tây phương xem văn bằng tiến sĩ như là một tiêu chuẩn tối thiểu để được bổ nhiệm làm giảng viên hay giáo sư đại học.  Một phần lớn các chỉ tiêu về chất lượng giáo dục đại học xoay quanh trình độ của người thầy và nghiên cứu khoa học.  Sản phẩm chính của nghiên cứu khoa học là những bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế.  Những bài bào hay công trình có chất lượng cao thường được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor) cao, hoặc có số lần trích dẫn (citations) cao.  Do đó, một tiêu chuẩn được đa số chuyên gia chấp nhận là chuẩn mực để đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học là số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế tính trên mỗi GV/GS và số lần trích dẫn các bài báo khoa học từ trường trong vòng 2 năm qua tính trên mỗi GV/GS.  Ngoài ra, một số tiêu chuẩn khác cũng phản ảnh uy tín của trường là số bằng sáng chế (patent) đã được công nhận và đăng kí với một cơ quan bản quyền quốc tế, số giáo sư và sinh viên nước ngoài theo học tại trường, và số bằng khen hay số lần các giáo sư được mời làm chủ tọa các hội nghị quốc tế.                    Thay vì chạy theo một mục tiêu mơ hồ mang tính truyền thông như có trong danh sách top 200 hay top 500 như ngành giáo dục đề ra, chúng ta cần và nên phát triển những tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đầu vào, qui trình đào tạo, và đầu ra.  Mục tiêu hàng đầu và thật sự của đại học là đào tạo những chuyên gia có kiến thức và kĩ năng đóng góp vào phát triển kinh tế và hội nhập khoa học quốc tế, chứ không phải có tên trong danh sách top 200. Do đó, cần nên tập trung sức lực vào những việc thực tế hơn để dần dần nâng cao tiêu chuẩn đào tạo ở trình độ quốc tế, sao cho sinh viên khi tốt nghiệp có thể hội nhập với cộng đồng quốc tế dễ dàng (chứ không phải như hiện nay chúng ta bị xem thường). Một khi tiêu chuẩn đã đạt chuẩn quốc tế thì mục tiêu top 200 hay top 500 không còn là vấn đề nữa.                                               Nhưng nghiên cứu khoa học đòi hỏi cơ sở vật chất, và đặc biệt là thông tin (thư viện) và các thiết bị để sử dụng, kể cả công nghệ thông tin.  Một đại học có chất lượng tối thiểu cũng phải có đủ không gian (kể cả bàn, ghế) cho giảng dạy, có phòng labo với thiết bị đầy đủ cho thí nghiệm và thực tập, có hệ thống hỗ trợ bằng công nghệ thông tin để giảng viên và học sinh có thể truy cập internet miễn phí, và nhất là hệ thống thư viện.  Có thể nói không ngoa rằng thư viện và công nghệ thông tin là bộ mặt của một trường đại học.  Cho dù một đại học có 100% giảng viên với trình độ tiến sĩ, mà không có thư viện tốt hay thiết bị công nghệ thông tin dồi dào thì cũng trường đại học không thể nào làm nghiên cứu khoa học tốt, không thể nào giảng dạy tốt được.  Đề cập đến chất lượng giáo dục đại học nhất định phải đề cập đến các chỉ tiêu quan trọng về đầu tư cho thư viện và công nghệ thông tin.  Đầu ra là những tiêu chuẩn phản ảnh tình trạng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.  Giáo dục bậc cao có bốn chức năng chính:  một là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân về tri thức, để họ có thể tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội; hai là cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự tăng trưởng và giàu mạnh của một nền kinh tế hiện đại; ba là khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, góp ý về đường lối và chính sách của nhà nước; và bốn là thu thập hay sáng tạo ra kiến thức qua nghiên cứu và chuyển giao những kiến thức này đến xã hội.  vì thế, “sản phẩm” chính của giáo dục đại học là sinh viên tốt nghiệp với trình độ chuyên môn cao.  Đây cũng là những tiêu chuẩn khó định lượng chính xác, vì các chuyên gia vẫn chưa nhất trí cách đánh giá.  Tuy nhiên, người ta ghi nhận rằng danh tiếng (phản ảnh gián tiếp chất lượng giáo dục) của một trường đại học thường gắn liền sự sự thành đạt của sinh viết nghiệp từ trường đó.  Các đại học như Harvard, Yale, Princeton, v.v… sở dĩ có tiếng trên thế giới là vì những sinh viên tốt nghiệp từ các trường này thường giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy kinh tế hay Nhà nước.  Do đó, các tiêu chuẩn trong phần “đầu ra” cụ thể là tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp, có việc làm, sự hài lòng của doanh nghiệp hay cơ quan tuyển dụng, sinh viên quay lại theo học tiếp cấp thạc sĩ hay tiến sĩ, v.v…   Do đó, theo tôi, thay vì chạy theo một mục tiêu mơ hồ mang tính truyền thông như có trong danh sách top 200 hay top 500 như ngành giáo dục đề ra, chúng ta cần và nên phát triển những tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đầu vào, qui trình đào tạo, và đầu ra.  Mục tiêu hàng đầu và thật sự của đại học là đào tạo những chuyên gia có kiến thức và kĩ năng đóng góp vào phát triển kinh tế và hội nhập khoa học quốc tế, chứ không phải có tên trong danh sách top 200. Do đó, cần nên tập trung sức lực vào những việc thực tế hơn để dần dần nâng cao tiêu chuẩn đào tạo ở trình độ quốc tế, sao cho sinh viên khi tốt nghiệp có thể hội nhập với cộng đồng quốc tế dễ dàng (chứ không phải như hiện nay chúng ta bị xem thường). Một khi tiêu chuẩn đã đạt chuẩn quốc tế thì mục tiêu top 200 hay top 500 không còn là vấn đề nữa.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Có cần nhiều Tiến sĩ?      Tôi đang băn khoăn liệu viết&#160; bài này có khác gì&#160; xúi thanh niên bỏ học, trong khi ai cũng cho rằng đất nước này cần đào tạo nhân tài để phát triển. Mấy năm qua, không chỉ đại học bùng phát, mà&#160; những chỉ tiêu đào tạo sau đại học cũng đáng nể, như mấy chục ngàn tiến sĩ trong vài năm tới chẳng hạn.      Mới hôm rồi tôi được mời ăn tối ở nhà bạn. Chủ nhân giới thiệu khoảng một chục khách mời với nhau: Này là tiến sĩ X, đây là tiến sĩ Y, kia là thạc sĩ Z. Và hôm sau, chủ nhân nói với tôi qua điện thoại là họ thực sự hân hạnh được đón tiếp những vị khoa bảng hôm qua, con cái họ học được nhiều từ các vị ấy. Tôi nhớ  hai cô cậu trẻ trong nhà, đều đang ở lứa tuổi ngoan, quả thật có vẻ bị ảnh hưởng bởi sự trân trọng bằng cấp cao của cha mẹ, chắc là chúng thấy làm tiến sĩ cũng oai.  Khi Steve Jobs qua đời, một chi tiết về đời tư của ông được nhiều phương tiện truyền  thông khai thác. Ấy là mẹ ruột của ông mang thai khi chưa kết hôn và còn là sinh viên, đã quyết định đem đứa con mới sinh cho người khác nuôi. Yêu cầu của bà mẹ ruột đối với cha mẹ nuôi đứa bé là cho nó vào đại học. Cha mẹ nuôi của Jobs là những người lao động, đã cố gắng thực hiện lời hứa. Nhưng Steve chọn một trường đại học tư học phí rất đắt.  Khi Steve nhận ra rằng mình đang tiêu những đồng tiền dành dụm ít ỏi cho tuổi già của cha mẹ, ông quyết định bỏ học, đi làm tự kiếm sống. Khi qua đời ở tuổi ngoài năm mươi, Steve Jobs là tỉ phú.   Nguyện vọng của mẹ ruột Steve và cố gắng của cha mẹ nuôi Steve là điều hiểu được. Cho con học hành tới nơi tới chốn là ước nguyện của nhiều cha mẹ, giàu cũng như nghèo, hoàn toàn chính đáng. Các bậc cha mẹ hy vọng một nền giáo dục đại học bảo đảm tương lai cho con mình. Khiêm tốn thì mong chúng có được cái bằng đại học trong nước để trong hồ sơ xin việc. Có điều kiện hơn thì cho chúng du học, hay ráng kiếm tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ, trong ngoài nước đều được, để nâng cấp địa vị và bổng lộc. Ở xứ sở trọng bằng cấp, cần nắm ít nhất một tấm bằng trong tay như tấm vé để tiến vào quan trường. Ngay trong thị trường lao động tự do, bằng cấp cũng được nhiều nhà tuyển dụng đòi hỏi. Tóm lại, trong tình hình nước ta hiện nay, có vẻ nên khuyến khích thanh niên học hành, nên mở cánh cổng đại học và bậc học cao hơn cho càng nhiều thanh niên càng tốt.    Bỏ học mà thành đạt như Steve Jobs là trường hợp đặc biệt. Nhưng không phải là trường hợp duy nhất. Những trường hợp bỏ học, hoặc không được học hành, trở thảnh kẻ thất bại, vô dụng, lận đận lẹt đẹt dưới đáy xã hội vào ý chí và nỗ lực của từng con người, tùy thời vận, may rủi nữa. Một tấm bằng để kiếm chỗ làm là một ưu thế khi khởi đầu. Nhưng một số vốn để khởi nghiệp cũng là một ưu thế đáng kể. Nhiều người trẻ tin rằng họ chỉ cần có vốn để khởi đầu sự nghiệp. Vậy muốn giúp đỡ thanh niên thì giúp họ học hành lấy được bằng cấp cao hay hỗ trợ vốn liếng để họ bỏ học mà khởi nghiệp?  Bill Gates là người bỏ học thành đạt, nhưng ông lại dùng tiền để đẩy mạnh giáo dục. Một thanh niên được học bổng Gates thì được bảo đảm tài chính để  học tập nghiên cứu đến khi nào đạt được tri thức mình mong muốn. Học bổng này không giới hạn số tiền hay thời gian, mà tùy nhu cầu học tập của người được bảo trợ là bao nhiêu thì quĩ Gates chi bấy nhiêu. Điều này khuyến khích người nhận học bổng cố gắng vào những trường giỏi nhất, tham gia những chương trình nội/ngoại khóa bổ ích, trải nghiệm những thử thách thú vị, tận dụng mọi cơ hội để hoàn thiện bản thân, mà không bận tâm đến tiền bạc. Học bổng này nhằm đào tạo những lãnh đạo xuất sắc trong khoa học và trong cộng đồng.  Peter Thiel cũng là tỷ phú. Nhưng ông dùng tiền khuyến khích những người muốn bỏ học để kiếm tiền. Thực tế ở nước Mỹ có rất nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học với một đống nợ. Thiel cho là bằng cấp đại học quá đắt và được đánh giá quá cao, khiến cho nhiều người trẻ tuổi rơi vào vòng luẩn quẩn: Vay nợ để học hành, đeo đuổi ước mơ tuổi trẻ; học xong lại phải gạt bỏ ước mơ, đi kiếm tiền trả nợ. Đã vậy, trong tình hình kinh tế suy thoái, thanh niên cầm bằng cấp đại học, kể cả bằng tiến sĩ, cũng khó kiếm được việc làm. Nhưng nếu không vào đại học thì làm gì? Thiel đề ra chương trình trợ vốn cho thanh niên không muốn  hay không có tiền vào đại học. Ông hứa giúp 24 thanh niên, mỗi người 100.000 USD, trong  hai năm, để sáng lập doanh nghiệp. Có 400 hồ sơ ứng cử. Tính ra tỷ lệ tuyển chọn còn căng hơn hơn tuyển vào Đại học Harvard.   Thiel được coi là người suy nghĩ táo bạo (Brave Thinker) của năm 2011. Chương trình trợ vốn của ông chỉ mới bắt đầu trong năm 2011, và cần thời gian để biết hiệu quả như thế nào. Những người phản bác ý tưởng của Thiel cho rằng giao 100.000 USD cho những  người 18 tuổi không có kinh nghiệm, không đủ trình độ học vấn,  cầm như tiêu tùng vốn liếng, có khi làm hư hỏng  chúng luôn. Thiel trả lời: Nếu sau hai năm làm ăn thất bại, chúng cắp sách đi học lại cũng chẳng muộn. Và lúc đó chúng sẽ hiểu hơn giá trị của học vấn. Ông rất hy vọng cuối cùng chúng sẽ thành công, cách này hay cách khác, hoặc bằng kinh nghiệm xương máu của chính mình. Thương trường cũng dạy người ta những bài học đáng giá.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cô con gái nhà hàng xóm      “Tại sao con phải làm việc nhiều như vậy? Xem con nhà người ta kìa, nó chỉ học đại học có ba năm mà lương nó bây giờ gấp ba lần lương của con. Học nhiều mà vô ích thì học làm gì?” Thật khó khăn khi nghe những lời như vậy từ cha mẹ mình. Không may thay, chuyện đó lại không phải là hiếm, sinh viên của tôi thường kể cho tôi những câu trách móc đau lòng kiểu đó&#160; sau mỗi lần về thăm nhà vào dịp cuối tuần.    Cô con gái nhà hàng xóm nọ học ở một trường đại học tư thục về quản trị kinh doanh, cô ta nhận được tấm bằng BBA (cử nhân quản trị kinh doanh) và tìm được một công việc tại một trong nhiều công ty nước ngoài. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), những công ty này đến làm ăn và hưởng lợi từ mức lương thấp của người Việt. Tất cả các vị trí đòi hỏi có kỹ năng cao đều do người nước ngoài đảm nhiệm còn những vị trí quản lý thấp hơn là người địa phương.  Tôi thường có xu hướng phản ứng với những sự việc như vậy theo cảm tính tự nhiên − nhưng tôi biết là không nên như vậy. Tôi thường hình dung về một bức tranh quá ảm đạm, về một xã hội sau 40 năm chiến tranh và đói nghèo, nay lẽ ra cần phải khôi phục lại nguồn nhân lực giàu kỹ năng và tài năng, nhưng thay vào đó lại đi đào tạo các nhà quản lý và nhân viên ngân hàng; một xã hội coi trọng của cải hơn kiến ​​thức, đi ngược lại những di sản của Chu Văn An, Nguyễn Trãi và Lê Quý Đôn. Do chịu ảnh hưởng bởi lý tưởng của Stephane Hessel1, có thể tôi đã quá vội nóng giận.  Thật vậy, sau một thời gian tôi đã suy xét công tâm hơn. Cô gái nhà hàng xóm nọ có gì là sai khi mong muốn có một cuộc sống tốt hơn cha mẹ mình? Tôi sẽ trả lời thế nào nếu cô ấy hỏi tôi về ích lợi của việc nghiên cứu vụ nổ Big Bang, nếu cô ấy chế giễu cái thế giới của lỗ đen và sao lùn trắng mà tôi vẫn giảng cho sinh viên của mình? Tôi là ai mà thuyết giảng rằng kiến ​​thức quan trọng hơn tiền bạc, và tự cho rằng mình có cái nhìn về tương lai xa hơn cô ấy? Nếu tôi đã phải chịu đựng những khó khăn mà cha mẹ và ông bà của cô ấy đã phải trải qua, chắc chắn tôi sẽ bớt kiêu ngạo hơn. Vô hình trung câu chuyện về cô con gái người hàng xóm đã dạy cho tôi một bài học về sự khiêm nhường.    Vừa thừa vừa thiếu  Tuy nhiên, những con số gần đây do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố về giai đoạn 2009-2011 khiến cho vấn đề này có thể nhìn nhận một cách khách quan2 thay vì cảm tính. Mỗi năm các trường đại học Việt Nam tuyển hơn nửa triệu sinh viên. Khoảng 60% số trường đại học tuyển sinh thuộc một trong bốn lĩnh vực kinh tế: quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, kinh tế và kế toán; tại kỳ thi tuyển, 41% tổng số học sinh đăng ký thi vào một trong bốn ngành này và 38% trúng tuyển. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, nếu xu hướng này tiếp tục, sinh viên tốt nghiệp các ngành kinh tế sẽ không thể tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp. Do đó Bộ quyết định, trong năm 2012, giới hạn định mức đào tạo đối với ngành kinh tế ở mức 32% khi tổng số sinh viên dự kiến ​​sẽ được nhận vào trường đại học là 576.000. Bên cạnh đó, trong tương lai gần, những thông tin tuyển sinh sẽ được công bố trên mạng Internet nhằm giúp đỡ sinh viên lựa chọn ngành học.  Trước mắt, chúng ta cần phải có ngay kế hoạch giáo dục và đào tạo dựa vào nhu cầu dài hạn của đất nước, nghĩa là phải vạch ra một kế hoạch tổng thể về phát triển lực lượng lao động cho 20 năm tới. Khi chúng ta chưa thực hiện theo một kế hoạch như vậy thì quy luật thị trường sẽ tiếp tục chi phối, và hầu hết các trường đại học đều sẽ tìm mọi cách để thu hút được càng nhiều sinh viên càng tốt bằng cách dụ dỗ họ một cách thiếu trách nhiệm với những hứa hẹn sẽ trao cho họ những tấm bằng trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, các quy luật thị trường không đảm bảo cho tính hợp lý và bền vững trong lâu dài. Những cơ sở đào tạo này chỉ quan tâm đến hiện tại: không quan tâm đến việc đang đào tạo ra những sinh viên trong các lĩnh vực mà đất nước không còn nhu cầu, những lĩnh vực đã quá tải, không còn chỗ đứng cho người học ra trường. Ví dụ, trong ngành toán do có quá nhiều sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ nên nhiều người sau khi nhận bằng phải về các tỉnh làm giáo viên dạy toán ở các trường phổ thông trung học. Chúng ta không được phép làm ngơ trước những hiện tượng lãng phí như vậy, vì việc đào tạo cho một con người là một sự đầu tư rất đáng kể.  Dĩ nhiên, cần nhiều thời gian và công sức để đào tạo ra được một kỹ sư về hạt nhân hơn so với một chuyên gia tiếp thị. Nhưng để chạy một nhà máy điện hạt nhân, nhân viên bán hàng và nhân viên ngân hàng không thể giúp gì được. Và họ cũng không giúp được gì trong việc sản xuất ra những sản phẩm mà đất nước cần: họ chỉ có thể giúp bán những gì người khác làm ra mà thôi. Tôi không nói rằng chúng ta nên dừng việc giảng dạy về quản lý và tài chính ở các trường đại học; tôi chỉ đơn giản nói rằng nên có nhận định sáng suốt hơn về nhu cầu lâu dài của đất nước đối với các kỹ năng như vậy.  Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển lực lượng lao động cho hơn 20 năm tới không phải là một việc đơn giản. Công việc đó càng khó hơn ở một đất nước đang phát triển, có sự tăng trưởng và thay đổi rất nhanh. Chúng ta không nên chỉ trông chờ Chính phủ làm điều đó cho ta, mà ngược lại phải cùng giúp Chính phủ làm việc đó. Đặc biệt, các trường đại học nên cảm thấy có trách nhiệm trong việc đào tạo sinh viên trong các lĩnh vực mà với nhận định tốt nhất của mình, họ thấy là phù hợp với nhu cầu của đất nước. Có lẽ không thể mong đợi một thái độ trách nhiệm như vậy ở các trường đại học tư, những trường chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của họ. Tuy nhiên, các trường đại học công lớn nên được khuyến khích làm hết sức mình để giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ khó khăn trong việc xác định các lĩnh vực cần phát triển lực lượng lao động.  Tất nhiên, xác định được các lĩnh vực cần phát triển là chưa đủ. Việt Nam cần thiết lập − hoặc ít nhất là có sự hỗ trợ sự phát triển của − các tổ chức, cả công và tư, nơi sẽ tiếp nhận những người được đào tạo trong các lĩnh vực này. Thật dễ để nói rằng Việt Nam cần năng lượng hạt nhân, và thật dễ dàng gửi sinh viên ra nước ngoài học về kỹ thuật hạt nhân, nhưng thật vô ích nếu không có chỗ phù hợp để họ phát triển tài năng khi trở về nước. Chảy máu chất xám mà đất nước phải gánh chịu trong quá nhiều năm qua là hậu quả của việc thiếu chính sách quan tâm tới các du học sinh sau khi họ tốt nghiệp, và việc trong nước không có khả năng sắp xếp những chỗ làm thích hợp để họ có thể tận dụng tốt kỹ năng và tài năng học được ở nước ngoài.  PHẠM NGỌC ĐIỆP  dịch  —  1 Stephane Hessel là nhà ngoại giao, nhà văn sinh ở Đức, nhưng tự nguyện gia nhập phong trào du kích Pháp thời Thế chiến thứ II. Ông là người hoạt động và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền con người và những giá trị nhân bản;  http://www.indignez-vousindignacion.blogspot. com/p/english.html  2 Báo cáo ngày 12/03/2012 trên http://english.vietnamnet.vn/en/education/19793/students-still-prefer-economics-training-majors—despite-oversupply.html.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cô giáo quá lời, học sinh tử nạn      Vài ngày nay tôi bị ám ảnh khôn nguôi về một  cái tin ngắn chưa đầy trăm chữ nép mình góc dưới trang báo về cái chết  tức tưởi của cô bé Nguyễn Thị Kiều Oanh ở&#160; Đông Hưng, Thái Bình, (báo  Tuổi trẻ TP HCM, ngày 11-1-2012).    Điều gì đã khiến cô nữ sinh lớp 12A7 của một trường THPT tư thục ấy giữa giờ học đã chạy ra khỏi lớp rồi lao từ lầu hai xuống và vĩnh viễn ra đi dù được đưa vào bệnh viện cấp cứu ngay sau đó, bỏ lại mẹ cha, bỏ lại anh em, bè bạn, bỏ lại cái tên đẹp như mơ mà cha mẹ đã nâng niu trao cho em lúc chào đời, bỏ lại cả cuộc đời hứa hẹn bao điều tốt đẹp đang mở ra phía trước để lao vào cõi hư không?  Chuyện xẩy ra không thể thường nhật hơn mà kết cục của nó thì  thật là bi thảm: Cô giáo trẻ T.T.H dạy toán lớp 12A7 có yêu cầu các em làm sai bài kiểm tra phải  chép lại nhiều lần bài đó. Cô bé  Kiều Oanh là một trong những em có học lực khá của lớp cho rằng nếu cô bắt chép nhiều lần một số công thức toán thì hợp lý hơn chứ không nên bắt chép lại bài tập. (Nhiều nhà giáo dục danh tiếng cũng đồng quan điểm này với cô học trò xấu số). Em đã làm cái điều bình thường mà mọi nền giáo dục bình thường khác cho phép – được thể hiện quyền có và quyền bộc lộ ý kiến riêng của mình.  Trước phản ứng đó, cô giáo, chắc do giận dữ vì “quyền lực vô biên”  trước học sinh của mình bị thách thức, – theo bản tường trình viết hôm sau của ba mươi học sinh có mặt trong lớp -, đã liên tục mắng nhiếc em trong 10 phút liền bằng những từ ngữ khó kể lại, rồi kết thúc màn sỉ vả của mình bằng  yêu cầu em hoặc đứng vào cuối lớp, hoặc đi ra ngoài. Cô bé xấu số đã chọn cách chạy ra ngoài và… đâm đầu xuống sân!  Theo bản tường trình của cô giáo T.T.H, lời nói và ứng xử của cô đều đúng mực, hòa nhã. Nhưng trong trường hợp này có lẽ ta nên tin vào logic sự việc diễn ra, tin vào lời kể của các em học sinh hơn là lời tự bào chữa của cô giáo. Những lời nói nhã nhặn , hiền lành của cô không thể đẩy Kiều Oanh vào hành động cùng quẫn như vậy; và ba mươi em  học sinh 12A7  – những chứng nhân khách quan của thảm kịch học đường kể trên, cũng không có lý do gì – và cũng không đủ hèn hạ , độc ác để bức hại cô giáo của mình bằng những lời khai bịa đặt.  Chỉ vì một phút nóng giận, thiếu kiềm chế mà cô giáo đã trót quá lời với học sinh của mình và hậu quả thảm khốc đã xẩy ra.  Không có giá trị nào cao hơn sự sống! Em Kiều Oanh  không bao giờ có thể sống lại để đón nhận vòng tay âu yếm, ân cần của cha mẹ, để nôn nao cảm nhận vẻ đẹp muôn mầu của cuộc sống, để trao gửi tình thương của mình cho  chàng trai cô sẽ gặp trên đường đời, để làm được những việc hữu ích cho mọi người, đền đáp lại những gì mà em đã được nhận… Nỗi đau của gia đình em, của bạn bè em  không bao giờ có thể nguôi ngoai…   Cái còn lại trong câu chuyện buồn thảm này, tiếc thay, như trong nhiều trường hợp khác, lại vẫn  chỉ là những bài học đau đớn: Xin hãy nương nhẹ với trẻ em, xin hãy luôn nhớ rằng tâm hồn trẻ  thơ bao giờ cũng vô cùng dễ bị tổn thương, bao giờ cũng mong manh dễ vỡ; chỉ một sự đối xử thô bạo nhỏ nhoi thôi cũng khiến các em mất cân bằng, sa vào trầm cảm nặng nề, dẫn đến những hành vi nông nổi khôn lường. Đừng tưởng rằng chỉ có đấm đá, đâm chém, thượng cẳng chân hạ cẳng tay mới là  bạo hành. Những lời lăng mạ, sỉ nhục, rỉa rói, – nhất là  lại từ miệng những người thân, đôi khi còn là sự bạo hành  nhiều lần khủng khiếp hơn, làm con người bị tổn thương đau đớn hơn. Hãy từ bỏ một lần và vĩnh viễn cái câu châm ngôn  bất nhân “Yêu cho roi, cho vọt !”; bởi xin hãy “Đừng gây ra cho người khác điều gì mà chính mình không muốn người khác gây ra cho mình!”  Một nhà trường thân thiện với các thầy cô, học sinh thân thiện – trong một xã hội thân thiện, có lẽ là một trong những điều chúng ta cần có nhất hôm nay. Bạo hành, bạo lực trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội có lẽ là điều bức xúc nhất mà chúng ta phải tìm mọi cách loại bỏ sớm nếu không muốn nhìn thấy nó biến thành thảm họa cho cả dân tộc này, đất nước này hôm nay và mai sau.  Để không bao giờ có một Kiều Oanh thứ hai phải tức tưởi lìa đời như thế!        Author                Quản trị        
__label__tiasang Có học thì có thi hoặc Có học thì có giỏi      Ý kiến bỏ thi bậc Phổ thông Trung học vừa đưa ra, lập tức có những phản ứng mạnh mẽ và tức thời. Dĩ nhiên đó là phản ứng của … những quyền lợi bị đụng chạm vì việc bỏ thi. Dám cam đoan là vậy.    Người ta đưa ra như một nguyên lý đã được xác lập bất biến: có học thì có thi. Các thí sinh và những bậc mẹ cha lếch thếch theo chân con đi thi nghe vậy mà phát khiếp; biết thế không đẻ; biết thế không cho đi học! Các chủ quán trọ đủ kiểu, các ông bà cò đủ kiểu và các ông bà chủ các lò luyện thi cũng đủ kiểu thì mỉm cười nhìn nhau và vỗ tay thầm. Thi muôn năm! Mình mất gì đâu?      Thế là có câu hỏi sau: sao những nhà giáo dục tài danh khả kính không đưa ra một nguyên lý khác, chẳng hạn có học thì có giỏi? Là nói cái giỏi thực sự ấy, chứ không phải cái giỏi để chỉ cần tốt nghiệp Phổ thông Trung học và chỉ cần lọt vô Đại học. Con ơi muốn nên thân người … Nên thân người cái nỗi gì mà lớn tồng ngồng vẫn không dám lên tỉnh đi thi một mình? Nên ái thân người gì mà lấy hai ba bằng đại học vẫn không biết cách tự nuôi sống, vẫn ăn lương phụ huynh?        Cần có những khảo sát tử tế để trả lời cho xã hội về chuyện bỏ thi, xem đó là đúng hay sai, là cần thiết hay không cần thiết.      Nhưng người viết bài này lại ủng hộ một giả định là, nếu nền Giáo dục vận hành dựa trên nguyên lý Có học thì có giỏi thì hình như là nên bỏ thi, hoặc là có thể bỏ thi, và đừng ai nghi ngờ chuyện bỏ thi là kiến nghị của một trí khôn đột biến. Nói đảo lại: nên bỏ thi, có thể bỏ thi, nếu tổ chức lại công cuộc Giáo dục dựa trên nguyên lý Có đi học thì nhất thiết sẽ học giỏi.         Và cũng đừng nói gọn lỏn bỏ hay giữ, mà ta sẽ nói như sau: cần thiết có một lộ trình bỏ thi tốt nghiệp Giáo dục Phổ thông dựa trên việc tổ chức lại cách học và cách dạy, để con em muốn nên thân người không phải là nhăm nhe một mảnh bằng, mà là được tham gia vào một công cuộc tự học – tự giáo dục, sao cho não trạng của cả dân tộc được cải tạo lại từ khi “dân tộc” còn là tấm bé.        Xin nhắc lại để khỏi hiểu nhầm là viết nhịu: tổ chức lại cách học và cách dạy! Bậc tiểu học phải được là bậc học phương pháp học. Bậc Trung học phải là bậc dùng phương pháp đã sở hữu để tự tìm đến những điều cần cho cuộc đời mỗi thanh thiếu niên. Cuộc đời ấy không phải là cuộc chạy đua kiếm mảnh bằng. Đó là cuộc đời làm mà học – học mà sống. Làm mà học giả định là một công cuộc tự tìm ra thức ăn cho trí tuệ của mình. Không phải cái thức ăn do thày cô giáo bón cho từng thìa với đầy lòng nhân ái và tình thày trò mà cứ mỗi lần tới ngày 20 tháng 11 lại chợt nhớ ra và thường rưng rưng xúc động.            Nhờ cái thức ăn cho trí tuệ được tự tìm ra (nói vậy  thôi: ngành Giáo dục  phải có trách nhiệm tổ chức được chương trình, nội  dung tạo ra được  CÁCH HỌC như thế) và do đó con em sẽ có nhiều ngả đi  trong đời. Làm sao  học hết lớp 9 là đủ để tự sống, tự nâng cao tay nghề  để sống đỡ vất vả  hơn. Hoặc giả là lên Trung học bậc Chuyên khoa, là  nơi tập nghiên cứu  sao cho khi vào đại học không dừng bài giảng của  giáo sư để “cho em còn  kịp ghi”. Sao cho bậc đại học phải là bậc tập  độc lập nghiên cứu để bậc  sau đại học không còn là bậc của những hành  khất nghiên cứu sinh chìa  tay xin “thày có đề tài gì cho em làm”…        Nhờ cái thức ăn cho trí tuệ được tự tìm ra (nói vậy thôi: ngành Giáo dục phải có trách nhiệm tổ chức được chương trình, nội dung tạo ra được CÁCH HỌC như thế) và do đó con em sẽ có nhiều ngả đi trong đời. Làm sao học hết lớp 9 là đủ để tự sống, tự nâng cao tay nghề để sống đỡ vất vả hơn. Hoặc giả là lên Trung học bậc Chuyên khoa, là nơi tập nghiên cứu sao cho khi vào đại học không dừng bài giảng của giáo sư để “cho em còn kịp ghi”. Sao cho bậc đại học phải là bậc tập độc lập nghiên cứu để bậc sau đại học không còn là bậc của những hành khất nghiên cứu sinh chìa tay xin “thày có đề tài gì cho em làm”…       Liệu có cần phải đợi đến khi nghiên cứu xong một cách học và một cách tổ chức việc học (xin lưu ý, tác giả không dùng chữ cách dạy nữa), đợi khi đó mới bỏ thi tốt nghiệp bậc giáo dục phổ thông? Xin lưu ý tiếp: đến đây, tác giả không dùng chữ tốt nghiệp Trung học Phổ thông mà dùng chữ tốt nghiệp bậc Giáo dục Phổ thông.      Vậy là, ai cấm có những bài kiểm tra nhẹ nhàng mà rất cao ở cuối bậc Phổ thông Trung học (Trung học chuyên khoa)? Những cuộc kiểm tra ít ra cũng ganh đua được với kỳ thi Tú tài năm 2013 ở Pháp, mà chỉ đọc đề thi đã thấy mừng cho con người.      Và cũng chẳng ai cấm việc cuối bậc Giáo dục Phổ thông nhà trường mở hội trao tặng mỗi học sinh một tấm kỷ niệm chương, kèm một thư của Bộ trưởng cám ơn bạn đã đồng hành cùng sự nghiệp giáo dục quốc dân trong suốt 12 năm qua, và chỉ thế thôi đã quá long trọng?     Còn lại vấn đề nữa: chất lượng vào đại học sẽ ra sao? Sẽ chẳng có gì khó khăn nếu lại thả nốt quyền tự chủ cho trường đại học. Cũng chẳng cần thi nhập học. Chỉ cần đăng ký vào học, và trong quá trình học sẽ lọc dần lấy những sinh viên đủ trình độ theo học. Mỗi trường đại học, do được tự chủ, cũng sẽ có khoa Dự bị của riêng mình, chẳng phải xin phép ai hết, để giải quyết những bất cập lúc giao thời.      Như vậy, quyền tự chủ đại học dẫn tới tự do đóng góp theo sức của mình – ở một vế bên kia sẽ là sự dân chủ tiếp nhận của xã hội. Quy luật của cuộc sống thực sẽ có tiếng nói cuối cùng cả với cá nhân từng công dân-học sinh sinh viên và cả với thiết chế giáo dục, anh nào có chất lượng và đi đúng hướng chấn hung đất nước thì anh ấy sẽ làm nên.      Nên nhớ, hơn hai trăm năm trước, trường đại học Harvard sau bốn năm đầu chỉ có dưới một chục sinh viên tốt nghiệp, và một nửa tài sản mục sư hiệu trưởng John Harvard tặng trường chỉ có vài trăm cuốn sách và vài trăm đô-la.      Công cuộc Có học có thi hoặc Có học có giỏi cần bao nhiêu năm hoặc bao nhiêu chục năm để định đoạt số phận nhau, cũng là định đoạt nền giáo dục của dân tộc này có chấn hưng được hay không?     Còn lại điều cuối cùng: Bộ Giáo dục hiện thời hay tổ chức nào, người nào sẽ đứng ra tổ chức những thay đổi để cái nguyên lý Có học có thi sẽ được thay bằng nguyên lý khác Có học có giỏi?      Hà Nội, 5 tháng 8 năm 2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội cho người học công nghệ nano tại Việt Nam      Tìm hiểu từng phân khúc trong chuỗi giá trị của công nghệ nano, có thể thấy cơ hội việc làm của người học công nghệ nano ở Việt Nam là khá tốt tại thời điểm này.      Các học sinh Trường hè Toán học và Khoa học MASSP 2017 (Math and Science Summer Program) tham gia trải nghiệm nghiên cứu khoa học tại Phòng thí nghiệm Nano của Khoa Khoa học Tiên tiến và Vật liệu Nano, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH. Nguồn: USTH.  Chuỗi giá trị của công nghệ nano  Đứng trên quan điểm nền kinh tế thị trường, sản phẩm của các cơ sở đào tạo là nhân lực sẽ được các nhà tuyển dụng sử dụng để tạo ra các giá trị. Do đó trước khi phân tích cơ hội cho người học công nghệ nano tại Việt Nam, chúng ta cần hiểu một cách tổng quát các đặc điểm về chuỗi giá trị của công nghệ nano.  Hình đi kèm thể hiện một lược đồ chuỗi giá trị điển hình của thị trường công nghệ nano, bao gồm:  + Các khoản đầu tư công nghệ nano (gọi tắt đầu tư “nano”) như đầu tư của chính phủ vào các chương trình công nghệ nano mũi nhọn1, đầu tư thực hiện các dự án nghiên cứu phát triển của chính phủ và các tập đoàn kinh tế lớn. Đầu tư “nano” cũng có thể bao gồm đầu tư của các “business angel” vào các doanh nghiệp khởi nghiệp để chế tạo các sản phẩm công nghệ nano ban đầu, hay đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm tăng vốn và nâng quy mô các sản phẩm công nghệ nano trên thị trường.  + Các công cụ “nano”, đó chính là các đầu tư mua sắm trang thiết bị “khổng lồ”, các phần mềm cho phép quan sát, thao tác, mô phỏng các loại vật liệu tại kích thước nano, hay đóng gói các sản phẩm nano.  + Các sản phẩm của công nghệ nano mà chúng ta có thể phân ra thành ba loại chủ yếu: (i) vật liệu thô nano, (ii) sản phẩm trung gian mang hàm lượng công nghệ nano, và (iii) sản phẩm cuối mang hàm lượng công nghệ nano.  – Vật liệu thô nano chính là các loại vật liệu cấu trúc nano ở dạng chưa qua các bước chế biến sâu hơn bao gồm hạt nano, sợi nano, dây nano, ống nano, chấm lượng tử, các loại nano xốp rỗng, fullerenes2, graphene3 hoặc các vật liệu hai chiều tương tự. Phần lớn các vật liệu này không tồn tại ở dạng tự nhiên cho ta khai thác mà đều phải trải qua một quá trình, tạm gọi là tiền xử lý nhằm giảm kích thước hoặc tạo ra các cấu trúc kích thước nano.  – Các sản phẩm trung gian có hàm lượng công nghệ nano chính là các màng phủ cứng, các linh kiện điện tử như bộ nhớ chip bán dẫn hoặc cảm biến, các loại linh kiện quang hoặc quang điện tử, hoặc các loại mực in dẫn điện sẵn sàng cho việc in phun dây dẫn trên bề mặt, các dây siêu dẫn, pin mặt trời hay các loại vật liệu in ứng dụng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình4.  – Các sản phẩm sẵn sàng cho người dùng cuối mang hàm lượng công nghệ nano như ô tô, máy tính, điện thoại, TV màn hình lớn, thiết bị điện tử dân dụng, dược phẩm, thực phẩm qua chế biến, hoặc các đồ nhựa cao cấp.  Trong thị trường năng lượng mặt trời, để chế tạo ra các tấm panel mặt trời (là sản phẩm cuối mang hàm lượng nano), chúng ta cần các tế bào quang điện hay pin mặt trời (là sản phẩm trung gian). Để làm ra được tế bào quang điện, có rất nhiều bước sử dụng thiết bị cho phép ăn mòn phủ màng cấu trúc nano, hay sử dụng vật liệu thô cấu trúc nano là các loại hồ in chứa các hạt nano bạc và nano nhôm để in các điện cực mặt trước và mặt sau bằng công nghệ in lưới. Các khâu chế tạo trung gian này đều ứng dụng không ít thì nhiều công nghệ nano. Cũng như vậy, trong công nghiệp điện thoại di động, các điện thoại được tích hợp các chip nhớ từ trường (MRAM) – mà việc chế tạo sản phẩm trung gian này cần rất nhiều kiến thức và bí quyết được phát triển nhờ công nghệ nano và đồng thời sử dụng loại đế silic SOI5 có thể được coi như vật liệu nano thô đầu vào.  Cơ hội ở từng phân khúc  Tại Việt Nam, người học công nghệ nano sẽ tìm được công việc ưa thích của mình trong phần nào của chuỗi giá trị nói trên?  Hiện nay, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản nói chung và trong lĩnh vực khoa học vật liệu nói riêng đang được nhà nước chú trọng. Trong Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2012-2020, công nghệ vật liệu mới, bao gồm công nghệ chế tạo vật liệu nano, được coi là một trong những hướng công nghệ ưu tiên. Như đã đề cập ở bài viết trước, công nghệ nano về bản chất là một ngành công nghệ kỹ thuật mới, đòi hỏi nhiều ở người học nỗ lực tìm tòi và tự học hỏi. Do đó như một sự chọn lọc tự nhiên, đa số sinh viên quyết định theo học công nghệ nano đều có nhu cầu học cao hơn, từ cử nhân/kỹ sư thì học tiếp thạc sĩ, học xong thạc sĩ sẽ làm tiếp tiến sĩ. Và khi học các bậc cao hơn, chúng ta thường có xu hướng đi theo sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy. Ưu tiên đầu tư của chính phủ kết hợp với đặc thù này của công nghệ nano sẽ là những yếu tố khuyến khích người học đi theo con đường hàn lâm học thuật. Nếu số lượng nhân lực đi theo con đường nghiên cứu trên thế giới vào khoảng 5%, thì trong lĩnh vực công nghệ nano, ta có thể dự tính phân khúc “đầu tư nano” sẽ giải quyết từ 10% đến 20% số lượng người theo học công nghệ nano tại bậc học cử nhân. Đối với bậc học thạc sĩ, con số này có thể cao hơn 50%6.  Phân khúc đầu tư còn có phần liên quan đến đầu tư của các “nhà đầu tư thiên thần” và của các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các công ty khởi nghiệp công nghệ nano. Trên thế giới, CEA-LETI7 – Viện nghiên cứu Công nghệ điện tử và thông tin thuộc Trung tâm Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA), là một mô hình phát triển chú trọng việc tạo ra các công ty khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu công nghệ nano và micro. Soitec8, Sofradir9 hay Ulis10 là một số ví dụ khởi nghiệp thành công của CEA-LETI. Tại Việt Nam hiện nay, các ý tưởng khởi nghiệp và các công ty khởi nghiệp của công nghệ nano còn tương đối hạn chế vì thời gian chúng ta bắt đầu thực sự với công nghệ nano chưa đủ lâu và bản thân việc khởi nghiệp trong lĩnh vực này phải xuất phát từ các ý tưởng mới ở trình độ thế giới. Để có thể xuất hiện các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ nano, việc thành lập các trung tâm nghiên cứu chung lớn (technology platform) và chia sẻ nguồn đầu tư trang thiết bị trong lĩnh vực công nghệ nano và khoa học vật liệu một cách hiệu quả11 là tiền đề quan trọng cho việc có các kết quả nghiên cứu tốt, dẫn đến thương mại hóa thành công các sản phẩm và tạo ra giá trị thông qua việc chào bán lần đầu (IPO) các doanh nghiệp khởi nghiệp.    Trong phân khúc các sản phẩm từ vật liệu nano thô đầu vào, tới các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối mang hàm lượng công nghệ nano, ở thời điểm hiện tại, có rất nhiều tập đoàn đa quốc gia đang đầu tư sản xuất tại Việt Nam. Trong ngành công nghiệp sản xuất pin mặt trời, tổng sản lượng các tấm panel tại Việt Nam đã là 4.7GW, dự tính tăng lên 6.1GW trong năm 201712. Rõ ràng, các doanh nghiệp này sẽ cần nhân lực trong lĩnh vực công nghệ nano, đặc biệt khi họ cần thiết lập đội ngũ nhân lực R&D như công ty BoViet13. Trong ngành công nghiệp sản xuất điện thoại di động, TV màn hình lớn, ai cũng biết Samsung đang đầu tư tại Việt Nam những nhà máy sản xuất lớn nhất của họ. Nhu cầu tuyển dụng của Samsung là cực lớn14, và chắc chắn họ cũng cần tuyển các nhân lực đã theo học về công nghệ nano và khoa học vật liệu do điện thoại và TV màn hình lớn là những loại sản phẩm cuối mang hàm lượng công nghệ nano cao như đã đề cập ở trên. Các tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam cũng là nơi có thể tiếp nhận nhân lực theo học công nghệ nano. Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển /Viện Hàng không Vũ trụ, nơi cần các nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano cho việc chế tạo cảm biến và các hệ thống sử dụng cảm biến.  Người học công nghệ nano cũng có thể tìm được cơ hội trong phân khúc thiết bị nano tại Việt Nam, chủ yếu tập trung ở các công ty buôn bán thiết bị và cung cấp dịch vụ sửa chữa bảo hành thiết bị. Ngoài ra, còn có thể tính đến thị trường cung cấp dịch vụ phân tích đo đạc đánh gia đặc trưng vật liệu thuộc về các trung tâm kiểm định, hải quan hoặc các công ty tư nhân có chức năng kiểm định.  Như vậy, với các phân tích ở trên, ta có thể rút ra kết luận là cơ hội việc làm cho người theo học công nghệ nano tại Việt Nam là khá tốt, đặc biệt trong lĩnh vực hàn lâm học thuật và lĩnh vực chế tạo sản xuất.  Kỳ cuối: Nhìn lại lựa chọn công nghệ nano  ——-  1https://en.wikipedia.org/wiki/National_Nanotechnology_Initiative  2 Fullerene là dạng vật liệu cấu trúc nano hình cầu được tạo bởi nguyên tử cacbon. Ví dụ C60 là một quả cầu tạo bởi 60 nguyên tử cacbon  3 Graphene là một vật liệu hai chiều tạo bởi các nguyên tử cacbon kết hợp với nhau theo mạng lục giác. Graphene là nguồn cảm hứng để các nhà khoa học tiến tới nghiên cứu các loại vật liệu hợp chất 2 chiều lục giác chacolgenide khác nhưMoS2,WS2,MoSe2,WSe2,MoTe2  4 http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Ung-dung-cong-nghe—tao-mau-nhanh-trong-y-te-10718  5 SOI là loại đế silic có phủ một lớp điện môi SiO2 và thêm một lớp silic ở bên trên. Bề dầy lớp điện môi và lớp silic này thường vài chục đến vài trăm nano mét.  6 Theo trao đổi riêng với TS Trần Đình Phong, hơn 70% học viên cao học chương trình Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano của trường USTH theo tiếp bậc học tiến sĩ trong và ngoài nước.  7 http://www.leti-cea.com/cea-tech/leti/english/Pages/Industrial-Innovation/Innovate%20with%20Leti/startup-program.aspx  8 https://www.soitec.com/en  9 http://www.sofradir.com/  10 https://www.ulis-ir.com/  11 http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Dau-tu-thiet-bi-nhu-the-nao-cho-hieu-qua-10775  12 Theo báo cáo của TS. Chung-Han Wu, Giám đốc công nghệ của Công ty BoViet, trong báo cáo tại sự kiện Gặp gỡ lần thứ hai của cộng đồng năng lượng tái tạo Việt Nam tại ĐH Bách khoa Hà Nội, http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Cac-cong-ty-Trung-Quoc-va-Dai-Loan-chiem-hon-80-san-luong-pin-mat-troi-o-Viet-Nam-10699  13 Theo trao đổi riêng với TS Chung-Han Wu, BoViet solar (http://www.boviet.com/en/Intro.asp?id=1) là công ty sản xuất tấm panel mặt trời và các pin mặt trời trên phiến silic duy nhất ở Việt Nam thành lập Phòng Nghiên cứu và Phát triển và tuyển nhân sự Việt Nam cho phòng này  14 https://news.samsung.com/vn/gsat-2017-ky-thi-tuyen-dung-lon-nhat-cua-samsung-viet-nam    Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Coding Dojo hay những phiên luyện code độc lập      Lập trình viên kì cựu Dave Thomas, đồng tác giả của loạt sách “Pragmatic Programmer” và “Tuyên ngôn Phát triển Phần mềm Linh hoạt”[1], nhận ra: “Trong ngành phần mềm, chúng ta luyện tập trong khi làm việc, đó là lí do tại sao chúng ta lại hay mắc lỗi trong công việc. Chúng ta cần phải tìm cách phân tách việc luyện tập ra khỏi công việc. Chúng ta cần những phiên luyện tập độc lập”.          Các lập trình viên lập trình theo cặp trong một phiên Coding Dojo ở CodeGym dưới sự quan sát của Facilitator.  Kết quả của nỗ lực bóc tách việc luyện tập (có chủ đích) này là sự ra đời của Code Kata, những phiên luyện tập có cấu trúc. Từ Kata được rút ra từ môn võ Karate để chỉ một bài tập lặp đi lặp lại dùng cho việc luyện tập và cải tiến một vài “thế” hay “miếng” võ nào đó. Code Kata lấy cái tinh thần đó để luyện kĩ năng lập trình.  Nhiều cộng đồng lập trình viên đã sử dụng ý tưởng của Dave Thomas để lập các “phường hội” cùng nhau luyện tập. Các cộng đồng thực hành này có lịch sinh hoạt đều đặn (như các Coding Dojo) hay một năm đôi lần (như các Code Retreat), hoặc là các workshop ngắn trong một số hội thảo chuyên ngành của giới phần mềm (như Agile Conference, XP Conference, Software Craftsmanship Conference). Trong số này, Coding Dojo là hình thức có sự lan tỏa rộng rãi bậc nhất. Dojo (tiếng Nhật) có thể hiểu là sàn tập võ hay võ đường.  Khởi phát từ Paris và chính thức xuất hiện trong hội thảo XP2005 ở Anh với báo cáo mang tên “The Coder’s Dojo – A Different way to teach and learn programming”, Coding Dojo được xem như là nơi để các lập trình viên gặp gỡ, luyện tập các ngón nghề lập trình, cùng chia sẻ kinh nghiệm và gia tăng lòng yêu nghề. Một Coding Dojo có thể được tổ chức ở bất kì đâu: Trong công ty (như một hoạt động luyện tập nội bộ), trong nhóm bạn lập trình viên đam mê, hay như một cộng đồng phi lợi nhuận nhằm thu hút các thành viên từ các nơi tụ về. Thông thường, các buổi họp mặt của Coding Dojo diễn ra vào buổi tối hoặc cuối tuần để tránh lịch làm việc căng thẳng. Trong các buổi sinh hoạt từ ba mươi phút đến hai giờ, lần lượt các hoạt động được diễn ra theo trình tự: 1.Giới thiệu về Dojo; 2. Đồng thuận về việc làm trong buổi sinh hoạt (chọn Kata để luyện tập, theo hình thức Prepared – có chuẩn bị trước, hoặc Randori – ngẫu nhiên, được xác định ở đầu phiên làm việc); 3. Lập trình (vừa lập trình vừa thảo luận); 4. Phản hồi và cải tiến.  Để tổ chức một Coding Dojo thì cần những gì? Tôi xin nêu danh sách tối thiểu: Một nơi chốn để tụ họp; Máy tính kết nối Internet, hai người một máy; Một lập trình viên có kinh nghiệm điều phối hoạt động của các phiên làm việc (Facilitator). Ngoài ra, có thể thêm bàn phím rời, bảng viết và máy chiếu để thảo luận. Người tham dự sử dụng IDE ưa thích cùng với một ngôn ngữ lập trình ưa thích để luyện tập, nhưng cũng có thể không cần gì thêm ngoài ứng dụng có sẵn trên web cyber-dojo.org.  Vì sao lại là hai người một máy? Luyện code không nhất thiết phải luyện theo cặp nhưng luyện theo cặp thì tốt hơn bởi tốc độ sẽ chậm lại, có suy nghĩ hơn. Có nghiên cứu đã so sánh riêng luyện lập trình theo cặp và không theo cặp với Coding Dojo và chỉ ra luyện theo cặp thì hiệu quả hơn2. Về cơ bản, luyện code là quá trình tự luyện tập của mỗi cá nhân nhưng có những thời điểm then chốt (mới tinh, hoặc cần nâng thành tích) thì luyện tập trung giúp tăng hiệu quả rõ rệt.  Những động lực của Coding Dojo  Vậy, điều gì thực sự khiến cộng đồng lập trình viên phải quan tâm tới Coding Dojo? Chìa khóa nằm ở khái niệm “thực hành có chủ đích” của nhà tâm lí học Anders Anderson, đã được dẫn trong bài viết “Học lập trình cần bao nhiêu thời gian?” trên Tia Sáng3. Cái “chủ đích” ở đây chính là gia tăng hiệu suất của một kĩ năng nào đó. Theo Anderson4, luyện tập có chủ đích dựa trên bốn thành tố nền tảng: 1. Người luyện tập phải có động cơ để tham dự vào công việc và nỗ lực để cải tiến hiệu suất; 2. Hoạt động luyện tập có thiết kế rõ ràng, mục tiêu cụ thể; 3. Người luyện tập nhận được ngay thông tin phản hồi và kết quả về hiệu suất của mình; 4. Người luyện tập nên lặp đi lặp lại một hoạt động hoặc các hoạt động tương tự để gia tăng mức độ thuần thục của kĩ năng.  Các Code Kata chính là các “bài luyện” được thiết kế theo hướng hội tụ đủ các điều kiện 2, 3, 4 như đã liệt kê. Khi Coding Dojo hội tụ các cá nhân có động lực (điều kiện 1) và tiến hành luyện tập các Code Kata này theo một trình tự hợp lí như nhắc đến ở bên trên, thì năng lực lập trình của người tham gia Coding Dojo sẽ gia tăng theo thời gian.  Một cơ sở lí luận khác mà Coding Dojo sử dụng làm nền tảng là mô hình phát triển kĩ năng của nhà tâm lí học Dreyfus5, được dẫn trong sách “Pragmatic Programmer” của tác giả Dave Thomas và Andy Hunt. Theo đó, kĩ năng của người học việc được tiến triển qua năm bước. Bắt đầu từ trạng thái không biết gì (Novice – ngây thơ), không có kinh nghiệm, không quan tâm đến lí do “Tại sao” trong mỗi hoạt động học tập, người học chỉ cần nắm vững các quy tắc, quy trình và mong muốn đạt được một vài mục tiêu đơn giản nào đó. Khi vượt qua được trạng thái này, người học việc lần lượt trải qua trạng thái của người bắt đầu có kinh nghiệm (Advanced Beginner), có năng lực làm việc độc lập (Competent), thành thục (Proficient) hoặc đạt được trạng thái tinh thông (Expert). Nói đơn giản, người học đi từ bắt chước đến khả năng tự xoay sở với các vấn đề, từ đơn giản đến phức tạp. Ở trạng thái cuối cùng của năng lực, cá nhân có thể sử dụng kĩ năng như bản năng với độ chính xác và hiệu quả cao độ. Điều quan trọng chính là ở chỗ này: Người càng ít kinh nghiệm thì khả năng tiếp thu thông qua các hình thức học tập truyền thống (như giảng bài chẳng hạn) càng ít hiệu quả. Họ sẽ dễ dàng học hỏi các điều mới mẻ thông qua hoạt động, làm việc, phản hồi, cải tiến liên tục. Họ cũng sẽ dễ dàng học hỏi thông qua việc mắc các sai lầm (mà không phải trả giá), nhận ra sai lầm đó, sửa sai và thử nghiệm. Đó là lí do tại sao các Code Kata và quy tắc của Coding Dojo cố gắng đưa người học vào các hoạt động có chủ đích, thông qua một quy trình chặt chẽ, bẻ nhỏ các kĩ năng và bài tập để giúp lập trình viên luyện tập từng kĩ năng một. Ví như, Kata Args để luyện kĩ năng xử lí một chuỗi tham số đầu vào của một chương trình; Kata FizzBuzz được thiết kế để luyện kĩ năng TDD cơ bản cho người mới học; Kata ‘Game of Life’ có thể được dùng để luyện kĩ thuật lập trình chức năng (functional programming), v.v. Có khoảng vài chục Kata như thế được viết ra trong các sách chuyên ngành, hoặc các website công cộng để sử dụng rộng rãi trong các hoạt động của Coding Dojo.  ***  Mặc dù việc luyện tập theo thể thức Coding Dojo đã trở nên phổ biến trong cộng đồng lập trình viên, nhưng giới nghiên cứu và giảng dạy chính quy vẫn còn ít quan tâm thử nghiệm Coding Dojo trong các chương trình đào tạo chuyên nghiệp. Tới nay, chưa có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm việc giảng dạy và luyện tập lập trình bằng Coding Dojo. Nhưng những nghiên cứu bước đầu cho thấy những bằng chứng thực nghiệm khả quan về ưu điểm của Coding Dojo. Nghiên cứu của Estácio và cộng sự (2015)6, Sato và cộng sự (2008)7 cho thấy, Coding Dojo thúc đẩy việc học lập trình tiến bộ. Trong khi đó, các nghiên cứu của Da Luz (2013)8, hay của Heinonen (2013)9 thì cho thấy Coding Dojo có thể giúp người học lĩnh hội kĩ thuật lập trình hướng kiểm thử (test-driven development) rất hiệu quả.  Trong lĩnh vực IT, có một hiện tượng đáng chú ý: Có nhiều thứ đã trở thành tiêu chuẩn (de facto) của giới làm nghề, nhưng lại hoàn toàn thiếu vắng trong nhà trường và Coding Dojo là một trong số đó. Tất nhiên, những doanh nghiệp, nơi đang miệt mài “làm việc”, nơi mà “số phận” của họ đang ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực của đội ngũ, thì không thờ ơ như vậy. Từ năm 2011, Coding Dojo đã có mặt ở Việt Nam với sự hiện diện của hai nhóm Hanoi Coding Dojo và CocoDojo ở Hà Nội. Hanoi Coding Dojo hoạt động được 35 phiên trước khi dừng hoạt động vào cuối năm 2012. CocoDojo thì kéo dài thời gian hoạt động của mình tới giữa năm 2015 trước khi tắt lửa. Ngay ở Hà Nội hiện nay, một số doanh nghiệp đã bắt đầu tự tổ chức các “sàn tập” Coding Dojo của riêng mình, vừa để thúc đẩy không khí học tập, vừa để bắt nhịp với trình độ của thế giới. Bản thân người viết bài này biết không dưới năm doanh nghiệp có tổ chức các Coding Dojo. Dường như phong trào mở Coding Dojo và luyện tập theo hình thức này đang “nóng” trở lại. Hy vọng, Coding Dojo sẽ sớm nhận được sự chú ý của giới đào tạo lập trình chuyên nghiệp.  Để kết thúc loạt bài tư vấn nghề nghiệp nâng cao cơ hội việc làm cho những người đang theo đuổi nghề lập trình viên, chúng tôi xin tổng kết những ý chính như sau:  – Hiện nay có rất nhiều kiểu lập trình viên khác nhau, có kiểu chỉ cần vài tháng học việc, có kiểu lại cần bỏ ra tới vài năm. Người học việc có thể tự học hoàn toàn, tham gia một trung tâm đào tạo lập trình viên chuyên nghiệp, tham gia một chương trình học tập trực tuyến, hoặc học ở trường đại học. Chính yêu cầu từ công việc mà người học lựa chọn sẽ quyết định họ cần phải học tối thiểu những gì.  – Để một lập trình viên có thể đi từ vị trí của người học việc đến tinh thông có thể phải mất đến 10 năm luyện tập.  – Nhưng quan trọng hơn cả là phương pháp luyện tập: luyện tập phải có chủ đích, luyện tập phải sâu với một số phiên luyện tập độc lập, tách ra khỏi công việc.  ———  * Tác giả là cố vấn Phát triển nghề nghiệp tại CodeGym.  1 Nguyên gốc: The Manifesto for Agile Software Development.  2 Estácio, Bernardo, et al. “Evaluating the use of pair programming and coding dojo in teaching mockups development: An empirical study.” System Sciences (HICSS), 2015 48th Hawaii International Conference on. IEEE, 2015.  3 http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Hoc-lap-trinh-can-bao-nhieu-thoi-gian—10643  4Ericsson, K. Anders, Ralf T. Krampe, and Clemens Tesch-Römer. “The role of deliberate practice in the acquisition of expert performance.” Psychological review 100.3 (1993): 363.  5https://en.wikipedia.org/wiki/Dreyfus_model_of_skill_acquisition  6 Xem chú thích số 2.  7Sato, Danilo Toshiaki, Hugo Corbucci, and Mariana Vivian Bravo. “Coding dojo: An environment for learning and sharing agile practices.” Agile, 2008. AGILE’08. Conference. IEEE, 2008.  8da Luz, Ramiro Batista, Adolfo Gustavo Serra Seca Neto, and Robinson Vida Noronha. “Teaching TDD, the coding dojo style.” Advanced Learning Technologies (ICALT), 2013 IEEE 13th International Conference on. IEEE, 2013.  9Heinonen, Kenny, et al. “Learning agile software engineering practices using coding dojo.” Proceedings of the 14th annual ACM SIGITE conference on Information technology education. ACM, 2013.          Author                Dương Trọng Tấn        
__label__tiasang Con đường giáo dục: Dụ ngôn ánh sáng      “Thời đại vàng son của Perikles” (448-431  tr. CN) của Hy Lạp cổ đại (kinh tế thịnh vượng kéo theo sự mở rộng dân  quyền và nền dân chủ) đã thuộc về quá khứ khi Platon chào đời.     Hai mươi tuổi, chàng trở thành môn đệ của Socrates, hình mẫu của triết gia. Nhưng, thời kỳ bất an bắt đầu. Nền dân chủ bị các thế lực bảo thủ nhiều lần xóa bỏ rồi tái lập. Chiến tranh kéo dài ngót 30 năm. Kinh tế bị hủy hoại. Và Athens sụp đổ vào năm 404 trước Sparta hùng mạnh, hiếu chiến. Platon trở thành kẻ phê phán mọi loại hình nhà nước, nhất là phê phán nền dân chủ mị dân đã giết hại tôn sư của ông. Sau cái chết của Socrates, Platon rời Athens và bắt đầu hình dung một nhà nước công chính lý tưởng với sự cai trị của những ông vua-triết gia.  Bôn ba nhiều lần sang nhiều nơi hòng thực hiện lý tưởng, sau cùng, năm 387, Platon thất vọng quay về Athens mở trường dạy học (thành lập Viện Hàn Lâm nổi tiếng, tồn tại ngót 800 năm!) cho đến khi qua đời năm 347.  “TINH HOA” CHO NỀN DÂN CHỦ  Chiến tranh làm khô cạn nhân lực và gia tăng nạn thất học. Nền giáo dục cũ càng không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng phức tạp của xã hội. Hành động chính trị trong liên minh các thành quốc đòi hỏi nhiều năng lực mới mẻ: từ kỹ năng ngôn ngữ, tu từ, địa lý, chính trị học cho đến kinh tế học và luật học. Athens giữa thế kỷ 5 tr. CN kêu đòi nền giáo dục cao cấp. Các trường học của phái biện sĩ không đáp ứng xuể, nay có thêm Viện Hàn Lâm của Platon. Câu hỏi trung tâm trong quan niệm giáo dục giữa hai phái: chính trị chỉ là kỹ năng hoặc còn là đạo lý, đức hạnh? Từ kinh nghiệm bôn ba của mình, Platon nhận ra sự cần thiết của một tầng lớp lãnh đạo tinh hoa về chính trị lẫn luân lý để thành quốc không trở thành nạn nhân của nền chuyên chế của đa số dốt nát. Platon không chống nền dân chủ vì bản thân nó xấu, mà vì nó mang trong lòng mầm mống tự hủy hoại và chuyên chế. Chính sự khao khát tự do của dân chúng – ngày càng mạnh mẽ và không bao giờ thỏa mãn – đặt ra nhiệm vụ và chức năng cho giáo dục là làm cho nhân dân biết hành xử với tự do một cách chủ động và sáng suốt.  Dưới mắt Platon, việc này phải được thực hiện trước hết nơi thiểu số lãnh đạo. Đó là những người có ý thức đạo lý, sẽ đảm đương việc nước vì sứ mệnh bất đắc dĩ, chứ không phải từ lòng thèm muốn quyền lực, một ý tưởng rất được J. Stuart Mill tán thưởng như là nền tảng đạo đức của chế độ dân chủ đại diện hiện đại (J.S.Mill, Chính thể đại diện, bản tiếng Việt của Nguyễn Văn Trọng và BVNS, NXB Tri Thức, 2008/2013). Họ là những người đã từng gian khổ… ra khỏi hang động, nhìn thấy ánh sáng, nay quay về lại và không còn ham muốn quyền lực, danh vọng phù du!  CƯƠNG LĨNH GIÁO DỤC  Ý tưởng cơ bản ấy tương ứng với chương trình giáo dục gồm 5 giai đoạn (Cộng Hòa, quyển 2-4):  1. Học sinh nam nữ đến 17 tuổi: học các kỹ năng cơ bản về kiến thức, rèn tập hạnh kiểm luân lý.  2. Từ 17-20 tuổi: thể dục, âm nhạc, toán học. Vào tuổi 20, tiến hành phân loại theo “dự báo tính cách”: văn hoặc võ.  3. 20-30 tuổi: đào sâu toán học và khoa học tự nhiên, vì nhận thức quy luật là tiền đề cho các tri thức cao hơn.  4.  Từ 30-35 tuổi: nếu đủ sức, học triết học có hệ thống. Học triết muộn để đảm bảo tính nghiêm chỉnh và ổn định của người học, kéo dài cho đến 50 tuổi, trong khi đồng thời tham gia tích cực vào đời sống công cộng.  5. Chỉ thiểu số vượt được bốn chặng đường mới được đảm nhiệm các chức vụ chính trị, nhưng vẫn dành phần lớn cuộc đời cho triết học (theo nghĩa rộng nhất), tức biết làm cho cuộc đời đáng sống, và biết trình bày, thực hiện viễn kiến một cách thuyết phục và hiệu quả.  Đó chính là cơ sở biện minh cho tính chính đáng của những ông vua-triết gia: ngay từ đầu là một cương lĩnh giáo dục tinh thần, phục vụ cho lý tưởng dân chủ sáng suốt của cộng đồng.  DỤ NGÔN ÁNH SÁNG   Trong quyển 6 của Cộng Hòa, bên cạnh dụ ngôn hang động, còn có dụ ngôn về ánh sáng mặt trời. Mắt ta nhìn được sự vật là nhờ có ánh sáng mặt trời. Quan trọng hơn, mặt trời còn là nguồn năng lượng cho sự sống, tăng trưởng và biến đổi của vạn vật. So sánh mặt trời với sự thiện theo cả hai nghĩa nói trên, sự thiện không chỉ là điều kiện để nhận thức mà còn mang lại tồn tại và bản chất nữa. Nhưng, theo Platon, sự thiện không phải là tồn tại, mà còn vượt lên cả tồn tại về phẩm giá và sức mạnh. “Lạ lùng nhỉ?” là thắc mắc của Glaucon, người đối thoại. Socrates (thay lời Platon) đáp: “Lỗi tại anh đấy nhé, vì đã buộc ta phải tiết lộ thiên cơ!”.   “Thiên cơ” ấy là: những sự vật phụ thuộc vào ý niệm của chúng chứ không phải ngược lại! Chúng – những ý niệm – có bao nhiêu thì còn tranh cãi, nhưng là thực có, là nguồn gốc của cái cụ thể chứ không phải sản phẩm của sự trừu tượng hóa từ cái cụ thể. Chúng, vì thế, còn vĩnh hằng và bất biến nữa! Vậy, chỉ có thể nhận ra chúng bằng cách hồi tưởng những gì ta đã từng nhìn thấy ở đâu đó trước khi sinh ra!  Theo quan niệm ấy, giáo dục là nỗ lực rèn luyện của số ít ưu tú vươn lên đến các ý niệm (về sự vật, rồi về tình yêu, về cái đẹp, cái thiện), vượt ra khỏi thế giới hiện tượng vô thường. Từ đó có bốn mô hình hay bốn cấp độ nhận thức từ thấp lên cao: phỏng chừng, tin là thật, lý trí thông thường, và, cao nhất, là khoa học, theo tinh thần một dụ ngôn khác: dụ ngôn con đường.  Mô hình này (những gì tri giác được chỉ là bản sao, và đàng sau bản sao hay vẻ ngoài, mới là hiện hữu hay bản chất đích thực) không phải không còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay, kể cả trong khoa học! Dưới hình thức này hay hình thức khác, ẩn dụ về ánh sáng được đồng nhất với tri thức (ta nghĩ ngay đến các từ: khai minh, thế kỷ ánh sáng và cả trong… khoa học hình sự khi làm rõ một vụ việc, hay trong đời thường: “tia hy vọng”, “ánh sáng cuối đường hầm”!).  … VÀ NGHỊCH LÝ CỦA NÓ  Ta có khái niệm khai minh theo chiều ngang trong khoa học và giác ngộ theo chiều dọc trong kinh nghiệm tôn giáo và tâm linh.   Dụ ngôn về ánh sáng, như thế, có thể chia làm hai dòng: “dòng lạnh” của khoa học và lý trí; “dòng ấm” của tín ngưỡng và tình cảm. Giống như ta phân biệt ánh sáng chói lọi nhưng lạnh lẽo của ánh đèn trong phòng giải phẫu với ánh nến ấm áp, lung linh trên bàn thờ hay trên bàn tiệc gia đình.  Tính hàm hồ của dụ ngôn ánh sáng còn một khía cạnh dường như ít được Platon chú ý: ánh sáng cũng tạo ra bóng tối của nó và làm mờ những khía cạnh có thể soi sáng. Giáo dục, theo nghĩa nào đó, không nên hiểu phiến diện chỉ với khái niệm soi sáng bằng ánh sáng chói chang. Giáo dục còn phải lưu tâm đến mặt xúc cảm, biết để mờ, biết nhắm một mắt khi cần thiết! Đôi khi sự thật không chỉ soi sáng mà còn phá hủy những “ảo tưởng tích cực” giúp cuộc đời đáng yêu và đáng sống! Mô hình ông vua-triết gia có đáng ngờ không?      (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 5, 17.10.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường Quốc học      Thuở bé, còn lau chau níu áo quấn chân bà tôi, tôi thường nghe các ông, các bác, các anh chị nói về chuyện được vào trường Quốc học. Tôi chưa biết trường nớ là chi mà giọng nói của mọi người vừa trịnh trọng vừa khát khao như thế. Vẽ ra trong trí óc ngây thơ, trường “Quốc học” hiện ra trước mắt tôi có dáng dấp của một ông “Trạng”, một vị “trạng nguyên” như lời kể chuyện của bà tôi, từ ông trạng trong truyện cổ tích cho đến chuyện ông tôi, bác tôi thành danh nơi ấy.      Trường Quốc học Huế.  Bà tôi kể chuyện trường Quốc học khi trường mới lập, ông chú tôi và bác tôi đã theo học, chuyện người học trò khó, mặc áo tơi lá tre, đi chân đất đến trường trong mưa, đạp đất nóng bỏng mùa hè nắng cháy, ăn cơm nắm qua bến đò trong giá rét, thế mà vượt lên trên những cậu ấm con quan nhà giàu, cho đến khi thi đỗ… bằng chi đó như “trạng”, được vua truy nhận ban khen.  Kịp đến khi từ giã trường Đồng Khánh sau tú tài phần 1 để lên Quốc học học toàn phần Tú tài, bước qua cổng trường “Quốc học” tôi ngỡ còn thấy cái cổng có hình như cái mũ “trạng nguyên” và tôi sắp (bị hay được) đội mũ! – xin lỗi đó chỉ là tưởng tượng của tôi. Lò dò bước vào, lúc ấy mới thấy được các ông trạng thiệt đang ồn ào trong lớp học, cái mũ, tạm cho là phần hình nhi hạ trong tưởng tượng, rớt đi một nửa, không còn ánh hào quang của ông trạng trong chuyện “Trạng Cóc” của bà, mà chỉ thấy một lũ “cóc con”, náo nhiệt và trẻ trung, mà chính tôi là một “cóc con” (biệt danh thuở ấy) thứ thiệt. Vui, ngỡ ngàng, mới, lạ, ngồi trong đám… (trạng) cóc ấy, ông trạng nguyên trong đầu biến mất, ngược lại là hồi hộp, nóng lòng chờ đợi… những chú cóc trong hang nhảy ra, và sẽ nhảy đi chứ không ngồi đó.  Với bầu nhiệt huyết thanh niên, lớp trẻ chúng tôi vui mà đi học, viễn ảnh tương lai thênh thang phía trước. Xúc cảm đầu tiên nằm chính trong hai chữ: QUỐC HỌC! Nôm na là trường nhà nước, và người đến đó hãnh diện là học trò nhà nước, một trường chính quy, hơn nữa còn chính danh, bậc nhất nước bấy giờ. Nhưng ý nghĩa quốc học còn hơn, bất ngờ ngôi trường nhà nước do chính phủ bảo hộ lập ra, ít nhiều với mục đích đồng hóa văn hóa bản địa, lại cũng chính là nơi đồng thời quảng bá tư tưởng khai phóng nhân loại ra khỏi tình trạng nô lệ vị thành niên, san bằng phân biệt giai cấp, mở ra chân trời lý tưởng của bình đẳng và tự do. Nơi trường ấy cảm nghiệm thứ hai được thực chứng ngay từ thân phận của mình. Nơi đó trai hay gái, nghèo hay giàu đều bình đẳng trong sự học tập, trau dồi đạo đức và thi thố tài năng. Mơ hồ như mình đang mang một trọng trách nào đó lần đầu trong đời, tuy ý niệm bổn phận chưa được định hình, một bổn phận vượt qua khung cửa hẹp cá nhân.  Đặt chân lên thềm đất nước. “Quốc học”, trong tuổi 18 với thanh niên cùng thế hệ, đã đánh dấu đoạn đường đầu trong cuộc hành trình thành nhân. Quốc học đối với tôi còn là dấu mốc đầu tiên ấn định con đường nghề nghiệp mai sau: lên Quốc học tôi quyết định bỏ môn toán học trước là môn chính của tú tài phần 1, lấy môn triết làm môn chính cho tú tài toàn phần và con đường học vấn mai sau, một quyết định… bay bổng không thực tế chút nào trong hoàn cảnh xã hội bấy giờ. Quả thật quyết định ấy phần nào mang nhận xét của Kant, triết gia mà mãi về sau tôi đã hoàn thành luận án về triết học siêu nghiệm của ông:  Thức tỉnh có nghĩa là lên đường truy tìm chân lý hay “sống” triết học, “liều lĩnh bay bổng bằng đôi cánh của chính mình”  Thức tỉnh có lẽ chưa nhưng mong ước liều lĩnh thì có, ngược lại chính vì liều lĩnh mà thức tỉnh. Hành trình “liều lĩnh bằng đôi cánh” trí tuệ từ bực thềm Quốc học đã đưa lũ chúng tôi qua mọi nẻo đường trên thế giới, ngẫm lại thì cũng không khác chi câu chuyện “trạng cóc” mà bà tôi đã kể thuở ấu thời, phải lột xác bao lần, phải chìm nổi, lận đận bao phen, để cho lần thoát xác cuối cùng là nhận diện được bản lai diện mục của con người đứng trong trời đất.  Quốc học đối với tôi không hạn hẹp trong khuôn khổ chính danh định phận, mà với sự dìu dắt của những vị thầy tận tụy, với háo hức thi đua học hỏi giữa những người bạn đồng song, quốc học chính là khởi đầu con đường khai phóng sự thức tỉnh đi tìm chân lý, khai minh liễu tri, giác ngộ về điều kiện con người và thế giới, mở rộng đại lộ tư duy tự do làm nền tảng cho nhân sinh toàn vũ. Nhưng cũng chính từ ngưỡng thềm quốc học ấy, nguy cơ rập khuôn, nguy cơ tư duy giáo điều, một chiều, mặc cảm thân phận nhược tiểu, tự ti thân phận nạn nhân của tranh chấp quyền lực và ý thức hệ, nhược điểm muốn tự đồng hóa, xu thời phụ thế, vọng ngoại và bắt chước dưới ảnh hưởng của quyền lực phương Tây, có thể manh nha và gây ảnh hưởng không ngừng lên tâm hồn và năng lực sống của giới trẻ.  Từ Đông sang Tây rồi từ Tây về Đông, rốt cùng, sống triết học, trải nghiệm triết học chính là đối thoại không ngừng với những nền văn hóa khác nhau, va chạm với thử thách bị đồng hóa, bị đẩy lùi hay nỗ lực vươn lên tự chủ để tìm cho mình một con đường đúng với nghiệp dĩ mà mình đã chọn lựa.  Sống triết lý và dạy triết lý là một lằn xếp (pli) gấp đôi cuốn theo cả đời người, lên đường đi và hướng đạo đường đi rốt cùng chính là tìm ra được minh triết cho mình để truyền đạt cho người. Trong một cuộc phỏng vấn của tờ báo Đức “Wiederspruch” dành cho các giáo sư dạy triết học tại Đại Học L.M.U của thành phố Munich về tiểu sử nghề nghiệp, thay vì kể con số thành quả, tôi đã mô tả hành trình tạo nghiệp triết học, đã được dịch giả Bùi văn Nam Sơn chuyển Việt từ nguyên bản tiếng Đức:  “Sinh ra ở một thành phố mà hàng trăm năm đã là trung tâm phong kiến của đời sống truyền thống, văn hóa lẫn tinh thần: kinh đô Huế ở miền Trung Việt Nam. Đó là nơi dù khó khăn đến mấy về kinh tế và chính trị-xã hội, nỗ lực của con người bao giờ cũng hướng đến mục đích của đời sống, tự rèn luyện để trở thành “triết nhân” theo mẫu mực của đức Khổng. “Triết nhân” ở đây lại phải hiểu như là “thánh hiền” theo hình dung của châu Á, chứ không đơn thuần như nhà tư tưởng thuần túy trí tuệ.  Là đứa con của một đại gia đình theo kiểu Nho-Phật cổ truyền, tôi thấy mình tự động hướng theo truyền thống giáo dục ấy. Thế nhưng, trước tiên, tôi nếm trải bao nỗi thất vọng trước tình trạng chậm phát triển của đất nước. Tìm chỗ trú ẩn nơi những học thuyết cổ xưa là điều mà những người trẻ chúng tôi không thể chấp nhận. Vì vậy trong thời điểm ấy, việc tiếp cận với những trào lưu tư tưởng Tây phương từ triết học Hy Lạp sang Descartes, Kant, Hegel, Marx cho đến thuyết thực chứng Pháp và triết học hiện hữu của Heidegger đã kích động tôi rất mạnh. Trước tiên, tôi xác tín với cung cách của Descartes: tư duy “rõ ràng và sáng sủa”; và, nhất là phương pháp phân tích và tư duy hệ thống của ông dường như đã chỉ cho tôi con đường đúng đắn đi đến chân lý.  Lúc bấy giờ đang sôi sục niềm khao khát một giải pháp tổng thể và tối hậu cho mọi lĩnh vực đời sống của quê hương tôi: hiện sinh-cá nhân, xã hội và chính trị; khao khát cái Biết hoàn hảo mà chỉ có triết học theo nghĩa cổ điển mới có thể thỏa mãn được, đã theo đuổi và nuôi dưỡng tôi suốt thời kỳ theo học triết học tại khoa Triết thuộc trường ĐH Huế với rất nhiều bộ môn khác nhau của triết học Tây phương: siêu hình học, lôgíc học, đạo đức học, triết học pháp quyền, xã hội học, tâm lý học, tâm lý bệnh học và lịch sử triết học. Vào thời điểm đó, trong khi triết học Đông phương bị xem như một môn thứ yếu và hầu như là chuyện ngoài lề thì quan niệm rằng chỉ có MỘT triết học, đó là triết học Tây phương, là câu thường được truyền tụng từ những giáo sư đại học Việt Nam được đào tạo tại Pháp như một thứ tín điều. Bằng cử nhân triết học bao gồm chính yếu những môn triết học Tây phương.  Vào thời gian ấy, tôi thậm chí sẵn sàng chối bỏ cả bản sắc văn hóa của mình, nếu vào năm 1963, cuộc dấn thân chính trị vào phong trào sinh viên Phật tử chống lại sự phân biệt đối xử đối với đức tin Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm ủng hộ Thiên chúa giáo, đã không kéo tôi trở về lại với nguồn cội của chính mình. Chính thời gian dấn thân này đã cho tôi cơ hội tuyệt vời để nắm bắt được bản chất của đạo Phật Việt Nam trong sức sống đích thực của nó, trong đó hành động đạo đức không được phép tách rời với tri thức lý thuyết, trái lại, cả hai tạo nên tính toàn bộ của thực tại. Cũng là lần đầu tiên tôi nhận ra sự “lóa mắt” do ảnh hưởng của triết học Tây phương; và tôi mường tượng rằng chuyến đi trở về bên trong cũng chính là “chuyến đi về phương Đông”.  ***  Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa triết học và một năm giảng dạy triết học tiếp sau đó tại trường trung học – một chuyến đi đã đưa tôi đến một khung trời khác, đó là “chuyến đi về phương Tây”: năm 1965, tôi nhận được học bổng của viện trao đổi hàn lâm DAAD du học tại CHLB Tây Đức. Điều lạ lùng nhất trong lần du học này thật đáng nhắc lại ở đây: ngay tại nước Đức, tôi đã chia tay với sự “lóa mắt” về phương Tây, về Hy Lạp, về chủ nghĩa Marx và về Hegel – một Hegel đã xem triết học Trung Hoa như là “tuổi ấu thơ của triết học”. Tôi đã bắt đầu với Hegel – để nói về sự ngạo mạn của Hegel đối với triết học Trung Hoa – để quên Hegel! Không khác chút nào với việc ra khỏi đám mây mù của giấc ngủ giáo điều, của sự ngộ nhân về triết học Đông-Tây!   “Mù tỏa Lô sơn, sóng Triết giang   Khi chưa đến đó hận muôn vàn   Đến rồi mới thấy không gì lạ  Mù tỏa Lô sơn, sóng Triết giang!”  Như trong mấy vần thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha, nhà thơ Thiền đời Tống.  Song, với tôi, quả là một may mắn hết sức lớn lao khi được dịp tìm hiểu những triết gia Đức lớn nhất ngay tận nguồn, thoát khỏi mọi định kiến. Qua đó, tôi dần dần phát hiện sự khác biệt về bản chất giữa tư duy Tây phương và tư duy Đông phương; sự khác biệt nằm ngay trong những khái niệm triết học nền tảng. Thật thế, người châu Á không đặt nặng việc xác lập một hệ thống bản thể học. Việc đặt cơ sở bản thể học, đối với họ, chỉ nhằm biến hành động đạo đức thành hiệu dụng, tức, thực hiện nó. Chỉ từ lý do ấy, việc đặt cơ sở bản thể học mới có ý nghĩa thiết thực, đúng chức năng, mà cụ thể là nhìn sâu vào sự không-tồn tại hay vào tính không của sự vật, nghĩa là, từ sự tham gia tích cực vào tiến trình trở thành của vạn vật để đi đến toàn bộ thực tại. Thế nhưng, trong tư duy Tây phương, tồn tại bị phân ly thành tồn tại và hư vô, và, do đó, cái hư vô trở thành bi kịch. Trong tư duy Trung Hoa không có “tồn tại”; và vì thế, cũng không có cái hư vô định mệnh của chủ nghĩa hư vô.  “Đạo”, “con đường”, – cơ sở của sự trở thành, biến dịch – không thể tách rời với “Đức”, tức việc thực hiện đạo lý. Trong hành động đạo đức này không có cái “phải là…” nào làm nguyên tắc cả. “Đức”, đúng hơn, phải xem là sự hiện thực hóa của “Đạo”, như là phương diện khác của Đạo. Cả hai tạo thành một nhất thể năng động, khiến cho hành động đạo đức tựu thành từ “sự vận hành” của Đạo và ngược lại. Chính trong việc thực hiện đạo đức này, Đạo mới xuất hiện ra. Học thuyết đạo đức về “Đức”, do đó, đáng phải giải thích, lên tiếng, học tập. Tuy nhiên, thực hiện Đạo, tốt nhất, lại là sự im lặng. Cả hai, Đạo và Đức, nằm sâu trong bản tính của con người, là con đường và việc làm của con người, là tổng thể của nhân tính và đức lý.  Cho nên, trong khái niệm “con người”, ta không nên rơi vào khái niệm “cá nhân”, và đó chính là lý do khiến điều vừa nói ở trên về Đạo thật khó hiểu. Chữ “nhân” trong Hán tự vừa là “người”, vừa là “hai” hay nói khác, là “người và đồng loại”; cũng thế, theo quan niệm Phật giáo, “tôi và bạn” là một. Trong tư tưởng của Khổng, không có sự phân biệt giữa cái “thẩm mỹ không ràng buộc” và cái “đạo đức ràng buộc”, hay, nói như Jaspers, giữa “cái đẹp và cái thiện”. Cái đẹp là không đẹp, nếu không thiện; và cái thiện là không thiện, nếu không đẹp. Lễ và Nhạc giúp triển khai bản tính con người. Và, cái biết về sự thống nhất giữa Đạo và Đức có nghĩa là cái biết về tính toàn thể của tồn tại. Cái biết này không phải là cái biết khái niệm, mà là một kiểu “pris de conscience”, là ý thức về cái toàn bộ. Nó khác với triết học Tây phương quen nhấn mạnh đến ý thức, hiểu như “tồn tại có ý thức” (Bewuβtsein), thay vì đến việc trở nên có ý thức (Bewuβtwerden). Việc trở nên có ý thức này – theo quan niệm Phật giáo và Nho giáo – không nên hiểu theo cách bản thể học, như thể ở đây có sự hình thành đối tượng hay chủ thể như là một khái niệm. Đúng hơn, Đạo, “cái Thực tồn” hay “căn nguyên của sự nội tại” biểu thị cho cái gì đã có sẵn đó một cách hiển nhiên mà ta không còn nhìn thấy nữa, dù ta – hay đúng hơn, vì ta luôn có nó trước mắt.  Bằng chứng hiển nhiên này được cuộc thiền thoại sau đây soi sáng:  Một đệ tử hỏi sư Triệu Châu: “Con đường là gì?”  Triệu Châu: “Nằm ngay trước mắt ngươi”  Đệ tử hỏi: “Con đường đúng là gì?”  Triệu Châu: “Con đường thường ngày”.  Chính theo nghĩa đó, Wittgenstein nói: “Lạy Trời giúp cho triết gia có năng lực nhìn thấy cái sờ sờ trước mắt”.  Và cũng chính trong quan niệm về cái “cơ sở” hay “căn cơ” (Grund), ta thấy sự khác biệt giữa triết học Tây phương và Đông phương: theo nghĩa thông thường, khái niệm “cơ sở” hay “cái nền” được dùng chẳng hạn như về mặt sau của bức tranh hay như vốn liếng dự phòng. Thế nhưng, làm sao ta có thể nắm bắt được cái thực tồn nằm bên dưới bộ khung khái niệm được kết hợp giả tạo như thế của triết học Tây phương? Phải chăng triết học đã trượt mất cái gì cốt yếu, và phải chăng cái “bình diện nội tại” nơi Gilles Deleuze lại không được hiểu một cách mặc định như là ý niệm về sự hỗn độn như ông đã trình bày trong “Qu’est ce que la Philosophie”? Trong tư tưởng Trung Hoa cổ đại, Đạo là con đường không dẫn đến chân lý, mà là con đường ta bước qua; con đường là con đường của sức sống, của năng lực sống và năng lực bước qua: triết gia dựng lên khái niệm (konzipiert), còn thánh hiền thì bước qua!  Trong tư tưởng Phật giáo và Nho giáo, thánh hiền là người luôn ở chỗ chính trung; là một phương vị của sự nội tại, nơi mọi khả thể, kể cả những khả thể đối cực nhất, đều mở ngỏ; là nơi không có sự định vị chết cứng, trái lại, là nơi sự thay đổi, mâu thuẫn của đối cực này với đối cực khác đều có thể “viên dung vô ngại”. Bậc thánh hiền mở ngỏ cho cái “như thế này” và cả cho “cũng thế kia”. Theo quan niệm Đạo gia, bậc chân nhân đạt đạo theo cung cách để cho Đạo đi đến, hiện ra, đi qua, trong sự “tự nhiên như nhiên”; tức tùy cảnh, tùy thời giống như một tiếng chuông ngân. Không còn mải mê tìm biết bằng cách không ngừng ra sức quy định đối tượng nữa, mà trở nên tự thức một cách hồn nhiên về căn cơ của cái nội tại, vốn nối kết tư duy và tồn tại.  Cuộc trở về phương Đông trên đường đến với phương Tây của tôi là giờ phút lắng đọng triết học của chính mình. Nó giống như tấm gương phơi bày triết học của mình và từ đó mong tạo nên sức mạnh sáng tạo cho cuộc đối thoại có ý nghĩa. Trong khi nghiên cứu triết học siêu nghiệm của Kant – được tôi chọn làm đề tài cho luận án – bên cạnh sự ngưỡng mộ đối với triết gia này, tôi cũng đã có thể khẳng định hố ngăn cách không thể vượt qua được giữa lý thuyết và thực hành, giữa tư duy và tồn tại; hố ngăn cách đã cùng chịu trách nhiệm gây nên sự khủng hoảng của triết học Tây phương trong việc làm nghèo nàn và xơ cứng. Như một triết gia Pháp đương đại đã nhận xét, triết học Tây phương, khi trở nên xơ cứng, đành bằng lòng với những nếp nhăn của mình. Về sự hiền minh, châu Âu “chỉ còn lại đống đổ nát hay những vị “chủ chăn” như Pyrrhon, Montaigne và những nhà Khắc kỷ mà thôi”.  Sự hiền minh phải là thông lộ để ai cũng có thể đi qua. Hơn lúc nào hết, lòng yêu sự hiền minh và chân lý cần được phát huy, nhất là trong thời buổi hiện nay, khi bạo lực và sự thù hận đang ngự trị thế giới với tiếng gào thét đáng sợ chưa từng có.  Hiền minh như thông lộ mà ai cũng có thể bước qua…bằng im lặng và tự mình bước qua  Trong khoảng những thập niên cuối 70 và 80, 90, đầu thế kỷ 21, tôi đảm nhận môn triết học so sánh tri thức luận Phật học và tri thức luận triết học Tây phương tại Đại học Văn khoa H L. M. Muenchen.  Đề tài của tôi trong bối cảnh sinh hoạt học thuật thời ấy, nhất là tại ĐH Muenchen, nơi truyền thống thần học kinh điển Ki-tô còn chặt chẽ và bảo thủ, thuộc vào mảnh đất hiếm, lạ, như đa số sinh viên nhận định, nhưng lại đúng là điều họ đang cần, những món ăn tinh thần mới, ngay chính trong lãnh vực triết học, chứ không phải những vấn đề thuộc các lãnh vực văn học nghệ thuật, du lịch.  Như thế công việc chính của tôi là “làm thế nào để chuyển tải tư tưởng Phật giáo, trong đó tri thức luận là khía cạnh cơ bản, đến với sinh viên Đức (không những Đức mà còn sinh viên Mỹ, Anh, Ý… cũng đến ghi tên) để họ có thể hiểu biết thấu đáo yếu tính của triết lý này?” Câu hỏi này chẳng lạ đối với người giảng dạy, là một câu hỏi thường, nhưng tiên quyết, nòng cốt. Câu hỏi này hiện cũng mang tính thời sự. Nó đối với tôi thời ấy còn bức thiết hơn, khi đối tượng “người nghe” – trong hệ hình đối thoại gọi là kẻ khác, tha nhân, người đối thoại – không cùng chung một hệ tư tưởng, một nền văn hóa. Khả năng họ, những người không những khác mà quá khác, lạ quá lạ, không hiểu gì hết còn gấp đôi, khi lần đầu tiên tiếp cận với môn triết lý xa lạ Phật học. Rudyard Kipling cũng đã nói “Đông là Đông, Tây là Tây. Đông Tây không bao giờ gặp nhau”. Kipling đã tuyệt đối hóa ngộ nhận hay giới hạn của khả năng truyền thông, truyền đạt, nhưng sự tuyệt đối hóa tính khác biệt, lời tuyệt vọng này chính là hy vọng, thúc giục hay thách thức Đông Tây gần lại nhau hơn chăng?  Tình hình tư liệu nghiên cứu và giảng dạy về triết lý Đạo Phật trong những thập niên 70, 80, đầu 90 tại nước Đức đã tiến triển so với những thập niên trước hay xa hơn. Thế kỷ 18 khi triết gia Đức I. Kant hoàn tất tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, ông chỉ có những kiến thức mơ hồ thâu lượm từ các nhà du thương thế giới về Phật giáo, Khổng giáo, Lão Trang. Mãi đến đầu thế kỷ 19, những nghiên cứu dịch thuật kinh điển Phật Đà, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Ấn Độ giáo v.v, thoạt tiên do các nhà truyền giáo Ki-tô, sau đó đã được những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chú tâm dịch thuật, giảng giải. Giữa thế kỷ 19 đã xuất hiện những nghiên cứu, dịch thuật nghiêm túc. Nước Đức may mắn hơn vì các học giả Đức không ở trong tư thế truyền giáo hay viễn chinh. Có thể nói những học giả Đức trong quá khứ và đương thời nghiên cứu về Phật giáo, về Tam tạng Pali… đã cống hiến những thành quả rất nghiêm túc và trí tuệ, so với những nghiên cứu bởi những nhà truyền giáo các thế kỷ trước. Bởi thế về mặt tư liệu tạm cho là đầy đủ, cộng thêm những công trình to lớn của Suzuki (thập niên 50, 60, 70), lời giảng và những đối thoại Đông Tây của Đạt Lai Lạt Ma (cuối thập niên 80)… đã làm cho một số khái niệm cốt lũy của triết học Phật giáo không còn xa lạ và có sức thuyết phục…  Giảng dạy lý thuyết hầu như là công việc chính trên lãnh vực triết học. Phần lý thuyết so sánh bao gồm đối chiếu khái niệm, luận cứ lý thuyết, lịch sử triết học, hệ thống tư tưởng, ảnh hưởng tương liên văn hóa. Nếu dừng lại ở những công việc ấy, cũng đủ tròn bổn phận. Nhưng lo âu lớn của tôi vẫn là “người nghe có thấu triệt những điều tôi trình bày hay không, có lý hội được yếu tính của những đối tượng so sánh, sự khác biệt, điểm tương đồng, đi sâu vào bản chất tư duy đặc thù, hầu tìm ra ý nghĩa đích thực của mỗi lý thuyết?”.  Giới hạn của cảm thông nằm chính trong ngôn ngữ chuyển tải, dù người nói và người nghe đều cùng nói một ngôn ngữ, dù văn bản được đọc cùng một ngôn ngữ, điều người khác nói vẫn là một bí nhiệm rốt cùng đối với tôi như Wittgenstein đã nhấn mạnh trong trường hợp thông liên bằng ngôn ngữ. Rào chắn lại càng dày hơn với những đối tượng hoàn toàn xa lạ, khác hẳn với lối tư duy thuần lý, duy chủ thể, duy bản thể của Âu châu, những khái niệm như khổ, vô ngã, tính không, mâu thuẫn, công án, giác ngộ v.v, là những gì khó hiểu, thậm chí phi lý đối với những sinh viên đã được huân tập nhuần nhuyễn trong lối suy nghĩ của Parmenides “cái gì có là có” đã được Aristoteles củng cố xây dựng thành hệ thống triết học bản thể.  Làm thế nào để sinh viên Âu châu hiểu được yếu tính của tư tưởng Phật giáo? Đặt câu hỏi này tôi đã thấy nụ cười của Bồ tát Long Thọ phía sau diễu cợt thách thức “đẩy mạnh đến tột cùng sự phi lý”, còn trước mặt tôi là gương mặt nghiêm nghị của những giáo sư kinh điển với ngón tay cảnh giác “nguyên lý mâu thuẫn” là điều cấm. Giữa những băn khoăn, cuối cùng tôi quyết định làm một bước ra ngoài khuôn khổ phân khoa triết học: buổi cuối trước khi kết thúc khóa giảng, tôi dẹp bàn ghế, cho sinh viên ngồi xếp bằng, thực tập quán hơi thở 5 phút, sau đó tôi đưa ra một chồng giấy bổi, trên mỗi tờ giấy tôi đã viết một công án cổ điển hay một câu nói của các vị Thiền sư, hoặc một câu thơ hài cú. Trước sau tôi vẫn quan niệm nếu triết lý Phật giáo được trình bày lý thuyết suông thì chỉ được hiểu một cách phiến diện, sinh viên cần tiếp cận phần thực hành của triết lý ấy, mới có thể thấu đáo phần nào cơ bản Đạo Phật. Phương pháp của tôi là tạo nên một ngữ cảnh thông giải lý thuyết. Thế là trong buổi ấy mỗi sinh viên được chọn một trong những tờ giấy còn dấu nội dung và sau khi đọc họ chiêm nghiệm và giải thích theo họ hiểu hay trực cảm. Buổi giảng hôm ấy đã là một cuộc đối thoại linh động và thật cởi mở hào hứng, hình như những rào cản ngăn cách biến mất.  Có hai điểm mấu chốt trong câu chuyện này, và đó là lý do tôi đưa ra câu chuyện dài dòng trên:  – Thứ nhất, hai ngày hôm sau, trong buổi họp hội đồng khoa tôi nhận được lời khiển trách của một trong các giáo sư chủ nhiệm nói trên, rằng cái kiểu ngồi dưới đèn cầy – hôm ấy tôi cố tình không dùng đèn điện để mọi người bớt ngượng ngập khi trình bày ý kiến, tự khám phá hay trực nhận – để đọc thơ hay giải công án có dính líu chi đến triết học, rằng tập thở cũng không thuộc lãnh vực triết lý, rằng ánh nến lãng mạn thuộc lãnh vực thơ phú, chẳng có dính líu chi đến triết học nghiêm túc lý luận. Tuy lời khiển trách không ảnh hưởng đến công việc tiếp tục của tôi, mà trái lại, sinh viên ghi tên học càng ngày càng nhiều hơn, và quán hơi thở trước khi thảo luận đã được chính thức đưa vào chương trình giảng dạy, nhưng ngẫm lại, lời khiển trách ấy rất tiêu biểu, đã có từ truyền thống triết học Âu châu, từ Hegel, hay nằm sâu hơn nữa, đó là sự đinh ninh triết học perennis chỉ có thể là triết học Âu châu, tất cả những gì khác, ít hay nhiều đều là nói xàm, nói mộng mơ. Đàng sau quan điểm ấy là định kiến tư duy lấy mình làm trung tâm, niềm tự hãnh triết học Âu châu là triết học tinh hoa vĩnh cữu.  – Thứ hai, sau sự kiện này, một sinh viên đến cám ơn tôi và tự giới thiệu đang làm luận án thạc sĩ về thần học, anh cần một chứng chỉ triết học và đã chọn khóa học này. Người sinh viên này sau đó tự động đến trung tâm giao lưu Đức Á của chúng tôi, cùng với một vài hội viên lập tổ đọc kinh điển Phật giáo hàng tuần tại Trung tâm. Những sinh hoạt của anh về sau tôi không chú ý đến, nhưng các sách xuất bản về những đề tài đối thoại tôn giáo Ki-tô giáo và Phật giáo là thành quả của những buổi đọc sách độc lập (tôi không tham dự). Năm 2006 tôi bất ngờ nhận được một cuốn sách với đề tựa “Understanding Buddhism” trong đó tác giả là người sinh viên ấy đề tặng và nhắc đến lần đầu tiên tiếp xúc với Phật học năm 1982 tại Đại học Muenchen, và lần ấy đã ấn định phần chính sự nghiệp của mình. Mãi đến năm ấy tôi mới biết thêm về những biến cố trên chặng đường tri thức của tác giả “Understanding Buddhism” và của rất nhiều tác phẩm đối thoại giữa Ki-tô giáo và Phật giáo khác. Sau khi hoàn tất luận án thạc sĩ về Thần học, những luận án tiến sĩ và tiến sĩ quốc gia của anh đều xoay quanh vấn đề đối thoại thần học, và đa nguyên tôn giáo. Từ đó anh là người bênh vực hùng biện chủ trương thần học tôn giáo đa nguyên, theo đó, Ki-tô giáo không phải là tôn giáo ưu việt trên mọi tôn giáo khác, cũng như bảo vệ quan điểm, cho rằng ít nhất có một số tôn giáo đều được xem bình đẳng trên bình diện tri thức về thực tại thần linh và sức mạnh chuyển hóa cứu khổ. Chính vì quan điểm tương đối hóa Ki-tô giáo này mà sau khi trình xong luận án quốc gia, anh bị Tổng Hồng Y của Muenchen rút thông công không cho đi giảng (Nihil Obstat) và không thể trở nên giảng viên tại Viện Thần học ĐH Muenchen. Nhưng từ đó công cuộc xây dựng đối thoại đa nguyên tôn giáo với rất nhiều tác phẩm do anh chủ biên càng ngày càng phổ biến và được quốc tế truy nhận. Sau những năm giảng dạy ở nước ngoài, từ năm 2009 anh trở lại Đức nhận chức giáo sư chuyên về khoa học tôn giáo và thần học liên văn hóa tại ĐH tổng hợp Muenster, hiện nay đồng thời là giám đốc Trung tâm Triết học Tôn giáo và Thần học liên văn hóa (Centre for Religious Studies and Inter-faith Theology) của ĐH Muenster, tôi hy vọng nếu có dịp anh đến Việt Nam để trao đổi học thuật.  Khá dài dòng về hai điều trên cũng chỉ để rút ra những điểm liên quan đến “văn hóa” và “triết học”.  1. Phê bình của vị giáo sư thuộc viện triết học kinh điển về buổi giảng của tôi cho thấy thực tế, trên “đấu trường” siêu hình học Âu châu, cho đến thời hiện đại, trên đại học, chủ trương duy triết học Âu châu vẫn được bảo thủ. Lại thêm quan niệm phân biệt văn hóa và triết học hầu như hiển nhiên, trong đó văn chương, thi ca, im lặng (quán tưởng), tôn giáo v.v, không thuộc lãnh vực triết học, vì đã có những môn chuyên môn khác nhau. Triết học đã tự hình thành một hệ thống khái niệm chặt chẽ, hoàn hảo, dị ứng với những văn hóa khác, dần dà trở nên khô cứng và trừu tượng trong quá trình lịch sử tư tưởng Âu châu, đến nỗi Heidegger cảnh báo “sự lãng quên thể tính” như là khủng hoảng của siêu hình học, trong đó sự lãng quên thế giới quanh tôi như một chung thể văn hóa, “in der Welt sein”, sự xa rời ngữ cảnh văn hóa đã làm triết học tự cô lập trong tháp ngà, tự lặp lại không sinh khí.  2. Trong lúc ấy, chính văn hóa và triết học có một tương quan nội tại nền tảng, đến nỗi có thể nói nền tảng của văn hóa là triết học, và ngược lại, nền tảng của triết học là văn hóa, cả hai không thể tách rời. Nếu nhìn văn hóa là tổng thể ý nghĩa của những gì con người tác tạo nên khi xây dựng hiện hữu của chính mình và thế giới chung quanh, văn hóa chính là nỗ lực của con người trả lời câu hỏi về ý nghĩa hiện hữu, giá trị của nhân sinh, tất cả những nỗ lực phát xuất từ nhu cầu biện biệt đúng sai, truy tìm chân lý, hay nói cách khác từ nhu cầu yêu sự khôn ngoan, minh triết, thay vì sống trong vô minh. Câu hỏi khởi đầu triết học “làm thế nào để có một nhận thức đúng về sự vật” đặt nền tảng cho văn hóa. Từ triết lý về nhận thức đúng, sai, con người xây dựng giá trị nhân văn của mình. Hệ thống triết lý, tư tưởng là thành quả văn hóa. Có thể nói triệt để hơn: nhận diện văn hóa trước tiên chính là nhận diện tư duy của con người trong tương quan với chính mình, người khác và thế giới bên ngoài, có nghĩa nhận diện triết lý sống. Mỗi mẫu văn hóa là một quá trình nhào nặn tương quan giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể và đối tượng bên ngoài để đạt đến trình độ nhất thể, tự tri như là bản sắc văn hóa. Trong ý nghĩa ấy, I. Kant cho rằng thiên nhiên không khai sinh con người để đạt hạnh phúc mà để đạt được văn hóa. Văn hóa là mục đích cuối cùng của thiên nhiên trong tiến trình thể hiện con người tại thế trở nên tự do. Con đường văn hóa là con đường của minh triết trong tiến trình giải phóng những ràng buộc tự nhiên, con đường của ý thức về tự do. Trên sơ sở triết lý văn học, triết học sắp xếp những tập hợp kinh nghiệm thành một hệ thống bao gồm những câu hỏi mà con người đặt ra và tìm kiếm câu trả lời. Công việc này theo Kant đòi hỏi trước hết một sợi giây hướng đạo tiên thiên, khách quan và phổ quát để tìm ra nguyên lý nhận thức, từ đó điều kiện khả thể của văn hóa được đề ra và khai quang mảnh đất thiên nhiên. Con người yêu thích sự khôn ngoan trong cuộc sống, yêu thích sự khôn ngoan, chân lý, nghĩa của chữ philosophie, bởi vì đặc tính của khôn ngoan là khả năng sắp xếp sự vật có hệ thống, phân biệt và đánh giá, phê phán những điều đã biết và đón nhận những điều mới khác” để có một định hướng đúng đắn cho hiện hữu, như triết gia và thần học gia Thomas von Aquin nhận định “Sapientis est ordinarre et judicare”, tiếp nối truyền thống triết học Aristoteles.  Thiếu sự khôn ngoan sắp đặt, văn hóa sẽ hỗn mang, thiếu biện biệt, phê phán, văn hóa sẽ mất định hướng đúng đắn trong tiến trình biến đổi. Tách rời văn hóa ra khỏi triết học thì văn hóa sẽ bị mù, tách rời triết học ra khỏi văn hóa thì triết học sẽ bị rỗng, mất ý nghĩa tồn tại, chỉ còn là những bóng ma.  3. Nhưng “văn hóa” là một mảnh đất màu mỡ rộng lớn bao trùm trái đất, và hầu như đặc tính của nó là số nhiều, biến hóa, biến đổi, cho nên không có một nền văn hóa duy nhất vĩnh viễn ngự trị, cũng không thể có một triết học vĩnh cữu vượt thời gian. Hegel vừa hình thành phương án lịch sử thế giới trong ánh sáng lý tính Thiên chúa, thì tòa lâu đài của ông đã sụp đổ dưới chân biện chứng duy vật lịch sử của Karl Marx. Thế rồi quá trình lịch sử thế giới cho thấy chính Marx cũng thuộc vào quá khứ, mỗi hệ thống khép kín giáo điều không thể tồn tại lâu dài, bao lâu bản chất con người, dù trong hoàn cảnh nào, còn là văn hóa, trong nghĩa sẵn sàng tra vấn ý nghĩa để vượt trên hoàn cảnh. Biện chứng văn hóa là một nhu cầu của con người:  “Từ bên trong mặc nhiên của sự sống phát sinh sự cởi mở, từ sự yên tĩnh của các đối cực trở nên xôn xao mâu thuẫn và nghịch lý. Con người không còn tự đóng khung chính mình nữa. Nó trăn trở và hoài nghi, và từ những hoài nghi ấy, nó đón nhận những khả năng mới, vô giới hạn. Nó có thể nghe và hiểu những điều mà từ trước không ai hỏi và không ai nói ra.”  Khi đọc những lời này của K. Jaspers, tôi đã nghĩ đến tác giả của “Understanding Buddhism” khi anh cho biết mảnh giấy anh nhận được thời sinh viên, khi mở ra có dòng chữ: “mỗi ngày, một ngày lành” “Jeder Tag, ein guter Tag” anh vẫn còn giữ trong tư liệu riêng của mình, như một chứng từ văn hóa khác mà anh đã chạm tay.  Phát biểu của K. Jaspers miêu tả cuộc hành trình của con người tự thân mở ra những chân trời văn hóa khác và ông là một trong những triết gia đầu tiên phản tỉnh sâu sắc về những nền văn minh khác nhau trên quả địa cầu đã xảy ra cùng một lúc, làm rõ hy vọng có thể có đối thoại đa phương, trong đó con người đã có những thao thức giống nhau, cùng chung trăn trở đi tìm chân lý, nhưng đã đi những con đường khác nhau trên trái đất, và qua trải nghiệm đã đưa ra những câu trả lời gần với chân lý.  Chứng ngộ hiền minh là thông lộ mà ai cũng có thể bước qua, như Phật tính đã có sẵn trong mỗi con người cần được khai mở, có nghĩa nhập thế trong thức tĩnh: uống trà, quán hơi thở, ăn thì biết mình ăn, đi là thiền, ngồi cũng là thiền, gánh nước bửa củi, nấu ăn hay viết sách, làm văn hóa hay bảo tồn di sản văn hóa đều có thể trở nên diệu dụng nhập thế của đời người. Ngoảnh nhìn lại, như câu chuyện của bà, những con cóc ở nơi ngôi trường ấy đã nhảy đi khắp mười phương thế giới, đã lột xác nghìn lần trong truân chuyên, trong lửa đỏ… đã thành những vị TRẠNG lỗi lạc tài ba từ thế hệ này sang thế hệ khác… Gì cũng được, miễn là ngôi trường ấy – Quốc học – vẫn giữ mãi dáng dấp một vị trạng nguyên trong giấc mơ thần tiên…  Sự xơ cứng này cũng là lý do khiến tôi suy nghĩ về công việc giảng dạy hiện nay của tôi tại Đại học München: làm sao có thể truyền đạt cho sinh viên sức sống của triết học Đông-Tây; giúp họ khám phá năng lực chữa trị bằng cái biết hoàn hảo để không mãi trầm kha trong căn bệnh xơ cứng khái niệm? Một vài bước khiêm tốn đã được tôi thử dùng trong các năm giảng dạy – bị không ít đồng nghiệp chê trách là không phải triết học. Nhưng, năm phút “ngồi yên và chú tâm vào hơi thở” trước khi bắt đầu thảo luận, và những cuối tuần tĩnh tọa và gặp gỡ-đối thoại luôn được sinh viên đón nhận và chấp nhận như là những giây phút bổ ích nhất trong việc học.    Nhân kỷ niệm 120 năm trường Quốc học Huế  Thái Kim Lan  CHLB Đức            Author                Thái Kim Lan        
__label__tiasang Con đường xây dựng các đại học  đẳng cấp quốc tế của Trung Quốc      C&#243; thể dễ d&#224;ng nhận thấy một điểm chung giữa c&#225;c nước đang ph&#225;t triển khi họ bước v&#224;o thời kỳ thịnh vượng nhờ nhanh ch&#243;ng tăng trưởng kinh tế, l&#224; những tham vọng lớn lao về gi&#225;o dục v&#224; văn h&#243;a, trong đ&#243; c&#243; cuộc t&#236;m kiếm con đường đưa những trường đại học đang c&#243; l&#234;n vị tr&#237; &#8220;đẳng cấp quốc tế&#8221;, hoặc x&#226;y dựng mới những trường đại học đẳng cấp quốc tế (world class university- WCU). Trung Quốc (TQ) l&#224; một điển h&#236;nh hết sức đ&#225;ng ch&#250; &#253; đối với Việt Nam, do vai tr&#242; đặc biệt của TQ tr&#234;n thế giới, do sự gần gũi về đặc điểm văn h&#243;a v&#224; nhất l&#224; ch&#237;nh trị. B&#224;i viết n&#224;y tr&#236;nh b&#224;y t&#243;m tắt qu&#225; tr&#236;nh x&#226;y dựng v&#224; triển khai kế hoạch x&#226;y dựng những trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT) của TQ, kết quả của những kế hoạch v&#224; nỗ lực ấy, đồng thời thử t&#236;m c&#225;ch l&#253; giải nguy&#234;n nh&#226;n. Trong một b&#224;i kh&#225;c, ch&#250;ng t&#244;i đ&#227; n&#234;u l&#234;n m&#244; h&#236;nh ngũ gi&#225;c bao h&#224;m năm yếu tố cơ bản tạo n&#234;n đặc điểm của một trường đại học: những gi&#225; trị văn h&#243;a tinh thần, cơ cấu tổ chức v&#224; quản trị, nguồn lực, c&#225;c hoạt động v&#224; c&#225;c th&#224;nh quả. Con đường x&#226;y dựng c&#225;c ĐHĐCQT của TQ ti&#234;u biểu cho sự lựa chọn nhấn mạnh ba yếu tố sau, tương tự như con đường m&#224; Việt Nam đang đi trong thời gian vừa qua. Do vậy t&#236;m hiểu b&#224;i học TQ l&#224; một việc c&#243; &#253; nghĩa v&#244; c&#249;ng quan trọng đối với việc x&#226;y dựng trường ĐH đạt chuẩn mực quốc tế cho Việt Nam</st1:country-region&    1. Về quá trình xây dựng ĐHĐCQT của TQ  Vấn đề ĐHĐCQT trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của Nhà nước TQ   Không thể phủ nhận quyết tâm hết sức lớn lao của Nhà nước TQ trong việc chủ trương đưa một số trường đại học TQ vào danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Họ coi đó là một chiến lược phát triển quốc gia, và điều này thể hiện rõ trước hết trong chính sách của Nhà nước TQ đối với giáo dục đại học.  Về mặt chính sách,Nhà nước TQ coi giáo dục đại học là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa TQ. Mọi kế hoạch phát triển của Nhà nước đều nhấn mạnh đến giáo dục ở mọi cấp, từ phổ cập giáo dục tiểu học toàn quốc đến việc xây dựng ĐHĐCQT như là đỉnh cao của hệ thống giáo dục. TQ muốn cạnh tranh với toàn thế giới trong nhiều lãnh vực, và giáo dục đại học là lãnh vực duy nhất mà tiêu chuẩn quốc tế được chính thức dùng làm thước đo cho những thành công ở trong nước.   Ngay từ thập niên 50, TQ đã có chính sách đầu tư đặc biệt cho một số trường trọng điểm, và từ giữa thập kỷ 90, khi Giang Trạch Dân, sau đó là lãnh đạo của TQ, chính thức nêu rõ quyết tâm chuyển biến các trường đại học TQ, ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học đã tăng hơn gấp đôi, lên tới 10,4 tỷ USDtrong năm 2003.Từ những năm 90, TQ bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng 100 trường đại học chất lượng cao trước khi bước sang thế kỷ 21, với một kế hoạch được gọi là  Dự án 211. Năm 1998 tại lễ kỷ niệm 100 năm Đại học Bắc Kinh, chủ tịch nước tuyên bố TQ cần có những trường đẳng cấp quốc tế, ngay sau đó Dự án 985 ra đời nhằm thực hiện chủ trương này. Năm 2005, sau Hội nghị Quốc tế về ĐHĐCQT do Đại học Giao thông Thượng Hải đăng cai tổ chức, Dự án 111 ra đời để khắc phục chỗ yếu của các trường đại học tinh hoa ở TQ nhằm nhanh chóng đạt vị trí “đẳng cấp quốc tế”.  Nếu như 211 và 985 nhằm nâng cao nguồn lực tài chính để trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị nghiên cứu tối tân cho các trường, thì Dự án 111 chủ yếu để “mua” các tài năng từ nước ngoài đem về các trường đại học TQ nhằm tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu. Các sáng kiến này chủ yếu nhằm vào các trường hàng đầu với mục đích nâng cao năng lực nghiên cứu để thực hiện tham vọng của TQ trong việc giành ngôi vị đẳng cấp quốc tế. Nhiều lần các quan chức Chính phủ đã phát biểu một cách hiển ngôn niềm hy vọng sẽ đưa một loạt các trường đại học TQ vào hàng ngũ đại học đẳng cấp quốc tế trước năm 2020.  Để thực hiện chính sách ấy, Nhà nước TQ đã chi những khoản tiền khổng lồ cho giáo dục đại học so với tương quan GDP của họ. Từ những năm 50, đã có những trường được coi là “đại học trọng điểm quốc gia” (national key universities). Năm 1954 có 6 trường được gọi là đại học trọng điểm quốc gia, đến năm 1959 thêm 16 trường và 44 trường tính đến năm 1960, rồi một lần nữa danh sách này được bổ sung thêm 4 trường trong năm 1963. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa, các trường đại học trọng điểm quốc gia được đặt tên lại, thêm nhiều trường được bổ sung vào danh sách này, tính đến năm 1981, có tất cả là 96 trường như vậy. Các trường trọng điểm quốc gia này được ưu tiên hơn những trường khác trong các chính sách về tài chính.   Chính sách đầu tư trọng điểm này vẫn tiếp tục và càng lúc càng tăng cường độ. Từ năm 1984, 10 trường đại học được cung cấp tài chính bổ sung từ Dự án Trọng điểm Quốc gia là: Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Giao thông, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Y khoa Bắc Kinh, Đại học Remin, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Đại học Nông nghiệp TQ. Trong những năm cuối của thập kỷ 80, 416 chương trình trọng điểm quốc gia ở 107 trường đã được chọn để hỗ trợ tài chính bổ sung như một phần của Dự án Trọng điểm Quốc gia được gọi là Dự án 211. Để thực hiện dự án này, trước hết Nhà nước Trung Quốc đầu tư 400 triệu nhân dân tệ (khoảng 50 triệu USD) cho những trường được chọn lựa để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đồng thời chính quyền địa phương cũng được yêu cầu cung cấp hỗ trợ tài chính cho những trường này. Chẳng hạn, chính quyền đặc khu Thượng Hải đã đóng góp cho Đại học Phúc Đán và Đại học Giao thông Thượng Hải mỗi trường 120 triệu nhân dân tệ (15 triệu USD) năm 1995 để nâng cao chất lượng dạy học và điều kiện nghiên cứu ở cả hai trường. Điều này chứng tỏ mong muốn của các chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ các trường đại học hàng đầu nằm trong khu vực địa phương của mình. Đến năm 1998, khi Dự án 985 ra đời, chỉ 38 trường được hưởng nguồn tài chính từ dự án này. Đại học Bắc Kinh, Đại học Triết Giang, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Nam Kinh, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Giao thông Xi’an và Viện Kỹ thuật Harbin là 9 trường đứng hàng đầu trong những trường được sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất của Dự án 9851. Dự án này cung cấp cho Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, hai trường trọng điểm hàng đầu của Trung Quốc một ngân sách trọn gói trong ba năm là 1,8 tỷ nhân dân tệ (234 triệu USD) mỗi trường như một khoản tài trợ đặc biệt nhằm xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Chính sách tài chính này khiến hệ thống giáo dục đại học TQ phân hóa rõ rệt: chỉ vài mươi trường tinh hoa đang khao khát đạt tới vị trí đẳng cấp quốc tế, và được Nhà nước đầu tư rất mạnh, trong lúc phần lớn sinh viên phải theo học ở những trường đại học cấp tỉnh ở địa phương, các cơ sở giáo dục cho người lớn, đào tạo từ xa qua mạng Internet, và mới đây là các đại học tư, là những trường bị buộc phải xoay trở để tìm nguồn tài chính mà tồn tại. Mong muốn của TQ trở thành đủ sức cạnh tranh với cả thế giới trong nghiên cứu và đào tạo chỉ giới hạn trong một vài trường hàng đầu, kết quả của chiến lược “nhà nghèo, con đông”: Nhà nước chỉ tập trung cho những mũi nhọn với hy vọng tạo được sức mạnh đột phá về thành tích.  Tuy vậy, ngay cả những trường tốt nhất mặc dù đang nhận những khoản tài trợ đặc biệt từ Dự án 985 về Xây dựng ĐHĐCQT, cũng phải tìm kiếm những nguồn tài chính phi Chính phủ cho ngân quỹ hoạt động hàng năm của họ. Những nguồn tài chính hỗ trợ khác gồm có các tài trợ nghiên cứu của Quỹ Tài trợ Khoa học Quốc gia TQ và Quỹ Tài trợ Khoa học Xã hội, mặc dù mức tài trợ của những quỹ này thấp hơn nhiều so với những tổ chức Chính phủ ở Mỹ. Các trường đại học cũng phải tìm kiếm sự hợp tác hỗ trợ của các doanh nghiệp hoặc tổ chức cộng đồng ở địa phương để thực hiện những nghiên cứu ứng dụng cũng như những chương trình giáo dục và đào tạo. Cạnh tranh giữa các trường trong lĩnh vực này khá quyết liệt. Mặc dù nguồn hỗ trợ tài chính dành cho các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đã tăng rất đáng kể từ năm 1999, ngân sách hoạt động hằng năm của họ vẫn nhỏ hơn nhiều so với các trường ĐHĐCQT của phương Tây (ngân sách của Harvard năm 2008 là 2,996 tỷ USD!2)  Không chỉ đầu tư mạnh về tài chính, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường, về mặt tổ chức, Nhà nước TQ đã tiến hành những cải tổ quan trọng. Trong những năm 50, TQ theo mô hình trường đại học chuyên ngành của Xô Viết. Vì hầu hết các trường ĐHĐCQT đều là các trường tổng hợp và bao gồm nhiều chuyên ngành, Chính phủ TQ đã thực hiện tái cấu trúc các trường đại học và coi đó như một nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả của các trường và phục vụ cho việc đầu tư trọng điểm để xây dựng những trường ĐHĐCQT.  Từ năm 1992, đã có hơn 200 trường đại học chuyên ngành được sáp nhập lại thành các trường đại học tổng hợp và đa ngành. Trong quá trình tái cấu trúc, hầu hết các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đều giành được một trường chuyên ngành có chất lượng đỉnh cao như trường y hay một số trường chuyên ngành hẹp khác. Chẳng hạn, Đại học Y khoa Bắc Kinh đã được sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh, Đại học Mỹ Thuật Quốc gia đã được sáp nhập vào Đại học Thanh Hoa.   Bên cạnh việc tái cấu trúc, một nỗ lực đáng chú ý của Nhà nước TQ là việc tiến hành xếp hạng các trường đại học, bao gồm cả xếp hạng quốc gia và xếp hạng quốc tế. Xuất phát điểm của chủ trương này là ý muốn xác định khoảng cách giữa các trường đại học TQ và các trường ĐHĐCQT và tìm hiểu những nhân tố nào đưa một trường đại học lên hàng đẳng cấp quốc tế. Viện Nghiên cứu Giáo dục Đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải đã tiến hành thu thập dữ liệu của 500 trường đại học trên toàn thế giới theo những tiêu chí xác định, có thể xác minh được, và tiến hành xếp hạng. Bảng xếp hạng này trở thành rất nổi tiếng và được coi là một trong hai hệ thống xếp hạng quốc tế được biết đến rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Năm 2005 họ đã đưa ra một danh sách xếp hạng hầu như hoàn toàn dựa trên những sản phẩm và kết quả nghiên cứu của các trường. TQ cũng đứng ra tổ chức Hội thảo Quốc tế về WCU năm 2005 tập hợp hàng trăm nhà khoa học trên toàn thế giới để bàn về chủ đề này.  Ngoài xếp hạng quốc tế, TQ còn thực hiện xếp hạng quốc gia. Từ giữa thập kỷ 90, việc xếp hạng các trường đại học trở thành một hiện tượng phổ biến ở TQ. Có năm chương trình xếp hạng có ảnh hưởng mạnh, trong đó có 4 là xếp hạng trường. Kết quả xếp hạng được coi là một nguồn thông tin quan trọng đối với sinh viên và phụ huynh. Các trường đại học và Chính phủ cũng hết sức quan tâm chú ý tới việc xếp hạng. Dù có nhiều trở ngại trong vấn đề xếp hạng các trường đại học ở TQ, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới sự sẵn sàng và độ tin cậy của dữ liệu, kết quả xếp hạng cũng đem lại cho sinh viên một ý niệm đại khái về địa vị của mỗi trường đại học.   Về mặt quản lý, Bộ Giáo dục TQ tuy không còn giữ lề lối hoạt động trong một xã hội được điều khiển bằng mệnh lệnh như trước đây, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát những nhân tố chính của giáo dục đại học, như giảng viên và số lượng sinh viên mỗi ngành học, mức thu học phí, việc bổ nhiệm các chức vụ quản lý lãnh đạo cao cấp. Tuy vậy, trong bộ khung hành chính quan liêu này, các trường đại học cũng có quyền tự chủ nhiều hơn trong việc quyết định nội dung chương trình đào tạo, thành lập những viện nghiên cứu mới, thay đổi cơ cấu tổ chức nhà trường, và xác lập những ưu tiên về tài chính.      Chiến lược xây dựng trường ĐHĐCQT của các trường đại học TQ  Tuyển dụng nhân sự trên phạm vi toàn cầu và tăng cường quốc tế hóa:   Các trường đại học TQ hiểu rõ con người là nhân tố quyết định cho thành công của một trường đại học. Họ không có đủ sức mạnh tài chính để lôi cuốn được những giáo sư đẳng cấp quốc tế với số lượng đủ để đảm bảo cho hoạt động của một trường, thay vào đó, họ có chủ trương rất rõ ràng nhằm thu hút những trí thức Hoa kiều và những người TQ được đào tạo từ các nước phương Tây. Các trường đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải đặc biệt thành công trong việc thu hút những người học ở nước ngoài trở về nhận những vị trí nghiên cứu và giảng dạy. Có khi họ trở về ở hẳn TQ, có khi họ thương lượng một chế độ qua lại thường xuyên cho phép họ duy trì cương vị của họ ở phương Tây trong lúc bỏ ra nhiều tháng mỗi năm làm việc tại TQ.    Nếu những người TQ được đào tạo ở phương Tây có thể có nhà ở, xe cộ, những phương tiện văn hóa và trường học tốt cho con cái họ, thì trở về TQ không còn là một sự hy sinh như trong quá khứ. Dùng những người trở về này thay cho các chuyên gia nước ngoài cũng sẽ thích hợp hơn với mục tiêu của TQ trong việc tự lực và tăng sức cạnh tranh dài hạn. Mặc dù chi phí của các đại học TQ tăng cao vì mức lương của những người trở về này phải đủ sức cạnh tranh quốc tế, trong những lĩnh vực được ưu tiên cao (đặc biệt là trong khoa học và kỹ thuật), sự đầu tư này được coi là thiết yếu để tạo ra những chương trình giảng dạy và nghiên cứu với những phương pháp và lý thuyết tối tân nhất. Thêm vào đó, cơ sở vật chất mới cũng tạo điều kiện cho các trường đại học TQ tuyển mộ giảng viên và cán bộ nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, nhất là các khoa học gia người TQ có bằng tiến sĩ ở châu Âu.    Để tăng cường tính chất quốc tế hóa, TQ cũng đang nỗ lực để trở thành thỏi nam châm thu hút sinh viên nước ngoài, thường là từ các quốc gia châu Á, chứ không chỉ quan tâm đến việc gửi nhân tài của họ sang phương Tây. Mục tiêu của họ là 100,000 sinh viên nước ngoài đến học tại TQ trong một tương lai gần. Mặc dù các trường đại học TQ vẫn tiếp tục đưa ra những chương trình học ngắn hạn về ngôn ngữ và văn hóa cho người nước ngoài, phần lớn là người Mỹ, ngày càng có nhiều trường đào tạo sinh viên nước ngoài cả trong những ngành học khác và cấp bằng chính quy cho họ. Với quyết tâm xác định vị trí của mình một cách tích cực trong bối cảnh toàn cầu, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở TQ rất thiết tha với các hoạt động hợp tác quốc tế. Đã có nhiều thành công đạt được trong những chương trình trao đổi sinh viên và liên kết đào tạo. Nhiều trường đang có những tiến bộ vượt bậc trong việc thu hút sinh viên quốc tế và xây dựng những chương trình hợp tác nghiên cứu. Họ đang cố gắng vận dụng những tiêu chuẩn đánh giá có tính chất quốc tế đối với đội ngũ giảng viên của mình cũng như đối với các chương trình đào tạo.     Đầu tư mạnh vào phòng thí nghiệm và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu  Các trường đại học TQ rất chú trọng nghiên cứu và đào tạo về khoa học kỹ thuật, đầu tư các nguồn quỹ mà họ có quyền chủ động sử dụng vào việc xây dựng những phòng thí nghiệm mới với những thiết bị kỹ thuật tối tân. Việc cộng tác với các đại học nước ngoài là một cách đã được thử thách qua thời gian để các đại học TQ khởi động những chương trình nghiên cứu ở trình độ quốc tế.   Năm 1986, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đầu tiên được xây dựng tại Đại học Bắc Kinh. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của các đại học nghiên cứu cùng với khoản tài trợ nghiên cứu và phát triển cho các phòng thí nghiệm được Nhà nước Trung ương hỗ trợ và đặt tại các trường đại học, và việc các nghiên cứu của trường đại học được xem như một bộ phận của hệ thống nghiên cứu khoa học cơ bản của quốc gia. Ý tưởng thành lập các phòng nghiên cứu trọng điểm của quốc gia và đặt tại các trường đại học thực ra là học tập từ mô hình của các trường đại học nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, chủ trương tài trợ của Nhà nước Liên bang Hoa Kỳ đối với việc nghiên cứu của các trường đại học đã ảnh hưởng mạnh đến việc cải cách hệ thống nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc.Ví dụ phổ biến nhất là Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley,  Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, và Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los Alamos tại hệ thống đại học California. Trong lúc các phòng thí nghiệm quốc gia tại các trường đại học Trung Quốc hầu hết dựa trên cơ sở chuyên ngành nhằm mục đích tạo ra các trung tâm chất lượng cao trong từng lĩnh vực, sự thành lập của những phòng thí nghiệm ấy biểu hiện niềm hy vọng các trường đại học Trung Quốc rồi đây sẽ có được những phòng nghiên cứu giống như những phòng nghiên cứu mà Đại học California đang có.   Dựa trên những thông tin của Mạng lưới Nghiên cứu và Giáo dục Trung Quốc, đến năm 2002 đã có 91 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại các trường đại học hàng đầu. Hiện nay chỉ riêng Đại học Bắc Kinh đã có 13 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia như thế, những công trình nghiên cứu tại đó gắn chặt với những vấn đề khẩn thiết nhất của quốc gia trong việc phát triển.      Xây dựng các trường đại học nghiên cứu và coi nghiên cứu như là một chức năng chính ở các trường trọng điểm khác  Trong thập kỷ 50, TQ áp dụng mô hình Xô Viết về việc thành lập các viện nghiên cứu độc lập và nằm ngoài trường đại học, kể cả Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia TQ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội TQ, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp. Những viện hàn lâm này có hàng trăm viện nghiên cứu bao gồm tất cả các lãnh vực chuyên ngành. Cho đến thập kỷ 80, hầu hết các hoạt động nghiên cứu ở TQ đều được thực hiện ở các viện nghiên cứu độc lập này, còn nhiệm vụ chính của các trường đại học chỉ là giảng dạy. Chủ trương xây dựng ĐHĐCQT khiến Nhà nước TQ phải xem lại điều này. Không phải ngẫu nhiên mà hệ thống tiêu chí xếp hạng quốc tế của SJTU rất xem trọng thành quả nghiên cứu của các trường. Thành tích nghiên cứu hiển nhiên là tác động trực tiếp tới uy tín của nhà trường, hiển nhiên là tác động tới trình độ phát triển của quốc gia, và chắc chắn có ảnh hưởng tích cực đối với việc giảng dạy và đào tạo. Vì vậy những trường đại học hàng đầu và được đầu tư trọng điểm ở TQ để đạt đẳng cấp quốc tế đều xác định rõ định hướng nghiên cứu của mình. Quỹ Khoa học Quốc gia TQ thành lập năm 1986 đã mang lại cho các trường đại học TQ cơ hội cạnh tranh các nguồn tài trợ dành cho việc nghiên cứu. Việc dựa trên những sáng kiến nghiên cứu của Bộ Khoa học Công nghệ và các bộ khác trong Chính phủ TQ trong thập kỷ 80 và 90 cũng tạo cho các trường đại học TQ thêm nhiều cơ hội quan trọng. Đồng thời, bản thân các trường đại học khác cũng bắt đầu chú trọng hơn đến công tác nghiên cứu, vì nghiên cứu đã được thừa nhận là một chức năng trọng yếu của nhiều trường đại học ở TQ. Nhà nước TQ tiến hành phân loại đại học nghiên cứu loại 1, loại 2, v.v…căn cứ vào tỷ lệ sinh viên cao học, và những trường được phân loại là đại học nghiên cứu được cấp kinh phí cao hơn. Các giáo sư ở những trường hàng đầu TQ đang dành thời gian cho nghiên cứu nhiều hơn là giảng dạy. Một số lớn các giáo sư và phó giáo sư chẳng hề dạy một môn nào ở bậc đại học. Để nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, Bộ Giáo dục thậm chí đã phải ban hành một hướng dẫn năm 2003 yêu cầu các giáo sư và phó giáo sư phải tham gia giảng dạy ở bậc đại học.   Sự thành công của các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ đã được công nhận là một khuôn mẫu cho giáo dục đại học trên toàn thế giới. Ở thập kỷ 80 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  thậm chí đã bắt đầu thảo luận về mô hình hệ thống nghiên cứu khoa học của Hoa Kỳ. Mô hình Hoa Kỳ có một tác động rất lớn đối với hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc. Từ năm 1978, hàng ngàn giảng viên và sinh viên Trung Quốc đã đổ xô vào Hoa Kỳ vì họ quan tâm đến giáo dục và tri thức bậc cao. Rất nhiều hội thảo và ấn phẩm tập trung vào các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ: họ đã hoạt động như thế nào và chúng ta có thể học tập ở họ những gì. Kinh nghiệm Hoa Kỳ đã trở thành cội nguồn cho rất nhiều ý tưởng về cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc, trong đó có ý tưởng về xây dựng các trường đại học nghiên cứu.      2- Những kết quả mà TQ đã đạt được  Thành tựu  Cùng với sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học tại TQ và sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ của Chính phủ TQ, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang có những bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của họ và tạo ra những tiến bộ rất đáng kể nhằm đạt mục tiêu chiến lược của họ là trở thành những trường ĐHĐCQT.  Trong khoảng từ năm 2000 đến 2005, số lượng công bố khoa học của các trường đại học nghiên cứu hàng đầu trong danh mục SCI đã tăng gấp đôi. Đại học Thanh Hoa đã có khoảng 2700 bài báo được liệt kê trong danh mục SCI năm 2003, gần bằng con số của các trường hàng đầu thuộc top 50 của thế giới. Các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ cũng đã bắt đầu nhấn mạnh đến chất lượng của các công bố khoa học bằng cách khen thưởng những bài báo có tỉ lệ được trích dẫn cao hoặc xuất hiện trên những tạp chí chuyên môn danh tiếng. Xu Tian, nhà nghiên cứu di truyền học hàng đầu được đào tạo tại Đại học Yale và hiện nay vẫn đang dạy tại đó, phụ trách một phòng thí nghiệm ở Đại học Phúc Đán nơi tiến hành những nghiên cứu về biến đổi gene. Ngày 12 tháng 8 năm 2005, nghiên cứu có tính đột phá của ông đã được nêu trên trang bìa của tờ tạp chí nghiên cứu uy tín lừng lẫy- Tạp chí Nghiên cứu Các Tế bào- lần đầu tiên một khoa học gia TQ có vinh dự ấy!  Số giảng viên có bằng tiến sĩ đã đạt đến 50% ở các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ tính đến năm 2005 và hy vọng sẽ đạt đến 75% trước năm 2010. Những trường này cam kết nâng cao số giảng viên có bằng tiến sĩ từ các trường ĐHĐCQT. Các nhà quản lý của Đại học Bắc Kinh ước lượng khoảng 40% cán bộ giảng dạy của họ được đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ.   Thêm vào đó, họ còn nỗ lực đặc biệt để lôi cuốn các giáo sư đẳng cấp quốc tế bằng nhiều cách. Trường Đại học Bắc Kinh đã lôi kéo được tài năng của Tian Gang- một nhà toán học hàng đầu của MIT, trong việc xây dựng một trung tâm nghiên cứu quốc tế về toán cao cấp trong số các trung tâm nghiên cứu trình độ cao khác.   Tỉ lệ của học viên sau đại học (kể cả các khóa học chuyên môn) với sinh viên đại học vẫn còn ở mức 1:1. Các trường đại học đang phải đấu tranh với việc nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt là năng lực sáng tạo và đổi mới của một bộ phận nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nghiên cứu sinh tiến sĩ thường được yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế trước khi có thể bảo vệ luận án.  Nhìn rộng ra cả hệ thống, chỉ trong vòng một thế hệ, kể từ năm 1978, TQ đã đưa tỉ lệ những người trong độ tuổi vào đại học từ 1,4% lên đến 20%. Chỉ riêng trong lãnh vực kỹ thuật, TQ tạo ra 442,000 cử nhân hằng năm, cùng với 48,000 người hoàn tất bằng thạc sĩ và 8,000 người đạt học vị tiến sĩ.  Tuy vậy, cho đến nay chỉ có Trường Đại học Bắc Kinh và một vài trường hàng đầu của TQ là được thế giới công nhận là có chất lượng cao. Tiêu chí số lượng bài báo khoa học trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu người được đưa ra nhằm phản ánh hiện tượng cạnh tranh quốc tế ngày càng phát triển và đặt TQ trong một bối cảnh có tính chất quốc tế. Con số thấp nhất về tỉ lệ công bố khoa học trên đầu người trong số 60 trường thành viên của Hiệp hội Các trường Đại học Hoa Kỳ được chọn làm tiêu chuẩn cho TQ, chỉ số này được xác định là 0,7 trong năm 2004. Chỉ có 10 trường đại học TQ có được chỉ số này ở trên mức tối thiểu của Hoa Kỳ.     Khoảng cách, và những thử thách đang đặt ra  Trong bảng xếp hạng quốc tế của SJTU năm 2005, không một trường đại học TQ nào lọt vào danh sách 200 trường hàng đầu trên thế giới. Chỉ có 8 trường đại học TQ lọt vào danh sách 500 trường hàng đầu. Vị trí cao nhất mà các trường đại học TQ đạt được là trong khoảng 151 đến 2003. Còn trong bảng xếp hạng THES cùng năm, Đại học Bắc Kinh được xếp thứ 15, và chỉ có 5 trường đại học TQ nằm trong top 200 mà thôi. Ba năm sau, trong bảng xếp hạng năm 2008 cũng của SJTU thực hiện với cùng phương pháp và tiêu chí, vẫn không có tên một trường đại học nào của Trung Quốc trong danh sách 200 trường hàng đầu. Năm trường lọt vào thứ hạng cao nhất từ 152-200 là Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa,  Đại học Nam Kinh, Đại học Giao Thông Thượng Hải, Đại học Chiết Giang, Shanghai Jiao Tong University, tức là không có bước tiến nào đáng kể so với kết quả xếp hạng năm 2005. Trong bảng xếp hạng THES năm 2008, chỉ có 2 trường đại học TQ lọt vào danh sách 100, nhưng lại tụt hạng so với chính họ: Đại học Bắc Kinh xếp hạng 50 năm 2008 trong lúc được xếp hạng 36 năm 2007, hạng 14 năm 2006. Mặc dù giới khoa học quốc tế gièm pha, chê bai cả hai hệ thống xếp hạng này vì những đánh giá không thỏa đáng về chất lượng, nhưng các trường đại học TQ thì nhìn vấn đề này một cách nghiêm túc như là một chỉ số cho thấy vị trí cạnh tranh của họ.  Họ biết rằng phải mất một thế hệ hoặc hơn nữa để các trường đại học TQ có thể có chất lượng thực sự ngang bằng với những trường của Âu Mỹ. Các học giả TQ không phải là không có lý khi nghĩ như vậy, vì mặc cho mọi khác biệt về phương pháp và kỹ thuật, vẫn có một sự đồng thuận rất cao giữa hai hệ thống xếp hạng về 12 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng, điều này cho thấy uy tín của các trường ĐHĐCQT là một thực thể  thực sự tồn tại khách quan và đo lường được.   Điểm phân biệt chủ yếu giữa các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ và các trường đại học đẳng cấp quốc tế là chất lượng của giảng viên và nghiên cứu, được thể hiện qua số cán bộ khoa học đoạt được các giải thưởng khoa học quốc tế chính, qua số lượng tác giả được nhiều nhà khoa học khác nêu trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, qua số lượng cán bộ giảng viên được đào tạo bậc tiến sĩ ở các trường đại học đẳng cấp quốc tế, qua số lượng các bài báo khoa học được công bố quốc tế, và qua một số nhân tố khác nữa.   Các trường ĐHĐCQT có trung bình 4,4 giảng viên đoạt giải Nobel và Huy chương của ngành, có trung bình 56 nhà nghiên cứu được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, trong lúc không một trường đại học nào ở TQ có được một cán bộ khoa học đạt giải Nobel hoặc Huy chương Field. TQ cũng thiếu những tác giả được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu.4  Hơn 85% giảng viên tại các trường đại học đẳng cấp quốc tế có bằng tiến sĩ do các trường thuộc top 100 trên toàn thế giới cấp, trong lúc con số này chỉ là 10% ở các trường đại học TQ hàng đầu như Đại học Thanh Hoa hay Đại học Bắc Kinh5. Số trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo khoa học trong Danh mục Trích dẫn Khoa học- SCI vào khoảng từ 2 đến 3 đối với các đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ như Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, so với 25 ở Harvard 6.  Sự kiểm soát của Nhà nước đối với các trường đại học TQ đang giảm đi. Tuy vậy Nhà nước TQ vẫn giữ ảnh hưởng mạnh mẽ thông qua việc phân bổ nguồn lực, chuẩn thuận chương trình đào tạo, đánh giá dự án, và vô số các buổi họp hành. Vẫn còn một chặng đường rất dài để các trường đại học TQ có thể đạt được sự mở rộng quyền tự chủ. Vì năng lực đổi mới kỹ thuật của công nghệ TQ rất yếu kém, Nhà nước khuyến khích các trường đại học nghiên cứu phục vụ việc phát triển kinh tế của quốc gia. Phần lớn các nghiên cứu thực hiện ở TQ là nghiên cứu ứng dụng và tuyệt đại đa số là có liên quan đến phát triển công nghệ.  Nghiên cứu cơ bản vẫn còn là một thứ xa xỉ đối với các trường đại học nghiên cứu ở TQ.  Chỉ có một số rất nhỏ các giáo sư đại học thực hiện việc nghiên cứu vì những mối quan tâm thuần túy khoa học. Phần lớn họ dạy học và làm nghiên cứu như một cách để kiếm sống. Chất lượng giảng viên, tiêu chí đề bạt, và quy trình đánh giá còn rất xa so với ước muốn xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, cải cách triệt để, tận gốc rễ là một điều hết sức thiết yếu.  Bên cạnh đó, cuộc cạnh tranh giữa Viện Hàn lâm Khoa học TQ và các trường đại học đang ngày càng mạnh mẽ. Viện Hàn lâm được bảo đảm quyền cấp bằng sau đại học, và mục đích của họ là đạt được 50.000 nghiên cứu sinh trước năm 2020. Hơn nữa, họ còn có ngân sách bổ sung do Nhà nước Trung ương cấp bên cạnh ngân sách hoạt động thường xuyên. Bởi vậy khả năng cạnh tranh của họ trong những khoản tài trợ nghiên cứu chính và đáp ứng nhu cầu của đất nước sẽ tăng lên.   Dù các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang tìm cách trở thành đại học đẳng cấp quốc tế, họ đang chú ý nhiều hơn đến cạnh tranh trong nước thay vì cạnh tranh quốc tế để duy trì vị thế hiện tại và giành các nguồn lực cần thiết, điều này làm giảm sự tập trung trong những nỗ lực cạnh tranh quốc tế của họ.       3- Bài học Trung Quốc  Qua con đường của TQ và những thành tựu mà họ đạt được đã nêu tóm tắt trên đây, có thể nói, nhờ Nhà nước TQ có chính sách đẩy mạnh giáo dục đại học, TQ đã tiến một bước rất dài trong việc đại chúng hóa giáo dục đại học, và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Chính phủ TQ chính thức tuyên bố tham vọng có được những trường đại học đẳng cấp quốc tế vào năm 1998 đến nay, mười năm đã trôi qua cùng với những khoản đầu tư khổng lồ, khoảng cách của các trường đại học hàng đầu của TQ với những trường đẳng cấp quốc tế vẫn còn rất xa.   Năm 2005, Tạp chí McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về thị trường lao động TQ và kết luận, thật nghịch lý là TQ có hàng triệu người tốt nghiệp đại học nhưng lại thiếu nhân tài. Diana Farrell và Andrew J. Grant ước lượng chỉ khoảng 10% các kỹ sư trẻ người TQ có những kỹ năng thích hợp cho công việc trong các doanh nghiệp đa quốc gia; số còn lại không có đủ kỹ năng ngôn ngữ và những hiểu biết văn hóa cần thiết để thực hiện chức phận của mình trong những công việc có tính cạnh tranh cao. Truyền thống giáo dục của TQ là một trong những thủ phạm gây ra vấn đề này. Điển hình là lối dạy thuần túy thuyết giảng và lối học ghi nhớ: các giáo sư thường đòi hỏi sinh viên phải nhớ bài giảng và những nội dung trong sách giáo khoa rồi lặp lại trong các bài thi thay vì phải phát triển sự hiểu biết thấu đáo và tinh thần sáng tạo. Đã vậy, sinh viên ngành kỹ thuật còn phải chịu đựng những chương trình đào tạo đã quá lạc hậu. Có rất ít cơ hội làm việc cùng nhau, cũng như không có dịp cho họ trải nghiệm thế giới thực, và những vị trí thực tập thì không đủ cho tất cả mọi người. Đặt những nhân tố này cùng nhau, các nhà phân tích McKinsey kết luận rằng TQ sẽ không thể chuyển sang công nghiệp dịch vụ trong thập kỷ tới và như vậy cũng không thể cạnh tranh ở mức toàn cầu về công nghệ kỹ thuật cao trong tương lai gần7.   Hiển nhiên là các học giả TQ biết rõ họ phải nỗ lực đẩy mạnh cải cách và tư duy phê phán. Một số trường hàng đầu đã xây dựng chương trình giáo dục tổng quát ở bậc đại học nhằm đem lại cho sinh viên một nền tảng kiến thức rộng rãi hơn, mặc dù những nỗ lực này chưa đủ để đem lại những kết quả mong đợi vì bị cấy ghép vào một hệ thống thi cử khắt khe và cứng nhắc, một hệ thống vẫn còn đang ban thưởng cho sự học vẹt! Điều này chắc chắn cũng sẽ phải thay đổi trong một vài năm tới đây.    Đó là nói về giáo dục đại học TQ nói chung, còn nói riêng về giấc mộng ĐHĐCQT của TQ, thì lý do chính khiến TQ chưa thể lọt vào danh sách các trường hàng đầu trên thế giới là do TQ thiếu những tài năng đỉnh cao trong khoa học cơ bản đủ để sánh bằng thành tích của các trường ĐHĐCQT. Một số nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các trường tỏ ra hết chịu đựng nổi cuộc tranh luận vẫn đang tiếp diễn về vấn đề ĐHĐCQT. Người ta bắt đầu nhận ra rằng xây dựng một ĐHĐCQT là một quá trình lâu dài chứ không phải là kết quả tức thời của một ước muốn và một số tiền đầu tư “một cục” khổng lồ. Thực ra, nhiều người thậm chí còn hoài nghi về khả năng liệu TQ có thể thực sự xây dựng được một ĐHĐCQT hay không, bởi vì những trường được công nhận rộng rãi là một mẫu mực về ĐHĐCQT như Oxford ở Anh hay Harvard và Yale ở Hoa Kỳ đều đã phải trải qua hàng thế kỷ phát triển. Chẳng những thế, những trường này đều đã rất tiến triển trong một môi trường chính sách khác và hình thức khác của cơ cấu quản lý đại học.      Thử đi tìm nguyên nhân  Nhà nước TQ và giới học giả, giới quản lý giáo dục đại học có một quyết tâm hết sức to lớn trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, và đã dành nhiều nguồn lực tài chính lớn lao cho kế hoạch này, nhưng dường như kết quả đạt được vẫn chưa được như họ mong đợi.   TQ đang tập trung vào khoa học tự nhiên và kỹ thuật, những lĩnh vực phản ánh nhu cầu phát triển của quốc gia, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự thiên vị của một hệ thống chính trị độc tài vốn ngăn cấm những phát biểu tự do. Khoa học xã hội và nhân văn thường liên quan tới những ý tưởng phê phán về chính trị, kinh tế và lịch sử. Nhà nước ít nhấn mạnh đến việc đạt đẳng cấp quốc tế trong những môn này. Tuy vậy, nhiều người TQ cũng nhận định –thường là một cách gián tiếp- rằng việc hạn chế những cuộc tranh luận khoa học có thể cản trở những nỗ lực tạo ra các trường ĐHĐCQT.  Lin Jianhua, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bắc Kinh nhận định: “Hiện nay, tôi cho rằng chẳng có trường đại học nào ở TQ có một bầu không khí có thể so sánh được với các trường đại học lâu đời ở phương Tây- Harvard hay Oxford- về mặt tự do diễn đạt ý tưởng” (…)Chúng ta cố gắng đem lại cho sinh viên một môi trường tốt hơn, nhưng để có thể làm được điều đó, cần có thời gian. Không phải là 10 năm, mà là một hay hai thế hệ”8.   Ge Jianxiong, một nhà địa lý lỗi lạc ở Đại học Phúc Đán, nói rằng văn hóa Trung Hoa đòi hỏi những kết quả nhanh chóng, điều này có thể xói mòn việc nghiên cứu. “Ở TQ, các dự án thường ngắn hạn, thông thường là 3 năm. Sau đó người ta đòi hỏi phải có các ấn phẩm đồ sộ. Trong những cuộc nghiên cứu thực sự, cần phải cho các nhà khoa học sự tự do cần thiết để có được kết quả tốt, chứ không chỉ là kết quả mà người ta muốn”. Trong khi đó, cơ chế bảo đảm quyền tự do học thuật ở phương Tây cho phép một nhà khoa học có thể chẳng có một bài nghiên cứu nào được công bố trong hàng chục năm, để rồi đến năm thứ mười chẳng hạn, thì công bố một bài báo đưa ra cách giải quyết cho những câu hỏi đã tồn tại hàng trăm năm nay mà chưa có lời đáp!  Ge bổ sung thêm những khó khăn của giáo dục khi nó luôn luôn được coi là công cụ của chính trị. Điểm yếu lớn nhất, như nhiều nhà khoa học TQ đã cho biết, là sự thiếu vắng tự do học thuật. Yang, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Phúc Đán, cảnh báo rằng nếu không xây dựng được một bầu không khí đúng đắn, những bộ óc vĩ đại ở nước ngoài có thể sẽ chỉ đến TQ một hay hai năm là tìm đường rút vì bực bội.    Gong Ke, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thanh Hoa, nói rằng các trường đại học “có bổn phận bảo đảm cho tự do học thuật”.   “Chúng tôi có những giáo sư dạy ở đây, người nước ngoài, đang dạy rất khác với quan điểm của chính phủ TQ”. Ông nói thêm: “Có những người phê phán mạnh chính sách kinh tế của TQ”.   Điều cần nhất bây giờ, như các nhà khoa học giỏi nhất của TQ nói, và nhấn mạnh, là những bộ óc độc đáo.    Điều vĩ đại nhất mà TQ đã làm được trong 20 năm qua là đưa 200 triệu người thoát cảnh đói nghèo. Xu nói: “Tuy vậy, TQ vẫn chưa nhận ra rằng nếu muốn tiến lên một trình độ mới, thì phải hiểu rằng các con số là không đủ. Chúng ta cần một cuộc cách mạng mới để đưa chúng ta ra khỏi nền văn hóa mà giải thưởng là trở thành quan chức Nhà nước. Chúng ta phải học cách ban thưởng cho những đổi mới thực sự, cho những tư tưởng độc lập, và những công trình học thuật chính cống!”9  Phải chăng tình trạng thiếu vắng tự do học thuật là nguyên nhân khiến các trường hàng đầu ở TQ chưa thể đi xa hơn được, dù quyết tâm của Chính phủ rất lớn và đầu tư cũng không nhỏ? Liệu điều này có thể giải thích những hạn chế của hệ thống giáo dục đại học TQ, khi tự do học thuật không phải là vấn đề đối với các bộ môn khoa học kỹ thuật và ứng dụng, những lĩnh vực mà Nhà nước TQ rất khuyến khích?  Có lẽ câu trả lời phải tìm không chỉ trong những nhân tố về thể chế, mà còn trong những nhân tố văn hóa. Nền giáo dục TQ chưa bao giờ thoát ly hoàn toàn truyền thống Khổng giáo, nơi người ta đi học là để tiếp thu những chân lý có sẵn của thánh hiền, chứ không phải để thử thách hay cọ xát với những tri thức đã có. Điều này tất nhiên ảnh hưởng lớn đến phương pháp dạy và học trong nhà trường và không khuyến khích tinh thần phản biện, tinh thần tự do sáng tạo, là những nhân tố cốt yếu của đời sống đại học, và là những nhân tố quyết định đối với năng lực nghiên cứu.  4- Kết luận  Thực tiễn xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc cho chúng ta thấy quyết tâm của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp mang lại những nguồn lực cần thiết cho các trường để thực hiện nâng cao chất lượng hoạt động. Tuy nhiên, chỉ nguồn lực thôi thì không đủ để tạo ra được những thay đổi mong đợi. TQ đã đi từ Dự án 211 đến Dự án 985 theo hướng tập trung tăng cường nguồn lực tài chính cho một số ít trường trọng điểm, rồi lại tiếp tục đến dự án 111 theo hướng “mua” người tài từ bên ngoài về để tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn không được như họ mong muốn, bởi vì đó vẫn chỉ là những giải pháp đắp vá. Phải chăng TQ đã nhắm đến những nhân tố bề ngoài, những thứ ở phần ngọn, những biểu hiện của kết quả hoạt động chẳng hạn số lượng công bố khoa học và trích dẫn, thay vì phải nhắm vào những nhân tố bên trong, những thứ có ý nghĩa cốt lõi và là nguyên nhân của thành công, chẳng hạn những chính ách thực sự giải phóng năng lực của con người? Phải chăng những chính sách ấy chính là điều mà TQ cần, để tạo ra một tầng lớp trí thức có thể sáng tạo ra những giá trị tinh thần thực sự, vì chỉ với những giá trị ấy, trường đại học mới thực sự là nơi kiến tạo tri thức, vun trồng tài năng và thực hiện được sứ mệnh của nó? Xét cho cùng, thứ hạng trong bảng xếp hạng chỉ quan trọng nếu nó phản ánh được mức độ đạt được sứ mạng mà một trường đại học phải thực hiện. Đó là sứ mạng làm động lực thúc đẩy sự phát triển của từng cá nhân, của cả cộng đồng, của từng quốc gia và sau hết là sự tiến bộ của toàn thể nhân loại.   ———  1 Nian Cai Liu, 2005. Research Universities in China: Differentiation, Classsification, and Future World-Class Status  2 Nguồn: QS Quacquarelli Symonds (www.topuniversities.com)   3Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University 2005. Academic ranking of world universities-2005.http://ed.sjtu.edu.cn/ranking.htm.  4 Cheng, Y., S. X. Liu. 2005. When will Chinese universities be able to become world – class? Journal of Higher Education 26 (4) : 1-6  5 Jiang, Y., P. 2004. The origins of doctoral degrees of faculty members in world-class universities. Jiangsu Gaojiao no. 4: 106-09.  6 Nian Cai Liu, 2005. Bài đã dẫn  7 Kathryn Mohrman 2005. Nguồn: http://www.saisjhu.edu/pubaffairs/publications/saisphere/winter06/  8 Howard W. French 2005. Nguồn: The International Herald Tribune, 27 October 2005  9 Howard W. French 2005. Bài đã dẫn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Còn quá nhiều điều đáng lo      Để chấn hưng giáo dục và khoa học, trước hết cần đánh giá đúng thực trạng, và muốn thế cần dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, dù là những sự thật tồi tệ đáng phẫn nộ, đáng xấu hổ nhất. Đó là thái độ, quan điểm tôi hoàn toàn chia sẻ qua bài viết của GS P. Darriulat.    Thật hiếm khi chúng ta có may mắn nhận được những nhận xét thẳng thắn nhưng hết sức chân tình của một nhà khoa học tầm cỡ đã có nhiều năm sống và cùng làm việc với chúng ta, hết lòng giúp đỡ chúng ta xây dựng và phát triển khoa học trong những điều kiện phải nói không dễ chịu chút nào đối với một người quen sống ở môi trường khoa học tiên tiến phương Tây. Đó là những ý kiến rất xác đáng, xuất phát từ một cách nhìn vừa khách quan, nghiêm khắc của một người quan sát không thiên vị, vừa chân tình, đồng cảm của một người bạn thân thiết.      Tất nhiên từ nhiều năm nay trong nước cũng đã có không ít ý kiến tâm huyết bày tỏ bức xúc lo lắng trước những hiện tượng tiêu cực của khoa học và giáo dục. Nhưng hoặc là Bụt nhà không thiêng, hoặc người cần nghe thì bịt tai, không muốn nghe, hoặc cách nói có khi chưa phù hợp nên không đủ sức thuyết phục. Chưa kể là xen vào đó có những phát biểu tùy tiện, thay vì thuyết phục lại gây phản tác dụng nhiều hơn. Chẳng hạn, mấy năm gần đây có một số người lớn tiếng phê phán sao cả nước mấy nghìn GS, PGS mà chẳng ai có một bằng phát minh, sáng chế nào! Hoặc đòi hỏi vô lý mọi ngành khoa học xã hội, bất kể ngành gì, cũng phải có nhiều công bố quốc tế như bên khoa học tự nhiên. Thú thật, trong môi trường xã hội xô bồ đầy giả dối, thật dỏm khó phân biệt, nhiều ý kiến có khi rất hay, rất đúng cũng khó lọt tai một số vị có trách nhiệm, nhất là nếu cả người nói và người nghe đều thiếu công tâm.   ***          Thật ra trước năm 1975 nền giáo dục đại học ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam đều đã khá phát triển so với các nước khác trong khu vực. Nhưng chỉ vài năm sau đó những sai lầm trong quản lý xã hội đã khiến kinh tế, văn hóa, giáo dục đều sa sút, xuống dốc không phanh. Đó là lý do vì sao GS P. Darriulat cho rằng sau 1975 chúng ta đã xây dựng giáo dục đại học từ số không. Sau Đổi mới, khi hoạt động giáo dục được bình thường trở lại, thì hoàn cảnh đã thay đổi, mô hình giáo dục của Liên Xô cũ mà trước đó miền Bắc dựa vào không còn phù hợp. Cần phải cải cách để chấn hưng giáo dục nhưng hàng loạt rào cản tư duy và ý thức hệ đã giam hãm chúng ta trong sự trì trệ, lạc hậu triền miên so với thế giới. Mãi gần đây, mới bắt đầu có chủ trương thực hiện chính thức đổi mới giáo dục một cách cơ bản, toàn diện. Song cả núi khó khăn vẫn còn ở phía trước.         Công bằng mà nói, mấy năm gần đây trong nhận thức xã hội cũng đã bắt đầu có sự thức tỉnh. Trong quản lý khoa học đã có một số tiến bộ rất đáng ghi nhận, cái tâm lý lạc quan kiêu ngạo trước đây đã bớt. Nhưng về cơ bản, chừng nào cái lỗi hệ thống của thể chế chưa khắc phục thì tiêu cực vẫn còn nhiều đất ngự trị. Cho nên những nhận xét, phê phán thẳng thắn của GS  Darriulat rất đúng lúc và đặc biệt cần thiết để nhắc nhở chúng ta, ngay cả những nhà quản lý thiện chí nhất, đừng vội chủ quan. Một số ít tiến bộ như NAFOSTED dù rất đáng trân trọng vẫn chưa là gì cả  trong bức tranh toàn cục, hơn nữa nếu không kịp thời nhìn ra những vấn đề mới để khắc phục thì không khéo lại có thể dẫn đến những tiêu cực mới, vô hiệu hóa những tiến bộ đã đạt được. Cho nên, với những ai thiết tha với khoa học và giáo dục thì vẫn còn đó quá nhiều điều đáng lo.   Tôi cũng rất đồng tình với quan điểm của GS Darriulat bây giờ không phải là lúc quy trách nhiệm cho ai, mà trước hết cần biết can đảm nhìn thẳng vào sự thật, để nhận định đúng các vấn đề và đưa ra giải pháp thích hợp. Toát lên từ bức tranh thực tế qua bài viết của GS Darriulat là sự dối trá, sự quan liêu dốt nát đang hoành hành ngay cả ở những nơi, những môi trường cần nhất sự liêm chính, công tâm, và trí tuệ. Thật đáng xấu hổ, những vụ đạo văn trong khoa học ngày càng nhiều và nghiêm trọng. Không chỉ đạo văn ở các luận án tiến sĩ, thạc sĩ mà đạo văn cả ở những công trình nghiên cứu của các GS, PGS đã có vị trí. Còn nhớ một vụ đạo văn tày đình trong khoa học tự nhiên cách đây vài năm gây tai tiếng ê chề cho Việt Nam trên quốc tế mà rồi trong nước cũng cho qua dễ dàng, không ai bị xử lý mà còn được đề bạt. Lại có trường hợp ngang nhiên ăn cắp, chiếm đoạt kết quả nghiên cứu của nhau mà vẫn không ai hề hấn gì, sau nhiều cuộc thảo luận kéo dài mỏi mệt trong giới chức hữu quan rồi cũng … hòa cả làng. Trong các ngành khoa học xã hội tình hình càng tệ hơn. Như tin tức đã được phản ảnh trên báo chí, nhiều luận văn tiến sĩ sao chép của nhau hoặc của người khác, nhai đi nhai lại thành một hợp xướng những luận điểm sáo mòn gần như chẳng có chút giá trị khoa học gì.   Việc đề ra mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ có ít nhất một đại học lọt vào tốp 200 của thế giới không những không thực tế mà ngày càng thấy rõ nó cũng hoàn toàn không cần thiết. Một là có nhiều bảng xếp hạng đại học theo những tiêu chí khác nhau, thật sự chỉ đáng tin cậy phần nào đối với các nền đại học tiên tiến của các nước phát triển. Đó chưa phải là sân chơi thích hợp cho các nền đại học còn non trẻ đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng như chúng ta. Hai là đặt mục tiêu xa vời, kiểu như một trăm năm nữa chưa biết có đạt tới không, thì chỉ là một cách tự huyễn hoặc mình, để hướng đến những chuyện viển vông, có khi rất tốn kém mà hoàn toàn vô bổ, đồng thời xao lãng những vấn đề nóng bỏng thiết thực đang chờ đợi hằng ngày phải được giải quyết.   Thay vì chạy theo những cái đích ảo tưởng như vậy, lẽ ra ta chỉ nên đặt mục tiêu xây dựng một hai đại học thật nghiêm chỉnh đàng hoàng, đáng gọi là đại học theo chuẩn mực quốc tế, để làm hoa tiêu cho các đại học khác trong nước tiến theo, không cần quá lo đến thứ hạng trong các bảng xếp hạng quốc tế mà giá trị còn đáng ngờ.   Căn bệnh thành tích cũng là nguyên nhân đẻ ra cái kế hoạch to tát đào tạo đến năm 2020 hai vạn tiến sĩ. Nay đã thấy rõ chỉ lấy số lượng bù chất lượng cũng khó đạt nổi chỉ tiêu đó. Mà thật ra, ở cái xứ mà phần lớn tiến sĩ, cả thật cả dỏm (số khá đông là dỏm) đều không làm khoa học mà làm quản lý hành chính thì trong bấy nhiêu tiến sĩ đào tạo ra sẽ có được bảo nhiêu vị làm giáo dục và khoa học? Hay ta chỉ cần có nhiều bằng tiến sĩ để phết một lớp sơn tri thức dỏm lên bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng tràn lan như hiện nay?    Đúng như GS Darriulat cảnh báo nếu cứ tiếp tục làm ăn kiểu này thì sẽ phải mất rất nhiều thế hệ nữa mới mong đạt tới một nền đại học đúng với tên của nó như cố GS Hồ Đắc Di đã từng mơ tưởng trong rừng Việt Bắc cách đây ngót 70 năm.  ***  Theo GS Darriulat việc thiếu tôn trọng người thầy và người làm khoa học thể hiện rõ rệt nhất ở chế độ tiền lương. Ông từng nhiều lần khẳng định, nếu cần góp ý một biện pháp riêng lẻ cấp bách nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu ở các đại học thì ông không do dự một phút có thể quả quyết đó là cải thiện chế độ tiền lương cho các giảng viên để họ có thể đủ sống và tập trung cho công tác chuyên môn. Mặc dù gần đây một số người có thể cải thiện thu nhập nhờ tham gia các đề tài nghiên cứu sử dụng kinh phí của Nhà nước, nhưng các thủ tục luôn khó khăn phức tạp, việc thanh toán thường xuyên chậm trễ, đồng thời hoạt động này cũng ngầm chứa tiêu cực, dẫn đến tình trạng “chạy” đề tài, hoặc xu hướng thiên về làm những công trình nghiên cứu dễ dãi, tuy chất lượng không cao tạm thời có thể bảo đảm nguồn thu nhập ổn định ở mức cần thiết. Chúng ta luôn nói giáo dục, khoa học thuộc lĩnh vực ưu tiên, quốc sách hàng đầu, nhưng cứ giữ mãi một chế độ tiền lương như hiện nay đối với nhà giáo và nhà khoa học thì khác nào Nhà nước khuyến khích sự giả dối, bất lương, mà đây mới thật là sự giả dối lớn nhất, từ đó mới sinh ra nhiều sự dối trá khác nhan nhản ở học đường, trong xã hội.   Vấn đề này theo tôi nhớ, đã được nêu ra bàn thảo nghiêm túc ngay từ những ngày báo Tia Sáng mới ra đời, cách đây đã gần hai thập kỷ. Bản thân tôi đã có nhiều dịp nêu trực tiếp vấn đề với những nhà lãnh đạo cao nhất. Vị nào cũng công nhận vô lý, bất công, và có lẽ nhiều vị cũng đã từng trăn trở tìm cách giải quyết, nhưng cho đến nay bế tắc vẫn còn nguyên. Vừa rồi, tôi lại có dịp trao đổi với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và lại cũng được hiểu rằng còn phải kiên nhẫn phấn đấu nhiều năm nữa, có lẽ chăng phải chờ đến khi thực hiện đầy đủ cái thông điệp đầu năm của Thủ tướng mới có hy vọng giải quyết được. Chỉ buồn là trong một thế giới biến đổi từng ngày, từng giờ, người ta đi hài bảy dặm, còn chúng ta cứ đủng đỉnh … bia bọt, mơ mộng hão huyền và … chờ. Chờ đến bao giờ ?   ——-  1 Pierre Darriulat, Dũng cảm nhìn vào sự thật, Tạp chí Tia Sáng, số 05 ra ngày 05/03/2014, trang 12  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7318    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bằng xã hội trong giáo dục Đại học      VN đã vào WTO. Điều này có nghĩa, nguồn nhân lực của VN, và từ đó là nền Giáo dục Đại học (GDĐH) cũng như nguồn cung cấp tài chính cho nền GD, nay cũng phải được đặt trên cùng một mặt bằng so sánh với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh đó, một lần nữa, Đề án điều chỉnh tăng học phí lại được soạn thảo. Tuy nhiên, tăng học phí, không ít sinh viên (SV) nghèo sẽ phải bỏ học. Vậy, làm thế nào để giải bài toán Công bằng xã hội (CBXH) trong GDĐH? GS Phạm Phụ đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về vấn đề này.      PV: Thưa GS, đến nay thì vấn đề tăng học phí ở ĐH có vẻ như đã được dư luận bước đầu đồng tình; tuy vậy vẫn còn rất nhiều băn khoăn, trước hết là: Tăng học phí – SV nghèo sẽ phải bỏ học?  GS. Phạm Phụ: Có thể nói, các vấn đề cốt lõi của một nền GDĐH có thể tóm gọn trong ba từ: Chất lượng, Hiệu quả và CBXH. Tăng học phí là để đảm bảo nguồn tài chính tối thiểu cho việc đảm bảo chất lượng đào tạo. Và, đây cũng là xu thế chung trên toàn thế giới trong vài chục năm gần đây, khi mà GDĐH đã là nền GD cho số đông, đã có tính toàn cầu, “chi phí đơn vị” (cho 1 SV trong 1 năm) tăng lên rất nhanh và dịch vụ GDĐH được xem là “hàng hóa cá nhân” hơn là “hàng hóa công cộng”. Tuy nhiên, ở nước nào cũng vậy, phải thiết kế tổng thể chính sách “cung cấp tài chính cho GDĐH”, trong đó có: (1) Xác định các tỷ lệ “chia sẻ chi phí” giữa Nhà nước (NN), người học và đóng góp của cộng đồng; (2) Xây dựng các phương thức cung cấp và sử dụng tài chính có hiệu quả, và (3) Thiết kế các chính sách để đảm bảo khả năng tiếp cận GDĐH và CBXH. Chuyện tăng học phí là mới chỉ nói đến một phần của bài toán (1). Nếu không xét bài toán (2) thì xã hội sẽ đặt câu hỏi: Liệu ngành GD đã sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính hay chưa? Và, nếu không xét bài toán (3) thì đương nhiên dẫn đến việc, SV nghèo phải bỏ học, mất CBXH trong GDĐH sẽ trở thành gây cấn hơn.  Được biết sơ bộ, trong Đề án tăng học phí lần này đã có nêu lên các giải pháp đi kèm như: miễn giảm học phí, cấp học bổng và tài trợ cho SV những vùng khó khăn, SV thuộc diện chính sách, tín dụng SV… Nhưng, liệu chỉ tăng cường hơn các giải pháp lâu nay đã có này thì có đủ để giải quyết bài toán (3), khi mà học phí phải tăng lên nhiều lần?  Ở các nước, để cải cách chính sách “cung cấp tài chính cho GDĐH”, người ta nghiên cứu công phu và chi tiết lắm. Và, đây cũng là vấn đề thường gây ra nhiều tranh cãi, đặc biệt là khả năng tiếp cận GDĐH của người dân nói chung và của con em các nhóm gia đình có thu nhập thấp nói riêng. Ví dụ, ở Anh sau nhiều năm nghiên cứu, đến tháng 01/2003 người ta mới công bố được “sách trắng” (White paper), đến tháng 01/2004 mới được Quốc hội phê duyệt dưới dạng một Dự luật và được tiếp tục hiệu chỉnh để có thể áp dụng từ năm học 2006-2007. Đây cũng là đề tài mà các đảng phái chính trị ở Anh đưa ra phương án để tranh cử khi nhiệm kỳ 1 của Thủ tướng Tony Blair sắp kết thúc. “Viện Công khố” của họ tiến hành phân tích các phương án đó để giúp cho công chúng tranh luận. Hiệp hội SV ĐH Cambridge (CUSU) cũng có phương án đề xuất riêng của mình. Một nội dung rất được chú ý là: khi áp dụng chính sách mới thì tỷ lệ SV trong thanh niên ở độ tuổi thuộc các tầng lớp dân cư khác nhau được tiếp cận GDĐH sẽ thay đổi như thế nào.  Ở VN, đến con số thống kê để biểu thị đơn giản về mức độ mất CBXH trong GDĐH (Ví dụ, tỷ lệ SV trong thanh niên ở độ tuổi của lớp dân cư 20% giàu nhất gấp mấy lần tỷ lệ này của lớp dân cư 20% nghèo nhất) cũng còn chưa có con số chính thức. Vì vậy, thiết nghĩ, khó mà nói được, liệu các giải pháp nói trên có đủ hay chưa. Nhưng xin lưu ý, cách đây ít lâu có người ước lượng, con số chênh lệch về tỷ lệ tiếp cận GDĐH của 2 lớp dân cư đó đã là khoảng 20 lần.  Có nghĩa, mất CBXH trong GDĐH đã là nghiêm trọng?  Mức độ phân hóa giàu nghèo (tính theo chênh lệch thu nhập bình quân của 2 lớp dân cư nói trên) ở VN mấy năm trước đây là khoảng 7-8 lần. Trong bối cảnh mới, VN sẽ chuyển từ nền kinh tế thâm dụng lao động sang thâm dụng vốn, công nghệ… Khi thâm dụng lao động, người nghèo có lao động, tình hình phân hóa giàu nghèo chưa đến mức gây cấn. Nhưng khi thâm dụng vốn, công nghệ…, người nghèo không có các thứ này, tình hình có xu thế sẽ xấu hơn. Khi đó, mất CBXH trong GDĐH sẽ trở thành rất nghiêm trọng, nếu không có đủ các giải pháp cho bài toán (3). Tôi mong rằng, mức độ phân hóa trong GDĐH sẽ không cao hơn mức độ phân hóa giàu nghèo.  Vậy, đâu là giải pháp cơ bản để giải quyết bài toán này, thưa GS?  Cách đây vài chục năm, nhiều nước trên thế giới sử dụng chủ yếu chính sách: “Học phí cao, tài trợ nhiều” (High Tuition Fees – High Aids). Nhưng gần đây xu thế chung là, thiết lập các chương trình cho SV vay vốn, hiện đã phổ biến trên 50 nước khắp thế giới. “Tài trợ nhiều” vẫn chủ yếu là từ ngân sách NN, mà nguyên nhân chủ yếu của tăng học phí lại thường là do sự hạn chế của ngân sách NN. Còn, cho SV vay vốn về bản chất là để có thể tăng thêm mức gánh chịu chi phí của SV, giảm bớt mức gánh chịu của ngân sách NN (Người đóng thuế)… Có điều, cần phải chuyển sự gánh chịu của họ từ hiện tại (trả học phí trước) sang tương lai, khi mà họ đã “có khả năng chi trả”. Có như vậy, một mặt SV nghèo mới không phải bỏ học, mặt khác, việc tài trợ của NN mới có công bằng hơn so với khi thực hiện chính sách học phí thấp.  Chương trình cho SV vay vốn có thể có nhiều mục tiêu như: (1) Tạo cơ hội tiếp cận GDĐH cho nguời nghèo, (2) Giảm bớt áp lực lên ngân sách NN, (3) Mở rộng hệ thống GDĐH, (4) Đáp ứng nhu cầu nhân lực khu vực hoặc nghề nghiệp ưu tiên cụ thể, (5) Giảm bớt khó khăn tài chính cho SV đồng thời tăng cường trách nhiệm của họ (chính người SV sẽ phải trả chi phí, chứ không phải chỉ là gia đình  họ). Ở VN, thiết nghĩ, các chương trình cho SV vay vốn trước mắt nên được thiết kế tập trung vào các mục tiêu (1), (2) và (5). Tất nhiên, bên cạnh chương trình cho SV vay vốn vẫn phải tiếp tục duy trì những giải pháp tài trợ SV truyền thống đã có lâu nay.  Chúng ta cũng đã có quỹ tín dụng SV?  Được biết quỹ này hiện có hình như chỉ khoảng 200 tỷ Đồng và vay cũng khó khăn nên không sử dụng hết. Về quy mô, như vậy quỹ này chỉ có khoảng 13 triệu USD so với ngân sách NN dành cho GDĐH khoảng 450 triệu USD. Trong khi đó, năm 2003, Thái Lan đã có quỹ học bổng đến 60 triệu USD, quỹ tín dụng SV đến 350 triệu USD so với ngân sách NN dành cho GDĐH là 860 triệu USD. Ở Hàn Quốc, Hồng Kông, số SV được vay lên đến trên dưới 30% tổng số SV. Về phương thức cho vay, các chương trình ở các nước cũng khác ta rất nhiều.  GS có thể giới thiệu vài nét về các chương trình tín dụng SV trên thế giới?  Chương trình cho SV vay vốn trên thế giới hết sức đa dạng. Tuy vậy có thể phân thành 2 nhóm. Thứ nhất là nhóm các “chương trình cho vay cố định”, nghĩa là việc thu nợ được thực hiện trong một khoảng thời gian cố định, có thể là 4 năm, 10 năm hay lâu hơn nữa sau khi tốt nghiệp. Và, mức trả cho từng thời đoạn cũng đã được xác định trước. Ví dụ một số chương trình ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… mà năm 2004 UNESCO đã lựa chọn để thực hiện các nghiên cứu điển hình nhằm “xóa bỏ khoảng trống kiến thức” về vấn đề này. Thứ hai là nhóm các “chương trình cho vay được trả theo thu nhập” (Income Contingent Loans), đã được áp dụng ở Úc, Anh, Thụy Điển, Nam Phi, New Zealand… trong khoảng 15 năm gần đây. SV sau khi ra trường xin được việc làm và có thu nhập cao hơn một ngưỡng nào đó mới phải trả nợ. Mức chi trả tính theo phần trăm của phần thu nhập cao hơn ngưỡng, gần giống như thuế thu nhập cá nhân vậy. Ví dụ, khi có việc với mức lương 1 triệu Đ/tháng thì chưa phải trả, khi mức lương 2 triệu Đ/tháng thì trả 20% của triệu thứ hai chẳng hạn, nghĩa là trả 200.000 Đ/tháng. Như vậy, mức trả cho từng thời đoạn ở đây là chưa xác định trước mà tùy thuộc vào mức thu nhập của người vay, cho đến khi hết nợ. Nhưng sau 15 hay 20 năm nếu chưa trả hết, hoặc lỡ bị tai nạn không làm được việc nữa, thì được xóa nợ. Còn về lãi suất, đa số chương trình của cả nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai đều có lãi suất thấp, ví dụ ở Trung Quốc chỉ khoảng 50% lãi suất thị trường, 50% lãi suất còn lại được NN trợ cấp. Các chương trình cũng thường cho vay để trang trải một phần chi phí ăn ở…  Thiết nghĩ, hầu hết SV sẽ vay theo nhóm chương trình thứ hai?  Các chương trình thuộc nhóm thứ hai có đầy đủ các ưu điểm là: (1) không gây áp lực nợ lên SV, họ chỉ phải trả khi họ đã có “khả năng chi trả”, (2) NN như đã gánh cho SV gần hết những rủi ro, (3) SV được NN tài trợ trực tiếp qua mức lãi suất thấp, không chịu chi phí vận hành quỹ cho vay và chi phí bù đắp rủi ro. Tôi có thử hỏi một số SV, họ nói rằng họ rất mong được vay như vậy.  Thế tại sao rất nhiều nước vẫn còn sử dụng chương trình cho vay cố định?  Ở các nước đang phát triển việc kiểm soát thu nhập cá nhân còn hạn chế, nếu áp dụng các chương trình cho vay nhóm thứ hai, thường có tỷ lệ thu hồi vốn thấp. Muốn áp dụng, cần phải có nghiên cứu thiết kế rất kỹ và tổ chức cho vay một cách thực hợp lý.    Còn tỷ lệ hoàn vốn, thưa GS?  Xin lấy ví dụ, tỷ lệ hoàn vốn ở Trung Quốc là 55%, ở Hàn Quốc 64%, ở các nước phát triển thì cao hơn. Phần “tổn thất” ở đây chính là “chi phí tài trợ”, bao gồm: Tài trợ lãi suất, chi phí vận hành quỹ vay và cả một số tổn thất do có người hoãn nợ hoặc không trả nợ. Cũng xin được nói rõ, NN cấp vốn cho các trường ĐH là để tài trợ SV trong khi chưa cấp trực tiếp cho SV được (ví dụ phiếu trợ cấp voucher) chứ không phải là cho trường ĐH. Vì vậy, “chi phí tài trợ” có thể trích từ phần ngân sách NN cấp cho các trường ĐH, được xem như là khoản cấp trực tiếp cho SV. Theo GS Adrian Ziderman, chủ nhiệm chương trình nghiên cứu điển hình của UNESCO nói trên: “Chính phủ giảm ngân sách cho các cơ sở GDĐH và các cơ sở này duy trì thu nhập của mình bằng cách thu và tăng học phí. Chính phủ xây dựng chương trình cho SV vay vốn, SV vay để trả cho những khoản chi phí mới. Khi tất cả SV vay vốn để trả học phí, chi phí tài trợ các chương trình cho vay của chính phủ sẽ tương đương với phần giảm đi trong tổng ngân sách dành cho các cơ sở GDĐH. Trên thực tế, nhiều SV không vay vốn, tổng kinh phí của chính phủ cho GDĐH cuối cùng có thể giảm đi”.  Như vậy, xem ra vấn đề “cung cấp tài chính cho GDĐH” quả là một bài toán hết sức phức tạp và rất cần sự tranh luận – đồng thuận của công chúng.    Xin cám ơn GS.    Chương trình cho SV vay vốn thành công ở Hồng Kông, Trung Quốc  • Mục tiêu: Không có người nào đủ trình độ lại không được đi học ĐH vì không đủ tiền.  •Tổ chức: Cơ quan độc lập của NN hỗ trợ tài chính SV. •Cấp vốn: Ngân sách chính phủ. •Số SV được vay: Khoảng 50% trong diện được vay, phần lớn SV nghèo, số lượng tăng nhanh từ những năm 90 khi tăng học phí lên 2,65 lần. •Đối tượng: + LSFS: SV nghèo, không lãi suất, có kiểm tra và mức được vay tỷ lệ với thu nhập tài sản gia đình. + NLS: Tất cả SV, có lãi suất (không lãi – không lỗ), chỉ dựa vào thông tin về SV. •Phần trả nợ so với thu nhập hàng năm: LSFS: ban đầu 11%, sau giảm còn 5%. •Tỷ lệ người trả nợ: LSFS – 100%. •Biện pháp chế tài: Có bảo lãnh của cha mẹ, công bố danh sách đối tượng không trả nợ.  P.V thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố môn thi tốt nghiệp THPT      Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ gồm  bốn môn, ngoài hai môn bắt buộc là văn và toán, thí sinh tự  chọn thêm hai trong số các môn vật lý, hóa học, sinh học, địa lý, lịch  sử và ngoại ngữ. Điểm học lực năm lớp 12 sẽ chiếm 50% trong điểm xét công nhận và xếp loại tốt nghiệp…    Đây là những thông tin mới nhất về kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2014 vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức công bố trong buổi họp báo chiều 24/2/2014, tại Hà Nội.  Sẽ có tới 8 môn và thi theo ca  Năm 2014, mỗi thí sinh sẽ thi 4 môn, gồm hai môn bắt buộc là văn và toán. Thí sinh tự chọn thêm hai trong số các môn vật lý, hóa học, sinh học, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ để dự thi. Như vậy, kỳ thi sẽ có tổng số 8 môn thi.  Theo ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc tổ chức thi sẽ được thực hiện theo nguyên tắc mỗi học sinh có một số báo danh duy nhất trong suốt kỳ thi.  Phòng thi được xếp theo môn. Trong mỗi ca thi chỉ có một môn thi. Mỗi lần thi chỉ thi một môn. Cụ thể, lịch thi sẽ được bố trí trong hai ngày thi với 4 buổi thi, mỗi buổi thi chia hai ca với hai môn. Các ca thi cách nhau 75 phút để đảm bảo thực hiện các thao tác kỹ thuật.  Hai môn trong một buổi thi đó sẽ được kết hợp giữa một môn tự luận và môn trắc nghiệm, một môn tự luận và một môn xã hội. Dự kiến buổi sáng ngày thứ nhất thi môn văn và hóa, chiều thi vật lý và lịch sử. Sáng ngày thứ 2 thi toán và ngoại ngữ, chiều cuối cùng thi sinh học và địa lý.  “Cách bố trí môn thi này nhằm giảm thiểu tối đa một thí sinh thi cả hai ca một buổi,” ông Trinh cho biết. Cũng theo ông Trinh, về mặt lý thuyết sẽ có thể có thí sinh thi hai môn một ca, ba môn một ngày. “Tuy nhiên, số lượng này sẽ rất ít vì nếu các em học tốt lĩnh vực nào đó, tự nhiên hoặc xã hội, sẽ có xu hướng chọn các môn cùng lĩnh vực đó.  Mặt khác, trong giáo dục, không thể có giải pháp đáp ứng mọi yêu cầu,” ông Trinh nói.  Thêm phần thi tự luận cho môn ngoại ngữ  Một điểm hoàn toàn mới trong kỳ thi tốt nghiệp năm 2014 là môn ở môn ngoại ngữ. Môn học này không còn nằm trong danh sách môn thi bắt buộc như trước đây mà là môn tự chọn. Cách ra đề thi cũng có sự thay đổi khi bài thi không còn là thi trắc nghiệm thuần nhất như cũ mà sẽ có sự kết hợp vừa trắc nghiệm vừa tự luận.  Theo ông Trinh, hiện Bộ chưa tính cụ thể tỷ trọng điểm số bài tự luận trong môn thi này. “Việc thêm phần tự luận nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đánh giá năng lực thực sự của học sinh ở môn học này,” ông Trinh nói.  Cũng theo vị lãnh đạo Bộ này, đối với kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014, môn ngoại ngữ vẫn giữ nguyên là môn trắc nghiệm.    Thay đổi cách xét tốt nghiệp  Công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho thấy việc xét tốt nghiệp sẽ có sự thay đổi lớn. Các năm trước đây, điểm thi tốt nghiệp sẽ quyết định toàn bộ việc thí sinh đó có tốt nghiệp hay không.  Tuy nhiên, từ năm nay, điểm thi chỉ chiểm 50% vai trò xét tốt nghiệp. Theo đó, việc công nhận và xếp loại tốt nghiệp sẽ thực hiện bằng cách sử dụng kết hợp kết quả học tập và rèn luyện của học sinh ở lớp 12 với kết quả 4 môn thi theo trọng số đánh giá là 50%-50%.  Cụ thể, điểm trung bình kết quả học tập của học sinh năm lớp 12 sẽ chia đôi. Tính tổng điểm 4 bài thi, sau đó chia 4 để lấy điểm trung bình, điểm trung bình này chia đôi. Hai loại điểm số sau khi đã chia cộng lại để thành điểm xét tốt nghiệp.  Kết quả học tập năm lớp 12 của học sinh được đưa vào phần mềm dữ liệu thi trước khi kỳ thi diễn ra. “Ngoài điểm số Bộ còn tính đến nhiều yếu tố khác như hạnh kiểm, học lực các môn… Bộ sẽ cụ thể hóa trong thông tư về quy chế thi,” ông Trinh nói.  Cũng theo ông Trinh, việc thay đổi này nhằm thực hiện Nghị quyết 29 là tổ chức kỳ thi nhẹ nhàng, đỡ tốn kém cho học sinh nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy làm cơ sở cho các cơ sở giáo dục đào tạo điểm sinh, phối hợp kết quả thi với quá trình đánh giá trong năm học.  Hướng đến kỳ thi 2 trong 1  Bên cạnh những đổi mới sẽ thực hiện ngay trong năm 2014 như trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết trong tương lai, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ được đổi mới theo hướng chuyển dần từ 4 môn thi thành 4 bài thi (thay vì mỗi môn thi một bài thì sẽ có bài thi tổng hợp kiến thức nhiều môn).  Nội dung của mỗi bài thi bao gồm phần cơ bản (để đánh giá đúng và toàn diện năng lực của học sinh, tạo động lực để học sinh học, phát triển toàn diện) và phần nâng cao (nhằm phân loại học sinh, là một căn cứ để các trường đại học, cao đẳng sử dụng trong tuyển sinh). Trên cơ sở đó, hướng tới một kỳ thi đáp ứng cả yêu cầu xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng.  Bộ sẽ sớm đưa ra dự thảo phương án thi để xin ý kiến các chuyên gia, các cơ sở giáo dục đại học, phổ thông và toàn xã hội nhằm hoàn thiện để công bố trước khai giảng năm học 2014-2015.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/thong-tin-moi-nhat-ve-ky-thi-tot-nghiep-thpt-2014/245455.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố Open-Book, nhóm Cánh Buồm trông đợi gì?      Trước khi ra mắt bộ sách Tiếng Việt và Văn bậc THCS (tám cuốn, từ lớp 6 đến lớp 9) và công bố địa chỉ cung cấp Open-Book vào tối 19/11 tới, nhóm Cánh Buồm có thư tự bạch về công việc của mình và những trông đợi khi dùng mạng Internet để trình bộ sách mới nhất ra toàn xã hội.      Bộ sách Tiếng Việt và Văn THCS của Cánh Buồm.  “…Ra mắt xã hội vào cuối tháng 11 năm 2009 nhân dịp Hội thảo Hiểu Trẻ em – Dạy Trẻ em với sự bảo trợ của Nhà xuất bản Tri thức thuộc Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, tổ chức ở Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội, địa chỉ www.canhbuom.edu.vn, nhóm Cánh Buồm là một tập thể những người làm việc thiện nguyện để xây dựng bộ sách giáo khoa làm mẫu theo định hướng hiện đại hóa nền Giáo dục Việt Nam.  Tại sao nhóm Cánh Buồm làm công việc đó?  Công việc của Nhóm không dừng lại ở việc phê phán nền Giáo dục đương thời với những nguyên nhân tích tụ từ nhiều chục năm – kể cả từ những năm còn là nền Giáo dục thực dân và phong kiến. Chúng tôi chủ trương dùng sản phẩm của Nhóm để trình ra một cách phát triển Giáo dục khác với những gì đang được xã hội lo lắng và dang bị phê phán, mong sao bằng những sản phẩm cụ thể nhất – sách giáo khoa – những sản phẩm dễ hiểu với đông đảo mọi người để gợi ra một cơ sở đồng thuận cho đông đảo mọi người mà lý do đơn giản là vì những sách giáo khoa mang một cách học mới sẽ được thử thách khi đi vào đời sống từng gia đình…  Công việc của Nhóm cũng không dừng lại ở việc tranh luận lý thuyết mà rất nhiều khi Chân lý không thoát thân ra nổi từ vô số cuộc tranh luận mà rất đông chúng ta từng trải nghiệm. Chúng tôi chủ trương trình bày một lý thuyết Giáo dục không bằng những lời lẽ “hàn lâm” – chúng tôi muốn xã hội nhận ra và có thể trải nghiệm một lý thuyết thấm đượm qua những việc làm cụ thể trong sách giáo khoa được giao cho học sinh để các em thực hiện công cuộc Tự học – Tự Giáo dục như tên gọi cuộc Hội thảo Nhóm tổ chức năm 2011 và đã được ghi lại trong Kỷ yếu Hội thảo.  Tại sao nhóm Cánh Buồm có được niềm tin đó?  Công việc làm của Nhóm không sinh ra từ hư không ex nihilo mà đó là kết quả được rút ra từ những trải nghiệm Công nghệ Giáo dục (Hồ Ngọc Đại) mà chúng tôi từng tích cực tham gia trong nhiều thập kỷ. Nhóm Cánh Buồm ngỏ lời biết ơn những cảm hứng từ Công nghệ Giáo dục – đồng thời Nhóm cũng biết cách thoát thân khỏi những nhược điểm khiến chúng tôi dị ứng. Nhóm chúng tôi cũng biết tích cực học hỏi từ nhiều nguồn cảm hứng của loài người nhưng hết sức tránh chỉ nhại lại những lời lẽ “khoa học”, “hội nhập” – chúng tôi gắng đi tới nổi những giải pháp kỹ thuật cho việc học của học sinh. Nhóm Cánh Buồm có một và chỉ một tiêu chí để tự đánh giá công việc: kết quả học tập của học sinh. Dĩ nhiên, Nhóm cũng trông đợi các chuyên gia, các bậc phụ huynh soi sáng các lý thuyết vào tiêu chí “bằng vàng” ấy.  Tầm nhìn Giáo dục của Cánh Buồm là gì, và tại sao Cánh Buồm lại khởi đầu với sách Tiếng Việt, sách Văn và sách Lối sống?  Trong báo cáo trình lên theo yêu cầu của Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên – Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội CHXHCN Việt Nam, nhóm Cánh Buồm trịnh trọng ghi Tự học là năng lực các nhà sư phạm hai tay dâng lên thanh thiếu niên Việt Nam. Để làm công việc đó, với sức ban đầu có hạn, Nhóm tập trung vào những môn học khó khăn nhất. Nhóm chủ trương tổ chức công việc tự học của học sinh từ Lớp 1 đến Lớp 9, nhằm:  (a)     Học Tiếng Việt để có sự am tường ngôn ngữ học đối với tiếng mẹ đẻ, từ đó mà có năng lực hoạt động ngôn ngữ tiếng Việt chính xác, phong phú, văn minh;  (b)     Học Văn để có sự am tường mỹ học và có năng lực sống trong cái Đẹp nghệ thuật thay cho những bài “văn” và những bài “làm văn” thổ thiển, xơ cứng, khô cằn;  (c)     Học Lối sống để biết sống đồng thuận từ tấm bé theo tinh thần cùng lao động, cùng tôn trọng tư tưởng của nhau, và biết tháo ngòi xung đột trong cuộc sống chung.  Tại sao lại coi việc làm hạn hẹp đó là làm mẫu?  Đó là làm mẫu về cách học mà nền tảng của cách học mới là những thao tác làm việc chắt lọc của những người đi trước – của nhà ngôn ngữ học, của người nghệ sĩ, của nhà hoạt động xã hội.  Nhóm Cánh Buồm trông đợi gì khi dùng mạng Internet để trình sách giáo khoa của mình ra toàn xã hội?  Nhóm Cánh Buồm trông đợi việc áp dụng trong phạm vi hẹp và rộng các sách của chúng tôi: áp dụng trong gia đình, áp dụng ở lớp học, áp dụng ở trường học, áp dụng thực nghiệm ở trường đào tạo nghề sư phạm … cùng những sáng kiến khác như áp dụng tại những Trung tâm bồi dưỡng học sinh (cả với học sinh gặp khó khăn lẫn những học sinh muốn thành học sinh giỏi) …  Nhóm Cánh Buồm trông đợi các nhà giáo, các nhà nghiên cứu, các vị phụ huynh theo dõi, góp ý, sửa chữa, thêm thắt … để bộ sách giáo khoa Cánh Buồm trở thành bộ sách mẫu mực có thể tái bản dùng lâu dài…”  Nhóm Cánh Buồm  18 giờ ngày 19/11, nhóm Cánh Buồm sẽ có buổi ra mắt bộ sách Tiếng Việt và Văn bậc THCS (lớp 6 đến lớp 9) tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp L’espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ Giáo dục: Những tham vọng      Các công nghệ giáo dục ngày nay không chỉ  hướng đến việc tạo ra những SGK kiểu mới, chương trình học kiểu mới, môi  trường học tập mới, mà còn tìm kiếm những giải pháp tổng thể cho giáo  dục số với lợi thế vượt trội về tính hiệu quả, cá nhân hóa và khả năng  tiếp cận đại chúng.       Tỷ phú Bill Gates từng nhận định hết sức bi quan về nền giáo dục nước Mỹ: “Hệ thống giáo dục phổ thông Hoa Kỳ đã lỗi thời. Không chỉ chúng đã đổ vỡ, thiếu sót, và không được đầu tư đúng mức, mà ngay cả khi chúng đang hoạt động chính xác như được thiết kế, chúng vẫn không thể dạy con trẻ những gì chúng cần phải biết ở thời đại ngày nay”? Chúng ta không dám chắc liệu có phải sự bi quan này đã hối thúc Gates và Quỹ Bill &Mellinda Gates đầu tư hàng chục triệu USD cho giáo dục hay không. Nhưng có một điều chắc chắn là vị tỷ phú hào phóng này đang rất nỗ lực tìm kiếm sự thay đổi thông qua các startup công nghệ giáo dục. Trong đó có một dự án nổi bật dạy trẻ “những kĩ năng chúng cần phải biết ở thời đại ngày nay”: Cổng giảng dạy lập trình cho trẻ em Code.org.     Code.org với giải pháp số hóa tổng thể cho giáo dục khoa học máy tính    Năm 2013, Bill Gates tham gia cùng Mark Zuckerberg – nhà sáng lập Facebook, và nhiều nhân vật nổi tiếng khác vào một chiến dịch truyền thông cho giáo dục STEM (viết tắt của Science,Technology,Engineering, Mathematics – lĩnh vực giáo dục được coi là “trọng điểm quốc gia” của không chỉ Hoa Kỳ mà còn nhiều quốc gia khác trên thế giới) thông qua cổng dạy lập trình cho trẻ em Code.org. Đoạn video clip ngắn mà ông tham gia nhanh chóng đạt 12 triệu lượt xem trong hai tuần, trở thành một trong những clip được chia sẻ nhanh nhất trên YouTube và Internet tại thời điểm được nói đến.     Thành công của chiến dịch truyền thông đó góp phần không nhỏ vào sự chú ý của toàn thế giới đối với việc đào tạo kĩ năng của thế kỉ 21 cho học sinh, bao gồm các kĩ năng sử dụng máy tính, kĩ năng thông tin và đa phương tiện, kĩ năng giải quyết vấn đề và kĩ năng sáng tạo. Bản thân Code.org đã phát triển thần tốc về mọi mặt. Tới nay, nó đã thu hút gần 6,4 triệu người học với hơn một triệu là nữ . Nội dung học tập của Code.org đã được chuyển sang hơn 30 thứ tiếng (sắp có tiếng Việt) phục vụ 157 nghìn giáo viên trên toàn thế giới đang sử dụng Code.org để giảng dạy nhập môn lập trình. Chương trình đào tạo của Code.org nhận được đánh giá rất cao từ giới chuyên môn với 99% số giáo viên được hỏi đều đề xuất dùng Code.org cho việc giảng dạy nhập môn khoa học máy tính. Website này cũng thu hút sự chú ý của giới hoạch định chính sách và các chính trị gia. Tổng thống Barack Obama đã xuất hiện trong sự kiện “Giờ Lập trình” (Hour of Code”) để cổ động “toàn dân học lập trình”. Với một startup công nghệ mới hai tuổi, những thành công như vậy là rất ngoạn mục.             Trước Code.org đã có rất nhiều phần mềm đã  được thiết kế để dạy trẻ con lập trình. Nhưng có lẽ Code.org đang bỏ xa  tất cả xét theo góc độ trải nghiệm học tập dễ dàng và hiệu quả. Không  SGK, không bài đọc và ghi nhớ, tất cả đều tương tác, cá nhân hóa, học mà  chơi, chơi mà học.          Đằng sau thành công của Code.org ẩn chứa những sáng tạo rất đáng chú ý trong cách thức xây dựng và phát triển chương trình và công nghệ học tập. Code.org cung cấp những trải nghiệm học tập thật dễ chịu và vui vẻ cho trẻ em thông qua các trò chơi và câu chuyện vui nhộn, với các nhân vật quen thuộc trong các trò chơi Angry Bird, Flappy Bird hay các nhân vật hoạt hình nổi tiếng như hoàng hậu tuyết Elsa và công chúa Anna trong phim hoạt hình được ưa thích Frozen.   Chiến thuật trò chơi hóa của Code.org tỏ ra rất thành công trong việc thu hút sự chú tâm của trẻ con, để thông qua các “thử thách”(puzzles) mà dẫn chúng đến với các khái niệm và kĩ năng cơ bản của lập trình như câu lệnh, điều kiện, vòng lặp, sự kiện, hàm. Cách tiếp cận này khiến cho những đứa trẻ năm tuổi chưa biết chữ cũng có thể bập bẹ vui đùa với những khối lệnh lập trình đơn giản, còn những cô cậu mới chỉ lớp Ba đã có thể thiết kế các chiến lược giải quyết vấn đề theo lối chia để trị. Toàn bộ công cụ học tập tương tác hiện diện trên website dưới dạng các bài tập, cùng với các trợ giúp bằng văn bản hoặc video ngắn giúp cho học sinh bị cuốn hút vào các hoạt động học tập chủ động một cách tự nhiên. Trước Code.org đã có rất nhiều phần mềm đã được thiết kế để dạy trẻ con lập trình. Nhưng có lẽ Code.org đang bỏ xa tất cả xét theo góc độ trải nghiệm học tập dễ dàng và hiệu quả. Không SGK, không bài đọc và ghi nhớ, tất cả đều tương tác, cá nhân hóa, học mà chơi, chơi mà học.    Đối với giáo viên và trường học, Code.org cũng cung cấp hệ quản trị học tập cơ bản để tạo lập và quản lí tiến trình học tập của học sinh. Tiến độ của từng học sinh được theo dõi chi tiết đến từng bài tập. Chỗ nào học sinh vướng, giáo viên có thể trợ giúp ngay. Công cụ này có thể trợ giúp giáo viên dễ dàng triển khai các kĩ thuật giảng dạy phân hóa (differentiation) để phát triển năng lực và thế mạnh của từng em học sinh. Bên cạnh đó, các kế hoạch bài giảng dựng sẵn rất đầy đủ, cùng với mô tả chi tiết về sự tương thích với các tiêu chuẩn đầu ra phổ biến khác (như tiêu chuẩn của Hiệp hội Giáo viên khoa học máy tính CSTA, Hiệp hội Quốc tế về sử dụng công nghệ trong giáo dục ISTE) và hệ thống các khóa học phát triển chuyên môn do chính đội ngũ Code.org phát triển có thể rút ngắn rất đáng kể thời gian chuẩn bị của giáo viên. Rõ ràng là Code.org đang cung cấp một giải pháp số hóa tổng thể cho giáo dục khoa học máy tính ở bậc thấp nhất trong chương trình phổ thông đại chúng chứ không đơn thuần là một chương trình trực tuyến học lập trình cho vui.     Sự phát triển nhanh chóng của Code.org có lẽ một phần do những hối thúc từ nhu cầu phát triển nhân lực để đáp ứng vị thế của nước Mỹ trong lĩnh vực khoa học máy tính. Theo một dự báo được dẫn trên website của Code.org, tới năm 2020 lực lượng lao động trong lĩnh vực khoa học máy tính tại Mỹ sẽ thiếu hụt trầm trọng. Trong khi nhu cầu cần khoảng 1,4 triệu lao động, thì các trường đào tạo CNTT chỉ có khả năng cung ứng phần lẻ là 400.000 kĩ sư. Tốc độ tăng trưởng việc làm trong lĩnh vực khoa học máy tính nói riêng, và STEM nói chung, đang cao hơn gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng việc làm trung bình của quốc gia. Cần một cú hích lớn và đột phá để phá vỡ thế bế tắc.     DreamBox với hệ thống học tập thích ứng thông minh    Cùng chung làn sóng giáo dục STEM này, một startup đang gây sự chú ý đặc biệt trong giáo dục STEM: DreamBox với chương trình giáo dục toán học số cá nhân hóa. Khác với cách tiếp cận đại trà, miễn phí và tập trung xây dựng chương trình giáo dục số hóa toàn diện của Code.org, DreamBox tập trung vào phát triển công nghệ dữ liệu lớn để mang lại một hệ thống học tập thích ứng thông minh. DreamBox lưu lại các quyết định, hành vi của người học, để rồi từ đó phân tích và hiển thị các nội dung học tập phù hợp với người học. Công nghệ học tập thích ứng (adaptive learning) này vận dụng rất nhiều hiểu biết trong các lĩnh vực khác nhau, từ khoa học máy tính, giáo dục học, tâm lí học cũng như khoa học về não bộ để mang lại trải nghiệm học tập cá nhân hóa hiệu suất cao. Hãng đánh giá độc lập SRI International trong một nghiên cứu giới hạn đã nhận thấy học sinh được bổ sung công nghệ giáo dục của DreamBox có điểm thi toán cao hơn 2,3 so với học sinh học theo chương trình bình thường. DreamBox đang nỗ lực dẫn đầu trong việc thúc đẩy đường lối giáo dục dựa theo dữ liệu (data-driven approach).     Bên cạnh ngôi sao mới nổi DreamBox, không thể không kể đến một tên tuổi khác đậm đặc chất người sáng lập viên gốc Ấn Độ Prasad Ram: Gooru. Khác với các nền tảng cung cấp nội dung kiểu “ăn sẵn” như Khan Academy hay Coursera, Gooru tiếp cận kiểu “buffet” hướng đến sự kiến tạo các nội dung mới theo nhu cầu. Người sáng lập của Gooru vốn xuất thân từ Google, nên ban đầu anh tạo ra một công cụ để tìm kiếm các tài nguyên học tập vốn đã đầy rẫy ở trên mạng. Dần dà, hệ thống của anh còn đi xa hơn thế khi công cụ cho người dùng có chuyên môn như các giáo viên hay những người thiết kế giảng dạy tổ chức lại tài nguyên đó thành các đối tượng tài nguyên giáo dục mở, tổng hợp và pha trộn các nguồn tài nguyên sẵn có trên mạng (quiz, bài viết, video, audio) để hình thành những khóa học với mục đích cụ thể. Bên cạnh đó, nó cung cấp khả năng kết nối và chia sẻ nguồn tài nguyên học tập, cũng như những tính năng quản trị học tập cơ bản để tổ chức việc học trực tuyến cá nhân hóa 1:1. Với cách tiếp cận ảnh hưởng từ thuyết học tập kết nối (Connectivism với bốn đặc trưng quan trọng: tổ hợp tài nguyên sẵn có, pha trộn chúng, tái lập mục đích, chia sẻ), Gooru trợ giúp người dùng khai thác nguồn tài nguyên vô tận trên Internet, tái định hướng mục đích cho chúng để phục vụ đắc lực các mục tiêu giảng dạy và học tập. Đã có trên 16 triệu tài nguyên mở ở dạng hoàn chỉnh sẵn sàng được chia sẻ trên Gooru, từ tiểu học cho đến sau phổ thông. Đó là một lượng tài nguyên khổng lồ đang chờ người dùng khai thác.    Gooru là ví dụ điển hình về một hệ thống giáo dục trực tuyến mở thế hệ mới với các công cụ thuận lợi cho việc tạo dụng các nguồn tài nguyên giáo dục mở (OER: Open Educational Resources) phục vụ các mục đích đa dạng và đầy biến hóa của người dùng. Giống như cách tiếp cận của lĩnh vực phần mềm tự do nguồn mở (FOSS), Gooru có thể sẽ còn phát triển rất nhanh trong thời gian tới.     Học tập trực tuyến có những đặc trưng rất khác biệt so với môi trường truyền thống. Do vậy, nó cần những cách tiếp cận lí thuyết và công nghệ tương ứng. Khi những công cụ như Gooru đủ tốt, chúng ta có thể tin tưởng vào viễn cảnh “giáo dục cho đại đa số dân chúng” sẽ dễ dàng hơn bao giờ hết.     ***    Bài này đã cung cấp những điểm sáng trong lĩnh vực học tập kiểu mới mà các startup công nghệ giáo dục đang dần dà mang lại cho người dân trên toàn thế giới. Kể từ khi gã khổng lồ trong ngành thương mại điện tử Amazon làm cuộc cách mạng ebook, nhiều đơn vị hoạt động giáo dục đã nghĩ đến ngày lớp học không còn sách giấy. Nhưng những cuốn SGK dạng ebook (còn được gọi là etextbook) rõ ràng chưa phải là cách thức mà mọi người tìm kiếm. Code.org, DreamBox, Gooru và những EdTech chưa được nhắc đến trong bài này đang dần tạo ra những SGK kiểu mới, chương trình học kiểu mới, môi trường học tập mới, và cả những giải pháp tổng thể cho giáo dục số với lợi thế vượt trội về tính hiệu quả, cá nhân hóa và khả năng tiếp cận đại chúng. Liệu có chúng ta có quá lạc quan khi nghĩ đến những trường học hoàn toàn online, hoàn toàn số hóa, không SGK, không học xá hoành tráng, nơi mọi người chỉ cần kết nối mạng là học được cái mình cần với chi phí phải chăng?           Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ nano – Lĩnh vực mới với những ứng dụng mới      LTS: Tiếp theo loạt bài nâng cao cơ hội nghề nghiệp cho những sinh viên theo đuổi nghề lập trình, Tia Sáng xin giới thiệu loạt bài định hướng nghề nghiệp trong một lĩnh vực hết sức mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới – đó là công nghệ nano, của TS Nguyễn Trần Thuật ở Trung tâm Nano và Năng lượng (NEC), ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.  Loạt bài này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi như: công nghệ nano là gì; học công nghệ nano sẽ được học những gì và biết làm những gì; những cơ hội nào đang mở ra cho người học công nghệ nano tại Việt Nam…      Các nghiên cứu viên làm thí nghiệm phủ màng và khắc khô phản ứng tạo hình các linh kiện cấu trúc nano tại phòng sạch của Trung tâm Nano và Năng lượng (NEC). Ảnh: Đặng Tuấn Linh.  Công nghệ nano là một khái niệm khá mới ngay cả trên thế giới. Định hướng một nghề nghiệp mới tại một nước đang phát triển như Việt Nam là một chủ đề khó. Do đó chúng ta cần nhìn nhận và hiểu vấn đề này một cách tương đối thận trọng, với nhiều cách nhìn khác nhau và dần dần từng bước.  Vậy trước hết công nghệ nano là gì? Nói đơn giản, công nghệ nano là loại công nghệ đi sâu vào các vật thể có một, hai hoặc cả ba chiều dài, rộng, cao có kích thước bé cỡ nano mét, tức một phần một tỷ của mét.  Một trong số các câu trích dẫn nổi tiếng về công nghệ nano của Richard Feynman1, đó là “Có rất nhiều không gian ở dưới đáy” (There’s plenty of room at the bottom2). Một cách hình tượng, Feynman muốn nói có rất nhiều điều có thể được khám phá tại những kích thước nhỏ nhất. Thực tế là như vậy, khi một trong số các kích thước của vật thể được làm thành rất nhỏ thì sẽ xuất hiện các tính chất mới mà vật thể kích thước lớn không thể có.  Lấy một ví dụ đơn giản, nếu ta có một khối đồng kích thước 1x1x1(m) thì diện tích mặt ngoài của khối đồng là 6m2 và với khối lượng là 8,96 tấn3, tỉ lệ diện tích mặt ngoài trên khối lượng của khối đồng này là 6m2/8,96 tấn. Nếu ta dùng một công cụ tinh vi, xẻ khối đồng thành một tỉ bản đồng có bề dầy 1 nano mét thì cũng khối lượng đồng 8,96 tấn, ta có diện tích mặt ngoài 2 tỉ m2. Tổng tỉ lệ diện tích mặt ngoài trên khối lượng của các bản đồng này là 2 tỉ m2/8,96 tấn. Tiếp tục, nếu ta dùng công cụ tinh vi hơn xẻ một bản đồng thành 1 tỉ thanh đồng có chiều dài 1m và tiết diện 1 nano mét x 1 nano mét, thì cũng với khối lượng 8,96 tấn ta có 4 tỉ m2. Tổng tỉ lệ diện tích mặt ngoài trên khối lượng đồng lúc này sẽ là 4 tỉ m2/8,96 tấn. Điều đó có nghĩa là nếu diện tích mặt ngoài là một yếu tố quan trọng, như cho việc tăng hiệu năng xúc tác các phản ứng hóa học hoặc tăng cường khả năng hấp phụ các chất độc trong nước, thì bằng cách xẻ khối đồng thành 1 tỉ thanh đồng, kích thước mặt ngoài tăng lên hàng tỉ lần với khối lượng không đổi. Đây là thứ chỉ có thể thu được với công nghệ nano.  Ví dụ trên đã mô tả một cách tương đối đơn giản về công nghệ nano và tại sao công nghệ nano lại quan trọng. Tuy nhiên sẽ có hàng tá các câu hỏi khác, đơn giản nhất là làm thế nào để có một công cụ phức tạp cho phép ta xẻ một khối đồng thành một tỉ tấm đồng hay làm thế nào để có thể “cầm” được một tấm đồng mỏng như vậy để còn xẻ tiếp thành một tỉ thanh đồng? Như vậy hiểu theo nghĩa rộng, công nghệ nano là một tập hợp hệ sinh thái cho phép con người có thể chế tạo ra các vật thể kích thước nano mét, hoặc vật thể lớn nhưng lại cấu trúc nano mét (như việc ta xếp một tỉ thanh đồng cách đều nhau thành một khối đồng có cấu trúc rỗng), cho phép con người khai thác các tính chất mới, đặc biệt là các tính chất lượng tử, và sử dụng kết hợp một cách khéo léo các tính chất mới đó để có các ứng dụng tốt hơn trong cuộc sống. Hệ sinh thái này có tính bao trùm, gồm các lĩnh vực chế tạo thiết bị, chế tạo vật liệu, chế tạo linh kiện4, ứng dụng vật liệu và linh kiện, thậm chí cả lĩnh vực mô phỏng tính toán.  Một cách hình tượng hơn, công nghệ nano có thể được nhìn như một lĩnh vực “bùng binh”, trong đó mỗi con đường dẫn tới “bùng binh” này là một ngành truyền thống như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Toán ứng dụng, chế tạo máy, chế tạo linh kiện… Điều kiện duy nhất để các lĩnh vực này hội tụ tại “bùng binh” là phải làm việc trên những vật thể có kích thước hoặc cấu trúc cỡ nano mét. Đến đây, có thể ta có cảm tưởng công nghệ nano như một lĩnh vực nào đó hàn lâm học thuật, phức tạp, bế tắc như bùng binh Ô Chợ Dừa, và không thực sự có ích trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên cũng giống như bản chất của cơ học lượng tử luôn đánh lừa trực giác con người, công nghệ nano thoạt nhìn có vẻ khá phức tạp nhưng đem lại ngày càng nhiều ứng dụng quan trọng trong cuộc sống con người mà không phải ai trong số chúng ta cũng biết. Ví dụ, TV màu 4K QLED do Samsung mới giới thiệu trên thị trường thế giới. Không gian màu5 của các TV này được mở rộng đáng kể bởi các màu đơn sắc6 từ việc sử dụng các chấm lượng tử7. Khi không gian màu tăng, hình ảnh sẽ thật hơn và sống động hơn. Ví dụ khác, nếu ta coi công nghệ nano là công nghệ liên quan đến các vật thể mà một trong các chiều có kích thước cỡ nano mét thì mỗi lần bật máy tính là ta đã sử dụng các thành tựu của công nghệ nano vì về cơ bản các chip máy tính ngày nay là tập hợp của hàng triệu các transistor hiệu ứng trường có chiều dài cực cổng (gate) cỡ vài chục nano mét8, dự kiến tới năm 20209 sé là 5 nano mét.  Ở Việt Nam, công nghệ Nano đã được giảng dạy tại bậc cử nhân ở một số trường đại học như Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Với bậc thạc sĩ, ngoài hai trường kể trên, trường Đại học Việt-Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng đã mở ngành đào tạo trực tiếp cùng với các trường truyền thống khác như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Khoa học tự nhiên…  Kỳ tới: Hai cách tiếp cận “bùng binh” công nghệ nano.  1 Richard Feynman là một trong số các bộ óc “đẹp” nhất của Vật lý trong thế kỷ 20. Ông được biết đến với khả năng đơn giản hóa các vấn đề phức tạp. Giản đồ Feynman là như vậy. Đây là loại giản đồ “đơn giản” theo cách xây dựng, nhưng làm nền tảng cho thuyết lượng tử của tương tác điện từ trường. Ông được giải Nobel Vật lý cho lý thuyết này. http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/1965/feynman-facts.html.  2Tiêu đề của một bài giảng về lĩnh vực vật lý mới của Richard Feynman tại hội nghị thường niên của Hội Vật lý Mỹ năm 1959.  3Khối lượng riêng của đồng là 8,96 g/cm3.  4Hiểu một cách đơn giản, linh kiện là một vật thể tập hợp nhiều vật liệu, mỗi vật liệu có một hình dạng nhất định.  5 https://en.wikipedia.org/wiki/CIE _1931_color_space  6 Nếu ba màu cơ bản (đỏ, lục, xanh) tạo nên màu của một điểm ảnh của TV càng đơn sắc thì không gian màu căng bởi ba màu cơ bản này càng rộng. Màu đơn sắc nhất mà con người tạo được hiện nay là từ các nguồn laser.  7 Chấm lượng tử là một vật thể có ba chiều nằm trong khoảng một tới vài nano mét, là một trong số các chủ đề ưa thích của công nghệ nano. Khi kích thước bị thu nhỏ, các chấm lượng tử có được các tính chất điện tử và khả năng tương tác mới với ánh sáng. Hiệu quả thu được là ánh sáng phát xạ từ các chấm lượng tử, nhờ chuyển mức năng lượng của điện tử khu trú trong chấm lượng tử, có độ đơn sắc hơn nhiều so với ánh sáng từ các vật liệu khối cấu tạo nên các bóng LED trong TV phẳng“truyền thống”.  8 Cực cổng là cực quan trọng nhất điều khiển các mức logic 0 -1 của transistor hiệu ứng trường, do đó kích thước của cực cổng được sử dụng như một thước đo để phân biệt các thế hệ khác nhau trong công nghiệp chế tạo chip. Công nghệ bán dẫn được biết là một bệ phóng của của công nghệ nano, sự phát triển của công nghệ nano quay trở lại cho phép công nghệ bán dẫn vượt qua được các giới hạn vật lý để tiếp tục thu nhỏ kích thước các chi tiết, giảm tiêu thụ điện và tăng hiệu năng tính toán.  9 Research alliance builds new transistor for 5nm technology – https://phys.org/news/2017-06-alliance-transistor-5nm-technology.html       Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Cổng trường và những con đường      Sự đa dạng các kiểu trường ốc và hệ thống giáo dục (trường điểm, trường quốc tế, trường chuyên, trường công, trường bán công, trường “dân lập”…) có ưu điểm nhứt định, nhưng chắc chắn đang hình thành những tầng lớp công dân rất khác biệt, và cách biệt nhau.     Khi cánh cổng trường mở ra cho đứa học trò nhỏ lần đầu tiên đến trường, một thế giới học đường mở ra, một thế giới tri thức mở ra, để đứa nhỏ bước ra khỏi vòng tay bảo bọc của cha mẹ, bước ra khỏi chỗ trú ẩn dưới mái nhà cha mẹ, hội nhập một cộng đồng rộng lớn hơn, đương đầu với những thách thức mới lạ hơn, nhìn thấy những chân trời bao la hơn.   Cánh cổng trường mở ra là một hình ảnh cụ thể, ít nhứt là trong thời tôi đang sống, ở xã hội này. Hầu hết các trường từ nhà trẻ, mẫu giáo, đến tiểu học, trung học đều được thiết kế sao cho có cánh cổng chắc chắn. Không chỉ trường ở đô thị, mà bây giờ những trường ở giữa đồng rộng, thậm chí chơ vơ một mình trên sườn núi cũng xây tường quây kín, ra vô bằng cổng đóng mở theo giờ giấc mà thôi. Tôi được giải thích là cần làm vậy để nhà trường quản lý học sinh, và để ngăn chặn sự xâm nhập những gánh hàng rong, những “yếu tố xấu” bên ngoài trường (hiểu là trong xã hội). Thành ra, thực tế là cánh cổng trường mở ra cho đứa nhỏ đi vào một thế giới biệt lập, có thể là một thế giới ưu đãi, thậm chí là một thế giới đặc quyền.   Lẽ ra không nên như vậy. Trừ một thiểu số may mắn, rất nhiều phụ huynh từng trải qua cảm xúc này: dắt con đi ngang qua cánh cổng đóng kín của ngôi trường mà mình mong muốn cho con mình được vào học, nhưng khả năng mình không mở nổi cánh cổng đó. Nỗ lực mở ra những cánh cổng trường chỉ thuộc về trách nhiệm của cha mẹ một phần, khi đứa con còn nhỏ. Nếu xã hội có được công bằng tối thiểu cho trẻ em, thực hiện được sự bình đẳng giáo dục cho mọi công dân tương lai, thì những cánh cổng trường khác nhau mở ra theo khả năng, sự lựa chọn và nỗ lực của chính mỗi học sinh. Điều này quan trọng vô cùng. Vì giáo dục trong nhà trường thông thường chỉ chiếm chừng một phần tư thời gian sống của đời người. Nhưng ba phần tư còn lại của đời người sẽ đi theo cái hướng, hay định hình theo cái khuôn mẫu mà nền giáo dục ban đầu tạo ra. Một người tự mình vươn lên trong môi trường khuyến khích tính độc lập và bảo đảm sự công bằng thì mới biết tôn trọng và góp sức xây dựng những nền tảng của một xã hội văn minh, ấy là tự do, độc lập và công bằng.   Nhìn vào nền giáo dục hiện nay có thể hình dung cái xã hội văn minh mà chúng ta đang mơ ước ấy hãy còn xa vời lắm. Sự đa dạng các kiểu trường ốc và hệ thống giáo dục (trường điểm, trường quốc tế, trường chuyên, trường công, trường bán công, trường “dân lập”…) có ưu điểm nhứt định, nhưng chắc chắn đang hình thành những tầng lớp công dân rất khác biệt, và cách biệt nhau. Sự chẳng đặng đừng này vượt ngoài khả năng suy nghĩ của tôi. Ngày xưa tôi chọn ngành sư phạm vì một lý tưởng: dùng tri thức để chống lại bất công xã hội. Bây giờ tôi thấy môi trường giáo dục là cái “lò” xuất xưởng những sản phẩm của sự bất công. Và tôi đã nghỉ dạy một phần vì nghi ngờ con đường lý tưởng mà mình đã kỳ vọng.   Nhưng có lẽ tôi quá bi quan. Các phương tiện truyền thông mấy ngày cuối tháng 8 hè nhau chiếu sáng những tấm gương của những học sinh có kết quả tuyển sinh đại học cao. Báo chí nhấn mạnh vào những chi tiết như con nhà nghèo, ở tỉnh lẻ, tức là những người ở thế bất lợi, thua thiệt trong xã hội này. Những người trẻ ấy đáng quí như những cá nhân xuất sắc, “vượt trên số phận”, những tấm gương phấn đấu khả dĩ cho những người trẻ khác noi theo. Việc báo chí rộ lên ca ngợi những người trẻ này cho thấy hiện tượng đó (con nhà nghèo, ở tỉnh lẻ, học giỏi đậu cao) là chuyện hiếm có, đáng làm thành tin, nên cổ động. Tôi đọc báo thấy cũng cảm mến các em, thậm chí thấy lại chính mình trong các em (Mặc dù hồi xưa, tôi chỉ đậu đại học thường thôi, nhưng đã là một niềm tự hào ghê gớm: Bà ngoại tôi không biết chữ, sanh 10 người con, người học cao nhứt là dì Chín, tốt nghiệp trung học đệ nhứt cấp, làm y tá, tôi là người đầu tiên trong dòng họ học tới đại học.) Mặc cho người khác nói rằng: Chứ con nhà giàu (mà chịu học) thì đã ra nước ngoài du học từ năm lớp 10, 11 rồi, còn đâu nữa mà đi thi các trường đại học trong nước.   Mặt đất luôn luôn có những con đường khác nhau. Con đường đến trường bằng con đường làng, đường hẻm, đường lớn sẽ đưa người ta đến những cánh cổng khác nhau, mở ra những chân trời khác nhau, có thể dự báo trước những số phận tương tự của những người đi chung trên những con đường đó. Ngoại lệ cũng là điều bình thường, luôn có những cá nhân “vượt lên” hay rơi lạc khỏi số phận. Vấn đề là những con đường trên trái đất tròn ngày nay chằng chịt chồng chéo giao cắt trùng lập nhau. Không có con đường nào là con đường “duy nhứt” đúng, thậm chí không có con đường nào đúng hay sai. Cũng không có con đường nào cụt, nếu người ta tiếp tục đi.  Nếu xã hội có được công bằng tối thiểu cho trẻ em, thực hiện được sự bình đẳng giáo dục cho mọi công dân tương lai, thì những cánh cổng trường khác nhau mở ra theo khả năng, sự lựa chọn và nỗ lực của chính mỗi học sinh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cốt lõi vật chất của giải pháp giáo dục      Sự sống, sức sống của 100% dân cư hiện đại được bảo lãnh bởi sức lao động của chính họ. Các đẳng cấp xã hội cha truyền con nối ngàn đời của xã hội cổ truyền nay thay bằng các đẳng cấp sức lao động của mỗi cá nhân tự mình tạo ra trong đời. Nền giáo dục cho 100% dân cư hiện đại phải cấp cho từng cá nhân sức lao động, từ nấc thang thấp nhất đến nấc thang cao nhất, sao cho mỗi cá nhân có thể sống bình thường.  &#160;    I. Định hướng lý thuyết    1. Marx xuất phát từ công thức nguyên thuỷ: H – T – H. Mang hàng ra chợ bán – lấy tiền – mua hàng đáp ứng nhu cầu sống của mình.  2. Marx nhận xét, nhà tư bản đã đánh tráo thứ tự trên, thành T – H – T’. Việc mua bán vẫn theo nguyên tắc ngang giá, thế mà T’>T. Vì sao?  Phân tích sự kiện đó, Marx phát hiện ra, H chứa trong bản thân mình bí mật của chủ nghĩa tư bản.  T’>T tức là T’ = T + ∆t. Quá trình tiêu dùng H đã tạo ra ∆t.  Hai kết luận Marx rút ra:  Một, T được chuyển nguyên vẹn sang T’: Tư bản là sức lao động quá khứ. Tư bản tự nó không thể sinh lời.  Hai, ∆t là do H sinh ra. Chỉ có sức lao động sống mới tạo ra lợi nhuận (giá trị thặng dư).  3. Làm thế nào để có sức lao động sống và bản thân sức lao động sống đã hình thành và phát triển như thế nào trong lịch sử?  Đó là vấn đề mấu chốt để tư duy giáo dục nhận ra sứ mệnh của giáo dục trong mọi thời đại: tạo ra sức lao động sống cấp cho thời đại mình.  4. Sức lao động sống có từ lúc nào?  – Hái lượm của có sẵn giữa trời đất, việc này động vật cũng làm được. Lịch sử chưa có khái niệm lao động và sức lao động.  – Lao động – Sức lao động nảy sinh và hình thành từ khi loài người biết chế tạo công cụ dùng để lao động, rồi dùng để “định nghĩa” một nền sản xuất:   Cày chìa vôi – Nền sản xuất tiểu nông.  Máy hơi nước – Nền sản xuất đại công nghiệp.  Máy tính – Nền sản xuất hiện đại.  5. Giáo dục có thể được “định nghĩa” bằng cách tạo ra sức lao động sống cấp cho nền sản xuất đương thời:  Cày chìa vôi – Nền giáo dục Bút lông.  Máy cày – Nền giáo dục Bút sắt.  Máy tính – Nền giáo dục Máy tính.  Nền giáo dục Bút lông gắn với nền sản xuất tiểu nông.  Nền giáo dục Bút sắt là đứa em sinh sau của nền sản xuất đại công nghiệp.  Nền giáo dục hiện đại được sinh ra và nuôi lớn bằng Máy tính.  Từ Bút lông sang Bút sắt là một cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục.  Từ Bút sắt sang Máy tính là một cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục.  6. Lịch sử là lịch sử tự nhiên (Marx). Năng lượng vật chất cấp cho sự phát triển tự nhiên của lịch sử là sức lao động sống.  Gia đình và đời sống tự nhiên hằng ngày đem đến cho thế hệ trẻ sức lao động chân tay, thực thi bằng cơ bắp và kinh nghiệm.  Nhà trường xuất hiện để đáp ứng nhu cầu mới của lịch sử, nhu cầu về sức lao động trí óc, không có sẵn trong kinh nghiệm.  Thầy Khổng Tử, người đầu tiên mở trường tư, sống bằng nghề dạy học, thu học phí ngang giá với sản phẩm làm ra: sức lao động trí óc. Học trò mua nó về dùng để làm quan. Chỉ cần 5% dân cư làm quan là đủ. 95% còn lại không đi học vẫn sống bình thường.  Ngày nay, tất cả các sản phẩm hiện đại đều là sản phẩm của sức lao động trí óc, với các trình độ khác nhau. Để sống bình thường trong nền văn minh toàn cầu, tất cả 100% dân cư phải đi học.  Sự biến đổi căn bản và toàn diện trên thực tiễn toàn cầu đã tạo ra một cuộc sống bình thường chưa hề có. Do đó, cần một nền giáo dục chưa hề có cho cuộc sống mới ấy.  Thời Khổng Tử mở trường, cả 100% dân cư đều đi bộ (cưỡi ngựa, đi xe ngựa cũng là đi bộ). Lịch sử có nền giáo dục “đi bộ”. Thầy trước – Trò sau dắt nhau đi bộ.  Ngày nay, đi bộ vẫn còn, nhưng chỉ để đi từ phòng ngủ ra chỗ để xe. Sức mạnh cơ bắp chỉ còn là phần phụ rất nhỏ trong việc đi lại. Tình hình tương tự lặp lại trong giáo dục. Chữ nghĩa sách vở của Thánh hiền, phương pháp giảng dạy cổ truyền … nay chỉ còn là phần phụ trong nền giáo dục hiện đại.    II. Giải pháp thực tiễn  1. Lấy sức lao động trí óc hiện đại làm cơ sở, làm cốt lõi vật chất, làm nơi xuất phát và nơi đi đến của nền giáo dục hiện đại.  Đời sống xã hội hiện đại, nền sản xuất hiện đại, các mối quan hệ hiện đại trong các lĩnh vực vật chất và tinh thần đều bị chi phối bởi sức mạnh vật chất của sức lao động trí óc hiện đại.  Sự sống, sức sống của 100% dân cư hiện đại đều được bảo lãnh bởi sức lao động của chính họ. Các đẳng cấp xã hội cha truyền con nối ngàn đời của xã hội cổ truyền nay thay bằng các đẳng cấp sức lao động của mỗi cá nhân tự mình tạo ra trong đời.  Nền giáo dục cho 100% dân cư hiện đại phải cấp cho từng cá nhân hiện đại sức lao động, từ nấc thang thấp nhất đến nấc thang cao nhất, sao cho mỗi cá nhân có thể sống bình thường (trước đây 95% dân cư không đi học vẫn sống bình thường).  2. Nội dung giáo dục phải song hành, hỗ trợ, tạo ra sức mạnh vật chất cấp cho từng cá nhân hiện đại, đưa vào hai dòng: Phát triển / Trưởng thành.  Nét đặc trưng cơ bản của giáo dục nhà trường hiện đại là tạo ra sự phát triển tinh thần cho từng cá nhân, tương ứng với sự phát triển sức lao động cá nhân, trong nền văn minh đương thời.  Sức lao động cá nhân hiện đại, dù ở nấc thang nào, cũng thuộc phạm trù sức lao động trí óc hiện đại.  Giáo dục nhà trường hiện đại trở thành một nhân tố hữu cơ làm nên cuộc sống cá nhân hiện đại, cho cả 100% dân cư, do đó, phải rất thực, rất vững chắc, không thể may rủi, lại càng không phù phiếm chữ nghĩa.  3. Bậc học (cấp học) là một đoạn cắt ra từ dòng phát triển tự nhiên của Trẻ em hiện đại, theo nhu cầu sức lao động mà cá nhân cần có, để sống bình thường (và hy vọng sẽ sống tốt hơn). Việc học hiện đại đối với cả 100% dân cư là việc thiết thân, sống còn, đừng phủ lên nó những ảo tưởng mơ hồ, những thua được sấp ngửa trong phòng thi, những trò chơi trí tuệ trong cuộc sống.  Nhân tài là đặc sản cá nhân. Giáo dục đại trà chỉ cấp cho cá nhân những tri thức và kĩ năng cơ bản bắt buộc, tối thiểu, không thể không có.  Phân chia bậc học theo hai tiêu chí:  1. Sự phát triển tự nhiên của Trẻ em hiện đại qua các lứa tuổi.  2. Nhu cầu sức lao động của cá nhân trong nền sản xuất hiện đại.  4. Hệ thống giáo dục phổ thông 11 năm.  Xét theo hiện trạng sức lao động cấp cho nền sản xuất hiện đại và đặc trưng của tuổi trẻ hiện đại lần đầu tiên hình thành trong lịch sử, tôi đề nghị:  1. Sáu năm Tiểu học.  2. Ba năm Trung học cơ sở bắt buộc.  3. Hai năm trung học phổ thông tự chọn.  Vì sao 6 năm tiểu học?  – Giữ trẻ 12 tuổi trong vòng tay gia đình và nhà trường thì an toàn hơn thả sớm 1 năm (11 tuổi) như hiện nay.  Vì sao 3 năm Trung học cơ sở?  – Chỉ cần bổ sung vào tiểu học một số tri thức và kĩ năng cơ bản cần cho sức lao động phổ biến, chiếm tuyệt đại đa số trong nền sản xuất hiện nay.  Vì sao 2 năm Trung học phổ thông?  – Chỉ cần 2 năm cho ai muốn học lên, vào Đại học hay Cao đẳng.  17 tuổi ra khỏi trường phổ thông, ở nền văn minh hiện đại, là vừa. Nán lại thêm 1 năm (18 tuổi) là thừa, tốn kém, và có thể có hại về tâm lý đối với thanh niên hiện đại.    Lời cuối  • Lấy sức lao động trí óc cần cho nền sản xuất đương thời và lấy sự phát triển đặc trưng của Tuổi trẻ hiện đại làm “cốt lõi vật chất” cho Giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục.   • Nếu dựa trên cơ sở vật chất vững chắc, tường minh là sức lao động trí óc (chứ không phải một năng lực mơ hồ nào đó), thì có thể tổ chức và kiểm soát quá trình đổi mới an toàn và vững chắc.  Hà Nội, ngày 23 – 7 – 2013       Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19 khoét sâu bất bình đẳng giáo dục toàn cầu      Đại dịch Covid buộc nhiều quốc gia phải đóng cửa trường học và kỳ vọng vào giải pháp thay thế là học trực tuyến. Nhưng thực tế cho thấy những bất bình đẳng giáo dục đã có từ trước vẫn tiếp tục được bộc lộ, thậm chí bị khoét sâu hơn. Và theo Ngân hàng Thế giới, đại dịch Covid đã tạo ra cuộc khủng hoảng với giáo dục tồi tệ nhất trong thế kỷ này.      Ảnh: Freepik.  Suốt một năm qua, đại dịch Covid-19 không chỉ đe dọa mạng sống con người mà còn kéo theo những vấn đề trầm trọng cho hoạt động giáo dục trên toàn thế giới. Từ đầu năm 2020 đến nay, có tới 130 quốc gia buộc phải đóng cửa trường học và chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến. Nhiều trường học đóng rồi lại mở, rồi lại đóng khi diễn biến dịch ngày càng trở nên phức tạp. Khoảng 990 triệu trẻ em và thanh thiếu niên trên toàn thế giới bị ảnh hưởng. Số lượng quốc gia còn mở cửa trường học hoàn toàn chỉ đếm trên đầu ngón tay như Pháp, Thụy Sĩ, Belarus, Hungary, Việt Nam. Vậy là, vào thế kỷ thứ 21, kỷ nguyên được coi là thời đại của công nghệ và đổi mới sáng tạo, quyền được học – thứ quyền được coi là cơ bản của con người, trở nên xa vời hơn vì một đại dịch mà con người không chút phòng bị và không kịp trở tay. Số liệu này vẫn thay đổi từng ngày và chúng ta không biết điều gì đang đợi phía trước.  Để duy trì việc học tập, các quốc gia đã nỗ lực cung cấp các giải pháp trực tuyến, hoặc các kênh truyền thông khác như tivi, radio. Viễn cảnh kỳ vọng là dù ở nhà, học sinh sinh viên vẫn ngày ngày “lên lớp” gặp giáo viên. Hoạt động dạy và học được duy trì đều đặn và hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế không bao giờ “như là mơ”.   Rào cản thiết bị và công nghệ   Tiếp cận giáo dục trực tuyến ở các gia đình, các nhóm xã hội rất khác nhau. Những nhóm thiếu thốn về thiết bị, kết nối mạng, hiểu biết về công nghệ, người hỗ trợ, môi trường thuận tiện tiếp cận giáo dục trực tuyến vô cùng khó khăn.   Theo Financial Times, trong thời gian phong tỏa tại Anh, số lượng học sinh của các trường tư thục học trực tuyến cao gấp hai lần học sinh trường công. Hằng ngày, con cái trong gia đình khá giả dành thời gian học trên mạng nhiều hơn học sinh nghèo 30%. Ngay cả trong khu vực nhà nước, học sinh các gia đình khá giả, có môi trường học tập tốt hơn, có nhiều khả năng nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các trường học hơn. Kể từ tháng 7/2020, học sinh từ các vùng và các hộ nghèo hơn có xu hướng nghỉ học nhiều hơn. Cơ quan giám sát Ofcom ước tính khoảng hơn 1,1 triệu trẻ em ở Anh (chiếm 9% tổng số học sinh) không thể có máy tính xách tay, máy tính để bàn hoặc máy tính bảng, và hơn 880.000 trẻ trong số đó sống trong gia đình chỉ có duy nhất một kết nối Internet từ điện thoại di động.      Hầu hết các gia đình ở nông thôn đều than phiền về hình thức học tập trực tuyến. Họ nhận thấy với hình thức học tập này, giáo viên ít tương tác với học sinh, chất lượng truy cập không tốt, không có người giám sát hay hỗ trợ việc học tập. Điều này càng đào sâu khoảng cách giáo dục giữa các vùng nông thôn và thành thị.      Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Sinh viên Hoa Kỳ, ở khắp các trường đại học dù là công hay tư, tỷ lệ nhập học đại học mùa thu năm 2020 của học sinh trung học thuộc khu vực thu nhập thấp đã giảm 29%, gần gấp đôi so với học sinh đến từ các trường trung học thuộc khu vực có thu nhập cao hơn.   Các nghiên cứu trước đây từng chỉ ra rằng, trong thời kỳ bình thường, sau kỳ nghỉ hè, năng lực học tập của một học sinh thuộc gia đình có điều kiện kém sẽ bị thụt lùi một tháng, trong khi các học sinh đến từ gia đình có điều kiện tốt hơn không gặp tình trạng này. Thậm chí, trong kỳ nghỉ hè các em vẫn học được thêm kiến thức mới, nhờ sự hỗ trợ của gia đình. Vì vậy, các nhà giáo dục lo ngại rằng việc gián đoạn quá trình học tập trong thời kỳ đại dịch sẽ để lại những hậu quả lâu dài về sau. Những học sinh bỏ lỡ các mốc quan trọng về giáo dục có thể sẽ nản lòng không quay trở lại trường học nữa hoặc không bao giờ theo kịp các bạn đồng trang lứa. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của họ trong tương lai.   Ngoài những lý do tương tự ở quốc gia phát triển, tại những nước đang phát triển, sự bất bình đẳng còn xuất phát từ trình độ sử dụng công nghệ của giáo viên. Khảo sát gần đây ở Trung Quốc cho thấy, vì giáo viên nông thôn không quen sử dụng các nền tảng công nghệ nên những lớp học trực tuyến tại các vùng nông thôn đều do giáo viên ở thành phố thực hiện. Học sinh không quen với giáo viên và cách học mới, trong khi giáo viên trực tuyến không hiểu rõ học sinh địa phương và dạy với tốc độ nhanh hơn khả năng tiếp thu của các em. Mặc dù nhà nước nỗ lực hạn chế việc gián đoạn hoạt động dạy và học trong đại dịch, nhưng chất lượng giáo dục lại không đảm bảo, thậm chí còn khiến chất lượng giáo dục tại các vùng nông thôn đi xuống. Hầu hết các gia đình ở nông thôn đều than phiền về hình thức học tập trực tuyến. Họ nhận thấy với hình thức học tập này, giáo viên ít tương tác với học sinh, chất lượng truy cập không tốt, không có người giám sát hay hỗ trợ việc học tập. Điều này càng đào sâu khoảng cách giáo dục giữa các vùng nông thôn và thành thị. Tương tự, khảo sát sơ bộ của Bộ Giáo dục Malaysia vào tháng 03 – 04/ 2020 cho thấy 37% trẻ em không có bất kỳ thiết bị điện tử nào và chỉ có 15% sinh viên có máy tính cá nhân.   Đối với những gia đình có điều kiện, chẳng hạn cha mẹ đều là trí thức cao, sẽ không gặp bất cứ vấn đề trở ngại nào khi con cái họ cần học trực tuyến: máy tính luôn sẵn sàng, kết nối Internet ổn định, cha mẹ đủ trình độ để hỗ trợ. Nhưng dù ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia phát triển nào khác, vẫn sẽ diễn ra cảnh anh chị em trong nhà đang chia nhau một chiếc máy tính xách tay hoặc máy tính bảng để học bài, kết nối chập chờn lúc được lúc không. Thậm chí nhiều gia đình còn chẳng có bất cứ công cụ nào để truy cập Internet. Anh/chị học trên máy tính thì em sẽ nghe giảng trên tivi, hoặc trong lúc đứa này học thì đứa kia chơi. Ngoài ra, khi không học, đứa lớn nhất trong gia đình sẽ phải chăm em, phải nấu nướng và làm việc nhà. Cha mẹ chúng hoàn toàn vắng mặt vì còn phải đi làm, lăn lộn kiếm tiền để trang trải cho cuộc sống. Hoặc nếu như bắt buộc phải nghỉ việc, chẳng bao lâu sau sẽ rơi vào trạng thái khủng hoảng và bạo lực gia đình có thể xảy ra. Không có gì đảm bảo những đứa trẻ trong hoàn cảnh này có thể duy trì việc học tập.  |   Vừa qua, Sở GD&ĐT TP. Hải Phòng đã quyết định cho học sinh lớp 1,2 nghỉ học trực tuyến vì nhận thấy học sinh nhỏ tuổi học trực tuyến chưa hiệu quả. Ảnh: Cổng thông tin Tp Hải Phòng.   Ngân hàng Thế giới nhận định rằng những mất mát trong giáo dục do Covid gây ra sẽ ngày càng làm tăng sự bất bình đẳng và để lại những hậu quả dài lâu cho cả cá nhân và xã hội. Đặc biệt, với những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, khả năng họ cho con quay lại trường học sau đại dịch là vô cùng thấp. UNESCO ước tính rằng sẽ có khoảng 24 triệu trẻ em bỏ học, và nếu như các quốc gia không coi giáo dục như một trong những trụ cột cần phục hồi sau đại dịch thì sẽ càng đào sâu tình trạng bất bình đẳng, nạn nghèo đói và sự chia cắt trong xã hội.   Điều kiện gia đình  Theo số liệu của Europa, trong 21 quốc gia châu Âu, có đến 25% trẻ nhỏ ở các nước châu Âu không có không gian yên tĩnh để học bài; còn OECD thống kê tình trạng này ở các nước đang phát triển là 30%, phần lớn rơi vào những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Ngay cả ở quốc gia có điểm số PISA cao như Hàn Quốc, cứ 5 trẻ thì có 1 trẻ không có một nơi yên tĩnh để ngồi học bài.   Bên cạnh đó, để học trực tuyến, trẻ cần tới sự hỗ trợ của cha mẹ. Nhưng các nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng các cha mẹ có điều kiện kinh tế xã hội cao hơn có xu hướng tham gia nhiều hơn và ảnh hưởng tích cực hơn tới việc học tập của con. Tại Hà Lan, cuộc khảo sát do Đại học Amsterdam thực hiện trong tháng 04/2020 với hơn 1000 bậc phụ huynh cho thấy 70% phụ huynh có bằng đại học cảm thấy họ có thể giúp con học tại nhà, trong khi chỉ 40% phụ huynh có bằng tốt nghiệp phổ thông tự tin với khả năng này. Kể cả khi trường học mở cửa trở lại, thì những khoảng cách giáo dục do những bất bình đẳng về hoàn cảnh gia đình mang lại cũng khó có thể rút ngắn.       UNESCO ước tính rằng sẽ có khoảng 24 triệu trẻ em bỏ học, và nếu như các quốc gia không coi giáo dục như một trong những trụ cột cần phục hồi sau đại dịch thì sẽ càng đào sâu tình trạng bất bình đẳng, nạn nghèo đói và sự chia cắt trong xã hội.      Sức khỏe tinh thần và an toàn thể chất  Ngoài việc tiếp cận tri thức khó khăn hơn khi trường học đóng cửa, học sinh sinh viên khắp toàn cầu còn mất đi cơ hội để rèn luyện những kỹ năng xã hội và cảm xúc, những kỹ năng cần thiết để thích nghi và vươn lên trong thời đại mới mà môi trường gia đình không thể cung cấp đủ. Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu còn lo lắng về những vấn đề sức khỏe tinh thần và thể chất mà các em học sinh có thể gặp phải trong thời gian học tại nhà.   Tôi còn nhớ, khi các trường học ở Việt Nam bắt đầu chuyển sang học trực tuyến vào hồi đầu năm ngoái, trên mạng xã hội “sốt” những bức hình rất hài hước về việc cha mẹ giúp con học. Ông giấu hai cánh tay đằng sau lưng nhưng thực chất, một bàn tay của ông đang cầm một chiếc dép. Ảnh khác thì bà mẹ đang chúi đầu vào tủ lạnh, còn ông bố khác lại phải tự trói hai tay mình.   Những bức hình này liệu có phản ánh một thực chất là, ở nhà lâu với con rất dễ khiến các bậc phụ huynh nổi nóng và “vung tay”?  Trên thực tế, các nhà xã hội học đã đánh giá rằng đại dịch Covid ‑ 19 khiến cho nguy cơ trẻ em bị ngược đãi, bạo lực tại gia đình và chế độ dinh dưỡng kém trầm trọng hơn rất nhiều. Đại dịch Covid-19 khiến không khí nhiều gia đình giống như một chiếc “nồi áp suất” có thể bùng nổ bất cứ lúc nào do nhiều yếu tố ảnh hưởng: hao hụt về tài chính, lo ngại về sức khỏe, quá tải công việc, thói quen thường ngày bị thay đổi, hay việc chỉ nhìn thấy nhau 24/24 cũng khiến người ta căng thẳng và nổi nóng.   Sự căng thẳng và bất ổn do đại dịch Covid-19 mang lại đã gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đến sức khỏe tâm thần của các học sinh sinh viên. Các biện pháp phong tỏa, cách ly, giãn cách trong xã hội, học tại nhà khiến các em bắt đầu cảm thấy lo lắng, mệt mỏi, cô đơn, chán nản… Cuối năm 2020, Unicef thực hiện một cuộc khảo sát với 17,000 phụ huynh và 8,000 trẻ em trên 46 quốc gia. 83% trẻ em và 89% phụ huynh trả lời rằng cảm giác tiêu cực của họ ngày càng nhiều hơn.   Chỉ một thời gian ngắn sau khi phong tỏa, số lượng cuộc gọi đến đường dây nóng bảo vệ trẻ em ở Pháp tăng 20%. Hằng năm có khoảng 50,000 trẻ em và trẻ vị thành niên Pháp là nạn nhân của nạn bạo hành thể chất, tinh thần và tình dục và tình trạng này tăng lên trong đại dịch không nằm ngoài dự đoán. Các chuyên gia OECD còn ghi nhận rằng trung bình hằng năm 14-28% trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo hành gia đình và tỷ lệ này sẽ còn tăng lên trong đại dịch.      Tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên tăng mạnh vì nhiều lý do: trường học đóng cửa, mất cha/mẹ khiến trẻ không còn người hỗ trợ, mất chỗ ở buộc trẻ phải dùng đến những cách mới để tìm thức ăn. Đối với các bé gái con đường trao đổi tình dục là phổ biến nhất.      Nghỉ học ở nhà dài ngày cũng khiến các em thuộc hộ gia đình có thu nhập thấp rơi vào tình trạng ăn uống thiếu chất hoặc bị đói. Cứ 1 trong 10 trẻ em ở các quốc gia phát triển trong nhóm OECD không được ăn trái cây và rau tươi và/hoặc bữa ăn bao gồm thịt, gà, cá hoặc đồ ăn chay ít nhất một lần một ngày. Tình trạng này có thể còn tồi tệ hơn ở các nước đang phát triển. Chưa kể trẻ em ở những nước nghèo còn gặp phải những vấn đề trầm trọng hơn. Bé gái ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ tảo hôn và mang thai ở tuổi vị thành niên. Hằng năm, 12 triệu bé gái kết hôn trước 18 tuổi, và khoảng 7,3 triệu ca sinh nở mỗi năm do mang thai ở tuổi vị thành niên. Hậu quả của đại dịch Ebola ở Sierra Leone chính sự gia tăng các trường hợp mang thai ở tuổi vị thành niên, đặc biệt ở các cộng đồng dễ bị tổn thương. Tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên tăng mạnh vì nhiều lý do: trường học đóng cửa, mất cha/mẹ khiến trẻ không còn người hỗ trợ, mất chỗ ở buộc trẻ phải dùng đến những cách mới để tìm thức ăn. Đối với các bé gái, con đường trao đổi tình dục là phổ biến nhất; trong khi vào thời gian này các bé gái cũng không có các biện pháp tránh thai do sự gián đoạn của chuỗi cung ứng và giảm khả năng tiếp cận các trung tâm y tế. Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc dự đoán lo ngại rằng đại dịch Covid‑19 sẽ trì hoãn các nỗ lực của cộng đồng nhằm chống tảo hôn và cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ, đồng thời nạn nghèo đói tăng lên sẽ kéo theo tỷ lệ tảo hôn và mang thai ở tuổi vị thành niên trong các cộng đồng dễ bị tổn thương.   ***  Đại dịch Covid vẫn đang diễn biến vô cùng ở phức tạp trên khắp thế giới. Ngay cả khi người dân đã bắt đầu được tiêm vaccine, tình trạng đóng cửa trường học có thể còn kéo dài.   Các nền tảng cũng như chương trình học trực tuyến đã được các quốc gia nhanh chóng thiết lập, để học sinh sinh viên có thể truy cập bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong thời gian trường học đóng cửa, việc học tập của trẻ em phụ thuộc phần lớn vào khả năng hỗ trợ và sự quan tâm của cha mẹ.   OECD nhận định rằng vai trò của cha mẹ trong những năm đầu đời của trẻ là vô cùng quan trọng, đặc biệt từ giai đoạn 0-7 tuổi mà những hoạt động giáo dục trên tivi hay trên mạng không thể thay thế được. Các chuyên gia OECD khuyên rằng, bất kể hoàn cảnh xã hội kinh tế như thế nào, trẻ em cũng sẽ phát triển tốt hơn nếu được cha mẹ đọc sách cho nghe và nói chuyện hằng ngày. Những hoạt động này giúp trẻ phát triển tốt hơn về mặt cảm xúc lẫn trí tuệ. Tuy nhiên, không nhiều bậc phụ huynh, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, hiểu rõ tầm quan trọng của những hoạt động tưởng như đơn giản mà lại có ích này.   Một năm sau đại dịch, tương lai thế giới vẫn mờ mịt và không thể đoán trước được điều gì. Những gì chúng ta có thể làm hiện nay là luôn ở trong tâm thế “chuẩn bị cho điều xấu nhất và hy vọng cho điều tốt đẹp nhất”.□  —-  *Tác giả Ngô Thị Phương Lê, Tiến sĩ Giáo dục, Excelia Group. Thành viên Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu, AVSE Global.    Author                Ngô Thị Phương Lê        
__label__tiasang Cụ Huỳnh Thúc Kháng và chủ trương tân học, thực học      Cống hiến đầu tiên và có ý nghĩa đột phá của cụ Huỳnh (và nói chung của bộ ba Quảng Nam: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp*) là sự phê phán quyết liệt nền giáo dục phong kiến mà các cụ gọi là hủ nho, hư học đồng thời đề xướng xây dựng một nền giáo dục mới tân học, thực học.    Năm 1905, ba người nhất trí mở cuộc nam du vận động Duy tân, đến Bình Định gặp ngày mở kỳ thi, người dự thi đông đến năm-bảy trăm, các cụ cho rằng “cái học khoa cử làm hại người nước ta đã lâu, ngày nay đã thành đồ bỏ mà sỹ phu ta còn chui đầu vào trong như kiến, giấc mộng mê say này không cho một gậy ngang đầu không thể nào thức dậy được”(1).  Ba cụ lấy một cái tên ảo Đào Mông Giác làm một bài thơ Chí Thành Thông Thánh và một bài phú Danh Sơn Lương Ngọc, để lẫn vào các quyển học trò cho dễ truyền bá. Hai tác phẩm đó với những ý tứ về thời thế và trách nhiệm của sỹ phu như:  Vạn dân nô lệ cường quyền hạ  Bát cổ văn chương túy mộng trung   (Muôn dân chịu kiếp sống nô lệ dưới ách cường quyền, vậy mà sỹ tử vẫn mê say trong giấc mộng văn chương bát cổ)  như một tiếng thét vang rầm cả nước.  Ba cụ đều đã sôi kinh nấu sử nơi cửa Khổng, sân Trình, đều là các bậc đại khoa, đều thành danh trong cái học ấy. Vậy mà khi ngộ ra cái học ấy làm hại nước ta đã lâu, các cụ đã dứt khoát, quyết liệt, xem nó là đồ bỏ dù các cụ đều biết trong cái học ấy không phải không có điều khả thủ.  Chỉ riêng tinh thần triệt để ấy thế hệ con cháu ngày nay phải ngả mũ khâm phục.  Không chỉ phê phán đoạn tuyệt một cách không thương tiếc cái học cũ, các cụ còn bắt tay vào thiết kế và tổ chức, xây dựng một nền giáo dục mới, các ngôi trường mới, tân học.            “…giáo dục phải trọng mặt lợi dụng (ta hiểu là thực dụng). Trong nước người nào cũng phải biết một nghề, kỹ nghệ là nghề, khảo cứu là nghề, trước thuật cũng là nghề. Muốn công nghệ được thịnh thầy giáo phải biết trọng khiếu riêng của thiếu niên.”  Huỳnh Thúc Kháng          Trong một thời gian ngắn ở Quảng Nam đã có 40, 50 ngôi trường tân học. Trường dạy chữ Quốc ngữ, không dạy theo bài bản Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bảo giám mà dạy lịch sử Việt Nam và thế giới, địa lý, bác vật (khoa học tự nhiên), toán pháp. Nhiều trường còn thâu nhận nữ sinh, điều này trước đây hầu như không có. Học sinh có trường còn được học tiếng Pháp, tiếng Nhật, học thể dục và võ thuật. Nhiều trường có tổ chức đời sống nội trú rất chu đáo, nhiều trường thực hiện “thả canh, thả học”, ngày nay gọi là vừa làm vừa học.  Chỉ hình dung cảnh tượng này, ở trường tân học Phú Lâm, nay thuộc xã Tiên Sơn huyện Tiên Phước hiện còn được xem là vùng sâu vùng xa, sau mỗi buổi học học sinh cả nam và nữ cùng đứng lên ca bài “NGƯỜI TRONG ĐÔNG Á” của Huỳnh Thúc Kháng với 10 điều chúc  Người trong Đông Á rõ ràng  Một dòng một giống Hồng Bàng là đây  Chúng tôi vui thấy hội này  Mở lời kính chúc quý thầy đôi câu  Một chúc thương cuộc đặng lâu  Lợi quyền giữ lại của mình hầu sanh  Hai chúc học hành cho giỏi  Theo người hay tìm tòi cho nên  Ba chúc cái lòng cho bền  Ai ai cũng quyết đứng lên võ đài  Bốn chúc đạo khai chân lý  Dậy con em nghĩa lý cho minh  Bảy chúc thông nước thông nhà  Ta là dân nước, nước là nhà ta  Mười chúc chớ sờn tâm trí  Hiệp bằng nhau mà thử gan chơi  Lẽ hai mươi triệu con người  Đồng lòng dễ có thua người nước mô  Chúng ta có thể thấy những học sinh này, sản phẩm của các trường tân học, sẽ không cam chịu làm tôi tớ cho thực dân Pháp mà là những chiến sỹ trẻ sẵn sàng dấn thân vào con đường cứu nước.  Kỷ niệm 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: “Từ nghĩa lớn của phong trào Duy tân, với tôn chỉ sáng láng, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đưa đất nước phát triển cùng năm châu bốn biển, một loạt trường tân học ở Quảng Nam và Đông Kinh Nghĩa Thục, điểm hội tụ tinh hoa cuối cùng, chính là một cuộc vận động thực hành cải cách giáo dục rộng lớn, sâu sắc, cơ bản.”  Dù các nhà Duy tân không mong muốn và cũng không chỉ đạo, cuộc nổi dậy cựu sưu như triều dâng thác đổ của hàng vạn nông dân Quảng Nam, miền Trung chính là một hệ quả tất yếu và đã kết thúc vô cùng bi tráng phong trào Duy tân.  ***  Cụ Huỳnh bị tù đày ở Côn Đảo 13 năm 1908- 1921. Ở đây cụ đã biến nhà ngục trần gian của thực dân thành “Trường học thiên nhiên mà làm trai trong thế kỷ 20 này không thể không nếm tới” (2), đồng thời tận dụng những khổ dịch mà thực dân bắt các tù nhân phải chịu để học hỏi, lao động. Đặc biệt nhờ tận dụng mọi thời gian khi ở tù, cụ học tập Pháp văn. Chỉ bằng tự học và trao đổi với các bạn tù cùng một ít sách từ điển mang theo và mua được cụ đã có một trình độ Pháp văn đáng nể. Đây cũng là thời gian cụ làm được khá nhiều thơ và sưu tầm rất nhiều thơ của các bạn tù, sau này cụ đã biên tập và xuất bản, một đóng góp lớn cho việc xây dựng, soạn thảo lịch sử văn học yêu nước chống Pháp của ta.            “…học giới nước ta không có tư tưởng tự do, không có năng lực sáng tạo, mất hẳn tính chất phán đoán, chỉ một mực nhắm mắt theo mù làm nô lệ cho người xưa…”  Huỳnh Thúc Kháng          Được tha tù về quê nhà, chính quyền thực dân và Nam triều mời cụ ra làm quan chức về khảo cổ và biên soạn từ điển nhưng cụ một mực từ chối.  Năm 1926, trước sự vận động của một số nhân sỹ trí thức cụ ra ứng cử nhân dân đại biểu Trung Kỳ và đắc cử với số phiếu rất cao. Cụ lại được toàn viện bầu làm Viện trưởng.  Năm 1927, cụ xin phép ra tờ báo Tiếng dân. Ngày 10/8/1928 Tiếng dân số 1 ra đời ở Huế. Cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút suốt 16 năm. Ngày 28/4/1943 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đình bản báo Tiếng dân.  Tiếp tục phát huy tư tưởng khai sáng của Phong trào Duy Tân với tôn chỉ “khai dân trí”, trên hai cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ bút báo Tiếng dân, cụ Huỳnh đã có nhiều bài nói và bài viết về chủ đề giáo dục thể hiện những kiến thức mới mẻ, những quan điểm tư tưởng tiến bộ.  Trong bài phát biểu ở Viện dân biểu ngày 1/10/2928, cụ thẳng thắn phê phán chính sách ngu dân của nhà cầm quyền Pháp “Dân An Nam là một dân tộc sẵn có văn hóa mấy trăm đời, ai cũng công nhận sự học là sự cần thiết nhất xem như tính mệnh, tài sản, không có không sống được. Vậy mà nhà nước một nói rằng khai hóa, hai nói rằng hợp tác, song về đường học giới không chịu châm chước thế nào cho thỏa hiệp. Xứ Trung Kỳ bây giờ học cũ đã bỏ hẳn, mà học mới trăm phần chưa được một, trường công không đủ dùng mà trường tư thì không có, gia dĩ chương trình hạn chế, quy luật ngăn ngừa dân thì lấy sự học làm sinh mệnh mà quan xem sự học như thù nghịch thì ức vạn thiếu niên An Nam sẽ thành ra một bọn thất nghiệp”. (3)               “…phải có tư tưởng độc lập, có trí não phán đoán tự do, để phát triển năng lực của mình, nhất là nuôi các mầm sáng tạo lực…”  Huỳnh Thúc Kháng          Hồi đó trong điều kiện các phương tiện truyền thông chưa phổ biến rộng và nhanh, với tư chất thông minh, lòng ham học ham đọc, nhờ có vốn Hán học và Pháp ngữ uyên bác, cụ đã tiếp cận với những thành tựu tiến bộ về khoa học đương đại trong đó có khoa học giáo dục. Những kiến giải của cụ về giáo dục không chỉ là những trải nghiệm về cựu học mà cụ cho là đồ bỏ và về tân học đã bị thực dân dập tắt ngay, về sự học trong khuôn khổ chính sách ngu dân của người Pháp, mà còn là những phát triển, kinh nghiệm của nhiều nền giáo dục tiên tiến của các nước Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Trung …  Cụ đã giới thiệu về nghĩa vụ giáo dục ở các nước. Nghĩa vụ hay còn gọi là phổ cập giáo dục, cưỡng bức giáo dục được thực hiện ở các nước rất sớm, Đức từ năm 1765, Pháp 1792, Anh 1870, Mỹ 1927. “Trong kỳ tuổi quy định mà ai không tuân lệnh vào học thì phụ huynh và người bảo trợ trò đó phải bị phạt”. Từ đó cụ kết luận “giáo dục xứ văn minh như thế nào, giáo dục xứ mình như thế, bảo nước nhà không sa vào cảnh liệt bại sao được”. (4)  Ngay lúc đó cụ Huỳnh đã chỉ rõ giáo dục phải phục vụ yêu cầu của xã hội, cụ viết “giáo dục phải trọng mặt lợi dụng (ta hiểu là thực dụng). Trong nước người nào cũng phải biết một nghề, kỹ nghệ là nghề, khảo cứu là nghề, trước thuật cũng là nghề. Muốn công nghệ được thịnh thầy giáo phải biết trọng khiếu riêng của thiếu niên”. Cụ còn bình luận “Ra ở đời, nhiều điều có học mà vô dụng, nhiều điều xã hội cần thời lại không biết. Như thế là vì hoàn cảnh của học đường là một hoàn cảnh đặc biệ, chỉ có không khí viển vông mà không có không khí thiết thực, vì thế phải dạy thực hành (pratique) trước rồi dạy lý luận (théorie) sau và phải dùng phép thực nghiệm (expérience) để dạy hơn là dùng sách” (5). Đây đúng là phương châm học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội mà nền giáo dục của ta hướng tới.  Cụ cũng dịch giới thiệu và bình luận về giáo dục bậc tiểu học và việc đào tạo giáo viên tiểu học qua kinh nghiệm nhiều nước với những nhận xét rất mới “Trước kia tiểu học chỉ truyền cho quốc dân có cái trí năng làm nền vốn thông thường mục đích là tạo thành cho dân chúng cái tánh cách thuần phục và dễ sai khiến. Hiện nay thì tiểu học giáo dục nhiệm vụ quan yếu là đào luyện thân thể, trí năng và đạo đức cho đoan chính cao hơn trước nhiều”. Cụ chỉ rõ nội dung sư phạm giáo dục do ba điều cần tổng hợp lại là: “trí thức, kỹ năng, nhân cách. Ba cái ấy cho quân bình nhau không thiên lệch”(6). Cụ cho biết giáo viên tiểu học ở Đức, Ý được tuyển trạch một cách hoàn bị và có cả môn triết học khá cao. Trong kỳ thi tốt nghiệp giáo viên tiểu học thí sinh được khẩu vấn về nhiều danh tác triết học như duy vật sử quan biện chứng pháp.            “...muốn tư tưởng được tự do thì tâm trí phải biết tự lập mới được. Tự lập nghĩa là tự mình xét, tự mình tin. Mà muốn tự mình xét, tự mình tin phải có não khảo cứu…”  Huỳnh Thúc Kháng          Cụ đã dịch và cho xuất bản một tập sách nhỏ GIA ĐÌNH GIÁO DỤC (7) của tác giả Qua Bằng Vân (Trung Quốc) sách không có tính lý luận mà nêu những yêu cầu hướng dẫn về giáo dục gia đình với 108 điều cụ thể. Nhiều điều chứng tỏ tác giả là người lịch duyệt có quan tâm giáo dục con trẻ, có những kinh nghiệm quý.  Theo GS Vũ Ngọc Khánh, trên báo Tiếng dân suốt 15 năm cứ đến kỷ niệm ngày mất của Phan Châu Trinh 24-3, cụ Huỳnh lại cho đăng ảnh cụ Phan cùng bài viết tán thưởng và luôn ghi một câu nói nổi tiếng của cụ Phan như một khẩu hiệu Chi bằng học.  Chi bằng học là một kết luận của Phan Châu Trinh trong bài báo HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ viết năm 1907 đăng trên Đại Việt Tân Báo.  “Xin có lời chính cáo với người nước ta rằng: không bạo động, bạo động tất chết, không trông người ngoài, trông người ngoài tất ngu. Đồng bào ta, người nước ta ai mà ham mến tự do tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào là Chi bằng học”.  Cụ Huỳnh cho đăng toàn văn bài báo của cụ Phan và viết thêm lời bình “trước 25 năm kia mà báo giới có bài nói về thời cuộc rõ ràng, sách hoạch, dẫu cho ngày nay vẫn còn là một bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm. Báo giới ta ngày nay có ai được mấy bài thiết thực chân xác như thế. Đọc bài trên càng phục sở kiến của nhà tiên thời nhân vật, lại càng buồn cho bước tấn hóa của dân tộc ta trên 25 năm mà hiện trạng chưa lấy gì làm khác”. (8)  ***  Gần đây trên báo chí, trong nhiều cuộc hội thảo về giáo dục đào tạo, những bậc thức giả của Việt Nam thế kỷ 21 có đề cập đến triết lý giáo dục, và vấn đề xêm như vẫn còn bỏ ngỏ.  Cách đây hơn 80 năm cụ Huỳnh đã viết: “Phàm bàn về giáo dục phải nói đến chủ nghĩa (doctrine) của giáo dục. Đứng về phương diện xã hội phải lấy khoa học làm chủ nghĩa” (9). Nên nhớ rằng đến năm 1943 trong Đề cương Văn hóa, Đảng ta mới nêu lên ba phương châm DÂN TỘC – KHOA HỌC – ĐẠI CHÚNG, và sau Cách mạng tháng Tám, Bộ giáo dục của nước Việt Nam mới cũng xây dựng nền giáo dục mới theo phương châm đó.  Khi bàn về những phẩm chất, năng lực, tiêu chí của con người mà cụ Huỳnh kỳ vọng nền giáo dục mới rèn luyện đào tạo nên cụ đã có những kiến giải rất tiến bộ mới mẻ đến kinh ngạc.  Cụ yêu cầu phải được tự do tư tưởng và cho rằng “học giới nước ta không có tư tưởng tự do, không có năng lực sáng tạo, mất hẳn tính chất phán đoán, chỉ một mực nhắm mắt theo mù làm nô lệ cho người xưa” (10).  Cụ cho rằng là một người làm khoa học “phải có tư tưởng độc lập, có trí não phán đoán tự do, để phát triển năng lực của mình, nhất là nuôi các mầm sáng tạo lực”.  Cụ còn nhận định “muốn tư tưởng được tự do thì tâm trí phải biết tự lập mới được. Tự lập nghĩa là tự mình xét, tự mình tin. Mà muốn tự mình xét, tự mình tin phải có não khảo cứu” (11).  Những yêu cầu mà cụ Huỳnh đề ra cách đây 80 năm rõ ràng là rất gần với con người tự do và sáng tạo, con người làm chủ đất nước mà chúng ta đang mong đợi ở một cuộc đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà như Đại hội XI của Đảng đã đề ra.  Cụ Huỳnh và các nhà khởi xướng công cuộc Duy tân không thể đưa được những kiến giải mới mẻ tiến bộ của mình về giáo dục – khai dân trí – vào cuộc sống, bởi chế độ thực dân là chế độ xây nhiều nhà tù hơn trường học, bởi ngu dân là một phương cách làm xói mòn, ra rời ý chí đòi giải phóng của những người bị nô lệ đọa đày.  Nhưng ngày nay, đất nước đã sạch bóng quân thù, non sông đã thu về một mối gần 40 năm, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đều quan tâm và có sự đầu tư thích đáng cho giáo dục, vậy mà trớ trêu thay giáo dục lại như một biểu hiện chứng tỏ xã hội ta ngày càng lạc hậu, kém thế trong cuộc cạnh tranh hội nhập toàn cầu. Không chỉ những người có con em cắp sách tới trường mà tất cả những ai có lòng nghĩ đến tương lai vận mệnh của dân tộc đều không thể yên tâm với những vấn đề của nền giáo dục hiện nay.  Tại sao vậy? Đó là vấn đề chúng ta cần nhìn thẳng và sự thật, nói đúng sự thật.  Phải chăng kiểu dạy học:  – Thầy đọc trò chép  – Bắt học sinh phải học thuộc lòng, nhớ quá nhiều con số, niên đại, sự kiện…  – Kiểm tra năng lực được đánh giá bằng các bài văn mẫu, các đáp án khô cứng.  Còn tồn tại “vững chắc”, là vì còn rất nhiều người miệng nói ủng hộ hoan nghênh những học sinh có tinh thần độc lập tự chủ, có năng lực sáng tạo nhưng trong chiều sâu của tư duy lại muốn những học sinh (và cả những thuộc cấp) của mình là những người quen vâng phục, dễ sai khiến, những người luôn luôn nghĩ và nói dựa dẫm nương theo ý tưởng của cấp trên, của người khác.  Chúng ta đều biết chân lý chỉ có thể được thừa nhận, được tâm phục khẩu phục qua tự do tranh luận, phản biện. Quan hệ thầy trò cũng phải tôn trọng nguyên tắc này. Dù là thầy cũng không được cho minh độc quyền chân lý, áp đặt tư duy.  Quan hệ cha mẹ với con cái cũng không thể theo kiểu cha mẹ tự cho mình có quyền vô hạn đối với con cái, buộc con cái phải nhất nhất tuân theo ý mình, từ chọn trường, chọn lớp, chọn thầy, chọn môn học thêm, cho đến chọn bạn, chọn người yêu, chọn ngành nghề. Không tôn trọng bất chấp năng lực, sở trường, nguyện vọng của con cái.  Một xã hội còn nhiều gia đình áp đặt, chuyên quyền với con cái kiểu như thế, thật khó có một nền giáo dục dân chủ, nhân văn.  Văn kiện Đại hội Đảng X có đoạn viết “một số cấp ủy, tổ chức Đảng, thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới, cán bộ lãnh đạo một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức”. (trang 270).  Phải đặt nền giáo dục của chúng ta trong hoàn cảnh đang có nhiều vấn đề xã hội bức xúc hiện nay, nhìn thẳng vào sự thật, tìm ra cho được nguyên nhân khiến nền giáo dục của chúng ta trì trệ, lạc hậu, xuống cấp, trước hết cần có thái độ kiên quyết triệt để như cách đây 100 năm cụ Huỳnh và các nhà Duy tân đã nêu gương.  —  (*) Trần Quý Cáp – chữ của bác sỹ Hồ Tá Khanh trong Thông sử công ty Liên Thành  (1) Phan Tây – Hồ tiên sinh lịch sử. Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập. Chương Thâu Phạm Ngô Minh. NXB Đà Nẵng trang 1419  (2) Sđd tr.1460  (3) Sđd tr.251  (4) Sđd tr.579 – 580  (5) Sđd tr.268 – 269  (6) Sđd tr.582  (7) Sđd tr.1509 – 1570  (8) Lời bạt của GS Vũ Ngọc Khánh, Sđd tr.1785  (9) Sđd tr.269  (10) Sđd tr.383 – 385  (11) Sđd tr.269       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng giáo dục ở Trung Quốc      Để đảm bảo rằng lực lượng lao động có thể đáp ứng được những đòi hỏi của môi trường kinh tế và công nghệ đang thay đổi một cách nhanh chóng, Trung Quốc phải xây dựng được một hệ thống giáo dục chất lượng cao, mở rộng cơ hội cho nhiều người học hơn. Nếu không, trong một thời gian dài nữa, Trung Quốc chưa thể là nền kinh tế số một trên thế giới.    Trong 35 năm qua, sự tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững của Trung Quốc – trung bình hơn 9,5% mỗi năm – đã thúc đẩy sự chuyển hóa kỳ diệu của nước này, từ một nền kinh tế nông nghiệp, mệnh lệnh hành chính, thành một siêu cường kinh tế trên thế giới. Trên thực tế, theo tính toán mới đây nhất của Ngân hàng Thế giới về sức mua của tổng thu nhập, Trung Quốc sắp vượt Mỹ và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nhưng, về chất lượng và tính bền vững của mô hình tăng trưởng, Trung Quốc vẫn còn phải đi một chặng đường dài nữa.   Mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc đã đạt tới 10.057 USD (đã điều chỉnh theo sức mua) vào năm 2011, nhưng hiện vẫn còn đứng thứ 99 trên thế giới bằng khoảng một phần năm thu nhập bình quân đầu người của Mỹ: 49.782 USD. Việc tiến đến vị trí có thu nhập cao là việc không dễ dàng. Trên thực tế, nhiều nước đã thử và thất bại, bị rơi vào cái gọi là bẫy thu nhập trung bình, tức là, mức thu nhập bình quân đầu người gia tăng rất chậm trước khi vượt tới ngưỡng thu nhập cao.  Muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, một giải pháp hết sức quan trọng mà Trung Quốc cần tập trung thực hiện là xây dựng nguồn nhân lực mạnh. Lực lượng lao động của Trung Quốc hiện nay đang thiếu các kỹ năng cần thiết, khó có thể đáp ứng yêu cầu cho các lĩnh vực công nghệ cao và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Thay đổi thực trạng này đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, nhằm mở rộng và cải thiện cơ hội cho trẻ em, trong khi tiếp tục tăng cường huấn luyện kỹ năng cho người lớn.     Thực trạng nguồn nhân lực ở Trung Quốc  Hơn bốn thập kỷ qua, chất lượng của lực lượng lao động của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể, thể hiện qua trình độ học vấn. Từ năm 1990, tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học là 100%, năm 2012 tỷ lệ nhập học trung học là 87% và đại học là 24%. Năm 2010, hơn 70% người dân Trung Quốc trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã có bằng trung học, trong khi đó, năm 1970 chỉ khoảng 20% tốt nghiệp trung học mà thôi.           Những cuộc điều tra của người sử dụng lao động cho thấy rằng học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông trung học và sinh viên tốt nghiệp các trường đại học Trung Quốc thường thiếu kiến ​​thức kỹ thuật cần thiết và không có kỹ năng mềm.        Học sinh Trung Quốc thường giành được điểm cao trong các kì thi quốc tế. Theo Chương trình đánh giá học sinh quốc tế trong các năm 2009 và năm 2012, học sinh ở độ tuổi 15 ở Thượng Hải giỏi hơn học sinh đến từ 65 quốc gia, trong đó có 34 quốc gia thuộc khối OECD, trong các lĩnh vực toán học, khoa học và đọc.   Trung Quốc còn được hưởng lợi từ tốc độ gia tăng nhanh chóng nguồn lao động, từ năm 1990, mỗi năm có 7 triệu người tham gia vào lực lượng lao động. Việc này, cùng với quá trình tái phân bố trên diện rộng lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị, đã giúp các ngành công nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động, tức là những ngành thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.  Nhưng lợi thế về nhân khẩu học của Trung Quốc đang giảm bớt một cách nhanh chóng do sinh suất thấp và dân số đang già đi. Theo Liên Hiệp Quốc, đến năm 2030, số người trong độ tuổi lao động của Trung Quốc (15-59 tuổi) sẽ giảm 67 triệu so với năm 2010.   Giáo dục đại học ở Trung Quốc cần phải cải tiến rất nhiều, những cuộc điều tra của người sử dụng lao động cho thấy học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông trung học và sinh viên tốt nghiệp các trường đại học Trung Quốc thường thiếu kiến ​​thức kỹ thuật cần thiết và không có kỹ năng mềm. Ví dụ, trong năm 2013, hơn một phần ba các công ty Trung Quốc được khảo sát nói rằng họ phải hết sức cố gắng mới tuyển được những người lao động có tay nghề cao, 61% công ty nói rằng nhân công được tuyển vào của họ thiếu các kỹ năng làm việc cơ bản. Vì vậy, rất khó để Trung Quốc có thể đạt được sự đa dạng hóa trong xuất khẩu và nâng cấp công nghệ, điều mà nước này bắt buộc phải làm được trong quá trình vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Các giải pháp cấp bách  Trung Quốc cần phải cải cách các thiết chế giáo dục đại học, trong đó có các chương trình đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, mở rộng cơ hội cho những người có tài năng để họ có nền giáo dục trung học và đại học chất lượng cao, bằng cách đó thu hẹp đáng kể sự chênh lệch về cơ hội tiếp cận học vấn và chất lượng giáo dục đại học giữa các vùng và các nhóm xã hội. Con em của công nhân nhập cư trong các khu đô thị phải có toàn quyền tiếp cận với hệ thống giáo dục. Những nỗ lực nhằm làm giảm sự chênh lệch về giáo dục sẽ giúp giải quyết sự bất bình đẳng về thu nhập – một mối đe dọa đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong tương lai.   Tất cả những việc này đều đòi hỏi tăng đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục. Hiện nay, tỉ lệ GDP đầu tư công của Trung Quốc cho tất cả các cấp học đều thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế, nhất là cho trung học phổ thông và đại học.  Thách thức đối với nền giáo dục của Trung Quốc còn liên quan đến chất lượng [nhà trường], là một trong những tác nhân chính làm gia tăng số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và sinh viên tốt nghiệp đại học của Trung Quốc thất nghiệp, chưa nói đến tiền lương của họ cũng giảm. Trung Quốc có thể khắc phục được tình trạng này bằng chính sách tài trợ, chính sách tuyển dụng và lương thưởng hiệu quả hơn [cho các trường học], và phi tập trung hơn trong quá trình ra quyết định trong ban lãnh đạo nhà trường.   Cuối cùng, mặc dù một số bằng chứng cho thấy nguồn cung sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc đã vượt cầu, nhưng những biến đổi trong lĩnh vực nhân khẩu học và dịch chuyển ngành nghề đang diễn ra hiện nay đồng nghĩa với việc đến năm 2020, Trung Quốc sẽ thiếu 24 triệu sinh viên tốt nghiệp các trường đại học hoặc trường dạy nghề có tay nghề cao. Muốn khắc phục tình trạng này, Trung Quốc phải nâng cấp các chương trình kỹ thuật và dạy nghề đang bị phân mảnh và thiếu hiệu quả của mình.     —  Tác giả bài viết Lee Jong-Wha là Giáo sư kinh tế và Giám đốc Viện Nghiên cứu châu Á tại Đại học Hàn Quốc. Ông từng là kinh tế trưởng và Trưởng Văn phòng Hội nhập Kinh tế Khu vực của Ngân hàng Phát triển Châu Á và là cố vấn cao cấp về các vấn đề kinh tế quốc tế của cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak.    Phạm Nguyên Trường lược dịch   Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/lee-jong-wha-emphasizes-the-need-for-more-accessible—higher-quality-secondary-and-tertiary-programs    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng mới về giáo dục      Các nhu cầu mới của xã hội tạo thành một lực  đẩy lớn, đồng thời các tiến bộ mới trong khoa học và công nghệ tạo  thành một lực kéo lớn, kết hợp với nhau đang tạo thành một cuộc cách  mạng mới về giáo dục, có triển vọng làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của  các hệ thống giáo dục trên thế giới trong một hai thập kỷ tới.    So với cách đây một-hai thế kỷ, các thệ thống giáo dục trên thế giới ngày nay đã tiến bộ rất nhiều. Từ chỗ phần lớn người dân mù chữ vì không được đi học, ngày nay việc học phổ thông cơ sở là miễn phí và bắt buộc với hầu hết trẻ em. Từ chỗ có nhiều sự phân biệt về chủng tộc, giới tính, v.v. trong trường học – ví dụ như đại học ở Đức đến cuối thế kỷ 19 vẫn không nhận sinh viên nữ – ngày nay các trường đã trở nên bình đẳng hơn. Từ chỗ chương trình học nghèo nàn và nặng tính giáo điều, ngày nay các chương trình đã phong phú hơn và mang tính khoa học hơn, v.v.  Tuy đã có các tiến bộ vượt bậc như trên, nhưng các hệ thống giáo dục trên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều hạn chế, cả về số lượng, chất lượng, nội dung, và phương pháp, và chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội trong thời đại mới – thời đại của thông tin, hiểu biết, và thế giới đại đồng. Các nhu cầu mới của xã hội tạo thành một lực đẩy lớn, đồng thời các tiến bộ mới trong khoa học và công nghệ tạo thành một lực kéo lớn, kết hợp với nhau đang tạo thành một cuộc cách mạng mới về giáo dục, có triển vọng làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của các hệ thống giáo dục trên thế giới trong một hai thập kỷ tới.  Ở đây, tôi muốn trình bày tóm tắt một số xu hướng trong cuộc cách mạng về giáo dục đang diễn ra này.  Điện tử hóa giáo dục  Học sinh sẽ không còn phải đeo những chiếc cặp nặng chình chịch đến trường. Thay vào đó là “cặp điện tử” đa chức năng, vừa là sách, vở, bảng, bàn tính, sổ liên lạc, từ điển tra cứu mọi thông tin, v.v. Các bài thi viết hay khóa luận cũng sẽ đều ở dạng điện tử. Bảng to ở lớp cũng là bảng điện tử, có thể dùng để chiếu phim hoạt hình ba chiều sinh động về các sự kiện hay khái niệm cần học, và những thứ viết lên bảng có thể lưu lại được, v.v.  Về mặt công nghệ, thế giới đã sẵn sàng cho việc điện tử hóa giáo dục. Máy tính bảng đã trở nên rẻ và tiện lợi đến mức có thể trang bị cho mọi trẻ em. Rất nhiều thứ trong giáo dục đã và đang được điện tử hóa, từ sách giáo khoa, bài giảng, đến bài thi và chấm thi, thời gian biểu, v.v. Trẻ em sinh ra trong thế kỷ 21 đã được làm quen với máy tính và các công cụ thông tin hiện đại ngay từ khi còn rất nhỏ, rất dễ thích nghi với cái cặp điện tử.   Các công ty công nghệ lớn như Apple hay Google, cho đến vô vàn các công ty nhỏ hơn, đang chạy đua để chiếm lĩnh thị trường giáo dục điện tử. Ở Việt Nam cũng có các công ty đi vào lĩnh vực này, ví dụ như là School@net (www.schoolnet.vn).   Tham gia việc điện tử hóa giáo dục còn có các chính phủ, trường học, và tổ chức từ thiện, phi lợi nhuận. V dụ, Khan Academy (khanacademy.org) do một người Mỹ gốc Bangladesh lập nên, phục vụ hàng trăm triệu lượt học sinh từ khắp nơi trên thế giới với các bài giảng trực tuyến miễn phí, được nhận tài trợ hàng triệu USD từ quĩ từ thiện của Bill Gates.  Học từ xa   Việc học từ xa đã tồn tại từ lâu, nhưng cho đến gần đây, việc học này vẫn luôn vấp phải vấn đề lớn về chất lượng, do người học từ xa ít có dịp được nghe giảng, thảo luận hỏi đáp, động viên đôn đốc, và kiểm tra nghiêm túc, v.v. Công nghệ thông tin đang cho phép giải quyết vấn đề chất lượng này, và tạo nên các khóa học online với chất lượng không kém gì, thậm chí có khi còn cao hơn, so với các khóa học “cổ điển”.  Thế mạnh đặc biệt của các khóa học online là nó đến được với rất nhiều người cùng một lúc. Một ví dụ điển hình là khóa giảng trực tuyến về trí tuệ nhân tạo vào năm 2011 (https://www.ai-class.com/) ở Đại học Stanford của Peter Norvig (http://en.wikipedia.org/wiki/Peter_Norvig) và Sebastian Thrun (http://en.wikipedia.org/wiki/Sebastian_Thrun) với cùng một lúc 140.000 sinh viên đăng ký tham dự! (Xem thêm giới thiệu ở đây: http://www.ted.com/talks/peter_norvig_the_100_000_student_classroom.html). Càng ngày càng có nhiều các khóa giảng hay bài giảng trực tuyến như vậy, trong đủ các ngành. Việc học trực tuyến từ xa thực sự là một bước tiến lớn trong quá trình “dân chủ hóa giáo dục, đem con chữ lên non”. Các học sinh ham học, kể cả có rất nghèo và ở những vùng rất hẻo lánh xa xôi, ngày nay cũng sẽ có điều kiện tham dự các khóa học chất lượng do những chuyên gia giỏi nhất dạy, mà không hề tốn kém.  Những việc liên quan đến học từ xa, như là kiểm tra kiến thức, trả lời câu hỏi, đôn đốc học sinh, v.v. cũng được công nghệ thông tin giải quyết. Ví dụ, theo nguyên tắc “học thầy không tầy học bạn”, mạng xã hội của các khóa học cho phép bất kỳ câu hỏi nào của học sinh nào đưa lên cũng được nhiều học sinh khác quan tâm trao đổi và cùng nhanh chóng tìm ra được câu trả lời thỏa đáng. Một trong các cách đôn đốc là bài giảng trực tuyến được chia thành nhiều khúc nhỏ, sau mỗi khúc đều có câu hỏi kiểm tra, học sinh phải điền vào câu trả lời đúng trước khi được xem tiếp khúc sau. Việc kiểm tra liên tục từng khúc nhỏ một khiến học sinh ngồi nhà phải chăm chú theo dõi toàn bộ các khúc của bài giảng.  Tất nhiên, khi giảng viên có đến cả hàng nghìn hay hàng trăm nghìn học sinh cho một khóa giảng, thì không thể tự tay chấm hết các bài thi được, nhưng cũng đã có các cách đánh giá khác không kém phần chính xác, ví dụ qua việc cho học sinh chấm điểm lẫn nhau theo một thiết kế nào đó. Chẳng hạn xem bài giới thiệu của Daphne Koller, một người tiên phong trong lĩnh vực giáo dục trực tuyến (https://www.coursera.org/), về vấn đề đánh giá này:   http://www.ted.com/talk/daphne_koller_what_we_re_learning_from_online_education.html.  Ngay tại các trường “bình thường”, công nghệ thông tin và các bài giảng điện tử cũng làm giảm gánh nặng giảng bài và chấm bài của các giáo viên và nhà trường. Thời gian “thừa ra” có thể được sử dụng vào các hoạt động khác rất có ích cho học sinh, ví dụ như làm thí nghiệm, đi tham quan, hướng dẫn kèm cặp một cách quan tâm hơn đến từng học sinh, v.v.  Từ thần kinh học đến giáo dục  Cuộc các mạng về giáo dục không chỉ do công nghệ thông tin hiện đại đem lại, mà còn do các tiến bộ trong khoa học, đặc biệt là về thần kinh học (neuroscience), đem lại.  Trong giáo dục học, cũng như trong tâm lý học, có những lý thuyết có thể nói là thiếu cơ sở khoa học vững vàng, và thậm chí trái ngược nhau. Các tiến bộ về thần kinh học trong những thập kỷ qua (đạt được cũng nhờ các tiến bộ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác) đang khiến người ta hiểu rõ hơn rất nhiều về cấu trúc vật lý, hóa học, nguyên tắc hoạt động và sự thay đổi của hệ thần kinh của con người, qua đó hiểu rõ hơn rất nhiều về tâm lý con người, về sự phát triển của trí tuệ, với những hệ quả vô cùng quan trọng trong giáo dục học. Từ đó có thể rút ra những lý thuyết nào về giáo dục là khoa học, và những lý thuyết nào là giả khoa học, không đúng với thực tế. Nhờ đó, giáo dục học sẽ trở nên mang tính khoa học nhiều hơn, các chương trình giáo dục, các sách giáo khoa, v.v. sẽ được thiết kế thích hợp hơn với các nguyên tắc hoạt động và phát triển của não. Có thể hình dung, trong tương lai gần, mảng kiến thức về thần kinh học sẽ trở thành không thể thiếu cho tất cả những người làm về giáo dục.  Ngôi trường – phòng thí nghiệm và thực hành  Một trong các điểm yếu của nhiều trường học và chương trình giáo dục là “học gạo”, ít có thí nghiệm, thực hành, và cũng ít có sự liên quan giữa những cái học ở trong trường và những điều xảy ra bên ngoài. Lối “học gạo” hợp với “thi gạo” nhưng không có lợi cho học sinh, vì thi xong thì chữ thầy trả thầy, chứ học sinh không hiểu bản chất của các kiến thức và không có kỹ năng dùng kiến thức trong thực tế. Các tiến bộ mới trong công nghệ và trong giáo dục học sẽ cho phép thay đổi điều này. Các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành trong các trường học sẽ được chú trọng đầu tư. Học sinh sẽ được làm thí nghiệm, thực hành, và đi tham quan nhiều hơn, và được bổ sung thêm các kiến thức thiết thực hơn cho cuộc sống trong thế giới hiện đại của thế kỷ 21.  Điều chỉnh chương trình cho từng học sinh  Một điểm yếu khác của các lớp học hiện tại là học sinh với các mức kiến thức và tốc độ học rất khác nhau trong một môn nào đó ngồi học cùng một bài giảng của môn đó, dẫn đến những tình trạng như 1/3 lớp thấy chán vì đã biết rồi, 1/3 khác thấy chán vì không hiểu gì, chỉ có 1/3 còn lại thực sự hợp với bài học. Trong kinh nghiệm dạy học của tôi, đây là tình trạng đặc biệt hay xảy ra ở năm thứ nhất đại học của Pháp. Ở các nơi khác có thể không đến mức như vậy, nhưng luôn luôn vẫn có những học sinh ngồi “nhầm lớp”, với bài giảng quá thấp hay quá cao so với trình độ, hoặc là đúng trình độ nhưng giảng theo kiểu không thích hợp với kiểu tư duy của học sinh – điều này gây nên thiệt thòi cho rất nhiều học sinh. Việc điều chỉnh chương trình học sao cho thích hợp với từng học sinh, sao cho từng học sinh được học theo nhịp độ của mình và có cơ hội phát triển tốt các năng khiếu của mình, là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội nhưng cũng hết sức khó thực hiện trên thực tế. Công nghệ thông tin và các cách tổ chức giáo dục hiện đại sẽ trở thành giải pháp trong vấn đề này.  Học cả đời  Từ quan điểm thần kinh học, bộ não khỏe mạnh chính là bộ não hoạt động nhiều, não càng hoạt động thì người càng khỏe mạnh minh mẫn cả về tinh thần lẫn thể xác. Bởi vậy, việc học không phải là việc dành riêng cho một độ tuổi nào đó, mà là hoạt động của cả đời, tuy rằng tất nhiên khi còn nhỏ tuổi thì có nhiều thời gian dành cho học hơn là khi đã lớn tuổi phải đi làm. Không có độ tuổi nào là “quá muộn” cho việc học cái mình yêu thích. Kể cả những người 90 tuổi vẫn có thể tìm hiểu học hỏi, không phải để “làm cái gì”, mà vì bản thân việc học giữ cho con người được mạnh khỏe, vui vẻ, minh mẫn, yêu đời, và văn minh hơn. Ở một số nơi tiên tiến trên thế giới, việc “học cả đời” này đã trở thành thực tế, nhiều người đã về hưu cũng đi học đại học. Các tiến bộ về công nghệ sẽ cho phép việc học cả đời này có thể được lan rộng ra trên toàn thế giới.  Ngôn ngữ chung của toàn thế giới  Khi toàn thế giới trở thành một “ngôi làng chung”, thì cũng cần có ngôn ngữ chung. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên giữa các thứ tiếng, tiếng Anh đã thắng cuộc. Không phải vì người Anh hay người Mỹ cố tình muốn vậy, mà có nhiều sự tình cờ trong quá trình phát triển thế giới tạo ra thành như vậy. Ở Trung Quốc, chính sách hiện tại bây giờ cũng là mọi học sinh đều học tiếng Anh. Họ thậm chí tổ chức các lớp học tiếng Anh ngoại khóa ở sân vận động, với cùng một lúc hàng nghìn người học nói theo một người. Nếu như, đối với các thế hệ trước đây, không viết được tiếng mẹ đẻ sẽ bị coi là mù chữ, thì đối với những người sinh ra trong thế kỷ 21, chỉ biết tiếng mẹ đẻ mà không biết tiếng Anh cũng là mù chữ, vì đa số các tài liệu, video, trao đổi, v.v. trên thế giới sẽ bằng tiếng Anh. Ngay ở Pháp, đất nước luôn tự hào về nền văn hóa tiếng Pháp rất lớn, các chương trình cao học cũng đang được chuyển dần từ tiếng Pháp sang tiếng Anh để có thể thu hút học sinh quốc tế. Hệ quả tất yếu của xu hướng này là tiếng Anh sẽ trở thành thứ tiếng thứ hai (sau tiếng mẹ đẻ) của hầu hết trẻ em trên thế giới, và trẻ em sẽ được học tiếng Anh ngay từ lúc mới đi học. Các tiến bộ về công nghệ cũng giúp cho việc phổ cập tiếng Anh trở nên thuận tiện hơn rất nhiều so với cách đây chỉ có 20 năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại      Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại (The Great Brain Race) của GS Ben Wildavsky, một học giả có tiếng Hoa Kỳ, là một quyển sách rất súc tích và uyên bác, đã vẽ lên một bức tranh tổng thể về cuộc cạnh tranh toàn cầu nhằm thu hút tài năng trí tuệ và sự chạy đua nâng cấp hệ thống giáo dục đại học thế giới nhằm tạo ra tri thức và tinh hoa cho xã hội, do đó sẽ ảnh hưởng quan trọng lên việc định hình thế giới trong thế kỷ 21.        Bản đồ đại học và KHCN thế giới   Những năm gần đây, các chính phủ đều lao vào đầu tư những số tiền khổng lồ nâng cấp các đại học thành những thể chế học thuật ‘đẳng cấp thế giới’: từ các quốc gia của châu Âu, cái nôi của đại học, như Đức, Pháp; đến các quốc gia mới nổi lên như Saudi Arabia, Trung Quốc; từ châu Á đến châu Phi, châu Mỹ. Các đại học đẳng cấp thế giới có nhiệm vụ vừa đào tạo tinh hoa, tránh thất thóat chất xám, vừa thu hút chất xám thế giới.   Saudi Arabia, một xứ sở của sa mạc và dầu hỏa, cũng tham vọng trở thành quốc gia có đại học đẳng cấp thế giới bằng việc đầu tư 10 tỉ USD (!) vào đề án khổng lồ KAUST (cái tên na ná KAIST, Viện khoa học khoa học công nghệ Tiên tiến của Hàn Quốc), Đại học Khoa học-Công nghệ nhà vua Abdullah, người trực tiếp bỏ tiền ra, để đưa nền học thuật trở lại thời đại vàng son Hồi giáo, và để thu hút chất xám làm ‘xanh tươi’ đất nước sa mạc, và cho cả vùng Ả Rập rộng lớn. Số tiền này mới chỉ là vốn khởi động; trong khi số vốn đầu tư được chờ đợi lên đến con số 25 tỉ USD, chỉ đứng thứ hai sau Harvard. Vua Abdullah cũng cho phép KAUST không chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục, do Bộ này nổi tiếng quan liêu.         Các quốc gia có kế hoạch ráo riết thu hút sinh viên nước ngoài. Singapore đang kỳ vọng thu hút 150.000 sinh viên cho đến năm 2015; Malaysia 100.000 đến năm 2020. Trung Quốc đang thu hút 196.000 sinh viên, đa số là sinh viên từ các quốc gia châu Á, cũng nhắm đến con số 300.000 đến năm 2025.         Trung Quốc là một ‘tay chơi’ đầy tham vọng khác, từ thập niên 90 đã đầu tư nhiều chục tỉ USD để nâng cấp một trăm trường đại học và tập trung tạo ra chín trường đẳng cấp quốc tế, tập hợp dưới cái tên C9, một kiểu Ivy League của Trung Quốc (Phúc Đán, Nam Kinh, Học viện Công nghệ Cáp Nhĩ Tân, Bắc Kinh, Giao thông Thượng Hải, Thanh Hoa, Đại học Khoa học Công nghệ An Huy, Giao thông Tây An, Chiết Giang).   Ấn Độ đang nỗ lực nhân rộng mô hình IIT, Indian Institute of Technology, Học viện công nghệ Ấn Độ, nơi ươm tài năng Ấn Độ nổi tiếng và được thành lập từ những thập niên 50 lúc quốc gia giành lại độc lập. ITT là một niềm tự hào dân tộc. Các công ty toàn cầu như Boston Consulting và McKinsey hằng năm đến để đón bắt các tài năng giỏi, sáng chói nhất của Ấn Độ. Nhưng Ấn Độ đã không làm những cuộc bứt phá, và hiện nay, tuy đi trước rất lâu, nhưng bị coi là tụt lại phía sau Trung  Quốc.   Hàn Quốc. Xây dựng trên các cơ sở hợp tác chiến lược với các đại học nước ngoài, phần lớn với Hoa Kỳ, và thuê các nhà khoa học, quản lý hàng đầu. Năm 2008, Hàn Quốc đưa ra “chương trình các đại học đẳng cấp thế giới” với quỹ 800 triệu USD cho 5 năm nhằm ‘nhập khẩu’ các giáo sư nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu, thường là bán thời gian. 1.000 nhà khoa học đã nộp đơn trong mười tháng đầu, trong đó 40% đến từ Hoa Kỳ, có cả nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel. Hàn Quốc hy vọng những nhà khoa học này sẽ xây dựng các chương trình nghiên cứu chuyên ngành, hoặc các ngành khoa học mũi nhọn mới.   Singapore là quốc gia hợp tác có lẽ mạnh mẽ nhất với các đại học hàng đầu Hoa Kỳ. Họ đã nhắm mục tiêu đem mười đại học quốc tế vào, và đã thành công với sáu đại học. Đặc biệt, năm 2007, họ đã đưa được MIT vào trung tâm nghiên cứu tại khuôn viên nghiên cứu quốc gia CREATE (Campus for Research Excellence and Technological Enterprise). Năm 2007, họ cũng thành lập Singapore International Graduate Award, SINGA, một loại học bổng sau tiến sĩ dành cho sinh viên ngoại quốc muốn tiếp tục nghiên cứu tại hai Đại học NUS và NTU. Mỗi năm có khoảng 240 học bổng SINGA được cấp, với những tiêu chuẩn chọn lọc chặt chẽ. Tuy chương trình kết nối với các đại học hàng đầu nước ngoài không phải lúc nào cũng thành công, một số đại học ‘bỏ cuộc’ (Warwick, Johns Hopkins, New South Wales), nhưng nói chung, Singapore đã rất thành công trong nỗ lực của mình để trở thành một powerhouse của tri thức toàn cầu.  Xếp hạng đại học  Cuộc chạy đua đại học thế giới được tăng tốc từ một phát súng của những ý tưởng ‘điên rồ’ về xếp hạng, ranking, các đại học thế giới vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu 21. Năm 1997, tạp chí Asiaweek đã làm một cuộc xếp hạng, nhưng chỉ giới hạn vào các đại học châu Á. Năm năm sau, 2002, Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của Thụy Sĩ công bố ‘liên đoàn của các quán quân’, champion league, dành cho các đại học và viện nghiên cứu dựa trên các bài báo đăng trên các tạp chí nghiên cứu khoa học. Nhưng bảng xếp hạng quy mô đầu tiên cho đại học thế giới được công bố năm 2003 dưới cái tên Academic Ranking of World Universities, ‘Xếp hạng hàn lâm của các đại học thế giới’, của Viện Giáo dục đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải. Một năm sau, 2004, báo Times London đưa ra bảng xếp hạng Times Higher Education Supplement, viết tắt THES. Các tiêu chí này khác hơn, ‘toàn diện hơn’ (holistic), như số sinh viên tốt nghiệp làm ở những công ty toàn cầu, tỉ lệ giáo sư nước ngoài, tỉ lệ sinh viên/giáo sư.  Châu Âu đang nỗ lực tạo ra một bảng xếp hạng mới: “Bảng xếp hạng đại học toàn cầu đa chiều” (viết tắt U-Multirank) để chú ý hơn các yếu tố khác và các ngành khoa học nhân văn, xã hội, chất lượng giảng dạy, đầu ra… Hiện đã có vài chục bảng xếp hạng, phần lớn mang tính chất địa phương hay khu vực.  Nhiều người không đồng tình với việc xuất hiện của các bảng xếp hạng. Uwe Brandenburg, giám đốc “Trung tâm phát triển giáo dục đại học” của Đức đã mượn lời nhà bác học Albert Einstein để nêu lên tính tranh cãi: “Không phải cái gì có thể đếm được là có giá trị, và không phải cái gì có giá trị là có thể đếm được”. Nhưng các bảng đánh giá trên có ảnh hưởng rất lớn không thể chối cãi lên dư luận, sinh viên, nhà quản lý, nhà làm chính sách, chính phủ. GS Philip G. Altbach của Đại học Boston nhìn nhận rằng các hình thức xếp hạng có một ‘vai trò hữu ích’ vì ‘soi sáng các mặt then chốt của thành tựu hàn lâm’ (cũng như những thất bại).   Toàn cầu hóa tri thức và giáo dục  Môi trường văn hóa đại học thế giới ngày càng gần gũi nhau: dân chủ, văn minh, hiện đại, trọng đãi tài năng, tự quản, tự do hàn lâm, học thuật, đó là nền tảng các giá trị phổ quát. Các ‘công dân mới’ tốt nghiệp từ các đại học thế giói có thể cảm thấy gần gũi hay gắn bó với văn hóa đó hơn cả với văn hóa quê nhà. Các sinh viên tài năng của các nước đang phát triển chỉ mơ “nhập học vào Harvard sẽ thay đổi đời tôi”. Cộng đồng hàn lâm dần dần gắn bó với quê hương chung là cộng hòa hàn lâm xuyên biên giới hơn là quê hương sinh trưởng của mình.         Đại học Hoa Kỳ đã thu hút một lượng cao nhất sinh viên từ khắp thế giới, tiếp theo sau là đại học các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Đức, Úc. Trong số 572.509 sinh viên nước ngoài học tại Hoa Kỳ năm 2004 có hơn một nửa đến từ châu Á: năm quốc gia hàng đầu là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.        Vốn nhân lực, human capital, của một quốc gia là phần chủ yếu nhất tạo nên sự phồn vinh của các quốc gia. Thế kỷ 20 là thế kỷ của vốn nhân lực mà Hoa Kỳ là quốc gia dẫn đầu. Con đường đi tới thành công cho quốc gia và cá nhân cuối cùng chính là sự đầu tư vào vốn nhân lực. Một cộng đồng được giáo dục có thể chưa chắc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự kết nạp vào ‘câu lạc bộ hội tụ’ (convergence club) của các quốc gia phát triển. Nhưng điều ngược lại chắc chắn đúng: Trình độ giáo dục thấp ngăn cản một quốc gia tiến tới biên giới công nghệ và hưởng lợi đầy đủ từ nền kinh tế toàn cầu (C.Goldin và L.Katz). Vốn ấy ngày nay đang chuyển động toàn cầu, để tôi luyện. Họ là những người mang đầy ý tưởng và kỹ năng, skills. Theo Wildavsky, nếu như giới hạn thương mại gây thiệt hại cho người tiêu dùng cũng như cản trở tính sáng tạo kinh tế, thì đóng cửa đối với dòng chảy tự do của con người và ý tưởng là cản trở sự tạo ra tri thức vốn là máu thịt của những thành công kinh tế. Tri thức, và tài năng là những “hàng hóa” không thể giam hãm hay đóng kín mà không gây thiệt hại cho chính mình. Phải làm sao để có sự trao đổi nhiều hơn, có nhiều “hàng hóa” hơn.  Không chỉ có sự di chuyển chất xám xuyên biên giới, mà các công trình nghiên cứu quốc tế cũng có tính chất xuyên biên giới thông qua sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia khác nhau. Do vậy đòi hỏi nhà khoa học cần phải có những cái nhìn xa, và hiểu biết văn hóa các miền đất khác. Chủ tịch Richard Levin của Đại học Yale là một người chủ trương mạnh mẽ nhất phát triển đại học ra ngoài biên giới. “Chúng tôi muốn đào tạo sinh viên thành những nhà lãnh đạo của thế kỷ 21, và sinh viên không thể là những người ‘mù chữ văn hóa xuyên biên giới’”, Levin nói. “Ngoài kia có những tiềm năng lớn hơn”, “Mỗi người tốt nghiệp ở Yale phải là một người bạn quốc tế”. “Chúng tôi tự hào nói rằng không những đã đào tạo bốn trong sáu vị Tổng thống vừa qua của Hoa Kỳ, mà còn một vị tổng thống Đức, hai Thủ tướng của Hàn Quốc và một Tổng thống của Mexico. Chúng tôi muốn thấy con số này tăng thêm.”  Ông chưa kể thêm: một Tổng thống, và một Phó tổng thống của Philippines. Dĩ nhiên chưa có ai là người Việt Nam được vinh dự bước vào danh sách đó.  Đại học “Made in America”  Thế chiến thứ II nổ ra, chủ nghĩa quốc xã của Hitler và những kẻ cuồng tín đã phá tan nền đại học đỉnh cao đó của nhân loại, gây ra một cuộc di tản khổng lồ của các nhà khoa học hàng đầu lục địa châu Âu qua Tân thế giới Hoa Kỳ, trong đó Einstein là biểu tượng. Sau thế chiến thứ II, Hoa Kỳ với tiềm năng ưu việt của mình, với truyền thống và chính sách phát triển đúng đắn của mình, trong vòng vài thập kỷ tiến lên phát triển đại học thành ngọn đuốc trí tuệ rực rỡ nhất thế giới, kéo dài mãi đến hôm nay. Đặc tính đại học Hoa Kỳ là dựa trên tính ‘mô-đun’ cho phép thêm bớt bất kỳ, cho phép dạy và nghiên cứu tất cả các môn, và ở mọi trình độ.  Tính mô-đun với một số lượng lớn các môn chọn cho phép thầy và trò thực hiện các nguyên lý ‘tự do dạy’, Lehrfreiheit, và ‘tự do học’, Lernfreiheit, của Humboldt. Có thể nói, Đại học Hoa Kỳ là Đại học Humboldt mở rộng. Thế kỷ 20 là thế kỷ của đại học Hoa Kỳ. Đại học phát triển thành multiversity, đa đại học, và cụm đại học. Năm 1987, Henry Rosovsky, cựu chủ nhiệm khoa của khoa  Arts and Sciences ở Harvard, đã có thể viết một cách hãnh diện:  “Trong những ngày này, khi mà các đối thủ kinh tế nước ngoài dường như đang qua mặt chúng ta trong hết ngành này đến ngành khác, chúng ta cần tái khẳng định để biết rằng có một ngành công nghiệp sống còn mà ở đó Hoa Kỳ át hẳn thế giới không thể tranh cãi được: lãnh vực giáo dục đại học. Khoảng từ hai phần ba đến ba phần tư đại học tốt nhất của thế giới đều nằm tại Hoa Kỳ”.   Giáo dục ĐH trở thành một ngành kinh doanh  World Bank ước tính một doanh thu 400 tỉ USD năm dành cho khu vực đại học tư nhân. Sự hấp dẫn đó đã làm hình thành một chuỗi các đại học vì-lợi nhuận, for-profit, ngược với truyền thống đại học-phi lợi nhuận, đặc biệt tại Hoa Kỳ là nơi có rất nhiều đại học tư phi-lợi nhuận nổi tiếng và mẫu mực thế giới. Loại đại học này tăng trưởng mạnh mẽ tại châu Á và châu Mỹ La tinh, nơi hệ thống đại học công không theo kịp sự tăng trưởng nhanh của sinh viên. Những con số của Ben Wildavsky gây ngạc nhiên: giáo dục vì-lợi nhuận đã chiếm thị phần cực kỳ cao: 80% tại Hàn Quốc, 77% tại Nhật Bản, 75% tại Ấn Độ và Brazil, 68% tại Philippines, Indonesia và Columbia, và 63% tại Bỉ. Tại Mexico và ngay tại Hoa Kỳ, con số cũng không nhỏ: 33 và 32%. Trong khi đa số các trường đại học vì-lợi nhuận là của các nước sở tại, thì có một nhóm ‘tay chơi’ quốc tế bước vào cuộc, chủ yếu xuất phát từ Hoa Kỳ: Laureate Education, Whitney International, Apollo Global, University of Phoenix, Kaplan Inc.,   Có nhiều ‘biến tướng’ trong thế giới đại học vì-lợi nhuận. Một dạng ‘lưỡng thể’: học địa phương hai năm, ra nước ngoài tu nghiệp hai năm, hay đại loại. Hình thức này thường đòi hỏi cao hơn về chất lượng ở sinh viên. Hay các hình thức hợp tác giữa đại học phi-lợi nhuận và vì-lợi nhuận. Hoặc các hình thức học ảo, giảng dạy ảo, giảng đường ảo, trên mạng toàn cầu, không thầy, không campus, không tất cả. Học và dạy một cách ‘vô danh’.  Các đại học vì-lợi nhuận hay đại học ảo đang là vấn đề tranh luận lớn. Một mặt các đại học đó tạo ra những người có nghề nghiệp, có một số vốn tri thức, và kỹ năng nhất định cần thiết cho cuộc sống vừa giải phóng các đại học tinh hoa, giảm áp lực, đồng thời cũng “đe dọa sự tồn tại của đại học nghiên cứu-tập trung”. Chúng ta phải rất thận trọng trước cơn “đại hồng thuỷ” này (G. Casper). Vấn đề lớn là cần có sự giám sát hữu hiệu từ phía nhà nước có thể hữu ích, ít nhất là để loại bỏ các tổ chức kinh doanh “ăn xổi ở thì”.   Đại học phục vụ cộng đồng  Đại học đã giữ vững tên tuổi mình trên thế giới gần ngàn năm qua là vì nó tiếp tục nỗ lực bảo vệ và tăng cường vai trò của chân lý (truth) và phẩm chất xứng đáng (merit) trong thế giới hàn lâm, và phục vụ xã hội, tăng trưởng kinh tế (Clark Kerr). Benjamin Franklin (1706-1790) có lẽ là người Mỹ đầu tiên nhấn mạnh các đóng góp thiết thực của giáo dục cho nông nghiệp, thương mại và công nghiệp. Đó là tinh thần phục vụ cộng đồng của đại học Hoa Kỳ, và điều đó được thực hiện ở quy mô một trăm năm sau.  Đại học được quan niệm có nhiều nhiệm vụ, không phải chỉ là dịch vụ. Ngoài việc phục vụ kinh tế, chính trị, quốc phòng, đại học còn có nhiệm vụ góp phần cải cách xã hội, do đó phải mang tính chất phản biện, dissenting. Noam Chomsky trong bài viết “Trách nhiệm của trí thức” cho rằng, trách nhiệm của họ là “tạo ra và phân tích ý thức hệ”, chứ không phải chỉ là tạo ra các chuyên gia để làm bộ máy xã hội chạy tốt. Ý ông muốn nói: tạo ra ‘triết lý’ cho xã hội là việc có tầm quan trọng hơn.   Một đề tài mà quyển sách còn chưa đề cập tới, đó là giáo dục nhân bản, nằm trong phần giáo dục tổng quát, general education, những năm đầu đại học. Clark Kerr, nhà quản lý giáo dục huyền thoại của Hoa Kỳ, tuy chia sẻ những mong muốn ấy, nhưng lại có ít hy vọng. Ông nói “Giáo dục tổng quát đã suy sụp từ ba trăm năm qua. Nó hầu như bị tàn phá trong những năm cuối 60 và đầu 70. Báo cáo của Quỹ Carnegie cho đó là ‘lãnh vực thảm họa’.”  Robert Hutchins cho rằng đại học đã trở thành “công nghiệp quốc hữu hóa” như hệ quả của cuộc cách mạng công nghệ và sự hình thành nhà nước-dân tộc, nation-state.   Theo John S. Mill trong “Diễn văn khai giảng”, Inaugural Address, năm 1867 tại Đại học St. Andrew, “tri thức” (knowledge) và “lương tâm” (conscience) hỗ trợ, xoắn lấy nhau, và đại học cần phải biến sinh viên thành những chiến sĩ hiệu quả hơn trong cuộc chiến đấu vĩ đại không ngừng diễn ra giữa Thượng đế và cái ác (Evil), trong khi John H. Newman trong quyển “Ý niệm của một đại học”, The Idea of a University, cho rằng điểm nhấn của giáo dục đại học không phải là chân lý mới, mà là minh triết cũ, là ‘dạy tri thức nhân văn’ (liberal knowledge), và chính cái đó mới ‘trang bị cho con người để hoàn tất mọi nhiệm vụ được giao phó thắng lợi, và làm chủ mọi vấn đề một cách dễ dàng’; đại học là dành cho những con người toàn diện (generalist), hơn là chuyên viên (specialist); đại học là nơi dạy những ‘tri thức phổ quát’ (universal knowledge); vâng, đại học là một tháp ngà xinh đẹp (C. Kerr).   ***  Cuộc canh tranh chất xám vĩ đại của Ben Wildavsky là quyển sách cần phải đọc, must-read, gối đầu giường cho những ai muốn có cánh cửa sổ nhìn ra một cuộc chuyển động thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và sẽ ảnh hưởng lên mọi quốc gia, từ những quốc gia phát triển, mới được công nghiệp hóa, đến các quốc gia còn đang trên đường công nghiệp hóa, từ sinh viên đến các bậc phụ huynh, đến các nhà làm chính sách giáo dục. Quyển sách là một “kho tàng tri thức” được cập nhật mới nhất, qui mô, có lý luận phân tích và đúc kết thành nhận thức. Ai muốn xây dựng đại học hiện đại, đại học đẳng cấp quốc tế, ai muốn nhìn vào chiều sâu của lịch sử, sứ mạng của đại học, những vấn đề đại học phải đối mặt tương lai, quan trọng hơn, ai muốn có tầm nhìn, vision, cho nền đại học tương lai của quốc gia mình, đều không nên bỏ qua quyển sách có tính chất ‘khai sáng’ này.   Thông điệp của quyển sách gửi đến người Việt Nam, nhất là các cấp lãnh đạo cao nhất: phải nhanh chóng tiến lên toàn cầu hóa nền đại học của mình, cải cách cơ chế và tổ chức, quản lý, chế độ, kết nối với các đại học hàng đầu thế giới, “quốc tế hóa” hoạt động của đại học, đẩy mạnh Anh ngữ làm ngôn ngữ quen thuộc trong học tập, nghiên cứu và giao dịch, thay đổi văn hóa, chấp nhận văn hóa trọng đãi tài năng, đầu tư mạnh mẽ vào một số ít đại học quốc gia, một số khoa, ngành chủ lực, để trở thành đại học hướng lên đẳng cấp, mà chưa mong đạt tới đẳng cấp, hãy mở các ngành khoa học công nghệ cao, thuê các nhà khoa học và quản lý giỏi thế giới tiếp sức. Đây phải là một cuộc đầu tư lớn gắn liền với sự phát triển của đất nước và quốc phòng, với sự bền vững non sông.         Đại học Yale-NUS – một vùng đất hứa               Ngày 11/4/ 2011, Thủ tướng Lý Hiển Long, cùng với Chủ tịch Đại học Yale, Richard Levin, một “con người toàn cầu hóa” giáo dục đại học, chính thức làm lễ phát động xây dựng Yale-NUS College Singapore cho chương trình cử nhân 4 năm, nhằm góp phần đào tạo một giai tầng lãnh đạo mới của Singapore, với một chương trình giáo dục nhân văn kết hợp văn hóa Đông – Tây ấn tượng, có lẽ là trường hợp đầu tiên tại châu Á. Nếu trước đây Lý Quang Diệu đã “Tây hóa” môi trường sống và kinh doanh của Singapore nhằm thu hút phương Tây đến làm ăn, để khách phương Tây cảm thấy gần gũi, và họ (Singapore) đã thành công tuyệt vời, thì nay, dưới thời Thủ tướng Lý Hiển Long, Singapore sẽ được nâng cấp lên về mặt văn hóa, chuẩn bị cho chất lượng lãnh đạo với tri thức về hai nền văn hóa Đông – Tây. Họ sẽ là một típ người mới của Singapore. Một thử nghiệm hết sức thú vị. Giáo dục cử nhân có lẽ chỉ là giai đoạn một. Yale-NUS có thể có tham vọng đào tạo các lãnh đạo quốc gia như Yale đã và đang làm, đào tạo các tổng thống, thủ tướng, nhà kinh doanh, chính trị gia, học giả…              Văn hóa đã trở thành yếu tố ngày càng quan trọng trong thế giới toàn cầu hóa, khi mà chủ nghĩa và ý thức hệ lần lần biến mất hay trở thành lỗi thời và tai hại . Cái còn lại sẽ là văn hóa. Samuel Huntington cho rằng thế giới đang bước vào giai đoạn của sự “xung đột văn hóa” (civilizational clash) trong đó con người được đặc trưng không phải bởi ý thức hệ, mà bởi văn hóa với sức mạnh (hay nhược điểm của nó). Không hẳn xung đột. Nhưng văn hóa sẽ có giá trị ngày càng trội bật. Singapore không có ý thức hệ đặc biệt ngoài một số nguyên tắc Khổng giáo phù hợp của nhà lập quốc Lý Quang Diệu, cũng không có tự do theo nghĩa các quốc gia phương Tây, nhưng khá cởi mở, một đặc tính cần thiết của sự thành công kinh tế. Một nền văn hóa đóng kín, bị chính trị hóa hay xơ cứng hóa, sẽ khiến đất nước có thể bị loại ra khỏi cuộc chơi. Sự toàn cầu hóa kinh tế và sự sống còn buộc các dân tộc phải xem xét lại toàn bộ văn hóa của mình, cần tái diễn giải những tư tưởng tiềm tàng trong văn hóa, của Khổng Tử, Lão Tử, Phật giáo,.., loại bỏ những cách nhìn lỗi thời gây cản trở và tăng cường các ý tưởng tích cực, phù hợp với sự đòi hỏi của phát triển xã hội… Tôn giáo phải hỗ trợ sự phát triển đất nước, chứ không được làm cản trở, hay quay lưng. Xung quanh, nhiều quốc gia đều có những tôn giáo giống nhau như Khổng, Phật; tuy các văn hóa đó không tự góp phần tạo ra được nền kinh tế hiện đại (như Tin Lành đã làm), nhưng khi dân tộc và giới lãnh đạo thức tỉnh, các quốc gia đó tạo ra các thần kỳ kinh tế.               Đại học Yale-NUS sẽ khai trương vào năm 2013. Một chương mới của Singapore sẽ bắt đầu. Một vùng “đất hứa” sẽ mở ra. Sự giao lưu và đào sâu văn hóa Đông-Tây sẽ là nhân tố tích cực cho việc phát triển đất nước. Giới tinh hoa Singapore muốn có một primacy, sự ưu việt, cả về văn hóa cho đảo quốc họ. Họ là một dân tộc giàu có, nay càng nghĩ thêm phát triển văn hóa ưu việt cho dân tộc họ. Đấy cũng là cách thu hút thêm giới tinh hoa từ phương Tây cho nền kinh tế ngày càng phải cạnh tranh cao. Hai triệu người nước ngoài sinh sống tại Singapore có thể gửi con em học cử nhân tại Yale-NUS với curriculum thú vị mà không phải lo lắng. Đó cũng là một cách ứng phó của lãnh đạo Singapore với trận chiến nhân lực cao của toàn cầu hóa đã được đề cập nhiều trong giới lãnh đạo và học giả Singapore.  Đảo quốc nhỏ bé này có nguy cơ đứng trước sự bốc hơi tài năng, bởi đơn giản tài năng của Singapore đang có giá, và đang được truy tìm trên thị trường. Chính phủ  phải tìm cách giữ chân tài năng lại, và bổ sung số mất mát bằng cách thu hút tài năng trẻ mới từ khu vực, được đào tạo với chất lượng cao tại chính Singapore.          ———-  Tham khảo  Hovard R. Bowen, The State of the Nation and the Agenda for Higher Education. Jossey-Bass, 1982.   Gerhard Casper, Ưu điểm của Đại học Nghiên cứu Tập trung. Đại học Thế kỷ 21. Trong Kỷ yếu ĐẠI HỌC HUMBOLDT 200 NĂM (1810-2010). NXB Tri Thức, 2011. Trang 739-753.  Noam Chomsky, The Responsibility of Intellectuals. The New York Review of Books, February 23, 1967.  Claudia Goldin and Lawrence F. Katz, The Race between Education and Technology. The Belknap Press of Harvard University Press, 2008.  Clark Kerr, The Great Transformation in Higher Education 1960-1980. State University of New York Press, Albany, 1991.  John Stuart Mill, Inaugural Address. Đọc tại Đại học St. Andrews, 1867. Trong Robert M. Hutchins and Mortimer J. Adler (eds), The Great Ideas Today 1969. The University Today. William Benton Publisher, 1989.  Mạng Pak Tee Ng, Singapore và sự ứng phó với chiến trận toàn cầu về tài năng. Trong International Journal of Educational Development 31 (2011), 262–268. Bản dịch của Nguyễn Tiến Bình, trong http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=2765   John Henry Newman, The Idea of a University. Frank M. Turner Editor. Yale University Press, 1996.  Nguyễn Văn Tuấn, Chất lượng giáo dục đại học nhìn từ góc độ hội nhập. NXB Tri Thức & Thời báo Kinh tế Sài Gòn,  2011.  Ben Wildavsky, The Great Brain Race. Princeton University Press, 2010  Nguyễn Xuân Xanh, Đại học. Lịch sử một ý tưởng. Trong Kỷ yếu ĐẠI HỌC HUMBOLDT 200 NĂM (1810-2010). Chủ biên: Ngô Bảo Châu – Pierre Darriulat – Cao Huy Thuần – Hoàng Tụy – Nguyễn Xuân Xanh – Phạm Xuân Yêm. NXB Tri Thức 2011. Trang 33-143.  Đại học Yale-NUS Singapore: http://www.ync.nus.edu.sg.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cạnh tranh giáo dục toàn cầu      Chưa bao giờ, cuộc cạnh tranh giữa những cơ sở đào tạo đại học hàng đầu thế giới trong việc thu hút học viên quốc tế lại quyết liệt như hiện nay. Vị trí hàng đầu của Mỹ trong nền giáo dục quốc tế đang bị thách thức nghiêm trọng. Harvard, Oxford cũng phải đi quảng cáo, và Mỹ cũng đang phải tiếp thị mạnh mẽ hơn cho nền giáo dục của mình.    Không còn vị trí độc tôn  Cuộc đua trong việc thu hút học viên quốc tế giữa các trường đại học đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Mỹ, Anh, những địa chỉ vẫn được coi là lựa chọn số một cho việc du học giờ đây không còn chiếm vị trí độc tôn trong làng giáo dục thế giới. Những ngày mà Harvard, Yale ở Mỹ hay Cambridge, Oxford ở Anh chỉ cần ngồi một chỗ, đắm say trong vòng nguyệt quế và chờ đợi những sinh viên giỏi từ khắp nơi trên thế giới tìm về với họ đã qua. Chính phủ ở những quốc gia khác nhau trên thế giới, trong đó phải kể đến những quốc gia có tiềm lực như Trung Quốc hay Ấn Độ, đang đổ những khoản tiền lớn chưa từng có vào việc xây dựng và đầu tư cơ sở vật chất cho các trường đại học đồng thời cũng chi một khoản tiền không nhỏ nhằm quảng bá chúng trên thị trường giáo dục quốc tế.  Những số liệu sau có thể cung cấp thêm bằng chứng cho cuộc đua nóng bỏng trên thị trường giáo dục thế giới. Nếu như chỉ nhìn vào top 10 trường đại học hàng đầu thế giới thì Mỹ đã chiếm 8, còn hai vị trí còn lại giành cho Anh. Tuy nhiên, ngoài top 10 ra thì những vị trí còn lại khá đa dạng. Có tới hơn 30 quốc gia khác nhau có tên trong danh sách 200 trường hàng đầu thế giới năm nay.  Một trong những cách mà các trường đại học ở các nước làm hiện nay là liên kết đào tạo và phối hợp về chương trình giảng dạy. Chẳng hạn như trường kinh doanh INSEAD nổi tiếng của Pháp cho phép sinh viên của họ tự do đi lại giữa ký túc xá ở Pháp với cơ sở của trường ở Singapore. Ngày càng có nhiều trường tìm kiếm những cách tiếp cận tương tự. Một báo cáo của Hội đồng giáo dục Mỹ cho biết, có 131 trường tư nhân của Ấn Độ đã tìm cách thiết lập các mối liên hệ với các trường đại học ở nước ngoài, và một nửa số học viện giáo dục có chất lượng cao ở Anh cung cấp các cơ hội học tập ở Trung Quốc.  Vào thời điểm hiện nay, không có gì phải nghi ngờ vào vị trí dẫn đầu của Mỹ trong nền giáo dục quốc tế, do nước này chiếm đến hơn một nửa danh sách top 100 trường đại học hàng đầu thế giới. Và chính Mỹ cũng là nước làm cho cuộc đua trên thị trường giáo dục quốc tế trở nên nóng bỏng hơn. Mặc dù vậy, thực chất nước Mỹ đang mất đi thị phần trong giáo dục quốc tế. Thị phần của Mỹ trong thị trường giáo dục quốc tế, một thị trường được ví với một chiếc bánh đang ngày càng phình to, với 2,5 triệu sinh viên du học nước ngoài, hiện đang suy giảm. Theo báo cáo của Hội đồng giáo dục Mỹ thì trong giai đoạn 2000 – 2005, tăng trưởng của Mỹ trong việc thu hút sinh viên quốc tế là thấp nhất trong số các nước được đem ra so sánh: chỉ tăng 17% trong giai đoạn trên. Trong khi đó, Pháp là 81%, Nhật là 108%. Tính chung, thị phần của Mỹ trong thị trường thu hút sinh viên quốc tế đã sụt giảm từ ¼ năm 2000 xuống còn 1/5 năm 2004.  Tuy nhiên, nhu cầu về lao động có trình độ cao vẫn rất nóng bỏng ở các nước đang bùng nổ về kinh tế như Trung Quốc và Ấn Độ. Mỗi năm các nước này cho ra trường khoảng 500.000 kỹ sư song vẫn không đủ cung cấp cho nền kinh tế. Họ dự đoán việc thiếu nguồn nhân lực có thể khiến cho các nước này gặp khó khăn trong những năm tới.    Người Mỹ thu hút sinh viên Trung Quốc  Người Mỹ mới tung ra một đoạn phim mà mới xem, có thể người ta sẽ nghĩ đó là một bộ phim video, với nhạc nền, những điệu nhảy hấp dẫn của thanh niên châu Á, chơi ghita và hò reo. Tuy nhiên, đó không phải là một video ca nhạc, mà là một đoạn băng quảng cáo cho chiến dịch mới của Chính phủ Mỹ nhằm thu hút sinh viên Trung Quốc đến Mỹ du học. Thông điệp mà đoạn quảng cáo này đưa ra là: nước Mỹ nhiệt tình chào đón các sinh viên Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ chủ động tiếp thị hình ảnh của nền giáo dục nước mình trên thị trường quốc tế.  Vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 đã khiến cho việc xét cấp visa vào Mỹ trở nên khó khăn hơn. Thậm chí một thông điệp tai hại đã được lan truyền đi nhanh chóng trong giới trẻ, đó là nước Mỹ đã không còn muốn chào đón sinh viên quốc tế do lo ngại một trong số những sinh viên như thế sẽ là tác giả của một vụ tấn công khủng bố 11/9 thứ hai. Kết quả là, trong vòng 3 năm sau vụ khủng bố 11/9, lượng sinh viên quốc tế vào Mỹ giảm 2.4% mỗi năm, một sự “mất mát” không thể chấp nhận được với nước Mỹ, nước có chất lượng giáo dục được đánh giá cao nhất thế giới.  Nước Mỹ có lẽ không dễ dàng để từ bỏ một nguồn lợi khổng lồ do các sinh viên ngoại quốc mang đến như vậy. Cần phải biết rằng, chỉ trong vòng năm 2006, tiền thu được từ học phí và sinh hoạt phí của sinh viên quốc tế đã mang lại cho nền kinh tế Mỹ tới 14 tỷ USD.  Phải hiện đại hóa  Các nước châu Á, nguồn “xuất khẩu” lớn nhất sinh viên sang các nước phương Tây, giờ đây đang đổ tiền của vào các trường đại học trong nước nhằm tránh nguy cơ chảy máu chất xám. Như Trung Quốc đã chi đến 0,5% GDP cho giáo dục đại học, và dự kiến sẽ tăng con số này lên đến 4%, cao hơn cả Anh là 1,1% va Mỹ là 2,7%. Đầu năm nay, Malaysia cũng thông báo kế hoạch trở thành một trung tâm giáo dục quốc tế mới với 100.000 sinh viên quốc tế, gấp đôi con số hiện nay, vào năm 2010. Để thu hút các giáo sư hàng đầu, các trường đại học của Singapore đề xuất mức lương rất hấp dẫn và cạnh tranh với các trường của Mỹ. Các viện sĩ trẻ tuổi ở đảo quốc này có thể kiếm được tới 180.000 USD/năm.  Trung Quốc đã mở rộng hệ thống giáo dục đại học của nước này nhanh chóng đến mức hơn 20% số dân có bằng cao đẳng của nước này hiện giờ đã nhận được bằng đại học, cao hơn so với con số 2% của một thế hệ trước đó. Tháng 6 vừa rồi, Ấn Độ đã tổ chức một buổi lễ chính thức, được Amartya Sen (Nobel Kinh tế 1998) chủ trì để đầu tư 1 tỷ USD cho dự án tái tạo trường đại học lâu đời của nước này, đại học Nalanda. Những bước đi của Trung Quốc và Ấn Độ trong việc thiết lập các trường đại học thật đáng kinh ngạc. Đó không chỉ là số lượng, mà còn là chất lượng, ông Bernd Wachter, giám đốc của Hiệp hội hợp tác giáo dục chuyên nghiệp có trụ sở tại Brussel nói. Thực tế, các cơ sở trên đã chứng tỏ thành công đến mức ngay cả Cao ủy châu Âu phụ trách giáo dục cũng phải cảnh báo rằng các trường đại học của Anh, Pháp và Đức đang phải đối mặt với nguy cơ bị qua mặt bởi các trường của Trung Quốc và Ấn Độ trong vòng một thập kỷ tới nếu họ không hiện đại hoá.  Để cải thiện tình hình, các trường đại học tên tuổi vốn là cái nôi của nền giáo dục đại học thế giới đang tìm đến những chiến dịch quảng cáo có quy mô lớn, một điều mà người ta chưa từng nghĩ đến đối với những ngôi trường đáng tôn kính này. Vào hồi tháng 2, Mỹ cho biết sẽ chi tới 1 tỷ USD cho chiến dịch quảng bá nền giáo dục của mình ở các nước từ Trung Quốc cho tới Ấn Độ. Ở Anh, 70% các trường đại học, học viện đang gia tăng các nỗ lực cho phí cho tiếp thị và tuyển thêm sinh viên quốc tế. Chính phủ Pháp cũng xác định cải cách giáo dục đại học là ưu tiên hàng đầu, cam kết chi tới 5 tỷ Euro  từ nay đến năm 2012 cho việc hiện đại hóa.  Tuy nhiên, dù mọi thứ thay đổi thì có một điều vẫn giữ nguyên, đó là những tên tuổi lớn nhất trong làng đại học thế giới vẫn là sự lựa chọn số 1 của mọi người. Do đó, dù cuộc cạnh tranh có nóng hơn, song đối với những trường đại học ở top đầu, họ vẫn là những lựa chọn hàng đầu của các sinh viên quốc tế.  Nguyễn Ngọc Hùng (Theo tạp chí Newsweek)  ——-  ảnh: Lớp đào tạo “Kỹ năng khó” của Trung tâm Giáo dục toàn cầu ở trường Mysore, Ấn Độ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc tiến công của Công nghệ Giáo dục      Những năm gần đây, nhiều công nghệ giáo dục đã từ “vòng ngoài” của các trào lưu học tập mới đi vào trong các trung tâm của giáo dục truyền thống để thực hiện sứ mệnh “phát minh lại nền giáo dục” của mình.      Chuyện con cú Duolingo  Nguyễn Việt Khoa, một thầy giáo dạy lập trình tận tâm tại một trung tâm đào tạo lập trình viên ở Hà Nội, chưa bao giờ lại nghĩ có lúc việc bồi dưỡng năng lực tiếng Anh của mình lại đến một cách đơn giản và tự nhiên như vậy. Trong gần mười năm đi dạy, gặp lứa học trò nào anh cũng dặn thật kĩ “các em cố gắng học ngoại ngữ cho tốt, ngoại ngữ không ổn thì không thể làm IT khá được”, nhưng chỉ khoảng 5% số sinh viên của anh thực sự bắt tay vào học thêm ngoại ngữ, phần còn lại chỉ gật gù và bỏ đấy. Chính anh cũng vậy: Dù biết mình cần nâng cấp trình độ ngoại ngữ hơn nữa, nhưng anh chưa bao giờ thực sự bắt tay vào học thêm, vì bận, và ti tỉ lí do khác. Thế rồi anh biết đến Duolingo, một phần mềm tự học ngoại ngữ đa nền tảng, đa ngôn ngữ. Anh bắt đầu tham gia cộng đồng hơn một triệu thành viên theo chương trình học tiếng Anh cho người biết tiếng Việt, và nhanh chóng nhận ra việc làm này mang lại lợi ích to lớn. Đồng thời, anh cũng tạo ra cuộc chơi trong chính lớp học của mình. Nhiều học trò đã nối gót thầy, tự học ngoại ngữ, tự tổ chức nhóm học tập để chia sẻ kinh nghiệm và theo dõi tiến độ. Có quá nửa số học trò trong lớp reo vui trên Facebook mỗi khi vượt lên trên trong cuộc đua giành thứ hạng cao trên bảng tổng sắp của Duolingo. Đây thật là một sự thay đổi thú vị đáng ngạc nhiên.   Cuối năm 2012, hai nhà nghiên cứu của City University ở New York và Đại học Nam Carolina đã thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu về hiệu quả của các chương trình học ngoại ngữ trên Duolingo. Kết quả cho thấy, 34 giờ tự học tiếng Tây Ban Nha trên Duolingo giúp sinh viên đạt được trình độ tương đương một khóa học đầy đủ một kì 11 tuần ở trường đại học1. Học tiếng qua Duolingo có vẻ hiệu quả hơn so với việc theo học một khóa học ngôn ngữ truyền thống ở trường đại học. Điều này đi ngược lại thiên kiến bấy lâu nay rằng việc tự học ngôn ngữ qua các công cụ trực tuyến cho vui thì được, chứ nghiêm túc thì chẳng đến đâu.   Giống như thầy Khoa, hơn 38 triệu người nói tiếng Anh đang học tiếng Tây Ban Nha, hơn 23 triệu người đang học tiếng Pháp, hơn 15 triệu đang học tiếng Đức, gần 10 triệu đang học tiếng Ý, và hàng triệu người khác đang bị Duolingo dẫn dụ để nâng cao trình độ ngoại ngữ của mình. Chỉ cần chưa đầy hai năm, Duolingo đã thu hút hơn 100 triệu người dùng2. Có lẽ Duolingo là “trường đào tạo ngôn ngữ” phát triển nhanh nhất và lớn nhất thế giới hiện nay.   Duolingo cũng liên tục được bình chọn là ứng dụng công nghệ giáo dục tốt nhất trên nền tảng iOS từ năm 2013 cho đến nay.   Điều gì khiến Duolingo thành công rực rỡ đến như vậy? Có lẽ không chỉ đơn giản vì nó thực hiện phương châm “giáo dục ngôn ngữ miễn phí cho mọi người”, mà bởi những nỗ lực thực chất hơn của đội ngũ phát triển. Duolingo đã thành công trong việc tận dụng lợi thế của nền tảng công nghệ hiện đại và thiết kế trải nghiệm học tập hiệu quả dựa trên kĩ năng sư phạm điêu luyện. Bằng việc phát triển các ứng dụng trên các nền tảng di dộng phổ biến nhất iOS, Android, Windows Phone, Duolingo trở thành “gia sư” lúc nào cũng kè kè bên cạnh người học, với cơ chế nhắc nhở thường trực, sẵn sàng thông báo khi người học “nhỡ” có quên không học bài. Việc thiết kế các bài học theo hướng trò chơi hóa (gamification) cũng gia tăng đáng kể sự hấp dẫn của việc học ngoại ngữ. Các nhà phát triển đã biến việc học ngoại ngữ thành một trò chơi nhẹ nhàng, có phần gây nghiện. Bên cạnh đó, việc hình thành một cộng đồng học tập thông qua việc theo dõi nhau, trả lời và hỏi đáp giữa những người cùng học cũng giúp duy trì việc học tập trên Duolingo được kéo dài hơn. Các thiết kế học tập dựa trên tâm lí học hành vi và kiến tạo, cùng với các thiết kế trải nghiệm người dùng tuyệt vời đã mang lại những phản hồi tốt từ phía người học. Duolingo đã giải được phần lớn những bài toán hóc búa về động lực, về mức độ bỏ cuộc và hiệu quả học tập ở các hệ thống học tập trực tuyến truyền thống.   Làn sóng EdTech  Câu chuyện thành công của Duoling không phải là đơn lẻ. Những năm gần đây liên tiếp có những tên tuổi công nghệ giáo dục (EdTech, viết tắt của Educational Technology) gây sự chú ý và tạo cảm hứng rất mãnh liệt cho cả giới công nghệ lẫn giáo dục. Giới truyền thông phải tốn không biết bao nhiêu giấy mực cho Khan Academy, Coursera, EdX, DreamBox Learning hay những công nghệ có tham vọng thay đổi thói quen học tập của đa số dân chúng, hoặc tham vọng hơn, là những cuộc âm mưu lật đổ nền tảng giáo dục truyền thống.   Sau những ồn ào của việc hàng loạt MOOCs ra đời đến nỗi tờ New York Times phải ghi nhận năm 2012 là “Năm của MOOC”, thế giới công nghệ đang chứng kiến cuộc đổ xô đi tìm cơ hội đột phá trong lĩnh vực EdTech. Lượng tiền đầu tư đổ vào lĩnh vực EdTech trong sáu tháng đầu năm 2015 được dự tính lên đến con số kỉ lục: hơn 2,5 tỉ đô la Mỹ. Trước đó, con số tương ứng cho các năm 2012, 2013, 2014 vốn đã rất ấn tượng là 1,1 tỉ; 1,2 tỉ; và 1,4 tỉ. Tới nay, cơn sốt EdTech vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Dễ dàng nhận ra, phần lớn các nhân vật trong danh sách Impact 15 của Forbes (gồm 15 nhà đổi mới đang có ảnh hưởng lớn nhất đến sự chuyển biến giáo dục toàn cầu) những khuôn mặt thân quen của EdTech: Anant Agarwal – nhà sáng lập edX, Sal Khan – nhà sáng lập Khan Academy, Daphe Koller – nhà đồng sáng lập cổng MOOC lớn nhất thế giới Coursera, Jose Ferreira của Knewton, Jessie Woolley-Wilson của DreamBox Learning, hay một gương mặt lạ nhưng quen – Eddy Cue của Apple với công nghệ iTunes-U vốn rất thân thuộc trên các máy tính bảng hoặc smartphone chạy hệ điều hành iOS đang cung cấp hàng triệu bài giảng số tới người học. Rõ ràng là EdTech có sức hút lớn, đối với cả các nhà giáo dục, người học, cũng như những nhà đầu tư.   Từ ngoài vào trong  Không giống như thầy Khoa được nhắc đến ở đầu bài này, Sal Khan đến với công nghệ một cách tình cờ: khi cần phải gia sư cho một người em họ, anh bắt đầu tạo ra các bài giảng video để tiết kiệm công sức. Dần dà, anh chọn theo đuổi phương thức học tập đảo ngược (Flipped learning). Với phương thức này, anh tạo bài giảng rồi gửi cho người học trước, thiết kế các bài tập tương tác để hướng dẫn khi gặp mặt (hay ở “trên lớp”). Nhờ đó, anh đã tối ưu hóa được lượng thời gian tương tác, là thời gian quý báu mà người dạy và người học thường bỏ lỡ trong các mô hình giáo dục truyền thống. Ở đây, anh đã đảo ngược trình tự: thay vì lên lớp học lí thuyết, về nhà làm bài tập, thì lớp học đảo ngược (flipped classroom) của anh lại dùng giờ trên lớp để làm bài tập, còn về nhà thì xem video học lí thuyết. Anh thấy cơ hội to lớn cho mọi người và lập ra Khan Academy. Từ một người gần như “ngoại đạo” trong lĩnh vực giáo dục, giờ Sal Khan có trong tay một lực lượng chuyên gia mạnh, tạo ra hơn 100.000 bài tập tương tác cùng với hơn 6.500 bài giảng trực tuyến trải dài nhiều lĩnh vực từ Toán, Khoa học máy tính cho đến Khóa học, Kinh tế vi mô hay Lịch sử. Khan Academy đã thành một “học viện toàn cầu” với hơn 10 triệu học sinh hằng tháng, cùng với khoảng 350.000 người dùng đóng vai trò là giáo viên trên toàn thế giới3.  Sau một thời gian dài khiến công chúng kinh ngạc với sự tăng trưởng kì diệu, Khan Academy đang tiến lên một bước quan trọng khi bắt đầu bước chân vào các trường học. Từ một dịch vụ cung cấp công cụ gia sư (home tutoring), Khan Academy đang dần được đưa vào các lớp học chính khóa. Năm 2010, tại khu học chánh Los Altos ở California, một trong các khu học chánh tốt nhất nước Mỹ, cuộc thí điểm dùng Khan Academy để dạy hai môn Đại số và Hình học của học sinh lứa tuổi 16-17 đã mang lại tín hiệu tốt, học sinh có thành tích tốt hơn đáng kể. Một năm sau, khoảng gần 250 trường học đã đăng kí chương trình thí điểm việc tích hợp sâu Khan Academy vào trong chương trình giảng dạy. Một nghiên cứu quy mô do SRI Education thực hiện tại 20 trường ở California cho thấy, 71% học sinh trong chương trình thí điểm này cảm thấy thích thú với Khan Academy, 32% học sinh cảm thấy “yêu thích môn Toán hơn” nhờ vào việc học theo Khan Academy. Đặc biệt, 45% học sinh tự tin nhận định rằng họ có thể tự học Toán mà không cần đến thầy cô nữa. Báo cáo của SRI nhấn mạnh, điều quan trọng nhất mà họ quan sát được, có lẽ là “Khan Academy đã giảm đi nỗi sợ hãi môn Toán, cải thiện sự tự tin ở học sinh rằng chúng cũng có thể học tốt”.   Xuất phát điểm, Khan Academy đã bị chỉ trích vì thiếu quan tâm tới tính sư phạm trong các bài giảng, tuy vậy điều đó nhanh chóng được sửa chữa với lực lượng làm nội dung chuyên nghiệp hơn, với các nhà thiết kế giảng dạy có tay nghề. Đáng chú ý, phương pháp học tập đảo ngược tuy không được Sal Khan phát minh, nhưng đã được Khan Academy tiếp thêm lực đẩy để trở thành trào lưu rộng khắp, thay đổi cách dạy học của hàng trăm nghìn giáo viên trên toàn cầu trong những năm gần đây.  Trong một bước đi gần giống như thế, Duolingo đang thử nghiệm dịch vụ Duolingo cho các trường học (Duolingo for Schools), cùng với dịch vụ thi và cấp chứng chỉ riêng có đối chiếu các tiêu chuẩn IELTS và TOEFL, để dần dần “chính quy hóa” việc học ngoại ngữ trên hệ thống của mình.   Những tín hiệu đó cho thấy những EdTech như Khan Academy đã từ “vòng ngoài” của các trào lưu học tập mới đi vào trong các trung tâm của giáo dục truyền thống để thực hiện sứ mệnh “phát minh lại nền giáo dục” của mình.  ***  Những làn sóng đầu tư khổng lồ, những gương mặt cách tân táo bạo, những con số tăng trưởng ấn tượng, cũng như những tác động sâu sắc mà trào lưu EdTech mang lại đang cho thấy sự thay đổi giáo dục thông qua công nghệ không chỉ là giấc mơ viển vông và dè dặt của riêng giới công nghệ, hoặc những giấc mơ quá đà của các nhà giáo dục vốn phát ngấy với sự trì trệ của mô hình giáo dục hiện thời. Công nghệ từ chỗ là “đồ chơi” hỗ trợ các giáo viên giảng dạy hấp dẫn hơn, đang muốn vượt lên để trở thành tác nhân chính và đầu tàu trong việc dẫn dắt sự tái định hình nền giáo dục vốn đã quá già cỗi và chậm chạp trong một thế giới đang thay đổi từng ngày dưới sức ép của các tiến bộ KH&CN. Tuy vậy, hàng loạt câu hỏi vẫn còn đang chờ ở phía trước: Liệu sức ỳ của hệ thống giáo dục có lớn đến mức sẽ tiếp tục giữ cho EdTech “ở ngoài vòng ảnh hưởng” như một số trường hợp đã được chỉ ra ngay trong báo cáo của SRI: mặc dù chấp nhận sử dụng Khan Academy để dạy học, một số giáo viên vẫn muốn dạy theo cách của mình, hoàn toàn kiểm soát theo kế hoạch như cũ? Liệu EdTech có thực sự giải được các nan đề của hệ thống giáo dục, như ngài tỉ phú Bill Gates, một người nhiệt thành ủng hộ EdTech, từng bức xúc trước thực trạng của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ: “Hệ thống giáo dục phổ thông Hoa Kỳ đã lỗi thời. Không chỉ chúng đã đổ vỡ, thiếu sót, và không được đầu tư đúng mức, mà ngay cả khi chúng đang hoạt động chính xác như được thiết kế, chúng vẫn không thể dạy con trẻ những gì chúng cần phải biết ở thời đại ngày nay”?     —————————————————————  1. https://s3.amazonaws.com/duolingo-papers/other/vesselinov-grego.duolingo12.pdf  2. https://www.duolingo.com/press  3. https://www.edsurge.com/khan-academy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc trở về phương Đông trên đường đến với phương Tây      LTS. Năm 2003, tạp chí Widerspruch có một loạt bài về Hành trạng dạy học của các giáo sư triết tại ĐH München CHLB Đức với tiêu đề Những triết gia tại München, trong đó có bài viết của GS Thái Kim Lan.    Tia Sáng xin trích đăng bài viết của  GS Thái Kim Lan do dịch giả Bùi Văn Nam Sơn chuyển ngữ, nguyên tác tiếng  Đức “Warum ging Bodhidharma gen Osten? Ein Koan zur Lehrbiographie”  (Tại sao Bồ Đề Đạt Ma đi về phương Đông? Một công án cho tiểu sử dạy  học). Đề tựa của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn là “Như hà Tổ sư Tây lai ý?  Một công án cho nghiệp nghề giảng dạy”. Đề tựa cho trích đoạn dưới đây  do Tia Sáng đặt.    Tôi sinh ra ở một thành phố mà hàng trăm năm đã là trung tâm phong kiến của đời sống truyền thống, văn hóa lẫn tinh thần: kinh đô Huế ở miền Trung Việt Nam. Đó là nơi dù khó khăn đến mấy về kinh tế và chính trị-xã hội, nỗ lực của con người bao giờ cũng hướng đến mục đích của đời sống, đó là tự rèn luyện để trở thành “triết nhân” theo mẫu mực của đức Khổng. “Triết nhân” ở đây lại phải hiểu như là “thánh hiền” theo hình dung của châu Á, chứ không đơn thuần như nhà tư tưởng thuần túy trí tuệ.  Là đứa con của một đại gia tộc theo kiểu Nho-Phật cổ truyền có xuất thân hoàng tộc, tôi thấy mình tự động hướng theo truyền thống giáo dục ấy. Thế nhưng, trước tiên, tôi nếm trải bao nỗi thất vọng trước tình trạng chậm phát triển của đất nước. Tìm chỗ trú ẩn nơi những học thuyết cổ xưa là điều mà những người trẻ chúng tôi không thể chấp nhận. Vì vậy trong thời điểm ấy, việc tiếp cận với chủ nghĩa Marx và với những trào lưu tư tưởng Tây phương từ triết học Hy Lạp sang Descartes, Kant, Hegel, Marx cho đến thuyết thực chứng Pháp và triết học hiện hữu của Heidegger đã kích động tôi rất mạnh. Trước tiên, tôi xác tín với cung cách của Descartes: tư duy “rõ ràng và sáng sủa”; và, nhất là phương pháp phân tích và tư duy hệ thống của ông dường như đã chỉ cho tôi con đường đúng đắn đi đến chân lý.   Lúc bấy giờ đang sôi sục niềm khao khát một giải pháp tổng thể và tối hậu cho mọi lĩnh vực đời sống của quê hương tôi: hiện sinh-cá nhân, xã hội và chính trị; khao khát cái Biết hoàn hảo mà chỉ có triết học theo nghĩa cổ điển mới có thể thỏa mãn được, đã theo đuổi và nuôi dưỡng tôi suốt thời kỳ theo học triết học tại khoa Triết thuộc trường ĐH Huế với rất nhiều bộ môn khác nhau của triết học Tây phương: siêu hình học, lôgíc học, đạo đức học, triết học pháp quyền, xã hội học, tâm lý học, tâm lý bệnh học và lịch sử triết học. Vào thời điểm đó, trong khi triết học Đông phương bị xem như con ghẻ và hầu như là chuyện ngoài lề thì quan niệm rằng chỉ có MỘT triết học, đó là triết học Tây phương, là câu cửa miệng của những giáo sư Việt Nam được đào tạo tại Pháp, vang lên không khác gì một tín điều mê muội của giáo hội!   Vào thời gian ấy, tôi thậm chí sẵn sàng chối bỏ cả bản sắc văn hóa của mình, nếu vào năm 1963, cuộc dấn thân chính trị vào phong trào sinh viên chống lại sự phân biệt đối xử đối với đức tin Phật giáo của chế độ Diệm ủng hộ Công giáo đã không kéo tôi trở về lại với nguồn cội của chính mình. Chính thời gian dấn thân này đã cho tôi cơ hội tuyệt vời để nắm bắt được bản chất của đạo Phật Việt Nam trong sức sống đích thực của nó, trong đó hành động đạo đức không được phép tách rời với tri thức lý thuyết, trái lại, cả hai tạo nên tính toàn bộ của thực tại. Cũng là lần đầu tiên tôi nhận ra sự “lóa mắt” do ảnh hưởng của triết học Tây phương; và tôi mường tượng rằng chuyến đi trở về bên trong cũng chính là “chuyến đi về phương Đông”.   ***  Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa triết học và một năm giảng dạy triết học tiếp sau đó tại trường trung học – lại gắn liền với một chuyến đi khác, đó là “chuyến đi về phương Tây”: năm 1965, tôi nhận được học bổng của cơ quan DAAD để học triết học tại nước Đức. Điều lạ lùng nhất trong lần du học này thật đáng nhắc lại ở đây: ngay tại nước Đức, tôi đã chia tay với sự “lóa mắt” về phương Tây, về Hy Lạp, về chủ nghĩa Marx giáo điều và về Hegel – một Hegel đã xem triết học Trung Hoa như là “tuổi ấu thơ của triết học”. Tôi đã bắt đầu với Hegel – để nói về sự ngạo mạn của Hegel đối với triết học Trung Hoa – để quên Hegel! Không khác chút nào với việc ra khỏi đám mây mù của giấc ngủ giáo điều, của sự ngộ nhân về triết học Đông-Tây!   “Mù tỏa Lô sơn, sóng Triết giang   Khi chưa đến đó hận muôn vàn   Đến rồi mới thấy không gì lạ   Mù tỏa Lô sơn, sóng Triết giang!”  Như trong mấy vần thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha, nhà thơ Thiền đời Bắc Tống.   Song, với tôi, quả là một may mắn hết sức lớn lao khi được dịp tìm hiểu những triết gia Đức lớn nhất ngay tận nguồn, thoát khỏi mọi định kiến. Qua đó, tôi dần dần phát hiện sự khác biệt về bản chất giữa tư duy Tây phương và tư duy Đông phương; sự khác biệt nằm ngay trong những khái niệm triết học nền tảng. Thật thế, người châu Á không đặt nặng việc xác lập một hệ thống bản thể học. Việc đặt cơ sở bản thể học, đối với họ, chỉ nhằm biến hành động đạo đức thành hiệu dụng, tức, thực hiện nó. Chỉ từ lý do ấy, việc đặt cơ sở bản thể học mới có ý nghĩa thiết thực, đúng chức năng, mà cụ thể là nhìn sâu vào sự không-tồn tại hay vào tính không của sự vật, nghĩa là, từ sự tham gia tích cực vào tiến trình trở thành của vạn vật để đi đến toàn bộ thực tại. Thế nhưng, trong tư duy Tây phương, tồn tại bị phân ly thành tồn tại và hư vô, và, do đó, cái hư vô trở thành bi kịch. Trong tư duy Trung Hoa không có “tồn tại”; và vì thế, cũng không có cái hư vô định mệnh của chủ nghĩa hư vô.   “Đạo”, “con đường”, – cơ sở của sự trở thành, biến dịch – không thể tách rời với “Đức”, tức việc thực hiện đạo lý. Trong hành động đạo đức này không có cái “phải là…” nào làm nguyên tắc cả. “Đức”, đúng hơn, phải xem là sự hiện thực hóa của “Đạo”, như là phương diện khác của Đạo. Cả hai tạo thành một nhất thể năng động, khiến cho hành động đạo đức tựu thành từ “sự vận hành” của Đạo và ngược lại. Chính trong việc thực hiện đạo đức này, Đạo mới xuất hiện ra. Học thuyết đạo đức về “Đức”, do đó, đáng phải giải thích, lên tiếng, học tập. Tuy nhiên, thực hiện Đạo, tốt nhất, lại là sự im lặng. Cả hai, Đạo và Đức, nằm sâu trong bản tính của con người, là con đường và việc làm của con người, là tổng thể của nhân tính và đức lý.   Cho nên, trong khái niệm “con người”, ta không nên rơi vào khái niệm “cá nhân”, và đó chính là lý do khiến điều vừa nói ở trên về Đạo thật khó hiểu. Chữ “nhân” trong Hán tự vừa là “người”, vừa là “hai” hay nói khác, là “người và đồng loại”; cũng thế, theo quan niệm Phật giáo, “tôi và bạn” là một. Trong tư tưởng của Khổng, không có sự phân biệt giữa cái “thẩm mỹ không ràng buộc” và cái “đạo đức ràng buộc”, hay, nói như Jaspers, giữa “cái đẹp và cái thiện”. Cái đẹp là không đẹp, nếu không thiện; và cái thiện là không thiện, nếu không đẹp. Lễ và Nhạc giúp triển khai bản tính con người. Và, cái biết về sự thống nhất giữa Đạo và Đức có nghĩa là cái biết về tính toàn thể của tồn tại. Cái biết này không phải là cái biết khái niệm, mà là một kiểu “pris de conscience”, là ý thức về cái toàn bộ. Nó khác với triết học Tây phương quen nhấn mạnh đến ý thức, hiểu như “tồn tại có ý thức” (Bewuβtsein), thay vì đến việc trở nên có ý thức (Bewuβtwerden). Việc trở nên có ý thức này – theo quan niệm Phật giáo và Nho giáo – không nên hiểu theo cách bản thể học, như thể ở đây có sự hình thành đối tượng hay chủ thể như là một khái niệm. Đúng hơn, Đạo, “cái Thực tồn” hay “căn nguyên của sự nội tại” biểu thị cho cái gì đã có sẵn đó một cách hiển nhiên mà ta không còn nhìn thấy nữa, dù ta – hay đúng hơn, vì ta luôn có nó trước mắt.   Bằng chứng hiển nhiên này được cuộc thiền thoại sau đây soi sáng:   Một đệ tử hỏi sư Triệu Châu: “Con đường là gì?”   Triệu Châu: “Nằm ngay trước mắt ngươi”  Đệ tử hỏi: “Con đường đúng là gì?”   Triệu Châu: “Con đường thường ngày”.  Chính theo nghĩa đó, Wittgenstein nói: “Lạy Trời giúp cho triết gia có năng lực nhìn thấy cái sờ sờ trước mắt”.  Và cũng chính trong quan niệm về cái “cơ sở” hay “căn cơ” (Grund), ta thấy sự khác biệt giữa triết học Tây phương và Đông phương: theo nghĩa thông thường, khái niệm “cơ sở” hay “cái nền” được dùng chẳng hạn như về mặt sau của bức tranh hay như vốn liếng dự phòng. Thế nhưng, làm sao ta có thể nắm bắt được cái thực tồn nằm bên dưới bộ khung khái niệm được kết hợp giả tạo như thế của triết học Tây phương? Phải chăng triết học đã trượt mất cái gì cốt yếu, và phải chăng cái “bình diện nội tại” nơi Gilles Deleuze lại không được hiểu một cách mặc định như là ý niệm về sự hỗn độn như ông đã trình bày trong”Qu’est ce que la Philosophie”? Trong tư tưởng Trung Hoa cổ đại, Đạo là con đường không dẫn đến chân lý, mà là con đường ta bước qua; con đường là con đường của sức sống, của năng lực sống và năng lực bước qua: triết gia dựng lên khái niệm (konzipiert), còn thánh hiền thì bước qua!   Trong tư tưởng Phật giáo và Nho giáo, thánh hiền là người luôn ở chỗ chính trung; là một phương vị của sự nội tại, nơi mọi khả thể, kể cả những khả thể đối cực nhất, đều mở ngỏ; là nơi không có sự định vị chết cứng, trái lại, là nơi sự thay đổi, mâu thuẫn của đối cực này với đối cực khác đều có thể “viên dung vô ngại”. Bậc thánh hiền mở ngỏ cho cái “như thế này” và cả cho “cũng thế kia”. Theo quan niệm Đạo gia, bậc chân nhân đạt đạo theo cung cách để cho Đạo đi đến, hiện ra, đi qua, trong sự “tự nhiên như nhiên”; tức tùy cảnh, tùy thời giống như một tiếng chuông ngân. Không còn mải mê tìm biết bằng cách không ngừng ra sức quy định đối tượng nữa, mà trở nên tự thức một cách hồn nhiên về căn cơ của cái nội tại, vốn nối kết tư duy và tồn tại.   Cuộc trở về phương Đông trên đường đến với phương Tây của tôi là giờ phút lắng đọng triết học của chính mình. Nó giống như tấm gương phơi bày triết học của mình và từ đó mong tạo nên sức mạnh sáng tạo cho cuộc đối thoại có ý nghĩa. Trong khi nghiên cứu triết học siêu nghiệm của Kant – được tôi chọn làm đề tài cho luận án – bên cạnh sự ngưỡng mộ đối với triết gia này, tôi cũng đã có thể khẳng định hố ngăn cách không thể vượt qua được giữa lý thuyết và thực hành, giữa tư duy và tồn tại; hố ngăn cách đã cùng chịu trách nhiệm gây nên sự khủng hoảng của triết học Tây phương trong việc làm nghèo nàn và xơ cứng. Như một triết gia Pháp đương đại đã nhận xét, triết học Tây phương, khi trở nên xơ cứng, đành bằng lòng với những nếp nhăn của mình. Về sự hiền minh, châu Âu “chỉ còn lại đống đổ nát hay những vị “chủ chăn” như Pyrrhon, Montaigne và những nhà Khắc kỷ mà thôi”(1).  Sự hiền minh phải là thông lộ để ai cũng có thể đi qua. Hơn lúc nào hết, lòng yêu sự hiền minh và chân lý cần được phát huy, nhất là trong thời buổi hiện nay, khi bạo lực và sự thù hận đang ngự trị thế giới với tiếng gào thét đáng sợ chưa từng có.             Sự xơ cứng này cũng là lý do khiến tôi suy nghĩ về công việc giảng dạy hiện nay của tôi tại Đại học München: làm sao có thể truyền đạt cho sinh viên sức sống của triết học Đông-Tây; giúp họ khám phá năng lực chữa trị bằng cái biết hoàn hảo để không mãi trầm kha trong căn bệnh xơ cứng khái niệm? Một vài bước khiêm tốn đã được tôi thử dùng trong các năm giảng dạy – bị không ít đồng nghiệp chê trách là không phải triết học. Nhưng, năm phút “ngồi yên và chú tâm vào hơi thở” trước khi bắt đầu thảo luận, và những cuối tuần tĩnh tọa và gặp gỡ-đối thoại luôn được sinh viên đón nhận và chấp nhận như là những giây phút bổ ích nhất trong việc học triết học.             ——-  (1) François Julien, Le sage est sans idee ou l´autre de la Philosophie, tr. 9, Editions du Seuil, 02/1998.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã đến lúc nói không với xếp hạng      Tôi cảm thấy thất vọng trước những thông tin dồn dập về kết quả xếp hạng đại học mới nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xét trên bề mặt thì tất cả chúng ta đều có thể đang tham gia vào trò chơi lố bịch này, khi tất cả các trường và Chính phủ các nước tranh đua khốc liệt để quảng bá cho trường của họ, và – đây là một thực tế – quảng bá cho đất nước của mình như một nơi xứng đáng để đầu tư và thu hút nhân tài thế giới.      Trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tính cấp thiết của việc nâng cao trách nhiệm giải trình cũng như tính minh bạch đã tạo ra những thay đổi sâu sắc tại các trường cũng như trong toàn bộ nền GDĐH. Những thay đổi này bao gồm việc ký “hợp đồng đào tạo”1 và các thỏa ước về dịch vụ giữa nhà trường với sinh viên và với toàn xã hội nói chung. Mặc dù chính giáo dục đại học mong muốn chiếm được vị trí ưu tiên trong các vấn đề chính sách, nhưng nó đã không tiên liệu được rằng điều đó khiến nó rơi vào tình trạng bị săm soi như hiện nay. Thế nhưng, ảnh hưởng và quyền lực ngày càng gia tăng của các bảng xếp hạng toàn cầu đối với GDĐH đã bị đẩy lên đến quá mức và không còn chút liên hệ gì với yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.         Tác giả bài báo là Phó Chủ tịch phụ trách nghiên cứu và quan hệ doanh nghiệp kiêm Trưởng bộ phận Nghiên cứu Chính sách GDĐH tại Học viện Công nghệ Dublin, người viết cuốn “Rankings and the Reshaping of Higher Education: The Battle for World-Class Excellence” (Xếp hạng và việc tái định hình GDĐH: Cuộc tranh giành danh hiệu đẳng cấp quốc tế) được xuất bản hồi tháng 3 năm nay. Trong ảnh: Ellen Hazelkorn tại hội thảo “Trường đại học ở nước nhỏ và trên toàn cầu” ở ĐH Latvia, tháng 9/2009.        Quả thật, mặc dù đã có rất nhiều thay đổi về phương pháp, các bảng xếp hạng hoàn toàn không thể đánh giá được chất lượng – trừ phi chúng ta định nghĩa chất lượng là giàu có và danh tiếng. Một trường đại học được xem là đẳng cấp quốc tế là một trường ước tính có ngân sách hằng năm vào khoảng 2 tỷ USD, và Chính phủ các nước ở khắp nơi trên thế giới đang rất bận rộn để đáp ứng cái “trật tự thế giới mới” đó. Điều này giải thích tại sao lại có những thay đổi đáng kể trong các vị trí xếp hạng, đồng thời cũng như lý giải được cấu trúc tổng quát của nhóm các trường Top 100 hay Top 400.  Bên cạnh đó, việc công bố các bảng xếp hạng hằng năm chỉ có thể giải thích bằng những lợi ích kinh doanh mà các tổ chức xếp hạng đạt được thông qua sự nhân rộng số lượng phát hành đến những đối tượng khác ngoài những khách hàng truyền thống của họ. Tương tự như vậy, đề án Global Institutional Profiles (tạm dịch: Hồ sơ toàn cầu về các trường đại học) của Thomson Reuters thật ra là một phương pháp tinh vi nhằm mở rộng thị phần của họ trên thị trường thông tin tri thức đang phát triển nhanh chóng và đầy hấp dẫn. Đề án này bao gồm việc các trường cung cấp dữ liệu của mình một cách tự nguyện và miễn phí và chính các dữ liệu này sau đó lại được biến thành nhiều sản phẩm có thu phí khác nhau.   Chính phủ nhiều nước đã sử dụng các bảng xếp hạng như một động lực để tái cấu trúc một cách vững chắc toàn bộ nền GDĐH của họ, với niềm tin rằng một trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế sẽ là thần dược đảm bảo cho sự thành công của nước đó trong nền kinh tế thế giới. Sự quyết tâm của Chính phủ Pháp trong việc thành lập nhóm các trường đại học hàng đầu của mình tương tự như “Ivy League” ở Mỹ là ví dụ mới nhất minh họa cho các chính sách chỉ chú trọng tưởng thưởng thành tích của những trường “đại học đầu tàu” (flagship university) chứ không quan tâm cải thiện năng lực và chất lượng của toàn hệ thống.  Bên cạnh đó nhiều nước hiện đang sử dụng các bảng xếp hạng để đánh giá và phân biệt nền giáo dục của họ so với các nước khác – thường là được sự giúp đỡ của những tổ chức xếp hạng.   Tức giận trước việc các bảng xếp hạng toàn cầu phớt lờ sự đa dạng của các trường đại học, hạ thấp tầm quan trọng của giảng dạy và xem nhẹ khả năng nghiên cứu của khu vực châu Âu, EU đã quyết định tài trợ việc phát triển đề án U-Multirank, trong đó nhấn mạnh việc phục vụ người sử dụng làm trung tâm, có tính chất đa chiều, đa cấp độ, và có khả năng so sánh được trong các nhóm đồng cấp (tức các trường có đặc điểm tương tự nhau). U-Multirank tự gọi mình là một bảng xếp hạng, nhưng mục tiêu của nó là tạo ra các nhóm so sánh chứ không tạo ra một bảng xếp hạng duy nhất.  Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ sáng kiến nào khác, luôn tồn tại những rắc rối của sự phát triển, cụ thể là: (1) Mặc dù U-Multirank đã vượt qua được những bảng xếp hạng hiện có, nhưng việc lựa chọn các chỉ số để đánh giá vẫn còn nhiều nhược điểm; ngoài ra, sự thiếu hụt những dữ liệu có ý nghĩa để so sánh toàn cầu cho thấy U-Multirank cũng gặp phải những khó khăn tương tự như những bảng xếp hạng khác; (2) U-Multirank đã cố gắng khắc phục vấn đề đánh giá hiệu quả dạy và học thông qua việc sử dụng dữ liệu từ đề án Đánh giá kết quả đầu ra trong GDĐH của OECD (đề án AHELO) – đề án này nhằm mục đích đánh giá “những gì mà sinh viên tốt nghiệp biết và sử dụng được sau khi ra trường”, tuy nhiên nó vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khai; và (3) Giai đoạn nghiên cứu khả thi của U-Multirank đã không thu hút được nhiều công nhận rộng rãi quốc tế, và cho đến nay, nó vẫn chủ yếu được biết đến là một công cụ của khối các nước châu Âu.  Những thách thức trên cho thấy rằng trong ngắn hạn hoặc trung hạn, U-Multirank khó lòng vô hiệu hóa tầm ảnh hưởng của các bảng xếp hạng toàn cầu hiện có.        U-Multirank nhấn mạnh việc phục vụ người sử dụng làm trung tâm, có tính chất đa chiều, đa cấp độ, và có khả năng so sánh được trong các nhóm đồng cấp (tức các trường có đặc điểm tương tự nhau). U-Multirank tự gọi mình là một bảng xếp hạng, nhưng mục tiêu của nó là tạo ra các nhóm so sánh chứ không tạo ra một bảng xếp hạng duy nhất.        Vì vậy, đã đến lúc các tổ chức quốc tế phải lên tiếng – vì tôi tin rằng các trường hay quốc gia không thể hành động đơn phương trong vấn đề này. Phải thừa nhận rằng trong việc xếp hạng, chính phủ các nước đã có lỗi khi không thực hiện các kiểm soát nghiêm nhặt như đối với các đầu tư quan trọng khác. Tuy nhiên, việc thay đổi các chính sách quốc gia chỉ nhằm mục đích đáp ứng các chỉ số chủ quan do người khác tạo với mục đích thương mại và nhiều mục đích tư nhân khác thì chẳng khác nào các nước đã tự nguyện chối bỏ chủ quyền quốc gia vậy.  Thực thế, đã đến lúc:  Các tổ chức quốc tế như UNESCO, OECD, World Bank và EU cần cùng nhau nói không với việc xếp hạng và sử dụng kết quả xếp hạng làm cơ sở hoạch định chính sách, từ đó đưa ra những cảnh báo phù hợp đến các bên có liên quan. Tương tự như việc chính phủ đưa ra những cảnh báo về sức khỏe (ví dụ: đối với thuốc lá), các tổ chức quốc tế cần đồng loạt tiến hành một chiến dịch xã hội để chỉ ra cho Chính phủ các nước thấy những tác hại của việc sử dụng các bảng xếp hạng vào các mục đích đã nêu.  EU cũng cần đưa ra một tuyên bố tương tự và tái cấu trúc bảng xếp hạng U-Multirank thành một công cụ đối sánh. Qua đó, U-Multirank sẽ hợp thức hóa mục đích của mình và trở thành một công cụ “giúp sinh viên đưa ra những lựa chọn có hiểu biết” và “giúp giới hoạch định chính sách đưa ra những chiến lược đúng đắn”. Đây sẽ là một nước cờ khôn ngoan, cho phép EU lấy lại được lợi thế chính trị của mình.  Các bảng xếp hạng đã giúp đưa GDĐH trở thành một chủ đề chính sách quan trọng. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng làm cơ sở để ra quyết định ở cấp trường hay cấp quốc gia sẽ vô tình dẫn đến những hậu quả sai lầm, và sẽ gây ra nhiều hệ quả đối với xã hội trong một thời gian dài. Vì vậy đã đến lúc phải nói không với bảng xếp hạng.  Kim Khôi  dịch   theo http://chronicle.com/blogs/ worldwise/its-time-to-move-beyond-rankings-2/28830  —————-  1 Academic contracts và service-level agreements là những yêu cầu trong cải cách giáo dục ở châu Âu theo Tiến trình Bologna.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học cấp tỉnh: Một số nguyên tắc cần tuân thủ      Các trường đại học tư danh tiếng của Mỹ như Havard, Yale, Standford và Princeton thường chỉ phục vụ lợi ích cho giới giàu có, quyền lực và hầu hết đều không nhận phụ nữ vào học cho đến tận 50 năm trước. Bắt đầu từ thế kỷ 19, các tiểu bang đã tự xây dựng hệ thống các trường đại học công lập và hầu hết các trường này đều nhận nữ sinh,  trong nhiều trường hợp, còn có cả nữ giáo sư ngay từ những ngày đầu thành lập. Qua những thành công và hạn chế của các đại học này, có thể rút ra một số nguyên tắc cần tuân thủ để xây dựng đại học cấp tỉnh có chất lượng cao.      Arizona State University (ASU) có chương trình vũ trụ đỉnh cao thế giới. Phần lớn việc thiết kế xe tự hành trên sao Hỏa được thực hiện ở ASU.   Thực trạng đại học cấp tỉnh (bang)  So với các đại học tư, học phí của những trường này rẻ hơn rất nhiều nên những người trẻ hoài bão xuất thân từ tầng lớp lao động hoặc thậm chí ở những vùng nông thôn đều có thể theo học được.  Thế kỷ XX đã chứng kiến sự mở rộng mạnh mẽ của kinh tế Mỹ và nhu cầu gia tăng đối với giáo dục bậc cao. Những trường đại học hiện thời không thể thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế và mong mỏi của công chúng về những cơ hội lớn hơn. Vì vậy, cả chính phủ liên bang lẫn các tiểu bang đều đã đầu tư rất mạnh mẽ, xây dựng những trường đại học cấp bang mới và nâng cấp các trường cũ. Sau Chiến tranh Thế giới II, Mỹ vươn lên trở thành siêu cường kinh tế-chính trị của thế giới, kéo theo sự bùng nổ của những khoản tài trợ mà chính phủ dành cho giáo dục đại học và sau đại học.  Ngoài ra, rất nhiều những học giả và nhà khoa học hàng đầu bị thu hút đến với các đại học cấp bang, bởi họ cảm thấy sẽ được toàn quyền xây dựng chuyên ngành của mình ở đây, trong khi đó, ở các đại học truyền thống, một học giả đơn lẻ thường không có mấy ảnh hưởng. Điều này đặc biệt đúng đối với những lĩnh vực nghiên cứu mới, chưa từng tồn tại trước những năm 50 của thế kỷ XX, như khoa học máy tính hay nghiên cứu về giới bởi vì những đại học danh tiếng lâu đời chuyển sang những lĩnh vực này chậm hơn so với các đại học cấp bang.    Bởi vậy, những lĩnh vực mà các trường đại học cấp bang đặc biệt xuất sắc thường là những lĩnh vực nghiên cứu mới và những lĩnh vực mang tính ứng dụng như nông nghiệp, kỹ thuật, và dược. Chẳng hạn, Đại học Washington (UW, ở Seattle) của tôi, từ trước đến nay đều dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực khoa học lâm nghiệp (miền Tây Bắc nước Mỹ nổi tiếng với ngành công nghiệp khai thác gỗ). Ngoài ra UW cũng có trường y đẳng cấp thế giới. Hay như Đại học Arizona State (ASU) của vợ tôi, Ann Koblitz, có một trong những khoa dẫn đầu thế giới về nghiên cứu người Anh Điêng (Bang Arizona có tỉ lệ người bản địa rất lớn), và có một chương trình danh tiếng về kĩ thuật hàng không (hầu hết công việc thiết kế các xe tự hành sao Hỏa đều được thực hiện ở ASU)      Tại hầu hết các đại học cấp bang, các nhân sự phi học thuật áp đảo các nhân sự học thuật về số lượng và không gian các tòa nhà được dành cho các văn phòng hành chính nhiều hơn là cho các lớp học. Bất kì khi nào có áp lực phải cắt giảm chi phí, chính các giảng viên hay giáo sư sẽ bị cắt giảm, chứ không bao giờ là các quản lý hành chính các cấp.        Rất tiếc, không phải bất cứ kinh nghiệm nào của Mỹ trong việc xây dựng các đại học cấp bang cũng đều là tích cực. Thông thường, lý do tốt nhất khi học hỏi những kinh nghiệm của nước ngoài là để tránh mắc phải những sai lầm của họ, và điều này cũng đặc biệt đúng với giáo dục đại học và sau đại học ở Mỹ. Dưới đây là một vài những khó khăn thách thức:  * Các nhà làm chính sách tại các tiểu bang thường không muốn cấp đủ kinh phí cho hệ thống đại học cấp bang và kì vọng các trường này sẽ tự gây quỹ từ học phí hay khối tư nhân và tự cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ.    * Cũng chính bởi áp lực tài chính đó mà giới quản trị đại học thường tìm nhiều cách để có những khoản cắt giảm lớn trong chi phí hoạt động, cùng với đó là sụt giảm về chất lượng. Chẳng hạn, từ 5-7 năm trước, Đại học Arizona State bắt đầu giới thiệu một số lượng lớn các khóa học online, và thậm chí còn đưa ra lựa chọn “ASU trên mạng” cho phép sinh viên học tất cả các môn online. Điều này hấp dẫn với rất nhiều người vì nó yêu cầu ít thời gian và công sức hơn rất nhiều. Tuy nhiên, sinh viên học online học được ít hơn so với sinh viên thông thường và yếu hơn trong việc chuẩn bị cho công việc tương lai cũng như chuẩn bị cho việc học lên cao hơn.  * Các trường đại học thường phải viện đến những cách phi đạo đức để kiếm tiền. Một ví dụ là “nhập học kép” (dual enrollment), trong đó trường đại học thỏa thuận với một trường phổ thông trong vùng. Với môn Toán, điều này có nghĩa rằng trường đại học sẽ công nhận môn Giải tích và tiền Giải tích (precalculus) ở phổ thông tương đương với các khóa học này ở bậc đại học, mặc dù trên thực tế chúng là những khóa học thấp hơn hẳn về trình độ và được chấm điểm vô cùng rộng rãi. Về sau, khi các sinh viên nhập học tại các trường đại học, họ nghiễm nhiên có đủ số tín chỉ và thông thường được yêu cầu trả 20% học phí cho khóa học này. Nói cách khác, trường đại học sẽ thu được một số tiền đáng kể mà thực chất không phải làm gì cả.  * Nước Mỹ, đối với nhận thức rõ nhất của tôi, có những trường đại học quan liêu nhất thế giới. Tại hầu hết các đại học cấp bang, các nhân sự phi học thuật áp đảo các nhân sự học thuật về số lượng và không gian các tòa nhà được dành cho các văn phòng hành chính nhiều hơn là cho các lớp học. Bất kì khi nào có áp lực phải cắt giảm chi phí, chính các giảng viên hay giáo sư sẽ bị cắt giảm, chứ không bao giờ là các quản lý hành chính các cấp.        * Nhiều đại học ở các tiểu bang cũng có một danh sách các ưu tiên không lành mạnh. Chẳng hạn, các môn thể thao cạnh tranh thường nhận được sự chú ý và dành cho nhiều nguồn lực hơn là học thuật. Đại học của tôi đã chi tới 250 triệu USD cho việc nâng cấp sân bóng đá. Trong khi năm ngoái, bản thân tôi đã phải dạy học tại một căn phòng có hệ thống sưởi bị hỏng. Căn phòng quá nóng làm tôi phải mặc áo phông mỏng trong suốt mùa đông, và vài sinh viên trong những lớp học vào sáng sớm ngủ gật vì phòng học quá ấm. Thế mà, người ta bảo tôi chưa thể thay được hệ thống sưởi bị hỏng này bởi vì nó sẽ tốn quá nhiều tiền.  * Hoạt động quản lý chất lượng trong việc đào tạo cử nhân và thạc sĩ cũng rất lỏng lẻo. Ở bậc tiến sỹ (PhD), tình hình có vẻ khá hơn, một phần cũng bởi chính các khoa thay vì ban giám hiệu trường trực tiếp kiểm soát chất lượng, và một phần vì chúng tôi có lượng lớn ứng cử viên nước ngoài được chuẩn bị tốt về mặt kiến thức. Tuy nhiên, ngay cả trong đào tạo PhD, một số trường công cũng quản lý chất lượng rất kém, và trong một số lĩnh vực nhất định cấp bằng PhD cho người học rất dễ dãi. Một tấm bằng bậc cao của Mỹ sẽ không có mấy giá trị nếu được cấp bởi một ngôi trường không hề chú trọng công tác quản lý chất lượng.      Tương lai phát triển của một tỉnh hay một vùng, không chỉ phụ thuộc vào sự tiến bộ của kinh tế và công nghệ, mà còn ở việc duy trì được đẳng cấp nghiên cứu và giảng dạy trong đa dạng lĩnh vực liên quan đến tư duy và sự sáng tạo của con người.        Một số nguyên tắc trong nâng cao chất lượng đại học cấp tỉnh  Có nhiều nguyên tắc cần phải được tuân thủ để có một hệ thống trường đại học cấp tỉnh với chất lượng cao. Thứ nhất, chính quyền cần cam kết hỗ trợ dài hạn cho những nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học. Sẽ là hợp lý nếu kỳ vọng các trường có thêm kinh phí nhờ vào những hợp đồng với doanh nghiệp và các nguồn tài trợ cá nhân khác, tuy nhiên nó sẽ chỉ hỗ trợ ở mức nào đó cho những mục đích riêng của nhà trường và không thể gánh đỡ trách nhiệm chu cấp kinh phí của chính phủ. Thứ hai, các đại học cấp tỉnh nên tập trung ưu tiên một số lĩnh vực nghiên cứu nhất định, trong đó bao gồm những lĩnh vực thiết thực, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với tỉnh thay vì cố gắng xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Thứ ba, cần có một giới hạn chặt chẽ đối với số lượng cán bộ hành chính và duy trì con số này ở mức thấp hơn so với lực lượng người giảng dạy. Thứ tư, các trường đại học nên hiểu rằng giáo dục chất lượng cao không thể thực hiện với “giá rẻ”, chẳng hạn như thông qua nhiều khóa học online, thuê những giảng viên có trình độ thấp hơn mức tiêu chuẩn hoặc bằng việc yêu cầu số giờ giảng dạy lớn. Thứ năm, việc giám sát chất lượng bằng cấp rất quan trọng. Chẳng hạn, Việt Nam nên duy trì hệ thống hai vòng công nhận bằng tiến sĩ (Trong đó vòng thứ hai đòi hỏi ứng cử viên phải được công nhận bởi hội đồng quốc gia bao gồm những học giả uy tín) được áp dụng đến năm 2010.     Cuối cùng, một đại học cấp tỉnh không nên tự giới hạn mình trong việc phát triển những lĩnh vực ngay lập tức có giá trị ứng dụng. Nó nên phát huy những thế mạnh của mình trong lĩnh vực văn học, âm nhạc, nghệ thuật, nghiên cứu lịch sử và các lý thuyết khoa học; các khoa cũng cần duy trì sự cộng tác tích cực với những đồng nghiệp trên cả nước cũng như trên thế giới. Tương lai phát triển của một tỉnh hay một vùng, không chỉ phụ thuộc vào sự tiến bộ của kinh tế và công nghệ, mà còn ở việc duy trì được đẳng cấp nghiên cứu và giảng dạy trong đa dạng lĩnh vực liên quan đến tư duy và sự sáng tạo của con người.  Hải Đăng dịch       Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Đại học Carnegie Mellon – “Học qua hành”      Đòi hỏi lớn của xã hội và nền kinh tế hiện nay, khi mà công nghệ thông tin và Internet đang trở thành môi trường làm việc mới, là phải có những người lãnh đạo am hiểu các nghiệp vụ, kinh doanh được tiến hành trên nền công nghệ thông tin. Do đó cần phải hướng việc đào tạo số lớn những người lao động tri thức mới có những tri thức và kĩ năng cả về nghiệp vụ, kinh doanh lẫn việc triển khai trên nền công nghệ thông tin để họ tham gia vào việc tổ chức ra nền sản xuất hiện đại.  Những đòi hỏi này tạo ra các yêu cầu mới về thay đổi cách giảng dạy và cách học tập trong Đại học Carnegie Mellon – CMU nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của công nghiệp.    Theo truyền thống, các đại học thường đào tạo ra những người làm nghiên cứu, quá trình học tập trong trường nhấn mạnh vào các mô hình lí thuyết của thực tế và khả năng suy luận của sinh viên. Những đòi hỏi của thế kỉ 21 đang đặt ngược lại một yêu cầu rất lớn đối với hệ thống đào tạo đại học truyền thống: bên cạnh việc có những trường đào tạo ra người nghiên cứu chuyên sâu, cần có các đại học khác đào tạo ra các kĩ sư với những kĩ năng đáp ứng được yêu cầu thực tế của các công ty.  Nhìn vào các trường đại học hàng đầu của Mỹ ta có thể thấy sự phân chia rõ nét giữa các hình thái đào tạo này. Các trường đại học danh tiếng của Mỹ như Harvard, MIT, Stanford chú trọng đào tạo các nhà nghiên cứu hàng đầu, nhằm vào các vấn đề mũi nhọn của khoa học hiện đại. Các trường đại học như Carnegie Mellon,… lại rất coi trọng việc đào tạo ra các kĩ sư đáp ứng đúng yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại, trong các lĩnh vực chế tạo và quản lí.  CMU – Đại học Carnegie Mellon là một trong những đại học hàng đầu ở Mỹ và là đại học được xếp hạng thứ nhất về kĩ nghệ phần mềm. CMU cộng tác rất chặt chẽ với công nghiệp và hiểu rằng với nhịp độ thay đổi công nghệ nhanh chóng và sức ép của cạnh tranh toàn cầu, nhiều công ty đang tự hỏi làm sao họ có thể kiếm được các công nhân có kĩ năng mà họ cần. Vì vậy CMU đi tiên phong trong việc thay đổi cách giảng dạy đại học và tập trung vào đào tạo các kĩ sư phần mềm đáp ứng ngay cho nhu cầu thực tế này.  Sinh viên CMU ra trường thường nhận được lời mời làm việc của 2 tới 16 công ty. Riêng điều này đã chứng tỏ học sinh được đào tạo tại CMU thực sự có khả năng giải quyết các vấn đề thực tế, đáp ứng đúng nhu cầu của công nghiệp. Tỉ lệ thi vào trường CMU là 16:1.  Cách giảng dạy tại CMU khác nhiều so với các đại học khác, do quan niệm mới của trường về vấn đề đào tạo kĩ sư phần mềm đáp ứng nhu cầu công nghiệp.  Trong các đại học thông thường, sinh viên năm đầu học về các cơ sở toán học, cấu trúc dữ liệu, thuật toán rồi sau đó lên lập trình. Điều này làm cho sinh viên chỉ quen một mình ngồi với máy tính để lập trình. Sinh viên không được tiếp cận và không quen thuộc với các dự án lớn nhiều người làm, điều mà thực tế yêu cầu người kĩ sư phải tham gia.  Theo quan điểm của CMU, ngay từ đầu không nhất thiết nhấn mạnh vào các vấn đề căn bản của khoa học máy tính, mà trái lại, phải nhanh chóng đưa sinh viên vào toàn cảnh của thực tế rồi sau đó đi vào rèn luyện các kĩ năng thực hiện sâu về sau.  “Học qua Hành”    Tại đại học Carnegie Mellon đã có nghiên cứu sâu để duyệt xét lại về giá trị của chương trình đào tạo đại học và trường đã đi tới thừa nhận nhu cầu của công nghiệp về các công nhân tri thức có kĩ năng. Trên cơ sở này trường nhận định cần thay đổi cách đào tạo để sinh viên biết cách làm việc trong ngành công nghiệp phần mềm ngay sau khi tốt nghiệp. Đó là lí do để trường thiết kế ra “Loạt kĩ nghệ phần mềm thực hành” như “lớp học ảo,” nơi sinh viên có thể truy nhập vào tài liệu đào tạo và bài giảng ở bất kì đâu trên thế giới.             Ba đặc điểm chính của giảng dạy tại CMU:  1.  Giáo viên không phải là người truyền thụ tri thức mà là người hướng dẫn học tập.      2.  Giáo viên không trực tiếp giảng dạy cho sinh viên, không trả lời câu hỏi của sinh viên khi sinh viên chưa tự đọc bài.      3.  Giáo viên nêu vấn đề để sinh viên giải quyết. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn.          Cách tiếp cận của trường đã được đặc biệt thiết kế để đáp ứng cho nhu cầu của sinh viên và công nghiệp toàn cầu dựa trên loạt các “kịch bản thực hành”, không dựa trên dạng thức bài giảng truyền thống vẫn được các trường đại học sử dụng. Các nghiên cứu của trường đã cho thấy rằng cách dạy hiệu quả nhất những kĩ năng mới là đưa sinh viên vào một loại dự án nào đó nơi họ có thể dùng những kĩ năng đó trên cơ sở đều đặn. Sinh viên được trao cho các công cụ cần thiết để nâng cao việc học tập của mình ngay lập tức và có khả năng áp dụng nó để giải quyết các vấn đề của thế giới thực.  Cách tiếp cận “Học qua Hành” là quá trình mà sinh viên học từ kinh nghiệm thay vì từ lí thuyết. Các kịch bản được thiết kế cho sinh viên làm việc thay vì nghe bài giảng lí thuyết. Lí do cho cách tiếp cận này có tác dụng tốt là ở chỗ nó gõ thẳng vào trung tâm của qui trình học tập căn bản mà con người vẫn dựa vào đó. Hành vi của con người được dựa trên kinh nghiệm nhiều hơn là lí thuyết về quan niệm. Con người học cách làm mọi thứ và qua tham gia vào kinh nghiệm, học cả sai hay đúng. Con người học khi nào thì áp dụng những qui tắc nào đó và khi nào chúng phải được thay đổi. Con người học khi nào những qui tắc nào đó có thể được tổng quát hoá và khi nào chúng là ngoại lệ. Con người học tất cả những điều này bằng việc làm thực tế, bằng việc thường xuyên có kinh nghiệm mới và cố gắng tích hợp những kinh nghiệm đó và cấu trúc kí ức hiện có của mình.   Tất cả các lớp học đều bắt đầu bằng “bài giảng trên video” cung cấp một tóm tắt về tài liệu sinh viên cần biết, phục vụ chỉ như một nguồn hướng dẫn. Sinh viên đi theo bài giảng với nhiệm vụ đọc thêm và tham gia vào thảo luận trong lớp dưới sự hướng dẫn của hướng dẫn viên. Họ học thảo luận và giải quyết vấn đề dựa trên tập các kịch bản được tổ hợp với các bài kiểm tra cá nhân và công việc tổ, nơi việc họ thực sự xảy ra. Để đảm bảo sinh viên hiểu các khái niệm, có bài đọc hằng tuần, bài kiểm tra và nhiệm vụ được phân công. Sinh viên được khuyến khích làm việc theo tổ để giải quyết vấn đề và chuyển giao vật phẩm dựa trên các vấn đề tương tự như vấn đề họ sẽ gặp trong thực tế. Cách tiếp cận này là một kĩ thuật hiệu quả, vì khi sinh viên làm việc qua nhiệm vụ được phân công họ học các kĩ năng chủ chốt cần cho việc hoàn thành thành công nhiệm vụ của họ.  Sinh viên phải tự xem video bài giảng trước một hai lần, có slide và tiếng nói, tập nghe tiếng Anh cho quen. Năm thứ nhất và thứ hai khi vào lớp giáo viên có thể dùng bản ngữ để giải thích. Nhưng vào năm thứ 3 trở đi phải học hoàn toàn bằng tiếng Anh.  Các bài học được thực hiện hằng tuần trong ba phiên liên tiếp.  Phiên thứ nhất là làm bài kiểm tra, sau đó chữa luôn bài kiểm tra trên lớp với giả định sinh viên đã tự đọc trước về nội dung tri thức của bài.  Phiên học thứ hai được tiến hành dựa trên nhận định về khả năng làm bài kiểm tra của sinh viên. Giáo viên xác định những điểm nút về tri thức và kĩ năng mà sinh viên còn thiếu, chưa thể hiện được qua bài kiểm tra. Từ đó giáo viên giảng giải kĩ hơn về những điểm sinh viên có thể chưa hiểu rõ hay những điểm quan trọng nhất cần nắm.  Sau đó, vào phiên học thứ ba giáo viên đưa ra các chủ đề để cho sinh viên có thể thảo luận và làm việc tại các tổ, tổ chức cho các tổ thuyết trình các giải pháp mình tìm ra.  Sau khi học khoảng 5-6 tuần sẽ có một kì thi giữa kì, dựa trên các câu hỏi của bài đã học để khắc hoạ lại những điều đã học. Cuối khoá học có kì thi tổng kết, dựa trên quãng 50 câu hỏi mà sinh viên còn chưa làm được.  Việc kiểm tra và thi được tiến hành thường xuyên hằng tuần dựa trên giải quyết vấn đề. Bài thi không nhất thiết phải ăn nhập với điều có trong sách mà là vấn đề thực tế được nêu ra.  Quan điểm thiết kế chương trình đào tạo của CMU  Từ thay đổi quan niệm căn bản về giảng dạy của giáo viên để chuyển sang nhấn mạnh vào quá trình học tập của sinh viên, cách tổ chức học tập trong suốt 4 năm tại trường cũng có những thay đổi căn bản so với cách tổ chức học tập truyền thống.     Chương trình đào tạo của CMU được thiết kế để thực hiện việc học qua hành đúng đắn, tích hợp tất cả các khía cạnh của nhiệm vụ thế giới thực, đối lập với việc dạy kĩ năng một cách độc lập dựa trên lí thuyết không có ngữ cảnh.   Năm thứ nhất giới thiệu tổng quan: học cái gì   Năm thứ nhất là “năm chuyển tiếp” nơi sinh viên dự bài giảng, làm bài tập về nhà, với các bài kiểm tra hằng tuần dựa trên phương pháp truyền thống “ghi nhớ” và “học thuộc lòng.” Nhưng có thêm việc thảo luận trên lớp và công việc tổ hội tụ vào trình bày để làm cho sinh viên quen thuộc với cách tiếp cận “Học qua Hành”.  Tất cả chương trình học tập trong 4 năm đều được giới thiệu ngay cho sinh viên năm thứ nhất. Nhấn mạnh chủ yếu là khuyến khích và động viên sinh viên theo học cách học mới, biết mở rộng trước và sau đó biết cách thực hiện trong thực tế.  Việc đọc sách báo hiện thời và các bài tạp chí được nhấn mạnh là để mở rộng kĩ năng của sinh viên chứ không đi theo cách tiếp cận “sách giáo khoa” cổ điển nơi hướng dẫn duy nhất cho sinh viên là tài liệu do tác giả của cuốn sách giáo khoa đó soạn ra. Ngay trong năm thứ nhất, sinh viên đã bắt đầu làm việc trong tổ và cộng tác lẫn nhau để làm việc.  Năm thứ hai : học cách làm   Việc học tập của sinh viên từ năm thứ hai chuyển từ bề rộng sang bề sâu, đi vào cách thức thực hiện,  thường là những cách thức do người khác đã tìm ra.  Trong năm thứ hai và trong toàn khoá, sinh viên sẽ được đặt vào trong một loại tình huống mà họ cần dùng điều họ đã học để giải quyết vấn đề. Sinh viên đi tới hiểu ra khi nào, tại sao, và làm thế nào họ phải dùng những kĩ năng này theo việc. Họ học bằng việc thực tế làm các nhiệm vụ “đúng thời gian.” Điều này nghĩa là họ thực sự học khi họ muốn biết thông tin, khi thông tin trở thành có nghĩa nhất cho họ, và theo cách đó họ sẽ rất có thể ghi nhớ thông tin này về sau khi họ cần tới nó trong nghề nghiệp của mình.  Năm thứ ba : học cách tự làm   Sinh viên được học tập bằng cách tự mình tiến hành cách thức thực hiện những tình huống mô phỏng thực tế. Những bài học tình huống hoàn toàn kĩ thuật được nêu ra để sinh viên xử lí. Chẳng hạn khi kĩ thuật thay đổi, dự án sinh viên đang thực hiện phải bị thay đổi, khi hoàn cảnh thay đổi thì người thực hiện dự án phải chủ động thay đổi.  Sinh viên làm việc trong các tổ, được trao cho các thông tin chi tiết về công ty được mô phỏng mà họ làm việc cho, cùng với các dự án chi tiết và đích thực, thông qua các câu chuyện và tình huống. Có sẵn sự hỗ trợ về tài liệu và tài nguyên, và có giáo viên trợ giúp để trả lời các câu hỏi và hướng dẫn sinh viên theo đúng hướng khi cần. Hiệu quả của cách tiếp cận này là ở chỗ sinh viên làm việc thông qua các chuyện kể để đạt tới mục đích mà câu chuyện tạo ra, học các kĩ năng chủ chốt cần cho việc hoàn thành thành công nhiệm vụ của họ trong cuộc sống thực.  Năm thứ tư: học trong ứng dụng thực  Năm thứ tư học theo việc áp dụng vào các dự án thực tế liên quan tới yêu cầu hiện tại của công nghiệp. Sinh viên sẽ tham gia vào các dự án thực, thường gọi là capstone, mỗi capstone kéo dài trong 6 tháng  Phương pháp giảng dạy Học qua Hành được tiến hành bằng việc chia lớp thành các tổ dự án làm việc cho các công ty. Các tổ phải tự động xây dựng dự án xem như bài tập. Mọi thay đổi, mọi biến động của  dự án đều là thực và tổ dự án phải thích ứng được với các hoàn cảnh thực tế đó. Học sinh vừa học vừa làm theo sự phức tạp của thực tế.   ***  Xu hướng đào tạo các kĩ sư thực hành tại Đại học Carnegie Mellon đã được ngành công nghiệp Mỹ chấp nhận và trường CMU được thừa nhận là một trong những trường đi tiên phong trong lĩnh vực đổi mới này. Không những thế, cách đào tạo này đang được triển khai trên qui mô toàn thế giới. Cho tới nay, các nước đã triển khai chương trình đào tạo kĩ sư phần mềm của CMU bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các tiểu vương quốc Arab và Việt Nam.     Với thời gian, chúng ta có thể được chứng kiến rõ ràng hơn về những thay đổi căn bản trong quan niệm giáo dục sẽ đưa tới những đổi mới thực tế nào về cách giảng dạy đại học cho sát với nhu cầu của xã hội và nền kinh tế.  ——-   * Nhóm Kỹ thuật Phần mềm Việt Nam (SEGVN)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học công và tư – song hành hay dẫm chân nhau?      Có một thực tế ở Việt Nam hiện nay là trừ một số trường và ngành đào tạo công lập có ưu thế và danh tiếng riêng, thì đa phần các trường, đặc biệt là các trường công lập nhỏ và mới thành lập gần đây, hầu như không có sứ mạng gì khác với trường ngoài công lập, tức là cũng chỉ nhắm vào đào tạo nghề nghiệp cho người học.    Ở những nước có nền đại học (ĐH) phát triển cao, thị phần của các loại hình trường (công lập và ngoài công lập, lợi nhuận và phi lợi nhuận) rất rõ ràng. Trường ngoài công lập (NCL) hoạt động vì lợi nhuận nên chỉ có một mục tiêu duy nhất là đào tạo cho người học có một nghề nghiệp vững chắc để kiếm được việc làm tử tế, vì vậy giáo dục ĐH ở đây đơn thuần là một đầu tư cá nhân, và do các cá nhân quyết định. Còn các trường ĐH công lập, hoặc NCL phi lợi nhuận có mục tiêu khác, cao cả hơn, không chỉ đào tạo nghề mà còn là nơi sáng tạo ra tri thức mới, nơi lưu giữ và truyền bá các thành tựu văn hóa, khoa học và kỹ thuật của nhân loại; cũng như phát hiện và phát triển tài năng, nhân tài cho quốc gia và toàn thế giới, đóng góp vào sự phát triển của loài người. Với mục tiêu khác nhau như vậy thì đầu vào của các loại hình trường này cũng khác nhau. Trường NCL không nhắm đến việc tuyển chọn nhân tài, mà chấp nhận bất cứ cá nhân nào có nhu cầu học và có thể trang trải học phí. Ở đây chúng ta thấy một tình trạng mà cả ba bên cùng có lợi: người học xem đó là một đầu tư cho tương lai và sẵn sàng chấp nhận các chi phí; còn về phía nhà trường, nếu có nhiều người học thì nghĩa là đang cung cấp một dịch vụ có lời; Nhà nước có lợi vì không phải bỏ tiền ra đầu tư nhưng vẫn có được lực lượng lao động trình độ cao. Còn trường công lập hoặc trường phi lợi nhuận có những tiêu chí riêng để tuyển sinh viên. Do những trường này sử dụng tiền của đơn vị khác (Nhà nước hoặc các nhà tài trợ) thì tất nhiên sẽ phải đáp ứng những yêu cầu của nơi đầu tư kinh phí. Cho nên về nguyên tắc, hai loại hình này không cạnh tranh nhiều với nhau mà hoạt động song song và thậm chí kích thích nhau cùng phát triển. Thế nhưng tình hình ở Việt Nam hiện nay lại rất khác. Trừ một số trường và ngành đào tạo công lập có ưu thế và danh tiếng riêng (ví dụ như ngành y, hoặc các ĐH quốc gia với suất đầu tư riêng), thì đa phần các trường, đặc biệt là các trường công lập nhỏ và mới thành lập gần đây hầu như không có sứ mạng gì khác với trường NCL, tức là cũng chỉ nhắm vào đào tạo nghề nghiệp cho người học. Đầu vào của các trường công lập không có gì khác so với trường NCL, cũng lấy theo điểm sàn (có lúc, có nơi còn lấy thấp hơn điểm sàn theo chỉ tiêu “đào tạo theo địa chỉ”), cuối cùng thì cũng để thu học phí từ người học mà thôi. Cái khác duy nhất ở chỗ trường công lập mang danh nghĩa là trường của Nhà nước, ít nhiều được Nhà nước hỗ trợ nên mức thu học phí thấp hơn, khiến nhiều người muốn thi vào trường công lập. Còn các trường NCL phải tự lực cánh sinh nên học phí cao hơn, dẫn tới khó thu hút thí sinh. Như vậy, sự cạnh tranh đang thiên về hướng có lợi cho các trường công lập, và trường NCL rõ ràng đang bị thiệt thòi. Nhà nước nên nhìn nhận rõ ràng về vai trò của trường công lập và trường NCL để có những chính sách hợp lý. Cần phải đặt ra những yêu cầu, tiêu chí trong đào tạo, và có sự giám sát chặt chẽ để đảm bảo các trường công lập tập trung vào cải thiện chất lượng giáo dục (còn với các trường NCL thì tự thân họ đã chịu sự giám sát rất chặt chẽ của thị trường) thay vì đào tạo một cách ồ ạt như hiện nay. Có như vậy các trường công lập mới có sự chọn lọc nghiêm túc cần thiết trong công tác tuyển sinh, và như vậy các trường NCL mới có thể tuyển đủ đầu vào để tồn tại phát triển.    Author                Quản trị        
0.27586206896551724
__label__tiasang   ————–  (*) Viện IRED (TP. HCM)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học – Doanh nghiệp: Duy trì khoảng cách ngắn      “Giáo dục kĩ thuật và nhu cầu thực tiễn về các kĩ sư trong những năm gần đây cứ ngày càng giãn xa nhau. Từ nhận thức về việc phải xóa bỏ khoảng cách rất rộng ấy, những trường kĩ thuật hàng đầu từ Mỹ, châu Âu, Canada, Vương quốc Anh, châu Phi, châu Á và New Zealand đã cùng lập ra Sáng kiến CDIO: nỗ lực cộng tác toàn cầu để khởi phát các ý tưởng và phát triển một tầm nhìn mới về giáo dục kĩ thuật”.    Đó chính là lời mở đầu súc tích và dứt khoát về sự cần thiết phải nỗ lực cải cách mạnh mẽ việc đào tạo ra các kĩ sư sẵn sàng làm việc ngay khi rời ghế nhà trường đại học để tham gia hiệu quả vào các công việc kĩ thuật đang có nhu cầu lớn và biến đổi không ngừng trong thế kỉ 21.   Sáng kiến CDIO   Sáng kiến CDIO khởi phát từ Viện Công nghệ Massachussets (MIT)1 vào cuối những năm 1990. Năm 2000, MIT hợp tác với ba đại học ở Thụy Điển để xây dựng chương trình CDIO và sau đó mở rộng ra nhiều trường đại học khác trên thế giới. Giáo trình CDIO gồm bốn phần: Kiến thức và nguyên lí kỹ thuật; Các kỹ năng cá nhân và kỹ năng nghiệp vụ; Kỹ năng giao tiếp; CDIO.   Ý tưởng chính của sáng kiến CDIO rất dễ hiểu: các kĩ sư cần năng lực gì để làm việc, thì nhà trường giúp sinh viên đạt những cái đó trước khi ra trường; cả cái cần phải học tới cách học đều phải tương xứng. Chương trình giáo dục kĩ thuật dựa trên triết lí CDIO sẽ cho phép các kĩ sư tương lai trải nghiệm đầy đủ và sâu sắc các công việc chủ đạo mà họ sắp phải thực hiện, từ việc khởi phát ý tưởng (Conceive), thiết kế sản phẩm (Design), Chế tạo (Implement) và vận hành sản phẩm (Operate). Thông qua cái khung C-D-I-O đó, sinh viên kĩ thuật sẽ lĩnh hội các kiến thức và kĩ năng chuyên ngành, cũng như rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng liên cá nhân và các phẩm chất quan trọng mà một người kĩ sư thế kỉ 21 cần phải có.   Để hiện thực hóa triết lí đó, phương pháp luận CDIO nhấn mạnh tới việc đưa doanh nghiệp xích lại gần với trường học thông qua hai giai đoạn chính yếu: cung cấp đầu vào cho quá trình xây dựng các Chuẩn đầu ra (learning outcomes) của chương trình đào tạo, và cung cấp phương tiện và không gian để các kĩ sư trải nghiệm những kĩ năng chuyên môn. Quy trình xây dựng chương trình đào tạo của CDIO yêu cầu sự tham gia của các bên liên quan, trong đó vai trò của doanh nghiệp đặc biệt quan trọng bởi đây là nơi cung cấp các yêu cầu về kĩ năng chuyên môn, kĩ năng mềm chuyên nghiệp mà một kĩ sư phải có – cơ sở cho việc xây dựng các giáo trình đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, việc sát cánh cùng doanh nghiệp sẽ giúp nhà trường khởi tạo được các không gian trải nghiệm kĩ thuật (các phòng thí nghiệm, xưởng chế tạo, studio thiết kế, v.v.).  Ngay sau năm năm triển khai đầu tiên (2000-2005), MIT2 đã nhận ra các thành quả vượt bậc mà CDIO mang lại cho các chương trình đào tạo của mình: các kỹ năng được chú trọng trong chương trình CDIO phù hợp với yêu cầu của các viện nghiên cứu và doanh nghiệp, sinh viên hài lòng với cách “học qua hành” (design-build experience) và hiểu sâu sắc hơn về các nguyên lý kỹ thuật, các giảng viên sử dụng đa dạng phương pháp giảng dạy và đánh giá sinh viên, số lượng người tham gia chương trình CDIO ngày càng tăng và số người thi trượt giảm rõ rệt.    Nhiều trường khác trên phạm vi toàn cầu đã có những báo cáo thành công tương tự tại các hội thảo thường niên của cộng đồng CDIO trong nhiều năm qua. Chính từ những thành công đó, Sáng kiến CDIO tới nay đã thu hút hơn 120 trường đại học trên khắp thế giới hưởng ứng với tư cách thành viên chính thức, và nhiều trường khác đang âm thầm sử dụng các kiến thức, công cụ do CDIO cung cấp để thực hiện việc cải tiến các chương trình đào tạo kĩ thuật và phi kĩ thuật để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực.   Đại học Việt Nam tiếp cận CDIO  Các trường đại học ở Việt Nam đã bắt đầu quan tâm và tham gia vào tiến trình đổi mới đáng chú ý này. Tham gia sớm và bền bỉ nhất là ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Theo báo cáo tại Hội nghị CDIO khu vực châu Á cuối tháng 3-2015, sau hơn năm năm triển khai, ĐH Quốc gia TP HCM đã thực hiện cải cách 45 chương trình đào tạo theo tiếp cận CDIO. Thành tựu lớn nhất, như nhận định của các chuyên gia triển khai CDIO tại đây, chính là đội ngũ giảng viên đã được nâng cao trình độ lên rất nhiều sau hàng loạt chương trình phát triển đội ngũ để thực hiện các mục tiêu CDIO. Lứa sinh viên đầu tiên ra trường trong năm nay đang tràn trề hy vọng vào những “quả ngọt” do triển khai CDIO mang lại.            Ý tưởng chính của sáng kiến CDIO rất dễ hiểu:  các kĩ sư cần năng lực gì để làm việc, thì nhà trường giúp sinh viên đạt  những cái đó trước khi ra trường; cả cái cần phải học, tới cách học đều  phải tương xứng.            Cũng tại Hội nghị CDIO khu vực châu Á tại TP Hồ Chí Minh tháng 3-2015, Đại học FPT mang lại một câu chuyện vừa lạ vừa quen với cộng đồng CDIO. Sinh ra từ một doanh nghiệp, Đại học FPT đã thiết lập khoảng cách Doanh nghiệp-Nhà trường bằng 0 ngay từ đầu. Tận dụng lợi thế của mình, Đại học FPT đã tích hợp chặt chẽ giữa chương trình đào tạo của nhà trường với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp (trước hết là các đơn vị thành viên của tập đoàn FPT với tư cách là nhà tuyển dụng, sau đó là mở rộng ra bên ngoài). Chương trình đào tạo được xây dựng trên căn cứ khảo sát kĩ lưỡng nhu cầu của ngành ICT, mô hình đào tạo hướng kĩ năng thực tiễn, dựa trên các chuẩn mực quốc tế từ giáo trình tới quy trình giảng dạy. Các sinh viên được trải nghiệm các khóa học thực tiễn trong công việc dài ngày(on-job-training), cùng với các chính sách tư vấn hướng nghiệp có hệ thống trong suốt quá trình đào tạo. Tới nay, các chương trình đào tạo CNTT bậc đại học của Đại học FPT, nơi có sự tích hợp chặt chẽ nhất giữa nhà trường-doanh nghiệp, đã cung cấp các đội ngũ kĩ sư đáp ứng tiêu chuẩn cao, với tỉ lệ có việc làm đúng ngành đạt 98% chỉ sau ba tháng tốt nghiệp. Cùng với các công tác hướng nghiệp, quan hệ doanh nghiệp có chất lượng, Đại học FPT được tổ chức kiểm định độc lập QS đánh giá mức độ 4 sao (trên thang điểm 5) cho tiêu chí về khả năng sẵn sàng cho công việc sau khi tốt nghiệp (Employability). Đó là một thành tựu rất khác biệt so với với tình hình chung hiện nay. Cách tiếp cận mới của Đại học FPT là một minh chứng sống động về kết quả tất yếu của việc đào tạo gắn liền với nhu cầu của nền công nghiệp.   Bằng cách này hay cách khác, các cơ sở đào tạo đang nỗ lực hết mình để mang lại chất lượng giáo dục cao nhất cho người học như chúng ta đã thấy trong cộng đồng CDIO toàn cầu, hay những cơ sở giáo dục kiểu mới như Đại học FPT. Trong xu thế không thể đảo ngược, các trường đại học sẽ phải không ngừng duy trì một khoảng cách ngắn với các doanh nghiệp để có thể cung cấp cho họ những kĩ sư sẵn sàng làm việc, sẵn sàng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao nhất cho xã hội.   —————————————————————-  Chú thích:  1 Theo: http://web.mit.edu/edtech/casestudies/cdio.html  2 Theo: http://web.mit.edu/edtech/casestudies/cdio.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Đông Dương: Khái quát một lịch sử thăng trầm (phần 1)      Đại học Đông Dương khi ra đời đã hứng chịu không biết bao nhiêu búa rìu dư luận và có lúc phải đóng cửa.      Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ Đông Dương (1908). Ảnh: La Dépêche coloniale illustrée, 15.05 1908  Đại học Đông Dương chỉ là cái mặt tiền, dùng để đánh lừa dư luận chính quốc”.2 Nhận định này được đưa ra công chúng vào năm 1925, thời điểm toà nhà chính của Đại học Đông Dương tại Hà Nội vừa mới hoàn thành.    Tại sao lại có nhận định như vậy? Tiếp theo và đồng hành cùng bước chân quân viễn chinh xâm lược Đông Dương3, người Pháp đã từng bước xây dựng tại đây một hệ thống giáo dục dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính thức, trong đó có dạy tiếng bản địa (tiếng Việt, tiếng Campuchia, tiếng Lào, tùy theo từng nơi), để thay thế dần cho hệ thống giáo dục bản xứ. Hệ thống này gồm các trường tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học. Bên cạnh đó còn có các trường dạy nghề. Trong các báo cáo, các tài liệu của chính quyền Pháp tại Đông Dương và tại chính quốc thời kỳ trước 1945 về giáo dục tại Đông Dương thường dùng hai từ để chỉ giáo dục cao đẳng và đại học (sau trung học), 1 là từ “Université”, 2 là từ “Enseignement supérieur”. Trong các tài liệu này, những trường như Y Hà Nội, Sư phạm Đông Dương, Mỹ thuật Đông Dương, Luật Đông Dương, Khoa học Đông Dương được xếp vào nhóm giáo dục đại học mà nguyên văn tiếng Pháp là “Enseignement supérieur”. Các trường này lại được tập hợp lại trong một trường gọi là “Université de l’Indochine” (hoặc “Université indochinoise”, hoặc “Université d’Hanoi”). Từ thời Pháp, đã có tác giả Việt Nam dịch “enseignement supérieur” là giáo dục đại học và Université indochinoise là Trường Cao đẳng Đông Dương4 (thực ra Université là Trường Đại học). Trong tài liệu này, chúng tôi gọi chung là giáo dục đại học khi dịch từ “enseignement supérieur” từ tiếng Pháp qua tiếng Việt, còn từ Université là (Trường) Đại học. Tuy nhiên khi đi vào cụ thể từng trường (école – trường học nói chung), từng giai đoạn, tuỳ theo tính chất và trình độ đào tạo cụ thể mà có thể coi là đại học hay cao đẳng.  Từ Trường Y Hà Nội 1902 đến Đại học Đông Dương 1906  Trong báo cáo gửi về Bộ Thuộc địa, ký ngày 22/3/1897, Toàn quyền Paul Doumer đã nhận định như sau:   “Vào thời điểm hiện tại, tình hình chính trị toàn Đông Dương không đáng lo ngại hay thực sự tồi tệ ở bất cứ đâu”… “các quan lại, phụ tá của chúng ta, phần lớn chân thành hợp tác với sự nghiệp Pháp”5.  Trong bối cảnh được mô tả như vậy, Toàn quyền Paul Doumer, Tổng thống tương lai của nước Pháp, đã nghĩ đến việc thành lập một trường y tại Đông Dương. Sau khi nghiên cứu những điều kiện cần thiết, Trường Y Hà Nội đã được thành lập chính thức bởi Nghị định ký ngày 8/1/1902.6 Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của giáo dục đại học theo mô hình hiện đại phương Tây ở Đông Dương. Như vậy đã phải đợi tới 40 năm sau khi chiếm Nam Kỳ, biến đây thành thuộc địa, và sau 18 năm thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ, lần đầu tiên một cơ sở giáo dục bậc cao đẳng mới được thành lập tại Đông Dương bởi chính quyền Pháp.  Vào cuối thế kỷ 19, nhìn chung những cuộc khởi nghĩa yêu nước chống Pháp của người Việt Nam đã bị đàn áp. Nhật Bản, một đất nước đồng văn, đồng chủng Á châu, đã thành công trên con đường hiện đại hoá và giành được thắng lợi trong cuộc chiến 1904-1905 với một cường quốc châu Âu khi đó là Nga. Tấm gương Nhật Bản đã ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam và gợi cho các nhà nho yêu nước ý tưởng tìm kiếm một sự giúp đỡ từ bên ngoài cho mục tiêu giành lại độc lập dân tộc. Toàn quyền Paul Beau khi đó đã bình luận sự kiện này như sau:  “Chiến tranh Nga-Nhật đã làm xuất hiện ở một số người dân được chúng ta bảo hộ tia hi vọng về chấm hết sự đô hộ của chúng ta”.7   Vào năm 1906, Phan Bội Châu, bậc đại nho yêu nước và những đồng chí của cụ đã hướng đến Nhật Bản, gửi tới đây những thanh niên để học về khoa học.8 Chính quyền Pháp tại Đông Dương cũng đã nhận thấy có một số lượng nhỏ những người An Nam mà họ gọi là “những người được họ bảo hộ” hiện đang ở Nhật Bản.9 Trước hoạt động yêu nước này, Hội đồng Hoàn thiện giáo dục bản xứ, trong kỳ họp đầu tiên vào tháng 4/1906 đã ra một đề xuất:   “Thiết lập tại Đông Dương, dưới tên gọi Đại học (Université), một khóa giảng dạy bậc cao dành cho các sinh viên thuộc địa và những nước lân cận. Mục đích của cơ sở giáo dục này là phổ biến ở vùng viễn đông, nhất là nhờ thông qua tiếng pháp, những kiến thức khoa học và phương pháp châu âu. Đại học này đặt dưới quyền trực tiếp của Toàn quyền”10.  Đáp lại đề xuất này, Toàn quyền Paul Beau đã quyết định thành lập Đại học Đông Dương, đặt tại Hà Nội, bằng Nghị định số 1514a ký ngày 16/5/1906.11 Chúng tôi cho rằng đây là một giải pháp chính trị để thu hút dân chúng bản địa, đặc biệt là để đối phó với phong trào Đông Du đưa thanh niên sang Nhật học về khoa học kỹ thuật. Dù với động cơ nào, thì đây cũng là sự kiện đánh dấu một bước tiến triển của giáo dục đại học ở Đông Dương thuộc Pháp.  Theo các Nghị định ký ngày 24/9/1907 liên quan đến Đại học Đông Dương, 22 khóa học tại Đại học Đông Dương đã được ấn định, chia làm 3 ban, đó là:    Ban Khoa học: toán học, cơ học và vũ trụ học, vật lý, hóa học đại cương; hóa học và công nghệ, động vật học, thực vật học, địa chất, sinh lý và vệ sinh;      Ban Văn học: ngôn ngữ Pháp, văn học Pháp, lịch sử đại cương, lịch sử Đông Dương và Viễn Đông, lịch sử so sánh triết học, sư phạm tổng quát, sư phạm thực tiễn và tổ chức trường học, địa lý đại cương, địa lý của Đông Dương và Viễn Đông;      Ban Pháp lý: luật pháp Pháp, luật An Nam, luật pháp và hành chính của người An Nam, kinh tế chính trị và luật thương mại.    Phụ trách các khóa học gồm 15 người được chọn ra trong số các lãnh đạo các sở, quan tòa, kỹ sư công chính, bác sĩ quân đội, các nhà quản lý dân sự, v.v. Các lớp ở Hà Nội khai giảng vào ngày 4/11/190712; có 94 sinh viên và 74 dự thính viên tự do. Nếu tính đầy đủ, phải kể thêm 37 sinh viên năm thứ nhất của Trường Y, những người này tham gia các khóa học khoa học.   Các lớp học được tổ chức vào buổi tối để các viên chức bản địa có thể theo học. Trên thực tế, trong số các sinh viên, phần lớn là các viên chức hành chính và giáo dục. Một vài sinh viên  đến từ lĩnh vực kinh doanh. Những dự thính viên tự do, trong số đó có vài gương mặt người âu và giới thượng lưu bản địa, đến học đơn thuần chỉ để hoàn thiện học vấn chung của họ.  Hội đồng hoàn thiện Đại học đã ra Nghị quyết trong phiên họp ngày 8/10/1907 về quy chế nội bộ. Đại học Đông Dương sẽ tiếp nhận đều đặn các sinh viên. Họ sẽ được cấp cho quyền thực hành và đăng ký đọc sách tại thư viện. Họ phải có bằng trung học cơ sở Pháp-Việt hoặc bằng trung học Sư phạm hoặc một văn bằng tương đương. Những sinh viên có thể chỉ cần tham dự kỳ kiểm tra cuối năm và kỳ kiểm tra ấn định theo ban tương ứng. Các dự thính viên tự do phải được sự chấp thuận của các giảng viên. Họ không được quyền đăng ký quá 3 lớp. Đại học được đặt tại Hà Nội, trong tòa nhà từng là khách sạn của Toàn quyền.      “Đại học giúp chúng ta nâng cao phẩm giá, hạnh phúc”.1      Chính sách học đường của Antony Klobukowski   Sau quyết định thành lập Đại học Đông Dương, Toàn quyền Paul Beau hứng chịu nhiều chỉ trích. Theo C.Mus, nguyên Hiệu trưởng Cao đẳng Sư phạm Đông Dương13, ở chính quốc và nhất là ở thuộc địa, dư luận chung không có sự thống nhất về quyết định của Toàn quyền Beau. Quyết định của ông bị so sánh giống như “đặt cái cày phía trước con bò” bởi vì vào thời điểm thành lập Đại học Đông Dương “không có một khoá dạy nào về nông nghiệp trong các trường tiểu học, nhưng ngược lại, những bài học dài về các khái niệm của Descartes hoặc của Kant lại được đem đến cho sinh viên Đại học Đông Dương”.14 Nhưng theo Mus, những chỉ trích này là không có cơ sở bởi vì Henri Goudon, Giám đốc Nha Học chính Đông Dương khi đó và Paul Beau đã thành lập cơ sở giáo dục này chỉ cao hơn giáo dục phổ thông và phù hợp với năng lực học sinh và khả năng thực hành căn bản. Vả lại, đã có những phương án cần thiết để tránh dẫn đến việc đào tạo ra những cá nhân kiêu căng, mất gốc15 (mất gốc ở đây, theo chúng tôi, có thể hiểu là quên ơn nước Pháp).  Năm 1908, Toàn quyền Antony Klobukowski thay thế Paul Beau, đã đánh dấu thời kỳ ảm đạm của giáo dục bậc cao ở Đông Dương. Thật vậy, dưới thời của ông, Đại học Đông Dương đã bị đóng cửa mà không có lời giải thích nào của chính quyền, ngoại trừ Trường Y thành lập từ năm 1902 vẫn tiếp tục được hoạt động.  “Đại học Đông Dương bị xóa bỏ mà không hề có tuyên bố chính thức nào. Trường phải dừng hoạt động sau năm học đầu tiên. Ngày 15/6/1907, những lớp học đã hoàn thành để bước vào kỳ nghỉ hè. Rồi sau đó nó không bao giờ được mở lại. Một ngày kia người ta thông báo rằng Trường sẽ được thay thế bằng những lớp học bình dân, nhưng những lớp học này cũng không bào giờ được tổ chức. Không có khoản kinh phí nào dự trù cho năm 1909, những sách của thư viện bị chuyển đến Trường Viễn Đông Bác cổ, rồi được phân tán ra những nơi như Trường trung học Paul Bert và Trung học Bảo Hộ (Trường Bưởi). Những bộ sưu tập bị phân phát đi, phòng thí nghiệm mới được thành lập phải chuyển đến Bảo tàng Lịch sử tự nhiên. Đại học Đông Dương chỉ còn là một kỷ niệm mà thôi”.16  Đâu là lý do Đại học Đông Dương không được hoạt động chỉ sau một năm học? Vì không có một lời giải thích chính thức nào từ phía chính quyền nên không thể biết chính xác đâu là nguyên nhân thực sự.17 Dưới đây là giải thích cuả C.Mus:  “Klobukowski, tân Toàn quyền Đông Dương, con rể của Paul Bert, đã không do dự thực hiện chính sách phản tự do. Ông tiếp tục quan tâm đến phát triển giáo dục tiểu học và trung học. Nhưng ông cho rằng vẫn còn chưa chín muồi để triển khai giáo dục đại học ở đây. Cần phải chờ đợi để trang bị cho Đông Dương một trường Đại học, trong lúc đó thì phải chuẩn bị đào tạo những học sinh tốt hơn để sẵn sàng đón nhận giáo dục đại học”.18  Sau khi Đại học Đông Dương bị ngừng hoạt động, giáo dục sau trung học chỉ còn Trường Y được tiếp tục hoạt động, nhưng số sinh viên đầu vào phải giảm xuống còn 6 thay vì 20 như trước đó. Theo chúng tôi, Klobukowski đã có những quyết định như vậy là để tránh những áp lực chỉ trích giống như Paul Beau đã phải chịu và ông cũng không muốn mạo hiểm với số phận chính trị của mình.   Đại học Đông Dương được mở cửa trở lại vào năm 1917 thời Toàn quyền Albert Sarraut   A.Saraut được mô tả là một chính trị gia khôn ngoan. Ông luôn biết thực hiện chính sách ở thuộc địa sao cho có lợi nhất  đối với nước Pháp nhưng lại hạn chế được những bất mãn của người dân bản địa. Đến Hà Nội vào năm 1916 để đảm nhiệm chức Toàn quyền Đông Dương vào thời điểm Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất đang căng thẳng ở châu Âu, Albert Sarraut đã từng bước làm cho giáo dục đại học ở đây tạm thời kết thúc tình trạng ảm đạm. Đó là một trong những chính sách để lấy lòng dân Đông Dương đang bị huy động sức lực cho chiến tranh bên Pháp.  Ban Học chính cao đẳng được thành lập theo Nghị định ngày 8/7/1917 thuộc Phủ Toàn quyền. Ban có chức năng nhiệm vụ là tổ chức chế độ học tập và hoàn thiện chương trình đào tạo. Những trường cao đẳng, đại học sẽ được mở cửa tại Đông Dương cho sinh viên Pháp và sinh viên bản địa. Đại học Đông Dương được mở cửa trở lại vào năm học 1917-1918, bao gồm có sáu trường thành viên: Trường Y; Trường Thú y, Trường Pháp chính (Pháp luật và Hành chính); Trường Sư phạm; Trường Nông Lâm; Trường Xây dựng công (Công chính).19  Tháng 12/1917, A.Sarraut đã ký ban hành bộ Học chính tổng quy.20 Đây được coi như văn bản pháp lí chung cho việc tổ chức giáo dục ở Đông Dương và cho cuộc cải cách giáo dục bắt đầu từ thời điểm đó. Lần cải cách này, giáo dục nho học, nền giáo dục truyền thống hàng trăm năm ở Việt Nam chính thức bị bãi bỏ khỏi hệ thống giáo dục chính quy. Giáo dục đại học trở thành một phần trong hệ thống giáo dục bằng tiếng pháp ở Đông Dương. Ngày 28/4/1918, những nhân vật cao cấp nhất của Đông Dương khi đó là vua Khải Định, Toàn quyền Sarraut, Bác sĩ Cognac – người đứng đầu Học chính Đông Dương cùng có mặt tại Hà Nội, tại Trường Y để khánh thành Đại học Đông Dương. Đại học Đông Dương lúc này đã có thay đổi so với Đại học Đông Dương thành lập năm 1906 dưới thời toàn quyền P. Beau. Cụ thể là ban khoa học và văn chương không còn nữa, thay vào đó là một số trường kỹ thuật và ứng dụng.    Đại học Đông Dương (1907-1908). Nguồn: La Dépêche coloniale illustrée, 15/05/1908     Việc khai giảng trở lại Đại học Đông Dương dưới thời Sarraut như mũi tên hướng nhiều đích. Đại học Đông Dương sẽ thay thế cho giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục truyền thống nói chung ở Đông Dương và nho học nói riêng ở Việt Nam để đào tạo ra những tinh hoa ưu tú bản địa phục vụ cho đường lối chính trị cộng tác Pháp-Việt (Pháp -Việt đề huề). Đại học Đông Dương sẽ chuẩn bị nhân lực phụ tá có trình độ tốt cho công cuộc khai thác thuộc địa một khi chiến tranh thế giới kết thúc. Đây cũng là giải pháp chính trị khôn khéo để xoa dịu sự bất bình của người dân Đông Dương. Thật vậy, chiến tranh thế giới nổ ra năm 1914, Đông Dương đã phải huy động rất nhiều nguồn lực vật chất và con người để giúp Pháp trong cuộc chiến mà họ tham dự. Theo Hoàng Ngọc Phách, người từng là sinh viên Cao Đẳng Sư phạm Đông Dương khoá 1919-1922 (khoá 3):   Đối với thanh niên trí thức thì Xa-rô (Sarraut) mở trường cao đẳng để mơn trớn mua chuộc, nói cách khác là nhốt họ vào cái ‘lồng son ống sứ’ để họ ngồi yên, không quấy rối và để họ ca tụng chế độ thực dân, nhất là lúc chiến tranh đương kịch liệt và Pháp đương thua to.21  Và cuối cùng, đó là mục tiêu làm giảm đi số lượng thanh niên tìm đường sang Pháp và ra nước khác học tập vì chính quyền lo ngại rằng “đường  đến nước Pháp là đường chống lại nước Pháp”, đường ra nước ngoài học tập cũng là đường chống lại nước Pháp. Chính Sarraut đã giải thích rõ việc này như sau:  “Trước chiến tranh, những người cách mạng Annam tạm trú ở Hồng Kong ở Tàu, Nhật và học ở các trường Đại học Nhật Bản hay Anh … Khi ta hỏi họ tại sao không theo học ở Đông Dương, họ trả lời: Thực dân không làm gì để dạy dỗ họ, vì chúng chỉ mở một thứ học chính thấp lẹt tẹt, “cho nên tôi đã mở những lycée (ly-xê, trường trung học phổ thông), trường cao đẳng cho người Annam để không còn đứa nào được quyền nhắc lại câu trên và trốn khỏi Đông Dương để đi học những bài dạy làm loạn ở chỗ khác”.22 (Còn tiếp)  —–  1 Thông điệp bằng chữ Latinh trong giảng đường lớn Đại học Đông Dương. Xem kỹ các tấm ảnh và các tư liệu về giảng đường Đại học Đông Dương trước 1945 và một số tài liệu liên quan, có thể khẳng định rằng nguyên văn dòng chữ latin này là : ALMA MATER EX TE NOBIS DIGNITAS UBERTAS FELICITAS,  (Dòng chữ này nằm giữa phía bên dưới của bức tranh tường của họa sĩ Victor Tardieu. Tranh được phục dựng năm 2006, nhưng những chữ trên thì tính tới thời điểm này (2021) vẫn chưa được khôi phục lại.  2 Nguyên văn tiếng Pháp là “L’Université indochinoise n’est qu’une façade, destinée à tromper l’opinion publique métropolitaine” xem  Georges Grandjean “Ère Nouvelle”, du 6 au 10 mars 1925 et Félicien Challage, “Cahiers de la Ligue des Droits de l’Homme”, du 10 mars 1925). Tác giả Bùi Quang Chiêu trích lại câu này trong bài viết của ông có tên: France d’Asie. L’Indochine moderne. Être ou ne pas être. Vers le dominion. (1925).  3 Chữ Đông Dương dùng chỉ 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, phía đông là biển (dương), mang tính chất chỉ vị trí địa lý. Nhưng chữ Indochine (dịch  ra là  Đông Dương), ban đầu người Pháp viết là Indo-Chine, đó là từ ghép của 2 từ : Indo, tức Inde- Ấn Độ và Chine-Trung Quốc. Từ Indochine này có sắc thái cả về địa lý và văn hoá, tức là chỉ vùng lãnh thổ nằm trong khu vực bị bao bọc bởi Ấn Độ phía tây và Trung quốc phía bắc, bên cạnh đó cũng là vùng chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa lớn này.  4 Báo Thanh Nghị, “Trường Cao đẳng Đông Dương hiện tại và tương lai”, số tháng octobre 1941 (số 5).  5 Paul Doumer, Situation de l’Indochine française de 1897 à 1901, Éd. Schneider (Hanoï), p.1,2.  6 Bulletin officiel de l’Indochine française, N°4, avril 1902, Arrêté du 8 Janvier 1902, créant à Hanoi d’une École de Médecine, p.39.  7 Paul Beau, Situation de l’Indochine de 1902 à 1907, tome 1, Imr Marcellin Rey, Saigon, 1908, p.162  8 Cụ Phan đã mời hoàng thân nhà Nguyễn là Kỳ ngoại hầu Cường Để, đích tôn của Hoảng tử Cảnh, làm minh chủ phong trào Đông Du. Khi đọc hồi kỳ của cụ Nguyễn Thức Canh, một nhân vật thuộc phong trào Đông Du, được đưa sang Nhật để học, đã giải đáp rằng: cụ Phan sở dĩ làm như vậy là vì cụ thấy khi ấy ở Việt Nam tư tưởng Cần Vương còn phổ biến, người Nhật thời ấy yêu chuộng trung quân, cho nên trong phong trào Đông Du cũng cần có một người hoàng gia Việt Nam để thu hút người Việt, và tạo được sự ủng hộ của người Nhật. (Xem Hồi Ký Trần Trọng Khắc, tức Nguyễn Thức Canh tức: Trần Trọng Khắc tự truyện, Năm mươi bốn năm hải ngoại, Tài liệu lịch sử cách mạng Việt Nam, trang 14.15)  9 Paul Beau, Situation de l’Indo-Chine de 1902 à 1907, tome 1, op.cit, p.162  10 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de perfectionnement de l’enseignement indigène, première session, Hanoi, avril 1906, imp L.Gallois, Hanoi, 1906, p.62  11 Archives Nationales d’Outre-Mer (ANOM), Fonds Gouverneur général de l’Indochinne, No dosssier: 48042.  12 Paul Beau, Situation de l’Indochine française de 1902 à 1908, tome 2, Éd: Schneider (Hanoï), 1908, p.321.  13 C Mus, La première Université indochinoise, impr G.Taupin & Cie, Hanoi, 1927.  14 C Mus, La première Université indochinoise, op.cit, p.10.  15 C Mus, La première Université indochinoise, op.cit, p.10,11.  16 C Mus, La première Université indochinoise, op.cit, p.10.  17 C Mus, La première Université indochinoise, op.cit, p.10.  18 C Mus, La première Université indochinoise, op.cit, p.10, 11.  19 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, (tome 2), 1917, p.117.  20 Inspection générale de l›instruction publique, Règlement général de l’instruction publique, Impr. Extrême-Orient, Haiphong, 1918.  21 Hoàng Ngọc Phách, Tuyen tap,(recueil par Nguyen Hue Chi) Ed. Van Hoc, Hanoi, 1989, p.181.  22 Nguyễn Văn Trung dịch và trích trong “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, thực chất và huyền thoại” t1- Văn hoá và Chính trị,  Nxb Nam Sơn, Sài Gòn 1963 , tr.131.    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Đại học Đông Dương: Khái quát một lịch sử thăng trầm (Phần 2)      Sự phát triển của Đại học Đông Dương mang dấu ấn của các Toàn quyền và các trí thức Pháp, với những thăng trầm, đứt gãy nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể.    Thành lập thêm một số trường cao đẳng thuộc Đại học Đông Dương     Như đã đề cập, vào lúc khai giảng Đại học Đông Dương năm học 1917-1918 có sáu trường thành viên. Đến tháng 10/1920, có thêm Trường Thương mại được thành lập. Tiếp đó theo Nghị định của Toàn quyền ký ngày 30/10/1922 Trường Khoa học ứng dụng đã được lập ra với nhiệm vụ đào tạo các kỹ sư bản địa chuyên môn để phục vụ trong các công ty công nghiệp và cho hệ thống hành chính công tại thuộc địa. Trường Khoa học ứng dụng có các ban chuyên môn sau: Điện, Xây dựng công (Công chính), Địa bạ, Mỏ, Hóa học. Duy nhất chỉ có ban Xây dựng công là đào tạo ở trình độ cao đẳng.        Mô hình tòa nhà trung tâm Đại học Đông Dương, nay là tòa nhà Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, 19 Lê Thánh Tông, được hoàn thành vào khoảng 1925    Để đáp ứng những thỉnh nguyện thư, một Trường Cao đẳng Văn chương đã được thành lập theo Nghị định ngày 26/7/19232. Trường Cao đẳng Văn chương sẽ giới thiệu đến công chúng về văn chương, triết học và xã hội học. Những buổi diễn thuyết về văn học Việt Nam, Trung Hoa, về lịch sử, địa lý, văn minh Đông Á (viễn đông), nghệ thuật và khảo cổ học sẽ được đảm trách bởi những thành viên của Trường Viễn Đông bác cổ (EFEO). Nhưng một năm sau, trường Văn chương cùng với Trường Pháp Chính đã bị xóa bỏ bằng Nghị định ngày 18/9/1924, nhưng thay thế vào đó là Trường Nghiên cứu Đông Dương.3    Theo số liệu thống kê, tính đến năm 1925 đã có tổng số 1.043 sinh viên tốt nghiệp từ các ban và trường thuộc giáo dục Đại học Đông Dương. Trong đó vượt trội nhất là thuộc trường Xây dựng công với 358 người, tiếp đến là trường Y với 231, thứ ba là Pháp Chính với 136, còn lại là thuộc về các trường và ban thương mại, khoa học, nông lâm, thú y, sư phạm đều ở mức dưới 1004.     Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 và tạm ngừng hoạt động một số trường thành viên Đại học Đông Dương     Cuộc khủng hoảng thị trường tài chính chứng khoán năm 1929 tại Mĩ đã châm ngòi cho cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới trong thế kỷ 20. Tình trạng thất nghiệp và nghèo túng bùng phát toàn cầu. Đông Dương cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Số lượng thanh niên trí thức tốt nghiệp từ cao đẳng, đại học khi đó cũng không tìm được việc làm vì các nha sở, ban ngành tại Đông Dương đã tạm dừng việc tuyển dụng nhân sự từ năm 1931. Đến năm 1935, Toàn quyền Robin đã đẩy mạnh tuyển dụng lao động trẻ vào trong các cơ quan trong thời hạn nhanh nhất có thể. Nhờ đó tất cả các bác sĩ Đông Dương đã được bổ nhiệm vào trong các cơ quan y tế ở Đông Dương. Tất cả các cựu sinh viên Cao đẳng sư phạm đã tốt nghiệp, bao gồm cả hai khóa gần nhất vừa ra trường cũng đã được bố trí làm giáo viên thực tập. Những giải pháp tương tự cũng đã được áp dụng cho sinh viên tốt nghiệp các trường còn lại của Đại học Đông Dương (Thú y, Xây dựng công, Nông Lâm). Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Thú Y, Trường Cao đẳng Nông Lâm đã phải tạm dừng việc tuyển sinh. Theo chính quyền, đây là giải pháp triệt để nhất cho tình trạng hàng loạt trí thức thất nghiệp.5      Số người đã tốt nghiệp từ các trường cao đẳng ở Đông Dương tính đến năm 19251.     Hình thành một đại học thực sự     Năm 1931, Trường Nghiên cứu Đông Dương được thay thế bằng Trường Luật theo Nghị định ngày 11/12/1931 để đào tạo cử nhân luật giống bên Pháp. Vào năm học 1933-1934, giáo dục Đại học Đông Dương đã có những định hình tương ứng với giáo dục đại học chính quốc. Thật vậy, hai trường Luật và Y đã trở thành một bộ phận thuộc Đại học Luật và Đại học Y bên Paris. Tháng 10/1933, ông M. Escarrat, giáo sư Đại học Luật Paris đã đến chủ trì hội đồng đánh giá năm học đầu tiên của ban đào tạo cử nhân của Trường Luật Hà Nội. Năm 1934, giáo sư LeMaitre, đại biểu đầu tiên của Đại học Y Paris được cử đến Hà Nội để chủ trì hội đồng giám khảo vào tháng sáu và bảy cùng năm, đồng thời cũng theo ủy nhiệm của Bộ Giáo dục Quốc gia để tìm hiểu về hoạt đông của Trường Y.6    Năm 1936, Đại học Đông Dương (vì đặt tại Hà Nội nên có văn bản gọi là Đại học Hà Nội) chỉ còn ba trường thành viên là Trường Y-Dược, Trường Luật và Trường Mỹ thuật. Đại học Đông Dương đã được tổ chức lại để trở thành một Đại học thực sự. Mục đích của nó được xác định như sau:    “1. Đào tạo cán bộ cao cấp hành chính và kỹ thuật; 2. Tham dự vào đại phong trào khoa học ở chính quốc và đặc biệt là vào nghiên cứu liên quan đến Đông Dương; 3. Làm cho đại chúng tại Đông Dương nhận thức được những thành tựu chính của nhân loại. Hai trường lớn là Luật và Y-Dược, trên đường trở thành cơ sở giáo dục đại học thực thụ, sẽ chuẩn bị cho cả ba mục tiêu nêu trên”.7    Vào năm 1936, Đại học Đông Dương đón nhận quyết định thành lập Hội đồng giáo dục Đại học, đây cũng sẽ là hội đồng kỷ luật của trường.8     Vận hành và trắc trở trong thời kỳ đại chiến giới 1939-1945     Trong những năm Thế chiến Thứ hai, vì gặp khó khăn trong kết nối với chính quốc, đi lại giữa hai nơi gặp trở ngại lớn, nên việc đào tạo tại Đông Dương những tinh hoa người Pháp và bản địa trở thành mối ưu tiên. Tướng Catroux, khi đó nắm quyền ở Đông Dương (1940) đã xác định nhiệm vụ của Đại học Đông Dương là đào tạo giới tinh hoa người Đông Dương và cả những người Pháp tại đây.9    Trong thời kỳ này, ĐHĐD cũng đã đón nhận sự ra đời của một thành viên mới, thành viên cuối cùng (trước khi Việt Nam độc lập vào tháng 9/1945) đó là Trường Cao đẳng Khoa học, được thành lập vào năm 1941. Đồng thời những khóa đào tạo của Trường Công chính, Trường Nông-Lâm và Trường Thú y cũng đã được khai giảng lại. Tuy nhiên đáng tiếc là một số trường như  Cao đẳng Sư phạm, Thương mại bị đóng cửa trước đó, đến giai đoạn này vẫn không được mở của lại.    Trong diễn văn ngày 16/10/1942, Decoux đã tuyên bố:     “Trong tương lai sắp tới, Đông Dương sẽ sở hữu một trung tâm trí tuệ không có sự khác biệt so với những đại học lớn bên chính quốc”, “Đại học Đông Dương sẽ có nghĩa vụ thu thập, giữ gìn, phát triển không ngừng di sản khoa học”.10    Số sinh viên của Đại học Đông Dương, trong đó có sinh viên Pháp, trong thời kỳ 1939-1945 đã tăng lên đáng kể. Cần nhấn mạnh rằng, Đại học Đông Dương dành cho người thuộc ba nước Đông Dương, cho người Âu tại đây và cho người của một số nước trong khu vực, nhưng đáng chú ý là sinh viên Việt Nam luôn chiếm tỷ lệ lớn. Trường đã có sự tiến bộ về lượng và chất. Ông Charton, Giám đốc học chính Đông Dương đã nhận định như sau vào năm 1944:    “Trường đã đón nhận vào đầu năm học hơn 1300 sinh viên (hơn ngàn ba). Từng bước, trường giống với những người chị của nó, tức những Đại học bên Pháp”.11    Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9/3/1945, về căn bản, Đại học Đông Dương buộc phải đóng cửa tạm thời, hoặc một số trường thành viên còn có những hoạt động nhưng tính chất không còn như trước nữa.     Đôi nét về tuyển sinh và sinh viên tại Đại học Đông Dương thời kỳ 1917-1945     Trường Y Hà Nội được ra đời năm 1902, sau đó chính quyền thành lập Đại học Đông Dương vào năm 1906 nhưng chỉ hoạt động được một năm thì bị đóng cửa như đã trình bày ở trên. Đến 1917-1918 bắt đầu mở lại Đại học Đông Dương là tập hợp của một số trường thành viên. Từ đây, giáo dục Đại học Đông Dương chuyển sang giai đoạn có những bước tiến rõ hơn. Chúng ta sẽ đề cập đôi nét về tuyển sinh và sinh viên trong thời kỳ 1917-1945 này.  Vào năm học 1917-1918, hệ thống giáo dục phổ thông còn chưa hoàn thiện. Khi đó thực sự không tồn tại giáo dục trung học đệ nhị cấp dành riêng cho học sinh Đông Dương (giống như cấp 3). Đó là lý do tại sao Đại học Đông Dương phải nhận những học sinh đã tốt nghiệp và có bằng thành chung, hay còn gọi là bằng cao đẳng tiểu học (trung học đệ nhất cấp, cấp 2). Năm học 1920-1921 mới bắt đầu có lớp đào tạo tú tài bản xứ. Đến năm 1925, về nguyên tắc, các trường thành viên của Đại học Đông Dương chỉ tuyển học sinh có bằng tú tài Tây hoặc tú tài bản xứ. Nhưng trên thực tế số lượng tú tài lúc này còn rất ít. Vì thế vẫn phải tiếp tục tuyển đầu vào là người có bằng thành chung.                    số sinh viên      tỷ lệ %          Tú tài (Baccalauréat)      8      4 %          Chứng chỉ giáo dục trung học  (Brevet d’Enseignement secondaire franco indigène), (gần như bằng trung học)      14      7 %          Bằng trung học sư phạm- giáo viên tiểu học (Brevet supérieur)      2      1 %           Thành chung pháp-bản xứ (Diplôme d’études primaires supérieures franco indigènes)      117      62 %          Thi tuyển vào (Élèves admis par concours)      44      24 %          Sinh viên Trung hoa (Élèves chinois)      4      2 %          Tổng số (Totaux)      189      100 %          Nguồn : Source : Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, session ordinaire de 1925, deuxième partie, p. 69.            Tại thời điểm 1924, đầu vào khá đa dạng (về bằng cấp và nguồn gốc): bằng trung học hoặc tương đương, hoặc tú tài, hoặc phải thi để sàng lọc, hoặc ngoài Đông Dương). Tuy nhiên tỷ lệ có bằng thành chung vẫn chiếm số nhiều (117/189, 62%). Năm học 1927-1928 đã có sự đổi mới quan trọng về tuyển sinh, đó là áp dụng việc tổ chức một kỳ thi đầu vào chung ở những trường chưa áp dụng việc này cho những thí sinh chưa có bằng tú tài. Nhiều hiệu trưởng đã đồng ý với cách đó. Tất nhiên điều này đã làm cho số sinh viên giảm đi, cùng với đó là nhiều học sinh bị đuổi học trong các phong trào xã hội năm 1925 (để tang cụ Phan Châu Trinh), nên cũng ảnh hưởng đến nguồn đầu vào.    Số lượng sinh viên Việt Nam được tuyển vào Đại học Đông Dương luôn vượt trội so với phần còn lại. Chẳng hạn năm 1924, tổng số 189 người được tuyển vào năm thứ nhất có 84 người Bắc Kỳ, 59 Nam Kỳ, 36 Trung Kỳ, chỉ có 5 Campuchia, 1 Lào và 4 Trung Hoa. Tức là sinh viên Việt Nam chiếm 94% số lượng được tuyển vào đầu năm học 1924-1925.    Năm 1924, lần đầu tiên có 1 nữ sinh đã trúng tuyển vào Trường Y và 5 nữ sinh vào Trường cao đẳng Sư phạm. Cánh cổng đại học không ngăn cản họ, giáo dục cho nữ lúc này cũng đã có trường thành chung (cấp 2). Sự kiện mở màn của 6 nữ sinh Đông Dương này đã có tác dụng phá vỡ những định kiến Á Đông vốn cho rằng phụ nữ không cần phải học cao. Báo cáo của chính quyền cho thấy những nữ sinh tỏ ra không có chút nào kém hơn những bạn nam sinh viên của họ.12    Nhình chung, số lượng sinh viên được tuyển vào Đại học Đông Dương còn hết sức khiêm tốn so với tổng dân số học đường và dân số Đông Dương. Do giáo dục phổ thông còn chưa thực sự phát triển, do đời sống khó khăn phải lo đi làm kiếm sống khi thấy học đã tạm đủ để có thể xin được một công việc sau khi học xong trung học. Thời kỳ Thế chiến hai, 1939-1945 ghi nhận sự tăng đáng kể số lượng sinh viên so với thời kỳ trước đó, điều này có thể được lý giải như sau:    – Giáo dục phổ thông đã tăng về số lượng nên nguồn đầu vào cho đại học cũng tăng;    – Chiến tranh làm cho sinh viên không hoặc ngại đi ra ngoài Đông Dương, trong đó có cả người Pháp, vì vậy Đại học Đông Dương là một địa chỉ tốt hơn cả vào giai đoạn này để theo học;    – Thời kỳ này thành lập thêm trường Đại học Khoa học và mở lại một số lớp về Nông Lâm, Công chính, đó cũng là lý do làm tăng số sinh viên.               Nguồn gốc sinh viên  (Originaires de)      Số sinh viên Đại học Đông Dương thời kỳ 1939-1944          1939      1940      1941      1942      1943      1944          Pháp (France)      88      89      138      206      313      371          Bắc Kỳ (Tonkin)      394      428      419      476      556      681          Nam Kỳ (Cochinchine)      132      137      136      197      223      212          Trung Kỳ (Annam)      92      117      149      172      202      218          Campuchia (Cambodge)      8      8      11      8      15      23          Lào (Laos)      7      6      8      6      5      12          Trung quốc và một số nước khác (Chinois et divers)      11      20      14      20      11      11          Việt Nam (tổng 3 kỳ)      588      682      704      845      981      1111          Tổng (Totaux)      732      805      875      1 085      1 325      1 528          Nguồn (Source): Le Rectorat d’Académie, Les œuvres culturelles en Indochine, tr. 23.             Đôi lời kết     Các trường cao đẳng, đại học được tập hợp lại gọi là Đại học Đông Dương (vào năm 1906-1908 và 1917-1945), nhưng thực chất các trường hoạt động độc lập với nhau và có lịch sử phát triển riêng của nó. Tính mốc từ khi thành lập trường Y Hà Nội vào năm 1902 đến năm 1945, thì có khoảng hơn 40 năm tồn tại và phát triển của giáo dục bậc cao bằng tiếng Pháp tại Đông Dương. Đó là một quãng thời gian dài của giáo dục Đại học Đông Dương, mang dấu ấn của các Toàn quyền và các trí thức Pháp, với những thăng trầm, đứt gãy nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể.    Nếu như Toàn quyền Paul Doumer là người mở đầu cho giáo dục đại học theo mô hình hiện đại phương Tây bằng việc thành lập Trường Y Hà Nội và mời được bác sĩ Yersin danh tiếng về làm hiệu trưởng, thì sau ông, đặc biệt là thời kỳ toàn quyền Klobukowsky, hoạt động tại trường Y đã đi đến trì trệ. Phải đến khi Albert Sarraut sang làm Toàn quyền lần thứ nhất, trường Y đã có những khởi sắc, và khi ông sang lần thứ hai, vào giữa đại chiến 1, đã quyết định dứt khoát việc xóa bỏ giáo dục truyền thống vốn đã không còn phù hợp cho sự phát triển nữa. Ông là người định hình ra một mô hình giáo dục kiểu hiện đại từ tiểu học đến đại học giai đoạn từ 1918 cho đến ít nhất là năm 1945. Các toàn quyền tiếp theo ông đã tiếp tục hoàn thiện hoặc có những thay đổi nhưng căn bản vẫn trên mô hình mà toàn quyền Albert Sarraut đã thông qua bằng bản Học chính tổng quy năm 1917.    Một số trường ra đời sau trường Y là trường Y sĩ Thú y, Công chính, Cao đẳng Sư phạm, Nông-Lâm, Pháp Chính, Thương mại, Văn học, Khoa học ứng dụng. Thực chất đó chỉ là những trường cao đẳng hoặc trung cấp nghề. Những trường này cũng đã phải trải qua những giai đoạn khó khăn, có trường sau những năm hoạt động đã không được nâng cấp lên mà còn bị đóng cửa hẳn (Sư phạm, Thương mại), có trường phải ngưng hoạt động một thời gian (Công chính, Nông-Lâm, Y sĩ Thú y), có trường còn rất khó để nhận ra sự tồn tại của nó (trường Văn học). Một số trường may mắn tồn tại liên tục từ khi ra đời đến năm 1945, đó là các Trường Y Hà Nội (1902), trường Mỹ thuật Đông Dương (1924), trường Luật Đông Dương (1931), trường Cao đẳng Khoa học (1941).    Dòng chữ nho phía bên trên cổng chính toà nhà là « Đông Pháp Đại học » (đọc từ phải qua trái), bên dưới bằng tiếng Pháp là « Đại học Đông Dương ». Nguồn : L’Éveil économique de l’Indochine : bulletin hebdomadaire, le 25.01.1925     Trường Y Hà Nội có lúc phải trải qua thời kỳ phát triển hết sức chậm chạp, nhiều năm đầu hoạt động chỉ đào tạo y sĩ Đông Dương, rồi bác sĩ theo hình thức “di chuyển”, tức là học tại Hà Nội những năm đầu, hai năm cuối thì sang Paris học, thi và bảo vệ luận án (thời kỳ 1922-1935), đến năm 1935 mới có khóa đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ tại Hà Nội bằng việc bảo vệ luận án y khoa. Thời gian để chuyển giao, hoàn thiện hoàn toàn chu trình đào tạo bác sĩ này đã mất tới hơn 30 năm tính từ khi khai mở Trường Y Hà Nội.    Trường Mỹ thuật (và Kiến trúc) Đông Dương ra đời năm 1924 nhờ sự vận động rất quyết liệt của họa sĩ Victor Tardieu và tồn tại được là nhờ các hoạt động giáo dục, đào tạo hiệu quả. Bên cạnh đó cũng nhờ cả việc ông và các đồng nghiệp quảng bá trường rộng ra dư luận thuộc địa và chính quốc thông qua các triển lãm mỹ thuật thành công. Ban đầu chính quyền chỉ tính đào tạo tại ban mỹ thuật mỗi khóa ba năm học để cung cấp giáo viên dạy mỹ thuật cho trường trung học và đào tạo thợ thủ công mỹ thuật. Nhưng nhờ sự khéo léo của hiệu trưởng Victor Tardieu mà chương trình đào tạo đã được thực thi năm năm cho mỗi khóa, để khi ra trường, các sinh viên tốt nghiệp có một nền tảng vững chắc để sáng tạo và phát triển thành các nghệ sĩ. Bên cạnh đó là đào tạo các kiến trúc sư với thời gian tương đương, tốt nghiệp bằng một đồ án kiến trúc.    Trường Luật Đông Dương ra đời năm 1931, nhờ vào Sắc lệnh của Tổng thống Paul Doumer, người đã khai mở giáo dục đại học hiện đại Đông Đương khi ông làm Toàn quyền bằng việc thành lập Trường Y năm 1902. Giống như trường Y được công nhận là một bộ phận của Khoa Y Paris, vào cùng thời điểm năm 1933, trường Luật được coi như một bộ phận của Khoa Luật kinh đô nước Pháp. Đó là điều kiện pháp lý để trình độ đào tạo tại đây được đảm bảo đầu ra như bên chính quốc và bằng cấp có giá trị tương đương, được công nhận cho sử dụng bên Pháp.    Trường Khoa học là niềm mong mỏi từ lâu của nhiều người Việt, nhưng lại được ra đời muộn nhất, năm 1941, và hoạt động trong bối cảnh rất khó khăn về nhân sự và cơ sở vật chất. Mới ra đời nhưng số lượng đăng ký học đã tăng nhanh chóng, đạt một số kết quả nhất định. Đáng tiếc là nhà cầm quyền Pháp đã không sẵn sàng mở trường sớm hơn. Có thể trước đó họ còn những nghi ngại hoặc nhận thấy chưa thiết thực với họ, và có thể cả bài toán về chi phí, đầu tư để duy trì sự tồn tại, phát triển của trường một khi lập ra.      Số lượng sinh viên Đại học Đông Dương qua các năm học, thời kỳ 1918-1944. Nguồn: Gouvernement général de l’Indochine, les Rapports au Conseil de gouvernement (de 1918 à 1937) et Annuaires statistiques de l’Indochine  Theo một số ý kiến, sau khi trường Khoa học ra đời, còn thiếu một trường nữa là trường Đại học Văn chương (đào tạo trình độ cử nhân và sau đại học ở một số ngành khoa học xã hội) để mô hình giáo dục đại học Đông Dương giống mô hình bên Pháp. (Tại Sài Gòn, vùng Pháp chiếm đóng, vào tháng 10/1948, một Viện Nghiên cứu văn học đã được mở ra để giảng dạy và cấp chứng chỉ một số lĩnh vực khoa học xã hội).13    Như vậy, phải sau rất nhiều năm, tính từ mốc 1902, đến những năm 1930 trở đi, giáo dục bậc cao tại Đông Dương mới có những phát triển rõ nét. Nhận định được đưa ra vào khoảng năm 1925 rằng “Đại học Đông dương chỉ là cái mặt tiền dùng để đánh lừa dư luận chính quốc” không phải là không có lý khi thực tế giáo dục Đại học Đông Dương thời điểm đó chưa đạt được những thành tựu nổi bật, cả về số lượng, quy mô, cơ cấu, trình độ đào tạo. Nhưng kể từ những năm 1930 trở đi, tình hình đã có chuyển biến tích cực, phát triển nhanh hơn giai đoạn trước. Một số thành tựu nổi bật giai đoạn 1930-1945 là: đào tạo thành công bác sĩ tốt nghiệp bằng luận án như bên pháp, dược sĩ nhà nước có bằng tương đương bên Pháp, nghệ sĩ và kiến trúc sư trong năm năm, đào tạo cử nhân luật và bắt đầu tiến tới tiến sĩ luật do bên Pháp cấp bằng, và đào tạo thành công một số cử nhân khoa học với các chứng chỉ khoa học. Giai đoạn 1930-1945 này các trường Y, Mỹ thuật, Luật, Khoa học cũng đã thu hút được cả sinh viên Pháp tại Đông Dương đăng ký học. Đây cũng là một dấu hiệu cho thấy sự phát triển của giáo dục Đại học Đông Dương so với trước đó.    Nhìn chung các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp từ giáo dục Đại học Đông Dương ra (kể cả một số chưa tốt nghiệp vì những lý do khác nhau) luôn giữ được một tình yêu nước, luôn mong muốn làm và đã làm những việc có ích cho Tổ quốc, cho đồng bào khi có cơ hội. Nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà trí thức, nhà khoa học lớn. Điều đó để nói rằng Trường Đại học Pháp tại Đông Dương không nhằm đào tạo ra tầng lớp trí thức từ chối nguồn gốc của họ hay làm họ quên đi trách nhiệm, đánh mất tình cảm đối với xã hội và Tổ quốc. Những người hằng ngày trực tiếp đào tạo các sinh viên, gần như tuyệt đại đa số là các giảng viên người Pháp, họ được sinh viên nhận xét nhìn chung đó là các trí thức tốt. Tinh thần làm việc, tình cảm của họ dành cho học sinh, sinh viên rất đáng trân trọng. Nhiều người là gương sáng cho học trò trong công việc lao động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật và cả tác phong lối sống, ứng xử hằng ngày.    Số lượng tốt nghiệp từ giáo dục Đại học Đông Dương giai đoạn 1902-1945 đại đa số là người Việt Nam. Một phần trong số này đã trở thành những bác sĩ, kỹ sư, nghệ sĩ, kiến trúc sư, trí thức, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chính trị gia, nhà quản lý, nhà giáo dục có năng lực tốt, hiệu quả cao trong công việc, có uy tín ở nước ta. Đặc biệt là giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, đội ngũ chất lượng này là nguồn nhân lực, nhân sự rất quý trong bối cảnh xã hội nước ta tới hơn 90% mù chữ sau khi thoát ách thực dân. Họ là những người đóng góp rất quan trọng và to lớn cho việc xây dựng, phát triển các lĩnh vực của nước ta sau năm 1945.    Hệ thống giáo dục Đại học Đông Dương đã giúp những người tham gia và được đào tạo trong hệ thống đó, dù số người này còn rất ít, có những kinh nghiệm rất hữu ích để áp dụng vào tổ chức, xây dựng, vận hành giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng tại nước ta sau ngày giành lại được độc lập. Thực tế là các trường Y, trường Mỹ thuật, trường Sư phạm và một số trường cao đẳng, đại học khác hình thành sau Cách mạng tháng Tám và sau năm 1954 có những nét giống với các trường thời Pháp, và vào giai đoạn đầu, các trường này thường được lãnh đạo bởi các nhân vật đã từng học hoặc công tác tại Đại học Đông Dương cùng với một số nhân vật đã học ở Pháp và nước ngoài về.□  —-  1 Nguồn : Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement (tome 2), 1925, p.71.  2 Journal Officiel de l’Indochine française 1923, N° 61, p.1422  3 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, (tome 2), 1925, p.59.  4 Thực tế số liệu này chỉ tương đối để tham khảo, vì còn thiếu số lượng y sĩ thú y tốt nghiệp giai đoạn trước 1919, vì năm 1904 đã có ban thú y thuộc trường Y Hà Nội.  5 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, Hanoi 1935, p.107.  6 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, Hanoi 1934, p.109.  7 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, Hanoi, 1936, p.109  8 Gouvernement général de l’Indochine, Rapportsau Conseil de gouvernement, Hanoi, 1936, p.109  9 Gouverneur général de l’Indochine, Remise solennelle de rentrée des diplôme aux lauréats de l’École de Médecine et de Pharmacie de Plein exercide de l’Indochine (année scolaire 1938-1939), Discours de M. le Général d’Armée Catroux, Gouverneur Général de l’Indochine, Hanoi, le 9 janvier 1940, p.15.  10 Indochine Hebdomadaire illustré, n° 114, jeudi 5 novembre 1942, p15,16.  11 Indochine, hebdomadaire illustré, 20 juillet 1944 (M.  Charton,  directeur  de  l’Instruction  publique).  12 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, session ordinaire de 1925, deuxième partie, p.69.  13 Les oeuvres culturelles en Indochine, N° spécial de la Revue Education N° 17, 31 décembre 1949. Publ. par le Rectorat d’Académie [Hanoï], p.13), tr.68.    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Đại học không giảng đường      Mùa hè năm nay, Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị (ACCD) lần đầu tiên đã phối hợp với ĐH Phan Châu Trinh triển khai chương trình “Đại học không giảng đường” (ĐHKGĐ) như một thử nghiệm nhằm gợi ý cách đổi mới chương trình đào tạo đại học1.    Trong bốn tuần, 35 sinh viên (SV) đến từ ĐH Phan Châu Trinh; ĐH Kiến trúc Đà Nẵng; ĐH Sư phạm và Cao đẳng Công nghệ – đều thuộc ĐH Đà Nẵng đã tham gia khóa học mà giảng đường là cuộc sống ở Hội An. Chương trình được thiết kế dựa trên ba nguyên tắc: (i) học qua thực tế, (ii) học và làm việc theo cách tiếp cận đa ngành, đa chiều và (iii) SV là người làm chủ quá trình học tập của mình.  Học qua thực tế  Cuộc sống đang diễn ra với nhiều vấn đề cần có sự góp sức của đội ngũ trí thức. Sinh viên là lực lượng phù hợp để tham gia giải quyết các thách thức từ thực tiễn, thông qua các nghiên cứu và dự án cụ thể. Hội An, như bất kỳ địa phương nào, cũng có hàng loạt các câu hỏi mà người dân mong chờ được giải đáp: Tình hình ô nhiễm nước ngầm và nước mặt ra sao, có giải pháp để xử lý không; Cần làm gì để cải thiện các không gian công cộng; Làm thế nào để người dân có thể bán các sản phẩm rau hữu cơ ra thị trường; Tại sao các tour du lịch cộng đồng chưa cạnh tranh được với các tour do tư nhân tổ chức…  Mỗi câu hỏi trên là một đề tài nghiên cứu mà qua đó SV phải thực hành các bước từ thiết kế nghiên cứu, thu thập và phân tích số liệu, và trình bày kết quả. Điều thú vị ở đây là các kết quả nghiên cứu được đưa vào thực tiễn. Nhóm SV Cao đẳng Công nghệ tỏa xuống địa bàn lấy mẫu nước ngầm, mang về phòng thí nghiệm phân tích và viết báo cáo khoa học. Các kết quả này lại được SV ĐH Sư phạm sử dụng trong các buổi truyền thông tại cộng đồng. Nhóm SV ĐH Kiến trúc Đà Nẵng cùng người dân thiết kế sân chơi trẻ em. Tuy kinh phí chỉ có 40 triệu đồng nhưng hồ sơ kỹ thuật và dự toán được hoàn thiện nghiêm túc như những công trình kinh phí hàng trăm triệu đồng. Nhóm SV ĐH Phan Châu Trinh đi khảo sát thực tế tại các chợ Hội An để thu thập thông tin: mỗi ngày Hội An tiêu thụ bao nhiêu tấn rau, nguồn rau đến từ đâu, giá cả thế nào, hình thức bán hàng ra sao, người tiêu dùng nghĩ gì về rau sạch và rau hữu cơ… Kết quả nghiên cứu được báo cáo với nông dân trồng rau hữu cơ, và trên cơ sở đó tư vấn kế hoạch đưa rau hữu cơ ra thị trường.  Thực tế nghiên cứu giúp các bạn SV cải thiện những kỹ năng cụ thể (như cách quan sát, cách đặt câu hỏi, cách trình bày kết quả nghiên cứu…). Ngoài ra, các bạn đã bắt đầu đặt những câu hỏi lớn hơn mang tính định hướng cho tương lai: nghiên cứu khoa học để làm gì, làm thế nào để đưa kiến thức khoa học vào cuộc sống, vai trò của người trí thức là gì…  Khi SV nhận thấy kết quả nghiên cứu được đưa vào thực tiễn và được cộng đồng đón nhận, động lực làm việc của các bạn trở nên mạnh mẽ hơn. Các bạn quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề của cộng đồng, và nhận thấy chuyên ngành học của mình không đủ để trả lời các câu hỏi của thực tế mà cần có sự phối hợp với các chuyên ngành khác. Điều này dẫn đến nguyên tắc thứ hai của ĐHKGĐ: Học và làm việc theo cách tiếp cận đa ngành, đa chiều.  Tiếp cận đa ngành, đa chiều   ĐHKGĐ nhấn mạnh việc học và làm việc với những người khác mình. SV kiến trúc học hỏi từ SV môi trường về những giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, tăng diện tích thẩm thấu nước, thu gom nước mưa phục vụ tưới cây. Tương tự như vậy, SV ngành môi trường lại học từ SV ngành truyền thông và sư phạm cách giải thích số liệu khoa học thông qua câu chuyện hoặc hình ảnh…    Trình bày phương án sân chơi giá rẻ tại cộng đồng thôn Cồn Nhàn, xã Cẩm Thanh, TP Hội An  SV không chỉ học tập lẫn nhau, mà còn học từ người dân. Khi thiết kế sân chơi cộng đồng, những người thợ địa phương giàu kinh nghiệm sẵn sàng tranh luận với các kiến trúc sư tương lai về cách chọn vật liệu, về kỹ thuật thi công, thậm chí về kết cấu công trình. Quá trình học hỏi này giúp các SV trở nên khiêm tốn hơn, biết lắng nghe kinh nghiệm dân gian, và biết cách xây dựng mối quan hệ với người dân trong cộng đồng.       Một điểm quan trọng nữa của ĐHKGĐ là SV học cách nhìn nhận sự việc qua các góc nhìn khác nhau: của người được hưởng lợi, của người bị ảnh hưởng, và của nhà quản lý. Ví dụ khi tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm nước, SV đã phỏng vấn các nhóm khác nhau trong cộng đồng và nhận thấy có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến ô nhiễm từ các đầm nuôi tôm. Chủ đầm tôm cho rằng mình đã áp dụng các biện pháp xử lý môi trường, tuy nhiên người dân xung quanh hoàn toàn không đồng tình. Chính quyền địa phương chưa có ý kiến rõ ràng, vì mong muốn hài hòa lợi ích của các hộ nuôi tôm với các hộ khác. Từ những kinh nghiệm này, SV đã nhận thấy sự cần thiết phải lắng nghe các bên liên quan, và tiến trình làm việc cũng quan trọng không kém kết quả cuối cùng. Nếu nóng vội giải quyết vấn đề thì các ý tưởng tốt đẹp sẽ khó trở thành hiện thực. Điều này đã chỉ ra một bài học quý giá cho các bạn SV: không chỉ học các kiến thức chuyên môn, mà cần học các kỹ năng làm việc như lắng nghe, giải quyết mâu thuẫn, điều hành nhóm làm việc, động viên và khuyến khích người khác.     Làm chủ quá trình học tập   Nguyên tắc thứ ba và cũng là nguyên tắc khó nhất, đó là SV phải làm chủ quá trình học tập. Muốn là chủ nhân của xã hội trong tương lai, ít nhất trong hiện tại, SV cần chủ động xác định nhu cầu học tập và tìm cách thu thập các kiến thức kỹ năng cho mình, thông qua nhà trường hoặc bên ngoài nhà trường. ĐHKGĐ áp dụng nhiều cách để khuyến khích tính chủ động của SV. Nhiều nhà chuyên môn được mời đến nói chuyện để SV học hỏi về hành trình từ giảng đường đại học ra thực tế. SV được đến thực tập ở các cơ quan tổ chức để trực tiếp trải nghiệm môi trường làm việc chuyên nghiệp. Ngoài ra, chương trình được thiết kế theo phương châm “50% phần cứng, 50% phần mềm”. Phần cứng là những kiến thức và kỹ năng mà người làm chương trình thiết kế từ trước, dựa theo sự đánh giá nhu cầu từ SV và giảng viên. 50% phần mềm là chương trình hoàn toàn dựa theo nhu cầu của SV, được thiết kế ngay trong bốn tuần của ĐHKGĐ. Hằng ngày, SV tham gia “vòng tròn chia sẻ”, trong đó từng người xác định những điều tâm đắc nhất với nội dung đào tạo và những điều cần cải thiện. Những nội dung SV mong muốn được học thêm bao gồm quản lý thời gian, quản lý định hướng bản thân, làm việc nhóm, lắng nghe bản thân và lắng nghe người khác, và làm thế nào để sống hạnh phúc. Đây là những nội dung khá xa lạ với môi trường của giảng đường đại học, nhưng lại được SV quan tâm đặc biệt. Trong khuôn khổ ĐHKGĐ, SV chủ động yêu cầu và thuyết phục các nhà tổ chức đáp ứng nhu cầu của mình.     ——–  * Giám đốc Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị  1 Chương trình được Cơ quan Viện trợ Ireland (Irish Aid) tài trợ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học nghĩa thục      Dưới những quy định hiện hành của Nhà nước, vô hình trung các trường đại học tư trong nước được coi tựa như một công ty trách nhiệm hữu hạn, còn các trường đại học tư nước ngoài thì được coi tựa như một dự án FDI.       Qua những ý kiến tại cuộc hội thảo “Mô hình đại học tư thục ở Việt Nam” vừa tổ chức tại Hà Nội ngày 25/4, có thể thấy trong tư duy của các nhà làm chính sách ở Việt Nam, khái niệm xã hội dường như chỉ bao gồm hai khu vực – Nhà nước và kinh doanh – mà gần như không có chỗ cho xã hội dân sự, nên khi việc chuyển giao trách nhiệm được thực hiện thì các đại học tư thục nghiễm nhiên trở thành một bộ phận của khu vực kinh doanh. Kết quả là trường đại học, thông qua các chính sách và hệ thống pháp lý của Nhà nước đã bị biến thành các công ty tư nhân, điều mà trong một số trường hợp nằm ngoài mong muốn của những người sáng lập trường.  Cho đến thời điểm này, Việt Nam vẫn chưa có quy chế về trường đại học không vì mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, tất cả các trường đại học tư thục ở Việt Nam đều được quản lý như thể chúng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận – tức là tựa như một công ty tư nhân. Cụ thể là theo Quyết định 61/2009/QĐ-TTg thì trong các trường đại học tư thục cũng có góp vốn, có cổ đông, cổ tức, hội đồng quản trị, và cũng đóng thuế thu nhập doanh nghiệp! Cũng theo Quyết định này, hội đồng quản trị của trường tư thục hoạt động theo cơ chế đối vốn, tức là người càng có nhiều tiền thì tiếng nói càng có trọng lượng trong những vấn đề quan trọng của trường, bao gồm cả việc bổ nhiệm hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng khoa cũng như xác định phương hướng phát triển của trường.   Không những thế, theo quy định của pháp luật hiện hành, người sáng lập trường phải là người góp vốn cổ phần. Điều này có nghĩa là những trí thức tinh hoa dù có kiệt xuất đến đâu nhưng nếu không có tiền góp vốn thì cũng không được phép tham gia hội đồng sáng lập trường. Quy định này thậm chí còn “chặt chẽ” hơn so với quy định áp dụng cho các công ty tư nhân, theo đó chủ tịch hội đồng quản trị của các công ty tư nhân không nhất thiết phải là người góp vốn nhiều nhất, thậm chí không cần có sở hữu tại công ty. Như vậy, dưới những quy định hiện hành của Nhà nước, vô hình trung các trường đại học tư trong nước được coi tựa như một công ty trách nhiệm hữu hạn, còn các trường đại học tư nước ngoài thì được coi tựa như một dự án FDI.  Theo cách hiểu hiện nay ở Việt Nam, “tư nhân” đồng nghĩa với “vì lợi nhuận”, và do vậy đại học tư thục cũng đồng nghĩa với đại học vì mục tiêu lợi nhuận. Thậm chí dư luận xã hội còn cho rằng đại học tư thục hiện nay là một hình thức kinh doanh “siêu lợi nhuận”.   Trên thế giới, không phải là không có những trường đại học tư, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, trong danh sách những trường đại học hàng đầu thế giới đa số là trường tư thục ở các nước tư bản nhưng lại không vì mục đích lợi nhuận như Harvard, Yale, hay Stanford ở Mỹ. Ở những trường này không có cổ đông, không chia lợi nhuận, và khoản thặng dư ngân sách nếu có sẽ được tái đầu tư toàn bộ cho các hoạt động của trường.  Để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên về giáo dục đại học và để khắc phục phần nào sự mất cân đối về cung – cầu, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm quốc tế về khuyến khích sự tham gia của xã hội, trong đó có mô hình đại học tư nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận, có thể gọi là đại học nghĩa thục.    Để đảm bảo sự ổn định về tài chính, Nhà nước có thể đưa ra một số biện pháp khuyến khích cho các trường nghĩa thục này, chẳng hạn như Nhà nước đồng tại trợ, cung cấp một số đầu tư ban đầu, hay đấu thầu các dự án nghiên cứu và phát triển. Đặc biệt là cần có chính sách miễn thuế thu nhập hoàn toàn đối với các trường nghĩa thục, đồng thời miễn thuế thu nhập cho những cá nhân và tổ chức tài trợ cho các trường nghĩa thục.   Đồng thời, trách nhiệm giải trình của trường nghĩa thục cũng có thể được đảm bảo thông qua khuôn khổ pháp lý của Nhà nước, các quy chế thích hợp của hội đồng trường, hoạt động kiểm toán của Bộ Tài chính cùng các cơ quan quản lý Nhà nước hữu quan và sự giám sát của toàn xã hội.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Nhật Bản: Kết nối để phổ cập tri thức      Nhờ tăng cường mối liên kết giữa ba bên gồm  Khoa học hàn lâm, Chính phủ và các Nhóm công nghiệp, các trường đại học ở  Nhật Bản đã góp phần xóa nhòa biên giới giữa các công ty quốc tế lớn  với các công ty nội địa nhỏ, làm cho tri thức trở thành phổ cập, dễ tiếp  cận đối với các tổ chức ở cấp vùng.     Trường đại học  – bộ phận quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Vào những năm 1990 Nhật Bản đã tiến hành cải cách công nghiệp quy mô lớn và tạo lập hệ thống nghiên cứu mới, do đó đã xuất hiện các hệ thống đổi mới mới và những mối quan hệ để các trường đại học đóng vai trò lớn đáng kể hơn với tư cách như là một nguồn lực kinh tế – tức là các trường đại học được coi như bộ phận quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế. Chính phủ cố gắng đưa nghiên cứu của các trường đại học vào quá trình tạo ra các sáng chế công nghiệp, đặc biệt ở cấp tỉnh và liên vùng. Mối tương tác giữa các trường đại học và nền công nghiệp, việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và bảo hộ sở hữu trí tuệ đã trở thành đối tượng và mục tiêu quan tâm chính trị, đặc biệt là thu hút để phát triển vùng. Khi soạn thảo chính sách khoa học và giáo dục, điểm nhấn quan trọng ở Nhật Bản là nhằm vào việc tăng cường mối quan hệ với nền công nghiệp và coi đó là phương tiện kích thích sự phát triển kinh tế vùng.  Việc Nhật Bản đi vào giai đoạn giáo dục đại học “đại trà” bắt đầu từ những năm 1960- đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế nhanh. Hệ thống giáo dục Nhật Bản bao gồm 3 khu vực: quốc gia, tư thục và nhà nước địa phương (cấp tỉnh). Năm 2008 ở Nhật Bản đã có đến 589 các trường đaị học tư thục, 86 đại học công lập cấp quốc gia (theo thể chế National University Corporation- NUC) và 90 đại học công lập địa phương (với thể chế Public University Corporation- PUC). Phần lớn chi tiêu cuả quốc gia cho giáo dục đại học chiếm gần 1,3% GDP dành cho các đại học loại NUC, mặc dù phần lớn sinh viên đang theo học ở các đại học tư nhân. Trước năm 1998 người ta đã thấy rằng sự phân bố các trường đại học như vậy có nghĩa là “các đại học công lập thỏa mãn nhu cầu về nhân lực của quốc gia, còn đại học địa phương- thỏa mãn nhu cầu cấp tỉnh và huyện, còn đại học tư nhân- cho thị trường”. Gần đây sự phân bố như vậy bị phức tạp hóa hơn do tác động của “sự phân hóa chức năng” các đại học dẫn đến việc xóa bỏ ranh giới giữa 3 khu vực.  Lâu nay, các trường đại học hàng đầu của Nhật đã và đang chiếm vị trí không đến nỗi nào trong xếp hạng ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về số lượng các công bố, trích dẫn. Nhưng theo các tiêu chí như sự tham gia vào các hoạt động R &D quốc tế thì các trường đại học Nhật Bản lại tụt hạng xa so với các đại học phương Tây. Khi tiến hành các hoạt động R & D thì các công ty Nhật Bản đều coi trọng hơn việc hợp tác với các trường đại học của Mỹ.     Tăng cường nghiên cứu khoa học trong trường đại học  Hiện nay Nhật Bản bắt đầu có những chính sách nhằm thúc đẩy sự đóng góp từ các hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Nhật Bản đối với các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao. Gần đây việc cải tổ hệ thống các trường đại học và cuộc cạnh tranh càng gia tăng đã làm thay đổi diện mạo hệ thống giáo dục đại học quốc gia ở Nhật Bản. Năm 2002 Nhật Bản đã khởi động Chương trình thành lập các Trung tâm xuất sắc (Centers of Excellence-COE) nhằm mục đích lập ra “các trường đại học đẳng cấp quốc tế”; năm 2007 đã đề ra Sáng kiến thành lập các Trung tâm nghiên cứu quốc tế quy mô lớn (World Premier International Research Center-WPI Initiative) để hình thành các Trung tâm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, có khả năng thu hút các nhà khoa học tốt nhất. Người ta đã lựa chọn 4 trường đại học Hoàng gia (Tokoku, Tokyo, Kyoto và Osaka) và Viện Khoa học vật liệu quốc gia (National Institute for Materials Science-NIMS) để thực hiện mục tiêu này, dẫn đến việc phân hóa hơn nữa các trường đại học ở Nhật Bản.  Những thay đổi về cơ cấu và pháp lý đã hỗ trợ gián tiếp cho sự phát triển các mối liên hệ liên đại học và gia tăng tính thương mại theo hướng tự chủ tích cực. Từ năm 2004 có 89 NUC được nhận 2 loại bù lỗ của nhà nước: cho chi tiêu thường xuyên (sự nghiệp) và chi xây dựng cơ bản. Nhưng từ năm 2006 Chính phủ đã tuyên bố rằng các khoản bù lỗ chi thường xuyên hàng năm sẽ giảm đi 1%, điều đó đòi hỏi các trường đại học phải tìm kiếm các nguồn tài trợ bổ sung, trong đó có việc tiến hành các nghiên cứu khoa học phục vụ cho nền sản xuất công nghiệp.   Vào giữa những năm 1990 ở Nhật Bản mối quan hệ giữa các trường đại học và nền công nghiệp đã tồn tại chủ yếu trên nền tảng không chính thức. Và vào cuối những năm 1990 người ta đã thành lập ra các cơ cấu pháp lý để giảm nhẹ việc chuyển giao công nghệ dưới dạng tổ chức cấp Li-xăng (licence) công nghệ (TLO), giúp cho giới nghiên cứu được nhận các bản quyền sáng chế và cho nền công nghiệp trong việc cấp li-xăng cho các sáng chế đó.   Nhìn chung các hình thức diễn ra nói trên đã dẫn đến nhiều trường đại học bắt đầu phát triển các mối quan hệ với công nghiệp địa phương (trong đó có việc gia tăng thu nhập từ sở hữu trí tuệ đã thực thi trong công nghiệp), các trường này đã xem xét lại cơ cấu thể chế của mình, cũng như tạo lập ra các doanh nghiệp mạo hiểm, kết quả là tạo ra các công ty mới (start-up companies) dựa vào các trường đại học.   Năm 1995 sau Luật cơ bản về khoa học và công nghệ, Nhật Bản đã soạn thảo ra 3 kế hoạch cơ bản về phát triển khoa học và công nghệ. Kế hoạch 5 năm đầu tiên (1996-2000) đã tập trung vào việc tăng cấp tiền ngân sách cho khoa học và công nghệ và gia tăng các mối liên hệ giữa nền công nghiệp với các trường đại học – học tập kinh nghiệm của Mỹ. Việc “Khu vực hóa” chính sách khoa học và công nghệ đã được khẳng định trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (2001-2005) và còn được tăng cường trong kế hoạch lần thứ 3, đặc biệt có việc thành lập Hệ thống đổi mới theo vùng (Regional Innovation System-RIS). Đối với Nhật Bản ý tưởng RIS nêu trên là một hiện tượng mới; và khác với các nước Châu Âu, ý tưởng này gần đây đã không nhận được sự chú ý đầy đủ cuả các cơ quan chính trị. Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 có nhiệm vụ tăng cường mối liên hệ giữa khoa học, công nghiệp và Nhà nước trên phạm vi cấp ngành và sự ủng hộ các đổi mới sáng tạo thông qua các cơ chế mạng.    Từ năm 2001 Chính phủ đã đưa ra nhiều Chương trình được thực thi dưới sự chủ trì của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI). Chương trình đầu tiên là – Sáng kiến thành lập các Cụm công nghiệp (Industrial Cluster Initiative), dựa trên cái gọi là “cách tiếp cận kinh doanh”, do đó giai đoạn 2001-2005 đã có 90 khu vực và đến năm 2005 đã phát triển được thành 9.800 doanh nghiệp nhỏ và vừa với 290 trường đại học. Mục tiêu chủ yếu là nâng cao sức sống của kinh tế vùng. Chương trình thứ 2 là Sáng kiến thành lập Cụm sáng kiến tri thức (Knowledge Cluster Initiative)- dựa trên cái gọi là “cách tiếp cận hàn lâm” và nhằm để phát triển tính tích cực về nghiên cứu KH&CN ở các vùng. Cả 2 sáng kiến này được tài trợ bởi Chính phủ trung ương, đồng thời sử dụng cách tiếp cận “từ dưới lên trên”, tức là các sáng kiến được chính quyền cấp vùng đưa ra, không do địa phương hay cấp trên ấn xuống.   Chính sách hiện hành trong lĩnh vực vùng hóa, khu vực hóa quá trình quản lý và phát triển đổi mới và tác động của các nhóm công nghiệp, hàn lâm, và chính phủ đã bắt đầu làm thay đổi động thái thị trường lao động. Nó thách thức những đặc tính vốn có cuả đặc tính của tổ chức công nghiệp Nhật Bản, như bộ mặt của tổ chức công nghiệp Nhật Bản, tính vận động linh hoạt của lực lượng lao động giữa các công ty còn thấp, và ưu tiên thị trường lao động nội bộ trong nước hơn là thị trường ngoại. Nhu cầu về các Trung tâm nghiên cứu Cụm Công nghệ cao có số lớn lực lượng các nhà khoa học và nhà nghiên cứu chất lượng cao, nắm giữ nhiều kinh nghiệm và kỹ năng tốt đến làm việc ngày càng tăng. Nhật Bản cũng đã đề ra Chương trình Dải ven biển Fukuoka Silicon (Fukuoka Silicon Sea-Belt Programme), ở đó người ta áp dụng mô hình quản lý nhiều cấp hệ thống đổi mới quản lý.   ***  Tóm lại cần phải nhấn mạnh rằng thập kỷ vừa qua do nhiều thay đổi trong công nghiệp và sự lựa chọn định hướng chính sách nhà nước, cơ cấu và sự cấp phát tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ ở Nhật Bản đã trải qua những thay đổi sâu sắc, có thể khái quát ngắn gọn bao gồm:   a/ Quá trình đổi mới tích cực ở các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao;   b/ Sự tập trung nguồn lực vào phát triển ưu thế nghiên cứu và tạo lập hệ thống cơ quan uy tín để cạnh tranh có hiệu quả với các trường đại học hàng đầu trên thế giới;   c/ “Khu vực hóa” dần chính sách đổi mới thông qua phi tập trung hóa việc lãnh đạo khoa học và công nghệ;   d/ Dựa nhiều vào kinh doanh trong lĩnh vực hàn lâm và tăng cường mối liên hệ giữa các trường đại học và nền công nghiệp ở cấp địa phương.    Bùi Thiên Sơn tóm lược theo nguồn: KITAGAWA F.: “University-industry links and regional development in Japan: Connecting excellence and relevance?” – Science, technology & society – Los Angeles etc., 2009- Vol.14, N1.-P.1-33. (dẫn theo V.O. Timchenko, Obshestvennue nauki, Russia, số ra 01.022, năm 2010)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Pháp đối diện trước quyền tự chủ      Tiếp theo những cuộc đình công làm tê liệt hệ thống giao thông công cộng ở những thành phố lớn liên quan đến chế độ lương bổng và đãi ngộ của những ngành nghề đặc biệt, đầu tháng 11, nước Pháp lại bị rung động bởi những cuộc bãi khóa và chiếm đóng trường đại học của giới sinh viên ở nhiều thành phố lớn như Paris, Rouen, Tours, Toulouse, Lille, Rennes… chống lại luật về quyền tự chủ đại học mang tên Bộ trưởng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học Valéry Pécresse.  Từ trước đến nay, các đại học ở Pháp vốn vẫn có quyền tự chủ. Vậy, tại sao lần này cụm từ này lại làm cho giới sinh viên lo ngại đến vậy?    Đạo luật này là một trong những chương trình xã hội quan trọng của tân chính phủ Pháp. Những bước chuẩn bị cho nó đã được khởi động từ cuối tháng 5.2007, ngay sau khi nội các mới được thành lâp. Tinh thần của nó có thể tóm gọn trong quan niệm của Thủ tướng Francois Fillon, đó là tạo nên những trường đại học có quyền tự chủ trong việc xây dựng cơ cấu, trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực, trong việc tổ chức đào tạo, trong việc kí kết các thỏa thuận với các đơn vị nghiên cứu, những trường lớn, những doanh nghiệp mà không cần đến sự phê chuẩn của các cấp giám hộ. Dự luật này chạm đến hệ thống bằng cấp truyền thống của đại học Pháp, đưa việc đào tạo nghề vào trung tâm của quá trình giảng dạy; chấp thuận cho các đại học tự chủ trong việc tuyển sinh vào trường mình; cho phép giới chủ và lãnh đạo doanh nghiệp được quyền tham gia vào việc hoạch định việc tổ chức giảng dạy và nghiên cứu của các đại học; trao cho các vị lãnh đạo của các trường đại học quyền tự chủ trong việc tuyển dụng giáo viên và tuyển sinh, quyền tự chủ giống như là một vị chủ doanh nghiệp. Có thể nói, đạo luật này là một sự áp dụng tinh thần của chủ nghĩa tân tự do vào giáo dục đại học mà theo đó, đại học sẽ phải “tự bơi”, phải tự quyết định số phận chính mình, phải chấp nhận những quy luật của thị trường và bị ném vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt sản phẩm của quá trình toàn cầu hóa. Tóm lại, trong con mắt nhiều người Pháp, đạo luật này chính là một sự rập khuôn hệ thống giáo dục đại học hiện hành của người Mĩ. Điều này có thể thấy rõ qua bộ hồ sơ liên quan đến quyền tự chủ đại học của tờ Le Monde thực hiện hồi tháng chín với tiêu đề “đại học đối diện với mô hình Mĩ”1.  Vấn đề là tại sao một hệ thống đại học đã sản sinh ra những “trường đại học trong mơ” như Havard, Yale, Stanford, MIT… những trường đại học với nguồn lực tài chính gần như vô tận (số vốn của trường Stanford tính đến năm 2007 là khoảng 14 tỉ USD và trường này vừa tiến hành một chiến dịch để bổ sung thêm 4,3 tỉ USD vào tài sản khổng lồ đó2), với đội ngũ giảng sư danh giá gồm toàn những người có uy tín khoa học lẫy lừng, với những điều kiện dạy và học tuyệt hảo, những thư viện khổng lồ và những phòng thí nghiệm tân kì lại khiến người ta phải lo lắng đến như vậy?     Theo GS. Christopher Newfield của trường đại học Californie Santa Barbara, tác giả cuốn Đại học thời hậu công nghiệp: Chiến tranh văn hóa và sự phá hủy tầng lớp trung lưu Mĩ, 1980 – 20053, sự phát triển đột biến của Đại học Mĩ sau Thế chiến II dựa trên một loạt các yếu tố: niềm khát khao tiếp cận với sự hiểu biết cho mọi người, quyền tự chủ về quản lí, giá trị của các đầu tư công cộng, tính mở về phía các phong trào xã hội (đại học Mĩ đã từng là tổ ấm của các phong trào chống phân biệt chủng tộc và chiến tranh Việt Nam), sự kết hợp hài hòa nghiên cứu mũi nhọn và giáo dục công cộng. Điều này là sản phẩm của một loạt các chính sách liên quan đến giáo dục được hình thành trong thời chiến tranh lạnh: tăng đầu tư cho giáo dục đai học và nghiên cứu khoa học; tín dụng giáo dục tạo điều kiện cho các tầng lớp bình dân vào đại học; đại học trở thành nơi kết hợp nghiên cứu và giảng dạy; tinh thần dấn thân chính trị xuất hiện trong môi trường đại học; tính tự trị đại học dần dần được khẳng định, đại học được tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Nhưng từ đầu thập niên 80, khi cánh hữu lên nắm quyền ở Mĩ, những chính sách này dần dần bị cắt bỏ. Ngân sách dành cho đại học bị cắt giảm, các đại học bị buộc phải tự chủ, tự chịu trách nghiệm, bị buộc phải gắn chặt với thị trường lao động và giới tư bản. Nói trắng ra, đại học bị tư hữu hóa (hoặc gần như thế). Ngay cả các đại học công lập cũng phải tuân theo lôgích này. Họ cũng phải tăng học phí, phải thu hút tài chính từ các Mạnh thường quân và các hợp đồng đào tạo lao động, phải tái cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu xã hội. Và thế là những mặt trái của tấm huân chương vốn đã tiềm tàng càng ngày càng bộc lộ rõ: giáo dục chất lượng dành cho người giàu, đầu tư đòi hỏi thu lợi tức thời tập trung vào chỉ một số chuyên ngành của đại học và đe dọa xóa sổ một số chuyên ngành, sự cạnh tranh dẫn đến chi phí giáo dục quá cao, tập trung các nguồn lợi vô tận vào đỉnh hình tháp giáo dục cho một số trường đại học tinh hoa.  Mặt trái quan trọng nhất của nền giáo dục đại học ở Mĩ chính là sự bất bình đẳng, giữa các trường đại học cũng như về khả năng vào đại học của các tầng lớp cư dân. Theo một bản báo cáo được công bố tại Mĩ của Walter Benn Michaels, tình trạng bất bình đẳng trong hệ thống giáo dục đại học của Mĩ là hết sức sâu sắc. Trong khi 2/3 số thanh niên Mĩ thuộc một phần tư giàu của dân số được đi đại học thì chỉ có 14% thanh niên thuộc các gia đình nằm trong số 1/4 nghèo nhất là được trải qua bậc học này. Trong 146 trường tuyển chọn gắt gao nhất thì con số này lại còn có ý nghĩa hơn nữa: 74% sinh viên thuộc thành phần giàu có và 3% sinh viên thuộc loại nghèo… Người ta cũng biết rằng khi các trường quan trọng công bố tỉ lệ sinh viên thuộc các nhóm thiểu số (người gốc Phi, gốc Á, gốc Mĩ Latinh…) – 31% ở Princeton, 32% ở Yale, 37% ở Harvar…-  họ không quan tâm đến thu nhập của sinh viên bằng quan tâm đến chủng tộc của sinh viên. Và đó là hậu quả của việc tăng học phí để bảo đàm nguồn lực cho đại học. Hơn nữa, cái gì cũng có giá của nó. Đơn giản, muốn có việc làm tốt sau khi ra trường, người ta phải trả nhiều tiền. Một ví dụ, chi phí này là 69.840USD một năm ở trường kinh doanh của Havard, xếp thứ 2 thế giới, bảo dảm lương cao nhất sau khi ra trường: 152.733 USD. Nói cách khác, hai năm học sẽ được bù bằng một năm lương. Vấn đề là người nghèo sẽ lấy đâu ra tiền?  Dự luật Valéry Pécresse vừa được thông qua về tự chủ đại học thực chất là một bước tiến lại gần mô hình Mĩ về đại học. Tinh thần của nó là: đại học bị ném vào cuộc cạnh tranh khốc liệt có tính toàn cầu. Người ta phải tự xoay sở để tồn tại và vươn lên. Tình thế này có những mặt tích cực. Như chính cô Julie Coudry, Chủ tịch Liên đoàn sinh viên Pháp công nhận, đạo luật đã đưa việc hướng nghiệp trở thành một trong những sứ mạng chủ yếu của đại học bên cạnh đào tạo và nghiên cứu. Có điều, người Pháp lo ngại rằng dự luật đó sẽ trở thành một tác nhân làm đậm thêm sự bất bình đẳng xã hội hay không và liệu có thể dẫn đến một thứ chủ nghĩa duy kinh tế, đặt những mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu và tiêu diệt tính nhân văn của đại học? Có lẽ, đó mới chính là điều bản chất nhất của cuộc đấu tranh này bên cạnh những yêu sách hết sức cụ thể về tính dân chủ của đại học (số lượng đại diện sinh viên trong hội đồng nhà trường), về các cơ chế tuyển sinh…  Bài học về dự luật cải tổ đại học của người Pháp cũng đáng để người Việt Nam suy nghĩ khi mà, như một bài bình luận của nhà báo Danh Đức chỉ rõ, nhiều nhà hoạch định chiến lược giáo dục ở Việt Nam đang rất say mê với “mô hình Mĩ”4.  ——–  1http://www.monde-diplomatique.fr/carnet/2007-11-08-Protestations-etudiantes-en-France  2 http://www.monde-diplomatique.fr/2007/09/NEWFIELD/15109  3 http://www.monde-diplomatique.fr/2007/09/NEWFIELD/15109  4 http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=226309&ChannelID=119    Anh 1: Đại học Sorbonne  Anh 2: Một cuộc biểu tình của sinh viên Pháp  Lương Xuân Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học phi lợi nhuận: Khả năng và hiện thực      Để phần nào giải đáp những câu hỏi đang đặt  ra về mô hình Đại học phi lợi nhuận, chuỗi Café Giáo dục của tạp chí Tia Sáng và GiapSchool sẽ tổ chức buổi tọa đàm với khách mời là TS Lê  Trường Tùng, Chủ tịch HĐQT Đại học FPT, vào chiều thứ Bảy tới, 18/10,  tại Hà Nội.       Thời gian gần đây, những thảo luận về đại học phi lợi nhuận đang thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội. Trong đó, nhiều câu hỏi cơ bản đã được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời thấu đáo. Có thể liệt kê một vài câu hỏi đó, như sau:  1.    Vì sao cần phát triển đại học phi lợi nhuận?  2.    Đâu là động cơ để các nhà đầu tư phát triển loại hình đại học này?  3.    Bản chất của sở hữu trong đại học phi lợi nhuận là gì?  4.    Đâu là vai trò của nhà nước trong việc phát triển các đại học phi lợi nhuận?  5.    Khung pháp lý hiện thời của Việt Nam có cho phép xây dựng một trường đại học phi lợi nhuận?  6.    Quản trị trong đại học phi lợi nhuận như thế nào để tránh được cái xung đột lợi ích của các cá nhân, tổ chức có quyền lợi và trách nhiệm liên quan (stakeholders)?  7.    Khả năng huy động sự ủng hộ của xã hội để xây dựng một đại học phi lợi nhuận làm hình mẫu cho các trường ngoài công lập?    Buổi tọa đàm về Đại học phi lợi nhuận, trong khuôn khổ chuỗi Café Giáo dục của tạp chí Tia Sáng và GiapSchool, với sự bảo trợ của Không gian Sáng tạo Trung Nguyên, là một nỗ lực nhằm giải đáp phần nào những câu hỏi này.  Tham gia tọa đàm có TS. Lê Trường Tùng, Chủ tịch HĐQT Đại học FPT, người từng viết nhiều bài phân tích sâu sắc về hệ thống  giáo dục Việt Nam hiện thời, đồng thời đưa ra nhiều kiến nghị và giải  pháp thực tiễn khả thi và độc đáo.    TS. Lê Trường Tùng hiện là Chủ tịch HĐQT Đại học FPT (từ tháng 9/2014). Trước đó, từ năm 2006 đến 2014, ông là Chủ tịch HĐQT kiêm Hiệu trưởng của Đại học FPT, Phó giám đốc FPT TP HCM.     Thông tin chi tiết:    •    Khách mời: TS. Lê Trường Tùng, Chủ tịch HĐQT Đại học FPT  •    Dẫn chương trình: TS. Giáp Văn Dương  •    Thời gian: 15:00-17:00 thứ Bảy, ngày 18/10/2014.  •    Địa điểm: Café Sách Trung Nguyên, 52A Hai Bà Trưng, Hà Nội   •    Vào cửa tự do.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Quốc gia Hà Nội cải thiện vị trí xếp hạng      Theo bảng xếp hạng các trường đại học  trên thế giới QS, năm 2014, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) thuộc nhóm  các trường đứng từ thứ 161 đến 170 ở châu Á, trong khi năm 2013, trường  còn nằm ngoài top 200, thuộc nhóm từ 201 đến 205.       Còn theo bảng xếp hạng các đơn vị nghiên cứu khoa học SCImago (Tây Ban Nha), năm 2014, ĐHQGHN xếp thứ 284 trên thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo trong, so với thứ hạng 376 hồi năm ngoái.  Trong một cuộc trả lời phỏng vấn mới đây trên website nội bộ, GS.TS Nguyễn Hữu Đức, Phó giám đốc ĐHQGHN, cho biết, những con số này có thể coi là kết quả xứng đáng cho sự kiên định với quản trị mục tiêu mà ĐHQGHN đã triển khai.   GS.TS Nguyễn Hữu Đức cũng cho biết, mục tiêu phấn đấu của ĐHQGHN là trở thành thành Trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực đạt chuẩn quốc tế, nằm trong nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á vào năm 2015, trong nhóm 100 đại học tiên tiến vào năm 2020.  Để giúp các đơn vị thành viên và trực thuộc định vị hiện trạng, xác định đúng kế hoạch phát triển theo hướng đạt chuẩn đại học nghiên cứu của khu vực và quốc tế, từ đầu năm 2013, ĐHQGHN đã ban hành Bộ tiêu chí 1206, tên đầy đủ là Hướng dẫn số 1206/HD – ĐBCLGD.   Theo GS.TS Nguyễn Hữu Đức, Bộ tiêu chí 1260 được thiết kế dựa trên nhiều bảng đánh giá và xếp loại của nhiều trường đại học và hiệp hội uy tín thế giới – cơ sở phân loại của Đại học Carnegie, tiêu chí gắn sao đại học của Bảng xếp hạng QS, tiêu chí xác định đại học nghiên cứu của Hiệp hội các trường đại học Mỹ (Association of American Universities), đồng thời có cân nhắc các yếu tố trong hoàn cảnh của Việt Nam – để làm căn cứ phân tích nội bộ, quản trị hệ thống, và hoạch định lộ trình phát triển.   “Kết quả đánh giá mức độ đạt chuẩn trường đại học nghiên cứu theo hướng dẫn này là Phụ lục bắt buộc kèm theo Báo cáo tổng kết năm học và Kế hoạch ngân sách hàng năm của đơn vị,” ông Đức nói.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Quốc gia Hà Nội: Phát triển theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực      Những nhà giáo, những người thầy của Đại học Quốc gia Hà Nội nói về ngôi trường của mình và các mong muốn phát triển trong tương lai để tiếp nối chặng đường hơn 100 năm lịch sử.       PGS.TS. Phạm Hồng Tung, Phó Ban KHCN:  Ưu tiên hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh    Mặc dầu đã trải qua hơn 100 năm tồn tại và phát triển, việc xác định được rõ đâu là những giá trị cốt lõi của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) vẫn còn là điều còn phải thảo luận. Quan điểm của nhà trường về chuyện này là như thế nào?  Đây cũng là đề tài mà chúng tôi thảo luận rất nhiều, có hẳn những cuộc hội thảo để bàn về việc này, và cuối cùng, chúng tôi đưa ra được mấy điểm chính như sau:   Đầu tiên là giá trị dân tộc và chủ nghĩa yêu nước. Dẫu đây là giá trị chung của toàn dân tộc, song nhìn lại suốt thời kì 1906 – 1945, Đại học Đông Dương tuy được Pháp lập ra để đào tạo bộ máy tay sai, nhưng thực tế lại là nơi tụ hội trí thức, lãnh tụ hàng đầu phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam. Tinh thần yêu nước và phụng sự Tổ quốc là những giá trị nổi bật của các thế hệ ĐHQGHN.   Thứ hai, đây là trung tâm khoa học cơ bản, sáng tạo ở đỉnh cao, đi tiên phong và tạo ra phá cách.  Thứ ba là giá trị đoàn kết, tướng sĩ một lòng phụ tử, chia sẻ từ lúc hàn vi đến thời kỳ phát triển và gắn bó với nhau qua nhiều thế hệ.   Thứ tư là tư duy liên ngành, đưa ĐHQGHN phát triển theo hướng Trung tâm giáo dục đi đầu, đa ngành, đa lĩnh vực.             PGS.TS. Phạm Hồng Tung            ĐH Quốc gia đang mở rộng mạnh mẽ về nhiều ngành đào tạo, thành lập mới nhiều trung tâm, viện nghiên cứu trực thuộc. Hệ thống này sẽ được định hướng phát triển như thế nào?   Cách đào tạo đơn ngành đã trở nên lỗi thời. Hiện nay, các khoa, đơn vị đào tạo buộc phải liên kết với nhau. Đi tiên phong là trường ĐH Kinh tế, ĐH ngoại ngữ, ĐH Công nghệ, cho phép sinh viên học kép, nhận bằng kép từ nhiều trường thành viên. Có những ngành đào tạo liên ngành mới như Khoa học quản lý, Khoa học Môi trường, Viện Viện Nam học và Khoa học phát triển…  ĐHQGHN cũng ưu tiên hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, mang tính liên ngành cao.   Năng lực cạnh tranh của ĐHQGHN được xác định là nhờ đâu?  Trong khi nhiều trường đang phải đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám, thì ĐHQGHN lại đang thu hút được khá đông cán bộ trẻ về làm việc.   Riêng ĐH Kinh tế mấy năm gần đây đã thu hút tới 16 tiến sĩ trẻ được đào tạo ở nước ngoài về. Lúc đầu trường “thắt lưng buộc bụng” trả mức lương cao để giữ chân họ. Sau này, chính những người đó mang về nhiều dự án lớn, tạo mối quan hệ “mang lại thu nhập” cho trường.   Ngoài ra, trường cũng mời một số chủ doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Chẳng hạn Chủ nhiệm khoa Quản trị Kinh doanh Nguyễn Tiến Dũng đồng thời là chủ một doanh nghiệp lớn.   ĐH Công nghệ ngay từ lúc thành lập đã có thỏa thuận hợp tác nghiên cứu liên thông với các viện kinh tế, doanh nghiệp khác. ĐH Giáo dục là nơi nhiều chuyên gia hàng đầu của ngành giáo dục VN cộng tác.  ——-  PGS.TS  Nguyễn Vũ Lương, Hiệu trưởng trường THPT chuyên KHTN:    Cần rót tiền cho đúng chỗ                  Thực tế cho thấy là chúng ta có thế mạnh về nghiên cứu cơ bản, như vậy đừng để mất đi lợi thế này. Không nên có tư tưởng: “Nghiên cứu cơ bản chỉ cho các nước lớn, còn nước nhỏ thì hướng vào ứng dụng”. Mà đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản hoàn toàn không phải là đắt đỏ, nhất là ngành Toán.   Trước kia, các thầy trò đều nghèo xác xơ, Nhà nước cũng không có nhiều tiền mà cho, nhưng mọi người vẫn đam mê nghiên cứu.  Tuy nghèo, nhưng cả xã hội toàn tâm toàn ý cho học sinh giỏi, nhân tài được hết mực quý trọng. Suốt bao nhiêu năm, ngành Toán không thấy được đả động đến. Thầy trò âm thầm làm việc với nhau, ngay cả nguồn động viên tinh thần cũng trở nên hiếm hoi. Mãi cho đến gần đây, ngành Toán mới được nói đến nhiều nhân có sự kiện Ngô Bảo Châu.   Thật ra, câu chuyện đầu tư của mình là do lãng phí, chứ không phải là ít tiền. Vấn đề của các nhà quản lý là rót tiền cho đúng chỗ mà thôi.   ——–  PGS.TS  Trần Quang Vinh, Nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Công nghệ:   Cân đối mức độ đầu tư cho phát triển                   ĐH Công nghệ hiện đang tập trung vào một số công nghệ mũi nhọn như công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, công nghệ nano và tự động hóa. Cả bốn ngành này phải liên kết chặt chẽ với nhau. Đó cũng là hướng đào tạo liên ngành mà ĐHQGHN đã xác định.   Nhưng sai lầm của chúng ta trong thời gian dài trước kia là đi lệch hướng, thuận theo trào lưu. Trước kia, ta theo mô hình của Liên Xô, tập trung tất cả vào nghiên cứu cơ bản trong khi cả nước đang đói ăn. Hiện nay lại đổ xô vào nghiên cứu ứng dụng, không nắm được công nghệ lõi. Cứ như vậy, ta mãi mãi chỉ là một anh lắp ráp thuê.   Mặt khác, nhìn sang bài học của nước Nhật, khoảng 55% nghiên cứu ở các đại học Nhật Bản là nghiên cứu cơ bản. Nghiên cứu ứng dụng chỉ chiếm hơn 20%, còn lại là nghiên cứu phát triển. Hai loại nghiên cứu sau được thúc đẩy bởi các doanh nghiệp lớn. Sinh viên cao học Nhật, bước sang năm thứ 2 trở thành những “Mr. Toshiba”, “Ms. Canon”, hay “Ms. Mitsubishi”… Nghĩa là sinh viên được liên kết làm việc và nghiên cứu trực tiếp với các hãng này.   Ở mình, doanh nghiệp vẫn kêu là sinh viên ra trường không làm việc được ngay. Đó là nhà trường ta vốn chỉ dạy các em các kiến thức cơ bản, ít liên kết với doanh nghiệp. Do vậy, hướng liên kết với các doanh nghiệp rất cần được chú trọng.   Đối với các nhà quản lý, cần phải cân đối mức độ đầu tư cho phát triển giữa các hướng ngành, đừng chỉ nhắm theo xu thế mới nổi của thị trường mà quên đi đâu là thế mạnh của chính mình.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học siêu cỡ      Gần đây, trường Đại học FPT đặt mục tiêu  chiến lược là sẽ trở thành một đại học mega (tạm dịch là siêu cỡ) vào  năm 2020 với 100.000 sinh viên. Mặc dù là một khái niệm tương đối mới mẻ  ở Việt Nam, nhưng trên thế giới, đại học siêu cỡ đã có lịch sử phát  triển gần 200 năm. Vậy đại học siêu cỡ có đặc điểm gì khác với đại học  truyền thống? Vai trò và vị trí của nó trong nền giáo dục đại học là như  thế nào?    Lịch sử đại học siêu cỡ – những mốc quan trọng   Năm 1800, trước yêu cầu ngày càng cao từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại Mỹ, Hiệp hội Nông dân của nước này đề nghị các trường đại học truyền thống mở lớp đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp. Nhưng với sứ mệnh ban đầu là trường đào tạo phục vụ tôn giáo, các trường truyền thống thời đó như Harvard, William và Mary, Yale đã từ chối đề nghị của Hiệp hội. Điều này kích thích Hiệp hội tự tìm cách mở ra những trường đại học cho riêng mình, có quy mô nhỏ hơn và trực tiếp phục vụ nhu cầu đào tạo nhân lực cho ngành. Cho đến năm 1890, toàn nước Mỹ đã có khoảng 250 trường hoạt động theo mô hình này với tổng số sinh viên khoảng hơn 80.000. Như vậy, lịch sử đại học siêu cỡ lại bắt nguồn từ chính những đại học cỡ nhỏ nhưng có chức năng tương tự như đại học siêu cỡ ngày nay, đó là đào tạo nghề thiết thực cho nhu cầu của xã hội.   Cũng trong khoảng thời gian trên, vào năm 1858, ở bên kia bờ Đại Tây Dương, người Anh thành lập trường Đại học London, là đại học đầu tiên không phụ thuộc vào giáo hội và nhắm đến đáp ứng nhu cầu học tập của phần đông người dân lao động nghèo. Đây cũng là một mốc quan trọng, đánh dấu một chức năng khác của đại học siêu cỡ sau này là phục vụ số đông 1.  Đến năm 1939, trước viễn cảnh leo thang ngày càng cao của Chiến tranh Thế giới thứ hai, chính phủ Pháp quyết định thành lập Trung tâm Quốc gia về Đào tạo từ xa (Centre national d’enseignement à distance – CNED) với mục tiêu đáp ứng nhu cầu học tập trong hoàn cảnh chiến tranh: linh hoạt và hiệu quả. Sau chiến tranh, CNED tiếp tục phát triển với cách thức hoạt động đúng như tên gọi của nó: đào tạo từ xa. Trước khi có internet, CNED tổ chức đào tạo qua radio, qua TV. Cho đến giữa những năm 1990, trường này bắt đầu có những khóa e-learning đầu tiên như cách làm hiện nay, mặc dù về công nghệ còn ở mức rất sơ khai. Ngày nay, CNED có khoảng hơn 300.000 học sinh, sinh viên, trong đó có khoảng 1/3 là sinh viên đại học.   Mô hình đại học đào tạo từ xa hay đào tạo mở này cũng được phát triển ở nhiều nước khác, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến như Đại học mở Anh Quốc (thành lập năm 1969), Đại học mở Trung Quốc (1979), Đại học mở Hàn Quốc (1982) hay Đại học Quốc gia mở mang tên Indira Gandhi ở Ấn Độ (1985).   Năm 1944 là một mốc khác đáng ghi nhớ cho sự phát triển của đại học siêu cỡ. Tại thời điểm đó, trước viễn cảnh chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, Chính phủ Mỹ ban hành đạo luật G.I.Bill, quy định việc hỗ trợ tài chính cho các quân nhân trở về sau cuộc chiến được đi học đại học. Tuy vậy, do quy mô của các đại học truyền thống tại Mỹ thời bấy giờ còn hạn chế, không đủ khả năng tiếp nhận hàng triệu lượt người học, Chính phủ Mỹ cho phép các trường tư vì lợi nhuận được phép tiếp nhận nhóm sinh viên đặc biệt này. Về khía cạnh đào tạo, các đại học tư vì lợi nhuận, vốn phát triển từ các trường nông nghiệp như đã nói ở trên, cũng phù hợp hơn với sinh viên lớn tuổi, có nhu cầu học nghề để đi làm hơn là các đại học nghiên cứu truyền thống.   Có thể nói, đạo luật G.I.Bill chính là đòn bẩy quan trọng, kích thích hai yếu tố quan trọng đối với các đại học siêu cỡ sau này là vì lợi nhuận 2 và học tập suốt đời (người lớn tuổi vẫn có cơ hội đi học đại học) 3.   Nói tóm lại, khác với đại học truyền thống nhắm vào mục tiêu phục vụ giáo hội (trước kia) và nghiên cứu và đào tạo tất cả các ngành, nghề (ngày nay), có quy mô vừa phải (khoảng 20.000 – 40.000), đại học siêu cỡ (mega university) có sứ mệnh đáp ứng mục tiêu học tập của đại chúng, học tập suốt đời, đào tạo ngành nghề thiết thực phục vụ trực tiếp nhu cầu xã hội. Mà vì đào tạo cho số đông, nên các đại học này có nhu cầu phát triển về mặt quy mô để giảm chi phí, đồng thời áp dụng công nghệ tiên tiến e-learning (vừa để giảm chi phí, lại vừa để phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của sinh viên).                                Một số đại học siêu cỡ lớn nhất hiện nay              Tên trường         Năm thành   lập       Tổng số   sinh viên (2014)          Đại học mở quốc gia mang tên Indira Gandhi, Ấn Độ      1985      3,5 triệu           Đại học mở Trung Quốc       1979       2,7 triệu           Đại học Anadolu, Thổ Nhĩ Kỳ      1958       1,9 triệu           Đại học Islamic Azad, Iran       1982       1,6 triệu                                                              Những đặc điểm cốt lõi của đại học siêu cỡ    Đại học siêu cỡ và vấn đề chất lượng  Cũng như mọi tổ chức giáo dục khác, chất lượng được xem là yếu tố quyết định thành công của đại học siêu cỡ. Qua quan sát, có hai luồng ý kiến đối với chất lượng của các đại học siêu cỡ hiện nay:  Luồng ý kiến thứ nhất đánh giá thấp đại học siêu cỡ, cho rằng các trường này (nhất là các trường vì lợi nhuận) chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng; không chú trọng nghiên cứu mà chỉ chú tâm giảng dạy, hình thức e-learning không hiệu quả vì tỷ lệ sinh viên bỏ học cao, không kiểm soát được sự trung thực của sinh viên… Những người tạo ra luồng ý kiến này phần lớn xuất thân từ giới đại học truyền thống – nơi bị hằn sâu bởi khái niệm chất lượng theo mô hình đại học nghiên cứu hoặc giáo dục khai phóng.   Luồng ý kiến thứ hai, ngược lại, ủng hộ đại học siêu cỡ, cho rằng việc phát triển mô hình này (cả công lập lẫn tư thục, cả phi lợi nhuận lẫn vì lợi nhuận) là cần thiết; việc phát triển e-learning với chi phí thấp góp phần đảm bảo cơ hội học tập cho số đông người dân, cho nhu cầu học tập suốt đời, mà đây là điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho toàn xã hội. Tuy nhiên, hiện chưa có hệ thống kiểm định và đánh giá chất lượng riêng cho đại học siêu cỡ và e-learning. Mặc dù đã có những sáng kiến đáng ghi nhận như thành lập Ủy ban Quốc tế về Giáo dục mở và từ xa (International Council for Open and Distance Education) hoạt động rất tích cực trong hơn 10 năm trở lại đây, nhưng hệ thống kiểm định chất lượng cho hệ thống này, có thể nói, dường như vẫn chỉ là “phiên bản 2” hay “phiên bản kèm theo” của hệ thống kiểm định giáo dục đại học truyền thống.   Đào tạo e-learning, đào tạo cho số đông hay đào tạo cho người đi làm có mục tiêu, sứ mệnh, đặc thù riêng, đòi hỏi một hệ thống đảm bảo chất lượng, bao gồm cơ sở vật chất, hạ tầng, quy trình và giảng viên theo tiêu chí khác – không thể bắt chước y nguyên đào tạo chính quy thông thường. Xin lấy ví dụ về phương pháp giảng dạy để minh họa cho lập luận này. Như chúng ta đều biết, đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu quan trọng đối với giáo dục đại học ngày nay. Tuy vậy, theo quan điểm của người viết bài này, nhiệm vụ giảng dạy có ý nghĩa sống còn hơn đối với đại học siêu cỡ. Sinh viên của các đại học nghiên cứu rõ ràng có đầu vào tốt hơn, lại chủ yếu là sinh viên toàn thời gian, vì vậy sẽ có khả năng và điều kiện tự học tốt hơn. Ngược lại sinh viên đại học siêu cỡ phần đông học bằng hình thức e-learning, nhiều người học bán thời gian, lại đang đi làm. Vì vậy, việc xây dựng một phương pháp giảng dạy phù hợp là yêu cầu cấp bách đối với các đại học theo mô hình mega.                         So sánh đại học siêu cỡ và đại học nghiên cứu truyền thống               Yếu tố       Đại học nghiên cứu truyền thống      Đại học siêu cỡ              Chức năng  (sắp xếp theo chiều giảm dần thứ tự ưu tiên)       Nghiên cứu – giảng dạy – chuyển giao tri thức      Giảng dạy – nghiên cứu – chuyển giao tri thức                 Ngành – lĩnh vực       Cơ bản (toán, lý, hoá…), liên ngành (môi trường, phát   triển bền vững…), định hướng nghề nghiệp cao (quản trị, IT, thiết kế…)       Định hướng nghề nghiệp cao (quản trị, IT, thiết kế…)          Bằng cấp   (sắp xếp theo chiều giảm dần thứ tự ưu tiên)       Sau đại học – Đại học       Đại học – Cao đẳng/Nghề/Sau đại học          Đối tượng sinh viên       Tuyển chọn cao       Tất cả mọi đối tượng           Quy mô sinh viên       20.000 – 40.000       > 100.000          Mô hình lợi nhuận       Công, tư phi lợi nhuận       Công, tư vì lợi nhuận, phi lợi nhuận           Chi phí đào tạo       Cao       Thấp           Phương pháp giảng dạy       Truyền thống là chủ yếu       Truyền thống, e-learning, các phương pháp mới               ***   Trải qua gần 30 năm đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã có những bước tăng trưởng đáng kể về mặt quy mô. Quyết tâm của Đại học FPT trở thành một đại học siêu cỡ trong tương lai, cùng với đề án tương tự phát triển hai đại học mở ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh (sử dụng e-learning) đang được Chính phủ xem xét là một nỗ lực phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại. Như đã phân tích ở trên, việc những tham vọng đó có thể thành hiện thực hay không, trước tiên phụ thuộc vào quan điểm, tầm nhìn của những người có trách nhiệm về chất lượng cũng như hệ thống kiểm định chất lượng của loại hình giáo dục đại học đặc biệt này.   ——————–———————————————————–  * Đại học Văn hóa Trung Hoa, Đài Loan  1: Cần lưu ý, Đại học London sau này lại phát triển theo một hướng khác, không giống như khái niệm về đại học siêu cỡ ngày nay. Đại học London hiện nay là một hệ thống bao gồm nhiều đại học thành viên, chủ yếu là đại học nghiên cứu (trùng với chức năng sau này của những đại học thuộc giáo hội trước kia) với học phí đắt (không dành cho mọi người) và đào tạo nhiều ngành nghề khác nhau (bao gồm những ngành thiết thực cũng như các ngành cơ bản).   2: Tất nhiên, vẫn không thể bỏ qua vai trò của các đại học công hoặc đại học tư phi lợi nhuận   3: Tuổi trung bình của sinh viên (cử nhân) tại các đại học siêu cỡ ở Mỹ hiện nay từ 25-30 tuổi.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Thái Nguyên: Một mô hình tốt của đại học vùng      Chỉ trong vòng năm năm nay, Đại học (ĐH) Thái Nguyên có hơn 400 công bố ISI/Scopus và hàng chục đăng ký sở hữu trí tuệ. Điều đó cho thấy sự phát triển nhanh chóng của một đại học vùng theo xu hướng ĐH định hướng nghiên cứu trên thế giới.      Đại học Thái Nguyên  Quyết liệt và linh hoạt  Ngay từ trước năm 2015, ĐH Thái Nguyên đã có số lượng công bố trong nước khá tốt, nhưng nhà trường vẫn chưa thể bằng lòng với những gì đạt được so với mục tiêu đặt ra của một đại học công hàng đầu trong vùng là phải có nhiều công bố quốc tế. Vì vậy, lãnh đạo ĐH Thái Nguyên đã xây dựng một kế hoạch phát triển mới theo định hướng ĐH nghiên cứu, “ĐH phải đứng vững bằng ‘hai chân’: công bố quốc tế và sản phẩm có bản quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ, được chuyển giao cho sản xuất”, theo PGS.TS. Trần Thanh Vân, Trưởng ban KHCN& Môi trường, ĐH Thái Nguyên.  Từ đó, ĐH Thái Nguyên quy định, mỗi đề tài nghiên cứu đều phải trả lời được câu hỏi cụ thể: nghiên cứu ứng dụng thì có thể đăng ký sở hữu trí tuệ, chuyển giao cho sản xuất hoặc có thể công bố quốc tế trong danh mục ISI/ Scopus không? Có thể hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh không? Với giảng viên, ĐH đặt chỉ tiêu: hàng năm, mỗi phó giáo sư phải có hai bài công bố, mỗi tiến sĩ phải có một bài (nhóm ngành khoa học tự nhiên bắt buộc phải có công bố quốc tế, nhóm ngành KHXH&NV được chấp nhận công bố trong nước ở các tạp chí tính điểm công trình do Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước quy định) mới được coi là hoàn thành nhiệm vụ. Trên đây là những tiêu chí cứng được đặt ra, còn quá trình thực hiện hoàn toàn phụ thuộc vào sự linh hoạt trong điều kiện tiềm lực của từng trường ĐH thành viên. Việc phân bổ kinh phí cho nghiên cứu khoa học trong nội bộ các trường thành viên của ĐH Thái Nguyên cũng không được đặt ra theo một khung phân bổ ngân sách cứng, mà hoàn toàn linh hoạt dựa trên mục tiêu, kết quả nghiên cứu của từng đơn vị trực thuộc. Chẳng hạn như, ở Trường ĐH Khoa học, ĐH Thái Nguyên, lãnh đạo nhà trường sẽ thường xuyên xếp hạng kết quả nghiên cứu của các khoa, “khoa nào có thành tích nghiên cứu của năm trước tốt nhất thì sẽ nhận được kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học nhiều nhất, mặc dù sự chênh lệch giữa các khoa không quá lớn, nhưng điều đó sẽ khích lệ được các khoa cùng phấn đấu”, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Thái Nguyên cho biết. ĐH Thái Nguyên chỉ trực tiếp can thiệp đối với những vấn đề bức thiết, ví dụ “khi nhận thấy công bố quốc tế của ĐH đang có kết quả khá tốt, nhưng đăng ký bản quyền và sở hữu trí tuệ đang là khâu yếu nhất, khiến chuyển giao công nghệ gặp bất lợi khi so sánh cạnh tranh, chúng tôi đề ra nhiệm vụ là các trường ĐH thành viên và ĐH Thái Nguyên phải hỗ trợ kinh phí và thủ tục cho đăng ký bản quyền và sở hữu trí tuệ”, PGS.TS Trần Thanh Vân nói. Ví dụ, trong năm 2017, ĐH Thái Nguyên tập trung hỗ trợ để thúc đẩy thương mại hóa, đăng ký sở hữu trí tuệ cho hai nhóm nghiên cứu đang có sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng cao là: Nghiên cứu, phát triển phiên bản két sắt cơ điện tử theo hướng nâng cao tùy chọn bảo mật và bảo vệ của cá nhân người dùng và Nghiên cứu phát triển hệ thống thông minh phục vụ đo lường tự động tại các nhà máy nước.    Nhờ những chiến lược quyết liệt nhưng linh hoạt đó, cho đến nay, ĐH Thái Nguyên đã lọt vào top 8 ĐH của Việt Nam theo xếp hạng của Webometrics, hệ thống uy tín đánh giá xếp hạng ĐH dựa trên mức độ số hoá và xuất bản quốc tế. ĐH Thái Nguyên cũng xếp thứ bảy trong số 10 trường có nhiều công bố quốc tế nhất ở Việt Nam. Nếu so sánh giữa các ĐH công lập theo các vùng miền ở Việt Nam thì trong năm học 2016-2017, ĐH Thái Nguyên đang là đơn vị dẫn đầu về số lượng công bố ISI.  Vướng mắc vì chưa thể thành lập doanh nghiệp KHCN  Để tiếp tục phát triển trên nền tảng đó, ĐH Thái Nguyên còn phải có định hướng giải quyết các nhiệm vụ KHCN dựa trên liên kết các trường thành viên, chứ không chỉ dựa trên sự phát triển “cộng gộp” của từng trường ĐH thành viên riêng lẻ. Do đó, ĐH Thái Nguyên đề ra chiến lược phát triển các nhóm nghiên cứu liên ngành và đã đã thành lập hội đồng khoa học bao gồm các chuyên gia đầu ngành trong ĐH để tư vấn về định hướng hoạt động KH&CN thường niên, trung hạn và dài hạn đồng thời xây dựng các nhóm chuyên gia liên ngành. Hiện nay ĐH Thái Nguyên có 14 nhóm chuyên gia liên ngành hỗ trợ tư vấn, tham gia xây dựng thuyết minh để đấu thầu đề tài/nhiệm vụ/dự án KH&CN nhằm giải quyết những vấn đề cần sự tác động đa ngành của địa phương, khu vực thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Chẳng hạn, “chương trình hợp tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ KH&CN đến năm 2020 với kinh phí là 100 tỷ mà ĐH Thái Nguyên đang thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề bức thiết về phát triển kinh tế xã hội theo ‘đặt hàng’ của tỉnh Thái Nguyên là minh chứng cho sự phối hợp khoa học liên ngành từ các trường ĐH thành viên”, PGS.TS Trần Thanh Vân nói.  Tuy nhiên, nền tảng học thuật mới chỉ là một “chân” giúp ĐH tự chủ vững chắc. Một chân còn lại là chuyển giao các ứng dụng công nghệ trong nhà trường, dù vẫn đang được thực hiện và đem lại nguồn kinh phí cho cá nhân các nhà khoa học trong các trường ĐH thành viên, nhưng còn đang tồn tại một vướng mắc rất lớn. Theo PGS.TS. Trần Thanh Vân, để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chuyển giao công nghệ, thì cần có các doanh nghiệp KHCN trong nhà trường – một cầu nối để chuyển giao. Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp KH&CN được thai nghén sinh ra và nuôi dưỡng bởi các cơ sở giáo dục ĐH thì … lại phải thuê người ngoài đứng tên. “Các quy định hiện nay đang rất ‘trói’ chúng tôi. Tại sao nhà trường có sản phẩm KH&CN, mà lại không thể thành lập doanh nghiệp KH&CN và không thể sống được nhờ đó?”, PGS.TS Trần Thanh Vân nói.  Trong thế khó đó, các trường ĐH chỉ được phép mở trung tâm ươm tạo công nghệ, nhưng trung tâm này không có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, nghĩa vụ thuế như một doanh nghiệp và sẽ gây nhiều khúc mắc về thủ tục giấy tờ khi chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm. Nhiều nhà khoa học của ĐH Thái Nguyên đều phải… nhờ một công ty khác đứng tên giải quyết các thủ tục giấy tờ để chuyển giao, thương mại hóa sản phẩm, cách làm này ẩn chứa rủi ro và không minh bạch, rất có thể mất quyền sở hữu công nghệ và ít nhiều vi phạm pháp lý. “Chính sách hiện nay tăng tự chủ cho các trường ĐH là rất tốt, nhưng cần sớm có những quy định cụ thể về việc thành lập các doanh nghiệp KH&CN trong nhà trường, phải ‘mở bung’ ra ngay, thì mới gắn giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất, cơ sở giáo dục ĐH phải đi bằng hai chân mới đủ khả năng sống khỏe và tự chủ được”, PGS.TS Trần Thanh Vân kiến nghị.  Trong giai đoạn 2011 – 2016, ĐH Thái Nguyên đã có một số kết quả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng rất ấn tượng. Cụ thể, số lượng công bố quốc tế lên tới 396 bài ISI, 23 bài Scopus, hơn hai trăm lượt báo cáo hội thảo quốc tế và hơn 3200 bài tạp chí trong nước. Các sản phẩm KH&CN được đăng ký bản quyền và sở hữu trí tuệ: 11 sản phẩm được công nhận bản quyền tác giả; 7 giống cây được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp bằng bảo hộ 20 năm; chỉ tính riêng năm 2016 có 8 sản phẩm được cấp bằng độc quyền sáng chế.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Đại học Thành Tây: Lộ trình từ số không trở thành tổ chức nghiên cứu uy tín      Trong xu hướng các tập đoàn lớn đầu tư vào giáo dục đại học ở Việt Nam, ông Hồ Xuân Năng, chủ tịch tập đoàn Phenikaa, người vừa trở thành cổ đông chi phối của Trường Đại học Thành Tây muốn làm nhiều hơn thế. Ông kỳ vọng Trường Đại học Thành Tây, với xuất phát điểm gần như là trường dạy nghề không mấy tên tuổi, sẽ trở thành đại học nghiên cứu.       Ông Hồ Xuân Năng. Ảnh: Hảo Linh  Ông có thể cho biết vì sao mình lại quan tâm đến giáo dục, cụ thể là việc mua lại Trường Đại học Thành Tây hay không?  Không phải là bây giờ mà trước đây gần chục năm, tôi đã ấp ủ dự định thành lập hoặc đầu tư vào một trường đại học. Tôi là dân Bách khoa (Đại học Bách khoa Hà Nội), tốt nghiệp năm 1986. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại trường năm 1991, năm 1992 tôi ở lại làm cán bộ giảng dạy. Do gặp một số khó khăn, năm 1993 tôi không ở lại trường nữa mà chuyển sang công tác tại Viện Cơ điện nông nghiệp và chế biến nông sản – Bộ NN&PTNT, nhưng vẫn trăn trở với ước mơ muốn làm khoa học, làm giáo viên. Nhưng thực sự mà nói, cơ chế nghiên cứu lúc bấy giờ không cho phép tôi làm điều mình thực sự mong muốn. Vì vậy, tôi chuẩn bị hồ sơ và nội dung nghiên cứu định sang Châu Âu để làm post doc nhưng không xin được chỉ tiêu, học bổng. Sau hai năm, cảm thấy nghiên cứu cũng không giải quyết được gì, tôi nghĩ cần làm cái gì đó khác cho mình và cho đất nước.      “Chính ở trong Trường Thành Tây, một số ít cổ đông cũng nói là, ông Năng làm doanh nghiệp, làm gì có chuyện ông ấy đầu tư không có lợi nhuận? Nhưng tôi ít nhiều xuất thân từ nhà giáo, nhà khoa học nên suy nghĩ của tôi khác. Tôi thấy mình cần làm được gì đó có ích cho xã hội”. Ông Hồ Xuân Năng      Trong gần bốn năm, kể từ năm 1995, tôi đi làm cho Tập đoàn ô tô Ford tại Việt Nam, nhưng vẫn tham gia đào tạo nghiên cứu sinh. Sau đó, tôi làm trợ lí Chủ tịch hội đồng quản trị của Vinaconex trong vòng năm năm, cho đến khi nhà máy đá ốp lát cao cấp của công ty trên Hòa Lạc ở bên bờ vực phá sản. Lúc đó, tôi chuyển sang làm giám đốc nhà máy với sứ mệnh nặng nề là bằng mọi giá phải cứu được nó để Vinaconex không bị ảnh hưởng; vì lúc đó vốn sở hữu của Vinaconex chỉ có 99 tỉ, trong khi nguyên dự án đó tính ra tiền Việt là hơn ba trăm tỉ.  Năm 2008- 2009, khi công ty rất phát triển, tôi dự định đầu tư vào một trường Đại học, nhưng lúc đó khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra, công ty lại đang đầu tư vào thị trường Mỹ, nên tôi đành gác lại dự định này. Năm 2015-2016, tôi mới quay trở lại để thực hiện ước mơ đó, nhưng mới chỉ mua được 35% cổ phần của Trường Đại học Thành Tây. Đến cuối năm 2017 tôi mới kiểm soát hoàn toàn được Trường Đại học Thành Tây.  Làm thế nào để ông có thể thu hút những người tài năng về các viện, trường của mình?  Kinh nghiệm đầu tiên của tôi là khi thấy người tài thì đừng lờ đi. Phải ngay lập tức để mắt đến người ta, còn thu hút được người ta hay không là chuyện khác. Nhưng dứt khoát phải để mắt vào, phải thể hiện sự tôn trọng và cho người ta thấy rằng mình cần họ, nếu không sẽ thất bại. Ngay doanh nghiệp cũng thế mà!  Với những người muốn về với mình, chúng tôi xác định phải cung cấp cho họ một môi trường làm việc tốt với đầy đủ trang thiết bị cho họ thỏa sức nghiên cứu, sáng tạo, và vấn đề quan trọng thứ hai là đảm bảo cuộc sống cho họ để họ yên tâm nghiên cứu. Xác định con người là quan trọng nên tôi sẵn sàng dành ra một khoản kinh phí lớn cho việc này. Nhưng đó không phải là khoản đầu tư trong một lúc, mà là một nguồn lực được bồi đắp và phân phối theo thời gian, không chỉ để trả lương mà còn để khuyến khích, tài trợ nghiên cứu.  Cho đến bây giờ, bộ khung đội ngũ lãnh đạo của trường mới đạt được 70%. Bộ máy nghiên cứu tuy còn rất khiêm tốn, nhưng thành công bước đầu là trong thời gian ba tháng, chúng tôi đã thu hút được một số nhà khoa học có uy tín, là hạt giống để nhân tiếp. Từ giờ đến cuối năm, đội ngũ này sẽ có thêm khoảng ba mươi nhà khoa học từ nước ngoài trở về.  Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu tư thục ở Việt Nam, việc xác định mục đích “vì lợi nhuận” hay “không vì lợi nhuận” vẫn còn mơ hồ và gây nhiều tranh cãi vì những mâu thuẫn thường trực giữa hội đồng trường và rất nhiều cổ đông góp vốn. Vậy ông đặt ra và triển khai định hướng tổ chức của mình như thế nào?      “Tôi xác định phải có chế độ đãi ngộ tốt thì người ta mới về với mình, và chế độ đó không hẳn là trả lương thật cao. Tôi cho rằng lí do đầu tiên các nhà khoa học, những người tài năng khác về với chúng tôi phải là vì môi trường làm việc: họ có điều kiện để tự do theo đuổi hướng nghiên cứu của mình không, có được đáp ứng yêu cầu về trang thiết bị hay không; và thực sự cái quan tâm lớn nhất của họ là chiến lược phát triển, tầm nhìn của người lãnh đạo như thế nào, có ổn định không?” Ông Hồ Xuân Năng      Đầu tư vào giáo dục đại học có hai mặt. Nếu đầu tư vào giáo dục đại học chỉ vì lợi nhuận trước mắt, đa phần người chủ sẽ không chú trọng đầu tư nhiều cho trường, cho chất lượng học, mà chỉ cốt tuyển sinh cho nhiều để thu học phí. Thực sự phải nói như vậy là ít có trách nhiệm với giáo dục… Nếu đầu tư một cách thực chất thì chưa chắc đã có lợi nhuận. Người ta sẽ bảo là mình viển vông, làm không có lợi nhuận thì làm làm gì.  Chính ở trong Trường Thành Tây, một số ít cổ đông cũng nói là, ông Năng làm doanh nghiệp, làm gì có chuyện ông ấy đầu tư không có lợi nhuận? Nhưng tôi ít nhiều xuất thân từ nhà giáo, nhà khoa học nên suy nghĩ của tôi khác. Tôi thấy mình cần làm được gì đó có ích cho xã hội.    Lễ ra mắt đại học Thành Tây. Nguồn ảnh: Trang cá nhân của PGS. TS. Đỗ Vân Nam  Khi đầu tư vào đại học, điều quan trọng là mình phải xác định mình muốn cái gì trong tương lai. Nếu chỉ nghĩ từ ba đến năm năm để có nguồn thu, thì tôi thừa sức làm được. Nhưng tạo ra một trường đại học có tầm vóc là một chuyện khác, đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Và bài toán tài chính không phải là vấn đề lớn đối với Tập đoàn Phenikaa.  Như ông đã biết, hoạt động nghiên cứu và giáo dục đại học không trực tiếp phục vụ cho lợi ích doanh nghiệp, hơn nữa lại rủi ro và rất có thể là không có lợi nhuận. Điều chúng tôi rất quan tâm là ông làm thế nào để dung hòa giữa hai thái cực này, tạo không gian và sự tự do cho nhà khoa học?  Đúng, câu hỏi ấy phải đặt ra vì phải có nguồn tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu.  Tuy nhiên tôi cho rằng, nếu đảm bảo uy tín và chất lượng đào tạo, sinh viên tốt nghiệp có khả năng làm việc độc lập, hiệu quả tích cực của đào tạo là không cần bàn cãi; và do đó, đào tạo đại học dựa trên nền tảng nghiên cứu khoa học là cách làm duy nhất và bền vững để dung hoà, hơn thế nữa sẽ thừa sức tài trợ ngược lại nghiên cứu khoa học. Vấn đề là cần có tầm nhìn và chiến lược dài hạn. Do vậy, Trường Đại học Thành Tây xác định có thể năm năm đầu không có lãi, nhưng dứt khoát năm thứ 6 trở đi phải có lãi để đầu tư quay trở lại và phát triển tiếp.  Năm năm đầu là thời điểm chúng tôi xây dựng cơ sở vật chất, thu hút nguồn nhân lực và đầu tư các trang thiết bị nghiên cứu cho các nhà khoa học làm việc. Với một nhà nghiên cứu lý thuyết thì họ không cần nhiều, họ chỉ cần một nơi làm việc, một cái máy tính, một cái server để họ lưu trữ dữ liệu, kinh phí dành cho họ chủ yếu là để trả lương. Còn với những nhà nghiên cứu có định hướng ứng dụng như khoa học vật liệu chẳng hạn, thì chi phí trang thiết bị thí nghiệm cho mỗi người sẽ vào khoảng 200-300 nghìn USD. Tuy nhiên, những thiết bị đó không chỉ phục vụ cho riêng nhà khoa học, mà cho cả sinh viên, nghiên cứu sinh nên thực chất số tiền đầu tư đó không phải là nhiều.  Đầu tư nhiều nhất phải kể đến trang thiết bị cho sinh viên thực hành. Ví dụ, đào tạo ngành kĩ thuật ô tô phải đầu tư khoảng 4-5 triệu USD vào cơ sở vật chất, thì mới có thể thu hút được người học. Tuy nhiên, ở trong ngành nên tôi biết, nếu khai thác tốt các thiết bị đó, vẫn có thể đủ tiền để trả lương, thưởng và nghiên cứu khoa học.  Tôi được biết là ông còn thành lập viện nghiên cứu ứng dụng trực thuộc Phenika là PRATI và viện nghiên cứu cơ bản TIAS trực thuộc trường Đại học Thành Tây. Hai đơn vị này sẽ vận hành như thế nào và hỗ trợ Trường Đại học Thành Tây ra sao?  Viện PRATI được thành lập trên cơ sở Trung tâm R&D của Tập đoàn, do đó sẽ tiếp tục nghiên cứu ứng dụng, sẽ nghiên cứu những gì có thể ra được patent, từ đó tập đoàn sẵn sàng đầu tư triển khai. Kinh nghiệm về ảnh hưởng của R&D đối với Tập đoàn Phenikaa là rất rõ nét và đã được phản ánh thông qua hiệu quả hoạt động của Tập đoàn, trong những năm vừa qua đã giúp tiết kiệm hàng trăm tỉ đồng chi phí.  Mục tiêu quan trọng khác của PRATI là hợp tác với Trường Đại học Thành Tây cả về nghiên cứu và đào tạo. PRATI sẽ là nơi các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh của Đại học Thành Tây đến thực tập, nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ; những công trình nghiên cứu, bài báo công bố của PRATI vì vậy cũng sẽ là kết quả của Trường Đại học Thành Tây. Còn viện  TIAS  thuộc Trường Đại học Thành Tây thì  nghiêng về nghiên cứu cơ bản, kết hợp với PRATI sẽ hỗ trợ tích cực để Trường Đại học Thành Tây hướng đến mục tiêu trở thành một trong những trường đại học đa ngành hàng đầu của Việt Nam dựa trên nền tảng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và thực hành. Bây giờ nhóm nghiên cứu nào trở về từ nước ngoài mà chưa kịp đăng ký đề tài, thì tôi sẽ cấp tiền cho họ làm. Chúng tôi định hướng Trường Đại học Thành Tây, trong vòng một thập niên nữa phải là một đại học có hàm lượng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cao.  Tiêu chí của Đại học Thành Tây khi mở ra các ngành học là gì? Căn cứ vào nhu cầu đang thịnh hành của thị trường hay đặt mục tiêu vì sự phát triển học thuật ban đầu? GS. Pierre Darriulat đã từng viết nhiều trên Tia Sáng rằng, lĩnh vực vật lý thiên văn là lĩnh vực chiếm nhiều giải Nobel nhất và năng động nhất trong ngành vật lý. Hơn nữa, nó cũng không đòi hỏi quá nhiều cơ sở vật chất tốn kém vì có thể dùng dữ liệu mở từ đài thiên văn quốc tế. Nhưng Việt Nam chưa hề có ngành này, nghiên cứu sinh từ ngành này bảo vệ ra cũng không được cấp mã ngành.    Phenikaa đã từng hợp tác với GS. Trần Vĩnh Diệu (ĐH Bách khoa Hà Nội) để nghiên cứu cải tiến nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất. Nguồn ảnh: Phenikaa  Nếu một nhà khoa học rất giỏi như bác Pierre Darriulat có mong muốn mở và đào tạo ngành thiên văn tại trường, dù Bộ chưa có mã ngành thì chúng tôi cũng sẵn sàng tiên phong. Cũng như ngành trí tuệ nhân tạo, chúng tôi đang gửi hồ sơ cho Bộ GD&ĐT để được mở ngành đào tạo này ở trường. Vì đây là một ngành cực “hot” trong những năm tới, các nước trên thế giới đã đào tạo rất nhiều rồi, mà Việt Nam vẫn chưa có mã ngành đó.  Với một ngành mới, chúng tôi sẵn sàng mở nếu đạt được hai điều: 1) nếu nó đang là một ngành “hot”, một xu hướng ở Việt Nam 2) Nếu nó không là ngành “hot” nhưng nó góp phần khai phá nền khoa học Việt Nam, tạo nền móng để thu hút các nhà khoa học tài năng và sau này tạo ra lớp sinh viên mới, hội nhập với thế giới thì chúng tôi sẽ làm. Có tốn kém chúng tôi cũng sẵn sàng làm. Cái chính là cần có đội ngũ nhân sự các nhà khoa học chuyên ngành có năng lực và đạo đức để phát triển những ngành đào tạo mới đó.  Có hai vấn đề khiến cho nhiều viện nghiên cứu, trường đại học của Việt Nam trở nên bảo thủ và thiên kiến, thứ nhất là họ không có đánh giá độc lập, tự mình khen mình và thứ hai là tình trạng “cận huyết” – chỉ tuyển những người do chính cơ sở đó đào tạo về làm việc, ít giao lưu, luân chuyển với các cơ sở bên ngoài. Vậy ông làm thế nào để tránh được những nguy cơ này?    Ở hai viện nghiên cứu và Trường Đại học Thành Tây, mỗi nơi chúng tôi đều có ba hội đồng đánh giá. Một là hội đồng tư vấn quốc tế độc lập với đội ngũ nhân sự hoàn toàn riêng rẽ, không giữ chức vụ cụ thể gì trong viện, trường. Mỗi viện PRATI và TIAS đều có từ 10-12 giáo sư trong hội đồng tư vấn quốc tế độc lập, một vài trong số họ cũng có mặt trong hội đồng tư vấn quốc tế của trường. Riêng viện PRATI, trong hội đồng tư vấn quốc tế độc lập còn có những CEO và lãnh đạo của các tập đoàn công nghệ lớn đến từ Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc. Còn lại là hai hội đồng tư vấn và khoa học của viện, bao gồm cả những cán bộ cơ hữu trong viện và những cộng tác viên bên ngoài, thường xuyên xem xét những hoạt động khoa học và quản lý khoa học của viện.          Trường Đại học Thành Tây xác định có thể năm năm đầu không có lãi, nhưng dứt khoát năm thứ 6 trở đi phải có lãi để đầu tư quay trở lại và phát triển tiếp.      Với việc hợp tác, luân chuyển, Trường Đại học Thành Tây có cách làm như thế này: Chúng tôi sẽ thiết lập các trung tâm hợp tác giữa trường với các trung tâm nghiên cứu trên thế giới. Hiện nay chúng tôi đã có trung tâm như vậy đặt tại Mỹ, tiến tới có thể sẽ có ở Hà Lan, Nhật, Hàn Quốc và một nước Châu Âu. Các trung tâm này sẽ có hai cơ sở, một ở Thành Tây, một ở đơn vị nước ngoài. Sau này, kết quả nghiên cứu của hai bên sẽ chia sẻ với nhau, nhân viên, cán bộ nghiên cứu sẽ đi lại, trao đổi, hợp tác theo các chương trình kéo dài 3-6 tháng chẳng hạn. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải trang bị đầy đủ tất cả các phòng thí nghiệm, sao cho người nước ngoài sang đây làm việc cũng được đảm bảo điều kiện y như nhà khoa học của mình sang bên đó. Song song với việc này, chúng tôi cũng sẽ thành lập một tạp chí khoa học của Thành Tây, với mục tiêu hướng tới được xếp hạng trong các cơ sở dữ liệu của thế giới như ISI, Scopus. Nếu làm được cả hai việc, trong vòng 10 năm nữa, mục tiêu để Thành Tây lọt vào top 10 trường đại học trong nghiên cứu khoa học của Việt Nam là không khó.  Hảo Linh thực hiện                Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học trẻ có thể là đại học xuất sắc ?      Tuổi đời non trẻ không phải là rào cản ngăn một trường đại học trở thành đại học  xuất sắc, ngay cả khi những trường lâu đời vẫn thường đứng đầu các bảng xếp hạng.      Đại học Pécs, Hungary thành lập năm 1367 chỉ xếp trong nhóm hạng 601-800. Ảnh: ĐH Pécs.  Khi nói đến các trường đại học, sinh viên và các nhà khoa học có xu hướng nghĩ rằng một tổ chức càng lâu năm thì nó càng có chất lượng tốt. Một bài phân tích 800 đại học trong Bảng xếp hạng các Đại học trên Thế giới của Times Higher Education (THE) 2015-2016 cho thấy điều này là đúng – nhưng chỉ ở một mức nhất định. Đúng là các trường lâu đời thường có thứ hạng cao hơn các trường trẻ tuổi, nhưng chỉ có một mối tương quan lỏng lẻo giữa tuổi của trường đại học với số lần họ được trích dẫn trên các công bố khoa học và năng lực giảng dạy và nghiên cứu. Ngoài ra, hầu như chẳng có mối quan hệ nào giữa tuổi đời của một trường và hai trụ cột chính khác trong bảng xếp hạng: liên kết với khối công nghiệp và quan hệ quốc tế.  Không phải cứ lâu đời nhất là được xếp hạng cao nhất  Hơn nữa, không phải cứ đại học lâu đời nhất là được xếp hạng cao nhất. Trong 26 đại học hơn 600 năm tuổi trong bảng xếp hạng có các trường xuất sắc như đại học Oxford (thành lập năm 1096; thứ hai trong bảng xếp hạng) và Cambridge (thành lập năm 1209; thứ tư), nhưng cũng có một số đại học chỉ ở tầm trung như Đại học Pécs của Hungary (thành lập năm 1367; trong nhóm hạng 601-800).  Chính xác hơn, chỉ có 20 trường đại học 500 – 600 tuổi nằm ở top 100 các trường xuất sắc nhất. Đây là khối đại học quyền lực của châu Âu, như  LMU Munich ở Đức (1472, thứ 29), KU Leuven ở Bỉ (1425, thứ 35) và Đại học Copenhagen ở Đan Mạch (1479, thứ 82).  Thế kỷ 17 đánh dấu sự hình thành của một số trường đại học tốt (dựa trên tiêu chí số lượng trích dẫn). Đó là 13 trường trong top 100 bao gồm Amsterdam (1632, thứ 58), Utrecht (1636, thứ 62), Helsinki (1640, thứ 67), Lund (1666, thứ 90). Nhưng quan trọng hơn, đây cũng là thời điểm mà các đại học Mỹ ra đời: đáng chú ý là Harvard (1636, thứ 6) và Yale (thứ 13). Hai trường này đã kéo chỉ số trung bình của các trường ra đời vào thế kỉ 17 vượt lên.  Thế kỉ 19 là thời điểm diễn ra sự bùng nổ của các trường đại học. Trong top 800 trường, có tới 278 trường thành lập trong các năm 1817 đến 1916, gấp 7 lần so với số trường đại học thành lập ở thời kì trước đó 100 năm (42). Theo giáo sư mời Micheal Shattock ở Viện giáo dục Đại học UCL, nỗi lo về phát triển kinh tế là lý do chính. Chẳng hạn, người Anh trở về từ cuộc đại triển lãm ở Paris (tổ chức trong các năm 1855 – 1900) nói rằng: “Chúng ta không thể đuổi kịp họ về công nghệ nếu không bắt đầu đầu tư vào giáo dục và nền tảng công nghiệp.”  Kỷ nguyên này là thời điểm thịnh vượng của giáo dục đại học cả về chất lượng lẫn số lượng. Mặc dù 278 trường ra đời trong giai đoạn này có điểm trung bình (trong bảng xếp hạng của THE) thấp hơn những trường thành lập vào thế kỷ 15, 17, 18 nhưng họ vượt rất xa những trường ra đời sau này. Rất nhiều trường là các đại học tiểu bang của Mỹ, được biết đến như “đại học được tài trợ đất” vì họ được cấp những mảnh đất rộng lớn nhờ Đạo luật Morrill 1862, được thực thi không lâu sau khi Nội chiến Mỹ kết thúc, Shattock giải thích. Di sản này đã đảm bảo tài chính vững chắc và tự chủ cho những trường này – đặc biệt là Đại học Texas với khuôn viên gần một triệu hecta đất nông nghiệp khô cằn nhưng hóa ra dưới đó là mỏ dầu và khí ga khổng lồ gần đây đem lại doanh thu tới một tỉ USD mỗi năm.  Thiếu một lịch sử dài còn có thể trở thành lợi thế vì nó cho phép các trường tự sáng tạo, hình thành bản sắc theo cách họ muốn hơn là phải phục tùng một truyền thống có tuổi hàng thế kỉ.  “Mọi người thường nghĩ đến Princeton và Harvard khi họ nghĩ về giáo dục đại học ở Hoa Kỳ”, Roger Brown, giáo sư danh dự về chính sách giáo dục đại học tại Đại học Liverpool Hope cho biết. Nhưng chính hệ thống trường đại học tiểu bang, đặc biệt là những trường ngoài khu Đông Bắc (nơi tập trung khối trường Ivy League nổi tiếng) mới thực sự là điều đáng nói ở quốc gia này. Sự hình thành và hỗ trợ thành công các trường đại học tiểu bang mới là “chiến thắng đích thực của nền giáo dục đại học Hoa Kỳ”, ông nói, và là bài học cho nhiều chính phủ muốn thiết lập các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Các trường đại học của Hoa Kỳ là kết quả của “hành động của chính phủ và hỗ trợ liên tục – nhà nước sau đó lùi về sau trong việc điều hành”.  Một yếu tố quan trọng thúc đẩy hình thành các trường đại học cuối thế kỷ 19 tại Mỹ là sự bùng nổ trẻ em sau chiến tranh, dẫn đến tăng mạnh về số lượng sinh viên. Cải cách giáo dục cũng giữ sinh viên ở trường lâu hơn. Lượng sinh viên mở rộng này là yếu tố quan trọng nhất khi xét những giai đoạn hình thành các trường đại học xuất sắc, theo Tyler Cowen, giáo sư kinh tế Đại học George Mason, Virginia, Mỹ. Đây là nguyên nhân cho sự thành công của phần lớn các trường đại học Bờ Tây Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 như Đại học Stanford (thành lập năm 1891 và xếp thứ 3), Viện Công nghệ California (1891; hạng nhất).  Singapore là một ví dụ tốt khác về sự tăng trưởng số lượng sinh viên, đầu tư lớn của nhà nước và sự cam kết theo đuổi tự do học thuật có thể đem lại những kết quả kinh ngạc, Cowen nói thêm, ông cũng đang làm cố vấn cho Chính phủ Singapore.  Trẻ nhưng vẫn xuất sắc  Quả thật, Singapore là quốc gia đặc biệt tỏa sáng trong bảng xếp hạng. Thực tế rằng Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Đại học Kỹ thuật Nanyang đều xếp hạng rất cao (26 và 55) giúp quốc gia này đứng số một về điểm trung bình trên các tiêu chí về đào tạo, nghiên cứu và quan hệ quốc tế, đứng thứ hai về trích dẫn và liên kết với khối công nghiệp mặc dù NUS và Nanyang đều được thành lập gần đây (năm 1905 và 1991). Tuổi đời của các trường tại Singapore trung bình là 68, thấp hơn một nửa tuổi trung bình của các trường đại học Mỹ (144 năm) và nếu so với những trường ở các nước châu Âu như Đức (187 năm), Thụy Sĩ (180 năm) thì còn trẻ hơn nữa.    Đại học Nanyang tuổi đời non trẻ nhưng xuất sắc. Ảnh: Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tham quan đại học Nanyang để thúc đẩy hợp tác giáo dục giữa trường này và các đại học ở Ấn Độ. Nguồn: NTU.  Một vài lãnh đạo đại học có ý cho rằng, thiếu một lịch sử dài, thực ra, còn có thể trở thành lợi thế vì nó cho phép các trường này tự hình thành bản sắc theo cách họ muốn hơn là phải phục tùng một truyền thống có tuổi hàng thế kỉ. Quan điểm này được Lisa Anderson, người vừa từ chức chủ tịch Đại học Mỹ ở Cairo, đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh các trường đại học Trung Đông và Bắc Phi tổ chức ở các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất vào tháng Hai vừa qua. Những trường thuộc các đại học lâu đời phải chịu nhiều thách thức hơn là lợi thế, nếu xét đến các chi phí bảo trì những di sản cũ, trong khi nền tảng của những trường đại học mới là công nghệ hiện đại và phương pháp giảng dạy.  Renee Hindmarsh, giám đốc điều hành Mạng lưới các trường đại học công nghệ Úc (ATN), đại diện cho năm trường đào tạo chuyên ngành công nghệ, hầu hết thành lập trong những năm 1980, cho rằng những trường đại học mới ở Úc đều có những cách làm khác so với những trường lâu đời, đưa ra những hình thức mới trong giảng dạy và nghiên cứu để tạo ra những sinh viên sẵn sàng lao vào thực tế hơn. “Những trường này có xu hướng tinh gọn và linh hoạt hơn” – bà nói. “Những đại học trong mạng lưới ATN đều liên kết rất chặt chẽ với khối doanh nghiệp. Họ được sáng lập trên nền tảng phải làm thế nào để đưa những ý tưởng vào thị trường hoặc trở thành giải pháp hữu ích. Những trường đại học lâu đời hơn đang chạy theo xu hướng đó, nhưng những trường trẻ hơn đã trải nghiệm điều đó từ lâu rồi”.  Tuy nhiên, “lịch sử cũng đầy những ví dụ về những trường đại học đầy sáng tạo muốn làm gì đó mới mẻ trong giai đoạn đầu thành lập, nhưng sau đó lại quay về con đường truyền thống khi tìm cách gia nhập CLB các trường top đầu trên bảng xếp hạng”, Brown nói.  Cố gắng đạt được thứ hạng cao dựa trên việc sao chép một cách cứng nhắc mô hình đã có sẵn không chỉ tốn kém một nguồn lực tài chính to lớn mà còn phớt lờ những đổi mới sáng tạo mà các trưởng nhóm nghiên cứu nước ngoài có thể đem đến cho những cơ sở giáo dục mới nổi, Stephen Smith, nguyên phó giám đốc nghiên cứu tại Nanyang từ năm 2011 đến 2013. “Những cơ sở đại học vĩ đại nhất là những nơi tạo ra những ý tưởng mới”, Smith, người chứng kiến bước nhảy ngoạn mục 119 bậc của Singapore trên bảng xếp hạng kể từ năm 2011, và cũng nắm giữ vị trí cấp cao tại Đại học Cambridge và Đại học Hoàng gia London cho biết. Nhưng “bạn cần phải biết cách tập hợp mọi người lại theo cách nào đó để họ nảy sinh ý tưởng” – ông nói thêm. Smith tin rằng, có được những học giả hàng đầu Mỹ và châu Âu, những người có khả năng thách thức những lý thuyết và quy trình đang được chấp nhận là một phần thành công của Nanyang.  Sự nổi lên của một cơ sở mới mẻ như Nanyang chỉ ra rõ ràng rằng, những nhà lãnh đạo phải bước ra vùng an toàn của mình, bất kể là tuổi đời trường đại học của mình là bao nhiêu.  Lịch sử chông gai của các trường đại học  Đại học al-Qara ở Morocco, thành lập năm 859, thường được coi là cơ sở đào tạo lâu đời nhất và có uy tín vẫn còn hoạt động trên thế giới. Và Đại học Taxila hoặc Đại học Nalanda ở Ấn Độ, thành lập vài trăm năm sau Công nguyên, thường được trích dẫn là những đại học ra đời đầu tiên trên thế giới.  Nhưng những cơ sở đào tạo khớp với định nghĩa của một trường đại học là Đại học Bologna (Ý), Đại học Paris (Pháp) và Đại học Oxford (Anh), được thành lập vào khoảng năm 1100 để dạy hùng biện, triết học, thần học, luật học và y học. Điều khiến cho các trường này khác với những cơ sở đào tạo tương tự chính là địa vị của họ: thay vì chỉ là một tập hợp những giảng viên tự do, những nơi này được công nhận bởi giáo hội và nhà nước là những tổ chức độc lập. Vì vậy, họ là những thiết chế tự chủ và có đặc quyền, được đòi hỏi và đảm bảo lợi ích trước tòa án, được điều hành các thành viên và được trao bằng cấp.  Mô hình trường kiểu mới này trở nên hấp dẫn. Vào năm 1400, những trường được công nhận là đại học tăng lên hơn 30 trường. 2,5 thế kỷ sau, con số này tăng lên 150. Phần lớn động lực cho sự mở rộng này đến từ nhu cầu cần những luật sư và nhà quản lý được đào tạo bài bản khi nhà nước phong kiến phi tập trung suy tàn và nhường chỗ cho thể chế mới. Từ năm 1560, sự mở rộng này còn được thúc đẩy bởi cuộc cải cách: Những phán quyết của tòa án quá xung khắc nhau đặt ra yêu cầu cần phải có một bộ máy thực thi luật pháp có tri thức. Vào những năm 1750, ngay cả một tỉnh nhỏ nhất cũng có ít nhất một trường đại học: Pháp có 25 trường. (Chỉ có Anh, là một nước nhỏ, vẫn chỉ có 2 trường).  Giữa năm 1800 đến 1945, bản đồ các trường đại học ở châu Âu gần như không thay đổi, mặc dù dân số tăng lên gấp ba và sự thịnh vượng đến từ cuộc cách mạng công nghiệp. Trong thời kì Napoleon, một vài trường Đại học Ý và Tây Ban Nha còn bị đóng cửa, trong khi ở Pháp, những trường đại học được thay thế bởi hệ thống các trường chuyên ngành, đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước. Chỉ có ở Nga và các đảo của Anh là có số lượng trường đại học tăng lên trước Thế chiến thứ 2. Sự thụt lùi này đến từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, rất ít trường đại học ở thế kỉ 18 có nhiều hơn 1000 sinh viên, đa số chỉ có khoảng 100 người nên không gặp khó khăn gì khi nhận thêm sinh viên thời kì sau những năm 1800. Thứ hai, các trường vẫn tiếp tục dạy chương trình truyền thống và đào tạo con người cho những ngành nghề cũ và cho giảng dạy phổ thông: ngoài Liên bang Xô viết, các trường đóng vai trò rất nhỏ trong việc đào tạo giới tinh hoa mới ở những lĩnh vực công nghiệp, thương mại, quản lý và công nghệ. Vào năm 1940, chỉ có 1-2% người lứa tuổi 18 ở Tây Âu học đại học. Nếu giới tinh hoa mới muốn tìm kiếm sự đào tạo bài bản, họ có trường riêng, chính là hệ thống trường polytechnics của Đức và grandes écoles của Pháp.      Thiếu một lịch sử dài còn có thể trở thành lợi thế vì nó cho phép các trường tự sáng tạo, hình thành bản sắc theo cách họ muốn hơn là phải phục tùng một truyền thống có tuổi hàng thế kỉ.      Nhưng ngoài châu Âu, rất nhiều trường đại học được thành lập trong khoảng 100 năm trước năm 1945, đặc biệt là ở các nước thuộc địa Anh, Ấn Độ, Nhật Bản và Bắc Mỹ. Ở đó vốn có những trường đại học và cao đẳng dạy bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh Mỹ trước khi họ giành được độc lập, nhưng sau Nội chiến Mỹ, số trường đại học ở Mỹ bùng nổ nhờ vào hệ thống đại học tiểu bang. Những trường này rất khác các đại học được thành lập dưới ảnh hưởng của châu Âu, vì họ đào tạo cả những ngành ứng dụng cũng như những ngành lý thuyết và khuyến khích mối quan tâm rộng lớn về xã hội.  Sau năm 1945, mô hình của Mỹ được những nước đang và đã phát triển sao chép, và sự tách biệt truyền thống giữa đại học và các trường kỹ thuật – thương mại dần xóa nhòa. Các chính phủ buộc thừa nhận nhu cầu phải tăng số lượng sinh viên vì lí do kinh tế và xã hội, và cũng vui lòng khi các trường mở rộng chương trình: những quốc gia thành công luôn cần nguồn nhân lực có tri thức. Họ cũng chấp nhận việc các trường nên thực hành cả nghiên cứu lẫn giảng dạy, đây thực chất là quan điểm của người Đức được Mỹ học hỏi nhưng cho đến nay hầu hết các đại học châu Âu lại tiếp thu rất hạn chế.  Các trường đại học mọc lên như nấm vì ý chí của các quốc gia sẵn lòng tài trợ việc mở rộng quy mô, đặc biệt là trong ngành khoa học và kỹ thuật. Sự ra đời của công nghệ mới vào những năm 1990 càng nhấn mạnh ý chí đó. Đến năm 2000, tỉ lệ thanh niên 18 tuổi học Đại học ở Tây Âu đã tăng tới 40-50%. Năm 1940 có 18 đại học ở Anh nhưng giờ đây con số này là 165. Trên thế giới, con số này là 17,000 với 153 triệu sinh viên.     Vết xe đổ của Đại học Nazarbayev  Ngày càng nhiều quốc gia muốn tạo ra ít nhất một hoặc hai trường đại học được xếp hạng cao toàn cầu. Kazakstan là một nước gần đây tham gia cuộc đua này. Đại học Nazarbayev là một cơ sở đào tạo bằng tiếng Anh thành lập năm 2010 trên một khuôn viên mới toanh, thiết kế kiểu Nhật tại thủ đô cũng rất mới của quốc gia này, Astana. Theo website, nó “nhắm tới việc trở thành trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới đầu tiên ở Kazakhstan”. Danh sách những trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới cố vấn cho đại học này bao gồm College London, Đại học Cambridge và Carnegie Mellon.  Không như những trường được nhà nước tài trợ, Nazarbayev không đặt dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục và Khoa học – một sự tách biệt mang tính biểu tượng của một quốc gia vừa thoát khỏi lịch sử Xô viết. Tuy nhiên, ngoại trừ hiệu trưởng nhà trường là nhà kinh tế học Nhật Bản Shigeo Katsu, Hội đồng trường toàn là những chính trị gia và chủ tịch hội đồng này cũng là Tổng thống Nursultan Nazarbayev, mà tên của trường được đặt theo họ của ông.  Mặc dù có một chiến dịch tuyển người rầm rộ trên toàn cầu, với một loạt video quảng bá trên Youtube, hầu hết những người tuyển vào chỉ nắm giữ chức vụ thấp ở các khoa, và cũng chỉ là các khoa điều hành bởi những người trong nước có lý lịch khoa học rất thấp. Khoa Y hứa hẹn một chương trình kiểu Mỹ nhưng vô cùng ít người trong khoa này có bằng Y khoa Mỹ. Với tình trạng đồng tiền của Kazakhstan ngày càng mất giá sẽ chỉ càng khó hơn cho trường nếu muốn chiêu mộ các giảng viên quốc tế với mức lương cạnh tranh. Trên mạng xã hội, có thể bạn đã đọc những chỉ trích về sự cắt giảm lương, tiền lương thấp hơn so với những hứa hẹn ban đầu và những vi phạm hợp đồng khác.  Ngoài ra còn có những phàn nàn về sự hẻo lánh của địa điểm trường và nỗi lo về giới hạn của tự do ngôn luận tại đây. Tổng thống Nazarbayev không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải nhúng tay vào và xem xét kĩ “đứa con trí tuệ” của ông. Cho đến khi Đại học Nazarbayev có được dấu ấn quốc tế thông qua những công bố khoa học hơn là quảng cáo, thì nó chẳng có cơ hội nào tạo ra ảnh hưởng.    Hảo Linh – Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.timeshighereducation.com/features/can-a-young-university-be-a-world-leading-university       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học trực tuyến sẽ thay đổi ngành giáo dục      Các nhà đầu tư ở Silicon Valley đoan chắc sẽ  có sự bùng nổ đại học trực tuyến (Online-University). Ngành kinh  doanh này đang phát triển mau lẹ.     Nhiều sinh viên Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học lâm vào tình trạng nợ nần. Sebastian Thrun lại cho rằng, điều này là không cần thiết. Thrun sinh ra ở Đức và là từng là giáo sư Đại học Stanford, ông được thế giới biết đến với tư cách là người đồng phát minh xe ô tô tự hành của Googles, từ một năm rưỡi nay ông là người lãnh đạo doanh nghiệp startup Udacity ở Palo Alto. Ông là nhà cung cấp các khóa học trực tuyến. Học viên trau dồi kiến thức qua mạng Internet.   Hiện tại GS Thrun đang chuẩn bị thực hiện một cuộc cách mạng nhỏ: từ tháng giêng tới, doanh nghiệp của ông sẽ kết hợp với Viện Công nghệ Georgia tổ chức một khóa đào tạo về tin học, thông thường chi phí để theo học chính quy khóa này hết 40.000 USD, trong khi đó học online chỉ hết 7.000 USD. Thay vì đến giảng đường, sinh viên tham dự cái gọi là Massive Open Online Course (MOOC) – một dạng đào tạo qua mạng internet, học tại nhà.   Chủ trương đào tạo online của Thrun được đẩy mạnh nhờ sự phát triển rộng rãi các loại phương tiện như Smartphones, Tablets, Notebooks và truy cập Internet băng thông rộng. Thêm vào đó là nỗi lo ngại của nhiều nhà doanh nghiệp Mỹ trước tình trạng ngành giáo dục ngày càng sa sút kể từ những năm 1980 đến nay. Tình trạng này có thể làm xói mòn nền tảng kinh tế của Mỹ.   Sự nhiệt tình của các nhà đầu tư ở Silicon-Valley như thế nào đối với các khóa học trực tuyến thể hiện qua những đồng USD mạo hiểm mà thời gian gần đây người ta đổ vào các doanh nghiệp startup về giáo dục. Chương trình Coursera, do hai cựu giáo sư của Đại học Stanford thành lập được rót không biết bao nhiêu tiền bạc. Doanh nghiệp này đã thu gom được 65 triệu USD, vì nó đã được Amazon.com coi là một chương trình đào tạo trực tuyến. Cho đến nay Udacity cũng thu gom được 20 triệu USD.  Trong khi Udacity chủ yếu đầu tư vào việc tự sản xuất tài liệu và dựa vào lực lượng giảng viên của mình thì Coursera trước hết dựa vào số đông trên thị trường, tổ chức các khóa đào tạo dựa vào các trường đại học. Coursera tổ chức gần 500 khóa học với 85 nhà cung cấp dịch vụ.   Khâu cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học đối với học viên mang lại nguồn thu lớn nhất.   Ngay lập tức đã có sự bắt chước ở các nước khác. Ở Đức xuất hiện iversity, giám đốc điều hành là ông Marcus Riecke. Hiện tại, theo Riecke việc mời giáo sư phục vụ các khóa học này không có gì khó khăn. Thị trường đào tạo ở Đức hiện có 18 khóa học và sẽ khởi động trong tháng 10 tới, trong đó có các ngành như kinh tế xí nghiệp, thiết kế mẫu, kinh tế tài chính v.v…  E-Learning đang là một xu hướng có nhiều thành công, nhưng cũng gây nhiều tranh cãi. Ví dụ dự án hợp tác giữa Udacity với một trường cao đẳng ở Silicon-Valley, ở đây sinh viên theo học các khóa về thống kê và toán học qua computer. Trường buộc phải tạm đình chỉ khóa học mùa thu vì điểm của các học viên tệ hơn nhiều so với sinh viên học các khóa truyền thống tại trường. Nguyên nhân có thể là số đông sinh viên học online là sinh viên vốn dĩ yếu kém.   Tuy có những trục trặc như trên nhưng nhu cầu học online đang ngày càng tăng và điều này sẽ làm thay đổi diện mạo ngành giáo dục. Hiệp hội các nhà giáo tỏ ra lo ngại về nguy cơ giảm đội ngũ giáo viên. Vì trong khi các trường đại học danh tiếng như Stanford và Harvard dựa vào nguồn tài chính của các nhà tài trợ, từ các khoản đầu cơ và học phí thì các cơ sở đào tạo nhỏ lại phải dựa vào nguồn kinh phí do nhà nước cấp. Mức cấp kinh phí dựa chủ yếu vào số lượng sinh viên. Ngoài ra còn có cảnh báo về sự “độc canh giáo dục”, các trường đại học danh tiếng sẽ có vai trò áp đảo đối với chương trình đào tạo trực tuyến.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Trung Quốc cũng có Ivy League      Cuối năm 2009, chín trường đại học hàng đầu ở Trung Quốc tuyên bố thành lập Liên minh C9, được giới truyền thông nước này gọi là Ivy League Trung Quốc. Dư luận Trung Quốc có những ý kiến khác nhau về việc lập Liên minh ĐH nói trên, nhưng nói chung đa số ủng hộ.    Từ năm 2003 trở đi, 9 trường ĐH hàng đầu Trung Quốc – gồm ĐH Bắc Kinh, ĐH Thanh Hoa, ĐH Triết Giang, ĐH Công nghiệp Cáp Nhĩ Tân, ĐH Phục Đán, ĐH Giao Thông Thượng Hải, ĐH Nam Kinh, ĐH Khoa học kỹ thuật Trung Quốc và ĐH Giao Thông Tây An – cùng nhau định kỳ tổ chức Hội thảo xây dựng ĐH hàng đầu, coi đó là một biện pháp liên kết nguồn lực của các ĐH nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tới mức “hàng đầu thế giới”.  9 trường này thuộc nhóm ĐH đợt đầu tiên được đưa vào diện xây dựng theo Dự án 985, tức Dự án của Nhà nước Trung Quốc nhằm xây dựng một số ĐH hàng đầu thế giới và ĐH kiểu nghiên cứu có uy tín hàng đầu thế giới. Có 34 ĐH thuộc danh sách đợt 1 và 5 ĐH thuộc đợt 2 của dự án này. [1].  Ngày 9/10/2009, tại Hội thảo lần thứ 9, hiệu trưởng các trường ĐH này cùng nhau ký “Nghị định thư trao đổi và hợp tác đào tạo nhân tài giữa các trường ĐH hàng đầu”.   Bằng cách đó, họ tuyên bố thành lập Liên minh 9 trường, viết tắt theo tiếng Anh là C9, được giới truyền thông nước này gọi là Ivy League Trung Quốc.   Người phát ngôn của Bộ Giáo dục Trung Quốc khẳng định Bộ Giáo dục ủng hộ và khuyến khích 9 ĐH này lập Liên minh C9 nói trên.  Liên minh C9 chiếm chưa đầy 1% tổng số trường ĐH và cao đẳng ở Trung Quốc, song họ có lực lượng giáo viên hùng hậu và sở hữu các cơ sở giảng dạy và thí nghiệm khoa học hàng đầu trong nước.  Nội dung hợp tác trao đổi trong Liên minh C9 gồm:  – Trao đổi sinh viên (SV) và liên kết đào tạo nghiên cứu sinh (NCS). SV được trao đổi có thể học tập 1 hoặc nhiều học kỳ tại ĐH khác trong Liên minh; thừa nhận lẫn nhau thành tích học và học phần của SV. Dựa ưu thế từng khoa của mỗi ĐH để lập một số khoa đào tạo NCS, dùng làm sàn nghiên cứu trao đổi lẫn nhau. NCS được duyệt sẽ có thể sang ĐH khác nghiên cứu nửa năm hoặc hơn; 9 ĐH này thừa nhận thành tích và học phần của NCS được trao đổi.  – Liên kết tổ chức trường học hè (C9-Summer School), tạo thương hiệu giáo dục C9 nổi danh thế giới, trên cơ sở tận dụng nguồn lực chất lượng tốt của mỗi trường; mở các khóa chuyên đề đào tạo SV, NCS và học giả trẻ trong ngoài nước; tăng cường trao đổi hợp tác với Ivy League của Mỹ và G8 của Australia.  – Liên kết triển khai lập giáo trình, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu cải tiến giảng dạy; liên kết xây dựng và công bố danh mục giáo trình được thừa nhận lẫn nhau; liên kết xây dựng sàn giáo dục từ xa cùng sử dụng.  – Xây dựng cơ chế trao đổi định kỳ đào tạo nhân tài. Hàng năm tổ chức một cuộc hội thảo trao đổi nghiệp vụ giữa các học viện NCS, một hội nghị lãnh đạo bộ môn quản lý giảng dạy, lần lượt làm tại 9 ĐH.  – Liên kết triển khai công tác đào tạo giáo viên trẻ.  – Lập trang mạng riêng của 9 ĐH hợp tác, xây dựng hệ thống bình xét lẫn nhau trên mạng đối với các luận án tiến sĩ.  – Liên kết tổ chức khảo sát dã ngoại, thực tập sản xuất, thực tập thiết kế, điều tra xã hội cho SV cùng chuyên ngành.  – Đẩy mạnh cải cách cơ chế đào tạo NCS để theo kịp các ĐH hàng đầu thế giới.  Dư luận Trung Quốc có những ý kiến khác nhau về việc lập Liên minh ĐH nói trên, nói chung đa số ủng hộ.  Giáo sư He Wang Yao ở ĐH Bắc Kinh có thái độ bảo lưu đối với việc các trường ĐH Trung Quốc hăng hái đề xuất xây dựng ĐH hàng đầu thế giới. Ông nói cách làm ấy là theo mô hình Mỹ, giống hệt việc Trung Quốc tổ chức học ĐH Tổng hợp Moskva hồi thập niên 50-60 thế kỷ trước, đều có tính mù quáng nhất định, không xét tới đặc điểm và nhu cầu của bản thân.  GS Han Xu ở ĐH Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc nói: “Xây dựng ĐH hàng đầu thế giới không phải là việc ngày một ngày hai mà cần sự cố gắng chung của mấy thế hệ. ĐH thời đại mới có ưu thế là ở trong môi trường tương đối hoà bình, có nguồn tài nguyên mạng nhanh chóng tiện lợi, nhưng cũng cần cảnh giác với sự nông nổi của thời đại này.”  GS Yuan Meng-chen ở ĐH Thanh Hoa đề nghị: “Hãy làm cho nguồn giáo viên và tài nguyên giảng dạy của 9 ĐH này được luân chuyển. Như hãy cho 10 giáo viên ĐH Bắc Kinh hàng năm được bình chọn là giáo viên được sinh viên hoan nghênh nhất, thay nhau đến ĐH Thanh Hoa giảng dạy; giáo viên giỏi của Thanh Hoa cũng sang ĐH Bắc Kinh giảng dạy, chứ không hạn chế ở chỗ chỉ trao đổi sinh viên và thừa nhận chứng chỉ học tập lẫn nhau.”  Tại cuộc Hội thảo lần thứ 9 nói trên, đa số đại biểu các trường có thái độ nghi ngờ hiệu quả trao đổi sinh viên trong phạm vi toàn quốc.  Ông Trần Tuấn, Hiệu trưởng ĐH Nam Kinh, cho rằng việc phát triển Liên minh C9 phải bắt đầu từ những hợp tác cụ thể; chỉ có bổ sung lẫn nhau các ưu thế của mỗi trường thì mới thể hiện được sức mạnh của ĐH hàng đầu Trung Quốc. Cần giải phóng giáo viên, SV, hiệu trưởng ra khỏi các loại “gông cùm”, sao cho SV được học, hiệu trưởng được làm chuyên nghiệp của mình. Ngoài Ivy League của các ĐH tư thục ra, ở Mỹ còn có liên minh 10 ĐH công lập lớn rất đáng để Trung Quốc tham khảo. Các thư viện của liên minh này có hơn 78 triệu cuốn sách. Thực ra Liên minh C9 của Trung Quốc có nhiều ưu thế hơn. Toàn bộ các ĐH thuộc Dự án 985 đều do chính phủ Trung Quốc đầu tư (không như ĐH công ở Mỹ do nhiều ngành trong chính quyền lập ra), vì thế các trường này nên vượt ra khỏi lợi ích cục bộ.  Ông Trịnh Nam Ninh, Hiệu trưởng ĐH Giao thông Tây An, mong muốn NCS do Liên minh C9 chiêu sinh có thể không tham gia thi thống nhất toàn quốc mà do các ĐH này tự chủ chiêu sinh, tuyển chọn.  Một blogger viết: Thấy nước Mỹ có Ivy League, Trung Quốc không chịu thua, cũng lập Ivy League của mình; chẳng khác gì Mỹ có NBA (Hội bóng rổ), ta cũng nhất định làm CBA. Từ lâu lắm, người Trung Quốc thích học người Mỹ, nhất là giáo dục cao đẳng. Chỉ có điều học một cách “có đặc sắc Trung Quốc”. Cái cơ bản của người ta thì không học, thí dụ tự do học thuật, tự trị đại học và giáo sư quản lý nhà trường. Những cái vớ vẩn, hình thức thì nhất định học, thậm chí chỉ học cái bề ngoài, không học thực chất, như chế độ học của NCS, thạc sĩ Mỹ học 2 năm, ta cũng 2 năm. Cái bên trong thì vẫn kiên trì đặc sắc Trung Quốc, kết quả chẳng ra ngô ra khoai. Ivy League vốn là một liên minh thể dục của 8 trường ĐH Mỹ, không liên quan gì với giảng dạy. Người ta quen gọi mấy ĐH lâu đời và đậm màu sắc quý tộc ấy là ĐH Ivy League. Chỉ là cái tên gọi mà thôi chứ 8 ĐH ấy có lập liên minh gì đâu. Thực ra mỗi ĐH ấy đều là ĐH tư thục, đều có đặc sắc riêng, Còn ĐH của ta thì như nhau tuốt, đều là ĐH nhà nước lập. Bây giờ mới biết thì ra xưa nay các ĐH này không thừa nhận học phần của nhau, nay lập liên minh thì mới chịu thừa nhận.        Nhằm thực hiện giấc mơ biến Trung Quốc trở  thành cường quốc dẫn đầu toàn cầu, từ năm 1998 Chính phủ Trung Quốc bắt  đầu thực thi kế hoạch xây dựng một hệ thống trường đại học (ĐH) có trình  độ hàng đầu thế giới.   Theo Bảng xếp hạng các trường ĐH thế giới  năm 2009 do báo The Times và Cơ quan Nghiên cứu giáo dục cao đẳng nổi  tiếng Anh Quốc Quacquarelli Symonds liên kết đưa ra, Mỹ và Anh chiếm các  vị trí cao nhất trong Top 50 ĐH; Trung Quốc chỉ có 3 ĐH của Hồng Công  và 1 ĐH của nội địa (ĐH Thanh Hoa) lọt vào Top 50 này. ĐH Bắc Kinh xếp  thứ 53, sau đó tới ĐH Phục Đán thứ 104.    Nếu so với xếp hạng năm 2006, ĐH Bắc Kinh tụt 38 bậc, ĐH Thanh Hoa tụt 21 bậc, ĐH Phục Đán lên 12 bậc.    Trong Bảng xếp hạng các trường ĐH thế giới  năm 2010 do ĐH Giao thông Thượng Hải lập (Academic Ranking of World  Universities-2010), Trung Quốc cũng không có tên trong Top 50.         Ghi chú:  [1] Theo Dự án 985, các ĐH thuộc Liên minh C9 được cấp kinh phí (để thực hiện nhiệm vụ Dự án) như sau: – Nhóm ĐH có mục tiêu tiến tới ĐH hàng đầu thế giới gồm ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa mỗi trường 1,8 tỷ RMB (Nhân dân tệ, 1 RMB = 0,147 USD); – Nhóm ĐH có mục tiêu tiến tới ĐH hàng đầu trong nước và có tiếng trên thế giới gồm ĐH Triết Giang 1,4 tỷ; ĐH Nam Kinh, ĐH Phục Đán, ĐH Giao thông Thượng Hải mỗi trường 1,2 tỷ; ĐH Công nghiệp Cáp Nhĩ Tân 1 tỷ; ĐH Khoa học Kỹ thuật, ĐH Giao thông Tây An mỗi trường 0,9 tỷ RMB. Nguồn kinh phí nói trên do Bộ Giáo dục và chính quyền tỉnh hoặc đơn vị cấp trên ngành dọc chung nhau đài thọ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học – trường đại học: Sự lỏng lẻo về thiết chế      Mô hình đại học-trường đại học hiện tại yếu về nhiều mặt, trong đó đáng kể nhất là thiếu sức sống nội tại. Vậy đâu là lối ra cho mô hình này?      Mô hình đại học quốc gia gần đây đã nhận được nhiều sự tranh luận trên cả bàn hội nghị quốc hội và của các chuyên gia trên báo chí. Ảnh: Học sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh của đại học quốc gia TP HCM. Ảnh: Đại đoàn kết.  Câu chuyện mô hình tổ chức nhà trường là một phần của quản trị đại học. Đó là câu chuyện của thiết chế hệ thống, trong đó có cấp nhà nước và cấp đơn vị – trường. Đó là câu chuyện của mối quan hệ giữa các tổ chức này, vai trò, chức năng của chúng và trên hết là câu chuyện của tính hợp lý, tính hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động của chúng trong một chỉnh thể hệ thống. Vậy nên khi bàn về vấn đề mô hình trường nghĩa là phải lập luận một cách rành mạch về sự cần thiết, sự thỏa đáng, sự phù hợp, tính hiệu quả của mô hình ấy trong hệ thống của chúng ta.   Cách thức tổ chức trường đại học của nước ngoài có giá trị tham khảo quan trọng nhưng đó không phải là khuôn mẫu hay thước đo chuẩn mực.  Khái niệm trường, khoa, cao đẳng, đại học trong giáo dục đại học trên thế giới  Trong cơ cấu tổ chức trường đại học ở nước ngoài, chúng ta thường gặp các tên gọi như university (trường đại học), college (trường cao đẳng), faculty (khoa), school (trường). Những tên gọi này chỉ các khái niệm khác nhau, được sử dụng khác nhau ở các hệ thống giáo dục đại học khác nhau.   Trong hệ thống giáo dục của Mỹ, trường (school) là từ chung nhất để chỉ nơi diễn ra đào tạo, giáo dục chính thức (formal schooling), do vậy đó có thể được dùng để chỉ trường phổ thông, trường ở bậc đào tạo sau phổ thông, hoặc viện, trung tâm đào tạo. Đại học (university) là tổ chức trường đại học lớn nhất bao trùm trường cao đẳng, khoa và trường, thường trong mỗi đại học phải có ít nhất một trường cao đẳng – college (undergraduate schools) để đào tạo và cấp bằng cử nhân và các trường đào tạo sau đại học (graduate schools) để đào tạo và cấp bằng ở bậc cao hơn như thạc sỹ, tiến sỹ. Trường cao đẳng – college, có thể nằm trong trường đại học (university) hoặc riêng biệt, tổ chức các chương trình đào tạo 2 năm hoặc 4 năm để cấp chứng chỉ hoặc bằng cử nhân. Cũng có một số ít trường cao đẳng (college) tổ chức đào tạo và cấp bằng sau đại học nhưng thường chỉ ở một số chuyên ngành nào đó. Trong một trường đại học (university), faculty là cấp cao nhất cho khoa hoặc chuyên ngành, và một khoa có thể có nhiều trường (schools) trong đó.   Ở hệ thống của Anh, cao nhất cũng là trường đại học (university), trong đó có thể có trường cao đẳng (college), khoa (faculty), trường (school, department), trung tâm (center). Nhưng khác với hệ thống đại học Mỹ, đơn vị department tương đương với school vẫn được sử dụng dù ít phổ biến hơn trước, chẳng hạn như Khoa Giáo dục của ĐH Oxford có tên Department of Education.  Một điểm khác biệt nữa của hai hệ thống là vị trí của trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục. Trường cao đẳng truyền thống của Anh được hiểu là nơi tổ chức học tập sau phổ thông (further education) nhưng chưa bước vào đại học (chương trình đại học ở Anh kéo dài 3 năm thay vì 4 năm như ở Mỹ). Trong hai năm dự bị trước khi vào đại học, học sinh học ở trường cao đẳng và đây cũng là nơi những người quá tuổi học phổ thông muốn học để thi lại lấy bằng A-level hoặc chứng chỉ GCSE có thể đến học. Tuy vậy gần đây, các trường cao đẳng của Anh cũng bắt đầu tổ chức các chương trình đào tạo cấp bằng đại học.   Như vậy có thể thấy tên gọi cao đẳng hay đại học ở các hệ thống này không hàm chứa sự thấp kém về vai trò hay chất lượng. Tên gọi này được dùng ‘có lý do’, rõ ràng phản ánh vai trò, sứ mệnh của mỗi loại hình trường mà chúng đảm nhận trong mỗi hệ thống. Rất nhiều các trường tư danh tiếng của Mỹ có tên gọi là college. Rất nhiều các trường trực thuộc các đại học danh tiếng có vị thế hàng đầu thế giới trong một lĩnh vực cụ thể được gọi là school, như London School of Economics chẳng hạn.  Trong hệ thống giáo dục sau phổ thông ở Việt Nam cũng có các đơn vị tổ chức có tên gọi tương tư, như trường cao đẳng (theo nghĩa thấp hơn đại học, và hiện nay chỉ dành cho giáo dục nghề nghiệp), trường đại học (bao gồm cả 3 bậc đào tạo cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ), và cả đại học (không đào tạo, bao gồm các trường đại học, khoa, viện). Tuy nhiên trên thực tế có nhiều yếu tố chưa rõ ràng, mạch lạc về mặt mô hình đại học – trường đại học.  Mô hình đại học ± trường đại học của Việt Nam  Lịch sử hình thành các đại học hai cấp gồm đại học quốc gia và đại học vùng  Để xét đoán và đánh giá về mô hình đại học hai cấp đại học – trường đại học, không thể không ngược dòng thời gian tìm hiểu về căn nguyên, nguồn gốc dẫn đến việc thành lập các đại học quốc gia và đại học vùng.   Ngược dòng thời gian trở lại bối cảnh kinh tế xã hội đầu những năm 90, Nghị quyết 05 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa VII 6/1993 đặt ra một số nhiệm vụ trong đó có “xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia”, “xây dựng một số cơ sở mạnh đảm nhận các nhiệm vụ nghiên cứu trọng điểm”, và “xây dựng các trung tâm khoa học vùng”. Để hiện thực hóa các nhiệm vụ này, các đại học quốc gia và đại học vùng đã lần lượt được thành lập từ cuối năm 1993 trên cơ sở “tổ chức, sắp xếp lại” các trường đại học đã có. Đầu tiên là Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) được thành lập từ 3 trường đại học lớn ở Hà Nội: trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Tiếp sau là Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng và Đại học Thái Nguyên vào năm 1994, và cuối cùng là Đại học Quốc gia TPHCM năm 1995.      Bất kể điều chỉnh theo hướng nào, sử dụng mô hình nào và tên gọi là gì, để có thể duy trì và phát triển mô hình đại học quốc gia và vùng, vấn đề cốt lõi cần phải tập trung xử lý triệt để hai yếu tố lợi ích, trong đó có lợi ích tài chính, và tự chủ – đi kèm với trách nhiệm giải trình, trong mỗi quan hệ giữa đại học mẹ và đại học thành viên, và giữa các đại học thành viên với nhau.      Trong quá trình thành lập, các trường đã được sắp xếp lại, một số trường được chia tách, được đổi tên, như Đại học Tổng hợp Hà Nội thành Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn để trở thành các trường đại học chuyên ngành. Có trường được thành lập mới, như trường đại học Đại cương. (Sau khi hoàn thành giai đoạn Đại cương 2 năm đầu tiên, sinh viên phải thi chuyển tiếp lên giai đoạn 2, giai đoạn chuyên ngành).   Như vậy có thể nói mô hình đại học 2 cấp ra đời nhằm xây dựng đại học đa ngành, đa lĩnh vực… với vai trò là các đại học trọng điểm thực hiện sứ mệnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội quốc gia và vùng, được kỳ vọng trở thành các đại học đẳng cấp quốc tế. Lợi ích kỳ vọng của mô hình này là tạo nên sức mạnh tổng hợp từ nhiều ngành đào tạo, tạo điều kiện phát triển giáo dục và nghiên cứu liên ngành, đồng thời cho phép chia sẻ nguồn lực để tăng cường hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhiều bất cập xuất hiện. Mô hình không đạt kỳ vọng, phần nào bị lung lay và phá vỡ. Cụ thể là việc xóa bỏ trường đại học Đại cương năm 1998, hay việc tách trường Đại học Sư phạm ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội và đưa một số trường thành viên ra khỏi ĐHQG TP.HCM năm 2001.  Những bất cập của các đại học hai cấp  Trong suốt quá trình phát triển gần 30 năm, mô hình đại học hai cấp ‘đại học-trường đại học’ vẫn chưa thực sự đứng vững. Câu hỏi về sự tồn tại của nó đã được đặt ra không chỉ một lần do những vấn đề về mô hình, cách thức xây dựng, vận hành và tổ chức kết cấu.  Trước nhất, việc kết hợp một cách cơ học các trường thành viên, vốn đã là các trường đại học có vị thế với lịch sử phát triển lâu đời, thành đại học hai cấp ngay từ ban đầu đã ẩn chứa bất ổn. Bản thân các trường thành viên không thực sự đồng tình, thậm chí không muốn sáp nhập vì quyền lợi của họ bị động chạm, bị xâm phạm trước những lo ngại về việc bị hạ cấp từ “trường” thành “khoa”, về khả năng mất nhiều “ghế” quản lý. Để thoả hiệp, vị trí trường thành viên với các chức vụ quản lý trước đây được giữ nguyên, do vậy các trường thành viên này có kết cấu đầy đủ như khi họ tồn tại riêng lẻ. Đây chính là nguồn gốc của những bất cập sau này về tổ chức hệ thống.   Có thể thấy việc sáp nhập nặng về cơ học đã không thực sự tạo được sự gắn kết giữa các đơn vị thành viên. Thậm chí sự gắn kết giữa các đơn vị thành viên với đại học mẹ cũng lỏng lẻo do sự độc lập của các đơn vị này. Cấp quản lý cao nhất – đại học mẹ – chỉ giống như một cấp quản lý trung gian, tạo bộ máy cồng kềnh, hiệu quả thấp.   Về quản lý nhà nước và quản trị tổ chức, cơ chế các trường thành viên đồng thời phải báo cáo cho cả đại học mẹ (đại học quốc gia/vùng) và Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã ảnh hưởng tới sự phát triển tự chủ của các đơn vị thành viên. Hơn nữa, mặc dù về kết cấu tổ chức, các đại học quốc gia và đại học vùng có mô hình giống nhau với cách thiết lập như nhau, nhưng đại học quốc gia trực thuộc Chính phủ còn đại học vùng vẫn trực thuộc Bộ GD&ĐT. Chính vì vậy vị thế của các trường thành viên ĐHQG với thành viên của đại học vùng lại hoàn toàn khác nhau. Theo ý kiến của lãnh đạo của các trường thành viên đại học vùng, họ phải chịu thiệt thòi so với các trường đơn ngành trong hệ thống ‘được trực tiếp báo cáo Bộ GD&ĐT’. Những bất cập về cơ cấu, cơ chế và quyền lợi này lại tiếp tục gây ra các bất ổn nội tại khác của mô hình.   Sau khi sáp nhập, quy mô cơ học của các trường to lên rất nhiều trong khi sức mạnh không tương ứng, thậm chí năng lực phát triển của các trường thành viên bị hạn chế do các hạn chế về mô hình. Trong bối cảnh như vậy, các trường thành viên có lịch sử phát triển lâu đời vẫn có xu hướng độc lập với đại học mẹ, thậm chí một số có xu hướng thoát ly sự kiểm soát của đại học mẹ ở một vài lĩnh vực. Trong khi đó, với các trường đại học non trẻ mới thành lập thì vị thế của đại học quốc gia và đại học vùng là điểm tựa, là cái ô để họ phát triển.   Một điểm bất cập nữa là về quản lý, quản trị. Các trường thành viên đều có kế hoạch và ưu tiên riêng, cách thức tổ chức quản lý và quản trị nhà trường khác nhau khiến cho khối cộng cơ học này thiếu tính thống nhất. Cấu trúc và bộ máy hành chính trùng lặp, trong khi hoạt động giảng dạy và nghiên cứu vẫn được khu biệt trong nội bộ các trường và khoa riêng biệt. Dù đã có các nỗ lực liên kết đào tạo như cấp bằng đôi do các trường thành viên phối hợp tổ chức, về cơ bản đào tạo và nghiên cứu liên ngành bị chưa có điều kiện phát triển.   Ngoài ra còn những vấn đề do tên gọi tổ chức và chức danh quản lý gây khó khăn trong hợp tác quốc tế. Khái niệm đại học nằm trong đại học (university in university) là không hề dễ hiểu, hoặc chức danh President (chỉ Giám đốc đại học mẹ) và Rector (Hiệu trưởng đại học thành viên) cũng gây bối rối. Bản thân tên gọi đại học và trường đại học rất tối nghĩa trong tiếng Việt dù đã được luật hóa.  Phân tích nhược điểm của mô hình ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH QG TP.HCM, các chuyên gia trong và ngoài nước đều nhắc đến việc không tận dụng được ưu thế về tiềm năng và tiềm lực tổng hợp của các đơn vị thành viên; từ đó đã chưa thể phát triển vượt bậc trở thành các đại học đẳng cấp quốc tế có thứ hạng cao như kỳ vọng.   Lối ra nào cho mô hình này?    Tại phiên thảo luận về Dự luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học của các ĐHQH hoạt động chuyên trách ngày 7/9/2018, vấn đề gây tranh luận đầu tiên là về mô hình hệ thống cơ sở GDĐH và khái niệm Đại học. Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng nhận xét, sai lầm trong việc tổ chức, phân loại là chỉ nhìn vào quy mô trường mà không nhìn vào năng lực đào tạo, nhu cầu của người học… Ảnh: Dân trí.  Rõ ràng việc điều chỉnh đối với mô hình đại học hai cấp là cần thiết, và điều chỉnh theo hướng nào cũng đã nhiều lần được bàn thảo, nhất là trong những dịp chỉnh sửa luật.   Trước tiên cần thấy rằng câu chuyện của “đại học – trường đại học” hiển nhiên không đơn thuần là tên gọi. Do vậy các đề xuất thay đổi tên gọi các tổ chức, chức danh này chỉ là xử lý cái vỏ mà không giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Chưa kể việc thay đổi tên gọi có thể tiếp tục động chạm vào những vấn đề danh lợi vốn dĩ làm tắc nghẽn cơ cấu tổ chức của mô hình đại học hai cấp.  Vậy đây có phải là vấn đề của mô hình? Khi tư vấn về mô hình đại học hai cấp, các chuyên gia của World Bank đã đưa ra hai gợi ý:  Một là, cho phép các trường thành viên đơn ngành phát triển thành các trường đại học đa ngành và đại học hai cấp hiện tại biến thành một tập đoàn các trường đại học với sự liên kết lỏng lẻo.  Hai là, đại học hai cấp chuyển thành một “university” đa ngành đơn nhất thực sự, thay đổi bộ phận điều phối trung gian bên trên thành cấp điều hành trực tiếp, các trường thành viên được tổ chức thành các “faculty” và “school”.    Tuy nhiên đây cũng là những mô hình của phương Tây, không nhất thiết sẽ đúng, sẽ phù hợp trong bối cảnh xã hội chính trị của Việt Nam. Và nếu chỉ mượn mô hình, rất có thể chúng ta vẫn chỉ xử lý được lớp vỏ bên ngoài.   Phân tích ở trên cho thấy các vấn đề của mô hình đại học-trường đại học này đều được điều chỉnh bởi vấn đề lợi ích của các bên khi gia nhập, nay là thành viên của các đại học hai cấp. Do vậy, bất kể điều chỉnh theo hướng nào, sử dụng mô hình nào và tên gọi là gì, để có thể duy trì và phát triển mô hình đại học quốc gia và vùng, vấn đề cốt lõi cần phải tập trung xử lý triệt để hai yếu tố lợi ích, trong đó có lợi ích tài chính, và tự chủ – đi kèm với trách nhiệm giải trình, trong mỗi quan hệ giữa đại học mẹ và đại học thành viên, và giữa các đại học thành viên với nhau. Rõ ràng đây là vấn đề xây dựng một thiết chế hệ thống, trong đó cần nêu rõ các tổ chức thành viên, định nghĩa về vai trò của chúng và sự phân vai, phân nhiệm, và cơ chế liên kết, báo cáo giữa chúng để đảm bảo các bên đều cần ngồi lại trong thiết chế này một cách “có lý do”.   Khi các trường thành viên hoàn toàn có thể tự đứng độc lập thì cần phải có những lý do xác đáng để ràng buộc họ dưới trướng của đại học mẹ. Sự ràng buộc ở đây không phải là ràng buộc cơ học hay pháp lý, mà là ràng buộc về quyền lợi, lợi ích. Như vậy đòi hỏi đại học mẹ phải đủ lớn, đủ tầm nhất là trong kết nối quốc tế và phát triển quỹ (fund raising) tạo nguồn tài chính. Nếu không làm được điều này, khi thực thi Luật Giáo dục Đại học sửa đổi, mở cơ chế tự chủ tài chính cho các trường thành viên, mối liên hệ giữa họ với đại học mẹ sẽ lỏng lẻo hơn bao giờ hết.   Mặt khác, để giải phóng cho các trường phát huy tiềm năng của họ, họ cần phải được trao quyền tự chủ toàn diện về học thuật và tổ chức nhân sự. Thậm chí trướng đại học mẹ cần phải tạo ra lợi thế cho các trường thành viên, gỡ cho họ những ràng buộc từ phía Bộ GD&ĐT mà các trường đơn ngành trong hệ thống phải chịu, chẳng hạn về hạn chế mở ngành, kiểm định chất lượng… và đại học mẹ phải chịu trách nhiệm giải trình ở cấp cao nhất. Trong hệ thống giáo dục đại học trong nước, mô hình tổ chức và quản trị của Đại học Cần Thơ là rất đáng xem xét, tham khảo, về cả tính gọn nhẹ và tính liên kết giữa các đơn vị thành viên và liên kết giữa đơn vị thành viên với đại học chủ quản.  Để tránh cồng kềnh về bộ máy, cần dỡ bỏ bất cứ cấp/lớp quản lý hành chính nào bị trùng lặp, nhiều khả năng là cấp đơn vị, để biến nó thành cấp trung gian nhỏ gọn, kết nối giữa đại học mẹ và trường thành viên, thay vì là cấp trực tiếp triển khai, thực thi như hiện nay. Tuy nhiên việc này động chạm tới quyền lợi của các trường, đòi hỏi phải có sự ra tay của Chính phủ để thực hiện.   Việc tổ chức các đơn vị thành viên cần phải nhất quán trong cách phân chia các đơn vị này về chức năng và vai trò, có thể theo bậc đào tạo (đại học và sau đại học), theo lĩnh vực đào tạo (khối ngành hay chuyên ngành), hoặc theo mức độ tự chủ (tài chính, học thuật…) hoặc kết hợp. Với cách phân chia không nhất quán như hiện nay, vừa theo khối ngành (như trường ĐH KHXH&NV, vừa theo chuyên ngành (như trường ĐH Ngoại ngữ), một đại học quốc gia đa ngành có thể trở nên vô cùng đồ sộ, đồng thời kém hiệu quả do trùng lặp về chức năng (như chuyên ngành sư phạm của trường ĐH Ngoại ngữ và ĐH Giáo dục).  Cần lưu ý cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống thông qua các công cụ pháp lý hay tài chính đối với việc sắp xếp, tổ chức lại cấu trúc nội tại của mô hình hiện nay sẽ khó đem lại sự bền vững cho mô hình. Các trường thành viên cần có cơ hội đàm phán, thỏa thuận với nhau và với nhà tổ chức. Tương tự, các quy định trong dự thảo Nghị định (về triển khai Luật Giáo dục Đại học sửa đổi) về sáp nhập các trường nhỏ thành đại học hai cấp cũng cần xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các trường để hấp dẫn với các trường, khuyến khích họ chủ động tham gia và tìm kiếm đối tác sáp nhập, và để quy hoạch hệ thống có thể đạt kết quả mong muốn.    Kết luận  Mô hình đại học-trường đại học hiện tại yếu về nhiều mặt, trong đó đáng kể nhất là thiếu sức sống nội tại. Nếu không có những thay đổi mang tính căn bản, sự tồn tại của mô hình hai cấp chỉ là vấn đề thời gian, tuỳ thuộc vào vai vế, sức mạnh của nhóm quyền lợi muốn duy trì bộ máy cồng kềnh này.  ———   Tài liệu tham khảo:  https://www.studyusa.com/en/a/107/what-is-the-difference-between-a-school-college-and-university-in-the-usa  http://usic.sheffield.ac.uk/blog/2015/november/the-difference-between-university-and-college-in-the-uk  https://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/mo-hinh-dai-hoc-quoc-gia-va-dai-hoc-vung-gap-nhieu-gay-can-20180827084223551.htm  https://thanhnien.vn/giao-duc/bo-dai-hoc-quoc-gia-va-dai-hoc-vung-nen-hay-khong-1021932.html    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Đại học tư nhân của Malaysia      Khi nhìn vào giáo dục đại học của một số  nước lân cận, ta thấy nổi lên một trường hợp thành công đáng học hỏi là  Malaysia. Đây là đất nước đã sớm coi giáo dục đại học là một ngành công  nghiệp quan trọng, và có những chính sách tốt để phát triển giáo dục đại  học tư nhân rất đáng học hỏi.     Một mặt, Malaysia tập trung đầu tư mạnh cho một số trường đại học công lập lớn để nhanh chóng trở thành lá cờ đầu, sánh vai với các trường đại học có danh tiếng trên thế giới nhằm tạo thương hiệu cho giáo dục đại học của đất nước, mặt khác họ tìm mọi cách để tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư (cá nhân hoặc tập đoàn) tham gia vào giáo dục, trong đó quan trọng nhất là xây dựng một cơ sở pháp lý phù hợp và ổn định để thừa nhận quyền sở hữu và quản lý tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư.   Việc tiến hành song song cả hai chính sách nói trên có tác dụng vừa thu hút nguồn lực của xã hội để mở rộng tiếp cận giáo dục cho mọi người dân trong nước, lại vừa tập trung nguồn lực công để xây dựng thành công các đại học công lập hàng đầu, hoặc tài trợ cho khu vực tư nhân để thực hiện những mục tiêu công ích. Kết quả là Malaysia đã rất thành công trong việc tự biến mình thành một trung tâm giáo dục đại học của khu vực (regional higher education hub), thu hút được nhiều cơ sở giáo dục có uy tín của các nước có nền giáo dục đại học phát triển như Anh, Mỹ, Úc đến Malaysia qua các chương trình liên kết, và chiêu dụ được khá đông sinh viên quốc tế đến học. Một đặc điểm cần lưu ý là Malaysia công khai thừa nhận vai trò của các cơ sở giáo dục tư thục vì lợi nhuận, và trên thực tế tuyệt đại đa số các trường đại học tư của Malaysia đều là trường vì lợi nhuận . Trong số các trường tư vì lợi nhuận của Malaysia có thể kể một trường có văn phòng đại diện tại Việt Nam, được nhiều người biết đến qua những hoạt động quảng cáo rầm rộ và cũng khá thành công trong việc thu hút sinh viên Việt Nam là Taylors’ College.   Ở Malaysia hoặc một số nước thành công trong việc thu hút tư nhân đầu tư vào giáo dục, có thể thấy một quan niệm khá thoáng và mới mẻ về lợi nhuận trong giáo dục. Theo quan điểm này, lợi nhuận tự nó chẳng có gì là xấu nếu không nói là ngược lại, vì đó chính là thước đo sự thành công của một cơ sở giáo dục đại học tư nhân, là bằng chứng rằng sản phẩm/dịch vụ của họ đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Điều quan trọng là nhà nước phải có những luật lệ, quy định rõ ràng để bảo vệ người học và xã hội, có khả năng phân xử công bằng khi có tranh tụng, và có khả năng thực hiện chế tài trong những trường hợp các trường (cả tư lẫn công) có vi phạm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học tư thục  không vì lợi nhuận tại Việt Nam: Vẫn còn hình thức      Gần đây, giáo dục Việt Nam liên tục ghi nhận những trường được cấp phép và hoạt động phi lợi nhuận, mô hình đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại một số nước tiên tiến. Tuy nhiên, dường như sự khác biệt giữa mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận ngày càng mang tính hình thức hơn là thực chất, và điều này tạo ra các kẽ hở pháp lý mà một số bên có thể lợi dụng.      Everglades College từng là trường tư vì lợi nhuận được Arthur Keiser mua lại, xin được cơ chế trở thành trường tư không vì lợi nhuận. Nhưng một thời gian sau Everglades lại mua trường Keiser vì lợi nhuận của chính Arthur Keiser. Tờ Nytimes đã có bình luận “Một số nhà đầu tư của đại học tư nhân đã thu lợi bẩn nhờ vào quá trình phi lợi nhuận”. Nguồn ảnh: Nytimes.  Mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận lần đầu tiên được định nghĩa trong luật Giáo dục Đại học 2012. Theo đó, các thành viên góp vốn không được chia cổ tức, hoặc được hưởng mức lợi tức không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ; phần lợi nhuận còn lại được dùng để tái đầu tư cho trường. Mô hình này được cụ thể hóa trong Điều lệ Trường đại học (2014) và Nghị định 141 của Chính Phủ (2013). Luật Giáo dục Đại học 2018 siết chặt thêm định nghĩa đại học không vì lợi nhuận: chỉ công nhận một trường đại học là không vì lợi nhuận khi nhà đầu tư cam kết hoàn toàn không hưởng lợi tức, mà đưa phần lợi nhuận hằng năm trở thành tài sản chung không phân chia để tái đầu tư phát triển trường. Nghị định 99 của Chính Phủ (2019) đưa ra những quy định cụ thể hơn cho mô hình sửa đổi này. Nhìn chung, định nghĩa về đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam khá giống với định nghĩa trên thế giới.     Mô hình không vì lợi nhuận rõ ràng dễ dành được thiện cảm từ đa số các tầng lớp xã hội. Như là một logic thông thường, có lẽ hầu hết mọi người đều khó chấp nhận việc tối đa hóa lợi nhuận trong lĩnh vực giáo dục. Ngược lại, người ta tin rằng nếu tôn chỉ của trường là phát triển giáo dục, và mọi nguồn lợi nhuận đều được tái đầu tư theo tôn chỉ đó, thì chất lượng giáo dục sẽ ngày càng tốt. Niềm tin này là có cơ sở: theo thống kê, hầu hết các trường đại học tư thục hàng đầu thế giới, nhất là tại Mỹ, đều là các trường không vì lợi nhuận. Về mặt lịch sử, ở Mỹ và đa số các nước khác, sự hình thành và phát triển của các trường đại học tư thục không vì lợi nhuận thường gắn liền với các tổ chức tôn giáo – xã hội có uy tín, có tinh thần phụng sự xã hội. Các trường đại học tư thục đó đã đóng góp nhiều cho các tiến bộ khoa học, công nghệ và xã hội và đổi lại đều nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ, quan trọng nhất và phổ biến nhất là ưu đãi về thuế.      Hiện nay, để công nhận một trường đại học tư thục là không vì lợi nhuận, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ chủ yếu xem xét liệu trường có cam kết không chia lợi nhuận hay không, và liệu cơ cấu tổ chức của trường có đúng với luật định không. Tiếc là với cơ cấu tổ chức được quy định hiện nay chưa khiến các trường tự giác tuân thủ nguyên tắc không chia lợi nhuận.      Thiếu cơ chế giám sát hiệu quả     Một khi đã có những ưu đãi để khuyến khích mô hình không vì lợi nhuận phát triển thì đồng thời cũng cần đưa ra được những cơ chế giám sát để đảm bảo các ưu đãi đó được sử dụng đúng mục đích. Vậy, làm sao để bảo đảm lợi nhuận của các trường này sẽ được sử dụng cho các mục đích chung, mà không được chia cho bất kỳ ai? Có lẽ Mỹ là một trong những nước có những quy định cụ thể nhất về vấn đề này. Cục thuế Liên bang (Internal Revenue Service) chỉ công nhận một đại học là không vì lợi nhuận khi đại học đó được cấp cơ chế miễn thuế (tax-exemption status). Và một trong những căn cứ quan trọng để quyết định cơ chế miễn thuế cho một đại học tư thục là nguyên tắc Không xung đột lợi ích (conflict of interest). Một ví dụ đơn giản của xung đột lợi ích là: khi một thành viên nằm trong hội đồng quản trị của một trường đại học, và được giao quyền chọn nhà thầu cung ứng dịch vụ, nhưng đồng thời cũng là cổ đông lớn của một trong số nhà thầu đó. Trong trường hợp này, thành viên đó sẽ có xu hướng đưa ra quyết định có lợi cho chính mình hơn là có lợi cho trường. Vì thế, Cục thuế thường đánh giá các báo cáo tài chính, bảng lương của nhóm quản lý cấp cao, cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của trường để xem xét liệu có xung đột lợi ích hay không.    Tuy vậy, thực tế vẫn có những trường đại học tư thục không vì lợi nhuận giả hiệu, không chỉ ở Mỹ mà còn khá phổ biến tại nhiều nước Mỹ Latin (Salto, 2014). Những trường này thường có cơ cấu nhân sự vi phạm nguyên tắc không xung đột lợi ích: những thành viên có quyền quyết định cao nhất về định hướng phát triển và tài chính của trường thường có gắn kết quyền lợi cá nhân với nhau, hoặc với một bên thứ ba – và vì thế, họ có xu hướng tìm cách hợp thức hóa những khoản chi bất thường để phục vụ lợi ích cá nhân. Những khoản chi này có thể ở dạng mua lại một tòa nhà với giá cao hơn mức giá thị trường để làm cơ sở đào tạo, trong khi tòa nhà này lại được sở hữu bởi một thành viên trong hội đồng trường. Một cách hợp pháp hóa chi tiêu phổ biến khác là trả lương thưởng cho hiệu trưởng – cũng chính là chủ trường/ cổ đông lớn trong trường – cực kì hậu hĩnh.      Hình 1: So sánh cơ cấu tổ chức đại học tư thục không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận.  Một trong những ví dụ điển hình là Everglades College (bang Florida). Đây là trường tư vì lợi nhuận, được Arthur Keiser mua lại ngay trước khi nộp đơn lên Cục thuế xin công nhận là trường không vì lợi nhuận. Lúc đầu, Cục thuế đưa ra rất nhiều câu hỏi chất vấn, và nghi ngờ. Nhưng sau hai năm, với đội ngũ luật sư dày dặn kinh nghiệm, Keiser cũng đã có được cơ chế miễn thuế, và trường Everglades được công nhận là không vì lợi nhuận. Một trong những điều kiện tiên quyết của Cục thuế đưa ra, và Keiser cam kết sẽ chấp hành, là hội đồng trường mới phải là những thành viên độc lập, không chịu sự ảnh hưởng và kiểm soát bởi Keiser. Tuy vậy, thực tế là, mặc dù không trực tiếp có mặt trong hội đồng trường, nhưng Keiser đã đưa những cộng sự thân cận và trung thành của mình vào hội đồng trường. Vài năm sau, trường Everglades thỏa thuận mua lại Keiser University – một trường vì-lợi-nhuận được thành lập và sở hữu bởi chính Kesier (Shireman, 2020).  Đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam    Như đã đề cập ở phần trên, định nghĩa về đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam không khác về bản chất so với định nghĩa tại Mỹ. Hiện nay, mô hình này được hứa hẹn khá nhiều ưu đãi: về miễn giảm thuế, hỗ trợ cho thuê/ cấp đất, ưu tiên kinh phí cho nghiên cứu và đào tạo.      Điều đáng ngạc nhiên, và cũng khiến nhiều người phải suy nghĩ, là đa số các đại học không vì lợi nhuận hiện nay ở Việt Nam lại thường được thành lập và quản lý bởi các tập đoàn kinh tế lớn.      Tuy vậy, nguyên tắc không chia lợi nhuận – đặc tính cốt lõi của mô hình này – thì lại thiếu cơ sở để giám sát. Trong khi tại Mỹ, nguyên tắc này được Cục thuế xem xét và đánh giá, thì tại Việt Nam, chỉ có Nghị định 141 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Đại học (2013) quy định chung chung rằng báo cáo tài chính hằng năm và báo cáo kiểm toán theo định kỳ sẽ là căn cứ xem xét một đại học tư thục là không vì lợi nhuận. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ cơ quan nào sẽ là đầu mối chính để làm công việc này, và liệu cơ quan đó có đủ năng lực và công cụ để đánh giá, giám sát hay không. Vì thế, hiện nay, để công nhận một trường đại học tư thục là không vì lợi nhuận, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ chủ yếu xem xét liệu trường có cam kết không chia lợi nhuận hay không, và liệu cơ cấu tổ chức của trường có đúng với luật định không. Tiếc là với cơ cấu tổ chức được quy định hiện nay chưa khiến các trường tự giác tuân thủ nguyên tắc không chia lợi nhuận.    Mặc dù chưa có cơ chế giám sát cụ thể, nhưng các đại học tư thục không vì lợi nhuận vẫn đang được cấp phép thành lập. Do luật Giáo dục Đại học 2018 tuyên bố ưu tiên trường không vì lợi nhuận nên các hồ sơ xin thành lập trường không vì lợi nhuận thường được xét duyệt dễ hơn và nhanh hơn. Điều đáng ngạc nhiên, và cũng khiến nhiều người phải suy nghĩ, là đa số các đại học không vì lợi nhuận hiện nay ở Việt Nam lại thường được thành lập và quản lý bởi các tập đoàn kinh tế lớn.     Dễ xung đột lợi ích     Như đã thấy trong trường hợp của Mỹ, không xung đột lợi ích là nguyên tắc chủ yếu, và có tính thực tiễn nhất, nhằm khiến các trường gián tiếp mất đi động cơ chia lợi nhuận. Tuy nhiên, nguyên tắc này đang không tồn tại trong cơ cấu quản trị của mô hình không vì lợi nhuận tại Việt Nam. Theo các quy định hiện nay, Hội nghị Nhà đầu tư là tổ chức có quyền lực cao nhất tại trường đại học tư thục không vì lợi nhuận. Mặc dù luật Giáo dục Đại học 2018 quy định các thành phần nằm trong Hội đồng trường của các trường đại học tư thục không vì lợi nhuận (đại diện nhà đầu tư, thành phần trong trường và ngoài trường), nhưng lại không quy định tỉ lệ/ số lượng từng thành phần. Trong khi đó, Nghị định 99 của Chính Phủ (2019) lại trao cho Hội nghị các Nhà đầu tư quyền quyết định cơ cấu Hội đồng trường. Điều này dễ dẫn đến sự ra đời của những cơ cấu Hội đồng trường mà trong đó thành phần nhà đầu tư chiếm số lượng áp đảo, và từ đó Hội đồng trường dễ đưa ra các quyết định có lợi cho nhà đầu tư hơn là có lợi cho toàn trường, và cho cộng đồng.      Hình 2: So sánh cơ cấu tổ chức đại học tư thục không vì lợi nhuận 2018 & 2012.  Ngoài ra, so với các trường đại học tư thục vì lợi nhuận, cơ cấu quản trị của các trường không vì lợi nhuận không có khác biệt cơ bản. Cả hai mô hình này đều có Hội nghị Nhà đầu tư là tổ chức có quyền lực cao nhất. Mặc dù Hội đồng trường của trường không vì lợi nhuận được quy định cụ thể hơn, và có một số thành phần do Hội nghị (đại biểu) toàn trường bầu chọn, nhưng về tổng thể, số lượng từng thành phần vẫn do Hội nghị Nhà đầu tư quyết định. Tóm lại, điểm khác biệt lớn nhất hiện nay của hai mô hình này là: trường không vì lợi nhuận thì có cam kết không chia lợi nhuận. Nhưng cam kết này lại chưa có cơ chế giám sát thực thi!    Thật ra, mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận theo luật Giáo dục Đại học 2018 là một bước lùi so với luật Giáo dục Đại học 2012. Theo Điều lệ Đại học 2014 (ban hành dựa trên luật Giáo dục Đại học 2012), Hội đồng quản trị là tổ chức có quyền lực cao nhất trong mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận: Hội nghị cổ đông/nhà đầu tư không tồn tại; mặc dù có tồn tại Đại hội toàn trường, nhưng Đại hội này chủ yếu là đóng góp chiến lược phát triển của trường, chứ không có quyền ảnh hưởng đến cơ cấu và thành phần của Hội đồng quản trị. Ngoài ra, Điều lệ Đại học 2014 cũng khống chế tỉ lệ các nhà đầu tư trong Hội đồng trường ở mức 20%. Đây là một quy định cốt lõi khiến cho Hội đồng trường có thể đưa ra được những quyết định tương đối độc lập với quyền lợi của các thành viên góp vốn. Nói cách khác, trong trường hợp này, nguyên tắc không xung đột lợi ích dễ được đảm bảo hơn.      Nghị định 99 của Chính Phủ (2019) lại trao cho Hội nghị các Nhà đầu tư quyền quyết định cơ cấu Hội đồng trường. Điều này dễ dẫn đến sự ra đời của những cơ cấu Hội đồng trường mà trong đó thành phần nhà đầu tư chiếm số lượng áp đảo, và từ đó Hội đồng trường dễ đưa ra các quyết định có lợi cho nhà đầu tư hơn là có lợi cho toàn trường, và cho cộng đồng.      Có cần một cơ chế đặc thù?     Hơn 30 năm sau Đổi mới, những ý tưởng về việc phân chia lợi nhuận, và quyền sở hữu trong hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam cũng đã dần trở nên rõ ràng hơn. Từ những mập mờ về sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, gần đây, hai hình thức sở hữu này đã được minh định. Từ đó, các mô hình đại học tư thục cũng trở nên đa dạng hơn.    Hiện nay, mô hình trường đại học tư thục không vì lợi nhuận dường như đang được xã hội Việt Nam quan tâm và đặt nhiều kỳ vọng. Lí do chủ yếu là vì đa số chúng ta đang lấy nước Mỹ làm thước đo. Quả thật tại Mỹ, mô hình không vì lợi nhuận có nhiều ưu điểm vượt trội so với mô hình vì lợi nhuận, và vì vậy xứng đáng với một số ưu đãi của chính phủ. Tuy nhiên, ít ai trong chúng ta nhận ra rằng tại Mỹ, hai mô hình này thật sự khác nhau về bản chất, và hệ thống pháp luật Mỹ có những công cụ khá hiệu quả để phân định và giám sát hai mô hình này, đảm bảo chúng duy trì sự khác biệt thực chất. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam cũng dành nhiều ưu đãi và kỳ vọng cho mô hình không vì lợi nhuận, nhưng lại chưa đưa ra được những quy định đủ chặt chẽ để phân định hai mô hình này, mà lại cũng chưa có được những công cụ giám sát hiệu quả. Điều này dễ dẫn đến hiện tượng các trường đại học tư thục dùng mô hình không vì lợi nhuận cho mục đích quảng cáo và trục lợi từ chính sách. Đây là hiện tượng đã xảy ra ở nhiều nước.    Trong quá trình hình thành mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận, đã có nhiều ý kiến cho rằng cần một cơ chế đặc thù cho xã hội Việt Nam: vì Việt Nam chưa có truyền thống hiến tặng, nên để thành lập và xây dựng trường đại học thì vẫn phải cần đến nhà đầu tư. Lập luận này khá hợp lý. Tuy nhiên, cần nhìn nhận thêm rằng chính nhà nước – thông qua các chính sách hỗ trợ, ưu đãi – cũng đang đóng góp cho các đại học tư thục không vì lợi nhuận. Vì thế, để đảm bảo duy trì cốt lõi của mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận, cần có những quy định nhằm tiệm cận với nguyên tắc không xung đột lợi ích, nghĩa là không tập trung quyền lực vào các nhà đầu tư.    Dựa trên nguyên tắc không xung đột lợi ích, tôi đưa ra ba kiến nghị chính sách cho mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận. Thứ nhất, cần xóa bỏ cơ cấu Hội nghị Nhà đầu tư, và đồng thời cụ thể hóa cơ cấu, quy chế lựa chọn, bầu cử cho các thành phần hiện nay trong Hội đồng trường, sao cho thành phần nhà đầu tư không chiếm đa số, và bị giới hạn bởi số nhiệm kỳ. Thứ hai, cho phép nhà đầu tư thống nhất lựa chọn vẫn nhận cổ tức ở một mức khống chế do luật định, hoặc hoàn toàn không nhận cổ tức. Nhìn chung, nhà đầu tư chỉ nên đóng vai trò cho mượn tiền (lãi suất ưu đãi hoặc không lãi) chứ không tham gia điều hành. Điều này sẽ vẫn khuyến khích việc huy động vốn để phát triển xây dựng trường ở một mức lãi suất vừa phải. Thứ ba, và quan trọng nhất, là buộc các trường công khai quy chế hoạt động – nhất là các điều khoản về cơ cấu tổ chức và tài chính – lẫn cập nhật cơ cấu nhân sự điều hành cao cấp lên website. Nhìn chung, cả ba kiến nghị này đều tiệm cận với mô hình đại học tư thục không-vì-lợi-nhuận theo luật Giáo dục Đại học 2012.    Mô hình mà chúng ta cần là mô hình không vì lợi nhuận thực chất, vì chỉ có mô hình này mới có những tính chất vượt trội so với các trường đại học tư thục khác. Mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận giả hiệu sẽ không có các tính chất ưu việt, mà chỉ tạo điều kiện cho quá trình tư hữu hóa các ưu đãi đãi từ nhà nước – trong trường hợp này, chúng ta thà không chấp nhận sự tồn tại của chúng. □  —  * Tác giả Châu Dương Quang là nghiên cứu sinh, Đại học SUNY Albany, Hoa Kỳ.     Tài liệu tham khảo  Salto, D. J. (2014). Brazil: A For-Profit Giant. International Higher Education, 74, 21–22.  Shireman, R. (2020). How For-Profits Masquerade as Nonprofit Colleges. The Century Foundation. https://tcf.org/content/report/how-for-profits-masquerade-as-nonprofit-colleges/    Author                Châu Dương Quang        
__label__tiasang Đại học tư và một số vấn đề quản lý đại học hiện nay      Tự do hóa giáo dục đại học đang được coi như phép  màu có khả năng cứu nền đại học của ta giống như “khoán mười” đã cứu  nông nghiệp trước đây vậy. Dù hưởng ứng hay phản đối ý kiến này cũng nên  thấy đây là vấn đề hệ trọng, không thể dựa theo cảm tính hời hợt để xét  đoán mà cần bình tĩnh, xem xét nhiều mặt một cách nghiêm túc mới có thể  có quyết sách đúng đắn, thích hợp.     LỜI TÒA SOẠN: Đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020” được thông qua vội vàng năm 2006, sau mấy năm thực hiện đã bộc lộ nhiều bất ổn. Một trong những bất ổn gây nhiều tranh cãi là quan điểm và chủ trương “xã hội hoá” giáo dục đại học bằng cách phát triển ồ ạt đại học tư để đến năm 2010 đạt tỉ lệ 40% (về số người học), tiến tới cổ phần hoá các đại học công lập, thực tế 5 năm qua đã đem lại nhiều bài học chua xót. Để góp tư liệu tìm kiếm giải pháp thoả đáng cho vấn đề quan trọng này, Tia Sáng xin đăng lại dưới đây bài báo đã được đăng trên tạp chí số ra tháng 5, 2005, với nhan đề: “Giáo dục đại học dưới áp lực thương mại hoá” của GS Hoàng Tụy. Tuy có môt vài chi tiết cần cập nhật nhưng trên căn bản những vấn đề được đề cập trong bài báo này đến nay vẫn chưa mất hết tính thời sự.   ***  Thời gian gần đây trong nước đã nảy ra nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề giáo dục là hàng hóa, mà thực chất là thị trường hóa, thương mại hóa giáo dục. Trước đây đã có một thời rộ lên chuyện kinh tế tri thức, được chào đón như cơ hội nghìn vàng để đi tắt đón đầu, đưa đất nước mau chóng vươn lên giàu có, thịnh vượng, nhưng rồi, sau những rạo rực ban đầu và nhiều mơ mộng trên mây, khi trở về thực tại, mọi sự lại lắng xuống, im ắng một cách dễ sợ, mặc cho giáo dục, khoa học là những thứ cốt tử trong kinh tế tri thức cứ tụt hậu dài dài. Nay lại đến lượt chuyện tự do hóa giáo dục đại học được coi như phép màu có khả năng cứu nền đại học của ta giống như “khoán mười” đã cứu nông nghiệp trước đây vậy. Dù hưởng ứng hay phản đối ý kiến này cũng nên thấy đây là vấn đề hệ trọng, không thể dựa theo cảm tính hời hợt để xét đoán mà cần bình tĩnh, xem xét nhiều mặt một cách nghiêm túc mới có thể có quyết sách đúng đắn, thích hợp.   1. Cải tổ giáo dục đại học trên thế giới mấy năm gần đây  Trong khi ở nước ta giáo dục đại học (GDĐH) ì ạch từng bước nhọc nhằn, thì khắp nơi trên thế giới các đại học đang trải qua những biến động sâu sắc chưa từng có để thích ứng với toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế quyết liệt.  Cộng đồng Châu Âu, Nhật bản, và ngay cả một vài nước ASEAN, đang nỗ lực cải tổ GDĐH nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các đại học, gắn kết đại học chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, trao quyền tự chủ rộng rãi và tự chịu trách nhiệm cho các đại học. Các nước trong cộng đồng Châu Âu tổ chức lại nền đại học của họ theo những nguyên tắc đã thống nhất trong tuyên bố chung Bologna năm 1999 (chẳng hạn, tổ chức lại đại học theo khung 3-5-8 cho tương đồng với đại học Mỹ). Bên cạnh những trường bình thường, người ta đặt trọng tâm xây dựng những trung tâm xuất sắc, nhằm tăng uy tín và sức hút để cạnh tranh với các đại học Mỹ và giảm bớt, tiến đến chấm dứt dòng chảy chất xám sang Mỹ. Theo hướng đưa các phương pháp quản lý trong khu vực doanh nghịệp tư nhân vào khu vực GDĐH, các đại học được tăng quyền tự trị về mọi mặt, kể cả về tài chính và nhân sự, để hoạt động gần như một doanh nghiệp, tuy vẫn do Nhà nứơc cấp kinh phí nhưng có thể tự tìm thêm những nguồn tài chính bổ sung khác. Nhật là nước thực hiện các cải cách này triệt để nhất. Bắt đầu từ tháng 4/2004, các đại học công của Nhật trở thành những đơn vị có quy chế pháp nhân của những tổ chức hành chính độc lập và từ nay giáo chức và nhân viên hành chính ở đại học công sẽ không còn thuộc biên chế công chức Nhà nước nữa. Một tổ chức đánh giá chất lượng được thiết lập và kinh phí cấp cho từng đại học sẽ căn cứ trên hiệu quả hoạt động theo sự đánh giá đó, nhằm buộc các đại học muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm nhiều hơn nữa đến hiệu quả và chất lượng.  Ở Châu Âu rất ít đại học tư. Ở Nhật và Mỹ đại học tư nhiều hơn, nhưng ở Mỹ cũng chỉ chiếm khoảng 23% (về số sinh viên). Hầu hết các đại học tư ở các nước đều là tổ chức vô vị lợi (non-profit), không có cổ phần, không mưu tìm lợi nhuận, cho nên cũng được Nhà nước cấp một phần kinh phí. Dĩ nhiên họ được tự chủ hoàn toàn; như vậy sau khi cải tổ các đại học công sẽ chỉ còn khác các đại học tư chủ yếu ở chỗ vẫn do Nhà nước quản lý, dù sự quản lý này đã được nới lỏng rất nhiều (như Hiệu trưởng vẫn do chính quyền bổ nhiệm). Vì thế cũng có khi sự cải tổ này được gọi là tư thục hóa (privatisation), hay nửa tư thục hóa (semiprivatisation), dù không hề có chuyện cổ phần hóa hay bán lại các đại học công cho tư nhân. Ở Mỹ, xu thế tư thục hóa kiểu đó cũng đã bắt đầu: năm 2004, đã có vài đại học công lâu đời (như đại học Virginia, đại học William and Mary, Virginia Tech) xin hưởng quy chế tự trị giống như đại học tư, và để đổi lại họ chịu rút bớt kinh phí tài trợ của Nhà nước.           Ở Châu Âu rất ít đại học tư. Ở Nhật và Mỹ  đại học tư nhiều hơn, nhưng ở Mỹ cũng chỉ chiếm khoảng 23% (về số sinh  viên). Hầu hết các đại học tư ở các nước đều là tổ chức vô vị lợi  (non-profit), không có cổ phần, không mưu tìm lợi nhuận, cho nên cũng  được Nhà nước cấp một phần kinh phí.        Trước tình hình đó, dư luận xã hội ở các nước phản ứng ra sao? Tất nhiên có nhiều người hoan nghênh, nhưng cũng không phải ai cũng thích thú. Tuy sự cần thiết cải cách đã rõ, song cải cách như thế đúng chưa thì vẫn còn nhiều nghi ngại, nhất là đối với những nơi chưa hội đủ các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết. Đã có nhiều ý kiến hoài nghi, phản đối hay it ra, bày tỏ sự dè dặt, thận trọng. Chẳng hạn, nhiều bạn đồng nghiệp Nhật mà tôi đã có dịp hỏi ý kiến đều tỏ ra rất băn khoăn và ai cũng có lời khuyên tôi: Việt Nam hãy cẩn thận. Ở Mỹ, nhiều người nói thẳng: giáo dục là vô cùng quý giá, nó còn đáng giá hơn là một hàng hóa nhiều, và chắc chắn không thể là một món hàng bán kèm, một thứ để khuyến mãi (xem chẳng hạn J.W. More: `Education: commodity, come-on, or commitment?’, Journal of Chemical Education, 77(2000), 805). Trong một báo cáo mới nhất (tháng 2/2005) của nhóm nghiên cứu “Futures Poject: Policy for Higher Education in a Changing Word” ở Đại Học Brown, các tác giả viết: “Giáo dục đại học đang có nguy cơ từ bỏ sự cam kết truyền thống đối với các nhu cầu lâu dài của xã hội để chạy theo những lợi ích ngắn hạn. Đã đến lúc cần đảo ngược cái xu thế này trước khi trượt đến một tình thế mà rồi sẽ rất khó thay đổi, nếu không nói là không thể thay đổi…”  Nhiều người vẫn quan niệm sứ mạng giáo dục đại học không chỉ là đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, mặc dù đó là nhiệm vụ căn bản, mà ngoài ra còn phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện con người, giúp cho sinh viên ý thức được vai trò của họ là những công dân và những thành viên có trách nhiệm của cộng đồng. Cho nên “tuy các phương pháp quản lý và hạch toán của doanh nghiệp rất có ích cho quản lý giáo dục đại học, song không thể nào biến giáo dục đại học thành một business mà vẫn giữ được cho nó cái khiến nó khác biệt và đáng giá trước hết…” (Laura Couturier and Jamie Scurry:`How we can restore the ideals of public education in a market-driven era’, trong sách ‘The future of higher education: rhetoric, reality, and the risks of the market’, www.josseybass.com).   2. Do đâu có trào lưu tự do hóa giáo dục?  Có mấy nguyên nhân dẫn đến trào lưu tự do hóa GDĐH:  •    Sự gia tăng mạnh số sinh viên đại học, khiến các đại học từ chỗ chỉ dành cho số ít đã chuyển thành cho số đông. Đối mặt với sự bùng nổ qui mô đó, khả năng tài trợ của Nhà nước ngày càng bị hạn chế, trong khi chi phí GDĐH không ngừng tăng, buộc Nhà nước phải tăng quyền tự chủ của các đại học công, cho phép họ tự tìm thêm mọi nguồn tăng thu, kể cả bằng cách xuất khẩu hay thu hút sinh viên ngoại quốc.   •    Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và xu thế kinh tế tri thức làm gia tăng nhu cầu tri thức cùng với khả năng mua bán tri thức qua mạng, và nhiều phương tiện điện tử khác, mở đường cho xu thế thương mại hóa một bộ phận giáo dục.   •    Trào lưu tân tự do (neoliberalism), khởi phát từ học thuyết của nhà kinh tế Mỹ Milton Friedman, chủ trương hạn chế đến mức thấp nhất vai trò của Nhà nước, sử dụng mạnh mẽ cơ chế thị trường trong quản lý GDĐH.1  •    Sự gia tăng vai trò quốc tế của tiếng Anh, khiến nhiều nước chậm phát triển có nhu cầu nhập khẩu giáo dục từ các nước Anh ngữ, và các nước này không bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu giáo dục, tìm cách dở bỏ các rào cản trao đổi giáo dục xuyên quốc gia.   •    Song tác động quyết định là vai trò của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, WTO, OCDE, … trong khung cảnh toàn cầu hóa. Quá trình xác định lại (redefinition) sứ mệnh đại học khởi sự từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước, đã dần dần phát triển thành những quan nịêm nền tảng cho các cải cách hiện nay. Trong công cuộc đó, các tổ chức quốc tế nói trên đã đóng vai trò đầu tàu khởi xướng, mặc dù không phải là những tổ chức có nhiệm vụ trực tiếp với giáo dục. Hầu hết các kế hoạch cải cách GDĐH hiện đang thực thi đều đã được vạch ra trong các khuyến cáo của các tổ chức nói trên cho các nước thành viên. Chẳng hạn, WTO đã chủ trì các cuộc bàn thảo về giáo dục là hàng hóa và dịch vụ mua bán được (tradable) và ký kết thỏa ước chung về trao đổi thương mại các dich vụ (GATS, General Agreement on Trade in Services). Điều đáng chú ý là giáo dục là khu vực mà các thành viên WTO còn ngại tự do hóa nhất (theo OECD 2002, trong số 146 thành viên WTO chỉ có 42 thành viên đồng ý cam kết về it nhất một khu vực giáo dục).   3. Những bài học cho GDĐH Việt Nam   Đương nhiên, trong một thế giới không ngừng thay đổi, GDĐH cũng phải thay đổi để thích ứng. Cải cách là cần thiết, chỉ có điều không đơn giản và cần bàn là cải cách như thế nào là hợp lý và hiệu quả. Về cả hai phương diện khoa học và thực tiễn quản lý đã nảy ra không ít câu hỏi khó trả lời về tính chất hàng hóa của giáo dục nói chung, và đại học nói riêng. Như trên đã thấy, ngay ở các nước phát triển cũng còn nhiều, rất nhiều ý kiến trái ngược nhau.  Ở VN, tuy nền đại học của ta còn rất lạc hậu, làn sóng tân tự do cũng đã lan tới. Đã có ý kiến cho rằng đổi mới tư duy giáo dục hiện nay chính là phải đổi mới cách nhìn đối với việc thương mại hóa giáo dục, chính thức nhìn nhận giáo dục là hàng hóa, khuyến khích mạnh mẽ tư nhân đầu tư kinh doanh giáo dục, phát triển đại học tư, tiến tới cổ phần hóa một bộ phận đại học công, lấy đó làm giải pháp “khoán mười” cởi trói giáo dục đại học.   Riêng tôi nghĩ cần thận trọng hơn, vì đây là vấn đề rất nhạy cảm của xã hội. Muốn làm gì thì trước hết cũng phải hiểu vấn đề cho thấu đáo. Muốn dùng trường tư làm giải pháp đột phá cho đại học ư? It ra cũng phải hiểu cho đúng trường tư ở các nước như thế nào, có phải là trường tư theo cách hiểu của ta không?           Trước mắt cần phải cố gắng cao nhất phi tập  trung hóa quản lý và tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đại  học. Rõ ràng giáo dục đại học VN vừa rất lạc hậu trong cung cách quản  lý quan liêu bao cấp nặng nề và bảo thủ, vừa có cả những yếu tố thương  mại hóa tiêu cực, kinh doanh đơn thuần thiếu lành mạnh.        Để tránh tình trạng cãi nhau vô ích về từ ngữ, cần xác định trong các cụm từ như “giáo dục là hàng hóa”, “thương mại hóa giáo dục” hay “kinh doanh giáo dục”, v.v. từ “giáo dục” được dùng theo nghĩa dịch vụ giáo dục, tức là hoạt động giảng dạy, đào tạo. Trong các ngữ cảnh trên, tiếng Anh cũng chỉ dùng từ “education”, không kèm thêm từ gì khác. Còn “hàng hóa” nói đây thì ám chỉ hàng hóa hay dịch vụ mua bán được (tradable commodity). Khi có người chống việc thương mại hóa giáo dục, không nên đổ cho họ coi thương mại là xấu hay gán cho thương mại một nội hàm tiêu cực, vì cái họ phản đối đâu phải thương mại nói chung mà chỉ là thương mại hóa giáo dục (hàm ý biến giáo dục thành một ngành kinh doanh kiếm lời). Cũng không cần thiết phải phân tích rạch ròi hàng hóa hay dịch vụ, vì xung quanh mấy từ đó các nhà kinh tế cũng chưa thống nhất ý kiến. Nên bàn thẳng vào thực chất vấn đề: để thích ứng với kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, cần có những chính sách mới gì về quản lý đại học? cần vận dụng cơ chế thị trường như thế nào, đến đâu, và đặc biệt, có nên chấp nhận kinh doanh giáo dục đại học không và chấp nhận như thế nào, đến mức độ nào?   Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy rõ ta nên tỉnh táo trước vấn đề phức tạp này. Chống mù quáng thì không nên, nhưng nhắm mắt đón nhận vì tin rằng cả thế giới đều nhất trí như vậy, thì cũng quá liều. Thiết thực hơn, hãy xét xem kinh nghiệm của các nước đi trước ta cho phép rút ra những bài học gì cho VN?  Theo tôi, bài học tổng quát là trong khung cảnh toàn cầu hóa, cần duyệt lại, xác định lại sứ mệnh (nhiệm vụ) GDĐH, đường lối (triết lý, quan niệm, phương châm), sao cho phù hợp nhất với điều kiện mới của thế giới, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều này là cần thiết vì những thiếu sót bất cập của nền đại học của ta suy cho cùng bắt nguồn từ những mơ hồ về sứ mệnh và đường lối GDĐH trong tình hình mới.  Trước mắt cần phải cố gắng cao nhất phi tập trung hóa quản lý và tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đại học. Rõ ràng giáo dục đại học VN vừa rất lạc hậu trong cung cách quản lý quan liêu bao cấp nặng nề và bảo thủ, vừa có cả những yếu tố thương mại hóa tiêu cực, kinh doanh đơn thuần thiếu lành mạnh. Tôi không muốn nhắc lại đây những chuyện mà mọi người đều biết cả, báo chí và dư luận đã nêu lên từ lâu mà đến nay vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Các đại học trên thế giới vốn đã được tự trị khá cao từ lâu, mà vẫn thấy bức thiết phải tăng cường tự trị thêm nữa mới bảo đảm hiệu quả hoạt động trong kinh tế thị trường ở thời toàn cầu hóa, thì ở VN, trong hàng chục năm qua, mặc cho nhiều kiến nghị của những người tâm huyết, cung cách quản lý đại học vẫn hết sức cũ kỹ. Đã đến lúc không nên chần chừ nữa mà phải khẩn trương phi tập trung hóa (phân cấp) mạnh mẽ quản lý, trao quyền tự quản rộng cho các đại học lớn, đồng thời thiết lập một cơ chế hậu kiểm và đánh giá có hiệu quả để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Bộ và các cơ quan trung ương không nên ôm hết mọi việc lớn nhỏ để rồi xử lý rất quan liêu, trên hình thức thì quá chặt chẽ nên trói buộc sáng kiến của những đơn vị nghiêm túc, trên thực tế lại quá lỏng lẻo, tạo nhiều sơ hở dễ bị lợi dụng. Đó là lý do cảnh tượng hỗn loạn về bằng cấp, chức danh, và bao nhiêu những tiêu cực khác, không thể kiểm soát được. Cần phải nới lỏng rất nhiều quy định cứng nhắc về tuyển sinh vào đại học, tuyển nghiên cứu sinh cao học, tiến sĩ, quản lý tài chính, nhân sự, công nhận, tuyển dụng GS, PGS, v. v… Cần phải trả về cho các đại học quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm trong hàng lọat các vấn đề ấy, làm sao cho quyền tự quản của các đại học lớn của VN không quá thấp so với các đại học ở nước ngoài. Không thể viện cớ các đại học của ta chưa đủ trình độ tự quản, vì trình độ, năng lực của những tổ chức cấp trên họ đâu có gì hơn họ. Cần phải giữ đúng nguyên tắc: cái gì, việc gì mà đại học có thể giải quyết tốt nhất thì họ phải được quyền quyết định, Bộ hay cấp trên không nên ôm lấy để rồi phạm nhiều sai lầm, như công nhận GS, PGS, quản lý thống nhất việc thi cử, đào tạo TS, v.v… thời gian qua.2    Một vấn đề mấu chốt là việc quản lý, sử dụng đội ngũ giảng dạy. Trong cơ chế thị trường, có một nguyên tắc cần tôn trọng là đánh giá đúng năng suất người lao động và trả lương công bằng hợp lý. Nhưng hiện nay, thầy giáo đại học của ta lương chính thức thấp xa so với mức sống hợp lý theo tính chất và vị trí công tác của họ trong guồng máy xã hội, cho nên bắt buộc họ phải xoay xở làm việc gấp 3-4 lần số giờ bình thường: dạy thêm, dạy sô, dạy liên kết, v.v.., mới có được mức sống ấy.3 Đó là cách sử dụng lao động chẳng những bất công mà cực kỳ lãng phí. Với chế độ lương như thế khó ai có thể tập trung vào công việc chính của mình. Dạy đại học mà hầu như không có thì giờ nghiên cứu khoa học, năm này qua năm nọ, trình độ vẫn không nhích lên nổi, thì làm sao có chất lượng được. Chính vì cách sử dụng như vậy nên đội ngũ giảng dạy đại học ngày càng già nua, lạc hậu với khoa học thế giới, chất lượng đào tạo quá thấp, không đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế, mà chưa thấy rõ khả năng có thể cải thiện nhanh. Hơn nữa, đó cũng chính là một nguyên nhân hạn chế khả năng phát triển quy mô đại học và đa dạng hóa các loại hình đại học theo nhu cầu của xã hội. Bài toán: chất lượng, quy mô, công bằng, với ba yếu tố không phải lúc nào cũng đồng hành nhịp nhàng— bài toán đó không thể có giải pháp thỏa đáng chừng nào còn chế độ sử dụng và trả lương cho giáo chức đại học bất công và lãng phí như hiện nay.   4. Vấn đề phát triển đại học tư: giải pháp nào hợp lý cho VN?  Một bài học lớn qua kinh nghiệm thế giới là vấn đề phát triển đại học tư mà gần đây thường mang dáng vẻ rất hàn lâm: giáo dục là hàng hóa.  Trong lúc nhiều vấn đề mấu chốt nêu trên của đại học còn chưa được giải quyết mà nhiều người đã muốn đặt cược tất cả vào giải pháp tự do hóa giáo dục đại học, phát triển đại học tư, cổ phần hóa đại học công, thì e rằng không thực tế và nếu không cẩn thận, kết quả dẫn đến có thể đẩy GDĐH tụt hậu thêm nữa. Dù trong ngắn hạn có thể tạo được sự năng động nào đó thì lâu dài sự năng động ấy có nguy cơ sẽ thoái hóa thành rối loạn, đưa đến hậu quả tai hại không lường.   Tại sao như vậy? Để hiểu rõ điều này cần biết ta muốn phát triển đại học tư kiểu nào. Nếu phát triển theo kiểu trường tư bất vị lợi, như hầu hết trường tư ở các nước phát triển thì ngàn lần nên, và Nhà nước có chính sách tài trợ bao nhiêu cho những trường tư đó cũng đúng, không ai có thể nói gì. Đó là cách xã hội hóa đúng nghĩa nhất, tức là để xã hội chia sẻ với Nhà nước chi phí, công sức, trách nhiệm phục vụ cộng đồng. Trường tư như vậy phải được tự quản ngang như các trường tư ngoại quốc được phép mở ở VN, nghĩa là tự quản cả về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, tuyển sinh, cấp phát văn bằng, và dĩ nhiên cả tài chính và nhân sự, bao gồm chế độ trả lương thầy giáo và thù lao cho các họat động giảng dạy và nghiên cứu, cũng như liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức trong và ngoài nứơc thực hiện các chương trình đào tạo cần thiết. Với mức độ tự quản cao đó, trường tư sẽ có cơ hội thực hiện nhiều sáng kiến đổi mới về quản lý, tổ chức, nội dung, phương pháp đào tạo, mà trước mắt, do sự cồng kềnh khủng long của bộ máy giáo dục công lập, các đại học công khó bề thực hiện tốt. Chẳng hạn trường tư sẽ không bị bắt buộc phải dạy những kiến thức vô bổ, có khi chiếm tới 20% thời lượng học ở trường công; sẽ dễ dàng thực hiện phương pháp đào tạo theo tín chỉ, học trình, mà hiện ở trường công tuy biết là tốt vẫn chưa làm được nhiều; sẽ có quyền trả lương cho thầy giáo đúng với công sức để thầy giáo tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được giao để thường xuyên nâng cao chất lượng, đáp ứng các yêu cầu đào tạo. Tóm lại, trường tư kiểu đó sẽ có điều kiện hoạt động đúng với đòi hỏi của đại học và những trường tốt nhất sẽ đóng vai trò tiên phong trong công cuộc cải cách nền đại học để tiến lên hiện đại.  Còn nếu ta quan niệm trường tư vị lợi (trường tư nhằm thu lợi nhuận được chia cho cổ đông), và giáo dục được kinh doanh như hàng hóa (dù là hàng hóa it nhiều đặc biệt chăng nữa), thì vai trò trường tư sẽ khác. Tôi nghĩ cần chấp nhận các trường tư vị lợi, nhưng không nên coi việc phát triển mạnh loại trường tư ấy là chính4, mà nên đối xử với các trường tư ấy cũng như với các lọai doanh nghiệp khác, để họ tự lo, không nên đòi hỏi Nhà nước phải hỗ trợ đất đai, kinh phí, v.v… Chuyện này cần rõ ràng, sòng phẳng, minh bạch để đảm bảo công bằng. Sự bình đẳng giữa công và tư chỉ nên hiểu là các bằng cấp đại học có giá trị đến đâu là tùy thuộc vào uy tín, chất lượng của từng trường, không phân biệt công hay tư. Đồng thời trường tư, dù vị lợi hay bất vị lợi, cũng nên được quyền tự quản như các doanh nghiệp tư nhân. Không nên như hiện nay, một mặt trường tư vị lợi vẫn đòi đuợc Nhà nước hỗ trợ và ưu đãi, mặt khác lại chịu sự quản lý quá chặt chẽ và khi thấy cần thiết chính quyền có thể can thiệp sâu vào công việc quản trị nội bộ của họ (như cách chức, bổ nhiệm hiệu trưởng, giải thể, thành lập hội đồng quản trị, dù là tạm thời). Theo tôi quy chế trường tư đã được ban hành có nhiều điểm chưa hợp lý, không đúng, cần được xem xét lại và sửa đổi kịp thời.5     Chúng ta nên thận trọng và dù thế nào cũng không thể hiểu xã hôi hóa giáo dục là biến giáo dục thành một ngành kinh doanh, phó mặc cho cơ chế thị trường tác động và khống chế. Ít ra cũng vì cái lẽ cơ chế thị trường rất tốt nhưng thường chỉ tốt trong tầm nhìn ngắn hạn, còn về lâu dài thì Nhà nước phải có tầm nhìn sáng suốt, thông minh, chứ không thể nhắm mắt chạy theo thị trường. Đừng để đục nước béo cò, dẫn đến cạnh tranh thiếu văn minh, không lành mạnh, trong giáo dục.  Còn một lý do kinh tế quan trọng khác, khiến giải pháp trường tư vị lợi khó có tương lai lâu dài, đó là trong hoàn cảnh thực tế hiện nay của VN, lợi nhuận mà trường tư có thể thu được, nếu phân tích kỹ ra, chủ yếu là do dựa vào chế độ lương bất công đối với giáo chức đại học công như trên đã nói. Ta thử nghĩ xem: với chế độ trả lương hiện nay ở các đại học công, một giáo sư đại học phải lao động gấp 3-4 lần số giờ bình thường, mới có thu nhập tương xứng với năng suất, trình độ, năng lực của họ. Nay một trường tư chỉ cần trả lương cho giáo sư của họ gấp vài ba lần thu nhập thực tế trung bình ở trường công thì với mức học phí hiện nay, trường tư cũng đã có thể thu lãi khá cao, tuy chưa chắc có thể bảo đảm một chất lượng ngang với trường công. Sở dĩ như vậy là do chưa tính hết, tính đúng mọi chi phí, chứ nếu tính đúng, tính hết mọi chi phí, kể cả đất đai, và những ưu đãi khác, thì trường tư muốn bảo đảm được một chất lượng ngang trường công, tổng chi phí sẽ khá cao, do đó muốn có lãi, học phí sẽ phải tăng cao quá mức chấp nhận được, và sẽ khó thu hút được sinh viên. Như thế có nghĩa, với mức học phí và chất lượng đào tạo chấp nhận được, cái lãi của trường tư thật ra đã do xã hội, Nhà nước gián tiếp bù vào nhiều khoản chi phí. Đó là một sự bất công trá hình, có nên và có thể kéo dài mãi được không?   Về vấn đề này, đã có một nghiên cứu rất xác đáng của TS Vũ quang Việt, chuyên gia kinh tế Việt kiều đang sống và làm việc ở Mỹ (“Giáo dục tư hay công, nhìn từ góc độ kinh tê”, http://www.vast.ac.vn/hvgd). Theo nghiên cứu này, ở Mỹ chi phí đào tạo trung bình cho một sinh viên là 40-75 ngàn USD một năm, học phí ở đại học công là khoảng 3-5 ngàn USD, ở đại học tư 15-35 ngàn USD. Như vậy, ở Mỹ đại học tư muốn có lãi thật sự mà bảo đảm một chất lượng trung bình ắt phải thu một học phí rất cao (không ít hơn 35 ngàn USD), vượt quá mức chấp nhận được, và trường sẽ không thể hy vọng có đủ sinh viên để tồn tại. Đó là lý do giải thích một phần vì sao ở Mỹ, tuy trường tư vị lợi vẫn được phép mở, mà hầu hết các trường tư đều bất vị lợi (chỉ trừ một số it trường đào tạo nghề cụ thể). Và cũng chính vì lý do tương tự, ở VN giải pháp trường tư vị lợi về lâu dài có thể đưa đến một trong hai kết cục: hoặc là chất lượng giáo dục ngày càng tụt thảm hại, hoặc là ngày càng có nhiều trường tư đóng cửa vì lỗ.6   5. Kết luận  Còn nhớ hồi thảo luận về kinh tế tri thức, tôi có nhấn mạnh một ý: nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức phải bắt đầu từ việc nâng cao sức cạnh tranh về các lĩnh vực công nghệ thấp và vừa của nền nông công nghiệp truyền thống, và phải hết sức chăm lo giáo dục và khoa học. Cần lợi dụng cơ hội kinh tế tri thức tìm đường đi tắt, nhưng trước hết phải chuẩn bị những bước cơ bản để không vấp ngã ngay trên sân nhà khi ta phải mở cửa thị trường cho sự xâm nhập quốc tế. Về giáo dục cũng vậy, cần gấp rút chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục, nhưng trước khi muốn áp dụng những điều mới mẻ mà ngay ở các nước tiên tiến cũng đang còn mò mẫm, như việc thị trường hóa, thương mại hóa giáo dục hiện nay, xin hãy quan tâm những vấn đề thiết thực, sơ đẳng mà ta còn chưa làm được, hãy cố gắng khắc phục lãng phí, tham nhũng, cùng những xu hướng thương mại hóa tiêu cực đang làm nhân dân rất lo lắng và bất bình.   Các vấn đề của giáo dục phải giải quyết một cách hệ thống và toàn diện, không thể cứ gặp đâu làm đó, thí điểm đi rồi thí điểm lại, hết cải tiến đến cải lùi, cứ thế năm này qua năm khác, học sinh, sinh viên phải giơ lưng ra làm vật thí nghiệm mà chưa biết bao giờ mới được hưởng một nền giáo dục sánh được với các nước.  —  1. Cùng với những bất ổn kinh tế mấy năm nay, chủ nghĩa tân tự do đã bị phê phán mạnh, không còn uy thế như trước, nên hàng loạt quan điểm cũng đã có sự thay đổi nhất định.  2. Mặc dù được nêu ra từ lâu nhưng đến nay việc phân cấp quản lý và mở rộng quyền trự chủ của các đại học vẫn  còn nhiều khó khăn, chưa thực hiện được bao nhiêu.  Tuy gần đây đã có những tiến bộ, như các đại học lớn và cơ sở nghiên cứu lớn đã được trao tự chủ khá rộng trong việc đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, nhưng vẫn còn nhiều lĩnh vực quan trọng (đặc biệt như tuyển chọn, công nhận, bổ nhiệm GS,PGS) họ vẫn chưa được tự chủ ngay ở mức thấp nhất của các đại học ở nước ngoài. Trước khi nghĩ tới những việc cao xa hãy cởi trói cho các đại học thì họ mới có thể tiến lên là những đại học nghiên cứu đích thực.   3. Vài năm nay đã có một số thay đổi về chính sách lương nhưng khá lộn xộn,  tùy tiện, thiếu minh bạch, nhiều bất công, nếu không kịp thời chấn chỉnh sẽ có nhiều hệ lụy tiêu cực  càng nghiêm trọng hơn.  4. Ít nhất trong giai đoạn hiện nay, khi sự vận hành kinh tế thị trường ở nước ta còn nhiều méo mó tiêu cực, khi cơ chế xin-cho còn phổ biến và tham nhũng tràn lan. Trong tinh hình đó rất khó có đại học tư vị lợi hoạt động nghiêm chỉnh. Tôi nghĩ rằng nếu ở đâu đó các đại học tư vị lợi chiếm số đông mà vẫn hoạt động hiệu quả và có tác dụng tích cực đối với sự phát triển giáo dục đại học thì cũng không thiếu những nơi giáo dục đại học của họ từ lạc hậu đi lên hiện đại mà không cần phát triển trường tư vị lợi.   5. Điều kỳ lạ là Bộ GDĐT chỉ có quy chế trường tư vị lợi, thành thử mặc nhiên Nhà Nước không công nhận trường tư bất vị lợi. Đó cũng là nguồn gốc không ít khó khăn, lung túng đã bộc lộ trong điều hành trường tư.  6.Hình như đây là thực tế đáng buồn đang diễn ra ở Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học ưu tú ở Mỹ và khả năng áp dụng cho Việt Nam      Trong một thế giới toàn cầu hóa, các điều kiện và vấn đề xã hội được cảm nhận trước tiên ở Mỹ sẽ nhanh chóng lan ra các nước khác, trong đó có Việt Nam. Thành công và thất bại của Mỹ khi đối phó với khủng hoảng trong hệ thống giáo dục đại học có thể là bài học tham khảo cho một quốc gia mới nổi ở Đông Nam Á về những thách thức trước mắt, và những bước đi cần thiết trong việc giải quyết vấn đề. Trong bối cảnh này, tôi muốn bàn tới một trong những cải tiến đáng kể của hệ thống giáo dục Mỹ trong thập kỉ qua. Đó là ý tưởng về “đại học ưu tú”.      Có thể không như suy nghĩ thường thấy ở Việt Nam, đại học Mỹ phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng. Đầu tiên là sự tăng vọt trong chi phí cho giáo dục bậc cao. Nếu các bậc phụ huynh định trả toàn phần học phí cho một đại học tinh hoa như Harvard, họ có thể sẽ phải chi đến hơn 200.000 USD cho một tấm bằng đạt được sau 4 năm. Thêm vào đó, hệ thống giáo dục Mỹ yêu cầu sinh viên phải có bằng đại cương trước khi muốn có một tấm bằng chuyên ngành như luật hay dược. Những học vị này thậm chí còn ngốn nhiều tiền của hơn. Cần phải lưu ý rằng, chỉ phần nhỏ các gia đình Mỹ trả toàn bộ chi phí như nói trên. Phần lớn các gia đình nhận được “gói trợ giúp”, thực chất là việc giảm học phí căn cứ theo từng trường hợp. Tuy nhiên, thực tế là đa phần người Mỹ vẫn gặp khá nhiều khó khăn trong việc chi trả cho giáo dục đại học. Thanh niên Mỹ trang trải cho việc học của họ bằng những khoản vay lớn mà phải mất nhiều năm mới có thể trả hết. Họ cũng làm thêm những công việc bán thời gian, trong khi vẫn học tại trường trọn ngày. Xét tới tất cả những điều này, không ngạc nhiên khi ngày càng nhiều người Mỹ đang đặt câu hỏi về giá trị của giáo dục đại học, đặc biệt là của học vị “cử nhân” hay tấm bằng bốn năm.  Độc giả Việt Nam có thể không nhận thấy sự liên quan đặc biệt nào với tình trạng nan giải nêu trên, nhưng điều này được viết ra không phải để khơi gợi sự cảm thông, mà để cho thấy những xu hướng toàn cầu, đặc biệt những xu hướng có khả năng ảnh hưởng sớm tới Việt Nam. Trong một thế giới toàn cầu hóa, các điều kiện và vấn đề xã hội được cảm nhận trước tiên ở Mỹ sẽ nhanh chóng lan ra các nước khác, trong đó có Việt Nam. Thành công và thất bại của Mỹ khi đối phó với khủng hoảng trong hệ thống giáo dục đại học có thể là bài học tham khảo cho một quốc gia mới nổi ở Đông Nam Á về những thách thức trước mắt, và những bước đi cần thiết trong việc giải quyết vấn đề.  Trong bối cảnh này, tôi muốn bàn tới một trong những cải tiến đáng kể của hệ thống giáo dục Mỹ trong thập kỉ qua. Đó là ý tưởng về “đại học ưu tú”**. Một “đại học ưu tú” là một bộ phận đặc biệt nằm trong một trường đại học lớn hơn. Nó được thiết kế không phải chuyên biệt cho một lĩnh vực nghiên cứu, mà để sinh viên từ tất cả các ngành với vô số những hoài bão nghề nghiệp khác nhau có thể nhận được một sự giáo dục chuyên sâu hơn – và hi vọng, hiệu quả hơn, mà không phải trả chi phí cao hơn quá nhiều.           Khuôn viên trường Barrett. Ảnh: AUS          Những đại học ưu tú này, trên lý thuyết, được thiết kế để làm gì? Những gì chúng đã đạt được trong thực tế? Bài học nào rút ra cho tương lai? Tuy không thể quả quyết có kiến thức toàn diện về chủ đề này, nhưng tôi có thể nói từ những kinh nghiệm trực tiếp của mình. Trong 11 năm qua, tôi là cán bộ giảng dạy của một trong những trường đại học ưu tú lớn nhất ở Mỹ, The Barrett Honors College thuộc Đại học Bang Arizona. Hàng năm “Barrett”, như thường gọi, cấp bằng tốt nghiệp cho vài trăm sinh viên, tất cả họ ngoài việc tham gia những khóa bắt buộc, còn học thêm một chương trình chuyên sâu được gọi là “ưu tú”. Vậy chương trình này gồm những gì, và bài học nào có thể áp dụng cho Việt Nam?  Đầu tiên, cần phải biết được những yêu cầu cần thiết để tốt nghiệp Barrett. Những sinh viên ưu tú về cơ bản phải:   Viết một luận văn học thuật dài ít nhất 30 trang về một chủ đề tự chọn, được hướng dẫn bởi giáo sư trong ngành và nộp cho ít nhất ba giáo sư khác. Sinh viên ưu tú phải bảo vệ luận văn này công khai trước hội đồng thẩm định, giống như một “phiên bản mini” mà những tiến sĩ được yêu cầu làm để bảo vệ luận án của họ.  Trước khi làm luận văn, những sinh viên ưu tú cần học những khóa đặc biệt thuộc ngành học của mình. Đây là những lớp đặc biệt chỉ mở cho sinh viên ưu tú, hoặc dưới dạng một lớp học thông thường được thu xếp chỉ dành cho sinh viên ưu tú tham dự. Đặc điểm chung của chúng là a) tương tác trực tiếp giữa sinh viên với người hướng dẫn và b)những bài tập với yêu cầu khắt khe hơn và ý kiến phản hồi chi tiết hơn từ giáo sư.  Thêm vào đó, Barret còn yêu cầu sinh viên ưu tú học hàng loạt những khóa được thiết kế riêng cho họ. Đây là những cuộc hội thảo chuyên đề đa ngành (không quá 20 sinh viên, và những sinh viên này được yêu cầu thảo luận ý kiến công khai). Chủ đề xoay quanh những “Trước tác”, theo như cách người Mỹ thường gọi. Trong hai học kì đầu tiên tại Barrett, tất cả sinh viên ưu tú phải tham gia một cuộc hội thảo gồm hai phần, thảo luận về những tác gia và tác phẩm vĩ đại không chỉ của phương Tây mà còn của nền văn minh nhân loại, bao gồm Thánh Kinh, Khổng Tử, triết học Hy Lạp và Ấn Độ, Shakespeare, Tolstoy, Marx… Barrett có một đội ngũ cán bộ gồm mười lăm giảng viên để hướng dẫn khóa học đặc biệt này, trong đó có tôi.  Hiện nay, Đại học ưu tú trực thuộc Đại học Bang Arizona rất thành công. Với hơn 800 sinh viên được nhận hàng năm, tổng số sinh viên ưu tú tại trường lên tới 3200 trong hơn 50.000 sinh viên đang theo học. 60% trong tổng số 800 này hoàn tất những điều kiện để được cấp bằng “ưu tú”. Đây là tỉ lệ tốt nghiệp rất cao chiếu theo chuẩn Mỹ, bởi thông thường ở các trường số tốt nghiệp chiếm chưa đến 30% so với tổng đầu vào.  Đặc điểm kinh tế và nhân khẩu đóng vai trò quan trọng trong sự vượt trội của Barret. Đa số những sinh viên ưu tú đến từ một thành phần đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ: tầng lớp trung lưu. Bố mẹ họ đã xoay xở để con cái mình có được học vấn tốt từ những cấp tiểu học và trung học. Xét đến những vấn nạn của xã hội Mỹ và yếu kém trong hệ thống giáo dục cơ sở, đây hoàn toàn không phải điều dễ dàng. Thậm chí con cái của những gia đình giàu có và thành công vẫn có thể gặp kết cục nghiện hút hoặc gia nhập nhóm bạn lôi kéo họ khỏi việc học hành. Còn những bậc phụ huynh này, may mắn có được những đứa con tài năng, đã tìm ra phương cách dạy chúng những kĩ năng và kỉ luật để thành công trong môi trường đại học.  Những sinh viên này rất cần các kĩ năng và thói quen tốt để thành công, bởi lẽ rất nhiều sinh viên Mỹ không thực sự hưởng lợi từ quãng thời gian đi học. Một trong những điều đáng ngại nhất mà sinh viên Mỹ phải đối mặt là không tận dụng được những trải nghiệm đại học. Nhiều sách vở và bài báo đã chỉ ra những khiếm khuyết của hệ thống hiện nay. Một sinh viên dễ dàng trải qua bốn năm đại học mà không tham dự bất kì một khóa học có tính thử thách nào, hoặc chẳng cần dành nhiều thời gian cho việc học hành. Các bài báo cũng cho biết phần lớn thời gian các sinh viên không được dạy bởi một giáo sư đủ kinh nghiệm và hoàn toàn dấn thân cho việc giảng dạy. Thay vào đó, giảng viên thường là những sinh viên cao học mà kiến thức và kĩ năng dạy học rất khác nhau.  Mục đích chính của các đại học ưu tú ở Mỹ rất rõ ràng. Những sinh viên tài năng và tích cực có điều kiện tập trung với nhau, và với những người thầy thúc đẩy họ làm việc với chất lượng tốt hơn. Điểm này cho phép họ có thể tận dụng tối đa quãng thời gian ở trường của mình. Ở Đại học ưu tú Barrett, các sinh viên phải trả thêm một khoản phí không quá lớn cho việc này. Họ đóng thêm 500 USD một kì so với mức học phí thông thường, và trợ giúp tài chính thì luôn sẵn có cho những ai không đủ khả năng.          Khuôn viên trường Barrett. Ảnh: AUS          Để được nhận vào học tại Đại học ưu tú Barrett là một quy trình tuyển sinh riêng. Những sinh viên đã đủ điều kiện nhập học tại Đại học Bang Arizona sẽ phải nộp một bộ hồ sơ khác tới Barrett. Bộ hồ sơ này trước tiên gồm bảng điểm trung học, kết quả của những bài kiểm tra tương đương với kì thi cấp quốc gia ở Mỹ (“SAT,”…). Vì những kết quả các kỳ thi này được chấp nhận ở hầu hết các trường đại học, họ không cần phải tham dự thêm kì thi nào nữa. Tuy vậy, ít có khả năng là những sinh viên có điểm số không thuộc nhóm top 25%  lại được nhận. Thứ hai, những thí sinh cần nộp ít nhất hai lá thư từ giáo viên trung học chứng nhận tiềm năng học thuật của họ. Những thư đề cử như vậy được yêu cầu ở hầu hết mọi trường đại học, do vậy, đây cũng không phải công đoạn phải làm thêm đối với các thí sinh khi nộp đơn tới Barrett. Tuy nhiên, những lá thư này được kì vọng đi sâu vào chi tiết và những trường hợp không đưa ra được lí do cụ thể tại sao sinh viên có khả năng thành công sẽ không được người giám tuyển coi trọng nhiều. Cuối cùng, cũng là khâu thực sự đòi hỏi sự đầu tư tăng thêm, đó là tất cả ứng viên cần phải viết một bài luận ứng tuyển nêu rõ mối quan tâm và sở trường của họ, đồng thời làm rõ mục tiêu học tập của mình tại trường đại học  Hơi khác biệt so với thông lệ ở Mỹ, bộ hồ sơ ứng tuyển tại Barrett không chỉ được duyệt bởi cán bộ phụ trách tuyển sinh, mà còn bởi các cán bộ giảng dạy, tất cả những ai muốn đánh giá liệu sinh viên có khả năng tỏa sáng tại đại học ưu tú hay không. Nói chung, quá trình ứng tuyển là rất khó khăn. Nếu tôi có nộp đơn khi còn học trung học, không chắc tôi đã được nhận. Tôi biết điều này bởi tôi là một trong những giáo sư thành viên thẩm định hồ sơ.  Tới đây, độc giả Việt Nam có thể băn khoăn “những chuyện này nói lên đôi điều về giáo dục đại học ở Mỹ, nhưng có liên quan gì tới Việt Nam?”. Và đây là câu trả lời:   Một tầng lớp phụ huynh mới xuất hiện ở Việt Nam thời gian gần đây khá giống với những bậc phụ huynh Mỹ của sinh viên ưu tú. Có thể họ không giàu có bằng, nhưng họ cũng dốc thời gian và nguồn lực đáng kể để đảm bảo con cái mình có được sự giáo dục hiệu quả nhất.  Một tầng lớp sinh viên nổi lên ở Việt Nam yêu cầu một nền giáo dục phát triển khả năng của họ đa dạng và lôi cuốn họ một cách toàn diện hơn.  Xu hướng giáo dục toàn cầu cho thấy trong thế hệ tiếp theo, đại học ưu tú kiểu Mỹ sẽ xuất hiện ở nhiều quốc gia, không chỉ riêng Mỹ.  Để lý giải đầy đủ khả năng áp dụng của đại học ưu tú cho Việt Nam cần phải dừng việc mô tả tại đây và chuyển sang thảo luận về những chuẩn mực định hình nên một đại học ưu tú, cũng như khả năng có thể đạt được những chuẩn mực này trong thực tế.   Không có văn bản nào về lịch sử của đại học ưu tú được ghi lại, do vậy cũng khó xác định đại học ưu tú đầu tiên xuất hiện khi nào. Điều rõ ràng là chúng chỉ mới xuất hiện thời gian gần đây. Barret thành lập năm 1988, và có thể nói tương đối chắc rằng, đại học ưu tú là một phát minh của thập niên 1980, và nở rộ vào thập niên cuối này.        Theo tôi, đại học ưu tú thành công khi họ cung cấp cho sinh viên a) một nhận thức chân thật chứ không hời hợt máy móc về những nguy cơ do kém hiểu biết, và b) một công cụ để vượt qua sự kém hiểu biết này thông qua một hệ thống phong phú các lớp học và dự án học thuật được gắn kết tương hỗ.        Tuy nhiên, trong khi đại học ưu tú là những thể chế tương đối mới, thì khái niệm “ưu tú” đã bắt rễ trong xã hội Mỹ từ rất lâu. Alexis de Tocqueville (1805-59), một trong những người quan sát thấu đáo nhất tình hình xã hội Mỹ, đã lập luận, dân tộc Mỹ, có lẽ do không có tầng lớp quí tộc tồn tại lâu đời, nên có nhu cầu đánh dấu tước hiệu xã hội. Rất nhiều “chương trình ưu tú” ở các trường Mỹ tại tất cả các cấp phần nào cho thấy điều này. Đã nhiều thế hệ người Mỹ sàng lọc các nhóm trẻ và giai tầng đặc biệt xứng đáng với với danh hiệu “ưu tú”. Tóm lại, người Mỹ tin rằng việc sàng lọc ra những sinh viên tài năng sẽ khiến họ thể hiện năng lực tốt hơn. Ý tưởng về đại học ưu tú chỉ là biến thể cuối cùng của một nếp nghĩ cố hữu.  Nhưng những đại học ưu tú làm thế nào để lọc ra những sinh viên tài năng này, không phải theo lối chạy đua mang tính phong trào (thật đơn giản nếu muốn làm theo cách này), mà thực sự trên phương diện tri thức và trí tuệ? Theo tôi, đáp án cho câu hỏi này cũng là câu trả lời phù hợp nhất với tình hình hiện nay ở Việt Nam. Đại học ưu tú thành công khi họ cung cấp cho sinh viên a) một nhận thức chân thật chứ không hời hợt máy móc về những nguy cơ do kém hiểu biết, và b) một công cụ để vượt qua sự kém hiểu biết này thông qua một hệ thống phong phú các lớp học và dự án học thuật được gắn kết tương hỗ. Tôi sẽ giải thích về hai điều này ngay dưới đây.  Thứ nhất, trong khi mọi người có thể thấy sự kém hiểu biết ở người khác là đáng trách, họ thường không nhận ra vấn đề này ở bản thân. Một đại học ưu tú tốt có thể cung cấp sự tập trung và nguồn lực cần thiết cho phép sinh viên hiểu tường tận tại sao sự hiểu biết của họ vẫn chưa hoàn thiện và cần phải làm gì để khắc phục điều này.  Thứ hai, đại học cũng không khác những thể chế khác trong thói trì trệ cưỡng lại cải cách. Một đại học ưu tú tốt có thể đào tạo sinh viên nghĩ rộng hơn những đáp án chuẩn thông thường trong ngành học của mình. Sinh viên ở đại học ưu tú phải học rất nhiều khóa giảng dạy bởi các giáo sư khác nhau. Mục đích của việc này nhằm đảm bảo họ học để vượt qua nhiều loại vô tri thay vì chỉ tập trung khắc phục một loại vô tri này mà bỏ qua những loại khác.  Những lí tưởng này liệu có thể thực hiện trong thực tế? Câu trả lời là có, nhưng chỉ một phần mà thôi. Sẽ cần một bài luận nữa lý giải tại sao đại học ưu tú không thành công toàn diện, trong đó sẽ thảo luận về những vấn đề của xã hội Mỹ đương đại. Tuy nhiên, tại thời điểm này, có thể nhận thấy phần lớn sinh viên Mỹ thực sự hưởng lợi từ quãng thời gian theo học tại đại học ưu tú, và điều này gợi ra một vài mô hình tích cực cho Việt Nam.  Kết luận dưới đây tóm lược những hình mẫu tích cực này:   Việt Nam đã có một lớp các bậc phụ huynh, giống như bên Mỹ, đang dốc một nguồn lực đáng kể để đảm bảo con cái mình được hưởng lợi từ giáo dục. Những nỗ lực này nhìn chung là tích cực, tuy nhiên, các bậc phụ huynh cần những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu nếu muốn mang đến cho con cái mình những giá trị tăng thêm trong việc học tập. Hiểu được kiểu đại học ưu tú Việt Nam sẽ như thế nào và biết cách thức chúng vận hành sẽ trợ giúp đắc lực cho những đối tượng đang nuôi dạy một phần đáng kể những sinh viên tài năng và hoài bão nhất của đất nước.  Hiện tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều người trẻ đang cố gắng du học nước ngoài hoặc có khát khao đó. Những bằng cấp/học vị ngoại quốc này cung cấp nhiều lợi thế cho sinh viên (và Việt Nam), nhưng tồn tại hai vấn đề cố hữu. Đầu tiên, và dễ nhận thấy nhất: nó lái sự tập trung của sinh viên khỏi Việt Nam. Thứ hai, quan trọng không kém, nhưng khó nhận thấy hơn, chúng khiến sinh viên dụng nhiều công sức để nghĩ làm sao kiếm được tấm bằng nước ngoài, hơn là dành công sức cho nội dung thực sự của bằng cấp đó. Đại học ưu tú ở Việt Nam có thể không giải quyết triệt để vấn đề này, tuy vậy nó sẽ: a) tạo cho sinh viên cảm giác trường đại học của họ không bị tụt hậu quá xa so với thế giới và b) giáo dục sinh viên, trong các đại học   Cuối cùng, có một xu hướng giáo dục đại học toàn cầu mà theo tôi sẽ khiến trong vòng hai mươi năm tới hầu như mọi quốc gia sẽ có một hình thái tương tự như đại học ưu tú trong các trường đại học của mình. Xu hướng đó là, cứ mỗi năm lại có thêm những ngành học, lĩnh vực nghiên cứu, công nghệ, và kỹ thuật mới được đưa vào các trường đại học. Chẳng ai có khả năng nắm bắt kịp được với tất cả. Chính vì vậy, điều ngày càng quan trọng là việc cung cấp cho sinh viên những hiểu biết tổng quan về mục tiêu học vấn của mình. Các đại học ưu tú có thể cung cấp những hiểu biết tổng quan này mà không gây trở ngại cho việc theo đuổi chuyên ngành riêng của từng sinh viên. Về khía cạnh này, những khóa học bắt buộc ở các đại học ưu tú về các “Trước tác” và “tư duy phê phán” đảm bảo rằng sinh viên sẽ không lạc đường trên hành trình học vấn của mình.  Nếu tất cả những điều này là đúng, vậy đại học ưu tú kiểu Việt Nam sẽ như thế nào? Chúng sẽ học được gì từ những ưu, khuyết điểm của hệ thống ở Mỹ? Chúng sẽ đóng vai trò nào trong tổng thể hệ thống giáo dục và xã hội? Để trả lời những câu hỏi trên, cần phải có sự thảo luận sâu hơn, và tôi hi vọng bài viết này đã cung cấp những tư liệu đáng suy ngẫm.  Thu Hiền dịch  ————  *ĐH Bang Arizona  ** Nguyên văn: “Honors College”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học vì lợi nhuận tại Mỹ: Vai trò và thách thức      Các trường đại học vì lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong thế kỷ 21, nếu không có chúng thì nước Mỹ không thể đạt được tỷ lệ người có bằng đại học như mong muốn. Vậy cần quan tâm đến những vấn đề gì để đảm bảo rằng các trường đại học tư vì lợi nhuận có thể mở rộng mà vẫn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức của ngành giáo dục?    Sự phát triển của đại học vì lợi nhuận tại Mỹ     Mặc dù các trường đại học và cao đẳng vì lợi nhuận ở Mỹ đã có một lịch sử lâu dài, chúng chỉ mới bắt đầu được nhiều người chú ý từ thập niên trước. Trong những năm đầu thế kỷ 20, các trường cao đẳng nghề tồn tại chủ yếu ở khu vực đô thị để đào tạo những ngành nghề cụ thể như thợ sửa ống nước, quản lý nhà hàng, nghệ thuật và thiết kế, chăm sóc sắc đẹp, hỗ trợ pháp lý… Các trường này phần lớn là trường nhỏ, chỉ có vài lớp học trong các tòa nhà thuê mướn, với học phí tương đối thấp.  Trong thập niên 1960, các trường cao đẳng nghề vẫn chỉ là một phần nhỏ trong nền giáo dục đại học Mỹ, chiếm chưa đến 0,3% tổng số sinh viên. Thật ra, thuật ngữ “đại học/cao đẳng vì lợi nhuận” khi ấy vẫn chưa được sử dụng; thay vào đó, chúng được gọi là trường cao đẳng nghề hoặc cao đẳng kỹ thuật. Trong vài thập niên sau đó, loại trường này vẫn thuộc sở hữu tư nhân, ít bị dư luận săm soi, đa số không được kiểm định, và cũng chẳng tìm kiếm sự tài trợ của liên bang hoặc tiểu bang.  Tình hình bắt đầu thay đổi với sự ra đời của Đại học Phoenix vào năm 1976, hiện nay là cơ sở giáo dục sau trung học lớn thứ hai của Mỹ, với hơn 400.000 sinh viên. Đại học Phoenix và các trường tư vì lợi nhuận khác bắt đầu thử nghiệm quá trình thay đổi ý nghĩa và mục đích của giáo dục đại học bằng nhiều cách khác nhau. Người học là những người đã đi làm và học bán thời gian được xem như nguồn khách hàng tiềm năng khổng lồ vốn bị các trường đại học truyền thống bỏ qua. Thay vì phải chọn trong rất nhiều môn học không có lợi ích nghề nghiệp tương lai rõ ràng, họ chỉ cần chọn một số môn thực tế, được tổ chức giảng dạy tại thời gian và địa điểm thuận tiện, theo một cách hiệu quả và tập trung cao độ.            Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, nếu tính cả những chương trình chỉ cấp chứng chỉ thay vì bằng thì thị phần của các trường vì lợi nhuận được ước tính là khoảng 12%. Các trường này cũng cung cấp nhiều khóa học trực tuyến hơn các trường đại học công hoặc đại học tư phi lợi nhuận và đang phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục sau trung học.        Vai trò của giảng viên tại các trường vì lợi nhuận cũng rất khác. Biên chế chính thức, quyền tham gia các hoạt động quản trị, và quyền tự do học thuật hoàn toàn vắng mặt. Trong khi tại các đại học truyền thống, giảng viên có toàn quyền tự xây dựng nội dung môn học, thì tại các trường đại học tư vì lợi nhuận, nội dung môn học được chuẩn hóa và phong cách giảng dạy của các giảng viên thường là giống nhau.  Việc được kiểm định trở thành một chuẩn mực quan trọng đối với nhiều cơ sở giáo dục vì lợi nhuận. Điều này không chỉ có ý nghĩa như một sự công nhận về chất lượng, mà còn cho phép các sinh viên nghèo nhận hỗ trợ tài chính của liên bang và tiểu bang. Không có những hỗ trợ tài chính đó thì sự phát triển của trường vì lợi nhuận chắc chắn sẽ không thể cao như hiện nay.  Đến cuối những năm 2010, nếu tính cả những chương trình chỉ cấp chứng chỉ thay cho bằng tốt nghiệp thì thị phần của các trường vì lợi nhuận ước tính chiếm khoảng 12%. Các trường này cũng cung cấp nhiều khóa học trực tuyến hơn các trường đại học công hoặc đại học tư phi lợi nhuận và đang phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục sau trung học.  Thương mại hóa giáo dục và những mặt trái  Cho dù khách hàng hài lòng, nhưng một công ty kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà không tạo ra được doanh thu thì cuối cùng nó cũng không thể tồn tại. Vì vậy, trong khoảng ¼ thế kỷ vừa qua, các cơ sở giáo dục đại học vì lợi nhuận đã nghĩ ra các cách để tạo doanh thu.  Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tấm bằng tốt nghiệp trung học không còn đủ để đảm bảo một cuộc sống trung lưu, và việc đầu tư học sau trung học sẽ đem lại những mức lương cao hơn. Với sự thay đổi nhận thức về giá trị của giáo dục sau trung học trong xã hội, các trường vì lợi nhuận đã xác định được phân khúc thị trường mới này, nhưng họ cũng hiểu rằng cần phải tiếp thị sản phẩm để biến tiềm năng đó thành hiện thực.   Để cạnh tranh với các trường công lập và phi lợi nhuận, các trường vì lợi nhuận phải thu hút một thị trường mới là những người chưa bao giờ nghĩ đến việc bước chân vào trường đại học, như những người đã đi làm hoặc thế hệ học đại học đầu tiên từ gia đình thu nhập thấp.  Các trường vì lợi nhuận còn áp dụng những cách tuyển sinh mà nhiều người cho là kỳ lạ, thậm chí là vô đạo đức hoặc trái pháp luật, ví dụ như đẩy nhanh tiến độ tuyển sinh. Họ tìm khách hàng tiềm năng, thuyết phục khách hàng về giá trị của sản phẩm, giải thích các chi phí và thủ tục tài chính, và giục giã khách hàng đăng ký nhập học. Việc học có thể bắt đầu chỉ vài ngày sau đó.  Vấn đề phát sinh khi người tiêu dùng không nhận thức được chi phí thực của sản phẩm, bao gồm tất cả những chi phí sẽ phát sinh để hoàn tất việc học, hoặc những gì họ sẽ thu được sau khi tốt nghiệp. Nếu các trường vì lợi nhuận cung cấp một sản phẩm có giá trị tương đương hoặc thấp hơn mà chi phí lại cao hơn so với các trường phi lợi nhuận thì hẳn là cơ chế thị trường sẽ tự giải quyết vấn đề đó [đào thải những trường vì lợi nhuận chất lượng thấp hơn]. Tuy nhiên, cơ chế thị trường chỉ có tác dụng nếu người tiêu dùng được thông tin đầy đủ về chi phí và lợi ích của sản phẩm.  Các cơ quan liên bang và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cũng thường cáo buộc rằng khoản nợ học tập đối với nhiều người học là quá mức chịu đựng khi so mức lương mà họ được nhận với tấm bằng  được trao.  Tuy các trường vì lợi nhuận thường lập luận rằng việc đưa thông tin sai lệch là rất hiếm nhưng thực tế, Đại học Phoenix và những trường tương tự đều đã từng bị cáo buộc về hành vi sai trái.   Vai trò và quy mô của khu vực vì lợi nhuận  Với tốc độ phát triển cũng như những vấn đề hiện nay của khối trường đại học tư vì lợi nhuận, chúng ta cần một quy mô như thế nào cho khu vực này để đạt được sự tối ưu?   Nhu cầu học tập sau trung học sẽ giúp xác định quy mô của giáo dục đại học vì lợi nhuận.  Khi chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp trong phạm vi một quốc gia sang nền kinh tế tri thức toàn cầu, nước Mỹ cần tỷ lệ người có học vấn cao hơn. Vì vậy, Tổng thống Mỹ đưa ra mục tiêu nước này sẽ lại vươn lên đứng đầu nhóm các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học trong dân số. Để đạt mục tiêu này, ước tính, trong vòng 10 năm tới, nước Mỹ cần tăng thêm mỗi năm một triệu sinh viên. Nếu không có sự tham gia đáng kể của nhóm những người trưởng thành đang đi làm mà chưa có bằng đại học thì mục tiêu đó là bất khả thi.          Trường tư phi lợi nhuận thường không quan tâm đáp ứng các chính sách của nhà nước và làm ngơ trước sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành học có định hướng nghề nghiệp rõ ràng trong bối cảnh đầy rẫy thất nghiệp. Còn các trường công lập thì đã hoạt động hết công suất với cấu trúc hiện nay và đang phải vật lộn với sự cắt giảm ngân sách và những bất ổn trong tổ chức của mình. Như vậy, dù muốn hay không thì nước Mỹ vẫn cần khu vực vì lợi nhuận để đảm bảo sự gia tăng tham gia vào giáo dục đại học nhằm phát triển kinh tế.        Các trường vì lợi nhuận đang tìm cách đáp ứng thách thức tăng số lượng người tốt nghiệp đại học mạnh mẽ hơn bất cứ loại trường nào khác. Trường tư phi lợi nhuận thường không quan tâm đáp ứng các chính sách của nhà nước và làm ngơ trước sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành học có định hướng nghề nghiệp rõ ràng trong bối cảnh đầy rẫy thất nghiệp. Còn các trường công lập thì đã hoạt động hết công suất với cấu trúc hiện nay và đang phải vật lộn với sự cắt giảm ngân sách cùng những bất ổn trong tổ chức của mình. Dù muốn hay không thì nước Mỹ vẫn cần khu vực vì lợi nhuận tham gia vào lĩnh vực giáo dục đại học nhằm phát triển kinh tế. Vậy cần quan tâm đến những điều gì để đảm bảo rằng các trường đại học tư vì lợi nhuận có thể mở rộng mà vẫn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức của ngành giáo dục?  Những cách làm đúng đắn  Đảm bảo tuyển sinh có đạo đức  Để được tiểu bang cấp phép hoạt động, có thể yêu cầu nhân viên tư vấn của các trường phải có chứng chỉ để đảm bảo họ hiểu rõ các tiêu chuẩn đạo đức trong cách thực hành tuyển sinh. Bất kỳ trường nào cung cấp thông tin sai lệch trên website hoặc lừa gạt trong quảng cáo đều phải bị vạch rõ, đồng thời bị phạt tiền và cuối cùng có thể bị cơ quan bảo vệ người tiêu dùng của tiểu bang đóng cửa. Tuy nhiên hiện còn những tiểu bang hầu như không có quy định về giấy phép mở trường, vì vậy chính quyền liên bang có thể phải làm việc thông qua các tổ chức kiểm định khu vực để đảm bảo rằng nhân viên tuyển sinh của các trường được huấn luyện thích hợp.    Thông tin cho người học về những gánh nặng tài chính  Chính phủ liên bang cần phải đảm bảo rằng người học hiểu biết đầy đủ về nghĩa vụ trả nợ khoản vay học tập của mình khi quyết định đăng ký học. Vai trò của chính phủ là vừa giáo dục người tiêu dùng vừa ngăn chặn các hành vi lừa đảo.  Các câu hỏi lớn là, sinh viên cần được cung cấp những thông tin gì khi họ nộp đơn xin vay hỗ trợ học tập của liên bang, và ai sẽ có nghĩa vụ cung cấp những thông tin này cho họ?   Mặc dù tất cả các trường đều được yêu cầu tổ chức những buổi hướng dẫn về tài chính cho sinh viên trước khi đăng ký nhập học, nhưng chỉ một đợt hướng dẫn thôi thì hiệu quả rất nhỏ và khó có thể đánh giá. Vì vậy, chính quyền tiểu bang và liên bang có trách nhiệm cung cấp các chương trình hướng dẫn người học về các khoản vay, học bổng, khoản nợ, v.v.  Cuối cùng, nếu sinh viên của một trường bị mắc nợ quá nhiều thì nhiệm vụ của chính quyền liên bang và tiểu bang là truất quyền được hỗ trợ và vay nợ học tập của trường ấy. Các tiểu bang cũng có thể giám sát các khoản nợ của người học tại từng trường, khi một trường vượt quá mức nợ trung bình thì sẽ nhận được thư cảnh báo. Về lâu dài, chính các tiểu bang có thể chấm dứt hoạt động của các công ty làm việc gian lận.  Đào tạo kỹ năng cho những công việc xứng đáng  Chưa có vấn đề nào liên quan đến đại học tư lại gây tranh cãi bằng quy định sinh viên tốt nghiệp phải có việc làm xứng đáng. Người thì cho rằng các trường phải chịu trách nhiệm về loại công việc mà người học sẽ kiếm được sau khi ra trường, người thì lại không đồng ý. Trách nhiệm trong việc tìm được công việc cho mình chủ yếu là của người tốt nghiệp. Mặc dù vậy, các trường không được quyền làm cho người học tin rằng họ sẽ tìm được việc khi trên thực tế thị trường việc làm đang khó khăn, hoặc hứa hẹn những công việc có mức lương cao hơn nhiều so với công việc người học có khả năng nhận được.  Các tổ chức kiểm định cần phải đảm bảo rằng các trường cung cấp cho người học những thông tin trung thực về công việc tiềm năng mà họ có thể kiếm được sau khi hoàn tất việc học. Tuy nhiên, “việc làm xứng đáng” cũng phải được xác định dựa trên mức lương trong một khoảng thời gian dài chứ không thể xác định trên mức lương của công việc đầu tiên ngay sau khi tốt nghiệp.  Những mối liên hệ qua lại chặt chẽ giữa người học, nhà trường, và môi trường kinh tế bên ngoài hiện nay không còn giống như cách đây vài thập niên. Chúng ta không còn có thể để mặc cho sinh viên tự quyết định ngành học rồi hy vọng rằng sau này họ thế nào cũng tìm được việc. Tuy không nên đòi hỏi các trường đại học chỉ nhằm vào việc đào tạo nhân lực cho nền kinh tế, nhưng các trường cũng phải có vai trò thiết yếu trong việc cung cấp cho người học những kỹ năng ở trình độ cao và nghề nghiệp với mức lương xứng đáng.  Vai trò điều tiết của chính phủ   Trong vài năm qua, khối trường đại học tư vì lợi nhuận đã phản ứng lại với hầu hết các quy định mà Bộ Giáo dục đề xuất và giữ triết lý về tự do thương mại của mình. Giả định của họ là thị trường có cơ chế tự điều chỉnh và nó sẽ giải quyết mọi vấn đề; các trường tai tiếng sẽ tự động bị loại khỏi cuộc chơi. Theo quan điểm này, chính phủ hầu như không có vai trò gì ngoài việc trợ cấp cho người học để tạo thuận lợi cho sự phát triển của các công ty.  Tuy nhiên, nếu muốn tăng số lượng người tốt nghiệp đại học thì chúng ta phải giữ cho khu vực giáo dục đại học có sự cạnh tranh lành mạnh. Điều này sẽ không thể xảy ra nếu đề ra các quy định quá khắt khe khiến các trường tư vì lợi nhuận không hoạt động được, cũng như nếu chúng ta cho rằng cơ chế thị trường sẽ tự giải quyết mọi vấn đề. Để khối trường tư vì lợi nhuận hoạt động tốt thì cần có những chính sách tổng quát sau đây.  Trước hết, cần phải đưa khối trường tư vì lợi nhuận vào trong kế hoạch phát triển hệ thống giáo dục của tiểu bang – có thể thêm vào danh sách các trường đang được điều phối bởi các Ủy ban Giáo dục đại học của tiểu bang, hoặc thông qua những hội đồng riêng biệt khác. Như vậy, tất cả mọi loại hình trường sẽ phải cung cấp thông tin cho cả người tiêu dùng lẫn người hoạch định chính sách, cụ thể là các dữ liệu về chi phí, tỷ lệ tiếp tục học, tỷ lệ tốt nghiệp và việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.  Một số tiểu bang cũng cần tăng cường năng lực quản lý các trường đại học tư vì lợi nhuận, và cần phải có cơ chế hợp tác với nhau để quản lý các trường hoạt động trong khu vực và trên toàn quốc, cũng như hỗ trợ sự tăng trưởng hợp pháp của chúng.  Mặc dù giáo dục và lợi nhuận không hẳn là không thể đi được với nhau, nhưng việc giáo dục các công dân của một đất nước không thể coi giống như việc sản xuất hàng hóa được. Giáo dục đại học, dù là phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận, đều là tối quan trọng cho tương lai của đất nước.  Vũ Thị Phương Anh lược dịch bài viết của William G. Tierney, giáo sư về Giáo dục đại học tại Đại học Nam California, Mỹ  http://www.changemag.org/Archives/Back%20Issues/2011/November-December%202011/too-big-full.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Việt Nam cần 10 năm trở thành đẳng cấp quốc tế?      Một số đại học Việt Nam c&#243; tham vọng trở th&#224;nh đại học đẳng cấp quốc tế (world class university). Nhưng thời gian họ đặt ra chỉ 20 năm (thật ra th&#236; chỉ 10 năm). Thật kh&#243; tưởng tượng nổi trong v&#242;ng 10 năm m&#224; đại học VN trở th&#224;nh đẳng cấp quốc tế được, trong khi nghi&#234;n cứu khoa học tại c&#225;c đại học c&#242;n qu&#225; yếu về lượng v&#224; k&#233;m về phẩm.       Nhìn qua bảng số liệu * của GS Phạm Duy Hiển mà buồn rầu. Chỉ Đại học Chulalongkorn (thuộc loại xoàng của thế giới) cũng đã hơn mình đến 14 lần, và hơn về nội lực 36 lần. Vậy thì làm sao chúng ta đuổi kịp họ? Thật ra, every thing is possible (mọi việc đều có thể), chúng ta vẫn có thể đuổi kịp họ nếu chịu khó làm việc tốt hơn và đầu tư có hiệu quả hơn. Chỉ cần yêu cầu mỗi giảng viên phải có 1 bài báo trong vòng 2 năm, thì một năm chúng ta vẫn có hàng trăm bài báo khoa học thôi. Nhưng muốn có bài báo thì cần phải có đầu tư cho nghiên cứu, cần phải có người hướng dẫn tốt.   *) Thành tích công bố quốc tế năm 2004 của ĐH KHTN Hà Nội so với ĐH Chulalongkorn, Bangkok.                                 Tổng số bài báo quốc tế lấy địa chỉ từ hai trường      Số bài báo do người Thái hoặc người Việt làm   corresponding author           ĐH KHTN Hà Nội      33      10          ĐH Chulalongkorn, Bangkok      468      363          Số lần đội bạn nhiều hơn ta      14      36          —  /* Style Definitions */  p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal  {mso-style-parent:””;  margin:0cm;  margin-bottom:.0001pt;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:12.0pt;  font-family:”Times New Roman”;  mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;}  p  {mso-margin-top-alt:auto;  margin-right:0cm;  mso-margin-bottom-alt:auto;  margin-left:0cm;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:12.0pt;  font-family:”Times New Roman”;  mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;}  @page Section1  {size:612.0pt 792.0pt;  margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;  mso-header-margin:36.0pt;  mso-footer-margin:36.0pt;  mso-paper-source:0;}  div.Section1  {page:Section1;}  -->                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học Việt-Nhật: Hướng tới sự khai phóng và bền vững      Năm 2006, một nhóm chính trị gia thuộc Liên minh Nghị sỹ Hữu nghị Nhật – Việt lần đầu đề xuất ý tưởng về trường Đại học Việt-Nhật. Nhóm đã kiên trì vận động cho ý tưởng này và đến năm 2014, Quyết định về việc thành lập Trường Đại học Việt-Nhật (VJU) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành. Trong khi cơ sở vật chất đang dần hình thành, mô hình quản trị và quy trình đào tạo đang được xây dựng thì đường hướng giáo dục của trường đã rất rõ ràng: khai phóng và bền vững.      Một giờ học trong chương trình Quản trị kinh doanh ở Đại học Việt-Nhật với hai giáo sư từ Đại học quốc lập Yokohama. Nguồn: Đại học Việt-Nhật.  Năm 2016, khi Đại học Việt-Nhật tuyển sinh khóa đầu tiên, Nguyễn Quỳnh Nga nộp hồ sơ và trúng tuyển chương trình thạc sĩ Chính sách công tại đây. Thoạt đầu, chương trình học đối với cô khá căng thẳng do các giảng viên “không bao giờ để học viên nhàn nhã”. “Thời gian trên lớp kéo dài 8 tiếng, thậm chí 10 tiếng một ngày không phải chuyện lạ ở trường. Bài tập nhiều và dồn dập. Tới hạn là phải nộp bài, quá hạn thì không được tính điểm,” Nga kể. Nhưng cô không mất nhiều thời gian để tìm thấy niềm hào hứng trong môi trường học tập mới với các hình thức học hết sức đa dạng: từ tranh biện, thuyết trình, thảo luận nhóm đến hội thảo. “Hồi mới chân ướt chân ráo vào trường, tôi đã được giao cho dựng một buổi thảo luận mô phỏng dựa trên trường hợp nội chiến Sudan. Lớp chia thành bốn nhóm, gồm phe chính phủ, phe nổi dậy, và hai nhóm thuộc Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi có một ngày, từ chiều hôm trước tới chiều hôm sau, để chuẩn bị nội dung. Lớp lúc đó còn chưa quen nhau, nhưng nhờ có buổi thảo luận nhóm mà tập hợp lại với nhau rất nhanh,” Nga nhớ lại. Từng tốt nghiệp ngành Kinh tế Quốc tế và bằng kép Ngôn ngữ Anh tại Đại học Kinh tế và Đại học Ngoại ngữ, đều thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, cô đã khá quen với cách học qua tranh biện, thảo luận nhóm và hội thảo nhưng cô so sánh, “do quy mô lớp lớn nên không thể sâu như ở đây được”.  Bên cạnh việc chú trọng nâng cao năng lực thuyết trình và làm việc nhóm qua các cách học kể trên, Đại học Việt-Nhật còn đề cao đạo đức khoa học từ những việc đơn giản như yêu cầu sinh viên thực hành trên những phần mềm miễn phí thông dụng thay vì dùng phần mềm bẻ khóa. “Vấn đề tôn trọng bản quyền, sở hữu trí tuệ, không sao chép đạo văn liên tục được nhắc lại ở các môn học hoặc trở thành chủ đề nói chuyện tại các buổi sinh hoạt ngoại khoá. Bản thân thầy Hiệu trưởng cũng có lời nhắn gửi học viên về những vấn đề này,” Nga cho biết.  Một điều nữa khiến Nga hết sức hứng thú với việc học là mỗi môn thường có hai giảng viên đứng lớp, có khi song song một thầy Việt một thầy Nhật, cung cấp góc nhìn riêng của hai bên “Điều này cho phép chúng tôi tiếp cận và phân tích các vấn đề dưới nhiều góc độ, chứ không phải chỉ là qua một cách nhìn duy nhất.” Còn học liệu bao gồm các giáo trình chính thức và cả các bài nghiên cứu, thậm chí là tài liệu do các giảng viên soạn riêng cho lớp.  Định hướng giáo dục khai phóng của trường không chỉ thể hiện qua việc cung cấp nhiều cách học và đề cao sự trau dồi các kỹ năng, phẩm chất cá nhân, mà còn thể hiện ở việc cung cấp cho học viên một nền tảng kiến thức rộng, có tính quốc tế hóa cao. Năm 2016, trường tuyển sinh khóa đầu cho sáu chương trình đào tạo thạc sĩ: Chính sách công, Công nghệ nano, Khu vực học, Kỹ thuật hạ tầng, Kỹ thuật môi trường, Quản trị kinh doanh. Mỗi chương trình đào tạo đều liên kết với ít nhất một trường đại học ở Nhật Bản, cả công và tư, như: Đại học Tokyo, Đại học Osaka, Đại học Tsukuba, Đại học Ritsumeikan, và Đại học Yokohama, theo đó nội dung đào tạo phần lớn dựa trên chương trình do các đại học đối tác cung cấp và 50% đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy cũng đến từ các trường đối tác.  Ở mỗi chương trình đào tạo, bên cạnh các môn học chuyên sâu bắt buộc, học viên được tự chọn hàng chục môn học khác, mang lại cho họ cơ hội tiếp cận nhiều lĩnh vực học thuật cũng như chuẩn bị cho họ tầm nhìn liên ngành. Chẳng hạn, chương trình Chính sách công có các môn tự chọn như Thương mại quốc tế, Ngăn ngừa thảm họa; chương trình Công nghệ Nano có Kỹ thuật hóa sinh, Hóa học vô cơ/hữu cơ nâng cao; chương trình Quản trị doanh nghiệp có Chính phủ và kinh tế thị trường, Phân tích định tính, Phân tích định lượng …; và ở tất cả các chương trình đều có môn tự chọn là tiếng Anh học thuật.  TS Nguyễn Hoàng Oanh, Phó Hiệu trưởng phụ trách Đào tạo của Đại học Việt–Nhật, cho biết, theo quy định, học viên chỉ cần hoàn thành một số lượng tín chỉ nhất định trong số các môn học tự chọn, nhưng nếu muốn, họ có thể học thêm bất kỳ tín chỉ nào mà không phải đóng thêm học phí.  “Triết lý giáo dục khai phóng còn được thể hiện ở ý tưởng thiết kế tổ chức khoa/viện của Đại học Việt-Nhật từ bậc cử nhân lên thạc sĩ. Hiện tại, Đại học Việt-Nhật đang thảo luận tiến tới trình Hội đồng trường phê duyệt mô hình tổ chức khoa (Faculty hoặc College), cho phép sinh viên ở bậc đại học của trường được tự do lựa chọn nhiều môn học ở một-hai năm đại cương đầu tiên, trước khi đi sâu vào lựa chọn một lĩnh vực cụ thể,” PGS. TS Vũ Anh Dũng, Phó Hiệu trưởng thường trực Đại học Việt-Nhật, trao đổi với Tia Sáng.  Một định hướng khác chi phối mạnh mẽ nội dung đào tạo ở Đại học Việt-Nhật là giáo dục bền vững. Khoa học bền vững – môn khoa học xây dựng hệ tri thức mới về bản chất sự bền vững, nhận diện các rủi ro và tìm các giải pháp khả thi giải quyết các vấn đề đang và sẽ đe dọa sự phát triển bền vững của con người – có mặt trong nhóm các môn bắt buộc của tất cả sáu chương trình đào tạo. “Giáo dục bền vững không chỉ là một vấn đề nóng mà còn là yêu cầu tất yếu trên thế giới hiện nay. Trong các học phần về Khoa học bền vững, các học viên sẽ được học những kiến thức cơ bản về cả hai mảng khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Xuyên suốt chương trình học, học viên sẽ được trang bị kiến thức cũng như đi sâu nghiên cứu các vấn đề như kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, năng lượng mới, các chính sách phát triển bền vững cả về môi trường, kinh tế và xã hội”, TS Nguyễn Thùy Anh, Giám đốc chương trình Chính sách công, cho biết.  Còn theo học viên Nguyễn Quỳnh Nga, “Chương trình học luôn nhấn mạnh tới 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) mà Liên Hiệp Quốc nêu ra, điều mà chưa bao giờ ở các bậc học dưới, tôi được nghe và tập trung vào như khi ở Đại học Việt-Nhật.”  Những hỗ trợ từ hai chính phủ  Sau khi Quyết định về việc thành lập đã được ban hành, Đại học Việt-Nhật tiếp tục trình Thủ tướng thông qua Quy chế Tổ chức và hoạt động đặc thù, bảo đảm quyền tự chủ ở mức cao cho nhà trường, PGS. TS Vũ Anh Dũng cho biết. Theo đó, về tổ chức, Đại học Việt-Nhật được chủ động lựa chọn mô hình quản trị. Hiện cả hai phía Việt Nam và Nhật Bản đang thảo luận để triển khai trong thời gian tới mô hình “tam quyền phân lập”, trong đó Hội đồng trường (dự kiến khoảng 20 người, trong thành phần có cả các nhà quản trị đại học) chịu trách nhiệm ra những quyết sách lớn về phương hướng hoạt động và có chức năng thu hút các nguồn lực xã hội cho sự phát triển trường; Ban giám hiệu chịu trách nhiệm triển khai các quyết sách do Hội đồng trường đề ra; còn Ban kiểm soát (gồm khoảng 3-5 người), là điểm mới trong cơ chế quản trị này, hướng tới kiểm soát hoạt động của cả Hội đồng trường và Ban Giám hiệu. Giống như ở mảng đào tạo, mảng quản trị cũng là sự chia sẻ nhân lực đồng đều giữa hai bên Việt – Nhật.  Về tài chính, “trường hướng tới được tự chủ thu và chi, chẳng hạn như thu học phí theo chất lượng đào tạo, hay được phép tự đưa ra các chương trình đào tạo mũi nhọn, phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội, không nhất thiết phải nằm trong danh mục các ngành học mà Bộ GD&ĐT đã ban hành,” PGS. TS Vũ Anh Dũng nói với Tia Sáng.  Học phí cho một chương trình đào tạo thạc sĩ của trường là 75 triệu đồng mà theo PGS. TS Vũ Anh Dũng, “Để đảm bảo chất lượng như hiện nay (điều kiện cơ sở vật chất hiện đại, không quá 20 học viên/lớp, đội ngũ giáo sư đến từ các trường đại học hàng đầu Nhật Bản tham gia giảng dạy…) thì mức thu học phí như vậy có thể coi là rất thấp so với mức chi phí trường đang đầu tư”. Cụ thể, anh cho biết, chi phí đào tạo cho mỗi học viên thực tế vào khoảng 340 triệu (nếu bao gồm cả khoản kinh phí hỗ trợ học viên đi thực tập ba tháng tại Nhật Bản trị giá 110 triệu đồng/suất, khoảng 50% số học viên mỗi khóa được nhận khoản hỗ trợ này). Như vậy, có thể nói mức học phí hiện nay ở Đại học Việt-Nhật đang được hỗ trợ đến 80%.  Đại học Việt – Nhật hiện chưa có cơ sở chính thức mà tạm thời ngụ trong ba tầng của một tòa nhà ở Khu đô thị Mỹ Đình 1. Gọi là tạm thời nhưng điều kiện về không gian lên lớp, không gian tự học, thiết bị hỗ trợ học trực tuyến ở đây thật sự đáng mơ ước với bất kỳ sinh viên trường công nào, mặc dù thư viện của trường dường như chưa tập hợp được số đầu sách đa dạng như học viên mong muốn. Trường cũng mở cửa từ 8 giờ sáng đến 10 giờ tối, tạo điều kiện tối đa về môi trường tự học, tự nghiên cứu cho các học viên. Trong vòng tám năm tới, dự kiến, Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ Việt Nam sẽ đầu tư tổng cộng hơn 300 triệu USD cho việc hoàn thiện cơ sở chính thức của trường trên diện tích 75ha tại hai địa điểm: Khu Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc (hoạt động đào tạo) và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (các trung tâm nghiên cứu triển khai và hợp tác doanh nghiệp), với diện tích sàn xây dựng đạt 25 m2/sinh viên theo đúng tiêu chuẩn quốc tế. Đây sẽ là nơi hội tụ những người trẻ “có động lực và ước vọng cao xa” để cùng nhau xây dựng một ngôi trường “hình mẫu chuẩn mực cho cả Việt Nam và Nhật Bản” như lời kêu gọi của Hiệu trưởng Furuta Motoo, người có hơn 40 năm nghiên cứu văn hóa Việt Nam và nói tiếng Việt như người Việt.  Đang có những điều kiện thuận lợi cơ bản để bắt tay vào xây dựng “một trường đại học nghiên cứu xuất sắc ở châu Á”, vậy những nhà quản lý của trường có phải chịu sức ép nào hay không? Tất nhiên, các chỉ tiêu, tiến độ được công bố công khai đang tạo ra những sức ép không nhỏ, nhưng bên cạnh đó, còn có một thôi thúc khác, như TS Nguyễn Hoàng Oanh chia sẻ, “Trong rất nhiều trường hợp, lòng tin được xây dựng trong quá trình hợp tác giữa hai bên. Nhưng với người Nhật thì khác, họ phải cảm thấy tin tưởng thì mới bắt tay vào hợp tác”, hàm ý rằng, mỗi cá nhân gắn bó với nhà trường đều có phần trách nhiệm giữ cho lòng tin đó giữa hai bên không bị suy xuyển.  Một số mốc tiến độ của Đại học Việt – Nhật: Giai đoạn 2016- 2018: Mở các chương trình đào tạo thạc sĩ với quy mô tuyển sinh từ 70 – 120 học viên. Phát triển thêm những ngành mới như Khoa học chính trị và lãnh đạo, Khoa học Thủy sản, Biến đổi khí hậu. Giai đoạn 2019 – 2022: Tổ chức đào tạo tiến sỹ; phát triển nhanh các chương trình đào tạo đại học, thạc sỹ (như Khoa học Vũ trụ, Năng lượng mới…). Đảm bảo mỗi khoa/viện có đủ ba bậc đào tạo từ cử nhân/kỹ sư đến thạc sỹ, tiến sỹ. Giai đoạn 2022-2025: Phát triển đầy đủ các ngành, chuyên ngành đào tạo,… Quy mô: 2.000 sinh viên và học viên. Đảm bảo tỷ lệ trung bình 12 người học/giảng viên và số giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm trên 80%.    Author                Thái Thanh        
__label__tiasang Đảm bảo chất lượng trong giảng dạy trực tuyến?      Dù áp dụng một cách kịp thời phương pháp giáo dục trực tuyến trong đợt đóng cửa trường học do đại dịch Covid-19 nhưng đằng sau nỗ lực đó của thầy và trò vẫn còn tồn tại những “điểm khuyết thiếu” chưa chuẩn bị chu đáo các điều kiện về tổ chức, con người, phương pháp giáo dục, hạ tầng công nghệ… Và cơ bản nhất, các hướng dẫn giáo dục trực tuyến của ngành giáo dục còn rất mơ hồ, chưa căn cứ vào các tiêu chuẩn thông dụng của quốc tế.    Hướng dẫn chung chung mơ hồ      Trước tiên có thể thấy Bộ Giáo dục và đào tạo đã nhanh chóng có công văn chỉ đạo dạy trực tuyến số 793 và số 795 (cơ sở trước đó là 2 thông tư hướng dẫn ra đời từ 2016 và 2017)** tuy nhiên có  một vài điểm đáng lưu ý trong khuôn khổ hướng dẫn của hai văn bản này: bên cạnh việc nêu rõ yêu cầu về hạ tầng kĩ thuật, nội dung học liệu, tổ chức hoạt động dạy học thì các văn bản này lại rất mơ hồ trong tiêu chí cụ thể để đánh giá và công nhận kết quả học tập. Văn bản nào cũng có những ràng buộc như “kiểm tra, đánh giá kết quả học tập […] bằng các hình thức phù hợp [và] được sử dụng thay cho các bài kiểm tra thường xuyên theo quy định” hay “đảm bảo trung thực, khách quan theo yêu cầu chuẩn đầu ra”, nhưng không minh định thế nào là phù hợp, thế nào là trung thực, công bằng hay khách quan. Ví dụ, làm sao để đảm bảo công bằng, khách quan, trung thực giữa một bài kiểm tra làm ở nhà, không có cách nào kiểm soát được học sinh tự làm hay có ai hỗ trợ, trong thời gian bao lâu, với một bài kiểm tra 15 phút tại lớp, nơi mọi học sinh phải tự làm theo đúng thời gian quy định (quay cóp hay lố giờ đều bị phạt)? Người làm theo thì khó đảm bảo đúng yêu cầu, còn người không làm theo thì rơi vào tình trạng lo lắng vì sẽ thiếu cột điểm, dễ dàng bị khiển trách bất cứ lúc nào.    Đa phần các quy định trong các văn bản trên chỉ mang tính chất tính đếm số lượng về hình thức, phỏng theo phương thức đào tạo chính quy tập trung trước đây và kèm theo điều kiện phù hợp với đào tạo trực tuyến mà không có sự diễn giải chi tiết như thế nào là phù hợp hay đạt chất lượng. Hầu hết các tính chất khác biệt của hoạt động dạy học trực tuyến so với dạy học truyền thống, xét trên cả bốn phương diện tổ chức, nhân lực, sư phạm và kĩ thuật, đều chưa được làm rõ trong công văn số 793, 795.      Hầu hết các tính chất khác biệt của hoạt động dạy học trực tuyến so với dạy học truyền thống, xét trên cả bốn phương diện tổ chức, nhân lực, sư phạm và kĩ thuật, đều chưa được làm rõ trong công văn số 793, 795.      Tương tự với các tiêu chuẩn về dạy học từ xa, nhằm bổ sung cho những điểm còn khuyết trong khung pháp lí hiện hành đối với lĩnh vực đào tạo từ xa, Bộ GD&ĐT đã xây dựng một bộ “tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo từ xa các trình độ của giáo dục đại học” nhưng thực chất bộ tiêu chuẩn dự kiến này tương đồng với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo truyền thống hiện hành ban hành theo Thông tư số 04/2016 của Bộ GD&ĐT (TT.04) và của Mạng lưới Đại học ASEAN (AUN). Các tiêu chí đánh giá chất lượng của chương trình đào tạo truyền thống (chính quy tập trung) được dùng lại nguyên vẹn, rồi nếu cần thì thêm yêu cầu “phù hợp với phương thức đào tạo từ xa”. Trong một số trường hợp, tiêu chí đào tạo từ xa được diễn đạt lại theo một cách khác, hoặc tách, nhập từ hai hay nhiều tiêu chí có sẵn từ các tiêu chí TT.04 hay AUN. Với cách xây dựng một bộ chuẩn như thế, chỉ riêng việc liệt kê các tiêu chí tương đồng với các tiêu chí hiện hành áp dụng cho đào tạo chính quy tập trung đã lên đến 85%. Trong số các tiêu chí còn lại có ít nhiều những điểm dành riêng cho đào tạo từ xa thì đa phần cũng chỉ dùng lại các quy định đã có hoặc đơn giản là phỏng theo các quy định khác hiện có đối với đào tạo chính quy tập trung kèm theo yêu cầu “phù hợp với phương thức đào tạo từ xa”, mà không có diễn giải cụ thể thế nào là “phù hợp”.  Có thể dễ dang nhìn thấy ví dụ là đối với những học phần được tổ chức trên hệ thống quản lí học tập (LMS) thì “căn cứ vào kết quả đánh giá chất lượng người học, thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định công nhận kết quả học tập tích lũy”. Tuy nhiên các thông tư hướng dẫn không có một dòng nào về kiểm tra đánh giá hoặc có thì chỉ nêu rất chung chung: “Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định về việc đánh giá quá trình học tập, tổ chức thi hoặc kiểm tra giữa kỳ trên cơ sở quy định của hình thức giáo dục chính quy và phù hợp với hình thức đào tạo từ xa (ĐTTX)”.    Với sự mơ hồ và lặp lại các tiêu chí đánh giá chương trình truyền thống ấy, không có gì chắc chắn là người thực thi và người đánh giá chất lượng dạy học trực tuyến hoặc dạy học từ xa có cùng cách hiểu về một vấn đề, có cùng thang đo về một tiêu chí, nghĩa là cùng đồng thuận như thế nào là chất lượng trong dạy học trực tuyến hoặc dạy học từ xa. Không những thế, cách diễn giải các tiêu chuẩn mơ hồ ấy còn có nguy cơ dẫn đến tình trạng đáp ứng quy định này nhưng vi phạm quy định khác trong cùng văn bản.    Nhìn chung các văn bản dẫn lòng vòng đến nhau và tất cả đều quy về trách nhiệm của thủ trưởng cơ sở giáo dục, phải biết cách vận dụng các quy định hiện hành của dạy học truyền thống cho dạy học trực tuyến. Nếu họ kiên quyết, sáng suốt và chọn được giải pháp thực sự phù hợp thì còn may mắn; nếu không, áp lực cứ như thế lại đè nặng lên giáo viên trực tiếp đứng lớp mà không có cơ sở chắc chắn và đồng bộ nào để đảm bảo là “đúng quy định” hay “phù hợp”. Tình trạng ra văn bản cho có quy định về hình thức nhưng điều kiện thực thi lại rất mơ hồ, đẩy cái khó về cho giáo viên và cơ sở giáo dục, dẫn đến việc tuy có chuẩn mà lại không chuẩn.      Giáo viên dùng một phần mềm học trực tuyến trong dịch Covid-19.     Trong khi đó, khoa học về đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục đã xác định các yêu cầu cơ bản của một bộ tiêu chuẩn chất lượng bao gồm: các bên liên quan đồng thuận về quan niệm chất lượng; quy trình đồng bộ; tiêu chí đánh giá được định nghĩa rõ ràng, đo lường được bằng các chỉ số định lượng hoặc minh chứng cụ thể1.     Tiêu chuẩn chất lượng trên thế giới     Giống như đánh giá chất lượng giáo dục nói chung, đánh giá chất lượng dạy học trực tuyến nói riêng cũng có nhiều “trường phái” với cách tiếp cận khác nhau. Trong rất nhiều tiêu chuẩn về đủ các mặt này, cốt lõi vẫn nằm ở cách thức quản trị chất lượng thông qua việc chuẩn hóa các quá trình hoạt động nội bộ, từ đầu vào cho đến đầu ra của tiến trình dạy học trực tuyến (DHTT), hay nói chung là e-learning. Và một trong các bộ chuẩn có thể tham khảo, dùng làm nền tảng cho cách tiếp cận này, đó là ISO/IEC 19796-1:2005 gồm ba cấu phần2:    – Đặc tả mô hình quản trị chất lượng;  – Đặc tả các quá trình tổ chức hoạt động giáo dục, giảng dạy, đào tạo có sự hỗ trợ của CNTT;  – Bảng tham chiếu các tiêu chí đánh giá.    Có lẽ cơ quan quản lý giáo dục nên tham khảo Khung tham chiếu Chất lượng Giáo dục mở và ISO/IEC 40180, xây dựng một bộ tiêu chuẩn. Với các tiêu chí của từng tiêu chuẩn, có thể dựa vào một số bộ chuẩn hoặc khung tham chiếu chất lượng phổ biến trên thế giới, chọn lọc và từng bước bổ sung vào các tiêu chuẩn tương ứng.    Dĩ nhiên, bộ chuẩn ISO/IEC 19796-1 không phải là một khuôn khổ bó buộc để mọi cơ sở giáo dục phải tuân theo một cách cứng nhắc. Ngược lại, đó chỉ là một nền tảng chung, để giúp mỗi cơ sở giáo dục có thể chuẩn hóa từng quá trình hoạt động liên quan đến dạy học trực tuyến của mình, bắt đầu từ xác định mục tiêu đến lựa chọn các phương pháp thực hiện rồi huy động đội ngũ thực hiện, cũng như định vị quan hệ với các quá trình khác, đồng thời xác định phương pháp đánh giá và chọn lọc các tiêu chí đo lường kết quả tương ứng. Tùy vào mỗi cơ sở giáo dục, trong từng bối cảnh cụ thể, mà có thể lựa chọn cách thực hiện những quá trình nào thích hợp, cũng như chọn từ bảng tham chiếu các tiêu chí đo lường nào cho phép đánh giá được chính xác nhất kết quả đầu ra của từng quá trình. Sau này, chuẩn ISO/IEC 19796-1:2005 đã được cập nhật thành chuẩn ISO/IEC 40180:2017, là cơ sở để Stracke (2019) đề xuất cải tiến thành Khung tham chiếu Chất lượng Giáo dục mở (OpenEd Quality Framework bao gồm 6 hạng mục, diễn ra theo 3 cấp độ – Hình 2)5.  – vĩ mô (macro): liên quan đến các nhà chức trách và các tổ chức giáo dục quốc gia, khu vực và quốc tế, với các yếu tố môi trường và bối cảnh xã hội như chính sách, tầm nhìn, triết lí, chiến lược, chương trình khung chính thức và tác động đầu ra;    –  trung mô (meso): liên quan đến các cơ sở giáo dục, với các yếu tố mang tính quy chế tổ chức như thiết kế các chương trình đào tạo và hoạt động học tập, phương pháp triển khai, theo dõi và đánh giá;    – vi mô (micro): liên quan đến các cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động giáo dục như học sinh sinh viên, giáo viên, trợ giảng, nhân viên hỗ trợ, chuyên gia đánh giá, v.v., với các yếu tố hành động cụ thể như môn học trực tuyến, giáo dục trực tuyến mở đại trà (MOOC), tài nguyên giáo dục mở (OER), kế hoạch học tập, đơn vị hay module học tập…    Với sự giao thoa giữa 3 cấp độ, 6 hạng mục (mỗi hạng mục gồm nhiều quá trình hoạt động tổ chức, điều hành, thực thi dạy học trực tuyến) và 3 giai đoạn (xác định mục tiêu, triển khai thực hiện và thu thập kết quả), có thể thấy Khung tham chiếu Chất lượng Giáo dục Mở bao quát được vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ mật thiết giữa mọi thành tố liên quan đến một hệ thống dạy học trực tuyến.      Hình 2. Khung tham chiếu Chất lượng Giáo dục Mở (OpenEd Quality Framework).     Một hướng tiếp cận mới về chất lượng dạy học trực tuyến tại Việt Nam     Dạy học trực tuyến là một lĩnh vực mới, đặc biệt với sự ra đời của các phương tiện truyền thông tri thức (knowledge media) mà ở đó tập trung một lượng khổng lồ thông tin chất lượng cao dưới dạng hình ảnh động và âm thanh, thường xuyên truy cập được mọi lúc, mọi nơi, giúp người học đồng sáng tạo, đồng tổ chức, đồng khai thác và chia sẻ kiến thức chứ không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu các nội dung kiến thức đóng gói sẵn. Người học trở thành chủ thể thường trực của hoạt động học tập trong một môi trường học tập hàng ngày ở mọi cấp độ (cá nhân, cộng đồng, tổ chức, địa phương, xã hội). Các khuôn mẫu tổ chức vận hành giáo dục truyền thống dù có được cải biên, mô phỏng (bằng cách ghép thêm các tiền tố, hậu tố “trực tuyến”, điện tử”, “công nghệ số”, v.v.) một phần nào đó, thì vẫn không thể nào thích hợp để bao quát, điều chỉnh được toàn bộ các vấn đề nảy sinh trong chất lượng dạy học trực tuyến4.    Do đó cần tham khảo nhằm xây dựng một bộ tiêu chuẩn chất lượng dạy học trực tuyến mới (kể cả theo phương thức kết hợp với dạy học truyền thống hay đào tạo từ xa hoàn toàn). Hướng quản trị chất lượng như của bộ tiêu chuẩn vừa kể ra ở trên có lợi ích là tiếp cận nhiều mặt, đánh giá tường tận nhu cầu, bối cảnh, nguồn lực, để xác định mục tiêu, phương pháp và tiến trình thực hiện phù hợp. Tuy nhiên thời gian thực hiện dài, quy mô thực hiện công phu, thậm chí phải tốn kém chi phí thuê tư vấn cho hệ thống quy định chi tiết cùng các tiêu chí đo lường đánh giá không có sẵn.    Vì vậy có lẽ cơ quan quản lý giáo dục nên tham khảo Khung tham chiếu Chất lượng Giáo dục mở và ISO/IEC 40180, xây dựng một bộ tiêu chuẩn. Với các tiêu chí của từng tiêu chuẩn, có thể dựa vào một số bộ chuẩn hoặc khung tham chiếu chất lượng phổ biến trên thế giới, chọn lọc và từng bước bổ sung vào các tiêu chuẩn tương ứng. Trước tiên nên ưu tiên những tiêu chí thuộc các tiêu chuẩn hay quá trình có thể thực hiện ngay trong điều kiện trước mắt, nhất là liên quan đến cách thức kết hợp dạy học trực tuyến với dạy học truyền thống. Nhưng để tránh lặp lại những nhược điểm của cách làm hiện tại như đã phân tích, cần phải đảm bảo rằng mỗi tiêu chí được định nghĩa rõ ràng, cụ thể, với kết quả có thể đo lường được bằng các chỉ số định lượng hoặc minh chứng định tính.    Tuy nhiên trong giai đoạn kinh nghiệm dạy học trực tuyến chưa cao hoặc hệ thống xây dựng, vận hành chưa hoàn chỉnh, các tiêu chí đánh giá không mang nặng tính chất ràng buộc chế tài mà ưu tiên khuyến khích, định hướng cho các cơ sở giáo dục và mọi cá nhân biết cách thực hiện sao cho tốt. Để làm được như vậy, cách tổ chức cấu trúc của chuẩn ISO/IEC 40180 rất đáng học hỏi, nhằm cho phép các cơ sở giáo dục linh hoạt kết hợp các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số đo lường khác nhau thành một hay nhiều bộ tiêu chí phái sinh. Từ đó, tùy điều kiện cụ thể của mình mà mỗi cơ sở giáo dục có thể triển khai áp dụng dạy học trực tuyến từng phần mà không nhất thiết phụ thuộc vào việc thiết lập một hệ thống hoàn chỉnh.    Ví dụ, thực tế trong đợt dịch Covid-19 vừa qua giáo viên cả phổ thông lẫn đại học đều được yêu cầu tiến hành dạy học trực tuyến, tổ chức kiểm tra đánh giá tiến trình “bằng các hình thức phù hợp” mà không có các tiêu chí cụ thể để xác định làm thế nào thì đạt chất lượng, làm thế nào thì không đạt chất lượng theo yêu cầu của dạy học trực tuyến. Với đề xuất khung tiêu chuẩn chất lượng dạy học trực tuyến như trên, tuy chưa có đầy đủ trọn vẹn các tiêu chí của mọi tiêu chuẩn, vẫn có thể nhanh chóng lập được các bộ tiêu chí riêng cho những vấn đề cần ưu tiên, dựa trên nhiều bộ tiêu chí liên quan đã có trên thế giới5 6 như Online Learning Consortium (OLC), Quality Matters (QC), Sustainable Environment for the Evaluation of Quality in E-Learning (SEEQEL)… Ở cấp độ một môn học hay một khoá học cũng có thể thiết lập một bộ tiêu chí chất lượng theo cùng phương phá. Với hai bộ tiêu chí phái sinh này, nơi nào chưa đủ điều kiện triển khai sẽ hình dung được những công việc chính cần làm để phát triển dạy học trực tuyến. Còn nơi nào đã triển khai rồi thì sẽ có các căn cứ cụ thể để đánh giá các môn học dạy học trực tuyến trong thực tế đạt được chuẩn chất lượng hay chưa, nếu chưa thì cần làm tiếp những gì cho đạt.  ***  Những đề xuất nêu trên chỉ là một gợi ý từ góc độ cá nhân của một người làm nghiên cứu độc lập. Để hình thành một bộ tiêu chuẩn quốc gia cho một lĩnh vực mới mẻ như dạy học trực tuyến là một việc không hề đơn giản. Ngay cả ở nhiều nước phát triển trên thế giới cũng không có một bộ chuẩn nào hoàn hảo, được tất cả các thành phần liên quan trong hệ thống giáo dục đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, những kinh nghiệm cả thành công lẫn thất bại trên thế giới vẫn thường xuyên được chia sẻ, đúc kết, tổng hợp trong cộng đồng nghiên cứu và thực hành, và công bố rộng rãi qua các kênh xuất bản, truyền thông khoa học và trao đổi học thuật.    Để có được một bộ tiêu chuẩn của mình, thay vì tự dò dẫm bằng cách cải biên những gì đang làm theo một hệ quy chiếu giáo dục truyền thống, điều nên làm là hãy tận dụng các kinh nghiệm tốt của thế giới, thay đổi hoàn toàn tâm thế tiếp cận vấn đề dạy học trực tuyến.□  ——–  Chú thích:  *Tác giả: TS Nguyễn Tấn Đại, nghiên cứu độc lập về khoa học giáo dục.  Nghiên cứu viên liên kết, Phòng thí nghiệm liên đại học về khoa học giáo dục và truyền thông (LISEC), Đại học Strasbourg, Pháp.  ** Hai công văn chỉ đạo việc tổ chức dạy học trực tuyến và hướng dẫn các trường sư phạm số 793/BGDĐT-GDTrH ngày 12/ 3/ 2020 và 795/BGDĐT-GDĐH ngày 13 /3/ 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực chất, các công văn  này chỉ tham chiếu về hai văn bản pháp lí khác là các thông tư số 10/2017/TT-BGDĐT (Ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học) và 12/2016/TT-BGDĐT (Quy định Ứng dụng công nghệ thông tin [CNTT] trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng). Ngoài ra, còn có thể kế đến hai bản dự thảo thông tư (đã hết hạn lấy ý kiến ngày 06/03/2020) liên quan đến tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tao từ xa và đến liên kết đào tạo trực tuyến với nước ngoài.  Tài liệu tham khảo  1. Vlăsceanu, L., Grünberg, L., & Pârlea, D. (2007). Quality assurance and accreditation: A glossary of basic terms and definitions (pp. 46-51). Bucharest, Romania: UNESCO-CEPES.  2. Pawlowski, J. M. (2006). Adopting quality standards for education and e-learning. In U.-D. Ehlers & J. M. Pawlowski (Eds.), Handbook on quality and standardisation in e-learning (pp. 65–78). Berlin, Germany: Springer.  3. Stracke, C. M. (2019). Quality frameworks and learning design for open education. The International Review of Research in Open and Distributed Learning, 20(2). DOI: 10.19173/irrodl.v20i2.4213.  4. Layte, M., & Ravet, S. (2006). Rethinking quality for building a learning society. In U.-D. Ehlers & J. M. Pawlowski (Eds.), Handbook on quality and standardisation in e-learning (pp. 347–366). Berlin, Germany: Springer.  5. Martin, F., & Kumar, S. (2017). Frameworks for assessing and evaluating e-learning courses and programs. In A. A. Piña, V. L. Lowell, & B. R. Harris (Eds.), Leading and managing e-learning: What the e-learning leader needs to know (pp. 271–280). New York, NY: Springer.  6. Dondi, C., Michela Moretti, & Nascimbeni, F. (2006). Quality of e-learning: Negotiating a strategy, implementing a policy. In U.-D. Ehlers & J. M. Pawlowski (Eds.), Handbook on quality and standardisation in e-learning (pp. 31–50). Berlin, Germany: Springer.    Author                Nguyễn Tấn Đại        
__label__tiasang Đan Mạch đẩy mạnh hợp tác giáo dục với Việt Nam      Bộ trưởng Giáo dục Đan Mạch, bà Christine Antorini, cùng đại diện của gần 20 cơ sở giáo dục Đan Mạch sẽ có chuyến thăm chính thức Hà Nội và TP Hồ Chí Minh từ ngày 4 đến ngày 6/3 nhằm củng cố hơn nữa sự hợp tác giáo dục&#160;ở cấp bộ trưởng, đồng thời giúp tạo điều kiện thuận lợi  cho sự kết nối giữa các cơ sở giáo dục giữa hai nước.     Chuyến thăm bao gồm các cuộc hội đàm cấp cao, các cuộc viếng thăm cơ sở, và Diễn đàn Giáo dục Việt Nam – Đan Mạch diễn ra tại cả Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.  Mục đích của các hoạt động này là nhằm củng cố hơn nữa sự hợp tác trong giáo dục giữa Việt Nam và Đan Mạch ở cấp bộ trưởng, đồng thời giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự kết nối, hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Đan Mạch.   Bà Antorini cho rằng với truyền thống và kinh nghiệm của mình, Đan Mạch có thể cung cấp các giải pháp giáo dục và học tập độc đáo đạt tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng những nhu cầu giáo dục của Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo nghề, đào tạo kinh doanh bậc trên trung học cơ sở, đào tạo kỹ thuật và các lĩnh vực khác.  Giáo dục đã được đặt là lĩnh vực ưu tiên quan trọng trong hợp tác giữa hai nước kể từ Thỏa thuận Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Đan Mạch, được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký kết trong chuyến thăm chính thức Đan Mạch vào năm 2013.    Từ đó đã có những dự án hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đã được thiết lập và đang tiến triển như dự án liên kết giữa Trường Kinh doanh Niels Brock Copenhagen với ĐH Ngoại thương và ĐH Zealand với ĐH Dược Hà Nội.   Một số dự án đang được hình thành bao gồm ý tưởng hỗ trợ các công ty Đan Mạch tại Việt Nam như Esoftflow, ColorClub và các công ty khác trong lĩnh vưc đồ họa nâng cao kỹ năng và hiệu suất làm việc cho nhân viên.            Kể từ năm 1994 Đan Mạch đã hỗ trợ  phát triển cho Việt Nam khoản tiền hơn 1,3 tỉ đô la Mỹ. Trong năm  2014-2015 Đan Mạch sẽ giải ngân 90 triệu đô la Mỹ viện trợ không hoàn  lại dành cho Việt Nam, là đất nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho  Việt Nam trong số các quốc gia thành viên cộng đồng châu Âu cho đến nay.                Theo Đại sứ quán Đan Mạch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Dấn thân vào quá khứ của dân tộc      Ở bậc Tiểu học, phương pháp học Lịch sử nằm  trong việc được sống lại vẻ đẹp bi hùng và chân thật của Lịch sử, mà  bước đầu là lịch sử của Dân tộc mình.     Họ không tiếc sợ cho tính mệnh mình khi đứng trước việc chọn lựa để ghi chép những sự thật lịch sử. Vậy thì, ở bậc tiểu học, và ngay từ bậc tiểu học, học sinh phải được sống lại vẻ đẹp lịch sử, chứ không nghe giảng về vẻ đẹp lịch sử. Ngay từ buổi học Lịch sử đầu tiên đã phải học sống lại cảnh huống lịch sử bao giờ cũng bi hùng của con người, của tổ tiên. Phương thức “sống lại” ấy nằm trong ba kỹ thuật (sẽ trình bày bên dưới đây) với món đầu vị là trò chơi đóng vai – cái phương thức đã được dùng trong bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm để giáo dục các em tinh thần đồng thuận (môn Giáo dục Lối sống), lòng đồng cảm (môn Văn), và ngay cả lòng yêu khoa học ngôn ngữ (môn Tiếng Việt).  Cuốn sách giáo khoa Lịch sử bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm sẽ được cấu tạo như thế nào, và cùng với “nội dung” của nó, cách tổ chức thực hiện (xưa nay quen gọi là “giảng dạy”) sẽ diễn ra như thế nào?    I. HỌC LỊCH SỬ Ở LỚP MỘT  Mô tả cách dạy Lịch sử ở lớp Một có thể giúp hình dung dễ dàng cách dạy ở những lớp Hai, Ba, Bốn và lớp Năm.           “Giả sử như có một ai đó đã […] cho tôi một  bài mở đầu cho mỗi điều phải học để kích thích trí tuệ tôi, đã phả vào  hồn tôi cái thần kỳ thay vì chỉ có các sự kiện, đã làm tôi thú vị và cảm  thấy mình nhập cuộc vì vẻ lừa gạt của những con số, đã lãng mạn hóa các  tấm bản đồ, đã đem lại được cho tôi một quan điểm về lịch sử và dạy cho  tôi nhạc tính của thơ ca, nếu vậy thì hẳn là tôi đã có thể trở thành  một nhà bác học rồi đấy”.               Ch. Chaplin – Tự truyện (My Autobiography, Penguin Books, 1964, trang 40-41).        Ở lớp Một, học sinh tuy có thể chưa đọc viết thật thành thạo, nhưng qua môn Văn, môn Lối sống, các em đều đã quen cách học theo lối đóng vai.    Vì thế, các bài học Lịch sử ở lớp Một sẽ là những cuộc chơi lịch sử bằng đóng vai, và sẽ diễn ra lần lượt trong một buổi học dưới ba hình thức sau:   Việc 1: Xem tranh, mô tả tranh, kể chuyện mang nội dung trong tranh. Ban đầu, mỗi truyện đó sẽ do giáo viên kể cho học sinh nghe, dần dần đến đầu học kỳ II, các em sẽ tự đọc. Từng câu chuyện lịch sử sẽ được các em tự dựng lại cho chính mình qua việc một này.  Việc 2: Chơi kịch. Nói chung, ở tất cả các lớp chứ không chỉ riêng ở lớp Một, các nội dung kịch này sẽ chia thành ba trình độ cho phù hợp với trình độ học sinh một lớp:   (a) Loại dễ, chỉ một câu, học sinh nghe hoặc đọc và ghi nhớ rồi nói diễn cảm trước cả lớp. Nên nhớ, ngay với loại “dễ” này, thì cũng phải chuẩn bị công phu thì học sinh mới nhập vai, nhập thân mình vào bối cảnh lịch sử. Do đó, loại “dễ” không được soạn ra để phân biệt đối xử với học sinh kém, mà dùng chung, cả những học sinh giỏi cũng thực hiện loại “dễ” này.   (b) Loại trung bình, gồm hai ba câu đối thoại giữa hai nhân vật kịch. Lên các lớp trên, các câu thoại sẽ mang nhiều chi tiết hơn, buộc học sinh phải nhớ nhiều hơn và cách biểu đạt cũng khó hơn.  (c) Loại khó, gồm hai ba đến năm câu đối thoại giữa hai nhân vật. Lên các lớp trên, các câu thoại sẽ chứa đựng cả những yếu tố tâm lý có phần tinh tế của nhân vật lịch sử.  Nội dung của các vở kịch ở lớp Một xoay quanh Chuyện về người tiền sử và sự tiến hóa của con người thể hiện qua cách ăn ở, cách lao động, cách hò hát, vui chơi, nhảy múa, cách sống ở hang động và ở nhà, quan hệ gia đình, bộ tộc … Ngay cả việc cúng bái cũng được đem diễn lại ở đây, để hiểu và tôn trọng đời sống tâm linh người xưa, và cũng là để học sinh có cách nhìn khoa học, mới mẻ, tỉnh táo trước vấn đề đẹp đẽ mà khó hiểu này.  Việc 3: Kết thúc buổi học, học sinh được tự thu hoạch bằng một trong những cách như vẽ tranh, viết câu đối thoại mình đã thuộc, sưu tầm tranh ảnh …       Như vậy, có thể nói rằng chủ đề Lịch sử cho học sinh lớp Một là lịch sử của sự phát triển Văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam ta. Suy ra, ta có thể hình dung tiếp, chủ đề Phương pháp làm việc của các nhà  Sử học tiêu biểu thể hiện rõ nhất trong sự dấn thân của các vị đó. Lịch sử cho học sinh các lớp tiếp theo cũng xoay quanh sự hình thành, bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam – mà ngay cả chuyện chiến tranh dường như cũng có sắc màu nữ tính của Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Chân và Bùi Thị Xuân, và ngay đến cả biết bao cuộc chiến tranh cũng dường như không tạo ra một dân tộc hiếu chiến, mà lại vẫn chỉ thấy Lịch sử thấm đượm sắc màu Thiền.             II. HỌC TIẾP LỊCH SỬ Ở CÁC LỚP TIỂU HỌC   Theo cái mẫu cách học Lịch sử ở lớp Một đã trình bày bên trên, cách học ở các lớp tiểu học tiếp theo cũng lặp lại ba việc đó: (a) đọc câu chuyện lịch sử và nhập thân vào bối cảnh lịch sử và nhân vật lịch sử; (b) chơi trò chơi đóng vai lịch sử; và (c) sơ kết buổi học bằng nhiều hình thức như hội thảo, triển lãm, vẽ tranh, sưu tầm, ra báo, và … lại diễn kịch, nhưng bây giờ là những vở “lớn” hơn, thoát ra khỏi hình thức trò chơi đóng vai gọn nhẹ gói trọn trong một hai tiết học.    Những việc làm (a) (b) và (c) trên đây là cách diễn đạt sư phạm thực hành, dễ nhớ cho giáo viên. Muốn thành giáo viên giỏi, còn cần hiểu kỹ hơn một chút nữa vì sao lại tổ chức cho học sinh tiến hành ba việc làm đó. Đây là vài điều giải thích đơn giản.           Các hoạt động  học Lịch sử của học sinh phổ thông đều đơn giản, nhưng hiệu quả giáo  dục lại cao – các em có dấn thân như một cuộc vui của đời học trò vào  Lịch sử, thì lâu dần các em mới dấn thân tiếp vào Khoa học lịch sử, mà  không thấy ở đó rặt những con số vô cảm, những gương mặt chết rồi …         Nhập sử liệu. Có thể nâng cao và đổi tên việc làm (a) thành công việc tổ chức cho học sinh điều tra, khảo sát sử liệu. Vì sau này, lên lớp trên, các em cũng sẽ lặp lại phương pháp đến với Khoa học lịch sử như thế. Nhưng chỗ khác nhau giữa nhà Sử học và người học sinh học Khoa học lịch sử, đó là nhà Sử học thì đã có đam mê khoa học lịch sử rồi, trong khi học sinh thì chưa có niềm đam mê mang tính phương pháp đó. Vậy, có cần tìm cách cho người học đời sau chuyển hóa được các sử liệu như những vật-tự-nó dửng dưng, “khách quan chủ nghĩa”, trở thành vật-cho-ta thiết thân, gắn bó với chủ thể.   Ở lớp Một, những sử liệu “vật tự nó” chỉ là những hình ảnh (xem hình) hoặc những bài viết ngắn kể câu chuyện lịch sử các em cần đọc như đọc một bài văn. Lên các lớp trên, cũng bắt đầu với việc tự nghiên cứu sử liệu như thế. Từ lớp Hai trở đi, những sử liệu có thể khác đi, đa dạng, song bản chất vẫn là những sử liệu “vật tự nó” được giáo viên tổ chức cho học sinh biến các vật liệu lịch sử dửng dưng đó thành những sử liệu cho ta. Để đi tới yêu cầu này, nhà sư phạm cần nhớ chuẩn hành động Làm thì học – Làm mà học trong nền giáo dục hiện đại. Không một lời rao giảng hay ho nào có thể thay thế những việc làm dù còn vụng dại của con trẻ tiểu học – tuổi của tình cảm, tuổi của tưởng tượng.  Không chỉ với “thông sử”, khi học bài có nội dung lịch sử là di sản văn hóa, lịch sử của địa phương, cũng tổ chức cho học sinh làm mà học bằng điều tra, khảo sát như thế. Thí dụ, nhóm A và B vẽ sơ đồ đường dẫn đến di tích, vị trí di tích, nhóm C và D đếm và mô tả một loại đồ thờ cúng trong di tích, nhóm E và F đếm và mô tả các tượng và bia trong di tích, nhóm G và H tự chép lại chữ khó đọc để nhờ thầy giáo tra cứu nghĩa, các nhóm hoặc cá nhân khác đặc tả một vật thể trong di tích …  Ta cần hết sức tránh mời mấy nhà nghiên cứu về diễn thuyết cho cả nghìn học sinh ngồi dưới nắng dỏng tai nghe… và ngáp dài cho môn Khoa học Lịch sử!    Tổ chức hội thảo.  Cho học sinh báo cáo những điều ghi chép được. Triển lãm các hình vẽ, bài viết, ảnh chụp … do các em thực hiện. Mục đích cuối cùng là để các em tự tái hiện câu chuyện lịch sử như chính các em hình dung qua chính những điều tra, khảo sát của các em.   Đóng vai – diễn kịch. Có thể thấy, đây là giai đoạn cao trào của một cuộc học Khoa học Lịch sử ở bậc tiểu học: đó là lúc học sinh thu hoạch, không phải là bằng những bài viết hoặc những câu trả lời dùng đến trí nhớ, đây là lúc nhập thân vào dòng chảy lịch sử, nhập cả tâm hồn và phần nào cơ thể mình vào những bi hùng của lịch sử.   Ta tưởng tượng và sẽ thấy những em học sinh ứng xử ra sao khi được làm Đức Vua Trần Nhân Tông trong cuộc vui với quần thần sau khi đã chiến thắng giặc Nguyên-Mông, nghe kể chuyện (hoặc chính mắt người thấy, hoặc một ý thơ vụt  hiện khi đó) rằng bầy ngựa đá trong lăng đều bị lấm chân. Nhà vua ngẫu hứng làm thơ với tứ thơ cực đẹp ấy, “ôi chao, đất nước vất vả, đến bầy ngựa đá cũng lâm trận, chân cũng lấm bùn … Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã…   Hạn thấp nhất là học sinh diễn được những vở độc diễn độc thoại một câu, tiến lên hai ba câu thoại của hai nhân vật lịch sử (sứ thần Giang Văn Minh và vua Minh, Trần Bình Trọng và tướng Tàu, hai bà Trưng với Tô Định, hai chị em bà Trưng với nhau trong cuộc thua trận, chuẩn bị nhảy xuống sông Hát tự vẫn để khỏi rơi vào tay quân thù…).  Phương thức học Lịch sử ở bậc tiểu học như định hướng của sách giáo khoa Cánh Buồm là dấn thân vào lịch sử dân tộc và dấn thân một cách tình cảm – tuổi tiểu học – bằng ba kỹ thuật việc làm với trò chơi đóng vai là kỹ thuật chính là như vậy.  Trẻ em học sinh có thể làm được rất nhiều, miễn là các nhà giáo và các nhà nghiên cứu Khoa học Lịch sử có được những phẩm chất mang cảm xúc Lịch sử mà chính họ định tạo ra, chính họ muốn làm định hình và định phát triển trong các em học sinh.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh – Nhìn từ yêu cầu của PISA*      Một trong những mục ti&#234;u quan trọng của việc dạy học tiếng mẹ đẻ n&#243;i chung v&#224; tiếng Việt n&#243;i ri&#234;ng l&#224; r&#232;n luyện cho học sinh sử dụng th&#224;nh thạo bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, n&#243;i. Trong bốn kĩ năng ấy, c&#224;ng học l&#234;n cao, kĩ năng đọc v&#224; đọc hiểu c&#224;ng được ch&#250; &#253; hơn cả. N&#243;i như thế kh&#244;ng phải l&#224; c&#225;c kĩ năng c&#242;n lại kh&#244;ng quan trọng m&#224; ở đ&#226;y chỉ muốn nhấn mạnh về kĩ năng đọc- một kĩ năng gắn b&#243; kh&#225; chặt chẽ với c&#225;c hoạt động cơ bản của con người. Theo một b&#224;i viết tr&#234;n tờ New Week, cho đến năm 1993, Hoa Kỳ vẫn c&#243; &#8220;gần một nửa số người lớn (khoảng 95,5 triệu người) kh&#244;ng tự điền v&#224;o phiếu gửi tiền ng&#226;n h&#224;ng hoặc… kh&#244;ng t&#236;m được điểm khởi h&#224;nh của xe bu&#253;t hướng dẫn tr&#234;n bảng lịch tr&#236;nh v&#224;o ng&#224;y thứ bảy&#8221;2. C&#243; lẽ v&#236; thế m&#224; Chương tr&#236;nh đ&#225;nh gi&#225; học sinh quốc tế (PISA) thuộc Tổ chức hợp t&#225;c v&#224; ph&#225;t triển kinh tế thế giới (OECD)3 chủ trương coi tr&#236;nh độ đọc hiểu (reading literacy) l&#224; một trong ba lĩnh vực4 chủ yếu để x&#225;c định năng lực HS giai đoạn cuối của gi&#225;o dục bắt buộc (basic education).     Theo PISA, định nghĩa về đọc và đọc hiểu (reading and reading literacy) có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội. Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc đọc hiểu.  “Đọc hiểu không chỉ còn là một yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn.”5. Quan niệm này của OECD hoàn toàn phù hợp với quan niệm của UNESCO về Literacy:  “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau. Literacy đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn.”6  Xuất phát từ yêu cầu của xã hội hiện đại đối với mỗi cá nhân và cộng đồng, để đào tạo và chuẩn bị cho xã hội ấy một lực lượng lao động có văn hoá, OECD đưa ra định nghĩa sau đây về reading literacy:    “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội.”  Trong định nghĩa này cần lưu ý: Khái niệm biết đọc như là sự giải mã (decoding) và thấu hiểu (comprehension) tư liệu, bao hàm cả việc hiểu ( understanding) sử dụng ( using) và phản hồi ( reflecting) về những thông tin với nhiều mục đích khác nhau.  Để tạo nên trình độ đọc cho HS, để giúp họ biết đọc, nhà trường phổ thông có một vai   trò rất to lớn. Môn học tiếng mẹ đẻ nói chung và tiếng Việt nói riêng giữ vai trò chủ đạo.  Mặc dù cách đánh giá trình độ đọc và biết đọc của PISA không dựa vào các yêu cầu và chuẩn chương trình của môn học tiếng trong nhà trường phổ thông các nước mà xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với hệ thống giáo dục, những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai… nhưng những yêu cầu của PISA có đường link rất mật thiết với việc dạy học tiếng và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường phổ thông. Vì thế việc nghiên cứu nội dung và cách thức đánh giá trình độ đọc của PISA sẽ thấy rất rõ những gì cần bổ sung và điều chỉnh trong việc dạy học tiếng Việt nói riêng và giáo dục ngôn ngữ nói chung của nhà trường Việt Nam hiện nay.  Với ý nghĩa đó, bài viết này nhằm giới thiệu một số nội dung, yêu cầu và cách thức đánh giá năng lực đọc hiểu của HS theo PISA.     1. Đối tượng và mục đích của việc kiểm tra đọc  Đối tượng đọc được xác định là văn bản (Text). Nhưng văn bản ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là một tập hợp kí hiệu ( hình thức) để biểu đạt một ý nghĩa, hàm chứa một thông điệp ( nội dung). Vì thế đọc văn bản là một hành động giải mã ( decoding).  PISA quan niệm có hai dạng văn bản: Văn bản liền mạch ( continuous texts) và văn bản không liền mạch ( Non- continuous texts), có thể gọi là văn bản rời rạc, hoặc văn bản không liền mạch.  a) Văn bản liền mạch: được hiểu là một đoạn văn, một phần, một bài, một chương… hoàn chỉnh, liền mạch. Loại văn bản này bao gồm các dạng văn bản sau đây:  –   Tự sự ( Narration)  –   Giải thích ( Exposition)  –    Miêu tả ( Description)  –    Lập luận ( Argumentation)  –    Giới thiệu ( Instruction)  –    Tư liệu hoặc ghi chép ( A Document or Record)  –    Siêu văn bản ( Hypertext)  b) Văn bản không liền mạch: là các dạng văn bản kết hợp nhiều hình thức thể hiện, nhiều kí hiệu khác nhau… không được kết cấu bằng những đoạn văn liền mạch, chẳng hạn:  – Biểu đồ và đồ thị ( Charts and graphs)  – Bảng biều và ma trận ( Tables and matrices                                                                                                      – Sơ đồ ( Diagrams)   – Bản đồ ( Maps)  – Hình dạng ( forms)  – Thông tin tờ rơi ( Information sheets)  – Tín hiệu và quảng cáo ( calls and advertisements)  – Hoá đơn, chứng từ ( Vouchers)  – Văn bằng, chứng chỉ ( Certificates)  Một vài ví dụ:                              Việc kiểm tra trình độ đọc hướng tới các mục đích sau đây:  a) Kiểm tra việc đọc hiểu văn bản: Kiểm tra lại thông tin đã đọc, nhận diện thông tin tương ứng; kiểm tra lại việc nắm thông tin, phải phù hợp, không được lệch ra khỏi văn bản; kiểm tra kĩ năng trình bày lại nội dung văn bản dựa trên những thông tin chính; tìm lại một cách cụ thể những thông tin đã đọc.  b) Tạo ra nền tảng hiểu văn bản, cụ thể là việc lọc ra được ý nghĩa đằng sau biểu đồ; lọc ra được chủ đề chính của câu chuyện; tìm ra lý do cho việc lựa chọn của tác giả; hiểu được nội dung chính của một đoạn văn tự chọn  c) Phát triển kĩ năng bình luận văn bản, giữa việc hết hợp thông tin và đọc biểu đồ; kết hợp thông tin giữa hai văn bản không liền mạch với nhau; phân biệt mối liên hệ giữa các dữ liệu với nhau.  d) Phát triển kĩ năng phân tích văn bản: nhận ra được những đặc điểm hoặc tính cách nổi bật của nhân vật.  e) Phản ánh lại việc suy nghĩ về nội dung văn bản: tạo nên việc so sánh giữa nội dung văn bản với kiến thức của bản thân.  h) Đánh giá cách hiểu về hình thức tác phẩm, nhận ra được thể loại của văn bản.  Nhìn chung trình độ đọc được xác dịnh dựa trên ba phương diện:  –  Thu thập thông tin ( Retrieving information)  –   Phân tích, lí giải văn bản ( Interpreting texts)  –   Phản hồi và đánh giá ( Reflecting and evaluating)     2. Cách thức kiểm tra  Bài kiểm tra trình độ đọc của PISA được cấu trúc như sau:  a) Bài đọc: Bài đọc được nêu đầu tiên với hai dạng text ( continuous texts và Non- continuous texts) như đã nêu ở trên. Nội dung bài đọc hàm chứa các tình huống cần giải quyết và rất gần gũi với thực tiễn cuộc sống.  Điều đáng lưu ý là đề tài của bài texts rất đa dạng và phong phú, hướng vào nhiều lĩnh vực quen thuộc của cuộc sống, dưới nhiều dạng văn bản, không tập trung vào mình văn bản văn học mà cũng rất nhiều nội dung khác như: tuyên truyền thưởng thức khoa học, xã luận, trách nhiệm của công chức, lịch đọc của một thư viện, về tranh tường, về chế độ bảo hành, …  b) Câu hỏi : Có hai dạng câu hỏi: dạng thứ nhất là câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ), đây là dạng chủ yếu và thứ hai là trắc nghiệm tự luận (TNTL), đây là dạng câu hỏi mở – phải viết câu trả lời (3-4 dòng) theo suy luận của HS, Ví dụ:  – Câu hỏi TNKQ: Độ sâu của hồ Chad hiện tại là bao nhiêu?  A Khoảng 2m  B Khoảng 15m  C Khoảng 50m  D Nó đã hoàn toàn biến mất  E Thông tin này không được đề cập đến  (Bài Hồ Chad )  – Câu hỏi TNTL: Trong chuyện các tội phạm đều được xử theo luật. Ở nước bạn có cách nào khác mà trong đó luật và cách phán xử cũng giống như trong chuyện không?  …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..  Trong câu chuyện vị quan tòa đều phạt cả 3 tội phạm 50 roi. Không tính đến hình phạt này, ở nước bạn có hình thức nào mà trong đó luật và cách phán xử khác với chuyện không?  ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….  (Bài Quan toà công minh)  c) Cách cho điểm    Trong hướng dẫn chấm, sau phần câu hỏi bao giờ đáp án cũng nêu mục đích hỏi và cách cho điểm rất cụ thể. Chẳng hạn: với câu hỏi về hồ Chad ở trên, đáp án nêu:  Mục đích của câu hỏi là phát triển kĩ năng bình luận văn bản, giữa việc hết hợp   thông tin và đọc biểu đồ.  Điểm tròn  Mã 1: Khoảng 2m  (Đáp án đúng)  Không cho điểm  Mã 0: cho các câu trả lời khác  Mã 9: không trả lời  Hoặc câu hỏi tự luận ở bài Quan toà công minh vừa nêu trên được hướng dẫn chấm như sau:  Mục đích câu hỏi là để phản ánh lại việc suy nghĩ về nội dung văn bản: tạo nên việc so sánh giữa nội dung văn bản với kiến thức của bản thân.  Trước hết cho phần trả lời về điểm giống nhau:  Điểm tròn:  Mã 1: Miêu tả được điểm giống nhau, chỉ ra được việc hiểu rõ nội dung tác phẩm; việc so sánh hệ thống luật pháp nước mình có thể nói trực tiếp hoặc gián tiếp. Việc nắm rõ thông tin về hệ thống luật pháp không nhất thiết bắt buộc, nhưng cần phải đáp ứng được tầm hiểu biết căn bản về pháp luật của một học sinh ở lứa tuổi 15.  –   Đánh giá sự việc dựa trên bằng chứng  –   Cả hai bên đều có quyền được kể lại câu chuyện theo cách của mình  –    Bình đẳng trước pháp luật (không cần biết anh là ai)  –    Có một vị quan tòa giải quyết sự tranh chấp  –         Những tội giống nhau thì bị phạt bằng cùng một hình phạt  Không cho điểm  Mã 0: Các câu trả lời khác, trong đó bao gồm cách trả lời chung chung, không chính xác hoặc không quan trọng  –         Không phân biệt được đúng, sai  –         Ngay cả những nhà lãnh đạo quan trọng cũng có thể bị đưa ra tòa  –         Các hình phạt  Mã 8: lạc đề  Mã 9: không trả lời     d) Ví dụ về một bài kiểm tra  R217: Những chú ong ( Bees)  Văn bản: Thông tin trong những trang này được lấy từ bản quảng cáo về loài ong. Hãy dựa trên những thông tin ấy để trả lời các câu hỏi sau.  Gom phấn hoa  Ong làm ra mật để tồn tại. Đó là thứ lương thực mang tính sống còn của chúng. Nếu trong một tổ ong có khoảng 60.000 con thì một phần ba trong số chúng sẽ tham gia vào việc cùng gom phấn hoa để rồi những chú ong còn lại trong tổ sẽ tạo mật ra từ đó. Một nhóm ong nhỏ giữ nhiệm vụ là những người chuyên gia săn lùng hoặc phát hiện ra nguồn. Chúng tìm ra nguồn mật rồi quay trở về tổ để báo với số còn lại nơi chúng phát hiện được.  Những chuyên gia săn nguồn báo với đồng loại về những nguồn hoa chúng tìm ra bằng cách nhảy một vũ đạo bao gồm thông tin về hướng bay cũng như khoảng cách mà các chú ong phải bay tới đó. Trong khi nhảy múa các chú ong lắc lư phần bụng từ phía này sang phía kia bằng cách chạy theo những đường vòng hình số 8. Hình dạng điệu nhảy có thể quan sát ở biểu đồ dưới đây:                      Biểu đồ miêu tả điệu nhảy ong từ phía trong tổ theo lớp cắt dọc của sáp ong. Nếu trung điểm của hình số 8 chỉ thẳng về phía trước thì có nghĩa là các chú ong có thể tìm thấy nguồn lương thực nếu chúng bay thẳng hướng mặt trời. Nếu trung điểm hình số 8 hướng về bên phải, thì nguồn lương thực nằm bên phải mặt trời.  Khoảng cách từ nguồn lương thực đến tổ được tính bằng độ dài thời gian lắc bụng của nàng ong. Nếu nguồn hoa ở rất gần, thì cô nàng chỉ phải múa bụng một lúc thôi. Còn nếu đó là một quãng đường dài thì nàng sẽ múa bụng rất lâu.  Làm mật  Khi những con ong thợ mang phấn hoa về tổ, chúng cho chuyển lại cho những con   ong nhà. Những con ong nhà đem phấn bằng phần hàm của mình để tránh cho phấn hoa khỏi bầu khí khô nóng trong tổ. Khi mới được mang về phấn hoa là một hỗn hợp đường, các khoáng chất và khoảng 80% nước. 10-20 phút sau khi phần lớn lượng nước đã bốc hơi các chú ong đem phấn hoa vào một căn phòng trong tổ để tiếp tục quá trình bốc hơi. 3 ngày sau lượng nước trong mật tại các phòng chỉ còn giữ khoảng 20%. Vào thời điểm này các chú ong bịt tổ lại bằng thứ chất lỏng mà chúng tạo ra từ sáp ong.  Trong một thời điểm nhất định các chú ong thường gom phấn hoa của cùng một loại hoa trong cùng một vùng. Những nguồn phấn hoa chính được lấy từ cây ăn quả, cây nhiều hoa và hoa đồng nội.     Từ vựng  Ong nhà = chú ong chỉ làm việc trong tổ  Hàm = một phần của miệng  Câu hỏi 1:  Mục đích của vũ đạo ong là gì?  A  Để ăn mừng việc chế tạo thành công mật ong  B Để định dạng loại thực vật mà các chú ong nguồn tìm ra.  C Để chào mừng sinh nhật của ong Chúa  D Để định dạng nơi mà các chú ong nguồn tìm ra lương thực.Cách cho điểm  Mục đích của câu hỏi là để tạo ra một phần căn bản của việc hiểu văn bản: Hiểu được nội dung chính của một đoạn văn tự chọn  Điểm tròn  Mã 1: Để định dạng nơi mà các chú ong nguồn tìm ra lương thực  Không điểm  Mã 0: Lựa chọn đáp án khác  Mã 9: Không trả lời  Câu 2: Hãy liệt kê những nguồn phấn hoa chính:  1……………..  2……………..  3……………..  Cách cho điểm  Mục đích của câu hỏi là để kiểm tra lại việc nắm thông tin, phải phù hợp, không được lệch ra khỏi văn bản.  Những khả năng sau đây có thể được chấp nhận:  a: cây ăn quả  b: hoa đồng nội  c: cây nở hoa  d: cây  e: hoa  Điểm tròn  Mã 1: cho bất cứ đáp án nào theo dạng abc, abe, bde  Không điểm  Mã 0: cho các cách kết hợp khác giữa a,b,c,d,e hoặc các câu trả lời khác, ví dụ   như: quả  Mã 8: lệch đề  Mã 9: Không trả lời  Câu hỏi 3  Đặc điểm nổi bật nào tạo nên sự khác biệt giữa phấn hoa và mật ?  A Lượng nước trong hợp chất  B Lượng đường và chất khoáng trong hợp chất  C Loại thực vật tạo ra hợp chất đó  D Loại ong đem hợp chất đó về  Cách cho điểm  Mục đích của câu hỏi nhằm phát triển việc bình luận văn bản bằng cách phân   biệt mối liên hệ giữa các dữ liệu với nhau.  Điểm tròn  Mã 1: Lượng nước trong hợp chất  Không cho điểm  Mã 0: cho các cách trả lời khác  Mã 9: không trả lời  Câu 5   Trong điệu nhảy, con ong đã làm gì để chỉ rõ khoảng cách từ nguồn hoa đến tổ?  …………………………………………………………………………………………………………….  ……………………………………………………………………………………………………………  Cách cho điểm  Mục đích của câu hỏi là để tìm lại một cách cụ thể những thông tin đã đọc.  Mã 2: nếu học sinh đưa ra được cả 2 thông tin: lắc/múa bụng và qua độ dài thời gian múa bụng   Ví dụ:   – Độ dài khoảng thời gian con ong múa bụng  – Bằng cách múa bụng trong một khoảng thời gian nhất định  Mã 1: nếu học sinh chỉ đưa ra được thông tin múa bụng (câu trả lời có thể được đưa ra theo cách gián tiếp)  Ví dụ:  –         Cô ong múa bụng  –         Cô ong chỉ ra khoảng cách đến nơi bằng việc múa bụng  Hoặc học sinh chỉ đưa ra được thông tin về thời gian mà không nói đến việc múa bụng:  –         Việc cô ấy nhảy trong bao lâu  Mã 0: nếu học sinh đưa ra câu trả lời không chính xác, không quan trọng, không hoàn chỉnh hoặc không cụ thể  Ví dụ  –         Bằng việc cô ấy nhảy nhanh quanh hình số 8 như thế nào  –         Việc hình số 8 to như thế nào  –         Cô ong nhảy như thế nào  –         Điệu nhảy  –         Cái bụng  Mã 8: lạc đề  Mã 9: không trả lời     Lời kết : Nhìn từ yêu cầu kiểm tra năng lực đọc hiểu của PISA có thể nêu lên một số nhận xét sau đây:  1) Trước mắt chưa thể tham gia và triển khai cách kiểm tra này ở Việt Nam, vì cách dạy đọc hiểu của nhà trường VN có nhiều điểm chưa tương ứng. Việc dạy đọc hiểu và kiểm tra bằng trắc nghiệm ở môn Ngữ văn bước đầu đã có kết quả nhất định nhưng cần được   nghiên cứu kĩ càng, cập nhật và đầy đủ hơn.  2) Rất cần nghiên cứu để điều chỉnh cách biên soạn Chương trình và SGK môn học Ngữ văn, đặc biệt là cách dạy đọc hiểu trong những năm tới, nếu muốn tham gia hội nhập với   quốc tế.  3) Trong môn Ngữ văn, nội dung và phương pháp dạy học tiếng Việt có một vai trò to lớn trong việc hình thành và rèn luyện năng lực đọc hiểu. Cần tránh xu hướng hàn lâm, quá coi trọng kiến thức mang tính hệ thống; gắn chặt hơn nữa với hiện thực đời sống, với các tình huống thường nhật, thiết thực… để dạy đọc hiểu và yêu cầu học sinh suy nghĩ, vận dụng vào đời sống hằng ngày.  —–  *  Programme for International Student Assessment  **PGS.TS.  Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  2 Hữu Ngọc (1995)- Hồ sơ văn hoá Mỹ-NXB Thế giới  3 Organisation for Economic Co-operation and Developement  4 Cựng với Scientific và Mathematical literacy  5 The PISA 2003 – Assessment Framework (Reading) – OECD  6 UNESCO Education Sector, The Plurality of Literacy and its implications for Policies and Programs (2003)… http://unesdoc.unesco.org/images/0013/001362/136246e.pdf     Tài liệu tham khảo      Assessing Scientific reading and Mathematical Literacy (A Framework for PISA- 2006) – OECD  PISA: Sample Questions in Reading– OECD  The PISA 2003- Assessment Framework: Mathematics, Reading, Science and Problem solving. Knowledge and Skills – OECD  PISA 2003 – Technical Report– OECD  PISA 2006 – Science Competencies for Tomorrow’s World ( Volum1- Analysis) –  OECD  www. OECD.org           Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá sách học tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm      Tôi rất trân trọng nỗ lực của nhóm Cánh Buồm khi tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa như bước khởi đầu để cải cách toàn diện nền giáo dục nước ta. Bước khởi đầu lúc nào cũng gian nan và dễ có sai sót. Vì thế xin được góp ý cho nhóm Cánh Buồm về cuốn “Sách học tiếng Anh lớp 1” một cách thẳng thắn chỉ mong sao giúp được nhóm những ý kiến hữu ích.    Với sách giáo khoa, yêu cầu đầu tiên là tính chính xác. Ở góc độ này, “Sách học tiếng Anh lớp 1” còn nhiều sai sót. Ví dụ trang 97 có câu sai: “The flowers is pretty.” Trang 105 cũng có câu sai tương tự “Where’s the pictures?”. Cho dù có là lỗi đánh máy thì sách giáo khoa mà sai như thế là không thể được, phải tìm cách đính chính ngay cho người mua.  Còn loại sai do người viết cũng khá nhiều. Ví dụ ngay trang 9 có câu: “In the sea, animals moving free!” Đây là câu sai ngữ pháp nên tôi phải tìm câu gốc của nó xem sao. Hóa ra tác giả (là Meish Goldish chứ không phải Moish Goldish như sách ghi) viết nguyên văn là “What do you see in the sea?/ Animals moving free!” Câu đầu là câu hỏi, câu sau là trả lời (vì thế hiểu ngầm phần “I see…”) thì câu sau mới đúng tiếng Anh chứ.   Sách có rất nhiều câu tiếng Anh không chuẩn (người Anh họ không nói hay viết như thế) như câu “No, I can not. I’m sleepy.” (trang 22); “You are looking lovely today!” (trang 42); “Do you know how to count?/ For what?” (trang 54); “I have two tickets… For the concert tomorrow./ For you and I?” (trang 66)…  Thứ hai, từ góc độ người dùng có những mẫu câu không biết sẽ dùng như thế nào. Ví dụ câu hỏi “Who is it?” (trang 74). Bởi vì ở dưới toàn là những câu nói về người như “I am a student. She is a student…” Đến trang 83 mới quay lại mẫu câu “What is it? It is a cat.” Hay trang 105 có yêu cầu đặt câu hỏi và trả lời theo mẫu: “Where’s the mother? Where’s the mother? Here I am. I’m next to the grandfather…” Nhưng 5 câu ở dưới lại có khi là người như “Where is Mary?” rồi chuyển qua vật “Where’s the cat?” hay thậm chí đồ vật “Where’s the pictures?” (câu này sai ngữ pháp). Các bạn cứ thử làm học sinh lớp 1 để xem có làm được theo mẫu không?  Quan trọng hơn, sách được biên soạn sai phương pháp.  Có thể kết luận sau khi xem “Sách học tiếng Anh lớp 1” là các tác giả đang dạy học sinh VỀ tiếng Anh chứ không phải dạy tiếng Anh cho các em. Vì thế các tác giả nhấn mạnh ngay từ bài 1 sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh, rồi dạy cho các em số ít số nhiều, sự khác nhau giữa a/an với the, vị trí của tính từ… Trời đất, các em lớp 1 mà học thế thì làm sao học cho vô.  Chúng ta đều biết học ngoại ngữ có nghĩa là học bốn kỹ năng nghe nói đọc viết theo đúng trật tự này. Với các em lớp 1, học tiếng Anh chủ yếu là nghe nói thôi, và nghe nói chủ yếu thông qua các bài hát, các câu thơ, các câu hò vè của trẻ em người Anh. Cứ dạy các em học thuộc lòng các bài hát hay các câu thơ như thế để qua đó dạy cho các em cách phát âm chứ ai lại dành nguyên phần đầu cuốn sách bắt các em luyện từng âm, kể cả âm khó như watch, bridge, earth… một cách riêng lẻ.  Chúng ta cũng đều biết việc học ngoại ngữ là phải gắn từ vào trong câu có ý nghĩa, chứ không thể học từng từ riêng lẻ hay câu không tự nhiên. Thế nhưng sách chứa đầy loại câu này. Ví dụ trong bài Năm “Tính từ tiếng Anh”, mẫu 2: “Tính từ không thay đổi hình thái” trang 81, tác giả đưa ra câu mẫu: “What is it? It is one yellow pen. What are they? They are two yellow pens.” rồi bắt các em “hãy sử dụng những tính từ trên và miêu tả” với “mother, father, uncle, dog, tooth…”. Các em hay phụ huynh chắc sẽ vò đầu bứt tai vì biết làm sao đây để áp dụng câu mẫu mà miêu tả. Tôi cũng chịu.  Tóm lại, tôi cho rằng “Sách học tiếng Anh lớp 1” chưa đạt yêu cầu để sử dụng. Nhóm biên soạn nên chỉnh sửa và phải chỉnh sửa nhiều, thậm chí là viết lại toàn bộ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh hay vun trồng?      Đầu năm, tôi viết bài này về giáo dục, với đầy rẫy sự băn khoăn về một cuộc cải cách giáo dục lớn, được kỳ vọng là toàn diện, triệt để đang được triển khai, với quan niệm như ‘một trận đánh lớn’. Vậy nội hàm của ‘trận đánh’ này là gì?    Tư duy chiến dịch  Việt Nam có một thời gian dài ở trong chiến tranh, nên ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội vẫn còn đậm nét. Có lẽ vì thế mà ‘tư duy chiến dịch’ đã trở thành một mô-típ tư duy điển hình. Điều này có thể nhìn thấy trong phát biểu của các nhà quản lý xã hội, và sâu xa hơn là trong việc lập kế hoạch, triển khai các chương trình phát triển, v.v.  Chẳng hạn, khi được thành lập, các Tập đoàn kinh tế quốc doanh đã được gắn cho danh hiệu, và do đó là kỳ vọng trở thành, ‘quả đấm thép’ của nền kinh tế. Rõ ràng là một tư duy chiến tranh, chứ không phải là tư duy kiến tạo. Đối tượng của nó cũng không rõ ràng. Kết quả ra sao thì đến nay đã rõ, các ‘quả đấm thép’ ngập trong nợ nần, trở thành gánh nặng của nền kinh tế. Đối tượng của các quả đấm thép này từ vô hình, bỗng trở nên rất rõ ràng, là chính nhân dân, người nuôi dưỡng nó.  Đến việc nhiều vị Bộ trưởng tự gọi mình, hoặc gọi nhau là tư lệnh ngành, cũng là biểu hiện của lối tư duy chiến dịch này. Chức danh tư lệnh gắn liền với quân đội. Khi chuyển sang dân sự, người ta không dùng chức danh này, trừ khi tư duy chiến tranh đã trở thành một vô thức ám ảnh.  Những cuộc phát động các chiến dịch đủ thể loại, rầm rộ mà không mang lại kết quả bao nhiêu, mà vô cùng tốn kém, cũng là biểu hiện của lối tư duy này.  Và gần đây nhất, trong kế hoạch cải cách giáo dục toàn diện, triệt để mà Bộ Giáo dục vừa khởi động, thì Bộ trưởng cũng cho rằng đây là một ‘trận đánh lớn’. Phải chăng, tư duy chiến tranh đã trở thành một phần tất yếu của mọi vận động trong xã hội?  Nếu vậy thì rất nguy hiểm.Vì thời chiến đã qua đi. Tư duy thời chiến và thời bình khác nhau một trời một vực. Biểu hiện rõ nhất là một bên trọng sự phá, một bên trọng việc xây; một bên ngắn hạn, một bên dài hạn; một bên diễn ra trong những hoàn cảnh đặc biệt, cô lập, còn một bên trong bối cảnh bình thường, có hội nhập quốc tế.   Vậy mang tư duy này vào giáo dục, liệu có hợp lý?  Ai đánh?  Khi coi giáo dục là một trận đánh lớn, thì câu hỏi đặt ra là “Ai đánh?”  Câu trả lời hiển nhiên là các nhà quản lý và các giáo viên. Điều này hợp lý trên logic quản trị, nhưng không đảm bảo hợp lý trong logic giáo dục. Bằng cách cải cách giáo dục như một trận đánh lớn này đã một lần nữa đặt các nhà quản lý, nhà giáo và cả hệ thống hành chính của giáo dục vào trung tâm, mà bỏ qua chủ thể chính của giáo dục: các em học sinh.        Thay vì gia công các em theo các chương trình hay trận đánh lớn của các nhà quản lý, sẽ tốt hơn nếu phát triển một chương trình giáo dục khai phóng, nhân bản, dựa trên thực tế về sự phát triển của các em và vì các em, thay vì các mục tiêu của nhà quản lý.        Vì sao vậy? Vì học sinh thì không thể ra trận. Nếu có ra thì cũng lại chỉ theo đuôi, được trưng ra cho đủ đội hình, chứ không thể ở tuyến đầu được. Nên coi giáo dục là một trận đánh, thì hiển nhiên rằng, câu chuyện giáo dục này là của những người lớn, học trò không có chỗ tham dự.  Nhưng các nhà quản lý có thể sẽ lập luận rằng: Chúng tôi đánh trận này là vì học sinh. Tuy học sinh không là quân chủ lực của trận đánh, nhưng chúng tôi đánh là vì các em.  Lập luận này rất chính đáng. Nhưng liệu có hợp lý?  Câu trả lời của cá nhân tôi là không. Lý do: Trong trường hợp này, các nhà giáo dục đã mắc vào một lỗi điển hình: Giáo dục các em theo cách mình nghĩ, theo khuôn mình đúc, chứ không phải theo thực tế phát triển của các em.  Đó mới là vấn đề nghiêm trọng.  Hậu cần và triết lý   Việc tranh luận xem ‘ai đánh’ có thể sẽ chỉ là chuyện bẻ chữ, vạch lá tìm sâu, vì ‘ý tại ngôn ngoại’. Gọi cuộc cải cách giáo dục này là ‘trận đánh lớn’ chỉ là cách ví von hình ảnh, để hình dung được tầm vóc của một sự chuẩn bị đòi hỏi nhiều nguồn lực. Nói cách khác là về ‘công tác hậu cần’.  Trong cuộc cải cách giáo dục này, công tác hậu cần nào là quan trọng nhất?  Hiển nhiên đó là tư duy mới và hiện đại về giáo dục, cụ thể là tư duy mới về con người, sản phẩm của nền giáo dục.  Nói cách khác, đó là việc đi tìm một triết lý giáo dục đúng, thông qua việc trả lời câu hỏi: Hệ thống giáo dục này muốn tạo ra con người như thế nào, con người tự do hay con người công cụ?  Vì sao vậy? Vì những bất cập hiện thời của hệ thống giáo dục được xây dựng trên một tư duy cũ về giáo dục và về con người được gia công theo các tiêu chí cứng nhắc định trước, và nhồi nhét những tri thức mà nhà quản lý cho là hữu ích đối với xã hội, mà không xét đến bản thân đặc điểm bẩm sinh, năng khiếu cá nhân và tiến trình phát triển tự nhiên của người học.   Muôn người một khuôn, từ nội dung, chương trình, đến cách học, cách thi, cách nghĩ, cách sống, các cảm thức thẩm mỹ, đến các thang giá trị xã hội… đều đồng nhất và lạc hậu. Vì sao? Vì những chiếc khuôn này được xây dựng trong thời chiến, trong nền kinh tế quan liêu bao cấp, nên không còn phù hợp với thời bình và hội nhập quốc tế hiện thời.  Bên cạnh những bất hợp lý trong hành chính, điển hình là chế độ lương giáo viên, thì đây chính là gốc gác của những yếu kém trong nền giáo dục hiện thời. Vậy nên, nếu không xác định và phát biểu được tường minh về một triết lý giáo dục mới, và xây dựng một kế hoạch hậu cần cho cuộc cải cách hiệu quả, thì cuộc cải cách này sẽ có rất ít cơ hội để thành công.  Trong quan niệm đó, thì vun trồng và giáo dưỡng những con người tự do mới là cách đúng để cải cách giáo dục.   Điều này không phải bây giờ mới đặt ra, mà đã được thảo luận từ 250 năm trước bởi Rousseau. Trong tác phẩm “Emile hay là về giáo dục”, Rousseau đã đặt lại quan niệm về giáo dục cổ truyền, theo đó thay vì nhào nặn trẻ em theo khuôn mẫu của người lớn, trẻ em được đặt ở vị trí trung tâm của giáo dục. Các nhà giáo thông qua việc tìm hiểu bản tính tự nhiên của trẻ em, tức nghiên cứu trẻ em trong từng giai đoạn phát triển, sẽ tiến hành công việc dạy học của mình.  Theo quan niệm này, người thầy sẽ đóng vai trò như người quan sát và nghiên cứu các em, rồi từ đó đưa ra những chỉ dẫn phù hợp, để các em tự tìm tòi khám phá, tự tìm lấy tri thức cho mình và định hình tính cách bản thân mình. Mục tiêu là để các em phát triển được toàn bộ khả năng thiên bẩm của mình và làm chủ cuộc đời mình, với đầy ắp các giá trị nhân văn, một cách tự nhiên nhất.  ***  Sản phẩm của giáo dục là học bây giờ chẳng hạn, thì phải mười năm nữa, hoặc hơn, các em mới vào đời. Liệu điều các nhà giáo dục nghĩ, các khuôn nhà quản lý giáo dục đúc ra bây giờ, thì mười năm nữa có còn phù hợp, khi mà theo thống kê, thời gian để gấp đôi lượng tri thức hiện thời đã dưới một năm. Trong một năm nữa, lượng tri thức đã tăng lên cỡ 1.000 lần. Liệu cái khuôn các nhà giáo dục đúc ra hiện nay, có thể chứa được một khối lượng phình ra như vậy cho 10 năm sau? Vậy nên thay vì gia công các em theo các chương trình hay trận đánh lớn của các nhà quản lý, sẽ tốt hơn nếu phát triển một chương trình giáo dục khai phóng, nhân bản, dựa trên thực tế về sự phát triển của các em và vì các em, thay vì các mục tiêu của nhà quản lý.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về nghiên cứu và quản lý KH&CN      Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký quyết định số 131/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&amp;CN ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trên hai lĩnh vực nghiên cứu và quản lý KH&amp;CN.      Mục tiêu mà đề ân đề ra là nhằm góp phần nâng cao trình độ chuyên môn,  nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng quản lý, nghiên cứu, tiếp thu, làm chủ,  phát triển công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại của đội ngũ nhân lực KH&CN, hình thành lực lượng chuyên gia KH&CN  trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.    Đề án nêu rõ, sẽ đào tạo, bồi dưỡng khoảng  150 chuyên gia (giai đoạn 2016 – 2020) và khoảng 200 chuyên gia (giai  đoạn 2021 – 2025) ở nước ngoài nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia KH&CN có trình độ chuyên môn sâu, có kỹ năng nghiên cứu và  triển khai những vấn đề KH&CN của ngành, lĩnh vực đạt  trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực và thế giới; tạo nguồn để phát  triển thành nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư.                     Song song với đó, sẽ đào tạo 50 nhóm nghiên cứu (giai đoạn 2016 – 2020) và khoảng 80 nhóm nghiên cứu  (giai đoạn 2021 – 2025) ở nước ngoài nhằm hình thành các nhóm nghiên cứu  mạnh, có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ KH&CN quan  trọng của ngành, lĩnh vực.   Sẽ bồi dưỡng sau tiến sỹ cho khoảng 100  người (giai đoạn 2016 – 2020) và khoảng 200 người (giai đoạn 2021 –  2025) ở trong nước và nước ngoài để phát triển và hoàn thiện kỹ năng  nghiên cứu và triển khai; tạo nguồn để hình thành chuyên gia trong các  lĩnh vực KH&CN.   Ở cấp độ quản lý, sẽ tập trung bồi dưỡng khoảng 200 cán bộ (giai đoạn 2016 – 2020) và khoảng 300 cán bộ (giai đoạn từ 2021 – 2025) về kiến thức, kỹ  năng quản lý KH&CN, quản lý đổi mới sáng tạo ở trong  nước và nước ngoài.   Để thực hiện tốt các mục tiêu này, việc lựa chọn chuyên gia, cán bộ cũng được coi trọng. Ở cấp độ nghiên cứu, tuyển chọn các chuyên gia thuộc cơ sở dữ liệu chuyên gia do Bộ  KH&CN ban hành đi đào tạo, bồi dưỡng  thông qua làm việc có thời hạn hoặc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu tại  các cơ sở đào tạo, nghiên cứu hoặc doanh nghiệp ở nước ngoài. Thời gian  đào tạo, bồi dưỡng không quá hai năm, trường hợp đặc biệt cần kéo dài thời  gian do Bộ trưởng Bộ  KH&CN quyết định.   Với các nhóm nghiên cứu, việc đào đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài thông qua triển khai nhiệm vụ nghiên  cứu trong thời gian không quá sáu tháng.  Với đối tượng sau tiến sỹ, việc tuyển chọn tập trung vào những người có  trình độ tiến sỹ, đang làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học  hoặc doanh nghiệp. Hình thức bồi dưỡng ở trong nước hoặc nước ngoài thông qua  triển khai nhiệm vụ nghiên cứu với thời gian không quá 2 năm.  Ở cấp độ quản lý khoa học, tuyển chọn từ các cán bộ thuộc các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức KH&CN, doanh  nghiệp, bồi dưỡng ở trong nước (kết hợp mời chuyên gia nước ngoài  giảng dạy) hoặc ở nước ngoài, thông qua các khóa học chuyên đề hoặc các  hình thức thiết thực khác trong thời gian không quá ba tháng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo đại học khối KHXH và nhân văn: Thử nhìn ra bên ngoài      Trái ngược với Việt Nam, ở nhiều nước trên thế giới, nhờ khuyến khích sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên với KHXH và nhân văn qua việc thành lập đại học đa ngành mà số sinh viên theo học khối KHXH và nhân văn tăng liên tục.    Trỗi dậy ở châu Âu  Từ thời Trung cổ cho đến Phục hưng, tri thức là một phạm trù được bàn cãi nhiều nhất. Trong giai đoạn khoảng mười thế kỷ này, trí thức dù được nhìn từ các quan điểm khác nhau nhưng về cơ bản là người toàn diện, có kiến thức rộng và kỹ năng ứng dụng linh hoạt trong các lĩnh vực. Quan niệm này là nền tảng của giáo dục tổng quát (liberal education), trỗi dậy từ thế kỷ 19.   John Henry Newman (1801-1890), sáng lập Catholic University of Ireland, ngày nay là University College ở Dublin, cổ xúy đào tạo người có tri thức toàn diện thông qua giáo dục tổng quát. Trong cuốn The Idea of a University Defined and Illustrated gồm các bài giảng ở Dublin vào thập niên 1850, Newman cho rằng ‘đại học là quyền lực bảo vệ mọi kiến thức và khoa học, mọi sự thật và nguyên lý, mọi tìm tòi và khám phá…’. Ông tin rằng các cơ sở hàn lâm phải tập trung đào tạo những công dân có trách nhiệm; tình cảm và tri thức của họ phải đóng góp cho toàn bộ tiến trình chuyển hóa của xã hội. Ông chủ trương đại học không nên dạy một ngành chuyên biệt, và dù đánh giá cao vai trò của nghiên cứu, ông cho rằng công tác nghiên cứu thích hợp với các tổ chức ngoài đại học hơn. Quan điểm này của ông có lẽ bị nhiều người thời nay không đồng tình, nhất là ông coi trọng giáo dục tổng quát hơn công tác nghiên cứu.  Tư tưởng của Newman, theo Giáo sư Sử học Robert Anderson, ĐH Edinburgh, ‘là nền tảng tạo nên bản sắc Anh với xác tín rằng giáo dục nhằm sản xuất con người toàn diện (generalists) chứ không chỉ cho ra lò những chuyên gia chỉ biết lĩnh vực của mình (narrow specialists).’   John Stuart Mill cùng quan điểm với Newman. Trong diễn văn nhậm chức Hiệu trưởng Đại học St. Andrews năm 1867, Mill nói mục tiêu của đại học ‘không nhằm tạo ra những luật sư giỏi, hay bác sĩ hoặc kỹ sư lành nghề, mà để tạo ra những con người có tiềm năng và trí thức toàn diện… Con người trước hết là con người trước khi anh ta là luật sư hay bác sĩ… và nếu chúng ta giúp họ thành những con người có tiềm năng và nhạy bén, thì họ sẽ tự biến mình thành những luật sư hay bác sĩ tiềm năng và nhạy bén… Một người có thể trở thành một luật sư tài giỏi mà không qua giáo dục tổng quát, tuy nhiên chỉ qua giáo dục tổng quát thì người đó mới trở thành một luật sư trí tuệ (philosophic lawyers).’  Trong khi Anh quốc coi giáo dục tổng quát là mục tiêu chính của đại học thì tại châu Âu lục địa, ý tưởng ‘đại học nghiên cứu’ của Wilhelm von Humboldt đã trở thành một mô hình lý tưởng. Trọng tâm của mô hình Humboldt: đại học là sự kết hợp giữa giảng dạy và nghiên cứu. Chức năng của đại học là thúc đẩy sự phát triển của kiến thức qua tìm tòi chứ không chỉ chuyển giao kiến thức từ quá khứ cho người học.   Humboldt cũng ủng hộ giá trị của giáo dục tổng quát, nhưng ông xác định vai trò của giảng dạy phải gắn kết mật thiết với nghiên cứu. Ứng dụng ý tưởng này giúp nước Đức có nhiều đại học nghiên cứu nổi tiếng nhất thế giới, sản xuất nhiều chuyên gia hàng đầu.           Con người trước hết là con người trước khi anh ta là luật sư hay bác sĩ… và nếu chúng ta giúp họ thành những con người có tiềm năng và nhạy bén, thì họ sẽ tự biến mình thành những luật sư hay bác sĩ tiềm năng và nhạy bén… – John Stuart Mill        Tuy nhiên, đại học nghiên cứu chỉ dành cho thành phần xã hội thuộc tầng lớp quý tộc, cầm quyền, giàu có. Sinh viên nghèo muốn vào được các trường chuyên phải thực sự là những người xuất chúng, và do vậy không nhiều. Kinh tế khó khăn, học phí cao, thiếu tài trợ của chính phủ là một trở ngại khác đối với người nghèo muốn vào đại học chuyên ngành.   Truyền thống Humboldt đưa đến hệ quả là đại học châu Âu dần chuyển sang hướng dạy chuyên ngành hẹp từ năm thứ nhất (ngoại lệ là Anh quốc do ảnh hưởng tư tưởng như của Newman và Mill).   GS Anderson ca ngợi sự thành công của mô hình Humboldt trong thế kỷ 19 và đến gần cuối thế kỷ 20. Nhưng sau khi duyệt qua sự thay đổi của thời đại, cả đà gia tăng dân số, ông cho rằng ‘ta có thể nói mô hình Humboldt đã chết, phải bàn giao nó cho quá khứ.’   Lập luận của GS Anderson dựa trên các yếu tố có thể trông thấy. Vai trò nghiên cứu, ở các nước phát triển, giờ đây không chỉ bó hẹp trong khuôn viên đại học. Nó được nhiều tổ chức không phải đại học đảm nhiệm, thí dụ quân đội. Chức năng của các cơ sở ngoài đại học là tập trung nghiên cứu sâu, và chỉ nghiên cứu mà thôi, một lĩnh vực chuyên biệt. Họ không có nhiệm vụ đào luyện những con người tri thức toàn diện.  Trước tình hình khủng hoảng công ăn việc làm trên toàn thế giới, đặt nặng vai trò nghiên cứu của đại học và tập trung đào tạo chuyên môn hẹp cho sinh viên ngay từ bậc cử nhân không còn thích hợp, một lần nữa, giới đại học quay lại với tư tưởng của Newman và Mill.   Khi Anderson nói ‘mô hình Humboldt đã chết’ không có nghĩa không cần đại học nghiên cứu chuyên ngành hẹp. Ngược lại, đặc biệt ở Bắc Mỹ, vẫn còn nhiều đại học nghiên cứu bậc nhất, nhưng chúng phát triển tốt đẹp vì các đại học đó chỉ là một mô hình trong toàn bộ cơ cấu đại học.  Đại học châu Âu đã quay lại một vòng, không chỉ đặt trọng tâm vào vai trò ‘dạy và nghiên cứu phải kếp hợp chặt chẽ’ theo truyền thồng Humboldt. Châu Âu đã nhìn lại cấu trúc đại học của họ, thấy rằng một người chuyên môn chỉ có thể thích ứng với thời thế nếu biết đặt ngành nghề của anh ta trong mối quan hệ với xã hội. Muốn tạo một con người như thế phải đào luyện tri thức phổ cập.  Và tri thức phổ cập của nhân loại chỉ có thể tìm thấy trong nhóm ngành KHXH và nhân văn.  Tuyên bố Bologna 1999 gồm 29 nước (10 năm sau đó, số quốc gia chia sẻ mục đích chung của Bolona lên 46) ra đời nhằm đưa đến một giá trị chung cho đại học châu Âu. Tiến trình Bologna là chiến lược xoay chuyển tình thế của châu Âu trước nhu cầu học tập to lớn về số lượng và phong phú về ngành nghề. Suốt hơn một thế kỷ dạy chuyên môn ngay từ cấp cử nhân (undergraduate), châu Âu đã làm phai nhạt phần KHXH và nhân văn trong các sinh viên tốt nghiệp. Chính phủ hạn chế đại học tư vì quần chúng (và chính quyền) quan niệm đại học phải là công, ai cũng muốn học miễn phí, không khuyến khích sự đa dạng của cơ cấu đại học. Bên cạnh đó, đại học nghiên cứu không đáp ứng số lượng người muốn vào đại học. Muốn thỏa mãn, hệ thống đại học phải mở rộng, cần nhiều mô hình khác nhau như vừa có đại học nghiên cứu tinh hoa, vừa có đại học chuyên ngành KHXH và nhân văn với các giai đoạn hoàn tất khác nhau. Và cốt lõi là, đại học từ nửa sau thế kỷ 20 không nên chỉ cho ra lò các chuyên gia, mà còn phải là các công dân có trách nhiệm, thích ứng với thời đại.  Thay đổi nhận thức của toàn xã hội về khối KHXH và nhân văn đã nâng số sinh viên theo học nhóm ngành này. Trong 19 triệu sinh viên thuộc 27 nước trong Liên minh châu Âu, có 28% học ngành khoa học xã hội, trong khi ngành khoa học kỹ thuật chỉ chiếm 14.1% (Eurostat 2008).  Bền vững ở Bắc Mỹ và Úc  Mỹ là một quốc gia rất năng động, gần cả trăm năm qua, Mỹ không chỉ áp dụng mô hình đại học nghiên cứu kiểu Humboldt mà còn cấu trúc cơ cấu đại học theo hướng đại học đa ngành.  Để đại học không xa cách nhân dân bằng các bức tường gạch đỏ (red brick universities, chỉ các trường lâu đời ở Anh).  Để đại học không phải là địa chỉ độc tôn của giới hàn lâm, không dành riêng cho một nhóm xã hội nào cả.  Đó là ý nghĩa của ‘ưu tú ở tốp trên, và dân chủ ở nền tảng’ trong hệ thống đại học Mỹ.  Mark Mills, nhà vật lý học từng phục vụ trong Nhà Trắng thời Tổng thống Reagan, và Julio Ottino, giáo sư hóa học và sinh học ở ĐH Northwestern là hai trong số các học giả thuộc ngành khoa học tự nhiên báo động sự bất toàn của nền giáo dục nếu chỉ đào tạo nhà khoa học thiếu kiến thức tổng quát. Trong bài ‘Chúng ta cần thêm khoa học gia thời Phục Hưng’ (We Need More Renaissance Scientists) trên tờ Forbes (3/6/2009), hai ông ví một khoa học gia không có kiến thức KHXH và nhân văn giống như người chỉ dùng một bán cầu não, nghĩa là chỉ biết ứng dụng cứng nhắc nghiệp vụ chuyên môn, khi đối diện trước thực tế cuộc đời luôn đổi thay:          50% nhà tuyển dụng được hỏi cho biết họ muốn đại học phải dạy cho sinh viên nhiều hơn nữa kỹ năng và kiến thức về truyền đạt, tư duy suy luận, sáng tạo, giải quyết vấn đề, văn hóa, kiến thức tổng quát.         ‘… Khoa học và công nghệ kích thích hoạt động bán cầu trái; lý luận, phân tích, tìm kiếm mô thức, giải quyết vấn đề, phân loại, tổ chức. Nhưng muốn có sáng kiến phải có các yếu tố nhân văn thuộc bán cầu phải; sáng tạo, chất nghệ thuật, trực giác, diễn đạt bằng hình tượng, tưởng tượng, cảm xúc.’  Hai nhà khoa học nhấn mạnh:  ‘Phải thay đổi từ bậc tiểu học đến trung học bằng cách tránh chia học sinh theo tuyến chuyên ngành, dù chia ngấm ngầm hay rõ rệt theo kiểu ‘chuyên ngành toán thì không học văn’ và ‘chuyên ngành văn thì không học toán.’ Có lẽ chúng ta nên đưa nhóm ngành nghệ thuật, văn chương và âm nhạc thành một phần của chương trình khoa học và công nghệ.’  Theo một khảo sát mới đây đăng trên bản tin khoa học The Spring 2010 Bulletin của Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật và Khoa Học Mỹ (American Academy of Arts & Sciences), số sinh viên theo học khối KHXH và nhân văn gia tăng đều từ thập niên 1980. Kết quả khảo sát 1.400 trường cao đẳng trên toàn quốc cho thấy từ 1988 đến 2008, số cử nhân tốt nghiệp khối KHXH và nhân văn chuyên ngành tôn giáo, triết học, lịch sử nghệ thuật tăng mạnh nhất từ 75 đến 125%. Các ngành lịch sử, ngoại ngữ, ngôn ngữ, Anh ngữ cũng đều tăng trong hai thập niên qua.  Mùa thu năm 2009, Hiệp Hội Cao Đẳng và Đại Học Mỹ (Association of American Colleges and Universities, AAC&U) thực hiện một cuộc khảo sát 300 nhà tuyển dụng Mỹ về mức độ hài lòng đối với sinh viên tốt nghiệp. 50% nhà tuyển dụng cho biết họ muốn đại học phải dạy cho sinh viên nhiều hơn nữa kỹ năng và kiến thức về truyền đạt, tư duy suy luận, sáng tạo, giải quyết vấn đề, văn hóa, kiến thức tổng quát.   Tại Canada, thống kê của Hội đồng KHXH và Nhân văn Canada (Social Sciences and Humanities Research Council, SSHRC) ghi nhận năm 2008 ngành KHXH và nhân văn tăng 6,4%, mạnh nhất so với các chuyên ngành khác. Trong phúc trình ‘Vai trò và sự ảnh hưởng kinh tế của ngành KHXH và Nhân văn’ (The Economic Role and Influence of the Social Sciences and Humanities) dựa trên số liệu của Cục Thống Kê Canada 2008 (Statistics Canada), SSHRC cho biết sự thành công (kinh tế) của ngành công nghiệp dịch vụ tùy thuộc phần lớn từ kiến thức KHXH và nhân văn. Tại Canada, khu vực dịch vụ dựa vào kiến thức KHXH và nhân văn đóng góp 70% GDP. Nhân lực thuộc khối KHXH chiếm 76% nhân lực toàn quốc.          Mô hình Melbourne áp dụng cho sáu bằng cử nhân Thế hệ Mới (New Generation degrees), gồm khoa học xã hội và nhân văn, y sinh học, thương mại, môi trường, âm nhạc và khoa học. Sinh viên học bất kỳ một trong sáu khối này phải chọn 25% môn học không thuộc khối chuyên ngành của mình. Thí dụ sinh viên Y sinh phải chọn 25% môn học thuộc khối KHXH và nhân văn, âm nhạc, hoặc các môn thuộc khối khác trong mô hình.        Tại Úc, mô hình đại học kết hợp dạy học và nghiên cứu bắt đầu hình thành từ thập niên 1950. Nhưng Úc đã bắt đầu tái cấu trúc hệ đại học theo hướng mở – theo tinh thần ‘ưu tú ở tốp trên và dân chủ ở nền tảng’ cách đây 20 năm.  Báo cáo Thẩm định hệ đại học năm 2008 (Review of Australian Higher Education Fina Report 2008) của Chính phủ Liên bang Úc cho thấy mô hình này được lan rộng, góp phần đưa một số đại học Úc vào nhóm 50 trường hàng đầu thế giới. Cũng như ở Bắc Mỹ và châu Âu, đại học Úc khuyến khích sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên với KHXH và nhân văn qua việc thành lập đại học đa ngành.   Tiên phong là Mô hình Melbourne (Melbourne Model) do ĐH Melbourne ứng dụng trong mấy năm qua. Sinh viên theo học Mô hình Melbourne sẽ có kiến thức vừa chuyên biệt vừa tổng quát, mở rộng các bộ môn KHXH nhân văn cho sinh viên khoa học tự nhiên và ngược lại, tức vừa sâu (chuyên ngành), vừa rộng (đa dạng). Mô hình Melbourne áp dụng cho sáu bằng cử nhân Thế hệ Mới (New Generation degrees), gồm khoa học xã hội và nhân văn, y sinh học, thương mại, môi trường, âm nhạc và khoa học. Sinh viên học bất kỳ một trong sáu khối này phải chọn 25% môn học không thuộc khối chuyên ngành của mình. Thí dụ sinh viên Y sinh phải chọn 25% môn học thuộc khối  KHXH và nhân văn, âm nhạc, hoặc các môn thuộc khối khác trong mô hình.  Mô hình Melbourne là một trong các nhân tố đưa ĐH Melbourne nằm trong nhóm 50 trường đầu thế giới. Năm 2010, Times Higher Education xếp hạng ĐH Melbourne thứ 36, trong khi ĐH Humboldt, nơi xuất phát Mô hình Humboldt lừng lẫy, thứ 178.   Khuynh hướng kết hợp KHXH và nhân văn với khoa học tự nhiên đã nâng số sinh viên học khối KHXH và nhân văn liên tục. Các đại học chuyên khối kỹ thuật công nghệ, như ĐH Công nghệ Swinburne, cũng mở rộng khối nhân văn từ cấp bằng diploma (Diploma of Liberal Arts) đến tiến sĩ. Thống kê của Bộ Giáo dục Liên bang Úc cho thấy mức tăng trưởng đều về số sinh viên theo khối nhân văn trong hai thập niên qua. Năm 2008, sinh viên học khối nhân văn chiếm 19,7% tổng số sinh viên toàn quốc, tăng 3% so với năm 2007. Năm 2009, sinh viên học khối nhân văn tăng 11,6% so với 2008.     THAM KHẢO  American Academy of Arts & Sciences. The Spring 2010 Bulletin. <http://www.amacad.org/publications/>.  Anderson, R. 2009. The idea of a university. In K.Withers (Ed) First Class? Challenges and opportunities for the UK’s University Sector. London: IPPR.  Australia Government, Department of Education, Employment and Workplace Relations. Summary of the 2008 [and 2009] Higher Education Student Statistics. <http://www.deewr.gov.au/HigherEducation/Publications/>.  EUA. 2006. The contribution of universities to Europe’s competitiveness. Diễn văn của giáo sư Georg Winckler, Chủ tịch Hiệp Hội Đại Học Châu Âu tại Hội nghị các Bộ trưởng Giảo Dục châu Âu tại Vienna ngày 16–17 tháng Ba năm 2006.  <http://www.eua.be/eua/jsp/en/upload/EUA_Winckler_Speech_160306.114250329  1615.pdf>.  Eurostat. 2008. European Commission <http://epp.eurostat.ec.europa.eu/>.  Pink, Daniel. 2005. A Whole New Mind: Why right-brainers will rule the future. Riverhead Books: USA.  Social Sciences and Humanities Research Council of Canada. 2010. The Humanities in 2010. Report of the Working Group on the Future of the Humanities.  van der Wende, Marijk. 2011. The Emergence of Liberal Arts and Sciences Education in Europe: A Comparative Perspective. Higher Education Policy, Volume 24, Issue 2, June 2011: 233-253.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo kỹ sư ở Trung Quốc và Ấn Độ: DANH CÓ XỨNG THỰC?      Ấn Độ khiến người Mỹ lo sợ rằng hai nước này sẽ dẫn đầu về công nghệ cao. Tuy nhiên, chính các nhà khoa học ở Trung Quốc và Ấn Độ lại vẽ nên một bức tranh khác. “Đừng nhìn vào số lượng, bởi trừ một số nhỏ tốt nghiệp trường hàng đầu, chất lượng số còn lại đang xuống dốc không phanh” – Ông Indiresan, cựu Viện trưởng Học viện Kỹ thuật Ấn Độ (IIT) ở Madras phát biểu – “Tiêu chuẩn thấp, vật chất tồi, giảng dạy thì kinh khủng”.    Khảo sát con số  Minh họa cho bài báo về tình trạng nhân lực công nghệ ở Mỹ trên tờ Fortune là bức tranh anh chàng đô con Trung Quốc đang đẩy ngã chú Sam lẻo khẻo. Quả thật, số kỹ sư và nhà khoa học tăng vọt ở Trung Quốc và   Còn Phương Chu Tử, người chuyên theo dõi hoạt động khoa học của Trung Quốc thì cho rằng vẫn chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ nền khoa học của Trung Quốc sẽ đe dọa Mỹ trong tương lai gần. Nguyên nhân, theo Phương, là do hệ thống giáo dục chỉ chăm chăm cho ra lò một số lượng lớn sinh viên. “Đơn giản là quá nhiều sinh viên trong khi điều kiện chưa đủ. Thật bất thường khi một giáo sư hướng dẫn cho hơn 40 nghiên cứu sinh, nghĩa là ở đây chẳng có hướng dẫn gì hết.”  Bài báo trên tờ Fortune đưa ra con số: Năm 2004, Trung Quốc có 640.000 sinh viên kỹ thuật, so với Ấn Độ là 350.000 và Mỹ chỉ là 70.000. Song nếu phân tích kỹ hơn thì những con số này không quá “đáng sợ”: Theo báo cáo của ĐH Duke, trình độ sinh viên năm thứ ba của Trung Quốc chỉ tương đương với thợ sửa xe. Và nếu so những sinh viên các ngành cơ khí, khoa học máy tính, và công nghệ tin học đủ trình độ thực hiện những nghiên cứu sơ đẳng và phát triển sản phẩm – thì Mỹ nhiều hơn Ấn Độ. Còn nếu tính trên đầu người, thì Mỹ hơn Trung Quốc 50% và gấp 4 lần Ấn Độ.  Nhiều lãnh đạo trong giới khoa học và kinh doanh Trung Quốc than phiền rằng dù ngày càng có nhiều sinh viên ra trường thì họ vẫn thiếu những người thạo tiếng Anh và đủ kỹ năng để hoạt động trong môi trường quốc tế. Ngoài ra những người tốt nghiệp các trường đại học Trung Quốc phối hợp làm việc theo nhóm cũng rất kém.  Những lo ngại đó cũng được công ty MacKinsey – một công ty tư vấn quốc tế nhấn mạnh trong một bản báo cáo với tiêu đề “Hiểm họa thiếu nhân lực cao của Trung Quốc”. Báo cáo đánh giá Trung Quốc khó có khả năng trở thành người khổng lồ trong lĩnh vực xuất khẩu công nghệ thông tin và dịch vụ thương mại. Chỉ khoảng 10% những người tìm việc Trung Quốc có thể đủ  khả năng làm việc trong các công ty quốc tế trên lĩnh vực kỹ thuật, tài chính và khoa học sự sống.  Các nhà giáo dục cho rằng nguyên nhân do các trường đại học tuyển sinh ồ ạt. Tổng số sinh viên của Trung Quốc năm ngoái là 16 triệu, hơn 3,4 triệu so với năm 1998 – năm chính phủ Trung Quốc cho phép các trường ĐH tuyển sinh số lựong lớn. Rất nhiều sinh viên ngành kỹ thuật kêu ca họ ít được thực hành và mất quá nhiều thời gian cho các bài luận kém chất lượng. Mức học bổng quá thấp, khoảng 300 tệ (gần 600.000 đồngVN)/tháng buộc sinh viên phải làm thêm và bỏ bê học hành. Ngoài ra, những sinh viên giỏi nhất lại tiếp tục tới Mỹ du học, và phần lớn không trở về. “Chảy máu chất xám vẫn là vấn đề nghiêm trọng” – Phương phát biểu.    Giấc mộng công nghệ cao ở Ấn Độ  Số lượng sinh viên kỹ thuật ở Ấn Độ tăng vọt cùng với tốc độ tăng trưởng của các công ty gia công phần mềm ở nước này. Năm nay, 1.346 trường đại học và cao đẳng kỹ thuật ở Ấn Độ tuyển 440.000 sinh viên. Năm 1998, con số này chỉ là 60.000. Song con số ấn tượng này lại che giấu nhiều yếu kém. Chỉ khoảng 4.000 sinh viên trong số đó là thuộc 7 trường uy tín của Học viện Kỹ thuật Ấn Độ (IIT) – học viện có đẳng cấp quốc tế thực sự. Ngoài ra, trong số các trường đại học và cao đẳng trên, chỉ khoảng 150 trong đó có chất lượng khá.  Một báo cáo khác của công ty McKinsey cho biết, chỉ 25% kỹ sư Ấn Độ hoàn thành tốt công việc gia công phần mềm cho Mỹ. Dù đang trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin và các ngành kỹ nghệ khác, hàng triệu người tốt nghiệp các trường đại học kỹ thuật Ấn Độ vẫn không tìm được việc làm. Tuy nhiên – theo ông C.N.R Rao, cố vấn khoa học của thủ tướng – số kỹ sư của Ấn Độ vẫn sẽ tăng lên do đòi hỏi của xã hội. “Ở Ấn Độ, tất cả cha mẹ đều muốn con mình trở thành kỹ sư. Họ cho con học bất kỳ trường kỹ thuật nào, bất kể trường đó có cơ sở hạ tầng đầy đủ hay không”.  Chính bởi vậy mà các trường hạng hai, thậm chí cả IIT cũng bắt đầu thiếu giáo viên. Trong khi đó giáo viên đại học lại thích làm trong khối kinh tế tư nhân hơn giảng dạy vì có thu nhập cao hơn. Đó là lý do mà các công ty lớn ở Ấn Độ bắt đầu rót tiền vào trường đại học. Công ty công nghệ thông tin lớn nhất Ấn Độ Infosys đã liên kết với 248 trường đại học Ấn Độ nhằm lấp khoảng trống giữa nhu cầu và khả năng cung cấp kỹ sư. Infosys cũng chi 176 triệu USD để tăng gấp ba quy mô chi nhánh Trung tâm giáo dục toàn cầu – trung tâm này được ông Nadan M. Nilekani, giám đốc điều hành Infosys gọi là “đại học liên kết”. “Chương trình học không cập nhật, sinh viên không được tiếp cận với công nghệ tiên tiến nhất” – Ông Nilekani nói – “Và chúng tôi đang cố gắng cải thiện nó”.  Giới khoa học cả ở Trung Quốc và Ấn Độ đều đồng ý rằng các trường đại học của họ cần phải nỗ lực rất nhiều. “Có sự khác biệt rất lớn giữa “Ấn Độ có thể” và “Ấn Độ sẽ” là đối thủ cạnh tranh trên lĩnh vực công nghệ với Mỹ. Với tình trạnh hiện tại thì Ấn Độ sẽ không là đối thủ công nghệ của Mỹ. Chỉ khi cải thiện chất lượng đào tạo của các trường công nghệ hàng đầu, Ấn độ mới “có thể” làm được điều này” – Cựu Viện trưởng IIT Indiresan phát biểu.  Theo www.xys.org  —————-  CHÚ THÍCH ẢNH: Thư viện trung tâm của IIT ở Madras  V.A      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo luật: Hai triết lý, hai hướng đi, hai mô hình, hai hệ quả khác nhau      Hai triết lý, hai hướng đi,  hai mô hình, hai hệ quả khác nhau          Các luật sư tác nghiệp trong một phiên tòa. Nguồn: http://baophapluat.vn.  Luật pháp là ý chí giai cấp thống trị hay lương tri chung?  “Luật pháp là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận”, người ta có thể dễ dàng đồng ý với nhau như vậy. Nhưng khi đi tiếp tục đào sâu: Các quy tắc xử sự này phản ánh ý chí của ai? thói quen của ai? thì hai triết lý khác nhau sẽ có hai câu trả lời khác nhau.  Triết lý thứ nhất1, cho rằng luật pháp phản ánh ý chí của giai cấp thống trị. Bởi vậy việc xây dựng dự thảo, ban hành pháp luật không cần tham vấn ý kiến nhân dân. Bởi không tham vấn nhân dân, nên pháp luật trở thành thứ “đường đột” với dân chúng, nên cần thành lập cơ quan phổ biến, tuyên truyền pháp luật để dân chúng biết, hiểu và làm quen với “ý chí của giai cấp thống trị”. Theo triết lý này, quá trình học luật chính là quá trình tìm hiểu ý chí của giai cấp thống trị; nếu pháp luật có điều gì chưa rõ thì hỏi lại “giai cấp thống trị” họ muốn gì khi ban hành quy tắc đó; nếu cần làm rõ nữa thì đề nghị cơ quan ban hành pháp luật giải thích pháp luật hay nói cách khác cơ quan giải thích pháp luật, theo triết lý này, không phải là tòa án mà chính là cơ quan lập pháp; cơ quan lập pháp nếu vì quá bận bịu việc kiêm nhiệm thì có thể ủy cho cơ quan hành pháp ban hành văn bản giải thích hướng dẫn. Bởi vậy, thay vì nghiên cứu các án lệ đằng sau mỗi điều luật – với các lý lẽ của thẩm phán, thì sinh viên trong hệ thống này sẽ nghiên cứu hàng chục văn bản hướng dẫn đằng sau một điều luật.  Phương pháp diễn dịch dùng để diễn giải “ý chí giai cấp thống trị” sẽ được sử dụng trong các hệ thống giáo trình; người học sẽ phải chấp nhận và thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa, nguyên tắc mà ít khi trải qua quá trình lập luận, so sánh, dẫn dắt để thấy được một cách giải quyết đúng bên cạnh những cách giải quyết sai hoặc không sai nhưng không tối ưu. Sản phẩm của mô hình đào tạo này là các sinh viên ra trường học thuộc lòng rất giỏi, biết, nhớ các quy định của luật viết – được hiểu là hiện thân của ý chí giai cấp thống trị và sẽ lúng túng nếu luật thực định không cầm tay chỉ việc; sẽ không quen với việc áp dụng tương tự pháp luật; hay bất lực khi phải tìm kiếm giải pháp pháp lý để bảo đảm công lý trong một tình huống, vụ việc cụ thể. Sản phẩm đầu cuối là một số bản án “phù hợp pháp chế” nhưng chưa chắc đã phù hợp với “lẽ công bằng”.      Quá trình học luật, đào tạo luật, áp dụng pháp luật là quá trình phát hiện, quy nạp, khái quát để xác định ý chí nhân dân, lựa chọn cách giải thích luật sao cho tối ưu hóa lợi ích của nhân dân – vốn là một tập hợp số đông.      Triết lý thứ hai2, cho rằng luật pháp phải phản ánh mong muốn, ý chí của nhân dân. Các quy tắc xử sự giữa con người với con người được hình thành và chọn lọc một cách tự nhiên cùng với quá trình tiến hoá của loài người; quy tắc nào không phù hợp làm cho cộng đồng đó tàn lụi thì hoặc cộng đồng đó tự điều chỉnh quy tắc hoặc bị cưỡng bức từ bên ngoài bởi một cuộc xâm lược, thôn tính, thậm chí là rơi vào diệt vong; chứ không phải đơn giản là phép cộng đại số, chia trung bình các mong muốn của hàng chục triệu thành viên trong một quốc gia. Để cho giản dị, triết lý này gọi các mong muốn, chuẩn mực chung này là lương tri chung, nhận thức chung (common sense). Bởi luật pháp được coi là ý chí nhân dân, những quy tắc xa lạ với cuộc sống dân chúng sẽ không được chấp nhận trở thành quy tắc luật pháp; quá trình xây dựng pháp luật phải công khai, tham vấn ý kiến nhân dân; dự thảo đưa ra không phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân thì phải điều chỉnh. Và ngay cả sau khi ban hành, nếu điều luật có nhiều cách hiểu khác nhau thì thẩm phán phải lựa chọn cách hiểu nào phù hợp với lợi ích nhân dân, phù hợp với cách hiểu, cách xử sự của người bình dân.  Bởi vậy, quá trình học luật, đào tạo luật, áp dụng pháp luật là quá trình phát hiện, quy nạp, khái quát để xác định ý chí nhân dân, lựa chọn cách giải thích luật sao cho tối ưu hóa lợi ích của nhân dân – vốn là một tập hợp số đông. Đào tạo luật trong mô hình theo triết lý này sẽ chú trọng các môn logic pháp lý, luận lý pháp luật (legal resonning) và chú trọng tư duy quy nạp, giảng dạy bằng phương pháp socratic để người học tự đúc rút ra quy luật, tự khái quát nên khái niệm, tự đặt ngược vấn đề, tự phản biện, để tìm ra phương án điều chỉnh pháp luật tối ưu, bên cạnh tư duy diễn dịch; cho người học hiểu về các quy luật kinh tế, tâm lý, lịch sử trước khi dẫn dắt người học đến các khái niệm trừu tượng. Triết lý này không cho phép làm luật một cách tuỳ tiện và rồi chính chủ thể làm luật đứng ra giải thích luật một cách tuỳ tiện, nên đã trao cho thẩm phán quyền giải thích pháp luật – vốn là chủ thể được thiết kế lựa chọn một cách độc lập, khách quan; đòi hỏi có chuyên môn cao3. Triết lý này coi án lệ là nguồn luật bổ sung khắc phục những khiếm khuyết của luật viết. Bởi vậy, triết lý này sẽ dẫn tới mô hình đào tạo luật  chú trọng giảng dạy về án lệ, chú trọng về khả năng tư duy, lập luận; không nặng về học thuộc lòng.  “Hiểu đời” rồi đi học luật hay học luật trước “hiểu đời” sau  Triết lý thứ nhất hiểu luật pháp là ý chí giai cấp thống trị, thì chỉ cần giỏi ngôn ngữ và đặt mình vào lợi ích của giải cấp thống trị, gần gũi với các bài nói viết của chính trị gia là sẽ hiểu luật, nhớ luật. Nên triết lý thứ nhất, chọn các học sinh phổ thông vào học luật. Và chính họ – vốn chưa có nhiều trải nghiệm về cuộc sống – sẽ dễ dàng chấp nhận cách giảng dạy áp đặt, coi mọi định nghĩa, nguyên tắc trong giáo trình là mặc nhiên đúng – bởi không có thói quen và cũng không có khả năng tự chất vấn, tự phát hiện ra mâu thuẫn. Rõ ràng, lựa chọn mô hình đào tạo này sẽ vô cùng thuận lợi cho việc đưa tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị vào đầu óc trẻ thơ và có thể đạt được hiệu quả không chỉ giáo dục lý trí mà hiệu quả tình cảm, cảm xúc, cuồng nhiệt. Kết quả đào tạo của triết lý này sẽ hình thành nên một thế hệ sinh viên ra trường nỗ lực “đưa pháp luật vào cuộc sống”, nỗ lực áp dụng các định nghĩa của sách vở vào cuộc sống muôn hình vạn trạng. Và điều gì chưa được học, không có quy định rõ ràng trong luật thành văn thì sẽ “thỉnh” ý kiến cấp trên.    Triết lý thứ hai đòi hỏi phải “đưa cuộc sống vào pháp luật”; luật pháp chỉ là ngôn từ pháp lý diễn đạt các quy luật cuộc sống; bởi vậy phải “hiểu đời” mới được phép đi học luật. Các kỹ sư cầu đường thành thạo sẽ học luật giao thông; cử nhân kế toán đi học luật thuế; cử nhân quản trị kinh doanh học luật công ty… sẽ không chỉ hiểu luật, thấm luật mà còn có thể tự phát hiện những bất cập của pháp luật; phát hiện “vênh” giữa luật và cuộc sống. Triết lý này biểu hiện ra thành hai mô hình đào tạo con trong đó: Mô hình châu Âu lục địa áp dụng chương trình diploma dài 5 -6 năm và đào tạo sinh viên cả hai khối kiến thức “đời” và“luật”. Mô hình Common Law, đặc biệt Hoa Kỳ, áp dụng chế độ chỉ được phép đi học luật sau khi tốt nghiệp cử nhân, kỹ sư một ngành nghề nào đó (nên người học luật theo mô hình này khi tốt nghiệp được gọi là JD juris doctor – chứ không phải là cử nhân). Các cơ sở đào tạo luật theo triết lý thứ hai cho ra trường những sinh viên “thạo đời”, “thạo luật” để có thể ngay lập tức bổ nhiệm thành thẩm phán, hay hành nghề luật sư mà không cần trải thêm một kỳ đào tạo nào nữa. Những thẩm phán và luật sư chất lượng cao sẽ góp phần giảm tỷ lệ “án oan” ở quốc gia theo đuổi triết lý đào tạo này.  Học đi đôi với hành hay chia thị phần đào tạo?  Xã hội nào cũng hô hào “học đi đôi với hành”, song sự kết hợp này trong thực tế như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào triết lý mà xã hội đó theo đuổi.  Triết lý thứ nhất coi pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị phải thống trị xã hội trên cả ba phương diện: chính trị, kinh tế, tư tưởng. Để thống trị về mặt tư tưởng thì các trường đại học, giảng viên, phụ huynh sẽ bị hạn chế quyền lựa chọn môn học, nội dung học và giảng viên sẽ có bổn phận “vị nhà nước”, cao hơn bổn phận “vị người học”. Bởi vậy, trong mô hình này giảng viên có địa vị là công chức, sau đó là viên chức. Vì quan niệm này, dẫn tới triết lý thứ nhất không cho phép giảng viên hành nghề luật sư, kiêm nhiệm thẩm phán. Bởi vậy, mô hình đào tạo luật theo triết lý thứ nhất thường yếu về thực hành, thiếu va chạm thực tiễn, dạy luật theo kiểu “mổ tim trên giấy”. Bù đắp cho sự thiếu hụt này, mô hình đào tạo theo triết lý thứ nhất thiết kế ra chương trình đào tạo thực hành 18 tháng tách biệt sau áp dụng đối với cử nhân pháp lý muốn trở thành luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên. Theo mô hình này, các đại học chỉ “xuất xưởng” cái khung xe; muốn vận hành được, khổ chủ lại phải tự bỏ tiền ra lắp thêm vỏ xe, ruột xe để có thể hành nghề. Việc cắt khúc này tạo ra thị phần “đào tạo giai đoạn hai”. Và khi đặt thị phần “đào tạo giai đoạn hai” trong bối cảnh mỗi trường đại học, cơ sở đào tạo thuộc một cơ quan chủ quản, bộ chủ quản khác nhau, thì cơ quan chủ quản nào cũng muốn giành phần “đào tạo giai đoạn hai” này về phía mình; từ một cơ sở đào tạo duy nhất, việc đào tạo hành nghề này bị chia tách làm ba nhánh.  Triết lý thứ hai coi trọng quyền tự do tư tưởng, tự do nghề nghiệp, tự do lao động. Bởi vậy không có ai có quyền áp đặt tư tưởng, nghề nghiệp lên người khác; mỗi người phải tự chịu rủi ro về việc làm của mình thì phụ huynh, sinh viên có quyền chọn học cái gì, học như thế nào, học ai để có việc làm tốt nhất và kéo theo là đòi hỏi về tự chủ đại học. Và phụ huynh,  sinh viên nào cũng muốn khi “xuất xưởng” mình là một sản phẩm hoàn thiện, sử dụng được ngay lập tức. Bởi vậy, họ không chấp nhận việc tách rời đào tạo lý thuyết và đào tạo thực hành thành hai công đoạn được thực hiện bởi hai đơn vị đào tạo biệt lập. Sự kết hợp “học đi đôi với hành” không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu án lệ, nội dung đào tạo, mà người giảng viên cũng phải dày dặn kinh nghiệm, kỹ năng hành nghề. Để đạt được mong muốn này họ cho phép các giảng viên đồng thời là đại luật sư, kiêm nhiệm thẩm phán4. Triết lý thứ hai không chỉ thúc đẩy kết hợp “học với hành” trong giảng đường, mà còn thúc đẩy việc áp dụng các học thuyết pháp lý trong quá trình xét xử các vụ án tại toà, thúc đẩy các bản án tiệm cận công lý, sáng tạo giải pháp khi án lệ và luật viết không đủ tạo ra lẽ công bằng cho vụ án.  Chưa cần bàn tới việc hai triết lý khác nhau sẽ tác động khác nhau tới mô hình tổ chức tòa án, mô hình bồi thẩm đoàn hay hội thẩm nhân dân, các nguyên tắc tố tụng, mà hai triết lý khác nhau này đã dẫn tới hai mô hình đào tạo luật khác nhau, hai quy trình “sản xuất khác nhau”,  với chất lượng sản phẩm, tỷ lệ “lỗi sản phẩm” khác nhau. Và tỷ lệ “sản phẩm đào tạo lỗi” sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tỷ lệ “án oan” ở mỗi quốc gia tương ứng. □  —-  1Triết lý này thịnh hành ở Liên Xô trước đây và phổ biến ở Việt Nam trong thời kỳ bao cấp và một số vết tích vẫn kéo dài, lưu giữ trong các giáo trình luật học cho đến tận ngày nay.  2 Triết lý này được từng bước khôi phục khá vững chắc tại Điều 2, Điều 102 Hiến pháp 2013 và Điều 6 Bộ Luật Dân Sự 2015.  3 Thẩm phán thì chí ít phải là cử nhân pháp lý, còn đại biểu thì có thể mù chữ (phổ thông) vẫn có quyền ra ứng cử.  4 Ví dụ GS Jodan của Khoa Luật, Đại học Tự do – Berlin đã kiêm nhiệm làm Chánh án Toà hiến pháp Bang Berlin từ 2000 – 2006, xem tại  http://www.jura.fu-berlin.de/fachbereich/einrichtungen/oeffentliches-recht/lehrende/sodans/index.html       Author                Võ Trí Hảo        
__label__tiasang Đào tạo mỗi cán bộ ở nước ngoài tốn 33.000 USD      Tại hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án 322) diễn ra sáng 9-12, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho biết đã có 4.590 người được gửi đi học ĐH và sau ĐH tại 832 cơ sở đào tạo của 34 nước.     Có 49,41% số du học sinh được đào tạo tiến sĩ, 25,75% đào tạo thạc sĩ, 5,23% thực tập sinh và 19,61% đào tạo ĐH.   Có 3.017 du học sinh đã về nước, đa số trở lại cơ quan cũ công tác.   Tổng kinh phí được cấp cho đề án này từ năm 2000-2010 là trên 2.500 tỉ đồng, tính theo tỉ giá từng giai đoạn được cấp, tương đương 152 triệu USD. Trung bình chi khoảng 33.000 USD/du học sinh.   Trong tổng số 300 cơ quan có người được cử đi học theo đề án này, có 200 cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu. Những ngành khoa học tự nhiên – kỹ thuật, kinh tế – xã hội – giáo dục – nghệ thuật có tỉ lệ du học sinh được gửi đi học cao nhất.  Đại diện Bộ GD-ĐT thừa nhận do sự phức tạp và yêu cầu khắt khe khi thanh quyết toán tài chính nên việc chuyển sinh hoạt phí, học phí và các loại phí cho du học sinh có những thời điểm còn khó khăn, chậm trễ. Tuy nhiên, Bộ GD-ĐT cho rằng về cơ bản đề án đã thực hiện hiệu quả.   Chỉ tính riêng khối trường ĐH-CĐ, đã có 150 trường có cán bộ, giảng viên được cử đi học, trong đó nhiều trường ĐH trọng điểm đã bổ sung được hàng trăm cán bộ, giảng viên được đào tạo ở nước ngoài theo đề án này.   Tại hội nghị, phương án được nhiều đại biểu đề xuất là thay vì cấp học bổng sẽ chuyển sang cho vay đối với người đi học. Cụ thể, người học chỉ được xoá nợ khi về cơ quan cũ công tác hai đến ba lần thời gian đi học. Đồng thời nên mở rộng tuyển sinh sang các ngành xã hội, nhân văn, khí hậu, kinh tế biển.   Thứ trưởng Bùi Văn Ga cho biết đã đề nghị Chính phủ cho phép đề án kéo dài đến năm 2014 và kết thúc vào năm 2020.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo theo tín chỉ: Muốn làm phải “trị từ gốc”      Gần đây, Bộ GD&amp;ĐT quyết định chuyển toàn bộ hệ thống đào tạo đại học ở nước ta thành đào tạo theo tín chỉ. Với kinh nghiệm giảng dạy và hợp tác nghiên cứu tại một số đại học có thứ hạng của Mỹ, như ĐH California (Berkeley), ĐH Johns Hopkins (Baltimore), ĐH Wayne State (Detroit), ĐH Washington (Seattle), GS.TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng (Đại học Quốc Gia Hà Nội) trong cuộc phỏng vấn với Tia Sáng đã nêu những điều kiện cần thiết của đào tạo theo tín chỉ và những tác động của nó tới môi trường đại học “đặc thù” của Việt Nam hiện nay.    Chắc GS đã nghe nhận định của những người được cử đi “thám thính” hệ thống đào tạo theo tín chi của Mỹ…  Nhiều đoàn đại biểu từ cấp Bộ cho tới cấp các đại học, các khoa… được cử đi tham quan trong thời gian từ một vài ngày cho tới 1-2 tuần tại một số đại học (thường là có thứ hạng không cao) ở Mỹ. Khi về nước, nhiều vị đã có những phát biểu, nhận định về hệ thống đào tạo theo tín chỉ. Nhưng vì thời gian tham quan quá ngắn, lại không trực tiếp tham gia giảng dạy, nên không có gì ngạc nhiên là các vị này thường đưa ra những thông tin không rõ ràng, nhiều khi trái ngược nhau. Chuyện này khiến người nghe nhớ đến cảnh “thầy bói xem voi”.  Hệ thống đại học của Mỹ là một bí ẩn rất hấp dẫn. Từ lâu, tôi tự đặt cho mình câu hỏi: Vì sao hệ thống đại học của Mỹ có thể đào tạo các sinh viên có trình độ ở đầu vào nói chung không cao, thành những chuyên gia giỏi chỉ trong vòng 4 năm (đối với cử nhân) hoặc 8 năm (đối với tiến sĩ). Tôi đã cố gắng tự trả lời nhiều lần, nhưng chưa bao giờ hài lòng với câu trả lời của mình. Theo tôi, ta nên trao đổi vấn đề này trên tinh thần mà Khổng Tử đã bàn: “Biết thì nhận là biết, không biết nhận là không biết, thế mới thực là biết”.  Theo GS, tác động của việc chuyển từ đào tạo theo niên chế sang tín chỉ với hệ thống đại học nước ta sẽ như thế nào?    Câu trả lời của tôi, có thể hơi bất ngờ, là thế này: Đào tạo theo tín chỉ chắc chắn sẽ dẫn tới bãi bỏ kỳ thi vào đại học, nhằm duy trì một số lượng sinh viên rất lớn. Bởi vì nếu mỗi môn học không có nhiều sinh viên theo học, và vẫn chỉ tổ chức được 1-2 lớp, thì sinh viên không có gì để chọn. Do đó, những người theo học cùng một ngành thì chỉ có khả năng chọn cùng một lớp như nhau. Vì thế, tiếng là đào tạo theo tín chỉ, thực ra vẫn không khác gì đào tạo theo niên chế. Đó thực sự là một trở ngại lớn trước mắt.                  Tôi không nói nhập hai kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông và Tuyển sinh vào đại học làm một. Tôi nói: Bỏ kỳ thi vào đại học. Bỏ thi vào đại học ngay trong tình trạng hiện nay thì mạo hiểm, và cầm chắc thất bại. Nhưng đó là chuyện đương nhiên của thế giới, là mô hình tất yếu của tương lai chúng ta, mà ta phải chủ động chuẩn bị cho nó. Tôi cho rằng học đại học là quyền lợi của tất cả mọi người. Thi vào đại học cũng giống như chế độ tem phiếu. Khi xã hội còn nghèo thì tem phiếu có thể là một giải pháp. Nhưng nó sẽ trở thành rào cản sự phát triển xã hội. Bỏ thi vào đại học cũng như bỏ chế độ tem phiếu, lúc đầu dễ gây hoảng loạn, tạo tâm lý bất an, e ngại xã hội sẽ mất kỷ cương. Nhưng nếu được thực hiện với sự chuẩn bị chu đáo, nó sẽ trở thành động lực phát triển xã hội. Trong số những người phản đối bỏ thi vào đại học, có nhiều người vô tư, nhưng cũng có những người do được hưởng lợi từ kỳ thi này, chẳng hạn một số ông thầy vẫn luyện thi vào đại học, hay một số cổ đông lớn của những trường phổ thông (dân lập) vẫn được tiếng là có tỷ lệ học sinh đỗ vào đại học cao. Việc bỏ kỳ thi vào đại học, và trước đó bỏ kỳ thi vào trung học phổ thông, sẽ xóa tận gốc nạn dạy thêm và học thêm đang tràn lan như cỏ dại.    Vậy khi nào thì ta có đủ điều kiện chín muồi cho việc bãi bỏ kỳ thi vào đại học?    Bãi bỏ kỳ thi vào đại học không có nghĩa là ai muốn học ở đại học nào cũng được. Học sinh được chọn vào học ở đại học nào là tùy theo nguyện vọng của họ, tùy theo hồ sơ học tập bậc phổ thông của họ, và tùy theo việc họ có trả nổi học phí hay không. Trong khi hầu hết các đại học không thi tuyển, thì một số đại học có đẳng cấp cao vẫn có kỳ thi tuyển riêng. Mặc dù vậy, cuối cùng thì ai cũng chọn được đại học phù hợp với mình. Nếu họ không may chọn nhầm (đại học có trình độ cao quá hoặc thấp quá so với khả năng của họ) thì hệ thống liên thông mềm dẻo của các đại học cũng tạo điều kiện cho họ được chuyển tới một đại học thích hợp hơn.  Cho nên, theo tôi, ta có thể bãi bỏ kỳ thi vào đại học khi nào ta đủ sức mở đủ các trường đại học để cho mọi người dân đã học xong bậc phổ thông, có nhu cầu học đại học, và có khả năng đóng học phí (một thứ học phí hợp lý, chứ không phải học phí ở trên trời), đều được nhận vào học ở một đại học phù hợp với mình. Đừng nghĩ rằng điều ấy là viển vông. Mỹ và nhiều nước Châu Âu đã làm được điều đó từ lâu. Mặt khác, ở những nước đã phát triển như vậy, số người có nhu cầu học đại học cũng không nhiều như ta tưởng. Việc phát triển các trường dạy nghề, và thái độ nhìn nhận “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” của xã hội cho phép người ta có thể chọn nhiều nghề không cần bằng đại học nhưng có thu nhập cao hơn người tốt nghiệp đại học.  Hãy nhớ lại, dưới thời bao cấp, biết bao người nghĩ rằng nếu bỏ chế độ tem phiếu thì chết đói hết. Nhưng xã hội ta đã dũng cảm bỏ tem phiếu. Kết quả là không những không ai chết đói, trái lại xã hội về mặt vật chất đã phát triển lên một đẳng cấp mới.  Tôi vẫn xin nhắc lại rằng Bỏ thi vào đại học ngay trong tình trạng hiện nay thì mạo hiểm, và cầm chắc thất bại. Nhưng ta phải chủ động chuẩn bị cho nó.  Đào tạo theo tín chỉ, nhưng lại chưa bỏ kỳ thi vào đại học, ta lấy đâu ra nhiều sinh viên, để tổ chức nhiều lớp cho họ được lựa chọn? Không được lựa chọn những cách tổ hợp môn học khác nhau thì, tiếng là học theo tín chỉ, khác gì học theo niên chế. Chúng ta đang định cứ đi khập khiễng như vậy đấy.  Nhưng nếu bỏ kỳ thi vào đại học, thì chất lượng đào tạo đại học ở nước ta sẽ ra sao?  Chất lượng đào tạo thấp kém không phải vấn đề chỉ do ngành giáo dục gây ra, thậm chí không phải chủ yếu do ngành giáo dục. Đây là một vấn đề có nguyên nhân xã hội sâu xa hơn nhiều: vấn đề xã hội dùng người như thế nào, có đúng với khả năng của người đó hay không. Xưa nay xã hội dùng người như thế nào thì việc học tập định hình theo như thế. Nếu các nghề nghiệp tốt phần nhiều dành cho con ông cháu cha, hoặc kẻ có tiền đút lót, không cần biết có đủ năng lực hay không, miễn là có một mảnh bằng, thì nạn “học giả” đương nhiên sẽ tràn lan. Nếu trái lại, mọi vị trí đều chọn người có đủ năng lực, bằng cấp chỉ là một điều kiện tối thiểu, có bằng cấp mà không đủ năng lực thì không ai dùng, khi đó mọi người sẽ tự khắc đua nhau học thật. Là một người trực tiếp giảng dạy đại học hơn 30 năm qua, tôi đau xót nhận ra rằng phần lớn thanh niên của chúng ta không còn động lực học tập khi đã bước chân vào đại học. Họ hỏi: học để làm gì khi mà dù có học rất giỏi thì những vị trí làm việc tốt cũng không tới tay họ. Xem ra, “nói không với tiêu cực trong giáo dục” chỉ là chữa phần ngọn, thay đổi cách dùng người của xã hội mới là trị bệnh từ gốc.  Về mặt phương pháp luận, tôi muốn nhắc tới Định lý về Tính không đầy đủ của nhà Toán học và Triết học Kurt Godel, người có ảnh hưởng sâu đậm tới tư duy khoa học của Thế kỷ 20. Đại thể định lý này có thể diễn đạt như sau: “Bất kỳ hệ thống lôgic nào đều chứa trong lòng nó những mệnh đề không thể chứng minh hay bác bỏ chỉ bằng những phương tiện của chính hệ thống đó”. Nói cách khác, mọi hệ thống đều không đầy đủ, đều cần được lý giải trong mối quan hệ của nó với một hệ thống lớn hơn. Nói riêng, nếu cứ tìm nguyên nhân xuống cấp của nền Giáo dục nước ta bằng cách chỉ suy xét trong nội bộ nền giáo dục đó, thì tìm mãi không ra là chuyện hiểu được, theo quan điểm của Kurt Godel. Phải nhìn sự xuống cấp của Giáo dục trong mối quan hệ của nó với một hệ thống lớn hơn, là toàn Xã hội, xem Xã hội đã cư xử với những sản phẩm của nền Giáo dục đó như thế nào, thì mới tìm thấy nguyên nhân của sự xuống cấp đó.  Trong khi nhiều môn phái triết học lo khẳng định sự toàn năng của mình, thì triết học Godel lại chỉ ra tính khiếm khuyết không tránh khỏi của bất kỳ hệ thống nào. Tính thức tỉnh của nó chính là ở chỗ đó.  Một số trường đại học đã triển khai hình thức thi trắc nghiệm cho một số môn học, khi áp dụng đào tạo theo tín chỉ thì hình thức thi trắc nghiệm này sẽ có tác động như thế nào, thưa GS?  Theo quan điểm của tôi, việc tổ chức thi trắc nghiệm tràn lan chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại. Điều này đúng ở cả bậc phổ thông lẫn bậc đại học, không phụ thuộc vào việc ta có sử dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ hay không. Tôi có hỏi một số đồng nghiệp Mỹ về chuyện thi trắc nghiệm và được họ cho biết: Từ bé họ chưa bao giờ gặp một kỳ thi trắc nghiệm ở bất kỳ cấp học nào. Tôi hỏi: Vậy thi trắc nghiệm được sử dụng ở đâu và trong những trường hợp nào ở nước Mỹ? Họ đáp: Thi trắc nghiệm chỉ được sử dụng ở những trình độ và đẳng cấp rất thấp. Tôi kinh hoàng nghĩ về tình trạng thi trắc nghiệm đang được áp dụng tràn lan ở nước ta, với lập luận rằng ở Mỹ họ làm như thế. Có lẽ chỉ vài năm nữa thôi, do cách học để thi trắc nghiệm, chúng ta sẽ đào tạo ra không chỉ những tú tài, mà hàng loạt những cử nhân, có khi cả tiến sĩ nữa, không thể tự viết bất kỳ một câu văn hoặc một lời giải đơn giản nào. Khi mà thi trắc nghiệm đã thất bại thì (cũng như việc cải cách chữ viết trước đây) sẽ không một ai chịu đứng ra nhận trách nhiệm. Vì thế, tôi khuyên các nhà chép sử, hãy ghi chép kỹ ngay từ bây giờ những ai tự xưng là cha đẻ của thi trắc nghiệm ở Việt Nam, hoặc hết lòng cổ súy cho nó. Những ghi chép như vậy hẳn là sẽ bổ ích nay mai. Dù sao, tôi hy vọng rằng đào tạo theo tín chỉ sẽ không bị gắn với thi trắc nghiệm.    Với nguyên nguồn nhân lực của các trường đại học như hiện nay, muốn chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, theo GS, việc làm cấp bách nhất là gì?  Để chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, việc dạy của các giáo sư sẽ không phải thay đổi nhiều, nhưng công việc quản lý hành chính sẽ thay đổi căn bản, theo hướng nặng lên rất nhiều. Nó đòi hỏi phải có một đội ngũ quản lý và nhân viên hành chính rất chuyên nghiệp. Trách nhiệm của những người quản lý và nhân viên hành chính trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ, bên cạnh hàng núi công việc khác, là giúp cho sinh viên (trong đó có những người quay lại học tập sau nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm gián đoạn) nhận ra đúng thiên hướng và trình độ học lực của mình, đăng ký vào đúng lớp mình có thể và cần phải học. Ở Mỹ những người quản lý và nhân viên hành chính đều được đào tạo rất bài bản, khác với ở Việt Nam ta, bất kỳ con ông cháu cha nào cũng đều làm được việc này. Ta có đủ can đảm và sức lực để thay đổi hệ thống quản lý và nhân viên hành chính hay không? Theo tôi, những tranh luận gần đây về “đại học đẳng cấp quốc tế” hoặc “đại học hoa tiêu” đều chưa thấy tầm quan trọng của việc cần làm trước tiên, nếu thành lập một đại học như vậy, là thay đổi hệ thống quản lý và tổ chức hành chính.  Ngoài việc thay đổi hệ thống quản lý hành chính thì yếu tố nào GS đánh giá là có vai trò quyết định sự thành bại của đào tạo theo tín chỉ?  Giáo dục theo kiểu gì thì cũng cần đội ngũ giáo sư giỏi. Đó là yếu tố mấu chốt quyết định thành bại của nền giáo dục. Các đại học Mỹ đòi hỏi sinh viên đầu vào không cao. Nhưng chỉ sau 4 năm học, họ đã trở thành những chuyên gia vững vàng. Điều này có được chủ yếu là nhờ nước Mỹ có một đội ngũ giáo sư rất giỏi, rất chuyên nghiệp, được trả lương cao, tương xứng với lao động của họ. Chúng ta có trả được lương đủ sống cho các giáo sư hay không?  Ở Mỹ, giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ đương nhiên là chủ tịch Hội đồng chấm cái luận án ấy. Việc đào tạo của ông ta hay dở thế nào do ông ta tự định đoạt là chính. Ở Việt Nam, khoảng mươi năm gần đây, giáo sư không được phép là ủy viên Hội đồng chấm luận án tiến sĩ do chính mình hướng dẫn. Không được tin cậy, giáo sư nước ta suốt đời sống trong tâm trạng kẻ làm thuê.  Tôi muốn nói thêm về “thời gian văn phòng”, là lúc giáo sư có nghĩa vụ phải ở phòng làm việc của mình, để sinh viên có thể tới hỏi bài. Mỗi giáo sư ở Mỹ đều có phòng làm việc riêng. Ở nước ta không giáo sư nào có phòng làm việc riêng, trừ các giáo sư làm quan. Không có phòng làm việc riêng, các giáo sư sẽ đứng ở đâu để giải đáp thắc mắc của sinh viên? Giảng đường thì vốn đã không đủ cho việc bố trí các lớp học. Để chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, ta có đủ sức cấp cho mỗi giáo sư một phòng làm việc không? Nếu ta chỉ học những cái có thể học được, và bỏ qua những cái ta không muốn học, thì trên thực tế ta không học gì cả. Người Nhật học cái gì cũng bắt đầu bằng việc sao chép y nguyên, khi nào thực sự làm chủ được đối tượng đó thì họ mới bàn tới chuyện cải biến. Chúng ta thường làm hỏng việc vì học cái gì cũng không đến nơi đến chốn, “chưa học làm thầy đã đòi ăn bớt”, và ngộ nhận cái sự láu cá ấy của mình là trí thông minh.  Xin cảm ơn giáo sư!    Đức Phường thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ      Khi học hết bậc phổ thông, ở lứa tuổi 18, nói chung người ta khó có thể đưa ra một lựa chọn nghề nghiệp mà sau đó người ta thấy là đúng đắn trong suốt cả cuộc đời. Khi buộc phải chọn, nhiều người có thể chọn sai, và một số năm sau đó họ có nhu cầu chọn lại. Hệ thống đào tạo theo tín chỉ có ưu điểm rõ rệt là nó dành cho người học một sự tự chủ và quyền tự quyết rất lớn.    Đặc điểm có lẽ là lớn nhất của đào tạo theo tín chỉ là: Phần lớn sinh viên trong những năm học đầu đều chưa biết và không nhất thiết phải xác định họ sẽ theo học ngành nào (Khoa học cơ bản, Công nghệ, Kinh tế, Luật, Y, Dược, Kiến trúc, Nông nghiệp…) Họ cứ vừa học vừa tự tìm hiểu thiên hướng nghề nghiệp của chính mình. Chỉ tới khoảng cuối năm thứ hai hoặc năm thứ ba họ mới cần định hướng ngành học của mình bằng những tín chỉ nhất định mà họ chọn lựa. Cứ có “đủ bộ” tín chỉ của một ngành học nào đó thì họ được cấp bằng tốt nghiệp của ngành học ấy. Nếu muốn chuyển từ một ngành này sang một ngành khác, họ chỉ cần tự thay đổi một số tín chỉ, chứ không phải học lại từ đầu.  Ở nước ta, dù đang định triển khai đào tạo theo tín chỉ, nhưng đặc điểm mấu chốt này của hệ thống đào tạo đó lại chưa bao giờ được ý thức, bàn thảo, nhằm thực thi đầy đủ.    Bắt đầu một học kỳ của sinh viên  Ở Mỹ, bắt đầu một học kỳ mỗi sinh viên tự quyết định các môn mà mình sẽ theo học trong học kỳ đó, nhằm thu được một số tín chỉ nhất định. Nếu học ít môn quá, thì thời gian học sẽ kéo dài, tăng phí tổn, và khó được nhận học bổng. (Học bổng được quyết định trên cơ sở số tín chỉ và kết quả của các tín chỉ mà sinh viên thu được trong học kỳ trước.) Nếu học nhiều môn quá thì sinh viên không đủ sức lực và thời gian. Tất nhiên, mỗi môn học đều có đòi hỏi tiên quyết về những môn sinh viên phải học trước đó. Trong mỗi học kỳ, mỗi môn học đều được giảng bởi nhiều giáo sư khác nhau, ở nhiều lớp khác nhau, tại nhiều thời điểm khác nhau. Sinh viên được quyền đăng ký vào học ở một trong các lớp này, chủ yếu dựa trên sự phù hợp về thời gian của họ với thời gian biểu của lớp học. Nhớ rằng nhiều sinh viên vừa đi làm (full time hoặc part time) vừa đi học. Số sinh viên của mỗi lớp học thường được giữ cho không vượt quá 40 hoặc 50 người (tùy đại học). Vì thế, nếu đăng ký muộn, sinh viên có thể không được xếp vào lớp mà anh ta muốn. Sinh viên được quyền học thử trong khoảng 1-2 tuần (tùy từng đại học), sau thời gian thử đó, sinh viên có thể xin đổi lớp (để có thời gian biểu phù hợp hơn, hoặc để được học một giáo sư mà người đó thích), hoặc xin thôi học môn này mà vẫn được hoàn lại học phí. Việc xin đổi lớp phải được sự đồng ý của giáo sư dạy ở lớp mà sinh viên muốn chuyển tới, và phải được giáo vụ chuẩn y.                    Những ràng buộc và hỗ trợ đối với giáo sư khi nhận một môn học  Mỗi môn học đều có Đề cương (syllabus) do Khoa quy định và được đưa lên mạng từ trước. Đề cương này nêu rõ: Học theo sách nào, học những chương nào, những tiết nào bắt buộc, những tiết nào tùy chọn, mỗi chương và mỗi tiết chiếm thời lượng xấp xỉ bao nhiêu… Trên thực tế, nếu làm đúng như đề cương đòi hỏi, thì bài giảng của các giáo sư khác nhau cũng không khác nhau nhiều, và chất lượng của môn học đã được đảm bảo chắc chắn. Khoa cử một giáo sư có nhiều kinh nghiệm làm điều phối viên cho mỗi môn học. Nhiệm vụ của người này là trả lời những thắc mắc của các giáo sư ít kinh nghiệm hơn, thống nhất quan điểm của các giáo sư cùng dạy môn này, và nhắc nhở mọi người về thời gian các kỳ thi giữa và cuối kỳ. Họ thường làm tất cả những trao đổi này qua email, chứ không cần họp hành.  Khi nhận phân công giảng dạy một môn học, mỗi giáo sư được thông báo thông qua mạng thời gian và địa điểm dạy, thời gian và địa điểm thi hết môn. Giáo vụ của cả đại học lập ra lịch thi theo nguyên tắc rất công nghiệp, kiểu như sau: tất cả những môn (trong toàn trường) học vào lúc T giờ các ngày Thứ A và Thứ B đều thi vào ngày X lúc Y giờ.  Mỗi giáo sư được giao một trợ lý, làm việc chấm bài tập về nhà cho môn học mà mình dạy. Người này thường là sinh viên giỏi của năm trên, được đại học thuê làm một phần thời gian. Nhiệm vụ của người này là chấm bài tập và lên điểm. Cuối học kỳ giáo sư đánh giá chất lượng công việc của người trợ lý. Trên cơ sở đó, Khoa sẽ quyết định có tiếp tục thuê người này nữa hay thôi.    Đề cương (syllabus) môn học của giáo sư  Trước khi môn học bắt đầu, giáo sư phải soạn một đề cương chi tiết, phát bản in của nó cho mỗi sinh viên trong buổi học đầu tiên và đưa nó lên trên mạng. Nội dung của đề cương ngoài những quy định chung của đại học (chẳng hạn như nội dung của môn học, sách tham khảo chính, thời gian và địa điểm kỳ thi hết môn…) là những quy định riêng của giáo sư đó đối với sinh viên. Đề cương môn học của giáo sư khác với đề cương môn học của Khoa và phải chi tiết hơn.  Điểm của môn học được quyết định dựa trên điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn. Giáo sư được quyền quyết định tỷ lệ phần trăm của những điểm thành phần nói trên trong điểm của môn học. Thời điểm thi của các kỳ thi giữa học kỳ do giáo sư tự quyết định, và thường được thông báo ngay từ đầu học kỳ, trong syllabus của giáo sư.  Giáo sư phải bố trí cho mỗi lớp mình dạy mỗi tuần khoảng 2-3 lần, mỗi lần 1 giờ, cái gọi là “thời gian văn phòng”. Đó là lúc mà giáo sư có nghĩa vụ phải ở phòng làm việc của mình, để cho sinh viên có thể tới hỏi bài. Mỗi giáo sư ở Mỹ đều có phòng làm việc riêng, nên chuyện này không có gì phiền phức. Sinh viên cũng có thể liên hệ với giáo sư qua email hoặc điện thoại để hẹn giờ hỏi bài riêng, nếu họ bận đột xuất vào “thời gian văn phòng”.  Giáo sư thông báo địa chỉ trang web cá nhân, nơi sinh viên nhận bài tập và những lời dặn mỗi tuần, thông báo thời gian nhận và trả bài tập về nhà hàng tuần.  Tất cả những thông tin trên đây đều được viết rõ ràng và chi tiết trong đề cương môn học của riêng giáo sư, và được đưa lên mạng từ đầu học kỳ.    Việc dạy và học  Một số đại học của Mỹ chia một năm thành 4 học kỳ, gọi là semester hay quarter, mỗi học kỳ 3 tháng (bao gồm 10 tuần học, 2 tuần thi, chấm thi và lên điểm, 1 tuần nghỉ chuyển tiếp, tổng cộng 13 tuần). Sinh viên có thể học 3 hoặc 4 học kỳ một năm. Một số đại học khác lại chia một năm thành 3 học kỳ, gọi là semester, mỗi học kỳ 4 tháng (bao gồm 14 tuần học, 2 tuần thi, chấm thi và lên điểm, 1 tuần nghỉ chuyển tiếp, tổng cộng 17 tuần). Sinh viên có thể học 2 hoặc 3 học kỳ một năm.  Trên nguyên tắc, người ta khuyến khích giáo sư đối thoại với sinh viên trong lúc giảng bài, nhưng việc giảng bài trên lớp tại Mỹ về cơ bản không khác với việc giảng bài tại Việt Nam (ít nhất là về môn toán). Điểm khác căn bản có thể là ở chỗ sinh viên Mỹ không thích nói quá nhiều về lý thuyết, họ quan tâm và đòi hỏi bài giảng lý giải ý nghĩa và ứng dụng thực tế của vấn đề. Họ cũng chú trọng các kỹ năng thực hành. Họ có thể bình tĩnh khi chưa thấu đáo ý nghĩa lý thuyết của vấn đề, nhưng nếu họ không làm được bài tập thì họ sẽ kéo đến rất đông trong giờ văn phòng của giáo sư.  Hàng tuần sinh viên nhận bài tập được giao trên mạng. Bài tập có thể gồm 2 loại, một loại dành cho luyện tập và không phải nộp, một loại khác sinh viên phải nộp lại cho giáo sư vào thời điểm đã hẹn của tuần tiếp theo. Giáo sư chuyển các bài tập vào hòm thư của mình để người trợ lý tới lấy, chấm bài, lên điểm và chuyển lại vào hòm thư cho giáo sư.  Việc thường xuyên có mặt tại lớp không phải một nghĩa vụ của sinh viên. Do đó, việc điểm danh sinh viên đi học tự nó trở nên vô nghĩa.  Giáo sư có thể giao một vài vấn đề cho sinh viên tự đọc. Tuy nhiên, ít nhất là đối với môn toán, những vấn đề này thường là không cốt yếu, và không cần dùng tới trong phần còn lại của giáo trình.  Tôi không hề thấy giờ tự học của sinh viên được ghi trong chương trình của đại học. Sinh viên ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng phải tự học. Nhưng việc tự học của sinh viên không phải là một bộ phận của chương trình giảng dạy của đại học. Đáng tiếc là ở ĐHQG Hà Nội người ta đang định xếp giờ tự học của sinh viên thành một bộ phận của giờ học chính thức.    Việc thi và chấm thi  Giáo sư tự ra đề, tự coi thi và tự chấm thi tất cả các lần thi giữa kỳ và hết môn. Phòng thi không cần tới 2 người coi. Bài thi không cần dọc phách. Cũng có đại học quy định kỳ thi hết môn đối với các môn học ở năm học đầu do một hội đồng của Khoa ra đề chung. Khi đó, điều kiện cần để hoàn thành môn học này là sinh viên phải đạt ít nhất 50% số điểm của kỳ thi hết môn. Điều kiện đủ thì do giáo sư tự quyết định.  Tất cả các bài thi đều là tự luận, không thấy dùng hình thức thi trắc nghiệm.  Quyết định điểm của môn học  Như trên đã nói, mỗi giáo sư được quyền tự quyết định tỷ trọng của điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn. trong điểm của môn học. Chẳng hạn, tôi đã cho bài tập về nhà 50 điểm, mỗi trong 2 kỳ thi giữa học kỳ 100 điểm, kỳ thi hết môn 150 điểm, trong tổng số 400 điểm của môn học. Giáo sư cũng có quyền cho phép hoặc không cho phép sinh viên được làm lại bài thi giữa kỳ và nộp cho giáo sư, nhằm ghi thêm điểm. Chẳng hạn, tôi cho phép sinh viên làm như thế để ghi thêm tối đa là 1/3 số điểm mà sinh viên đó bị trừ trong lần thi giữa kỳ chính thức. Tôi nhận thấy rằng làm như thế sinh viên tự nhận ra sai lầm mà họ có thể đã mắc phải trong kỳ thi tốt hơn là để họ theo dõi đáp án của tôi.  Một số đại học ghi điểm cuối cùng của môn học bằng 11 bậc, dùng các chữ cái A, B, C, D, kèm theo có thể các dấu cộng hoặc trừ (nhưng không có A+). Một số đại học khác ghi điểm cuối cùng của môn học bằng 41 bậc, từ 0.0 tới 4.0. Việc chuyển thế nào từ điểm cuối cùng (bằng số thông thường) của môn học (chẳng hạn 355/400 điểm) sang thang ghi điểm này cũng do giáo sư tự quyết định.  Giáo sư tự lên điểm và gửi bảng điểm cho giáo vụ của đại học một cách trực tiếp, hoặc qua hệ thống thư tín trong đại học, đôi khi cũng có thể gửi qua thư ký của Khoa. Nếu còn lưỡng lự trong việc có nên đánh trượt hay không một sinh viên, giáo sư có thể thông báo trong bảng điểm nộp cho giáo vụ rằng trường hợp này chưa hoàn tất. Sau đó, giáo sư có quyền đòi hỏi sinh viên ấy làm một số bài tập bổ sung, hoặc viết thu hoạch về một vấn đề liên quan đến môn học, trên cơ sở đó mà quyết định điểm môn học cho sinh viên này, rồi thông báo kết quả cho giáo vụ. Nếu bị đánh trượt, sinh viên sẽ phải học lại cả môn, không có chuyện thi lại.  Điểm là bí mật cá nhân của mỗi sinh viên. Điểm của mỗi sinh viên được giáo vụ chuyển vào trương mục riêng của sinh viên đó trong hệ thống internet của đại học. Giáo sư có thể thông báo điểm cho từng sinh viên, nhưng không được báo điểm của người này cho người khác.  Sinh viên đánh giá giảng dạy  Cuối học kỳ, trước kỳ thi hết môn, mỗi sinh viên được phát một mẫu “đánh giá giảng dạy”. Sinh viên được nhận xét về những điều bổ ích hay chưa bổ ích của môn học, ưu điểm và nhược điểm của môn học, ưu điểm và nhược điểm của người giảng dạy. Giáo sư không được can thiệp vào đánh giá này. Đây là một hình thức xả “stress” mà các đại học Mỹ dành cho sinh viên. Đại học cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, dựa trên những đánh giá của sinh viên để thay đổi một phần nội dung môn học, khiến cho nó dễ được thu nhận hơn. Một số đại học thông báo lại cho giáo sư bản tổng hợp những đánh giá của sinh viên đối với bài giảng của giáo sư này.  Tôi có hỏi một giáo sư người Mỹ: “Nếu một đồng nghiệp mà anh vốn trân trọng bị sinh viên nhận xét là kém, thì anh có tin nhận xét đó không?” Trả lời: “Đương nhiên là không”. Lại hỏi: “Thế thì việc để cho sinh viên đánh giá giảng dạy có phải là một hành động mị dân hay không?”. Trả lời: “Việc này có khởi nguồn liên quan đến cuộc chiến tranh (của Mỹ) ở Việt Nam. Bấy giờ vào khoảng 1967-68, sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đang đi vào ngõ cụt, cả xã hội Mỹ như một thùng thuốc súng, lúc nào cũng chỉ chực nổ tung. Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội. Hàng ngày, họ biểu tình, bãi khóa, đốt quốc kỳ, đốt hình tổng thống… Trong bối cảnh đó, các đại học Mỹ nghĩ ra chuyện cho phép sinh viên đánh giá giảng dạy của các giáo sư như một giải pháp nhằm hạ nhiệt cái thùng thuốc súng nói trên. Từ đó, việc này hình thành và tồn tại như một thói quen”. Tôi không rõ lý giải trên của ông bạn đồng nghiệp của tôi có được tất cả nước Mỹ chấp thuận không. Dù sao, tôi cũng ghi lại để mọi người tham khảo.      Nguyễn Hữu Việt Hưng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo tiến sĩ: Đối diện với thực tế      Đã đến lúc (không bao giờ là quá muộn) đối diện với thực tế và nhìn nhận một cách đúng mực và khả thi về số lượng tiến sĩ cần dùng cho các trường đại học Việt Nam, và có một cái nhìn rõ ràng hơn về những điều cần làm để đạt được mục đích này.      Một bài báo gần đây1 đăng trên báo An ninh Thủ đô đã chỉ ra một số sai sót của hệ thống đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam. Trong đó một sai phạm nghiêm trọng là một số nghiên cứu sinh đã mua luận văn được viết thuê với giá cả 500 triệu đồng từ những người kiếm sống bằng hoạt động gian lận này, trong đó có rất nhiều những tài liệu bị “cắt và dán” từ các công trình đã được công bố của người khác. Một sai sót thứ hai mà bài báo chỉ ra là hiện tượng thiếu năng lực của các hội đồng trong việc thẩm định kỹ năng cùng năng lực của nghiên cứu sinh, qua đó ngầm ám chỉ rằng các thành viên của những hội đồng này hoặc là kém cỏi, hoặc là tham nhũng, hoặc là cả hai. Sai sót thứ ba là việc thiếu những hình phạt đối với những sai phạm trên, đặc biệt là đối với những người viết thuê và bán những luận văn nghiên cứu giả tạo.           Là người đã dành phần lớn sự nghiệp khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc tế, tôi đã giám sát và hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chưa ở nơi đâu tôi lại thấy một hệ thống phức tạp và quan liêu như vậy, một hệ thống đặt quá ít lòng tin vào những người thầy hướng dẫn.         Một trong những sai sót đề cập trên đây có sự liên quan tới những kết quả hạn chế của chương trình 322, có chức năng cử các sinh viên Việt Nam ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh tiến sĩ, ngầm ám chỉ rằng một số sinh viên được lựa chọn một cách không đủ nghiêm túc, hoặc không theo những tiêu chí lựa chọn thích hợp. Chương trình này đột ngột bị gián đoạn trong tháng 5 năm nay trước khi được phục hồi vào tháng 7.   Tác giả bài báo đưa ra kết luận với những số liệu đáng quan tâm. Đó là nhắc lại mục tiêu đặt ra của Chính phủ đạt được 20 nghìn tiến sĩ vào năm 2020 nhằm có được 30% các giảng viên đại học có bằng tiến sĩ. Tuy nhiên, tác giả ước tính rằng số lượng tiến sĩ cần thiết cho mục tiêu này thực chất phải là 60 nghìn, nghĩa là sẽ cần thêm 45 nghìn tiến sĩ nữa. Cả 2 con số này dường như đều không khả thi.  Rõ ràng là số lượng nghiên cứu sinh tiến sĩ mà Việt Nam có thể đào tạo rõ ràng thấp hơn so với kỳ vọng của Chính phủ. Do vậy chúng ta không thể kỳ vọng nhanh chóng tăng số lượng những giáo sư đại học đủ năng lực và đạo đức. Có lẽ điều cấp thiết phải làm ngay hiện nay là xác định ra những giáo sư như vậy, và tin tưởng giao phó cho họ công việc đào tạo và hướng dẫn các nghiên cứu sinh. Ở một số nước trên thế giới có một quy trình để làm điều này, đó là quy trình phong tặng danh hiệu “habilitation”. Sự phong tặng này hoàn toàn dựa trên thành tựu, căn cứ vào kỹ năng nghiên cứu và kết quả đạt được, số lượng và chất lượng các công bố khoa học, hiệu quả giảng dạy, sự ghi nhận trong phạm vi ngoài trường và phạm vi quốc tế, cùng những tiêu chí khác mà người ta cho rằng cần thiết, miễn là chúng phải khách quan, công bằng, không mở cửa cho sự tư tình và những sự bất công.         Chúng ta cần tập trung vào việc tạo ra những bằng cấp không bị giả tạo, thu hút các tài năng, và chỉ cần tạo ra số lượng bằng cấp trong giới hạn chừng mực khả năng thực tiễn của chúng ta.        Việc đặt ra một danh hiệu như “habilitation” sẽ đem lại nhiều lợi ích, miễn là được thực hiện một cách có đạo đức, nghĩa là việc phong tặng phải do một ủy ban bên ngoài. Cần trả lương cao cho những người được phong tặng danh hiệu này, cũng như cho những người trẻ tuổi đã làm xong hậu tiến sĩ với năng lực đầy đủ và đang mong mỏi được tạo cơ hội.  Việc hướng dẫn một nghiên cứu sinh tiến sĩ cần rất nhiều thời gian và nỗ lực. Sẽ không hợp lý nếu đòi hỏi rằng một thầy hướng dẫn trung bình mỗi năm phải tạo ra được trên một tiến sĩ – nghĩa là đòi hỏi thầy hướng dẫn này phải liên tục hướng dẫn cho 3 nghiên cứu sinh tiến sĩ (thông thường thời gian hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh tiến sĩ là 3 năm).   Nhưng những gì đang xảy ra ở Việt Nam trong thời gian gần đây lại hoàn toàn trái ngược với những gì tôi trình bày trên đây: thay vì tuyển chọn thày hướng dẫn một cách nghiêm ngặt hơn và tin tưởng giao phó trách nhiệm cho họ, người ta lại tạo ra một hệ thống các quy định phức tạp nhằm giám sát, theo dõi công việc của họ2; các nghiên cứu sinh phải viết báo cáo ba tháng một lần cho học viện về tiến độ công việc của mình; họ phải trình bày 3 đề tài cơ bản trước một hội đồng đặc biệt thứ nhất; họ phải trình bày 3 đề tài cụ thể trước một hội đồng đặc biệt thứ hai; và họ phải bảo vệ đề tài của mình hai lần trước hai hội đồng đặc biệt khác.         Sẽ không hợp lý nếu đòi hỏi rằng một thầy hướng dẫn trung bình mỗi năm phải tạo ra được trên một tiến sĩ – nghĩa là đòi hỏi thầy hướng dẫn này phải liên tục hướng dẫn cho 3 nghiên cứu sinh tiến sĩ (thông thường thời gian hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh tiến sĩ là 3 năm).         Là người đã dành phần lớn sự nghiệp khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc tế, tôi đã giám sát và hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chưa ở nơi đâu tôi lại thấy một hệ thống phức tạp và quan liêu như vậy, một hệ thống đặt quá ít lòng tin vào những người thầy hướng dẫn.   Vấn đề cần quan tâm ở đây không phải là bằng cấp, mà là kỹ năng, năng lực, và tri thức hàm chứa đằng sau nó. Đào tạo ra 20 nghìn tiến sĩ để làm gì nếu tấm bằng có thể mua được bằng tiền? Chúng ta không cần đến những tấm bằng tiến sĩ được gắn trên tường văn phòng. Việt Nam cần những tiến sĩ có thể giúp đất nước vượt qua những thử thách trước mắt. Và những thứ luận văn sao chép không giúp gì cho điều này. Đây là thực tế không thể phủ định. [Vì vậy], chúng ta cần tập trung vào việc tạo ra những bằng cấp không bị giả tạo, thu hút các tài năng, và chỉ cần tạo ra số lượng bằng cấp trong giới hạn chừng mực khả năng thực tiễn của chúng ta.      Chúng ta cũng cần hiểu rõ hơn làm sao để giúp những người đã làm xong hậu tiến sĩ có thể kết nối vào đời sống công việc, dù là mang tính học thuật hay phi học thuật. Cần có một chương trình theo dõi và tiếp tục đào tạo cho những người đã làm xong hậu tiến sĩ, căn cứ vào nhu cầu cơ bản chung của đất nước, và nhu cầu cụ thể của các trường đại học. Ngày nay, không ít những người đã làm hậu tiến sĩ ở những lĩnh vực tiên tiến nhất của vật lý học, cuối cùng phải đi dạy trung học (giáo viên trung học là một nghề đáng được tôn trọng, nhưng họ đâu cần đến bằng tiến sĩ để phải lãng phí tiền bạc và công sức), và rất hiếm những người làm hậu tiến sĩ tìm được công việc phù hợp với tài năng của mình ở Việt Nam.   Chúng ta cần thay đổi thói quen cố hữu hiện nay một cách quyết liệt. Cần tuyển chọn [sinh viên/nghiên cứu sinh] nghiêm túc hơn, và xử lý nghiêm khắc hơn những trường hợp gian lận. Cần xác định đúng hơn những người thầy có đủ nhân cách và năng lực để hướng dẫn các nghiên cứu sinh tiến sĩ. Cần đơn giản hóa hệ thống những quy định phức tạp, tương đồng với những tiêu chuẩn quốc tế, nhằm khuyến khích và giản lược hóa những thỏa thuận hợp tác đồng hướng dẫn (tiếng Pháp gọi là cotutelles3). Chúng ta cũng cần tăng cường mạnh mẽ những giảng viên trẻ trong các trường đại học bằng cách trao cho họ những cơ hội thực sự.  Hiện nay, sự tự tôn đang khiến chúng ta không dám đối diện hiện thực, và sự khiêm tốn khiến chúng ta không dám tham vọng [một cách thực tế]. Chúng ta cần phải có thái độ hoàn toàn ngược lại: sự tự tôn là để chúng ta tham vọng và tự tin; sự khiêm tốn để giúp chúng ta có nghị lực để đối diện với thực tế.        Hiện nay, các trường đại học Việt Nam đang rất thiếu những giảng viên có đủ năng lực để đào tạo cho sinh viên một cách bài bản cần thiết trong bối cảnh hiện tại đất nước đang phát triển rất nhanh. Hơn nữa, các trường này, cũng như nhiều trường đại học khác trên thế giới, đang phải gánh trách nhiệm đào tạo số lượng sinh viên quá nhiều so với năng lực của họ, do những gia đình có đủ tiền trả học phí thường gửi con em mình tới trường đại học với hy vọng rằng chúng sẽ đạt được một đẳng cấp cao hơn trong xã hội và trở nên giàu có hơn.              Ngày nay Việt Nam đang có quá nhiều sinh viên học về tiếp thị, kinh doanh và kinh tế trong khi lại thiếu người được đào tạo về thủ công nghiệp và nghề trong các ngành có tiềm năng sáng tạo và hiệu quả kinh tế cao; có quá nhiều sinh viên dành tới 4 năm trong các trường đại học mà về cơ bản không học hỏi được gì nhiều dù có tấm bằng đại học. Rõ ràng là cần có một hệ thống sát hạch nghiêm ngặt không chỉ ở giai đoạn tuyển đầu vào mà cả với những kỳ thi cuối năm, đặc biệt là trong quá trình sát hạch cấp bằng; đồng thời tổ chức một hệ thống dạy nghề và trường kỹ thuật nhằm giảm bớt lượng sinh viên tại các trường đại học; tạo những khóa đào tạo ngắn hạn tại các trường đại học, cho phép sinh viên tốt nghiệp đi làm chỉ sau 2 năm với một tấm bằng thấp hơn so với bằng đại học.                  THANH XUÂN dịch  ————–  1 Quỳnh Nga, An ninh Thủ đô, Tiến sĩ ơi là tiến sĩ ơi!, 28 tháng 10, 2012.  2http://vanban.moet.gov.vn/?page=1.15&script=viewdoc&view=1170&opt=brpage.  3 P. Darriulat, Tia Sáng, Hình thức thực hiện Luận án đồng hướng dẫn, Tháng 7, 2011.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo tiến sĩ: Một cái nhìn hệ thống      Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT (gọi tắt là Thông tư 18) về đào tạo tiến sĩ đã gây ra làn sóng tranh luận sôi nổi, xung quanh việc nới rộng quy định chuẩn đầu ra với tiến sĩ và tiêu chuẩn người hướng dẫn so với Quy chế trước đó (gọi tắt Thông tư 08). Bài viết này sẽ phân tích những thay đổi trong Quy chế mới ban hành từ góc nhìn hệ thống một cách tổng thể, giúp những nhà quản lý giáo dục có cơ sở để đưa ra những quy định cần thiết, phù hợp, tránh phiến diện, cục bộ.      Nguồn minh họa: Nature.  Chuẩn đầu ra: nguyên tắc và căn cứ xây dựng     1. Tương ứng với chương trình đào tạo    Theo nguyên tắc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra được xây dựng riêng cho từng chương trình, mang đặc thù của chương trình đó. Chuẩn đầu ra của các chương trình khác nhau đương nhiên khác nhau. Nội dung chương trình đào tạo và tất cả các yếu tố có liên quan tới quá trình đào tạo phải được thiết kế, tổ chức theo cách tương ứng sao cho đạt được chuẩn đầu ra đã định. Việc đánh giá kết quả học tập cũng như năng lực người học trong suốt quá trình đào tạo và khi hoàn thành chương trình cũng phải bám sát chuẩn đầu ra.    Nói cách khác, nếu yêu cầu sau khi hoàn thành chương trình đào tạo người học phải đạt, phải có một năng lực nào đó thì xuyên suốt và nhất quán trong quá trình đào tạo, cơ sở giáo dục phải ‘dạy’, phải ‘rèn’ để phát triển năng lực đó cho người học. Một chương trình tốt là chương trình thông qua nội dung, phương pháp, hình thức, cách thức giảng dạy và đào tạo, cùng với tất cả các yếu tố đầu vào và bối cảnh tạo ra môi trường học tập hiện thực hóa được các chuẩn đầu ra và cam kết của chương trình đối với người học.    Với tất cả những gì cơ sở giáo dục đã nêu trong chuẩn đầu ra thì tương ứng, họ phải đưa vào chương trình tất cả các yếu tố giúp phát triển năng lực đó. Việc này đòi hỏi tính khoa học, hệ thống và nhất quán trong thiết kế và tổ chức thực hiện chương trình. Chính điều này thể hiện năng lực của cơ sở giáo dục và trách nhiệm giải trình của nhà trường. Nếu không dạy, không trang bị mà yêu cầu người học phải có, phải đạt được là thiếu trách nhiệm và không công bằng với người học.      2. Bám sát Khung trình độ quốc gia Việt Nam    Việc xây dựng chuẩn đầu ra của một chương trình đào tạo là một phần quy trình chuyên môn trong xây dựng và phát triển chương trình. Có nhiều cơ sở và căn cứ để từ đó cơ sở giáo dục có thể đặt ra các yêu cầu kỳ vọng đối với người học chẳng hạn nhu cầu xã hội đối với ngành nghề, yêu cầu của nhà tuyển dụng và sử dụng lao động, yêu cầu của chính người học và phụ huynh, kỳ vọng của các nhà chuyên môn, các tổ chức nghề nghiệp, vv. Các yêu cầu mang tính pháp lý của Chính phủ là một căn cứ quan trọng để đánh giá, thẩm định và phê duyệt chương trình. Quy chế 18 cũng đã đặt ra quy định liên quan ở Điều 2, điểm 1.    Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam bao gồm 8 bậc, trong đó bậc cao nhất, bậc 8 là bậc trình độ tiến sĩ. Bản mô tả Khung trình độ bậc 8 đã nêu rõ những yêu cầu về Kiến thức, Kỹ năng và Mức tự chủ và trách nhiệm, cũng như số tín chỉ tối thiểu của bậc này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khung chuẩn này là quy định chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực đào tạo, và là chuẩn tối thiểu. Khi xây dựng chuẩn đầu ra cho các chương trình đào tạo bậc tiến sĩ, các cơ sở giáo dục phải cụ thể hóa các kỹ năng, kiến thức, năng lực cho ngành đào tạo trong lĩnh vực đào tạo tương ứng.              Bậc trình độ         Chuẩn đầu ra  Người tốt nghiệp khóa đào tạo phải có:      Khối lượng học tập tối thiểu      Văn bằng, chứng chỉ          Kiến thức      Kỹ năng      Mức tự chủ và trách nhiệm          8      – Kiến thức tiên tiến, chuyên sâu ở vị trí hàng đầu của một lĩnh vực khoa học;  – Kiến thức cốt lõi, nền tảng thuộc lĩnh vực của chuyên ngành đào tạo.  – Kiến thức về tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới.  – Kiến thức về quản trị tổ chức.      – Kỹ năng làm chủ các lý thuyết khoa học, phương pháp, công cụ phục vụ nghiên cứu và phát triển.  – Kỹ năng tổng hợp, làm giàu và bổ sung tri thức chuyên môn.  – Kỹ năng suy luận, phân tích các vấn đề khoa học và đưa ra những hướng xử lý một cách sáng tạo, độc đáo.  – Kỹ năng quản lý, điều hành chuyên môn trong nghiên cứu và phát triển.  – Tham gia thảo luận trong nước và quốc tế thuộc ngành hoặc lĩnh vực nghiên cứu và phổ biến các kết quả nghiên cứu.      – Nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới.  – Đưa ra các ý tưởng, kiến thức mới trong những hoàn cảnh phức tạp và khác nhau.  – Thích ứng, tự định hướng và dẫn dắt những người khác.  – Phán quyết, ra quyết định mang tính chuyên gia.  – Quản lý nghiên cứu và có trách nhiệm cao trong việc học tập để phát triển tri thức chuyên nghiệp, kinh nghiệm và sáng tạo ra ý tưởng mới và quá trình mới.      90-120 Tín chỉ      Bằng Tiến sĩ          Bảng 1: BẢNG MÔ TẢ KHUNG TRÌNH ĐỘ QUỐC GIA  VIỆT NAM (Kèm theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ).  Theo Khung này (Bảng 1), liên quan đến yêu cầu về kết quả nghiên cứu khoa học, người tốt nghiệp được yêu cầu phải “tham gia thảo luận trong nước và quốc tế thuộc ngành hoặc lĩnh vực nghiên cứu và phổ biến các kết quả nghiên cứu”.   Khung trình độ quốc gia Việt Nam không quy định phải có bài báo quốc tế mà chỉ yêu cầu ‘phổ biến kết quả nghiên cứu’.  Khung trình độ quốc gia là văn bản pháp quy có giá trị pháp lý cao nhất. Quy chế do Bộ GD&ĐT ban hành về chuẩn đầu ra chung phải phù hợp với Khung trình độ quốc gia về chuẩn đầu ra cho các bậc đào tạo. Chuẩn đầu ra của một chương trình cụ thể cần phải đạt được mặt bằng chung quy định trong Khung trình độ hoặc cao hơn, nhưng không được thấp hơn.    Như vậy, một chuẩn đầu ra cao hay thấp là khi so sánh nó với Khung trình độ quốc gia và chính chương trình đào tạo với toàn bộ các yếu tố cấu thành để đem đến một trải nghiệm học tập cho người học. Do các ngành, lĩnh vực đào tạo có đặc thù riêng, đòi hỏi các yếu tố đầu vào khác nhau, việc so sánh chuẩn đầu ra của các chương trình các ngành và lĩnh vực khác nhau giống như “so sánh táo và lê”, mà cũng chỉ so sánh được lớp vỏ mà không thể thấy lớp ruột bên trong.     Cần hiểu những quy chế như 08 hay 18 như thế nào?     GDĐH Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển tự chủ đại học, đặc biệt đẩy mạnh tự chủ toàn diện, trong đó tự chủ về học thuật đã được thống nhất rộng rãi trong toàn bộ hệ thống, các quy chế liên quan đến tuyển sinh, chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, vv, không còn là các quy định cứng, cụ thể và chi tiết, yêu cầu các cơ sở giáo dục (CSGD) phải rập khuôn. Thay vào đó, các văn bản này đưa ra các khung tiêu chuẩn hoặc các hướng dẫn, các bộ công cụ (toolkits) để các trường tham chiếu và triển khai cụ thể ở cơ sở. Một khi đã là khung tiêu chuẩn, bất kể yêu cầu hay quy định nào đặt ra đều cần phải là một khoảng cho phép các trường với điều kiện, chiến lược khác nhau có thể định chuẩn của mình biến thiên trong đó. Thông thường để tạo khoảng không cho tự chủ, các khung này chỉ quy định mức sàn hoặc mức trần, tùy từng trường hợp, đối tượng của quy định.     Cần lưu ý rằng quy chế có tính định khung mang tính nguyên tắc, còn quy định mới cụ thể hóa các tiêu chuẩn1. Tất nhiên Bộ có thể xây dựng các quy định cho từng ngành, từng lĩnh vực đào tạo, tuy nhiên cần suy xét, cân nhắc kỹ lưỡng về vai trò của các bên (cơ quan quản lý nhà nước và CSGD) theo đúng định hướng và tinh thần phát triển của tự chủ trong quản trị hệ thống đại học. Điều 2, điểm 1 của Quy chế 18 về Chương trình đào tạo nêu: ‘Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ do cơ sở đào tạo xây dựng, thẩm định và ban hành, đáp ứng yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam và quy định về chuẩn chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo’. Do vậy hãy để cho các trường đại học quyết định chuẩn của mình.       Đại học Phenikaa tuyển sinh NCS với yêu cầu học tập trung tối thiểu 12 tháng liên tục trong 2 năm đầu tiên. Nguồn ảnh: Phenikaa.  Trong bài viết ‘Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: Nhìn từ Quy chế tuyển sinh đại học 2020’ ngày 24/5/2020, người viết đã đề xuất cách tiếp cận ‘tuân thủ-hoặc-giải trình’ để thực hiện tự chủ đại học theo Luật GDĐH sửa đổi. Trong trường hợp quy chế tuyển sinh này, Bộ GD&ĐT ban hành quy định khung chuẩn đầu ra và nguyên tắc triển khai, tổ chức thực hiện, đồng thời ban hành hướng dẫn chi tiết về quy trình, cách thức thực hiện và các biểu mẫu (tuyển sinh, hướng dẫn nghiên cứu sinh, đánh giá luận án, thẩm định, hỗ trợ nghiên cứu, giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa giảng viên hướng dẫn với NCS, việc thay đổi GV hướng dẫn, vv.) để các trường tham khảo để xây dựng các quy định riêng của mình. Trong quy định về tuyển sinh và đào tạo, các trường đặt ra tiêu chuẩn cụ thể cho mỗi chương trình trong khung Bộ đặt ra trong quy chế. Về quy trình, cách thức triển khai, vv., có thể tuân theo hướng dẫn của Bộ hoặc không; nếu không tuân thủ thì cần phải giải trình cho những điều chỉnh của mình.      Tiến tới nâng cao hiệu quả đào tạo tiến sĩ: từ khía cạnh đảm bảo chất lượng      Phần lớn các ý kiến dù trái ngược đều cho thấy sự quan tâm của giới nghiên cứu và đại học đối với hiệu quả và chất lượng đào tạo bậc tiến sỹ. Tuy nhiên nếu chỉ tập trung vào kết quả đầu ra thể hiện trong quy chế, quy định về chuẩn đầu ra là lạc hậu, phiến diện.     Không có chuẩn đầu ra cụ thể chung cho tất cả các ngành, kể cả cùng bậc đào tạo. Chuẩn đầu ra là phần không tách rời của Chương trình đào tạo, do vậy nhất quán và phù hợp với mọi thành phần cấu thành chương trình.    Đảm bảo chất lượng, dù ở các ngành công nghiệp hay lĩnh vực giáo dục, đã từ lâu không còn chỉ chú trọng đến đầu ra, và/hoặc các yếu tố đầu vào. Ý tưởng cốt lõi của TQM (quản lý chất lượng toàn diện) là tập trung vào quản lý chất lượng liên tục trong quá trình. Ý tưởng này đặc biệt quan trọng trong giáo dục bởi quá tr⁸ình giáo dục kéo dài, chịu tác động của vô số các yếu tố cá nhân, tổ chức, và xã hội. Nếu chỉ kiểm soát, quản lý chất lượng các yếu tố đầu vào (tiêu chí tuyển sinh, trình độ, năng lực của giảng viên, tài liệu, nội dung chương trình…) và/hoặc kết quả đầu ra là không đủ và quá muộn để khắc phục nếu ‘có vấn đề’.    Hiển nhiên những tiến sĩ tu nghiệp ở các đại học lớn ở các nền giáo dục phát triển đều thấy rõ quá trình tu nghiệp với những trải nghiệm học tập và nghiên cứu trong môi trường học thuật chuyên nghiệp có giá trị và tầm quan trọng như thế nào đối với sự ‘trưởng thành’ và phát triển năng lực nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Không chỉ là năng lực của người thầy, với bằng cấp, các công trình nghiên cứu, số bài báo khoa học, các hội thảo quốc tế mà họ đã tham gia, mà còn là sự giao tiếp giữa thầy và trò, là các buổi làm việc, thảo luận định kỳ với những thử thách thầy đặt ra cho trò, là sự hỗ trợ về cả chuyên môn, tài chính, xã hội để giúp trò vượt qua các khó khăn trong học tập và cuộc sống để có thể tham gia, hòa nhập với môi trường học thuật. Không chỉ là một bàn làm việc trang bị máy tính tại trường với quyền truy cập thư viện điện tử kết nối với hầu hết các nhà xuất bản và cơ sở dữ liệu khoa học lớn trên thế giới, mà còn là một cộng đồng các nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu trẻ với các hoạt động sinh hoạt học thuật hằng tuần như hội thảo, seminar chuyên đề về phương pháp nghiên cứu, công cụ phân tích dữ liệu, phần mềm trích dẫn, nghệ thuật thuyết trình…, một cộng đồng nghiên cứu quốc tế gồm các nhà nghiên cứu, các giáo sư đầu ngành trong và ngoài nước với các hội thảo khoa học lớn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực liên quan, cộng với toàn bộ các dịch vụ hỗ trợ cho nghiên cứu sinh như IT và các phần mềm chuyên dụng có bản quyền, tư vấn học thuật (hỗ trợ kỹ năng viết học thuật – academic writing, kỹ năng viết bài báo, trình bày poster, các khóa hướng dẫn sử dụng phần mềm thống kê…), tư vấn tâm lý, pháp lý, y tế, vv. mà người học có thể dễ dàng tiếp cận.     ‘Nhúng’ trong một môi trường như vậy, nghiên cứu sinh được làm quen với các tiêu chuẩn khoa học quốc tế khắt khe, được cập nhật với những thành tựu nghiên cứu đỉnh cao, được truyền cảm hứng bởi tinh thần học thuật tinh hoa, được tôi rèn dần dần trong suốt khoảng thời gian kéo dài trung bình bốn năm (nếu làm việc bán thời gian, tương ứng với hệ vừa làm vừa học, thì còn kéo dài 6-7 năm).     Phần lớn các nghiên cứu sinh đã lấy bằng tiến sĩ ở nước ngoài do các trường đại học được công nhận cấp (có kiểm định chất lượng) đều phải trải qua quá trình học tập, tu nghiệp căng sức toàn thời gian làm việc nghiêm túc, mỗi ngày 8-10 tiếng làm việc ở trường. Đối với khối ngành kỹ thuật, công nghệ, việc tiếp cận các thiết bị, phòng lab tiên tiến để thực hiện nghiên cứu đóng vai trò cốt lõi đối với sự thành công của nghiên cứu tiến sĩ. Với khối ngành khoa học xã hội, việc làm việc tại trường và tham gia vào môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, liên tục có va chạm với các vấn đề học thuật, các tranh luận, thảo luận chuyên môn còn quan trọng hơn. Nó giúp NCS có thể dùng được cái thứ ngôn ngữ khoa học của ngành, bước đầu có những năng lực để có thể tiếp tục nghề nghiên cứu.     Trở lại với Quy chế 18, Điều 3 quy định thời gian và hình thức đào tạo không nêu rõ đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam là toàn thời gian (tập trung liên tục) hay phi tập trung (vừa làm vừa học, bán thời gian) mà chỉ quy định chung thời gian đào tạo tiêu chuẩn (3 đến 4 năm), với khả năng rút ngắn hoặc kéo dài trong khoảng hai năm đến tối đa sáu năm. Theo Quy chế, hình thức đào tạo là chính quy, yêu cầu nghiên cứu sinh ‘phải dành đủ thời học tập, nghiên cứu, và đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian’, nhưng không quy định về chế độ làm việc, nghiên cứu của NCS. Đây là điểm mờ của quy chế khi không rõ 30 tín chỉ/năm được thực hiện, tính toán, theo dõi và giám sát như thế nào nhất là khi NCS  không tham gia hoặc đã hoàn thành các học phần, khoá học bắt buộc và tự chọn thường diễn ra trong 1 hoặc 2 năm đầu tiên. NCS của nhiều chương trình tại phần lớn các CSGD không được phân không gian làm việc và cũng không được yêu cầu phải có mặt tại đơn vị cơ sở quản lý NCS của trường (ngoại trừ một số ít trường và chương trình tiến sỹ ngành kỹ thuật, công nghệ có phòng lab để thực hiện nghiên cứu như Đại học Bách khoa Hà Nội có chính sách phân chỗ, bàn làm việc cho NCS). Do vậy, cho dù NCS đăng ký loại hình chính quy tập trung, đó chỉ là hình thức mà không có cơ chế và điều kiện để thực hiện. Khi NCS không đến làm việc tại trường, không tham gia các sinh hoạt chuyên môn tại cơ sở, không có những trao đổi thường xuyên, ngay việc đảm bảo rằng sản phẩm nghiên cứu (báo cáo chuyên đề, bài báo,vv.) là do chính NCS thực hiện cũng là thách thức.    Thực tế đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam bản chất là ‘vừa làm vừa học’ trong khoảng trung bình bốn năm, trong đó 1-2 năm đầu tiên NCS theo học các khóa học, do vậy tách rời với môi trường nghiên cứu và duy trì mối quan hệ lỏng lẻo với thầy hướng dẫn. Thời gian NCS thực sự dành cho nghiên cứu khoa học và thực hiện nghiên cứu cho luận án ngắn hơn đáng kể so với ở các trường đại học Âu Mỹ. Chưa kể tần suất làm việc giữa thầy và trò về nghiên cứu thưa thớt, tính chất, hình thức cuộc gặp và hiệu quả của nó cũng còn phải bàn nhiều. Đối với nhiều ngành, chương trình, cơ hội để giao lưu học thuật và tiếp cận với giới nghiên cứu, học giả nước ngoài gần như bằng Không. Cơ hội tham gia và báo cáo tại các hội thảo quốc tế cũng hiếm hoi.     Có thể nói ngoài những tồn tại về chất lượng các yếu tố đầu vào, việc đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam chú trọng rất nhiều đến các vấn đề thủ tục và quy trình mà đã bỏ qua yếu tố trọng yếu: môi trường học thuật và nghiên cứu cho NCS. Với kết cấu chương trình và cách thức tổ chức đào tạo tiến sĩ như vậy, có thể thấy rõ mức độ tiếp cận với nghiên cứu khoa học đỉnh cao cũng như các công cụ, chương trình hỗ trợ phát triển năng lực nghiên cứu và xuất bản quốc tế là rất hạn chế. Môi trường học thuật giữa các ngành cũng có nhiều điểm khác nhau, một số ngành NCS được tiếp cận môi trường nghiên cứu quốc tế tốt hơn tất nhiều so với các ngành khác.     Từ những phân tích trên, có thể nói rằng nếu muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tiến sĩ đo lường bằng chuẩn đầu ra quy về số bài báo quốc tế chẳng hạn thì trước tiên trọng tâm cải tiến cần tập trung vào quá trình đào tạo và môi trường học thuật. Áp đặt chuẩn đầu ra trong khi không cải thiện môi trường nghiên cứu và quá trình đào tạo để đảm bảo phát triển năng lực chuẩn đầu ra là cách làm duy ý chí dẫn tới các hậu quả không mong muốn của chính sách.     Người viết đánh giá và nhận định rằng Quy chế 18 thể hiện nhiều thay đổi ưu điểm so với quy chế hiện hành, chặt chẽ về tính pháp lý và nhất quán với các nguyên tắc tự chủ đại học. Tuy nhiên, Quy chế nhấn mạnh vào các yếu tố đầu vào và thủ tục của việc đào tạo tiến sĩ mà chưa cho thấy cách tiếp cận đảm bảo chất lượng theo quá trình, chưa đi vào xử lý vấn đề cốt lõi của đào tạo bậc tiến sĩ (đào tạo thạc sĩ cũng chung vấn đề) nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo.□  ——  1 https://phamlaw.com/the-nao-la-quy-che-quy-dinh-quy-trinh.html    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi Toán: Đã đi chệch hướng      Giáo viên và học sinh Việt Nam lần đầu tiên tham gia kì thi Olympic Toán quốc tế – IMO năm 1974. Ảnh: A0.com Trong một báo cáo vừa qua của nhóm nghiên cứu độc lập Trắc lượng khoa học Việt Nam Scientometrics for Vietnam, số lượng công bố ISI (Web of Science) ngành Toán …      Giáo viên và học sinh Việt Nam lần đầu tiên tham gia kì thi Olympic Toán quốc tế – IMO năm 1974. Ảnh: A0.com  Trong một báo cáo vừa qua của nhóm nghiên cứu độc lập Trắc lượng khoa học Việt Nam Scientometrics for Vietnam, số lượng công bố ISI (Web of Science) ngành Toán ở Việt Nam cao nhất Đông Nam Á, thành tích này các nhà Toán học Việt Nam đã đạt được từ năm 2015, sau khi vượt qua Singapore. Cũng tính theo các con số này thì vị trí của Toán học Việt Nam ở khoảng từ 30-40 trên thế giới. Nếu đánh giá sâu hơn về chất lượng công bố, về tầm ảnh hưởng của các nghiên cứu, theo ý kiến cá nhân tôi, chúng ta chưa bằng Singapore, nhưng có thể tự tin rằng thực sự đã hơn các nước còn lại trong khu vực không chỉ về lượng mà cả về chất. (Trường hợp Singapore cũng khá đặc biệt, nhờ sức mạnh về kinh tế nên họ có thể thu hút được các nhà khoa học xuất sắc tới làm việc, khác với Việt Nam, khi thành tích chúng ta đạt được hoàn toàn do nội lực và hợp tác quốc tế bình đẳng).   Thành tích này của ngành Toán không phải là ngẫu nhiên, mà có cơ sở từ hơn 70 năm trước. Rất đáng ngạc nhiên là trong những sắc lệnh và nghị định đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) cuối năm 1945 có một tỷ lệ rất lớn văn bản về giáo dục. Chẳng hạn, trong số 50 sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ lâm thời VNDCCH, có 10 sắc lệnh liên quan tới giáo dục. Rất tiếc là người Pháp không muốn cho chúng ta một nền độc lập nên cuộc kháng chiến chống Pháp bắt buộc phải nổ ra làm gián đoạn công cuộc giáo dục. Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo. Cuối năm 1946, ông Nguyễn Văn Huyên được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Giáo dục Quốc dân và đảm nhiệm vị trí này trong suốt thời kỳ kháng chiến. Là một nhà khoa học thực thụ, ông đã cùng nhiều trí thức khác không ngừng xây dựng nền giáo dục Việt Nam. Có lẽ đây là một điều khá đặc biệt và hy hữu trong lịch sử, khi một chính quyền coi dốt nát cũng là một loại giặc, ngang với giặc ngoại xâm.   Có lẽ là một sự tình cờ khi có khá nhiều “yếu nhân” trong ngành giáo dục thời kỳ đầu của VNDCCH là các nhà toán học hoặc có hiểu biết sâu rộng về toán học: Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, ngoài ra có thể kể đến Nguyễn Xiển, Nguyễn Thúc Hào. Năm 1965, Chính phủ ra Quyết định số 165 về việc “mở một số lớp cấp 3 phổ thông dạy học sinh có năng khiếu về toán”, với mục tiêu “khuyến khích học sinh có năng khiếu về toán có điều kiện học lên cao”. Lớp toán đầu tiên như vậy được đặt ở Khoa Toán, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Quyết định do Phó thủ tướng Phạm Hùng ký ngày 14/9/1965. Đây là xuất phát điểm cho mô hình các trường chuyên sau này, được mở rộng ra trên cả nước và không chỉ đối với riêng môn Toán mà cả nhiều môn học khác bao gồm Văn, Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh và các môn ngoại ngữ.  Tuy nhiên, trong tương lai, chúng ta sẽ mất đi vị thế của mình trong ngành Toán học (và có thể nhiều ngành khác nữa) nếu tiếp tục duy trì cách thức đào tạo học sinh giỏi như hiện nay.    Mô hình trường chuyên hiện nay   Năm 2010 Chính phủ phê d uyệt Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên 2010-2020 (Quyết định số 959/QĐ-TTg). Mục tiêu chung của đề án được xác định là xây dựng hệ thống trường THPT chuyên để “phát hiện những học sinh có tư chất thông minh… để tạo nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.” Trong số các mục tiêu cụ thể của Đề án, theo tôi mục tiêu quan trọng nhất, hướng tới mục tiêu chung nói trên là “Tạo sự liên thông giữa việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở trường trung học phổ thông chuyên với việc đào tạo ở đại học; lựa chọn những học sinh có năng khiếu nổi bật vào học tại các lớp cử nhân tài năng, kỹ sư chất lượng cao của các trường đại học chất lượng cao trong nước và các trường đại học có uy tín ở nước ngoài để tiếp tục đào tạo, phát triển năng khiếu.” Với các yêu cầu rất cụ thể: “Đến năm 2015, có khoảng 30% học sinh các lớp chuyên đã tốt nghiệp trung học phổ thông được đào tạo tại các lớp cử nhân tài năng, kỹ sư chất lượng cao của các trường đại học trong nước và tại các trường đại học có uy tín ở nước ngoài và đạt 50% vào năm 2020.”    Lễ kỷ niệm 50 năm Trường THPT chuyên KHTN, ĐHQG HN. Ảnh: Trường THPT chuyên KHTN.  Như vậy, về mặt mục tiêu, Đề án này là sự mở rộng, nối dài của Quyết định của Chính phủ năm 1965 về việc thiết lập hệ thống trường chuyên. Quan điểm là thống nhất: phát hiện tài năng và tiếp tục bồi dưỡng để các em có thể học lên cao hơn.  Vấn đề cần bàn là phải xây dựng nội dung giảng dạy ở trường chuyên như thế nào. Điều này về cơ bản không được đề cập đến trong Đề án, ngoài những câu từ chung chung như: “Chương trình giáo dục trong trường trung học phổ thông chuyên xây dựng theo hướng hiện đại, tiếp cận với trình độ tiên tiến khu vực và thế giới; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục thể chất và bồi dưỡng nhân cách người học; tạo điều kiện để học sinh phát triển toàn diện, chuyên sâu một lĩnh vực, giỏi tin học và ngoại ngữ; phát triển năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; kỹ năng thực hành, tăng khả năng hoạt động thực tiễn”.  “Biên soạn khung tài liệu chuyên sâu giảng dạy các môn chuyên; tài liệu hướng dẫn phát triển chương trình các môn chuyên; tài liệu phục vụ cho việc thực hiện giảng dạy bằng tiếng Anh các môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, tin học; tài liệu về tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm bồi dưỡng năng khiếu theo lĩnh vực chuyên như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, quản lý…”  Chương trình bị bỏ quên  Theo tôi, nội dung chương trình học tại các trường THPT chuyên mới là cốt lõi của vấn đề. Từ năm 2010 tới năm 2020, giáo dục Việt Nam đã, đang và sẽ trải qua rất nhiều thay đổi lớn. Nhưng câu hỏi, dạy gì cho các học sinh chuyên thậm chí chưa hề được đặt ra. Ngược lại, do ảnh hưởng tiêu cực của mô hình thi trắc nghiệm hai năm vừa qua, cũng như do khuynh hướng du học nước ngoài ngày càng phát triển, chất lượng sinh viên ưu tú tại các trường đại học lớn ngày càng giảm sút – tôi được nghe những lời phàn nàn trực tiếp từ các giảng viên đứng lớp. Đây là một điều hết sức đáng buồn, bởi vì ngay trước khi chất lượng giảm sút thì chất lượng học sinh chuyên cũng không được như mong muốn. Ở đây cần làm rõ một vấn đề về thuật ngữ, khi nói tới “chất lượng học sinh” tôi muốn đề cập đến hiểu biết kiến thức, khả năng tiếp thu kiến thức và giải quyết vấn đề, phương pháp học tập, tư duy, chứ không đề cập đến tư chất của mỗi học sinh. Nói cách khác, mặc dù các trường chuyên về cơ bản vẫn lựa chọn được những học sinh có tư chất thông minh, nhưng việc đào tạo bồi dưỡng cho các em chưa tốt.      Trong tương lai, chúng ta sẽ mất đi vị thế của mình trong ngành Toán học (và có thể nhiều ngành khác nữa) nếu tiếp tục duy trì cách thức đào tạo học sinh giỏi như hiện nay.      Thực trạng diễn ra ở các trường THPT chuyên, với môn Toán, như sau. Khi được chọn vào lớp, các em là những học sinh có tư chất tốt, có đam mê với môn học. Tuy nhiên, niềm đam mê đó của đa số các học sinh thường không kéo dài quá năm lớp 10. Sau đó chỉ còn một số học sinh tiếp tục theo đuổi môn toán, mà mục tiêu cũng chỉ là theo đuổi các kỳ thi học sinh giỏi (một số tham gia do có sự động viên, thuyết phục, thậm chí thúc ép của các thầy cô). Đa số các học sinh, sau sự hăm hở bước đầu tập trung toàn lực cho việc thi đại học. Tình hình trở nên tồi tệ hơn đối với các lớp chuyên toán, khi mà hình thức thi tốt nghiệp THPT (và dùng kết quả để xét tuyển đại học) chuyển sang 100% trắc nghiệm. Học sinh vì phải luyện quá nhiều kỹ năng, mẹo mực phi khoa học để có thể trả lời được số lượng lớn câu hỏi khó trong thời gian rất ngắn, đã hoàn toàn không được dạy về phương pháp tư duy toán học. Rất tiếc, phương pháp tư duy là nội dung quan trọng nhất khiến cho việc học toán trở nên có ích.   Ngay cả đối với các học sinh tiếp tục theo đuổi môn toán, với mục đích chủ yếu là giành giải tại các kỳ thi học sinh giỏi, việc tập trung quá nhiều thời gian vào việc giải quyết các bài toán quá rắc rối, hình thức giảng dạy nhồi nhét kiến thức mà thiếu sự định hướng một cách khoa học cũng là một sự lãng phí thời gian đối với các em. Cần nhìn nhận rằng các học sinh này thực sự là tinh hoa của đất nước, và xứng đáng được hưởng một chương trình giáo dục tốt hơn, không chạy theo thành tích.   Theo hiểu biết của tôi, việc biên soạn tài liệu bồi dưỡng học sinh chuyên như đề cập đến trong Đề án đến bây giờ vẫn chưa được thực hiện. Tôi không hề biết đến một bộ sách thực sự nghiêm túc nào bằng tiếng Việt dành cho học sinh chuyên toán. Việc giảng dạy ở các trường chuyên vì thế hoàn toàn không được định hướng một cách khoa học. Qua nhiều lần tiếp xúc với học sinh chuyên toán từ nhiều trường THPT chuyên trên cả nước, tôi thấy các em đa phần rất yếu về phương pháp tư duy. Điều đáng buồn nhất là rất nhiều em thiếu ý thức chủ động suy nghĩ, thường là chờ lời giải của thầy giáo.   Trên nền của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó thay thế cách tiếp cận nội dung bằng cách tiếp cận năng lực, rất cần có một bộ sách giáo khoa đầy đủ cho học sinh chuyên và có thể dùng làm tài liệu tham khảo quan trọng cho các học sinh giỏi nói chung cũng như cho giáo viên. Việc biên soạn cần được tổ chức bài bản, có sự tham gia không chỉ của các giáo viên dạy chuyên mà rất cần sự góp mặt của giảng viên đại học, nhất là từ các trường thuộc khối kỹ thuật, kinh tế, tài chính, y học.   Chẳng hạn, với môn Toán, yêu cầu cao nhất đối với bộ sách này theo quan điểm của tôi, là phải giúp cho các học sinh giỏi tự tìm hiểu, khám phá được các kiến thức toán học căn bản, tự hoàn thiện được cho mình phương pháp tư duy toán học, hiểu được ý nghĩa của môn học đối với khoa học và đối với cuộc sống.   Không liên kết với đại học  Khó khăn căn bản của mô hình trường chuyên các năm qua là yếu tố động cơ. Như đã phân tích ở trên, học sinh chuyên toán sẽ bị điều khiển bởi một trong hai động cơ, thi đỗ đại học với số điểm cao hoặc xin học bổng đi học nước ngoài hoặc đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi, cuối cùng cũng để vào được đại học hay có học bổng đi học nước ngoài. Điểm mấu chốt ở đây là chẳng ai quan tâm tới việc các em sẽ học đại học như thế nào. Hiện tại đang có một sự vênh quá lớn giữa nội dung giảng dạy THPT và nội dung giảng dạy tại các trường đại học, đặc biệt là với môn Toán. Học sinh chuyên được luyện để giải quyết những bài toán hết sức phức tạp, trong số đó cũng có những bài toán hay, dù tỷ lệ không nhiều, nhưng việc dạy và học chủ yếu tập trung vào việc “biết một lời giải và nhớ nó”. Trong khi đó, các kiến thức cơ bản nhưng lại rất quan trọng của toán học hầu như không được đề cập đến, học sinh không được học một cách bài bản về phương pháp tư duy, không có được hình dung toán học là gì và để làm gì (ngoài việc giải các bài tập mà thầy giao cho – như một trò chơi). Điều này khiến cho nhiều học sinh, kể cả học sinh giỏi cũng gặp khó khăn lớn khi vào đại học, nơi mà toán học được dạy theo cách hoàn toàn khác. Nhiều kiến thức mà các giảng viên đại học cho rằng học sinh đã nắm vững trong chương trình THPT thực ra không phải, điều này ảnh hưởng tới khả năng tiếp thu và kết quả học tập của các em ở bậc đại học.   Đây là một điều rất đáng tiếc, nhất là đối với các học sinh giỏi. Yếu tố tích cực của việc học chuyên thì ít mà sự lãng phí lại nhiều hơn, trước tiên là lãng phí thời gian, tuổi trẻ của các em. Tai hại hơn, nội dung giảng dạy ở trường chuyên, vì được coi là hình thức giảng dạy ưu việt, còn được mở rộng ra đối với các lớp chất lượng cao trong các trường phổ thông, ảnh hưởng tới cả việc ra đề tại các kỳ thi. (Đề thi trắc nghiệm năm 2018, môn Toán, có những câu hỏi khó tới mức, một giáo sư đầu ngành về toán, có nhiều năm kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân cũng đã từng là học sinh chuyên toán, phàn nàn với tôi là anh không sao giải được – giải được theo nghĩa đúng đắn của nó, chứ không phải lựa chọn được đáp án đúng bằng cảm tính hoặc mẹo mực). Trong khi đó những học sinh này, vì quá tập trung vào việc chọn phương án đúng bằng các giải pháp mẹo mực, dựa dẫm hoàn toàn vào máy tính cầm tay trong việc giải bài, hoàn toàn hổng kiến thức cơ sở khi lên đại học.  Để mô hình trường chuyên trở nên thực sự có ích, nhất thiết phải xây dựng được một mối quan hệ chặt chẽ và hợp lý giữa các trường THPT chuyên và các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học tốp đầu với các chương trình đào tạo chất lượng cao của họ, như đã được đề cập tới trong Đề án 959 nói trên. Cần xác định mối quan hệ ở đây như là mối quan hệ cung-cầu, các trường đại học là khách hàng mà sản phẩm họ đi tìm và đánh giá chất lượng là học sinh các trường chuyên (cùng với tất cả các học sinh tốt nghiệp THPT khác). Việc các trường đại học có thể tự đưa ra phương án tuyển sinh đang tạo ra cơ hội tốt để xây dựng mô hình này. Các trường đại học cần đưa ra yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng và các trường chuyên sẽ xây dựng chương trình của mình để đào tạo ra học sinh đáp ứng các tiêu chí đó. Việc đánh giá chất lượng đào tạo ở trường chuyên sẽ không chỉ dựa trên số lượng học sinh đỗ vào đại học mà còn trên cả thành tích học tập của các học sinh đó tại các trường đại học.   Cũng cần xây dựng một cơ chế giảng dạy liên thông cho phép và yêu cầu các giảng viên đại học tham gia giảng dạy, bồi dưỡng tại các trường chuyên góp phần vào việc mở mang hiểu biết khoa học, phương pháp tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học và định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Ngược lại, tạo cơ hội, khuyến khích thậm chí yêu cầu các giáo viên chuyên không chỉ học lên thạc sỹ như trong Đề án trình bày, mà tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học thuật tại các trường đại học để mở mang kiến thức. Một người thầy với kiến thức sâu, rộng luôn có khả năng truyền đạt nhiều kiến thức, cảm hứng và niềm say mê học tập hơn cho học sinh.   Kỳ thi học sinh giỏi không phải là cứu cánh  Về mô hình của  trường chuyên có lẽ nên có một số thay đổi để phù hợp với thực tế. Hiện nay các lớp chuyên được chia ra theo môn học, khiến cho tính chuyên ngành rất cao. Như thế, ví dụ, học sinh chuyên toán về căn bản sẽ coi thường tất cả các môn khác vì ở trong lớp, giỏi toán mới được xác định là giỏi. Trong thực tế, có rất ít học sinh chuyên toán sau này sẽ tiếp tục theo đuổi Toán học như là một nghề nghiệp. Vì thế, đối với các học sinh chuyên toán, việc các em được bồi dưỡng một cách cẩn thận về các nội dung khác như Vật lý, Tin học là rất có ích cho tương lai sau này (tất nhiên không kể đến ngoại ngữ, là yêu cầu không thể thiếu). Ngoài ra, cơ hội được học tập với các bạn giỏi hơn trong cùng một lớp cũng sẽ đóng góp tích cực vào kết quả học tập của mỗi học sinh. Vì vậy có thể cân nhắc việc gộp chung một số môn trong các lớp chuyên, ví dụ lập các lớp chuyên Toán-Tin-Lý, Hóa-Sinh, Văn-Sử-Địa hoặc Sử-Địa. Đối với môn ngoại ngữ nên tổ chức giảng dạy tối thiểu 2 ngoại ngữ cho mỗi học sinh chuyên. Trên nền các lớp chuyên đó tổ chức các nhóm chuyên đề theo từng môn, dành cho các học sinh thực sự có năng lực và nguyện vọng.   Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hiện đang là cứu cánh cho sự tồn tại của nhiều trường chuyên. Thành tích tại các kỳ thi học giỏi được coi là thành tích quan trọng nhất không chỉ của trường mà thậm chí ngành giáo dục trong tỉnh. Các trường chuyên vì thế phải chịu sức ép về chuyện có giải tại các kỳ thi này. Điều này góp phần tạo sức ép lên chính các kỳ thi. Các ưu tiên đối với học sinh được giải cũng góp phần tạo thêm sức ép cho kỳ thi. Các yếu tố này góp phần làm cho kỳ thi mất đi ý nghĩa của một kỳ thi dành cho những người yêu toán mà trở thành một cuộc chạy đua đầy tốn kém.  Như đã nói ở trên, toán học Việt Nam, nếu tính theo số công bố ISI đứng vào ví trí 30-40 trên thế giới, thấp hơn nhiều so với vị trí thường xuyên xung quanh tốp 10 của đội tuyển Việt Nam tại kỳ thi Olympic toán học thế giới dành cho học sinh THPT (IMO). Nhưng nếu không có những chính sách phù hợp đối với đào tạo học sinh chuyên, và đặc biệt là đào tạo đại học, khó có thể đảm bảo toán học cũng như các khoa học khác giữ được vị thế hiện nay của mình trong vòng hai, ba chục năm tới. Ảnh hưởng của giáo dục luôn là lâu dài và mỗi thế hệ phải có trách nhiệm đối với các thế hệ sau. Cho đến bây giờ, Toán học Việt Nam vẫn đang thừa hưởng những thành quả do các bậc tiền bối như Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy và nhiều người khác dày công xây đắp.  Cần thay đổi một cách căn bản quan niệm về các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia cũng như các kỳ thi Olympic quốc tế dành cho học sinh THPT. Điểm mấu chốt là cần nhận thức rằng, thành tích của đội tuyển các tỉnh tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, cũng như của Việt Nam tại các kỳ thi Olympic quốc tế, chỉ là sự khích lệ đối với các cá nhân đạt giải, từ đó có thể là nguồn động viên cho các học sinh khác, nhưng không phải là thành tích của giáo dục Việt Nam nói chung, lại càng không phải là chỉ dấu chất lượng cho giáo dục Việt Nam.>    Author                Phùng Hồ Hải        
__label__tiasang Đạo văn nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, giáo dục      Nếu coi đạo văn là một hành vi cụ thể thì không thể không xét nó ở nhiều góc độ khác nhau, vì cũng như bất kỳ hành vi nào khác trong xã hội, nó luôn bị nhiều yếu tố chi phối và kết tạo thành. Có thể những yếu tố đó mang tính văn hóa, lịch sử, kinh tế, hay thậm chí có tính chính trị, cũng có thể nó hoàn toàn là chuyện của giáo dục.     Chuyện đạo văn ở nước ta đã được bàn bạc khá nhiều, dưới nhiều góc độ và bằng nhiều thái độ khác nhau: phanh phui những trường hợp đạo văn cụ thể, lý giải hành vi đạo văn, hay đưa ra biện pháp khắc phục. Gần đây nhất là quan điểm về đạo văn ở góc độ văn hóa. Những người cho rằng đạo văn đã trở thành văn hóa thường lý giải nó như một hành vi vừa có ý thức vừa vô thức, mang tính thói quen, quán tính, mặc dù người đạo văn vẫn hiểu, hoặc rất rõ hoặc mơ hồ, rằng đạo văn là sai trái.   Thật ra, nếu đã coi đạo văn là một hành vi cụ thể thì không thể không xét nó ở nhiều góc độ khác nhau, vì cũng như bất kỳ hành vi nào khác trong xã hội, nó luôn bị nhiều yếu tố chi phối và kết tạo thành. Có thể những yếu tố đó mang tính văn hóa, lịch sử, kinh tế, hay thậm chí có tính chính trị, cũng có thể nó hoàn toàn là chuyện của giáo dục.   Ở góc độ văn hóa, rõ ràng, “đạo văn” ở Việt Nam đã diễn ra cả nghìn năm nay. Dưới ách đô hộ của Trung Hoa, văn hóa và các trước tác kinh điển trong hệ thống triết học và lý luận Trung Hoa, cũng như các nhân vật lịch sử của Trung Hoa đã trở thành những dẫn chiếu, những “tham khảo” bất biến, mang tính chân lý cho luân lý, luận lý, và nghệ thuật của nhiều nhà Nho Việt Nam, từ vua chúa cho đến quan lại. Những dẫn chiếu này thường nhằm mục đích chính thức hóa hay giúp tăng thêm sức mạnh cho một chuẩn mực, một nhận định, một hành động, hoặc chỉ đơn thuần mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật.   Thơ văn cổ và trung đại của ta sử dụng khá nhiều những tham chiếu là các chuẩn mực, khuôn thước, ước lệ lấy từ nguồn Trung Hoa. Ví dụ như ngày xưa, vua Lý Nhân Tôn (1072-1127) đã sử dụng toàn bộ, có chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình, một di chỉ của hoàng đế Trung Hoa là Hán Văn Đế (202 TCN – 157 TCN) để lập di chúc truyền ngôi lại cho cháu mình, vì ông không có con trai để nối ngôi.   Theo nhà sử học Oliver Wolters thì việc “trưng dụng” sử Tàu này của Lý Nhân Tôn là để tự khẳng định mình, tự so sánh mình với vị minh quân trong sử Tàu, cũng như để hợp thức hóa việc truyền ngôi vốn mang tính ngoại lệ (truyền cho cháu trai chứ không phải con trai) của mình (i).  Đấy là một cách mượn điển tích, như một chân lý, như một hỗ trợ quyền lực cho hành động của mình, điều vốn không hiếm trong lịch sử trung đại Việt Nam.   Chúng ta khó lòng gọi đấy là một hành động đạo văn, vì lịch sử thời đấy chưa có hệ thống khái niệm mang tính pháp lý về cái gọi là đạo văn. Nhưng dù sao, nó cũng đã là một truyền thống khá dày và kéo dài cho đến tận thời Pháp thuộc khi nền văn minh của ta bắt đầu tiếp cận văn minh phương Tây. Những nhà văn, nhà thơ mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XX vẫn hay vay mượn, mà ít khi công bố sự vay mượn này, cảm hứng, thi ý, văn ý từ văn học Pháp. Ở góc độ văn hóa nghệ thuật, dường như đã hình thành một cái nếp, một thói quen vay mượn mà không tôn trọng bản gốc theo cách thời hiện đại tôn trọng bản quyền của cái gốc. Xin nhấn mạnh rằng, tôi không gọi lịch sử vay mượn đó là đạo văn, với nội hàm của thời hiện đại, mà tiếng Anh gọi là plagiarism. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến một cái nếp đã được hình thành ở góc độ văn hóa, nghệ thuật. Hành động vay mượn trong lịch sử kia gọi là gì thì xin bàn ở một dịp khác.  Ở góc độ lịch sử thì chuyện đạo văn có thể so sánh giữa phương Tây và phương Đông. Một số thống kê cho thấy đạo văn ở phương Đông, cụ thể là Trung Quốc, Việt Nam, hay Ấn Độ và một số nước khác, phổ biến hơn nhiều so với các nước phương Tây.   Ở chừng mực nào đó, điều này có thể hiểu được, nhất là trong thời kỳ hiện đại, vì khoa học, công nghệ, thậm chí hệ thống lý luận, lý thuyết của phương Tây vốn phát triển khá mạnh mẽ và với lịch sử phát tán thông tin thông qua hệ thống thuộc địa thực dân, tri thức phương Tây đã nhanh chóng bành trướng và được nhìn nhận như là những chân lý mới tiến bộ. Phương Đông từ đó mà cứ thế phải chạy theo phương Tây, vay mượn và trưng dụng để tự phát triển.   Dưới thời thực dân, in ấn bắt đầu phát triển lan tràn, nhưng chưa đi vào hệ thống thư mục cụ thể, nhất là ở các xứ thuộc địa như xứ ta. Trí thức ta buổi đầu tiếp xúc văn minh Tây như vỡ òa từ truyền thống Nho giáo bao nghìn năm sang một nền văn minh, văn hóa hoàn toàn khác. Đọc được gì đều thấy mới, và đều có một khao khát muốn trưng dụng nó. Dĩ nhiên có người bài trừ nó, như cụ Đồ Chiểu chẳng hạn; đường Tây làm cụ dứt khoát không đi. Nhưng xu thế chung vẫn là cái xu thế văn minh, văn hóa Tây tràn lan, xâm nhập vào từng ngóc ngách cuộc sống người Việt, như Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng phần nào cho thấy.   Cùng với nó là hệ thống tri thức phương Tây tỏ vẻ mạnh bạo và tiến bộ mà người bản xứ thuộc địa, dù yêu nước với tinh thần dân tộc cao, vẫn không khỏi xao xuyến, nao nao mà vay mượn. Sự vay mượn đó lại diễn ra trong bối cảnh thuộc địa khi kẻ đi thực dân chỉ muốn kẻ bị thực dân đọc sách mình, “hiểu” mình, và vâng lời mình, chứ không cần phải rạch ròi trích dẫn, hay tri ân cảm tạ nguồn tham chiếu. Và như đã nói, sự vay mượn này diễn ra trong bối cảnh công nghệ in phát triển bùng phát, nhưng chưa có hệ thống thư mục, chuẩn tắc thật sự phát triển, rạch ròi. Nói tóm lại, dân ta đọc, vồ vập, hối hả, tiếp thu, tiếp nhận trong một sự tràn lan, thiếu tổ chức (về mặt thư viện học, thông tin học) phổ biến của thời kỳ thuộc địa. Âu đấy cũng là một cái nếp nữa.  Nhưng Lý Nhân Tôn hay thời kỳ thuộc địa có vẻ đã quá xa xôi. Cái bây giờ, hằng ngày, vẫn góp phần hình thành cái nếp vay mượn trong học sinh, sinh viên, trí thức nói chung của ta là một cách thức giáo dục. Ở góc độ giáo dục, trong thời buổi hiện nay, cái nếp vay mượn ấy đã có thể gọi trực diện bằng khái niệm đạo văn, với đầy đủ nội hàm mang tính pháp lý của nó. Các em học sinh thơ ngây, từ khi biết đọc, đã được nhà trường dạy “đạo văn” theo đúng nghĩa của nó. Để rồi khi lớn lên, thành nhà khoa học, đạo văn đã thành thói quen, thành nếp tư duy, và cái tính “sai trái” của nó, dù cho nhận thức được, cũng chỉ là một đặc tính cộng thêm vào, yếu ớt và thiếu tính minh xác.   Đạo văn là sai, dường như trí thức nào cũng hiểu, nhưng sao vẫn làm, làm nhiều. Làm và giấu đi, tức là đã biết nó sai. Vì cái sai đó chưa minh xác về mặt biện pháp xử lý, mà cái sai đó lại mang đến cho người làm sai bao nhiêu lợi ích; kinh tế và chính trị là hai lợi ích có thể nói là rõ nét, lấn át trong hành vi đạo văn. Có người đạo văn để hoàn thành một công trình nghiên cứu, một luận văn thạc sỹ hay tiến sỹ, để từ đó đảm bảo cho mình một vị trí, một chức vụ nào đó trong một tổ chức giáo dục hay chính trị. Trong khi lợi ích kinh tế, chính trị thì trước mắt, rõ nét, mà bản thân cái định nghĩa thế nào là sai, sai sẽ bị xử ra sao lại không rõ rang, kèm theo một hệ thống đánh giá công trình, nghiên cứu khoa học, giáo dục quá yếu kém. Đạo văn như đang được hưởng môi trường “thiên thời địa lợi” và cứ thế mà hoành hành. Trong một hệ thống giáo dục hô hào bằng cấp, trọng dụng chỉ tiêu, số lượng, trong một cơ chế kinh tế thưởng phạt đo bằng điểm số, số lượng của bằng cấp, của công trình, thì đạo văn không hoành hành cũng lạ.  Trở lại vấn đề giáo dục, thế các em nhỏ được dạy đạo văn như thế nào? Đơn giản lắm, cứ nhìn vào cách chúng ta tổ chức một bài học. Thầy cô đọc cái giáo án vốn là cái tóm tắt trong sách giáo khoa cho học sinh ghi chép vào vở. Hôm sau, kiểm tra miệng trước khi học bài mới, học trò phải “trả” lại bài đã ghi chép vốn chép từ một ghi chép khác, mà ghi chép đó vốn chép từ sách giáo khoa, từ sách hướng dẫn giảng dạy, mà sách giáo khoa, hướng dẫn giáo viên lại ghi chép ở những sách khác nữa! Đến giờ kiểm tra viết, môn lịch sử chẳng hạn, chúng ta sẽ hỏi các em những kiểu câu hỏi sau: Em hãy nêu những tiền đề lịch sử cho thành công của chiến dịch Điện Biên Phủ. Giờ địa lý, các em được hỏi, những lợi thế của địa hình Việt Nam là gì. Giờ văn em được yêu cầu phân tích tính cách nhân vật Chí Phèo. Chúng ta hỏi theo kiểu buộc các em phải nêu lại những thông tin đã được người khác viết ra. Tiền đề lịch sử, đặc điểm địa lý, tính cách tha hóa của Chí, cỏ phải tự nhiên mà hiện sờ sờ lên trang giấy sách giáo khoa. Tất cả đều là công trình, kiến thức của người khác. Thế mà ta có bao giờ nhìn nhận một câu trong lớp là các ý tưởng ấy của tác giả nào. Tất cả đều được gọi là “sách giáo khoa”. Thậm chí, các em cũng chẳng được dạy ghi thêm câu, “theo sách giáo khoa lớp 11, do Bộ Giáo dục đào tạo ban hành, thì đặc điểm địa lý của Việt Nam là….”   Trong khi đó, nếu ta đặt câu hỏi ở một góc độ khác, buộc các em phải so sánh các ý kiến khác nhau, rồi từ đó rút ra kết luận cho mình thì ta đang đưa các em vào quỹ đạo phải suy nghĩ theo hướng ai đã nói gì, viết gì trước đó. Tác giả A nói Chí Phèo là tha hóa điển hình của xã hội phong kiến. Tác giả B lại xem Chí Phèo như một thiết kế văn học phi thực. Tác giả C, D, v.v lại cho rằng…. Vậy em ủng hộ ý kiến nào, tại sao? Hoặc đơn giản, em hãy nêu các đặc điểm địa lý Việt Nam mà nhà nghiên cứu X,Y,Z đã trình bày trong bài 5, sách giáo khoa em học.   Trong giáo dục của ta hiện nay, ta vẫn đi tìm tính thống nhất, nhất quán, đơn nhất của tri thức, của khoa học, và trong tính đơn nhất đó, tác giả, cái nguồn của tri thức, bổng trở nên vô nghĩa. Nếu mọi tri thức đều quy về một mối, thì cần gì thừa nhận nguồn của nó. Chỉ có trong một môi trường biết tôn trọng sự đa dạng, phong phú, của tri thức, tôn trọng tính khác biệt của điểm nhìn, góc nhìn vốn là tiền đề của tri thức, thì cái nguồn sẽ trở nên quan trọng. Khi một người trí thức nêu một phát biểu khoa học nào đó, và nếu người đó hiểu phát biểu đó xuất phát từ những phát biểu trước, ở những góc độ, bối cảnh khác, thì người đó tự nhiên sẽ tôn trọng cái trước, và cũng từ đó tự tân trọng cái mình phát biểu.   Trong một triết lý về giáo dục mà theo đó ta muốn mọi học sinh, từ nam đến bắc, đều phải thuộc địa lý Việt Nam với hình ảnh “rừng vàng, biển bạc” thì dĩ nhiên, ai nói câu “rừng vàng, biển bạc” không còn quan trọng. Chỉ khi ta cũng biết tôn trọng ý kiến rừng ta đã cạn, biển ta đã ô nhiễm, thì chính sự khác biệt trong cách nhìn làm lộ diện chủ thể của phát ngôn, nhận định.   Nhưng tôn trọng một ý kiến ở đây không có nghĩa là ta hoàn toàn đồng ý với ý kiến đó. Suy cho cùng, nó cũng chỉ là một nhìn nhận về sự tồn tại của ý kiến đó, chứ không phải loại trừ và cố lãng quên và buộc học sinh phải quên. Tri thức được trình ra trong tính đa dạng của nó, để từ đó người tiếp nhận, người học, phải đưa ra một quyết định thì mới là tri thức thực thụ. Tri thức không thể là sự loại trừ, sàn lọc, lãng quên chính bản chất đa dạng của nó. Hiểu được thế và đưa sự hiểu đó vào giáo dục, thì lúc đó ta mới có cơ may xóa bỏ đạo văn ở mức độ mà các nước phương Tây đang làm.  Nói thế không có nghĩa là ta không còn gì trước mắt để làm. Trước nhất, theo tôi, ngành văn hóa thông tin nên ban hành một bộ chuẩn chi tiết về xuất bản, ấn phẩm. Sách in ở ta có khi không đủ thông tin để làm thư mục tham khảo, mà quy cách trích dẫn thì hoàn toàn trống vắng. Một quyển sách nghiên cứu đề tài ngữ văn, mà cứ trơn tru viết, như thời Khổng Tử, chẳng trích dẫn ai, mà có trích thì cũng không theo chuẩn nào thì không thể chấp nhận được. Bộ Giáo dục thì có thể ban hành bộ chuẩn quy cách viết luận, luận văn, v.v. Ở một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, sinh viên bao giờ cũng được hướng dẫn rành mạch các chuẩn này. Có cả một văn phòng hỗ trợ họ làm luận văn cho đúng quy cách, và mỗi khoa đều yêu cầu sinh viên mình tuân theo chuẩn trích dẫn gì. Các ngành khoa học thì theo APA, xã hội hay theo Chicago Style, hay nhân văn thì hay theo bộ chuẩn MLA. Bản thân những người làm luận văn ở ta có khi chưa bao giờ biết đến các bộ chuẩn này! Các bộ chuẩn này là kết tinh của một quan điểm về tri thức biết tôn trọng tính đa dạng, phong phú của bản thân tri thức, đề cao tính trung thực và tính khoa học của việc tổ chức, sử dụng thông tin và tri thức.   —-  (i) Xem Oliver W. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1982), pp.63-64.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dấu ấn nền cựu học trên đất Đông Anh      Trong quá khứ, Đông Anh nổi tiếng có nhiều người thi đỗ tiến sĩ. Ngày nay, vùng đất này vẫn giữ được truyền thống thờ cúng các bậc tiên hiền hay tục tạ ơn, trả lễ thầy dạy.    Nho giáo vốn không phải tư tưởng được người Việt sáng tạo ra mà được truyền bá vào nước ta từ thời Bắc thuộc, qua những người quan lại của chính quyền đô hộ. Tuy nhiên, từ khi bắt đầu xuất hiện ở nước ta cho tới ngày nay, Nho giáo đã trở thành một phần diện mạo văn hóa Việt, có ảnh hưởng lớn đến những thành tố văn hóa khác. Khi vào Việt Nam, tư tưởng Nho giáo đã chung sống hài hòa với những tư tưởng bản địa cũng như yếu tố ngoại lai khác để trở thành một nét văn hóa mang bản sắc của người Việt Nam. Như nhận xét của Gs Trần Đình Hượu “Ta bắt gặp trong thực tế một thứ Nho giáo không thuần nhất, đã luôn luôn dung hợp với tư tưởng Âm Dương, Phật, Đạo, lại kết hợp với tín ngưỡng, tập quán, tư tưởng địa phương…” [6, 84]. Thực tế cho thấy, Nho giáo và truyền thống học hành, thi cử theo tư tưởng Nho giáo đã lưu dấu ấn sâu đậm trong đời sống người Việt xưa, được ghi lại nhiều trong ca dao, tục ngữ:  Canh một dọn cửa dọn nhà  Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm.  Bước sang cái trống canh năm,  Trình anh dậy học còn nằm làm chi  Nữa mai chúa mở khoa thi,  Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.  Bõ công cha mẹ sắm sanh,  Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành.    (Ca dao)  Với vị trí ngoại vi của thành Thăng Long, trung tâm giáo dục thời phong kiến, Đông Anh có nhiều điều kiện để phát triển nền học vấn Nho giáo và thực tế đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ.  Sách Đông Anh với nghìn năm Thăng Long – Hà Nội trang 126-127 đã có thống kê rất cụ thể và chi tiết về số lượng người thi đỗ đạt ở huyện Đông Anh qua các thời kỳ cũng như đặt những con số này trong mối tương quan với kinh đô Thăng Long.   Theo sách này, Đông Anh là huyện có tổng số người thi đỗ tiến sĩ nhiều thứ hai trong tổng số 29 quận, huyện của Hà Nội – theo quy hoạch đến năm 2012, với tổng số 56 người đỗ đại khoa trong đó có ba Thám hoa, 13 Hoàng giáp, 39 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và 1 Phó bảng. Đứng đầu danh sách này là huyện Thường Tín với 64 người.   Đông Anh cũng là một trong tám quận, huyện có trên 35 người đỗ tiến sĩ. Theo thống kê này, số người đỗ đại khoa ở Đông Anh chiếm 8,41% số người đỗ đại khoa của cả Thăng Long – Hà Nội, đứng sau huyện Từ Liêm với 9,61%.   Nền cựu học ở Đông Anh không chỉ đạt nhiều thành tựu mà tri thức của nền học vấn này đã đi vào đời sống của người Đông Anh, một cách tự nhiên qua quá trình lịch sử lâu dài. Ngày nay còn có thể thấy dấu ấn của những tri thức ấy qua những tục lệ cổ truyền, truyền thống thờ cúng các bậc tiên hiền.  Theo sách địa chí Cổ Loa, người dân ở đây còn có tục ăn tết mùng 10 tháng 10 – ngày lễ thầy hàng năm của nhân dân Cổ Loa. Ngày này, nhiều gia đình làm bánh dày, bánh hình tròn, nhân đường, to nhỏ khác nhau, để tạ ơn thầy dạy, trả lễ thầy.  Một biểu hiện khác của tinh thần hiếu học ở người Đông Anh là người dân nơi đây thờ cúng các danh nhân có công trong việc tạo dựng và phát triển nền học vấn Nho giáo, có thành tích cao trong thi cử hoặc có công lớn với đất nước.  Dục Tú là một thôn lớn ở Đông Anh, quê hương của ông đầu xứ Ngô Tất Tố và Nguyễn Huy Tưởng, hai nhà văn cách mạng đương đại. Tại đình Dục Tú có đến thờ Sĩ Nhiếp – công trình kiến trúc đã được xếp hạng Di tích quốc gia năm 1995. Công trình này cũng rất gần với chùa Dâu – Bắc Ninh, một trong những nơi thờ Sĩ Nhiếp nổi tiếng cả nước. Sĩ Nhiếp – người giữ chức Thái Thú Giao Châu, người đầu tiên truyền bá Nho giáo và đặt những viên gạch đầu tiên cho nền cựu học ở Việt Nam. Công lao của ông được nhân dân ghi nhận. Theo Thần phả đình làng, có lần qua đất Dục Tú, Sĩ Nhiếp đã dừng chân nghỉ ngơi, vịnh thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây. Sau khi ông mất, dân làng đã lập đền thờ nơi ông dừng chân năm xưa và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hàng năm, vào ngày 12 tháng 2 (âm lịch), dân làng lại tổ chức lễ hội với nghi thức tế, lễ để tưởng nhớ công lao của ông.  Đình Lại Đà ở xã Đông Hội thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền. Ông là vị Trạng nguyên đầu tiên và nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Nho giáo ở Việt Nam. Nguyễn Hiền quê ở Nam Định, lúc nhỏ khôi ngô, tuấn tú, học giỏi. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1247, khi nhà Trần tổ chức kỳ thi Thái học sinh, lần đầu tiên đặt ra ngôi bậc Tam giáp gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Nguyễn Hiền đã đạt danh hiệu Trạng nguyên, lúc ấy ông 12 tuổi. Tương truyền, ông đã đối đáp với sứ Trung Quốc và đã chứng tỏ cho người phương Bắc thấy nước Nam có nhân tài, khiến họ phải nể phục. Khi làm quan, Nguyễn Hiền cũng có nhiều đóng góp cho nhà Trần. Sau khi ông mất, triều đình phong ông là Nguyễn Đại vương Thành hoàng và tôn làm thần. Lại Đà thôn là một trong 32 nơi lập đền phụng thờ ôngI.   Đền thờ Hoàng Giáp Lê Tuấn Mậu: Cụm Di tích lịch sử Đền Sái – Đình Thụy Lôi – Đền Thờ Tiến sỹ Lê Tuấn Mậu đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1986. Ông làm quan ngót bốn chục năm, từng được trao chức Đô Ngự Sử, về sau được thăng dần đến chức Lễ Bộ Thượng Thư. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, vì quyết không chịu khuất phục, ông bị Mạc Đăng Dung giết. Các triều đình phong kiến Việt Nam phong nhiều sắc phong ghi nhận công đức của ông, qua quá trình lịch sử đã bị thất lạc nay chỉ còn lại 10 chiếc được lưu giữ tại Gia tộc họ Lê Tuấn ở Thụy Lôi – Thụy Lâm – Đông Anh – Hà Nội.  Nhà thờ tiến sĩ Đỗ Túc Khang: Nhà thờ họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử – Văn hoá năm 1990. Đây là nơi thờ cúng của một dòng họ lớn từ Bồng Sơn Thanh Hoá ra, đến đời thứ ba là ông Đỗ Hoan lấy hai bà vợ, bà cả là Phạm Quý Thị, bà hai là người họ Vũ, cả hai bà đã sinh được năm người con trai thì bốn người đỗ Đại khoa, trong đó có tiến sĩ Nguyễn Túc Khang.  Việc dùng chữ Hán và phát âm theo giọng Hán-Việt khiến cho tinh thần hiếu học ở Đông Anh có điều kiện vật chất trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp mà người xưa đã tạo dựng và gìn giữ đến ngày nay cho con cháu. Chúng ta đã thật khôn ngoan khi mượn chữ Hán để làm chữ viết nhưng lại đọc theo cách riêng của Việt Nam gọi là giọng Hán Việt còn lưu giữ đến tận ngày nay trên những hoành phi, câu đối trong các công trình tín ngưỡng ở Đông Anh.  Ngày hôm nay, dạo bước trên mảnh đất này, ngắm nhìn những di tích lịch sử hay miếu mạo chùa chiền, tất cả đều gợi cho ta nhớ một thời vàng son của nền cựu học, một truyền thống mà những thế hệ sau được kế thừa với niềm tự hào về những người đi trước vừa dũng cảm, vừa tài hoa, như một ý thơ quen thuộc“lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”…  TƯ LIỆU THAM KHẢO  1.    Bùi Xuân Đính, Các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, 2004.  2.    Bùi Xuân Đính, Đông Anh với nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010.  3.    Bùi Xuân Đính, Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long – Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010.  4.    Nguyễn Quang Ngọc, Địa chí Cổ Loa, NXB Hà Nội, 2010.  5.    Trần Quốc Vượng, Bản sắc văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, 2003.  6.    Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 2005.  —  I wikipedia.org/wiki/ Nguy%E1%BB%85n_Hi%E1%BB%81n).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư cho đại học quốc tế: Cuộc tranh luận không có hồi kết      Tháng trước, nhân dịp lễ khánh thành trường Đại học Việt Đức, Giáo sư Ngô Việt Trung và PGS. Trần Đình Phong đã khởi xướng một cuộc tranh luận về sự hỗ trợ của Việt Nam đối với trường đại học này và với Đại học Việt Pháp. Hai trường này thường được gọi ngắn gọn tương ứng là VGU và USTH. Tôi biết cả hai người và đều rất trân trọng họ. Mỗi người đều có quan điểm riêng, GS. Ngô Việt Trung thất vọng về việc Việt Nam hỗ trợ chưa đủ cho giáo dục đại học trong nước, PGS. Trần Đình Phong đề cao những nỗ lực của ban giám hiệu USTH trong việc phát triển trường đại học của họ. Sẽ rất sai lầm nếu ta rơi vào bẫy cho rằng cần kết thúc tranh luận và xác định ai mới là người đúng trong cuộc tranh luận. Cả hai đều đúng, cái sai là cách chúng ta giải quyết những vấn đề như vậy ở Việt Nam.     Các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm máy gia tốc, Đại học Quốc gia Hà Nội đang giới thiệu quy trình vận hành máy gia tốc tĩnh điện hiện đại, lần đầu tiên lắp đặt tại Việt Nam. Ảnh : vnu.edu.vn  Trong một bài viết trước đây trên Tia Sáng, sau khi giới thiệu Nghị quyết 14 về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, sau đây gọi tắt là Nghị quyết 14), tôi bình luận rằng: “Nghị quyết chỉ đưa ra định hướng chung; Thủ tướng mong đợi việc triển khai Nghị quyết sẽ được thực hiện ở cấp dưới. Nhiệm vụ mà các lãnh đạo nhà nước chịu trách nhiệm, giảm nghèo đói và bất công, mang lại sự tiếp cận giáo dục cho số dân ngày càng tăng, là hết sức khó khăn và nhiều áp lực do đó ta không thể mong đợi Nghị quyết có thể đề cập những hành động chi tiết để thúc đẩy sự phát triển giáo dục đại học. Giáo dục đại học đến nay vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong nguồn lực của chính phủ, những giải pháp cho hầu hết các vấn đề cấp bách chỉ mang tính ngắn hạn, dường như vẫn đang thiếu một tầm nhìn dài hạn để chèo lái đúng hướng. Để Nghị quyết 14 được thực hiện hiệu quả, cần có một tổng công trình sư, chịu trách nhiệm cuối cùng; nhưng đáng tiếc cũng giống như Chương trình Điện Hạt nhân không thành công hay Chương trình Vũ trụ hiện tại chúng ta không có một người như vậy mà trách nhiệm thực hiện Nghị quyết 14 lại được phân chia cho nhiều bộ và cơ quan, trong đó có Đại học Quốc gia (VNU) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST)…, mà kết quả chỉ có thể là sự rời rạc và kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, các học giả được mong đợi tập hợp lại với nhau trên các diễn đàn, chẳng hạn trong các hội chuyên ngành như Hội Vật lý Việt Nam, và tạo nên các nhóm làm việc/tổ công tác vạch ra các giải pháp thiết thực nhất để triển khai Nghị quyết 14. Nhưng đáng tiếc, những sáng kiến như vậy không được thúc đẩy ở Việt Nam. Tất nhiên là có những phân tích bởi các tác giả Việt Nam1 hoặc bởi những hội thảo có nhiều người Việt Nam tham dự2, thậm chí bởi các cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo3, nhưng không một ai trong số họ có đủ vai trò để vạch ra một lộ trình rõ ràng. Qua nhiều phân tích minh họa cho cách quốc tế nhìn nhận về giáo dục đại học Việt Nam4; tôi luôn bị ấn tượng bởi mối quan tâm lớn mà các học giả nước ngoài dành cho giáo dục đại học Việt Nam, tương phản với thái độ của nhiều học giả trong nước. Tôi nhớ vài năm trước, có lần tôi tiếp cận với hiệu phó của một trường đại học Việt Nam và nói với ông ấy về những khiếm khuyết trong việc cấp bằng tiến sỹ ở Việt Nam; ông ấy trả lời rằng đó không phải việc của mình, và rằng tôi nên tìm đến Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bất cứ ai yêu tri thức và khoa học và muốn thấy đất nước phát triển đều sẽ phải quan tâm và coi đó là việc của mình, không phải thế sao? Một thí dụ minh họa nữa là một hội thảo chiến lược mới đây của USTH mà tôi có tham dự. Số học giả người Pháp tham dự lớn hơn hẳn số học giả người Việt Nam, mặc dù hội thảo diễn ra ở Hà Nội. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng sự hỗ trợ quốc tế về giáo dục đại học có thể giúp chúng ta thoát khỏi gánh nặng đối mặt với các thách thức mà không cần đầu tư thời gian và công sức cho nó. Bởi vậy, nó khuyến khích sự vô trách nhiệm và cho phép chúng ta nói rằng mình đó không phải việc của mình. Trái lại, chúng ta cần được tổ chức một cách hiệu quả để tận dụng tối đa sự hỗ trợ đó”.     Trước khi nhận dạng những trường đại học xuất sắc, cần phải nhận dạng những cá nhân và những nhóm nghiên cứu xuất sắc; chỉ bằng cách khiến cho họ làm việc cùng nhau, chúng ta mới có thể hy vọng xây dựng được những trường đại học xuất sắc.    Sau khi đã mô tả một số chi tiết về VGU và USTH là gì và những thách thức mà các đại học này đang phải đối mặt, tôi đã trả lời câu hỏi cần phải làm gì: “Tôi đã có nhiều cơ hội để bàn về chủ đề đổi mới giáo dục đại học trên Tia Sáng và cả ở những nơi khác5, đến nỗi những gì tôi sẽ nói chỉ là nhắc lại những gì đã từng nói trước đó. Tôi không đặc biệt thông thái, không có chuyên môn đặc biệt, không có tầm nhìn đặc biệt, không có tài năng đặt biệt; tôi chỉ viết ra những điều hợp lẽ thường; nhiều đồng nghiệp Việt Nam có tư cách hơn tôi để dẫn dắt chúng ta trên con đường cách mạng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kêu gọi khoảng mười hai năm trước, với thông điệp cơ bản là một cuộc cách mạng đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ về cách thức, để biến các trường đại học thành những ngôi đền của sự nghiêm khắc về tri thức và đạo đức. Chúng ta dường như không sẵn sàng hoặc không muốn thúc ép nó. Nhưng không tiến hành cách mạng, chúng ta sẽ chắc chắn thất bại.  Việc thực hiện những hướng dẫn của Nghị quyết 14 đòi hỏi một tầm nhìn tổng quan bao quát được không chỉ các trường đại học mà toàn bộ giáo dục sau phổ thông, bao gồm cả các trường dạy nghề, có tính đến tình hình quốc tế, xét cả ngắn hạn và dài hạn, và lưu ý đến những ràng buộc của thực tế. Điều này bị cản trở bởi sự thiếu vắng một người lãnh đạo và sự phân tán trách nhiệm giữa các nhân tố liên quan đến cải cách. Trước khi đề xuất cách vượt qua trở ngại chính đó, tôi xin có vài nhận xét sơ bộ.  Câu hỏi đầu tiên là: vì sao các trường đại học kiểu mới sẽ thành công trong khi các trường khác thất bại? Câu trả lời, theo tôi, là mô hình kiểu mới đem đến điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn cho giảng viên của các trường đó. Điều này dẫn đến câu hỏi tiếp theo: làm sao để đảm bảo là họ xứng đáng với những điều kiện tốt hơn đó? Cách duy nhất tôi có thể nghĩ ra là thực hiện một quá trình tuyển chọn khắt khe đối với cả sinh viên lẫn giảng viên, về cả giảng dạy lẫn nghiên cứu. Những điều trên là hiển nhiên, nhưng chúng gợi ra nhiều bình luận. Nếu chúng ta muốn mô hình đại học kiểu mới được các nhân tố của giáo dục đại học chấp nhận, chúng ta phải chỉ ra được những đặc quyền của nó là chính đáng. Không thể đơn giản đưa từ trên xuống một quyết định rằng trường đại học này hay trường đại học kia là trường đại học xuất sắc; đó là những danh hiệu vô nghĩa. Trước khi nhận dạng những trường đại học xuất sắc, cần phải nhận dạng những cá nhân và những nhóm nghiên cứu xuất sắc; chỉ bằng cách khiến cho họ làm việc cùng nhau, chúng ta mới có thể hy vọng xây dựng được những trường đại học xuất sắc. Sự xuất sắc được áp dụng cho cả sinh viên lẫn giảng viên. Sự tuyển chọn cần nghiêm túc và chính trực. Đối với sinh viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong kỳ thi tuyển, cũng như trong việc theo dõi sự tiến bộ và việc cấp bằng. Đối với giảng viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong tuyển dụng và thăng tiến, với ban tuyển dụng đánh giá dựa trên những tiêu chí khách quan: kinh nghiệm và trình độ giảng dạy, số lượng và chất lượng các bài báo khoa học, năng lực lãnh đạo nghiên cứu, kinh nghiệm đào tạo thạc sỹ và/hoặc tiến sỹ, uy tín quốc tế, năng lực phát triển hợp tác, v.v.  Hơn ba thập kỷ từ khi Đổi mới, chúng ta vẫn chưa thể làm giảm nạn chảy máu chất xám. Trong việc này, chúng ta không thể trông chờ các đối tác nước ngoài giúp đỡ. Tôi sống ở Việt Nam, và tôi đấu tranh để tài năng của các đồng nghiệp trẻ người Việt được thừa nhận ở Việt Nam. Nếu tôi sống ở Pháp và chào đón những sinh viên Việt Nam gia nhập các đồng nghiệp trẻ của mình, tôi sẽ đấu tranh để tài năng của họ được thừa nhận ở Pháp; tôi sẽ chẳng quan tâm đến nạn chảy máu chất xám ở Việt Nam, tôi thậm chí sẽ góp phần làm cho nó nặng hơn. Ý thức được rằng Việt Nam không thể cho họ điều kiện làm việc thích hợp và không tôn trọng hiểu biết và kỹ năng của họ, tôi sẽ cố hết sức để giữ họ lại Pháp hoặc đâu đó ở châu Âu. Chúng ta sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng hỗ trợ quốc tế đơn giản là cho sinh viên Việt Nam cơ hội du học và cho giảng viên nước ngoài cơ hội đến Việt Nam một hai tuần để giảng lại những gì họ đã giảng ở nước họ. VGU và USTH sẽ trở thành nơi môi giới du lịch cho giảng viên nước ngoài và phương tiện chảy máu chất xám cho sinh viên Việt Nam nếu chúng ta cứ tiếp tục bỏ quên trách nhiệm của mình. Cụ thể, chúng ta cần: nhận dạng những nhóm nghiên cứu Việt Nam có khả năng tận dụng ưu thế hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài để phát triển về chất lượng và quy mô; hỗ trợ các nhóm đó một cách thiết thực; ngược lại, mỗi sinh viên Việt Nam du học bằng hỗ trợ tài chính của nhà nước phải kèm theo điều kiện được một nhóm hướng dẫn trong nước liên hệ sát sao và theo dõi quá trình học tập”.  Phòng thí nghiệm của khoa Kỹ thuật hàng không, Đại học Việt Pháp. Ảnh: Fanpage USTH  Lúc đó, tôi đã bình luận rằng chúng ta sẽ rất sai lầm khi nghĩ rằng tất cả các trường đại học nước ngoài đều tốt và chúng ta chỉ cần sao chép những mô hình đó là có thể thành công; Thay vào đó, tôi nhấn mạnh rằng chúng ta cần học từ cả thành công và thất bại của nước ngoài và áp dụng chúng vào bối cảnh Việt Nam. Tôi đưa ra những ví dụ minh họa rằng nếu chúng ta không xác định rõ nhu cầu của đất nước là gì, chúng ta sẽ thất bại trong sứ mệnh phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Tôi cũng đã bình luận về các nguồn lực tài chính như sau: “Sinh thời GS. Hoàng Tụy thường nói rằng ưu tiên hàng đầu để phát triển các trường đại học Việt Nam là tăng lương đến một mức khá cho giảng viên và nghiên cứu viên. Việc này chỉ có thể được thực hiện cùng với việc đưa ra một hệ thống đánh giá chất lượng công bằng và khách quan. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể bàn về một tác động tài chính ở một quy mô đủ lớn. Chúng ta không thể nói, như một lý do cho việc thụ động, rằng thiếu nguồn tài chính, khi mà bao nhiêu tiền bị lãng phí do quản lý yếu kém, chưa kể đến tham nhũng. Hàng triệu USD bị lãng phí vì đầu tư vào các thiết bị không được dùng đến. Trái lại, những quy định mới về tự chủ và cấp ngân sách cho nghiên cứu khoa học đang cản trở sự phát triển và đe dọa sự sống còn của những nhóm nghiên cứu xuất sắc trong cả nước”.  Để kết luận, sau đó tôi đã bình luận rằng “VGU và USTH phát triển chậm hơn kỳ vọng và đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về tuyển sinh. Nếu hai trường thất bại, đó trước hết sẽ là thất bại của Việt Nam chứ không phải thất bại của các nước đối tác. Giúp hai trường thành công là vì lợi ích của Việt Nam; quả bóng đang ở trong chân chúng ta. Các nước đối tác đã dành nhiều thời gian và công sức cho sự phát triển của VGU và USTH, chúng ta thì chưa. Có thể chúng đang đi chệch đường vì thiếu một nhận thức chính xác về tình hình Việt Nam, chúng ta có trách nhiệm làm cho chúng quay lại con đường đúng. Chúng ta phải thực hiện trách nhiệm của mình. Thiếu chỉ đạo từ trên xuống không phải lý do để cứ mãi thụ động. Những khởi xướng từ dưới lên sẽ giúp thúc đẩy tiến bộ và cần được khuyến khích. Chúng ta không được phép quản lý giáo dục đại học như dự án đường sắt đô thị Hà Nội; ở đây chúng ta không chỉ xử lý hàng trăm triệu USD, mà quan trọng hơn, nó còn tác động tới tương lai của trẻ em cả nước, tài sản lớn nhất của quốc gia.    VGU và USTH sẽ trở thành nơi môi giới du lịch cho giảng viên nước ngoài và phương tiện chảy máu chất xám cho sinh viên Việt Nam nếu chúng ta cứ tiếp tục bỏ quên trách nhiệm của mình.    Tôi xin gợi ý rằng VGU và USTH có thể bắt đầu những nỗ lực thành lập những nhóm làm việc nhỏ với nhiệm vụ nghiên cứu một cách nghiêm túc tình hình và đưa ra những đề xuất để cải thiện nó. Một số nhóm cần nghiên cứu nhu cầu của Việt Nam về giáo dục đại học để phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. […] Những nhóm làm việc như vậy sẽ không thuộc về riêng nước nào, mà vận hành trong sự hợp tác giữa Việt Nam và nước đối tác. Phần lớn công việc cần được thực hiện trong nước bởi người Việt Nam, nhưng sự tham gia của các nhà khoa học của nước đối tác cũng là cần thiết, đặc biệt là các nhà khoa học hiện diện ở Việt Nam, chẳng hạn các thành viên của Viện Nghiên cứu và Phát triển (IRD) của Pháp. Thành phần chủ yếu của các nhóm làm việc cần phải là các nhà khoa học chứ không phải các nhà quản lý hay các chính trị gia: giảng viên, nghiên cứu viên, và cả sinh viên – tôi chắc chắn một số sinh viên sẽ tự nguyện đóng góp thời gian vào các nghiên cứu đó nếu được trao cơ hội, và những gì họ sẽ học được là vô giá. Các nhóm làm việc cần viết các báo cáo, gửi cho chủ tịch hay hiệu trưởng của trường đại học, tóm tắt kết quả công việc, phân tích và đề xuất những hành động nhằm giúp trường đại học tiến bộ và phát triển theo đúng hướng. Họ có thể học hỏi Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc thực hiện những báo cáo chất lượng về những vấn đề chính liên quan đến sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.    Những quy định mới về tự chủ và cấp ngân sách cho nghiên cứu khoa học đang cản trở sự phát triển và đe dọa sự sống còn của những nhóm nghiên cứu xuất sắc trong cả nước.    Bên cạnh những nhóm làm việc gắn với các khu vực cụ thể liên quan đến chương trình giảng dạy của trường đại học, cần có một số nhóm giải quyết các câu hỏi chung hơn, chẳng hạn độ dài của chương trình và logic đằng sau nó, hay tiền lương của các nhà khoa học ở đại học công, đại học tư và các viện nghiên cứu, hay nghiên cứu sự tiến triển của nạn chảy máu chất xám và nguyên nhân của nó.  Kết quả của việc đó sẽ vô cùng giá trị. Các báo cáo sẽ tạo thành một nguồn tư liệu quý giá để các hội đồng trường, các liên minh các trường đại học và các ban quản lý có thể dựa vào đó để khởi xướng các bước giúp cho sự tiến bộ và phát triển của trường đại học. Quan trọng hơn, chúng sẽ khiến cộng đồng khoa học và sinh viên Việt Nam nhận thức tốt hơn trách nhiệm của mình; chúng sẽ trở thành hình mẫu để các tổ chức, chẳng hạn các hội chuyên ngành, chủ động tham gia vào sự tiến bộ và phát triển của giáo dục đại học Việt Nam, vào việc làm giảm và tiến đến ngăn chặn hoàn toàn nạn chảy máu chất xám.  Đứng núi này trông núi nọ. VGU và USTH có thể giúp sinh viên nhảy qua hàng rào sang nước ngoài, như sinh viên Việt Nam vẫn làm như vậy hàng thập kỉ qua. Họ cũng có thể giúp sinh viên chăm sóc ngọn núi bên này. Quyết định lựa chọn và hành động ở bên nào là của chúng ta”.□  Phạm Ngọc Điệp dịch  Chú thích  1Reforming Higher Education in Vietnam, Challenges and Priorities, Harman, Grant, Hayden, Martin, Nghi Pham, Thanh (Eds.), Springer, 2010.  2 http://www.vnseameo.org/InternationalConference2019/wp-content/uploads/2019/07/Mr.-John-Andre_Academic_Leadership_and_Learning_-Analytics_in_Higher_Education_in_Vietnam.pdf; John Andre, Le Trung Kien, and Ray Webster, Academic Leadership and Learning Analytics in Higher Education in Vietnam.  3 https://www.slideshare.net/British_Council/assoc-prof-nguyen-thu-thuy; Nguyen Thu Thuy, Vietnam’s higher education: going forward and going global,  May 15 2019.  4 https://wenr.wes.org/2017/11/education-in-vietnam; Stefan Trines, Education in Vietnam, 8/11/2017.  https://www.usaid.gov/vietnam/fact-sheets/higher-education; USAID, Higher Education in Vietnam,  1 October 2019.  https://dune.une.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1209&context=theses; Hoang-Yen (Maya) T. Dang, The Need For Academic Reform In Vietnamese Higher Education (VHE) To Align With Employers’ Expectations, 5-1-2019.  https://www.diplomatie.gouv.fr/fr/venir-en-france/etudier-en-france/veille-sur-les-systemes-d-enseignement-superieur-dans-le-monde-base-curie/asie-oceanie/article/vietnam; France  Diplomatie, Higher education in Vietnam, 14 November 2018.  https://www.universityworldnews.com/post.php?story=20190129142655883; NitaTemmerman,  Transforming higher education in Vietnam, 1 February 2019.  https://internationaleducation.gov.au/International-network/vietnam/publications/  Documents/Vietnam%20High%20Education% 20Policy%20and%20Systems%20Update.pdf; Australian Government, DoET, Vietnam higher education, policy and system update, October 2018.  Mahsood Shah & Cuong Huu Nguyen, Quality Assurance in Vietnamese Higher Education: Policy and Practice in the 21st Century, Palgrave Macmillan, DOI: 10.1007/978-3-030-26859-6, October 2019.  5 Tôi tập hợp ở đây vài bài báo liên quan https://drive.google.com/open?id= 11WaVrgi5MkmbScuKyPM17va8A4vgdvW7    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Dạy được chính mình, là học      Học, khó hơn dạy. Học, là đích đến của dạy. Dạy được chính mình, là học.    Gần đây nhiều đóng góp tích cực của các tác giả, các nhóm về các phương pháp, các phương tiện học và dạy nở rộ, điều này thật là cần thiết, đáng được khích lệ, được thử nghiệm để mở mang, không có giới hạn.  Riêng tôi nghĩ, “học cái gì”, vẫn là điều căn bản nhất, và điều đó phải dõi theo được sự tiến hóa của tri thức, của lý tưởng tự do.  Các Khổng sĩ thời xưa có thể mài văn rất sắc sảo, cô đọng, ngữ nghĩa điển tích trùng điệp, vần vần đối đối hóc búa tuyệt tác… Nhưng để rồi họ chỉ quanh quẩn trong cái sứ mệnh truyền tải cái đạo vua tôi nô lệ cực đoan. Theo một nghĩa nhất định, họ bị tê liệt về tư duy, họ không thể tư duy, họ chỉ biết kể lại vanh vách, và làm theo, với chút “sáng tạo”. Học như thế, rốt cuộc cũng chỉ để ngu được mình, và qua đó ngu được quan, ngu được dân.  Cái học của ngày hôm nay phải dứt khoát đi ra khỏi được cái vũng lầy ngàn năm ấy.  Vũng lầy ngàn năm ấy là gì?  Vũng lầy ngàn năm ấy từng thống trị trên toàn thế giới, cả ở đông, cả ở tây. Vũng lầy ấy là, học đường bị ý thức hệ tôn giáo đương thời ngự trị, học đường mang một sứ mệnh căn bản nhất là đào tạo ra được các giáo sĩ để củng cố cái ý thức hệ tôn giáo đương ngự trị tinh thần của xã hội. Cuộc cách mạng thực sự của giáo dục, là giải phóng các trường học khỏi sự chuyên chế của ý thức hệ tôn giáo đang ngự trị tinh thần xã hội, cùng các thể chế tổ chức của nó. Từ đó mới nhen dần lên được một nền học thuật tự do, mới nhen dần lên được những con người tự do, những công dân tự do của một xã hội tự do. Nền tự do của giáo dục phải bắt đầu từ nội dung của nó, và cùng với điều đó, thấm đẫm dần qua các cách thức tổ chức, cùng các phương pháp học tập-giảng dạy. Những cánh cổng của trường học phải là những cánh cổng của các pháo đài của tự do của tinh thần. Trường học phải là các điểm sáng đang ngày càng thắp sáng dần toàn xã hội. Không có cách nào khác để đi lên.  Câu chuyện trên đây là câu chuyện của cả xã hội, của mỗi người trong xã hội, mỗi ai cũng cần suy nghĩ về nó.  Bây giờ nếu hạ cánh xuống những điều cụ thể nhất, nhưng có lẽ cũng thật căn yếu, tôi ước muốn các học sinh được hưởng ngay lập tức hai điều rất căn bản sau đây, và làm được ngay, ngày càng mạnh mẽ theo thời gian.  Thứ nhất, môn tiếng Việt phải là một môn thật trọng yếu trong suốt giáo dục phổ thông. Sao cho người đi học trở thành một con người làm chủ điêu luyện tiếng Việt, để tư duy, để trình bày, để trao đổi, để luận cứ, để thuyết phục, để cất cánh tinh thần. Bộ môn này phải là một hạt nhân trung tâm, nó tích hợp các bộ môn về các khoa xã hội, văn chương, nghệ thuật, triết học vào nó, làm thành một tổng thể.   Thứ hai, môn tiếng Anh phải là một môn thật trọng yếu trong suốt giáo dục phổ thông. Các bộ môn khoa học chính xác, công nghệ, kĩ thuật là những bộ môn chính yếu để phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh, được giảng dạy-học tập bằng song ngữ Anh-Việt.  Có quyết sách, có lộ trình, là làm được. Các chương trình nặng quá? Rút bỏ bớt đi. Làm thế nào để hai điều mong mỏi “học cái gì” này thực hiện được, đời sống giáo dục tự do sẽ tự tìm ra con đường cho mình, từ tốn nhưng vững chãi. Rất nhiều xứ sở khác đã làm được điều đó, và họ đã vươn lên tầm cao đầy kinh ngạc.  Để những thế hệ con người Việt mới sẽ giàu bản lĩnh văn hóa xứ sở, sẽ mạnh bản lĩnh hội nhập thế giới, sẽ xác tín đi về tự do.   Dạy được chính mình, là học.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy học theo mô hình flipped classroom      Mô hình dạy học flipped classroom được áp dụng ở Mỹ khoảng mười năm nay. Năm 2015, mô hình này được bầu chọn trong top 5 những xu hướng trong công nghệ giáo dục Mỹ. Bài viết này giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển, tính ưu việt và các hạn chế của mô hình này qua ý kiến của các nhà giáo dục Mỹ. Và từ thực tế nghiên cứu và những áp dụng ban đầu ở Việt Nam, tôi đưa ra các bình luận và giải pháp cho vấn đề đó.      Mô hình Flipped classroom là gì?  Flipped classroom (lớp học đảo ngược) là một mô hình dạy học mới ra đời khoảng 10 năm nay ở Mỹ và được áp dụng rộng rãi trong nhiều trường học, từ các lớp tiểu học, trung học đến những năm đầu đại học, đã làm đảo ngược cách tổ chức dạy học theo truyền thống. Hình thức của flipped classroom, trong sự so sánh với lớp học truyền thống, được thể hiện bằng minh họa dưới đây.                            Trong mô hình dạy học này, giáo viên (GV) có nhiều cơ hội hơn trong quan sát, tiếp xúc để hướng dẫn, đánh giá từng học sinh (HS). Mô hình cũng tạo không gian để HS năng động hơn trong việc thu nhận kiến thức, hợp tác với bạn bè và có thể đánh giá được kết quả học tập của bản thân.    Cơ sở của mô hình lớp học đảo ngược dựa trên sáu bậc thang đo nhận thức của Bloom, từ thấp đến cao là: ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Trong lớp học truyền thống, thời gian ở lớp bị giới hạn, là một hằng số, GV chỉ có thể hướng dẫn HS nội dung bài học ở ba mức độ đầu của nhận thức là ghi nhớ, thông hiểu và vận dụng. Để đạt đến các mức độ sau, HS phải nỗ lực tự học tập và nghiên cứu ở nhà và đó là một trở ngại lớn với đa số HS. Mô hình mới “đảo ngược” mô hình truyền thống, ba mức độ đầu được HS thực hiện ở nhà nhờ những băng ghi hình hướng dẫn của GV. Thời gian ở lớp, GV và HS sẽ cùng làm việc nhằm đạt ba bậc thang sau của nhận thức như mình họa qua sơ đồ dưới.  Sơ lược về lịch sử  Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn). Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin. Mặc dù chưa đưa ra khái niệm flipped classroom nhưng công trình của King thường được các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực. Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học- cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng.    Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình flipped classroom là Salman Khan. Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác. Những video này được đưa lên YouTube và rất được yêu thích. Từ đó Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến nay đã có khoảng 2200 video bao gồm tất cả các môn học, từ những kiến thức đơn giản nhất như thực hiện phép toán số học của tiểu học đến các bài giải tích vector trong chương trình đại học. Mỗi tháng có một triệu người học dùng trang web của Khan, với số lượt xem khoảng 100 đến 200.000 lượt mỗi ngày1. Khẩu hiệu mà học viện Khan đưa ra đầy hấp dẫn. “Bạn chỉ cần biết một điều: bạn có thể học mọi thứ, miễn phí, cho mọi người, mãi mãi!”2    Mùa xuân năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai giáo viên hóa học trường THPT Woodland Park, ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình, qua đó họ đã xây dựng mô hình flipped classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS. Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tổng thống vì những thành công trong mô hình flipped classroom.  Những ưu điểm của mô hình flipped classroom  Với mô hình flipped classroom, các nhà giáo dục đưa ra bốn “trụ cột” sau:    Thứ nhất, đó là môi trường học tập linh hoạt. Flipped classroom cho phép HS lựa chọn cách thức, nơi chốn, thời gian học tập phù hợp với điều kiện của cá nhân. Hơn nữa, GV cũng linh hoạt hơn cả trong đánh giá việc học tập của HS.    Thứ hai, mô hình này tạo nên văn hóa học tập mới cho HS. Trong các lớp học truyền thống, GV là trung tâm của thông tin. Nếu HS thảo luận câu hỏi thì tất cả đều xoay quanh những ý kiến chủ đạo của GV. Ngược lại, mô hình flipped classroom buộc phải lấy HS làm trung tâm trong quá trình dạy học. Thời gian ở lớp được dành cho việc thảo luận các kiến thức sâu hơn, tạo ra những cơ hội học tập phong phú hơn cho HS.    Thứ ba, flipped classroom cung cấp nội dung chương trình học tập một cách có định hướng. Thông qua nội dung này mà tối ưu hóa thời gian ở lớp. GV xác định rõ nội dung và mục đích bài học cho HS, từ đó HS chủ động khám phá, lĩnh hội.     Thứ tư, mô hình này đòi hỏi GV phải là những nhà sư phạm chuyên nghiệp. Vai trò một nhà sư phạm chuyên nghiệp với các lớp flipped classroom thậm chí còn khắt khe hơn trong các lớp học truyền thống. Trong thời gian ở lớp, GV liên tục quan sát HS của mình, cung cấp cho các em những phản hồi thích hợp vào đúng thời điểm cần thiết, đánh giá các bài làm của HS. GV suy nghĩ về thực tế, kết nối mỗi thành viên trong lớp học để nâng cao việc học tập của các em. Các GV cộng tác với nhau, cùng suy nghĩ và chịu trách nhiệm trong việc biến đổi thực tiễn của mình.  Những hạn chế của flipped classroom  Trong thực tế, khi triển khai mô hình flipped classroom, các nhà giáo dục đối mặt với nhiều trở ngại, thách thức, từ cả GV và HS. Nhà giáo dục Lisa Nielsen, sau một thời gian nhiệt thành ủng hộ, qua thực tế áp dụng, đã đưa ra một số lý do khiến bà không hoàn toàn tán đồng mô hình này.    Trở ngại đầu tiên cho HS là không phải gia đình tất cả các em đều có cơ sở hạ tầng về truyền thông đồng đều. Không phải tất cả HS đều dễ dàng truy cập, lấy được bài giảng của GV để làm việc; tiếp theo là “một số lượng ngày càng nhiều các phụ huynh và nhà giáo dục không tin rằng chúng ta cần đánh cắp thời gian ở nhà của trẻ em bằng các bài tập về nhà bắt buộc. Với các em, thời gian ở nhà cần thiết dành cho những đam mê riêng, cho sự kết nối với bạn bè và gia đình, để vui chơi hoặc tham gia các hoạt động xã hội, thể thao…” Ngoài ra, do chưa hiểu thấu đáo về flipped classroom, nhiều GV sẽ đưa ra những biện pháp “sư phạm tồi”, như lời của Nielsen thuật lại. “Khi tôi chia sẻ ý tưởng về flipped classroom cho một nhà quản lý, bà lập tức phấn khích nói lại với tôi: thật tuyệt vời! Chúng tôi sẽ có nhiều thời gian hơn ở lớp học để chuẩn bị cho HS giải các đề thi”. Không phải các trường đều sẵn sàng để HS học tập theo một nhịp độ hợp với sự phát triển của từng HS. Các trường có nhận thức được rằng không phải ai cùng một lứa tuổi cũng cần phải đồng thời ở cùng một giai đoạn như nhau về nhận thức?    Nếu tổ chức không cẩn thận, chỉ mang tính hình thức thì flipped classroom cũng là một dạng của lớp học truyền thống. Tuy nhìn qua thì mô hình này có vẻ hiện đại, mới mẻ nhưng bản chất vẫn là GV đưa ra bài giảng của mình và HS theo đó để thực hiện.    Giáo dục Việt Nam với mô hình flipped classroom  Để áp dụng mô hình này vào thực tế dạy học ở Việt Nam, dù ở mức độ thực nghiệm, chúng ta cũng đối diện với nhiều khó khăn và thách thức.    Những khó khăn  – Ở Việt Nam, mô hình flipped classroom vẫn chưa được Bộ GD&ĐT “chính thức thừa nhận”. Không thấy những thông tin, bài viết trên các báo giáo dục, Một vài giáo viên áp dụng mô hình này một cách tự phát, rời rạc, không có sự kết nối, không có môi trường để lan tỏa.    – Các nhà khoa học giáo dục hình như vẫn đang đứng ngoài cuộc. Chúng tôi vẫn chưa đọc được những khảo cứu công phu về flipped classroom mà chỉ thấy những bài viết mang tính giới thiệu, biên dịch một cách sơ lược.    – Cơ sở hạ tầng” về công nghệ thông tin ở Việt Nam rất khác biệt do hoàn cảnh kinh tế và vùng miền khác nhau của HS.    – Nếu có điều kiện về vật chất, các HS chưa có thói quen vào mạng học bài. Nếu không có sự giám sát và tinh thần kỷ luật cao, các em dễ sa đà, mất thời gian vào các kênh hấp dẫn khác trên internet.    – Mô hình này cần có sự đồng thuận lớn từ phụ huynh và gia đình HS.    – Khi bắt tay vào xây dựng mô hình này, các GV Việt Nam không có thuận lợi như ở các nước nói tiếng Anh, vốn được thừa hưởng một kho tài liệu khổng lồ từ học viện Khan hay tổ chức Ted3.    – Với GV, mô hình này buộc họ phải dành rất nhiều thời gian, tiền bạc và năng lực công nghệ đầu tư cho các sản phẩm gửi đến HS.    Giải pháp    Điều chúng ta cần nhất là sự liên kết. Mô hình muốn thành công, các GV không thể hoạt động riêng lẻ. Họ cần đến những diễn đàn để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm. Mạng lưới flipped classroom ở Mỹ có đến 22.000 GV và các nhà giáo dục tham gia.4     Các bộ phận quản lý ở trường học và các cấp phòng, sở và Bộ GD cần có những khuyến khích, tạo “không gian thông thoáng” cho những GV tâm huyết có điều kiện làm việc, thử sức và cống hiến. Ngay tại Mỹ, dù đã có nhiều thử nghiệm, flipped classroom vẫn đang là vấn đề thời sự của giáo dục Mỹ.     Để bắt tay xây dựng hiệu quả mô hình flipped classroom, các GV cần lắng nghe lời khuyên các chuyên gia để có thể tạo được những video hiệu quả (Thời gian cho mỗi video khoảng 3-5 phút).    Nếu chúng ta thực tâm muốn đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy học và hội nhập với quốc tế thì lý thuyết và các kế hoạch triển khai mô hình flipped classroom cần được đặt trên bàn các nhà giáo dục tâm huyết. Không thể khác được.   ——  * ThS, Trường Đại học Khánh Hòa. Email: nchinh01@yahoo.com  1https://www.ted.com/talks/salman_khan_let_s_use_video_to_reinvent_education/transcript?language=en#t-40916  2https://www.khanacademy.org/  3https://www.ted.com/  4http://flippedclassroom.org/  TÀI LIỆU THAM KHẢO  *http://www.slu.edu/cttl/resources/teaching-tips-and-resources/flipped-classroom-resources  * http://nextgenerationextension.org/ 2013/10/01/blooms-and-the-flipped-classroom/  *http://www.thedailyriff.com/articles/how-the-flipped-classroom-is-radically-transforming-learning-536.php  *http://theinnovativeeducator.blogspot.ca/2011/10/five-reasons-im-not-flipping-over.html  * http://www.uq.edu.au/teach/flipped-classroom/how-to-start.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy – học – thi  Toán bậc THPT phân ban      Ưu điểm của dạy v&#224; học theo chương tr&#236;nh ph&#226;n ban như thế n&#224;o xin d&#224;nh cho c&#225;c nh&#224; nghi&#234;n cứu gi&#225;o dục đ&#225;nh gi&#225; một c&#225;ch to&#224;n diện hơn. L&#224; người trực tiếp giảng dạy to&#225;n, trong b&#224;i viết n&#224;y t&#244;i xin n&#234;u một số &#253; kiến xung quanh việc dạy &#8211; học &#8211; thi m&#244;n to&#225;n.    1. Học sinh ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, học theo sách giáo khoa (SGK) toán chuẩn (chữ chuẩn không ghi lên bìa sách, chỉ ngầm hiểu). Học sinh ban Khoa học tự nhiên, học theo SGK toán nâng cao (chữ nâng cao có ghi lên bìa sách). Học sinh ban Cơ bản nếu chọn học nâng cao môn toán thì cũng học theo SGK toán nâng cao. Rối rắm bắt đầu ở chỗ, ngoài số tiết trong chương trình, mỗi tuần phải thêm từ 1 tiết đến 1,5 tiết, dạy các “chủ đề tự chọn”. Ai chọn? Giáo viên hay học sinh chọn? Rồi chủ đề tự chọn lại chia làm hai loại: Chủ đề tự chọn bám sát và chủ đề tự chọn nâng cao. Kèm theo đó là tài liệu, là cách thức quản lí số tiết học này rất nhiêu khê và tốn kém thêm. Thực chất hai chủ đề tự chọn chỉ cùng một mục đích tăng thêm thời lượng cho môn toán “mong muốn bù đắp được những lỗ hổng kiến thức còn để lại sau các giờ học chính thức” (trang 3, tài liệu Chủ đề tự chọn bám sát, Toán 10). Nếu chỉ với mục đích trên (!) thì tại sao phải nhùng nhằng như vậy, trong khi Bộ giao quyền phân phối chương trình về cho các Sở Giáo dục? Thậm chí có Sở Giáo dục cho phép tổ chuyên môn từng trường phổ thông có thể điều chỉnh số tiết trên mỗi bài học cho phù hợp với năng lực tiếp thu của học sinh trường mình. “Chủ đề tự chọn” nói trên, như một kiểu “vẽ rắn thêm chân” vậy!2. Được biết trong SGK ngữ văn, trước mỗi bài học đều nêu rõ “kết quả cần đạt” cho học sinh, mà lẽ ra môn toán mới cần thiết điều đó hơn. Giá như SGK toán, sau mỗi bài học, sau mỗi chương đều ghi rõ yêu cầu tối thiểu về nội dung trọng tâm, về phương pháp, về kỹ năng làm toán v.v… sẽ định hướng và làm yên tâm người học. Bên cạnh đó giáo viên tránh được hoặc không dám tự yêu cầu cao trong các giờ học chính thức, dẫn đến dạy thêm – học thêm “đi mây về gió”, đến khi học sinh tiếp xúc bài toán cơ bản nhất, bám sát kiến thức nhất, thì không làm được.3. Bộ Giáo dục cần đưa ra văn bản chính thức có tính pháp lí giữa khung chương trình chuẩn và nâng cao, hơn kém nhau về lượng kiến thức và mức độ rèn luyện kỹ năng cho cả ba khối lớp 10,11,12. Mạnh dạn làm rõ hơn sự chênh lệch giữa các ban, chứ không dừng lại ở mức 10% như hiện nay. Trên cơ sở pháp lí đó, giáo viên có thể soạn giáo án riêng cho mỗi chương trình toán chuẩn hoặc nâng cao, từ hai bộ SGK toán hiện hành, chứ không nhất nhất rằng, học sinh theo ban nào thì dạy theo SGK ban đó, trong khi chờ đợi Bộ Giáo dục và Đào tạo đồng thuận cho soạn nhiều bộ SGK tương ứng với khung chương trình..4. Có thể khẳng định rằng việc học ở ta hiện nay là học để thi. Thi là kết quả cuối cùng và là khâu quan trọng; rất tiếc là nó đứng gần như độc lập trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Do đó “Thi thế nào, dạy và học thế ấy”. Phân tích đề thi tốt nghiệp THPT môn toán năm 2009, cũng như các năm trước đó, hoặc ngay cả đề thi tuyển sinh đại học môn toán, tôi xin nêu ra những điểm bất cập và thiếu nhất quán trong nỗ lực đưa nền giáo dục nước nhà lên tầm cao. – Đề thi quá “súc tích” bằng những bài toán đòi hỏi sự thực hành các phép tính đơn điệu, thiếu sự sáng tạo từ phía người thi. Bao năm như vậy, đã hằn một lối đi (lối ra đề) dẫn đến những giờ dạy toán, mà cả thầy và trò cứ chăm bẵm các thao tác tính toán. Học sinh không thích giáo viên dừng lại giải thích định nghĩa, chứng minh định lí… Xin đưa một ví dụ: Trong bài “Định nghĩa đạo hàm của hàm số”, giáo viên nào dạy những bài toán dẫn đến khái niệm đạo hàm sẽ bị học trò cho là “hâm”, là dạy dở. Khoảng cách giữa lí thuyết và thực hành xa nhau đến mức khó chấp nhận.– Đề thi hoàn toàn vắng bóng ứng dụng toán học vào thực tiễn, trong khi SGK nhắc đến việc ứng dụng không phải ít. Điều này đã làm cho giáo viên toán gần như bỏ hết các phần ứng dụng (nếu có) sau các bài học. Kết cục là học toán mà không biết gì lịch sử toán, nét đẹp của toán, toán bắt nguồn từ đâu, toán dùng vào việc gì? Có thể nói rất phản giáo dục. – Đề thi “súc tích” dẫn đến đáp án “gọn gàng” và đến bài làm của thí sinh thì chỉ còn thuần các phép tính, thiếu lập luận, thiếu logic, thiếu dẫn nhập… Có những bài làm của thí sinh chiếu theo đáp án được 8 điểm chẳng hạn, nhưng giám khảo (số ít) lo lắng cho một tú tài tương lai quá nghèo nàn về ngôn ngữ, lập luận. Nếu cứ tiếp tục ra đề thi toán như thế này thì khó lòng tránh được sự quay cóp của thí sinh, bởi chỉ ghi nguệch ngoạc đôi dòng nhờ “copy” là có điểm.– Đề thi thiếu sự dẫn dắt, định hướng, tức là phớt lờ hẳn lí thuyết đưa đến phương cách làm bài toán. Do đó, một mặt thí sinh thiếu điểm tựa trong khi làm bài, mặt khác làm cho những giờ dạy toán ở trường phổ thông khô khan, thiếu sinh khí, chỉ phục vụ cho nhóm nhỏ học sinh có năng khiếu toán. Tôi cảm giác giáo viên toán bậc THPT hiện nay chỉ cần như một thợ làm toán là đủ đóng vai trò người thầy.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy ít đi, học được nhiều hơn      Nhiều nước trên thế giới đang áp dụng phương pháp học qua vấn đề và qua dự án để giúp học sinh học tập hiệu quả nhất. Dưới đây là một số thí dụ từ Mỹ, Phần Lan và Singapore.    Ở trường Trung học Công nghệ mới Napa, Mỹ, với môn Lịch sử Hoa Kỳ được tổ chức theo dự án có thời lượng tương đương 20 giờ học trên lớp, giáo viên1# nêu vấn đề: “Những nguyên mẫu (archetypes) nổi bật nào trong lịch sử nước Mỹ (như cao bồi, người Anh-điêng, nô lệ, các tín đồ,..) vẫn thể hiện giá trị của chúng ta ngày nay?” Học sinh phải giả định mình là chuyên viên tiếp thị cho những tập đoàn thực phẩm lớn và lựa chọn một mẫu nhân vật để quảng cáo và bán hàng. Các em sẽ phải nghiên cứu đặc điểm lịch sử của mẫu nhân vật mình đã chọn, sau đó xác định những yếu tố hấp dẫn họ trong tư cách người tiêu dùng. Kết thúc dự án, học sinh báo cáo quá trình nghiên cứu tài liệu, báo cáo khảo sát khách hàng tại siêu thị, thuyết trình trước lớp và giáo viên về kết quả của dự án. Đây chính là cách giáo viên biến các kiến thức lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa đối với đời sống hiện tại. Bên cạnh đó, các kiến thức cơ bản về môn Lịch sử Hoa Kỳ, và kĩ năng cần thiết (tìm kiếm, đánh giá tài liệu, phương pháp điều tra xã hội học) cũng được học sinh rèn luyện trong quá trình thực hiện dự án nhỏ này.   Ở một trường khác, giáo viên Toán lớp 10 nêu vấn đề: “Chúng ta có thể tạo ra một thiết bị để bắn một viên đạn và tính toán chuyển động của nó để trúng mục tiêu như thế nào?” Học sinh làm việc theo nhóm, sử dụng vật liệu chi phí thấp (đường ống PVC, ván ép, dây cao su…) để thiết kế và xây dựng một thiết bị mô phỏng tên lửa đạn đạo bắn một vật có đường bay theo hình parabol. Học sinh tiến hành thử nghiệm và sử dụng dữ liệu ghi lại được để điều chỉnh thiết kế của thiết bị nếu cần. Kết thúc dự án, nhóm sẽ trình bày đề xuất thiết kế, mô hình hoạt động của thiết bị tên lửa đạn đạo, báo cáo kiểm thử, báo cáo phân tích dữ liệu, báo cáo thiết kế điều chỉnh, và truyết trình bằng PowerPoint. Có thể thấy học sinh ở đây được rèn luyện tổng hợp các kiến thức cơ bản của môn học (đại số, lượng giác), đồng thời thực hành các kĩ năng khác về khoa học và chế tạo. Đây chính là cách tiếp cận dạy học tích hợp thường thấy ở các chương trình giáo dục STEM thời gian gần đây.    Chúng ta có thể tham khảo gần 600 ví dụ tương tự với hầu hết tất cả các môn học trên trang web của Viện nghiên cứu giáo dục Buck (BIE), đơn vị tiên phong trong nghiên cứu và thực hành PBL ở Mỹ.   Trong khi đó, ở Singapore, Bộ Giáo dục từng đề xướng một chương trình cải tổ “Teach Less, Learn More” (TLLM – Dạy ít đi, Học được nhiều hơn), với sự chuẩn bị bài bản về nhân sự, đào tạo và huấn luyện giáo viên, cán bộ xây dựng chương trình, mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm, tài liệu hỗ trợ giáo viên, hỗ trợ nghiên cứu và thúc đẩy các sáng kiến TLLM từ dưới lên. Sáng kiến này được cố Thủ tướng Lý Quang Diệu ủng hộ và là một nỗ lực không chỉ nhằm giảm bớt gánh nặng học hành của học sinh, mà còn chuyển dịch việc học tập theo hướng dần bỏ bớt những hoạt động thuần về ghi nhớ, nhấn mạnh sự trải nghiệm và tham gia tích cực của học sinh. Tiếp nối TLLM, gần đây, Bộ Giáo dục Singapore đã xây dựng và ban hành Khung Năng lực Thế kỉ 21#2, hướng tới thế hệ những công dân tự tin (confident person), có khả năng tự học (self-directed learner), có khả năng đóng góp tích cực (active contributor), và có trách nhiệm (concerned citizen). Để đạt được mục tiêu này, việc dạy và học cũng cần có những chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, bởi vậy các phương pháp học tập chủ động (active learning) được đưa thành biện pháp căn cơ để hiện thực hóa chủ trương lấy học sinh làm trung tâm. Hình thức đánh giá các môn học đa dạng hơn, gồm các bài thực hành, dự án, quan sát của giáo viên, bài viết phản tư của học sinh, các trò chơi tranh biện, đóng vai hoặc tạo lập mô hình. Có những môn học sử dụng hình thức học tập qua dự án (Project Work3#) như là công cụ chủ đạo nhằm tổng hợp kiến thức và rèn luyện các năng lực quan trọng được định rõ trong chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục, gồm năng lực ứng dụng kiến thức, giao tiếp, cộng tác và tự học.           Singapore đang nỗ lực chuyển dịch việc học của học sinh theo hướng dần bỏ bớt những hoạt động thuần về ghi nhớ, trong khi ở Phần Lan, theo chiến lược giáo dục mới, các giáo viên giúp học sinh trải nghiệm việc học tích hợp nhiều lĩnh vực kiến thức mà trước đây được phân bố tách biệt ở từng môn học.        Không nằm ngoài xu hướng này, nền giáo dục Phần Lan, vốn được OECD xếp ở vị trí số 1 toàn cầu, cũng không ngừng cải cách để đạt được kết quả cao hơn nữa. Hồi đầu năm nay, Phần Lan công bố một chiến lược khiến giáo giới toàn cầu không khỏi kinh ngạc: “xóa sổ” các môn học. Người quản lí chính sách giáo dục của Helsinki nhận định: “Các trường học hiện nay đang dạy theo cách thức lạc hậu, vốn chỉ phù hợp ở những năm đầu 1900. Chúng ta cần những thứ phù hợp với thế kỉ 21 này”4#. Sự thay đổi lớn ở đây là việc giảng dạy đại trà theo cách tiếp cận liên môn học, liên ngành xoay quanh các chủ đề để giải quyết các vấn đề theo cách thức chỉnh thể và thực tiễn nhất. Với việc thực hành hình thức cùng-giảng-dạy (co-teaching), các giáo viên giúp học sinh trải nghiệm việc học tích hợp nhiều lĩnh vực kiến thức mà trước đây được phân bố tách biệt ở từng môn học. Hình thức giáo dục mà Helsinki đang kì vọng với cái tên “Phenomenon-based Teaching” (dạy học theo hiện tượng) thực chất là một dạng phát triển xa hơn của triết lí giáo dục hướng vào giải quyết vấn đề.   Như chúng ta thấy, các nhà giáo ở những quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất đã mạnh dạn thoát li khỏi cách dạy nhồi nhét, để hướng học sinh đến với các hoạt động học tập tích cực để thông qua đó, học sinh tự bồi đắp tri thức. Đó hẳn sẽ là những tri thức có ý nghĩa, bền chặt hơn là những chữ nghĩa khô cứng được đổ đầy đầu học sinh với mục đích chủ đạo là phục vụ các kì thi. 1  —————–  1 Theo “PBL Starter Kit”, BIE xuất bản năm 2009.   2http://www.moe.gov.sg/education/21cc/  3 http://www.moe.gov.sg/education/programmes/project-work/   4http://www.independent.co. uk/news/world/europe/finland-schools-subjects-are-out-and-topics-are-in-as-country-reforms-its-education-system-10123911.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy kèm ở Phần Lan      Việc dạy kèm ở Phần Lan là chủ trương chung  quốc gia, được các văn bản chính thức quy định, được thực hiện bên trong  trường học, thường là trong giờ học chính thức. Như vậy, các kế hoạch dạy kèm là một phần của  chương trình giáo dục quốc gia, một nhiệm vụ của giáo viên.    Dạy kèm ở Việt Nam gần như đồng nghĩa với  việc dạy thêm học thêm. Nhưng việc dạy kèm có tiêu cực như nó vẫn bị  công luận phê phán không? Với riêng tôi, dạy kèm có tiêu cực hay không  là do cách tổ chức, chứ việc kèm một cá nhân hay một nhóm học sinh nhỏ,  để các em tiến bộ thì không thể nào xấu về mặt phương pháp. Để chứng  minh điều này, tôi xin kể chuyện dạy kèm ở Phần Lan, từ đó trở lại bình  luận và so sánh với việc dạy kèm ở Việt Nam.  Ba mức độ dạy kèm  Trong chuyến nghiên cứu thực địa thuộc một dự án do Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục IRED tổ chức, tôi có dịp quan sát trực tiếp cách thức người Phần Lan giảng dạy. Trong Chương trình Cốt lõi Quốc gia về Giáo dục Cơ bản, Hội đồng Giáo dục Quốc gia thuộc Bộ Giáo dục nước này dành một phần lớn nói về cách thức giảng dạy, cách thức phối hợp giữa các tác nhân như giáo viên, học sinh, phụ huynh, chính quyền, tổ chức an sinh xã hội… để giúp học sinh phát triển tối đa về trí tuệ, đạo đức và thể chất.   Họ chủ trương vừa chung vừa riêng: chung là về chủ trương, mục tiêu giáo dục quốc gia, chương trình giảng dạy cốt lõi; riêng là trong cách thực hiện, triển khai làm sao để đến những mục tiêu chung đó, riêng không những với từng vùng, từng trường, từng lớp học mà còn với từng cá nhân học sinh.  Giáo viên phổ thông Phần Lan có nhiệm vụ nghiên cứu từng trường hợp học sinh trong lớp, từ đó, phối hợp với học sinh và phụ huynh để lên kế hoạch học tập cho từng cá nhân. Nói cách khác là lên kế hoạch “kèm” cho từng học sinh tùy theo nhu cầu, thể trạng và năng khiếu hay vấn đề của mỗi em.   Kế hoạch “dạy kèm” có ba mức: nếu học sinh khỏe mạnh, minh mẫn thì kế hoạch là phát triển tối đa những tố chất sẵn có, các em sẽ được kèm riêng hoặc theo từng nhóm nhỏ có chung đặc điểm; nếu học sinh trung bình, thì kế hoạch là “tăng cường”, giúp các em học giỏi lên, mạnh khỏe và phát triển mọi mặt hơn nữa; nếu học sinh có vấn đề về tâm lý hoặc thể chất, thì kế hoạch là “hỗ trợ đặc biệt”, có sự phối hợp với các chuyên gia, dịch vụ an sinh xã hội, y tế, các câu lạc bộ tại địa phương để thực hiện kế hoạch sao cho học sinh cảm thấy hạnh phúc nhất và phát triển mọi mặt tốt nhất. Và dù là kế hoạch nào thì học sinh cũng phải được đặt làm trung tâm, được chủ động trong việc phác thảo và thực hiện kế hoạch, chứ không phải theo áp đặt của người lớn.   Trong ngôi trường chúng tôi quan sát, lớp học đông nhất là 15 học sinh, có lớp chỉ 7 học sinh, cách giảng dạy của các giáo viên là giao việc cho học sinh tự làm1 (tự làm bài tập một mình hay theo nhóm, tự chấm điểm cho mình hoặc cho nhau, tự tổ chức thuyết trình, tự đọc chính tả cho nhau viết, tự đóng kịch, v.v, lớp học không mấy khi tật tự như ở Việt Nam). Quan sát nhiều lớp học, tôi thấy thầy cô giảng bài chung cho cả lớp tối đa 15 phút trong mỗi giờ dạy 45 phút, sau đó “kèm” riêng hoặc từng nhóm nhỏ học sinh nếu như các em có khúc mắc trong quá trình tự học. Như vậy, việc dạy chính quy tại lớp đã tựa như dạy kèm rồi.  Những học sinh gặp khó khăn trong tiếp thu bài sẽ được giáo viên sẽ lên kế hoạch kèm riêng sau buổi dạy– việc này do chính giáo viên, hoặc các chuyên gia “giáo dục đặc biệt” thực hiện. Giáo viên giáo dục đặc biệt chuyên kèm những học sinh yếu, mỗi tuần hai giờ, và lớp học không quá bốn học sinh.  Ở ngôi trường chúng tôi đến còn có bốn phụ giáo, các phụ giáo cũng đứng lớp với giáo viên chính nếu trong lớp có một hoặc một số học sinh có vấn đề về tâm lý hay thể chất. Hãy hình dung, một lớp học khoảng 14 học sinh, nhưng có đến hai, thậm chí ba giáo viên cùng dạy, thì đó quả là việc dạy kèm, chứ không phải kiểu giảng dạy đồng loạt.   Một vài bình luận so sánh  Nhìn trước nhìn sau, tôi thấy việc dạy kèm ở Việt Nam và Phần Lan chỉ giống nhau về mặt hình thức, đó là người dạy kèm từng nhóm nhỏ, hoặc từng cá nhân. Những gì còn lại đều khác biệt.  Việc dạy kèm ở xứ ta là tự phát, xảy ra bên ngoài trường học, ngoài giờ đến trường của học sinh, ngoài kế hoạch và sự kiểm soát của Nhà nước; trong khi việc dạy kèm ở Phần Lan là chủ trương chung quốc gia, được các văn bản chính thức quy định, được thực hiện bên trong trường học, thường là trong giờ học chính thức2 bởi giáo viên hay các trợ giảng. Như vậy, các kế hoạch dạy kèm là một phần của chương trình giáo dục quốc gia, một nhiệm vụ của giáo viên.  Việc dạy kèm ở Việt Nam là nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã hội. Bởi lẽ, con nhà “có điều kiện” mới được kèm; còn con nhà nghèo, cha mẹ không đủ điều kiện thuê gia sư thì phải chịu thua thiệt trong học tập, sự thua thiệt này sẽ dẫn đến sự thua thiệt trong đời sống xã hội về sau. Học hành thay vì là phương tiện tạo cơ hội công bằng cho trẻ nhỏ thuộc mọi thành phần xã hội, lại trở thành phương tiện làm gia tăng sự bất bình đẳng xã hội.   Ngược lại, việc dạy kèm ở Phần Lan được quan niệm như một phương tiện tạo ra công bằng cơ hội giữa tất cả các học sinh, qua đó tạo công bằng xã hội về sau, vì việc dạy kèm luôn miễn phí và nhiều hay ít, cho cá nhân hay theo nhóm, là tùy vào nhu cầu của học sinh chứ không phải tùy vào túi tiền, địa vị hay mạng lưới quan hệ của phụ huynh.  Một sự khác biệt căn bản trong giáo dục nói chung và việc dạy kèm nói riêng nữa là, Phần Lan thực hiện tất cả những việc làm đó vì hạnh phúc, vì sự phát triển mọi mặt của trẻ nhỏ, kế hoạch thực hiện được xây dựng dựa trên kinh nghiệm, nhu cầu riêng của học sinh thông qua những trao đổi cộng tác, trong đó học sinh là trung tâm. Còn tại Việt Nam, mọi sự được thực hiện thường là theo nhu cầu của người lớn, được áp đặt từ người lớn và người lớn luôn là trung tâm, là tác giả của các kế hoạch.     —  1 Một ví dụ về giờ toán, học về số thập phân lớp 6: sau khi giáo viên gọi học sinh lên bảng cho ví dụ và một số học sinh khác xung phong cho đáp số (có sai có đúng), giáo viên viết lên bảng công thức và giải thích ý nghĩa từng con số trong số thập phân. Cô sử dụng ngay chính các ví dụ của học sinh làm trước đó để minh họa và giải thích tại sao lại đúng hoặc sai, trong khoảng 10 phút. Rồi cô phát cho mỗi học sinh một mẩu giấy trên đó in sẵn bài tập để các em tự làm – em nào làm xong thì tự đi đối chiếu với đáp án cô để ở góc lớp học; em nào làm sai thì tự nghiên cứu lại công thức và lý thuyết để tìm nguyên nhân, hoặc thảo luận với các bạn khác; nếu vẫn chưa hiểu hay khúc mắc gì thì mới đến gặp cô giáo. Lớp học nhộn nhịp ồn ào, tụm ba tụm bảy, nhưng tất cả đang làm việc theo cách của mình một cách thoải mái nhất.   2 Ở bậc giáo dục cơ bản, khối lượng bài tập/công việc của học sinh được điều chỉnh sao cho thời gian để các em nghỉ ngơi, sáng tạo và vui chơi phải nhiều hơn thời gian ngồi trên ghế nhà trường, đi lại từ nhà đến trường và làm bài tập về nhà” – Luật Giáo dục Phần Lan (phần 24 – điều 1).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đẩy mạnh tự chủ đại học thực chất, không nửa vời      Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng, trường ĐH Công nghiệp TPHCM cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tự chủ thực chất, không nửa vời, không dừng lại ở cấp trường mà đẩy mạnh tới từng khoa, từng bộ môn, từng giảng viên; đặc biệt coi trọng vai trò của các bộ môn và tính sáng tạo, chủ động của từng giảng viên.      Sinh viên trường ĐH Công nghiệp TPHCM chế tạo thiết bị lọc nước giá rẻ. Nguồn: ĐH Công nghiệp TPHCM  Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh yêu cầu này trong bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 60 năm thành lập và khai giảng năm học 2016-2017 của Đại học Công nghiệp TPHCM, sáng 11/11.  Những bước đi sơ khởi tới tự chủ  Là một trong những trường ĐH đầu tiên tự nguyện thực hiện cơ chế tự chủ, qua hơn một năm, ĐH Công nghiệp TPHCM đã đạt được kết quả tích cực và khá rõ ràng như: Công bố khoa học tăng hơn 23%; chi cho học bổng tăng 6 lần trong khi tổng thu học phí tăng 2,4%; kỳ tuyển sinh ĐH, CĐ vừa qua, Nhà trường đã tuyển đủ ngay trong đợt đầu tiên.  Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, đây mới chỉ là những bước đi ban đầu của tự chủ.  Phó Thủ tướng cho biết trong bối cảnh hiện nay, một quốc gia muốn giàu mạnh thì nhất thiết phải có một nền giáo dục tốt. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, vào yếu kém, Trung ương Đảng và cả xã hội đã xác định phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Đối với giáo dục ĐH thì bức thiết nhất là nâng cao chất lượng đầu ra của ĐH. Yêu cầu này dẫn đến một đòi hỏi và cũng là giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ĐH, đó là phải thực hiện tự chủ ĐH.  Đề cập đến cách hiểu tự chủ ĐH lệch về tự chủ tài chính, nghĩa là Nhà nước không cấp tiền cho trường ĐH nữa, Phó Thủ tướng nêu rõ: Bản chất thực sự của tự chủ ĐH là tự quản trong ĐH, bỏ cơ chế cơ quan/bộ chủ quản. Ngân sách Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư cho giáo dục, trong đó có giáo dục ĐH. Thực tế ở nhiều nước trên thế giới, các trường ĐH thực hiện tự quản, tự chủ nhưng ngân sách Nhà nước vẫn bảo đảm một phần lớn kinh phí hoạt động, điển hình là các nước châu Âu.  “Trao quyền tự chủ cho ĐH phải gắn liền với trách nhiệm giải trình của nhà trường và các chính sách cần thiết để bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục ĐH chất lượng cao cho mọi người, đặc biệt cho gia đình chính sách, người nghèo”, Phó Thủ tướng nói.  Trường ĐH là tài sản của xã hội, của đất nước  ĐH Công nghiệp TPHCM cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tự chủ thực chất, không nửa vời, tự tin, đoàn kết và thật sáng tạo, thực hiện đúng tinh thần tự chủ với mục tiêu hướng tới là một trường ĐH có uy tín trong nước và khu vực. Mức độ tự chủ không chỉ ở cấp trường mà đẩy mạnh tới từng khoa, từng bộ môn, từng giảng viên; đặc biệt coi trọng vai trò của các bộ môn và tính sáng tạo, chủ động của từng giảng viên.  Các quy chế hoạt động của Nhà trường cần phải xây dựng rất cụ thể trên tinh thần phát huy dân chủ thực sự cả về chuyên môn, trong công tác tổ chức nhân sự và tài chính, đồng thời, công khai để toàn bộ giảng viên, sinh viên của Nhà trường và toàn xã hội biết và giám sát.  Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Công Thương giảm mạnh các can thiệp hành chính vào công việc của Nhà trường trong đầu tư, tổ chức cán bộ, định hướng đào tạo… tiến tới xóa bỏ cơ chế chủ quản.  Bộ Giáo dục và Đào tạo cần bổ sung, điều chỉnh các quy định mà nhiều trường ĐH coi là cứng nhắc, để bảo đảm phát huy đầy đủ và thực chất quyền tự chủ của các trường (ví dụ như quy mô đào tạo, chỉ tiêu đầu vào, tỉ lệ giảng viên ngoài cơ hữu…).  Mục tiêu là để ĐH Công nghiệp TPHCM thực sự trở thành trường ĐH của Việt Nam, của xã hội, phấn đấu tiến tới là của khu vực, của thế giới chứ không phải của Bộ Công Thương.  Xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu dân chủ và cởi mở   Phó Thủ tướng mong muốn không chỉ ĐH Công nghiệp TPHCM mà mọi trường ĐH phấn đấu xây dựng môi trường học tập và nghiên cứu khoa học thực sự dân chủ, cởi mở – nơi trí thức và những cống hiến khoa học được trân trọng và tôn vinh; những tài năng được tạo điều kiện thuận lợi nhất để bừng nở; những giá trị nhân văn được tỏa sáng; để những cựu sinh viên, cựu cán bộ, trong suốt cuộc đời mình sau này luôn nhớ về khoảng thời gian học tập và lao động ở nhà trường với tình cảm tốt đẹp.  “Đổi mới luôn là quá trình cọ xát giữa cái mới, cái cũ và luôn có một bộ phận bị ảnh hưởng, nhiều khi khó phân định tách bạch và một phần ở ngay trong chính mỗi người. Điều quan trọng chúng ta phải dũng cảm vượt lên những trở lực do thói quen, do lợi ích. Tất cả vì lợi ích chung”, Phó Thủ tướng trao đổi.  Đối với các sinh viên, Phó Thủ tướng mong rằng mỗi người thực sự ý thức được trách nhiệm của mình với xã hội, với tương lai và trước hết ngay với những người thân nhất. Từ đó, cố gắng học tập, tự học để khi ra trường là cử nhân, kỹ sư, kỹ thuật viên sẽ không “thua chị, kém em” ở trong nước cũng như thế giới, không chỉ chuyên môn mà cả ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng mềm, thực sự trở thành những công dân toàn cầu theo đúng nghĩa.  “Đặc biệt các bạn là sinh viên của ĐH Công nghiệp TPHCM, phần đông các bạn sẽ là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất, sáng tạo ra công nghệ, áp dụng công nghệ, cho nên càng cần phải tự học, tự rèn những kỹ năng mà vốn trước đây chỉ sinh viên ở các nước phát triển mới chú ý như kỹ năng tự làm việc, tự nghiên cứu, kỹ năng làm việc theo nhóm và hơn hết là tác phong công nghiệp”, Phó Thủ tướng nhắn nhủ.  Trong dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã trao Huân chương Độc lập hạng Ba cho ĐH Công nghiệp TPHCM với niềm tin tưởng Nhà trường sẽ là một trong những ĐH đi đầu trong đổi mới giáo dục, phát triển mạnh mẽ, trở thành ĐH chất lượng cao ở nước ta và có vị thế ngày càng cao trong hệ thống ĐH khu vực, thế giới.  Qua 60 năm thành lập, tập thể cán bộ, giảng viên, sinh viên ĐH Công nghiệp TPHCM không ngừng phấn đấu trở thành một trong số ít trường ĐH có uy tín trong đào tạo về kỹ thuật, công nghệ, TOP 10 trường ĐH có quy mô sinh viên lớn nhất toàn quốc mặc dù cơ sở vật chất còn rất hạn hẹp.  Hàng trăm ngàn kỹ sư, kỹ thuật viên, cử nhân, thạc sĩ được Nhà trường đào tạo, trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của TPHCM, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đất nước.  Các thầy cô giáo và sinh viên Nhà trường luôn ý thức và nỗ lực vượt khó, tiên phong trong đổi mới. Nhà trường đã chủ động liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài; kết nối với doanh nghiệp, với xã hội. Trường cũng là một trong những trường đầu tiên tham gia và được cấp “Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục”.  Chất lượng đào tạo của Nhà trường được thể hiện qua tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm cao; nhiều học sinh, sinh viên của Nhà trường đạt giải cao tại các cuộc thi có tính sáng tạo như Robocon toàn quốc hay các cuộc thi tay nghề quốc gia, khu vực và thế giới.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Giao-duc/Day-manh-tu-chu-dai-hoc-thuc-chat-khong-nua-voi/291326.vgp    Author                Theo baodientu.chinhphu.vn        
__label__tiasang Dạy thế hệ trẻ biết tôn trọng trí tuệ hơn tiền bạc, quyền lực      Nhân dịp Ngày hội STEM1, GS. Pierre Darriulat  đã có bài phát biểu về vai trò quan trọng của việc chuẩn bị kiến  thức và các phẩm chất cần thiết cho thế hệ trẻ để họ có thể phát triển  tài năng của mình nhằm giúp đất nước giải quyết các thách thức và phát  triển trong môi trường toàn cầu hoá hết sức khắc nghiệt. Dưới đây là nội  dung lược trích bài phát biểu của GS.    Để đất nước phát triển nhanh và bền vững, chúng ta cần phải tạo cho lớp trẻ nhiều cơ hội trau dồi kỹ năng và kiến thức ở mức độ cao để họ có thể thực hiện được những nhiệm vụ khó khăn; thế hệ trẻ cần được khuyến khích thể hiện năng lực phán xét một cách tự do theo tinh thần sáng tạo, đổi mới và táo bạo. Đất nước cần tạo cho họ niềm tin vào tài năng và phải có tham vọng với mơ ước của mình.  Cần phải dạy thế hệ trẻ biết tôn trọng tri thức hơn tiền, tôn trọng sự thông tuệ hơn quyền lực. Sự giàu có của một đất nước là bàn tay và khối óc chứ không phải là những két sắt của ngân hàng; là những sản phẩm làm ra hơn là những kỹ năng tiếp thị; đó là những giọt mồ hôi của những người làm việc hơn là những quy định được tạo ra bởi những người quản lý – nếu không có những người lao động thì những người quản lý chẳng thể quản lý ai ngoài chính bản thân họ.  Với tinh thần như vậy chúng ta phải dạy khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học; tôn trọng tất cả các hoạt động sản xuất và sáng tạo của con người, bao gồm cả nhân văn và nghệ thuật. Không có gì phản tác dụng và đáng trách hơn việc dạy thế hệ trẻ rằng có sự phân biệt thứ bậc giữa các lĩnh vực hoạt động của con người. Khác biệt duy nhất về thứ bậc nghề nghiệp là giữa sự xuất sắc và tầm thường. Chúng ta phải dạy cho giới trẻ về sự nghiêm túc, tính chuyên nghiệp, năng lực chuyên môn, đam mê và sự chăm chỉ, những phẩm chất cần thiết cho mọi người dù đó là một nghệ sĩ vi-ô-lông hay một kiến trúc sư, một bác sĩ, nhà toán học, một người nông dân hay một nhà hoá học. Chúng ta phải nuôi nấng tinh thần nhiệt huyết và táo bạo trong suy nghĩ của họ. Chúng ta phải phổ biến những ví dụ như: Alexandre Yersin phát hiện ra trực khuẩn dịch hạch trong một phòng thí nghiệm mà ông dựng lên trong một túp lều nhỏ ở Hồng Kông; Penzias và Wilson, hai kỹ sư vô tuyến, đã khám phá ra những tín hiệu được gửi đến Trái Đất từ Vũ trụ ngay sau Vụ nổ lớn (Big Bang). Chúng ta phải làm cho thế hệ trẻ cảm thấy tự hào về Ngô Bảo Châu đồng thời tạo nên cho họ sự khao khát trở thành một Ngô Bảo Châu khác.  Ngày hôm nay, qua việc tổ chức lễ hội STEM, chúng ta tôn vinh Khoa học và phẩm chất của nó như là một trường học về sự nghiêm túc và tự do. Vào năm 1948, cùng với bác Hồ trong rừng Việt Bắc bác sĩ Hồ Đắc Di, người sáng lập ra đại học hiện đại của Việt Nam, cũng làm điều tương tự. Cho phép tôi kết luật bằng việc trích dẫn một vài lời của ông2:   “Người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc. Giảng dạy và nghiên cứu là hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm chỉ là sảnh chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm. – Trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang hình thành khoa học. – Nghiên cứu là làm việc theo nhóm. Nó đòi hỏi sự chăm chỉ và nhẫn nại. Nó bao gồm những kỹ năng, đặc biệt đối với những người trẻ tuổi, luôn không ngừng tìm kiếm phát minh để có thể nắm bắt cơ hội. Cùng với công việc, trí tưởng tượng và phương pháp, cơ hội và sự quan tâm sẽ đến trong tầm tay. – Nhà khoa học phải có một phông văn hóa rộng… Đào tạo các nhà khoa học phải chú trọng phát triển cả về trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả khoa học và nghệ thuật… Khi học thì phải nghi ngờ và khi làm thì phải có niềm tin. Phải hành động có suy nghĩ và suy nghĩ tích cực.Thật quý giá cho nhà khoa học nào có một công việc kết hợp được cả Khoa học và Lương tâm. Có tài là chưa đủ; mà phải có đạo đức trong sáng.”  Phạm Ngọc Điệp dịch  —————————————————————  Chú thích:   1. Được tổ chức lần đầu tiên ở Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 16-17/5/2015 nhân chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam 2015.  2. Trích và dịch từ bản ghi chép của GS. Pierre Darriulat về những lời của bác sỹ Hồ Đắc Di tại Việt Bắc trong khoảng thời gian 1947-1949. Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=6&News=3183       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy thêm: Không thể lấy cái sai này để chữa một cái sai khác      Dạy thêm học thêm là hệ quả trực tiếp của đồng lương giáo viên quá thấp, và là hệ quả gián tiếp của lối dạy, học, và thi cử nhằm vào kiến thức thay vì nhằm vào phát triển năng lực và nhân cách.      Học thêm gây ra những hậu quả tiêu cực: việc ép học thêm khiến cha mẹ học sinh phải tốn kém, khiến thầy cô giáo bị xã hội xem thường, và hậu quả xấu nhất, là tước đoạt thời gian của học sinh, khiến học sinh không còn khả năng và động cơ tự học, hủy hoại hứng thú học tập của học sinh và biến việc học thành thứ lao động khổ sai, biến điểm số và bằng cấp thành mục đích của việc học.  Những người bảo vệ cho quyền được dạy thêm của giáo viên đang bảo vệ cho việc dùng một việc sai (dạy thêm) để chữa một cái sai khác (lương thấp). Những người cấm dạy thêm đang dùng một việc sai (hạn chế việc kiếm sống của giáo viên) để chữa một cái sai khác (hủy hoại hứng thú học tập của học sinh, tăng gánh nặng cho phụ huynh, làm mất sự tôn trọng của xã hội).  Chấm dứt dạy thêm học thêm là đúng! Vấn đề là bằng cách nào.  Như đã nói, dạy thêm học thêm là một mắt xích trong một chuỗi các hành động và kết quả. Chặt đứt một mắt xích mà không xử lý những mắt xích khác không giải quyết được vấn đề, mà chỉ gây ra đứt gãy có thể sẽ dẫn đến một tình trạng còn tệ hại hơn. Đó là cái chúng ta đang làm: cấm giáo viên dạy thêm, nhưng cho phép các trung tâm được tổ chức dạy thêm; cấm giáo viên dạy cho học sinh của mình, nhưng được phép dạy thêm cho học sinh lớp khác. Những giải pháp chắp vá như vậy không giải quyết được vấn đề, vì nó không chạm tới nguyên nhân đã nói trên.  Giải quyết tận gốc  Ai cũng nói rằng nếu đồng lương đủ sống thì chẳng giáo viên nào muốn dạy thêm. Thật ra ở nước nào thì giáo viên cũng không phải là một nghề làm giàu. Lương chính thức của giáo viên các nước cũng chỉ ở mức sống trung bình của xã hội mà thôi. Nhưng có lẽ không ở nước nào mà thu nhập chính thức của giáo viên lại thấp như ở Việt Nam.  Tăng lương giáo viên là giải pháp ai cũng biết, nhưng để thực hiện được nó cần phải bịt những lỗ rò tham nhũng của công, là việc dĩ nhiên không dễ dàng và khó có kết quả ngày một ngày hai. Vậy có giải pháp tạm thời nào không?  Trong gia đình tôi có người vì biết rõ tác hại của việc học thêm, đã tự cứu mình bằng cách vẫn đóng tiền học thêm cho cô giáo nhưng xin cô cho con không đến lớp học thêm. Kết quả là con có thì giờ tự học, và bài làm kiểu gì cũng được điểm tốt!  Dĩ nhiên cách đó cũng chỉ như tấm băng dính dán lên vết thương, không giải quyết được vấn đề. Nó chỉ làm giảm tí chút tác hại của hiện trạng. Nhưng nó đã nhằm vào bản chất vấn đề: thu nhập thấp của giáo viên, và tác hại đối với học sinh. Nó chỉ là cách vùng vẫy của một cá nhân nhằm đáp ứng với một thực tế không lành mạnh và vượt ra ngoài khả năng giải quyết của cá nhân.      Những người bảo vệ cho quyền được dạy thêm của giáo viên đang bảo vệ cho việc dùng một việc sai (dạy thêm) để chữa một cái sai khác (lương thấp). Những người cấm dạy thêm đang dùng một việc sai (hạn chế việc kiếm sống của giáo viên) để chữa một cái sai khác (hủy hoại hứng thú học tập của học sinh, tăng gánh nặng cho phụ huynh, làm mất sự tôn trọng của xã hội).      Nhưng nó gợi ý cho một giải pháp thực tế: đàng nào thì hiện nay nhà nước cũng không đủ sức bao cấp cho giáo dục phổ thông đúng nghĩa, để nhà giáo yên tâm làm việc giảng dạy và để phụ huynh không phải chạy tiền học. Vậy thì phải tìm giải pháp trong phạm vi cái thực tế ấy thay vì kêu gọi tăng lương (một giải pháp khó lòng khả thi trong ngắn hạn) hay cấm dạy thêm (sẽ đẻ ra những tệ nạn khác).  Thay vì đóng tiền học thêm, thực chất là để nuôi thầy cô giáo, và chấp nhận để trẻ học mụ cả người, hãy chấp nhận rằng chúng ta trả tiền để con cái chúng ta được thụ hưởng một môi trường giáo dục tối thiểu có thể chấp nhận được, nghĩa là giúp phát triển năng lực và nhân cách, thay vì bị nhồi nhét.  Thay vì bao cấp cho các trường công ở mức thấp khiến giáo viên ở tất cả các trường đều phải tìm thêm nguồn thu nhập, nên chăng chúng ta biến một số trường thành bán công, nghĩa là trường công có thu học phí đủ để trang trải hoạt động, chỉ còn một số ít trường công thực sự được trả lương đầy đủ. Trường công thi tuyển giáo viên công khai để chọn người giỏi. Học sinh được nhận vào gồm hai loại: có thành tích xuất sắc (qua thi tuyển) và có nhu cầu cần được hỗ trợ về tài chính (qua hồ sơ).  Dĩ nhiên lối “xã hội hóa” này cũng có thể nảy sinh nhiều tác dụng tiêu cực, đặc biệt là nếu các trường công và bán công không được kiểm soát về trách nhiệm giải trình, nó có thể là cơ hội kiếm tiền của một số người với cái giá phải trả của xã hội.  Tiền có giải quyết được vấn đề?  Giải pháp trên đây có thể đúng nhưng chưa đủ. Vì đồng lương giáo viên chỉ là một nửa của vấn đề. Nếu cách dạy, cách học, và cách thi hiện nay không thay đổi, thì sẽ vẫn có nhu cầu học thêm, và có cầu ắt sẽ có cung.  Gốc của vấn đề vẫn là triệt tiêu nhu cầu học thêm. Muốn vậy phải thay đổi cách tiếp cận giáo dục từ chỗ truyền đạt kiến thức đến chỗ hình thành năng lực và kỹ năng.  Thay đổi một cách dạy, cách học, cách đánh giá đã có truyền thống cả ngàn năm không phải là một việc dễ dàng. Vì thế, rất cần sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình. Không chỉ giáo viên, mà cả phụ huynh cũng phải được thông tin đầy đủ để hiểu rõ tại sao chúng ta cần phải thay đổi.  Việc thay đổi cách tiếp cận giáo dục này liên quan tới tất cả mọi yếu tố: chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, đào tạo giáo viên, cách đánh giá kết quả học tập và thi cử, cách thức quản lý nhà trường, cách lựa chọn và đánh giá hiệu trưởng, cách phân bổ ngân sách, cách thức ban hành chính sách.  Rõ ràng là cần một chặng đường dài để sửa chữa những vấn nạn hiện nay của giáo dục phổ thông. Những hệ quả tiêu cực của dạy thêm và học thêm đối với tất cả các bên (giáo viên, học sinh, phụ huynh) về tất cả các mặt (kinh tế, giáo dục và xã hội) có thể là giọt nước tràn ly để chúng ta xem xét lại những vấn đề nền tảng của giáo dục phổ thông, thay vì loay hoay với những giải pháp chắp vá.    Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang “Dây trói” đã cởi      Luật Giáo dục đại học đã chính thức  được Quốc hội thông qua với rất nhiều điểm mới được các nhà giáo dục, xã  hội đồng tình. Trong đó, tính tự chủ của các trường đại học – điều mà  các trường mong mỏi đã chính thức được luật hóa bằng các văn bản luật và  điều luật một cách rõ ràng.    Sự “cởi trói” trên từ Bộ GD-ĐT được các trường ghi nhận. Bởi nó không chỉ mang đến cho xã hội kỳ vọng về một nền giáo dục hội nhập và phát triển khi các trường tự chủ – tự chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của mình. Mặt khác,  việc giao quyền tự chủ cho các trường đã cho thấy “tấm áo” của hệ thống GDĐH đã trở nên chật chội, nó đòi hỏi một cơ chế phù hợp để phát triển. Và điều đó đã được Bộ GD-ĐT “giác ngộ” trước áp lực từ nhiều phía.  Việc các trường ĐH được tự chủ trong các hoạt động chính của mình như tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học… thật sự là điều đáng mừng. Vì nó sẽ giúp cho các trường chủ động xây dựng được kế hoạch nhân sự, nâng cao chất lượng đội ngũ, cân đối cơ chế tài chính để xây dựng thương hiệu riêng cho mình. Tuy nhiên, sự tự chủ ấy gắn liền với không ít thách thức và áp lực mà các trường phải đối mặt khi mà đòi hỏi của người học, sự kỳ vọng của xã hội sẽ ngày càng cao hơn.  Một hiệu trưởng trường ĐH ngoài công lập cho rằng, việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm là thuộc tính vốn có của một trường ĐH. Vì vậy, việc đến giờ Bộ GD-ĐT mới chịu “cởi trói” cho các trường là hơi trễ. Ông chia sẻ: “Khi anh chưa đủ điều kiện để thực hiện các giải pháp tự chủ thì anh phải chịu sự quản lý để kiện toàn và ổn định đội ngũ, còn khi anh đã đảm bảo những tiêu chí hoạt động, thỏa mãn các điều kiện xây dựng đội ngũ, chất lượng và quyền lợi người học, anh có quyền đòi hỏi sự tự chủ cho mình. Đó là lẽ đương nhiên và bây giờ Bộ GD-ĐT phải thừa nhận. Tuy nhiên, trong một xã hội có định chế và pháp quyền rõ ràng như nước ta, sự tự chủ sẽ buộc anh phải xây dựng một cơ chế phát triển, đầu tư hợp lý cho trường mình. Bằng không, anh sẽ “chết” ngay khi anh được “tự do” vì thiếu một cơ chế đầu tư nhân lực hiệu quả, đảm bảo được chất lượng đào tạo đầu ra và tôn trọng các nguyên tắc đã ký với người học, sự khẳng định với xã hội”.  Chính vì thế, việc được giao quyền tự chủ sẽ buộc các trường phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, cạnh tranh thương hiệu… Và người học tất nhiên sẽ là những đối tượng được thụ hưởng những điều tốt đẹp nhất. Với cơ chế đó, người học có thể chọn lựa cho mình một môi trường đào tạo thật sự chất lượng để theo học, cũng như có quyền yêu cầu đơn vị mình đang theo học nâng cao chất lượng đào tạo, quyền lợi cho mình khi cảm thấy các điều kiện cam kết giữa nhà trường và người học chưa phù hợp.  Bộ GD-ĐT đã thực hiện “cởi trói” triệt để về cơ chế quản lý cho các trường. Dù vẫn còn đó không ít ý kiến băn khoăn về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường ĐH kiểu đồng loạt sẽ khiến Bộ GD-ĐT khó kiểm soát và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học. Tuy nhiên, bộ vẫn chấp nhận mạo hiểm để gỡ bỏ áp lực, làm hài lòng các trường dù khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các trường ĐH, Bộ GD-ĐT vẫn phải thực hiện việc giao quyền tự chủ dựa trên nguyên tắc các cơ sở của điều kiện năng lực, chiến lược phát triển – hoạt động, kết quả kiểm định chất lượng của từng trường.  Vì vậy có thể nói, sợi dây cơ chế đã được cởi bỏ, việc các trường có thể cất cánh, nâng cao chất lượng đào tạo hay không phụ thuộc vào chính tầm nhìn chiến lược của các trường.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy và học theo quan điểm học suốt đời      Con người l&#224; vốn qu&#253; của x&#227; hội, l&#224; một th&#224;nh tố cấu th&#224;nh nền kinh tế – văn ho&#225; – x&#227; hội của một quốc gia. Cả UNESCO v&#224; OECD đều k&#234;u gọi c&#225;c nước h&#227;y đầu tư cho nguồn lực kinh tế mới n&#224;y bằng một phương tiện duy nhất: gi&#225;o dục th&#244;ng qua việc DẠY – HỌC. Tại sao?  B&#224;i viết n&#224;y đề cập một số quan niệm về việc dạy – học trong thời đại mới v&#224; &#225;p dụng n&#243; v&#224;o gi&#225;o dục ở nước ta trong bối cảnh đương đại.    HỌC ĐỀ LÀM GÌ?  Nhìn chung việc học được quan niệm trên là để hiểu biết (learn to know) và để làm (learn to do). Tuy nhiên học thật sự không chỉ để biết và để làm. Trong xã hội đầy biến động ngày nay với sự toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự tăng vọt của thông tin, learn what và learn how trở nên hết sức cần thiết nhưng chưa đủ. Làm sao một con người có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung quanh anh ta và sử dụng lượng kiến thức thu được để tác động vào thực tiễn? Cách duy nhất là học và cập nhật kiến thức suốt quãng đời của anh ta (lifelong learning) để biết, để hiểu, để có thể giao tiếp với người khác, để hiểu chính mình, hiểu người khác, và để có thể tồn tại (learn to be). Và vì thế giới ngày càng xích lại gần nhau, mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội và phụ thuộc lẫn nhau cho nên bản thân mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau, và học để chung sống với nhau (learn to live together) (xin xem Learning: The Treasure Within, UNESCO: 1996.           Học là gì?    1.    Sự tăng về số lượng của kiến thức. Học có nghĩa là tiếp nhận thông tin, hay nói cách khác là “biết nhiều thứ”.  2.    Sự ghi nhớ. Học là sự tích trữ thông tin để có thể tái tạo lại (reproduce).  3.    Sự tiếp nhận và lưu trữ thông tin thực tế (fact), kỹ năng, và phương pháp để khi cần thiết có thể sử dụng.  4.    Hiểu (make sense) và chiết tách ý nghĩa (abstract meaning). Học bao gồm việc gắn kết các bộ phận của một sự vật với nhau và với thực tiễn.  5.    Sự hiểu biết và làm sáng tỏ thực tiễn theo một cách thức riêng biệt. Học bao gồm việc thấu hiểu thế giới thông qua sự tái hiện và áp dụng kiến thức (reinterprete knowledge).  Theo Säljö (Smith: 1999)          Theo quan điểm kinh tế, học chính là một hình thức đầu tư để phát triển kinh tế và để chống lại những hệ quả tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá như nạn thất nghiệp, sự mất cân bằng về kinh tế ngày càng gia tăng, và sự lo lắng về những thay đổi mang tính kinh tế – xã hội (quan điểm của OECD, trích dẫn trong Spring, J (1998)). Con người là một nguồn vốn (capital) đặc biệt trong quá trình sản xuất. Máy móc chỉ hoạt động ở một mức độ có giới hạn. Nguyên liệu và nhiên liệu có thể cạn kiệt, nhưng sức học và nghiên cứu của con người là vô hạn. Chính vì vậy, cá nhân học tập là để mang lại lợi ích kinh tế cho chính mình sau này; một tổ chức có các cá nhân học tập là để mang lại lợi ích cho tổ chức đó. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, trình độ học vấn của các thành viên trong một tổ chức càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh tế của tổ chức đó càng mạnh. Tuy nhiên, nếu xét quan niệm kinh tế về việc học trong khuôn khổ quan niệm của UNESCO, ta thấy rằng hiệu suất kinh tế của một tổ chức cũng là kết quả kết hợp (collective) của những thành viên trong tổ chức với những kiến thức mà họ đã đạt được và vận dụng theo bốn khía cạnh: học để hiểu biết, học để làm, học để chung sống với nhau, và học để tồn tại.  THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI HỌC LÝ TƯỞNG TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI?  Như đã đề cập bên trên, chúng ta đang sống trong một xã hội đầy biến động và mục tiêu học tập là để hiểu biết, để làm, để chung sống và để tồn tại. Để làm được điều đó, người học hiện đại phải trở thành người học suốt đời (lifelong learner), một cụm từ nghe đơn giản nhưng thực hiện được nó là cả một vấn đề nan giải. Vậy đâu là những phẩm chất của một người học suốt đời?  Theo Candy, Crebert và O’Leary: một người học suốt đời cần có óc nghiên cứu thể hiện ở lòng say mê việc học, sự tò mò, óc phân tích và khả năng định hướng cho việc học của mình. Candy, Crebert và O’Leary thừa nhận việc hiểu biết thêm những lĩnh vực khác ngoài chuyên ngành chính của mình giống như Knapper và Cropely ở trên; tuy nhiên cả ba nhấn mạnh nhận thức mối tương quan giữa chúng là hết sức quan trọng. Vì là một người học trong xã hội hiện đại với kỹ thuật và công nghệ, người học suốt đời cũng phải biết sử dụng các thiết bị công nghệ này, đặc biệt là khả năng sử dụng máy vi tính để phục vụ cho việc học và nghiên cứu. Người học mẫu hình này phải nắm được những nguyên tắc cơ bản đằng sau những kiến thức được học để có thể áp dụng vào những tình huống khác nhau chứ không chỉ đơn thuần ở những tình huống quen thuộc; có thái độ tốt đối với việc học và kỹ năng sắp xếp công việc hợp lý (Mariane Xhignesse: 2003).  Chúng ta có thể nhận thấy rằng những quan niệm về người học hiện đại bên cạnh việc nhấn mạnh việc học cũng đề cao những phẩm chất xã hội thông qua việc tự học, tự định hướng và sự tự chịu trách nhiệm cho việc học của mình.  VÀ VIỆC DẠY HỌC Ở NƯỚC TA?  Trong phần này tôi xin chỉ đưa ra những con số thống kê và những sự kiện thực tế để người đọc có thể tự rút ra kết luận cho mình về những gì đang diễn ra trong cái gọi là học ở nước ta.  Mặc dù sản phẩm của quá trình học không thể mô tả hết những gì đã diễn ra trong quá trình học của người học, nó vẫn được sử dụng để đánh giá việc học của người học. Nếu như vậy, theo UNDP (2007), qua phỏng vấn 200 doanh nghiệp hàng đầu ở Việt Nam, những doanh nghiệp này đều phải tổ chức lại các khoá huấn luyện và đào tạo lại cho những sinh viên đã tốt nghiệp được chấp nhận vào làm việc và họ không tin tưởng vào chất lượng đào tạo của đại học Việt Nam. Điều đó đặt một dấu chấm hỏi rất lớn cho việc dạy-học ở nước ta, chứ không phải chỉ riêng ở bậc đại học.  Tạp chí Nhà Quản Lý (26.03.2006) cho biết chỉ có 40% sinh viên nước ta có thái độ tích cực đối với việc học, phần còn lại học chỉ để học chứ thật sự không đầu tư vào đó. Kết quả này có lẽ là do xu hướng thích vào đại học và thi vào những ngành được xem là hot mà không để ý đến năng lực thật sự và sở thích của chính mình hoặc do quá phụ thuộc vào quyết định của gia đình. Nói về sự phụ thuộc, sinh viên chúng ta đã hình thành thói quen này ngay từ những ngày còn học mẫu giáo, tiểu học vì cô giáo là mẹ hiền nên cô bảo gì cũng phải làm theo, không được làm khác, nếu không sẽ bị điểm kém. Mà nếu bị điểm kém chắc chắn sẽ bị ba mẹ la mắng vì thua sút bạn bè cùng trang lứa làm mất mặt ba mẹ. Vô hình trung việc dạy của chúng ta đã bóp chết sự đa dạng của mỗi cá nhân ngay từ đầu. Tôi còn nhớ một câu chuyện so sánh việc học ở châu Á và ở Mỹ như sau: cô giáo vẽ một con mèo lên bảng và yêu cầu học sinh cũng vẽ một con mèo để cuối buổi đem dán các bức tranh lên tường. Điểm khác biệt ở hai nền giáo dục là: trên lớp học của Mỹ có một đàn mèo không con nào giống con nào, còn trong lớp học của châu Á, con mèo trên bảng của cô giáo đã tự động được… nhân bản vô tính thành n con mèo khác. Đó cũng là cách giáo dục mà chúng ta đang làm ngày nay. Chả trách 80% số sinh viên Việt Nam được khảo sát có mức sáng tạo (creativity) dưới mức chuẩn của thế giới (Khám Phá, 2005).  Trong việc dạy – học ở nước ta hiện nay, giáo viên vẫn là người ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học. Kiến thức mà sinh viên thu được là kiến thức một chiều từ thầy đến trò, thiếu sự tương tác. Tác giả Phạm Lan Hương viết sinh viên Việt Nam không được dạy bằng phương pháp tích cực, chủ yếu là nghe giảng và ghi chép (Altbach & Umakoshi: 2004). Nếu như vậy sinh viên không cần phải đến lớp, chỉ cần giao cho sinh viên giáo trình về tự đọc, đến ngày thi vô thi chắc hiệu quả cũng ngang nhau!  Sự tương tác là hết sức cần thiết vì nó giúp sinh viên hiểu sâu hơn những điều đang học và ngược lại, thông qua thảo luận, chia sẻ suy nghĩ, những câu hỏi với sinh viên, giảng viên cũng học hỏi được nhiều điều bổ ích theo nguyên tắc tự phản ánh (self-reflection). Ở đây cần bổ sung thêm, sinh viên chúng ta đang học chay trầm trọng do cơ sở vật chất thiếu thốn và do số lượng sinh viên quá đông. Ví dụ trường Đại học Quốc gia TP HCM có 81.000 sinh viên, Đại học Huế 81.000, Đại học Đà Nẵng 54.000…là những trường có số lượng sinh viên thuộc hàng khổng lồ trên thế giới1. Tệ hơn nữa, vì số lượng các trường đại học mới mở thiếu giảng viên và sự gia tăng liên kết đào tạo giữa các trường đại học với các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường cao đẳng cộng đồng ở các địa phương, giảng viên ở các trường đại học “có tuổi” hơn trở thành những cỗ máy dạy di động, đến nỗi không còn thời giờ để nghiên cứu và trau dồi kiến thức. Họ chỉ học khi cần bằng cấp để thăng tiến, và vì vậy tệ nạn mua bán bằng cấp, gian lận trong thi cử, mạo văn, chép luận văn, luận án,…cứ nhan nhản diễn ra như báo chí đã, đang lên án bấy lâu nay. Và như vậy, chất lượng việc dạy của thầy chắc chắn là không đảm bảo. Việc học của trò xin miễn bàn.  Chương trình học của ta mặc dù đang được cải tiến nhưng nhìn chung vẫn còn rất nặng, nhất là ở bậc phổ thông. Kiến thức cái thì quá thừa, cái lại quá thiếu, thiếu tính thực tiễn (Vũ Cao Đàm, 2007) khiến sinh viên học mà không biết để làm gì (và thậm chí giáo viên đứng lớp cũng tự hỏi tại sao mình phải dạy kiến thức đó cho học viên). Phải chăng chính vì điều này mà các nhà sử dụng lao động phải đào tạo lại nguồn nhân lực mà họ thuê? Chương trình của ta chủ yếu là cung cấp kiến thức cho sinh viên mà ít chú trọng đến dạy người học cách tiếp cận, cách đánh giá vấn đề.  Tài liệu học tập và tham khảo cũng cần sự quan tâm. Có lẽ chúng ta không thiếu sách và những tài liệu loại này nhất là khi Internet đang trở nên phổ biến. Vấn đề duy nhất là sinh viên chưa tận dụng hết những tài nguyên này. Sự phụ thuộc vào người dạy đã dẫn đến sự lười đọc, thậm chí chỉ là đọc giáo trình chứ chưa nói đến thư viện để đọc sách, dẫn đến sự lười định hướng cho việc học của sinh viên. Việc học của trò cứ phó mặc cho thầy. Internet được sinh viên ưa chuộng hơn nhưng mục đích chính khi lên mạng hiếm khi là để học mà để giải trí là nhiều. Lý do đơn giản nhất là vốn ngoại ngữ của sinh viên chúng ta quá kém, trừ sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ, mà hầu hết tài liệu trên mạng không được viết bằng tiếng Việt. Mức độ đầu tư ở nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều nhưng có lẽ sẽ còn rất lâu để sinh viên của ta có thể sử dụng ngoại ngữ, phổ biến là Anh ,trong công việc hằng ngày khi mà khả năng đọc hiểu ngoại ngữ chưa tốt.  Nếu học ở trường đã có vấn đề thì việc tự học lại còn tệ hại hơn. Không biết có bao nhiêu phần trăm sinh viên có thể tự học khi mà họ luôn phụ thuộc vào thầy, có thái độ đối với việc học chưa tích cực, thiếu sáng tạo, ít cập nhật thông tin, khả năng giao tiếp và hoạt động nhóm còn kém. Nguyên nhân vì đâu? Sinh viên chúng ta ít tham gia các hoạt động xã hội, ít giao lưu học hỏi nên đã để vuột mất một phần rất lớn của việc học đó là học ngoài trường đời.  KẾT LUẬN  Trong phạm vi một bài báo, khó có thể trình bày thấu đáo mọi khía cạnh của việc dạy và học, song tôi tin rằng với những thông tin trên, chúng ta ít nhất có một cái nhìn đúng hơn về việc dạy và học trong thời đại mới. Ở đó người học phải được đặc biệt quan tâm. Việc dạy cần hướng vào phát triển cá nhân sao cho cá nhân đó có thể áp dụng kiến thức thu được ở trường học bằng chính sự yêu thích của mình vào công việc ngoài đời; đồng thời trang bị cho người học cách học để họ có thể cập nhật kiến thức trong suốt quãng đời của họ, chứ không chỉ dừng lại sau khi tốt nghiệp đại học hoặc chỉ học khi đến trường học. Để làm được điều đó, những chính sách giáo dục cần phải lấy người học làm gốc, nghĩa là nên đi từ bên dưới lên chứ đừng áp đặt tất cả những suy nghĩ, chiến lược, mục tiêu của những người hoạch định chính sách lên người học. Và nên áp dụng ngay từ bậc đầu tiên của giáo dục vì bất cứ việc gì cũng nên xây từ nền móng vững chắc mới lâu bền được. Ngược lại, người học cũng phải tự ý thức được rằng học là cho bản thân mình và chính mình là người biến kiến thức chưa khai phá thành tài sản của riêng mình. Họ phải có khả năng rèn luyện việc tự học và duy trì việc học suốt đời.                  Trong tác phẩm Lifelong Learning in Higher Education (Vấn đề học suốt đời ở bậc đại học) xuất bản lần 3 năm 2000, tác giả Knapper CK, Cropely AJ đã mô tả hình ảnh của một sinh viên lý tưởng như sau:  •    có ý thức cao độ về mối quan hệ giữa học tập và đời sống thực tế;  •    có ý thức về sự cần thiết của học suốt đời;  •    luôn hăng hái tham gia vào việc học suốt đời;  •    có những kỹ năng cần thiết cho việc học suốt đời.  Để có được những phẩm chất đó, Knapper và Cropely cho rằng mỗi sinh viên cần trau dồi những kỹ năng sau:  •    xây dựng cho riêng mình một kế hoạch học tập mang tính khả thi  •    ứng dụng hiệu quả kiến thức đã học vào thực tế  •    tự đánh giá chính xác việc học của mình  •    rèn luyện khả năng định vị thông tin  •    sử dụng hiệu quả các phương pháp học và học tốt ở các môi trường học khác nhau  •    sử dụng các phương tiện truyền thông, thư viện, các phương tiện có ích cho việc học  •    có khả năng sử dụng và hiểu tài liệu của nhiều lĩnh vực khác nhau  —————-  1 Số liệu từ ’Những vấn đề giáo dục hiện nay: quan điểm và giải pháp, Nhà Xuất bản Tri Thức, 11-2007’  Trần Lê Hữu Nghĩa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy Văn      Ý tại ngôn ngoại, người xưa lời ít, ý nhiều. Tại sao? Vì họ phải viết (khắc) trên thẻ tre, vất vả lắm. Chữ nào đáng viết lắm mới được viết.  Ngày nay chữ nhiều, ý ít? Tại sao? Tại cái bàn phím. Gõ nhẹ nhàng quá, chữ ra ào ào. Chẳng có ý gì mà chữ cứ thế tuôn ra.    Góp ý:  –  Các “trường viết văn” nên bắt các “nhà văn trẻ” làm bài thi không phải trên giấy A4, mà viết trên…bẹ chuối. Không khó như trên thẻ tre, nhưng chắc cũng phải cân lên nhắc xuống từng chữ.  – Các thầy dạy văn đừng “bình giảng”, đừng dạy học trò tán một câu thơ ra mấy trang giấy. Nên dạy họ bằng cách: lấy ra một bài văn, tìm xem có chữ nào bỏ đi được. Nếu bỏ được hết cả bài mà không mất đi ý gì thì càng tốt!  Dạy như thế một thời gian, chắc học trò sẽ giỏi văn lắm!  Xin kể thêm hai chuyện sau:  I. Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.  II. Chuyện kể rằng: ở một khúc sông nọ, đêm đêm người ta nghe văng vẳng có tiếng ngâm hai câu thơ rất hay:    Bạch vân hòa cô lộ tề phi   Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc  Cho đến một ngày, có người nghe xong liền ngâm lại:  Bạch vân cô lộ tề phi  Thu thủy trường thiên nhất sắc  (Nghĩa: Mây trắng và con cò cô đơn cùng bay;  Sông mùa thu và trời xanh một màu)  Đúng là bỏ hai chứ thừa là “hòa” và “cộng”, câu thơ hay hơn hẳn. Nghe nói từ đó trên khúc sông không còn nghe tiếng ngâm thơ. Chắc tác giả (tiên hay ma gì đó)  hơi… ngượng!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy văn của nhóm Cánh Buồm      Cánh Buồm chủ trương tổ chức việc học văn thông qua hướng dẫn học sinh “đi lại con đường người nghệ sĩ đã đi để sáng tạo ra tác phẩm”. Không thuyết giảng, áp đặt, nhồi nhét. Để các em chủ động phát hiện tác phẩm qua cảm xúc riêng, độc đáo của mình, sau khi nắm được những thao tác cơ bản để xây dựng tác phẩm.     Trước nhất, việc dạy Văn như một cái mẫu cho công cuộc giáo dục Nghệ thuật của nhóm Cánh Buồm là một tư tưởng hết sức thời đại. Nếu như đến nửa cuối thế kỷ XX, Văn chương vẫn còn là môn nghệ thuật áp đảo trên thế giới thì có thể nói đến cuối thế kỷ XX nó đã lui xuống ngày càng xa so với các bộ môn kia (ở những nước phát triển). Tiến trình ấy chỉ càng rõ hơn trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI mà tình hình ở nước ta cũng đã thấy nhãn tiền trong lớp trẻ (chỉ cần so sánh số fan của văn học với âm nhạc). “Thoạt là Lời” (Sách Sáng thế). Văn học từng là bộ môn chủ đạo thỏa mãn những cảm xúc nhân bản, xã hội, tâm linh, thẩm mỹ của con người khi các bộ môn khác chưa phổ biến và chưa được khai thác hết khả năng. Sự “mất ngôi” của Lời không có gì phải ân hận, tiếc nuối, khi bây giờ bao nhiêu thứ “phi Lời” có sức hấp dẫn và tác động có khi còn ghê gớm hơn.  Cố gắng chất vào đầu học sinh những “lời” đã trở thành nhàm chán, không còn chút hấp dẫn trong khi bỏ lơ việc cung cấp cho các em những kỹ năng cơ bản để hưởng thụ một cách thông minh và tự giác cả một thế giới âm thanh sắc màu quyến rũ là một tư duy “duy ý chí” đã đến lúc phải thay đổi.  Thứ hai, Cánh Buồm chủ trương tổ chức việc học văn thông qua hướng dẫn học sinh “đi lại con đường người nghệ sĩ đã đi để sáng tạo ra tác phẩm”. Không thuyết giảng, áp đặt, nhồi nhét. Để các em chủ động phát hiện tác phẩm qua cảm xúc riêng, độc đáo của mình, sau khi nắm được những thao tác cơ bản để xây dựng tác phẩm. Hai thao tác đầu tiên – tưởng tượng, liên tưởng – chính là nền tảng.  Tôi nhớ đến một kỷ niệm có lẽ là sâu sắc nhất trong thời học sinh của mình. Tôi đã viết trong cuốn sách Thuở nhỏ các nhà văn học văn (NXB Trẻ 2003) như sau:  “Tôi không nhớ giờ ấy học bài gì mà thầy (Thầy Nguyễn Lộc, trường Phổ thông 3 Việt Đức, Hà Nội năm học 1958-1959) vào đề bằng câu hỏi: “Có ai biết câu thơ mở đầu Tỳ Bà Hành vẽ ra hình ảnh gì không?” Tất nhiên chúng tôi nghĩ Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, thì vẽ ra cảnh … đưa khách trên bến đò lúc đêm khuya chứ gì nữa. Nhưng thầy lắc đầu, và đợi vài phút, khi chúng tôi xin hàng cả lượt thì thầy mới ung dung giảng rằng: “Câu thơ vẽ nên hình một chiếc thuyền!” Trước sự ngỡ ngàng của cả lớp, thầy cầm một viên phấn và vừa đọc vừa… vẽ: “Bến”: chữ này vần trắc, gợi hình ảnh cái mũi thuyền” (thầy vẽ một đường vát); “Tầm Dương canh khuya đưa”: tất cả vần bằng, gợi hình ảnh lòng thuyền (thầy vẽ một đường dài nằm ngang); “khách” vần trắc là cái đuôi thuyền” (thầy vẽ nốt một đường vát phía sau). Tôi tin rằng bài giảng độc đáo ấy không chỉ mình tôi nhớ đến giờ. Dẫu rằng trong quá trình làm thơ, giảng thơ, phê bình thơ sau này, tôi sớm nhận ra rằng thầy có hơi… khiên cưỡng, nhưng thực tình cách phân tích độc đáo của thầy đã kích thích trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của học sinh. Theo tôi đó là điều quan trọng nhất đối với việc phát huy năng lực thẩm mỹ của bọn trẻ. Riêng với tôi, có lẽ giờ giảng văn năm lớp 9 nói trên là gợi ý đầu tiên về năng lực diễn tả của ngữ âm tiếng Việt. (Sau này tôi có đọc một số công trình nghiên cứu sâu về ngữ âm, trong đó có công trình của Cao Xuân Hạo, tôi thấy tâm đắc). Trong thơ tôi hình như cũng vận dụng không ít  năng lực này thì phải”.  Mới đây, xem bộ phim Hội Các Nhà Thơ Chết (Dead Poets Society), tôi nghĩ ngay đến nhà giáo Phạm Toàn, người chủ xướng lối tổ chức việc học văn của Cánh Buồm. Xin trích lại một đoạn trong bài viết của tôi Cuối tháng tư, gửi Phạm Toàn một “nhà thơ đang sống” (Boxitvn.net 2012):  “Tối qua, tình cờ xem HBO, được một phim tuyệt vời lâu lâu mới gặp. Cái tên lạ: “Dead Poets Society” (Hội những Nhà thơ đã chết). Cảnh một tốp học sinh mắt sáng, mặt đầy cá tính, trong một trường nội trú kỷ luật gắt gao giống như trường Đạo. Những vị giáo sư khả kính. Những bữa ăn có cầu kinh. Những buổi tự học có giám thị. Những tối ngủ theo giờ chuông lệnh… Bỗng một thầy giáo xuất hiện, mặt đầy thông minh và nghịch ngợm, có thể nói là láu lỉnh. Thầy dạy Anh văn (tức như thầy VN dạy môn Tiếng Việt) không giảng bài, không bảo học sinh ghi chép. Thầy vừa huýt sáo một điệu vui, vừa đi vòng quanh lớp rồi ra cửa, nháy mắt, khều tay rủ các trò đi theo, và bảo trò gọi mình bằng câu thơ Walt Whitman: “Oh Captain! My Captain!” (Hỡi thuyền trưởng!). Đám trò như bị thôi miên. Bài đầu tiên thầy thì thầm vào tai các em khi kéo chúng đến ngắm nhìn chân dung những cha anh đã khuất, đó là câu châm ngôn Latin “carpe diem” (hãy sống tận từng ngày).   Tôi bị ông thầy này hấp dẫn không khác đám trò trong phim. Và khi, vào giờ học THƠ, ông cho trò đọc bài mở đầu trong cuốn sách hàn lâm mà nhà trường sử dụng hàng trăm năm làm giáo trình chính thức, dạy: phương pháp đánh giá bài thơ một cách khoa học có thể biểu thị thành đồ thị, rồi ông hét lên: “Việc của các em là XÉ, XÉ TỪNG TRANG, XÉ HẾT…”. Ông gọi một trò nhút nhát nhất, cho em đọc một đoạn thơ, hỏi em cảm thấy thế nào cứ nói. Cậu học trò, với sự kích thích dẫn dụ của thầy, từ chỗ ấp a ấp úng, đã từ từ làm ra một bài bình luận đầy cảm xúc với những cảm nhận rất riêng. Ông kết luận: “Đấy là cách học một bài thơ!”  Tôi tin ông thầy Phạm Toàn, người trải nghiệm 50 năm tận tụy dạy tiếng Việt cho nhiều đối tượng trẻ khác nhau, từ các dân tộc ít người đến thế hệ Ngô Bảo Châu, cộng với nhà văn đặc sắc Châu Diên, cộng với nhà dịch thuật văn học và tâm lý giáo dục học, đủ thẩm quyền đề xướng cách tổ chức việc học văn nói trên.   Tôi tin Cánh Buồm, “một cánh buồm đẹp như biểu tượng” (thơ HH).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dạy văn, học văn…      Điều quan trọng của việc dạy văn l&#224; đ&#225;nh thức ở học sinh khả năng cảm thụ c&#225;i đẹp của t&#225;c phẩm văn học, để qua đ&#243; gi&#250;p c&#225;c em hiểu (chứ kh&#244;ng phải nhớ thuộc l&#242;ng) t&#237;nh nh&#226;n văn ẩn chứa sau từng b&#224;i thơ, &#225;ng văn. V&#236; vậy cần thiết kế chương tr&#236;nh dạy văn v&#224; tiếng Việt một c&#225;ch khoa học, đồng thời kết hợp việc dạy văn với việc dạy c&#225;c m&#244;n học x&#227; hội nh&#226;n văn kh&#225;c.    Trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, thời kỳ mà con người như bị cuốn hút vào cơn cuồng phong của đồng tiền, cơn vũ bão của vật chất, văn chương chữ nghĩa gần như trở thành một trang sức tầm thường, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Người ta lạ hoá văn chương, huyền bí hoá văn chương, biến văn chương thành cái gì đó thật xa vời, thật mông lung, nhưng không phải để tôn thờ văn chương mà là để biến nó thành một thứ “rẻ như bèo”. Hiếm người nhận thức ra giá trị đích thực của văn chương để đưa ra những phương cách phát huy hiệu quả việc dạy văn, những chương trình dạy văn hợp lý và những phương pháp dạy văn thích hợp.  Nói như Maxim Gorki, “Văn học là nhân học”. Còn theo Jean-Paul Sartre, trong cuốn Văn học là gì? (1948), “Về nguyên tắc, nhà văn hướng tới tất cả mọi người”, “Về bản chất, văn học là tính chủ quan của một xã hội luôn luôn vận động”. Văn học là cái gì đó rất đỗi gần gũi với con người, giúp phát triển nhân cách con người, giúp người hiểu người hơn. Văn học xuất phát từ con người, và dù nó có bay cao, bay xa, dù có thăng hoa đến đâu cũng hướng đến con người. Thế nhưng bây giờ, một thanh, thiếu niên Việt Nam nào đó được hỏi về văn học, hẳn sẽ lắc đầu nguầy  nguậy mà bảo: “Văn khó quá, mà học văn để làm gì, sau này có xin được việc đâu”. Sở dĩ học sinh, sinh viên “chối” với việc học văn là vì trên hết tất cả họ không có đam mê, họ chưa nhận thức được giá trị đích thực của văn chương… Bất cứ ai muốn thành công trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống cũng cần có vốn sống và vốn ngôn ngữ mà văn chương mang lại. Vì lý do đó, theo tôi, việc “giải huyễn” (démystification) văn chương là việc cần làm ngay để kéo văn chương trở về với cuộc sống, để học sinh, sinh viên quan tâm nhiều hơn đến văn chương.                “Trong văn học cũng như trong nghệ thuật, chúng ta phải bám vào tác phẩm. Việc cảm thụ tác phẩm văn chương, nghệ thuật là vô bờ bến và bất định, không ai có thể khẳng định mình đã khai thác hết nội dung hay đã xác định hình thức tác phẩm. Điều này có nghĩa là văn học không phải là đối tượng của kiến thức (object de savoir): Văn là ôn, văn là thị hiếu, là đam mê. Chúng ta không biết văn, chúng ta không học văn: Chúng ta luyện văn, trau văn, yêu văn.”                Gustave Lanson          Một trong những sai lầm khiến cho môn văn càng ngày càng bị học sinh, sinh viên xem nhẹ và cũng khiến cho các nữ sinh, nam sinh học kém môn này, đó là người ta thường vô tình hay hữu ý tách văn ra khỏi ngữ. Văn chương và ngôn ngữ là hai khái niệm của một phạm trù. Thế nhưng, thực tế cho thấy rằng ở nước ta, tuy tỷ lệ mù chữ thuộc loại thấp so với mặt bằng thế giới nhưng trình độ viết tiếng Việt của thanh niên Việt Nam cực kỳ kém. Tôi đoán chắc rằng phần lớn các giáo viên dạy văn chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện tiếng Việt cho học sinh thông qua việc dạy văn. Một người có trình độ tiếng Việt tồi thì làm sao có thể cảm thụ văn chương và viết được những áng văn hay? Việc dạy văn không thể tách rời việc dạy ngữ. Thế nhưng có những người nghĩ mình là người Việt thì cần gì phải học tiếng Việt. Đáng sợ nhất là ai cũng nghĩ là mình biết tiếng Việt! Thêm vào đó, việc dạy tiếng Việt chưa nhận được sự kết hợp nhuần nhuyễn với các môn học khác. Tôi để ý thấy người ta ít đề cập đến tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ trong việc học tiếng Việt, đặc biệt là các ngoại ngữ như tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, vốn là những ngôn ngữ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của tiếng Việt. Đã thế hai ngoại ngữ này đang có nguy cơ bị loại khỏi chương trình đào tạo từ bậc tiểu học cho đến cao học!  Văn học là một nghệ thuật. Khi nói đến nghệ thuật người ta phải nói đến thẩm mỹ, phải nói đến hình thức. Trong văn học, hình thức là các thể loại văn chương, các thủ pháp nghệ thuật và ngôn ngữ. Lâu nay, có hai định kiến mà cá nhân tôi đều không đồng tình, đó là “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”. Theo thiển ý, nghệ thuật chính là nhân sinh và nhân sinh chính là nghệ thuật. Jean-Paul Sartre không phải là không có lý khi khẳng định, trong cuốn sách đã nêu, rằng văn phong bổ sung cho nội dung, chứ không đi trước nội dung. Ở nước ta, nhiều người lấy cớ “nghệ thuật vị nhân sinh” để hạ thấp giá trị chân chính của nghệ thuật, bằng cách hoặc là áp đặt nội dung, hoặc bắt người học phải nhớ nội dung và bỏ rơi, hoặc xem nhẹ giá trị nghệ thuật. Tôi lấy thí dụ đề thi ngữ văn tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2009. Trong đề thi này, không có câu nào đả động đến phương diện nghệ thuật của văn học (thể loại, thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ v.v…) Chưa kể đến việc người ra đề quá tham lam: Với thời lượng 150 phút mà thí sinh phải giải quyết quá nhiều vấn đề, phải viết quá nhiều bài văn với những chủ đề khác nhau. Với số lượng như thế thì làm sao thí sinh có thể cho ra những bài văn, câu viết chất lượng? Trong khi một nhà phê bình văn học chuyên nghiệp cũng phải mất ít nhất vài ba ngày mới viết xong một bài viết vài ba trang để công bố cho độc giả. Có nhìn nhận vấn đề dưới góc độ này chúng ta mới thông cảm cho cô hoa hậu tội nghiệp nào đó đã phải nhận điểm ba cho môn thi này! Gustave Lanson, trong cuốn Lịch sử văn học Pháp (1894) có nói: “Trong văn học cũng như trong nghệ thuật, chúng ta phải bám vào tác phẩm. Việc cảm thụ tác phẩm văn chương, nghệ thuật là vô bờ bến và bất định, không ai có thể khẳng định mình đã khai thác hết nội dung hay đã xác định hình thức tác phẩm. Điều này có nghĩa là văn học không phải là đối tượng của kiến thức (object de savoir): Văn là ôn, văn là thị hiếu, là đam mê. Chúng ta không biết văn, chúng ta không học văn: Chúng ta luyện văn, trau văn, yêu văn”. Điều quan trọng của việc dạy văn là đánh thức ở học sinh khả năng cảm thụ cái đẹp của tác phẩm văn học để qua đó giúp các em hiểu (chứ không phải nhớ thuộc lòng) tính nhân văn ẩn chứa sau từng bài thơ, áng văn. Văn học là cảm nhận, là trừu tượng nên không có đáp án cụ thể. Người chấm văn chỉ nên chấm bằng cảm nhận chứ không bị trói buộc bởi một đáp án có sẵn nào đó.  Trong một bài viết bằng tiếng Pháp, nhà văn – dịch giả Bửu Ý có nói: “l’alittérature ne tue pas, elle enterre vivant” (tạm dịch: Phi văn học không giết người, nó chỉ chôn sống mà thôi). Nếu như chúng ta không quan tâm đúng mức đến việc thiết kế chương trình dạy văn và tiếng Việt một cách khoa học, có phương pháp, nếu chúng ta không kết hợp việc dạy văn với việc dạy các môn học xã hội nhân văn khác, nếu chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước sự thờ ơ của học sinh, sinh viên trước văn chương, nghệ thuật thì e rằng, một ngày nào đó, tâm hồn Việt Nam sẽ trở nên khô cứng, con người Việt Nam sẽ trở nên lạnh lùng, dân tộc Việt Nam sẽ trở nên thực dụng. Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ thu mình trong góc, và ca dao sẽ bật khóc mà thôi.   ———–  * Tiến sĩ văn học – ĐHQG Hà Nội    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để bay lên, trên đôi cánh của ước mơ…      Nói đến mùa Xuân, người ta thường nhắc đến  những ước mơ. Một ước mơ của ngành giáo dục đã tồn tại nhiều năm nhưng  vẫn chưa hề cũ, đó là: Làm cách nào để đưa giáo dục đại học của Việt Nam  cất cánh. Đây là một điều kiện tối cần thiết để nhanh chóng đưa đất  nước tiến lên trong một nền kinh tế tri thức toàn cầu, trong điều kiện  hội nhập ngày càng sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt.     Lại nhớ một hình ảnh đã được các chuyên gia trong nước hơn một lần nhắc đến: Nền giáo dục đại học của một quốc gia giống như đôi cánh chim, công và tư phải song hành mới có thể bay lên. Quả thật, nhìn vào nền giáo dục đại học của các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan1, Philippines, Malaysia, hoặc Singapore, có thể thấy tư nhân hóa đang là một xu thế quan trọng và không thể đảo ngược. Cũng theo xu thế này, những đại học ngoài công lập Việt Nam đã được phép ra đời từ cách đây hơn hai thập niên; tuy nhiên, vì một lý do nào đó cho đến nay gánh nặng về đào tạo nghề nghiệp sau trung học cho thế hệ trẻ vẫn dồn hầu hết vào khối trường công lập, trong khi với đóng góp khiêm tốn từ người học qua học phí, giáo dục đại học của Việt Nam không thể đáp ứng nổi đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế, và hiện đang trong tình trạng “hụt hơi”.   Giáo dục đại học tư nhân của Việt Nam quá yếu kém? Những thông tin mà ta có thể đọc được trên báo chí dường như khẳng định điều này. Hình ảnh được vẽ lên cho ta cảm giác đây là những trường có cơ sở vật chất tồi tàn, giáo viên và chương trình thì vay mượn từ trường công lập, học phí cao mà chất lượng lại thấp, còn sinh viên ra trường thì không phải ai cũng kiếm được việc làm. Những trường này tất nhiên tuyển sinh rất khó khăn; chính vì vậy mà các trường ngoài công lập lúc nào cũng đòi tự chủ tuyển sinh — thực chất là muốn bỏ kỳ thi tuyển sinh, tháo nút chặn điểm sàn, hạ chất lượng đầu vào để có thêm nguồn tuyển, vì nếu không thì chỉ còn nước đóng cửa (!). Một bức tranh thật ảm đạm và xấu xí.   Vậy thực tế thì sao? Trước hết, phải thừa nhận rằng quả là có những trường đại học, cao đẳng kém, cả công lập lẫn ngoài công lập. Và có lẽ cũng phải thừa nhận tình trạng là so với các trường công lập thì tỷ lệ các trường ngoài công lập không đủ giảng viên biên chế theo quy định có lẽ cao hơn. Nhưng cũng có một sự thật khác về các trường ngoài công lập mà hầu như báo chí chưa bao giờ nhắc đến, đó là: có rất nhiều sáng kiến mang tính đổi mới trong quản lý và đào tạo trong giáo dục đại học ở Việt Nam lại xuất phát từ các trường ngoài công lập chứ không phải là từ khối công lập. Đó là chưa kể, thỉnh thoảng trong một vài lĩnh vực, sinh viên các trường ngoài công lập lại đạt được những thành tích ngoạn mục, thậm chí vượt qua sinh viên các trường công lập vốn có đầu vào cao hơn hẳn mình, như việc giải thưởng của kỳ thi ROBOCON gần đây có thời gian dài lọt vào tay sinh viên một trường ngoài công lập trẻ tuổi ở một tỉnh miền Đông Nam Bộ chẳng hạn.   Có thể nêu ra nhiều ví dụ về sự tự chủ, năng động và sáng tạo của các trường ngoài công lập trong suốt thời gian tồn tại của khối trường này: Cách đây gần một thập niên, khi việc thu thập ý kiến sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên còn rất xa lạ ở Việt Nam thì nó đã được nhiều trường ngoài công lập áp dụng như một biện pháp hiệu quả để kiểm soát chất lượng của hoạt động giảng dạy.2 Từ rất lâu trước khi có những quy định về trình độ ngoại ngữ cho giảng viên và sinh viên theo chuẩn châu Âu như hiện nay, một số trường tư ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã đưa ra những tiêu chuẩn khá nghiêm nhặt về trình độ ngoại ngữ khi tốt nghiệp nhằm giúp sinh viên có một trình độ ngoại ngữ vững vàng khi ra trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập của đất nước.  Gần đây, trước nạn đạo văn hoành hành trong giáo dục của Việt Nam, trường đại học đầu tiên dám bỏ tiền ra mua và sử dụng phần mềm chống đạo văn để ngăn ngừa sự gian lận cũng là một trường tư ở TP Hồ Chí Minh và hẳn chẳng ai ngờ rằng cách đây vài năm khi công tác kiểm định chất lượng vẫn trong tình trạng tạm “đóng băng”, một số trường ngoài công lập ở phía Nam đã chủ động tìm kiếm nguồn tài trợ của quốc tế và tổ chức các đoàn đánh giá ngoài để giúp nhau tự rà soát và cải thiện. Tính tự chủ, năng động đó trong mấy năm gần đây đã được sự thừa nhận công bằng và khách quan của một tổ chức quốc tế – tỷ lệ các trường đại học ngoài công lập có mặt trong bảng xếp hạng Webometrics không hề thua kém các trường công lập.  Sẽ có người nhắc đến những vụ lùm xùm gần đây của các trường ngoài công lập, trong đó nổi cộm nhất là vụ giằng co trong việc chuyển cơ sở tại trường ĐH Hùng Vương mới tháng trước. Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia đã hơn một lần chỉ ra, căn nguyên của những tranh chấp này và nhiều điều bất cập khác nữa lại chính là do sự thiếu quan tâm của nhà nước về mặt chính sách đối với các trường ngoài công lập, hơn là những khiếm khuyết nội tại của mô hình trường ngoài công lập, khiến cho khối trường này sau vài thập niên tồn tại vẫn chưa thể phát triển xứng đáng với tiềm năng mà nó vốn có.3  Và như vậy, nên chăng ước mơ của ngành giáo dục Việt Nam cho năm 2014 này là làm sao nhanh chóng có được một hệ thống những chính sách công bằng và phù hợp với đặc thù của khối trường ngoài công lập. Để nền giáo dục của Việt Nam sẽ là không còn là một chú chim muốn bay với chỉ một bên cánh.  Để bay lên, trên đôi cánh của ước mơ …  —-    1Ví dụ, theo thống kê năm 2006, số trường đại học tư của Thái Lan chiếm đến 45% tổng số trường đại học của nước này. http://www.albany.edu/dept/eaps/prophe/ publication/paper/PROPHEWP12_files/PROPHEWP12_PP.pdf   2http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2009-12-25-sinh-vien-danh-gia-giang-vien-phu-hop-hay-khong-   3http://thanhnien.hnue.edu.vn/?p=321    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để có sách giáo khoa hay      Có được sách hay cho việc học là điều mong muốn của mọi học sinh, phụ huynh học sinh và giáo viên. Nhưng làm sao để có được các sách hay? Tôi xin trình bày ở đây một số suy nghĩ của mình về việc này.      Sách hay là mong muốn của mọi học sinh. Nguồn ảnh: Báo GD&TĐ.  Thứ nhất là vấn đề đầu tư  Muốn làm được sách tốt, hay bất cứ cái gì tốt, cũng cần có đầu tư thích đáng.  Mỗi quyển sách giáo khoa ảnh hưởng đến hàng trăm ngàn hay thậm chí hàng triệu học sinh, tính ra về mặt kinh tế sẽ là nhiều tỷ đồng. Vì vậy nếu bỏ ra vài trăm triệu đồng cho việc làm nội dung của một quyển sách giáo khoa thì không phải là quá nhiều.  Vấn đề của chúng ta trong nhiều năm là chi phí bỏ ra cho đội ngũ trực tiếp làm sách (và cho những người trực tiếp thiết kế chương trình  khung) còn quá ít, và hệ quả tất yếu là khó kiếm được người vừa giỏi vừa thật sự dành nhiều nhiệt huyết cho việc làm sách. Có những khi, có vị rất oách đứng tên chủ biên, nhưng người làm thực sự lại là người trình độ còn non yếu.  Một hướng giải quyết là cho phép tư nhân đầu tư vào việc làm sách, họ sẽ tự lo liệu giữa chi-thu, nhà nước chỉ phê duyệt sách đủ chất lượng, chứ không độc quyền làm sách giáo khoa nữa. Rất may, đây là xu hướng đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét.  Thứ hai là môi trường cạnh tranh  Không phải ai viết sách cũng sẽ hay, dù là tư nhân hay nhà nước. Bởi vậy cần có môi trường cạnh tranh lành mạnh để đào thải các sách chất lượng kém.  Cần tránh để xảy ra trường hợp học sinh và giáo viên bị ép dùng sách dở, chương trình dở  (ví dụ như đã xảy ra trong chương trình VNEN), không được lựa chọn sách hay hơn, chương trình hợp lý hơn. Có như vậy thì sách hay mới lấn át được sách dở, và các đơn vị làm sách mới phải liên tục cố gắng cải thiện chất lượng sách của mình nhằm có được chỗ đứng trên thị trường.  Thứ ba là chương trình khung và hệ thống thi cử  Sách giáo khoa phải tuân theo chương trình khung, bởi vậy muốn có sách thật hay thì bản thân chương trình khung phải được làm tốt.  Nếu chương trình khung dở thì người viết sách dù tài đến mấy cũng bị “trói chân trói tay” bởi chương trình khung, khó mà viết thật hay được.  Một số biểu hiện của chương trình khung và hệ thống thi cử dở là:  – Không tương thích giữa các môn với nhau và các năm học với nhau.  – Xếp đặt kiến thức một cách tủn mủn và thiếu lô-gic, ví dụ như cho học sinh học thống kê nhưng chỉ học một mẩu con con không ăn nhập vào đâu và không dùng để làm gì.  – Quá cứng nhắc và giáo điều, ví dụ như bắt sử dụng đúng một loại máy tính bỏ túi nào đó, bắt buộc tiết nào phải dạy cái gì theo đúng một trình tự duy nhất, không cho phép có nhiều lựa chọn.  – Kiểu thi khiến học sinh học tủ học vẹt mới đạt điểm cao, còn học lấy kiến thức thực sự vừa mệt hơn vừa có điểm thi không tốt bằng. Khi đó thì sách hay (theo nghĩa truyền đạt tốt kiến thức cơ bản) sẽ bị các sách kiểu học đối phó cho các kỳ thi lấn át, và việc đầu tư vào sách học cơ bản bị giảm đi là tất yếu.  Thứ tư là bộ tiêu chí để đánh giá, thẩm định  Người dùng chính là người đánh giá cuối cùng. Sách nào được người dùng công nhận là hay thì là sách hay. Nhưng trong quá trình viết và thẩm định, cần có bộ tiêu chí tốt để dựa vào đó mà đánh giá, mà chỉnh cách viết sao cho thích hợp.  Trong tháng 11/2016, tôi được TS Chu Cẩm Thơ mời làm một báo cáo seminar về đánh giá sách giáo khoa tại ĐH Sư phạm Hà Nội, với rất nhiều người tham dự, trong đó có cả đại diện của các nhà xuất bản liên quan tới giáo dục và những người từng viết sách giáo khoa. Mọi người bàn luận rất sôi nổi về việc làm sao để có sách giáo khoa hay, và về các tiêu chí đánh giá sách.  Trên thế giới có nhiều bộ tiêu chí, khác nhau về chi tiết (có bộ chỉ có một chục tiêu chí, có bộ ba bốn chục tiêu chí), nhưng khá giống nhau về định hướng. Ví dụ của Hồng Kông:  http://www.edb.gov.hk/en/curriculum-development/resource-support/textbook-info/SelectionCriteria.html.  Việt Nam cũng có thể tạo ra những bộ tiêu chí cho mình dựa trên kinh nghiệm của thế giới (và đã có những người làm chuyện này).  Tiêu chí có thể tự học bằng sách là một trong những tiêu chí quan trọng nhất, đặc biệt trong điều kiện giáo viên còn thiếu thốn (cả về số lượng và chất lượng).  Thứ năm là người viết sách  Không phải ai cứ có cái máy tính, đã học qua cái gì là có thể viết được sách về cái đó. Trên thực tế, tỷ lệ những người viết được sách hay không cao. Phải hội tụ được nhiều yếu tố, và thêm nữa phải có “duyên” viết sách.  Ngay cả các nhà khoa học tài giỏi nhất, viết sách chưa chắc đã hay. Một ví dụ là nhà toán học vĩ đại Kolmogorov, khi viết sách toán cho phổ thông thì bị nhân dân kêu trời vì sách của ông quá hình thức. Những cái ông coi là hiển nhiên, dễ hiểu thì các học sinh bình thường không thấy hiển nhiên, dễ hiểu chút nào.  Tất nhiên nếu bản thân kiến thức nắm còn chưa vững thì viết sách sẽ giáo điều, sẽ không biết được đâu là những điểm chính điểm phụ, cái nào quan trọng cái nào không, không thể hay được.      Tiêu chí có thể tự học bằng sách là một trong những tiêu chí quan trọng nhất, đặc biệt trong điều kiện giáo viên còn thiếu thốn (cả về số lượng và chất lượng).      Một người dù đã viết nhiều sách, nhưng theo lối mòn quen thuộc và không nắm được đủ các tiêu chí của sách hay, không thay đổi cải tiến được theo thời đại, thì tất nhiên cũng khó viết được ra sách mới hay.  Tính cách và thái độ của người viết cũng rất quan trọng. Một bệnh kinh niên mà không ít người Việt mắc phải là làm ẩu làm liều. Chẳng hạn như khi cần ví dụ thực tế minh họa cho sách, thì sẽ bịa số liệu thành ví dụ, thay vì lấy một ví dụ thực sự từ thực tế. Với tính cách như vậy, thì dù có được đầu tư nhiều cũng khó thành sách hay. Trong khi đó, người nước ngoài thường làm việc cẩn thận nghiêm túc hơn nhiều, nên sản phẩm làm ra ắt cũng tốt hơn.  Một số ví dụ sách hay sách dở  Để làm ví dụ tiêu biểu về sách giáo khoa viết hay, có thể lấy bộ sách “Hình học sơ cấp” của Kiselev (sẽ viết tắt là HHSC, gồm hai phần Hình học phẳng và Hình học không gian, đã được dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt, trong Tủ sách Sputnik). Không phải vô cớ mà nó được nhiều chuyên gia đánh giá là bộ sách giáo khoa hình học phổ thông hay nhất trên thế giới được viết trong một thế kỷ qua. Thử điểm qua các tiêu chí đối với sách này:  Về tiêu chí 1, tất nhiên là HHSC thích ứng với chương trình học về hình ở phổ thông. Nó được dùng làm SGK chính thức ở Liên Xô (cũ) trong nhiều thập kỷ. Nó bao phủ toàn bộ chương trình phổ thông hiện tại của Việt Nam về hình học, và còn chứa thêm nhiều kiến thức cũng sơ cấp và hay ho mà học sinh Việt Nam không được học. Nó hoàn toàn có thể dùng thay thế các SGK khác nếu giáo viên và học sinh muốn. Nó cũng có thể dùng để tự học (tiêu chí 25), và trên thực tế nhiều bạn phản hồi là tự học theo sách này rất thích. Nó được các chuyên gia đánh giá là rất chính xác, đơn giản, gọn gàng, và am hiểu vấn đề (các tiêu chí 2, 3, 6, 7, 12). Đặc biệt là độ chính xác về mặt khoa học (ví dụ về việc định nghĩa thế nào là độ dài và diện tích của các hình cong) cao hơn hẳn so với nhiều sách khác.  Các bài tập trong đó giúp đánh giá kiến thức (tiêu chí 17), và cơ bản chứ không mẹo mực, nói chung là không quá khó (tiêu chí 10), v.v. Cách trình bày của sách cũng khuyến khích quan sát và suy nghĩ (tiêu chí 24), ví dụ như phần trình bày song song hai bên giữa các tính chất của đường phân giác và các tính chất của đường trung bình, v.v. Nếu như sách có một “điểm yếu” nào đó, thì có lẽ là sự thiếu vắng các ví dụ từ thực tế hiện đại, vì sách được viết từ cách đây khá lâu (nhưng không có nghĩa là sách không có ví dụ minh họa, và tất nhiên nhiều ví dụ kinh điển cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị).  Ví dụ về sách viết dở, và đi ngược lại một số tiêu chí cơ bản trong các tiêu chí trên, thì rất nhiều. Chẳng hạn như có sách tập đọc mà bắt học sinh lớp một đánh vần toàn những từ vô nghĩa (như vậy là trái với các tiêu chí 5, 10 và 14, vì các từ vô nghĩa đó hoàn toàn xa vời với học sinh, chẳng quen thuộc ngay cả đối với người viết, và làm cho việc học trở nên phức tạp hơn cần thiết). Hay như có sách toán viết: “căn bậc hai của a bình phương thì bằng trị tuyệt đối của a, căn bậc hai của A bình phương bằng trị tuyệt đối của A” (Hai câu giống hệt nhau, chỉ thay a nhỏ bằng A to). Viết như vậy là trái ngược với tiêu chí 7 về sự gọn gàng, làm phức tạp hóa vấn đề (ngược với tiêu chí 6), gây nghi ngờ về sự am hiểu vấn đề của tác giả (tiêu chí 12), có xu hướng khuyến khích học vẹt lặp đi lặp lại thay vì suy nghĩ (tiêu chí 24), v.v. Những sách viết sai mục đích chính của môn học, ví dụ như thay vì dạy “tiếng Anh” (làm sao cho người ta sử dụng được tiếng Anh) thì lại dạy “về tiếng Anh” (mà nhóm Cánh Buồm từng mắc phải: học cao siêu cứ như một nhà nghiên cứu, nhưng học xong vẫn không nói được), thì tất nhiên chẳng thể hay được.  Sách học không chỉ có sách giáo khoa  Có một điểm quan trọng khác mà tôi muốn được mọi người chú ý, đó là sách học không chỉ gồm sách giáo khoa và sách bài tập, mà còn cần được tiếp xúc nhiều hơn nữa các thể loại sách giáo dục khác, ví dụ như: những sách truyện có nội dung khoa học để gợi mở cảm hứng khoa học, sách về ứng dụng của khoa học trong cuộc sống, sách về lịch sử khoa học, sách về các trò chơi và các hoạt động thực hành liên quan đến các môn học, v.v. Trong bài viết trên tạp chí “Tin tức hội toán học châu Âu” (Newsletter of the EMS) số tháng 12/2016 nhan đề “Mang sách toán hay đến cho trẻ em” (Bringing good math books to school chidren), tôi đã nhấn mạnh điểm này, và giới thiệu về Sputnik Education đã cố gắng mang các sách tham khảo hay đến cho học sinh như thế nào. (Xem: http://www.ems-ph.org/journals/newsletter/pdf/2016-12-102.pdf, trang 35-37)  Một ví dụ về sách tham khảo (mà có thể dùng làm sách học lịch sử) rất hay là cuốn “Lịch sử thế giới” (A little history of the world) của E.H. Gombrich, được viết khi ông ta mới 26 tuổi, và về sau in hàng triệu bản trên thế giới. Rõ ràng là ông ta có tài viết sách, biết một cách “bản năng” là cần viết thế nào cho hay, ngay cả các nhà lịch sử học kỳ cựu cũng không được bằng.    Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Đề cương Cải cách giáo dục      Đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.    Từ lâu giáo dục đã trở thành chỗ nghẽn lớn nhất trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy cải cách giáo dục toàn diện và triệt để theo tinh thần các nghị quyết của TƯ là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.  Sau đây là bản kiến nghị đề cương cải cách giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong vài mươi năm tới. Bản đề cương gồm ba phần chính:   I.    Quan điểm tổng quát, cũng tức là triết lý cơ bản của giáo dục mới.  II.    Những vấn đề chính và cấp bách cần giải quyết.  III.     Lộ trình và tổ chức thực hiện.  I.    Quan điểm tổng quát              Đây có thể coi là vấn đề của mọi vấn đề, nó là cái gốc chi phối từ sứ mạng, phương châm cho đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục.  Trong thế giới hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng gay gắt cho mọi dân tộc, nếu ta chỉ muốn xây dựng giáo dục theo con đường riêng của mình, thì dù với những lý tưởng đẹp đẽ và dân khí rất cao như trong thời hoàng kim của cách mạng, sớm muộn chúng ta cũng không tránh khỏi bị đào thải trong cuộc cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Huống hồ sau 1975 đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, có biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp trước đây chưa bao giờ gặp. Hơn nữa sau khi giành được độc lập, thống nhất, ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh cả nhân loại chuyển lên nền văn minh trí tuệ. Nhiều cơ hội mới mở ra  từ đây cho những dân tộc giàu tiềm năng như chúng ta, đồng thời đất nước cũng đối mặt với những thách thức to lớn không dễ gì vượt qua nếu không đủ dũng khí chia tay với những tập quán, cách suy nghĩ, làm ăn, ứng xử, từng là nếp sống quen thuộc một thời.    Cho nên ngày nay hơn bao giờ hết, không gì cản trở sự tiến bộ của xã hội hơn thái độ đóng kín, thiếu cởi mở với cái mới, e ngại thay đổi, chủ quan tự mãn, không muốn, không dám nhìn thẳng vào những yếu kém của mình mà chỉ say sưa tự ru ngủ với quá khứ vẻ vang và tự dối mình bằng những thành tích tưởng tượng hoặc giả tạo.     Có thể nói đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn còn giữ khá nhiều quan niệm cổ hủ thời phong kiến nho giáo, thậm chí thời trung cổ Châu Âu. Nặng tính giáo điều kinh kệ, nhằm biến con người thành một phương tiện – dù là phương tiện để thực hiện những lý tưởng cao quý – hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực tế để nhận rõ những hệ luỵ tiêu cực của tình hình đó đối với tương lai dất nước. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng cứ áp đặt một ý thức hệ định sẵn vào nội dung và phương pháp giáo dục thì sẽ đào tạo được những con người khuôn theo ý thức hệ đó. Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.   Lịch sử các nước Phương Tây cho thấy chỉ sau khi thế tục hoá nhà trường, tách nhà trường ra khỏi Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo thì khoa học, kỹ thuật hiện đại  mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời Nhà Thờ không vì thế mà mất vị trí tinh thần của nó trong xã hội. Đối với chúng ta, mà mục tiêu tối thượng của dân tộc là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tưởng cũng cần một giải pháp tương tự cho giáo dục mới có thể mở đường chấn hưng đất nước. Cuộc sống từ lâu đã đòi hỏi nhà trường phải thoát khỏi chế độ bao cấp tư tưởng với những ràng buộc giáo lý cứng nhắc đang có tác dụng kìm hãm thay vì khai sáng trí tuệ 1. Thay vào đó, cần đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, như trong mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới. Đó mới chính là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực.  Bằng không, nếu chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn thì cái mục tiêu ấy mãi mãi xa vời. Bởi lẽ trong một thế giới, một thời đại, đầy biến chuyển khó lường mà thế hệ chúng ta đang trải qua, mọi khuôn mẫu đúc sẵn đều không thể thích nghi được.  Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì đường lối kinh tế tập trung bao cấp và tiếp tục dị ứng với cơ chế thị trường như hồi 1968, khi đó VN đã cùng với cả phe xã hội chủ nghĩa lên án mạnh mẽ chủ nghĩa xã hội thị trường Tiệp Khắc 2 , thì không biết điều gì đã xảy ra.  May thay, nhờ nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân, chúng ta đã kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội và đã có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trường ngày nào đã bị chúng ta bác bỏ. Đường lối đổi mới nhờ thế đã ra đời, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền. Đó là bài học sâu sắc.   Ngày nay, sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.   Đương nhiên đây là công việc không hề dễ dàng vì phải đoạn tuyệt với nhiều quan niệm, cách sống và nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ từ thời chiến đấu giành độc lập thống nhất. Nhưng là giải pháp trước sau gì cũng phải làm, mà càng để chậm trễ thì đất nước càng hụt hơi, càng bị cô lập và khó thích ứng kịp với những biến chuyển bất ngờ trong thế giới văn minh ngày nay.   II. Những vấn đề chính cần giải quyết trong cuộc cải cách giáo dục         Sau khi đã xác định quan điểm tổng quát về sứ mạng cơ bản của giáo dục, mọi vấn đề cụ thể về tổ chức giáo dục,  nội dung chương trình học các cấp,  phương pháp giáo dục, v.v .  đều phải xem xét giải quyết trên cơ sở quan điểm đó. Bản đề cương này không đi sâu vào các vấn đề cụ thể có tính chất kỹ thuật là phần việc của các chuyên gia sau này mà chỉ tập trung nêu lên những định hướng lớn làm nền tảng và khuôn khổ giải quyết các vấn đề cụ thể ấy.         Có 4 vấn đề lớn sau đây cần cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới văn minh.         Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.          1. Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.    Có thể nói chính sách đối với người thầy là một trong những điểm khác biệt cơ bản của giáo dục VN so với thế giới và là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất làm tha hóa giáo dục.   Có một nhà khoa học lớn nước ngoài tâm huyết với VN khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở VN từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học, trái hẳn với chủ trương tôn vinh nhà giáo đã được lãnh đạo khẳng định lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần suốt thời gian qua.  Với đồng lương thấp đến mức khó tưởng tượng, đương nhiên nhà giáo và các quan chức giáo dục đều phải xoay xở để kiếm thêm thu nhập. Chính đó là cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết các căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục 3.  Chúng ta nói nhiều đến bệnh giả dối, gian trá,  thành tích ảo, v.v. nhưng làm sao chống được các bệnh ấy để có một nền giáo dục trung thực, lành mạnh, nói chi đến hiện đại, nếu cái nguyên nhân gây ra các bệnh ấy nằm ngay trong cơ chế, nói cách khác nằm ngay trong khuyết tật hệ thống của giáo dục ?  Sự thật, nhờ xoay xở đủ mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, hợp lý hay trái với lương tâm, phần lớn nhà giáo, nhất là quan chức giáo dục, nay đã có mức sống không đến nỗi quá tệ, thậm chí một bộ phận nhỏ còn có thu nhập khá. Song cái giá phải trả thật quá đắt. Những giải pháp chữa cháy gần đây theo kiểu “kế hoạch 3” hồi những năm 80 thế kỷ trước, hay cho phép nhiều cơ sở giáo dục vượt rào để xử lý từng trường hợp riêng lẻ về lâu dài rất  nguy hiểm, chỉ gây thêm rối loạn, dẫn đến bất công và tiêu cực ngày càng tệ hại hơn.    Điều không may là giải quyết vấn đề cốt tử này cực kỳ khó vì căn bệnh từ lâu đã thành một thứ ung thư của cả xã hội, chứ không riêng gì của giáo dục, lại gắn liền chặt chẽ với quốc nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng chóng mặt.  Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng dù trong phạm vi cả nước còn khó khăn thì ngay trong nội bộ ngành giáo dục, vẫn có thể  rà soát lại cơ chế tài chính, kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và dần dần trở thành thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục.        Trong một xã hội mà đời sống kinh tế bị thao túng nặng nề bởi các “nhóm lợi ích”, ai cũng thấy đây là việc vô cùng khó, tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại cực kỳ lớn. Biết thế, song giáo dục là lĩnh vực cần bảo vệ trong sạch nhất, nếu không cương quyết làm bây giờ mà cứ trì hoãn mãi thì sẽ ngày càng khó hơn và sẽ chẳng bao giờ có hy vọng trả lại lòng tự trọng cho giáo dục, chẳng bao giờ xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại.   2. Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề   Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn.  Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành ghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng  chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.    Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.         Muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng.          Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hoá cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này.  Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng.  Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì  học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết  tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT 4.   3. Thay đổi căn bản cung cách học và thi, xoá bỏ thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả    Đồng thời với cải tổ hệ thống giáo dục, thì cách học, cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi tận gốc. Đặc biệt cần đổi mới căn bản tư duy thi tốt nghiệp và tuyển sinh. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc ngay môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại từng môn, từng học phần nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích chủ yếu kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát (giống như kiểm tra chất lượng lắp ráp các môđun trong nhà máy). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ.  Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt 4.       Cách học và thi như thế khác hẳn cách học và thi hiện nay là dồn tất cả sự kiểm tra vào cuối cấp trong một kỳ thi tốt nghiệp mà nhiều người cho là thi vờ vì chỉ để loại vài phần trăm thí sinh, là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ.  Có ý kiến cho rằng tuy thi vờ nhưng là cần thiết vì tâm lý học sinh là có thi thì mới học tử tế5.  Té ra là vậy: đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. Cùng một luồng ý kiến đó nhiều quan chức giáo dục cho rằng trong điều kiện hiện thời, thầy cô giáo chịu quá nhiều áp lực không lành mạnh từ phía xã hội nên rất khó bảo đảm việc học và thi nghiêm túc từng môn, từng học kỳ, ở từng lớp, từng địa phương được. Cho nên không còn cách nào khác là phải thi tôt nghiệp, dù chỉ là thi vờ.  Nói thế khác nào bảo một nền giáo dục trung thưc là ngoài tầm với của xã hội ta hiện nay – thật lạ lùng và xót xa, vì một nền giáo dục trung thực đâu có gì quá khó, nó đã từng có ở cả hai Miền Bắc và Nam suôt từ 1945 đến 1975. Một ý kiến xác đáng hơn là quy một phần nguyên nhân phát triển gian trá trong thi cử là do chương trình quá nặng, mà thi tốt nghiệp lại quá căng thẳng: thi viết gần hết các môn trong thời gian chỉ mấy ngày, tiềm ẩn rủi ro học tài thi phận, khiến một số học sinh dễ nảy ra tư tưởng đối phó bằng thủ đoạn gian dối, cầu cứu đến cả sự giúp sức của phụ huynh và thầy cô giáo. Đúng là chương trình quá tải cũng là một vấn đề, nhưng không thể giảm tải theo kiểu cắt giảm lung tung như chúng ta đã làm lâu nay mà chủ yếu phải cải tổ cả hệ thống giáo dục phổ thông như đã trình bày ở trên, chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông lại quá nhẹ với số có khả năng. Đông thời để bảo đảm tính trung thực, trước hết phải thực hiện kiểm tra, thi học kỳ nghiêm túc, nghĩa là trung thực, ngay từ những lớp nhỏ nhất chứ không đợi đến cuối cấp. Khi đó mới có thể thi tốt nghiệp nhẹ nhàng, chỉ cốt để kiểm tra chất lượng tổng hợp, tức là trình độ văn hóa phổ quát, hoặc thậm chí chỉ xét kết quả học tập theo học bạ để cho tốt nghiệp mà không phải thi.  Điều quan trọng ít người chú ý là lối thi tôt nghiệp và tuyển sinh như hiện nay tạo ra áp lực tâm lý và tinh thần rất lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Trong một xã hội mà xung quanh quá nhiều dối trá, rất hiếm trung thực, nếu đặt thiếu niên trước những thử thách trung thực quá sức thì cũng chẳng khác nào đưa trẻ ra phơi nhiễm giữa một vùng đang dịch bệnh, làm sao trẻ tránh không bị nhiễm. Cho nên chẳng lạ gì kỳ thi nào cũng có chuyện quay cóp, gian dối, mà những chuyện đã bị phanh phui chỉ là phần nổi của tảng băng. Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.   4. Chuyển mạnh giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về cả nội dung, phương pháp và tổ chức quản lý   Chỉ nhìn qua hệ thống đại học VN hiện nay cũng đã thấy cảnh tượng lộn xộn, rất khác mọi nơi trên thế giới: trường nào, kiểu gì, cũng gọi là đại học, trong một đại học lại có thể có nhiều đại học thành viên, dịch ra tiếng Anh tất cả đều là university, không phân biệt university với school, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu 6. Đành rằng đây chỉ là vấn đề tên gọi, nhưng nó cũng phản ảnh một nét riêng “không giống ai” của đại học VN. Đi sâu hơn vào hoạt động cụ thể của đại học càng thấy rõ sự tụt hậu  bắt nguồn từ lối suy nghĩ chủ quan tự cho mình có thể tự biên tự diễn, bất chấp thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Cho nên muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng. Chúng ta đang rớt lại sau đuôi thiên hạ, tại sao cứ muốn làm độc đáo, khác người để mãi mãi thất bại ? Ngay đến một nước có truyền thống khoa học, giáo dục lâu đời như Pháp mà cách đây 30 năm khi đánh giá nền đại học lúc ấy của họ nhà khoa học lỗi lạc Pháp L. Schwartz  cũng đã từng lên tiếng: “nếu Pháp là nước duy nhất trên thế giới còn muốn giữ lại mãi một số quan niệm cũ về giáo dục đại học thì hoặc chúng ta đúng và nền đại học của ta phải là tiên tiến và được ngưỡng mộ nhất thế giới – điều rõ ràng không phải vậy – hoặc chúng ta sai và cần phải thay đổi.” Cho hay yêu cầu cùng đi con đường chung với cả thế giới không phải chỉ đặt ra cho các nước kém phát triển.  Cái khó là trước đây hệ thống giáo dục đại học của ta phỏng theo mô hình giáo dục đại học Liên Xô cũ. Đến khi nhận rõ mô hình đó không còn thích hợp mà phải thay đổi theo yêu cẩu  mới của công cuộc phát triển đất nước, ta lại không có những nhà quản lý đủ hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết và nắm vững tính hệ thống nên cứ thay đổi nham nhở, chắp vá, cuối cùng biến giáo dục đại học thành một hệ thống đầu Ngô mình Sở, chẳng giống ai cả. Đã thế mà từ 2006  lại mạo hiểm lao theo chiến lược tân tự do trong phát triển giáo dục, cổ suý giáo dục là hàng hóa, phát triển mạnh trường tư vị lợi, cổ phần hóa đại học công, v.v. 7 Trong khi đó, mọi vấn đề từ chế độ tiền lương, chính sách sử dụng tài năng, từ việc đào tạo sau cử nhân, phương thức đào tạo liên ngành, cho đến tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, bảo đảm tự chủ đại học, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, tự do học thuật, tất cả đều ở trạng thái cổ hủ, lạc hậu. Chẳng khác nào đường sá thì lầy lội gồ ghề, đầy ổ trâu ổ gà, lại chủ trương nhập xe hơi xịn phóng nhanh cho oai.  Chính cái tâm lý chưa biết đi đã đòi chạy, cái lối học kinh nghiệm thế giới theo kiểu thầy bói sờ voi đó là nguồn gốc tất cả những yếu kém, khó khăn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam dù đã tốn không ít công sức xây dựng qua mấy thập kỷ.   Công bằng mà nói, từ vài năm lại đây, sau nhiều bài học thất bại, nhận thức cũng đã có ít nhiều thay đổi, nhờ đó đã có những cố gắng tich cực hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, do sức ỳ quán tính của bộ máy quản lý còn nặng, do tư duy vẫn luẩn quẩn trong những giáo điều dai dẳng và những ràng buộc thể chế ngặt nghèo. Rõ nhất là về mục tiêu, sứ mạng đại học, về phương thức đào tạo, về quyền tự chủ đại học và tự do học thuật, nghĩa là về các vấn đề then chốt nhất của đại học hiện đại, quan niệm chung của chúng ta còn rất mơ hồ, lệch lạc, có mặt lạc hậu nửa thế kỷ.    Cho nên thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay là hiện đại hóa đại học, đưa đại học hội nhập thật sự vào con đường phát triển chung của thế giới. Hãy dứt khoát rủ bỏ những gì lạc hậu, trì trệ còn níu kéo chúng ta để chuyển mạnh theo mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ là mô hình được thừa nhận tiên tiến và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Có thể nói thành bại của cuộc cải cách giáo dục một phần quyết định tùy thuộc tiến trình hiện đại hóa đại học này.   III.  Lộ trình và tổ chức thực hiện   Cải cách giáo dục cần phải được thực hiện kiên quyết, khẩn trương, nhưng không vội vã.  Sau khi Trung Ương và Quốc Hội thảo luận và thông qua đề cương cải cách nêu lên phương hướng chính cùng với những khâu mấu chốt cần giải quyết trong cải cách, thì cần thành lập Ủy Ban Quốc Gia Chỉ Đạo Cải Cách Giáo Dục, bao gồm những người có năng lực và có tâm huyết, vừa có tầm nhìn vừa thật sự quan tâm, lo lắng cho giáo dục.  Ủy ban này sẽ vạch ra lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể để có thể hoàn tất công cuộc cải cách sau khoảng một thập kỷ. Trước mắt để thực hiện được cải cách ở những khâu cấp bách phải tổ chức nghiên cứu  những vấn đề cụ thể như chương trình và sách giáo khoa cho các cấp phổ thông, phương pháp giảng dạy ở các cấp, đổi mới thi cử, v.v. theo quan điểm tư duy mới. Biết rằng trong hiện tình đất nước có vô vàn khó khăn, nhưng đây cũng là thời cơ để giáo dục có thể lột xác, từ một kiểu giáo dục nặng tính giáo điều, lạc hậu và lạc điệu với thời đại và thế giới, tiến lên một nền giáo dục khai sáng, lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp xu thế tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng lợi ích tối cao  của đất nước.    ———-   Chú thích:    1 : Một trong những nguyên lý bất khả tranh luận chỉ đạo nền giáo dục trước đây một thời là  giáo dục phải tuyệt đối phục tùng chính trị, trong nhà trường chính trị là thống soái, trong hai vế “hồng” và “chuyên” thì “hồng” là tiên quyết. Mặc dù qua cọ xát thực tế nguyên lý ấy đã buộc phải nới lỏng nhiều, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng đậm nét trong nhiều khâu quan trọng về nội dung, phương pháp giáo dục, về rèn luyện đạo đức, về cách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, cất nhắc cán bộ.  2 : Do Dubcek, nhà lãnh dạo Tiệp Khắc khi ấy, khởi xướng. Ông này sau đó đã bị lật đổ trong một cuộc can thiệp quân sự mạnh mẽ của Liên Xô mà hồi ấy cả khối xã hội chủ nghĩa đều ủng hộ.   3 : Cái phần thu nhập thêm ngoài lương đó thật ra cũng từ ngân sách hoặc từ đóng góp của người học, nhưng bắt buộc nhà giáo phải mất sức làm thêm nhiêu việc không hợp lý (chủ yếu là dạy thêm, dưới nhiều hình thức). Thành ra  thay vì trả lương đủ một cách đương hoàng thì người ta  chia lương ra thành hai phần:  một phần nhỏ, goi là lương chính thức, quy định chặt chẽ, còn phần kia (cũng từ ngân sách hoặc đóng góp của dân)  thì tùy thuộc sự xoay xở của mỗi người – chức càng cao khả năng và phạm vi xoay xở càng lớn.     4 : Gần đây có nhiều ý kiến đề nghị rút thời gian trường phổ thông xuống còn 11 năm. Theo tôi điều này chỉ đặt ra với trường phổ thông được quan niệm như hiện nay là học thẳng một mạch, tôt nghiệp thì ra đời hoặc học lên đại học. Với trường phổ thông quan niệm như vậy sẽ không tránh khỏi hai bất cập lớn của trường phổ thông hiện nay như trên đã phân tích (chỉ có khác là 11 năm thay vì 12 năm).  Còn để có học vấn phổ thông phổ cập khi ra đời thì chỉ cần 9 năm THCS như đề nghị của chúng tôi là đủ, sau đó hoặc học trung học hướng nghiệp, hoăc trung học phổ thông để chuẩn bị đầu vào đại học.  5: Để biện minh chủ trương duy trì thi tốt nghiệp THPT một số quan chức giáo dục thường viện lẽ trên thế giới bất cứ nước nào cũng có thi tốt nghiệp. Đây là thông tin sai, nhất là nếu hiểu thi tôt nghiệp là thi theo kiểu ta. Nhân đây tôi nhớ lại khi bàn về phân ban ở THPT trước đây 8 năm một số người muốn bênh vực cách  phân ban cứng nhắc của ta thường viện dẫn lý do phần lớn các nước trên thế giới đều làm như vậy, thậm chí còn dẫn ra ở Thụy Điển THPT có đến cả vài chục ban. Hỏi ra mới biết đó là do hiểu sai cách tổ chức học ở THPT Thụy Điển và nhiều nước khác.  6 : Trươc kia ở Miền Bắc, theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ Đại học Tổng hợp mới dịch là University, cho nên Hanoi University là dịch tên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nay có Đại Học Hà Nội mới mở, cũng gọi là Hanoi University nhưng hoàn toàn không liên quan với Đại học Tổng hợp xưa.  Thật là rối.   7: Một nét khác biệt, không giống ai cả, của đại học công lập VN là bên cạnh hệ chính quy, còn có hệ “ngoài ngân sách”,  học phí cao của sinh viên hệ này dùng để tăng thu nhập cho thầy  dạy, bù vào lương chính thức quá thấp. Đây thực chất không khác gì  một loại trường tư trá hình, ghép vào trường công để sử dụng phương tiện của trường công. Nếu kể càc hệ này là ngoài công lập thì thật ra tỉ lệ sinh viên ngoài công lập ở VN phải đến 60-70% chứ không ít hơn,  Ở nhiều nơi số sinh viên tuyển vào hệ này xấp xỉ số sinh viên chính quy, tạo ra một nguồn thu nhập khá  cho thầy dạy, với cái giá phải trả là tăng gấp đôi hoặc hơn số giờ dạy cho các thầy, vừa hạ thấp chất lượng đào tạo ngay trước mắt, vừa khiến cho thầy dạy không còn thì giờ nghiên cứu khoa học hoặc học thêm nâng cao trình độ. Số này sau một số năm như vậy, nếu có được cử đi du học thì sức bật cũng không còn nhiều, còn nếu cứ tiếp tục ở lại trường thì ngày càng đuối sức so với yêu cầu, không theo kịp được đà tiến nhanh của khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng về lâu dài.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để học sinh an vui đến trường      Trong khi đã có nhiều nghiên cứu cho thấy môi trường học tập gây nhiều áp lực căng thẳng cho học sinh nhưng lâu nay chúng ta ít nhắc tới việc thay đổi một vấn đề cốt lõi, đó là chất lượng đời sống học đường mà chúng ta có thể gọi tên là sự “an vui học đường”.      Nguồn ảnh minh họa : dangcongsan.vn  Trước Covid-19, chất lượng cuộc sống học đường đã là một chủ đề nghiên cứu của giới học thuật và giới làm chính sách cũng như những quản lý giáo dục ở nhiều quốc gia. Trong 17 Mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc đến năm 2030, sức khỏe và an vui đứng vị trí thứ ba. Năm 2015, PISA (Programme for International Student Assessment) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã dành hẳn một báo cáo đánh giá về sự an vui của học sinh ở bốn lĩnh vực: kết quả học tập, quan hệ với giáo viên và bạn học, đời sống gia đình, và các hoạt động ngoại khóa. Chúng ta đang bắt đầu bước vào giai đoạn hậu Covid-19 sau một thời gian dài học sinh và giáo viên gặp nhiều khó khăn, căng thẳng do giãn cách, do học trực tuyến thì an vui học đường chắc chắn phải được quan tâm đặc biệt hơn và thậm chí phải đổi mới để tiếp tục thích ứng với tương lai còn nhiều bất định.     “An vui” đến từ tâm lý học tích cực     Có một phân ngành tâm lý học mới mang tên tâm lý học tích cực bắt nguồn từ các ngành triết học hiện sinh, tâm lý học nhân bản và tâm lý học xã hội1. Phân ngành này giúp chúng ta hiểu được sự vận hành tối ưu của một cá nhân, kích hoạt những tiềm năng và nguồn lực bên trong và bên ngoài, từ đó để cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần. Mô hình PERMA của Martin Séligman, cha đẻ của tâm lý học tích cực, có thể được ứng dụng dễ dàng vào môi trường giáo dục và học đường thông qua năm yếu tố sau:    – Cảm xúc tích cực (Positive emotions): là khả năng nhìn nhận quá khứ, hiện tại và tương lai trong một viễn cảnh tích cực, nghĩa là, giúp học trò phát triển mối liên hệ mang tính xây dựng với việc đánh giá học lực, với những điểm mạnh, điểm yếu, hay sai lầm của bản thân.    – Cam kết (Engagement): khơi gợi, động viên học trò chủ động tham gia các hoạt động trong và ngoài buổi học.    – Quan hệ tích cực  (Relationships): nghĩa là chất lượng của các mối quan hệ giữa học trò với nhau phải được gây dựng dựa trên sự đoàn kết, hợp tác, tương trợ, đồng cảm, giữa học trò với giáo viên.    – Ý nghĩa cuộc sống (Meaning): là ý thức và mong muốn thường trực cải thiện đời sống học đường và luôn thống nhất giữa hệ giá trị và hành động.    – Thành tựu (Achievement): ý thức vượt lên chính mình, phấn đấu trong học tập.      Mô hình của Konu và Rimpelä (2002).  Trên phương diện xã hội học, công trình của hai nhà nghiên cứu Konu và Rimpelä (2002) đã đưa ra mô hình về an vui học đường bao gồm các chỉ số chia thành bốn loại như sau: điều kiện học hành (Having), quan hệ xã hội (Loving), hoàn thiện bản thân (Being) và tình trạng sức khỏe (Health). Căn cứ vào mô hình này, các nhà quản lý có thể đánh giá được tình trạng hay mức độ của chất lượng cuộc sống nơi trường học nói chung hay an vui học đường nói riêng tại cơ sở giáo dục của mình hay của cả nền giáo dục quốc gia.     Đánh giá “An vui học đường”: định tính hay định lượng?     Để đánh giá được an vui học đường, các nhà quản lý và nhà trường phải nhìn nhận ở bốn phương diện như sau:    – Thể chất (tiến hành đều đặn các hoạt động thể chất).    – Xã hội (mối tương tác với giáo viên và bạn học, cảm giác được là thành viên của cộng đồng).    – Tâm lý (các chủ thể trong môi trường giáo dục có cảm giác an toàn trong các mối quan hệ trong môi trường học đường, hài lòng về đời sống học đường).    – Nhận thức (cảm nhận có năng lực, học tập hiệu quả).    Thông qua bốn phương diện đó, học sinh và giáo viên cảm thấy an vui khi được:    – Tôn trọng và hài lòng về những nhu cầu tâm lý căn bản như cảm thấy an toàn, được công nhận, được lắng nghe, được yêu mến, công bằng.    – Tôn trọng những quyền căn bản: quyền được bảo vệ chống mọi hình thức phân biệt đối xử, quyền tự do thông tin, quyền biểu đạt và tham dự.    – Khả năng biểu đạt cảm xúc và tình cảm khi những nhu cầu hay quyền trên không được tôn trọng.    Từ một thập kỷ trở lại đây, hai ngành khoa học thần kinh cảm xúc và khoa học thần kinh xã hội đã minh chứng cho chúng ta thấy tác động vô cùng quan trọng của thái độ khoan dung (benevolence, bienveillance) trong môi trường giáo dục. Thái độ này biểu hiện ở khả năng của học sinh biết điều tiết cảm xúc trong các mối quan hệ tại trường học (với giáo viên, nhân viên, bạn học), biết thể hiện sự cảm thông với người khác, biết giải quyết các tranh chấp hay mâu thuẫn một cách có trách nhiệm.  Đề xuất tập huấn cho giáo viên, nhân viên ở khối trường phổ thông và mầm non  – Cung cấp và cập nhật kiến thức nghiên cứu khoa học về cảm xúc, trí thông minh cảm xúc, thần kinh học.  – Tổ chức những buổi phân tích thực hành nghiệp vụ thông qua câu chuyện, trải nghiệm, buổi học có ghi hình của giáo viên.  – Tổ chức thường kỳ (theo học kì hay theo tháng) các phiên khai vấn (school coaching) là khoảng không gian- thời gian lắng nghe, quan sát và trao đổi, sẻ chia giữa giáo viên với nhau hoặc giữa giáo viên với nhân viên nhằm giải phóng cảm xúc, giúp cho việc dạy trong lớp và quản lý nhà trường được thuận lợi.     Thầy và trò: vòng tròn thiện tâm     Người lớn, là phụ huynh và giáo viên, đều hiểu rằng niên thiếu là quãng tuổi đầy khó khăn và khó hiểu của học sinh, do những thay đổi về tâm sinh lý khiến cho tính cách, tâm lý, hành xử cũng biến đổi theo từng tháng, từng năm. Người lớn phải biết tạo ra những điều kiện, môi trường, thái độ, thậm chí cả chiến thuật để giúp học sinh cảm thấy bình an trong hành trình trưởng thành của mình.    Chúng ta vừa nhắc đến sự khoan dung cần tạo ra cho học trò, thì người lớn chúng ta cũng phải biết cách thể hiện sự khoan dung, thiện tâm của mình trước học sinh. Điều này được thể hiện ở nhiều chiều kích: quan tâm và lắng nghe, không phán xét và phê bình, giữ lời hứa và đồng hành, trợ giúp việc học hành… Những điều này giúp tạo dựng cho học trò sự tự tin, tự trọng, ý thức cố gắng phấn đấu, từ đó rèn luyện những kỹ năng tâm lý xã hội, là điều thiết yếu giúp người học sinh hôm nay công dân tương lai hòa nhập vào một xã hội ngày càng phức hợp và đa diện.    Nếu quan sát trong khuôn khổ học đường (lớp học), chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của chất lượng giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, nó tác động hoặc tiêu cực hoặc tích cực đến khả năng tiếp thu kiến thức, thái độ của học sinh. Sự giao tiếp này biểu hiện ở ba cấp độ: ngôn (chú trọng đến việc dùng câu, từ), phi ngôn (cử chỉ, điệu bộ, tư thế) và cận ngôn (giọng điệu, ngữ điệu, lưu lượng, âm lượng lời nói). Ba phương diện giao tiếp này tác động trực tiếp đến thái độ và nhu cầu về sự an toàn và niềm tin ở học sinh.    Có ba thời khắc khá tế nhị trong quá trình giảng dạy đứng lớp của giáo viên, đó là khi:    – Một học sinh thể hiện thái độ phản kháng (từ chối hay phản đối) trước một yêu cầu nào đó đến từ giáo viên    – Giáo viên đánh giá trình độ, học lực, ý thức học tập của học sinh    – Giáo viên phải thể hiện cái uy của người lớn      Các nước OECD đã đưa ra nhiều giải pháp để cải thiện “an vui học đường” theo từng năm.   Đó cũng chính là lúc các giáo viên phải hết sức tỉnh táo kiểm soát bản thân và điều tiết, kiểm soát tình huống giao tiếp với học sinh sao cho tiêu chí đạo đức (ethic), bao dung và thiện tâm được coi là kim chỉ nam.    Khuyến khích và thúc đẩy an vui học đường có thể được tiến hành ở hai cách thức: một mang tính cá nhân (chăm sóc thường xuyên xúc cảm và thái độ của từng học sinh và giáo viên) và một mang tính tương tác (chăm chút cho chất lượng quan hệ giữa học sinh và giáo viên). An vui là một phương tiện, điều kiện để đạt được chất lượng học tập ngày càng tốt hơn, phát huy sự nỗ lực, kiên trì, óc sáng tạo và vượt lên chính mình ở người đi học.     Có cần một chính sách cho toàn bộ nền giáo dục?     Câu trả lời là có! Nền giáo dục của các nước phát triển, đặc biệt thuộc khối OECD, đã thi hành các biện pháp và cải thiện theo từng năm học. Khái niệm “an vui” được hiểu và quan tâm một cách khác nhau ở sáu quốc gia Úc, Tây Ban Nha, Mỹ, Phần Lan, Pháp và Anh. Trong đó, Phần Lan thực sự coi an vui vừa là mục đích giáo dục rõ ràng vừa là điều kiện giáo dục ở cấp quốc gia. Ở năm quốc gia còn lại, an vui được lồng vào các khái niệm khác như sức khỏe học đường, không khí học đường, an toàn, chất lượng cuộc sống, hay phân biệt đối xử… Tuy nhiên, các phương pháp tiếp cận tổng thể (whole school) cũng như các chương trình (curriculum) hướng đến giáo dục cảm xúc và kỹ năng xã hội (Social and Emotional Learning, Personal Social and Health Education) đều trở nên rất phổ biến.    Việt Nam chưa có hẳn một chính sách tầm quốc gia cho nền giáo dục phổ thông về an vui học đường. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam không quan tâm đến chủ đề này. Một vài tổ chức như HEARY – Positive Education Center, Wellbeing, ARNEC, Faros… đã tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho giáo viên và phụ huynh. Một số cơ sở giáo dục mầm non hay một vài trường quốc tế tại Việt Nam cũng bắt đầu giảng dạy cho học sinh (British International School Hanoi, Brendon Văn Hiến School, Bilingual Canadian International School…).    Nếu như chưa có chính sách từ Bộ Giáo dục và Đào tạo thì các nhà trường vẫn có thể dựng nên một bản đồ chiến lược tổng thể ở cấp cơ sở. Một cách lý tưởng, nội dung chương trình nên xuyên suốt từ lớp 1 đến (ít nhất là) lớp 9. Một cách tổng quát, đầu tiên, an vui phải hướng đến từng đối tượng sau, và một cách độc lập, là học sinh và giáo viên (đối tượng thứ ba sẽ là nhân viên), tiếp theo, hướng đến mối tương tác giữa hai đối tượng quan trọng này, sau đó, hướng đến không khí học đường, trang bị và cơ sở vật chất của nhà trường.    – Hướng đến học sinh: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, kỹ năng giao tiếp ứng xử tôn trọng lẫn nhau, đặt trọng tâm vào tinh thần tự học, động lực học và niềm vui học tập    – Hướng đến giáo viên: cập nhật kiến thức, tập huấn nâng cao kỹ năng đối thoại với học sinh  – Trang bị từ nhà trường: cơ sở vật chất thể hiện ở vệ sinh, an toàn, ăn uống…, tạo nên không khí lắng nghe thân thiện, giảm tối đa bạo lực từ lời nói đến hành động    Điều quan trọng là nhà trường đừng gò bó mình vào một khuôn khổ, hình mẫu hay vài tiêu chí mà nên điều chỉnh, thích nghi các biện pháp, và tiến hành khảo sát ý kiến thường kỳ (theo học kỳ hay năm học) từ giáo viên, phụ huynh và học sinh. □  Sáu biện pháp cho giáo viên thực hành để cải thiện an vui cho học sinh, ngay trong lớp học hay ở những giờ ngoại khóa:  1. Thực hành phương pháp giao tiếp không bạo lực (Nonviolent Communication): là cách thức giao tiếp khoan dung dựa vào sự đồng cảm, thấu cảm và không phán xét để tạo nên một không khí bình an.  2. Thiết kế những khoảng thời gian tĩnh: ví dụ sau mỗi giờ ra chơi, để chuẩn bị cho học sinh tập trung quay vào bài học, giáo viên có thể sử dụng những bài tập thở yoga, thiền… trong khoảng 10 phút.  3. Sáng kiến những vật dụng giúp học sinh tự đối thoại với bản thân: đó có thể là sổ tay cá nhân (học sinh hằng ngày có thể viết vẽ bộc lộ cảm xúc suy nghĩ tâm trạng, sử dụng viết như một liệu pháp tinh thần giải tỏa và giải phóng); phong bì hạnh phúc và kỉ niệm (là những tranh, ảnh, thiếp hoặc vật dụng nhỏ mỏng mà các học sinh bỏ vào phong bì để lưu giữ kỉ niệm) ; hay hộp giải stress (trong đó cất những vật dụng cá nhân giúp các bé mẫu giáo được cầm giữ mỗi khi mệt, sợ hoặc buồn trên lớp).  4. Đề xuất những giải pháp giải quyết các mâu thuẫn thông qua các bài tập, kỹ năng đối thoại giữa hai học sinh đang gặp mẫu thuẫn với sự xuất hiện của giáo viên như “trọng tài” để phân tích và giải quyết tình huống một cách khách quan.  5. Khuyến khích các hoạt động hợp tác nhằm mục đích không cạnh tranh hay tranh giành thắng thua, đặc biệt dễ thực hiện trong những bài tập như vẽ, thủ công hay nghệ thuật thị giác trong đó mỗi học sinh đóng góp một phần việc để tạo nên một tác phẩm tập thể.  6. Rèn luyện học sinh điều tiết cảm xúc và giảm stress: ví dụ biết gọi tên những nỗi sợ, lo âu, tìm hiểu nguyên nhân của những cảm xúc tiêu cực, hay tập những bài tập thể chất (thở, đi bộ, tĩnh tâm…) để điều tiết.  —–  1 Ra đời vào năm 1998 thông qua bài diễn văn của Martin Seligman, Chủ tịch Hội Tâm lý học Mỹ, nhân Hội nghị thường niên của Hội này.  Tài liệu tham khảo  Konu, A., Alanen, E., Lintonen, T. et Rimpelä, M. (2002). Factor structure of School Well-being Model. Health Education Research, 17(6)  Konu, A. et Rimpelä, M. (2002). Well-being in schools: a conceptual model. Health Promotion International, 17(1)  Báo cáo khoa học “Chất lượng đời sống ở trường học” (CNESCO, 2017) http://www.cnesco.fr/fr/qualite-vie-ecole/  Nguyễn Thụy Phương, Báo cáo “Chất lượng cuộc sống và an vui tại trường học Pháp trong các văn bản chính thống”, Hội đồng quốc gia đánh giá hệ thống học đường (CNESCO – Pháp), 2016 : http://www.cnesco.fr/wp-content/uploads/2016/11/institutions2.pdf    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Để kiểm định xong không… để đó      Nếu vẫn giữ tư duy cho rằng kiểm định chất lượng giáo dục đại học là công việc của Bộ, thì e rằng Bộ không thể làm xuể, khi tổng số trường của Việt Nam hiện nay đã lên hơn 400. Trong khi đó, chúng ta đang bỏ phí các nguồn nhân sự miễn phí để giám sát cam kết về chất lượng của các trường, đó chính là người học và gia đình, nhà tuyển dụng lao động, và toàn xã hội.    Trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày Thứ Hai 29/11/2010 có bài phóng sự về công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam với tựa đề chút ít… khiêu khích: “Kiểm định rồi… để đó?”   Một bài viết có lẽ sẽ làm phiền lòng không ít người, đặc biệt là những người đang trực tiếp làm việc tại các bộ phận đảm bảo chất lượng ở các trường đại học và cao đẳng. Vì dù không nói thẳng ra, nhưng bài báo gần như đã kết luận rằng những nỗ lực thực hiện kiểm định chất lượng trong thời gian qua là hoàn toàn vô ích.   Những thông tin được cung cấp trong bài báo cũng không hẳn là sai. Đúng là cho đến nay, sau hơn 5 năm triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục trên toàn quốc, rất nhiều hoạt động đã được thực hiện, trong đó ấn tượng nhất là số lượng trường đã hoàn tất công tác tự đánh giá (237 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đã hoàn tất báo cáo tự đánh giá). Nhưng chất lượng giáo dục đại học thì chưa có một sự chuyển biến nào theo chiều hướng tích cực, nếu không muốn nói rằng hình như còn có vẻ kém đi!   Đâu phải không có thành quả  Thật ra, nếu cho rằng công tác kiểm định chất lượng trong thời gian không làm được gì thì không thật là công bằng. Thử nhớ lại, chỉ mới cách đây một thập niên thôi, những từ ngữ như kiểm định, kiểm toán nội bộ, đảm bảo chất lượng, tự đánh giá, đánh giá ngoài, tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá chất lượng, tổ chức kiểm định độc lập, kiểm định viên,… là hoàn toàn xa lạ, chứ không hề được thảo luận rộng rãi trên báo chí như hiện nay.   Chỉ trong vòng hơn nửa thập niên từ năm 2005 đến nay, việc kiểm định tại Việt Nam đã trở thành một yêu cầu bắt buộc được mọi người chấp nhận, trở thành một công việc thường xuyên đối với mọi trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam. Một hệ thống đầy đủ các quy chế, quy trình, quy định, tài liệu hướng dẫn thực hiện công tác đảm bảo chất lượng và kiểm định,v.v, đã được soạn thảo và ban hành, và vẫn đang tiếp tục được điều chỉnh, sửa chữa. Bộ máy và nhân sự thực hiện công tác kiểm định cũng đã được thiết lập, được tập huấn bồi dưỡng năng lực cả trong nước và ngoài nước. Và con số các trường đã hoàn tất báo cáo tự đánh giá đã nêu ở trên, cho dù chưa tạo ra những thay đổi lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tự nó cũng là một thành tựu đáng kể.   Vì đó là những báo cáo được viết với một tinh thần tự phê phán dựa trên những tiêu chuẩn chất lượng thống nhất, với những số liệu và minh chứng cụ thể, cung cấp cho người đọc các thông tin khá xác thực về hiện trạng của các trường. Một hiện trạng, như mọi người đều biết, là không quá tốt đẹp, nhưng trước nay chưa bao giờ được chỉ ra từ bên trong. Và trên hết là những giải pháp khắc phục các nhược điểm mà nhà trường đã chủ động, dù tính khả thi hoặc hiệu quả của những giải pháp này khi áp dụng vẫn còn phải chờ thời gian mới có thể xác định được.  Mà cũng không chỉ là tự đánh giá theo tinh thần tự phê phán. Khác với cách làm từ trước đến nay, những báo cáo tự đánh giá nói trên không chỉ để đọc lên một lần trong hội nghị hoặc gửi lên cấp trên rồi quên mất, mà còn được thẩm định cẩn thận bởi những đồng nghiệp trong các đoàn đánh giá ngoài. Kết quả của việc thẩm định được ghi lại trong báo cáo đánh giá ngoài, được trao đổi trực tiếp với chính trường được đánh giá, rồi sau đó trình lên Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục để đưa ra “phán quyết” cuối cùng về hiện trạng chất lượng của một trường, cùng đưa ra những khuyến nghị để cải thiện.   Như vậy, chỉ riêng việc thay đổi cách làm như đã nêu ở trên, được thực hiện trong bối cảnh chúng ta vẫn có thói quen làm mọi việc theo tinh thần “đẹp tốt khoe ra, xấu xa đậy điểm”, chẳng phải đó đã là những dấu hiệu đầu tiên, dù chưa nhiều của một nền “văn hóa chất lượng” đang hình thành trong ngành giáo dục của Việt Nam? Những thành tựu này, dù nhỏ nhoi, cũng vô cùng đáng quý, sao có thể bỏ qua?  Công bố thông tin: điều kiện để kiểm định phát huy tác dụng  Như vậy, rõ ràng là trong thời gian qua, hoạt động kiểm định cũng có những tác động nhất định, dù chưa nhiều. Vấn đề là bây giờ cần làm gì đây, để công tác kiểm định phát huy được tác dụng như mong đợi của toàn xã hội?   Qua ý kiến của một số đại biểu đã được báo Tuổi Trẻ trích dẫn, dường như trong quan niệm của mọi người thì trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về Bộ GD-ĐT. Và với trách nhiệm đó, Bộ cần thực hiện những công việc cụ thể như “yêu cầu các trường cam kết cải tiến chất lượng và khắc phục các bất cập”.   Thực ra, những cam kết về chất lượng đã được các trường nêu ngay trong các báo cáo tự đánh giá của mình (phần “kế hoạch hành động” trong báo cáo tự đánh giá), mặc dù chúng ta không gọi đó là những “cam kết”. Như vậy, có lẽ Bộ không cần đòi hỏi các trường cam kết thêm nữa, mà quan trọng hơn là giám sát việc thực hiện “cam kết” đã nêu ra trong các báo cáo tự đánh giá chất lượng của các trường.  Nhưng ai sẽ thực hiện việc giám sát này? Nếu vẫn giữ tư duy cho rằng đây là công việc của Bộ, thì e rằng Bộ không thể làm xuể, khi tổng số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam hiện nay đã lên đến hơn 400 trường. Với số lượng 10 tiêu chuẩn chất lượng (với 61 tiêu chí) của trường đại học hiện nay, nếu Bộ chỉ kiểm tra thực tế việc cam kết thực hiện chất lượng ở một tiêu chuẩn ở mỗi trường, giả sử mất 1 ngày làm việc để kiểm tra một trường/một tiêu chuẩn, thì cũng phải mất gần 2 năm làm việc (không kể cuối tuần, nghỉ lễ) mới kiểm tra xong một vòng. Mà đó mới chỉ là xét về thời gian, chứ chưa nói đến kinh phí, nhân sự, năng lực thực hiện, và sự công tâm của những người thực hiện giám sát.  Trong khi đó, chúng ta đang bỏ phí các nguồn nhân sự miễn phí để giám sát cam kết về chất lượng của các trường, đó chính là người học và gia đình, nhà tuyển dụng lao động, và toàn xã hội. Vì hiện nay, các báo cáo tự đánh giá và kết quả đánh giá ngoài đã được thực hiện trong những năm qua, dù có thể là chưa hoàn hảo, vẫn chưa được công bố, dù đó là một yêu cầu đã được nêu rõ trong Luật Giáo dục. Vì vậy, nếu có những dư luận chưa tốt về kiểm định, thì điều này có lẽ cũng có thể hiểu được thôi.  “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.” Khẩu hiệu này không chỉ quan trọng để tăng cường tính dân chủ trong đời sống chính trị của đất nước, mà có thể áp dụng trực tiếp trong việc quản lý chất lượng giáo dục. Trong điều kiện nguồn lực về thời gian, kinh phí, nhân sự và năng lực thực hiện của chúng ta còn hạn chế, việc công bố rộng rãi những thông tin sẵn có để tạo điều kiện cho toàn xã hội tham gia giám sát chắc chắn sẽ tạo ra “văn hóa chất lượng” và thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam.  Để không còn tình trạng kiểm định xong rồi… để đó!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để Ngữ văn trở thành môn học phát triển năng lực tư duy      Trong những nguyên nhân tác động tiêu cực đến nền giáo dục của Việt Nam, hai nguyên nhân cơ bản là các hạn chế của chương trình giảng dạy và sách giáo khoa. Bài viết này nêu ra một số hạn chế cụ thể và đề xuất cải cách về chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trường phổ thông.    Chương trình và sách giáo khoa là những thành tố căn bản trong quá trình giáo dục, đào tạo, nhất là đối với những quốc gia có hệ thống giáo dục có tính chất tập quyền như Việt Nam. Đối với với những quốc gia có truyền thống phân quyền như Hoa Kỳ, người giáo viên có tính tự chủ rất cao, thậm chí có thể giảng dạy mà không hề sử dụng sách giáo khoa. Ngoài ra, chương trình giảng dạy của các bang (không có chương trình liên bang) không có những hướng dẫn chi tiết, mà đơn thuần chỉ xác định những chuẩn mực căn bản về kiến thức, kĩ năng mà quá trình dạy học phải đạt được. Theo cách đó, chất lượng giờ dạy học phụ thuộc chủ yếu vào người giáo viên. Đối với Việt Nam, mặt bằng giáo dục chưa thể cho phép phổ cập mô hình phân quyền như vậy, ít nhất trong ngắn hạn. Vì vậy, việc cải cách chất lượng giáo dục ở Việt Nam không thể bỏ qua việc cải cách chương trình và sách giáo khoa.   So với trước đây, chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay của chúng ta đã có một số đổi mới đáng kể như tích hợp các nội dung dạy học Văn học, Tiếng Việt và        Đưa việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp lên đầu tiên không chỉ vì nó là mục tiêu quan trọng và đặc thù của môn Ngữ văn mà còn vì đó là mục tiêu “mở đường” cho các mục tiêu khác        Tập làm văn vào một chỉnh thể, không dạy các tác phẩm văn học theo trình tự thời gian mà theo thể loại (ở trung học cơ sở), đưa vào chương trình cả những văn bản phi hư cấu và chú trọng đến hoạt động đọc hiểu văn bản2.  Tuy nhiên, những thay đổi đó chưa vượt ra khỏi triết lí và phương pháp giáo dục truyền thống để thích ứng với bối cảnh mới: bối cảnh đất nước và thế giới đã thay đổi, con người trong xã hội đang đứng trước những thách thức lớn trong công cuộc hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, khoa học giáo dục và khoa học Ngữ văn đã tiến những bước dài.   Trước hết cần phải xác định mục tiêu căn bản và đặc thù của môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Đó là môn học:  1) Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp, trong đó có cả kĩ năng thu thập và xử lí thông tin để triển khai những bài viết hay bài nghiên cứu nhỏ;   2) Thông qua những tác phẩm văn học đặc sắc, giúp học sinh phát triển năng lực thẩm mỹ, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu giá trị nhân bản và thân phận của con người;  3) Giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy phản biện, sự tự tin, tính tự lập và tinh thần cộng đồng;   4) Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ và văn học.   Có thể có nhiều cách diễn đạt và trình tự sắp xếp các ý tưởng khác nhau, nhưng trên căn bản, các mục tiêu như vậy đã được hiểu khá thống nhất từ lâu. Thế nhưng, trên thực tế, trong số những mục tiêu trên, chỉ có vài mục tiêu đạt được ở mức rất khiêm tốn: học sinh được rèn luyện chút ít kĩ năng đọc, viết; và tiếp thu một số kiến thức về tiếng Việt và văn học.   Đưa việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp lên đầu tiên không chỉ vì nó là mục tiêu quan trọng và đặc thù của môn Ngữ văn mà còn vì đó là mục tiêu “mở đường” cho các mục tiêu khác. Nếu mục tiêu này không đạt được thì không có hi vọng thành công ở bất kì mục tiêu nào. Học sinh phải có kĩ năng và hứng thú đọc thì qua hoạt động đọc đó, văn học mới thật sự có tác động đối với người học. Và ngược lại, văn học thông qua những áng văn đặc sắc về tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật ngôn từ sẽ tác động tích cực đến hứng thú đọc sách của học sinh, sau đọc là viết và thảo luận, trao đổi với nhau, nhờ đó các kĩ năng giao tiếp được rèn luyện và cũng nhờ đó mà các mục tiêu khác của môn Ngữ văn mới đạt được. Đó là chưa nói đến vai trò của việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp đối với các môn học khác, khiến cho môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông của mọi quốc gia trên thế giới.  Những sản phẩm đúc từ một khuôn  Hiện nay, chương trình Ngữ văn của Việt Nam chủ yếu tập trung vào nội dung kiến        Nói theo cách của các nhà giáo dục Phần Lan: chỉ những con cá chết mới trôi theo dòng chảy của con suối. Cách dạy học Ngữ văn lấy sách giáo khoa làm “khuôn vàng thước ngọc” của chúng ta chỉ tạo ra những sản phẩm được đúc từ một khuôn.        thức. Việc dạy học văn học vẫn nặng về giảng giải nội dung tác phẩm, lịch sử văn học và tác giả; dạy học tiếng Việt vẫn tập trung vào cấu trúc ngôn ngữ. Chương trình quy định chi tiết nội dung cho từng cấp học và lớp học, chi tiết đến từng tác giả và tác phẩm. Và sách giáo khoa, tài liệu cụ thể hóa chương trình, như một cuốn cẩm nang dẫn đường cho tất cả: từ các cấp chỉ đạo chuyên môn đến thầy cô giáo và học sinh. Tác giả và tác phẩm đã được quy định bất di bất dịch. Hệ thống các câu hỏi và những điều cần ghi nhớ đã được in sẵn trong sách giáo khoa. “Miếng cơm đã được nhai sẵn”, học sinh chỉ việc “đưa vào miệng”. Các em được ăn, nhưng không cảm nhận được vị ngon của món ăn. Nói theo cách của các nhà giáo dục Phần Lan: chỉ những con cá chết mới trôi theo dòng chảy của con suối3. Cách dạy học Ngữ văn lấy sách giáo khoa làm “khuôn vàng thước ngọc” của chúng ta chỉ tạo ra những sản phẩm được đúc từ một khuôn. Ngay cả khi cái khuôn đó có hoàn hảo đi chăng nữa thì đó cũng không phải cách dạy học đúng đắn theo quan niệm giáo dục hiện đại, vì nó biến những cá thể sinh động, đa dạng thành những con cá chết.   Học sinh của chúng ta có thể học thuộc những ghi nhớ về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học và tiểu sử của các nhà văn trong sách giáo khoa, nhưng không mấy khi được đọc kỹ lưỡng toàn bộ một tác phẩm văn học, nhất là văn xuôi và có cảm xúc thực sự khi đọc. Học sinh của chúng ta có thể viết lại đúng các định nghĩa, nhận diện và phân loại chính xác các đơn vị và hiện tượng ngôn ngữ, nhưng không có thời gian thực hành các hoạt động giao tiếp. Các em không mấy khi được thảo luận (nói và nghe) về một tác phẩm mà mình yêu thích (đọc). Các bài làm văn phần lớn được học sinh viết theo ý tưởng gợi ý của giáo viên và các loại sách tham khảo mà các em học thuộc lòng. Giáo viên cũng không có thời gian chấm và sửa bài cho kĩ lưỡng. Kĩ năng viết một cách sáng tạo, thể hiện năng lực đánh giá, phê phán một cách  độc lập của người viết bị biến thành kĩ năng học thuộc ý tưởng và cách diễn đạt của người khác và chép lại. Theo nguyên lí của giáo dục, dạy là một hoạt động làm cho quá trình học được diễn ra. Nói nhiều trong lớp mà học sinh không nghe, nghe mà không hiểu, hiểu mà không cảm thấy thích thú, tức là người giáo viên đang nói vào thinh không. Cách mà chúng ta giảng bài như lâu nay chỉ làm cho quá trình học diễn ra ở số khía cạnh, vì vậy chỉ đạt được một số mục tiêu khiêm tốn như đã nêu. Một môn học đòi hỏi nhiều cá tính sáng tạo và sự tưởng tượng của cả người dạy và người học đang trở nên khô khan, buồn tẻ và bị xa lánh3.      Cuối những năm 1970 đầu 1980, nhất là những năm học hệ Chuyên Văn ở Huế, chúng tôi đã từng được học với nhiều thầy cô dạy Văn có tiếng. Thời đó nghèo lắm nên sách giáo khoa cũng sơ sài. Thế mà lại may! Có nhiều giờ học cả lớp ngồi nghe say sưa, nhất là những bài về Truyện Kiều. Chúng tôi tin rằng hiện nay không phải không có        Nếu sau khi tự đọc một tác phẩm văn học mà học sinh có hiểu sai lạc hay ngây ngô thì dù sao các em cũng có dịp tự đọc, tự suy nghĩ và được nói ra những gì mình nghĩ, điều đó có lợi gấp trăm lần so với cách học văn không cần đọc tác phẩm mà chỉ cần ghi nhớ cách hiểu và cách diễn đạt của người khác rồi nhắc lại như vẹt.        những giờ học như thế. Nhưng cái hay của giờ dạy học theo kiểu đó vẫn chưa đạt yêu cầu so với tiêu chuẩn cần được đặt ra của môn Ngữ văn hiện nay: giáo dục con người tư duy độc lập. Sự tương tác một chiều giữa thầy cô với học sinh và sự thiếu tương tác giữa học sinh với nhau trong giờ giảng đặt học sinh vào thế tiếp thu thụ động; không giúp học sinh phát triển tính năng động, sự chủ động, tự tin; không chú ý đến việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn thuyết, đối thoại, tranh luận, thuyết phục. Nếu không được phát triển tốt những năng lực và kĩ năng đó, các công dân Việt Nam sẽ chỉ có thể làm việc với nhau và hoàn toàn lép vế trong môi trường giao tiếp quốc tế.  Một vài đề xuất  Chương trình và sách giáo khoa cần được cải cách để dành cho học sinh cơ hội được học trong một môi trường có tính tương tác cao nhằm đạt đến những mục tiêu căn bản của môn học, thay vì làm cho học sinh thụ động, đến lớp chỉ để nghe giáo viên giảng bài4. Muốn vậy, chương trình và sách giáo khoa phải được thiết kế và biên soạn theo cách lấy bốn kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói)5  làm các trục chính. Phần kiến thức về ngôn ngữ và văn học là hai trục bổ trợ. Những nội dung trọng tâm của việc dạy học Ngữ văn đều được thực hiện thông qua các hoạt động thực hành bốn kĩ năng đó. Sự tiến bộ của học sinh qua từng cấp học và lớp học được thể hiện qua năng lực đọc, viết, nghe, nói ở các mức độ phức tạp và tinh vi khác nhau, chứ không phải qua hiểu biết về các giai đoạn văn học sử, tác giả, tác phẩm hay thể loại văn học.   Nói đến đọc, viết, nghe, nói thì dĩ nhiên xuất hiện câu hỏi đọc, viết, nghe, nói cái gì. Trẻ con cũng như người lớn, ai cũng vậy, thích làm những gì mà mình thấy thiết thực hay có hứng thú, điều đó đúng cho cả việc đọc và viết, nghe và nói. Vì thế, các tác phẩm và đề tài được học phải làm cho học sinh thấy được tính thiết thực của việc học hay khơi gợi được hứng thú của các em. Muốn vậy, sách giáo khoa phải xác định một tỉ lệ thích hợp giữa các tác phẩm văn học cổ điển và văn học cách mạng với những tác phẩm đương đại, phản ánh những gì gần gũi với nhu cầu và tâm lí của tuổi trẻ ngày nay. Đó là sự lựa chọn có định hướng, nhưng là sự định hướng lấy người học làm trung tâm, chứ không phải dựa trên sở thích và quyền lợi của người lớn. Nếu không tính đến quyền của tuổi trẻ, được đọc và viết, được nghe và nói những gì mà các em thấy thiết thực và có hứng thú thì việc dạy học sẽ có tính áp đặt, hiệu quả giáo dục sẽ rất hạn chế.  Như vậy, chương trình phải rất mở, có thể làm cơ sở cho việc biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau. Để nội dung dạy học thực sự gần gũi với đối tượng học sinh, chương trình chỉ nên quy định những nội dung tương đối tổng quát và chuẩn kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần đạt sau khi học xong chương trình, không quy định chi tiết đến từng tác phẩm văn học cụ thể phải được dạy và học. Quyền lựa chọn tác phẩm văn học thuộc về tác giả sách giáo khoa, mỗi nhóm tác giả có những lựa chọn riêng của mình và tất cả đều được một hội đồng cấp quốc gia phê duyệt. Ngoài ra, nên dành một tỉ lệ nhất định các tác phẩm văn học do chính học sinh chọn lựa trong số những tác phẩm do giáo viên hay tổ bộ môn giới thiệu hay ngược lại do giáo viên hay tổ bộ môn chọn lựa trong số những tác phẩm do học sinh giới thiệu. Phần chương trình địa phương buồn tẻ như trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay nên dành cho nội dung tự chọn này. Dĩ nhiên, tác phẩm văn học không phải là loại văn bản duy nhất được dạy trong môn Ngữ văn. Các loại văn bản phi hư cấu cũng là một phần quan trọng và cũng phải được lựa chọn theo nguyên tắc tính đến đặc điểm tâm lí và nhu cầu của người học.         Chương trình và sách giáo khoa phải được thiết kế và biên soạn theo cách lấy bốn kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói) làm các trục chính. Phần kiến thức về ngôn ngữ và văn học là hai trục bổ trợ… Sự tiến bộ của học sinh qua từng cấp học và lớp học được thể hiện qua năng lực đọc, viết, nghe, nói ở các mức độ phức tạp và tinh vi khác nhau, chứ không phải qua hiểu biết về các giai đoạn văn học sử, tác giả, tác phẩm hay thể loại văn học.        Sau việc lựa chọn văn bản và đề tài là cách thức tiến hành các giờ dạy học trong lớp. Chương trình và sách giáo khoa phải tạo cơ hội cho học sinh được TỰ đọc sách, chia sẻ các cảm xúc và ý tưởng nảy sinh từ việc đọc dưới hình thức nói và viết. Sách giáo khoa và giáo viên tuyệt đối không được “đọc hộ” các em. Nếu sau khi tự đọc một tác phẩm văn học mà học sinh có hiểu sai lạc hay ngây ngô thì dù sao các em cũng có dịp tự đọc, tự suy nghĩ và được nói ra những gì mình nghĩ, điều đó có lợi gấp trăm lần so với cách học văn không cần đọc tác phẩm mà chỉ cần ghi nhớ cách hiểu và cách diễn đạt của người khác rồi nhắc lại như vẹt. Giáo viên phải tạo được môi trường để học sinh cảm thấy tự tin và có hứng thú “mở miệng” trong lớp học. Tập cho học sinh làm việc theo từng cặp hay theo nhóm6  để các em không chỉ phát biểu với thầy cô mà còn trao đổi, tranh luận với nhau.   Vấn đề cuối cùng là cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Do chương trình Ngữ văn từ trước đến nay quy định quá chi tiết các tác giả và tác phẩm cần học, nên các kì thi Ngữ văn thường cứ xoay quanh những tác giả và tác phẩm quen thuộc, đến mức có năm người ta có thể khoanh vùng được một phạm vi rất hẹp các tác giả và tác phẩm mà người ra đề có thể ra. Đó là mảnh đất màu mỡ cho nạn học vẹt, học tủ và vỗ béo các lò luyện thi. Gần đây có những chuyển biến đáng ghi nhận, chẳng hạn tăng thêm tỉ lệ đề thi nghị luận xã hội, làm cho nội dung đánh giá đa dạng hơn. Nếu chương trình xây dựng dựa trên các kĩ năng giao tiếp và không khép kín những tác giả và tác phẩm cần dạy và học trong nhà trường thì cách thức đánh giá chắc chắn sẽ có những thay đổi đáng kể, hướng nhiều hơn vào việc đánh giá năng lực và kĩ năng của học sinh, chứ không kiểm tra kiến thức và khả năng ghi nhớ. Cách thức ra đề thi của SAT tại Hoa Kỳ hay của PISA là một gợi ý tốt cho hướng đổi mới cách thức đánh giá kĩ năng đọc và suy luận sắp tới của chúng ta.         Quyền lựa chọn tác phẩm văn học thuộc về tác giả sách giáo khoa, mỗi nhóm tác giả có những lựa chọn riêng của mình và tất cả đều được một hội đồng cấp quốc gia phê duyệt. Ngoài ra, nên dành một tỉ lệ nhất định các tác phẩm văn học do chính học sinh chọn lựa trong số những tác phẩm do giáo viên hay tổ bộ môn giới thiệu hay ngược lại do giáo viên hay tổ bộ môn chọn lựa trong số những tác phẩm do học sinh giới thiệu.        Việc xây dựng chương trình Ngữ văn trong 12 năm học dựa trên các trục chính là những kĩ năng giao tiếp là một thách thức lớn đối với các nhà chuyên môn Việt Nam, vì xây dựng chương trình theo kiểu liệt kê các tác giả và tác phẩm văn học cần học và dàn đều các nội dung liên quan đến cấu trúc ngôn ngữ cho từng lớp là cách làm đơn giản hơn nhiều. Ngoài ra, còn có nhiều việc khác phải làm tiếp theo như phải tập huấn và đào tạo lại giáo viên phổ thông, cải cách chương trình và phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường đại học sư phạm. Rõ ràng đó là một lựa chọn khó khăn cho ngành giáo dục Việt Nam, nhưng có lẽ đó là con đường duy nhất để môn Ngữ văn hoàn thành được chức năng giáo dục quan trọng của nó.  Có như vậy thì môn Ngữ văn mới giúp học sinh rèn luyện toàn diện các kĩ năng giao tiếp.   Có như vậy thì môn Ngữ văn mới giúp học sinh phát triển năng lực thẩm mỹ, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu giá trị nhân bản và thân phận của con người.   Có như vậy thì môn Ngữ văn mới giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, sự tự tin, tính tự lập và tinh thần cộng đồng.                                    SAT (Scholastic Aptitude Test hay Scholastic Assessment Test) là kì thi kiểm tra năng lực của học sinh phổ thông trong lĩnh vực Toán học, Đọc hiểu và Viết, được các trường đại học Hoa Kỳ lấy làm một trong những căn cứ quan trọng để tuyển sinh. Trong phần đọc hiểu, SAT tập trung kiểm tra vốn từ của học sinh, đặc biệt là những từ ngữ khó và kĩ năng đọc hiểu văn bản (nội dung và kĩ thuật viết) và năng lực suy luận. Trong phần viết, SAT đánh giá năng lực viết của học sinh thông qua hình thức kiểm tra khả năng phát hiện lỗi câu, phát triển câu, đoạn văn và phần viết một bài luận ngắn về một vấn đề cụ thể.               PISA (The Programme for International Student Assessment) là chương trình đánh giá học sinh quốc tế, kiểm tra năng lực học tập của học sinh 15 tuổi của các nước thuộc nhóm OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), sau đó mở rộng ra nhiều nước khác. PISA đánh giá năng lực của học sinh trong lĩnh vực Toán học, Đọc hiểu và Khoa học. Trong phần đọc hiểu, PISA đánh giá kĩ năng đọc hiểu, suy luận của học sinh, có kết hợp với đánh giá kĩ năng viết và lập luận thông qua phần yêu cầu học sinh dùng chính ngôn ngữ của mình để giải thích, biện luận cho câu trả lời trong phần đọc hiểu. Văn bản đọc hiểu có thể là văn bản ngôn ngữ hoặc là sơ đồ hay đồ thị. Loại thứ hai chiếm tỉ lệ khá lớn trong phần đọc hiểu của PISA.               Hai kiểu đánh giá này nhằm vào những đối tượng khác nhau và mục đích khác nhau, vì vậy, tùy vào yêu cầu của một kì thi cụ thể mà Việt Nam có thể học hỏi ở những hình thức và mức độ khác nhau, nhưng cả hai kiểu đánh giá đều có những điểm chung căn bản. Trong phạm vi những nội dung liên quan đến môn Ngữ văn, có thể thấy rõ cả SAT và PISA đều tập trung đánh giá năng lực tư duy, kĩ năng đọc, viết của học sinh, chứ không kiểm tra kiến thức. Cách đánh giá này loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc của học sinh vào những văn bản đã học trong sách giáo khoa vốn là một trong những căn nguyên của nạn học vẹt và luyện thi. Văn bản được dùng làm ngữ liệu để kiểm tra rất đa dạng, thuộc nhiều loại hình khác nhau, gần gũi với môi trường học thuật hay đời sống thực tế, chứ không tập trung vào tác phẩm văn học. Điều đó cho thấy SAT và PISA chú ý đánh giá những năng lực và kĩ năng ngữ văn cần thiết để chuẩn bị cho học sinh học ở bậc học cao hơn ở tất cả các ngành nghề hay tham gia vào thị trường lao động.             ——-  *Tác giả có một năm (2006 – 2007) nghiên cứu về chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn (Guk go – Quốc ngữ) của Hàn Quốc tại Seoul và nguyên là học giả Fulbright (2010 – 2011), nghiên cứu về chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn (Language Arts and Literature) của Hoa Kỳ tại Đại học Texas – Austin.  1Bên cạnh những đổi mới tích cực nói trên, có những thay đổi tưởng là tiến bộ, nhưng thật ra là một bước lùi, chẳng hạn như “cập nhật” một số thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại.  2Xem: http://asiasociety.org/video/education-learning/ingredients-worlds-best-education-system  3Như đã nói từ đầu, tình trạng này không phải chỉ do chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn. Do đó để khắc phục thì không phải chỉ cần cải cách chương trình và sách giáo khoa là đủ.  4Nhiều nơi hiện nay đang có phong trào dùng máy tính và chương trình Powerpoint để trình chiếu đề cương hay từng đoạn bài giảng và coi đó là “đổi mới phương pháp dạy học bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin”. Đó chẳng qua là một phiên bản của phương pháp thuyết giảng, nhưng với chi phí cao hơn và hiệu quả rất hạn chế, nhất là đối với bộ môn Ngữ văn. Ứng dụng công nghệ thông tin phải gắn với việc khai thác thông tin và dữ liệu trên Internet để phục vụ cho giờ dạy học. Những thông tin và dữ liệu loại đó hiện nay chủ yếu là bằng tiếng Anh, vì vậy không mấy giáo viên khai thác được. Ngay cả đối với giảng viên đại học, đó cũng đã là một việc khó.  5Theo quan niệm của nhiều nhà giáo dục Hoa Kỳ thì ngoài bốn kĩ năng giao tiếp trên, còn có hai kĩ năng khác cần được dạy trong nhà trường, đó là kĩ năng trình bày và tiếp nhận thông tin qua các kênh nghe nhìn, và việc dạy các kĩ năng đó không thể thuộc vào môn nào khác ngoài môn Ngữ văn.  6Hiện nay, việc áp dụng cách tổ chức lớp học làm việc theo cặp hay theo nhóm ở Việt Nam chưa mấy thành công vì cách dạy học cũ đã ăn sâu vào thói quen của cả thầy và trò. Để có một thế hệ thích ứng hoàn toàn với hình thức học như vậy, chúng ta phải bắt đầu dạy cho học sinh từ lớp một      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để thi cử có ích hơn      Hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với một thực tế không thay đổi được, đó là kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Vấn đề là chúng ta cần làm là sao cho kỳ thi đó có chất lượng hơn, có ích hơn cho học sinh, cho xã hội. Và việc này nằm trong tầm tay của Bộ GD&ĐT.    Thi cử vốn là một truyền thống  của người Việt. Khoa thi Đình chọn ra các tiến sĩ đầu tiên được tổ chức từ gần 1000 năm trước (1075). Con đường của hầu hết các sỹ tử ngày xưa rất rõ ràng: thi đỗ để ra làm quan. Sự học ngày xưa lấy thi làm mục đích. Học có giỏi mấy mà thi không đỗ thì cũng chỉ làm được nghề ”gõ đầu trẻ” và chỉ biết than thân trách phận mình không may mắn.  Như lời Trần Tế Xương, “thi không ngậm ớt thế mà cay”.  Với sự du nhập của nền văn minh phương Tây, thực tài dần dần được coi trọng. Ngày nay các tiến sĩ ra lò thực ra mới chỉ là những anh ”tập sự”, mới xong giai đoạn nghiên cứu sinh tức là học cách nghiên cứu.  Về bằng cấp, tiến sĩ là cao nhất. Tuy nhiên các tiến sĩ còn phải chứng minh thực lực của mình trong công việc và chỉ có thực tài mới đảm bảo chỗ đứng của họ trong xã hội.  Trong khoảng mười năm lại đây tại nước ta có một xu thế ngược lại. Với tinh thần ”chuẩn hóa bằng cấp” người ta đổ xô đi học cao học, nghiên cứu sinh để có được những tấm bằng thạc sỹ, tiến sĩ, nhằm mục đích lên lương, lên chức, lên (quân) hàm,…, chống về hưu sớm. Cũng khác với thời xưa, bằng tiến sĩ ngày nay kiếm cũng dễ. Không phải là một kỳ thi Đình do đích thân Thiên tử ra đề mà chỉ là một hội đồng, ít nhất hai phần ba trong đó có chuyên môn chẳng mấy liên quan tới chuyên môn vị tiến sĩ tương lai. Tại hầu hết các hội đồng người ta đã biết trước kết quả là ”thành công tốt đẹp”.  Ngày nay chỉ có một kỳ thi sánh ngang được với kỳ thì Đình ngày xưa, đó là kỳ thi vào đại học. Nói như thế thì tiến sĩ ngày xưa hóa ra chỉ ”ngang” với sinh viên đại học ngày nay?  Cũng gần như thế.  Nghĩ về kỳ thi đại học tôi thấy hệ thống giáo dục của ta giống như một chiếc đồng hồ cát, với kỳ thi đại học là điểm thắt nút của nó. Thật thương cho các em học sinh, phải đổi 12 năm tuổi thơ lấy một chỗ trong trường đại học.  Nhưng cũng như những hạt cát trong chiếc đồng hồ cát, qua khỏi chỗ thắt nút là rơi tự do, kỳ thi vào đại học là kỳ thi thực sự cuối cùng của mỗi học sinh Việt Nam. Trong khi tỷ lệ đỗ đại học trên tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông chỉ khoảng 10% thì tỷ lệ tốt nghiệp đại học gần như 100%, tốt nghiệp cao học hay tiến sĩ càng dễ… Không dừng lại ở đó, đối với nhiều gia đình thế lực, việc “ấn” được con vào đại học là gần như đảm bảo được sự nghiệp cho con mình sau này, những tấm bằng thạc sỹ, tiến sĩ chỉ là chuyện vặt.  Tôi tin Bộ Giáo dục và Đào tạo không phải không biết điều này, và đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết. Chẳng hạn tăng cường quản lý chất lượng đại học, cao học, tiến sĩ. Ngày nay hiếm thấy thạc sỹ nào mà điểm bảo vệ tốt nghiệp dưới 9/10. Nhưng đáng nói hơn cả là những giải pháp theo nguyên lý của kinh tế thị trường (KTTT), ”có cầu thì phải có cung”. Trong mấy năm lại đây trường đại học mọc ra như nấm sau mưa. Có những trường công lập không có lấy một giáo sư, vài ba tiến sĩ, đội ngũ giảng viên chủ yếu ”hợp tác”, ”phối hợp”, ”thỉnh giảng”. Chưa nói tới trường tư… Để giải quyết vấn đề chất lượng của các trường mới lập ra, Bộ lại tiếp tục, giải pháp ”Hai mươi ngàn tiến sĩ”. Không chừng giải pháp tiếp theo sẽ là ”Dăm ngàn giáo sư”? Không giáo sư lấy đâu ra tiến sĩ.  Tuy thế, dẫu có mọc ra như nấm sau mưa thì số các trường đại học ở Việt Nam vẫn quá ít tính theo bình quân đầu người. Và vì thế kỳ thi đại học vẫn khốc liệt. Mỗi năm đến hè sỹ tử vẫn lao đao. Nhìn ra các nước xung quanh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan…, ta cũng thấy tình trạng tương tự. Hằng năm vẫn có những học sinh tự tử vì áp lực học tập. Có lẽ nhu cầu bằng cấp là một thuộc tính chung của các nước Đông Á?  Như vậy hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với một thực tế không thay đổi được, đó là kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Vấn đề là chúng ta cần làm là sao cho kỳ thi đó có chất lượng hơn, có ích hơn cho học sinh, cho xã hội. Và việc này nằm trong tầm tay của Bộ GD&ĐT.  Cách ra đề thi ảnh hưởng rất mạnh tới cách học của học sinh. Bởi học sinh học cốt để thi. Nếu đề thi đòi hỏi học thuộc lòng  – học sinh sẽ học thuộc lòng, nếu đề thi ra theo bộ đề – học sinh sẽ học theo bộ đề, nếu đề thi khó – học sinh sẽ đi luyện các bài khó, nếu đề thi không có phần lý thuyết – học sinh sẽ không quan tâm tới lý thuyết v.v… Cách đây mấy năm, cứ tới mùa thi là sỹ tử các tỉnh lại “khăn gói quả mướp” về thủ đô để luyện thi, đặc biệt cho các môn khối A, B. Lò luyện thi được mở khắp hang cùng ngõ hẻm. Nếu so sánh số học sinh đỗ trên tổng số học sinh thì tỷ lệ đỗ của học sinh Hà Nội hay TP.HCM cao hơn nhiều so với các địa phương khác. Đó chính là lý do lôi các học sinh địa phương về Hà Nội hay TP.HCM luyện thi.  Nhờ một thay đổi, mà về mặt chuyên môn có thể nói là rất nhỏ, của Bộ, đó là ra đề cơ bản hơn, ít bài đánh đố hơn, mọi việc thay đổi hẳn. Tỷ lệ học sinh địa phương đỗ đại học tăng vọt so với học sinh Hà Nội, hệ quả là các lò luyện thi ở Hà Nội trở nên ế ẩm. Tôi cho rằng đó là một trong số rất ít những việc làm có giá trị của Bộ trong thời gian gần đây.  Đáng tiếc là dường như Bộ (hay Cục Kiểm định và Khảo thí của Bộ) không ý thức được việc tốt mà mình đã làm. Với những lý do về tiết kiệm, bảo mật, v.v…, Bộ đang tiến tới một kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và thậm chí thi vào đại học bằng phương pháp trắc nghiệm. Tốt nghiệp phổ thông là một kỳ thi mang tính thẩm định chất lượng, việc dùng phương pháp trắc nghiệm là có thể chấp nhận được, tuy vậy nó vẫn có nhiều nhược điểm đặc biệt là đối với những môn mang nặng tính tư duy như Toán, Lý. Ngược lại, thi vào đại học là kỳ thi công-cua, mang tính cạnh tranh cao, trong thực tế Việt Nam là rất cao, thì không ai dùng phương pháp trắc nghiệm cả.  Bất luận thi bằng phương pháp nào thì cũng sẽ có khoảng 90% học sinh trượt. Nhiệm vụ của đề thi là phân loại được học sinh. Nhưng đó mới chỉ là một khía cạnh của vấn đề, khía cạnh mà chúng ta quan tâm nhưng lại là khía cạnh ít quan trọng. Phần quan trọng hơn chính là 90% học sinh thi trượt được gì sau kỳ thi.  Người Việt Nam ta có câu “chữ thầy trả thầy”. Một câu nói đùa nhưng lại phản ánh thực tế. Kiến thức có thể ví như một dòng suối chảy qua bộ não con người, nếu việc truyền đạt – thu nhận kiến thức được thực hiện hợp lý thì một phần nào đó sẽ đọng lại trong trí nhớ thường trực, phần khác dưới dạng trí nhớ tiềm ẩn, có thể được đánh thức lúc cần thiết. Việc truyền đạt kiến thức một cách nhồi nhét không những không để lại một dấu vết gì trong bộ não người học mà còn có thể có ảnh hưởng tiêu cực bộ não của họ. Những điều dễ thấy trong giáo dục phổ thông Việt Nam đó là: học thuộc lòng quá nhiều, trả lời theo mẫu đã có sẵn, thậm chí làm văn theo mẫu đã có sẵn, trong các môn khoa học tự nhiên thì quá chú trọng vào bài tập, bỏ qua lý thuyết (mới chính là phần kiến thức cần truyền đạt), trong các môn khoa học xã hội thì kiến thức truyền đạt ít nhưng lại bắt học thuộc lòng – học sinh ai cũng cùng biết một vài câu thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính,… nhưng ít được đọc cả bài (vì không có thời gian – ngày xưa có người không biết chữ nhưng thuộc toàn bộ Truyện Kiều).  Có nhiều lý do để giải thích cho những bất cập này, trình độ giáo viên, chương trình chưa hoàn thiện, điều kiện khách quan, cơ sở vật chất chưa cho phép… Đối với đa số những lý do này Bộ chưa có cách nào giải quyết được, ít nhất là trong tương lai gần. Tuy nhiên có một lý do, có thể nói là một trong những lý do quan trọng nhất gây ra những hệ lụy nói trên, đó là cách ra đề thi thì nằm hoàn toàn trong tầm tay của Bộ. Như đã nói ở trên, học sinh của ta học cốt để thi nên đề thế nào thì học thế ấy. Bởi thế nên mới có chuyện Bộ định chuyển sang thi trắc nghiệm nhưng vì quyết định gấp quá, học sinh chưa chuyển kịp nên lại thôi…  Môn Toán là môn hao giấy tốn tiền nhất của học sinh và gia đình. Hằng năm có không biết bao nhiêu đầu sách tham khảo, bao nhiêu ngàn bài tập phải qua tay, qua đầu mỗi học sinh. Đối với các đề thi tốt nghiệp phổ thông và các đề thi vào đại học thì có thể đưa ra đánh giá ngắn gọn là: khô khan và vô bổ. Tác hại hơn, chính cách ra đề thi này có ảnh hưởng tới việc ra đề thi, kiểm tra, bài tập cho học sinh ngược từ lớp 12 cho tới lớp 1.  Tại bất cứ lớp nào ta cũng thấy các đề toán nặng tính lý thuyết, thiếu hoặc hoàn toàn không có tính thực tế.  Bởi suốt 12 năm học phổ thông phần đông học sinh giỏi chỉ làm duy nhất một việc: chuẩn bị cho kỳ thi đại học.  Để minh hoạ tôi xin so sánh một bài thi trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông của ta vừa qua và một bài thi trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học của Đức năm 2007.  Đề thi tốt nghiệp THPT Việt Nam 2008, câu 5 (trên tổng số 5 câu – 1 điểm, thời gian làm bài 180 phút):  Giải bất phương trình    (trong đó    là số tổ hợp chập k của n phần tử và    A là số chỉnh hợp chập k của n phần tử).  Là một người làm toán, tôi tự hỏi không biết một học sinh phổ thông sẽ học được gì sau khi làm bài toán này, ngoài việc nhớ được định nghĩa khái niệm tổ hợp và chỉnh hợp, khái niệm mà chắc chắn ít nhất 99% số học sinh sẽ không bao giờ dùng đến trong phần đời còn lại của họ. Ngay cả đối với một học sinh dự định sẽ theo học ngành toán ở đại học thì đối với họ bài toán trên cũng “vô vị”.  Đề thi tốt nghiệp THPT (Abitur) của bang Hamburg, Đức, câu I.2 (trên tổng số 3 câu – 1/3 tổng số điểm, thời gian làm bài 240 phút).               Cầu treo  Hình trên là bản vẽ một chiếc cầu treo. Về chiếc cầu chúng ta biết những thông tin sau: Các điểm B và D đều nằm 152 trên thân cầu và cách nhau 1280 m. Độ dài toàn bộ của thân cầu, giữa hai điểm A và E là 1850 m.  a) Hãy tính khoảng cách giữa các điểm A và B cũng như D và E (đường đứt đoạn). Dây treo của cầu, như mô tả trên bản vẽ, có thể được tính theo nhiều mô hình toán học khác nhau. Để làm điều nay trước tiên chúng ta cố định một thệ tọa độ Đề Các với đơn vị độ dài là 1 m.  Các điểm A, C và E của thân cầu nằm trên trục Ox.  Dây treo giữa B và D cần được xấp xỉ bởi đồ thị chạy qua cả hai điểm này và tiếp xúc với thân cầu tại C.  { Chú ý: trong tính toán không nhất thiết phải viết cả đơn vị đo.}  b) Trong mô hình tính toán thứ nhất, dây treo giữa B và D được xấp xỉ nhờ đồ thị một hàm bậc hai f. Hãy xác định phương trình của hàm này.  c) Trong mô hình thứ hai, độ dài dây treo giữa B và D được mô tả thông qua đồ thị của hàm k:     – Hãy kiểm tra rằng đồ thị của hàm số này đối với mỗi giá trị của a là đối xứng theo trục Oy và chạy qua điểm C.   – Hãy kiểm tra rằng đồ thị này cũng chạy qua các điểm B và ,khi a nhận một giá trị nằm giữa 0,00072 và 0,00073.  Trong các phần tiếp theo a sẽ nhận giá trị 0,00073.  d) Để kiểm tra người ta sẽ cho một chiếc máy chạy trên dây treo, có khả năng chuyển động với độ dốc không quá 20,10 chạy trên dây treo của cầu.  Hãy kiểm tra xem liệu chiếc máy có thể chuyển động dọc theo dây treo tới mỗi điểm giữa A và E hay không.  e) Độ dài L của dây treo giữa B và D có thể được tính theo công thức     Hãy xác định độ dài L và làm tròn tới số nguyên.  f) Hãy chứng tỏ thông qua một xấp xỉ thô rằng kết quả tính toán của bạn trong mục e) là hợp lý.  Trong trường hợp bạn không tìm được giá trị cần tìm trong mục e), hãy đưa ra một đánh giá thô về độ dài của đoạn L.  Có lẽ không mấy người đọc kiên nhẫn đọc hết toàn bộ đề thi này. Tuy nhiên không cần phải đọc hết thì người đọc cũng thấy được sự khác nhau, đặc biệt là về tính thực tế trong đề thi của Đức so với đề thi của ta.  Đó chính là cái mà  học sinh của chúng ta chưa có: được học những cái có ích cho tương lai của họ.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề thi, đáp án và… chán học môn văn      Dưới đây là một vài suy nghĩ về đề thi đại học và đáp án môn Văn. Do đây là một ý kiến ngắn nên tôi không thể đề cập hết tất cả các khía cạnh của vấn đề, chỉ nêu lên một số điểm mà tôi cho là cốt lõi.      Về cơ bản, đề thi môn văn, cho đến hiện nay, thuộc dạng kiểm tra kiến thức, tức là kiểm tra khả năng học thuộc lòng của học sinh. Các câu nghị luận xã hội tạo cảm giác mở cho học sinh khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, theo dõi cách làm từ mấy năm nay sẽ thấy là hướng giải quyết các đề nghị luận ấy đã được chuẩn bị sẵn, đó là hướng được hợp thức hóa trong đáp án. Do đó, sâu xa, dù các đề nghị luận xã hội có khác nhau, thì đối với người ra đề, đó cũng chỉ là cách để kiểm tra những quan điểm giải quyết vấn đề đã được định sẵn. Dù các vấn đề có thể khác nhau, có thể rất thời sự, nhưng quan điểm giải quyết vấn đề thì dường như được quy định theo một số hướng nhất định, thậm chí đôi khi các từ ngữ trong đề thi đã chỉ rõ các hướng đó. Các “nhà luyện thi”1 nhanh chóng nắm bắt được điều này và tìm cách “kiến thức hóa” các vấn đề sẽ được đưa ra nghị luận, các quan điểm mà thí sinh cần tuân theo nếu muốn được điểm cao. Rốt cuộc, vẫn không thoát được cái khung “kiểm tra kiến thức”.   Đọc tất cả các đáp án của các đề thi môn văn sẽ thấy rằng đáp án thực ra chỉ là một quan điểm tiếp nhận tác phẩm. Chấm bài thi văn theo đáp án duy nhất có nghĩa là hướng tất cả học sinh vào một quan điểm duy nhất. Tính chất áp đặt về ý tưởng của đáp án mâu thuẫn với lời kêu gọi về năng lực sáng tạo và sự độc đáo của học sinh. Dù có kêu gọi kiểu gì thì cũng chỉ là kêu gọi mà thôi, trên thực tế học sinh không thể sáng tạo được, không có chỗ để sáng tạo.   Trên thực tế, những gì thuộc về “sáng tạo” chỉ có thể là ở phương diện câu chữ (Đáp án chấm thi quy định rõ: “Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, chấp nhận cả những cách khác đáp án, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức”. Thực ra, “yêu cầu về kiến thức” chính là yêu cầu rằng các ý trong đáp án, phải được đảm bảo, học sinh chỉ được phép khác nhau về “cách làm bài”, thuộc về diễn đạt, tổ chức cách ý). Nhưng những bài văn mẫu cũng đã góp phần tước đoạt nốt khoảng không gian cuối cùng này của sự sáng tạo. Vì thế, ai có dịp tham gia chấm thi môn văn đại học sẽ thấy: ngoài việc tuyệt đại bộ phận bài làm đều phải có các ý đồng phục của đáp án thì các bài đạt điểm cao có thể giống nhau về văn phong, nhiều bài giống nhau về cách triển khai, cách diễn đạt, nếu đó là những thí sinh luyện cùng một lò, học thuộc lòng cùng một cuốn văn mẫu.   “Giáo dục là quốc sách, con người là vốn quý của xã hội”. Bao giờ thì những người ra đề văn nói riêng và những người làm giáo dục nói chung thực thi quan niệm này trong công việc cụ thể của họ? Bao giờ thì những người ra đề văn nói riêng và những người làm giáo dục nói chung hiểu rằng chính những đề thi như hiện nay đã góp phần xóa bỏ chủ thể con người trong việc tiếp nhận, lĩnh hội văn học, và cả trong việc đánh giá năng lực học sinh; chúng chỉ cho phép tồn tại một chủ thể duy nhất là chủ thể ra đề thi và làm đáp án cho đề thi. Tiếng nói của chủ thể đó, quan điểm của chủ thể đó được dùng làm định hướng và áp đặt cho toàn bộ những người dạy và học văn.   Bao giờ  môn văn mới được trả lại ý nghĩa đích thực của nó?  Môn văn, ngoài việc giúp học sinh rèn các kỹ năng về ngôn ngữ, nắm được các kiến thức cơ bản về văn học, lẽ ra phải giúp cho học sinh khám phá thế giới của con người trong toàn bộ tính phức tạp của nó, nhất là khám phá chính bản thân mình, khám phá ra cái “là một, là riêng”, là duy nhất của họ, khám phá giá trị của việc họ được sinh ra làm người như thế nào, thấy được sự phong phú của đời sống, thấy được ý nghĩa của sự sáng tạo ở người nghệ sĩ và khả năng sáng tạo ở chính bản thân học sinh, thấy được giá trị của đời sống tinh thần như thế nào… Nhưng ở nhà trường, môn văn rốt cuộc chỉ còn là những đáp án khô cứng, khuôn mẫu, biến học sinh thành những kẻ nhai lại những ý tưởng nhạt nhẽo, rập khuôn, áp đặt, biến tất cả các học sinh thành ra như nhau. Có nghĩa là môn văn được dạy và thi theo cách hiện nay đã góp phần phủ nhận chủ thể tính của học sinh, phủ nhận cá tính và khả năng sáng tạo của học sinh.   “Vợ chồng A Phủ”, “Hai đứa trẻ”, “Đời thừa”… đã ngự trị bao nhiêu năm nay trong các lò luyện thi? Năm này qua năm khác, thập kỷ này qua thập kỷ khác, thế hệ này qua thế hệ khác, cũng chỉ mấy văn bản ấy, cũng chỉ mấy tác giả ấy, xào đi xào lại như thế thì hỏi làm sao học sinh không trở nên trơ ì? Hỏi làm sao giáo viên không trơ ì? Đáp án năm này qua năm kia cũng chừng đó ý, sách ôn luyện tràn lan cuốn này qua cuốn kia cũng chỉ chừng đó ý. Giáo viên dạy theo những cuốn văn mẫu đó thì còn sáng tạo vào đâu? Học sinh còn sáng tạo vào đâu, độc đáo được ở chỗ nào? Làm sao đòi giáo viên có được cảm xúc? Làm sao đòi học sinh có được cảm xúc? Học sinh còn có thể làm gì ngoài việc nặn ra những cảm xúc giả dối, những cảm xúc vay mượn và nhai lại từ văn mẫu và từ bài giảng của giáo viên? Và dĩ nhiên những học sinh không muốn tham gia vào trò chơi giả dối do các thầy cô tạo ra thì sẽ bỏ môn văn. Càng ngày học sinh càng bỏ môn văn mà đi.   Tháng 12 năm ngoái, tôi có phỏng vấn một số giáo viên phổ thông Pháp về chương trình và cách giảng dạy môn Văn của họ, tư liệu đã công bố trên tạp chí Tia Sáng. Tôi trích ra đây một đoạn trong phần phỏng vấn Claire Montanari, để thấy sự khác biệt trong cách làm việc của họ và cách làm việc của chúng ta :  “Nói chung, các chương trình tiếng Pháp là rất tốt, và các giáo viên lại được hưởng cái gọi bằng “tự do sư phạm”, khiến cho ta hoàn toàn đam mê với nghề dạy học.   Dĩ nhiên là các chương trình đó ấn định ra một bộ khung để tất cả học sinh thuộc một lứa tuổi đều có thể đề cập tới những chủ đề lớn như nhau và các khái niệm ngữ pháp cơ bản. Nói chung ở trường trung học cơ sở, các tác phẩm được học theo trình tự thời gian, làm theo cách như vậy ngay cả khi có những chủ đề nhất định được học theo chiều cắt ngang. Các em lớp 6 (mười một tuổi) học các tác phẩm lớn thời Cổ đại (Homère, Virgile). Lên lớp 5 [tương đương với lớp 7 của chương trình ở Việt Nam], các  em học thời Trung đại và thời Phục hưng. Các em lớp 4 [tương đương với lớp 8 của chương trình Việt Nam] học tác phẩm thế kỷ thứ XIX, còn các em năm lớp 3 [tức là lớp 9 ở chương trình Việt Nam] thì học tác phẩm thế kỷ thứ  XX và  XXI.   Các quy định chính thức xác định chi tiết các đường nét lớn đó và gợi ý cho giáo viên tạo ra các giáo trình riêng dựa trên một danh mục các tác phẩm nhất định. Các giáo viên được tự do lựa chọn trong các danh mục nói chung là rất đầy đủ đó. Mặc dù có các lời gợi  ý song chúng không hạn chế công việc của giáo viên. Chẳng hạn như, ở lớp 9, học sinh phải học “Tiểu thuyết và truyện vừa thế kỷ XX và XXI đề cập tới lịch sử và thế giới đương đại” và chương trình đề ra là “việc lựa chọn được nhường cho cách đánh giá của giáo viên” và không đưa ra một thí dụ nào hết. Theo ý tôi, cái quyền tự do to lớn này rất là căn bản đối với việc giảng dạy văn chương. Học sinh nhận thấy ngay giáo viên có hứng thú hay không trước một văn bản tác phẩm nào đó. Chỉ có thể tạo ra hứng thú đọc cho học sinh nếu như các em chia sẻ hứng thú đó. Ngoài ra, việc cho phép giáo viên tự tạo ra loạt văn bản tác phẩm sẽ kích thích hứng thú của người dạy học rất nhiều: công việc đó đem lại ý nghĩa cho việc làm của nhà giáo. Lời một thanh tra học đường tại một cuộc họp đã khiến tôi rất có ấn tượng. Ông bảo chúng tôi thế này: “các bạn hãy nhớ kỹ rằng khi các bạn tự tạo ra giáo trình của mình, thì các bạn cũng là những nghệ sĩ”. Công thức này khiến tôi rất thích thú và tôi thường nghĩ đến nó ngay cả khi tôi không dám in chắc mình đáng mang danh hiệu nghệ sĩ! Dẫu sao, tôi thích tự chọn các văn bản và không tự hạn định mình ở các văn bản do sách giáo khoa đề xuất. Thiếu cái quyền tự do sư phạm đó, nghề dạy học nhanh chóng biến thành công việc của người nhai lại bài giảng.” (Claire Montanari, giáo viên trường Trung học Cơ sở Molière, Vùng Paris, Pháp) [Phạm Toàn dịch]  Một người bạn của tôi, là giáo viên giỏi môn văn cấp II, tâm sự với tôi rằng cô và học sinh của cô rất đau khổ, vì mọi nỗ lực của cô trò trong việc tiếp nhận văn chương một cách sáng tạo đều bị xóa bỏ bởi chỉ một chi tiết thôi: cuối kỳ cô phải ra đề và giảng theo đáp án được quy định bởi Sở Giáo Dục. Không làm thế thì học sinh của cô sẽ bị trượt hoặc bị điểm kém. Cô và trò chẳng làm được gì khác hơn là chui vào cùng một cái khuôn đó, được Sở nặn ra cho tất cả các trường, cho tất cả các giáo viên và học sinh.  Nhiều người quan tâm đến môn văn ở Việt Nam đã đặt vấn đề: muốn cải cách môn văn, trước tiên phải thay đổi cách làm chương trình, cách ra đề và đáp án. Tại sao bao nhiêu năm nay không thể nào thay đổi được, dù bao nhiêu hội thảo về cải cách môn văn đã được tổ chức khắp nơi ?  Nhưng vấn đề còn phải được đặt ra theo một cách khác: Liệu những người ra đề văn cho học sinh trên toàn quốc có thể làm khác đi được không? Để trả lời câu hỏi này thì phải trả lời những câu hỏi khác: Những người ra đề văn có MUỐN làm khác đi không ? Nếu họ không muốn thì là vì sao? Nếu họ muốn nhưng không làm khác được thì do đâu? Do họ không còn có thể có đủ năng lực để làm khác đi? Do phải chịu áp lực từ bên ngoài, họ không được phép làm khác đi?   Trả lời một loạt các câu hỏi đó sẽ hiểu được nền giáo dục của chúng ta đang vận hành như thế nào  Chúng ta có thực sự coi trọng con người, là đối tượng của nền giáo dục không? Chúng ta có làm việc vì con người không, chúng ta có làm việc vì học sinh không, hay là vì một cái gì khác?   Năm này qua năm khác, hội thảo này qua hội thảo khác, có bao giờ những người làm chương trình và những người ra đề thi môn văn cảm thấy mình phải có trách nhiệm trước sự suy tàn của ngành văn nói riêng và sự xuống cấp của giáo dục nói chung? Bởi chỉ cần thay đổi cách thi thì giáo viên sẽ phải thay đổi cách dạy, và bởi chỉ cần đa dạng hóa chương trình thì sẽ tạo cho giáo viên cơ hội tiếp xúc và giới thiệu những tác phẩm mới, chỉ cần được tự do lựa chọn các tác phẩm trong sự phong phú của chúng, tự do trình bày các suy nghĩ đánh giá độc lập của mình về tác phẩm, thì học sinh sẽ được đáp ứng nhu cầu nội tâm và sự đa dạng của cá tính.     —————  1 Các “nhà luyện thi” một mặt bao gồm những người luyện thi chuyên nghiệp của các lò luyện thi, trong đó có không ít các giáo viên đại học và cả những người ra đề thi, chấm thi đại học, mặt khác bao gồm cả các giáo viên đứng lớp ở các trường phổ thông, ngày nay muốn được công nhận giáo viên giỏi thì đồng thời phải là người luyện thi giỏi, vì chỉ số để đánh giá giáo viên giỏi là phải có nhiều học sinh đỗ đại học hoặc đỗ các kỳ thi học sinh giỏi. Và thi gì thì cũng phải luyện hết.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để trẻ sống tự lập      Vấn đề xây dựng lối sống tự lập cho trẻ em  là mối quan tâm không chỉ của riêng cha mẹ mà của toàn xã hội. Dùng lời  lẽ khuyên bảo, ra quy định áp đặt hay đồng thuận tìm giải pháp… – đó sẽ  là nội dung chính của Ngày Sư phạm Cánh Buồm tháng 11.    Nhóm Cánh Buồm sẽ chia sẻ quan điểm giáo dục lối sống của nhóm, đó là xây dựng tinh thần, năng lực ĐỒNG THUẬN cho học sinh. Dựa trên trục đồng thuận, môn Lối sống trong chương trình sách giáo khoa Cánh Buồm giúp trẻ phát triển năng lực tự phục vụ, năng lực sống trong cộng đồng, gia đình, tổ quốc và trong nhân loại. Các em được tự mình bàn bạc, đưa ra định hướng và cách thức thực hiện các kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu do chính các em đề ra. Cách làm này khác hẳn so với những bài thuyết giáo đạo đức vẫn thường thấy, nó hứa hẹn mang lại hiệu quả tích cực, không cho học sinh mà còn cho cả giáo viên và phụ huynh. Trong quá trình tổ chức, hướng dẫn các em thực hiện lối sống mới do chính các em xây dựng nên, người dạy cũng sẽ thấm nhuần hơn tinh thần đồng thuận.    Đây là số thứ 5 trong chuỗi hoạt động Ngày Sư phạm Cánh Buồm – chương trình được tổ chức hằng tháng, từ tháng 7 đến tháng 12/2013, nhằm tạo ra môi trường trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em.   Thông tin chi tiết   Thời gian: Từ 15:00 đến 17:00, thứ Bảy, ngày 16/11/2013.  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, số 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Diễn giả: Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hải – phụ trách môn Văn và môn Lối sống của Nhóm Cánh Buồm.  Đăng kí tham dự chương trình tại: http://goo.gl/ev0sC0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề xuất đưa hai đại học quốc gia vào Bộ KH&CN      Tại lễ tổng kết công tác năm 2012 của Bộ  KH&amp;CN tổ chức cuối tuần qua, Thứ trưởng Nguyễn Văn Lạng cho biết,  ông từng đề xuất với lãnh đạo Chính phủ gộp Đại học Quốc gia Hà Nội,  Đại học Quốc gia TP.HCM, Viện KHCN Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt  Nam vào Bộ KH&amp;CN.    Làm như vậy để tinh giản bộ máy hành chính và thống nhất việc nghiên cứu, phát triển khoa học – công nghệ nước nhà.  Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Lạng, đề xuất này đã nhận được nhiều đồng tình của các đồng chí lãnh đạo.  TS Nguyễn Văn Lạng còn đề xuất, mỗi năm nước ta nên tập trung các nhà khoa học vài ngày để họ trình bày trên tivi, internet… tất cả thành tựu họ làm được trong năm, giống như cách nước Mỹ đã làm.  Thứ trưởng Nguyễn Văn Lạng hiện là Trưởng ban Quản lý khu công nghệ cao Hòa Lạc, Phó Chủ tịch Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam.  Năm 2012 đánh dấu một năm thành công rực rỡ của KHCN Việt Nam khi số lượng sáng chế công bố quốc tế của Việt Nam là 1.761, tăng 7% so với năm ngoái (1.556), theo nguồn ISI. Số lượng đơn đăng ký sáng chế là 4257 và văn bằng bảo hộ độc quyền được cấp là là 1112 (số liệu tương ứng năm ngoái là 3.995 và 1.054).  Lĩnh vực nông nghiệp, sinh học đã ứng dụng thành công các giống cây mới như ngô, bông kháng sâu…Sản xuất thành công vắc-xin cúm A-H5N1 cho gia cầm, tiết kiệm hàng chục triệu đô la cho đất nước vì không phải nhập khẩu.  Lĩnh vực cơ khí đã chế tạo giàn khoan tự nâng 90m nước, giá thấp hơn 15 lần so với nước ngoài, đảm bảo mục tiêu chính trị và kinh tế trên biển Đông.  Y học Việt Nam năm 2012 đã có nhiều tiến bộ tầm cỡ thế giới như sử dụng tế bào gốc từ tủy xương để điều trị các bệnh nan y, ghép tim từ người cho chết não…        Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Harvard nhận xét về giáo dục đại học ở Việt Nam      Nhận xét về giáo dục đại học ở Việt Nam, GS Thomas J.Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của ĐH Harvard, cho rằng có 3 yếu tố đảm bảo giáo dục đại học Việt Nam chưa sụp đổ, tuy nhiên cũng chỉ ra 5 ngộ nhận của Việt Nam về việc làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay.     Tháng 11/2008, trong khuôn khổ Chương trình Bồi dưỡng lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, Đoàn tham quan và học tập kinh nghiệm các trường đại học, cao đẳng ở Hoa Kỳ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đã đến thăm ĐH Harvard. Đoàn được Trường tiếp đón và báo cáo một chuyên đề nghiên cứu về hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. Người báo cáo là GS Thomas J.Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của ĐH Harvard.  Tóm lược nội dung bản báo cáo, vẫn có giá trị tham khảo tại thời điểm này, như sau:   Có 3 yếu tố đảm bảo giáo dục đại học Việt Nam chưa sụp đổ(1):  – Một là, sự bùng nổ internet ở Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là trong 8 năm trở lại đây. Chúng tôi nhận ra điều này khi phỏng vấn thí sinh Việt Nam đăng ký vào Đại học Harvard. Các thí sinh đã khai thác được kho tàng internet để tìm kiếm thông tin và học tập tốt. Trong nhóm được phỏng vấn, chỉ có khoảng 1% hạn chế về vấn đề này;  – Hai là, nhờ truyền thống hiếu học. Có thể nói, xã hội Việt Nam là một xã hội hiếu học và đặt giá trị của giáo dục rất thiêng liêng. Các bậc phụ huynh sẵn sàng đầu tư cho việc học tập của con cái mình về vật chất lẫn tinh thần;  – Ba là, kỳ thi tuyển sinh đại học ở Việt Nam được tổ chức nghiêm túc. Và do vậy, Việt Nam tuyển được người giỏi thực sự.  Tuy nhiên, báo cáo của Giáo sư Thomas J.Vallely cũng đã chỉ ra 5 ngộ nhận của Việt Nam về việc làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Năm ngộ nhận đó gồm:  – Một là, bộ tiêu chuẩn mà các trường ở Việt Nam đang áp dụng sẽ tạo ra chất lượng cao. Song, vấn đề khó nhất, lớn nhất là làm thế nào để quản trị, quản lý trường đại học (Việt Nam nên so sánh hệ thống đại học của mình với các nước khác, không nên so sánh mình với mình);  – Hai là, việc tăng nguồn lực vật chất là có thể tạo ra chất luợng cao hơn hiện có. Tôi (Giáo sư Thomas J.Vallely) rất hoài nghi về khả năng Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam vay để phát triển giáo dục. Giáo sư cho rằng, nếu tiếp tục thì sẽ không thành công, không hiệu quả mà vấn đề là ở chỗ đổi mới quản trị, quản lý trước rồi mới đến cái khác. Kinh nghiệm ở Trung Quốc là khó áp dụng ở Việt Nam;  – Ba là, Việt Nam có thể cải cách từ từ cũng có thể dẫn đến thành công. (Giáo sư Thomas J.Vallely nói, mỗi lần tôi gặp một quan chức Việt Nam cho rằng, sẽ cải cách từ từ; nếu mỗi lần như vậy cho tôi 1 đô la thì bây giờ tôi đã là người giàu có). Và Giáo sư nói rằng, theo chúng tôi, Việt Nam phải cải cách nhanh chóng, mạnh mẽ như trong nông nghiệp thì mới có thể cải cách giáo dục (Giáo sư nhắc lại câu này khi Giáo sư trả lời với nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải tới thăm ĐH Harvard năm 2005);  – Bốn là, thực hiện kiểm định chất lượng như hiện nay là có thể nâng cao chất lượng đào tạo. Chúng ta cần biết rằng, kiểm định chất lượng chỉ có tác dụng khi nó có tính cạnh tranh và phải đi kèm với chế tài phù hợp. Kiểm định chất lượng là một công cụ rất quan trọng để Bộ Giáo dục và Đào tạo điều tiết được quá trình nới lỏng và trao thêm quyền tự chủ cho các trường. Theo chúng tôi, Việt Nam cần xây dựng cơ chế kiểm định chất lượng mới có thể tiếp tục cải cách hệ thống giáo dục đại học. Và chúng ta phải nhớ rằng, cơ chế kiểm định chất lượng chỉ là một công cụ chứ không phải là loại thuốc có thể chữa bách bệnh. Riêng kiểm định chất lượng thôi thì không giải quyết được vấn đề chất lượng. Kiểm định chất lượng chỉ hiệu quả khi các trường phải tự chịu trách nhiệm. Theo cách nói người Mỹ, đó là kiểm định chất lượng “có răng”, nghĩa là phải kèm với xử lý, không phải kiểm xong rồi thôi;  – Năm là, cách tuyển chọn và sử dụng nhân sự như hiện nay. Chẳng hạn, tiêu chuẩn lý lịch gia đình không có chỗ đứng trong khoa học. Hay ông hiệu trưởng mà không có quyền sa thải một cô rót trà thì rất khó nói đến việc nâng cao chất lượng. Ông cho rằng, Việt Nam phải đổi mới nhân sự trong giáo dục đại học mới có thể nâng cao chất lượng giáo dục. Nếu không làm điều này, Việt Nam khó có thể đổi mới đạt hiệu quả được. Việt Nam có nhiều nhà khoa học trẻ rất giỏi. Họ đã rất thành công trong và ngoài nước. Cần dành chỗ đứng cho nhân sự khoa học. Mặc dù Nhà nước phải đóng vai trò chủ chốt trong giáo dục nhưng phải đổi mới về vấn đề này.   Có thể nói, hiện nay, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được rất nhiều người quan tâm và bàn luận. Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề này. Chẳng hạn, nên duy trì 2 kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học cao đẳng như hiện nay hay bỏ một trong hai; nếu bỏ một kỳ thi thì bỏ kỳ thi nào,… Do giới hạn của bài viết, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung nêu trên để bạn đọc tham khảo và không bình luận thêm trong bài viết này.  —  (*) Phó Hiệu trưởng ĐH An Giang;  (1) Từ này do Giáo sư ĐH Harvard dùng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Luật TP Hồ Chí Minh đổi mới cơ chế hoạt động      Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát triển thành Trường đại học định hướng nghiên cứu với các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.      Một phiên tòa giả định trong chung kết cuộc thi Phiên tòa giả định Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (HCMULAW Competition Final Around). Nguồn: Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh  Theo Đề án, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm quyết định mở ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo nhu cầu xã hội; xác định chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh theo đề án tuyển sinh của Trường; quyết định các hoạt động đào tạo (chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy; ngôn ngữ giảng dạy, phương pháp thi; kiểm tra đánh giá kết quả học tập; giáo trình, học liệu và quản lý đào tạo; in, cấp phát và quản lý văn bằng, chứng chỉ); quyết định hợp tác trong nghiên cứu và triển khai với các đối tác quốc tế, nhất là với các tổ chức phi chính phủ; tổ chức thực hiện các chương trình liên kết đào tạo…  Về tổ chức bộ máy, nhân sự, Trường quyết định và chịu trách nhiệm về việc thành lập mới, tổ chức lại, sáp nhập, chia, tách, giải thể các đơn vị trực thuộc; quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động của các đơn vị trực thuộc bảo đảm phát huy hiệu quả hoạt động của bộ máy.  Đồng thời, quyết định tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu lao động, vị trí việc làm, tuyển dụng, quản lý, sử dụng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ viên chức và lao động hợp đồng trên cơ sở quy chế và chủ trương được Hội đồng Trường thông qua; quyết định việc ký kết, chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức, người lao động trong các đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật.  Học phí tối đa năm học 2017 – 2018 là 16 triệu đồng/sinh viên  Trường thực hiện cơ chế thu, quản lý học phí theo quy định tại Nghị định  86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021 và quy định tại Quyết định này.  Mức thu học phí bình quân tối đa của chương trình đại trà, trình độ đại học, chính quy 16 triệu đồng/sinh viên năm học 2017-2018; năm học 2018-2019 là 17 triệu đồng/sinh viên; năm học 2019-2020 là 17,5 triệu đồng/sinh viên.  Trường quyết định mức thu học phí đối với các trình độ đào tạo khác tại trường với mức trần học phí đối với trình độ đào tạo tiến sĩ là 2,5 lần; thạc sĩ là 1,5 lần mức học phí bình quân tối đa nêu trên.  Học phí của chương trình đào tạo tại trường theo phương thức giáo dục thường xuyên không vượt quá 1,5 lần mức học phí chính quy cùng cấp học và cùng nhóm ngành nghề đào tạo.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Giao-duc/DH-Luat-TP-Ho-Chi-Minh-doi-moi-co-che-hoat-dong/303644.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH ngoài công lập: Phải nâng chất lượng để lấy uy tín      Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh thiếu niên và Nhi đồng của QH trao đổi về chính sách  tuyển sinh đặc thù ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Tây  Nguyên, Tây Nam bộ mà Bộ GD-ĐT vừa ban hành vá bị cho là một cách để “cứu” các trường  ngoài công lập ở những khu vực này.&#160;    * Phóng viên: Thưa ông, hẳn ông nắm rất rõ tình hình tuyển sinh khó khăn của các trường ĐH-CĐ ngoài công lập (NCL) năm nay?    Ông ĐÀO TRỌNG THI: Chuyện các trường NCL tuyển sinh khó khăn thì năm nào cũng diễn ra, nhưng năm nay khó khăn hơn một phần là do Bộ GD-ĐT thay đổi quy chế tuyển sinh. Việc cho kéo dài thời gian xét tuyển, gia hạn nhiều đợt… tưởng là tạo điều kiện cho các trường tốp dưới, các trường NCL nhưng thực ra là chỉ có lợi cho các trường tốp trên, tốp giữa, các trường công lập, chứ các trường NCL không được hưởng lợi, thậm chí có hại. Có thể khi đưa ra các thay đổi này, Bộ GD-ĐT chưa cân nhắc kỹ.  Nhưng tôi cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đào tạo của các trường NCL không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Bởi thế, người học sau nhiều năm đổ xô học NCL, nhận thức của họ đã thay đổi. Họ từ chối học các trường ĐH NCL cho dù con em vẫn cần một chỗ học. Họ sẵn sàng cho con em học cao đẳng, trung cấp công lập, học nghề sau đó tìm cách liên thông lên chứ không học ĐH NCL như những năm trước. Tôi cho đó là một tín hiệu tốt, là cảnh báo để các trường NLC chăm lo đến vấn đề chất lượng đào tạo nhằm thu hút người học.  Nhà nước cho phép thành lập các trường ĐH NCL nhưng là để anh cung cấp các dịch vụ giáo dục có chất lượng cho người dân chứ không phải mang đến những dịch vụ, sản phẩm giáo dục yếu kém. Từ thực tế tuyển sinh như hiện nay, các trường NCL phải nghiêm túc nhìn nhận lại hoạt động của mình. Điều này tôi cũng đã nói từ lâu, kiểu làm ăn chụp giựt, trong một thời gian dài lợi dụng sự hiểu biết của người học – khi họ chưa nhận thức đầy đủ về các dịch vụ giáo dục của các trường NCL – đã phải trả giá. Giờ đây, người học đã nhận thức rõ hơn, biết đánh giá, yêu cầu về các chương trình giáo dục có chất lượng cho con em mình, chứ không chỉ là thụ động chấp nhận các dịch vụ giáo dục mà trường cung cấp.  * Theo ông, đâu là hướng ra cho các trường ĐH NCL trong bối cảnh hiện nay?  Con đường đúng đắn nhất hiện nay là các trường phải chăm lo đến chất lượng đào tạo để lấy lại uy tín đối với người học. Chứ chúng ta không thể yêu cầu người học hoặc khuyên họ học trường này trường kia. Mục đích của Nhà nước khi cho mở các trường NCL là để cung ứng các dịch vụ giáo dục có chất lượng cho người dân, chứ không phải là hình thành nên những trường ĐH kém chất lượng, bị người học quay lưng như vậy. Không phải mở nhà trường ra để nuôi nhà trường. Các trường ĐH NLC bắt buộc phải đối mặt với thực tế này và bắt buộc phải vượt qua.  Còn anh nào không tồn tại được thì phải chấp nhận bị khai tử. Chúng ta không thể bắt nhân dân chấp nhận các dịch vụ giáo dục kém chất lượng để nuôi sống các trường được. Mục đích của xã hội hóa giáo dục, phát triển giáo dục NCL là để phục vụ nhu cầu học tập có chất lượng của nhân dân.    * Đó là hệ quả dẫn đến việc hàng loạt địa phương từ chối tuyển dụng hệ dân lập trong thời gian qua?  Địa phương từ chối tuyển dụng là một việc khác. Đó là họ từ chối những con người cụ thể. Còn về mặt nguyên tắc, anh phải kiểm tra trình độ của những người tuyển dụng, không phân biệt tốt nghiệp hệ nào, vì không phải ai học dân lập cũng kém. Nhưng đó cũng là một cảnh báo đối với các trường NCL khi cung ứng các dịch vụ kém chất lượng.  * Chúng ta thử đặt vấn đề: Nhà nước chủ trương xã hội hóa giáo dục, trong đó có giáo dục ĐH. Nhưng nếu tình hình của các trường ĐH NCL như hiện nay cứ kéo dài mãi, thì chủ trương đó sẽ phá sản?  Không phải. Sẽ có nhiều trường ĐH NCL nhận thức ra vấn đề để chăm lo đến chất lượng đào tạo, khi đó họ sẽ đứng vững được. Đó sẽ là một cuộc sàng lọc mang tính tích cực. Và chúng ta đang cần điều đó. Tôi chỉ tiếc một điều, lẽ ra các trường NCL phải nhìn ra điều này từ trước, chứ không nên để rơi vào tình cảnh khốn cùng như hiện nay thì mới tính đến chuyện cải thiện chất lượng đào tạo. Nếu anh nhìn xa hơn, chăm lo chất lượng từ 5-7 năm về trước thì có lẽ giờ tình hình đã khác. Cũng đã có những trường NCL nhìn thấy điều này và họ đã có chỗ đứng vững, thậm chí có trường đặt mục tiêu đạt tiêu chuẩn quốc tế.  *  Số trường ĐH NCL được xã hội thừa nhận không nhiều. Vậy số đông còn lại thì sao, theo ông thì Nhà nước phải “cứu” họ, hay để tự họ sinh tồn?  Họ phải tự thay đổi, như một sự tái cơ cấu. Từng trường họ sẽ phải tự suy nghĩ, tìm ra hướng đi cho mình. Không ai có thể nghĩ hộ họ chuyện đó.  * Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Quốc gia HN xếp hạng 26 Đông Nam Á năm 2016      Tháng 1/2016, Webometrics đã công bố kết quả xếp hạng thường niên đợt 1 năm 2016. Theo đó, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) dẫn đầu Việt Nam và xếp thứ 26 Đông Nam Á.       Ngoài các chỉ số đánh giá các thông số của trang web của các cơ sở giáo dục, như dung lượng thông tin hiện có (Presence), mức độ liên kết với các cơ sở giáo dục bên ngoài (Impact), số lượng thư tịch khoa học được index bởi Google Scholar (Openness), Webometrics còn kết hợp đánh giá thêm chỉ số xuất sắc (Excellence) – bao gồm số lượng các bài báo công bố trong hệ thống tạp chí Scopus do Scimago thống kê. Như vậy, hiện nay Webometrics không phải là bảng xếp hạng đánh giá thông thường về website của các trường đại học nữa, mà đang tiếp cận đến các chỉ báo toàn diện hơn ở mức độ hoạt động toàn cầu của đại học (university global performance), gồm cả hai yếu tố: mức độ số hóa và xuất bản quốc tế. Thực chất, bảng xếp hạng Webometrics đã bao gồm cả kết quả xếp hạng nghiên cứu của Scimago cho các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới.    Top 10 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng là: ĐH Quốc gia HN (1 Việt Nam, 26 Đông Nam Á), ĐH Cần Thơ (2 – 39), ĐH Bách khoa Hà Nội (3 – 47),  ĐH Sư phạm Hà Nội (4 – 60), ĐHQG Tp.HCM (5 – 66), ĐH Nông Lâm Tp.HCM (6 – 80), ĐH Bách khoa Tp.HCM (7 – 86), ĐH Trà Vinh (8 – 100), ĐH Đà Nẵng (9 – 101) và cuối cùng là  ĐH Thái Nguyên (10 – 102).  Nguồn: http://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N18842/dHQGHN-dan-dau-Viet-Nam-trong-bang-xep-hang-Webometrics-2016.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi bộ tới trường giúp trẻ học “vào” hơn      Theo các nhà nghiên cứu, đi bộ hoặc đạp xe  tới trường sẽ giúp trẻ dễ tập trung hơn và vì thế sẽ hiểu các bài học  tốt hơn so với việc được phụ huynh đưa đón hay đi xe bus đi học.    Như thông tin đăng tải trên tờ Daily Mail, các nhà nghiên cứu Đan Mạch cho biết trẻ em được bố mẹ đưa xe đến trường hoặc đến trường bằng các phương tiện giao thông công cộng sẽ khó tập trung hơn khi học ở trường.  Kết quả này được xem là rất sốc vì mục đích ban đầu của nghiên cứu là tìm hiểu xem tác động của thói quen ăn sáng và ăn trưa tại trường của trẻ tới khả năng tập trung học tập.  Niels Egelund, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết: “Quả thực bữa sáng và bữa trưa có ảnh hưởng tới khả năng tập trung học tập của trẻ. Song tác động đó không thể so sánh được với các tác dụng của việc tập luyện khi bạn nói với các con mình hãy đi bộ hoặc đạp xe tới trường”.  Theo các nhà nghiên cứu, đi bộ hoặc đạp xe tới trường sẽ giúp trẻ dễ tập trung hơn và vì thế sẽ hiểu các bài học tốt hơn.  Egelund cho biết thêm: “Nhiều người biết rằng luyện tập sẽ giúp cơ thể tươi mới hơn. Tuy nhiên, tập luyện trong thời gian dài hóa ra còn mang lại tác động và sự hỗ trợ tới những hoạt động khác. Vì thế, việc bố mẹ để con tự đi bộ hoặc đạp xe tới trường là rất quan trọng”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm những cử nhân đầu tiên của Đại học Luật Đông Dương      Trường Luật Đông Dương là mô hình đào tạo cử nhân đầu tiên của giáo dục thời Pháp thuộc. Quá trình đi tìm những cái tên tốt nghiệp khóa đầu của trường sẽ hé lộ cho ta thấy mối quan tâm của Pháp tới đào tạo con người ở thuộc địa, sự đón nhận của người Việt với bậc giáo dục mới và quan trọng hơn là vai trò của nó trong việc tạo ra những con người góp phần xây dựng chính phủ mới sau này.      Tòa nhà chính của Đại học Đông Dương, nơi tọa lạc của Đại học Luật Đông Dương.     Dù còn những luyến tiếc, nhưng nhận thấy khoa cử nho học không còn phù hợp nữa, nên Vua Khải Định và chính quyền Pháp đã đồng ý bãi bỏ khoa cử nho học. Việc này được quyết định chính thức theo chỉ dụ ngày 28/12/1918 của Vua Khải Định. Khoa thi Hương chọn tú tài và cử nhân vào năm 1918 tại trường Thừa Thiên và khoa thi Hội, thi Đình tại Kinh đô Huế năm 1919 để chọn tiến sĩ là những khoa thi nho học cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam.  Thực tế là trước khi ở trong nước bãi bỏ khoa cử truyền thống thì đã có những người Việt Nam ra nước ngoài, chủ yếu là đến Pháp, để học và lấy bằng cử nhân, tiến sĩ trong một số lĩnh vực, và một số bằng cấp đặc thù khác. Vậy còn việc đào tạo ngay tại Việt Nam những cử nhân tân học theo mô hình phương Tây đã có từ khi nào ? Việc này gắn với sự ra đời của trường Đại học Luật Hà Nội. Trường này còn được gọi bằng tên khác như Cao đẳng Luật Hà Nội, trường Luật Hà Nội, trường Luật Đông Dương, Cao đẳng Luật Đông Dương.     Bảy sinh viên khóa đầu tiên tốt nghiệp cử nhân luật tại Hà Nội     Bằng Sắc lệnh ngày 11/9/1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp là Paul Doumer, một trường Đại học Luật để đào tạo cử nhân luật đã được thành lập tại Hà Nội và Trường này trực thuộc Đại học Đông Dương.1 Năm học đầu tiên của trường Đại học Luật khai giảng chính thức vào ngày 15/2/1932, do Toàn quyền Pierre Pasquier chủ tọa. Vào lúc đó, trường đang trong giai đoạn quá độ, chuyển đổi từ trường Cao học Đông Dương lên, vì vậy vào năm 1932 chỉ có duy nhất việc giảng dạy để cấp Chứng chỉ luật Đông Dương (Certificat d’études juridiques indochinoise). Lớp cử nhân luật được khai giảng muộn hơn, vào ngày 13/2/1933. Bài giảng đầu tiên cho lớp cử nhân được thực hiện bởi giáo sư luật Bienvenue, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Luật Hà Nội. Vì khai giảng muộn nên phải đẩy nhanh tiến độ giảng dạy. Đến tháng 10/1935 đã có kỳ kiểm tra tốt nghiệp đầu tiên của Trường Luật Hà Nội để cấp bằng cử nhân. Hà Thành ngọ báo, Số 2447, ra ngày 7/11/1935 có tường thuật sự kiện chính thức công bố những vị cử nhân luật đầu tiên của Trường Luật Đông Dương như sau:      Trường Luật còn có tổ chức cuộc thi (concours) giữa sinh viên theo các năm học bằng bài luận. Cuộc thi này là một truyền thống tại các trường luật bên Pháp để khuyến khích và tìm kiếm tài năng. Không ít thí sinh đoạt giải trong các kỳ thi này đã trở nên có tên tuổi về chuyên môn sau đó.      “Chiều qua tại diễn đài trường cao đẳng phố Bobillot (phố Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, Hà Nội hiện nay). Quan toàn quyền Robin đến dự lễ phát bằng cho các ông Cử mới (…)    Lễ này do giáo sư Maunier đại diện trường Luật khoa Paris chủ tọa. (…). Đến dự lễ có quan Toàn quyền Robin ngồi giữa, một bên là ông Camerlynk, Giám đốc trường Luật Hà Nội, một bên là giáo sư Maunier. Cùng hàng ghế nhất, có ông Giám đốc nha Học chánh Đông Dương Bernard và các giáo sư ban Luật khoa. Trên các hàng ghế khác, người ta thấy có mặt quan Thống sứ Bắc Kỳ, quan giám đốc tư pháp, Guiselin, các quan tòa Morché Nadaillat, quan chưởng lý Le Bel, các Luật sư Pháp, Nam (Việt Nam), các vị thân hào và các sinh viên các ban trường Cao đẳng rất đông. (…)    Dứt bài diễn văn của quan Giám đốc Nha học chánh thì giáo sư Maunier gọi 7 ông cử mới là: Các ông: Nguyễn Thương Dương, Vũ Văn Hiền, Lê Văn Mão, Nguyễn Văn Tri, Phạm Quang Su, Trịnh Đỗ Thi, Trần Văn Thinh lần lượt từng người lên để quan Toàn quyền phát cho mỗi ông một tờ giấy chứng thực vì bằng chưa gửi ở Pháp sang.    Riêng ông Vũ Văn Hiền được đức Bảo Đại ban thưởng một tấm bội tinh. Giáo sư Maunier lại hứa sẽ xin ở bên Pháp cho thí sinh nào giỏi nhất một phần thưởng của trường Đại học luật bên ấy. (…). Ngọ báo xin có lời mừng các ông cử mới, đã làm rạng vẻ cho học giới nước nhà”.     Không phải là bảy người mà 13 người     Khi tìm hiểu những tài liệu có ghi lại sự kiện này, chúng tôi bắt gặp một báo cáo của giáo sư Jean Esscarra và một báo cáo của giáo sư René Cassin. Đây là hai người được Khoa Luật Paris cử sang chủ trì kỳ kiểm tra đánh giá lên lớp và tốt nghiệp cho sinh viên Trường Luật Đông Dương, lần lượt vào tháng 5/1938 và tháng 5/1939. Theo danh sách của hai giáo sư, số người Việt Nam đỗ cử nhân thuộc khóa 1 là không phải là bảy mà là 13 người. Đặc biệt là có bốn người được nhắc tên trong Hà thành ngọ báo nhưng lại không có tên trong danh sách của hai giáo sư, đó là: Nguyễn Thương Dương, Nguyễn Văn Tri, Phạm Quang Su, Trịnh Đỗ Thi.      Làng sinh viên của Đại học Đông Dương.    Hóa ra, trong một vài năm đầu hoạt động, Trường Luật Đông Dương tổ chức một lần kiểm tra đánh giá chính vào tháng mười và kỳ thi phụ vào tháng hai của năm sau dành cho những người chưa đỗ ở kì thi chính. Kỳ thi này gồm hai bài thi vấn đáp và để tham gia kì thi này, các thí sinh phải vượt qua một bài thi viết trước đó. Chúng tôi tìm được trên tờ  L’Avenir du Tonkin tin tức về kì thi này thì thấy có đúng bảy người vượt qua cả bài thi viết và hai bài thi vấn đáp, và bảy người này đều có trong danh sách của hai người giáo sư đó là: 1. Vu Van Hien (Vũ Văn Hiền), 2. Trinh Ho Thi (Trịnh Hồ Thi), 3.Tran Van Tri, 4. Tran Trong Dzu (Trần Trọng Dzu), 5. Le Van Mao, 6. Nguyen Xuan Duong (Nguyễn Xuân Dương) và 7. Nguyen Van Trac.    Vậy còn bốn cái tên khác biệt giữa danh sách của Hà Thành ngọ báo và của hai giáo sư thì sao? Hà thành ngọ báo đã đưa sai tên. Danh sách của hai giáo sư có độ tin cậy cao hơn nhiều vì danh sách của giáo sư Esscarra vào năm 1938 được giáo sư Cassin thẩm định lại và cập nhật công việc và tình hình hiện tại của các cử nhân vào năm sau.    Đi tìm tiếp sáu cái tên đỗ ở kỳ thi phụ trên tờ L’Avenir du Tonkin thì chúng tôi thấy rằng, có hai vị là Vũ Đình Hòe (về sau ông trở thành Bộ trưởng đầu tiên Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Nguyễn Văn Huyền (về sau làm luật sư) không thấy có tên đỗ một bài vấn đáp của kỳ thi chính thì đã đỗ ở kỳ thi phụ. Còn có ba người không thấy tên đỗ trong cả hai bài vấn đáp kì thi chính giờ đã đỗ ở kỳ thi phụ là Ta Nhu Khue (Tạ Như Khuê), Dinh Xuan Quang và Nguyen Luong. Nhưng vẫn còn một trường hợp nữa là Ta Van Am, tuy có trong danh sách của hai vị giáo sư nhưng lại không có trong danh sách đỗ của kì thi phụ (trước đó thì ông đỗ kì thi vấn đáp một và không có tên đỗ trong bài vấn đáp hai tại kì thi chính). Nhưng thật may mắn là chúng tôi lại tìm được danh sách của ông Ta Van Am cùng với ông Vũ Văn Hiền và ông Tran Trong Dzu đã đạt chứng chỉ nghiên cứu luật Đông Dương (Certificat d’études juridiques indochinoises) vào dịp tháng 10/1936.      Trường Luật Hà Nội (1931-1945) đã giúp cho một bộ phận, dù rất nhỏ, trong giới thanh niên nước ta khi đó được học hỏi, tiếp cận một cách có hệ thống với văn minh pháp quyền phương Tây, văn minh lập pháp mà thời nào cũng rất cần thiết để xây dựng xã hội.      Theo quy định của Trường Luật thì kể từ năm học 1935-1936 chỉ những ai đã đỗ cử nhân luật thì mới được học tiếp chứng chỉ này (nhưng phải đăng ký học, gồm nhiều môn học), thường gọi đó là năm thứ tư. Đây là chứng chỉ để đáp ứng yêu cầu khi tham gia một số vị trí trong hệ thống hành chính, công quyền khi đó. Từ đó có thể khẳng định ông Ta Van Am đã đỗ cử nhân trước đó, rồi mới theo học chứng chỉ luật Đông Dương và đạt chứng chỉ này vào tháng 10/1936.     Cuộc thi “tìm người tài”     Ngoài ra, trong kỳ kiểm tra, Trường Luật còn có tổ chức cuộc thi (concours) giữa các thí sinh theo các năm học bằng bài viết. Thường là môn luật dân sự (dân luật-Droit civil) và một bài chọn ra theo các môn học còn lại tùy theo năm học. Dựa trên thứ hạng phân định theo thang điểm số để trao giải (prix) nhất, nhì, ba và hạng (mention) nhất, nhì, ba. Người được giải nhất và nhì trong cuộc thi này còn được miễn tiền đăng ký tham dự vào các hội nghị và kỳ kiểm tra đó (nếu là sinh viên chưa tốt nghiệp). Cuộc thi này là một truyền thống tại các trường luật bên Pháp để khuyến khích và tìm kiếm tài năng. Không ít thí sinh đoạt giải trong các kỳ thi này đã trở nên có tên tuổi về chuyên môn sau đó.    Trong bài của Hà Thành ngọ báo cũng có đưa tin về Cuộc thi (concours) của năm học 1934-1935 này. Chúng tôi đối chiếu và thấy thông tin về căn bản trùng khớp với thông tin trong tờ báo tiếng Pháp (có một chỗ khác nhau, chúng tôi sẽ giải thích), cụ thể như sau :    – Năm thứ nhất, môn Dân luật: giải thưởng thứ nhất cho ông Nguyễn Tư Vê, giải thưởng thứ hai cho ông Caratini; hạng thứ nhất cho ông Nghiêm Đăng;    – Năm thứ nhất, môn Kinh tế chính trị : giải thưởng thứ nhất là ông Nguyễn Tư Vê, nhì là ông Caratini, hạng nhất là ông Vũ Văn Mẫu, hạng nhì là ông Phạm Huy Thông.    – Năm thứ hai, môn Dân luật : giải nhất ông Hoàng Cơ Thụy, giải nhì ông Dương Minh Châu (về sau ông là Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Khóa I, nhưng ông bị Thực dân Pháp phục kích hi sinh vào năm 1947); hạng nhất ông Hoàng Thúc Đam, hạng nhì ông Phan Văn Anh;    – Năm thứ hai môn Hình luật, đồng giải nhất là ông Hoàng Cơ Thụy và ông Trịnh Khánh Phong (về sau ông trở thành cố vấn tòa án Thượng thẩm Hà Nội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); hạng nhất ông Huỳnh Văn Tỵ (theo Hà Thành Ngọ báo là ông Nguyễn Văn Tri, Ngọ báo lại không chính xác, lúc trước đã xếp ông Nguyễn Văn Tri vào danh sách đỗ cử nhân, tức là năm thứ ba, ở đây lại xếp vào thuộc năm thứ hai. Thực tế là không có ông này, mà phải là ông Huỳnh Văn Tỵ, lúc này đang học năm thứ hai (1935), vì chúng tôi thấy tên ông Huỳnh Văn Tỵ xuất hiện trong bảng danh sách cử nhân của hai giáo sư năm 1936), hạng nhì ông Hoàng Thúc Đam;    – Năm thứ ba môn Dân luật: không có giải nhất; giải nhì là ông Vũ Văn Hiền, hạng nhất là ông Lê Văn Mão.    – Năm thứ ba môn Khoa học tài chính, giải nhất là ông Vũ Văn Hiền (về sau ông trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính của chính phủ Trần Trọng Kim, ông cũng là Tổng thư ký Đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Công hòa tham dự Hội nghị Đà Lạt đàm phán với Pháp), giải nhì là ông Vũ Đình Hòe; hạng nhất là ông Nguyễn Xuân Đương.     Nữ cử nhân luật đầu tiên tại Đại học Luật Đông Dương     Vào tháng 5/1938 có một phụ nữ Việt Nam đầu tiên được nhận bằng cử nhân luật của Trường Luật Đông Dương. Vị nữ cử nhân đó tên là Nguyễn Thị Minh Nguyệt. Vì đây là một trong số các sự kiện đánh dấu bước tiến bộ của nữ giới nước ta thời đó, cho nên một số báo chí ngày ấy cũng đã đưa tin về bà. Theo đó, bà xuất thân trong một gia đình không xa lạ với nhiều người. Cha của bà chính là cụ Nguyễn Quí Anh. Như vậy ông nội của bà chính là cụ cử nhân nho học Nguyễn Thông (1827-1884). Tràng An báo, số 324, ngày 27/5/1938, mục thư Sài Thành có đoạn viết như sau: “Nước Nam đã có thêm một nữ luật sư. Nữ luật sư ấy là cô Nguyễn Thị Minh Nguyệt (…), lệnh ái ông Nguyễn Quí Anh hội trưởng hội buôn Liên thành ở số nhà 205, đường Charles Thomson tại Chợ lớn. Cô Nguyệt năm nay mới có có 25 tuổi. Thật là một điều vẻ vang cho người Việt Nam, cho các bạn phụ nữ nước nhà. Tốt số cho ông nào sẽ là chồng cô. Tuy vậy, cũng hơi gay một chút”.      Hình của bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, trên báo l’Avenir du Tonkin.    Lưu ý là nhà báo trên chưa hiểu rõ quy định để trở thành luật sư. Muốn trở thành luật sư thì phải trải qua một kỳ tập sự tại văn phòng luật và mất nhiều thời gian, ngoài ra còn phải đáp ứng những quy định cụ thể khác. Vào thời điểm tháng 5/1938, bà chỉ vừa tốt nghiệp cử nhân, nên chưa thể là luật sư ngay được.    Tờ Sài Gòn, số 141164, ngày 2/5/1939 có một bài với tiêu đề “Nay mai ở tòa án Saigon sẽ có vị trạng sư?”. Chúng tôi để nguyên nội dung và chính tả bài: “Hôm thứ bảy tuần rồi, tòa hộ có nhìn nhận Mlle Ng-M-Nguyệt, ái nữ của ông Ng-Qui-Anh, đã quá vãng (tức là cụ Nguyễn Quí Anh đã mất), nhập tịch dân Pháp. Mlle Minh Nguyệt là một nữ lưu, đầu tiên đỗ cử nhơn luật khoa ở Hanoi năm trước. Theo một đạo lịnh trước đây, thì đàn bà đều được phép làm trạng sư. Như thế thì nay mai có lẽ ở tòa án Saigon, chúng ta sẽ thấy một vị nữ trạng sư vậy”.    Rất tiếc là chúng tôi không có thêm những tin tức về cuộc đời và những hoạt động của bà sau này như thế nào.    Ngoài các vị khóa 1 đỗ cử nhân luật mà trong đó có những nhân vật đã trở nên danh tiếng như luật sư, tiến sĩ Vũ Văn Hiền, chủ nhiệm báo Thanh nghị, Bộ trưởng Vũ Đình Hòe, luật sư Nguyễn Văn Huyền, luật sư Tạ Như Khuê, các năm sau đó Trường Luật Đông Dương đã tiếp tục đào tạo được thêm các cử nhân (theo tài liệu lưu trữ của Pháp thì khoảng 220 cử nhân), trong số này có các vị như Phan (Văn) Anh, Phạm Huy Thông, Vũ Trọng Khánh, Võ Nguyên Giáp, Đỗ Đức Dục, Dương Đức Hiền, Đinh Gia Trinh, Cù Đình Lộ…    Trường Luật Hà Nội (1931-1945) đã giúp cho một bộ phận, dù rất nhỏ, trong giới thanh niên nước ta khi đó được học hỏi, tiếp cận một cách có hệ thống với văn minh pháp quyền phương Tây, văn minh lập pháp mà thời nào cũng rất cần thiết để xây dựng xã hội. Bên cạnh đó, các sinh viên luật cũng được học những lĩnh vực khoa học mới mẻ nhưng rất hữu ích như kinh tế chính trị học. Thực tế là một bộ phận các cử nhân luật từ đây ra đã góp phần tích cực, hiệu quả vào việc soạn thảo, góp ý xây dựng hiến pháp tiến bộ năm 1946, hoặc vào cải cách tư pháp của nước ta, bên cạnh đó là vào nhiều lĩnh vực quan trọng (như văn hóa, giáo dục) để xây dựng xã hội trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.□  ——  1 Gouvernement général de l’Indochine – Direction de l’Instruction publique, Annale de l’Université de Hanoi, Tome 1, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, tr.86.    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Diễn biến phát triển của ngành giáo dục so sánh: NHỮNG THỬ THÁCH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊM TÚC VỀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH VÀ XUYÊN VĂN HÓA      &#8220;N&#243;i một c&#225;ch l&#253; tưởng th&#236; một c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu n&#234;n d&#249;ng nhiều hệ thống gi&#225; trị kh&#225;c nhau l&#224;m cơ sở cho c&#225;c lập luận v&#224; giả thuyết. Do nhiều nguy&#234;n nh&#226;n thực tế y&#234;u cầu n&#224;y thường chỉ được đ&#225;p ứng một phần rất nhỏ. Ch&#250;ng ta kh&#244;ng n&#234;n qu&#234;n rằng những tiền đề gi&#225; trị sẽ quyết định to&#224;n bộ c&#225;ch tiếp cận vấn đề v&#224; c&#243; li&#234;n hệ chặt chẽ với việc định nghĩa c&#225;c kh&#225;i niệm, với việc lập thức c&#225;c l&#253; thuyết, với phương ph&#225;p quan s&#225;t v&#224; việc tr&#236;nh b&#224;y kết quả&#8221;.  &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gunnar Myrdal1 (1969)    Bối cảnh lịch sử   Giáo dục so sánh đã hình thành như một lĩnh vực nghiên cứu khoa học từ một thế kỷ qua với những tác phẩm rất có giá trị của nhà thơ nổi tiếng thời Nữ hoàng Victoria, đồng thời là một học giả Anh, Matthew Arnold (1861, 1882, 1888, 1892).Ông đã công bố các kết quả nghiên cứu về giáo dục ở Pháp, Thụy Sĩ, Ha Lan và Đức. Vào khoảng năm 1854, Carl johan Fogh đã có một công trình nghiên cứu về các trường ở Đan Mạch dưới cách nhìn của người Mỹ và William Denison (1862) đã công bố một công trình nghiên cứu có tên là Về các Hệ thống Giáo dục.  Trong thế kỷ qua, đã có ba giai đoạn chính trong quá trình phát triển của lĩnh vực khoa học mới mẻ này. Bảng 1 cho thấy số lượng công bố khoa học về giáo dục so sánh theo từng thập kỷ. Số liệu này cho biết rằng lĩnh vực này đã phát triển nhảy vọt trong những năm 60 và đã có một loạt ấn phẩm lớn chưa từng có trước đây với hơn một ngàn đầu sách xuất bản trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Cũng có thể thấy rõ trong (Bảng 1), đã có một số đáng kể các công trình về giáo dục so sánh được xuất bản bằng những ngôn ngữ khác không phải là tiếng Anh. Trong thập kỷ gần đây đã có gần một ngàn đầu sách như thế. Gần một nửa số sách về giáo dục so sánh trên thế giới đã được viết không phải bằng tiếng Anh. Điều này phản ánh tầm quan trọng của việc biết những ngôn ngữ khác vì đó là một kỹ năng tìm hiểu thông tin quan trọng.    Bảng 1:  Diễn tiến về số lượng sách Giáo dục So sánh được xuất bản qua các thời đại          Giai đoạn đầu: So sánh Miêu tả Các Hệ thống Giáo dục   Lĩnh vực này hình thành với khá nhiều công trình nghiên cứu so sánh miêu tả về các hệ thống giáo dục. Những nghiên cứu này đưa ra nhiều thông tin và kiến thức bổ ích tuy rằng ý nghĩa lý luận và khái niệm mà nó mang lại thì còn hạn chế. Đồng thời những công trình nghiên cứu này cũng thường có khuynh hướng khô khan và chán ngắt.       Giai đoạn hai: Sự hình thành Phát triển Giáo dục Quốc tế   Trong giai đoạn tiếp theo về cơ bản được hình thành trong thập kỷ 60, các nhà khoa học về giáo dục so sánh đã đi xa hơn việc miêu tả để nhìn nhận và phân tích mối quan hệ giữa giáo dục với những bước phát triển về kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội. Điều này dẫn đến kết quả là bắt đầu có các nhà nghiên cứu khoa học xã hội như các học giả về kinh tế học giáo dục chuyển sang nghiên cứu về giáo dục so sánh. Một ví dụ nổi bật là hai nhà kinh tế học Martin Carnoy và Hank Levin. Họ đã đóng góp rất tích cực cho sự phát triển liên ngành ở Trung tâm Giáo dục Phát triển Quốc tế Stanford. (SIDEC). Trong giai đoạn này trọng tâm cơ bản là những vấn đề ở cấp nhà nước và những thách thức của phát triển. Thời gian này đã có một sự nhấn mạnh ở cả những công trình lý thuyết và phân tích nhằm tìm hiểu sâu hơn vai trò của giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục đối với con đường phát triển của quốc gia. Đồng thời cũng đã hình thành sự quan tâm lớn về vấn đề giáo dục ảnh hưởng như thế nào đối với tình trạng bất bình đẳng và có thể phục vụ như thế nào trong việc tái tạo một hệ thống phân tầng xã hội.  Một ví dụ xuất sắc của những công trình ấy là nghiên cứu của giáo sư Donald Holsinger (cựu Học giả Fulbright tại Việt Nam) về bất bình đẳng trong giáo dục ở Việt Nam và Cambodia, dựa trên những thông tin rời rạc và khó kiếm. Một đặc điểm cơ bản của các công trình nghiên cứu thời kỳ này là bản chất liên ngành của nó (xem Kline, 1995; Klein, 1990; Klein & Doty, 1994). Thời kỳ này còn có một đặc điểm là nhiều học giả trong chuyên ngành giáo dục so sánh đã tham gia vào công tác tư vấn trong lĩnh vực phát triển (xem Moussavi, 1982; Fry & Thurber, 1989).     Giai đoạn ba và là giai đoạn hiện nay: Toàn cầu hóa và vượt lên trên những vấn đề của nhà nước quốc gia   Hiện tượng toàn cầu hóa, với nhiều khả năng gây ra bất đồng, đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong hai thập kỷ vừa qua. Trọng tâm của các cuộc tranh luận phần lớn xoay quanh chủ đề những sức mạnh quyền lực hội tụ và phân kỳ của những giá trị cơ bản liên quan đến con đường phát triển. Một phần không thể thiếu của giai đoạn này là mối quan tâm ngày càng lớn đối với những lực lượng xuyên quốc gia và sự tăng trưởng ngoạn mục của chủ nghĩa phân quyền (subnationalism). Một ví dụ rất rõ của chủ nghĩa này là sự hình thành những chính thể mới trong hai thập kỷ vừa qua. Nhiều doanh nghiệp xuyên quốc gia giờ đây còn lớn hơn cả một nền kinh tế của một quốc gia cụ thể và đang gia tăng quyền lực cũng như ảnh hưởng trên toàn cầu  (Korten, 1995). Có những vùng về mặt hành chính thì ở cấp độ dưới cấp độ quốc gia chẳng hạn như California trong thực tế về mặt ảnh hưởng thì còn lớn hơn nhiều so với cả một nền kinh tế của nhiều quốc gia khác. Ohmae (1995) đã từng viết về tầm quan trọng ngày càng tăng của Nhà nước địa phương. Một số học giả thậm chí còn nói đến “sự cáo chung của Nhà nước trung ương”. Liên quan đến tình trạng của chủ nghĩa quốc gia, Ben Anderson (1991) ở Đại học Cornell đã đưa ra một cấu trúc vững chắc về những cộng đồng tưởng tượng, còn JamesScott (1998) ở Đại học Yale thì nói về việc “nhìn sự việc với con mắt của một quốc gia” .      Nhu cầu nghiên cứu về những công trình nghiên cứu thể hiện diễn biến phát triển của ngành   Gần đây nhiều nghiên cứu sinh của tôi (Moosung Lee, Korea; Tryggvi Thayer, Iceland; và Elizabeth Stallman,US) cùng với tôi đã tìm hiểu dựa theo kinh nghiệm của mình về vấn đề diễn tiến phát triển của lĩnh vực giáo dục so sánh từ ngày nó bắt đầu đến nay. Chúng tôi xem xét cả việc hình thành bộ môn giáo dục so sánh lẫn việc nội dung nghiên cứu của lĩnh vực này đã thay đổi như thế nào qua thời gian. Đây là một công việc còn đang dang dở. Ở một hội thảo tiếp theo chúng tôi mong rằng sẽ có thể trình bày kết quả nghiên cứu của công trình nói trên.  Trong phần tiếp theo là tóm tắt các loại nghiên cứu so sánh và liên văn hóa     Các loại nghiên cứu so sánh và liên văn hóa   Những nghiên cứu liên văn hóa, xuyên văn hóa thực hiện trong phạm vi biên giới của một quốc gia   Về mặt thuật ngữ, nghiên cứu liên văn hóa (intercultural) và xuyên văn hóa (cross-cultural) sẽ được dùng hoán đổi cho nhau trong bài này. Cả hai đều được định nghĩa như quá trình thực hiện việc nghiên cứu về những cá nhân mà văn hóa của họ khác với văn hóa của người nghiên cứu. Nhà dân tộc học nổi tiếng người Ba Lan Malinowski thực hiện nghiên cứu về dân tộc Papua ở Tân Ghinê là một ví dụ cổ điển của những nghiên cứu như thế.   Loại thứ nhất là khi việc nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi biên giới của một nước mà người nghiên cứu là công dân của nước ấy. Chẳng hạn, một người Thái có thể thực hiện nghiên cứu về dân tộc Hmong sống ở vùng núi Phetchabun phía Bắc của Thái lan. Kasian (1994) đã biên soạn một hợp tuyển rất có giá trị về việc là một người Hoa ở Thái Lan thì có ý nghĩa như thế nào. Suchit (1987) đã viết một cuốn sách rất sắc sảo về người Hoa ở Thái Lan và cộng đồng người Lào, về việc họ đã pha trộn như thế nào để tác động đến văn hóa Thái hiện nay. Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội gần đây đã thực hiện một công trình nghiên cứu về người Hmông ở Việt nam bằng cách sử dụng những phương pháp đổi mới về tiếng nói hình ảnh. Họ cũng đã làm một công trình khái quát rất xuất sắc về 54 dân tộc đa dạng của Việt Nam. (xem Ðỗ Phương, 1997; Nhà Xuất Bản Tháng Tám, 2008).  Stanley Tambiah ở Đại học Harvard nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển ngoạn mục trong sự đa dạng văn hóa của cộng đồng người Do Thái trên thế giới và coi đó như một lĩnh vực nghiên cứu hết sức cốt yếu. Một ví dụ của xu hướng này là quyển sách vừa xuất bản, “Khi những cách sống va chạm: Chủ nghĩa đa văn hóa và sự bất bình ở Netherlands” do Sniderman và Hagendoorn (2007) biên soạn, về vấn đề phức tạp của sự gia tăng nhanh chóng cộng đồng người Do Thái Hồi giáo ở Neitherland. Hai ví dụ khác của xu hướng này là một nghiên cứu xuất sắc về phụ nữ Thái nhập cư vào Đức (Supang, et al. 2001) và một nghiên cứu gần đây về phụ nữ Thái ở Netherlands (Panitee, 2008).    Trong thể loại thứ nhất này, một cựu giáo sư Somali ở Minnesota (vốn là Thủ tướng của nước này) và Gerald Fry đang có kế hoạch thực hiện một tổng tập trong đó có một số chương về những cộng đồng dân tộc ở Hoa Kỳ còn ít được nghiên cứu như người Việt, người Lebani, người Kurk, người Hmong, và cộng đồng người Somali. Những chương này sẽ do những người có hiểu biết rộng về từng cộng đồng dân tộc ấy nghiên cứu và viết.      Những nghiên cứu liên văn hóa thực hiện ở một nước khác   Trong thể loại thứ hai này, các nhà nghiên cứu đến một nước khác để thực hiện việc nghiên cứu. Một ví dụ cụ thể là nhà nghiên cứu giáo dục lỗi lạc người Nhật, Hidenori Fujita, bỏ ra một năm để nghiên cứu các trường trung học Hoa Kỳ ở vùng Philadelphia (Katz, Fujita, et al. 1989).  Đây là kiểu phổ biến nhất của nghiên cứu so sánh và liên văn hóa. Công trình nghiên cứu xuất sắc của William Cummings (1980) và Rohlen’s (1983) về giáo dục Nhật Bản cũng là những ví dụ nổi bật của kiểu nghiên cứu này.     Thực sự “trở thành người khác”   Để nghiên cứu “người khác”, một số nhà nghiên cứu đã thực sự cố gắng “trở thành người khác” nhằm nỗ lực đạt được những hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa mà mình đang nghiên cứu. Nhà nhân loại học văn hóa Robert B. Textor đã trở thành một nhà sư như một cách để nghiên cứu sâu về đạo Phật ở Thái và văn hóa tinh thần của Thái Lan (Textor, 1973). Những nghiên cứu trước đó của ông về cải cách giáo dục Nhật Bản sau Thế Chiến Thứ hai đã dựa trên sự tham gia thực tế của ông vào quá trình này khi ông sống và làm việc ở Nhật thời kỳ sau chiến tranh (Textor, 1951).  Nhà nghiên cứu người Thái, Suleeman Naruemol Wongsuphab của Trường Đại học Thammasat University, đã thực sự trở thành một người phụ nữ Thái làm nghề xoa bóp nhằm nghiên cứu thế giới massage khiêu dâm ở Thái. Đó là đề tài luận văn thạc sĩ xã hội học của cô tại Đại học Thammasat University năm 1987. Sau đó nó được in thành sách (1994) bằng tiếng Thái. Bằng cách thực sự trở thành một nhân viên massage cô đã xây dựng được một vốn liếng hiểu biết rất sâu sắc về cuộc sống của những phụ nữ này. Công trình nghiên cứu của cô đã nhận được khen thưởng của Hội đồng Khoa học Quốc gia vì sự xuất sắc trong lĩnh vực khoa học xã hội. Trong công trình nghiên cứu về đời sống tình dục ở Patpong, Cleo Odzer (1994) rõ ràng đã chủ động tham gia kiểu sinh hoạt ấy. Nghiên cứu của cô không được Hội đồng Khoa học Quốc gia chấp thuận nhưng cô vẫn tiếp tục và thực hiện một nghiên cứu “bất hợp pháp” gây ra những mối quan ngại nghiêm trọng về đạo đức. Lisa Louis đã viết một cuốn sách về mizu shobai (kinh doanh đồ uống) Nhật Bản dựa trên kinh nghiệm của cô như một tiếp viên quán. Mặc dù cô đã trực tiếp can dự vào công việc bán rượu nhưng cuốn sách thực ra không quá chủ quan và nhấn mạnh đến tính ưu việt của dân tộc Nhật. Liza Dalby (1983) đã trở thành một kỹ nữ (geisha) Nhật Bản như một cách để nghiên cứu cuộc sống của các geisha ấy. Cuốn sách của cô về geisha được biết phổ biến nhất nhì trên thế giới về xu hướng này.       “Nghiên cứu suông” về một nước hay một nền văn hóa khác   Ví dụ cổ điển của loại nghiên cứu này là nghiên cứu của Ruth Benedict về văn hóa Nhật (1946) và văn hóa Thái (1952) thực hiện khi bà đang ở Mỹ. Vì Hoa Kỳ lúc đó đang trong thời gian chiến tranh với các nước trục Berlin, Roma và Tokyo, bà không thể đến các nước này để thực hiện công trình nghiên cứu liên văn hóa của bà. Trớ trêu thay nghiên cứu suông của bà về Nhật bản và Thái lan còn có chất lượng tốt hơn so với một công trình nghiên cứu thực địa khác về Samoa do người yêu của bà, Margaret Mead thực hiện (xem Louis, 2003).      Nghiên cứu so sánh thực hiện ở nhiều quốc gia    Cho dù là đã có nhiều tạp chí nghiên cứu so sánh trên nhiều lĩnh vực, những công trình nghiên cứu so sánh thực sự có rất ít, như Harry Judge ở Đại học Oxford đã chứng minh. Hầu hết các học giả chuyên về một quốc gia nào đấy như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật bản, và họ thực hiện các nghiên cứu chỉ ở những nước ấy. Phần lớn những công trình đăng trên các tạp chí nghiên cứu so sánh là thuộc dạng này. Trong số những công trình nghiên cứu so sánh nổi tiếng có hai công trình cổ điển, một là về văn hóa công dân ở năm quốc gia (Anh, Đức, Ý, Mexico, và Hoa Kỳ) do Gabriel Almond và Sidney Verba (1965) thực hiện. Một công trình khác là tính chất hiện đại của cá nhân do Alex Inkeles và David Smith thực hiện (1974) liên quan tới sáu quốc gia (Argentina, Chile, East Pakistan, India, Nigeria, and Israel). Giáo sư Somwung Pitayanuwat của Thailand và John Cogan của Đại học Minnesota đã thực hiện một nghiên cứu xuyên quốc gia nổi bật về giáo dục công dân ở một loạt quốc gia (Cogan & Derricott 1998; Cogan, et al. 2002).     Nghiên cứu so sánh ở cấp dưới quốc gia   Đây là sự kết hợp giữa thể loại thứ nhất và thứ ba. Trọng tâm là so sánh những cộng đồng bản xứ trong hai hoặc nhiều nước. Một ví dụ là công trình của  Fry và Kempner (1996) về đông bắc Brazil và đông bắc Thái lan. Kiểu nghiên cứu này là cực kỳ hiếm.       Nghiên cứu toàn cầu, xuyên quốc gia   Trong thể loại này, tư liệu sử dụng được thu thập từ nhiều nước trên thế giới. Một ví dụ cổ điển là nghiên cứu của Ted Gurr Tại sao Con người Nổi loạn (1970).  Một ví dụ quan trọng khác là những nghiên cứu xuyên quốc gia về so sánh thành tựu giáo dục giữa các nước do Hiệp hội Giáo dục Quốc tế (IEA) bảo trợ thực hiện (công trình TIMMS). Một lĩnh vực đầy thử thách gần đây hơn là những nghiên cứu xuyên quốc gia về hạnh phúc con người, một đề tài có phần đã được khơi gợi cảm hứng từ sự kiện Vương quốc Bhutan2 nhấn mạnh đến “tổng sản lượng hạnh phúc quốc gia” như một sự lựa chọn thay vì nhấn mạnh đến những chỉ số về thành tựu kinh tế như GNP hay GDP. Giáo sư Ruut Veenhoven tại Đại học Erasmus University ở Rotterdam đã xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn thế giới về Hạnh phúc. Thái Lan hiện nay đang thực hiện những báo cáo hàng tháng về chỉ số hạnh phúc của người Thái. Cũng sử dụng những dữ liệu xuyên quốc gia trên phạm vi toàn cầu, Lynn và Vanhanen (2002) trong một công trình rất dễ gây tranh luận đã tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa chỉ số thông minh IQ và sự giàu có thịnh vượng của các quốc gia.       Những trở ngại chính hiện nay trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục so sánh   Lẽ tự nhiên là sự hình thành những lĩnh vực nghiên cứu liên ngành và có định hướng giải quyết những khó khăn đang tồn tại sẽ phải trải qua những “nỗi đau trưởng thành”.  Những trở ngại chính hiện nay có thể nêu tóm tắt như sau:     Lĩnh vực này hiện nay không thực sự là nghiên cứu so sánh   Như đã nêu ở phần trên, Harry Judge ở Đại học Oxford đã làm một nghiên cứu về các nội dung nghiên cứu trên các tạp chí nghiên cứu so sánh trên nhiều lãnh vực như giáo dục, khoa học chính trị, xã hội học. Ông thấy hầu hết các công trình này tập trung vào một quốc gia cụ thể. Những nghiên cứu so sánh thực sự rất hiếm. Những nghiên cứu so sánh cấp dưới quốc gia lại càng đặc biệt hiếm.       Thiếu nền tảng vững vàng trong những công trình nghiên cứu khoa học xã hội nghiêm túc   Nghiên cứu về những mối quan hệ phức tạp giữa giáo dục và phát triển đòi hỏi một nền tảng vững vàng và nghiêm túc về các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như toán kinh tế, đo nghiệm tâm lý, làm mô hình nhân quả và kiến thức dân tộc học.  Những phương pháp hỗn hợp đặc biệt có sức mạnh trong việc tăng cường sự nghiêm ngặt trong việc nghiên cứu lĩnh vực này (Creswell, 2009; Thomas, 2003).     Thiếu khả năng “Hai kỹ năng trong một bộ óc”   Robert Ward (1987), một nhà khoa học chính trị ở Đại học Stanford người chuyên về Nhật Bản đã có một danh dự hiếm có vừa là Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ, vừa là Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu châu Á. Ward cho rằng có cả kỹ năng liên ngành lẫn kiến thức chuyên sâu một lĩnh vực là điều tối quan trọng. Các chuyên gia nghiên cứu sâu về một lãnh vực đôi khi thiếu kỹ năng liên ngành và những người mạnh về chuyên ngành khoa học thì lại có thể thiếu kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa địa phương. Các nhà nghiên cứu tương lai trong lĩnh vực so sánh cần có cả hai hệ kỹ năng ấy.        Thiếu thời gian để thực hiện nghiên cứu   Thật không may là có quá nhiều công trình “mì ăn liền” trong lĩnh vực này. Điều rất quan trọng là phải dành nhiều thời gian hết mức có thể trong lãnh vực này để có điều kiện phát triển những kiến thức sâu về xã hội hay nền văn hóa cần nghiên cứu.     Nhiều hạn chế trong hợp tác khoa học trong nghiên cứu liên văn hóa   Quá nhiều công trình nghiên cứu so sánh theo kiểu “kỵ sĩ độc hành”. Vì nhiều lý do, hợp tác nghiên cứu giữa các học giả ở những nền văn hóa khác nhau khá là hiếm hoi. Hãng thông tấn Clio Press ở Oxford, England được nhiều người khen ngợi vì yêu cầu trong danh sách những tác phẩm viết về các nước trên thế giới, phải có ít nhất một tác giả là người của quốc gia được nghiên cứu. Cũng vậy, danh sách công trình tham khảo do Berkshire công bố cũng được lưu ý vì sự có mặt của học giả từ nhiều nước trên phạm vi toàn cầu (xem Levison & Christensen, 2002; 2007).     Thiếu quan tâm đến những tri thức và sự từng trải có tính chất địa phương   Như đã thấy trong bảng 1 trên đây, nhiều công trình về giáo dục so sánh đang được thực hiện bằng những thứ tiếng không phải là tiếng Anh. Điều quan trọng là đa dạng hóa các nguồn trích dẫn và bao gồm được những công trình nghiên cứu quan trọng của các học giả từ nhiều nước và được viết bằng nhiều ngôn ngữ (xem Hayhoe, 2006).     Quá ít những nghiên cứu theo chiều dọc hay có tính chất truy nguyên, quá nhấn mạnh đến những phân tích cắt ngang   Chủ yếu vì hạn chế về thời gian và kinh phí, nhiều công trình chỉ nghiên cứu thực hiện cắt ngang ở một thời điểm. Đây là một phương pháp nghiên cứu tương đối yếu so với những công trình nghiên cứu theo chiều dọc hay nghiên cứu lịch đại. Trong việc phân tích các chương trình đào tạo hay giáo dục, rất cần thực hiện những nghiên cứu truy nguyên nghiêm túc nhằm khảo sát ảnh hưởng của những chương trình như thế đối với các cá nhân (xem Tomita, Fry, & Seksin, 2000; Paige, et al, 2009).     Tình trạng rời rạc của ngành giáo dục so sánh: Hiện có ít những trung tâm hay viện nghiên cứu chuyên về giáo dục so sánh   Tuy rằng lĩnh vực giáo dục so sánh đang phát triển nhanh chóng, có tương đối ít những trung tâm hay viện nghiên cứu dành cho lĩnh vực học thuật này. Đối với những viện đang tồn tại, ít nơi thực hiện được những nghiên cứu có quy mô rộng lớn và có tính chất toàn diện.   Chiến lược và kinh nghiệm tốt nhất trong việc thực hiện những nghiên cứu so sánh và liên văn hóa nghiêm túc      Đương đầu với sự khủng hoảng về hình tượng biểu trưng   Một vấn đề chính của ngành giáo dục so sánh có liên quan tới cái được gọi là “cuộc khủng hoảng về hình tượng biểu trưng”. Thuật ngữ này dùng để chỉ hiện tượng có những nghiên cứu bóp méo, xuyên tạc hay miêu tả sai về “người khác”. Về cơ bản nhà nghiên cứu đã nắm bắt một hình ảnh sai về đối tượng. Các tác giả Edward Said (1978, 1993) và Linda Tuhiwai Smith (1999) đã phê phán nặng nề các học giả phương Tây vì đã miêu tả không đúng về những dân tộc bản xứ và những người không phải là người phương Tây. Trong văn học so sánh có vô số ví dụ về kiểu bóp méo hay xuyên tạc này. Các nhà nghiên cứu so sánh cần phải nỗ lực làm giảm những sự bóp méo và trình bày sai về đối tượng như thế.       Dùng những thuật ngữ nhạy cảm một cách có văn hóa và đúng đắn, xác đáng   Thật không may là trong nghiên cứu so sánh và trong khoa học xã hội nói chung thường có nhiều trở ngại trong việc sử dụng những thuật ngữ thiếu xác đáng và/hoặc mang tính vị chủng. Trong một công trình nghiên cứu có giá trị về định kiến dân tộc trong việc lựa chọn từ ngữ, Herbst (1997) đưa ra những thông tin chi tiết về nhiều thuật ngữ liên quan đến việc viết về những nhóm dân tộc đa dạng theo những cách khá nhạy cảm về mặt văn hóa. Một chiến lược cơ bản là hỏi trực tiếp mọi người xem họ muốn được gọi và được miêu tả như thế nào. Một số thuật ngữ có vấn đề vì không bao hàm đủ nội dung. Chẳng hạn, thuật ngữ “vòng cung Thái Bình Dương (“The Pacific Rim”), đã loại trừ nhiều đảo lớn ở Thái Bình Dương. Thuật ngữ “Đông Dương” là một thuật ngữ thời thực dân nay không còn có ý nghĩa với bất cứ thực thể chính trị hiện tại nào nữa. Thuật ngữ được dùng khá phổ biến “miền Viễn Tây” vừa không xác đáng vừa thiên vị châu Âu. Nhiều bản đồ hiện nay cũng rất vị chủng và/hoặc không xác đáng. Chẳng hạn, nhiều bản đồ thế giới thường đánh giá rất không đúng mức kích thước của biển Thái Bình Dương. Về mặt thuật ngữ và thuyết trình, cũng rất cần viết một cách rõ ràng và gãy gọn, súc tích theo cách có thể hiểu được đủ rõ để có thể đưa vào các bảng danh mục (xem Sokal & Bricmont, 1998).     Trình bày hiển ngôn và minh bạch về các tiền đề giá trị   Một giả định khá phổ biến và không được chứng minh về nghiên cứu “khoa học” xã hội hiện đại khiến người ta sai lạc là ý tưởng cho rằng những nghiên cứu ấy có tính chất “khách quan”. Tác giả được giải thưởng Nobel, Gunnar Myrdal (1969) đã nói rằng khoa học xã hội không thể không bị chi phối bởi các giá trị và các học giả cần phải nói rõ một cách hiển ngôn về các tiền đề giá trị cơ bản đã có thể ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và bài viết của họ.      Phát triển “hai kỹ năng trong một bộ óc”  Robert Ward, một chuyên gia người Nhật ở Đại học Stanford, người có vinh dự là Chủ tịch của cả Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ lẫn Hiệp hội Nghiên cứu về châu Á đã nêu một yêu cầu khẩn thiết về “hai kỹ năng trong một bộ óc”. Bằng thuật ngữ này ông muốn nói rằng các nhà nghiên cứu cần có những kỹ năng vững chắc về các phương pháp nghiên cứu như toán kinh tế, đo lường tâm lý, hay phân tích chính sách, nhưng đồng thời cũng cần những kỹ năng liên văn hóa thích hợp. Bởi vậy, đối với các nhà nghiên cứu so sánh, rất cần xây dựng năng lực, trí thông minh và sự nhạy cảm về văn hóa để bổ sung cho những kỹ năng về kỹ thuật nghiên cứu rất quan trọng của họ.       Xác định nhiều quan điểm, nhiều cách diễn giải và giải thích   Một điều rất quan trọng là tinh thần cởi mở đối với những nguồn tư liệu khác nhau và những cách diễn giải khác nhau. Nhiều người nhìn vào cùng một hiện tượng nhưng mỗi người sẽ thấy những thứ khác nhau. Điều này được gọi là tác động Rashomon, dựa trên phim truyện nổi tiếng của đạo diễn Nhật Akira Kurosawa, vốn được khơi gợi cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết của Ryūnosuke Akutagawa.  Một trường hợp ở Thái Lan liên quan tới các nhà sư khất thực. Nhiều người phương Tây đã diễn giải hiện tượng này và miêu tả nó như là hành động ăn xin. Các nhà sư không ăn xin. Người Thái nhìn hành động này như một cơ hội mà các nhà sư đem đến cho mọi người để họ thể hiện tinh thần Phật giáo. Một học giả nữ có thể quan sát hiện tượng này và nhấn mạnh rằng tất cả các nhà sư khất thực đều là nam giới và cho rằng điều này nói lên sự kỳ thị đối với nữ giới. Cuối cùng, một người làm cho hãng giày Nike có thể quan sát các nhà sư đang khất thực và nhận thấy rằng họ đã tập thể dục với cường độ đáng kể hằng ngày với đôi chân trần mà chẳng có lấy một đôi giày thích hợp.   Cởi mở đối với những nguồn tư liệu khác nhau thường được gọi là “phép đạc tam giác” (triangulation). Thực ra nó không nhất thiết có nghĩa là ba nguồn dữ liệu, mà là nhiều nguồn dữ liệu. Tuy nhiên, có một quy tắc phổ biến (tương tự như trong lãnh vực báo chí), là mỗi người cần có ba nguồn tư liệu độc lập với nhau để chứng minh một yêu cầu nhận thức có khả năng gây tranh cãi hoặc bất đồng. Ví dụ về một nguồn dữ liệu đặc biệt và quan trọng ở Thái là hàng ngàn bản điếu văn được in và phân phát trong lễ tang của những người Thái lỗi lạc. Những bản điếu văn đó có khả năng là một nguồn tư liệu độc lập xuất sắc có thể bổ sung để tăng cường phép đạc tam giác.     Thu hút nguồn lực trí tuệ địa phương   Một phần của hiện tượng mà Philip Altbach miêu tả như chủ nghĩa đế quốc trong khoa học, là xu hướng làm ngơ trước những công trình quan trọng của các học giả ở những nước đang phát triển. Có một xu hướng dành đặc quyền đặc lợi cho công trình của những học giả được xuất bản ở Bắc Mỹ hay châu Âu. Đây là một lý do chính khiến việc nắm được kỹ năng đọc nhiều ngôn ngữ khác nhau là một phần quan trọng trong yêu cầu về năng lực đối với những người làm nghiên cứu so sánh.       Thiết lập sự tín nhiệm, tính hợp lệ và đáng tin cậy trong những bối cảnh xuyên văn hóa   Cần thận trọng trong việc sử dụng một cách máy móc những công cụ đã được tạo ra ở phương Tây. Những công cụ như thế cần được điều chỉnh theo bối cảnh văn hóa mà nó được đem ra sử dụng. Những kỹ thuật như “dịch ngược trở lại”(back translation)3 cần được dùng để bảo đảm khả năng có thể so sánh được của những phiếu điều tra phỏng vấn quốc tế trong ngôn ngữ địa phương (Brislin, et al.1973). Kiểm tra thành viên (member checking) cũng làm tăng thêm sự tín nhiệm4. Legacé (1970) đã xây dựng một bộ tiêu chí nhằm tối ưu hóa sự minh bạch liên quan tới kiểm tra chất lượng thông tin tư liệu.     Loại trừ sự bất lực về ngôn ngữ (tình cảnh tuyệt vọng của “trí thức Bangkok Post”)   Trong tác phẩm “Người Mỹ trầm lặng”, Thượng nghị sĩ Paul Simon (1980) của bang Illinois đã chỉ trích nặng nề sự thất bại của số đông người Mỹ trong việc học hỏi những ngôn ngữ khác. Có một kiến thức vững chắc về ngôn ngữ của nền văn hóa đang được nghiên cứu là một yếu tố tối quan trọng trong việc thực hiện những nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa. Ở Thái Lan, những người phương Tây không đọc được tiếng Thái đôi khi được gọi một cách tiêu cực là “Trí thức Bangkok Post”. Những người này không thể đọc được những nguồn tư liệu cơ bản bằng tiếng bản địa, chỉ có thể dựa vào các nhà báo và các bài báo trên tờ báo tiếng Anh Bangkok Post để phân loại và tổng hợp những tài liệu bản địa. Sự thiếu hụt về ngôn ngữ này đã góp phần tạo ra tình trạng khan hiếm những công trình so sánh đích thực.       Cam kết dành thời gian đủ dài cho lĩnh vực nghiên cứu này   “Tiêu chuẩn vàng” bình thường là một năm trong lĩnh vực nghiên cứu này. Vì nhiều lý do, các nhà nghiên cứu ngày càng khó đạt tiêu chuẩn này. Đây là vấn đề chính trong đề tài nghiên cứu rất dễ gây tranh luận của Margaret Mead và trong quyển sách của bà công bố kết quả nghiên cứu ấy về văn hóa (xem Freeman, 1983).     Tiếp xúc với nhiều bên liên quan khác nhau   Robert Chambers (1994), (xem Holland & Blackburn, 1998) ở Đại học Sussex University (Vương quốc Anh) đã nhấn mạnh cách đánh giá có tính chất nông thôn và những cách tiếp cận nghiên cứu thông qua tham gia vào bối cảnh nghiên cứu như một người trong cuộc. Trọng tâm của cách tiếp cận rất quan trọng này trong nghiên cứu điền dã chính là nhu cầu lắng nghe những tiếng nói không được ai lắng nghe và trình bày những quan điểm đa dạng về vấn đề phát triển.      Pha trộn một cách sáng tạo giữa cách tiếp cận chức năng và tiếp cận chất liệu trong nghiên cứu 5  Khi nghĩ về những chiến lược nâng cao chất lượng và sự nghiêm ngặt của những công trình nghiên cứu liên văn hóa, điều hết sức quan trọng là thảo luận về sự khác biệt giữa cách tiếp cận chức năng (emic) và cách tiếp cận chất liệu (etic). Khái niệm này có nguồn gốc từ ngôn ngữ học và do học giả Kenneth Pike (Headland, Pike, & Harris 1990) đề xướng. Tác phẩm của Pike trong lĩnh vực này đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của khoa học xã hội. Etic vốn là thuật ngữ của ngữ âm học và emic vốn là thuật ngữ của âm vị học. Các nhà ngôn ngữ học đã tạo ra những biểu tượng đặc biệt để đại diện cho những phổ niệm âm thanh có trong hầu hết ngôn ngữ loài người. Tuy nhiên, một chữ bắt đầu bằng “ng” như trong tiếng Thái hay tiếng Việt không có trong hầu hết các thứ tiếng phương Tây. Một ví dụ là từ “ngan” trong tiếng Thái  vừa có nghĩa là công việc vừa có nghĩa là đảng xã hội. Bởi vậy, etic tiêu biểu cho các phổ niệm, còn emic tiêu biểu cho các khái niệm hay thực thể duy nhất đối với một nền văn hóa nhưng không phải là một phổ niệm toàn cầu. Đôi khi khái niệm này được diễn giải như là quan điểm của người trong cuộc (emic) đối lập với quan điểm của người ngoài cuộc (etic).    Các nhà nghiên cứu phương Tây, thường thiên về lối suy nghĩ theo nguyên tắc nhị phân, có thể nghĩ về những điều này như là sự cạnh tranh giữa các thực thể và mô hình. Thực ra cả hai cách tiếp cận chức năng và tiếp cận chất liệu đều quan trọng và bài viết này chỉ nhấn mạnh việc hai quan điểm này bổ sung và làm phong phú cho nhau như thế nào. Trong thực tế quan điểm của cách tiếp cận chất liệu là tâm điểm của khoa học hiện đại và thực sự đã đem lại một cách phân tích rất mạnh đáp ứng nhu cầu của những nghiên cứu có tính chất quốc tế và liên văn hóa. Mục tiêu của khoa học là khám phá và khẳng định những nguyên tắc xác nhận quy luật được công nhận không phụ thuộc không gian và thời gian. Ví dụ, giả sử các nhà nghiên cứu xây dựng một lý thuyết để giải thích hiện tượng bạo hành trẻ em. Dùng dữ liệu từ nhiều vùng ở Hoa Kỳ, họ khẳng định tính chất hợp lệ của mô hình mà họ đưa ra. Tuy nhiên, để nâng cao mức ủng hộ đối với lý thuyết ấy, như những tri thức khái quát, thì điều cần thiết và quan trọng phải làm là kiểm tra những mô hình này trong những bối cảnh văn hóa bên ngoài nước Mỹ.    Một ví dụ khác có thể dẫn ra từ nghiên cứu của Mark Blaug, một nhà kinh tế học giáo dục lỗi lạc người Anh.  Blaug (1971) được Quỹ Ford giao nhiệm vụ lãnh đạo một công trình nghiên cứu trọng yếu về tỷ lệ hoàn vốn của các loại hình giáo dục khác nhau ở Thái Lan. Điều quan trọng đối với nghiên cứu này là phân biệt trường công trong tương quan so sánh với trường tư. Tuy có vẻ như một thực thể khách quan, trong thực tế, sự phân biệt này khác nhau một cách đáng kể giữa Hoa Kỳ, Anh và Thái lan. Một lần nữa cách tiếp cận chất liệu phổ niệm che giấu những tham số địa phương rất quan trọng. Giáo dục nhà trường công và tư là một tham số quan trọng trong công trình nghiên cứu của Blaug, dù rằng ở Thái Lan có một mức độ biến đổi vô cùng lớn về chất lượng ở cả trường công lẫn trường tư. Do vậy, sự phân biệt này ở Thái đã không mang lại kết quả cụ thể. Có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều là những thực thể chức năng có tính chất địa phương, rongrian mii chuu (trường học với một cái tên) như đã được phát hiện trong một nghiên cứu của tác giả bài này về giáo dục và cơ hội ở Thái Lan (Fry, 1980).  Các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng phải có một sự gắn bó thực sự và sâu sắc để có thể hiểu được sự việc theo quan điểm của người khác. Chẳng hạn, nếu nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, chúng ta phải cố gắng thử nhìn thế giới theo cách mà một người Việt Nam đang nhìn. Điều cốt yếu để trở thành một nhà nghiên cứu với cách tiếp cận chức năng là sự khiêm tốn và biết thành thật lắng nghe. Thêm một điểm trọng yếu của cách tiếp cận chức năng là đánh giá đúng sự khác biệt và tầm quan trọng của nó. Cách tiếp cận chức năng theo định nghĩa có liên quan tới văn hóa cảm thông ở mức độ cao. Để dùng một cách diễn đạt thô thiển, một nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng sẽ có khả năng đặt mình vào vị trí của những người đang là đối tượng được nghiên cứu và cố gắng hiểu cách suy nghĩ của những người ấy cũng như nhìn thế giới theo cách nhìn của họ.   Một hoạt động chủ yếu của các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng là hành trình khám phá để soạn ra một danh sách những thực thể chức năng chủ yếu liên quan tới lãnh vực đang nghiên cứu.  Một vũ đài khác nơi mà hai cách tiếp cận (chức năng và chất liệu) tương tự nhau, cả trong khoa học lẫn trong phân tích theo cách tiếp cận chức năng, là việc xây dựng hệ thống các loại hình đều cực kỳ quan trọng. Quá trình khám phá và phát hiện những phạm trù chức năng chủ yếu diễn ra như thế nào? Có hai cách tiếp cận chính. Một biện pháp kỹ thuật là gắn quốc gia địa phương với những cuộc thảo luận rộng lớn, thường có tính chất không chính thức, thông qua quá trình này để khám phá những giới hạn chức năng chủ yếu. Cách tiếp cận thứ hai là phân tích những tư liệu liên quan (hư cấu và không hư cấu) trong ngôn ngữ bản địa.      Những khó khăn thử thách của nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng   Nghiên cứu chất liệu tự nó không đòi hỏi kiến thức về một ngôn ngữ khác. Tuy nhiên nghiên cứu chức năng sẽ được nâng cao chất lượng đáng kể nếu tận tâm học hỏi ngôn ngữ của những người đang được nghiên cứu. Phần lớn các thực thể chức năng này là những thứ không thể dịch sang tiếng Anh một cách dễ dàng. Bởi vậy, một nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng bắt buộc phải học ngôn ngữ của nền văn hóa mà mình nghiên cứu càng nhiều càng tốt. Điều này phần nào giải thích tại sao có rất ít công trình nghiên cứu so sánh thực thụ. Học nhiều ngoại ngữ nói lên một sự cống hiến khổng lồ về thời gian và nỗ lực. Đồng thời một nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng cũng phải có ý muốn dành một thời gian đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu này. Không có cách nào trở thành một nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng với những công trình “mì ăn liền” khi người nghiên cứu chỉ dành một khoảng thời gian tối thiểu để sống trong nền văn hóa ấy.       Những nghiên cứu theo cách tiếp cận chức năng có thể làm mạnh thêm những nghiên cứu theo cách tiếp cận chất liệu như thế nào?   Chúng ta hãy thử cho rằng các nhà nghiên cứu muốn kiểm tra thử mô hình theo cách tiếp cận chất liệu trong một nền văn hóa và một xã hội khác và họ có một bảng câu hỏi cơ bản đã được xây dựng trong nền văn hóa của họ. Nếu họ thực hiện một phân tích sâu theo cách tiếp cận chức năng trước khi tiến hành việc kiểm tra, họ có thể điều chỉnh và nâng cao chất lượng bảng câu hỏi. Có thể nêu một ví dụ cụ thể như sau: tôi đã thử kiểm tra mô hình Blau-Duncan về việc đạt được một nghề nghiệp, bằng việc dùng tư liệu ở Thái Lan (Fry, 1980). Trước khi hoàn thiện công cụ điều tra của mình, tôi đã dành ra ba tháng để làm công việc phân tích theo cách tiếp cận chức năng nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng của bảng hỏi. Một ví dụ về một khái niệm theo cách tiếp cận chức năng  được khám phá trong quá trình này và được sử dụng sau đó là khái niệm ‘chup dua’, một danh ngữ Thái có nghĩa là đạt được một uy tín xã hội văn hóa bằng việc học tập ở nước ngoài. Đây là một ví dụ về việc cách tiếp cận chức năng có thể làm mạnh thêm cách tiếp cận chất liệu như thế nào.   Có một thực thể chức năng của Thái rất thú vị đối với những nhà nghiên cứu không theo cách tiếp cận chức năng. Nó được gọi là nakrop nai hongair, nghĩa đen là “những chiến sĩ trong văn phòng máy lạnh”, để chỉ những nhà nghiên cứu không muốn bẩn tay khi phải nói chuyện với những người dân thường trong lĩnh vực nghiên cứu của họ. Thay vào đó họ thích nói chuyện với giới tinh hoa trong những khung cảnh tiện nghi, những thứ hiển nhiên có thể dẫn tới những hiểu lầm, diễn giải sai lạc hay bóp méo nghiêm trọng. Thật thú vị là những thực thể theo cách tiếp cận chức năng của Thái lại có thể có nguồn gốc từ những nhà nghiên cứu “bàn giấy” ở phương Tây theo cách tiếp cận chất liệu.     Có vô số ví dụ về những nhà nghiên cứu không theo cách tiếp cận chức năng như thế.  Tác phẩm được nhiều người biết của Naisbett (1996), Những xu hướng lớn ở châu Á, cơ bản dựa trên những mẩu cắt xén từ báo chí trong vùng và nội dung phỏng vấn của tác giả với giới tinh hoa ở các thủ đô châu Á.      Hợp tác liên văn hóa với các nhà nghiên cứu, các tác giả và các trí thức địa phương   Hợp tác nghiên cứu xuyên văn hóa là cách để nâng cao chất lượng lẫn sự nghiêm nhặt của việc nghiên cứu. Trên đường sự nghiệp, tôi hết sức may mắn đã có dịp làm việc chung và có sách xuất bản với nhiều tác giả khác nhau trong vùng châu Á Thái Bình Dương như  Tereshi Tomita, Pham Lan Huong, Supang Chantavanich, Rufino Mauricio, Misao Makino, và nhiều người khác.     Tích cực tham gia vào cộng đồng hay hệ thống đang được nghiên cứu   Quan sát với tư cách của người tham gia là một phương tiện mạnh mẽ để nghiên cứu những xã hội hay những nền văn hóa khác. Clifford Geertz trong tác phẩm của ông về Indonesia đã phát hiện rằng sự tham gia tích cực vào trò đá gà truyền thống đã giúp phá vỡ hàng rào ngăn cách để trở thành được chấp nhận trong cộng đồng người địa phương. Trong một dự án nghiên cứu về đánh giá chất lượng giáo dục tiểu học ở Thái Lan (Amrung, Supang, & Fry, 1990), chúng tôi có một nhà dân tộc học đã thực sự trở thành giáo viên ở các trường tiểu học trong một kỳ gia hạn. Kết quả trớ trêu là họ thành ra biết quá nhiều. Trong một cuốn tiểu thuyết rất lôi cuốn về những cuộc điền dã dân tộc học (Berlinski, 2007), nhà nghiên cứu đã trở thành hết sức gắn bó với nhiều mặt của đời sống cộng đồng địa phương.     Lắng nghe tiếng nói của “người khác” thành thật với cả tấm lòng  Trong việc thực hiện nghiên cứu về những xã hội và nền văn hóa khác, có lẽ không có kỹ năng nào quan trọng hơn là lắng nghe với tất cả tấm lòng và trở thành một người nghe xuất sắc. Điều quan trọng là có thể  xây dựng mối quan hệ hòa hợp và tôn trọng với những gì đang được nghiên cứu, những thứ khiến người ta thấy thoải mái trong việc chia sẻ với nhà nghiên cứu những câu chuyện, ý nghĩ và quan điểm của họ một cách thành thật. Tác phẩm của  Robert Coles (1997) là một ví dụ xuất sắc về điều này.     Tránh sự cám dỗ lãng mạn hóa   Lúc này hay lúc khác sẽ có những cám dỗ đối với người ngoài trong việc lãng mạn hóa “người khác” hay lờ đi những thực tiễn khó chịu. Điều này là cả một vấn đề trong những nghiên cứu của phương Tây về những cộng đồng không phải là người phương Tây. Họ có xu hướng quá tích cực hay quá thụ động. Cả hai quan điểm cực đoan này đều không nắm bắt được thực tiễn phức tạp. Học giả David Adams đã phê phán công trình nghiên cứu về Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào về việc lãng mạn hóa và tích cực quá mức đối với họ.      Chú ý những vấn đề đạo đức   Đạo đức là một vấn đề quan trọng nhưng khá là lôi thôi trong những nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa. Về mặt này, tuyển tập nghiên cứu của Robin’s (2004) về các trường hợp điển hình trong vấn đề đạo đức nghiên cứu là một đóng góp rất có giá trị. (xem Wiener, 2005). Loạt bài rất dễ gây tranh luận của Patrick Tierney (2000), Bóng tối ở El Dorado, về các nhà nghiên cứu phương Tây ở Amazon cũng gây chú ý về tầm quan trọng của vấn đề đạo đức trong nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa. Tác phẩm Hồi ký của một Geisha của tác giả Arthur Golden đã đặt ra rất nhiều mối quan ngại nghiêm trọng về mặt đạo đức nghiên cứu. Người cung cấp thông tin chủ yếu của Arthur Golden, Iwasaki (2002), đã vô cùng phật ý về quyển sách này và về hình ảnh của người geisha được thể hiện trong đó.      Thiếu những tư liệu thành văn về Phương pháp Nghiên cứu Xuyên văn hóa   Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và sự tiếp xúc liên văn hóa đang tăng lên vô cùng nhanh chóng, nhu cầu về những công trình nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa nghiêm ngặt cũng đang lớn lên từng ngày. Thật đáng ngạc nhiên là những tài liệu về phương pháp nghiên cứu xuyên văn hóa lại rất hiếm hoi. Có một loạt sách có giá trị xuất bản vào thập kỷ 70 của các tác giả Brislin, Lonner, and Thorndike (1973), nhưng đó đã là 30 năm trước. Hầu hết các tuyển tập trong lãnh vực này tập trung vào một lãnh vực hay một chuyên ngành cụ thể như quản lý (Graves, 1973; Punnett and Schenker 2004), hay truyền thông (Gudykunst & Kim 1984).  Những tác phẩm khác tập trung vào một nhân tố cụ thể của công việc nghiên cứu xuyên văn hóa chẳng hạn phương pháp điền dã thực địa (Lonner and Berry 1986) hay khảo sát điều tra (Harkness, van de Vijver, & Mohler 2003). Gần như không có một công trình toàn diện nào gần đây về phương pháp nghiên cứu so sánh và liên văn hóa, xuyên văn hóa, mặc dù Ember & Ember (2001) đã đưa ra một hợp tuyển các tác phẩm viết về những vấn đề trong việc nghiên cứu xuyên văn hóa. Dùng WorldCat để kiểm tra số lượng những tác phẩm về phương pháp nghiên cứu so sánh, sẽ thấy chỉ có tám đầu sách và phần lớn đã được Warwick & Osherson (1973) xuất bản cách đây gần 40 năm.      Tương lai của ngành Giáo dục So sánh   Không có cách nào nhìn được trong bóng tối. Tuy vậy, phản ánh về những con đường có thể trong tương lai của lĩnh vực giáo dục so sánh cũng là một điều quan trọng.  Paul Morris, nguyên Viện trưởng Viện Giáo dục HongKong, nhấn mạnh nhu cầu phải có nhiều hơn những công trình nghiên cứu so sánh về xây dựng chính sách giáo dục và về việc những chính sách ấy chịu ảnh hưởng của các lực lượng bên ngoài như thế nào.  Những quan điểm chính trị liên quan về vấn đề giáo dục cũng đang được đặt ra cực kỳ đúng lúc (Steiner-Khamsi, 2004; Phillips & Ochs, 2004; Phillips, 2008). Trong phong trào cải cách giáo dục ở Thái Lan, người Thái nghiên cứu rất cẩn thận kinh nghiệm của các nước khác chẳng hạn như New Zealand, Trung Quốc, Việt Nam, và Pháp. Họ xuất bản hàng loạt sách về giáo dục và cải cách giáo dục ở các nước và đưa những tư liệu ấy lên web. Một vấn đề trọng yếu được đặt ra là liệu những lực lượng toàn cầu hóa có dẫn đến một sự hội tụ về thực tiễn chính sách giáo dục, hay sẽ khiến sự phân kỳ càng thêm phổ biến.      Với bộ máy lãnh đạo mới ở Hoa Kỳ, hiện nay đang có tiềm năng cho một sự phân chia hòa bình. Lưỡng đảng trong Quốc hội Hoa Kỳ đều ủng hộ Luật Simon về Học tập ở Nước ngoài, hợp pháp hóa việc đa dạng hóa và dân chủ hóa việc học tập tại nước ngoài. Tổng thống Obama đã nói về việc tăng gấp đôi quy mô của Lực lượng Hòa bình. Những người tham dự các hội thảo gần đây của Hội Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế và So sánh Hoa Kỳ đã tăng rất đáng kể. Với hiện tượng nhập cư xuyên biên giới, các nước trên thế giới ngày càng trở nên đa dạng về văn hóa. Đây là điềm tốt cho ngành giáo dục so sánh và cho thấy nhu cầu ngày càng lớn cần có các nhà giáo dục, các học giả biết tận dụng  giáo dục so sánh và những quan điểm liên văn hóa trong việc nghiên cứu và vận dụng.       Phạm Thị Ly dịch  Nguồn: “The Evolution of Comparative Education: The Challenges of Conducting Rigorous Comparative and Intercultural Research” by Gerald W. Fry. Paper presented at The Third Conference in Comparative Education in Vietnam, Ho Chi Minh City, Vietnam, October 2009  ———     1 Gunnar Myrdal là nhà kinh tế và chính trị học Thụy Điển được giải Nobel năm 1974  2 Bhuttan là một quốc gia đã từng được coi là bị cô lập nhất thế giới do vị trí địa lý của nó: phía đông giáp dãy Hy mã lạp sơn, đông bắc giáp Ấn độ và bắc giáp Trung Quốc. Nghiên cứu năm 2006 của Đại học Leicester xếp Bhuttan là quốc gia hạnh phúc nhất của Châu Á và đứng thứ tám về hạnh phúc trên thế giới (Chú thích của người dịch)   3 “Back translation”: một phương pháp kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng của bản dịch. Một phiếu điều tra được soạn bằng tiếng Anh, sau đó được dịch ra tiếng Việt chẳng hạn để lấy ý kiến của các đối tượng người Việt. Bản dịch tiếng Việt này cần được bên thứ ba dịch ngược trở lại tiếng Anh, để phát hiện những sai biệt quá lớn về ý tưởng so với bản tiếng Anh gốc, nếu có (Chú thích của người dịch).  4 “Member checking”: một kỹ thuật được sử dụng trong các nghiên cứu định tính nhằm nâng cao sự chính xác và đáng tin cậy của tư liệu, trong đó sự diễn giải hay báo cáo của người nghiên cứu được cung cấp cho người đưa ra thông tin (thành viên của mẫu nghiên cứu) nhằm kiểm tra tính chất xác thực của công việc nghiên cứu, thông qua ý kiến bình luận của người này (Chú thích của người dịch).  5 Hai thuật ngữ tiếng Anh tương ứng là emic và etic. Có thể xem giải thích hai thuật ngữ này tại http://en.wikipedia.org/wiki/Emic. Thuật ngữ tiếng Việt “cách tiếp cận chức năng” và “cách tiếp cận chất liệu” dựa vào từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu, Cao Xuân Hạo và Hoàng Dũng, NXB KHXH, 2005. (Chú thích của người dịch)   —————-  Tư liệu tham khảo  Almond, G & Verba, S. 1965, The civic culture:  political attitudes and democracy in five nations,  Boston, Little, Brown.  Amrung C., Supang, C., & Fry, G. 1990, Evaluating primary education: Qualitative and quantitative policy studies in Thailand, Ottawa: International Development Research Centre.  Anderson, B 1991, Imagined communities: Reflections on the origin and spread of nationalism, London; New York, Verso.  Arnold, M 1861, The popular education of France, with notices of that of Holland and Switzerland, London: Longman, Green, Longman, and Roberts.  Arnold, M 1882,  Higher schools & universities in Germany.  London: Macmillan.  Arnold, M 1892, A French Eton: Or middle class education and the state.  London: Macmillan and Co.  Arnold, M 1888,    Special report on certain points connected with elementary education in Germany, Switzerland, and France.  London:   Reprinted by the Education Reform League.  Benedict, R 1946, The chrysanthemum and the sword: patterns of Japanese culture, Boston, Houghton Mifflin Company.  Benedict, R  1952, Thai culture and behavior: an unpublished war-time study dated  September, 1943, Ithaca, N.Y., Southeast Asia Program, Department of Far Eastern Studies, Cornell University,  Berlinski, M. 2007. Fieldwork.  New York: Farrar, Straus and Giroux.   Blaug, M 1971, The rate of return to investment in education in Thailand, Bangkok, National Education Council.  Brislin, R, Lonner, W & Thorndike, R 1973. Cross-cultural research methods. New York: J. Wiley.  Chambers, R 1994, Paradigm shifts and the practice of participatory research and development,  Brighton, U.K.: Institute of Development Studies, Sussex University.  Cogan, J &  Derricott, R 1998, Citizenship education: Citizenship for the 21st century: An international perspective on education, London, Kogan Page.  Cogan, J, Morris, P, & Print M, 2002, Civic education in the Asia-Pacific region: Case studies across six societies.  New York: RoutledgeFalmer.  Coles, R 1997, The moral intelligence of children.  New York: Random House.   Creswell, J 2009,  Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches.  Thousand Oaks, Ca.: SAGE publications.  Cummings, W K 1980, Education and equality in Japan.  Princeton: Princeton University Press.  Dalby, L 1983, Geisha, Berkeley, University of California Press.   Ember, C & M  2001, Cross-cultural research methods, Lanham, MD: AltaMira Press.  Denison, W 1862, Systems of education, Madras: Military Male Orphan Asylum, William Thomas.  Ðo Phu’o’ng 1997, Viet Nam hình anh cong dong 54 dân toc [Vietnam image of the community of 54 ethnic groups], Ha Noi: Van hóa dân toc.  Fogh, C J 1854,  Et par ard om friskoleni Amerik og en dansker folkeskole.  Kjøbenhavn: P. G. Philipsen.  Freeman, D 1983,  Margaret Mead and Samoa: The making and unmaking of an anthropological myth.  Cambridge: Harvard University Press.  Golden, A. 1997, Memoirs of a geisha: a novel, New York, Alfred A. Knopf.  Gudykunst, W & Kim, Y 1984, Methods for intercultural communication research,  Beverly Hills; London, Sage in cooperation with Speech Communication Association’s Commission on International and Intercultural Communication.  Fry, G  1980, ‘Education and success: a case study of the Thai public service’, Comparative Education Review, vol. 24,no. 1, pp.  21-34.  Fry, G & Kempner, K 1996, ‘A subnational paradigm for comparative research:  education and development in Northeast Brazil and Northeast Thailand’. Comparative Education, vol. 32, no. 3, pp. 333- 360.  Harkness, J, Vijver, Fons J & Mohler, P 2003, Cross-cultural survey methods, Hoboken, N.J., J. Wiley.  Golden, A 1997, Memoirs of a geisha: a novel, New York, Alfred A. Knopf.  Graves, D 1973, Management research: A cross-cultural perspective,  Amsterdam; New York, Elsevier Scientific Pub. Co.  Gurr, T  1970,  Why men rebel, Princeton, N.J., The Center of  International Studies, Princeton University Press.  Hayhoe, R  2006, Portraits of influential Chinese educators,  Hong Kong, China: Comparative Education Research Centre, University of Hong Kong.  Headland, T, Pike, K, & Harris, M 1990, Emics and etics: The insider/outsider debate,   Newbury Park, Calif., Sage Publications.  Herbst, P 1997, The color of words: An encylopaedic dictionary of ethnic bias in the United States,  Yarmouth, Maine: Intercultural Press.  Holland, J. & Blackburn, J. 1998, Whose voice?  Participatory research and policy change.  London: Intermediate Technology.  Iwasaki, M with Brown, R  2002. Geisha: A life, New York, Atria Books.  Kasian T(ed.)  1994  Læ lot lai mangkon: ruam khokhian waduai khwampen Chin nai Sayam [Looking through the dragon design: selected writings on Chineseness in Siam], Bangkok, Khomfai.  Katz, M, Fujita, H,  Sogawa, M, &  Ito, A 1989, Kaikyu kanryosei to gakko: Amerika kyoiku shakaishi nyumon [Bureaucratic social stratification and schools: Introduction to the sociology of American education], Tokyo, Yushindo Kobunsha.  Levinson, D & Christenson,K 2002, Encyclopedia of modern Asia, New York: Charles Scribner’s Sons, 6 volumes.  Levinson,D & Christenson, K 2007, Global perspectives on the United States: A nation by nation study, Great Barrington, Mass: Berkshire Publishing Group.  Klein, J T 1990,  Interdisciplinarity: History, theory, and practice.  Detroit: Wayne State University Press.  Klein, J T  & Doty, W G 1994, Interdisciplinary studies today.  San Francisco: Jossey-Bass.  Kline, S J 1995,  Conceptual foundations for multidisciplinary thinking.  Stanford: Stanford University Press.  Korten, D C  1995,  When corporations rule the world.  West Hartford, Conn: Kumarian Press.  Legacé, R 1970, ‘The HRAF data quality control schedule’,  Behavior Science Notes, vol. 5, pp. 125-132.  Levinson, D & Christensen, K  2007,  Global perspectives on the United States:  a nation by nation survey, Great Barrington, Mass., Berkshire Publishing Group.  Lonner, W & Berry, J  1986,   Field methods in cross-cultural research, Beverly Hills: Sage Publications.  Louis, L 1992, Butterflies of the night: Mama-sans, geisha, strippers, and the Japanese men they serve, New York, Tengu Books.  Louis W 2003, Intertwined lives: Margaret Mead, Ruth Benedict, and their circle, New York, Knopf.   Lynn, R & Vanhanen, T  2002,  IQ and the wealth of nations,  Westport, Conn, Praeger.  Manaster, G &  Havighurst, R  1972.  Cross-national research: Social-psychological methods and problems,  Boston, Houghton Mifflin.  Martinson, B, Anderson, M, & De Vries, R  2005, ‘Scientists behaving badly’, Nature, vol. 435, pp. 737-738.  Matsumoto, D 1994, Cultural influences on research methods and statistics, Pacific Grove, CA,  Brooks/Cole.   Mead, M & Métraux, R  1953, The study of culture at a distance.  Chicago, University of Chicago Press.  Moussavi, F, 1982, Guide to the Hanna Collection and related archival materials at the Hoover Institute of War, Revolution, and Peace on the role of education in twentieth century society, Stanford: Hoover Institution Press.  Myrdal, G 1969, Objectivity in social research, Middletown, Connecticut, Wesleyan University Press.   Naisbett, J. 1996, Megatrends Asia, New York: Simon & Schuster.  Nha Xuat Ban Thang Tan 2008,  54 dan toc Vietnam: Ethnic groups in Vietnam, Ha Noi: Nha Xuat Ban Thang Tan, 2008  Odzer, C 1994, Patpong sisters: an American woman’s view of the Bangkok sex world, New York, Blue Moon Books, Arcade Pub., Distributed by Little, Brown and Co.   Ohmae, K 1995, The end of the nation state: The rise of regional economies, New York: Free Press.  Paige, R M et al. 2009, Study abroad for global engagement: The long-term impact of mobility experiences, forthcoming in a special issue of the Journal of Intercultural Education.  Panitee S 2008, Transational motherhood: Caring from a distance.   Proceedings of the 10th International Conference onThai Studies, January 9-12, Bangkok, Thammasat University.  Phillips, D. 2008.  Comparative inquiry and educational policy making.  London: Routledge.  Phillips, D. & Ochs, K.  2004.  Educational policy borrowing: Historical perspectives.  Didcot: Symposium.  Oxford Studies in Comparative Education.  Punnett, B & Shenkar, O.  2004,  Handbook for international management research,  Ann Arbor, University of Michigan Press, 2nd ed.  Robin, R T 2004.  Scandals and scoundrels:  Seven cases that shook the academy.  Berkeley: University of California Press.  Rohlen, T 1983,  Japan’s high schools,  Berkeley: University of California Press.  Said, E 1978, Orientalism,  New York, Pantheon Books.    Said, E 1993, Culture and imperialism, New York, Knopf, Distributed by Random House.  Scott, J 1985, Weapons of the weak: Everyday forms of peasant resistance, New Haven, Yale University Press.  Scott, J 1998, Seeing like a state: How certain schemes to improve the human condition have failed, New Haven: Yale University Press.    Simon, P 1980.  The tongue-tied American: Confronting the foreign language crisis,  New York: Continuum.  Smith, L  1999, Decolonizing methodologies,  London: Zed Books.  Sniderman, P  & Hagendoorn, A  2007,  When ways of life collide:   multiculturalism and its discontents in the Netherlands,  Princeton, N.J., Princeton University Press.  Sokal, A & Bricmont, J 1998,  Fashionable nonsense: Postmodern intellectuals’ abuse of science,  New York: Picador.  Steiner-Khamsi, G 2004,  Global politics of educational borrowing and lending,  New York: Teachers College Press.  Suchit W  1987, Chek pon Lao [Chinese mixed with Lao], Bangkok, Sinlapa Watthanatham.  Suliman N 1994, Nangngam tukrachok: kansu’ksa krabuan kanklai pen monuat Thai [Beauties on display: a study of the process of entering prostitution in Thailand], Bangkok, Siam Publications.  Supang C, et al. 2001, The migration of Thai women to Germany: Causes, living conditions and impacts for Thailand and Germany.  Bangkok: Asian Research Center for Migration, Institute of Asian Studies, Chulalongkorn University.  Textor, R  1951, Failure in Japan: with keystones for a positive policy, New York, J. Day Co.   Textor, R  1973, Patterns of worship: a formal analysis of the supernatural in a Thai village, New Haven, Conn., Human Relations Area Files, 4 volumes.  Thomas, R M 2003, Blending qualitative and quantitative research methods in theses and dissertations,  Thousand Oaks, Ca.: Corwin Press.   Tierney, P. 2000.  Darkness in El Dorado: How scientists and journalists devastated the Amazon.  New York: Norton.   Tomita, T, Fry, G & Seksin S  2000, International cooperative learning: An innovative approach intercultural service,  Nagoya: Tokai Institute of Social Development for Asia and the Pacific.  Vijver, F &  Leung, K  1997,  Methods and data analysis for cross-cultural research,  Thousand Oaks: Sage Publications.  Ward, R & Sakamoto, Y 1987, Democratizing Japan: the allied   occupation, Honolulu, University of Hawai’i Press.   Warwick, D P, compiler & Osherson, S 1973,  Comparative research methods,  Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall.  Wiener, J 2005,  Historians in trouble: Plagiarism, fraud, and politics in the ivory tower.  New York: New Press.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện nào cho cải cách giáo dục?*      Đề xuất các giải pháp cho sự đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học Việt Nam là điều mà tôi, hay bất kỳ ai khác, chỉ có thể làm sau một thời gian dài nghiên cứu và suy nghĩ, chứ rất khó mà có thể thực hiện trong vài ngày hay trong vòng một tuần. Do vậy tôi đến đây chỉ để chia sẻ với quý vị một số câu hỏi đang ám ảnh chính bản thân tôi, trong tư cách là một người làm việc trong lĩnh vực giáo dục.        Câu hỏi bao trùm nhất là : Để thực sự có cải cách giáo dục cần những điều kiện nào?  Từ câu hỏi này, nảy sinh ra một loạt các câu hỏi khác:  1. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không, nếu như không thực sự có mong muốn cải cách ở tất cả mọi thành viên của bộ máy giáo dục? Ở đây tôi muốn nói đến cái mong muốn thực sự, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy các hành động và chọn lựa các phương pháp, chứ không phải cái mong muốn chỉ được bộc lộ trên công văn và trên tham luận. Nếu không có cái mong muốn thực sự đó để biến ý tưởng thành hành động, thì dù hàng núi sách về cải cách giáo dục có được viết ra, học trò vẫn sẽ càng học càng dốt, bạo lực học đường, tỉ lệ tự tử, tình trạng tội phạm ở học sinh sinh viên vẫn sẽ cứ gia tăng, chất lượng giáo dục vẫn cứ tồi tệ, mua bán bằng cấp và tham nhũng giáo dục vẫn sẽ phát triển như thường. Cải cách không phải là một câu thần chú, chỉ cần hô lên trên giấy hay trên micro là có thay đổi. Cải cách là một quá trình tác động tới thực tiễn đòi hỏi những nhận thức, những phương pháp hành động và các chương trình hành động không dễ thực hiện. Nếu không có mong muốn thực sự thì cải cách sẽ mãi mãi chỉ là những hô hào không có kết quả. Vì nếu không có mong muốn thực sự thì rất dễ xảy ra trường hợp: các phương pháp và các chương trình hiệu quả sẽ bị loại bỏ, còn các phương pháp lạc hậu và các chương trình kém hiệu quả, lãng phí, sẽ được lựa chọn; vì trong trường hợp đó, tiêu chí của sự lựa chọn không phải là để phát triển giáo dục, mà là để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Rất nhiều sự vụ hiện nay cho thấy rằng không phải chúng ta thiếu tiền, chúng ta chỉ thiếu cái mong muốn sử dụng tiền một cách hiệu quả cho các lợi ích công mà thôi.  2. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không nếu những người làm giáo dục, ở mọi vị trí, không đối diện với sự thật, không tìm hiểu và khảo sát kỹ lưỡng thực trạng, không thừa nhận các nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của nền giáo dục? Chúng ta muốn trường học là nơi ươm mầm các tài năng. Nhưng đại học và giáo dục nói chung đang là môi trường làm cùn mòn tài năng của người thầy thì làm sao nó còn có thể là nơi ươm mầm tài năng cho học sinh sinh viên? Làm sao có nhu cầu cải cách giáo dục nếu nơi nơi đều ngự trị sự hài lòng với các thành tích: huân chương, bằng khen, giấy khen, số lượng GS, PGS, số lượng tiến sĩ, thạc sĩ… được đào tạo?  3. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không nếu duy trì chế độ đãi ngộ hiện hành? Chúng ta nói tới việc xây dựng đại học nghiên cứu và việc nâng cao chất lượng giáo dục, trong khi một tiến sĩ giáo dục học được đào tạo tại một trường rất có uy tín về giáo dục học ở Mỹ vừa nộp đơn từ bỏ ĐH KHXH&NV-TP.HCM để về làm việc cho một trường phổ thông quốc tế tại Sài Gòn. Trước đó bao nhiêu tiến sĩ khác đã rời khỏi hệ thống đại học. Và tới đây còn bao nhiêu người nữa sẽ ra đi? Vậy chúng ta sẽ cải cách giáo dục như thế nào nếu không đối diện với thực tại đó ?  4. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không nếu giáo dục chỉ là một phương tiện tiến thân, một cách thức mở rộng túi tiền cá nhân, hay chỉ là một phương kế để tồn tại?  5. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không nếu những người làm giáo dục không có nhu cầu hiểu biết về công việc của mình: những người quản lý không cần tìm hiểu công việc quản trị giáo dục, những người đứng lớp không cần tìm hiểu và phát triển chuyên môn, những nhân viên văn phòng không biết cách soạn thảo một văn bản hành chính…?  6. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không khi thiếu những con người sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục? Howard Gardner đã nhận xét như thế này về những người sáng tạo: “Người sáng tạo nổi bật về khí chất, cá tính và lập trường. Họ luôn không hài lòng với công việc hiện tại, những tiêu chuẩn hiện tại, những câu hỏi cũng như câu trả lời hiện tại. Họ nghĩ ra những hướng đi khác thường và thích – hay ít ra là chấp nhận – sự khác biệt so với những người còn lại”1.  Trong khi đó nếu ta chấp nhận nhìn thẳng vào thực tế của chúng ta thì phải thấy rằng môi trường giáo dục hiện nay không tạo điều kiện cho những người sáng tạo tồn tại, và làm triệt tiêu khả năng sáng tạo của những người vốn dĩ có khả năng đó. Chính những người sáng tạo là những người có khả năng đổi mới, vì sáng tạo chính là làm thay đổi, là đem lại cái mới. Sự vận hành của hệ thống đại học theo cách thức hiện hành sẽ đẩy những người sáng tạo ra khỏi quỹ đạo của nó, và kìm hãm khả năng sáng tạo của những người ở lại. Bởi vì, cách thức vận hành hiện tại của bộ máy giáo dục nói riêng và bộ máy xã hội nói chung thường chỉ chấp nhận và trọng dụng những ai tuân thủ các cơ chế, chính sách và chủ trương áp đặt từ trên xuống, tuân thủ các chương trình đã được vạch sẵn, tuân thủ cách thức làm việc đã trở thành quen thuộc, tuân thủ, chấp nhận và không đặt câu hỏi, không đặt lại vấn đề và biết cách hài lòng với hiện tại.  Những “phẩm chất” đó trái ngược hoàn toàn với những gì mà một quá trình đổi mới đòi hỏi. Vậy sự đổi mới sẽ được thực thi bởi lực lượng nào?  7. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không, khi mà không có cả tự do giảng dạy lẫn tự do học tập? Một giáo viên giỏi văn ở phổ thông cơ sở nói rằng cô cũng rất cố gắng để truyền cảm hứng và đam mê cho học trò, nhưng rút cuộc thì cả cô và trò đều mệt mỏi, rã rời, chán nản vì phải cố mà thực hiện cho được các đáp án được quy định sẵn, phục vụ cho các đề thi được soạn sẵn của Sở giáo dục. Nếu không làm như vậy thì học trò của cô sẽ không qua được kỳ thi. Một sự kiểm soát chặt chẽ như vậy đã giết chết mọi cảm xúc tích cực, mọi đam mê và yêu thích, trò càng học càng ghét học, cô thì muốn bỏ nghề nếu có thể tìm được một nghề khác để sống. Đấy là trong trường hợp người giáo viên còn có trách nhiệm với học trò và với công việc của mình. Còn với đa số giáo viên chấp nhận sự kiểm soát đó như là điều hiển nhiên thì làm sao còn đòi hỏi họ có thể truyền được điều gì khác cho học sinh ngoài sự chán ghét và khả năng học thuộc lòng như vẹt ? Càng học thuộc lòng học sinh càng dốt và càng ghét môn học của mình. Đó là một trong những nguyên nhân căn bản, cộng với áp lực gia đình, khiến cho năm học vừa rồi chỉ có 6% thí sinh thi vào các khối ngành xã hội.  8. Có thể có cải cách giáo dục không nếu không có các nghiên cứu cơ bản về giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học…? Bởi lẽ giáo dục không phải là một hiện tượng đơn lẻ, không tồn tại một cách biệt lập với toàn bộ hệ thống xã hội. Các nhà cải cách giáo dục cần phải trả lời nhiều câu hỏi : mô hình xã hội nào cho phép thực hiện các cải cách ? Mô hình xã hội nào làm triệt tiêu không chỉ các khả năng mà cả các mong muốn cải cách? Cách thức quản lý điều hành xã hội nào sẽ khuyến khích hay kìm hãm cải cách giáo dục? v.v…  9. Có thể tiến hành cải cách giáo dục không nếu không có những chương trình nghiên cứu sâu và rộng nhằm xác định thực trạng một cách đầy đủ và chính xác, để nhận diện được bản chất của vấn đề và để đi tới đề xuất các giải pháp hữu hiệu? Những chương trình đó phải được thực hiện trong vòng nhiều năm và phải được tiến hành bởi các chuyên gia có trình độ chuyên môn, và đặc biệt phải có tâm huyết và đạo đức. Làm sao có thể cải cách giáo dục khi không có các chiến lược quốc gia về giáo dục ? Làm sao có các chiến lược quốc gia về giáo dục nếu không có các chương trình nghiên cứu chất lượng và hiệu quả? Làm thế nào có thể cải cách giáo dục chỉ với các hội thảo được tổ chức vội vã và với các tham luận được viết ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi ? Làm thế nào có thể cải cách giáo dục với những hội thảo được tổ chức để cho có hội thảo, và các tham luận được viết ra để cho có tham luận?  Đấy là những câu hỏi, theo tôi, cần phải trả lời, để có thể tiến hành những cải cách có hiệu quả thực sự.   ———–  * Bài tham dự hội thảo «Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học” – ĐHQG-TPHCM, ngày 13/4/2012  ** Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (IRED)  1 5 tư duy cho tương lai, Howard Garder, bản dịch tiếng Việt của Đặng Nguyễn Hiếu Trung & Tô Tưởng Quỳnh, NXB Trẻ – Dtbooks, 2012, tr. 134.Nguyễn Thị Từ Huy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều quan trọng nhất về giáo dục      Albert Einstein là một khoa học gia và triết gia của thế kỷ 20. Trong thế kỷ đó tên ông đồng nghĩa với thiên tài. Sinh thời ông cũng từng là giáo sư đại học, thể hiện mối quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ qua nhiều bài viết và diễn văn. Trong quyển Ideas and Opinions, Ý tưởng và Quan điểm, tập hợp những suy nghĩ của Albert Einstein về nhiều khía cạnh cuộc sống từ khoa học, xã hội, chính trị đến văn học, nghệ thuật, có một phần về giáo dục. Đương nhiên thế giới chúng ta đang sống đã chuyển sang thế kỷ 21 với vô vàn thay đổi nhanh chóng trong mọi mặt đời sống xã hội, mà nói đến giáo dục là nói đến tương lai tính bằng thập kỷ – mười mấy hai ba bốn chục năm nữa. Có thể có người coi quan điểm giáo dục cách nay sáu bảy chục năm đã lỗi thời. Nhưng vì tôi đồng quan điểm với Einstein nên tôi xin trích dẫn ý kiến của ông.      Động cơ quan trọng nhất đối với lao động trong nhà trường và trong cuộc đời là niềm vui trong công việc, niềm vui trong kết quả của lao động đó, và hiểu biết về giá trị của kết quả đó đối với cộng đồng. Tôi nhận ra nhiệm vụ quan trọng nhất được nhà trường giao phó khi đánh thức và củng cố sức mạnh tâm lý của một chàng trai trẻ. Chỉ riêng một nền tảng tâm lý như thế đủ dẫn tới niềm khao khát hân hoan đối với của cải cao quí nhất của con người, là tri thức và kỹ năng bậc nghệ sĩ”.   Einstein đã phát biểu như trên nhân lễ kỷ niệm 300 năm giáo dục đại học tổ chức ở Albany, New York, ngày 15 tháng 10, 1936, trong một bài diễn văn có tiêu đề “On Education”, bàn về giáo dục. Trong phần mở đầu, rồi lập lại ở phần kết, ông khiêm tốn coi mình là người không hẳn có chuyên môn về sư phạm, mà chỉ có kinh nghiệm riêng và niềm tin cá nhân, với tư cách một người học và một người dạy. Ông nói nếu là vấn đề khoa học thì người không chuyên môn và thiếu căn cứ chỉ nên im lặng. “Tuy nhiên, với những việc liên quan đến con người thiết thực thì khác. Ở đây hiểu biết về chân lý mà thôi thì không đủ; ngược lại hiểu biết này phải được liên tục làm mới lại bằng sự cố gắng không ngừng, nếu không kiến thức sẽ mất đi. Giống như một bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và luôn bị nguy cơ vùi lấp trong gió cát. Những bàn tay chăm chút phải luôn hoạt động để giữ cho bức tượng tiếp tục tồn tại trong ánh thái dương. Tôi xin góp tay vào công việc đó”.   Khi mời Einstein phát biểu người ta không đặt cho ông vấn đề đại học nên chú trọng ngành tài chính ngân hàng hay khoa học kỹ thuật, nhưng hẳn là người ta trông mong ông có ý kiến về việc đào tạo thế hệ tương lai cái gì và như thế nào. Sau khi dành 5/6 trang nói về ý nghĩa và tinh thần của một nền giáo dục có giá trị, Einstein nói: “ Tôi đã nói đầy đủ về việc thanh niên nên, theo quan điểm của tôi, được giáo dục trong tinh thần như thế nào. Nhưng tôi chưa nói gì về việc lựa chọn ngành học, hay phương pháp dạy học. Nên chú trọng ngôn ngữ hay giáo dục kỹ thuật trong khoa học?   Câu trả lời của tôi là: Tất cả những điều đó đều có tầm quan trọng bậc hai. Nếu một thanh niên rèn luyện cơ bắp và thể lực dẻo dai bằng thể dục và đi bộ, thì sau này anh ta thích hợp với mọi lao động chân tay. Điều này cũng tương tự như rèn luyện trí tuệ và thể dục tinh thần và thủ thuật. Cho nên định nghĩa của bậc thông thái về giáo dục không sai: “Giáo dục là cái còn lại, nếu người ta lỡ quên hết mọi thứ đã học ở trường.” Vì lý do này tôi không hào hứng đứng hẳn về một phe nào trong cuộc tranh chấp giữa những người chủ trương một nền giáo dục lịch sử triết học cổ điển hay một nền giáo dục trọng tâm là khoa học tự nhiên.   Mặt khác, tôi muốn phản đối ý kiến cho rằng trường học cần dạy trực tiếp kiến thức chuyên môn và những thành tựu mà người ta có thể sử dụng trực tiếp trong đời sống. Nhu cầu cuộc sống nhiêu khê đến nỗi sự huấn luyện chuyên môn trong nhà trường không có vẻ khả thi. Ngoài ra, hơn thế, tôi thấy rất khó chịu khi đối xử với một cá nhân như một công cụ vô hồn. Nhà trường nên luôn đặt mục tiêu là thanh niên tốt nghiệp với một nhân cách hài hòa, chứ không chỉ là một chuyên gia. Quan điểm này của tôi cũng áp dụng cho cả những trường kỹ thuật, nơi sinh viên chuyên chú theo đuổi một nghề chuyên môn nhất định.   Điều quan trọng bậc nhất là phát triển khả năng tư duy và phán đoán độc lập, chứ không phải có được kiến thức chuyên môn. Nếu một người am hiểu tường tận nền tảng môn học của mình và học được cách suy nghĩ và làm việc độc lập, anh ta chắc chắn tìm ra con đường cho mình, và hơn nữa sẽ có thể điều chỉnh bản thân mình cho thích nghi với sự tiến bộ và những thay đổi, tốt hơn hẳn so với những người được đào tạo chuyên môn với kiến thức cụ thể chi tiết”.   Mười sáu năm sau, trong bài Nền giáo dục cho tư duy độc lập đăng trên New York Times số 5 tháng 10, 1952, Einstein lại viết:  “Đào tạo một người một ngành chuyên môn thì không đủ. Được đào tạo như vậy người đó có thể trở thành một cái máy hữu dụng chứ không phải một nhân cách phát triển hài hòa. Điều thiết yếu là sinh viên đạt được hiểu biết và cảm nhận sinh động các giá trị. Anh ta phải có một nhận thức sâu sắc về những điều đẹp và tử tế. Nếu không, anh ta – với kiến thức chuyên môn – sẽ gần giống với một con chó được huấn luyện giỏi hơn là một con người phát triển hài hòa. Sinh viên phải học để hiểu những động lực sống của nhân loại, những ảo tưởng và những khổ đau của họ để có được mối quan hệ đúng với từng cá thể đồng loại và với cộng đồng nhân loại.  Những điều cao quí này được truyền giao cho thế hệ trẻ thông qua tiếp xúc trực tiếp với người dạy – hoặc chí ít cũng là chủ yếu – chứ không phải thông qua sách vỡ. Chính điều này tạo lập và bảo tồn văn hóa một cách căn cơ. Tôi nghĩ đến điều này khi khuyến cáo “nhân văn” là ngành học quan trọng, chứ không phải kiến thức chuyên môn khô khan trong các môn sử và triết.   Quá nhấn mạnh vào hệ thống cạnh tranh và chuyên môn hóa chưa thuần thục ở mức độ hữu dụng tức thì, bao gồm cả kiến thức chuyên môn hóa, giết chết tâm hồn mà toàn bộ đời sống văn hóa phụ thuộc vào.   Một điều cũng rất quan trọng đối với một nền giáo dục có giá trị đó là phát triển tư duy phê phán độc lập ở những người trẻ, một sự phát triển bị tác hại lớn do chồng chất lên sinh viên quá nhiều kiến thức và môn học quá khác biệt (hệ thống điểm). Quá tải tất yếu dẫn tới nông cạn. Dạy học nên là một hoạt động mà điều được truyền giao được tiếp nhận như món quà quí giá chứ không phải như một bổn phận nhọc nhằn”.  Đó là bài viết cuối cùng của Einstein đề cập đến giáo dục. Ông mất 3 năm sau đó. Có thể coi đây là di ngôn giáo dục của ông.   Lý Lan trích dịch từ   quyển Ideas and Opinions, NXB The Modern Library, New York, 1994      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều tuyệt vời về giáo dục sư phạm Phần Lan      Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của giáo dục Phần Lan chính là chất lượng người thầy. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin nêu một số đặc điểm về ngành giáo dục sư phạm của quốc gia Bắc Âu này và ý kiến của Giáo sư Rauni Räsänen, thuộc Khoa Giáo dục của trường Đại học Oulu, Phần Lan.     Nghề cạnh tranh  Để được nhập học ngành sư phạm, đầu tiên, ứng viên sẽ qua hai vòng thi. Vòng thứ nhất tuyển chọn dựa vào đơn xin học và các văn bằng thí sinh có được. Sau đó, những thí sinh được chọn sẽ tham gia kỳ thi đầu vào. Kỳ thi này bao gồm bài kiểm tra viết về kiến thức giáo dục và một cuộc phỏng vấn. Những thí sinh đạt điểm cao nhất từ hai kỳ thi sẽ được nhận vào học. Con đường vào ngành sư phạm là vô cùng cạnh tranh, chỉ có khoảng 10% ứng viên trúng tuyển. Ở trường ĐH Helsinki, năm nay có khoảng 2.000 ứng viên nộp đơn xin vào ngành sư phạm tiểu học, và chỉ có 120 sinh viên được nhận.*  Để trở thành giáo viên, sinh viên học bằng Cử nhân (180 tín chỉ), và tiếp tục học Thạc sỹ (120 tín chỉ). Một tín chỉ theo chuẩn châu Âu tương đương 27 giờ học. Sinh viên sẽ mất khoảng 5 năm để hoàn thành chương trình học 300 tín chỉ này.  Chương trình học Thạc sỹ bao gồm 60 tín chỉ dành cho chuyên ngành dạy, ví dụ như mầm non, lớp chuẩn bị vào lớp 1 (lớp 0, hay gọi là eskarit), tiểu học (bao gồm tất cả các môn học), giáo dục đặc biệt, và hỗ trợ học sinh. Ngoài ra, chương trình còn có các ngành học về kiến thức sư phạm, và kỹ năng đứng lớp do các trường thực hành của Khoa Giáo dục, hoặc các trường được cấp phép đảm nhận. Ví dụ, ở thành phố Oulu, trường thực hành nằm ngay bên kia đường, đối diện Khoa Giáo dục Sư phạm để tạo điều kiện cho sinh viên thực hành. Trường này có tên là Trường tiểu học Thực hành sư phạm Oulu (Oulu Teacher Training Primary School, từ lớp 0 đến lớp 6, cũng là một trường trong mạng lưới UNESCO ASPnet**).  Trò chuyện với Giáo sư Rauni Räsänen – làm việc tại trường ĐH Oulu từ 1986, năm 1994, bà đề xướng chương trình Sư phạm về Giáo dục Quốc tế và Giáo dục Đa văn hóa ở Phần Lan. Năm 2006, bà là người đầu tiên ở Phần Lan, và thứ ba trong Liên minh châu Âu giữ chức danh Giáo sư Giáo dục toàn cầu (Global Education) – chúng tôi được bà cho biết:  “Điều tuyệt vời nhất về giáo dục sư phạm Phần Lan là đất nước chúng tôi có một lịch sử lâu đời trong đào tạo giảng viên đại học, và cả giáo viên mầm non, tiểu học và trung học. Điều thứ hai, dạy học được xem là nghề cao quý ở Phần Lan, nên ngành sư phạm thu hút được nhiều sinh viên, và chỉ có những sinh viên thật sự giỏi và có đam mê nghề nghiệp mới được nhận vào. Đây là hai điều tiên quyết cho ngành giáo dục sư phạm ở đây. Điều thứ ba, ngoài việc thực hành sư phạm ở các trường học phổ thông, chúng tôi còn có trường thực hành sư phạm, trường này cũng thuộc trường đại học. Những giáo viên làm việc trong trường này được đào tạo rất tốt, đặc biệt trong việc hướng dẫn các sinh viên thực tập đứng lớp, hay đưa ra các nhận xét, lời khuyên cho các giáo viên mới vào nghề.”  Hai đặc điểm nền tảng  Bà cũng nhấn mạnh hai nền tảng xã hội, đó chính là nhận thức của công dân trước đây về tầm quan trọng của giáo dục trong việc phát triển con người và kinh tế ở một đất nước Phần Lan nhỏ bé, hứng chịu hậu quả của nhiều cuộc chiến tranh và nghèo nàn về tài nguyên. Bà nói: “Mọi người trong xã hội cho rằng chỉ có thể thông qua giáo dục chúng tôi mới có thể phát triển được. Do đó, mỗi công dân đều phải có quyền hưởng nền giáo dục tốt nhất. Đó cũng là lời cam kết của Chính phủ, và của cả xã hội.”   Thứ hai, đó là “sự tin tưởng” của xã hội vào sự tận tâm cũng như chuyên môn của nhà giáo. Giáo viên trở thành người dẫn dắt và định hướng tương lai của học sinh. Quyền thiêng liêng này được giao phó cho giáo viên từ trên xuống là Nhà nước và từ dưới lên là cha mẹ học sinh. Sinh viên sư phạm được đào tạo để trở thành nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà cố vấn có toàn quyền độc lập trong lớp học. Điều này cũng dễ hiểu vì sao hệ thống đào tạo giáo viên của Phần Lan coi trọng sự phát triển của từng cá nhân sinh viên và lấy nghiên cứu khoa học làm nền tảng.    Cân bằng giữa nghiên cứu và giảng dạy  Từ trước đến nay, ở trường đại học, giảng dạy lúc nào cũng đi đôi với nghiên cứu, nhưng ngày nay được đề cao hơn là xu hướng coi trọng số lượng ấn phẩm nghiên cứu khoa học của giáo viên. Tuy nhiên theo bà Räsänen, “Làm nghiên cứu rất quan trọng, vì nó tạo ra kiến thức làm nền tảng và hỗ trợ việc dạy, nhưng nếu giáo viên ưu tiên việc nghiên cứu, họ sẽ không chăm lo tốt cho việc giảng dạy nữa. Vì vậy giáo viên cần phải biết cân bằng hai nhiệm vụ này.”   Cũng cần nói thêm rằng, vì giáo viên là người dẫn đường cho những thế hệ tương lai của đất nước, nên sự trưởng thành toàn diện của từng cá nhân sinh viên ngành sư phạm được coi là mối quan tâm hàng đầu của hệ thống đào tạo. Lớp học thường có sĩ số thấp, giáo viên dành nhiều thời gian để quan sát việc học tập, viết tự luận, làm việc theo nhóm của sinh viên. Việc phát biểu ý kiến cá nhân, phản ảnh tư tưởng của mình là cần thiết để giáo viên nắm bắt được tính cách, nhân sinh quan, khả năng lãnh đạo của những giáo viên tương lai.   Một điều thú vị mà bà nhấn mạnh, đó là phải tạo cho giáo viên một tầm nhìn quốc tế. Hiểu biết về đất nước mình thôi thì chưa đủ, giáo viên cần phải có cái nhìn rộng về thế giới. “Khi chúng ta nói về hợp tác phát triển quốc tế, Phần Lan thụ hưởng rất nhiều điều quý báu khi có những sinh viên từ khắp nơi đến đây học tập, hoặc sinh viên Phần Lan đi học ở các nơi khác qua các chương trình du học hoặc trao đổi sinh viên, giảng viên giữa các trường trên thế giới với Phần Lan. Nó sẽ đem lại những trải nghiệm giúp hình thành những cách nghĩ và cách làm mới. Một giáo viên có tầm nhìn thế giới bao quát thì mới có thể truyền cho học sinh tinh thần đó được. Điều này rất quan trọng trong thế giới đang toàn cầu hóa ngày nay.”    ——————-  * Theo luận văn của tác giả Lahti-Hommeyer, L. (2010) Mười yếu tố của nền giáo dục xuất sắc Phần Lan, và theo Pasi Sahlberg, trong bài Câu chuyện giáo dục thành công Phần Lan. (http://seattletimes. com/html/localnews/2019676789_finland14m.html, ngày 3/12/2012).  ** Dự án Trường học của UNESCO, là một chương trình được thành lập vào năm 1953 nhằm khuyến khích các trường học trên toàn thế giới giáo dục học sinh về các vấn đề liên quan đến “thúc đẩy hòa bình và thấu hiểu đối với cộng đồng quốc tế”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Định hướng nghề nghiệp: Thực tế khác xa quy hoạch      Chính phủ đã có Quyết định 121/27/QĐ-TT  về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020, trong đó đặt ra yêu cầu điều chỉnh cơ cấu số lượng sinh viên theo các nhóm ngành. QĐ này đã cho thấy phần nào nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam nhưng thực tế lại diễn ra hoàn toàn khác.      Sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Nguồn ảnh: Vnua.edu.vn.  Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, con số sinh viên được lựa chọn vào học năm 2010 vẫn có tỷ lệ khá chênh lệch so với con số phê duyệt (xem biểu đồ 1): chỉ tính riêng ngành kinh tế, số sinh viên được nhận vào các trường đại học đã chiếm 28,96%, ngành sư phạm là 17,18%; trong khi đó nhóm ngành nông, lâm, ngư mặc dù đã đưa ra chỉ tiêu khá khiêm tốn nhưng tỷ lệ sinh viên thi đỗ cũng chỉ đạt 8,6%, các ngành kỹ thuật – công nghệ là 30% (Viện Quản lý và Phát triển năng lực Tổ chức – DOMI, 2010). Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục đại học đều có xu hướng mở rộng các ngành đào tạo theo thị hiếu của người học. Cũng theo DOMI, trong số 488 cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng năm 2010 thì có tới 360 cơ sở đào tạo có ngành Quản trị kinh doanh, 298 cơ sở có ngành kế toán, 297 cơ sở mở ngành công nghệ thông tin và 193 cơ sở có đào tạo ngành tài chính – ngân hàng. Với tình hình kinh tế suy thoái như hiện nay, những cử nhân có tấm bằng tốt nghiệp các ngành liên quan tới kinh tế còn gặp khó khăn về việc làm. Với một con số khổng lồ những sinh viên sẽ tốt nghiệp các ngành này trong thời gian tới, đa số các em sẽ chật vật tìm việc trong tương lai. Điều đó thể hiện công tác dự báo, dự đoán và định hướng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều bất cập.  Trong khi có những ngành “vượt mức” tới mức không biết tương lai của các sinh viên ra trường sẽ ra sao thì có những ngành nghề được xác định là thế mạnh, là hướng tập trung phát triển của đất nước lại không tuyển đủ thí sinh vào học. Các khối ngành nông-lâm-ngư nghiệp hay kinh tế biển đều gặp khó khăn trong tuyển sinh. Nhiều ngành thuộc khối này những năm gần đây dù tuyển tới nguyện vọng 3 và điểm chuẩn tương đương với điểm sàn đại học nhưng vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu. Nghịch lý là ở chỗ các ngành khó tuyển đôi khi lại là ngành dễ kiếm việc làm, ví dụ như ngành Cơ khí chế biến nông sản-thực phẩm của trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1998 tới nay, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm luôn là 100% và nhu cầu thị trường vẫn còn rất lớn, nhưng nhà trường luôn gặp khó khăn trong khâu tuyển sinh đầu vào (DOMI, 2010).    Biểu đồ 1: Cơ cấu số sinh viên đào tạo theo các nhóm ngành trong các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn 2006-2020 theo NQ 121/27/QĐ-TT.  Bỏ quên khối trung học phổ thông  Việc học sinh không đăng ký vào các ngành học theo định hướng của nhà nước không phải chỉ là lỗi của công tác dự báo hay công tác định hướng chính sách, một phần nguyên nhân nằm ở sự yếu kém trong công tác định hướng nghề nghiệp của các trường phổ thông, ở mối quan hệ lỏng lẻo giữa các trường phổ thông và các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, các nguyên nhân này có mối quan hệ qua lại với nhau. Khi công tác dự báo nguồn nhân lực chưa được làm bài bản và có hệ thống, lại chưa có giá trị thuyết phục, công tác định hướng nghề nghiệp của các trường cũng gặp khó khăn. Hơn nữa, công tác định hướng nghề nghiệp không phải là nhiệm vụ truyền thống của các trường phổ thông, và các trường này thường có rất ít thông tin về thị trường lao động. Công tác định hướng cho học sinh cuối phổ thông trung học hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở công tác hỗ trợ thi cử hay đưa ra những lời khuyên mang tính chất cá nhân cho học sinh.  Một vài năm gần đây công tác định hướng ngành học với sự kết hợp của các trường đại học đã có khởi sắc khi đã có những trường đại học chủ động liên hệ và tổ chức các hoạt động giới thiệu, quảng bá các khóa học của mình ở các trường phổ thông. Tuy nhiên các hoạt động này thường mới chỉ dừng lại ở các trường chuyên hoặc ở các thành phố lớn và vẫn mang nặng tính hình thức và tính quảng cáo cho các trường đại học đến quảng bá. Ở nhiều trường đại học đã bắt đầu xuất hiện các ngày hội tuyển sinh (open days) để giới thiệu về các ngành học, qui mô, hình thức đào tạo và triển vọng nghề nghiệp. Do điều kiện tổ chức và điều kiện địa lý, các hoạt động này vẫn chưa thu hút nhiều học sinh tham gia, nội dung vẫn được đánh giá là còn nghèo nàn và nghiêng về quảng cáo hút sinh viên hơn là đưa ra các thông số thông tin thiết thực, có vai trò định hướng nghề nghiệp cho người học.  Người học hiện nay vẫn ở trong tình trạng thiếu thông tin và không được định hướng nghề nghiệp đúng hướng  nên mới xảy ra tình trạng như cung cầu quá chênh lệch: theo Trung tâm dự báo nguồn nhân lực và thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, ngành có chỉ số cung cao nhất năm 2010 là kế toán, kiểm toán- 33% nhưng nhu cầu chỉ là 3,25%. Trong khi đó khảo sát về nhu cầu ngành học của trường Đại học FPT cùng thời điểm đó với 10.000 học sinh đang học lớp 12 vẫn cho thấy: nhu cầu học ngành kế toán, tài chính, ngân hàng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (40%) bên cạnh đó nhu cầu học các ngành kỹ thuật hay nông, lâm, ngư là vô cùng thấp (DOMI, 2010).  Ngoài các yếu tố khách quan như sự yếu và thiếu của công tác dự báo và định hướng nguồn nhân lực, sự lỏng lẻo của các trường đại học với đầu vào (là các trường phổ thông trung học) và đầu ra (thị trường lao động) thì vai trò của chính chủ thể người học và gia đình của họ cũng đóng một phần không nhỏ cho sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu nguồn nhân lực có kỹ năng hiện nay. Trong một nền văn hóa còn mang nặng tính Nho giáo, khi mà việc con cái biết nghe lời cha mẹ vẫn là một chuẩn mực đạo đức được ca ngợi thì việc phần đông học sinh, sinh viên thụ động, trông chờ vào sự sắp đặt của người lớn là điều dễ hiểu.  Không chỉ là câu chuyện tấm bằng  Bên cạnh đó, văn hóa thể diện vẫn còn hiện hữu khá sâu sắc ở xã hội Việt Nam khi đa phần các bậc phụ huynh đều hiểu tình trạng phổ biến ở Việt Nam hiện nay là thừa thầy thiếu thợ (tỷ lệ đào tạo sinh viên đại học-cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật ở Việt Nam là 1 –1,3 – 0,92, trong khi trên thế giới tỷ lệ này thường là 1 – 4 – 10 (Phan Anh Tuấn, 2012). Nhiều phụ huynh biết được khả năng hạn chế của con mình nhưng vẫn mong muốn con vào được đại học. Tâm lý của phần đông học sinh phổ thông vẫn thích sở hữu tấm bằng đại học. Vì vậy, việc vào được đại học, bất cứ là trường nào và ngành gì cũng trở thành mục tiêu của không ít học sinh và gia đình của họ.  Khảo sát với sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp (ngành học có nhu cầu thị trường rất thấp) ở các trường đại học ở Hà Nội cho thấy: đa phần các em quan niệm “thôi cứ vào học lấy cái bằng chính qui cái đã, dần dần rồi tính”. Bên cạnh đó, các câu chuyện về sự áp đặt quan niệm của phụ huynh với định hướng học tập của con cái vẫn xuất hiện hằng ngày trên các trang báo. Sự khuyên nhủ hay thậm chí áp đặt của các bậc phụ huynh đôi khi mang lại hiệu ứng tích cực nếu họ có những hiểu biết thấu đáo về nhu cầu thị trường lao động cũng như thực lực và sở thích của con cái mình. Đương nhiên, với sự bát nháo và mù mờ thông tin về thị trường lao động như hiện nay, có được sự hiểu biết tốt về thị trường lao động đối với mỗi người dân thường là điều không hề dễ dàng.  Sự thụ động và ỷ lại của một bộ phận lớn sinh viên cũng là điều cần bàn. Nghiên cứu của tôi vào 2015 cho thấy chất lượng sinh viên hiện nay phân hóa khá rõ rệt, sinh viên học cùng một ngành, cùng một trường, cùng một điều kiện học tập và phát triển kỹ năng như nhau nhưng khi ra trường vẫn có những hiện tượng trái ngược: nhiều sinh viên được nhà tuyển dụng chào đón, trong khi một bộ phận khác không thể tìm được việc. Điều này nhấn mạnh vai trò của sinh viên trong việc chủ động xây dựng hành trang cho mình để thích ứng với đòi hỏi của thị trường lao động. Trong một nền kinh tế mà vai trò của kỹ năng đang được đề cao (theo World Bank, 2012, kiến thức chuyên môn cũng được coi là một dạng kỹ năng), với các thuộc tính luôn được chào đón như: khả năng sáng tạo, làm việc độc lập, làm việc nhóm hay khả năng sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin. Nếu sinh viên không chủ động rèn luyện các kỹ năng này thì dù được học trong một ngành mà xã hội có nhu cầu cao thì việc tìm được chỗ đứng vững vàng trong thị trường lao động đối với họ cũng không dễ dàng gì.  Trong khi đó, đa phần sinh viên hiện nay chưa có tính chủ động, và không tận dụng triệt để các cơ hội để phát triển kỹ năng và tư duy, mặc dù các cơ hội này vốn đã ít ỏi trong môi trường đại học ở Việt Nam. Nhiều sinh viên vẫn cho rằng tấm bằng đại học là đủ để xin việc. Họ ít tìm hiểu về thị trường lao động trước khi tốt nghiệp và thường có những ngộ nhận nhất định về khả năng làm việc của mình. Theo kết quả nghiên cứu thì sinh viên đặc biệt ngộ nhận về kinh nghiệm làm việc, kỹ năng mềm và khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế của họ (Bảng 1).    Bảng 1: So sánh quan điểm của doanh nghiệp và sinh viên về hành trang của sinh viên khi lập nghiệp (Khảo sát này được tiến hành với sự hỗ trợ từ 109 nhà tuyển dụng và 988 sinh viên, tháng 2/2015).  Không phải ngẫu nhiên mà quan niệm vào được đại học là bước khởi đầu cho tương lai tốt đẹp vẫn tồn tại trong xã hội Việt Nam hiện đại, dù hình ảnh cử nhân đại học gắn với hình ảnh nhân viên cổ cồn làm các công việc hành chính nhà nước nhàn nhã và ổn định đã dần lùi vào dĩ vãng. Vị thế của người tốt nghiệp đại học vẫn được đánh giá là tốt hơn nhiều vị thế của công nhân hay thợ kỹ thuật trong các nhà máy, phân xưởng bởi vì các cơ chế, chế tài hay các điều luật bảo vệ quyền lợi người lao động ở Việt Nam còn rất lỏng lẻo nên việc công nhân bị o ép, làm việc trong các điều kiện tồi tàn, lương thấp, đối xử bất công và có thể bị đuổi việc bất kì lúc nào vẫn còn khá phổ biến.  ***  Chúng tôi không cho rằng, cần có quy hoạch nghề nghiệp cho từng lĩnh vực mà muốn nhấn mạnh, mức độ chênh lệch cung cầu trong thị trường nguồn nhân lực phụ thuộc vào công tác nghiên cứu và dự báo về thị trường lao động. Việc này cần phải được tiến hành có hệ thống, công khai, minh bạch, giúp doanh nghiệp, nhà trường và người dân định hướng tốt hơn công tác nhân sự, đào tạo và định hướng nghề nghiệp cho con em mình. Mối quan hệ giữa các hệ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải được điều chỉnh theo hướng kết hợp liền mạch hơn, giúp học sinh phổ thông và gia đình của họ có những hiểu biết tốt hơn về các trường đại học, về triển vọng phát triển các ngành nghề ở các cấp độ, các địa phương khác nhau, từ đó có thể định hướng nghề nghiệp và chọn ngành học, cấp học tốt hơn sau khi tốt nghiệp phổ thông.  Tham khảo  Phan Anh Tuấn. ( 2012). Thực trạng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiện nay. Hội thảo “Đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp” tại trường Đại học Lạc Hồng  năm 2012.  DOMI (2012), Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.  World Bank. (2012). Putting Higher Education to work, skill and research for growth in East Asia. Regional Report, Washingon DC    Author                Trần Thị Tuyết        
__label__tiasang Định hướng xây dựng những trung tâm đào tạo với trình độ quốc tế      Xây dựng các trung tâm chất lượng cao nhằm đào tạo những học viên có tài năng để họ có thể trở thành những người có năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học, và đồng thời cũng có những đóng góp tích cực và gắn bó với cơ sở đào tạo, luôn là một mối quan tâm hàng đầu của các trường đại học, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu trên thế giới.      Đoàn Việt Nam tham dự Cuộc họp Hội đồng Chấp hành UNESCO vào năm 2015 tại Paris, Trong sự kiện này, hai đề xuất của Việt Nam về việc thành lập Trung tâm dạng II, một loại hình viện chuyên môn trong các lĩnh vực mà UNESCO quan tâm (Trung tâm Toán học quốc tế và Trung tâm Vật lý quốc tế) đã được thông qua. GS. Lê Tuấn Hoa, chủ trì đề tài về Trung tâm Toán học quốc tế ngồi thứ tư, từ trái sang. Nguồn ảnh: VAST.  Đối với nước ta, xây dựng các cơ sở đào tạo và nghiên cứu sau đại học với trình độ quốc tế cũng nên là một định hướng phát triển. Hoạt động có hiệu quả của một cơ sở như vậy không chỉ thúc đẩy sự phát triển khoa học, cung cấp các giảng viên, các nhà nghiên cứu và ứng dụng có trình độ cao cho cả nước, mà còn nâng cao vị trí và tạo ảnh hưởng cho khoa học của nước ta trong khu vực, góp phần tăng cường quan hệ quốc tế của chúng ta. Tính hiệu quả ấy phụ thuộc mật thiết vào việc thu hút được các học viên (thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ, thực tập sinh sau tiến sĩ) có năng lực cao.  Hai phương thức đào tạo  Chúng ta có thể phân biệt hai phương thức về đào tạo của các trung tâm đào tạo và nghiên cứu: phương thức thứ nhất chỉ là đào tạo và sau khi các học viên hoàn thành khóa học thì trung tâm cũng hoàn thành trách nhiệm. Phương thức thứ hai là đào tạo những học viên gắn bó với trung tâm, để sau khi học xong họ vẫn có thể là các thành viên của các nhóm nghiên cứu, và tiếp tục hợp tác đóng góp cho sự phát triển của trung tâm. Trong bài viết này, chúng tôi thảo luận một mô hình đào tạo theo phương thức thứ hai. Theo đó, không cần phải tuyển sinh đại trà mà chỉ lựa chọn một số tương đối ít học viên thực sự có khả năng, có triển vọng và dự định gắn bó lâu dài với trung tâm, tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học và ứng dụng.  Bên cạnh đó, cần nhận định rằng ngay cả trong quá trình đang được đào tạo, những người theo học cũng có những đóng góp thực tế cho trung tâm. Hiện nay trên thế giới, các học viên cao học, các nghiên cứu sinh và thực tập sinh sau tiến sĩ là một bộ phận quan trọng của các nhóm nghiên cứu. Ngay từ cuối năm thứ nhất và giữa năm thứ hai của chương trình thạc sĩ, các học viên cao học đã tham gia vào các nhóm nghiên cứu, là thành viên của các đề tài nghiên cứu do người hướng dẫn chủ trì. Các nghiên cứu sinh trong ba năm làm tiến sĩ của mình là những thành viên tích cực và thường xuyên của các đề tài nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu của họ thường được công bố trong các bài báo trên các tạp chí có uy tín. Và các thực tập sinh sau tiến sĩ là những thành viên chính, mang nhiều nhân tố mới đóng góp cho các đề tài. Thực tập sau tiến sĩ (postdoc) là giai đoạn trưởng thành của các tân tiến sĩ, giúp họ có khả năng độc lập nghiên cứu. Tuy hãn hữu, nhưng trong một số trường hợp, chính trong giai đoạn này, một số thực tập sinh sau tiến sĩ đã hoàn thành những công trình hoặc tìm ra những ý tưởng đột phá, làm bản lề cho cuộc đời khoa học của họ – và khi đó cơ sở đào tạo trở thành nơi xuất phát của ý tưởng/ công trình đó. Như vậy, ở mọi cấp độ đào tạo, song song với việc học tập, học viên có năng lực và thực tập sinh sau tiến sĩ đã thực sự là một bộ phận không thể thiếu trong các nhóm nghiên cứu, góp phần thực hiện nhiều nhiệm vụ từ nghiên cứu đến thực nghiệm, mang lại thành công cho đề tài.  Có thể nhận xét thêm rằng ở nhiều trường đại học ở các nước tiên tiến, ngay nghiên cứu sinh cũng tham gia giảng dạy với vị trí là trợ giảng hay chữa bài tập, hướng dẫn thảo luận nhóm.  Với cách nhìn như trên, thực chất có thể xem các học viên và nghiên cứu sinh như là những cán bộ hợp đồng nghiên cứu! Do vậy, phải quan niệm trong việc cấp học bổng có một phần là trợ cấp nghiên cứu, tức xem việc làm thạc sĩ nghiên cứu hay nghiên cứu sinh như một dạng việc làm có thời hạn.  Hiện nay ở nước ta, có một thực tế là đào tạo càng lên cao thì càng có nhiều cách biệt so với các nước có uy tín trên thế giới. Trình độ thạc sĩ ở các cơ sở đào tạo của ta chưa được như các trường đại học quốc tế. Với đào tạo tiến sĩ, mặc dù chúng ta có những cơ sở đào tạo đạt trình độ cao nhưng việc tuyển sinh cũng có nhiều khó khăn, số người đăng ký nghiên cứu sinh trình độ cao thường ít. Vì sao như vậy? Nguyên nhân là mặc dù có một số sinh viên giỏi sau khi tốt nghiệp có lòng đam mê và dự định theo đuổi con đường học tập và nghiên cứu lâu dài, nhưng phần đông trong số họ không thể đủ kinh phí để tự trang trải chi phí học tập và cuộc sống. Một số sinh viên tìm được các nguồn học bổng để đi du học. Số sinh viên còn lại hoặc đi làm và sau đó đi học, hoặc phải vừa học vừa làm thêm, dạy thêm rất nhiều để có thể đủ sống. Vì vậy phần lớn những học viên và nghiên cứu sinh trong nước khó có thể dành toàn bộ thời gian để học tập và nghiên cứu, dẫn đến kết quả đạt được chưa cao.  Để tìm cách khắc phục những khó khăn này, chúng ta hãy tìm hiểu thêm về chính sách ở các trường đại học hoặc trung tâm đào tạo ở các nước khác, đơn cử trong ngành Toán.  Tại Mỹ và châu Âu  Qua tham khảo mức học bổng ở một số Trung tâm đào tạo tại Mỹ và châu Âu, ta có thể nhận định: mức học bổng thạc sĩ thường tối thiểu là 600* USD/ tháng, và có các hỗ trợ về nhà ở, về đi lại, và bảo hiểm xã hội; mức học bổng Tiến sĩ thường dao động từ 1200 đến 3000 USD/ tháng, trong nhiều trường hợp có các hỗ trợ về vé máy bay và nhà ở, và có thể cả chi phí tham dự hội nghị ở nước ngoài; mức lương thực tập sau tiến sĩ phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở nghiên cứu, vào các đề tài nghiên cứu, nhưng thường dao động từ 1500 đến 3500 USD/ tháng và có các điều kiện như chi phí đi tham dự hội nghị trong nước và nước ngoài, điều kiện nhà ở (đôi khi cho cả gia đình).  Tại các nước châu Á  Gần đây các nước có nền kinh tế mạnh ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore đã đầu tư rất nhiều vào các trung tâm nghiên cứu và đào tạo, và họ đã trao những mức học bổng gần tương đương (hoặc thậm chí có khi cao hơn) mức học bổng của các trung tâm ở châu Âu. Học bổng cho thạc sĩ tối thiểu là 800 USD/ tháng, và học bổng cho tiến sĩ thường từ 1000 USD/ tháng trở lên.  Trên thế giới hiện có hơn 60 viện nghiên cứu Toán và hàng trăm trường đại học có khoa Toán tốt. Hầu hết các viện và trường đại học này đều cấp học bổng hấp dẫn cho các thực tập sinh sau tiến sĩ, nghiên cứu sinh và một tỷ lệ nhất định học viên nhằm thu hút những người thực sự có năng lực. Có thể nói, đang có một cuộc cạnh tranh ngầm giữa các cơ sở đào tạo trên thế giới, và trong những năm gần đây sự cạnh tranh càng tăng mạnh ở một số nước châu Á.  Một số điều kiện cần thiết  Từ những phân tích trên, chúng ta nhận thấy sự cần thiết có một mô hình đào tạo hiện đại để có thể thu hút được những học viên có tài năng. Trước hết, các hoạt động đào tạo trong các cơ sở này cần đảm bảo các tiêu chí khoa học sau:  Chương trình học tiên tiến hiện đại, có sự tham khảo các giáo trình của các trường đại học tiên tiến trên thế giới, giảng viên là những nhà khoa học có uy tín và có kinh nghiệm giảng dạy;  Có nhiều hợp tác với quốc tế, có điều kiện mời các giáo sư đầu ngành nước ngoài sang giảng dạy và tham gia các nhóm nghiên cứu;  Thường xuyên tổ chức các Hội thảo, các seminar, các khóa học ngắn hạn về những hướng nghiên cứu mới, đang phát triển;  Tổ chức các nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học đầu ngành dẫn dắt, trong đó có sự đóng góp và tham gia tích cực của các học viên;  Có các trao đổi học viên với nước ngoài, tạo cơ hội đi thực tập hoặc đồng hướng dẫn các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.  Theo chúng tôi, việc xây dựng một mô hình như vậy là khả thi. Để đảm bảo các tiêu chí như đã nêu, chúng ta đã có một đội ngũ các nhà khoa học ở các Viện nghiên cứu và các trường đại học, nhiều người là những nhà khoa học đầu ngành, có uy tín quốc tế; chúng ta có nhiều hợp tác quốc tế với các nhóm nghiêu cứu mạnh trên thế giới, nhiều nhà khoa học từ các nước khác sẵn sàng đến giảng dạy ở nước ta, và trên thực tế họ cũng đã tham gia nhiều trường học ngắn hạn, nhiều khóa học hay các hội thảo khoa học.  Vấn đề cần chú trọng là việc thiết lập một cơ chế học bổng hợp lý cho các học viên. Bước đầu định mức có thể ở mức từ 6 đến 10 triệu đồng/ tháng, tuy chưa được như của thế giới nhưng có lẽ cũng đủ để đảm bảo cuộc sống cho học viên, để họ có thể toàn tâm toàn ý học tập và nghiên cứu. Trong 10 năm qua, Nhà nước ta đã có một số chương trình cấp học bổng cho học viên đi du học ở nước ngoài (với mức học bổng từ 600 đến 1000 USD/ tháng), qua đó đã thu được một số kết quả nhất định cho việc phát triển đội ngũ khoa học. Đã đến lúc, cùng với các chương trình đó, chúng ta nên cấp học bổng cho các học viên học trong nước, với mức học bổng tuy cao hơn mặt bằng chung trong nước, nhưng vẫn thấp hơn so với chi phí gửi học viên đi nước ngoài rất nhiều.  Trong những năm vừa qua ở nước ta, một số trường đại học (công lập và dân lập) đã có những chương trình đào tạo sau đại học với các hợp tác quốc tế, có những lớp đặc biệt và có những mức học bổng cao để thu hút học viên giỏi. Mới đây, theo Thông tư 88/2017/TT-BTC thực hiện Đề án đào tạo bồi dưỡng nhân lực khoa học công nghệ, người học trúng tuyển bồi dưỡng sau tiến sĩ ở trong nước có thể được tài trợ với mức kinh phí hỗ trợ lên đến 200 triệu đồng/ hai năm. Mong rằng thông tư này sớm được triển khai vào thực tế. Và gần đây, vào ngày 25/8/2017, Chính phủ ta đã cùng với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) ký Thoả thuận về việc thành lập Trung tâm quốc tế  Đào tạo và Nghiên cứu Toán học và Trung tâm Vật lý quốc tế dưới sự bảo trợ của UNESCO, và chính phủ cũng đã ủng hộ chủ trương có những mức học bổng tiệm cận với học bổng của quốc tế để thu hút học viên. Hy vọng rằng các Trung tâm này sớm được thành lập và đi vào hoạt động.  Chúng ta có nhiều cơ sở để tin rằng có thể xây dựng được những trung tâm quốc tế đào tạo chất lượng cao, có chính sách tài chính hợp lý cho học viên – bước đầu với quy mô vừa phải, như những thử nghiệm, và sau đó có thể sẽ nhân rộng ra ở các trường đại học – từ đó tạo điều kiện để những bạn trẻ có tài năng và lòng đam mê được học tập và tiếp tục con đường nghiên cứu ở ngay trên quê hương mình, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển khoa học của đất nước.  (Bài viết được thực hiện từ các trao đổi, thảo luận của nhóm xây dựng đề tài về Trung tâm dưới sự bảo trợ của Unesco do Gs. Lê Tuấn Hoa chủ trì tại Viện Toán học.)  * Sửa lại so với bản in là 1200 USD    Author                Phan Thị Hà Dương        
__label__tiasang Đìu hiu tuyển nguyện vọng 3      Dù đã qua sáu ngày xét tuyển nguyện vọng 3 nhưng số lượng hồ sơ nộp vào các trường ĐH rất thưa thớt. Nhiều ngành chỉ có một vài hồ sơ, thậm chí không ít ngành còn chưa có hồ sơ nào được nộp.     Đáng ngại nhất là Trường ĐH Đà Lạt. Trường này tuyển sinh 31 ngành đào tạo nhưng kết thúc NV1 và 2, có đến 22 ngành phải xét tuyển NV3 với tổng chỉ tiêu hơn 1.400, đến thời điểm này mới chỉ có 15 hồ sơ nộp vào. Hầu hết các ngành chỉ có một hồ sơ, ngành sinh học có hai hồ sơ, ngôn ngữ Anh có ba hồ sơ. Trong khi đó, có đến 10 ngành chưa có hồ sơ nào. Nhiều ngành có chỉ tiêu rất lớn như công nghệ kỹ thuật điện tử truyền thông (112), lịch sử (131), hóa học (80) nhưng vẫn chưa có hồ sơ, trong khi số lượng thí sinh trúng tuyển NV1 và 2 cũng rất ít.  Thưa thớt hồ sơ    Tuy có khá hơn nhưng số hồ sơ vào ĐH Huế cũng chỉ mới bằng khoảng 10% tổng chỉ tiêu NV3. ĐH này xét tuyển hơn 700 chỉ tiêu nhưng mới chỉ có 72 hồ sơ. Trong số này, ngành y học dự phòng chiếm đến khoảng 60% hồ sơ – 42 hồ sơ (chỉ tiêu 53). Với những ngành có hồ sơ nộp vào cũng chỉ có vài ba hồ sơ. Nhiều ngành như triết học, lịch sử, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi thú y… có 45-90 chỉ tiêu/ngành nhưng mới chỉ có 1-3 hồ sơ/ngành.   Trong khi đó hàng loạt ngành có chỉ tiêu khá lớn nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có hồ sơ nào đăng ký. Những ngành vắng hồ sơ tập trung vào nhóm ngành nông lâm, khoa học cơ bản và xã hội như Hán Nôm, song ngữ Nga – Anh, ngôn ngữ Pháp, công nghiệp và công trình nông thôn, khoa học nghề vườn, nông học, khoa học đất, toán học, vật lý, tin học, địa lý, xã hội học, ngôn ngữ học, Đông phương học… Các ngành liên kết đào tạo với Trường ĐH Phú Yên, An Giang cũng “trắng” hồ sơ xét tuyển NV3.  Tình hình cũng khá bi đát đối với các trường tại khu vực phía Nam. Để mở rộng nguồn tuyển NV3 đối với ngành hệ thống thông tin quản lý, Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã gỡ bỏ giới hạn chỉ tuyển “thí sinh dự thi Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM và từ các ngành công nghệ thông tin, điện – điện tử, hệ thống thông tin quản lý các trường khác”, tuyển tất cả thí sinh dự thi khối A nhưng đến thời điểm này cũng chỉ có năm hồ sơ/65 chỉ tiêu.   NV2 ngành này có đúng một thí sinh nộp hồ sơ. Tương tự Trường ĐH Đồng Tháp mới chỉ có khoảng 50 hồ sơ, Trường ĐH An Giang cũng chỉ lèo tèo vài hồ sơ. Trường ĐH Văn hóa TP.HCM xét 342 chỉ tiêu bậc ĐH nhưng mới chỉ có 33 hồ sơ.  Trong khi đó, ở khối trường ngoài công lập, tình hình cũng không khả quan hơn. Trường ĐH Hùng Vương xét tuyển 900 chỉ tiêu nhưng mới chỉ có 205 hồ sơ, Trường ĐH Kỹ thuật công nghệ có khoảng 300 hồ sơ dù chỉ tiêu lên đến gần 1.000, Trường ĐH Văn Hiến có 700 chỉ tiêu ĐH nhưng mới chỉ có 86 hồ sơ.   Bà Nguyễn Thị Mai Bình – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM – cho biết so với năm 2010, lượng hồ sơ xét tuyển NV3 ít hơn hẳn. Hồ sơ tập trung vào nhóm ngành kinh tế, trong khi ngành xây dựng mới chỉ có 1 hồ sơ, công nghệ thông tin 2, tiếng Nhật 3 hồ sơ.  Cạn nguồn tuyển  Kết thúc NV2, nhiều trường vẫn chưa tuyển đủ chỉ tiêu nhưng vẫn quyết định không xét tuyển NV3 bởi các trường cho rằng nguồn tuyển không còn. Trong khi đó, nhiều trường vẫn cố gắng tuyển NV3 trong tâm trạng được bao nhiêu hay bấy nhiêu.   TS Nguyễn Văn Đệ – hiệu trưởng Trường ĐH Đồng Tháp – cho biết trường không hi vọng nhiều vào NV3, tuyển được thí sinh nào hay thí sinh đó bởi nguồn tuyển hầu như không còn. Chỉ hi vọng hồ sơ đến trong một hai ngày nữa chứ không mong đợi gì đến khi kết thúc thời gian xét tuyển.  Tương tự, ông Hoàng Xuân Quảng – phó hiệu trưởng Trường ĐH An Giang – chia sẻ kinh nghiệm tuyển sinh nhiều năm cho thấy NV3 chỉ có thể tuyển được khoảng 20% chỉ tiêu cần tuyển, do đó không hi vọng sẽ tuyển đủ chỉ tiêu bằng NV3.   Mặt bằng điểm thi của thí sinh khá thấp nên bậc CĐ tuyển rất thoải mái do nguồn tuyển rộng, trong khi số thí sinh đạt điểm sàn bậc ĐH ít hơn rất nhiều, ngay cả NV2 cũng có rất ít hồ sơ. Ông Quảng cũng nhấn mạnh đến yếu tố trường địa phương khi cho biết nhiều thí sinh không chọn trường địa phương mà chọn học các trường ĐH tại các thành phố lớn bởi cơ hội cọ xát thực tế, học được nhiều kinh nghiệm hơn và cơ hội việc làm cũng tốt hơn.  Một cán bộ tuyển sinh Trường ĐH Văn Hiến TP.HCM cho biết hầu hết hồ sơ xét tuyển bậc ĐH tập trung vào nhóm ngành kinh tế và du lịch, trong khi các ngành khối xã hội trắng hồ sơ. Cán bộ này cho biết nhiều khả năng trường sẽ không mở được các ngành xã hội trong năm nay.   Tương tự, TS Hoàng Hữu Hòa – trưởng ban khảo thí và đảm bảo chất lượng ĐH Huế – cho biết tuy sẽ tuyển đủ chỉ tiêu tổng nhưng nhiều ngành lại có rất ít thí sinh như Hán Nôm, một số ngành nông nghiệp. Kết thúc NV3, nếu hồ sơ quá ít có thể sẽ phải vận động thí sinh chuyển sang ngành cùng khối, nhóm ngành và điểm chuẩn hoặc đào tạo chung phần cơ sở với các ngành khác.          Tính toán chưa thực tế   Phó trưởng phòng đào tạo một trường ĐH tại TP.HCM cho rằng cách tính toán để xác định điểm sàn của Bộ GD-ĐT chưa đúng thực tế, không tính đến số ảo trong tổng thí sinh dự thi dẫn đến nguồn tuyển bị thu hẹp. Theo thống kê của ông, có đến 300.000 thí sinh dự thi hai khối trong kỳ tuyển sinh năm nay. Như vậy chưa kể số thí sinh đã trúng tuyển, số thí sinh tham gia xét tuyển các nguyện vọng còn lại trong thực tế cũng sẽ ít hơn rất nhiều.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Độ lệch giữa chữ quốc ngữ và tiếng Việt      Gần đây nhiều người nói tới việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt tự thân nó vốn rất trong sáng, chỉ vì sự sử dụng bừa bãi bậy bạ của xã hội và quan niệm lệch lạc méo mó của những người quản lý và qui hoạch chính sách mới làm nó trở nên không còn trong sáng, điều này thể hiện một phần nơi thực tiễn văn tự mà cụ thể là chữ quốc ngữ Latin. Cho nên phải xem lại cái phương tiện đóng vai trò trung tâm trong việc thể hiện sự trong sáng của tiếng Việt ấy nó đang thế nào. Chính từ chỗ này, độ lệch giữa chữ quốc ngữ và tiếng Việt là một vấn đề có thể và cần thiết được đặt ra.         Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907  chủ trương khai trí cho dân qua những lớp học  chữ quốc ngữ.  Hiện nay muốn học tiếng Việt thì phải học chữ quốc ngữ, muốn tìm hiểu tiếng Việt dù là trong thời gian trước khi có chữ quốc ngữ cũng phải dựa vào hệ thống ngữ liệu tiếng Việt qua các từ điển, tự điển và văn bản chữ quốc ngữ, những biến động của tiếng Việt đều được thể hiện qua chữ quốc ngữ, những thay đổi của chữ quốc ngữ đều có tác động tới tiếng Việt…, tình hình ấy cho thấy đến nay hai hệ thống này đã gắn kết với nhau tới mức không thể tách rời. Hơn thế nữa, giống như việc nghiên cứu các đối tượng khác, việc nghiên cứu tiếng Việt đòi hỏi một cơ sở dữ liệu khả tín, và bộ phận chủ yếu của cơ sở ấy hiện nay chính là hệ thống các văn bản quốc ngữ. Nhưng tiếng Việt có lịch sử riêng của tiếng Việt và chữ quốc ngữ có lịch sử riêng của chữ quốc ngữ, quá trình song hành hàng trăm năm qua chưa đủ để xóa nhòa độ lệch đã hình thành trong quá khứ. Việc tìm hiểu độ lệch ấy là một cách thức để nhìn nhận rõ hơn về sự phát triển của cả tiếng Việt lẫn chữ quốc ngữ trước nay.  Đề cập tới những khiếm khuyết của chữ quốc ngữ, trước nay nhiều người thường nói về hệ thống ký tự của nó, tức cái được dùng để phản ảnh tiếng Việt về mặt ngữ âm. Tuy nhiên, trong những tác động bất lợi đối với tiếng Việt của chữ quốc ngữ thì những tồn tại về ký tự chỉ là một nhân tố rất không chủ yếu, vả lại nhìn từ một góc độ khác thì đó lại là một kết quả chứ không phải là một nguyên nhân. Chính những cách hiểu chưa chính xác, toàn diện và thấu đáo về tiếng Việt nói chung và lịch sử tiếng Việt nói riêng về mặt ngữ âm khiến chữ quốc ngữ cả trong thời kỳ tiên khởi (trước 1862) lẫn thời kỳ định hình (từ 1862 đến 1945) đều còn những hạn chế về ký tự nhưng quan trọng hơn là không ghi nhận được tiếng Việt một cách chính xác. Chẳng hạn những người sáng tạo ra chữ quốc ngữ không biết về một âm vị đặc biệt trong tiếng Việt tức i Tam đẳng Khai khẩu trong mảng từ Việt Hán nên đã gây ra những cuộc tranh cãi kéo dài hàng trăm năm qua chung quanh việc ghi những từ có phần vần là i/y. Lý do đưa tới sự hiện diện song song của i và y trong chính tả tiếng Việt hiện đã được làm rõ, nhưng có thể còn phải khá lâu nữa mới có được câu trả lời thống nhất về việc phải ghi những từ Việt Hán có phần vần là i/y trong tiếng Việt như thế nào.  Do hoàn cảnh lịch sử, chữ quốc ngữ đã được sử dụng một cách không đồng thời trên toàn Việt Nam, và do đó cũng bị chi phối bởi qui luật phát triển lịch sử không đồng đều. Được coi là chữ viết chính thức ở Nam Kỳ từ 1879, sau khi đưa ra miền Bắc khoảng 1888 trở đi, nó được sử dụng phổ biến ở khu vực đồng bằng và đặc biệt là các đô thị vốn có mật độ người Việt tập trung cao và số lượng trí thức đông đảo, nên nhìn chung không bị ảnh hưởng nhiều bởi ngữ âm của các phương ngữ Bình Trị Thiên và Trung Trung Bộ. Song bấy nhiêu cũng đủ khiến chữ quốc ngữ thời Pháp thuộc mang dấu vết rất rõ của phương ngữ Nam và phương ngữ Bắc. Trước 1945 sách báo chữ Việt ở miền Bắc ghi giả ơn, mặt giăng, giầu cau; sách báo chữ Việt ở miền Nam ghi trả ơn, mặt trăng, trầu cau. Người Nam nói là giào, ghi là giàu, người Bắc nói là giàu hay giầu, ghi là giàu và giầu, tức ba biến thể ngữ âm của từ này được ghi với hai cách thức không nhất quán, thiếu giào về hình vị mà thừa giàu hay giầu về chính tả. Theo thời gian, nguồn gốc ngữ âm của những trường hợp loại này dần dần nhạt nhòa khiến tiếng Việt phải đối diện với hậu quả về từ vựng: trong thực tiễn chính tả ở Việt Nam hiện vẫn tồn tại những cách viết song trùng như giày dép-giầy dép, trối trăn-trối trăng-dối giăng, thợ duộm-thợ nhuộm-thợ ruộm hay nhật-nhựt, phúc-phước, uy-oai gây ra sự gia tăng vô ích về từ vựng trong các từ điển – tự điển…. Cho nên ở một mức độ nhất định, có thể nói chữ quốc ngữ dưới thời Pháp thuộc chưa thực sự trở thành chữ viết toàn dân vì còn mang nhiều yếu tố “chữ quốc ngữ của các phương ngữ”, nhưng việc chưa được thống nhất theo hướng chuẩn hóa ấy lại không phải do nó gây ra mà chủ yếu do chính sách ngôn ngữ và nhất là thực trạng giáo dục thời Pháp thuộc đưa tới. Việc xóa nạn mù chữ được ráo riết xúc tiến trên toàn quốc sau Cách mạng Tháng Tám khiến cho đến thời gian 1954 – 1975 tiếng Việt trở nên thống nhất ở mức độ cao hơn hẳn, chính tả chữ quốc ngữ cũng trở nên chính xác hơn ở cả hai miền Nam Bắc, và ngược lại, những yếu kém trong việc dạy tiếng Việt của hệ thống giáo dục, sự hời hợt trong nhiều hoạt động của hệ thống thông tin là nguyên nhân chủ yếu đã gây ra sự suy thoái của tiếng Việt và chữ quốc ngữ khoảng hai mươi năm nay.  Trên cơ sở thực tế phổ biến chữ quốc ngữ từ Nam ra Bắc, đầu thế kỷ XX chính quyền thuộc địa cũng có lần đặt vấn đề chuẩn hóa và thống nhất chính tả đối với hệ thống công cụ này. Tuy nhiên sau thể nghiệm không thành công đầu tiên trong việc cải cách chữ quốc ngữ trên đường hướng “Pháp hóa, qui chế hóa và đơn giản hóa” thời gian 1902 – 1907, họ đã mặc nhiên thả nổi vấn đề chính tả. Cho nên từ đó trở đi chữ quốc ngữ cũng phát triển trong hoàn cảnh lỏng lẻo về mặt quản lý nhà nước mà bằng chứng điển hình là sự biến dạng của một số địa danh hành chính vốn thuộc khu vực được qui hoạch một cách nghiêm cẩn trong hệ thống từ vựng quan phương. Phủ Lý tức phủ Lý Nhân (Hà Nội) nói tắt, phủ Quỳ tức phủ Quì Châu (Nghệ An) nói tắt, phủ Lạng Thương (Bắc Ninh), phủ Điện Biên (Hưng Hóa) đều là địa danh hành chính cấp phủ thời Nguyễn. Nhưng bốn địa danh vốn được ghi chép rất thống nhất về cấu trúc trong các văn bản chữ Hán thế kỷ XIX ấy bị biến dạng tới mức hỗn loạn trong các văn bản chữ quốc ngữ dưới thời Pháp thuộc, đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 có ba vẫn là địa danh hành chính nhưng đã mang tên Phủ Lý, Phủ Quỳ, Phủ Lạng Thương, qua thế kỷ XXI lại có thêm thành phố Điện Biên Phủ, thành phố Phủ Lạng Thương! Một số trường hợp tương tự như Quốc tử giám ở Hà Nội được nói tắt rồi ghi là Giám, Trấn Lao bảo tức bảo Trấn Lao ở Nghệ An được nói tắt rồi ghi là Lao Bảo trước 1945 cũng thế, đều là những bằng chứng về việc chữ quốc ngữ đã cố định mà vô hình trung cũng là “chuẩn hóa” những cách nói phi qui chuẩn trong khẩu ngữ của dân gian. Một số văn bản song ngữ Việt Pháp với cách đọc cách viết không chính xác của người Pháp còn khiến Cồn Ngao ở Trà Vinh thành Cung Hầu, Trấn Di ở Sóc Trăng thành Trần Đề, Đất Hộ ở Sài Gòn thành Đa Kao. Cũng trên đường hướng sai lạc “song ngữ” ấy, đạo Yên Phái, xã Hương Bì, vùng Lão Nhai ở miền Bắc dần dần được nói và ghi là Yên Bái, Uông Bí, Lào Kay (hay Lào Cai, Lào Kai), gần như không có ý nghĩa gì trong từ vựng tiếng Việt.  Tuy nhiên các trường hợp tên riêng nói trên không có nhiều, vả lại thường có bằng chứng hay dấu vết lịch sử nên còn dễ truy nguyên, chứ trong rất nhiều trường hợp khác thì không phải như thế. Chẳng hạn nhìn từ góc độ ngữ âm thì xoa trong xoa bóp hay xẻo trong cắt xẻo rất có vấn đề, vì theo lý phải là soa, sẻo, bằng chứng là nhiều người miền Nam vẫn nói và viết những từ này là thoa, thẻo. Th gần s về bộ vị phát âm nên dễ chuyển dịch qua lại, ví dụ mảng từ Việt Hán có hai cách đọc khác nhau cho cùng một chữ như Thái/ Sái (họ), thoán/ soán (cướp), thương/ sương (kho) hay tháp/ sáp (ghép), thất/ sất (cái, chiếc), thiển/ siển (cạn), thính/ sảnh (phòng khách), thuyền/ suyền (con ve), mảng từ thuần Việt có các cặp thoãi/ soãi, thớ/ sớ, thẹo/ sẹo, thuôn/ suôn; mảng từ Việt Hán được Việt hóa có các cặp the/ sa, thủ/ sỏ, thưa/ sơ, thửa/ sở; mảng từ tiếng Hoa gốc Quảng Đông du nhập theo con đường khẩu ngữ cũng có sảo tức thảo (cỏ), sầu tức thu (mùa thu), có nơi như Hải Hậu, Nam Định khoảng 1975 trẻ em học bảng cửu chương vẫn râm ran “tháu năm ba mươi, tháu tháu ba tháu” (sáu năm ba mươi, sáu sáu ba sáu). Tình hình này dường như cũng diễn ra ở một số trường hợp như thôi/ xui (đẩy), thực/ xực (ăn), bằng chứng là người Hoa gốc Quảng Đông ở Chợ Lớn hiện nay vẫn phát âm từ sực trong sực phàn (thực phạn – ăn cơm) với s cong lưỡi. Trong các vận thư chữ Hán, ba chữ Thái, thoán, thương được phiên thiết là Thương đại thiết, Thất loạn thiết, Thất cương thiết, đều thuộc thanh mẫu Thanh, nhưng một số từ Việt Hán khác như thai (đoán), thiêm (thăm, cái thẻ), phiên thiết là Thương tài thiết, Thất liêm thiết cũng thuộc thanh mẫu Thanh qua chữ quốc ngữ lại không được viết với s như Sái, soán, sương mà ghi là xai, xăm, có lẽ ở đây s đã dịch chuyển lần thứ hai theo một số tiền lệ s => x trong môi trường ngữ âm tiếng Việt kiểu sao => xào, sát => xét, siết => xiết mới trở thành x, nhưng rõ ràng trên các văn bản chữ quốc ngữ thì dấu vết về chặng th => s ở hai trường hợp này đã bị xóa sạch. Có thể ví từ vựng tiếng Việt khi vừa tiếp xúc toàn diện với chữ quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX giống như vật dùng trong một gia đình dân tộc ít người ở Tây Nguyên hiện nay, cái ná, cái gùi, bật lửa gaz, điện thoại di động có nguồn gốc lịch sử rất khác nhau cùng xuất hiện tại một chỗ, nhưng hệ thống mang tính lịch đại ấy lại được chữ quốc ngữ chụp ảnh và trưng bày cùng một lúc nên rất dễ bị ngộ nhận là một hệ thống đồng đại.  Tìm hiểu sâu hơn về các quá trình ngữ âm ở Việt Nam hơn bốn trăm năm qua, có thể nhận thấy trong một số trường hợp thậm chí chúng còn không được chữ quốc ngữ ghi nhận. Từ vợ lẽ là một ví dụ. Trong tiếng Việt trước nay từ lẽ chỉ có một nghĩa (lý lẽ), nhìn từ góc độ từ pháp thì bất kể thế nào vợ lẽ cũng hoàn toàn không ăn khớp với nghĩa ấy. Nhưng người Việt có vợ lẽ trước khi học chữ quốc ngữ, nên ở đây có thể nghĩ tới việc tìm kiếm nguồn gốc ngữ âm và nghĩa gốc từ vựng của lẽ nơi những tiếng có phụ âm đôi bl, kl, ml, tl trong tiếng Việt cổ. Theo đường hướng này, có thể tìm thấy nơi mục từ tlẻ trong Từ điển Alexandre De Rhodes một số từ ghép như còn tlẻ, tlẻ dại, tlẻ mọn, rõ ràng theo lẽ thì từ vợ lẽ phải ghi là vợ lẻ, và lẻ trong vợ tlẻ là tlẻ rụng t: vợ lẻ tức vợ trẻ, mà trước nay cũng không có ai cưới vợ hai vợ ba bằng hay lớn tuổi hơn vợ chính, những cách nói vợ bé, hầu non đã phản ảnh thực tế ấy (từ điển Alexandre De Rhodes có các từ vợ mọn, vợ lễ, chính là vợ lẽ bị ghi sai). Nhưng trong nhiều từ điển cũng như văn bản chữ quốc ngữ trước nay từ này đều được ghi là vợ lẽ, vừa sai lệch về mặt từ nguyên vừa xóa mất dấu vết của quá trình ngữ âm tlẻ => lẻ.  Tuy nhiên, bên cạnh việc phản ảnh một cách gián đoạn và thiếu hệ thống một số quá trình ngữ âm nói trên, đến thời Pháp thuộc chữ quốc ngữ lại làm “đóng băng” nhiều quá trình ngữ âm khác của tiếng Việt. Khi một số từ Việt Hán có âm đọc là ky (gái đẹp), ky (máy), ky (nền) đã mang căn cước mới với âm cơ trong cơ thiếp, cơ khí, cơ bản thì cờ thoát thai từ kỳ (lá cờ) vẫn không rũ bỏ được thân phận âm đọc Việt hóa để trở thành âm đọc “Việt Hán mới”, chẳng hạn tuy đã có tổ hợp cờ xí (Từ điển Pigneaux, Từ điển Tabert) nhưng không tạo ra được các tổ hợp hồng cờ, quốc cờ. Âm đọc Việt hóa chúa của từ chủ Việt Hán đã bước đầu có được chỗ đứng trong các tổ hợp chúa nhật, công chúa cũng khựng lại không thể tiến tới thay thế chủ ở những chủ tịch, gia chủ. Người ta cũng đã thấy một số trường hợp đọc chệch thanh điệu trong mảng từ Việt Hán được ghi nhận và phổ biến bằng chữ quốc ngữ như để kháng, Sở Liêm phỏng, phỏng viên trở thành đề kháng, Sở Liêm phóng, phóng viên. Cho nên trong ý nghĩa là hệ thống dữ liệu để tìm hiểu cách đọc và âm đọc Việt Hán của khoảng 70% số từ đơn trong tiếng Việt được ghi nhận hơn một trăm năm qua, chữ quốc ngữ có rất nhiều điểm không thể hoàn toàn tin cậy.  Nhìn rộng ra hoạt động giao lưu và thông tin với quốc tế, tình hình còn phức tạp hơn. Các tên riêng Lê nhin, Mátscơva tiếng Nga qua văn bản chữ Pháp trở thành Lénine, Moscou rồi Việt hóa trên văn bản chữ quốc ngữ là Lê nin, Mốt cu, hay cùng một tên thủ đô nước Pháp mà văn bản chữ quốc ngữ trước 1945 có tới mấy cách viết Paris, Pa ri, Ba lê. Tình trạng phi qui chuẩn tới mức giống như tùy tiện ấy còn dẫn tới những trường hợp độc đặc như tên nhà sưu tập Vương Hồng Thạnh, tên nữ diễn viên điện ảnh Hương Cảng Trịnh Bội Bội được nói và ghi là Vương Hồng Sển, Trịnh Phối Phối, tên nhiều công dân Việt Nam thuộc tộc người Hoa được viết bằng chữ quốc ngữ trong giấy khai sinh, chứng minh thư, hộ khẩu, giấy tờ cá nhân hiện nay cũng thế, pha trộn cả hai ngôn ngữ Việt Hán và Hoa Hán. Chữ quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX như vậy đã tạo ra một hệ thống dữ liệu tiếng Việt “mới” có những điểm sai lạc về ngữ âm và mơ hồ về từ vựng, xóa nhòa một số đường ranh lịch đại và đồng đại, vô hình trung tạo ra nhiều “cái bẫy” chết người đối với việc tìm hiểu tiếng Việt nói chung và chuẩn hóa tiếng Việt nói riêng.  Trên phương diện ngữ pháp, chữ quốc ngữ có những đóng góp rất to lớn đối với sự phát triển của tiếng Việt trong thế kỷ XX. Với ưu thế dễ học dễ nhớ, nó đã làm gia tăng số người tham gia hoạt động văn tự ở nhiều lãnh vực hoạt động và khu vực địa lý khác nhau, thông qua đó cũng làm gia tăng lực lượng phát triển ngữ pháp tiếng Việt. Câu trong tiếng Việt hiện nay hoàn toàn có thể dùng để chuyển ngữ chính xác không những nội dung mà cả cấu trúc câu trong nhiều ngôn ngữ Ấn Âu, đủ thấy cái đơn vị ngữ pháp quan trọng này của tiếng Việt đã trưởng thành thế nào sau khi tiếng Việt sử dụng chữ quốc ngữ làm phương tiện biểu đạt. Đáng chú ý là cả các ký tự của chữ quốc ngữ cũng ít nhiều được huy động để thực hiện chức năng ngữ pháp, cụ thể là các chữ viết hoa dùng trong các trường hợp mở đầu văn bản, đầu mỗi đoạn văn bản (sau khi xuống dòng), đầu câu (sau dấu chấm) và tên riêng, ở đây nói về trường hợp thứ tư.  Thông thường, viết hoa là cách chỉ định chữ (từ) được viết hoa có ý nghĩa hay chức năng riêng biệt trong ngữ đoạn. Công giáo Cứu quốc hội hay Công giáo cứu quốc hội tuy không thống nhất nhưng đã có chữ Công viết hoa thì không bao giờ gây ra lầm lẫn về ý nghĩa, có điều nếu viết Công giáo cứu Quốc hội thì vấn đề sẽ khác. Hay cách ghi tên riêng kiểu Hà Nội, Lý Công Uẩn hiện nay rõ ràng tiến bộ hơn Hà-nội, Lý-công-Uẩn trước kia nhưng vẫn còn những điểm cần suy nghĩ, ví dụ nên viết Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Hưng Đạo Vương hay Lý Thái tổ, Lê Thánh tông, Hưng Đạo vương? Thật ra tổ hay vương trong các tổ hợp nói trên là danh từ chung, bên cạnh chức năng từ vựng còn có chức năng từ pháp, nhấn mạnh chức năng nào thì viết cách nào cũng là điều dễ hiểu, chỉ là nếu không lưu ý tới chức năng từ pháp thì sẽ ít nhiều xóa nhòa ý nghĩa của những từ Hưng Đạo hay Thái tổ, Thái tông…  Từ một số hiện tượng trực quan nêu trên, có thể thấy trong hơn bốn trăm năm hình thành và phát triển mà chủ yếu là từ thời Pháp thuộc đến nay, chữ quốc ngữ thường xuyên có những hiện tượng, lãnh vực và quá trình không phải lúc nào cũng song hành với tiếng Việt. Để hiểu tiếng Việt một cách chính xác, toàn diện và thấu đáo qua hệ thống dữ liệu chữ quốc ngữ thì cần tiếp tục tìm hiểu độ lệch ấy, vì như người ta đã thấy, đây chính là một vườn ươm cho những mầm mống phi qui chuẩn trong sự phát triển của tiếng Việt và chưa khoa học của chữ quốc ngữ từ 1945 đến nay.    Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang “Đổ lỗi cho nghịch cảnh chỉ là ngụy biện”      Đó là chia sẻ của thầy Ra Lan Von Ga – Hiệu  trưởng trường Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc Tây Nguyên, một trong  những Hiệu trưởng trẻ tuổi nhất tại Việt Nam, xuất thân từ dân tộc Ê Đê,  với nhiều năm gắn bó cùng trường và các em sinh viên đến từ nhiều vùng  miền trên cả nước, khi được hỏi về việc nhiều cá nhân thường đổ lỗi cho  nghịch cảnh khiến họ không thể thành công như những người khác.    Là một người con của đồng bào Tây Nguyên, lớn lên trên mảnh đất nắng gió với nhiều thách thức của cuộc sống, nhưng thầy Ra Lan Von Ga luôn cho rằng không thể đổ lỗi cho nghịch cảnh nếu mình chưa thành công.  Thầy nói: “Ngay từ khi sinh ra mỗi người chúng ta đều có cơ hội thành công như nhau, vấn đề có người thành công có người thất bại là nằm ở chỗ chúng ta biết hay chưa biết mình đang có gì, mình cần tận dụng điều gì, mình thích hợp với cái gì và mình cần làm gì vào thời điểm nào,… Nghịch cảnh hay hoàn cảnh đều không phải là yếu tố quyết định”.   Bản thân thầy trong nhiều lần tiếp xúc và gặp gỡ cùng các em sinh viên cả trường, thầy đều chia sẻ rằng chúng ta ngồi đây lúc này là chúng ta đã rất may mắn hơn trăm ngàn người khác rồi, các em không nên mặc cảm vì xuất phát điểm của mình, phải nghĩ rằng mình cũng sẽ làm được như các bạn khác, cũng sẽ có thể tham gia làm việc tại các tập đoàn công ty lớn hoặc thậm chí là tự khởi nghiệp theo những phương thức mô hình kinh doanh vừa và nhỏ được học tại trường, có thể bắt đầu khởi nghiệp từ chính địa phương của mình rồi sau  đó mở rộng quy mô sang phạm vi cả nước, thậm chí là toàn cầu.   Chia sẻ về mục tiêu xây dựng tủ sách thành công làm giàu bền vững và trao tặng tới các bạn trẻ trên mọi miền tổ quốc của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Tập đoàn Trung Nguyên, thầy cho rằng các em có thể tìm hiểu thông tin qua sách vở, báo chí, bạn bè hay học hỏi kinh nghiệm từ những nhân vật thành công đi trước,… Đặc biệt là với sách, các em phải đọc, đọc thật kỹ từng từ khóa trong đó để có thể tìm được chiếc chìa mở ổ khóa thành công của chính mình.Thầy còn chia sẻ rằng khi khởi nghiệp không nên nóng vội mà từng bước đi phải thật chắc chắn.  Với cuốn sách Nghĩ giàu, làm giàu và sách Quốc gia khởi nghiệp với những cách thức giúp các bạn trẻ rút ngắn khoảng cách thử sai, nhiều ví dụ điển hình về những tấm gương vượt qua trở ngại để thành công, thầy nói “chính những công thức đúc kết từ những gương thành công điển hình trong và ngoài nước, các thế hệ đi trước sẽ là một trong các bài học thiết thực mà các em cần học hỏi. Tuy nhiên, thầy cũng nhấn mạnh nhiều lần rằng các em chỉ nên tham khảo và tìm ra nguyên lý thành công của họ, không được bắt chước hoặc đi vào đúng cách họ đã làm để được thành công như họ, mà phải biết tạo nên cách đi riêng cho chính mình dựa trên kim chỉ nam ấy, đừng đi theo lối mòn hay là bản sao của người khác mà hãy tự tạo ra con đường cho riêng mình, là chính mình, chỉ khi đó bạn mới có thể thành công bền vững được. Có những người từ hai bàn tay trắng nhưng họ vẫn thành công đấy. Xã hội luôn luôn vận động và phát triển, vì vậy các bạn trẻ cần phải không ngừng khám phá, từng bước tìm hiểu, đánh giá lại bản thân, phát hiện ra những điều thú vị mới, dù là nhỏ thôi nhưng đó sẽ là cơ hội quyết định cả cuộc đời các em sau này nói riêng và gia đình, đất nước nói chung. Lấy Bill Gates làm một ví dụ điển hình, anh ấy chẳng giàu có gì, chẳng học hành cao hay có địa vị danh tiếng gì trước khi lập nghiệp, vậy sao anh ấy vẫn thành công? Anh góp phần thế nào cho sự phát triển của nước Mỹ?”  Trường Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc Tây Nguyên khác với các trường khác là nơi đây hội tụ thanh niên từ mọi vùng miền trên cả nước, nhiều dân tộc khác nhau, đào tạo đa cấp (từ sơ cấp, đến trung cấp và cao đẳng), đa ngành nghề,… nhưng chúng tôi luôn tâm niệm 1 điều rằng tất cả các em đều có cơ hội thành công như nhau, đều có thể trở thành những người thành công và ảnh hưởng đáng kể trong xã hội.   Khao khát làm giàu bền vững  Có thể bất lợi hơn về mặt kiến thức, về những kinh nghiệm và kỹ năng sống, đa dạng dân tộc,… nhưng không vì thế mà yếu hơn về tinh thần, ít tự tin hơn so với các đội bạn là những điều ai cũng có thể cảm nhận được ở đội chơi: Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc Tây Nguyên.  Dù hết 3 trong số 5 thành viên của đội đều đang ốm, họ không nói nên tiếng vì tranh luận quá nhiều để tìm ra cách thể hiện tốt nhất cho ý tưởng của đội, nhưng các bạn vẫn rất quyết tâm và hừng hực lửa chuẩn bị cho cuộc thi “Sáng tạo tương lai” trong khuôn khổ Hành trình vì Khát vọng Việt ngày mai 1/11/2013 tại Đại học Tây Nguyên. Ngay từ những ngày đầu tiên được “triệu tập” tham gia vào Hành trình Vì Khát Vọng Việt, bí thư Đoàn trường, anh Hồ Viết Thắng đã không hề mang trong mình một tâm lý thi cho vui, thi chỉ vì được yêu cầu mà đã rất vui vẻ, khẳng khái nói lên quyết tâm của mình: “Chúng tôi luôn muốn được tham gia vào những cuộc chơi đầy tính sáng tạo, tính gay cấn như thế này để có dịp thể hiện những gì mà chúng tôi đã dạy cho sinh viên ở trường cũng như là dịp để các bạn sinh viên trong trường có cơ hội giao lưu, học hỏi các trường khác. Tiếp nhận thêm những điểm mạnh từ các đội bạn để khắc phục những điểm yếu của đội mình, phát huy những thế mạnh của đội mình mà đội bạn không có cũng là một cách để chiến thắng trong cuộc thi này.”  “Đội chúng em gồm các thành  viên tuy đến từ nhiều dân tộc khác nhau như Ê Đê, Tày, Kinh, Thái, với nhiều ngành học khác nhau nhưng rất đoàn kết và đều chung một khát vọng làm giàu bền vững, làm giàu cho chính bản thân mình, cho gia đình, quê hương mình.   Chính vì thế, chúng em hoàn toàn tin đội chúng em sẽ chinh phục được những thách thức phía trước vì chúng em dám nghĩ, dám làm theo cách riêng của mình và tất nhiên phải là cách riêng thông minh và khả thi, bền vững”, bạn Niê Sa – đội trưởng đội Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc Tây Nguyên mạnh mẽ chia sẻ.  Bên cạnh đó, các bạn còn mong muốn được đồng hành cùng Hành trình Vì Khát Vọng Việt, được trở thành đối tượng nhận sách, được quan tâm và dẫn dắt để có thể định hướng được tương lai. Không mang trong mình một mặc cảm thua kém, quan tâm đến các thành viên của đội, tặng cho đội những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có là những điều mà đội ngũ giảng dạy của trường Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc đang nỗ lực hết sức trong những ngày qua.  Sự quyết tâm của đội Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk cũng không hề thua kém Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc dù có rất nhiều lợi thế về ngành học, về khả năng thuyết trình và thuyết phục người nghe theo đúng lĩnh vực “trồng người” mà mình đang theo đuổi. 5 thành viên của CLB Me xanh đã được sinh hoạt, trau dồi kiến thức cùng nhau một thời gian. Hành trình Vì khát Vọng Việt chính là cơ hội để các bạn thực hành những kiến thức đó.  Với đặc thù của ngành học, các bạn sinh viên trường Sư phạm luôn phải tìm hiểu, cập nhật những kiến thức mới, chính vì thế, Nghĩ giàu, làm giàu – Quốc gia khởi nghiệp đã trở thành cẩm nang của các bạn trong cuộc thi và trong hành trang giảng dạy sau này.   Bí thư Đoàn trường, chị Hải Yến đã không giấu được vẻ tự hào của mình khi nói đến những thành viên của đội thuộc khoa Kinh tế mà chị đang trực tiếp giảng dạy. Sự ham học hỏi, tìm tòi, quyết tâm của các bạn trong những ngày qua là một nhân tố giúp cho chị và chính các bạn có niềm tin vào sự chiến thắng của đội mình.  “Tủ sách thành công làm giàu bền vững là cả một kho tàng kiến thức thực tiễn vô giá. Việc đưa Tủ sách này vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk sẽ giúp cho các giáo viên tương lai của trường có thêm kinh nghiệm thực tiễn, giảng dạy tốt hơn, đào tạo và “trồng” được những tấm gương thành công trong tương lai. Trên thực tế, không phải sinh viên nào cũng chăm đọc sách, việc giới thiệu và đưa những cuốn sách hay này vào sẽ giúp các bạn lấy lại cảm hứng với sách, với việc tìm kiếm tư liệu và nhiều bài họcbổ ích mà các bạn không dễ gì thu thập được nếu không có định hướng đúng và không được tư vấn”, thầy Nguyễn Trọng Hòa – Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk chia sẻ.    Xét về mặt khách quan, sự chênh lệch về nền tảng cơ bản trong đào tạo là điều ai cũng có thể thấy. Thậm chí, chính các bạn trong các đội chơi cũng hiểu rõ hơn ai hết những bất lợi đó. Nhưng, không phải vì thế mà các bạn chùn bước hay mang trong mình cảm giác mặc cảm, tự ti. Các bạn vẫn đang hăng hái miệt mài tập trung cho phần chuẩn bị của mình để ngày mai bước vào cuộc thi. Và biết đâu chính những chú châu chấu sẽ lại chiến thắng những chú voi bằng sự quyết tâm, bằng khát khao chiến thắng.  Các bạn trường khác làm được, chúng mình cũng sẽ làm được. Và sẽ còn làm tốt hơn bởi vì chúng mình đã chuẩn bị “hết mình”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo lường thư mục* –  Xếp hạng toàn cầu và sự minh bạch      Xếp hạng đại học đang trở thành một hiện tượng toàn cầu, một phần do sự hữu ích và tiện lợi của nó. Các kết quả xếp hạng cung cấp cho các vị lãnh đạo Nhà nước cũng như các trường đại học một chỉ dẫn nhanh và (được tin là) khách quan về vị thế của nền giáo dục một quốc gia hay uy tín của một trường đại học. Việc chấp nhận tham gia xếp hạng và cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng được xem như một bước tiến trong quản trị đại học, vì nó giúp minh bạch hóa hoạt động của một trường đại học đối với các bên có liên quan.  Một điều mà ai cũng nhận thấy là phương pháp xếp hạng của các tổ chức khá khác biệt, dẫn đến những vị trí khác nhau của cùng một trường trong những bảng xếp hạng khác nhau. Không những thế, các tổ chức xếp hạng rất hay thay đổi phương pháp, và thậm chí quan hệ giữa các tổ chức xếp hạng này cũng hay thay đổi, đôi khi đang là đối tác trở thành đối thủ, như trường hợp của Times Higher Education và QS Quacquarelli Symonds. Tuy vậy, sự tin tưởng của các trường đối với các tổ chức xếp hạng này dường như không hề suy suyển vì những việc như vậy, và số lượng trường tự nguyện cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng để sau đó biết được vị trí của mình trên thế giới không hề giảm đi mà ngày càng tăng lên. Cho dù chúng chỉ là các tổ chức tư nhân, hoạt động trên cơ sở có lợi nhuận, và không hề có sự giám sát nào của một bên thứ ba, theo nguyên tắc khách quan và minh bạch mà các trường phải chấp nhận khi tham gia xếp hạng.    Liệu các tổ chức xếp hạng này có đáng được hưởng sự tin tưởng tuyệt đối này chăng? Họ làm gì với tất cả dữ liệu mà các trường hằng năm đã cung cấp cho họ? Bài viết của tác giả Kris Olds vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education ngày 23/6/2010 vừa qua đã đặt ra những vấn đề đáng suy nghĩ về vai trò của các tổ chức này. Theo tác giả, có lẽ đã đến lúc cần có một cơ chế giám sát và bạch hóa hoạt động của các tổ chức xếp hạng, để tránh những sai lầm tương tự như vai trò của các tổ chức xếp hạng tín dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết độc đáo này đến toàn thể bạn đọc.  Phương Anh chuyển ngữ và giới thiệu    Vì sao chúng ta rất chú ý đến những ứng dụng thực tế và tiềm năng của đo lường thư mục (“thuật ngữ chung để chỉ các số liệu liên quan đến ấn phẩm”, theo định nghĩa của OECD), và các phương pháp xếp hạng trường đại học trên thế giới, nhưng lại ít quan tâm đến các công ty tư nhân và mối quan hệ giữa các công ty đó – những kẻ vốn đứng sau các hệ thống đo lường thư mục và bảng xếp hạng toàn cầu nói trên?  Tôi chợt nảy ra câu hỏi này khi đọc tờ tạp chí Nature số ra 17/06/2010, trong đó có một bài đánh giá chi tiết về những khía cạnh khác nhau của đo lường thư mục, bao gồm giá trị của các “đo lường khoa học” (science metrics) dùng để đánh giá các khía cạnh tác động khác nhau của thành quả nghiên cứu (VD: các ấn phẩm), và các “thành tựu khoa học cá nhân”.  Số đặc biệt này của tờ tạp chí Nature, và đặc biệt là cuộc khảo sát của Richard Van Noorden về “hệ sinh thái đang tiến hóa nhanh chóng” của đo lường thư mục, thực sự rất đáng đọc. Dù chỉ là một chiều kích rắc rối và mơ hồ trong đời sống học thuật, đo lường thư mục ngày càng được chấp nhận như một khía cạnh trong quản trị giáo dục đại học và nghiên cứu (xét theo nghĩa rộng). Đo lường thư mục đang tạo ra một tác động đa dạng và ngày càng sâu rộng đối với quá trình quản trị đại học trên nhiều phạm vi khác nhau, từ mức độ cá nhân (trọng tâm chính trong số đặc biệt của tạp chí Nature) đến cấp đơn vị/khoa, bộ môn; trường đại học; ngành học/lĩnh vực đào tạo; quốc gia; khu vực; và trên toàn thế giới.  Giờ đây, trong tình hình sự phát triển của “hệ sinh thái” này đang thay đổi nhanh chóng, cùng với việc tồn tại quá nhiều những sáng kiến đổi mới đang phát sinh liên quan  đến việc nên hay không nên sử dụng đo lường thư mục vào các ngành học/lĩnh vực khác nhau; để có thể hiểu rõ hơn bản chất và tác động của việc sáng tạo và phổ biến tri thức, có lẽ chúng ta nên lùi lại và suy nghĩ về việc những tổ chức không thuộc Nhà nước, vì lợi nhuận, đang tạo ra một loại công nghệ gắn chặt một cách ăn ý với văn hóa kiểm định hiện nay của chúng ta.  Trong bài viết này, tôi muốn nêu ra hai quan điểm chính trước khi đúc kết với một số câu hỏi cần xem xét.  Trước hết, tôi cảm thấy dường như đang có một số lượng lớn bất thường các nghiên cứu về sự ứng dụng hay lạm dụng các số liệu đo lường, nhưng lại rất ít các nghiên cứu về các công ty tạo ra những số liệu đó, cách thức hoạt động cùng mối liên hệ lẫn nhau giữa các công ty này, và về cách thức chúng tìm cách tác động vào bản chất của hoạt động học thuật trên toàn thế giới.  Tại thời điểm này, tôi không cố ý ám chỉ rằng những công ty như Elsevier (tác giả của Scopus), Thomson Reuters (tác giả của ISI Web of Knowledge), và Google (tác giả của Google Scholar) đang tạo ra những tác động tiêu cực (tham khảo bài ‘Regional content expansion in Web of Science®: opening borders to exploration’, một mẩu tin tốt lành về Thomson Reuters mà chúng tôi đã vui mừng tìm thấy), nhưng tôi muốn nêu ra rằng hiện nay rõ ràng có một sự bất xứng giữa số lượng nghiên cứu về đo lường thư mục và nghiên cứu về những công ty thực hiện đo lường thư mục, cũng như về cách thức mà người ta đã đưa những công nghệ đánh giá đó vào cuộc sống và thị trường. Ví dụ khi tìm kiếm trên công cụ ISI Web of Knowledge của Thomson Reuters những thuật ngữ như Scopus, Thomson Reuters, Web of Science và đo lường thư mục ta sẽ nhận được một danh sách gần như vô tận những bài viết so sánh những cơ sở dữ liệu chính, những đổi mới có liên quan đến các cơ sở dữ liệu vv, nhưng thật ngạc nhiên là có rất ít những nghiên cứu về Elsevier hoặc Thomson Reuters (tức các công ty tạo ra công cụ đánh giá). Càng ngày càng ít đi, thực vậy, và khá giống với hiện tượng thiếu vắng các nghiên cứu quan trọng có liên quan đến các tổ chức xếp hạng tín dụng như Moody’s hoặc Standard and Poor’s.  Kế đến, và là một vấn đề có liên quan, dường như vai trò của những công ty như Elsevier, Thomson Reuters, chưa kể các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., và TSL Education Ltd., trong việc cổ xúy cho hiện tượng xếp hạng toàn cầu hầu như đang rất ít được quan tâm, hoàn toàn trái ngược với những tranh luận gay gắt về những phương pháp xếp hạng. Ví dụ, bốn hệ thống xếp hạng toàn cầu chính trong quá khứ cũng như hiện nay là:  Hệ thống xếp hạng của trường Đại học Giao thông Thượng Hải (từ năm 2003 đến nay)  Hệ thống xếp hạng các trường đại học quốc tế của tạp chí Times Higher Education phối hợp với QS Quacquarelli Symonds. (2004-2009)  Hệ thống xếp hạng các trường đại học của tạp chí Times Higher Education phối hợp với Thomson Reuters (từ năm 2010 trở đi)  Hệ thống xếp hạng các trường đại học của QS Quacquarelli Symonds (2010 trở đi), tất cả đều dựa trên cơ sở dữ liệu cung cấp bởi Thomson Reuters và Elsevier.  Xếp hạng hằng năm?  Một trong những khía cạnh thú vị về sự tham gia của những công ty vào hiện tượng xếp hạng là họ đã giúp tạo nên sự mong đợi được được chuẩn hóa là việc xếp hạng diễn ra mỗi năm một lần, cho dù chẳng có bất kỳ lý lẽ rõ ràng (và tất nhiên là không được nêu rõ) nào về tần suất xếp hạng này. Nhưng tại sao lại phải xếp hạng hằng năm?  Ta hãy thử nhìn nhận vấn đề này dưới quan điểm của các công ty thực hiện xếp hạng.  Từ quan điểm của công ty tổ chức xếp hạng, chu kỳ xếp hạng hằng năm cần được chuẩn hóa vì đó là cơ chế để tự do trích xuất dữ liệu từ các trường đại học. Dữ liệu này rõ ràng là dùng để xếp hạng nhưng nó cũng được sử dụng để phát triển các dịch vụ kèm theo và khả năng thực hiện các đối sánh, những dịch vụ này có thể bán lại cho các trường đại học, các hội đồng tài trợ, các quỹ hỗ trợ, các tổ chức khu vực và các tổ chức tương tự (VD: Ủy ban Liên minh Châu Âu đang tham gia mạnh mẽ vào việc đối sánh và hiện nay đang tài trợ cho kế hoạch xếp hạng châu Âu).        Tại sao ta không thống nhất thực hiện tất cả các xếp hạng quốc tế vào những năm cụ thể (VD: 2010, 2014, 2018) nhằm giảm áp lực đối với các trường đại học trong việc cung cấp dữ liệu, và cho phép những so sánh kịp thời giữa các hệ thống xếp hạng có tính cạnh tranh. Một nhịp độ được tính toán kỹ lưỡng hơn hẳn là sẽ phản ánh được nhịp độ thay đổi thật trong các cơ sở giáo dục đại học hơn là nhu cầu của các công ty thực hiện xếp hạng.        Công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., ví dụ thế, đã tiếp thị cho những dịch vụ này (có thể xem mẩu trích từ brochure của QS) tại gian hàng của họ trong hội nghị NAFSA vừa qua tại thành phố Kansas, trong khi Thomson Reuters đang bận phát triển dự án mà họ gọi là Dự án Hồ sơ toàn cầu về các trường đại học (Global Institutional Profiles Project). Dự án này do Jonathon Adams tiên phong, ông là một cựu nhân viên của Đại học Leeds, người đã thành lập một công ty tư nhân (Evidence Ltd) vào đầu thập niên 90, công ty từng tham gia vào các chương trình Đánh giá nghiên cứu (REA) tại Anh Quốc và chương trình ERA của châu Âu trước khi được Thomson Reuters mua lại vào tháng 01, 2009.  Các cổng nhập dữ liệu trực tuyến chuyên nghiệp cũng đang được hình thành. Những cổng này tạo ra một đường lưu chuyển dữ liệu tự do (ít ra là một chiều) giữa các phòng hành chính của hàng trăm trường đại học trên thế giới với các công ty thực hiện xếp hạng.  Nhu cầu về dữ liệu ngày càng tiêu tốn nhiều tài nguyên của các trường đại học. Chẳng hạn, các biểu mẫu của tổ chức QS hiện đang được các trường đại học khắp thế giới sử dụng bao gồm 14 chuyên mục chính và mỗi chuyên mục chính lại có nhiều mục phụ: tất cả bao gồm 60 trường dữ liệu, trong đó có 10 trường rất quan trọng cho hoạt động xếp hạng của QS sẽ được thực hiện vào tháng 10, 2010. Một khi các đường dẫn dữ liệu được thiết lập thì động lực phụ thuộc vào nguồn dữ liệu chắc chắn tồn tại, và mức độ phức tạp của những yêu cầu về dữ liệu có thể tăng dần lên.  Như vậy là mục tiêu chính dường như có liên quan đến việc sử dụng kết quả xếp hạng toàn cầu để cập nhật các cơ sở dữ liệu mà người sử dụng sẽ phải đóng phí, chưa kể là để phát triển các cơ sở tri thức và các tiềm năng tri thức trong nội bộ công ty (sử dụng cho việc tư vấn), hiện đã đang được vận hành trên phạm vi toàn cầu.  Tóm lại, liệu chúng ta có cần quan tâm đến và làm một hành động gì đó về tình trạng không cân xứng đã được xác định giữa các nghiên cứu về đo lường thư mục và về các công ty thực hiện việc đo lường cũng như các công ty dịch vụ thông tin được lắp ghép bên trong chúng hay không?  Đâu là lý do của việc xếp hạng hằng năm so với một cách xếp hạng được phân tích kỹ hơn, xét trên khía cạnh thời gian?                 Thật ra tại sao ta không thống nhất thực hiện tất cả các xếp hạng quốc tế vào những năm cụ thể (VD: 2010, 2014, 2018) nhằm giảm áp lực đối với các trường đại học trong việc cung cấp dữ liệu, và cho phép những so sánh kịp thời giữa các hệ thống xếp hạng có tính cạnh tranh. Một nhịp độ được tính toán kỹ lưỡng hơn hẳn sẽ phản ánh được nhịp độ thay đổi thật trong các cơ sở giáo dục đại học hơn là nhu cầu của các công ty thực hiện xếp hạng.  Và cuối cùng, liệu những công ty như Thomson Reuters và Elsevier, cũng như những đối tác của họ (đặc biệt là các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd và TSL Education Ltd), có minh bạch về bản chất các hoạt động của mình như cần có hay không? Có lẽ cần có sự công khai/thảo luận về:  Điều gì xảy ra với những dữ liệu mà các trường đại học tự nguyện cung cấp?  Điều gì được quy định trong các hợp đồng giữa các tổ chức xếp hạng (VD: giữa Times Higher Education và Thomson Reuters)?  Các trường có những quyền lợi gì liên quan đến việc kiểm tra công khai và sử dụng mọi dữ liệu và phân tích có liên quan được tạo ra dựa trên các dữ liệu mà các trường đã cung cấp từ đầu?  Ai sẽ quản lý, hoặc ít ra là quan sát, mối quan hệ giữa các công ty trên và các trường đại học trên thế giới? Có phải mối quan hệ này tốt nhất nên tiếp tục dựa trên cơ sở quan hệ song phương giữa trường và công ty? Hay cách tiếp cận hiện nay không phù hợp? Nếu không phù hợp thì nên chăng cần có một tổ chức thứ ba tham gia vào mối quan hệ này ở phạm vi quốc gia (VD: Bộ Giáo dục Hoa Kỳ hoặc các Hiệp hội đại học quốc gia), ở phạm vi khu vực (như Hiệp hội đại học châu Âu), và/hoặc trên phạm vi quốc tế (VD: Hiệp hội đại học quốc tế)?  Tóm lại, chẳng phải lúc này chính là thời điểm thích hợp cơ chế minh bạch vốn đang được áp đặt cho các trường đại học trên thế giới cũng phải được áp dụng vào các công ty tư nhân đang đứng đằng sau các hệ thống đo lường thư mục và xếp hạng toàn cầu đó hay sao?   Nguồn: Global Higher Education1  ——————  * Đo lường thư mục (bibliometrics) là một thuật ngữ mới chưa có từ tương đương ổn định trong tiếng Việt. Trong bài viết của ThS Trần Mạnh Tuấn tại địa chỉ http://vst .vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/MagazineName.2004-06-09.1932/2009/2009_00002/MItem.2009-11-17.2146/ MArticle.2009-11-17.3020/marticle_ view, cụm từ “trắc lượng thư mục” được gợi ý như một cụm từ tương đương để dịch từ bibliometrics. Chúng tôi sử dụng gợi ý này nhưng thay “trắc lượng” thành: đo lường” vì dễ hiểu hơn. Có nơi dịch bibliometrics là “hệ đo sách”   1 http://globalhighered.wordpress. com/2010/06/23/bibliometrics-global-rankings-and- transparency/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo sự hài lòng của người dân về dịch vụ giáo dục      Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài  lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công” vừa được Bộ GDĐT phê  duyệt ngày 17/9.    Đề án này được thực hiện ở các cấp học từ mầm non đến giáo dục đại học trên phạm vi toàn quốc, không bao gồm các trường dạy nghề.  Mục tiêu của Đề án nhằm đánh giá một cách khoa học và khách quan chất lượng dịch vụ của các cơ sở giáo dục công. Trên cơ sở kết quả đo lường, các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục nắm bắt nhu cầu, mong muốn của người dân để có những biệnpháp cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng sự hài lòng của người dân.  Đề án tập trung vào bốn nội dung: Xác định các nội dung, tiêu chí và chỉ số đo lường; Xây dựng phương pháp đo lường; Xây dựng bộ công cụ khảo sát sự hài lòng của người dân; Và Công bố bộ chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công.  Thời gian thực hiện Đề án sẽ kéo dài đến năm 2020. Giai đoạn 2013 – 2015, bộ sẽ triển khai áp dụng bộ công cụ đo sự hài lòng của người dân với dịch vụ giáo dục công tại các cơ sở giáo dục. Sơ kết việc triển khai áp dụng bộ công cụ đo lường sự hài lòng của người dân với dịch vụ giáo dục công để hoàn thiện bộ công cụ.  Đề án sẽ được triển khai thí điểm tại cơ sở giáo dục ở một số địa phương để rút kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoạn kết buồn của đề án 322      Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án 322) buộc phải dừng đột ngột khi không được tiếp tục cấp kinh phí.     Đề án 322 là một chương trình nhận được nguồn kinh phí rất lớn trong điều kiện đất nước còn nghèo, kéo dài trong một thập kỷ. Tổng kết nguồn ngân sách cho đề án, ông Nguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo nước ngoài – Bộ GD-ĐT, cho biết kinh phí đã chi cho việc đào tạo từ năm 2.000- 2010 là trên 2.500 tỉ đồng, trung bình mỗi năm chi 228,5 tỉ đồng.  Gần 4.600 người đi học  Đề án này nhận được sự kỳ vọng rất lớn từ nhiều phía. Và đánh giá sau hơn 10 năm thực hiện, ông Phạm Sỹ Tiến, người đầu tiên nhận trọng trách điều hành đề án 322, nhận định: “Nhờ có đề án mà đã có gần 4.600 người được đi học nước ngoài, trên 3.000 lưu học sinh đã được đào tạo và trở về. Nhiều người trong số này đã giảng dạy và nghiên cứu khoa học tốt”.  Ông Tiến nói: “Trong hơn 10 năm, đề án 322 đã gửi người đi học tại 832 cơ sở đào tạo của 34 nước tiên tiến, trong đó có nhiều cơ sở thuộc nhóm 50 trường hàng đầu thế giới. Các ngành cử người đi học gồm khoa học công nghệ trọng điểm, những ngành nghề thuộc lĩnh vực khoa học, kinh tế – xã hội. Có 13% trong số lưu học sinh về nước hoàn thành khóa học xuất sắc. Hầu hết những người có trình độ tiến sĩ đều có trên hai công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín của thế giới, một số người có công trình khoa học xuất sắc được khen thưởng.  Thế nhưng, tiếp xúc với chúng tôi, H.M., một giảng viên học công nghệ sinh học theo đề án 322 đã về nước, cho biết: “Hiện tại, trung bình tôi phải dạy 400-500 tiết/năm. Thu nhập chính mang lại từ giảng dạy. Nếu tôi không dạy thì không đủ sống. Lương thấp, thu nhập từ nghiên cứu khoa học thì càng ít ỏi. Với chế độ lương hiện tại, khó dồn hết cả tâm sức cho khoa học”.  Anh N.H., du học theo đề án 322 về nước năm 2007, hiện không làm việc tại trường cũ mà nhận làm việc cho doanh nghiệp, giải thích: “Trước khi đi nước ngoài, tôi cũng kỳ vọng vào nhiều điều. Nhưng về nước, môi trường làm việc vẫn không thay đổi. Cách quản lý thì cào bằng. Người có năng lực, có cống hiến cũng đối xử như người làm dở. Khi về nước tôi cũng hăm hở lắm, nhưng sản phẩm nghiên cứu của tôi không được đánh giá đúng mức. Tôi chuyển sang doanh nghiệp vì họ coi trọng công sức của tôi. Tôi cảm thấy có ích hơn”.  Không phát huy được năng lực  Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga thừa nhận còn có nhiều bất cập trong việc thực hiện đề án như phương thức đào tạo phối hợp gặp khó khăn do người học hạn chế về ngoại ngữ, trong khi việc hỗ trợ bồi dưỡng ngoại ngữ cho ứng viên khi còn ở trong nước chưa được chú trọng đúng mức. Quy định trong việc cử người đi học cứng nhắc nên đã không khuyến khích được những người trẻ có năng lực đi học. Việc điều chỉnh mức sinh hoạt phí chậm thực hiện, việc chuyển sinh hoạt phí cho người học ở nhiều nước cũng bị chậm trễ gây khó khăn cho lưu học sinh.  Tuy nhiên, bất cập lớn nhất vẫn là việc không quan tâm đến cơ chế ưu đãi thu hút người sử dụng và tuyển dụng lưu học sinh sau khi tốt nghiệp. “Số lưu học sinh là sinh viên đi học trở về nước rất ít được các cơ quan Nhà nước tuyển dụng với lý do hạn chế chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ” – đánh giá của lãnh đạo Bộ GD-ĐT.  Đánh giá hiệu quả của đề án 322, ông Phạm Sỹ Tiến nói: “Điều đáng buồn nhất của đề án là người học được Nhà nước đầu tư rất tốt, nhưng sau khi về nước không phát huy được năng lực của mình, không có môi trường để phát triển nghiên cứu tiếp”. Ông Tiến nhận xét: “Đề án có tốt nhưng “đầu ra” không tốt thì hiệu quả cũng bị giảm sút. Một số du học sinh sau khi về nước đã xin thôi việc ở cơ quan cũ để sang cơ quan khác làm việc hoặc làm việc cho doanh nghiệp. Nhiều người ở lại nước ngoài”.        Sinh viên đoạt giải nhất cũng bị dừng học bổng   Ngày 18-5, Bộ GD-ĐT chính thức có thông báo  về việc dừng cấp học bổng 356 (322) cho đối tượng sinh viên chịu trách  nhiệm chính thực hiện công trình đoạt giải nhất giải thưởng “Sinh viên  nghiên cứu khoa học” năm 2010 và giải nhất giải thưởng “Tài năng khoa  học trẻ Việt Nam” năm 2011. Theo ông Tạ Đức Thịnh – vụ trưởng Vụ Khoa  học công nghệ và môi trường (Bộ GD-ĐT), do hiện nay không còn chỉ tiêu  học bổng theo đề án 356 (322) để xét cấp học bổng thạc sĩ bằng ngân sách  nhà nước cho sinh viên thuộc nhóm đối tượng này nên các sinh viên tìm  hiểu, đăng ký dự tuyển các chương trình học bổng khác.   Riêng đối với sinh viên tiếp tục chọn học  thạc sĩ trong nước thì ngay sau khi tốt nghiệp thạc sĩ và đề án mới được  phê duyệt, Bộ GD-ĐT sẽ xét cấp học bổng để đi học trình độ tiến sĩ theo  một đề án mới nối tiếp đề án 356 (322) mà bộ đang xây dựng.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp và Nhà trường: Mô hình liên kết hiệu quả?      Rút ngắn khoảng cách từ giảng đường tới thực tiễn là yêu cầu cấp bách giúp sinh viên thích ứng nhanh hơn với công việc. Nhưng cần làm gì kéo gần hơn doanh nghiệp đến với nhà trường? Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Giáp Văn Dương – người có nhiều năm làm việc trong môi trường đại học ở nước ngoài, và gần đây đã trở về Việt Nam xây dựng cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà GiapSchool.org.    Thưa tiến sĩ, trước thực trạng sinh viên Việt Nam ra trường chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng, nhiều doanh nghiệp đã phải mất thời gian đào tạo lại; cũng đã có một vài mô hình hợp tác giữa nhà trường, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Song, vì sao hiệu quả lại chưa cao?  Đúng là có thực trạng này. Nhiều bạn bè làm doanh nghiệp cũng kêu ca với tôi về chuyện phải đào tạo lại. Không phải một lần mà rất nhiều lần. Lý do thì có nhiều, nhưng lý do được đưa ra nhiều nhất, và tôi cho rằng đúng, là chương trình đào tạo đại học quá lạc hậu, quá lệch lạc và mất cân đối. Thời gian học các môn không cần thiết, không liên quan đến nghề nghiệp quá nhiều. Còn các môn chuyên ngành thì không chỉ lạc hậu, mà thời gian cũng chỉ đủ để “cưỡi ngựa xem hoa”. Trang thiết bị thực hành cũng thiếu, nên nhiều khi chỉ đào tạo chay. Ngoài ra, trong thời gian qua, số lượng sinh viên tăng rất nhanh mà biên chế giảng viên của các trường gần như vẫn giữ nguyên, nên thầy cô không đủ thời gian để sát sao chuyện thực hành và cải tiến chương trình. Ngay cả luận văn tốt nghiệp của nhiều ngành kỹ thuật, lẽ ra phải là nơi đưa ra lời giải cho một bài toán công nghệ cụ thể, thì nhiều khi chỉ dừng ở mức tổng quan tài liệu.  Hệ thống thi cử và đánh giá thực sự có vấn đề. Học để thi chứ không phải để làm việc. Lối học đối phó, học chỉ để thi mà không để làm gì khác, đã thành quán tính trong nhà trường, từ phổ thông lên đại học. Tư duy phản biện không có hoặc rất hạn chế. Sinh viên năm cuối rồi mà vẫn ôn thi theo đề cương, học thuộc lòng rồi trả bài, xong là phải tìm cách quên ngay để còn học thuộc và trả bài môn khác. Điều này tạo ra một thói quen học để thi, xong rồi phải quên ngay lập tức để nhồi nhét môn học khác, rất phản giáo dục.   Sự trung thực trong học đường cũng mai một rất nhiều, nên cứ học cứ thi, học kém cũng thi qua bằng cách này hay cách khác, rồi nhận bằng tốt nghiệp, nhưng rất nhiều sinh viên ra trường mà vẫn không thể viết được một đơn xin việc.   Ngoài ra, sự kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng rất hạn chế. Lý do là Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có nền công nghiệp mạnh, nên không có nhu cầu nhận sinh viên thực tập nhiều. Sinh viên muốn tìm được một nơi thực tập nhiều khi rất vất vả. Do quy mô nền kinh tế còn nhỏ, nên các doanh nghiệp cũng nhỏ và chưa đủ mạnh, chưa có nhu cầu đầu tư để phát triển công nghệ, vì thế không cần gắn kết với nhà trường.   Điều này dẫn đến chuyện mạnh ai nấy làm. Nhà trường thì đào tạo theo chương trình đã được phê duyệt, cũng do nhà trường trình lên. Người duyệt chương trình đó cũng xuất thân từ trường mà ra, không có gắn kết gì với doanh nghiệp. Còn doanh nghiệp gần như đứng ngoài cuộc, thì chỉ biết kêu ca và lên chương trình đào tạo lại.  Nói thì dài dòng như vậy, nhưng nếu phải kết một câu thì trong nhà trường hiện nay, quan niệm giỏi mới dừng ở mức học giỏi thi giỏi, chứ chưa phải là làm giỏi. Tinh thần thực học thực nghiệp vẫn chưa có được chỗ đứng trong nhà trường, nên việc đào tạo, và cả việc học, trong nhà trường còn xa rời yêu cầu của nhà tuyển dụng.    Tại sao “cái bắt tay” hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp còn dè dặt, phải chăng vấn đề này đang gặp phải những rào cản gì, thưa tiến sĩ?  Cái bắt tay giữa nhà trường và doanh nghiệp không phải là dè dặt, mà là hờ hững vì chưa thực sự có nhu cầu. Chẳng ai cấm họ phải hợp tác với nhau, thậm chí xã hội còn khuyến khích, nên chẳng có gì làm cho họ phải dè dặt cả. Nhưng nhu cầu chưa đến mức đẩy họ phải bắt tay nhau. Nói rõ hơn là cái bắt tay đó chưa mang lại lợi ích sống còn cho cả nhà trường và doanh nghiệp. Cho nên họ không bắt tay vì họ không thực sự muốn. Còn vì sao không thực sự muốn? Vì điều đó không mang lại lợi ích sống còn cho bản thân họ.  Doanh nghiệp thì đa số thích đầu tư theo kiểu chụp giật, mà ít chú trọng đến phát triển bền vững lâu dài, nên không có nhu cầu nhiều cho đầu tư nghiên cứu và đào tạo. Các tổng công ty lớn hay các doanh nghiệp nhà nước thì đã có bầu sữa ngân sách. Lỗ bao nhiêu đã có nhà nước lo. Còn nhà trường thì đào tạo theo chương trình tự mình đã lên khung trước mà không cần phải thay đổi. Vì sao? Vì không có đủ động lực nào để thay đổi do không có cạnh tranh. Cứ giậm chân tại chỗ như vậy thì đã gạt ra không hết, vì cánh cửa đại học rất hẹp, mà số người muốn học lại quá nhiều, nên chẳng việc gì phải thay đổi cho mệt.  Như vậy, sự hờ hững hợp tác trong đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp có nguyên nhân sâu xa ở cơ cấu nền kinh tế bất hợp lý, và rộng hơn là cách thức tổ chức xã hội, trong đó có cách thức tổ chức nền kinh tế và hệ thống giáo dục, không phù hợp.  Nhưng nay tình thế đã khác đi. Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đã làm cho các doanh nghiệp phải tư duy lại mô hình phát triển của mình. Thay vì đầu tư theo kiểu chụp giật, thì nhu cầu phát triển bền vững dựa vào sản xuất, dịch vụ chất lượng và công nghệ tiên tiến là có thật. Như vậy, quả bóng đang nằm ở phía nhà trường. Nhưng nhà trường chỉ chuyển động khi cả hệ thống chung đều phải chuyển động. Mà muốn như vậy thì một sự thay đổi căn bản về cơ chế vận hành hệ thống cần phải được thực hiện trước hết.    Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp cần làm gì để công tác liên kết đào tạo thêm chặt chẽ, thực sự hiệu quả, thưa tiến sĩ?  Rất khó để ép buộc sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp khi họ không thực sự có nhu cầu. Không cần hợp tác, họ – hay đúng hơn là các nhà quản lý của các cơ sở đó – vẫn sống khỏe. Vậy thì cần gì phải hợp tác cho mệt xác?  Vậy nên, thay vì “ép duyên” nhà trường và doanh nghiệp, thì cơ quan quản lý nhà nước nên thay đổi cơ chế và cách thức quản lý để nhà trường và doanh nghiệp được tự chủ nhiều hơn. Khi đó nhà trường sẽ được tự quyết định chương trình đào tạo của mình sao cho bắt nhịp được với chương trình của thế giới và nhu cầu của nhà tuyển dụng; còn nhà tuyển dụng, đặc biệt là các cơ quan công quyền, sẽ được tự do lựa chọn nguồn lao động chất lượng. Hai bên sẽ tự bắt tay nhau vì lợi ích sống còn của chính mình.  Tuy nhiên, với vai trò kết nối của mình, cơ quan quản lý có thể đứng ra tổ chức các sân chơi, các diễn đàn để nhà trường và doanh nghiệp gặp nhau, như sàn giao dịch công nghệ, hay gặp gỡ nhà trường – doanh nghiệp, chẳng hạn. Nói nôm na là cơ quan quản lý hãy bớt quản lý đi và tập trung giúp đỡ nhà trường và doanh nghiệp nhiều hơn, thực chất hơn.  Hãy để mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên. Nhưng cần thiết kế các điều kiện sao cho mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên nhưng đạt hiệu quả cao nhất, theo chiều hướng bền vững và nhân văn.  Ở mức vĩ mô hơn thì nhà nước cần thay đổi cơ chế vận hành của hệ thống, bao gồm cả hệ thống kinh tế và chính trị, sao cho mọi thành phần của hệ thống đều phải cạnh tranh một cách minh bạch và bình đẳng, thì nhu cầu tự hoàn thiện mình, hợp tác để gia tăng giá trị cho mình, trong đó có hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường, mới có thể tiến hành được hiệu quả.    Rất mong tiến sĩ chia sẻ những kinh nghiệm từ các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới trong công tác phối hợp đào tạo nghề nghiệp?  Ở những nơi tôi đã học và làm việc, như Hàn Quốc, Áo, Anh, Singapore, thì tinh thần thực học thực nghiệp rất cao. Hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và dạy nghề, được thiết kế trên tinh thần này, nên sinh viên ra trường đáp ứng được rất tốt đòi hỏi của nhà tuyển dụng.   Nhiều trường còn xây dựng những vườn ươm công nghệ, trung tâm hợp tác với doanh nghiệp, những phòng thí nghiệm chung, để tận dụng điểm mạnh của cả hai phía. Chẳng hạn, ở Đại học Liverpool nơi tôi từng làm việc, có một trung tâm chuyên nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghiệp. Khi doanh nghiệp muốn phát triển sản phẩm mới, họ có thể đến đây để làm nghiên cứu chung với các giáo sư trong khoa. Sinh viên sẽ được tham gia các dự án đó, nên am hiểu về cách vận hành của công nghiệp rất sớm.   Các đề tài nghiên cứu khoa học của các giáo sư cũng được khuyến khích liên kết, và ưu tiên các đề tài có sự tham gia của doanh nghiệp, nên có sự trao đổi thường xuyên giữa những người làm doanh nghiệp và những người nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trường. Khi đã có sự trao đổi như thế, hai bên đã nói chuyện được với nhau thì sẽ hiểu nhau và điều chỉnh hoạt động của mình sao cho đáp ứng được yêu cầu của cả hai phía.  Nhưng suy cho cùng thì động cơ chính để nhà trường và doanh nghiệp ở các nơi này hợp tác với nhau là vì lợi ích của họ gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhà trường cần doanh nghiệp và doanh nghiệp cần nhà trường. Nếu Việt Nam không giải quyết được việc này, thì hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, dù có hô hào đến mấy đi chăng nữa, cũng vẫn chỉ là hình thức.   Nhưng làm sao có được điều này? Có cách nào khác hơn là phải thiết kế lại cơ chế vận hành của cả hệ thống quản lý, đồng thời xiển dương tinh thần thực học thực nghiệp trong toàn xã hội?  Xin cảm ơn tiến sĩ về cuộc trò chuyện này!    Khúc Hồng Thiện (thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc sách: Các công dụng của đại học      Các công dụng của đại học (The Uses of the University)* của Clark Kerr – học giả, một nhà lãnh đạo giáo dục đại học hàng đầu của Hoa Kỳ, là quyển sách “kinh điển”, lôi cuốn và ấn tượng phản ảnh sự phát triển thần kỳ của đại học Hoa Kỳ trong thời kỳ cực thịnh của nó sau Thế chiến thứ hai, với những ưu và khuyết điểm, sau khi tên tuổi của nền đại học Đức bên kia bờ Đại Tây Dương suy tàn.     Nó có thể được xem là “văn phạm của đại học hiện đại Hoa  Kỳ”. Quyển sách của Kerr, như cựu chủ tịch đại học Chicago Hanna H. Gray  viết năm 2012, “là quyển sách hay nhất về giáo dục đại học Mỹ được viết  trong thế kỷ hai mươi”.  Quyển sách rất cần thiết cho những ai muốn hiểu biết về lịch sử đại học Hoa Kỳ trong thời kỳ vàng son, những logic tất yếu của nó, cũng như những vấn đề nó đối mặt – trong khuôn khổ lịch sử giáo dục đại học thế giới xưa và nay. Clark Kerr nghiên cứu các sự biến đổi của đại học qua thời gian và không gian bằng cách xem lại lịch sử của nó và tập trung vào ba phương diện chính của cuộc tiến hóa: sứ mệnh mới của nó (tạo ra tri thức cho nền kinh tế dựa trên tri thức), mô hình tài trợ mới của nó (‘đại học với tài trợ liên bang’, federal grant university) và cơ cấu mới của nó (sự phân mảnh của ‘đa đại học’). Ông cũng đề cập đến những khía cạnh sử dụng tốt đại học, và cảnh báo những sự lạm dụng nó dưới các hình thức. Vai trò lãnh đạo của Mỹ có được như trong thế kỷ hai mươi, như tác giả nói, là dựa trên “sự sử dụng tốt tri thức”, và trên hết, thông qua hệ thống các đại học nghiên cứu. Hiểu biết vai trò và những đóng góp quyết định của đại học vào các xã hội phát triển sẽ giúp người ta thấy rõ hơn sự lạm dụng, hay sự trì trệ của các đại học còn đang diễn ra tại nhiều quốc gia đang phát triển có những giam hãm chính trị.     Tuy đại học là sản phẩm trí tuệ của Tây Âu thời Trung cổ, nhưng sau đó phát triển khắp nơi trên thế giới, sang các nước như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ trong thế kỷ 19. Ngày nay nó chiếm giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết trên thế giới. “Chúng ta giờ đây đang nhận thức rằng sản phẩm vô hình của đại học, tri thức, có lẽ là nhân tố duy nhất mạnh mẽ nhất trong nền văn hóa của chúng ta, tác động sự vươn lên và suy tàn của các nghề nghiệp, và ngay cả của các giai tầng xã hội, các khu vực và các quốc gia” như Kerr nói trong lời tựa lần xuất bản năm 1963.     Quyển sách “Các công dụng của đại học” được xuất bản đầu tiên năm 1963, tập hợp các bài giảng của Clark Kerr tại Harvard năm 1963 (chương 1, 2 ,3). Lúc đó Clark Kerr là chủ tịch của Đại học California (University of California, UC). Sau đó, cứ mỗi thập niên, ông bổ sung thêm các chương mới: chương 4 năm 1972, chương 5 năm 1982, chương 6, 7, 8 vào lần xuất bản năm 1995, và chương cuối 9 năm 2001, hai năm trước khi ông mất, 2003.     Các công dụng của đại học đã được dịch ra mười thứ tiếng: Ả rập, Miến Điện, Hoa (giản thể, Trung Hoa), Hoa (phồn thể, Đài Loan), Pháp, Ý, Nhật, Hàn, Bồ Đào Nha (Brazil), Urdu (Pakistan).     Chúng tôi rất vui mừng khi thấy nay nó được dịch sang tiếng Việt, tiếng thứ mười một. Đây có thể được xem như công việc tiếp nối Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm đã được xuất bản đầu năm 2011 với sự tham gia của trên 40 nhà khoa học, nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước, để kỷ niệm sự ra đời lịch sử của đại học này 200 năm trước, là đại học đã ảnh hưởng lên các đại học nghiên cứu toàn thế giới, tạo ra bộ mặt giáo dục đại học thế giới ngày nay.           “Một tác phẩm kinh điển được cập nhật của một trong những gương mặt huyền thoại của nền giáo dục đại học Hoa Kỳ. Lần tái bản nào cũng chứa đựng những dự báo quan trọng và chính xác.” – Henry Rosovsky, Tác giả của “Đại học: Cẩm nang của người chủ”  “Chưa một quyển sách nào được viết trong quá khứ lại cung cấp một sự mô tả thấu suốt như thế của đại học nghiên cứu hiện đại và cung cấp những lời bình luận sâu sắc như thế về những căng thẳng và vấn đề đặc thù của nó… Những ai muốn hiểu đại học nghiên cứu Hoa Kỳ – quá khứ, hiện tại, và tương lai – phải bắt đầu bằng việc đọc kỹ cuốn sách này.” – Derek Bok, Chủ  tịch Emeritus, Đại học Harvard                     * DT Books & Nxb Tri thức        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc thầm      Tác phẩm Bàn về tự do&#160; của John Stuart Mill (1806-1873), một nhà triết học thực chứng, một nhà logic học, nhà kinh tế học, nhà chính luận và nhà hoạt động xã hội người Anh,&#160; được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào năm 1859.  Thay vì nói ra những lời đẹp đẽ và to tát về nền văn hoá đọc, ta tìm đến những giải pháp kỹ thuật-nghiệp vụ giản dị và khả thi, đủ sức trao vào tay các giáo viên bình thường nhất, để họ sẽ huấn luyện và tạo ra ở con em một cách đọc mang tính văn hoá đọc.    Giải pháp đầu tiên thật vô cùng đơn giản, ấy là dạy con em ngay từ lớp Một đã phải có kỹ năng và có thói quen đọc thầm.  Văn hóa đọc là gì? Nếu chỉ tham chiếu một cuốn sách đầy tham vọng về văn hoá đọc tên là Khoái cảm văn chương, (JOHN COWPER POWYS, Les Plaisirs de la littérature, nguyên bản tiếng Anh. Bản dịch tiếng Pháp của nhà xuất bản L’AGE D’HOMME, Lausanne, Thụy Sĩ, 1995) mà riêng phần dẫn luận đồ sộ nói về Đọc là gì nôm na ra là thú vui đọc sách đã dài đến sốt ruột, ta sẽ thấy có lẽ trên đời chỉ còn tác giả sách đó là đủ những tiêu chuẩn của một người biết đọc sách!  Thời đại mới không cốt đem lại thú vui đọc sách cho một tầng lớp dài lưng tốn vải coi mọi chuyện đều thấp hèn duy chỉ có đọc sách là cao sang, vạn ban giai hạ thử, duy hữu độc thư cao. Thời đại mới còn nỗi lo to đùng khác, lo rằng nếu không có những giải pháp đưa nền “văn hóa đọc” chiếm lĩnh tâm trí đại chúng, thì cái gọi bằng nền “văn hóa nghe-nhìn” sẽ ở vào thế thượng phong rồi trở thành thế độc tôn, để rồi sau đó các bậc cha mẹ chỉ còn một con đường, hoặc là lười biếng dễ dãi chia sẻ các công cụ đa phương tiện với con cái, hoặc là chư vị chịu nhận tiếng “khốt-ta-bít” rồi lủi thủi đọc sách một mình và thở than con trẻ bây giờ ít đọc sách quá, chẳng như ngày xưa…   ***  Có thể nói nếu thay vì nói ra những lời đẹp đẽ và to tát về nền văn hoá đọc, ta tìm đến những giải pháp kỹ thuật-nghiệp vụ giản dị và khả thi, đủ sức trao vào tay các giáo viên bình thường nhất, để họ sẽ huấn luyện và tạo ra ở con em một cách đọc mang tính văn hoá đọc.  Giải pháp đầu tiên thật vô cùng đơn giản, ấy là dạy con em ngay từ lớp Một đã phải có kỹ năng và có thói quen đọc thầm. Đọc thầm nghĩa là đọc chỉ bằng cách di chuyển con ngươi của mắt, thay cho lối đọc nghêu ngao nhân chi sơ tính bản thiện, thiên giời địa đất cử cất tồn còn… thay cho cả lối vừa đọc vừa di chuyển ngón tay để chỉ từng chữ và đánh vần từng tiếng. Đọc thầm tạo ra tốc độ đọc, là điều kiện vô cùng cần thiết để có sự đọc nhận thức vì đọc chậm chính là nguyên nhân gây nên điều nhận thức quái đản rắn là một loài bò…  Đọc thầm và đọc nhận thức còn hàm chứa một thao tác khác ngay trong khi đọc, tưởng tượng. Thao tác tưởng tượng không chỉ diễn ra khi đọc các tác phẩm của tưởng tượng, thí dụ khi đọc tiểu thuyết. Nó diễn ra ngay cả khi đọc các tác phẩm khoa học tự nhiên và lô gích. Nhờ thao tác tưởng tượng mà khi đọc Darwin người đọc sẽ hình dung được sự tiến hóa như thể chính mình cũng đang được sống trong guồng phát triển đó. Nhờ tưởng tượng mà người đọc về cơ học lượng tử sẽ hình dung được bản chất của vật chất mà những công thức tính toán kèm theo sẽ chỉ tương tự như là những minh họa trong các tác phẩm nghệ thuật. Còn với những tác phẩm của tưởng tượng (fiction) người đọc sẽ nhìn thấy rõ mồn một những con người, những hành động, những tình cảnh chỉ thông qua các miêu tả bằng những con chữ. Vì thế, ta sẽ thấy văn hoá đọc cực kỳ dị ứng với thể loại tranh truyện đã bị lạm dụng (lấy chữ minh họa cho hình thay vì hình loáng thoáng minh họa nội dung cuốn sách được mô tả hoàn toàn bằng chữ, những minh họa chỉ làm đẹp mà không làm hại bao nhiêu cho tưởng tượng).  Đọc thầm còn là công cụ cho suy ngẫm. Tại sao? Trước hết, tại vì khi đọc thầm con người hoạt động hoàn toàn tự lập, tự chủ, là cái nền cho suy tưởng. Sau đó, còn tại vì khi đọc thầm con người không bị lãng trí vì âm thanh do mình gây ra hoặc do người bên cạnh phát âm gây ra. Và sau nữa, đọc thầm bằng mắt với những con chữ khiến người đọc thoát khỏi sự lười biếng của kẻ đọc truyện tranh, và người đọc càng miên man theo văn bản càng bị bám theo những vấn đề nảy sinh trong văn bản đó. Mà khi đã là vấn đề thì sẽ có biện luận, có đôi co, có cảm thông, có thỏa hiệp, có khẳng định, có chiến thắng – dù là chiến thắng ảo, chiến thắng mà không có “quân địch” giơ tay xin hàng trước mặt – song đó lại chính là những yếu tố của suy ngẫm đọc.  Đọc thầm, đọc bằng tưởng tượng và đọc suy ngẫm sẽ dẫn đến kỹ năng tìm thông tin và chia sẻ thông tin là những yếu tố giúp cho con người của văn hóa đọc vừa biết co lại trong cái vỏ cá nhân tự lập vừa biết rộng mở tâm hồn trứoc những luồng gió mới. Đó là hai mặt của các thành phần trí khôn đã được Howard Gardner gọi bằng trí khôn cá nhân hướng nội và trí khôn cá nhân hướng ngoại. (Cf. Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn, Phạm Toàn dịch, 450 trang, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996, 1997).  Có một nền văn hóa đọc phát triển đúng hướng sẽ không xung đột với nền văn hóa nghe-nhìn mà ngược lại nếu ở trạng thái lý tưởng tối ưu, văn hóa đọc sẽ khiến cho văn hóa nghe-nhìn có bề sâu hơn, và mặt khác, văn hóa nghe-nhìn sẽ buộc văn hóa đọc chuyển mình cho thành nhẹ nhõm hơn, năng động hơn và hấp dẫn hơn. Những tiểu thuyết trường thiên thởi nảo thời nào sẽ được thay bằng tiểu thuyết cỡ Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Và những bộ phim sê-ri cũng sẽ bớt đi thói huênh hoang không bị kiểm soát để chắt lọc nhiều thế thái nhân tình hơn.  ***  Về nguyên tắc, một nền giáo dục lành mạnh được các nhà sư phạm thật sự có năng lực sư phạm hiện đại điều hành, sẽ giúp học sinh ngay từ lớp Hai đã bắt đầu có những kỹ năng đọc như vừa miêu tả.  Tiếc rằng, khó có thể ca tụng một thực tại sư phạm như bao nhiêu năm nay nó đã diễn ra và vẫn còn đang diễn ra.  Chẳng hạn, một nhà giáo tương lai cần phải biết vì sao và làm cách nào dạy trẻ em ngay từ lớp Một đã có năng lực đọc thầm. Trường sư phạm đã dạy cho sinh viên đủ thứ, nào ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn bản, nhưng nó hoàn toàn không dạy cho giáo sinh biết sinh lý của mắt khi đọc. Tất nhiên, giáo viên ra trường sẽ không biết rằng khi ta đọc con mắt của người đọc dịch chuyển theo những bước nhảy ôm gọn từng lúc dăm ba tiếng, chứ con mắt ta khi đọc không dịch chuyển từ từ dần dần theo từng tiếng. Sinh lý đọc như vậy của mắt khiến tốc độ đọc nhanh, đồng thời khi nó ôm gọn một nhóm từ cũng có nghĩa là nó ôm gọn những nét nghĩa, và đó chính là cơ sở của đọc nhận thức. Thế rồi, không được trang bị đầy đủ và đúng mức cho tới khi các giáo viên đó ra trường, càng tích cực bao nhiêu họ lại càng “chăm sóc” con trẻ bấy nhiêu bằng cách bắt ép các em khi đọc phải lấy ngón tay mà di di theo từng chữ, để rồi hệ quả là ngay những em có khả năng hoặc muốn đọc nhanh thì cũng bị “bó phanh” hoặc bị “bắn tốc độ”.  Trường sư phạm vốn là nơi nghiên cứu và phát triển tâm lý học dạy học song cũng lại càng không bao giờ dạy cho giáo sinh về tâm lý học của việc đọc. Giáo viên ra trường thừa đủ sức bắt chước các thầy mình và có sẵn cả năng lực tán dóc về vẻ đẹp của tiếng Việt, nhưng họ lại hoàn toàn thiếu kỹ năng dạy đọc theo đúng tinh thần và đòi hỏi của một nền “văn hóa đọc”. Họ lúng túng khi thấy học trò mình mê mải đọc truyện tranh và không biết phải làm cách nào để điều hòa hoặc sửa chữa tình trạng đó. Họ không biết nên họ hoàn toàn coi nhẹ những yêu cầu của việc đọc và tưởng tượng, đọc và suy ngẫm, đọc và biện luận, đọc và chia sẻ… theo đúng sự phát triển tâm lý của việc đọc theo tinh thần của nền “văn hóa đọc”.  Người ta đang đổ tội cho “kinh tế thị trường” khiến văn hóa nghe-nhìn át mất văn hóa đọc. Người ta chưa chịu tìm vào cội rễ mang tính nghiệp vụ sư phạm của vấn đề. Bao giờ thì hy vọng sửa chữa được tình trạng đó? Hãy nhìn vào những bộ sách giáo khoa ngữ-văn cải cách đương thời thì sẽ có câu trả lời.      Phạm Toàn  Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi điều không chỉ về chuyện xây trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt nam      Mặc dù trên thực tế là “người trong cuộc” hẳn hoi đối với các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học (GDĐH) ở Việt Nam nhưng tôi vẫn coi những gì tôi viết dưới đây chỉ là suy nghĩ tản mạn của một “người ngoài cuộc” vì cũng như nhiều việc khác trong giáo dục và đào tạo, đây là “việc riêng” của các nhà quản lý, họ đã từng quyết định nhiều chuyện còn to tát hơn nhiều mà đâu có cần hỏi ý kiến của đông đảo các giáo sư “đang dạy học” – là những người sẽ thực thi các quyết định của họ đâu? (Tôi muốn phân biệt hai loại giáo sư đang tồn tại ở Việt Nam: các giáo sư “đang dạy học” và các giáo sư “đã từng dạy học”, thậm chí “chưa bao giờ dạy học”)      Chuyện xây trường đại học đẳng cấp quốc tế : nói thì dễ, nhưng…                Trước hết hãy nói về chuyện xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam. Một số người còn gọi đó là “trường đại học hàng đầu”, nhưng bản thân tôi rất “dị ứng” với cái chữ “hàng đầu” này. Không phải “dị ứng” vì thấy sự lạm phát của nó trong quảng cáo của các doanh nghiệp (anh nào cũng tự nhận mình là leader), mà vì tác động tiêu cực của nó đối với tiến trình đổi mới, phát triển của chính các trường đại học. Quả thật là có những trường đại học ở Hà Nội như Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Quốc gia), Đại học Bách khoa, Đại học Sư phạm… đã từng có thời vàng son, xếp đầu bảng trong các trường cùng loại trong nước và trong nhiều năm đã tự ru ngủ mình bằng cái danh xưng “đại học hàng đầu” rất êm tai đó để rồi đến khi bừng tỉnh lại thì đã thấy nhiều trường “đàn em” đang vượt lên một cách ngoạn mục, còn khoảng cách tới các chuẩn mực GDĐH quốc tế thì ngày càng xa hơn. Đó là chưa kể đến căn bệnh “thành tích” không chỉ bùng phát trong giáo dục phổ thông mà cả trong GDĐH, “triệu chứng” thấy rõ là những chuyện “chạy huân chương”, “chạy danh hiệu” mà báo chí đã nhiều lần đề cập đến. Trường đại học nào cũng cố để có đủ “bộ sưu tập” các loại huân chương cao quý nhất của Nhà nước và đặc biệt là danh hiệu Anh hùng.  Đến mức đã có người phải thốt lên: ở nước ta bây giờ “ra ngõ là gặp… đại học anh hùng”! Thiết nghĩ, giá mà ở nước ta cứ “ra ngõ là gặp… đại học đẳng cấp quốc tế” thì hay quá! Lẽ ra, chỉ nên phong danh hiệu Anh hùng thời kỳ đổi mới cao quý cho trường đại học nào đạt được những chuẩn mực của một trường đại học quốc tế, như vậy phong trào thi đua trong GDĐH chắc sẽ mang lại hiệu quả ích nước, lợi dân cao hơn nhiều.                  Phải thừa nhận rằng trong bản đề cương nói trên của mình, ông Thomas Vallely đã xuất phát từ những  đánh giá đầy hiểu biết và khách quan về thực trạng của GDĐH Việt Nam kết hợp với những kinh nghiệm mang tính toàn cầu về xây dựng các trường đại học chất lượng cao, bởi vậy các ý kiến đề xuất của ông là hết sức nghiêm túc, khoa học và hợp lý. Rõ ràng là để đổi mới, phát triển và hội nhập GDĐH, chúng ta cần đồng thời triển khai cả 3 phương án: phục hồi và phát triển các trường đại học hiện có, hình thành các chi nhánh hay các đơn vị vệ tinh của các trường đại học nước ngoài, và xây dựng các trường đại học mới hoàn toàn, trong đó phương án thứ ba – xây dựng mới một trường đại học chất lượng cao, đóng vai trò như một hình mẫu và vườn ươm vốn con người (human capital) – là đặc biệt quan trọng. Và ông Thomas Vallely đã rất chí lý khi nhận xét: “Kinh nghiệm cho thấy rằng việc cải cách các trường đại học hiện có là một quá trình lâu dài khi sự cố thủ của các nhóm lợi ích sẽ dần dần bị bị trung hòa. Các trường và cơ sở đào tạo của nước ngoài có thể rất hữu ích nhưng chắc chắn sẽ không thể thực hiện vai trò của một trường đại học nghiên cứu”.  Có lẽ ai cũng nhất trí là Việt Nam phải có đại học đẳng cấp quốc tế với mong muốn nó sẽ là khâu đột phá cho tiến trình đổi mới GDĐH, đưa GDĐH Việt Nam vươn lên hội nhập trình độ chung của khu vực và quốc tế. Chỉ còn lại vấn đề làm thế nào để có được phương án khả thi và hiệu quả để sớm biến chủ trương đó thành hiện thực trong thời gian tới. Nhiều ý kiến đề xuất giải pháp xây dựng mới hoàn toàn một trường đại học như vậy. Tuy nhiên vẫn còn không ít ý kiến băn khoăn về tính khả thi của phương án này và khuyến cáo nên nâng cấp một số đại học hiện có.                Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm phải xây mới hoàn toàn trường đại học đẳng cấp quốc tế với sự cam kết đầy đủ của Chính phủ về tài chính và cơ chế quản lý. Đừng ảo tưởng về phương án nâng cấp nhanh các trường đại học hiện có, cho dù nó đang là “hàng đầu”,  thành trường đại học đẳng cấp quốc tế trong vòng 5-10 năm tới. Việc “thay máu” cho những cơ sở đào tạo đại học công lập đã từng có truyền thống hết sức vẻ vang nhưng đồng thời cũng chất chứa rất nhiều tồn tại, trì trệ – hậu quả của một thời bao cấp và sự nhiễu loạn của giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có thời gian, nếu không muốn xẩy ra tình trạng “sốc” mà hậu quả khôn lường. Ngay như Đại học Thanh Hoa danh tiếng của Trung Quốc với truyền thống, tiềm năng và nỗ lực cao về cơ chế, chính sách và đầu tư tài chính cũng chưa thấy họ tuyên bố là sẽ trở thành một trường đại học đẳng cấp quốc tế trong vòng 5-10 năm tới. Một số đại học ở nước ta đã tiến hành “thay máu từng phần” bằng cách thành lập các trường hoặc khoa quốc tế (ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và ĐH Quốc gia Hà Nội) hoặc triển khai các chương trình đào tạo hợp tác quốc tế, nhưng những bất cập từ cơ sở hạ tầng, chất lượng sinh viên đầu vào và đội ngũ giáo viên – những yếu tố cơ bản để đảm bảo chất lượng đào tạo – đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh rất nhiều trong thời gian qua, trong đó có cả hiện tượng không ít các cơ sở đào tạo quốc tế “treo đầu dê, bán thịt chó” lấy mục tiêu lợi nhuận làm đầu.  Tôi cũng hoàn toàn thông cảm với ý kiến của nhiều người khi cho rằng trong lộ trình xây dựng trường đại học quốc tế mà ông Thomas Vallely đề nghị, việc chọn người chủ trì về phía Việt Nam (để làm đồng Chủ tịch tổ chức hỗn hợp Việt-Mỹ sẽ được thành lập để xúc tiến đề án này) quả là không dễ chút nào. Ông Vallely yêu cầu đó phải là một nhân vật xuất chúng của Việt Nam và phải là người am hiểu về giáo dục (theo bản dịch của VietnamNet). Theo sự hiểu biết có thể còn rất hạn hẹp của tôi thì những người Việt hiện đang sống trên đất Việt Nam hiện nay (kể cả những người đã cao tuổi, đã về hưu) không có ai thực sự đủ tiêu chuẩn của ông Vallely, còn trong các cộng đồng người Việt ở nước ngoài không biết có tồn tại một nhân vật như vậy hay không? Tôi nhấn mạnh chữ “thực sự” ở đây bởi nếu chỉ xét về danh xưng thì không thiếu người Việt Nam “xuất chúng”, nào là viện sỹ, nào là danh nhân, thậm chí có cả thiên tài, bộ óc lỗi lạc của thế kỷ(!), do các tổ chức kinh doanh tên tuổi ở nước ngoài hào phóng phong tặng sau khi đã nộp đủ lệ phí, mà một số tờ báo chính thống của ta – không biết là do ngây thơ thật hay cố tính ngây thơ, đã tiếp tay “lăng xê” một cách nhiệt tình. Ông Trần Đức Nguyên – thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã cụ thể hóa yêu cầu của ông Vallely bằng các tiêu chuẩn: là nhà khoa học có uy tín, có năng lực quản lý, có tiếng nói để tập hợp được mọi người, phải giỏi tiếng Anh và tuổi chưa cao và khái quát thêm: phải chọn được người đứng đầu thật sự uy tín, tư duy thoáng nhưng lại được đủ sự tin cậy để có thể quyết định những chuyện hệ trọng (nguồn tài liệu VietnamNet đã dẫn). Ôi quả là khó lắm thay! Mà nếu tìm được người có phẩm chất toàn vẹn như thế thì có lẽ nên đặt vào vị trí lãnh đạo quốc gia e rằng mới tương xứng, chứ chỉ để ở vị trí lãnh đạo một dự án đại học thì hơi bị phí(?). Theo tôi thì để việc lựa chọn người chủ trì về phía Việt Nam khả thi, hãy đặt ưu tiên cho 3 tiêu chuẩn: am hiểu giáo dục đại học (tiên tiến), có năng lực quản lý (trước hết là quản lý giáo dục đại học) và giỏi tiếng Anh. Một người đạt được 3  tiêu chuẩn trên sẽ hoàn toàn có thể tạo ra cho mình uy tín và độ tin cậy thông qua các hoạt động thực tiễn của mình, dưới sự giám sát của Ủy ban Quốc gia Giáo dục do Thủ tướng đứng đầu. Không nên đòi hỏi nhân vật này phải là có uy tín về khoa học chung chung, bởi hai lẽ. Thứ nhất, một nhà khoa học đoạt giải Nobel có thể lãnh đạo tốt một nhóm nghiên cứu, một labo, nhưng chưa chắc đã quản lý nổi một trường đại học. Đây chính là một tồn tại lớn trong việc sử dụng, bổ nhiệm cán bộ của chúng ta. Quản lý là một nghề cần được đào tạo bài bản và cụ thể cho từng lĩnh vực (ví dụ quản lý giáo dục đại học) chứ không thể cứ có học vị tiến sĩ, có chức danh giáo sư là có thể chuyển sang làm quản lý “ngon lành” như chúng ta thường thấy ở Việt Nam. Thứ hai, uy tín khoa học chỉ có tính tương đối, cục bộ. Một người có uy tín trong ngành Vật lý chưa chắc đã được những người làm Toán tâm phục, khẩu phục. Trong khi trường đại học chúng ta cần xây dựng là đa ngành, đa lĩnh vực và ngành nào, lĩnh vực nào cũng muốn thu hút được những nhà giáo, nhà khoa học xuất sắc nhất.                  Một số ý kiến còn bổ sung thêm tiêu chuẩn tâm huyết (với giáo dục). Tôi cho rằng tiêu chuẩn này là quá  trừu tượng, khó đánh giá –cũng giống như tiêu chuẩn ”động cơ” khi chúng ta xét kết nạp Đảng. Chẳng có ai làm giáo dục mà lại tự nhận mình là không tâm huyết cả, và cũng chẳng có cơ sở nào để đánh giá một người nào đó là tâm huyết (hay không tâm huyết) với nghề, trừ khi họ bộc lộ những hành vi cụ thể. Như khi xin thành lập các trường đại học dân lập, ai cũng bày tỏ tâm huyết với giáo dục hết sức cao cả, nhưng đến khi đi vào hoạt động thì nhiều trường đã bộc lộ rõ mục tiêu lợi nhuận bất chấp tất cả, kể cả vi phạm pháp luật. Tôi cho rằng Giáo sư Trần Văn Thọ ở Đại học Waseda – Nhật Bản, đã rất chí lý khi khi nhận xét: “Nhiều đại học dân lập ở ta bây giờ, chỉ sau 4-5 năm đã có đủ tiền để xây những cơ ngơi lớn, đây là sự bất công cho những lớp sinh viên đầu tiên phải đóng tiền nhiều hơn những dịch vụ giáo dục mà họ được hưởng. Có thể coi đây là một hình thái bóc lột.” (nguồn VietnamNet đã dẫn). Bởi thế, nên thay tiêu chuẩn tâm huyết bằng điều kiện cần: thích làm, hay muốn làm, thể hiện qua việc đăng ký vào danh sách ứng viên tuyển chọn nhân sự chủ trì đề án xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, bất kể đó là người Việt đang sống và làm việc ở trong nước hay ngoài nước. Người đã thích làm, lại có đủ năng lực để làm (thể hiện ở 3 tiêu chuẩn nói trên) thì chắc chắn là sẽ làm được. Trường đại học đẳng cấp quốc tế này phải được trao quyền tự chủ toàn diện, trước hết là quyền tự chủ về tuyển chọn và sử dụng nhân sự – điều mà các trường đại học của chúng ta hiện nay, kể cả các trường dân lập, đều không có và chính điều đó đã trở thành nguyên nhân quan trọng của sự trì trệ, kém chất lượng. Không thể áp đặt quy chế tuyển chọn và quản lý công chức hiện hành ở nước ta cho tổ chức đặc biệt này. Nói điều này bởi tôi nhớ đã có lần bản thân Thủ tướng của chúng ta cũng phải thừa nhận là chính ông cũng không thể dễ dàng cách chức một cán bộ dưới quyền kém năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ. Nếu vì thế mà bắt buộc ông Hiệu trưởng của Trường đại học mới này cũng phải “nhập gia tùy tục” thì tốt nhất là đừng nên “vẽ” chuyện xây trường làm gì cho tốn công, tốn của. Trường đại học mới này phải tuyển chọn được một đội ngũ giảng viên xuất sắc thì mới có thể hy vọng sớm đạt được đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên ở đây cũng cần lưu ý việc bảo toàn lực lượng cán bộ chuyên môn của các trường đại học hiện có, vì mục đích của việc xây dựng trường mới này là tạo ra một hình mẫu phấn đấu, một đầu tầu mạnh mẽ kéo cả đoàn tàu GDĐH Việt Nam đi lên, chứ không phải để “thôn tính” các trường hiện có. Cần có một cơ chế thoáng và mềm dẻo để tạo điều kiện cho các cán bộ giỏi của các trường đại học khác tham gia vào các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của Trường đại học mới này (và từ đó đem về áp dụng cho trường mình) mà không cần phải xin chuyển trường.  Sẽ còn đầy rẫy khó khăn trên lộ trình xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam, nhưng những khó khăn lớn nhất lại không phải là vấn đề tiền mà lại là con người, hay nói như ông Thomas Vallely, đó chính là “sự cố thủ của các nhóm lợi ích”, kể cả ở mức quản lý nhà nước lẫn mức thực thi, sẽ tạo ra những chướng ngại khôn lường. Rất may, đây là một công việc do đích thân Thủ tướng “đặt hàng”, bởi vậy chúng ta hy vọng rồi mọi khó khăn cũng sẽ được vượt qua nhờ những cam kết từ đầu của Chính phủ. Tuy nhiên, dù có lạc quan đến mấy thì cũng đừng nên suy diễn ảo tưởng rằng đến năm 2010 Việt Nam sẽ có đại học đẳng cấp quốc tế, vì thấy đã có những nơi làm được điều đó, ví như Đại học Bremen của CHLB Đức chỉ sau 5 năm xây dựng đã trở thành trường đẳng cấp quốc tế!  Dạy bằng tiếng Anh hay tiếng Việt?                  Một vấn đề cũng đang được bàn cãi khá nhiều, đó là nên dạy bằng tiếng Anh hay tiếng Việt trong các  trường đại học ở  nước ta? Tôi có cảm nhận là nhiều người coi việc dạy bằng tiếng Anh là thước đo tiên quyết của chất lượng đào tạo đại học và sau đại học. Có thể tôi chưa biết hết, nhưng tôi tin rằng ở các nước không nói tiếng Anh, như Pháp, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ý, Tây Ban Nha… người ta cũng không có ý định chuyển sang giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh trong các trường đại học. Có chăng chỉ là đối với một số chương trình đào tạo đặc biệt, thường là các chương trình sau đại học. Ỏ Việt Nam hiện nay cũng có một số chương trình đào tạo được nước ngoài tài trợ, và nước nào tài trợ thì dạy bằng tiếng nước đó. Ví dụ ngành Tin học (Công nghệ Thông tin) đã có các chương trình dạy bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và sắp tới sẽ có cả tiếng Nhật. Dĩ nhiên tiếng Anh với vị trí toàn cầu của nó là hết sức cần thiết, nhưng bài toán đặt ra cho chúng ta là: trong khoảng thời gian có hạn của một khóa đào tạo, chúng ta bắt buộc phải lựa chọn để xếp thứ tự ưu tiên giữa hai mục tiêu: kiến thức và tiếng Anh. Theo tôi, nên đặt mục tiêu kiến thức cao hơn mục tiêu tiếng Anh, nếu không thì đầu ra của chúng ta rất có thể sẽ là những kẻ “dở ông, dở thằng” – kiến thức thì “lơ mơ” mà tiếng Anh thì cũng “trọ trẹ”! Bởi trình độ tiếng Anh của cả thầy (người Việt) và trò đều có hạn nên các giờ giảng rất dễ trở thành buổi diễn trò “đố chữ”, nhiều khi thầy nói một đằng, trò hiểu một nẻo, làm sao mà thu nhận được kiến thức chuyên môn mà bài giảng cần truyền đạt tới sinh viên? Hiện tượng này là có thực, báo chí đã từng nói đến, và bản thân người viết bài này cũng đã từng chứng kiến. Tất nhiên trừ trường hợp mời giáo sư người nước ngoài, hoặc tổ chức các chương trình đào tạo quốc tế nhằm thu hút cả sinh viên ngoại quốc thì việc giảng dạy bằng tiếng Anh là bắt buộc. Đối với trường đại học đẳng cấp quốc tế được xây dựng mới, với những điều kiện thuận lợi về tuyển chọn giảng viên và sinh viên thì có thể thử nghiệm việc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, trước hết là cho các chương trình sau đại học. Nhưng dù thế nào đi nữa thì phải nhanh chóng đổi mới triệt để cách dạy tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành trong các trường đại học của chúng ta hiện nay.    Học liệu mở: rất hữu ích nhưng đâu phải là “mì ăn liền”!                  Báo điện tử Tuổi Trẻ Online (Thứ Bảy, 19/11/2005) đã đưa ý kiến của Ông Phạm Đức Trung Kiên – Giám đốc điều hành Quỹ Giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ (VEF), đánh giá sự kiện ký kết Biên bản ghi nhớ đưa Học liệu mở (OpenCourseWare – OCW) của Học viện Công nghệ Massachussets (MIT) ở Hoa Kỳ vào Việt Nam diễn ra chiều ngày 17/11/2005 tại Hà Nội (giữa MIT, VEF, Bộ Giáo dục và Đào tạo, và VASC) rằng “Đây là sự kiện có tính lịch sử đối với giáo dục Việt Nam, bắt đầu từ việc Thủ tướng Phan Văn Khải nhận được bản tóm tắt về học liệu mở tại  MIT vào tháng 6/2005”. Tôi rất ngạc nhiên vì OCW chẳng còn mới mẻ gì đối với nhiều trường đại học trong nước. Ở Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ngay từ tháng 9/2004, chúng tôi đã khuyến cáo các giáo viên cố gắng tham khảo trang Web http://ocw.mit.edu/index.html để khai thác tối đa kho học liệu mới được MIT “mở” ra cho toàn thế giới này. Lúc đầu chúng tôi rất phấn khởi, háo hức vì nghĩ rằng từ nay khỏi lo biên soạn giáo trình, bài giảng – một công việc hết sức nặng nhọc và đau đầu đối với một ngành phát triển chóng mặt như Công nghệ Thông tin, mà cứ việc bê nguyên các học liệu có chất lượng hàng đầu thế giới này ra mà “xài”, chả mấy chốc Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ sánh vai cùng MIT(!). Tuy nhiên, mặc dù cũng cùng loại trường công nghệ như MIT nhưng trên thực tế chúng tôi cũng chỉ tham khảo, học tập được từ OCW chủ yếu là về mô hình đào tạo bậc cao, phương pháp luận, khung kiến thức cho các môn học, cấu trúc của các bài giảng, bài tập, câu hỏi liên quan. Trong OCW không có nội dung (mà chỉ có tên) các sách giáo khoa, sách tham khảo, phần mềm minh họa cho các môn học. Phải thừa nhận là OCW rất có ích cho chúng ta – nhất là đối với các trường đại học công nghệ, nhưng nó không phải là loại “mì ăn liền”. Để “biến” OCW của MIT thành học liệu sử dụng phù hợp và hiệu quả cho thầy và trò Việt Nam (chưa nói đến việc biến nó thành một hệ thống e-learning thực sự) sẽ còn phải đầu tư rất nhiều tiền của và công sức. (Để cho khách quan, bạn đọc có thể tham khảo thêm ý kiến nhận xét về OCW của tác giả Vũ Tiến Dũng trên Tuổi Trẻ Online ngày 11/12/2005, chuyên mục Giáo dục – Du học). Đừng nghĩ đơn giản rằng sinh viên Việt Nam chỉ cần học theo OCW là đương nhiên có đẳng cấp quốc tế, nếu vậy thì cần gì phải xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế nữa?                Hy  vọng với sự hợp tác tay ba MIT-VEF-MOET (tôi không kể VASC vào đây vì quả thực không hiểu được công ty này có vai trò gì đặc biệt trong chuyện này, ngoài vai trò tuyên truyền, quảng bá như bất kỳ một phương tiện thông tin đại chúng nào), MIT sẽ hỗ trợ cho các trường đại học Việt Nam nhiều hơn những gì tôi được biết qua OCW đang được MIT phổ biến trên Internet.  Chiếc Lexus và cây ô-liu  Trong tác phẩm nổi tiếng “The Lexus and the Olive Tree” (Chiếc Lexus và cây ô-liu – bản dịch tiếng Việt của Lê Minh, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 2005), Thomas L. Friedman coi quá trình toàn cầu hóa là sự vật lộn, đấu tranh, giành giật không ngừng giữa chiếc xe hơi nhãn hiệu Lexus của hãng Toyota (đại diện cho động lực tồn tại, cải tiến, làm giàu và hiện đại hóa, đại diện cho những thị trường mới sôi động, những định chế tài chính, công nghệ thông tin và viễn thông… phục vụ cho việc nâng cao điều kiện sống hiện nay) và cây ô-liu (đại diện cho cội nguồn truyền thống, cho gia đình, cộng đồng, dân tộc và những điều liên quan). Tiến trình đổi mới GDĐH Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy mãnh liệt của toàn cầu hóa, vì thế trong đó cũng luôn luôn có bóng dáng của chiếc Lexus và cây lúa (thay cho cây ô-liu của phương Tây). Mong rằng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta sẽ là môi trường lành mạnh để “cuộc chiến” giữa chúng chỉ mang lại cho chúng ta những kết quả tích cực: GDĐH Việt Nam nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung không ngừng phát triển, hội nhập mà vẫn không làm mất đi bản sắc và cội nguồn truyền thống của dân tộc.  Nguyễn Thúc Hải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đòi hỏi một sự đổi mới liên tục      Gần đây, tôi có viết một lá thư ngỏ gửi tới  Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó đề cập tới những thủ tục quan  liêu trong quy trình xét trao bằng tiến sỹ, đồng thời bày tỏ sự ủng hộ  hoạt động đồng hướng dẫn các luận án tiến sỹ trong sự hợp tác giữa phía  Việt Nam và các trường đại học của nước ngoài, và đề nghị tăng cường  lòng tin của các nhà quản lý vào sự trung thực của các nhà khoa học.     Bên cạnh đó, lá thư đề xuất một số giải pháp mà tôi cho là không hề gây tốn kém nhưng có thể mang lại những tiến bộ đáng kể.  Tôi viết lá thư này với lòng tin mạnh mẽ rằng những người mang trên vai sứ mệnh phát triển nền giáo dục và khoa học của quốc gia đang rất cần được sự hỗ trợ của chúng ta với tư cách vừa là công dân, vừa là nhà khoa học, bởi đó là một trọng trách rất nặng nề, gần như vượt quá sức người thường, mà mỗi người trong chúng ta cần cảm nhận được. Họ cần chúng ta đưa ra những giải pháp mà chúng ta có thể thực hiện để giúp họ hoàn thành sứ mệnh của mình, và cần chúng ta hỗ trợ tối đa để giảm nhẹ phần nào trọng trách nặng nề này.  Khi đã có một thái độ như vậy đối với các nhà quản lý, thì chúng ta nhất thiết cần dũng cảm nói không, khi ta nghĩ việc ấy là không đúng đắn, không phù hợp với lợi ích của quốc gia, nhân dân, và khoa học. Chúng ta cần nhìn về phía trước thay vì ngoảnh lại quá khứ, loại bỏ những quy định ngày nay đã lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn. Chúng ta đều hiểu rõ rằng nguyên nhân các sai lầm thuộc về lịch sử, vì vậy không nên lãng phí thời gian phê phán những sai lầm của cá nhân, không may đây là thói quen chúng ta vẫn thường sa vào. Hãy độ lượng khi giải quyết các việc của quá khứ, nhưng cần liêm chính và nghiêm cẩn khi giải quyết việc tương lai. Hãy giảm bớt sự kiểm soát và tăng tự do, luôn hành xử có tính xây dựng thay vì tiêu cực, và luôn khuyến khích thay vì gạt bỏ những sáng kiến có giá trị.    Sau khi lá thư ngỏ được công bố, một nhà báo đề nghị tôi chia sẻ điều tôi mong muốn về sự hồi đáp của ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tôi đã nói với nhà báo đó rằng tôi không hề mong muốn điều gì cụ thể cho bản thân cũng như tập thể nhóm nghiên cứu của mình; tôi chỉ hi vọng nhận được sự ủng hộ từ các đồng nghiệp, cho những thay đổi về cách làm mà tôi đề cập trên.  Sự thành thật và trung thành với quá khứ không đồng nghĩa với việc chúng ta đứng im và tuân thủ mù quáng [những thiết chế, quy định đặt ra trong quá khứ], mà đòi hỏi sự đổi mới liên tục để thích nghi với thế giới luôn không ngừng vận động phát triển.                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới cách đào tạo tiến sĩ trên thế giới      Dưới đây Nature điểm qua một số cách tiếp  cận mới trong đào tạo tiến sĩ được mạnh dạn tiến hành bởi một số cá nhân  và tổ chức nghiên cứu.    Đào tạo nhắm vào đầu ra kết quả học thuật  Michael Lenardo, một nhà miễn dịch học phân tử tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) ở Bethesda, bang Maryland, cho rằng: Trong bối cảnh có quá nhiều tiến sĩ được đào tạo ra và có quá ít các vị trí công việc học thuật mà họ có thể được tuyển vào, thì các chương trình đào tạo tiến sĩ chỉ nên nhận đào tạo những nghiên cứu sinh có khả năng thành công cao nhất và phải cung cấp cho họ tất cả các kĩ năng cần thiết. Nhưng ngay cả các học viện của Hoa Kỳ hay Anh đều chưa làm được điều này. Ở Anh, các nghiên cứu sinh thường ít khi mất hơn 4 năm để lấy bằng tiến sĩ, và không phải học viện nào cũng yêu cầu nghiên cứu sinh phải công bố được một bài nghiên cứu. Lenardo coi đây là một nhược điểm của chương trình nghiên cứu sinh ở Anh. Trong khi đó, nghiên cứu sinh các ngành khoa học ở Mỹ thường bắt buộc phải là tác giả đứng đầu của một vài công bố khoa học trước khi được trao bằng tiến sĩ, nhưng thời gian nghiên cứu lên tới hơn 7 năm.  Năm 2001, Lenardo tạo ra Chương trình học NIH Oxford-Cambridge kết hợp những yếu tố tốt nhất từ hai hệ thống đào tạo nghiên cứu sinh của Anh và Mỹ nhằm đào tạo những tiến sĩ xuất sắc. Chương trình này chỉ nhận 12 nghiên cứu sinh mỗi năm trong số 250 – 300 hồ sơ đăng ký. Chương trình đề cao tính tự lập – nghiên cứu sinh phải tự lên kế hoạch cho luận án của mình, bắt đầu viết luận án ngay từ khi mới vào học và có thể bỏ qua các môn chung, nhưng yêu cầu bắt buộc là phải có các công bố khoa học. Nghiên cứu sinh có một nửa thời gian nghiên cứu tại Hoa Kỳ và nửa còn lại tại Anh, có ít nhất hai người hướng dẫn và ít nhất một người ở Anh, một người ở Mỹ (thường là ở hai lĩnh vực khác nhau). Do không có người hướng dẫn nào có sự chi phối toàn diện nên các nghiên cứu sinh phải học cách tổ chức sao cho hiệu quả, Lenardo nói. Việc phải di chuyển từ nước này sang nước khác khiến càng đòi hỏi nhiều hơn sự tự lập này và đảm bảo rằng các nghiên cứu sinh được làm việc với những người giỏi nhất trong lĩnh vực của họ. Qua mười năm thành lập chương trình, hơn 60 học viên đã tốt nghiệp, trung bình mỗi người mất nhiều hơn 4 năm một chút và công bố được 2,4 công bố từ những kết quả nghiên cứu khi làm PhD. 80% học viên tốt nghiệp được làm việc trong lĩnh vực học thuật, và một số được làm việc ở vị trí nghiên cứu viên chính.  Nêu cao tính ứng dụng  GS Animesh Ray là một trong một số các nhà quản lý và nghiên cứu đang cố gắng thay đổi phương thức đào tạo sau đại học.15 năm trước ông nhận thấy rằng chỉ một số rất ít nghiên cứu sinh của ông theo đuổi học thuật sau khi lấy được bằng tiến sĩ, còn đa số bỏ nghiên cứu khoa học. Ông cũng nhận thấy nhiều tiến sĩ thiếu kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng quản lý. Nhưng ông cũng nhận ra rằng chương trình đào tạo Thạc sĩ Khoa học chuyên nghiệp (Professional Science Master’s – PSM) ở nhiều viện nghiên cứu để đáp ứng đòi hỏi của các công ty cũng có thể hạn chế cơ hội của nghiên cứu sinh. Những thạc sĩ tốt nghiệp PSM thường làm tốt công việc quản lý với vai trò một cố vấn hoặc quản lý cho các công ty, nhưng vô hình chung họ lại rời xa khoa học.   Vì vậy, Ray cùng với đồng sáng lập David Galas và Chủ tịch Học viện sau ĐH Keck (KGI) Sheldon Schuster ở Claremont, California phát triển một chương trình đào tạo tiến sĩ, trong đó cung cấp cho học viên những hiểu biết về doanh nghiệp và ngành công nghiệp, đồng thời cung cấp cả kỹ năng nghiên cứu khoa học. Để hoàn thành khóa đào tạo tiến sĩ Ứng dụng Khoa học Sự sống tại KGI, đầu tiên học viên phải học thạc sĩ, sau đó làm nghiên cứu ban đầu trong 3 – 4 năm với ít nhất một cố vấn từ các công ty. Các nghiên cứu sinh không chỉ được học phương pháp nghiên cứu mà còn phải học cách viết kế hoạch kinh doanh và giới thiệu nó tới các nhà đầu tư, và có những am hiểu kỹ lưỡng về luật bảo vệ bằng sáng chế.  Từ khi chương trình Thạc sĩ PSM KGI bắt đầu vào năm 2000, gần như tất cả 300 học viên tốt nghiệp đã tìm được việc làm phù hợp. Và có những học viên tốt nghiệp chương trình đào tạo tiến sĩ (bắt đầu mở ra từ 2006) đã có việc làm với thu nhập trung bình hơn 73.000 USD. Đó là một kết quả mà Ray gọi là “đáng kinh ngạc”.  Kiến thức liên ngành    Marc Jacofsky là một tiến sĩ nhân học thể chất chuyên nghiên cứu về các loài khỉ tại Đại học bang Arizona (ASU), nhưng anh quan tâm tới cả các ngành kỹ thuật, toán, khoa học máy tính, vận động học và thậm chí là cả sinh lý học thần kinh. Anh đang theo học một chương trình đào tạo mới, được xây dựng bởi các cán bộ giảng dạy của ASU, trên cơ sở kết hợp nhiều khoa khác nhau nhằm đi xa hơn cả những nghiên cứu liên ngành, thay vào đó tạo ra các khoa, ngành hoàn toàn mới. Hầu như mọi chương trình đào tạo tiến sĩ mới của ASU đều được thiết kế theo xu hướng liên ngành. Chương trình của Jacofsky và một số khoa khác nhận tài trợ từ Dự án Giáo dục tích hợp sau ĐH và đào tạo thực tập sinh (IGERT) của Quỹ Khoa học quốc gia. IGERT tài trợ 3 triệu USD cho các học viện của Hoa Kỳ trong 5 năm để phát triển các chương trình nhằm giúp học viên có kỹ năng nghề nghiệp và giải quyết các vấn đề trong thực tế.  Từ năm 1998, IGERT đã tài trợ cho gần 5000 nghiên cứu sinh tốt nghiệp. Một khảo sát độc lập đã chỉ ra rằng các nghiên cứu sinh của IGERT có kỹ năng tốt hơn các đồng nghiệp khác trong làm việc nhóm đa ngành và trong khả năng trao đổi thông tin với những người không có kiến thức chuyên ngành. Thậm chí một số chỉ báo cho thấy nghiên cứu sinh của IGERT dễ dàng tìm kiếm công việc hơn.  Các chương trình đào tạo liên ngành tương tự đang bắt đầu được hình thành ở các quốc gia khác. Chính phủ Canada đã có một sáng kiến là Chương trình Hợp tác nghiên cứu và đào tạo thực tế; Ấn Độ có một khóa nghiên cứu sinh mới đào tạo liên ngành cho các kĩ sư, nhà hóa học, các nhà khoa học máy tính và các nhà vật lý – dạy họ cách sử dụng các công cụ của vật lý học để giải quyết các vấn đề sinh học.   Tuy vậy, kiến thức chuyên ngành vẫn quan trọng nhất bởi mục đích của đào tạo tiến sĩ là mang lại hiểu biết sâu sắc trong một lĩnh vực cụ thể. Ngay cả việc nghiên cứu liên ngành cũng luôn đòi hỏi các nhà khoa học phải đóng góp những kỹ năng chuyên biệt trong lĩnh vực riêng của họ.  Nhưng việc mở rộng phạm vi ngành học có một lợi thế là cung cấp cho nghiên cứu sinh những lựa chọn khác nhau. Trước đây khi mới làm nghiên cứu sinh, dự định của Jacofsky là đến một ngày sẽ dạy nhân chủng học ở một trường đại học nào đó. Nhưng thay vào đó, ngày nay anh trở thành phó chủ tịch về nghiên cứu và phát triển của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Y học Chỉnh hình, một tổ chức nghiên cứu do anh đồng sáng lập ở thành phố Phoenix, Arizona.  Đào tạo trực tuyến  Một số nghiên cứu sinh tiềm năng không thể thu xếp học toàn thời gian hoặc làm việc tại một phòng thí nghiệm. Và đào tạo trực tuyến ra đời nhằm cho phép nhiều người được hưởng chế độ đào tạo phù hợp, ngay cả ở bậc tiến sĩ. Nhà trường mở một lớp học trực tuyến, hàng tuần các giảng viên đưa các bài giảng lên và nghiên cứu sinh phải hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như tham gia vào các cuộc thảo luận trong suốt tuần. Các giảng viên kiểm tra hòm thư, trả lời câu hỏi của sinh viên ít nhất một lần một ngày. Đến cuối chương trình, học viên sẽ có một chuyến thực tập trực tuyến, trong đó họ làm các dự án nhóm cho các công ty, nhà đầu tư – ví dụ như điều tra đối thủ cạnh tranh bằng công nghệ mới và nộp một bản báo cáo 100 – 200 trang. Khi cần thiết, học viên có thể tiến hành làm thí nghiệm ở một phòng thí nghiệm nào đó gần nơi mình sinh sống, và nộp các dữ liệu qua internet. Rất nhiều học viên trực tuyến là người nước ngoài, thậm chí có một số thành viên đang trong quân đội, đóng quân tại Afghanistan và Iraq.  Bảo Nguyên lược dịch theo   http://www.nature.com/news/2011/110420/full/472280a.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục: 9 hay 12 năm?      Phần lớn ý kiến tại cuộc tọa đàm về đổi mới giáo dục do Tạp chí Tia Sáng và ĐH FPT tổ chức sáng nay, 9/10, đều nghiêng về hướng rút gọn bậc học phổ thông để bậc học này gọn nhẹ và linh hoạt hơn.&#160;    Cuộc tọa đàm Hướng tới một nền giáo dục thật sự đổi mới có sự  tham gia của các nhà nghiên cứu và nhà giáo dục lão thành như GS Hoàng  Tụy, GS Hồ Ngọc Đại, GS Văn Như Cương, nhà nghiên cứu Phạm Toàn…  Diễn giả chính của tọa đàm là TS Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng ĐH FPT, tác giả bài viết “Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới”* đăng trên Tia Sáng mới đây và thu hút được mối quan tâm của độc giả qua những đề xuất của ông đối với đổi mới cấu trúc hệ thống giáo dục đào tạo và mô hình tài chính sao cho gia đình nào cũng có thể yên tâm đầu tư giáo dục cho con cái.   Trình bày báo cáo đề dẫn, TS Lê Trường Tùng một lần nữa nhấn mạnh giáo dục là một dịch vụ xã hội đặc biệt, Nhà nước nên cung cấp một mô hình giáo dục hoàn toàn miễn phí. Tuy nhiên theo ông, với điều kiện của Việt Nam hiện nay, nguồn ngân sách của Nhà nước không đủ để làm điều đó, vì vậy, trách nhiệm của Nhà nước là tập trung nhiều vào hệ thống giáo dục phổ thông, còn lại xã hội hoá bậc giáo dục đại học một cách triệt để để thu hút đầu tư. Ở bậc đại học, Nhà nước chỉ nên hỗ trợ cho những nhân tài, sinh viên nghèo và một số ngành đặc thù khó thu hút doanh nghiệp tư nhân như công đoàn, lao động, các lĩnh vực xã hội…   TS Lê Trường Tùng cũng đưa ra một phương án mới với bậc học phổ thông chỉ còn 9 năm (5 năm tiểu học và 4 năm trung học), thay vì 12 năm. Sau khi học xong trung học, học sinh có thể vào cao đẳng hoặc vào thi vào đại học. Bậc cao đẳng cũng được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu tương đương với bằng trung cấp hiện nay.         Bằng cách nhìn hệ thống, GS Hoàng Tụy cho rằng, trước tiên, để đổi mới hệ thống giáo dục, phải đổi mới tư duy về sứ mệnh của giáo dục và hội nhập với hệ thống giáo dục của thế giới. “Chúng ta không thể ôm khư khư mãi cách làm giáo dục như bao nhiêu năm về trước, một nền giáo dục lạc hậu có thể khắc phục được nếu tăng tốc, nhưng một nền giáo dục lạc hướng so với thế giới thì mãi mãi không thể hội nhập được, không phát triển được… không nên coi giáo dục là một phương tiện để đào tạo ra những con người phục vụ xã hội theo một tư tưởng định trước”.               Theo ông, nên giảm số năm trong bậc học phổ thông, sau 9 năm học phổ thông, học sinh có thể vào cuộc sống hoặc dự bị lên đại học. Còn hệ thống giáo dục đại học, ông cho rằng nên học theo hệ thống giáo dục đại học hiện đại, tiên tiến của nước Mỹ.          Đồng ý với quan điểm cần cấu trúc lại bậc học phổ thông cho gọn nhẹ và xã hội hóa các bậc học cao hơn, GS Hồ Ngọc Đại cho rằng phải chia giáo dục phổ thông thành hai giai đoạn. Giai đoạn một có 6 năm, Nhà nước chi toàn bộ, kể cả tiền sách vở và “thiết thân với trẻ em như nước, như ánh sáng, như không khí”. Giai đoạn hai có 3 năm, nhà nước và cha mẹ học sinh cùng chia sẻ kinh phí. Hết bậc học phổ thông, người học phải tự đóng học phí.   Ở một khía cạnh khác, GS Văn Như Cương cho rằng cần lược bớt các kiến thức thừa và nên chú trọng giáo dục nhân cách cho học sinh để khắc phục tình trạng học sinh thiếu kỹ năng sống, kỹ năng lao động như hiện nay. “Lỗ hổng rất lớn của giáo dục hiện nay là chưa dạy được thế nào là trung thực, thế nào là giả dối cũng như học sinh thiếu kiến thức thực tế”.    Cùng có cách nhìn kiến trúc lại hệ thống giáo dục quốc gia, nhưng GS Trần Xuân Hoài lại đề xuất giữ nguyên số năm học phổ thông như hiện nay, và học sinh chỉ phải thi một lần khi hết bậc học phổ thông. Học sinh tốt nghiệp sẽ được cấp chứng nhận hoàn thành chương trình học.    Hướng tới một nền giáo dục “đào tạo ra những con người tự do”, nhà giáo Phạm Toàn cho rằng không nên lên kế hoạch hay bất kỳ mục tiêu khiên cưỡng nào, mà nên tập trung xây dựng phương pháp dạy học cung cấp kiến thức, kỹ năng tốt và một môi trường học tập tự do, tạo điều kiện cho người học lựa chọn nghề nghiệp hay con đường học vấn. Ông cho rằng, các bậc cha mẹ hãy tập làm quen, chấp nhận khả năng học sinh học hết phổ thông  không vào được đại học, hoặc khả năng tốt nghiệp đại học rồi nhưng vẫn thất nghiệp, coi đó như một trải nghiệm giúp chúng trưởng thành và tìm ra con đường “sống” đích thực của mình.  —  * http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5511    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục nhanh hơn?      Năm mới con Khỉ đã sang, khép lại năm con Dê sôi nổi với những sự kiện đổi mới giáo dục nước nhà. Trong khi dư luận vẫn còn mải tranh luận và bình luận về chính sách thi đại học kiểu mới, dự thảo đổi mới giáo dục phổ thông còn nhiều điều chưa hợp lý, hay con số giật mình ngót hai trăm nghìn cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, thì những dòng đổi mới giáo dục trên thế giới đang ầm ầm cuộn chảy.       Trong khi thế giới không dừng bước chân kiếm tìm những phương thức giáo dục mới, những công cụ giáo dục mới, những công nghệ với kì vọng thay đổi gốc rễ cách thức chúng ta học tập, thì người dân Việt Nam vẫn cần phải hết sức kiên nhẫn để vài năm nữa đề án đổi mới giáo dục phổ thông mang tiếng là “đổi mới toàn diện và triệt để” sẽ được thông qua và bắt đầu đi vào cuộc sống.  Trong thời gian người lớn bàn chuyện đổi mới, trẻ con đã kịp lớn lên và vẫn học theo chương trình cũ. Vì vậy, liệu có cách nào để đổi mới ngay lúc này, cho trẻ em của hôm nay, chứ không phải đi đâu xa tìm kiếm hay đợi vài năm nữa để thông qua một cú hích vĩ đại nào đó?  Đổi mới từ dưới lên  Thời đại có tính chất biến động từng ngày hiện nay đòi hỏi ở sự nghiệp đổi mới giáo dục một cách tiếp cận khác, giản dị hơn, ít tốn kém hơn, nhanh chóng hơn, kịp thời hơn. Nó cần phải bắt đầu từ người dân. Nói theo lối cũ là “xã hội hóa” hiểu theo nghĩa tích cực, nói theo mốt là “đổi mới từ dưới lên”. Như ngày xưa, chúng ta có “chiến tranh nhân dân”, thì cũng cần một tư duy “đổi mới từ người dân” như thế, chứ không phải và cũng không thể xây dựng một kế hoạch lớn vĩ đại làm thỏa lòng mọi tầng lớp lãnh đạo trong một thời gian đủ ngắn.   Đổi mới từ dưới lên có những hình thù nào? Là mở cửa để những sáng kiến và dự án cấp độ vi mô có cơ hội được nảy nở. Từ người trực tiếp đứng lớp, đến những nhóm xã hội dân sự, hay những startup công nghệ xông vào địa hạt giáo dục và mang lại những sáng kiến mới, thay da đổi thịt từng tí một cho đơn vị giáo dục mà nó tác động. Sự thay đổi không núp bóng những dự án hoành tráng này có khả năng triển khai sớm, với nguồn lực không lớn, nhưng tạo ra hiệu quả ngay lập tức, và qua năm tháng có thể tích tụ thành những thay đổi lớn lao. Thế giới không thiếu những bài học thành công từ những cải cách từ dưới lên như vậy.   Xoá bỏ tư duy bao cấp  Để cho ý tưởng về đổi mới từ dưới lên này có thể lan tỏa tới mọi tầng lớp của xã hội, điều khó khăn nhất phải vượt qua có lẽ là việc xóa bỏ tư duy bao cấp và ỷ lại trong giáo dục. Bấy lâu nay xã hội chúng ta vẫn quen với việc khoán trắng trách nhiệm giáo dục cho đầu não Bộ Giáo dục, đó quả đúng là một sự ỷ lại vĩ đại. Ngược lại, bộ vẫn bao sân đủ mọi chuyện trong giáo dục, từ chương trình, sách giáo khoa, đào tạo giáo viên, cho đến quy định cả nét chữ mà trẻ con cần phải tập viết ở lớp Một. Giáo dục mà có ra sao, tại tất ông bộ.   Ngày nay cần phải khác đi, và cũng có điều kiện để làm khác đi. Các nhóm xã hội dân sự cần xắn tay vào giải quyết những vấn đề giáo dục của nước nhà. Nếu thấy sách giáo khoa bất cập, hãy tự mình làm một bộ, như thể nhóm Cánh Buồm làm “ví dụ” suốt mấy năm qua. Nếu thấy chương trình giáo dục lạc hậu, hãy tổ chức một đội để tự xây dựng một chương trình khác. Nếu thấy trẻ con không có gì ngoài trò chơi trên điện thoại hay iPad, hãy khởi nghiệp để làm ra một phần mềm giáo dục hấp dẫn không kém cạnh tranh với “Angry Bird” hay những video clip nhí nhố trên YouTube. Nếu thấy nền giáo dục này thiếu sách và tài liệu tiếng Việt cho bồi dưỡng năng lực của giáo viên và nhà quản lí, hãy tổ chức lấy một nhóm dịch thuật hay biên soạn. Nếu giáo viên thấy không thể chịu được những bài giảng chán ngắt, có thể tìm kiếm những giải pháp khác thay thế hoặc bổ sung. Nếu trường học thấy cần phải bổ sung những kiến thức hay kĩ năng mới, có thể tổ chức những thay đổi cấp trường trong giờ chính khóa hoặc ngoài giờ. Nếu thấy những nhu cầu học tập chưa đáp ứng, các nhóm khởi nghiệp có thể đưa ra những giải pháp. Nếu thấy trẻ con thiếu trường học chất lượng tốt, hãy đầu tư một trường. Thay vì ngồi nhìn, chỉ trích, góp ý, hay chờ đợi, xã hội có thể nghĩ đến những “khả năng”, “cơ hội”, tìm cách để hiện thực hóa nó bằng hành động, để thay đổi từ quy mô nhỏ nhất. Đó là những cách tích cực hơn để thúc đẩy một cuộc đổi mới thực sự.   Về mặt chính sách, nhà nước cần bỏ tư duy bao cấp, để cho các cơ sở “nhiều cửa hơn”, để người dân “nhiều đất” hơn trong phát huy nguồn lực và trí tuệ sẵn có, góp sức vào công cuộc tạo dựng một nền giáo dục mới hiện đại hơn. Nếu ai chịu khó quan sát những hoạt động “ngoài giờ”, hoặc những hình thức giáo dục đội lốt các thể loại “câu lạc bộ” ở nhà trường phổ thông hiện nay, chúng ta có thể thấy có những chỗ nhà nước muốn bao cấp, muốn quản chặt cũng chẳng được. Vì vậy thay vì quản lý chi bằng phát triển một hệ thống giáo dục cởi mở. Thay vì chỉ tập trung đề xuất những cải cách lớn lao từ trên xuống, chúng ta có thể gây dựng một “hệ sinh thái đổi mới” với cơ cấu mở, cho phép mọi thành phần tham gia vào. Hệ sinh thái này có thể nên xoay quanh chữ “tự”: khuyến khích tự đổi mới từ dưới lên, khuyến khích sự tự giác vận động đổi mới ở các cấp, giáo viên và cơ sở giáo dục tự nâng cấp mình, hướng đến một tinh thần tự học bền lâu của cả trẻ em và người lớn. Dứt khoát từ bỏ đường lối bao cấp, kể cả trong tư duy và hành động, chính là nuôi dưỡng một tinh thần tự chủ rộng khắp, cũng là lúc “xã hội hóa giáo dục” đi vào thực chất.   Giao thoa với khởi nghiệp  Hiện nay phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam đang hết sức được chú ý, giới giáo dục không nên bỏ lỡ cơ hội tham gia vào quá trình này. Chúng ta có thể tham khảo những Khan Academy, Coursera, Code.org để làm ra những điều tương tự ở Việt Nam, cung cấp những cơ hội học tập mới cả trong và ngoài nhà trường. Ở ta hiện nay có rất nhiều startup với mong muốn thay đổi thế giới, trở thành tỉ phú trước tuổi 35, nhưng lại rất thiếu những ước mơ startup thay đổi cách học của người Việt. Cần những tác động về chính sách, từ giới truyền thông, và cả trong giới giáo dục để tạo ra sự giao thoa giữa làn sóng khởi nghiệp công nghệ và làn sóng đổi mới giáo dục, gia tốc thêm cho sự đổi thay của giáo dục. Với giáo dục số hóa và những công nghệ giáo dục đột phá, sự đổi mới với quy mô hàng triệu người sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với những phương thức cũ mà chúng ta đang cố gắng làm đi làm lại. Rõ ràng là các nhà đổi mới giáo dục không nên chậm trễ trong việc nắm bắt lấy cơ hội hòa nhập nhanh chóng với làn sóng công nghệ giáo dục toàn cầu hiện nay.  Các nhà nghiên cứu về cách thức ra quyết định chiến lược trong những hệ thống có độ phức tạp cao độ và khó đoán định cho rằng không thể có được quyết định tối ưu nhờ vào cách tư duy phân tích để tìm ra giải pháp tối ưu ngay từ đầu. Trong những môi trường và điều kiện phức hợp như tình hình giáo dục quốc dân, điều cần thiết là phải tạo điều kiện cho những sáng kiến được nảy nở, từ đó những kiểu mẫu tốt được phát hiện và được nhân giống. Một hệ thống tự-tổ-chức sẽ ưu việt hơn một hệ thống có tính chất kế hoạch hóa tập trung. May thay, việc tổ chức một hệ thống tự-tổ-chức như vậy mới chính là con đường mà chúng ta có thể xây dựng theo tinh thần “ở đây và bây giờ”.Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của những “chương trình lớn” mà Bộ Giáo dục cần phải triển khai, nhưng xã hội có lẽ cần được thoải mái hơn trong hành động, và cũng cần có trách nhiệm bớt ỷ lại vào những chương trình như vậy để xắn tay vào làm cái công việc mà mỗi người đều phải có trách nhiệm. Như tinh thần mà nhóm Cánh Buồm chủ trương: “mình không làm thì ai làm”.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục từ tinh thần tôn trọng sự khác biệt      Nhân tiến tới kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Tia Sáng (26/4/1991 – 26/4/2016), Ban biên tập Tia Sáng tổng hợp một số chân dung các cộng tác viên tiêu biểu có sự gắn bó sâu sắc với Tạp chí qua nhiều năm tháng.      Kỳ này, ngoài cụm bài khắc hoạ chân dung GS. Pierre Darriulat, người vừa được tôn vinh bằng Giải thưởng Phan Châu Trinh, chúng tôi còn gửi đến bạn đọc chân dung của GS. TSKH Hồ Ngọc Đại – Giám đốc Trung tâm công nghệ giáo dục (Bộ GD&ĐT), một trong số hiếm hoi những nhà giáo dục dành hầu như cả cuộc đời theo đuổi việc đổi mới giáo dục bậc tiểu học qua mô hình trường thực nghiệm. Và có thể nói, những quan điểm về giáo dục của ông được thể hiện khá đầy đủ qua những bài viết trên Tia Sáng từ cuối thập kỷ 1990 cho đến nay.   Bài viết dưới đây ghi lại câu chuyện kể về thời gian ông làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, nơi ông được làm việc với những bậc thầy của nền khoa học giáo dục Xô viết, được họ chấp nhận và tạo điều kiện để nghiên cứu, cho dù có những quan điểm đi ngược lại quan điểm của họ một cách công khai ngay tại phòng thực nghiệm, tại ngôi trường mà họ xây dựng lên.  Câu chuyện bắt đầu từ lời khuyên chân tình của GS dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn, khi tôi tâm sự là muốn có một nghề sư phạm thực sự bởi “Toán có thể nhập cảng được nhưng nghề sư phạm của Việt Nam thì không”. Lúc đó, ông ấy nói, “Nếu đã có gan đấy thì cậu nên làm từ đầu và đi học về tâm lý học”. Vì vậy, khi sang Liên Xô, tôi quyết định nghiên cứu tâm lý học.   Trong đợt các sinh viên Việt Nam sang Liên Xô học vào năm 1968, chỉ có tôi và anh Phạm Minh Hạc theo đuổi ngành tâm lý học. Tôi nhớ người “tiếp quản” chúng tôi là Viện sĩ A.R Luria (chuyên gia về tâm lý học thần kinh), khi mới gặp chúng tôi, ông ấy đã nói: “Đất nước các anh thế nào rồi cũng chiến thắng. Vì vậy, sau chiến thắng, đất nước các anh sẽ có hai việc phải làm, thứ nhất là chăm lo cho những người ở mặt trận trở về và cả thế hệ mới sinh ra, thứ hai là chữa trị những căn bệnh ở hệ thần kinh do chiến tranh gây ra.” Sau khi trò chuyện, ông quyết định giữ lại Phạm Minh Hạc, còn tôi, ông gửi sang học tập dưới sự hướng dẫn của hai nhà tâm lý học D.B. Elkonin và V.V. Davydov. Với sự phân công này, tôi sang trường thực nghiệm 91, nơi mà sau tôi mới biết là trường thực nghiệm duy nhất của Viện Hàn lâm Giáo dục Liên Xô do chính hai viện sỹ này điều hành. Nét đặc biệt của trường thực nghiệm 91 là được nhà nước trao quyền tự chủ về quản lý nên chương trình dạy và học cũng độc lập hoàn toàn với chương trình hiện hành của Liên bang Xô viết và nếu ban giám hiệu trường đề xuất vấn đề gì, yêu cầu gì cũng được các cấp quản lý đáp ứng, đó là vào thời điểm những năm 1960.   Tinh thần cởi mở và tôn trọng sự khác biệt  Để thực hiện những công việc mà hai ông thầy D.B. Elkonin và V.V. Davydov giao cho, hồi đó tôi đã phải làm việc và nghiên cứu tài liệu một cách cần mẫn tại Thư viện Lenin. Do bám trụ hằng ngày ở đó, tôi trở thành một độc giả đặc biệt và được người phụ trách thư viện ưu tiên miễn mọi thủ tục. Cứ nghiên cứu như vậy thì tới năm 1970, tôi viết xong luận án theo đề tài mà ông Davydov giao. Khi đó có một sự việc tình cờ xảy ra nhưng lại có sức ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ về đổi mới giáo dục của tôi, đó là buổi thuyết trình mang tên “Chuyên đề về phép toán và lý thuyết nhóm do tác giả trình bày”. Tham dự xong tôi mới thấy không ngờ có cái ví dụ hay đến thế mà lại đơn giản đến thế về lý thuyết toán, vậy là, lý thuyết đã có rồi, vấn đề là bây giờ phải nghĩ cách làm như thế nào để đưa nó đến với trẻ em. Thế là, với sự hồn nhiên của tuổi trẻ, ngay lập tức tôi đến gặp ông Elkonin và mở màn, “Ông ơi, ông đã sai rồi!”. Ông không có phản ứng gì, chỉ thản nhiên bảo, “Thế à, tôi không biết là tôi sai ở chỗ nào đấy”. Lúc ấy, tôi mới bình tĩnh đáp, “Thật ra cũng không hẳn là sai nhưng có sự vênh nhau giữa thực nghiệm và lý thuyết của ông. Nếu như thực nghiệm của ông đúng thì lý thuyết của ông viển vông quá, mà nếu lý thuyết của ông đúng thì thực nghiệm của ông thấp quá. Theo tôi thì lý thuyết của ông đúng nhưng nên thay phần thực nghiệm đi”. Ông Elkonin hỏi dồn, “Vậy ai thay?”, tôi liền đáp một cách hồn nhiên, “Tôi thay”. Trước thái độ nhiệt tình ấy của tôi, ông Elkonin bảo, “Thế thì anh về viết dự án đi, ngay trong mấy tháng hè nhé”. Trong mấy tháng hè, tôi miệt mài ngồi viết dự án, nghiền ngẫm về cách thức dạy toán trong trường phổ thông. Tôi nhận thấy rằng, người ta vẫn bắt đầu với các phép cộng trừ nhân chia rồi tiến lên lũy thừa, khai căn, vi phân, tích phân, mãi đến năm thứ ba đại học về toán chuyên ngành mới dạy phép toán đại số và lý thuyết nhóm. Theo tôi, ngay từ đầu lớp 1 đã có thể dạy được phép toán đại số cho học sinh. Trước ý tưởng này của tôi, ông Davydov (người trẻ hơn ông Elkonin) nhận xét, “Anh Đại ơi, cực đoan và ‘cách mạng’ vừa phải thôi. Nếu việc dạy phép toán đại số ngay từ lớp 1 của anh mà thất bại thì chẳng ai muốn gửi con vào trường thực nghiệm của chúng ta nữa. Anh có thể đưa nội dung đổi mới này vào chương trình lớp hai và bắt đầu vào tháng chín tới nhé”. Tôi làm theo lời khuyên của ông và không ngờ đã thành công. Buổi học đầu tiên khai mạc về chương trình mới đông người tham dự một cách lạ lùng. Sau giờ tan học, ông Elkonin tới vỗ vai tôi bảo, “Điều đó dự báo là anh có thể thành công đấy”.   Được lời động viên đó và thực nghiệm thành công, tôi đủ tự tin viết bài báo chuyên luận về việc dạy phép toán đại số cho học sinh lớp 2 và muốn gửi đăng tạp chí Tâm lý học của Liên bang, tạp chí khoa học uy tín bậc nhất thời đó về tâm lý học. Ngặt nỗi theo quy định của tạp chí này, bài báo phải có một viện sỹ giới thiệu, còn nếu tác giả tự gửi đến thì không được đăng. Vì vậy, tôi tới gặp viện sỹ A.R Luria và trình bày vấn đề. Ông ấy hỏi, “Anh đã viết kỹ và xem lại kỹ chưa?”. Thấy tôi đáp là đã làm như vậy, ông ấy liền viết dòng chữ “Đăng bài này” và ký vào bản thảo. Sau một tuần, tòa soạn phản hồi, bài báo sẽ được đăng nhưng theo quy định của tạp chí, tác giả phải rút gọn 3 trang, từ 32 trang xuống 29 trang. Tôi còn băn khoăn chưa biết nên rút gọn ở chỗ nào nên tới hỏi viện sỹ Luria và xin để nguyên bài báo thì tốt hơn. Nghe vậy, ông ấy liền ghi dòng chữ lên bản thảo: “Cứ thế mà đăng”.  Khi được xuất bản, bài báo đã gây xôn xao dư luận Liên Xô về việc dạy phép toán đại số cho học sinh tiểu học. Vì vậy, hội đồng khoa học Tâm lý học trường Đại học Tổng hợp Lomonosov đã mời tôi đến trường trình bày về vấn đề này. Hồi bấy giờ, không khí học thuật ở Liên Xô rất cởi mở nên tôi thoải mái trình bày vấn đề mà không phải e ngại, và người ta đặt câu hỏi gì thì tôi giải đáp một cách thẳng thắn. Cuối buổi, ông chủ tịch hội đồng hỏi tôi, “Sau công trình này, anh còn làm gì nữa không?”. Tôi đáp hiện chưa làm thủ tục nào về luận án PTS. Ông chủ tịch liền nói trước hội đồng, “Cả chiều nay, chúng ta đã được nghe anh Đại nói như một nhà khoa học đích thực rồi, việc gì bắt anh ta làm học trò nữa. Vì vậy, tôi đề nghị miễn thi cho anh ấy”. Vậy là môn nào tôi cũng được điểm 5, dù không phải thi.   Với quan điểm đầu tư tối đa cho phát triển khoa học, Nhà nước Liên Xô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà khoa học được làm việc một cách độc lập mà không phải chịu bất cứ sự phê duyệt nào từ trên xuống về chương trình nghiên cứu. Nhờ vậy khi tôi bắt tay vào thực hiện đề tài, Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô đã cho tám người hỗ trợ công việc, trong đó có thư ký riêng, người đánh máy, trợ lý, nghiên cứu sinh… Đặc biệt, sau khi được cả ông Elkonin và Davydov ủng hộ, tôi đã triển khai triệt để những quan điểm đổi mới của mình mà không “bị” hai ông thầy này can thiệp vào bất cứ vấn đề gì về chuyên môn. Có một kỷ niệm mà tôi vẫn còn nhớ mãi, một lần nhận giáo án lớp hai của tôi, cô giáo trực tiếp giảng dạy trên lớp phản đối: “Là nhà khoa học, anh cứ toàn bàn chuyện trên trời, còn tôi là cô giáo, tôi biết con em tôi có thể tiếp thu được những gì chứ. Ông cứ yêu cầu thế, tôi không dạy đâu”. Nghe thấy tôi và cô giáo trao đổi qua lại khá căng thẳng, ông Davydov kéo tôi ra và nói, “Anh Đại ơi, nếu về sau có những chuyện không vui tương tự như thế này thì để tôi làm hộ anh nhé”. Tôi đáp “Ông yên tâm, tôi sẽ tự đứng lớp”. Ông Elkonin đã đến dự giờ tôi giảng và bảo: “Anh cho tôi xem nội dung bài giảng của anh”. Sau khi dự giờ 15 phút, ông Elkonin đề nghị thay tôi làm tiếp. Ngồi ở phía dưới theo dõi, tôi thấy ông ấy giảng hay lắm, nhẹ nhàng và dí dỏm, khiến cho cả lớp sôi động hẳn… Xong tiết học, ông ấy ra vỗ vai tôi an ủi, “dẫu sao anh cũng có khiếu sư phạm đấy”.   Từ những sự góp ý tinh tế và đúng đắn như vậy của hai ông thầy, tôi đã viết một luận án TSKH hoàn toàn độc lập và nét đặc biệt của luận án này là không có chương mục cổ điển, không có phần mở đầu, giả thuyết, triển khai, kết luận… theo kết cấu của một luận án thông thường. Tôi gửi luận án tới ông Galpenin, người đề xướng ra học thuyết tâm lý học về giáo dục. Mấy hôm sau, ông gặp tôi: “Anh Đại này, anh mang luận án cho tôi lúc nào nhỉ?”. Tôi nhớ khoảng 7, 8 giờ tối gì đó. Ông ấy cười: “Tôi đọc từ đó tới 2 giờ sáng, nên vợ tôi mới thắc mắc ‘ông đọc gì vậy, tiểu thuyết à?’, tôi đáp ‘đại loại như vậy’. Anh viết hấp dẫn lắm, có văn lắm”. Thực ra tôi viết luận văn một cách ngẫu hứng và lần đầu tiên trong “lịch sử viết luận án” của mình, tôi đã xưng tôi, phương pháp của tôi, nghĩa là tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mình viết ra.  Cũng như đợt làm luận án PTS, việc làm một luận án TSKH “kiểu mới” của tôi cũng để lại nhiều kỷ niệm, trong đó đáng nhớ nhất là việc “đụng độ” về quan điểm với ông Makusevich, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô. Tôi đã phê phán khá quyết liệt ông ấy trong luận văn của mình và “ác một nỗi” là ông phó của ông Makusevich lại được chọn làm phản biện. Tôi cũng có phần lo lắng nhưng rồi nỗi lo lắng ấy tiêu tan khi được vị phản biện mời đến nhà. Đến nhà, ông ấy mở cửa và đưa hai tay lên đầu. Trong lúc tôi vẫn còn ngơ ngác thì ông ấy nói ngay “Anh đúng! Nhưng tôi có lời khuyên như thế này, ở Paris, London, New York, người có quan điểm giống Makusevich thì nhiều lắm, anh có thể lấy họ để phê phán, hơn là phê phán Makusevich”. Tôi bình tĩnh trả lời: “Tôi cũng biết như vậy nhưng ngày tôi bảo vệ luận án thì những người đó khó đến dự, trong khi Makusevich ở ngay Moskva”.   Những đổi mới về phương pháp giáo dục mà tôi nêu trong luận văn không chỉ mang tính lý thuyết, bởi tôi đã chứng minh bằng thực nghiệm trong thực tế giảng dạy tại trường thực nghiệm số 91. Vì thế các ông thầy đã trao đổi: “Chúng tôi có thể nói rất hay nhưng chưa làm được, còn anh thì khác”. Là người thực nghiệm, tôi thực hiện những điều tôi nêu ra và chỉ nói về những điều mình đã làm được. Dù luận văn của tôi viết hoàn toàn tự do nhưng tất cả số liệu, cách xử lý vấn đề đều có cơ sở cứ liệu, có làm như vậy mới thuyết phục được các giáo sư và hội đồng khoa học. Giờ đây tôi vẫn nhớ lời nhắn nhủ của ông thầy trẻ Davydov, “Anh bạn trẻ ơi, nghiên cứu về tâm lý học không phải là làm những việc gì cao sang mà nên bắt đầu từ những việc đơn giản nhất và thực hiện cùng trẻ em”. Hồi đó, một ông viện sỹ bảo tôi, “Con tôi đang là học trò của anh, nó sẽ là nhà phản biện về phương pháp giáo dục mới của anh đấy”.  Tôi biết rằng, phương pháp của mình bước đầu đã được trẻ em, phụ huynh học sinh, giáo viên đứng lớp đến các vị giáo sư, Hội đồng khoa học tâm lý học giáo dục Liên Xô kiểm chứng. Tôi chỉ mong mỏi sớm trở về để có thể áp dụng nó ngay tại môi trường giáo dục Việt Nam với hy vọng con em mình sẽ được học tập và tư duy theo một cách khác đi, hiện đại hơn và tích cực hơn.   ***  Nhìn nhận lại cả cuộc đời nghiên cứu về giáo dục và thực hiện đổi mới giáo dục tại Việt Nam, tôi cảm thấy biết ơn nền giáo dục Xô viết đã khơi nguồn hiểu biết và đem lại cho tôi những quan điểm nghề nghiệp mới. Quãng thời gian học tập và nghiên cứu ở Liên Xô cũng là những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời. Sau này, tôi có thể làm rõ hơn, nói rõ hơn những phương pháp đổi mới giáo dục nhưng những ý tưởng thì bắt nguồn từ những năm tháng đó.         Nghiên cứu triết học để làm giáo dục tốt hơn   Không  chỉ được nghiên cứu và áp dụng phương pháp giáo dục mới trong một bầu  không khí cởi mở như vậy, tôi còn được may mắn làm quen và học hỏi được  rất nhiều từ những bộ óc đáng kính của nền học thuật Xô viết. Một người  trong số đó là nhà nghiên cứu triết học Ilencov, ông ấy khuyên tôi: “Anh  Đại này, anh sẽ có trách nhiệm với đất nước anh, ít nhất về mặt giáo  dục. Nếu muốn hoàn thiện được trách nhiệm đó thì ngoài tâm lý học, anh  cần phải nghiên cứu cả triết học. Anh nên đọc bốn tác giả: Plato, E.  Kant, G. W. F. Hegel, và K. Marx. Khuyên đọc bốn nhà triết học này đã  hay, nhưng còn hay hơn là khuyên cách đọc: anh có thể đọc bất cứ ai cũng  được, đọc bất cứ tác phẩm nào cũng được, đọc bất cứ trang nào cũng được  và đọc vào lúc mà anh không biết làm gì như đang đợi xe buýt, ở nhà ăn,  xếp hàng…. Nếu đọc không hiểu thì bỏ, mở sang trang khác đọc”. Nghe lời  khuyên lạ lùng này, dù vẫn băn khoăn, nhưng cuối cùng tôi vẫn làm theo.  Thoạt đầu, tôi đọc Marx vì thấy Marx gần gũi nhất với mình. Đọc Marx  thấy chỗ nào ông phê phán Hegel thì tôi tìm hiểu xem Hegel nói gì. Rồi  cũng vì đọc Hegel, tôi mới phát hiện ra là ông cũng phê bình Kant và tôi  truy tìm xem vì sao Kant lại bị phê phán… Cứ như vậy, tôi đã có thể xâu  chuỗi các ý niệm ngược dòng thời gian từ Marx đến Hegel, Kant, Pluto và  ngược lại. Cách học này đã đem lại nhiều thú vị vì đây là lần đầu tiên,  tôi nghiền ngẫm nghiên cứu không phải để đi thi mà để nâng cao nhận  thức của chính mình.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Phần 1: Thế giới thay đổi – Giáo dục thay đổi      Loạt bài sau đây về giáo dục trong thời đại mới được trích ra từ những quan điểm của nhiều chuyên gia giáo dục nổi tiếng trên thế giới, có trong tài liệu huấn luyện của chương trình PIL-Microsoft. Hấu hết các chuyên gia đều khẳng định rằng xã hội đã thay đổi rất nhiều bởi tiến bộ công nghệ, thế mà giáo dục của thế giới thì lại tụt hậu không đáp ứng được đòi hỏi mới. Vì vậy cần thiết có sự thay đổi căn bản trong cách nghĩ và cách quan niệm của toàn thể đội ngũ những người làm về giáo dục trên toàn thế giới. Trong bối cảnh đó giáo dục Việt Nam còn có những đặc thù riêng cần được nhìn nhận rõ.  Người ta phải nhìn lại sự thay đổi của loài người, nhìn lại bản chất việc học tập và sự phát triển của hệ thống giáo dục, để từ đó thấy ra những việc cần thực hiện, những điều cần kíp phải tiến hành ngay để cho giáo dục đáp ứng được với đòi hỏi của thời đại.    1. Thế giới thay đổi  Chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi thường xuyên, và tốc độ thay đổi ngày một tăng cao do những tiến bộ và tác động của công nghệ đem lại. Lịch sử loài người cho thấy rõ sự tăng tốc thay đổi này diễn ra như thế nào.                              Con người bắt đầu tạo ra thay đổi từ việc biến đổi và di chuyển vật chất. Vật chất được người này biến đổi, chế tạo và thông qua buôn bán, di chuyển mà chuyển giao cho những người khác. Phương tiện di chuyển vật chất  đã tiến hoá nhanh chóng qua nhiều hình thái: từ dùng sức người, dùng đôi chân đi bộ chuyển sang dùng sức con vật chuyên chở, dùng  tầu bè – dùng sức gió đẩy thuyền đi. Tốc độ di chuyển do vậy tăng lên.                      Việc thay đổi về cách biến đổi, sử dụng và chuyển tải năng lượng là một nhân tố khác làm cho sự thay đổi trong xã hội con người được tăng tốc lên. Từ năng lượng cơ bắp của con người hay con vật, nhiều dạng năng lượng tự nhiên khác đã được khoa học khám phá ra và công nghệ giúp khai thác sử dụng: than đá, hơi nước, gió, điện, nguyên tử… Thuyền chạy bằng hơi nước và động cơ đốt trong ra đời đánh dấu kỉ nguyên máy móc hoá, tự động hoá các phương tiện di chuyển.  Việc thay đổi về cách thức sử dụng và truyền bá thông tin và tri thức làm cho xã hội con người còn biến chuyển nhanh hơn nữa. Con người lan tỏa trên thế giới và làm xuất hiện của các nền văn minh đầu tiên của nhân loại dựa trên thông tin và tri thức truyền khẩu, trao đổi trực tiếp qua hoạt động cụ thể. Chữ viết ra đời góp phần vào việc truyền bá tri thức và kinh nghiệm của từng cá nhân cho cả động đồng. Xã hội hình thành cơ cấu chuyển phát tin tức cho các cá nhân qua việc gửi thư. Hơn nữa, việc truyền và phổ biến tri thức và kinh nghiệm được thực hiện qua chữ viết và qua hệ thống giáo dục. Do đó những thay đổi trong xã hội đã xuất hiện với việc thay đổi cách thể hiện và truyền tải thông tin.                    Cách mạng công nghiệp cho phép sáng tạo của con người kết hợp vật chất và năng lượng thành máy móc để chế tạo ra các sản phẩm vật chất với số lượng lớn. Khoa học và công nghệ phát triển cho phép thực hiện truyền điện tín đầu tiên qua khoảng cách xa từ đầu thế kỉ 19. Thế kỉ 20 chứng kiến nhiều phát minh công nghệ cho phép chuyển tải nhiều dạng thông tin trực tiếp tới từng người: radio ra đời truyền tiếng nói tới cho mọi người, biểu diễn và truyền thông tin âm thanh. Truyền hình cho phép các thông tin và hình ảnh được truyền trực tiếp tới từng cá nhân trên phạm vi toàn thế giới.  Sự phát triển của công nghệ đã làm cho máy tính phát triển và được phổ cập trong xã hội. Đi song hành với điều đó là việc hình thành mạng liên lạc viễn thông toàn cầu, cho phép trao đổi thông tin qua mạng máy tính. Cách mạng thông tin và tri thức đang diễn ra với tốc độ nhanh đang đưa xã hội loài người vào thời kì phát triển mới. Khối lượng và tốc độ trao đổi thông tin tăng lên nhanh chóng làm nền tảng để tích lũy và chuyển giao kho trí tuệ của cả nhân loại cho từng người trên toàn cầu. Điều này thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển.                      Các tiến bộ của xã hội đòi hỏi con người của thời đại mới phải có các khả năng mới: học tập, giải quyết vấn đề, trao đổi, làm việc theo tổ, làm công dân, làm lãnh đạo. Những khả năng mới này chưa được hệ thống giáo dục cổ điển đề cập tới và học sinh chưa được trang bị những tri thức và kĩ năng cần thiết để đáp ứng đòi hỏi mới. Xã hội phải tiến hành đào tạo lại người lao động sau khi tiếp nhận các học sinh đã hoàn thành việc học tập trong trường học. Tiến bộ xã hội đang gây sức ép buộc hệ thống giáo dục phải có những thay đổi để có thể cung cấp những con người phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại.                 2. Học sinh thay đổi  Cơ hội học tập cho trẻ em đã tiến hoá qua các hình thái xã hội. Trong hầu hết lịch sử nhân loại, cơ hội học tập không xảy ra trong trường học. Trẻ em thời săn bắn hái lượm học bằng cách quan sát và bắt chước người lớn. Trong thời xã hội nông nghiệp, trẻ em vẫn chưa tới trường và vẫn học bằng quan sát và bắt chước người lớn. Xã hội thủ công nghiệp và công nghiệp đặt ra những yêu cầu mới về con người có kĩ năng làm việc phối hợp nhau.  Đòi hỏi của xã hội phát triển là mọi người mới đều cần phải có một nghề nào đó để kiếm sống. Những người trẻ tuổi học nghề bằng cách làm việc bên cạnh thầy trong nhiều năm. Việc đào tạo như vậy thực chất là thông qua thực hành và áp dụng. Tri thức và kĩ năng của người học thu được qua quan sát và tương tác với chuyên gia. Việc học tập chủ yếu thông qua phạm sai lầm, người học quan sát chuyên gia làm và tự sửa các sai lầm của mình.                      Khi xã hội phức tạp lên, xuất hiện các hình thái trường học. Tại Hy Lạp xuất hiện các trường của Platon, Aristotle…, mang tính hàn lâm, dạy về các lí luận khoa học và triết học, chưa dành cho học sinh nhỏ tuổi, không có bài tập và không có thi cử. Tại phương Đông các đạo tràng được hình thành rất sớm để tạo môi trường phát triển tâm linh cho một số người đi vào tìm hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống, đa phần là người lớn. Còn với đa số dân chúng ở phương Đông thì có các trường học xuất hiện để dạy về văn học, lịch sử, thơ ca… Có hình thức các lớp học cho trò nhỏ có thầy dạy ở từng địa phương và có tổ chức thi cử quốc gia để tuyển chọn người vào bộ máy quan lại.  Học sinh trong thời đại hiện nay đang thay đổi khác hẳn với các học sinh thời trước. Học sinh thời đại số thức, thời mạng, quen làm nhiều việc một lúc, đồng thời nghe nhạc, nói điện thoại và dùng máy tính. Họ mang tính chất tự học và tự tìm hiểu vấn đề nhiều hơn. Học và chơi trò chơi trên máy tính thực tế trở thành một phần của việc giáo dục con người.  Thế giới đang thay đổi và điều này được mọi người thừa nhận. TS. Peter Vaill, giáo sư về quản lí, Đại học Antioch nhấn mạnh: “Trong thế giới làm việc ngày nay, chúng ta phải giải quyết với việc tăng vùn vụt những thay đổi”. Những thay đổi đó tạo ra các yêu cầu và cơ hội học tập mới cho mọi người. TS John Dewey nói: “Việc đi học cần được xem như bản thân cuộc sống”. TS John Seely Brown bình luận: “Công nghệ mới đã tác động lên sự ưa thích học tập của học sinh”.  3. Tiến hóa của hệ thống giáo dục  Xã hội hiện đại đòi hỏi các công dân phải có những tri thức tối thiểu để tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội. Đó là các tri thức tối thiểu về đọc, viết, làm tính đơn giản, quyền công dân và giá trị đạo đức mà học sinh phải biết. Các trường công ra đời để đáp ứng cho yêu cầu này trong việc dạy cho học sinh những yêu cầu tối thiếu của xã hội.  Xã hội cần phải cung cấp các cơ hội học tập cho số đông người mới lớn và do đó xã hội đã chấp nhận giáo dục là một thành tố quan trọng cần được chính phủ chăm nom phát triển. Tuy nhiên nhấn mạnh chủ yếu của xã hội là áp đặt một số hiểu biết và tri thức nhất định lên học sinh. Hệ thống giáo dục lấy thầy là người đại diện cho việc cung cấp tri thức, học sinh là người chấp nhận thụ động khối lượng tri thức do thầy chuyển giao. Các trường công đã xuất hiện cùng với việc nhà nước đầu tư cho hệ thống giáo dục và phát triển trường học xem như  hạ tầng cơ sở cần thiết của xã hội.  3.1 Hệ thống giáo dục phổ thông  Xã hội hình thành cơ chế giáo dục chuyên môn để dạy các tri thức nghề nghiệp và tri thức giao tiếp xã hội, các chuẩn mực đạo đức. Cơ chế nhà trường phổ thông xuất hiện dựa trên việc biến đổi mô hình trường học cổ điển, hàn lâm của người lớn, trở thành nơi dạy học cho học sinh nhỏ tuổi. Bởi vì không thể có nhiều thầy thực giỏi và có tầm cỡ cho nên các trường phải sử dụng các thầy giáo đã được đào tạo chính qui và thống nhất dùng giáo trình đã được những người có kinh nghiệm soạn ra. Các yếu tố khoa học được đưa vào các giáo trình dạy học. Xu hướng dạy các tri thức hàn lâm xuất phát từ sự phát triển của khoa học đã dần trở nên chiếm ưu thế trong một thời gian dài, khi mà trình độ phát triển công nghệ của xã hội còn thấp.     3.2 Thay đổi mục đích giáo dục                   Mục đích giáo dục của thế kỉ hai mươi mốt là rất khác với mục đích của các thời trước. Sự dịch chuyển này là quan trọng và được cần lưu tâm khi xem xét tới những lời phàn nàn rằng trường học đang “kém đi”. Trong nhiều trường hợp các trường dường như vẫn vận hành như cũ, nhưng thách thức và trông đợi của xã hội đã thay đổi triệt để.  Trong các xã hội phương Đông thời xưa, mục đích của giáo dục là cung cấp các tri thức văn chương và nguyên lí đạo đức để đào tạo người ra làm quan cai trị dân. Việc dạy học ban đầu nhằm vào việc dạy viết chữ, đọc chữ, và về sau là học các văn bản thánh hiền, các pho sách được coi như những kinh sách chính dạy làm người, dạy đối nhân xử thế. Tri thức trong mối quan hệ xã hội và thái độ với con người được nhấn mạnh hơn là tri thức về khoa học, về tự nhiên. Việc học nghề trong xã hội chủ yếu được thực hiện qua truyền khẩu và qua thực hành, không đi sâu vào lí thuyết.                      Mục đích của trường học Châu Âu vào đầu thế kỉ 19 có khác hơn, và có xu hướng đi theo sự phát triển của khoa học và công nghệ. Việc dạy học tập trung vào cơ chế viết khi thầy giáo đọc chính tả, truyền các thông điệp bằng lời thành dạng viết ra. Mãi đến giữa thế kỉ 19 việc viết mới bắt đầu được dạy ở mức độ phổ cập ở hầu hết các nước Châu Âu, và học sinh bắt đầu được yêu cầu soạn bài văn của mình. Cho dù vậy thì việc dạy viết chủ yếu vẫn nhằm vào việc cho trẻ em khả năng bắt chước sát với dạng văn bản rất đơn giản. Mãi cho tới những năm 1930 mới nổi lên ý tưởng về việc học sinh phổ thông cơ sở cần phải biết tự diễn đạt suy nghĩ của mình qua việc viết. Gần đây nhiều trường coi việc phân tích và diễn giải điều học sinh đã được đọc là yêu cầu chính. Về tổng thể, định nghĩa về học vấn chức năng đã thay đổi từ khả năng kí tên sang đọc thông tin.  Vào đầu thế kỉ 19, thách thức của việc cung cấp giáo dục quảng đại đã được nhiều người coi như tương tự với sản xuất hàng loạt trong các nhà máy. Những người quản trị trường học đều hăm hở dùng cách tổ chức “khoa học” của nhà máy để cấu trúc lớp học hiệu quả. Trẻ em được coi như vật liệu thô cần được các công nhân kĩ thuật (thầy giáo) xử lí hiệu quả để đạt tới sản phẩm cuối cùng. Cách tiếp cận này định phân loại vật liệu thô (trẻ em) sao cho chúng có thể được xử lí bằng cách nào đó như trong dây chuyền lắp ráp. Giáo viên được coi như công nhân có việc làm là thực hiện các chỉ thị từ cấp trên của họ – những chuyên gia lão luyện về trường học (các nhà quản trị và nhà nghiên cứu).  Việc mô phỏng tính hiệu quả nhà máy đã thúc đẩy thêm sự phát triển các phép kiểm tra được chuẩn hoá để đo “sản phẩm,” công trình lao động bàn giấy của các giáo viên, để lưu giữ các bản ghi lại về chi phí và tiến bộ (thường là chi phí cho việc dạy), và về “việc quản lí” của các cấp lãnh đạo quận, sở, những người có rất ít tri thức về thực hành giáo dục hay triết lí. Nói tóm lại, mô hình xưởng máy đã ảnh hưởng tới thiết kế chương trình, bài giảng và cách đánh giá trong trường học. Và ảnh hưởng đó còn kéo dài tới tận ngày nay.  3.3 Yêu cầu đối với giáo dục hiện đại  Giáo dục hiện đại đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội hiện đại. Mô hình trường học theo kiểu xưởng máy của thế kỉ trước không còn phù hợp nữa. Việc học tập của học sinh không thể là thụ động tiếp thu bài giảng của giáo viên mà phải là sự tham gia tích cực vào các hoạt động tập thế, theo dự án, để có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất và xã hội sau này.  Ngày nay, học sinh cần nắm rõ trạng thái tri thức của mình và phải xây dựng nó, cải tiến nó, và ra quyết định trong việc đối diện với sự không chắc chắn của môi trường. Hai khái niệm về tri thức đã được John Dewey (1916) chỉ ra là việc nắm vững văn hoá và sự tham dự vào các quá trình hoạt động thực tế, như vẫn được diễn tả bởi từ “làm”. Xã hội quan niệm học sinh tốt nghiệp là người có thể nhận diện và giải quyết vấn đề và có đóng góp cho xã hội trong cuộc đời họ – những người thể hiện phẩm chất của “chuyên gia thích ứng”. Việc đạt tới tầm nhìn này đòi hỏi phải tư duy lại điều đã được dạy, cách các giáo viên giảng dạy và cách đánh giá học sinh học thế nào.                 4. Quan điểm giáo dục thay đổi  4.1 Quan điểm dạy học cổ điển  John Taylor Gatto nhận xét trong cuốn sách Lịch sử ngầm của giáo dục Mỹ, “giáo dục phổ thông ban đầu làm trống rỗng học sinh”. Đó là việc tách rời học sinh ra khỏi công việc thường lệ của xã hội cho tới khi học sinh đã học xong hệ thống tri thức do người lớn soạn thảo, theo quan điểm hàn lâm. Học sinh được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số thầy giáo cho, vì vậy không thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai của mình, sự đóng góp của mình. Việc đánh giá bằng điểm số này được thực hiện thường xuyên và công khai. Học sinh được hệ thống giáo dục và gia đình theo dõi liên tục từ sáng sớm tới tối mịt, không có thời gian và không gian riêng tư. Thời gian trong ngày của học sinh bị trút đầy bởi các hoạt động do nhà trường và thầy giáo ấn định.  Quan điểm giáo dục cổ điển này thực tế đã tạo ra những học sinh thiếu năng động và linh hoạt trong cuộc sống, thiếu nhiều kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Nhiều kĩ năng làm việc liên con người, cộng tác trong các nhóm lao động thực tế rất cần cho xã hội vẫn chưa được đưa vào huấn luyện cho học sinh. Nhiều kĩ năng truy tìm tri thức mới có trên thế giới chưa được giới thiệu cho học sinh. Sự tách rời giữa những thành tựu mới đang được sử dụng trong xã hội với những tri thức học sinh được trang bị trong trường đã dẫn tới việc xã hội phải mất thêm thời gian đào tạo lại người lao động trong các cơ sở sản xuất.  4.2 Mục tiêu của học và dạy hiện đại  Betty Stricker, giáo sư tại đại học Vanderbilt nêu ra mục tiêu của học và dạy hiện đại: “Mục tiêu của  học viên là trở thành nhà chuyên môn có hiệu quả trong các công việc mà thực tế yêu cầu.” TS Peter Vaill, GS Đại học Antioch thì nhấn mạnh: “Mục tiêu quan trọng của giáo dục là giúp học sinh trở thành chuyên gia thích ứng”.  Chuyên gia thích ứng là gì? Khái niệm về chuyên gia thích ứng cung cấp một mô hình quan trọng cho việc học thành công. Chuyên gia thích ứng là người có khả năng tiếp cận tới những tình huống mới một cách linh hoạt và học trong cả đời mình. Họ không chỉ dùng điều mình đã học, họ mang khả năng siêu nhận thức, tức là tự nhận thức chính việc học tập của mình, và thường xuyên xem xét mức độ chuyên gia của mình và cố gắng vượt ra ngoài các mức độ đó. Họ không đơn giản cố gắng làm cùng một điều một cách hiệu quả hơn; họ cố gắng làm mọi thứ tốt hơn.  Nghiên cứu từ khoa học học tập cho biết: việc tổ hợp của tri thức, kĩ năng và thái độ là điều cần thiết cho sự thành công trong thế kỉ 21. Tri thức chuyên gia thích ứng là việc biết cách giữ cân bằng giữa tính hiệu quả công việc và tính canh tân, đổi mới công việc.  4.3 Học tập kiểu thích ứng  Tri thức được hệ thống hóa giúp ta hiểu và suy diễn, do đó làm cho ta hiệu quả hơn. Tuy nhiên vấn đề chính là phải thích ứng với tình huống mới chứ không chỉ áp dụng những điều đã được học. Việc học tập không theo kiểu bắt chước ngu xuẩn, không đi theo cách thức làm mọi việc đã quen thuộc trước đây mà đi theo cách làm phù hợp thực tế là con đường đưa tới tri thức mới.  Học tập kiểu thích ứng chính là quá trình buông bỏ những giả định cũ để giúp cho việc xác định không gian vấn đề mới. Nhưng việc buông bỏ các ý tưởng, niềm tin và lệ thường mà chúng ta đã yêu mến và dùng thời gian lâu thường là cực kì khó khăn. Đi theo những cái mới thường đòi hỏi người ta phải buông bỏ kĩ năng và tri thức cũ đã thu được trước đó để dấn thân vào những lĩnh vực mình còn chưa biết và khám phá ra những tri thức mới.  4.4 Quan điểm dạy học: Dạy theo giáo án và dạy sáng tạo  Quan điểm dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên trong tổ chức học tập cho học sinh. Giáo án của giáo viên chính là bản kế hoạch trung tâm cho các hoạt động dạy học diễn ra. Giả định ban đầu là giáo viên cần soạn giáo án, lập kế hoạch giảng dạy chi tiết và tiến hành giảng dạy theo giáo án. Với sự phổ cập giáo dục, với nhiều giáo viên tham gia giảng dạy, điều e ngại chính là nếu không có giáo án chi tiết nhiều giáo viên sẽ không dạy được hiệu quả. Và giáo án cần được soạn tuân theo các chuẩn mực đã được những người có kinh nghiệm giảng dạy thiết lập ra. Do đó dần dần dạy theo giáo án trở thành một yêu cầu bắt buộc với các giáo viên.  Tuy nhiên những người phê bình “dạy theo giáo án” lo ngại việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh bị suy giảm khi giáo viên coi vai trò của mình chủ yếu là tuân thủ chặt chẽ giáo án. Bản chất vấn đề dạy học không phải chỉ là hoàn thành những kế hoạch được vạch sẵn mà không tính tới những biến đổi của môi trường và người học. TS Geneva Gay, Đại học Washington quan niệm “Việc dạy hiệu quả là hành động sáng tạo”. Điều này có nghĩa là bên cạnh tính hiệu quả của dạy học, vốn chỉ là một phần, cần phải quan tâm và coi việc sáng tạo trong dạy học mới đem lại hiệu quả chính.  Tại sao phải dạy có sáng tạo? Giáo viên phải thích ứng sáng tạo theo nhu cầu của học sinh để có tính hiệu quả, tức là đào tạo ra học sinh đáp ứng được cho nhu cầu xã hội. Giáo viên phải liên tục thích ứng với thế giới đang thay đổi của chúng ta để đưa những cái mới vào giảng dạy cho học sinh. Điều này cần sự sáng tạo.  4.5 Tính sáng tạo và canh tân  Tính sáng tạo bao gồm các hành động mới và thích hợp với những gì đã được qui định thành chuẩn. Giảng dạy sáng tạo bao hàm việc tuân thủ mục đích và các chuẩn do cộng đồng giáo dục lập ra. Việc tuân thủ các chuẩn này là một đảm bảo cho việc dạy học đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên giảng dạy sáng tạo còn bao hàm việc lấy người học làm trung tâm. Dạy học có tương tác cao giữa học sinh và giáo viên là cần thiết để đảm bảo rằng mọi học sinh đều thành công. Thông qua việc đánh giá thực tế tri thức và kĩ năng của người học, giáo viên thích ứng việc dạy để thúc đẩy việc học đạt kết quả lớn hơn.  Giáo viên phải là những nhà chuyên môn, không đơn giản tuân theo “giáo án” làm sẵn. Vai trò của họ là tác nhân đổi mới trong tập các ràng buộc sẵn có. Do đó bản thân giáo viên cũng phải là các chuyên gia thích ứng. Họ phải là những người nhanh chóng và nhậy bén nhận ra những đòi hỏi mới từ học sinh để từ đó thay đổi, biến đổi các giáo án của mình đáp ứng cho các nhu cầu mới đó và đóng góp thêm cho sự phát triển của các giáo án tốt.  Kỳ sau xem tiếp: Phần 2: Xu hướng học tập và vai trò hiệu trưởng  Ngô Trung Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Phần 2: Xu hướng học tập và vai trò hiệu trưởng      5. Các xu hướng học tập  John Bransford, trong tác phẩm Cách người ta học, nhận diện ra 3 vấn đề chủ chốt trong cách thức mọi người học tập, nhất là các học sinh nhỏ.  1. Người học tới lớp học với định kiến về cách thế giới vận hành. Nếu ở lớp mà giáo viên không tính tới hiểu biết ban đầu đó thì học sinh có thể không nắm được khái niệm và thông tin mới được dạy, hay học sinh có thể học chỉ để cho qua kì kiểm tra nhưng vẫn giữ lại định kiến cũ bên ngoài lớp học.    2. Để phát triển năng lực trong lĩnh vực cần truy tìm, người học phải:  a) có nền tảng sâu sắc về tri thức sự kiện,  b) hiểu biết các sự kiện và ý tưởng trong hoàn cảnh của khuôn khổ khái niệm,  c) tổ chức tri thức theo cách làm thuận tiện cho việc truy lục và áp dụng.  3. Cách tiếp cận siêu nhận thức tới việc học có thể giúp cho người học nắm quyền điều khiển việc học riêng của mình bằng cách xác định mục đích học tập và điều phối tiến bộ để đạt tới mục đích này.  Hệ quả của ba phát hiện này về việc dạy là gì? Thứ nhất, giáo viên phải tiến hành giảng dạy dựa trên hiểu biết đầy đủ về vốn tri thức hiện có của người học. Điều này đòi hỏi phải thường xuyên có sự đánh giá chính xác về việc học của học sinh, cũng là điều phù hợp hoàn toàn với các nguyên tắc đánh giá của chương trình đào tạo. Những đánh giá chính thức thường xuyên cung cấp những phản hồi giúp cho người học sửa đổi và hiệu chỉnh cách nghĩ của mình.  Hệ quả thứ hai đối với việc dạy là ở chỗ giáo viên cần phải dạy các chủ đề theo chiều sâu, cung cấp nhiều ví dụ về khái niệm trong vận hành. Chúng ta để ý thấy điều này trong các chương trình đào tạo khi có nhiều chủ điểm được tái xuất hiện qua nhiều năm. Cần phải đảm bảo rằng chúng ta sử dụng sự lặp lại này để xây dựng hiểu biết sâu sắc hơn về các khái niệm chủ chốt. Điều này cũng có nghĩa là giáo viên phải là chuyên gia về lĩnh vực chủ đề. Tri thức chủ đề là hòn đá tảng cho việc dạy hiệu quả. Việc đánh giá nên kiểm tra sự hiểu sâu hơn.  Hệ quả thứ ba cho việc dạy là ở chỗ cần phát triển việc dạy về những kĩ năng siêu nhận thức, đưa yếu tố cách học tập tích hợp vào trong chương trình ở nhiều lĩnh vực tri thức. Siêu nhận thức thường là đối thoại bên trong về cách thức học tập , nhưng giáo viên phải mô hình hóa việc tư duy này. Đây là điều cần làm khi nói rằng chúng ta cần phát triển khả năng cho người học tự tìm hiểu cách học tập của mình.  Tuy nhiên thực tế một số môn học hiện nay không đi sát được ba xu hướng này. Xem xét một số thực tế môn học cụ thể sẽ cho thấy rõ hơn những bất cập hiện nay.                  6. Thực tế một số môn học  6.1 Môn lịch sử  TS Sam Wineburg, giáo sư lịch sử Đại học Stanford nêu ra một nhận xét được đa số mọi người thừa nhận, “môn lịch sử gây chán cho học sinh với việc giáo viên chỉ giới thiệu các tên người và địa danh cùng ngày tháng”. Peter Lee, giáo sư lịch sử tại Đại học London có ý kiến, “mọi người có định kiến rằng lịch sử chỉ gồm các tên tuổi và ngày tháng”. Rosalyn Ashby, giáo sư lịch sử, Đại học London nhấn mạnh, “mọi người chóng quên đi sự kiện, họ không mang theo hiểu biết, họ đã không học cách đặt mối liên hệ các sự kiện với nhau, không hiểu trạng thái các sự kiện và các trạng thái khác biệt khi chúng được đặt vào các mối quan hệ khác nhau.” Vì vậy người ta thường hiểu một cách đơn giản  Lịch sử = Tên & Ngày tháng  Ngày nay đã xuất hiện những quan điểm khác về học lịch sử. Học lịch sử là học về các luận cứ được suy diễn và học các tài liệu lịch sử chứ không phải là học chỉ về các sự kiện lịch sử. Như vậy cái hiểu trong việc học lịch sử phải được nâng lên mức khái niệm cấp hai: hiểu về bằng chứng, nguyên nhân, và những điều gây ra thay đổi, không chỉ là những dấu ấn cụ thể theo thời gian và sự việc. Việc học lịch sử cần được chuyển sang một kiểu mới. Cần bắc cầu qua những quan niệm ngây thơ của học sinh về các khái niệm lịch sử để cho học sinh có thể tham gia đầy đủ hơn vào quá trình suy diễn lịch sử.  Giáo sư Peter Lee nói: “Định kiến ảnh hưởng tới cách diễn giải các biến cố lịch sử. Học sinh mang định kiến gì khi chúng ta giảng giải cặn kẽ về các biến cố lịch sử? Nếu lịch sử được dạy theo định kiến về cách con người nên hành xử trong những hoàn cảnh đặc biệt thì chúng ta bị mắc vấn đề”.  Trong quan hệ với hoàn cảnh xã hội và chính trị lớn, cách diễn giải của học sinh dựa vào kinh nghiệm cá nhân. Vì vậy việc giảng dạy lịch sử cần cho học sinh thấy được hoàn cảnh lịch sử và các xu hướng tạo ra những cách nghĩ và cách hành động của thời đại đó, chứ không dựa vào những diễn giải cá nhân.                 6.2 Môn khoa học  TS Jim Minstrell nhận xét về việc dạy môn khoa học, “Thách thức mà giáo viên phải đối diện khi họ chấp nhận cách dạy dựa trên truy tìm là phải thường xuyên đề cập tới quan niệm và quan niệm sai của học sinh ngay trong soạn giáo trình và việc dạy của mình.” Việc dạy các môn khoa học không chỉ đơn thuần là đưa ra những tổng kết, những qui luật đã được khoa học đúc rút mà học sinh phải học thuộc. Cần phải làm sao qua việc dạy về khoa học, rèn luyện được cho học sinh thói quen và cách làm việc khách quan, khoa học. Muốn vậy giáo viên cũng phải là người tham gia vào quá trình sáng tạo tri thức, người khai triển và đưa ra các nhận xét về chính quá trình học tập khoa học của mình. Kinh nghiệm của Minstrell đã giúp ông ấy phát triển tri thức siêu nhận thức tích cực về bản thân mình như một người học và điều đó cũng là cần thiết cho mọi người học khác.  Việc dạy về khoa học không phải chỉ dạy về các nguyên lí và qui luật đã được đúc kết thành lời văn, công thức; cần phải dạy cho học sinh trở thành người tự học, tự truy tìm tri thức cả đời. Môn khoa học do vậy không chỉ dạy cho học sinh yếu tố khách quan, quan sát và phát hiện vấn đề mà còn phải dạy cho học sinh cách điều chỉnh lại quan niệm và đi theo những ý tưởng sáng tạo mới trước đây chưa có.  Có những cách tiếp cận hay để phát triển chương trình đào tạo hỗ trợ cho việc học với hiểu biết và động viên việc làm ra ý nghĩa. Một cách tiếp cận là “hình thức hóa dần,” bắt đầu từ những ý tưởng không hình thức mà học sinh đem tới trường và giúp đỡ dần cho các em thấy cách các ý tưởng đó có thể được biến đổi và hình thức hóa. Các giáo viên động viên học sinh xây dựng các ý tưởng không hình thức theo cách thức dần dần nhưng có cấu trúc để cho họ thu được khái niệm và thủ tục của một bộ môn.  6.3 Môn công nghệ                 Đặc điểm của môn công nghệ là giáo viên thông thường không bắt kịp với công nghệ mới, do tiến bộ công nghệ thì nhanh, mà giáo viên lại được biết tới tiến bộ đó khá chậm, nhiều khi còn chậm hơn cả học sinh. Vậy phải làm sao giúp cho học sinh có học vấn về công nghệ mới?  Dạy kĩ năng công nghệ thách thức các giáo viên về vấn đề rất lớn là làm sao để học sinh có được sự quen thuộc thích ứng với nền công nghệ chứ không chỉ là kĩ năng dùng công cụ. Vậy thì dạy công nghệ có phải là dạy kĩ năng gõ máy, như sử dụng chương trình soạn thảo văn bản, tính toán trên bảng tính, làm website…? Chắc chắn các kĩ năng đó giúp ích rất nhiều cho học sinh học công nghệ, nhưng đó không phải là tất cả những gì công nghệ đòi hỏi mà còn cần dạy thêm nhiều điều khác nữa.  Học sinh cần được học cách tham gia vào công nghệ để làm ra sản phẩm. Việc học kĩ năng công nghệ như vậy cần có mục đích rõ ràng và tạo sự lí thú. Rõ ràng học trong hoàn cảnh học sinh tạo ra cái gì đó sẽ gây hứng thú với họ và có tiềm năng có giá trị cho người khác.  Sự khác biệt chính trong dạy công nghệ so với dạy các môn khác là dạy cách thực hiện một công việc “tại chỗ”, làm ra sản phẩm với nhiệm vụ xác định, có sử dụng công nghệ và phối hợp nhiều người.                   7. Tiến hành thay đổi trong hệ thống giáo dục  7.1 Vai trò của hiệu trưởng  Sự thay đổi trong yêu cầu của xã hội đối với giáo dục đòi hỏi việc chuyển biến cả về nhận thức của con người và tổ chức đối với giáo dục. Việc đổi mới giáo dục là nhu cầu tất yếu của mọi nước trên thế giới và vai trò lãnh đạo sự thay đổi này trong các nhà trường thuộc về các hiệu trưởng cũng như các cấp lãnh đạo giáo dục. Đổi mới thành công đòi hỏi tất cả những người tham gia trong hệ thống giáo dục sẵn lòng và có khả năng phối hợp các nỗ lực. Tuy nhiên trong nhà trường, hiệu trưởng chính là người đứng ra tổ chức đưa những thay đổi vào trường học một cách có kế hoạch và bài bản.  Hiệu trưởng phải là người tạo ra hành lang thích ứng tối ưu cho sự thay đổi. Hiệu trưởng nhà trường cần phát huy quyền lãnh đạo của mình thế nào trong quá trình đưa những yếu tố mới vào công việc giảng dạy? TS Michael Fullan quan niệm cần xét tới 2 khía cạnh của đổi mới: Đổi mới bao gồm thực hiện “điều” mọi người cùng muốn thay đổi và chiến lược đổi mới sẽ ảnh hưởng tới bản thân quá trình đổi mới.  Điều này có nghĩa là trước hết toàn bộ các giáo viên trong nhà trường cần phải được thống nhất về quan niệm đổi mới giáo dục và cùng đồng lòng tiến hành công việc đổi mới. Trước khi tiến hành những thay đổi về tổ chức và phương pháp làm việc, mọi người cần được thông tin, trao đổi và bàn bạc để nhận thức rõ vấn đề mà toàn trường cần đạt tới. Sự thay đổi cần trở thành mong muốn của mọi người trong trường.  Những sự thay đổi chính bao giờ cũng bắt nguồn từ từng con người, từ việc bản thân họ thay đổi cách thức làm việc cũ để đưa yếu tố mới vào. Sự thay đổi cục bộ đó được phối hợp nhịp nhàng trong cả trường, trong tổ chức sẽ làm biến chuyển tác phong cũng như lề lối làm việc của cả trường. Và khi mà nhiều trường cùng đưa vào những cách giảng dạy, giáo dục mới phù hợp với yêu cầu của thời đại thì sẽ tạo ra phong trào thay đổi căn bản trong nền giáo dục.  Trên cơ sở đó hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch thay đổi, đổi mới dần các khía cạnh giáo dục cho sát hợp với thực tế và với các yêu cầu của các cấp lãnh đạo giáo dục. Chiến lược thực hiện đổi mới của hiệu trưởng do vậy sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới chính quá trình đổi mới và quyết định sự thành công hay thất bại của công việc này.  Đổi mới là chuyển sang cách thức làm việc mới. Thay đổi những thói quen đã quen thuộc ban đầu thường dẫn tới sụt giảm tạm thời về hiệu năng và có thể có sự hỗn loạn trong tổ chức. Điều đó là không tốt cho ngắn hạn nhưng lại hữu ích cho phát triển lâu dài.                      7.2 Thay đổi trong hoàn cảnh Việt Nam  Đã từ lâu có xu hướng ngày càng tăng việc hành chính hoá các cơ quan tổ chức của nhà nước ở Việt Nam và trường học không phải là ngoại lệ. Nhưng hiệu trưởng trong nhà trường thực sự không phải là quan chức hành chính chỉ làm theo các mệnh lệnh từ trên đưa xuống. Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo sáng tạo và năng động, biết nhìn nhận tình huống xã hội xung quanh trường để đưa ra những quyết định chính xác thúc đẩy việc đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu thực tế.  Hoàn cảnh chung của xã hội và của nhà trường đang có những thay đổi lớn khi mà công nghệ đi dần vào cuộc sống và trở thành công cụ chính cho mọi người trao đổi và làm việc. Tuy nhiên môi trường pháp lí cho hoạt động giáo dục và công nghệ thì chuyển biến chậm hơn các tiến triển thực tế. Do đó hiệu trưởng cần thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động giảng dạy và công nghệ. Sự năng động của nhà trường sẽ giúp các cấp lãnh đạo quản lí giáo dục nhanh chóng hơn trong việc tạo hành lang pháp lí chính thức cho những vấn đề mới. Đòi hỏi của xã hội đặt ra các mục tiêu mới mà hiệu trưởng cần nhận biết và làm cho nhà trường đáp ứng được.  Để tạo được nền tảng công nghệ trong nhà trường, cần có đầu tư tối thiểu vào việc trang bị máy móc và huấn luyện người sử dụng. Nếu chờ đợi vào những đầu tư của nhà nước thì việc tiến lên tầm mức giáo dục mới trên nền công nghệ sẽ rất chậm chạp và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại. Vì vậy hiệu trưởng cần nhạy bén và linh hoạt trong việc huy động nhiều nguồn tài lực khác để xây dựng nền tảng công nghệ trong nhà trường. Không chờ đợi và ỷ lại cấp trên chính là xuất phát điểm để hiệu trưởng đi vào việc tổ chức các hoạt động giảng dạy mới. Sự hỗ trợ về tri thức công nghệ từ các công ty công nghệ thông tin là giúp đỡ rất quí báu mà các hiệu trưởng cần cố gắng tận dụng tối đa để làm cho đội ngũ giáo viên có sự phát triển mạnh về tri thức công nghệ mới. Sự hỗ trợ còn tới từ các trường khác và những thông tin được phổ biến trên mạng, đó là những nguồn tri thức mới bổ sung cho sự sáng tạo tri thức tại chính nhà trường.  Đầu tư vào phần cứng máy móc chỉ có hiệu quả chừng nào nó đi song song với việc trang bị đầy đủ tri thức sử dụng máy móc cho các giáo viên. Và hơn thế nữa, các giáo viên cần phải biết tận dụng sáng tạo công cụ mới vào việc giảng dạy của mình. Do vậy vai trò của hiệu trưởng trở thành rất quan trọng trong việc lập kế hoạch chiến lược để sử dụng các nguồn lực huy động được, hình thành ra môi trường làm việc mới cho giáo viên và học sinh trên nền công nghệ. Môi trường này là rất thiết yếu vì nó cho phép chuyển tải tri thức mới cho các giáo viên và học sinh, và do đó thiết lập ra những vấn đề giáo dục đào tạo mới.  Trên cơ sở có kế hoạch chiến lược thiết lập nền công nghệ và môi trường giảng dạy mới, hiệu trưởng còn là người trung tâm tổ chức và động viên các giáo viên trong trường hăng hái cải tiến và đưa những phương pháp giảng dạy mới có dùng công nghệ vào thực tế. Điều này sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đưa giáo dục đi sát với yêu cầu của thời đại.  Với việc quản lí chặt chẽ các tiến bộ công nghệ trong giáo dục, hiệu trưởng thực tế là người tổng chỉ huy cho những phát triển mới của giáo dục trong phạm vi trường của mình. Những tiến bộ mới bao giờ cũng bắt nguồn từ các hoạt động thực tế phong phú của những giáo viên và hiệu trưởng năng động nhất. Sự tổng kết và nhân rộng các điển hình thành công của công nghệ hỗ trợ cho giáo dục sẽ làm thúc đẩy giáo dục có những bước phát triển mới trong thời đại ngày nay.  7.3 Thay đổi môi trường học tập                 Jane Mercer, nhà nghiên cứu xã hội học cổ điển cho rằng: môi trường trường học điển hình thường làm cho chúng ta đánh giá thấp khả năng của học sinh. Môi trường học tập cổ điển thường được quan niệm như một băng chuyền nạp tri thức và kĩ năng vào cho học sinh: từ mẫu giáo – phổ thông 12 năm – đại học. Và nhà trường phổ thông hoàn thành trách nhiệm khi cho ra lò các thế hệ học sinh trung học với những hiểu biết và tri thức được ấn định sẵn.  Môi trường học tập mới hiện nay đã phát sinh và vượt ra ngoài khuôn khổ giáo dục truyền thống của các nhà trường phổ thông và đại học. Môi trường học tập mới nảy sinh theo các chủ đề mới trong kinh tế và xã hội và yêu cầu con người phải thường xuyên học tập để theo sát tiến bộ mới. Như vậy việc học tập của mọi người nay không dừng lại sau băng chuyền học tập từ mẫu giáo-phổ thông-đại học mà tiếp tục không ngừng trong cả đời người để theo sát tiến bộ công nghệ.  Môi trường học tập mới đòi hỏi con người phải có kĩ năng tự học, tự tìm kiếm tri thức trên mạng tri thức toàn cầu, qua Internet, qua truyền hình… Việc tự trang bị tri thức mới cho mình để đáp ứng với các yêu cầu luôn biến động của thực tế trở thành đòi hỏi của xã hội hiện nay. Giáo dục ở các bậc phổ thông và đại học nay còn phải trang bị thêm cho học sinh khả năng tự học tập cả đời như vậy, bên cạnh những tri thức cốt yếu và đã được tích luỹ.  7.4 Liên kết các viễn cảnh của môi trường học tập  Bốn viễn cảnh chính về môi trường học tập, đặt trọng tâm vào người học, trọng tâm vào tri thức, trọng tâm vào đánh giá và trọng tâm vào cộng đồng, thực tế là sự bổ trợ lẫn cho nhau để tạo ra hoàn cảnh học tập thuận lợi nhất cho người học. Việc liên kết các viễn cảnh này là quan trọng cho các trường cũng như cho các tổ chức nói chung. Ý tưởng chính ở đây là liên kết các mục đích học tập với điều được dạy, cách dạy nó, và cách đánh giá nó. Thiếu sự liên kết này thì khó mà biết được điều gì đã được học. Học sinh có thể học thông tin có giá trị, nhưng người ta chẳng thể biết được chừng nào chưa có liên kết giữa điều họ học và các đánh giá về việc học đó. Tương tự, học sinh có thể học những điều mà người khác cho là vô giá trị chừng nào chương trình đào tạo và việc đánh giá còn chưa được liên kết với mục tiêu học tập nghĩa rộng của cộng đồng.  Cách tiếp cận hệ thống để thúc đẩy sự phối hợp giữa các hoạt động là cần thiết để thiết kế ra môi trường học tập hiệu quả từ trong lớp tới nhà trường. Các hoạt động bên trong lớp học có thể được liên kết nhưng phải khớp với hoạt động của nhà trường. Và nhà trường như một toàn thể cần có sự liên kết nhất quán các lớp học. Điều này có nghĩa là các đổi mới và canh tân giáo dục được đưa vào trong nhà trường phải được tiến hành đồng bộ. Một số trường thiết lập chính sách nhất quán về các chuẩn và những mong đợi để tiến hành công việc và đạt tới kết quả. Khi hiệu trưởng và các giáo viên cùng làm việc để xác định tầm nhìn chung cho toàn thể trường học, thì việc học có thể được cải thiện rất nhiều.  Các hoạt động bên trong nhà trường cũng phải được liên kết với các mục đích và thực hành đánh giá của cộng đồng. Lý tưởng nhất là mục đích của giáo viên về học tập phải khớp với chương trình họ dạy và mục đích của trường đến lượt nó lại khớp với mục đích trong các kì thi vẫn có trong hệ thống nhà trường. Những nhân tố này không được liên kết với nhau sẽ gây ra trục trặc. Sự thay đổi hiệu quả đòi hỏi xem xét đồng thời tới tất cả các nhân tố này.   Xem tiếp kỳ sau: Phần 3: Những việc cần triển khai  Ngô Trung Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Phần 3: Những việc cần triển khai      8. Tầm nhìn và kế hoạch chiến lược  Rõ ràng để đưa những tiến bộ mới hay những thay đổi cần thiết vào nhà trường thì vai trò của hiệu trưởng là rất quan trọng trong việc vạch ra tầm nhìn thay đổi và các chiến lược thực hiện cụ thể. Nhưng nếu tầm nhìn và chiến lược đó không biến thành nhận biết và sự đồng lòng của các nhân viên thì sẽ khó đưa điều đó thành hiện thực. Các chuyên gia về lãnh đạo đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm cho mọi người tham gia cùng có tầm nhìn rõ ràng, chính xác và phát biểu về sứ mệnh đưa tới kế hoạch chiến lược..    Ts Michael Fullan đã nêu ra nhận định: Các trường tích cực thường xác định rõ tầm nhìn, ý thức rõ về mục đích của tổ chức và từ đó làm cho cả trường hội tụ được quyết tâm và hành động vào công việc cụ thể. Các trường thụ động thường không tạo ra được việc học tập của toàn tổ chức, do đó không hội tụ được sức mạnh của tập thể các giáo viên vào công việc đổi mới.                      Người ta nhận thấy khi tầm nhìn được chia sẻ trong toàn trường thì sẽ tao ra môi trường rất thích hợp cho các tiến bộ. Việc hiểu rõ về tầm nhìn và sứ mệnh là nhân tố chủ yếu giúp phối hợp nỗ lực để cải tiến dạy học. Michael Fullan nêu ra hai chiều hướng hội tụ vấn đề.  Chiều hướng thứ nhất tập trung vào đổi mới việc dạy và học trong nội bộ các trường. Có thể phân các trường thành ba loại A, B, và C tuỳ theo mức độ thực hiện đổi mới. Trường loại A là trường mới chỉ tập trung đổi mới vào việc dạy tốt của các giáo viên dựa trên nền công nghệ. Giáo viên của trường quen thuộc và thành thạo trong việc dùng công nghệ thông tin để thể hiện bài giảng của mình. Các trường loại B tập trung việc đổi mới vào việc học sinh học tốt trên nền công nghệ. Điều này ngầm hàm ý nghĩa giáo viên đã sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nhưng học sinh cũng dùng công nghệ thông tin trong việc học tập của mình. Việc dạy tốt lúc này được định nghĩa là có tác dụng tốt tới việc học của học sinh, trên nền tảng phát triển công nghệ và ứng dụng vào giảng dạy. Các trường loại C thì không chỉ nhấn mạnh vào học sinh học tốt,  giáo viên dạy tốt trên nền công nghệ mà còn phải có bộ máy quản lí học sinh và giáo viên tốt, cũng được triển khai trên nền công nghệ.  Chiều hướng thứ hai tập trung vào vấn đề hình thành phong trào đổi mới giáo dục sâu rộng ở cả ba cấp quản lí: cấp trường, cấp quận – huyện – sở, và cấp toàn quốc. Chiều hướng đổi mới này nhấn mạnh không chỉ việc thực hiện đổi mới và phát triển giáo dục trên nền công nghệ ở từng trường mà còn nhấn mạnh việc đổi mới của toàn bộ hệ thống giáo dục ở mọi cấp. Cấp quản lí giáo dục quận- huyện -sở chú trọng việc hình thành môi trường trao đổi kinh nghiệm giảng dạy có dùng công nghệ giữa nhiều trường. Cấp quận, huyện và sở có thể theo sát các điển hình tốt sử dụng công nghệ trong giáo dục và tập trung tiềm lực hỗ trợ cho các trường còn chưa được phát triển mạnh về công nghệ.  Các cấp quản lí giáo dục mức cao thường xuyên quan tâm tới việc tiến hành đưa các yếu tố công nghệ mới vào giáo dục ở các cấp thấp hơn. Các cấp chiến lược sẽ tăng cường việc xây dựng và thể chế hoá những yếu tố mới của giáo dục kết hợp với công nghệ. Điều này là cần thiết và quan trọng vì những tiến bộ mới được đưa vào thực tế bao giờ cũng cần có môi trường pháp lí thích hợp thì mới phát triển đại trà được. Như vậy việc chỉ đạo của cấp trên không chỉ là yêu cầu cấp dưới tuân thủ các qui định đã có sẵn mà còn phải đẩy mạnh việc đưa các yếu tố mới vào và thay đổi các hướng dẫn tiến hành giảng dạy cho sát với tình hình thực tế.  9. Kiểm tra và đánh giá học sinh  Vấn đề kiểm tra và đánh giá học sinh từ xưa tới nay vẫn là một phần việc quan trọng của các giáo viên và nhà trường để đảm bảo chất lượng học tập. Sự nhấn mạnh không đúng vào kiểm tra và đánh giá thường làm phát sinh các tiêu cực trong học tập và dẫn tới việc phản ánh sai mức độ học tập của học sinh.  Kiểm tra cho điểm có thể cực kì có ích, nếu nó được giáo viên dùng để phát hiện khuyết điểm, sửa chữa và cải tiến, rồi thử lại với từng học sinh. Sự nhấn mạnh của điểm kiểm tra là cơ hội để thẩm định và xét lại việc hình thành tri thức của học sinh dựa trên khung tri thức đã có sẵn. Điểm kiểm tra và thi cử không phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá học sinh. Kiểm tra và chấm bài theo thang điểm về cơ bản chỉ phản ánh cách đánh giá học thuộc lòng, lắp lại các mẫu bài tập theo đúng cách thức chứ không đánh giá được sự thông minh sáng tạo. Thang chấm điểm tự nó đã cứng nhắc theo các khung tri thức cho sẵn, không phản ánh được cách thức người ta xoay xở giải quyết vấn đề trong thực tế, điều đòi hỏi nhiều sáng tạo và không theo khuôn khổ cũ.  Điểm kiểm tra sẽ trở thành bất lợi nếu nó được lấy làm thước đo để so sánh học sinh với nhau. Điều đó chỉ thúc đẩy thói quen học vẹt, học thuộc lòng và học sinh dù được điểm cao trong thi cử nhưng vẫn lúng túng khi phải giải quyết các vấn đề vượt ra ngoài khuôn mẫu có sẵn. Và nếu xã hội lại lấy điểm số làm thước đo đánh giá học sinh thì sẽ làm phát sinh nhiều động cơ học tập không vì tri thức mà chỉ vì điểm, thuộc bài và thi điểm cao, nhưng không biết xoay xở trong cuộc sống thực. Nếu các cấp quản lí lấy tiêu chí đánh giá việc giảng dạy bằng điểm số, số lượng học sinh điểm cao, thì sẽ làm phát sinh những giả dối để chạy theo thói thành tích giả, càng làm hại thêm cho chất lượng học sinh.                      Về cơ bản hiện nay các trường đã phát triển nhiều cách thức để trực quan hoá chất lượng học sinh và việc dạy học trên cơ sở thời gian. Trong số đó việc đánh giá khả năng học tập của học sinh vào thang điểm số, điểm kiểm tra và điểm thi, thường là một phương pháp chính. Điểm kiểm tra cuối năm cung cấp một cách thức để thấy được sự tiến bộ của học sinh. Nhưng chúng chỉ cung cấp được sự phản hồi một năm và không đo mọi thứ về việc học mà nhà trường cần biết.  Việc đánh giá tiến bộ của học sinh trong hiểu biết, toán học, khoa học, lịch sử và các môn khác là có ích nhất nếu chúng xảy ra thường xuyên – hàng ngày, hàng tuần. Vì vậy đánh giá và nhận xét của giáo viên về từng học sinh cần được coi là quan trọng hơn điểm số của riêng từng kì thi. Việc kiểm tra thường xuyên cho phép giáo viên và nhà trường đánh giá nhanh khả năng học tập của học sinh và bảo đảm mọi thứ thành công. Trong trường hợp học sinh không đáp ứng được mức điểm số cần thiết, giáo viên và nhà trường có thể tiến hành các biện pháp hỗ trợ thích đáng cho học sinh. Chìa khóa cho việc tạo ra chu trình phản hồi thành công là đánh giá điều có ý nghĩa và đi sát với hoàn cảnh của học sinh.  Điều chủ chốt là để học sinh học với hiểu biết – nên cần đánh giá việc hiểu chứ không tập trung chủ yếu vào các đặc trưng bên ngoài, không coi điểm số là chính. Người lãnh đạo hiệu quả sẽ giúp tạo ra cộng đồng các giáo viên có ý tưởng rõ ràng về cách đánh giá học tập và tại sao lại như vậy    10. Huấn luyện đồng nghiệp                 Trong trường học, các giáo viên có xu hướng làm việc độc lập theo lớp của mình, do đó họ cảm thấy nhu cầu tự mình cần phát triển tri thức chuyên gia. Họ cần phải có hiểu biết tương xứng với những tri thức đã được phổ biến trong xã hội, nhất là trong quá trình tiến bộ công nghệ đi nhanh vào đời sống.  Nhưng ngược lại, phần lớn các tiến bộ trên thế giới đều bắt nguồn từ làm việc theo tổ nhóm. Nhiều người với nhiều chuyên môn khác nhau, cùng phối hợp với nhau làm việc và đưa ra những sản phẩm và dịch vụ mới. Điều đó đặt ra vấn đề cho các giáo viên là làm sao có thể phối hợp với nhau và cùng giúp nhau tiến bộ trong công tác giảng dạy của mình.  Cách làm việc theo tổ giáo viên còn được gọi là “huấn luyện đồng nghiệp”, chúng là quan trọng đối với mọi khía cạnh của đổi mới giáo dục. Chính các tổ giáo viên này bổ sung lẫn cho nhau, cùng hướng dẫn nhau về những kĩ năng mới, những cách giảng dạy mới dựa trên công nghệ và cùng nhau đưa các tiến bộ mới vào giáo dục. Không phải tất cả các giáo viên đều có thể được theo đuổi các lớp học chính qui phổ biến các tri thức công nghệ mới. Vì vậy sự trợ giúp lẫn nhau của các giáo viên, giữa những người có hiểu biết về tri thức công nghệ mới và những người khác, là rất quan trọng để tạo ra mặt bằng làm việc công nghệ mới.  Như vậy bên cạnh hệ thống quản lí phân cấp chính thức của nhà trường, hình thức các tổ giáo viên ngang quyền cùng giúp nhau tiếp cận, sử dụng và thực hành những công cụ, kĩ năng và phương pháp giảng dạy mới trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy cho sát với thực tế. Thực chất đây là một hình thức lãnh đạo phân bố được phát triển bên ngoài hệ thống cấp bậc chính thức của nhà trường, nhưng sẽ đóng vai trò quan trọng trong những phát triển tương lai của nhà trường.  11. Hình thành môi trường học tập mới                 Việc lãnh đạo giáo dục như vậy cần nhằm vào việc hình thành môi trường học tập mới thích ứng với hoàn cảnh hiện đại ngày nay. Có bốn khía cạnh chính của môi trường học tập mới đang hình thành: người học, tri thức, đánh giá và cộng đồng. Yếu tố cộng đồng học tập đã mở rộng để bao trùm toàn thể xã hội và toàn bộ cuộc đời mỗi người, không chỉ giới hạn trong phạm vi trường lớp. Và vai trò người học đã trở thành trung tâm cho quá trình học tập cả đời, việc học không chỉ tiến hành dưới sự hướng dẫn của thầy mà chủ yếu phải là quá trình tự học, dù ngay trong trường học. Người học cần nắm chắc những cách thức đánh giá về tính hiệu quả của việc học của mình, không chỉ dựa vào những đánh giá của giáo viên. Và nội dung tri thức cần học tập, thường xuyên được đổi mới theo đà tiến của công nghệ và xã hội, cũng dần trở thành những điểm chính của quá trình học tập.  11.1 Lấy người học làm trọng tâm  Công nghệ mới tạo điều kiện cho người học tham gia vào những hoạt động mới. Nhiều hoạt động mô phỏng có thể được tiến hành nhờ công nghệ tạo cho người học hiểu sâu hơn vấn đề và tạo sự thích thú. Vai trò người thầy cụ thể nay được chuyển dần cho các hệ thống máy tính và mạng với tri thức được tích luỹ trên đó sẵn sàng phục vụ mọi người mọi lúc.  Về tổng thể, môi trường lấy người học làm trọng tâm có thể bao gồm cả giáo viên hoặc các hệ thống tri thức trên máy tính. Môi trường này không nhấn mạnh vào vai trò chủ yếu của người thầy, nhưng yêu cầu các giáo viên nhận biết rằng chính người học xây dựng ra ý nghĩa riêng của họ, bắt đầu từ niềm tin, hiểu biết và thực hành văn hoá mà họ đem vào lớp học.  Nếu việc dạy được quan niệm là việc xây dựng cây cầu giữa một chủ đề và học sinh, thì giáo viên lấy người học làm trọng tâm sẽ thường xuyên để mắt tới cả hai đầu của cây cầu. Giáo viên cố gắng bắt lấy ý nghĩa của điều học sinh biết và có thể làm được cũng như mối quan tâm và đam mê của họ – điều từng học sinh biết, chú ý tới, là khả năng làm và muốn làm. Giáo viên có tài năng cung cấp cho người học lí do của việc học, thông qua việc kính trọng và hiểu về kinh nghiệm và hiểu biết đã có của người học, giả thiết rằng những điều này có thể phục vụ làm nền tảng cho việc xây dựng cây cầu tới hiểu biết mới.   11.2 Lấy tri thức làm trọng tâm  Môi trường lấy tri thức làm trọng tâm đề cập tới việc cần dạy cái gì. Thông thường hệ thống tri thức cho cấp phổ thông được qui định thống nhất chung. Các chuẩn và qui định của nhà nước về giáo trình vào nội dung giảng dạy được thiết lập ở qui mô toàn quốc. Các tỉnh, huyện đưa ra các hướng dẫn thi hành giảng dạy. Tuy nhiên nhu cầu tri thức cần phải thay đổi khi xã hội thay đổi. Và hiện nay công nghệ đang góp phần tạo điều kiện cho việc phổ cập các tri thức mới một cách nhanh chóng, bên ngoài những qui định chính thức trong giáo trình và nội dung giảng dạy. Điều này đòi hỏi các chuẩn và các qui định giảng dạy phải thường xuyên được đổi mới, tiến hoá. Nhưng đổi mới, tiến hoá này phải bám sát và bắt nguồn từ thực tế cuộc sống chứ không phải chỉ là thay đổi cách bố trí các nội dung cũ.                   Môi trường lấy tri thức làm trọng tâm cũng nhấn mạnh vào việc trang bị cho học sinh siêu nhận thức về việc học tập của mình. Chính ý thức về cách học của từng học sinh sẽ là tiền đề tạo ra thói quen tự học về sau của mọi người, khi đã ra ngoài phạm vi quản lí của các trường học.  Nỗ lực tạo ra các môi trường lấy tri thức làm trọng tâm còn làm phát sinh vấn đề quan trọng về cách thúc đẩy hiểu biết tích hợp về một bộ môn. Có thể ví việc học như việc học cách sống trong một môi trường: học cách đi vòng, học các nguồn tài nguyên nào sẵn có, học cách dùng các nguồn tài nguyên để tiến hành hoạt động có hiệu suất và có kết quả. Khuôn khổ hình thức hoá dần như đã nói ở trên cũng nhất quán với cách ví von này. Việc biết người ta đang ở khung cảnh nào đòi hỏi hiểu biết cả mạng các liên kết từ vị trí hiện tại cho tới không gian lớn hơn. Việc học như vậy không tách rời với thực tế mà thực sự giúp cho người học cách định vị con đường và bước đi của mình.  Thách thức đối với việc thiết kế môi trường lấy tri thức làm trọng tâm là cố gắng giữ cân bằng thích hợp giữa những hoạt động được dành cho việc thúc đẩy hiểu biết và những hoạt động thúc đẩy tính tự trị về những kĩ năng cần thiết để hoạt động có hiệu quả. Các học sinh đã có nỗ lực đọc, viết và tính toán có thể đương đầu với việc học khó khăn hơn.  11.3 Lấy đánh giá làm trọng tâm  Môi trường học tập lấy đánh giá làm trọng tâm sẽ động viên siêu nhận thức của học sinh bằng việc tập trung vào phát triển kĩ năng tự đánh giá. Một mặt đánh giá giúp cho giáo viên nắm bắt chính xác khả năng học tập của học sinh, nhưng mặt khác đánh giá cũng là cách thức giúp học sinh quen với cách tự học. Các nguyên lí chủ chốt của đánh giá là ở chỗ chúng phải cung cấp những cơ hội để phản hồi và duyệt xét lại và ở chỗ điều được đánh giá phải qui tụ về mục đích học tập của người ta.  Tính tương tác trong đánh giá giúp học sinh hình thành nên giả thuyết và thấy hậu quả xảy ra ngay trước mắt mình. Một cách thức đánh giá mới xuất hiện dựa trên công nghệ là sử dụng thế giới ảo trên máy tính để giúp cho người học đánh giá thế giới vật lí thực một cách chính xác hơn.  Điều quan trọng cần phân biệt giữa hai cách dùng đánh giá chính. Cách thứ nhất, đánh giá hình thành, bao gồm việc dùng các đánh giá (thường được quản trị trong hoàn cảnh lớp học) như nguồn phản hồi để cải tiến việc dạy và học. Cách thứ hai, đánh giá tổng kết, đo điều học sinh đã học tại cuối một loạt những hoạt động học tập. Ví dụ về đánh giá hình thành bao gồm các nhận xét của giáo viên về công việc đang tiếp diễn, như bản thảo bài viết hay bài chuẩn bị trình bày. Ví dụ về đánh giá tổng kết bao gồm các bài kiểm tra hay thi do giáo viên đưa ra vào lúc cuối một đơn vị học tập hay các kì thi quốc gia cuối năm.  Những giáo viên giỏi thường xuyên cố gắng nắm được tư duy và hiểu biết của học sinh. Họ làm nhiều việc điều phối cả công việc của nhóm và hiệu năng cá nhân, và họ cố gắng đánh giá năng lực của học sinh để gắn các hoạt động của học sinh với các phần khác của chương trình đào tạo và cuộc sống. Phản hồi họ trao cho học sinh có thể là chính thức hay không chính thức. Giáo viên hiệu quả cũng giúp cho học sinh xây dựng kĩ năng tự đánh giá. Học sinh học cách đánh giá công việc riêng của mình, cũng như công việc của bạn mình, để giúp cho mọi người học hiệu quả hơn. Việc tự đánh giá như vậy là một phần quan trọng của cách tiếp cận siêu nhận thức tới việc dạy học.  Trong nhiều lớp học, các cơ hội cho phản hồi thường ít xuất hiện. Phần lớn phản hồi cho giáo viên – điểm kiểm tra, bài viết, bảng tính, bài tập về nhà và phiếu báo cáo – đại diện cho đánh giá tổng kết với ý định để đo kết quả học tập. Sau khi nhận được điểm, học sinh về cơ bản chuyển sang chủ đề mới và làm việc với thang điểm khác. Phản hồi là có giá trị nhất khi học sinh có cơ hội dùng nó để xét duyệt lại cách nghĩ của mình khi họ làm việc trên một đơn vị học tập hay dự án. Việc bổ sung các cơ hội cho đánh giá hình thành làm tăng việc học và truyền thụ của học sinh, và học sinh có cơ hội học cách đánh giá. Những cơ hội làm việc cộng tác trong nhóm cũng có thể làm tăng phẩm chất của phản hồi đối với học sinh, mặc dầu nhiều học sinh phải được giúp đỡ thêm để học cách làm việc trong sự cộng tác. Những công nghệ mới cung cấp cơ hội làm tăng phản hồi bằng việc cho phép học sinh, giáo viên và các chuyên gia nội dung tương tác đồng bộ và không đồng bộ.                      Thách thức trong việc thực hành đánh giá tốt nằm ở chỗ cần thay đổi các mô hình của giáo viên, của phụ huynh và của học sinh về việc học hiệu quả sẽ là như thế nào. Nhiều đánh giá do giáo viên xây dựng ra quá nhấn mạnh vào thủ tục và sự kiện. Bên cạnh đó nhiều kì thi – kiểm tra đã được chuẩn hoá lại quá nhấn mạnh vào trí nhớ đối với các sự kiện và thủ tục cô lập, vậy mà giáo viên thì lại thường bị đánh giá thông qua việc học sinh đạt kì thi kiểm tra đó đến mức nào.  11.4 Lấy cộng đồng làm trọng tâm  Những phát triển mới trong khoa học về việc học gợi ý rằng môi trường lấy cộng đồng làm trọng tâm cũng rất quan trọng cho việc học tập. Đặc biệt quan trọng là các qui tắc cho mọi người học tập từ cộng đồng này sang cộng đồng khác và liên tục cố gắng cải thiện. Thuật ngữ lấy cộng đồng làm trọng tâm đề cập tới nhiều khía cạnh của cộng đồng, lớp học là một cộng đồng, trường học là một cộng đồng, và đề cập tới cả mức độ mà học sinh, giáo viên và người quản trị cảm thấy được nối với cộng đồng lớn hơn bao gồm gia đình, doanh nghiệp, huyện, tỉnh, cả nước và thậm chí thế giới.  Môi trường học tập lấy cộng đồng làm trọng tâm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho lớp học và trường học trong việc động viên học sinh tham gia thám hiểm và cải tiến. Môi trường này còn thực hiện việc gắn nối lớp học và nhà trường với cộng đồng bên ngoài rộng lớn hơn, tạo ra khuôn khổ cho mọi người học tập trong cả đời.     Cộng đồng lớp học và trường                  Tại mức lớp học và trường học, việc học tập dường như được nâng cao bởi các qui tắc xã hội, cho phép học sinh được tự do sai lầm để học. Qui tắc bất thành văn vẫn có tác dụng trong lớp học là phạm sai lầm hay không biết câu trả lời thì không bị bắt lỗi. Và do việc tự coi là mình đương nhiên không biết gì, trông chờ vào lời giải mẫu của thầy giáo cung cấp, học sinh bị mất đi tính năng động linh hoạt của người đi tìm kiếm. Qui tắc này có thể cản trở sự sẵn lòng của học sinh đưa ra các câu hỏi khi họ không hiểu tài liệu hay không đi thám hiểm các câu hỏi và giả thiết mới. Cảm giác về cộng đồng trong trường cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi người lớn làm việc trong môi trường đó. Nếu giáo viên không tạo ra được môi trường khuyến khích học sinh mạnh dạn tìm kiếm tri thức từ nhiều nguồn khác, thì khó có thể thúc đẩy thói quen tự học, tự làm chủ tri thức của học sinh.  Gắn với cộng đồng rộng lớn hơn  Việc phân tích môi trường học tập từ viễn cảnh cộng đồng còn bao gồm cả sự quan tâm tới ghép nối giữa môi trường trường học và cộng đồng rộng hơn, kể cả gia đình, các trung tâm đào tạo, các chương trình bên ngoài trường học, và doanh nghiệp.  Sự lãng phí lớn ở trường thường bắt nguồn từ sự bất lực của trẻ nhỏ không dùng được kinh nghiệm nó thu từ cuộc sống… trong khi mặt khác nó lại không thể áp dụng vào cuộc sống thường ngày điều nó học ở trường. Đó chính là sự cô lập của nhà trường với cuộc sống.  Một môi trường chủ chốt cho học tập là gia đình. Cho dù khi các thành viên gia đình không tập trung có ý thức vào vai trò hướng dẫn, họ vẫn cung cấp tài nguyên cho việc học của trẻ em, các hoạt động có bao hàm việc học, và gắn nối với cộng đồng. Trẻ em cũng học từ thái độ của những người trong gia đình về kĩ năng và giá trị của việc học ở trường.  Trẻ em tham gia vào nhiều thể chế khác bên ngoài nhà trường nhưng vẫn có thể thúc đẩy việc học tập. Một số thể chế có mục đích cung cấp việc học tập, kể cả nhiều chương trình ngoại khoá, bảo tàng, tham quan, và các nhóm tôn giáo. Giao thiệp với chuyên gia bên ngoài cũng có ảnh hưởng tích cực tới việc học trong nhà trường vì họ cung cấp cơ hội cho học sinh tương tác với cha mẹ và những người khác đang quan tâm tới việc học sinh làm. Nếu học sinh và giáo viên có cơ hội chia sẻ công việc của mình với những người khác thì điều đó sẽ có tính rất thúc đẩy. Cơ hội chuẩn bị các biến cố, sự kiện giúp cho các giáo viên nêu ra các chuẩn mực mới bởi vì ích lợi còn vượt ra ngoài điểm số của bài kiểm tra.  Làm việc để chuẩn bị giới thiệu cho người bên ngoài cũng cung cấp các động cơ giúp cho giáo viên duy trì mối quan tâm của học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên và học sinh còn phát triển ý thức cộng đồng tốt hơn khi họ chuẩn bị đối diện với thách thức chung. Học sinh cũng có động cơ chuẩn bị phần trình diễn cho khán giả bên ngoài không tới lớp mà chỉ thấy dự án của họ. Chuẩn bị triển lãm, bảo tàng là một ví dụ tốt.                      Những công nghệ mới qua Internet nâng cao khả năng kết nối lớp học với người khác trong trường, với phụ huynh, người lãnh đạo doanh nghiệp, sinh viên, chuyên gia và những người khác. Chính là công nghệ mới đã mở ra cánh cửa tri thức phổ cập toàn cầu cho mọi người dân, cho mọi học sinh. Các cộng đồng mới vẫn đang hình thành và ngày một có nhiều trên mạng Internet sẽ trở thành những nơi vừa học tập, trao đổi tri thức, vừa là nơi thể hiện những hiểu biết của riêng từng người. Do đó tác dụng giáo dục của những cộng đồng mới đó cũng là một nhân tố cần được tính tới.  Vô tuyến truyền hình                      Dù tốt hay xấu, phần lớn trẻ em đều dành khối lượng thời gian đáng kể để xem truyền hình; việc này đã đóng vai trò ngày một nổi bật trong sự phát triển của trẻ em trong nhiều năm qua. Trẻ em xem ti vi rất nhiều trước khi tới trường, và việc xem ti vi kéo dài suốt cả đời. Thực tế, nhiều học sinh dành nhiều giờ xem ti vi hơn là tới trường. Cha mẹ muốn con cái mình học từ ti vi; đồng thời họ cũng bận tâm về điều chúng học từ các chương trình được trình chiếu.  Truyền hình cung cấp hình ảnh và mô hình vai diễn có thể ảnh hưởng tới cách trẻ em tự nhìn nhận mình, cách chúng nhìn người khác, thái độ về chủ đề nào chúng nên quan tâm tới, và các chủ đề khác liên quan tới cảm nhận con người.  Truyền hình có tác động lên việc học của trẻ em và phải được tính tới một cách nghiêm chỉnh. Nhưng phương tiện đại chúng này không có tính lợi hay hại cố hữu. Nội dung mà học sinh xem, và cách chúng xem có ảnh hưởng quan trọng tới điều chúng học. Đặc biệt có ý nghĩa là hiện nay đã có chương trình chuyên về khoa học giáo dục, đã có tác động tích cực bổ sung thêm nhiều tri thức ngoài nhà trường cho học sinh. Mặt khác việc xem những chương trình giải trí không mang tính giáo dục lại có thể gây tác động tiêu cực. Những vấn đề như vậy thúc đẩy nỗ lực phát triển và nghiên cứu các chương trình truyền hình có thể giúp học sinh thu được các loại tri thức, kĩ năng mới và hỗ trợ cho việc học của các em ở trường.   Tài liệu tham khảo  1. Bransford, J, How People Learn, National Academy Press, 2000  2. Schwartz, D, Bransford, J, Sears, D, Efficiency and Innovation in Transfer  http://aaalab.stanford.edu/papers/Innovation in Transfer.pdf.  3. Bộ đĩa bài giảng “School Leadership Development: Schools in 21st century” của lớp tập huấn PiL Microsoft tại Bangkok – Thái Lan, 28-31/08/2005  Ngô Trung Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới hoạt động nghiên cứu KH&CN trong cơ sở giáo dục      Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ nghiên cứu và đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2017 – 2025”.      Phòng thí nghiệm Hệ tích hợp thông minh, Đại học Công nghệ, ĐHQGHN  Đề án phấn đấu đến năm 2020, phát triển được từ 3 đến 4 cơ sở giáo dục; đến năm 2025, phát triển được từ 5 đến 6 cơ sở giáo dục tại các vùng kinh tế trọng điểm có cơ sở vật chất, nguồn nhân lực giải quyết được các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tính liên ngành hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm.  Đồng thời, tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các cơ sở giáo dục, bảo đảm các cơ sở giáo dục đạt mức tăng bình quân số lượng công bố quốc tế 10%/năm, số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích được bảo hộ đạt trung bình 8 – 10%/năm.  Thúc đẩy hoạt động ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phấn đấu đến năm 2025 các cơ sở giáo dục được ưu tiên đầu tư có nguồn thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ đạt khoảng 10% so với tổng nguồn thu.  Để đạt được mục tiêu trên, Đề án sẽ thực hiện đầu tư cơ sở vật chất; nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục; đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục.  Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ  Đề án hỗ trợ phát triển mô hình gắn kết giữa các cơ sở giáo dục với các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ thông qua đặt hàng, giao trực tiếp các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên kết; ưu tiên các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát triển các sản phẩm chủ lực, trọng điểm của địa phương, của vùng kinh tế trọng điểm; hỗ trợ xây dựng, phát triển tài sản trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của nhà giáo, cán bộ nghiên cứu và sinh viên trong cơ sở giáo dục thông qua các chương trình phát triển tài sản trí tuệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ và Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia.  Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển tiềm lực và hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục được hưởng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Doi-moi-hoat-dong-nghien-cuu-KHCN-trong-co-so-giao-duc/294625.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới kỳ thi quốc gia: Cơ hội để đổi mới việc dạy học      TS Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng ĐH FPT, cho rằng, việc đổi sang phương án một kỳ  thi quốc gia chung (gọi là kỳ thi trung học phổ thông quốc gia) là cơ hội hết sức quan  trọng để có thể thay đổi việc dạy học theo hướng hướng nghiệp sớm và giảm tải.     Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố phương án một kỳ thi quốc gia chung thay thế thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học, ông đánh giá thế nào về phương án này?  – Trong thời gian ngắn, Bộ đưa ra được phương án đổi mới thi cử là cố gắng rất lớn để thực hiện Nghị quyết 29 về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam. Cũng cần nói cho rõ là phương án mà Bộ công bố khác biệt rất lớn so với việc tổ chức hai kỳ thi quốc gia (là thi tốt nghiệp và thi đại học) trước đây.  Phương án này ban đầu được đưa ra với ba cách thức thực hiện liên quan đến việc thi theo môn hay thi theo bài gồm nhiều môn. Việc lựa chọn cách nào đều có ưu – nhược điểm riêng vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tâm lý xã hội thường dị ứng khi tiếp xúc với cái mới, mới ít thì triển khai an toàn hơn là mới nhiều. Cuối cùng, cách thức thi theo môn đã được lựa chọn.  Lâu nay Việt Nam vẫn tổ chức thi theo môn, việc kiểm tra trong các trường phổ thông cũng theo môn học. Bởi thế, thi theo môn sẽ thay đổi ít hơn là thi theo bài, thuận lợi hơn cho thói quen học, thi, ra đề, tổ chức thi cử, chấm thi của cả thầy và trò.    Theo ông phương án thi mới có kéo theo các thay đổi trong việc dạy học không?  – Đổi mới thi cử là khâu đột phá, tuy nhiên kèm theo thi cử cần phải thực hiện ngay các thay đổi khác liên quan dạy và học. Theo tôi, với cách thi mới này, các lớp 10-11-12 chỉ cần học sáu môn Văn, Toán, Ngoại ngữ, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa. Với các môn không học, kiến thức về các môn này ở THCS là đủ vào đời. Đây là thay đổi mang tính “ăn theo” hết sức quan trọng, hỗ trợ cho hướng nghiệp sớm và giảm tải. Học phổ thông theo các môn tự chọn cũng là thông lệ của nhiều nước tiên tiến, với Việt Nam thì phù hợp quan điểm học gì thi nấy và tâm lý không thi thì không học.  Nhiều học sinh lo lắng thực hiện ngay kỳ thi quốc gia chung trong năm 2015 sẽ có ít thời gian chuẩn bị, ông suy nghĩ thế nào?  – Một năm chuẩn bị là quá đủ, kéo dài cũng không mang lại thêm giá trị gia tăng gì hơn. Thực tế, việc thay đổi thi tốt nghiệp phổ thông năm 2014 vừa qua (từ sáu môn bắt buộc thành bốn môn tự chọn) cho thấy, để thực hiện thay đổi thi cử không nhất thiết cần thời gian chuẩn bị dài. Mặt khác, ý tưởng về thi chung không phải mới xuất hiện trong nghị quyết Hội nghị TW 8, mà đã bàn năm năm nay rồi.  Kỳ thi chung phải đảm bảo những yếu tố gì để các đại học yên tâm sử dụng kết quả xét tuyển, thưa ông?  – Để thuận lợi hơn cho các trường đại học trong việc xét tuyển, cuộc thi quốc gia này cần tổ chức ở mức độ nghiêm túc cao nhất để kết quả có độ tin cậy cao, đồng thời đề thi có mức độ phân hóa cao để phân biệt được trình độ của thí sinh.  Điều tôi lo ngại là làm thế nào để thi nghiêm túc trong bối cảnh tiêu cực và bệnh thành tích giáo dục còn nặng nề. Trong đề án nên có nội dung liên quan việc thắt chặt kỷ cương thi cử, chẳng hạn truất quyền học sau phổ thông cho thí sinh vi phạm, loại ra khỏi ngành các giám thi vi phạm, quy kết trách nhiệm và xử lý kỷ luật lãnh đạo các địa phương để xảy ra tiêu cực. Thậm chí nếu cần thì hình sự hóa các hành vi vi phạm để có tác dụng ngăn ngừa.  Xin trân trọng cảm ơn ông.        Chiều 9/9, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã công bố thông tin kỳ thi quốc gia chung, bắt đầu triển khai từ năm 2015 với sáu nội dung cơ bản sau:   1. Chỉ còn một kỳ thi quốc gia duy nhất.              Từ  năm 2015, tổ chức một kỳ thi quốc gia (gọi là kỳ thi trung học phổ  thông quốc gia) lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ  thông (THPT) và làm căn cứ tuyển sinh đại học, cao đẳng.              Dự kiến,  kỳ thi THPT quốc gia hằng năm được tổ chức vào trung tuần tháng 6.  Trong năm 2015, kỳ thi được tổ chức trong các ngày 9, 10, 11 và 12  tháng.   2. Thí sinh phải thi bốn môn tối thiểu.              Để được xét  công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh vào các trường đại học, cao  đẳng, thí sinh phải thi  bốn môn (gọi là bốn môn thi tối thiểu) gồm ba môn bắt  buộc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và một môn tự chọn trong số các môn Vật  lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử và Địa lí.              Ngoài bốn môn thi tối  thiểu, thí sinh có thể đăng ký thi thêm các môn khác trong số các môn tự  chọn để có thêm cơ hội xét tuyển vào đại học, cao đẳng.              Thí sinh đã tốt nghiệp THPT các năm trước chỉ đăng ký các môn thi phục vụ cho tuyển sinh đại học, cao đẳng.              Với  những thí sinh không học môn Ngoại ngữ hoặc học trong điều kiện không  đảm bảo chất lượng được chọn môn thi thay thế môn Ngoại ngữ trong số các  môn tự chọn.              Thí sinh có chứng chỉ Ngoại ngữ theo quy định do Bộ Giáo dục – Đào tạo công bố sẽ được miễn thi tốt nghiệp THPT môn Ngoại ngữ.   3. Đề thi phân hóa trình độ thí sinh.              Các  môn Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí: Thi tự luận, thời gian thi 180  phút; các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ: Thi trắc nghiệm,  thời gian thi 90 phút.              Đề thi đánh giá thí sinh ở bốn mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao, đảm bảo phân hóa trình độ thí sinh.   4. Tổ chức thi theo cụm.              Việc  coi thi, chấm thi được tổ chức theo cụm. Bộ GD-ĐT sẽ công bố các cụm  thi và giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức coi thi, chấm thi cho các trường  đại học đủ năng lực.              Tại các địa phương không có cụm thi do  trường đại học chủ trì, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những thí sinh  tham dự kỳ thi chỉ để xét công nhận tốt nghiệp THPT, Bộ GD-ĐT sẽ thống  nhất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức một số cụm thi do các Sở GD-ĐT  chủ trì.   5. Xét công nhận tốt nghiệp THPT.              Các Sở GD-ĐT  kết hợp sử dụng kết quả bốn môn thi tối thiểu với điểm trung bình cả năm  lớp 12 và điểm khuyến khích (nếu có) để xét công nhận tốt nghiệp THPT.   6. Đăng ký tuyển sinh đại học, cao đẳng sau khi làm bài thi.                Trước  ngày 01 tháng 01 hằng năm, các đại học, học viện, trường đại học, cao  đẳng (gọi chung là trường ĐH, CĐ) công bố mức độ và cách thức sử dụng  kết quả của kỳ thi để tuyển sinh.              Căn cứ kết quả thi, Bộ GD-ĐT  công bố ngưỡng điểm xét tuyển tối thiểu đối với từng môn. Các trường ĐH,  CĐ sử dụng kết quả kỳ thi dựa trên ngưỡng điểm này để tuyển sinh theo  quy định của quy chế.              Căn cứ chỉ tiêu tuyển sinh của trường ĐH,  CĐ và kết quả thi của mình, thí sinh đăng ký tuyển sinh vào các trường  theo nguyện vọng cá nhân.              Các trường ĐH, CĐ tuyển sinh theo các  phương thức khác phải xây dựng và công bố công khai Đề án tự chủ tuyển  sinh theo quy định của quy chế.            Author                Quản trị        
0.08994708994708994
__label__tiasang Đổi mới thi cử vì cái gì?      Trong vài chục năm qua, có thể nói rằng chưa khi nào việc đổi mới thi cử lại được bàn thảo nhiều như hiện nay với nhiều ý kiến khác nhau trong việc trả lời câu hỏi chính đặt ra đối với giáo dục: dạy học như thế nào? đổi mới thi cử vì cái gì ?       Đi tìm câu trả lời, hãy so sánh các phương án thi cử từ trước 2014, cuối năm học 2013-2014, và những dự kiến từ năm học 2014-2015 trở đi (xem bảng), để xem thử “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt dẫn dắt mọi sự thay đổi này là gì, thông qua 9 câu hỏi bên dưới.            Môn thi      Trước 2014      2014      Từ 2015              Phương án 1      Phương án 2      Phương án 3          Toán      TL 150 phút      TL 120 phút      TL 180 phút      A      A          Tin học      –      –      –      –          Vật lí      TN 60 phút      TN 60 phút      TN 90 phút      B      B          Hoá học      TN 60 phút      TN 60 phút      TN 90 phút          Sinh học      TN 60 phút      TN 60 phút      TN 90 phút          Ngữ văn      TL 150 phút      TL 120 phút      TL 180 phút      C      C          Lịch sử      TL 90 phút      TL 90 phút      TL 180 phút      D          Địa lí      TL 90 phút      TL 90 phút      TL 180 phút          Giáo dục   công dân      –      –      –      –          Ngoại ngữ      TN 60 phút      TN 40 phút + TL 20 phút      TN 90 phút      E      D          Tổng thời gian thi      510 phút      360-390 (phút)      540-630 (phút)      ≥ 600 phút*      ≥ 540 phút*          Tổng số môn thi**      6 môn      4 môn      ≥ 4 môn      8 môn      10 môn          Số lượt thi      6 lượt      4 lượt      ≥ 4 lượt      5 lượt      4 lượt          Xét tốt nghiệp      Điểm thi      Điểm thi + ĐTB lớp 12      Điểm thi      Điểm thi      Điểm thi          Chú thích:  – TL: tự luận; TN: trắc nghiệm  – In đậm: bắt buộc; in nghiêng: tự chọn  – *: Chỉ là ước tính dựa trên phương án 1, do không có thông tin chi tiết   – **: Là số môn học có kiến thức được sử dụng trong bài thi (dù thi riêng rẽ hay tích/tổng hợp)  1. Giảm số môn thi ?  Nếu như số môn thi có thể thấy rõ là giảm ngay trong kì thi 2014, thì đó lại không phải là xu hướng bất di bất dịch. Dự trù thay đổi từ 2015, phương án 1 có 3 môn thi bắt buộc và 1 môn tự chọn, tổng cộng là 4. Nhưng ở hai phương án 2 và 3, tổng số môn học sinh cần phải học để thi (trong các bài thi riêng rẽ hay tích/tổng hợp) lại tăng lên hơn cả so với trước năm 2014. Có nghĩa rằng, với những người lập ra các phương án này, một kì thi với kiến thức của 4 môn, 6 môn, 8 môn hay 10 môn đều có thể chấp nhận được cả.   Điểm chung nhất của tất cả các phương án này làm giảm số lượt thi (tức số lần vào phòng thi) của mỗi thí sinh, chứ không phải số môn thí sinh phải học để thi.  2. Giảm thời lượng thi?  Trong kì thi 2014, tổng số môn phải tổ chức thi là 8. Theo đúng “luật chơi”, số buổi thi cũng sẽ tăng lên thành 8; và với lí do tiết kiệm chi phí, các môn thi có thời lượng ít được ghép vào một buổi để giảm số buổi thi. Đồng thời, thời gian thi của hai môn Văn, Toán được giảm xuống còn 120 phút so với 150 phút trong những năm trước đó. Trong ba phương án mới nêu ra, khả năng thứ nhất là tổ chức thi các môn riêng lẻ như từ trước đến nay, mỗi môn một buổi, nhưng với thời lượng tăng cao hơn so với từ 2014 về trước; khả năng thứ hai là tổ chức tích/tổng hợp các môn thành những bài thi chung, nhưng tích hợp hay tổng hợp thế nào, thời gian và liều lượng mỗi môn là bao nhiêu thì tất cả còn bỏ ngỏ.   Dù theo khả năng nào thì tổng thời gian cho tất cả các môn/bài thi đều tăng cao hơn so với trước 2014, và tối thiểu là gấp rưỡi so với kì thi 2014.    3. Chú trọng kết quả học tập trong năm?  Khi biện giải cho sự thay đổi ở kì thi 2014, các nhà lãnh đạo ngành đã nhất mực khẳng định rằng lấy kết quả thường kì trong năm học để xét tốt nghiệp là chính xác và đúng đắn. Trên lí thuyết, điều đó đúng và khoa học lượng giá giáo dục luôn khuyến cáo chú trọng việc đánh giá thường kì. Chỉ có điều trong thực tế giáo dục Việt Nam hiện nay, dùng kết quả đánh giá thường kì ở cấp cơ sở để xác nhận trình độ ở cấp quốc gia vẫn là một ước mơ chưa thể trở thành hiện thực ngay lập tức. Ba phương án mới nêu ra không còn đề cập đến chuyện này, không ai nói rõ lí do tại sao. Có thể ngầm hiểu rằng thực tế áp dụng trong năm 2014 đã cho thấy chưa thể đạt được sự công bằng cần thiết, vì độ dị biệt về chất lượng giáo dục phổ thông giữa các địa phương trong nước cũng như giữa các cơ sở giáo dục ở mỗi địa phương còn quá lớn.  Một vấn đề khác là đề thi năm 2014 không có sự phân biệt giữa phần cơ bản và phần nâng cao như những năm trước. Không biết dụng ý của nhà tổ chức là gì, nhưng đây chắc chắn là một “án tử” cho chương trình phân ban hiện hành. Biết rằng cách phân ban như đang có là không giống ai, nhưng lại mới xuất hiện thêm một ý tưởng “nửa nạc nửa mỡ” không kém là để đưa lớp 10 xuống bậc THCS để gọi là tăng thời gian giáo dục bắt buộc và tạo điều kiện thuận lợi cho phân luồng, định hướng nghề nghiệp. Bài này không bàn sâu về việc định hướng nghề nghiệp trong giáo dục, nhưng có thể nhận định rằng đó là những phép tính cộng trừ cắt ghép một cách cơ học mà xa rời bản chất vấn đề về mặt giáo dục. Một lần nữa, sự thay đổi thi cử nói là nhằm chú trọng đánh giá chất lượng dạy học thường kì nhưng thực tế lại rời xa và bỏ ngỏ bao nhiêu điều bề bộn trong nhà trường phổ thông một cách đột ngột mà không cho thấy một tín hiệu hay một triển vọng dài hạn khả quan nào cả.  4. Không gây xáo trộn cho học sinh và giáo viên?  Dù nói thế nào, những thay đổi về chế độ thi cử trong năm 2014 đã là một cú sốc thực sự cho cả học sinh và giáo viên. Theo bảng trên, trong vòng một năm tổng thời gian thi giảm đột ngột 30 % rồi lại tăng ào ạt lên hơn 50 %. Khó có thể nói rằng đây là một lộ trình thay đổi có tính chất liên tục. Cả cách ra đề cũng vậy, dù biết rằng ra đề theo hướng mở là điều nên làm và lẽ ra phải làm từ lâu. Nhưng trong khi tất cả đã chuẩn bị tâm thế từ đầu năm học theo lối cũ, đến gần chờ chót “trọng tài” mới thay đổi “luật chơi” khiến tất cả đều rơi vào trạng thái hoang mang, bối rối. Cú sốc ấy đương nhiên mọi người sẽ vượt qua vì đi theo chiều hướng tích cực, nhưng một mặt lẽ ra cần chuẩn bị kĩ càng hơn để có tâm thế tiếp nhận tốt hơn, mặt khác khi cú sốc này chưa xong lại phải nhận thêm cú sốc khác, thậm chí không theo hướng tích cực, thì làm sao? Khả năng ấy hoàn toàn là hiện thực khi có đến hai trong ba phương án nói đến bài thi tích/tổng hợp, trong khi hầu hết các điều kiện tối thiểu nhất cho việc này đều có vẻ chưa sẵn sàng.  5. Tạo cơ sở cho các trường đại học tuyển sinh?  Xét theo thói quen lâu nay, các trường tuyển sinh theo khối A, B, C, D,… Trong thực tế, số đông học sinh đều chọn giải pháp an toàn bằng cách thi nhiều đợt, tức nhiều khối/môn, vào nhiều ngành. Lại có nhiều ngành đào tạo chấp nhận tuyển sinh theo nhiều khối thi, lấy kết quả của nhiều môn thi. Giả sử năm 2015 bỏ kì thi tuyển sinh đại học và dùng kết quả thi tốt nghiệp THPT để xét, phương án 1 chỉ có lợi cho thí sinh muốn thi các khối A1, D, và nhóm ngành nghệ thuật, năng khiếu (thường chiếm số ít), còn lại các em muốn theo các khối khác (A, B, C, K – thường chiếm số nhiều) phải thi thêm tối thiểu 1 môn so với quy định. Như vậy lại làm tăng số môn phải học thi hoặc thời lượng thi của thí sinh trong khi chỉ giới hạn lựa chọn ngành nghề ở 1 hoặc 2 khối tuyển sinh.  Hoặc trường hợp khác, nếu thí sinh đã thi đậu năm trước nhưng không đủ điểm trúng tuyển thì phải đăng kí thi lại vào năm sau. Thế là vừa phi logic (vì đã thi đậu tốt nghiệp rồi mà cứ phải thi tốt nghiệp nữa để tìm cơ hội vào đại học), vừa lặp lại cái vòng lẩn quẩn hao phí tiền bạc, thời gian và công sức để thi, thi và thi mỗi năm… Hai phương án kia cũng chẳng hơn gì, bởi các bài thi tích/tổng hợp còn chưa biết diện mạo ra sao, phân phối tỉ lệ kiến thức giữa các môn như thế nào, làm sao để sử dụng kết quả bài thi chung để xét tuyển vào các ngành có yêu cầu đặc thù (đừng quên chuyện mới đây vừa cho phép nhiều ngành xác định môn thi chính, rồi tạo rắc rối vòng quanh trong chuyện quy đổi điểm số)… Gần đây, thông tin cho biết hầu hết các trường đại học ủng hộ phương án 2, điều đó có nghĩa rằng, một mặt các trường sẵn sàng huy động lực lượng để thay đổi hoàn toàn phương thức tuyển sinh theo khối, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự cần thiết của việc đánh giá toàn diện nhiều mặt kiến thức và kĩ năng tổng quát căn bản của học sinh phổ thông.    6. Đánh giá năng lực học sinh thay vì kiểm tra kiến thức?  Trong các ý kiến thảo luận về vấn đề thi cử, có những cuộc mổ xẻ từ ngữ về mặt hình thức, rằng học để thi hay thi để học, học gì thi nấy hay thi gì học nấy, trắc nghiệm hay tự luận, đánh giá năng lực hay đo lường kiến thức, v.v. mà không đi vào đúng bản chất sự việc.  Thi để học hay thi gì học nấy là đúng, vì kiểm tra đánh giá phải bám sát mục tiêu dạy học, mà mục tiêu dạy học là yếu tố quyết định nội dung và quá trình tổ chức dạy học. Học để thi hay học gì thi nấy cũng đúng, vì kiểm tra đánh giá cần phải dựa trên cơ sở những nội dung và hoạt động dạy học diễn ra trong thực tế. Sẽ không công bằng nếu đưa vào đánh giá những kiến thức học sinh chưa được làm quen hay những năng lực chưa được rèn luyện trong suốt quá trình dạy học. Cả hai mặt không bên nào kém quan trọng hơn bên nào.  Cũng như là, ai làm giáo dục hẳn đều biết tháp Bloom với sáu bậc năng lực nhận thức, từ thấp lên cao: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Trắc nghiệm hay tự luận đều có thể đánh giá được hầu hết các mức độ này, nhưng với hiệu quả và hiệu suất khác nhau tuỳ từng hoàn cảnh. Năng lực là quan trọng mà kiến thức cũng không thể thiếu, bởi không biết thì làm sao hiểu, không hiểu thì không thể vận dụng, chưa vận dụng được thì khó mà biết phân tích, tổng hợp, đánh giá. Bài toán “Tuổi của thuyền trưởng” gây xôn xao dư luận vừa qua không phải do đề sai, cũng không phải do học sinh không biết tư duy, mà là do dùng bài toán sai bối cảnh. Ở độ tuổi lớp 2, các em chỉ mới học biết và hiểu, trong khi phát hiện bài toán không có lời giải là năng lực đánh giá, đòi hỏi không chỉ biết, hiểu và vận dụng, mà cả các năng lực phân tích, tổng hợp mà các em chưa thực sự được trải nghiệm. Lại còn thêm ảnh hưởng của “quy ước sư phạm”, một dạng thoả thuận ngầm trong dạy học rằng mọi đề bài giáo viên nêu ra đều có đáp án; muốn phá vỡ quy ước đó thì phải tập cho quen trước khi áp dụng đại trà và thường xuyên.  Đề thi năm 2014 cũng vậy, cho học sinh phát biểu tự do về vấn đề biển Đông hay về tình trạng thất nghiệp cũng tốt, nhưng nếu trong suốt năm học 12 và nhiều năm trước đó, các em chưa được tạo điều kiện thực hành thói quen này thì dù đề mở, đề hay cũng vẫn cứ sai quy tắc sư phạm. Thực ra đây là một xu hướng tích cực, đã được hình thành từ nhiều năm, nhưng chỉ rải rác ở vài môn thi và chưa đủ sức trở thành chủ đạo. Lẽ ra, cần phải làm điều này từ lâu, liên tục và đều khắp ở các kì thi quốc gia, trong tất cả các môn, để điều chỉnh ngược trở lại phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông, hạn chế dần tình trạng học từ chương máy móc, kích thích dần tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh. Điều đáng nói là, đề mở theo hướng đánh giá năng lực và cảm nhận của học sinh hoàn toàn có thể áp dụng dễ dàng trong kì thi 2014 mà không cần phải thay đổi số môn thi và thời lượng thi (vì khi đó tất cả đều đã chuẩn bị tinh thần thi bắt buộc 6 môn như mọi năm).  7. Giảm áp lực thi cử?  Áp lực thi cử có thể bao gồm một số yếu tố chính đã nêu trong các câu hỏi trên, như số môn thi, số lượt làm bài thi, thời lượng thi, tính chất đề thi,… Trong kì thi 2014, áp lực có vẻ giảm đi cho thí sinh vì số môn thi và thời lượng thi được giảm nhiều. Nhưng áp lực thực sự không giảm bởi vì, với số lượng thí sinh và phòng thi không đồng đều, không ổn định ở các môn tự chọn, hội đồng thi phải làm việc cho cả 8 môn thi, giải quyết những sự vụ phức tạp trong việc phân bổ phòng thi, thí sinh và giám thị. Áp lực cũng có vẻ giảm ở năm 2014 khi thí sinh còn may mắn được “đỡ” bằng 50 % điểm đánh giá trong năm học (mà không ai dám khẳng định rằng có độ tin cậy cao và đều khắp trong cả nước). Nhưng rồi áp lực ấy không hẳn là giảm khi từ năm 2015 trở đi thời lượng thi sẽ tăng đột ngột mà không rõ lí do, số môn thi bắt buộc sẽ có thêm môn ngoại ngữ dù nhiều nơi trong nước vẫn còn khó khăn không đủ điều kiện để giảng dạy tốt, phần đông sẽ phải thi thêm môn (tức tăng thêm thời lượng thi một lần nữa) để đáp ứng được nhu cầu tuyển sinh đại học…   Đấy là theo phương án 1 đang được ưu tiên, chứ theo các phương án 2 và 3 thì áp lực sẽ còn thêm ở chỗ vừa tăng thời lượng, vừa tăng số môn, vừa thi theo kiểu tích hợp chưa nên hình hài, vừa âu lo không biết thi như thế thì kết quả sẽ dùng để tuyển vào đại học thế nào…  8. Giảm chi phí xã hội?  Có những lời khẳng định rằng kì thi tốt nghiệp THPT 2014 có 5 buổi thi, giúp tiết kiệm chi phí. Nhưng suy xét kĩ, bản chất đó vẫn là một kì thi 8 môn, hội đồng vẫn làm việc cho 8 môn, chi phí và công sức vẫn phải tính cho 8 môn. Mà có những môn thì có đông thí sinh cần rất nhiều người trông coi, lại có những môn có rất ít hay chỉ 1 thí sinh thì vẫn cần có một lượng người đáng kể trông coi. Bằng ngược lại, nếu tính công cho hội đồng thi theo buổi để bảo rằng giảm chi phí so với khi thi 6 buổi cho 6 môn, đó sẽ là nhờ “ăn” trên mồ hôi, công sức và sự căng thẳng của cán bộ coi thi khi phải làm việc gấp đôi so với trước kia với cùng mức đãi ngộ. Do đó, chi phí thực nếu tính đúng thực chất sẽ khó có thể giảm đi so với trước đây.  Sự tốn kém của một hệ thống thi cử kém hiệu quả còn lớn hơn nhiều khi xét rộng ra cả quá trình chuyển tiếp lên đại học, hay ra đời. Có người phê phán thực trạng yếu kém của giáo dục đại học, rằng sinh viên ra trường đến cả ngữ pháp, chính tả còn sai, soạn một văn bản hành chính cũng không được, những kĩ năng làm việc và ứng xử cơ bản nhất đều phải đào tạo lại, v.v. Nhưng đấy không phải là lỗi trước tiên của giáo dục đại học, mà là của giáo dục phổ thông. Bởi vì, trang bị những kiến thức xã hội tổng quát, rèn luyện những kĩ năng tư duy và ứng xử cơ bản của một công dân, đấy là nhiệm vụ của giáo dục phổ thông, còn nhiệm vụ chính của giáo dục đại học là đào tạo chuyên môn sâu và rèn giũa những kĩ năng đã hình thành trước đó. Như là những hạt mầm cần được ươm gieo trong trường phổ thông cho nẩy thành cây con, định hình rễ thân cành lá trước khi chuyển giao cho đại học phát triển thêm, cho trưởng thành, cứng cáp, trước khi vào đời đơm hoa, kết trái. Khi không học tiếp đại học mà ra đi làm (ngay lập tức hay sau một gian đoạn ngắn học nghề), những kiến thức và kĩ năng cơ bản trang bị trong trường phổ thông cũng sẽ đủ để những người trẻ thích ứng được với đời sống lao động.  Nay, vì bệnh thành tích mà hầu như không địa phương nào chịu “thua chị kém em”, tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông cứ phải tiệm cận tuyệt đối. Học sinh dù đọc không thông, viết không thạo, để cầm compa vẽ hình tròn cũng không được, kiến thức tổng quát hổng lỗ chỗ… tất cả đều được đẩy ra khỏi nhà trường phổ thông bằng mọi cách, theo toan tính thành tích giả tạo có mà do tình thế bắt buộc một cách vô vụ lợi cũng có. Trường đại học, vì cần đảm bảo một mức chất lượng tối thiểu, vốn đã từ một xuất phát điểm thấp, phải tiến hành một cuộc sàng lọc để mong chọn được các sản phẩm tốt nhất xuất từ “lò” phổ thông. Điểm sàn tuyển sinh năm nào cũng dưới mức trung bình mà tất cả đều phải chấp nhận để tuyển vào. Ngay cả các em đạt điểm tuyển thì cũng không hẳn do có đầy đủ các năng lực cơ bản cần thiết, mà một phần không nhỏ là do chỉ tập trung mũi nhọn vào những môn thi tuyển. Cái nghịch lí ấy, “nguyên liệu” đầu vào đã vàng thau lẫn lộn, lại phải lấy cả dưới mức tiêu chuẩn để mà đào tạo, làm sao giúp các trường đại học đảm bảo được đồng nhất chất lượng sản phẩm đầu ra? Khâu đầu trong dây chuyền sản xuất không làm tốt việc của mình, tất cả các khâu còn lại sẽ vừa suy giảm năng suất, vừa tốn kém thêm thời gian và chi phí để sửa lỗi, bù đắp khiếm khuyết, mà khó lòng đạt được hiệu suất cao nhất.  9. Vì một kì thi chung?  Khi dùng các khái niệm thi chung, thi riêng, rất dễ có nguy cơ gây nhầm lẫn khái niệm và làm rối tung mọi vấn đề. Nhất là khi gán cho kì thi ấy cả hai nhiệm vụ mà nhiều người cho là khác biệt, có khi đến mức khó dung hoà (dù thực tế không hẳn là vậy). Cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn, kì thi tốt nghiệp THPT ở Việt Nam nhất thiết không nên bỏ, nhưng cần phải sửa(1). Còn sửa thế nào, thì điều kiện tiên quyết là chỉ cần xác định đúng một mục tiêu: kì thi tốt nghiệp THPT cần phải đảm bảo đánh giá đúng chất lượng giáo dục phổ thông theo một chuẩn mực chung trong toàn quốc, kiểm chứng được kết quả đánh giá thường kì tại các cơ sở giáo dục trong suốt các năm học phổ thông. Khi có được sự tin cậy ấy, không cần bắt buộc, các trường đại học cũng sẽ tự nguyện sử dụng kết quả kì thi này (kèm với kết quả đánh giá thường kì) trong việc tuyển sinh của mình. Tự chủ tuyển sinh sẽ là một việc tất yếu phải diễn ra.  Trong các phương án thay đổi, nhiều người ủng hộ hướng tổ chức các bài thi tích hợp và hay dẫn kinh nghiệm của nước Mỹ như là một hình mẫu để noi theo. Chúng ta không phủ nhận những đặc điểm ưu việt của mô hình Mỹ, nhưng rất cần cẩn trọng giữa những nhận định, phán xét dựa vào kinh nghiệm chủ quan, và những nghiên cứu thấu đáo về khoa học giáo dục. Nước Mỹ có những điểm khác biệt cốt lõi là thể chế chính trị liên bang, năng lực kinh tế-tài chính, trình độ tổ chức xã hội, luật pháp, tinh thần trách nhiệm, chất lượng đào tạo con người,… của họ ở một tầm mức cao hơn hẳn so với Việt Nam. Nên cho dù “giấc mơ Mỹ” rất đẹp thì điều chúng ta cần không phải là bắt chước máy móc những gì họ làm ngày hôm nay, mà nghiệm ra cả con đường phát triển của họ từ quá khứ, để biết được cái đích cần đến, và quan trọng hơn là vạch ra được con đường dẫn đến cái đích ấy, sao cho phù hợp với điều kiện và năng lực của mình./.  ———————————–  * Nghiên cứu sinh, ngành Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg, Pháp  1 http://www.tienphong.vn/giao-duc/co-nen-bo-ky-thi-tot-nghiep-thpt-746048.tpo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới tiêu chí và thủ tục xét, bổ nhiệm GS, PGS      Hầu hết ý kiến tranh luận trong cộng đồng  khoa học, giáo dục về việc Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) ra qui chế bổ  nhiệm GS, PGS cho thấy cần phải đổi mới tiêu chí và thủ tục xét bổ nhiệm  GS, PGS theo thông lệ quốc tế và đã đến lúc Nhà nước cần giao quyền cho  cơ sở giáo dục trong việc xét bổ nhiệm GS, PGS. Nhưng thay đổi như thế  nào là bài toán không đơn giản.      Bài viết này trao đổi một số vấn đề về nguyên tắc, tiêu chí và thủ tục xét, bổ nhiệm GS, PGS trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.   Bất cập từ quan niệm và cách làm  Ở các nước có nền KH&CN, GD&ĐT phát triển, việc xét chức danh GS, PGS là việc tuyển chọn các ứng viên xứng đáng vào một vị trí nghiên cứu, giảng dạy của một trường đại học. Theo đó các bộ môn khoa học mới thành lập hoặc các vị trí nghiên cứu giảng dạy có nhân sự nghỉ hưu mới tuyển dụng GS, PGS cho các vị trí đó, thì ở ta việc xét bổ nhiệm GS, PGS từ trước tới nay hầu như xa rời các tiêu chí quốc tế, trong đó xét, bổ nhiệm để vinh danh hơn là để đảm nhận vị trí nghiên cứu, giảng dạy của cơ sở giáo dục.           Qui trình xem xét phong PGS/GS của Việt Nam quá phức tạp, cân đo đong đếm một cách máy móc thậm chí nhiêu khê qua ba cấp hội đồng, trong đó cấp Hội đồng ngành là thừa và lãng phí thời gian, công sức của cả ứng viên và hội đồng.        Trên thế giới, việc xét bổ nhiệm GS, PGS mặc dù có đôi chút khác nhau ở mỗi nước nhưng đều hầu như đều tuân thủ ba nguyên tắc chung: GS, PGS là một chức danh nghiên cứu và giảng dạy trình độ cao trong trường đại học; số lượng GS, PGS của mỗi trường đại học được xác định theo yêu cầu nghiên cứu và đào tạo cụ thể của trường; việc xem xét và bổ nhiệm chức danh GS, PGS là công việc của trường đại học. Trong khi đó ở ta, từ quan niệm đến cách làm đều ngược với nguyên lý phổ quát của thế giới, như: Coi GS, PGS là chức danh thay cho chức vụ, chức danh GS, PGS có hiệu lực cả đời thay vì chức vụ có thời hạn đảm nhiệm tại trường đại học, Viện nghiên cứu; bổ nhiệm GS, PGS không gắn với nhu cầu và vị trí cụ thể của cơ sở giáo dục; tiêu chuẩn nhiều nhưng không chú trọng đến thành tích công bố quốc tế; nhiều tiêu chí được quốc tế đánh giá cao như: phục vụ khoa học – tham gia các hội đồng xét duyệt đề tài, hội đồng biên tập tạp chí, chủ trì hội nghị, hội thảo khoa học, khách mời báo cáo hội nghị khoa học, tham gia các hiệp hội chuyên ngành v.v. lại không được xem xét ở Việt Nam; qui trình xem xét của Việt Nam quá phức tạp, cân đo đong đếm một cách máy móc thậm chí nhiêu khê qua ba cấp hội đồng, trong đó cấp Hội đồng ngành là thừa và lãng phí thời gian, công sức của cả ứng viên và Hội đồng; thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm và yêu cầu tỷ lệ “phiếu tín nhiệm” ở ba cấp – có tính chất quyết định chung cuộc là hoàn toàn vô lý và không cần thiết.   Rõ ràng cách làm không giống ai như hiện nay đã và đang gây ra nhưng hậu quả không hề nhỏ, như: Gây lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc của ứng viên và cả của nhà nước, vì muốn được xét phải trải qua nhiều thủ tục và nhiều minh chứng, phải tổ chức các hội đồng thẩm định, đánh giá ở ba cấp; tạo ra một môi trường phát sinh tiêu cực; Phần lớn GS, PGS không đạt chuẩn quốc tế, trong khi có nhiều người tài, trình độ quốc tế nhưng vì thiếu một vài điểm hoặc một vài giờ giảng dạy, hoặc vì không đủ số phiếu “tín nhiệm” nên bị loại; các vị trí cần người dạy (ở các trường đại học) thì không có đủ GS, PGS, chỗ không cần chức danh GS, PGS (cơ quan quản lý) thì lại thừa chức danh này; gây khó cho hội nhập quốc tế của đội ngũ khoa bảng mang danh GS, PGS cũng như cơ sở giáo dục đại học.   Đổi mới tiêu chí đánh giá và thủ tục bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư   1. Các nguyên tắc chung           Tổ chức hội đồng tuyển chọn GS, PGS theo hai cấp: Cấp cơ sở GD&ĐT và cấp Nhà nước, bỏ cấp trung gian là Hội đồng GS ngành.        Đổi mới việc xét, bổ nhiệm GS, PGS, trước hết cần giao quyền cho các cơ sở giáo dục, các trường đại học tự làm theo các tiêu chí, quy trình đánh giá chung, do Nhà nước ban hành và chịu trách nhiệm kiểm định thống nhất đối với tất cả các cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học cần có đề cương chi tiết về cơ cấu chuyên ngành đào tạo/nghiên cứu từ nhóm nghiên cứu/bộ môn/phòng (ban)/khoa (viện). Từ đó qui hoạch bao nhiêu nhóm nghiên cứu ứng với bao nhiêu vị trí GS/PGS. Với các đại học hoặc cơ sở giáo dục đại học không hội đủ chuẩn về chuyên ngành đào tao, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giảng dạy cơ hữu cần được tái cấu trúc, sáp nhập hoặc giải thể.  Giao quyền cho cơ sở giáo dục đại học: Mỗi cơ sở giáo dục cần xác định sơ đồ đào tạo và nhu cầu bổ nhiệm GS, PGS: Trước hết, Nhà nước (Bộ GD&ĐT) xây dựng qui chế chung về khung thang bậc của nhà giáo/nhà nghiên cứu trong các trường đại học, số lượng và tiêu chuẩn của mỗi vị trí trong đó có tiêu chuẩn GS, PGS. Qua đó mỗi cơ sở giáo dục cần xây dựng bộ máy đào tạo chi tiết đến từng chuyên ngành đào tạo và đội ngũ giảng viên cho mỗi chuyên ngành, trong đó mỗi chuyên ngành cần hai-ba GS, PGS chịu trách nhiệm chính.  Vai trò của nhà nước: Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) chỉ đóng vai trò thẩm định và giám sát việc xét và bổ nhiệm GS, PGS của các các cơ sở giáo dục đại học đại học.  2. Tiêu chuẩn đánh giá bổ nhiệm GS, PGS   Chức danh GS, PGS là vị trí nghiên cứu giảng dạy gắn với cơ sở giáo dục đại học: Những người không tham gia giảng dạy hoặc thôi giảng dạy đại học thì không mang chức danh GS, PGS. Đối với những người đã nghỉ hưu mà vẫn được mời tham gia giảng dạy, đào tạo thì được bổ nhiệm là GS danh dự (eremitus professor). Do đó điều kiện quan trọng nhất để lựa chọn và bổ nhiệm được GS, PGS là những người có kinh nghiệm và thành tích nghiên cứu và đào tạo quốc tế, dẫn đến tiêu chí để xét chọn GS, PGS phải là:  Thành tích công bố quốc tế: Đối với chức danh GS cần phải có ít nhất 10 công bố trên tạp chí thuộc danh sách ISI. Đối với chức danh PGS cần có ít nhất năm công bố trên tạp chí thuộc danh sách ISI. (Thật ra, định lượng công bố này cũng chỉ bằng 1/5 so với yêu cầu quốc tế thường được áp dụng ở các nước phát triển). Đối với các ngành khoa học xã hội có thể yêu cầu số công bố quốc tế ít hơn nhưng cũng là điều kiện bắt buộc.  Kinh nghiệm nghiên cứu: Ứng viên GS, PGS đã chủ trì thành công từ ba đến năm đề tài nghiên cứu với tài trợ quốc tế hoặc tài trợ của Quỹ NAFOSTED.  Giảng dạy: Đang tham gia giảng dạy đại học, sau đại học cho các cơ sở GD&ĐT trong nước và quốc tế, có giáo trình phục vụ giảng dạy.  Hướng dẫn NCS, Cao học: đã và đang tham gia hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn NCS và Cao học cho các cơ sở GD&ĐT trong nước và đại học quốc tế.  Phục vụ cộng đồng KH&CN: Ứng viên được mời tham gia ban biên tập các tạp chí trong nước, quốc tế, chủ trì hội nghị, hội thảo quốc gia, quốc tế, tham gia các hội đồng xét duyệt đề tài quốc gia, quốc tế.   Ngoại ngữ: Tiếng Anh thành thạo đủ trình độ giao tiếp, giảng dạy, viết bài công bố khoa học.  3. Hồ sơ của ứng viên  Đăng ký hồ sơ online: HĐCDGSNN cần bản đăng ký chức danh GS, PGS online để ứng viên khai trực tiếp các mục, tiêu chuẩn theo yêu cầu kèm theo các minh chứng về thành tích nghiên cứu, giảng dạy (bài báo, sách, bằng cấp…) được upload lên mạng của HĐCDGSNN.   Biên bản xác nhận và giới thiệu của đơn vị cơ sở: Hồ sơ đăng ký chức danh cần được đánh giá sơ bộ thông qua ở cấp (Phòng/Ban/Khoa) gồm năm-bảy thành viên, có trình độ TS trở lên là những nhà khoa học cùng bộ môn/phòng, khoa hoặc phòng, ban gần chuyên môn với ứng viên. Trên cơ sở xem xét hồ sơ của ứng viên, đối chiếu với tiêu chuẩn của HĐCDGSNN, tiểu ban sẽ đánh giá, góp ý và bỏ phiếu xác nhận các tiêu chuẩn của ứng viên, nếu đạt với số phiếu trên 50% thì lập biên bản kiến nghị gửi lên Hội đồng Cơ sở GD&ĐT.  Nộp bản đăng ký xét chức danh GS, PGS: Sau khi hoàn thành đăng ký online ứng viên in ra một bản ký tên và xin xác nhận của cơ sở GD&ĐT để nộp chính thức.  4. Tổ chức đánh giá và bổ nhiệm GS, PGS  Tổ chức hội đồng tuyển chọn GS, PGS theo hai cấp: Cấp cơ sở GD&ĐT và cấp Nhà nước, bỏ cấp trung gian là Hội đồng GS ngành.  Hội đồng GS Cơ sở GD&ĐT. Nhiệm vụ của Hội đồng cơ sở là thẩm định hồ sơ của các ứng viên GS, PGS thuộc cơ sở GD&ĐT của mình hoặc các ứng viên khác đăng ký vị trí GS, PGS tại cơ sở GD&ĐT. Hội đồng cấp cơ sở gồm 11-13 thành viên là các GS, PGS của cơ sở GD&ĐT hoặc thành viên mời là các GS, PGS cùng chuyên ngành từ các cơ sở GD&ĐT khác.  Thẩm định hồ sơ của ứng viên. Việc thẩm định căn cứ vào hai yếu tố: ứng viên có đáp ứng các tiêu chí theo yêu cầu của chức danh GS, PGS của HĐCDGSNN hay không; có đáp ứng vị trí GS, PGS của cơ sở GD&ĐT cần tuyển chọn không.   Phỏng vấn ứng viên: Hội đồng GS Cơ sở GD&ĐT tổ chức cuộc họp để phỏng vấn ứng viên với mục đích xác định những vấn đề thuộc tiêu chuẩn GS, PGS mà ứng viên khai báo; đánh giá năng lực giảng dạy; và trình độ tiếng Anh của ứng viên.  Nộp hồ sơ ứng viên lên HĐCDGSNN: cùng hai biên bản – biên bản thẩm định hồ sơ và biên bản phỏng vấn ứng viên (theo mẫu do HĐCDGSNN ban hành) để HĐCDGSNN tổ chức thẩm định.  HĐCDGSNN bao gồm 21-25 thành viên là giáo sư các chuyên ngành khác nhau. Nhiệm vụ của HĐCDGSNN bao gồm: thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ của các ứng viên GS, PGS ở cấp cơ sở xem có tuân thủ đúng quy trình và đáp ứng các tiêu chí GS, PGS không; bỏ phiếu xác nhận kết quả thẩm định hồ sơ GS, PGS của từng ứng viên (đạt 50% trở lên); và ban hành quyết định công nhận ứng viên đủ tiêu chuẩn chức danh GS, PGS.   5. Bổ nhiệm chức danh GS, PGS   Trên cơ sở Quyết định công nhân ứng viên đủ tiêu chuẩn chức danh GS, PGS của HĐCDGSNN, cơ sở giáo dục ban hành quyết định bổ nhiệm chức danh GS, PGS cho ứng viên. Trong quyết định bổ nhiệm cần ghi rõ GS, PGS của cơ sở giáo dục đại học cụ thể, nhiệm vụ nghiên cứu giảng dạy, ngạch, bậc và nhiệm kỳ của GS, PGS.   ***  Hy vọng Học viện KH&CN Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học mới được thành lập, sẽ là nơi tiên phong áp dụng cách làm mới để hội nhập quốc tế.       Author                Nguyễn Ngọc Châu        
__label__tiasang Đổi mới tư duy về vai trò của  tư nhân trong giáo dục đại học      Theo The Economist số ngày 10/4, vào thời  điểm đầu năm 2012 nước Mỹ vẫn là một trong những nền kinh tế có năng  suất cao nhất thế giới của mọi thời đại, và “ngành công nghiệp” thành  công nhất với mức xuất khẩu cao nhất của nền kinh tế năng động này chính  là giáo dục đại học.    Có được thành quả đó, một trong những nguyên nhân chủ yếu là toàn bộ nền giáo dục đại học không phân biệt công tư, vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận đều được đối xử sòng phẳng trên cơ sở quyền thông tin của người học và sự điều tiết và giám sát của nhà nước. Sự khác biệt duy nhất giữa các trường phi lợi nhuận (công lập và tư thục phi lợi nhuận) và các trường vì lợi nhuận chỉ là sự sở hữu tài sản và chính sách thuế. Yếu tố thị trường và cạnh tranh tồn tại rất rõ, và được xem là một tác nhân tốt cho sự phát triển của giáo dục đại học nói chung. Còn đối với Việt Nam thì tất cả những điều trên nghe chừng vẫn còn quá xa lại và mới mẻ và dường như có phần không phù hợp?  Từ vài thập niên nay chúng ta cũng đã có chủ trương “xã hội hóa giáo dục” hay nói cách khác là thu hút đầu tư của tư nhân vào giáo dục. Nhưng đường đi của khối đại học, cao đẳng ngoài công lập là một con đường không bằng phẳng, mà gập ghềnh khúc khuỷu. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa chính thức đưa vào Luật các khái niệm “vì lợi nhuận” và “phi lợi nhuận”. Và quan điểm toàn bộ giáo dục, kể cả giáo dục đại học, phải là “hàng hóa công”, là “công ích”, dường như cho đến nay vẫn là quan điểm thống trị.  Với một quan điểm như vậy nếu thực hiện được thì có lẽ cũng rất đẹp. Nhưng thực tế tuyệt đại đa số giảng viên đại học chưa sống được bằng đồng lương tại nhiệm sở chính thức của mình mà vẫn phải chạy đôn chạy đáo dạy thêm khắp nơi, không có thời gian và và điều kiện (tài liệu, thư viện) để cập nhật kiến thức chứ chưa nói là nghiên cứu để tạo ra những tri thức mới theo đúng nghĩa. Đa số sinh viên đi học thì ngán ngẩm với chương trình cũ kỹ với nhiều điều dường như không mấy hữu dụng. Và một điều rất hiển nhiên là hầu hết (tất cả?) mọi người nếu có đủ điều kiện thì sẽ hoàn toàn tự nguyện và thậm chí hãnh diện bỏ tiền túi để cho con em mình đi học ở những nơi mà giáo dục đại học được xem là một “món hàng” để xuất khẩu. Một món hàng cao cấp và tốn kém nhưng là một đầu tư xứng đáng vì những lợi ích cá nhân mà “người mua” sẽ nhận được.   Vì vậy để đạt chỉ tiêu 40% sinh viên theo học ở các đại học, cao đẳng tư thục vào năm 2020 thì một cuộc giải phóng tư duy về vai trò của tư nhân trong giáo dục đại học, nhằm vừa thu hút nguồn lực của xã hội để mở rộng tiếp cận giáo dục cho mọi người dân trong nước, lại vừa tập trung nguồn lực công để xây dựng thành công các đại học công lập hàng đầu, có lẽ là điều cấp bách nhất trong giai đoạn phát triển hiện nay của giáo dục Việt Nam.  Nếu không, thì e rằng việc tiếp tục phát triển khối trường ngoài công lập của Việt Nam vẫn sẽ là một con đường vô cùng gian truân, và sự tụt hậu đối với các nước xung quanh sẽ là một điều không còn gì phải bàn cãi nữa.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới tuyển sinh tại Hàn Quốc      Tờ Chonicle of Higher Education ngày 23/1/2011 đăng một bài viết rất đáng đọc, giới thiệu những thay đổi trong tuyển sinh đại học tại Hàn Quốc.    Với cái tựa “Đi tìm một hình mẫu sinh viên mới”, bài viết cho ta biết mục đích của việc cải cách tuyển sinh ở HQ là tìm những sinh viên không chỉ chăm học, thuộc bài, luôn trả lời đúng các đáp án đã học và có điểm số cao nhất ở mọi môn thi, mà còn tìm những sinh viên khác biệt, những người có tư duy phản biện, sáng tạo, lòng khao khát tri thức và sự đam mê nghề nghiệp. Đó là một cách làm rất đáng để cho chúng ta học tập trong kế hoạch đổi mới tuyển sinh như một bước trong nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam.  Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thú vị:  Trong khi gần 700.000 học sinh ưu tú đối mặt với kỳ thi tuyển sinh đại học khắc nghiệt diễn ra tại Hàn Quốc trong tháng 11 vừa qua, thì anh chàng Yu Hwa Young lại đang chơi tàu lượn cao tốc và chụp ảnh tại công viên Everland. Sao lại thế nhỉ?  “Mọi người rất ganh tị” – anh chàng 19 tuổi vừa tốt nghiệp từ trường THPT Posung cho biết.  Yu không tham dự kỳ thi tuyển sinh vì anh đã chính thức được nhận vào học ngành Quan hệ quốc tế tại trường Đại học Sogang; anh được nhận dựa trên số điểm TOEFL gần như tuyệt đối, một bài phỏng vấn, và các hoạt động ngoại khóa mà anh đã tham gia khi còn là học sinh trung học như tham gia vào tờ báo của trường và mô hình giả lập Hội đồng Liên hiệp quốc dành cho giới trẻ.  Việc cải cách tuyển sinh ở Hàn Quốc thực ra đã được bàn đến từ nhiều năm qua. Theo một bài viết trên tờ Korea Joongang Daily ngày 8/2/2011, hệ thống tuyển sinh ở Hàn Quốc hiện nay bị phê phán là quá cứng nhắc vì bị chính quyền trung ương khống chế quá chặt chẽ, làm mất đi tính tự chủ vốn rất cần thiết để các trường đại học có thể hoạt động một cách hiệu quả nhất để hoàn thành sứ mạng riêng và trong điều kiện riêng của từng trường.  Theo một bài viết đăng trên tờ Korea Herald ngày 23/11/2010, hiện nay việc tuyển sinh tại HQ đang dựa trên một bài thi chuẩn hóa (standardized test) theo kiểu SAT. Thí sinh dự thi trong một ngày với bài thi kéo dài đến 9 tiếng (!), và kết quả của nó là căn cứ duy nhất để quyết định xem học sinh sẽ được nhận vào học ở trường nào. Tất nhiên là một kỳ thi mang tính cạnh tranh khốc liệt như vậy hẳn phải gây rất nhiều áp lực đối với học sinh, và việc không đạt kỳ thi này gần như đồng nghĩa với việc kết thúc mọi mộng ước tương lai. Đó là lý do tại sao theo tờ báo thì hàng năm sau khi có kết quả kỳ thi thì lại có hàng loạt vụ tự tử. Và có đến 48% học sinh Hàn đã từng nghĩ đến việc tự sát, tờ báo này cho biết.  Rõ ràng là kỳ thi đầy áp lực và chỉ chú trọng năng lực hàn lâm rất hạn hẹp này cần được cải cách. Nhưng cải cách ra sao? Dưới đây là cách thức tuyển sinh mới được áp dụng tại Đại học Quốc gia Seoul được tờ Chronicle of Higher Education giới thiệu trong bài viết ngày 23/1/2011 đã nêu.  Đại học Quốc gia Seoul, trường đại học công hàng đầu tại Hàn Quốc, là một trong số những trường đại học đầu tiên áp dụng quy chế tuyển sinh riêng của họ.  “Khi chúng tôi mới bắt đầu công việc này, chúng tôi thậm chí còn không có chức danh phù hợp. Chúng tôi được là những chuyên gia nghiên cứu.” – trích lời của ông Lee Seung Yeon, một cán bộ tuyển sinh bắt đầu làm việc tại Đại học Quốc gia Seoul từ năm 2001 trong một xó của phòng hành chính. Trong suốt thập niên sau đó, với sự trợ giúp từ các nhà tư vấn từ Đại học California tại Berkeley và Đại học Cornell, các cán bộ tuyển sinh đã tổng hợp được một phương pháp không chỉ để xét tuyển điểm số hoặc thứ hạng mà còn cả chất lượng của việc chuẩn bị của các thí sinh nữa.  Ngày nay, Đại học Quốc gia Seoul đã có 24 cán bộ tuyển sinh và cả một tòa nhà dành riêng cho họ. Treo trên tường trong văn phòng của vị trưởng phòng là một bản vẽ của một cơ sở hạ tầng hiện đại trong tương lai. Phòng tuyển sinh điều phối một hệ thống phức tạp hơn trước đây rất nhiều, hệ thống này gồm 3 hướng tuyển sinh khác nhau nhằm tuyển cho trường khoảng 3.000 tân sinh viên hàng năm.  Hướng tuyển sinh quan trọng nhất cho phép các học sinh thể hiện hết các điểm mạnh của mình thay vì yêu cầu họ đạt được điểm số tối đa ở mỗi môn thi. Đa số các thí sinh phải tham gia kỳ thi tuyển sinh, nhưng họ cũng được đánh giá dựa trên điểm học phổ thông, thư giới thiệu từ các giáo viên, các bài luận, và những bằng chứng về năng khiếu cũng như sự quan tâm của học sinh trong lĩnh vực mà họ lựa chọn.  Hướng tuyển sinh thứ hai chú trọng vào sự đa dạng về khu vực địa lý của sinh viên, hướng tuyển sinh này nhắm đến các học sinh có thứ hạng cao nhất tại mỗi trường trung học tại Hàn Quốc, tuy nhiên, các cán bộ tuyển sinh cho biết tiêu chí tuyển sinh theo hướng này sẽ được mở rộng trong tương lai. Hướng tuyển sinh cuối cùng dựa vào phương pháp truyền thống là điểm trung bình chung học tập và kết quả kỳ thi tuyển sinh. Vì vậy, trong khi một số học sinh quan tâm đến những tiêu chí tuyển sinh chuyên biệt hơn thì số còn lại vẫn tiếp tục miệt mài học tập nhằm đạt được điểm số cao nhất có thể được.  Các cán bộ tuyển sinh cho biết qua quá trình tuyển sinh mở rộng, họ đã tuyển được những sinh viên mà trước đây có thể sẽ không bao giờ vào được những trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc. Trong số các sinh viên này có những người gặp trở ngại trong học tập vào những năm đầu đời nhưng lại đạt được nhiều thành công sau đó, hoặc những sinh viên đầu tiên trong vòng 30 năm qua từ một vùng nông thôn có thể vào được các trường đại học danh giá, khi những vùng nông thôn này có ít khả năng tiếp cận với dịch vụ học thêm vốn rất phổ biến tại Seoul.  Đại học Quốc gia Seoul đã phải tổ chức những lớp đào tạo từ trình độ thấp hơn, kể cả những lớp phụ đạo cho những sinh viên thiếu một số kỹ năng cần thiết. Tuy nhiên, các nhà quản lý tin rằng họ đang tuyển ngày càng nhiều những sinh viên thực sự quan tâm đến chuyên ngành mà họ lựa chọn chứ không phải là những sinh viên chỉ chú trọng việc có được một tấm bằng danh giá nhất để lận lưng.  Việc vun đắp cho lòng khát khao tri thức cũng là một ưu tiên mới đối với các trường đại học, trong niềm hy vọng sẽ thu hút được những lãnh đạo tương lai của đất nước.  Như vậy là cùng với Trung Quốc, vốn cũng đang cải cách tuyển sinh theo hướng làm giảm áp lực đối với thí sinh và gia đình, Hàn Quốc đã mạnh dạn đổi mới tuyển sinh bằng cách học tập từ hệ thống tuyển sinh đa dạng của Mỹ và áp dụng sáng tạo vào bối cảnh của mình. Điểm rất đáng chú ý của việc đổi mới tuyển sinh tại Hàn Quốc là việc tăng thêm các yếu tố xét tuyển – không chỉ chú trọng năng lực học tập hàn lâm, mà còn các yếu tố khác như các năng khiếu âm nhạc, thể thao, hoạt động xã hội… Tất cả nhằm tạo ra một nguồn tuyển đa dạng cho các trường đại học để có được những tài năng cho xã hội sau này. Vì một nguồn tuyển sinh tốt chắc chắn sẽ giúp tạo ra những trường đại học có chất lượng tốt, tiếp tục phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối tác nước ngoài muốn gì ?      Mọi hợp t&#225;c bền vững, l&#226;u d&#224;i, phải l&#224; những hợp t&#225;c &#8220;win-win&#8221; m&#224; c&#225;c b&#234;n tham gia c&#249;ng c&#243; lợi. Khi c&#225;c đối t&#225;c quốc tế hợp t&#225;c với Việt Nam, họ cũng c&#243; những mong muốn, chờ đợi của họ. Khi m&#224; hai hay nhiều ph&#237;a hiểu nhau hơn, biết được c&#225;c mong muốn, chờ đợi của nhau, th&#236; sự hợp t&#225;c sẽ thuận lợi hơn. Bởi vậy, theo t&#244;i, c&#226;u hỏi &#8220;c&#225;c đối t&#225;c nước ngo&#224;i muốn g&#236;&#8221; l&#224; một c&#226;u hỏi rất quan trọng, cần được nghi&#234;n cứu v&#224; thảo luận chi tiết, v&#224; ch&#250;ng ta cũng cần c&#243; trao đổi thẳng thắn cởi mở với c&#225;c đối t&#225;c nước ngo&#224;i để hiểu họ r&#245; hơn, biết họ muốn g&#236;?    Hợp tác quốc tế là điều mà các tổ chức (trường đại học, viện nghiên cứu,…) và cá nhân (giảng viên đại học, nhà khoa học,…) nước ngoài rất coi trọng, và những điều chủ yếu mà họ muốn có được từ sự hợp tác là:– Nâng cao địa vị xã hội– Nâng cao kết quả và uy tín khoa học– Nâng cao chất lượng và uy tín đào tạo– Tìm đầu vào (nguồn sinh viên giỏi, cán bộ tương lai…)– Tìm đầu ra (xuất khẩu các sản phẩm trí tuệ, chương trình đào tạo,…)– Gây ảnh hưởng đến những nơi khác– Lợi nhuận về vật chất, tài chính (trước mắt hoặc tương lai)– Lợi về tinh thần (thỏa mãn những nhu cầu nào đó về tinh thần)– Chất lượng và hiệu quả trong việc hợp tácKhông phải tất cả các đối tác đều muốn có tất cả các điều trên, nhưng nói chung đối tác nào cũng muốn đạt được ít ra một số điều trong các điều trên. Việt Nam, với trên 80 triệu dân, là một nước tương đối lớn về mặt dân số trên thế giới, nên được nhiều đối tác nước ngoài quan tâm. Nhưng chúng ta cũng cần biết rằng, Việt Nam nói chung không phải là trọng điểm trong các chiến lược hợp tác quốc tế của các đối tác nước ngoài. Trọng điểm của họ thông thường sẽ là Mỹ, Trung Quốc, châu Âu, Ấn Độ, Nga, Mỹ Latinh, v.v.  Việt Nam có nhiều điểm yếu, “kém cạnh tranh” so với những nước khác, ví dụ như thị trường Trung Quốc (kể cả về đại học và nghiên cứu khoa học) lớn hơn Việt Nam nhiều lần và chất lượng trung bình cũng cao hơn nhiều.Một số điều mà các đối tác nước ngoài không muốn gặp phải là:– Thấy mình bị lợi dụng– Hợp tác không hiệu quả, không đi đến đâu– Hợp tác với những đối tác không nhiệt tình, không nghiêm túc– Hợp tác với những đối tác có uy tín “âm” (có tiếng gian trá, lừa đảo, tham nhũng, …)  Vậy làm sao để Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn với các đối tác nước ngoài?– Hợp tác nghiên cứu có kết quả. Rất nhiều đối tác nước ngoài có kinh phí cho hợp tác quốc tế về khoa học, kinh phí để mời các nhà khoa học từ nơi khác đến làm việc hoặc thực tập chỗ họ ngắn hạn hoặc dài hạn. (Ví dụ ngay đại học của tôi, thông thường mỗi năm tôi có thể mời các đồng nghiệp nước ngoài đến chỗ tôi làm việc tổng cộng vài tháng, do trường trả tiền mỗi tháng khoảng 5000-6000 USD). Tất nhiên nói chung họ chỉ mời những người sẽ có đóng góp khoa học gì đó, có ích cho khoa học nói chung hoặc cho họ nói riêng. Nhiều nước (như Mỹ, Pháp, Trung Quốc và Pakistan…) còn có các chính sách để “câu” các nhà khoa học giỏi đến nước họ làm việc. Việc tìm đối tác quốc tế không khó, miễn sao mình chứng tỏ được là có làm khoa học nghiêm chỉnh, có thể hợp tác thực sự được với họ để cùng họ nghiên cứu ra kết quả, chứ không phải chỉ lợi dụng họ. Kể cả khi trình độ của chúng ta còn yếu, nhưng nếu chứng tỏ quyết tâm làm ăn nghiêm chỉnh, thì họ vẫn có thể quan tâm. Việc có quá nhiều “tiến sĩ giấy” ở Việt Nam là một cản trở lớn cho hợp tác quốc tế, vì nó làm mất uy tín của các nhà khoa học Việt Nam (khi người ta chẳng may hợp tác phải một “tiến sĩ giấy” thì người ta sẽ nghi ngại cả những tiến sĩ “xịn”).  – Nhận nghiên cứu sinh. Đối với một giáo sư, được hướng dẫn một nghiên cứu sinh (NCS) giỏi có triển vọng lớn là một niềm vui, thấy sự hướng dẫn của mình có nhiều ý nghĩa, còn hướng dẫn một NCS quá kém hoặc không nghiêm túc thì là một công việc nặng nhọc ít ý nghĩa. Một NCS mà không theo học nổi, thì làm mất uy tín của nơi đào tạo. Đây là vấn đề xảy ra đối với nhiều NCS từ các nước “đang phát triển” đến các trường đại học tiên tiến, trong đó có cả những trường hợp từ Việt Nam mà tôi biết, sự chuẩn bị về kiến thức và cung cách làm việc bị chênh lệch nhiều so với các nước tiên tiến. Đây là lý do vì sao nhiều khi họ ngại nhận NCS từ các nước “đang phát triển” trong đó có Việt Nam: không phải do họ kỳ thị, mà vì họ lo ngại chất lượng không đảm bảo, thực tế là như vậy. Nếu NCS Việt Nam được những người có uy tín quốc tế trong khoa học đứng ra giới thiệu và đảm bảo về chất lượng thì sẽ dễ được nhận hơn, vì họ sẽ tin vào lời giới thiệu của những người này. (Nhưng ai mà giới thiệu “nhầm” nhiều thì cũng sẽ mất uy tín). Tất cả những ai tốt nghiệp đại học ở Việt Nam mà có “trình độ quốc tế” và đủ trình độ ngoại ngữ, thì đều có rất nhiều khả năng xin học bổng trực tiếp của các trường nước ngoài (riêng trong ngành toán, tôi biết khả năng đó gần như là 100%). Chương trình 322 của Bộ GD&ĐT là một chương trình rất hay, vì nó cho phép nhiều người thuộc loại “khá” (so với Việt Nam) nhưng chưa phải “xuất sắc” có điều kiện được đi học tiếp ở nước ngoài, và sẽ mở mang đầu óc rất nhiều trong mấy năm học đó.– Nhận sinh viên. Chi phí đào tạo một năm cho một SV trên thế giới là không nhỏ (có thể vào khoảng 10-20 nghìn USD hoặc hơn, tùy từng nơi, chưa kể chi phí sinh hoạt). Các đại học nước ngoài có thể gánh cái chi phí này mà không thu học phí (hoặc chỉ thu một phần học phí đối với SV Việt Nam), nếu như điều này có lợi gì đó cho họ. Tất nhiên lợi ở đây không phải là về tài chính trước mắt (vì họ bỏ tiền ra mà không thu lại từ SV Việt Nam), mà là lợi về uy tín, lợi về ảnh hưởng lâu dài. Tất nhiên, sinh viên đến học từ nước ngoài phải thật giỏi, càng có triển vọng về sau trở thành những chuyên gia hay những người quản lý và người lãnh đạo có ảnh hưởng lớn, thì triển vọng lợi về uy tín và ảnh hưởng lâu dài của nơi nhận các sinh viên này mới càng cao. Học sinh và sinh viên của Việt Nam nếu được chuẩn bị tốt, thì khả năng được nhận học và theo học thành công ở các trường nước ngoài càng lớn. Khi có các ký kết hợp tác cụ thể giữa các đại học của Việt Nam với đại học ở nước ngoài về việc gửi SV Việt Nam sang học, với sự đảm bảo về mặt chất lượng của các sinh viên được gửi sang (tất nhiên phía nước ngoài người ta vẫn sẽ kiểm tra trình độ), thì các thỏa thuận hợp tác này tạo điều kiện thuận lợi cho việc gửi SV đi nước ngoài học.– Chất lượng đào tạo và chương trình ở Việt Nam. Các đối tác nước ngoài muốn “đầu vào” của họ từ Việt Nam phải đảm bảo chất lượng, bởi vậy họ muốn chương trình và chất lượng đào tạo ở Việt Nam phải đạt “chuẩn quốc tế”, đồng thời họ cũng có thể giúp Việt Nam trong chuyện này. Chương trình đào tạo ở Việt Nam nhiều nơi còn chưa hợp lý (mất quá nhiều thời giờ vào những thứ “không cần thiết”, trong khi có những thứ “cần học” để có thể theo kịp thế giới hoặc để có thể làm việc hiệu quả hơn ở Việt Nam, thì lại không được học). Ở một số nơi có giải pháp là “bê nguyên” một chương trình ở một đại học nước ngoài vào, với sự “cố vấn kỹ thuật” của đại học nước ngoài đó. Có thể coi đây là giải pháp “tạm ổn”. Theo tôi, các chương trình của ta cần tham khảo các chương trình của các đại học khác nhau, cộng với nhu cầu và thực lực của Việt Nam, để cải cách các chương trình ở Việt Nam, hướng tới chất lượng và hiệu quả thực sự.– Chuyên gia nước ngoài đến làm việc ở Việt Nam. Không phải ai cũng thích đến Việt Nam giảng bài, nhưng số người có thể đến cũng khá lớn, nếu như chúng ta có chế độ hợp lý cho họ. Về hiệu quả kinh tế, mời người đến giảng bài có khi còn hiệu quả hơn là gửi sinh viên ra nước ngoài học. Vì ta không có đủ kinh phí để gửi quá nhiều sinh viên, trong khi một giảng viên nước ngoài đến Việt Nam có thể gây ảnh hưởng tốt đến rất nhiều SV. Thế nhưng hiện tại chính sách của Việt Nam trong chuyện này chưa hấp dẫn. Ví dụ như, rất khó khăn trong chuyện trả tiền vé máy bay cho chuyên gia nước ngoài. Chúng ta vừa muốn họ đến làm “không công” cho chúng ta, lại vừa bắt họ tự lo tiền vé, thì nhiệt tình của họ sẽ giảm hẳn. Hãy nhìn sang Pakistan: nghèo gần như Việt Nam, nhưng sẵn sàng trả lương rất cao cho các chuyên gia nước ngoài đến làm việc ở đại học của họ.– Đại học mới, hay chương trình mới, theo mô hình nước ngoài. Cơ cấu tổ chức của những đại học “cũ” ở Việt Nam có nhiều vướng mắc, và đồng thời khó thay đổi. Trong khi đó, để đạt “chất lượng quốc tế” cần có một bộ máy tổ chức, một chương trình hợp lý hơn. Đó là lý do vì sao nên có những đại học mới, tiên tiến, theo mô hình nước ngoài. Các đối tác nước ngoài cũng rất quan tâm đến chuyện đó. Họ hy vọng sẽ có ảnh hưởng lớn đến các đại học mới này, qua đó ảnh hưởng đến Việt Nam. Việc xây mới đại học, với một cơ chế “hiện đại” ngay từ đầu, sẽ khiến cho nó tránh được nhiều khó khăn mà các đại học “cũ” gặp phải, dễ phát triển và đảm bảo chất lượng hơn. Nhưng tất nhiên các đại học mới này sẽ đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn từ phía Việt Nam. Đối với các đại học “cũ” thì các chương trình mới theo mô hình nước ngoài có thể là một giải pháp hiệu quả mà được các đối tác nước ngoài quan tâm. – Hội nghị khoa học quốc tế ở Việt Nam. Việt Nam có thể là nơi đăng cai tổ chức nhiều hội nghị khoa học quốc tế. Một trong các lý do là đối với nhiều người nước ngoài, Việt Nam hiện còn là một cái gì đó “exotic” mà họ ít biết đến (các nơi khác thì họ đã “đi nhẵn” rồi), muốn đến tham quan, và có nhiều người khi đến thì cũng cảm thấy thích Việt Nam. Đây là một điểm mà phía Việt Nam có thể chú ý “khai thác”. Các  hội nghị khoa học với những nhà khoa học đầu ngành trên thế giới có thể sẽ góp phần làm phấn chấn giới khoa học và đại học Việt Nam, mở ra nhiều quan hệ quốc tế và triển vọng hợp tác quốc tế mới có lợi cho Việt Nam. Tất nhiên, muốn có được những hội nghị quốc tế đàng hoàng, thì cũng phải có những đầu tư lớn về công sức và tiền của. Ví dụ: tổng chi phí cho một người đến dự hội nghị trong vòng 1 tuần ở Việt Nam trung bình không dưới 2000 USD, một hội nghị với 50 khách quốc tế sẽ có tổng chi phí không dưới 100 nghìn USD. Tất nhiên ta có thể yêu cầu các khách quốc tế gánh một phần chi phí này, nhưng phía đăng cai hội nghị cũng phải gánh ít ra 30% chi phí (30 nghìn USD) thì mới dễ tổ chức thành công. Nếu chúng ta “ki bo” quá thì khó hợp tác. ——–* ĐH Toulouse – Pháp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối thoại Giáo dục VN 2014: Cải cách giáo dục đại học      Diễn đàn thường niên đầu tiên dành cho các  học giả và chuyên gia trong và ngoài nước sẽ diễn ra tại TP Hồ Chí Minh  với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam.     Diễn đàn có sự góp mặt của nhiều diễn giả uy tín đến từ các trường đại học, viện giáo dục tư và công ở Việt Nam và quốc tế; các nhà quản lý từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ; đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ v.v.  Các chủ đề sẽ được thảo luận bao gồm: Quản trị đại học; Tự chủ đại học; Tài chính, Chất lượng và Số hóa; Cán bộ giảng dạy và hoạt động nghiên cứu; Những yếu tố tư nhân và quốc tế.  Diễn đàn được đề xướng bởi Nhóm Đối thoại Giáo dục Việt Nam, một mạng lưới các học giả tại của các trường đại học lớn ở Việt Nam và trên thế giới, trong đó có GS Ngô Bảo Châu (Đại học Chicago); GS Trần Ngọc Anh, ĐH Indiana; GS Đỗ Quốc Anh, ĐH Sciences Po Paris; GS Vũ Hà Văn, ĐH Yale…   Nhóm Đối thoại Giáo dục ra đời từ gần một năm nay với mục tiêu tập hợp những trí thức Việt Nam trưởng thành và thành đạt ở nước ngoài, có trải nghiệm về nền giáo dục Việt Nam, thông qua các hoạt động thiết thực để trao đổi, thảo luận, nghiên cứu, phân tích, từ đó đưa ra các ý tưởng, giải pháp mang tính khả thi nhằm đóng góp cho nền giáo dục của đất nước.  Diễn đàn lần này mở ra cơ hội để xây dựng một mạng lưới toàn cầu, những người quan tâm đến việc tìm những hướng đi để cải thiện hệ thống các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam.   Đối thoại Giáo dục Việt Nam 2014, đồng tổ chức bởi Lãnh sự quán Hoa Kỳ, sẽ diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại Trung tâm Mỹ, tầng 8, Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Bến Nghé, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối xử với trẻ em như là vốn xã hội      Tôi nhớ lại, cách nay hơn sáu chục năm, thầy giáo Sử học họ Trần của chúng tôi có lần đặt câu hỏi thế này: “Các chú, vì sao ta phải yêu cha mẹ?” “Thưa ba, vì cha mẹ sinh ra ta”. Thầy lắc đầu: “Chả phải! Các cụ có định bụng sinh ra tôi và các chú đâu? Các cụ làm cái việc quỷ quái gì đó, rồi chúng ta ra đời. Lý do đó không vững chắc!”     “Thưa ba, vì cha mẹ nuôi chúng ta …” Thầy  lại lắc cái đầu tròn xoe: “Lý lẽ cũng không vững… Cụ bà nhà chú không  cho chú bú thì chính cụ tức sữa mà chết. Chú bú là chú cứu sống cụ… Còn  dân làng nữa, không ai để cho các cụ bỏ rơi con mình đẻ ra …”    “Thưa  ba, vì cha mẹ nuôi cho chúng ta ăn học, nên người…”  Thầy nháy mắt tinh  quái:   “Cái lý này là gượng nhất! Cụ nhà chú và cụ nhà tôi, các cụ thích  đẻ ra ngay một ông Bảo Đại, chứ dại gì đẻ ra những anh ngốc dốt đặc như  tôi như các chú …Ờ, ấy thế mà ta vẫn yêu cha mẹ, vì sao nhỉ?”     Lý và tình “vốn xã hội” trẻ em  Câu chuyện cha mẹ sinh con bỗng hiện về khi viết bài và đưa trẻ em vào làm thành một thứ “vốn”, dù không coi đó là thứ “vốn” trong túi tiền hoặc trong tài khoản, mà trịnh trọng đặt nằm trong cái “vốn xã hội”, thấy điều này vừa hợp lý và vừa thấy chút gì bất nhẫn quá chừng!   Trẻ em từng em từng em một, từ nhiều cuộc hôn phối lẻ tẻ, hạnh phúc hoặc bất hạnh, thảy đều lần lượt tham gia vào việc tạo thành một tiềm năng mang tính cộng đồng, chắc chắn có nằm trong phạm vi của khái niệm vốn xã hội.   Cái vốn xã hội trẻ em cũng khá ăn khớp với định nghĩa bổ sung Trần Hữu Dũng viết trong tài liệu hội thảo năm 2006:    “… vốn xã hội là sản phẩm của tập thể, không của chỉ một cá nhân.  Nó tùy vào “lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó cũng là của chung. Dùng thuật ngữ kinh tế, có thể nói vốn xã hội là một loại hàng hóa công. Không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác. Song, ngược lại, chỉ một vài cá nhân thôi cũng đủ làm đổ vỡ vốn xã hội mà tập thể đã dày công xây dựng.”   Nhưng khi ta chấp nhận khái niệm “vốn xã hội” như thế, mới càng thấy thương những trẻ em đã không bao giờ tự nguyện chui vào cái “quỹ” đó, mà thân phận dửng dưng như những đồng xèng. Và cũng chẳng mấy ai là bậc cha mẹ lại chủ bụng sinh con chỉ để đưa con vào cái “quỹ” đó, mặc dù trong dân gian vẫn có câu một con một của chẳng ai từ.    Nhìn từ góc độ hòa trộn giữa tất yếu và tình thương, sẽ thấy xã hội phải thực sự ngỏ lời tri ân các em nhỏ đã tình cờ lẫm chẫm vào đời, và cách tri ân tối thiểu là bắt buộc các em phải vui vẻ mạnh dạn bước vào trường. Một nền giáo dục không thể dửng dưng xây đắp cái vốn xã hội được gửi tiềm tàng trong các học sinh như những “hang hóa công” có thể tính toán đầu vào đầu ra bằng những công thức hoàn toàn thiếu chất định tính. Một nền giáo dục phải khoa học và nhân đạo cho con trẻ, mà nhân đạo nhất thì sẽ khoa học nhất, nền giáo dục ấy phải thỏa mãn trí lực của toàn bộ nhóm “hàng hóa công”, đồng thời phải thỏa mãn những tâm tư nguyện vọng riêng của từng chủ thể góp phần vào đống “hàng hóa công” nọ.  Trẻ em không là công cụ  Trở lại định nghĩa đã nêu của Trần Hữu Dũng, có ý này: không một ai có thể độc quyền “sở hữu” mạng lưới xã hội, ngăn chặn lợi ích đến người khác;   Trong xã hội, không ai độc chiếm sở hữu “cái vốn” trẻ em hết, thế nhưng công việc điều hành cái dòng vốn xã hội trẻ em kia trên thực tế lại do một vài cá nhân tác động.    Nhà tâm lý học Gustave le Bon trong tác phẩm Tâm lý học Giáo dục (Psychologie de l’Education) in năm 1920 đã ghi lại ý tưởng của nhà bác học thời Ánh Sáng Leibniz nhại ý tưởng đòn bẩy của Archimède và nói “Hãy cho tôi Giáo dục làm điểm tựa, trong vòng trăm năm tôi sẽ làm thay đổi diện mạo châu Âu.”    Leibniz không độc chiếm Giáo dục trẻ em, nhưng nhiều cá nhân có tri thức và có cả tấm lòng như ông đã lượng hóa các sản phẩm của giáo dục như là những “nguồn lực” cho “lực lượng sản xuất”.   Cách nghĩ và cách làm từng diễn ra một thời thể hiện sự coi khinh con người (trẻ em) trong nền giáo dục “bắt buộc” – một thứ “bắt buộc” có thể xem là nhân đạo nếu không hiểu theo nghĩa “cưỡng bách” (cách dịch trước đây chữ compulsory hoặc obligatoire), mà hiểu theo nghĩa một nền giáo dục đem lại cho trẻ em những điều phổ thông bắt buộc phải có để sống được trong cuộc sống đương thời.    Cái cuộc sống đương thời chuẩn bị cho trẻ em bước vào thời hiện đại hình như được đánh dấu bằng thời điểm năm 1905 khi bác sĩ Y khoa người Pháp Alfred Binet nghĩ ra những phép đo tâm lý học nhằm lựa lọc những trẻ em nào đủ hoặc không đủ tư chất cho nhà trường tiểu học “bắt buộc”. Cái hành trình tối thiểu vào thời đó được gói trong ba âm R đọc, viết, tính toán (three Rs, Reading, Writing, Arithmetic).  Khi phép đo tâm lý đó vượt Đại Tây Dương sang Mỹ, nó trở thành phép đo Simon – Binet, chi tiết hơn, chặt chẽ hơn, dẫn tới những nghiên cứu về quy luật học và luyện tập, cốt sao người học đến dễ dàng hơn với những kiến thức bắt buộc, không thể thiếu khi vào đời. Đầu thế kỷ 20 với sự bùng nổ các nhà nghiên cứu tâm lý giáo dục hai bên bờ Đại Tây Dương có lúc vẫn khiến ta nghĩ rằng đã tìm ra đủ cơ sở của việc dạy dỗ trẻ em để chúng trở thành vốn xã hội có chất lượng.    Nhưng tội nghiệp trẻ em quá! Có phải các em chỉ cần những kiến thức bắt buộc được những Bộ trưởng giáo dục và những nhà trí thức sặc mùi kỹ trị duy trì ở tầm tiểu học đó để đủ cho khuynh hướng tạo nguồn lực, hay là các em còn cần cái gì đó cao hơn thế, xa hơn thế, đẹp hơn thế, để có thể sống tự lập mà vẫn hài hòa với cuộc đời năng động không ngừng, thay đổi không ngừng, và phức tạp khôn lường?  Ở Việt Nam hôm nay, một nền giáo dục vô định hướng được trôi tự do trong nhiều năm đang trôi đến sát bờ vực phá sản. Mấy con số công khai này đủ để gây rùng mình: hầu hết thí sinh nhận điểm Zero môn Khoa học Lịch sử; chỉ còn gần hai phần trăm học sinh tốt nghiệp lớp 12 thi vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn; và dường như cả xã hội bây giờ đang tìm cách tự thức tỉnh theo Jean-Jacques Rousseau – nơi nơi bàn luận công trình Khế ước Xã hội nhân cuộc đại bàn thảo về sửa đổi hiến pháp – đúng như Rousseau đã viết từ năm 1762.  “Con người sinh ra tự do, ấy thế mà ở đâu đâu nó cũng sống trong xích xiềng. Một ai đó tự coi mình là ông chủ, nhưng thân phận chẳng kém nô lệ so với những kẻ khác. Làm sao lại có sự thay đổi đến thế? Tôi chịu không biết. Cái gì khiến cho điều này thành chính danh? Tôi nghĩ là với câu hỏi này mình trả lời được. Nếu chỉ xem xét cái lực và cái hiệu quả do lực tạo ra, chắc là tôi sẽ trả lời như sau: “Chừng nào mọi người bị buộc phải phục tùng và họ đã phục tùng, thì họ làm thế là đúng; khi mọi người có khả năng rũ bỏ ách và họ đã rũ bỏ cái ách đó đi, làm thế còn đúng hơn: bởi vì họ thu lại cái quyền tự do của mình đã bị tước đoạt, họ có đủ cơ sở để đòi lại cái tự do đó và không để ai tước đoạt được tự do của mình nữa”.   Thế nhưng, liên quan đến cái “vốn xã hội” trẻ em, tức là liên quan đến sự nghiệp giáo dục, vì trẻ em mới chỉ là sự góp vốn tiềm tàng từ những nhà góp vốn cá thể vô ý thức, trẻ em cần được đào luyện để trở thành vốn xã hội đích thực.  Đến đây, ta gặp một vấn đề về những giải pháp được đề xuất một cách dễ dãi. Vậy giải pháp nào khả dĩ có thể được coi là bất biến? Hẳn đó là giải pháp nằm trong định hướng đưa trẻ em thành những con người tự do. Sao cho các em sinh ra tự do, cái quyền tự do tuy “mông muội” nhưng có thật, các em sẽ trở thành những thực thể tự do tinh thần. Không nền giáo dục nào, không nhà sư phạm nào được phép nhân danh bất kỳ định hướng nào (kể cả và nhất là định hướng có vẻ “kinh tế giáo dục” mang tên “chuẩn bị nguồn lực”) để đẩy cái vốn xã hội tiềm năng đó vào tình trạng như Rousseau đã nhận xét, “Con người sinh ra tự do, ấy thế mà ở đâu đâu nó cũng sống trong xích xiềng”.   Dĩ bất biến ứng vạn biến  Suy cho cùng, việc cư xử với trẻ em thật dễ và thật khó!   Đối đãi với các em từ góc độ cá thể, thì thật dễ. Chỉ cần yêu thương. Chỉ cần thỏa mãn phương diện tình cảm. Có cứng rắn thì cũng chỉ đến như mẹ thầy Mạnh Tử: dọn nhà đi nơi khác để con khỏi gần gũi những láng giềng xấu.  Nay ta đứng trước cuộc sống hiện đại đòi hỏi đưa trẻ em vào một thứ goi là vốn xã hội. Có muốn trốn tránh chuyện này cũng không được. Trẻ em đúng là chất chứa tiềm tàng một loại vốn xã hội. Tiềm tàng nghĩa là sớm muộn thì lực lượng đó cũng thành vốn xã hội! Tốt nhất là không né tránh, và coi đó là một cách thức để tìm con đường cư xử với trẻ em sao cho phải phép hơn cả. Đó là không coi con trẻ chỉ như những thiên thần vô thưởng vô phạt, và cũng không được phép đưa con trẻ hợp thành một cái “quỹ” nào đó theo một định hướng tạo nguồn lực thiển cận nào đó.   Suy cho cùng, câu chuyện dẫn tới cách thức tổ chức sự nghiệp giáo dục phổ thông cho con trẻ, sao cho những “bên hưởng lợi” không là thiên thần và cũng chẳng là những robot sống trong nay mai.  Cái nguyên lý bất biến nằm trong việc tìm ra con đường phát triển giáo dục đúng đắn hơn cả. Cái định hướng đó không thể coi trẻ em như những công cụ tiềm năng, mà phải coi trẻ em như những thực thể trí tuệ có bản chất tự do.   Tự do học. Không phải là nhờ những lời giảng giải của người thầy. Không hề theo cung cách con ơi muốn nên thân người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru. Mẹ làm sao có đủ sức ru để tạo ra được những nhân tài xây dựng Tổ quốc? Cũng không thể cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư. Vai trò những cá thể mẹ cha sao mà quá to! Trẻ em sinh ra từ những lò cá thể, nhưng lại tham gia vào cả một cuộc chơi đông người gọi bằng vốn xã hội. Những mẹ cha cá thể có giỏi giang sức mấy thì cũng chẳng đủ sức gánh vác quốc gia dân tộc vào thời hiện đại này. Phải có một đội ngũ nhà giáo dục hiện đại chịu trách nhiệm tổ chức sự nghiệp tự giáo dục cho chính các em thực hiện.  Tự giáo dục không là lời khuyên. Mà tự giáo dục là những khám phá của nhà sư phạm vào miền u tối nhất trong mỗi con em để từ thẳm sâu tâm lý đó tìm cho ra những thao tác tự học để từng em – dưới bàn tay tổ chức của nhà giáo – tiến hành công cuộc khám phá thế giới bên ngoài, khám phá thế giới nội tâm, khám phá công cuộc tổ chức đời sống cộng đồng hiện đại, ở đó từng cá thể chỉ tồn tại và phát triển khi là một mắt xích của toàn bộ cái chung.   Công cuộc giáo dục đối với vốn xã hội trẻ em diễn ra như một vũng xoáy mà người không nghề nghiệp dù có ở cấp cao đến bao nhiêu và có được sự ủng hộ của những uy tín lớn đến bao nhiêu cũng không thể thành công nếu không kỹ thuật hóa được toàn bộ công trình thành những chuỗi thao tác học rất cụ thể.   Mà trong công việc này, không ai dám nói mạnh, càng không ai dám vỗ ngực là thánh tướng. Cuộc sống đòi hỏi tự do hóa những đóng góp kỹ thuật sư phạm và dân chủ hóa những định giá đối với những đóng góp tự do kia.   Những việc làm sẽ khiến trẻ em tình cờ bước vào vùng vốn xã hội vẫn được an ủi vì mình không là công cụ mà là những thực thể tự do có ích cho cái vốn xã hội đang còn là trẻ em và có ích cho cả cái vốn xã hội từng là trẻ em một thời.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đốm lửa Trường hè Khoa học      Không thể thay đổi cuộc đời các học viên trong khóa học ba ngày nhưng Trường hè Khoa học đã làm thay đổi tư duy của họ.    Lắng nghe bản thân muốn gì  “Em học ngành này thì sau khi ra trường em sẽ làm gì hả thầy?” “Em sẽ làm nghiên cứu.” “Nghiên cứu tức là làm gì ạ?” Nghe có vẻ “ngô nghê”, nhưng đó là cuộc hội thoại thường xuyên giữa TS Ngô Đức Thế, một trong ba người sáng lập Trường hè Khoa học, với sinh viên năm nhất khi anh còn là giảng viên Khoa Vật lý của ĐH Khoa học Tự nhiên. “Các bạn không biết mình sẽ làm gì sau này,” anh nói. “Không ai có thể trả lời hộ sinh viên rằng các bạn nên hay không nên theo con đường nghiên cứu khoa học. Điều đó nằm ở bản thân mỗi người. Nhưng cũng không ai dẫn dắt để họ tự trả lời câu hỏi đó.”  Trường hè Khoa học là một chương trình kéo dài ba ngày do TS Giáp Văn Dương, TS Ngô Đức Thế và TS Lưu Quang Hưng sáng lập nhằm giúp các bạn trẻ có ý định theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học “quả quyết, tự tin rằng mình sẽ làm gì trong tương lai”. “Cái tôi học ở Trường hè đó là lắng nghe bản thân muốn gì. Tôi nhận ra điều mình thực sự muốn theo đuổi,” – Tạ Thu An, sinh viên vừa tốt nghiệp ĐH Ngoại thương, nói.           Trường hè Khoa học, diễn ra từ ngày 20-22/8, được sự hỗ trợ của ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên và Microsoft Research, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR.        Trường hè Khoa học được mở ra lần đầu vào năm 2013. “Summer School” vốn là hình thức lớp học diễn ra vào kì nghỉ hè ở Mỹ và các nước châu Âu dành cho những nhà khoa học muốn trao đổi, trình bày kết quả nghiên cứu mới của mình. Với mong muốn hướng đến các nhà khoa học tương lai, những người sáng lập gọi chương trình của mình là Trường hè thay vì Trại hè. Trọng tâm của chương trình là “Nền tảng khoa học”, bao gồm các bài giảng về khái niệm “tự do học thuật” và phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt nhấn mạnh vào tư duy phản biện (critical thinking). “Đó là những kiến thức mà sinh viên nghiên cứu khoa học cần phải hiểu và nắm bắt được. Nếu không biết thế nào là tự do học thuật thì chúng ta không thể có những nhà khoa học giỏi,” TS Ngô Đức Thế nói.   So với năm 2013, Trường hè Khoa học 2014 có thêm những buổi thuyết trình ở một số lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Điều thú vị là dù đề cập những kiến thức khoa học chuyên sâu nhưng không khí của hội trường luôn sôi nổi. Các buổi học thường xuyên kéo dài hơn một tiếng so với dự kiến vì những cuộc trao đổi liên tiếp giữa học viên và giảng viên. Trong số những người tham gia giảng dạy có Nguyễn Ngọc Anh (Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR), TS Nguyễn Tô Lan, TS Trần Trọng Dương (Viện nghiên cứu Hán Nôm), TS Đinh Hồng Hải (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội), TS Nguyễn Đức Thành (Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách – ĐH Quốc gia Hà Nội), TS Nguyễn Ngọc Huy (Viện Nghiên cứu Chuyển đổi Môi Trường và Xã hội), TS Phạm Bảo Yến (Phòng thí nghiệm Trọng điểm Enzyme và Protein), TS Đặng Văn Sơn (Trường ĐH Ruhr Bochum, Đức)…, phần lớn các giảng viên đều dưới 40 tuổi. “Chúng tôi hướng tới sự trẻ trung, gợi mở,” TS Ngô Đức Thế cho biết. Tất cả đều tình nguyện tham gia và không nhận thù lao.   “Tôi nghĩ là học ở Trường hè vui vẻ, cởi mở hơn học ở trường đại học rất nhiều. Tinh thần ở đây là chia sẻ và trao đổi. Ở trường [đại học], liệu có mấy ai dám ngắt lời thầy và nói: Em nghĩ thầy nói sai rồi không?” Thu An chia sẻ.  “Chúng tôi không thích sự xa cách giữa giảng viên và học viên. Chúng tôi muốn giữ không khí Trường hè đầm ấm như một phòng học,” TS Ngô Đức Thế nói. Trường hè Khoa học 2014 được tổ chức tại hội trường Ngụy Như Kon Tum, nơi người ta có cảm giác người học được đặt vào vị trí nổi bật hơn vị trí của người giảng dạy, cả do cách thiết kế chỗ ngồi, và cả do giảng viên thay vì đứng trên bục lại chọn đứng dưới lối đi và nhiều khi, ngồi giữa học viên. Người học cũng không gọi giảng viên là thầy/cô mà gọi họ là anh/chị. Trong bầu không khí “mở” như vậy, các học viên thoải mái trình bày ý kiến, quan điểm của mình trước những nhà khoa học nhiều kiến thức và kinh nghiệm hơn mình.      Học viên hứng thú trước bài giảng của TS Lưu Quang Hưng về việc chuẩn bị   cho học bổng chính phủ. Ảnh: Đặng Văn Sơn  “Trong họ sẵn sàng thắp lên một ngọn đuốc”  Hơn 500 hồ sơ đăng kí tham gia Trường hè Khoa học 2014, trong đó có cả du học sinh và các sinh viên đến từ các tỉnh ngoài Hà Nội. Trong số 200 học viên trúng tuyển, có ba học viên đến từ TP Hồ Chí Minh và Huế. Họ sẵn sàng tới Trường hè dù không được tài trợ chi phí ăn ở, đi lại.  Có lẽ, những nhà sáng lập Trường hè cũng bất ngờ về sức hút của mình. Nguyễn Bảo Huy, học viên của Trường hè khóa 2013, giờ là tình nguyện viên, chia sẻ về lý do mình quay trở lại: “Nghe có vẻ rất sách vở và sáo rỗng: tôi muốn được làm một việc có ý nghĩa cho cộng đồng, cụ thể là cộng đồng hẹp của các bạn trẻ yêu khoa học. Tuy nhiên, đó là lời thành thực. Từ Trường hè năm trước, tôi đã học được rằng người đi theo con đường khoa học thì cần phải có trách nhiệm học thuật. Việc tổ chức và giảng bài ở Trường hè Khoa học chính là một cách thực hiện trách nhiệm học thuật của các giảng viên. Tôi là người mới đang tập làm nghiên cứu, chưa trưởng thành về mặt học thuật, vậy tôi thực hiện trách nhiệm học thuật của mình ở mức độ nhỏ hơn, phù hợp với khả năng của mình – trợ giúp các công việc tổ chức. Đó là lý do chính tôi tham gia với tư cách là tình nguyện viên năm nay.”  Vào buổi dạy cuối cùng, khi TS Giáp Văn Dương quay xuống hỏi các học viên: “Ai nghĩ rằng mình sẽ theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học sau này?”, gần như cả hội trường giơ tay. Song những người sáng lập suy nghĩ rất thực tế: “Bọn tôi chỉ mong, sau mỗi khóa học [bây giờ và trong tương lai], có được 10 người thực sự say mê và theo đuổi công việc nghiên cứu khoa học là tốt rồi,” TS Ngô Đức Thế nói. Trong số 200 học viên trúng tuyển, khoảng 55% là học viên ngành kinh tế. “Đó là ngành mà cơ hội nghề nghiệp cho nghiên cứu thấp hơn các ngành tự nhiên.”   Đề cập điểm yếu của sinh viên Việt Nam do ảnh hưởng từ phương pháp giáo dục, đó là “chết cứng” khi đối diện với cái mới trong thực tiễn, TS Ngô Đức Thế cho rằng, Trường hè không loại bỏ được điểm yếu này nhưng có thể ít nhiều thay đổi nó. “Ít nhất, Trường hè cho họ một nền tảng tư duy để họ dám lao vào những cái mới. Họ sẽ thấy, con đường phía trước không hoàn toàn tăm tối mà có một đốm lửa dẫn dắt họ và trong họ cũng sẵn sàng thắp lên một ngọn đuốc.”   ***  Đọc thêm:  Đại học không giảng đường  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7826      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng Khánh – Huyền Trân xưa      Tặng Đồng Khánh 80 tuổi.    Tôi nhớ mãi một “mai tê” Đồng Khánh  Một mai tê… dễ sợ: Lạnh xa mù  Mai tê rồi bóng xế trăng lu  “Con ve kêu mùa Hạ, biết mấy thu gặp chàng!”  Huế có già mô mà níu kéo thời gian  Lo chi rứa nỗi đá mòn sông cạn  Bảy trăm năm những mùa trăng ly tán  Sông nước Chàm miền châu Rí, Châu Ô  Cô công chúa – tóc xanh màu Đồng Khánh  Tuổi quỳnh dao đành… “cho thiếp đi cùng!”  Ngày Chiêm Quốc, đêm mơ về bến Việt  Mắt Huyền Trân còn đẫm lệ Khắc Chung  Điệu Hời ca bơ phờ đòi đoạn  Sên phách vô tình để lạnh dòng sông  Có phai cũ khi nửa đời xa Huế…  Ngõ sau nhìn, quê mẹ có vời trông?  Tôi, Đồng Khánh, mai tê thời son trẻ  Đã xa quê từ dâu bể mưa nguồn  Hái niềm vui tan tác giữa cơn buồn  Nhớ rưng rức nỗi tha phương dồn tụ   Đồng Khánh ơi, Huyền Trân xưa đó  Nhiều tang thương nên Huế đẹp vô cùng  Sông, nước, biển, trời… nơi mô cũng có  Nhưng não nùng làm Huế đẹp vô song  Khi ở Huế thấy Huế buồn chi lạ  Xa Huế rồi thấy Huế quá mênh mông  Trong nỗi nhớ một cũng là tất cả  Khi thương yêu tất cả sẽ vô cùng.      Trần Kiêm Đoàn  (California, đầu mùa Xuân 2007)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Động lực học tập      Tại sao động lực học tập và những điều hay ho khác vốn gắn liền với các bé khi còn nhỏ lại dần mất đi? Người lớn chúng ta (nhà trường, gia đình và xã hội) đã làm gì cho các em? Có cách nào để giúp các em lấy lại và duy trì động lực không?      Ít ai đề cập đến đề tài “động lực” với trẻ thơ, lứa tuổi trước khi đến trường, bởi động lực là điều tự nhiên, được thiên nhiên ban tặng gắn liền với khả năng học hỏi của con người từ khi mới sinh. Hãy nhìn một đứa bé mở to mắt quan sát, nghe, sờ mó, nếm thử… rồi nỗ lực tự mình học nói, học đứng, học đi…; lớn lên chút nữa, bé đặt hàng ngàn câu hỏi cho người lớn vì tò mò, vì muốn biết. Bé học hỏi một cách tài tình với một động lực tự nhiên thúc đẩy từ bên trong, chứ không vì phần thưởng, vì phong trào, hay bất kỳ điều gì ép buộc từ bên ngoài.    Nhưng rồi điều tự nhiên tốt lành này mất dần theo thời gian, số lượng những câu hỏi ít dần theo năm tháng, theo trình độ lớp. Tại sao động lực học tập và những điều hay ho khác vốn gắn liền với các bé khi còn nhỏ lại dần mất đi? Người lớn chúng ta (nhà trường, gia đình và xã hội) đã làm gì cho các em? Có cách nào để giúp các em lấy lại và duy trì động lực không?    Đã có nhiều nghiên cứu dưới nhiều tiếp cận khác nhau đưa ra những đề nghị, chỉ cho chúng ta những con đường để khơi dậy động lực học tập của các em mà bài viết này muốn trình bày một cách ngắn gọn.    Trước hết cần xác định, động lực đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của việc học (cũng như những việc khác). Có động lực mạnh thì dù có khó khăn đến mấy, người học vẫn có thể vượt qua và thành công. Ngược lại, nếu không có động lực thúc đẩy, thì dù điều kiện có đầy đủ thuận lợi, học sinh vẫn mệt mỏi, vẫn thấy khó khăn và thất bại. Do vậy, theo Giordan (2010) nhiệm vụ chủ chốt của giáo dục nói chung, của giảng dạy trong trường học nói riêng nên là một nghệ thuật, một công việc tạo ra động lực, truyền cảm hứng, kích thích sự tò mò, sự mong muốn khám phá vốn có nơi trẻ. Động lực được ví như một đóa hoa, nhưng lại là đóa hoa mỏng manh, cần được kiên nhẫn chăm chút với sự tôn trọng (Hourst, 2014). Môi trường và công việc giáo dục ở trường cũng như ở nhà nên có mục đích nhắm tới là giúp trẻ có được điều này.      Khi người lớn cùng trẻ tạo ra một môi trường lý tưởng phù hợp và tôn trọng sự duy biệt nơi con em mình, thì trẻ sẽ luôn có động lực vì được là chính mình trong cách học và cuộc sống nói chung.      Chân dung học tập và động lực     “Chân dung học tập” của một cá nhân bao gồm trong đó mạng lọc thông tin của cá nhân, môi trường học tập và các loại hình thông minh của cá nhân đó. Mỗi trẻ là một chủ thể duy biệt nên chân dung học tập cũng mang tính duy biệt. Trong bài “Người học là ai?1”, tôi đã nhấn mạnh khía cạnh sinh học, đặc biệt là cách vận hành của não bộ và mạng lọc thông tin, cách tiếp nhận kiến thức của cá nhân. Ở đây tôi xin được bàn đến các khía cạnh còn lại làm nên chân dung này.    Môi trường phù hợp rất quan trọng trong việc tạo ra và duy trì động lực học tập. Theo Hourst (2014), môi trường này gồm các yếu tố vật lý, cảm xúc, xã hội và trí tuệ.    Trước hết là môi trường vật lý: đó là vị trí không gian, sự bài trí của góc học tập, ánh sáng, âm thanh, mùi vị, tư thế. Chẳng hạn có học sinh cần yên tĩnh thì mới có thể tập trung, có em lại cần tiếng nhạc thì mới có thể học. Có học sinh ngồi yên, nhưng cũng có em (nhất là các trẻ thiên về vận động) phải đi qua đi lại, gác chân lên bàn, nhảy trên giường, thì mới có thể học…Để giúp học sinh khám phá ra bản thân, nên đặt câu hỏi: Cái gì, điều gì quan trọng với em liên quan đến không gian và môi trường vật lý xung quanh?      Học sinh cần phải biết mục tiêu, mục đích của việc học tập các môn này để làm gì? mục tiêu ngắn hạn dài hạn là gì? Trong ảnh: Học sinh nghe giảng về kiến thức sinh học ngay trong vườn trường. Ảnh: Trường THCS Thạnh Mỹ Lợi.   Môi trường cảm xúc liên quan đến những điều làm trẻ vui, buồn, cảm thấy an toàn, tự tin, hay làm trẻ lo lắng sợ hãi. Để giúp học sinh khám phá, hãy đặt với các em những câu hỏi: học sinh đánh giá cao khi người khác làm gì cho bản thân? Chẳng hạn người khác động viên, nêu ra những thành công, để ý đến những cảm xúc của em, hỗ trợ em lúc gặp khó khăn; hay nêu ra những khuyết điểm, để em tự xoay xở, nghiêm túc với em, đặt ra cho em những giới hạn, để em yên tĩnh khi không thành công… Mỗi trẻ mỗi khác, nên cần phát hiện ra cái riêng của từng trẻ. Điểm chung liên quan đến khía cạnh này là người lớn nên tạo cho con em mình một môi trường cảm xúc an toàn, nhiều yêu thương, giúp trẻ tự tin, có một hình ảnh tích cực về bản thân. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng “học sinh sẽ hành động, dấn thân vào việc học,  khi chúng cảm thấy tự tin, cảm thấy mình có khả năng tiến bộ, có năng lực học hành, cảm nhận được hỗ trợ, được công nhận với những tài năng, năng khiếu riêng của mình (Baumier-Klarsfeld, 2016, tr. 233).    Môi trường xã hội là những yếu tố liên quan đến sự tương quan với người khác trong việc học tập, chẳng hạn để học một cách hiệu quả, trẻ thích học với các bạn, với giáo viên, trẻ thích hợp tác, thích cạnh tranh thi đua, thích đặt các câu hỏi, hay thích học một mình, học với sách, tài liệu. Những học sinh nghiêng về trí thông minh giao tế xã hội, sẽ rất thích học tập, cộng tác với người khác, nhưng những đứa trẻ thiên về nội tâm, lại thích học, tự tìm tòi, tự suy ngẫm, nghiên cứu một mình.    Môi trường trí tuệ liên quan đến cách thức đón nhận thông tin của trẻ. Người lớn có thể đặt câu hỏi để tìm ra cái riêng của con em mình là: Trẻ tiếp nhận thông tin trong điều kiện thế nào là hiệu quả nhất? Trẻ chỉ có thể khám phá, đón nhận một thứ trong một lần, hay nhiều thứ cùng lúc? Trẻ thích một tiếp cận có trình tự, được cấu trúc chặt chẽ kiểu I, II, III rồi 1.1, 1.2, 1.3… hay một tiếp cận toàn diện, nhiều quan điểm cùng lúc? Trẻ thích tiếp cận lý thuyết trước sau đó là các ví dụ cụ thể, hay thích những ví dụ trước sau đó mới đúc kết thành lý thuyết sau? Trẻ thích sự hài hước nhiều nghịch lý trong cách trình bày của giáo viên hay thích sự duy lý, nghiêm túc? Trẻ thích chia sẻ quan điểm với người khác hay thích đặt những câu hỏi về những điều được học với người khác?      Nếu cả trẻ và người lớn tìm không ra lợi ích, ý nghĩa của một môn học, của một kiến thức nào đó với chính trẻ ở hiện tại hay trong tương lai một cách rõ ràng, thì nên xem xét lại nội dung chương trình giảng dạy.      Mỗi học sinh là một chủ thể duy biệt, và sự duy biệt này cũng thể hiện trong môi trường học tập với bốn khía cạnh như đã nêu. Không có một môi trường lý tưởng chung dành cho tất cả học sinh, mà cần “khác biệt hóa” trong việc thiết kế nên những môi trường lý tưởng với từng trẻ. Khi người lớn cùng trẻ tạo ra một môi trường lý tưởng phù hợp và tôn trọng sự duy biệt nơi con em mình, thì trẻ sẽ luôn có động lực vì được là chính mình trong cách học và cuộc sống nói chung.    Một yếu tố bổ sung trong chân dung học tập, là các loại hình thông minh của trẻ. Nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner (xem Thomas, 1999) đã đưa ra lý thuyết đa thông minh, lý thuyết này được công nhận và áp dụng ngày càng rộng rãi trong giáo dục trên thế giới. Theo đó, mỗi cá nhân đều sở hữu một chậu hoa thông minh trong đó có tám cành hoa: ngôn ngữ, toán – logic, thiên nhiên, vận động, âm nhạc, giáo tiếp xã hội, nội tâm, không gian – thị giác. Có những cành đã nở hoa khoe sắc, tức là những loại hình thông minh nổi trội, đã hiển lộ, dễ dàng nhận thấy; nhưng cũng có những cành đang ở dạng búp, chờ ngày nở hoa, tức là những hình thức thông minh đang ở dạng tiềm ẩn, cần được khám phá, chăm bón, tạo điều kiện để phát triển. Nhà trường và gia đình cần giúp từng học sinh khám phá ra chậu hoa các trí thông minh của mình để có cách thức chăm sóc phù hợp nhằm làm cho cả chậu hoa nở rộ, tô đẹp cho chính học sinh và cả xã hội. Đó cũng là một trong những cách thức tạo ra và duy trì động lực học tập nơi trẻ.     Trách nhiệm và động lực     Trẻ sẽ có động lực khi thấy mình có liên quan và có trách nhiệm với việc học. Như vậy, người lớn phải làm sao để trẻ cảm thấy có sự liên đới, thấy mình chính là “tác giả” hay đồng tác giả của những gì được học, của những mục tiêu, các kế hoạch học tập, cũng như nội dung chương trình giảng dạy, chứ không phải là “tờ giấy trắng” thụ động, chịu sự áp đặt hoàn toàn của người lớn.    Để có điều này, cha mẹ, giáo viên nên thường xuyên làm cho trẻ suy nghĩ về mục tiêu, ý nghĩa và các lợi ích của sự học. Chẳng hạn làm cho trẻ thấy được việc học một điều cụ thể nào đó giúp ích gì cho trẻ, liên quan gì đến trẻ ngay hiện tại và trong tương lai. Hay nói cách khác, cùng trẻ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi căn bản: Học để làm gì? Câu trả lời phải đơn giản, phù hợp với lứa tuổi và liên quan đến cuộc sống hằng ngày của trẻ, ví dụ, học tiếng Việt là để có thể đọc được những nhãn dán trên các sản phẩm khi con đi siêu thị, để đọc những cuốn sách con yêu thích, để trả lời email, tin nhắn của bạn bè; học toán để biết tính tiền túi khi mua một món đồ, để biết cộng các khoản chi tiêu trong gia đình hằng tháng, v.v.    Liên quan đến cách học cũng vậy, để làm cho trẻ thấy mình có sự liên đới, người lớn có thể đặt câu hỏi: “Theo con, làm thế nào để học được điều này một cách tốt nhất ?” Từ những trả lời của trẻ, người lớn giúp trẻ tìm ra những cách học tốt nhất phù hợp với từng em, và từng vấn đề cụ thể như đã trình bày ở trên.    Tóm lại, người lớn không lảng tránh những câu trả lời khi trẻ đặt ra các câu hỏi về việc học, về cách học. Và nếu trẻ không đặt các câu hỏi thì người lớn nên thường xuyên đặt câu hỏi với trẻ để giúp trẻ suy nghĩ về mục tiêu và ý nghĩa của những điều đang học. Nếu cả trẻ và người lớn tìm không ra lợi ích, ý nghĩa của một môn học, của một kiến thức nào đó với chính trẻ ở hiện tại hay trong tương lai một cách rõ ràng, thì nên xem xét lại nội dung chương trình giảng dạy.    Mục tiêu học tập và động lực     Học sinh sẽ cảm thấy có trách nhiệm và có động lực, khi các em có mục tiêu học tập rõ ràng. Mục tiêu (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) đó phải là của trẻ, xuất phát từ trẻ, chứ không phải là của cha mẹ, giáo viên hay nhà trường. Nếu mục tiêu chỉ là sự áp đặt một chiều đến từ người lớn, thì trẻ sẽ không có động lực bởi lúc đó học sinh sẽ thấy học hành là vì người khác và cho người khác chứ không phải vì bản thân và của bản thân. Mục tiêu phải khả thi, có một chút tham vọng, và liên quan đến lợi ích của học sinh. Thay vì áp đặt, người lớn cần tin tưởng vào trẻ, vào khả năng tự đánh giá bản thân nơi trẻ, cùng trẻ xây dựng các mục tiêu, để trẻ tự quyết tham gia các hoạt động giáo dục, thể hiện bản thân.      Sự áp đặt đồng loạt là cách hủy hoại nhanh nhất động lực của cá nhân, làm ức chế, ngăn cản khả năng tiềm tàng của hàng triệu bộ não trẻ thơ vốn được Thượng đế ban tặng một cách hào phóng và công bằng.      Người lớn có thể đặt những câu hỏi như: mục tiêu của trẻ với môn học này (với học kỳ này, năm học này hay cấp học này) là gì? Tại sao trẻ lại muốn như thế? Từ những câu trả lời, người lớn có thể bàn thảo, góp ý với trẻ, cùng trẻ thiết kế nên những mục tiêu phù hợp với bản thân, làm cho trẻ thấy được chính trẻ là tác giả, hay ít nhất là đồng tác giả của những mục tiêu học tập, chứ không phải học vì người khác hay cho người khác.    Xét về mặt não bộ, “khi trẻ phải chọn một nhiệm vụ và những thứ cần để hoàn thành nhiệm vụ này, trẻ sẽ cảm thấy có sự liên đới nhiều hơn, trẻ sẽ có một cái nhìn tích cực về việc học, về mục tiêu của mình. Có sự phóng thích của hai chất endorphin (dopamine và serotonin), chúng liên quan đến trạng thái tự tin và mức độ thấp của stress. Ngược lại, khi trẻ thiếu đi sự lựa chọn, trẻ sẽ cảm thấy bị gò bó; bộ não sản sinh ra chất dẫn truyền thần kinh (chất cường giao cảm / norepinephrine) có hiệu ứng ức chế mạnh. Trong tình trạng này của não bộ, tinh thần đi xuống, hiệu quả học tập kém, động lực bị suy sụp” (Hourst, 2014, tr. 174).     Kết luận     Động lực học tập nơi học sinh không bao giờ phát triển theo một đường thẳng từ dưới lên, mà là một đồ thị hình sin, có lúc lên cao, tinh thần khí thế hừng hực, nhưng cũng lắm lúc đi xuống, tinh thần chán nản, cơ thể mệt mỏi. Điều quan trọng là giúp trẻ ý thức được ý nghĩa của việc học, ý thức được tâm trạng lên xuống là điều bình thường, ý thức được những thứ xung quanh có thể tác động lên cảm xúc và suy nghĩ của bản thân, có được những kỹ thuật (như hít thở, yoga, nghỉ ngơi, những động tác thư giãn…) để lấy lại năng lượng, điều chỉnh tinh thần, lướt thắng những khó khăn, những cảm xúc tiêu cực và sự nhụt chí nhất thời, duy trì một mũi tên động lực phát triển đi lên xét về đường dài.    Người lớn cũng cần phân biệt giữa chuyện con em mình thiếu động lực và chuyện thiếu kỹ năng, chẳng hạn trẻ không biết làm thế nào để chủ động sắp xếp việc học, việc nhà…). Trong trường hợp thiếu kỹ năng, người lớn cần huấn luyện kỹ năng cho trẻ (đây lại là một chủ đề khác).    Tóm lại, khi người người lớn chúng ta thực sự đặt trẻ làm trung tâm, thật sự quan tâm đến lợi ích của trẻ, thực sự tôn trọng sự duy biệt nơi trẻ, xem trẻ là một chủ thể chủ động tương tác, và tham gia vào quá trình trình giáo dục, từ việc xác định nội dung chương trình, mục tiêu học tập, môi trường học tập và cách thức học tập, thì trẻ sẽ cảm thấy được tôn trọng, có sự liên đới, có trách nhiệm và những điều này mang lại động lực bên trong, có tính lâu dài nơi trẻ.  Việc giúp học sinh tìm ra “chân dung học tập” của riêng mình và cho phép các em học hành với chân dung đó, là công việc của người làm giáo dục (giáo viên, phụ huynh và những tác nhân khác). Công việc này cần “khác biệt hóa”2, bởi không có một mẫu số chung, một chân dung lý tưởng chung dành cho tất cả các trẻ. Đây là công việc thuộc nội dung “học về sự học”3, chứ không phải là việc truyền tải kiến thức.    Công việc này là một nghệ thuật, phải được thực hiện với từng con người cụ thể riêng biệt, chứ không phải là một công thức chung được áp đặt hàng loạt. Sự áp đặt đồng loạt là cách hủy hoại nhanh nhất động lực của cá nhân, làm ức chế, ngăn cản khả năng tiềm tàng của hàng triệu bộ não trẻ thơ vốn được Thượng đế ban tặng một cách hào phóng và công bằng. Áp đặt cũng không phải là cách để hệ thống giáo dục tạo ra những triết gia, những nhà khoa học, những nhà nghệ thuật với những phát minh, phát kiến, những đóng góp lớn cho đất nước và thế giới.θ     1Đăng trên Tia Sáng (số 13, ngày 5/7/2020).  2 Tác giả đã trình bày trong bài “Khác biệt hóa trong giáo dục” đăng trên Tia Sáng (số 14 ngày 5 /8/2020).  3 Tác giả đã trình bày trong bài “Học về sự học” đăng trên Tia Sáng (số 15 ngày 5 /9/2020).     Tài liệu tham khảo  Baumier-Klarsfeld, A. (2016). Réveiller de désir d’apprendre. Paris: Albin Michel.  Hourst, B. (2014). J’aide mon enfant à mieux apprendre. Paris: Eyrolles.  Giordan, A. & Saltet J. (2010). Changer le collège c’est possible!  Paris: Play Bac Éditions.  Thomas, A. (1999). 7 loại hình thông minh – Nhận biết và phát triển trí năng tiềm ẩn (Dịch bởi Mạnh Hải và thu Hiền, 2018). Hà Nội : Nxb : Lao Động – Xã hội.    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Đóng mà mở      Có thể thấy nền giáo dục nói chung, quy trình đào tạo tiến sỹ nói riêng ở Mỹ vừa mang tính mở, vừa mang tính đóng. Nó mở với những người cầu thị, trung thực, thượng tôn tinh thần khoa học và đóng với những kẻ toan tính vật chất, vụ lợi…        Tinh thần vị khoa học     Bản thân tôi trong thời gian học ở Mỹ từng khá bất ngờ khi trực tiếp nghe lời nói này từ một vị giáo sư (GS) tên tuổi, có nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam khi tôi mời ông tham gia vào hội đồng của mình. Ông thẳng thắn nói với tôi rằng ông sẽ không giúp ích gì nếu ở trong hội đồng bởi chuyên môn sâu của ông khác so với dự định của tôi. Dĩ nhiên, ông khẳng định việc từ chối chỉ đến từ lý do chuyên môn.      Tôi nhận ra rằng, trước khi nhận lời hướng dẫn, đa phần các GS đều trao đổi khá kỹ về chủ đề mà nghiên cứu sinh (NCS) muốn thực hiện, mục đích nhằm xem có phù hợp với chuyên môn của mình không. Nhiều trường hợp họ từ chối cũng vì đã hướng dẫn đủ số lượng quy định hoặc đang thực hiện đề tài dự án nào đó nên không thể tận tâm hướng dẫn.      Đa phần các GS cũng chia sẻ thẳng thắn quan điểm làm việc, yêu cầu chuyên môn của mình để NCS được biết. Tôi cho đây là cách tiếp cận khoa học, sòng phẳng, giúp hai phía hiểu nhau và làm việc với nhau một cách hiệu quả nhất.      Các GS hướng dẫn ở Mỹ tuyệt nhiên không được trường trả tiền công cho việc hướng dẫn NCS. Việc hướng dẫn một hay nhiều NCS chỉ có ý nghĩa đóng góp cho hoạt động khoa học cho trường, khoa. Cả hội đồng cùng làm việc mà không hề có bất cứ hỗ trợ tài chính nào trong suốt thời gian hướng dẫn sinh viên của mình.      Hội đồng hướng dẫn đồng thời là hội đồng chấm luận án     Nhìn chung, hội đồng hướng dẫn một NCS bao gồm ít nhất năm thành viên (có thể nhiều hơn tùy vào nguyện vọng của NCS). Chủ tịch hội đồng và đa số thành viên bắt buộc phải là thành viên chính thức của cơ sở đào tạo. NCS cũng phải mời một thành viên đến từ khoa khác (có thể cùng hoặc khác trường, thậm chí từ nước khác), thành viên có chuyên ngành khác ngành mình đang học. Quy định này đưa ra nhằm đảm bảo tính khách quan, liên ngành, minh bạch trong suốt quá trình đào tạo NCS. Đây là tập thể vừa hướng dẫn, vừa đưa ra yêu cầu chuyên môn, vừa chấm điểm luận án của NCS sau này.     Việc thành lập hội đồng thường được tiến hành ở cuối năm thứ nhất, sau khi NCS đã chọn được người hướng dẫn chính làm chủ tịch hội đồng. NCS có thể tham vấn người hướng dẫn chính hoặc tự mình liên hệ với các GS khác trong và ngoài khoa. Việc dành cho khoảng một năm học tập trước khi xác định thành viên trong hội đồng của mình nhằm giúp họ có đủ thời gian xác định rõ hơn hướng nghiên cứu, tìm hiểu những GS phù hợp nhất cho mình. Tôi cho đây là cách làm tốt ngay cả khi trong thực tế, trên trang web của các cơ sở đào tạo bao giờ cũng công khai danh tính các giảng viên, bằng cấp và công trình khoa học của họ một cách công khai.     Sau khi thành lập, chủ tịch hội đồng sẽ tổ chức cuộc họp đầu tiên, nơi NCS trình bày kế hoạch học tập, đề tài luận án chi tiết hơn. Những trình bày này sẽ giúp cả hội đồng và NCS thống nhất một hướng đi, lộ trình cụ thể. Không ít trường hợp nhờ thảo luận từ cuộc họp này, NCS điều chỉnh hướng nghiên cứu của mình theo hướng phù hợp hơn với điều kiện, kế hoạch của mình.     Song hành với việc học các khóa học bắt buộc, tự chọn, NCS sẽ làm việc riêng với từng thành viên hội đồng để xây dựng thư mục tài liệu cần đọc, cần tham khảo cho luận án của mình. Danh mục này phải phù hợp với hướng nghiên cứu của NCS và nằm trong phạm vi chuyên môn sâu của người hướng dẫn.     Thông thường, danh mục tài liệu này bao gồm hàng trăm công trình các loại và khi gộp danh sách tài liệu cần đọc theo yêu cầu của cả hội đồng, đa phần NCS “vã mồ hôi” về dung lượng, quy mô của lượng kiến thức mà họ phải đọc, phải học, phải nhớ. Dù vậy, tất cả NCS sẽ phải nghiêm túc nghiên cứu các tài liệu cần đọc và đã được từng thành viên hội đồng phê chuẩn. Mục đích của việc này nhằm trang bị cho NCS nền tảng tri thức căn bản, đủ rộng, đủ sâu về hướng chuyên môn của họ. Đây cũng là sự chuẩn bị cần thiết cho kỳ thi sát hạch toàn diện (comprehensive exam) mà bất cứ NCS nào cũng phải trải qua và “nhớ đời” về tính khắc nghiệt của nó.     Kỳ thi sát hạch toàn diện     Ở Mỹ, việc được chấp nhận vào học không có nghĩa NCS sẽ ung dung, tuần tự học rồi viết và bảo vệ luận án. Họ phải trải qua một kỳ thi sát hạch được chấm điểm bởi chính hội đồng của mình. NCS sẽ phải trải qua các kỳ thi viết với từng thành viên hội đồng. Thông thường đây là kỳ thi tại lớp, không được mở tài liệu. Đề thi do từng thành viên hội đồng độc lập đưa ra. Nếu vượt qua kỳ thi này, sau khoảng một tuần NCS sẽ phải vượt qua kỳ thi vấn đáp trước cả hội đồng, nơi họ có thể bị hỏi, sát hạch thêm một số nội dung liên quan đến bài viết của mình.     Thời điểm tổ chức kỳ thi này do NCS tự chọn, tùy thuộc vào mức độ sẵn sàng của họ. Nội dung kỳ thi sẽ chỉ giới hạn trong danh sách tài liệu đọc mà NCS và từng thành viên đã thống nhất trước đó. Đề thi luôn bí mật nhưng nhìn chung NCS sẽ được yêu cầu tóm tắt, bình luận hoặc phản biện những công trình mình đã đọc. Dù vậy, không ít người không thể vượt qua kỳ thi này và phải thi lại. Việc thi trượt hai lần liên tiếp đồng nghĩa với việc NCS bị loại khỏi chương trình học và nếu muốn, họ phải nộp đơn lại từ đầu.     Chỉ sau khi vượt qua kỳ thi này, NCS mới được phép trình, bảo vệ đề cương nghiên cứu chi tiết trước hội đồng. Sau khi được phê duyệt, họ mới được phép triển khai nghiên cứu thực nghiệm. Cũng chỉ sau kỳ thi này, NCS mới được công nhận là ứng viên tiến sỹ (PhD Candidate), không còn phải đăng ký học các lớp từng học kỳ theo quy định của trường. Tính khắc nghiệt của kỳ thi này khiến không ít NCS bỏ cuộc, có người phải sau ba năm học mới dám đăng ký thi. Đa phần đều ngầm hiểu vượt qua cuộc thi này đồng nghĩa với việc cơ bản hoàn thành chương trình tiến sỹ.     Luận án tiến sỹ     Việc lựa chọn tên đề tài, nội dung, địa bàn nghiên cứu hoàn toàn do NCS quyết định. Ý kiến của hội đồng chỉ có tính chất tham khảo nhưng NCS sẽ phải chịu trách nhiệm trước quyết định của mình. Việc đổi tên luận án hoàn toàn dễ dàng ngay cả sau khi NCS hoàn thành nghiên cứu thực địa, thậm chí trước khi bảo vệ một thời gian ngắn.     Dù mức độ nghiêm ngặt ở từng cơ sở đào tạo có khác nhau nhưng bất kỳ luận án tiến sỹ nào cũng phải trả lời được một số câu hỏi căn cốt: đóng góp cụ thể về mặt lý thuyết, phương pháp của nó đối với chuyên môn sâu của NCS là gì? Nó kế thừa ra sao từ các nghiên cứu trước và đưa ra được những vấn đề mới gì? Ý nghĩa khoa học của luận án và những vấn đề gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo? Đây là những câu hỏi mà NCS phải trả lời ngay ở phần đầu luận án của mình.     Đạo văn được coi là một trong những hành vi nghiêm trọng và mọi giải thích, biện hộ sẽ không bao giờ được chấp nhận. Đạo văn không chỉ bao gồm việc bê nguyên sản phẩm của người khác mà cả việc đạo ý tưởng mà không trích dẫn công khai, rõ ràng. Mọi vi phạm bị phát hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng đồng nghĩa với việc luận án bị đánh trượt và NCS chính thức tự đóng sập mọi cảnh cửa của mình trong cuộc đời khoa học.                Chương tổng quan tài liệu, trình bày lý thuyết, phương pháp nghiên cứu hết sức được coi trọng nếu không muốn nói là hồn cốt của luận án. Đây cũng là địa hạt được hội đồng quan tâm nhiều nhất bởi họ muốn xem NCS áp dụng cách tiếp cận, lý thuyết, phương pháp cụ thể nào, áp dụng chúng ra sao vào nghiên cứu cụ thể? Việc “treo đầu dê, bán thịt chó” theo kiểu nêu tên lý thuyết, phương pháp mà không hiểu thấu đáo, không áp dụng sẽ khiến luận án đó dễ dàng bị đánh đổ.                              Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá trong giáo dục đại học      Chúng ta có thể đào tạo được những học sinh phổ thông đạt trình độ đỉnh  cao quốc tế ở hầu hết các môn học. Nhưng kết quả sẽ ra sao nếu ta tham gia những cuộc thi như “sinh viên giỏi quốc  tế”, “cao học quốc tế”, “nghiên cứu sinh quốc  tế”, hay “giáo sư quốc tế”?    Nhìn lại thành tích của học sinh phổ thông nước ta tại các kỳ thi Olympic quốc tế 40 năm qua cho thấy rất rõ rằng, chúng ta có thể đào tạo được những học sinh phổ thông đạt trình độ đỉnh cao quốc tế ở hầu hết các môn học. Đó là một thành tích rất đáng tự hào, dù có người cho rằng, có quan trọng gì đâu cái huy chương vàng Olympic toán học, vì thực ra nó nào có liên quan thiết thực gì đến kinh tế, xã hội. Nếu nói vậy thì chắc cũng chẳng nên thi chạy 100 mét, 5.000 mét, thi đi bộ làm gì, khi mà có thể dùng ôtô, máy bay! Nói cho cùng, các cuộc thi đó đều chứng tỏ khát khao của con người trong việc nâng cao khả năng của mình, cả về cơ bắp lẫn đầu óc. Và thắng lợi trong những cuộc thi đó không thể nói là không có ý nghĩa!   Nhưng nếu có cuộc thi “sinh viên giỏi quốc tế”, tôi chắc thành tích của sinh viên ta sẽ không thể cao như vậy, và sẽ còn thấp hơn nếu có cuộc thi “cao học quốc tế”, “nghiên cứu sinh quốc tế”, và đặc biệt kết quả sẽ rất thấp nếu thi “giáo sư quốc tế”! Dĩ nhiên không có các kỳ thi giả tưởng đó, vì không cần thi, người ta đã biết ai thắng, ai thua: chỉ cần nhìn vào chất lượng của nền giáo dục mỗi nước là biết ngay.   Vậy đâu là nguyên nhân?   Thành tích cao của học sinh phổ thông của chúng ta phần nhiều do hệ thống trường chuyên mang lại. Các trường chuyên được sự quan tâm lớn của Nhà nước, và đặc biệt là các gia đình học sinh. Như vậy, sự đầu tư của xã hội cho một bộ phận học sinh giỏi của chúng ta ở bậc phổ thông có lẽ cũng không thua kém các nước khác. Tuy nhiên, sang đến bậc đại học và cao hơn nữa thì rất khác. Chúng ta chưa đầu tư đúng mức đến việc xây dựng những trường đại học có thể ngang tầm quốc tế. Vậy mà đối với xã hội thì lớp người tốt nghiệp đại học mới thực sự là hạt nhân của sự phát triển, chứ đâu phải là học sinh tốt nghiệp phổ thông. Xem ra, người ta biết đầu tư đúng chỗ hơn ta. Bởi thế nên càng lên, họ càng vượt hẳn chúng ta. Trong khi mỗi tỉnh thành của chúng ta đều có một trường chuyên, không kể bốn trường chuyên phổ thông đặt ở các đại học (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM), thì cho đến nay, chúng ta chưa có lấy một cơ sở đào tạo sau đại học nào được đầu tư lớn để có thể hy vọng ngang tầm quốc tế. Hệ thống giáo dục đại học như nhận xét của giáo sư Pierre Darriulat “chạy theo sự hào nhoáng của tên gọi các ngành học, các trường đại học đua nhau mở các khóa kinh tế học, quản trị, marketing, nhưng sự thật là đa phần họ chỉ đào tạo ra những giao dịch viên ngân hàng, những nhân viên bàn giấy, những đốc công, và những người bán hàng… rất nhiều sinh viên uổng phí bốn năm học chỉ để làm một việc là quên lãng dần những kiến thức phổ thông bởi các trường đại học không nghiêm túc kiểm soát chất lượng kiến thức của người học nhưng vẫn cấp bằng, điểm số được chấm một cách dễ dãi”. Còn việc đào tạo tiến sỹ – những người thầy, nhà khoa học tương lai, chưa từng ở đâu sử dụng một quy trình với những quy định vừa phức tạp, vừa không thực tế với khoa học Việt Nam, làm khốn khổ những người trung thực, đồng thời tạo cơ hội cho việc mua bán bằng cấp… Cũng như vậy, không nhiều giáo sư của chúng ta từ cơ sở vật chất, thiết bị, kinh phí nghiên cứu, điều kiện thăng tiến, lương bổng… đâu có “ngang tầm quốc tế”, nên cũng khó hy vọng trong một thời gian gần, có được một đội ngũ “giáo sư giỏi” như mong muốn.   Nói cho cùng, nếu muốn đạt thành tích cao trong những cuộc thi giả tưởng kể trên, chúng ta cần xem lại chính sách đầu tư trong giáo dục, và cần mạnh dạn có những đột phá trong đầu tư vào đào tạo đại học và  sau đại học, như chúng ta từng đột phá trong việc xây dựng các lớp chuyên phổ thông để có kết quả như ngày hôm nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án mới của VEF      Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) đang triển khai dự án Nghiên cứu có tên là Những quan sát về giáo dục đại học nhằm hỗ trợ về mặt tổ chức và tài trợ cho 8 giáo sư Hoa Kỳ đến Việt Nam tham gia nghiên cứu về giáo dục đại học trong các ngành khoa học Nông nghiệp, Xây dựng, Công nghệ Thông tin, Kỹ thuật Điện – Điện tử – Viễn thông, Khoa học Môi trường, Vật lý và Giao thông vận tải của một số trường đại học Việt Nam.      Mục đích của dự án là đánh giá lại những thế mạnh và thách thức đối với giáo dục đại học ở Việt Nam trong các ngành khoa học kể trên so với kết quả của hai báo cáo trước đây của VEF. TS. Lynne McNamara, Giám đốc Điều hành của VEF, nhận định: “Quỹ Giáo dục Việt Nam hy vọng Dự án Nghiên cứu Tiếp theo sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu cách thức áp dụng các mô hình và hướng tiếp cận mới trong giáo dục đại học và sau đại học nhằm tăng cường hiệu quả của công tác giảng dạy và học tập trong các ngành khoa học, kỹ thuật, và công nghệ ở Việt Nam. VEF cũng rất tự hào được đóng góp một phần vào sự phát triển khoa học, kỹ thuật, toán học, y tế và công nghệ cho Việt Nam”.  VEF là một sáng kiến của Quốc hội Hoa Kỳ và là một tổ chức thuộc chính phủ Liên bang Hoa Kỳ, hoạt động từ năm 2003. Từ đó đến nay, hàng năm, VEF đã tuyển chọn hàng chục nghiên cứu sinh và học giả đến học tập và nghiên cứu tại các trường đại học nước này.   Hiện tại, 10 nhà khoa học và giáo sư Hoa Kỳ đã có mặt tại Việt Nam để phỏng vấn, tuyển chọn các ứng viên trong các ngành khoa học (tự nhiên, vật lý, môi trường), kỹ thuật, toán học, y học (điển hình là ngành y tế công cộng), và công nghệ (bao gồm công nghệ thông tin) từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 7 tháng 8 năm 2013. Dự kiến năm nay, VEF sẽ tuyển chọn khoảng 40 nghiên cứu sinh và 3 học giả tham gia chương trình này.   Các ứng viên nghiên cứu sinh được chọn sẽ đến Hoa Kỳ vào mùa thu năm sau và những học giả thành công sẽ tham gia các khóa đào tạo sau tiến sĩ tại các trường đại học Hoa Kỳ trong năm học 2014-2015.  Trong thời gian ở Việt Nam, các nhà khoa học và giáo sư Hoa Kỳ cũng sẽ thực hiện các buổi thuyết trình và trao đổi chuyên môn về các vấn đề khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu và Trung tâm tư vấn giáo dục Hoa Kỳ.  Cho đến nay, chương trình học bổng VEF đã đưa 467 nghiên cứu sinh Việt Nam sang học tập tại 92 trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ, phần lớn theo trình đào tạo bậc tiến sĩ. Ngoài ra, chương trình Học giả của VEF cũng đưa nhiều công dân Việt Nam tham gia các chương trình đào tạo sau tiến sĩ tại các trường đại học Hoa Kỳ trong thời gian từ 5 đến 12 tháng.   Tất cả các nghiên cứu sinh và học giả, theo quy định của VEF, đều phải trở về Việt Nam sau khi hoàn tất các chương trình học thuật của mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự thảo hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi của Luật GDĐH: Những điều cần làm rõ      Hiện nay, Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (GDĐH) đang được soạn thảo và lấy ý kiến. Chúng tôi thiển nghĩ rằng, Dự thảo Nghị định này cần tiếp tục được lấy ý kiến rộng rãi, thực lòng, theo nguyên tắc mở và minh bạch! Chỉ khi có ý kiến chuyên môn, với đầy đủ căn cứ từ thực tiễn, trên tinh thần xây dựng, để chỉnh sửa, bổ sung, làm rõ thêm một số vấn đề thì mới có thể có một Nghị định xứng tầm, đủ sức tạo ra sự đồng thuận trong hệ thống giáo dục cũng như trong xã hội, đưa Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH thành sức mạnh vật chất trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học nước nhà.  Gần đây, một số nhà khoa học uy tín và quản lý giáo dục có kinh nghiệm (GS Phùng Hồ Hải, GS Lê Vinh Danh, v.v…)  đã có những ý kiến mang tính xây dựng, chân thành về Dự thảo Nghị định này. Ở đây, chúng tôi xin tiếp tục bàn thêm về một số vấn đề với mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng Dự thảo lần sau.      Giới chuyên môn kỳ vọng Nhà nước sẽ tạo ra động lực, nguồn lực và áp lực để các CSGDĐH, đều được tự chủ hoạt động và chịu trách nhiệm giải trình.   Ảnh: Ngày hội tuyển sinh của ĐH Kinh tế Quốc dân, một trong những trường ĐH đầu tiên tự chủ. Nguồn: Tienphong.  Mong mỏi dự thảo đi vào chiều sâu, thực chất  Xã hội, nhất là giáo giới, mong đợi Nghị định này tạo ra các ‘cú hích’:   (1) Từ ngày 01/7/2019, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học và các bộ ngành liên quan sẽ luôn đồng hành cùng các cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) để đưa tự chủ đại học đi vào chiều sâu, đi vào thực chất, dưới sự dẫn dắt của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH và các Nghị định, Thông tư liên quan; không còn cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược, các quy định cứng nhắc hoặc mang tính nước đôi ảnh hưởng đến việc tự chủ của các trường.    Luật đã giao Chính phủ quy định chi tiết về tự chủ đối với các CSGDĐH, nên về nguyên tắc, Nghị định sẽ hướng dẫn ngay cơ chế tự chủ trong các CSGDĐH. Nhờ thế, Nghị định này sẽ là các văn bản pháp lý để đời, thúc đẩy và mở rộng quyền tự chủ trên thực tế cho đơn vị sự nghiệp công lập trong giáo dục theo tinh thần NQTW6 và NQTW19 của Đại hội XII, làm thay đổi diện mạo giáo dục đại học Việt Nam (VN). Quyền tự chủ của các CSGDĐH được thể hiện trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học và Nghị định qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật phải thông thoáng, rộng mở, ‘tiến bộ’ hơn Nghị quyết 77/NQ-CP về Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017; nếu không, giá trị của Luật và Nghị định đi kèm sẽ bị giảm đi khá nhiều trong quá trình tổ chức thực thi Luật, thậm chí bị coi là ‘lạc hậu’ hơn NQ77, điều mà cả nhà nước và nhân dân đều không mong muốn.   Nghĩa là, bằng Luật và Nghị định, nhà nước sẽ phải tạo ra động lực, nguồn lực và áp lực để các CSGDĐH, đều được tự chủ hoạt động và chịu trách nhiệm giải trình, có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực, không phụ thuộc vào qui mô, loại hình, tên gọi (trung ương hay địa phương, công hay tư, trường nghiên cứu hay trường ứng dụng, trường quốc gia hay trường đơn ngành)…, chỉ phụ thuộc vào các tiêu chí về hiệu lực quản lý, hiệu quả công tác và năng suất lao động theo các chỉ số đánh giá kết quả KPI (Key Performance Indicator) mà CSGDĐH đã cam kết.   (2) Nghị định có nhiệm vụ quan trọng là qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, nên phải đảm bảo rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu để thực hiện đúng; giảm tối đa sự mập mờ, bất định của cụm từ ‘theo qui định’, nhất là trong khi hệ thống pháp luật của chúng ta còn chưa hoàn chỉnh, chồng chéo, nhiều khi còn cản phá và phủ định lẫn nhau. Nếu không, các qui định mập mờ chỉ tạo thêm kẽ hở cho sự tồn tại của cơ chế xin cho, cơ chế cấp phép, không thể là hành lang pháp lý tin cậy cho nền giáo dục tử tế và thiện lương, vì ở đó đã có sẵn mầm mống và sự dung dưỡng cho những điều sai trái! ‘Theo qui định’ càng nhiều thì càng ít tự chủ, càng ít chỗ cho sự xuất hiện của những sáng tạo, đột phá.    (3) Hệ thống đào tạo đại học cần phải được quốc tế hóa càng sớm càng tốt, càng sâu rộng càng tốt, nhằm sớm có những chuyên gia, các nhà khoa học đầu đàn, các nhà quản lý tài ba, tiệm cận nhanh chóng với các chuẩn mực quốc tế, để đất nước sớm có nguồn nhân lực chất lượng cao, sớm có thể xuất khẩu chuyên gia chứ không chỉ mãi xuất khẩu lao động. Do đó, tư tưởng ‘quốc tế hóa’ rất cần được thể hiện đậm nét trong NĐ.  (4) Muốn có đột phá về thể chế, với xương sống là đưa tự chủ đại học thành thực chất, thì lại cần đột phá về tư duy của Ban soạn thảo (BST) Nghị định. Nếu vẫn với tư duy cũ, vẫn còn hơi hướng xin cho, thì chỉ có thể đưa ra các giải pháp hoặc là nửa vời, né tránh thực tiễn, hoặc là không đủ rõ ràng, không đủ cụ thể, rất khó giải trình, rất khó thực hiện, để các CSGDĐH lại phải ‘lên xin ý kiến’ thì mới biết làm thế nào cho đúng, cho đủ; hoặc là không đủ mạnh, không đủ quyết liệt, để thực hiện đến đầu đến đũa tự chủ đại học.   Những băn khoăn về Dự thảo  Ý kiến của chúng tôi dựa theo văn bản không số, không đánh số trang, không đề ngày tháng, dưới dòng ‘Dự thảo 6.3’ in hoa là dòng chữ ‘Không phổ biến’ in đậm. Sau khi đọc toàn bộ Dự thảo, chúng tôi thấy còn nhiều băn khoăn, trong đó có những điều cốt lõi là:  Loại hình đại học  Theo dự thảo, các CSGDĐH của VN có thể có loại hình (Điểm a Khoản 1 Điều 2): đại học, trường đại học và học viện. Vậy Nghị định cần có qui định chi tiết và hướng dẫn cụ thể các CSGDĐH này cách ghi tên tiếng Anh của họ trong hồ sơ cũng như trong giao dịch quốc tế để cộng đồng các trường đại học trên thế giới hiểu đúng về hệ thống GDĐH VN.  Trong quy định về việc chuyển trường đại học thành đại học (Điều 4) cũng cần làm rõ: Trong ĐHQG và đại học vùng (ĐHV) có các trường đại học thành viên, vậy các trường đại học thành viên này khi hội đủ các điều kiện và tiêu chuẩn theo qui định để trở thành đại học thì họ có quyền chuyển ‘trường đại học’ của họ thành ‘đại học’ không? hay đã là trường đại học thành viên rồi thì muôn đời muôn kiếp vẫn ở trong cái ô Đại học Quốc gia, Đại học vùng, dù có đa ngành và hùng mạnh đến đâu? Nếu có, thì thủ tục có gì khác so với các trường đại học khác (không thuộc Đại học Quốc gia, Đại học vùng)? Mặt khác, điều kiện chuyển trường đại học thành đại học ghi rõ – ‘có ít nhất 5 trường thuộc trường đại học được thành lập’ (điểm b Khoản 1 Điều 4), tại sao lại là 5 trường? Con số này được đưa ra có dựa trên cơ sở khoa học nào không?   Thiển nghĩ, nếu có thể thì nên thay các con số nặng về đo đếm theo kiểu ‘cá kể đầu rau kể mớ’ trên bằng các con số thể hiện chất lượng, như số công bố quốc tế, số phát minh sáng chế, số giải pháp hữu ích, số bản quyền công nghệ, v.v… và, thời buổi dân chủ và tự chủ rồi, cũng nên giao cho các trường tự quyết định xem họ có đủ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đại học hay không. Một khi đã hội đủ các điều kiện do trường đại học tự thẩm định, các trường công khai hồ sơ lên website của họ, đồng thời gửi đến Bộ GD&ĐT và các cơ quan hữu quan, bộ sẽ thẩm định và xác nhận đủ điều kiện.       Trách nhiệm giải trình phải mang tính hai chiều, do vậy không nên qui định chỉ các CSGDĐH mới phải có trách nhiệm ‘minh bạch thông tin’, mà Bộ GD&ĐT và các cơ quan có liên quan của chính phủ cũng cần và phải ‘minh bạch thông tin’ với người học và với xã hội trong việc đầu tư ngân sách, các KPI đối với các CSGDĐH, kết quả đạt được…      Đó là chưa kể, quy định ‘Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm thẩm định hồ sơ và ra quyết định thành lập Trường thuộc cơ sở giáo dục đại học…’ (Điểm c, Khoản 4, Điều 4 của Dự thảo), dường như đang mâu thuẫn với quy định trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học:  “Trường là đơn vị đào tạo thuộc cơ sở giáo dục đại học, do hội đồng trường, hội đồng đại học quyết định việc thành lập theo quy định của Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học” (Khoản 7 Điều 4. Giải thích từ ngữ).   Để thực sự có tự chủ đại học  Xây dựng đại học tự chủ là hình thức chuyển biến cả về chất và lượng trong mối quan hệ giữa Chính phủ với cơ sở giáo dục đại học và thay đổi mối quan hệ bên trong từng CSGDĐH, thông qua việc chính phủ hỗ trợ và cho phép các trường đại học thay đổi hoàn toàn hệ thống cấu trúc và quản trị đại học. Trên cơ sở đó, đại học tự chủ có thể tự quyết và chịu trách nhiệm giải trình về hầu hết các vấn đề liên quan đến sự phát triển của CSGDĐH, không phải xin phép ai ‘cấp phép’ để thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, sứ mệnh và các giá trị cốt lõi đã cam kết.  Tự chủ được thể hiện ở hai cấp độ: giữa trường đại học với nhà nước, và trong nội bộ trường đại học. Về mối quan hệ giữa nhà nước và nhà trường, có mấy vấn đề cần làm rõ: Việc Bộ GD&ĐT nhận nhiệm vụ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học là phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế; nhưng để tránh việc Bộ GD&ĐT mặc nhiên trở thành ‘Bộ quản lý’ của tất cả các trường đại học với các cung cách quản lý cũ, nhất là sau khi bỏ cơ chế bộ chủ quản, thì việc phân công, phân cấp, phân quyền thế nào giữa Bộ GD&ĐT với các bộ ngành liên quan khác, với địa phương và CSGDĐH, xuất phát từ mục đích quản lý, năng lực điều hành, điều kiện cụ thể của từng bộ ngành, địa phương và của từng CSGDĐH, hướng tới văn hóa chất lượng, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội rất cần được phân định rõ ràng. Ví dụ như trong các mối quan hệ này CSGDĐH được làm những gì và không được làm những gì, Bộ GD&ĐT cần và phải làm những gì và không được làm những gì; với các bộ ngành liên quan khác và địa phương cũng vậy.   Tuy vậy, trong Dự thảo hiện nay, mối quan hệ giữa nhà nước (Bộ GD&ĐT, bộ chủ quản và các bộ ngành liên quan) với CSGDĐH chưa được làm rõ. Do vậy, Dự thảo cần bổ sung thêm qui định và hướng dẫn chi tiết.   Mặt khác, mối quan hệ bên trong CSGDĐH, cụ thể là mối quan hệ giữa cấp ủy đảng, Hội đồng trường và hiệu trưởng chưa được làm rõ. Đây cũng một trong những ‘điểm nghẽn’ được các trường đại học và dư luận xã hội quan tâm thời gian qua.  Do vậy, dự thảo cần làm rõ qui định ‘chủ tịch hội đồng trường không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý trong trường đại học” (theo Điểm b Khoản 4 Điều 16 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GDĐH), nghĩa là họ không được làm hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng các phòng ban, khoa, viện… trực thuộc các trường ĐH? Thực trạng hiện nay ở một số CSGDĐH, chủ tịch Hội đồng trường vẫn đảm nhiệm luôn các chức vụ bí thư đảng ủy, giám đốc đại học; cơ sở khoa học của sự ‘lổn nhổn’ này giữa các CSGDĐH trong cùng một hệ thống GDĐH là gì?  Nếu bí thư cấp ủy kiêm chủ tịch Hội đồng trường và kiêm luôn cả hiệu trưởng sẽ càng khiến quyền lực của hiệu trưởng lớn và dễ dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ, thiếu ‘phản biện’, không có sự ‘cân đối quyền lực’ hay giám sát quyền lực nào.  Thúc đẩy nghiên cứu – sức sống của đại học  Trên thế giới người ta phân loại các cơ sở GDĐH thành các loại, hạng khác nhau, nhằm giúp các bên liên quan (nhà nước, tư nhân, các thành phần kinh tế khác nhau…) biết được diện mạo của từng cơ sở GDĐH, từ đó có những ứng xử phù hợp (đầu tư, tuyển dụng, hợp tác…). Các bảng xếp hạng thường dùng các tiêu chí của các trường đẳng cấp cao để ‘đo’ các loại trường, nên các trường muốn có thứ hạng cao khi tham gia xếp hạng thường (thiên về) định hướng nghiên cứu, cái thể hiện rõ nhất và thuyết phục nhất về khả năng đổi mới và sáng tạo của một CSGD. Tuy nhiên, hình như Dự thảo Nghị định chưa rõ ràng giữa tư duy xếp hạng và tư duy phân loại nên dẫn tới còn nhiều ý kiến khác nhau về quy định tại Điều 9.  Cụ thể, Điều 9 vẫn chưa xác định được việc quy định đại học định hướng nghiên cứu để làm gì? vai trò của các trường đại học nghiên cứu trong hệ thống GDĐH như thế nào? Nếu chỉ để cho các bên cùng biết thì đó là phân loại cho tất cả các loại cơ sở GDĐH chứ không phải chỉ đưa ra tiêu chí cho đại học định hướng nghiên cứu. Còn nếu coi các đại học nghiên cứu như lực lượng đầu tàu của hệ thống GDĐH, thì Dự thảo cần nêu rõ nhà nước (sẽ) có cơ chế chính sách khác biệt gì giữa trường đại học định hướng nghiên cứu và trường không/chưa định hướng nghiên cứu để khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động chuẩn bị nguồn lực nhằm đạt tới tiêu chuẩn về đại học định hướng nghiên cứu như Dự thảo Nghị định.   Dự thảo cũng đặt ra chỉ tiêu về số lượng tiến sỹ được đào tạo theo năm để công nhận trường đại học định hướng nghiên cứu là 20 TS/năm (Điểm b, Khoản 1, Điều 9). Đã đến lúc, không nên dựa vào số lượng đào tạo tiến sỹ để khẳng định đẳng cấp của một CSGD nghiên cứu; điều đó, vô hình trung, chỉ khuyến khích sự hình thành và phát triển thêm các ‘lò ấp’ tiến sỹ. Đẳng cấp một trường đại học nghiên cứu không thể được cân đong đo đếm thuần túy về số lượng, mà phụ thuộc chủ yếu vào năng suất khoa học và chất lượng các công bố KH của CSGD (công bố quốc tế, bằng sáng chế, bản quyền công nghệ, giải pháp hữu ích…).   Thiết nghĩ, nên qui định theo năng suất khoa học và chất lượng công bố của các CSGD theo giai đoạn 3 hoặc 5 năm liền kề. Tất nhiên, cũng cần có qui định để tránh hiện tượng có CSGD thuê người viết bài đăng báo quốc tế ghi danh CSGD, nhưng trên thực tế, nhà khoa học ấy không hề gắn bó với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của CSGD, không góp phần vào việc nâng cao tiềm lực KHCN thực sự của CSGD.   Nghiên cứu khoa học là ‘thiên chức’, thực sự là/ biểu thị sức sống của của trường đại học. Vì thế, người ta hy vọng Quy định về ‘Hoạt động khoa học và công nghệ trong CSGDĐH’ (Điều 15) sẽ tạo ra một xung lực mới cho nghiên cứu khoa học trong các trường đại học. Ví dụ như việc qui định về xây dựng đội ngũ các nghiên cứu viên (tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, vinh danh,…) trong trường đại học, nhất là các trường ‘định hướng nghiên cứu’. Thậm chí, sau ‘Chương VIII. Giảng viên’, cần có Chương về Nghiên cứu viên. Tiếc là, dường như ban soạn thảo vẫn coi nhiệm vụ dạy của trường đại học là chính, hoạt động KH&CN chưa thực sự được coi trọng.  Thay lời kết   Thành bại của một quyết sách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất có lẽ là VBQPPL phải đủ rõ ràng và tường minh, đủ mạnh mẽ và quyết liệt, tháo đúng nút thắt đang cản bước quá trình phát triển, tập hợp được sự vào cuộc và dấn thân của cả cộng đồng, làm nên sức mạnh cộng hưởng của toàn hệ thống, vì đó chính là khát khao và mong đợi của cộng đồng. Thêm nữa, tổ chức thực hiện để hiện thực hóa các điều luật vào cuộc sống, tạo ra động lực và các bước đột phá trong toàn hệ thống của cơ quan hữu trách, như Bác Hồ đã dạy ‘chủ trương 1 biện pháp 10 quyết tâm 20’, có vai trò quyết định đến sức sống nội tại và sức lan tỏa của VBQPPL ấy. Mong và tin là, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH sau khi ban hành sẽ làm được điều ấy, tạo ra ‘khoán 10’ trong GDĐH, làm cho GDĐH VN cất cánh! □  Việc biên soạn các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) như Luật, Nghị định ở nước ta xưa này thường có hiện tượng: Luật hay nghị định về lĩnh vực nào, ngành nào thì Quốc hội và Chính phủ giao luôn cho ngành ấy, lĩnh vực ấy soạn thảo, không có bộ phận làm Luật cũng như NĐ chuyên nghiệp, mang tính ‘nhà nghề’, có thể bị chi phối bởi các nhóm lợi ích hay lợi ích cục bộ, của ngành, bộ ấy, cũng như tầm ‘kiến văn’ của ban soạn thảo. Điều đó dẫn đến thực trạng là, giống như một anh tài xế non tay đi trên đường đèo hiểm trở, quẹo phải lo va vào vách núi, quẹo trái lo đâm xuống vực, nên cứ loay hoay chỉnh sửa, thêm bớt, hoặc là chân này chưa nhấn ga thì chân kia đã đạp phanh, nên dù đường đã rõ thì đến đích vẫn chậm, chưa kể nếu đường sương mù nữa thì còn là dò dẫm. Vì vậy, nếu không xin được ý kiến rộng rãi để tiếp nhận các ý kiến của những người có chuyên môn, đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực đó, và ban soạn thảo (BST) không có thái độ cầu thị, lắng nghe một cách có trách nhiệm, thì các VBQPPL thường dễ bị méo mó, thiên lệch, được phê chuẩn và có hiệu lực pháp lý nhưng không đi được vào cuộc sống!    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Dự thảo Luật Giáo dục đại học và vấn đề trao quyền tự chủ      Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga cho rằng việc trao quyền tự chủ cho các trường là mục tiêu xuyên suốt của Dự thảo Luật Giáo dục đại học đang chờ được thông qua.     Chiều 26/10, GS. TS. Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì cuộc họp báo giới thiệu dự án Luật Giáo dục đại học.   Căn cứ xây dựng Dự thảo   Sau khi trình bày các nội dung mới cơ bản của Dự thảo Luật Giáo dục đại học như: trao quyền tự chủ cho các trường đại học, xác định chỉ tiêu tuyển sinh gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xã hội hóa, gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai ứng dụng…, ông Ngô Kim Khôi, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, cho biết: “Khi xây dựng dự thảo, chúng tôi đã căn cứ vào báo cáo tổng kết giáo dục đại học từ năm 1986 tới nay, đồng thời, có tham khảo toàn bộ tài liệu, dự án luật của các nước Nga, Na Uy, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức”.   Ông Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp cho biết thêm: “Luật Giáo dục đại học căn cứ vào đường lối, chính sách và mở đường cho giáo dục đại học có hiệu quả theo xu hướng của thế giới. Trong dự thảo luật này đã có quy hoạch mạng lưới, căn cứ vào văn bản quy hoạch phát triển nhân lực và chiến lược phát triển nhân lực 2011 – 2020”.  Trao quyền tự chủ – mục tiêu xuyên suốt của Dự thảo  Trong những điểm mới của Dự thảo Luật Giáo dục đại học, việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học tiếp tục được giới truyền thông quan tâm nhiều nhất: cơ chế kiểm định, giám sát được thực hiện ra sao; thực tế quy định hiệu trưởng đồng thời là chủ tịch hội đồng nhà trường liệu có dẫn tới tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Bên cạnh đó, phân tầng có liên quan đến tự chủ tự chịu trách nhiệm như thế nào.  Trả lời về vấn đề này, ông Bùi Văn Ga cho biết: “Hội đồng trường là thiết chế không thể thiếu khi giao quyền tự chủ cho các trường đại học. Từ khi ban hành Luật Giáo dục sau đó được sửa đổi, mới chỉ có hơn 10 trường có hội đồng trường trong số hơn 400 trường đại học, cao đẳng. Luật Giáo dục đại học cụ thể hóa người đứng đầu hội đồng trường là giám đốc hoặc hiệu trưởng. Không thể “vừa đá bóng vừa thổi còi” vì hiệu trưởng chỉ là một thành viên của hội đồng trường, mọi quyết nghị, chủ trương chính sách đều do cả hội đồng trường ra. Hiệu trưởng được sự kiểm soát của cả hội đồng trường. Như trong doanh nghiệp vẫn có giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị. Chúng tôi tin khi Luật Giáo dục đại học được ban hành thì hội đồng trường sẽ là thiết chế quan trọng để thực hiện quyền tự chủ.”  Ông nhấn mạnh trao quyền tự chủ phải gắn liền với cam kết chịu trách nhiệm và phải có lộ trình theo từng bước: “Việc trao quyền tự chủ cho các trường là mục tiêu xuyên suốt của Dự thảo Luật Giáo dục đại học. Tự chủ phải đi kèm với tự chịu trách nhiệm, nhưng vấn đề này hiện nay vẫn chưa được thực hiện tốt.”    Tự chủ và vấn đề tuyển sinh: liệu có bỏ “ba chung”?  Trước câu hỏi về phương thức tuyển sinh sẽ đổi mới ở điểm nào, ông Ngô Kim Khôi trả lời sẽ thực hiện tuyển sinh “ba chung” có điều chỉnh sau đó tiếp tục trao quyền tự chủ theo lộ trình từng bước: “Đã có quy định phương thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp cả hai. Hiện nay chúng ta đang làm ba chung. Trong Dự thảo Luật Giáo dục đại học chúng tôi cũng căn cứ vào Luật Giáo dục để quy định phương thức tuyển sinh có lộ trình và điều kiện. Nếu Dự thảo Luật Giáo dục đại học được thông qua, chúng ta sẽ giao quyền tự chủ dựa trên năng lực, kết quả kiểm định. Những năm tới sẽ tiếp tục thực hiện ba chung có điều chỉnh, từng bước thực hiện tự chủ có điều kiện theo lộ trình.”  Ông Chu Hồng Thanh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, cho biết sẽ cố gắng cao nhất để đảm bảo sự bình đẳng giữa các trường công lập và ngoài công lập: “Với các trường đại học tư thục, chúng tôi cho rằng sự phân biệt rõ nhất giữa công lập và tư thục chỉ là nguồn vốn đầu tư, công lập là do nhà nước đầu tư, tư thục được các cá nhân, tổ chức đầu tư. Những sự khác biệt ấy bắt nguồn từ vốn đầu tư, còn lại cố gắng đến mức cao nhất không có sự phân biệt, đảm bảo sự bình đẳng trong giáo dục đại học.”  Ông Thanh lưu ý thêm rằng tự chủ đảm bảo sự năng động sáng tạo nhưng phải công khai, được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người học: “Tự chủ là vấn đề rất lớn, có tự chủ mới đảm bảo sự năng động, sáng tạo nhưng lưu ý 4 điểm: thứ nhất tự chủ đi với tự chịu trách nhiệm; thứ hai, tự chủ có điều kiện theo quy định của pháp luật; thứ ba là yêu cầu công khai và minh bạch đã được nêu rõ trong luật lần này; thứ tư là kiểm tra, kiểm soát, không chỉ nhà nước kiểm tra mà xã hội có thể kiểm tra được. Luật Giáo dục đại học lần này quy định rõ ràng hơn điều kiện hoạt động, đình chỉ, giải thể, quyền lợi của sinh viên đã được tính đến khi các trường bị giải thể. Thực tế đã có chuyển người học sang các trường khác theo đúng chuyên ngành tuyển sinh. Luật này cố gắng đảm bảo cao nhất quyền của người học.”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa Thiên văn học  vào chương trình dạy học?      Tại sao môn học này nên là một phần của chương trình dạy học? Bài báo này nêu lên những lý do về văn hóa, lịch sử và triết học; về khoa học và công nghệ; về cảm xúc, thẩm mỹ và môi trường; về một sở thích dễ tiếp cận mà không đắt đỏ: “các vì sao thuộc về tất cả chúng ta”…    Tính hữu dụng của thiên văn học   Thiên văn học ăn sâu vào hầu hết các nền văn hóa, là kết quả của những ứng dụng thực tế và ngụ ý triết học của nó.  Trong lịch sử cách mạng khoa học, thiên văn học nổi bật hơn cả. Trong những danh sách gần đây về “một trăm người có ảnh hưởng nhất thiên niên kỷ”, luôn luôn có sự có mặt của một vài nhà thiên văn học.  Thiên văn học có ứng dụng thực tế rõ ràng trong: giữ chuẩn thời gian; làm lịch; thay đổi hằng ngày, theo mùa và dài hạn của thời tiết; hàng hải; ảnh hưởng của bức xạ Mặt trời, thủy triều, và tác động của thiên thạch và sao chổi tới Trái đất.  Thiên văn học là một ngành khoa học tiên phong thúc đẩy sự tiến bộ của các ngành vật lý nói chung bằng cách cung cấp cho các ngành này một phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại −vũ trụ− ở đó các nhà khoa học đối mặt với những môi trường khác xa với bất kỳ cái gì có thể tìm trên Trái đất. Thiên văn học thúc đẩy sự tiến bộ của ngành địa chất bằng cách cung cấp cho nó những thí dụ về hành tinh và Mặt trăng ở các môi trường khác nhau, với tính chất khác nhau.  Những tính toán thiên văn đã thúc đẩy sự phát triển các ngành toán học như lượng giác học, logarit và giải tích; và ngày nay những tính toán này thúc đẩy sự phát triển của máy tính: các nhà thiên văn học sử dụng một tỉ lệ lớn lượng thời gian trên các hệ siêu máy tính của thế giới.  Thiên văn học tạo ra nhiều phát triển công nghệ, như những bộ ghi nhận vô tuyến nhiễu thấp, nhiều máy đo trải từ nhũ tương ảnh đến camera điện, và các kỹ thuật xử lý ảnh ngày nay thường xuyên được sử dụng trong y học, viễn thám,… Kiến thức của thiên văn học thiết yếu cho loài người để có thể tiếp tục khám phá không gian.  Bản chất của thiên văn học đòi hỏi quan sát từ các kinh và vĩ độ khác nhau và do đó thúc đẩy hợp tác quốc tế. Nó cũng đòi hỏi sự quan sát trong nhiều năm, nhiều thập kỷ và thế kỷ, do đó nó kết nối các thế hệ và các nền văn hóa tại các thời điểm khác nhau.  Thiên văn học vén mở nguồn gốc vũ trụ, vị trí của chúng ta trong không và thời gian. Nó nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ, thiên hà, sao, hành tinh, các nguyên tử và phân tử của sự sống −và có thể ngay cả bản thân sự sống. Nó giải quyết một trong những câu hỏi cơ bản nhất −có phải chúng ta cô đơn trong vũ trụ?  Thiên văn học thúc đẩy nhận thức về môi trường, qua những bức ảnh chụp Trái đất từ ngoài không gian và qua nhận thức rằng chúng ta có thể là sự sống duy nhất trong vũ trụ.  Thiên văn học phơi bày một vũ trụ rộng lớn, biến đổi và tuyệt đẹp −vẻ đẹp của bầu trời đêm, sự tráng lệ của nhật thực, sự thú vị của một lỗ đen. Thiên văn học minh họa thực tế rằng khoa học có cả giá trị văn hóa cũng như kinh tế. Nó truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ và nhà thơ.  Thiên văn học thúc đẩy  trí tò mò, trí tưởng tượng và cảm nhận về khám phá và phát hiện.  Thiên văn học cung cấp cho ta một ví dụ về phương pháp tiếp cận tới ‘phương pháp khoa học’ −quan sát, mô phỏng và lý thuyết, tương phản với phương pháp tiếp cận lý thuyết và thực nghiệm thông thường.  Thiên văn học, nếu được dạy đúng cách, có thể thúc đẩy suy nghĩ dựa trên lý trí và hiểu biết bản chất khoa học qua những ví dụ từ lịch sử khoa học và từ những vấn đề hiện nay như giả khoa học;  Thiên văn học, trong lớp học, có thể được sử dụng để minh họa nhiều khái niệm vật lý như hấp dẫn, ánh sáng và phổ.  Bằng cách dạy cho sinh viên về kích thước và tuổi của các vật thể trong vũ trụ, thiên văn học đem lại sinh viên trải nghiệm tốt hơn về suy nghĩ trừu tượng, về độ lớn của thời gian, khoảng cách và kích thước.  Thiên văn học là môn học đa ngành; “tiếp cận tổng hợp” và “kết nối đan xen” là những khái niệm ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển chương trình học ở các trường học hiện đại.  Thiên văn học thu hút giới trẻ tới khoa học và công nghệ, và do đó vào những công việc trong các lĩnh vực này.  Thiên văn học có thể thúc đẩy và tăng cường nhận thức, hiểu biết và sự tôn trọng của công chúng ở mọi lứa tuổi với khoa học và công nghệ. Và trở thành một sở thích không đắt đỏ và hết sức thú vị của hàng triệu người trên thế giới.    Vì sao thiên văn học không có trong  các chương trình dạy học?   Dưới đây là một vài nguyên nhân:   Nhìn chung thiên văn học vẫn được cho là không liên quan đến những vấn đề hiện thực như sức khỏe, dinh dưỡng, nông nghiệp, môi trường, kỹ thuật và kinh tế; điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển;  Hầu hết các giáo viên có rất ít kiến thức hoặc không có kiến thức về thiên văn học hoặc giảng dạy về lĩnh vực này; thực tế, họ có thể cũng có những sự hiểu biết sai lệch sâu sắc về thiên văn học như học sinh của họ;  Thiên văn học được cho là đòi hỏi những hoạt động về đêm (“các ngôi sao chỉ xuất hiện về đêm còn sinh viên thì không”), và yêu cầu có những thiết bị phức tạp và đắt tiền như kính thiên văn;  Nền văn hóa “không phải phương Tây’’ cho là thiên văn học chỉ dành cho “phương Tây”;  Có thể có xung đột −thực tế và nhận thức− giữa thiên văn học và niềm tin cá nhân như tôn giáo, văn hóa và giả khoa học (một số hành động sai trái được cho là dựa vào khoa học); thực tế, thiên văn học đôi khi cũng bị cho là mang tính chất suy đoán như những lĩnh vực này;  Nhiều nguồn tài nguyên khả dụng được thiết kế cho những trường học giàu có ở những nước giàu có hoặc để cho những ngôn ngữ, kinh độ và vĩ độ khác;  Thiên văn học được cho là đi liền với công nghệ cao, với tất cả những hiểm họa thực tế và nhận thức của nó.  Nhiều lý do nêu trên xuất hiện do một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thiếu “truyền thống” thiên văn học. Đây là một lý do nữa để tất cả các thành viên của “cộng đồng thiên văn học” cùng nỗ lực để thúc đẩy sự phát triển của thiên văn học.  ***  Từ tính hữu dụng của thiên văn học, một trong những mục tiêu của Hội thiên văn Quốc tế (IAU) là khuyến khích việc giảng dạy thiên văn học với thời lượng nhiều hơn và chất lượng tốt hơn ở các trường học trên toàn thế giới. Để đạt mục tiêu này, cần khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đào tạo giáo viên giảng dạy thiên văn học, phát triển nguồn tài nguyên và vật chất cho giáo viên; xác định được những chiến lược phù hợp về mặt văn hóa một cách có hiệu quả để đạt được những mục tiêu này ở mỗi nước; cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà thiên văn học và các nhà giáo dục.      Phạm Ngọc Điệp dịch từ bản gốc bài báo tiếng Anh “Why astronomy is useful and should be included in the school curriculum?” của John R. Percy đăng trong cuốn “Teaching and Learnign Astronomy” (Cambridge University Press)   —-  * Đại học Toronto, Mississauga, ON, Canada, LSL 1 C6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa xếp hạng vào chính sách phát triển giáo dục đại học?      Liệu Việt Nam có nên đưa thêm xếp hạng đại học vào chính sách phát triển giáo dục đại học của quốc gia như một công cụ giúp các trường giải trình trách nhiệm với xã hội và nâng cao chất lượng hay không?    Trong khi cơ chế đảm bảo chất lượng hiện nay vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và chưa giúp các trường thật sự cải tiến chất lượng của mình?  Các ý kiến ủng hộ cho rằng, xếp hạng quốc tế sẽ giúp Việt Nam biết mình ở đâu trên thế giới để phấn đấu và có định hướng phát triển phù hợp. Các ý kiến phản đối tỏ ra hoài nghi việc tham gia xếp hạng đại học sẽ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục. Cả hai khả năng đều có thể xảy ra.       Năm 2017, Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam gồm các chuyên gia độc lập đã tiến hành và công bố một bảng xếp hạng tổng thể đối với 49 trường đại học. Từ trái qua: TS Giáp Văn Dương, TS Lưu Quang Hưng, và TS Nguyễn Ngọc Anh đại diện cho Nhóm tại buổi tọa đàm về báo cáo, Hà Nội, 06/09/2017. Ảnh: Thu Quỳnh  Ciện trên thế giới có khoảng hơn 50 hệ thống xếp hạng quốc gia và hơn 10 bảng xếp hạng quốc tế. Tuy nhiên chỉ có ba bảng xếp hạng quốc tế nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng: bảng xếp hạng QS, THE và ARWU. Dù có nhiều ý kiến trái chiều về mục đích, sự cần thiết của xếp hạng quốc tế cũng như như phương pháp mà các tổ chức xếp hạng sử dụng thì xu hướng này vẫn ngày càng phát triển và trở thành một thành tố đương nhiên của quốc tế hóa giáo dục.      Chính phủ và các trường nên có các giải pháp về mặt chiến lược, tập trung trực tiếp vào tái cấu trúc hệ thống giáo dục theo hướng tăng năng lực cạnh tranh cho quốc gia trong thời đại kinh tế toàn cầu.      Ưu và nhược điểm  Ưu điểm của xếp hạng đại học là nó cung cấp một gói thông tin tương đối đơn giản, có thể quản lý được và dễ tiếp cận về cái được gọi là “chất lượng giáo dục” của các trường đại học theo thứ hạng.  Sự ra đời của bảng xếp hạng xuất phát từ nhu cầu có thông tin giúp các đối tượng khác nhau đưa ra quyết định chọn trường, chọn đối tác trong thời đại “đại chúng hoá giáo dục đại học” và sự đa dạng của hệ thống giáo dục đại học toàn cầu. Sinh viên dùng thông tin xếp hạng chọn trường để theo học, phụ huynh dùng chúng để quyết định đầu tư cho con em. Chính phủ và các nhà tài trợ dùng xếp hạng để quyết định trường sẽ được tài trợ, đầu tư hay cung cấp học bổng. Các công ty tư nhân dùng xếp hạng để tìm đối tác hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu. Giảng viên xác định đối tác tham gia vào nghiên cứu của họ qua xếp hạng. Các nhà làm chính sách và bản thân các trường dùng xếp hạng để xem xét thế mạnh của hệ thống giáo dục đại học quốc gia và của từng trường nhằm xác định các lĩnh vực cần đầu tư cải tiến chất lượng…  Đáng chú ý nhất là, xếp hạng đã khuyến khích các trường minh bạch thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình. Càng ngày các trường đại học càng nhận thấy rõ mình phải giải trình cho công chúng về hiệu quả hoạt động dựa trên các tiêu chuẩn do các tổ chức xếp hạng hay các cơ quan giám sát chất lượng khác đưa ra.  Các mặt hạn chế của xếp hạng được xác định bao gồm thiếu tập trung vào chất lượng giảng dạy và trách nhiệm xã hội của một trường đại học. Ví dụ, một trong những tiêu chí đo lường chất lượng giảng dạy là tỷ lệ giảng viên/sinh viên, trong khi tỷ lệ này không nói lên được gì về chất lượng thật sự diễn ra trong các lớp học. Cho dù một số tổ chức xếp hạng đang thay đổi các tiêu chí đánh giá theo hướng bao gồm các chỉ số về chất lượng giảng dạy thì những nỗ lực của họ cũng không thể lượng hóa được chất lượng giảng dạy.  Chỉ dựa vào một bộ chỉ số giới hạn của các tổ chức xếp hạng cũng không thể phản ánh hết được các trường dù là các trường đẳng cấp thế giới, huống hồ hơn 17.000 cơ sở giáo dục đại học trên thế giới. Việc so sánh và chạy theo các chỉ số này có phải là đang đi ngược xu hướng đa dạng hóa hệ thống đại học trên thế giới, mcdonald hóa các trường đẳng cấp quốc tế, và vô hình trung tách họ ra khỏi ngữ cảnh kinh tế xã hội của một quốc gia?  Cuối cùng, vì thứ hạng trong bảng xếp hạng có thể tác động đến nguồn tài trợ và khả năng hợp tác đã dẫn đến việc các trường, vì những khuyến khích sai lầm, “thổi phồng” khả năng thực sự của họ để đạt được thứ hạng cao trong bảng xếp hạng.  Chỉ nên xem là công cụ tham khảo  Hầu hết các tổ chức xếp hạng quốc tế là các công ty thương mại và hoạt động theo cơ chế thị trường. Nếu các trường đại học Việt Nam có đầy đủ quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật thì họ có quyền tham gia vào bất cứ tổ chức xếp hạng nào phù hợp với sứ mạng và chiến lược phát triển của họ.  Xếp hạng quốc tế chỉ nên được xem là công cụ tham khảo nếu nó phù hợp với sứ mạng của từng trường và của từng quốc gia. Các quan ngại gần đây chủ yếu xoay quanh việc chạy theo các chỉ số xếp hạng sẽ làm các trường không hiểu hết ý nghĩa thật sự của các con số và càng làm kiệt quệ nguồn lực hạn chế của các trường đại học mà không thật sự hướng tới chất lượng bền vững. Thay vì nỗ lực tập trung nguồn lực trực tiếp vào xếp hạng, chính phủ và các trường nên có các giải pháp về mặt chiến lược, tập trung trực tiếp vào tái cấu trúc hệ thống giáo dục theo hướng tăng năng lực cạnh tranh cho quốc gia trong thời đại kinh tế toàn cầu.  Xếp hạng có giúp nâng cao chất lượng giáo dục và năng lực cạnh tranh của quốc gia? Câu trả lời sẽ nằm ở con đường mà các trường đại học chọn đi nhằm đạt được mục đích nâng cao chất lượng của mình, chứ không phải bản thân thứ hạng họ đạt được.  Bảng xếp hạng của riêng Việt Nam?  Để trả lời cho câu hỏi này, nên xem xét tại sao Việt Nam cần một bảng xếp hạng riêng cho các trường đại học của mình trong tổng quan chiến lược phát triển giáo dục đại học. Cần làm rõ cơ chế quản trị đại học nào Việt Nam đang theo đuổi và vai trò của bảng xếp hạng quốc gia cũng như mức độ tự chủ của các trường, cơ chế và trách nhiệm giải trình, vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục trong mối tương quan với xếp hạng đại học.  Nếu không xét tất cả các yếu tố này và nếu bị áp đặt từ trên xuống thì xếp hạng đại học sẽ trở thành gánh nặng cho các trường và xu hướng tuân thủ theo hướng đối phó là điều hiển nhiên. Đó là chưa kể, việc theo đuổi một bảng xếp hạng quốc gia theo hướng áp đặt còn đi ngược với chính sách giao quyền tự chủ cho các trường.  Nếu có, hãy để thị trường làm công việc này. Các đơn vị, các cá nhân, tổ chức có năng lực và có mong muốn tự xây dựng bảng xếp hạng cho mình thì họ có quyền làm việc đó và các trường có quyền tham gia hoặc không tham gia.  Nguồn: Khoa học và phát triển    Author                Phạm Thị Hương        
__label__tiasang Đức: Hai anh em cùng đoạt giải Olympiade toán toàn tỉnh      Hai anh em ruột người Việt, Phạm Nam và Phạm Thanh Mai, đã vượt  qua hơn 1.000 học sinh, đoạt giải nhất và nhì  của khối lớp 5 tại cuộc thi Olympiade học sinh giỏi toán toàn tỉnh Unterfranken, tiểu bang Bayern, Đức.    Mới đây, tại Toà soạn báo Main Echo, TP Aschaffenburg, tỉnh Unterfranken, tiểu bang Bayern, đã diễn ra lễ trao giải thưởng cuộc thi Olympiade học sinh giỏi toán toàn tỉnh từ lớp 5 đến 8.   Giải Olympiade toán học lần thứ 14 này diễn ra hai vòng. Vòng đầu tổ chức vào cuối tháng 10 năm ngoái. Tổng cộng 131 em với hơn 70% nữ, đoạt giải nhất vòng đầu, bước vào vòng chung kết năm nay. Tham dự lễ trao giải có Chủ tịch và Phó thành phố, giáo sư toán học Hans Georg Stark trường đại học Aschaffenburg cùng tất cả cha mẹ các em học sinh.   Trong số học sinh lên nhận thưởng, nổi bật hai anh em ruột người Việt, Nam và Mai, học sinh lớp 5C trường Friedrich-Dessauer Gymnasium, Aschaffenburg đã vượt qua tổng cộng 1.080 em học sinh lớp 5 thành phố, đoạt giải nhất và nhì của khối lớp 5 toàn tỉnh với tống số điểm của Mai là 28,5/30, của Nam 27,5/30. Ngoài bằng khen, quà tặng, phần thưởng dành cho Nam và Mai là được chọn vào nhóm nghiên cứu Roboter, và Mathekurs-Plus để bồi dưỡng học sinh giỏi toán thi đấu các năm tiếp theo.  Mai và Nam sinh ra trong một gia đình thuần Việt, bố qua Đức du học từ năm 1987, rồi làm luận án tiến sỹ, hiện là chủ một công ty sản xuất các phần mềm ứng dụng cho các trường đại học và hãng chế tạo ô tô Đức. Mẹ tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế, mở văn phòng kế toán tư vấn thuế. Mai bộc lộ tài năng sớm. Lên hai tuổi đã biết ghép vần và làm tính số tới 10, ham thích chương trình tự học qua máy tính Vtech dành cho trẻ lên 5. Ở tuổi lên ba, Mai đã học tiếng Anh trong nhà trẻ. Mê đàn piano, được mời biểu diễn khắp cả trong lẫn ngoài trường. Lên 5 tuổi, Mai vào tiểu học. Với kết qủa xuất sắc toàn diện, Mai được Sở Giáo dục đặc cách lên lớp 3. Tuy nhẩy cóc bỏ qua lớp 2, nhưng Mai năm nào cũng đứng đầu lớp.   Năm nay, ngoài đoạt giải Olympiade toán, Nam và Mai còn giành được giải 2 toán Känguru trong cả nước, giải 3 môn Brigde thành phố Aschaffenburg, đứng thứ 8 giải Deutsche Schüler Meisterschaft bộ môn Brigde toàn Liên bang, mặc dù cả hai em mới bắt đầu theo học môn này miễn phí ở trường đầu năm nay.  Năm ngoái, tại giải chung kết vô địch toán lớp 4 toàn tỉnh Unterfranken, với 80 học sinh giỏi nhất nhì vòng loại của 40 trường toàn tỉnh tham gia, Mai cũng đoạt giải nhất.         Tại giải Olympia lần này, một trong những bài toán được Nam và Mai cho là thú vị nhất, bài làm đạt số điểm tuyệt đối, là bài toán xếp hình que diêm. Các bậc phụ huynh có con em bậc học này ham thích toán học, có thể để chúng giải thử.   a) Đề bài: Bạn Iris có tất cả 41 que diêm được xếp theo hình sau: 179 + 118 = 355.   1- Bạn Sinom chỉ được phép thay đổi chỗ nhiều nhất 2 que diêm để có một đẳng thức (phép cộng) đúng nguyên kết quả. Có tất cả 5 cách để làm điều đó. Bạn hãy tìm ít nhất 4 cách giải.  2- Ban Julia chi muốn bổ sung thêm ít que diêm nhất như có thể, để có một đẳng thức đúng. Bạn hãy tìm cách giải.  Các con số, dấu bằng, dấu cộng được xếp bằng que diêm như sau:   (số 1 gồm 2 que diêm, số 2: 5 que, số 3: 5 que, số 4: 4 que, số 5: 5 que, số 6: 6 que, số 7: 3 que, số 8: 7 que, số 9: 6 que, số 0: 6 que, dấu + : 2 que, dấu = : 2 que).  b) Bài giải:  1.1- Rút một que diêm của con số 8 ở số 118, ta sẽ được con số 6. Số 118 biến thành số116. Đặt que diêm đó vào con số 1 cạnh con số 6, con số 1 sẽ biến thành con số 7. Số 116 trở thành 176. Kết quả cho đẳng thức sau: 179 + 176 = 355.  1.2- Ở số 118, lấy đi một que diêm của con số 8, để tạo thành con số 9. Số 118 sẽ trở thành 119. Que diêm rút ra đó đặt vào con số 1 bên cạnh. Số 119 sẽ trở thành 179. Ở số 179, đảo que diêm ở con số 9 biến thành con số 6, ta sẽ được số 176. Như vậy, ta được đẳng thức: 176 + 179 =355  1.3- Rút ra một que diêm của dấu cộng, dấu cộng sẽ biến thành dấu trừ. Ở số 179, lấy đi 1 que diêm ở con số 9, để biến số 9 thành số 3, số 179 trở thành số 173 . Hai que diêm rút ra đó, bổ sung vào con số 1 của số 173, con số 1 biến thành con số 4, số 173 trở thành 473. Kết qủa cho đẳng thức: 473 – 118 = 355.  1.4- Ở số 179, lấy đi 1 que diêm ở con số 9, con số 9 sẽ trở thành số 5. Số 179 trở thành 175. Que diêm rút ra đó bổ sung vào con số 1 nằm giữa số 118, con số 1 biến thành con số 7 và số118 biến thành số 178. Ở số 355, đảo vị trí 1 que diêm của con số 5 cuối cùng để biến thành con số 3, số 355 sẽ trở thành 353. Kết quả ta có đẳng thức: 175 + 178 = 353.  1.5- Lấy đi 1 que diêm ở con số 8, số 118 sẽ trở thành 116. Que diêm rút ra đó bổ sung vào con số 5 nằm giữa số 355, số 5 biến thành số 9 và số 355 trở thành 395. Sau đó, thay đổi vị trí 1 que diêm ở con số 3 để biến thành con số 2. Số 395 trở thành 295. Ta sẽ có đẳng thức: 179 + 116 = 295  2- Bổ sung 1 que diêm vào con số 9 ở số 179, để con số 9 biến thành con số 8, số 179 trở thành 178. Một que khác bổ sung vào con số 1 nằm giữa số 118, biến con số 1 thành con số 7, số 118 trở thành số 178. Thêm 1 que nữa bổ sung vào con số 5 cuối cùng của số 355, biến con số này thành con số 6, số 355 trở thành 356. Kết quả chỉ cần bổ sung thêm ba que diêm ta sẽ được đẳng thức: 178 + 178 = 356.  Trao đổi kinh nghiệm dạy dỗ con cái, chị Lan Anh – mẹ của hai anh em Nam, Mai – cho biết: Kinh nghiệm để các con đạt kết quả cao trong trường không phải ép chúng học nhiều, hay học thêm mà khuyến khích chúng say mê, mải miết học, giải bài tập theo kiểu vừa học, vừa chơi. Nên để chúng mày mò với các chương trình tự học, có thể tìm thấy trên mạng, như trang http://www-de.scoyo.com. Các chương trình này dạy học sinh như có thầy giảng, chỉ khác thầy không đứng trên bục giảng mà nằm trong máy tính. Học sinh học theo từng chuyên mục, sau đó có bài tập để chúng giải và tự đánh gia kết quả. Ngoài ra, cứ hết một chương lại có bài kiếm tra và được cấp chứng chỉ tác dụng như trò chơi có thưởng trên mạng. Đó cũng chính là phần thưởng khuyến khích học sinh giành chiến thắng. Nếu các em học hết chương trình này, thì coi như chúng đã nắm được toàn bộ nội dung cơ bản của các môn học đến lớp 8. Lúc đó, chúng dễ dàng đạt được điểm cao ở trường. Một trong những cách để trẻ em phát triển trí thông minh và khả năng sáng tạo là nên cho chúng tham gia những trò chơi tập thể như chơi cờ, bài và âm nhạc. Những môn đó sẽ hình thành cho các em tính cách ham thích tìm tòi và theo đuổi mục đích.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dũng cảm nhìn vào sự thật      Trong lớp trẻ ngày nay không có  nhiều người theo đuổi các ngành KH&amp;CN mà chỉ chạy theo sự  hào nhoáng của tên gọi các ngành học, các trường đại học đua nhau mở các  khóa kinh tế học, quản trị, marketing, nhưng sự thật là đa phần họ chỉ  đào tạo ra những giao dịch viên ngân hàng, những nhân viên bàn giấy,  những đốc công, và những người bán hàng.     Do ảnh hưởng từ những giá trị chuẩn mực của khoa học phương Tây, chúng ta vẫn thường tôn vinh những phẩm chất như sự nghiêm túc trong tư tưởng và đạo đức khoa học, hay tự do học thuật; chúng ta đấu tranh chống lại những luận điệu áp đặt mang tính phi khoa học, khuyến khích lối tư duy phê phán; hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, giữa lý thuyết và thí nghiệm hay quan sát thực tế, giữa nghiên cứu và giảng dạy; chúng ta cũng mong muốn những lời phát biểu của Giáo sư Hồ Đắc Di tại rừng Việt Bắc những năm 1947 – 1949 sẽ trở thành nền tảng để xây dựng hệ thống đại học Việt Nam hiện đại. Đó là những lý tưởng tốt đẹp mà nhiều người trong chúng ta đã dành cả cuộc đời mình để theo đuổi.          Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật.                Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc VI, 1986        Tuy vậy, mối nguy hiểm ở đây là đôi khi chúng ta vì mải mê đắm chìm vào lý tưởng mà quên nhìn vào thực trạng của nền giáo dục đại học và khoa học của đất nước, vốn còn xa mới đạt tới những gì ông Hồ Đắc Di mong mỏi.   Khi bàn về giáo dục đại học ở Việt Nam, người ta thường nhắc đến ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt; họ cũng luôn nói rằng Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng còn sớm hơn cả trường đại học lâu đời nhất ở châu Âu, rằng người Việt luôn luôn đề cao vai trò của sự học. Nhưng sự thật, là cách đây gần một thế kỷ, hơn 90% dân số Việt Nam không biết đọc, và 30 năm chiến tranh đã gây nhiều tác động tiêu cực tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo của cả một thế hệ.   Ngày nay, tình hình đã thay đổi: hơn 90% dân số biết đọc biết viết; các bậc cha mẹ đều tìm cách hướng con em mình theo học đại học, nơi được coi là cánh cửa dẫn tới tiền tài, địa vị xã hội, hạnh phúc, tức là tất cả những gì họ từng mong ước nhưng chưa có được trong những năm tháng gian truân vất vả khi xưa. Họ không quản ngại hy sinh để cho con theo học đại học, những gia đình khá giả hơn thậm chí còn dành dụm tiền để gửi con đi du học nước ngoài. Trong suy nghĩ của họ, họ đánh đồng hạnh phúc với tiền tài, văn hóa với sự giàu có; và sự thật là con em họ trưởng thành với tư tưởng coi trọng tiền bạc hơn kiến thức.  Lãng phí các nguồn lực  Sự thật là trong lớp trẻ ngày nay không có nhiều người theo đuổi các ngành KH&CN, một phần do các tổ chức học thuật trong nước vô cùng thụ động trong các hoạt động quảng bá cho khoa học và hỗ trợ sự phát triển của thế hệ trẻ. Trong khi đó, chạy theo sự hào nhoáng của tên gọi các ngành học, các trường đại học đua nhau mở các khóa kinh tế học, quản trị, marketing, nhưng sự thật là đa phần họ chỉ đào tạo ra những giao dịch viên ngân hàng, những nhân viên bàn giấy, những đốc công, và những người bán hàng. Tại các trường đại học ở Hà Nội mà tôi có dịp tham gia giảng dạy, tôi thấy rất nhiều sinh viên uổng phí bốn năm học chỉ để làm một việc là quên lãng dần những kiến thức phổ thông bởi các trường đại học không nghiêm túc kiểm soát chất lượng kiến thức của người học nhưng vẫn cấp bằng, điểm số được chấm một cách dễ dãi, năng lực và tài năng của sinh viên không được đánh giá một cách đúng mực. Vì vậy, những người có hiểu biết đều thiếu niềm tin vào chất lượng cũng như năng lực của các trường đại học trong nước tới nỗi họ tìm mọi cách gửi con cái mình đi du học.          Người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều  học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc. – Giảng dạy và nghiên cứu là  hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm chỉ là sảnh  chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm. – Trường đại học không chỉ là  nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang hình thành khoa  học. – Nghiên cứu là làm việc theo nhóm. Nó đòi hỏi sự chăm chỉ và nhẫn  nại. Nó bao gồm những kỹ năng, đặc biệt đối với những người trẻ tuổi,  luôn không ngừng tìm kiếm phát minh để có thể nắm bắt cơ hội. Cùng với  công việc, trí tưởng tượng và  phương pháp, cơ hội và sự quan tâm sẽ đến  trong tầm tay. – Nhà khoa học phải có một phông văn hóa rộng để không  chỉ như những người thợ thủ công lành nghề được đào tạo ở các trường  trung học chuyên nghiệp. Đào tạo các nhà khoa học phải chú trọng phát  triển cả về trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả khoa học và nghệ thuật. –  Tinh thần học thuật là một đặc trưng của đào tạo giáo dục bậc cao so với  bậc trung học và trung học chuyên nghiệp; đó là sự thỏa hiệp giữa sinh  viên và giảng viên mà không có chỗ cho việc lạm dụng quyền hạn. Chỉ khi  đó, thông qua mối quan hệ không áp đặt, năng lực phán xét mới có thể nở  rộ hoàn toàn tự do-đó là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa trí tuệ nhân  loại, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với khoa học. – Khi học thì phải  nghi ngờ và khi làm thì phải có niềm tin. – Có thể điều khiển được các  nhà khoa học, nhưng không thể điều khiển được Khoa học. – Thật quý giá  cho nhà khoa học nào có một công việc kết hợp được cả Khoa học và Lương  tâm. Có tài là chưa đủ; mà phải có đạo đức trong sáng.  – Trường đại học  phải tự hào vì đã quyết tâm gìn giữ di sản trí tuệ của những người đang  đấu tranh vì tự do.              Người thầy giáo nào càng đào tạo  được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc. – Giảng dạy và  nghiên cứu là hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm  chỉ là sảnh chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm. – Trường đại học  không chỉ là nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang  hình thành khoa học. – Nghiên cứu là làm việc theo nhóm. Nó đòi hỏi sự  chăm chỉ và nhẫn nại. Nó bao gồm những kỹ năng, đặc biệt đối với những  người trẻ tuổi, luôn không ngừng tìm kiếm phát minh để có thể nắm bắt cơ  hội. Cùng với công việc, trí tưởng tượng và  phương pháp, cơ hội và sự  quan tâm sẽ đến trong tầm tay. – Nhà khoa học phải có một phông văn hóa  rộng để không chỉ như những người thợ thủ công lành nghề được đào tạo ở  các trường trung học chuyên nghiệp. Đào tạo các nhà khoa học phải chú  trọng phát triển cả về trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả khoa học và nghệ  thuật. – Tinh thần học thuật là một đặc trưng của đào tạo giáo dục bậc  cao so với bậc trung học và trung học chuyên nghiệp; đó là sự thỏa hiệp  giữa sinh viên và giảng viên mà không có chỗ cho việc lạm dụng quyền  hạn. Chỉ khi đó, thông qua mối quan hệ không áp đặt, năng lực phán xét  mới có thể nở rộ hoàn toàn tự do-đó là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa  trí tuệ nhân loại, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với khoa học. – Khi  học thì phải nghi ngờ và khi làm thì phải có niềm tin. – Có thể điều  khiển được các nhà khoa học, nhưng không thể điều khiển được Khoa học. –  Thật quý giá cho nhà khoa học nào có một công việc kết hợp được cả Khoa  học và Lương tâm. Có tài là chưa đủ; mà phải có đạo đức trong sáng.  –  Trường đại học phải tự hào vì đã quyết tâm gìn giữ di sản trí tuệ của  những người đang đấu tranh vì tự do.                              GS Hồ Đắc Di        Tôi cũng đã thấy nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp lại khăn gói lên đường tầm sư học đạo xứ người, chắc mẩm rằng cứ đi du học là tự khắc sẽ giỏi, nhưng khi đối diện với thực tế đã vỡ mộng ra sao. Những người thành công thì hoặc là định cư hẳn ở nước ngoài, hoặc là về nước để rồi không tìm thấy cơ hội phát triển sự nghiệp xứng đáng với những gì họ đã bỏ ra để học hỏi những kỹ năng mới, kiến thức mới. Sự thật, là tình trạng chảy máu chất xám đang diễn ra gay gắt. Tất cả những công sức đầu tư của các gia đình và cả Nhà nước gửi người đi đào tạo ở nước ngoài rốt cuộc trở thành lãng phí vì chúng ta không khai thác sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đó.   Một trong những ví dụ điển hình là trong hơn một thập kỷ nay, người ta đã bàn bạc nhiều về chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam, nhưng rút cục trên cả nước vẫn chưa có một trung tâm đào tạo các nhà khoa học, các kỹ sư giúp vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai; nơi có thể gửi người đi tập huấn rồi trở về truyền đạt lại kiến thức cho sinh viên, hoặc mời chuyên gia nước ngoài tới giảng những khóa ngắn hạn theo từng chủ đề cụ thể; nơi có thể tận dụng các kinh nghiệm nghiên cứu tích lũy được trong nhiều năm qua tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Trong khi đó, chúng ta vẫn cứ tiếp tục gửi người đi du học nước ngoài mà không hề giám sát tiến độ học tập của họ, và cũng chẳng hề chuẩn bị để có thể tiếp nhận và sử dụng hiệu quả họ sau khi tốt nghiệp về nước.   Kết quả là, tới nay chúng ta vẫn hoàn toàn thiếu sự chuẩn bị nguồn nhân lực cho dự án điện hạt nhân, và đây là lí do khiến một số chuyên gia am hiểu về lĩnh vực này có ý kiến cho rằng Việt Nam nên từ bỏ tham vọng xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong tương lai trước mắt. Đây cũng là một sự thật đáng tiếc.  Cách đây mấy năm, Quỹ Phát triển Khoa học & Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) ra đời. Đó là một sáng kiến rất đáng khen, nhằm tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, giúp đánh giá các đề tài nghiên cứu một cách khách quan hơn. Nhưng sự thật, là số tiền tài trợ cho các dự án mới kể từ ngày 01/01/2013 cho tới hơn một năm sau mới được Bộ Tài chính duyệt cho giải ngân. Điều này gây ra nhiều xáo trộn nghiêm trọng, ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện các đề tài. Mặt khác, là quỹ NAFOSTED đến nay vẫn chưa có động thái nỗ lực nào để khuyến khích tinh thần làm việc nhóm và tự do sáng tạo cá nhân. Trái lại, họ yêu cầu mỗi thuyết minh đề tài phải giải trình thật chi tiết nội dung đóng góp của từng cá nhân thay vì cho phép chủ nhiệm đề tài tự quản lý một cách linh hoạt công việc của các thành viên tham gia thực hiện đề tài.   Người ta vẫn thường kêu ca rằng sở dĩ nền nghiên cứu của Việt Nam khó cất cánh được là vì thiếu thiết bị nghiên cứu. Nhưng sự thật như tôi được biết có những thiết bị quan trọng do các cơ quan nghiên cứu mua, hoặc do nước ngoài tài trợ, nhưng rồi bị đắp chiếu vì trong nước không có người đủ năng lực khai thác, sử dụng.   Một Việt kiều từng tặng cho Việt Nam một giao thoa kế vô tuyến, để rồi nó bị chôn vùi trong tủ để đồ ở một trường đại học tại Hà Nội trong suốt 15 năm. Sau khi được chúng tôi phát hiện và mang về, nó đã được một sinh viên của tôi sử dụng phục vụ nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ. Nhưng rồi một vị công chức bàn giấy trong trường phát hiện ra rằng danh sách hàng tồn kho của anh ta thiếu mất thiết bị ấy nên đã gọi chúng tôi đòi lại. Vậy là nó lại quay về nằm im trong tủ và nhiều khả năng sẽ ở lại đó vĩnh viễn.   Khoa vật lý hạt nhân của một trường đại học từng bỏ ra vài triệu đô la để mua một chiếc máy gia tốc mà họ cũng không biết phải dùng để làm gì. Thực ra, loại máy gia tốc này chỉ hữu ích cho giới vật lý hạt nhân khoảng 60 năm về trước, còn hiện nay nó chỉ có thể được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu vật liệu mà thôi. Tuy vậy, người ta vẫn quyết định mua, nhưng lại không cho các nhà khoa học vật liệu cơ hội sử dụng nó.   Sự thật là tôi đã thấy có những cá nhân xin mua những thiết bị lớn đắt tiền, giá cả có khi lên tới hàng trăm triệu đô la hoặc hơn, mà không hề tham khảo ý kiến của đồng nghiệp và cũng không lưu tâm tới thực tế là trong nước không có người đủ kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để vận hành và bảo dưỡng thiết bị đó một cách hợp lý. Tôi còn được biết rằng bạn bè quốc tế đã tặng cho Việt Nam những công cụ máy móc cơ khí hiện đại nhưng rồi tất cả đều bị đắp chiếu trong xưởng tới hàng thập kỷ đơn giản vì không có người vận hành.   Bằng cấp và đạo đức   Những người sở hữu bằng đại học lẽ ra phải được coi là người có năng lực, và tấm bằng đại học lẽ ra phải là bàn đạp phát triển cho giới trẻ hòa nhập vào giới tinh hoa của nước nhà, là nền tảng xây dựng tương lai đất nước. Sự thật, là tiền lương công nhân viên chức không đủ để họ nuôi gia đình, nên họ phải bươn chải làm ngoài để sinh tồn. Trong khi đó, không có sự khác biệt về tiền lương nào giữa những người làm việc chăm chỉ và những người thậm chí còn không thèm bước chân vào cửa cơ quan, ngoại trừ những dịp như dịp lễ tết để thu phong bì. Sự thật thì chiếc bằng đó chẳng mấy hữu dụng, và cách tốt nhất để kiếm được một vị trí như ý nhiều khi là đưa những chiếc phong bì cộm tiền cho những vị thủ trưởng, hoặc có người thân làm to. Đó là những câu chuyện đáng buồn mà tôi đã từng chứng kiến.   Mấy năm trước, ngài Phó Thủ tướng chia sẻ tham vọng được thấy 20.000 tiến sĩ tốt nghiệp vào năm 2020. Sự thật, là ba cựu nghiên cứu sinh của tôi từng theo học tiến sĩ trong dự án hợp tác giữa Việt Nam và các trường đại học danh tiếng của Pháp, nhưng cho tới giờ họ vẫn chưa nhận được bằng của phía Việt Nam cấp, bất chấp sự tồn tại của cái thỏa thuận chính thức giữa hai nước rằng sau khi nghiên cứu sinh bảo vệ khóa luận, trường đại học của cả hai bên đều phải cấp bằng. Một sinh viên của tôi đang làm tiến sĩ tại Việt Nam đã viết xong luận án từ cách đây vài tháng, nhưng giờ lại phải vượt qua một chặng đường dài gồm một loạt những thủ tục hành chính đặt ra chỉ để đánh đố nhau: tám buổi thuyết trình; một bản nhận xét của hai thầy phản biện – một trong hai người đó đã đưa ra những nhận xét lộ rõ sự yếu kém năng lực chuyên môn của mình; thu thập đủ 15 đánh giá tốt từ 50 tiến sĩ tại Việt Nam – thực tế là phần lớn những người này không hiểu gì về luận văn đó dù đã được gửi bản thuyết minh tóm tắt.           Chúng ta phải có can đảm để đối diện với sự thật. Vấn đề không phải là đổ lỗi cho ai đó, bởi có quá nhiều tác nhân lịch sử dẫn tới tình trạng như hiện nay. Người duy nhất có lỗi ở đây là người chối bỏ sự thật.        Hiện nay, các nghiên cứu sinh cứ ba tháng một lần phải gửi báo cáo cho phòng phụ trách nghiên cứu sinh của trường để báo cáo tiến độ, như thể người ta cho rằng vị quản lý nghiên cứu sinh là kẻ bất tài, thiếu trách nhiệm, hay gian dối, không đáng tin cậy để thực hiện công việc đó. Chúng ta sẽ dễ nghĩ rằng cách giám sát kỹ càng như vậy có thể hạn chế những gian lận trong việc cấp bằng, nhưng trên thực tế, chúng ta lại thường xuyên phải nghe đến những vụ mua bán bằng cấp hay thuê người viết luận văn, hay khá khẩm hơn là được cắt dán xào xáo bởi những người chuyên sống bằng nghề này.     Người ta ưa dùng những danh xưng nghe thật “kêu”. Đi dọc hành lang các viện nghiên cứu hay các trường đại học, ta sẽ bắt gặp không ít những cánh cửa gắn biển giám đốc phòng này, giám đốc ban nọ, nhưng sự thật, là phòng này ban nọ mà vị giám đốc đó lãnh đạo thường chỉ gồm có một người – tức là chính vị giám đốc đó – còn văn phòng của ông ta thì hầu như lúc nào đóng cửa bỏ không. Tôi có những sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp của một khoa được coi là chất lượng cao tại một trường đại học Hà Nội, có tên gọi Năng lượng cao và Vũ trụ học. Nhưng thực tế là những sinh viên của khoa này chẳng hề biết thuyết tương đối hay vũ trụ học là gì, thậm chí thiếu cả những kiến thức rất sơ đẳng về vật lý.  Cách đây mấy năm dư luận xôn xao về một vụ đạo văn. Nguyên là một nhóm các nhà vật lý, trong đó có hai giáo sư, một người giữ chức vụ cao, từng đại diện Việt Nam trong một sự kiện quốc tế, đã “xào nấu” một công trình nghiên cứu bằng cách cắt dán lại từ những tài liệu đã được công bố, sau đó thêm thắt vào một vài câu vô nghĩa rồi gửi tới nhiều tạp chí quốc tế khác nhau. Một số báo đã nhận đăng – điều này phản ánh chất lượng thẩm định của các báo đó tệ hại như thế nào – nhưng có một số báo đã phát hiện ra được sự gian dối. Nhưng sự thật là đến nay các nhà quản lý của chúng ta vẫn chưa có biện pháp nào ngăn cản, hạn chế những sự việc như vậy tái diễn.  Đối diện với sự thật như thế nào?          Nền giáo dục sẽ chẳng đi tới đâu khi mà cách tốt nhất để người ta kiếm được một công việc tốt là có tiền, mối quan hệ, hay có người thân làm quan chức. Tham nhũng là kẻ thù tồi tệ nhất của giáo dục.         Sự thật, là chúng ta phải xây dựng lại từ đầu một hệ thống trường đại học Việt Nam đáp ứng nhu cầu của tương lai, và việc che giấu những khuyết điểm như chúng ta vẫn làm trong suốt những thập kỷ qua sẽ không đi tới đâu cả. Chúng ta phải có can đảm để đối diện với sự thật. Vấn đề không phải là đổ lỗi cho ai đó, bởi có quá nhiều tác nhân lịch sử dẫn tới tình trạng như hiện nay. Người duy nhất có lỗi ở đây là người chối bỏ sự thật.  Sự thật là việc xây dựng một hệ thống trường đại học như vậy sẽ phải trải qua nhiều thế hệ. 2/3 người Việt Nam sinh ra sau thời kỳ Đổi mới. Chúng ta cần phải suy nghĩ lại xem mình cần – và có thể – đem lại cho họ loại hình giáo dục, đào tạo nào. Chúng ta phải ngừng ngay việc so sánh các trường đại học Việt Nam với các trường đại học trên thế giới, bởi đây không chỉ là một việc làm vô nghĩa mà, tai hại hơn, còn gây ra những ngộ nhận về đường hướng.   Chúng ta phải đặt ra các ưu tiên, và điều chỉnh cân đối tỉ lệ các trường hướng nghiệp, trường chuyên nghiệp, trường kinh doanh, và trường đại học. Chúng ta phải tìm hiểu rõ hơn đất nước mình cần bao nhiêu bác sĩ, bao nhiêu kỹ sư, hay giáo viên, những dự đoán sát thực tế hơn về số lượng nhà kinh tế, nhà quản lý, và doanh nhân cần thiết. Chúng ta cũng cần biết rõ về tỉ trọng nhân lực giữa hai khu vực nhà nước và tư nhân.   Ngoài những vấn đề ưu tiên nói trên, chúng ta cũng cần phải ưu tiên khôi phục lại đạo đức và sự trung thực trong các hoạt động. Nền giáo dục sẽ chẳng đi tới đâu khi mà cách tốt nhất để người ta kiếm được một công việc tốt là có tiền, mối quan hệ, hay có người thân làm quan chức. Tham nhũng là kẻ thù tồi tệ nhất của giáo dục.           Tôi vừa đọc xong cuốn hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình (Gia đình, Bạn bè, và Đất nước), trong đó có một chương thú vị nói về những vấn đề xảy ra trên dưới 30 năm trước mà bà phải đối mặt trong giai đoạn 10 năm bà làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Đó là: hợp nhất hai nền giáo dục Nam Bắc, xóa nạn mù chữ trong công nhân, xây trường mới (ở cả các vùng sâu vùng xa) và mở trường sư phạm để đào tạo giáo viên, duy trì hoạt động giáo dục trong giai đoạn khó khăn những năm 1979 – 1980, trồng cây vải ở Hải Dương giúp cải thiện đồng lương giáo viên, hướng dẫn thực hiện các hoạt động như “Phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, “Góp giấy làm kế hoạch nhỏ”, “Thu gom chai lọ”, hay “Góp lông gà lông vịt”. Qua cuốn hồi ký, có thể thấy  rằng vào cuối thập niên 1980, các trường đại học hiện đại Việt Nam đều được xây dựng lên từ rất nhiều khó khăn, thiếu thốn.               Ngày nay, chúng ta cũng cần đối diện với một sự thật, rằng ở nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như hai lĩnh vực mà tôi quen biết là vật lý hạt nhân và vật lý học thiên văn, thì mọi việc hầu như phải bắt đầu từ con số 0.           Vậy đến bao giờ chúng ta mới giải quyết được những vấn đề này, và tới khi nào trường đại học mà Giáo sư Hồ Đắc Di từng mơ ước mới trở thành hiện thực?   Dĩ nhiên, chưa thể mong sẽ trông thấy nó trong tương lai gần. Chúng ta phải xây dựng nó từ đầu nên quá trình hoàn thiện có thể phải kéo dài hàng nhiều thế hệ chứ không chỉ vài năm. Tuy nhiên, tôi cũng muốn nói rằng ngay từ bây giờ chúng ta vẫn có thể gieo trồng hạt giống của khoa học cơ bản với những nghiên cứu khai phá ở tận biên giới tri thức khoa học của nhân loại. Tất nhiên những nghiên cứu như vậy chỉ có thể thực hiện ở quy mô khiêm tốn, và phải ưu tiên chất lượng hơn số lượng. Muốn vậy ta phải làm gì?   Trước tiên, cần chọn ra một số lĩnh vực mà Việt Nam sẵn sàng – và có đủ khả năng – hậu thuẫn. Khi lựa chọn cần lưu ý đến tiềm năng phát triển một số lĩnh vực vẫn còn để ngỏ nhiều cơ hội nghiên cứu và chúng ta dễ đạt được thành tựu hơn trong một vài thập kỷ tới.   Cũng cần phải cân nhắc tới vấn đề tài chính, không nên bỏ tiền xây dựng, chế tạo những thiết bị, cơ sở vật chất tốn kém trong khi có thể tận dụng những thiết bị ở nước ngoài với mức chi phí phải chăng; trước khi đầu tư xây dựng thiết bị khoa học mới trong nước, cần bàn bạc với nhiều bên, kể cả các chuyên gia nước ngoài. Cần phải tìm hiểu cụ thể về tài năng và năng lực của những người làm nghiên cứu trong nước; một ngành nghiên cứu nào đó chỉ có thể được tài trợ một cách hữu hiệu khi đã có sẵn một đội ngũ nghiên cứu năng động trong nước, đã từng chứng tỏ khả năng hoạt động hiệu quả của mình trong lĩnh vực đó. Và, mặc dù đây không phải là ưu tiên, nhưng cũng cần quan tâm tới mối liên hệ giữa lĩnh vực đó với các nghiên cứu ứng dụng và các địa chỉ ứng dụng khác. Tuy nhiên, trước khi đầu tư vào trang thiết bị, chúng ta cần đầu tư vào con người, chúng ta cần đầu tư vào trí tuệ, chúng ta phải xây dựng được những đội ngũ có đủ năng lực để sử dụng, vận hành, và bảo dưỡng những trang thiết bị đó.          Người ta vẫn thường kêu ca rằng sở dĩ nền nghiên cứu của Việt Nam khó cất cánh được là vì thiếu thiết bị nghiên cứu. Nhưng sự thật như tôi được biết có những thiết bị quan trọng do các cơ quan nghiên cứu mua, hoặc do nước ngoài tài trợ, nhưng rồi bị đắp chiếu vì trong nước không có người đủ năng lực khai thác, sử dụng.         Một vấn đề khác cần quan tâm là việc trọng đãi nhân tài. Ở đây, chúng ta cũng cần phải dũng cảm đối diện với sự thật. Sự thật là ở Việt Nam nhiều giảng viên đại học chỉ biết đọc bài giảng sẵn có trong sách giáo khoa và không đủ năng lực thực hiện công việc nghiên cứu. Vì vậy chúng ta phải khen thưởng cho những người có thể tự thiết kế chương trình, tự soạn bài giảng, và có tham gia nghiên cứu; những người này cần có những mức lương xứng đáng để họ có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời được xã hội tôn trọng. Hiện nay, thu nhập của một nhà nghiên cứu trẻ còn thấp hơn rất nhiều so với thu nhập của một nhân viên bàn giấy tại ngân hàng hay doanh nghiệp tư nhân, khiến họ không được gia đình, bạn bè coi trọng và buộc phải làm thêm, dạy thêm quá sức để có thể sinh tồn. Với thực tế như vậy, chúng ta sẽ không bao giờ có thể xây dựng được ngôi trường đại học như mong muốn.    Tuy nhiên, việc cần làm gấp hiện nay là trang bị cho giới trẻ những gì là cần thiết để họ có đủ dũng cảm đối diện với sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, hình thành lối tư duy phê phán, và theo đó mà hành động. Tức là, chúng ta cần đào tạo được những người trưởng thành có trách nhiệm.           Bùi Thu Trang dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng làm con rắn tự ăn đuôi mình      Tuyển sinh bằng mọi giá, không quan tâm người học có phù hợp với mục tiêu đào tạo của mình, các trường sẽ giống như con rắn tự ăn đuôi mình.         Năm nay, các trường sư phạm truyền thống vẫn có đầu vào khá cao. Trong ảnh: Sinh viên ngành Sư phạm Toán Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng. Nguồn: tuyensinh.ued.udn.vn.  Điểm chuẩn tuyển sinh cao đẳng, đại học năm nay được cho là cao kỷ lục, đặc biệt dễ thấy ở các ngành an ninh, quân sự: Điểm chuẩn với ngành Ngôn ngữ Anh (Học viện An ninh Nhân dân) lên đến 30,5 (sau khi đã tính điểm cộng ưu tiên). Học viện Kỹ thuật Quân sự và Học viện Quân y cũng có ngành phải 30 điểm mới đỗ. Ở chiều ngược lại, trong khối ngành sư phạm, nhiều trường đại học có điểm chuẩn bằng điểm sàn (15,5), hệ cao đẳng giảm xuống chỉ còn 9-10 điểm.  Có nhiều yếu tố quyết định điểm chuẩn đầu vào của một cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học, trong đó quan trọng nhất là triển vọng việc làm và thu nhập sau khi ra trường, rồi mới đến uy tín của nhà trường. Những yếu tố này tạo ra cung – cầu trên thị trường tuyển sinh, và đến lượt mình, cán cân cung – cầu quyết định trực tiếp điểm đầu vào của từng trường. Điều này có thể thấy rất rõ trong xu hướng đổ xô vào ngành an ninh, quân sự, khiến điểm đầu vào bị đẩy lên tới mức tối đa như đã nêu ở trên.    Có hai điểm đáng chú ý trong các yếu tố ảnh hưởng đến điểm chuẩn đầu vào. Một là triển vọng việc làm và thu nhập. Người học dựa vào đâu để phán đoán, nhận định về triển vọng việc làm và thu nhập? Chúng ta không có một cơ sở dữ liệu nào đáng tin cậy để cung cấp cho người học, bởi vậy người học chủ yếu dựa vào quan sát cá nhân. Quan sát đó có thể đúng hoặc sai. Thêm nữa, nếu nhìn xa hơn thì một nghề có thể kiếm ra nhiều tiền hôm nay nhưng ngày mai có thể biến mất hoặc không còn triển vọng thu nhập cao như thế nữa. Hai là vấn đề uy tín của các trường – uy tín này có thể phụ thuộc vào chất lượng đào tạo (biểu hiện qua thành công của cựu sinh viên), và cũng có thể phụ thuộc vào cách nhà trường xây dựng hình ảnh và truyền thông ra bên ngoài, trong đó có việc gây ấn tượng với người học về cơ sở vật chất của mình. Chúng ta đang cố gắng xây dựng uy tín các trường theo những chuẩn mực thông thường của quốc tế, tức là thông qua kiểm định chất lượng. Quan sát cách các trường xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và đi qua quá trình kiểm định, có thể thấy hoạt động này đang góp phần tích cực vào việc chuẩn hóa hoạt động của các trường.  Người ta thường nói rằng “đầu vào là rác thì đầu ra cũng là rác” để nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng đầu vào. Nói như vậy là cực đoan, nhưng không phải không có phần sự thật. Một xuất phát điểm quá thấp thì rất khó có hy vọng tạo ra đột phá trong kết quả.  Tuy nhiên, cần lưu ý, trong bối cảnh Việt Nam, không chắc điểm đầu vào các trường hiện nay thực sự phản ánh đúng chất lượng của người học. Thật vô lý khi chúng ta tuyển người học chỉ dựa vào điểm thi ba môn. Cho dù là kỳ thi nghiêm túc và đề thi được thiết kế tốt, thì điểm thi cũng chỉ phản ánh một phần nhỏ những gì mà nhà trường cần phải đánh giá nơi người học để chọn người phù hợp. Những người có điểm thi thấp không nhất thiết là những người kém cỏi, bỏ đi. Họ có thể là những người đã bị lạc hướng, bị cả một nền giáo dục cứng nhắc đè nén những thiên hướng cá nhân, bị vùi dập lòng tự tin và mất hết hy vọng vào tương lai mặc dù họ có những tiềm năng nhất định chưa được đánh thức.  Vì những lý do nói trên, cách tuyển sinh của ĐH Fulbright Việt Nam (FUV) là một gợi ý đáng quan tâm: trường không chọn những người có điểm tốt nhất, mà những người có đam mê và có phẩm chất xã hội. Theo bà Đàm Bích Thủy, Hiệu trưởng nhà trường, “Thành tích trong công việc hoặc quá trình học tập trước đó sẽ không phải là yếu tố quan trọng nhất. Điều thực sự quan trọng là sự quan tâm của thí sinh với ngành học cũng như việc chứng minh họ sẽ ứng dụng kiến thức như thế nào trong tương lai để phục vụ cộng đồng”.  Thực ra tuyển sinh như thế nào là việc của từng trường, và cách tuyển sinh phải nhất quán với mục tiêu mà nhà trường hướng tới, sứ mạng mà nhà trường xác định cho mình. Với định hướng nổi bật trong đào tạo về chính sách công, cách tuyển sinh như trên hoàn toàn thích hợp với FUV. Nhưng một trường đại học khác, nhắm vào một phân khúc người học khác và đáp ứng một nhu cầu khác của xã hội, thì lại phải có những tiêu chí tuyển sinh khác.  Điều có lẽ cần nhấn mạnh ở đây là, nếu các trường không tuyển đúng người học phù hợp với mục tiêu đào tạo của mình, vơ bèo vạt tép, ai học cũng được miễn là trả tiền, như nhận định của một vị hiệu trưởng mới đây1, thì họ đang là con rắn tự ăn cái đuôi của mình.  Nói tóm lại, với một đầu vào thấp thì nhà trường phải cực kỳ mạnh mẽ để có thể tạo ra giá trị gia tăng cho người học và bảo đảm kết quả đầu ra. Tiếc là phần lớn các trường chưa có những cải cách mạnh mẽ như vậy, vẫn chạy theo thi cử, bằng cấp – người học chỉ muốn có bằng, còn nhà trường thì nghĩ mình tuân thủ các quy định, làm việc đúng quy trình, cấp bằng cho người học là xong bổn phận. Hệ quả tất yếu là đầu vào thấp thì đầu ra cũng chẳng được cải thiện bao nhiêu, bằng cấp bị lạm phát, thật giả lẫn lộn, khiến tất cả các bên đều thiệt thòi. Cũng có thể có người hưởng lợi từ tình trạng đó, nhưng cái lợi của những người này được trả giá bằng mất mát của cả xã hội.  Riêng về thực tế năm nay học sinh chỉ cần đạt 9-10 điểm/ba môn cũng đỗ vào ngành sư phạm, đành rằng báo chí đã quá tô đậm con số bi quan mà quên chỉ ra, ngoài một số trường cao đẳng và đại học địa phương, các trường sư phạm truyền thống vẫn có đầu vào khá cao, như trường ĐH Sư phạm Hà Nội có điểm chuẩn cao nhất là 27,75 điểm (đối với ngành Sư phạm Toán dạy bằng tiếng Anh), song cũng không thể phủ nhận, hệ thống các trường sư phạm đang thật sự đối mặt với đòi hỏi cải cách hay là tiếp tục “rớt giá”. Các trường sư phạm là nơi cung cấp nguồn giáo viên chủ yếu cho các trường công cũng như trường tư. Chất lượng thấp của giáo viên chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng giáo dục, đó là điều hiển nhiên. Điều đáng nói hơn là, do những bất cập này, các trường tư đang nở rộ để đáp ứng nhu cầu vô cùng lớn của phụ huynh. Một số trường tư đã huấn luyện lại giáo viên của mình để đảm bảo chất lượng giáo dục, và họ rất thành công trong việc tạo ra chất lượng khác biệt. Tất nhiên, học phí của những trường tư danh tiếng thì không thể thấp. Hiện trạng đó tạo ra rào cản đối với việc tiếp cận cơ hội giáo dục có chất lượng cho thành phần thu nhập thấp, làm hạn chế mức độ dịch chuyển xã hội và giãn rộng khoảng cách bất công. Đối với giáo dục phổ thông, tạo ra thêm lựa chọn khác nhau cho những thành phần khác nhau trong xã hội là một điều tốt, nhưng nhà nước không thể phó mặc cho thị trường, vì điều này sẽ tạo ra tiềm năng cho bất ổn xã hội. Vì thế, cải cách hệ thống sư phạm, và cùng với nó là cải cách giáo dục phổ thông, là một nhu cầu vô cùng bức thiết hiện nay. Và đó là một trách nhiệm đã tạo nên tính chính danh của nhà nước.    Theo thống kê của OECD, tỷ lệ thanh niên Việt Nam ở độ tuổi 18-24 đang học đại học chiếm khoảng 30%. Điều đó có nghĩa, chúng ta đã ở mức giữa của nền giáo dục đại học đại chúng (dành cho số đông), thay vì nền giáo dục đại học tinh hoa (dành cho số ít) với tỷ lệ tương ứng dưới 15% như 10-20 năm trước kia. Nền giáo dục đại học đại chúng đòi hỏi cách thức quản lý nhà nước đối với các trường phải chuyển biến từ nhà nước kiểm soát (controlling government) sang nhà nước giám sát (supervising government) mà theo đó, các trường sẽ có quyền tự chủ trong hoạt động của mình, bao gồm quyền tự chủ tuyển sinh. Kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học toàn quốc trước kia là một hoạt động cần thiết của giáo dục đại học tinh hoa và về cơ bản đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Tuy vậy, kỳ thi mới “2 trong 1” áp dụng trong hai năm gần đây dường như vẫn còn hơi hướng của cách tiếp cận “giáo dục tinh hoa” khi vẫn cố ghép mục tiêu thi cao đẳng, đại học bên cạnh mục tiêu thi tốt nghiệp THPT. Và đây có lẽ là nguyên nhân tạo ra những rắc rối không cần thiết của kỳ tuyển sinh vừa qua (ví dụ, thí sinh 30 điểm vẫn trượt nguyện vọng 1). Thiết nghĩ, tới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần mạnh dạn bỏ hẳn mục tiêu “thi đại học” và chỉ giữ lại mục tiêu tốt nghiệp THPT; đồng thời trả lại các trường quyền tự quyết (và đương nhiên là quyền tự chịu trách nhiệm) trong tuyển sinh đầu vào của mình. Khi đó, các trường cao đẳng, đại học, tùy vào sứ mệnh, nhiệm vụ của mình, sẽ tự đề ra tiêu chí đánh giá sinh viên hoặc dùng luôn kết quả thi THPT làm căn cứ đánh giá.  Phạm Hiệp    ———  1 Phát biểu tại Hội nghị Tổng kết năm học 2016-2017, triển khai nhiệm vụ năm học 2017-2018 do Bộ GD&ĐT tổ chức mới đây, GS.TS Nguyễn Văn Minh, Hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Hà Nội, nhận định, do sự tồn tại của mình, không loại trừ việc một số cơ sở muốn tuyển sinh bằng mọi giá. (http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/dien-dan/item/33872502-can-manh-dan-cai-to-he-thong-truong-su-pham.html)          Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang Edgar Morin và giáo dục trong thế giới biến đổi      Vừa qua, tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội đã có cuộc Hội thảo về giáo dục với chủ đề Adgar Morin và Triết học Giáo dục với sự tham gia của một số nhà văn hóa, giáo dục và nhiều bạn trẻ.  Bài viết dưới đây là tham luận của nhà văn NGUYÊN NGỌC tại Hội thảo    Điểm độc đáo và đặc sắc của Edgar Morin là ông đặt vấn đề giáo dục trước những thách thức của cái mà ông gọi là “du futur”, “của tương lai”, tức trong một thế giới toàn cầu hóa và trong thế giới ấy, sự hội nhập của các quốc gia và dân tộc là một tất yếu.  Một thế giới như vậy sẽ trở nên vô cùng phong phú hơn đồng thời cũng vô cùng phức tạp hơn, các “chân lý” không còn đơn giản, rõ ràng như trước, hoặc như cách nói của Milan Kundera, chân lý tuyệt đối, duy nhất, độc tôn trước đây nay đã tan rã thành một mớ những chân lý tương đối mà các con người chia lấy cho nhau, nhận thức của con người do vậy có rất nhiều nguy cơ rơi vào điều mà E. Morin gọi là “sự đui mù của nhận thức”. Thế giới dẫu ta có muốn hay không cũng đang phẳng dần ra, cho đến những hang cùng ngõ hẻm, trái đất ngày càng nhỏ lại như một cái làng. Vấn đề căn cước quốc gia, dân tộc của con người có thể sẽ không còn quan trọng, ngay trong thực tế hành động hằng ngày, bằng căn cước địa cầu v.v… Thế giới đang biến động như chưa bao giờ có, dữ dội hơn, nhanh đến chóng mặt, cũng lại phức tạp đến rối rắm…         Liên kết các tri thức thành một khối thống nhất hoàn chỉnh tạo nên một cái nền vững chãi và bền chắc cho con người có thể ứng phó một cách chủ động và sáng tạo không chỉ với hôm nay mà cả tương lai.        Vậy thử xem giáo dục ở ta đã ứng phó trước những thách thức nóng hổi ấy như thế nào? Có thể nói một cách tóm tắt: giáo dục ở ta đang cố chạy đuổi theo những biến động ấy, như một cuộc rượt bắt vừa đuối sức vừa vô vọng. Thể hiện cụ thể là yêu cầu ngày càng được nhắc đến và nhấn mạnh: giáo dục phải nhằm đào tạo ra những con người “dùng được ngay” cho đòi hỏi của thị trường việc làm. Giáo dục đã trở nên thực dụng hơn bao giờ hết, “ngắn hạn” hơn bao giờ hết. Chính chiến lược đuổi bắt ấy làm cho giáo dục ngày càng nặng trĩu, ai cũng thấy nặng nhưng không sao sửa chữa được, càng sửa càng nặng thêm, đến mức tình trạng “nặng” đã trở thành một trong những vấn nạn chủ yếu của giáo dục hiện nay. Song lại rất nghịch lý, một nền giáo dục như vậy lại không hề tạo ra những sản phẩm “dùng được ngay” có hiệu quả tích cực như mong muốn, may lắm cũng chỉ cung cấp được một lực lượng lao động làm thuê cằn cỗi, yếu đuối, hoàn toàn không đủ sức góp phần tạo chuyển biến đột phá thiết yếu cho đất nước trong hội nhập sôi nổi và căng thẳng ngày nay.         Chính trong thế giới đang biến động vũ bão này, giáo dục phải rất bình tĩnh trở lại với những vấn đề cơ bản nhất của con người với một tầm mức sâu và cao hơn.        E. Morin đã trả lời câu hỏi của thế kỷ mới một cách khác, hoàn toàn ngược lại. Ông cho rằng chính trong thế giới đang biến động vũ bão này, giáo dục phải rất bình tĩnh trở lại với những vấn đề cơ bản nhất của con người, không chạy theo đuổi bắt mà trở lại những vấn đề cơ bản với một tầm mức sâu và cao hơn, để cho con người làm chủ được hiện thực ở một tầm khống chế vững chãi hơn. Chính những thách thức từ những biến động dữ dội của thế giới mới lại là cơ hội để giáo dục trở lại giải quyết những vấn đề lâu dài, cơ bản nhất của con người, như vấn đề về sự đánh lừa của hiện thực trông thấy được đưa đến tình trạng đui mù của nhận thức, hoặc vấn đề phát triển căn cước quốc gia, dân tộc của con người lên thành căn cước địa cầu, hoặc nữa những vấn đề mà ông gọi là “đạo lý của sự thông cảm” “sự giao cảm với tha nhân”, “sự nội tâm hóa lòng khoan dung” v.v…  Trong khi triết lý giáo dục của ta hiện nay là cắm cúi đuổi theo cái thực dụng tức thì, thì ông nói về sự quay lại với những giá trị lâu dài, nâng cao chúng lên, ngay trong thách thức mới tìm thấy cơ hội khắc phục những hạn chế lịch sử của con người. Trong khi giáo dục của ta chẻ nhỏ, ngày càng băm vụn các tri thức ra cho những yêu cầu cấp thời và cụ thể của thị trường lao động, thì ông nói đến việc liên kết các tri thức thành một khối thống nhất hoàn chỉnh tạo nên một cái nền vững chãi và bền chắc cho con người có thể ứng phó một cách chủ động và sáng tạo không chỉ với hôm nay mà cả tương lai. Trong khi giáo dục của ta lao vào cuộc chạy đua trang bị những kiến thức “mới” bất tận và luôn thay đổi, thì ông cho rằng điều quan trọng hơn, quan trọng nhất là tạo nên được những cái đầu được rèn luyện tốt để có thể tự nó chiếm lĩnh và làm chủ thế giới dẫu biến động đến đâu …  Các công trình về giáo dục của E. Morin mới mẻ, sâu sắc và cực kỳ phong phú. Song có lẽ đối với chúng ta lúc này thiết yếu và quan trọng nhất chính là triết lý giáo dục vừa cơ bản vừa hiện đại toát lên từ toàn bộ tưởng giáo dục của ông, thể hiện một cách chặt chẽ, mạch lạc, súc tích và hoàn chỉnh trong cuốn cuối cùng của bộ ba tác phẩm, hẳn còn có thể được khai thác ở nhiều khía cạnh phong phú khác. E. Morin coi những nguyên lý được đề xuất là “thiết yếu cho nền giáo dục tương lai”. Đối với chúng ta nó thực sự thiết yếu cho một cuộc tự vấn sâu sắc và căn bản của nền giáo dục ta ngay hôm nay, cho một đổi mới có ý nghĩa quyết định và cấp thiết của giáo dục.  Có thể nhắc lại một câu của nhà văn Mỹ Eliot, ông kêu lên: “Minh triết đi đâu rồi, chỉ còn lại tri thức! Tri thức đi đâu rồi, chỉ còn lại thông tin!” Hình như nền giáo dục chúng ta đang để lại còn ít hơn thế nữa. Nó để lại những tri thức và thông tin bị băm vụn thành những giáo điều cho người ta học thuộc lòng. Và cũng không thể không nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà giáo dục vĩ đại J.J. Rousseau: “Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận của con người”. Edgar Morin nói đến việc học tập về thân phận con người trong thế giới biển đổi như chưa từng có ngày nay.  Nguyên Ngọc      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Em biết cách học”*      Nhân dịp Nhóm Cánh Buồm sắp giới thiệu bộ sách giáo khoa tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5, nhà nghiên cứu Phạm Toàn, thành viên cốt lõi của nhóm, đã có bài viết tường trình đầy đủ về công việc của nhóm với ý nghĩa là giới thiệu một hệ thống khái niệm giáo dục đổi mới1.      1. Làm mẫu  Không chỉ riêng nhóm Cánh Buồm mà cả xã hội, từ các nhà trí thức danh tiếng đến những phụ huynh học sinh bình thường đều chung một nhận định: nền giáo dục nước nhà đang đại khủng hoảng.  Có nhận định cực đoan còn cho rằng nếu không thoát ra được cơn khủng hoảng này, đó sẽ là cuộc tự sát tập thể – ý tưởng quyết liệt này cho rằng Việt Nam đang đứng trước lựa chọn Giáo dục hay là Chết 2.   Tiếc thay, trong khi dư luận xã hội dường như nhất trí coi hiện tình Giáo dục là đại khủng hoảng, thì lại không đạt được sự nhất trí về hướng đi và giải pháp cho một cuộc khủng hoảng đã quá sức chịu đựng.   Chưa kể là, ngay cả khi đạt được một sự “nhất trí” nào đó về lý thuyết, thì vẫn còn đó việc cụ thể hóa lý thuyết thành chương trình học và sách giáo khoa đồng thời vẫn còn bỏ ngỏ vô số giải pháp về tổ chức sư phạm (chưa kể giải pháp cho việc bảo đảm đời sống vật chất của giáo viên).   Nhóm Cánh Buồm cho rằng trong mớ bòng bong đó, hãy chọn làm mẫu một công việc cụ thể, hãy “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”3, một công việc thể hiện cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn giáo dục.   Công việc làm mẫu cụ thể đó chính là một bộ sách giáo khoa bậc tiểu học, để qua đó mọi người có thể thấy một cách tương đối dễ hiểu những câu trả lời cho những câu hỏi như: giáo dục là gì? bậc học là gì? bậc tiểu học là gì? chương trình học là gì? sách giáo khoa là gì? vv …   2. Giáo dục  Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng sống còn của sự nghiệp giáo dục đối với đất nước.  Nhưng lại có những luồng ý kiến khác nhau liên quan đến sứ mệnh của Giáo dục, mà ít nhất có ba ý kiến như sau.   Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho một hệ ý thức – vì cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về tinh thần. Có tiếng nói đòi “thế tục hóa” Giáo dục4, gợi nhớ lại bước tiến lịch sử của thời Khai sáng châu Âu khi đòi Nhà trường phải được tách ra khỏi Nhà thờ.   Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho việc gây dựng lực lượng lao động phát triển kinh tế – cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về vật chất đã đành, và con người ấy cũng bị nô dịch hóa cả về tinh thần khi nó không còn chọn lựa khác nữa.  Một luồng ý kiến cực đoan hơn nữa, cho rằng từng cá nhân con người với mỗi trẻ em là một “nhà trường” của chính nó, chống lại mọi hình thức nhà trường hiện hữu, lập luận rằng nhà trường nào thì cũng “đồng phục hóa” con người5.  Nhóm Cánh Buồm quan niệm sứ mệnh của nhà trường là như sau: nó giúp thanh thiếu niên vượt qua trình độ tư duy tiền khoa học để bước sang trình độ tư duy khoa học6.   Tư duy tiền khoa học là đặc trưng của kiểu người bán khai trong lịch sử tiến hóa nhân loại, kiểu người tương tự như giai đoạn phát triển của trẻ nhỏ trước tuổi học đường. Tư duy tiền khoa học (cụ thể) biết quan sát, biết thu thập số liệu, biết phân tích số liệu, và biết ứng dụng các kết luận từ đó – song như vậy vẫn không đủ!   Tư duy khoa học (trừu tượng) là đặc trưng của kiểu người đương đại nhất thiết phải vươn tới – là tư duy của con người tự do, người có tinh thần trách nhiệm và có năng lực để chịu trách nhiệm, và đó cũng là con người có tâm hồn phong phú.   Từng con người tự do ấy, nhờ được một nhà trường chân chính tổ chức cho nó phát triển tự do, con người ấy sẽ có chọn lựa đối với cái hệ ý thức nó cần, và cũng có cả sự chọn lựa về cách thức xây dựng thể chế kinh tế-chình trị-xã hội được nó đánh giá là hợp lý nhất đối với cộng đồng.   Nhà trường có nhiệm vụ và phải vươn lên để có đủ điều kiện đào tạo thanh thiếu niên đạt tới trình độ tư duy tự lập đó. Từng gia đình, dù có điều kiện đầy đủ nhất, cũng khó có thể tự tổ chức “nhà trường” riêng cho con em mình.   Vấn đề vướng mắc khiến nhà trường chưa bao giờ mang đầy đủ tính thuyết phục, nó vẫn chưa đủ sức tổ chức tạo ra tư duy khoa học theo yêu cầu cao nhất cho thanh thiếu niên – nhà trường cho tới nay giỏi lắm là đủ sức tạo tư duy cụ thể cho con em. Nhà trường ấy đang bị xã hội phê phán mạnh mẽ.  Vì thế mới cần đến cải cách giáo dục.   3. Hiện đại hoá  Cải cách giáo dục là tối cần thiết. Nhưng cải cách theo định hướng nào?           Nhóm Cánh Buồn, ra đời cuối năm 2009, là một nhóm thiện nguyện chưa đến mười thành viên. Nhóm đã hoàn thành các cuốn sách, bao gồm:              - Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);              - Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);              – Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);              – Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);              – Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).        Xã hội đang hết sức bi quan và hoang mang trước nền giáo dục trì trệ. Trạng thái tâm lý xã hội đó tác động sang việc đi tìm một nguyên lý chung nhất cho công cuộc cải cách giáo dục.  Trước hết, có nguyên lý vọng ngoại, dưới nhãn mác hội nhập, muốn sao chép chương trình và sách của nước ngoài. Nguyên lý này khuyến khích cuộc đào tẩu về giáo dục đưa con em ra học ở nước ngoài từ rất sớm, tạo cơ hội mở trường “quốc tế”, và mở tràn lan các kiểu loại tư thục vì lợi nhuận7.  Tiếp theo, có nguyên lý vọng cổ, luyến tiếc quá khứ, muốn nền giáo dục mới phải phát triển những “cái hay cái đẹp” của các ý tưởng giáo dục Nho giáo, hoặc đòi hỏi “phát huy” những điều “tốt đẹp” trong các thực tiễn giáo dục cũ (từ thời Pháp thuộc cho tới thời Việt Nam Cộng hòa).   Cả nguyên lý vọng ngoại lẫn vọng cổ đều quên rằng, giả sử các nền giáo dục được nêu gương là tuyệt vời chăng nữa, thì cách tạo ra những “vụ gặt” đó đều đã hết thời, hoặc đã khác xa những điều kiện của thời hiện đại, và muốn tạo ra một “vụ mùa” mới đòi hỏi cách canh tác mới, hợp thung thổ, không thể tùy thích.   Sau nữa, có nguyên lý chiết trung, đua nở từ các thiết chế giáo dục tư thục cho tới các tổ chức nghiên cứu giáo dục “xã hội hóa” khác nhau – mỗi tổ chức tranh nhau đưa ra những khẩu hiệu “chân kiềng” đầy tính chất câu khách9.   Nhóm Cánh Buồm cho rằng nguyên lý chỉ đạo toàn bộ công cuộc giáo dục mới (triệt để cải cách) sẽ chỉ cần đến một và chỉ một yếu tố sống còn cho dân tộc, đó là nguyên lý Hiện Đại Hóa.   Hiện đại là mục tiêu và Hiện đại hóa là phương pháp dẫn đến mục tiêu.  Lý lẽ của Cánh Buồm rất phân minh: dân tộc ta, đất nước ta phải hiện đại hóa để sống còn, thì nền giáo dục của dân tộc ta, của đất nước ta, cũng phải theo quỹ đạo đó, phải hiện đại hóa.   Chỉ với một chút khác biệt trong nhận thức đối với khái niệm “hiện đại”:       – “Hiện đại” không xuất hiện ngay một lần như của Trời ban cho, mà được gây dựng dần dần, nên mới chọn Hiện Đại hóa thay vì “hiện đại” gọn lỏn;      – Hiện đại hóa không do vay mượn, sao chép, mà xuất hiện dần dần trên một nền tảng vật chất là công cuộc công nghiệp hóa ở ngay chốn này;      – Công cuộc công nghiệp hóa không chỉ là những nhà xưởng bề thế và các sản phẩm công nghiệp, mà nhất thiết phải tạo ra trong tinh thần con người một sản phẩm đặc biệt: cái văn hóa công nghiệp đặc trưng ở kỷ luật làm việc như một thói quen, một lối sống đạo đức10.   4. Lý thuyết hoạt động  Một xã hội hiện đại hóa xuất hiện dần dần qua những thành tựu vật chất – công cuộc công nghiệp hóa.   Một nhà trường hiện đại hóa cũng xuất hiện dần dần qua nhiều thay đổi, bắt đầu từ sự thay đổi lối lao động học đường căn bản nhất, đó là sự tham gia của học sinh vào công cuộc tự giáo dục thay vì nhận sự giáo dục một chiều ban phát từ giáo viên và các bề trên.  Công cuộc tự giáo dục sẽ diễn ra trong công việc tự học, qua những nhiệm vụ rõ rệt, qua những việc làm và qua cả những thao tác học tập có thể kiểm soát được với độ tin cậy cao.   Công việc dạy học của nhà giáo từ đây sẽ diễn ra không qua việc giảng giải rồi yêu cầu người học ghi nhớ và nhắc lại, mà dạy học là công việc tổ chức các hành động học của trẻ em12.  Cùng với công việc tổ chức một nền giáo dục hiện đại hóa, cần xác định cái khái niệm cao đạo thường được nhắc đi nhắc lại: nhà trường là nơi dạy người.   Một đứa trẻ nên người trong nền giáo dục hiện đại hóa không nhờ nó ngoan ngoãn “lắng tai nghe lấy mấy lời ru” của mẹ và của cô giáo; một em bé nên người là nhờ em biết cách học – cái CÁCH HỌC không do nhồi nhét mà có, cái cách học hình thành dần dần do nhà trường chủ động tổ chức tạo ra thành một năng lực của người học.  Cách học theo phương thức nhà trường liên quan đến sự phân chia nhiệm vụ mỗi bậc học trong nền giáo dục phổ thông.   •    Bậc Mẫu giáo có nhiệm vụ chuẩn bị con trẻ vào trường phổ thông.   Cách học ở bậc này là những trò chơi giúp các cháu hoàn thiện cơ bắp và hoàn thiện cơ quan phát âm (hết nói ngọng) và hoàn thiện các giác quan (nhất là tai nghe và mắt nhìn).  •    Bậc Tiểu học mở đầu giai đoạn học theo phương thức nhà trường có nhiệm vụ tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh phương pháp học.   Cách học ở bậc học này là biết phân biệt các phương pháp khác nhau để chiếm lĩnh các đối tượng khác nhau: khoa học, nghệ thuật, lối sống.  •    Bậc Trung học có nhiệm vụ hoặc là (a) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào loại trường để nghiên cứu hoặc là (b) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào trường học nghề.   Cách học tương ứng sẽ là (a) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối tập nghiên cứu, và (b) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối hành dụng.       •    Bậc Đại học có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên tập độc lập nghiên cứu.   •    Bậc Sau đại học có nhiệm vụ tổ chức cho nghiên cứu sinh hoàn toàn độc lập nghiên cứu.   Chúng ta sẽ đi sâu vào chỉ một bậc Tiểu học đã.    5. Tiểu học – bậc phương pháp  Phương pháp học là nội dung của nhà trường ở bậc tiểu học. Sứ mệnh của bậc tiểu học là tổ chức việc học cho trẻ em sao cho các em BIẾT CÁCH HỌC.   Giai đoạn học Mẫu giáo (ở gia đình hoặc ở trường) là “bậc học” không bắt buộc. Các nước phát triển phương Tây gọi đó là giai đoạn “tiền học đường” (pre-school). Nó hàm ý chỉ khi đi học lớp Một thì từ đó mới bắt đầu giai đoạn “học đường”, giai đoạn nhà trường “bắt buộc”.   Từ lớp Một, trẻ em được học để tổ chức tư duy của mình sao cho từ giai đoạn tiền khoa học (tư duy cụ thể) chuyển hẳn sang được giai đoạn khoa học (tư duy trừu tượng).   Tư duy không hình thành nhờ những lời khuyên nhủ. Tư duy hình thành nhờ tiến hành công việc tự học, tự giáo dục.  Nói đến tự học không có nghĩa là “thả nổi” cho trẻ em tự vẫy vùng như việc tự học của người lớn. Nội dung “tự học” ở bậc tiểu học là cách thức nhà trường từ bỏ lối giảng giải để thay vào đó là tổ chức các hoạt động học của trẻ em.   Thay cho lời giảng giải, các hoạt động học trong mỗi tiết học diễn ra bằng các việc làm sau:  – Việc 1: giao nhiệm vụ. Giáo viên giao nhiệm vụ của tiết học cho học sinh thực hiện. Kết thúc công việc này là một sản phẩm do chính tay học sinh làm ra (tìm ra).  – Việc 2: làm mẫu thao tác học. Giáo viên làm mẫu cái thao tác học để nhờ đó mà làm xong nhiệm vụ (tạo ra sản phẩm) – thí dụ làm mẫu thao tác phát âm, thao tác phân tích…   Tiếp đó, học sinh tiến hành các thao tác học, được chia ra như sau:  •    Thao tác với vật thật để học cách phân tích mẫu13.  •    Thao tác vật chất, cụ thể, bằng cơ bắp với các vật liệu – có kèm theo lời nói mô tả thao tác mình đang tiến hành.  •    Thao tác thầm, nhắm mắt nghĩ trong đầu những việc đã làm, suy nghĩ về kết quả đã tìm ra14.       Việc 3: thu hoạch. Học sinh tự trình bày những điều đã tìm ra. Việc ghi nhận các kết quả (sản phẩm) không nhất thiết phải bằng lời, hoặc bằng cách ghi bài, càng không bao giờ bằng cách chép bài theo lời tóm tắt của giáo viên.   Học sinh sẽ tự ghi lại sản phẩm của mình bằng vài cách, thí dụ:  •     Tự “ghi” bằng đóng kịch, kịch câm, kịch nói.  •     Tự “ghi” bằng vẽ, vẽ tranh, làm tranh truyện.  •     Tự ghi bằng sưu tầm, điều tra.  •     Tự ghi bằng tổ chức tranh luận, thậm chí tự tổ chức diễn đàn Hội thảo khoa học (từ lớp 5).  •     Tự “ghi” nhận thức bằng lời nói và sau đó là bài tự viết .  6. Đối tượng16   Muốn tổ chức việc học của học sinh tiểu học thành bậc học phương pháp học do các em tự thực hiện những việc làm và thao tác sao cho hoàn thành nhiệm vụ tiết học được giao, nhà sư phạm nhất thiết phải phân biệt được đối tượng học sinh phải chiếm lĩnh.  Trong cuộc sống, các đối tượng tồn tại ở dạng những đồ vật dửng dưng, khách quan, dưới dạng những vật tự nó. Khi con người có nhu cầu, có động cơ đến với các đồ vật nào đó, cái đồ vật ấy trở thành cái đối tượng để tìm hiểu – sau đó, trong trường hợp may mắn, để chiếm lĩnh.   Đồ vật thì nhiều, càng ngày càng nhiều trước con mắt của ta, người học sinh không tài nào chiếm lĩnh được tất cả các đồ vật theo lối năng nhặt chặt bị. Khi thu gom lại thành những đối tượng, con người sẽ chiếm lĩnh chúng theo các phạm trù không thể lẫn lộn.  Ba phạm trù đối tượng để học sinh chiếm lĩnh là Khoa học, Nghệ thuật, Đạo đức.           Trường phổ thông Nguyễn Văn Huyên ngay từ  năm 2010 đã mời nhóm Cánh Buồm tới dạy sách mới vào các buổi chiều cho  các lớp tiểu học. Trong qua trình soạn sách, nhóm Cánh Buồm cũng được  trường Nguyễn Văn Huyên cho phép dùng sách mới soạn của mình để thử  nghiệm việc bồi bổ kiến thức nhằm “lấp lỗ hổng”  cho học sinh lớp 6 và  lớp 10.         Đến đây, lại có thể định nghĩa thêm như sau: phương pháp để học sinh tiểu học chiếm lĩnh được gửi trong cách làm ra từng loại sản phẩm. Cách làm ra ba loại sản phẩm khoa học, nghệ thuật và đạo đức khác nhau như sau:  – Sản phẩm khoa học được làm ra gửi trong các khái niệm khoa học mang tính chất chính xác, chặt chẽ, lô gich.  – Sản phẩm nghệ thuật được làm ra gửi trong các ẩn dụ mà trình độ tường minh cao nhất có thể là một ngữ pháp nghệ thuật tạo thành bởi tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.  – Sản phẩm đạo đức được làm ra gửi trong mối quan hệ được xây dựng theo hướng tốt đẹp giữa người với người.  Và để sư phạm hóa được tiến trình chiếm lĩnh ba đối tượng khác nhau ở bậc tiểu học, lại có thể thu gọn hơn nữa theo định hướng việc làm – làm mà học, làm thì học – như sau:  – Phương pháp làm ra sản phẩm khoa học có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà khoa học đã thực hiện khi họ chiếm lĩnh một đối tượng nhất định.  – Phương pháp làm ra sản phẩm nghệ thuật có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác người nghệ sĩ đã thực hiện khi họ tạo ra một tác phẩm nghệ thuật.  – Phương pháp làm ra sản phẩm đạo đức có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà hoạt động xã hội đã thực hiện khi họ tổ chức cuộc sống chung cho một cộng đồng nhất định.   7. Tiếng Việt  Theo những điều phát biểu cho tới lúc này, phương pháp “học” tiếng Việt ở bậc tiểu học được gửi trong cách thức nhà ngôn ngữ học khám phá các vật liệu tiếng Việt để quy tập các vật liệu kia vào từng nhóm khái niệm ngôn ngữ học.   Vào thời điểm thế kỷ 17, tiếng Việt đã được ghi lại bằng chữ Nôm. Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã không dùng chữ Nôm17, mà dùng những ký hiệu a b c để tạo ra một hình thức ghi tiếng Việt khác, hiện đang được dùng chính thức.  Trẻ em làm lại quá trình đó như thế nào?  Ở lớp Một, khi trẻ em đến trường bắt đầu học tiếng Việt, các em đã nói năng khá thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ đó. Nhiệm vụ lúc này là tìm cách ghi lại tiếng nói đó. Nhắc lại điều đã phát biểu ở bên trên, các em sẽ “quy tập” vật liệu tiếng Việt vào nhóm khái niệm ngữ âm học.  Làm công việc này, chính là các em làm lại công việc các nhà ngôn ngữ học khi bắt đầu đến với tiếng Việt hồi thế kỷ thứ 17: tìm cách ghi lại cái ngôn ngữ ấy.  Các nhà ngôn ngữ học phương Tây làm công việc ghi tiếng Việt trong nhiều chục năm mới xong (1620 đến 1626 và 1631 đến 1648), và trong quá trình làm việc, họ gặp không biết bao nhiêu sai lầm18.  Vào những năm 1960 thế kỷ trước, nhóm nhà ngôn ngữ học ở Đại học tổng hợp Hà Nội đã tổng kết ngữ âm học tiếng Việt.  Vào những năm 1980 thế kỷ trước, nhà tâm lý học Hồ Ngọc Đại ở Trường Thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ, Hà Nội đã biến tổng kết ngữ âm học tiếng Việt trên thành quy trình chặt chẽ giúp học sinh làm lại một cách chắc chắn, dễ dàng19.  Nhà sư phạm hiện đại giúp trẻ em tránh được những sai phạm của người đi trước, và tổ chức toàn bộ công việc ghi âm tiếng Việt đó của trẻ em chỉ diễn rá trong vòng 5-6 tháng.  Kể từ lớp Hai trở đi, học sinh “làm lại” những việc làm và thao tác ngôn ngữ học với vật liệu tiếng Việt như thế nào?  Ta biết rằng, sau khi các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã tạo ra cách ghi tiếng Việt bằng bộ chữ cái a b c, sau khi đã có công cụ ghi chép đó, họ tiến hành sưu tầm từ ngữ và cách diễn đạt tiếng Việt.  Trong hơn hai trăm năm, các nhà ngôn ngữ học cả phương Tây lẫn người Việt đã làm ra gần một chục bộ từ điển và vô số sách sưu tầm tác phẩm truyền khẩu tiếng Việt… tiếp đến việc ra đời vô số nhà xuất bản và báo chí…20.   Cách học của học sinh lớp Hai trong một năm học sẽ “làm lại” thế nào công việc kéo dài hơn hai thế kỷ đó? Con đường “làm lại” sẽ thu gọn trong những bước tổng quát như sau: Tín hiệu học (các loại tín hiệu, rồi đến tín hiệu ngôn ngữ, dừng lại ở đơn vị từ) – Từ thuần Việt (có từ xa xưa liên quan đến ĂN, LÀM, Ở, GIA ĐÌNH, và ĐÁNH GIÁ) – Từ ghép thuần Việt (ghép hợp nghĩa, ghép phân nghĩa, từ láy) – Từ Hán Việt – Từ mượn của phương Tây.  Lên lớp Ba, học sinh khám phá phương diện cú pháp tiếng Việt về hai mặt cú pháp của Câu tiếng Việt và lô gich của Câu tiếng Việt.  Lên lớp Bốn, các em khám phá văn bản tiếng Việt để có thể tự tạo ra một văn bản.  Lên lớp Năm, các em học vận dụng toàn bộ những điều đã chiếm lĩnh về ngôn ngữ học tiếng Việt vào các loại hình ngôn ngữ trong xã hội: ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, và ngôn ngữ đời thường.   Năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học, giả định học theo sách Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm, sẽ khó có thể chỉ là biết đọc biết viết hoặc đọc thông viết thạo mà đó sẽ là những em nhỏ tuy tuổi 11, 12, song tư duy ngôn ngữ học thì sẽ cao hơn rất nhiều những đầu óc đơn giản chủ nghĩa của người lớn21.  Đó là nhờ cách học bằng việc làm chứ không học bằng nghe giảng về cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.  8. Nghệ thuật  Đối với môn Văn, mà nhóm Cánh Buồm xác định như môn học giáo dục hành vi và tư duy nghệ thuật, thì cách học bằng việc làm hoàn toàn có ưu thế, hơn hẳn cách học bằng nghe bình giảng và cảm thụ về cái đẹp của văn chương.  Nhóm Cánh Buồm xác định ngay từ định nghĩa nghệ thuật là cách làm ra cái đẹp ẩn dụ bằng những vật liệu khác nhau: vật liệu âm thanh trong âm nhạc, vật liệu cơ thể trong nhảy múa, vật liệu màu sắc và hình khối trong hội họa (và điêu khắc, kiến trúc), và vật liệu bằng lời trong loại hình trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch22.  Xác định người học chỉ có thể có năng lực và tư duy nghệ thuật một khi bắt tay làm ra sản phẩm nghệ thuật nên nhóm Cánh Buồm định hướng học “Văn” theo lối làm lại các hành động, thao tác, và tư duy mà người nghệ sĩ đã thực hiện.  Chắt lọc ra từ các hành động và thao tác ấy một bộ khung chỉ đạo chúng, ta được một ngữ pháp nghệ thuật. Ngữ pháp này gồm các yếu tố tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.   Ngữ pháp đó hoạt động xung quanh một yếu tố tinh thần ở người nghệ sĩ chân chính: một lòng đồng cảm với thân phận con người. Lòng đồng cảm này ở người nghệ sĩ khiến người đó có được cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính.  Xin đừng nghĩ những nội dung như vừa kể ra là cao siêu. Đó là yêu cầu tối thiểu để một học sinh tiểu học chiếm lĩnh được đối tượng nghệ thuật.   Theo hướng đi này, học sinh lớp Một được giáo dục lòng đồng cảm thông qua những trò chơi đóng vai.  Học sinh lớp Hai được học thao tác tưởng tượng thông qua việc học cách tạo ra các hình tượng coi như là căn cốt của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.  Học sinh lớp Ba được học thao tác liên tưởng thông qua việc học cách thay đổi các hình tượng, thay đổi ngôn từ, coi như là “kỹ thuật” tạo ra một ý cho bất kỳ hình tượng nào của tác phẩm nghệ thuật.  Học sinh lớp Bốn được học thao tác bố cục thông qua việc học luật sáng tác cơ bản với những thể loại văn học cơ bản – thể thơ Đường luật, tác phẩm kể chuyện bằng văn xuôi, tác phẩm kịch, nghệ thuật sắp đặt – coi như là những “quy định kỹ thuật” giúp tác giả tạo ra một chủ đề mang một tư tưởng gửi trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.  Học sinh lớp Năm được học dùng bộ ngữ pháp nghệ thuật đã học vào việc tạo ra các loại hình nghệ thuật cơ bản: âm nhạc, nhảy múa, hội họa, trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch.   Mục đích việc học này không nhằm đào tạo các nhà văn và nghệ sĩ. Đây hoàn toàn là phương thức làm mà học – làm thì học qua đó trẻ em sẽ vào đời không “nói leo” về nghệ thuật, mà là người có một tâm hồn thực sự phong phú nhờ năng lực thực thụ biết tạo ra những ẩn dụ nghệ thuật từ ngay trong quá trình học.    9. Đạo đức  Có nhiều lý do để môn học giảng giải áp đặt một chiều xưa nay có tên là Luân lý, hoặc Đạo đức, hoặc Công dân giáo dục khó có đất tồn tại trong một nền giáo dục hiện đại hóa.  Trước hết, đó là vì sự phát triển của mọi xã hội đương thời khiến con người bị buộc phải đứng trước ít nhất ba chọn lựa với ít nhất ba trào lưu đạo đức.   Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh của quá khứ”. Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh cưỡng lại quá khứ”. Một trào lưu đang đi tìm “bến đỗ đạo đức” cho cá nhân mình và cho cả thế hệ mình.   Trong nhà trường, thanh thiếu niên bộc lộ phản ứng khác nhau, trước hết là vì sách giáo khoa và chương trình giáo dục đạo đức không đáp ứng nhu cầu sống và tâm lý của các em.   Ta buộc phải trở lại xem xét những nghiên cứu (như của Jean Piaget chẳng hạn) để cho người lớn có được một cách nhìn hiện đại vào quan điểm của trẻ em đối với vấn đề đạo đức23.  Hệ thống giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa của Cánh Buồm tiếp nối những thành tựu của hệ thống Công nghệ Giáo dục bằng việc thay đổi môn học cũ thành môn Giáo dục Lối sống.   Tuy nhiên, môn Lối sống của Cánh Buồm cũng đã thay toàn bộ nội dung Giáo dục Lối sống của Công nghệ Giáo dục bằng định hướng mới: tổ chức cho học sinh có tinh thần và khả năng tạo ra một cuộc sống mới của mình và của cộng đồng theo nguyên tắc ĐỒNG THUẬN.   Lớp Một: đồng thuận (giữa giáo viên, phụ huynh và trẻ em) để tổ chức cuộc sống TỰ LẬP của con em.  Lớp Hai: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong CỘNG ĐỒNG (khái niệm cộng đồng ở dạng khái quát nhất).  Lớp Ba: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng GIA ĐÌNH.  Lớp Bốn: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng TỔ QUỐC.  Lớp Năm: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng NHÂN LOẠI.  10. Ngoại ngữ  Trong việc dạy tiếng nước ngoài, từ lớp mẫu giáo đến các trường phổ thông, trường học nghề, nhất là các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường, đâu đâu cũng nói đến giao tiếp. Giáo viên rất khổ với cái “bóng ma” giao tiếp này!   Là ma, vì không ai định hình cho rõ cách làm như thế nào để đạt được năng lực giao tiếp. Càng khó khi “định hướng” lại như sau: lấy giao tiếp nuôi giao tiếp24.   Đường lối gọi là giao tiếp sinh ra từ đầu năm 1944. Người Mỹ tính toán năm 1945 sẽ là năm quyết định Thế chiến II. Mỹ đã nhìn xa chuẩn bị tiếp quản cả cái thế giới rộng lớn này – gần nửa triệu sĩ quan được cấp tốc đào tạo để đủ sức “giao tiếp” bằng ngoại ngữ.  Đường lối “giao tiếp” cho phép diễn đạt sai cấu trúc miễn là đôi bên hiểu nhau. Nó nhấn mạnh vào ngôn ngữ nói. Nó nhấn mạnh vào ý nghĩa thực dụng. Đường lối đó càng được củng cố khi hết Thế chiến II, vào những năm 1950 thế kỷ trước, có những làn sóng di dân, chuyển vùng để kiếm sống25.  Đường lối giao tiếp này có thể không sai với người học lớn tuổi cần học nhanh, dùng ngay. Nhưng áp dụng cho đông đảo trẻ em đủ thời giờ học trong 10 năm, 12 năm, liệu nó có chắc đúng26?  Phải có một hướng đi và cách làm khác để thay đổi cách dạy tiếng nước ngoài.  Trước hết, cần xác định trẻ em 6 tuổi đến trường phổ thông học ngoại ngữ nhằm mục đích gì?   Đó là để học lấy một cách thức và có được một công cụ hòa nhập vào với một nền văn hóa xa lạ. Nhu cầu hòa nhập này giúp mở mang dân trí hiện đại hóa đất nước.  Xác định mục đích như thế, sẽ thấy cách học cấp tốc (intensive) là hoàn toàn không thích hợp với người học nhỏ tuổi. Thâm nhập, hòa nhập đàng hoàng với một nền văn hóa khác là điều hoàn toàn không giống vượt biên kiếm sống.  Vậy nên, đường lối học ngoại ngữ phải thay đổi, đường lối ấy nên là sự kết hợp chặt chẽ giữa Cấu trúc và Chức năng. Chức năng (giao tiếp) chỉ có thể thực hiện được một cách tự nhiên, không vội vã, nhờ am tường cái ngôn ngữ nước ngoài được học. Phát âm sai, vốn từ không đủ và dùng không chuẩn, cú pháp vụng dại, và không hiểu tính cách dân tộc của “người khác”, thì không giao tiếp được!  Sách học tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm được soạn theo định hướng sau:  Bậc tiểu học: học để chiếm lĩnh tiếng Anh cơ bản.  Lớp Một: Âm – Từ – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: ngay từ lớp 1 phải học phát âm tiếng Anh cho đúng – các âm đó gửi trong các từ tiếng Anh nên đây là cơ hội học khoảng 200-250 từ tiếng Anh – và để giúp cho việc học không nhàm chán, sẽ có nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.  Lớp Hai: Từ loại tiếng Anh – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: củng cố năng lực phát âm học từ lớp Một, tăng cường số vốn từ lên khoảng 400 từ tiếng Anh – và có thêm nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.   Lớp Ba: Câu tiếng Anh – Cách tạo ra các kiểu câu tiếng Anh. Trò chơi ngôn ngữ. Trò chơi giao tiếp.   Lớp Bốn: Bài tiếng Anh – Cách tạo ra đoạn văn và bài văn tiếng Anh.   Lớp Năm: Văn hóa Anh – Sơ lược về truyền thống Anh. Thói quen giao tiếp và ứng xử của người Anh. Văn, thơ, họa, nhạc, kịch trong văn hóa Anh.  11. Sư phạm   Khi bộ sách cải cách theo chương trình năm 2000 ra đời, bộ sách đó được hỗ trợ bằng pháp lý, hiểu giản dị là cả nước chỉ dùng chung một chương trình và một bộ sách.  Bộ sách CT-2000 bắt đầu dùng phổ biến từ năm 2004, thì năm 2008 đã có lời kêu gọi “giảm tải”. Cho đến ngày mở đầu năm học mới 2011-2012, vẫn còn chỉ thị “giảm tải sâu” đối với CT-2000.  Cho đến hôm nay, khi đã sang năm học 2012-2013, trước sự bế tắc hoàn toàn của công việc “giảm tải sâu”, dư luận đã vào hùa với luồng ý kiến đòi một chương trình nhiều bộ sách.   Thực ra thì luồng ý kiến xác đáng hơn cả bây giờ là nhiều chương trình nhiều bộ sách. Bởi vì cả chương trình và sách là sự thể hiện của một tư duy giáo dục. Một chương trình bất cập thì dù có thay đổi sách giáo khoa đến bao nhiêu cũng bó tay mà thôi.  Bộ sách giáo khoa bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm là giải pháp nghiệp vụ của một tư tưởng sư phạm khác. Đây là một chương trình khác thể hiện thành một bộ sách giáo khoa khác. Bộ sách giáo khoa Cánh Buồm không tự giao nhiệm vụ thực hiện CT-2000 hiện hành.   Bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm mong muốn được triển khai vào thực tiễn. Với kỳ vọng “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”, nhóm Cánh Buồm cũng cho rằng “làm ra một sản phẩm cụ thể thay thế cái cần thay thế là cách thức phản biện xã hội có trách nhiệm”.   Song những người biên soạn hoàn toàn không kỳ vọng nhận được một sự thừa nhận về mặt hành chính, vì đây là một bộ sách mang một trình độ tư duy giáo dục khác hẳn.  Vì thế, bộ sách này hướng về cá nhân những người sử dụng: các nhà giáo, các vị phụ huynh, những nhà nghiên cứu khoa học giáo dục.   Việc công bố trọn gói bộ sách này là có chủ đích giúp những người dùng sách có cái nhìn theo chiều dọc – đủ sức hình dung con em học xong bộ sách này sẽ trở thành những cá thể có trình độ tư duy và năng lực thực tiễn ra sao.  Người dùng sách cũng hình dung con em sẽ dùng các thao tác tự học để tự chiếm lĩnh phương pháp học như thế nào qua bộ sách này. Các thao tác đó được hướng dẫn bằng lời ngay trong sách và khi gặp những khái niệm quan trọng thì còn có thêm hình minh họa cách học.  Nhiều đoạn trong các sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm còn khéo léo trình bày cả những kiến thức cơ bản để người dạy có thêm điều kiện dắt dẫn quá trình con em chiếm lĩnh đối tượng.  Nói cách khác, bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm được soạn tạm thời để dùng chung cho cả người học và người hướng dẫn.  Tập thể tác giả hình dung sẽ có bộ sách giáo khoa sư phạm chỉ rõ cái lý thuyết đã tạo ra bộ sách này, để người dạy con em hiểu rõ về lý luận vì sao cần phải thực hiện cung cách dạy học không giống trước đây.  Bộ sách giáo khoa Tiểu học Cánh Buồm cũng có thể dùng cho các học sinh lớp trên, vì theo chương trình và sách dành cho các em học chưa bao giờ có những nội dung và cách học như ta bắt gặp trong bộ sách mới này.  Trường phổ thông Nguyễn Văn Huyên ngay từ năm 2010 đã mời nhóm Cánh Buồm tới dạy sách mới vào các buổi chiều cho các lớp tiểu học. Trong qua trình soạn sách, nhóm Cánh Buồm cũng được trường Nguyễn Văn Huyên cho phép dùng sách mới soạn của mình để thử nghiệm việc bồi bổ kiến thức nhằm “lấp lỗ hổng” cho học sinh lớp 6 và lớp 10.   —-  * Báo cáo này sẽ được đọc tại Hội thảo công bố sách giáo khoa tiểu học 2012 của nhóm Cánh Buồm ngày 6/10 tới tại L’Espace, Hà Nội.  1 Xin tham khảo Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, NXB Tri thức ấn hành, Hà Nội, 2012. Nội dung Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại đã được trình bày tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 3 năm 2010.  2 Hồ Như Hiển, “Thay đổi giáo dục hay là chết?” Theo Blog Hồ Như Hiển, http://blog.yahoo.com/_IBDF37GINNJ5HGTPFWEKGYY544/articles/400548  3 Xin coi trên trang mạng của nhóm Cánh Buồm hiendai.edu.vn “Tạo ra một cái mẫu khả thi – thân phận của công việc nghiên cứu khoa học” Bài nói ngày 27 tháng 9 năm 2010 tại Trung tâm L’Espace. Kèm bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh. Nguồn: http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=115  4 Một ý lớn trong bài nói của giáo sư Hoàng Tụy tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 5 năm 2010, sau cuộc báo cáo đã dẫn ở chú thích (3).  5 Xin coi: Bé 9 tuổi vẽ tranh người lớn giật mình  http://www.baomoi.com/Be-9-tuoi-ve-tranh-nguoi-lon-giat-minh/52/8279413.epi  và: Trò chuyện với bố nuôi cậu bé 9 tuổi không đến trường   http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/70684/tro-chuyen-voi-bo-nuoi-cau-be-9-tuoi-khong-den-truong.html  6 Coi: Gaston Bachelard, La formation de l’esprit scientifique (Sự hình thành tư duy khoa học), xuất bản lần thứ tư, Nhà xuất bản triết học J. Vrin, Paris, 1960, trang7, trang 8.  G. Bachelard chia các trạng thái phát triển tư duy cá thể người thành:   a/ trạng thái cụ thể, qua đó tư duy con người vui đùa với những hình ảnh đầu tiên thu nhận được của hiện tượng, tụng ca sự đẹp đẽ và thống nhất của Thiên nhiên phong phú; tiếp đó là   b/ trạng thái cụ thể-trừu tượng, lúc này kinh nghiệm sẵn có đã có thêm những sơ đồ hình học và một triết học về sự giản đơn của sự vật. Tư duy con người cá thể vào lúc này vẫn còn đầy nghịch lí, nó vừa tin vào sự trừu tượng hóa mà nó đã nhận thức ra, và nó cũng vừa hoài nghi và muốn dựa vào trục giác có tính chất an toàn hơn; tiếp đó nữa là   c/ trạng thái trừu tượng qua đó tư duy tiến hành thu thập thông tin mà không cần dựa vào trực giác nữa.  7 Nhiều tiếng nói đang cất lên tập trung ca ngợi nền giáo dục Phần Lan – cũng như trước đây từng ca ngợi Giáo dục Cộng hòa dân chr Đức.   9 Gần như là mỗi trường tư thục và mỗi tổ chức kinh doanh đều có khẩu hiệu của mình làm thành bộ “tam bình” (triptych), kiểu như “Dân chủ, Khoa học, Khai sáng”, hoặc “Tiên tiến, Dân tộc, Khai minh”, hoặc “Hội nhập, Tiên tiến, Khai phóng”, vv…   10 Văn hóa hiện đại biểu hiện ở lối sống mới: kỷ luật lao động theo bản thiết kế, kỷ luật hợp tác như một lẽ sống để có sản phẩm hoàn chỉnh, kỷ luật bảo đảm chất lượng sản phẩm như một thói quen.       12 Ta có quyền nghi ngờ những lời mời chào “trang thiết bị hiện đại” của nhiều trường học “hiện đại” do đó học sinh có thể rơi vào nguy cơ chỉ thụ động ngồi nhìn giáo viên biểu diễn “kỹ thuật hiện đại”, trái ngược với tiêu chuẩn “hiện đại” là làm, làm thì học, làm mà học (cách thức nhóm Cánh Buồm dịch khái niệm learning by doing).   13 Thí dụ để tìm ra các nguyên âm, thì nguyên âm [a] là vật thật làm mẫu.  14 Những giải pháp triển khai cụ thể trong thực tiễn dạy học các thao tác học, do Hồ Ngọc Đại tạo ra và ứng dụng có hiệu quả trong hệ thống trường thực nghiệm Công nghệ Giáo dục.   15 Nhiều cách ghi bài để học sinh tự chọn theo cái “trí khôn” mạnh nhất của các em, được gợi ra từ công trình của nhà tâm lý học đương thời Mỹ Howard Gardner. Coi: Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết trí khôn nhiều thành phần, Phạm Toàn dịch, Giáo dục, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung 2012.   16 Tác giả báo cáo hết sức biết ơn Giáo sư Tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại, nhà sáng lập ngạch Công nghệ Giáo dục ở Việt Nam về những ý tưởng trong mục Đối tượng này. Mấu chốt của khoa sư phạm hiện đại nằm trong việc phân biệt đối tượng chiếm lĩnh nhờ đó mà tổ chức được những việc làm và thao tác thích hợp cho học sinh thực hiện. Các thành viên nhóm Cánh Buồm nhờ nghiên cứu kỹ khái niệm đối tượng đã có thể trình ra trước xã hội bộ sách tiểu học. Một lần nữa, cám ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại.   17 May mắn cho dân tộc Việt Nam là chữ Nôm đã không trở thành chữ viết chính thức! Vì muốn nắm được chữ Nôm, người học phải biết chữ Nho và phải biết luật cấu tạo chữ Nôm về đại thể gồm một ký hiệu cả tiếng bằng chữ Nho ghi “nghĩa” và một ký hiệu cả tiếng cũng bằng chữ Nho ghi “âm”. Chính cái ký hiệu ghi âm này gây rắc rồi nhất, khiến cho chữ Nôm mang tiếng không hoàn toàn oan ức Nôm na (tức na ná) là cham ách qué.  18 Theo tài liệu của linh mục Đỗ Quang Chính “Lịch sử chữ quốc ngữ” (Dũng Lạc, Sài Gòn, 1950), ban đầu các nhà ngữ âm học phương Tây còn cho rằng tiếng Việt là tiếng đa âm tiết. Do coi tiếng Việt là đa âm tiết, các vị đó cũng coi nhẹ các thanh của tiếng Việt cho tới khi gặp rắc rối với thanh [ (đòi ăn cá được ăn cà, ra lệnh chặt tre về làm rạp thì người nghe hiểu là chặt (đầu) trẻ (nhỏ) ] thì các vị mới vỡ nhẽ.  19 Hồ Ngọc Đại đã tạo ra một quy trình học ngữ âm tiếng Việt lớp Một hết sức hào hoa với các bước chính như sau: (1) tách lời thành tiếng (2) tiếng giống nhau, tiếng khác nhau (3) tiếng tách làm hai phần (4) tiếng có vần là âm chính (5) tiếng có vần là âm đệm và âm chính (6) tiếng có vần là âm chính và âm cuối (7) tiếng có vần là âm đệm, âm chính và âm cuối … Sách tiếng Việt lớp Một của Hồ Ngọc Đại sau một vài năm bị “phân biệt đối xử”, đã trở lại với các tỉnh khó khăn (miền núi, dân tộc thiểu số), năm học 2012-2013 đã thực hiện ở 16 tỉnh với nhiều chục nghìn học sinh.   20 Nổi bật là những công trình từ điển của học giả Tây phương như A. de Rhodes, của Taberd, … và của các học giả người Việt như Paulus Huỳnh Tịnh Của, của Petrus Trương Vĩnh Ký … Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu và sư tầm của Huỳnh Tịnh Của và Petrus Trương Vĩnh Ký về truyện nôm khuyết danh, về cách nói năng cư xử của người Việt Nam … đều có thể tính vào kho tàng từ vựng Việt.  Có lẽ cũng cần lưu ý rằng các công trình nghiên cứu từ điển sẽ còn nối tiếp đến tận thời Đào Duy Anh, Hoàng Phê sau này… Và bên cạnh đó là những công trình thực tiễn (các nhà xuất bản và các tòa báo do Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Đình Long, Vũ Đình Hòe … chủ trương đã buộc việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt phải được xúc tiến (với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Lân, và sau này với Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, … .   21 Những người lớn tốt bụng và nhiều quyền lực luôn luôn có ý thức duy trì trẻ em ở trạng thái trẻ em như chính các vị người lớn đạo cao đức trọng đó.  22 Xin nhấn mạnh yếu tố làm ra cái đẹp ẩn dụ khác với sự tán róc về nghệ thuật nơi phòng trà.   Xin vui lòng tham khảo: Quyết định 2493-GD-ĐT ngày 25-7-1995, và các tài liệu ban hành kèm và Quyết định 3049-GD-ĐT ngày 1-9-1995, liên quan đến mục tiêu, kế hoạch, chương trình Cao đẳng Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và mục tiêu, kế hoạch, khung chương trình đào tạo giáo viên tiểu học lên trình độ Cao đẳng Sư phạm kèm theo một số bộ sách gốc đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Cao đẳng sư phạm toàn quốc, (trong đó có các nội dung giáo dục âm nhạc và hội họa – chúng tôi nhấn mạnh).   Các tài liệu sư phạm đó đề ra việc cho giáo sinh học “khái quát nghệ thuật âm nhạc thế giới”, “giới thiệu và nghe tác phẩm một số nhạc sĩ tiêu biểu như J. S. Bach, Mô-da, Bê-hô-ven, Su-be, Sô-panh, Tsai-cốp-xki”…, học các “khuynh hướng âm nhạc hiện đại (Jazz, Pop, Rock)”, và “nhạc phi điệu tính”! Các tài liệu này thiếu hẳn phần đào tạo giáo sinh tự tay làm ra âm nhạc để có tư duy âm nhạc đích thực. Phần chương trình Mỹ thuật dự kiến cho học Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam và thế giới, “đi sâu vào giới thiệu danh hoạ và tác phẩm tiêu biểu của một số khuynh hướng nghệ thuật”, “phân tích tác phẩm hội hoạ và điêu khắc”, v.v…    23 Piaget Jean, Khái niệm đạo đức ở trẻ em. Từ năm 2012, nhóm Cánh Buồm tiếp nhận sáng kiến của thành viên mới, nhà giáo, nhà thơ Hoàng Hưng, tổ chức dịch các sách tâm lý học cơ bản của Jean Piaget và của Howard Gardner. Các thành viên Cánh Buồm mới Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Viết Dũng … cùng tham gia dịch. Sẽ ra mắt sớm: Sự hình thành trí khôn trẻ em, Trẻ em tái cấu trúc hiện thực như thế nào trong tâm lý mình, Khái niệm đạo đức ở trẻ em …   24 “… giao tiếp không phải là phương pháp, cũng chẳng phải “đường lối”. Nó là cách tiếp cận trong việc giảng dạy ngoại ngữ.” [ … ] “giao tiếp là cách tiếp cận hợp lý nhất, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nhất khi dạy và học một ngoại ngữ.” “Gọi là cách tiếp cận bởi người ta xem giao tiếp vừa là mục tiêu vừa là biện pháp để đạt đến mục tiêu này. Còn không xem nó là phương pháp bởi có thể sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau của các phương pháp trước đó, miễn sao đạt tới mục tiêu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.” (Báo Tuổi trẻ cuối tuần, số ra ngày 25-9-2010).  25 Người Mỹ nói rõ: “đi vào vùng Trung Phi nói hơn 500 thổ ngữ, bạn không thể bỏ ra quá một tuần chỉ ngồi học tiếng…” Còn làn sóng di dân đã thúc đẩy tiến trình học ngoại ngữ theo “cách tiếp cận giao tiếp” vì “người di dân không thể chờ lâu hơn ba tháng để có một việc làm”.  26 Thêm một ý cần nói: sách tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm không đả kích các chủ trương dạy tiếng nước ngoài khác. Ai muốn cho con em học “giao tiếp” nhanh và thực sự có điều kiện làm việc đó, xin cứ tùy nghi. Chỉ xin các nhà mô phạm hãy ngừng dùng những thống kê để kêu ca những yếu kém của giáo viên, coi giáo viên kém cỏi là trở lực cho công cuộc giao tiếp! Nhóm Cánh Buồm tuyên bố xin “bao thầu” tất cả giáo viên tiếng Anh như hiện có và cùng các giáo viên đó thay đổi tình trạng học tiếng Anh trong cuộc giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Emile: Triết lý giáo dục theo lứa tuổi      Thừa nhận các giai đoạn phát triển không  phải là điều gì mới mẻ. Nhưng xem đó là nguyên tắc sinh tử của giáo dục  là chỗ độc đáo của Rousseau, vì ông là người đầu tiên cho thấy ý nghĩa  sâu sắc của chúng.    Theo ông, các giai đoạn là khác nhau về chất và về chức năng. Giai đoạn đầu tiên từ khi mới sinh cho đến năm tuổi là giai đoạn sinh vật. Tiếp theo là buổi bình minh của tự-ý thức. Vào tuổi 12, đứa bé đột nhiên có ý thức về mình một cách sâu sắc. Năng lực lý trí và tình cảm trỗi dậy mạnh mẽ. Nhưng đứa bé vẫn còn là một sinh thể cô lập, chưa có được đời sống luân lý đúng nghĩa. Điều này chỉ đạt được ở lứa tuổi dậy thì, với sự chớm nở của đời sống tính dục, yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ cuộc đời của một cá nhân. Đời sống xã hội của cá nhân thực sự bắt đầu với xao động tính dục.  Các giai đoạn ấy là độc lập với nhau trong sự phát triển. Mỗi giai đoạn không được phép xem là phương tiện để đạt đến giai đoạn kế tiếp. Mỗi giai đoạn là một mục đích tự thân, là một cái toàn bộ độc lập, chứ không đơn thuần là bước quá độ sang giai đoạn khác. Mỗi giai đoạn có nhu cầu và ham muốn riêng, hình thành những thói quen phù hợp nhất cho việc tự thực hiện một cách hoàn hảo cuộc sống ở giai đoạn ấy.  Do đó, các nguyên tắc áp dụng cho giai đoạn này không còn đúng nữa cho giai đoạn sau, bởi nhiệm vụ giáo dục là vun bồi những hoạt động và mối quan tâm theo bản tính tự nhiên của đứa trẻ, chứ không phải nhồi nhét cho nó những tập quán và ý tưởng theo quy ước của xã hội.  Tác phẩm Émile, vì thế, được chia làm năm phần. Bốn phần đầu bàn về việc giáo dục cậu bé Émile (giả tưởng) theo bốn giai đoạn: ấu thơ (cho đến 5 tuổi), trẻ con (từ 5 đến 12 tuổi), thiếu niên (12 đến 15 tuổi) và thanh niên (từ 15 đến 20 tuổi). Phần thứ năm dành cho việc giáo dục cô nàng sẽ là người vợ tương lai của Émile. Như thế, công trình bất hủ của ông bao quát dự phóng giáo dục cho nam lẫn nữ từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành. Vì tầm quan trọng đặc biệt của tác phẩm (dài ngót 700 trang!), tuy khó có thể thong thả đi theo ông suốt cuộc hành trình, nhưng vẫn cố gắng ghi nhận những điều cốt lõi.  GIAI ĐOẠN 1: GIÁO DỤC MẦM NON  Steven Cahn, trong Các cơ sở triết học của giáo dục/ The Philosophical Foundations of Education, New York, 1970, dường như xác nhận những nhận định cơ bản hơn hai trăm năm trước của Rousseau về giai đoạn này: “Chúng ta sinh ra với năng lực học tập, nhưng lại không biết gì hết và không phân biệt được gì cả. Tâm trí bị tù túng trong các cơ quan thiếu hoàn hảo, hầu như mới là bán-thành phẩm và thậm chí chưa có ý thức về sự có mặt của chúng. Những cử động, khóc la của trẻ sơ sinh là thuần túy cơ giới, hoàn toàn thiếu vắng hiểu biết và ý muốn.  Những cảm giác đầu tiên của đứa bé là hoàn toàn ở trong lĩnh vực cảm xúc. Chúng chỉ mới biết cảm giác sung sướng và đau đớn mà thôi. Do khả năng đi đứng và nắm bắt chưa phát triển, đứa bé cần thời gian khá lâu mới xây dựng được những cảm giác có tính hình tượng để làm quen với sự vật bên ngoài. Chính việc tái diễn những cảm giác khi sự vật xuất hiện rồi mất đi sẽ buộc đứa bé bắt đầu phục tùng thói quen”.  PHƯƠNG PHÁP TỰ NHIÊN TRONG GIÁO DỤC MẦM NON  Giáo dục bắt đầu từ khi sinh ra hay thậm chí trước đó nữa (dù Rousseau không nói rõ về thai giáo), và giai đoạn 5 năm đầu đời chủ yếu nhắm vào việc tăng trưởng của thân thể, các hoạt động thuộc về vận động, tri giác cảm tính và xúc cảm. Rousseau nhấn mạnh đặc biệt đến thiên chức của người mẹ cho con bú bằng sữa mẹ.  Cần phải tôn trọng cá tính của mỗi đứa bé. Thật sai lầm khi muốn ép những tâm hồn khác nhau vào một khôn đúc chung duy nhất. Vấn đề không phải là nhằm biến đổi tư thế tự nhiên của tâm trí mà là ngăn ngừa không để cho nó bị thoái hóa.  Như một tác giả nhận xét: “Học thuyết về những sự dị biệt giữa những cá thể là hết sức cơ bản đối với Rousseau. Ông viết: trong thiên nhiên, con thì cần có cánh, con thì cần có móng. Con người cũng thế, kẻ thì có thể đưa tri thức nhân loại đến biên cương xa nhất, người thì lại mẫn cảm, giỏi tiên liệu những nguy cơ”.  Rousseau lên án thói quen đương thời thích bó chặt trẻ mầm non trong lớp áo quần chật chội, ngăn cản sự vận động tự do của thân thể và tay chân. Một mặt, ông muốn giải thoát chúng khỏi áo quần chật chội, mặt khác, chấp nhận tiến trình “khổ luyện” về thể xác! Ngay ở tuổi ấu thơ, việc đương đầu với những thử thách về thể xác là phương pháp phù hợp với tự nhiên. Vì thế, ông bảo: “Hãy quan sát thiên nhiên và làm theo con đường nó vạch ra cho ta. Thiên nhiên luôn kích thích trẻ em hoạt động; nó giúp khổ luyện thân thể bằng đủ mọi kiểu thử thách và sớm dạy cho biết thế nào là sung sướng và đau đớn”.   Không nên làm hộ đứa bé những gì tự chúng có thể làm được. Đó là nguyên tắc chủ đạo cho giáo dục mầm non. Cuộc đời là trường tranh đấu để sinh tồn; đó là quy luật sinh học cơ bản nhất, một quy luật mà đứa bé cần tuân theo. Tập đi, tập nói, tập tự xoay xở là những gì cần được phát triển tương ứng với những nhu cầu của bản thân, với sự trợ giúp càng ít càng tốt từ bên ngoài. Rousseau không ưa thuốc men, xem vệ sinh là đức tính hay thói quen tốt hơn là một bộ môn khoa học!  Luân lý và đời sống xã hội, theo ông, là hoàn toàn xa lạ với lứa tuổi mầm non. Tuy nhiên, quãng thời gian từ khi mới sinh cho đến năm 12 tuổi là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm trong đời người. Lý do là vì: thời gian này, những lầm lỗi và thói hư tật xấu bắt đầu nảy mầm. Mọi thói hư tật xấu nơi đứa trẻ phần lớn là vì người lớn đã dại dột nuông chiều chúng quá mức. Khi điều ấy xảy ra, tức là ta đã gieo vào những tâm hồn bé bỏng nọc độc của tính khí thất thường và óc tự cao tự đại về sau.  TIẾN TRÌNH GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN NÀY  Với Rousseau, giáo dục không đến từ bên ngoài mà bắt nguồn từ bên trong. Chính sự phát triển nội tại của những quan năng và cơ quan tạo nên sự giáo dục đích thực của thiên nhiên. Vì thế, giáo dục mầm non thể hiện những hoạt động tự nhiên, tự do, không bị ngăn trở của đứa bé trong quan hệ với môi trường chung quanh. Điều quan trọng là: đứa bé được tạo điều kiện để hoạt động tuân theo nhịp đập từ bên trong và trực tiếp trải nghiệm những kết quả từ chính hành vi của mình. “Cho con nhiều nhu cầu hơn những nhu cầu có ở đứa con, cha mẹ không giảm bớt mà gia tăng sự yếu đuối của nó. (…) Chỉ có kinh nghiệm hoặc sự bất lực mới được là luật lệ đối với trẻ. (…) Cần để nó cảm thấy sự yếu đuối của nó chứ không đau khổ vì sự yếu đuối ấy; cần để nó tùy thuộc chứ không khuất phục; cần để nó yêu cầu chứ không ra lệnh” (Rousseau).    (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 18, 13.02.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Estonia  có là Phần Lan mới?      Với việc tập trung vào đảm bảo sự công bằng trong giáo dục, quốc gia nằm phía Bắc châu Âu này từng bước gia nhập hàng ngũ các nền giáo dục xuất sắc của toàn cầu.      Ở Estonia, giáo dục được xây dựng trên yếu tố công bằng. Nguồn: Estonian World.  Hầu hết các nhà giáo dục và hoạch định chính sách có thể đưa ra danh sách các cường quốc giáo dục quốc tế như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản và Phần Lan. Nhưng Estonia lại không mấy được chú ý, dù năm 2012, các học sinh tuổi 15 của Estonia xếp hạng 11 về toán và kỹ năng đọc hiểu, hạng 6 về khoa học trong số trong số 65 quốc gia tại cuộc thi quốc tế so sánh các hệ thống giáo dục trên khắp thế giới PISA. Estonia đã vượt qua nhiều quốc gia phương Tây như Pháp, Đức và ngay cả Phần Lan… về toán và khoa học, đặc biệt số lượng học sinh yếu về toán, kỹ năng đọc hiểu (10%), khoa học (5%) của họ cũng thấp nhất châu Âu.    Quốc gia vùng Baltic này có sự phức tạp về văn hóa, những ảnh hưởng kinh tế, xã hội từ thời Xô viết… ví dụ phải đến 1/5 học sinh trong các trường phổ thông đến từ nhiều gia đình nói tiếng Nga1. Khi Estonia tách ra khỏi Liên bang Xô viết và trở thành quốc gia độc lập 25 năm trước, tiếng Estonia là ngôn ngữ chính thức và được dùng trong trường học.  Công bằng trong môi trường giáo dục  Marc Tucker, chủ tịch Trung tâm Giáo dục quốc gia ở Washington đã tới Estonia năm 2015 để tìm hiểu họ đã làm những gì để có được kết quả này. Ông cho rằng sau khi Liên Xô tan rã, nhiều quốc gia vệ tinh của Xô viết khác như Hungary và Czech đã chuyển tiếp giáo dục sang một hệ thống phù hợp với yêu cầu của giới tinh hoa còn Estonia lại cố gắng giữ những cơ hội bình đẳng cho mọi học trò từ mọi thành phần xã hội. Tucker nói: “Những gì chúng tôi thấy ở Estonia không phải là một hệ thống giáo dục mới, nó vẫn là cái cũ. Bởi sau khi Liên Xô tan rã, họ không thay đổi hệ thống này… Thật ngạc nhiên là họ vẫn tiếp tục nhận được thành công”.  Điều mà Marc Tucker cho là “cái cũ” ấy chính là sự công bằng. Ý tưởng công bằng trong giáo dục là điều còn sót lại từ truyền thống giáo dục Estonia dưới thời Xô viết và là một trong những điều Estonia vẫn cố giữ vững ngay cả khi họ vẫn phải vật lộn với việc hiện đại hóa trường học và rút ngắn hơn nữa khoảng cách điểm số giữa các học trò. Thời kỳ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc áp dụng phổ cập chương trình học phổ thông 7 năm (1949) và 8 năm (1958-1963) đã tạo điều kiện cho các thế hệ sinh sau chiến tranh đều được đến trường, không giới hạn hoàn cảnh xuất thân, không có trường hợp biệt lệ nào. Trong estonica.org – trang web bách khoa toàn thư về Estonia do Viện nghiên cứu Estonia ở thủ đô Tallinn khởi xướng, đã nhận định giáo dục phổ thông đều miễn phí và ai cũng có thể dễ dàng đăng ký học. Bất chấp tình trạng nghèo đói, số lượng học sinh đến lớp không ngừng tăng lên. Sau đạo luật giáo dục được ban hành  vào năm 1970 thì tới những năm 1980, 90% thanh niên dưới 18 tuổi trên toàn đất nước đều học trung học phổ thông.  Sự công bằng tiếp tục trở thành một trong những yếu tố cốt lõi của giáo dục thời “hậu Xô viết” khi các nhà giáo dục cố gắng đem lại những trải nghiệm tương đồng cho học sinh trong mọi ngôi trường, dẫu các em từ nhiều nền tảng văn hóa và từ nhiều gia đình có thu nhập khác nhau. Nhờ vậy, Estonia đã tạo dựng được một hệ thống giáo dục trên cơ sở sự công bằng.  Estonia vẫn có được kết quả tốt ở PISA, mặc dù lượng học trò nghèo chiếm một phần đáng kể trong số học sinh nước này. “Chúng tôi luôn luôn giữ cho giáo dục trở nên công bằng”, Jürgen Ligi – Bộ trưởng Bộ Giáo dục Estonia, cho biết. Tại cuộc kiểm tra môn toán PISA 2012, hơn 1/3 học trò từ các gia đình thu nhập thấp của Estonia có kết quả tốt nhất đất nước mình. Trong các quốc gia Khối OECD, khoảng cách về điểm số giữa học sinh “nhà giàu” và học sinh “nhà nghèo” của Estonia ở mức thấp nhất. Học sinh “nhà nghèo” Estonia có điểm số tương đương học trò thuộc nhóm gia đình có thu nhập cao thứ nhì ở Mỹ.        Ý tưởng công bằng trong giáo dục là điều còn sót lại từ truyền thống giáo dục Estonia dưới thời Xô viết và là một trong những điều Estonia vẫn cố giữ vững ngay cả khi họ vẫn phải vật lộn với việc hiện đại hóa trường học và rút ngắn hơn nữa khoảng cách điểm số giữa các học trò.        Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thành công của Estonia ở PISA, không chỉ từ việc tập trung vào sự bình đẳng. Ở trường phổ thông giáo viên được trao quyền tự chủ rất cao và họ có thể theo học trò từ một đến ba lớp – thi thoảng tới 6 lớp, điều đó khiến giáo viên có thể tạo ra mối quan hệ sâu sắc và bền chặt với học trò. Nhiều viên chức và nhà giáo dục cho biết, các giáo viên rất giỏi trong việc hỗ trợ học sinh học tập và sẵn sàng “can thiệp” nếu học sinh chệch khỏi quỹ đạo chung. Tuy nhiên, nhiều nhà giáo dục cho rằng, việc trao cho mọi học trò một trải nghiệm giáo dục tương đồng mới đóng vai trò trung tâm. “Chúng tôi cố gắng thực hiện đúng điều này để cho các em đều bình đẳng trong học tập. Dù xuất thân từ gia đình nào thì các em vẫn có thể thành công”, Karin Lukk, giáo viên trường Tartu Kivilinna Kool – một ngôi trường có các lớp từ 1 đến 9 tại Tartu, thành phố lớn thứ nhì Estonia, cho biết.  Cách tiếp cận này đã được áp dụng ngay từ thời điểm bọn trẻ bắt đầu đi học. Mỗi đứa trẻ đủ 18 tháng đến nhà trẻ đều không phải đóng học phí (tính từ khi kết thúc kỳ nghỉ thai sản của mẹ hoặc thời gian nghỉ của cha) và bữa trưa cũng miễn phí  (thầy cô cũng tham dự bữa trưa này để có cái nhìn công bằng, không phân biệt học sinh “nhà giàu”, “nhà nghèo”). Bọn trẻ được hưởng chế độ miễn học phí này đến hết bậc trung học phổ thông, học sinh “nhà nghèo” và “nhà giàu” vẫn thường học chung lớp. Mặc dù trường tư bắt đầu xuất hiện ở Estonia nhưng đây chỉ là một lát cắt nhỏ trong toàn bộ hệ thống giáo dục.  Tìm triết lý giáo dục mới  Năm 1984, Liên bang Xô viết tái cấu trúc chương trình phổ thông và việc áp dụng nó vào Estonia khiến quốc gia này phải tăng thêm một lớp ở cấp tiểu học nhưng lại bớt đi một lớp ở cấp trung học phổ thông, do đó phải cắt giảm chương trình văn học, lịch sử và địa lý, vốn đã phải chịu sự áp đặt của tư tưởng Xô viết về nội dung. Làn sóng phản đối trong cộng đồng giáo viên và khoa học Estonia cuối cùng làm chương trình phổ thông tăng thêm một năm học nữa.  Về tổng thể, điều này dường như không ổn với Estonia. Vào năm 1987, Hội nghị giáo viên Estonia trở thành một sự kiện đột phá cho giáo dục nước này. Các giáo viên chỉ trích những vấn đề tồn tại trong cấu trúc giáo dục phổ thông và đòi hỏi sự độc lập của giáo dục Estonia. Trung tâm thảo luận là sự cần thiết của một chương trình học chuẩn cho cấp trung học phổ thông (kết thúc bậc học này, học sinh sẽ quyết định học phổ thông trung học ba năm để chuẩn bị vào đại học hay đến các trường dạy nghề để có được một nghề cụ thể cho tương lai). Cuối cùng dự án tìm giáo trình chuẩn thông qua một cuộc thi mở đã được thông báo. Tháng 6/1987, mọi thành viên trong xã hội – tất cả những ai quan tâm đến giáo dục như nhà khoa học, nhà triết học, nhà văn, giảng viên đại học, giáo viên phổ thổng, thậm chí cả học sinh, đều tham gia dự án và bỏ phiếu chọn chương trình phù hợp. Trong hai năm 1987 và 1988, các thành viên hội đồng thẩm định xem xét các chương trình mới và kết quả là năm 1989, trường học Estonia áp dụng chương trình mới.  Sau khi Estonia tách ra khỏi Liên bang Xô viết và tuyên bố độc lập, các nhà giáo dục trên khắp đất nước Estonia không ngừng vật lộn với những triết lý và ý tưởng giáo dục mới, cố gắng để nó tương thích với hệ thống giáo dục quá cứng nhắc mà họ mới trải qua. Hệ thống giáo dục truyền thống trên nền tảng giáo dục Xô viết của Estonia vẫn nghiêng về mô hình lấy giáo viên làm trung tâm và nhấn mạnh đến việc học hỏi kiến thức hơn là phát triển các kỹ năng mềm. Về tổng thể, nó chỉ “làm đẹp” hình ảnh đất nước qua các cuộc thi, vì vậy nó không tương thích với việc thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục. Katrin Libe, cô giáo dạy tiếng Anh ở Konguta Kool – trường tiểu học ở một ngôi làng nhỏ cách thành phố Tartu một giờ ô tô, nêu băn khoăn: “Vấn đề là liệu chúng tôi có thể giữ được các kết quả thi thử nghiệm trước sức ép sáng tạo hay không? Nó sẽ dẫn đến một số xung đột về quan điểm giáo dục chăng?”  Trên khắp đất nước, những nhà hoạch định chính sách và các nhà giáo dục đối thoại về nhu cầu đào tạo ra những học sinh có khả năng làm được nhiều điều hơn việc chỉ làm tốt một kỳ kiểm tra, có lẽ hướng tới trở thành thương gia hay những nhà lãnh đạo có xu hướng đổi mới sáng tạo. Cần thay đổi triết lý giáo dục Estonia và thực tế là nó đang thay đổi nhằm phát triển tư chất cá nhân của học sinh và để giáo viên hướng dẫn các em nhiều hơn chứ không dừng ở việc giảng dạy trên lớp, nhiều nhà giáo dục cho biết.  Dĩ nhiên thật khó để giáo viên có thể từ bỏ phương pháp giáo dạy truyền thống, vì thế giáo dục Estonia đặt mục tiêu thu hút người mới có trình độ cao, dù nước này vẫn thuộc nhóm các quốc gia có mức lương thấp nhất châu Âu. Trước khi bước vào giảng dạy, họ đều trải qua những khóa bồi dưỡng tại trường đại học Tartu để có thể dẫn dắt các em chú trọng vào lối tư duy phản biện và nâng cao khả năng giao tiếp hơn là lượng kiến thức, tuy vậy các nhà quản lý giáo dục cho biết cũng phải mất một thời gian thì phương thức giảng dạy này mới phát huy được hiệu quả.  Dù các trường phổ thông Estonia vẫn được hưởng lợi từ việc tận dụng ưu điểm của hệ thống giáo dục cũ thì những thay đổi mới cũng từ từ được áp dụng. Họ tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu những phương pháp giáo dục mới cho giáo viên để họ có thể lựa chọn áp dụng ở trường của mình, ví dụ hội nghị với diễn giả là một nhà tâm lý nêu việc giáo dục sớm nên tập trung nhiều hơn đến các kỹ năng xã hội và cảm xúc hơn là vội thiết lập nền tảng kiến thức học thuật.  Để phát huy sự cởi mở trong tư duy và sự hào hứng trong tiếp thu kiến thức, ở những trường học lớn, học sinh đều có thể tự chọn lấy một lĩnh vực để theo học, ví dụ như khoa học và toán hoặc xã hội nhân văn, theo ý thích chứ không phải trên cơ sở điểm số. Bên cạnh đó, học sinh vẫn tham gia các khóa học chung để đảm bảo là có đủ kỹ năng cơ bản trong mọi lĩnh vực. Mỗi trường đều có cách để học sinh có được kỹ năng chung. Konguta Kool đã đạt được một số kết quả nhất định bằng nỗ lực của mình, dù thiếu giáo viên. Các học sinh lớp 5 của trường có thể sử dụng máy tính xách tay trong phòng máy tính của trường để học toán. Quan sát một tiết học như vậy, nhà báo Sarah Butrymowicz của The Atlantic đã ngạc nhiên thấy “màn hình của một học sinh nữ bắt đầu với bài toán cơ bản 1+1. Chỉ trong vòng 2 phút, em đã nâng độ khó với phép tính 2589 + 1233”. Nhà trường đã áp dụng cách này để học sinh rèn kỹ năng tính nhẩm. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cố gắng soạn các bài giảng có sự kết nối toán học với các vấn đề của cuộc sống thực, ví dụ cầu thang dẫn đến các lớp học được đánh dấu bằng các con số âm theo cấp độ giảm dần – trong suốt mùa đông chúng được dùng để ghi nhiệt độ, hay trường dành hẳn một bức tường để dán những thứ bọn trẻ thích: kết quả cuộc “bỏ phiếu” loại bánh mì yêu thích hay đếm được bao nhiêu loài chim khác nhau quan sát thấy trong vườn trường.  Cô giáo Katrin Libe cho biết, học sinh của trường đều làm tốt bài kiểm tra trong kỳ thi quốc gia vào cuối lớp 6. Dẫu vậy thì điểm số cũng không cần công khai; thường cứ ba năm một lần, học sinh Estonia đều có một kỳ kiểm tra và thứ bậc học sinh chỉ công khai một lần duy nhất vào cuối năm lớp 12.  ***  Theo kết quả các cuộc điều tra của PISA, thật bất ngờ Estonia là một trong số các quốc gia có tỷ lệ học sinh hạnh phúc thấp nhất khối OECD (2/3), trong khi đó gần 80% học sinh Mỹ cảm thấy hạnh phúc. Gunda Tire, điều phối viên PISA ở Estonia, cho biết, bản tính tự nhiên của người Estonia là không dễ bằng lòng nên họ phản ứng khác nhau trước câu hỏi về hạnh phúc. Chính quan điểm văn hóa truyền thống đó đã tạo động lực cho người Estonia không ngừng cải thiện chất lượng trường học. “Không bao giờ là đủ tốt cả. Không ai có thể cho là hệ thống trường học đã được vận hành tốt”, Tire nhận xét.     Trong cuộc trả lời phỏng vấn của GovInsider, cựu Tổng thống Estonia Toomas Hendrik Ilves cho biết ông gặp phải nhiều khó khăn khi phổ biến tin học vào các trường phổ thông Estonia – chương trình “Tiigrihüpe” (Cú nhảy của hổ) do ông đề xuất vào năm 1996, “giáo viên và nhiều người khác trong xã hội đều cho rằng đây là ý tưởng ngớ ngẩn” (năm đó ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Thời điểm đó, công nghệ chưa được quan tâm bởi sau sự tan rã của Liên Xô, đất nước trong cảnh bần cùng và mọi người còn quan tâm đến mức thu nhập cơ bản, lương công chức hơn. “Tiigrihüpe” được hi vọng sẽ tạo ra bước phát triển nhảy vọt của đất nước từ nền tảng công nghệ theo phong cách Xô viết cũ kỹ sang nền tảng công nghệ mới bậc nhất thế giới.  Các trường phổ thông Estonia đều được nối mạng internet vào năm 1999. Chương trình khiến người dân Estonia tiếp cận công nghệ dễ hơn. Thậm chí để đạt điều này, chính phủ còn yêu cầu các trường học phải giữ cho phòng máy tính được mở cửa để mọi người có thể cùng sử dụng. Cùng thời điểm đó, chính phủ lập các điểm nối mạng internet ở các không gian công cộng như thư viện, tòa thị chính các thành phố để tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập internet một cách dễ dàng. Hiện Estonia là một trong số các quốc gia có tỷ lệ người sử dụng internet cao nhất thế giới (97,7% dân số).  Để chương trình hiệu quả, Ilves nêu 2 bí quyết: chính phủ yêu cầu các trường học phải đóng một nửa chi phí mua máy tính để “‘biến’ các trường học thành người sở hữu”; dù thiếu giáo viên tin học nhưng mục tiêu đầu tiên của “Tiigrihüpe” là khơi gợi sự tò mò về công nghệ cho trẻ em trước khi hướng tới những vấn đề phức tạp hơn bởi “hãy tin học sinh, chúng sẽ tính toán được tất”.  Ngày nay, ở Estonia, trẻ em 7 tuổi đã được học các kiến thức lập trình máy tính cơ bản. “7 tuổi là có tư duy logic cơ bản để làm được điều đó”, ông Ilves nhận xét. Năm 2012, đất nước này bắt đầu dạy lập trình và robotic ở tất cả các cấp, từ thiết kế game, phim hoạt hình dạng đơn giản ở cấp tiểu học đến ngôn ngữ lập trình như Python ở trung học phổ thông.  Không chỉ có vậy, thành công của “Tiigrihüpe” còn dẫn đến việc mở ra nhiều sáng kiến liên quan đến kỹ năng máy tính khác, ví dụ như Quỹ Look@World vào năm 2001 nhằm phát triển năng lực sử dụng máy tính cho người lớn tuổi (và đến nay vẫn tiếp tục).  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn:  https://www.theatlantic.com/education/archive/2016/06/is-estonia-the-new-finland/488351/  http://www.estonica.org/en/Education_and_science/  https://govinsider.asia/innovation/exclusive-inside-estonias-edtech-revolution/  —-  1.Các em có thể theo học các chương trình tiếng Estonia và tiếng Nga ở bậc phổ thông nhưng bậc đại học thì chỉ có chương trình tiếng Estonia.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 19 triệu học sinh vào năm học mới      Hôm nay 5/9, học sinh cả nước chính thức bước vào năm học mới 2011 – 2012, trong đó có hơn 15,1 triệu học sinh phổ thông và hơn 3,75 triệu trẻ mầm non.      Trước đó, chiều 31/8, Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp báo thông tin về công tác chuẩn bị năm học 2011-2012.   Trước vấn đề dư luận quan tâm nhất hiện nay là chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, Bộ cho biết 100% đội ngũ giáo viên các Sở GD-ĐT đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng hè 2011, các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, công tác chủ nhiệm, năng lực quản lí. Nhiều Sở đã làm tốt công tác liên hệ với tỉnh để tuyển mới giáo viên, hạn chế tình trạng thiếu nguồn nhân lực-vốn là khó khăn của nhiều tỉnh vùng sâu vùng xa. Ngoài ra, cơ sở vật chất hiện thời cũng được bố trí đầy đủ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho giáo viên và học sinh bước vào niên học mới với những tiện nghi và dụng cụ học tập cần thiết.     Báo chí cũng dành nhiều quan tâm cho những vấn đề giảm tải chương trình học, cải tiến kì thi tốt nghiệp, y tế học đường, tình trạng lạm thu, chất lượng giáo viên và học sinh, chính sách ưu đãi cho học sinh giỏi quốc gia và quốc tế…, tuy nhiên, phần trả lời của Bộ nhìn chung chưa cụ thể như mong đợi.          Bộ GD-ĐT dự báo, năm học 2011-2012 toàn ngành có 3.75 triệu trẻ mầm non và hơn 15,1 triệu học sinh phổ thông (tăng 288 nghìn em so với năm học 2010-2011); trong đó tiểu học có 7,3 triệu em (tăng 301 nghìn em), THCS có 4,9 triệu em (giảm 8.300 em)THPT có 2,8 triệu em (giảm 5 nghìn em).              Author                Quản trị        
__label__tiasang Gánh nặng học phí ở Trung Quốc      Ngày 24/5/1977, sau diễn văn nổi tiếng “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài” của Đặng Tiểu Bình, kỳ thi đại học cho học sinh toàn Trung Quốc được mở lại. Song sau 30 năm, một lần nữa người ta lại đặt câu hỏi: liệu giáo dục đại học ở Trung Quốc có thực sự công bằng với tất cả mọi người?    Chưa chạm tới cốt lõi  Suốt 10 năm thời Cách mạng Văn hóa, các trường đại học ở Trung Quốc không mở thi tuyển mà chỉ xét tuyển với mục đích “công bằng cho học sinh nông thôn”, thậm chí còn ngừng dạy trong ba năm để sinh viên xuống nông thôn. Trong bộ phim “Quyết liệt” thời đó có tình tiết: Kỳ xét tuyển, hiệu trưởng một trường đại học ở Giang Tây đích thân xem tay từng học sinh một, xem hễ ai tay có chai là… cho đậu đại học. Song kiểu xét tuyển tùy tiện này không phải để ưu tiên học sinh nông thôn, thực chất nó trở thành một đặc quyền cho con em cán bộ. Ngày 24/5/1977, sau diễn văn nổi tiếng “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài” của Đặng Tiểu Bình, kỳ thi đại học cho học sinh toàn Trung Quốc được mở lại. Song sau 30 năm, một lần nữa người ta lại đặt câu hỏi: liệu giáo dục đại học ở Trung Quốc có thực sự công bằng với tất cả mọi người?                  “Câu trả lời là không,” chuyên gia giáo dục Chư Thiệu Huy phát biểu – “Nhưng  Trung Quốc chưa tìm ra cách nào tốt hơn để thay thế. Đến nay, thi tuyển vẫn là phương pháp ít dở nhất”.  Tình trạng “phân biệt đối xử” giữa các khu vực trong kỳ thi là khía cạnh bị chỉ trích nhiều nhất. Các trường thường bị ấn định chỉ tiêu tuyển sinh, số lượng và chất lượng các trường của mỗi tỉnh cũng khác nhau nhiều. Thí dụ, tỉnh Hồ Nam có số trường đại học, cao đẳng tính theo đầu người thấp hơn so với Bắc Kinh. Bởi vậy, thí sinh ở Hồ Bắc phải có điểm bài thi cao hơn nhiều so với thí sinh ở Bắc Kinh mới mong đỗ vào đại học.  Những năm gần đây, nhiều gia đình phải chuyển chỗ ở để con họ có nhiều cơ hội thi đỗ vào đại học hơn. Năm 2005, một thí sinh xuất sắc của tỉnh Hồ Nam đã không được nhận vào trường đại học danh tiếng Thanh Hoa, châm ngòi cho cuộc tranh luận về vấn đề thí sinh đại học ngoại tỉnh. Lý Dương, một thí sinh người Hồ Bắc, đến Hải Nam thi đại học, bởi vì kỳ thi ở đây ít cạnh tranh hơn. Sau sự kiện này, “thí sinh ngoại tỉnh” bị cấm trên toàn Trung Quốc.  Trong kỳ họp quốc hội đầu năm, một đại biểu lại đề nghị bỏ thi đại học, cũng lại vì mục đích “công bằng”. Song những người thuộc thế hệ từng chịu thiệt thòi vì không được thi trước năm 1977 phản đối quyết liệt:  “Đối với một xã hội đã có thời nhiệt thành bãi bỏ kỳ thi đại học, gây thiệt thòi cho cả một thế hệ thanh niên, thì bây giờ chúng ta nên vui mừng với chế độ thi cử mà phải khó khăn lắm mới khôi phục lại được này và tiếp tục nỗ lực để hoàn thiện nó” –  học giả Lôi Nghị phát biểu.  Suốt ba thập kỷ qua, nền đại học Trung Quốc không ngừng cải cách, chẳng hạn như mở rộng tuyển sinh, đào tạo liên thông và hoàn thiện đề thi. Tuy nhiên, những cải cách này chưa chạm được đến vấn đề cốt lõi – đó là sự thiếu vắng tinh thần đại học, gói gọn trong bốn nguyên tắc sau: tinh thần tự chủ, tinh thần nhân văn, tinh thần khoa học và tinh thần phản biện.    Học phí – rào cản vô hình  Năm 1989, mức học phí bình quân của sinh viên Trung Quốc mới chỉ khoảng 200 NDT/năm, đến 1995 là 800 NDT/năm; song đến 2006, con số này đã là gần 10.000 NDT – chỉ gần 10 năm mà học phí đã tăng lên mười mấy lần.  Mới đây thứ trưởng Bộ Giáo dục Dương Chu Phục phát biểu: Trong 7 năm vừa qua,  mức học phí của các trường đại học Trung Quốc vẫn giữ ở mức năm 2000. Ông Dương còn tuyên bố: Dù giá cả sinh hoạt có tăng thế nào thì các trường đại học vẫn phải tuân thủ quy định về thu học phí. Trường nào vi phạm sẽ bị xử phạt và truy cứu trách nhiệm người có liên quan.  Tuyên bố của ông Dương không những không làm người ta hài lòng mà còn thổi bùng lên cuộc tranh cãi về “gánh nặng học phí” ở Trung Quốc.  Một cuộc điều tra của hãng Tân Hoa Xã cho thấy: gần 82% không hài lòng với phát biểu của Thứ trưởng Bộ giáo dục: học phí hiện đã quá cao, vấn đề hiện không phải là có tăng hay không mà là có giảm hay không. Chỉ có 12% ý kiến hài lòng, cho rằng mức quy định học phí hiện nay là “được lòng người; số còn lại không tin những gì ông Dương nói.  Một cuộc điều tra khác ở Bắc Kinh cho thấy: 64% gia đình ở Bắc Kinh cho rằng học phí đại học hiện quá cao, 34% nói phải cắt giảm nhiều khoản chi tiêu cho học phí. ở Bắc Kinh, hai vợ chồng chỉ có một con học đại học mà còn như vậy, đủ biết cánh cửa đại học đối với các gia đình nông dân “cao vời vợi” thế nào.  Quy định về học phí của Trung Quốc được ban hành từ năm 1996, theo đó gia đình sinh viên sẽ phải đóng góp 25% chi phí đào tạo. Song đến nay “chi phí đào tạo” là gì thì cũng còn chưa có nghiên cứu và quy định cụ thể. Liệu việc các trường đại học đua nhau xây cất xa hoa để gia đình học sinh phải chịu đóng góp một phần có là hợp lý?  “Nhà trường luôn ở thế mạnh, gia đình học sinh luôn ở thế yếu, không dám kêu ca” – Nhà nghiên cứu giáo dục Đường An Quốc ở Đại học Sư phạm Hoa Đông phát biểu.  Song mức đóng học phí bằng 25% chi phí đào tạo vẫn chỉ là trên giấy tờ. Giáo sư Hùng Bính Kỳ, người từng nhiều năm nghiên cứu giáo dục của Trung Quốc ước tính con số thực phải là khoảng 36%. Ông cho rằng mức học phí đại học của Trung Quốc có 3 điều chưa lý giải được:  – Chi phí đào tạo là thế nào?  – Tỷ lệ đóng góp của gia đình sinh viên bao nhiêu là hợp lý?  – Trong khi một số trường đại học “tên tuổi” nâng mức học phí lên tới trên dưới 30% chi phí đào tạo, thì vì sao một số trường “làng nhàng” không hạ tỷ lệ học phí?  Trước những tranh cãi về học phí, Bộ Tài chính cũng “vào cuộc”. Ngày 21/5 vừa qua, Thứ trưởng Bộ Tài Chính Trung Quốc Trương Thiếu Xuân tuyên bố nghiên cứu hệ thống chính sách hỗ trợ học phí, trong đó đặc biệt khuyến khích tín dụng địa phương cho sinh viên vay vốn. Ông Trương nói: Tín dụng địa phương có ưu thế hơn so với ngân hàng nhà nước ở điểm, gia đình sinh viên có khó khăn hay không thì xóm giềng biết ngay, điều tra rất dễ. Mặt khác, biết rõ gia đình rồi, một khi sinh viên “thành đạt” thì thu hồi vốn vay cũng không khó. Vấn đề chỉ là nhà nước có chính sách khuyến khích tín dụng địa phương hay không. Ông Trương cho biết, tới đây Bộ Tài chính sẽ cùng với Bộ Giáo dục, Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc để đưa ra giải pháp cụ thể cho sinh viên vay vốn, sau đó sẽ triển khai ở một địa phương cụ thể rồi nhân rộng trên toàn Trung Quốc.      Anh Việt (Theo Tân Hoa Xã, Quốc tế tại tuyến)  Suốt ba thập kỷ qua, nền đại học Trung Quốc không ngừng cải cách, chẳng hạn như mở rộng tuyển sinh, đào tạo liên thông và hoàn thiện đề thi. Tuy nhiên, những cải cách này chưa chạm được đến vấn đề cốt lõi – đó là sự thiếu vắng tinh thần đại học, gói gọn trong bốn nguyên tắc sau: tinh thần tự chủ, tinh thần nhân văn, tinh thần khoa học và tinh thần phản biện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gặp gỡ những tiềm năng trẻ của thiên văn học Việt Nam      GS. Howard Smith, nhà vật lý thiên văn tại Trung tâm Harvard-Smithsonian ở Boston, Massachusetts, kiêm Giám đốc thiên văn tại Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia thuộc Viện Smithsonian tại Washington DC, chia sẻ với Tia Sáng một số trải nghiệm sau khi ông thực hiện một chuỗi bài giảng miễn phí về thiên văn học cho sinh viên và người yêu thiên văn học tại Đà Nẵng, Quy Nhơn và tham dự hội thảo ICISE XII Recontres du Vietnam về chủ đề “Tìm kiếm sự sống và nền văn minh trong vũ trụ” tại Quy Nhơn vào tháng 12/2016.      GS. Howard chụp ảnh cùng các học sinh trong chuyến giảng miễn phí tại Việt Nam.   Chúng ta sẽ thu nhận gì khi truyền cảm hứng thiên văn học cho trẻ?  Ở Mỹ, rất nhiều trường phổ thông không có giáo viên dạy thiên văn học nên nhiều học sinh đam mê về vũ trụ và thiên văn học tới bảo tàng của chúng tôi để tìm hiểu thêm. Các triển lãm và hoạt động ở bảo tàng vừa cố gắng giải đáp những câu hỏi của các em, vừa mở ra những câu hỏi mới để nuôi dưỡng sự hứng thú. Khoa thiên văn học của chúng tôi nhận ra rằng, nếu khuyến khích học sinh tìm hiểu về thiên văn học và cho các em thấy toán học và tư duy phê phán thường trực trong thiên văn học ra sao thì khi lớn lên, các em cũng sẽ hứng thú với vật lý, công nghệ thông tin và nhiều ngành khoa học khác.  Tôi có niềm tin mạnh mẽ rằng mỗi người nên biết một chút về các vì sao và vũ trụ vì điều đó rèn luyện tư duy định lượng cũng như giúp ta nhận ra sự kỳ vĩ của tự nhiên. Thiên văn học dễ thu hút mọi người, bởi ai cũng có thể nhìn lên bầu trời và tò mò về nó; thiên văn học cũng giúp giải quyết những vấn đề lớn khiến chúng ta hiểu hơn về cội nguồn của mình: sự hình thành vũ trụ, các hành tinh xung quanh các ngôi sao, và khả năng đâu đó trong các thiên hà có sự sống như Trái đất! Trong thế kỷ 21, nhân loại đã bắt đầu khám phá các hành tinh và không gian bên ngoài bằng công nghệ tiên tiến nhất. Có kiến thức về thiên văn học khiến người ta hiểu rõ những thành tựu – niềm tự hào của toàn nhân loại này. Bên cạnh đó, một điều cũng rất đáng lưu ý là thiên văn học có thể đào tạo ra những giáo viên xuất sắc có thể giảng về khoa học và toán học cho sinh viên ở mọi lĩnh vực. Nhiệm vụ của một giáo viên thiên văn học là nắm bắt được niềm ham thích tự nhiên về các vì sao, về vũ trụ của các bạn trẻ, và tận dụng điều đó để dạy các em những kỹ năng hữu ích trong vật lý, địa chất, hóa học, tin học, sinh học hay tất cả các ngành  khoa học khác. Nhìn chung, thiên văn học đặc biệt hữu ích cho bất kỳ ai thường làm việc với những con số, từ kỹ sư cho đến kế toán hay các nhân viên lập trình máy tính.  Trải nghiệm thú vị với sinh viên thiên văn học Việt Nam  Trước buổi hội thảo ở Quy Nhơn, tôi có ít thời gian rảnh nên đã tới Đà Nẵng, một đồng nghiệp ở Việt Nam đã sắp xếp cho tôi gặp gỡ với học sinh, sinh viên và các nhà thiên văn nghiệp dư tại đây. Đà Nẵng có một Câu lạc bộ Thiên văn học nghiệp dư – là nơi tuyệt vời cho các bạn trẻ yêu thiên văn tập trung lại để cùng bàn luận về những tiến bộ mới nhất trong vật lý và thiên văn học, cũng như các chủ đề khoa học khác. Anh Phan Công Thành (trường PTTH chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam), một giáo viên tài năng, đã sắp xếp để tôi có một số bài giảng trước học sinh. Tôi thực sự ấn tượng trước năng lực các học sinh của anh. Các em đều quen thuộc với những chủ đề tôi trao đổi và đưa ra những câu hỏi sắc sảo.  Chúng tôi đã nói chuyện về việc các ngôi sao sinh ra và chết đi như thế nào (thường là siêu tân tinh). Tôi chỉ ra rằng, các bạn có thể tưởng tượng, những ngôi sao trên bầu trời đều sinh ra vào thời điểm sáng tạo ra muôn loài và đơn giản là đến nay chúng đang già đi. Trên thực tế, nếu chúng ta nhìn vào cụm sao Tua Rua trong chòm Kim Ngưu (các thành viên của câu lạc bộ tất nhiên quen thuộc với cụm sao này), ta có thể thấy rằng chúng đang rất nóng và có màu xanh. Điều này có nghĩa là chúng đang đốt cháy nhiên liệu hydro rất nhanh và sẽ không còn tồn tại lâu nữa. Mặt trời hiện nay vào khoảng 5 tỉ năm tuổi và sẽ sống thêm vài tỷ năm có ích cho chúng ta. Nhưng cụm sao Tua Rua đến nay mới chỉ khoảng 110 triệu năm tuổi! Gần như chỉ là những đứa trẻ sơ sinh, chúng ra đời trong chu kỳ vũ trụ gần đây, thậm chí còn chưa có mặt trên bầu trời khi khủng long tồn tại trên Trái đất, và sẽ sớm kết thúc giống các vụ nổ siêu tân tinh. Các cụm sao Tua Rua được hình thành từ những đám mây khổng lồ của khí và bụi trong không gian. Hầu hết các nguyên tố cấu tạo nên cơ thể và cuộc sống của con người cũng đều tạo nên các ngôi sao. Vậy nên về lý thuyết, tất cả chúng ta đều hình thành từ bụi sao.  Chúng tôi cũng nói về sự ra đời của vũ trụ trong các vụ nổ lớn. Gần 100 năm trước đây, Edwin Hubble phát hiện rằng tất cả các thiên hà trong vũ trụ đang di chuyển ra xa khỏi dải thiên hà của chúng ta (thiên hà của chúng ta được gọi là dải Ngân hà hoặc Milky Way). Tại sao lại như vậy? Bởi vì, vũ trụ ra đời trong vụ nổ Big Bang từ 13,8 tỷ năm trước. Ngày nay, chúng ta thấy các thiên hà khác di chuyển ra xa thiên hà của chúng ta là do dư âm của điểm khởi đầu này. Tôi nhận được một số câu hỏi của các bạn trẻ về lỗ đen và các sóng trọng lực. Các lỗ đen được phát hiện ra khoảng 40 năm nay, chúng hoàn toàn bị chi phối bởi lực hấp dẫn và nén tất cả vật chất vào một điểm, nuốt chửng và làm biến mất cả các ngôi sao lớn. Bất cứ vật chất nào đến gần lỗ đen sẽ đều bị hút vào nó và không bao giờ còn nhìn thấy nữa. Năm ngoái, các nhà thiên văn đã tìm ra sóng trọng lực khi hai lỗ đen lớn sáp nhập vào nhau! Chúng tôi cũng đã nói chuyện về những chủ đề khác nữa. Các buổi giảng rất thú vị, thoải mái, chúng tôi trao đổi với nhau rất nhiều, các bạn học sinh và các thành viên khác của Câu lạc bộ đều đưa ra những câu hỏi hay.  Vào buổi tối, Câu lạc bộ Thiên văn học Đà Nẵng tổ chức một cuộc nói chuyện khoa học chính thức hơn tại trụ sở chính trong thành phố. Tôi trình bày về quy mô của vũ trụ bằng cách sử dụng một đĩa DVD phim IMAX – công cụ đã giúp ích tôi rất nhiều khi giảng ở Bảo tàng Hàng không và Không gian và Vũ trụ Quốc gia. Đĩa này đã trình chiếu nhiều thông tin, từ ngôi nhà Trái đất của chúng ta cho đến tận cùng của vũ trụ, và cũng đã mở ra cánh cửa trả lời cho các câu hỏi về vũ trụ như quy mô, nguồn gốc của nó trong vụ nổ Big Bang. Buổi nói chuyện khoa học này đã thu hút rất nhiều phụ huynh và các câu hỏi hay nhất lại đến từ các em nhỏ ở bậc tiểu học (kinh nghiệm rút ra của tôi khi giảng về khoa học ở khắp mọi nơi là các bạn nhỏ thường ít rụt rè và hay đặt ra các câu hỏi sâu sắc). Đó là một ngày vắt kiệt sức lực nhưng rất bổ ích của tôi trong ngày đầu tiên tại Việt Nam!  Ngày tiếp theo, sau một bữa ăn chay tuyệt vời (tôi là người ăn chay), anh Thành đưa tôi đến một quán cà phê, và trước sự ngạc nhiên và niềm vui của tôi, khoảng 80 sinh viên đang chờ đợi tôi ở đó. Thật tuyệt vời! Tôi phải thừa nhận rằng đôi khi tôi mong ước các sinh viên của tôi tại Mỹ cũng chú ý và chờ mong bài giảng của tôi như những bạn trẻ này. Tôi đã trình chiếu phim trên đĩa DVD về cấu trúc bên trong của nguyên tử và cùng khám phá quy mô đầy đủ của vũ trụ. Sau đó, tôi đã nói chuyện về nguồn gốc của các ngôi sao và các vụ nổ lớn. Tại buổi nói chuyện, tôi cũng rất vui khi lại được gặp các em học sinh tiểu học. Ở Việt Nam, như ở khắp mọi nơi khác trên thế giới, các bạn nhỏ đều yêu không gian và thiên văn học một cách tự nhiên. Chúng ta cần phải nắm lấy sự quan tâm này để dạy khoa học cho các em.  Buổi giảng cuối cùng của tôi là ở Đại học Quy Nhơn. Trước khi tham gia hội thảo, nơi TS. Nguyễn Lương Quang (Viện Vật lý thiên văn lý thuyết, Canada) giới thiệu tôi với các bạn sinh viên đã tốt nghiệp ngành vật lý và thiên văn học. Các buổi giảng có khoảng 100 sinh viên đến nghe. Các em có trình độ cao hơn so với Câu lạc bộ Thiên văn tại Đà Nẵng, vì vậy tôi có thể giảng một bài thuyết trình về chủ đề “Tìm hiểu về sự hình thành các ngôi sao trong dải Ngân hà bằng phương pháp quan sát nhiều bước sóng”, có sử dụng các kết quả từ kính viễn vọng không gian Spitzer và Herschel. Khán giả rất hào hứng và chăm chú.  Những trải nghiệm của tôi ở Việt Nam rất thú vị, khiến tôi đánh giá cao sự coi trọng của người Việt Nam dành cho giá trị của giáo dục và khoa học. Ngay cả những người không dự định trở thành nhà khoa học cũng ý thức được tầm quan trọng của khoa học. Tôi cũng quan sát thấy hầu hết sinh viên tôi đã gặp là nữ. Thật tuyệt vời khi thấy rằng nhiều phụ nữ ở Việt Nam có thể theo đuổi khoa học và rất năng động, trong khi nhiều nước không công nhận nữ giới cũng thông minh, sắc sảo và đầy tài năng như nam giới trong môi trường học thuật.  Tôi đánh giá cao cơ hội được trò chuyện với các bạn sinh viên trẻ về những điều các bạn quan tâm. Ở một đất nước có dân số trẻ như Việt Nam, nếu như phần lớn lớp trẻ đều giống như những sinh viên tuyệt vời tôi đã gặp thì có thể tin vào một tương lai tươi sáng của cả cộng đồng phía trước.  Bảo Như dịch.       Author                Howard Smith        
__label__tiasang Gặp gỡ toán học 2012      Gặp gỡ toán học lần 4 – 2012 diễn ra từ ngày 29/7  đến ngày 5/8 tại TP Hồ Chí Minh, với sự tham gia của các giáo sư và nhà toán học  đến từ nhiều trường đại học và hơn 100 học sinh, sinh viên của các tỉnh thành từ Hà Tĩnh trở vào phía Nam      Các khách mời báo cáo gồm: GS.TSKH Ngô Việt Trung – Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam; GS.TSKH Hà Huy Khoái – Viện Toán học Việt Nam; TS Nguyễn Khắc Minh – chuyên viên Toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo; TS. Lê Bá Khánh Trình, GS.TS Đặng Đức Trọng, TS. Trần Nam Dũng  – Khoa Toán – Tin học Trường đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM; PGS.TS Lê Anh Vũ – bộ môn toán thống kê, Đại học Kinh tế – Luật; TS. Nguyễn Văn Lượng – phó hiệu trưởng Trường đại học Nguyễn Tất Thành; Th.S Nguyễn Thanh Dũng, Th.S Nguyễn Trọng Tuấn –  Trường THPT Năng khiếu – Đại học Quốc gia TP.HCM…   Theo TS Trần Nam Dũng, nét mới của chương trình năm nay là các em học sinh có thể gửi đề tài nghiên cứu dài từ 3-10 trang A4 của mình dưới dạng các bài viết chuyên đề hoàn chỉnh. “Các năm trước, chúng tôi cho các em làm theo nhóm nhưng thời gian tương đối ngắn, do vậy dù có nhiều đề tài hay nhưng chưa đủ độ sâu. Năm nay các em vẫn làm theo nhóm, nhưng thời gian dài hơn. Các đề tài gửi về sẽ được biên tập để in trong kỷ yếu, các bài tốt nhất sẽ được chọn vào thi chung kết, tức là được trình bày báo cáo tại Gặp gỡ toán học”, ông Dũng cho biết.  Nội dung khóa học Trường hè Toán học 2012 dành cho học sinh gồm các chuyên đề: số học, các bài toán tổ hợp, dãy số và giới hạn dãy số, phương trình hàm, bất đẳng thức và cực trị, các phép biến hình và ứng dụng, rèn luyện tư duy giải toán, các định lý cơ bản của giải tích và ứng dụng…   Gặp gỡ toán học lần 4 năm 2012 do Khoa Toán – Tin học Trường đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM phối hợp với Công ty cổ phần giáo dục Titan tổ chức. Đây là hoạt động hàng năm nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức về toán cho học sinh, sinh viên. Toàn bộ chi phí tổ chức hoạt động, đi lại và in ấn tài liệu đều do các thành viên tham dự tự trang trải.      Author                Quản trị        
__label__tiasang GATS VÀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM: VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP      GATS &#8211; t&#234;n viết tắt của General Agreement on Trade in Services (Hiệp định chung về thương mại dịch vụ) l&#224; một Hiệp định thuộc Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ra đời năm 1995 nhằm quy định c&#225;c nguy&#234;n tắc về thương mại dịch vụ tr&#234;n phạm vi to&#224;n cầu. C&#225;c nguy&#234;n tắc trong Hiệp định n&#224;y được &#225;p dụng bắt buộc đối với tất cả c&#225;c nước th&#224;nh vi&#234;n WTO về thương mại dịch vụ. Tuy nhi&#234;n, nghĩa vụ cụ thể của mỗi nước th&#224;nh vi&#234;n trong việc mở cửa thị trường dịch vụ của nước m&#236;nh được n&#234;u trong Biểu cam kết dịch vụ ri&#234;ng của nước đ&#243;, l&#224; kết quả của đ&#224;m ph&#225;n mở cửa thị trường dịch vụ của nước đ&#243; khi gia nhập WTO. Theo danh mục ph&#226;n loại ng&#224;nh dịch vụ của GATS, c&#243; tất cả 12 ng&#224;nh (sector): Kinh doanh, Th&#244;ng tin, X&#226;y dựng, Ph&#226;n phối, Gi&#225;o dục, Du lịch, M&#244;i trường, T&#224;i ch&#237;nh, Y tế, Văn h&#243;a-Thể thao-Giải tr&#237;, Vận tải, v&#224; c&#225;c dịch vụ kh&#225;c. Những ng&#224;nh n&#224;y được chia nhỏ th&#224;nh 155 ph&#226;n ng&#224;nh (sub-sector), v&#237; dụ ng&#224;nh Gi&#225;o dục bao gồm c&#225;c ph&#226;n ng&#224;nh: Tiểu học, Trung học, Đại học, Người lớn, v&#224; c&#225;c dịch vụ kh&#225;c (chẳng hạn đ&#224;o tạo ngoại ngữ, thi-kiểm tra, &#8230;).    Theo qui định của GATS, mỗi quốc gia thành viên trong WTO có quyền đưa ra lộ trình mở cửa đối với mỗi ngành dịch vụ, đối với những phân ngành, cũng như đối với các phương thức cung cấp dịch vụ (được trình bày ở phần sau). Đồng thời GATS cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên của WTO xây dựng những chính sách, qui định riêng của quốc gia về mỗi ngành và phân ngành dịch vụ được mở cửa, miễn sao chúng phù hợp với những qui định chung của GATS (Knight, 2006). Cho đến tháng 3/2007, mới chỉ có 47 nước trong tổng số 150 nước thành viên WTO cam kết thực hiện GATS trong dịch vụ giáo dục, chủ yếu là các nước thuộc khối OECD với tư cách là các nước xuất khẩu giáo dục (Phạm, 2007).   Kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007, Việt Nam cũng bắt đầu thực hiện GATS trên tất cả 11 ngành dịch vụ và 110 phân ngành (VCCI). Theo lộ trình đã cam kết đối với ngành giáo dục, kể từ 1/1/2009 các cơ sở đào tạo có 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam. Đối với giáo dục đại học (GDĐH), Việt Nam đã chấp nhận mở cửa trong khu vực tư thục đối với hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nghiên cứu và quản lý doanh nghiệp, kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế, và chấp nhận cả bốn phương thức cung cấp dịch vụ.  GATS quy định bốn phương thức cung cấp dịch vụ đối với tất cả các ngành: Cung cấp qua biên giới (Cross-border Supply), Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Consumption Abroad), Hiện diện thương mại (Commercial Presence), và Hiện diện thể nhân (Presence of Natural Persons). Knight (2006) đã giải thích các phương thức này và đồng thời cho một số ví dụ, nhận xét về qui mô và tiềm năng của mỗi phương thức trong lĩnh vực GDĐH như sau:              Phương thức      Giải thích      Ví dụ trong GDĐH      Qui mô/tiềm năng của thị trường          1. Cung cấp qua biên giới      Dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác (không bao gồm sự di chuyển xuyên biên giới của khách hàng)      –      Giáo dục/đào tạo từ xa  –      Học tập trên mạng  –      Các trường ĐH “ảo” (Virtual universities)      –      Thị trường hiện ở qui mô nhỏ  –      Có tiềm năng phát triển lớn dựa vào sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông. Tuy nhiên khó quản lý chất lượng.          2. Tiêu dùng ngoài lãnh thổ         Khách hàng của một nước di chuyển sang nước khác để tiêu dùng dịch vụ      Du học sinh      Hiện là phương thức phổ biến nhất và đang tiếp tục phát triển          3. Hiện diện thương mại         Nhà cung cấp dịch vụ của một nước thiết lập các hình thức hiện diện trên lãnh thổ của một nước khác để cung cấp dịch vụ      –      Chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh ở nước ngoài  –      Liên kết đào tạo  –      Nhượng quyền thương hiệu cho cơ sở đào tạo tại chổ      –      Ngày càng được quan tâm và có tiềm năng phát triển lớn  –      Là phương thức gây nhiều tranh cãi nhất liên quan đến việc xác lập các qui định về đầu tư nước ngoài          4. Hiện diện thể nhân            Người của một nước di chuyển sang nước khác để cung cấp dịch vụ      Giảng viên, nghiên cứu viên làm việc ở nước ngoài      Là phương thức có nhiều tiềm năng          Theo Varghese (2007), trong số các phương thức nêu trên, phương thức thứ ba (hiện diện thương mại) đang và sẽ có nhiều tiềm năng nhất đối với thị trường GDĐH tại Việt Nam với việc thiết lập các chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh và triển khai các chương trình đào tạo (CTĐT) liên kết với nước ngoài.   Phần sau đây giới thiệu các vấn đề thường gặp trong lĩnh vực GDĐH đối với các quốc gia tham gia GATS. Nội dung các giải pháp tương ứng đối với GDĐH Việt Nam do tác giả của bài viết này đề xuất.  –         Cấp phép hoạt động:  Hầu hết các nước đều yêu cầu các chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh của nước ngoài đều phải được thiết lập bởi những trường đại học đã được công nhận chất lượng thông qua kiểm định tại nước họ, đồng thời phải được nước sở tại đồng ý cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, thực tế áp dụng tại nhiều nước đã bộc lộ những vấn đề sau:  §        Chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh của nước ngoài chưa hẳn đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kiểm định chất lượng như cơ sở chính của trường họ, chẳng hạn về các yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, thư viện (Verbik and Jkivirta, 2005).  §        Nhiều trường đại học ở nước ngoài đã được kiểm định và công nhận chất lượng cấp trường nhưng chưa được kiểm định cấp chương trình, trong đó có những chương trình được tổ chức đào tạo hoặc liên kết đào tạo với nước sở tại.  Trong bối cảnh nở rộ các CTĐT liên kết với nước ngoài hiện nay ở Việt Nam, việc sớm xác lập những chủ trương để sàng lọc các cơ sở đào tạo và CTĐT liên kết là rất cần thiết để đảm bảo quyền lợi lâu dài của người học, ví dụ:  §        Yêu cầu chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh của nước ngoài cung cấp những tài liệu chứng minh chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh đã được mô tả trong báo cáo tự đánh giá của trường gửi cơ quan kiểm định của nước họ và kết quả đánh giá ngoài.  §        Với những CTĐT được thực hiện hoàn toàn bởi đối tác nước ngoài, có thể yêu cầu trường đại học cung cấp những tài liệu chứng minh các CTĐT đã được các cơ quan kiểm định ngành công nhận chất lượng (chẳng hạn kết quả kiểm định của ABET đối với các chương trình khoa học ứng dụng, máy tính, kỹ thuật, và công nghệ)   –         Công nhận bằng cấp:  Hầu hết các CTĐT có liên kết với nước ngoài (theo các cấu trúc năm đào tạo 1+3, 2+2, 3+1, …) đều được các trường nước ngoài cấp bằng. Để đảm bảo giá trị của văn bằng, nhiều nước yêu cầu các trường cấp bằng phải chứng minh được bản thân các trường và các CTĐT liên quan đã được kiểm định và công nhận chất lượng.  Đối với Việt Nam, sự thất bại của chương trình liên kết giữa Taiwan Asian International  University (AIU) với Trường đại học Ngoại ngữ Hà Nội vào năm 1995 (Le & Ashwill, 2004) là một ví dụ về sự thiếu chặt chẽ trong khâu kiểm tra chất lượng đối với trường đối tác. Gần đây, Bộ GD&ĐT đã có “Qui định về trình tự, thủ tục công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp” (Ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/12/2007). Theo Qui định này, một trong các trường hợp được Việt Nam công nhận văn bằng là:  Văn bằng được cấp bởi các cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài mà các chương trình giáo dục đã được cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục của nước đó công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước đó cho phép thành lập và được phép cấp bằng (trích Điều 3, mục 1c).  Thực tế ở nhiều nước (đặc biệt là Hoa Kỳ) cho thấy nhiều trường đại học được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước đó (ví dụ Bộ giáo dục của một bang thuộc Hoa Kỳ) cho phép thành lập và được phép cấp bằng nhưng bản thân các trường này cũng như các CTĐT của họ chưa được kiểm định hoặc thậm chí không đạt yêu cầu của kiểm định chất lượng tại nước họ. Đối với các chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh của các trường thuộc loại này cũng như các CTĐT liên kết với họ, Bộ GD&ĐT nên từ chối cấp phép hoạt động ngay từ đầu hoặc yêu cầu họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định trường/chương trình của Việt Nam. Kinh nghiệm của Malaysia trong trường hợp này là rất đáng để nghiên cứu, học hỏi (xem Middlehurst & Woodfield, 2004).  –         Tính độc lập trong hoạt động:  Một số quốc gia (chẳng hạn Trung Quốc) không cho phép các trường đại học nước ngoài mở chi nhánh hoặc cơ sở đào tạo vệ tinh dưới hình thức hoạt động độc lập tại nước họ mà phải liên kết với một trường đại học sở tại với lý do hình thức hoạt động như vậy không đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở GDĐH trong nước Varghese (2007).  Đối với Việt Nam, đến nay mới chỉ có RMIT (Úc) là trường đại học nước ngoài duy nhất hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức hoạt động độc lập (tính đến thời điểm tháng 1/2006, Việt Nam là quốc gia châu Á đầu tiên cho phép thành lập trường đại học với 100% vốn nước ngoài). Sự hiện diện của các chi nhánh như của RMIT đã góp phần xây dựng một hình mẫu chất lượng cao về GDĐH tại Việt Nam và đáp ứng một phần nhu cầu du học tại chỗ. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho việc nâng cao năng lực đào tạo của các trường đại học Việt Nam thông qua các hình thức liên kết với nước ngoài, Bộ GD&ĐT cũng nên hạn chế về số lượng các chi nhánh đào tạo nước ngoài thuộc dạng này và chỉ cấp phép đối với các trường đại học có uy tín cao trên thế giới.  –         Chuẩn đầu vào:  Ở nhiều nước, chuẩn đầu vào đối với các trường đại học chi nhánh và các CTĐT liên kết với nước ngoài thường thấp hơn so với yêu cầu của các trường đại học công lập của nước sở tại. Tại Việt Nam, rất nhiều CTĐT bậc đại học liên kết với nước ngoài chỉ yêu cầu người học tốt nghiệp phổ thông trung học và có trình độ ngoại ngữ nhất định (thường là tiếng Anh). Sự mở rộng đầu vào như trên đã tạo điều kiện thuận lợi để nhiều học sinh phổ thông có thể tiếp cận với GDĐH. Tuy nhiên, để đảm bảo một mặt bằng chất lượng chung, Bộ GD&ĐT nên xây dựng lộ trình để đạt đến một chuẩn tối thiểu của đầu vào đại học chung cho tất cả các loại hình trường và CTĐT, chẳng hạn qui định về điểm tốt nghiệp trung học phổ thông tối thiểu để được xét/thi tuyển vào các trường đại học.  –         Ngành và chương trình đào tạo:  Các trường đại học chi nhánh và các CTĐT liên kết với nước ngoài thường tập trung đào tạo các ngành không đòi hỏi chi phí đầu tư cao hoặc chủ yếu đáp ứng nhu cầu học tập trong giai đoạn hiện tại. Điều này có thể góp phần dẫn đến sự mất cân đối về mặt chuyên môn của nguồn nhân lực trong tương lai ở nước sở tại. Tại Việt Nam, các CTĐT của chi nhánh nước ngoài cũng như liên kết với các trường đại học trong nước đang tập trung chính vào các ngành “thời thượng” như kinh tế, quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin, tiếng Anh, … Để chuẩn bị cho một đội ngũ nhân lực trình độ cao tương đối đồng đều ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, Bộ GD&ĐT nên tạo sự ưu tiên nhất định đối với các CTĐT liên kết thuộc các ngành kỹ thuật, công nghệ.  Về nội dung đào tạo, các CTĐT của các trường đại học chi nhánh và các CTĐT liên kết với nước ngoài thường tập trung chủ yếu vào các môn học chuyên ngành, mang tính định hướng nghề nghiệp cao. Cách làm này một mặt dễ thu hút người học, mặt khác giúp người học sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của công việc. Tuy nhiên, việc xem nhẹ các môn học đại cương thuộc khối xã hội nhân văn như Chính trị, Pháp luật, Tâm lý, … có thể làm người học sau khi tốt nghiệp thiếu đi một nền tảng giáo dục vững chắc giúp họ hoàn thiện nhân cách và ý thức học tập suốt đời. Vì vậy, Bộ GD&ĐT cũng cần có qui định về các môn học đại cương thuộc khối xã hội nhân văn trong các CTĐT liên kết với nước ngoài.  –         Ngôn ngữ giảng dạy:  Ngôn ngữ giảng dạy và học tập của các trường đại học chi nhánh và các CTĐT liên kết với nước ngoài thường là các ngôn ngữ có tính quốc tế cao như tiếng Anh, tiếng Pháp. Điều này thực sự có ích cho người học về mặt nâng cao kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và khả năng tiếp cận các tài liệu nước ngoài, cơ hội được học nâng cao. Tuy nhiên, sự hạn chế của người học về khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ là điều khó tránh khỏi. Ở Việt Nam, chúng ta hay than phiền về năng lực ngoại ngữ của SV tốt nghiệp nhưng lại ít quan tâm đến khả năng sử dụng tiếng Việt của họ trong thực tế công việc. CTĐT của nhiều trường đại học trong nước đã có các môn học như Tiếng Việt, Tiếng Việt thực hành, Kỹ năng xây dựng văn bản tiếng Việt, … để hoàn thiện khả năng sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ cho người học nhưng tính hiệu quả của các môn học này cũng còn nhiều vấn đề cần phải bàn. Bên cạnh việc hoàn thiện môn học về tiếng Việt trong các CTĐT đại học, có lẽ cũng cần có chủ trương thống nhất về việc bố trí môn học này đối với các CTĐT liên kết với nước ngoài.  –         Cháy máu chất xám:  Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ các quốc gia khác từ lâu đã trở thành một nội dung chiến lược quan trọng ở nhiều nước phát triển và ngày càng có tính cạnh tranh cao trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và sự cam kết thực hiện GATS của các quốc gia thành viên thuộc WTO. Knight (2009) đã có một tổng kết đáng chú ý khi bàn về hiện tượng chảy máu chất xám dưới những tác động của toàn cầu hóa trong lĩnh vực giáo dục:  Mục tiêu ban đầu của việc giúp đở SV các quốc gia đang phát triển có cơ hội học tập lên cao ở quốc gia khác và sau đó quay trở về nước để cống hiến đang mờ nhạt nhanh chóng bởi sự cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các quốc gia.   Đối với Việt Nam, số học sinh ra nước ngoài học tập trong những năm gần đây đang tăng lên nhanh chóng, đặc biệt đối với nhóm du học sinh tự túc. Theo thống kê của Viện Giáo dục quốc tế (IIE), số SV Việt Nam tại các trường đại học Mỹ đứng hàng thứ 13 trong năm 2008, song được ghi nhận là tăng nhanh nhất trong vài năm gần đây so với các nước khác: trong năm 2008 là 8.769 SV, 2007 là 6.036, 2006 là 4.597, 2005 là 3.670, 2004 là 3.165, 2003 là 2.722… (Trần, 2009). Đối với một số quốc gia có nền giáo dục phát triển khác như Anh, Úc, Nhật, Singapore,… số du học sinh Việt Nam đến học cũng đang tăng lên không ngừng. Sự gia tăng này tất yếu dẫn đến sự gia tăng về tỷ lệ đội ngũ trí thức ở lại sinh sống và làm việc ở nước ngoài, và vì vậy vấn đề làm sao để có nhiều người trong số đội ngũ này tự nguyện trở về Việt Nam làm việc lâu dài là một bài toán cần sớm có lời giải một cách căn cơ.   Đối với nhiều người, “chảy máu chất xám” là một “vấn nạn”, và vì vậy Nhà nước cần có những chính sách kịp thời để ngăn chặn. Tuy nhiên, cũng không ít người cho rằng sự dịch chuyển của lực lượng lao động từ nước này sang nước khác là hiện tượng bình thường và tất yếu trong nền kinh tế hội nhập ở qui mô toàn cầu, và vấn đề là làm sao cân bằng được hai “dòng chảy” này. Nhận xét của TS. Nguyễn Quang A (Nguyễn, 2007) có thể xem là tiêu biểu đối với nhóm ý kiến này:  Trong nền kinh tế toàn cầu, thị trường lao động cũng ngày càng mang tính toàn cầu. Và một nước muốn phát triển cũng cần có chiến lược, chính sách nguồn nhân lực khôn khéo của mình. Như thế đâu cần phải ngăn “chảy máu chất xám”. Chất xám chảy đi, nhưng cũng có thể chảy lại, tất cả chỉ phụ thuộc vào hiểu biết, vào cách ứng xử của chúng ta.   Mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển, đã và đang có những giải pháp riêng cho mình về vấn đề này. Quyết tâm của Malaysia hướng đến không những giảm dần chi tiêu ngoại tệ cho việc ra nước ngoài học của người dân mà còn biến đất nước này trở thành một điểm đến của khu vực về giáo dục (Regional Education Hub) có thể được xem là một mô hình đáng để chúng ta học hỏi (xem Sirat, 2005). Việc Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng bốn trường đại học mới có tầm cỡ quốc tế với tổng chi phí ước tính ban đầu là 400 triệu USD (Quỳnh, 2008) có thể được xem là một tín hiệu cho thấy chúng ta đang từng bước đi theo con đường này mặc dù là khá chậm. Các trường đại học với cơ sở vật chất hiện đại là yếu tố quan trọng để thu hút du học sinh và trí thức Việt kiều trở về Việt Nam làm việc, nhưng quan trọng hơn là việc xây dựng và triển khai có hiệu quả những chính sách đãi ngộ để đội ngũ trí thức Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, đều cảm thấy họ được thật sự trọng dụng và cần thiết cho đất nước.  Để kết thúc bài viết này, tác giả xin được trích dẫn một phát biểu của TS. Phạm Đỗ Nhật Tiến: “Việc tham gia GATS tự nó không làm cho giáo dục của một nước tốt lên hay xấu đi. Nó chỉ mở ra các cơ hội mới cùng các thách thức mới” (Phạm, 2007). Hy vọng chúng ta sẽ sớm có những chủ trương và cách làm hợp lý để biến những thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục trở thành những động lực để phát triển GDĐH của nước nhà.  TÀI LIỆU THAM KHẢO     Knight, J. (2006). Higher education crossing borders: A Guide to the Implications of the General Agreement on Trade in Services (GATS) for Cross-border Education. A Report prepared for the Commonwealth of Learning and UNESCO. Retrieved at: http://unesdoc.unesco.org/images/0014/001473/147363E.pdf  Knight, J. (2009). Internationalization: Unintended consequences? International Higher education, Number 54. Retrieved at: http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number54/p8_Knight.htm  Le, M.N. & Ashwill, M. (2004). A look at non-public higher education in Vietnam. Retrieved at: http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/News36/text009.htm  Middlehurst, R. & Woodfield, S. (2004). The role of transnational, private, and for-profit provision in meeting global demand for tertiary education: Mapping, regulation and impact. Report commissioned by the Commonwealth of Learning and UNESCO. Retrieved at: http://portal.unesco.org/education/en/files/30721/10848830391Transnational_Summary_Report.pdf/Transnational%2BSummary%2BReport.pdf  Nguyễn, Q. A (2007). Đừng ngăn chảy máu chất xám. Lao Động Online. Truy cập tại: http://www.laodong.com.vn/Home/Dung-ngan-chay-mau-chat-xam/20076/39856.laodong  Phạm, Đ. N. Tiến (2007). Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản,  số 773 (3/2007). Truy cập tại: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=1681&cap=3&id=4051  Quỳnh, Lan (2008). Bốn trường đại học có mục tiêu vào top 200 thế giới. VnEconomy Online. Truy cập tại: http://www.vneconomy.vn/20081213043912487P0C11/4-truong-dai-hoc-co-muc-tieu-vao-top-200-the-gioi.htm  Sirat, M. (2005). Transnational higher education in Malaysia: balancing benefits and concerns through regulations. Institut Penyelidikan Pendidikan Tinggi Negara. Retrieved at: http://jpt.mohe.gov.my/PENYELIDIK/penyelidikan%20IPPTN/Research%20Paper%20on%20Transnational%20Higher%20Education%20in%20Malaysia%20Balancing%20Benefits%20and%20c%20oncerns%20through%20Regulations/1.pdf  Trần, Thắng (2009). Sinh viên Việt Nam du học Mỹ tăng nhanh. Thanh Niên Online. Truy cập tại: http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200910/20090302232515.aspx  Varghese, N.V. (2007). GATS and higher education: The need for regulatory policies. Retrieved at: http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001506/150689e.pdf  VCCI (Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam). Hiệp định GATS và biểu cam kết dịch vụ. Truy cập tại: http://chongbanphagia.vn/beta/down.php?file=files/1-10%20Gats.pdf       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gia đình và thị trường giáo dục      Quyền tự do lựa chọn trường lớp của các gia đình là một tác nhân quan trọng giúp lành mạnh hóa thị trường giáo dục.    Theo Georges Felouzis (2011)1, khái niệm ba cụm tác nhân chính trong giáo dục – bao gồm Nhà nước với các chính sách giáo dục, nhà trường với các chiến lược cạnh tranh và gia đình với hành động lựa chọn trường lớp cho con cái họ – là công cụ mới mẻ nhất trong nghiên cứu giáo dục, giúp so sánh các nền giáo dục trên thế giới cũng như giúp suy nghĩ về các hình thái giáo dục khác nhau trong bối cảnh riêng của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Bài viết này sẽ đi sâu bàn về vai trò của gia đình – người học trong việc tự do lựa chọn trường lớp.  Gia đình và quyền tự do chọn trường cho con em  Trong bài viết “Libre choix des écoles – Libre choix de quoi et par qui?” có thể dịch là Tự do chọn trường – Tự do chọn gì và chọn bởi ai?, Karin Muller (2011)2 cho thấy trên thế giới có ba mức độ tự do trong việc chọn lựa trường lớp: thứ nhất là không có chọn lựa, tức là Nhà nước quy định gia đình nào ở đâu, thì con cái học ở đó theo kế hoạch của Nhà nước như tại Pháp trước đây hay Việt Nam hiện tại trong giáo dục phổ thông; thứ hai là chọn lựa giữa các trường công, tức là các gia đình chỉ có quyền chọn  lựa giữa các trường công, nếu chọn trường tư thì Nhà nước không tài trợ như ở Anh; và cuối cùng, các phụ huynh có quyền chọn bất kỳ trường công hay trường tư, Nhà nước đều tài trợ, hoặc tài trợ cho trường như tại Phần Lan, Hà Lan, Ðan Mạch, hoặc tài trợ trực tiếp cho gia đình như tại Thụy Sĩ.    Tại các nước mà người dân không có quyền chọn lựa, các trường không bị áp lực phải cạnh tranh với nhau vì người dân có đánh giá trường cao hay thấp đều không ảnh hưởng gì mấy. Ngược lại, tại những nước mà quyền chọn lựa trường lớp của người dân càng được mở rộng, sự cạnh tranh của các trường càng gay gắt bởi quyết định chọn lựa của các gia đình định đoạt số phận của các trường.   Tại các nước mà chủ nghĩa tự do kinh tế (liberalisme econonomique) thống trị thường ưu tiên cho những tự do cá nhân và chú ý đến tính hiệu quả nơi sản phẩm đào tạo, nên thường mở rộng tối đa quyền lựa chọn cho các gia đình, và sử dụng việc này như là đòn bẩy thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trường. Về ngân sách, Nhà nước kêu gọi tư nhân đóng góp với Nhà nước. Tuy nhiên cũng có những nước như Hà Lan, Ðan Mạch, quyền tự do chọn lựa trường của các gia đình được quy định trong hiến pháp do các đặc điểm lịch sử xã hội hơn là do tác động của chủ nghĩa tự do kinh tế.  Tại các nước đề cao tính công lý xã hội (la justice sociale) lại chú ý đến tính liên đới và công bình xã hội mà nhà trường được xem phải có trách nhiệm gánh vác, Nhà nước thường can dự vào các trường, ưu tiên cho các gia đình khó khăn nhằm đảm bảo tính công bình xã hội. Nhà nước trong các quốc gia này thường là bên đầu tư chính yếu ngân sách dành cho giáo dục.   Ðể kết nối giữa những dòng ý thức hệ đang thống trị các xã hội và mức độ tự do chọn lựa trường lớp, hình thức đầu tư tài chính, mức độ can dự của Nhà nước vào trường học, Karin Muller đưa ra một khung phân tích (bảng dưới đây).  Xu hướng thị trường hóa giáo dục để tăng tự chủ và quyền tự do lựa chọn  Khuynh hướng chung hiện nay là hướng về mô hình thị trường hóa giáo dục bằng cách tăng quyền tự quyết cho các trường, tăng quyền tự do lựa chọn, và đối tượng lựa chọn cho các gia đình nhằm kích thích sự cạnh tranh giữa các trường. Ngay cả với những nước có truyền thống đề cao tính liên đới xã hội như đa số các nước châu Âu. Pháp chẳng hạn, đã bắt đầu mềm hóa các “kế hoạch giáo dục” ở cấp học phổ thông, cũng như đã và đang thực hiện cải cách theo hướng trao quyền tự chủ cho các trường, nhất là các đại học. Phần Lan và Thụy Ðiển đang hướng đến thị trường hóa giáo dục trong chính sách tái định hướng giáo dục gần đây của họ.   Chúng ta cần phân biệt ở đây khái niệm thị trường hóa giáo dục và khái niệm thương mại hóa giáo dục kiểu thuận mua vừa bán vốn xem giáo dục cũng như một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường. Trong khi phải tránh để giáo dục bị thương mại hóa, thì chúng ta vẫn phải thấy sự tích cực của thị trường hóa giáo dục và tìm cách học hỏi làm theo. Thứ nhất, đây là cách làm hướng về người học và các phụ huynh, đặt họ làm trung tâm trong phương cách quản lý điều hành giáo dục, cũng như trong quan hệ sư phạm giữa thầy và trò. Kế nữa, cách làm này kích thích các trường cạnh tranh và buộc các trường phải đặt chất lượng, đặt nhu cầu của xã hội lên hàng đầu trong các chiến lược phát triển của mình. Sau hết, thị trường hóa giáo dục không ảnh hưởng gì đến sứ mệnh và vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền học hành, tạo sự công bằng về cơ hội học tập của người  dân. Nhà nước vẫn có thể làm điều này thông qua các chính sách xã hội trong giáo dục, đặc biệt là đầu tư ngân sách cho các trường có nhiều con em người nghèo, những trường hợp cá biệt trong xã hội, v.v.  Phù hợp với nguyện vọng tự do lựa chọn của người dân  Hành động chọn lựa trường lớp hiện diện trên tất cả mọi quốc gia, kể cả những quốc gia mà luật pháp không quy định quyền này của các gia đình. Tại Việt Nam, vấn đề này có lẽ đang trở thành một hiện tượng ngày càng rõ nét. Hành động lựa chọn trường lớp của các gia đình thể hiện qua việc di chuyển chỗ ở, việc gửi con cái từ nông thôn lên các thành thị, hay việc gửi con cái ra nước ngoài học tập mà có người miêu tả đang trở thành một trào lưu như là một hình thức “tị nạn giáo dục”3. Lý do thực hiện hành động này có lẽ cũng không chỉ là vì chuyện chất lượng giáo dục mà còn liên quan đến môi trường xã hội trong và ngoài ngôi trường ảnh hưởng lên nhân cách người học sinh,  những điều mà Xavier Dumay (2011) gọi là những “tác động của sự cấu thành”4 v.v.   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, hành động lựa chọn của các gia đình không những quyết định số phận của một trường mà có thể còn ảnh hưởng mạnh trên sự nghiệp giáo dục một quốc gia. Giáo dục trở thành một lĩnh vực mang lại lợi nhuận cho quốc gia mà Hoa Kỳ và các nước Tây Âu khác đang dẫn đầu trong khi Việt Nam đã nghèo lại đang “chảy máu”, trở thành nguồn thu của họ. Việc gửi con cái đi du học nước ngoài là một hành động lựa chọn hợp lý của người dân vốn luôn mong muốn một sự tốt đẹp với con cái họ trong tương lai, mặc dầu có thể họ phải thắt lưng buộc bụng để đầu tư cho con cái du học. Ðây cũng có thể là một cách thể hiện của truyền thống hiếu học nơi người Việt luôn quan tâm đến chuyện học hành của con cái, nhưng cũng nói lên sự không đồng tình, không chấp nhận hiện trạng giáo dục trong nước của người dân.   Trở lại với khung phân tích ở trên, chúng ta thấy hành động lựa chọn của các gia đình liên quan trực tiếp tới những điều nằm ngoài nhà trường như kinh tế, văn hóa, chính trị, vv, chẳng hạn tại các nước có ý thức hệ thống trị là chủ nghĩa kinh tế tự do, thì càng có xu hướng ưu tiên cho tự do lựa chọn trường lớp của người dân, chú ý đến tính hiệu quả nơi sản phẩm đào tạo, tạo điều kiện và thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trường.   Hạn chế ở Việt Nam  Ở Việt Nam hiện nay, chưa rõ liệu quan niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có phải là một cố gắng gạch nối giữa hai dòng chảy ý thức hệ chủ nghĩa kinh tế tự do và chủ nghĩa đề cao công lý xã hội hay không. Chưa ai thực sự tìm cách đối chiếu theo một cách nào đó không khập khiễng, giữa nền giáo dục với tính chất: “ là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”5, so với các nền giáo dục khác trên thế giới.  Tuy nhiên, dù không cần đi sâu vào một cơ sở lý luận cho nền tảng giáo dục, chúng ta vẫn có thể thấy mô hình quản lý giáo dục tại Việt Nam không giống với bất kỳ mô hình nào trên khung phân tích. Nếu nhà trường trong các xã hội đề cao “công lý xã hội” bị Nhà nước can dự, thì cũng chỉ nên can dự thông qua chính sách tài chính và thủ tục hành chính, còn Nhà nước ở Việt Nam lại rất tập quyền trong quản lý giáo dục trên mọi khía cạnh như một bài viết trước đây của tác giả trên Tia Sáng đã đề cập6. Nguyên nhân của hình thức quản lý tập quyền này có lẽ là từ một nếp nghĩ trì trệ từ lâu đã thống trị trong xã hội, từ các yếu tố lịch sử văn hóa dân số đặc thù, hay từ một yếu tố nào khác.  Chúng ta sẽ cần những nghiên cứu chuyên sâu nhằm định dạng nền tảng lý luận và thực tiễn giáo dục của chúng ta đang thực sự ở đâu, liệu chúng ta có thể hội nhập với thế giới và tạo ra được những sản phẩm giáo dục chất lượng với chuẩn mực quốc tế khi chúng ta có những dị biệt như vậy, để từ đó tìm ra một hướng cải cách giáo dục đúng đắn.  —————————-  * Viện Nghiên Cứu Phát Triển Giáo Dục – IRED  1. Xem Georges Felouzis. (2011). Les marchés scolaires et l’éducation comparée. Éducation comparée/ Nouvelle série. Số 6/ 2011, tr. 10 – 11.  2. Éducation comparée / Nouvelle série. Số 6/ 2011, tr. 29 – 48.  3. Xem bài của nhà văn Dạ Ngân đăng trên Việtnamnet, hiện đang lưu tại:  http://www.baomoi.com/Ti-nan-giao-duc-Con-di-nhieu-di-trong-rong-di-het/5/4315994.epi    4. La concurrence entre écoles accroît-elle les effets de composition ? Éducation comparée / nouvelle série, số °6, tr. 49-68  5. Luật Giáo Dục 2005, chương 1, điều 3.  6. “Khái niệm thị trường giáo dục và vai trò các tác nhân” đăng trên Tia sáng online ngày 29/12/2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị cốt lõi của đại học      Ngày 17/3/2014, Mạng lưới học giả Việt Nam đã tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề: Thế nào là một đại học tốt?&#160; Hẳn nhiên, để trả lời được câu hỏi này, thì phải trả lời một câu hỏi trước đó: Thế nào là một đại học? Đây là dịp để một lần nữa, giáo dục đại học lại được xới lên và mổ xẻ ở nhiều góc nhìn khác nhau, mà bài viết này là một trong số đó.     Nhìn lại một quan niệm  Tính đến nay, Việt Nam đã có hơn 400 trường Đại học và Cao đẳng, vậy mà câu hỏi hiển nhiên này: Thế nào là một đại học, vẫn chưa được thống nhất trong cách hiểu, không phải về hình thức và cách tổ chức, mà về nội dung của khái niệm này.  Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong Luật giáo dục 2012, có hẳn Điều 7 quy định về cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học sẽ bao gồm tất cả các trường cao đẳng, đại học, học viện, đại học vùng, đại học quốc gia, viện nghiên cứu, đại học công, đại học tư, đại học có góp vốn của nước ngoài, đại học 100% vốn của nước ngoài, cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước.  Quy định chi tiết này có thể gộp lại thành một mệnh đề đơn giản: Tất cả các cơ sở đào tạo bậc đại học thì được gọi là cơ sở giáo dục đại học. Tất cả các tên trường nào có chữ đại học thì đều là trường đại học!  Rõ ràng cách quy định này chỉ mang tính mô tả mà không thể làm rõ ý niệm về bản chất của một đại học hầu cho đại chúng có thể hiểu được.  Nhưng đây không phải là ngoại lệ, vì ngay cả với thế giới, thế nào là một đại học cũng vẫn là một vấn đề còn tranh cãi. Cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, các đại học và các chính phủ trong cách hiểu về đại học, đặc biệt là phần chức năng và sứ mệnh của nó, trong xã hội.  Trong số các ý kiến, có một xu hướng cho rằng, đại học phải là đại học nghiên cứu, nơi sản xuất tri thức và hội tụ tinh hoa. Đây là quan niệm của những đại học danh tiếng, hiện đang dẫn đầu thế giới trong các bảng xếp hạng toàn cầu. Những sinh viên và giáo sư giỏi nhất cũng thường tụ hội về những nơi này để học tập và làm việc. Đầu tư  cho các trường này cũng thường lớn hơn rất nhiều so với các đại học còn lại. Và thành công, xét trên những tiêu chí phổ biến trong nghiên cứu và đào tạo, tất nhiên cũng lớn hơn các đại học khác.  Còn xu hướng khác thì ngược lại, cho rằng đại học thì phải đào tạo nhân lực có kỹ năng và tri thức để làm việc, để cung cấp nhân lực cho xã hội, còn việc nghiên cứu chỉ là phụ. Các trường này đặt sứ mệnh đào tạo đại trà làm trọng tâm hoạt động của mình.  Và hẳn nhiên ở giữa hai xu hướng này là quan niệm cho rằng, đại học thì phải vừa đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên tỉ lệ thế nào thì tùy vào từng điều kiện cụ thể, đặc biệt là những điều kiện về văn hóa và nguồn lực của từng trường, từng chính phủ vận hành nó.  Ở Việt Nam, bậc học đại học được mặc nhiên hiểu là bậc giáo dục sau phổ thông, với chương trình đào tạo thường là 4 năm, hoặc hơn với một số ngành nghề chuyên biệt. Với cách hiểu đơn giản này, đại học đã bị mang tiếng là trường phổ thông cấp 4, không có một sự khác biệt nào về chất so với các bậc học trước đó.  Điều này dẫn đến hiên tượng quy giản tối đa: Đại học chỉ còn là một cái tên, chỉ một bậc học sau phổ thông, hoặc một cơ sở đào tạo sau phổ thông có gắn chữ đại học. Việc hàng loạt trường đại học tư thục, và các trường cao đẳng nâng cấp lên thành đại học, là một minh chứng cho hiện tượng này.  Với các đại học tư, có nhiều trường ra đời cả chục năm mà đến nay vẫn chưa có cơ sở riêng, nay thuê chỗ này mai thuê chỗ khác. Đội ngũ giảng viên thì chắp vá nhặt nhạnh. Tất cả những gì mà cơ sở đào tạo này có được chỉ là cái tên có chữ Đại học. Còn nội dung bên trong thì trống rỗng.  Với các trường hợp nâng cấp từ cao đẳng lên đại học, mà trước đó rất có thể trường cao đẳng đó lại được nâng cấp từ trung cấp lên, thì câu chuyện có khác đi về quy trình và cơ sở vật chất. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn một chút, thì sau khi nang cấp, cơ sở giáo dục đó vẫn được vận hành bởi những con người đó, tức là vẫn thầy đó, trò đó, trường sở đó, nhưng dưới một cái tên mới có chữ “đại học”, thì tuy hình thức là đại học, nhưng nội dung của nó chưa phải là đại học.  Việc này không chỉ xảy ra ở các thành phố lớn, mà còn ở các địa phương và các ngành khác nhau. Mỗi địa phương đều “phấn đấu” có một đại học. Mỗi ngành cũng có mong muốn tương tự. Hiện tượng này tạo ra cảm giác tỉnh tỉnh làm đại học; ngành ngành làm đại học, mà không cần hiểu đại học là gì. Mục tiêu hướng đến là có chữ “đại học” trong tên gọi, còn nội hàm của nó ra sao thì không cần làm rõ.    Vậy thì cuối cùng, đại học là gì?  Khái niệm đại học xuất phát ban đầu từ châu Âu, với trường đại học chính quy đầu tiên là Đại học Bologna thành lập năm 1088 tại nước Ý. Chữ “đại học” được dịch từ tiếng Anh là “university”, và tiếng La tinh là “univesitas”, với nghĩa nguyên thủy của các từ này “tổng thể”, ngụ ý những điều mà đại học hướng đến là “tri thức tổng thể” hay “chân lý phổ quát”. Vì thế, ý niệm về đại học, ngay từ khi mới ra đời, đã gắn liền với việc giáo dục tri thức tổng thể, thay vì kỹ năng làm việc cụ thể. Đây chính là điểm khác biệt giữa đại học và cơ sở dạy nghề, dù thời gian đào tạo có thể là tương đương nhau.  Vì thế, sứ mệnh chung nhất của đại học chính là sứ mệnh giải phóng con người khỏi vô minh vì thiếu hiểu biết, kể cả thiếu hiểu biết về chính bản thân mình.  Cũng vì thế, bên cạnh những nội dung chuyên ngành cụ thể, thì những môn giáo dục khai phóng luôn đóng vai trò quan trọng trong chương trình giảng dạy của bậc đại học. Do vậy dù theo thời gian, cách hiểu về đại học mỗi nơi mỗi khác, và ngày càng xa nhau, nhưng việc khai khá tiềm năng và khai phóng con người chưa bao giờ xa rời các hoạt động của đại học.  Với Việt Nam, câu trả lời cho câu hỏi “Đại học là gì?” thì càng thêm rắc rối, khi chính tại đây, xuất hiện các mô hình và hệ thống đào tạo sau phổ thông không giống ai. Điển hình là mô hình Đại học quốc gia, và hệ thống trường Đảng hiện hành.  Vậy nên, khi đặt ra câu hỏi “Đại học là gì?”, cách trả lời đơn giản nhất là: Trường đại học là nơi đào tạo bậc đại học. Còn bậc đại học là bậc học sau phổ thông, có thời gian đào tạo từ 4 năm trở lên.   Cách trả lời này tuy khó bắt bẻ nhưng không làm toát ra tinh thần của một trường đại học cần phải có. Cách trả lời này không khác nào cách nói vòng vo: Trời là Thượng đế. Thượng đế là Trời.  Nhưng có phải bất cứ cơ sở đào tạo sau phổ thông nào, với thời gian đào tạo 4 năm trở lên, cũng là đại học?  Câu trả lời là không. Nếu cơ sở đào tạo đó không toát ra được tinh thần đại học, và không có đủ nguồn lực để hiện thực hóa tinh thần đại học đó, thì không nên được coi là một đại học, dù trong tên gọi của nó có chữ này.    Vậy tinh thần đại học là gì?  Tinh thần xuyên suốt của mọi hoạt động trong đại học không gì khác hơn là tinh thần tự do học thuật. Cụ thể hơn thì đó là tự do nghiên cứu và tự do giảng dạy. Bất cứ nơi nào nuôi dưỡng và xiển dương tinh thần tự do học thuật này, thì nơi đó đều xứng đáng được gọi là đại học, dù cơ sở vật chất còn thiếu thốn.  Trong lịch sử của các trường đại học nổi tiếng thế giới, thầy và trò nhiều khi phải thảo luận trong trường lớp sơ sài. Nhưng tinh thần tự do học thuật, ít nhất là trong khuôn viên trường, luôn được cổ vũ.   Chính tinh thần tự do đại học này đã thúc đẩy trào lưu hình thành các đại học nghiên cứu trên thế giới. Thay vì chỉ truyền bá tri thức thuần túy, đại học còn là nơi khai phá tri thức.  Và cũng chính nhờ tinh thần tự do học thuật này, mà đại học không chỉ là nơi nuôi dưỡng và xiển dương tri thức, mà còn là nơi nuôi dưỡng văn hóa. Đại học trở thành một trung tâm văn hóa, bên cạnh sự hiển nhiên về một trung tâm tri thức.  Nói thì dễ như vậy, nhưng thực hiện được lại không phải đơn giản. Vì tự do học thuật đòi hỏi phải có tự trị về quản lý, trong đó quan trọng nhất là toàn quyền tự quyết trong việc lựa chọn chương trình giảng dạy, nghiên cứu và bổ nhiệm nhân sự. Nhưng điều này thường trái ngược với mong muốn kiểm soát của chính quyền, vì nó tiềm ẩn một nguy cơ sâu xa về mầm mống chống lại lợi ích của nhà cầm quyền, khi lợi ích đó không trùng khớp với lợi ích của dân chúng. (Nguy cơ này càng dễ trở thành hiện thực khi đại học là nơi tập trung của giới trí thức tinh hoa và thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết và đầy khát vọng thay đổi).   Tự do học thuật, đó chính là giá trị cốt lõi của đại học. Một cơ sở đào tạo đại học nào không có được tinh thần này, hay không xây dựng được giá trị cốt lõi này, thì không xứng đáng là một đại học. Khi đó cơ sở đào tạo chỉ có cái mác là đại học, hoặc cùng lắm cũng chỉ là một cái xác không hồn, mà không phải là một đại học theo đúng  nghĩa của từ này.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị của tư duy sử học      Sử học là một trong những phân môn của khoa học xã hội và nhân văn đem lại những LỢI ÍCH VỀ TƯ DUY, nhưng trong nhiều thập kỷ qua môn sử học không được đưa vào trong nhà trường, thay vào đó là một biến tướng sai lạc của nó: môn lịch sử.       Sử học là gì? Có thể nói một cách ngắn gọn, sử học là khoa học về lịch sử, hay cao hơn là khoa học về nhận thức lịch sử. Lịch sử là toàn bộ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng không ai dám chắc chắn và khẳng định rằng mình có thể nhận thức được đúng đắn toàn bộ về nó. Cái lịch sử mà chúng ta biết đến chỉ là những kết quả sau những chuỗi dài của hoạt động nhận thức, trong đó không tránh khỏi có sự chủ quan, phiến diện, nếu không muốn nói có khi là sai lầm. Sai lầm trong nhận thức lịch sử được tạo nên bởi nhiều nguyên nhân. Có thể là sai lầm khi ta chỉ có một số dữ liệu giả tạo, hoặc trầm trọng hơn, là sai lầm về mặt phương pháp luận và mục đích luận. Sai lầm về phương pháp luận là sai lầm về mặt tư duy, còn sai lầm do mục đích luận là sai lầm về đạo đức khoa học. Để tránh sai lầm trong nhận thức lịch sử, người làm sử học tuyệt đối không được mang trong mình một một đích nào khác ngoài mục đích thuần túy duy nhất là NHẬN THỨC LỊCH SỬ. Khi biện hộ rằng vì có lợi cho mục đích dân sinh, có lợi cho mục đích chính trị mà ta phải chứng minh một dữ kiện lịch sử nào đó, thì việc chứng minh ấy đã tiềm ẩn sẵn nguy cơ bị thiên lệch, không đúng với thực tế.   Sử học là một khoa học xử lý các nguồn sử liệu để đưa ra nhận thức trung thực về lịch sử, nằm ngoài những định kiến tô hồng hay bôi xấu, nằm ngoài những mục đích có trước, và nằm ngoài những nhiệm vụ chính trị. Người làm sử học phải là người thao tác tư duy trên cơ sở giám định và giải độc sử liệu. Vì thế, lịch sử – với tư cách là cái được tái hiện bởi nhà sử học- không phải là một cái gì bất biến, cố định, vĩnh hằng, mà chỉ là những sử thực tương đối. Ở thời điểm nhất định, với những tư liệu nhất định, chúng ta chỉ có thể nhận thức lịch sử ở mức độ nhất định. Nhưng nếu như có những phát hiện mới về sử liệu, và những sử liệu ấy được xử lý bằng phương pháp mới, góc nhìn mới, thì chúng ta sẽ có nhận thức mới.   Nhận thức là một quá trình tiệm cận đến lịch sử. Và sử học thực chất là một trò chơi trí tuệ để tăng trưởng tư duy về lịch sử (cái đã qua) và quan trọng hơn cả là để tăng trưởng sự tự tư duy về cuộc sống hiện tại với tư cách mỗi cá nhân là tác nhân hay nạn nhân của lịch sử. Như thế lịch sử như là một trang sách để ngỏ, mà nhà sử học là người tái dựng nó từ những gì còn sót lại. Cho nên, một triết gia phương Tây đã từng thốt lên rằng: sử học là cuộc chơi của những người đang sống đối với những người đã chết!   Khác với các môn khoa học tự nhiên như toán học, sinh học,…, thì sử học với tư cách là bộ môn khoa học về lịch sử đã không được đưa vào trong nhà trường trong nhiều thập kỷ qua, thay vào đó là môn lịch sử. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là bởi chúng ta đã không coi lịch sử như là sản phẩm của quá trình tư duy, nhận thức về lịch sử. Những kiến thức lịch sử trong nhà trường được giảng dạy với tư cách nó là những chân lý tuyệt đối, những sự thực bất di bất dịch, bất khả xâm phạm. Và “môn lịch sử” không hề chỉ dẫn cho học sinh biết phải làm như thế nào để tự nhận thức về lịch sử, cũng như nhận thức về cuộc sống hiện tại, mà nó biến học sinh thành những cỗ máy học thuộc lòng với những sự kiện cụ thể, những mốc thời gian của lịch sử chính trị được hoạch định và được cố định bởi các nhà giáo dục.  Mặt khác, các sách giáo khoa được giảng dạy trong hệ thống nhà trường hiện nay chủ yếu là viết về lịch sử chính trị- kinh tế. Điều này đã dẫn đến nhiều bất cập. Nó khiến cho học sinh hiểu phiến diện về mục đích và đối tượng của sử học, đồng nhất lịch sử với lịch sử chính trị, lịch sử chiến tranh. Các kiến thức được nêu trong sách giáo khoa được giảng dạy và được mặc nhận như là những chân lý, những sự thực bất di bất dịch, không thể sửa đổi. Từ đó dẫn đến hệ quả quan trọng thứ ba, là cách giảng dạy lịch sử một chiều, khô khan, áp đặt. Nó biến lịch sử trở thành một môn học thuộc lòng các sự kiện lịch sử, khiến tư duy của học sinh bị xơ cứng, và quan trọng nhất là không có nhận thức bản thân và tư duy của bản thân, cũng như quan điểm của bản thân các em về lịch sử.  Trước tình hình trên, cần biên soạn lại hệ thống sách giáo khoa lịch sử theo một phương thức mới, để giúp học sinh cũng như xã hội hiểu thêm về khoa học lịch sử và quan trọng nhất là tư duy lịch sử. Trong đó, mỗi một bài học phải trình bày đủ cơ cấu lịch sử- văn hóa. Trong đó, chính trị (triều đại, thể chế, kinh thế, thành phần xã hội,…) chỉ là một nửa, chiếm dưới 50% dung lượng bài giảng. Còn lại trên 50% là lịch sử văn hóa (về cách lĩnh vực sâu hơn như: lịch sử ngôn ngữ- văn học, lịch sử nghệ thuật, lịch sử tôn giáo, lịch sử khoa học, lịch sử văn minh vật chất…). Sách phải đảm bảo tính đa dạng lịch sử và tính đa dạng văn hóa theo tiêu chí tộc người. Lịch sử không chỉ là lịch sử của người Việt, mà còn là lịch sử của 53 dân tộc anh em khác. Các nhận định và tri thức lịch sử đều phải dựa trên sử liệu gốc. Các tri thức về lịch sử văn hóa luôn phải đặt HIỆN VẬT KHẢO CỔ lên hàng đầu. Quan trọng nhất, lịch sử cần được trình bày như là những tri thức còn bỏ ngỏ, chưa được giải mã, cần được tìm hiểu, để kích thích tư duy phán đoán, và óc suy luận của học sinh.   Tất cả những thay đổi trên sẽ góp phần đưa môn sử học vào nhà trường, biến sử học trở thành một môn học sống động, rèn luyện về sự độc lập trong tư duy. Bởi tư duy độc lập sẽ là xung lực để tạo nên sự phát triển xã hội!          Một ví dụ về nhận thức sử học dưới tác động của mục đích chính trị là nhận thức về phong trào Tây Sơn. Với chủ ý muốn đề cao nhân dân, sức mạnh của nhân dân, chúng ta đã chứng minh rằng quân Tây Sơn với những chiến công lẫy lừng của họ là một biểu hiện sống động cho cuộc chiến tranh nhân dân, và đại diện tiêu biểu của phong trào đó là người “anh hùng áo vải cờ đào”- Quang Trung Nguyễn Huệ. Ngay hình ảnh “áo vải cờ đào” cũng đã được sử dụng như một thủ pháp ở đây? Đoạn trên vốn được trích từ bài “Ai tư vãn” tương truyền của công chúa Lê Ngọc Hân dùng để khóc chồng: “mà nay áo vải cờ đào, giúp dân dựng nước xiết bao công trình”. Những lời ai điếu theo kiểu “cái quan định luận” như vậy hẳn không phải là không có cơ sở, nhưng các chữ “áo vải” đã được đời sau đặt thành phương trình “áo vải = nông dân” thì cần phải xem xét lại khi so sánh với những sử liệu hữu quan. Mặt khác, việc Quang Trung ra Bắc với mục đích “phò Lê diệt Trịnh” cũng cần giải mã rằng đây là một thao tác chính trị. Chúng ta sẽ hiểu điều này hơn khi đọc nhiều văn bản địa phương tại miền Bắc, với danh từ “Tây tặc” để miêu tả tình trạng phá chùa, lấy chuông đồng đúc súng.  Chúng ta có xu hướng không chấp nhận những góc nhìn khác về Nguyễn Huệ, được phản ánh qua nhiều tư liệu, trong đó điển hình như “Tây Sơn hành” mới được phát hiện, là bài thơ của tiến sĩ Trần Danh Án1. Mặc dù đối với giới nghiên cứu lịch sử, và nghiên cứu văn học thì đây hẳn là một tư liệu vô cùng đặc sắc, nó gợi mở những câu hỏi mới, những góc nhìn mới về một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào dám đề cập về bài thơ này trên các tạp chí khoa học.  Mặt khác, chúng ta đã an nhiên bỏ qua những mâu thuẫn nội bộ trong anh em nhà Tây Sơn từ việc chia chiến lợi phẩm, cũng như ân oán cá nhân được ghi chép trong sử sách như đoạn trích dưới đây: “Nhạc đã đắc chí, ngày càng dâm ô, bạo ngược, giết Nguyễn Thung, lại thông dâm với vợ Huệ, người đều chê là xấu. Việc đi xâm lấn miền Bắc, của báu ở phủ chúa Trịnh, về cả tay Huệ, Nhạc đòi không cho. Huệ muốn lấy cả đất Quảng Nam, Nhạc cũng không cho, mới thành ra cừu thù hiềm khích nhau. Huệ bèn truyền hịch kể tội ác của Nhạc, đến nỗi bảo Nhạc là giống sài lang chó lợn”2. Chúng ta chưa biết những ghi chép trên (nhất là việc Nguyễn Nhạc thông dâm với em dâu) có phải là sự thực, hay đó là sự bôi bác, thêu dệt của sử quan triều Nguyễn sau này. Nhưng nếu như có được một sử liệu khách quan khác thì hẳn là những ghi chép trên không phải là không có cơ sở3.          —    1 Bài thơ được chép trong ba văn bản Tản Ông di cảo (散翁遺稿 ký hiệu A.2157), Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432), kho sách Viện NC Hán Nôm. Có thể tìm kiếm một số bản dịch trên mạng.  2 Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Ðại Nam Liệt Truyện tập II (Ngô Hữu Tạo, Ðỗ Mộng Khương dịch) (1997) Nxb Thuận Hoá. Huế. tr. 531-532.  3 Hoàng Xuân Hãn, “Thống Nhất Thời Xưa”, trong La Sơn Yên Hồ- Hoàng Xuân Hãn tập II (1998). Nxb. Giáo dục. Hà Nội. tr. 1375      Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Giấc mơ biến mất… đại học      Tôi thường không thích tranh luận. Lý do đơn giản: lãn là bản tính, nên luôn tránh những việc mất nhiều năng lượng. Vậy mà không phải lúc nào cũng tránh được, đặc biệt là tranh luận với…chính mình (thường thì không có hồi kết) như gần đây điều làm tôi suy nghĩ nhiều: tại sao cần có các trường đại học?      Trong cái thế giới đầy biến động này, có vẻ như hệ thống các trường đại học là trì trệ nhất Phải mất cả ngàn năm, các đại học mới được “thế tục hóa”, thoát khỏi ràng buộc của Nhà Thờ, rồi hàng trăm năm cho “tự trị đại học”. Đại học ngày nay đã gần như một cái gì đó rất ổn định. Đi trong hành lang những đại học cổ kính, cảm giác thật là linh thiêng. Đúng là “những ngôi đền của Tri thức”.  Thoát được Nhà Thờ, chúng ta lại rơi vào những ngôi Đền thiêng.  Nói cho cùng, mục tiêu của mỗi người khi sinh ra là mưu cầu hạnh phúc. Mà quan niệm hạnh phúc của mỗi người thật khác nhau. Có người thích đấu tranh, có người thích an nhàn. Hệ thống giáo dục tốt nhất là hệ thống làm cho mỗi người đều hạnh phúc theo cách nghĩ của mình.  Nhưng để mang lại hạnh phúc cho mỗi con người, giáo dục cần làm gì?  Nhiều khi hạnh phúc bị nhầm lẫn với tri thức hay sự “thành đạt”.  Mỗi người là một cá thể không có phiên bản thứ hai. Vậy tại sao không ai được hưởng sự giáo dục chỉ phù hợp với riêng mình? Có đấy chứ. Họ là những Thái Tử.  Mỗi thái tử có một nhóm các quan thái phó chuyên trách việc dạy dỗ. Từ văn đến võ, tất cả đều phù hợp với bản tính và trình độ tiếp thu của họ. Các vị thái tử lớn lên, trở thành người văn hay võ giỏi mà không cần đến bằng đại học nào, không cần phải qua các kỳ thi để trở thành ông Nghè, ông Cống.  Bây giờ thì đã hiểu vì sao phải có các trường đại học. Phải dồn vào một chỗ, học chung thôi, dù mỗi người là một cá thể không giống ai. Nếu không có các trường đại học, tìm đâu ra cho mỗi người một đội ngũ các quan thái phó!  Vậy thì, đại học ra đời chính vì lý do “tiết kiệm”, và bất khả kháng.  Xã hội đang cần có các đại học, đang cần có những người có bằng đại học, để đảm bảo những người họ tuyển dụng có một hệ thống tri thức “chuẩn” nào đó. Nhưng theo chuẩn nào đi nữa thì ai cũng bị học thừa, và thiếu.  Mong sao đến một ngày, mỗi người được học, được dạy theo cách hoàn toàn riêng biệt, theo những “giáo trình” chỉ phù hợp với chính họ. Nói khác đi, mỗi người đều được hưởng nền giáo dục dành cho thái tử. Để khi lớn lên, mỗi người đều trở thành Vua, là Vua của chính cuộc đời mình.  Nhưng ai sẽ làm được việc đó? Có lẽ không ai khác, ngoài AI. Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những khả năng mới, mà mới hôm qua thôi, còn nằm trong trí tưởng tượng của những bộ óc lãng mạn nhất.  Bây giờ thì đó đang là giấc mơ. Một giấc mơ có thể là rất xa, nhưng cũng có thể chỉ 20-30 năm nữa sẽ thành sự thật. Đến lúc đó, không còn trường đại học nào trên thế gian này nữa. Nó biến mất như Academia của Platon hay là Lyceum của Aristotle.  Sẽ đến lúc, các đại học hoàn thành sứ mệnh của mình, và sẽ “được xếp trong viện bảo tàng, bên cạnh cái xa kéo sợi hay một chiếc kèn đồng lịch sử”.  Mong sao đến một ngày, mỗi người được học, được dạy theo cách hoàn toàn riêng biệt, theo những “giáo trình” chỉ phù hợp với chính họ. Nhưng ai sẽ làm được việc đó? Có lẽ không ai khác, ngoài AI. Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những khả năng mới, mà mới hôm qua thôi, còn nằm trong trí tưởng tượng của những bộ óc lãng mạn nhất. □       Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Giải pháp căn bản và toàn diện cho nền giáo dục hiện đại      Vừa qua GS. Hồ Ngọc Đại đã có buổi thuyết trình với Ban Tuyên giáo Trung ương về Giải pháp căn bản và toàn diện cho nền giáo dục hiện đại. Tia Sáng xin trích đăng bản thuyết trình đó.        I- ĐỊNH HƯỚNG LÝ THUYẾT    1. Cái căn bản và toàn diện của giáo dục hiện đại biểu hiện ở đâu?  – Ở Hướng đi và Cách làm.  Hướng đi sai mà càng làm đúng thì càng sai.  Hướng đi đúng thì càng làm càng đúng hơn.  Năm 1978, mở Trường Thực nghiệm tại Hà Nội, công trình nghiên cứu khoa học giáo dục theo phương thức thực nghiệm đã đi theo đường lối:  Hướng đi. Hiện đại hoá nền giáo dục.  Cách làm. Công nghệ hoá quá trình giáo dục.  Công nghệ hoá quá trình giáo dục mới thực sự là cách hiện đại hoá nó.  Hiện đại hoá nền giáo dục thì mới có thể tạo ra bước phát triển căn bản và toàn diện.  2. Giải pháp phát triển giáo dục  Nên dùng thuật ngữ phát triển thay cho những “đổi mới”, “chấn hưng”, “cải cách”… giáo dục.  a. Về khái niệm phát triển  * Một trình độ phát triển là một thực thể tự nhiên, đã tồn tại như thế nào thì nó là thế ấy, một cách tự nhiên, với những ưu / khuyết điểm tự nhiên của chính nó. Nó đã thuộc về quá khứ thì vĩnh viễn là quá khứ, không thể làm gì với nó nữa. Hãy vui vẻ chấp nhận quá khứ ấy.  * Câu chuyện đáng nói là bước phát triển sắp tới. Một trình độ phát triển đặc trưng bởi cái mới lần đầu tiên được tạo ra theo nguyên lý mới, với tất cả những ưu / khuyết điểm của chính cái mới ấy.  b. Cái mới trong đời sống xã hội làm “cơ sở vật chất” cho giải pháp giáo dục hiện nay là gì?  * Về trẻ em. Tất cả 100% trẻ em sinh ra năm đầu tiên của thế kỷ XXI, năm 2001, đến năm 2007, đều vào học lớp Một và đến năm 2019, đều đi bầu đại biểu quốc hội: Tất cả 100% dân cư hiện đại là sản phẩm chính cống của giáo dục nhà trường.  * Về xã hội. Năm 2020, nước ta về cơ bản là nước công nghiệp. Lúc đó, nguồn cung cấp sức lao động cho nền sản xuất hiện đại đều phải là sản phẩm giáo dục, cả 100%.  c. Sứ mệnh của giáo dục trong xã hội hiện đại là gì?  * Cho cá nhân hưởng giáo dục được sống bình thường tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày.  Ngày trước, 95% dân cư thất học vẫn sống bình thường.  Ngày nay, chỉ để được sống bình thường, cả 100% dân cư phải đi học.  * Cho xã hội được yên lành, cho gia đình yên ấm, cho trẻ em hạnh phúc.  Khẩu hiệu của Trường Thực nghiệm Hà Nội từ năm 1978:  – Đi học là hạnh phúc.  – Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui.  3. Chủ động tạo ra cái mới  a. Lịch sử là lịch sử tự nhiên (Marx), vận động theo logic nội tại, với những ưu / khuyết điểm của chính mình.  * Giáo dục cần phải đáp ứng nhu cầu sống của thời đại.  Nền giáo dục cũ, tính từ thời Khổng Tử, tồn tại hàng ngàn năm cùng với nền sản xuất tiểu nông – tiểu thủ công , theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn cái hiện có, bằng cách “Phát huy ưu điểm / khắc phục khuyết điểm” của nó.  Phương thức tổng kết kinh nghiệm nhằm “Phát huy ưu điểm / khắc phục khuyết điểm” cái hiện có thì chỉ có giá trị trong vòng phấn nguyên lý của nó thôi ! Triệt để phát huy ưu điểm / khắc phục khuyết điểm của cày chìa vôi thì vẫn cứ là cày chìa vôi, không thể thành máy cày thuộc nguyên lý mới.  * Thực tiễn giáo dục là một hình thái tư duy giáo dục. Ở mỗi trình độ phát triển lịch sử, phương pháp tư duy là anh em ruột của phương thức sản xuất vật chất cùng thời.  Thời tiểu nông trì trệ hàng ngàn năm, tư duy dựa vào kinh nghiệm nhằm hoàn thiện cái hiện có, đưa nó đến tận giới hạn nguyên lý của nó.  Thời hiện đại (tính từ khi xác lập nền sản xuất đại công nghiệp) tư duy dựa vào khoa học (lý thuyết), rồi đi thẳng đến công nghệ (thực tiễn). Mỗi cái mới chưa kịp định hình để “rút kinh nghiệm” thì đã cũ, bị vượt bỏ.  Từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy khoa học, nhân loại thực hiện bước nhảy từ tự phát sang tự giác về sự vận động lịch sử, cũng như về hành vi của mình.  b. Nhu cầu sống được đáp ứng bằng giá trị của sản phẩm làm ra, mà giá trị này thì tuỳ thuộc vào kỹ thuật làm ra nó.  Xét theo nguyên lý, kỹ thuật sản xuất vật chất như thế nào thì cũng như thế ấy kỹ thuật giáo dục cùng thời.  Nghiệp vụ sư phạm cũ dùng công thức :  Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ   thực thi theo kỹ thuật “tiểu nông”, làm ra sản phẩm may rủi (học tài thi phận).   Nghiệp vụ sư phạm hiện đại đưa ra công thức:  Thầy thiết kế – Trò thi công  kèm theo công nghệ thực thi.  Có hai loại công nghệ cấp cho Nghiệp vụ sư phạm hiện đại.  Công nghệ Học (CnH) dùng trong lĩnh vực khoa học (hệ thống khái niệm khoa học) làm ra sản phẩm tất yếu (như sản phẩm của công nghệ sản xuất vật chất). Làm theo CnH thì ai cũng làm được, ai làm cũng như ai, làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy, làm bao nhiêu có bấy nhiêu…  Công nghệ giáo dục (CGD) dành cho hai lĩnh vực nghệ thuật / lối sống, làm ra sản phẩm mong muốn, vì có nhân tố phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân.  CGD hay CnH đều làm ra khái niệm. Khái niệm là sản phẩm dứt khoát của CnH, nhưng chỉ là bán thành phẩm đưa vào CGD.  Hegel chia ra 3 lĩnh vực tinh thần: Khoa học / Nghệ thuật / Tôn giáo.  Với Nghiệp vụ sư phạm hiện đại, lĩnh vực khoa học dùng CnH. Còn Nghệ thuật / Lối sống (đạo đức) thì dùng CGD.  Công nghệ nói chung, Công nghệ sản xuất, Công nghệ Học (CnH), Công nghệ giáo dục (CGD)… đều là các quá trình tự giác, được tổ chức và kiểm soát.  c. Nhờ có công nghệ sản xuất vật chất của đại công nghiệp, tư duy dùng sức mạnh vật chất thực thi bước chuyển dứt khoát từ Phạm trù người sang Phạm trù cá nhân.  Trong giáo dục, kỹ thuật “ Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ ” dùng tính đồng loạt để nâng cao năng suất giáo dục (một Thầy cho nhiều Trò). Ngày nay, Công nghệ Thầy thiết kế cho Trò thi công còn nâng cao hơn nữa năng suất, bằng cách cá thể hoá quá trình giáo dục.  Dựa vào Bản thiết kế có tính đồng loạt, mỗi cá nhân thực thi theo năng lực cá nhân mình. Ai cũng làm hết sức (nhưng không quá sức), không cản trở ai, cũng không bị ai cản trở. Mỗi cá nhân tự làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình thì bằng cách đó mà tự trở thành chính mình (ngôn ngữ triết học: Mỗi cá nhân tự sinh ra mình).  Mỗi trình độ kỹ thuật là một hình thái trực quan của tư duy. Thuở ban đầu, tư duy giáo dục chỉ biết xử lý đồng loạt vì thời đó, giáo dục cũng như cá nhân còn là thể đồng nhất trừu tượng. Tư duy giáo dục hiện đại với trình độ phát triển cao hơn đã nhìn nhận nó cụ thể hơn, đã biết cách phân tích thực thể trừu tượng ấy ra các thành phần cấu thành và phát hiện ra mối quan hệ nội tại giữa các thành phần đó.  II. THIẾT KẾ GIẢI PHÁP  Có thể hình dung thiết kế “Giải pháp căn bản và toàn diện” cho nền giáo dục hiện đại như thiết kế một nhà máy hiện đại, sản xuất theo công nghệ hiện đại.  – Có bộ khung “nhà” ở bên ngoài.  – Có thiết bị “máy” ở bên trong.  Trước hết, cần xây ngôi nhà.  Ngày trước, dựng nhà cổ truyền 5 gian thì chỉ mấy người giàu kinh nghiệm cũng có thể chỉ bảo, vì cái ngôi nhà gọi là “mới” thì chỉ mới về vật liệu: thay tranh bằng tôn, thay vách đất bằng tấm nhựa…  Ngày nay, dựng nhà 5 tầng thì phải thay đổi căn bản và toàn diện cách làm.    1. Khung nhà: Giáo dục phổ thông hiện đại.  Giáo dục phổ thông là một thực thể phát triển, ăn khớp với logic phát triển tự nhiên, qua các lứa tuổi của trẻ em hiện đại.  • Điểm xuất phát: Trẻ em 6 tuổi vào lớp Một.  • Lộ trình: Có hai phương án để chọn lựa (hoặc một, hoặc cả hai):  10 năm = 5 tiểu học + 5 trung học  11 năm = 6 tiểu học +5 trung học  Trong vòng 20 – 30 năm tới, nên chú ý hơn đến bậc tiểu học. Tất cả 100% trẻ em hiện đại buộc phải qua bậc tiểu học. Cả 100% dân cư đều có một trình độ học vấn tối thiểu vững chắc để sống bình thường là đáng mừng lắm rồi!  Lý giải  – Đầu thế kỷ XX, học xong tiểu học có thể đi làm, nhưng chỉ có số ít người được học.  – Đầu thế kỷ XXI, cả 100% trẻ em đều được học và phải học xong tiểu học thì mới có thể sống bình thường trong xã hội hiện đại.  Thời học tiểu học là thời hình thành nhân cách, với chất người và chất cá nhân, làm nên cái gốc văn hoá của đời người. Từ 0 đến 11/12 tuổi, em có chất văn hoá gì thì sau này văn hoá cá nhân em đặc trưng bởi tinh chất ấy.  Tiểu học là bậc học hoàn chỉnh, thuần Việt, vững chắc như gốc cây, như móng nhà. Thời học tiểu học phải đọng lại trong em niềm vui và hạnh phúc đi học, đi với em suốt đời.  Sang thời học trung học, từ 12/ 13 tuổi, em có nhu cầu vượt ra khỏi “vòng tay” gia đình, theo hướng “hội nhập” ngày càng sâu vào xã hội bên ngoài. Nên ủng hộ và tạo cơ hội cho em hội nhập (kể cả hội nhập quốc tế).  Trung học không phải là bậc học hoàn chỉnh. Trước đó, nó tuỳ thuộc vào “tiểu học” và sau đó, nó tuỳ thuộc vào sức lao động chuyên biệt cần có để đi làm.  Học xong trung học phổ thông, em chưa thể trực tiếp trở thành người lao động sản xuất của xã hội đương thời, em còn phải được đào tạo để có sức lao động cần thiết.    Kiến nghị :  Xét theo lợi ích cơ bản của đời người hiện đại, xin kiến nghị:  1. Không nên biến Mẫu giáo thành bậc học. Hãy để cho bé được hưởng trọn vẹn hạnh phúc tuổi thơ hồn nhiên trời cho.  2. Không nên kéo dài 12 năm giáo dục phổ thông : lãng phí thời gian và làm mất hứng thú học.  3. Các năm học trong một bậc học có thể xê dịch, tuỳ theo sự phát triển cá nhân. Nền giáo dục hiện đại cho cả 100% trẻ em nên hiểu theo nghĩa : nền giáo dục dành cho từng em một !    2. Thiết bị bên trong cơ bản nhất là sách giáo khoa cho Trò tự học (có Thầy).  – Thời Khổng Tử, sách “giáo khoa” lời lời châu ngọc của Thánh hiền, vang vọng từ trên cao, từ cõi thiêng chín tầng mây.  – Sách giáo khoa “Chương trình năm 2000” là “pháp lệnh” đầy quyền uy hành chính độc quyền.  – Sách giáo khoa ở Trường Thực nghiệm thì “đời” lắm, đủ mọi sự trần gian, vui có, buồn có, trang nghiêm có, bông lơn có, có cả lời thánh hiền lẫn lời muông thú…  * Sách giáo khoa với tư cách một khái niệm của Nghiệp vụ sư phạm hiện đại là gì ?  Trên giấy, sách giáo khoa là một hình thái cảm tính, trực quan, thiết kế dọc theo tiến trình tư duy của trẻ em đang phát triển.  Nói đến tư duy là nói đến khái niệm tư duy có được và dùng để tư duy.  • Sách khoa học thuần là khái niệm.  • Sách nghệ thuật/sách đạo đức thì dùng khái niệm làm cốt lõi “vật chất”.  Trên thực tiễn sư phạm, sách giáo khoa vừa là công cụ, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện, vừa là vật liệu… cấp cho Trò để tự làm ra sản phẩm giáo dục cho mình.  Có thể hình dung, Trò dùng sách giáo khoa như công nhân hiện đại dựa trên bản thiết kế, dùng thiết bị, vật liệu vật chất… để thi công làm ra sản phẩm.  Về tư duy giáo dục, sách giáo khoa là hình thái vật thể, trực quan, cảm tính của nguyên lý giáo dục, của nghiệp vụ sư phạm.  Các tác giả thiết kế Chương trình – sách giáo khoa xưa nay cãi nhau nên theo nguyên tắc nào : đồng tâm hay đường thẳng.  – Cách suy nghĩ (tư duy) giống hệt các cô gái đắn đo kén chồng : chọn con trai hay đàn ông.  * Sách giáo khoa ở Trường Thực nghiệm căn cứ vào tiến trình phát triển tự nhiên của trẻ em hiện đại, thiết kế theo 3 nguyên tắc :  1. Phát triển (về chất).  2. Chuẩn mực (tính hàn lâm).  3. Tối thiểu (về lượng).  Phát triển tự nhiên (của sự sống, của tư duy) đi theo tiến trình tự nhiên, từ trừu tượng đến cụ thể. Ở điểm xuất phát, thực thể phát triển còn là một thể đồng nhất trừu tượng. Rời khỏi đó, thực thể ấy tự phân hoá (một bước đi về phía cụ thể hơn).  Môn Tiếng Việt lớp Một CnH xuất phát từ Lời → Tách lời ra từng Tiếng nguyên khối → Tách Tiếng ra ba phần → Tách Tiếng ra từng âm vị → Dùng chữ ghi âm vị và ghi Tiếng.  III. THỰC THI GIẢI PHÁP                      Một Giải pháp giáo dục có tầm cỡ quốc gia, có ý nghĩa lịch sử có thể có  nhiều phương án. Bản này chỉ là một, thậm chí mới là một Đề cương. Tác  giả không mong có một lợi ích nào khác bên ngoài lợi ích của bản thân  giải pháp.              Độ an toàn của một giải pháp giáo dục, dù triển khai ở bất cứ cấp nào,  trên bất cứ mảnh đất nào của Tổ quốc Việt Nam, cũng phải đảm bảo tối đa  lợi ích cho Trẻ em hiện đại, vì tiến trình phát triển và trưởng thành tự  nhiên qua các lứa tuổi của cả thế hệ và của từng em, vì hạnh phúc tuổi  thơ.              Lương tâm và trí tuệ của thời đại chắc chắn sẽ tìm được giải pháp đích đáng.        Một giải pháp theo đúng khái niệm của nó là phải khả thi (về lý thuyết), rồi phải được thực thi, chuyển thành một hình thái trực quan cảm tính trong thực tiễn cuộc sống.  Sách giáo khoa tuy đã có một hình thái vật thể, trực quan, cảm tính… nhưng vẫn thuộc phạm trù lý thuyết, còn ở bên này – tinh thần. Nó phải sang được bên kia – thực tiễn. Thực hiện “bước nhảy sinh mệnh” này là Nghiệp vụ sư phạm.  1. Nghiệp vụ sư phạm hiện đại được “định nghĩa” bằng CnH và CGD.  CnH và CGD là một loại công nghệ, giống như “công nghệ lò cao” đặc trưng cho một công nghệ sản xuất xi măng.  CnH và CGD tự định nghĩa mình bằng cả lý thuyết lẫn thực tiễn.  Trường Thực nghiệm là một hình thái thực tiễn, thực chứng, thực tế, thực dụng của CnH và CGD. Mô hình này từng được đưa về 43 tỉnh / thành trong cả nước.  Toàn bộ sách ký tên Hồ Ngọc Đại đã xuất bản (12 quyển) quy về một tư tưởng khoa học dẫn đến CnH và CGD.  2. Trường sư phạm hiện đại được “định nghĩa” bằng Nghiệp vụ sư phạm hiện đại.   Khoa học cơ bản của Trường sư phạm gọi là Khoa học sư phạm, dưới hình thái CnH và CGD, bao gồm cả lý thuyết (khoa học) và thực tiễn hành nghề (công nghệ).  Ở Trường sư phạm, các tri thức xưa quen gọi là khoa học cơ bản như Toán, Lý, Ngôn ngữ… thì nay chỉ là vật liệu đưa vào CnH và CGD, giống như clinker đưa vào công nghệ xi măng.  Trường sư phạm là một nguồn cấp nhân lực cho Giải pháp, theo 3 chức năng :  Nghiên cứu để thiết kế CnH và CGD, rồi thi công mẫu, lập mô hình.  Đào tạo nhân lực để thực thi và tiếp nhận CnH và CGD.  Quản lý quá trình thực thi, như quản lý việc nhập công nghệ mới.  Ngoài ra, nên đưa cha mẹ học sinh (nhân vật thứ ba) vào cấu trúc chung của Nghiệp vụ sư phạm, như một nhân tố hữu cơ. Thuộc phạm trù “nhân vật thứ ba” còn có các nhân vật và tổ chức xã hội – chính trị. Tất cả (không có ngoại lệ) đều bị quy định nghiêm ngặt bởi Nghiệp vụ sư phạm hiện đại, bởi CnH và CGD, vì toàn xã hội cùng “làm ra” một sản phẩm chung là cá nhân học sinh.  3. Các bước triển khai Giải pháp  Giải pháp được triển khai theo chiều từ trên xuống. Nếu có phản hồi từ dưới (feedback) thì điều chỉnh từ trên.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp cho ngành kinh doanh giáo dục      Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, từ điện thoại thông minh đến những phương tiện giao thông tốc độ cao, những phương tiện giải trí hấp dẫn. Nhưng động cơ lợi nhuận – có tầm quan trọng sống còn trong nhiều lĩnh vực – dường như đã làm người ta thất vọng trong một lĩnh vực cực kì quan trọng là giáo dục.    Ở Mỹ, những trường học vì lợi nhuận có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp trong sáu năm là 22%, thấp hơn hẳn các trường phi lợi nhuận (60%). Các trường vì lợi nhuận chi tới 23% doanh thu cho việc tuyển sinh viên mới, trong khi các trường phi lợi nhuận chỉ chi có 1% mà thôi. Ở cấp tiểu học và trung học, tiêu chuẩn chất lượng ở các trường bán công (charter schools – các trường được tài trợ công nhưng hoạt động một cách tự chủ) được điều hành bởi các công ty hoạt động vì lợi nhuận thấp hơn tới 20% so với những trường do các tổ chức phi lợi nhuận điều hành; kém nhất lại cũng là những trường do các tổ chức vì lợi nhuận lớn nhất quản lí. Ngay cả các công ty chuyên cung cấp sách giáo khoa, phần mềm giáo dục, hệ thống quản lý, và các khoản vay cho sinh viên cũng không đạt tới mức độ xuất sắc mà doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác đạt được.   Kinh doanh giáo dục là hiện tượng không chỉ có ở Mỹ; nó là xu hướng toàn cầu. Những trường đại học vì lợi nhuận đang xuất hiện ở tất cả những nơi có nhu cầu cao về giáo dục đại học. Trong các nước đang phát triển ở châu Á và châu Mỹ Latin, nhiều lớp học mới và chương trình giảng dạy tiếng Anh trực tuyến đang tìm cách đáp ứng nhu cầu này, mặc dù có thể là quá sớm để đánh giá chất lượng những chương trình như thế.          Benefit Corporation (B Corp): Tập đoàn lợi ích là một hình thức công ty tồn tại ở một số bang ở Mỹ, dành cho các đơn vị vì lợi nhuận muốn xem xét cả các yếu tố xã hội và môi trường bên cạnh lợi nhuận trong quá trình ra quyết định của mình. Họ khác các tập đoàn truyền thống về:              (i) mục đích: không chỉ mang lại lợi ích cho công ty mà cả tác động tích cực đo đếm được cho xã hội và môi trường               (ii) trách nhiệm giải trình: phải xem xét tác động của các quyết định của họ không chỉ lên các cổ đông mà còn đối với cả xã hội và môi trường               (iii) tính minh bạch: cung cấp báo cáo lợi ích hằng năm về hiệu quả hoạt động xã hội và môi trường dựa trên một bộ tiêu chuẩn toàn diện, đáng tin cậy, độc lập và minh bạch của một bên thứ ba.              (Theo wikipedia.org)         Là người sáng lập một số công ty giáo dục vì lợi nhuận và là cố vấn cho nhiều công ty khác, tôi đã thấy các nhà quản lý và nhà đầu tư (trong đó có tôi) không chống cự nổi sức cám dỗ và đã đặt mục tiêu tài chính lên trên mục tiêu học tập. Đây là điều không đáng ngạc nhiên – phải qua mấy năm mới biết kết quả giáo dục, trong khi lợi nhuận và tiền thưởng cho các giám đốc điều hành được tính toán theo năm.  Tôi muốn tin rằng hiệu quả tài chính cao và chất lượng giáo dục xuất sắc không loại trừ lẫn nhau. Nói cho cùng, các trường học vì lợi nhuận có thể thuê đội ngũ nhân viên chất lượng cao, phản ứng nhanh trước những điều kiện đang thay đổi và tăng vốn nhằm mở rộng quy mô một cách nhanh chóng. Ví dụ, Hệ thống Đại học Công của Mỹ (American Public University System) và Renaissance Learning – công ty chuyên cung cấp phần mềm và công nghệ giáo dục – đã chứng minh rằng người ta có thể “thành công khi làm việc tốt”. Một trong những công ty của tôi đã kết hợp vốn, công nghệ và nhân lực cần thiết để cho phép sinh viên trên toàn thế giới truy cập những chương trình sau đại học trực tuyến hàng đầu của Mỹ. Đáng tiếc là, những dự án như thế thường là trường hợp ngoại lệ.  Ngành giáo dục phải tìm được một sự cân bằng tốt hơn giữa chất lượng và lợi nhuận tài chính. Mười bốn bang ở Mỹ đã bắt đầu làm như thế bằng cách cấp phép cho cái gọi là các tập đoàn lợi ích (hay còn gọi là B Corps) – những doanh nghiệp hứa sẽ xem xét không chỉ những giá trị của cổ đông trong các quyết định chiến lược của họ. Mặc dù B Corps được kì vọng ​​sẽ hành động vì lợi ích của xã hội, nhưng họ không thể bị ép; nếu họ biết nhìn xa hơn lời và lỗ thì họ sẽ tự nguyện làm như vậy.  Một giải pháp khả thi là tạo ra một biến thể của B Corp – gọi là E Corp – có khả năng làm thay đổi ngành giáo dục vì lợi nhuận. Một công ty giáo dục chỉ được công nhận địa vị E Corp khi những giá trị và kết quả của nó được minh bạch. Ví dụ, các trường cao đẳng do E-Corp làm chủ được yêu cầu cung cấp cho sinh viên tiềm năng các số liệu về tỉ lệ tốt nghiệp, mức nợ trung bình của sinh viên, và mức lương khởi điểm trung bình của những sinh viên có thành tích và mục tiêu học tập tương tự. Hơn nữa, các trường cao đẳng E-Corp có thể được yêu cầu công khai hóa số giảng viên, chi phí tiếp thị và quản lí phí tính trên một sinh viên, cũng như lợi nhuận trước thuế của họ.  Các nhà phê bình có thể phản bác rằng không ai quan tâm đến việc một công ty thu được bao nhiêu tiền lời, chỉ cần nó cung cấp dịch vụ đáng đồng tiền bát gạo là được rồi. Có lẽ thế, nhưng tại sao lại không chia sẻ dữ liệu và xem có bao nhiêu sinh viên ghi danh vào một trường khi họ hoàn toàn hiểu được khả năng thành công và đồng tiền của họ sẽ được sử dụng như thế nào? E-Corps còn phải phân tích và công bố kết quả của họ (kể cả những kết quả đáng thất vọng), vì nó sẽ khuyến khích các trường cải thiện dịch vụ của mình. Không phải toàn bộ ngành giáo dục có thể trở thành miễn phí, nhưng thông tin về giáo dục thì nên miễn phí.  Nhiều công ty có thể chấp nhận những cuộc cải cách như vậy chỉ đơn giản là để phục vụ sinh viên một cách tốt hơn. Nhưng chúng ta không nên xem thường sức mạnh đòn bẩy của chi tiêu công. Khi niềm tin vào các số liệu của E-Corp tăng lên, chúng ta có thể biến địa vị E-Corp thành điều kiện để tham gia các chương trình của chính phủ. Nói cho cùng, tại sao các công ty lại được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của người đóng thuế nếu họ không muốn đặt trách nhiệm và chất lượng giáo dục ít nhất là trên cùng một mặt bằng với mục tiêu lợi nhuận?  Ngay cả những công ty toàn tâm toàn ý với sứ mệnh giáo dục nhất cũng có thể bị cám dỗ mà hi sinh chất lượng giáo dục cho lợi nhuận thương mại cao. Danh hiệu E-Corp sẽ đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục có thể tiếp tục tập trung vào lời lỗ nhưng vẫn vươn lên vị trí dẫn đầu về đẳng cấp.  Phạm Nguyên Trường dịch từ bài viết của John S. Katzman, người sáng lập và giám đốc điều hành Noodle, một website chuyên tư vấn về giáo dục  Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary /john-s—katzman-proposes-a-new-way-to-reconcile-the-profit-motive-with-academic-success    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp chống lãng phí chất xám      Từng có cơ hội tham gia một hội đồng trao học bổng cho các sinh viên Việt Nam đi làm thạc sỹ nghiên cứu sinh tiến sỹ ở nước ngoài, tôi đã gặp nhiều em không hề được thông tin đầy đủ về các cơ hội việc làm cũng như các lĩnh vực chuyên môn mà đất nước đang cần để phát triển, dẫn đến những lựa chọn sai lầm làm lãng phí kỹ năng chuyên môn và tài năng của các em.  &#160;    Đây chỉ là một trong những ví dụ phổ biến của vấn đề đã kéo dài từ nhiều năm nay, với năm thực trạng phổ biến sau:     1. Chúng ta gửi sinh viên đi du học ở những lĩnh vực hầu như không có triển vọng ứng dụng ở Việt Nam và cơ hội việc làm là số không. Hậu quả là nạn chảy máu chất xám khi một số em không quay về nước, hoặc lãng phí chất xám khi các em quay về phải chuyển sang ngành khác.  2. Đa số các em đi du học mà không có ai ở trong nước được giao chức trách duy trì liên lạc với các em một cách đều đặn thường xuyên.  3. Đa số các phụ huynh và các thầy cô giáo hầu như không có đủ kiến thức, kinh nghiệm để tư vấn cho con mình một cách đúng đắn về việc lựa chọn sự nghiệp học hành.   4. Việt Nam không hề có dữ liệu của quốc gia về nhu cầu đào tạo cho các ngành, lĩnh vực chuyên môn trong khoảng 20 năm tới, hoặc nếu có thì sinh viên cũng không được tiếp cận.   5. Chúng ta rất thiếu những nỗ lực thúc đẩy, khuyến khích các em theo học các ngành, lĩnh vực chuyên môn thiết yếu mà đất nước đang hết sức cần.    Để góp phần thay đổi tình trạng này, tôi xin đưa ra hai giải pháp:   Cử người phụ trách từ trong nước cho mỗi nghiên cứu sinh thạc sỹ hoặc tiến sỹ ở nước ngoài có nhiệm vụ thường xuyên trao đổi, nắm bắt tiến trình học tập và tư vấn hỗ trợ các em khi cần thiết. Người phụ trách không cần phải có chuyên môn sâu, nhưng nên là cán bộ các trường, viện trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới ngành học của các em – tôi tin không ít cán bộ trẻ sẵn sàng đảm nhiệm chức trách này một cách tình nguyện – và khi cần có thể liên hệ với trường, viện hay các cấp thẩm quyền để hỗ trợ sinh viên du học xử lý các vướng mắc, khó khăn ngoài khả năng giải quyết của các em. Các trường, viện này cũng có thể là địa chỉ công việc để các em quay về khi học xong ở nước ngoài. Mỗi sinh viên đăng ký du học đều nên kèm điều kiện ràng buộc là có người phụ trách ở trong nước. Các trường ở nước ngoài hẳn sẽ không phản đối điều kiện này, bởi nó mang lại lợi ích chung cho tất cả các bên. Thực hiện giải pháp này tốn kém không đáng kể nhưng sẽ mang lại lợi ích quan trọng.  Hình thành một tổ chức ở tầm quốc gia có chức năng thường xuyên thu thập dữ liệu về thị trường lao động ở Việt Nam và các kênh đào tạo. Mỗi trường đại học, trường dạy nghề đều nên có văn phòng chi nhánh của tổ chức này, có chức năng định hướng, tư vấn, hỗ trợ học viên dựa trên những dữ liệu khách quan, có đầy đủ căn cứ thuyết phục. Họ sẽ chủ động tổ chức các sự kiện nhằm quảng bá, cung cấp thông tin cho học viên và mời các chuyên gia giàu kinh nghiệm về thị trường lao động tới giới thiệu cho học viên về triển vọng các ngành nghề. Các văn phòng này phải thường xuyên tích cực chủ động mời học viên tới liên hệ, sẵn sàng trao đổi cá nhân một cách trực tiếp hoặc qua mạng internet.   Như vậy chúng ta sẽ cần hàng nghìn chuyên gia tư vấn có năng lực, được chọn lọc và đào tạo một cách thích hợp trước khi phân công tới mọi vùng miền, đồng thời cần một trung tâm điều phối, giám sát họ một cách hữu hiệu. Đây sẽ là một công cụ hiệu quả giúp Chính phủ thu thập dữ liệu và định hướng phát triển lực lượng lao động của quốc gia một cách tốt nhất, chấm dứt tình trạng lãng phí chất xám và kỹ năng phổ biến lâu nay. Giải pháp này đòi hỏi tốn kém thời gian, tiền bạc, nhưng tôi hoàn toàn chắc chắn rằng lợi ích mà nó mang lại lớn hơn rất nhiều.   Thay vì chỉ loay hoay bàn về cải cách chương trình, sách giáo khoa, xếp hạng đại học, v.v. chúng ta nên chủ động hơn, có trách nhiệm hơn trong hỗ trợ thế hệ trẻ tiếp cận sự nghiệp của họ theo cách thiết thực cho bản thân họ cũng như cho sự phát triển của đất nước.        Thanh Xuân dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp giáo dục cho đầu thế kỷ XXI      Thời chúng ta đang sống là thời nào đây? Có phải tất cả người lớn lẫn trẻ em đang sống một thời đại chưa từng có trong lịch sử nhân loại, thời mà từ thế kỉ XIX, Marx đã dự đoán: lịch sử vận động với tốc độ một ngày (hiện đại) bằng 20 năm (cổ truyền), nhiều cái chưa kịp mới thì đã cũ. Trẻ em là con đẻ rứt ruột của thời đại mình. Trẻ em hiện đại là nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử. Những em sinh năm 2001, năm đầu tiên của thế kỉ XXI, đến năm học 2007 – 2008 thì vào lớp Một, tất cả 100% đều vào lớp Một và từ năm 2019 tất cả 100% ấy đều là cử tri đi bầu đại biểu Quốc hội. Vậy là từ năm 2019, toàn thể công dân Việt Nam ta, không kể nguồn gốc xuất thân và nơi sinh sống, tất cả 100% đều là sản phẩm chính thức, chính thống, chính cống của nền giáo dục đầu thế kỉ XXI: Nền giáo dục cho 100% dân cư.                        1.Nền giáo dục đại trà hiện hành, về bản chất, vốn là nền giáo dục cho 5% dân cư. Vì phải chịu tác động bằng sức mạnh vật chất của cuộc sống thực, người ta buộc phải tìm cách “đổi mới” để thích nghi. Ngặt nỗi, với cách làm ấy, dù có gọi là gì gì đi nữa: đổi mới, cải cách, chấn hưng… thì quanh đi quẩn lại chỉ nhằm cải tiến cái hiện có, theo cách cải tiến cày chìa vôi. Dẫu có làm bắp cày bằng vàng ròng, lưỡi cày bằng ti-tan thì cũng không hề động chạm đến khái niệm (bản chất) của nó, vẫn chỉ là cày chìa vôi. Một sự sang trọng  tốn tiền vô ích.  2. Đã vào sâu thế kỉ XXI, đâu còn ở thế kỉ XVIII, mà cứ chần chừ hỏi đi hỏi lại, liệu có nên thay cày chìa vôi bằng máy cày. Ở thế kỉ XXI, chỉ có máy cày mới đáp ứng được nhu cầu sống của cuộc sống thực.  Ở thế kỉ XVIII, 95% dân cư không đi học vẫn sống bình thường, nhưng chỉ để được sống bình thường ở thế kỉ XXI thì cả 100% dân cư phải đi học.  Nền giáo dục cho 5% dân cư thì (theo triết lý): Nhà trường là nơi chuẩn bị cho học sinh vào đời, cụ thể là chuẩn bị làm quan hay tìm cơ hội ngoi lên, thoát khỏi cuộc sống thực của chính mình.  Nền giáo dục cho 100% dân cư thì (theo triết lý): Nhà trường là nơi học sinh đang sống cuộc sống thực của chính mình, sống với những hạnh phúc thực, sống với những đau khổ thực, sống với những hạnh phúc hay đau khổ ngay bây giờ, ngay ngày hôm nay.                            3. Thời trước chỉ có 5% dân cư đi học, nếu chẳng may cả 5% ấy thất bại (ví dụ, thi trượt) thì 95% còn lại vẫn làm ăn sinh sống bình thường, họ tự nuôi sống mình và nuôi không số 5% kia.  Nay nền giáo dục cho 100% thất bại thì còn trông cậy vào ai? Cả dân tộc sẽ khốn đốn, đất nước sẽ lụn bại.  Cải tiến nền giáo dục hiện nay giống như nống ra, cơi nới ngôi nhà trệt cổ truyền, thì thành một ngôi nhà không phù hợp với bất cứ khái niệm nào, một vật dị dạng. Nếu nhất thiết phải xây dựng nền giáo dục cho 100% dân cư hiện đại thì phải căn cứ vào hệ thống khái niệm của chính nó mà thiết kế và thi công, giống như xây dựng ngôi nhà tầng hiện đại.  4. Làm một cái chưa hề có chẳng qua là cách đáp ứng một nhu cầu chưa hề có của cuộc sống thực. Theo Marx, một khi nảy sinh nhu cầu mới thì trong lòng cuộc sống thực đã có điều kiện vật chất để thoả mãn nó. Xin lưu ý, cái chưa hề có này chứa trong bản thân mình nhân tố chính trị – xã hội, kẻ đề ra nhiệm vụ bất khả kháng, và nhân tố nghiệp vụ, kẻ phải thực thi nhiệm vụ ấy. Stalin cho tôi một ví dụ đích đáng. Ông mời ba nhà vật lý học đến giao nhiệm vụ làm bom nguyên tử. Vì sao ông không giao cho Bộ trưởng Quốc phòng, người giàu kinh nghiệm làm hàng triệu triệu quả bom thường? Riêng một ví dụ này cũng đủ nói lên cơ chế phân công – hợp tác trong nền văn minh hiện đại. Không còn nữa tính “toàn diện” thời trước, một lão nông thất học có thể tự mình làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh (hạt thóc), rồi ỷ thế quyền gia trưởng mà ra lệnh độc đoán, can thiệp vào việc của người khác. Ngày nay, mỗi cá nhân hiện đại chỉ có thể làm ra một sản phẩm bộ phận, thì mỗi người phải là người giỏi nhất làm việc của mình.  5. Theo cơ chế phân công – hợp tác, để xây dựng nền giáo dục hiện đại cho 100% dân cư, thì:                    Một. Đảng và Nhà nước bảo đảm về mặt xã hội – chính trị: Ai cũng được học. Toàn thể 100% Trẻ em, không phân biệt nguồn gốc xuất thân và nơi sinh sống, cả 100% đều được học.  Hai. Các chuyên gia giáo dục phải giỏi nghiệp vụ: Ai cũng học được. Nền giáo dục cho 5% dân cư thì có thể phập phù may rủi, “học tài thi phận”. Nền giáo dục cho 100% dân cư không được phép “đặt cược phần trăm may rủi”, mà phải học gì được nấy, học đâu chắc đấy. Lại xin lưu ý, mỗi học sinh không phải là 1% trong số 100 em, mà mỗi học sinh là 100% đối với chính em ấy, đối với gia đình em, đối với ba họ nhà em. Chỉ với nền giáo dục hiện đại mới có phép toán kì lạ này:  100% (học sinh toàn quốc) = 100% em A + 100% em B + …  …+ 100% em N +…  6. Nền giáo dục thời nào cũng gắn liền máu thịt với cung cách làm ăn đương thời.  Nền giáo dục cho 5% dân cư thì gắn với nền sản xuất tiểu nông. Cả hai đều phập phù may rủi, trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm, đâu dám trông vào chính mình!  Nền giáo dục cho 100% dân cư là anh em ruột cùng cha cùng mẹ với nền sản xuất đại công nghiệp, làm ra sản phẩm tất yếu: làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy.  CÁCH LÀM (nghiệp vụ sư phạm) là nhân tố quyết định thành bại trên thực tiễn sư phạm.  CÁCH LÀM của Nền giáo dục cho 5% dân cư:  Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ  CÁCH LÀM của Nền giáo dục cho 100% dân cư:  Thầy thiết kế – Trò thi công  Nghiệp vụ sư phạm hiện đại đưa ra Nguyên tắc vàng: Học sinh tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, nhờ vậy mà trở thành chính mình, thành một cá nhân duy nhất, có một không hai trên hành tinh này!  Nguyên tắc vàng ấy cấm đưa đến cho học sinh những sản phẩm làm sẵn, rồi bắt học sinh ghi nhớ.  Mỗi CÁCH LÀM (phương pháp) đặc trưng cho một trình độ phát triển lịch sử. Marx nói rằng các nền kinh tế khác nhau không phải sản xuất ra CÁI gì, mà sản xuất bằng CÁCH nào. Hegel thì cho rằng toàn bộ triết học thâu tóm vào phương pháp.  7. Phương pháp tôi nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong 40 năm qua có thể thâu tóm vào Công nghệ giáo dục và từ năm 2000, tách ra cái cốt lõi vật chất (là khái niệm) thì có công nghệ học.  Năm 1976, trên diễn đàn trước các viện sĩ, giáo sư, tiến sĩ tâm lý học Liên Xô, trong Hội đồng chấm luận án tiến sĩ khoa học, tôi nói rằng phương pháp của tôi có thể trao tận tay cho từng giáo viên đứng lớp. Nay, năm 2010, tại diễn đàn này, tôi xin nói lại: Phương pháp của tôi (công nghệ học/ công nghệ giáo dục) có thể trao tận tay cho từng em học sinh. Chứng cứ: Học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa, ở nơi hẻo lánh nhất của “ba Tây” (Tây Bắc – Tây Nguyên – Tây Nam Bộ), những em chưa biết tiếng Việt, thậm chí còn chưa ra khỏi bản làng, học theo Công nghệ học thì chỉ sau một năm học đã đọc thông viết thạo, nắm vững luật chính tả và không thể tái mù.  8. Rút cục, mọi câu chuyện phải thâu tóm vào Giải pháp.  Một Giải pháp theo đúng khái niệm của nó phải là khả thi. Các văn bản to nhỏ cao thấp hay dở vẫn còn ở bên này tinh thần, rất có thể chỉ là giấy lộn, nếu không sang được bờ kia thực tiễn, làm nên máu thịt của Cuộc sống thực.                  Từ Nền giáo dục cho 5% dân cư sang Nền giáo dục cho 100% dân cư, về mặt triết học, là từ nguyên lý lỗi thời sang nguyên lý mới, còn về mặt lịch sử, là một bước nhảy sinh mệnh (chữ của Marx), quyết định số phận của toàn thể 100% dân cư: Xin đừng làm liều, phải đảm bảo an toàn sinh mệnh của cả dân tộc! NGHĨ như vậy, tôi LÀM một chiếc cầu bắc qua hai nền giáo dục, nối hai bờ nguyên lý, gọi ước lệ là Đề cương 9 điểm: Đi 3 bước – Làm 3 việc – Phân công cho 3 nhân vật.  Đề cương có ba hàng và ba cột:  Ba bước: Trung ương – Địa phương – Đại trà  Ba việc: Nghiên cứu – Đào tạo – Chỉ đạo  Ba nhân vật: Học sinh – Thầy giáo – Cha mẹ và các nhân vật thứ ba khác.  Xin bắt đầu từ cột đầu tiên: Trung ương – Nghiên cứu – Học sinh.  a. Học sinh là nhân vật số 1. Hai nhân vật còn lại cũng chỉ vì nhân vật số 1 này, xoay quanh nhân vật số 1 này, lấy nhân vật số 1 này làm chuẩn, làm nơi đi và nơi đến, làm sự sống, sức sống và lẽ sống của chính mình. Nói rộng ra, toàn bộ sự nghiệp giáo dục chỉ vì một nhân vật Học sinh.  Nói đến Học sinh thì nói đến CÁI gì?  – LỢI ÍCH.   Lợi ích là một phạm trù triết học, hiện thân thành các thực thể trực quan cảm tính trong cuộc sống thực. Lợi ích của Học sinh gồm có: Trưởng thành tự nhiên về cơ thể và Phát triển tự nhiên về tinh thần. Cả hai làm nên dòng chuẩn cho nền giáo dục uốn theo.  b. Nghiên cứu khoa học về sự phát triển tự nhiên bằng phương thức thực nghiệm trên Trẻ em bình thường, nhằm xác lập Mô hình giáo dục, là  một sáng tạo của Tâm lý học nửa sau thế kỷ XX.  c.  Làm ra một Mô hình giáo dục giống như làm ra một quả bom nguyên tử: Làm được một thì sẽ làm thêm được cả trăm, ngàn, vạn quả bom nữa. Việc sống chết như vậy phải giao cho những chuyên gia giỏi nhất làm ở cấp Trung ương.                  d. Giải pháp giáo dục phải bắt đầu từ cấp Trung ương, bắt đầu từ nghiên cứu khoa học và bắt đầu từ Học sinh. Chừng nào mà sự “bắt đầu” từ cột 1 đáng tin cậy thì mới chuyển sang tìm Giải pháp cho cột 2: Địa phương – Đào tạo – Thầy giáo.  Từ cột 1 sang cột 2 là việc chuyển giao công nghệ.          Lập Mô hình là xác lập một công nghệ. Công nghệ này tuy đã xác lập ở Trung ương, nhưng để đảm bảo an toàn, còn phải kiểm nghiệm kỹ hơn, lần này kiểm nghiệm bằng số nhiều ở cấp Tỉnh, đồng thời triển khai việc đào tạo ở trường Sư phạm và bồi dưỡng giáo viên đang đứng lớp.  Dừng lại một nhịp ở cấp Tỉnh để chờ cho an toàn giáo dục đạt độ tin cậy cao hơn. Lấy gì để đo độ an toàn này?  – LỢI ÍCH của Học sinh.  Nền giáo dục hiện đại nếu đã coi Nhà trường là nơi Học sinh đang sống cuộc sống thực của chính mình thì Học sinh phải được hưởng LỢI ÍCH cơ bản nhất: Đi học là hạnh phúc, mà Học sinh có thể tự mình cảm nhận được: Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui!  Hạnh phúc đi học và Niềm vui đi học “làm ra” từ LỢI ÍCH của cá nhân. Bất cứ LỢI ÍCH nào cũng phải hiện thân ở các vật thể ở bên ngoài đầu óc, mà trong giáo dục là ở các sản phẩm do Học sinh tự làm ra cho chính mình, vậy nên phải có CÁCH học, sao cho học gì được nấy, học đâu chắc đấy, ví dụ, học theo công nghệ học.  Công nghệ học (cho học sinh) phải là cốt lõi của nghiệp vụ sư phạm hiện đại, dùng để đào tạo (ở trường Sư phạm) và bồi dưỡng (giáo viên đứng lớp).  e. Công nghệ học/Công nghệ giáo dục đã được kiểm định bằng số nhiều ở cấp tỉnh, cho đến khi đạt độ an toàn tin cậy (không được phép “đánh cược” với số phận của số đông) thì mới chuyển sang cột 3: Triển khai đại trà.  Sang bước 3 này, cha mẹ học sinh (và các nhân vật thứ ba khác) phải vào cuộc và cùng vào cuộc cả bộ phận chỉ đạo (quản lý).         Sang bước 3 – triển khai đại trà – tức là đã sang được bên này, – nền giáo dục hiện đại cho 100% dân cư, xây dựng theo nguyên lý mới, chưa hề có.  g. Tìm CÁCH làm ra cái CÓ mang năng lượng vật chất cấp cho bước chuyển từ Nền giáo dục cho 5% dân cư sang Nền giáo dục cho 100% dân cư là sứ mệnh của một Cơ quan nghiên cứu khoa học – Công nghệ giáo dục.  Nhân đây xin lưu ý: Một tổ chức nghiên cứu khoa học (nói chung) tự “định nghĩa” bản thân mình bằng một Hướng đi mới về khoa học và một Cách làm mới về công nghệ. Không có công nghệ mới thì nói hiện đại hoá chỉ là nói suông, thậm chí còn giả dối nữa! Lịch sử tồn tại và phát triển bằng sức mạnh vật chất, bằng những cái CÓ, do đó, vấn đề then chốt của một giải pháp (trong bất cứ lĩnh vực nào) là ở công nghệ làm ra cái CÓ, sản phẩm có thực.  h. Vấn đề then chốt của Giải pháp giáo dục là phải đáp ứng được LỢI ÍCH của Học sinh hiện đại.  LỢI ÍCH của Học sinh hiện đại, đương nhiên, có cả LỢI ÍCH của học trò thuộc 5% dân cư trước đây, nhưng then chốt của Giải pháp hiện đại là ở LỢI ÍCH lần đầu tiên có và đem đến cho cả 100% Trẻ em hiện đại.  LỢI ÍCH hiển hiện một cách trực quan cảm tính tại các thực thể gọi là CÁI. Để có được LỢI ÍCH đích đáng nhất, học sinh phải thực có CÁI gì? Câu hỏi này bao hàm cả câu hỏi thứ hai: bằng CÁCH nào để có CÁI đó? Vậy là, rút cục, Giải pháp giáo dục thâu tóm vào hai chữ: CÁI/CÁCH.  Cả CÁI lẫn CÁCH đều mới, đều là những cái CÓ chưa hề có trong quá khứ, không thể tổng kết kinh nghiệm từ những cái CÓ và KHÔNG của nền giáo dục cho 5% dân cư mà xác lập được CÁI / CÁCH của nền giáo dục cho 100% dân cư, giống như không thể tổng kết kinh nghiệm làm hàng triệu quả bom thường mà làm ra được một quả bom nguyên tử!  Với nền giáo dục hiện đại, một CÁCH làm mới, gọi là công nghệ giáo dục/công nghệ học, chỉ có thể ra đời và hình thành trong hoàn cảnh lịch sử của chính nó, từ nửa sau thế kỷ XX.  y.. Giải pháp hai chữ CÁI/ CÁCH dựa trên những thành tựu tâm lý học nửa sau thế kỷ XX, khi đã nhận ra một cách tường minh quá trình chuyển vào trong và còn nhận thức cụ thể hơn các giai đoạn chuyển vào trong. Tôi mô tả các thành tựu ấy bằng công thức giản đơn: A → a.  A ở bên ngoài đầu óc học sinh  a ở trong đầu học sinh  → quá trình chuyển vào trong.  Về bản chất, các thực nghiệm giáo dục từ năm 1960 đến nay đều triển khai theo công thức ấy.  Chọn A vì LỢI ÍCH của học sinh hiện đại, trong đó có cả A cổ truyền với tư cách một nhân tố trong A hiện đại. Ví dụ, chúng tôi đưa hệ đếm và phép toán đại số vào lớp Một, để học sinh thấy được hệ thập phân chỉ là một, chứ không phải duy nhất, còn các phép tính số học chỉ là các biểu hiện cụ thể trên vật liệu số của phép toán. Cũng tương tự, chúng tôi lấy cấu trúc ngữ âm của Tiếng làm A cho Môn Tiếng Việt lớp Một, còn chữ chỉ là một vật thay thế.  Chọn CÁI A chưa hề có, xác lập CÁCH → chưa hề có, để có được a trong đầu mỗi em học sinh, đấy là cốt lõi vật chất của Giải pháp giáo dục. Cả ba thành tố của công thức đều phải được làm ra thì trước hết hãy làm bằng phương thức thực nghiệm trên học sinh bình thường, đấy là sự sống, sức sống và lẽ sống của Trường thực nghiệm.  Trường thực nghiệm như một chiếc van an toàn lắp vào Giải pháp giáo dục: Dựa trên số nhỏ học sinh trường Thực nghiệm có thể thiết lập một Mô hình giáo dục cho hàng triệu học sinh cả nước.  Vì tình yêu vô hạn dành cho Trẻ em,   Vì tin rằng lớp lớp trẻ em hiện đại sẽ làm rạng danh đất nước Việt Nam ta, làm rạng danh các thế hệ ông cha từng được nhân loại coi là trí tuệ và lương tâm của thời đại,  Vì muốn cho Trẻ em hiện đại được hưởng hạnh phúc và niềm vui đi học, hưởng một nền giáo dục xứng đáng, tôi còn sức còn làm tiếp những việc dang dở, rồi phải tìm một mảnh đất mới để  – mở trường Thực nghiệm mới,  – lập cơ quan nghiên cứu khoa học mới.  Tháng 5 năm 2009, chúng tôi đã thành lập Viện Công nghệ giáo dục, thuộc Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam.  Viện Công nghệ giáo dục do tôi làm viện trưởng vẫn đi theo Hướng ấy, vẫn làm theo Cách ấy và dùng Đề cương 9 điểm để thiết kế một Giải pháp giáo dục cho đầu thế kỉ XXI.  Cuối cùng, xin thưa cùng các bạn, Hồ Ngọc Đại chỉ là cái tên ước lệ để tiện nhận mặt những sản phẩm làm ra bằng công sức và tấm lòng của cán bộ, giáo viên, nhân viên, cộng tác viên, của học sinh, của cha mẹ học sinh, ở Hà Nội và ở các địa phương khắp ba miền đất nước. Một cá nhân sao có thể xây lên toà tháp đồ sộ đến thế, thế mà tháp ấy người ta vẫn gọi ước lệ là tháp Eiffel đấy thôi !     Author                Quản trị        
__label__tiasang GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC: Bắt đầu như thế nào?      Suốt 30 năm qua, chúng tôi vẫn kiên trì Hướng đi và Cách làm ấy, mà bây giờ nói ra nghe rất tự nhiên:  Hướng đi – Hiện đại hoá nền giáo dục.  Cách làm – Công nghệ hoá quá trình giáo dục.  Sự định hướng có vẻ mơ hồ ấy lại có ý nghĩa quyết định cho một Giải pháp phát triển giáo dục.    Trong nền văn minh hiện đại, mọi sản phẩm bắt đầu từ việc thiết kế. Thiết kế bắt đầu từ ý tưởng. Ý tưởng thể hiện triết lý về sản phẩm. Sản phẩm này đã có đủ những điều kiện vật chất trong Cuộc sống thực. Cuộc sống thực này là thực tại của tư duy… Người thiết kế, nói đúng hơn năng lực thiết kế, là biểu tượng của sản phẩm (công trình). Tháp Eiffel đâu phải chỉ thể hiện năng lực thiết kế của một cá nhân tên là Eiffel.  Năng lực thiết kế phải đủ sức làm theo đúng “Đầu bài” ra trước. Ví dụ mẫu mực là xây dựng các công trình hiện đại: Toà nhà dùng để làm gì, cơ cấu ra sao, mỗi thành phần (của cơ cấu ấy) có chức năng gì, xây dựng trên khu đất nào, trong bao lâu, tốn kém đến đâu… Tất cả đều phải dựa trên cứ liệu tin cậy, có thể kiểm soát được. Từ việc dựng ngôi nhà trệt 5 gian chuyển sang xây toà nhà 5 tầng, năng lực thiết kế phải cao hơn một tầm nguyên lý. Cũng vậy, từ nền giáo dục cho 5% dân cư chuyển sang nền giáo dục cho 100% dân cư, năng lực thiết kế cũng phải cao hơn một tầm nguyên lý.  Xây dựng toà nhà hiện đại hay xây dựng nền giáo dục hiện đại cho cả 100% dân cư đều phải có những cứ liệu vững chắc không thể đánh đổ được. Trong giáo dục, cứ liệu cơ bản nhất là Trẻ em. Năm 2001, Mỹ công bố Bản đồ gene, cho biết Trẻ em sinh ra đều có đến 99,9% số gene giống nhau, không kể nguồn gốc xuất thân, nơi sinh sống… chỉ còn cứ liệu về trí lực của Trẻ em hiện đại là phải thăm dò, giống như kiến trúc sư phải thăm dò địa chất để tính sức chịu lực mà toà nhà sẽ đè lên. “Máy thăm dò trí lực” của Trẻ em hiện đại có tên gọi là Trường Thực nghiệm. Nhờ nó, các nhà giáo dục phát hiện ra “trữ lượng trí tuệ” của Trẻ em hiện đại lớn đến mức không ngờ. Trong những năm 1970-76, tại Trường Thực nghiệm số 91, Mat-xcơ-va, tôi cũng thu được những cứ liệu thật ngỡ ngàng (Luận án tiến sĩ khoa học, 1976). Trường Thực nghiệm, một “phương tiện” nghiên cứu sự phát triển của học sinh bình thường, là một sáng tạo độc đáo của những năm 60 thế kỷ trước, dám ví như máy ly tâm khai thác năng lượng hạt nhân.  Năm 1977, về nước, tôi được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nghe trình bày rồi cho phép mở trường Thực nghiệm Giảng Võ – Hà Nội, từ năm học 1978-79 (mới chỉ có học sinh lớp Một).  Trong tay có cứ liệu quý giá của cuộc “nổi loạn” trong giáo dục những năm 60 trên thế giới, cùng với những cứ liệu rất đáng tin cậy của Trường Thực nghiệm số 91 Mat-xcơ-va từ 1960 đến 1976, nên ngay từ đầu, từ năm 1978, chúng tôi đã mở Hội thảo khoa học Hướng đi và Cách làm, mời đến dự hầu hết các nhà khoa học và hoạt động xã hội danh tiếng nhất, như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Khắc Viện… và lớp trẻ như Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Phan Đình Diệu… GS Nguyễn Lân Dũng nói đùa: nếu nó đầu độc thì mất sạch nền khoa học nước ta!  Năm sau, 1979, qua một năm thực nghiệm, nảy sinh quá nhiều chuyện, chúng tôi lại mở Hội thảo khoa học mang tên Vẫn đi theo hướng ấy! Vẫn làm theo cách ấy!  Suốt 30 năm qua, chúng tôi vẫn kiên trì Hướng đi và Cách làm ấy, mà bây giờ nói ra nghe rất tự nhiên:  Hướng đi – Hiện đại hoá nền giáo dục.  Cách làm – Công nghệ hoá quá trình giáo dục.  Sự định hướng có vẻ mơ hồ ấy lại có ý nghĩa quyết định cho một Giải pháp phát triển giáo dục. Hiện đại hoá nền giáo dục để tạo ra một bước phát triển và muốn có được một bước phát triển đích thực thì phải công nghệ hoá quá trình giáo dục. Chỉ cãi lý và nói lý về những chuyện ấy thì không bao giờ ngã ngũ, nếu không thực nghiệm trên những học sinh bình thường rất thực. Ví dụ, liệu có thuyết phục bằng lời rằng học sinh lớp Một chỉ cần một năm học là tự mình phân giải được cấu trúc ngữ âm của bất cứ tiếng nào, sau đó, có thể ghi lại (viết), rồi đọc lại. Chỉ cần một năm học, tất cả học sinh lớp Một đều đọc thông viết thạo, nắm chắc luật chính tả và không thể tái mù. Ví dụ nữa, học sinh lớp Một chỉ cần học xong học kỳ I là học xong dãy số tự nhiên trong các Hệ đếm khác nhau.  Nghiên cứu giáo dục bằng phương thức thực nghiệm trên trẻ em bình thường học ở trường phổ thông, sau nửa thế kỷ đã trở thành một phương thức nghiên cứu “kinh điển”. Những cứ liệu thu được bằng thực nghiệm là cơ sở đáng tin cậy nhất, đảm bảo độ an toàn giáo dục cao nhất cho một Giải pháp phát triển giáo dục của thế kỷ XXI.  Với Năng lực thiết kế được bảo lãnh bằng thực nghiệm giáo dục ở Hà Nội trong 30 năm qua thì “Đề bài” về nền giáo dục cho 100% dân cư có thể thâu tóm vào 8 chữ này: Ai cũng được học, học gì được nấy.  Ai cũng được học – một vấn đề xã hội – chính trị của thế kỷ XXI.  Học gì được nấy – một vấn đề nghiệp vụ sư phạm hiện đại.  Hưởng một nền giáo dục như thế thì ai cũng như ai, tất cả học sinh mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui, đi học là hạnh phúc.  Nền giáo dục xưa nay như con đò dọc trên dòng sông cuộc sống. Đã mấy ngàn năm, rồi mấy trăm năm, con đò ấy lững lờ trôi trên con sông kẹp chặt giữa đôi bờ. Càng xa cội nguồn, sông càng rộng, đò càng to, chở càng đông học trò, và trăm sự vẫn chỉ trông vào kinh nghiệm một ông Thầy. Rồi cũng qua đi hàng chục thế kỷ. Rồi cũng đến thế kỷ XXI. Con đò ấy đã tới cửa sông. Trước mắt, mênh mông biển cả… mà bé nhỏ làm sao con đò, mà còn có ích bao năm kinh nghiệm ngàn năm của Ông Thầy cổ truyền?  Chuyện đã qua là thế.  Xem tiếp kỳ sau: Thế nào đây chuyện sắp tới?  Hồ Ngọc Đại       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp phát triển giáo dục: Công nghệ học      Giải pháp phát triển giáo dục nhằm thực thi một nhiệm vụ xã hội – chính trị, đặc trưng cho trình độ phát triển của lịch sử hiện đại, với những gì chưa có trong toàn bộ lịch sử hiện thực trước đây. Theo nghĩa đó, thế hệ trẻ hiện đại là nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Một cách tự nhiên đương nhiên, thế hệ ấy cần có một nền giáo dục của riêng mình, vì mình, cho mình – một nền giáo dục chưa hề có trong quá khứ.    Ở trình độ văn minh hiện đại, muốn hình thành nên một nền giáo dục mới, chưa hề có trong quá khứ thì phải  làm một việc làm tự giác, mà trước hết được định hướng bằng lý thuyết. Lý thuyết càng triệt để càng có cơ may đúng. Một lý thuyết triệt để có thể hình dung như một đường thẳng. Thế mà đời sống hiện thực của hàng triệu triệu người (tức là lịch sử hiện thực) lại không bao giờ đi thẳng một mạch theo “đường thẳng lý thuyết”. Nó như một dòng sông từ thượng nguồn chảy “thẳng” ra biển. Mà dòng sông có thực trong đời thì uốn lượn vòng vèo qua từng khúc quanh co, vì buộc phải nhân nhượng và hòa giải với đặc điểm từng vùng thổ địa đi qua. Dẫu sao, một giải pháp phát triển giáo dục cũng phải triệt để về lý thuyết, và chỉ nhờ vào tính triệt để về lý thuyết đó mà có bản lĩnh dám để ngỏ một khả năng mềm dẻo trong hành động. Nếu giải pháp phát triển giáo dục triệt để về lý thuyết, mềm dẻo trong hành động, thì hy vọng là khả thi.  Một ví dụ mẫu mực:  * Phát hiện ra hành động tha hóa dưới hình thức lao động làm thuê là một phát hiện đúng về lý thuyết.  * Phát hiện ra sức lao động sống là cái duy nhất làm ra giá trị thặng dư, do đó phát hiện ra sự bóc lột sức lao động của người lao động làm thuê là một phát hiện có tính triệt để về lý thuyết.  Tuy nhiên, từ một lý thuyết triệt để như vậy mà đòi ngay lập tức xóa bỏ lao động làm thuê thì lại không mềm dẻo trong hành động.  Lịch sử là lịch sử tự nhiên (Mác). Mỗi bước phát triển lịch sử là một bước đi tự nhiên, theo tiến trình logich nội tại của nó.  Tuân theo tính tất yếu lịch sử ấy, đã đến lúc cần tự giác thực hiện dứt khoát bước phát triển tự nhiên: từ nền giáo dục cho 5% dân cư chuyển sang nền giáo dục cho 100% dân cư, thực hiện một bước nhảy về nguyên lý.  Một khi nền giáo dục cho 100% dân cư đã sang bên này, nền giáo dục cho 5% dân cư ở lại bên kia, thì sẽ lộ rõ toàn bộ sự khác biệt về bản chất lý thuyết, từ đó tất yếu phải thay đổi cách làm thực tiễn.  Sự khác biệt cơ bản về lý thuyết và cách làm thực tiễn của một nền giáo dục hiện nay và của nền giáo dục ở trình độ phát triển mới dành cho 100% dân cư là hình ảnh trực quan cho thấy sự khác biệt giữa kinh nghiệm nhà giáo và khoa học giáo dục hiện đại.  Mấy ngàn năm tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa thống trị độc tôn trong giáo dục, nhờ sự “bảo lãnh bằng vàng” từ cung cách làm ăn nông nghiệp lạc hậu hàng ngàn năm của số đông 80 – 90% dân cư.  Tư duy khoa học trong vòng vài năm nay vì sức ép của nền sản xuất đại công nghiệp mà từng bước giành lấy vai trò chủ đạo và ngày nay đã có tác động chi phối đời sống hiện đại. Riêng chỉ có giáo dục bao giờ cũng là kẻ lẽo đẽo đi theo sau. Lạc hậu nhất lại chính là khoa học giáo dục.  Đầu óc tư duy của số đông tác giả ấy bị khóa chặt trong vòng kim cô của kinh nghiệm, nên giỏi lắm cũng chỉ biết làm vài thao tác cơ học như “nới ra”, “nống lên”, “kéo dài” hoặc “trẻ hóa” các cách xử lý nghiệp vụ có được bằng tổng kết kinh nghiệm từ thời “nước lã – nền giáo dục cho 5% dân cư”.  Nền giáo dục cho 100% dân cư sẽ căn cứ vào bản chất lý thuyết của mình mà xác lập cách làm thực tiễn đặc trưng cho mình, khác hẳn với nền giáo dục hiện nay, cũng như đại công nghiệp khác hẳn với nông nghiệp lạc hậu.  Một khi nền giáo dục đã dành cho cả 100% dân cư, thì nó sẽ trở thành tự nhiên như một nhân tố hữu cơ  làm nên sự sống tự nhiên của mỗi cá nhân. Lúc ấy, được hưởng giáo dục để phát triển cũng tự nhiên như ăn uống, hít thở không khí để sống (tồn tại) và trưởng thành.  Nếu trước đây, Hegel cho rằng lao động, loài người tự sinh ra mình, thì ngày nay, bằng việc học, mỗi cá nhân tự sinh ra chính mình, tự trở thành chính mình. Nếu lao động làm ra sản phẩm vật chất, tạo ra giá trị, thì việc học cũng làm ra sản phẩm, tạo ra giá trị.  Nguyên tắc vàng của nền giáo dục mới là: Mỗi cá nhân tự làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, tự trở thành chính mình.  Sự khác biệt giữa thực lực và bằng cấp cũng ví như sự khác biệt giữa giá trị và giá cả, thường có chuyện hàng giả, lừa lọc giữa chợ (thị trường).  Theo nguyên tắc vàng ấy, Thầy giáo hiện đại không giảng giải những cái làm sẵn, không dùng lời nói thuyết phục học sinh chấp nhận của có sẵn, mà là người tổ chức quá trình học, để cho học sinh tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình.  Giải pháp phát triển giáo dục nhằm thực thi một nhiệm vụ xã hội – chính trị có tính lịch sử. Then chốt thành bại của giải pháp lại là cách xử lý nghiệp vụ như một giải pháp nghiệp vụ.  Cốt lõi của giải pháp nghiệp vụ cho phát triển giáo dục ở Việt Nam đã được xác lập gần 30 năm nay là công nghệ giáo dục nói cặn kẽ hơn là cách tổ chức quá trình giáo dục, sao cho có thể kiểm soát được vật chất, cá tính, bên ngoài đầu óc các cá nhân Thầy, Trò.  Sau này, nhờ quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển thực tiễn công nghệ giáo dục ngày càng kỹ hơn, càng đi sâu hơn vào bản chất, càng coi trọng hơn giá trị thực tiễn… thì đã dám nói dứt khoát thế này.  Tất cả những gì đã nói và còn nói về nghiệp vụ của giải pháp phát triển giáo dục có thể thâu tóm vào một chữ này: công nghệ học.  Cách học hiện đại ở trường không phải là nghe giảng và ghi nhớ lời Thầy giảng như nhớ những gì giáo điều có sẵn, mà phải tự mình làm ra những sản phẩm ấy, hơn nữa làm ra theo công nghệ học, được thiết kế sao cho có thể kiểm soát được quá trình học. Điều này cho thấy giải pháp phát triển giáo dục có thành công hay không tùy thuộc vào bước nhảy sinh mệnh từ:Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ sang Thầy thiết kế – Trò thi công.  May sao, bước nhảy ấy đã được khoa học hiện đại thực hiện từ nửa thế kỷ XX, dưới hình thức thực nghiệm giáo dục và ở Việt Nam, từ năm 1978 đến năm 2001, đã có hàng triệu trẻ em khắp ba miền đất nước tiếp nhận Công nghệ giáo dục, học theo công nghệ học.      Hồ Ngọc Đại      Author                Quản trị        
__label__tiasang GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm      To&#224;n bộ sự nghiệp gi&#225;o dục chỉ v&#236; một nh&#226;n vật &#8211; Học sinh. Học sinh đến trường để học. Từ đ&#243;, nền gi&#225;o dục hiện đại th&#226;u t&#243;m v&#224;o 8 chữ:  Ai cũng được học, học g&#236; được nấy.     Ai cũng được học, tất cả 100% trẻ em hiện đại, dù sinh sống ở bất cứ vùng miền nào của Tổ quốc Việt Nam, đều được học, đó là nhiệm vụ xã hội – chính trị bất khả kháng của Nhà nước hiện đại.  Học gì được nấy là yêu cầu không khoan nhượng đặt ra cho nghiệp vụ sư phạm hiện đại.   Cơ sở triết học của nghiệp vụ sư phạm hiện đại là Phạm trù cá nhân. Mỗi cá nhân phát triển thành chính mình.  Cơ sở tâm lý học của nghiệp vụ sư phạm hiện đại là lý thuyết hoạt động, phân hoá thành các Hoạt động chủ đạo cho các lứa tuổi: 0-2; 3-5; 6-12; 13-17;…  Mỗi Hoạt động chủ đạo tạo ra một cái mới đặc trưng cho lứa tuổi. Nghiệp vụ sư phạm phải xác định được cái mới của lứa tuổi và phải tổ chức được “bước nhảy” từ lứa tuổi này sang lứa tuổi tiếp theo (để không xảy ra khủng hoảng tự phát).  Quan trọng bậc nhất trong đời người hiện đại và có tính quyết định một có một không là “bước nhảy sinh mệnh” từ nhà đến trường, lần đầu tiên em đi học.  Trẻ em hiện đại đi học (VIỆC HỌC của Trẻ em hiện đại) là một sự kiện chưa hề có trong lịch sử, vì Trẻ em hiện đại là nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử. Sự kiện này phải coi là điều kiện tiên quyết để tổ chức VIỆC HỌC, cụ thể là Nghiệp vụ sư phạm hiện đại phải trả lời rành mạch, dứt khoát hai câu hỏi cơ bản nhất:  Một. Cái mới của mỗi lứa tuổi là CÁI gì?  Hai. Bằng CÁCH nào để có?  Cả CÁI lẫn CÁCH này nhằm tạo ra sự phát triển tinh thần. Muôn đời nay, Trẻ em phát triển theo Phạm trù người. Trẻ em hiện đại phát triển theo Phạm trù cá nhân.  ***  Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi tiểu học hiện đại cấp năng lượng cho sự phát triển nhận thức lý tính – tư duy khoa học bằng Cái mới là khái niệm khoa học hiện đại. Khái niệm có các giá trị và vai trò khác nhau trong mỗi lĩnh vực tinh thần.  Trong Khoa học, Khái niệm là sản phẩm chính cống, chính thức, dứt khoát, xong là xong, với giá trị đúng.  Trong Nghệ thuật, Khái niệm chỉ là một bán thành phẩm với hy vọng sẽ có sản phẩm chính cống. Sản phẩm này ở mỗi người một khác, nên chỉ có giá trị gần đúng.  Trong Đạo đức, khái niệm cũng cần, cũng có ích… nhưng chớ cả tin, y dễ là một kẻ lừa đảo, nói một đằng làm một nẻo (đạo đức giả).  Không nhận ra giá trị và vai trò của khái niệm trong các lĩnh vực tinh thần, nên giáo dục nhà trường (kể từ khi Thầy Khổng Tử mở trường) mắc sai lầm lớn nhất, lâu đời nhất là khái niệm hoá tất tật mọi chuyện, đề cao quá đáng lý trí, cứ như y là sang trọng nhất, thậm chí là độc tôn trong giáo dục nhà trường. Sai lầm “khái niệm hoá” này, mỉa mai thay, tự nó nay lại mắc sai lầm lớn hơn là không có khái niệm đúng về Nhà trường hiện đại.  Nhà trường hiện đại dành cho 100% dân cư đã trở nên bình thường như một nhân tố hữu cơ của Cuộc sống thực. Ở trường, ở nhà, ở đâu em cũng sống cuộc sống thực, với những đau khổ thực, với những hạnh phúc thực, những hạnh phúc và đau khổ ngay tại chỗ, ngay bây giờ. Sống xứng đáng cuộc sống thực ngày hôm nay là cách “chuẩn bị” tốt nhất cho ngày mai. Quả sẽ có bắt đầu từ một cái xa vời vợi, một cái mầm vừa nảy, một cái mầm lành mạnh, rồi một cái chồi khỏe khoắn, rồi những cái lá xanh tươi, rồi nụ, rồi hoa… mỗi cái là một trình độ phát triển tự nhiên, có thực và đầy trách nhiệm. Quá trình phát triển sẽ là tối ưu, nếu nó diễn ra tự nhiên, theo lôgích nội tại của nó, không có bất cứ sự cưỡng bức nào từ bên ngoài, “không nhổ nhớm cây cho nó chóng lớn” (Mạnh Tử).  Nói rằng Trẻ em hiện đại lần đầu tiên đến trường bắt đầu từ Hoạt động chủ đạo trong lĩnh vực Khoa học/Lý trí là cốt để nhắc cho Nhà giáo hai điều cơ bản nhất về mặt nghiệp vụ sư phạm.  Một. Những thành tựu – Cái đã có trong hai lĩnh vực tinh thần còn lại (Tình cảm, Đạo đức…) đã có sẵn từ nhà, vốn được hình thành một cách tự nhiên tự phát, coi như một may mắn, như thai nhi đậu lại. Phần còn có thể có thì trông vào sự gần gũi nhiều nhất với ông bà cha mẹ, trông vào giáo dục gia đình. Thời thơ ấu, năm / sáu năm đầu đời, được ở nhà với Người lớn (đặc biệt ở các gia đình có văn hoá) là phương án tốt nhất đối với Bé.  Vườn trẻ, Mẫu giáo, những “sáng tạo” của thời đại, vốn xuất phát từ lợi ích của Người lớn hơn là vì lợi ích của Bé. May sao, giáo dục tiểu học còn có cơ hội (cơ hội cuối cùng) để bảo tồn, củng cố vững chắc hơn, phát huy lung linh hơn phẩm chất đã có về tình cảm, đạo đức, những nét đặc trưng của gia đình, của quê hương, của dân tộc… thông qua các hoạt động nghệ thuật, các hoạt động xã hội, thông qua tham quan, du lịch… Trong thời đại đầy biến động, giáo dục tiểu học là cơ may cuối cùng để giữ lấy cái gốc, bảo tồn bản sắc dân tộc, những tinh chất của Cuộc sống ngàn năm mà lịch sử đã sáng tạo và truyền lại.  Hai. Cái mới đặc trưng cho tiểu học thuộc lĩnh vực Khoa học/Lý trí hình thành từ quá trình nhận thức – tư duy. Một nền sản xuất vật chất (một phương thức sản xuất hiểu theo nghĩa mác-xit) dùng công cụ và tư liệu nào đặc trưng cho mình: công cụ thủ công hay máy móc, thì cũng vậy, đặc trưng cho một kiểu tư duy là khái niệm: khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa hay khái niệm khoa học.  Bước vào lứa tuổi tiểu học, về mặt triết học, em phải xử lý cái đã có – khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa bằng phép phủ định (biện chứng); còn về mặt lịch sử, trong thực tiễn cuộc sống, em phải tự khẳng định mình bằng cái mới, lần đầu tiên em tự làm ra cho chính mình. Căn cứ vào cả hai mặt ấy (triết học và lịch sử), nền giáo dục hiện đại phải có một giải pháp tổng thể về cái mới (CÁI) và nghiệp vụ làm ra nó (CÁCH).  Cả CÁI lẫn CÁCH ở bậc tiểu học là cơ hội đầu tiên cho em tiếp cận nền văn minh hiện đại. Nói rõ ra, ở bậc tiểu học hiện đại CÁI và CÁCH phải khác về nguyên lý so với bậc tiểu học cổ truyền, phải tương đồng với những thành tựu hiện đại về triết học, khoa học, đặc biệt về tâm lý học sư phạm và lứa tuổi. Xin lưu ý rằng CÁI này đã có sẵn trong nền văn minh đương thời với tư cách là Đối tượng lĩnh hội dành cho em. Các Đối tượng lĩnh hội (quen gọi là nội dung chương trình) vốn có sẵn, Thầy giáo hiện đại chỉ làm việc chọn lựa và sắp xếp theo những nguyên tắc của nghiệp vụ sư phạm hiện đại. Có ba nguyên tắc:  Một. Nguyên tắc phát triển. Môn học thiết kế theo lôgích nội tại của Hệ thống khái niệm khoa học, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của Đối tượng, không có sự cưỡng bức từ ngoài. Sự phát triển này sẽ là tối ưu, nếu quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ đơn giản đến phức tạp…  Hai. Nguyên tắc chuẩn mực. Nói đến Hệ thống khái niệm tức là nói đến một dòng lý thuyết. Có thể có nhiều lý thuyết về một Đối tượng, hãy chọn lấy một làm chuẩn mực, để liên kết và liên thông với các dòng khác, nhằm định hướng an toàn cho tiến trình phát triển trong mọi hoàn cảnh sống thực của cá nhân.  Ba. Nguyên tắc tối thiểu. Chọn những CÁI không thể không có mà còn có khả năng bỏ ngỏ đối với cả 100% học sinh, sao cho trên cơ sở cái tối thiểu có khả năng bỏ ngỏ này, tạo cơ hội cho từng em một, ai có sức đến đâu đi đến đấy, không ai cản trở ai, cũng không bị ai cản trở, mà hy vọng sẽ có được cái tối đa cho mỗi cá nhân học sinh.  CÁCH là cách tổ chức quá trình biến Đối tượng thành Sản phẩm. Sản phẩm này lấy giá trị của mình làm tăng thêm giá trị của cá nhân em (chứ không làm tăng thêm giá trị cho xã hội), tức là tạo ra sự phát triển cá nhân. Năng lượng cấp cho sự phát triển cá nhân là giá trị của sản phẩm do em tự làm ra, do đó, quá trình phát triển hy vọng là tối ưu, nếu sản phẩm là tất yếu: Làm gì được nấy, làm đâu được đấy.  Bước phát triển độc đáo có tính đột phá của Tư duy giáo dục thể hiện ở chỗ Nghiệp vụ sư phạm hiện đại coi sản phẩm giáo dục như bất cứ sản phẩm trần gian nào khác, đều do mỗi học sinh tự làm ra cho chính mình, vì sự phát triển của chính mình.  Quá trình biến Đối tượng thành sản phẩm trong sản xuất vật chất gọi là quá trình sản xuất, còn trong giáo dục gọi là VIỆC HỌC. Quá trình này (VIỆC HỌC)  thâu tóm vào mình các nhân tố của quá trình làm ra sản phẩm.  Nếu gọi ước lệ:  * Đối tượng có sẵn trong Cuộc sống là A (CÁI)  * Quá trình làm biến hoá Đối tượng A (CÁCH) để làm ra  * Sản phẩm là a (CÁI)  thì Nghiệp vụ sư phạm hiện đại thâu tóm vào một công thức giản đơn:  A—- a  Mối quan hệ Thầy / Trò cũng thâu tóm vào công thức này. Ngay từ khi mở trường dạy học, Thầy Khổng Tử đã dùng công thức trên:  A – CÁI ở trong đầu Thầy.  a – CÁI ở trong đầu Trò.  —- CÁCH – Quá trình Thầy giảng giải.  Diễn đạt bằng lời, Nghiệp vụ sư phạm của Thầy Khổng Tử là  Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ  Hàng ngàn năm ngự trị độc tôn một công thức ấy, chỉ gần đây, từ nửa sau thế kỷ XX, có người nghi ngờ, hỏi vặn lại, nếu Thầy không giảng giải thì chuyện gì sẽ xảy ra?  – Chuyện tốt lành, rất tốt lành, tốt lành đến ngỡ ngàng, nhờ có cách làm mới:  Thầy thiết kế – Trò thi công  Thầy thiết kế là thiết kế VIỆC HỌC, tức là thiết kế quá trình biến A thành a, như kiến trúc sư thiết kế ngôi nhà hiện đại (cả thiết kế kiến trúc lẫn thiết kế thi công).  Công thức A—- a nhìn từ phía này thì thấy Thầy giáo, nhìn từ phía kia thì thấy Học trò. Vừa cho giáo dục, vừa cho tự giáo dục, nhưng công thức ấy chỉ tạo ra sự phát triển của riêng Trò.  Chúng ta trở lại điểm xuất phát ở đầu, toàn bộ sự nghiệp giáo dục chỉ vì một nhân vật – Học sinh. Ngày nay, về mặt xã hội – chính trị, ai cũng được học. Thế nên, về mặt nghiệp vụ sư phạm, nền giáo dục phải đảm bảo cho VIỆC HỌC phải được tổ chức và kiểm soát, sao cho học gì được nấy, học đâu được đấy.                                                                                                           Hồ Ngọc Đại    Author                Quản trị        
__label__tiasang GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC: Từ góc nhìn tâm lý học      T&#226;m l&#253; học kh&#244;ng m&#244; tả sự ph&#225;t triển, m&#224; tạo ra sự ph&#225;t triển cần phải c&#243;. N&#243;i c&#225;ch kh&#225;c, chủ động h&#236;nh th&#224;nh C&#225;i mới l&#224; vấn đề cốt tử của T&#226;m l&#253; học gi&#225;o dục (T&#226;m l&#253; học sư phạm v&#224; lứa tuổi). Vấn đề cốt tử n&#224;y c&#243; thể gom v&#224;o hai chữ: c&#225;i v&#224; c&#225;ch.    Một nền tâm lý học, dù nói ra hay hiểu ngầm, phải có cơ sở triết học, mà toàn bộ triết học, nói như Hegel, thâu tóm vào phương pháp.   Vừa là sản phẩm vừa là kẻ làm ra sản phẩm, phương pháp đặc trưng cho tư duy. Đương nhiên, tư duy chẳng qua là một biểu hiện tập trung của một trình độ phát triển Phạm trù người.  Phạm trù người lúc mới sinh, cũng như đứa trẻ vừa lọt lòng, thừa hưởng những thành tựu hàng triệu triệu năm phát triển của lịch sử tự nhiên, đáng kể nhất là công nghệ sinh đẻcơ chế thụ thai, từ đó, không chờ đến lượt Trời cho, mà nếu muốn thì cá nhân cứ tự tiện làm lấy việc “sinh đẻ” (thụ thai nhân tạo). hoàn hảo đầy bí ẩn. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, người Nhật mới “xé toang bức màn che giấu sự bí ẩn” ấy, phát hiện ra   Hai thế kỷ sau, ngay năm đầu tiên thế kỷ XXI, người Mỹ công bố Bản đồ gene, cho biết Trẻ em hiện đại sinh ra có đến 99,9% số gene giống nhau. Tận dụng sự khác biệt nhỏ nhoi chỉ 0,1% Trời để ngỏ, mỗi cá nhân cũng đủ trở thành chính mình, không lẫn với kẻ thứ hai. Nhân đây, xin “mở ngoặc” nói đến sự hiểu lầm rất non triết học, cho rằng: con người = con + người.   Với Phạm trù “con”, lịch sử tự nhiên đã hoàn thiện công nghệ sinh đẻ làm ra sản phẩm tất yếu là cơ thể (con), rồi cho không mọi loài. Nhận của cho không ấy, chỉ một loài duy nhất biết dùng nó như một điều kiện vật chất, để tạo ra cái mới và do đó tự sinh ra mình: Phạm trù người.  Phạm trù người thừa hưởng cơ thể Trời cho như một cơ sở vật chất có sẵn, hoàn thiện, không cần thêm bớt gì nữa, chẳng hạn, chẳng cần mọc thêm sừng cho oai. Công nghệ sinh đẻ và sản phẩm của nó (cơ thể) đã đưa lịch sử phát triển đến Phạm trù “con”. Loài người đã dùng cái có sẵn ấy như một “vật chứa” để chứa cái mới do Người sáng tạo ra: Tinh thần (trí tuệ, tình cảm, niềm tin…).  Người hiện đại là một thực thể tinh thần, – “định nghĩa” cộc lốc này khẳng định Phạm trù người là sản phẩm sau cùng của toàn bộ lịch sử tự nhiên trước đó và tiếp tục phát triển theo logích nội tại của mình, thì tất yếu đi đến Phạm trù cá nhân.  Mỗi cá nhân hiện đại có hai thành phần cấu thành, mỗi thành phần đảm nhận một chức năng (do đó phải tồn tại vì nhau, cho nhau): Cơ thể (vật chất) – Tinh thần (chất người).  Cơ thể người hiện đại không còn là cơ thể hoang dại Trời cho thuở nguyên sơ. Ngày nay, “cơ thể” còn bao hàm cả những gì do Người sáng tạo ra: nhà cửa, đường sá, máy móc, nhà trường, sách vở… tất cả những gì có hình thái trực quan cảm tính đều là “cơ thể” chứa Tinh thần. Ai cũng biết một cá nhân rất vĩ đại về Tinh thần, nhưng “chứa” trong một cơ thể nhỏ con, cao 1,53cm (Marx). Cũng vậy, hàng ngàn năm nay, những người thường cầu xin Thượng đế, chưa một ai dám chắc Ngài là đàn ông hay đàn bà.  Trẻ em hiện đại là hình ảnh trực quan trung thành với Phạm trù người và Phạm trù cá nhân. Cơ thể của em là do Trời đất làm ra theo Công nghệ sinh đẻ rất hoàn thiện. Ngay từ giây phút đầu tiên cho đến khi chào đời và sống trong đời, cơ thể em trưởng thành theo một lộ trình vạch sẵn từ trong bụng mẹ.  Tinh thần là sản phẩm nhân tạo, do em tự tạo ra cho mình. Tinh thần phát triển bằng những Cái mới lần đầu tiên hình thành trong đời. Cái mới này thực ra chỉ “mới” đối với em, chứ đã có sẵn trong Cuộc sống đương thời. Vì vậy, để có thể phát triển được, em phải sống trong xã hội loài người, sống chung với Người lớn.  Trẻ em là một phạm trù phát triển, phát triển cùng với Phạm trù người. Thuở nguyên sơ, Tuổi thơ (thời trẻ con) rất ngắn và trừu tượng. Phạm trù người càng phát triển, Tuổi thơ càng dài ra và phân hoá.  Ở thế kỷ XVIII, Trẻ em 6 tuổi đã đi làm như một người lao động sản xuất, như một Người lớn (cứ liệu của Marx). Thời đó, Phạm trù người còn kém phát triển nên “cơ thể” của nó cũng còn non: Nền sản xuất thời đó chỉ cần đến sức lao động chân tay với sức mạnh cơ bắp của một cơ thể 6 tuổi.  Trẻ em hiện đại đã phát triển rất xa, nên đã phân hoá thành nhiều lứa tuổi:  0 – 2; 3 – 5; 6 – 12; 13 – 17; …  Các lứa tuổi hiển hiện một cách trực quan ở cơ thể, trong quá trình trưởng thành, là cơ sở vật chất cho quá trình phát triển tinh thần. Tâm lý học thế kỷ XX phát hiện ra mỗi lứa tuổi đặc trưng bởi cái mới do cá nhân tự tạo ra bằng Hoạt động chủ đạo.  Cái mới do Hoạt động chủ đạo tạo ra được xử lý trên cơ sở kế thừa. Có hai cách kế thừa khác nhau về nguyên lý. Cách quen thuộc nhất nhưng ngây ngô về triết học là kéo dài cái hiện có bằng cách cải tiến nó trong giới hạn nguyên lý hiện hành. Cách thứ hai có giá trị triết học đích thực là phủ định (biện chứng) nguyên lý hiện hành, hình thành nguyên lý mới.  Cái mới theo nguyên lý mới là một cấu tạo mới, với những thành phần cấu thành mới, trong đó có thể có nhân tố cũ, nhưng đã thay đổi vị trí, vai trò vốn có cho phù hợp với cấu tạo mới, như cày chìa vôi chỉ còn là một chi tiết của máy cày. Chỉ có Cái mới mới có tư cách khẳng định một trình độ phát triển. Tâm lý học không mô tả sự phát triển, mà tạo ra sự phát triển cần phải có. Nói cách khác, chủ động hình thành Cái mới là vấn đề cốt tử của Tâm lý học giáo dục (Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi). Vấn đề cốt tử này có thể gom vào hai chữ: cái và cách.  Một, cái mới ấy là gì?  Hai, bằng cách nào để có?  Trong giáo dục, cái và cách này cùng nhau tạo ra sự phát triển của Trẻ em, tức là phát triển tinh thần. Vương quốc tinh thần, theo Hegel, có ba lĩnh vực: Khoa học – Nghệ thuật – Tôn giáo. Mỗi lĩnh vực có cái đặc trưng cho mình (chứ không phải duy nhất) trong tâm lý cá nhân:  Khoa học / Lý trí  Nghệ thuật / Tình cảm  Tôn giáo / Niềm tin  Cái là cái có sức mạnh vật chất để tồn tại và phát triển. Nền giáo dục hiện đại phải có cái mới, mới về nguyên lý, thì mới đủ sức vượt bỏ (phủ định biện chứng) nền giáo dục hiện tại. Hình dung phép phủ định biện chứng không gì dễ thấy hơn bước nhảy từ Tiểu nông – tiểu thủ công sang Đại công nghiệp cơ khí. Mấy chú học trò ú ớ về triết học, nhân cơ hội này, nên học kỹ hơn phép phủ định biện chứng. Nét đặc trưng (chứ không phải duy nhất) của một nền sản xuất là cái – tư liệu lao động: với tiểu nông – tiểu thủ công là công cụ thủ công (búa, kìm, kéo, cày, bừa…); với đại công nghiệp cơ khí là máy móc.  Mỗi công cụ thủ công, về mặt tâm lý học, là một thao tác: búa – thao tác búa (cách dùng búa). Kìm – thao tác kìm. Các thao tác này làm nên Sức lao động tay chân. Qua thực tiễn lao động, hàng ngàn vạn lần thử và sai, các thao tác ấy được hoàn thiện đến mức chuẩn xác, người ta tách ra rồi đưa sang máy. Máy móc chẳng qua là một hệ thống thao tác (vốn là các thao tác rời gắn với các công cụ thủ công rời). Theo ngôn ngữ triết học, máy móc đã phủ định (biện chứng) công cụ thủ công. Bị phủ định (biện chứng) về mặt triết học, các công cụ thủ công (búa, kìm, dao, kéo…) vẫn tồn tại trên thực tiễn lịch sử (chỉ có điều, ở một vị trí khác, với vai trò khác). Phủ định biện chứng (chứ không phải phủ định sạch trơn) là phương thức phát triển cơ bản của lịch sử, cũng là phương thức phát triển cơ bản của Triết học. Cách xử lý mối liên hệ giữa hai mặt triết học – lịch sử, thông qua mối liên hệ công cụ thủ công – máy móc, gợi ý cho cách xử lý mối liên hệ nền giáo dục cổ truyền – nền giáo dục hiện đại.  Trẻ em hiện đại, xét về mặt triết học, dùng phép phủ định (biện chứng) các lứa tuổi đã qua để tạo ra sự phát triển của lứa tuổi đương thời. Trẻ em hiện đại, xét về mặt lịch sử, trên thực tiễn lịch sử, tự khẳng định bước phát triển mới bằng Cái mới thuộc nguyên lý mới, chưa hề có.  Từ góc nhìn tâm lý học, có thể thấy cái mới thuộc bất cứ lĩnh vực tinh thần nào (Khoa học – Nghệ thuật – Đạo đức…) đều có cốt lõi là cái (cái gì) và cách (làm cách nào để có cái đó) đặc trưng cho từng lứa tuổi.  Trong giáo dục, nói đến cái đặc trưng cho một lứa tuổi thì hiểu là nó đang hình thành trên cơ sở những gì đã có ở các lứa tuổi trước đó (như một cơ sở vật chất, một điều kiện bắt buộc). Trẻ em 5/6 tuổi đã nói sõi, đã làm chuẩn xác các thao tác tay chân và tích luỹ được một số lượng khổng lồ các khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa. Các cái đã có này (Ngôn ngữ, Thao tác tay chân, Khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa…) em cho vào cặp mang đến trường. Vào lớp Một, đầu lứa tuổi tiểu học, cái đã có ở nhà sẽ trở thành điều kiện – phương tiện để hình thành mục đích mới (cái mới) đặc trưng cho lứa tuổi.  Tâm lý học thế kỷ XX lý giải các lứa tuổi bằng các Hoạt động chủ đạo. Ở lứa tuổi tiểu học, Hoạt động chủ đạo triển khai trong lĩnh vực Khoa học / Lý trí.  Xin hỏi: Cái mới trong lĩnh vực này cụ thể là cái gì?  – là Khái niệm.  Hỏi tiếp: Là Khái niệm loại nào?  – là Khái niệm khoa học.  Hỏi tiếp: Khái niệm khoa học ở trình độ nào?  – là Khái niệm khoa học hiện đại, ở trình độ đương thời.  Hỏi tiếp: Bằng cách nào trẻ em có được khái niệm khoa học?  Trong lý thuyết cũng như trên thực tiễn, cái và cách liên hệ hữu cơ với nhau. Muôn đời nay, sống tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày, tự mày mò lấy bằng thử và sai, em học được các thao tác tay chân và các khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa. Nay muốn có các khái niệm khoa học thì em phải có thêm các thao tác trí óc. Từ thao tác tay chân sang thao tác trí óc là một “bước nhảy sinh mệnh” quan trọng bậc nhất của đời người hiện đại.  Tâm lý học thế kỷ XX đưa ra ý tưởng lý thuyết kỳ thú về quá trình chuyển vào trong (vốn là một tư tưởng triết học Mác-xít): chuyển thành tựu của nền văn minh nhân loại vào trong cá nhân mình.  Triển khai nghiên cứu thực nghiệm quá trình “chuyển vào trong” Galperin phát hiện ra các giai đoạn (trình độ) chuyển hoá gọi là “Các giai đoạn hình thành khái niệm – kỹ năng – kỹ xảo”. Mươi năm sau, quá trình chuyển vào trong được nghiên cứu kỹ hơn, như một quy trình kỹ thuật hình thành khái niệm khoa học. Mươi năm tiếp theo, nghiên cứu quy trình kỹ thuật này kỹ hơn, theo hướng phân giải thành các nhân tố cấu thành thì đạt đến công nghệ hình thành khái niệm. Nói đến Công nghệ tức là nói đến quá trình làm ra sản phẩm tất yếu. Công nghệ hình thành khái niệm trong giáo dục là đứa em muộn màng cùng dòng máu với công nghệ sản xuất vật chất, theo nguyên lý cơ bản của Đại công nghiệp đã có sẵn từ thế kỷ XVIII.  Nguyên lý của đại công nghiệp là phân giải quá trình sản xuất, xét ngay trong bản thân nó và trước hết là không liên quan gì đến bàn tay con người, thành các nhân tố cấu thành nó.  Mác. Tư bản, quyển thứ nhất, tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.322.  Sau ba thế kỷ vận hành, đến những thập niên cuối thế kỷ XX thì công nghệ sản xuất đại công nghiệp cơ khí đạt đến Công nghệ cao. Cũng trong nửa sau thế kỷ XX, Công nghệ hình thành khái niệm khoa học ngày càng đạt đến độ tin cậy cao hơn.  Đầu thế kỷ XXI, một khi Trẻ em hiện đại cần đến những khái niệm khoa học hiện đại (cái) thì trong thực tiễn giáo dục, đã có ở mức đáng tin cậy Công nghệ hình thành khái niệm khoa học (cách) làm ra sản phẩm tất yếu.    Hồ Ngọc Đại    Author                Quản trị        
__label__tiasang GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – Từ góc nhìn triết học      Cho đến nay, xu hướng cơ bản, thậm chí độc tôn trong giáo dục là cải tiến cái hiện có (còn nói là cải cách, đổi mới, chấn hưng…), mà không hề biết đến giới hạn nguyên lý của mọi sự cải tiến.    Cải tiến cày chìa vôi mà thành máy cày ư? Cải tiến đèn dầu mà thành đèn điện ư? Họ cũng không biết quan hệ máu thịt giữa nền giáo dục và Cuộc sống thực: Cày chìa vôi là anh ruột của nền giáo dục “cày chìa vôi”; đèn dầu là anh ruột của nền giáo dục tù mù, chập chờn trước mỗi cơn gió thoảng; đèn điện là anh ruột của nền giáo dục vẫn sáng chói trước giông bão cuộc đời. Họ thấy sờ sờ bằng mắt trần, trong Cuộc sống thực, có cả cày chìa vôi lẫn máy cày, có cả đèn điện lẫn đèn dầu, thế mà họ vẫn cứ la làng lên rằng đèn điện phủ định sạch trơn đèn dầu, rằng máy cày phủ định sách trơn cày chìa vôi. Tôi biết, họ từng nghe nói vài thuật ngữ triết học như là “phủ định”, nhưng lại không hiểu mô tê ra răng, mới nói bừa rằng “phủ định sạch trơn”, chỉ để chứng tỏ rằng mình không hề biết một phạm trù triết học, gọi là “phủ định biện chứng”. Máy cày phủ định (biện chứng) cày chìa vôi. Đèn điện phủ định (biện chứng) đèn dầu. Và nhân thể xin nói luôn, nền giáo dục hiện đại phủ định (biện chứng) nền giáo dục hiện hành. Bằng phương thức “phủ định biện chứng”, lịch sử tạo ra cái mới, cái lần đầu tiên có, thực hiện “bước nhảy sinh mệnh” từ không sang có, tạo ra sự phát triển.  Phạm trù phát triển của triết học biện chứng nêu lên sự chuyển hoá trong quá trình vận động, làm nảy sinh và hình thành cái mới, xác lập một trình độ phát triển của phạm trù người.  Phạm trù người được hình thành, tính từ khi người nguyên thuỷ biết lấy hòn đá sắc cạnh chặt một cành cây làm gậy khều, để kéo dài tầm thước tự nhiên của cơ thể trời cho, tức là biết lao động. Hegel rồi Marx đều nói rằng loài người tự sinh ra mình bằng lao động.  Lao động (quá trình lao động) ngay từ thuở nguyên sơ đã thực thi bằng Sức lao động và ngay từ đầu, sức lao động đã gắn với công cụ (hòn đá sắc cạnh) hay phương tiện (đòn bẩy). Bằng Sức lao động, loài người tạo ra sự phát triển của chính mình. Quá trình phát triển diễn ra theo chiều từ trừu tượng đến cụ thể. Bản thân sức lao động ban đầu ở điểm xuất phát, cũng còn là một thể đồng nhất trừu tượng (là sức lao động nói chung). Rời khỏi điểm xuất phát, bước phát triển đầu tiên có được từ sự phân hoá theo giới tính. Sự phân công lao động theo giới tính là dấu hiệu đáng tin cậy nhất về bản chất xã hội của sức lao động. Lịch sử càng khẳng định dứt khoát bản chất xã hội này, khi sức lao động phân hoá thành Sức lao động chân tay (vật chất) và sức lao động trí óc (tinh thần). Là kẻ sinh sau, sức lao động trí óc ngày càng trở nên nhân tố quyết định sự phát triển của phạm trù người. Sẽ không mắc một sai lầm nhỏ nào về lý thuyết, nếu đem sự phát triển của sức lao động trí óc gắn với sự phát triển của tư duy (trí khôn). Đến lượt mình, sự phát triển của tư duy tạo ra sự phân hoá mới, thành tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa và tư duy khoa học.  Tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa hình thành tự nhiên như phù sa lắng đọng tự nhiên, ngay trong cuộc sống thường ngày, trong những điều kiện ổn định, với phương thức thử và sai. Cứ thử đi, có thể đúng, có thể sai. Sai thì làm lại cho đúng. Đúng lần này, lần sau lại có thể sai. Sai thì sửa cho đúng. Lao động bằng trí khôn kinh nghiệm chủ nghĩa đã sáng tạo và hoàn thiện các công cụ thủ công và đồ dùng sinh hoạt, cùng với các thao tác tay chân, tổng hợp lại thành các khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa: Khái niệm đũa – thao tác (dùng) đũa; khái niệm kéo – thao tác (dùng) kéo… Sống trong lòng cuộc sống của loài người, sống chung với người lớn, trong 5-6 năm đầu đời, trẻ em đã học được một số lượng khổng lồ các khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa đủ dùng suốt đời, chừng nào cuộc sống thực nói chung còn đồng nhất (trừu tượng) với cuộc sống thường ngày ở nhà. Lúc ấy, không cần đi học, người ta vẫn sống bình thường và họ vẫn còn sống bình thường, chừng nào sức lao động chỉ cần trí khôn kinh nghiệm chủ nghĩa và các thao tác tay chân (lao động chân tay) mà trẻ em có thể học tại chỗ, học ở nhà. Lúc ấy, quá trình lao động còn đầy bí hiểm, với những “bí mật tay nghề” mà các lão nông và thợ cả có thì có thật, nhưng không biết vì sao có, có bao nhiêu. Mãi sau này, Đại công nghiệp mới đủ trí khôn để xé toang bức màn che giấu “bí mật tay nghề”, bằng cách phân giải quá trình sản xuất ra các nhân tố cấu thành nó, ngay tại nó. Cách làm này đem lại hai hệ quả, một, tạo ra sự phân công lao động triệt để, đến tận từng cá nhân, như từng mắt khâu trong cả dây chuyền, buộc mỗi mắt khâu phải lấy sự tồn tại của cả dây chuyền làm lẽ sống của chính mình (mình vì mọi người); hai, hình thành một kiểu tư duy mới với một nguyên lý mới, tư duy khoa học.  Tư duy khoa học vừa là kẻ thực thi, vừa là sản phẩm của sức lao động trí óc, với công cụ và phương tiện là các khái niệm khoa học. Có thể nhận ra sự khác biệt về nguyên lý giữa tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa và tư duy khoa học bằng một ví dụ nước. Ai cũng biết chắc đó là nước, không nhầm với rượu, với dầu… nhưng không thể lý giải, vì sao đúng là nước. Còn tư duy khoa học thì phân giải nước, ngay tại nó, thành các nhân tố cấu thành nó, – hoá ra nước là hợp chất của hai chất khí dễ cháy: H2O. Với năng lực “phân giải” này, khoa học có thể chuyển thành công nghệ và bằng công nghệ làm ra sản phẩm tất yếu, mà khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.  Đã có khoa học – công nghệ làm ra những sản phẩm vật chất thì sớm muộn gì rồi cũng có, tất yếu phải có khoa học – công nghệ làm ra những sản phẩm tinh thần, thế nên, một khi thế kỷ XVIII đánh dấu sự thắng lợi dứt khoát của Đại công nghiệp (đối với tiểu nông – tiểu thủ công) thì cũng từ thế kỷ XVIII, đã xuất hiện một “anh hùng thời đại” của Phạm trù người, – Phạm trù cá nhân.  Là một “anh hùng thời đại”, Phạm trù cá nhân chi phối tất cả các phạm trù còn lại trong Cuộc sống thực hiện đại. Phạm trù cá nhân là cơ sở triết học của nền Dân chủ trong đời sống xã hội, tạo ra sự bình đẳng giữa mọi người (với tư cách cá nhân). Sự bình đẳng này có một hình hài vật chất trên Thị trường (giữa chợ) với tư cách Hàng hoá, – hàng hoá nào cũng là hàng hoá, không có bất cứ sự phân biệt nào về nguồn gốc xuất thân, về quốc tịch và dân tộc, về nơi sinh và nơi ở… Mỗi cá thể – hàng hoá tự khẳng định mình ngay tại mình bằng giá trị của chính mình. Giá trị này chẳng qua là giá trị của Sức lao động làm ra nó.  Từ thời hoang sơ, ở điểm xuất phát của lịch sử (cũng là của lôgic), bằng Sức lao động (chứ không phải bằng Lao động) loài người tự sinh ra mình với tư cách Loài, dưới hình thái triết học Phạm trù người, với một Sức lao động nói chung, trừu tượng. Càng đi xa điểm xuất phát, nhất là khi Sức lao động phát triển đạt đến sự phân hoá thành Sức lao động chân tay và Sức lao động trí óc, thì Sức lao động trí óc trở thành “anh hùng thời đại”, kẻ thai nghén, sinh ra và nuôi dưỡng Phạm trù cá nhân.  Lấy Sức lao động cá nhân làm tiêu chí, Phạm trù cá nhân xoá bỏ mọi đẳng cấp xã hội không trực tiếp gắn với quá trình sản xuất vật chất, rồi xác lập các đẳng cấp sức lao động.  Lấy Sức lao động làm căn cứ, có thể giải thích, vì sao trước đây 95% dân cư thất học mà vẫn sống bình thường, thế mà ngày nay chỉ để sống bình thường thôi, tất cả 100% dân cư phải đến trường. Thời nào cũng vậy, trong triết học, trong giáo dục hay trong đời, loài hay cá thể (cá nhân) đều lấy Cuộc sống thực làm nơi đi và nơi đến cho cả hành động lẫn tư duy. Bản thân Cuộc sống thực cũng là một thực thể sống, luôn luôn vận động và phát triển. Trước đây, khi Phạm trù người còn kém phát triển, cuộc sống thực của Trẻ em đồng nhất với Cuộc sống ở nhà. Ngày nay, khi Phạm trù người phát triển đến Phạm trù cá nhân thì Cuộc sống thực của Trẻ em phân hoá thành Cuộc sống ở nhà (như xưa) và Cuộc sống ở trường (hiện đại). Sự phát triển của cả hai Phạm trù đều phải cần đến sức mạnh thực có của Sức lao động. Thời nào cũng vậy, Cuộc sống thực phát triển đến trình độ nào cũng vậy, mỗi cá thể người phải tự tạo cho mình Sức lao động để sống (như tự tạo ra máu để sống). Sống cuộc sống thô sơ thì chỉ cần sức lao động thô sơ, khiến cho các cá nhân chênh nhau không đáng kể, đều hao hao nhau. Từ khi Sức lao động nói chung phân hoá thành Sức lao động chân tay và Sức lao động trí óc, thì kẻ sinh sau (Sức lao động trí óc) trở thành “anh hùng thời đại”, tạo ra sự khác biệt rất lớn giữa các cá nhân, đến nỗi mỗi cá nhân là một bản duy nhất trên đời.  Sinh ra, xét theo Phạm trù người, tất cả Trẻ em đều có 99,9% số gene giống nhau, tức là cùng là những thực thể trừu tượng như nhau ở ngay điểm xuất phát. Thế rồi, sống trong đời, càng phát triển thì mỗi Trẻ em càng trở thành một cá nhân có một không hai trên đời. Sự kiện đó, về mặt triết học, nói lên tiến trình từ Phạm trù người phát triển thành Phạm trù cá nhân, còn về mặt thực tiễn, sự kiện đó nói lên một cách thuyết phục nhất vai trò của giáo dục và tự giáo dục đối với mỗi cá nhân.  Từ xa xưa, xét theo Phạm trù người, loài người tự sinh ra mình bằng Sức lao động, còn xét theo Phạm trù cá nhân, mỗi cá nhân tự sinh ra mình bằng Sức lao động cá nhân.  Ngày nay, ở trình độ nền văn minh hiện đại, khi Phạm trù cá nhân là “anh hùng thời đại”, thì Sức lao động cũng có “anh hùng thời đại” của mình, là Sức lao động trí óc.  Sức lao động trí óc vừa là Lẽ sống vừa là Sức sống của cá nhân hiện đại, thì cũng là Lẽ sống và Sức sống của nền giáo dục hiện đại. Một, để có Sức lao động trí óc hiện đại, Trẻ em phải được hưởng nền giáo dục hiện đại. Hai, bằng CÁCH nào giáo dục làm cho em có được Sức lao động trí óc, thì cũng chính bằng CÁCH ấy em tự sinh ra mình, tự trở thành chính mình, thành một cá nhân duy nhất, có một không hai trong xã hội hiện đại.  Loài người tự sinh ra mình. Mỗi cá nhân hiện đại tự sinh ra mình. Đó là vấn đề cơ bản nhất về lý thuyết, định hướng cho tư duy giáo dục hiện đại và cho việc tổ chức các hoạt động thực tiễn giáo dục.   Hồ Ngọc Đại      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp thu hút và đào tạo sinh viên giỏi      Cho đến nay, các đề án phát triển giáo dục đại học của VN thường chú trọng đến việc đầu tư cơ sở vật chất, trường lớp, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên mà hình như không dành nhiều sự quan tâm đến việc thu hút và đào tạo sinh viên giỏi. một trong các yếu tố góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học.       Cho tới thời điểm này, đã có hai trường đại học được đưa vào hoạt động trong phạm vi Dự án Xây dựng các trường đại học trọng điểm là Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) và Đại học Việt Đức (VGU) [4]. Tuy nhiên, cả hai đại học này đều gặp trở ngại trong vấn đề thu hút sinh viên giỏi vào trường do học phí cao. Với USTH, mỗi tháng trung bình một sinh viên phải đóng 1,5 triệu đồng học phí, ở VGU con số đó còn cao hơn.   Đây là số tiền không nhỏ so với thu nhập của các gia đình trung lưu ở thành thị, chưa nói đến các hộ làm nông nghiệp. Do học phí quá cao nên cả USTH và VGU tuyển được rất ít sinh viên, điểm chuẩn để xét tuyển của các trường đều rất thấp. Với chất lượng đầu vào như vậy thì không thể có sinh viên giỏi được. Một thực tế cần được nhìn nhận khách quan là khi chất lượng vẫn chưa được khẳng định, nếu các đại học trọng điểm tiếp tục thu học phí cao thì sẽ chỉ làm được một việc là (có thể) có được giáo viên giỏi mà không thể thu hút được sinh viên giỏi.   Dù được công nhận là đại học trọng điểm, các trường sẽ chỉ có được sinh viên giỏi khi có chính sách hỗ trợ tốt; quan trọng nhất là học phí phải thấp, nếu không muốn nói là phải tính đến việc miễn học phí cho sinh viên và cấp học bổng cho những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.   Có thể thấy rằng giải thuật cho bài toán đại học trọng điểm đang rơi vào vòng lặp: chất lượng đại học thấp → cần kinh phí đầu tư lớn → phải thu học phí cao → có ít người chi trả được → chất lượng đầu vào của sinh viên thấp → chất lượng đại học thấp … Nếu không phá vỡ được vòng lặp này thì đại học chất lượng cao mãi chỉ là giấc mơ đẹp.        Ngay cả khi trường học có cơ sở vật chất hiện đại, có đội ngũ giảng viên giỏi nhưng sinh viên không tập trung toàn tâm toàn ý cho việc học thì khó có thể đạt chất lượng học tập tốt. Do vậy quá trình nâng cao chất lượng nghiên cứu của trường phải gắn liền với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ sinh viên để họ có thể tập trung công sức cho việc học của mình mà không phải lo nghĩ đến các vấn đề khác. Các chính sách hỗ trợ sẽ vừa là áp lực vừa là mục tiêu để sinh viên học tập nhằm đạt kết quả tốt.   Hiện nay, đa số sinh viên, nhất là sinh viên đến từ các vùng nông thôn nghèo, vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn của cuộc sống. Để trang trải tiền ăn học, nhiều sinh viên phải kiếm việc đi làm thêm và do vậy không thể dành trọn thời gian cho việc học. Điều kiện sinh hoạt, ăn ở không tốt cũng gây khó khăn cho sinh viên trong công việc học tập. Những khu nhà trọ thì chật hẹp, ẩm thấp, điện nước phập phù, mùa đông thì rét, mùa hè thì nóng bức; còn ở trong ký túc xá (KTX), tình hình cũng không khả quan hơn khi 10 đến 12 người phải sống chung một phòng. Vì vậy, một trong những việc làm thiết thực góp phần cải thiện điều kiện sống cho sinh viên là phải nâng cấp các khu KTX cũ, tăng số lượng phòng ở và giảm số lượng người trong một phòng; bên cạnh đó cần xây dựng các khu KTX mới, có chất lượng cao hơn.  Kinh nghiệm nước ngoài  CHLB Đức là một trong những nước có nền giáo dục tốt và có chính sách hỗ trợ sinh viên rất thiết thực, giúp người học có điều kiện tốt nhất để học hành. Tùy theo luật của từng bang nhưng đa số các bang của Đức không thu học phí của sinh viên [3]. Mỗi học kỳ sinh viên chỉ phải đóng một khoản phí nhỏ để góp phần chi trả các hoạt động quản l‎ý của trường.   Quan trọng nhất là với khoản phí đó, sinh viên có thể dùng các phương tiện giao thông công cộng mọi lúc, mọi nơi mà không phải trả thêm bất cứ một khoản chi phí nào. Với thẻ sinh viên, khi ăn trong nhà ăn của trường, sinh viên cũng được giảm giá đáng kể so với mức giá bình thường. Sinh viên có thể tìm các việc làm ngoài giờ (liên quan đến lĩnh vực học tập) phụ giúp cho giáo sư trong trường với mức thù lao khá tốt, đủ để thanh toán các khoản chi hàng ngày. Thậm chí không cần đi làm thêm, sinh viên cũng có thể tìm kiếm các khoản hỗ trợ từ chính quyền thành phố nơi đang học như xin trợ cấp tiền thuê nhà hoặc vay các khoản vay ưu đãi.     Các trường đại học được trang bị tốt để phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên; thư viện hoạt động ngày đêm nhằm cung cấp cho người học điều kiện tốt nhất tiếp cận với tri thức. Hệ thống máy tính của trường được kết nối tới các cơ sở dữ liệu các bài báo khoa học có chất lượng cao mà người dùng thông thường phải trả tiền mới có quyền truy cập. Internet được cung cấp miễn phí, mỗi sinh viên có một tài khoản riêng, có thể truy cập qua máy tính trong phòng máy của trường, hoặc dùng máy tính cá nhân kết nối thông qua mạng WiFi phủ sóng khắp khuôn viên của trường, khu giảng đường và thư viện. Có thể nói không quá rằng sinh viên Đức chỉ có mỗi một mối lo duy nhất là làm sao để học cho tốt, các vấn đề khác đã được gia đình và xã hội giải quyết, sinh viên không cần bận tâm nhiều.  Giải pháp của Việt Nam  Trong những năm gần đây, sinh viên nhận được sự quan tâm ngày càng tăng của Nhà nước. Gần đây nhất, Chính phủ có quyết định nâng mức cho vay hàng tháng lên một triệu đồng cho một sinh viên. Số tiền đó chỉ mới giúp sinh viên bớt khó khăn chứ cũng không thể đáp ứng được những nhu cầu cần thiết nhất của người học. Do vậy, trong tiến trình nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cần huy động được sự đóng góp của các lực lượng trong xã hội như các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, những cựu sinh viên thành đạt của các trường. Các nguồn vốn huy động được sẽ dùng để cấp học bổng cho sinh viên giỏi, ngoài ra để xây các khu KTX có chất lượng tốt, cho thuê với giá hợp l‎ý cho đối tượng là các bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, có kết quả học tập tốt và đạo đức tốt. Với các khu KTX như vậy, lợi nhuận không phải là yếu tố hàng đầu mà mục đích chính là để tạo một môi trường sống tốt cho các bạn sinh viên, khuyến khích phong trào học tập đi lên.   Bên cạnh các hỗ trợ về học bổng và cơ sở hạ tầng, cũng cần có chính sách thu hút hỗ trợ về kiến thức cho sinh viên từ các cá nhân và tổ chức ở nước ngoài. Trong số hơn ba triệu người Việt ở nước ngoài, có một số lượng lớn các nhà khoa học có tên tuổi, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Rất nhiều các nhà khoa học Việt kiều có mong muốn góp phần của mình vào việc phát triển đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Với sự giúp đỡ của các nhà khoa học Việt kiều, có thể kêu gọi được các nguồn hỗ trợ khác nhau cho sinh viên trong nước như các học bổng hỗ trợ, các chương trình đào tạo chuyên môn và bồi dưỡng ngoại ngữ bằng các khóa học tại nước ngoài. Một chính sách đầu tư cho giáo dục hợp l‎ý sẽ nhận được sự ủng hộ của nhiều người, không chỉ là những đóng góp về vật chất, mà còn là đóng góp về công sức, về các mối quan hệ công tác nhằm giúp Việt Nam phát triển trong lĩnh vực giáo dục đại học, trong đó tập trung nâng cao năng lực của người học.   Tài liệu tham khảo:   1.    Không thỏa hiệp trong đảm bảo chất lượng giáo dục  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=4099&CategoryID=6   2.    Thực trạng của “ĐH đẳng cấp quốc tế”  http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20101010/thuc-trang-cua-dh-dang-cap-quoc-te.aspx    3.    Studiengebühren (“Studienbeiträge”) in Deutschland  http://www.studis-online.de/StudInfo/Gebuehren/   4.    Việt Nam sắp có đại học xuất sắc  http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/25242/viet-nam-sap-co-dai-hoc-xuat-sac.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giai thoại      “Hiệu ứng Pauli” và “siêu hiệu ứng Pauli”    Các đồng nghiệp của Wolfgang Pauli luôn muốn nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng này tránh xa các thiết bị thí nghiệm của họ. Bởi vì, theo như họ kể lại, chỉ cần Pauli xuất hiện trong phòng thí nghiệm thì y như rằng phải có ít nhất một cái gì đó trở nên hỏng hóc: điện sẽ mất, các ống chân không sẽ bị rò, các dụng cụ sẽ đổ vỡ hoặc trục trặc… Thành ra, những hiện tượng lạ mà liên quan đến Pauli như vậy được các nhà thực nghiệm gọi là “hiệu ứng Pauli”.  Có một ngày, những thiết bị thí nghiệm quan trọng ở phòng thí nghiệm của giáo sư James Frank thuộc Viện Vật lý Đại học Gottingen bỗng nhiên tan tành hết cả mà không rõ lý do. Nhưng lúc ấy thì Pauli đang trên đường đến Đan Mạch, và vấn đề là ở chỗ ông đã không hề bước vào phòng thí nghiệm. Về sau người ta mới phát hiện ra rằng, chính xác vào thời điểm mà thảm họa xảy ra với phòng thí nghiệm của Frank thì chuyến tàu trở Pauli từ Zurich đến Copenhagen đã dừng lại ở nhà ga Gottingen để đón khách. Đúng là “siêu hiệu ứng” !   Bài tập về nhà của Einstein                 Einstein đã dành cả hai chục năm cuối đời để theo đuổi mục tiêu dung hòa vật lý lượng tử và lý thuyết tương đối. Tuy nhiên ông đã không đạt đến được cái gọi là “Lý thuyết Trường Thống nhất”, nó đã từng là một giấc mơ lớn của ông. Có lần ông đã tình cờ nói với một đồng nghiệp rằng ông đang gần chạm tay vào “một khám phá vĩ đại nhất từ trước tới giờ”, nhưng chỉ hai tuần sau ông đã phải nói chữa lại rằng, “cái công việc ấy đã chẳng nên cơm cháo gì cả”.  Một ngày trong những năm cuối đời buồn bã, Einstein nhận được một bức thư của một cô bé 15 tuổi nhờ ông giải hộ bài tập về nhà. Cô bé đã mau chóng nhận được một sự trả lời vô cùng kỳ lạ: một trang giấy toàn những hình vẽ khó hiểu, cùng với một lời an ủi: “Cháu đừng nên lo lắng về những khó khăn trong môn toán của mình”, Einstein nói với cô bé, “bác đảm bảo với cháu rằng, những khó khăn của bác còn lớn hơn những khó khăn của cháu nhiều”.  Hội chứng giao hưởng số chín                 Người ta đã thống kê như thế này: cả Beethoven, Schubert, Dvorak và Vaughan Williams (cũng như nhiều nhà soạn nhạc khác) đều qua đời sau khi sáng tác giao hưởng số chín.  Các nhà âm nhạc học cũng đã có rất nhiều điều để kể về “hội chứng giao hưởng số chín” này: Mahler, vì quá mê tín với số chín nghiệt ngã nên đã cố gắng hoàn thành thật nhanh bản giao hưởng số mười – nhưng dường như không thể thoát khỏi định mệnh – ông đã mất ngay khi đó. Bruckner, mặc dù đã cố gắng tránh “lời nguyền về con số chín” bằng cách đánh số hai giao hưởng đầu tiên của mình là 00 và 0, nhưng ông cũng đã qua đời ngay trong khi đang viết bản giao hưởng thứ chín của mình. Còn Sibelius thì sao? Có vẻ như ông đã rất sáng suốt khi dừng lại ở giao hưởng số tám (trên thực tế thì Sibelius chỉ công bố chính thức 7 bản giao hưởng), và ông đã sống thêm được tới 33 năm.    Người sành điệu                 Johannes Brahms một lần được mời ăn tối bởi một người rất sành điệu về rượu. Rất vinh dự khi được đón tiếp nhà soạn nhạc, người đàn ông này quyết định mở một trong những chai rượu quý nhất của mình. Ông ta trịnh trọng nói với tất cả các quan khách: “Đây chính là Brahms trong hầm rượu của tôi”.  Brahms khẽ gật đầu, cẩn thận nếm thử rượu một cách rất sành sỏi, ông lắc cái ly, hướng nó về phía ngọn nến rồi đặt nó xuống bàn mà không nói thêm một lời nào nữa.  “Ngài thấy rượu thế nào?”, người chủ nhà hỏi với thái độ thận trọng. “Ồ được,” Brahms trả lời rất bình thản,”nhưng tốt hơn là hãy mang Beethoven của ông ra đây!”.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải trí cần thiết ngang học tập      Nhà sư phạm Xô Viết Sukhomlinsky cho rằng,  cuộc sống tinh thần của một đứa trẻ cần phải được phát triển đủ đầy,  toàn diện; đứa trẻ sẽ là bông hoa khô nếu chỉ biết học mà không  được sống trong thế giới của hoạt động, trò chơi, âm nhạc, tưởng tượng  và sáng tạo…    Gần đây, nghiên cứu dự thảo hiến pháp mới, tôi nhận thấy, dự thảo nhắc đến quyền và nghĩa vụ học tập mà không có dòng nào nói về quyền giải trí của thanh thiếu niên. Việc gia đình, nhà nước, và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em, thanh thiếu niên được giải trí bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng và lành mạnh, cả về thể chất lẫn tinh thần là một nhiệm vụ không kém quan trọng so với việc tổ chức cho các em học tập. Đây là điều cần thiết tất yếu trong việc hình thành và phát triển nhân cách, duy trì thể lực, nâng cao chất lượng của thế hệ trẻ, đặc biệt là trong thời đại các bạn trẻ ngồi máy tính nhiều hơn được hoạt động ngoài trời.  Trên thực tế, đã có nhiều hiện tượng gióng lên những hồi chuông báo động về cuộc sống tinh thần cũng như sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên nước ta: áp lực cuộc sống, áp lực học hành đã khiến chất lượng sống thấp đi, đồng thời gia tăng hiện tượng stress, trầm cảm, tự tử ở trẻ vị thành niên. Sân chơi để tăng thể lực của thanh thiếu niên ngày càng bị co lại, cho dù cũng có một số tổ chức quan tâm “giành” lại cho trẻ một số sân chơi, xin tài trợ để đầu tư biến những khoảng không gian bị sử dụng bừa bãi, thậm chí vô nghĩa trở thành những địa điểm sinh hoạt của trẻ (chẳng hạn, hoạt động của Trung tâm hành động vì đô thị 3 năm gần đây). Dù vậy, những căn nhà hộp, khói bụi, hè đường, thậm chí cả những quán Net san sát mọc lên… vẫn cứ đang lấn dần không gian lành mạnh của tuổi trẻ thành phố. Trong một số khu tập thể, tôi thấy đến 22-23h đêm trẻ vẫn ngồi kiên nhẫn bên máy tính chơi các trò chơi game online quên cả giờ về – thật là một hình ảnh gây lo ngại.   Mỗi cá nhân nghĩ thêm một chút  Việc xây dựng các mô hình giải trí cho thanh thiếu niên, đương nhiên, trước hết là việc của nhà nước, của các cơ quan hữu quan. Thế nhưng, không nên chỉ ngồi mà mong và đợi. Tôi cho rằng, nếu mỗi cá nhân nghĩ đến tương lai của thế hệ trẻ, lo lắng cho sức khỏe thể lực cũng như tinh thần của chúng, thì không phải là không có lối thoát.   Việc tổ chức những trại hè dành cho thanh thiếu niên vào mùa hè chẳng hạn – là một việc không dễ nhưng cũng không quá khó. Bên cạnh những trại hè ngắn ngày nhiều cơ quan liên quan đến thanh thiếu niên tổ chức – những trại hè không dành cho tất cả mà các đối tượng tham gia thường được chọn lựa kỹ lưỡng, có thành tích tiêu biểu ở trường học và địa phương – mỗi doanh nghiệp, mỗi cá nhân… đều có thể đứng ra tập hợp một lượng trẻ nhất định và tặng chúng những mùa hè có ích, được chạy nhảy nô đùa, được học hành nhẹ nhõm trong một tập thể vui tươi.   Trại hè Eco Camp 2013 của câu lạc bộ Đọc sách cùng con của chúng tôi là một trong những hình thức “tự” hành động vì trẻ em như vậy. Trại hè được diễn ra trong vòng 10 ngày ở Ecopark, khu đô thị không quá xa thành phố nhưng tương đối có không gian lý tưởng cho một trại hè thiếu nhi. Các em được sinh hoạt nhóm, đội, theo nội dung được xây dựng chu đáo, với chủ đề “Em học sống xanh – sống thân thiện với môi trường” và mục đích “Sống xanh ngày hè, bốn mùa vui khỏe”. Chỉ riêng việc được chạy hết bước chạy và dang hết sải tay của mình trong vòng 10 ngày, chơi các trò chơi dân gian ngoài trời, đạp xe, bơi lội… đã khiến cho lũ trẻ lấy lại được năng lượng, chuẩn bị cho mùa học sắp tới. Ngoài ra, các hoạt động giao lưu, tọa đàm, thảo luận về môi trường, học kỹ năng sống… cũng là một phần thú vị. Dựng trại không vì “thành tích”, tham gia trại không vì “phong trào” – trẻ nhận được nhiều bài học mà người lớn cũng rút ra được nhiều điều trong việc tìm con đường tiếp cận giới trẻ mà đối với họ càng lớn càng khó hiểu. Mùa hè thực sự là một mùa đầy cơ hội cho các em và cho bố mẹ các em, cho trẻ và cho người lớn – để gần nhau hơn và hiểu nhau hơn.   Trên thực tế, nhiều bậc phụ huynh quyết định biến kỳ nghỉ hè thành học kỳ 3 của trẻ, tranh thủ cho đi học hết môn nọ đến môn kia, thậm chí là học trước chương trình ở trường, những mong vào năm học con mình tự tin hơn vì đã “chạy” một vòng chương trình. Điều này thật sai lầm. Việc học trước như thế sẽ triệt tiêu động lực học của trẻ, biến những điều lẽ ra là mới mẻ, phát hiện… trở nên nhạt nhẽo, nhàm chán. Trẻ không thấy được niềm thích thú khám phá khi đi học. Đấy là chưa kể, trên thực tế, chế độ giải trí hợp lý, khoa học, lành mạnh luôn hỗ trợ tích cực quá trình học tập. Rất nhiều đứa trẻ học tốt hơn ở trạng thái động, được di chuyển, tham gia tương tác, đi lại trong phòng, học thực địa…   Giá như nhà nước có thể kết hợp cùng các doanh nghiệp xây dựng cho thanh thiếu niên những khu trại hè dành riêng cho các em ở mỗi địa phương và xây dựng mô hình hoạt động hè chí ít cũng được như mô hình sinh hoạt đội ngày xưa chúng tôi được hưởng, không phân biệt học sinh giỏi hay trung bình – ai cũng được tham gia, thì thật tốt.   Tôi tin rằng, quan tâm đến vấn đề giải trí của trẻ cũng cần thiết ngang với việc quan tâm đến học tập và trau dồi kiến thức.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giám đốc AIT Việt Nam: Tiềm năng tuyển sinh ở Việt Nam rất lớn      Ngày 24/01, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ  KH&amp;CN Nguyễn Quân đã tiếp xã giao TS Amrit Bart, Giám đốc Viện Công  nghệ Châu Á tại Việt Nam (AIT Việt Nam).    Tại buổi tiếp, TS. Amrit Bart đánh giá cao sự hỗ trợ nhiệt tình của Việt Nam đối với các hoạt động của AIT trong thời gian qua và thông báo với Bộ trưởng Nguyễn Quân một số hoạt động gần đây của AIT tại Thái Lan và Việt Nam. Đồng thời, hai bên đã cùng thảo luận về kế hoạch phát triển AIT Việt Nam cho những năm tới.  TS. Amrit Bart cho biết, các chương trình học tập tại AIT Việt Nam đã được phát triển, hiện có khoảng 15 chương trình và 400 đến 500 sinh viên theo học. Đánh giá về chất lượng sinh viên tại Việt Nam, ông bày tỏ sự hài lòng khi đã có những sinh viên tốt và tự tin. TS. Amrit Bart nhận thấy rằng tiềm năng tuyển sinh tại Việt Nam là rất lớn so với các nước khác.  Bộ trưởng Nguyễn Quân cảm ơn sự giúp đỡ của AIT đối với Việt Nam thời gian qua và mong muốn tiếp tục nhận được sự cộng tác và giúp đỡ của AIT trong thời gian tới.  AIT là học viện quốc tế độc lập được thành lập từ năm 1959 có trụ sở tại Bangkok Thái Lan với mục đích hỗ trợ nhu cầu đào tạo ngày càng cao về kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của khu vực Châu Á Thái Bình Dương.  AIT- Việt Nam được thành lập từ năm 1993, là chi nhánh duy nhất của AIT ngoài trụ sở chính ở Bangkok. AIT- Việt Nam là trung tâm giáo dục quốc tế có vai trò chuyển giao công nghệ quốc tế trợ giúp sự phát triển của Việt Nam. Ngoài ra, AIT- Việt Nam phát triển nghiên cứu trong các lĩnh vực để đáp ứng yêu cầu giáo dục quốc tế và bối cảnh thực tế tại Việt Nam và khu vực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giám đốc DTT nhận giải Cựu sinh viên quốc tế của UTS      Đại học Công nghệ Sydney (UTS) vừa trao giải thưởng dành cho 11 cựu sinh viên giành được nhiều thành công về đổi mới sáng tạo, quản lý và có nhiều tác động đến cộng đồng, trong đó, giám đốc công ty DTT Nguyễn Thế Trung được trao giải ở hạng mục Cựu sinh viên quốc tế (International Alumni Award).      Giám đốc công ty DTT Nguyễn Thế Trung (thứ ba từ phải sang)  Ông Nguyễn Thế Trung cũng là gương mặt châu Á duy nhất trong số những cá nhân được tôn vinh trong năm nay của Đại học Công nghệ Sydney, ngôi trường số 1 tại Úc (theo xếp hạng của Times Higher Education World University Rankings) và thu hút sinh viên từ hơn 100 quốc gia trên thế giới theo học. Từng là học sinh chuyên Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học KHTN Hà Nội) và giành giải nhì Olympic Toán quốc tế năm 1995, Nguyễn Thế Trung đã được chính phủ Úc trao học bổng toàn phần và theo học ngành công nghệ thông tin tại Đại học Công nghệ Sydney vào năm 1996.  Tại thời điểm mới là sinh viên năm 4, mặc dù chưa tốt nghiệp, anh đã đảm trách vai trò giám đốc kinh doanh cho một công ty của Úc với mức lương 70.000 đôla Úc/năm. Tốt nghiệp năm 2002, Trung về nước và thành lập công ty DTT năm 2003. Đến nay, DTT đã trở thành một trong những công ty hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực này, chuyên cung cấp các giải pháp và dịch vụ công nghệ thông tin – viễn thông khép kín và toàn diện.  Không chỉ là nhà cung cấp các giải pháp chính phủ điện tử và giải pháp tích hợp tổng thể cho doanh nghiệp, tổ chức hàng đầu tại thị trường Việt Nam, DTT còn là công ty tiên phong triển khai mô hình hợp tác công – tư (PPP) phát huy hiệu quả và chất lượng của các dịch vụ hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, giao thông vận tải và văn hóa trên nền tảng tri thức công nghệ thông tin. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, Nguyễn Thế Trung cũng như công ty DTT là đơn vị tiên phong và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng giáo dục STEM tại Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm nhẹ nặng gánh thi cử      Năm 1977, Trung Quốc khôi phục chế độ thi đại học (ĐH) thống nhất. Từ đó tới nay, các kì thi luôn là vấn đề “đau đầu” của toàn xã hội Trung Quốc. Càng ngày càng có nhiều ý kiến đòi “đa nguyên hóa kì thi ĐH”. Mới đây trên trang web “Quang Minh”, ông Giang Sưởng, Viện trưởng Viện giáo dục Hồ Bắc đã đề xuất một lộ trình thay đổi việc thi ĐH được rất nhiều người tán đồng.    Ông Giang Sưởng cho rằng, giáo dục ĐH ở Trung Quốc ngày càng mở rộng, phần lớn học sinh tốt nghiệp phổ thông đều có thể vào ĐH. Vì thế, không những kì thi ĐH thống nhất đã không cần thiết, mà số trường tuyển sinh theo điểm thi ĐH cũng phải thật hạn chế. Nói một cách cụ thể, chỉ các trường ĐH trọng điểm mới cần kì thi ĐH thống nhất, những trường còn lại có thể dùng hình thức khác để tuyển sinh.  Nếu phần lớn hoặc một nửa số học sinh tốt nghiệp phổ thông không tham gia kì thi ĐH thống nhất thì áp lực thi cử sẽ lập tức giảm. Thi SAT ở Mĩ được tổ chức 4 kì/năm, có khi là 5 kì/năm. Học sinh có thể tùy chọn thi một hay nhiều kì và lấy kết quả thi tốt nhất để gửi cho các trường ĐH. Theo gương đó, ông Giang Sưởng cho rằng Trung Quốc cũng nên tổ chức nhiều kì thi ĐH trong năm.  Muốn thi ĐH trở nên bình thường thì vai trò tổ chức kì thi phải được nhà nước chuyển giao cho các tổ chức xã hội, coi thi ĐH là một loại dịch vụ do các tổ chức xã hội cung cấp. Chỉ xã hội hóa mới có thể tổ chức thi ĐH nhiều lần trong năm, khiến nó trở nên bình thường, không còn là việc “điên đầu” của nhà nước và xã hội nữa.  Tuyển sinh ĐH là việc của các trường ĐH. Tuyển bao nhiêu, tuyển bằng cách nào là trách nhiệm của trường, nhà nước không cần can thiệp nhiều. Không ít người lo rằng tự chủ tuyển sinh sẽ khiến các trường ĐH “làm ẩu”. Theo ông Giang Sưởng, nỗi lo đó là thừa, bởi các trường ĐH nước ngoài tự chủ tuyển sinh được thì các trường ĐH Trung Quốc cũng có thể làm được. Tự chủ tuyển sinh sẽ giảm áp lực cho nhà nước, tăng cạnh tranh giữa các trường, đồng thời mở thêm lựa chọn cho thí sinh. Học sinh có thể trực tiếp dự các cuộc tuyển chọn của các trường khác nhau, tìm được những trường thích hợp để phát huy tài năng.  Hình thức thi ĐH thống nhất của Trung Quốc hiện nay, theo ông Giang Sưởng, sẽ dẫn tới một vấn đề ít được để ý nhưng lại gây tác hại lâu dài là thí sinh chỉ cần “đỗ là được”, bất chấp chất lượng chuyên môn của trường ĐH mình muốn vào. Như vậy, một lượng lớn học sinh ưu tú sẽ đổ vào những trường “mốt” nhưng có chất lượng khoa học không cao, để tài năng bị lãng phí. Vấn đề này sẽ được khắc phục nếu các trường tự chủ tuyển chọn sinh viên. Bởi trong quá trình tuyển chọn, các trường ĐH sẽ cạnh tranh nhau bằng chất lượng chuyên nghiệp chứ không phải bằng mác “to” hay “bé”.  Cải cách thi ĐH là một quá trình tương đối lâu dài, cần phải thực hiện từng bước. Ông Giang Sưởng đề nghị, trước mắt có thể thực hiện một số bước sau để có thể chuẩn bị nền tảng cho sự cải cách toàn diện:  Thứ nhất: Các trường cao đẳng dạy nghề không căn cứ vào thành tích thi ĐH mà chủ yếu căn cứ vào điểm thi tốt nghiệp phổ thông để tuyển sinh. Muốn vào các trường cao đẳng , học sinh không nhất thiết phải thi ĐH, dù có thi thì kết quả cũng không là căn cứ để được tuyển chọn. Ngoài điểm thi tốt nghiệp, các trường cao đẳng  còn có thể căn cứ vào kết quả học tập để tuyển sinh.  Thứ hai: Tiến hành hai mùa thi ĐH trong một năm. Trước mắt vẫn tổ chức kì thi ĐH thống nhất vào tháng sáu, sau đó tổ chức thêm một kì vào tháng 12 hàng năm. Học sinh có thể thi một hay cả hai kì, lấy kết quả tốt nhất để các trường ĐH tuyển chọn.  Thứ ba: Căn cứ vào cả ba yếu tố: thành tích học tập, điểm tốt nghiệp, điểm thi ĐH để tuyển sinh. Theo đó, giảm tỉ lệ tuyển sinh theo điểm thi ĐH, tăng tỉ lệ tuyển sinh theo điểm thi tốt nghiệp và kết quả học tập.  Thứ tư: Việc thi theo khối hiện nay khiến học sinh phổ thông học lệch nghiêm trọng, vì vậy nên bỏ hoàn toàn hình thức thi này. Thi ĐH chỉ cần ba môn Ngữ văn, Toán học và Ngoại ngữ. Để tăng tính chọn lọc, đề thi 3 môn này cần phân theo các mức độ dễ – khó khác nhau.  Thứ năm: Để các trường ĐH tự chủ tuyển sinh thì phải bỏ việc tuyển sinh theo hạn ngạch. Nhà trường hoàn toàn có thể căn cứ vào tình hình cụ thể để định số lượng tuyển sinh. Với năng lực hiện tại, chỉ cần công khai, minh bạch thì việc tuyển sinh của các trường ĐH nhất định sẽ suôn sẻ. Quan trọng nhất là các cơ quan quản lí giáo dục phải tin tưởng và giao quyền tự chủ cho các trường ĐH.      P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gian lận và thi cử: Lo âu về một ngày mai      Trong lịch sử phát triển nhân loại, giáo dục luôn giữ vai trò rất quan trọng đối với sự hưng thịnh của mỗi quốc gia; và các trường học thường được coi là biểu tượng tri thức của một đất nước, là niềm tự hào của một thành phố, một địa phương, một đất nước.          Thí sinh lo âu trước kỳ thi xét tuyển vào ĐHQG TP HCM. Ảnh: Vnexpress  Cùng với nền tảng kinh tế, giáo dục là cái gốc của mọi thứ, là nguyên nhân của phần lớn các nguồn cơn của một gia đình, một cộng đồng hay một đất nước. Sở dĩ như vậy là vì, giáo dục góp phần tạo nên phẩm cách con người, ‘nếp nhà’ của một gia đình, và giáo dục cũng làm nên tầm vóc của một dân tộc. Các nước có nền giáo dục tiên tiến thì đồng thời cũng là các quốc gia có nền kinh tế phát triển và có một xã hội văn minh.  Thế nhưng, sự xuống cấp đạo đức trong môi trường học đường, điển hình nhất là gian lận trong thi cử ở nhiều cấp, trong những năm gần đây đã làm dấy lên những âu lo không chỉ về chất lượng đào tạo, về đạo đức xã hội, mà còn về phẩm giá của thế hệ tương lai và tiền đồ của đất nước.  Trong bài viết này, tác giả cố gắng nêu ra thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và thử đưa ra một vài gợi mở nhằm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ hành vi gian dối trong thi cử (và các hành vi gian dối khác) ra khỏi thế giới của tuổi trẻ học đường, ra khỏi môi trường sư phạm và học thuật nước nhà.     “Bệnh thành tích” chỉ là một mỹ từ     Trong khoảng mươi mười lăm năm trở lại đây, người ta hay dùng từ ‘bệnh thành tích’ để chỉ các hành vi tiêu cực trong thi cử và các hành vi gian dối khác trong ngành giáo dục. Thực ra, ‘bệnh thành tích’ chỉ là một mỹ từ để làm giảm nhẹ cho sự dối trá trong giáo dục nói riêng, trong xã hội nói chung.  Nói một cách công bằng, gian lận trong thi cử hiện đang là căn bệnh trầm kha của nền giáo dục nước nhà, nhưng lại là câu chuyện không mới. Ngược dòng lịch sử, trong 845 năm khoa bảng kể từ thời Lý Nhân Tông đến vua Khải Định, lịch sử phong kiến Việt Nam cũng đã chứng kiến một số ‘vụ án’ thi cử lớn. Sách  “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ đã kể lại chuyện gian lận thi cử thời Lê mạt; rồi các danh nhân như ‘thần Siêu tháng Quát’, Bảng Đôn, Ngô Sách Tuân, Lê Hi, Đặng Tế Mỹ và nhiều tên tuổi khác ít nhiều đều có dinh líu đến gian lận thi cử. Có điều, thời phong kiến, gian lận trong thi cử bị xử tội rất nặng, rất nghiêm, người vi phạm có thể bị bắt làm nô lệ, bỏ tù, đeo gông và thậm chí là bị xử tử; thêm nữa, thang bậc giá trị của xã hội cũng khác nay nhiều, nên gian lận thi cử có rất ít ‘đất’ để phát triển.  Trên thế giới, gian lận thi cử xảy ra không chỉ ở các nước chậm phát triển, mà ngay cả ở ‘thế giới văn minh’. Ví dụ, ở Nhật Bản, một quốc gia có nền giáo dục rất phát triển, nhưng vẫn có hàng loạt các trường đại học tại Nhật đã sửa điểm thi, thao túng kết quả tuyển sinh1. Gần đây, một vụ gian lận thi cử đã bị phát hiện ở một quốc gia có nền giáo dục được coi là phát triển vào bậc nhất thế giới: Gần 50 người trong đó có các giám đốc điều hành, các ngôi sao nổi tiếng ở Hollywood, nhà thiết kế thời trang, luật sư cao cấp và giáo sư đại học đã có hành vi gian lận để đưa con cái họ vào được các trường đại học danh giá hàng đầu như Harvard, Yale hay Stanford2.  Nói thế, để thấy gian lận thi cử không phải là câu chuyện mới, cũng không phải chỉ là ‘câu chuyện’ của một vài quốc gia, mà là căn bệnh của nhân loại, luôn đồng hành cùng thi cử. Tuy nhiên, ngày nay ở Việt Nam, vấn nạn gian lận thi cử đã trở nên quá phổ biến. Ở cấp học nào, lớp học nào, từ phổ thông lên đại học rồi sau đại học, từ xét đạt tiêu chuẩn phó giáo sư đến giáo sư, cũng đều có hiện tượng gian lận thi cử, mua bán điểm chác, bằng cấp, chức danh ở mức báo động. Gian lận thi cử không chỉ gia tăng về quy mô mà hình thức càng ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn.  Hiện tượng tiêu cực trong thi cử có thể chia thành các nhóm sau: Sử dụng tài liệu trong phòng thi cử, quay cóp bài làm của người ngồi cạnh, sao chép luận văn, đồ án, xin điểm, mua điểm, thi hộ, thi kèm… Đầu những năm 2000, báo cáo tổng kết thanh tra thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2005-2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi: “Hội đồng coi thi bổ túc trung học phổ thông Trừ Văn Thố, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang có 536 thí sinh có bài thi giống hệt nhau, phải hủy kết quả”…. Năm học 2006-2007, theo báo cáo tổng kết thanh tra thi tốt nghiệp phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Có 2.525 thí sinh bị đình chỉ thi do lỗi mang tài liệu vào phòng thi trong giờ làm bài, 8 thí sinh thi hộ”…. Năm học 2007-2008, theo báo cáo tổng kết thanh tra tốt nghiệp phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Có 1.809 thí sinh bị đình chỉ thi do mang tài liệu vào phòng thi trong giờ làm bài, 293 thí sinh thi hộ; trong đó riêng Nghệ An đã phát hiện 151 thí sinh thi hộ tại đợt thi lần 2”. Những năm sau này là ‘phao thi trắng trường’ ở nhiều trường phổ thông. Rồi tới lúc ‘phao’ chỉ được coi là gian lận ‘sơ đẳng’nếu so với thời công nghệ như điện thoại thông minh, đồng hồ thông minh, máy tính cầm tay đa chức năng, v.v… trong các năm gần đây.  Nhưng dù sao, hành vi ‘quay cóp’ cũng mới chỉ là “mánh khóe nhỏ lẻ”. Có quy mô lớn hơn, nặng mùi ‘kim tiền’, mua bán đổi chác lại là khâu cuối cùng: chấm điểm, nhập điểm do người lớn. Đỉnh điểm là việc mua bán, đổi chác điểm trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2018: 222 thí sinh vi phạm bị phát hiện ở 3 tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, trên tổng số 925.000 thí sinh tham dự kỳ thi không phải là con số lớn, nhưng đã lột tả một hiện thực xã hội nhức nhối. Những người vốn suốt ngày rao giảng về đạo đức học đường, về trách nhiệm công vụ, nhưng chính họ lại câu kết với nhau để làm đảo lộn trật tự thi cử: trượt thành đỗ và đỗ thành trượt; để từ đó hình thành một “bộ phận không nhỏ” những công dân gian dối, chiếm lĩnh các vị trí quản trị xã hội và các ngành nghề, công nghệ then chốt.      Thí sinh bị phạt đeo gông trước trường thi. Ảnh: Tranh trích trong tập Technique du peuple Annamite của Henri Oger – 1909. Nguồn: Thanh nien.   Với giáo dục đại học, các vụ việc tiêu cực trong thi cử thời gian vừa qua cao đến mức rất đáng lo ngại. Theo Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Đề án cải tiến tuyển sinh đại học, cao đẳng theo giải pháp 3 chung (2002-2006) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số thí sinh bị xử lý kỷ luật do vi phạm quy chế thi cử như sau: Năm 2002 có 3.186 trường hợp, năm 2003 có 5.544 trường hợp, năm 2004 có 3.186 trường hợp, năm 2005 có 1.546 trường hợp, năm 2006 có 1.166 trường hợp, v.v… Tiêu cực phổ biến trong làm luận văn là tình trạng sao chép luận văn, luận án của người khác. Cá biệt có trường hợp đã bị phát hiện dùng báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ của người khác làm luận văn của mình. Ở bậc cao hơn trong môi trường học thuật, có người ngang nhiên đạo văn để làm đẹp hồ sơ chức danh GS, PGS, thậm chí có người trấn áp người tố cáo hoặc là đánh bài lờ, và rồi cũng không ai đứng ra phán xử đúng sai. Thế là thật giả lẫn lộn, các nhà giáo, nhà khoa học tử tế bị tổn thương nghiêm trọng, phần thiệt thòi thuộc về xã hội, thuộc về đất nước.  Chuyện gian lận thi cử đã trở nên phổ biến đến mức người gian lận không cần giấu giếm, không còn cảm thấy xấu hổ vì hành vi gian lận của họ nữa; trong khi các cơ quan chức năng luôn chạy theo, loay hoay tìm cách chống đỡ. Các phong trào được đề xướng nhằm làm trong sạch dần thi cử, hướng đến học thật dạy thật thi thật, thực học thực nghiệp, nhưng cuối cùng đều không thể thắng thế trước áp lực xã hội và các lý do “tế nhị” khác.  Chưa bao giờ hiện tượng gian lận trong thi cử lại đặt ra nhiều câu hỏi bức thiết như hôm nay: Đâu là sự công bằng cho người học? Tương lai đất nước sẽ ra sao nếu phụ thuộc vào những con người gian lận ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường? Còn bao nhiêu những Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình nữa chưa bị phanh phui?  Cần có giải pháp trước mắt và lâu dài nào để ngăn chặn và loại bỏ hiện tượng gian lận thi cử như hiện nay để lấy lại sự công bằng cho thí sinh, lấy lại niềm tin cho xã hội?     Nhiều nguyên nhân bao trùm     Có nhiều nguyên nhân dẫn đến gian lận thi cử, có thể phân ra 3 nhóm: Gia đình, Nhà trường và Xã hội.  Gia đình  Gia đình là tế bào xã hội, nơi nuôi dưỡng, dạy dỗ và rèn giũa để hình thành nên nhân cách một con người. Chỉ cần tiếp xúc với một ai đó, là chúng ta có thể biết tương đối chính xác anh ta, chị ta được sinh thành trong một gia đình như thế nào, nếp nhà ra sao, phông văn hóa dày hay mỏng. Dường như những gia đình thiện lương thường có những đứa con tử tế và hiếu đễ. Còn với những gia đình có điều kiện kinh tế nhưng nền tảng văn hóa không cao, “nếp nhà” thấp, nhưng lại có quan hệ xã hội rộng vì có quyền có tiền hoặc có cả hai, con em họ thường ỷ lại vào quyền huynh thế phụ, học lực và đạo đức yếu kém, nhưng lại muốn nhanh chóng đỗ đạt, rồi thăng tiến tới các địa vị cao, không phải để cống hiến và chứng tỏ gia phong, mà là để kiếm chác, vinh thân phì gia. Đó là quan niệm phổ biến trong một xã hội mà các thang bậc giá trị đã bị méo mó; và theo quy luật cung- cầu, những người này đã tìm đến với nhau, đổi chác, mua bán, hình thành ‘liên minh’ quyền-tiền-điểm thi với các qui mô và mức độ tinh vi khác nhau.  Nhà trường  Trong đời người, trung bình một người thường phải sử dụng từ 27% đến 44% độ dài của cuộc đời mình để ‘mài đũng quần’ trên ghế nhà trường. Vì thế, cùng với gia đình, nhà trường có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách và phẩm giá của một con người. Buồn là, việc chạy theo thành tích cũng là một biểu hiện “nói dối” đã trở thành ‘phổ cập’ ở hầu hết các nhà trường, thể hiện rõ nhất ở số lượng có quá nhiều HS giỏi các cấp, và người ta không thể biết đó là điểm của thầy, điểm của trò hay là điểm của phụ huynh. Có lớp 100% là HS giỏi, và gần như không có học sinh bị đúp.      Khi các khuôn khổ pháp luật, thể chế và các thang bậc giá trị đã chuẩn mực thì thói giả dối nói chung, nạn gian lận thi cử nói riêng sẽ được giảm thiểu. Nhưng muốn làm được điều ấy thì trước hết chúng ta phải đủ can đảm đối diện được với sự thật, và nghe được những lời nói thẳng.      Nhà nước áp dụng một hệ thống thi cử, thi đấu, thi đua hết sức nặng nề khắp các cấp, các ngành, các đối tượng, tạo áp lực rất lớn cho người thi, khiến học sinh phải học thêm, học tủ để đạt kết quả trước mắt với bất cứ giá nào kể cả kiệt sức, quay cóp… đưa tới cách dạy đối phó, học đối phó. Chương trình đào tạo được thiết kế không chuẩn nên dẫn đến hiện tượng quá tải về kiến thức, trong đó có nhiều thứ không thiết thực, người học không cần, nhưng họ buộc phải học để thi, để tốt nghiệp. Nhiều khi thầy cũng chưa tin vào những điều họ dạy, nên hiện tượng thầy đọc- trò chép là phổ biến, mặc cho không biết bao nhiêu lớp tập huấn về thay đổi phương pháp giảng dạy, về “người học là trung tâm”. Với cách dạy, cách học, và cách thi như thế thì ngay cả học sinh sinh viên khá giỏi cũng sẵn sàng quay cóp, nên ‘phao’ là điều dễ hiểu, và gần như là không thể triệt tiêu.  Hiện tượng dạy thêm – học thêm tràn lan đã trở thành tệ nạn, khi học thêm không hề mở mang thêm tri thức mới cho học sinh, cũng không nâng cao sự năng động thể chất, sự sáng tạo trong tư duy, hay sự bay bổng trong tâm hồn. Nhiều giáo viên ban đầu buộc phải nhắm mắt đưa chân vào việc dạy thêm như một sinh kế, rồi có người không giữ được phẩm hạnh của họ nữa, họ bị tha hóa dần và biến chất. Hệ quả lớn hơn là làm sụp đổ toàn bộ quá trình giảng dạy đạo đức hay nhân cách cho học sinh, khi chính những người thầy ở vị trí có tính biểu tượng truyền thống về đạo đức lại làm những việc trái với đạo đức.  Một biểu hiện ‘tha hóa’ nữa là trường chuyên lớp chọn. Đây là hình thức giáo dục đã bị xóa bỏ ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến, nhưng ở nước ta cả xã hội tìm mọi cách cho con em mình chạy đua vào các trường chuyên lớp chọn, trường điểm. Về bản chất, đây là một hình thức phân biệt đối xử, dễ dàng biến thành ‘đặc quyền’ của con em các gia đình có quyền và có tiền. Điều này sẽ để lại cho xã hội nhiều hệ lụy không mong muốn lâu dài, bởi lẽ ra trong một xã hội văn minh, mọi người đều phải được quyền bình đẳng về cơ hội, mà đầu tiên là quyền bình đẳng trong giáo dục công.  Xã hội   Thực trạng xã hội có ảnh hưởng không nhỏ, nếu không muốn nói là giữ vai trò gần như quyết định đến gian lận thi cử nói riêng, đến giả dối và các thói hư tật xấu khác của con người nói chung. Ngày nay, trong xã hội chúng ta, có thể dễ dàng nhận thấy các nguyên nhân sau dẫn đến gian lận trong thi cử:  Thói giả dối trở nên khá phổ biến: Kết quả một cuộc khảo sát với 5.600 người do nhóm nghiên cứu của GS. Trần Ngọc Thêm thực hiện, công bố năm 2016 cho thấy, xét về mức độ phổ biến bệnh giả dối đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%. Còn theo điều tra của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, thì tỷ lệ nói dối cha mẹ của học sinh cấp tiểu học là 22%, cấp THCS là 50%, cấp PTTH là 64% và sinh viên đại học là 80%. Dù có thể không tuyệt đối chính xác, những con số ấy cũng nói lên một sự thật: tỷ lệ nói dối tăng dần theo độ tuổi. Một nền đại học với tỉ lệ sinh viên nói dối cha mẹ như vậy khó tránh khỏi cho “ra lò” không ít những “ông nghè ông cống” dối trá.      Ảnh minh họa: internet.  Hậu quả của thói giả dối là khiến mọi người đều dễ bị tổn thương: mỗi mét vuông mặt đường, mỗi lít xăng ta mua, mỗi m3 nước thải, mỗi m3 nước ăn đều có thể đang chứa đựng sự dối trá. Chúng ta không còn quá bất ngờ khi nghe thông tin về những nhà máy thải chất độc ra sông đầu độc môi trường, những người trồng rau, làm hoa quả, làm nước mắm, làm sữa dùng hóa chất cấm để tăng sự bóng bẩy và chỉ số giả về chất dinh dưỡng. Những lời dối trá xuất hiện cả trên những hội thảo khoa học, hay các cuộc họp tổng kết thi đua. Phần lớn những kẻ tham nhũng sâu mọt khi bị lôi ra ánh sáng trước đây đều đã từng được che đậy bởi những tấm huân huy chương, những chức vụ quyền lực quan trọng.  Một xã hội mà thói giả dối phổ biến như vậy sẽ đi liền với thói háo danh và căn bệnh chuộng bằng cấp, chứng chỉ, rõ nhất là ở việc tuyển dụng người vào các cơ quan công quyền hay đề bạt cán bộ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Tiêu chí tiêu chuẩn cán bộ thế nào, thì những kẻ cơ hội và gia đình họ, sẽ bằng cách này hay cách khác kiếm đủ các loại văn bằng, chứng chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn qui hoạch cán bộ, hay của các cơ quan tuyển dụng nhà nước. Điều này góp phần quan trọng vào việc làm cho vấn nạn gian lận trong giáo dục ngày càng nặng nề hơn, nghiêm trọng hơn.  Tham nhũng và tham nhũng trong giáo dục: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng nhưng đây vẫn là một vấn nạn nhức nhối. Ngày 29/ 01/2019, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2018, xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo bảng xếp hạng này, năm ngoái, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu. Xét trên thang điểm từ 0 – 100 của CPI (0 là rất tham nhũng và 100 là rất trong sạch), tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam được cho là rất nghiêm trọng, tệ hơn so với Trung Quốc (hạng 87), Indonesia và Philippines (cùng hạng 99).  Trong ngành giáo dục, một khảo sát khác tiến hành năm 2012 cho thấy, người dân Việt Nam nhận thức ngành giáo dục tham nhũng nhiều hơn người dân tại một số nước trong khu vực: Điểm số Việt nam là 3,4/5 (với điểm 5 là rất tham nhũng): Thái Lan (3,1); Philippines (2,8); Campuchia (2,6)… Hành vi tham nhũng không chỉ tồn tại ở cấp giáo dục phổ thông mà còn cả ở đại học. Các chi phí không chính thức, “các khoản hoa hồng” được trích từ các hợp đồng xuất bản sách giáo khoa, hiện tượng dạy thêm học thêm… được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu quốc gia và quốc tế .  Tham nhũng được coi là trở ngại chính trên con đường cải tổ chất lượng giáo dục. Nó đe dọa tới việc gia tăng chi phí giáo dục của các gia đình. Tồi tệ hơn, nó gây ra nguy cơ bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận dịch vụ giáo dục và ảnh hưởng phần lớn đến người nghèo. Tham nhũng cũng góp phần xói mòn chuẩn mực đạo đức của giáo viên và học sinh.      Giải quyết tận gốc tình trạng gian lận học đường không chỉ gói gọn ở khâu tổ chức thi nghiêm túc, mà phải xóa bỏ được tư tưởng gian lận của người học.      Có người cho rằng, kết quả khảo sát PISA không phản ánh toàn bộ môi trường dạy và học khi các hành vi tham nhũng tồn tại ở cả người học và người dạy. Có thể cung cấp một số ví dụ khác để minh chứng cho điểm này: Theo một nghiên cứu thì, để qua được một kỳ thi hoặc để được chấp thuận tham gia một chương trình học nào đó, 23% học sinh Việt Nam (từ 15-30 tuổi) ghi nhận đã từng hối lộ. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn với học sinh thành phố (32%); hối lộ để đảm bảo một xuất học tại trường điểm ở Việt Nam có thể lên tới 3.000 USD.  Trong khi đó, chế tài xử phạt không đủ răn đe và không nghiêm minh: chế tài xử phạt và các công cụ quản lý thi cử không được thực hiện hiệu quả. Các hành vi dối trá trong học tập ở các cấp độ khác nhau đã không được xử phạt nghiêm minh, không đủ mạnh để ngăn ngừa hành vi gian lận tiếp diễn. Thời phong kiến ở nước ta, gian lận thi cử có khung hình phạt đến tử hình; Ở Mỹ, hành vi gian lận thi cử không chỉ bị phát tài chính rất nặng mà còn phải ngồi tù nhiều năm, có khi đến 20 năm và bị xã hội lên án và tẩy chay.     Cần cải cách tổng thể     Nguyên nhân nào thì giải pháp ấy, thường là như vậy. Khi nhìn vào từng vấn đề cụ thể, không khó để chúng ta chỉ ra những lệch lạc cần được xử lý. Nhưng vấn đề cốt lõi là chúng ta cần có một kế hoạch cải cách tổng thể, hiện đại hóa giáo dục theo hướng thực học thực nghiệp xung quanh trục ‘dạy người -dạy chữ -dạy nghề’. Đó không thể tiếp tục là những thử nghiệm liên miên, chắp vá, mang tính tình thế để giải quyết các sự vụ cụ thể nhằm làm yên lòng dân theo kiểu dân túy, mà phải là những cải cách bài bản, thực lòng, kèm theo một lộ trình thực hiện chi tiết, trình Chính phủ và Quốc hội thông qua; trong đó đặc biệt coi trọng giáo dục và rèn luyện tính trung thực, liêm chính, tự trọng.  Song song với kế hoạch cải cách tổng thể, Nhà nước cần cải cách việc thi cử trong suốt quá trình đào tạo, chỉnh đốn các khâu đào tạo ở các cấp bậc phổ thông, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn và bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, cải thiện chính sách sử dụng thầy giáo đại học và đào tạo giáo viên phổ thông.  Vấn đề giải quyết tận gốc tình trạng gian lận học đường không chỉ gói gọn ở khâu tổ chức thi nghiêm túc, mà phải xóa bỏ được tư tưởng gian lận của người học. Bởi một học sinh với tư tưởng gian lận sau khi vượt qua kì thi tuyển sinh sẽ tiếp tục hành vi gian lận một cách dễ dàng trong môi trường đại học và trong suốt cuộc đời. Một lần nữa, ai đủ can đảm giao tính mạng của mình cho một phẫu thuật viên đã từng vài lần bị bắt quay bài trong lớp học nhưng được giám thị bỏ qua. Vì vậy, các biện pháp trừng phạt được thiết kế để răn đe học sinh vi phạm và những kẻ đồng lõa phải được tiến hành thực sự nghiêm túc. Giáo viên cần được khuyến khích thực hiện những biện pháp răn đe đủ mạnh để giúp học sinh xây dựng tính trung thực.  Cần phải bắt đầu từ lứa tuổi mới cắp sách đến trường, giáo dục cần hướng đến khuyến khích học sinh tự mình làm công việc được giao, biến giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tự trưởng thành.  ***  Có lẽ là nên nhắc lại ở đây bài văn sách thi Đình đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ năm 1442 của Nguyễn Trực (1417-1474), đầu bài của vua Lê Thái Tông (1423-1442), về việc tìm người tài ra giúp dân và phép trị nước. Nguyễn Trực viết “Vua có nhân, không ai không có nhân; Vua có nghĩa, không ai không có nghĩa; Vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, Vua chân chính rồi thì cả nước sẽ bình yên”. ‘Vua’ ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là người định ra pháp luật và thể chế trong môi trường xã hội vĩ mô, mà còn là “người lớn” nói chung, bao gồm cả những bậc làm cha mẹ, thầy cô, những người định hình nên nhân cách trẻ em thông qua các thang bậc giá trị trong mỗi gia đình, mái trường.  Khi các khuôn khổ pháp luật, thể chế và các thang bậc giá trị đã chuẩn mực thì thói giả dối nói chung, nạn gian lận thi cử nói riêng sẽ được giảm thiểu. Nhưng muốn làm được điều ấy thì trước hết chúng ta phải đủ can đảm đối diện được với sự thật, và nghe được những lời nói thẳng.□  ——–  Tham khảo  Nguyễn Đắc Hưng (2019). Một số giải pháp chống gian lận trong giáo dục, Tạp chí của Ban tuyên giáo trung ương  Thụy Phương (2018). Gian lận thi cử: Nỗi đau và hệ lụy. Link: https://baomoi.com/gian-lan-thi-cu-noi-dau-va-he-luy/c/27064328.epi  Nguyễn Thị Cẩm Tú (2014). Đánh giá kết quả giáo dục ở nhà trường phổ thông: Thực trạng và giải pháp).  Link: https://th-vanphu2-khanhhoa.violet.vn/entry/show/entry_id/10338799  Hoàng Tụy (2005). Một số vấn đề về khoa học và giáo dục: Góc nhìn cuộc sống. Thời đại mới, Tạp chí Nghiên cứu và Thảo luận, số 6. Tháng 11/2005  Vietnamnet (2018). Thi THPH 2018: Gian lận thi cử chưa từng có. https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/media/gian-lan-rung-dong-ky-thi-thpt-quoc-gia-2018-494607.htmlBosman J. (2007) Plans for Revamped G.R.E. Are Abandoned. The New York Times. Tải ngày 11/10/2012.  Chris Loschiavo (2015). Why do students cheat? Listen to this dean’s words. Link: https://theconversation.com/why-do-students-cheat-listen-to-this-deans-words-40295  Curruption Perceptions Index 2018. https://towardstransparency.vn/cpi-vietnam-2018/  Davis, S. F., Drinan, P. F., & Bertram Gallant, T. (2009). Cheating in School. Malden, MA: Wiley Blackwell.  1http://tiin.vn/chuyen-muc/hoc/be-boi-giao-duc-tai-nhat-ban-hang-loat-truong-thua-nhan-sua-diem-thi-dai-hoc-thao-tung-ket-qua-tuyen-sinh.html  2 https://vov.vn/the-gioi/nhung-vu-gian-lan-thi-cu-chan-dong-nuoc-my-886352.vov    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Giảng viên hợp đồng: Đời không màu hồng      18 sau khi bảo vệ xong bằng tiến sĩ, James  D. Hoff (ảnh bên) vẫn chưa tìm được một việc làm toàn thời gian. Ông sống giật gấu  vá vai, chật vật xếp hàng chờ được xếp lớp để dạy ở nhiều trường khác  nhau trong thành phố.     May lắm thì ông kiếm được chừng bốn chỗ dạy  mỗi  học kỳ, với số giờ dạy ngang với một người dạy toàn thời gian,  nhưng chỉ  được trả mỗi năm 24.000 đô la Mỹ.  Sinh viên gọi ông là “giáo sư” và trong lớp James D. Hoff trông chẳng khác gì những giáo sư Anh ngữ khác, phân phát tài liệu và kêu gọi sinh viên ngâm thơ, thưởng thức hay nghiền ngẫm những tác phẩm của nhiều nhà văn khác nhau, như James Baldwin, Stephen Crane hay thi ca của Beat.  Tóc vàng, râu màu cát sậm, ông có một niềm say mê vô hạn với thơ ca Mỹ, và có thể nói ông đang sống với mơ ước của mình. Ông đã xuất bản nhiều bài viết về Ezra Pound và Laura Riding, và có thể quên đi những mối lo lắng của mình nhờ niềm vui trong việc giúp những người trẻ tuổi khám phá sức mạnh của văn học.  Nhưng mối lo lắng của ông không ngừng quay lại ám ảnh. Ban đêm, nhiều khi ông nằm thao thức trong bóng tối, tự hỏi liệu ông có thể xoay sở để sống cuộc đời hàn lâm này trong bao lâu nữa.   Ông không phải giáo sư. Ông là một giảng viên hợp đồng, một công việc ngày càng phổ biến hơn và bấp bênh hơn, một công việc không hề có gì là bảo đảm về chỗ làm, về phúc lợi y tế, và không có con đường chắc chắn để trở thành một người trong biên chế đại học.   Học kỳ này, ông chỉ có ba lớp.  “Tôi lo lắm” Hoff nói về cảm xúc của ông khi biết rằng ông sẽ có thể thâm hụt 3.000 đô la Mỹ trong cán cân thu chi của mình. Ông 42 tuổi, có vợ, một đứa con mới tập đi, và một khoản nợ trong thẻ tín dụng.   Mayor Bill de Blasio là người đã nêu ra vấn đề bất bình đẳng thu nhập ở nơi này. Chúng ta đã biết nhiều về cuộc đấu tranh của những người công nhân không có bằng đại học và thu nhập thấp, về khoảng cách thu nhập ngày càng lớn, về sự suy giảm trong việc bảo đảm công ăn việc làm trong các doanh nghiệp ở Mỹ.  Nhưng cơn địa chấn này cũng đã lay động đến cả giới hàn lâm, tạo ra một xã hội người được kẻ mất, người có tất cả và kẻ chẳng có gì, người “bên trong” và kẻ đứng ngoài, trong giới giảng viên.  “Đây là cuộc đời tôi, là công việc mà tôi rất yêu thích”. Hoff nói về việc giảng dạy, nghiên cứu, và viết lách của ông. “Nhưng với tôi, làm một giảng viên hợp đồng cũng giống như là thường xuyên ở trong tình thế khủng hoảng kinh tế”.  Từ năm 1993 đến năm 2011, tỉ lệ giảng viên không có biên chế trong cả nước Mỹ đã tăng từ 57 đến 70%, theo Hiệp hội Các Giáo sư Đại học. Trong số đó, phần lớn là các giáo sư hợp đồng giống như Hoff.  Ở Trường Đại học Thành phố New York (City University of New York – CUNY), là nơi Hoff đã làm việc hợp đồng trong khi theo học nghiên cứu sinh tiến sĩ, giảng viên hợp đồng bán thời gian chiếm 62% trong tổng số 18.600 giảng viên, theo Professional Staff Congress, một tổ chức đại diện cho giảng viên và nhân viên nhà trường, cho biết. Các nhà nghiên cứu, quan chức của nhà trường cho biết rằng việc thu hẹp các nguồn hiến tặng và ngân sách nhà nước sụt giảm là nguyên nhân chính khiến nhà trường phải dựa vào đội ngũ bán thời gian và ít tốn phí hơn.   CUNY, cũng đang trải qua tình trạng giảm sút trầm trọng số sinh viên nhập học, đã chi 10 triệu đô la Mỹ hỗ trợ quyền lợi y tế cho các giảng viên hợp đồng và hỗ trợ một chương trình đưa thêm khoảng 200 giảng viên vào biên chế. Các giảng viên hợp đồng nói rằng cần nhiều hơn thế, rất rất nhiều.   Nhiều người tưởng giảng viên hợp đồng là người đang hành nghề chuyên nghiệp, với một hay hai môn học nào đó. Nhưng với sự sụt giảm những chỗ làm có biên chế, ngày càng nhiều người trong giới hàn lâm như Hoff, không thể nào tìm được một chỗ làm toàn thời gian trong trường đại học.   Họ ngày càng ngang bướng, bị khích động bởi các trường trả tiền quá trễ và hủy lớp vào phút chót. Nhiều giảng viên hợp đồng nói rằng họ bị loại ra ngoài việc quản trị trường đại học và không được tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới lớp mà họ dạy. Và còn nhiều những thứ không xứng với phẩm giá của họ gây ra sự khó chịu, ví dụ như bị từ chối không giao chìa khóa tủ đồ dùng dạy học hay không được vào văn phòng sau giờ làm việc.  “Họ cảm thấy thiếu phẩm giá, thiếu sự tôn trọng, cảm thấy người khác không nhìn nhận sự hiện diện của họ”, Barbara Bowen nói. Bà là chủ tịch Hội Cán bộ Công nhân viên CUNY, người đã nói rằng hội này đang đòi tăng cường bảo đảm chỗ làm cho giảng viên hợp đồng trong việc thương lượng hợp đồng lao động tương lai.   Giảng viên hợp đồng cũng sống rất chật vật. Hoff, người đang dạy học kỳ này ở Trường ĐH Manhattan và Viện Kỹ thuật Thời trang, đã phải dọn từ Manhattan đến Bronx để tìm một căn hộ có giá thuê rẻ tiền hơn. Vợ ông làm cho một tập san khoa học. Hai vợ chồng không thể xoay xở mua nổi một nơi ở hay dành dụm cho việc học đại học của đứa con gái 22 tháng tuổi của họ.   Ngày nào ông cũng mở hộp thư để xem tin tức về những công việc mới. Ông đã từ lâu không còn chỉ tìm kiếm những việc trong biên chế, không còn tìm bất cứ việc làm toàn thời gian nào nữa. Đó là những vị trí ổn định trong các trường đại học hay cao đẳng, hay các cơ quan trực thuộc các trường, những công việc có thể đảm bảo cho ông tiếp tục dạy học và theo đuổi hoạt động học thuật.  Hoff là người đầu tiên trong gia đình ông đặt chân vào đại học. Thời tuổi trẻ, ông mơ ước trở thành một nhà thơ, một học giả. Ông vẫn đang bám níu lấy những khát vọng ấy, ít ra là cho tới giờ phút này.  “Năm năm nữa, hãy đến nói chuyện với tôi, tôi có thể sẽ cảm nghĩ khác đi chăng”. Ông nói thế.   Người dịch: Phạm Thị Ly  Nguồn: New York Times ngày 19.1.2014   Bản tiếng Việt: Thông tin Giáo dục quốc tế của Trung tâm Nghiên cứu & Đánh giá giáo dục đại học, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảng viên hợp đồng: Một hệ thống nhân công học thuật mới      Wal-Mart là một hệ thống siêu thị nổi tiếng  với việc giữ số nhân công làm việc toàn thời gian ở mức thấp nhất có  thể, trả lương thấp, không có phúc lợi gì, và không có bảo đảm gì về chỗ  làm. Khuynh hướng này đã và đang xảy ra trong giới hàn lâm Mỹ.    Năm 2009, Money Magazine công bố một kết quả khảo sát tên là “50 công việc tốt nhất ở Mỹ”. Họ phân tích những dữ liệu về việc làm, và thực hiện khảo sát trực tuyến tới 35 ngàn người, có tính đến những nhân tố như tiền lương, sự linh hoạt, lợi ích đối với xã hội, sự hài lòng, mức độ căng thẳng, an toàn chỗ làm, và triển vọng phát triển. Như mọi người đều biết, nghề giáo sư đại học đứng hàng thứ ba trong danh sách, với mức lương trung bình 70.400 USD cho chín tháng làm việc, và triển vọng tăng 23% sau mười năm; những người được trả cao lên tới 115.000 đô la Mỹ mỗi năm Nghề này được đánh giá hạng “A” về sự linh hoạt, lợi ích cho xã hội, và sự hài lòng, hạng “B” về mức độ căng thẳng, trong đó 59% giáo sư cho rằng stress ở mức thấp.   Tuy ghi nhận rằng cạnh tranh để giành một chỗ trong biên chế ở các trường khá căng thẳng, tạp chí này cho rằng những người có bằng thạc sĩ có thể tìm được công việc giảng dạy bán thời gian: “Bạn sẽ thấy khá nhiều vị trí cần người trong các trường đại học, cao đẳng cộng đồng, nơi bạn có thể bước vào nghề giảng viên ở vị trí hợp đồng mà không cần có bằng tiến sĩ.”  Tương tự, cuộc khảo sát năm 2000 về giới giảng viên Mỹ do Quỹ Hưu bổng và Bảo hiểm Giáo chức thực hiện đã khẳng định thêm tỉ lệ hài lòng cao với công việc của giới giáo sư. 90% giáo sư tham gia bỏ phiếu đã tỏ ra hài lòng với sự lựa chọn nghề nghiệp của họ, và nói rằng nếu chọn lại họ vẫn chọn nghề dạy đại học. Courtney Leatherman cho biết trong báo cáo về cuộc khảo sát.  Thống kê của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ về lương giảng viên củng cố thêm niềm tin về bức chân dung nghề giáo sư nói trên. Trong Báo cáo về Điều kiện Giáo dục năm 2009, Bộ Giáo dục nói rằng trong năm học 2007-2008, lương trung bình cua giảng viên là 71.100 đô la Mỹ/năm. Thêm nữa, tính trung bình thu nhập của giảng viên vào khoảng 90.800 đô la Mỹ trong đó có 71.00 là tiền lương, còn lại là các khoản phụ trội hay quyền lợi khác (khoảng 28% lương).  Báo cáo về lương của giảng viên toàn thời gian năm học 2008-2009 cho biết các trường công lập bốn năm báo cáo tiền lương trung bình là 76.126 đô la Mỹ/năm. Tuy trong hai năm 1999-2000 và 2007-2008, tiền lương giảng viên trường công giảm 1% nhưng tiền lương nói chung đã tăng 22% trong giai đoạn 1979-2008, sau khi đã điều chỉnh lạm phát.   Tuy vậy, có một điểm sai trong bức tranh này. Nó đã bỏ qua một triệu giáo sư đại học đang làm việc ngoài biên chế và đang chiếm 75% tổng số giáo sư Mỹ. Thực ra, bức chân dung mà tờ báo đã vẽ ra không đúng với sự thực trong 35 năm qua.   Trong cả nước, các nhà quản lý trường đại học đã tiến một bước dài trong việc giữ bí mật con số giảng viên hợp đồng không để sinh viên, phụ huynh, các nhà làm luật, các chuyên gia kiểm định, các quỹ tài trợ giáo dục và nghiên cứu, và công chúng biết đến. Từ khi tờ US News and World Report bắt đầu dùng con số giảng viên hợp đồng để tính cho việc xếp hạng Các trường ĐH tốt nhất Hoa Kỳ, nhiều trường đã không công bố con số này cho các báo nữa. Nhà báo Scott Jaschik viết:  Nếu điều sinh viên quan tâm là tỉ lệ giảng viên toàn thời gian, bạn không thể xem những con số mà các trường ĐH nghiên cứu nêu ra là đúng. Hai trường ĐH đứng đầu bảng trong loại hình ĐH nghiên cứu đều công bố họ có 100% giảng viên toàn thời gian, nhưng đã thừa nhận với tạp chí Inside Higher Ed rằng họ không tính giảng viên hợp đồng vào con số đó. Hai trường này không cô đơn trong việc làm đẹp con số của mình bằng cách không tính tới giảng viên hợp đồng.  Năm 2004, Peter Umbach và Ryan Wells đã thực hiện một cuộc khảo sát một nhóm giảng viên ngẫu nhiên về công việc của họ và thấy rằng những giảng viên hợp đồng có mức độ hài lòng với công việc kém rất xa so với những đồng nghiệp trong biên chế. Trong bài tường thuật về kết quả này trên báo Chronicle of Higher Education, Peter Schmidt viết, “Chỉ không đến 7% giảng viên hợp đồng hài lòng với tiền lương, 14% hài lòng với các quyền lợi được hưởng, 9% hài lòng với công việc nói chung. Chưa đến 8% nói rằng họ sẽ tiếp tục chọn nghề này nếu có cơ hội lựa chọn lại một lần nữa.  Mức độ không hài lòng thực sự trong thực tế có thể còn cao hơn nhiều. Trong bản báo cáo của Quỹ Carnegie năm 1987 về Đời sống giới hàn lâm, Burton Clark viết, “Có một điều chắc chắn là những người làm việc bán thời gian đã trượt ra khỏi các bảng thống kê của quốc gia theo một cách khiến cho họ không được biết tới đầy đủ. Nhiều người không được đăng ký tên trong danh sách giảng viên. Trừ khi thiết kế nghiên cứu được cân nhắc thấu đáo để tìm hiểu về giảng viên hợp đồng, hầu hết những cuộc khảo sát về giảng viên đã khuyết mất dữ liệu về họ”.   Nhiều giảng viên hợp đồng cũng ngại điền vào các phiếu khảo sát vì họ sợ câu trả lời của mình có thể không được giữ ẩn danh.   Cuộc khảo sát nói trên của Money Magazine, và những cuộc khảo sát khác, đã nhắm mắt trước những thay đổi xảy ra trong đời sống giới học thuật mà Rich Moser đã miêu tả bằng thuật ngữ “một hệ thống nhân công học thuật mới”. Trong hệ thống đó, theo Moser, “sự bóc lột nghiên cứu sinh, sự xâm phạm và lạm dụng những giảng viên ngoài biên chế là đặc điểm nổi bật nhất của chiến lược tuyển dụng mới, được biết đến dưới tên gọi một hệ thống nhân công hai tầng hay nhiều tầng bậc”.  Trong ba mươi tám năm qua, tỉ lệ các giáo sư trong biên chế đã bị cắt giảm gần một nửa. Giáo sư trong biên chế giảm từ 45,1% trong giới giáo sư Mỹ năm 1975 chỉ còn 24,1% vào năm 2011, và hiện nay chỉ có một phần sáu (16,7%) giáo sư trên tổng số là đang có một vị trí trong biên chế.   Trong lúc đó, tỉ lệ giáo sư ngoài biên chế tăng từ 54,8% năm 1975 lên đến 76% năm 2011. Năm 1975, có 268.883 giáo sư làm bán thời gian hoặc toàn thời gian ngoài biên chế, và 160.806 nghiên cứu sinh làm trợ giảng. Năm 2011, có 1.046.299 giảng viên bán thời gian và toàn thời gian ngoài biên chế; 355.916 nghiên cứu sinh làm trợ giảng. Giáo sư bán thời gian tăng từ 24% năm 1975 lên đến 41,3% năm 2011, hiện nay là 761.996 người. Từ 1975 đến 2011, số giáo sư biên chế và trong hệ thống được xét biên chế tăng 35,6% trên cả nước, trong lúc số giảng viên bán thời gian tăng 305,3%.   Wal-Mart là một khuynh hướng tương tự trong kinh tế có vẻ như đã và đang xảy ra trong giới hàn lâm. Wal-Mart là một hệ thống siêu thị nổi tiếng với việc giữ số nhân công làm việc toàn thời gian ở mức thấp nhất có thể, trả lương thấp, không có phúc lợi gì, và không có bảo đảm gì về chỗ làm. “Đang có một sự thay đổi trên quy mô lớn trong lực lượng giảng viên”, Gwen Bradley nói. Ông là giám đốc phụ trách truyền thông của Hiệp hội các Giáo sư Mỹ. “Nó cho thấy cái gì đang xảy ra trong nền kinh tế nói chung. Nhiều người gọi đó là “siêu thị hóa giáo dục đại học”. Trong ngắn hạn, sẽ rẻ hơn nhiều khi thuê mướn giảng viên bán thời gian”.   Tuy có một sự thật là ngân sách cấp cho các trường từ những nguồn của tiểu bang và của địa phương đã giảm sút trong nhiều thập kỷ qua,- thậm chí càng thêm sụt giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế 2007-2009 cùng với hậu quả của nó-ngành công nghiệp học thuật khó lòng lâm vào tình cảnh tai họa. Tuy tỉ lệ nguồn thu từ ngân sách nhà nước giảm từ 35 % trong năm học 1975-1975 xuống còn 27,2% năm 2000-2001; các quỹ tài trợ và hiến tặng từ khu vực tư tăng từ 4,8% lên 9,1% với tổng thu tăng gấp đôi từ 141 tỉ đô la Mỹ lên tới 293 tỉ năm 2005.  Giới hàn lâm hẳn là đã không cắt giảm “năng suất” trong ba mươi năm qua. Số sinh viên nhập học tăng 60% từ 1975 đến 2005. Học thuật là một ngành công nghiệp đang tăng trưởng, nhưng nó đã và đang áp dụng kinh nghiệm kinh doanh của những tay tổ trong lĩnh vực doanh nghiệp.   Wal-Mart đã là chủ đề của nhiều phim, tài liệu, chẳng hạn “Wal-Mart: Cái giá quá cao của những món hàng rẻ tiền”, do Robert Greenwald thực hiện, và “Thời đại mới của Wal-Mart” do David Faber thực hiện. Nhà làm phim độc lập Barbara Wolf đã làm hai bộ phim về việc các giảng viên hợp đồng đã bị bóc lột như thế nào: “Bằng cấp của nỗi nhục” (“Degrees of Shame”) (phỏng theo bộ phim nổi tiếng “Thu hoạch nỗi nhục”(“Harvest of Shame”) của Edward R. Murrow nói về những người nhập cư làm công nhân nông trường) và “Đơn giản là vấn đề của công lý”.   Tuy sự biến động lao động do kinh tế toàn cầu gây ra đã được nêu lên nhiều lần, hệ thống nhân công lao động học thuật kiểu mới này đã được áp đặt vào thực tế mà không được công luận chú ý.     Chủ nghĩa biên chế   Hệ quả trực tiếp của việc trả tiền giảng viên ngoài biên chế thấp hơn trong biên chế là thái độ tiêu cực của những người trong biên chế với đồng nghiệp ngoài biên chế của họ. Lang thang vào khu vực dành cho giảng viên ở một trường cao đẳng cộng đồng, một giảng viên nói oang oang: “Nếu một giảng viên hợp đồng có tí gì hay ho thì hẳn là giờ đây anh ta đã có được một vị trí biên chế rồi chứ”. Ông ta, một giảng viên có biên chế, đang giữ vị trí chủ tịch trong công đoàn giảng viên, dường như không lưu ý – hay không thèm quan tâm – rằng có một giảng viên hợp đồng đang ngồi trong phòng.   Thái độ thiên kiến đó là giải pháp tự nhiên đối với những gì trái với nhận thức thông thường, khi niềm tin của người ta mâu thuẫn với cách xử sự, họ có thể điều chỉnh niềm tin của mình nhằm lý giải cho cách xử sự ấy. Vấn đề đặt ra cho các giảng viên trong biên chế là: làm sao lý giải được tại sao họ được đối xử quá tốt trong lúc vô số đồng nghiệp ngoài biên chế của họ bị đối xử quá tồi tệ?  Bình luận trên đây của người giảng viên trong biên chế cho thấy sự làm ngơ trước việc trong nhiều thập kỷ qua đã có rất ít người được nằm trong hệ thống biên chế so với những ứng viên có đầy đủ điều kiện phẩm chất. Chính sự khan hiếm các vị trí công việc toàn thời gian đã khiến những người có được vị trí đó xem họ là kẻ chiến thắng trong một bức tranh xã hội mạnh được yếu thua theo kiểu Darwin.   Không ai diễn giải chi tiết về tuổi tác của những người mới được tuyển dụng, nhưng giảng viên hợp đồng hầu như tin chắc rằng họ càng ở lâu trong cương vị hợp đồng thì càng ít cơ hội giành được một công việc trong hệ thống biên chế. Chẳng có gì lạ khi ủy ban tìm người vào biên chế (bao gồm chủ yếu là những giảng viên trong biên chế) làm ngơ trước thành tích của những đồng nghiệp đang làm hợp đồng để tuyển dụng những người trẻ “nhiều hứa hẹn” tuy có rất ít thành tích vào các vị trí ấy.   Trong một cuốn sách có tên “Là một ai đấy và không là ai cả: Vượt qua sự xâm phạm của thứ hạng” Robert Fuller, nguyên hiệu trưởng Trường Oberlin College, đã trình bày hậu quả của việc chia rẽ con người bằng thứ hạng. Phản ánh ít nhiều tiếng vang từ những tài liệu của phong trào nữ quyền, Fuller miêu tả chủ nghĩa xếp hạng là “sự hỗn loạn không tên”. Gọi chủ nghĩa xếp hạng là mẹ của tất cả các thứ chủ nghĩa khác, Fuller cho thấy rằng cả sự khác biệt về quyền lực hay thứ hạng tự bản thân nó không phải là then chốt của vấn đề. Vấn đề là “những khó khăn nảy sinh khi sự khác biệt này được dùng để biện bạch cho sự xâm phạm, làm nhục, bóc lột, và nô dịch hóa những người yếu thế. Sự lạm dụng quyền lực của những người thuộc hạng cao hơn thể hiện dưới hình thức thiếu tôn trọng, bất bình đẳng, phân biệt đối xử, và bóc lột. Vì thứ bậc là hình tháp của quyền lực, chủ nghĩa xếp hạng là một thứ tệ nạn trong đó mọi loại thứ bậc đều có thể bị tổn thương”.  Fuller lưu ý rằng thứ bậc có thể dùng để chia rẽ con người, giữa những người “là một ai đấy” và những người “không là ai cả”. “Chủ nghĩa thứ bậc xúc phạm phẩm giá của những người cấp dưới bằng cách đối xử với họ như thể là họ không hiện diện, như thể họ không là ai cả. Nó được dùng để lý giải, biện bạch cho sự phỉ báng và bất công. Những người “không là ai cả” bị xúc phạm, bị coi thường, bị bóc lột, bị làm ngơ. Trái lại, những người “là một ai đấy” được săn đón, được giành ưu tiên, được đề cao như những danh nhân”.  Tiếp theo Fuller, tôi nghĩ giờ đây chúng ta có thể đặt tên cho lối đối xử với đồng nghiệp ngoài biên chế của những người trong biên chế là “chủ nghĩa biên chế”. Cũng như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vốn phân loại con người theo màu da, chủ nghĩa phân biệt giới phân biệt con người theo giới tính; chủ nghĩa biên chế đang phân loại giảng viên theo cương vị biên chế của họ và tạo ra một định kiến sai lầm và giả tạo rằng có hay không có biên chế là điều định nghĩa phẩm chất của một giáo sư.   Những giáo sư không tên   Không có một tên chung được chấp nhận sử dụng cho nhiều loại giáo sư ngoài biên chế.  “Bán thời gian” quả thật là một sự dùng sai thuật ngữ, vì nó chỉ ngụ ý sự giảm bớt thời giờ làm việc chứ không có bất cứ khác biệt nào về phẩm chất, trong khi vô số giảng viên được gắn nhãn “bán thời gian” đang làm việc toàn thời gian tại một trường hoặc chạy sô kiệt sức ở nhiều trường khác nhau. Một số người ngoài biên chế thực ra đang giữ những vị trí công việc toàn thời gian, với tư cách giảng viên hay nghiên cứu viên.   “Giảng viên hợp đồng”  (adjunct)1 là từ thông dụng, cả trong và ngoài giới học thuật. Định nghĩa đầu tiên về “adjunct” mà từ điển Webster nêu ra là, “một thứ gì đó có mối liên hệ hoặc được thêm vào một thứ khác nhưng về bản chất không phải là một phần của thứ được thêm vào ấy”, không áp dụng đúng cho các giảng viên này, bởi giảng viên hợp đồng chiếm phần lớn trong tổng số các giáo sư và là một phần không thể thiếu, không thể phủ nhận của các trường đại học trong cả nước.  Và định nghĩa của Wikipedia về giảng viên hợp đồng, “người không giữ vị trí cơ hữu hay toàn thời gian tại một trường/ viện nhất định” chắc chắn không phản ánh được thực tế của những giảng viên đã dạy nhiều chục năm ở trường họ. Khi Từ điển “Free Dictionary” định nghĩa “adjunct” là “một thứ gắn với một thứ khác như là mợt bộ phận phụ thuộc hay có vị trí thấp hơn” nó gợi ra một ấn tượng sai lầm rằng chỉ một số ít giáo sư, chứ không phải là đại bộ phận, rơi vào loại này.  Từ “không cơ hữu” (“contingent”)2 là một từ khá thông dụng trong các giảng viên hợp đồng, đã được thêm vào (sau khi vượt qua nhiều tranh cãi) biệt danh của Liên đoàn Lao động Không Cơ hữu của Giới Hàn lâm, tổ chức này cứ hai năm một lần tổ chức hội thảo ở những thành phố khác nhau, từ năm 1998 đến nay. Từ “contingent” có cái thuận lợi là miêu tả được bản chất bấp bênh, tạm thời của những giáo sư đang làm việc ngoài biên chế, với thu nhập không thể dự đoán trước được do phụ thuộc vào số sinh viên nhập học và nhiều nguồn quỹ tài trợ khác nhau. Nhưng có một định nghĩa về “contingent” chắc chắn không thể áp dụng cho nhiều trường hợp, có lẽ là hầu hết các trường hợp: “không có tính nhất thiết: được xác định qua chọn lựa tự do”.   “Giảng viên” là một thuật ngữ khác dành cho những người dạy ngoài biên chế. Ở những trường có hệ thống xếp loại, nó thường là loại thấp nhất. Nó có thể áp dụng cho cả giáo viên toàn thời gian lẫn bán thời gian, bao gồm cả nghiên cứu sinh làm trợ giảng.   Có lẽ thuật ngữ bao hàm hầu hết mọi khía cạnh của thực tế là từ “ngoài hệ thống biên chế”, một từ làm rõ một điều mà tất cả các giáo sư này đều cảm nhận được: họ bị chối từ bước vào thế giới của những giáo sư trong biên chế.   Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự phân biệt hai hệ thống. Hầu như mọi mặt trong chính sách nhân sự đều hoàn toàn khác và bất bình đẳng. Trong thực tế, nhiều giáo sư như thế đã bị phân loại sai là “người làm việc tạm thời” bởi họ đã làm việc quá lâu ở đó. Tuy sự phân loại sai như thế làm tổn thương họ, nhà trường và các giáo sư trong biên chế đã hưởng lợi rất nhiều ở đó.  Khi nghe những từ “bán thời gian” hay “tạm thời”, người ta thường hình dung người lao động chỉ đơn giản là làm việc vài ba giờ mỗi tuần cho một quãng thời gian ngắn và tạm bợ, có lẽ là tạm lấp chỗ trống cho đến khi tìm được người làm toàn thời gian. Người ta khó mà hình dung được rằng những người làm việc kiểu ấy đã phải nhận một mức thù lao thấp hơn nhiều và bị đối xử rất khác về mọi mặt.  Bởi vậy hệ thống đôi trong giới hàn lâm đã tạo nên hai tầng bậc hoàn toàn tách rời nhau và rất bất công, trong đó tầng lớp trên, những người trong biên chế được đối xử theo một cách tốt hơn nhiều so với tầng dưới, những người ngoài biên chế, bị đối xử như là những kẻ thấp kém. Đó lại là những người thường làm việc chẳng hề có tính chất tạm thời, có người đã làm nhiều chục năm, và không có một chế độ tự động nâng cấp thành người trong biên chế.   * * *  Hệ thống hai tầng bậc này đang bị rạn vỡ. Các giáo sư trong biên chế hiện nay thấy họ lênh đênh trên con thuyền nhỏ đầy lỗ thủng mà bao quanh là một biển đầy ắp các giáo sư ngoài biên chế, những người bị ngăn cản trèo lên con thuyền biên chế, bị buộc hoặc là đặt chân lên mặt nước hoặc là chịu nhắm mắt mà chết đuối.   Ngay cả Hiệp hội các Giáo sư Mỹ cũng đã bắt đầu nói về biên chế như một từ để nói về ngày tận thế. Năm 2010, với tư cách Chủ tịch Hiệp hội, Cary Nelson đã phát biểu: “Ngày nay hệ thống biên chế đã và đang sụp đổ”. Ông cũng viết: “Hiện nay giáo viên đại học trung bình không còn đủ điều kiện vào biên chế, và con tàu của những người tốt đã và đang chìm dần xuống nước”.   Biên chế trở thành một niềm hy vọng tan vỡ và hầu như tuần nào cũng có ai đó viết ra một câu chuyện và nêu câu hỏi: “Liệu các trường đại học có đáng giá gì chăng?”. Vẫn còn đang trải nghiệm cảm giác về ảnh hưởng của đợt suy thoái 2007-2009, câu trả lời ngày càng nhiều là: “Không!”. Thật sự là không đáng để hàng triệu học sinh ăn nhịn để dành và vay nợ để theo đuổi văn bằng sau đại học nhất là trong các ngành nhân văn, chỉ để thấy rằng sẽ không có chỗ làm trong biên chế, và lựa chọn độc nhất của họ là những hợp đồng làm việc từng năm hay là dạy bán thời gian cả đời trong những khu ổ chuột hàn lâm.  Người dịch: Phạm Thị Ly  Nguồn: www.salon.com ngày 1602.2014    Bản tiếng Việt: Thông tin giáo dục quốc tế của Trung tâm Nghiên cứu & Đánh giá giáo dục đại học Trường ĐH Nguyễn Tất Thành  —  1 Dịch “adjunct” là “giảng viên hợp đồng” không được chính xác lắm về mặt từ ngữ, vì chữ “hợp đồng” không có nghĩa “một thứ gì đó có mối liên hệ hoặc được thêm vào một thứ khác nhưng về bản chất không phải là một phần của thứ được thêm vào ấy” như nghĩa gốc của chữ “adjunct”. Và dù có biên chế hay không thì mọi giảng viên đều phải có hợp đồng làm việc. Tuy nhiên từ “giảng viên hợp đồng” phản ánh đúng mối tương quan với “giảng viên trong biên chế” như người Việt thường hình dung và có ý nghĩa đúng như “adjunct professor” ở Mỹ. Giảng viên trong biên chế (tenure) cũng có thể dịch là giảng viên cơ hữu theo cách dùng thông dụng ở Việt Nam, tuy hai khái niệm này có khác nhau. Ở Việt Nam, giảng viên cơ hữu của một trường được hiểu là đóng bảo hiểm xã hội tại trường đó và hợp đồng không xác định thời hạn. Nhưng giảng viên trong biên chế ở Mỹ ngoài ý nghĩa cơ hữu như trên còn được bảo vệ chỗ làm suốt đời, không thể bị sa thải nếu không có vi phạm nghiêm trọng về đạo đức và qua xét duyệt nghiêm ngặt của một hội đồng, vì vậy một giảng viên cơ hữu có thể vẫn không có biên chế (Chú thích của người dịch).  2 “Contingent” nghĩa là (1) một nhóm nhỏ có chung một số đặc điểm và là bộ phận của một nhóm lớn hơn; (2) tùy thuộc vào một dịp nào đó, không chắc chắn, không dự đoán trước được; và (3) xuất hiện hay tồn tại chỉ trong một số điều kiện nhất định. (Chú thích của người dịch).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảng viên và sinh viên      Sinh viên cần ý thức được rằng họ có khả năng vượt qua những điều mà các giảng viên đang hướng dẫn họ hiện tại. Và trong tư cách là thế hệ hậu sinh khả úy, sinh viên có nghĩa vụ phải vượt qua giảng viên, người thuộc về thế hệ trước. Họ cần hiểu rằng họ phải cố gắng vượt lên trên giảng viên trong khi vẫn tôn trọng công việc và con người cá nhân của giảng viên.     Giảng viên là ai? Là người, qua các bài giảng, bộc lộ cho sinh viên thấy khuynh hướng, năng lực và tư tưởng (nếu có) của mình. Qua đó, một cách gián tiếp (hoặc trực tiếp nếu giảng viên muốn), hướng dẫn cho sinh viên cách tự khám phá lấy khuynh hướng và sở thích của họ, với tư cách là những chủ thể với nhận thức đầy đủ. Giảng viên, qua việc tự bộc lộ như là những giá trị độc lập trong lĩnh vực của hoạt động tri thức, là người giúp sinh viên tự xác lập mình như những cá thể độc lập. Giảng viên, qua bài giảng, xác lập vị thế tự do trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nhờ đó mà xây dựng cho sinh viên ý thức về vị thế tự do của họ so với chính giảng viên. Hiện tượng giảng viên bắt sinh viên phải chịu ơn mình, tôn sùng mình, thậm chí đi tới chỗ cung phụng mình, trên thực tế, là hoàn toàn phản lại sứ mệnh và chức năng của giáo dục.   Giảng viên chỉ là người hướng dẫn sinh viên trên lớp, hay hướng dẫn họ thực hiện các bài tập nghiên cứu. Sinh viên không mắc nợ gì giảng viên cả. Giảng viên chỉ là người đi trước sinh viên một quãng đường đủ để truyền đạt cho họ những kiến thức và kinh nghiệm có được do sự thực hành nghề nghiệp mang lại. Sinh viên cần ý thức được rằng họ có khả năng vượt qua những điều mà các giảng viên đang hướng dẫn họ hiện tại. Và trong tư cách là thế hệ hậu sinh khả úy, sinh viên có nghĩa vụ phải vượt qua giảng viên, người thuộc về thế hệ trước. Họ cần hiểu rằng họ phải cố gắng vượt lên trên giảng viên trong khi vẫn tôn trọng công việc và con người cá nhân của giảng viên. Chỉ có như vậy các thế hệ tiếp nối nhau mới có thể tạo nên sự phát triển cho xã hội, cho đất nước.  Sinh viên không buộc phải nghe giảng một cách mù quáng. Không cần phải nuốt lấy mọi lời của giảng viên, mà cần phải học cách suy nghĩ độc lập, từ những gì mà giảng viên cung cấp cho họ. Bài giảng thực chất cũng chỉ là một tài liệu tham khảo trong vô vàn các tài liệu tham khảo khác nhau. Hơn nữa ở bậc đại học, bài giảng đích thực phải là kết quả nghiên cứu độc lập của giảng viên. Kết quả nghiên cứu đó bình đẳng với những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác, sinh viên có quyền tán thành hoặc không tán thành. Điều sinh viên phải làm là suy nghĩ (chứ không phải học thuộc lòng) về những gì giảng viên nói, và khi cần thiết phải biết đánh giá cả những gì giảng viên nói. Sinh viên cần biết cách hoài nghi và phản biện để có thể đi tới xác lập sự tin tưởng trên cơ sở của lý lẽ và lập luận.  Sinh viên có quyền suy nghĩ về tất cả những gì mà họ quan tâm, tất cả những gì liên quan đến bài học ở trường và liên quan đến cuộc sống của họ. Không những có quyền, mà còn có nghĩa vụ phải suy nghĩ về những vấn đề thuộc về đời sống, bởi nếu không, về lâu dài, họ sẽ không còn khả năng tác động tới đời sống, thậm chí tới đời sống của chính mình, vận mệnh của họ sẽ có nguy cơ không còn do chính họ quyết định nữa.   Ngoài nhiệm vụ truyền đạt tri thức, giảng viên cần thực hiện các chức năng giáo dục, để làm được điều đó, giảng viên không thể thiếu nhân cách, đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp. Nếu giảng viên có quyền đánh giá sinh viên, có quyền đánh trượt sinh viên khi họ không thực hiện được các yêu cầu của việc học tập, thì sinh viên cũng có quyền phán xét nhân cách, đạo đức và năng lực của giảng viên.  Sinh viên có các quyền của người đi học. Nếu giảng viên làm điều gì không đúng với chức trách của mình, họ có quyền phản ánh với các cấp: Khoa, Trường. Nếu Khoa và Trường không giải quyết được, họ có quyền đưa vấn đề ra ngoài xã hội để xã hội phán xét, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Và trong trường hợp giảng viên làm điều gì vi phạm pháp luật (đe dọa sinh viên, bắt họ phải hối lộ để qua được kỳ thi, v.v…), họ có quyền nhờ hệ thống luật pháp can thiệp. Bởi vì lúc đó giảng viên đã trở thành một kẻ tội phạm. Bất kỳ một kẻ phạm tội nào cũng cần bị pháp luật trừng phạt, dù kẻ đó đứng trên bục giảng, hoặc đứng ở bất kỳ vị trí nào. Nếu xã hội không vận hành theo nguyên lý đó, thì nhà trường không thể thực hiện được chức năng giáo dục, có nghĩa là những gì được dạy trong nhà trường các cấp chỉ là giả dối mà thôi.  Trong việc học, sinh viên có các quyền: được nghe những bài giảng có chất lượng, được phát biểu các ý kiến nhận xét của mình, được tham khảo các nguồn tài liệu đa dạng liên quan đến bài học bất kể các quan điểm khác nhau của chúng. Bởi lẽ chính sự khác biệt làm nên diện mạo của tri thức và làm nên đời sống học thuật. Sinh viên có quyền tìm hiểu các vấn đề phù hợp với sự quan tâm, với sở thích của họ, và nghiên cứu chúng như những đối tượng khoa học. Sinh viên có thể nghiên cứu tất cả những gì “thuộc về con người”, như Marx đã diễn đạt. Nếu tất cả những gì thuộc về con người không xa lạ với Marx, thì cũng có nghĩa là đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của sinh viên. Có lẽ chỉ trừ khi giảng viên chứng minh được rằng đề tài X, Y nào đó không liên quan đến con người, thì may ra mới có thể cấm đoán sinh viên. Nhưng có gì trên thế giới này lại không liên quan đến con người? Kể cả băng ở Bắc Băng Dương hay một ngôi sao nào đó tít tắp trên không trung mà con người chưa phát hiện ra. Chưa phát hiện ra nó không có nghĩa là nó không liên quan đến con người. Dĩ nhiên, giảng viên, bằng kinh nghiệm của mình, có thể phân tích cho sinh viên thấy đề tài X,Y nào đó có tính khoa học hay không, có đứng vững được hay không, có khả thi hay không trong những điều kiện về thời gian, về tài liệu, và về năng lực của sinh viên. Tuy nhiên, những giảng viên thận trọng luôn đặt lại vấn đề rằng: có thể sinh viên sẽ có những kinh nghiệm khác với mình, đặc biệt là những sinh viên xuất sắc. Có nghĩa là: có những đề tài không khả thi nhìn từ quan điểm của giảng viên, nhưng trong thực tế đôi khi sinh viên có khả năng biến chúng thành khả thi.  Có lẽ những sinh viên đã học tôi – người viết bài này- đều cảm thấy rằng tôi hơi lạnh lùng và xa cách. Thái độ đó xuất phát từ sự tôn trọng tuyệt đối của tôi đối với sinh viên, từ sự tin tưởng của tôi vào khả năng phát triển độc lập của họ, từ mong muốn của tôi về nhân cách tự do của họ. Các anh chị sinh viên không nên trở thành vệ tinh cho bất kỳ ai, mà tốt nhất họ cần tạo lập cho mình một quỹ đạo riêng. Nhiệm vụ của các giảng viên là giúp sinh viên chuẩn bị cho quá trình tự thiếp lập quỹ đạo riêng của họ sau này. Có lẽ đấy sẽ là điều khiến họ biết ơn các giảng viên.                                                                                            TP HCM, 10/10/2011       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục: Công cuộc đại hòa giải?      Người thì cho rằng “giáo dục” mà không có khát vọng sẽ trở nên vô nghĩa; người hoài nghi  thì cho rằng nhiệm vụ ấy là quá sức người, vì hòa giải với nhau ở  “trong” thế giới còn chưa xong, nói gì đến hòa giải “với” thế giới!     Chân-Thiện-Mỹ là một thể thống nhất. Nhiều người nghĩ như thế chứ không chỉ ở thời cổ đại. Công lao lịch sử của Kant là phân biệt rạch ròi ba lĩnh vực này. Chúng có thể hợp nhất với nhau ở… cuối chân trời, nhưng không phải đồng nhất. Nhờ thế mới đảm bảo được sự độc lập của cái Chân (khoa học) và cái Mỹ (nghệ thuật), không cho cái Thiện (đạo đức) và cái Tốt (chính trị, kinh tế…) tùy tiện chen vào! Triết thuyết Duy tâm Đức sau Kant tìm cách hợp nhất lại, trên cơ sở tiếp thu thành quả phê phán của Kant, một nỗ lực đầy tham vọng và gây ảnh hưởng mạnh lên tư duy giáo dục.  HÒA GIẢI NHỮNG MẶT ĐỐI LẬP  Triết học “duy tâm” có ý nghĩa rất khác nhau nơi các đại triết gia: Kant, Fichte, Schelling, Hegel. Helferich, trong công trình khổng lồ “Lịch sử triết học từ khởi thủy đến đương đại” nhận định: “Lịch sử thuyết duy tâm Đức là nỗ lực vượt qua người đi trước. Hàng loạt giải pháp độc đáo được thử nghiệm và quả thật là một cuộc phiêu lưu tinh thần vô tiền khoán hậu”. Thế nhưng, họ đều có chung một động lực: vượt qua tư duy nhị nguyên và đi tìm một Nguyên lý thống nhất. Như vừa nói, lý tính con người được “chia thành ba phần” nơi Kant: Chân, Thiện, Mỹ (qua ba quyển Phê Phán nổi tiếng của Kant, mỗi quyển bàn riêng về một lĩnh vực) cần được hợp nhất lại. Nhưng làm sao vượt qua những “phân định ranh giới” của Kant giữa chủ thể và khách thể, tự nhiên và tinh thần, lý thuyết và thực hành? Họ trả lời: phải từ cái tuyệt đối của một Nguyên lý thống nhất. Bởi toàn bộ sự hiểu biết của con người cũng thế: tri thức không phải là việc cộng dồn lại, mà phải xuất phát từ “một” nguyên lý chung, duy nhất, nếu không sẽ hỗn loạn và không nhất quán. Tuy nhiên, nguyên lý này là gì thì mỗi nhà lại cũng có quan niệm khác nhau! Có điều, họ cùng chia sẻ chung một khao khát rất mãnh liệt, đó là  sự hòa giải giữa những cặp đối lập của tư duy như giữa nhất thể và đa thể, hữu hạn và vô cùng, triết học và tôn giáo, lý tính và khải thị v.v… Ai cũng tha thiết với cái “tuyệt đối”, từ đó mỗi người xây dựng một “hệ thống” riêng nhưng đều chặt chẽ, nhất quán, phức tạp và không khoan nhượng.  Việc say sưa xây dựng những hệ thống tư tưởng thật ra không đơn thuần vì động cơ triết học đơn thuần. Hình thức đồ sộ của từng hệ thống còn là nơi để nuôi dưỡng và điều tiết lòng nhiệt huyết, nỗi đau đời và sự phẫn nộ trước thực trạng chính trị, xã hội. Chính bối cảnh sôi động của thời đại (Đại cách mạng Pháp với những hệ quả và thách thức của nó như đã đề cập trước đây) đặt ra nhiệm vụ mới mẻ và bức thiết cho công cuộc “Bildung” (“giáo dục”). Giáo dục, theo nghĩa ấy, không còn là sự tích lũy kiến thức, mà, trên hết và trước hết, mang lại sự giao thoa giữa cái chung và cái riêng trong việc nhận thức thế giới và nhận thức chính mình, luôn tự vượt qua bản thân để tìm ra hình thái mới, phù hợp với sự tự do và tự quyết, hướng đến những lý tưởng phổ quát của Chân, Thiện, Mỹ. Nếu chưa thực hiện được thì ít ra cũng phải được suy tưởng và phấn đấu.  Bước vào thế giới hiện đại do Đại Cách mạng Pháp mở ra, con người cá nhân đứng trước thử thách chưa từng có. Gắn bó với “xã hội cũ”, với những lề luật của cộng đồng truyền thống (nhất là ở nước Đức lạc hậu), con người cá nhân có sự an toàn, ấm cúng, gần gũi, nhưng lại chật hẹp, tù túng, mất tự do, không hòa hợp được với sự “tự do chủ quan” theo lý tưởng về sự tự trị của Kant, và lý tưởng về cuộc sống “đích thực” của Rousseau để trở thành một sự “thống nhất cụ thể”.  Vì thế, “Bildung” có nhiệm vụ khôi phục trở lại sự thống nhất đã mất giữa cá nhân và thế giới (xã hội) ở một cấp độ cao hơn, tức thống nhất ở cấp độ tự do và lý tính. Con người đã được giải phóng khỏi xã hội cũ từ nay không chỉ biết sử dụng lý trí của chính mình (Kant) và lắng nghe tiếng gọi của lương tâm mình (Rousseau) mà còn phải “hòa giải” với thế giới ở cấp độ cao hơn. Hòa giải “với” thế giới và lịch sử hay nói cách khác, hòa giải “giữa” tự nhiên và văn hóa, giữa tất yếu và tự do, giữa chính trị và đạo đức… để đạt được sự thống nhất là cao vọng hay ảo vọng? Người ủng hộ thì cho rằng “giáo dục” (Bildung) mà không có khát vọng ấy sẽ trở nên vô nghĩa; người hoài nghi thì cho rằng nhiệm vụ ấy là quá sức người, vì hòa giải với nhau ở “trong” thế giới còn chưa xong, nói gì đến hòa giải “với” thế giới, một công cuộc lẽ ra chỉ nên dành cho… Thượng đế! Xu hướng hoài nghi ngày càng chiếm ưu thế, tuy nhiên không vì thế mà – nói như ngạn ngữ Tây phương – hắt cả đứa bé cùng với chậu nước tắm!  “TÍNH TOÀN THỂ” NHƯ MỘT ẨN DỤ  Tính thống nhất (hay nhất thể) đi liền với tính toàn thể như là định đề thứ hai trong triết thuyết duy tâm Đức. Cũng giống như trường hợp trước, tính toàn thể được ca ngợi (“cái toàn thể là cái đúng thật”; “cái toàn thể thì nhiều hơn tổng số các bộ phận”) và cũng bị đả kích (“cái toàn thể là cái sai, cái không đúng thật”; “tổng số những bộ phận thì nhiều hơn cái toàn thể”…). Sự hoài nghi cũng ngày càng lớn, nhưng, trong giáo dục, mấy ai lại phản đối sự thống nhất và tính toàn thể của thể xác, tinh thần và tâm hồn, hay của bàn tay, khối óc và trái tim nói như nhà giáo dục Pestalozzi?  Bên cạnh chức năng nhận thức, tính toàn thể còn là một yêu cầu thẩm mỹ và đồng thời được thúc đẩy bởi động cơ đạo đức nữa. Nền giáo dục “toàn thể luận” đòi hỏi phải vun bồi một quan niệm “toàn thể” về con người. Hành động sư phạm phải quan tâm đến việc kết nối đồng thời và đồng đẳng giữa nhiều lĩnh vực khác nhau: tri thức, tình cảm, đạo đức và ứng xử xã hội. Theo quan niệm này, mọi sự phiến diện, một chiều, cô lập trong giáo dục phải nhường chỗ cho sự cân đối, đa viễn tượng, đa chiều, nối mạng. “Tích hợp thay cho phân ly và loại trừ” vẫn đang là khẩu hiệu thời thượng, hầu như có mặt trong mọi cương lĩnh giáo dục chính thức của các quốc gia và trong… quảng cáo của trường học mọi cấp.  Trong bối cảnh hậu-hiện đại lớn tiếng phê phán nhiều yếu tố cực quyền, độc đoán của triết thuyết duy tâm Đức, điều khá bất ngờ và “mỉa mai” là những sự phân mảnh – vốn là cống hiến của Kant – cũng đang nhòe dần. Nền khoa học và giáo dục “cơ giới” trước đây trở nên lỗi thời. Thay vào đó là cái toàn thể hài hòa, không bị cắt vụn và giản lược. Người ta nói nhiều về sự khủng hoảng của mô hình đại học Humboldt (được tổ chức theo nguyên lý nhất thể và toàn thể của triết học duy tâm Đức), đồng thời lại có sự khao khát âm thầm vượt qua sự phân ly vốn là đặc điểm của kỷ nguyên khoa học công nghệ ngày nay. Ai có thể khẳng quyết chắc nịch rằng triết thuyết giáo dục duy tâm Đức đã lu mờ và hoàn toàn lui vào dĩ vãng? Một khía cạnh khác nữa của khái niệm “Bildung” sẽ góp phần trả lời “không” cho câu hỏi ấy…  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 28, 28.08.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục công dân và nền dân chủ      Alexis de Tocqueville (1805–1859), trong Nền  Dân Trị Mỹ (bản tiếng Việt của Phạm Toàn, NXB Tri Thức, tái bản lần 3,  2013), nổi tiếng với nhận định: nền dân chủ hiện đại không thể vận hành  tốt mà không có “những đức tính của người công dân”.     Vì thế, theo ông, khoa học chính trị không chỉ nghiên cứu nền dân chủ như là định chế mà còn như là lối sống đặc thù, lối sống của “con người dân chủ”. Lối sống ấy thấm nhuần trong tư tưởng, tình cảm, nhất là trong những “tập quán của con tim”, bởi, những quyền tham gia của người dân mà mọi hiến pháp dân chủ đều cam kết chỉ có thể trở thành hiện thực trong một nền “văn hóa chính trị” sống động. Ông du nhập một thuật ngữ hệ trọng vào châu Âu: sự dấn thân dân sự (civic involvement), và đặt xã hội trước “sứ mệnh giáo dục về nền dân chủ” (mission to educate democracy). Thật đáng kinh ngạc khi thấy rằng những tư tưởng rất hiện đại ấy, về cơ bản, đã sớm có mặt trong triết học chính trị và giáo dục của Aristoteles hơn hai nghìn năm trước!  NHỮNG ĐỨC TÍNH CÔNG DÂN  “Thực tế” hơn thầy của mình là Platon và cũng tỉnh táo không kém cựu thủ tướng Anh W. Churchill, Aristoteles (cũng như Platon) tuyệt nhiên không xem thể chế “dân chủ” là “tốt nhất” mà chỉ là “ít xấu nhất” so với mọi hình thức khác trong lịch sử! Trong Chính trị luận (bản tiếng Việt của Nông Duy Trường, NXB Thế giới, 2012), ông phân biệt chế độ dân chủ như là quyền lực của số đông (demo-cratein) với sự cai trị của số ít (olig-archein) hoặc của một cá nhân. Sự khác biệt tùy thuộc vào việc chế độ ấy thực sự phục vụ cho lợi ích chung hoặc chỉ do lợi ích riêng của một tập đoàn hay một cá nhân. Tùy vào thực chất, ba loại chế độ đều có thể thoái hóa: quân chủ trở thành chuyên chế, quý tộc trị trở thành tập đoàn trị, dân chủ trở thành độc đoán của đa số. Sở dĩ dân chủ là hình thức “ít xấu nhất”, vì, theo ông, đó là nơi con người – với tư cách là “sinh vật chính trị” – có thể thực hiện bản tính của mình. Trung thành với ý tưởng về “hạt mầm” (entelechie), đặc tính (nhân học) này chỉ có thể hiện thực hóa trong đời sống cộng đồng. Vì thế, giống như Platon, ông tập trung vào nền “giáo dục công cộng” (quyển 7 của Chính trị luận). Nền giáo dục ấy không giới hạn vào việc khuyến khích các đức tính công dân chỉ với mục đích là củng cố và duy trì trật tự nhà nước hiện có. Trái lại, cần có cái nhìn rộng hơn để vun bồi những đức tính với mục đích “hoàn thiện tâm hồn” nói chung. Nói cách khác, cái chính trị “đơn thuần” phải được vượt bỏ và nâng lên mới có thể hiện thực hóa nó.          Xã hội gồm nhiều loại người khác nhau. Giống hệt nhau, làm sao có xã hôi?     Aristoteles        Aristoteles nêu ba đức tính chính trị của người công dân: dũng cảm, công bằng và sáng suốt. Chúng vừa là nguồn gốc cho sự tự trọng của mỗi cá nhân, vừa là điều kiện cho hạnh phúc cá nhân và cộng đồng. Trong nền dân chủ hiện đại, những đức tính “bản chất” ấy, với tên gọi khác, vẫn còn đầy sức sống. Ngày nay, có lẽ người ta sẽ gọi là: sự quả cảm trong xã hội dân sự, cảm thức về công lý và năng lực lấy thái độ chính trị. Dù điều kiện xã hội có thay đổi đến đâu và trọng tâm được đặt vào đức tính nào, cả ba rõ ràng quan hệ với nhau rất mật thiết. Cảm thức về công lý đòi hỏi phải có năng lực phán đoán để biết lấy thái độ chính trị, đồng thời cũng cần có lòng quả cảm để thực thi trong thực tế. Trong ba đức tính ấy, năng lực phán đoán giữ vai trò chủ đạo. Tình hình càng phức tạp, hành động và hệ quả càng khó lường, năng lực phán đoán càng cần thiết. Ngược lại, năng lực phán đoán chính trị lại cần dựa vào cảm thức công lý và lòng quả cảm mới có hiệu nghiệm.  Đúng theo tinh thần triết học giáo dục của Aristoteles, các đức tính chính trị nói trên không phải là phẩm tính tự nhiên, mà phải được sở đắc dần dần qua sự “rèn tập thành thói quen” trong bối cảnh và thực tiễn chính trị, xã hội tương ứng. Từ thời cổ đại sang cuối thế kỷ 19 của Alexis de Tocqueville đến thế kỷ 21 của chúng ta, dường như đều đúng như thế cả! Có chăng, sự phát triển năng lực phán đoán chính trị ngày nay, về cơ bản, một mặt, là vấn đề của truyền thông và giáo dục, và mặt khác, là làm sao có nhiều điều kiện để tích cực tham gia vào đời sống công cộng.  Ta không quên nhắc lại một điểm trung tâm và đặc sắc khác trong cách hiểu về dân chủ và giáo dục của ông: sự đa dạng của những “cái tốt”. Được tiếp cận với nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, với nhiều kỹ năng và nhiều ngành nghệ thuật là yêu cầu cơ bản để phát huy tiềm lực giáo dục nơi con người. Để hành động hợp lý, ta cần biết đến các khả năng khác để có thể lựa chọn. Khác với cương lĩnh giáo dục ít nhiều mang tính “quyền uy” của Platon, đường lối giáo dục khai phóng và tự do của Aristoteles lưu lại ảnh hưởng sâu đậm nhất trên nền giáo dục Tây phương hiện đại, thể hiện trong ước muốn được tự do “mưu cầu hạnh phúc”. (Đồng thời, ta cũng không quên sự khó khăn trong việc điều hòa các xung đột khó tránh giữa những “cái tốt” mà bản thân Aristoteles cũng từng vướng phải, chẳng hạn, khi bênh vực… chế độ nô lệ!).  GIÁO DỤC DUY THỰC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA NÓ   Ta dễ dàng nhận ra những chỗ mạnh của triết thuyết giáo dục duy thực, trong thực tế, đang tiếp tục chiếm lĩnh tư duy giáo dục hiện đại. Trước hết, từ mục đích giáo dục:  1. Mục tiêu tối cao của đời sống và của giáo dục là hạnh phúc (theo nghĩa rộng của eudaimonia); 2.Mục tiêu ấy phụ thuộc vào việc vun bồi lý tính; 3.Vì thế, cần tăng cường học tập từ kho tàng tri thức được hệ thống hóa của nhân loại; và 4. Hiện thực hóa tiềm năng của người học để đáp ứng các vai trò và các trách nhiệm xã hội khác nhau trong cuộc sống được hợp lý hóa cao độ.  Từ mục đích ấy, rút ra chức năng chính của nhà trường: truyền đạt và không ngừng phát triển lẫn sử dụng tri thức. Chương trình giảng dạy, mặc nhiên và kỳ cùng, là đào tạo chuyên ngành “khoa học”, ở đâu cũng giống nhau vì chân lý thì bao giờ cũng… giống nhau! Về phía người dạy, phải nắm vững nội dung chuyên môn và cần có kỹ năng sư phạm chuyên nghiệp. Các tiêu chuẩn đánh giá (PISA, sắp hạng đại học, chuẩn giáo sư…) ngày càng đồng dạng và thống nhất.  Mô hình duy thực được ủng hộ từ nhiều phía: giáo chức, phụ huynh, giới kinh tế, chính trị và những ai có… “đầu óc lành mạnh”.  Tiếng nói chỉ trích ngày càng mạnh mẽ cất lên từ phía các tác giả “hiện sinh” và “hậu-hiện đại”: 1.Mô hình duy thực còn thiếu phê phán đối với óc “duy khoa học”; 2. Quan niệm quá “hẹp” và “cứng nhắc” về con người; 3.Tự xưng là “toàn diện” (trí, đức, thể, mỹ) nhưng sa vào chỗ phân loại và phân ngành quá sớm; 4.Chịu trách nhiệm về hệ thống điểm số phiến diện và thi cử nặng nề.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 10, 21.11.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học: “Khoán học thuật” trước tiên      Tại hội thảo Giáo dục 2018 với chủ đề “Giáo dục đại học – Chuẩn hóa và hội nhập quốc tế” do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội phối hợp với ĐHQG TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 17/8/2018, vấn đề tự chủ được nhìn nhận là một trong những tiêu chí quan trọng để các đại học Việt Nam chuẩn hóa và quốc tế hóa, bắt đầu phải bằng tự chủ học thuật.      Sinh viên ĐHQGHN trong phòng thí nghiệm của trường. Nguồn: Báo Nhân dân  Đề cập đến những xu hướng chính của giáo dục đại học trên thế giới hiện nay, ông Dilip Parajuli, chuyên gia kinh tế của Worldbank tại Việt Nam đã rút ra ba yếu tố quan trọng là tự chủ và trách nhiệm giải trình, quốc tế hóa, tài chính bền vững, vấn đề tự chủ đại học cần được đặc biệt quan tâm. Đồng tình với quan điểm này, GS. TS Nguyễn Hữu Đức, Phó giám đốc ĐHQGHN, đã viện dẫn ví dụ từ Malaysia, quốc gia coi việc tăng tính tự chủ đại học là một trong những chính sách trọng yếu để các trường đại học nâng cao năng lực hệ thống giáo dục. Nhờ vậy, hiện Malaysia xếp thứ 21 trong bảng xếp hạng U21 của Australia về hệ thống giáo dục đại học quốc gia và bảng xếp hạng QS về tiềm lực hệ thống giáo dục đại học năm 2018.  Tự chủ đại học chưa thể phát huy ưu điểm ở Việt Nam. Ông Dilip cho rằng, dù Việt Nam đang đi đúng hướng nhưng vẫn còn có nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện tự chủ. Trước nhận xét này của ông, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Văn Phúc cho rằng nhiều quy định về pháp luật liên quan đến giáo dục vẫn chưa tạo điều kiện cho tự chủ đại học ở Việt Nam. Một đại biểu khác trong ngành giáo dục là PGS.TS. Đỗ Văn Dũng, hiệu trưởng ĐH Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh bổ sung: “Cơ chế hiện nay không cho phép các hiệu trưởng dám làm, dám chịu trách nhiệm”.  Có một vấn đề tồn tại là hiện Việt Nam còn hiểu chưa đúng về tự chủ đại học. GS. TS Võ Văn Sen, nguyên hiệu trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM, đã góp ý: “Hiện nay có một cách hiểu lệch lạc trong các trường đại học ở Việt Nam là chỉ quan tâm đến tự chủ tài chính. Với một nước đang phát triển và nền đại học vẫn còn đang trong tình trạng sơ cấp như hiện nay, việc vội chạy theo cơ chế thị trường sẽ làm hạn chế sự phát triển của các ngành khoa học cơ bản.” Ông lấy ví dụ tại Nhật Bản, vấn đề tự chủ đại học chỉ mới được nói đến rộng rãi và mạnh mẽ khi họ đã trở thành đại cường quốc. Đồng ý với ý kiến của GS. TS Võ Văn Sen, GS. Phạm Quang Minh, hiệu trưởng ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN nhận xét, điều quan trọng nhất đối với các trường đại học là được tự do học thuật, chứ không phải tự chủ tài chính. GS. Minh đề xuất tự chủ đại học ở Việt Nam có lẽ cần bắt đầu bằng “khoán học thuật” – để các giảng viên tự chủ trong việc dạy và nghiên cứu. Từ quan sát của người ngoài cuộc, ông Dilip cũng nhấn mạnh, tự chủ đại học phải bắt đầu bằng tự chủ học thuật, rồi mới đến tự chủ tổ chức và tự chủ tài chính.  Các ý kiến của chuyên gia tham dự hội thảo đều đã được các cơ quan quản lý Nhà nước ghi nhận. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu: “Sáng tạo ra tri thức là một trong những sứ mệnh của trường đại học. Các trường đại học cần được tự chủ về chuyên môn thì mới khơi dậy sáng tạo cho từng thành viên trong nhà trường. Đây là tự chủ căn bản nhất.” Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng lưu ý rằng cần luật hóa những quy định về tự chủ đại học trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật liên quan, vì “khi Luật chưa sửa thì có nhiều điều chưa thực hiện được”.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Giáo dục đại học là định mệnh      Chỉ có giáo dục mới mang lại sự phồn vinh cho xã hội, phát triển đất nước bền vững, giải phóng cho con người, nâng cao hạnh phúc cho cộng đồng, và giá trị văn hóa của nó.       Sự bừng tỉnh của nước Phổ   Platon hơn hai ngàn năm trước đã xem giáo dục là cơ sở cho sự phát triển hài hòa của nhà nước và xã hội, và để giải phóng con người khỏi “nhà tù” của ảo ảnh. Ông đã dùng “ngụ ngôn hang động” để minh họa sự hiểu biết giới hạn của con người khi bị trói buộc vào những quan hệ chật hẹp của cảm quan khiến bị ảo ảnh. Những ý tưởng giáo dục của Hy Lạp đã trở thành ngọn hải đăng định hướng không bao giờ tắt cho cả lịch sử phát triển của nền giáo dục phương Tây trong suốt 2.500 năm sau. Lần đầu tiên Tinh thần con người đã tự khám phá mình, tự ý thức, biết tư duy về mình và đã có được khoảng cách trước những gì có tính cách truyền thống đã được chấp nhận và được nội tâm hóa một cách vô thức. Con người đã bước ra khỏi bầu không khí yên tĩnh, đóng kín, mặc nhiên, của một thế giới quan thần thoại, để bước vào sự ưu tư, hoài nghi và bất định của một sự tồn tại tự thân. Con người đi tìm cội nguồn lý lẽ cho niềm tin không phải dựa trên uy quyền chỉ vì nguồn gốc, tên tuổi của nó, mà dựa trên lý tính của con người, trên khả năng cảm nhận cái đúng, cái thật, cái đẹp, và cái tốt từ nhận thức của nó. Con người đã từ “Thần thoại (mythos) đi đến Lý tính (logos)”. Đó là giai đoạn ra đời lịch sử của ý tưởng giáo dục, cũng là lịch sử của nền văn hóa phương Tây.  Nước Phổ (Đức) thế kỷ 19 đã để lại một bài học sâu sắc cho lịch sử về vai trò cơ bản của giáo dục và khoa học kỹ thuật trong việc chấn hưng đất nước. Đại học Friedrich-Wilhelm (bây giờ là Đại học Humboldt, Berlin) được thành lập năm 1810 là để “Nhà nước Phổ bù đắp lại những tổn thất về vật chất bằng những sức mạnh tinh thần”. Năm 1806 Phổ đã mất hết nửa nước về tay Napoleon chỉ trong một ngày chiến đấu tại hai thành phố Jena và Auerstedt, mất luôn đại học chính là Halle. Một vương quốc tồn tại cả nghìn năm nay sụp đổ. Phổ lúc đó tuy là một cường quốc về quân sự nhưng lại là một người đang ngủ mê và tụt hậu xa về kinh tế và công nghiệp so với các nước Anh, Pháp. Nhưng Phổ đã bừng tỉnh ngay trước sự thất bại đau đớn của mình và vươn lên làm một cuộc cách mạng toàn diện. Tất cả tài năng phải được đánh thức và được trả lại giá trị chân chính của nó: “Mọi lực lượng phải được đánh thức và phải được cho một vị trí xứng đáng. Nguồn gốc sinh đẻ không còn là độc quyền cho chức vị. Nếu cho nó quá nhiều quyền thì cả một lực lượng lớn trong lòng quốc gia sẽ ngủ yên không phát triển và đôi cánh vươn lên của tài năng sẽ bị làm tê liệt bởi các quan hệ bẩn chật. Trong khi một Đế chế suy tàn trong bệnh hoạn yếu đuối, thì một Caesar có lẽ sẽ đi cày trong cái làng thống khổ nhất của ông và một Epaminondas (tướng tài của Hy lạp trước công nguyên) phải nuôi thân chật vật bằng lao động của hai bàn tay mọn của mình. Người ta vì vậy phải xử dụng đến những biện pháp đơn giản và hữu hiệu hơn để mở ra cho thiên tài một con đường, bất kể thiên tài từ đâu đến. Người ta cũng phải mở cánh cửa khải hoàn cho các lực lượng công dân… Thời đại mới cần hành động và sức mạnh tươi mát hơn là tên tuổi và địa vị ” (Tướng tài Gneisenau của Phổ, 1806). Phổ đã huy động tất cả những đứa con tài giỏi của mình, những học trò được khai sáng của Immanuel Kant và bộ máy nhà nước với những công chức có trình độ đại học để làm một cuộc Đại cải cách cho đất nước trong giai đoạn lịch sử hiểm nghèo. Đó cũng là cuộc chuyển đổi kinh tế thành công đầu tiên trong lịch sử từ nền kinh tế đóng kín sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nói theo thuật ngữ hiện đại.     Nơi quan trọng và thiêng liêng nhất mà loài người sở hữu được  Trái tim của cuộc Đại cải cách để chấn hưng đất nước chính là cuộc cải cách giáo dục và đại học dưới bàn tay của Wilhelm von Humboldt. Đó là cuộc cách mạng của cái đầu, của trí tuệ, hoàn toàn mới trong lịch sử. Tự do dạy, tự do học, và sự thống nhất giữa giảng dạy và nghiên cứu là những nguyên lý mới của đời sống đại học, bứt khỏi truyền thống đại học kinh viện cũ. Là một dân tộc chiến binh nhưng Phổ không lấy La Mã mà lấy các ý tưởng giáo dục của Hy Lạp hơn 2.000 năm trước tỏa sáng lúc hiểm nguy để giúp con người phóng tầm mắt nhìn xa làm mẫu mực một sự phát triển toàn diện trong giáo dục con người. Nhà nước Phổ đã tin tưởng trao cho công chức mình đầy đủ tự do để tư duy, nghiên cứu và phát triển khoa học, văn hóa theo quan niệm mới của Humboldt: “Sự tổ chức các cơ sở khoa học cao phải dựa trên sự bảo toàn nguyên tắc xem khoa học là cái chưa tìm được ra hết, cái không bao giờ tìm ra được trọn vẹn và chúng ta không ngừng đi tìm nó. Một khi người ta chấm dứt việc đi tìm khoa học, hay tự nghĩ rằng, khoa học không cần được tạo ra từ chiều sâu của tinh thần (trí tuệ), mà chỉ cần được thu thập xếp hàng dài, thì lúc đó tất cả sẽ bị mất mát một cách không gì cứu vãn được, và mãi mãi; mất mát cho khoa học – điều nếu vẫn tiếp tục lâu dài, sẽ khiến cho khoa học biến mất đến độ chính nó sẽ để lại một ngôn ngữ như cái vỏ rỗng- và mất mát cho Nhà nước”.   Humboldt đã quan niệm sự cứu rỗi của Phổ bằng khoa học. Đại học không còn là nơi để truyền bá kinh viện nữa, mà là nơi để tư duy, không ngừng sáng tạo, khai phá. Nó độc lập, tự chủ, tự trị. Chính các ý tưởng đó là nguồn sức mạnh vĩ đại của cuộc phát triển trí tuệ vượt bậc của Phổ, đem lại ánh hào quang rực rỡ cho nền khoa học Đức suốt hơn một thế kỷ sau đó. Đại học theo tinh thần Humboldt là đại học của những người đi tìm chân lý. Nó cuốn hút tất cả nhân tài của đất nước. Sinh viên và giáo sư là những người đồng hành đầy óc khám phá trong khoa học, vì mục đích khoa học. Và đại học trở thành cái nôi của khoa học, vừa là cột trụ của sự phát triển công nghiệp hóa đất nước, vừa là nơi đào tạo những người của bộ máy cầm quyền – những người đã thực hiện thành công cuộc chuyển đổi kinh tế và chấn hưng đất nước lịch sử ở thế kỷ 19. Người ta gọi đó là “cuộc cách mạng từ trên”.  Cuộc cải cách giáo dục và đại học đã đưa nền khoa học của nước này lên đỉnh cao của tinh hoa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhân tài rộ lên như “nấm mùa thu”, kéo dài mãi cho đến năm 1933, khi chủ nghĩa quốc xã Đức lên nắm quyền, đưa chính trị vào học đường và phá tan nền khoa học vĩ đại của Đức. Năm 1892 nhà sử học Pháp Ferdinand Lot trong quyển sách L’enseignement supérieure en France (Giáo dục Cao đẳng Pháp) đã viết: “Sự bá chủ về khoa học của Đức trên mọi lãnh vực không trừ một ngoại lệ nào ngày nay đã được mọi dân tộc công nhận. Sự ưu việt của Đức trong khoa học là cái tương đương sự ưu việt của Anh trong thương mại và trên biển. Nói một cách tương đối, nó có lẽ còn lớn hơn nữa.”  Đức là dân tộc có thái độ rất tôn sùng đại học: “Đại học là nơi quan trọng và thiêng liêng nhất mà loài người sở hữu được”, như Fichte, một trong những vị sáng lập tinh thần Đại học Humboldt, diễn tả. Mô hình Đại học Humboldt đã ảnh hưởng lớn lên đại học Mỹ, và cũng đã kích thích sự phát triển đại học ở Anh. Thực tế nó ảnh hưởng lên toàn nền đại học thế giới cả trăm năm liền, và vẫn còn là mô hình đại học tiêu chuẩn phổ biến hiện nay.  Một sự thâm thủng tri thức khổng lồ  Chỉ có giáo dục và giáo dục một cách đam mê, toàn diện, mới tạo nên nội lực và sức bật. Nội lực mà không dựa trên hiểu biết toàn cầu và từ chiều sâu của trí tuệ, thì chỉ là nội lực suông. Triết gia người Anh Francis Bacon đã nói từ đầu thế kỷ 17 rằng “Tri thức là sức mạnh”. Xã hội tri thức đã hình thành từ đó chứ không phải mới hôm nay. Toàn cầu hóa cũng đã diễn ra từ thế kỷ 15, lúc con người trỗi dậy rũ bỏ các trói buộc của thờiTrung cổ để vươn tới sự phát triển một cách tự do và mở rộng chân trời cho cá nhân, đi chinh phục thế giới, chứ không phải mãi đến sau này.   Đêm dài của chúng ta có gốc rễ sâu xa là sự yếu kém và trì trệ về trí tuệ, nghèo nàn về ý tưởng. Khi chiến tranh kết thúc, những vấn đề cũ nhất, và sâu thẳm nhất của lịch sử lại nổi lên bề mặt của cuộc sống, mà dường như chúng ta chưa chuẩn bị đối phó sau ba mươi năm chiến đấu. Câu nói của một nhà hiền triết với một vị vua bên Trung Quốc thời Hán: “Ngài đã chiếm lĩnh vương quốc trên lưng ngựa, nhưng không thể trị vì nó từ lưng ngựa được” cho thấy bản chất thực sự của vấn đề. Chúng ta “vẻ rồng, nhưng rồng không bay; vẻ cung tên, nhưng cung tên bắn không trúng đích”. Sức mạnh hôm qua trở nên vô dụng. Thế giới đã thay đổi hơn một thế kỷ rưỡi qua, kể từ tiếng súng đầu tiên của Pháp tại Đà Nẵng, nhưng những vấn đề của ta vẫn còn nguyên vẹn. Một sự thâm thủng tri thức khổng lồ hiện ra lại.   Chúng ta không thể thoát khỏi những trận “đại hồng thủy” của toàn cầu hóa trong lịch sử, ngày xưa và bây giờ. Ông cha ta đã bị nhận chìm ở thế kỷ 19, vì đã không hiểu và không muốn hiểu sức mạnh toàn cầu hóa đang tràn đến biển Đông, lại còn tự cao cho những kẻ đi chinh phục là thấp kém hơn mình. Có một sự “đứt gãy” rất lớn giữa văn hóa ta và văn hóa thế giới mà ông cha đã không nhận ra, bởi tinh thần từ chương kinh điển đã thấm quá sâu vào máu thịt. Với một tinh thần mòn mỏi khốn khổ trong cái góc văn hóa ngưng trệ hàng bao thế kỷ, ông cha ta đã không có khả năng thức tỉnh như các samurai Nhật Bản đã làm. Cây thước đo giá trị của các triều đại thống trị đều cũ kỹ, vô dụng. Rốt cục mất nước, ngai vàng bị đổ nhào, và dân tộc phải đổ quá nhiều máu để giành lại độc lập tự do. Trong khi đó người Nhật với tinh thần biết học hỏi của kẻ mạnh hơn, nhạy bén, biết “chớp thời cơ”, nhanh chóng thiết kế và chuyển đổi xã hội cũ kỹ thua kém của mình, thuê cả một đạo quân chuyên viên thượng thặng của phương Tây: Đức, Anh, Mỹ, Pháp để đẩy nhanh cuộc canh tân1, không những thoát khỏi đợt hồng thủy toàn cầu, mà còn trở thành sóng toàn cầu với sức mạnh bá chủ ở châu Á. Họ là những người cưỡi được sóng thần. Họ đã ý thức rằng, chậm chân là chết, là mất nước, bị làm nhục.    Không có lý do để chần chừ và sợ hãi   Khi chúng ta đã tự nguyện tham gia vào làn sóng toàn cầu hóa, chúng ta cần phải hiểu được sâu sắc cội rễ sức mạnh của nó, để thiết kế được nền tảng vững chắc của sự phát triển cho xã hội. Còn nếu chỉ làm chắp vá, trì trệ, để cuối cùng vẫn là một chiếc thuyền nan chòng chành trên đại dương giữa những ngọn sóng to, cạnh những hạm đội lạ của toàn cầu hóa? Nhiều quốc gia đã lỡ bước trong những đợt toàn cầu hóa những lần trước, nay rất quyết tâm làm lại cuộc đời, và thành công sẽ đẩy họ lên cao thành sóng toàn cầu thêm nữa, áp lực lên chúng ta càng lớn nữa.   Cái nghèo vật chất là đáng sợ, nhưng cái nghèo tinh thần, văn hóa, nghèo chất xám thế giới, còn đáng sợ hơn gấp bội. Loại nghèo này là vô hình, người nghèo có thể gây ảo tưởng mình giàu. Chính cái nghèo thứ hai đã sinh ra cái nghèo thứ nhất. Cụ Phan Châu Trinh đã hô hào xóa bỏ cái nghèo thứ hai thì mới phát triển đất nước được. Chỉ có một nền giáo dục và khoa học mở, toàn diện và sâu sắc, luôn trao đổi chất với thế giới, lấy thước đo thế giới làm chuẩn, mới có thể tạo đươc khúc quanh trong công cuộc chấn hưng đất nước.   Chúng ta phải làm giáo dục nhiều hơn, làm một cách “đam mê” và từ nhận thức sâu sắc. Không có sự đam mê, nhận thức sâu sắc, chúng ta chẳng làm được cái gì lớn lao trong giáo dục cả! Chúng ta sẽ chẳng trồng người được, chẳng có rừng đại thụ. Chỉ có giáo dục đam mê mới đem lại cho chúng ta sức mạnh của thần Prometheus. Sự đam mê học hỏi phải được tái tạo trên quy mô quốc gia, trên suốt một chiều dài lịch sử, để thành một đức tính của dân tộc, chứ không còn là một đức tính cá nhân lẻ loi nữa, để không phải chỉ có vài em học sinh được giải Olympic mà cả dân tộc phải xứng đáng với giải Olympic trước con mắt của thế giới. Ngược lại, thiếu học, chúng ta càng dễ sa ngã, đánh mất mình, lầm đường, tha hóa. Một dân tộc không ngã trong chiến đấu nhưng có thể gục ngã trong tự do của chính mình. Thực tế bao nhiêu người đã ngã. Giá đỡ văn hóa không giúp họ đứng vững được. Văn hóa chúng ta mong manh, vì nó thiếu một nền văn minh phát triển và khoa học bảo chứng. Chúng ta có những khẩu hiệu về giáo dục rất cao quý, như “Học, Học nữa, Học mãi”, hay “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cái học của chúng ta chưa thực chất tương xứng, chưa từ chiều sâu của trí tuệ và sự khao khát của nội tâm. Chúng ta chưa hít thở “tinh thần thế giới”. Chúng ta như có một sự “sợ hãi truyền kiếp” nào đó trước thế giới, trước văn minh, văn hóa lạ.  Thế giới phương Tây là thế giới của ý tưởng. Từ thời cổ đại Hy Lạp như thế. “Trong ánh hào quang của phương Đông, đất nước của hừng đông, cá nhân lại biến mất; ánh sáng chỉ biến thành tia chớp của ý tưởng ở phương Tây, đất nước của hoàng hôn, nó đánh vào chính nó và từ đó, từ nó, khai sinh ra thế giới của nó” (Hegel). Chúng ta phải vươn lên từ vị trí hay thân phận của một dân tộc “sinh sau đẻ muộn” lên thành một dân tộc chiếm lãnh thế giới các ý tưởng. Không thể khác được, nếu chúng ta muốn tồn tại và ngẩng mặt nhìn đời. Định mệnh của chúng ta là ở chỗ đó. Sự vinh nhục của ta là ở chỗ đó. Không phải tài nguyên, dầu mỏ, than đá hay bauxite đem lại sự kính trọng và công nhận của thế giới cho chúng ta. Mà chính là trí tuệ, sự ngang bằng tri thức, khoa học, công nghệ với thế giới trong sân chơi toàn cầu. Cơ may, và con đường duy nhất để chúng ta vươn lên và tồn tại trong thế giới, là sáng tạo và đổi mới, trên cơ sở của cái đã có của thế giới, nghĩa là chúng ta phải biết hết những cái thế giới đã sáng tạo. Thế giới chỉ thuộc về chúng ta khi chúng ta hiểu biết nó, như Balzac nói. “Sự sợ hãi trước các ý tưởng (mới) là sự sợ hãi trước một họat động tự do của lý trí. Sự sợ hãi này…chính là cột đỡ của lâu đài mục nát của nền quân chủ đã gần như đưa đất nước vào chỗ diệt vong” như Maxim Gorki đã nói về nước Nga đầu thế kỷ 20. Ở Việt Nam, sự sợ hãi đó đã từng làm tiêu tan quyền lực của ngai vàng, và cũng một thời gây khó khăn tột cùng cho dân tộc trên ngưỡng cửa của một cuộc phát triển mới của đất nước.  Chúng ta không có lý do chần chừ và sợ hãi. Thời gian không đợi ta.   —————-  1 Sau chuyến “Công du Iwakura” năm 1872-1873 của hơn 40 nhà lãnh đạo chính quyền sang Mỹ và châu Âu, Nhật bắt đầu một cuộc thuê người có hệ thống để thực hiện cho bằng được cuộc cải cách cấp bách cho đất nước. Tính đến năm 1890, Nhật đã thuê khoảng 3.000 chuyên viên tư vấn thường xuyên làm việc tại Nhật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học – Lơ lửng ngã ba đường?      Giáo dục luôn là một vấn đề thời sự và dằn vặt, không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Lý do: Con người là trung tâm của xã hội, mà các hoạt động giáo dục lại luôn gắn liền với con người. Do đó, trước khi bàn về giáo dục, đặc biệt là trước khi ban hành các luật về giáo dục, cần làm rõ quan niệm về con người mà xã hội hướng tới.      Tự do hay công cụ?  Vì các hoạt động giáo dục gắn trực tiếp với con người, theo nghĩa xuất phát từ con người, và đồng thời lại hướng đến con người, nên trước khi bàn về giáo dục, cần phải thống nhất được quan niệm về con người mà hệ thống giáo dục hướng đến.   Trong số rất nhiều quan niệm về con người đang lưu hành, nếu đi vào chi tiết thì rất khác nhau, nhưng khái quát lại thì có thể chia thành hai loại lớn: con người tự do và con người công cụ. Trong đó, con người tự do là con người được làm chủ thân thể, tư tưởng và hành động, do đó làm chủ tiến trình phát triển hay số phận của mình. Còn con người công cụ là con người người bị tước đoạt một phần hoặc toàn bộ tự do của mình, trở thành một thứ công cụ phục vụ cho hệ thống hoặc những cá nhân khác trong xã hội.        Nếu quan niệm con người nhất thiết phải là con người tự do, và hệ thống giáo dục cần hướng đến mục tiêu này, thì cách thức tổ chức toàn bộ hệ thống giáo dục, cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy, sẽ được thiết kế và triển khai sao cho khơi gợi tính sáng tạo, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người học.        Rõ ràng, từ hai quan niệm khác nhau này về con người mà sẽ hình thành nên những hệ thống giáo dục với các đặc trưng khác nhau. Nếu quan niệm con người nhất thiết phải là con người tự do, và hệ thống giáo dục cần hướng đến mục tiêu này, thì cách thức tổ chức toàn bộ hệ thống giáo dục, cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy, sẽ được thiết kế và triển khai sao cho khơi gợi tính sáng tạo, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người học. Người thày khi đó sẽ chỉ đóng vai trò như người khơi gợi, hướng dẫn, còn người học mới là trung tâm của các hoạt động giáo dục. Hoạt động dạy và học khi đó sẽ là tương tác hai chiều và thảo luận dân chủ.  Nội dung chương trình, tài liệu sử dụng, cách thức giảng dạy, vì thế cũng mang tính mở chứ không bị gò bó theo những khuôn mẫu và qui định cứng nhắc. Các cơ sở giáo dục sẽ có độ tự chủ lớn. Cơ quan quản lý khi đó chỉ tập trung vào việc định chuẩn, đánh giá và kiểm tra các hoạt động giáo dục chứ không làm thay, ôm đồm các sự vụ nhỏ nhặt. Ngược lại, nếu quan niệm con người là con người công cụ, dù là công cụ để đạt đến một xã hội tốt đẹp chưa từng có, hoặc đáp ứng một trật tự có tính thiên định nào đó, thì toàn bộ hệ thống giáo dục, cũng như chương trình và cách thức giảng dạy, sẽ được thiết kế và triển khai sao cho người học chỉ biết vâng lời. Hoạt động dạy và học sẽ chỉ là sự ép buộc nhồi nhét một chiều. Người thày sẽ là trung tâm của các hoạt động giáo dục kiểu đọc-chép. Nội dung chương trình, giáo trình sử dụng cũng khép kín và bị kiểm duyệt chặt chẽ. Các cơ sở giáo dục sẽ không được tự chủ mà hoạt động dưới sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý, nhiều khi cụ thể đến mức “cầm tay chỉ việc”, thì về bản chất, những hoạt động giáo dục đó là phản giáo dục, vì ở tầng sâu hơn, nó phản lại con người.   Như vậy rõ ràng rằng, trước khi bàn về giáo dục, đặc biệt là trước khi ban hành các luật về giáo dục, cần làm rõ quan niệm về con người mà xã hội hướng tới. Nếu không, dù nỗ lực đến mấy thì việc cải cách giáo dục cũng sẽ không mang lại kết quả gì đáng kể. Mọi việc sẽ cứ mãi bùng nhùng, vì ngay từ khâu đầu tiên là minh định quan niệm về con người đã không sòng phẳng, rõ ràng.  Triết lý giáo dục?  Vì gắn trực tiếp với con người, theo nghĩa con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng và đích đến của hoạt động giáo dục, nên những thảo luận về giáo dục sẽ không thể rốt ráo nếu không đi thẳng vào triết học về con người trong giáo dục, còn gọi là triết lý giáo dục. Đây chính là linh hồn của mọi hoạt động dạy và học, là mục đích hướng tới của việc thiết kế mới hoặc cải cách hệ thống giáo dục. Thường việc cải cách hoặc thiết kế này được thực hiện bởi Bộ Giáo dục và Hội đồng giáo dục quốc gia, nên triết lý giáo dục trực tiếp phản ánh quan niệm của nhà cầm quyền đối với con người, từ đó cụ thể hóa quan niệm này thành các chính sách và các bộ luật liên quan đến giáo dục.  Hẳn nhiên, về mặt lý thuyết, chỉ sau khi đã định hình rõ triết lý giáo dục, tức là hình dung rõ về con người sẽ được hệ thống giáo dục đào tạo ra, thì nội dung và chương trình giáo dục, cũng như cách tổ chức hệ thống giáo dục, mới được thiết kế một cách tương ứng sao cho đạt được mục tiêu giáo dục đó. Những thiết kế này sẽ được cụ thể hóa thành các bộ luật giáo dục và các văn bản có tính pháp chế. Nếu không giải quyết được vấn đề triết lý giáo dục thì mọi cải cách chỉ là đối phó, chắp vá thời vụ.         Đặc điểm của những nền giáo dục tiên tiến, như Phần Lan, Anh, Mỹ… có thể hình dung một hệ thống giáo dục có khả năng tự điều chỉnh theo hướng tiến bộ sẽ có các đặc tính sau: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại, Hội nhập.        Trên thực tế, việc đưa ra được một triết lý giáo dục đúng và tường minh là vấn đề rất khó khăn, và  ở những nơi dân trí còn thấp, xã hội còn thiếu dân chủ, thì việc này còn khó khăn gấp bội. Điều này không hẳn đến từ việc thiếu hụt tri thức về giáo dục và nhận thức về con người, mà  chủ yếu từ sự va chạm với các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội, như chính trị, văn hóa, tôn giáo… Cho nên, để hình thành được một quan niệm mới về con người, tức định hình một triết lý giáo dục được cả xã hội đồng thuận, đòi hỏi một thời gian rất dài, cộng với những thay đổi trong thượng tầng kiến trúc của xã hội.  Câu hỏi đặt ra là, liệu có cách nào thay thế, để có thể đạt được mục đích của giáo dục, là đào tạo ra con người tự do, sáng tạo, có nhân cách, có ý thức công dân cho xã hội, mà không phải húc đầu vào hòn đá tảng mang tên “triết lý giáo dục” hay không?  Triết lý hay hệ thống?  Ngày nay, các hoạt động giáo dục không còn được tiến hành đơn lẻ, mà đã được tổ chức thành một hệ thống liên hoàn. Mỗi người được đào tạo ra, có thể coi là một sản phẩm của hệ thống này. Với việc cải cách giáo dục, sẽ là lý tưởng nếu mục đích của hệ thống là tiến bộ và rõ ràng, tức có được triết lý giáo dục đúng và tường minh làm đích đến, để rồi từ đó ban hành các chính sách và bộ luật phù hợp nhằm xây dựng một hệ thống có thể đạt được mục đích hướng tới đó. Nhưng như trên đã nói, việc này thường rất khó khăn. Đó là lý do vì sao sau bao năm, càng cải cách càng thêm rối, càng ban hành luật, càng phản tác dụng.   Trong trường hợp này, thay vì sa lầy vào mớ bùng nhùng triết lý không rõ ràng và cải cách không định hướng, nên chọn một cách tiếp cận khác, đó là thiết kế một hệ thống có khả năng tự điều chỉnh theo hướng tiến bộ để đào tạo ra con người có những phẩm chất tốt đẹp, nhân bản, tương thích với những giá trị phổ quát của thời đại.   Việc thiết kế một hệ thống như vậy sẽ mang tính kỹ thuật nhiều hơn những lập luận trừu tượng về triết lý, lại tránh được sự va chạm tức thời với các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, nên khả thi và dễ có được đồng thuận hơn.   Qua quan sát đặc điểm của những nền giáo dục tiên tiến, như Phần Lan, Anh, Mỹ… có thể hình dung một hệ thống giáo dục có khả năng tự điều chỉnh theo hướng tiến bộ sẽ có các đặc tính sau: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại, Hội nhập, đuợc diễn giải vắn tắt như sau:  Mở: Hệ thống giáo dục phải có tính chất mở, về chương trình và phương pháp giảng dạy, cơ cấu tổ chức lẫn cơ chế vận hành để tạo điều kiện cho các nhân tố mới có thể tham gia và góp phần điều chỉnh hệ thống theo hướng tiến bộ.  Sáng tạo: Hệ thống được thiết kế sao cho phát huy tối đa tính sáng tạo của học viên, lấy người học làm trung tâm. Theo định hướng này, các đại học sẽ phát triển để trở thành đại học nghiên cứu nhằm sáng tạo ra tri thức mới.  Toàn diện: Hệ thống được thiết kế sao cho đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của nguời học, không chỉ giới hạn ở kiến thức, mà còn ở nhân cách, thẩm mỹ, ý thức công dân…  Hiện đại: Nội dung, chương trình giảng dạy, cách thức tổ chức và quản lý phải hiện đại, bắt kịp nhịp điệu phát triển của thời đại.  Hội nhập: Các tiêu chuẩn mà hệ thống tuân thủ, cũng như nội dung của các hoạt động giáo dục, phải tương thích và liên thông với những tiêu chuẩn của thế giới.        Với dự thảo Luật giáo dục đại học sắp được trình lên Quốc hội thông qua vẫn chưa minh định được một quan niệm về con người mà hệ thống giáo dục hướng tới, là con người tự do hay con người công cụ, do đó chưa định hình được một triết lý giáo dục tiến bộ và tường minh làm cơ sở.        Liên hệ với dự thảo Luật giáo dục đại học sắp được trình lên Quốc hội thông qua vẫn chưa minh định được một quan niệm về con người mà hệ thống giáo dục hướng tới, là con người tự do hay con người công cụ, do đó chưa định hình được một triết lý giáo dục tiến bộ và tường minh làm cơ sở. Chẳng hạn, mục tiêu giáo dục: “Giáo dục đại học đào tạo người học có kiến thức và năng lực nghiên cứu, kỹ năng thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo; có phẩm chất chính trị, đạo đức; có ý thức phục vụ nhân dân; có tinh thần đổi mới và trách nhiệm nghề nghiệp; thích nghi với môi trường công tác; có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” chỉ là những từ ngữ mô tả bề ngoài chứ không đi thẳng vào bản chất của con người mà nó hướng đến.   Giá như Dự thảo Luật giáo dục đại học đi thẳng vào vấn đề, chẳng hạn: “Giáo dục đại học đào tạo con người tự do, có nhân phẩm, có trách nhiệm công dân, có kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về một ngành nghề cụ thể”, hoặc ở một đối cực khác: “Giáo dục đại học đào tạo con người công cụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng chủ nghĩa xã hội, có kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về một ngành nghề cụ thể”, thì về mặt kỹ thuật, việc xây dựng và vận hành hệ thống giáo dục đại học sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.   Tuy nhiên, chất lượng giáo dục của hai lựa chọn này chắc chắn sẽ khác hẳn nhau: lựa chọn thứ nhất –lựa chọn con người tự do – sẽ phát huy được sức sáng tạo của cả dân tộc để phát triển; còn lựa chọn thứ hai – lựa chọn con người công cụ – sẽ làm thui chột tài năng của mọi cá nhân nên xã hội sẽ không thể phát triển.  Ngoài ra, dự thảo này cũng không hướng đến việc thiết kế một hệ thống giáo dục có độ mở đủ lớn, có khả năng tự điều chỉnh hiệu quả, nên việc nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục đại học theo cách tiệm tiến tự điều chỉnh cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu dựa trên dự thảo này.  ***  Tóm lại, chính việc thiếu rõ ràng trong quan niệm về con người – tức sản phẩm mà hệ thống giáo dục hướng đến – và trong cách tiếp cận việc xây dựng hệ thống giáo dục – tức việc dùng triết lý giáo dục làm cơ sở hay bỏ qua triết lý giáo dục nhưng xây một hệ thống có khả năng tự điều chỉnh – sẽ dẫn đến những chồng chéo bùng nhùng không thể tránh khỏi, không chỉ với giáo dục đại học mà còn với cả hệ thống giáo dục nói chung. Hy vọng về những đột phá về cải cách giáo dục, vì thế sẽ rất ít có khả năng trở thành hiện thực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học – Những tia hy vọng      Trong kỳ họp gần đây, Quốc hội đã đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu của xã hội sẽ đóng vai trò quan trọng cho sự nghiệp phát triển đất nước. Với nhận thức đó, Chính phủ đã soạn Chiến lược Phát triển Giáo dục đại học giai đoạn 2021-2030. Trong bài báo này, tác giả xin điểm lại một số nhận định về giáo dục đại học, bao gồm những điều được nêu trong tóm tắt báo cáo 2020 của Ngân hàng Thế giới1, cùng những quan điểm gần đây của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.      Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguồn: baodantoc.vn  Năm kiến nghị trong báo cáo của Worldbank     Hơn một năm trước, Ngân hàng Thế giới công bố báo cáo về Cải thiện Chất lượng Giáo dục đại học ở Việt Nam: Các ưu tiên chiến lược và lựa chọn chính sách. Giống như các báo cáo trước đó, báo cáo lần này cung cấp các phân tích chi tiết về thực trạng đồng thời đưa ra những kiến nghị sâu sắc và thiết thực. Báo cáo nhận định rằng để trở thành nước trung bình cao vào 2035, năng suất lao động trung bình của Việt Nam sẽ phải tăng không ngừng, mà muốn vậy đất nước cần gia tăng và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trái ngược với thành tựu đáng kể trong việc tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguồn nhân lực, chất lượng của hệ thống giáo dục đại học vẫn hạn chế.       Bảng 1 so sánh một số chỉ số so sánh giữa Việt Nam và các nước châu Á liên quan. Việt Nam chưa có trường đại học nào trong tốp 1000 của bản xếp hạng Thượng Hải, và theo ba bảng xếp hạng toàn cầu có uy tín về các trường đại học là W (Webometrics), QS (Quacquarelli Symonds) và THE (Times Higher Education), Việt Nam nằm dưới đáy danh sách. Cùng nhóm với Indonesia và Philippines, Việt Nam có số lượng công bố khoa học có trích dẫn và số sáng chế tỉ lệ với một triệu dân số ở mức thấp nhất; chỉ số H thấp nhất, tuy nhiên chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu xếp sau Thái Lan và xếp trên Indonesia cùng Philippines khá xa. Bảng 1 cũng đo lường tài chính cho giáo dục đại học với bốn chỉ số: tỉ lệ phần trăm trên GDP, phần trăm chi tiêu ngân sách Nhà nước, chi tiêu trên đầu sinh viên theo USD và phần trăm trên GDP trung bình đầu người. Việt Nam xếp cuối ở tất cả bốn chỉ số này.  “Nếu thiếu giáo dục, người ham đức nhân có thể thành ngu muội, ham trí tuệ có thể thành phóng đãng, trọng chữ tín có thể bị tổn hại, ngay thẳng có thể thành nóng nảy, dũng mãnh có thể thành phản loạn, cương quyết có thể thành cuồng bạo”. (Khổng Tử)  “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”(HCM: Toàn tập, NXB.CTQG, H, 2011, tập 12, tr.333).  “Việc đổi mới giáo dục của Việt Nam không thể chỉ là vì tự bản thân nó có nhiều vấn đề. Đổi mới giáo dục và đào tạo là một tất yếu khách quan”. (Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn đã viết trên blog cá nhân vào ngày 9/10/2012).    Biểu đồ 1 thể hiện tương quan các con số nêu trên. Bảng bên trái cho thấy, mặc dù số năm học tập trên lớp trung bình của học sinh Việt Nam khá cao, trong ASEAN chỉ xếp sau Singapore, hệ thống giáo dục đại học vẫn chưa thể phát huy tiềm năng to lớn của lớp thanh niên vừa tốt nghiệp phổ thông: tỉ lệ vào đại học dưới 30 phần trăm, thuộc nhóm thấp nhất của các nước Đông Á, đồng thời chỉ số đầu ra giáo dục đại học GGR (tỉ lệ tổng số sinh viên tốt nghiệp trên tổng số thanh niên cùng độ tuổi) chỉ đạt 19%, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Các bảng bên phải cho thấy thực trạng tương tự khi Việt Nam xếp trên đa số các đại diện châu Á khác về Chỉ số Vốn con người (Human Captial Index), nhưng lại tụt hậu về số lượng sinh viên đại học và H- index.    Việt Nam trải qua một số cuộc cải cách giáo dục trong hai thập kỷ qua, với thành công về nâng cao tiếp cận giáo dục, nhưng bỏ lỡ các cơ hội cải thiện về chất lượng, tính thiết thực và bình đẳng xã hội. Là một quốc gia với tầm nhìn trở thành nền kinh tế tri thức trong vòng mười năm tới, Việt Nam cần thực hiện ngay các giải pháp mở rộng hệ thống giáo dục đại học đồng thời nâng cao chất lượng và tính thiết thực. Một chiến lược như vậy cần đặt ra các mục tiêu nâng cao số sinh viên các năm 2025, 2030 và xa hơn, với một hệ thống chi tiết toàn diện cùng một kế hoạch thực thi và nguồn lực đầy đủ. Do đó, một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất là hoàn thiện chi tiết một tầm nhìn đột phá về quy mô, tính chất và hình hài hệ thống vào năm 2030. Cải cách nghĩa là một tiến trình phức tạp, đòi hỏi một chương trình xâu chuỗi hoàn chỉnh với những giải pháp ưu tiên cụ thể.    Bảng 1. Giáo dục đại học Việt Nam so với các đại diện Châu Á khác.     Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra một số lĩnh vực cho thấy thực trạng yếu kém cần được cải thiện. Dưới đây là những vấn đề chính:        1. Dù được cải thiện đáng kể trong 15 năm qua, giáo dục đại học Việt Nam vẫn nằm ở mức thấp nhất của các nước Đông Á. Từ năm 2010 tới 2016, tỉ lệ người học đại học tăng chậm do thay đổi về chính sách của Chính phủ. Hiện nay, tỉ lệ người học trên phổ thông đang ở dưới mức năm 2010, tỉ lệ tổng số người học (Gross Enrolment Rate) chỉ đạt 28%. Hơn nữa, mức chênh lệch gia tăng giữa các nhóm thu nhập, các cộng đồng yếu thế khó tiếp cận hơn với giáo dục đại học. Cụ thể, thanh niên các tộc người thiểu số bị ảnh hưởng nhiều nhất: một số chính sách và tác nhân kinh tế xã hội tạo ra chênh lệch về tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học. Việt Nam có thể gia tăng đáng kể việc tiếp cận giáo dục đại học và giảm bất bình đẳng thông qua phân hóa các cơ sở giáo dục, tăng cường trợ cấp sinh viên và nâng cao số lượng cùng chất lượng học sinh tốt nghiệp phổ thông.       2. Chương trình và phương pháp sư phạm theo kiểu truyền thống cùng hệ thống quản trị nhân lực chất lượng cao còn yếu kém (inadequate staff talent management systems) nằm trong số các nguyên nhân chính gây ra chất lượng thấp trong chuyển giao kết quả nghiên cứu và công nghệ, thấp hơn so với các nước trong khu vực, bên cạnh đó là các vấn đề về nguồn ngân sách hạn hẹp và thiếu hiệu quả, đội ngũ nhà nghiên cứu ít ỏi, thiếu gắn kết với quốc tế trên các lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến, quan hệ hợp tác giữa đại học và các ngành công nghiệp còn hạn chế cùng hạ tầng nghiên cứu và công nghệ thông tin kém phát triển. Đổi mới sáng tạo trong hoạt động dạy và học, tăng cường quan hệ giữa trường đại học và các ngành công nghiệp, nâng cao năng lực quản trị nhân tài, tăng đầu tư cho hạ tầng giáo dục và công nghệ thông tin, các quy trình đảm bảo chất lượng một cách bền vững và toàn diện hơn là những giải pháp mấu chốt nhằm nâng cao chất lượng và tính thiết thực của hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam.      Việt Nam trải qua một số cuộc cải cách giáo dục trong hai thập kỷ qua, với thành công về nâng cao tiếp cận giáo dục, nhưng bỏ lỡ các cơ hội cải thiện về chất lượng, tính thiết thực và bình đẳng xã hội.      Mặc dù bằng tốt nghiệp đại học mang lại cơ hội việc làm và thu nhập cao cho người lao động, nhưng kỹ năng của sinh viên ra trường chưa đáp ứng yêu cầu người tuyển dụng lao động. Chương trình sư phạm tiếp tục phát triển theo cách tiếp cận nội dung thiên về lý thuyết, thiếu các kỹ năng chung cần thiết cho người lao động trong kỷ nguyên kinh tế số. Một phần là do mối quan hệ lỏng lẻo giữa trường đại học và các ngành công nghiệp: Hợp tác công tư (PPP) – với tiềm năng giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn lực tài chính và chuyên gia – còn rất hạn chế. Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2021-2030 cần chú trọng tăng cường và cải thiện sự gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu ở các trường đại học với nhu cầu của các ngành công nghiệp cho đổi mới sáng tạo: phát triển quan hệ với các ngành công nghiệp là một trong những cách hiệu quả nhất để tăng tính thiết thực của các chương trình giáo dục đại học.    3. Cải thiện chất lượng dạy và học đồng thời gia tăng kết quả nghiên cứu của các trường đại học đòi hỏi hiện đại hóa mạnh mẽ cơ cấu và các quy trình quản trị. Chính phủ cần chỉ đạo hiệu quả hơn sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong định hướng, quản lý và giám sát các trường đại học. Việt Nam nên xem xét cập nhật các chính sách nhằm (i) tăng cường vai trò của các hội đồng trường, (ii) thúc đẩy bổ nhiệm lãnh đạo trường thông qua các quy trình minh bạch dựa trên những tiêu chí chuyên nghiệp, (iii) giao quyền tự trị cho các tổ chức giáo dục đại học đồng thời tiếp tục hỗ trợ bằng ngân sách Nhà nước, và (iv) xây dựng cơ chế giải trình một cách toàn diện.    Hệ thống giáo dục đại học đang bị rời rạc mặc dù đã có những thay đổi tích cực theo xu hướng hiện đại hóa quản trị như quy định bởi Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, các văn bản dưới luật được thông qua những năm gần đây đã góp phần khiến hệ thống quản lý thêm phức tạp. Việt Nam thiếu một cơ quan chịu trách nhiệm cho cả hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu. Việc tồn tại vài trăm viện nghiên cứu công lập hoạt động độc lập với các trường đại học dựa trên một mô hình tách biệt giữa dạy học và hoạt động nghiên cứu khiến hệ thống quản lý thêm phần phức tạp. Hệ quả là các nỗ lực thúc đẩy đổi mới và xây dựng tầm nhìn dài hạn bị cản trở bởi sự hạn chế năng lực, nguồn lực và thông tin. Ở tầm quốc gia, chưa có một hệ thống quản lý thông tin giáo dục đại học thống nhất, khiến các bên liên quan khó đưa ra quyết định dựa trên căn cứ thực chứng. Còn thiếu một Khung Đảm bảo Chất lượng chung cho toàn bộ hệ thống giáo dục sau phổ thông để đưa ra hướng dẫn cho công tác Kiểm định Chất lượng: Việt Nam cần phải xây dựng văn hóa Đảm bảo Chất lượng và tăng cường năng lực trong cả Đảm bảo Chất lượng nội bộ và Đảm bảo Chất lượng bên ngoài.        Biểu đồ 1. Chất lượng giáo dục đại học xét về số năm đi học trung bình và Chỉ số Vốn con người.   Về tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình, những cải cách gần đây cho thấy các bước đi rõ ràng theo xu hướng phù hợp, nhưng kết quả chưa thuyết phục do chênh lệch đáng kể giữa chính sách đề ra và việc thực hiện. Tương tự như vậy, các cơ chế giải trình vẫn còn sơ sài. Trên bình diện toàn hệ thống, cần nâng cao vai trò định hướng của Chính phủ. Ở cấp cơ sở, các trường đại học cần đáp ứng các điều kiện cần thiết – về năng lực, nguồn lực, cơ chế kiểm soát – để thực hiện tự chủ hóa và trách nhiệm giải trình một cách toàn diện.    4. Để chuyển hóa hệ thống giáo dục đại học và tăng tốc các nỗ lực tăng cường đội ngũ nghiên cứu cả về lượng và chất, Việt Nam cần hình thành hệ thống quản lý nhân lực chất lượng cao. Số lượng tiến sĩ được đào tạo tăng đáng kể những năm gần đây nhưng Việt Nam chưa có đủ nhân lực chất lượng cao để thúc đẩy các nghiên cứu ứng dụng trong các ngành công nghiệp và các nghiên cứu có sự hợp tác quốc tế. Các cơ sở giáo dục trên đại học còn thiếu phát triển, hạn chế cả về cơ cấu chương trình, tài chính, nhân lực cùng các nguồn lực khác như phòng thí nghiệm, thiết bị và nền tảng công nghệ. Việt Nam cần chú trọng hơn vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tiến trình phát triển đất nước, xây dựng một chương trình nghiên cứu mạnh trong đó các trường đại học nghiên cứu đóng vai trò chủ chốt.    5. Về tài chính, với tỉ lệ chi tiêu công trên GDP thuộc diện thấp nhất, đồng thời mức lệ thuộc vào học phí thuộc diện cao nhất, Việt Nam rõ ràng đang dị biệt so với các nước. Không ngạc nhiên khi so với các nước trong khu vực và các nước tiên tiến, mức chi tiêu công của Việt Nam cho giáo dục trên phổ thông (bao gồm giáo dục đại học) đến nay ở mức thấp nhất (xem Biểu đồ 2).      Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2021-2030 cần chú trọng tăng cường và cải thiện sự gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu ở các trường đại học với nhu cầu của các ngành công nghiệp cho đổi mới sáng tạo: phát triển quan hệ với các ngành công nghiệp là một trong những cách hiệu quả nhất để tăng tính thiết thực của các chương trình giáo dục đại học.      Hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam vẫn bị hạn chế về kinh phí. Chính phủ phân bổ ngân sách cho các trường đại học căn cứ theo truyền thống thay vì trực tiếp dựa trên số lượng sinh viên và chất lượng hoạt động. Tuy nhiên, thành công trong nâng cao năng lực nghiên cứu vẫn sẽ phụ thuộc nhiều vào việc gia tăng ngân sách, tránh sự can thiệp bởi động cơ chính trị vào các quyết định phân bổ kinh phí, và duy trì nguồn kinh phí bền vững qua các năm.    Đóng góp của các hộ gia đình cho giáo dục đại học tăng đều qua thời gian và đến nay trở thành nguồn lực chủ yếu, học phí chiếm tỉ trọng lớn nhất trong nguồn thu của các trường đại học. Với một quốc gia như Việt Nam, việc tài trợ nguồn ngân sách Nhà nước ở mức thấp và dựa quá nhiều vào học phí, trong khi các hộ nghèo còn nhiều khó khăn là điều không phù hợp. Bên cạnh đó, học bổng và các khoản vay còn ít ỏi, điều khoản trả nợ vay còn kém ưu đãi.    Kinh phí nghiên cứu cho các trường đại học đang gặp ba thách thức: tổng ngân sách thấp, hệ thống quản lý rời rạc bởi nhiều cơ quan và bộ, ngành, thiếu động lực thúc đẩy hợp tác và nghiên cứu chất lượng cao. Thiếu nguồn lực tài chính gây trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Để khuyến khích sử dụng hiệu quả hơn ngân sách Nhà nước, Chính phủ nên huy động các nguồn kinh phí công và tư ở mức cao hơn đáng kể. Phân bổ ngân sách Nhà nước cho chi thường xuyên, chi đầu tư, và cho hoạt động nghiên cứu của các trường đại học nên thay đổi theo hướng dựa vào kết quả hoạt động. Chính phủ nên thử nghiệm mô hình quỹ cạnh tranh trong phân bổ chi đầu tư nhằm cải thiện kết quả và chất lượng các trường đại học; nên nghiên cứu tái cơ cấu các nguồn tài trợ và về lâu dài nên xây dựng một cơ quan cấp kinh phí chịu trách nhiệm toàn diện về tài chính giáo dục đại học; nên khuyến khích các đại học công lập theo đuổi hợp tác công tư với các dự án đầu tư và hạ tầng nhằm huy động thêm nguồn lực từ khu vực tư.      Trong phòng lab trường Y, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguồn ảnh: VNU.  Những thông điệp tích cực     Tôi phải thừa nhận là đã không đọc bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới khi nó mới được công bố, mà chỉ xem qua phần Tóm tắt tổng kết. Lại thêm một phát súng vào bóng đêm, tôi nghĩ. Tôi đến Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, sau hơn hai thập kỷ tôi đã được đọc quá nhiều những báo cáo tương tự. Điểm chung của báo cáo là cung cấp những phân tích sắc sảo về thực trạng đồng thời đưa ra những kiến nghị khôn ngoan và thích đáng. Thật không may điểm chung thứ hai là các báo cáo đều như những tiếng kêu trong sa mạc, chẳng được ai đoái hoài. Những đổi mới mà các báo cáo kiến nghị là quá nhiều để có thể được thực hiện. Người ta hiểu rõ căn bệnh được chẩn đoán, nhưng không điều trị được.    Nhiều nhà trí thức Việt Nam đã kiến nghị đổi mới giáo dục đại học một cách quyết liệt. Tôi còn nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày tôi may mắn được gặp, đã bảo tôi rằng các trường đại học Việt Nam cần một cuộc cách mạng và chúng ta cần tiếp tục đấu tranh cho điều đó. Tôi cũng nhớ những lời sáng suốt của giáo sư Hoàng Tụy và các đồng nghiệp. Họ kêu gọi đổi mới, trung thực, trí tuệ và đạo đức; hướng tới phát triển óc phản biện cho thế hệ trẻ thay vì biến họ trở thành những nhân viên chỉ biết vâng lời; đa dạng hóa các nguồn tri thức thay vì giới hạn trong những khuôn mẫu lạc hậu. Ở mức độ thấp hơn và khiêm tốn hơn, tôi cũng cố gắng tối đa để cùng lên tiếng qua những bài báo đăng trên Tia Sáng về chủ đề giáo dục đại học. Thế nhưng tiếng nói của chúng tôi đã không được lắng nghe, cuộc cách mạng mà tướng Giáp kỳ vọng vẫn chưa thành hiện thực.    Khi viết những dòng này, tôi mong rằng mình không bị hiểu sai; tôi hiểu khó khăn cho sự phát triển của Việt Nam trong một thế giới thay đổi chóng mặt; năm mươi năm chiến tranh và đói nghèo gây ra những vết thương cần vài thế hệ để chữa lành, những vết sẹo đến nay vẫn còn. Thật dễ để chỉ trích, nhưng thật khó để chèo lái đất nước trên con đường đúng đắn. Sẽ là kiêu ngạo và sai lệch để cao giọng và vờ như biết rõ tất cả những gì cần làm rồi chất vấn vì sao chúng không xảy ra.      Biểu đồ 2. Chi tiêu công cho GDĐH tính theo tỷ trọng GDP (%).  Giáo sư Nguyễn Kim Sơn, một học giả có uy tín quốc tế về nghiên cứu Nho giáo, đồng thời nguyên là hiệu trưởng Đại học Quốc gia HN, tháng Tư vừa qua được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Ông đã ngay lập tức gửi đến toàn thể giáo viên trong nước một lá thư2 trong đó khẳng định ông là một trong số họ, rằng hãy cùng nhau đấu tranh để xứng đáng với vai trò quan trọng trong việc đưa cơ đồ đất nước lên một vị thế phát triển mới, văn minh và thịnh vượng.    Tháng Năm, ông chia sẻ với báo Tuổi Trẻ3 suy nghĩ của mình về trách nhiệm thực hiện những cải cách quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Tôi nghĩ đây là điều bất khả thi với những người làm chính trị thông thường, nhưng khi đọc những gì ông nói, tôi cảm thấy một phong cách khác biệt so với những người tiền nhiệm. Với năng lực và uy tín của một học giả đã được thừa nhận, ông đáng được lắng nghe và ủng hộ. Tất nhiên, đa số những gì ông nói là điều chúng ta đã biết; vấn đề không phải là tiếp tục nói mà là hành động. Cũng hiển nhiên, ông không có cây đũa thần để tạo ra sự cải thiện tức thời, dường như ông chấp nhận cách tiếp cận “từng bước” quen thuộc để hướng tới sự tiến bộ. Tuy nhiên, cho phép tôi được tiếp nhận một cách tích cực thông điệp mà ông đưa ra và nêu lại dưới đây một vài điểm chúng ta cần quan tâm đặc biệt.    Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhìn nhận nhiệm vụ của mình theo định hướng chung mà Thủ tướng đã nêu: “Học thật, thi thật, nhân tài thật”. Điều này hàm ý nhận ra những sai lệch trong quá khứ: thay vì “học thật” nghĩa là học với tư duy phản biện, người ta bắt trẻ học thuộc lòng theo những lối mòn; thay vì “thi thật” người ta cho điểm cao tất cả thí sinh mà không sàng lọc nghiêm túc; thay vì chọn “nhân tài thật” người ta không đánh giá tài năng và kỹ năng một cách đầy đủ, cũng không thừa nhận người có năng lực. Ba vấn đề này có thể được thảo luận kỹ hơn, chúng là vấn đề chung toàn cầu ngày nay, không phải là vấn đề riêng của Việt Nam, cũng không riêng trong lĩnh vực giáo dục, tuy nhiên ta hãy dành nó cho một bài báo khác.      Việt Nam thiếu một cơ quan chịu trách nhiệm cho cả hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu. Việc tồn tại vài trăm viện nghiên cứu công lập hoạt động độc lập với các trường đại học dựa trên một mô hình tách biệt giữa dạy học và hoạt động nghiên cứu khiến hệ thống quản lý thêm phần phức tạp.      Dấu hiệu tích cực đầu tiên từ thông điệp của vị Bộ trưởng là ông kiên trì đề nghị sự ủng hộ, không chỉ từ các giáo viên mà cả những người trong các ngành khác. Ông lặp lại đề nghị này trong một thông điệp đăng trên Facebook vào tháng Tám. Chúng ta hãy phản hồi tích cực lại đề nghị này, tin rằng ông nói thực lòng; hãy bắt đầu thảo luận trong cộng đồng, lắng nghe các tiếng nói với những quan điểm khác nhau, và hy vọng hội tụ thành những kiến nghị hữu ích. Thảo luận và lắng nghe một cách tích cực chưa phải là thói quen truyền thống của người Việt, nhưng nếu chúng ta thay đổi được thói quen này thì sẽ thúc đẩy ý thức về trách nhiệm chung, điều mà hiện nay hầu như vô hình: hãy nhìn nhận lời đề nghị của Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn như lời khích lệ chúng ta hành động như những công dân có trách nhiệm, bày tỏ quan điểm và những kiến nghị của mình một cách cởi mở vì một tương lai tốt đẹp hơn.        Dấu hiệu tích cực thứ hai trong thông điệp của vị Bộ trưởng là ấn tượng về sự chân thành. Kinh nghiệm trước đây của ông, đặc biệt là trong việc lãnh đạo thành công Đại học Quốc gia HN suốt năm năm qua, giúp chúng ta tin rằng ông thực lòng trong lời nói của mình. Là người am tường triết lý Nho học trong nhiều năm, hẳn ông thấm nhuần những trí tuệ kết kinh trong Luận ngữ và có nhiều dịp để suy ngẫm về sự thịnh suy của nhân loại trong lịch sử. Ông đề cập nhiều vấn đề mấu chốt cho thực trạng giáo dục ngày nay: tầm quan trọng của việc đánh giá đạo đức (đặc biệt là nạn đạo, nhái, tham nhũng, lạm quyền); mức lương bổng quá thấp cho giảng viên và người làm nghiên cứu; đưa giảng dạy gần gũi hơn với thực tế, đáp ứng những gì cần thiết về kỹ năng và tài năng để phát triển đất nước; bổ nhiệm và thăng cấp nhân sự đúng với năng lực, đặc biệt với những vị trí chịu trách nhiệm; sự cần thiết khuyến khích tư duy phản biện để hình thành những công dân có trách nhiệm.    Chúng ta nhìn thấy ở đây một tia hy vọng: hãy đừng bỏ lỡ cơ hội này.□     Thanh Xuân dịch  ——–  1 https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/33681/Improving-the-Performance-of-Higher-Education-in-Vietnam-Strategic-Priorities-and-Policy-Options.pdf?sequence=1  2 https://tuoitre.vn/tan-bo-truong-bo-gd-dt-nguyen-kim-son-goi-thu-cho-nha-giao-ca-nuoc-20210410092143326.htm  3 https://tuoitre.vn/bo-truong-nguyen-kim-son-se-co-ke-hoach-cu-the-cho-hoc-that-thi-that-nhan-tai-that-20210519212346707.htm  https://nhandan.vn/baothoinay-xahoi-thuongngay/cham-dut-hoc-theo-van-mau-bai-mau-664210/    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Giáo dục đại học Trung Quốc: Ba bước cải tổ      Đội ngũ giảng viên chất lượng cao, được coi trọng và thưởng công xứng đáng – đó chính là chìa khóa để xây dựng một viện nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Ví dụ từ Đại học Giao thông Thượng Hải đã chứng minh điều này.    Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang chậm lại sau 35 năm phát triển nhanh chóng. Sự phát triển bền vững sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển sự tăng trưởng đó thành đổi mới sáng tạo. Bởi vậy, chính phủ Trung Quốc đã tăng đáng kể đầu tư vào các trường đại học và viện nghiên cứu. Ví dụ như trong năm 2012, chính phủ đã chi hơn 1 nghìn tỉ nhân dân tệ (tương đương 161 tỉ USD) cho nghiên cứu và phát triển và hơn 700 tỉ nhân dân tệ cho giáo dục đại học.   Kết quả là, năng lực và năng suất nghiên cứu đã tăng. Từ năm 2005 đến năm 2012, số nghiên cứu sinh toàn thời gian ở Trung Quốc đã tăng 38% (đạt con số 314.000). Cũng trong khoảng thời gian đó, số lượng các bài báo nghiên cứu được công bố từ các viện giáo dục đại học của Trung Quốc đã tăng 54% (đạt con số 1.117.742) và lượng bằng sáng chế được cấp đã tăng tám lần (đạt 66.755).   Tuy nhiên, chất lượng nghiên cứu, được biểu thị bởi số lượng các trích dẫn, lại tụt lại phía sau và việc chuyển giao công nghệ còn chậm chạp. Những thực hành cứng nhắc trong việc đánh giá và khuyến khích – ví dụ như khen thưởng số lượng các công bố hơn là chất lượng – đang kìm hãm sự phát triển của các trường đại học Trung Quốc.   Là hiệu trưởng của một đại học nghiên cứu ở Trung Quốc, tôi tin rằng xây dựng một đội ngũ giảng viên chất lượng cao chính là chìa khóa để phát triển một đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Vì vậy, trong 10 năm qua, Đại học Giao thông Thượng Hải (SJTU) của tôi đã xây dựng một nền văn hóa đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nghiên cứu thông qua những cải cách trong phát triển con đường sự nghiệp của những giảng viên đương nhiệm và giảng viên mới.   Những đại học hàng đầu khác của Trung Quốc cũng đang từng bước tìm cách gia tăng năng suất nghiên cứu của mình bằng các giải pháp: thành lập những viện nghiên cứu mới; thuê các học giả nước ngoài tên tuổi với mức lương cao và đưa vào hệ thống bổ nhiệm giảng viên chính thức (tenure system). Nhưng “nhập khẩu” vài ba giáo sư “sao” là không đủ để thay đổi nền văn hóa đại học mà còn có thể làm các giảng viên khác cảm thấy mình không được nhìn nhận đúng mức, bởi vậy cần có những cải tổ cơ bản hơn.   Ba bước cải tổ   Kinh nghiệm của tôi tại SJTU cho thấy việc áp dụng một hệ thống khuyến khích trong toàn trường để làm động lực thúc đẩy tất cả các giảng viên, nhân viên và sinh viên phấn đấu cho mục tiêu đến năm 2020 sẽ phát triển được một đội ngũ giảng viên chất lượng cao tương đương với chất lượng của những đại học phương Tây tốt nhất đã đạt kết quả khả quan.    Các thay đổi bắt đầu từ năm 2007 khi chúng tôi bắt đầu tiến hành phân tích những thách thức cấp quốc gia và toàn cầu trong tương lai, tổ chức những thảo luận mở giữa các giảng viên và nhân viên, và đưa ra một xét toán tính khả thi. Từ những phân tích, thảo luận này, một số ưu tiên đã nổi bật lên, bao gồm: lôi kéo những đầu óc sáng tạo, ươm tạo những ý tưởng đổi mới, và liên kết các ngành khoa học với xã hội để phục vụ đất nước và thế giới một cách tốt nhất. Để duy trì sự hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên, trong vài năm qua, chúng tôi đã tiến hành một số cải tổ nền tảng theo từng bước sau đây.   Một: tuyển dụng và hướng dẫn đội ngũ giảng viên mới vào nghề. Những nhà khoa học đẳng cấp thế giới được thuê để xây dựng những nhóm nghiên cứu tập trung vào những vấn đề khoa học và kỹ thuật tiên tiến và đặt ra mức tiêu chuẩn hàn lâm cao hơn. Đội ngũ giảng viên trẻ được tuyển dụng một cách cạnh tranh trong thị trường việc làm quốc tế. Để khởi động, các nhóm nghiên cứu này được nhận những hỗ trợ tài chính hào phóng trong một vài năm đầu cho đến khi họ có thể thu hút tài trợ từ các cơ quan chính phủ Trung Quốc hoặc từ các ngành công nghiệp và bắt đầu cho ra kết quả và gây dựng tiếng tăm.   Năm 2007 bắt đầu một hệ thống bổ nhiệm giảng viên chính thức cho những thành viên mới với chế độ bổ nhiệm thời hạn sáu năm cho những giảng viên trẻ, dựa vào các đánh giá giữa và cuối kỳ của một hội đồng quốc tế.  Năm 2008, chúng tôi khởi động một chương trình cố vấn cho các giảng viên trẻ dưới 35 tuổi và từ đó đến nay đã có 1.251 giảng viên được nhận hỗ trợ thêm cho việc nghiên cứu cũng như cho việc ăn ở từ quỹ trợ cấp trị giá 150 triệu nhân dân tệ.   Hai: ba con đường phát triển sự nghiệp cho giảng viên đương nhiệm. Việc thăng tiến và mức lương được xét ba năm một lần dựa theo những chỉ số thành tích được xây dựng bởi mỗi khoa hoặc ban.   Đối với những giảng viên đương nhiệm, có ba hướng phát triển sự nghiệp được đặt ra từ năm 2010 là: giảng dạy, nghiên cứu, và giảng viên chính thức. Những người đi theo con đường giảng dạy sẽ không cần phải tham gia nghiên cứu; còn những nhà khoa học không có nghĩa vụ giảng dạy sẽ phải tìm nguồn thu nhập từ những trợ cấp nghiên cứu cạnh tranh. Các giáo sư đi theo con đường giảng viên chính thức sẽ vừa dạy vừa nghiên cứu và sẽ được đánh giá theo những tiêu chuẩn kết hợp. Cả ba hướng này đều có những tỉ lệ mức lương khởi điểm tương đương nhau.   Các giảng viên sẽ tự chọn con đường phát triển cho mình và có quyền thay đổi sau này nếu các đánh giá của đồng nghiệp cho phép. Tất cả các giảng viên đều có thể đăng ký xin chuyển sang chế độ giảng viên chính thức khi họ đã đạt những tiêu chuẩn cao hơn, và những người giỏi nhất sẽ được khuyến khích làm như vậy. Mức lương trung bình của giảng viên đã tăng 60% trong bốn năm vừa qua và sẽ còn tăng nữa trong bốn năm tới.   Trường đã phân quyền quản trị về các khoa và ban để các khoa, ban có được quyền tự chủ nhiều hơn trong việc tuyển dụng, phát triển và đánh giá đội ngũ nhân viên. Đồng thời, những cải cách về ngân sách đã cho mỗi khoa và ban cơ hội tiếp cận và sử dụng trực tiếp các nguồn vốn.   Ba: một hệ thống bổ nhiệm giảng viên chính thức hợp nhất. Việc xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng quốc tế mới đã tạo ra sự phân hóa trong trường: nhóm các học giả đi theo những tiêu chuẩn và chế độ đãi ngộ phương Tây, và nhóm các giảng viên đương nhiệm đi theo ba con đường nêu trên. Năm 2013, sáu khoa/ban thí điểm đã bắt đầu hợp nhất hai hệ thống này thành một chế độ bổ nhiệm giảng viên chính thức duy nhất giống như các trường đại học ở Bắc Mỹ. Một số kết quả đáng khích lệ đã có thể nhìn thấy được ở các môn vật lý, toán học, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật sinh y, luật và quản lý.           “Nhập khẩu” vài ba giáo sư “sao” là không đủ để thay đổi nền văn hóa đại học mà còn có thể làm các giảng viên khác cảm thấy không được nhìn nhận, bởi vậy cần có những cải tổ cơ bản hơn.         Dựa vào những kinh nghiệm này, từ năm 2015 đến 2018, toàn đại học sẽ chuyển sang hệ thống bổ nhiệm giảng viên chính thức. Việc đột ngột tăng gấp đôi gấp ba hệ số lương cho toàn bộ 3.000 giảng viên của trường là điều không thể, nên chúng tôi đã bắt đầu xây dựng các cơ chế để trả những mức lương cạnh tranh trong hệ thống bổ nhiệm, ví dụ như thành lập các chức danh giáo sư và nghiên cứu sinh từ một quỹ trợ cấp 500 triệu nhân dân tệ.   Những giảng viên không đạt tiêu chuẩn để đi theo con đường giảng viên chính thức có thể chọn thôi việc luôn hoặc ở lại theo hợp đồng cho đến khi hệ thống này bị loại bỏ vào năm 2018. Điều này thể hiện sự chú trọng của trường tới việc đối xử công bằng và tôn trọng những giảng viên đã phục vụ trường tốt nhưng không thể đạt được những tiêu chuẩn mới, đồng thời cung cấp cho họ một cơ hội để tiếp tục cống hiến cho trường.   Những kết quả đã được kiểm chứng  Ngày nay, SJTU đang trên đà trở thành một trong những đại học nghiên cứu hàng đầu thế giới. Từ năm 2007, 450 giáo sư đẳng cấp thế giới và giảng viên trẻ cao cấp có vị thế quốc tế đã gia nhập trường, hơn 200 giảng viên hiện có đã chuyển sang chế độ giảng viên chính thức, và 85% giảng viên có bằng tiến sĩ (tăng từ 50% vào năm 2006).   Tổng thu nhập hằng năm của trường đã tăng hơn gấp đôi từ năm 2007 lên 7 tỷ nhân dân tệ; thu nhập từ những nghiên cứu có tính cạnh tranh đã tăng gấp ba lần lên hơn 2,5 tỉ nhân dân tệ. Số lượng những ngành được dạy tại trường được xếp hạng top 1% toàn cầu về Chỉ số Khoa học Thiết yếu (ESI) của Thomson Reuters đã nhảy từ năm ngành trong năm 2007 lên 16 ngành vào năm 2014. Các môn khoa học xã hội cũng gia nhập hàng top 1% cùng các môn khoa học kĩ thuật, tự nhiên, sự sống và y học, khiến trường trở nên toàn diện hơn.   Về số lượng các công trình nghiên cứu được công bố, hàng năm xếp thứ hai toàn cầu trong ngành kỹ thuật từ năm 2007. Ngành khoa học tự nhiên tiến lên từ vị trí 57 năm 2007 lên 40 năm 2013; khoa học sự sống và nông nghiệp tiến từ vị trí 136 lên 43; và y học hiện đang giữ vị trí 27. Số lượng trích dẫn cũng đang tăng và nhiều phát minh đang được cấp bằng sáng chế hơn.  Những cải tổ tại Đại học Giao thông Thượng Hải đã thúc đẩy một sự thay đổi về trọng tâm giáo dục. Chúng tôi đang rời xa việc truyền kiến thức để tiến đến tạo ra kiến thức, chuyển từ phong cách dạy lấy việc hướng dẫn làm trọng tâm sang phong cách học lấy sinh viên làm trung tâm. Triết lý của chúng tôi là đào tạo sinh viên trở nên những công dân toàn cầu năng động và có khả năng. Một nền văn hóa coi trọng và tôn vinh đổi mới sáng tạo đã thực sự bén rễ.   Khánh Minh dịch   Nguồn:http://www.nature.com/news/developing-excellence-chinese-university-reform-in-three-steps-1.16128       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học Việt Nam liệu có cất cánh nếu thêm nhiều “giáo sư”?      TS Lưu Tiến Hiệp chia sẻ những suy nghĩ của ông về việc có nên trao quyền bổ nhiệm chức danh giáo sư cho các trường đại học hay không, xuất phát từ thông lệ quốc tế và bối cảnh Việt Nam.    Bổ nhiệm giáo sư và năng lực tài chính của trường. Ở các nước phương Tây (như Mỹ, Anh, Úc, Canada), chẳng phải đương nhiên những ai đủ tiêu chuẩn đều được phong giáo sư/phó giáo sư, mà phải “làm đơn”, nghĩa là có xét duyệt. Bên cạnh đó, việc bổ nhiệm giáo sư liên quan nhiều đến khả năng tài chính của trường, vì giáo sư/phó giáo sư là những người hưởng mức lương cao, trường giàu sẽ hào phóng hơn, còn không “hãy đợi đấy”. Điều này dẫn đến tình trạng có thầy/cô đợi lâu quá không đến lượt mình được phong, đành phải chuyển sang trường khác hoặc ngầm gây sức ép bằng cách dọa khéo sắp chuyển sang trường khác để trường phải tìm cách giữ lại, nếu các vị này thật sự sáng giá.     Một số trường có thể lập ra những chức danh giáo sư đặc biệt, được gọi là Endowed Professor, theo yêu cầu của người hiến tặng. Chức danh này cũng thường mang tên người hiến tặng, thí dụ như “Rockefeller Professor of Microbiology David Smith”. Khoản hiến tặng phải khá lớn, đủ để trả lương lâu dài cho các vị giáo sư giữ chức danh.    Giáo sư chủ nhiệm. Thông thường, một vị giáo sư phụ trách một lĩnh vực học thuật (chair) được gọi là chủ nhiệm lĩnh vực học thuật đó, mục đích là để vị này cùng các đồng nghiệp cấp dưới phát huy lĩnh vực học thuật do mình phụ trách. Trường giàu có hai-ba vị giáo sư cho một lĩnh vực học thuật cũng là điều bình thường. Nếu chỉ có một vị giáo sư đứng đầu không khéo sẽ phát triển thành mô hình kim tự tháp, bởi vị giáo sư đứng đầu có khả năng sẽ chi phối toàn bộ kinh phí, định hướng lĩnh vực nghiên cứu – một hình thức gia trưởng làm thui chột những ý tưởng nghiên cứu khác, nhất là của giảng viên trẻ.     Uy tín giáo sư. Chúng ta thường lầm tưởng rằng giáo sư/phó giáo sư của một trường khi chuyển sang trường khác sẽ không được công nhận. Điều này không đúng đối với các trường trong cùng một nước ở những nước phát triển. Trường A uy tín hơn trường B không có nghĩa uy tín giáo sư của trường A cao hơn đáng kể uy tín giáo sư trường B, bởi những trường “yếu” cũng có thể sàng lọc, xét chọn GS/PGS một cách nghiêm khắc, có khi chẳng phong giáo sư/phó giáo sư nào cả mà dùng những cách gọi chung thông thường như instructor.    Giáo sư khi được bổ nhiệm có cần có bằng tiến sĩ không? Tuyệt đại đa số là như vậy. Nhưng có những trường bổ nhiệm giáo sư mà không đòi hỏi bằng tiến sĩ nào hết. Những vị này thường được nể phục bởi các công trình nghiên cứu của họ. Chúng ta có thể tìm thấy những thí dụ như vậy ngay ở một số trường đại học danh tiếng như Oxford hay Cambridge.     Bây giờ xin nói chuyện Việt Nam. Mới đây, việc Đại học Tôn Đức Thắng dự định tự tổ chức xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm giáo sư đã làm dấy lên những trao đổi không dứt. Tôi xin không đưa ra ý kiến phản bác hay ủng hộ mà chỉ nêu một vài suy nghĩ ban đầu.     “Thuật ngữ” giáo sư/phó giáo sư khi được sử dụng vừa để chỉ học hàm vừa để chỉ chức vụ chuyên môn chắc chắn sẽ dẫn đến những nhầm lẫn và nhập nhằng khủng khiếp. Giá mà hai nhóm có tên gọi khác nhau thì sự việc đã không gây tranh cãi như vậy, nhưng tiếng Việt không đủ phong phú để làm việc đó. Chẳng lẽ để phân biệt giáo sư do trường A bổ nhiệm, chúng ta sẽ ghi: GS (chức vụ) Nguyễn Văn A, và GS (học hàm) Trần Thị B nếu được Bộ phong. Tôi chưa thấy nước nào dùng hai hệ thống song song như vậy.     Trao quyền bổ nhiệm các chức vụ giảng dạy cho các trường là việc làm phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng việc này lại rất mới mẻ ở Việt Nam, thiết nghĩ cũng nên được thử thách bởi thời gian. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng nhiều người hẳn đã không quá lo xa khi e ngại việc trao quyền tự chủ bổ nhiệm sẽ dẫn đến những hệ quả vượt ra ngoài tầm kiểm soát, điều mà Bộ đã có không ít kinh nghiệm đau thương. Chẳng hạn, khi Bộ quy định số sinh viên cho một giảng viên, không ít trường đã dùng giải pháp “giảng viên ma”, tuyển vượt chỉ tiêu cho phép, hoặc gửi thư báo trúng tuyển khi chưa có ý kiến của Bộ…     Nên chăng cần có phương án thí điểm để hai trường ĐH Quốc gia làm thử vì nguồn nhân lực của họ lớn. Sau đó, Bộ hay cơ quan kiểm định sẽ phân tầng trường. Trường nào thứ hạng cao sẽ được phép trao quyền bổ nhiệm, tránh tình trạng trình độ giáo sư trường này thấp hơn đáng kể trường kia trong cùng một nước. Biết đâu cái chúng ta nghĩ là đúng lại làm cho nhiều giáo sư thấy mặc cảm khi được bổ nhiệm.     Tuy nhiên, trước mắt, nếu chưa trao quyền bổ nhiệm giáo sư cho các trường, Bộ cũng có thể làm được không ít việc nhằm cải thiện các tiêu chuẩn và quy trình xét phong giáo sư/phó giáo sư của mình, vốn lâu nay bị phê phán là “chẳng giống ai”, “thiếu tính công khai”, “phong cả cho những người không làm công tác giảng dạy”… Hãy làm cho hệ thống tiêu chuẩn xét phong giáo sư/phó giáo sư của chúng ta hội nhập quốc tế sâu hơn, tăng số giáo sư/phó giáo sư thực sự đứng trên bục giảng lên và giảm số giáo sư quan chức xuống. Đối với những nhà giáo có công với sự nghiệp giáo dục, chúng ta đã có danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú” để xưng tụng trọn đời, thì cũng không cần thiết phải duy trì chức danh giáo sư/phó giáo sư một khi người được bổ nhiệm chức danh đó không còn làm công tác giảng dạy, giống như thông lệ quốc tế.    Số lượng giáo sư/phó giáo sư đã được phong của Việt Nam không hề thấp, ít nhất là so với các nước trong khu vực, nhưng nền đại học và nghiên cứu khoa học của chúng ta vẫn trì trệ. Chẳng nên vội vã cho rằng nếu các trường đại học được trao quyền bổ nhiệm giáo sư, nền giáo dục đại học của chúng ta sẽ cất cánh. Còn nhớ, khoảng 10 năm trước, nhiều nhà giáo dục, khoa bảng tuyên bố nếu áp dụng hệ thống tín chỉ thì chất lượng giáo dục đại học sẽ đi lên. Bây giờ, sau 10 năm thực hiện đào tạo theo tín chỉ, có ai dám khẳng định lại điều đó hay không? Cũng như vậy, việc trao quyền tự chủ phong giáo sư, thiết nghĩ, chẳng phải là cây đũa thần giúp cải thiện chất lượng nền giáo dục đại học hiện nay. Theo tôi, đổi mới về cách điều hành, chương trình, giảng viên, phương pháp giảng dạy, cải thiện việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp… đó mới là những vấn đề cốt lõi. Hãy cố gắng chờ đến khi nền giáo dục đại học Việt Nam được tạo mọi điều kiện tốt nhất để trưởng thành, biết đâu vấn đề trường tự bổ nhiệm giáo sư sẽ được giải quyết mà không cần những tranh cãi nảy lửa của ngày hôm nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục Đại học Việt Nam ở giao điểm giữa Chất lượng và Thương mại      T&#211;M TẮTMục đ&#237;ch của b&#224;i viết n&#224;y l&#224; nhằm đ&#225;nh gi&#225; mức độ t&#225;c động của qu&#225; tr&#236;nh to&#224;n cầu ho&#225; v&#224; việc trở th&#224;nh th&#224;nh vi&#234;n của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đến sự ph&#225;t triển của Gi&#225;o dục Đại học (GDĐH) Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam thực hiện ch&#237;nh s&#225;ch đổi mới v&#224;o năm 1986, đ&#227; c&#243; những thay đổi mạnh mẽ về quy m&#244; v&#224; chất lượng của hệ thống GDĐH Việt Nam. Ch&#250;ng ta c&#243; thể dự đo&#225;n trước những thay đổi nhanh ch&#243;ng n&#224;y dựa tr&#234;n tốc độ v&#224; t&#237;nh năng động của qu&#225; tr&#236;nh to&#224;n cầu h&#243;a, đặc biệt &nbsp;l&#224; sự kiện nổi bật diễn ra v&#224;o ng&#224;y 11/01/2007 khi Việt Nam ch&#237;nh thức trở th&#224;nh th&#224;nh vi&#234;n thứ 150 của WTO. B&#224;i viết n&#224;y đặc biệt quan t&#226;m đến việc gia tăng hoạt động của c&#225;c nh&#224; cung cấp dịch vụ gi&#225;o dục xuy&#234;n bi&#234;n giới (GDXBG). B&#224;i viết mở đầu bằng việc giới thiệu c&#225;c vấn đề về to&#224;n cầu h&#243;a, nhu cầu m&#224; to&#22    Giới thiệuBài viết này nhằm mục đích đánh giá các tác động tiềm ẩn của toàn cầu hóa và việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đến việc phát triển của GDĐH Việt Nam. Vào ngày 11/01/2007, sau 11 năm nỗ lực theo đuổi, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Bây giờ, Việt Nam phải chủ động phân tích những tác động và lập kế hoạch chiến lược tận dụng cơ hội hơn là phản ứng với các thách thức và các khó khăn trước mắt. Bài viết này tập trung phân tích các vấn đề về GDĐH Việt Nam, đặc biệt đề cập đến giao điểm và sự căng thẳng giữa chất lượng và thương mại như đã được khai thác mạnh mẽ trong Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ (GATS) của WTO và GDXBG.Bài viết bắt đầu bằng việc định nghĩa toàn cầu hóa và những tác động của nó đến GDĐH. Một tóm lược tổng quan về 2 thách thức của GDĐH, đó là tiếp cận và chất lượng, được trình bày như là bối cảnh để phân tích những tác động của việc hướng đếntoàn cầu hóa mà bắt đầu với việc gia nhập WTO và do đó thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động GDXBG. Để giúp cho việc phân tích tình hình Việt Nam, bài viết đưa ra các kinh nghiệm và vấn đề của các quốc gia khác là thành viên của WTO bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, và các quốc gia thuộc khối Ả Rập.. Thông qua những phân tích này, các khuyến nghị dành cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam được nêu ra. Phần cuối cùng của bài viết thừa nhận rằng nhiều mối quan tâm và các tác động về chính sách của GATS  đã đến với Việt Nam; các nhà cung cấp GDXBG đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc và muốn bước vào đất nước này..Vì vậy, đã đến lúc phải triển khai các chính sách và quy định giúp hệ thống GDĐH Việt Nam phát triển đồng thời đảm bảo cải thiện chất lượng, bảo tồn bản sắc quốc gia, và bảo vệ công dân khỏi các nhà cung cấp dịch vụ chất lượng kém. Theo nghĩa này, GATS là một chất xúc tác để thực hiện việc phân tích này, tuy nhiên, lợi ích và thách thức của GDXBG đòi hỏi phải lập kế hoạch và hành động ngay. Các kiến nghị liên quan đến các vấn đề của GATS được đề cập và mở rộng nhằm hướng đến nhu cầu hiện tại của GDĐH Việt Nam và sức ép nay một gia tăng của toàn cầu hóa.Toàn cầu hóaPhần lớn các học giả đang nghiên cứu về toàn cầu hóa thống nhất rằng toàn cầu hóa là một tập hợp các quá trình làm cho các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa mất đi giới hạn biên giới đã được định hình ở các quốc gia (Suarez-Orozco và Qim-Hilliard, 2004). Theo tác giả Marginson và Rhoades (2002), toàn cầu hóa là quá trình nâng cao sự hòa nhập của các hệ thống và cầu nối giữa các quốc gia khác nhau. Toàn cầu hóa được xác định thông qua sự lưu thông xuyên biên giới ở các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, trí tuệ và xu hướng phản ứng khác nhau do các đặc trưng về lịch sử, văn hóa và cơ cấu chính trị của mỗi quốc gia (Knight, 1999; UNESCO, 2004). Toàn cầu hóa cũng liên quan đến việc dịch chuyển của con người (ví dụ: di cư, hợp đồng lao động, sinh viên và học giả quốc tế) từ quốc gia này sang quốc gia khác.Mặc dù nền kinh tế thế giới đã tồn tại từ thế kỷ 16 khi những hạm đội tàu buôn xây dựng và phát triển các cầu nối giữa các quốc gia, nền kinh tế toàn cầu đã được hình thành thông qua cơ sở hạ tầng kỹ thuật được cải thiện, bao gồm viễn thông, hệ thống thông tin và giao thông (Carnoy, 2005). Điều này làm cho kiến thức được truyền tải dễ dàng hơn và ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu và tài sản của quốc gia.Vì vậy toàn cầu hóa đã ngày càng tạo áp lực lên các quốc gia trong việc cung cấp nền giáo dục sau trung hoc và chất lượng cao trong hệ thống đó; “toàn cầu hóa đã trở thành điểm nóng lên hệ thống và các cơ sở GDĐH của mỗi quốc gia” (Bloom, 2002, trang 2). Toàn cầu hóa cũng có thể được xác định là các yếu tố văn hóa khi di chuyển xuyên biên giới và thời gian để làm cho các mối quan hệ cá nhân trở nên tiện lợi hơn và để đánh giá các loại kiến thức đặc trưng (khoa học và kỹ thuật hơn là kỹ năng của thợ thủ công địa phương) (Carnoy, 2005).Schriewer and Martinez (2004), trong phân tích về những gì được gọi là “sự quốc tế hóa” và “quốc tế”, đã phân biệt 2 quan điểm đối lập nhau: (a) sự tương tác toàn cầu và (b) quan điểm của thế giới dựa trên bối cảnh văn hóa xã hội và quốc gia. Các mô hình hệ thống thế giới nhấn mạnh “sự năng động không ngừng của các mối liên kết vượt phạm vi quốc gia” góp phần tạo ra một thế giới duy nhất (Schriewer & Martinez, 2004, trang. 33). Ngược lại, khái niệm bên ngoài nhấn mạnh “ý nghĩa đặc trưng trong các quốc gia, xã hội hay nền văn minh cụ thể nào đó” tạo thành các thế giới phức tạp (Schriewer & Martinez, 2004, p. 33). Ủng hộ cho ý kiến này, Arnove (2003) và Knight (1999) phân biệt giữa xu hướng toàn cầu và phản ứng của các địa phương. Các quốc gia cần hiểu rõ những khái niệm này bởi vì nhà trường đã trở thành các cơ sở giáo dục xã hội hóa mang tính lịch sử và văn hóa hiện đại đã được hòa nhập giữa các quốc gia, đặc biệt trong hệ thống GDĐH trung tâm.Đối với nhiều nhà nghiên cứu GDĐH Việt Nam, toàn cầu hóa là sự hòa hợp các nền văn hóa và kinh tế ở các hình thức khác nhau. Toàn cầu hóa cũng là một quá trình trong đó một quốc gia mở rộng cánh cửa của mình để bước ra một thế giới rộng lớn hơn đồng thời để thế giới bước vào đất nước mình. Chính sách mở cửa này có 2 tác động, tích cực và tiêu cực: “Chúng ta có thể tận hưởng luồng gió mát lành để cải thiện sức khỏe mình; tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhận hậu quả là sẽ có những luồng gió độc làm suy yếu cơ thể của chúng ta” (Nguyen, 2006).  Bối cảnh GDĐH Việt NamViệt Nam có dân số hơn 86 triệu người, trong đó có 26 triệu người ở độ tuổi từ 15 đến 30 (Le, 2007), và tỉ lệ biết chữ được tuyên bố chính thức vào năm 2006 là 90% (U.S. Department of State, 2009). Giữa 2 năm học 1999 – 2000 và 2004 – 2005, tổng số người học đại học tăng 148% (từ 893,754 sinh viên lên 1,319,754 sinh viên) (MOET, 2007). Từ năm 1999, số trường đại học và cao đẳng đã tăng gấp đôi và số lượng giảng viên cũng tăng lên 43% (MOET, 2008a).  Mặc dù số sinh viên đậu đại học và cao đẳng sau kỳ thi đại học quốc gia đã tăng từ 10% lên 17% (MOET, 2008b), việc tiếp cận GDĐH là một thách thức lớn đối với Việt Nam.Bên cạnh việc gia tăng về số lượng, rất cần thiết phải tăng về chất lượng GDĐH. Một trong nhưng mục tiêu cụ thể được ban hành trong Quyết định Cải cách Cơ bản và Toàn diện tại Việt Nam 2006 – 2020 (HERA) là “xây dựng và phát triển bộ máy đảm bảo chất lượng và hệ thống kiểm định GDĐH” (Quyết định, 2005, 2.b.2). Mặc dù hệ thống kiểm định chất lượng đã được triển khai và tiếp tục phát triển ở các cơ sở GDĐH, tuy nhiên, vấn đề về đảm bảo chất lượng liên quan đến các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục bên ngoài (giáo dục xuyên biên giới) vẫn chưa nhận được cùng một mức độ quan tâm.  GATS và Giáo dục Đại họcGiới thiệu về GATSTổ chức Thương mại Thế giới và Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) thuộc WTO  được thành lập vào ngày 15/4/1994 nhằm mục đích tự do hóa thương mại thế giới, bao gồm các lĩnh vực dịch vụ, chẳng hạn như kinh doanh, truyền thông, tài chính và giáo dục (Vlk, Westerheijden, & Wend, 2008). Đối với GDĐH, tự do hóa thương mại đồng nghĩa với việc tăng khả năng tiếp cận thị trường và cạnh tranh toàn cầu bằng cách tháo bỏ các rào cản, ví dụ như các quy định về cấp phép và tạo điều kiện tiện lợi hơn cho sự di chuyển của các nhà cung cấp xuyên biên giới. Mặc dù GATS được mô tả là tự nguyện bởi vì các quốc gia xác định các lĩnh vực mà nước mình tham gia trong Biểu Cam kết Dịch vụ riêng, và cùng đàm phán với nhau về các quy định, một số khía cạnh của hiệp định là bắt buộc, chẳng hạn như tự do hóa thương mại liên tục đối với những mặt hàng có trong biểu cam kết (Knight, 2004; Terry, 2006). Theo trang web chính thức của WTO, có 153 quốc gia thành viên và các dịch vụ là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế toàn cầu. Giáo dục, một trong 12 lĩnh vực dịch vụ trong GATS, được chia thành 5 khu vực nhỏ: tiểu học, trung học, đại học, người lớn và thường xuyên và những lĩnh vực khác.Vào năm 2006, 48 quốc gia đã cam kết với GATS, trong đó có 39 quốc gia đã thực hiện cam kết trong lĩnh vực GDĐH; Các quốc gia Châu Á và Thái Bình Dương là Úc, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nepal và New Zealand (Raychaudhuri & De, 2007). Trong Biểu Cam kết dịch vụ riêng của Việt Nam, ký vào ngày 19/03/2007,  các tiểu khu vực giáo dục được liệt kê bao gồm: giáo dục trung học, GDĐH, giáo dục người lớn, các dịch vụ giáo dục khác; các dịch vụ được giới hạn trong lĩnh vực “khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, quản lý kinh doanh và nghiên cứu kinh doanh, kinh tế, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ” (phần 5, Dịch vụ Giáo dục). Ngoài ra, đối với GDĐH, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác, Biểu cam kết quy định rằng chương trình giáo dục phải được Bộ Giáo dục phê chuẩn.GATS chia ra 4 phương thức cung cấp các dịch vụ thương mại: (a) cung cấp dịch vụ xuyên biên giới (vd: giáo dục từ xa); (b) Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, nghĩa là khách hàng (sinh viên) đến nước khác để học; (c) hiện diện thương mại, nghĩa là nhà cung cấp thiết lập cơ sở ở nước khác để cung cấp dịch vụ (vd: mở cơ sở, chi nhánh hay song song); và (d) hiện diện thể nhân nghĩa là một cá nhân (giảng viên) có thể đến nước khác để giảng bài trong một thời gian ngắn (Knight, 2002a; Varghese, 2007). Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cấu trúc GATS được đóng khung trong 2 nhóm nghĩa vụ bắt buộc; (a) các nghĩa vụ chung (vô điều kiện) áp dụng bắt buộc cho các nước thành viên của WTO và (b) các cam kết cụ thể (bắt buộc có điều kiện) cần sự đàm phán giữa các quốc gia thành viên.Hai trong số các bắt buộc vô điều kiện theo GATS là nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (MFN) và sự minh bạch. MFN quy định tất cả nhà cung cấp dịch vụ là thành viên WTO phải được đối xử công bằng, vì vậy nếu Việt Nam chọn giải pháp cho phép hay từ chối ở một mức độ nhất định sự cạnh tranh nước ngoài trong các dịch vụ GDĐH đối với một đối tác thương mại WTO, các cơ hội hay ngoại lệ phải được áp dụng như nhau với tất cả các thành viên của WTO. Sự minh bạch nghĩa là các nước thành viên phải ban hành các quy định của mình liên quan đến các dịch vụ thương mại, thông báo cho Hội đồng Thương Mại Dịch vụ những thay đổi, và đáp ứng quyền được thông tin của các thành viên.Các bắt buộc có điều kiện bao gồm việc tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia. Mỗi quốc gia xác định lĩnh vực nào sẽ được mở cửa tiếp cận vào thị trường và đàm phán phạm vi các cam kết bằng các giới hạn cụ thể, chẳng hạn như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ và các hoạt động, số lượng nhân viên, mức độ góp vốn trong liên doanh (Varghese, 2007). Đối xử quốc gia yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước bình đẳng trong đối xử. Knight (2004) cho rằng đối xử quốc gia chỉ áp dụng cho các ngành dịch vụ mà quốc gia đã có những cam kết cụ thể và những ngoại lệ được chấp thuận. Knight (2004) nhận định rằng “Chính những nguyên tắc đối xử quốc gia mà các nhà phê bình GATS tin rằng có thể đặt giáo dục, được xem như một loại “hàng hóa công” vào rủi ro (Knight, 2002a, trang 3). Mặc dù các quốc gia tự do xây dựng cam kết của mình, nhưng suốt mỗi vòng đàm phán, các thành viên WTO được kỳ vọng gia tăng các cam kết lĩnh vực và giảm các hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia (Knight, 2002b); họ cũng chịu áp lực từ các thành viên khác suốt quá trình đàm phán (ACE, 2008).Trong Biểu cam kết dịch vụ riêng của Việt Nam (2007), có cùng các giới hạn như nhau được áp dụng cho GDĐH, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác. Theo nguyên tắc tiếp cận thị trường, hiện diện thương mại được tự do hóa một cách liên tục. Tùy thuộc vào việc gia nhập vào WTO, việc tiến cận thị trường được giới hạn trong phạm vi liên doanh; tuy nhiên, quyền sở hữu nước ngoài đã được cho phép. Bắt đầu vào ngày 01/01/ 2009, các tổ chức giáo dục có 100% vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép, và trong năm 2010, sẽ có nhiều giới hạn hơn, mặc dù hạn chế lĩnh vực tổng thể đối với các lĩnh vực đào tạo cụ thể, như đã đề cập ở trên, vẫn tiếp tục (Biểu cam kết Việt Nam, khu vực 5). Theo nguyên tắc đối xử quốc gia, giáo viên nước ngoài làm việc ở các trường có vốn đầu tư nước ngoài phải có ít nhất năm năm kinh nghiệm giảng dạy và “bằng cấp của họ sẽ được cơ quan có thẩm quyền công nhận” (Biểu cam kết Việt Nam, khu vực 5).  Phân tíchNgày càng có nhiều tranh cãi về các tác động của GDĐH trong GATS. Một bên cho rằng giáo dục đã đi từ một dạng hàng hóa công sang dạng hàng hóa có thể kinh doanh được trong nền thị trường toàn cầu, vì vậy mà được khuyến khích chủ yếu bằng lợi nhuận. Tuy nhiên, Varghese (2007) khẳng định rằng”các chính sách mậu dịch đôi khi mâu thuẫn với những mối quan tâm quốc gia trong quá trình cải thiện giáo dục” (trang 8). Mặc dù GATS được Úc, Canada, Hoa Kỳ, và nhiều nước Châu Âu khởi xướng, nhưng những quốc gia này đã phải đối mặt với sự phản kháng mạnh mẽ đối với GDĐH từ  chính các cơ sở giáo dục của mình và một số tổ chức phi chính phủ lớn (ví dụ, Hiệp hội Đại học châu Âu, Hiệp hội các trường Đại học và Cao đẳng ở Canada, và Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học ở Mỹ) cho thấy quá trình hợp tác song phương và các tổ chức đa phương đang tỏ ra rất có hiệu quả (Bubtana, 2007). Các nước đang phát triển lo ngại sẽ nảy sinh tình trạng các chi phí xã hội cao kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ xuyên và qua biên giới, bao gồm cả một hệ thống giáo dục cấp cao, việc suy giảm sự hỗ trợ của chính phủ cho giáo dục, và sự biến mất của một hệ thống GDĐH quốc gia có nguyên nhân từ việc không có khả năng cạnh tranh với  nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài (Butana, 2007). Như Powar (2005) đã nêu, khi phân tích những tác động tiềm ẩn của GATS tại Ấn Độ, “Ngày nay, GDĐH được nhìn nhận như một dịch vụ công, dịch vụ đó, bên cạnh việc tạo ra và phổ biến kiến thức, cam kết thực hiện các dịch vụ xã hội (bao gồm cả sự phát triển bền vững) và ghi nhận các giá trị của con người ” (trang 7). Hơn nữa, các nước đang phát triển đang lo ngại về các tác động đến chất lượng của hệ thống GDĐH, vì họ thiếu khả năng bảo vệ công dân của mình tránh khỏi các rủi ro bằng cấp và khỏi các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chất lượng thấp (ACE, n.d.). Ở mặt khác của cuộc tranh luận, những ai đồng tình với việc đưa GDĐH vào trong các cuộc thảo luận của GATS chỉ ra các lợi ích chẳng hạn như gia tăng khả năng tiếp cận, tính cạnh tranh, đa dạng hóa, phương thức truyền tải, và tình hình tài chính thu được (Bubtana, 2007). Ở các nước đang phát triển, nhiều ý kiến nhìn nhận tự do hoá thương mại như là một phương tiện để đạt được sự tiếp cận có giới hạn thông qua đầu tư của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài.    Tác động của GATSBubtana (2007), nguyên Trưởng bộ phận GDĐH của UNESCO, đã tiến hành phân tích nhằm xác định các vấn đề trong tương lai của GATS đối với GDĐH tại 11 tiểu bang A-rập là thành viên của WTO. Phân tích này rất hữu ích cho việc tìm hiểu những thách thức và các bước chuẩn bị mà Việt Nam cần chú ý. Bài phân tích được xây dựng với sáu vấn đề chính: (a) chính sách, (b) pháp luật, (c) quy định, (d) giáo dục, (e) tài chính, và (f) văn hóa-xã hội. Khi áp dụng cách phân tích của Bubtana’s (2007) cho Việt Nam, mục giáo dục và văn hóa-xã hội đã được kết hợp lại. Mặc dù rất khó phân biệt giữa pháp luật và quy định, nhưng các mục này vẫn còn được tách riêng.Chính sách. Theo khái niệm cốt lõi của GATS về tự do hoá thương mại, Việt Nam sẽ cần phải sửa đổi các chính sách cho phép các nhà cung cấp nước ngoài tự do cạnh tranh với các cơ sở GDĐH quốc gia. Hậu quả tiềm ẩn của sự cạnh tranh này là lương cao hơn của giảng viên ở các cơ sở giáo dục nước ngoài có thể (a) làm trầm trọng thêm các vấn đề ngoài lề tác động tiêu cực đến chất lượng giảng dạy, và (b) làm cho các cơ sở giáo dục công lập mất đi những giảng viên có trình độ cao. Thực trạng thiếu hụt giảng viên đã được đăng tải trên tạp chí Vietnam News (“Bùng nổ trường đại học”, 2008): “Những thách thức dễ làm nản lòng nhất chính là sự thiếu hụt trầm trọng giảng viên và giáo sư”. Trường Đại học Phú Yên và Trường Đại học Phạm Văn Đồng chỉ có hai giảng viên có trình độ Tiến sĩ. Tình hình ngày càng tồi tệ hơn đối với các cơ sở giáo dục tư nhân “(4-5). Ngoài ra, tình trạng giảng viên, nghiên cứu viên, hoặc sinh viên tốt nghiệp ở lại nước ngoài hoặc chuyển đến sống ở một đất nước phát triển hơn, nơi họ có thể nhận được lương cao và điều kiện làm việc tốt hơn (hiện tượng chảy máu chất xám) (Bubtana, 2007; Knight, 2002a; Powar, 2005; Varghese, 2007) cũng là một vấn đề đáng được quan tâm.Pháp luật. Trong lĩnh vực luật pháp, Việt Nam đã thực hiện nhiều thay đổi, cho phép thành lập các cơ sở giáo dục tư nhân, như là cách để làm dịu áp lực khỏi nhu cầu học đại học đang gia tăng không ngừng. Chính phủ cũng đã cho phép cho nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hoạt động tại Việt Nam, với một số giới hạn, ví dụ, Đại học RMIT phải mất nhiều năm trời để thỏa thuận thành lập cơ sở trong nước, do đó trở thành trường đại học duy nhất có vốn nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, một khi cam kết được thực hiện theo GATS, cải cách pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc MFN và đối xử quốc gia. Tình trạng này làm nổi bật tầm quan trọng của việc đưa ra được thông tin hiệu quả, phối hợp tốt, và cẩn thận trong Biểu Cam kết dịch vụ riêng nhằm bảo đảm rằng các giới hạn đã được thông báo một cách rõ ràng. Bubtana (2007) đề nghị rằng có ba hạn chế khi đặt các mức giới hạn về dịch vụ giáo dục: (a) số lượng các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, (b) lợi nhuận, và (c) sinh viên được nhận vào học.Quy định. Các vấn đề liên quan đến quy định là cái được quan tâm nhất trong bảo đảm chất lượng. Việt Nam đang có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng một quy trình kiểm định cho các hệ thống GDĐH, tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ chính và gần như chỉ thực hiện ở các trường đại học công lập thông qua việc tự đánh giá và đánh giá ngoài trong 5 năm qua (Nguyen, Oliver, & Priddy). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mối quan tâm khác được bày tỏ trên các phương tiện truyền thông về chất lượng của các cơ sở giáo dục tư nhân và xuyên biên giới đang hoạt động tại Việt Nam. Theo Ashwill (2005), “việc thiếu khung quy định và hệ thống kiểm định đã gây ra mất niềm tin của công chúng dành cho các trường tư nhân” (trang 68). Vấn đề này có thể sẽ ngày một tồi tệ do tự do hóa thương mại trước khi Việt Nam xây dựng được cơ cấu, thủ tục, quy trình trên phạm vi quốc gia nhằm công nhận chất lượng và tiêu chuẩn kiểm định cho các cơ sở giáo dục và các chương trình học do nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cung cấp. Giáo dục và văn hóa-xã hội. Các nhà phê bình về tự do hoá thương mại trong giáo dục cho rằng có nguy cơ hệ thống GDĐH của đất nước sẽ mất đi gốc rễ của mình, cái được xem là đặc trưng duy nhất trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, chính trị (Bubtana, 2007; Knight, 2004; Powar, 2005; Varghese , 2007). Điểm này được bày tỏ mạnh mẽ trong cuộc phỏng vấn với Mohammed al-Roken, một cựu giáo sư tại Trường Đại học Các Tiểu Vương quốc A-rập Thống nhất (UAE): “Trường đại học cũng giống như quân đội – bạn không thể bỏ mặc trường học cho các giáo sư nước ngoài,” ông nói. ‘Chúng ta không phản đối họ bởi vì nó tương tự như một cuộc đua, nhưng đó là văn hóa…. Bạn không thể xuất khẩu nguồn gốc của mình” (Mills, 2008, trang A4). Đối với trường hợp của Ấn Độ, Powar (2005) bàn về các Tuyên bố Delhi, được năm tổ chức giáo dục có mối quan tâm về GATS hỗ trợ, nói rằng trách nhiệm to lớn của giáo dục là bảo tồn “nền văn hóa, độc lập về trí tuệ và các giá trị xã hội dân sự” (trang 7). Tuyên bố này làm nổi bật quan điểm cho rằng nếu giáo dục là một mặt hàng, các cơ sở giáo dục nước ngoài sẽ chỉ có cung cấp các chương trình có lợi nhuận, các cơ sở giáo dục tại Ấn Độ có thể bị đóng cửa vì họ không thể cạnh tranh, và các nguyên tắc về tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa-xã hội, nhưng thiếu giá trị thị trường, sẽ bị bỏ quên. Trong số các mối bận tâm của Việt Nam về việc gia tăng GDXBG trong một môi trường tự do hóa thương mại là vấn đề ngôn ngữ giảng dạy, sự đa dạng về tư tưởng, đa dạng về văn hóa, tự do về học thuật, sự đa dạng về các cơ sở giáo dục và các phương thức truyền đạt, và công tác quản lý và quản trị của GDĐH. Tác động của GDXBG đã được chú ý vào năm 2004 khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) xây dựng các quy định dành cho các cơ sở giáo dục nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (ví dụ như, RMIT, một trường đại học của Úc) phải có chương trình giảng dạy giáo dục chính trị cho các sinh viên Việt Nam. Theo Doan (2005), “Việc khắc sâu các tư tưởng xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc xã hội chủ nghĩa cũng quan trọng như việc tạo dựng khả năng trí tuệ, vì vậy, khoa học Marxist và tư tưởng Hồ Chí Minh là các môn học bắt buộc được giảng dạy và chiếm tới 12% thời lượng trong chương trình giảng dạy đại học và sau đại học” (trang 451). Tài chính. Vấn đề về tài chính được đề cập ở đây là việc càng đa dạng hoá các cơ sở giáo dục và nguồn tài chính, thì các nguồn tài trợ của chính phủ dành cho GDĐH sẽ càng ít. Việc này sẽ làm cho các trường đại học công lập suy yếu và có khả năng làm cho hệ thống GDĐH trở thành GD dành cho tầng lớp tinh hoa, vì gánh nặng tài chính sẽ chuyển sang đôi vai sinh viên và gia đình của họ (Butana, 2007). Các cơ sở giáo dục công lập tại Việt Nam đã tuân thủ Nghị định 27, có hiệu lực vào năm 1998, trong khi các cơ sở tư nhân thiết lập mức học phí cao hơn. Ví dụ, Trường Đại học Dân lập Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh có mức học phí là 4 triệu đồng ($ 241) cho mỗi học kỳ, trong khi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có mức học phí là 2,2 triệu đồng ($ 137,50) một năm ( “Học phí Trường học”, 2008). Tự do hóa thương mại tuân theo GATS có khả năng làm gia tăng tình trạng này.   Kết luậnNói tóm lại, như lập luận của Bubtana (2007), nếu không có các điều khoản hạn chế trong biểu cam kết của GATS, “GDĐH sẽ được từng bước chuyển đổi từ một dịch vụ công sang dạng hàng hóa có thể mua bán được mở ra để cạnh tranh” (phần IV.1, ¶ 3). Hệ thống GDĐH sẽ có nguy cơ bị đồng nhất, vì vậy mà không làm tròn trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và nuôi dưỡng sự phát triển của nền văn hóa quốc gia (Butana, 2007; Powar, 2005). Việc kiểm soát chương trình giảng dạy, hiện đang thuộc trách nhiệm của Bộ GD&ĐT, cũng có thể bị ảnh hưởng khi thương mại đang được tự do hóa không ngừng.Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với nhiều thách thức trong hiện tại, đó là họ gặp khó khăn khi thông hiểu giá trị của việc lập kế hoạch chiến lược trong từ 5 đến 10 năm tới. Tuy nhiên, đây là thời điểm để Việt Nam bắt đầu chuẩn bị đàm phán GATS và phải lường trước các tác động tiềm ẩn của chúng lên GDĐH. Các nhà cung cấp dịch vụ GDXBG đang hoạt động tại Việt Nam vì vậy, đã đến lúc phải phát triển một chính sách GDĐH quốc gia và khung quy định hướng đến những mối quan tâm đã được đề cập ở trên, và các vấn đề về chất lượng  Giáo dục xuyên biên giớiLee (2005), Điều phối viên của chương trình Cải tổ giáo dục để phát triển của châu Á và Thái Bình Dương (APEID / UNESCO), phát biểu rằng các yếu tố khác đang nhắm đến GDXBG và sẽ tiếp tục như vậy “bất kể GATS trong thời gian ngắn”; GDXBG  là một “ngành công nghiệp hàng tỉ đô” (trang 103). Vì vậy, các quốc gia cần phải đối phó với nhiều vấn đề và thách thức đi cùng với GDXBG: “Ví dụ, các chính sách liên quan đến bảo đảm chất lượng (QA), kiểm định và công nhận trình độ quan trọng hơn GATS” (Lee, 2005, trang 103). Tuy nhiên, các tranh luận trong bài viết này cho rằng việc phân tích và tập trung vào các thách thức liên quan đến GDXBG là nhằm chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc đàm phán GATS trong tương lai; hai hành động phải được gắn kết với nhau. Để làm rõ khái niệm về GDXBG, UNESCO (2004) đã tiến hành một phân biệt quan trọng giữa khái niệm không biên giới thường được sử dụng và khái niệm xuyên biên giới. Khái niệm không biên giới đề cập đến việc làm mờ nhạt đi các biên giới truyền thống trong GDĐH, được hiểu là theo nghĩa khái niệm, quy tắc, và đường phân ranh giới địa lý. Khái niệm xuyên quốc gia thừa nhận việc dịch chuyển của GDĐH băng qua các rào cản pháp lý; quốc gia duy trì các trách nhiệm thuộc về quy định, đặc biệt trong lĩnh vực chất lượng, tiếp cận, và tài chính (UNESCO, 2004). Hơn nữa, GDXBG bao gồm việc di chuyển của sinh viên, nhân viên, kiến thức, chương trình giáo dục, và cơ sở giáo dục từ quốc gia này sang quốc gia khác, có thể là thực tế, có thể là ảo (Knight, 2003; Lee, 2005). GDĐH xuyên biên giới đang trên đường tăng trưởng, tạo ra sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước dành cho sinh viên, và các chương trình trao đổi dành cho học sinh và học giả. Ngoài ra, còn một số quan tâm khác, đó là việc ngày càng nhiều chuyên gia và người tốt nghiệp chất lượng cao đến làm việc tại các quốc gia khác trong khi chính những người này có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ cải thiện hệ thống giáo dục trong nước (ví dụ, chảy máu chất xám) (Knight, 2003, UNESCO, 2004).  Tuy nhiên “tâm điểm của cuộc tranh luận” là vấn đề về chất lượng và kiểm định (Knight, 2003, trang 22). Tất cả các sản phẩm giáo dục có thể được tự do xuất khẩu và việc xây dựng các quy định thương mại ở các cơ sở GDĐH, chương trình, bằng cấp, và chứng chỉ xuyên biên giới trở nên khó khăn. Một vấn đề có liên quan đến sinh viên, phụ huynh, người sử dụng lao động, và công chúng nói chung là sự mù mờ về giá trị của bằng cấp được cấp thông qua các chương trình được nhập từ nước ngoài và khả năng chấp nhận của họ đối với thị trường lao động (UNESCO, 2004). Vì vậy, làm sao để tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu các rủi ro nảy sinh từ tự do hóa thương mại trong giáo dục là một thách thức, và việc phát triển các tiêu chuẩn cho hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định hướng đến các nhà cung cấp dịch vụ và chương trình nước ngoài là một bước quan trọng (UNESCO, 2005).   Việc thực hiện GDXBG tại Việt NamViệt Nam cần nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác là thành viên của WTO, và phát triển kế hoạch giúp cho GDĐH tiến lên phía trước theo cách tốt nhất. Như lập luận của Le và Ashwell (2004) khi theo dõi các hình thức giáo dục ngoài công lập, thay vì tổ chức nhiều hội thảo với “các vấn đề nóng hổi” liên quan đến các quy định tạm thời, “Việt Nam cần phải tiếp cận thực tế và chủ động nhiều hơn nữa để học tập những thành công cũng như sai lầm của nước khác theo truyền thống so sánh giáo dục phù hợp nhất “(¶ 11). Hơn nữa, Việt Nam cần tham gia vào nỗ lực đảm bảo chất lượng GDĐH trong khu vực và trên toàn thế giới bởi vì chất lượng GDĐH liên quan đến kiến thức, kỹ năng, và thực hành đánh giá trong học thuật, vốn được xem là vấn đề toàn cầu. Khi các chuyên gia trong lĩnh vực bảo đảm chất lượng giáo dục gặt hái được những kiến thức mới mẻ từ kinh nghiệm địa phương và toàn cầu liên quan đến xu hướng phát triển, những thay đổi về phương pháp đánh giá sẽ xuất hiện. Việt Nam cần nhanh chóng trong việc phát triển, bồi dưỡng chuyên gia ở lĩnh vực này. Như tuyên bố của UNESCO (2005):Chất lượng của lĩnh vực GDĐH của một nước và việc đánh giá và giám sát không những quan trọng đối với tình hình kinh tế và xã hội mà nó còn là một yếu tố xác định ảnh hưởng đến tình trạng của hệ thống GDĐH đó trên phạm vi quốc tế (trang 9)    Chính sáchCác lực lượng, quy trình, và nhu cầu toàn cầu hóa, WTO, và GDXBG rất cần thiết cho GDĐH Việt Nam để phát triển kế hoạch chiến lược nhằm xác định mục tiêu, mục đích, và thời gian biểu,  khẳng định tốt hơn vị trí của mình trên trường quốc tế. Việc nâng cao mối quan tâm đến chất lượng, kiểm định, sự đa dạng hóa và các vấn đề liên quan khác là bước chuẩn bị quan trọng để thực hiện các quyết định chính sách công khai. Đứng từ phương diện Việt Nam, việc hòa nhập vào thị trường giáo dục thế giới đồng nghĩa với việc Việt Nam phải không chỉ theo kịp sự phát triển, mà còn đóng góp cho nền giáo dục toàn cầu. Ví dụ, chính phủ có kế hoạch phát triển ít nhất là 5 trường đại học nằm trong bảng xếp hạng “100 trường hàng đầu trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và thu hút 15.000 học sinh” (“Ngành Giáo dục”, 2008, ¶ 10). Chính phủ Việt Nam đã ban hành một kế hoạch cải cách với 32 mục tiêu cụ thể góp phần hình dung một hệ thống GDĐH lớn hơn và tốt hơn vào năm 2020. Tuy nhiên, như Hayden và Thiep (2006) từng có ý kiến, kế hoạch đó không cung cấp bất kỳ một hướng dẫn nào về cách thức triển khai kế hoạch, kinh phí triển khai hoạt động ra sao hay làm sao để ưu tiên thực hiện các mục tiêu đề ra. Tương tự như vậy, Bộ GD&ĐT còn dự định đào tạo 20.000 Tiến Sĩ vào năm 2020 (Marine, 2007; Wasley, 2007), và theo Phó thủ tướng, 10% sẽ được gửi ra nước ngoài để học tiến sĩ và 15% cho thạc sĩ (“Bùng nổ trường Đại học,” 2008). Tuy nhiên, để thực hiện một sự thay đổi có trình tự, việc lập kế hoạch chiến lược cần phải được nhìn nhận lớn hơn một tầm nhìn, nó phải bao gồm các hành động và các nhiệm vụ được giao để triển khai thực hiện, thời gian biểu thực tế để thực hiện các mục tiêu ưu tiên, và phải xác định được rõ ràng các cách thức để có thể đánh giá kết quả đạt được. Cũng cần phải xác định được vai trò của các yếu tố mà GDXBG nên có để phát triển số lượng, chất lượng và sự công nhận khu vực cũng như quốc tế của GDĐH Việt Nam.   Pháp luậtMột vấn đề quan trọng là các quy định trong Luật Giáo dục đối với các vấn đề có liên quan đến nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, vì đây là định hướng giúp triển khai các quy định. Vì GDXBG khá mới mẽ và không được định nghĩa một cách rõ ràng ở Việt Nam, nên việc xây dựng các lộ trình chuyển tiếp hay thiết lập các quy định gặp nhiều khó khăn. Ở một quốc gia nơi các cơ sở GDĐH chỉ được ủy quyền để thực hiện những quy định, thì việc thiếu vắng các quy định hay có quy định nhưng lại quá trừu tượng và cần phải được giải thích nhiều hơn nữa sẽ là một trở ngại. Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá kinh tế và tăng tốc độ cải cách của chính phủ, các chính sách kinh tế sẽ thay đổi, các phương pháp tiếp cận mới nhằm phát triển nguồn nhân lực sẽ được yêu cầu và sẽ cần thiết để có một hệ thống GDĐH tiện lợi hơn nhằm hỗ trợ những thay đổi này (Oliver, Phạm, Elsner, Nguyễn, & Đô (2009).Vì vậy, Luật Giáo dục và các quy định nên làm rõ các nguyên tắc và cách thức hoạt động của các cơ sở GDĐH Việt Nam trong mối quan hệ với nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, cũng như nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như các cá nhân độc lập.Hiện nay, Luật Giáo dục có một quy định liên quan đến hai thành phần của GDXBG, nhưng nó là khá chung chung: (a) người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài được chính phủ khuyến khích giảng dạy, học tập, cộng tác, sử dụng và chuyển giao khoa học có thể làm việc tại Việt Nam và ( b) hợp tác để xây dựng các cơ sở giáo dục tại Việt Nam với người Việt Nam ở nước ngoài hay người nước ngoài phải tuân thủ các quy định của chính phủ. Các luật lệ, quy định, và giám sát phải được phát triển để ngăn chặn bị lạm dụng bởi những người nhìn nhận GDXBG và tư thục “như là một thị trường sinh lợi có thể mua bán và như loại hàng hoá có giá trị được bán cho người trả giá cao nhất” (Ashwill, 2005, p . 69)  Quy địnhKnight (2002a), phát biểu rằng các quốc gia cần phải xây dựng một khuôn khổ các quy định hướng đến sự đa dạng các nhà cung cấp và hình thức truyền tải được GDXBG giới thiệu và sự tăng trưởng trong thương mại quốc tế. Khuôn khổ này nối quy định với chính sách quốc gia và sự bảo vệ công chúng thông qua việc “cấp giấy phép, quy định, giám sát, cả nhà cung cấp tư nhân (lợi nhuận và phi lợi nhuận) và nước ngoài” (Knight, 2002a, trang 7). Việt Nam đã có kinh nghiệm trong việc không thể giám sát chất lượng của các chương trình giáo dục nhập khẩu. Một bài học được rút ra từ trường Đại học Quốc tế châu Á Đài Loan là, sau năm năm hoạt động, trường Đại học này bị phát hiện là một tổ chức lừa đảo và hơn 2000 sinh viên và gia đình theo học trường này bị mất đến “hàng trăm ngàn đô-la” (Ashwill, 2005, trang 68). Một trường hợp khác có thể nhìn thấy rõ ràng là công ty American Capital, khi liên kết hợp tác đào tạo với Trung tâm Đào tạo Quản lý cao cấp của Singapore, cung cấp chương trình đào tạo Thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) đã lừa các sinh viên Việt Nam lấy đi hàng ngàn đô-la (Ashwill, 2006). Vì vậy, các chương trình đào tạo có sự liên kết của các cơ sở GDĐH trong và ngoài nước ở Việt Nam cần được kiểm soát. Các quy định về đăng ký và giám sát liên tục của các chương trình đào tạo do các tổ chức nước ngoài cung cấp, đặc biệt là các chương trình đào tạo trực tuyến chưa được xác định rõ ràng. Ngoài ra, vẫn chưa thành lập được đơn vị chuyên trách việc theo dõi, giám sát các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và phát triển kịp thời các chính sách quản lý của nhà nước. Theo VietNamNet (“Khía cạnh khác”, 2009), Lê Quang Minh, Phó Giám Đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đã đề nghị rằng dòng chảy của các cơ sở giáo dục nước ngoài vào Việt Nam nên được kiểm soát thông qua việc thành lập một văn phòng trực thuộc Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm cấp phép cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài và buộc họ, và các đối tác Việt Nam, chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục của mình. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đạt được những kinh nghiệm trong xây dựng các quy định từ đầu những năm 1980 và 1990, bao gồm Hồng Kông, nước triển khai thực hiện Quy định GDĐH và Chuyên nghiệp không địa phương vào năm 1997 (French, 2002). Malaysia đã triển khai thực hiện các quy định nhằm kiểm soát các nhà cung cấp nước ngoài, Indonesia, yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải có giấy phép, Trung Quốc có quy định yêu cầu rằng các nhà cung cấp nước ngoài phải trải qua nhiều bước và hợp tác với một cơ sở giáo dục trong nước, và Hội đồng Giáo dục kỹ thuật Ấn Độ đã ban hành các quy định kiểm soát việc tiếp cận và hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục kỹ thuật nước ngoài (Powar, 2005). Các quốc gia nhập khẩu có quyền yêu cầu các quốc gia xuất khẩu giáo dục cung cấp cho các chế độ đảm bảo chất lượng cho các hệ thống GDĐH của mình khi thực hiện các dịch vụ giáo dục ở các quốc gia khác, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, và Úc đã có loại chế độ này (OECD, 2003).Nhiều quốc gia yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải được kiểm định ở nước của họ trước khi cho phép nhập cảnh vào nước chủ nhà, Trung Quốc, đòi hỏi nhà cung cấp phải được cả hai quốc gia công nhận (Varghese, 2007). Những tiền đề cơ bản theo phương pháp của Trung Quốc, cũng có thể phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, đó là GDXBG nên được sử dụng như là phương tiện để nâng cao chất lượng các cơ sở GDĐH quốc gia (Varghese, 2007). Tuy nhiên, hiện nay không có tiêu chuẩn chất lượng chung giữa Việt Nam và các quốc gia khác là cơ sở để đánh giá hay kiểm định. Vẫn còn tồn tại sự khác nhau khi thực hiện sứ mạng, đánh giá kết quả học tập, và công nhận giá trị bằng cấp. Thêm vào đó, một số vấn đề đã được nảy sinh, chẳng hạn như sự khác biệt trong các chương trình đào tạo là những trở ngại cho tiến trình hội nhập. Kiểm định chất lượng GDĐH Việt Nam mới được thực hiện từ năm 2004, và tiếp tục phát triển các tiêu chuẩn và quy trình của nó ở các trường đại học công lập và một số ít các trường dân lập/tư thục thông qua việc tự đánh giá và đánh giá ngoài. Điều này kết hợp với việc thiếu liên kết với các hệ thống kiểm định GDĐH khu vực và toàn cầu làm cho không ít quốc gia thiếu tự tin về các tiêu chuẩn GDĐH Việt Nam. Việc thiếu kinh nghiệm và đào tạo theo các hệ thống đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục, bao gồm đánh giá chương trình đã gây ra nhiều khó khăn. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong chất lượng giáo dục và việc thiếu các quy định bảo vệ người tiêu dùng đối với các chương trình đào tạo nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài cung cấp các chương trình giáo dục kém chất lượng, gây tác động tiêu cực lên người học.Việc thiếu các hệ thống thông tin đáng tin cậy, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu về mức độ hài lòng của người học, việc làm của sinh viên tốt nghiệp, và sự hài lòng của người sử dụng lao động gây ra không ít khó khăn khi đánh giá và xác nhận các kết quả đào tạo của GDĐH nói chung. Hơn nữa, ngoài những khó khăn nội bộ, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức bên ngoài, chẳng hạn như thiếu hiểu biết về tính tin cậy của nhà cung cấp dịch vụ giáo dục từ các quốc gia xuất khẩu. Kết quả là, các sinh viên tự tìm kiếm thông tin về nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài, và thậm chí ngay cả khi các đơn vị giáo dục đang hoạt động tại Việt Nam thì cũng không có gì đảm bảo về mặt chất lượng. Chính phủ, phụ huynh và sinh viên hy vọng rằng một tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng giáo dục sẽ được triển khai tại Việt Nam giúp hình thành các mối quan hệ giữa các cơ sở GDĐH Việt Nam và các đơn vị giáo dục nước ngoài nhằm mục đích xây dựng các chương trình đào tạo chất lượng cao. Quy định GDĐH và Chuyên nghiệp ngoài Địa phương của Hồng Kông có thể được xem như là một mẫu hình cho Việt Nam khi thực hiện những việc này. Các nhà cung cấp GDXBG cần phải áp dụng hình thức đăng ký và cung cấp các thông tin chi tiết về khóa học, hình thức chuyển tải, các yêu cầu dành cho sinh viên, nhân viên, và cơ sở vật chất suốt quá trình đăng ký. Thông tin này phải luôn có sẵn cho các sinh viên và các bên liên quan khác. Những người được khuyên là chỉ nên tham gia vào các khóa học khi các khóa học này có mã số đăng ký. Hơn nữa, thông tin về các khóa học của nhà cung cấp nước ngoài và các đối tác địa phương phải được đăng trên Trang web Đăng ký các ngoài Địa phương (McBurnie & Ziguras, 2001). Lee (2005), khi xác định bốn nhu cầu thiết yếu liên quan đến GDXBG ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, đã tóm tắt lại những nhu cầu về quy định ở Việt Nam: (a) cải thiện việc bảo vệ các sinh viên tránh khỏi các cơ sở giáo dục và các chương trình cấp bằng kém giá trị, (b) phát triển cơ sở dữ liệu cho các cơ sở GDĐH được công nhận, (c) thiết lập và củng cố các mối liên kết với các tổ chức kiểm định và chất lượng và các tổ chức chuyên nghiệp trong khu vực và quốc tế.   Giáo dục và văn hóa-xã hội Một trong những mối quan tâm liên quan đến GDXBG và giáo dục tư nhân là các nhà cung cấp sẽ chỉ cung cấp các khóa học với số môn học hạn chế có thể cần thiết công việc sau này. Các lĩnh vực thu hút sinh viên ở Việt Nam là: “Tiếng Anh, kinh doanh, quản lý, vi tính, và công nghệ” (Varghese, 2007, trang 18). Hai câu hỏi được Varghese (2007) nêu ra là liệu cách tiếp cận này có dẫn đến sự mất cân đối trong phát triển GDĐH không và thị trường lao động có trở nên bão hòa trong các lĩnh vực này dẫn đến tình trạng người được đào tạo thất nghiệp không? Powar (2005) đề nghị GDXBG, đặc biệt là khi được GATS thúc đẩy, cũng có thể tạo ra một hình thức mới của chủ nghĩa tinh hoa. Những sinh viên có điều kiện đi du học sẽ có thể tham gia vào các chương trình, mà không quá đặt nặng vấn đề giá trị trí tuệ mà kết quả có nghề nghiệp tốt hơn.Tất nhiên, GDXBG cũng tạo điều kiện để phát triển hơn nữa GDĐH tại Việt Nam. Ngôn ngữ chiếm ưu thế tại Việt Nam là tiếng Việt, nhưng không giống như Tiếng Anh, Tiếng Pháp, và các ngôn ngữ khác, Tiếng Việt không được người nước ngoài sử dụng thường xuyên và dễ dàng. Vì vậy, nhiều ngoại ngữ được sử dụng để giảng dạy, và Tiếng Anh phổ biến như một ngôn ngữ chính hay phụ đối với nhiều người làm kinh doanh với Việt Nam. Tương tự như vậy, giao lưu văn hóa cần được tăng cường thông qua GDXBG để chuẩn bị cho sự đa dạng hoá, là yếu tố không thể thiếu của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập. “Khủng hoảng văn hóa” xảy ra khi Việt Nam đối mặt với những khác biệt nổi bật giữa các giá trị tập thể và cá nhân. Đồng thời, các cơ sở GDĐH Việt Nam nên tạo điều kiện cho sinh viên và giảng viên nước ngoài các cơ hội giao lưu văn hoá.Tóm lại, bằng cách sử dụng các thuật ngữ của việc lập kế hoạch chiến lược, GDXBG đồng thời đưa ra cơ hội và thách thức. Bằng việc đảm bảo chất lượng cao, tham gia bình đẳng vào GDĐH, và việc cung cấp các chương trình mang lại những lợi ích đáng kể cho sinh viên và Việt Nam, các cơ hội được thực hiện nhằm cải thiện hệ thống GDĐH. Tuy nhiên, nếu sự phát triển của GDXBG không được giám sát một cách cẩn thận để đảm bảo chất lượng và tính hợp lý, nó sẽ trở thành thách thức đối với các nỗ lực của quốc gia hướng đến việc cải thiện hệ thống GDĐH và và được quốc tế công nhận. Thách thức, đó là phải quy định đủ, nhưng không quá nhiều để đẩy các nhà cung cấp GDXBG đi xa (Varghese, 2007).    Tài chính.Trường Đại học Việt- Đức được mở ở Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9/ 2008 với mức đầu tư 450.000 euro. Theo Vietnam News (“Trường Đại học mới”, 2008), trường đại học này “sẽ giúp thúc đẩy việc học Tiếng Đức và văn hóa Việt Nam, góp phần vào việc trao đổi sinh viên và giảng viên, cũng như mang lại những lợi ích lâu dài cho cả hai bên “(¶ 7). Vietnam News ( “Japan, ADB, 2008) cũng thông báo rằng Nhật Bản và Ngân hàng Phát triển Châu Á sẽ cung cấp nguồn vốn là 4 triệu đô la, cho việc nghiên cứu tính khả thi để xây dựng bốn trường đại học quốc tế, tập trung vào nghiên cứu khoa học và công nghệ mẫu. Ngoài ra, nghiên cứu này nhằm hỗ trợ việc thiết một khuôn khổ chính sách và quy định nhằm đáp ứng hơn nữa “mục tiêu của Chính phủ Việt Nam trong việc tạo ra nền GDĐH nhiều sáng tạo, cạnh tranh quốc tế, và phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động” (Japan, ADB, “2008, ¶ 3 ). Mục tiêu xây dựng các trường đại học hàng đầu làm nảy sinh ít nhất hai mối quan tâm, đó là khả năng chống đỡ và sự tác động đến các trường đại học công lập khác tại Việt Nam. Như đã nêu ở trên, một trong những thách thức của Việt Nam là việc thiếu các giảng viên có trình độ cao và sẽ mất nhiều thời gian và tiền của để khắc phục điều này. Hơn nữa, khi tài chính được tăng lên ở lĩnh vực này, nó có thể sẽ giảm ở lĩnh vực khác; do vậy, các cơ sở giáo dục ít có uy tín có thể phải đương đầu với các thách thức về tài chính lớn hơn nhiều so các thách thức khác mà họ đang phải đối mặt.   Khuyến nghị và Kết luậnDựa trên những phân tích các vấn đề tiềm ẩn liên quan đến GATS, các mối quan tâm hiện tại liên quan đến GDXBG tại Việt Nam ngày nay, và bối cảnh GDĐH, một số kiến nghị được đặt ra. Các khuyến nghị này nêu rõ rằng trách nhiệm và hành động của Chính phủ và của các cấp cơ sở GDĐH phải được phối hợp và kết nối.Chính phủ nên thiết lập một lộ trình cấp phép cho các cơ sở GDĐH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam một cách hiệu quả, minh bạch, công bằng và toàn diện, bao gồm cả các chương trình đào tạo trực tuyến. Đồng thời, cần phát triển và thực hiện các quy định, hướng dẫn, và các biện pháp đánh giá thích hợp nhằm bảo vệ sinh viên tránh khỏi việc theo học các chương trình chất lượng thấp do các cơ sở trong và ngoài nước cung cấp tại Việt Nam. Hơn nữa, bên cạnh việc tăng cường bảo vệ, nhất thiết phải củng cố hệ thống GDĐH bằng việc nâng cao các quyền lợi GDXBG thông qua việc thiết lập các chính sách thích hợp để giảm thiểu tình trạng chảy máu chất xám đối với các lưu học sinh nước ngoài và thu hút thu hút nhân tài trở về Việt Nam. Lực lượng các chuyên gia đảm bảo chất lượng phải được đào tạo để triển khai việc kiểm định chất lượng tại Việt Nam. Hiện nay, hầu hết các cơ sở GDĐH chỉ tập trung vào việc tuân thủ các tiêu chuẩn cụ thể về kiểm định chất lượng và họ chưa thật sự quan tâm đến việc cải thiện chất lượng và tự đánh giá liên tục. Rất cần thiết phải có một phương cách thống nhất để hướng dẫn và cung cấp những sự trợ giúp chuyên nghiệp đến các cơ sở GDĐH nhằm thúc đẩy quá trình tiến đến đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định phù hợp với định hướng chung.  Các hiệp hội kiểm định giáo dục độc lập phải được thành lập để đảm bảo tuân thủ các các tiêu chuẩn và quy định kiểm định trên toàn hệ thống GDĐH. Các hiệp hội này sẽ góp phần (a) cung cấp những thông tin chính xác về các cơ sở GDĐH được kiểm định, và (b) tạo động lực phát triển chuyên môn mạnh hơn cho các cơ sở GDĐH để liên tục duy trì và nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn của hệ thống GDĐH Việt Nam. Việc kiểm định phải được mở rộng đến các cơ sở tư nhân cũng như công lập và cần phải giám sát giá trị của việc bổ sung một tiêu chuẩn kiểm định, hoặc tiêu chí nhắm đến chất lượng của các chương trình hợp tác xuyên biên giới. Hơn nữa, cần theo đuổi các hợp tác quốc tế về đảm bảo và kiểm định chất lượng GDĐH để tăng cường các liên kết giữa các cấp cơ quan chức năng về đảm bảo chất lượng trong nước với các tổ chức kiểm định GDĐH khu vực và toàn cầu. Những liên kết này cũng sẽ tạo điều kiện cho việc công nhận bằng cấp và liên thông tín chỉ (Knight, 2003; của UNESCO, 2005). Chính phủ cần giám sát chặt chẽ hơn các thông tin và các dịch vụ được các cơ sở giáo dục nước ngoài cung cấp để bảo vệ công dân Việt Nam. Cần cải thiện công tác thông báo cho cộng đồng những dữ liệu chính xác và được cập nhật về các nhà cung cấp giáo dục nước ngoài (UNESCO, 2005) và yêu cầu sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài phù hợp (ví dụ như, Viện giáo dục quốc tế) trong việc xác định chất lượng của các nhà cung cấp GDXBG mới thành lập. Các cơ sở GDĐH của Việt Nam cần thiết lập bảng ghi nhớ về sự công nhận lẫn nhau về chất lượng giữa các cơ sở GDĐH trong và ngoài nước. Các cơ sở GDĐH phải thiết kế các chương trình giáo dục linh hoạt cho phép liên kết với các cơ sở GDĐH địa phương và nước ngoài. Vì vậy, nhu cầu cấp thiết là phải (a) triển khai các chương trình đào tạo có cấp chứng chỉ và (b) phù hợp với Kế hoạch Cải cách Giáo dục 2006-2020 (MOET, 2006), để thiết lập hệ thống liên thông tín chỉ giữa các cơ sở GDĐH trong nước được các cơ sở GDĐH ở nước ngoài công nhận.Các cơ sở GDĐH trong và ngoài nước nên cam kết thiết kế các chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Hiện cũng cần phải nâng cao tính minh bạch trong hợp tác và cạnh tranh giữa cơ sở GDĐH Việt Nam và nước ngoài. Trong hướng dẫn của UNESCO (2005) đề nghị cần phải minh bạch cả về tình hình tài chính và các chương trình học thuật mà trường đang cung cấp. Thông tin về các cơ sở GDĐH tại Việt Nam phải được cải tiến và cập nhật một cách chính xác, đầy đủ. Các tổ chức và cơ sở xuất khẩu giáo dục cũng phải có trách nhiệm đảm bảo cung cấp các thông tin có chất lượng liên quan đến các chương trình giáo dục của mình và liên kết đa quốc gia. Việc tăng cường tính minh bạch cũng sẽ giúp người sử dụng lao động có những hiểu biết nhất định về bằng cấp của các sinh viên tốt nghiệp. Tóm lại, WTO đang xúc tiến việc mở cửa cho Việt Nam gia nhập vào thương mại thế giới, các vòng đàm phán GATS đang trên lộ trình thực hiện, và GDXBG đã được thực hiện. Toàn cầu hoá phải được quan tâm phân tích, lập kế hoạch, và phối hợp với địa phương, phù hợp với các phản hồi trong bối cảnh thực tế nhằm đảm bảo rằng những cải cách GDĐH Việt Nam phục vụ tốt nhất lợi ích của quốc gia. Và như lập luận của Knight (2002), “thẩm quyền bảo đảm chất lượng, quy định, kiểm định đối với các hình thức chuyển giao xuyên biên giới cần phải được các tổ chức và thành phần có liên quan đến giáo dục kiểm tra và hướng dẫn và không còn nằm trong tay của các cán bộ thương mại hay thị trường” (trang 8). Bằng việc ngay từ bây giờ phải xây dựng một khung chương trình hành động có lợi cho GDXBG trong khi vẫn bảo vệ các chuẩn mực để hạn chế các mối đe dọa về sự xuống cấp chất lượng, Việt Nam sẽ trở nên có kinh nghiệm hơn và chuẩn bị tốt hơn cho đàm phán GATS liên quan đến GDĐH trong tương lai.  Người dịch: ThS. Hồ Đắc Hải Miên  —————–* Trường Đại học Ban California, Fresno** Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. HCM   Tài liệu tham khảo  American Council on Education (ACE). (2008). GATS-General Agreement on Trade in Services: An overview of higher education and GATS. Retrieved on September 23, 2008 from http://www.acenet.edu/AM/Template.cfm?Section=Search&template=/CM/HTMLDisplay.cfm&ContentID=9164  American Council on Education (ACE). (n.d.). GATS-General Agreement on Trade in Services. Retrieved from http://www.acenet.edu/AM/Template.cfm?Section=Home&Template=/CM/HTMLDisplay.cf   Arnove, R. F. (2003). Introduction: Reframing comparative education: The dialectic of the global and the local. In R. F. Arnove, & C. A. Torres (Eds.). Comparative education: The dialectic of the global and the local (2nd ed.) (pp. 1-23). New York: Rowman & Littlefield Publishers, Inc.Ashwill, M. A. (with Thai, Ngoc Diep). (2005). Vietnam today: A guide to a nation at a crossroad. Boston: Intercultural Press.Ashwill, M. A.. (2006, Summer). US institutions find fertile ground in Vietnam’s expanding higher education market. International Higher Education, 44. Retrieved from http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/ newsletter/Number44/p13_Ashwill.htmBloom, D. E. (2002, September 19). Mastering globalization: From ideas to action on higher education reform. Paper presented the University of Laval conference on “Globalisation: What Issues Are at Stake for Unvierities”, Quebec Canada. Retrieved on August 28, 2008 from http://www.bi.ulaval.ca/ Globalisation-Universitites/pages/actes/BloomDavid.pdfBoom of universities leads to staff shortage. (2008, September 16). Vietnam News. Retrieved from http://vietnamnews.vnanet.vn/showarticle.php?num=01EDU160908Bubtana, A. R. (2007, May). WTO/GATS: Possible implications for higher education and research in the Arab states. Paper presented at the UNESCO Regional Seminar “The Impact of Globalization on Higher Education and Research in the Arab States,” Rabat, Morocco. Retrieved from http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001577/157789e.pdf  Carnoy, M. (2005). Globalization, educational trends and the open society. Open Society Institute Education Conference 2005. Retrieved on June 19, 2008 from http://www.soros.org/initiatives/esp/articles_publications/articles/globalization_20060217/carnoy_ english.pdfDoan, Dung Hue. (2005). Moral education or political education in the Vietnamese education system? Journal of Moral Education, 34(4), 451-463.Education sector gets $24 billion. (2008, September 16). Vietnam News, XVIII(6127), 1-2.French, N. J. (2002). Regulation of Transnational Higher and Professional Education –the Hong Kong approach. Paper prepared for CHEPS-SEAMEO Course, University of Twente, October 2002.Hayden, M., & Lam, Quang Thiep. (2006). A 2020 vision for higher education in Vietnam. International Higher Education, 44. Retrieved August 14, 2006 from http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number/p11_Hayden_Thiep.htmJapan, ADB help develop education. (2008, September 11). Vietnam News, XVIII(6113), 2.Knight, J. (1999). Internationalisation of higher education. In OECD (Ed.), Quality and internationalization in higher education (pp. 13-28). Paris: AuthorKnight, J. (2002a, September 20). The impact of trade liberalization on higher education: Policy implications. Paper presented at the University of Laval conference on “Globalisation: What Issues Are at Stake for Unvierities”, Quebec Canada. Retrieved on August 28, 2008 from http://www.bi.ulaval.ca/ Globalization-Universities/pages/actes/JaneKnight.pdfKnight, J. (2002b). Trade in higher Education Services: The implications of GATS. UNESCO. Retrieved from http://www.unesco.org/education/studyingabroad/highlights/global_forum/gats_he/jk_trade_he_gats_implications.pdfKnight, J. (2003, Autumn). Trade in higher education services: The implications of GATS. Kagisano (3), 55-37. Retrieved from http://che.org.za/documents/d000035/CHE_Kagisano_issue3_2003.pdfKnight, J. (2004, April 27-29). Crossborder education in a trade environment: Complexities and policy implications. Proceedings of Accra Workshop on GATS: The implications of WTO/GATS for higher education in Africa. Retrieved on August 23, 2008 from http://aau.org/wto-gats/papers/gatproceddings.pdf#page=67Le, Long, S. (2007, June 23). Vietnam’s generation split. Asia Times. Retrieved March 22, 2008 from http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/IF23Ae01.htmlLe, Minh Ngoc, & Ashwill, M. A. (2004). A look at nonpublic higher education in Vietnam. International Higher Education (36). Retrieved from http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/News36/ text009.htmLee, M. N. N. (2005). Cross-border education in Asia and the Pacific Region: International framework for qualifications. In UNESCO Forum Occasional Paper Series 8. Retrieved from http://unescodoc.unesco.org/images/0014/001467/146737E.pdfMarginson, S., & Rhoades, G. (2002). Beyond national states, markets, and systems of higher education: A glonacal agency heuristic. Higher Education, 43, 281-309.Marine, M. W. (2007). Challenges of higher education in Vietnam: Possible roles for the United States. Retrieved from http://vietnam.usembassy.gov/ambspeech080607.htmlMcBurnie, G., & Ziguras, C. (2001). The regulation of transnational higher education in Southeast Asia: Case studies of Hong Kong, Malaysia and Australia. Higher Education, 42(1), 85-105.Mills, A. (2008, September 26). Emirates look to the West for prestige. The Chronicle of Higher Education, LV(5), A1, A23-A24.Ministry of Education and Training (MOET). (2006). Technical assistance for preparation of the Higher Education Project No 2: Pre-feasibility report. Hanoi, Vietnam: Author.Ministry of Education and Training (MOET). (2007). So lieu thong ke giao duc [Statistics on education]. Retrieved on January 24, 2007 from http://www.edu.net.vn/Data/ThongKe/dhcd.htm Ministry of Education and Training (MOET). (2008a). So lieu thong ke giao duc [Statistics on education] Retrieved from http://edu.net.vn/thongke/dhcd.htm#truong.  Ministry of Education and Training (MOET). (2008b). Summary report of MOET for the 2006-2007 academic year. Report presented at a conference on the National University Entrance Examination, Ho Chi Minh City, 5 January 2008.New university to boost German co-operation. (2008, September 9). Vietnam News, XVIII(6122), 1 and 4.Nguyen, Kim Dung (2006, July 12). WTO and Vietnam Education System – A Perspective from A Researcher. A speech delivered at the Baria-Vungtau Department of Education and Training, Vietnam.Nguyen, Kim Dung, Oliver, D. E., & Priddy, L. E. (in press). Criteria for accreditation in Vietnam’s higher education: Focus on input or outcome? Quality in Higher Education.Oliver, D. E., Pham, Xuan Thanh, Elsner, P. A., Nguyen, Thi Thanh Phuong, & Do Quoc Trung. (2009). Globalization of higher education and community colleges in Vietnam. In R. Raby, & E. Valeau (Eds.), Community college models: Globalization and higher education reform. Springer Publishers.  Organization of Economic Cooperation and Development (OECD). (2003, November). Enhancing consumer protection in cross-border higher education: Key issues related to quality assurance, accreditation and recognition of qualifications. Paper on outcomes of the OECD/Norway Forum on Trade in Educational Services: Managing the internationalisation of post-secondary education, Tronheim, Norway.  Powar, K. B. (2005, April). Implications of WTO/GATS on higher education in India. Presented at the UNESCO Regional Seminar on the Implications of WTO/GATS on Higher Education in Asia and the Pacific, Seoul, Republic of Korea.  Raychaudhuri, A., & De, P. (2007). Barriers to trade in higher education services: Empirical evidence from Asia-Pacific countries. Asia-Pacific Trade and Investment Review, 3(2), 67-88. Retrieved on October 10, 2008 from http://www.unescap.org/tid/publication/aptir2470_ajitava_prabir.pdf  Resolution on Fundamental and Comprehensive Reform of Higher Education in Vietnam 2006-2020 (HERA). (2005). (Nguyen Thi Thanh Phuong, Unofficial Trans.). Available from University of Social Sciences and Humanities, International Relations Office, 10-12 Dinh Tien Hoang, District 1, Ho Chi Minh City, Vietnam.School tuition fee system revamped. (2008, October 6). Vietnam News. Retrieved from http://vietnamnews.vnanet.vn/showarticle.php?num=02EDU061008Schriewer, J., & Martinez, C. (2004). Constructions of internationality in education. In G. Steiner-Khamsi (ed). Global politics of educational borrowing and lending, pp. 29-53. New York: Teachers College Press.Suarez-Orozco, M. M., & Qin-Hilliard, D. B. (2004). Globalization culture and education in the new millennium. Berkeley, CA: University of California Press.Terry, L. S. (2006). Current developments regarding the GATS and legal services: The Hong Kong Ministerial Conference and the Australian Disciplines paper. The Bar Examiner, 75(1), 26-34.The other side of foreign partnerships. (2009, June 15). VietNamNet. Retrieved June 21, 2009 from http://english.veitnamnet.vn/edcation/2009/06/853090.United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). (2004). Higher education in a globalized society: UNESCO education position paper. Retrieved November 24, 2006 from http://www.unesco.org/education/higher_education/guidelines_E_indd. pdfUnited Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). (2005). Guidelines for quality provision in cross-border higher education. Retrieved from http://www.unesco.org/education/hed/guidelinesU.S. Department of State, Bureau of East Asian and Pacific Affairs. (2009). Background note: Vietnam. Retrieved on June 9, 2009 from http://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/4130.htmVarghese, N. V. (2007). GATS and higher education: The need for regulatory policies. Retrieved on from http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001506/150689e.pdfVlk, A., Westerheijden, D., & Wende, M. van der. (2008). GATS and the steering capacity of a nation state in higher education: Case studies of the Czech Republic and the Netherlands. Retrieved on August 28, 2008 from http://www.utwente.nl/cheps/documenten/2008artikelGATS.pdfViet Nam Schedule of Specific Commitments (2007, March 19). World Trade Organization (GATS/SC/142). Retrieved from http://www.wto.org/english/thewto_e/vietnam_e.htWasley, P. (2007, June 29). Vietnamese leaders discuss overhaul of higher education during U.S. visit. The Chronicle of Higher Education 53(43), A41.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học Việt Nam và Thái Lan  qua vài con số      Có dạo, các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam xem xét nhiều mô hình đại học trên thế giới để tham khảo và đi đến cải cách giáo dục. Một trong những nước được nhiều chú ý là Thái Lan, bởi vì thành tựu giáo dục đại học của Thái Lan có thể nói là đáng khen ngợi. Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống giáo dục đại học tương đối hoàn chỉnh. Một số đại học Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáo dục có uy tín ở Á châu, với nhiều sinh viên nước ngoài đến học. Ngay cả các quĩ học bổng quốc tế tuyển sinh Việt Nam cũng có khi gửi sinh viên sang Thái Lan học. Ngày nay, một số đại học lớn của Thái Lan thậm chí còn vươn ra xa thu hút sinh viên từ Việt Nam và các nước trong vùng! Do đó, tìm hiểu hệ thống đại học Thái Lan cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài thông tin có ích.        Nhân đọc một tài liệu về hệ thống giáo dục đại học của Thái Lan, tôi thấy vài con số thú vị, và tóm lược trong bảng dưới đây. Tôi đặt những con số này bên cạnh Việt Nam để chúng ta có vài nét “phác họa” chung cho hai hệ thống giáo dục và nhận ra một số khác biệt đáng chú ý.  Số đại học của Việt Nam trong niên học 2007-2008 là 160 trường, còn Thái Lan là 112 trường. Tính trung bình, cứ 536 ngàn dân chúng ta có một đại học, còn bên Thái Lan, con số này là 569 ngàn dân. Trong số 160 trường đại học Việt Nam, 120 trường (chiếm 75%) là công lập, trong khi đó, tỉ lệ trường công lập của Thái Lan là 78/112 (70%).  Hệ thống giáo dục đại học của Thái Lan có thể chia làm 4 nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm các đại học công lập dưới sự quản lí của Bộ Đại học. Nhóm thứ hai bao gồm các đại học tư nhân cũng chịu sự quản lí của Bộ Đại học. Thật ra, nói là Bộ Đại học quản lí, nhưng trong thực tế thì các đại học này đều tự chủ, và bộ chỉ quản lí định hướng và chính sách chung chứ không can thiệp vào chính sách tuyển sinh hay quản lí của đại học. Nhóm thứ ba là những học viện và trường cao đẳng do các bộ khác (như Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng) quản lí. Nhóm thứ tư là những viện chuyên ngành của các đoàn thể quốc gia hay tổ chức quốc tế (như Viện công nghệ Á châu – Asian Institute of Technology), Đại học Phật giáo Mahamongkut, Đại học Phật giáo Mahachulalongkorn, v.v…          Vài con số về giáo   dục đại học của Việt Nam   và Thái Lan             Chỉ tiêu      Việt Nam (2007-2008)      Thái Lan  (2007-2008)          Dân số      85.789.000      63.724.000                                   Số trường đại học      160      112          Số trường đại học công lập      120      78          Số trường đại học dân lập      40      34                                   Số sinh viên      1.180.547      2.032.461          Sinh viên trong các trường công      1.037.115      1.084.016          Sinh viên trong các trường dân lập      143.432      948.445                                   Số sinh viên tốt   nghiệp      152.272      334.103          Công lập      ?      143.762          Dân lập      ?      190.341                                   Số giảng viên      38.217      59.562          Công lập      34.947      45.429          Dân lập      3.270      14.133                                   Trình độ giảng viên                        Tiến sĩ      5.643      14.099          Cao học      15.421      35.783          “Chuyên khoa”      314      ?          Cử nhân      16.654      9.486                                   Giáo sư      303      ?          Phó giáo sư      1.805      ?                                   Số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế (năm   2009)      959      4.527          Số liệu của Việt Nam có thể download từ trang nhà của Bộ GDĐT. Số liệu của Thái Lan trích từ tài liệu “Higher education in Thailand” của Ủy ban Giáo dục Đại học Thái Lan, năm 2007-2008.   Tuy Việt Nam có nhiều đại học hơn, nhưng số sinh viên thì ít hơn Thái Lan. Trong niên học 2007-2008, Việt Nam có 1,18 triệu sinh viên, chỉ bằng 58% số sinh viên của Thái Lan (2.03 triệu). Số sinh viên tính trên dân số của Việt Nam cũng thấp hơn Thái Lan. Ở Việt Nam, cứ 1.000 dân có 14 sinh viên. Còn ở Thái Lan, tính trung bình có 32 sinh viên trên 1.000 dân.  Tính trung bình, mỗi đại học công lập Việt Nam có 8.643 sinh viên, nhỏ hơn so với đại học công của Thái Lan (có ~14.000 sinh viên). Đại học dân lập Việt Nam thường nhỏ, với số sinh viên trung bình là ~3.600, còn Thái Lan con số này là ~28.000.  Trong niên học 2007-2008, có 152,272 sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học. Con số này bằng khoảng 46% số sinh viên Thái Lan tốt nghiệp.  Tuy Việt Nam có nhiều đại học, nhưng số giảng viên thì ít hơn Thái Lan. Theo thống kê của Bộ GDĐT, năm 2007-2008, có 38.217 giảng viên trong 160 đại học. Trong cùng niên học, Thái Lan có gần 60.000 giảng viên. Tính trung bình, mỗi đại học Việt Nam có 239 giảng viên, chỉ bẳng 45% của Thái Lan (trung bình có 532 giảng viên cho mỗi đại học). Đáng chú ý là số giảng viên cho mỗi đại học tư ở Việt Nam chỉ 82 người, trong khi đó con số này ở Thái Lan là 416 người.  Tuy nhiên, số sinh viên trên mỗi giảng viên giữa hai nước không khác nhau nhiều. Ở đại học Việt Nam, cứ 31 sinh viên thì có một giảng viên (con số này ở đại học dân lập là 44). Ở đại học Thái Lan, con số sinh viên cho mỗi giảng viên là 34 (và đại học tư là 67).  Về trình độ học vấn của giảng viên, có sự khác biệt khá lớn giữa hai nước. Trong số 38.217 giảng viên đại học ở Việt Nam, khoảng 15% có bằng tiến sĩ, 40% thạc sĩ, và 44% cử nhân. Ở Thái Lan, trong số 59.562 giảng viên, số có bằng tiến sĩ là 24%, thạc sĩ 60%, và cử nhân 16% (Biểu đồ 1).          Biểu đồ 1. Phân phối trình độ giảng viên đại học ở Việt Nam   (màu xanh) và Thái Lan (màu tím)          Về năng suất khoa học, Việt Nam cũng thấp hơn Thái Lan. Số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế năm 2009 của Việt Nam là 959 bài, chỉ bằng 21% số bài của Thái Lan (4.527 bài). Chẳng những Việt Nam có số bài báo ít hơn, mà tỉ lệ tăng trưởng cũng thấp hơn Thái Lan. So với năm 2005, con số bài báo khoa học từ Thái Lan tăng gần gấp hai lần, trong khi đó Việt Nam chỉ tăng khoảng 75%.  Nói tóm lại, các dữ liệu thực tế trên đây cho thấy hệ thống giáo dục đại học Việt Nam kém hơn hẳn Thái Lan. Thật vậy, Việt Nam có nhiều trường đại học hơn, nhưng về cơ cấu giảng viên và đầu ra khoa học, thì rất kém so với Thái Lan. Chỉ có 15% giảng viên đại học Việt Nam có bằng tiến sĩ, thấp hơn Thái Lan gần 10%. Ở các nước tiên tiến, khoảng 65-70% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Nói chung, đại học Việt Nam vẫn chủ yếu là cử nhân dạy cử nhân.  Một điều đáng ngạc nhiên là trong số 38.217 giảng viên đại học ở Việt Nam, chỉ có 2.108 người có chức danh giáo sư (303 người) và phó giáo sư (1805). Nói cách khác, số giáo sư và phó giáo sư chỉ chiếm khoảng 5% tổng số giảng viên! Không có con số giáo sư và phó giáo sư ở Thái Lan, nên không thể so sánh cụ thể, tuy nhiên tôi đoán rằng con số của Thái Lan cao hơn so với Việt Nam. Cần nhắc lại rằng Việt Nam đã phong hàm giáo sư và phó giáo sư cho khoảng 8.300 người. Những con số trên cho thấy trong số 8.300 người, chỉ có 1/4 là giảng viên đại học, phần 75% còn lại có lẽ là làm quan chức!  Những con số này còn cho thấy sau 50 năm xây dựng hệ thống đại học, Thái Lan cũng chỉ có khoảng 25% là tiến sĩ (và chỉ 14000 tiến sĩ), trong khi đó Việt Nam có tham vọng đào tạo 23.000 tiến sĩ trong vòng… 10 năm! Dữ liệu này một lần nữa cho thấy tính khả thi của dự án hai vạn tiến sĩ là một dấu hỏi lớn.  Hơn 30 năm trước, các đại học ở miền Nam Việt Nam là những trung tâm đào tạo sinh viên có uy tín trong vùng Đông Nam Á và Á châu nói chung. Thuở đó, có sinh viên từ Đông Nam Á, kể cả Thái Lan, sang Sài Gòn du học. Ngày nay, trong khi một số đại học Thái Lan đang trên đường trở thành “đẳng cấp quốc tế” và thậm chí sang Việt Nam chiêu sinh, còn các đại học Việt Nam thì đang loay hoay tìm kiếm một mô hình phát triển và mong muốn có tên trong danh sách “top 200”. Những dữ liệu mang tính so sánh trên đây cho thấy nếu không có một sự bứt phá trong cải cách giáo dục đại học, giấc mơ “đẳng cấp quốc tế” của chúng ta vẫn chỉ là một giấc mơ lãng mạn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục & đào tạo cấp địa phương ở Việt Nam trên đường hội nhập: THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC      Tốc độ hội nhập v&#224; to&#224;n cầu h&#243;a tr&#234;n thế giới diễn ra ng&#224;y một nhanh khiến gi&#225;o dục đại học Việt Nam (cấp Bộ ng&#224;nh Trung ương) đối diện với 3 vấn đề lớn: – Đại ch&#250;ng h&#243;a gi&#225;o dục đại học, – C&#244;ng bằng, b&#236;nh đẳng trong gi&#225;o dục đại học v&#224; &nbsp;- Việc ứng dụng c&#244;ng nghệ th&#244;ng tin &nbsp;trong gi&#225;o dục đại học. Với gi&#225;o dục &amp; đ&#224;o tạo cấp địa phương (bao gồm c&#225;c trường ĐH, CĐ thuộc tỉnh hoặc sở Gi&#225;o dục &amp; Đ&#224;o tạo quản l&#253;) ngo&#224;i những vấn đề chung họ c&#242;n đang phải giải quyết &nbsp;biết bao vấn đề nan giải kh&#225;c!  Trong b&#224;i tham luận n&#224;y, ch&#250;ng t&#244;i xin tr&#236;nh b&#224;y những vấn đề cơ bản của gi&#225;o dục Đại học cấp địa phương ở Việt Nam trước những cơ hội lớn v&#224; biết bao th&#225;ch thức kh&#244;n lường; từ đ&#243; đề xuất giải ph&#225;p kết nối, tạo nguồn lực đẩy mạnh hợp t&#225;c quốc tế trong Gi&#225;o dục v&#224; Đ&#224;o tạo Đại học ở Việt Nam.    I– Vài nét chấm phá về thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương ở Việt Nam  Khu vực khảo sát: các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.  –    Hiện trạng chủ yếu:   Hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương rất mờ nhạt, gần như chỉ mang tính hình thức theo kiểu “rập khuôn” nặng về mặt hành chính, chưa có những  mô hình năng động đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập giáo dục.  –    Nguyên nhân chính:   Chưa có chiến lược phát triển Giáo dục & Đào tạo thời hội nhập triển khai từ Bộ đến địa phương, Bộ gần như thả nổi, địa phương nào, địa phương ấy lo.  Chỉ đạo phát triển hoạt động quan hệ quốc tế trên lĩnh vực giáo dục còn dàn trải, chưa tạo ra động lực mạnh đủ sức nâng cao tầm hoạt động xúc tiến quan hệ, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục.  Nguồn lực đầu tư cho các hoạt động quan hệ, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục quá ít ỏi, chưa đủ sức tạo ra bước đột phá.  –   Tuy nhiên, hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương có vị trí rất quan trọng, không chỉ làm cơ sở nền tảng phát triển quan hệ, hợp tác quốc tế về giáo dục mà còn là đòn bẩy cho các hoạt động giao lưu văn hóa, xúc tiến trao đổi kinh tế, kêu gọi đầu tư…ở địa phương.     II- Thời cơ và thách thức trên lĩnh vực hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương     –    Thời cơ:  Hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương được “luật hóa” và có chủ trương thực hiện hàng năm của Bộ, có sự lãnh đạo đúng đắn trên quan điểm giao lưu, hội nhập và toàn cầu hóa của Đảng.  Từng bước có sự phù hợp, tăng cường chất lượng, quản lý và cung cấp tài chính cho hoạt động hợp tác quốc tế. Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên có bước chuyển biến thích ứng. Sinh viên đi du học, lưu học sinh Việt Nam ở các nước tăng nhanh ở cả hai  khối: Khối du học bằng ngân sách Nhà nước và khối du học do gia đình tự lo.   –    Thách thức:  Sự phát triển nhanh và yêu cầu ngày càng cao của hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế buộc các trường ĐH, CĐ, địa phương phải nhập cuộc trong điều kiện nội lực còn non yếu, trường nào cũng rập khuôn cho ra đời phòng hợp tác quốc tế (thường ghép với phòng quản lý khoa học) nhưng thực chất không biết làm gì ngoài việc hằng năm lo hồ sơ, thủ tục cho vài ba SV đi du học theo diện ngân sách Nhà nước.  Các hoạt động xúc tiến (trao đổi, giao lưu giảng viên, SV mà chủ yếu là du học và cử các bộ lãnh đạo đi tham quan ngoài nước) có tiến hành nhưng “nhỏ giọt” và lệ thuộc hoàn toàn vào Bộ Giáo dục & Đào tạo.  Sự quan tâm của chính quyền địa phương và các ngành chức năng còn hạn chế, nhiều thủ tục, cơ chế tạo điều kiện hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế quá rườm rà, phức tạp…     II-  Giải pháp đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế ở các trường ĐH cấp địa phương     1-     Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển hợp tác quốc tế về giáo dục.  2-     Nhóm giải pháp về mô hình, tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục.  3-     Hợp tác quốc tế về giáo dục theo hương đa phương, đa dạng hóa.  Để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục và để giảng viên, sinh viên đại học sẵn sàng tiếp cận các mô hình, tổ chức hợp tác quốc tế về giáo dục ĐH cấp địa phương, theo chúng tôi điều tiên quyết là cần xác định rõ lại mục tiêu hợp tác quốc tế về giáo dục. Theo tinh thần đó, trường đại học phải gắn chặt giảng dạy với nghiên cứu khoa học và tăng cường quan hệ, hợp tác quốc tế, trao đổi, giao lưu học thuật. hàng năm chúng ta dành không ít tiền cho các cuộc giao lưu thể thao SV Đại học ngoài nước nhưng chúng ta chưa mạnh dạn đầu tư tương tự như vậy cho công tác quan hệ, hợp tác quốc tế về giáo dục!  Do đó, đi đôi với việc đổi mới phương pháp dạy và học, cần phát huy tối đa  nguồn lực cho công tác hợp tác quốc tế về giáo dục theo hướng tạo ra bước chuyển mình như một cuộc “Duy Tân” thực sự. Từ đó giúp cho người học có thể hấp thu một nền giáo dục chất lượng cao, đặc biệt là rèn luyện cho sinh viên khả năng thích nghi để học tập, nghiên cứu và tìm việc làm cả trong và ngoài nước.   Vai trò của Bộ Giáo dục & Đào tạo, của các trường ĐH lớn và của chính quyền địa phương trong thời hội nhập và toàn cầu hóa cần thay đổi từ chỗ là người truyền quản lý, cấp vốn trở thành người thúc đẩy hỗ trợ quá trình xúc tiến các mối quan hệ, hợp tác quốc tế. Vai trò của công tác quan hệ, hợp tác quốc tế trong trường ĐH sẽ được nâng cao hơn so với trước đây nếu nhà trường được thỏa mãn những đòi hỏi thiết yếu của lĩnh vực công tác đặc thù và còn nhiều hạn chế này ở  các trường ĐH cấp địa phương.   ————-  * Trường Cao đẳng Bến Tre    Author                Quản trị        
__label__tiasang GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CẤP ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP – THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC      Tốc độ hội nhập v&#224; to&#224;n cầu h&#243;a tr&#234;n thế giới diễn ra ng&#224;y một nhanh &nbsp;khiến gi&#225;o dục đại học Việt Nam (cấp bộ ng&#224;nh trung ương) đối diện với 3 vấn đề lớn: – Đại ch&#250;ng h&#243;a gi&#225;o dục đại học, – C&#244;ng bằng, b&#236;nh đẳng trong gi&#225;o dục đại học v&#224; &nbsp;- Việc ứng dụng c&#244;ng nghệ th&#244;ng tin &nbsp;trong gi&#225;o dục đại học. Với gi&#225;o dục &amp; đ&#224;o tạo cấp địa phương (bao gồm c&#225;c trường ĐH, CĐ thuộc tỉnh hoặc sở Gi&#225;o dục &amp; Đ&#224;o tạo quản l&#253;) ngo&#224;i những vấn đề chung họ c&#242;n đang phải giải quyết &nbsp;biết bao vấn đề nan giải kh&#225;c!    Trong bài tham luận này, chúng tôi xin trình bày những vấn đề cơ bản của giáo dục Đại học cấp địa phương ở Việt Nam trước những cơ hội lớn và biết bao thách thức khôn lường; từ đó đề xuất giải pháp kết nối, tạo nguồn lực đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong Giáo dục và Đào tạo Đại học ở Việt Nam.     I– Vài nét chấm phá về thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương ở Việt Nam    Khu vực khảo sát: các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.  –     Hiện trạng chủ yếu:   Hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương rất mờ nhạt, gần như chỉ mang tính hình thức theo kiểu “rập khuôn” nặng về mặt hành chính, chưa có những  mô hình năng động đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập giáo dục.  –    Nguyên nhân chính:   Chưa có chiến lược phát triển Giáo dục & Đào tạo thời hội nhập triển khai từ Bộ đến địa phương, Bộ gần như thả nổi,  địa phương nào, địa phương ấy lo.  Chỉ đạo phát triển hoạt động quan hệ quốc tế trên lĩnh vực giáo dục còn dàn trải, chưa tạo ra động lực mạnh đủ sức nâng cao tầm hoạt động xúc tiến quan hệ, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục.  Nguồn lực đầu tư cho các hoạt động quan hệ, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục quá ít ỏi, chưa đủ sức tạo ra bước đột phá.  –     Tuy nhiên, hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương có vị trí rất quan trọng, không chỉ làm cơ sở nền tảng phát triển quan hệ, hợp tác quốc tế về giáo dục mà còn là đòn bẩy cho các hoạt động giao lưu văn hóa, xúc tiến trao đổi kinh tế, kêu gọi đầu tư…ở địa phương.     II- Thời cơ và thách thức trên lĩnh vực hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương     –    Thời cơ:  Hoạt động hợp tác quốc tế của các trường ĐH cấp địa phương được “luật hóa” và có chủ trương thực hiện hàng năm của Bộ, có sự lãnh đạo đúng đắn trên quan điểm giao lưu, hội nhập và toàn cầu hóa của Đảng.  Từng bước có sự phù hợp, tăng cường chất lượng, quản lý và cung cấp tài chính cho hoạt động hợp tác quốc tế. Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên có bước chuyển biến thích ứng. Sinh viên đi du học, lưu học sinh Việt Nam ở các nước tăng nhanh ở cả hai  khối: Khối du học bằng ngân sách nhà nước và khối du học do gia đình tự lo.   –      Thách thức:  Sự phát triển nhanh và yêu cầu ngày càng cao của hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế buộc các trường ĐH, CĐ địa phương phải nhập cuộc trong điều kiện nội lực còn non yếu, trường nào cũng rập khuôn cho ra đời phòng hợp tác quốc tế (thường ghép với phòng quản lý khoa học) nhưng thực chất không biết làm gì ngoài việc hàng năm lo hồ sơ, thủ tục cho vài ba SV đi du học theo diện ngân sách nhà nước.  Các hoạt động xúc tiến (trao đổi, giao lưu giảng viên, SV mà chủ yếu là du học và cử các bộ lãnh đạo đi tham quan ngoài nước) có tiến hành nhưng “nhỏ giọt” và lệ thuộc hoàn tòan vào Bộ Giáo dục & Đào tạo.  Sự quan tâm của chính quyền địa phương vá các ngành chức năng còn hạn chế, nhiều thủ tục, cơ chế tạo điều kiện hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế quá rườm rà, phức tạp…     II-                     Giải pháp đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế ở các trường ĐH cấp địa phương     1-                      Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển hợp tác quốc tế về giáo dục.  2-                      Nhóm giải pháp về mô hình, tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục.  3-                      Hợp tác quốc tế về giáo dục theo hương đa phương, đa dạng hóa.       Để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục và để giảng viên, sinh viên đại học sẵn sàng tiếp cận các mô hình, tổ chức hợp tác quốc tế về giáo dục ĐH cấp địa phương, theo chúng tôi điều tiên quyết là cần xác định rõ lại mục tiêu hợp tác quốc tế về giáo dục. Theo tinh thần đó, trường đại học phải gắn chặt giảng dạy với nghiên cứu khoa học và tăng cường quan hệ, hợp tác quốc tế, trao đổi, giao lưu học thuật. hàng năm chúng ta dành không ít tiền cho các cuộc giao lưu thể thao SV Đại học ngoài nước nhưng chúng ta chưa mạnh dạn đầu tư tương tự như vậy cho công tác quan hệ, hợp tác quốc tế về giáo dục!     Do đó, đi đôi với việc đổi mới phương pháp dạy và học, cần phát huy tối đa  nguồn lực cho công tác hợp tác quốc tế về giáo dục theo hướng tạo ra bước chuyển mình như một cuộc “Duy Tân” thực sự. Từ đó giúp cho người học có thể hấp thu một nền giáo dục chất lượng cao, đặc biệt là rèn luyện cho sinh viên khả năng thích nghi để học tập, nghiên cứu và tìm việc làm cả trong và ngoài nước.   Vai trò của Bộ Giáo dục & Đào tạo, của các trường ĐH lớn và của chính quyền địa phương trong thời hội nhập và toàn cầu hóa cần thay đổi từ chỗ là người truyền quản lý, cấp vốn trở thành người thúc đẩy hỗ trợ quá trình xúc tiến các mối quan hệ, hợp tác quốc tế. Vai trò của công tác quan hệ, hợp tác quốc tế trong trường ĐH sẽ được nâng cao hơn so với trước đây nếu nhà trường được thỏa mãn những đòi hỏi thiết yếu của lĩnh vực công tác đặc thù và còn nhiều hạn chế này ở  các trường ĐH cấp địa phương.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục ĐH xuyên biên giới: Vấn đề của thời đại      Cuối thế kỷ XX, gi&#225;o dục đại học xuy&#234;n bi&#234;n giới phát tri&#234;̉n mạnh mẽ, ngày càng trở thành m&#244;̣t hi&#234;̣n tượng gi&#225;o dục mang tính toàn c&#226;̀u. Đi&#234;̀u này đánh d&#226;́u bước ti&#234;́n s&#226;u hơn nữa của t&#236;nh trạng qu&#244;́c t&#234;́ hóa gi&#225;o dục đại học. Thời đại của toàn c&#226;̀u hóa gi&#225;o dục đại học đang đ&#234;́n. B&#224;i n&#224;y nhằm cung cấp c&#225;c th&#244;ng tin tổng qu&#225;t li&#234;n quan đến gi&#225;o dục đại học xuy&#234;n bi&#234;n giới để người đọc c&#243; thể tham khảo phục vụ cho hoạt động của m&#236;nh khi cần đến.     1. Các thuật ngữ và khái niệm  1.1.Giáo dục xuyên biên giới là gì?   “Giáo dục xuyên biên  giới” (cross-border education) liên quan tới việc di chuyển con người, ngành đào tạo, nhà cung cấp đào tạo, kiến thức, tư tưởng, dự án và các dịch vụ qua các biên giới quốc gia (Jane Knight, 2006). Cùng với thuật ngữ này người ta còn sử dụng các thuật ngữ “giáo dục xuyên quốc gia” (transnational education), “giáo dục không biên giới” (borderless education) , “giáo dục hải ngoại” (offshore education). Tuy nhiên, người ta cũng đã chỉ ra rằng: có những sự khác biệt tinh tế nhưng quan trọng trong các thuật ngữ này (Jane Knight, 2006). Giả Hiểu Hồng và  Khương Phụng (2007) có một bài viết phân tích tỷ mỷ về các thuật ngữ đó. Theo 2 tác giả trên, “giáo dục xuyên quốc gia” vừa chỉ giới hạn về địa lý quốc gia vừa chỉ sự vượt qua giới hạn quản lý tư pháp quốc gia. “Giáo dục xuyên biên giới” cũng biểu đạt nghĩa trên. “Giáo dục hải ngoại” là cách sử dụng ở thời kì đầu khá tùy ý ở Australia trong một số trường hợp nói chuyện và các bài viết cá nhân. “Giáo dục không biên giới” có thể được sử dụng (Robin Middlehurst, vẫn theo 2 tác giả trên) với ý nghĩa: trong xã hội toàn cầu hóa xuất hiện nhiều phương thức giáo dục phi truyền thống, một đặc trưng trọng tâm của những loại giáo dục phi truyền thống này là vượt qua các loại biên giới – biên giới lĩnh vực (giáo dục và công nghiệp), biên giới các tầng bậc giáo dục (giáo dục liên tục và giáo dục đại học), biên giới nhà nước, biên giới công lập và tư lập, biên giới thời gian và không gian.“Không biên giới” ở đây chỉ không biên giới nhiều tầng bậc, không phải là biên giới quốc gia được nhấn mạnh trong “giáo dục xuyên quốc gia”   Ngoài bốn cụm từ trên, Philip Altbach (theo 2 tác giả đã dẫn) thường sử dụng khái niệm “giáo dục đại học đa quốc gia” (multinational higher education) để chỉ hoạt động giáo dục đại học của một quốc gia tại một quốc gia khác. Điều đáng chú ý là, dưới sự phân tích của một số học giả kinh tế, công ty xuyên quốc gia (transnational corporation) và công ty đa quốc gia (multinational corporation) có ý nghĩa toàn cầu hóa ở các mức độ khác nhau. Công ty xuyên quốc gia có ý nghĩa vẫn coi quốc gia sở tại làm căn cứ cơ sở, đồng thời phát triển dịch vụ ở các nước khác; công ty đa quốc gia có nghĩa là công ty gồm nhiều quốc gia tham gia.  1.2. Việc sử dụng chuyển đổi các thuật ngữ liên quan tới “giáo dục xuyên biên giới”   Trong thực tế, tuỳ theo mục đích của cá nhân/tổ chức khi đề cập đến một phạm vi nào đó của giáo dục xuyên biên giới, người ta có thể lựa chọn một trong 4 thuật ngữ đã đề cập ở trên và xác định ý nghĩa của thuật ngữ đó trong phạm vi mà họ đề cập. Trong tài liệu của UNESCO và Mạng lưới chất lượng châu Á – Thái Bình Dương (UNESCO-APQN, Toolkit Regulating the quality of Cross-border Education; Bangkok, 2006), bản tiếng Việt do UNESCO/APQN xuất bản mang tên “Cẩm nang hướng dẫn của UNESCO/APQN: Các quy định đo lường chất lượng đa biên”) , “cross-border education” được hiểu với nghĩa hẹp hơn. Đó là “việc cung cấp giáo dục ở một quốc gia được trực tiếp bắt nguồn từ một quốc gia khác, bất kể cung cấp từng phần hay toàn bộ. Định nghĩa này muốn nói tới dịch vụ giáo dục dành cho sinh viên ở ngoài phạm vi biên giới quốc gia cung cấp dịch vụ, chứ không phải dành cho sinh viên đi du học, vì đây là một hình thức giáo dục quốc tế khác”.  Trong bài này chúng tôi sử dụng khái niệm giáo dục đại học xuyên biên giới để chỉ sự vượt qua biên giới quốc gia (tư pháp và địa lý) của các hoạt động giáo dục.     2. Nguyên nhân xuất hiện của giáo dục đại học xuyên biên giới   2.1.Nhu cầu về giáo dục đại học trên phạm vi thế giới tăng lên   Sự thâm nhập của kinh tế xã hội khiến cho nhu cầu của các nước về nguồn nhân lực trí thức đạt tiêu chuẩn tăng lên. Trên thị trường nguồn lao động của các nước phát triển, giá trị của bằng cấp có giảm đi, cần các chương trình về nghề nghiệp và chương trình bồi dưỡng huấn luyện kĩ năng hoặc các chương trình bổ sung. Còn ở những nước đang phát triển,  học vị và văn bằng mang lại một công việc hứa hẹn và trở thành chìa khoá an toàn để  bước vào các  hoạt động phát triển kinh tế và xã hội. Các yếu tố khác cần nhấn mạnh, trong đó có: 1) nhu cầu học tập suốt đời, 2) áp lực của giáo dục đại chúng, 3) áp lực về tăng trưởng dân số và 4) nhu cầu đào tạo huấn luyện của các công ty. Đáng chú ý là không chỉ học sinh đến tuổi học đại học truyền thống, mà người trưởng thành nói chung có nhu cầu được thụ hưởng giáo dục tăng lên, trong đó có nhu cầu về các loại chương trình dạy nghề.  2.2. Tài chính nhà nước và hệ thống giáo dục đại học công lập không thỏa mãn được nhu cầu của xã hội đối với giáo dục đại học  Hai nguyên nhân làm cho nhu cầu đối với giáo dục đại học khó có thể thỏa mãn: một là do nhà nước thiếu khả năng tài chính, hai là nhà nước không tự nguyện sử dụng tài chính nhà nước để thỏa mãn nhu cầu này. Knight cho rằng sự hạn chế về kinh phí, sự thay đổi vai trò chính phủ trong mô hình quản lý hành chính công mới, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và tư nhân hoá là nguyên nhân chủ yếu. Việc nhà nước không thể hoặc không thỏa mãn nhu cầu thúc đẩy các loại nhà cung cấp giáo dục mới xuất hiện, bao gồm đại học doanh nghiệp, nhà xuất bản, công ty truyền thông v.v.  2.3. Kĩ thuật thông tin và truyền thông phát triển  Người ta cho rằng, sự phát triển của kĩ thuật hàng không khiến cho việc đi lại qua biên giới của mọi người rất thuận tiện. Điều này đã thúc đẩy mạnh mẽ phát triển giáo dục du học. Kĩ thuật thông tin mới tạo điều kiện cho việc trao đổi qua lại các chương trình học. Kĩ thuật thông tin và truyền thông cũng khiến cho nhiều hình thức giáo dục xuyên quốc gia hoàn toàn mới xuất hiện. Nhiều mô hình truyền bá giáo dục phi truyền thống, như giáo dục ảo, ra đời khiến cho người cung cấp giáo dục mới có thể thực hiện công tác giáo dục với giá thành rẻ hơn.  Người ta cũng nói đến hai nguyên nhân quan trọng cần lưu ý: Một là, động cơ của bên cung cấp. Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của giáo dục xuyên quốc gia là tính thương mại. Việc xuất hiện giáo dục xuyên quốc gia lúc đầu gắn với thương mại hóa giáo dục du học. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục du học được nhắc tới như là trọng tâm của quốc tế hóa giáo dục, để thúc đẩy giao lưu qua lại giữa các quốc gia, đặc biệt là những nước phát triển giúp đỡ những nước đang phát triển phát triển. Các nước này cung cấp học bổng cho những du học sinh được cử đến từ những nước đang phát triển. Đến cuối năm 1980, đầu tiên là nước Anh, sau đó là Australia, tiến hành cải cách theo hướng thị trường hóa giáo dục. Các nước này thực hiện chính sách cắt giảm tài chính giáo dục, cung cấp học bổng cho du học sinh nước ngoài, đến thu phí một ít, rồi đến thu phí toàn bộ. Để thu được phí lợi nhuận qua biên giới, người ta coi du học sinh là đối tượng quan trọng để thu tài chính. Nhà nước cổ vũ các trường đại học tiến hành tuyên truyền ở các nước khác, nâng cao sức hấp dẫn giáo dục của nước mình, từ đó vượt ra khỏi biên giới đất nước, tiến hành cung cấp giáo dục cho nước khác. Đến năm 1997, nghiên cứu về “chính sách quốc tế hóa giáo dục đại học của các nước Châu Âu” cho thấy, động cơ quốc tế hóa của các nước Bắc Âu, Đức, Anh, Hà Lan, Áo đều chuyển dần từ học thuật, văn hóa, chính trị sang kinh tế. Chỉ có một số các quốc gia Nam Âu như Hy Lạp  vẫn nhấn mạnh động cơ học thuật, văn hóa và chính trị. Thứ hai, yêu cầu về cải cách chất lượng. Khi nói đến hợp tác giáo dục đại học với nước ngoài, các nước hy vọng sự hợp tác trong giáo dục sẽ mang đến cơ chế quản lý và xây dựng các trường đại học mới, nhằm đáp ứng yêu cầu về “nguồn đầu tư cho giáo dục để đạt chất lượng ngày một tốt hơn”.     3. Những nội dung quan trọng cần đề cập khi nói về giáo dục đại học xuyên biên giới  3.1. Các loại hình nhà cung cấp giáo dục đại học  Có thể phân loại các nhà cung cấp giáo dục đại học như bảng 1 dưới đây:  Bảng 1: Các loại hình nhà cung cấp truyền thống, mới hoặc khác truyền thống    ảng 1: Các loại hình nhà cung cấp truyền thống, mới hoặc khác truyền thống             Phân loại nhà cung cấp  Tình trạng  Vụ  lợi hoặc phi vụ lợi   Bình luận      Các trường đại học truyền thống: được định hướng giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ xã hội       Các trường đại học được kiểm định  Gồm các trường công phi lợi nhuận và các trường tư phi/vụ lợi  nhuận                      Thường là bộ  phận của hệ thống giáo dục quốc gia và được kiểm định bởi cơ quan kiểm định tin cậy                             Có thể là  một trường  phi lợi nhuận hoặc  vụ lợi   Nhiều nước có hệ thống hỗn hợp các trường đại học  được tài trợ bởi nhà nước hoặc tư nhân nhưng sự phân chia ranh giới hoặc phân biệt loại này với loại khác không rõ nét.                                                                               Các trường đại học không được kiểm định  Thường là tư  nhân và không thuộc hệ thống giáo dục quốc gia. Bao gồm các trường đại học không được kiểm định bởi cơ quan kiểm định tin cậy. Chất lượng thường thấp, họ thường bị ám chỉ như những nhà cung cấp ‘lừa đảo’                                                                                                       Thường vụ lợi nhuận, hướng vào quốc nội và quốc tế                   ‘Các xưởng sản xuất bằng’ bán các bằng mà không cung cấp chương trình học và liên quan đến giáo dục xuyên biên giới nhưng không phải là những nhà cung cấp đích thực. ‘Các nhà cung cấp lừa đảo’ thường được gắn với các nhóm, công ty tự làm kiểm định hoặc bán chứng nhận kiểm định.                                                                                                                       Các nhà cung cấp mới hoặc khác truyền thống: được định hướng giảng dạy hoặc/và dịch vụ thương mại                                              Các trường đại học thuộc công ty thương mại  Có thể được kinh doanh công khai hoặc được sở hữu tư nhân, gồm:   1. Các công ty thiết lập các trường đại học được hoặc không được kiểm định bởi các cơ quan kiểm định tin cậy và                                                                                                                          2. Các công ty tập trung nhiều hơn vào cung cấp các dịch vụ. Thông thường không phải là một bộ phận của hệ  thống giáo dục quốc gia ở nước cung cấp.    Vụ lợi nhuận           Có thể  gồm các công ty khác nhau (vd.truyền thông, IT, xuất bản ) cung cấp các chương tình giáo dục và bảo hộ các dịch vụ.  Có thể bổ sung, hợp tác, cạnh tranh hay cùng tồn tại với các trường đại học truyền thống .   Các công ty cung cấp các chương trình hàn lâm và được trao đổi công khai trên thị trường chứng khoán là một bộ phận của danh mục giáo dục toàn cầu do Tổ chức Đài thiên văn giáo dục không biên giới (Observatory on Borderless Education) xây dựng        Các trường đại học của tập đoàn kinh tế                 Thông thường là  một bộ phận của tập đoàn kinh tế quốc tế lớn và  nằm ngoài hệ thống giáo dục quốc gia. Thường không được kiểm định bởi cơ quan kiểm định tin cậy của quốc gia. Không phải là một bộ phận của hệ thống giáo dục tại quốc gia cung cấp.                                      Không rõ ràng   Những tập đoàn kinh tế mở  các cơ sở đào tạo riêng, cung cấp các chương trình cho nhân viên của họ và đó là những nhà cung cấp xuyên biên giới vì các công ty đa quốc gia đó rất lớn. Họ thường cộng tác với các trường đại học truyền thống để tăng sức mạnh bằng cấp.                                Các tổ chức và mạng lưới chuyên môn, thuộc chính phủ và phi chính phủ   Có thể là  sự phối kết hợp của các tổ chức và các trường đại học công/công, công/tư  hoặc tư/tư                                                                       Thường hướng vào mục đích lợi nhuận.   Các tổ  chức/mạng lưới có thể là hoặc không là  một bộ phận của hệ thống giáo dục ở  quốc gia cung cấp; và có thể được hoặc không được kiểm định bởi tổ chức kiểm  định có tín nhiệm.Tuy nhiên, một số đối tác có thể có .                                            Các trường đại học ảo  Gồm các trường đại học ảo 100%. Có thể là hoặc không là  một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc gia ở nước cung cấp. Có thể được hoặc không được kiểm định bởi cơ quan kiểm định chính thức của nhà nước.                                                                 Thường hướng vào lợi nhuận nếu cung cấp xuyên biên giới  Hệ thống giáo dục quốc gia khó giám sát, điều hành các trường đại học ảo quốc tế do cách thức cung cấp từ  xa.                                         (Jane Knight, 2005)        Cần lưu ý là công hay tư không còn là yếu tố chủ chốt phân biệt hai loại trường đại học truyền thống. Yếu tố “kiểm định” chính thức bởi nước chủ nhà được đề nghị như một yếu tố để phân biệt hai loại trường này.   Phạm trù ‘các nhà cung cấp mới hoặc khác truyền thống’ bao gồm các loại công ty, tổ chức, mạng lưới công và tư đa dạng đang cung ứng các chương trình và các khoá đào tạo ở các nước ngoài. Các nhà cung cấp xuyên biên giới kiểu mới có thể là những trường đại học thật hoặc ảo, thường mang tính thương mại và vì lợi nhuận.   Một trong những vấn đề trọng tâm là ai công nhận và cho phép một nhà cung cấp giáo dục quyền cấp bằng ở ‘nước cung cấp’ và/hoặc ở ‘nước tiếp nhận’. Một số nhà cung cấp mới không phải là bộ phận hoặc không được công nhận bởi hệ thống giáo dục của nước cung cấp. Điều này gây khó khăn cho các nước tiếp nhận trong việc xác định chất lượng và tính hợp pháp của các nhà cung cấp nước ngoài. Nó đặt ra trách nhiệm lớn hơn đối với nước tiếp nhận trong việc xây dựng các qui định riêng về đăng kí và kiểm định các nhà cung cấp nước ngoài.   3.2. Các loại nhà cung cấp giáo dục đại học xuyên biên giới   Các nhà cung cấp giáo dục xuyên biên giới là nhà cung cấp thực hoặc ảo hiện diện ở một quốc gia khác để cung cấp các chương trình giáo dục/đào tạo và/hoặc các dịch vụ cho sinh viên và các khách hàng khác. Các tín chỉ và văn bằng được nhà cung cấp nước ngoài hoặc đối tác liên kết ở nước tiếp nhận cấp hoặc cả hai bên cùng cấp.  Bảng 2: Các loại hình về nhà cung cấp xuyên biên giới          Loại           Mô tả              Ví dụ              Cơ sở   Chi nhánh         Nhà cung cấp ở nước A thiết lập cơ sở vệ tinh ở nước B để cung cấp các chương trình, khoá học cho sinh viên nước B (có thể gồm cả sinh viên nước A học một học kì/khoá học ở nước ngoài). Văn bằng được nhà cung cấp ở nước A cấp.                                       Trường ĐH Monash (Australia) đã xây dựng chi nhánh ở Malaysia và Nam Phi. Trường ĐH Indianapolis có cơ sở nhánh ở  Aten (Hy Lạp).          Trường độc lập                Nhà cung cấp nước A (trường đại học truyền thống, công ty thương mại hoặc mạng lưới liên kết) thiết lập một trường đại học độc lập ở nước B để cung cấp các khoá/chương trình và trao văn bằng                                                                               Trường ĐH của Đức ở Cairo, ĐH Phoenix ở Canada và  Puerto Rico (Apollo Group).           Thu nhận /hợp nhất       Nhà cung cấp nước ngoài A mua một phần hoặc 100% trường đại học địa phương của nước B  .       Laureate (hệ thống Sylvan Learning Systems trước đây) đã sáp nhập với và/hoặc mua các trường đại học địa phương ở Chile,  Mexico và các nước  châu Mỹ La Tinh khác.           Trung tâm dạy/học       Nhà cung cấp nước ngoài A thiết lập Trung tâm dạy/học ở nước  B để hỗ trợ sinh viên học các khoá học/chương trình của họ. Các Trung tâm có thể độc lập hoặc cộng tác với nhà cung cấp địa phương ở nước B                          Texas A&M có ‘Trung tâm đại học’ ở Mexico City. Troy University (US) có cơ sở dạy chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh ở Bangkok           Chi nhánh /mạng lưới                            Các loại nhà cung cấp ‘công/tư’, truyền thống/mới’ từ các nước khác  nhau cộng tác thiết lập các mạng lưới/các trường thông qua các hình thức hợp tác mới  để cung cấp các khoá học/chương trình tại nước sở tại và nước ngoài qua hình thức từ xa hoặc trực tiếp.                                   Hiệp hội giữa Caparo Group và  Carnegie Mellon University xây dựng cơ sở ở Ấn Độ. Cơ sở nhánh của trường Netherlands Business School ở Nigeria kết hợp với  African Leadership Forum (NGO)           Trường đại học ảo              Nhà cung cấp cung cấp các khoá theo tín chỉ và các chương trình cấp bằng cho sinh viên ở các nước khác nhau qua hình thức giáo dục từ xa và nói chung không có các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho các sinh viên.      International Virtual University, Hibernia College, Arab Open University           (Jane Knight, 2005)      Các nhà cung cấp xuyên biên giới thực và ảo cũng có nhiều vấn đề về đăng kí, đảm bảo chất lượng và công nhận như các chương trình xuyên biên giới. Nhưng nếu có sự tham gia của mạng lưới hoặc có sự hợp tác địa phương/nước ngoài thì người ta phải xem xét đặc biệt hơn. Việc thiết lập cơ sở vật chất ở nước tiếp nhận đòi hỏi phải chú ý đến các quy chế quốc gia liên quan đến vị thế của thực thể, sở hữu hoàn toàn hay cùng sở hữu với các cơ sở ở nước sở tại, luật thuế, vị lợi nhuận hay phi lợi nhuận, chuyển tiền thu  nhập về nước, hội đồng giám đốc, đội ngũ, cấp bằng, lựa chọn chương trình và khoá học v.v. Việc di chuyển nhà cung cấp giáo dục xuyên biên giới liên quan đến phương thức thứ ba của GATS và vì thế các quy tắc thương mại cũng có hiệu lực ở đây. Ở một số nước, điều đó có nghĩa là các quy chế nghiêm ngặt đang được xây dựng để theo dõi chặt chẽ và trong một số trường hợp sẽ cấm không cho nhà cung cấp giáo dục nước ngoài vào kinh doanh. Trong một số trường hợp khác thì người ta lại có các giải pháp khuyến khích để hấp dẫn các trường đại học, các nhà cung cấp giáo dục nước ngoài chất lượng cao thành lập các cơ sở hoặc một trường đại học hoàn chỉnh ở nước tiếp nhận. Điều này đặc biệt đúng nơi mà các “công viên kiến thức”, các “khu công nghệ” hoặc các “thành phố giáo dục” đang được xây dựng để hấp dẫn các công ty và các nhà cung cấp giáo dục/đào tạo nước ngoài.  3.3.Chương trình đào tạo đại học xuyên biên giới  Các chương trình đào tạo đại học xuyên biên giới có thể được mô tả là các chương trình đào tạo xuyên biên giới quốc gia qua mặt đối mặt (trực tiếp), từ xa hoặc kết hợp cả hai kiểu này. Các tín chỉ của chương trình đào tạo có thể được cấp bởi nhà cung cấp nước ngoài hoặc đối tác liên kết trong nước hoặc cả hai bên kết hợp .  Bảng 3: Các loại hình chương trình đào tạo đại học xuyên biên giới                          Phân loại                                                            Mô tả                  Uỷ quyền  cung cấp      Nhà cung cấp ở nước A uỷ quyền cho nhà cung cấp ở nước B cung cấp khoá/chương trình/dịch vụ đào tạo của họ ở nước B hoặc các nước khác. Chất lượng đào tạo được quyết định bởi nhà cung cấp ở nước A.           Cặp đôi      Nhà cung cấp nguồn ở nước A cộng tác với nhà cung cấp ở nước B xây dựng hệ thống khớp nối cho phép các sinh viên học các môn ở nước B và/hoặc nước A. Chỉ có nhà cung cấp ở nước A được cấp bằng.            Bằng kép/ bằng chung      Nhà cung cấp ở các nước khác nhau cộng tác cung cấp chương trình cho sinh viên nhận bằng của mỗi bên hoặc cả hai bên hợp tác cấp một bằng chung.           Ghép nối      Các kiểu tổ chức ghép nối khác nhau của các nhà cung cấp ở các nước khác nhau cho phép sinh viên thu được tín chỉ đối với các khoá/các chương trình do các nhà cung cấp phối hợp nhau cung cấp.           Phê chuẩn cung cấp      Sự phê chuẩn giữa các nhà cung cấp ở các nước khác nhau cho phép nhà cung cấp B ở nước tiếp nhận cấp bằng của nhà cung cấp A ở nước nguồn.           Cung cẩp ảo/từ xa                Các nhà cung cấp tổ chức các khoá học/chương trình cho các sinh viên ở các nước khác nhau qua kiểu học từ xa và trên mạng. Có thể có một số buổi trực tiếp hỗ trợ cho các sinh viên qua các trung tâm hỗ trợ hoặc nghiên cứu trong nước.           (Jane Knight, 2005)     Yếu tố then chốt ở đây là ‘ai’ cấp chứng chỉ cho các môn học hoặc cấp bằng. Khi xu hướng cung cấp các chương trình xuyên biên giới tăng nhanh, sẽ có những thay đổi liên tục đối với các khung điều tiết của quốc gia, khu vực, và cả của quốc tế. Ngoài câu hỏi ‘ai cấp chứng chỉ/văn bằng’ sẽ có thêm câu hỏi ‘ai công nhận nhà cung cấp’ và liệu chương trình đã được kiểm định hoặc được đảm bảo chất lượng bởi một cơ quan hợp pháp hay không. Điều quan trọng đặc biệt là văn bằng có được công nhận ở nước tiếp nhận giáo dục xuyên biên giới hoặc các nước khác khi người tốt nghiệp xin việc hoặc tiếp tục học lên không. Tính hợp pháp, sự công nhận, và việc công nhận văn bằng là những vấn đề cơ bản chưa được giải quyết.   Về loại chương trình hợp tác, thì việc ai là người là chủ sở hữu trí tuệ đối với việc thiết kế khoá học và các tài liệu là một câu hỏi. Vai trò pháp lý, đạo đức và các trách nhiệm của những đối tác tham gia trong các vấn đề về quản lí, tài chính, đánh giá, tuyển dụng cán bộ, chiêu sinh và học vấn là những câu hỏi khác. Trong khi việc cung cấp các chương trình xuyên biên giới đã và đang diễn ra nhiều năm, thì rõ ràng là các loại nhà cung cấp mới, các đối tác, các phương thức giảng dạy và việc cấp bằng đang thách thức các chính sách và các khung pháp lý đảm bảo chất lượng của quốc gia và quốc tế và vào thời điểm hiện tại câu hỏi nhiều hơn câu trả lời.      4. Giáo dục xuyên biên giới và sự hợp tác phát triển  Giáo dục xuyên biên giới đã trở thành hiện thực và sẽ tăng lên trong những năm tới. Nó là điển hình sống động cho quan hệ Bắc-Nam. Nó diễn ra trong môi trường phức tạp cao, được tạo ra bởi sự tác động lẫn nhau đa khu vực, đa mức độ, đa vai diễn và các lĩnh vực chính sách nhiều khía cạnh (về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và học vấn). Hai tác giả  Neville Alexander và Karola Hahn trong một báo cáo tại Hội nghị “Giáo dục xuyên biên giới và sự hợp tác phát triển” (30/6-1/7/2005) đã nêu những khía cạnh cần quan tâm dưới đây:  4.1. Khía cạnh chính trị   1) Mối đe doạ tiềm tàng của sự không đối xứng nghiêm trọng giữa các nhà cung cấp của Bắc và các nhà tiếp nhận của Nam cần được xử lý bằng các chính sách giáo dục đại học và hợp tác phát triển.                         2) Các cách tiếp cận khu vực hình như có tiềm lực chưa được phát hiện trong các nước phía ‘Nam’ (và các nước phía ‘Bắc’) và có thể là một sự lựa chọn hứa hẹn bổ sung cho các cách tiếp cận song phương giữa hai nước hoặc hai trường đại học.                                                                 3) Những lí lẽ dẫn đến xung đột trong giáo dục xuyên biên giới (nổi lên là lí lẽ kinh tế đối lập với những lí lẽ chính trị, học vấn, văn hoá, xã hội) cần được đề cập bởi các nhà lãnh đạo và những người vận động hành lang về sự quốc tế hoá giáo dục đại học và hợp tác phát triển.             4) Các chính sách của trường đại học và quốc gia có thể cản trở sự gia tăng của giáo dục xuyên biên giới thành công trong sự hợp tác phát triển:  a) Cuộc tranh luận về ‘sự suất sắc và giáo dục tinh hoa’ và các chính sách tài trợ liên quan;  b) Các tiêu chuẩn kiểm định, các thủ tục và chi phí;  c) Việc thiếu các chương tình tài trợ thường xuyên để thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới hướng vào sự phát triển.  4.2. Khía cạnh kinh tế  1) Thị trường toàn cầu về giáo dục đại học đã xuất hiện. Giáo dục xuyên biên giới hình như bị biến thành hàng hoá và thương mại hoá, với nguy cơ làm cho các nước phương Nam chỉ còn là người tiêu thụ các sản phẩm giáo dục các nước phương Bắc và như thế bỏ qua tiềm năng của sự phụ thuộc và nhân nhượng lẫn nhau.   2) Các nước phương Nam cần nỗ lực trong việc tìm ra các nguồn lực riêng và nhận thức rõ tiềm năng riêng của mình để giải quyết những thách thức của giáo dục và phát triển. Việc hợp tác với công nghiệp địa phương và cách tiếp cận khu vực hình như đang hứa hẹn.  4.3. Khía cạnh văn hoá  1) Văn hoá và ngôn ngữ là những khía cạnh quan trọng của giáo dục xuyên biên giới. Sự truyền thông liên văn hoá cần có vị trí quan trọng hơn trong chương trình đào tạo và trong các hoạt động hợp tác.    2) Sự Anh ngữ hoá việc dạy, học và nghiên cứu làm tăng cơ hội, nhưng cũng làm cho các ngôn ngữ khác bị cách biệt và như vậy làm tăng sự mất mát văn hoá và giảm sự đa dạng trong một viễn cảnh lâu dài.   3) Có nhu cầu sống còn trong các dự án phát triển để tích hợp các phát hiện khoa học và kiến thức địa phương và để chuyển vào các ngôn ngữ địa phương. Điều này có ngụ ý hệ thống cho phác thảo các chương trình nghiên cứu (đào tạo).   4) Việc dạy các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh cần được chú ý và ủng hộ nhiều hơn.   4.4. Khía cạnh xã hội  1) Giáo dục xuyên biên giới có thể mở rộng cơ hội đối với giáo dục đại học ở các nước đang phát triển với điều kiện nó không phải là giáo dục tinh hoa.  2) Sự trợ cấp có thể đóng góp vào sự công bằng.  4.5. Khía cạnh học thuật  1) Cho đến nay, sự hợp tác về chương trình là hoạt động cốt lõi trong giáo dục xuyên biên giới.   2) Sự hợp tác trong nghiên cứu cần được thúc đẩy và có thể được hỗ trợ bằng nghiên cứu phối hợp.          3) Các mô hình ‘anh em’ và ‘gia đình’ là các loại hình quen thuộc của giáo dục xuyên biên giới hình như đại diện cho sự hợp tác tối ưu về chương trình đào tạo. Các mô hình mạng lưới làm ra vẻ có sự bình đẳng giữa các đối tác là điều thường không tồn tại trong thực tế. Để khắc phục tình trạng này các mô hình tam giác cần được thiết lập vì chúng là những mô hình phù hợp hơn (các đối tác ở các nước phương Bắc được bổ sung bởi các quan hệ Nam – Nam).        4) Cách tiếp cận khác nhau liên quan đến tính ứng dụng đối lập với nghiên cứu cơ bản chiếm ưu thế trong các nước phương Nam và các nước phương Bắc. Trong khi ứng dụng kiến thức là mối quan tâm nhất của hầu hết các nước đang phát triển, thì mối quan tâm của các nước công nghiệp hoá phương Bắc lại là nghiên cứu cơ bản.  5) Các chương trình kết hợp hoặc cặp đôi bao gồm chương trình khung đào tạo cốt lõi và một số mô đun tự chọn. Điều này đảm bảo cho sự điều chỉnh nhất định ngữ cảnh đặc biệt của chương trình (sự linh hoạt của chương tình).  6) Việc đảm bảo chất lượng trong giáo dục không biên giới cần cách tiếp cận hợp tác bao gồm những người có quyền lợi liên quan phù hợp của cả hai bên. Đảm bảo chất lượng cần tìm cách đánh giá xem những mô đun tự chọn có tương đương về giá trị hay không. Nó cần cho phép sự đa dạng về nội dung tuỳ thuộc vào bối cảnh đặc biệt của nó.   7) Các khoá học được thiết kế theo yêu cầu của khách hàng trong giáo dục thường xuyên và tại chức cho những người chủ chốt ở các nước phương Nam – những nhân sự thay đổi tiềm tàng trong khoa học, chính phủ và xã hội công dân – có thể thay thế cho việc ra nước ngoài nghiên cứu học tập vừa tốn kém vừa có thể là nguyên nhân của sự chảy chất xám hoặc xa lánh đất nước.                                                                                                                                                    8) Elearning có thể là bộ phận hưá hẹn của giáo dục thường xuyên trong giáo dục xuyên biên giới và trong giai đoạn chuẩn bị đi học ở hải ngoại, nhưng cơ sở vật chất kĩ thuật ở nhiều nơi thường yếu. Các mô hình dạy và học hỗn hợp và sự kết hợp của giáo dục tại chỗ và giáo dục từ xa hình như sẽ có kết quả hơn.     5. Các nguyên tắc của giáo dục đại học xuyên biên giới   5.1. Các nguyên tắc          Hoạt động xuyên biên giới có thể góp phần quan trọng vào việc nâng cao giáo dục đại học nếu nó được cung cấp và phát triển một cách có trách nhiệm và chọn lọc. Các hiệp hội  các trường đại học của Mỹ, Canada, Hiệp hội quốc tế các trường đại học đã đề xuất một số nguyên tắc sau đây để hướng dẫn các hành động cho các cá nhân/tổ chức có lợi ích liên quan:   – Giáo dục đại học xuyên biên giới cần đóng góp vào sự phồn vinh của các cộng đồng về kinh tế, xã hội, văn hoá.  – Trong khi giáo dục xuyên biên giới có thể chảy theo nhiều hướng khác nhau và diễn ra trong những hoàn cảnh đa dạng khác nhau, nó cần nâng cao khả năng của giáo dục đại học của các nước đang phát triển để thúc đẩy sự công bằng toàn cầu.   – Ngoài việc cung cấp sự tinh thông nghề nghiệp chuyên môn, giáo dục đại học xuyên biên giới cần cố gắng làm cho người học thấm nhuần tư duy phê phán là yếu tố cơ sở cho trách nhiệm  công dân có ở cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu.                     – Giáo dục đại học xuyên biên giới có thể tiếp cận được không chỉ với các sinh viên có tiền chi trả, mà còn với các sinh viên có năng lực nhưng có nhu cầu hỗ trợ tài chính.  – Giáo dục đại học xuyên biên giới cần đáp ứng các tiêu chuẩn cao về chất lượng học thuật và chất lượng tổ chức mà không tính đến nó được cung cấp ở đâu.                                            – Giáo dục đại học xuyên biên giới cần chịu trách nhiệm giải trình đối với các chính phủ, sinh viên và công chúng nói chung.  – Giáo dục đại học xuyên biên giới cần mở rộng các cơ hội cho sự di chuyển quốc tế của các giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên.  – Các cơ sở giáo dục và các nhà cung cấp khác về giáo dục đại học xuyên biên gới cần cung cấp thông tin rõ ràng và đầy đủ cho sinh viên và các các nhân/tổ chức có lợi ích liên quan bên ngoài về chương trình đào tạo của họ.                  5.2. Các khuyến cáo cho các cơ sở giáo dục đại học và các nhà cung cấp khác                 Dựa trên các nguyên tắc vừa nêu ở mục 5.1, các tổ chức trên đưa ra chương trình hành động cho các trường đại học và các nhà cung cấp xuyên biên giới thực hiện:  – Thông thạo các vấn đề xung quanh giáo dục và thương mại xuyên biên giới để thông tin về sự trao đổi giữa các tổ chức và lôi kéo các tổ chức vào cuộc đối thoại có tính cách xây dựng với  các chính phủ.    – Cố gắng đảm bảo rằng giáo dục đại học xuyên biên giới đóng góp vào sự phồn vinh về kinh tế, xã hội của các cộng đồng ở nước tiếp nhận là điều nhạy cảm về mặt văn hoá trong cách tiếp cận cũng như nội dung đào tạo, và nâng cao năng lực giáo dục đại học của địa phương bằng cách hợp tác với các trường địa phương khi thích hợp.   – Có giấy phép hợp thức để tác nghiệp như các trường đại học của chính phủ hoặc các tổ chức có năng lực cần thiết trong nước cung cấp và nước tiếp nhận . Đồng thời, các chính phủ và các tổ chức cần tăng cường sự hợp tác, tính minh bạch, và chia sẻ thông tin để giảm gánh nặng hành chính ở các cơ sở giáo dục đại học.   – Xây dựng văn hoá xem xét chất lượng thường xuyên, phản hồi, và cải thiện bằng cách tạo ra các quá trình đảm bảo chất lượng thiết thực ở cấp trường dựa trên trình độ chuyên môn của giảng viên và kết hợp với ý kiến của sinh viên.   – Hợp tác với các hiệp hội của họ cũng như các tổ chức chính phủ và phi chính phủ để xây dựng các nguyên tắc đảm bảo chất lượng hiệu quả và áp dụng chúng vào các hoạt động xuyên biên giới.   – Hợp tác với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ để tăng cường sự trao đổi quốc tế về thông tin và sự cộng tác về các vấn đề công nhận và đảm bảo chất lượng.   – Cung cấp thông tin tin cậy cho các chính phủ, sinh viên và dân chúng, đặc biệt tôn trọng tình trạng hợp pháp của trường, quyền cấp bằng, cung cấp khoá học, cơ chế đảm bảo chất lượng, cũng như những điều cụ thể thích hợp khác theo quy tắc hành nghề.  5.3. Các khuyến cáo đối với các chính phủ    Các hiệp hội được nêu ở mục 5.1 cũng đưa ra các khuyến cáo đối với các chính phủ khi đương đầu với những thách thức của giáo dục xuyên biên giới.    Một số chính phủ tìm cách quản lí giáo dục đại học xuyên biên giới qua các chế độ thương mại khu vực hoặc đa phương được thiết kế để thúc đẩy nhanh dòng chảy của hàng hoá và các dịch vụ tư nhân. Có ba hạn chế chính đối với cách tiếp cận này. Thứ nhất, các quy định khung về thương mại không được thiết kế để giải quyết các mục đích nghiên cứu, học thuật hoặc các mục đích văn hoá xã hội rộng hơn của giáo dục đại học xuyên biên giới. Thứ hai, chính sách mậu dịch và chính sách giáo dục quốc gia có thể mâu thuẫn nhau và gây nguy hiểm cho khả năng của giáo dục đại học thực hiện sứ mạng văn hoá và xã hội của mình. Thứ ba, việc áp dụng các qui tắc mậu dịch có thể gây hậu quả không mong muốn mà nó có thể có hại đến sứ mạng của giáo dục đại học. Tin rằng những chính sách và những thoả thuận quốc tế về giáo dục đại học xuyên biên giới – đặc biệt trong bối cảnh của WTO và các cuộc thảo luận khác về thương mại – sẽ giải quyết những hạn chế này. Các chính sách và thoả thuận ấy  cần tôn trọng quyền của các chính phủ và các tổ chức có thẩm quyền ở các nước trong việc điều tiết các hệ thống giáo dục đại học của họ, đảm bảo an toàn cho việc đầu tư công trong giáo dục đại học để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hoá của nước mình, và tăng cường cơ hội và sự công bằng cho các sinh viên. Người ta khuyến cáo các chính phủ chấp nhận chương trình hành động sau đây để bổ sung những nỗ lực của các nhà cung cấp giáo dục đại học:           – Thu hút các trường đại học, các nhà cung cấp và các hội đại diện của họ vào cuộc thảo luận về các nguyên tắc khớp nối với tuyên bố này, đặc biệt khi soạn các chính sách mậu dịch thương mại.    – Thúc đẩy và ủng hộ sự cộng tác về giảng dạy và nghiên cứu và các hình thức hợp tác khác để xây dựng năng lực giáo dục đại học cho các nước đang phát triển.                                                                         – Chứng minh sự cam kết đối với cơ hội tiếp cận giáo dục đại học qua việc gia tăng hỗ trợ các sinh viên quốc tế có năng lực khi họ có nhu cầu tài chính.                                                 – Hợp tác với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ để đảm bảo các nhà cung cấp giáo dục đại học nước ngoài đang hoạt động ở các nước của họ được quản lí và giám sát một cách thích hợp.       – Hợp tác với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ để làm cho thông tin về các trường đại học của nước họ và thực tế kiểm định và đảm bảo chất lượng chính xác, kịp thời, sẵn có và thân thiện với người sử dụng.      – Hợp tác với các cơ quan chính phủ và phi chính phủ để cải tiến các công cụ thông tin, đảm bảo thông tin liên quan tới các vấn đề đã nói trên được chia sẻ một cách hệ thống trên phạm vi quốc tế.                                                                            6. Chất lượng đào tạo xuyên biên giới  Trong một seminar về việc thiết lập các cơ chế đánh giá giáo dục xuyên biên giới do UNESCO Bangkok tổ chức ở Côn Minh, Trung Quốc (2005) Wong Wai Sum nêu lên những vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo xuyên biên giới đáng chú ý như sau:  6.1. Những biểu hiện tiêu cực   Theo Wong Wai Sum, các hiện tượng tiêu cực của đào tạo xuyên biên giới thường gặp là:    • Thông tin sai lệch, không trung thực hoặc lừa dối về các khóa học: liên quan đến sự cung cấp các khoá học (các vấn đề về nội dung, giảng dạy, các nguồn lực, cán bộ…), hoặc thông tin sai về tình trạng được công nhận của các khoá học (khẳng định không đúng rằng khoá học được các cơ quan chính phủ hoặc chuyên môn công nhận );   • Gian lận: không trả lại học phí, hoặc ngừng chương trình học với lý do không đúng là nhà cung cấp gặp khó khăn tài chính.                                                                                               • Chất lượng khoá học nghèo nàn. Thí dụ:  *Chuẩn của các khoá học thấp (nội dung bị giảm hoặc cắt ngắn, ít mô đun, môn học tự chọn cho sinh viên v.v.);                  *Các yêu cầu đầu vào hoặc đầu ra thấp (chuẩn vào thấp, ít yêu cầu về điều kiện nghiên cứu tiên quyết, yêu cầu thấp về tốt nghiệp v.v.);               *Các nguồn lực giảng dạy nghèo nàn (sử dụng các cán bộ không có kinh nghiệm chuyên môn, sử dụng các tài liệu học tập chất lượng nghèo nàn cho sinh viên; thiếu hoặc không đủ các nguồn của thư viện, phòng thí nghiệm v.v.);  * Sử dụng các phương pháp giảng dạy không phù hợp v.v.  * Bớt thời gian dạy/ dạy nhanh                     Những sai lệch trên có thể có tác động nghiêm trọng, các sinh viên kết thúc khoá học không thoả mãn với mong đợi của họ; các sinh viên tốt nghiệp các khoá chất lượng nghèo nàn sẽ không đủ năng lực làm việc hoặc không được nhận bởi những nhà tuyển dụng. Ngay cả khi được nhận làm thì họ cũng không đủ khả năng thực hiện tốt công việc đảm nhiệm.   6.2. Các yếu tố có thể dẫn đến các vấn đề về chất lượng   1) Các yếu tố ở cấp vi mô – cấp trường                 • Sự hiểu biết không đầy đủ về giáo dục xuyên biên giới            Giáo dục  xuyên biên giới là hình thức cung cấp giáo dục mới đòi hỏi sự xem xét và lập kế hoạch đặc biệt. Tuy nhiên nhiều trường không hiểu đầy đủ hoặc đánh giá thấp tính phức tạp của vấn đề liên quan lập kế hoạch về giáo dục xuyên biên giới. Thí dụ, có các vấn đề về sự đáp ứng đối với môi trường giáo dục địa phương, hiểu biết các nhu cầu của sinh viên địa phương, chất lượng của đầu vào của địa phương, chất lượng và việc cung cấp các giáo viên địa phương và những sự hỗ trợ khác.   Đồng thời, để khắc phục khó khăn do hoạt động trong nước xa xôi, các trường có thể thay đổi phương thức phân phối, đôi khi chọn kiểu mà họ chưa được trải nghiệm, như học từ xa, mà các sinh viên địa phương chưa thích ứng.   • Thiếu các cơ chế đảm bảo chất lượng của trường             Hoạt động của giáo dục xuyên biên giới đòi hỏi có sự kiểm soát chặt chẽ, nhưng một số trường có thể không nhận thấy nhu cầu có một hệ thống đầy đủ về kiểm soát và đảm bảo chất lượng. Hoặc ở nơi có thì việc thực hiện có thể không đủ mạnh.   • Thiếu hiểu biết về các hệ thống giáo dục của địa phương   Sự thiếu hiểu biết về các hệ thống giáo dục của địa phương dẫn đến những quyết định sai. Thí dụ: Các chuẩn tiếp nhận có thể bị thoả hiệp (hoặc bị tổn hại) khi các sinh viên được nhận vào trên cơ sở của chất lượng đào tạo không thích hợp của địa phương .  • Khó khăn trong việc tiếp nhận các nguồn lực của địa phương  Khi các trường cung cấp các khoá học xuyên biên giới đang hoạt động trong môi trường nước khác, họ thường phải dựa vào các nguồn lực của địa phương, như cán bộ địa phương, sự hỗ trợ của thư viện. Các nguồn lực đầy đủ với chất lượng thích hợp có thể không có sẵn.                                                                                                                          • Quá tín nhiệm vào các đối tác địa phương không có kinh nghiệm  Việc cung cấp giáo dục  xuyên biên giới đôi khi cần chia sẻ trách nhiệm giữa cơ sở xuất khẩu và đối tác điạ phương. Một số đối tác địa phương có thể là những tổ chức thương mại/không phải là cơ sở đào tạo. Đôi khi đối tác địa phương tham gia không đầy đủ vào các quyết định giảng dạy chủ yếu và trong giám sát chất lượng của các khoá học.    2) Các yếu tố ở cấp vĩ mô – cấp quốc gia       • Thiếu các hệ thống đảm bảo chất lượng ở cấp quốc gia để kiểm tra giám sát chất lượng của giáo dục xuyên biên giới                .   Mặc dù nhiều nước có thiết lập các hệ thống kiểm định và đảm bảo chất lượng, nhưng nhiều khi chỉ chú ý đến hệ thống giáo dục trong nước mà không quan tâm giám sát giáo dục xuyên biên giới.    • Thiếu các nguồn thông tin về các sinh viên và các khách hàng       Giáo dục xuyên biên giới trông cậy chủ yếu cho sự sống còn của họ vào sức mạnh của thị trường, và thông thường người ta mong đợi chỉ có các khoá học chất lượng tốt mới có thể sống được trong thị trường. Tuy nhiên, các sinh viên không phải lúc nào cũng là những khách hàng thận trọng, và đôi khi các khoá học được chọn vì những lí do khác hơn là vì chất lượng. Hơn nữa các khách hàng thường nhận được thông tin không rõ ràng về các khoá học. Do vậy sự cung cấp chất lượng thấp vẫn đe doạ thị trường và một số khách hàng vẫn kết thúc khoá học với chất lượng nghèo nàn.  6.3. Vai trò của các chính phủ nước nhập khẩu   Các chính phủ có thể nuôi dưỡng chính sách khá cởi mở và cho phép giáo dục xuyên biên giới một phạm vi thị trường tự do. Những tranh cãi về chính sách này là về thương mại tự do giữa các nước và sự lựa chọn tự do cho các khách hàng, và thị trường có thể phân biệt giữa sự cung cấp chất lượng tốt và chất lượng tồi, với kết quả là chất lượng tồi sẽ bị đào thải.  Tuy nhiên, khi người ta chứng kiến sự tồn tại của các ví dụ về việc cung cấp chất lượng nghèo nàn, thì có thực tế là thị trường không tự đóng vai trò điều tiết được. Như đã thảo luận ở trên, các sinh viên/khách hàng không phải lúc nào cũng được thông tin đúng và chất lượng của các chương trình học có thể không phải lúc nào cũng được ưu tiên cao nhất. Khả năng khác có thể là các chính phủ đóng vai trò cổ vũ bằng cách khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học chú ý  hơn đến chất lượng giáo dục xuyên biên giới của họ, và đặt các hệ thống giám sát các khoá học vào đúng chỗ của nó. Sự thành công của cách tiếp cận này phụ thuộc vào mục đích cũng như khả năng của các nhà cung cấp trong việc đảm bảo chất lượng cung cấp của họ.    Việc phải làm là sự lựa chọn thiết lập hệ thống điều tiết. Mục đích của hệ thống ‘điều tiết’này là mục đích kép: Thứ nhất, giúp chính phủ thu thập các dữ liệu và thông tin về giáo dục xuyên biên giới đang hoạt động trong lãnh thổ của mình, như các loại khoá học, nguồn gốc của các nhà cung cấp, qui mô dân số sinh viên v.v. Thứ hai, quan trọng hơn, nó làm cho chính phủ có thể điều tiết hoặc kiểm soát sự cung cấp để đảm bảo/nâng cao chất lượng hoặc hình thức đào tạo phù hợp với chương trình của quốc gia.   Hệ thống đảm bảo chất lượng có thể hoạt động theo hai cách: 1) cho phép vận hành giáo dục xuyên biên giới trong điều kiện nó đáp ứng các tiêu chuẩn/điều kiện nhất định, và nó sẽ vi phạm pháp luật nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn; 2) khích lệ động viên nếu các điều kiện/tiêu chuẩn qui định được đáp ứng, thí dụ, công nhận văn bằng cho các mục đích tuyển dụng hoặc công nhận sinh viên đủ điều kiện vay tiền học…. Như vậy mặc dù hệ thống điều tiết có vẻ là hệ thống mang tính bắt buộc, tuy nhiên lại có thể xem là hệ thống tự nguyện, hoặc có những đặc điểm nhất định của sự tình nguyện trong khung điều tiết chẳng hạn như hệ thống khuyến khích. Những vấn đề trên nằm trong những vấn đề rộng lớn về chính sách mà một chính phủ cần xem xét trước khi đưa ra bất kỳ một hệ thống nào để điều khiển lĩnh vực giáo dục xuyên biên giới.  6.4. Các vấn đề trong việc thành lập hệ thống điều tiết   Các vấn đề và các câu hỏi đặt ra là:  • Lựa chọn tổ chức đóng vai trò điều tiết: Chính phủ phải quyết định cơ quan có thẩm quyền đảm nhận vai trò điều tiết: có thể là cơ quan chính phủ hoặc các tổ chức độc lập như cơ quan kiểm định và đảm bảo chất lượng; hoặc vai trò được chia sẻ giữa cơ quan chính phủ và cơ quan đảm bảo chất lượng. Ở Hồng Công vai trò được chia sẻ bởi chính phủ (Cơ quan đăng kí các khoá học không phải của địa phương)  và tổ chức đảm bảo chất lượng (đánh giá các khoá học xuyên biên giới).   • Xác định ‘giáo dục xuyên biên giới’ và quyết định phạm vi điều chỉnh: Trước hết cần xác định phạm vi của giáo dục xuyên biên giới và điều đó không phải lúc nào cũng dễ làm. Chẳng hạn, khung điều tiết có bao gồm các hoạt động giáo dục do cơ sở hải ngoại cung cấp kết hợp với các cơ sở của địa phương hay không? hệ thống có cần bao gồm ‘việc học từ xa’, và nếu cần thì nó hoạt động thế nào?    • Kiểu và mức độ của giáo dục xuyên biên giới: Chính phủ phải quyết định điều gì sắp xảy ra dưới phạm vi ảnh hưởng của hệ thống điều tiết. Có phải hệ thống chỉ điều tiết các khoá giáo dục đại học và các khoá học thuật hay không và những khoá này được xác định như thế nào?  Ở Hồng Công, cả hai loại khoá học thuật và nghề nghiệp đều phải đăng kí.   • Hệ thống cần được thông qua bằng các biện pháp hành chính hoặc luật pháp: hệ thống được đăng kí chính thức sẽ dễ dàng quản lí hơn. Tuy nhiên sẽ mất thời gian để dự thảo và chuyển cho cơ quan lập pháp. Những thay đổi có thể đòi hỏi sửa đổi luật.                   • Chọn giữa hệ thống tự nguyện và hệ thống có tính bắt buộc: điều này gắn với sự lựa chọn hệ thống hành chính hay được pháp luật công nhận. Ở nơi chính phủ muốn điều tiết để đảm bảo chất lượng của giáo dục xuyên biên giới, hoặc đưa ra biện pháp bảo vệ khách hàng, thì hệ thống có tính bắt buộc có thể hiệu quả hơn. Ở Hồng Công tồn tại một hệ thống hỗn hợp – có những quy định điều tiết bởi chính phủ, nhưng cũng bổ sung những khía cạnh tự nguyện.    • Quyết định các tiêu chí phê chuẩn/đăng kí: đây có lẽ là câu hỏi quan trọng nhất mà bất kì chính phủ và cơ quan đảm bảo chất lượng nào cũng đang phải đối mặt. Chất lượng được xác định như thế nào, ai xác định nó? Câu hỏi là liệu có áp dụng cùng chuẩn/chất lượng cho giáo dục xuyên biên giới và giáo dục trong nước không? Nói cách khác là có nên cùng một hệ thống đảm bảo chất lượng áp dụng cho cả hai loại hình cung cấp giáo dục trong nước và nhập khẩu?   6.5. Gợi ý những nội dung khung pháp lý đảm bảo chất lượng  Có thể tham khảo các nội dung sau đây trong Khung pháp lý điều tiết giáo dục xuyên biên giới của Hồng Công:  1) Định nghĩa   • Các định nghĩa rõ ràng về gíao dục xuyên biên giới; phạm vi, mức độ giáo dục xuyên biên giới được điều tiết;   • Phân biệt giữa các khoá học cần đăng kí và những khoá học được miễn trừ;  • Các khoá học đơn thuần có bản chất học từ xa không bị điều chỉnh bởi qui định này. (có thể đăng kí tự nguyện)                2) Đăng kí   • Qui định các tiêu chuẩn đăng kí (Thí dụ: Khái niệm về “tính so sánh” cho các khoá học;              • Các khoá có thể là môn học đã đăng kí tuỳ hoàn cảnh;  • Thiết lập hệ thống cho sự đăng kí ban đầu và cho sự giám sát tiếp tục (hàng năm.            3) Các biện pháp bảo vệ khách hàng   • Qui định hình thức phạt đối với hoạt động trái phép (không đăng kí);          • Qui định những nhà cung cấp các khoá học không được thu học phí trước quá 3 tháng và phải hoàn trả tiền trong trường hợp trì hoãn các khoá học;                                                                                        • Không cho phép quảng cáo giả dối hoặc gây nhầm lẫn liên quan đến các khoá học;  • Ngăn chặn các nhà cung cấp tạo ra những tuyên bố giả tạo về sự công nhận các khoá học bởi những người hoặc công ty tuyển người;  • Yêu cầu các nhà cung cấp phải xin phép khi muốn sử dụng những cơ ngơi đặc biệt cho những khoá học của họ.  4) Hệ thống khiếu nại   • Qui định các tiêu chí huỷ đăng kí;                  • Quy định về việc khiếu nại bao gồm các thủ tục và khung thời gian.  5) Công bố thông tin ra công chúng   • Công bố thông tin tất cả các khoá học đã đăng kí và được miễn thuế cho công chúng giám sát.  6.6. Vai trò của cơ quan kiểm định và đảm bảo chất lượng    Ngoài những nhiệm vụ khác, trong vấn đề giáo dục xuyên biên giới các cơ quan đảm bảo/ kiểm định chất lượng cần thực hiện các nhiệm vụ sau:                                   • Định ra những thủ tục rõ ràng cho sự kiểm định/đánh giá và cung cấp thông tin về vấn đề này;           • Định ra các tiêu chí đăng kí. Khi các tiêu chí đăng kí này đã được qui định bởi luật pháp thì giải thích rõ ràng cho các nhà cung cấp, các sinh viên và công chúng;   • Xử lý khiếu nại hoặc giúp chính phủ xử lý;  • Báo cáo những trường hợp bất hợp pháp cho chính phủ và hành động khi thích hợp;                      • Xây dựng cơ sở dữ liệu về các khoá học được đánh giá, thiết lập các tiền lệ về các trường hợp và biên soạn các số liệu thống kê, và phân tích về các khoá học khi thích hợp.                                                                          • Giao tiếp và hợp tác với cơ quan đảm bảo chất lượng ở các nước xuất khẩu, với các cơ quan quốc tế để trao đổi, chia sẻ thông tin và hoạt động;                                 • Giúp chính phủ công bố khung qui định về giáo dục xuyên biên giới và xử lý thông tin yêu cầu từ các nhà cung cấp, các sinh viên và công chúng.                                           • Xây dựng những qui chế hành nghề cho các nhà cung cấp các khoá học và các đối tác địa phương tham khảo.     Đôi lời cuối bài :  Giáo dục đại học xuyên biên giới được coi là một lĩnh vực mới với rất nhiều vấn đề đáng được chúng ta quan tâm. Trong bài này chúng tôi cố gắng đề cập các vấn đề vĩ mô, phản ảnh những cuộc tranh luận có giá trị, những nghiên cứu về hiện tượng giáo dục xuyên biên giới trong bối cảnh toàn cầu hoá. Việt Nam đang chuyển đổi và phát triển giáo dục, thuộc vào những nước tiếp nhận giáo dục giáo dục đại học xuyên biên giới. Hiện tại, có rất nhiều hoạt động với đủ loại hình thức giáo dục xuyên biên giới của nước ngoài vào Việt Nam. Điều này mang lại cho Việt Nam một cơ hội học hỏi tốt để phát triển giáo dục đại học. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu biết sâu sắc các cơ hội và thách thức do Giáo dục đại học xuyên biên giới mang lại để xây dựng cho được một khung chính sách đảm bảo chất lượng giáo dục đại học xuyên biên giới góp phần làm cho nền giáo dục đại học Việt Nam phát triển bền vững.  Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 2009  ——-  * Đại học Quốc gia Hà Nội                                                                                             Tài liệu tham khảo chính:   1. Arief S. Sadiman; Trade in Education services in Southeast Asia ; Conference on Education Cooperation in Asia 2004, Beijing, PR China, 22-25 August 2004.  2. Jane Knight; The impact of Trade Liberalization on Higher Education: Policy Implications, from “Globalization: What issues are at Stake for Universities?”, Universite Laval, Quebec, Canada. 2002.  3. Jane Knight; Cross-border Education as Trade: Issues of Consultation; Policy Review and Research, JHEA/RESA Vol.2 No.3 pp.55-81. 2004  4. Marijik van der Wende; Golbalization, privatization and liberalization, CHEPS Summer School, Vilnius, 4-8 July 2005  5. Neville Alexander, Karola Hahn (2005); CroBorEdu roll; DIES Conference “Cross-Border Education and Development Co-operation” (30 June – 1 July 2005);  6. OECD; Education Policy Analysis, 2002  7. Peter D. Eckel & Madelein F. Green (American Council on Education, Washington D.C. USA), Britany Affolter-Caine (University of Michigan USA); “Curricula Joint Ventures: a New Chapter in US Cross-border Education?”; Policy Futures in Education, Vol.2, No.2, 2004  8. Santosh Kumar Maduluga; Cross-border Mobility for Transnational Education; Conference on the Bologna Process and Shaping of the Knowledge Society at the University of Bergen, Norway, May 18-20 2005  9.The International Association of Universities  (IAU), ), the Association of Universities and Colleges of Canada (AUCC) (external link), the American Council on Education (ACE) (external link), Council for Higher Education Accreditation (CHEA);  Association of Universities and Colleges of Canada (AUCC)American Council on Education (ACE)Council for Higher Education Accreditation (CHEA)  Sharing Quality Higher Education Across Borders: A Statement on Behalf of Higher Education Institutions Worldwide (2004);  10. UNESCO, Commonwealth of Learning; Higher Education Crossing Borders: A Guide to the Implications od the General Agreement on Trade in Servises (GATS) for Cross-border Education; COL/UNESCO 2006  11. Vikash Naidoo; International Education: A Tertiary-level Industry Update; Journal of Research in International Education, 2006, 5  12. Wong W.S.; Safeguarding the quality of  cross-border education: the role of governments and quality assurance bodies; Seminar On Establishment of Cross-border Education  Assessment Mechanisms,organized by UNESCO Bangkok Office Kunming, China; 25 May, 2005;   13. Giả Hiểu Hồng, Khương Phụng; Nghiên cứu giáo dục đại học xuyên biên giới của các nước phương Tây; Tạp chí “Bình luận đánh giá Đại học Bắc Kinh” – 5-2007 (bản dịch)   14. Ngo Doan Dai & Le Duc Ngoc, Present situation of cross-border higher education in Vietnam (An investigation into situation of cooperation in training between Vietnam’s and foreign higher education institution); Research conducted by contract with UNESCO – HANOI and MOET – VIETNAM. 2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục giới tính ở Mỹ      S&#225;u năm trước, một b&#224; mẹ người Hoa đem đứa con trai vừa tr&#242;n 9 tuổi của m&#236;nh đến nước Mỹ định cư tại New York. Đ&#226;y l&#224; một th&#224;nh phố đầy rẫy m&#224;u sắc t&#236;nh &#225;i nhục dục. Chưa cần n&#243;i phố 42 khu Manhattan c&#243; cả một khu phố đ&#232;n đỏ nổi tiếng bất hảo, m&#224; ri&#234;ng chuyện đứa trẻ ng&#224;y ng&#224;y đến trường phải đi qua một loạt cửa hiệu b&#225;n đồ chơi t&#236;nh dục (sextoy) đ&#227; đủ l&#224;m cho b&#224; mẹ ấy hết sức lo lắng. Trong ho&#224;n cảnh như vậy, ch&#225;u b&#233; 9 tuổi kia khi lớn l&#234;n tr&#234;n đất Mỹ đ&#227; nhận được sự gi&#225;o dục giới t&#237;nh ra sao ? H&#227;y nghe ch&#237;nh b&#224; mẹ kể lại.    Cấp tiểu học: Nhận thức chính mình  Một hôm con trai tôi đi học về. Như thường lệ, tôi mở vòi nước vào đầy bồn tắm để chuẩn bị tắm cho cháu. Chẳng ngờ cháu lại nói: “Mẹ ơi, từ nay trở đi không cần mẹ tắm cho con nữa đâu!” “Sao thế?” – tôi cười hỏi lại. “Giáo viên môn sinh lý bảo, vì con là nam giới nên con không được tùy tiện để cho mẹ nhìn thấy cái penis1 của mình!”  Trời ơi, thằng nhóc học được ở đâu thứ lý luận kỳ quặc như vậy nhỉ! Tôi vừa bực mình vừa buồn cười: “Vũ này, con còn bé, mẹ tắm cho con là chuyện rất bình thường thôi mà.” Nói đoạn tôi vừa vỗ về vừa định giúp cháu cởi quần lót. Ai ngờ cháu gạt tay tôi ra và hét to: “Mẹ đừng chạm vào người con, con cũng có cái riêng tư của mình chứ!”  Thấy thái độ cháu rất nghiêm chỉnh, tôi đành thôi, trong bụng thầm trách các thầy cô giáo ở trường cháu đã “bé xé ra to” cái chuyện vớ vẩn này.  Tối hôm ấy tôi lựa lời hỏi Vũ xem giáo viên môn sinh lý đã nói gì trên lớp. Câu trả lời của cháu làm tôi há hốc miệng kinh ngạc. Thì ra giáo viên đã cho học sinh cả lớp xem các tranh vẽ đàn ông đàn bà khỏa thân để chúng hiểu được sự khác biệt rõ rệt nhất về sinh lý giữa nam với nữ là ở bộ phận sinh dục. Thằng bé nhìn tôi đàng hoàng nói: “Thầy giáo nói rồi, penis của con trai và vulva2 của con gái đều thuộc vào những thứ riêng tư kín đáo của một người, không được để bất cứ ai nhìn thấy hoặc sờ vào, trừ thầy thuốc.”  Khi nói câu ấy, vẻ mặt cháu tỉnh bơ hoàn toàn không ngượng nghịu chút nào. Điều khiến tôi không ngờ tới là chẳng những cháu đã biết các kiến thức sinh lý như sự trưởng thành phát dục của cơ thể, quá trình phụ nữ mang thai và sinh đẻ, mà thằng bé chưa đầy 10 tuổi này thậm chí còn chuyển đề tài, nói về sự quý giá của sinh mệnh và tính chất quan trọng của tình bạn nam nữ. Xem ra giáo dục vỡ lòng về giới tính người Mỹ dạy cho trẻ em còn lồng ghép cả nội dung giáo dục tính người: Biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới.  Cấp trung học cơ sở: Trực diện và hướng dẫn  Một hôm cháu Vũ mang về một bản thông báo của nhà trường cho biết cuối tuần này ở trường có một buổi lên lớp về kiến thức giới và tình dục, nội dung gồm việc tránh thai và đề phòng bệnh đường sinh dục. Bản thông báo ghi rõ: Nếu phụ huynh không đồng ý cho con em mình dự buổi học này thì phải ký tên vào một giấy trả lời nhà trường, sau này nếu trẻ xảy ra các hiện tượng như phá thai, mắc bệnh AIDS… thì phụ huynh không được trách nhà trường chưa dạy các em biết việc đó. Cuối bản thông báo viết, nhà trường hoan nghênh phụ huynh tới bàng thính giờ dạy về giới tính và tình dục.  Do lâu nay đã muốn đến trường con mình học để “trinh sát” tình hình nên dĩ nhiên tôi không bỏ lỡ dịp này.  Tôi đến trường, mang theo tâm trạng cho rằng giờ học kiến thức về sex chắc hẳn sẽ có không khí nghiêm trang và gò bó, ai ngờ thực tế lại không thế. Giờ học bắt đầu, cô giáo trẻ và xinh đẹp lấy phấn viết lên bảng chữ “SEX” to đùng. Sau đó cô mỉm cười nói với toàn thể học sinh: “Bây giờ cô hỏi các em nhé, khi nhìn thấy chữ SEX này các em nghĩ tới chuyện gì nào?”  Tôi thật chẳng ngờ giáo viên lại đi hỏi lũ con nít một vấn đề vớ vẩn như thế.  Một em trai tóc xoăn phát biểu đầu tiên: “Sex khiến em nghĩ đến chuyện di tinh ạ.” Lập tức trong lớp có tiếng cười rì rầm.  Một em gái hơi có vẻ ngượng ngập nhỏ nhẹ nói: “Sex khiến em nghĩ tới chuyện mang thai ạ.” Mấy bạn khác bụm miệng cười.  Một học sinh gốc châu Á tóc đen bất ngờ thốt lên một câu: “Thưa cô, sex khiến em nghĩ đến chuyện làm tình ạ!”   Lũ trẻ bỗng nhốn nháo, rì rầm xì xào, nhiều em gái đỏ mặt.  Lúc ấy một em trai da đen thân hình cường tráng nói với giọng ồm ồm: “Sex khiến em nghĩ tới người đàn bà không mặc quần áo gì cả ạ …” Câu nói vừa dứt, các học sinh khác cười toáng lên, có mấy em ném bút và vở về phía bạn ấy. Lớp học như nổ tung, lũ trẻ cười ha hả khoái chí lắm.  Các em học sinh tiếp tục thoải mái phát biểu. Lũ trẻ có sức tưởng tượng thật là phong phú. Cô giáo liên tiếp viết lên bảng những từ: “Làm tình, dáng điệu, phá thai, hôn, gợi dục …” Một số từ ngữ bình thường ngay cả người lớn cũng khó nói ra miệng, thế mà lũ trẻ lại nói thoải mái, hoàn toàn không thấy có ý nghĩa xấu hổ, tục tĩu.  Sau khi cả lớp yên tĩnh trở lại, cô giáo nhìn lên tấm bảng đen đầy chữ rồi chau mày nói: “Các em phát biểu nhiều thế mà vẫn còn sót mất một từ có vô vàn mối quan hệ chằng chịt với sex …”    Lũ trẻ thì thầm rì rầm bàn tán với nhau, suy nghĩ, phỏng đoán. Lát sau, cô giáo lẳng lặng quay người, ấn mạnh viên phấn lên bảng, viết nắn nót từ “LOVE” !  Lớp học bỗng dưng im phăng phắc.   “Tình yêu!”, cô giáo nói với giọng chan chứa xúc cảm, “Tình yêu – đó là tình cảm thuần khiết thiêng liêng nhất, cao cả nhất giữa hai giới tính. Sex không có tình yêu thì chỉ là cái xác không hồn! Người ta có khi bàn tán om xòm về nhục cảm, khoái cảm nhưng lại bỏ quên mất một điều: Sex cần phải có tiền đề là Yêu. Trong đời sống, những hiện tượng như có thai ở tuổi vị thành niên, phá thai, mắc bệnh đường sinh dục … thông thường là do các hành vi tình dục vô trách nhiệm gây ra …”  Lời cô giáo nói tràn đầy sức truyền cảm. Lũ trẻ vừa nãy cười sặc sụa bây giờ đều trở nên nghiêm chỉnh, trang trọng.  Tiếp đó cô giáo nói cho các em học sinh biết, quan hệ tình dục không có gì là đê tiện hèn hạ, cũng chẳng có tính phạm tội; nó là mối quan hệ tự nhiên, đẹp đẽ; nhưng học sinh trung học nếu quá sớm bước vào đời sống tình dục thì sẽ không có lợi cho sức khỏe và việc học hành; để xảy ra mang thai ngoài ý muốn và phá thai là điều vô cùng đau khổ.  Sau cùng, cô giáo chiếu lên màn hình một đĩa CD giới thiệu các phương pháp tránh thai. Lũ trẻ đón xem với thái độ đặc biệt nghiêm chỉnh. Trông bộ dạng chăm chú của các em cứ tưởng chúng đang xem một đồ thị ba chiều trong toán học.  Sau giờ học, tôi gặp thầy giáo chủ nhiệm lớp con tôi để trao đổi ý kiến. Khi tôi hỏi cháu Vũ có chơi thân với bạn gái nào trong lớp hay không, thầy chủ nhiệm có chút ngạc nhiên: “Rất xin lỗi thưa bà, tôi chưa bao giờ hỏi học sinh những chuyện riêng tư của chúng. Con bà rất xuất sắc, nếu có em gái nào yêu nó thì cũng là chuyện rất bình thường thôi ạ.” Tôi vội giải thích là tôi lo ngại cháu yêu đương quá sớm sẽ ảnh hưởng tới việc học tập. Thầy chủ nhiệm nói liền mấy câu “No” “No”… rồi hùng hồn giảng giải: “Tình yêu sẽ làm trẻ em trở nên thông minh hơn, tự tin hơn. Trách nhiệm của phụ huynh học sinh chỉ là ở chỗ hướng dẫn cho con mình khi say sưa yêu đương phải biết cách tránh thai !”  Cấp trung học phổ thông: Thông cảm và tin nhau  Chẳng bao lâu cháu Vũ nhà tôi đã lên lớp 9. Khi thấy cháu bắt đầu mọc ria mép, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng ở chỗ đặc trưng thứ hai về giới tính của cháu phát triển lành mạnh, mới tròn 15 tuổi cháu đã cao 1,7 mét. Lo ở chỗ văn hóa tình dục của xã hội phương Tây có tác dụng chất xúc tác đối với lũ trẻ đang ở tuổi dậy thì– nghe nói ở Mỹ hằng năm có hơn 1 triệu em gái mang thai; hiện tượng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong nam nữ thiếu niên đã trở thành vấn nạn của xã hội.  Đúng vào lúc tôi đang lo lắng về việc liệu cháu Vũ nhà tôi có thể bình yên vượt qua thời kỳ rạo rực của tuổi thanh xuân hay không thì bỗng nhiên có tin: Theo đề án của Sở Giáo dục thành phố New York, các trường trung học công sẽ phát miễn phí bao cao su cho học sinh trung học phổ thông!   Nhiều phụ huynh người gốc Hoa rất bất mãn với đề án này. Theo tôi nghĩ, cách làm ấy chẳng khác gì sự ngầm ra hiệu hoặc dung túng cho lũ trẻ ăn vụng trái cấm.  Tôi cuống cuồng đến ngay nơi con mình học, yêu cầu nhà trường đưa ra lời giải thích biện pháp bậy bạ cung cấp bao cao su cho trẻ em.   Một giáo viên tư vấn tâm lý phụ trách công tác học sinh tiếp tôi. Xem ra bà giáo này rất hiểu nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc, nói năng có tình có lý đâu ra đấy: “Tôi đã tiếp xúc với rất nhiều phụ huynh học sinh người gốc Hoa, nói chung họ cai quản dạy bảo con cái quá nghiêm ngặt. Việc họ khăng khăng cấm đoán tình dục là không khôn ngoan và nguy hiểm.”   Hình như phát hiện thấy tôi có chút ngạc nhiên nên bà giáo tiếp tục giải thích: “Sau khi bước sang thời kỳ dậy thì, lượng hooc-môn trong cơ thể lũ trẻ tiết ra tăng mạnh, chức năng tình dục phát triển nhanh, cộng thêm vô số tác dụng kích thích tình dục từ bên ngoài, chúng sẽ càng mạnh mẽ yêu cầu giải tỏa được hưng phấn tình dục và căng thẳng tình dục của mình; nhưng lũ trẻ lại không có điều kiện sống như người lớn, do đó nhu cầu tình dục của chúng bị ức chế, vì thế sinh ra tâm lý lo lắng bồn chồn của thời kỳ dậy thì. Xin hỏi, ai có thể bảo đảm con cái mình sẽ không vì một phút rung động nhất thời mà có hành động mất kiềm chế?”   Ngừng một lát, bà nói tiếp: “Chẳng phải người Trung Quốc các vị có câu thành ngữ phòng bệnh hơn chữa bệnh đó sao? Nhà trường cung cấp bao cao su cho các em học sinh chính là nhằm ngăn chặn hậu họa đấy, thưa bà. Bản thân bao cao su không thể làm tăng hoạt động tình dục của học sinh song lại có thể giảm bớt một cách hữu hiệu hiện tượng các em gái mang thai và sự lây lan các bệnh tình dục. Xin bà thử nói xem, chả lẽ như thế lại không tốt hay sao?”  Cuộc trao đổi ý kiến với giáo viên tư vấn tâm lý khiến tôi xúc động hồi lâu, tôi không thể không thừa nhận việc nhà trường cung cấp bao cao su thoạt xem có vẻ bậy bạ song thực ra lại tràn đầy tính người, thể hiện sự quan tâm, yêu thương của xã hội đối với lớp con trẻ.  Ít lâu sau, một lần vào ngày nghỉ cuối tuần, tôi và cháu Vũ cùng xem truyền hình. Bỗng dưng trên màn hình xuất hiện pha đặc tả cảnh hôn hít và ân ái khá lâu. Tôi bất giác chột dạ định chuyển sang kênh khác nhưng lúc ấy bộ điều khiển từ xa lại đang ở trong tay cháu. Trước cảnh hoan lạc kéo dài của đôi trai gái, tôi phát ngốt lên, đứng ngồi không yên. Liếc sang con trai thì thấy ngược lại cháu vẫn ngồi ngay ngắn, mắt không rời khỏi màn hình, chẳng hề có chút lúng túng nào sất. Nhìn bộ dạng cháu khoái chí chăm chú dán mắt vào chiếc ti-vi, tôi nghĩ bụng: “Thằng nhóc này quá chín muồi rồi đấy, xem những cảnh tình ái hot thế mà vẫn cứ điềm nhiên như không.”  “Mẹ ơi, mẹ đừng nhìn con bằng ánh mắt như thế được không? Con trai mẹ chẳng có ý nghĩ gì bậy bạ đâu ạ!” – bất ngờ thằng nhóc chọc tôi một câu.  Thấy con chủ động gợi chuyện, tôi vội nắm lấy cơ hội: “Vũ này, mẹ hỏi con nhé, con đã có bạn gái chưa đấy?” Cháu thản nhiên đáp: “Có chứ ạ, quan hệ giữa con và cô ấy còn trên cả mức bình thường nữa kia!”   Trống ngực tôi bất giác đập thình thịch. Thấy bộ dạng căng thẳng hồi hộp của tôi, nó đắc ý liếc tôi một cái rồi nói với giọng bông đùa: “Xin mẹ chớ có căng thẳng thế, con trêu mẹ tí thôi mà!”   Nói đoạn cháu đứng dậy tắt cái ti-vi rồi bất ngờ hỏi: “Mẹ ơi, mẹ xem con có sức hấp dẫn của một trang nam nhi không nào?”  Nhìn con mình đẹp trai ngời ngời, tôi cố ý chỉ cười không nói gì. Bỗng dưng cháu thốt ra một câu làm tôi vô cùng sững sờ: “Con chờ bao giờ lên đại học xong xuôi thì sẽ kiếm một cô bạn thông minh gợi cảm làm người yêu của mình. Chắc chắn cô gái ấy sẽ xuất hiện trong đời con. Vì cô ấy, bây giờ con dốc sức lao vào việc học tập, không bận tâm gì đến chuyện yêu đương.  Xin bảo đảm với mẹ sau đây hai năm nữa con nhất định sẽ thi đỗ vào một trường đại học hàng đầu của nước Mỹ!”  Bất giác tôi trợn tròn mắt, thì ra con trai mình đã chín chắn hơn mình tưởng tượng rất nhiều. Trong bối cảnh nền văn hóa sex của nước Mỹ, trải qua bài học vỡ lòng về giới tính và sự giáo dục giới tính ở tuổi dậy thì, con trai tôi bây giờ đã đủ khả năng có thái độ thản nhiên như không đối với vấn đề tình dục. Sex trong lòng con tôi là một điều tự nhiên và tươi đẹp, không có chút gì thần bí và xấu hổ. Trong xã hội phương Tây đầy rẫy những quyến rũ tình ái nhục dục, con trai tôi lĩnh hội vấn đề sex bằng một trái tim bình thường, dùng ý thức giới tính lành mạnh chín muồi để kiềm chế được mọi nỗi rạo rực sinh lý ở tuổi dậy thì.  —————–  Ghi chú:  1. Dương vật;  2. Âm hộ  Nguyễn Hải Hoành  dịch    Nguồn: tạp chí Khoa học và Văn hóa số 5-2009  (Trung Quốc)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục: Giữa tự do và cưỡng bách      Xin ôn lại nhận định cơ bản của Kant: “Một  trong những vấn đề khó khăn nhất của giáo dục là làm sao hợp nhất việc  con người vừa phải phục tùng sự cưỡng bách, vừa có năng lực sử dụng sự  tự do của mình (…).     Không làm được điều này, tất cả sẽ trở nên “máy móc”, và người học ra trường không biết cách dùng sự tự do. Cần phải sớm cảm nhận sự đề kháng không tránh khỏi của xã hội để thấy hết sự khó khăn của việc giữ mình được độc lập”. Đề án chi tiết trong học thuyết giáo dục khai minh của Kant chủ yếu xoay quanh vấn đề cơ bản ấy.   Đáng chú ý là những ý kiến và giải pháp của ông đối với mọi loại người và mọi lứa tuổi.  VUN BỒI Ý THỨC TỰ DO TỪ LÚC ẤU THƠ  Đồng ý với Rousseau, theo Kant, nên hiểu trẻ em theo lứa tuổi, chứ không nên đánh giá quá cao hay quá thấp về trẻ em nói chung. “Đứa bé chỉ cần thông minh, lanh lợi như một… đứa bé!”. “Đừng làm cho đứa bé sợ hãi”, nhưng đồng thời “không việc gì phải làm hài lòng nó, nếu nó không làm hài lòng ta”. Một cách đối xử sòng phẳng là bước đầu của ý thức về tự do và trách nhiệm: “Hết sức nguy hiểm nếu tập cho trẻ em thói quen xem mọi chuyện chỉ là trò chơi”, mặc dù việc chơi đùa là cần thiết biết bao!  Vậy, làm sao để giúp cho trẻ em sớm tiếp thu một chuyện thoạt nghe rất là đại sự, đó là: “lý tính khai minh phổ quát vì nền… hòa bình nhân loại”?  Không gì khác hơn là giải quyết vấn đề: sử dụng tự do cá nhân và cảm nhận “sự đề kháng không tránh khỏi của xã hội” buộc ta phải tuân thủ bao nhiêu thứ luật lệ, Không ý thức điều ấy từ sớm, sẽ không thấy sự khó khăn của việc bảo vệ tự do và độc lập. Kant nêu ba quy tắc sư phạm giúp tăng tiến ý thức tự do:  1. Trẻ em được tha hồ hưởng mọi tự do từ tấm bé, miễn không gây nguy hiểm cho bản thân (ví dụ chơi với vật bén nhọn…) và không cản trở người khác cũng được tự do;  2. Trẻ em cần hiểu rằng nó chỉ có thể đạt được điều nó mong muốn nếu cũng để cho người khác đạt được sự mong muốn của họ.   3. Trẻ em dần dần nhận ra rằng việc nó phải tuân thủ một số kỷ luật là để giúp nó sớm được hưởng tự do, nghĩa là không còn phải phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Đặc biệt, nền giáo dục công cộng (ngoài phạm vi gia đình) tuyệt nhiên không được dành bất kỳ sự biệt đãi hay đặc quyền nào cho trẻ em con nhà giàu hay quyền thế, nếu không muốn tạo ra những người công dân tồi tệ và thối nát trong tương lai.  Làm việc và chơi đùa là biểu hiện khác của cưỡng bách và tự do. Con người là sinh vật duy nhất phải làm việc, đồng thời không bao giờ ngừng vui đùa, nghĩa là không bao giờ ngừng là trẻ em. Thay vì cưỡi con ngựa gỗ, họ cưỡi con ngựa thật “rong chơi ngoài ngõ liễu” mà thôi! Nhưng, Adam và Eva sở dĩ rời khỏi vườn địa đàng có khi chỉ vì chơi mãi cũng chán! Vì thế, sự nghỉ ngơi, vui đùa chỉ “sướng” nhất là sau khi đã làm việc. Nhà trường, theo Kant, chính là nơi tập làm việc. Chỉ có điều, luôn hỏi và giúp trẻ em tự hỏi và trả lời: làm việc này để làm gì? Tại sao làm? Giáo dục bao giờ cũng ít nhiều mang tính cưỡng bách, nhưng không thể để biến thành công việc khổ sai, nô lệ, vô ý thức.   TRẺ NGƯỜI NHƯNG KHÔNG NON DẠ  Đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, điều hệ trọng bậc nhất, theo Kant, là xây đắp và bảo vệ tinh thần phê phán và khả năng tự đề kháng, độc lập tư duy và tự do học thuật, hướng đến nền giáo dục nhân bản và khoan dung để “làm công dân thế giới”.  Trước hết là ngăn ngừa lối mòn của tư duy giáo điều, biệt phái. Kant viết trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy trứ danh: “Thật là phi lý khi muốn nhờ lý trí mang lại sự khai minh, mà ngay từ đầu, các bạn lại bắt buộc nó phải nhất thiết đứng về một phía do các bạn quyết định”. Do đó, “hãy để yên cho mỗi nhà tư tưởng đi riêng con đường của họ, hãy để cho họ thể hiện hết tài năng, để họ minh chứng các tư tưởng thâm trầm và mới mẻ (…), và như vậy, rút cục, chỉ có lý trí bao giờ cũng là người thắng cuộc“. Ông đặt câu hỏi: “phải chăng ta cần khuyến cáo các bạn trẻ tránh xa các tác phẩm ấy, ngăn cản không cho họ biết được lập trường nguy hiểm này bao lâu ta cho rằng phán đoán của họ chưa đủ vững vàng và học thuyết ta muốn nhồi nhét cho họ chưa đủ bám rễ sâu trong trí não?” Rồi ông tự trả lời: “Nếu bản thân ta tiếp tục đứng mãi trong tư duy giáo điều, thì có lẽ trước mắt chỉ có hạ sách ấy thôi. Nhưng về lâu dài, không gì vô lý và kém hiệu quả hơn bằng việc muốn giữ mãi tinh thần của thanh niên dưới sự giám hộ càng lâu càng tốt. Vì, sớm muộn họ cũng sẽ tiếp cận các tác phẩm trên và liệu họ có giữ vững niềm tin thời trai trẻ? Những thanh niên không được trang bị gì khác ngoài những vũ khí giáo điều, không thể phát hiện được sự sai lầm tiềm tàng ngay trong những quan điểm của chính mình cũng như của đối phương, ắt sẽ nghi ngờ và bất mãn rằng trước đây những người lớn đã lợi dụng lòng ngây thơ, cả tin của họ”. Và, do chỉ quen với lối tư duy giáo điều, họ lại tiếp tục rơi vào lẩn quẩn không lối thoát ấy. Ông đề nghị: “Do đó, trong giáo dục, người ta nên đi con đường hoàn toàn ngược lại. Điều kiện tiên quyết là hãy huấn luyện thuần thục cho thanh niên tinh thần và phương pháp phê phán lý tính”. Tinh thần và phương pháp phê phán lý tính không gì khác hơn là  làm mất khả năng gây ảo tưởng của mọi lập luận giáo điều bất kể từ đâu tới”.   “DỌN MÌNH”  Vượt bỏ ảo tưởng giáo điều là điều kiện căn bản cho sự tăng tiến về nhận thức lý thuyết. Rồi, bằng khả năng phân tích, so sánh những hành vi một cách tỉnh táo, không định kiến, con người tự vun bồi năng lực hành động đạo đức. Thêm vào đó, rèn luyện năng lực phán đoán vô vị lợi trong lĩnh vực thẩm mỹ, con người “dọn mình” để cảm thụ cái đẹp và cái cao cả trong tự nhiên và nghệ thuật. Tất cả những điều ấy mở rộng chân trời của con người, chuẩn bị cho họ làm người “công dân thế giới” với đầy đủ sự tự trị và chủ quyền. Theo Kant, đó là viễn tượng của “lịch sử phổ quát” của nhân loại trong một nền “hòa bình vĩnh cửu” mà mục đích tối cao là phát huy hết “mọi tiềm lực của con người”. Phải chăng đó là một giấc mơ? Tất nhiên, nhưng, theo Kant, đó cũng là một vấn đề đặt ra cho “nhân loại” như một nghĩa vụ.  Tóm lại, môn học “tư duy phản biện” và “khoa học luận” đang thịnh hành ngày nay, đó là chưa nói đến Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (xem việc hài hòa các mục đích trong tự do và hòa bình là sứ mệnh trung tâm của giáo dục) chịu ơn Kant rất nhiều, và không phải chỉ có thế…  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 21, 19.06.2014)    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục Khai minh: Thông điệp của thế kỷ      Phong trào Khai minh – khai mào từ thế kỷ 17, phát triển rực rỡ vào thế  kỷ 18 và lưu lại dấu ấn lâu dài đến tận ngày nay – kỳ cùng là nỗ lực  giáo dục: giáo dục bản thân, giáo dục cộng đồng và, rộng hơn lẫn tham  vọng hơn, giáo dục nhân loại xét như toàn bộ giống loài.     Ta vừa làm quen với triết thuyết giáo dục “tự nhiên” của J. J. Rousseau. Di sản của Rousseau rất phong phú, nhưng tác động quan trọng của ông lại là ở sự độc đáo của nhiều vấn đề do ông gợi ra hơn là ở những giải pháp do ông đề xướng.  Rousseau đặt ra hai phương hướng giáo dục:  –   Giáo dục công cộng đào tạo “người công dân” (citoyen): chỉ đạt được khi cá nhân là bộ phận của cộng đồng và hợp nhất với nó;  –   Giáo dục riêng tư đào tạo “con người tự nhiên” (homme naturel), lấy chính mình làm trung tâm và giữ khoảng cách với xã hội, nhà nước…  Hai quan niệm hoàn toàn khác nhau ấy đặt ra hai câu hỏi cơ bản cho thế hệ sau:  –  Liên quan đến bản tính của con người và mục tiêu của giáo dục: thích nghi hoặc tự chủ?  –   Về sứ mệnh và cấu trúc nội tại của giáo dục: lèo lái người học hoặc phát huy bản tính cá nhân?  Hai câu hỏi ám ảnh và dày vò suốt cả thế kỷ 18: “thế kỷ Ánh sáng” xét như một thời đại, và “thế kỷ của sư phạm học”, xét riêng về phương diện giao dục. Nhưng, trước khi bước vào thế kỷ lạ lùng và rực rỡ này, ta không nên quên một khuôn mặt tiền bối, “người hùng” của thế kỷ 17, nhà tiên phong vĩ đại, vừa gợi hứng vừa khêu gợi sự phản biện: John Locke (1632-1704).  TABULA RASA  John Locke, đại triết gia Anh, đồng thời là bậc “sư biểu” đích thực trong tư tưởng giáo dục. Là triết gia, trong “Một Nghiên cứu về Giác tính Con người” (An Essay Concerning Human Understanding, 1689), ông cho rằng tinh thần con người không hề có những ý niệm bẩm sinh nào cả như Descartes đã nhầm tưởng, mà như một tờ giấy trắng. Nhận thức có được là nhờ giác quan và kinh nghiệm. Tri giác ấy sẽ được giác tính xử lý, nhưng không có gì ở trong giác tính mà trước đó không phải là những tri giác. Vậy, phải “dọn sạch hết” (tabula rasa) để tiếp nhận tri thức. Như một cái bàn đã dọn sạch, nó chờ đợi những món ăn tươi ngon được dọn lên. Từ đâu? Thì ông đã nói: từ môi trường sống, tức từ giáo dục!  Là nhà giáo dục học, trong “Vài tư tưởng về giáo dục” (Some Thoughts Concerning Education, 1693), Locke kết luận nhất quán: con người tốt hay xấu, giỏi hay dở là do giáo dục. Vì thế, cần định hướng sớm cho trẻ em về cả ba phương diện: trí dục, đức dục và thể dục. Ông có tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại khi chủ trương giáo dục bình đẳng cho mọi giai tầng, nhưng lý tưởng giáo dục của ông đồng quy về mẫu người “English Gentleman”, một “quý ông Ăng-lê” có đầy đủ: đức hạnh, tri thức, năng lực. Xem trẻ em là “người lớn dự bị” cần rèn cặp, Locke hứng chịu nhiều lời phê bình gay gắt của Rousseau như ta đã biết, nhưng khách quan mà nói, triết thuyết giáo dục của John Locke là quan trọng nhất và có ảnh hưởng “thống soái” trong suốt thời Khai minh.  THỰC TẾ CHẮP CÁNH  Tư tưởng trong tháp ngà dễ trở nên viễn mơ nếu không được thực tế chắp cánh. Sự hội ngộ hy hữu giữa tư tưởng và cuộc sống đã tạo nên đại vận hội cho thế kỷ Ánh sáng. Một vài cứ liệu thật thuyết phục:  –     Về hệ thống giáo dục: ở nước Anh, tỉ lệ dân số biết chữ năm 1640 chỉ là 30%. Con số đã tăng lên gấp đôi (60%) một thế kỷ sau đó. Tương ứng là nước Pháp: năm 1690, tỉ lệ biết chữ: 29% (nam) và 14% (nữ), tăng vọt lên 48% (nam) và 27% (nữ) vào giữa thế kỷ 18.  Công lao trước hết thuộc về nền giáo dục tôn giáo, nhưng từ thế kỷ 18 là nhờ nhà nước, như là thành quả của cuộc cạnh tranh giữa nhà thờ (tín ngưỡng cổ truyền) và nhà nước (nhu cầu thế tục hóa).  –  Về văn hóa đọc: thế kỷ 17, sách tôn giáo chiếm 50%, bằng tiếng latinh. Sang thế kỷ 18, sách tôn giáo chỉ còn 10%, và lấy tiếng Pháp làm chuyển ngữ chính khắp châu Âu.  –  Thư viện công cộng và nhà bảo tàng mọc lên khắp nơi, phổ cập cho mọi người, lan truyền tinh thần “khai dân trí”.  –  Đặc biệt nhất là sự nở rộ sinh hoạt học thuật và các hình thức tự tổ chức của xã hội dân sự. Những quán cà phê, nơi mọi người trao đổi thông tin và thảo luận thời sự (ở Anh, quán cà phê đầu tiên ở Oxford năm 1650 đã trở thành “huyền thoại”. “Penny University” (“Đại học” một xu) ở Luân Đôn thế kỷ 18 là hình ảnh đẹp đi vào lịch sử: chỉ với một xu, ai cũng có thể vào uống cà phê, đọc sách báo, trao đổi, thảo luận đủ thứ trên đời. Nhiều phòng khách (salon) văn chương của các mệnh phụ nổi tiếng lôi cuốn giới thức giả tinh hoa và đông đảo tao nhân mặc khách. Các Viện Hàn Lâm lần lượt ra đời. Nơi nơi sôi động tinh thần “chấn dân khí” như những năm đầu thế kỷ 20 ở nước ta với Đông kinh nghĩa thục: “buổi diễn thuyết người đông như hội, kỳ bình văn khách đến như mưa”…  –   Nữ quyền cũng bắt đầu được khẳng định trong giáo dục. Thế kỷ 17, bắt đầu có trường nữ, tuy chưa được học khoa học và chính trị! Tuy nhiên, nếu trước Cách mạng Pháp chỉ mới có 55-78 tác phẩm của nữ tác giả, thì từ 1719-1800, con số đã tăng vọt lên 329 tác phẩm! Mary Wollstonecraft (1759-1797) mạnh mẽ luận chiến, bảo vệ quyền hạn của nữ giới. Tác phẩm “Biện chính cho quyền của phụ nữ” (A Vindication of the Rights of Woman) (1792) của bà là công trình kinh điển về nữ quyền. Tác phẩm bảo vệ tinh thần và các nguyên tắc của Đại Cách mạng Pháp; áp dụng tư tưởng Khai minh vào nữ giới và giáo dục. Bà khẳng định sự bình đẳng về năng lực lý trí, học vấn và nghề nghiệp giữa nam và nữ, vượt xa quan niệm của Rousseau, Kant và Hegel! Bà cũng là người đầu tiên chủ trương trường học hỗn hợp nam nữ.  BA MỤC TIÊU CỦA “KHAI MINH”  Khai mào từ thế kỷ 17, phát triển rực rỡ vào thế kỷ 18 và lưu lại dấu ấn lâu dài đến tận ngày nay, phong trào Khai minh vừa đánh dấu một thời đại lịch sử bất hủ của châu Âu, vừa mang ý nghĩa phổ quát như một “tư thế” mới của con người hiện đại. Nói thật khái quát, phong trào Khai minh kỳ cùng là nỗ lực giáo dục: giáo dục bản thân, giáo dục cộng đồng và, rộng hơn lẫn tham vọng hơn, giáo dục nhân loại xét như toàn bộ giống loài. Ba mục tiêu chính yếu của Khai minh từ di sản của nhiều thế hệ: Hobbes, Locke, Diderot, Voltaire, Rousseau, Montesquieu, Kant, Mill… là:  –   Giáo dục là chìa khóa để vượt qua sự dốt nát, sợ hãi và mê tín, hướng đến xã hội bình đẳng và cởi mở, khởi đi từ hai niềm xác tín: lý trí con người bắt nguồn từ bản tính tự nhiên và nghi ngờ mọi “chân lý” có sẵn;  –   Khẳng định nhân quyền và dân quyền, dẫn đến: Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Pháp, 1789); Tuyên Ngôn Độc lập của Hoa kỳ (1776); Tuyên Ngôn Phổ quát về Nhân quyền (Liên Hợp Quốc, 1948);  –   Đề xướng tự do, chống cường quyền. Chống kiểm duyệt, bảo vệ tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do học thuật.  Chúng ta sẽ đi vào triết thuyết giáo dục khai minh với nhân vật trụ cột: Immanuel Kant (1724-1804), con người mang thông điệp của cả hai thế kỷ.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 16, 08.05.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục khai phóng và sự thịnh vượng của nền kinh tế Mỹ      Mặc dù có truyền thống giáo dục khai phóng lâu đời nhưng gần đây nước Mỹ đang có xu hướng cổ vũ cho giáo dục STEM đến mức cực đoan là hạ thấp những ngành nhân văn.      Vì vậy, các biên tập viên của tạp chí khoa học Scientific America đã viết một bài phản đối lại quan điểm này. Họ cho rằng, giáo dục toàn diện về cả công nghệ và nhân văn đã đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế Mỹ.  Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Holywood và Silicon Valley là minh chứng rõ ràng nhất cho sự gắn kết mật thiết giữa những gì mà nhà khoa học và tiểu thuyết gia C.P. Snow gọi là “hai nền văn hóa” của nghệ thuật và khoa học. Là một ví dụ điển hình, Steve Jobs, được mệnh danh người hùng công nghệ trong hàng thập kỉ, chưa bao giờ là lập trình viên hay kỹ sư phần cứng. Ông nổi bật trong giới tinh hoa công nghệ bởi ông đem đến sự nhạy cảm nghệ thuật trong thiết kế những chiếc điện thoại và những chiếc máy tính bàn vốn cục mịch trước đó. Jobs đã từng khẳng định rằng: “Trong AND của Apple, công nghệ là không đủ mà đó là hôn phối giữa công nghệ với nghệ thuật khai phóng, với ngành nhân văn để tạo ra những sản phẩm khiến trái tim mình cất lên tiếng hát”.  Nếu nhìn kĩ vào chương trình học các ngành STEM, sẽ thấy rằng các học sinh tốt nghiệp sau bốn năm học Vật Lý cộng thêm thơ ca, trên thực tế sẽ là những ứng cử viên sáng giá trong mắt các nhà tuyển dụng. Vào năm 2013, Hiệp hội các trường Cao đẳng và Đại học Mỹ công bố kết quả khảo sát 318 nhà tuyển dụng có từ 25 nhân viên trở lên chỉ ra rằng hầu hết đều thấy năng lực “suy nghĩ phê phán, diễn đạt rõ ràng, giải quyết những vấn đề phức tạp” – chính xác là mục tiêu giảng dạy của giáo dục khai phóng, quan trọng hơn cả kiến thức chuyên môn của các ứng cử viên. Những kĩ năng đó, cũng chính là những gì một người cần để kết hợp nghệ thuật thiết kế với các yếu tố kĩ thuật để tạo ra những chiếc xe ô tô, quần áo, điện thoại cao cấp nổi bật trước các đối thủ cạnh tranh. Đó cũng chính là những kĩ năng không bao giờ bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của máy tính, của robot và những “công nghệ chiếm việc” khác.  Những sinh viên có khả năng thiết kế lịch học của mình kết hợp giữa ngành STEM và nhân văn sẽ gặt hái nhiều thành tựu lớn trong tương lai. Chính người sáng lập Facebook Mark Zuckerberg là một học sinh xuất sắc trong môn tiếng Hy Lạp và tiếng Latin từ khi còn ở trường phổ thông bên cạnh việc học thêm ngôn ngữ lập trình.  Có lẽ, có một sự liên hệ giữa đổi mới sáng tạo và các môn học khai phóng. Ngoài Mỹ, ở hầu hết các nước khác trên thế giới, chương trình đại học vẫn chỉ tập trung vào học những kĩ năng hướng tới một ngành nghề cụ thể. Nhờ vào giáo dục khai phóng, mà nền kinh tế Mỹ mới có được sự năng động và đổi mới mạnh mẽ, thể hiện ở tỉ trọng các cơ quan trong khối nhà nước áp dụng công nghệ cao lớn nhất thế giới vào năm 2014. Điều này khiến cho các quốc gia khác, chẳng hạn như Singapore phải học theo mô hình khai phóng của Mỹ.     Khuyến khích một nền công nghiệp công nghệ cao ở một vùng nào đó, không thể bằng cách chê bai Voltair hay Camus mà tốt hơn cả là xây dựng một hệ thống giáo dục hàng đầu và giảm đỡ gánh nặng tài chính để sinh viên dù có xuất thân khiêm tốn đến mấy cũng có thể được học. Nghề nghiệp sẽ từ đó mà phát triển – dù là trong khối nhà nước hay là tạo ra những startup công nghệ đình đám.      Hảo Linh lược dịch  Nguồn:https://www.scientificamerican.com/article/stem-education-is-vital-but-not-at-the-expense-of-the-humanities/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục là vấn đề an ninh      Cựu Thủ tướng Anh Tony Blair có bài phát biểu lý giải vì sao chúng ta cần bắt đầu nghĩ rằng giáo dục là vấn đề an ninh trong bối cảnh thế giới đang chia rẽ và xung đột do sự khác biệt về niềm tin tôn giáo.    Tháng 11 năm ngoái, sau 13 năm, lần đầu tiên tôi lại có buổi nói chuyện ở Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Ấn tượng nhất là tâm trạng đã khác xa ngày xưa. Tháng 12 năm 2000, thế giới dường như khác hẳn. Lúc đó chúng tôi đang cố gắng thiết lập trật tự an ninh mới cho thập kỉ sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Dĩ nhiên lúc đó cũng có những thách thức. Nhưng bầu không khí nhẹ nhàng, thậm chí là tích cực, khi chúng tôi thảo luận về việc xóa đói nghèo trong thế giới đang phát triển.  Lần này, tâm trạng nặng nề. Và những ngày đầu tiên của năm 2014 làm cho nó còn nặng nề hơn. Lướt trên màn hình tổng quan tin tức của bất cứ ngày nào, bạn cũng sẽ tìm thấy những câu chuyện về khủng bố và bạo lực xảy ra từ quan niệm sai lầm về tôn giáo. Một số là do những tác nhân bên ngoài Nhà nước; nhưng tất cả đều được thực hiện trong bối cảnh của sự chia rẽ và xung đột do sự khác biệt về niềm tin tôn giáo mà ra.  Đây là cuộc chiến đấu mới trong thế kỉ XXI. Chúng ta sẽ không thể thắng được nó, trừ phi chúng ta chiến đấu với nguyên nhân gốc rễ của nó cũng như khắc phục những hậu quả khủng khiếp của nó.   Hôm nay, trong vòng cung kéo dài từ Viễn Đông, qua Trung Đông, tới các đường phố ở châu Âu và nước Mĩ, chúng ta đều gặp những tai họa giết chết những con người vô tội, chia rẽ cộng đồng và làm mất ổn định đất nước. Có nguy cơ nó liên tục tiến hóa, phát triển và biến đổi nhằm đối đầu với cuộc chiến đấu của chúng ta.   Những kẻ cực đoan đang phát tán nạn bạo hành có mạng lưới có thể tiếp cận với thanh niên và chúng biết sức mạnh của giáo dục, dù là giáo dục chính thức hay phi chính thức. Những kẻ cực đoan đang nhồi nhét vào đầu óc thanh niên rằng bất cứ ai không đồng ý với chúng đều là kẻ thù – không phải kẻ thù của chúng mà là kẻ thù của Chúa.  Cuộc tranh luận về an ninh lại thường tập trung vào hậu quả. Sau vụ tấn công, các quốc gia liền xem xét các biện pháp an ninh. Bọn khủng bố bị săn đuổi. Sau đó chúng ta trở về với cuộc sống thường nhật, cho đến khi một vụ khủng bố khác xảy ra.  Nhưng thay đổi kéo dài lại phụ thuộc vào việc giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố. Đương nhiên chính trị có vai trò của mình. Và những kẻ cực đoan rất giỏi nắm lấy những bất bình về mặt chính trị. Nhưng mảnh đất mà họ trồng những hạt giống của hận thù lại được tưới bón bằng sự thiếu hiểu biết.   Đó là lý do vì sao chúng ta cần bắt đầu nghĩ rằng giáo dục là vấn đề an ninh.  Những kẻ cực đoan nói rằng chúng giết người là nhân danh Chúa. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn niềm tin tôn giáo đích thực. Và là mối đe dọa cho cả những thiệt hại mà nó trực tiếp gây ra cũng như sự chia rẽ và chủ nghĩa bè phái mà nó gián tiếp nuôi dưỡng. Mỗi vụ giết người đều là một bi kịch của nhân loại. Nhưng nó còn gây ra phản ứng dây chuyền của sự đau khổ và hận thù. Những cộng đồng bị chủ nghĩa cực đoan quấy nhiễu bao giờ cũng có sự sợ hãi, sợ hãi làm tê liệt cuộc sống bình thường và làm cho người ta xa cách nhau.  Toàn cầu hóa làm gia tăng và nhân rộng chủ nghĩa cực đoan. Không bị giới hạn bởi đường biên giới quốc gia, nó có thể nổi lên ở bất cứ chỗ nào. Hiện nay chúng ta có nhiều mối liên kết hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại, và ngày càng nhiều người tiếp xúc với những người khác mình. Vì vậy, nhu cầu tôn trọng một người hàng xóm không giống như bạn cũng ngày càng gia tăng, nhưng cơ hội để coi người đó là kẻ thù cũng lớn hơn.  Và đây không chỉ là chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Có những hành động cực đoan nhằm chống lại người Hồi giáo vì tôn giáo của họ, và ngày nay có các tín đồ Công giáo, Do Thái giáo, Ấn giáo, và Phật giáo cuồng tín, xuyên tạc bản chất thật sự của đức tin của họ.  Đó là lý do vì sao giáo dục trong thế kỷ XXI là vấn đề an ninh đối với tất cả chúng ta. Thách thức là giới trẻ, những người dễ bị ngả theo lời kêu gọi của những kẻ khủng bố rằng có cách tốt hơn làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe, có cách hiệu quả hơn để tương tác với thế giới.  Tin vui là chúng ta biết cách làm việc này. Tôi xin sử dụng Quĩ Đức tin (Faith Foundation) của tôi làm ví dụ. Chương trình tại các trường học của chúng tôi thúc đẩy đối thoại xuyên văn hóa trên toàn thế giới, giữa các học sinh tuổi từ 12 đến 17. Tiếp cận với học sinh tại hơn 20 quốc gia, chương trình của chúng tôi kết nối những học sinh với nhau thông qua một trang Web an toàn, họ tương tác với nhau từ các lớp học dưới sự hướng dẫn của giáo viên đã được huấn luyện.   Thông qua hội thảo trực tuyến, học sinh thảo luận các vấn đề toàn cầu, từ những tôn giáo và quan điểm tín ngưỡng khác nhau. Họ nhận được những kỹ năng đối thoại cần thiết nhằm ngăn ngừa xung đột bằng cách phá vỡ các khuôn mẫu mang tính tôn giáo và văn hóa. Đối với các trường ở những khu vực nghèo nhất, chúng tôi phải có cách làm đặc biệt, bởi vì họ không thể truy cập Internet.  Chắc chắn là, chúng tôi chỉ là một giọt nước trong biển cả. Nhưng bây giờ chúng tôi có kinh nghiệm với hơn một nghìn trường học, trên 50.000 học sinh đã được dạy, và chúng tôi đang làm việc ở các nước khác nhau như Pakistan, Ấn Độ, Mỹ, Jordan, Ai Cập, Canada, Ý, Philippines, và Indonesia. Tôi đã được may mắn chứng kiến những học sinh này thoải mái khi tiếp xúc với các nền văn hóa, tôn giáo, và niềm tin đang truyền cảm hứng cho biết bao nhiêu con người trên thế giới.   Có nhiều ví dụ tuyệt vời khác về công việc này. Nhưng họ thiếu các nguồn lực, mức độ ảnh hưởng và sự công nhận mà họ cần.  Chúng ta cần liên kết để đánh bại chủ nghĩa cực đoan. Và chúng ta phải hành động trên toàn cầu. Tất cả các chính phủ phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm của mình nhằm giáo dục thanh niên chấp nhận và tôn trọng những người thuộc các tôn giáo và những nền văn hóa khác nhau.   Không có vấn đề nào cấp bách hơn. Có một nguy cơ thực sự là các xung đột tôn giáo sẽ thế chỗ cho các cuộc đấu tranh ý thức hệ của thế kỷ trước dưới một hình thức tàn phá cũng chẳng khác gì trước kia.   Tất cả chúng ta phải chỉ cho mọi người thấy rằng chúng ta có ý tưởng tốt đẹp hơn bọn cực đoan – đấy là học hỏi lẫn nhau và sống cùng nhau. Và điều này cần phải trở thành thành phần cốt lõi của công tác giáo dục thế hệ trẻ.      Tony Blair là Thủ tướng Anh từ năm 1997 đến năm 2007, là đại diện đặc biệt của Bộ tứ ở Trung Đông (Middle East Quartet). Sau khi rời chức vụ Thủ tướng, ông đã thành lập Quỹ Tony Blair Faith Foundation và The Faith and Globalization Initiative.       Phạm Nguyên Trường dịch      Nguồn: project-syndicate.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục, liều thuốc thần cho nền kinh tế      Đôi khi người ta quên mất rằng ngành giáo dục Mĩ đã tạo ra một trăm năm phát triển.    Trong những buổi thảo luận về Nền kinh tế Mĩ  giai đoạn tiếp theo với Giáo sư Larry Katz diễn ra vào tuần trước, ông  đã tập trung nói về tác phẩm do ông viết chung với Giáo sư Claudia  Goldin, với nhan đề Cuộc chạy đua giữa giáo dục và công nghệ (The Race  Between Education and Technology) trong đó giáo sư Larry đã đưa ra một  số nhận định căn bản.   (Dưới đây là những nhận định mà tôi cho là quan trọng nhất, Giáo sư có thể nghĩ khác).   Thứ nhất, ít nhất 25% của sự gia tăng năng suất lao động – cũng có nghĩa là sự phát triển kinh tế của nước ta – trong suốt 100 năm qua (từ năm 1870 đến 1970) có liên quan trực tiếp với sự gia tăng số năm đi học trung bình của người Mĩ. Có nhiều khả năng là trên thực tế, đóng góp của giáo dục cho sự phát triển kinh tế lớn hơn rất nhiều.    Thứ hai, trong suốt giai đoạn này, chẳng những kinh tế có tốc độ phát triển cao mà quyền bình đẳng cũng được cải thiện, mặc dù đã có những thay đổi cơ bản cả trong kinh tế lẫn công nghệ nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục.   Thứ ba, những thay đổi cơ bản trong lĩnh vực giáo dục giai đoạn này diễn ta trong phong trào gọi là “phổ thông trung học”, tức là phong trào của những người dân bình thường, những người nhìn thấy rằng cơ sở cho thành công của cộng đồng là mọi người, không phân biệt giới tính, đều được đi học miễn phí.  Nhưng thời gian gần đây phong trào “phổ thông trung học” đã có những thay đổi lớn, hệ giáo dục sau phổ thông không còn là miễn phí nữa. Chính vì vậy mà những thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đã chậm lại, kinh tế phát triển chậm và gia tăng một cách nhanh chóng hiện tượng bất bình đẳng, chứ không phải là do việc tập trung thu nhập vào tay 1% những người giàu có nhất, như báo chí thường viết.   Trên cơ sở buổi thảo luận với Giáo sư Larry, tôi rút ra kết luận, nếu nước Mỹ muốn có tốc độ phát triển trong 20 năm tới đây cao hơn tốc độ phát triển trong 20 qua, chúng ta phải làm một cuộc các mạng trong lĩnh vực năng suất lao động, tốc độ phát triển kinh tế chủ yếu trong thập kỉ tới khoảng 80% là do đóng góp của năng suất lao động, thay vì 35 đến 50% như trong ba thập kỉ vừa qua.   Việc duy nhất chúng ta có thể làm nhằm gia tăng tốc độ phát triển của năng suất lao động là nâng cao trình độ học vấn của người Mĩ bằng một cuộc cách mạng thật sự trong lĩnh vực giáo dục, chứ không phải là mở rộng đơn thuần hệ thống đã có sẵn. Nó phải là sự kết hợp của việc học tập và cấp chứng chỉ trong suốt cuộc đời, phải cố gắng dạy cho học sinh những phương pháp để họ có thể thường xuyên nâng cao kiến thức của mình, phải cố gắng giữ vững điều mà Giáo sư Larry Katz gọi là huấn luyện theo hoàn cảnh, đổi mới và củng cố hệ thống các trường cao đẳng cộng đồng của chúng ta, biến internet thành hệ thống dễ sử dụng và hướng tới từng người học cụ thể, và những khoản chi phí dài hạn. Tôi cho là trong khoảng thời gian dài, mỗi năm cần chi từ 50 đến 75 tỉ USD, tức là một phần ba đến 0,5% GDP.   —  * Bowman Cutter là một thành viên cao cấp và Giám đốc dự án kinh tế sau Mỹ tại Viện Roosevelt.    Phạm Nguyên Trường dịch theo  http://www.salon.com/2012/09/25/education_the_economys_great_elixir/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục: Lối thoát cho nền kinh tế Việt Nam      Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện  nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực sẵn  có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính  sách đầu tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay  hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.    Kinh tế Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn, đó là nợ xấu ngân hàng, các doanh nghiệp tư nhân phá sản tăng, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, sức mua nội địa giảm, thất nghiệp tăng nhanh… Đối với chính phủ, vấn đề quan tâm nhất hiện nay là các vấn đề về kinh tế: làm sao để vực dậy một nền kinh tế tăng trưởng ốm yếu.  Tin tức cho biết số doanh nghiệp khai báo phá sản hoặc ngừng hoạt động là hơn 70 ngàn chỉ trong vòng 5 tháng đầu năm nay, nhiều phân tích “lạc quan” cho rằng đây cuối cùng cũng chỉ là sự “phá hủy sáng tạo” (creative destruction) nhằm tạo ra một thế hệ các công ty có năng lực vượt trội. Nếu nhìn kỹ vào thực trạng của nền kinh tế, đó là một sự lạc quan không căn cứ. Sự phá hủy sáng tạo thường đi kèm với nó là những tiến bộ về công nghệ và tiến triển về năng suất lao động. Điều này không hề thấy trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ít nhất là trong ngắn hạn. Có ‎ý kiến cho rằng sau cuộc khủng hoảng này, các doanh nghiệp sống sót sẽ cải tổ để hoạt động hiệu quả hơn. Điều này đúng chủ yếu với các doanh nghiệp nhà nước chịu bao cấp, sau cuộc khủng hoảng này sẽ phải được cải tổ và áp đặt một cơ chế hoạt động và giám sát mới. Tuy vậy, nếu những chính sách kinh tế của chính phủ như hiện nay có thể giúp phục hồi nền kinh tế, Việt Nam cũng chỉ quay lại với những cơ cấu kinh tế kiểu cũ. Có nhiều dự đoán cho thấy nền kinh tế hiện nay đã tăng trưởng gần đến mức bão hòa khi dựa vào những nguồn lực sẵn có về công nghệ, nguồn nhân lực rẻ và tài nguyên. Nếu không có một chính sách đầu tư về nguồn nhân lực, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ chỉ loay hoay với mô hình kinh tế kiểu cũ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.  Câu hỏi đặt ra là bắt đầu những cải cách về chính sách đầu tư nguồn nhân lực như thế nào. Đây là một câu hỏi liên quan đến giáo dục và cơ chế. Dưới đây là một vài điểm chính mà chính sách giáo dục có thể thực hiện ngay nhằm vực dậy nền khoa học và giáo dục.  1.    Tăng mức lương cơ bản cho giảng viên đại học  Chất lượng giảng viên đại học hiện nay rất kém. Với một mức lương cơ bản dưới 5 triệu đồng hàng tháng, so với thời giá hiện đại, một giảng viên khó mà sống nổi với nghề nếu họ không “chạy sô” đi dạy thêm trường khác. Tuy vậy, không phải giảng viên nào cũng kiếm được sô để dạy thêm. Vào cơ hữu ở đại học lúc này giống như có một chân ở đại học và người giảng viên dùng cái uy tín để đi kiếm tiền thêm nơi khác. Động lực để nghiên cứu và cải thiện đóng góp chương trình dạy và học không có. Ngoại trừ những giảng viên thâm niêm có vị trí cao nhận được những lớp dạy với mức thù lao hậu hĩnh, mức thu nhập cho giảng viên mới vào quá thấp.   Khi mức lương cơ bản trả cho một thạc sỹ để làm giảng viên ở trường đại học chưa tới 5 triệu đồng / tháng, khó có thể giữ chân những giảng viên ưu tú khi mức lương ở ngoài thị trường hấp dẫn hơn nhiều. Kết quả là chỉ còn những giảng viên ở lại với mục đích kiếm một suất học bổng đi du học, hoặc kiếm thêm sô đi dạy, hoặc cảm thấy ít có khả năng cạnh tranh ở ngoài và muốn an phận. Những sinh viên ưu tú không muốn dấn thân vào con đường khoa học và giảng dạy.   Tuy vậy, không phải là trường không có tiền để trả lương giảng viên, mà thực chất là có những khoản tiền bị “thất thoát”. Lấy ví dụ, mức lương thỉnh giảng mà một giảng viên được nhận cho một lớp đại học công lập là khoảng 120 ngàn đồng / tiết. Mức lương trung bình theo tiết trả cho giảng viên cơ hữu còn rẻ hơn nhiều nữa. Một lớp khoảng 100 sinh viên, vị chi một sinh viên trả 1,2 ngàn đồng / tiết. Một môn học trung bình khoảng 50 tiết, mỗi sinh viên trả khoảng 60 ngàn đồng tiền giảng cho một môn học. Nếu một năm học gồm hai học kì có tổng cộng 15 môn, số tiền phải trả cho giảng viên thỉnh giảng là 900 ngàn đồng/ sinh viên. Nếu giả sử các chi phí về điện, nước, hành chính liên quan bằng số tiền trả cho giảng viên thỉnh giảng thì tổng mức chi phí cho một sinh viên trong 1 năm học chưa tới 2 triệu đồng/sinh viên. Với mức học phí mỗi học kì trung bình 5 triệu đồng như hiện nay, nhà trường có thể “bỏ túi” ít nhất khoảng 8 triệu đồng/sinh viên/năm học. Trên đây là con số với giả sử trả cho giảng viên thỉnh giảng và ở trường công với mức học phí ưu đãi, nếu các trường chỉ bao gồm giảng viên cơ hữu, mức chi trả lương cho giảng viên có thể thấp đi tới một nữa, hoặc ở các trường dân lập, mức học phí tăng cao hơn, và do đó lợi nhuận từ học phí cao hơn con số 8 triệu đồng / sinh viên / năm nhiều. Với một ngôi trường có khoảng 10 nghìn sinh viên, mỗi năm trường thu nhập ít nhất 80 tỉ trước thuế, chưa kể các khoản đóng góp, hợp tác, hỗ trợ khác. Chính vì lợi nhuận khổng lồ đó, hàng loạt trường đại học đã được mở ra chỉ trong một khoản thời gian ngắn.   Việc quy định mức lương cơ bản cho các giảng viên trẻ, ít nhất là bằng mức lương mà họ có thể kiếm được ở ngoài, là cần thiết. Việc tăng mức lương cơ bản còn giúp tôn vinh vị trí giảng viên và tạo động lực thu hút những sinh viên ưu tú tham gia vào hoạt động giáo dục.   Bên cạnh đó, các mức thưởng nên căn cứ vào thành tích nghiên cứu khoa học của các giảng viên nhằm khích lệ tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như cung cấp thêm thu nhập cho giảng viên.  2.    Rà soát và cải tạo các chương trình đào tạo tiến sỹ  Các chương trình đào tạo tiến sỹ nhằm đào tạo ra đội ngũ nghiên cứu khoa học cho đất nước, thay vì cấp các tấm bằng giúp cho việc thăng tiến trong hành chính sự nghiệp. Trong một thời gian dài, việc buông lỏng quản lý các chương trình này đã tạo ra những thế hệ tiến sỹ trình độ kém, không có khả năng nghiên cứu khoa học. Những vị này sau khi nhận bằng lại quay ra nắm giữ những vị trí lãnh đạo trọng trách trong giáo dục, đào tạo và nhiều lĩnh vực khác đã khiến nền giáo dục và khoa học ngày càng đi xuống.   Việc rà soát lại các chương trình đào tạo tiến sỹ của các trường đại học nhằm đảm bảo chỉ có những chương trình đào tạo có chất lượng mới được thực hiện.   Trước mắt nên đặt mục tiêu các nghiên cứu sinh tiến sỹ của Việt Nam khi bảo vệ luận văn phải có trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Để làm được điều này, Bộ Giáo dục nên có quy định hội đồng bảo vệ luận văn tiến sỹ có ít nhất một giám khảo đến từ một trường đại học có uy tín nước ngoài.   Thực hiện quy định này rất khó khăn trong điều kiện hiện nay, nhưng không phải là không thể. Thay vì mỗi trường có một chương trình đào tạo tiến sỹ riêng, Bộ Giáo dục nên đứng ra hỗ trợ các trường trong một khu vực hợp tác tổ chức một trung tâm chung đào tạo các chương trình sau đại học, một kiểu graduate school ở các nước phương Tây. Các giáo sư là các giảng viên ưu tú từ các trường này. Các trung tâm này được cấp kinh phí nghiên cứu và khuyến khích sự hợp tác với các giáo sư người Việt ở nước ngoài trong việc hỗ trợ và hướng dẫn nghiên cứu sinh.   Bộ Giáo dục nên ra một quy định là miễn phí chương trình học nghiên cứu sinh và chỉ những nghiên cứu sinh bằng cách này hay cách khác nhận được nguồn tài chính để theo học các chương trình tiến sỹ mới được nhập học. Nên có một quỹ học bổng đài thọ cho các nghiên cứu sinh ưu tú chi phí sinh hoạt bên cạnh quy định miễn học phí.   3.    Lọc chất lượng giảng viên  Tăng mức lương cơ bản chỉ giúp tạo một động lực hấp dẫn những sinh viên ưu tú quan tâm và dấn thân vào khoa học và giáo dục. Nó là điều kiện cần để ngành giáo dục và đào tạo có thể phát triển.   Ở Việt Nam, các trường đại học, chủ yếu là công lập, còn đối diện với một thực tế là họ đã đủ chỉ tiêu giảng viên, không thể tuyển thêm giảng viên trẻ, nhưng lực lượng giảng viên hiện có đa số rất thụ động không muốn dấn thân nghiên cứu hay cải thiện việc giảng dạy. Việc tăng lương do đó không thể giải quyết được vấn đề cải thiện chất lượng giáo dục trong trường hợp này. Một giải pháp khác là lọc giảng viên thông qua chất lượng nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo dục nên ra quy định là các giảng viên cơ hữu muốn duy trì vị trí phải có ít nhất ba bài báo trên các tạp chí quốc tế hoặc đã bảo vệ luận văn tiến sỹ ở một trường có uy tín ở nước ngoài. Việc đưa ra một quy định như vậy nên có một lộ trình để thực hiện, thời gian hợp lý khoảng 5 năm kể từ ngày đưa ra quy định. 5 năm cũng là một khoảng thời gian đủ để một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sỹ.   Sau 5 năm, nếu những giảng viên cơ hữu hiện thời không hoàn thành quy định sẽ bị cắt hợp đồng.   Trong những trường hợp các vị trí giảng viên tại các trường đại học công lập có được là do sự đút lót thay vì trình độ và khả năng nghiên cứu khoa học, việc đưa ra một quy định lọc chất lượng giảng viên như vậy cũng sẽ tự động giúp loại bỏ đi những giảng viên yếu kém.   4.    Sửa lại chính sách cấp học bổng đào tạo tiến sỹ  Các chương trình như 322, 911 chủ yếu cấp học bổng cho cán bộ, giảng viên của các trường đại học nhằm hoàn thiện chương trình tiến sỹ ở nước ngoài và về nước công tác.   Mục tiêu rất tốt đẹp, tuy nhiên các chương trình này thực sự không hiệu quả.   Như đã phân tích ở trên, với chế độ đãi ngộ quá thấp như hiện nay, lực lượng giảng viên trẻ cơ hữu còn giữ lại ở các trường đại học không phải là lớp sinh viên ưu tú nhất, nếu không nói là chỉ hạng khá. Lớp sinh viên ưu tú nhất không kham chịu nổi các khó khăn về tài chính đã ra ngoài làm cho các công ty.   Chính sách cấp học bổng ưu đãi cho cán bộ công nhân viên trong trường hợp này giống như là phần thưởng cho những đóng góp với mức lương rẻ mạt của họ cho nền giáo dục. Những cán bộ, giảng viên này sau khi cố gắng học xong các chương trình tiến sỹ bắt buộc quay về nước phục vụ trở lại cho giáo dục. Với năng lực chỉ ở hạng khá, các nghiên cứu khoa học của họ nếu có cũng chỉ ở mức bình bình. Thêm nữa, việc phải chấp nhận một mức lương thấp đồng nghĩa với việc họ không có động lực đóng góp vào giáo dục và nghiên cứu khoa học. Nếu có tham gia vào giáo dục, họ cũng sẽ cố gắng kiếm một vị trí tốt về mặt hành chính để từ đó có thể thông qua các dự án hay dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Ở đây, tấm bằng tiến sỹ chỉ còn có mục đích thăng tiến vị trí hành chính thay vì nó là khởi đầu của một sự nghiệp khoa học.   Chính sách cấp học bổng của Bộ Giáo dục do đó cần sửa lại theo hướng khuyến khích động cơ của người học và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục. Trước tiên, chính sách cấp học bổng nên mở và xét chung cho cả các đối tượng đang làm việc ở các khu vực ngoài giáo dục với điều kiện các đối tượng này sau khi nhận học bổng sẽ phải làm việc cho một tổ chức giáo dục hay khoa học của Việt Nam trong một thời gian như trong hợp đồng. Làm như vậy sẽ thu hút được lớp sinh viên ưu tú nhất vốn đã ra ngoài làm việc.   Quá trình xét cấp học bổng nên được thực hiện một cách công bằng dựa vào trình độ học vấn và khả năng theo đuổi chương trình tiến sỹ. Tuy nhiên, nếu cả hai thí sinh đều như nhau, lẽ dĩ nhiên nên ưu tiên các cán bộ giảng viên trẻ có kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục.   Khi các nghiên cứu sinh đã hoàn tất quá trình học và quay về nước, trường đại học nên cung cấp một cơ chế ưu đãi về lương bổng và chế độ làm việc. Mức đãi ngộ này ít nhất phải tương đương với mức thu nhập mà họ có thể kiếm được bên ngoài.   Có như vậy ngành giáo dục mới có thể thu hút được những sinh viên ưu tú nhất của quốc gia sẵn lòng nghiên cứu khoa học và nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp khoa học và giáo dục cho đất nước.   Bộ Giáo dục nên dành hẳn một phần trên trang web của mình liệt kê các loại học bổng, chỉ tiêu hàng năm, cách thức nộp đơn, điều kiện. Nên cho phép nộp đơn online trực tiếp và công khai người nhận học bổng và người nộp đơn trên mạng. Điều này cũng giúp giảm đi những tiêu cực trong quá trình xét duyệt.   5.    Sắp xếp lại ban quản trị trường đại học  Cơ chế tự chủ trường đại học đã được bàn nhiều. Các mô hình cũng có rất nhiều. Tuy vậy, nhìn chung ban quản trị các trường đại học bao gồm một ủy ban với một người đứng đầu được tuyển chọn bởi chính một ủy ban từ trường đại học hoặc một ủy ban giáo dục bên ngoài thường là từ Bộ Giáo dục. Ban quản trị của trường đại học chịu trách nhiệm bổ nhiệm nhân sự, giáo sư, quản trị tài chính, được quyền tự thiết kế chương trình học và định hướng của ngôi trường.   Trong trường hợp của Việt Nam, một ủy ban bổ nhiệm ban quản trị của một trường đại học nên do Bộ Giáo dục chủ trì. Cơ chế tự chủ với một ban quản trị có viễn kiến sẽ giúp cho trường đại học nhanh chóng chuyển đổi phương thức dạy, học và nghiên cứu của mình.   6.    Đào tạo kỹ năng học suốt đời  Một trong những kỹ năng để tồn tại và phát triển đối với bất kì một chuyên gia nào trong thời đại hiện nay là khả năng tự học suốt đời.  Tự biết mình là các nước nhỏ (về dân số, Đan Mạch: 5,5 triệu, Na Uy: 5 triệu , Thụy Điển: 9,4 triệu, Phần Lan: 5,4 triệu) và dùng ngôn ngữ đặc trưng, khả năng tồn tại và phát triển do đó chủ yếu dựa vào ngoại thương với các nước khác và nền tri thức cũng phải phụ thuộc vào các nước lớn hơn, các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan) đã đưa “kỹ năng học suốt đời” thành một chính sách giáo dục của mình.   Chính sách này nhấn mạnh việc đào tạo những sinh viên có khả năng tự học, tự nắm bắt những kiến thức, kỹ thuật mới. Một mục tiêu ban đầu quan trọng là trang bị cho sinh viên khả năng ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, nhằm nắm bắt trực tiếp kiến thức khoa học thế giới. Ngày nay, rất dễ dàng bắt gặp một sinh viên nói tiếng Anh lưu loát như người bản địa ở các nước Bắc Âu hơn tại bất cứ quốc gia nào không dùng tiếng Anh. Ngoài việc trang bị khả năng Anh ngữ cho giáo viên, cải thiện chương trình học, các chương trình tivi bằng tiếng Anh cũng giúp cho sinh viên làm quen với tiếng Anh từ rất sớm. Từ bậc cao học trở lên, các chương trình chủ yếu bằng tiếng Anh.  May mắn là gần đây các chương trình truyền hình cáp của Việt Nam bắt đầu có nhiều chương trình bằng tiếng Anh giúp thế hệ trẻ quen dần với ngôn ngữ quốc tế này. Tuy vậy, có nhiều điều cần làm để thực hiện chính sách “đào tạo kỹ năng học suốt đời” cho học sinh, sinh viên.   Một việc có thể thực hiện được là bắt buộc các chương trình từ cao học trở lên thực hiện tại các trung tâm đào tạo sau đại học phải được trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu bằng tiếng Anh.   Bên cạnh đó, nâng cấp các chương trình đào tạo Anh ngữ tại các trường đại học và bắt buộc sinh viên dùng các giáo trình tham khảo bằng Anh ngữ khi thực hiện giảng dạy và nghiên cứu.   Các chương trình học hiện nay dành cho bậc đại học là quá dài: trung bình 4 năm cho khối ngành kinh tế và 4.5 – 5 năm cho khối ngành kỹ thuật. Nên rút lại còn 3 năm cho khối ngành kinh tế và 4 năm cho khối ngành kỹ thuật, bên cạnh đó kèm thêm các chương trình tiếng Anh thực tế hơn.   “Kỹ năng học suốt đời” nên được trang bị cho trẻ từ khi mới chào đời. Ở Phần Lan, khi mang thai, bố mẹ được tặng 3 cuốn sách. Một cho bố, một cho mẹ và một cho đứa trẻ mới chào đời. Sách cho bố và mẹ hướng dẫn cách chăm sóc con. Sách cho trẻ kích thích và giúp trẻ làm quen với việc đọc sách ngay từ bé. Khả năng đọc sách, tìm tòi nghiên cứu được làm quen từ bé giúp trẻ sớm phát triển khả năng sáng tạo và tự học khi lớn lên.   Bộ Giáo dục cũng nên có chính sách định hướng và khuyến khích việc đọc sách của trẻ em, cũng như khuyến khích việc xây dựng thêm các thư viện trung tâm ở các huyện, xã.   ***  Cải cách giáo dục là một quá trình lâu dài với rất nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải cải tổ. Trên đây chỉ là vài ý, và danh sách trên chắc chắn không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm về giáo dục tiểu học, trung học,… Những ý kiến trên mục tiêu chỉ nhắm chủ yếu đến đào tạo bậc đại học và sau đại học, vì đây là giai đoạn quan trọng đào tạo những kĩ năng cần thiết cho các chuyên gia đầu ngành, giảng viên của các trường đại học. Đây là lực lượng có tác động rất lớn đến sự thay đổi của giáo dục và hình thành nên bộ mặt khoa học công nghệ của một quốc gia. Sự thay đổi về chất và lượng của lực lượng này sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên cách thực hiện chính sách giáo dục. Có thể nói cách thay đổi như vậy là cách thay đổi từ trên xuống.   Sự phát triển của một quốc gia phải được nâng đỡ bởi chính nội lực của nó. Nội lực ở đây là trình độ giáo dục, khoa học và công nghệ. Không có một quốc gia phát triển nào mà không có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến. Cũng như, không có một quốc gia nào có một hệ thống giáo dục khoa học tiên tiến mà không phát triển.   Những cố gắng cải thiện chính sách kinh tế trong ngắn hạn nên được đi kèm với những hỗ trợ và cải cách về giáo dục mạnh mẽ hơn. Có như vậy nền kinh tế mới có những bước nhảy vọt lên một ví trí cao hơn.   Lẽ dĩ nhiên, khi thực hiện những cải cách như trên sẽ gặp phải rất nhiều chống đối từ những người đang hưởng lợi từ việc duy trì tình trạng hiện có của hệ thống. Đó là những giảng viên không muốn nỗ lực nghiên cứu khoa học, những nhà quản trị đại học trình độ kém, và những cá nhân hưởng lợi khác. Việc thực hiện những cải cách như vậy do đó phải phát xuất từ một quyết tâm chính trị. Ở đây, vai trò của các chính trị gia quyết định.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục lương tâm?      Kết quả của quá trình giáo dưỡng lương tâm thường ảnh hưởng tới sự tồn vong của một xã hội, một đất nước, hay đơn giản hơn là sự thành bại trong cuộc chiến giữa “phần  người” và “phần con” trong từng cá nhân       Truyện Cây táo yêu thương (The Giving Tree) dạy trẻ những bài học về lòng biết ơn. Ảnh: Internet.  Con người trước hết là sản phẩm của sự sống sót sau những cuộc chiến, là kết quả của sức mạnh và sự may mắn. Phần lớn chúng ta đều giống nhau ở những ham muốn: sức khỏe và sinh mạng-ăn-ngủ-tiền của-để tiếng lại đời sau-thỏa nhục dục-con cái được mọi sự đầy đủ-được người khác cho là quan trọng, và bởi vậy đời người luôn là một chuỗi những cuộc chiến với hoàn cảnh, với bản thân, với đồng loại…  Nhưng lịch sử nhân loại hàng nghìn năm qua đã chỉ ra rằng, dẫu dục vọng của con người là cái nôi nuôi dưỡng cái ác, thì may thay con người còn có phần lương tâm, như Jean Jacques Rousseau (1712-1778)-một nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới cách mạng Pháp 1789, đã chỉ ra: “Lương tâm là tiếng nói của linh hồn, dục vọng là tiếng nói của cơ thể“.Lương tâm của con người có được, từ sự lắng đọng của truyền thống và văn hóa, từ gia đình và giáo dục, hay tín ngưỡng tôn giáo… Hàng nghìn năm qua, dưới nhiều hình thức và giải pháp khác nhau, loài người tiến bộ luôn đặc biệt chú ý nuôi dưỡng và vun đắp cho cái “phần hồn” tinh túy này!  Cần nhấn mạnh lại rằng, lịch sử nhân loại, trong mọi thời đại, khi nói đến giáo dục, trước tiên người ta nghĩ ngay đến giáo dục lương tri. Chẳng thế mà ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, nhà triết học và bác học Aristoteles, đã răn dạy: “Giáo dục tâm trí mà không giáo dục con tim thì không phải là giáo dục“. Bởi giáo dục mà thiếu giáo dục lương tâm, sẽ chỉ tạo ra những kẻ mất phương hướng, như danh họa Vincent Willem van Gogh (1853- 1890), đã khẳng định: “Lương tâm là la bàn của con người“.Nhưng quá trình giáo dưỡng lương tâm luôn có nguy cơ bị phá hủy, bởi những tác nhân cực đoan.  Tác nhân đầu tiên phải kể đến chính là những đường lối tuyên truyền gây méo mó, lệch lạc nhận thức của số đông công chúng. Nước Đức văn minh từng bị đầu độc bởi chủ nghĩa bài Do Thái là một ví dụ điển hình. Thử hỏi khi những yếu tố cấu thành lương tri đều bị phá hủy, hay bị xuyên tạc, lệch lạc, thậm chí bị nhồi nhét cả những tư tưởng bạo lực, giành giật, thì lương tâm con người sẽ ra sao? Chắc chắn, đó chỉ là một xã hội mà số đông dân chúng coi lợi ích vật chất thực dụng là tối thượng mà bất chấp cả nhân cách và nhân tính, một nơi tiềm ẩn những nguy cơ chống lại loài người.  Tác nhân thứ hai đi ngược với việc giáo dưỡng lương tâm là khuynh hướng chạy theo tính hiếu danh. Theo Sigmund Schlomo Freud (1856-1939)-nhà tâm lý học vĩ đại người Đức, thì “tình dục” và “thị dục huyễn ngã”(lòng mong muốn được người khác cho mình là vẻ vang, quan trọng) là hai thị dục căn bản nhất. Còn John Dewey (1859 -1952)- nhà triết học, tâm lý học, và cũng là một nhà cải cách giáo dục người Mỹ cho rằng: “Thị hiếu mạnh nhất của con người là thị dục huyễn ngã”. Chính dục vọng này, cũng đã thúc đẩy tính hiếu danh của con người. Bởi vậy nếu một nền giáo dục, mang nặng bệnh thành tích, coi trọng bằng cấp, giải thưởng, thì sẽ như nuôi dưỡng mặt trái của thị dục này và khuyến khích nó lấn át những phẩm cách tốt đẹp chân chính, đồng thời xui khiến người ta chỉ chạy theo đối phó với thi cử, mà xem nhẹ thực học. Một nền giáo dục như vậy tuyệt đối không thể là môi trường tốt để bồi đắp lương tâm.  Cuối cùng, một khuynh hướng giáo dục xa rời với giáo dưỡng lương tâm, mà đáng tiếc đang khá phổ biến, đó là lối giáo dục thực dụng, phiến diện. Điều này thật nguy hại, như nhà bác học vĩ đại Albert Einstein (1879-1955) đã từng cảnh báo: “Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái gì là đáng để phấn đấu trong cuộc đời. Anh ta phải được dạy để có được một ý thức sống động về cái gì là đẹp và cái gì là thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cộng đồng” (A. Einstein, Thế giới như tôi thấy, NXB Tri thức 2007, trang 48).   ***  Nếu như vì dục vọng bất kham, mà con người đến với tội lỗi, thậm chí hủy diệt, thì cũng vì lương tâm, mà con người dám hy sinh, gắng hết sức mình, tiễu trừ cái ác, cái phản động-bất lương, nhờ thế mà nhân loại liên tục phát triển, ngày một văn minh và tiến bộ hơn. Bởi vậy, kết quả của quá trình giáo dưỡng lương tâm thường ảnh hưởng tới sự tồn vong của một xã hội, một đất nước, hay đơn giản hơn là sự thành bại trong cuộc chiến giữa “phần  người” và “phần con” trong từng cá nhân. Thứ ánh sáng tâm hồn ấy đến từ tiềm thức sâu thẳm, luôn cần được thức tỉnh, bởi nó là thước đo cho cái thang bậc tiến hóa nghiệt ngã của loài người.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Giáo dục mở ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp      Hơn 4 năm đã trôi qua kể từ ngày Nghị quyết số 29-NQ-TW được ban hành về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” với quan điểm chỉ đạo là “đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở”… tuy nhiên chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về hệ thống giáo dục mở và quá trình thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở (TNGDM). Bài viết dưới đây làm rõ về hai vấn đề này và đề xuất giải pháp để thúc đẩy TNGDM ở Việt Nam.      TNGDM là phong trào toàn cầu khởi đầu vào năm 2001 khi MIT đưa ra chương trình OpenCourseWare. Ảnh: Khóa học online về “Poker Theory and Analytics”. Nguồn: MIT.  Giáo dục mở là gì?  Trên thế giới, đang phổ biến các định nghĩa về giáo dục mở của Bộ Giáo dục Mỹ, SPARC – liên minh toàn cầu cam kết làm cho Mở thành mặc định cho nghiên cứu và giáo dục và Opensource.com – trang xuất bản các câu chuyện về việc áp dụng và chia sẻ giải pháp nguồn mở. Tựu trung, họ đều cho rằng giáo dục mở là việc loại bỏ các rào cản tài chính, pháp lý và kỹ thuật để truy cập được tới các tài nguyên giáo dục, các tài nguyên phục vụ cho việc dạy, việc học và việc nghiên cứu, và rộng lớn hơn là để truy cập tới được tri thức của nhân loại. Bằng việc loại bỏ các rào cản truy cập tới tri thức đó, cơ hội được giáo dục sẽ là sẵn sàng cho tất cả những người học, bất kể họ là ai, bất kể tình trạng kinh tế của họ ra sao. Vì vậy, hệ thống giáo dục mở, từ quan điểm của thế giới nguồn mở, chính là hệ thống giáo dục không có các rào cản được nêu ở trên.  TNGDM (OER – Open Educational Resources) là phong trào toàn cầu khởi đầu vào năm 2001 khi Viện Công nghệ Massachusetts ở Mỹ đã đưa ra chương trình Open Course Ware (Khóa học Mở) với vài chục khóa học trực tuyến và năm 2002 UNESCO đưa ra khái niệm TNGDM “là bất kỳ dạng tư liệu giáo dục nào nằm trong phạm vi công cộng hoặc được cấp một giấy phép mở. Các tư liệu mở đó ngụ ý bất kỳ ai cũng có thể hợp pháp và tự do sao chép, sử dụng, tùy biến thích nghi và sử dụng lại chúng. TNGDM gồm nhiều loại từ sách giáo khoa (SGK) đến chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài tập, bài kiểm tra, báo cáo, âm thanh, hình ảnh và chương trình mô phỏng”.  Rất cần phải thúc đẩy giáo dục mở ở Việt Nam, bởi chỉ giáo dục mở mới đảm bảo được cho từng công dân Việt Nam có khả năng có được tri thức nhân loại lớn nhất với chi phí nhỏ nhất và với số lượng người được tiếp cận các tri thức lớn nhất và là cách nhanh nhất để có được các kỹ năng cần thiết để sống, làm việc và học tập trong kỷ nguyên số – kỷ nguyên tri thức.  Những rào cản với TNGDM Việt Nam  Chưa thay đổi nhận thức về TNGDM  Cả các khóa học mở và TNGDM đều đã tới Việt Nam từ khá sớm, từ khoảng những năm 2005, mặc dù vậy, cho tới nay, TNGDM hầu như không phát triển ở Việt Nam, trong tất cả các cơ sở giáo dục ở mọi cấp trong toàn quốc, cả khu vực tư nhân và nhà nước.  Đầu tiên, hai dự án về OpenCourseWare và TNGDM đã vào Việt Nam từ năm 2005, nhưng hai tác nhân quan trọng nhất là Hội Thư viện Việt Nam (nơi tập trung hầu hết thư viện các trường đại học trong cả nước) và VFOSSA (nơi tập trung nhiều công ty cung cấp các giải pháp/sản phẩm/dịch vụ dựa vào phần mềm tự do nguồn mở) đều chưa từng bao giờ biết tới hai dự án này.  Phải tới 2015, hai tác nhân này, đặc biệt là khối thư viện mới có những hoạt động về TNGDM tích cực hơn, điển hình là các Hội thảo quốc tế về TNGDM trong ba năm liền với sự tham gia và cả tài trợ (các năm 2016-2017) của UNESCO và một vài đối tác nước ngoài khác; bên cạnh đó khối thư viện còn có các hoạt động nâng cao nhận thức sơ bộ ban đầu về TNGDM thông qua các cuộc hội thảo, các khóa huấn luyện ngắn ngày. Tuy nhiên, việc thực hiện TNGDM ở các thư viện, các trường đại học vẫn còn rất nhiều hạn chế, theo kết quả một báo cáo mới đây do Khoa Thông tin – Thư viện, trường ĐH KHXH& NV, ĐHQG Hà Nội thực hiện dưới sự tài trợ của Văn phòng UNESCO. Cụ thể:  + Xu thế sử dụng tài liệu số đang gia tăng. Giảng viên và sinh viên đã coi các nguồn học liệu số là kênh khai thác thông tin thuận tiện và hữu hiệu. Có thể coi đây là “văn hóa số” – điều kiện thuận lợi để phát triển TNGDM. Tuy nhiên, việc sử dụng TNGDM ở các trường đại học chưa phổ biến. Phần lớn chỉ khai thác các nguồn thông tin miễn phí trên mạng, rất ít các trường đại học triển khai TNGDM trong đơn vị mình, hầu hết giảng viên cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí, chưa ý thức được việc tạo lập và chia sẻ TNGDM.  + Các trường đại học đã có những nhận thức và hiểu biết cơ bản TNGDM. Tuy nhiên việc thực thi bản quyền tại các trường đại học chưa được coi trọng, thư viện đặt kế hoạch số hóa tài liệu nhưng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề bản quyền. Bên cạnh đó hiểu biết của họ về giấy phép mở (creative commons) chưa đầy đủ.  + Chưa tin tưởng về lợi ích và giá trị mà TNGDM mang lại. Do TNGDM là một nguồn học liệu mới, chưa phổ biến và có cách tiếp cận hoàn toàn khác so với việc phải bỏ tiền mua các tài liệu do các nhà xuất bản phát hành. Nhiều người nghi ngờ, liệu chất lượng TNGDM có thực sự tốt và nguồn tài nguyên này có làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận tri thức cũng như hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo hay không.  Báo cáo cũng khảo sát về nguồn nhân lực chuẩn bị cho sự phát triển của TNGDM, gồm giảng viên, nhân viên thư viện và sinh viên. Trong đó, đa phần giảng viên cho rằng sự thiếu nhận thức về TNGDM là nguyên nhân chủ yếu nhất cản trở việc tạo lập và phát triển TNGDM … Có thể nói, TNGDM vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam hiện nay, và việc truyền thông, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về vấn đề này sẽ trở thành chìa khóa cho việc triển khai phát triển TNGDM tại Việt Nam. Đối với các cán bộ thư viện, cản trở lớn nhất là thiếu kinh phí, sau đó là các rào cản về pháp lý, quyền sở hữu, bản quyền trong phát triển TNGDM… Đây cũng là hai lo ngại xuất phát từ chính bản chất công việc của cán bộ thư viện, vốn dĩ cũng là hai vấn đề lớn của ngành thư viện Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Đối với các sinh viên, trở ngại lớn nhất là rào cản ngoại ngữ để tiếp cận với TNGDM tiếng nước ngoài, tiếp sau là thiếu kiến thức và kỹ năng tìm kiếm và hiểu biết về nguồn thông tin.  Dự án triển khai TNGDM nhưng không có bất kỳ hoạt động nào mở  Ở quy mô cấp quốc gia, trong thực tế, đã có dự án xây dựng kho tài nguyên giáo dục mở sử dụng nguồn ngân sách nhà nước được viết ra. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, nó không có bất kỳ hoạt động dự án nào tuân theo các nguyên tắc phát triển của nguồn mở và TNGDM, cả về tính mở, mô hình phát triển, mô hình cấp phép và mô hình kinh doanh để đảm bảo tính bền vững của dự án sau khi thời hạn cấp vốn nhà nước kết thúc. Điều này cho thấy thách thức lớn về quản lý, khi mà nhận thức chung về TNGDM và/hoặc nguồn mở của cả xã hội còn rất thấp, kể cả trong các doanh nghiệp CNTT và có lẽ, đa số các nhà quản lý – các nhà cấp vốn có liên quan.  Giải pháp thúc đẩy TNGDM ở Việt Nam  Không có cách nào khác để thúc đẩy TNGDM ở Việt Nam ngoài cách thông qua các hoạt động giáo dục và truyền thông để vừa nâng cao nhận thức toàn xã hội, vừa huấn luyện đào tạo năng lực và các kỹ năng ứng dụng và phát triển TNGDM, bên cạnh các hoạt động hỗ trợ khác. Dưới đây là một vài gợi ý để thúc đẩy ứng dụng và phát triển TNGDM.  Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về TNGDM  Cần thiết phải thành lập ban chỉ đạo quốc gia về TNGDM, bởi vì TNGDM (hoặc Giáo dục Mở, Khoa học Mở) không chỉ là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà có liên quan chặt chẽ với giới khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà cấp vốn nghiên cứu, giới công nghệ thông tin, giới thư viện, các vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, các nhà xuất bản…, trong khi các vấn đề này ở Việt Nam không chỉ do Bộ Giáo dục Đào tạo quản lý, mà còn liên quan tới các bộ khác như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch.  Bên cạnh đó, TNGDM còn có liên quan chặt chẽ với các thành phần khác của Khoa học Mở như truy cập mở tới các xuất bản phẩm, dữ liệu nghiên cứu mở, rà soát lại ngang hàng mở (open peer review), tạp chí truy cập mở, nhà xuất bản truy cập mở, các kho truy cập mở, những vấn đề chắc chắn Việt Nam cũng sẽ không thể bỏ qua trong xu thế phát triển Khoa học Mở của thế giới, và chúng sẽ liên quan tới nhiều bộ ngành hơn nữa, chứ không chỉ như được nêu ở trên. Ví dụ, việc ứng dụng và phát triển dữ liệu mở chắc chắn sẽ liên quan tới không chỉ các văn bản quy phạm pháp luật về dữ liệu mở, mà còn cả về đảm bảo an toàn và tính riêng tư các thông tin – dữ liệu cá nhân và dữ liệu bí mật quốc gia, cũng như các vấn đề về tính liên ngành – liên lĩnh vực của dữ liệu mở và/hoặc dữ liệu nghiên cứu mở.  Xây dựng chính sách truy cập mở  TNGDM trước hết là tài nguyên truy cập mở được. Vì vậy việc xây dựng chính sách truy cập mở là điều kiện cần thiết để phát triển TNGDM. Không có chính sách truy cập mở ở các cấp quốc gia/bộ/địa phương/cơ sở thì không cơ sở nào, đặc biệt là các cơ sở giáo dục công lập, có khả năng triển khai các hoạt động ứng dụng và phát triển TNGDM được.  Để xây dựng chính sách truy cập mở, đặc biệt là ở mức quốc gia, một lần nữa, cần có sự tham gia của nhiều bên như các cơ quan quản lý nghiên cứu, các cơ quan cấp vốn nghiên cứu, các trường đại học, các nhà xuất bản, các thư viện của các trường đại học và viện nghiên cứu để thảo luận về hiện trạng hệ thống truyền thông nghiên cứu ở Việt Nam và cách thức để dịch chuyển hệ thống đó sang tiếp cận truy cập mở sao cho lợi ích của từng bên có thể là hài hòa ở mức tất cả các bên đều có thể chấp nhận được.  Nếu Việt Nam, vì bất kỳ lý do gì, không thể xây dựng được chính sách truy cập mở ở các mức như được nêu ở trên, đặc biệt ở mức quốc gia, thì nhiều khả năng sẽ không thể thúc đẩy ứng dụng và phát triển TNGDM và cùng với nó, cả dữ liệu mở và khoa học mở.  Cách tiếp cận từ dưới lên  Muốn triển khai TNGDM trong bất kỳ cơ sở nào, đặc biệt là các cơ sở giáo dục công lập, đều thường phải đi qua cơ chế đề tài – dự án để có kinh phí triển khai, trong khi trên thực tế, mô hình triển khai dự án từ trên xuống thường tốn kém và không mang lại hiệu quả mong muốn trong giai đoạn hiện nay. Thay vào đó, nên xây dựng theo cách tiếp cận “từ dưới lên”, trước hết với các dự án thí điểm có mục tiêu hết sức cụ thể, có khả năng giải quyết những khó khăn cơ bản như được nêu trong báo cáo khảo sát TNGDM ở trên, ví dụ như (các) dự án thí điểm triển khai “Sáng kiến: Tạo video truy cập mở – bước khởi đầu thực tế cho các thư viện, các cơ sở đại học và cao đẳng ứng dụng và phát triển các tài nguyên truy cập mở và được cấp phép mở” với lược đồ tạo và chia sẻ video như ở Hình 1.    Hình 1. Lược đồ tạo và chia sẻ video truy cập mở  Sáng kiến này có khả năng khắc phục được các khó khăn ở trên, vừa tuân thủ các nguyên tắc của nguồn mở và tận dụng được các kho tài nguyên truy cập mở khổng lồ miễn phí trên thế giới, đồng thời, trong giai đoạn đầu, giúp cho các cán bộ thư viện, các thủ thư, các giảng viên tham gia phát triển – tạo lập các tài nguyên truy cập mở hoàn toàn sạch về bản quyền và sở hữu trí tuệ, nhằm từng bước xây dựng kho các tài nguyên truy cập mở và TNGDM. Cách làm này rất cần thiết trong giai đoạn thí điểm trong điều kiện kinh phí hết sức hạn hẹp hiện nay.  Trong quá trình triển khai thí điểm ở các đơn vị được chọn, sẽ tiến hành các khóa huấn luyện viên về các vấn đề liên quan tới ứng dụng và phát triển TNGDM, cả lý thuyết và thực hành, để tạo ra các đội xung kích cho giai đoạn mở rộng tiếp sau. Kết thúc giai đoạn thí điểm sẽ có báo cáo tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng các thực hành tốt nhất cho các giai đoạn tiếp sau.  Truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội  Thật khó để làm việc gì đó ở phạm vi rộng như TNGDM mà lại không có các hoạt động truyền thông của báo đài, các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội đi kèm để tạo ra các thảo luận trao đổi, các phản hồi từ các cộng đồng để nâng cao nhận thức và tiến tới sự đồng thuận của xã hội. Các hoạt động truyền thông này cần được nhúng vào nội dung của các dự án thí điểm như được nêu ở trên.  Kết luận  Bất kỳ sự chuyển đổi nào từ ĐÓNG sang MỞ đều sẽ gặp vô số các trở ngại khó khăn ở Việt Nam, và con đường để hướng tới việc ứng dụng và phát triển TNGDM cũng vậy. Cách để thúc đẩy TNGDM vì thế cần làm từng bước một, chắc chắn, theo đúng các chuẩn mực quốc tế và quan trọng nhất, có sự ủng hộ từ những người đứng đầu ở tất cả mọi cấp, bao gồm cả cấp cao nhất của chính phủ, bằng các chính sách truy cập mở/TNGDM cụ thể, quyết liệt và thiết thực, cùng với sự đồng thuận của cả xã hội, thông qua các con đường giáo dục và truyền thông.  Trên con đường đó, cần có giai đoạn 2-3 năm triển khai thí điểm trong thực tế theo tiếp cận từ dưới lên để nhận diện ra được tất cả các thách thức và có được các bài học thực tế với chi phí thấp nhất có thể, đồng thời xây dựng ra được các nhóm hạt nhân nòng cốt để phục vụ cho việc nhân rộng các thực hành tốt ở các giai đoạn sau.  Các đối tượng chính cần được chọn trong giai đoạn thí điểm nên là các cán bộ thư viện, các thủ thư và các giảng viên/các nhà nghiên cứu với sự trợ giúp của bộ phận công nghệ thông tin ở một số trường đại học nghiên cứu/cao đẳng thực hành được chọn có đủ năng lực triển khai thí điểm TNGDM trải khắp cả nước, cả khu vực nhà nước và tư nhân, đặc biệt trong khối sư phạm (vì khối này được ví như những chiếc máy cái tạo ra những chiếc máy con cho xã hội).  Thí điểm và mở rộng ứng dụng và phát triển TNGDM thành công, sẽ là tiền đề cần thiết và quan trọng để ứng dụng và phát triển dữ liệu mở và khoa học mở trong tương lai ở Việt Nam.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm      Từ đầu thập niên 2000 đến nay, làn sóng Giáo dục Mới (Progressive Education hay Education Nouvelle) du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, bắt đầu bằng việc hàng loạt tác phẩm kinh điển của các nhà giáo dục được xuất bản ở Việt Nam, như Bí ẩn tuổi thơ (Maria Montessori), Kinh nghiệm và giáo dục, Dân chủ và giáo dục (John Dewey), Sự ra đời của trí khôn trẻ em (Jean Piaget),…      GS Nguyễn Phước Vĩnh Bang và vợ Lê Thị Tuất (giữa) cùng các đồng nghiệp. Ảnh lưu trữ gia đình GS Vĩnh Bang.   Từ đầu thập niên 2000 đến nay, làn sóng Giáo dục Mới (Progressive Education hay Education Nouvelle) du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, bắt đầu bằng việc hàng loạt tác phẩm kinh điển của các nhà giáo dục được xuất bản ở Việt Nam, như Bí ẩn tuổi thơ (Maria Montessori), Kinh nghiệm và giáo dục, Dân chủ và giáo dục (John Dewey), Sự ra đời của trí khôn trẻ em (Jean Piaget),… Song song với những ấn bản này là sự ra đời của các trường mầm non hay tiểu học tư thục ứng dụng các chương trình đào tạo giáo viên theo quan điểm Giáo dục Mới, nổi lên mạnh mẽ nhất là những trường Montessori, Wardolf/Steiner, Reggio Emilia hay Jean Piaget. Tuy nhiên, không phải đến bây giờ những tư tưởng và việc thực hành giáo dục theo phương pháp Giáo dục Mới (GDM) mới du nhập vào Việt Nam cùng quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế văn hóa. Thực ra, Giáo dục Mới dành cho trẻ em Việt đã từng có mặt ở đất nước chúng ta cách đây hơn 70 năm bằng tinh thần canh tân của một nhóm nam nữ trí thức xuất thân từ phong trào hướng đạo. Giáo dục Mới – một thuyết nhật tâm trong sư phạmGDM là một quan điểm đặt trẻ em vào trung tâm của hệ thống giáo dục và coi trẻ em như một chủ thể vận động trong sự phát triển tự nhiên của chúng trên bình diện thể chất, tinh thần và trí tuệ. Quan điểm này đã được nhen nhóm vào thế kỷ 18, đặc biệt thông qua ngòi bút của Jean-Jacques Rousseau trong cuốn Emile hay là về giáo dục (1762), thể hiện một tinh thần tiên phong và khai phóng vì ông cho rằng cần phải có phương pháp giáo dục tôn trọng trẻ em và bản chất của trẻ. Tư tưởng này của Rousseau chỉ thực sự thiết lập và phát triển thành một tư tưởng giáo dục, một phong trào canh tân sư phạm mang tầm quốc tế từ cuối thế kỷ 19 trở đi và để đến đầu thế kỷ 20, người ta bắt đầu định danh đó là “thế kỷ của trẻ em”, như tiêu đề cuốn sách của Ellen Key (1899), một thế kỷ hướng đến sự am hiểu và bảo vệ trẻ em. Trên phương diện thực hành sư phạm, chúng ta chứng kiến một loạt mô hình trường học kiểu mới, mang tên trường học chủ động, được đưa vào hoạt động tại châu Âu và Mỹ: tại Pháp, Edmond Demolins lập Ecole des Roches (1899), Cecil Reddie mở Abbotsholme School (1889) tại Anh, Gustav Wyneken mở trường Wikerdorf (1906) ở Đức, tại Ý Maria Montessori mở Casa dei Bambini (1904), ở Thụy Sĩ, Édouard Claparède lập Maison des Petits (1913),… Phương pháp dạy ở những trường học kiểu mới này hướng đến việc học thông qua thực hành và khả năng tự quản (self-government). Thời kỳ vàng son của phong trào canh tân sư phạm này diễn ra vào giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến thông qua sự thiết chế hóa phong trào ở tầm quốc tế với sự ra đời của Văn phòng Quốc tế Trường học Mới (Bureau international des Ecoles nouvelles, 1899), Liên minh Quốc tế vì nền Giáo dục Mới (Ligue internationale pour l’Education Nouvelle, 1921) nơi hội tụ những nhà giáo dục, nhà khoa học và giới trí thức. Cú đòn giáng vào phong trào khiến nó khó lòng gượng dậy, đó chính là Thế chiến Thứ hai. Trường học đóng cửa, dân cư ly tán khiến cho những thể nghiệm và nghiên cứu buộc phải dừng lại. Tuy nhiên, tên tuổi và tư tưởng của những người sáng lập, khởi xướng vẫn còn ở lại với chúng ta như Ovide Decroly, Maria Montessori, Célestin Freinet, Édouard Claparède, John Dewey, Adolphe Ferrière, Roger Cousinet,…   GDM thực sự là một thuyết nhật tâm của Kopernik trong ngành sư phạm vì nó “dám” đảo ngược và đổi chiều tư duy giáo dục truyền thống. Trường học phải thích ứng trước nhu cầu và mối quan tâm, sở thích, hứng thú của học sinh, nhà trường phải là nơi vừa học vừa hành và môi trường hợp tác và tương tác giữa học sinh với nhau và giữa giáo viên với học sinh. Giáo dục phải tự nhiên, gắn với đời thực, chuẩn bị hành trang vào đời, giáo dục phải dạy lòng vị tha và tôn trọng sự khác biệt. Đồng thời, phong trào này là một cuộc tái tư duy và tái định nghĩa về mục tiêu của giáo dục, về quan niệm về trẻ em, về chức năng của nhà trường, vai trò của người dạy và về phương pháp và giáo cụ sư phạm.    Học sinh trường Bách Thảo năm 1946. Ảnh lưu trữ gia đình GS Vĩnh Bang.Hướng đạo và thiện nghĩaĐương thời với phong trào sư phạm quốc tế này, tại Hà Nội, đầu thập niên 1940, những thể nghiệm GDM đầu tiên đã được tiến hành. Chính phong trào hướng đạo và hoạt động thiện nghĩa là hai khởi nguồn về nhân lực, tài lực cho mô hình mẫu giáo của GDM. Về bản chất, cội rễ của tinh thần hướng đạo là đào tạo một cách toàn diện thể chất và nhân cách của trẻ nhỏ. Nói một cách khác, GDM du nhập vào Đông Dương tìm thấy ở hướng đạo một mảnh đất màu mỡ để thể nghiệm và phát triển. Tuy nhiên, GDM có hiện thực hóa được hay không thì phải nhờ đến trợ lực vật chất và tài chính của những nhà thiện nghĩa như một số nhà tư sản người Việt thành đạt: Bạch Thái Bưởi [1], vợ chồng ông Nguyễn Sơn Hà, Trương Văn Bền, Trịnh Đình Kính… Thành viên của hai giới này đều hoặc là trí thức hoặc là doanh nhân, đều thuộc tầng lớp trí thức bản địa am hiểu văn hóa hay kỹ nghệ phương Tây, thấu hiểu thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa nước nhà. Kiến thức và tinh thần nhân văn khiến cho họ, dù vẫn phải sống trong cảnh bị trị, đã tìm cách cải thiện tình hình hay canh tân một lĩnh vực bằng chính khả năng và vốn liếng của mình. Giáo dục, giáo dưỡng trẻ em, thế hệ tiếp nối tương lai, đó vừa là mục tiêu vừa là tầm nhìn của những trí thức này. Có lẽ cuốn sách Người thầy, ra mắt độc giả năm 1944, của trưởng tràng Hoàng Đạo Thúy, không những lập ngôn cho mục đích và hoạt động của phong trào hướng đạo nói riêng và giới trí thức nói chung, đó là vì sự nghiệp “trồng người”, mà còn xác định vị trí và vai trò của trí thức trẻ, đó là “chúng ta” “làm thầy” [2].  Tầng lớp tinh hoa trí thức và doanh nhân Việt lúc đó thực sự tiệm cận với cách giáo dục đương thời của phương Tây. Những thể nghiệm giáo dục này tại phương Tây là nhằm chuẩn bị đào tạo nên một thế hệ công dân mới đủ khả năng kiến thiết lại các quốc gia bị tàn phá và hằn thù nhau sau hai cuộc Đại chiến. Còn ở Việt Nam, những thể nghiệm này trong ánh chiều tà thời kỳ thuộc địa chắc hẳn là mong mỏi của tầng lớp tinh hoa Việt nhằm đào tạo nên những thanh thiếu niên Việt toàn diện chuẩn bị cho nền độc lập mà lúc đó họ đã dự cảm nó đang đến gần.  Từ lớp mẫu giáo thể nghiệm…  Ở thời điểm đó, không có cái “nôi” nào tụ hội những người yêu trẻ, vì trẻ, gần trẻ và thanh thiếu niên bằng các hội hướng đạo. Tại Đông Dương, đặc biệt ở Bắc kỳ, các nữ đoàn trưởng hướng đạo đa phần là giáo viên tiểu học. Vì lẽ đó, một cách tự nhiên, họ đầu tư công sức vào sự nghiệp giáo dục và giáo dưỡng trẻ em. Một trong những người đầu tiên khởi xướng mở các lớp mẫu giáo thể nghiệm theo mô hình GDM là nữ đoàn trưởng Nguyễn Thị Khang, phu nhân của chủ xưởng gỗ nội thất Trịnh Hữu Ngọc [3]. Tháng 5-1943, bà Nguyễn Thị Khang đệ đơn xin chính quyền thành phố Hà Nội cho phép sử dụng không gian Ấu trĩ viên4 của thành phố Hà Nội làm nơi thử nghiệm giáo dục cho lớp mẫu giáo mà bà đứng ra tổ chức. Bà tập hợp quanh mình chừng một chục nữ giáo viên mà bà gọi là “thực tập sinh giữ trẻ” và khoảng 40 cháu từ 3 đến 7 tuổi.   Bà Trịnh Nhật Ánh, một “cô bé” học sinh 7 tuổi thời đó kể lại một thời mà đối với người phụ nữ giờ đã bát tuần coi rằng “đấy là cái thời đi sâu vào ký ức”:   Lớp mẫu giáo mượn địa điểm ở nhà Tế Sinh, tức là gần Văn Miếu bây giờ. Lớp có nhiều đồ gỗ đẹp lắm, ông [Hữu Ngọc] cho đóng mỗi đứa một cái bàn cái ghế. Trẻ em dưới 3 tuổi, có cái ghế bô, có nắp đậy, để các cháu tự đi. Nếu bé thì chưa học chữ vội mà học tô màu cắt dán các hình, các hoa. Có các cô cho học thể dục nhịp điệu. Có một cô dạy múa dạy hát. Khoảng 3-4 chục cháu thôi vì cũng là thể nghiệm. Giờ giấc kỷ luật, ngày học hai buổi. Không có bán trú, trưa về nhà ăn, chiều quay lại học. Bà Nguyễn Thị Khang thì không dạy nhưng chuẩn bị giáo trình cho các cháu mẫu giáo như vẽ các hình hoa trên bìa cứng rồi tô các màu cắt ra để chỉ cho các cháu xem hình dáng, màu sắc. Học lớp vui vì lớp ít người, được cô giáo nói chuyện với từng em, chứ trước đây đi học ở trường các bà sơ, đông trẻ em, sợ lắm, có dám mở mồm nói cái gì đâu.(Phỏng vấn bà Trịnh Nhật Ánh, con gái ông Trịnh Hữu Ngọc, 10-2017, thành phố Hồ Chí Minh).  Những phụ huynh là bạn bè thân quen của vợ chồng ông bà Trịnh Hữu Ngọc, bản thân họ cũng là hướng đạo sinh, như doanh nhân Phạm Đỗ Nhật Chương, Ngô Bích San, Thẩm Hoàng Tín (về sau là thị trưởng của Hà Nội), bác sỹ Nghiêm Thị Thuần và vài doanh nhân như Nguyễn Sơn Hà và Phạm Đỗ Bính. Họ thường gửi một lúc hai đến ba người con vào lớp học này. Năm ngàn đồng bạc, một phần ngân sách ban đầu để mở lớp học này, do Nguyễn Sơn Hà, doanh nhân, kỹ nghệ gia, chủ hãng sơn Résistanco, gửi tặng. Lớp học thể nghiệm này phải tạm dừng trong năm 1944, do các gia đình phải đi tản cư. Tuy diễn ra không lâu, quy mô và phạm vi nhỏ hẹp, đối tượng không rộng rãi nhưng sự thể nghiệm này mang ý nghĩa khai mở cho ngành mẫu giáo Việt Nam và khẳng định sự đóng góp của hai giới tinh hoa, hướng đạo và thiện nghĩa, cho sự nghiệp giáo dục mới mẻ này. … đến trường tư thục Giáo dục Mới đầu tiên của Việt NamTrong hai năm 1943 – 1944 hoạt động của lớp mẫu giáo thể nghiệm này, một cặp đôi đang yêu nhau, bà Lê Thị Tuất và ông Nguyễn Phước Vĩnh Bang, đôi bạn thân tín của vợ chồng ông Hữu Ngọc, dưới sự hướng dẫn của bà Khang đã giúp họ thực hiện một ước vọng lớn hơn vài năm sau. Ngay sau khi chính phủ Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, hai vợ chồng Lê Thị Tuất và Vĩnh Bang mở một trường mẫu giáo tư thục ngay trung tâm Hà Nội ở đường Tống Duy Tân cũ, nay là phố Ngọc Hà. Trường mang tên Trường Mẫu giáo và Cơ bản Bách Thảo vì nằm ngay sát vườn Bách Thảo. Ông Vĩnh Bang thuật lại: Từ bỏ sự nghiệp nghệ thuật – hội họa – để dấn thân vào một nghề phụng sự trẻ em. Lập và điều hành trường học mới đầu tiên Bách Thảo tại Hà Nội vào năm 1945-1946, với 15 cộng sự và gần 300 trẻ em từ 4 đến 12 tuổi. (Trích lý lịch học thuật của Vĩnh Bang, Lưu trữ gia đình, Pháp).  Ông bà Vĩnh Bang quy tụ một đội ngũ nữ giáo viên mà ông gọi là “hướng dẫn viên”. Đây hẳn là một ẩn ý của ông vì ông chú thích từ này trong tiếng Pháp là từ “guide”, nó còn mang nghĩa thứ hai là “nữ hướng đạo sinh”. Về cơ sở vật chất, trường được trang bị khá đầy đủ, như lời kể của cháu ruột ông Vĩnh Bang, một “cậu bé” từng học tại đó mấy năm: Có cả bể bơi, ngoài sân rộng làm sân chơi cho trẻ con, có một góc cỏ làm sân bóng đá. Ông Bang cho đặt làm xích đu và bập bênh. Bàn ghế lớp học đều do ông đặt đóng riêng. Có phòng ăn rộng, hình như là từ cái garage ô tô thì phải, có chỗ ngủ buổi trưa. (Phỏng vấn ông Nguyễn Phước Bảo Hòa, học sinh của trường).  Về cách thức vận hành của trường: Học sinh được các hướng dẫn viên đưa đi đón về trên tàu điện, cha mẹ chỉ việc đến đúng bến tàu điện để đón con về. Các buổi chiều trẻ con thường được sang chơi hay tập thể dục trong vườn Bách Thảo. Học, tìm hiểu về cây cối, thực vật, hoa cỏ,… Chạy thể dục quanh hồ và trèo lên núi nhỏ. Tôi được học đạo đức (morale), nghĩa là dạy lễ phép, lịch sự. Thời đó, dạy rất kỹ về vệ sinh thân thể như rửa tay chân, đi ngủ sớm, biết lễ phép, không được đánh chửi nhau,… Lớp học của tôi chừng 15 trẻ. Toàn trường cũng phải có đến 40-50 trẻ. (Phỏng vấn ông Nguyễn Phước Bảo Hòa).  Đây quả là một thành quả nghề nghiệp đáng nể của đôi vợ chồng trẻ. Cùng lúc, họ vừa là nhà làm giáo dục vừa là doanh nhân để vận hành một ngôi trường.   Điều làm chúng tôi, những người làm giáo dục sau thế hệ của ông bà 70 năm, cảm phục và cũng là phát hiện thú vị cho hậu thế, đó là việc chúng tôi khám phá được trong lưu trữ gia đình của ông Vĩnh Bang một cuốn sổ tay trong đó ông ghi chép và giải thích chi tiết mục đích, chương trình dạy và học, tổ chức và cách thức vận hành của trường, phân tích các phương pháp dạy, nêu ra những suy tư, băn khoăn, những câu hỏi hay những đúc kết kinh nghiệm giúp cho việc giảng dạy được cải thiện. Cuốn sổ thực sự như một quyển giáo án chuẩn bị lý thuyết sư phạm và cơ sở thực tiễn để mở trường, điều hành trường và giảng dạy. Những dòng lập thuyết và định nghĩa đầu tiên trong cuốn sổ tay ấy dần hé lộ cho độc giả mục tiêu tối thượng của giáo dục mẫu giáo. Trường mẫu giáo là những nhà giáo dục đầu tiên các trẻ trai và gái cùng được săn sóc, đòi hỏi những sự săn sóc để cho thể, tâm, trí cùng nảy nở và phát triển. (…) Nhà trường (…) có quyền và bổn phận giúp các bà mẹ hoặc thay thế để săn sóc mỗi khi trẻ đòi hỏi. (…).Nhà trường nhận trẻ nhà giàu cũng như trẻ nhà nghèo, những trẻ khỏe mạnh cứng cáp cũng như những bé ốm yếu, những trẻ sạch sẽ, nhanh nhẹn, thông minh cũng như những em đầy di truyền tai hại, những trẻ đã chịu cuộc đời khổ sở, mất cả lòng tin (…). Nhưng bất luận trẻ nào, nhà trường cũng cố làm cho các trẻ tập cuộc sống hợp đoàn, cố hiểu để trọng luật chung, chung sức trong lúc tập học cũng như lúc chơi đùa, chú ý đến công việc, gắng sức làm cho khéo đẹp với tất cả thông minh, nhẫn nại, bền bỉ và vui vẻ.  Ông dành nhiều trang đề cập đến phương pháp sư phạm, chú trọng đến sự tự do, cá tính ở trẻ trong quá trình giáo dục. Giáo dục trẻ không chỉ là rèn luyện, dạy bảo mà còn khơi gợi, đánh thức tiềm năng:(…) Biết lợi dụng những năng khiếu của chúng, trẻ sẽ tiếp xúc mà hiểu sự vật chung quanh. Sự hiểu biết ấy phải luyện cho trẻ quen phát biểu. (…) Để điều khiển sự phát triển của trẻ phải dựa vào những phương pháp hoạt động kể cả về đức dục. Và nhớ rằng cho trẻ thu nhận những môn giáo khoa từ lúc nào trẻ đã nhận được ngoại vật và trí tuệ đã xây đắp.  Ông thực sự là một nhà sư phạm có tinh thần canh tân, có tư duy phản biện và có ý thức xã hội. Hoạt động giảng dạy đối với ông không chỉ gói gọn trong địa hạt giáo dục mà còn là trách nhiệm xã hội. Thật đáng tiếc, do chiến tranh bùng nổ, trường Bách Thảo phải đóng cửa vào tháng 12-1946, khép lại một ý hướng khai mở thực hành giáo dục mầm non của vợ chồng ông Vĩnh Bang và bà Lê Thị Tuất cùng những cộng sự của họ. Sau đó, ông bà sang Geneva tu nghiệp và sau này, ông Vĩnh Bang trở thành nhà tâm lý học sư phạm hàng đầu của Thụy Sĩ, là cánh tay phải của Jean Piaget. Giới đại học đánh giá đóng góp của ông:   Người giảng viên hài hòa giữa sự chính xác thực nghiệm, trí tưởng tượng và sự giản dị, nhà trí giả và “nhà ngoại giao của ngành tâm lý học” tại đại học, Bang đã góp phần vào sự phát triển của lý thuyết Piaget theo hướng chuẩn xác hơn mà vẫn truyền đến cho sinh viên của mình sự tôn trọng “tính khác biệt của trẻ em. (…) Đặc biệt ông có công lao rất lớn làm biến đổi theo chiều sâu và hiện đại hóa Trường Tâm lý học và Giáo dục học. Giáo sư Vĩnh Bang là người mở và phát triển ngành học phương pháp học tâm lý và tâm lý sư phạm. Ông cũng là người thúc đẩy và chỉ đạo việc nghiên cứu ứng dụng các kết quả cơ bản của tâm lý phát sinh vào việc giảng dạy ở phổ thông. (Rita Hofstetter, Marc Ratcliff, Bernard Schneuwly, Một trăm năm cuộc đời 1912-2012, trường Đại học Tâm lý học và Giáo dục học kế thừa Viện Rousseau và thời đại Piaget, Genève, Georg Editeur, 2012, tr.99 và Nhật báo Tribune de Genève, ngày 5-10-1988, tr.23).  Kết luận  Dưới danh nghĩa mẫu giáo tư thục đầu tiên của nền độc lập và của GDM tại Việt Nam, sự ra đời và tồn tại, dù ngắn ngủi trong khoảng một năm, của Bách Thảo hàm chứa nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, GDM du nhập được vào Việt Nam là nhờ hai mạng lưới hướng đạo và thiện nghĩa, bên góp nhân lực và kiến thức, bên góp tài lực và các mối quan hệ. Họ đưa việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em tại Việt Nam dưới thời thuộc địa được thay đổi về chất. Tầng lớp tinh hoa Việt nỗ lực tìm kiếm phương cách đào tạo những nhi đồng, thiếu niên Việt toàn diện để chuẩn bị cho nền độc lập mà lúc đó họ đã dự cảm nó đang đến gần. Thứ hai, GDM và phong trào nữ hướng đạo như dòng hợp lưu tạo nên diện mạo mới phong trào nữ quyền tại Việt Nam dưới thời thuộc địa. Sự gặp gỡ này không chỉ nâng cao vai trò xã hội và nghề nghiệp của nữ giáo viên mà còn đóng góp về mặt nhân lực cho hệ thống mầm non tiểu học còn non trẻ của Việt Nam buổi đầu độc lập. Thứ ba, nền giáo dục mầm non của Việt Nam độc lập đã tiếp thu về mặt nhận thức và phương pháp của Giáo dục Mới.       Những thể nghiệm sư phạm này tại Việt Nam bị ngắt quãng bởi nhiều thập niên. Ngày nay, nó du nhập và phát triển trở lại, quy mô và phong phú hơn. Chúng ta hi vọng rằng nhu cầu chăm lo của các phụ huynh cho con em mình bắt nhịp được với mong muốn giáo dục và giáo dưỡng của những nhà thực hành giáo dục để cho trẻ em trở thành những người được thụ hưởng thực sự chứ không đơn thuần chỉ là đối tượng tiêu dùng sản phẩm giáo dục từ những người cung cấp dịch vụ giáo dục. Có như vậy, hẳn là những nhà tiên phong cách đây 70 năm sẽ mãn nguyện vì sự nghiệp của họ được các thế hệ sau tiếp nối. □   ————-  *TS, Nghiên cứu viên Đại học Paris Diderot & Đại học Geneva  Chú thích:   1 Bạch Thái Bưởi giúp Nguyễn Quý Toàn và Trịnh Văn Hội gây dựng, ở Hà Nội, Trường Thể dục đầu tiên tại Đông Dương vào năm 1919. Ông còn mở cơ sở in, xuất bản Đông Kinh ấn quán và tờ Khai hóa nhật báo để cổ động phong trào thực nghiệp.  2 Hoàng Đạo Thúy, Nghề thầy, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, tái bản, 2016, tr. 10.  3 Trịnh Hữu Ngọc (1912-1997): Chủ xưởng mộc Mémo lừng danh đầu thế kỷ 20. Ông là tác giả hơn 600 tác phẩm hội họa và thiết kế đồ gỗ có giá trị cao, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ nghệ sỹ về sau.  4 Được khánh thành ngày 15-6-1935, đây là công viên (có thu phí vào cửa) dành cho trẻ em, thiếu nhi, thiếu niên của thành phố Hà Nội. Công viên bao gồm một bể bơi, một sân khấu, quầy nước và nhiều sân bãi trò chơi. Ngày nay, nó chính là vị trí của Cung Văn hóa Thiếu nhi.  5 Mina Audemars (1883-1971), Louise Lafendel (1872-1971): Hai nhà giáo dục người Thụy Sĩ, sáng lập ra Maison des Petits vào năm 1913, lấy cảm hứng từ trường Casa dei Bambini của Maria Montessori.  6 Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam, tài liệu đã dẫn, tr.18.      Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Giáo dục môi trường ở Việt Nam: Những cánh rừng đã mở      Với học đường là những cánh rừng, học liệu là tự nhiên, giờ đây những mô hình giáo dục mở đa quốc gia đã mang đến các hình thức mới lạ để truyền tải kiến thức khoa học, khơi gợi tình yêu thiên nhiên của các em học sinh.    Các em nhỏ đang khám phá thiên nhiên trong vườn thực vật tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, hoạt động này thuộc dự án “Trao Bé Hạt Mầm” do Save Vietnam’s Wildlife tổ chức. Ảnh: Save Vietnam’s Wildlife.    Trước năm 2016, ở Việt Nam, chiến dịch Giờ Trái đất (Earth Hour) gần như đã trở thành một biểu tượng của phong trào bảo vệ môi trường, kêu gọi đông đảo cộng đồng, các doanh nghiệp, đặc biệt là thế hệ trẻ tiết kiệm năng lượng, kết nối với thiên nhiên. Sau đó, một thế hệ các thủ lĩnh chống biến đổi khí hậu cũng từ ‘cái nôi’ này mà đi lên.  Nhưng về sau, chương trình đã được cộng đồng đánh giá lại. Kết cục của hàng nghìn bóng đèn LED, hàng nghìn cây nến được các bạn trẻ sử dụng trong các buổi lễ, những tờ rơi, các áp phích kêu gọi… bị bỏ lại đã dẫn đến câu hỏi: cần phải thay đổi hành vi và nhận thức từ bên trong chứ không chỉ là bề nổi. Khách quan mà nói, ảnh hưởng của chương trình là không thể chối cãi, nhưng chỉ một Giờ Trái đất sẽ không thay đổi ‘cuộc chơi’ bảo vệ môi trường. Sứ mệnh giáo dục môi trường cần được tiếp tục với các hình thức tổ chức bền bỉ và lâu dài hơn.  “Đại sứ” giáo dục tê tê, cầy mực  “Ngày bé em thường nói chuyện với cây. Nhưng rồi thời gian trôi đi, khi lớn lên dường như em đã quên mất một số thứ ý nghĩa với bản thân mình. Hôm nay là lần đầu tiên sau rất lâu em mới có được lại cảm giác này” – Đó là tâm sự của một học sinh sau khi tham gia hoạt động kết nối với thiên nhiên thuộc hành trình “Khám phá và tắm rừng Sơn Trà” của Trung tâm Giáo dục Trải nghiệm Thiên nhiên Nature Dance (Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh – GreenViet).  Sơn Trà, cũng như các khu rừng, khu bảo tồn thiên nhiên khác của Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn đến từ các hoạt động săn bắn động vật hoang dã và khai thác du lịch thiếu bền vững. Một nhóm các nhà hoạt động vì môi trường, đứng đầu là TS. Hà Thăng Long đã thành lập ra GreenViet, với mục đích biến nơi đây thành nơi cung cấp cho người học cơ hội trải nghiệm và khám phá các kiến thức liên quan đến tự nhiên, từ đó khơi gợi được tình yêu và tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ thiên nhiên.  Các cán bộ trung tâm nhận thấy được rằng cần thiết phải có một trung tâm giáo dục tập trung vào tổ chức các hoạt động học tập và trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh, sinh viên và người dân địa phương, Trung tâm GreenViet đã tiến hành xây dựng và thành lập ra Nature Dance – Trung tâm giáo dục trải nghiệm thiên nhiên đầu tiên tại Đà Nẵng.  Tiếp nối sự thành công bước đầu, các thành viên tiếp tục triển khai các hoạt động giáo dục trải nghiệm thiên nhiên tại khu vực rừng nằm ở phía Đông Nam bán đảo Sơn Trà, mà hành trình “Khám phá và tắm rừng Sơn Trà” là một trong số đó.  Dưới những tán cây, các thành viên trong đoàn đã “nhắm mắt ôm cây, bỏ giày đi chân đất, đi bộ trong im lặng, lấy hẳn giấy bút viết xuống những thắc mắc muốn hỏi cụ đa, hòn đá, em kiến, ngọn cỏ…” Các bạn được lắng nghe câu chuyện về các loài cây, về cuộc sống của những loài động vật trong rừng. Ẩn sau các hoạt động đó, thiên nhiên đã hiện lên một cách riêng biệt và độc đáo, khiến mỗi người phải chạnh lòng khi nhận ra chúng đang dần biến mất, bởi chính sự tàn phá của con người.  Cách bán đảo Sơn Trà khoảng 700 km, trong một khu vực thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương, một nhóm các nhà hoạt động môi trường thuộc Trung tâm Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Việt Nam – Save Vietnam’s Wildlife đang cùng nhau vận hành “Đi và khám phá” – chuỗi chương trình giáo dục môi trường cho các bạn nhỏ ở rất nhiều lứa tuổi.  Không chỉ GreenViet, thời gian gần đây hàng loạt các nhóm hoạt động vì môi trường khác như nhóm Hành động vì Động vật Hoang dã (Action for Wildlife Organization – AWO), Save Vietnam’s Wildlife cũng đã tổ chức nhiều hoạt động giáo dục môi trường ở nhiều địa điểm khác nhau. Từ những khu bảo tồn thiên nhiên như Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Trung tâm bảo tồn Rùa Cúc Phương (Ninh Bình), Trung tâm cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp (Ninh Bình)… cho tới những khu vực đứng trước nguy cơ thu hẹp như Sơn Trà (Đà Nẵng).  Điểm chung của các hoạt động giáo dục môi trường này là tính sư phạm bài bản và khoa học. Để xây dựng được nội dung chương trình, GreenViet không chỉ nhờ đến một vài chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, mà thậm chí còn thành lập một ban cố vấn gồm các nhà khoa học và nhà quản lý uy tín, như GS. TS. Lê Vũ Khôi (Nguyên trưởng ban khoa học công nghệ, Đại Học Quốc gia Hà Nội), TS. Võ Văn Minh (Trưởng khoa Sinh Môi trường, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng)… Bản thân mỗi cán bộ thuộc trung tâm cũng là những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này, đã từng đi nghiên cứu thực địa cho các dự án bảo tồn động vật hoang dã. Còn các tổ chức lớn như Save Vietnam’s Wildlife đã xây dựng được một đội ngũ quản lý điều hành, hội đồng ban cố vấn là những chuyên gia trong và ngoài nước về lĩnh vực môi trường, thường xuyên thực hiện những bài nghiên cứu thực địa, nghiên cứu bảo tồn đáng tin cậy.  Còn đội ngũ thanh niên trẻ trực tiếp tổ chức chuyên môn và hoạt động của “Trải nghiệm Thiên nhiên” (Chuỗi chương trình do AWO tổ chức) bao gồm các thành viên cốt cán là thạc sĩ, sinh viên thuộc các trường, Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội), ĐH Tài nguyên và Môi trường (Hồ Chí Minh) v.v… cùng giáo viên tại các trường THPT, THCS.  Chương trình bài bản  Không chỉ là những chuyến đi trải nghiệm nhất thời, những chương trình giáo dục môi trường ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã phối hợp với các đơn vị, trường học để tiếp cận đến các em nhỏ, xây dựng những chương trình bài bản để thu hút các em tham gia đông đảo hơn.  Save Vietnam’s Wildlife đã kết hợp với Vườn Quốc gia Cúc Phương và Vườn Quốc gia Pù Mát không chỉ để tiến hành các hoạt động cứu hộ động vật hoang dã từ buôn bán trái phép và tái thả chúng về môi trường sống phù hợp, mà từ đó còn phổ biến chương trình Đi và Khám phá cho các em học sinh đến tham quan tại đây. Qua ba năm học từ 2016 đến 2018 đã có gần 7000 trẻ em xung quanh khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Cúc Phương lần đầu tiên được nhìn thấy các bạn động vật hoang dã.  Các em nhỏ đang khám phá thiên nhiên trong vườn thực vật tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, hoạt động này thuộc dự án “Trao Bé Hạt Mầm” do Save Vietnam’s Wildlife tổ chức. Ảnh: Save Vietnam’s Wildlife.  Cũng được thành lập từ năm 2016, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia, dưới sự quản lý của Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), với sứ mệnh tạo dựng một tương lai, nơi con người sống hòa hợp với Mẹ Trái đất (Gaia) đã tổ chức những hoạt động giáo dục môi trường đầy sôi nổi ở khu vực miền Nam.  Với sự hỗ trợ của VUSTA, Gaia đã tiếp cận đến các trường học công lập, dân lập và quốc tế, tổ chức các hành trình trải nghiệm thiên nhiên độc đáo. Các chương trình do Gaia tổ chức không chỉ truyền tải khoa học một cách thụ động, mà còn thúc đẩy việc chủ động tiếp nhận ở người tham gia. Tổ chức này phối hợp với những trường học, cá nhân trong các chương trình trồng và giám sát rừng, nhằm giúp phục hồi quần thể các loài động vật hoang dã quý hiếm như Voi châu á, Sếu đầu đỏ… Người tham gia không chỉ trồng rừng, mà còn cùng Gaia nghiên cứu và giám sát của khu rừng của mình và theo dõi sự thay đổi, tác động của khu rừng tới hệ sinh thái.  “Gaia thường tổ chức những hoạt động giáo dục cho các bạn trẻ, đặc biệt là các em cấp 2. Cuối tuần chúng mình thường tổ chức tour cho học sinh đến thăm khu du lịch Bửu Long để học về bướm và một số loài chim. Ngoài ra, chúng mình còn tổ chức đưa học sinh đến Cần Giờ trồng rừng ngập mặn nữa.” Thu Thủy, tình nguyện viên của Gaia chia sẻ.  Còn với Trung tâm GreenViet, họ đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng tổ chức những buổi chia sẻ cho các giáo viên giảng dạy bộ môn Sinh học và Ngữ văn trên địa bàn thành phố để cùng nhau ứng dụng lồng ghép kiến thức đa dạng sinh học vào bài dạy trên lớp, đưa ra đề xuất nhằm mang các kiến thức về Sơn Trà đến gần hơn với các em học sinh, mà tham gia những hoạt động của Nature Dance là một ví dụ. Từ năm 2013 đến nay, GreenViet đã đưa hơn 2.000 học sinh, sinh viên và người dân đến tham quan học tập trực tiếp tại Sơn Trà. GreenViệt cũng đã tổ chức các hoạt động giáo dục thiên nhiên cho hơn 15.000 học sinh trong thành phố Đà Nẵng thông qua các đợt triển lãm và các bài nói chuyện về đa dạng sinh học.  Không chỉ có Nature Dance, Đi và Khám phá, Trải nghiệm Thiên nhiên, Gaia… các chương trình giáo dục môi trường khác cũng đang được đẩy mạnh, như chương trình Bảo tồn Rùa biển, hay sắp tới là Giáo dục về bảo tồn và phúc lợi động vật của tổ chức WildAct. Giới trẻ cũng có những chương trình giáo dục giúp xây dựng dự án như Trại Thủ lĩnh Khí hậu của tổ chức CHANGE, Trường học mùa Đông về phát triển bền vững vừa được tổ chức ở Quy Nhơn, khóa học bảo tồn thú linh trưởng hằng năm…  Các em tự quyết  Nhà tự nhiên học người Anh, David Attenborough – người gắn liền tên tuổi với những thước phim truyền hình sống động và chân thực về cuộc sống tự nhiên – đã vấp phải rất nhiều chỉ trích trong suốt sự nghiệp của mình. Các nhà phê bình cho rằng ông chỉ tập trung vào phác họa cái đẹp của thiên nhiên mà bỏ quên sự tàn phá của con người, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.  Ngược lại, ông cho rằng: “Chúng ta không thể làm ra một chương trình mà chỉ đơn giản là nói ‘thế giới đang lâm nguy’. Bởi vì người xem sẽ ậm ờ ‘biết rồi, biết rồi’ và chuyển sang xem kênh khác. Nhưng bằng cách chiếu những thước phim về các kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ, đầy ấn tượng,” chúng ta sẽ khơi gợi trong người xem cảm giác muốn bảo vệ những vẻ đẹp ấy, “và đó là cách mà chúng tôi đang thực hiện.”  Đó cũng là cách mà hầu hết những tổ chức giáo dục hiện nay đang hướng đến. Những nhà hoạt động vì môi trường hằng ngày vẫn lặng thầm lên kế hoạch, tỉ mỉ tổ chức những hoạt động vừa và nhỏ để truyền tải cho các em học sinh về tình yêu thiên nhiên một cách nhẹ nhàng, không mang nặng tính hàn lâm, bởi họ tin rằng nhận thức của thế hệ tương lai đang được nâng cao, từng ngày.  Dẫu biết rằng biến đổi khí hậu đang diễn ra, nguồn tài nguyên được đánh giá là “rừng vàng biển bạc” đang dần cạn kiệt, những sự kiện ô nhiễm lớn diễn ra như những nhà máy nhiệt điện với lượng xả thải khổng lồ, đập thủy điện tác động đến hạ lưu, những nhà máy xử lý không đạt chuẩn gây ảnh hưởng trên diện rộng; thì trong những cánh rừng, các em học sinh vẫn đang học cách yêu thương, kết nối, hòa vào thiên nhiên và các loài động vật tự nhiên.  Không hô hào khẩu hiệu, không vận động phong trào mang tính hình thức. Bằng việc giúp các em học sinh hiểu được rằng khi sự đa dạng sinh học mất đi, chúng ta sẽ không có không khí để thở hay nước sạch để uống, các em cũng sẽ hiểu: Giờ đây, quyền tự quyết đã được trao cho mỗi người trong số chúng ta.    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Giáo dục: Một nhân quyền cơ bản      “Không nên để học vấn mãi làm người khách trọ. Hãy cử hành hôn lễ với chàng (nàng) thôi!”. Lời khuyên ấy của De Montaigne (1533-1592), nhà hiền triết người Pháp, dẫn đến lời khuyên tiếp theo của cụ Nguyễn Du: “Trăm năm tính chuyện vuông tròn/phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.  Câu chuyện giáo dục – mở đầu cuộc Trò chuyện triết học dang dở và… bất tận, nay được hân hạnh tái ngộ bạn đọc – sẽ thử làm công việc ấy một cách thật khái quát, góp phần vào nỗ lực suy nghĩ và thảo luận chung về vấn đề giáo dục đầy bức xúc.      KHẢ THỂ CỦA MỘT “QUYỀN TỰ NHIÊN”  Trước khi đi tìm “ngọn nguồn lạch sông” của vấn đề giáo dục về cả hai phương diện: phương diện lịch sử (các chủ thuyết hay các triết học giáo dục tiêu biểu) và phương diện hệ thống (các khái niệm “nền tảng” của giáo dục), hãy thử đặt giáo dục vào đúng “cương vị” của nó : như môt nhân quyền cơ bản.  Điều 26 của Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 10.12.1948 đã trịnh trọng khẳng định:  “1. Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc, Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải đến được với mọi người, và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng.  2. Giáo dục nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do cơ bản của con người. Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hay tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hòa bình.  3. Cha mẹ có quyền ưu tiên lưa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ.”  Cùng với quyền được hưởng giáo dục vừa nói, các quyền về lao động, nghỉ ngơi, giải trí, an toàn và an sinh xã hội cũng được lần lượt nêu đầy đủ từ các Điều 22 đến 26. Vài nhận xét:  –     Chỉ được gọi là nhân quyền cơ bản khi con người sở hữu nó chỉ vì họ là… con người, nghĩa là, thuộc về con người mọi lúc và mọi nơi. Quyền ấy được “tự nhiên ban cho”, nhờ thế, có cương vị của một “quyền tự nhiên”. Liên Hợp quốc hoàn toàn có lý khi gọi bản tổng hợp này là “Tuyên Ngôn”, chứ không phải Công ước hay Thỏa ước v.v.. Chúng có tính ràng buộc mà không cần thỏa thuận. Chúng có giá trị hiệu lực trước và độc lập với mọi sự đặt định. Vì thế, chỉ cần “tuyên bố” mà không cần “quyết nghị”. Một “Công ước” hay “Hiệp ước” về nhân quyền là một sự mâu thuẫn nội tại! Cách dịch quen thuộc Tuyên Ngôn quan trọng này ra tiếng Việt thành “Tuyên Ngôn quốc tế về nhân quyền” dễ dẫn đến sự ngộ nhận vừa nói, bởi không làm nổi bật tính “phổ quát” (“universal”) đúng theo tinh thần và lời văn chính thức của Tuyên ngôn.  –     Nhiều quyền xã hội được nêu trong các điều trên (chẳng hạn quyền lao động, nghỉ ngơi, giải trí, an sinh…) là rất quan trọng, cần được bảo vệ. Nhưng, liệu chúng có quyền yêu sách là thuộc cương vị những nhân quyền phổ quát? Thắc mắc ấy chính đáng, bởi chúng phụ thuộc vào các điều kiện xã hội nhất định, không “phổ quát” (chẳng hạn, quyền lao động, và cùng với nó, là quyền nghỉ ngơi, giải trí, an sinh.., chỉ có ý nghĩa trong xã hội có lao động làm thuê v.v..). Chúng quan trọng, nhưng không… tuyệt đối, không phải do “tư nhiên ban cho”, trái lại thuộc về pháp luật thực định. Thực tiễn chính trị đã nhận ra điều ấy, và không phải ngẫu nhiên khi chúng được gọi là “quyền”, thay vì “nhân quyền” khi được đưa vào các “Công ước quốc tế“ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc ngày 19.12.1966.  –     Ngoại lệ ở đây chính là quyền được hưởng giáo dục như một nhân quyền cơ bản đích thực! Biện minh cho điều này thật không dễ dàng và vượt ra khỏi khuôn khổ câu chuyện của chúng ta, vì phải chứng minh được hai điểm rất khó: quả có nhân quyền tự nhiên cơ bàn, và giáo dục là một trong những quyền ấy!  HÀI HÒA CÁC MỤC ĐÍCH: HẠT NHÂN CỦA GIÁO DỤC  Bảo quyền tự nhiên là dựa vào “ý Trời” sẽ khó thuyết phục với người không có tín ngưỡng. Bảo nó là “sự kiện hiển nhiên” không cần và không thể chứng minh (như quan niệm nổi tiếng của Kant về “mênh lệnh nhất quyết”: khác với châm ngôn chủ quan, mệnh lệnh nhất quyết về luân lý là khách quan: “Hãy hành động sao cho châm ngôn chủ quan của bạn lúc nào cũng có thể trở thành một quy luật phổ quát” ) thì có vẻ chưa đủ vì chưa cho thấy sự tất yếu tại sao tôi phải tuân thủ nó. Khó thật, nhưng ít ra phải thừa nhận sự tất yếu rằng tự do của ta không phải vô giới hạn: thứ nhất là tất yếu tự nhiên vì tôi không thể tàng hình đến thăm bạn được, và thứ hai là tất yếu lôgíc khi không thể vừa muốn ăn vừa muốn giữ lại miếng bánh ngọt! Nghĩa là, ta tất yếu phải… muốn một số điều nhất định thôi, bởi hai sự tất yếu trên đây không cho ta có lựa chọn khác. Trong số các điều… “muốn” ấy, có các quyền cơ bản. Tại sao?  Thưa, vì ai ai cũng muốn đạt được những mục đích của mình. Mục đích khác với mong ước, vì mục đích, về nguyên tắc, không thể bất khả thi. Nó đòi hỏi phải tìm ra và sử dụng những phương tiện thích hợp, kể cả và nhất là để loại bỏ những trở ngại (muốn vào nhà, phải mở cửa!). Ta không thể đồng thời theo đuổi những mục đích trái ngược nhau đã đành, mà cũng không thể biết hết mục đích của những người khác. Cách duy nhất để tránh xung đột là phải có những quy tắc chung đảm bảo sự hài hòa phổ quát về các mục đích, khiến ta có thể nêu thành công thức: ai ai cũng muốn có sự hài hòa về mục đích theo những quy tắc chung. Từ đó mới có Ý niệm về (pháp) quyền, về (pháp) quyền khách quan và (pháp) quyền chủ quan.  Muốn chứng minh một quyền là nhân quyền cơ bản, ta phải chứng minh rằng thiếu nó sẽ không thể có sự hài hòa phổ quát về mục đích (đó là lý do một số quyền kinh tế, xã hội không hoàn toàn là những quyền cơ bản). Sự hài hòa ấy cũng không thể đạt được bằng cưỡng bách, nếu không muốn chỉ có sự hài hòa giả tạo, bề ngoài.  Vậy, chỉ có giáo dục mới góp phần thực hiện được sự hài hòa đích thực, qua hai bước khai minh: – dù có ý thức hay không, con người mặc nhiên muốn có sự hài hòa về mục đích (với mình và với người khác); – thấy rằng bạo lực, kỳ cùng, không thể mang lại sự hài hòa đích thực và lâu bền.        “Đặc điểm của tâm hồn có giáo dục là biết thưởng lãm ý kiến mà mình không đồng ý”.              (ARISTOTELES)        Từ đó, có thể phát biểu mục tiêu cơ bản của giáo dục theo tinh thần của Tuyên Ngôn, nhất là khoản 2, điều 26 với tư cách một nhân quyền cơ bản như sau:  Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục để giúp họ có thể thấu hiểu ý niệm về (pháp) quyền và nhận ra rằng bạo lực không phải là phương tiện thích hợp để đạt được những mục đích của mình.  Triết học phát triển những phương pháp để đặt cơ sở hoàn toàn thuần lý cho các chuẩn mực đạo đức và pháp quyền, vì thế, đã và sẽ luôn có mặt trong mọi nghị luận về giáo dục.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 1, 18.09.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục năng khiếu: Để không gây bất bình đẳng?      Trong thời gian qua, đã có nhiều tranh luận về việc có nên duy trì, cải cách hay bãi bỏ các trường chuyên vì hệ thống chuyên có thể mang tới sự bất bình đẳng trong giáo dục. Nhưng trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mà phần lớn các hệ thống giáo dục trên thế giới đều ghi nhận học sinh năng khiếu (học sinh giỏi) có nhu cầu học tập riêng cần được đáp ứng.    Bài viết này tổng hợp các chính sách và thực hành giáo dục năng khiếu (GDNK) ở một số quốc gia điển hình nhằm đem đến những góc nhìn đa chiều và gợi mở về những gì có thể thực hiện để cải cách hệ thống trường chuyên ở Việt Nam.    Đã có ý kiến bãi bỏ các trường chuyên, thậm chí bán trường Amsterdam Hà Nội. Trong ảnh: Học sinh trường Amsterdam thực hành thí nghiệm khoa học. Nguồn: laodong.  Trẻ có năng khiếu khó phát huy khả năng trong lớp “đại trà”  Theo định nghĩa của Hiệp hội Trẻ năng khiếu quốc gia (NAGC) của Mỹ, trẻ có năng khiếu là những trẻ có khả năng học tập, rèn luyện hoặc có kết quả học tập, rèn luyện cao hơn trẻ cùng tuổi, cùng lứa ở cùng môi trường (khả năng học tập và lập luận xuất chúng hoặc đạt thành tích trong tốp 10% cao nhất) trong một hoặc nhiều lĩnh vực, và khẳng định cần phải điều chỉnh chương trình giáo dục để giúp những học sinh này phát triển được năng lực của mình.  Chính phủ các nước có chính sách khác nhau để khai thác nguồn nhân lực tài năng. Kết quả đánh giá học sinh Australia NAPLAN toàn quốc năm 2015 cho thấy top 10% học sinh có kết quả cao nhất chênh tới 5-6 lớp so với nhóm học sinh có kết quả thấp nhất (Geoff Masters). Nếu trao trách nhiệm ‘cá nhân hoá’ chương trình học cho giáo viên trực tiếp giảng dạy, đây sẽ là gánh nặng quá lớn đối với họ. Các lớp học chung cho mọi trình độ do vậy thường bỏ qua nhu cầu học tập của nhóm học sinh có năng lực cao, trong khi nhóm học sinh này rất dễ gặp phải những vấn đề về hành vi, thái độ, và mất động cơ học tập.  Đó là trong thực tiễn, còn về mặt lý thuyết thì điều này cũng đã được đề cập.  Trong các học thuyết quan trọng về năng khiếu có thể nhắc đến định nghĩa của Renzulli, thuyết đa trí tuệ của Gardner, Gagne với sự phân biệt giữa tài năng và năng khiếu, và mô hình WICS của Sternberg. Renzulli (2005) chia năng khiếu thành hai loại: năng khiếu ‘trường lớp’, để nói đến năng lực thi cử, học hành, ghi nhớ kiến thức; và năng khiếu ‘sáng tạo’ để chỉ năng lực vận dụng kiến thức, và khẳng định đây mới thực sự là năng khiếu.  Thuyết đa trí tuệ của Gardner gợi ý rằng trẻ thông minh theo cách khác nhau và ở những lĩnh vực khác nhau (ngôn ngữ, logic-toán học, không gian-thị giác, vận động, âm nhạc, giao tiếp, tự nhiên, và nội tâm), do vậy thừa nhận sự đa dạng về đặc điểm và nhu cầu học tập của trẻ, đưa ra những ‘gợi ý’ quan trọng cho giáo dục năng khiếu.  Với Gagne, giữa năng khiếu và tài năng có sự khác biệt rõ ràng, trong đó năng khiếu là những năng lực tự nhiên, mang tính bẩm sinh, còn tài năng là những năng lực được tôi rèn, phát triển một cách có hệ thống. Năng lực bẩm sinh tự nhiên cần được phát triển và chuyển hóa thành tài năng thông qua quá trình có bốn yếu tố xúc tác: học tập và rèn luyện, cơ hội, môi trường, và nội tâm. Trẻ có chút năng khiếu chiếm khoảng 10% cùng nhóm lứa tuổi, nhưng số có năng khiếu, tài năng đặc biệt, xuất chúng chỉ có 0.1% dân số.  Mô hình WICS (Sternberg) đề xuất ba yếu tố (Trí tuệ, Trí thông minh, và Sáng tạo) cần để tổng hợp (Synthesis) để hình thành tài năng. Đặc biệt, mô hình này đề cao năng lực thích ứng với môi trường. Ngoài ra, khung MVT:D4 của GS. Stanley, Trung tâm Tài năng trẻ của Đại học John Hopkins, cũng đưa đến những gợi ý đáng chú ý về quá trình phát triển tài năng qua bốn giai đoạn: Khám phá (tìm kiếm tài năng), Đặc tả (đánh giá cá nhân), Phát triển (chương trình can thiệp, hỗ trợ phát triển tài năng) và Phổ biến (chia sẻ thực hành).  Nhiều nước đều có chương trình giáo dục năng khiếu  Ở Mỹ, luật liên bang Mỹ công nhận rằng trẻ có năng khiếu, tài năng có nhu cầu đặc biệt tuy nhiên không có quy định nào bắt buộc phải đáp ứng những nhu cầu này nhưng thực tiễn cho thấy hầu hết các bang đều có chương trình GDNK cho trẻ, trong đó 80% có nhân sự chuyên phụ trách mảng này; gần 50% có ngân sách dành riêng cho GDNK, 75% đặt quy định bắt buộc phải xác định, tìm kiếm học sinh năng khiếu dù cấp sở có thể triển khai khác nhau (Rinn, Mun, & Hodges, 2020). Một số bang thậm chí yêu cầu phải sử dụng phương pháp, tiêu chuẩn và công cụ tìm kiếm tài năng nhất định, còn một số bang chỉ đặt ra các yêu cầu mang tính nguyên tắc.        Năng lực bẩm sinh tự nhiên cần được phát triển và chuyển hóa thành tài năng thông qua quá trình có bốn yếu tố xúc tác: học tập và rèn luyện, cơ hội, môi trường, và nội tâm.      Các hình thức để tổ chức giáo dục năng khiếu cho học sinh phổ thông có khác biệt giữa các bậc học. Ở mẫu giáo, nhà trẻ, lớp học có chương trình chuyên, khối lớp chuyên (self-contained), lớp học mở cho phép học theo tốc độ cá nhân (self-paced), phân nhóm học sinh giỏi, phòng tư liệu trong trường (hỗ trợ học sinh có nhu cầu đặc biệt), trường năng khiếu (trong hệ thống trường công), vv. Ở tiểu học và THCS, có các lớp tăng cường, lớp chuyên, lớp tự học, và chương trình Tú tài quốc tế. Ở THPT, còn có thêm các hình thức lớp học sinh giỏi.    Học sinh trường Manchester Grammar School, lâu đời và nổi tiếng trong hệ thống các trường Grammar School, trong kỷ niệm 500 năm thành lập trường. Nguồn: manchestereveningnews.co.uk  Về nhân sự phụ trách, đội ngũ tham gia gồm có giáo viên chuyên, điều phối, chuyên viên giáo dục năng khiếu, các nhà tư vấn học đường, và các chuyên gia về giáo dục đặc biệt. Nhiều bang yêu cầu giáo viên dạy học sinh năng khiếu phải có chứng chỉ, giấy phép về giáo dục năng khiếu (Rinn et al., 2020).  Tương tự Mỹ, ở Vương quốc Anh, không có quy định nào bắt buộc về giáo dục năng khiếu, nhưng thực tế tồn tại rất nhiều hình thức giáo dục này cho trẻ năng khiếu, tài năng, phổ biến là hình thức lớp tăng cường dành cho các môn học văn hóa. Quan trọng hơn cả, hệ thống giáo dục hỗ trợ giáo dục năng khiếu thông qua việc không áp dụng giới hạn tuổi thi ‘O-level và ‘A-level’, cho phép học sinh giỏi có thể vào đại học sớm trước tuổi.  Điểm nhấn ở Anh là hệ thống trường Grammar schools đã tồn tại 500 năm. Đây là loại hình trường công dành cho trẻ từ 11 đến 18 tuổi, tuyển chọn đầu vào, với định hướng học thuật ‘chuẩn bị cho học sinh vào đại học khối Oxbridge’, chủ yếu tập trung vào các môn học văn hóa để học sinh có thể học tiếp bậc đại học. Trước 1964, loại hình trường này rất phổ biến và có tới ¼ tổng số học sinh theo học. Tuy nhiên sau đó, Chính phủ Anh thúc đẩy loại trường ‘tổng hợp’ cho toàn bộ học sinh học chung, do vậy số trường “grammar schools” giảm đáng kể (Richardson, 2016).  Các trường grammar hiện nay vẫn thực hiện chương trình chung (GCSE), nhưng vẫn đầu tư trọng tâm vào các môn như Sinh học, Hóa học, Vật lý, và có thêm nhiều môn học chuyên và ngoại ngữ. Trong chương trình của các trường này có bổ sung thêm nhiều hoạt động bổ trợ, giúp phát triển năng lực học sinh như các cuộc thi hùng biện trước công chúng (Public Speaking), Báo cáo BBC School, các cuộc thi học sinh giỏi Toán, các cuộc thi thể thao lẫn học thuật như Sports residential, Oxford/Cambridge residential, Bioscience Challenge. Các hoạt động này được nêu chính thức trong Chương trình giáo dục nhà trường.  Ở Trung Quốc, các hình thức trường chuyên năng khiếu tồn tại từ những năm 1950 cho các lĩnh vực như múa, nhạc, mỹ thuật, ngoại ngữ và thể thao. Nhưng kể từ sau những năm 1980 giáo dục năng khiếu mới được chú trọng, với cách tuyển chọn đầu vào rất khắt khe (Stevenson, Lee, & Chen, 1994). Ngoài các chương trình ngoài học chính khóa được tổ chức ở các trường Olympics, trường chuyên biệt, các câu lạc bộ trẻ và hội trại (Stevenson et al., 1994).  Trường Olympic chủ yếu tập trung vào môn Toán cho trẻ từ lớp 3 đến lớp 11 và giáo viên tham gia giảng dạy là giáo viên phổ thông dày dạn kinh nghiệm và giáo sư đại học. Các trường chuyên biệt lại dành cho các vận động viên điền kinh tương lai. Hội trại mùa Hè hay mùa Đông và câu lạc bộ trẻ thì tập trung vào các chương trình nghệ thuật, sáng tạo như viết văn, hội họa, múa và sân khấu thông qua tuyển chọn đầu vào bằng phỏng vấn và thi.    Giờ thuyết trình của các em học sinh tại trường năng khiếu thuộc Đại học Khoa học và công nghệ Trung Quốc, tại Hợp Phì, thủ phủ của tỉnh An Huy, Trung Quốc. Nguồn: chinadaily  Các chương trình chuyên chính khóa về cơ bản là chương trình tăng cường, có mục tiêu đào tạo tài năng trẻ, do vậy tuyển trẻ từ rất nhỏ tuổi. Chẳng hạn trẻ có thể vào tiểu học từ khi lên 3 tuổi, vào trung học khi lên 8, và vào đại học ở tuổi lên 10. Các trường công lập cũng tổ chức lớp chuyên, nhưng chỉ nhận trẻ từ 5 – 6 tuổi, dạy theo chương trình thường, nhưng rút ngắn thời gian từ 12 năm xuống 8-10 năm. Điều kiện để sơ tuyển là giới thiệu của giáo viên, các giải thi học sinh giỏi quốc gia, và chỉ số các bài thi chuẩn hóa. Sau đó, nếu vượt qua sơ loại, thí sinh sẽ tiếp tục trải qua các bài thi. Một số trường phổ thông tổ chức lớp chuyên cho một số môn như Toán, Lý, Hóa được các giáo sư đại học giảng dạy.  Giáo dục năng khiếu trong hệ thống giáo dục Việt Nam  Giáo dục chuyên ở Việt Nam bắt đầu từ 1965 với các lớp chuyên Toán ở đại học. Từ đó đến nay, hệ thống trường chuyên Việt Nam là cái nôi đào tạo học sinh giỏi lấy giải Olympic quốc tế về Toán học, Vật lý và Hóa học. Giáo dục chuyên, theo luật, chỉ dành cho học sinh THPT trong khi các trường năng khiếu khác được tổ chức ở tất cả các bậc học phổ thông. Trường chuyên thuộc hệ thống trường công, do các sở giáo dục hoặc các trường đại học quản lý để dành cho nhóm 2% học sinh giỏi nhất (theo số liệu năm học 2018-2019, có 76 ‘trường chuyên’ toàn quốc, trong đó 71 trường thuộc các sở và 5 trường thuộc các trường đại học với tổng số học sinh chiếm khoảng 2,1% học sinh cấp 3).  Ở một số tỉnh, trường chuyên tồn tại cả ở cấp 2, dù không được chính thức thừa nhận nhưng được phụ huynh lựa chọn. Đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, còn có các hình thức mở rộng của hệ chuyên, như lớp chọn, lớp cận chuyên. Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển của hệ chuyên, chọn, cận chuyên mở rộng và trở nên phức tạp, đặt ra nhiều câu hỏi đối với các học giả và xã hội.    Gây bất bình đẳng?  “Tất cả những ai có năng lực, năng khiếu như nhau, có mức độ sẵn sàng và nỗ lực như nhau CẦN PHẢI có cơ hội thành công như nhau, bất kể thành phần xuất thân”. (Rawls 1971)  Giáo dục chuyên đối mặt với cáo buộc “phân biệt đối xử” với trẻ và gây ra bất bình đẳng, vì có chương trình riêng “khiến cho học sinh đã giỏi ngày càng giỏi hơn”. Luồng ý kiến này coi các lớp học ‘hỗn hợp các trình độ’ là cơ hội bình đẳng cho tất cả học sinh.      Nếu thực sự muốn đem lại ‘cơ hội công bằng cho tất cả’ học sinh, cơ sở giáo dục cần phải đem đến trải nghiệm giáo dục mà mọi học sinh đều tham gia.      Tuy nhiên, một mặt, việc thúc đẩy giáo dục hòa nhập là mục tiêu quan trọng, mặt khác, cần làm rõ rằng việc hòa trộn học sinh các trình độ vào cùng một lớp học mà không tính đến sự khác biệt cá nhân về nhu cầu học tập là sự cào bằng và là không công bằng đối với học sinh giỏi hệt như với học sinh gặp khó khăn trong học tập. Sự cào bằng như vậy vô tình bỏ qua cả đối tượng học sinh ở tốp đầu và tốp cuối cùng. Đặc biệt, trong điều kiện trường học ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, sĩ số lớp quá đông, lên tới 40-60 học sinh/lớp, việc cá nhân hóa học tập và giảng dạy đáp ứng nhu cầu của các nhóm học sinh khác nhau là không thể, quá sức đối với giáo viên. Tirri & Laine (2017) đã chỉ rõ quan điểm cho rằng ‘dạy tất cả trẻ em theo cách như nhau là đảm bảo công bằng’ là một sai lầm nghiêm trọng. Nếu thực sự muốn đem lại ‘cơ hội công bằng cho tất cả’ học sinh, cơ sở giáo dục cần phải đem đến trải nghiệm giáo dục mà mọi học sinh đều tham gia. Việc cung cấp chương trình học tập bằng một cách nào đó cho nhóm học sinh giỏi có nhu cầu đặc biệt không những đảm bảo quyền lợi của nhóm này giúp các em có cơ hội học tập, mà còn tạo cơ hội để các nhóm học sinh khác được ‘chăm sóc’ tốt hơn.  Ở Việt Nam cũng có ý kiến cho rằng sự giàu có của phụ huynh các trường chuyên nổi tiếng là một biểu hiện của bất bình đẳng. Không hẳn vậy. Bất bình đẳng chỉ xảy ra nếu sự giàu có ấy được sử dụng để đem lại lợi thế gián tiếp hoặc, một cách trực tiếp, suất chỗ trong trường chuyên cho con cái họ.  Tóm lại, cần phải khẳng định rằng việc phân hóa chương trình giáo dục cho các nhóm đối tượng học sinh có nhu cầu đặc biệt thuộc nhóm thiểu số, bất kể là trẻ gặp khó khăn trong học tập vì thiếu ngôn ngữ, hay do các khiếm khuyết trí tuệ, vận động, cũng như có năng lực trí tuệ và thể chất vượt trội, là đảm bảo công bằng. Tuy vậy, về chính sách và chiến lược giáo dục và phát triển kinh tế xã hội quốc gia, việc đảm bảo công bằng tiếp cận cho mọi trẻ em là chưa đủ. Hiệu quả đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là một yếu tố vô cùng quan trọng. Đầu tư thích đáng, phù hợp vào giáo dục năng khiếu còn là một phần quan trọng trong chiến lược quốc gia phát triển nhân lực chất lượng cao.  Thiếu nhất quán, chất lượng không đồng đều  Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước triển khai giáo dục năng khiếu, có những cáo buộc về sự chênh lệch chất lượng các chương trình năng khiếu cũng như sự không nhất quán trong thực hành, tổ chức các hình thức GDNK. Điều này dễ xảy ra nếu như không có sự chuẩn hóa về điều kiện, cách thức tổ chức GDNK. Đáng chú ý là quy trình tìm kiếm, sàng lọc, tuyển chọn đầu vào cho giáo dục năng khiếu có nhiều vấn đề do các công cụ, bài thi không tốt và các yếu tố xã hội bóp méo quá trình tuyển chọn. Hệ quả là học sinh có năng khiếu, tài năng có thể bị bỏ sót, chẳng hạn như các trường hợp năng khiếu, tài năng bị che lấp bởi các vấn đề khác như khiếm khuyết khả năng giao tiếp hoặc thái độ cá biệt, vv, hoặc do thiếu sự quan tâm của gia đình.  Ở Việt Nam, trong những năm gần đây nền kinh tế mở theo hướng thị trường, đời sống kinh tế hộ gia đình cải thiện cũng kéo theo những trào lưu giáo dục mới và cả những biến tướng làm méo mó các loại hình, sản phẩm giáo dục đã có. Đồng thời những mô hình và thực hành cũ cũng đã có những điểm không còn phù hợp, cần xem xét, điều chỉnh. Mô hình đào tạo trường chuyên là một trường hợp như vậy.  Một số giải pháp đề xuất  Quy chuẩn, ban hành hướng dẫn, khung đảm bảo chất lượng  Ở Mỹ, Hiệp hội NAGC kết hợp với Ủy ban Trẻ em xuất chúng (CEC) và Hiệp hội những người có năng khiếu cùng phối hợp xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về xây dựng chương trình, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, và chuẩn chuyên gia cao cấp về giáo dục tài năng  (NAGC, 2019). Quá trình xây dựng các bộ tiêu chuẩn này có tham khảo các tiêu chuẩn kiểm định trường phổ thông cũng như các yêu cầu về phát triển chuyên môn cho giáo viên. Đây là căn cứ để những nhà quản lý, thực hành giáo dục đánh giá chương trình cũng như nhân sự tham gia thực hiện GDNK.  Ngoài ra, việc ban hành bộ tài liệu hướng dẫn về quy trình, cách thức, bao gồm các tiêu chí và công cụ sàng lọc tài năng cũng giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa ở mức tối thiểu việc triển khai GDNK. Trong bối cảnh Việt Nam, trước những chỉ trích liên quan tới công bằng và bình đẳng, càng cần có các hướng dẫn kỹ thuật để giảm thiểu tác động của các yếu tố xã hội, chẳng hạn như việc luyện thi chuyên, đối với việc lựa chọn học sinh hệ chuyên. Việc thiết kế các bài thi sàng lọc đầu vào cần tham vấn các chuyên gia về khảo thí để có được các công cụ tốt.  Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy chuyên  Giáo viên dạy khối tài năng hoặc chuyên cần có những kỹ năng đặc biệt, tương tự như giáo viên làm việc với trẻ khuyết tật, để có thể hỗ trợ trẻ phát huy năng lực bẩm sinh một cách tốt nhất và phát triển năng lực cao nhất để đạt được các thành tích xuất sắc và trở thành nhân tài. Việc tổ chức, quản lý, quản trị trong nhà trường giúp cho giáo viên có thể thực hiện được các nhiệm vụ này. Do vậy, không chỉ giáo viên, mà cả đội ngũ quản lý trường học cũng cần được trang bị các kỹ năng và hiểu biết cần thiết. Việc nâng cao năng lực không chỉ tập trung vào việc bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ nhân sự hiện có mà còn phải được thực hiện từ gốc: phát triển chuyên ngành đào tạo giáo dục năng khiếu/ tài năng ở các trường sư phạm với các yêu cầu đầu vào cao để lựa chọn được sinh viên giỏi cho chương trình.      Cần có các hướng dẫn kỹ thuật để giảm thiểu tác động của các yếu tố xã hội, chẳng hạn như việc luyện thi chuyên, đối với việc lựa chọn học sinh hệ chuyên.      Chỉnh sửa chương trình chuyên/ tài năng  Về nguyên tắc, rõ ràng chương trình đào tạo phải có tất cả những gì học sinh năng khiếu cần; trên thực tế, để hiểu được chính xác nhu cầu của nhóm học sinh này đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu với nhiều phương pháp khác nhau. Chẳng hạn theo nghiên cứu của NAGC trẻ có năng khiếu không chỉ cần các nội dung học thuật, mà còn cần được hỗ trợ để phát triển năng lực tâm lý xã hội, như khả năng tự hiểu bản thân, tương tác và giao tiếp, kiểm soát bản thân, ra quyết định, cùng như các kỹ năng tâm lý xã hội quan trọng để phát triển tài năng. Có đề xuất rằng cần phải có chương trình giáo dục quản lý cảm xúc cho nhóm trẻ này.  ***  Việc có triển khai GDNK hay không và triển khai như thế nào đôi khi là sự đầu tư của chính phủ vì mục tiêu phát triển đất nước hơn là sự lựa chọn của người dân. Bất kể là gì, lợi ích của người học luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu. Việc chú ý tới các nhóm học sinh khác nhau và đem đến cho họ trải nghiệm học tập phù hợp với nhu cầu không chỉ là vấn đề thuần túy giáo dục hay khoa học mà còn thuộc phạm trù đạo đức.  Mặt khác, những bất cập hay chỉ trích đối với GDNK mà chúng ta quen gọi là hệ chuyên đều cần được xem xét, nghiên cứu, đánh giá thận trọng. Các công cụ kỹ thuật có thể giúp xử lý ổn thỏa các vấn đề này. Điều quan trọng, cơ quan quản lý cũng như giới chuyên môn cần thẳng thắn nhìn nhận, phản biện tích cực bằng các nghiên cứu về giáo dục, và sẵn sàng điều chỉnh những gì đã thành thông lệ, thói quen, kinh nghiệm.□  —  Tài liệu tham khảo  Brown, S. W., Renzulli, J. S., Gubbins, E. J., Siegle, D., Zhang, W., & Chen, C.-H. (2005). Assumptions Underlying the Identification of Gifted and Talented Students. Gifted Child Quarterly, 49(1), 68–79. https://doi.org/10.1177/001698620504900107  Gagné, F. (1985). Giftedness and talent: Reexamining a reexamination of the definitions. Gifted Child Quarterly, 29, 103-112  Gagné, F. (2005). From gifts to talents: The DMGT as a developmental model. In R. J. Sternberg & J. E. Davidson (Eds.), Conceptions of giftedness (2nd ed., pp. 98–120). New York: Cambridge University Press  Freedman, L. (2010). How England treats its gifted children. Financial Times.  Kaufman, S., & Sternberg, R. (2007). Giftedness in the Euro-American Culture. In S. N. Phillipson & M. McCann (Eds.), Conceptions of Giftedness (pp. 373-407). New York: Routledge.  Larsson, Y. (1986). Governmental Policies on the Education of Gifted and Talented Children: A World    View. Educational Studies in Mathematics, 17(3), 213–219. http://www.jstor.org/stable/3482225  National Association for Gifted Children (NAGC). (2018). What is giftedness? Available at: https://www.nagc.org/resources-publications/resources/what-giftedness  National Association for Gifted Children (NAGC). (2019). National Standards in Gifted and Talented Education. Retrieved from https://www.nagc.org/resources-publications/resources/national-standards-gifted-and-talented-education.   https://www.nagc.org/resources-publications/resources/national-standards-gifted-and-talented-education  Richardson, H. (2016). Grammar schools: What are they and why are they controversial? BBC News.  Rinn, A. N., Mun, R. U., & Hodges, J. (2020). 2018-2019 State of the States in Gifted Education. Retrieved from https://www.nagc.org/2018-2019-state-states-gifted-education  Rawls, J. (1971). A theory of justice. Belknap Press/Harvard University Press  Renzulli, J. (2021). The Major Goals of Gifted Education And Talent Development Programs. Academia Letters, Article 2585. https://doi.org/10.20935/AL2585.  Stanley, J. C. (2000). Helping students learn only what they don’t already know. Psychology, Public Policy, and Law, 6(1), 216–222.  Sternberg, R. J. (2003). Wisdom, intelligence, and creativity, synthesized. New York: Cambridge University Press.  Stevenson, H. W., Lee, S.-Y., & Chen, C. (1994). Education of Gifted and Talented Students in Mainland China, Taiwan, and Japan. Journal for the Education of the Gifted, 17(2), 104-130.  Tirri, K., & Laine, S. (2017). Ethical Challenges in Inclusive Education: The Case of Gifted Students. In Ethics, Equity, and Inclusive Education (Vol. 9, pp. 239-257): Emerald Publishing Limited.  Zhang, Z. (2017). Gifted education in China. Cogent Education, 4(1), 1364881. doi:10.1080/2331186X.2017.136488    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Giáo dục nhân cách      Bởi vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do.[…] Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tất cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận được từ xã hội xuất phát từ những nhân cách đơn lẻ qua vô số thế hệ.[…] Chỉ cá nhân đơn lẻ mới tư duy và qua đó mới tạo ra những giá trị mới cho xã hội. (Albert Einstein)  Thời đại réo gọi “nhân cách”, nhưng sự réo gọi hoài công, cho đến khi chúng ta để cho trẻ em như những nhân cách sống và học; cho phép chúng có ý muốn riêng, nghĩ những ý nghĩ riêng, tạo ra kiến thức riêng, xây dựng phán đoán riêng; nói tóm lại, cho đến khi chúng ta chấm dứt bóp chết các nguyên liệu của nhân cách mà chúng ta hy vọng muốn gặp trong đời một cách hoài công. (Ellen Key)    Nhân cách, ở diện rộng, là nền tảng của mọi quốc gia, và giáo dục là chiếc lăng kính tỏa ra nhiều màu sắc của nhân cách. Không có nhân cách, không có khoa học, nghệ thuật. Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành, như John Stuart Mill viết. Muốn có một đất nước mạnh, độc lập, tự khẳng định, phải có những cá nhân mạnh, độc lập và tự khẳng định, thông qua sự tự rèn luyện trong giáo dục. Đó là điều kiện tiên quyết. Một quốc gia được đại diện trong cộng đồng thế giới bằng những ai? Bằng những nhân cách lớn và những tài sản tinh thần của họ. Không có những nhân cách lớn, không thể có nhà nước lớn, không có diện mạo tốt đẹp của quốc gia để được kính phục trong cộng đồng các dân tộc. Einstein cũng từng nói: “Sự lớn lao trong khoa học thực chất chỉ là một vấn đề cá tính”, của nhân cách, của những cái đặc thù tiềm tàng trong người không giống đám đông, để có thể đạt tới những thành tựu vĩ đại. Nhân cách, tính độc lập, là điều kiện tiên quyết của phát triển cá nhân và quốc gia.   Nước Đức thế kỷ 19, trong niềm đau tận cùng của sự sụp đổ trước Napoleon, đã cải cách toàn diện giáo dục, từ tiểu học, trung học đến đại học, để khôi phục giá trị con người đã bị đánh mất dưới chế độ phong kiến, quân chủ, và bị bỏ quên trong nền kinh tế lạc hậu. Họ tìm lại những nhân cách lớn, và những giá trị lớn của tinh thần để bù đắp những tổn thất lớn vật chất. Và thực sự họ đã lớn trong cái “giáo dục con người”, Menschenbildung.  Nước Nhật Minh Trị cũng đã du nhập tinh hoa của văn hóa phương Tây để xây dựng lại con người mới, bị kềm hãm bởi cái học cũ chỉ để phục vụ cho giới thống trị, xây dựng lại nhân cách và một nền văn hóa mới để quốc gia có đủ sức mạnh đương đầu với hiểm họa. Khuyến học, tên của quyển sách nổi tiếng của Fukuzawa, là tiếng kèn ra trận của sự duy tân nhằm thiết lập cái học mới phục vụ nhân dân và xã hội. Và dân tộc họ đã lớn, đã trưởng thành, ngang bằng với các dân tộc đi trước.  Giáo dục cần tập cho học sinh có tinh thấn tự quyết (Selbstbestimmung), chứ không phải thích ứng, chạy theo, không nhắm lợi ích trước mắt hay nắm bắt các kiến thức, kỹ năng, mà phải được đánh thức các tiềm năng tinh thần to lớn bên trong. Giáo dục nhân cách là giáo dục để thành người đích thực, đương đầu trước những cám dỗ tầm thường hóa của tính thực dụng, hưởng thụ, phúc lợi, sung sướng về vật chất. Chúng ta hãy lấy thí dụ một tiếng nói nhân văn từ Max Planck mà khám phá lượng tử của ông đã đưa khoa học hiện đại thế kỷ 20 đến thuyết lượng tử ngày nay. Ông nhớ lại trường học nhân văn của ông bằng những lời ấn tượng có tính giáo dục như sau:  “Tôi chào định mệnh đã cho tôi một nền giáo dục nhân văn. Các nhà cổ điển Hy Lạp và La Mã [là những hình ảnh] tôi không bao giờ muốn đánh mất khỏi trí nhớ tôi. Tôi tin chắc rằng, trong thời đại hiện tại, chủ yếu được định hướng theo những lợi ích bề ngoài, thì trường trung học nhân văn lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vì thế cần phải cho tuổi trẻ biết rằng còn một loại ‘thưởng thức’ khác hơn là loại thưởng thức chỉ dựa trên lĩnh vực vật chất hay tiết kiệm thì giờ và tiền bạc.”  Một người hạnh phúc, thỏa mãn, sẽ quá hài lòng với hiện tại để nghĩ nhiều về tương lai như Einstein nói, người đó sẽ dễ rơi vào “bẫy phát triển trung bình” và ngưng trệ, không vượt lên ưu việt, hay những vị trí tương xứng với tiềm năng của mình. Khoa học và nghệ thuật cần những nhân cách để xuất sắc. Học sinh cần có trải nghiệm với các nhân cách lớn thế giới.   Giáo dục cần phải dạy cho học sinh biết mơ. “Cần phải mơ tưởng [ngay cả] điều không có thể, để thực hiện tất cả những gì có thể” như Goethe. Một giấc mơ, một lý tưởng sẽ luôn luôn là động cơ để con người đi tới những đích xa. Thiếu những thứ đó, con người như không có phương hướng, thiếu cái la bàn, thì làm sao làm tới một cái gì đáng nói? Có chỉ số IQ cao, điều đó tốt, nhưng khoan hãy tự hào, vì người sở hữu có thể phung phí, để thông minh của mình mai một, hay rơi vào những cái tầm thường. Nhà bác học Einstein không bao giờ nói ông thông minh. Nhà phát minh Edison cũng nói mình không thông minh. Chỉ có óc tò mò đặc biệt và kiên trì theo đuổi, “vừng ơi mở cửa” mới thành công.   Giáo dục cần phải giúp con người khao khát khám phá chân lý. Khao khát này luôn luôn là động cơ phát triển của thế giới phương Tây, từ thời cổ đại Hy Lạp hơn hai nghìn năm rưỡi trước, bị ngủ đông bởi tôn giáo sau khi đế chế La Mã sụp đỗ, bị xâm nhập và cai trị của những người du cư (Hun), nhưng rồi bừng tỉnh sau đêm dài đen tối, không ngừng phát triển lên những cao điểm của khoa học, văn hóa, tạo ra cách mạng khoa học, cách mạng công nghiệp và khai sáng, thay đổi bộ mặt toàn thế giới.  Phải khao khát mãnh liệt lắm để làm con người đi trên những bậc thang tiến hóa ngày càng cao. Nhà khai minh Đức Gotthold Ephraim Lessing thế kỷ 18 đã nói lên niềm khao khát cháy bỏng tự đi tìm chân lý bằng hình tượng:  Nếu Chúa giữ kín tất cả chân lý trong tay phải của Ngài, và trong tay trái chỉ có một thứ là động cơ đi tìm chân lý, sống động, và không bao giờ tắt, dù có kèm theo điều kiện rằng tôi luôn luôn và mãi mãi có thể bị sai lạc,…., và rồi bảo hãy chọn lựa đi, thì với sự khiêm cung tôi sẽ ngã vào tay trái của Ngài và nói rằng: Hãy cho con tay này! Chân lý hoàn hảo chỉ dành cho Cha!  Các chân lý nếu không do tự mình khám phá, chưa chắc có giá trị chân lý của mình. Đúng như thế đối với một thời đại, một quốc gia, và một con người. Sai lạc là hệ quả của ai đi tìm chân lý. Nhưng ngọn đuốc đi tìm chân lý không bao giờ tắt, và sẽ đưa những người tìm đến bến bờ, hết lớp này đến lớp khác, trong quá trình hoàn thiện không ngừng của nhân loại. “Một đứa trẻ, một người trẻ, nếu họ đi nhầm trên con đường của chính họ, đối với tôi vẫn hơn những người đi đúng nhưng trên con đường xa lạ (không phải của họ)” như Goethe nói.  Nhưng muốn có giáo dục nhân cách, trước nhất cần phải dẹp bỏ những điều kiện có thể làm giảm nhân cách người thầy, hoặc ngăn chặn sự phát triển lành mạnh của họ. Điều đó bao hàm giải phóng thầy cô khỏi những sợi giây ràng buộc sinh nhai, trói buộc hành chánh, để họ có đầy đủ tự do để nghiên cứu và trao dồi nghiệp, để trở thành những tấm gương nhân cách sáng chói hơn.   Người thầy trước nhất họ phải có không gian tự chủ để thể hiện tính cách và nghệ thuật giáo dục của họ, với sắc thái riêng, không bị ràng buộc vào những quy định cứng nhắc. Trước đôi mắt của học sinh và dư luận xã hội, người thầy là những người mang sứ mệnh cao cả đào tạo những con người có nhân cách và bản lĩnh cho quốc gia, thì họ không thể bị hạ thấp bởi cuộc sống bẫn chật.  Không quốc gia truyền thống nào trên thế giới, kể cả miền Nam Việt Nam trước đây, nghèo hay giàu, có ngày vinh danh nhà giáo. Nhưng xã hội họ rất vinh danh nhà giáo. Sự vinh danh ấy nằm trong sự bảo đảm đời sống gia đình và con cái họ đàng hoàng, giải phóng họ khỏi những lo toan vật chất, tạo điều kiện trao dồi nghiệp vụ cho họ, và trong sự kính trọng cao độ mỗi khi nghe nói đến hai chữ nhà giáo. Hai chữ đó thiêng liêng, tượng trưng sứ mệnh cao cả khai trí trong người thầy như một trọng trách của xã hội và nhân dân giao phó. Không thể nào vinh danh nhà giáo mà lại để nhà giáo không đủ sống để họ phải kiếm sống ngoài giờ, gây ảnh hưởng không tốt đến giáo dục. Không thể nào nhà giáo là những người đào tạo các thế hệ con người cho quốc gia, làm ra sản phẩm, đem lại sự sung túc cho xã hội, mà lại thuộc tầng lớp nghèo khó.   Thứ hai, cần trả tự do cho giáo dục, cho người thầy. Sự can thiệp quá sâu của nhà nước, chỉ gây thêm tác hại cho giáo dục. Lịch sử của các quốc gia phát triển là lịch sử của sự độc lập của giáo dục đối với tôn giáo và nhà nước. Điểu này đã diễn ra hơn 200 năm.   Cá mâu thuẫn hiện nay thể hiện một sự khủng hoảng nghiêm trọng của giáo dục Việt Nam, không phải về năng lực tài chính, hay quản lý, mà về quan điểm. Chấm dứt khủng hoảng này, cây giáo dục mới xanh tươi trở lại, vị trí của người thầy mới được khôi phục trọn vẹn và giáo dục mới thăng hoa.   Giáo dục quốc gia là một thánh đường, mà thầy cô là những người gìn giữ. Hãy có cách đối xử tốt hơn với thánh đường, và những người chăm sóc nó.   Vài điều cuối muốn được chia sẻ với các bạn học trò: Người thầy nắm tay dìu dắt chúng ta đi một đoạn đường, tạo một căn bản kiến thức và khẩu vị nhân cách, gợi một số định hướng tương lai, nhưng phải buông tay đễ chúng ta tự bước vào “biển đời”. Còn lại là ấn tượng về những tấm gương của người thầy, và sự đọng lại tinh hoa của giáo dục khi chúng ta quên đi những gì đã học. Các năm đại học mở thêm một chân trời rộng lớn cho khoa học và nghệ thuật, những bậc thang cao hơn để tự chọn. Nhưng trong cái biển mênh mông của tri thức đó, ta là ai, con đường của ta là gì, cái gì phù hợp với trái tim ta. Không ít những người đi lạc đường, vì những đam mê nhất thời, dừng chân tại một bến đỗ quá lâu, vì ảo vọng, mà quên đi những cái đích xa hơn cần phải đến. Có những người phải mất mấy mươi năm mới trở lại con người thật của mình, tự vật lộn để xây dựng lại thế giới của mình.  Con người “phải là gì mới làm được cái gì”, như đại văn hào Goethe nói. Phải là cái gì, “cái gì khác biệt”, thể hiện qua nhân cách, tri thức và đức hạnh, thì chúng ta mới có những đóng góp quý báu diện rộng cho xã hội. Mỗi người chúng ta sinh ra vốn bị giam trong hang động vô minh của Platon, do đó không có tự do đích thực. Nhưng chúng ta linh cảm có những lối thoát, và khoa học là một công cụ trí thức đã từng bước chỉ ra lối thoát để hiểu vũ trụ và con người.   Chỉ có sự phát triển bằng lao động cực nhọc và thông minh, chúng ta mới đạt đến sự giải phóng. Nhà văn Đức Peter Weiss, người rất yêu mến dân tộc VN trong giai đoạn khó khăn nhất, từng nói về mình: “Tự tôi, tôi không tự do, lao động của tôi là nỗ lực giải phóng”. Nó minh họa cho quá trình tìm lại ông. Ông lao động cực lực, làm nhiều nghề, từ vẽ, nghệ thuật, làm phim, rồi đến viết lách, trải qua bao nhiêu giai đoạn khó khăn của cuộc sống, để cuối cùng giải phóng được mình khỏi vô minh để trở thành một ngọn đuốc sáng rực, bằng cây bút. Van Gogh cũng thế, bằng cọ vẽ. Những trải nghiệm thất bại không phải là vô bổ, mà là những bậc thang vững chắc để nâng cao giai điệu giao hưởng cuối cùng vĩ đại. Nhà khai sáng Đức Lessing tin rằng, trong sự phát triển của con người, “con đường ngắn nhất không phải luôn luôn là đường thẳng”, nhưng cũng tin rằng, từ “tất cả những con đường sai lầm, người ta vẫn hình dung ra con đường đúng hướng về đâu”. Đó là niềm lạc quan của nhà khai sáng thế kỷ 18.   Con người cần hai khoảng không gian tự do để phát triển nhân cách: tự do thứ nhất do sự không can thiệp từ ngoài vào đời sống giáo dục; tự do thứ hai là khoảng không nội tâm bên trong mà các nhà văn hóa Đức gọi là “vương quốc nội tâm” (inneres Reich), Einstein gọi là “tự do nội tâm” (innere Freitheit). “Tự do nội tâm này là món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho, và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân.” Chính khoảng không gian này là miếng đất màu mỡ chứa đựng và nuôi dưỡng những hạt giống sáng tạo. Nó giống như khoảng không của thiền, suối nguồn của năng lượng sáng tạo. Đó là miếng đất mọi nhà khoa học và nghệ thuật lao động, ý thức hay không ý thức. Không có tự do nội tâm này, con người sẽ cằn cỗi, dễ bị đồng hóa với đám đông.  Người Đức tự hào “Vương quốc nội tâm kia mà nền triết học của chủ nghĩa duy tâm Đức cũng như nền văn chương của trường phái cổ điển Weimar đã xây dựng, đã đi trước sự thành lập vương quốc chính trị [của Đức] hơn một trăm năm” (Wolf Lepenies). Cho nên họ mới vĩ đại.  Nói tóm lại, muốn có quốc gia giàu mạnh, xã hội cần có nhiều nhân cách phát triển trong một môi trường tự do, trong nội tâm lẫn từ ngoại cảnh, như nhà cải cách giáo dục Wilhelm von Humboldt quan niệm. Một xã hội “sản xuất hàng loạt những cá nhân được tiêu chuẩn hóa không có sắc thái và mục tiêu riêng lẻ sẽ là một xã hội nghèo nàn mất khả năng phát triển”, như Einstein cảnh báo.  Cuối cùng hết xin đựợc chia sẻ với các bạn học trò một sự kiện. Albert Camus, nhà văn lớn Pháp thế kỷ 20, sau khi nhận được giải Nobel văn chương năm 1957, viết ngay một lá thư cám ơn gửi đến người thầy đầu tiên của mình, thầy của trường tiểu học ở Belcourt, một khu phố nghèo thành phố Algier mà Camus đã lớn lên cùng với các gia đình di cư Pháp. Ảnh hưởng quyết định và lâu dài lên ông là người thầy ở đó, như ông viết trong tự thuật, đã biết tạo ra ý thức về nhân cách cho ông và các bạn học. Với người thầy,  đám học trò lần đầu tiên cảm thấy “chúng tồn tại, và là đối tượng của sự kính trọng cao nhất… chúng có đầy đủ nhân phẩm, xứng đáng để khám phá thế giới.” Calmus nói đến “Kính trọng”, và “Nhân phẩm” từ một đứa trẻ đường phố vô danh và không nguồn gốc. Đó chính là trải nghiệm quyết định của thời học sinh đã tạo cho ông ý chí học hỏi và ý thức về mình. Ông cho thấy tác động của giáo dục tôn trọng nhân cách là sâu sắc đến dường nào, đáng để các nhà giáo dục phải suy nghĩ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc      Gi&#225;o dục tổng qu&#225;t – được hiểu một c&#225;ch đ&#250;ng đắn – bao gồm gi&#225;o dục nhận thức, đạo đức v&#224; cảm x&#250;c. V&#224; nếu gi&#225;o dục tổng qu&#225;t được coi như một thứ nằm ngo&#224;i phạm vi của lu&#226;n l&#253;, th&#236; nền gi&#225;o dục đ&#243; sẽ tạo ra những kẻ ngụy biện, chứ kh&#244;ng phải những người biện chứng, biết d&#249;ng kỹ năng nhận thức để n&#226;ng cao đạo đức theo một c&#225;ch c&#243; sự kiểm so&#225;t của cảm x&#250;c.                          Từ năm 1961, Đại học Chicago đã có truyền thống hằng năm tổ chức một buổi báo cáo với sinh viên sắp nhập học về mục tiêu của giáo dục. Ba trong số những bài nói chuyện này có thể tìm đọc trên Internet, là bài nói chuyện của nhà khoa học chính trị John Mearsheimer (1997); triết gia Robert Pippin (2000); và nhà xã hội học Andrew Abbott (2002). Theo nhận định của tôi không ai trong số họ hiểu giáo dục tổng quát thực chất là gì. Tất cả bọn họ đều nhấn mạnh tính chất hữu dụng của nền học vấn với thương hiệu Đại học Chicago trên thương trường, và họ đều coi giáo dục tổng quát như một thứ nằm ngoài phạm vi của luân lý. Điều này đã từng được Mearsheimer phát biểu một cách hiển ngôn! Để bên nhau hai ý tưởng về sự thành công và sự phi luân, thật khó cưỡng lại ý nghĩ cho rằng các vị giáo sư này đang bảo vệ cho một nền giáo dục ngụy biện (theo cách hiểu của Plato).  Điều giả định phổ biến của họ là chúng ta đang sống trong một môi trường cạnh tranh và mục tiêu của giáo dục là giúp chúng ta trở thành kẻ chiến thắng. Tất cả bọn họ đều đi quá xa khi bảo đảm với sinh viên mới bằng những số liệu thống kê cho thấy một khi đã được nhận vào học tại Đại học Chicago, hầu hết sẽ có tương lai khá giả bất kể họ học cái gì. Abbott còn bổ sung thêm rằng sự an toàn tài chính của sinh viên sẽ được nâng cao bằng cách lựa chọn lĩnh vực chuyên môn phù hợp để theo học. Ông ta đồng thời bảo đảm với họ rằng trong lĩnh vực chuyên ngành nào cũng có rất nhiều môn học để họ lựa chọn. Cho nên, theo kết quả phân tích sau cùng thì thực ra họ học gì cũng không mấy quan trọng. Kết luận này có thể hiểu được khi những người tuyển dụng lao động đang tìm kiếm những lao động thông minh nhất. Những trường đại học như Đại học Chicago hoạt động như một bộ lọc, chọn ra những gì tinh túy nhất của mọi vụ mùa trí tuệ.  Sinh viên – như tất cả các giáo sư này nhấn mạnh – thông qua việc tham gia quá trình đào tạo tại Đại học Chicago, đã đặt mình vào một vị trí thuận lợi trên thị trường lao động. Tại sao vậy? Vì ba lý do. Trước hết, như đã nói trên, bất kể họ học cái gì, số liệu thống kê đều cho thấy một sự thật thuần túy là họ đã được thị trường chấp nhận, và tốt nghiệp tại Đại học Chicago trong hầu hết các trường hợp, đồng nghĩa với thành công về tài chính. Hai là họ sẽ đạt được khối lượng kiến thức đáng nể về thực tiễn, lý thuyết, và kỹ thuật. Ba là bởi vì họ đã được đào luyện trong một thực tiễn tranh luận ở mức độ rất cao, họ sẽ có khả năng thắng trong các cuộc tranh luận và thuyết phục người khác.  Lợi ích của kỹ năng tranh luận được Mearsheimer nhấn mạnh khi ông cho thấy kỹ năng này quan trọng như thế nào đối với những nghề nghiệp như luật sư, bác sĩ, kinh doanh, và nhiều nghề khác nữa. Bằng cách loại trừ khía cạnh đạo đức ra khỏi giáo dục tổng quát và nhấn mạnh kỹ năng tranh luận, Mearsheimer coi giáo dục tổng quát như một phương tiện để tranh luận chỉ nhằm giành phần thắng. Và kỹ năng tranh luận không có quan điểm đạo đức như vậy chỉ là một thứ ngụy biện và thủ đoạn xảo quyệt. Công việc của luật sư là làm sao để thắng kiện, cho dù là ngụy biện hay xảo ngôn. Tuy vậy, Mearsheimer, như tôi biết, qua việc đọc những bài phê bình của ông về chính sách đối ngoại của Mỹ, là người được dẫn dắt bằng đạo đức, đối với những gì mà ông ủng hộ với tư cách một học giả. Nhưng khi tiếp cận việc kinh doanh giáo dục, ông có vẻ như muốn lờ đi vấn đề quan điểm đạo đức.  Theo lý thuyết phổ biến của họ- được Mearsheimer lập thức một cách hiển ngôn – giáo dục tổng quát là và chỉ nên là một nền giáo dục nằm ngoài ý thức về luân lý. Ông vừa thực hiện điều này như một thực tế và vừa trình bày nó như một lý thuyết quy phạm về giáo dục tổng quát tại Đại học Chicago. Abbott đồng ý với Mearsheimer về lý thuyết cho rằng giáo dục tổng quát nhằm vào mục đích phát triển kỹ năng nhận thức, nhưng ông lấy làm tiếc rằng giáo dục cảm xúc và đạo đức đã bị loại ra ngoài. Tuy vậy cả ba đều định nghĩa giáo dục tổng quát hoàn toàn chỉ là phát triển kỹ năng nhận thức. Nếu tôi hiểu đúng Abbott, ông muốn có một nền giáo dục, theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục cảm xúc, đạo đức và nhận thức, nhưng có vẻ tán thành rằng giáo dục tổng quát, theo nghĩa hẹp, là giáo dục kỹ năng nhận thức. Pippin, trái lại, tìm kiếm một nền giáo dục giải phóng cá nhân, nhưng không nói gì về giải phóng xã hội, và do đó, dù không cố ý, thành ra quá ủng hộ quan điểm loại trừ luân lý khỏi giáo dục.  Tôi tự hỏi: Làm thế nào giáo dục có thể không có ý thức về luân lý? Đúng là không có vấn đề luân lý khi nghiên cứu các sự kiện, lý thuyết, và kỹ thuật. Không có vấn đề luân lý đối với những lĩnh vực mà những kiến thức này có thể được sử dụng cho những mục đích hợp đạo đức, vô đạo đức, và phi đạo đức. Chẳng hạn, nghiên cứu chất nổ là việc nằm ngoài phạm vi luân lý, biết cách đánh sập một tòa nhà cũng nằm ngoài phạm vi luân lý, nhưng đánh sập một tòa nhà đang có người ở, có thể là một hành vi hết sức vô luân.  Giáo dục, theo quan điểm phi luân, là nền giáo dục một mặt vì kiến thức về các sự kiện và lý thuyết, mặt khác, là nền giáo dục vì những kỹ thuật biện chứng và tu từ nhằm thuyết phục người khác. Kiến thức sẽ được dùng vào mục đích gì, theo quan điểm này, là một vấn đề thứ yếu không đáng quan tâm. Nó có thể được dùng cho kinh doanh, cho Nhà nước, hay cho các băng nhóm tội phạm.  Trái lại, tôi cho rằng giáo dục tổng quát – được hiểu một cách đúng đắn – bao gồm giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc. Và chỉ khi giáo dục tổng quát bị hiểu nhầm, người ta mới có thể loại trừ thành tố đạo đức và cảm xúc. Vậy thì, nếu như giáo dục tổng quát được định nghĩa với những kỹ năng nhận thức ngoài phạm vi luân lý – như ba vị giáo sư trên đây cho rằng nên như vậy – nền giáo dục đó sẽ tạo ra thứ người gì? Tôi có thể trả lời lập tức: tạo ra những kẻ ngụy biện. Người ngụy biện là kẻ được trang bị kỹ năng gây ảnh hưởng với cử tọa và chiến thắng mọi cuộc tranh luận. Hắn là kẻ, nói cách khác, được trang bị kỹ năng sống còn trong một bối cảnh xã hội nhất định. Plato, trái lại, muốn đào tạo những triết gia có thể được miêu tả như những nhà biện chứng đạo đức, nghĩa là những người được đào tạo thuật biện chứng (kỹ năng nhận thức) và dùng nó để nâng cao đạo đức theo một cách có sự kiểm soát của cảm xúc. Giáo dục tổng quát không nói về việc tạo ra chất nổ, mà về những vấn đề chẳng hạn như khi nào – nếu có – nên dùng chất nổ và với mục đích gì.             Robinson Crusoe         Để lý thuyết của tôi được rõ ràng và hợp lý hơn, tôi sẽ dùng một hình ảnh như sau. Tưởng tượng tôi là Robinson Crusoe, bị chìm tàu và dạt vào một hoang đảo. Vấn đề của tôi là tồn tại được trong hoàn cảnh đó. Tôi cần đồ ăn thức uống, cần quần áo và nơi ẩn náu. Giả sử tôi vào được thư viện của con tàu và tìm được cuốn từ điển bách khoa toàn thư. Cái tôi cần là những kiến thức khoa học và kỹ thuật về thứ gì có thể ăn được, vật liệu gì có thể làm được quần áo, và bằng cách nào làm được những thứ ấy. Ta hãy gọi đó là kiến thức khoa học và kỹ thuật. Để dùng được cuốn từ điển này, tôi dĩ nhiên phải biết thứ ngôn ngữ của nó, và phải có kỹ năng đọc. Bây giờ tôi muốn nhấn mạnh rằng, việc có kỹ năng đọc và dùng từ điển sẽ giúp tôi tồn tại; nhưng nó không cấu thành giáo dục tổng quát. Thực ra, trong hoàn cảnh ấy, tôi chẳng cần dùng đến giáo dục tổng quát: tất cả mối bận tâm của tôi là cải thiện cách sinh tồn nhờ những kiến thức khoa học và kỹ thuật, những thứ mà từ điển bách khoa sẽ giúp trang bị ở một mức độ nào đó.  Nhu cầu về giáo dục tổng quát sẽ nảy sinh chỉ khi một người khác xuất hiện trên hoang đảo, ta tạm gọi anh ta là Friday. Friday cũng vậy, sẽ quan tâm tới việc sinh tồn của mình. Nếu anh ta không nói cùng ngôn ngữ với tôi, anh ta sẽ phải học thứ tiếng của tôi, hoặc tôi sẽ phải học thứ tiếng của anh ta. Dù ngôn ngữ là điều kiện cần để tiếp cận thư viện, giờ đây nó còn cần cho giao tiếp nữa. Tại sao tôi lại muốn giao tiếp với Friday? Một là, anh ta và tôi có thể không biết rõ người kia mong đợi gì ở mình. Liệu tôi có thể tin tưởng rằng Friday sẽ không lấy thức ăn, quần áo, chỗ ở, và ngay cả cái mạng sống của tôi nữa? Nếu không thể giao tiếp với Friday, không tin anh ta, cảm thấy không an toàn với sự có mặt của anh ta, nhất là khi anh ta có hành động bạo lực chống lại tôi, tôi sẽ cố giết anh ta hoặc cầm tù anh ta. Nhưng giả sử tôi có thể giao tiếp với Friday và lạc quan về bản chất của anh ta, hai chúng tôi sẽ tương tác với nhau như thế nào? Tiếp tục giả sử Friday có thể nói chuyện nhưng không biết đọc, tôi tiếp cận được từ điển bách khoa còn anh ta thì không. Tôi sẽ là một chuyên gia và anh ta sẽ phụ thuộc vào tôi. Nhưng cũng có thể Friday đã có đủ kiến thức để tồn tại trong tự nhiên, và trong thực tế có thể sống còn chẳng cần đến kiến thức chuyên môn của tôi. Nói cách khác, chừng nào những kiến thức về các kỹ năng sinh tồn còn được quan tâm thì chúng tôi còn bình đẳng với nhau. Trong trường hợp đó, ít nhất là chúng tôi cần thỏa thuận sẽ đối xử với nhau như thế nào. Một thỏa thuận tối thiểu như vậy – rất quan trọng để chúng tôi cùng tồn tại hòa bình – sẽ là vấn đề đạo đức. Chúng tôi sẽ thỏa thuận:  1.Không giết nhau.  2.Không làm hại nhau.  3.Không ăn cắp của nhau.  4.Không nói dối nhau.  5.Trợ giúp lẫn nhau khi gặp nạn.  6.Lấy trong tự nhiên những gì cần cho chúng tôi tồn tại, ít nhiều tùy vào khả năng chúng tôi có thể cất giữ, và đủ cho cả hai chúng tôi.  Về việc sử dụng đất và nước, chúng tôi có thể đồng ý với nhiều khả năng lựa chọn. Tất cả đất và nước là của chung, hoặc có thể chia hòn đảo thành hai lãnh thổ, mỗi người một nửa, hoặc chia thành ba, mỗi người một phần, và một phần của chung. Chúng tôi cũng có thể đi đến những thỏa thuận liên quan tới khả năng lao động: Friday giỏi câu cá, tôi giỏi dựng lều, chúng tôi có thể trao đổi cho nhau những gì mình làm được.  Giáo dục tổng quát, theo như tôi hiểu, cần thiết để có thể đi đến những thỏa thuận như thế. Và mỗi người trong chúng ta cần kiểm soát cảm xúc và cách xử sự của mình cho phù hợp với những thỏa thuận ấy. Trong thực tế, cuộc đối thoại của chúng ta nhằm đi đến các thỏa thuận sẽ bị ảnh hưởng không hay nếu diễn ra trong những điều kiện bị cảm xúc chi phối quá mạnh, do đó chúng ta cần thỏa thuận là sẽ thảo luận trong một tâm trạng ổn định. Thực tế là khi chúng ta suy nghĩ chu đáo và tinh tế hơn về những điều kiện ảnh hưởng tới việc thảo luận, chúng ta sẽ nhận ra những gì mình đòi hỏi nơi người khác và ngược lại.  Giả sử Friday và tôi quyết định chia đôi hòn đảo, và cơ bản để yên cho nhau, nhưng vì tiếp cận được Từ điển bách khoa, tôi sẽ có thể làm ra một số dụng cụ. Tôi khai thác được nước, không khí, tạo ra khí mê-tan làm chất đốt, v.v. Friday thấy thế và hỏi tôi bằng cách nào làm ra những thứ ấy. Tôi nói là mình học trong từ điển. Friday nhờ tôi dạy anh ta đọc và xin đọc ké từ điển. Tôi nên làm gì nhỉ? Tôi có thể từ chối anh ta. Hơn nữa, giả sử Friday theo một tín ngưỡng ngăn anh ta ăn con gì đấy hay cây gì đấy. Liệu tôi có lợi trong việc dạy anh ta đọc hay không? Có nên cho anh ta tiếp cận Từ điển bách khoa? Hay thảo luận với anh ta về tôn giáo của anh ta? Tôi cho rằng tôi có sự khôn ngoan và nghĩa vụ đạo đức đem lại cho Friday một nền giáo dục khai phóng. Đây là một nền giáo dục giúp người ta biết sử dụng ngôn ngữ để đọc và để thảo luận, kể cả biết kiềm chế cảm xúc – để Friday trở thành người ngang hàng với tôi trong nghệ thuật thảo luận. Nếu Friday trở thành người ngang hàng với tôi trong thảo luận, chúng tôi có thể tìm kiếm và nâng cao những khám phá của mình về “chân lý biện chứng”. Đây là những kinh nghiệm và niềm tin mà chúng tôi sẽ đồng ý với nhau là có liên quan đến các giả thiết của mình. Quả thực, có một quan niệm về sự lương thiện tuyệt đối của con người, quan niệm ấy định nghĩa sự lương thiện này bằng những lý lẽ hợp lý – đây là quan niệm của triết gia Socrates. Khi hình dung cuộc đời sau khi chết, ông nghĩ về một nơi mà ông có thể trò chuyện với những người đặc biệt tài giỏi và lừng danh. Và khi người ta đưa ra cho ông một cuộc sống không có thảo luận, ông đáp lại rằng cuộc sống không bị thử thách thì không đáng sống. “Cuộc sống không bị thử thách” theo ông, là cuộc sống không có những cuộc thảo luận dựa trên lý trí. Nếu tôi không giúp Friday có được một nền giáo dục khai phóng, tôi sẽ lấy mất của chính mình những cuộc thảo luận dựa trên lý trí. Những cuộc thảo luận dựa trên lý trí vì lợi ích của việc cố gắng đạt đến thỏa thuận, do vậy, vừa là công cụ vừa là một giá trị nội tại.  Bây giờ tôi đã sẵn sàng trình bày rõ ràng, chính xác những ý tưởng của tôi về giáo dục tổng quát. Trong bối cảnh xã hội nhất định, mục đích của giáo dục tổng quát là tạo ra những con người có khả năng và khuynh hướng cố gắng đạt đến thỏa thuận về mọi vấn đề trong thực tiễn, trong lý thuyết và hành động, thông qua những thảo luận trên cơ sở của lý trí.           Không lẩn tránh vấn đề quan điểm đạo đức        Ba giáo sư nêu trên khẳng định có thể có một cách tiếp cận phi luân lý đối với giáo dục. Tôi không cho rằng điều này là có thể. Nếu Mearsheimer, hay bất cứ giáo sư nào khác, tỏ ra không quan ngại gì đối với cấu trúc của chương trình đào tạo, thì họ đang hành xử một cách thiếu trách nhiệm. Mặt khác, nếu họ có ý kiến về chương trình nhưng giữ im lặng do những tính toán chính trị, họ là những kẻ hèn nhát. Và nếu họ thực sự không có ý kiến, thì họ là những kẻ không có năng lực. Trong bất cứ trường hợp nào, họ cũng đã hành động một cách thiếu đạo đức bằng cách đóng vai người thầy. Dù có thể lừa dối chính mình và lừa dối người khác về vai trò của nhận thức đạo đức trong mọi hành động bằng cách lờ đi, thì khi suy nghĩ kỹ, nhận thức đạo đức cũng sẽ tự nó khẳng định sự tồn tại của nó. Tất cả những gì người ta cần là trả lời hai câu hỏi: Một là, tại sao Mearsheimer, Pippin và Abbott là thầy giáo? Hẳn nhiên là họ được trả tiền để làm thầy giáo – họ đang làm việc để kiếm sống. Và, hai là, tại sao sinh viên tìm đến với giáo dục? Cơ bản là vì giáo dục hứa hẹn với họ một cách kiếm sống. Vậy cả giáo viên và sinh viên đều đang gắn bó với nhau vì mục đích kiếm sống.            Sự biến mất các biên giới và những người nô lệ ăn lương          Nhưng tại sao phải lo lắng về việc kiếm sống? Tại sao không trở thành người tự túc bằng cách sống tách biệt như những thổ dân ở Bắc Mỹ? Và tại sao người da đỏ không được phép lang thang trên thảo nguyên và săn bắn bò rừng? Bởi vì Chính phủ Mỹ sẽ không cho phép điều đó. Mọi vùng đất biên giới đều đã trở thành tài sản riêng, hoặc của cá nhân hoặc của Nhà nước. Nói tóm lại, biên giới đã biến mất khoảng năm 1890. Nếu Friday hạ cánh xuống một hòn đảo vừa được khám phá mà Robinson Crusoe đã tuyên bố là của mình, thì Robinson sẽ cho phép Friday ở lại chỉ với tư cách hoặc là nô lệ, hoặc là người hầu của anh ta mà thôi.  Nếu như ngày nay biên giới đã không còn tồn tại, thì những lựa chọn nào còn lại cho sinh kế, hay sự sinh tồn? Câu trả lời là: trở thành ông chủ hoặc người làm thuê. Và đối với hầu hết mọi người, con đường tìm sinh kế sẽ bắt đầu và kết thúc với việc trở thành người làm thuê. Bởi vậy, liên hệ tới thực tiễn chính trị của chúng ta, giáo dục được xem như cơ bản là vì lợi ích của công việc. Nhưng, vấn đề thứ hai cũng tự nó hiện diện: không có đủ công việc ở mọi nơi, nhất là những công việc lương cao; vì thế, có nhu cầu cạnh tranh và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh để có được công ăn việc làm. Thế cho nên, có nhu cầu về những phẩm chất của giáo dục nhằm nâng cao triển vọng tìm việc làm cho người ta. Và vì tốt nghiệp từ một trường danh tiếng sẽ có lợi trong cuộc cạnh tranh tìm việc làm, nên cũng đã có cuộc cạnh tranh trở thành những trường đại học tốt nhất như Đại học Chicago chẳng hạn.  Các trường đại học, trong quyền hạn của chính họ, là những nơi cực kỳ cạnh tranh. Trước hết, có vấn đề về sự tồn tại của các khoa; cũng như với từng giảng viên của khoa để bảo đảm sự lớn mạnh của nó. Mọi người đều bị cuốn vào cuộc cạnh tranh này không chỉ để sống còn, mà là để sống còn theo cách tốt nhất mà mình có thể làm được.  Kỳ sau: Nền giáo dục khai phóng  Phạm Thị Ly chuyển ngữ  ——————-  *Tiến sĩ Triết học, Trường Đại học Fordham University, Hoa Kỳ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục nhân văn ở đại học      Một đại học tốt không phải là một cơ sở đào tạo nghề. Nếu như trong đào tạo nghề, một sinh viên chỉ học các kĩ năng liên quan đến kĩ thuật để kiếm một việc làm đủ tốt, thi thoảng có thể học thêm một vài thứ gọi là “kỹ năng mềm”, bao gồm tâm lý học và quản trị, để phục vụ cho việc giám sát nhân viên và giao tiếp với khách hàng. Nhưng, “đại học”, xuất phát từ khái niệm “tri thức toàn cầu” (universal knowledge) và hơn hết, nó có nghĩa là giáo dục nhân văn. Lịch sử, văn học, ngoại ngữ và các môn nghệ thuật là cốt lõi của giáo dục đại học chất lượng cao.    Thư viện Firestone của Đại học Princeton, Mỹ dành cho các sách trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.  Khái niệm “khai phóng” (liberal arts), xuất phát từ gốc Latin liberalis trong thời kì cổ đại, nhằm chỉ những kiến thức tổng quát mà một con người tự do cần nắm được để tham gia vào đời sống dân sự. Trong thời hiện đại, thuật ngữ này thường chỉ chung những môn học nằm ngoài các môn chuyên ngành, kỹ thuật, dạy nghề. “Khai phóng” có thể bao gồm những môn khoa học xã hội và khoa học cơ bản nhưng trọng tâm của giáo dục khai phóng là các ngành nhân văn.  Giáo dục khai phóng đem lại lợi ích to lớn hơn nhiều so với việc dạy nghề một cách hạn hẹp. Trước hết, chất lượng đời sống dân sự của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết của công dân. Điều đó bây giờ còn thiết thực hơn so với trước kia. Chúng ta đang đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp trong thế kỉ 21 – biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa người giàu và người nghèo, căng thẳng trên trường quốc tế và nguy cơ xảy ra chiến tranh. Trước những thách thức đó, một chính phủ có thể sẽ nhận được sự ủng hộ to lớn của công chúng khi đưa ra những chính sách dài hạn và khéo léo nếu như người dân được giáo dục tốt. Ngược lại, những người dân không có hiểu biết về lịch sử và văn hóa thường có xu hướng ủng hộ những quan điểm cực đoan và hiếu chiến mà họ thu nhận được từ internet hoặc mạng xã hội.  Thứ hai, trong khi dạy nghề chỉ chuẩn bị cho sinh viên trở thành một mắt xích trong một cỗ máy sản xuất hoặc một bộ máy hành chính, giáo dục khai phóng bồi đắp tri thức cho con người một cách toàn diện, chuẩn bị cho họ đối diện với nhiều khía cạnh của đời sống.  Lý do thứ ba – thường không mấy được chú ý, đó là phông kiến thức rộng về các lĩnh vực nhân văn đem lại những lợi ích to lớn cho những chuyên gia trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Chỉ trừ một số rất ít ngoại lệ, nếu muốn tạo ra ảnh hưởng xã hội, những người trong lĩnh vực STEM phải có kĩ năng viết hiệu quả và sáng tạo. Chẳng hạn như trong lĩnh vực của chính tôi, về ứng dụng của toán học trong bảo mật thông tin. Bốn mươi năm trước, vào thuở bình minh của kỷ nguyên máy tính, Hiệp hội Kỹ sư điện và điện tử (IEEE) đã xuất bản một bài báo với nhan đề “Những phương hướng mới trong ngành mật mã học”, được coi là bài báo quan trọng nhất trong lịch sử lĩnh vực này. Viết bởi hai nhà khoa học máy tính được đào tạo một cách toàn diện, Wit Diffie và Martin Hellman, tác động của bài báo không phải bởi những kiến thức chuyên ngành (Phím biến hoán Diffe- Hellman), dù rất ấn tượng mà bởi hai tác giả có khả năng vẽ ra một tương lai của internet mà cho đến bây giờ vẫn đóng vai trò dẫn dắt cho sự phát triển những định luật cơ bản của mật mã học.  Xã hội luôn cần những con người có thể diễn dịch ngôn ngữ khoa học công nghệ thành ngôn ngữ mà công chúng và những nhà hoạch định chính sách có thể hiểu được. Chẳng hạn, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo mật dữ liệu, ở mức độ nào đó, phải khuyến cáo chính phủ trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. Hơn nữa, những người có khả năng giao tiếp hiệu quả luôn là thành viên chủ chốt trong một nhóm nghiên cứu liên ngành.  Những nhà khoa học muốn trình bày công trình của họ ở một hội thảo lớn hoặc trên những tạp chí hàng đầu nên học cách viết tốt. Những phần quan trọng nhất của một công bố là phần tóm tắt (Abstract) và mở đầu (introduction), bởi vì đây là phần mà tất cả mọi người sẽ đọc và dựa vào đó để đánh giá người viết. Một phần mở đầu tốt cần phải rõ ràng và hấp dẫn đối với cả những người ngoài ngành, nó kể một câu chuyện đi từ nhận định về vấn đề, tính cấp thiết, tổng quan những nghiên cứu trước đó cho đến khái quát về đóng góp của bài báo và thách thức cho những nghiên cứu và phát triển sau này. Tương tự như vậy, một đơn xin tài trợ hoặc một báo cáo chính về một dự án có thành công hay không phụ thuộc vào khả năng truyền tải những thành tựu khoa học trong một ngôn ngữ đưa ra bối cảnh, lịch sử và phương hướng mà không bị mắc lỗi “thấy cây mà không thấy rừng”.  Điểm chung trong những lý do trên là khả năng kể câu chuyện. Trái ngược với những quan điểm sai lầm về khoa học và công nghệ, một công trình kỹ thuật tốt không phải là những công thức hay phép tính rời rạc mà nó phải thể hiện mình là một phần của câu chuyện dài kì với một dàn nhân vật đông đảo.  Kể chuyện cũng là hoạt động trải dài suốt một đời người, từ khi chúng ta còn thơ bé. Nó cũng là cốt lõi của nhiều truyền thống văn hóa.  Vậy làm sao để một sinh viên kể chuyện giỏi? Đầu tiên và quan trọng nhất, bằng cách đọc những tác phẩm văn học lớn. Tôi có một sự biết ơn sâu sắc, đầu tiên là với tất cả những người thầy dạy Văn học Anh xuất sắc thời phổ thông và thứ hai là với Dostoevsky, tác giả của những tác phẩm mà tôi say mê khi còn trẻ. Một cách khác để sinh viên có thể học cách phân tích bối cảnh và theo dõi sự hình thành và phát triển của một ý tưởng đó là học lịch sử. Thứ ba, một trong những cách hiệu quả nhất để mở rộng quan điểm và trân trọng những sắc thái trong giao tiếp là qua việc học ngoại ngữ và văn học (Tôi học bằng kép là Toán học và Văn học, ngôn ngữ Nga khi tôi còn là sinh viên đại học).  Các trường đại học Mỹ có truyền thống lâu đời về giáo dục khai phóng. Tuy nhiên, mặt bằng chung giáo dục đại học của Mỹ đang bị giảm sút, vì nhiều lý do. Yêu cầu về ngoại ngữ bị hạ thấp hoặc loại bỏ – ở mức mà hầu hết các sinh viên ở đại học Mỹ chỉ biết mỗi tiếng Anh. Hơn nữa, họ cũng không hiểu rõ ngôn ngữ viết của mình đủ tốt, do kĩ năng viết được dạy qua loa ở cả trường phổ thông và đại học.  Nhiều giáo sư phàn nàn về sự “kinh doanh hóa” trong trường đại học của họ. Khái niệm “Kinh doanh hóa” nghĩa là những người điều hành trường đại học đặt ưu tiên tài chính lên hàng đầu. Những khoa có nhiều hợp đồng với khối chính phủ và khối công nghiệp – thường sẽ không bao gồm các khoa liên quan đến các môn khai phóng – mới được hỗ trợ. Sự cắt giảm ngân sách đặc biệt nhắm vào những lĩnh vực trong trường đại học mà không đem lại những lợi ích kinh tế ngay lập tức. Một tỉ lệ lớn ngân sách của đại học giờ đây được dùng để chi trả cho bộ máy hành chính và các chương trình thể thao hơn là những nhu cầu học thuật căn bản. Những người điều hành trường đại học luôn tìm kiếm cách thức để “giáo dục với giá rẻ” qua hình thức các khóa học online, sử dụng những học sinh cao học và các giáo sư danh dự để giảng dạy hơn là những người trong biên chế, và cấp cho sinh viên miễn phí các chứng chỉ cho các môn ở đại học nếu sinh viên đó đã học các khóa tương tự (nhưng với chất lượng rất thấp) ở phổ thông hoặc các trường cao đẳng cộng đồng. Hơn nữa, các giáo sư thì lúc nào cũng bị áp lực phải chấm điểm cao hơn và thiết kế khóa học dễ hơn. Tuy vậy, mặc dù với những xu hướng tiêu cực này, các sinh viên tốt nhất ở những trường đại học hằng đầu ở Mỹ vẫn được giáo dục tốt trong các môn nhân văn.  Điều gì tạo nên đẳng cấp cao của giáo dục đại học? Những sinh viên được giáo dục tốt ở Việt Nam, ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, nên biết ít nhất thêm một ngoại ngữ và nền văn học khác – có thể là tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Trung hoặc Ả Rập (cùng với tiếng Anh là một trong sáu ngôn ngữ trong Liên Hợp Quốc). Họ cũng cần phải có kiến thức về truyền thống văn hóa và lịch sử, cả thời cổ và hiện đại và biết trân trọng vị trí của Việt Nam trong lịch sử thế giới.  Những kiến thức lịch sử hết sức cấp thiết đối với những công dân được đào tạo bài bản. Tôi cảm thấy hết sức khó chịu khi nghe thấy những người Mỹ và vài người Việt Nam nói rằng Việt Nam “chỉ nên nghĩ về tương lai thay vì ngoái lại quá khứ”. Sự thiếu hiểu biết về quá khứ không phải là điều đáng tự hào hay đáng khuyến khích. Những sự kiện và truyền thống lịch sử đem lại những bài học giá trị và chỉ dẫn cho tương lai. Trong nhiều trường hợp, nó còn truyền cảm hứng cho thế hệ sau.  Ví dụ, trận Điện Biên Phủ huy hoàng 64 năm về trước là một sự kiện chấn động của thế kỷ 20 – đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân châu Âu. Trong Kháng chiến chống Mỹ, việc sơ tán trường đại học lên những cánh rừng của Thái Nguyên là một thành tựu chưa từng xuất hiện trong lịch sử thế giới. Trước đấy, chưa bao giờ có một nước đang phát triển trong giai đoạn nghèo khó có đủ khả năng duy trì giáo dục đại học chất lượng cao lúc sơ tán trong khi thủ đô thì bị đánh bom bởi một lực lượng quân đội có sức mạnh khủng khiếp. Theo ý kiến của tôi, sẽ là hợp lý nếu ngày nào đó, những địa điểm lịch sử này, Điện Biên Phủ và địa điểm sơ tán của Đại học Hà Nội được công nhận là di sản thế giới của UNESCO.  Những người trẻ được đào tạo bài bản về nghệ thuật, lịch sử , văn học và ngoại ngữ sẽ có khả năng bảo tồn truyền thống văn hóa của đất nước họ. Họ sẽ không dễ dàng bị dụ dỗ bởi những giá trị giả tạo của chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu dùng bành trướng đang được du nhập từ các quốc gia khác. Họ có thể dẫn dắt đất nước của họ theo một con đường độc lập.  Hãy để tôi kết luận với một lời cảnh báo. Khái niệm “khai phóng” đang trở thành một từ thời thượng để quảng cáo của những tổ chức gọi là đại học đang mọc lên như nấm ở rất nhiều nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam. Nhận định này đặc biệt phổ biến ở những “đại học” mà Mỹ tài trợ, chẳng hạn như Đại học Fulbright Việt Nam. Đừng bị lầm tưởng bởi những bong bóng quảng cáo. Trước khi đồng tình với những tuyên bố “chúng tôi theo đuổi giáo dục khai phóng”, hãy hỏi vài câu sau đây: Có bao nhiêu khoa cung cấp bằng Tiến sĩ ở các môn học như lịch sử, văn học và nghệ thuật? Họ có thư viện kiểu gì? Những khoa học về lịch sử và văn học là về Việt Nam hay các quốc gia khác? Họ có những cơ sở vật chất nào cho các studio về nghệ thuật? Những người điều hành cấp cao là những trí thức thực sự với những công bố khoa học, hay chẳng qua họ chỉ là doanh nhân và các chính trị gia? Trong hầu hết các trường hợp, những câu trả lời cho những câu hỏi này là đủ để tiết lộ tổ chức đấy không phải là những đại học thực sự và không đủ khả năng để theo đuổi giáo dục khai phóng.  Chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho những người trẻ ở Việt Nam không nằm trong những đại học nước ngoài hay đại học tư nhân mà nằm ở sự tiến bộ của những đại học quốc gia và đại học vùng của Việt Nam. Với sự hỗ trợ của chính phủ, những trường đại học này có thể không chỉ đào tạo để cho sinh viên có việc làm mà còn có thể cung cấp một nền giáo dục khai phóng.  Hảo Linh dịch    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Giáo dục nhân văn trong thế kỷ 21      Tựa của bài viết này là tựa dịch của bài  phát biểu của GS Connor, Giám đốc Trung tâm Nhân văn quốc gia (The  National Humanities Center) thuộc Viện Giáo dục khai phóng Hoa Kỳ  (American Academy for Liberal Education). Và nội dung của bài viết sẽ là  những ý chính của bài phát biểu ấy, thông qua cách diễn giải và trình  bày lại của người viết.    Ngành nhân văn ở Mỹ vào cuối thế kỷ 20: Những số liệu u ám  Bài phát biểu của Connor không ghi năm (có thể được viết vào khoảng cuối thập niên 1990). Bài viết bắt đầu với những số liệu u ám, về các ngành thuộc khối ngành gọi là “liberal arts” – ở đây được hiểu là khối ngành nhân văn (humanities) – trong các trường đại học của Mỹ.   Có thể đưa ra một vài ví dụ. Theo số liệu từ The Harvard Magazine, trong khoảng thời gian từ 1979 đến 1994, một số ngành đào tạo trong đại học tăng lên gấp từ 5 đến 10 lần. Đó là các ngành công nghệ thông tin, khoa học máy tính, khoa học vật liệu, các ngành y tế, doanh thương và quản trị kinh doanh – tất cả đều là những ngành có định hướng nghề nghiệp rõ rệt. Nhưng, trong cùng khoảng đó, theo số liệu đầu vào của các trường do SAT cung cấp, tất cả các ngành nhân văn như Lịch sử, Triết học, Ngoại ngữ, Văn học đều suy giảm và chỉ chiếm có 9% tổng số thí sinh vào đại học – một tỷ lệ vô cùng nhỏ nhoi đến thảm hại so với tỷ lệ áp đảo là 91% của những ngành học có định hướng nghề nghiệp cụ thể để phục vụ thị trường lao động.  Không chỉ thảm hại ở tỷ lệ sinh viên, số phận của các giảng viên thuộc khối ngành nhân văn cũng không khấm khá gì hơn. Theo Connor, các giảng viên khối ngành nhân văn được trả lương ở mức thấp nhất, buộc phải nhận một số giờ giảng cao nhất, ít được hỗ trợ để nghiên cứu nhất (cả về thời gian lẫn về tài chính), nhưng vẫn bị buộc phải liên tục có những công bố quốc tế theo yêu cầu, nếu không muốn bị mất việc. Chính vì thế, số lượng giảng viên làm việc ở khối ngành đang suy giảm và kém hấp dẫn này đương nhiên cũng giảm đi: từ tỷ lệ 1/6 (một giảng viên khối ngành nhân văn trên tổng số 6 giảng viên) vào năm 1960 giảm xuống còn 1/13 vào năm 1988.  Những số liệu u ám ấy khiến Connor phải thốt ra những lời đau đớn: Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục kéo dài thì ta có thể dự báo rằng chỉ trong vòng một thế hệ nữa nó sẽ tuyệt chủng hoàn toàn. Hoặc giả nếu nó còn cơ hội tồn tại, hẳn nó cũng phải biến hình sang một dạng hoàn toàn khác, ví dụ, sẽ không còn ai học để lấy tấm bằng cử nhân các ngành nhân văn, mà chỉ còn chương trình Thạc sỹ ngành nhân văn, dành cho những người trưởng thành tự nhận thấy trong công việc hoặc cuộc sống của mình vẫn có chỗ cần đến những kiến thức và kỹ năng mà một chương trình học với các môn học khai phóng – được hiểu ở đây là các môn nhân văn – có thể cung cấp.  Tình hình suy giảm nghiêm trọng này đã khiến tác giả phải nhìn lại lịch sử phát triển của giáo dục khai phóng – nó ra đời ra sao, và tồn tại với những sứ mạng như thế nào. Từ đó về lịch sử sẽ giúp chúng ta có được tầm nhìn xa để có được những dự báo lâu dài cho tương lai.  Sự ra đời và phát triển của giáo dục khai phóng trong lịch sử  Theo Connor, những bài viết sớm nhất về giáo dục khai phóng được bắt đầu tại Athens (Hy Lạp) vào thế kỷ thứ 5, và có liên quan chặt chẽ đến phong trào dân chủ của xã hội Hy Lạp thời ấy. Cũng theo tác giả, một nền giáo dục khai phóng như nó được hiểu vào thời ấy có những đặc điểm như sau: (1) gắn chặt với bối cảnh xã hội đương thời (cụ thể là thành Athens thời ấy); (2) không nhấn mạnh kiến thức, mà nhấn mạnh các kỹ năng, cụ thể là kỹ năng nói trước công chúng (public speaking) cùng những kỹ năng trí tuệ khác như phân tích vấn đề và đưa ra giải pháp, và nắm vững tâm lý của khán giả (audience psychology); và (3) những kỹ năng mà giáo dục khai phóng cung cấp cho người học, đặc biệt là kỹ năng diễn thuyết (rhetorics), là nhằm vào việc giúp người học khả năng tham gia vào các hoạt động lãnh đạo chính trị (political leadership) thời ấy. Nói cách khác, mục tiêu của giáo dục khai phóng nhằm “giải phóng” con người bằng cách cung cấp cho người học những kỹ năng để có thể tham gia đầy đủ nhất vào một xã hội dân chủ với tư cách là một chủ thể độc lập và tự do.   Nội dung của giáo dục khai phóng  Trong bối cảnh của Hy Lạp thế kỷ thứ 5, các kỹ năng diễn thuyết, và cùng với nó là các kỹ năng tư duy, lập luận, phân tích, giải quyết vấn đề vv được xem là những kỹ năng cần thiết nhất, và vì thế nội dung giáo dục khai phóng thoạt tiên chỉ gồm có 3 môn: ngữ pháp (grammar), tu từ (rhetorics), và biện chứng (dialectic) – những ngành nghệ thuật (arts) hoặc nhân văn. Sau đó, cũng từ những đòi hỏi của thực tế cuộc sống, 4 môn học khác được thêm vào, đó là âm nhạc (harmony), số học (arithmatics), hình học (geometry), và thiên văn học (astronomy) – những kỹ năng được xem là cần thiết để giúp người học phát triển cá nhân, có kỹ năng tham gia vào xã hội và quản lý cuộc sống của chính mình ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Cần chú ý là trong 4 môn học được thêm vào sau này thì chỉ có âm nhạc là thuộc về nghệ thuật, còn 3 môn kia thuộc về khoa học, tức là phần “and sciences” của cụm từ “liberal arts and sciences” đã được đề cập đến trong phần dẫn nhập của tôi.          Hơn bao giờ hết, vai trò của khối ngành nhân  văn trong thế kỷ 21 càng được khẳng định, nếu ta kiên trì với mục tiêu  khởi thủy của giáo dục khai phóng, đó là cung cấp cho người học những kỹ  năng của một con người tự do, hay có thể nói là kỹ năng tự giải phóng  (the skills of freedom). Những kỹ năng mà khối ngành nhân văn giúp phát  triển ở người học – khả năng đọc và hiểu các lập luận, cảnh giác đối với  ngụy biện, tư duy logic, khả năng diễn đạt và thuyết phục, có những  hiểu biết sâu sắc về con người và xã hội đương đại, kỹ năng phán đoán và  giải quyết vấn đề – sự quan trọng và cần thiết của chúng đối với người  học ngày nay là điều không còn gì để bàn cãi, để góp phần phát triển xã  hội với rất nhiều tiến bộ, nhưng cũng rất nhiều phát sinh vấn nạn mới  của ngày hôm nay.        Tuy nhiên, cùng với những đổi thay về mặt chính trị và xã hội, rất nhanh chóng các mục tiêu nguyên thủy của giáo dục khai phóng đã bị biến đổi, không còn tính thiết thực và gắn liền với xã hội như trước, mà gắn với những động cơ chính trị hoặc động cơ cá nhân và thực dụng. Vì thế nhiều môn học mới được giới tăng lữ thêm vào nhằm bảo vệ những thành tựu về tư tưởng và văn hóa của họ. Giáo dục khai phóng đã được cải biến thành “giáo dục toàn diện” với nội dung học tập không còn gắn liền với thực tiễn xã hội, và người đi học cũng không có mục tiêu đạt được những kỹ năng thiết yếu cho việc tham gia vào một xã hội dân chủ, mà chỉ để được lọt vào giới thượng lưu, học như một công cụ thăng tiến về mặt xã hội hoặc nhằm đạt được những lợi ích về kinh tế của thời ấy.  Và tuy không viết ra cụ thể, nhưng ta có thể hiểu Connor đã ngầm kết luận rằng với những thay đổi của lịch sử, khi vai trò của giai cấp thống trị thời ấy (chủ yếu là giới tăng lữ của nhà thờ Thiên chúa giáo) không còn nữa thì giá trị của một nền giáo dục khai phóng theo định nghĩa của họ cũng phải trải qua nhiều thay đổi, hoặc chấp nhận sự suy giảm và thậm chí có thể hoàn toàn biến mất.  Giáo dục khai phóng ở Mỹ: Sự lặp lại của lịch sử  Quay lại bối cảnh của xã hội Mỹ. Sự sụt giảm của các ngành nhân văn và khoa học ở một đất nước đã từ lâu hãnh diện với một truyền thống đạị học dựa trên nền tảng “giáo dục khai phóng” vững chắc phải chăng là một lời cảnh báo về sự thiếu phù hợp của các ngành này đối với những đòi hỏi của xã hội hôm nay?  Câu trả lời của Connor cho câu hỏi trên là một lời khẳng định. Theo ông, giáo dục khai phóng – hay chính xác hơn là ngành nhân văn – của Mỹ đã lập lại vết xe đổ của sự phát triển thiếu bền vững của giáo dục khai phóng từ khởi thủy qua sự phát triển rực rỡ rồi suy giảm ở Châu Âu. Ở thời kỳ đầu khi mới lập quốc, giáo dục đại học của Mỹ dựa trên cơ sở giáo dục khai phóng gắn rất chặt với sự phát triển xã hội và ý thức công dân, nhằm cung cấp những kỹ năng cần thiết cho các công dân để tham gia hiệu quả nhất vào việc xây dựng một xã hội mới trên một vùng đất mới.   Nhưng dần dà, mục tiêu của giáo dục khai phóng đã trở nên mơ hồ dần, và nội dung của nó thì ngày càng rộng ra, sự nhấn mạnh kỹ năng đã nhường bước cho sự nhấn mạnh nội dung, và người học thì học lấy kiến thức chỉ vì kiến thức (knowledge for knowledge’s sake, cách nói của người Việt là biết chỉ để mà biết). Và hậu quả là phản ứng của người học và của xã hội: sự lựa chọn của người học và sự thái độ của xã hội đối với khối ngành này ngày càng suy giảm, như những số liệu u ám đã đưa ở đầu bài viết.  Như vậy, giải pháp sẽ là gì, để cứu vãn khối ngành nhân văn – và thực ra, ta có thể nói giúp cho cả khối khoa học cơ bản nữa, vốn cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng không kém?  Tác giả Connor không đưa ra một câu trả lời cụ thể, mà ngược lại, lại đặt ra một loạt những câu hỏi. Theo ông, nếu chúng ta đồng ý rằng mục tiêu của giáo dục khai phóng (bao gồm cả khối ngành nhân văn lẫn khoa học cơ bản) là đem lại cho người học những kỹ năng để tồn tại và phát triển trong xã hội như những chủ thể tự do, thì chúng ta phải tự mình trả lời những câu hỏi sau đây: (1) Liệu các môn học mà chúng ta đang dạy ở đại học có chuẩn bị cho người học tham gia một cách có hiệu quả vào một xã hội đầy biến động và toàn cầu hóa như hiện nay chưa? Các ngành ngoại ngữ liệu có còn cần thiết như trước đây hay không nếu tiếng Anh hiện nay đã trở thành một ngôn ngữ toàn cầu, và thứ “ngoại ngữ” mà người ta thực sự cần chỉ là ngôn ngữ Java (một loại ngôn ngữ lập trình web)? Chúng ta đã nghĩ đến vai trò của ngành truyền thông (media) trong nội dung giảng dạy của khối ngành nhân văn hay chưa?  Giáo dục nhân văn liệu có còn chỗ đứng trong thế kỷ 21?  Không đưa ra giải pháp cụ thể để cứu các ngành nhân văn, nhưng Connor đã kết thúc bài viết được bắt đầu khá u ám bằng những lời khẳng định mạnh mẽ: Hơn bao giờ hết, vai trò của khối ngành nhân văn trong thế kỷ 21 càng được khẳng định, nếu ta kiên trì với mục tiêu khởi thủy của giáo dục khai phóng, đó là cung cấp cho người học những kỹ năng của một con người tự do, hay có thể nói là kỹ năng tự giải phóng (the skills of freedom). Những kỹ năng mà khối ngành nhân văn giúp phát triển ở người học – khả năng đọc và hiểu các lập luận, cảnh giác đối với ngụy biện, tư duy logic, khả năng diễn đạt và thuyết phục, có những hiểu biết sâu sắc về con người và xã hội đương đại, kỹ năng phán đoán và giải quyết vấn đề – sự quan trọng và cần thiết của chúng đối với người học ngày nay là điều không còn gì để bàn cãi, để góp phần phát triển xã hội với rất nhiều tiến bộ, nhưng cũng rất nhiều phát sinh vấn nạn mới của ngày hôm nay.  Vấn đề là làm sao để giúp người học phát triển được các kỹ năng căn bản ấy nhưng trong bối cảnh cụ thể của xã hội ngày nay? Rõ ràng là câu trả lời không thể đến chỉ từ những người trong ngành, hoặc thậm chí toàn bộ giới học giả và các nhà khoa học đang hoạt động trong các trường, viện, mà còn cần cả sự đóng góp tích cực của toàn xã hội nữa.  Đó cũng là ý kiến kết luận của Connor. Một kết luận không chỉ đúng cho nước Mỹ vào cuối thế kỷ trước, mà còn đúng cho cả Việt Nam của ngày hôm nay.  Còn các học giả của Việt Nam, và toàn xã hội nữa, chúng ta có định làm gì để cứu vãn sự suy giảm của khối ngành nhân văn ở VN, và giảm bớt những điểm 0 của môn Lịch sử như trong kỳ thi đại học vừa qua, hay chăng?        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục ở Bỉ và Nepal      Tôi nghĩ rằng trong công cuộc chấn hưng giáo dục chúng ta đang đi chưa đúng hướng. Suy nghĩ này càng được củng cố thêm sau hai đợt công tác gần đây tại một nước rất giàu (Vương quốc Bỉ ) và một nước rất nghèo (Nepal).    Ở nước Bỉ thì rõ ràng dân chúng thiếu gì tiền- thu nhập bình quân đầu người (GDP/PPP) ở Bỉ là khoảng 33 000 USD (2006)- nhưng đâu có phải ai cũng vào Đại học, ai cũng muốn có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ? Số đông vẫn là công nhân kỹ thuật cao hoặc nhân viên có nghiệp vụ thành thạo, họ có thu nhập nhiều khi cao hơn kỹ sư, bác sĩ. Nhưng đã có học vị cao thì phải đáng là nhà khoa học thực sự. Tôi đã đi thăm các phòng thí nghiệm ở Đại học Liège và rất bất ngờ khi thấy đó là nơi công trình nghiên cứu của các giáo sư nhanh chóng được thương mại hóa. Lấy bằng sáng chế xong liền mở công ty và lập ngay một phân xưởng. Vì là sản phẩm công nghệ cao nên chỉ cần một phân xưởng rất nhỏ, với vài công nhân nhưng sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ra các nước phát triển khác. Tôi đến thăm một phân xưởng của giáo sư Thonart, người đang chủ trì việc hợp tác khoa học với Viện của chúng tôi. Khi mua bột thiamin (vitamin B1) của Trung Quốc với giá rất rẻ, ông thấy nếu dập viên (như ta) thì hiệu quả rất thấp. Nếu bọc lại trong một vỏ cao phân tử thành những viên rất nhỏ (kích thước chỉ vài chục micromet) để cung cấp cho các hãng dược phẩm danh tiếng trên thế giới sản xuất tiếp thành các viên nang vitamin B1 thì sẽ có giá cao hơn rất nhiều. Và chỉ với phân xưởng nhỏ với hai công nhân nhưng với thiết bị hiện đại trong một phòng vô trùng nhỏ xíu, ông đã sáng chế ra chất cao phân tử này(!).           Trường cấp II Jumbesi do Edmund Hillary –người đầu tiên lên đỉnh Everest sáng lập.          Chính phủ chỉ đầu tư cho một số trường Đại học công, nhưng phần lớn các trường Đại học danh tiếng lại là các trường Đại học tư thục. Các công ty và phân xưởng của các giáo sư chỉ đi vay tiền của Ngân hàng chứ đâu có nhận tiền đầu tư của Chính phủ.   Nepal- một trong 49 nước nghèo nhất thế giới. Tăng trưởng GDP năm 2006 chỉ là 1,9%. Xuất khẩu được 822 triệu USD (f.o.b) thì phải nhập khẩu tới 2 tỷ USD (f.o.b). Hiện nay xe máy ngừng hoạt động vì không có xăng để bán, chỉ còn có xe ca, xe buýt chạy bằng dầu diesel trên đường.  Trong hoàn cảnh một nước nghèo như vậy nhưng điều hoàn toàn bất ngờ với tôi lại là chất lượng giáo dục rất tốt. Tôi ở nhờ nhà một giáo viên 56 tuổi. Ông có một cậu con trai đang học năm thứ hai Đại học, Cả hai bố con nói tiếng Anh hết sức thành thạo. Hóa ra một số không ít trường ở Nepal học tiếng Anh từ… Trường Mầm non và Mẫu giáo(!), lên cấp I (5 năm) đều có giờ dạy tiếng Anh ở mọi trường học, một số trường chỉ dạy bằng tiếng Anh. Lên cấp II (5 năm) một số trường dạy bằng tiếng Nepal nhưng có 1 tiết (45 phút) tiếng Anh mỗi ngày, ngược lại một số trường dạy bằng tiếng Anh và chỉ có 1 tiết tiếng Nepal mỗi tuần. Lên cấp III (chỉ có 2 năm-lớp 11 và lớp 12) cũng tương tự như vậy- mỗi tuần 1 tiết tiếng Anh cho một số trường và 1 tiết tiếng Nepal cho một số trường khác.  Tôi mua hai cuốn sách giáo khoa Sinh học lớp 11 và lớp 12 và thực sự ngỡ ngàng khi thấy sách in dày và rất đẹp, bìa cứng. Cuốn Sinh học lớp 11 dày 627 trang khổ 24 x 16 bằng tiếng Anh (!) với nội dung như sau: Khái niệm về sự sống, Sinh học tế bào, Các phân tử của sự sống, Nguồn gốc và tiến hóa của sự sống, Phân loại học, Giới Khởi sinh, Giới Nguyên sinh, Giới Thực vật, Hình thái học thực vật hiển hoa, Một số đại diện của cây một lá mầm và hai lá mầm, Giới Nấm, Giới Động vật, Động vật có xương sống, Virút, Sinh thái học và Môi trường, Bảo vệ thiên nhiên. So sánh với hai cuốn sách giáo khoa lớp 11 và 12 của ta vừa mỏng tèo và vừa rất đơn giản (đến mức khó ra đề thi trùng với các năm trước).  Tôi hỏi,  các lớp học bằng tiếng Nepal thì học loại sách nào? Câu trả lời là: Vì cùng một Chương trình do Hội đồng giáo dục trường cấp III (Higher Secondary Education Board) của Bộ Giáo dục và Thể thao(!) quy định nên chỉ khác nhau bằng ngôn ngữ mà thôi, nội dung cũng tương tự như vậy. Tôi hỏi tiếp, các tác giả và Nhà xuất bản do Bộ lựa chọn? Trả lời: Bộ chỉ quản lý chương trình mà thôi. Việc viết và in sách là chuyện của từng nhóm tác giả và của các nhà xuất bản tư nhân thực hiện. Có thể có nhiều cuốn khác nhau, cuốn nào hợp với chương trình và hay thì người ta mới mua. Tôi lại hỏi: Chương trình này có phải là chỉ riêng của Nepal? Trả lời: Chương trình này dựa trên chương trình đang dạy ở Hoa Kỳ(!) Hèn gì mà mỗi năm có đến 10.000 học sinh Nepal tốt nghiệp cấp III đi du học tiếp tại các nước phát triển và số đông được nhận học bổng do học giỏi. Nếu kể thêm cả khoảng 10 000 người Nepal đi xuất khẩu lao động thì mỗi năm có đến 20 000 người Nepal đi ra nước ngoài học tập và làm việc, Nhìn vào danh sách các tác giả và cộng sự của sách Sinh vật lớp 11 tôi thấy toàn là các tiến sĩ, thạc sĩ người Nepal nhưng đáng chú ý là trong số đó có nhiều người đang làm việc ở Hoa Kỳ.  Một nguyên nhân quan trọng nữa giúp nâng cao chất lượng giáo dục ở Nepal là việc thực hiện phân thành 3 ban khác nhau ở lớp 11 và lớp 12. Đó là Ban Khoa học, Ban Quản trị-Kinh doanh và Ban Xã hội –Nhân văn. Nhờ có phân ban ngay từ cấp III nên học sinh đã có định hướng khá rõ cho việc học tiếp Cao đẳng, Đại học hay các ngành Trung cấp, Dạy nghề có liên quan sau khi tốt nghiệp phổ thông. Kiến thức chung đến hết lớp 10 coi như đã có đủ để vào đời.  Một câu hỏi không thể không đặt ra là học hành khó như vậy tại một nước rất nghèo như Nepal thì đông đảo học sinh làm sao theo kịp. Câu trả lời thật đơn giản. Giáo dục hình nón cụt chứ không phải hình ống(!). Ở Nepal thực hiện giáo dục phổ cập chỉ đến bậc tiểu học mà thôi. Lên đến cấp II chỉ có khoảng 40% qua được kỳ thi tốt nghiệp, lên đến cấp III  chỉ có khoảng 60% tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp cấp III cũng chỉ có khoảng 40% có thể đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng. Ở Nepal chỉ có 5 trường Đại học nhưng lại có rất nhiều trường Cao đẳng. Số tốt nghiệp Cao đẳng và Đại học loại khá thường tìm cơ hội đi học tiếp Thạc sĩ và Tiến sĩ tại nước ngoài. Tại Nepal chỉ có khoảng 15-20% thí sinh trúng tuyển học Thạc sĩ trong nước còn Tiến sĩ thì chỉ có khoảng 1% mà thôi(!). Rõ ràng đâu có cần thật nhiều người học Đại học, còn sau Đại học thì cố găng đào tạo ở các nước phát triển càng nhiều càng tốt. Ngoài một phần học bổng, một phần tài trợ của gia đình rất nhiều lưu học sinh Nepal đã tìm cách vừa lao động vừa học tập tại nước ngoài. Muốn được như vậy thì tiếng Anh phải chuẩn bị từ rất sớm ở bậc phổ thông và chương trình học phải đủ sức để hội nhập quốc tế.  Trong khi chất lượng học tập của các trường đều rất tốt thì ở Nepal vẫn mới chỉ có 48,6 % dân chúng từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết. Giáo dục hình nón cụt ở một nước nghèo đành phải như vậy.  ———-  CHÚ THÍCH ẢNH: Phòng thí nghiệm của ĐH Liège      Nguyễn Lân Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục phòng vệ: 5 đến 12 tuổi      Ta đến với giai đoạn giáo dục trẻ em từ 5  đến 12 tuổi, giai đoạn được Rousseau xem là quan trọng nhất và cũng  “nguy hiểm” nhất trong suốt đời người.     Trung thành với quan niệm của mình về giáo dục tự nhiên trong giai đoạn mầm non trước đó, giai đoạn mới này cần được điều chỉnh bằng hai nguyên tắc giáo dục: nền giáo dục mang tính phòng vệ (négative), và việc rèn luyện tinh thần phải từ những hệ quả tự nhiên diễn ra trong đời sống.  Tinh thần chung của giai đoạn này là: hãy để cho trẻ em (5-12 tuổi) chỉ bị lệ thuộc vào sự vật tự nhiên và tuân theo trật tự tự nhiên trong suốt giai đoạn này. Hãy chỉ đơn giản đặt những trở lực tự nhiên trên con đường đi đến những ước muốn của chúng, và hãy để việc “thưởng phạt” nảy sinh từ chính hành động của chúng. Thay cho lề luật, hãy để kinh nghiệm thành công hoặc trải nghiệm thất bại, bất lực “dạy dỗ” chúng. Thỏa mãn những mong muốn của chúng, không phải vì chúng đòi mà vì chúng cần. Không để cho đứa trẻ có ý thức về sự vâng lời khi chúng làm, và ý thức làm “chủ nhân ông” khi được người khác làm cho chúng. Hãy để chúng cảm nhận và trải nghiệm sự tự do trong hành động cũng ngang bằng của ta, những người dạy dỗ chúng.  Ý tưởng tân kỳ ấy đi liền với những chủ trương, biện pháp không kém táo bạo, độc đáo, gây nhiều cảm hứng lẫn tranh cãi cho tới ngày nay.   PHÊ PHÁN KỊCH LIỆT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HIỆN HÀNH  Rousseau hoàn toàn bất tín nhiệm phương pháp thịnh hành lúc bấy giờ. Với hầu hết trẻ em, tuổi thơ là giai đoạn đầy lo âu, sợ hãi trước nhà trường nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn! Thầy giáo cứ nhầm tưởng trẻ em không có niềm vui nào khác ngoài việc đọc, viết và thuộc bài! Thế là tha hồ nhồi nhét theo kiểu học vẹt và “tra tấn” chúng bằng bài tập với vô số những điều bắt chúng phải ghi nhớ. Rousseau cho đó là sai lầm cơ bản: trẻ em chưa có ký ức đúng nghĩa và bài vở suông chẳng có ý nghĩa gì hết!  “SÁCH VỞ ÍCH GÌ ?!”  Đại triết gia, đại văn hào của chúng ta lại cực kỳ dị ứng với… sách: “Tôi ghét sách vì chúng chỉ dạy ta nói về những gì ta không hề biết!”. Với ông, nền giáo dục dựa vào sách vở thì chỉ dạy con người làm nô lệ trước quyền uy của người khác. Vì sao? Vì sách chen vào giữa ta và cuộc đời, giữa trẻ em và sự vật. Tri thức học được từ sách vở giành mất chỗ của sự thực hành và tự hình thành chủ kiến, đặc biệt nguy hại nơi trẻ em ở lứa tuổi này. Phải chăng Rousseau chủ trương một đường lối “sư phạm mềm” (soft pedagogy), không “học” gì hết và chơi là chính? Không, ông làm khác hẳn: tháo cởi cái ách trường quy, để thay vào đó gánh nặng không kém: tự xoay xở lấy trong việc tổ chức ăn, ở, mặc!  PHÊ BÌNH CHƯƠNG TRÌNH HỌC CẤP CƠ SỞ  Rousseau không ngần ngại cho cậu bé Émile của ông, trước tuổi 12, không học chữ, học đọc! Ông chỉ mong cậu ta tìm đọc do ngẫu nhiên hay cần thiết. Ngoài tiếng mẹ đẻ, chẳng cần học thêm ngoại ngữ nào (nhất là cổ ngữ!), càng không cần học lịch sử ở giai đoạn này. Vì mấy lý do: trẻ em ở lứa tuổi này, như đã nói, không có trí nhớ đúng nghĩa, nên chưa thể hiểu gì về hành xử của người lớn và nhận định về những hoàn cảnh lịch sử. Thêm vào đó, môn sử kể toàn chuyện chiến tranh, vua chúa, triều đại, với đống số liệu vô hồn và vô bổ, chứ đâu có bàn đến chuyện gì thiết thân với cuộc sống đâu. Mặt khác, môn sử liên quan đến xã hội, nằm ngoài tầm mắt của trẻ em. Vì thế, cần dẹp môn sử ở lứa tuổi này! Ngay môn địa lý cũng còn quá xa vời.  Như thế, Rousseau muốn dẹp hết những môn học truyền thống, thậm chí đòi bỏ cả giáo dục tôn giáo (ngay giữa thế kỷ 18!) với lý lẽ khó mạnh mẽ hơn: trẻ em không nên nghe lời thần thánh trước khi lên 13, “tuổi của lý trí”! Điều gây tranh cãi: Rousseau có cực đoan không khi muốn dẹp cả chuyện cổ tích, chuyện thần tiên? Lý lẽ của ông: chúng truyền đạt những giá trị luân lý cho những cô cậu chưa phải là những chủ thể luân lý!  CHƯƠNG TRÌNH THAY THẾ: HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH  Ta dễ hình dung đề nghị của ông: những hoạt động đến từ nhu cầu thiết thân của đứa bé. Trước hết là chuẩn bị sức khỏe và thể lực: chơi đùa, thể thao để… “bắp thịt trước đã! “. Sau đó, là nhu cầu sinh tồn. Là nhà tự nhiên luận, ông xem trọng nông nghiệp và việc đồng áng, “công việc cao quý nhất của con người”. Cho trẻ làm quen với nông cụ và các dụng cụ thủ công: cuốc, thuổng, bào, giũa… Từ đó chúng học cách so sánh, tính toán, đo lường. Biết lượng định khoảng cách, quan sát và vẽ chính xác những gì quan sát được. Nói, hát, số học, hình học không học trong lớp mà trong những hoạt động liên quan đến những hoàn cảnh sống thực tế.  Trước tuổi 12, trẻ em chưa sử dụng lý trí cho bằng học cách giải quyết những nhu cầu đơn giản, qua đó biết trải nghiệm sự yếu ớt và phụ thuộc từ chính sinh hoạt của mình. Ở lứa tuổi tiền-xã hội, tiền-luân lý này, trẻ em chưa biết ý chí của người khác, do đó, không nên bắt chúng phục tùng mệnh lệnh hay trừng phạt. Hãy để tự nhiên dạy cho chúng những điều ấy, từ sự tất yếu chứ chưa phải từ ý thức trách nhiệm hay nghĩa vụ.  GIÁO DỤC PHÒNG VỆ  Nền giáo dục trước nay xuất phát từ quan niệm rằng bản tính người là xấu, nên cần uốn nắn “như đối với cái cây trong vườn nhà”. Trẻ em là “người lớn-tập sự”, đó là quan niệm của nền giáo dục quý tộc Âu châu từ thế kỷ 18 trở về trước (J. Locke: Một số tư tưởng về giáo dục/ Some Thoughts concerning Education, 1693). Rousseau nghĩ khác, và quyển Émile được xem như một phần đề nghị đối với tác phẩm trên đây của Locke: “Nền giáo dục chủ động (positive) là nhằm đào tạo tinh thần quá sớm và muốn bắt trẻ em phải biết những nghĩa vụ của người lớn. Còn nền giáo dục phòng vệ (negative) là làm cho các cơ quan – phương tiện của nhận thức – được tinh tường trước khi mang lại nhận thức cho chúng. Nền giáo dục phòng vệ không phải là phóng đãng. Nó không mang lại đức hạnh, nhưng ngăn chặn tội lỗi; nó không phô trương chân lý mà ngăn chặn sai lầm. Nó chuẩn bị tất cả cho trẻ em để chúng có thể nhận thức được cái Chân khi đủ năng lực thấu hiểu, và cái Thiện khi có thể biết ái mộ”.  Rousseau áp dụng phương pháp này vì nhiều lý lẽ. Trước hết, nó là hệ luận lôgíc từ nguyên tắc “tính người là tốt” ,và bản tính ấy sẽ tự phát huy từ sự thôi thúc bên trong. Bất kỳ sự can thiệp nào vào diễn trình phát huy này đều mang lại sự “bại hoại”. Lỗi lầm, tội ác của con người, theo ông, là hậu quả trực tiếp của nền giáo dục mà ta nhận được. Thứ hai, đặc biệt cho giai đoạn giáo dục này, là hệ luận cơ bản được rút ra: phải có sự tương ứng giữa một bên là các nhu cầu với bên kia là các sức mạnh và năng lực của bản thân đứa trẻ. Việc chăm sóc, giúp đỡ của người lớn là không thể thiếu, nhưng chỉ nên dừng lại ở mức thật cần thiết mà thôi.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 7, 06.03.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục STEM: Kinh nghiệm từ Vương Quốc Anh      Ngày 22/1 vừa qua, Hội Đồng Anh đã tổ chức một buổi thảo luận bàn tròn  về “Vai trò của nhà nước và các tổ chức cá nhân có liên quan trong việc  xây dựng chiến lược phát triển giáo dục STEM”. Trong đó, khách mời của  chương trình – Ông Mark Windale đã chia sẻ kinh nghiệm của mình rút ra  từ 18 năm nghiên cứu về giáo dục khoa học tại Đại học Sheffield Halam và  tham gia các dự án thay đổi chương trình học theo hướng tích hợp cho  giáo viên và học sinh ở các nước Đông Nam Á.      Một trong những thắc mắc của nhiều người, theo Mark, đó là trong S-T-E-M, Kỹ thuật không phải là một môn học, vậy thì dạy STEM như thế nào? Theo ông, Kỹ thuật không nhất thiết phải là một môn trong nhà trường mà được đưa vào giáo dục STEM thông qua cách học sinh giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra. Nói cách khác, Kỹ thuật không hẳn là một hệ thống lý thuyết và kỹ năng cần ghi nhớ mà chính là tình huống, vấn đề mà học sinh giải quyết.   Hiện nay ở Việt Nam, giáo dục STEM mới chỉ dừng lại ở mức phong trào. Theo Mark Windale, cần một chương trình cấp quốc gia, xác định rõ và cụ thể mục tiêu của đất nước khi triển khai giáo dục STEM. Từ đó, phân công nhiệm vụ cho các bên liên quan bao gồm: Các tổ chức nghiên cứu sẽ xác định nhu cầu về kỹ năng, năng lực và các lĩnh vực STEM phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội quốc gia; Chính phủ xây dựng chương trình STEM quốc gia, xây dựng tầm nhìn và mục tiêu của giáo dục STEM; Các trung tâm Giáo dục STEM tham gia liên kết với các trường học, phát triển chương trình và các nguồn lực để đào tạo và phát triển chuyên môn cho giáo viên khoa học giảng dạy tại các trường phổ thông; Các phòng thí nghiệm quốc gia cung cấp cơ sở vật chất, các viện nghiên cứu giới thiệu những nhà khoa học để làm đại sứ STEM…   Ở Anh, giáo dục STEM được đưa thành một chương trình quốc gia với mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học chất lượng hơn nữa, gọi là Chương trình Hành động 11 bao gồm bốn nội dung là: (1) Tuyển dụng và đào tạo giáo viên giảng dạy STEM. Theo đó, dạy tích hợp không phải là một giáo viên dạy nhiều môn một lúc (bản thân Vương Quốc Anh cũng thất bại khi cố gắng thực hiện điều này) mà các giáo viên dạy các môn khác nhau phải hợp tác, cùng xây dựng bài giảng để học sinh có thể vận dụng kiến thức và kỹ năng của nhiều môn để giải quyết một vấn đề. Vì vậy, cần đào tạo giáo viên theo nhóm hoặc theo cặp. (2) Nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên. Qua nhiều năm làm việc với các giáo viên khoa học phổ thông ở nhiều nước trên thế giới về việc thay đổi giáo trình và sách giáo khoa sang học tích hợp, Mark Windale phân loại trình độ của giáo viên thành bốn cấp: Thứ nhất là thử (try things out) làm một vài thí nghiệm khoa học nhỏ trình diễn cho học sinh; Thứ hai là tham gia một dự án khoa học (engaging in projects) dài hơi hơn, thu hút các giáo viên và học sinh cùng thực hiện; Thứ ba là xây dựng một lớp học STEM giống như câu lạc bộ với các hoạt động khoa học thường xuyên; Thứ tư là các giáo viên dạy các môn khác nhau cùng viết giáo trình cho từng môn học để học sinh có thể trải nghiệm STEM ở bất cứ môn nào. (3) Thúc đẩy phong trào giáo dục STEM bằng các hoạt động như câu lạc bộ, ngày hội, đại sứ STEM, ngày tham quan các phòng thí nghiệm, nhà máy… (4) Phát triển cơ sở vật chất hỗ trợ cho việc dạy và học. Điều này không chỉ cần đầu tư từ ngân sách nhà nước mà còn từ phía khu vực tư nhân. Ở Anh, các tập đoàn tư nhân lớn đầu tư hơn tám triệu USD cho chương trình giáo dục STEM quốc gia.   Điều quan trọng nhất mà Mark Windale nhấn mạnh nhiều lần, đó là phải liên tục nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên, Ông cho rằng, phải biết cần hỗ trợ và cung cấp cho họ những nguồn lực nào và công cụ gì để họ có thể sử dụng hiệu quả cho chuyên môn của mình. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần xác định được trình độ mặt bằng chung của giáo viên để có thể thiết kế dữ liệu, nguồn lực hỗ trợ một cách hiệu quả nhất.  Trong buổi thảo luận bàn tròn còn có Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT Vũ Đình Chuẩn, đại diện các trường phổ thông và các tổ chức xã hội đang thúc đẩy giáo dục STEM tham dự, đưa ra những khó khăn vướng mắc hiện tại. Trong đó, đại diện của trường phổ thông Wellspring cho biết, anh đang triển khai giáo dục STEM giáo dục STEM ở trường nhưng gặp khó khăn là nội dung của chương trình này lại trùng với nội dung chính khóa. Mark Windale gợi ý rằng, không nên tách biệt việc dạy STEM và dạy chính khóa mà phải biết lồng ghép những trải nghiệm STEM vào việc giảng dạy chương trình sách giáo khoa. Giáo viên các bộ môn khác nhau cần hợp tác để xây dựng giáo án.   Là đơn vị tổ chức ngày hội STEM tại Hà Nội vào 5/2015 và tại Tp. Hồ Chí Minh vào ngày 16-17/1 vừa qua, đại diện tạp chí Tia Sáng cũng chia sẻ khó khăn của mình trong việc tổ chức ngày hội lớn đó là chi phí tổ chức tương đối lớn nhưng khoản đóng góp từ phụ huynh chỉ chiếm 1/20 và nguồn tài trợ chủ yếu là từ các doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiết với ban tổ chức, tuy nhiên, nguồn tài trợ này lại không bền vững. Mark cho biết, theo kinh nghiệm của ông tại Thái Lan, ngày hội STEM nên tổ chức tại các trường phổ thông và hoàn toàn có thể thực hiện với chi phí rất rẻ. Ông cho rằng, mấu chốt để thực hiện điều này là phải tìm cách huy động được lực lượng giáo viên và học sinh, tạo cho họ tinh thần làm chủ dự án, sở hữu dự án để phát huy tối đa sức sáng tạo từ nguồn lực, địa điểm và mối quan hệ sẵn có.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục STEM: Mở hơn, nhiều lựa chọn hơn      Đỗ Hoài Nam, đại sứ của ngày hội STEM lần thứ nhất chia sẻ rằng, lí do anh ủng hộ giáo dục STEM rất đơn giản: để trẻ em có thêm một cơ hội biết mình muốn gì và đây là một phong trào sáng tạo mở của giáo dục Việt Nam.&#160;       Lần đầu tiên tiếp xúc với máy vi tính là khi học lớp 6, tôi được gia đình đưa tới cung thiếu nhi để học lập trình BASIC trên những chiếc máy Machitosh, lúc đó, tôi chỉ biết mỗi lệnh GOTO. Cả một mùa hè, tôi chỉ tìm cách làm thế nào để vẽ được chiếc ô tô trên màn hình chỉ bằng một nét với lệnh đó. Bốn năm sau, chiếc máy vi tính đầu tiên của tôi là phần thưởng “không mong đợi” khi tôi thi đỗ vào cấp ba. Nhờ đó mà tôi bắt đầu tự học: Thấy bạn mình tự làm ra trò chơi nào là về mày mò tự lập trình bằng được. Thậm chí, tôi còn tìm cách viết phần mềm làm sao để máy tính “tự nhiên hỏng” mỗi khi thằng bạn bật máy tính lên. Những trò chơi có vẻ ngu ngốc nhưng tôi dành cho nó rất nhiều thời gian, chính là “học qua hành”, học STEM. Tại thời điểm đó, tôi không biết mình sẽ làm công nghệ. Khi lên đại học, tôi học Kiến trúc rồi chuyển sang ngành kế hoạch chiến lược (Strategic Planning) ở Úc, nhưng niềm đam mê công nghệ được nhen nhóm từ lúc nhỏ khiến tôi lại quay trở về làm công nghệ. Chính vì thế, đối với cá nhân, tôi thấy việc được tiếp xúc với công nghệ từ nhỏ có vai trò quan trọng với cuộc đời mình và tôi ước rằng, có thể biết đến nó sớm hơn nữa.  Trẻ em hiện nay tiếp xúc với công nghệ theo dạng sử dụng công nghệ thì rất sớm nhưng để hiểu nó và hiểu về mặt nguyên lý và tại sao lại làm thế để tạo ra niềm đam mê, phấn khích về mặt công nghệ thì hơi muộn. Hai tuổi các em đã chơi trò chơi trên Ipad rồi nhưng điều đó chưa tạo ra cho các em niềm đam mê là lớn lên làm ra được một sản phẩm như thế để trở thành một người kiến tạo vật chất, tạo ra một giá trị mới cho xã hội.  Đối với trẻ em, quan trọng là cho các em cơ hội để biết mình muốn gì. Cũng như bố mẹ cho các em học nhạc từ nhỏ, chưa chắc về sau em đã thành nghệ sĩ piano hay là ca sĩ. Thế thì vì chưa chắc con mình đã làm ca sĩ thì chúng ta không cho con đi học nhạc nữa? Điều cần thiết với trẻ em là phải được tiếp xúc với các thiên hướng để các em có thể tự phát triển và định hướng cho bản thân về sau. Đó là chưa nói đến việc khi trở thành người lớn, khi đã có nhiều trải nghiệm và hiểu biết thì sẽ mong muốn biết càng nhiều kiến thức càng tốt.   Hiện nay, giáo dục phổ thông của nước ta chưa dạy học sinh tại sao con người lại có nền văn minh, khác tất cả các loài vật khác, vì chúng ta luôn tập trung vào làm công cụ. Việc học qua hành của giáo dục STEM, thay vì học qua sách giáo khoa thì bằng những hành động và việc làm cụ thể, đi từ vấn đề trong thực tế đến việc sử dụng lý thuyết, sẽ dần dần tạo thói quen nghĩ và làm cho những em học sinh lớn lên sẽ luôn tập trung vào việc tạo ra công cụ. Điều này không chỉ đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực khoa học công nghệ mà ở lĩnh vực nào, các em cũng xác định một phương án logic cho các vấn đề gặp phải.  Việc đáp ứng yêu cầu học đi đôi với hành của giáo dục STEM cần phải xã hội hóa. Xã hội hóa có nghĩa là không nhất thiết 100% học sinh đều cần phải học giống nhau mà tùy theo điều kiện địa phương, điều kiện kinh tế, nhà tài trợ từng khu vực, từng trường, từng giáo viên mà họ đều có thể tiếp xúc với chương trình ở mức độ khác nhau. Chương trình giáo dục STEM ở Việt Nam là sáng tạo mở về giáo dục và khoa học công nghệ, là diễn đàn để tập trung tất cả những người cung cấp giáo trình, chương trình để mọi người có thể thực hành được ở trong trường học. Nó phù hợp với thời đại OTT, khi tất cả các loại nội dung đều do người dùng đóng góp và tải lên Internet. Chương trình giáo dục STEM sẽ tạo ra một nguồn dữ liệu lớn về các chương trình, giảng viên, phương pháp dạy…để các trường có thể truy cập và chọn phương thức triển khai phù hợp. Đồng thời, đây cũng là ví dụ về sự minh bạch qua việc nội dung chương trình được công khai để phụ huynh và học sinh có thể tự đánh giá, xếp loại chương trình nào tốt, chương trình nào dở chứ không có những hiện tượng dạy thêm, học thêm tràn lan… như bây giờ. Đó là cách để cả xã hội đóng góp và giải quyết một nền giáo dục đang có nhiều bất cập ở Việt Nam hiện nay.  Hảo Linh ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục STEM: Sẽ quan trọng như dạy đọc, dạy viết      Với chương trình giáo dục STEM, ngay cả học sinh lớp Ba cũng có thể lắp ráp robot. STEM bắt đầu được công ty DTT đưa vào Việt Nam với suy nghĩ khi viễn cảnh vạn vật nối mạng trở thành hiện thực trong một vài thập kỷ tới thì giáo dục STEM sẽ quan trọng như dạy đọc và dạy viết ở phổ thông.       Hướng tới tư duy máy tính  Câu chuyện cậu bé 14 tuổi có thể chế tạo Robot trong bộ phim hoạt hình Big Hero 6 gần đây có thể bị nhiều người cho là viễn tưởng. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều nước trên thế giới đã triển khai chương trình dạy về robot cho học sinh từ nhà trẻ đến lớp 12. Nói cách khác, từ bốn tuổi, trẻ em đã có thể lắp ráp, lập trình và điều khiển robot thực hiện các nhiệm vụ theo ý mình. Và dạy về robot là một trong những ví dụ rõ nét về phương pháp giáo dục STEM – viết tắt của bốn từ: Science, Technology, Engineering và Mathematics (nghĩa lần lượt là Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học).   Giáo dục STEM hướng dẫn người học kết hợp kiến thức của bốn môn này và phối hợp với nhau để kiến tạo năng lực thông qua các tình huống thực tế. Giả sử, để vận hành một con robot đi từ điểm A đến điểm B, người học phải vận dụng kiến thức toán học, vật lý để tính số vòng mà mô tơ của robot cần phải quay để đi hết quãng đường trên; sử dụng kiến thức về kỹ thuật, khoa học để lắp robot sao cho gọn nhẹ nhất; và sử dụng kiến thức về công nghệ để lập trình robot trên máy tính. Bên cạnh việc dạy về robot, có nhiều hoạt động ngoại khóa khác đang được thực hiện ở trường phổ thông như hướng dẫn các em làm thiệp, vẽ, làm phim hoạt hình… trên máy tính, cũng là một hình thức giáo dục STEM ở cấp độ đơn giản.   Điều quan trọng của giáo dục STEM không phải là những kiến thức của bốn môn học nó bao hàm mà là tư duy và kĩ năng mà nó mang lại để con người chuẩn bị làm chủ công nghệ trong những thập kỉ tới. Anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc công ty DTT, một trong những công ty đầu tiên triển khai giáo dục STEM ở Việt Nam, nói: “Giáo dục STEM là một hình thức học qua hành trong thời đại số”.   “Trước kia, chúng ta thực hành môn Toán bằng cách đo đạc, thực hành các môn khoa học bằng cách quan sát các thí nghiệm thì giờ đây, vẫn với cách làm ấy, chúng ta có thêm sự trợ giúp của công nghệ.” Anh Thế Trung cho rằng, công nghệ hỗ trợ con người kiểm chứng những gì họ làm với tốc độ rất nhanh và vì vậy, giá trị của giáo dục STEM trước hết là giúp các em học thông qua việc “dám làm, sai thì sửa”: “Hiện tại, mọi điều đúng hay sai đều được khẳng định rất nhanh qua hệ thống internet. Nếu chúng ta bắt tay vào làm thì sẽ rút ra được bài học ngay lập tức. Còn nếu không thì chúng ta sẽ ngồi cân nhắc mãi vì càng ngày càng tiếp nhận nhiều thông tin và vì không làm, chúng ta không có cơ sở để đánh giá những thông tin đó là đúng hay sai.”   Ngoài ra, giáo dục STEM cũng rèn luyện cho người học tư duy phản biện. Khác với phương pháp học truyền thống, người học chỉ được quan sát và công nhận kết quả từ những thí nghiệm thực hành cơ bản, giáo dục STEM chỉ ra rằng, các em có thể dùng tất cả các tri thức có sẵn (dễ dàng tìm được trên internet) và tìm ra một phương pháp ưu việt hơn. Cuối cùng, giáo dục STEM hướng người đọc đến một tư duy cao hơn nữa: tư duy máy tính (computational thinking) – tư duy giải quyết vấn đề theo cách mà máy tính có thể hiểu được: “Nếu chúng ta ra lệnh cho máy tính một cách hợp lý thì nó sẽ thực hiện được những việc tốt hơn chúng ta tưởng”, anh Thế Trung nói.   Bên cạnh đó, giáo dục STEM cũng rèn luyện cho người học kỹ năng cộng tác và kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích chiến lược, chiến thuật… “Không chỉ đối với riêng những người theo đuổi những công việc liên quan đến các ngành STEM, những kỹ năng mà người học có được từ phương pháp giáo dục này có giá trị đối với tất cả mọi người, đây là những kỹ năng cơ bản của thế kỷ 21”, theo anh Thế Trung.  Trong hơn một thập kỷ tới, khi viễn cảnh vạn vật nối mạng (internet of things) trở thành hiện thực, mỗi đồ vật xung quanh con người trở nên thông minh do gắn kèm với cái máy tính thì giáo dục STEM sẽ quan trọng như dạy đọc và dạy viết ở phổ thông chứ không chỉ đơn giản là hoạt động vui chơi, ngoại khóa. “Nếu chúng ta không “xóa mù” tư duy máy tính bây giờ thì 10 năm nữa chúng ta sẽ phải lãnh hậu quả. Cũng giống như việc học Tiếng Anh, nếu cách đây 20 năm, có ai đó đứng ra “xóa mù” tiếng Anh cho tất cả học sinh phổ thông thì bây giờ chúng ta đã khác. Chính vì vậy, thay vì chờ đợi, chúng ta nên “xã hội hóa” giáo dục STEM. Và đó là điều chúng tôi đang làm”.             Mặc dù có thể mở trung tâm dạy Robotics ở bên ngoài nhưng chúng tôi vẫn muốn đưa chương trình này vào các trường phổ thông. Chúng tôi muốn các em thấy rằng, trường học là nơi rất thú vị và vì thế, các em mới yêu ngôi trường của mình. – Nguyễn Thế Trung            Biến kiến thức đã học thành sáng tạo riêng  Cuối tháng 11 vừa qua, có 23 đội đến từ hơn 10 trường phổ thông của Việt Nam tham gia cuộc thi Robot quốc tế Digital Youth Award với chủ đề “Quản lý rác thải đô thị” (Zero Waste). Các em học sinh tham gia sẽ phải điều khiển robot đi trên một sa bàn và thực hiện các nhiệm vụ tượng trưng cho việc thu gom và xử lý rác thải. Trong đó, những túi rác thải được thể hiện bằng các khối lập phương khuyết một mặt và một trong những nhiệm vụ đưa ra là người tham gia phải lập trình sao cho robot tự động đến đúng vị trí, bằng một động tác xoay mô-tơ nhanh gọn có thể “ngoặc” vào đúng mặt khuyết của “khối rác” và vận chuyển tới các vị trí trong sa bàn. “Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy các em làm được như vậy,” anh Thế Trung nói. Nhưng, điều ngạc nhiên hơn là phần lớn các em học sinh thực hiện việc lập trình robot này mới chỉ học tiểu học, thậm chí có em đang học lớp Hai.  Những em học sinh này là thành viên của câu lạc bộ Robotics ở các trường do DTT tổ chức. Hiện nay, DTT triển khai chương trình của mình ở 18 trường Tiểu học tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Học sinh thực hành trên Robot Mindstorms NXT (do LEGO sản xuất) và lập trình bằng các động tác kéo và thả chuột trên một phần mềm có giao diện trực quan theo chương trình chuẩn của Đại học Carnegie Mellon. Mỗi CLB như vậy có khoảng 20 học sinh và cứ một nhóm ba em được phát một bộ Robot để thực hành gồm các module, hay chính là bộ các cảm biến, mô-tơ và các thanh lắp ráp.  Vào những buổi học robot đầu tiên, học sinh được hướng dẫn về chức năng và cách thức lắp các module qua slide hình ảnh cụ thể nên việc lắp ráp và lập trình theo hướng dẫn có sẵn không phải là khó khăn. Vấn đề của các em nằm ở kỹ năng cộng tác. “Ban đầu lộn xộn lắm!”, một giáo viên đang giảng tại CLB Robotics của DTT ở trường phổ thông, nói. Cách mà các giáo viên hướng dẫn học trò của mình làm việc nhóm, đó là cho từng em lần lượt làm các nhiệm vụ: lắp ráp, lập trình để từ đó nhóm tự quyết định xem ai làm gì tốt nhất và có sự phân công hợp lý.  Điều thú vị trong chương trình giáo dục này đó là không có robot của nhóm nào là tốt nhất. Các em phải liên tục cải tiến robot của mình và các công trình phụ trợ xung quanh robot để có thể thực hiện các bài tập một cách tối ưu. “Quá trình các em lập trình, chạy thử và lập trình lại chứng tỏ rằng chương trình các em viết không hề mang tính sao chép. Khi lập trình đi lập trình lại robot để thực hiện các nhiệm vụ/bài tập một cách chính xác cũng là lúc các em biến những kiến thức đã học thành của mình và có những sáng tạo riêng,” anh Thế Trung cho biết.   DTT quyết định triển khai giáo dục STEM từ năm 2010 và “đặt chân” vào khối Tiểu học đầu tiên, theo anh Nguyễn Thế Trung, là do muốn xã hội hóa giáo dục STEM thì phải khiến cho mọi người chú ý đến nó trước: “Cách đây bốn năm, khi tôi nói rằng một học sinh tiểu học lớp Ba có thể lập trình để robot thực hiện các nhiệm vụ phức tạp trên sa bàn trong vòng 30 giây, mọi người chẳng mấy tin dù đó là sự thực.”          Nếu chúng ta triển khai giáo dục STEM thành công thì ảnh hưởng của nó không chỉ dừng lại ở số lượng học sinh được học STEM. Một học sinh tiểu học giỏi STEM và thực làm ra sản phẩm sáng tạo (như Robot) sẽ kích thích các học sinh trung học và lớn hơn phải sáng tạo, sẽ yêu cầu phụ huynh phải quan tâm hơn, sẽ làm cho giáo viên phải trau dồi hơn về sáng tạo. Điều này sẽ tạo ra nguồn nhiên liệu thổi bùng ngọn lửa sáng tạo của một đất nước đang trong thời kỳ dân số trẻ. – Nguyến Thế Trung         Tự học STEM, tại sao không?  Để tổ chức các lớp học robot phục vụ giáo dục STEM cần một kinh phí không hề nhỏ: Mỗi một bộ robot đầy đủ của LEGO có giá từ 600-800 USD và chi phí bản quyền cho chương trình Robotics của Đại học Carnegie Mellon có thể lên tới hơn 20 triệu USD (cho tám nước Đông Nam Á với thời hạn năm năm). Mặc dù có thể được thực hành giáo dục STEM qua việc tạo ra những mô hình ảo trên máy vi tính với chi phí rất thấp  và tận dụng phòng tin học của các trường phổ thông nhưng điều đó không đủ. “Chúng ta đã làm chủ công nghệ phần mềm. Nếu muốn triển khai giáo dục STEM thành công thì nước ta cần phải làm chủ cả công nghệ phần cứng. Chúng ta phải tạo ra những công cụ giá rẻ hơn nhằm tạo điều kiện để các em học sinh có thể kiến tạo vật chất, trong đó có robot,” anh Thế Trung nói.   DTT đang nghiên cứu và phát triển công cụ đó – bộ module TUHOC (Tự học) được xây dựng dựa trên nền tảng Arduino, một nền tảng phần cứng nguồn mở của Ý có cộng đồng đông đảo nhất thế giới. Dự kiến, một bộ TUHOC cơ bản sẽ bao gồm các module: khối điều khiển trung tâm, đèn LED, nút bấm, loa, cảm biến nhiệt độ, cảm biến ánh sáng, cảm biến âm thanh, cảm biến hồng ngoại, cảm biến siêu âm. Những module này được thiết kế chắc chắn với kích cỡ đủ lớn và có chân để cắm vào cùng một bảng mạch. Nhờ đó, các học sinh có thể tìm hiểu và thiết kế các thiết bị thông minh một cách dễ dàng (khác với những bộ có sẵn với linh kiện rời rạc, kích thước nhỏ, đồng thời khối điều khiển và các module khác không nằm trên cùng một bảng mạch nên phải nối dây rất nhằng nhịt và phức tạp). Anh Nguyễn Thế Trung cho biết, mục tiêu của DTT là có thể đưa chương trình TUHOC vào khối Trung học cơ sở vì “đây là thời điểm các em hình thành tính cách và thói quen tư duy. Nếu bây giờ quen với việc thực hành sáng tạo thì rất lâu về sau các em cũng vẫn giữ được điều đó”.   Anh Đinh Sỹ Quảng, trưởng nhóm phát triển bộ Module TUHOC, cho biết, một chương trình hoàn chỉnh từ việc tìm hiểu các module trong bộ TUHOC đến việc thiết kế thành thạo các đồ vật thông minh tùy thích có thể kéo dài ba-bốn năm: các em sẽ học từ những kiến thức cơ bản về lập trình Arduino và các module trong TUHOC cho đến cách thiết kế hệ thống kết nối các module và cuối cùng là cách thức “đóng gói” hệ thống này để tạo ra một thiết bị hoàn chỉnh. Tuy nhiên, vì TUHOC được phát triển trên nền tảng nguồn mở nên học sinh không nhất thiết phải theo sát chương trình trong một thời gian dài như vậy. Trong một khóa học kéo dài hai-ba tháng, nếu nắm được những khái niệm cơ bản nhất về lập trình Arduino và các module, các em có thể tự tiếp tục tìm hiểu để có thể tạo ra những thiết bị thông minh dựa trên nguồn thông tin khổng lồ được cộng đồng người dùng Arduino trên toàn thế giới chia sẻ và quay trở lại đóng góp cho chương trình TUHOC bằng cách chia sẻ ý tưởng sáng tạo và sản phẩm của mình. “Xã hội hóa giáo dục STEM” vì thế được diễn ra một cách tự nhiên.   Trong tương lai, để có thể mang giáo dục STEM đến với gần 20 triệu học sinh, DTT hướng tới việc đào tạo các giáo viên trong các trường phổ thông và viết những bộ sách hướng dẫn và phát hành miễn phí trên cả nước. Anh Thế Trung cho rằng việc này “giống như đẩy một hòn đá tảng lên đỉnh núi. Tuy nhiên, nếu người đi đầu thành công thì ngày sẽ càng có nhiều người tham gia, niềm tin sẽ được tích cóp dần và hòn đá sẽ biến thành quả cầu tuyết, lớn dần lên và mạnh mẽ hơn khi lăn xuống”.            Gần 10.000 học sinh trên toàn quốc đang học chương trình STEM của DTTEduspec (công ty con của DTT). Chương trình này bao gồm STEM Robotics, STEM khoa học máy tính, STEM nghệ thuật số), trong đó có hơn 3.000 em đang theo học STEM Robotics. Sắp tới, nếu theo học chương trình Robotics dài hạn (kéo dài suốt một năm học), các em sẽ cấp được giấy chứng nhận của Đại học Carnegie Mellon. Đối với các khóa học này (mỗi tuần một buổi học kéo dài 90 phút), học phí là 360.000 đồng/tháng.       Hằng năm, DTT đều tổ chức các cuộc thi Robothon quốc gia (giữa 20 câu lạc bộ Robotics ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh) và lựa chọn các đội xuất sắc để tham gia cuộc thi quốc tế Digital Youth Award (DYA). Điều đáng nói là chi phí tham dự trong các cuộc thi này hoàn toàn xã hội hóa từ phía phụ huynh học sinh.      Hiện tại, DTT cử giáo viên của mình tới các CLB Robotics để giảng dạy. Tuy nhiên, sắp tới, DTT sẽ có hai giảng viên (được chứng nhận “master trainer” của Đại học Carnegie Mellon – CMU) tham gia đào tạo và cấp chứng chỉ giảng dạy STEM của CMU cho các giáo viên tại các trường phổ thông để họ tự triển khai tùy thuộc vào nhu cầu và điều kiện kinh tế khác nhau của từng trường.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục theo đối tượng và môi trường học tập      Vào những năm 2015- 2020 nhà trường phổ thông phải đón thế hệ học trò sinh ra khi kinh thành Thăng Long ngàn tuổi. Và thế hệ này khác biệt với thế hệ 8x, 9x hiện nay rất nhiều. Điều này là bình thường và có tính phổ biến ở tất cả các quốc gia. Có điều các nhà GD cần biết và tính đến sự thay đổi, khác biệt đó trong tất cả các hoạt động GD và trong suốt quá trình GD.  &#160;    Có thể thấy trong những năm gần đây, tình hình phát triển thể chất tâm -sinh lí của HS phổ thông Việt Nam đã có nhiều thay đổi, tuy chưa đạt chuẩn thế giới và chưa đồng đều ở các vùng miền khác nhau: “ Chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam đã khá hơn so với… mấy thập kỷ trước nhưng vẫn còn quá thấp so với yêu cầu. ở tuổi 15, các em gái cao trung bình 151 cm, trẻ trai 155,5cm; trong khi tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới là 161,8 và 169 cm (Trần Trọng Thuỷ. Các chỉ số cơ bản về sinh lí và tâm lý học sinh phổ thông. NXBGD 2006).   Trong một điều tra khác tại Việt Nam, các chuyên gia đã khảo sát gần 12.000 trẻ nông thôn ở khắp các vùng trong cả nước và 9.400 trẻ Hà Nội, tất cả ở trong lứa tuổi 0-15. Kết quả cho thấy, chiều cao và cân nặng luôn thấp hơn kích thước tiêu chuẩn mà Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị. Trẻ em Hà Nội cao lớn hơn hẳn trẻ nông thôn; tuổi càng lớn thì khoảng cách càng xa. Chẳng hạn, chiều cao trung bình của trẻ 5 tuổi Hà Nội hơn trẻ nông thôn 5 cm. Đến 15 tuổi, khoảng cách này là 15 cm.  Tình yêu trong học đường cũng là vấn đề cần chú ý đối với HS thời nay. Chuyên gia tâm lý Trần Hồng Hà, Trung tâm tư vấn Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, cho rằng, do được hưởng thụ cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, tâm sinh lý phát triển, tất yếu học trò có xu hướng biết yêu sớm. Tình trạng phim ảnh thiếu lành mạnh, bố, mẹ, thầy cô giáo không quan tâm đúng mức, giáo dục giới tính hạn chế, cũng làm gia tăng tình trạng “lạm phát yêu” trong học trò.”Kết quả khảo sát tại THPT Lê Hồng Phong, THPT Hàn Thuyên, Trung học thực hành ĐHSP, TPHCM cho thấy 50% học trò của 3 trường này có tiêu chí chọn người yêu phải giàu có, 28% thừa nhận sẽ bỏ bê học hành nếu tình yêu không được chấp nhận, 24% đồng ý sống thử trước hôn nhân. Học trò ngày nay không còn yêu cảm tính, trong sáng theo kiểu “rung động đầu đời” nữa. Yếu tố vật chất, tình dục xuất hiện đáng báo động. Cứ theo đà này, tình yêu học đường sẽ bị Âu hóa hoàn toàn”.  Không chỉ tình yêu nam – nữ mà hiện nay đã xuất hiện hiện tượng đồng tính luyến ái khá phổ biến. Theo nghiên cứu gần đây cũng của trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, khi khảo sát 300 HS ở 3 trường THCS và THPT tại thành phố, có tới 25% HS dự đoán rằng tỉ lệ đồng tính ở trường mình là hơn 10%. “Theo ước tính của thạc sĩ-bác sĩ Nguyễn Quốc Chinh, Phó giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP.HCM thì tỷ lệ đồng tính luyến ái trên thế giới vào khoảng từ 1-5% dân số. ở Việt Nam, nếu chỉ tính tỷ lệ 1% dân số đồng tính thì con số đã lên tới 80.000 người.”  Trong những năm tới, chúng tôi cho rằng, với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội như Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế -xã hội quốc gia đã nêu: “đến năm 2010, GDP cao gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000, đến năm 2020 cao gấp 4 lần so với năm 2000 và 8 lần so với năm 1990. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.050 – 1.100 USD, đến năm 2020 sẽ tăng từ 3,3 – 3,6 lần so với năm 2000” thì tình hình phát triển thể chất-tâm-sinh lí của HS sẽ được cải thiện nhiều và sẽ tạo nên sự khác biệt rất lớn. Sự khác biệt ấy có thể thấy ở một số nét chính sau đây:  Đó là những HS phát triển khá hài hoà và toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Về cơ bản vấn đề ăn và mặc không còn là sự trăn trở, thậm chí bị de dọa như trước. Ước mong “Ăn no, mặc ấm” về căn bản đã đạt được. Một bộ phận khá lớn HS, thanh, thiếu niên đã hướng tới mức sống “ăn ngon- mặc đẹp”, một bộ phận khác, chủ yếu ở các đô thị lớn, có điều kiện hơn, đã hướng tới mức “ ăn lạ, mặc mốt”… Do điều kiện vật chất trên nên sức khoẻ của HS cũng đã được cải thiện nhiều. Đại bộ phận phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao; ở những thành phố lớn hội chứng béo phì gia tăng. Do sự phát triển nhanh, đủ chất dinh dưỡng nên cơ thể sinh lí và tâm lí của HS cũng thay đổi. Tuổi dậy thì sớm hơn. Vấn đề tình yêu, tình dục trong nhà trường phổ thông, nhất là những năm cuối trung học cần được chú ý. Văn hoá nghe nhìn, các phương tiện thông tin liên lạc, giải trí trên mạng internet sẽ đa dạng, tiện nghi và hiện đại hơn nhiều. Việc học ở trường với SGK và bài giảng của thầy chỉ là một trong nhiều nguồn thông tin khác. Giáo viên nếu không được đào tạo sẽ lạc hậu hơn HS rất nhiều về thông tin và cập nhật thông tin; kĩ năng ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện nghe nhìn hiện đại. Quan niệm thẩm mĩ, sự nhận thức về cái thiện, cái cao cả, cái hài, cái bi, tính nhân đạo, lòng tin… có thể khác nhiều so với thế hệ 8x- 9x của thế kỉ XX.   Học sinh trong thời hiện đại đang thay đổi khác hẳn với học sinh thời trước. HS thời trước, quanh năm học bị giam trong bốn bức tường, ngồi yên nghe GV giảng, công cụ dạy và học chủ yếu là bảng đen, phấn trắng và mấy cuốn SGK… Học sinh thời đại số, thời mạng và @ quen làm nhiều việc một lúc, đồng thời nghe nhạc, nói điện thoại và dùng máy tính. Họ mang tính chất tự học và tự tìm hiểu vấn đề nhiều hơn. Học và chơi gammes trên máy tính thực tế trở thành một phần của việc giáo dục con người. Cũng như nhiều nước phát triển tình trạng HS ít đọc các tác phẩm cổ điển, ham mê các trò chơi điện tử trên mạng, thích bày tỏ quan niệm, thái độ, suy nghĩ trên diễn đàn mạng, trên các Blog. Kèm theo thế giới điện ảnh võ thuật, phim truyện chưởng, phim hành động, phim kinh dị, trò chơi cảm giác mạnh… xu hướng bạo lực trong học đường cũng cần được cảnh báo. Chính vì thế giáo dục công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) rất cần được coi trọng cả hai mặt (những lợi ích và những tác hại, nguy hiểm) đối với HS trong nhà trường phổ thông.  Bên cạnh sự thay đổi của đối tượng người học, cũng cần tính đến bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh, đang làm phẳng thế giới, tạo ra môi trường học tập khác hẳn truyền thống và ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp học tập của thế hệ HS thời hiện đại. Friedman trong “Thế giới phẳng” nhận xét: “Kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong một thế giới phẳng là khả năng “học ph­ương pháp học”- nghĩa là th­ường xuyên tiếp thu và học hỏi những ph­ương pháp mới để làm những công việc cũ hay những phương pháp mới để làm những công việc mới… Trong một thế giới như­ vậy không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học hỏi của bạn mới tạo ra giá trị riêng. Bởi những kiến thức bạn có ngày hôm nay sẽ trở nên lỗi thời nhanh hơn bạn t­ưởng nhiều”.   Môi trường học tập mới trong thế giới phẳng sẽ làm thay đổi khá nhiều quan niệm về năng lực và trí thông minh của HS. “Trong một thế giới phẳng, chỉ số thông minh (IQ- Intelligence Quotient) vẫn quan trọng, nhưng chỉ số hiếu học (CQ- Curiosity Quotient) và chỉ số đam mê ( PQ- Passion Quotient) còn quan trọng hơn. Có thể diễn đạt bằng ph­ương trình CQ + PQ > IQ: sự hiếu học cộng với lòng đam mê quan trọng hơn trí thông minh.   Về sinh học, chúng ta đều biết, bán cầu não trái điều khiển tư­ duy về trật tự, tuyến tính, logic và phân tích. Bán cầu não phải điều khiển cách biểu lộ cảm xúc và tư­ duy tổng hợp. Việc tập trung rèn luyện để phát huy sức mạnh của bán cầu não nào là rất quan trọng và liên quan đến mục tiêu dạy học. Trong bài báo nổi tiếng Một tư duy mới: sự chuyển đổi từ thời đại thông tin sang thời đại khái niệm, Daniel Pink viết:  “Mãi gần đây, bán cầu não trái vẫn còn chi phối khả năng thành công trong học tập, công việc hay kinh doanh. Ngày nay năng lực đó vẫn cần thiết, song không còn đủ nữa. Trong một thế giới bị đảo lộn bởi việc cho thuê làm bên ngoài, tràn ngập thông tin và đầy rẫy các sự lựa chọn, thì những khả năng quan trọng nhất gần với các đặc tính của bán cầu não phải hơn. Đó là khả năng cảm thụ nghệ thuật, biết cảm thông, có tầm nhìn rộng và khát vọng lớn.”  “Để thành công cần bổ sung khả năng suy t­ưởng cao và sự mẫn cảm cao. Nghĩa là tạo ra các vẻ đẹp thẩm mĩ và xúc cảm…” Daniel Pink rút ra kết luận.  Chúng tôi cho rằng những nhận xét và kết luận của Daniel Pink và Friedman đã nêu trên là rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc xác định mục tiêu và phương pháp giáo dục trong giai đoạn tới. Cụ thể là, nhà trường phổ thông trong giai đoạn tới không chỉ chú ý khả năng tư duy lo-gic, biện chứng… mà cần lưu ý hình thành “khả năng suy tưởng, sự mẫn cảm”, những “ vẻ đẹp thẩm mĩ và xúc cảm”. Trong thế giới hiện đại, điều này còn quan trọng hơn cả tư duy phân tích- logic.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giáo dục toàn diện”: Một khao khát khôn nguôi      Dù đồng tình hay phản đối, ý tưởng về một  nền giáo dục toàn diện, thống nhất, bao quát vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm  đến ngày nay, và không thể quên kẻ khai sinh ra nó: thuyết duy tâm Đức  sau Kant.     “Người Anh yêu tự do như yêu vợ; người Pháp yêu tự do như yêu người tình, còn người Đức yêu tự do như yêu… bà ngoại!”. Nhận xét hài hước ấy của thi sĩ Đức Heirich Heine (1828) phản ánh đúng tâm thế của thời đại trước, trong và sau Đại Cách mạng Pháp. Người Anh thụ hưởng nền dân chủ tự do như khí trời, như cơm bữa. Người Pháp cuồng nhiệt đòi tự do dưới ách chuyên chế, sẵn sàng cầm lấy súng gươm giành quyền sống cho mình. Nước Đức, quê hương của “thi sĩ và triết gia” vừa say mê cuộc cách mạng hùng tráng của nước Pháp lân bang, vừa kinh hoàng và e ngại trước sự hỗn loạn hậu cách mạng và sự chém giết bạo tàn và vô nghĩa của những thế lực cực đoan nhân danh cách mạng, đẩy Napoléon lên cầm quyền chuyên chế từ 1799. Nước Đức lại sớm trở thành nạn nhân của Napoléon và hầu như mất hết tất cả sau khi thất trận năm 1807 với hòa ước Tilsit và bị áp đặt những điều khoản bồi thường chiến tranh nghiệt ngã, tương đương mười sáu lần thu nhập thường niên. Đất nước tan nát, dân chúng nghèo kiệt, đồng ruộng bỏ hoang.  Người Đức, trong hoàn cảnh ấy, thấm thía hai điều: – cần thay đổi thế giới (như tấm gương nước Pháp) nhưng không phải thay đổi một cách “phi lý tính” bằng bạo lực mông muội và không kiểm soát được; – những cải cách, đổi mới mang tính tiến bộ của Napoléon (ảnh hưởng đến toàn châu Âu) cần được tiếp thu, nhưng không thể trả giá bằng việc đánh mất sự cố kết dân tộc, tình đoàn kết và sự an ninh. Nếu “tình yêu bà ngoại” gợi nên sự ấm cúng, an toàn, nhưng không đủ độ nóng bỏng để đẩy con người xuống đường, lập chiến lũy, làm cách mạng bạo lực thì giải pháp còn lại là làm… cách mạng tinh thần, bằng giáo dục, đào tạo. Việc các triết gia Đức thời kỳ này được mệnh danh là “những nhà cách mạng Pháp trong lĩnh vực tinh thần” còn do một yêu cầu thực tế: phải “cứu nước” trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Wilhelm von Humboldt (1767-1835), người giữ trọng trách cải tổ giáo dục và là cha đẻ của đại học hiện đại mang tên ông, kêu gọi sự ủng hộ của thủ tướng Hardenberg: “Khi đất nước không may rơi vào tình cảnh rất khác xưa, thì càng cần thiết phải thu hút sự chú ý vào một việc và làm nổi bật một phương diện. Nước Đức từng khuyến khích sự khai minh và khoa học (từ thời Leibniz thế kỳ 17), nay càng cần tăng cường điều ấy để tranh thủ thiện cảm của nước ngoài, và, bằng một cách vô hại về chính trị, đạt cho được một sức mạnh tinh thần ở nước Đức, vì sức mạnh ấy sẽ hết sức quan trọng về nhiều mặt trong tương lai”. Nói khác đi, nước Đức phải giương cao ngọn cờ giáo dục và khoa học, phải cường tráng về tinh thần để được lân bang kính nể sau khi chịu bại trận. Mất hết sức mạnh đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để xây dựng sức mạnh từ bên trong! Dù chịu nhiều trở ngại, khó khăn do các thế lực bảo thủ gây ra, chiến lược “cứu nước” của Humboldt đã thành công mỹ mãn, và nước Đức đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất và giàu sức sáng tạo nhất về giáo dục, khoa học, công nghệ suốt thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, tạo cơ sở vững vàng cho nước Đức thống nhất ngày nay.  NHẤT THỂ VÀ TOÀN THỂ  “Nhất thể” và “toàn thể” là tiêu ngữ hay ý niệm dẫn đạo cho tư duy giáo dục thời kỳ này. Dù đồng tình hay phản đối, ý tưởng về một nền giáo dục toàn diện, thống nhất, bao quát vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến ngày nay, và không thể quên kẻ khai sinh ra nó: thuyết duy tâm Đức sau Kant. Mọi lời “lên án” nó là độc đoán, viễn mơ, xa rời thực tế phần lớn bắt nguồn từ những ngộ nhận đáng tiếc. Tuy nhiên, góp phần không nhỏ vào sự ngộ nhận ấy lại chính là do sự phức tạp, trừu tượng và khó hiểu cao độ lẫn không ít những chỗ cực đoan, mâu thuẫn của nền triết học đặc thù này. Trong khuôn khổ giới hạn và phổ thông của Câu chuyện giáo dục, chúng ta chỉ có thể đề cập sơ qua hai chủ đề gắn bó với nhau như hai mặt của một đồng tiền. Trước hết, về tính nhất thể và toàn thể như là động lực và mục tiêu của giáo dục. Và thứ hai là về bản thân khái niệm “giáo dục” hết sức độc đáo và sâu sắc của thuyết duy tâm Đức. Thật thế, hiếm có khái niệm nào trong lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội lại gây nhiều thắc mắc và âm vang như khái niệm “Bildung” trong tiếng Đức, hầu như không thể dịch trọn nghĩa sang tiếng nước ngoài. Từ “education” quen thuộc trong tiếng Anh không phản ánh được nội dung của nó; từ “liberal education” không tát cạn được nội hàm của nó. Từ “formation” có phần sát hợp hơn nhưng vẫn chỉ nói lên được một phương diện. Như ta sẽ thấy “Bildung” (tạm dịch là “đào luyện”) sở dĩ khó dịch vì nó gắn liền với tư duy về tính nhất thể và toàn thể của tinh thần, và ta không thể hiểu được nếu không chia sẻ niềm khao khát khôn nguôi của cả trào lưu duy tâm Đức thế kỷ 18 và 19.  “DUY TÂM ĐỨC”: MỘT TƯ DUY ĐẦY MÃNH LỰC  “Thuyết Duy tâm Đức” là trào lưu triết học chiếm đỉnh cao suốt 60 năm từ 1770 ( hay có thể từ 1781 với sự ra đời tác phẩm bất hủ “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant) đến 1830 (khi Hegel qua đời) và có thể nói là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử triết học tây phương. Trong lĩnh vực văn học, toàn bộ các thời kỳ nổi tiếng như “Bão táp và Xung kích”, chủ nghĩa cổ điển” và “chủ nghĩa lãng mạn” cũng thường được xếp chung vào “Duy tâm Đức”. Nói thật ngắn gọn, “thuyết duy tâm” hay đúng hơn “thuyết ý niệm”, như tên gọi của nó từ thời cổ đại, quan tâm đến những hình thức đời sống “cao hơn”, trong đó, thế giới “đích thực” được nắm bắt chủ yếu về mặt “ý niệm”, ưu tiên cho thái độ sống “đẹp” (thẩm mỹ), và, bên cạnh đời sống thường ngày, nỗ lực vươn lên chất lượng sống mang tính tinh thần cao hơn.  Trong số những khuôn mặt chủ yếu của thuyết duy tâm Đức phải kể đến Kant và các triết gia sau Kant: Johann Gottlieb Fichte (1762-1814), người công tác với W. Humboldt trong đề án cải cách giáo dục, Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775-1854), Georg Wilhelm Friederich Hegel (1770-1831) và cả thi sĩ Fridrich Hölderlin (1770-1843). Tất cả họ, mỗi người theo cách riêng của mình, đều ra sức “xử lý” di sản khổng lồ do tiền bối I. Kant để lại: dù ngưỡng mộ hay được kích thích, gợi hứng, họ tìm cách “hoàn thiện” hoặc “vượt qua” Kant, với cao vọng không mấy khiêm tốn và thận trọng! Rồi bản thân mỗi người cũng tìm càch “vượt qua” người đi trước, với vô số những giải pháp khác nhau, tạo nên quang cảnh sinh động và náo nhiệt chưa từng có trong đời sống tư tưởng trước nay, mang lại cho tư duy triết học nói chung và tư duy triết học giáo dục nói riêng những ý tưởng và đường hướng được xem là sâu sắc nhất và cũng gây tranh cãi nhiều nhất. Tinh thần Hiện đại về văn hóa quả thật đã được khai sinh trong diễn ngôn “khai minh” và “lãng mạn” này, khi nó mạnh mẽ khẳng định và bảo vệ sự “tự do chủ quan” của con người “hiện đại”.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 27, 31.07.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục toán học: Cần định hình lại ?      Nếu chúng ta muốn làm cho học sinh yêu thích toán, chúng ta cần tìm cách khiến các em say mê với nó bằng cách làm cho nó trở nên thú vị.      Một tiết học toán của học sinh tiểu học.   Lý do lớn nhất khiến tôi muốn trở thành nhà toán học là bởi trong mọi lĩnh vực, khái niệm về sự chắc chắn không rõ ràng như trong toán học. Lúc đầu, tôi còn muốn trở thành họa sĩ nhưng sau một thời gian, những tranh cãi về khái niệm xuất sắc và tầm thường trong hội họa đã thay đổi suy nghĩ của tôi. Tôi cũng từng quan tâm đến triết học nhưng một lần nữa, tôi thấy các khái niệm trong triết học quá mơ hồ, khó đánh giá và phải mất nhiều năm để chứng minh chúng đúng hay sai. Tôi cảm thấy thậm chí không rõ triết học nói về điều gì.   Sự chắc chắn của toán học giúp ta hiểu và khám phá cuộc sống, vũ trụ và các quy tắc của nó. Nói cách khác, trong toán học, thay vì tìm hiểu điều gì là đúng, bạn tìm hiểu lý do gì khiến nó đúng. Không gì sâu sắc hay minh triết hơn toán học để giúp chúng ta hiều logic đằng sau sự sáng tạo của bản thân mình cũng như của vũ trụ.  Học toán bởi yêu thích toán  Để trở thành một nhà toán học chuyên nghiệp, người ta cần phải thích toán. Bởi vì, định nghĩa của tính chuyên nghiệp là cá nhân cống hiến hết mình cho công việc. Là con người, chúng ta có khuynh hướng quên đi chính mình. Ví dụ, nếu một người bình thường cố gắng chạy 40 km, cơ bắp của anh ta sẽ rời rã. Nhưng Haile Gebrselassie, vận động viên marathon giỏi nhất chẳng hạn, có thể chạy 40 km vì anh ta rất thích chạy bộ và quan trọng hơn, anh ta có thể tận hưởng niềm vui trong từng bước chạy. Nói cách khác, trong cuộc đua marathon, anh ta quên đi mọi thứ khác. Là một giáo viên toán, trung bình tôi dạy 6 giờ một ngày và tôi không cảm thấy mệt mỏi khi dạy vì tôi thích dạy. Một ví dụ tương tự là đọc sách, thỉnh thoảng khi ta về nhà và chọn một cuốn tiểu thuyết thú vị, ta cảm thấy muốn đọc nó cả đêm không rời mắt, vì ta bị cuốn hút và lạc vào câu chuyện.  Trước hết, là nhà giáo dục, chúng ta cần biết rõ về toán học, bởi vì chúng ta không thể dạy những gì chúng ta không biết. Ai cũng sợ những điều chưa biết. Không nên để học sinh cảm thấy thời gian giải toán hoặc học toán dài dằng dẵng. Tất cả những gì chúng ta cần làm là giải thích toán học theo cách của nó: ở dạng tự nhiên. Nếu chúng ta diễn giải toán học ở dạng thuần khiết nhất, học sinh nào cũng sẽ thích nó. Vì cảm xúc của con người được lấy từ thiên nhiên, mọi thứ mà nhân loại đã suy ngẫm trong một thời gian dài đều trở nên đẹp đẽ. Toán học hấp dẫn bởi vì hàng ngàn người thông minh đã suy nghĩ về cách dạy toán như nó đã được 5.000 năm. Nếu chúng ta đã dành thời gian cho một cái gì đó trong hơn 5.000 năm thì nó không thể xấu hoặc không thú vị. Tất nhiên, điều này đúng cả với triết học, nghệ thuật và lịch sử.  Suy nghĩ là một nỗ lực thú vị. Ví dụ, một đứa trẻ giải được Sudoku sẽ vui. Khi độ khó tăng lên Sudoku trở nên thú vị hơn và đứa trẻ không sợ điều đó. Bởi vì đứa trẻ đó quan tâm đến nó và biết rằng không có hại gì khi giải Sudoku, nhưng thông thường, cũng đứa trẻ đó không thể có niềm vui trong toán học. Tôi nghĩ lý do lớn nhất cho điều này là nỗi sợ mất mát hoặc thất bại. Kém môn toán đã làm khổ rất nhiều người nhưng nỗi sợ ngấm sâu vào học sinh rằng các em sẽ mất tương lai nếu thất bại trong môn toán là một trở ngại lớn cho chính môn học này. Thật không may, hầu hết các hệ thống giáo dục trên thế giới không chấp nhận những thất bại trong học toán. Tệ hơn nữa, nỗi sợ hãi của một học sinh về một tương lai đen tối khi thất bại ở môn toán biến môn học này thành một cơn ác mộng.  Hình dung, trước khi dạy bất cứ điều gì về toán chúng ta nói với một học sinh “sẽ có một bài kiểm tra và nếu bạn thi trượt, cuộc sống của bạn sẽ bị hủy hoại mãi mãi”, và sau đó chúng ta hy vọng học sinh ấy sẽ thành công.  Những hạn chế của hệ thống giáo dục tập trung  Chúng ta vẫn biết rằng, đôi khi, hàng triệu sinh viên thi cùng một lúc. Điều này là hệ quả của cái gọi là hệ thống giáo dục tập trung hay nói cách khác, một hệ thống giáo dục có hàng triệu học sinh học những điều tương tự nhau và được kiểm tra cùng một lúc. Nó cũng có thể được định nghĩa là một hệ thống giáo dục mà học sinh học cùng một cuốn sách, cùng một chương trình giảng dạy, cùng một phương pháp, trong các tòa nhà rất giống nhau, từ các giáo viên xuất thân từ cùng hệ thống giáo dục. Thậm chí ngày lễ của trẻ em cũng giống nhau! Ở một đất nước như Phần Lan, hệ thống giáo dục trung tâm hoạt động rất tốt vì không có nhiều học sinh và tất cả họ đều tóc vàng, cao và họ nói tiếng Anh. Cấu trúc có sự đồng nhất. Tuy nhiên, ở những khu vực có dân số dày đặc, như Thổ Nhĩ Kỳ hay Hoa Kỳ, không có cấu trúc đồng nhất. Có những sinh viên giàu có và những sinh viên nghèo, cũng có những sinh viên lớn lên ở các thị trấn và những người lớn lên ở vùng đô thị. Đương nhiên, nhu cầu, văn hóa và năng lực của sinh viên rất khác nhau. Cố gắng dạy toán cho trẻ em thông qua một hệ thống giáo dục trung tâm không phải là lựa chọn khôn ngoan.      Trong toán học, thay vì tìm hiểu điều gì là đúng, bạn tìm hiểu lý do gì khiến nó đúng. Nếu bạn đang cố gắng để hiểu logic cho sáng tạo của bạn và vũ trụ, không có gì có thể sâu sắc hơn hay triết lý hơn nó.      Cho mọi người cùng một nền giáo dục không có nghĩa là cho những cơ hội bình đẳng. Các trường học của chúng ta về hình thức giống như nhà tù, không có tự do cho học sinh. Nơi nào không có tự do, sẽ không có sự sáng tạo.  Chúng ta, với tư cách là những nhà giáo dục, nên thực hiện các bước để xây dựng trường chất lượng tốt hơn càng nhiều càng tốt. Nhưng trước tiên, chúng ta phải nhận ra (các) vấn đề. Chỉ đến khi chúng ta nhận ra vấn đề; thì mới làm được gì đó để sửa chữa chúng. Các trường mới xây dựng phải hoàn toàn độc lập với hệ thống giáo dục cũ và vẫn cung cấp giáo dục chất lượng cao. Tuy nhiên, rất khó để đạt được điều này bởi vì sẽ có những rào cản do sự quan liêu từ nhà nước. Thật không may, thông thường nhà nước muốn tất cả mọi người làm những điều giống nhau và đánh giá học sinh thông qua các kỳ thi chuẩn hóa trong khi nhà nước cần phải cởi mở với những ý tưởng của các cá nhân sáng tạo. Ngay cả khi một kế hoạch thất bại, nhà nước cũng cần biết chấp nhận, vì dự án có thể là một trong nhiều công việc không thành công, nhưng nếu nó thành công, nó sẽ tạo ra sự khác biệt lớn. Ví dụ, nếu một viện toán học đào tạo 20 sinh viên giỏi mỗi năm và làm điều đó trong 30 năm, nó sẽ tạo ra 600 nhà toán học giỏi. Nếu chúng ta cho rằng 600 nhà toán học cũng có sinh viên, thì nghĩa là nó đã tạo ra một vài ngàn nhà toán học giỏi, đó sẽ là một kế hoạch lý tưởng để biến thế giới thành một nơi đẹp hơn. Cái gọi là nhà nước phải cho phép những người trẻ tuổi được giáo dục theo những cách khác nhau.  Tìm vẻ đẹp trong toán học  Toán học tự nó là một môn học khó. Trước hết, cần phải phân biệt điều này: bạn không thể học toán, bạn cần hiểu nó. So sánh một cách đơn giản, hiểu toán học cũng giống như xây dựng một kim tự tháp. Nếu chúng ta muốn tạo ra một kiệt tác, chúng ta phải xây dựng từng lớp một cách vững chắc. Không có lớp thứ nhất, lớp thứ hai của kim tự tháp không thể xây được. Xây dựng kim tự tháp cũng không thể bắt đầu từ đỉnh, điều này làm cho toán học trở nên khó, và đó là sự khác biệt của toán học với các môn học khác. Ví dụ, nếu bạn có một bài kiểm tra cuối kỳ môn lịch sử và bài kiểm tra là về Thế chiến II, không cần biết về lịch sử thời cổ đại, hay nhớ lịch sử nhân loại, bạn vẫn có thể tìm hiểu về lịch sử của Thế chiến II và nhận được điểm số đủ để đỗ. Nhưng với môn toán, không làm thế được. Một học sinh phải nhớ nội dung toán học mà anh ta học hàng năm, không biết Đại số I, bạn không thể hiểu một môn học nặng như Đại số II hoặc Giải tích. Không thể học lượng giác mà không học khái niệm Pi. Nền tảng toán học phải rất vững chắc. Lấy ví dụ đơn giản hơn, bạn cần biết căn hai cộng với căn ba là gì trước khi bạn có thể giải quyết nó. Nếu tôi viết một định lý bằng tiếng Hungary về những dòng này ngay bây giờ, bạn sẽ tự hỏi, mình đọc cái quái gì vậy? Để hiểu, bạn cần biết ngôn ngữ trước. Để đề cập đến một biểu thức, để chứng minh nó, trước tiên bạn cần biết ý nghĩa của biểu thức đó. Vũ trụ toán học là một ngôn ngữ tượng trưng để hiểu thế giới, sự tồn tại và chuyển động. Toán học không được tạo ra cho để chúng ta thấy bớt buồn tẻ.  Là một nhà toán học cũng là một việc khó vì người ta phải dành khá nhiều năm trong cuộc đời để trở thành một nhà toán học thực thụ.  Những người cho rằng việc này dễ đang lừa bạn. Bạn có thể đã nghe nói về các nhà toán học dành cả cuộc đời của họ để giải quyết một vấn đề duy nhất, khi một hành trình toán học kết thúc, người ta tận hưởng niềm vui từ nó. Không gì có thể so được với niềm vui này. Nếu một người kiên trì điều gì đó trong nhiều năm, cuộc đời chắc chắn sẽ thưởng cho anh ta. Không ai có được niềm vui từ những câu đố được giải trong 5 đến 10 phút. Người vật lộn với câu đố khó khăn, cố gắng một cách nghiêm túc, làm việc nhiều ngày với câu đố, sẽ có được niềm vui thực sự khi anh ta hoàn thành nó. Ví dụ, nhân hai số có 5 chữ số sẽ không giúp được ai. Bởi vì hầu hết mọi người đều biết cách nhân hai số có 5 chữ số và khi họ làm như vậy, họ không có xu hướng đạt được niềm vui từ nó. Vì vậy, ngay cả thuộc bảng cửu chương cũng không quan trọng lắm. Nếu một người không thuộc bảng cửu chương, cùng lắm anh ta sẽ không làm kế toán giỏi.  Tuy nhiên, người thành công yêu thích thách thức và họ muốn vượt qua chính mình bằng cách hoàn thành một việc gì đó, đóng góp cho nhân loại, đạt thêm một thành tựu.  Khi tôi 15 tuổi, tôi đã yêu một điều kỳ diệu toán học gọi là phương pháp quy nạp. Tôi thích nó từ trước, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ yêu nó nhiều như vậy. Nếu một học sinh có mục đích trở thành một nhà toán học, nếu thích toán học hơn tất cả, học sinh đó nên đi sâu vào nó. Không thể học toán mà không yêu thích nó, và quan trọng hơn, không thể học nó một cách cẩu thả.    Giáo viên cần tìm cách khiến các em say mê toán bằng cách để nó trở nên thú vị. Nguồn: Phys.org  Một người muốn trở thành một nhà toán học không thể bị giới hạn trong môi trường của mình. Đó là lý do tại sao một học sinh giỏi toán thường phải dành thời gian trong thư viện. Bên cạnh đó, tất cả các nhà toán học giỏi đều biết tiếng Anh tốt, bởi vì, trong thế giới khoa học, không có gì có thể xảy ra nếu không có kiến ​​thức về tiếng Anh và hầu hết thời gian, người đó thậm chí không được tôn trọng, nếu anh ta không biết tiếng Anh tốt. Để trở thành một nhà toán học giỏi cần tham khảo nhiều sách, nhưng ta không thể đọc sách toán như tiểu thuyết. Nói cách khác, bắt đầu từ trang đầu tiên và đọc từng trang có thể không phải là cách tốt nhất để học toán. Thông thường, người đọc bắt đầu ở giữa cuốn sách, sau đó quay lại từ đầu, nếu cần, anh ta đi tiếp và quay lại từ đầu một lần nữa, nếu cần. Ta không nên nhìn ngay vào chứng minh của định lý ta đang đọc. Nếu cần thiết, ta nên cố gắng tìm ra chứng minh của định lý. Khi học toán, người ta phải viết và luôn có sẵn giấy và bút chì và sẵn sàng sử dụng nhiều giấy, khi cần. Học sinh thậm chí không nên sử dụng những thứ không cần thiết như cục tẩy và thước kẻ. Các em không nên sợ phạm sai lầm, và nếu chỗ nào các em làm sai, thì chỉ nên gạch chúng đi. Ngoài những điều này, một học sinh giỏi toán nên tiếp cận những nền văn hóa khác. Anh ta nên nhìn thấy các loại giáo dục khác, các loại mối quan hệ khác của con người, biết những quan điểm khác.  Không cần thiết phải thông minh từ bé để giỏi toán. Nếu một học sinh muốn hiểu toán học, bạn ấy phải hướng tới việc tập trung suy nghĩ. Ngay cả một đứa trẻ tự kỷ hoặc hiếu động cũng có thể là một nhà toán học miễn là chúng có khả năng tập trung.  Thật không may, trong thế giới ngày nay, các xã hội đã thay đổi rất nhiều, và vì internet và truyền hình, hầu hết tất cả trẻ em đều gặp vấn đề với sự tập trung và chăm chú. Công nghệ là trở ngại lớn nhất hiện nay đối với học sinh để tập trung hoặc chăm chú. Học sinh thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố bên ngoài trong cuộc sống của họ. Họ theo dõi tin tức, nghe nhạc, vui chơi hoặc gửi cho nhau nhiều thứ hơn một vài lần mỗi ngày.  Tỷ lệ phần trăm sinh viên có thể chăm chú trong nửa giờ và tự hỏi, “tôi đang làm gì, tôi đang ở đâu, mục tiêu của tôi là gì, tại sao tôi ở đây, tôi nên làm gì hoặc nên nghĩ gì” là rất thấp. Trẻ em ngày nay không biết cách thể hiện bản thân vì chúng không biết cách hiểu và diễn giải những gì chúng đọc. Ở trường, các em không biết phải làm gì nếu bạn không hỏi các em câu hỏi nào.  Thời tôi còn đi học không có nhiều thứ khiến tôi quan tâm. Hầu hết thời gian, tôi thích xem các cuộc thảo luận của khách tới nhà vì tôi cố gắng hiểu ai đúng và ai sai. Vì vậy, khi còn nhỏ, tôi đã học được cách bảo vệ một ý nghĩ, thế nào là phản tư tưởng và cách bảo vệ nó.  Khi nào một người có thể ở một mình? Người đó có thể ở một mình trong khi đọc sách, chơi piano, trong khi cầu nguyện hoặc khi suy nghĩ. Toán học là một công cụ tuyệt vời để suy nghĩ. Là giáo viên, chúng ta cần tập trung vào điều này. Ví dụ, trong một bài giảng toán kéo dài trong một tiếng rưỡi, học sinh nên được thực hiện để suy nghĩ và giải trong khoảng một giờ. Đôi khi, sau một bài giảng dài 20 phút, tôi hỏi trẻ em một số câu hỏi trừu tượng và để chúng suy nghĩ về nó cho phần còn lại của bài giảng. Vào cuối bài học, khi tôi hỏi các em có thích bài học không, các em thường trả lời rất thích. Các em nhận ra rằng những gì chúng muốn là sử dụng tâm trí của mình để suy nghĩ và giải quyết. Tóm lại, nghe một bài giảng là công việc khó khăn nhất trên thế giới, nhưng suy nghĩ về nó dễ hơn nhiều.  Nếu các học sinh liên tục nhìn vào đồng hồ và cầu cho bài giảng kết thúc trong khi một giáo viên đang giảng dạy, giáo viên nên dừng lại. Là một người khó tính, họ có thể hỏi một câu hỏi hoặc một câu đố, hơi cao hơn so với trình độ học sinh của họ nhưng không thể giải được. Bằng cách này, các học sinh sẽ được khuyến khích suy nghĩ, hoặc đôi khi một giáo viên chỉ nên trò chuyện và chơi với học sinh của mình.  Toán học là cách tốt nhất để tư duy trừu tượng thích nghi với cuộc sống thực.  Khác với các kỹ sư, một nhà toán học thực thụ luôn tìm cách suy nghĩ trừu tượng và tới thời điểm phù hợp, có thể hướng mối quan tâm của học sinh đến toán học thông qua cách suy nghĩ trừu tượng như vậy. Một nhà toán học không nhất thiết lúc nào cũng phải xem xét từng vấn đề có ứng dụng thực tế hay không; đó là việc của các kỹ sư. Là một giáo viên, đôi khi tôi nói với học sinh rằng những vấn đề tôi yêu cầu không có ích gì với các em. Tuy nhiên, tôi cho các em thấy rằng phương pháp họ sẽ sử dụng để giải quyết vấn đề, sự hiểu biết sâu sắc của họ về vấn đề và sự kiên trì trong việc giải quyết vấn đề là chính bài học cuộc sống.  Không nên quên rằng nếu không có các ngành khoa học cơ bản như toán học thì không thể có sự phát triển công nghệ. Một kỹ sư có thể tạo ra một chiếc tủ lạnh làm lạnh nhanh hơn hoặc một chiếc xe chạy bằng năng lượng mặt trời, nhưng nó không phải là sự đổi mới công nghệ, đó là sự phát triển công nghệ. Nếu một kỹ sư có thể sạc điện thoại di động của mình không dây, thì đó là một sự đổi mới công nghệ và nó đòi hỏi các môn khoa học cơ bản, các kiến ​​thức toán học. Thật không may, nhiều trung tâm khoa học lớn nằm dưới quyền quản lý của các kỹ sư, và họ hiểu phát triển khoa học nghĩa là sự phát triển công nghệ. Trong một thời gian dài, mục đích duy nhất của rất nhiều kỹ sư là chế tạo ô tô điện.  Trong một học viện giáo dục, cần có các khoa như toán học, triết học và nghệ thuật. Thật không may, trong nhiều xã hội, những người làm việc trong các lĩnh vực này không được coi là chuyên gia.      Toán học là cách tốt nhất để tư duy trừu tượng thích nghi với cuộc sống thực.      Một nghề nghiệp dự kiến ​​sẽ sản xuất những thứ hữu hình. Chẳng hạn, thợ mộc làm cái ghế hoặc cái bàn. Nhưng, toán học, triết học và nghệ thuật là những hình thức tồn tại và suy nghĩ. Những khoa học cơ bản này không làm gì cả, nhưng chúng hữu ích cho mọi thứ. Tôi chưa hề gặp một người nói rằng anh ta sẽ học các môn toán hay triết học để và kiếm được nhiều tiền.  Mỗi người phải làm một cái gì đó trong cuộc sống. Đôi khi thật hữu ích khi phải vật lộn trong cuộc sống bởi vì khi bạn đang vật lộn, bạn cảm thấy, “tôi đang tồn tại!”. Không có gì mà người ta không thể hiểu trong thế giới này. Đôi khi có những thứ chúng ta không thể nắm bắt được, nhưng đó là vì chúng ta không suy nghĩ sâu sắc về nó. Chúng ta có thể không phải lúc nào cũng hiểu tất cả các mối quan hệ của con người hoặc quan hệ thương mại, nhưng chúng ta vẫn hiểu được toán học.  Toán học là một thứ hoàn toàn thuộc về tinh thần, nó trừu tượng, nhưng nó không phải là thứ mà mọi người tạo nên trong buồn chán. Toán học cũng có vẻ đẹp thẩm mỹ. Một cuộc sống trong đó cứ một trong ba số là số nguyên tố sẽ trở nên tồi tệ và buồn tẻ hơn nhiều. Toán học không chỉ là về con số. Trong toán học, A’s, B’s, X’s và Y’s tự nhiên hơn các con số. Toán học là khả năng nhìn thấy một vấn đề và hình thức hóa nó, trình bày nó trên giấy. Toán học không phải là nghệ thuật tìm kiếm sự thật, mà là nghệ thuật tìm ra lý do tại sao nó là sự thật. □  Phùng Hồ Hải dịch  Nguồn:  https://medium.com/however-mathematics/why-do-we-need-to-redefine-our-math-education-69aadd46d707  * Tác giả là một nhà toán học và giảng viên toán học.    Author                Ali Kayaspor        
__label__tiasang Giáo dục trẻ bằng đòn roi: ba câu hỏi      Ẩn chứa phía sau cuộc tranh luận có nên sử dụng đòn roi trong gia đình và nhà trường để giáo dục trẻ là sự xung đột giữa các giá trị văn hóa cũ và mới, Á và Âu. Cuộc tranh luận này diễn ra gay gắt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước châu Á. Các tranh luận thường tập trung vào việc ủng hộ hoặc phản đối mà không trả lời các câu hỏi mang tính cơ sở. Vì thế, xem xét việc có nên giáo dục trẻ bằng đòn roi hay không thông qua việc trả lời những câu hỏi này là một việc cần thiết.    1. Lấy quyền gì để đánh trẻ em?       Quyền đánh người?       Đánh người là một hành vi xấu, bị xã hội ngăn cấm bằng pháp luật. Điều này mọi người đều chấp nhận một cách hiển nhiên.       Một trong bốn nguyên tắc cơ bản trong Quy định về Quyền trẻ em của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) là không được sử dụng bạo lực đối với trẻ. UNICEF yêu cầu tất cả các quốc gia phải tuân thủ Quy định này, bất kể nguồn gốc chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, tình trạng bẩm sinh, v.v.       Nhưng ở Việt Nam, đánh trẻ em thì đôi khi lại được cổ súy để biện minh cho việc giáo dục trẻ. Vậy câu hỏi đặt ra là: Trẻ em có phải là người không? Có được đối xử bình đẳng như mọi người trong xã hội hay không?       Câu trả lời đến như một phản xạ tự nhiên: Trẻ em là người, và đương nhiên cần được đối xử công bằng, bình đẳng trong xã hội. Những người đang cầm cây roi trên tay chắc cũng sẽ trả lời như thế.       Nhưng vì sao ngọn roi vẫn vung lên, vì có thể họ nghĩ: Trẻ em là người, nhưng là người chưa là người trưởng thành. Vì thế phải vung roi để trẻ em trở thành người trưởng thành như họ.       Lập luận này quá đỗi phi lý. Vì bạo lực, dù ở bất cứ dạng nào, mức độ nào, cũng không bao giờ là cơ sở hình thành nhân cách đúng nghĩa của một con người. Khoa học đã chứng minh, phần lớn những tội phạm trong xã hội đều đã phải chịu những bạo lực trong thời niên thiếu, dưới dạng này hoặc dạng khác.       Bản thân sự vung roi của người lớn cũng là minh chứng của việc chưa trưởng thành về mặt nhân cách của họ. Rất có thể, ngay từ bé, họ cũng đã nhận được những ngọn roi như thế.       Vì thế, muốn cho trẻ trưởng thành, hãy tôn trọng trẻ trước hết. Cất cây roi đi và ngồi xuống nói chuyện cùng với trẻ.       Cần qui tắc hơn roi       Xã hội vận hành được không phải là nhờ những ngọn roi, mà nhờ những qui tắc. Nói theo ngôn ngữ của người lớn thì đó là nhờ luật pháp.       Với trẻ em, luật pháp tương đương với những bộ qui tắc ở nhà trường và gia đình. Nếu muốn trẻ em khi trưởng thành là một công dân biết tuân thủ luật pháp, thì trước hết phải đặt ra những bộ qui tắc đơn giản nhưng có tác dụng xác lập và điều chỉnh hành vi của trẻ. Đó là lý do vì sao mà ở các nước có nền giáo dục phát triển, trong nhà trường luôn có một bộ “qui tắc vàng”, dán ở mọi nơi để trẻ có thể nhìn thấy, tuân thủ và nhắc nhở nhau cùng tuân thủ.        Thay vì những khẩu hiệu chung chung, khó hiểu cho trẻ nhỏ như “Tiên học lễ, hậu học văn”, hãy soạn những bộ qui tắc cụ thể để trẻ tuân theo dễ dàng. Ví dụ như:       1. Không nói dối.       2. Muốn nói phải giơ tay.       3. Không lười biếng, không mất trật tự.       4. Không ngắt ngang khi người khác đang nói.       5. Lắng nghe sự hướng dẫn của thầy cô và người lớn.       6. Không nói tục chửi bậy, không bắt nạt bạn bè.       7. Tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi có yêu cầu.       Vì xuất hiện ở mọi nơi và được nhắc nhở thường xuyên nên trẻ hầu như thuộc lòng những qui tắc này.       Nếu trẻ nào vi phạm các qui tắc này sẽ bị thầy cô và bạn bè nhắc nhở riêng, hoặc trước lớp, hoặc nói chuyện riêng với hiệu trưởng. Nhưng không bao giờ có chuyện đánh trẻ ở những nơi này. Nếu trẻ được hướng dẫn tuân thủ những qui tắc rất thiết thực này từ bé, khi lớn lên sẽ có thói quen tuân thủ pháp luật một cách tự nhiên. Hành vi của trẻ cũng đạt đến những chuẩn mực văn minh cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, như: biết lắng nghe và trao đổi, biết tôn trọng sự riêng tư của người khác, có trách nhiệm với bản thân mình, v.v.       Vì thế, dạy trẻ tuân thủ những qui tắc cụ thể, làm nền tảng cho việc hình thành nhân cách và đạo đức của trẻ, quan trọng hơn việc vung roi để dạy trẻ với bất cứ lý do nào, nhất là khi sự vung roi thường xảy ra khi người lớn đã mất bình tĩnh.       Vì thế, trước khi vung roi, người lớn nên tự hỏi: Mình lấy quyền gì để đánh trẻ?    2. Có là công bằng,  dân chủ, văn minh?       Ẩn ức ấu thơ       Ngành phân tâm học đã chứng minh, những ẩn ức và tổn thương tâm lý từ thời ấu thơ, trong đó có ẩn ức và tổn thương vì bạo lực, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hành vi của trẻ khi đã trưởng thành.        Những tổn thương này không mất đi theo thời gian, mà ẩn vào tiềm thức, trực tiếp điều chỉnh hành vi của con người một cách vô thức. Đến khi có điều kiện, hoặc không thể kiềm chế, sẽ bùng phát dưới cả hai dạng vô tình hoặc có chủ ý.       Thực tế cho thấy, phần lớn trẻ hư hoặc tội phạm trong xã hội đều xuất thân từ những gia đình thích sử dụng bạo lực để dạy dỗ trẻ hoặc giải quyết mâu thuẫn, thay vì đối thoại một cách ôn hòa, bình đẳng.  Vì thế, khi những cây roi nhỏ còn vung lên ở trong nhà trường thì kết quả là những cây roi lớn hơn, đủ mọi chủng loại, cấp bậc, vung lên trong xã hội.       Xã hội khi đó trở thành bát nháo vì người dân có xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn và đòi hỏi quyền lợi cho mình, thay vì sử dụng luật pháp.        Công bằng, dân chủ, văn minh? Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mong ước, cũng là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam. Nhưng một xã hội như thế chỉ có thể đạt được khi mọi sự bắt đầu bằng sự tôn trọng.       Muốn trẻ sau này trở thành những công dân của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì người lớn phải hành xử một cách công bằng, dân chủ, văn minh với trẻ trước hết.       Nhưng việc vung roi không có bất cứ đặc điểm nào của công bằng, dân chủ, văn minh.      Vung roi với trẻ – những người không có khả năng và không dám chống đỡ – là không công bằng.       Vung roi thay vì đối thoại, thảo luận, phân tích, thuyết phục… là không dân chủ.       Vung roi là đánh người, là dùng bạo lực, những đặc trưng của một xã hội kém văn minh.       Khoa học đã chứng minh, sự hình thành tính cách trong thời thơ ấu quyết định toàn bộ tính cách sau này của một con người. Như thế, một trẻ có thể trở thành người công bằng, dân chủ văn minh hay không, khi ngay từ nhỏ, đã phải nhận những ngọn roi từ người lớn, thay vì trao đổi, đối thoại, thuyết phục, phân tích và cảm thông?       Điều kì lạ là một số người lớn, miệng thì hô hào xây dựng “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhưng tay thì vung roi thường xuyên. Như vậy liệu mục tiêu này có đạt được?       Xã hội chịu hậu quả       Cách giáo dục phản giáo dục như thế sẽ để lại hậu quả nặng nề cho xã hội.        Thay vì tuân theo qui tắc, pháp luật, người ta vung roi với nhau bằng cách này hay cách khác, để giải quyết mâu thuẫn, để bảo vệ lợi ích của mình, thậm chí để giáo dục người khác. Ngọn roi từ trong gia đình và nhà trường đã tìm cách lan ra ngoài xã hội và biến tướng thành đủ loại khác nhau.        Ngọn roi không chỉ còn đơn thuần là ngọn roi tre, roi mây giắt trên mái nhà hay thước kẻ của các thầy cô giáo, mà đã chuyển thành những ngọn roi vô hình nhưng nghiệt ngã gấp bội so với những ngọn roi tre, roi mây nói trên.      Điều này dẫn đến một văn hóa “vung roi” bất cứ khi nào có thể giữa những người lớn, kể cả những bậc trí giả và quan chức, vì một lẽ , ngay từ bé tất cả đều được tiếp thu một văn hóa “vung roi” từ trong gia đình lẫn nhà trường.        Tệ hách dịch, quan liêu, cửa quyền cũng có nguồn gốc trực tiếp từ cách giáo dục bằng roi nói trên. Khi bố mẹ, thầy cô vung roi đối với trẻ thì không ít quan chức – trên thực tế thường tự cho mình là quan phụ mẫu thay vì đầy tớ –  “vung roi” với người dân cũng là một điều bình thường. Kẻ có quyền, có tiền thì khinh khi người nghèo khó, sẵn sàng bắt nạt, “vung roi” khi cần thiết. Dẫn đến đạo đức xã hội xuống cấp, luật pháp không được tôn trọng.        Vì thế, đã đến lúc cần phải chấm dứt kiểu giáo dục này để cùng xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, biết đối thoại và thượng tôn pháp luật.   3. Thắp sáng hay dập tắt? Quyền làm trẻ con       Không có ai không mắc sai phạm, kể cả những người cầm roi dạy trẻ. Với trẻ em, sự mắc những sai phạm đương nhiên phải xảy ra với tần suất nhiều hơn người lớn. Trẻ học và trưởng thành thông qua chính việc mắc phải, nhận ra và sửa chữa những sai lầm đó.       Việc của người lớn là giúp trẻ nhận ra và tìm cách sửa chữa những sai lầm chứ không phải trừng phạt trẻ. Trừng phạt không giúp hiểu cặn kẽ căn nguyên của sai phạm, mà còn đẩy trẻ vào những phản kháng cực đoan và chịu những ẩn ức, tổn thương tâm lý không đáng có.       Bản chất của trẻ là tò mò, hiếu động, thậm chí nghịch ngợm, thích khám khá. Nếu không như thế thì không còn là trẻ con nữa. Người lớn vì thế cần tôn trọng bản chất này, không nên tìm cách áp đặt trẻ theo cách nghĩ, cách làm, cách suy xét vấn đề của mình.       Sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ được tiến hành thông qua chính tò mò, hiếu động, nghịch ngợm và phạm sai lầm này. Nhiệm vụ của người lớn là tạo môi trường an toàn cho trẻ thử-và-sai trong các hoạt động học, chơi, nghịch, khám phá…, và hướng dẫn trẻ vượt qua những sai lầm nhỏ để rút ra sự hiểu biết bổ ích.       Người lớn cần tôn trọng quyền làm trẻ con của trẻ. Đừng bắt trẻ sống với những nhận thức và qui chuẩn trước tuổi của mình. Đừng bắt trẻ thành người lớn quá sớm. Đừng đánh cắp tuổi thơ của trẻ.       Hãy cho trẻ được là chính mình: trẻ con.       Thắp sáng hay dập tắt?       “Giáo dục là thắp sáng một ngọn lửa, không phải đổ đầy một bát nước”. Vì thế, phải khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của trẻ, khơi sáng những đốm lửa trong tâm hồn trẻ.       Việc đó chỉ có thể thực hiện khi người lớn tôn trọng trẻ. Vì thế, một trong số bốn nguyên tắc cơ bản trong qui định về Quyền trẻ em của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc là: Tôn trọng quan điểm của trẻ.        Nhưng trên thực tế, những người cổ súy cho việc sử dụng đòn roi để giáo dục trẻ đã không làm được việc này. Bằng việc vung roi, họ đã trực tiếp dập tắt, chứ không thắp sáng những ngọn lửa.       Bằng việc nhồi nhét kiến thức và những quan niệm, qui chuẩn của mình, họ cố công đổ đầy một bát nước, chứ không phải là giáo dục trẻ.       Chính cách giáo dục này đã tạo ra nhiều thế hệ thụ động, chỉ thích được cầm tay chỉ việc, kể cả với những người đã tốt nghiệp đại học. Điều này trực tiếp làm giảm chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố quan trọng nhất trong công cuộc phát triển đất nước.       Cách giáo dục bằng sự áp đặt, cả bằng đòn roi và sự nhồi nhét kiến thức, quan niệm của người lớn đã hủy diệt tính tò mò, thích sáng tạo thiên bẩm của con người, dẫn đến tình trạng tôn vinh người học giỏi thay vì người sáng tạo. Thậm chí, nhiều trí thức được cho là lớn, cũng chỉ thích học lại và rao giảng lại kiến thức của người khác thay vì tìm cách tạo ra tri thức mới. Thói độc đoán, quan liêu, thiếu dân chủ, cửa quyền mà chúng ta phê phán hằng ngày cũng có nguồn gốc từ lối giáo dục áp đặt và trừng phạt này mà ra. Bệnh thành tích, thích chạy theo các chỉ tiêu, con số một cách duy ý chí cũng có nguyên nhân sâu xa từ văn hóa áp đặt, thiếu dân chủ, thiếu trao đổi mà mỗi người nhận được từ khi còn thơ ấu, cả trong gia đình lẫn nhà trường.       Vun mầm sáng tạo       Sáng tạo là phẩm chất quan trọng nhất để thành công hiện nay. Điều này không chỉ đúng với một cá nhân, mà còn đúng với cả một đất nước.       Giáo dục vì thế phải vun những mầm sáng tạo đối với trẻ thơ, thay vì áp đặt và những quan điểm, cách nghĩ, cách làm của mình.       Trừng phạt bằng đòn roi thay vì trao đổi, thảo luận là cách nhanh nhất để giết chết những mầm sáng tạo này. Việc làm này không chỉ trái với pháp luật mà còn gây tổn hại đến phẩm chất sáng tạo của nhiều thế hệ, vì thế cần phải loại bỏ.       Mở rộng ra cả xã hội, sự áp đặt, trừng phạt dưới bất cứ hình thức nào, bằng đòn roi vô hình hay hữu hình, với bất cứ đối tượng nào, một người lao động chân tay hay một trí thức, cũng đều gây ra những hậu quả tương tự.       Vì thế, thay vì reo rắc thói quen áp đặt và trừng phạt, đặc biệt là trừng phạt bằng đòn roi, ngay từ thời thơ ấu, hãy xây dựng một nếp giáo dục mới: dân chủ, bình đẳng, đối thoại và thấu hiểu.       Văn hóa áp đặt và trừng phạt phải được thay bằng văn hóa dân chủ. Việc làm này phải được tiến hành trước hết ở trong gia đình và nhà trường.        Chỉ có như thế, những mầm sáng tạo mới được vun đắp. Mọi cá nhân mới có khả năng phát triển tối đa năng lực của mình, làm cho cuộc sống của họ tự chủ và có ý nghĩa hơn, và đóng góp được nhiều hơn với công cuộc phát triển đất nước.       Thay lời kết        Trước khi vung roi để dạy trẻ, và trước khi thảo luận việc có nên dùng roi vọt để giáo dục trẻ hay không, mỗi người lớn hãy tự trả lời ba câu hỏi nêu trên trước hết. Nếu không, việc giáo dục trẻ cũng như việc ủng hộ hoặc phản đối một cách thức giáo dục nào đó sẽ rơi vào vòng quay của quán tính văn hóa. Điều này có thể dẫn đến những việc làm phản giáo dục, thậm chí phạm pháp và đi ngược lại những giá trị tiến bộ mà xã hội đang cố công xây dựng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục tri thức tổng quát      Truyền thống giáo dục theo tinh thần ở đó kiến thức tổng quát, sự hiểu biết và tôn trọng ý kiến của người khác được coi là điểm nhấn của toàn bộ sự phát triển cá nhân, có lẽ đã bắt đầu từ Hy lạp cổ đại và đến nay vẫn là một thành tố quan trọng của giáo dục đại học ở tất cả các quốc gia phát triển. Trong khi đó ở&#160; nhiều quốc gia đang phát triển, giáo dục tri thức tổng quát là một cái gì được coi là xa xỉ và không cần thiết. Điều đó được phản ánh trong&#160; chương trình của cả giáo dục phổ thông lẫn giáo dục đại học, nơi mà việc đào tạo nghề nghiệp thường được coi trọng hơn.    ở một số quốc gia đang phát triển, nhu cầu nhân lực gia tăng do công nghiệp hóa đã làm chương trình giáo dục quá tập trung vào việc dạy những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Từ đó dẫn đến tình trạng như nhận định của triết gia Nga, Irakly Areshidze (1999): “Sau khi được nhận vào trường đại học, trong năm năm tiếp theo sinh viên sẽ đeo đuổi một nền giáo dục tập trung vào việc đem lại cho họ những tri thức cụ thể và có giới hạn về một lãnh vực nghề nghiệp nào đó. Sinh viên sẽ học thuộc lòng thông tin trong sách giáo khoa và bài giảng của các giáo sư. Hiếm khi nào họ cảm thấy cần phải suy nghĩ một cách có phân tích, có phê phán và hiếm khi họ tiến hành thảo luận lớp hoặc viết bài.”  Chính sách tài trợ cũng tiếp tay cho việc tập trung vào đào tạo nghề nghiệp. Những tổ chức như Ngân hàng Thế giới  có truyền thống khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng như là trọng tâm của phát triển. Điều đó tất nhiên đòi hỏi phải có những công nhân lành nghề, những kỹ sư giỏi, những nhân viên, kế toán viên được trang bị đủ kiến thức chuyên môn… Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi hệ thống giáo dục đại học ở các quốc gia đang phát triển quá chú trọng đến những mục tiêu cụ thể trong việc tạo ra những người có thể sẵn sàng tham gia ngay vào thị trường lao động.  Một lý do quan trọng khác khiến các gia đình muốn gửi con em đến những trường đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, đó là cho dù học phí có được miễn thì chi phí về tiền ăn ở, tiền sách vở tài liệu phải chi trả cho con trong mấy năm học là rất lớn. Bởi vậy những khóa học nghiệp vụ thường được coi như cung cấp một cơ hội thu hồi vốn nhanh hơn và chắc chắn hơn so với một chương trình giáo dục tri thức tổng quát.  Nhu cầu về chương trình giáo dục tri thức tổng quát  Bằng cách dạy cho sinh viên how to think (cách suy nghĩ) hơn là what to think (nội dung suy nghĩ), how to learn (cách học) hơn là what to learn (nội dung học), chương trình giáo dục tri thức tổng quát tạo ra những người có thể thích nghi và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của một nền kinh tế và môi trường xã hội đang thay đổi nhanh chóng.        Bằng cách phổ biến kiến thức và khuyến khích tranh luận, sự mở rộng chương trình giáo dục tri thức tổng quát ra ngoài phạm vi của những nhóm người ưu tú sẽ dẫn tới một cộng đồng công dân gắn bó nhiều hơn với những vấn đề chung của xã hội và đất nước.        Trước hết là về kinh tế. Chương trình giáo dục tri thức tổng quát khuyến khích người ta đặt câu hỏi, thử thách cách nghĩ thông thường, và điều đó có thể là một chất xúc tác quan trọng cho việc gia tăng dòng chảy kinh tế. Hơn nữa, chương trình giáo dục tri thức tổng quát còn nâng cao những giá trị mà xã hội thừa nhận như những phẩm chất xứng đáng, đối lập với địa vị hoặc sự giàu có được thừa hưởng từ gia đình. Trong nhiều quốc gia đang phát triển, sự lạm quyền của những người cầm quyền trong việc ưu đãi công ăn việc làm và chức quyền cho bà con thân thuộc của mình có thể cản trở công cuộc phát triển kinh tế.  Hai là những nhân tố có liên quan đến việc hoạch định chính sách. Không làm gì có một công thức chuẩn cho mục tiêu phát triển, nhưng rất nhiều sự kiện thực tế đã cho thấy là trình độ cao về quản lý nhà nước và quản lý kinh tế vĩ mô, cùng với sự quan tâm thích đáng đến giáo dục và y tế, cũng như sự hội nhập với nền kinh tế thế giới bao giờ cũng là những nhân tố đắc dụng. Tất cả những công cụ này của việc phát triển – đôi khi chúng không chỉ là công cụ mà còn là mục đích, chẳng hạn như đối với giáo dục và y tế – đều đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng tổng quát cũng như chuyên ngành.  Ba là, tác động của giáo dục tri thức tổng quát trong việc tham gia chính trị. Các nhà lãnh đạo tài giỏi có thể đưa đất nước tiến lên, nhưng một cộng đồng công dân gồm những người nắm được đầy đủ thông tin và có mối liên hệ gắn bó với lợi ích chung của đất nước bao giờ cũng là một lực lượng đối trọng có tính chất xây dựng và hết sức cần thiết đối với quyền lực của các nhà lãnh đạo. Bằng cách phổ biến kiến thức và khuyến khích tranh luận, sự mở rộng chương trình giáo dục tri thức tổng quát ra ngoài phạm vi của những nhóm người ưu tú sẽ dẫn tới một cộng đồng công dân gắn bó nhiều hơn với những vấn đề chung của xã hội và đất nước.  Bốn là ảnh hưởng đối với sức mạnh cố kết của xã hội. Bằng cách đặt người học trước những quan điểm và những lĩnh vực chuyên biệt khác nhau, chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể giúp phát triển sự khoan dung và hiểu biết và hợp tác giữa người và người. Bằng cách mở rộng và đào sâu kiến thức về lịch sử, nghệ thuật và khoa học, nó khuyến khích niềm tự hào của chúng ta về nền văn hóa của chính mình cũng như khuyến khích sự tôn trọng những nền văn hóa khác.  Năm là chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể góp phần ngăn chặn khả năng chảy máu chất xám. Những người có cơ hội hưởng thụ một nền giáo dục chất lượng cao ở đất nước mình thì có nhiều khả năng là sẽ theo đuổi việc học tập trong nước thay vì phải chi phí tốn kém cho việc học tập ở nước ngoài. Điều này có thể mang lại một lợi thế bổ sung cho phụ nữ, những người không được gia đình sẵn lòng cho đi học ở nước ngoài. Tương tự như vậy, những người học ở nước ngoài sẽ có nhiều khả năng quay về nếu họ biết rằng họ có thể tìm được một môi trường làm việc thích hợp.     Chương trình giáo dục tri thức tổng quát  sẽ đào tạo những người:  1. Có thể suy nghĩ và sử dụng ngôn ngữ viết một cách rõ ràng, có hiệu quả, một cách có phê phán, có thể dùng ngôn ngữ để giao tiếp với sự sâu sắc và có sức mạnh thuyết phục.  2. Có một sự đánh giá có tính chất phê phán đối với cái cách mà chúng ta tiếp nhận kiến thức và sự hiểu biết về tự nhiên, về xã hội, và về bản thân chúng ta.  3. Có một kiến thức rộng rãi về các nền văn hóa và các thời đại, có khả năng quyết định trên cơ sở một thế giới quan rộng lớn và  sự hiểu biết về những sức mạnh lịch sử chi phối cuộc sống của chúng ta.  4. Có hiểu biết và từng trải trong việc suy nghĩ một cách hệ thống về những vấn đề đạo đức và lương tâm.  5  Đạt được chiều sâu trong một vài lĩnh vực nào đó của tri thức  Cuối cùng là vấn đề toàn cầu hóa. Chúng ta tin rằng giáo dục tri thức tổng quát thúc đẩy sự liên kết không chỉ trong phạm vi một xã hội mà còn giữa xã hội này và xã hội khác. Chẳng hạn như việc nghiên cứu về các tôn giáo trên thế giới có thể giúp người học thấy được mối quan hệ giữa các tôn giáo trong cùng một thời điểm cũng như có thể hiểu biết và đánh giá đúng sự khác biệt của các tôn giáo ấy. Văn học, lịch sử và ngôn ngữ có thể cho thấy ánh sáng quá khứ của một đất nước cũng như phản ánh cách nghĩ hiện tại của một dân tộc. Trong một thế giới ngày càng gia tăng nhiều mối liên hệ, sự cảm thông với những nền văn hóa khác có thể thúc đẩy những quan hệ hòa bình và tạo ra những quan hệ giao tiếp văn hóa cũng như quan hệ kinh doanh có hiệu quả.  Toàn cầu hóa khiến nhiều nền kinh tế có khả năng dịch chuyển tới những vùng đất mới. Đào tạo chuyên gia trong những lĩnh vực cụ thể, do đó nhanh chóng trở thành lỗi thời, và khi nghề nghiệp của mỗi người trở thành một cái gì luôn luôn biến đổi và đòi hỏi nhiều kỹ năng linh hoạt thì khả năng học tập mau lẹ những kỹ năng mới trở thành một yêu cầu bức thiết. Kiến thức trở thành ưu thế cạnh tranh đối với mỗi cá nhân cũng như đối với mỗi nền kinh tế, và những kỹ năng tổng quát được nền giáo dục tổng quát khuyến khích phát triển sẽ tạo ra thế cân bằng với sự tăng trưởng những giá trị liên quan tới những năng lực cụ thể.        Trong xu thế toàn cầu hóa, kiến thức trở thành ưu thế cạnh tranh đối với mỗi cá nhân cũng như đối với mỗi nền kinh tế, và những kỹ năng tổng quát được nền giáo dục tổng quát khuyến khích phát triển sẽ tạo ra thế cân bằng với sự tăng trưởng những giá trị liên quan tới những năng lực cụ thể.         Đi cùng với xu hướng hội nhập toàn cầu là những phương thức làm việc mới. Sự gia tăng số lượng kiến thức có nghĩa là, như Michael Gibbons (1998) nhận định, bất kể bạn đang ở đâu, hơn 99% kiến thức mà bạn cần đến đang nằm đâu đó ở một nơi nào khác. Bởi vậy những liên hệ mới phải được xây dựng thông qua các ngành kiến thức và thông qua văn hóa. Mạng liên kết các chuyên gia, nơi mà các cuộc tranh luận sôi sùng sục như chảo dầu nóng, là một nguồn tri thức không ngừng biến đổi thúc đẩy nền kinh tế tiến về phía trước. Cách nghĩ và cách làm việc như vậy là đặc điểm chủ yếu của chương trình giáo dục tri thức tổng quát, một chương trình giáo dục khuyến khích người học xây dựng những mối liên hệ thông qua các lĩnh vực kiến thức khác nhau và rút tỉa từ tư tưởng của người khác trong quá trình cùng làm việc để nâng cao trình độ và giải quyết vấn đề.  ***Chúng ta hiểu rằng mối liên hệ giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của xã hội được gán cho những nhân tố của giáo dục tổng quát trên đây là sự pha trộn giữa hy vọng và thực tế. Có thể còn nhiều cơ hội chưa được khám phá, và một nền giáo dục hoàn hảo tự nó không thể tránh khỏi tất cả mọi loại tác động không hay. Tuy vậy những nhân tố trên đây cũng đã phản ánh những khả năng và những gì đã xảy ra trong những xã hội khác nhau khi những xã hội này chuyển từ nghèo đói đến giàu mạnh.  (Xem tiếp kỳ sau: Phát triển nền giáo dục tổng quát)                                                  Ts.Phạm Thị Ly dịch    (Nguồn: Liberal Education, Winter 2003, Volume 89, Number 1)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục trong kỷ nguyên của bất định      Trước 2020, người ta đã nói không ít đến sự bất định. Nhưng phải đến khi thế giới trải qua những ngày ‘chưa từng thấy’, vượt xa mọi sự tưởng tượng do đại dịch COVID hoành hành, có lẽ sự hình dung về bất định mới trở nên rõ ràng hơn. Phong tỏa, cách ly, giãn cách xã hội dẫn tới sự đình trệ, ngừng hoạt động trên quy mô toàn cầu; chúng ta ngỡ ngàng trước những gì xảy ra, không biết liệu có thể trở lại trạng thái bình thường như trước và khi nào. Ý niệm về sự bất định trở nên hiển hiện, không còn mơ hồ. Câu hỏi lớn đặt ra đối với nhân loại, đặc biệt là với thế hệ trẻ, là chúng ta sẽ ứng xử thế nào, và chuẩn bị ra sao cho một thế giới càng ngày càng khó đoán trước.      Tranh của Foreignpolicy.  Bất định: Biết hay không biết?  Khi đối diện với những điều ‘bất định’, ta thường lo lắng, thậm chí có phần sợ hãi, hoang mang, nghi hoặc trong khi luôn khát khao dự đoán được những điều sẽ xảy ra. “Bất định”, theo nghĩa thông thường, là “không xác định được” hay “không xác định được trước”, mà như vậy hiển nhiên, sự bất định thời nào cũng có. Dẫu vậy, cái cách bất định được diễn giải, nhận thức có thể rất khác nhau, dẫn tới cách thức, thái độ phản ứng, ứng phó với bất định khác nhau. Quan trọng là bất định ở thời đại này cần và nên được hiểu như thế nào, và với tất cả những công cụ đương đại, chúng ta cần phải đối xử với bất định như thế nào.  Trong bài viết này, “bất định” được soi chiếu từ lăng kính khoa học qua liên hệ với các khái niệm khoa học: “Nguyên lý Bất định” (Uncertainty Principle) [4] nổi tiếng trong Vật lý Lượng tử của Heisenberg (1927) và “Độ bất định của phép đo1” (Uncertainty of Measurement) trong Đo lường học quốc tế [1].   Chúng ta đều đã biết, đo lường quốc tế đòi hỏi tính chính xác ngặt nghèo và tính khách quan dù đây là một quá trình “quan sát” mang tính chủ động của con người và là sản phẩm của quá trình phân tích các kết quả quan sát có logic (lý tính). Khoa học đo lường kỹ thuật hiện đại [1], đưa ra khái niệm “Độ bất định của phép đo (U)”2 (the uncertainty of the measurement) để “phản ánh sự hiểu biết không đầy đủ về giá trị của đối tượng đo” mà sự thiếu hiểu biết này đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan và chủ quan, như việc định nghĩa chưa đầy đủ về đối tượng đo, hạn chế của công cụ và phương pháp đo, hay các vấn đề thiên lệch cá nhân của người đo… Kết quả đo là thông tin về đối tượng được biểu diễn bằng một hàm phân bố xác suất. Chúng ta không thể đưa ra một giá trị đo cụ thể mà chỉ biết một khoảng giá trị với mật độ xác suất của mỗi giá trị. Độ bất định là một tham số bổ sung cho kết quả đo mà ta có thể ước lượng được độ lớn của nó, biết được các “nguồn” gây ra nó và tỉ lệ đóng góp của mỗi “nguồn” này vào độ bất định chung (GUM 1995). Điều này có nghĩa độ bất định là có thể kiểm soát được trong một phạm vi nhất định bằng cách tìm hiểu và kiểm soát các yếu tố gây ra bất định.        Thế giới đương đại càng ngày càng ẩn chứa đa liên kết phức tạp, ‘bất định’ cũng trở nên phức tạp bội phần.      Tuy nhiên có thể kiểm soát U được đến mức nào là một câu hỏi không dễ trả lời. Liệu U có thể tiệm cận về zero được không? Nguyên lý Bất định của Heisenberg trong Vật lý lượng tử hiện đại phát biểu rằng một cách khách quan luôn tồn tại các cặp đại lượng Vật lý (X, Y) đối ngẫu với nhau (ví dụ vị trí – động lượng của một hạt) của đối tượng mà tích hai phương sai khi đo đồng thời hai đại lượng này luôn luôn lớn hơn hoặc bằng một hằng số (hằng số Planck h = 6,635.10-34 Js). Ví dụ với (X, Y) = (x, p) là vị trí-động lượng của một hạt: σ_x.σ_p≥h. Nghĩa là càng cố gắng xác định chính xác đại lượng này (giảm độ bất định) thì sẽ phải trả giá bằng sự kém chính xác của đại lượng kia (độ bất định tăng lên).  Nguyên lý này gợi ý rằng bất kỳ một đối tượng đo nào cũng chứa đựng những thông tin mà không thể cùng lúc xác định giá trị chính xác. Điều này có nghĩa rằng, cho dù chúng ta có nỗ lực đến đâu đi chăng nữa để kiểm soát U cũng không thể loại trừ được U. Luôn luôn có những bất định mang tính khách quan mà chúng ta cần phải sẵn sàng đón nhận.   Như vậy, không phải chờ đến thế kỷ 21 mới có bất định, nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, thế giới đã trở nên ‘phẳng’ và ‘ảo’ với mạng Internet và các ứng dụng công nghệ truyền thông thông tin, các sự ‘bất định’ lan truyền với tốc độ chóng mặt và xảy ra trên quy mô lớn hơn. Đây là những thách thức chưa từng có, và cơ hội chỉ đến nếu chúng ta nắm vững và làm chủ tri thức. Chưa kể thế giới đương đại càng ngày càng ẩn chứa đa liên kết phức tạp, ‘bất định’ cũng trở nên phức tạp bội phần.  Hành trang cho những người trẻ  Hai năm qua, thế giới, không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển, đã và đang phải vật lộn để chống lại dịch bệnh. Đứng trước những quyết định sinh tồn cá nhân và cộng đồng như tiêm hay không tiêm vaccine phòng COVID-19, đeo hay không đeo khẩu trang, giãn cách hay không giãn cách vv., chúng ta, cả với tư cách cá nhân lẫn cộng đồng, lúng túng và chia rẽ. Đã có những trả giá, bằng tính mạng của hàng triệu người. Ở những thời điểm đỉnh điểm của đại dịch, mỗi ngày có hàng ngàn thông tin hỗn độn từ đủ các loại nguồn khác nhau với nhiều thuyết âm mưu lan truyền. Năm 2020, vài tháng sau khi COVID-19 bùng phát, đã xảy ra hàng loạt vụ phá cột phát sóng truyền thông ở Anh, Hà Lan, Bỉ, Ai-len… do một số người dân tin rằng virus lây lan qua mạng truyền thông không dây 5G [5]. Ở Việt Nam, trong lúc y học chưa có câu trả lời chính thức, rõ ràng, cụ thể về virus, cơ chế lây truyền hay các giải pháp y tế, đã xuất hiện nhiều ‘thầy lang’ chữa COVID-19 bằng mẹo vặt. Chúng ta cần gì để có thể tự vệ?  Cần mang theo những gì để chuẩn bị cho những sự ‘bất định’?  Hành trang ‘kiến thức’ của người trẻ  Đối với bất cứ ngành nào, kiến thức cốt lõi của ngành là đương nhiên. Tuy nhiên thế giới hiện đại cho thấy không thể chia tách các ngành, các lĩnh vực, mà chúng tồn tại ràng buộc, lệ thuộc, tương tác với nhau. Do vậy, bên cạnh kiến thức cốt lõi của ngành, còn cần phải nắm bắt được kiến thức của các ngành gần, các ngành liên quan. Giảm bớt sự chia tách là hạn chế bất định. Các vấn đề xã hội hiện đại đòi hỏi các giải pháp liên ngành, do vậy kiến thức liên ngành ngày càng trở nên quan trọng. Câu chuyện của giải pháp liên ngành đã được nhắc tới từ nhiều năm nay trở nên hiển hiện nhất trong đại dịch COVID-19. Trong lúc nước sôi lửa bỏng, chống dịch cấp quốc gia và trên toàn cầu là bài toán không thể giải chỉ bằng các mô hình dịch tễ hay các giải pháp y tế, mà còn đòi hỏi các tính toán về công bằng, an sinh xã hội, về tâm lý xã hội và cách tiếp cận cộng đồng.       Các vấn đề xã hội hiện đại đòi hỏi các giải pháp liên ngành, do vậy kiến thức liên ngành ngày càng trở nên quan trọng.      Ngoài kiến thức chuyên ngành, còn cần trang bị khối kiến thức chung mà bất cứ công dân nào của thế kỷ 21 cần phải có. Tổ chức ‘Partnership for 21st Century skills’3 gọi tắt là P21 đã khảo sát, xây dựng và ban hành Khung Kỹ năng thế kỷ 21 (Hình 1), trong đó nêu rõ khối kiến thức chung bao gồm các môn cốt lõi và các chủ đề liên ngành. Đây là sự bắt tay giữa các tổ chức giáo dục với khối doanh nghiệp để đặt ra các yêu cầu, tiêu chuẩn đối với nguồn nhân lực nhằm thu hẹp khoảng cách về kỹ năng, năng lực của sinh viên tốt nghiệp khi bước vào thị trường lao động.     Hình 1: Khung Kỹ năng thế kỷ 21.  Khối các môn học cốt lõi mà sinh viên trong thế kỷ 21 cần có là tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ toàn cầu (tiếng Anh), Nhân văn, Toán, Kinh tế, Khoa học, Địa lý, Lịch sử và Quản lý nhà nước – Trách nhiệm dân sự. Khối kiến thức chung liên ngành bao gồm: (i) Hiểu biết về các vấn đề toàn cầu (đa dạng văn hóa, tôn giáo, biến đổi khí hậu…), (ii) Hiểu biết về Tài chính, Kinh tế, Kinh doanh (vai trò của nền kinh tế, tài chính cá nhân…), (iii) Hiểu biết về vai trò và trách nhiệm dân sự (quyền công dân, nhân quyền, quan hệ nhà nước-công dân…), (iv) Hiểu biết về y tế và sức khỏe (các biện pháp bảo vệ sức khỏe tâm thần và thể chất như giảm stress, tránh rủi ro y tế, dinh dưỡng… theo dõi, giám sát sức khỏe cá nhân, các vấn đề an toàn và y tế cộng đồng…), (v) Hiểu biết về Môi trường (môi trường thiên nhiên – hệ sinh thái, nguồn nước, năng lượng, khí hậu, tác động của con người tới môi trường tự nhiên – tăng trưởng dân số, tiêu thụ tài nguyên, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, phá rừng…).  Có thể thấy bộ kỹ năng đã đặt ra các khối nội dung kiến thức xã hội khá rộng, đòi hỏi sinh viên phải hiểu biết về môi trường đang sống, và phải có liên kết, gắn bó với môi trường xung quanh. Đây là những hành trang vô cùng quan trọng cho những người trẻ trong kỷ nguyên bất định ở thế kỷ 21.   Hành trang ‘kỹ năng’ của những người trẻ  Thiếu kỹ năng làm việc ở người trẻ khi tham gia thị trường lao động sau tốt nghiệp đại học là vấn đề của nhiều quốc gia, kể cả Mỹ. Khung kỹ năng thế kỷ 21 là chỉ dẫn giúp thu hẹp khoảng cách giữa việc đào tạo ở đại học với nhu cầu của doanh nghiệp. Mặc dù được xây dựng bởi các doanh nghiệp và tổ chức giáo dục hàng đầu của Mỹ, có thể thấy bộ kỹ năng này bao hàm tương đối đầy đủ những kỹ năng quan trọng để giúp những người trẻ phát triển năng lực ứng phó với bất định cả trong môi trường sống, làm việc, và học tập trên toàn cầu.       Giáo dục trong kỷ nguyên bất định cần mở rộng không gian học tập để những người trẻ tiếp cận dần dần với thế giới thực để khi rời ghế nhà trường, họ tự tin và đủ bản lĩnh bước chân vào làm chủ công việc và cuộc sống.      P21 đưa ra ba khối kỹ năng trọng yếu cho sinh viên ở thế kỷ 21: (1) Kỹ năng học tập và Sáng tạo, (2) Kỹ năng Công nghệ, Truyền thông và Thông tin, và (3) Kỹ năng sống và nghề nghiệp.   Các kỹ năng trong Nhóm (1) được tổ chức thành ba nhóm nhỏ hơn: Sáng tạo và Đổi mới (sinh viên được cho là cần phải tư duy và phối hợp với người khác một cách sáng tạo, đồng thời thực thi các ý tưởng sáng tạo); Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề (yêu cầu người học phải lập luận một cách hiệu quả, tư duy một cách hệ thống, có chính kiến và đưa ra quyết định, đồng thời có thể giải quyết vấn đề); và Giao tiếp và phối hợp (người học cần phải diễn đạt và giao tiếp rành mạch, hiệu quả, hợp tác với những người khác).     Các em học sinh làm thí nghiệm khoa học trong ngày hội STEM 2018. Ảnh: Bảo Như.  Trong nhóm (2) có các kỹ năng thông tin đòi hỏi người học phải có khả năng tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả, đánh giá thông tin một cách xác đáng, sử dụng và quản lý thông tin một cách hiệu quả, an toàn, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Bên cạnh đó, các kỹ năng ICT (công nghệ, truyền thông thông tin) yêu cầu người học phải phân tích truyền thông từ việc hiểu nội dung và mục đích của các thông điệp truyền thông, và tạo ra các sản phẩm truyền thông thông qua việc hiểu và sử dụng các công cụ sáng tạo truyền thông cũng như các diễn ngôn phù hợp trong môi trường đa văn hóa. Các kỹ năng ICT (Công nghệ, truyền thông, thông tin) đòi hỏi người học ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả, bao gồm việc sử dụng các thiết bị số, mạng xã hội một cách phù hợp để khai thác, đánh giá, quản lý và sản xuất thông tin, đồng thời sử dụng thông tin cũng như công nghệ thông tin phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực đạo đức và pháp luật.  Nhóm kỹ năng sống và nghề nghiệp (3), bao gồm các kỹ năng Thích nghi và Linh hoạt, Tự định hướng và Khởi xướng, Xuyên văn hóa và xã hội, Hiệu suất và Giải trình, và Lãnh đạo và Chịu trách nhiệm.  Theo cách đơn giản hơn, tổ chức Y tế Thế giới WHO xác định các kỹ năng sống căn bản bao gồm Ra quyết định và Giải quyết vấn đề, Tư duy phản biện và sáng tạo, kỹ năng Liên nhân và Giao tiếp, Đồng cảm và Tự thấu hiểu, và Quản lý cảm xúc và căng thẳng (stress)[3]. WHO cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các kỹ năng Tâm lý xã hội mà theo thời gian và nỗ lực, có thể phát triển được. Môi trường sống và làm việc phức tạp trong thời đại công nghệ cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi sinh viên phải có khả năng thích nghi với bối cảnh và làm việc hiệu quả trong điều kiện ‘mơ hồ’, thỏa hiệp và cân bằng quan điểm nhằm đạt được giải pháp (5).  Trong số các kỹ năng này, nhóm (2) và (3) là những kỹ năng quan trọng nhất mang đặc trưng thời đại để ứng phó với bất định.  Hành trang ‘thái độ’ của những người trẻ  Nếu xem xét kỹ các kỹ năng trong bộ kỹ năng của công dân thế kỷ 21 mà P21 đặt ra, có thể thấy trong đó đã ẩn chứa một phần ‘thái độ’ mà những người trẻ cần có. Tuy vậy, những kiến giải từ góc độ khoa học về bất định ở phần đầu của bài viết giúp rút ra một số gợi ý quan trọng. Bất định là tất yếu, do vậy điều quan trọng là ý thức về bất định. Chúng ta biết cái chúng ta không biết. Chúng ta biết có thể kiểm soát được sự bất định ở mức độ như thế nào. Chúng ta có thể lường trước sự bất định đến từ đâu, chứ không phải chúng ta mù mờ về tương lai và tương lai là không thể xác định. Nhận thức như vậy giúp chúng ta có thái độ phù hợp với bất định. Đó là sự sẵn sàng, chủ động, có sự chuẩn bị, thay vì hoang mang, sợ hãi, nghi hoặc và rồi phó mặc hoặc ra các quyết định sai lầm. Cái cách chúng ta chuẩn bị đương đầu với bất định sẽ quyết định thành công của chúng ta trong tương lai trong một thế giới ẩn chứa đầy rẫy sự bất định. Bắt đầu với các giả định, và sử dụng các công cụ khoa học, công nghệ để nghiên cứu, kiểm nghiệm các giả định, và chuẩn bị cho các viễn cảnh (scenario) là một trong những gì chúng ta có thể làm.   Ai chịu trách nhiệm giúp những người trẻ chuẩn bị hành trang?   P21 với Khung kỹ năng thế kỷ 21 mà họ đề xuất cho thấy rõ ràng vai trò này là của nhà trường, của hệ thống giáo dục chính thống, đồng thời cho thấy đó cũng là trách nhiệm của toàn xã hội và gia đình. Nhà trường, thông qua chương trình giáo dục, phương pháp sư phạm, các tiêu chuẩn bao gồm chuẩn nhà trường, chuẩn giáo viên, chuẩn đầu ra của người học…, chịu trách nhiệm trước tiên và chủ yếu trong việc chuẩn bị những tri thức cần thiết cho người học, là môi trường chính yếu để người học phát triển năng lực. Những năng lực này cần phải được tôi rèn và tiếp tục phát triển, hoàn thiện ở các môi trường thực tiễn như gia đình, cộng đồng, mạng xã hội… Giáo dục hiển nhiên không phải chỉ là nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân, của nhà trường, của các thầy cô, và cũng không phải là giới hạn hay ngăn chặn, bảo bọc người học trong môi trường tinh khiết. Giáo dục trong kỷ nguyên bất định cần mở rộng không gian học tập để những người trẻ tiếp cận từng bước với thế giới thực để khi rời ghế nhà trường, họ tự tin và đủ bản lĩnh bước chân vào làm chủ công việc và cuộc sống. □  ——-  Chú thích:   1 Trong văn bản đo lường pháp quy tại Việt Nam, “Uncertainty of Measurement” được dịch là “Độ không đảm bảo đo”. Trong bài này, các tác giả chuyển dịch nghĩa của thuật ngữ này sang tiếng Việt là “Độ bất định của phép đo”.  2 Định nghĩa trong GUM 1995: The uncertainty of the result of a measurement reflects the lack of exact knowledge of the value of the measurand. The result of a measurement after correction for recognized systematic effects is still only an estimate of the value of the measurand because of the uncertainty arising from random effects and from imperfect correction of the result for systematic effects.  3 P21 bao gồm các thành viên là các nhà tuyển dụng hàng đầu trên thế giới như Adobe, HP, Intel, Microsoft, Cisco, Apple, Oracle, Lenovo, Ford, Dell, các tổ chức giáo dục và khảo thí lớn như ETS, Pearson, EF Education, Discovery Education, Blackboard, và nhiều các công ty công nghệ khác.    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên - Nguyễn Đức Dũng        
__label__tiasang Giáo dục trong viễn tượng “đạo đức hóa”      Việc giáo dục, vun bồi phẩm chất đạo đức, theo Kant, gắn liền với phẩm giá của mọi con người.    Ta đã biết bốn trách vụ chủ yếu của giáo dục theo Kant: kỷ luật hóa, văn hóa hóa, văn minh hóa và đạo đức hóa. Ta có thể nhận ra cung cách suy nghĩ cơ bản của Kant thông qua trách vụ thứ tư (đạo đức hóa) thường bị ngộ nhận do không hiểu đúng hay hiểu quá hạn hẹp về khái niệm “đạo đức”. Nơi Kant, “đạo đức” hàm nghĩa rất rộng, như là một sự cam kết đối với “thế giới đạo lý trong tương lai”. Đạo đức hóa có nghĩa là làm cho con người – thông qua giáo dục – có thái độ hướng thiện và biết lựa chọn những mục đích tốt đẹp. “Mục đích tốt đẹp là những gì nhất thiết được sự tán đồng phổ quát và đồng thời là mục đích của mọi người.”. Như thế, việc giáo dục, vun bồi phẩm chất đạo đức, theo Kant, gắn liền với phẩm giá của mọi con người. Trong cách hiểu ấy, “đạo đức hóa” nhất thiết mang tinh thần của việc làm “người công dân thế giới”, chống lại mọi hình thức chà đạp phẩm giá con người của chủ nghĩa vị chủng, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa đặc tuyển v.v… Đó là lý do khiến Kant cho rằng trách vụ thứ tư này là khó khăn nhất và là nhiệm vụ trường kỳ mà nhân loại phải phấn đấu trong tương lai lâu dài.  Triết thuyết giáo dục của Kant bắt rễ sâu trong toàn bộ triết học của ông, nhất là trong tư tưởng đạo đức học.  “MỆNH LỆNH NHẤT QUYẾT”  “Mệnh lệnh nhất quyết” (cũng thường được dịch là “mệnh lệnh tuyệt đối”) là thuật ngữ trung tâm của đạo đức học Kant. Mệnh lệnh là tên gọi chung cho những gì ta nên làm hoặc không nên làm trong lĩnh vực hành động, khi trả lời câu hỏi: Tôi phải làm gì? Thế nhưng tại sao lại là “mệnh lệnh”? Đơn giản chỉ vì ta không phải lúc nào cũng sẵn sàng và tự nguyện làm điều đúng và điều tốt một cách tự động, vì thế, cần phải được yêu cầu làm thế này chứ không phải thế khác, hoặc không được phép làm nếu thấy (hoặc có thể thấy) rằng đó là không ổn, không đúng về mặt đạo đức. Như ta đã biết, theo Kant, con người đồng thời là “công dân” của hai thế giới: thế giới khả giác, thường nghiệm và thế giới siêu cảm giác hay khả niệm (thế giới của lý tính, có thể suy xét được). Người ta thường gọi đó là “thuyết hai thế giới”. Là sinh thể xác thịt, có nhu cầu, ta hoàn toàn thuộc về thế giới khả giác và phụ thuộc vào việc thỏa mãn những nhu cầu. Nhưng, mặt khác, là sinh thể có lý trí, ta lại có thể – dù một phần nào đó – vượt lên khỏi ranh giới của thế giới khả giác, và ít ra cũng có thể hành động ngược lại với xu hướng, dục vọng trực tiếp của mình. Chính năng lực mà ai cũng thừa nhận này, theo Kant, là bằng chứng cho thấy ta có thể là những tác nhân luân lý, đạo đức, nghĩa là, kỳ cùng, ta có thể là tự do, tự trị, tức có thể quyết định một hành động cần thiết về đạo đức mà không chịu ảnh hưởng từ bên ngoài (hoặc bên trong). Ở đây, ta không nên vội hiểu lầm. Kant không hề chủ trương rằng cứ phải chống lại xu hướng, ham muốn mới là tốt theo kiểu “diệt dục”, trái lại, ông chỉ nhấn mạnh đến năng lực vượt lên khỏi xu hướng, ham muốn tự nhiên, nhất là về phương diện đạo đức.  Một ví dụ: khi người thân yêu của ta gặp nạn, ví dụ rơi xuống nước, ta làm mọi cách để cứu sống. Nhưng, nếu đó không phải là người thân mà là kẻ xa lạ, thậm chí kẻ thù của ta thì sao? Cứ để mặc cho người ấy chết đuối là việc dễ dàng, không ai biết và cũng không ai trách móc. Trong hai trường hợp, tính chất “đạo đức” có khác nhau không? Theo Kant, chỉ trong trường hợp sau, ta mới chứng tỏ rằng mình có năng lực lấy thái độ đạo đức và hành động tương ứng với nghĩa vụ đạo đức. Trong trường hợp trước, điều ấy không bộc lộ rõ. Tất nhiên, trong cả hai trường hợp, ta đều được kêu gọi phải làm hết sức mình để cứu người bị nạn. Lời kêu gọi này, hay đúng hơn, “mệnh lệnh” đạo đức này đều là “nhất quyết”, đối với ai có thể cứu giúp và cho những ai cần được cứu giúp. Thậm chí, Kant không chỉ nói về “con người”, mà cho cả mọi “sinh vật hữu hạn và có lý tính” nói chung. Nghĩa là, mệnh lệnh này cũng “nhất quyết” có giá trị khi giả định ta gặp một… người ngoài hành tinh bị lâm nạn!  Bây giờ, thêm một tình huống khác. Trong lúc khẩn cấp, ta ném cho người bị nạn (dù là người thân hay kẻ thù) một khúc gỗ để họ bám vào. Không may, khúc gỗ ấy rơi đúng vào đầu nạn nhân! Ta có thể cho rằng việc ném ấy chịu trách nhiệm về cái chết của nạn nhân? Độc lập với việc quy kết trách nhiệm như thế nào thì về phương diện đạo đức, không thể quy kết và lên án được, bởi ai cũng đồng ý rằng, trong tình huống ấy, động cơ của hành động là nhằm cứu giúp chứ không phải để giết người!  ĐỘNG CƠ VÀ TRÁCH NHIỆM  Từ khi Max Weber, trong luận văn “Chính trị như là nghề nghiệp” (1919), phân biệt giữa đạo đức học trách nhiệm và đạo đức học động cơ, Kant được xem như người chủ soái của đạo đức học động cơ, chủ trương phán xét đạo đức chủ yếu dựa vào động cơ hay ý đồ chủ quan hơn là vào những hậu quả của hành động. Sự phân biệt này có ảnh hưởng không nhỏ đến những tranh cãi trong lĩnh vực luật hình sự (chẳng hạn, chủ nhà máy hóa chất làm ô nhiễm nguồn nước và môi trường có thể thoái thác trách nhiệm viện cớ không biết hay không mong muốn?).  Một khảo sát thú vị: trẻ em thường bắt đầu từ đạo đức học trách nhiệm rồi dần dần sẽ đến đạo đức học động cơ. Một em bé hăng hái giúp mẹ làm bếp và lỡ tay đánh vỡ cả đống chén bát. Một bé khác không chịu giúp mẹ mà còn giận dỗi ném vỡ ly nước. Hỏi những đứa bé 5 tuổi, chúng cho trường hợp trước là xấu, trong khi các bé lớn hơn thì đánh giá ngược lại, rõ ràng từ việc xem xét động cơ của hành động! Việc đối lập triệt để giữa hai loại đạo đức học chắc hẳn không thể giải quyết vấn đề đạo đức vốn rất phức tạp và Kant cũng không muốn rơi vào một sự lựa chọn cực đoan. Tuy nhiên, quả thật Kant rất xem trọng động cơ của hành động, mà ông gọi là “những châm ngôn”, tức những cơ sở chủ quan của ý chí. Trong một tình huống quan trọng về đạo đức và ta tự hỏi phải làm gì, thì theo Kant, điều hệ trọng là phải xét xem châm ngôn hướng dẫn hành động có thể được phổ quát hóa mà không gặp mâu thuẫn hay không. Vượt qua được cuộc trắc nghiệm này sẽ là mệnh lệnh nhất quyết. Tất nhiên, không phải là trắc nghiệm những quy tắc cụ thể (vd; muốn cứu người, phải ném cho một khúc gỗ!). Vả lại, không phải cái gì có thể phổ quát hóa cũng có ý nghĩa đạo đức, vì bên cạnh mệnh lệnh đạo đức, còn có những loại mệnh lệnh khác mà ông gọi là mệnh lệnh giả thiết, mang tính kỹ thuật hay thực dụng, không xét đến ý chí của con người (vd: muốn làm giàu, phải kinh doanh, nhưng chưa chắc ai cũng muốn… làm giàu!). Chúng là có điều kiện, không phải vô điều kiện, là tương đối, không phải tuyệt đối.  “Mệnh lệnh nhất quyết” của Kant không khô khan, khắc nghị, trái lại, là tiền đề cho (giáo dục) tự do và tự trị, như ta sẽ thấy.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 19, 05.06.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục trước hết là một công tác nhân văn, là công cuộc dân chủ hóa*      Giáo dục trước hết và cơ bản là một công tác nhân văn, là công cuộc dân chủ hóa. Và nghề thầy giáo là nghề sáng tạo không ngừng, khám phá không ngừng, khám phá từng người, nó cơ sở trên niềm tin nhân văn nhất là niềm tin ở con người.     Chúng ta nói giáo dục là nghề cao quý nhất, và người thầy giáo là người làm công việc cao quý nhất. Vì sao? Vì giáo dục là làm cuộc khám phá khó nhất, hay nhất, đẹp nhất trên đời, khám phá đối tượng khó nhất, hay nhất, bí ẩn nhất, mà cũng đẹp nhất trên đời, là con người. John Dewey, nhà giáo dục lớn, nói rằng giáo dục là dân chủ, giáo dục cơ sở trên niềm tin dân chủ. Dân chủ hiểu theo nghĩa sâu nhất, nhân văn nhất của khái niệm này: dân chủ trước hết là niềm tin ở con người. Giáo dục xuất phát từ niềm tin ở tiềm năng của con người, niềm tin rằng mọi con người, mỗi con người đều có tiềm năng phong phú và bất tận. Giáo dục chính là khám phá ra tiềm năng đó ở con người, từng con người, và giải phóng nó ra. Hoặc đúng hơn, giúp cho mỗi con người tin rằng mình có tiềm năng, nhận ra tiềm năng ấy, và tự mình giải phóng nó. Người thầy giáo là người đi làm công việc tổ chức cuộc giải phóng đó, cho những con người, từng con người. Vì vậy giáo dục trước hết và cơ bản là một công tác nhân văn, là công cuộc dân chủ hóa. Và nghề thầy giáo là nghề sáng tạo không ngừng, khám phá không ngừng, khám phá từng người, nó cơ sở trên niềm tin nhân văn nhất là niềm tin ở con người.   Trường chúng tôi đã và đang có nhiều khó khăn. Khó khăn ấy là do chúng tôi tự mình làm ra, có thể nói tự nguyện tự mình gây cho mình. Trong mạng lưới chung của các trường đại học, ít ra là ở trong khu vực chúng ta, trường của chúng tôi đã tự chọn cho mình một hướng đi khó. Đó là chúng tôi muốn xây dựng một trường đại học chất lượng, tương đối đa ngành, trong đó các khoa học xã hội và nhân văn là trọng điểm, đồng thời ngành đào tạo nào cũng phải lấy khoa học xã hội và nhân văn làm nền tảng. Trong khi như chúng ta biết, phải nói rằng trong đời sống thực của xã hội hiện nay đang có xu hướng nặng nề quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn. Thậm chí có thể nói trong lịch sử giáo dục của nước ta, chưa bao giờ các khoa học xã hội và nhân văn bị coi thường, bị bỏ rơi thê thảm như hiện nay. Chúng tôi đã rất khó vì chúng tôi đã chọn lấy ngay chính chỗ mà xã hội bỏ trống, bởi chúng tôi nhận thức rằng sự bỏ trống đó là rất nguy hiểm, thậm chí có thể là thảm họa cho đất nước. Trong tuyển sinh vừa qua có một con số kỳ lạ: chỉ có 4,8% thí sinh thi vào khối C tức khối khoa học xã hội và nhân văn. Vậy mà trước tình hình đó, những nơi và những người chịu trách nhiệm về giáo dục đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, vô cảm, không ai nói một tiếng nào, thản nhiên coi là hết sức bình thường. Còn ngôi trường này, thì oái ăm vậy, lại được lập ra chính vì muốn góp phần dù nhỏ bù đắp chỗ trống đó mà chúng tôi coi là sinh tử … Khó vậy đó, khó vô cùng, nhưng chúng tôi biết rằng chọn lựa của mình là đúng, dù hiện nay rất có thể chọn lựa đó khiến vị thế của trường này trở nên đơn độc, chúng tôi đang cô đơn. Song chúng tôi quyết kiên định lựa chọn ấy. Trường này sinh ra trên đất Quảng Nam, đất của duy tân từng chói lọi một thời, và đứng trong lòng Hội An, môi trường văn hóa lý tưởng. Lý tưởng vì chính ở đây những ngày này, trong ngổn ngang của xã hội,  những giá trị nhân văn được nuôi giữ tốt đẹp nhất. Trường này mang tên Phan Châu Trinh, nhà khai sáng vĩ đại, nhà giáo dục lớn. Chúng tôi biết vị tiền bối anh minh trường được mang tên, từng cũng rất đơn độc trong thời của ông. Ông từng nói: Trinh này đã nhận ra việc ấy là phải, nên nhất định đảm nhiệm lấy mà làm, quyết không nhường cho ai khác! Trường chúng ta mong được noi gương ông.  Chúng tôi kiên định hướng đi đó, nhưng đồng thời chúng tôi cũng nghiêm khắc nhận ra rằng trên hướng đi đúng ấy, chúng tôi chưa có bước đi thích hợp, chưa biết chọn cách đi khôn khéo và hiệu quả trong những tình huống cụ thể, chưa biết lượng thế và lượng sức cho phải, chưa bíết kiên trì chờ đợi khi còn cần chờ đợi, có khi vì nôn nóng mà máy móc … Và đi một con đường khó như vậy, mà tổ chức và kỷ cương còn quá lỏng lẻo. Nên đã khó, càng thêm khó hơn… Vì vậy chúng tôi đang quyết tiến hành một cuộc làm lại thật sự, không ồn ào nhưng quyết tâm, và cơ bản. Và những thay đổi mới đang bắt đầu, với nhiều hy vọng …   ***  Chúng tôi được xã hội giao cho một lớp người trẻ rất tuyệt, trong sáng, khát khao hiểu biết, tha thiết vươn tới cái tốt, cái đẹp, ham muốn khám phá và sáng tạo, năng nổ và thông minh. Nếu còn điều gì chưa ổn, chưa hay ở các em, ấy là do chúng tôi chưa biết đánh thức dậy những tiềm năng giàu có trong các em. Thật hạnh phúc được làm việc với những người trẻ như các em. Nếu chúng tôi biết làm giỏi, chính các em sẽ đem lại sinh khí và sức mạnh cho ngôi trường này, và cho mỗi thầy cô giáo.  Các em sinh viên đã rất công phu tự nguyện chuẩn bị một đêm biểu diễn thật đẹp và thật cảm động để chúc mừng và bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô. Có một tiết mục đặc biệt xúc động, các em sinh viên nhiều lứa tuổi, chắc là thuộc nhiều ngành khác nhau, đã ra đời và trưởng thành, ân cần vây quanh một người thầy giáo già, và nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần một câu hỏi tha thiết: Thầy ơi Thầy, mười năm trước chúng em là học trò của Thầy đây, Thầy còn nhớ em không? Còn nhớ em không? Tôi nghĩ hôm nay tất cả các thầy cô giáo của trường chúng ta có thể cho phép tôi trả lời các em:  Không chỉ mươi năm nữa đâu, mãi mãi, mãi mãi các em ạ, các thầy cô sẽ nhớ các em, rất nhớ các em, các em yêu quý, mãi mãi, mãi mãi…  —  (*) Trích bài phát biểu của Nhà văn Nguyên Ngọc, Chủ tịch hội đồng quản trị trường Đại học Phan Châu Trinh, trong ngày Nhà giáo Việt Nam 2011     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục tư, lợi ích công      Trong các nền kinh tế mới nổi, khu vực tư  nhân có thể nhanh chóng mở rộng quy mô và đầu tư lớn vào các thị trường  mới – trong đó có giáo dục được xây dựng trên các mô hình đã được thử  thách và kinh nghiệm quốc tế.     Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng chậm chạp, các nền kinh tế châu Phi đã bắt đầu tăng nhanh như vũ bão: Trong giai đoạn 2000-2010, 6 trong 10 nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới nằm ở phía Nam sa mạc Sahara của châu Phi. Và với đà tăng trưởng như hiện nay, vào năm 2060, dân số của châu Phi có thể đạt 2,7 tỷ người, với một tầng lớp trung lưu khoảng một tỷ người.  Nhưng đây không phải là kịch bản chỉ toàn một màu hồng. Hơn 70% dân số khu vực phía Nam sa mạc Sahara là những người dưới 30 tuổi – số lượng thanh niên đông đảo có thể là chất kích thích cho phát triển nhanh chóng nền kinh tế, như đã xảy ra ở châu Á suốt ba thập kỷ qua. Hơn nữa, các nền kinh tế châu Phi đã bắt đầu đa dạng hóa, ít tập trung vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chú ý phát triển ngành du lịch, nông nghiệp, viễn thông, ngân hàng, và các lĩnh vực bán lẻ, châu Phi cần phát triển một lực lượng lao động có tay nghề cao, được đào tạo tốt. Nhưng một nền giáo dục và đào tạo không tương xứng là gót chân Achilles của châu lục này. Thật vậy, lãnh đạo doanh nghiệp châu Phi thường nói rằng tìm được những người có kỹ năng phù hợp là một thách thức to lớn đối với hoạt động của mình, đặc biệt là trong những ngành công nghệ cao.  Điều đó không làm người ta ngạc nhiên, nếu biết rằng châu Phi vốn có nền giáo dục nghèo nàn: một số nước có đến hơn 40% người mù chữ. Ủy ban Kế hoạch Quốc gia Nam Phi ước tính 80% các trường công lập của nước này đang hoạt động kém hiệu quả. Ở Kenya, Uganda, Tanzania, học sinh các trường công lập không có kỹ năng căn bản mà những đứa trẻ cùng tuổi và cùng cấp học ở những nơi khác thường có.   Nguyên nhân của sự kém cỏi chủ yếu là do không có đủ kinh phí dẫn đến sách và dụng cụ giảng dạy không đầy đủ, trường học có kết cấu kém, cơ sở hạ tầng cũ kĩ. lương giáo viên thấp, khó thu hút những người tốt nhất và sáng giá nhất đối với nghề này.  Các nhà lãnh đạo châu Phi nhận thức được một cách rõ ràng những hạn chế đó, nhưng họ không có nguồn lực để tự giải quyết – đặc biệt là khi nhu cầu ngày càng tăng của số quá đông thanh niên. Vì vậy muốn giáo dục tiếp tục phát triển, khu vực tư nhân sẽ phải lấp được khoảng trống do nhà nước và các tổ chức phi chính phủ bỏ lại. Thực tế cho thấy trong các năm 2005-2008, trên 40% trẻ em ở Ghana, Kenya, Nigeria, Senegal và Uganda học trong các trường tư thục – đa số có học phí thấp.  Trong các nền kinh tế mới nổi, khu vực tư nhân có thể nhanh chóng mở rộng quy mô và đầu tư lớn vào các thị trường mới – trong đó có giáo dục được xây dựng trên các mô hình đã được thử thách và kinh nghiệm quốc tế mà không bị chậm trễ do nạn quan liêu như phát triển các mô hình giảng dạy, trong đó học sinh có thể xem trực tuyến bên ngoài lớp học các băng video do giáo viên thực hiện, vì vậy mà thời gian quý giá khi giáo viên và học sinh gặp nhau được tập trung vào trao đổi, tương tác chứ không dành chủ yếu cho việc giảng bài nữa. Hơn thế nữa, khu vực tư nhân có thể đạt được thành quả giáo dục với chi phí thấp hơn là khu vực công. Một công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về ngôn ngữ và toán học chỉ ra rằng, với cùng một chi phí cho mỗi học sinh, học sinh các trường học tư thục trong 5 nước tham gia (Colombia, Cộng hòa Dominica, Philippines, Tanzania, và Thái Lan) có thành tích học tập cao hơn từ 1,2 đến 6,7 lần so với thành tích học tập của học sinh trường công lập.  Theo Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) của Ngân hàng Thế giới, “nhu cầu về các dịch vụ giáo dục (ở châu Phi) đang tăng với tốc độ nhanh hơn so với khả năng cung cấp của các chính phủ”. Vì vậy muốn đáp ứng đòi hỏi của châu Phi về năng lực giáo dục đang tăng nhanh một cách đáng kể trong vài thập kỷ tới, cần phải phát triển các trường tư thục. Tuy nhiên, một số gia đình sẽ không có khả năng cho con vào học trường tư, dù là học phí rất thấp nên khu vực tư nhân nếu có thể, thì cho những trẻ em nghèo nhất được học miễn phí.  Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/ increasing-private-education-in-africa- by-olusegun-obasanjo-and-sunny-varkey  —    * Olusegun Obasanjo là Tổng thống Nigeria giai đoạn 1999-2007.   **Sunny Varkey là người thành lập và chủ tịch Quỹ giáo dục GEMS.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục “tự nhiên”: Ưu và khuyết      Cái gì hợp tự nhiên là tốt, trái tự nhiên là  xấu! Ai dám cãi lại điều ấy, và, qua đó, phản đối triết thuyết giáo dục  “tự nhiên”?     “Tự nhiên” – có lẽ do ta chưa hiểu mấy về nó – luôn có “uy tín”, còn những gì xấu xa, đồi bại là do… con người, do xã hội, nghĩa là phản tự nhiên, Rousseau hùng hồn: “Tất cả đều tốt đẹp nơi tự nhiên. Tất cả đều hỏng bét do bàn tay con người!”. Thi hào Đức Friedrich Schiller cũng viết: “Thế giới là hoàn hảo, nơi đâu không có bóng dáng đau khổ của con người!”. Thật thế chăng?  Nhiều nghiên cứu cho thấy đời sống thú vật trong tự nhiên có thể rất tàn bạo, nhưng, theo viễn tượng tự nhiên luận, chỉ có đời sống con người là sa đọa và xa rời tự nhiên mà thôi. Chẳng hạn, theo Erich Fromm, trong Giải phẫu học về tính xâm hấn của con người, hành vi xâm hấn tất yếu cũng có trong đời sống thú vật, nhưng lại không có tính phá hoại, hủy diệt. Phá hoại, hủy diệt bằng “bạo lực vô nghĩa”, không vì nhu cầu sinh tồn chỉ có nơi con người! Cuộc tranh cãi sẽ bất tận, nếu ta lại hỏi: tại sao “bạo lực vô nghĩa” là phản tự nhiên? Con người, kỳ cùng, không phải là sản phẩm và bộ phận của “tự nhiên” hay sao?!  Từ sự đối lập giữa tự nhiên và văn hóa theo cách nhìn trên đây, triết thuyết giáo dục “tự nhiên” của Rousseau hình thành với các đặc điểm sau đây:  –     Tập trung vào bản tính tự nhiên của con người – hiểu như bộ phận của trật tự tự nhiên – và lấy đó làm mục tiêu và sự định hướng cho giáo dục;  –    Xem cảm xúc là chìa khóa để mở cánh cửa vào tự nhiên và, vì thế, là cơ sở cho sự hiểu biết của ta về thực tại;  –     Mọi diễn trình tự nhiên đều tiệm tiến và chậm chạp theo từng giai đoạn phát triển, do đó giáo dục cũng cần hướng theo mô hình ấy, nếu muốn đạt hiệu quả vững bền;  –     Từ đó, ca ngợi những giá trị có liên quan: tự do, tự khởi, độc đáo và đơn giản;  –     Nếu tự nhiên là tốt, thì bản tính con người, ít ra từ khi mới sinh ra, cũng tốt, do đó, bác bỏ những quan niệm bi quan về con người;  –     Và sau cùng, trong thực hành giáo dục, xem trọng những trải nghiệm sống thực với thiên nhiên (theo nghĩa rộng) hơn là kiến thức từ chương, năng lực ngôn ngữ và cảm thức về cái siêu nhiên.  Tuy nhiên, là con đẻ của “thế kỷ Ánh sáng” và thời khai minh, tư tưởng “duy nhiên” của Rousseau không phải là hoài cổ hay bảo thủ. Trái lại, nó có tính tiến bộ: cần phải phát hiện những quy luật tự nhiên, tức phát hiện lôgíc của sự phát triển và tăng trưởng để có thể áp dụng vào cho nhiều lĩnh vực của đời sống cá nhân lẫn cộng đồng: giáo dục, kinh tế, chính trị v.v… Tự nhiên, nơi Rousseau, không phải đối tượng để tôn thờ và thần thánh hóa theo kiểu ma thuật, mà là chỗ để con người khám phá những “cơ chế” khả dụng nhiều mặt. Triết thuyết duy nhiên trong giáo dục hoàn toàn có thể mang tính “khoa học”, nếu được triển khai theo hướng mô tả và giải thích những gì được gọi là “tự nhiên”.  Trong tinh thần ấy, tư tưởng giáo dục của Rousseau theo đuổi mục đích vun bồi “lòng yêu chính mình” (amour de soi) có tính tự nhiên và căn nguyên, đồng thời điều tiết “óc vị kỷ” (amour propre) thừa thải và phản tự nhiên. Mục đích ấy vừa lớn lao, sâu sắc, vừa hàm hồ, dễ bị lạm dụng.  Một mặt,  –     Phát hiện và nhìn nhận “tính riêng biệt” và “tính khác biệt” của từng đứa trẻ.  –    Nhìn nhận và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thỏa mãn nhu cầu đối với sự phát triển “tự nhiên”, tức, bình thường và lành mạnh của đứa trẻ;  –     Đặt ý tưởng về sự phát triển vào trung tâm của tư duy giáo dục, qua đó, tạo cơ sở cho môn sư phạm học về phát triển; và sau cùng,  –     Từ định hướng theo nhu cầu và sự phát triển, xác định và tôn trọng những quyền hạn của trẻ em trong tiến trình hình thành nhân cách.  Nhưng, mặt khác, cũng không thể không thấy rằng:  –     Tư tưởng duy nhiên dễ biến “bản tính tự nhiên” thành cái gì khá mơ hồ và huyền hoặc, có khi đi ngược lại nhu cầu đích thực của trẻ em;  –     Dễ phạm sai lầm về phương pháp: biến những nhận định có tính mô tả (a, b. là tự nhiên) thành những mệnh lệnh có tính quy phạm (phải làm theo a và b). Sự ngộ nhận này rất nguy hiểm, vì không phải cái gì “hợp tự nhiên” cũng là tốt và quên rằng nhiều giá trị nhân văn hình thành từ nỗ lực “chống” lại tự nhiên!  –     Sử dụng lạm phát những ngôn từ nặng tính “rao giảng đạo đức” độc đoán, chẳng hạn: “sự trưởng thành đích thực”, “trải nghiệm đích thực”, “tự chủ”, “tiến trình mở” v.v… Những cách nói “có cánh” ấy dễ dàng ngăn cản sự phê phán, phản biện, khiến cho những lập luận phản-duy nhiên bị lên án và không được xem trọng.  ĐỌC LẠI ÉMILE  Không ít người đọc ngày nay sẵn sàng đồng tình với nhận định của Graves trong Những nhà đại giáo dục trong ba thế kỷ: “Phải thừa nhận rằng quyển Émile có nhiều chỗ thiếu lôgíc, lan man, và thiếu nhất quán. Rousseau thường đi từ lạc quan sang bi quan, từ tự phát sang quyền uy, từ tự do sang độc tài”. Nhận định ấy, tiếc thay, đúng cho toàn bộ trước tác của ông, từ học thuyết chính trị đến triết thuyết giáo dục.   Điểm nổi bật và thường bị phê bình là chủ trương khá cực đoan của ông chống lại “văn minh” và sự điều chỉnh của xã hội. Trạng thái tự nhiên là tốt đẹp còn mọi quan hệ xã hội đều bị xem là thoái hóa, đồi bại. Đứa bé, do đó, phải được dạy dỗ trong sự cô lập với xã hội cho đến tuổi 15, không khác gì chàng Robinson trước khi gặp anh bạn Thứ Sáu. Ai cũng dễ nhận thấy sự phi lý của nền giáo dục phi-xã hội, thậm chí, phản xã hội như thế! Tuy nhiên, ta cũng đừng quên rằng Rousseau viết hai tác phẩm trứ danh về chính trị (Khế ước xã hội) và giáo dục (Émile) trong thời buổi đang rất cần những học thuyết… cực đoan! Nếu ông không có tài năng và mãnh lực để diễn đạt tư tưởng của mình như thế, hẳn không ai thèm lắng nghe ông! Phải chăng chính những nghịch lý và đôi chỗ quá đáng đã góp phần tăng âm lượng cho những lời “gào thét” của ông để kéo đổ cả một truyền thống chính trị và giáo dục cổ hủ, kêu đòi sự tôn trọng nhân quyền, dân quyền theo nghĩa rộng của sự phát triển tự do và tự nhiên của nhân cách con người.  Ngày nay, ta đều biết rằng trẻ em học hỏi từ kinh nghiệm bản thân, nhưng cũng cần sự hướng dẫn đúng phương pháp của người lớn. Trẻ em học hỏi từ sự bắt chước, và xã hội là môi trường không thể thiếu cho sự cọ xát và chọn lọc. Nhưng, trước khi đánh giá về triết học của Rousseau nói chung, ta nên hiểu rằng ông là một trong những người đầu tiên nhận ra những nguyên tắc và xu hướng luôn xung đột với nhau trong tự nhiên, xã hội và giáo dục. Vượt lên trên những xung đột ấy, tìm con đường hòa giải chúng ở cấp độ cao hơn là dấu ấn bất tử của một thiên tài tư tưởng.  Không có Rousseau, ắt không thể có triết thuyết giáo dục khai minh rực rỡ của Kant mấy mươi năm sau.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 11, 03.04.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục và tác động của thị trường      Theo hai tác giả Eckel, P.D. và King, J.E một trong những nền tảng triết lý quan trọng của nền giáo dục ĐH Mỹ là niềm tin vào tính hợp lý của thị trường và sự cần thiết phải có sự cạnh tranh trong giáo dục đại học.     Dù cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 có làm cho địa vị hàng đầu thế giới của nước Mỹ lung lay đôi chút, nhưng dường như tính ưu việt của nền giáo dục đại học của quốc gia này vẫn hoàn toàn không hề bị thách thức. Cho đến nay, Mỹ vẫn tiếp tục là điểm đến phổ biến nhất của các sinh viên quốc tế (1), và là hình mẫu về giáo dục ĐH để các quốc gia khác học tập. Vậy đâu là nguyên nhân thành công của nền giáo dục ĐH Mỹ?   Có lẽ trên thế giới không có quốc gia nào có một hệ thống giáo dục ĐH được các nước khác mổ xẻ, tìm hiểu và phân tích kỹ lưỡng như nước Mỹ. Nhiều đặc điểm của ĐH Mỹ đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nêu ra, như sự đa dạng về sứ mạng và quyền tự chủ của các trường ĐH, quyền tự do học thuật của các giảng viên và nhà khoa học, cơ chế tưởng thưởng dựa trên năng lực, hệ thống kiểm định chất lượng lâu đời và hiệu quả, quyền được thông tin của người học về các trường ĐH cũng như các chương trình đào tạo mà nó cung cấp. Những đặc điểm trên cùng kết hợp lại để tạo ra sức mạnh bền vững cho nền ĐH của Mỹ.  Nhưng tại sao giáo dục ĐH Mỹ lại có được ra những ưu điểm đó để nhanh chóng giành được vị trí hàng đầu thế giới trong một thời gian khá ngắn so với châu Âu như vậy? Câu trả lời của hai tác giả người Mỹ Eckel, P.D. và King, J.E có lẽ sẽ bất ngờ đối với những người có quan điểm cổ điển về giáo dục ĐH với niềm tin rằng giáo dục – dù ở bất cứ trình độ nào – là một lợi ích công mà nhà nước phải cung cấp cho mọi người dân. Đối với Eckel và King (2004), một trong những nền tảng triết lý quan trọng của nền giáo dục ĐH Mỹ là niềm tin vào tính hợp lý của thị trường và sự cần thiết phải có sự cạnh tranh trong giáo dục đại học.   Vai trò của thị trường trong giáo dục ĐH được nhìn nhận như thế nào ở Mỹ? Theo Teixeira (2006) (2), để hiểu điều này ta cần tìm hiểu tư tưởng của bốn nhà kinh tế học vốn có ảnh hưởng lớn đến triết lý giáo dục ĐH của Mỹ là Adam Smith của thế kỷ 18 (3), John Stuart Mill của thế kỷ 19, Alfred Marshall của đầu thế kỷ hai mươi, và gần đây nhất là Milton Friedman, người vừa mất năm 2006 ở tuổi 94. Cả bốn ông đều có những đóng góp về lý luận liên quan đến vai trò của thị trường trong giáo dục đại học, mặc dù họ cũng có những khác biệt trong quan điểm, và thậm chí tạo thành hai trường phái trái ngược nhau.   ADAM SMITH: VAI TRÒ TÍCH CỰC CỦA THỊ TRƯỜNG  Adam Smith, người đặt nền móng cho lý thuyết thị trường tự do, là người đầu tiên đưa yếu tố thị trường vào trong lý luận giáo dục. Đồng thời, ông cũng là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến triết lý giáo dục ĐH của Mỹ. Theo ông, vai trò quan trọng nhất của giáo dục là giúp phát triển năng lực cá nhân, và sự khác biệt về năng lực giữa những người khác nhau không phải là do dòng dõi, thân thế hoặc tố chất bẩm sinh, mà hoàn toàn do giáo dục. Vì vậy, các chi phí giáo dục phải được xem là chi phí cá nhân hơn là chi phí xã hội, mặc dù xã hội cũng được lợi khi mọi cá nhân đều được phát triển đến mức tối đa năng lực của mình.  Để thúc đẩy giáo dục ĐH phát triển, Smith quan niệm phải giải phóng các lực lượng thị trường (market forces), khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong giáo dục và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này, vì điều này sẽ giúp đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất của việc đầu tư cho giáo dục. Đối với Smith, nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào giáo dục ĐH vì sẽ làm cho nó trở nên kém hiệu quả. Vai trò lớn nhất của nhà nước trong giáo dục là hỗ trợ và tạo điều kiện cho những người không đủ điều kiện kinh tế có thể hưởng một nền giáo dục tổng quát tốt nhất có thể được. Bởi vì nếu năng lực của họ không được phát triển đầy đủ do thiếu điều kiện tiếp cận giáo dục, thì điều này không chỉ có hại cho những cá nhân đó mà còn ảnh hưởng  tiêu cực đến sự phát triển của xã hội nữa.  Có thể nói quan điểm của Smith về vai trò tích cực của thị trường và cạnh tranh đã có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử phát triển giáo dục ĐH của Hoa Kỳ. Chính tư tưởng này góp phần thúc đẩy sự ra đời của một hệ thống trường ĐH tư rất đa dạng về sứ mạng của nước Mỹ ngay từ những ngày đầu lập quốc, trong đó có nhiều trường giờ đây đã trở thành niềm tự hào lớn của nền giáo dục ĐH Mỹ như Harvard, Yale, Stanford. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 19 cho đến tận nửa đầu thế kỷ 20, quan điểm về vai trò của trị trường trong giáo dục ĐH đã có ít nhiều thay đổi.   JOHN STUART MILL: PHẢI ĐƯỢC NHÀ NƯỚC KIỂM SOÁT  Nhà tư tưởng lừng lẫy của thế kỷ 19 John Stuart Mill có quan điểm về vai trò của thị trường trong giáo dục vừa tương tự lại vừa trái ngược so với quan điểm của Smith. Tương tự như Adam Smith, John Stuart Mill thấy rõ lợi ích của giáo dục ĐH ở khía cạnh cá nhân, và vì vậy cùng chia sẻ quan điểm cho rằng các chi phí cho giáo dục ĐH là một sự đầu tư về kinh tế mà chính các cá nhân thụ hưởng phải trả. Ngoài ra, Mill cũng ủng hộ giáo dục ĐH tư nhân và cơ chế cạnh tranh, vì ông cho rằng đó là cách làm đem lại hiệu quả cao nhất.   Tuy nhiên, khác với Adam Smith, John Stuart Mill cho rằng thị trường giáo dục ĐH phải được nhà nước kiểm soát chặt chẽ, chứ không thể để cho “người tiêu dùng” tự kiểm soát thông qua quyền lựa chọn của mình như theo quan điểm của Smith. Điều này trước hết là do tầm quan trọng của giáo dục ĐH, và cũng do bản chất đặc biệt của giáo dục ĐH trong đó “người tiêu dùng” – chủ yếu là các phụ huynh – không thể có đủ hiểu biết để có những nhận định đúng đắn và đưa ra những lựa chọn phù hợp. Lập luận của Smith không phải là không có phần nào đúng, nhưng ít tính hữu dụng vì ông không trả lời được câu hỏi là nhà nước sẽ thực hiện việc kiểm soát chất lượng của các trường ĐH như thế nào.   ALFRED MARSHALL: CẦN SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC   Bước sang đầu thế kỷ 20, một nhà kinh tế học khác là Alfred Marshall (4) tiếp tục phát triển thêm lý luận về bản chất đặc biệt của thị trường giáo dục ĐH, với một quan điểm khá mới mẻ và khác lạ so với Adam Smith và John Stuart Mill. Theo Marshall, hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường giáo dục ĐH khiến cho nó khác hẳn những loại thị trường khác là:       –  Sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định được một cách khá mơ hồ.  –  Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân trả chi phí đầu tư cho giáo dục (thông thường là các bậc phụ huynh) và một bên là những người được hưởng lợi ích từ việc học tập (là những người đi học).   Hai đặc điểm trên khiến cho mối quan hệ giữa “nhà cung cấp dịch vụ giáo dục” là các trường ĐH và “người tiêu dùng giáo dục” tức người học và gia đình trở nên phức tạp, khiến ta không thể đối xử với thị trường giáo dục ĐH theo cùng một cách như những loại thị trường khác. Sự can thiệp của nhà nước vào thị trường giáo dục vì vậy là một điều cần thiết.  MILTON FRIEDMAN: KHÔNG NÊN THIÊN VỊ CÁC TRƯỜNG CÔNG LẬP   Như vậy, cả John Stuart Mill và Alfred Marshall đều thuộc trường phái thừa nhận có một thị trường trong giáo dục ĐH, nhưng tin rằng thị trường này cần phải có sự can thiệp của nhà nước chứ không thể tự điều chỉnh được. Đây cũng là quan điểm thống trị trong hầu hết thế kỷ 20, và chỉ thay đổi cùng với sự xuất hiện của Milton Friedman.   Về vai trò của và thị trường trong giáo dục ĐH, Milton Friedman cho rằng, để giáo dục ĐH phát triển thì rất cần sự cân bằng giữa vai trò của Nhà nước và thị trường. Giáo dục ĐH đem lại cảc lợi ích công và lợi ích tư (cá nhân), Nhà nước nên phân biệt rõ ràng hai loại lợi ích này, và chỉ “bao cấp” cho lợi ích công chứ không nên bao cấp cho cả lợi ích tư. Việc bao cấp (một phần) học phí cho tất cả các ngành thuộc các trường công lập, kể cả nhưng ngành mang tính thị trường cao (phục vụ lợi ích tư là chính) như các ngành quản trị kinh doanh, du lịch khách sạn, công nghệ thông tin và là không công bằng, vì có sự phân biệt đối xữ giữa khu vực công và khu vực tư.   Nhà nước chỉ nên bao cấp những lãnh vực nào đem lại lợi ích công, hoặc những con người nào thuộc diện cần bao cấp (VD: các diện chính sách) và không phân biệt trường công trường tư, chứ không phải bao cấp khu vực công và loại trừ khu vực tư. Không nên phân biệt trường công trường tư, vì thiên vị các trường công lập sẽ triệt tiêu cạnh tranh, làm cho các trường công lập mất động cơ để tạo ra chất lượng, tính hiệu quả, sự đa dạng và sự đổi mới.  ***  Ở Việt Nam, “thị trường” và “cạnh tranh” có lẽ đã trở thành một phần không thể thiếu trong suy nghĩ mang tính chiến lược của các vị lãnh đạo các trường ĐH của Việt Nam. Các trường ĐH công lập hiện nay ở VN hiện nay rất ít cạnh tranh do chính sách nhà nước quá thiên vị các trường công lập. Đây là một trong những lý do việc kiểm định chất lượng không thể đẩy tới được, vì đa số trường của VN là trường công lập, và có chất lượng hay không thì cũng sẽ có sinh viên vì được bao cấp. Cũng do sự thiên vị này nên khối ngoài công lập yếu, mà thiếu cạnh tranh thì khối công lập cũng khó mạnh lên được (không cạnh tranh nên không cần chất lượng!). Hệ quả của sự thiên vị này là sinh viên đi du học hoặc học chương trình nước ngoài ngày càng nhiều, tức ép khối ngoài công lập trong nước để tạo điều kiện cho khối ngoài công lập của nước ngoài cạnh tranh với mình một cách bất bình đẳng! Nên nhớ rằng các trường của nước ngoài khi tuyển sinh quốc tế là hoàn toàn nhắm vào lợi ích tư, mang tính thị trường, chứ không hề đóng góp gì vào lợi ich công của VN cả.   Thật đáng buồn!  —    (*) Tiến sĩ, Phó giám đốc Trung tâm Bồi Dưỡng và Hỗ trợ Chất lượng giáo dục, Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập Việt Nam     (1) Theo UNW số ra đầu tháng 9/2011, tỷ lệ sinh viên quốc tế đến Mỹ học tập trong năm 2011 đã tăng lên 11%, mức cao nhất từ năm 2006 đến nay.    (2) Teixeira (2006) Markets in Higher Education.    (3)  http://dev.econlib.org/library/Enc/bios/Smith.html    (4) https://www.sensepublishers.com/files/9789460914669PR.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục Việt Nam: “Thị trường chanh” khổng lồ      Nếu trong âm nhạc, bài hát cây chanh (lemon tree) với khởi đầu là âm thanh của chiếc ly vỡ đã làm say đắm không ít người thì trong kinh tế học, “thị trường chanh” (Lemon Market) đã giúp George Akerlof đoạt giải nobel kinh tế năm 2001. Tên là như vậy, nhưng cũng như bài hát cây chanh, chẳng liên quan gì đến chanh mà nó giải thích hiện tượng thất bại thị trường do thông tin bất cân xứng, người mua không phân biệt được đâu là hàng tốt đâu là hàng kém chất lượng. Kết quả cuối cùng trên thị trường chỉ còn lại toàn hàng kém chất lượng.  Loại thị trường này dường như đang xảy ra trong giáo dục ở Việt Nam làm sản sinh ra rất nhiều “học sinh giỏi kém chất lượng”, rất nhiều “học giả” theo kiểu bằng thật học giả hay bằng giả…    Điểm số, một câu chuyện buồn  Trong giáo dục, điểm số là thước đo được dùng để đánh giá chất lượng và khả năng của học viên. Ai càng giỏi thì điểm số càng cao vì điểm số có được là nhờ khả năng và sự cố gắng của mỗi người học. Điểm số luôn đồng biến với tri thức mà người học thu nhận được. Do đó, muốn có được điểm số cao, người học phải không ngừng nâng cao kiến thức của mình, cần phải đổ rất nhiều mồ hôi, công sức. Đây là một nền giáo dục chân chính.  Xét về chương trình đào tạo, cách đây vài thập kỷ, không ai phủ nhận sự lạc hậu của giáo dục Việt Nam. Nhưng hình như lúc đó, căn bệnh thành tích chưa xuất hiện nên việc đánh giá kết quả học tập còn tương đối nghiêm túc. Ở bậc trung học phổ thông, học sinh đạt danh hiệu tiên tiến là điều tự hào lắm rồi. Trường hợp đạt danh hiệu học sinh giỏi là một vinh dự rất lớn. Tôi có nghe kể rằng khoa toán của một trường đại học rất lớn ở miền Trung, trong suốt 17 năm (1976-1993) chỉ có vài điểm 9 trong tất cả các kỳ thi học kỳ.  Ngày nay, trong môi trường giáo dục của Việt Nam, thước đo khả năng, khối lượng tri thức của người học đang bị bóp méo một cách trầm trọng. Sẽ rất nhọc công khi phải dùi mài kinh sử, phải học phải nhớ hết công thức này đến công thức khác, nhưng khi vào phòng thi hay làm bài kiểm tra thì người khác chỉ việc giở sách hoặc giở bài giải mà thầy cô đã giải từ buổi học thêm trước đó chép vào.  Kết quả điểm số của trung thực không bao giờ có thể bằng được những người quay cóp. Theo thời gian, những người có ý chí muốn học vì tri thức sẽ biến mất khỏi “thị trường”, chỉ còn lại những người quay cóp và bố mẹ phải thường xuyên thăm viếng thầy cô với những món quà hơn cả mức tình cảm mà không có khái niệm tôn sư trọng đạo.  Thêm vào đó, một vấn đề hết sức trầm trọng là căn bệnh thành tích. Nếu có học sinh lưu ban, tỷ lệ học sinh yếu, kém, trung bình, thậm chí là khá mà cao thì giáo viên sẽ mất tiên tiến. Do đó, vì lợi ích cá nhân mà giáo viên thường cho điểm học sinh của mình càng cao càng tốt. Có nền giáo dục nào mà cả lớp, cả trường đều là học sinh giỏi, học sinh xuất sắc. Hình như hệ thống giáo dục hiện nay đang tạo ra những người học giỏi kém chất lượng. Hàng tốt đã bị đẩy ra khỏi thị trường chỉ còn lại hàng kém chất lượng. Việc ngồi nhầm lớp là điều không cần bàn cãi.    Bằng cấp, chuyện bi hài  Về ý tưởng, yêu cầu có bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ khi bổ nhiệm cán bộ là điều tốt. Tuy nhiên, khi tấm bằng được xem là phương tiện cho việc thăng tiến thì nó trở nên vô cùng có giá và người ta sẽ cố chạy cho được cái bằng. Lúc này, cầu là rất lớn và các trường tha hồ cung, kể cả những người làm bằng giả. Vẫn có những trường, những khoa cố gắng bảo vệ chất lượng của mình.  Tuy nhiên, mục tiêu của người học không phải là kiến thức mà chỉ vì tấm bằng nên có một số đơn vị cung đã đáp ứng cầu bằng cách “tạo điều kiện” sao cho người học dễ có tấm bằng nhất. Hàng loạt hiện tượng tiêu cực về mua điểm, mua bằng đã xảy ra. Lúc này, những người học chân chính cũng sẽ bị teo dần và có nguy cơ biến mất khỏi thị trường. Số lượng bằng tiến sỹ, thạc sỹ quá nhiều mà không ít tai tiếng nên nhiều người học ở những trường danh tiếng ở nước ngoài về không còn cách nào khác phải ghi cả tên trường và ngành học của mình vào danh thiếp. Đây là điều chỉ có ở Việt Nam.  Cứ cơ chế học, cơ chế cấp bằng như vậy xảy ra thì theo thời gian, trên thị thường thành phần “học giả” sẽ chiếm đa số. Một “thị trường chanh” khổng lồ đang ngày một lớn mãi. Nếu không chữa trị kịp thời thì những di căn của nó thật là khủng khiếp và sẽ để lại hậu quả hàng trăm năm. Do đó, sửa chữa ngay thất bại thị trường này là việc cần làm ngay.    Giải bài toán điểm số  Điều có thể khẳng định rằng, chẳng một nền giáo dục chân chính đúng nghĩa của nó có phân phối đều, tất cả học sinh đều giỏi và xuất sắc cả. Phân phối hợp lý nhất là phân phối chuẩn hay phân phối tự nhiên. Nếu điểm số của học sinh tuân theo phân phối tự nhiên là điều hợp lý. Do vậy, để tránh hiện tượng trường trường cùng giỏi, nên chăng áp dụng cách đánh giá điểm theo phân phối chuẩn.  Lúc đó, tỷ lệ học sinh xuất sắc, giỏi, khá chỉ ở một tỷ lệ nhất định trong những giới hạn của các độ lệch chuẩn. Điều đương nhiên là không thể áp dụng một phân phối cho tất cả các trường mà mỗi trường có một giá trị trung bình hay phân phối riêng. Để làm được điều này, có thể sử dụng điểm số thi đại học của tất cả học sinh trong trường làm căn cứ định ra phân phối, tỷ lệ tối đa cho các loại học sinh giỏi, học sinh xuất sắc, trung bình…  Nếu áp dụng cách thức này sẽ có hai điều lợi xảy ra. Thứ nhất, các học sinh hiểu rằng, số lượng vị trí cao nhất là có giới hạn nên khả năng đạt được điểm số, vị thứ cao hơn phụ thuộc vào lực học của mình. Do đó, sự cạnh tranh để đạt được cái tốt nhất trong học tập xảy ra. Thứ hai, sử dụng điểm số thi đại học sẽ khách quan hơn vì nó nằm ngoài khả năng chi phối của trường, các địa phương. Lúc này, nhà trường hay giáo viên không thể bóp méo điểm số, hay thiên vị người này người kia mà hành động hợp lý sẽ là nâng cao chất lượng giảng dạy..  Bài toán bằng cấp  Khi “Thị trường chanh” đã xảy ra, giải pháp đượng áp dụng là phát tín hiệu thị trường. Đối với vấn đề bằng cấp ở Việt Nam. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách áp dụng hệ thống chấm điểm và xếp loại các trường đại học cùng với việc tập trung xây dựng các trường đại học đẳng cấp quốc tế. Khi mà tấm bằng gắn liền với danh tiếng của nhà trường thì điều đương nhiên các trường sẽ chú trọng đến chất lượng của mình mà không chạy theo số lượng như hiện nay. Để thực hiện được điều này, điều kiện tiên quyết là các trường phải có tính tự chủ, nhất là tự chủ về tài chính, tự chủ về chương trình giảng dạy rất cao.  Hy vọng rằng, với những thay đổi trong hệ thống giáo dục, nhất là người điều hành cao nhất, trong vài ba, thậm chỉ là một nửa hay cả một thế kỷ nữa, Việt Nam sẽ có một nền giáo dục đúng nghĩa của nó để có thể thực hiện thành công mục tiêu trồng người, tạo ra những thế hệ có đủ khả năng đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm Châu.  Thảo Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục ý thức cạnh tranh sinh tồn ở Thụy Điển: Những điều mắt thấy tai nghe      Bắt nạt kẻ kh&#225;c l&#224; một ưu thế  Năm 2000, khi con g&#225;i ch&#250;ng t&#244;i l&#224; Vi&#234;n Vi&#234;n mới 5 tuổi, t&#244;i theo chồng sang Stockholm (Thụy Điển) sinh sống. Chồng t&#244;i l&#224;m gi&#225;m đốc kỹ thuật một c&#244;ng ty phần mềm Thụy Điển, t&#244;i cũng kh&#244;ng chịu ngồi nh&#224;, xin l&#224;m hướng dẫn vi&#234;n du lịch cho một c&#244;ng ty du lịch. Hai ch&#250;ng t&#244;i đều hưởng lương rất cao, c&#243; thể liệt v&#224;o h&#224;ng kh&#225; giả trong số người Hoa ra nước ngo&#224;i kiếm kế sinh nhai. Lẽ ra như thế ch&#250;ng t&#244;i c&#243; thể sống vui vẻ, thế nhưng ng&#224;y n&#224;o t&#244;i cũng &#226;u sầu ảo n&#227;o về chuyện học h&#224;nh của con b&#233;.    Hôm đầu tiên đưa Viên Viên đến nhà trẻ, tôi phấn khởi lắm, vì đây là nhà trẻ của Giáo hội, trang bị rất tốt và chất lượng thầy cô giáo khá cao. Thế nhưng tối hôm ấy khi đón cháu về, thấy nó không vui, tôi hỏi tại sao thì cháu oà khóc nói: “Chẳng có bạn nào nói chuyện với con, chẳng ai chơi với con cả.” Hôm sau tôi đến đón cháu sớm hơn, đứng ngoài sân kín đáo quan sát lũ trẻ thì thấy Viên Viên thui thủi một mình một xó nhìn các bạn khác đang lần lượt chơi đu. Cô giáo đứng ngay cạnh thản nhiên không nói gì. Tôi thật thất vọng.  Khi về nhà, Viên Viên kể, cô giáo có nhắc các bạn chơi với con nhưng chẳng ai nghe, có hai bạn trai còn đẩy ngã con nữa, thế mà cô cũng không nói gì cả. Tôi phát ngán cái nhà trẻ này quá, bèn đi liên hệ xin cho cháu vào nhà trẻ khác. Thế nhưng ở Thụy Điển do phúc lợi xã hội cực tốt nên chẳng mấy ai gửi con vào nhà trẻ, Vì thế số lượng nhà trẻ rất ít, nhà trẻ gần thì lại càng không tìm đâu ra.  Điều làm tôi bực mình nhất là cô giáo rõ ràng nhìn thấy lũ trẻ bắt nạt nhau mà chẳng bao giờ can thiệp cả. Một hôm, Viên Viên bị một bạn trai cắn, trên vai còn hằn rõ vết tím bầm hai hàm răng thằng bé kia. Tôi tức quá liền đến gặp cô giáo thì cô ấy tỉnh bơ nói: “Trẻ em đánh nhau tuy là có lỗi, song có thể tha thứ; thế nhưng có ai ngăn cản con bà đánh lại các bạn đâu ?” Tôi suýt phát điên lên vì thứ lý luận kỳ quặc ấy ! Đó chẳng phải là lôgic của bọn kẻ cướp đấy ư ? Tôi chờ cho tới khi bà mẹ thằng bé kia đến đón con thì nói chuyện để bà ấy dạy con không nên bắt nạt Viên Viên. Ai ngờ bà béo ấy tỏ ý khó chịu nói: “Thế con bà không có răng à ? Sao cháu nó không biết cắn lại con tôi nhỉ ?” Tôi thật khóc dở mếu dở trước câu trả lời ấy.            Thầy cô giáo không quan tâm đến việc trẻ em bắt nạt nhau, coi thế là khuyến khích cạnh tranh. Đứa trẻ đi bắt nạt bạn sẽ trải nghiệm được ưu thế do nó có thực lực, còn đứa trẻ bị bắt nạt sẽ phải cố gắng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Thật là một mớ lý luận kỳ quái, nhưng thực tế đúng là như vậy.          Một hôm chồng tôi mời một anh bạn đến chơi để trao đổi về chuyện trên. Anh ấy trước cũng học ở Đại học Bắc Kinh, là tiến sĩ xã hội học, thông thái uyên bác, đã công tác ở Thụy Điển mười mấy năm nay. Anh giải thích: ở nước này, khi trẻ em bị bạn bắt nạt, phụ huynh không được khiếu nại với thầy cô giáo, cũng không được nói gì với phụ huynh đứa trẻ bắt nạt. Tại Trung Quốc, bắt nạt người là sai trái phải bị chê trách, còn ở đây thì lại là một kiểu thể hiện ưu thế, bị bắt nạt là thể hiện mình kém năng lực. Lôgic khác nhau nên cách đánh giá cũng khác nhau !  Thầy cô giáo không quan tâm đến việc trẻ em bắt nạt nhau, coi thế là khuyến khích cạnh tranh. Đứa trẻ đi bắt nạt bạn sẽ trải nghiệm được ưu thế do nó có thực lực, còn đứa trẻ bị bắt nạt sẽ phải cố gắng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Thật là một mớ lý luận kỳ quái, nhưng thực tế đúng là như vậy.     Không cạnh tranh thắng thì không được ăn  Xem ra có chuyển nhà trẻ cũng vô ích. Hồi ấy đang là mùa ít khách du lịch, công ty tôi không có lãi nên tôi bị mất việc. Thế là tôi ở nhà trông con, không cho cháu đi nhà trẻ nữa.  Nhà tôi trọ ở vùng ngoại ô vắng vẻ giữa rừng, đánh xe đi 15 phút cũng chẳng gặp ai cả. Thật tội nghiệp cho Viên Viên mới 5 tuổi mà phải ở nhà một mình, không có bạn cùng tuổi thì có gì mà chơi. Chẳng có nơi nào học đàn pi-a-nô, học vẽ, học nhảy múa. Chỉ vì người lớn muốn ra nước ngoài kiếm sống mà lũ trẻ khổ thế đấy. Tôi thường cằn nhằn oán trách chồng về việc này.  Sáu tháng sau, chồng tôi chuyển đến làm việc ở một chi nhánh của công ty đóng tại thành phố Lulea miền bắc Thụy Điển. Tại đây tôi tìm được việc đánh máy thuê, bèn gửi con bé vào nhà trẻ.   Ngày đầu tiên từ nhà trẻ về, mắt cháu đỏ hoe. Tôi tưởng là cháu bị ai đánh nhưng không phải. Thì ra chiều nay nhà trẻ chia táo cho lũ trẻ, nhưng cô giáo không chia đều mà yêu cầu các cháu phải giải câu đố, ai giải được thì được chia một quả táo.  Trời ơi, Viên Viên mới học bập bẹ được dăm câu nói tiếng Thụy Điển thường dùng đơn giản thì sao mà giải được câu đố chứ. Thế là dĩ nhiên cháu không được ăn táo. Ở Bắc Âu, được ăn táo là sướng lắm. Táo bán ngoài hiệu đã ít chủng loại mà giá lại đắt kinh khủng, nói chung tầng lớp làm công ăn lương khó mà mua được táo tươi ngon. Nhà tôi cũng chỉ thỉnh thoảng mua được ít táo quá mùa, một tuần được ăn vài quả táo chưa chín hẳn đã là khá lắm. Viên Viên giận dỗi khóc thút thít. Tôi an ủi: “Ta không ăn táo nhà trẻ nữa, mẹ mua cho con ăn vậy.”  Tuy được ăn táo ở nhà, nhưng tâm lý Viên Viên vẫn không thể nào chịu được chuyện bất công như vậy ở nhà trẻ. Một đứa bé 5 tuổi thấy bạn bè ngồi cạnh mình đều được ăn táo cả còn mình thì phải chờ về nhà mới được ăn, như thế tâm trạng nó sẽ ra sao ? Tôi thật chỉ muốn gặp ngay cô giáo trao đổi chuyện ấy, nhưng nhớ tới bài học lần trước nên đành thôi mà chỉ khuyên cháu chịu đựng vậy, chờ sau này khi mẹ con mình đều giỏi tiếng Thụy Điển rồi thì con sẽ được ăn táo thoải mái.  Lý lẽ thì đơn giản thế, nhưng thực tại lại thật khó hiểu. Một hôm tôi về sớm đón cháu, thấy cô giáo đang chia dưa hấu cho lũ trẻ. Cảnh tượng ấy tôi thật khó mà quên được: mười mấy cháu nhỏ ngồi quanh dãy bàn dài, trước mỗi cháu bày một cái đĩa trên đựng một hai miếng dưa. Lũ trẻ đang khoái chí gặm dưa, còn cái đĩa trước mặt Viên Viên thì trống huếch chẳng có gì cả. Cháu cúi đầu ngồi yên lặng không động đậy, cứ như kẻ phạm tội đang bị xử án. Cách làm của cô giáo như vậy có quá đáng không đây ? Như thế thì còn gì là cạnh tranh nữa, rõ ràng là phân biệt đối xử.  Lúc Viên Viên ngẩng đầu lên trông thấy tôi đứng ngoài cửa kính, cháu oà khóc. Tôi bực tức mở toang cửa xộc vào, mặt tái đi, đến đứng trân trân trước mặt cô giáo, vì tức giận mà tôi không nói được gì, hai tay run bần bật. Có lẽ cô giáo cũng hiểu là làm thế quá đáng thật, nếu tôi kiện cô có hành vi phân biệt chủng tộc thì cô ấy khó mà thoát tội. Cô giáo đứng dậy xin lỗi tôi mấy lần liền, thanh minh cô không có ý phân biệt đối xử với bất cứ cháu nào mà chỉ muốn trau dồi cho chúng ý thức cạnh tranh, như vậy sẽ rất có lợi cho sự trưởng thành của lũ trẻ. Tôi tức giận quát to: “Tôi không muốn để con mình tham gia kiểu cạnh tranh bẩn thỉu này !” rồi xông đến kéo Viên Viên về nhà.  Vịt con xấu xí biến thành thiên nga  Hiểu rằng nếu cứ thế mãi thì sự phát triển tâm lý của Viên Viên sẽ bị tổn thương không thể nào cứu được, tôi bèn dứt khoát bỏ công việc có thu nhập cao mình đang làm, thuyết phục chồng dọn nhà vào khu trung tâm thành phố. Tuy ở đây tiền thuê nhà đắt gấp đôi, nhưng có nhiều trẻ em để Viên Viên tiếp xúc. Ngày ngày tôi dẫn cháu đến vườn hoa khu phố, tại đây có không ít các bà nội trợ đưa con đến chơi. Nhờ thế, tôi kết bạn được với mấy bà người Thuỵ Điển tốt bụng, chúng tôi trò chuyện rất vui bằng tiếng Anh. Biết tôi có học vị tiến sĩ, lại đến từ một nước phương Đông, họ trò chuyện với tôi đủ mọi chuyện trên đời. Điều quan trọng nhất là Viên Viên có dịp hoà nhập với lũ trẻ con của họ, ngày nào cháu cũng được vui chơi nô đùa thoả thích, vì thế tôi cũng mừng lắm.  Để tăng khả năng cạnh tranh của Viên Viên, tôi mua trọn một bộ sách giáo khoa tiểu học Thụy Điển. Giở ra xem, trời ơi, chương trình 6 năm tiểu học còn ít hơn chương trình lớp 1 ở Trung Quốc. Tôi còn nhắn mẹ tôi gửi từ nhà sang một bộ sách giáo khoa tiểu học của Trung Quốc, ngày nào tôi cũng ở nhà dạy Viên Viên học theo bộ sách này.  Năm Viên Viên 6 tuổi, cháu vào tiểu học. Hôm khai giảng, tôi mua cho cháu một chiếc cặp sách đẹp nhất, mặc cho cháu bộ quần áo bò rất đắt tiền. Thế nhưng khi đến trường, tôi thấy các trẻ em khác đều mang theo một chiếc ống lớn màu sắc sặc sỡ. Lễ Khai giảng ở đây rất đặc biệt. Vì lớp học rộng mà mỗi lớp chỉ có 15 học sinh nên tất cả phụ huynh đều cùng con em mình vào lớp ngồi bên nhau. Thầy giáo điểm danh, đến tên ai thì học sinh đó lên đứng trên bục giảng. Tất cả lũ trẻ đều cầm những chiếc ống mầu to đẹp, em nào cũng đắc ý lắm. Chỉ có một mình Viên Viên chẳng cầm gì cả, trông thật không ăn nhập. Có mấy cháu trai liếc nhìn Viên Viên ồ lên cười giễu cợt: “Các cậu xem kìa, bạn ấy không có ống màu !” Thầy giáo vội bước tới dặn các em không được chê cười bạn, nhưng lũ trẻ vẫn cứ nhìn Viên Viên như nhìn một người ngoài hành tinh. Tôi thật sự lo con gái mình không chịu đựng nổi tình trạng ấy. May sao lần này thì Viên Viên nói to: “Nhưng mà tớ có cặp sách đẹp nhất đây này !” Nói rồi cháu tháo chiếc cặp đeo sau lưng xuống, giơ cao lên đầu. Tất cả các phụ huynh đều thấy đây đúng là chiếc cặp sách đẹp nhất và đắt tiền nhất lớp. Nhìn thấy con ứng xử như thế, tôi vững dạ hẳn lên. Lần này Viên Viên thắng to rồi, một điềm tốt đây !  Ngay từ những ngày học đầu tiên, Viên Viên đã tỏ ra giỏi nhất lớp. Trong khi các bạn khác còn chưa đếm được từ 1 đến 10 thì Viên Viên đã biết làm 4 phép tính. Trong khi nhiều bạn bắt đầu học từ chữ cái abc đầu tiên thì Viên Viên đã có thể đọc thơ lưu loát bằng tiếng Thụy Điển. Cô giáo phụ trách lớp là Ma-rin rất mến Viên Viên, trước đây cô đã từng theo chồng sang Trung Quốc mấy tháng khi chồng làm việc ở Công ty Hoá dầu Liêu Ninh. Giờ lên lớp, khi có vấn đề nào các em khác không trả lời được, cô đều gọi Viên Viên trả lời thay.  Hồi ở Trung Quốc, Viên Viên đã học qua lớp hội hoạ nên cháu có thể vẽ được đủ thứ người, vật, cảnh, trong khi nhiều bạn ở đây còn chưa biết cầm bút vẽ. Bức tranh nào của cháu cũng được thầy giáo mỹ thuật lấy làm mẫu để giảng cho các học sinh khác, sau đó đem treo trong phòng dạy vẽ của nhà trường.  Lòng tự tin của Viên Viên được phát huy, cháu trở nên cởi mở, hoạt bát, được chọn là đại diện duy nhất của khối lớp 1, thường thay mặt khối phản ánh ý kiến của học sinh đối với nhà trường. Cô Ma-rin rất vui, gọi điện thoại cho tôi khen: “Con gái bà rất xuất sắc, rất đáng yêu !”            Hai năm Viên Viên lớn lên ở Thụy Điển, tôi càng nhận thức rõ sự khác biệt về quan niệm giữa phương Đông với phương Tây. Tại đây, người ta chú trọng cạnh tranh, dùng thực lực để chứng minh tất cả. Khi còn ở nhà trẻ, vì không có thực lực nên Viên Viên bị thiệt nhiều quyền lợi; nhưng khi lên tiểu học, vì có thực lực mạnh nên cháu được hưởng mọi thứ xứng đáng được.          Trong kỳ thi trước lễ Giáng Sinh, Viên Viên là học sinh duy nhất trong trường đạt điểm tối đa tất cả các môn. Hôm họp phụ huynh sau kỳ thi, cô Ma-rin phát biểu khen ngợi Viên Viên và ngỏ ý mong các vị phụ huynh dạy con mình noi gương Viên Viên. Tôi thấy các phụ huynh nhao nhao trao đổi bàn tán với nhau. Thấy thế, cô Ma-rin gọi Viên Viên lên bục, và nói: “Xin quý vị nói tên bất kỳ một bài thơ nhi đồng nổi tiếng nào, cô bé này sẽ lập tức đọc bài thơ đó cho quý vị nghe.” Có hai phụ huynh ra hai đề, Viên Viên đọc thuộc lòng ngay hai bài thơ đó với giọng trong trẻo lưu loát. Cô Ma-rin lại đề nghị các phụ huynh ra đề toán phép nhân số có 2 con số, Viên Viên cũng trả lời đúng tất. Mọi người tán thưởng vỗ tay nhiệt liệt.  Hai năm Viên Viên lớn lên ở Thụy Điển, tôi càng nhận thức rõ sự khác biệt về quan niệm giữa phương Đông với phương Tây. Tại đây, người ta chú trọng cạnh tranh, dùng thực lực để chứng minh tất cả. Khi còn ở nhà trẻ, vì không có thực lực nên Viên Viên bị thiệt nhiều quyền lợi; nhưng khi lên tiểu học, vì có thực lực mạnh nên cháu được hưởng mọi thứ xứng đáng được. /.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao quyền tự chủ cho trường ĐH ở Hàn Quốc      Mặc dù có nhiều thành tựu đáng ghi nhận như hiện nay, Hàn Quốc đã có nhiều thập kỷ hạn chế quyền tự chủ của các trường đại học. Cho đến trước thời điểm đổi mới và giao quyền tự chủ toàn diện cho các trường đại học của Hàn Quốc vào năm 1995, chính sách giáo dục đại học của Hàn Quốc được cho là tập trung đến mức cực đoan.     Khi đó, Bộ Giáo dục Hàn Quốc giữ quyền kiểm soát:  1.    Việc thành lập các trường đại học.  2.    Đặt ra các quy định về thời lượng chương trình, năm học, chỉ tiêu tuyển sinh, tiêu chuẩn thi cử, chuẩn hoàn thành khóa học, kiểm định chất lượng.  3.    Việc bổ nhiệm, khen thưởng hiệu trưởng; đề ra các chuẩn chất lượng giáo viên.  4.    Duyệt chỉ tiêu tuyển sinh, và quy định hình thức thi tuyển đầu vào đại học.  5.    Xác định chương trình khung, yêu cầu đăng ký tốt nghiệp để kiểm soát số lượng sinh viên.  6.    Duyệt chi ngân sách, xác định chuẩn cơ sở vật chất, thư viện, v.v.  7.    Quy định trình tự báo cáo của các trường về tài chính, nhân sự, sinh viên lên Bộ Giáo dục1.  Nhìn vào những quy định trên, có thể thấy rõ hình ảnh của mô hình quản lý giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay. Và thực tế là chính phủ Hàn Quốc cũng đã loay hoay trong hai thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước để tìm ra mô hình cho đổi mới giáo dục đại học. Cụ thể là, trong thời gian này, Hàn Quốc đã có ít nhất là 6 lần thay đổi quy định tuyển sinh đại học: lúc thì Bộ Giáo dục quy định đề chung, lúc thì trường được phép ra đề, lúc thì kết hợp cả hai hình thức tùy theo từng đối tượng. Tuy vậy, đến năm 1995, Hàn Quốc đã chính thức cải cách hoàn toàn cơ chế quản lý xin cho và tập quyền để dứt khoát trao quyền tự chủ cho các trường với những nội dung cơ bản như sau:  1.    Đa dạng hóa và chuyên sâu hóa hệ thống giáo dục đại học  2.    Đa dạng hóa các tiêu chí cho phép thành lập các trường đại học tư thục  3.    Trao quyền tự chủ cho các trường quyết định chỉ tiêu tuyển sinh và quản lý trường  4.    Tạo hệ thống hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu khoa học  5.    Gắn kết chặt chẽ giữa đánh giá chất lượng của trường đại học với hỗ trợ tài chính từ Chính phủ1.  Để có được sự dứt khoát đoạn tuyệt với chính sách quản lý cũ, Hàn Quốc đã phải trải qua những dấu mốc cải tổ nào và làm cách nào để Chính phủ Hàn Quốc giám sát chất lượng giáo dục của các trường khi giao toàn quyền tự chủ cho các trường đại học?   Thứ nhất, từ năm 1982, Hiệp hội các trường đại học Hàn Quốc (Korean Council for University Education – KCUE) được thành lập. Hiệp hội này nhằm thúc đẩy nghiên cứu, hợp tác giữa các trường, và đánh giá, kiểm định chất lượng. Cơ quan này đóng vai trò cầu nối giữa Bộ Giáo dục và các trường đại học1. Sau 10 năm thử nghiệm, năm 1992, Hiệp hội chính thức được Chính phủ và Bộ Giáo dục Hàn Quốc công nhận là cơ quan độc lập phi chính phủ, có vai trò chủ chốt trong việc đánh giá, kiểm định các chương trình giáo dục của các trường thành viên.   Thứ hai, sau hai thập kỷ loay hoay với đổi mới giáo dục, năm 1987, cùng với quá trình dân chủ hóa nền chính trị Hàn Quốc, Bộ Giáo dục đã đề ra Kế hoạch Tự chủ hóa các trường đại học (University Autonomization Plan). Thực chất đây là quá trình đổi mới về tư duy phát triển giáo dục đại học bắt nguồn từ việc nhận thức rõ được những bất cập của chính sách quản lý tập trung. Những bất cập đó là: (1) kìm kẹp sáng tạo và đổi mới trong mỗi cơ sở giáo dục; (2) không phù hợp với tình hình mới khi bản sắc của từng trường cần được phát huy; (3) thiếu tính linh hoạt và thích ứng; (4) làm tăng sự quan liêu trong quản lý của các trường, trái ngược với bản chất và chức năng của giáo dục đại học1.  Do đó, bản kế hoạch cải cách năm 1987 thực chất là tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong quản lý của các trường; mở rộng sự tham gia của đội ngũ giáo viên trong quản lý của nhà trường; tăng cường chất lượng giáo dục thông qua mở rộng quyền của giáo viên; tăng cường quyền tự quyết của các trường; và bảo vệ và phát huy quyền tự chủ của các trường đại học và cao đẳng2.  Bản đề xuất này đã được hợp thức hóa bằng bản Đề xuất Cải cách của Hội đồng Tổng thống về Cải cách Giáo dục (Presidential Commission on Educational Reform – PCER) công bố ngày 31/05/1995 và được chính thức luật hóa bằng Đạo Luật Giáo dục Đại học năm 1998. Có hai cơ chế nổi bật trong cải cách giáo dục đại học của Hàn Quốc nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội của các trường khi được giao toàn quyền tự chủ. Một là gắn đánh giá chất lương giáo dục (bằng một cơ quan kiểm định độc lập) với hỗ trợ tài chính từ chính phủ; hai là quy định rõ việc thành lập hội đồng trường và điều lệ trường nhằm giám sát hoạt động của các trường.  Qua phân tích quá trình đổi mới giáo dục đại học của Hàn Quốc như trên, có thể rút ra một số điểm mấu chốt liên hệ tới quá trình đổi mới giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay.   Một là, quá trình đổi mới thực sự khởi nguồn vào năm 1982 (lúc đó GDP trên đầu người tính theo sức mua tương đương – PPP – của Hàn Quốc là 3.012 USD so với 3.142 USD của Việt Nam năm 2010, IMF)3 từ việc thành lập hiệp hội các trường đại học. Tuy vậy phải mất 10 năm, bằng sự mở đường của quá trình dân chủ hóa diễn ra từ năm 1987 đến năm 1992 tại Hàn Quốc, thì hiệp hội này mới chính thức được công nhận là cơ quan độc lập, giám sát và kiểm định chất lượng của hơn 200 trường thành viên.   Hai là, quá trình đổi mới chính sách xuất phát từ sự đổi mới sâu xa về tư duy: từ việc coi trường đại học là cơ sở do nhà nước sinh ra, và cần chịu sự quản lý của nhà nước đến tư duy coi trường đại học là một thực thể xã hội độc lập, có vai trò nuôi dưỡng sáng tạo khoa học và truyền bá kiến thức. Từ cơ chế xin cho, định hướng đến cơ chế khuyến khích sáng tạo tri thức và phát huy tính đa dạng vốn có của bất kỳ một xã hội nào.  Bài viết này giới thiệu quá trình đổi mới giáo dục đại học của Hàn Quốc như là một thí dụ để Việt Nam nhìn vào và đúc rút những kinh nghiệm, tránh những vết xe đổ, giảm thiểu những chi phí cơ hội để nhanh chóng phát triển khoa học và kỹ thuật, phục vụ phát triển dân trí và kinh tế xã hội. Thực tế, việc đổi mới chính sách phụ thuộc vào lịch sử dân tộc, hệ thống chính trị và điều kiện kinh tế xã hội. Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để xem nhẹ những giá trị toàn cầu, mà đối với giáo dục đại học là tính sáng tạo, sự đa dạng và tự do học thuật, và mục tiêu truyền bá trí thức nhân loại.  Thay cho lời kết, xin mượn lời TS Lâm Quang Thiệp (nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT những năm 1990) và học giả Martin Hayden để nhấn mạnh rằng, cải cách giáo dục đại học Việt Nam cần dựa trên những nền tảng sau: một đạo luật đủ mạnh để khẳng định quyền tự chủ của các trường đại học; một hệ thống các quy định điều tiết mối quan hệ giữa chính phủ và hệ thống giáo dục đại học, sao cho các trường không bị hạn chế quyền tự chủ của mình; minh bạch hóa các quy định về quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội, sao cho các cơ quan quản lý, hội đồng trường và hiệu trưởng hiểu rõ quyền và trách nhiệm cụ thể của mình; tăng cường năng lực quản lý của các trường; và xây dựng niềm tin đối với quá trình tự chủ của các trường đại học4.       —                         (*) NCS tại trường Đại học Tiểu bang Portland, Hoa Kỳ  1. Weidman, J. C & Park, N. (2000). Higher education in Korea: Tradition and adaptation. Falmer Press: NY   2. Luật Giáo dục Đại học: chưa đủ “chín” để trình Quốc hội. Báo Dân trí, ngày 14/10/2011.  3. Word Economic Outlook Database 2011: Gross domestic product based on purchasing-power-parity (PPP) per capita GDP. Vietnam in 2011 and South Korea in 1982. International Monetary Fund Official Website.  4. Hayden, M & Lam, T. (2007). Institutional autonomy for higher education in Vietnam. Higher Education Research & Development, Vol. 26, No. 1, pp. 73–8       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Anh đi tour giảng bài ở Việt Nam      Từ ngày 7 đến 13/09, hàng ngàn sinh viên các trường công nghệ tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh sẽ có cơ hội nghe bảy giáo sư Anh giảng bài trong chương trình hằng năm do Sterling Group tổ chức.    Hội đồng Anh tại Việt Nam cho biết, các giáo sư đến từ các đại học hàng đầu của Anh thuộc Sterling Group như ĐH Aston, ĐH Cambridge, ĐH Durham, ĐH Edinburgh, ĐH Leeds, ĐH Oxford, ĐH Southampton, trực tiếp đứng lớp với các nội dung liên quan đến khoa học công nghệ mang tính ứng dụng cao ở Việt Nam như: phát triển những thiết bị thông minh, quản lý nguồn tài nguyên nước và phòng chống ngập lụt, phát triển hệ thống sản xuất điện sử dụng năng lượng sóng và thủy triều v.v…   Sterling Group là tổ chức đại diện cho 19 trường ĐH hàng đầu về nghiên cứu kỹ thuật của Vương quốc Anh. Hằng năm, Sterling Group đều tổ chức các chuyến giảng bài tại Malaysia, Singapore, Ấn Độ và từ bốn năm nay mở rộng hoạt động của mình đến Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư – nhân vật quyết định chất lượng ĐH Mỹ      Nước Mỹ c&#243; c&#225;c trường đại học (ĐH) h&#224;ng đầu thế giới, thu h&#250;t thầy v&#224; tr&#242; khắp to&#224;n cầu đến giảng dạy v&#224; học tập. V&#236; sao họ l&#224;m được như vậy?  Nhằm trả lời cho c&#226;u hỏi đ&#243;, b&#225;o Văn Hối (một tờ b&#225;o của giới tr&#237; thức Trung Quốc) đ&#227; phỏng vấn &#244;ng Ph&#249;ng Nghị (Yi Feng) – Ph&#243; Hiệu trưởng phụ tr&#225;ch c&#244;ng t&#225;c gi&#225;o vụ của trường ĐH Nghi&#234;n cứu sinh Claremont (Claremont Graduate University) tại Los Angeles.    PV: Cảm tưởng chính của ông về công tác giáo dục ông đang làm tại Mỹ?  Phùng Nghị: Thu hoạch lớn nhất tôi nhận được ở Mỹ là hệ thống trường ĐH nước này ra sức phát huy vai trò của các giáo sư. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của nền giáo dục Mỹ. Giáo sư ở đây có ba chức trách chính là giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý hành chính có tính phục vụ. Hồi còn làm trợ giáo, tôi đã tham gia nhiều tiểu ban của nhà trường và làm các chức năng nói trên của một giáo sư. Hiện nay tôi làm công tác quản lý hành chính nên càng có dịp hiểu khá sâu về sự tham gia của các giáo sư. Mỹ với Trung Quốc không có sự khác biệt lớn về định nghĩa công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhưng lại khác nhau rõ rệt trên lĩnh vực sự tham gia của giáo sư vào công tác quản lý hành chính. Tại ĐH Mỹ, việc phục vụ quản lý hành chính được thực hiện qua các tiểu ban của nhà trường, thí dụ có tiểu ban phụ trách việc bổ nhiệm, đề bạt giáo sư và bình chọn chức danh giáo sư suốt đời (APT). Lại có tiểu ban tiêu chuẩn học thuật chuyên xem xét tiêu chuẩn giảng dạy, đưa ra các kế hoạch giảng dạy mới. Nếu kế hoạch không đạt tiêu chuẩn thì tiểu ban này không duyệt. Vì thế các giáo sư phát huy được tác dụng rất lớn về mặt quản lý hành chính nhà trường. Cách làm này được gọi là chia sẻ quyền quản lý nhà trường.  Thử thách lớn nhất với ông trong công tác làm Phó Hiệu trưởng trường ĐH ở Mỹ là gì?              Trung tâm Khoa học, Harvard College        Người làm công tác lãnh đạo hành chính trường ĐH cần tiếp xúc với tất cả các giáo sư thuộc mọi lĩnh vực (thuần khoa học, khoa học ứng dụng, khoa học xã hội nhân văn, quản lý và giáo dục). Giáo sư nào cũng có quyền phát biểu về công tác quản lý nhà trường. Ngoài ra còn phải tiếp xúc với các cán bộ quản lý hành chính, tài chính, ngân quỹ, Chủ tịch Hội đồng quản trị nhà trường. Các đoàn thể có thể có ý kiến khác nhau trên một số vấn đề quan trọng. Cho nên công tác tiếp xúc với họ là cả một thách thức không thể giải quyết xong trong một hai ngày mà phải thường xuyên tiến hành.  Một thách thức nữa là lãnh đạo hành chính ở Mỹ khác với ở Trung Quốc. Hiệu trưởng ĐH ở Trung Quốc có quyền lớn hơn, nói chung có thể quyết định mọi vấn đề. Ở Mỹ thì hiệu trưởng nhất thiết phải chia sẻ quyền lực với các đoàn thể. Quyền lực của hiệu trưởng đến từ Hội đồng Quản trị. Hội đồng này có quyền bổ nhiệm hiệu trưởng tuy cũng phải được sự giới thiệu của sinh viên và các thầy. Một hiệu trưởng giỏi phải là người khéo léo tổng hợp các ý kiến khác nhau của mọi thành viên trong trường, từ đó tìm ra hướng phát triển và chính sách đúng đắn cho nhà trường. Đây là một thách thức rất lớn. Hiệu trưởng, hiệu phó luôn chịu sức ép từ nhiều phía. Họ chưa chắc có quyền lực lớn song lại có trách nhiệm rất lớn. Làm tốt trách nhiệm hiệu trưởng trong khi mình chưa có đầy đủ quyền hành – đây là thách thức lớn nhất đối với hiệu trưởng ĐH ở Mỹ.  Ông đã dạy học nhiều năm ở Mỹ, theo ông đâu là mặt thành công nhất và mặt thất bại nhất của nền giáo dục Mỹ?  Nhìn chung toàn ngành giáo dục Mỹ thì mặt thành công lớn nhất của họ là ở khâu đào tạo nghiên cứu sinh; thiếu sót lớn nhất là ở khâu giáo dục trung-tiểu học. Việc giảng dạy các môn học liên ngành (interdiscipline) và giáo dục LAE là một ưu điểm lớn. Ở tầng nấc nghiên cứu sinh, họ tương đối mở, chiêu sinh các học sinh ưu tú nhất trên phạm vi toàn cầu.  Nhấn mạnh tự do học thuật – giáo sư gánh vác trách nhiệm XH                Năm Viện trưởng Harvard theo thứ tự thời gian phục vụ (từ trái sang): Josiah Quincy III, Edward Everett, Jared Sparks, James Walker và Cornelius Conway Felton.        Điểm đáng quý nhất của nền giáo dục Mỹ là gì? Có người nói đó là tự do và trách nhiệm. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?  Nếu hỏi một vị hiệu trưởng ĐH Mỹ tại sao ông/bà lại làm hiệu trưởng, thì họ sẽ đều nói là vì muốn phát triển nhà trường tới một tầm cao mới, tốt hơn trước. Muốn tổ chức tốt một trường ĐH thì nhất thiết phải có một đội ngũ thầy giáo ưu tú, có thế mới dẫn dắt được các học sinh giỏi. Trường ĐH nào thành công đều nhất thiết phải có các giáo sư hàng đầu. Tự do học thuật là mặt đáng quý nhất của nền giáo dục Mỹ. Nó đem lại cho các giáo sư vinh dự song thực ra cũng kèm theo trách nhiệm rất lớn.  Giáo sư có trách nhiệm rất nặng nề, nhất thiết phải có quyền uy, phải được bảo vệ. Tự do học thuật cung cấp sự bảo vệ các giáo sư, họ có thể tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực của mình, họ sẽ không bị trừng phạt vì ý kiến mình nói ra. Nhưng khi hoạt động học thuật, họ phải gánh vác trách nhiệm tương ứng đối với xã hội chứ không được tùy tiện nói những lời thiếu trách nhiệm. Ngành giáo dục Mỹ đặt các giáo sư ở vị trí rất quan trọng nhằm để họ phát huy tối đa tài năng cá nhân. Trong địa hạt của mình, các giáo sư có quyền tự chủ rất lớn, họ không đơn giản tuân theo ý kiến của lãnh đạo nhà trường. Chẳng hạn dạy bài học gì, cách giảng dạy, chiêu sinh những học sinh nào … chủ yếu do giáo sư quyết định. Giáo sư là yếu tố quan trọng nhất của trường ĐH Mỹ, đây là mặt đáng quý nhất của nền giáo dục Mỹ.  Không ít học viện (college) tư thục nổi tiếng ở Mỹ tuy rất giàu có nhưng quy mô lại rất nhỏ, không muốn phát triển thành ĐH tổng hợp. Còn ở Trung Quốc thì nhiều college đều thay xương đổi thịt nâng cấp thành ĐH. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?  Nên có các nhà trường quy mô to hoặc nhỏ; các học viện khoa văn (LAE), ĐH Nghiên cứu sinh và ĐH tổng hợp … mỗi cái đều phát huy tác dụng của mình. Nước Mỹ có các trường ĐH Nghiên cứu có tính tổng hợp, như Harvard, Yale  và Stanford. Còn có một hệ thống học viện LAE quy mô tương đối nhỏ, chỉ đào tạo cử nhân, thạc sĩ. Các học viện LAE không chú trọng đào tạo nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ, không nhằm có đột phá rất lớn về mặt nghiên cứu mà tập trung thời gian và công sức vào việc đào tạo sinh viên. Một số sinh viên khi lên lớp tại giảng đường lớn thì thiếu tập trung tư tưởng nhưng khi dự các lớp nhỏ thì được giáo sư đặc biệt quan tâm. Giảng đường lớn có tới 400 sinh viên, bạn không đến nghe giảng thì giáo sư cũng chẳng biết, do đó ảnh hưởng không tốt tới thành tích học của bạn. Tại các học viện LAE, số sinh viên nghe giảng trong mỗi lớp đều rất ít, giáo sư bỏ nhiều thời gian để giải quyết vấn đề cho từng sinh viên; nhờ thế khi các sinh viên đó trở thành nghiên cứu sinh thì họ sẽ có những biểu hiện tương đổi nổi trội.  Thu hút nhân tài toàn cầu   Trong mấy chục năm nay ĐH Mỹ chiếm top 20 danh sách xếp hạng các trường ĐH trên thế giới, còn các ĐH ở châu Âu thì tụt hạng dần. Ông đánh giá thế nào về chênh lệch giáo dục ĐH Âu-Mỹ?  Cơ chế giáo dục của các nước EU khác với Mỹ. Họ có khó khăn rất lớn trong việc cung  cấp nhân tài cho xã hội, vì thế họ muốn áp dụng một tiêu chuẩn để có thể đào tạo được các sinh viên giỏi hơn. Họ tìm lời giải từ đầu ra chứ không từ đầu vào. Thí dụ họ muốn biết những sinh viên như thế nào thì sau khi ra trường sẽ có cống hiến cho xã hội, sau đó mới quyết định chế độ học tập thế nào là hợp lý nhất, cuối cùng đưa ra một số sân chơi về tiêu chuẩn nhập học và quá trình đào tạo sinh viên. Mô hình tổ chức ĐH ở châu Âu mấy năm nay cũng đang cải tiến không ngừng. Về mặt sát hạch sinh viên và kiểm nghiệm thành tích học của sinh viên thì một số nước châu Âu làm tương đối tốt, thậm chí tốt hơn Mỹ.  Giáo dục Mỹ sở dĩ đi trước châu Âu chủ yếu là do: – Luật hiến tặng đất, Chính phủ cấp cho các trường ĐH rất nhiều đất để có thể xây dựng được trường sở. Các nhà trường biết kết hợp làm những việc công ích xã hội, thí dụ phục vụ nông nghiệp, khai khoáng và các lĩnh vực khác; – Chính phủ Mỹ ấn định một số dự án nghiên cứu khoa học và qua việc cấp ngân khoản để các ĐH cạnh tranh nhau thực hiện, đẩy mạnh được công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu kết hợp với các vấn đề thực tế, đem lại thành quả cho xã hội; – Hiện tượng cá nhân quyên tặng và doanh nghiệp tài trợ cho các trường ĐH đã trở thành một thứ văn hóa ở Mỹ, mọi người tập trung mọi nguồn tài nguyên cho các ĐH sử dụng.  Giáo sư là nhân tố quan trọng nhất trong giáo dục đại học, nhưng muốn thu hút được giáo sư giỏi thì phải có sự hậu thuẫn về tài chính. Nếu có thể cung cấp điều kiện nghiên cứu rất tốt, trả lương rất cao thì các ĐH Mỹ sẽ thu hút được những nhân tài giỏi nhất trên toàn cầu, do đó có được những giáo sư hàng đầu thế giới. Nhờ có môi trường nghiên cứu rất tốt lại liên tục được các cá nhân quyên tặng và Chính phủ tài trợ kinh phí nghiên cứu, nên giáo dục đại học Mỹ không có lý do gì để không đi trước châu Âu.               Huy Đường  lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang GiapSchool và hành trình tự thân khai sáng      Cuối tháng Tám vừa qua, từ nỗ lực cá nhân  của một nhà khoa học, cổng giáo dục trực tuyến mở theo hình thức MOOCs  (Massive Open Online Courses) – trào lưu giáo dục tiên tiến nhất – đã  được ra mắt lần đầu tại Việt Nam.     “Bắt đầu từ đêm tối, những con chữ, hình vẽ và giọng nói xuất hiện. Chúng được sinh ra và lớn lên, hoàn thành sứ mệnh, rồi được xếp vào ngăn ký ức. Theo thời gian, những ký ức này sẽ đầy dần lên, thành nhiều lớp khác nhau. Chỉ khi nào cần đến mới được truy vấn, xong rồi lại được xếp vào ngăn kéo của ký ức, cho đến hết bài giảng” – đó là cách mà các bài giảng trên Giapschool được thực hiện để tiếp cận theo cách tự nhiên nhất tới người học trên “lớp học” mạng. “Tôi muốn sắp xếp chúng theo dòng ký ức của một con người” – Giáp Văn Dương, “cha đẻ” của trường học đặc biệt này, lý giải.  Cách giảng bài này, đối với thể giới có lẽ không xa lạ, vì nó có phần tương tự như cách Salman Khan, sáng lập viên của Học viện Khan (Khan Academy), khởi xướng từ năm 2006. Nhưng điểm khác biệt giữa Khan Academy và GiapSchool là ở chỗ, trong khi các bài giảng của Khan ngắn, có tính chất tham khảo, thì với GiapSchool, bài giảng được sắp xếp theo các khoá học riêng biệt, tựa như một môn học tại nhà trường chính quy, tương tự cách EdX và Coursera – hai cổng MOOCs nổi tiếng khác đang được áp dụng tại Yale và Harvard, hai đại học hàng đầu ở Mỹ. Nói cách khác, với “lợi thế” của kẻ đi sau, Giáp Văn Dương đã kết hợp được các điểm mạnh của các cổng MOOCs đi trước, đồng thời sáng tạo trong việc mở rộng nội dung bài giảng không chỉ cho sinh viên đại học mà còn cho cả học viên ở các bậc học thấp hơn.  Hơn nữa, GiapSchool lại là cổng MOOCs đầu tiên và duy nhất, miễn phí, bằng tiếng Việt và dành cho người Việt.  Để thực hiện ý tưởng này, Giáp Văn Dương đã quyết định từ bỏ công việc nghiên cứu vốn đã quen thuộc với anh suốt 12 năm qua để trở về nước đầu tư toàn bộ thời gian cho dự án riêng của mình.  Một quyết định “tân tự do”  Vậy lý do gì để một nhà khoa học đang ở độ tuổi “năng suất” nhất, một người đàn ông cũng với gánh nặng “cơm áo” cho gia đình – như mọi người đàn ông bình thường khác, lại từ bỏ công việc ổn định ở trường đại học danh tiếng trên thế giới để về nước “vác tù và hàng tổng”?  Góc nhìn từ học thuyết Tân tự do (Neoliberalism) có thể cho ta lời giải thích cho “hiện tượng” này: “Cá nhân (trong thời đại tân tự do) sẽ theo đuổi công việc hoặc học tập giúp họ có thể thu lại được lợi ích lớn nhất, bất kể việc đó là ở quê hương hay viễn xứ.”  Đối chiếu với trả lời của Giáp Văn Dương với Vietnamnet “…tôi cho rằng nếu tôi làm giáo dục đến nơi đến chốn thì sẽ có đóng góp lớn hơn so với việc tiếp tục nghiên cứu chuyên môn của mình. Số các nhà Vật lý ở Việt Nam đã rất nhiều. Nhưng số nhà giáo dục am hiểu các nền giáo dục bên ngoài, và bắt nhịp được với các trào lưu giáo dục mới của thế giới còn rất ít. Việt Nam đang rất cần những người làm giáo dục nghiêm túc và sáng tạo. Giáo dục cần có những chuyển động mới” có thể thấy, cách lý giải trên đây phần nào là đúng.  Tuy vậy, có thể ngầm hiểu rằng “lợi ích lớn nhất” đối với Dương không chỉ là vấn đề tài chính mà còn là số lượng và chất lượng tri thức được phổ biến.  Với niềm tin về lợi ích đó, Giáp Văn Dương đã dành sáu tháng cuối năm 2012 để tìm hiểu cách làm, mất thêm hai tháng đầu năm 2013 để quyết định tạm hoãn dự định ban đầu là tổ chức biên dịch “Tủ sách chuyên gia” để quay sang với MOOCs. Quyết định có lẽ khá thức thời, bởi lẽ từ hơn hai năm trở lại đây, MOOCs chính là cách thức giáo dục thu hút được nhiều sự quan tâm cũng như bàn cãi nhất của giới học thuật trên toàn thế giới.  Vậy MOOCs là gì? Nếu bạn đọc chưa rõ về MOOCs, xin bớt chút thời gian đọc lại bài của ThS Nguyễn Ngọc Tuấn1 từ Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán đăng trên website hocthenao do GS Ngô Bảo Châu sáng lập.   Khan Academy của Việt Nam?  Xin quay trở lại để nói thêm về Salman Khan cũng như Khan Academy mà truyền thông trong nước cũng đã nhắc đến nhân sự kiện GiapSchool ra đời trong thời gian vừa qua.   Khan Academy ra đời vào năm 2006, tức là trước cả khi khái niệm MOOCs lần đầu được hai giáo sư ở Đại học Stanford giới thiệu vào năm 2009; tuy vậy, Khan thực sự đã được khởi động từ năm 2004, một cách rất tình cờ. Thời điểm đó, Khan có người em họ, Nadia, 13 tuổi, sống ở một thành phố khác, cần anh giúp gia sư về toán. Ban đầu, Khan dùng phần mềm Yahoo Doodle giúp anh có thể giảng bài trực tuyến cho Nadia; về sau, anh quyết định chuyển sang thu bài giảng của anh và tải lên Youtube, nhờ vậy Nadia cũng như những người em họ khác của Khan (lúc này cũng bắt đầu tham gia vào lớp học đặc biệt của anh) có thể xem đi xem lại bài giảng khi cần. Cho đến năm 2009, Khan quyết định bỏ hẳn công việc chuyên viên phân tích tài chính ở California để dành toàn bộ thời gian cho xây dựng Khan Academy. Đến tháng 5/2013, Khan Academy có khoảng hơn 4.000 bài giảng với hơn 300 triệu lượt xem từ khắp nơi trên thế giới. Từ chỗ chỉ một mình quản lý, điều hành website cũng như giảng bài, cho đến nay, nhờ được đầu tư gần 10 triệu USD từ Gates Foundation, Google và The O’Sullivan và một số quỹ khác, Khan đã phát triển trường học online của mình với gần 50 nhân viên; bài giảng của Khan đồng thời được dịch song ngữ sang 27 thứ tiếng khác ngoài tiếng Anh.   Khan chưa bao giờ tự nhận anh là một nhà cải cách giáo dục. Tuy vậy, những gì anh làm được dường như đang thực hiện điều đó. Gần 30 năm trước, khi Benjanmin Bloom, nhà giáo dục đầu tiên, bằng phương pháp thực nghiệm, chứng minh hiệu quả rõ rệt của việc học một thầy một trò so với cách học thông thường. Tuy vậy, kết quả của ông, ở thời điểm đó, không thể áp dụng được ở góc độ vĩ mô, bởi không một nhà nước nào, dù là giàu nhất cũng có thể trang trải nổi chi phí cho một hệ thống giáo dục với tỷ lệ một thầy – một trò như vậy. Ngày nay, hàng trăm nghìn học sinh tại 30.000 lớp học trên khắp thế giới đang sử dụng bài giảng của Khan trong chương trình chính quy của mình, đúng như mô hình một thầy-một trò mà Bloom đã đề xuất 30 năm trước.   Nhiều người xem video của Khan không khỏi ngạc nhiên tự hỏi làm sao một người có thể giảng bài được ở nhiều lĩnh vực tới vậy, từ toán, lý, hoá, sinh học, thiên văn, triết học, kinh tế, tài chính, tâm lý, lịch sử… tất cả đều do một mình Khan tự giảng bài và thu hình trong những năm đầu tiên, và mãi cho đến gần đây, mới có sự tham gia của các chuyên gia, học giả khác. Tuy vậy, nếu nhìn vào bảng thành tích học tập của Khan, ta có thể biết được câu trả lời. Khan có ba bằng đại học về toán, kỹ sư điện và khoa học máy tính từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), hai bằng thạc sỹ, một về khoa học máy tính cũng từ MIT và một về quản trị kinh doanh từ Harvard.   Tương tự như Khan, Giáp Văn Dương cũng có bề dày thành tích học tập đáng kể, thậm chí còn có phần đa dạng hơn – xét về mặt địa điểm học. Dương tốt nghiệp thạc sĩ ngành Công nghệ hóa học ĐH Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc), tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật ĐH Công nghệ Vienna (Áo); từng làm việc và nghiên cứu tại ĐH Liverpool (Anh), ĐH Quốc gia Singapore. Mặc dù không được học bài bản về một lĩnh vực ngoài khoa học tự nhiên như Khan với bằng MBA từ Harvard, Giáp Văn Dương từ lâu cũng được biết đến rộng rãi trong nước với tư cách một nhà bình luận, đăng nhiều bài báo sắc sảo về nhiều lĩnh vực như khoa học, giáo dục, chính sách, triết học trên nhiều tờ báo hàng đầu trên cả nước như Tuổi trẻ, Vietnamnet, Sài Gòn tiếp thị, Tia Sáng …. Hai bài giảng đầu tiên mà Giáp Văn Dương thử nghiệm với Giapschool cũng không liên quan gì đến chuyên ngành được đào tạo của anh, bài thứ nhất “Kỹ năng viết báo” tổng kết kinh nghiệm làm báo không chuyên của anh; còn bài thứ hai “Triết học là gì”, với nội dung hoàn toàn do Dương tự học.   Tự thân khai sáng  Khác với Khan, trước khi bắt tay vào xây dựng trường học online của mình, Giáp Văn Dương đã bỏ ra hơn nửa năm để tìm hiểu về MOOCs. MOOCs không phải là e-learning, mặc dù “MOOCs cũng dùng Internet. Sự ra đời của MOOCs là sự ra đời một khái niệm mới, một cách tiếp cận mới, về giáo dục, hơn là về công nghệ”, Dương nhận định. MOOCs làm thay đổi hoàn toàn cách dạy và học, ví dụ như với Khan Academy, “Các em học sinh tự học ở nhà qua các bài giảng trực tuyến theo chỉ định của giáo viên, còn thời gian đến lớp chỉ làm bài tập và thảo luận, tức là học ở nhà, làm bài tập trên lớp. Quy trình hoàn toàn ngược với quy trình truyền thống: học trên lớp, làm bài tập ở nhà”, Dương nhận xét trong một bài phỏng vấn gần đây.   Ý thức rất rõ về tính chất “cách mạng” của MOOCs trước khi bắt đầu thực hiện GiapSchool, tuy vậy, có trở thành một nhà cách mạng giáo dục hay không, với Dương không quan trọng bằng việc thông qua MOOCs có thể giúp người học trở lại với đúng ý nghĩa nguyên bản của việc học – tức là người học đi học và học cái gì là do anh ta hoàn toàn tự do quyết định, vì chính anh ta chứ không phải vì bất kỳ một ai khác. Dương quan niệm, học, trước hết không phải để “trở thành người có ích” (cho bất kỳ một ai khác) mà “để trở thành con người tự do”, và từ tự do đó thì anh “sẽ có xu hướng hành xử có trách nhiệm để bảo vệ tự do của mình và không xâm phạm vào tự do của người khác”. Như vậy, “tự do” phải là cái đến trước hết, từ có tự do, con người kéo theo có “trách nhiệm” và từ “trách nhiệm”, con người mới “có ích cho xã hội được”. Với triết lý đó, Giáp Văn Dương xây dựng GiapSchool mà ở đó, cả người dạy và người học đều tự do. Người dạy tự do dạy những gì mình thấy cần; người học tự do học những gì họ thích. “Mỗi người tự do và tự chịu trách nhiệm trong việc khai sáng bản thân mình”. Đó cũng là lý do tại sao Dương chọn khẩu hiệu cho GiapSchool là “Tự thân khai sáng”.   Đến nay, sáu khoá học chính thức của Giáp Văn Dương trên GiapSchool, cả ở dạng kỹ năng hoặc rất chuyên sâu, đã được khai giảng, đều do Dương trực tiếp thực hiện. Riêng khóa “Hiểu về giao tiếp” đã có hơn 1.500 người theo học. Cộng dồn sáu khoá, Dương đã có khoảng gần 4.000 học viên, con số có phần khiêm tốn so với hơn một triệu của Khan Academy, nhưng cũng đủ lớn để khích lệ cho một sự khởi đầu. Còn quá nhiều thử thách mà Giáp Văn Dương sẽ phải đối mặt: Anh sẽ lấy đâu ra nguồn tài chính để duy trì GiapSchool về mặt dài hạn? Liệu có mạnh thường quân nào đồng ý tài trợ cho anh như Bill Gates, Google hay The O’Sullivan đã làm với Khan Academy? Làm sao để Dương kêu gọi được sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học khác tham gia giảng bài, làm phong phú thêm nội dung cho GiapSchool? Nhưng có lẽ với Dương giờ đây, anh cũng không còn thời gian để lo lắng nữa. Sáu khoá học đã khai giảng, với lịch học 2 buổi/tuần; các khoá học khác sẽ tiếp tục được triển khai trong tháng tới, dự kiến 2 khóa/tuần. Có lẽ, điều anh mong muốn nhất hiện giờ là chiếc iPad cá nhân, công cụ chính để thu hình bài giảng của anh không gặp trục trặc gì trong thời gian tới.           Khai sáng là một trào lưu văn hóa thế  kỷ  17-18 rất nổi tiếng của phương Tây, xây dựng cơ sở cho sự phát triển  của  Âu Mỹ và một số nước khác sau này. Cho đến nay, ảnh hưởng của trào  lưu  Khai sáng đến văn hóa và sự phát triển của các nước vẫn còn rất  mạnh mẽ.  Đặc trưng cơ bản nhất của trào lưu Khai sáng có thể khái quát  trong một  chữ thôi: Lý tính. Nhưng thực sự khai sáng là gì, thì triết  gia I. Kant  đã có một câu trả lời ngắn gọn mà xuất sắc: “Khai sáng là  sự thoát khỏi  tình trạng thiếu trưởng thành do chính mình gây ra.” Bằng  cách nào? Tất  nhiên, bằng cách sử dụng lý tính của mình. Và tất nhiên,  tôi muốn người  Việt Nam thoát khỏi tình trạng vị thành niên về tư duy  này. Chỉ khi đó,  khoa học, nghệ thuật, các giá trị nhân văn, các thiết  chế xã hội… mới  có thể nảy nở sinh sôi được. Và con người cá nhân,  trong đó có tự do cá  nhân, mới được thừa nhận.   Tuy nhiên, ở phương Đông, chữ khai sáng lại   có nghĩa khác hơn, đó là sự giác ngộ. Một người đã giác ngộ là một  người  đã tìm thấy tự do, thấy đường đi và ý nghĩa cuộc đời mình. Anh ta  khi  đó sẽ không bị ràng buộc bởi giáo điều nữa. Giác ngộ ở phương Đông  có  thể đạt được thông qua trải nghiệm hoặc tri thức, theo cách đốn ngộ  hoặc  tiệm ngộ, nhưng dù cách nào đi nữa thì tri thức cũng đóng vai trò  quan  trọng, nhất là trong sự giác ngộ của đám đông.   Điều thú vị là cả hai chữ khai sáng và giác   ngộ này đều được dịch chung thành enlightment trong tiếng Anh. Qua đó   cho thấy, hai quan niệm Đông – Tây này rất gần nhau, dù cách thức đạt   được có thể rất khác nhau. Tôi có trải nghiệm cả hai nền văn hóa   Đông-Tây, nên tất nhiên tôi đánh giá cao sự gặp gỡ này.    Giáp Văn Dương           1 Nguyễn Ngọc Tuấn, Các khóa học đại trà trực tuyến mở MOOC, 3/6/2013, hocthenao.vn.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gieo mầm đam mê khoa học      Qua những trò chơi khoa học mang tính thực  nghiệm của Ngày hội STEM, các em đã không còn thấy khoa học là tháp ngà  màu xám khô khan, mà tìm thấy vẻ đẹp, sự bí ẩn kỳ thú của khoa học qua  những thí nghiệm đầy màu sắc. Khoa học không còn xa xôi trong ý niệm, mà là sự thấy, nghe, sờ – chạm một cách sinh động trực quan.       Lâu nay, các em học sinh của chúng ta được giáo dục bằng một phương thức cũ kỹ, đó là hầu như chỉ dựa vào những bài học trên giấy khô khan, khó tạo nên niềm đam mê khoa học. Đồng thời cách giảng tách biệt riêng rẽ từng bộ môn toán, lý, hóa, sinh sẽ khó gây dựng tư duy liên ngành đa chiều, sự chủ động, linh hoạt tìm tòi giải quyết các vấn đề ứng dụng trong thực tế. Vì thế trong những năm gần đây, một số quốc gia đã thay thế phương thức giáo dục lạc hậu này bằng STEM, là một phương thức mới mẻ được thử nghiệm trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học. Trong đó chú trọng việc giáo dục gắn kết liên ngành thay vì giáo dục riêng rẽ từng ngành, đồng thời chú trọng giáo dục dựa trên việc thực nghiệm ứng dụng để khám phá, giải quyết các vấn đề có tính thực nghiệm thay vì những lý thuyết, bài tập kinh viện khô khan.  Nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Mỹ, đã ý thức rất rõ về tầm quan trọng của giáo dục STEM trong việc tăng cường chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong tương lai để củng cố, nâng cao sức cạnh tranh và vị thế quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững. Còn đối với Việt Nam, để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, việc cải tiến tư duy giáo dục theo tinh thần và phương pháp STEM càng cần sớm được xem xét, nghiên cứu triển khai.  Nhằm góp phần nâng cao ý thức của các nhà lãnh đạo, nhà quản lý, các bậc phụ huynh, về vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM; đồng thời, trực tiếp góp phần gieo niềm đam mê khoa học cho các em nhỏ, nhân dịp chào mừng Ngày Khoa học Công nghệ Việt Nam 18/5, Tạp chí Tia Sáng đã phối hợp với một số doanh nghiệp, tổ chức xã hội tổ chức Ngày hội STEM, Qua những trò chơi khoa học mang tính thực nghiệm của Ngày hội STEM, các em đã không còn thấy khoa học là tháp ngà màu xám khô khan, mà tìm thấy vẻ đẹp, sự bí ẩn kỳ thú của khoa học qua những thí nghiệm đầy màu sắc. Khoa học không còn xa xôi trong ý niệm, mà là sự thấy, nghe, sờ – chạm một cách sinh động trực quan. Khoa học không còn là sự tiếp thu bài giảng một cách thụ động, mà được trực tiếp tham gia trong vai trò người sáng tạo. Khoa học không còn là bài giảng trên giấy, là sự tách biệt các bộ môn, mà trở thành sản phẩm hoàn chỉnh, gắn kết nhiều kỹ năng, nhiều lĩnh vực.   Đặc biệt, các em thấy hình ảnh nhà khoa học trong các anh chị hướng dẫn trẻ trung, cũng như ngay chính bản thân mình. Trong vai trò là nhà khoa học nhí, các em thấy mình nhận được sự yêu quý, trân trọng biết bao từ cả cộng đồng, bao gồm cả các bác Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, bác Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, và đặc biệt là GS Pierre Darriulat – người đã kiên trì đề xuất ý tưởng tổ chức một ngày hội khoa học ở Việt Nam – những người trực tiếp giao lưu cùng các em một cách vô cùng gần gũi, cởi mở trong buổi khai mạc Ngày hội STEM.   Chỉ trong hai ngày ngắn ngủi nhưng hàng nghìn em nhỏ đã đến với Ngày hội STEM. Điều đó thể hiện mức độ quan tâm của các vị phụ huynh đến vấn đề giáo dục khoa học cho con em mình. Và hẳn họ đã không thất vọng, khi tất cả các em đều hết sức chăm chú, say mê tham gia các hoạt động STEM, từ những thí nghiệm vật lý vui, trò ảo thuật toán học, đến tự xây cầu theo thiết kế Leonardo da Vinci, v.v. Nhiều bạn còn lưu luyến chưa muốn về khi thời gian dành cho sự kiện đã hết. Hi vọng rằng những nhận thức, tình cảm mới mẻ dành cho khoa học mà các em có được từ những trải nghiệm này sẽ ngày càng nảy nở, theo suốt các em trên chặng đường phía trước.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Giờ học kinh tế lớp 6 ở Mỹ      Để tập luyện cho học sinh biết c&#225;ch mua b&#225;n, h&#244;m ấy c&#244; Sheets, gi&#225;o vi&#234;n dạy m&#244;n kinh tế đ&#227; quyết định bố tr&#237; lớp ch&#250;ng t&#244;i th&#224;nh một cửa h&#224;ng ăn uống mang t&#234;n c&#244;: Nh&#224; h&#224;ng Sheets. Tại đ&#226;y sẽ b&#224;y b&#225;n bắp rang, b&#225;nh ngọt, x&#250;c x&#237;ch, đồ uống,… Học sinh lớp t&#244;i sẽ thay nhau đ&#243;ng vai người b&#225;n h&#224;ng v&#224; kh&#225;ch h&#224;ng.    Nhóm tôi có ba nữ sinh gồm tôi, một bạn người da trắng tên là Kala và một bạn người Việt Nam tên là Duyên được phân công phụ trách quầy bánh ngọt.  “So we will be selling desserts, right? What about Super Dessert for our company name? (Bọn mình bán món bánh tráng miệng phải không? Thế thì công ty chúng mình lấy tên là “Siêu bánh ngọt” nhé?)” – Kala đề nghị.  “Too lame (Kém thuyết phục quá)” – Duyên buột miệng nói.  Tôi bỗng nảy ra một sáng kiến: “Dessert 4-ever might be cool (Gọi là Bánh ngọt mãi mãi có khi lại hay đấy nhỉ)” (số 4 thay cho chữ for, 4-ever là forever, tức mãi mãi). Kala và Duyên đều gật đầu đồng ý. Thế là quầy hàng của chúng tôi được gọi là Dessert 4-ever. Ngoài ra chúng tôi còn thiết kế một logo và lời quảng cáo (tức slogan, khẩu hiệu).  Cô Sheets gợi ý mọi người:“Logo của chuỗi cửa hàng bách hóa Wal-Mart là một khuôn mặt cười, lời quảng cáo là Always low prices (luôn luôn giá rẻ). Logo của nhà hàng McDonald’s là một chữ cái M, lời quảng cáo là I’m lovin’ it (Tôi thích).”  Tôi nghĩ, chúng tôi nhất định phải thiết kế được một logo và lời quảng cáo hay hơn thế, nếu không thì khách hàng sao có thể nhớ được cửa hàng chúng tôi? Sau một hồi bàn bạc, nhóm chúng tôi tiếp thu đề xuất của tôi: Logo có hình vẽ pháo hoa bắn ra kẹo chocolate và chiếc bánh ngọt bọc giấy; lời quảng cáo sẽ là Ch-ch-ch-cheerful chocolate! Sau đó chúng tôi vẽ logo và viết dòng chữ Ch-ch-ch-cheerful chocolate! ấy lên một tờ giấy quảng cáo.   Cô Sheets phát cho mỗi bạn trong lớp một bản kê các thứ thức ăn và dụng cụ ăn uống (xem ảnh). Trên bản khai của nhóm chúng tôi, cô ấy lấy bút màu xanh gạch dưới hàng chữ Plates (20 Count or more), yêu cầu chúng tôi phải chuẩn bị ít nhất 20 cái đĩa. Các bạn khác thì phải chuẩn bị nước ngọt, bắp rang, bánh ngọt, xúc xích, giấy lau miệng, cốc uống nước, găng tay dùng một lần… Cô giáo còn nhờ mỗi bạn mang một bức thư của cô gửi phụ huynh từng gia đình, hy vọng phụ huynh mỗi nhà mua giúp ít nhất 2 USD thức ăn và dụng cụ ăn uống để học sinh mang tới trường.  Trong bản kê của cô Sheets phát cho chúng tôi chỉ có bánh ngọt là thứ dùng để điểm tâm hoặc tráng miệng. Nhưng một cửa hàng mà chỉ bán có mỗi thứ này thì buồn cười quá. Vì thế ba đứa chúng tôi đều đồng ý mua thêm một số thứ nữa mang đến lớp. Chúng tôi viết thêm lên thực đơn:  Bánh ngọt (nhiều khẩu vị) ~~~~$1.00/2 miếng      Chocolate ~~~~~~~~~~~~~~~~$1.00/2 que  Kẹo que ~~~~~~~~~~~~~~~~~$1.00/4 que  Hôm sau mọi người mang đến lớp đầy đủ các thứ cô giáo yêu cầu. Cô Sheets đã bố trí phòng học thành một “cửa hàng ăn uống” thực sự. Bốn góc phòng là 4 quầy hàng, mỗi quầy là 3 chiếc bàn học kê thành hình chữ U, chính giữa phòng kê 8 cái “bàn ăn” là nơi dành cho các “khác hàng” thưởng thức các món ăn.   Khi chúng tôi đi vào “nhà hàng”, cô Sheets phát cho mỗi người 20 đồng “tiền” để mua bán. Sau khi bàn bạc, nhóm tôi thỏa thuận để Kala làm chủ quầy hàng, còn tôi và Duyên đóng vai khách hàng của “nhà hàng Sheets”.  Bây giờ lớp học của chúng tôi trở thành một nơi ồn ào náo nhiệt. Chẳng hiểu tại sao ai nấy đều xúc động cười cười nói nói ầm ĩ, chạy đi chạy lại vui như ngày hội. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên chúng tôi được dùng tiền giả để mua hàng thật.  Bà chủ quầy bán bắp rang là hai đứa bạn thân của tôi – Alejandra và Mirna. Trước tiên tôi đến chỗ hai bạn ấy để chúc mừng.  “Hi, welcome to Pop’s popcorn! How may I help you? (Chào bạn, hoan nghênh bạn đã đến cửa hàng bắp rang Pop! Bạn cần gì thế ạ?) – Alejandra người Colombia chào hỏi tôi.  Tôi đọc thực đơn cửa hàng của các bạn ấy rồi nói: “Er, I want a normal popcorn with extra butter and extra salt. (Ờ, tớ cần mua một đĩa bắp rang trộn bơ và muối.)  “That will be $7.00. (Tất cả hết 7 USD.)”– Alejandra bảo tôi, “But I will give you a discount, you only need to pay 5 dollars. (Có điều tớ sẽ giảm giá cho cậu, cậu chỉ cần trả có 5 USD thôi)”.   Ối, thế thì hay quá! – sau khi cảm ơn bạn ấy, tôi cầm lấy đĩa bắp rang do Mirna bưng đến, ra ngồi vào một chiếc “bàn ăn” và ngon lành nhai bắp rang trộn bơ rắc muối.  Lúc ấy tôi thấy Duyên cầm một túi to đầy những kẹo và một cốc nước ngọt đến ngồi bên cạnh tôi.  Khi tôi chuẩn bị đi mua món hot dog thì thời hạn 20 phút đã hết – đã đến giờ tôi và Duyên phải về cửa hàng của mình làm tiếp viên bán hàng. Bây giờ Duyên ngồi ở quầy để làm nhiệm vụ đón khách và thu ngân, còn tôi thì đeo găng tay chuẩn bị các món ăn ở phía trong.  Cửa hàng của nhóm tôi rất “ăn nên làm ra”, khách hàng phải xếp hàng lũ lượt chờ mua thức ăn và đồ uống, khiến cho tôi tay năm tay mười mà vẫn không kịp phục vụ. Khi nãy ở đây chỉ có một mình bạn Kala, chẳng hiểu bạn ấy xoay sở ra sao?  “Here are your cookies and your chocolate bars. Thanks for coming! (Bánh ngọt và que chocolate của bạn đây. Cảm ơn bạn đã đến cửa hàng của chúng tôi!) – tôi nở nụ cười thân thiện bưng các thứ đến cho bạn Helen.  “Thank you very much!” – Helen đón lấy các thứ và luôn miệng cảm ơn.  Thời gian trôi qua nhanh làm sao, chẳng mấy chốc giờ học đã hết. Ôi chao, hãy còn một số khách vẫn đang xếp hàng kia kìa!   Bài của Trần Vận Chính (nữ học sinh Trung Quốc học tại một trường PTCS ở bang Missouri).   Nguyễn Hải Hoành     Dịch  và ghi chú trong ngoặc đơn   Nguồn: http://blog.sina.com.cn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới thiệu Tủ sách Sư phạm và Tâm lý học Cánh Buồm      Tọa đàm Cánh Buồm no gió – Thời đại  internet giới thiệu Tủ sách Sư phạm và Tâm lý học Cánh  Buồm sẽ được tổ chức vào chiều 5/11 tại Hà Nội với sự phối hợp của Quỹ  Văn hóa Phan Châu Trinh, NXB Tri thức và Trung tâm Văn hóa Pháp  L’Espace.     Tủ sách Sư phạm Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn – người sáng lập nhóm – chủ biên – gồm các cuốn sách hướng dẫn giáo viên và phụ huynh cách thức tổ chức hoạt động tự học của học sinh theo bộ sách tiểu học Cánh Buồm, nhằm đưa phương pháp tự học – tự giáo dục tới từng gia đình:  Tập 1: Giải thích thể nào là Giáo dục Hiện đại  Tập 2: Hướng dẫn sử dụng sách Tiếng Việt  Tập 3: Hướng dẫn sử dụng sách Văn  Tập 4: Hướng dẫn sử dụng sách Lối sống  Trong khi đó, những cuốn sách đầu tiên trong Tủ sách Tâm lý học Cánh Buồm sẽ chính thức ra mắt độc giả vào đầu năm 2014 và do NXB Tri Thức ấn hành, bao gồm: Sự ra đời trí khôn ở trẻ em (J. Piaget, Hoàng Hưng dịch); Sự hình thành cái thực ở trẻ em (J. Piaget, Hoàng Hưng dịch); Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em (J. Piaget, Nguyễn Xuân Khánh dịch). Hiện nay ở Việt Nam chưa có những cuốn sách được coi là nền tảng của tâm lý học giáo dục với những nghiên cứu sâu về sự hình thành và phát triển tâm lý của trẻ em, Tủ sách Tâm lý học Cánh Buồm ra đời nhằm góp phần lấp đầy khoảng trống đó.   Tọa đàm Cánh Buồm no gió – Thời đại internet là hoạt động cụ thể đưa phương châm “bậc tiểu học là bậc học phương pháp học” của Nhóm Cánh Buồm tới từng giáo viên đam mê sáng tạo, tới từng phụ huynh quan tâm đến việc xây dựng tổ ấm gia đình.   Đây cũng là hoạt động nối tiếp các chương trình tọa đàm về giáo dục mà nhóm Cánh Buồm tổ chức những năm vừa qua: Tọa đàm Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em, tháng 11/2009, giới thiệu cơ sở tâm lý học của việc tổ chức hoạt động học cho trẻ  em; Tọa đàm Chào lớp Một, tháng 9/2010, giới thiệu bộ sách lớp Một; Tọa đàm Tự học – Tự Giáo dục, tháng 10/2011, giới thiệu bộ sách Tiểu học Cánh Buồm; Tọa đàm Một Cánh Buồm – Một nhà trường Hiện đại, tháng 4/2012, giới thiệu phương pháp học Văn và Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm; và tọa đàm Em biết cách học, tháng 10/2012, giới thiệu hệ thống việc làm để thực hiện sứ mệnh “bậc tiểu học là bậc học phương pháp học”.    Nhóm Cánh Buồm đã hoạt động từ năm 2009 đến nay với mục tiêu làm ra một cái mẫu để qua đó gợi ý một cách hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam theo sự hối thúc của trẻ em và vì trẻ em.   Thông tin chi tiết:  Thời gian: 18:00~20:00, thứ Ba, ngày 5/11/2013   Địa điểm: Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn, nhà thơ – dịch giả Hoàng Hưng, ThS Nguyễn Thị Thanh Hải  Vào cửa tự do    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giúp sinh viên tiếp cận nghiên cứu khoa học qua các chương trình hợp tác quốc tế      T&#243;m tắt:  Giảng dạy ở bậc đại học phải bao gồm việc cung cấp cơ hội cho sinh vi&#234;n học c&#225;ch nghi&#234;n cứu khoa học (NCKH). Th&#244;ng thường c&#225;c trường đại học ở Việt Nam thực hiện nguy&#234;n tắc n&#224;y bằng c&#225;ch: (1) hướng dẫn sinh vi&#234;n thực hiện c&#225;c đề t&#224;i NCKH li&#234;n quan đến nội dung m&#244;n học để qua đ&#243; gi&#250;p sinh vi&#234;n x&#226;y dựng v&#224; ứng dụng kiến thức của m&#244;n học v&#224; (2) hướng dẫn sinh vi&#234;n thực hiện c&#225;c đề t&#224;i NCKH c&#225;c cấp, thường l&#224; cấp trường. Tuy nhi&#234;n trong ho&#224;n cảnh thực tế của c&#225;c trường đại học Việt Nam, việc l&#224;m thế n&#224;o để tăng cường năng lực NCKH v&#224; tạo điều kiện tốt hơn cho sinh vi&#234;n được thực hiện những NCKH của c&#225;c em l&#224; một c&#226;u hỏi kh&#244;ng dễ trả lời cho c&#225;c nh&#224; quản l&#253; v&#224; giảng vi&#234;n.  B&#224;i viết n&#224;y giới thiệu một c&#225;ch l&#224;m mới, đ&#243; l&#224; gi&#250;p sinh vi&#234;n tiếp cận v&#224; thực hiện NCKH qua c&#225;c dự &#225;n hợp t&#225;c quốc tế (HTQT) của khoa m&#224; c&#225;c em đang theo học. C&#244;ng việc n&#224;y đ&#227; được t&#225;c giả b&#224;i viết thực hiện ở trường Đại Học Cần Thơ từ năm 1999 đến 2005 v&#224; trường Đại Học N&#244;ng L&#226;m Tp.HCM từ năm 2007 đến 2008. Ở trường hợp thứ nhất, sinh vi&#234;n được chọn l&#224;m đối tượng của đề t&#224;i NCKH thực hiện phục vụ cho chương tr&#236;nh HTQT. Nhưng song song với tiến tr&#236;nh đ&#243; sinh vi&#234;n đ&#227; được hướng dẫn thực hiện đề t&#224;i của ch&#237;nh c&#225;c em với những chủ đề c&#243; li&#234;n quan đến đề t&#224;i NCKH của chương tr&#236;nh HTQT. Trong trường hợp thứ hai, một số chủ đề trong đề t&#224;i NCKH dự kiến sẽ thực h       1.      Đặt vấn đề  Hội nhập quốc tế đang là điều tất yếu mà giáo dục đại học Việt Nam cần thực hiện. Trong việc hội nhập, một trong những điều cần làm của các trường đại học Việt Nam là phải làm sao cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với nghiên cứu khoa học (NCKH) mang tính quốc tế như: tham dự tập huấn, hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế, tham gia những NCKH có sự phối hợp của chuyên gia từ các trường nước ngoài… Tuy nhiên, do đa số sinh viên Việt Nam có trình độ ngoại ngữ hạn chế, kỹ năng và kinh nghiệm NCKH yếu kém, do thu nhập ít ỏi của người Việt Nam việc tìm cơ hội cho các em tiếp cận với các sinh hoạt học thuật mang tính quốc tế kể trên là không dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, tác giả bài viết này đã nghĩ đến một hướng tiếp cận khác. Hiện nay các trường đại học Việt Nam đều có các chương trình HTQT. Trong các chương trình này nhiều dự án và đề tài NCKH đã được hai bên phối hợp thực hiện tại Việt Nam. Cho rằng nếu sinh viên được tham gia vào các đề tài này thì các em sẽ được tiếp cận các hoạt động NCKH mang tính quốc tế một cách ít tốn kém, thuận tiện và mang lại hiệu quả cao tác giả bài viết đã thực hiện định hướng này ở trường Đại Học Cần Thơ từ năm 1999 đến năm 2005 và Đại Học Nông Lâm Tp.HCM từ năm 2007 đến 2008.      2.      Sinh viên là đối tượng nghiên cứu của đề tài NCKH của chương trình HTQT đồng thời thực hiện NCKH của chính mình ở các chủ đề có liên quan  Đại học Cần Thơ là cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm của nhà nước ở đồng bắng sông Cửu Long, là trung tâm văn hóa – khoa học kỹ thuật  của vùng. Từ  một số ít ngành đào tạo chủ yếu là nông nghiệp và sư phạm ban đầu, trường đã củng cố, phát triển thành một trường đa ngành đa lĩnh vực với 76 chuyên ngành đại học, 28 chuyên ngành cao học 8 chuyên ngành nghiên cứu sinh và 1 chuyên ngành cao đẳng trong các lĩnh vực nông nghiệp, sư phạm, cơ khí-công nghệ, y khoa, kinh tế, luật, tin học… Do ưu thế là luôn nhận được rất nhiều tài trợ quốc tế trường đã có được đội ngủ giảng viên đào tạo chu đáo ở nước ngoài và cơ sở vật chất thuộc vào loại tốt nhất nước. Tuy nhiên, do tính chất của vùng ĐBSCL là nơi giáo dục phát triển kém nhất nước điểm thi tuyển sinh đầu vào và khả năng học tập cũng như NCKH của sinh viên chưa cao.   Từ năm 1995 đến năm 2004 Khoa Sư Phạm, trường Đại Học Cần Thơ đã thực hiện một chương trình hợp tác quốc tế với Hà Lan mang tên MHO 4. Chương trình được chia làm 2 giai đoạn (1995-1999 và 2000-2004) nhằm giúp Khoa Sư Phạm nâng cao chất lượng giảng dạy, trình độ giảng viên và cải tiến phương pháp giảng dạy. Ngoài ra còn giúp các trường đại học, cao đẳng, cũng như phổ thông trung học (PTTH) vùng ĐBSCL cải tiến phương pháp giảng dạy. Một trong những việc nhằm thực hiện những mục tiêu này là tổ chức các lớp tập huấn do chuyên gia Hà Lan đảm trách để giới thiệu cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng, cán bộ lãnh đạo và giáo viên phổ thông trung học vùng đồng bằng sông Cửu Long về một lý thuyết giáo dục thể hiện quan điểm lấy học sinh làm trung tâm đang được nghiên cứu và áp dụng ở Mỹ, Canada, Hà Lan, Úc…. Lý thuyết này mang tên Dimensions of learning (Marzano, 1993). Để hỗ trợ cho việc thực hiện lý thuyết này các chuyên gia còn phổ biến thêm phương pháp dạy học khám phá (learning by discovering). Các lớp tập huấn về Dimensions of learning (DoL) và phương pháp dạy học khám phá đã được tổ chức hai lần mỗi năm trong suốt thời gian từ năm từ 1995 đến 2004. Bên cạnh đó những hoạt động học thuật khác như soạn thảo, dịch thuật tài liệu, trang web, dịch sách, thực hiện các đề tài NCKH giáo dục… đã được tiến hành. Để phổ biến sâu rộng và duy trì lâu dài việc phát triển lý thuyết DoL và phương pháp dạy học khám phá, các nội dung này đã được giảng dạy trong các học phần giáo dục chính của sinh viên Khoa Sư Phạm. Tổng cộng có khoảng 250 giáo viên PTTH, cao đẳng, đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được tham gia tập huấn và tài trợ kinh phí để phát triển DoL và phương pháp dạy học khám phá. Tuy hoạt động tích cực và đa dạng như vậy nhưng sau giai đoạn 1 của chương trình (1995-1999) nhìn chung DoL chỉ mới được giảng viên Khoa Sư Phạm, Đại học Cần Thơ áp dụng bước đầu ở các môn học. Còn các các giáo viên PTTH được tham gia tập huấn và giáo sinh của Khoa Sư Phạm khi thực tập sư phạm ở trường PTTH vẫn chưa sử dụng được DoL và phương pháp dạy học khám phá.   Nhận thức được điều này, tác giả bài viết này với tư cách là thành viên của chương trình MHO 4 đã đề xuất và nhận được sự đồng thuận của chương trình để thực hiện đề tài NCKH mang tên “Áp dụng ba mô hình hướng dẫn thực hành của Schon (1983, 1986) trong việc hướng dẫn giáo sinh học giảng dạy Toán theo DoL”. Đề tài NCKH này đã được thực hiện trong 2 giai đoạn từ năm 2000 đến 2001 và từ 2002 đến 2004. Ba mô hình của Schon (1983, 1987) với ý tưởng chủ đạo là phát triển khả năng phân tích thực tế nghề nghiệp của người học việc (reflective learning) đang được đánh giá cao trong việc hướng dẫn thực hành, thực tập nói chung và giảng dạy nói riêng và cũng đã được áp dụng ở học viện kỹ thuật Massachuset (MIT), Mỹ. Đề tài nhằm áp dụng thử nghiệm ba mô hình hướng dẫn thực hành của Donald Schon (1983, 1986) cho đối tượng là 14 giáo sinh sư phạm Toán trong các đợt thực tập sư phạm (TTSP) năm 2000, 2003 và 2004.   Với mục đích giúp sinh viên được tiếp cận để học hỏi từ những NCKH có sự phối hợp với chuyên gia nước ngoài, ngoài việc chọn các em làm đối tượng nghiên cứu của đề tài tác giả bài viết này còn tranh thủ kết hợp hướng dẫn cho các em thực hiện các đề tài NCKH của chính các em. Từ ý tưởng đó các đề tài mang tên “Nghiên cứu về việc áp dụng Dimensions of learning để dạy Toán trong đợt TTSP”, “Sử dụng phương pháp dạy học khám phá trong giảng dạy Toán ở PTTH” và “Thử nghiệm giảng dạy Toán học theo hướng liên hệ thực tế ở PTTH” của các em sinh viên (là đối tượng trong đề tài NCKH của MHO 4) đã được thực hiện.   Những thuận tiện cho các em khi thực hiện NCKH có chủ đề liên quan tới đề tài của chương trình HTQT như sau:   1)                  Được tham dự các buổi tập huấn các nội dung lý thuyết và thực hành về DoL của các chuyên gia nước ngoài, từ đó có cơ sở lý luận vững chắc cho NCKH của các em.  2)                  Vì là đối tượng nghiên cứu và có nhiều dịp trao đổi trực tiếp hay quan sát thành viên chương trình MHO 4 và các chuyên gia nước ngoài thực hiện NCKH các em đã thâm nhập và qua đó học được các phương pháp NCKH một cách hiệu quả.  3)                  Được dịp tiếp xúc trao đổi về các công việc NCKH với thành viên chương trình MHO 4 và chuyên gia nước ngoài.   4)                  Được mượn các phương tiện kỹ thuật, sách, tài liệu, tư liệu… của chương trình MHO 4 để thực hiện đề tài.  5)                  Do sẵn có mối quan hệ hợp tác bền vững và lâu dài giữa chương trình MHO 4 và các trường PTTH, các em luôn được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của các trường khi đến thực hiện đề tài của các em.     Sau đây là một trường hợp khác mà tác giả bài viết này đã thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM từ 2007 đến 2008.     3.      Tách các chủ đề của dự án HTQT thành các đề tài NCKH nhỏ hơn cho sinh viên thực hiện trước như những nghiên cứu thử nghiệm  Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh là một trường đại học đa ngành đào tạo trình độ đại học và sau đại học. Tiền thân là trường đại học chuyên đào tạo các ngành nông-lâm-ngư, hiện nay trường đã phát triển và có 46 chuyên ngành thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, cơ khí-công nghệ, kinh tế, sư phạm, GIS, tin học… Trường có một số ngành đào tạo sau đại học thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên do thế mạnh của trường là đào tạo các ngành nông nghiệp, điểm tuyển sinh đầu vào và khả năng học tập của sinh viên thấp hơn so với nhiều trường đại học khác ở Tp.HCM. Điều kiện cơ sở vật chất của trường cũng rất hạn chế.  Năm 2007 Khoa Sư Phạm kỹ thuật trường Đại Học Nông Lâm đã được tiếp nhận GS.TS Cary.J.Trexler, học giả Fulbright, đến từ University of California tọa lạc tại thành phố Davis, Mỹ. Song song với giảng dạy, học giả còn cùng Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật soạn thảo một dự án mang tên “Áp dụng mô hình Future Farmers of America (FFA) của Mỹ vào việc giảng dạy kỹ thuật nông nghiệp và giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh phổ thông trung học Việt Nam”. Mô hình FFA là mô hình đã được dùng để giáo dục kỹ thuật nông nghiệp và bảo vệ môi trường cho nông dân Mỹ. Mô hình này dựa trên lý thuyết “học tập qua thực hành” (experiencial learning). Theo đó giáo dục giáo dục kỹ thuật nông nghiệp và môi trường nên được thực hiện qua (1) giảng dạy trên lớp, (2) giảng dạy trong phòng thí nghiệm, trại thực nghiệm và (3) thực tế. Mục đích của dự án là áp dụng mô hình FFA cho giáo dục kỹ thuật nông nghiệp và môi trường cho học sinh PTTH. Công việc cụ thể của dự án là thiết kế và tập huấn cho giáo viên PTTH cách dạy các bài giảng, bài thực hành về các chủ đề kỹ thuật nông nghiệp và môi trường cho học sinh theo mô hình FFA này. Theo kế hoạch của dự án chúng tôi và GS. Trexler sẽ có những buổi cùng giáo viên PTTH hướng dẫn học sinh đến một số địa điểm trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai để dạy các em khảo sát về hai vấn đề thực tế của sản xuất nông nghiệp và môi trường, đó là:   1)                  Chất lượng nguồn nước sử dụng cho việc sản xuất rau an toàn.  2)                  Quản lý chất thải rắn.      Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật biết rằng khi thực hiện dự án sẽ cần đến một số trợ lý có kiến thức về giáo dục, kỹ thuật nông nghiệp và môi trường. Để thỏa mãn tiêu chí này khoa dự định sẽ chọn các trợ lý trong số sinh viên của Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Nông Lâm. Ngoài ra, việc này cũng nhằm giúp các em có cơ hội tiếp cận học hỏi NCKH với chuyên gia Mỹ. Để chuẩn bị tâm thế và khả năng cho sinh viên tham gia làm việc cho dự án khoa đã: (1) cho các em học về lý thuyết học tập qua thực hành và mô hình FFA trong môn Lý luận dạy học với GS. Trexler và (2) đã tách hai chủ đề thành phần trong dự án ra thành hai đề tài NCKH để hướng dẫn cho 2 nhóm sinh viên thực hiện trong năm học 2008-2009, đó là:  1)                  Đề tài “Khảo sát chất lượng nguồn nước từ sông Đồng Nai sử dụng cho việc canh tác hoa màu ở một số vùng miền Đông Nam Bộ” .  2)                  Đề tài “Nghiên cứu việc giảng dạy môn kỹ thuật nông nghiệp ở PTTH qua các hoạt động ngoại khóa”.   Với sự hướng dẫn của tác giả bài viết này và GS. Trexler đề tài thứ nhất đã được tiến hành vào tháng 1/2008. Đề tài hoàn tất và được nhà trường nghiệm thu vào tháng 10/2008 với đánh giá xếp loại tốt.   Đề tài thứ hai được giao cho một giáo viên khác trong khoa hướng dẫn. Đề tài lẽ ra phải bắt đầu thực hiện vào tháng 1/2008 nhưng do nhiều yếu tố khách quan như giáo viên thiếu khả năng hướng dẫn, thiếu nhiệt tình, sinh viên không biết cách làm việc theo nhóm, đề tài mới chỉ được thực hiện vào tháng 6/2008 và chỉ thực hiện trong 1 tháng. Nhìn chung, việc thực hiện thiếu sự hướng dẫn nghiêm túc và do đó sinh viên đã không thử nghiệm được những ý tưởng khá sâu sắc và thú vị như dự kiến.      4.      Kết luận  Những thành quả quan trọng mà sinh viên thu nhận do được tiếp cận NCKH qua các chương trình HTQT từ hai trường hợp nêu trên như sau:   1.    Các em học được kiến thức chuyên môn giáo dục cập nhật, tiếp cận được những hướng NCKH của thế giới và học được các phương pháp NCKH. Từ đó các em đã thực hiện được những đề tài NCKH mà phần lý luận lẫn thực nghiệm đều tốt.  2.   Các em xây dựng được lòng tự tin trong giao tiếp với các nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài và bắt đầu biết cách làm việc cho những NCKH có sự phối hợp của chuyên gia nước ngoài.  Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng cho công tác hợp tác quốc tế, lẫn chất lượng học tập và NCKH của sinh viên, tác giả bài viết (là giảng viên, trưởng khoa) đã phải thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng: (1) thực hiện đề tài NCKH cho chương trình HTQT; (2) quản lý chương trình HTQT và (3) hướng dẫn đề tài NCKH của sinh viên. Điều này đã đòi hỏi ở tác giả bài viết rất nhiều công sức, thời gian và tâm huyết. Cũng cần lưu ý rằng nếu một trong ba thành phần tham gia vào tiến trình đó là giáo viên hướng dẫn đề tài cho sinh viên hoặc là chuyên gia nước ngoài hoặc là sinh viên không có tinh thần hợp tác tốt thì sự phối hợp sẽ lập tức bị phá vỡ và việc học tập cũng như NCKH của sinh viên sẽ không thể đạt được kết quả mong muốn. Trường hợp của đề tài “Nghiên cứu việc giảng dạy môn kỹ thuật nông nghiệp ở PTTH qua các hoạt động ngoại khóa” đã là một minh chứng.      Tóm lại, với các khoa HTQT có thể là cơ hội lớn để phát triển khả năng NCKH của sinh viên nói riêng và đào tạo nói chung. Tuy nhiên, với điều kiện làm việc và mức lương rất hạn chế của cán bộ đại học Việt Nam thì đây quả là một thử thách.  ———  * TS. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  —————  TÀI LIỆU THAM KHẢO  Albach G. Philip. 2007. Trường đại học và toàn cầu hóa- thực tế trong một thế giới bất công. Phạm Thị Ly dịch. Truy cập tại: http://www.ciecer.org  Nguyễn Thiện Nhân. 2007. Phát triển nhanh việc đào tạo nhân lực có kỹ năng: những sáng kiến của Việt Nam. Báo cáo khoa học tại Hội thảo Quốc tế Globalization in Education : Opportunities, Challenges and Implications for Vietnam and the Region. SEAMEO RETRACT.  Phạm Phụ. 2005. Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam. NXB Đại học Quốc Gia Tp.HCM.  Shon, D.1983. The reflective practitioner: How professionals think in action. New York: Basic Books.  Schon, D.1987. Educating the reflective practitioner: Toward a New Design for Teaching and Learning in the professions. San Francisco: Jossey-Bass.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gốc rễ của vấn đề nằm ở văn hóa      Nhân ngày 20/11, GS. Neal Koblitz, Đại học Washington và từng tình nguyện giảng dạy từ sau đại học đến phổ thông của nhiều nước chia sẻ về sự trân trọng của xã hội đối với những người thầy.      Vào năm 2018, Mỹ đầu tư 14,4 nghìn USD cho mỗi học sinh từ tiểu học đến hết trung học cơ sở. Con số này khiến Mỹ xếp thứ năm trong 37 quốc gia thuộc khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và cao hơn 34% so với con số trung bình của OECD. Mỹ cũng đứng thứ bảy trong những nước trả lương cao nhất cho các giáo viên tiểu học đã có 15 năm kinh nghiệm. Nhưng cùng trong thời điểm xếp hạng đó, khi so sánh kết quả của bài kiểm tra toán chuẩn hóa chung cho học sinh ở lứa tuổi 15 giữa các quốc gia thì Mỹ xếp dưới mức trung bình của các nước OECD.  Có rất nhiều lý do giải thích cho việc số tiền đầu tư cho giáo dục Mỹ lớn như vậy lại không thể chuyển đổi thành kết quả học tập tốt của học sinh. Hệ thống giáo dục của chúng tôi là một trong những hệ thống phân tán và vô tổ chức nhất trên thế giới. Mỗi bang có một bộ máy hành chính giáo dục riêng biệt và hầu hết các quyết định về những gì sẽ xảy ra trong từng lớp học được thực hiện ở từng sở giáo dục cấp quận, với 16,800 cơ sở trên cả nước. Phần lớn ngân sách dành cho giáo dục được rút ra từ thuế đất ở địa phương và điều đó dẫn đến việc những khu vực càng giàu có thì càng nhiều tiền dành cho trường học hơn so với những khu vực nghèo. Điều đó cũng có nghĩa là hệ thống giáo dục này bất bình đẳng nhất thế giới.     Nhưng với quan điểm của tôi thì gốc rễ của kết quả đáng thất vọng của giáo dục Mỹ có lẽ đến từ văn hóa. Trong bốn đến năm thập kỉ trở lại đây, người ta chứng kiến sự suy giảm trầm trọng sự kính trọng của cộng chúng đối với giáo viên và đối với nghề giáo.  Tôi học cấp hai và đại học trong thời kì “hậu Sputnik” của giáo dục Mỹ, kéo dài từ năm 1957 (thời điểm Liên Bang Nga phóng vệ tinh đầu tiên vào quỹ đạo) cho đến năm 1969 (con người lần đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng). Trong suốt “cuộc đua lên Mặt trăng” đó, Chính phủ Mỹ đầu tư rất mạnh mẽ vào giáo dục, đặc biệt là khoa học, và công chúng nhiệt thành ủng hộ nỗ lực đó, bởi không có lý do nào hợp lí hơn việc “đánh bại người Nga trên đường đua tới Mặt trăng”. Thêm nữa, ở thời điểm đó, phần lớn các nghề nghiệp đều đóng cửa với phụ nữ, giảng dạy tiểu học và trung học cơ sở là một trong số ít những lựa chọn của những người phụ nữ có học. Một vài trong số những sinh viên nữ xuất sắc nhất đại học đã đi vào con đường giảng dạy, và giáo viên thời đó rất được kính trọng.  Giờ đây tình thế đã trở nên rất khác. Giảng dạy ở Mỹ là một ngành nghề vô cùng căng thẳng. Giáo viên có rất ít tự chủ và phải xoay sở trong một nền hành chính cồng kềnh và chậm tiến. Sự chống đối và hỗn hào của học sinh thì tràn lan. Những câu chuyện về xả súng ở trường học đe dọa các thầy cô giáo. Không còn nhiều sinh viên xuất sắc lựa chọn nghề nghiệp giảng dạy nữa.  Ở Mỹ, mỗi khi một học sinh bị điểm kém, rất thường xuyên là phụ huynh sẽ nổi giận với giáo viên chứ không phải với đứa con bị điểm thấp. Phụ huynh cũng phán nàn rằng liệu con mình học như thế có “nhiều bài tập” quá không. Những phàn nàn của học sinh và phụ huynh có thể làm xói mòn danh tiếng của người thầy và sự nghiệp của họ. Ở Mỹ, người ta có một động lực lớn để “ngu hóa” chương trình giảng dạy và thổi phồng điểm số. Những sinh viên tốt nhất cảm thấy sách vở quá dễ còn học sinh lười thì được điểm cao mà trước đây chỉ có những người xuất sắc mới có thể đạt được.  Sự phản ứng với dịch COVID-19 của rất nhiều quan chức là một chỉ dấu rõ ràng cho thấy sự coi thường của họ đối với giáo viên. Sau khi các trường mở cửa lại trong năm học 2021-2022, 11 bang quyết định cấm các trường yêu cầu học sinh đeo khẩu trang. Tất cả những tranh luận về việc khi nào nên mở cửa lại trường học và khi nào yêu cầu đeo khẩu trang hoàn toàn xoay quanh những gì có lợi nhất cho trẻ em và cho phụ huynh của chúng: những ảnh hưởng xấu đối với trẻ em khi chúng không được đi học, gánh nặng trên vai cha mẹ khi phải trông con ở nhà cả ngày và sự bất tiện khi phải đeo khẩu trang. Tất cả các tin tức trên truyền thông về cuộc thảo luận này, tôi chưa từng thấy ai đó đề cập một dòng nào tới sức khỏe của giáo viên, trong đó rất nhiều người đã lớn tuổi và đang có nhiều bệnh nền (như hen suyễn, tiểu đường, hệ miễn dịch suy giảm) khiến họ dễ trở nặng khi bị nhiễm covid. Không có gì phải nghi ngờ rằng số giáo viên tử vong vì bị nhiễm covid khi làm việc nhiều hơn rất nhiều so với những người ngã xuống trong các vụ xả súng ở trường học. Tuy nhiên, báo chí chỉ tập trung vào những vụ xả súng ở trường và gần như không dành một lời nào cho những người thầy chết vì công chúng thiếu quan tâm đến sức khỏe của họ trong dịch bệnh.  Trong những năm 90, tôi trở nên hứng thú với giáo dục toán học trước đại học. Khi vợ tôi, Ann và tôi đi khắp thế giới, chúng tôi thường tới thăm các trường ở mỗi địa phương để chia sẻ những bài giảng toán học. Chúng tôi cảm nhận một luồng gió mới khi nhìn thấy những giá trị to lớn mà người dân ở những quốc gia khác trao cho giáo dục và niềm kính trọng họ dành cho giáo viên. Chúng tôi tới các ngôi trường ở Peru, Chile, Belize, El Salvador, Mexico, Cuba, Nam Phi, Malawi, Zimbabwe, Ấn Độ và Việt Nam. Tới Hà Nội, chúng tôi tới thăm hai trường chuyên và một trường được mô tả là “trường thường”. Trong ngôi “trường thường” đó, chúng tôi dành một buổi sáng với một lớp gồm các em khoảng từ 10-11 tuổi, các em ở tầm tuổi giống như những học sinh mà tôi vẫn thường giảng dạy tình nguyện ở gần nơi tôi sống tại Seattle, Mỹ. Nhưng các em sáng dạ hơn nhiều so với các bạn đồng trang lứa ở Mỹ, không chỉ ở những kĩ năng cơ bản mà còn ở cả sự sáng tạo khi xử lý những bài toán đố khá thách thức mà chúng tôi đưa ra.  Việt Nam có một truyền thống coi trọng học thuật sâu sắc, đó là điều chúng tôi biết được khi tới thăm Văn Miếu trong lần đặt chân đến Hà Nội vào năm 1978. Trong toán học, truyền thống đó bắt đầu với Lương Thế Vinh, rồi sau đó là Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu.  Không có gì là bí ẩn đằng sau việc tại sao một quốc gia có thể bỏ ra rất nhiều tiền cho giáo dục nhưng đổi lại chỉ có kết quả làng nhàng, trong khi một quốc gia khác có đầu tư khiêm tốn hơn nhiều và vẫn có thể xoay sở dạy được những kĩ năng phức tạp và tư duy sáng tạo cho các em nhỏ. Tôi vẫn nghĩ gốc rễ của vấn đề nằm ở văn hóa. Coi trọng người thầy hẳn là cốt lõi của một nền giáo dục thành công. □  Hảo Linh dịch    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Gợi ý của đại học hàng đầu      Trong phần ba, GS&#160; Dương Phúc Gia cho rằng, chỉ có thể được coi là đại học học hàng đầu khi ngôi trường đó đào tạo được những công dân tốt, có “tình yêu lớn” đối với giảng viên và sinh viên, bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm đạo đức và phát huy thiên tài của sinh viên.    1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt  Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.  Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.  Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.  Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.  Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.  2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”  Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.  Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]  Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.  Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.   Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.  Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.  3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội   Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?   Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.   Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.  Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v… – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.    4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên  ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.  Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.  Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.  Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.    5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học  Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.   Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).  Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.  Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.  Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.   Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!  Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.  (Còn tiếp)  Huy Đường lược dịch    Ghi chú của người dịch:  [1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.  [2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.  [3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).  [4] Tên bộ phim là “A Beautiful Mind“, dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.  [5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Gợi ý về chữ MỞ trong giáo dục nước nhà      Trong bối cảnh của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia thời kỳ hậu COVID-19, phù hợp với các xu thế của thế giới về Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở thì đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng mở, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhu cầu cấp thiết.      Tài nguyên giáo dục mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới. Ảnh: Nature.com  Bối cảnh thế giới     Tài nguyên giáo dục mở đã trở thành xu hướng không thể đảo ngược trên thế giới. Kể từ năm 2019, UNESCO và 193 thành viên của nó (trong đó có Việt Nam) đã nhất trí với Khuyến nghị Tài nguyên giáo dục mở1. Điều này đồng nghĩa với việc đại đa số các nước trên thế giới ủng hộ và sẽ cam kết phát triển chính sách và hỗ trợ để các mô hình tài nguyên giáo dục mở phát triển bền vững.    Tới hết năm 2021, từ 70% các xuất bản phẩm bị khóa sau bức tường thanh toán giảm xuống chỉ còn 30% trong và sau đại dịch COVID-19. Tốc độ nhiều nghiên cứu trên thế giới đáng lẽ có thể đi nhanh hơn, nhiều người được hưởng lợi hơn. Đó là một phần lí do mà các quốc gia nói trên đã tiến thêm một bước là thông qua Khuyến nghị khoa học mở2 vào cuối năm 2021. Với khuyến nghị này, theo như thông cáo báo chí của UNESCO3, các quốc gia đã “nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn chung cho khoa học mở” và hơn nữa là thống nhất một lộ trình để không chỉ các công trình khoa học mà tất cả các dữ liệu và cơ sở vật chất phục vụ học tập và nghiên cứu sẽ đều mở và miễn phí cho bất kì ai cũng có thể tiếp cận. Một trong những yêu cầu của lộ trình này là các quốc gia cần ưu tiên đầu tư vào nhân lực, giáo dục đào tạo kĩ năng số (digital skills) cùng với tính mở.    Tài nguyên giáo dục mở, Khoa học mở và Truy cập mở tới các Kiến thức khoa học mở là một trong những nền tảng quan trọng để học tập suốt đời trở thành hiện thực với đại đa số người dân. Báo cáo “Tiếp nhận văn hóa học tập suốt đời: Đóng góp cho sáng kiến Tương lai của giáo dục”4 của Viện Học tập Suốt đời của UNESCO – UIL cho rằng quyền được học tập của người dân cần phải được làm mới, nó không chỉ nên dừng lại ở quyền được đến trường, mà phải mở rộng ra thành quyền được học suốt đời. Nói cách khác, học tập suốt đời sẽ phải trở thành quyền cơ bản của con người, là tiêu chí đánh giá công bằng xã hội.    Từ trước tới nay, việc học tập suốt đời luôn nằm trong khuôn khổ của các lĩnh vực chính sách giáo dục và thị trường lao động. Nhưng từ bây giờ trở đi, nó có thể sẽ rất khác, biên giới của học tập suốt đời sẽ bao phủ hầu hết tất cả các lĩnh vực: “tiềm năng của học tập suốt đời không chỉ để biến đổi lĩnh vực giáo dục, mà còn tạo ra tương lai bền vững, lành mạnh và hòa nhập hơn” cho tất cả mọi người và tương lai của giáo dục.    Khái niệm học tập suốt đời đầy đủ giờ đây ngụ ý việc học tập từ lúc sinh ra cho tới lúc chết đi (bất kỳ lúc nào), tồn tại bên trong và bên ngoài hệ thống giáo dục (bất kỳ ở đâu), được mọi người ở mọi lứa tuổi triển khai (bất kỳ ai, bất kỳ lứa tuổi nào), thông qua một dải rộng lớn các phương thức, bao gồm mặt đối mặt, từ xa, trực tuyến (bất kỳ cách gì), và liên quan tới tất cả các lĩnh vực kiến thức (bất kỳ điều gì). Việc học tập suốt đời như vậy sẽ kéo theo việc phát triển năng lực của người học, cá nhân hóa việc học tập, việc thừa nhận các kết quả học tập giành được trong các bối cảnh khác nhau và thúc đẩy lộ trình học tập mở rất linh hoạt. Điều này, tới lượt nó, sẽ dẫn tới việc xây dựng chính sách học tập suốt đời dịch chuyển từ cung sang cầu.      Các thành phần của khoa học mở. Ảnh: Lê Trung Nghĩa tùy chỉnh từ tài liệu Khuyến nghị khoa học mở của UNESCO.  Hãy tưởng tượng về tương lai của giáo dục đến năm 2050, khi mà, từ phía cầu, người học có thể yêu cầu tham gia một khóa học với đầy đủ đặc tính ‘bất kỳ’ mà người học mong muốn, liệu từ phía cung, các cơ sở giáo dục và các nhà cung cấp giáo dục khác sẽ phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu đó như thế nào?    Hãy nghĩ về một trường đại học ảo tồn tại trên Internet trực tuyến, không có một mét vuông đất nào, được vận hành hoàn toàn bằng phần mềm máy tính, chắc chắn sẽ làm được việc này, chỉ là vấn đề của thời gian!     Bối cảnh trong nước     Việt Nam thực ra cũng ý thức được xu hướng mở trong giáo dục từ đầu những năm 2010. Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã yêu cầu cần: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở”. Luật Giáo dục năm 2019 cũng nhắc lại ý này “Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”.    Tương tự như với thế giới, đại dịch COVID-19 đã tác động tới tất cả mọi người, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, và tác động sâu sắc nhất tới giáo dục. Đã có rất nhiều thay đổi, kể cả trong nhận thức của xã hội và của mọi người trong việc việc dạy và học, nhất là việc thừa nhận/công nhận/chấp nhận sự cần thiết của việc dạy và học kết hợp: vừa trực tiếp theo cách truyền thống mặt đối mặt và vừa trực tuyến qua Internet với sự trợ giúp của các công cụ công cụ công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT). Sau này, việc học theo hướng trực tuyến sẽ ngày càng được tăng cường, trong khi học trực tiếp sẽ được chỉ triển khai khi cần thiết như trong các giờ học thực hành khi các công cụ CNTT-TT như các video, mô phỏng tương tác hoặc thực tế ảo/thực tế tăng cường còn chưa hoặc chưa có điều kiện để thay thế được. Có lẽ đúng khi nói, chính đại dịch COVID-19 đã xúc tác cho phát triển việc học tập mở và từ xa – ODL (Open and Distance Learning)5, một cách học được cho là ngày càng phù hợp với học tập suốt đời.     Thử bàn về chữ mở trong giáo dục Việt Nam những năm qua     Đã và đang có các hoạt động nhất định của các bên liên quan tới giáo dục (và cả khoa học nữa) ở Việt Nam hướng tới TNGDM và Khoa học Mở (KHM) từ những năm đầu thế kỷ 21. Tuy nhiên, các hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở và cũng không ổn định theo thời gian. Điều tích cực là trong vài năm trở lại đây, các hoạt động liên quan tới MỞ đã mở rộng hơn để vươn tới những khái niệm mới, phong trào mới hơn của thế giới mở.    Về Tài nguyên Giáo dục mở: Từ năm 2015 trở lại đây, các hiệp hội ngành giáo dục, truyền thông, khu vực nhà nước và truyền thông đã tham gia và tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo và tập huấn về vấn đề này. Sắp tới, Đề án ứng dụng và phát triển Tài nguyên Giáo dục mở trong giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học sẽ được hoàn thiện để chuẩn bị trình Thủ tướng phê duyệt. Đây là minh chứng rõ ràng cho bước triển khai ban đầu rất cụ thể cho ứng dụng và phát triển Tài nguyên Giáo dục mở ở Việt Nam.    Về Khoa học Mở: Đáng chú ý Bộ Khoa học và Công nghệ năm ngoái đã tham gia các cuộc thảo luận đóng góp ý kiến cho bản Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO và tổ chức một vài hoạt động hội nghị, hội thảo có liên quan.    Về Công nghệ mở: Nhân sự kiện Ngày Công nghệ Mở Việt Nam lần thứ nhất 18/11/2020, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TTTT) Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định.6    “Công nghệ mở là để các quốc gia có thể làm chủ công nghệ mà mình sử dụng. Không còn như trước đây, chúng ta mua một ‘Hộp đen’ từ một quốc gia khác và phó mặc số phận của quốc gia mình cho một quốc gia khác. Hiện nay, nhiều quốc gia đã tuyên bố chỉ mua công nghệ khi công nghệ là mở, nhất là khi các công nghệ đó dùng để xây dựng các hạ tầng nền tảng quốc gia”, và ông cũng nói thêm:    “Việc lựa chọn phát triển công nghệ mở, lựa chọn phát triển phần mềm nguồn mở, lựa chọn mở dữ liệu để các cá nhân, doanh nghiệp tham gia sáng tạo giá trị mới là định hướng của chúng ta”.      Học tập suốt đời không chỉ giới hạn trong chính sách về lao động và học tập bởi nó sẽ “tạo ra tương lai bền vững, lành mạnh và hòa nhập hơn” cho tất cả mọi người. Ảnh: europeanceo.com  Công nghệ Mở không còn là khái niệm mới. Nó đã từng được quân đội Mỹ phát triển từ những năm đầu thế kỷ 21, gồm những thành phần7: (1) Tiêu chuẩn mở và giao diện mở; (2) Phần mềm nguồn mở và thiết kế mở; (3) Văn hóa cộng tác/phân phối và các công cụ hỗ trợ trên trực tuyến; (4) Sự lanh lẹ của công nghệ. Họ cũng đã nêu lên những bài học cần thiết cho sự thành công của phát triển công nghệ mở, quan trọng nhất phải ghi nhớ là: (1) Cộng đồng trước, công nghệ sau; (2) Mở là mặc định, đóng chỉ khi cần8.    Về Nền tảng mở: Để hướng dẫn cho các tổ chức khắp cả nước có được những kiến thức cơ bản về chuyển đổi số, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xuất bản website ‘Cẩm nang chuyển đổi số’, khẳng định rằng9: “Sử dụng nền tảng số được xác định là giải pháp đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số nhanh hơn, giảm chi phí, tăng hiệu quả. Nền tảng được tạo ra bởi những doanh nghiệp công nghệ số xuất sắc, cho phép các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng ngay dưới dạng dịch vụ thay vì phải tự đầu tư, tự vận hành”.    Tại hội thảo “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo” ngày 09/12/2020 với sự có mặt của cả hai bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông và Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng có nói10: “Ngành Giáo dục hiện còn ‘thiếu một công cụ thực thi hiệu quả’, đó chính là các nền tảng số. Đây phải là nền tảng mở, để liên tục được cập nhật và tốt lên từng ngày. Nền tảng này không chỉ là nội dung mà còn là cách thức giảng dạy, cách học, cách thi kiểm tra, hay nói cách khác là các quy trình. Các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có thể giúp ngành giáo dục xây dựng được những nền tảng như thế”.    Không phải phần mềm nào cũng có thể được gắn nhãn ‘Nền tảng’; cũng không phải nền tảng nào cũng có thể được gắn nhãn ‘Nền tảng Mở’; vì một ‘Nền tảng Mở’ thường có những đặc tính riêng của nó, ví dụ như11: (1) Được chuẩn hóa dựa vào các tiêu chuẩn mở; hoặc (2) Trung lập về công nghệ. Hai trong số tám đặc tính nêu trên của một ‘Nền tảng Mở’ là đủ để đảm bảo rằng nền tảng đó sẽ là sân chơi của tất cả các doanh nghiệp/công ty bất kỳ nào và không bị phụ thuộc, không bị khóa trói vào một (vài) nhà cung cấp độc quyền duy nhất nào, để các Kiến thức khoa học mở và Tài nguyên giáo dục mở không bị bắt làm con tin của bất kỳ doanh nghiệp/tập đoàn độc quyền nào, vì nó sẽ hủy hoại tính mở của chính các Kiến thức Khoa học mở và/hoặc Tài nguyên giáo dục mở đó.    Về Các khung năng lực số: Khung năng lực số là khung nhằm xác định khả năng kỹ thuật số của một cá nhân hoặc nhóm người nhất định cả về kiến thức, các kỹ năng và thái độ về một lĩnh vực nhất định, và được đặt trong bối cảnh cụ thể của một quốc gia hoặc một tổ chức nhất định. Các mục tiêu của Chương trình Chuyển đổi số cần các công dân, tổ chức và doanh nghiệp có các năng lực số/kỹ năng số thông qua Giáo dục Số với các khung năng lực số. Cho tới thời điểm hết năm 2020, đã chưa có nghiên cứu nào xây dựng các khung năng lực số tại Việt Nam. Trong khi đó, ví dụ, tại châu Âu, từ năm 2005 cho tới nay đã có hàng chục nghiên cứu và hàng trăm tài liệu là kết quả của các nghiên cứu đó12 về khung năng lực số ở khu vực này. Điều tích cực là trong các tài liệu dự thảo các Đề án ứng dụng và phát triển Tài nguyên giáo dục mở trong những năm tới đều có đề cập tới việc xây dựng các khung năng lực số.    Để hiện thực hóa những điều MỞ được nêu ở trên là rất không dễ, dù chúng có thể giúp cho Việt Nam hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Liên Hiệp Quốc tới năm 2030, nhất là SDG 4 về giáo dục như được nêu ở đầu bài viết này, thì giáo dục Việt Nam chắc sẽ còn cần phải MỞ hơn nữa, để có thể bắt kịp với các xu thế mới, ví dụ như những gì đang được UNESCO dẫn dắt để thảo luận về học tập suốt đời với sáng kiến ‘Tương lai của giáo dục’ đến năm 2050, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học bằng việc cung cấp giáo dục đổi mới sáng tạo hơn nữa.     Vài gợi ý để thảo luận tiếp về chữ MỞ trong giáo dục Việt Nam thời gian tới     Mở, đó là hướng theo những gì được nêu trong Khuyến nghị Tài nguyên Giáo dục mở và Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO, đã được 193 quốc gia thành viên của nó thông qua lần lượt vào các năm 2019 và 2021, mà Việt Nam, với tư cách là một quốc gia thành viên của nó, sẽ tuân thủ với các tùy chỉnh cho phù hợp với bối cảnh của mình, và sẽ có các báo cáo về sự tiến bộ về ứng dụng và phát triển Tài nguyên giáo dục mở và Khoa học mở cho UNESCO mỗi bốn năm một lần như được nêu trong các Khuyến nghị đó.    Mở, đó là ưu tiên hàng đầu phải có chính sách cấp phép mở quốc gia. Cấp phép mở là cách để các tác giả/người nắm giữ bản quyền cho phép trước bất kỳ ai sử dụng các tài nguyên/tác phẩm của mình một cách rõ ràng để tránh cho người sử dụng khỏi việc vi phạm bản quyền/các quyền tác giả. Không có cấp phép mở, sẽ không có Tài nguyên giáo dục mở hay Kiến thức Khoa học mở!    Mở, đó là việc sử dụng tiền của người đóng thuế thông qua việc nhà nước cấp vốn cho nghiên cứu khoa học để tạo ra các Kiến thức khoa học mở, Tài nguyên giáo dục mở phục vụ trở lại cho người đóng thuế, phục vụ cho công chúng và xã hội. Có lẽ câu hỏi: Lấy tiền từ ai để tiến hành nghiên cứu và tạo ra các Kiến thức Khoa học mở và Tài nguyên Giáo dục mở? nên được đặt ra trước khi có bàn luận bất kỳ nào về Luật sở hữu trí tuệ và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới sở hữu trí tuệ, bản quyền, quyền tác giả và các quyền liên quan.    Mở, đó là hiện thực hóa chương trình chuyển đổi số ở Việt Nam bằng công nghệ mở và nền tảng mở với sự hỗ trợ tích cực của các Khung Năng lực Số được tích hợp trong Giáo dục Số nhằm giúp hình thành, nâng cao và đánh giá được năng lực số của các tổ chức, các cá nhân và các doanh nghiệp để có được các năng lực số cần thiết, bao gồm các năng lực số mở như Tài nguyên Giáo dục mở, Khoa học mở, Cấp phép mở, để xây dựng chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số – các mục tiêu của Chương trình Chuyển đổi số – cho Việt Nam.    Mở, đó là sẵn sàng trong tư thế hướng tới xu thế mới của thế giới, như hướng tới việc học tập suốt đời có thể trở thành một quyền mới cơ bản của con người, nơi mà các Kiến thức Khoa học mở, Tài nguyên Giáo dục mở có thể trở thành hàng hóa chung của xã hội và/hoặc những điều chung của giáo dục. Hãy nghĩ về việc phát triển Kiến thức Khoa học mở, Tài nguyên Giáo dục mở trong tương lai của Việt Nam cũng giống như việc phát triển hệ thống đường giao thông, các thư viện, viện bảo tàng, vườn hoa, công viên,… để phục vụ cho mọi công dân, bất kể họ là ai, chứ không phải là tài sản riêng của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, vì cái đích xa hơn là ‘không để ai bị bỏ lại phía sau’, đặc biệt khi Kiến thức Khoa học mở, Tài nguyên Giáo dục mở được tạo ra từ tiền của người đóng thuế.    Ngược lại, nếu không là MỞ, có nghĩa là giáo dục và khoa học Việt Nam đang giậm chân tại chỗ, đi giật lùi hoặc đi lạc hướng với xu thế không thể đảo ngược của thế giới về Tài nguyên Giáo dục mở và Khoa học mở, gây hại cho sự hòa nhập với thế giới và sự phát triển của Việt Nam.    Hai từ khóa trong những năm tới ở Việt Nam sẽ là MỞ và SỐ để phù hợp được với kỷ nguyên số/Chương trình Chuyển đổi số của Việt Nam và định hướng MỞ của thế giới ngày nay. Sự kết hợp giữa MỞ và SỐ có thể sẽ tạo ra nhiều đổi mới sáng tạo và nhiều điều chưa từng thấy, đáp ứng nhu cầu học tập của bất kỳ ai, cũng như đáp ứng kỳ vọng ‘đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa’. MỞ và SỐ sẽ song hành với nhau! Không thể nào khác!□  —-  Các chú giải  1. UNESCO, 2019: Certified Copy of the Recommendation on Open Educational Resources (OER): https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0  2. UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  3. UNESCO, Press Release, 26/11/2021: UNESCO sets ambitious international standards for open science: https://www.unesco.org/en/articles/unesco-sets-ambitious-international-standards-open-science. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/unesco-thiet-lap-cac-tieu-chuan-quoc-te-day-tham-vong-cho-khoa-hoc-mo-555.html  4. UNESCO, UIL, 2020: Embracing a Culture of Lifelong Learning: Contribution to the Futures of Education initiative. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000374112. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/tai-lieu-dich/om-lay-van-hoa-hoc-tap-suot-doi-dong-gop-cho-sang-kien-tuong-lai-cua-giao-duc-ban-dich-sang-tieng-viet-509.html  5. UNESCO, UIL, 2021: Guidelines on Open and Distance Learning for Youth and Adult Literacy: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379397. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/xr5bxxr5mew88dh/379397eng_Vi-26122021.pdf?dl=0, xem phần ‘Phát triển các tư liệu dạy và học – Các nguyên tắc phát triển tư liệu’, trang 72.  6. Vietnamnet: Toàn văn phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại diễn đàn công nghệ mở Việt Nam: https://vietnamnet.vn/vn/thong-tin-truyen-thong/toan-van-phat-bieu-cua-bo-truong-nguyen-manh-hung-tai-dien-dan-cong-nghe-mo-viet-nam-689681.html  7. Bộ Quốc phòng Mỹ, tháng 4/2006: Open Technology Development – Roadmap Plan: https://www.acqnotes.com/Attachments/Open%20Open%20Technology%20Development%20Roadmap%20-%20April%202006.pdf, Open Technology Development, p. 7. Bản dịch sang tiếng Việt có tại địa chỉ: https://www.dropbox.com/s/ildow3b0qx39f59/OTD-Roadmap-Final-Vi-29122011.pdf?dl=0, trang 6.  8. Bộ Quốc phòng Mỹ, 2011: Open Technology Development – Lessons Learned and Best Practices for Military Software: https://dodcio.defense.gov/wp-content/uploads/old/Portals/0/Documents/FOSS/OTD-lessons-learned-military-signed.pdf, OTD Success Checklist, p. 33. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/7dr3l68df0n8qkd/OTD-Lessons-Learned-And-Best-Practices-For-Military-Software-Vi.pdf, trang 42-43.  9. Trang tin của Bộ Thông tin và Truyền thông: Cẩm nang chuyển đổi số: https://dx.mic.gov.vn/. Xem phần câu hỏi: ‘Chuyển đổi số như thế nào?’, mục ‘Sử dụng nền tảng để chuyển đổi số như thế nào?’  10. Trang tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020: Hội thảo “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo”: https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/tang-cuong-ung-dung-cntt/Pages/Default.aspx?ItemID=7123  11. Lê Trung Nghĩa, 2021: Cần một nền tảng mở cho chuyển đổi số trong giáo dục: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/can-mot-nen-tang-mo-cho-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-504.html  12. Lê Trung Nghĩa, 2021: Các khung năng lực số của Liên minh châu Âu và vài gợi ý cho Việt Nam để chuyển đổi số thành công: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/cac-khung-nang-luc-so-cua-lien-minh-chau-au-va-vai-goi-y-cho-viet-nam-de-chuyen-doi-so-thanh-cong-534.html  Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế            Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Góp phần vào chỉ tiêu hai vạn tiến sĩ      Đã khá lâu làng báo Việt Nam mới khẽ khàng tái xuất những cuộc tập tranh luận nho nhỏ, ví như phản hồi xung quanh bài báo của tác giả Nguyễn Trung đăng trên TTCT ngày 23/09/2007 bàn tới đề án 2 vạn tiến sĩ của ngành giáo dục. Ông Nguyễn Trung có ý thách thức rằng chúng ta thường chê lời giải hoặc cách thực hiện chưa đúng, mà chưa bao giờ dám nghĩ rằng đề bài cũng có khi sai. Sau khi được nhắc nên biết và hiểu trước khi phê phán, đã có ý thưa lại rằng đúng là cần biết và hiểu, song nên vì lợi ích của ai [1].    Hai vạn tiến sĩ và cuộc cải cách giáo dục quốc gia là những việc rất lớn, mong có được nhiều cuộc bút chiến nảy lửa hơn nữa để người nước ta hiểu thêm mọi khía cạnh của chính sách này. Tranh luận tạo ra lý lẽ, lý lẽ mới giúp người ta bị thuyết phục. Một xã hội thiếu tranh luận làm mồi cho những đồng thuận hững hờ; đồng sàng dị mộng có khi người ta say khai thác lợi tư hơn là vì những đích chung.  Tôi làm nghề dạy học, ngoài hàng nghìn cử nhân luật học chính quy và tại chức, mỗi năm chỉ riêng Đại học Quốc gia Hà Nội đã đào tạo ra hàng trăm thạc sĩ và hàng chục tiến sĩ luật học. Tôi thành thực ít hiểu biết về phản hồi của xã hội đối với sản phẩm mà chúng tôi đã tham gia đào tạo. Cũng có người khen, nhiều người chê; vì nguồn tin không đầy đủ và thiếu chính xác nên rất khó đưa ra kết luận.         Ngoại trừ luận án tiến sĩ của một người Trung Quốc đã bảo vệ năm 2004, tất cả các bài luận văn, luận án Tiến sĩ Luật của học viên Việt Nam mà tôi tham gia chấm đều tròn trịa 03 chương với cách đặt vấn đề, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu na ná giống nhau.        Chỉ biết rằng trong những năm làm nghề dạy học, tôi đã giúp người học viết và tham gia chấm có lẽ đến hàng trăm khoá luận, luận văn và luận án tiến sĩ luật học. Điều thú vị là, ngoại trừ luận án tiến sĩ của một người Trung Quốc đã bảo vệ năm 2004, tất cả các bài luận văn, luận án Tiến sĩ Luật của học viên Việt Nam mà tôi tham gia chấm đều tròn trịa 03 chương với cách đặt vấn đề, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu na ná giống nhau. Hầu như không có một bài nào có kết quả điều tra thực tế, phỏng vấn chuyên gia, thực nghiệm, rất ít bài có trích án lệ từ thực tiễn xét xử của ngành toà án. Các thông tin có được dường như đều dựa trên cái gọi là “nghiên cứu tư liệu”; nói cách khác, đều tự biện luận hoặc tóm lược biện luận của người khác rồi xào xáo đưa ra ý riêng của mình. Cuối các bài “tam đoạn luận” thường có một chương xinh xắn với những định hướng và kiến nghị, sửa điều nọ, chỉnh điều kia, thậm chí là xây dựng thêm một vài đạo luật mới.  Tôi không rõ khoa học có nên phục vụ triển khai chính sách tức thời, kiểu như luận án tiến sĩ luật phải phục vụ các chương trình xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật theo kiểu làm luật của Quốc hội, hay khoa học cũng nên trước hết là học thuật, tìm ra những gì người ta gọi là cương thường mực thước điều khiển vũ trụ hay xã hội này. Học thuật vị học thuật, học thuật vị nhân sinh hay học thuật thuần tuý hướng tới những tấm bằng để thăng tiến cá nhân; những điều tưởng như rất cũ ấy cũng cần phải được tranh luận lại. Theo thiển nghĩ của tôi, hình như các bài luận để đạt tới một học vị trong giới học thuật có lẽ cũng nên khác với những báo cáo phúc trình hay dự thảo kiến nghị của nhân viên trình cho thủ trưởng.  Chữ nghĩa và cuộc đời dường như tuân theo những lệ riêng bất diệt, thường cũng rất công bằng và sòng phẳng. Cầm những tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ trên tay, y phục xứng kỳ đức, quý vị có nghĩ mình đã góp thêm được gì trong văn đàn giữa chợ toàn cầu.  ————-    1 Xem Đá Chông, “Phê phán phải dựa trên sự biết và hiểu”, Báo CAND ngày 25/09/2007 và  Nguyễn Xuân Hãn, “Quan trọng hơn vẫn là lợi ích của ai”, TTCT ngày 07/10/2007     Phạm Duy Nghĩa      Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Ngô Bảo Châu và những người bạn ra mắt Vườn ươm tài năng      Cuối tuần qua, GS Ngô Bảo Châu và những người bạn đã ra mắt doanh nghiệp xã hội Vườn ươm tài năng, nơi tổ chức những hoạt  động bồi dưỡng năng khiếu cho các em nhỏ, đặc biệt là những em có hoàn  cảnh khó khăn.       GS Ngô Bảo Châu và những người bạn mới đây đã ra mắt doanh nghiệp xã hội Vườn ươm tài năng, nơi tổ chức những hoạt động bồi dưỡng năng khiếu cho các em nhỏ, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn.   Trong buổi lễ ra mắt tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã lý giải về nguyên nhân vì sao ông và bạn bè thành lập Vườn ươm tài năng: “Dự án này xuất phát từ ý tưởng của những người bạn tôi. Chúng tôi nhận thấy rằng, trẻ nhỏ cần được giáo dục trong gia đình, nhà trường. Việc hình hành nhân cách của trẻ phụ thuộc rất lớn vào môi trường giáo dục… Xã hội cần tài năng và cần sự gắn bó của mọi thành viên. Vườn ươm tài năng sẽ là nơi kết nối cả người lớn và trẻ em vì mục tiêu này.”   Vườn ươm tài năng được đặt tại căn biệt thự BT 41, vốn là món quà của ông Đào Hồng Tuyển, Chủ tịch tập đoàn Tuần Châu dành cho GS Ngô Bảo Châu sau sự kiện GS Châu nhận giải thưởng Fields. Trên cơ sở này, GS Ngô Bảo Châu và những người bạn đã đề xuất thành lập công ty TNHH Vườn ươm tài năng để quản lý, khai thác sử dụng ở ba lĩnh vực hoạt động chính: tư vấn giáo dục; lưu trú ngắn hạn cho các giáo sư, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về giảng dạy tại Việt Nam; tổ chức các sự kiện văn hóa, khoa học và giáo dục. Khoản kinh phí thu được sau khi đã trừ chi phí quản trị sẽ được dùng đầu tư vào các hoạt động khoa học và giáo dục.   Theo kế hoạch, Vườn ươm tài năng sẽ tập trung vào tổ chức những hoạt động bồi dưỡng năng khiếu cho các em có tài năng đặc biệt, nhất là những em có hoàn cảnh khó khăn.   Khóa đầu tiên của Vườn ươm đã diễn ra theo ba đợt, từ ngày 10 đến 12/10/2014, 26-28/12/2014 với môn Toán, từ ngày 24 đến ngày 26/11/2014 với Lý, Hóa, Sinh, Tin học. Trong khóa đầu tiên này, hơn 100 học sinh Quảng Ninh, bao gồm các em tham gia vòng tuyển chọn năm đội tuyển toán, lý, hóa, sinh, tin học của tỉnh để tham dự cuộc thi học sinh quốc gia năm học 2014-2014. Tại lễ khai giảng khóa học, trường Chuyên Hạ Long, nòng cốt của đội tuyển Quảng Ninh, đã nhận được 600 triệu từ các doanh nghiệp trong tỉnh tài trợ. Tham gia giảng dạy tại khóa đầu có các thầy giáo trường ĐH Sư phạm, ĐH Bách Khoa Hà Nội, trường Chuyên PTTH Khoa học tự nhiên – ĐHQG Hà Nội, Chuyên Vĩnh Phúc. Nội dung của khóa học chủ yếu giúp các em ôn luyện để có đủ kiến thức và tự tin để tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia.   Dự kiến sau Tết Nguyên đán, Vườn ươm sẽ tổ chức tiếp các lớp dành cho các em học sinh có tiềm năng ở lứa tuổi nhỏ hơn.   Trong buổi lễ ra mắt tại Hà Nội tối 10/1, Vườn ươm đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nghệ sỹ khi gửi tác phẩm tới đóng góp vào chương trình đấu giá: họa sỹ Đặng Xuân Hòa với tác phẩm “Năm Ngựa”, họa sỹ Hà Trí Hiếu với tác phẩm “Thôn nữ với bò đỏ”, nhà điêu khắc Đào Châu Hải với tác phẩm sắp đặt “Ballad Biển Đông”… 335 triệu đồng thu được từ buổi đấu giá được bổ sung vào quỹ hoạt động của Vườn ươm tài năng.   Trước đó, Vườn ươm đã có buổi ra mắt vào tối 9/1 tại Hạ Long.          “Tôi tưởng tượng về Vườn ươm tài năng như thế nào? Tôi mong muốn bên trên cả tài năng, nó sẽ ươm những giấc mơ cao đẹp, những tình bạn chung thủy. Đấy là những gì có thể nảy sinh ra và lớn lên từ khi các em cùng nhau làm một cái gì đó thật khó: vẽ, làm toán, viết văn, hát, chơi nhạc, tập võ hay đánh cờ. Tôi mong muốn Vườn ươm tài năng sẽ là một mái nhà chung đón tiếp tất cả các hoạt động đó” (GS Ngô Bảo Châu).                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Gửi hết cho Vườn hồng      Yếu tố then chốt của Giáo dục phổ thông là hướng dẫn trẻ em học cách học chứ không phải là dạy nhớ những kiến thức mênh mang của nhân loại.      Ảnh: Nhóm cánh buồm.  Vài lời mở đầu  Tôi chọn một cung cách thiêng liêng, chắc đó sẽ là nghi thức Tagore, để gọi những học sinh của mình là những bông hồng. Mấy chục cô giáo của tôi, mỗi cô chăm sóc một bụi hồng. Mỗi em học sinh của tôi vừa là một bông hồng, cũng là một gốc hồng đơm từng bông không ngừng không nghỉ.  Tập sách chỉ 150 trang, Em học Em nghĩ Em làm tập 2 in năm 2018 (Tập 1 in năm 2017), thực sự là một điều thiêng liêng cho tôi. Đọc xong, không thể chỉ có đôi lời cám ơn nhẹ nhàng mấy chục cô giáo. Cũng chẳng muốn dùng những cách khen đã quen lệ đối với các bài luyện tập Văn của những bông hồng.  Tập 2 năm 2018 vẫn có những dạng bài tập như Tập 1, nhưng năm này còn có thêm kịch bản cho mấy vở kịch ngắn.  Đồng dao của học sinh lớp Một vẫn là bài tập vần và nhịp, nhưng nội dung không quá “trẻ con” như năm trước.  Thơ haiku của lớp Hai có nhiều bài hay, có cả mục thi nhau dịch thơ haiku từ tiếng Anh sang tiếng Việt.  Văn xuôi sáng tác thì có các câu chuyện hấp dẫn hơn và ngôn từ vững vàng hơn năm trước. Đọc văn nghị luận của các bông hồng, ngoài các nội dung từ Ta bảo trâu này đến thơ Trần Đăng Khoa rồi thơ Nguyễn Khuyến và Bà Huyện Thanh Quan… còn thấy vô số đề tài các em quan tâm (“kiểm soát cảm xúc bản thân”, “việc cùng làm một vở kịch”, …). Đặc biệt năm 2018 trong phần bài văn nghị luận có cả những “ý kiến” của học sinh về chuyện dùng Facebook, về showbiz,… đến chuyện người lớn “chơi” Bitcoin.  Đem so với Tập 1, thấy rõ không phải chỉ có học sinh năm sau tiến bộ hơn năm trước rõ ràng, mà thấy chính dáng vẻ vững vàng của các giáo viên đã tiến bộ rất nhanh.  Đó là điều gợi hứng cho tôi viết bài báo này để dâng lên bạn một đôi điều về cách làm sao cho một luống hồng phát triển thành một Vườn hồng?  Sao lại thơ haiku?  Tôi chọn dạng thơ haiku trong tập sách để giới thiệu trong bài báo không thể viết ngắn này. Và để mở đầu, cũng tiếp tục nghi thức Tagore như đã định, xin được dâng bạn một bài thơ dạng haiku của học sinh lớp Hai. Bông hồng bảy tuổi của chúng tôi tên là Hoàng Vinh, tác giả đó làm bài tập tưởng tượng qua cách làm thành thơ haiku sau – xin bạn đọc chậm, và dừng lại khẽ nhắm mắt để nhìn bức tranh thi họa:  Thuyền đi dưới trăng         Trăng đi dưới thuyền  Có người lênh đênh …  Năm 2013, khi vào Nam giới thiệu sách mới, chúng tôi có cuộc vui tại nhà riêng cô giáo Kim Thanh, trợ lý “thời kỳ Đổi mới” của giáo sư Lưu Đức Trung. Ngồi cạnh tôi, giáo sư Trung nhỏ nhẹ như tính thầy vốn thế:  – Ông liều thật đấy! Dám dạy thơ haiku cho lớp Hai.  – Dễ mà! Các em làm được cả mà!  – Tôi dạy haiku ở đại học, sinh viên không hiểu và không thích.  – Không hiểu gì?  – Họ không sao hiểu chất Thiền trong haiku.  – Đó là chuyện của Thầy. Với trẻ em lớp Hai tôi không dạy chất Thiền trong haiku. Mọi thứ, kể cả chất Thiền, đều không thể “dạy”. Người học phải tự tìm thấy và đem về cho mình.  – Thế ông dạy gì?  – Dạy thao tác tưởng tượng.  Giáo sư Lưu Đức Trung đã lẳng lặng nghe tôi kể cách dạy thơ haiku cho học sinh lớp Hai. Trong sách đã có một bài thơ haiku mẫu.    Một bông hoa       Rụng xuống bay đi          Rồi quay về chỗ cũ  Ồ, con bướm.    Văn bản thơ haiku trên đây là kết quả từ một quan sát, nhưng là một quan sát trầm tư của con người dễ rung cảm. Chúng tôi chỉ dạy trẻ em làm việc đơn giản vậy thôi: quan sát, nhưng quan sát với tâm trạng con người… Cái “kẻ người” được đại diện bởi người nghệ sĩ, dễ vui, dễ buồn, dễ đau khổ, dễ thương cảm, dễ hiền hòa bao dung cho những điều yếu đuối kém cỏi…  Năm 2014 khi cùng nhà văn hóa Hữu Ngọc lên một huyện miền núi tặng sách, biết trong sách có dạy thơ haiku, bác Hữu Ngọc dặn tôi “nhớ huấn luyện giáo viên tránh cho học sinh dùng tính từ trong thơ haiku”. Tại sao? Để tránh lười biếng khi diễn đạt. (Hè hè, nhưng trong chùm thơ dưới đây, vẫn còn có anh lười đấy!).  Chùm thơ haiku dâng bạn     Tiếp đây, tác phẩm Thuyền đi dưới trăng Trăng đi dưới thuyền của bông hồng Hoàng Vinh sẽ được đan chen với nhiều bông hồng khác– những hồn thơ:    Quê tôi   Một lần nhìn lại  Thấy núi cười.      Mai Phương lớp 2E     Mẹ ở xa tận cuối trời  Con đi tìm mẹ  Không thấy mẹ đâu      Mai Khanh 2D     Con ong bay        ngược về tổ  Cánh hoa gãy rồi      Minh Châu 2D     Trên cành cây cao  Một chú chim nhỏ  Đang gọi mùa xuân      Nhật Minh 2A     Con chim đang bay  Tôi nhìn thấy con chim rất đẹp  Ôi con chim khóc kìa!  Baek Ga Eun (Hàn Quốc) 2D     Tiếng mẹ hát ru  Ngân dài  Theo trong gió      Hương Liên 2D     Những ngày thơ ấu  Nó càng đi xa  Chẳng còn nhớ lại      Linh Đan 2C    Mưa to nước rơi vào biển   Chú cá con nấp dưới tảng đá  Mong ước trời sẽ tạnh mưa      Hồng Ngọc 2A     Ta đi hướng nào đây  Một ngã tư đường phố  Toàn là người lạ mặt      Gia Bình 2C  Con người đang nằm ngủ   Một con quạ bay qua        giữa bầu trời xanh      Tuấn Minh 2C     Cây vú sữa là từ mẹ  Người con hư để mẹ buồn  Cây vú sữa đỏ hoe tán lá       Nguyệt Hà 2C       Em học Em nghĩ Em làm tập 2    Trở lại câu hỏi: tại sao lại haiku?  Hãy còn trong sách nhiều bài thơ haiku khác, của các học sinh trên lớp 2 “tay nghề” cao hơn. Còn những trang haiku dịch bởi các học sinh lớp Hai mà mỗi bản dịch là một văn bản riêng tư, không của ai giống ai.  Nhưng cần trở lại cuộc trò chuyện với giáo sư Lưu Đức Trung đã kể bên trên. Tôi nêu lại câu hỏi Tại sao haiku không để giải thích vì sao chọn dạy thơ haiku từ lớp Hai. Điều này dễ hiểu: ngay từ lớp Hai, học sinh học thao tác tưởng tượng và biểu đạt thao tác đó theo lối haiku. Hình thức thơ lục bát hoặc thể loại khác đều không dễ. Thơ haiku dễ tạo xúc động và trẻ em dễ làm lại.  Chọn con đường “dễ học”, “dễ làm để học”, dễ “làm lại” để củng cố một năng lực đang hình thành… điều đó giúp trả lời những câu hỏi khác: học Văn, học Khoa học, học Lối sống ở trường phổ thông nhằm mục đích gì?  Con người trong suốt cuộc sống từ nguyên sơ sang hiện đại đều mày mò tự học, tự nghiên cứu. Nhận thức của con người rút lại cũng chỉ là: học Khoa học để biết phân biệt Đúng Sai – học Nghệ thuật để biết phân biệt Đẹp Xấu – và học Đạo đức để biết phân biệt Tốt Xấu trong đời sống cộng đồng.  Cách học của trẻ em từ 6 tuổi ở trường phổ thông cho tới khi trưởng thành, thực chất là làm lại việc học theo cách khác với việc học tự nhiên của con người trong suốt chiều dài lịch sử. Nhờ có nhà sư phạm, việc học của trẻ em được tinh chế, chỉ cần mười năm học, thay cho cả chục vạn năm.  Hệt như việc nhà ngôn ngữ Alexandre de Rhodes đã “học” tiếng Việt trong hai chục năm để biết ghi ngôn ngữ này bằng chữ Quốc ngữ. Nhà sư phạm hiện đại biết cách tinh chế để trẻ em lớp Một làm lại công việc học dài dặc đó trong quãng từ năm tháng đến bảy tháng.  Vậy nên, yếu tố then chốt của Giáo dục phổ thông là hướng dẫn trẻ em học cách học chứ không phải là dạy nhớ những kiến thức mênh mang của nhân loại. Việc “học cách học” gói gọn lại trong việc học những thao tác tạo ra sản phẩm của nhà Khoa học, của người Nghệ sĩ, của người Tổ chức cộng đồng.  Sách học Văn Cánh Buồm đã triển khai các thao tác của người nghệ sĩ. Từ lớp Một, các em đã phải học “làm lại” tấm lòng biết đồng cảm và dễ đồng cảm của người nghệ sĩ trước cuộc sống thực. Sau đó là học các thao tác làm ra tác phẩm nghệ thuật, thay cho học thuộc vô vàn tác phẩm đã có. Cứ như thế, đến lớp Năm các em đã có dịp vận dụng năng lực cảm xúc và biểu cảm vào các thể loại nghệ thuật khác nhau: văn tự sự, thơ trữ tình, kịch, hội họa, âm nhạc, múa.  Đó là cách học Văn đã nghiên cứu từ bốn chục năm tại cơ sở thực nghiệm dưới sự chỉ đạo của giáo sư Hồ Ngọc Đại.  Nhắc lại mấy chuyện này, vừa yên lòng vừa thấy tiếc cho bốn chục năm vừa trôi đi mất!    Rất tiếc, có thể bốn chục năm nữa lại sẽ qua đi, và không biết có bao nhiêu người còn nhớ lời cảnh báo của Hồ Ngọc Đại với ông Phạm Văn Đồng: nhìn cách chuẩn bị thì có thể thấy trước kết quả (Cải cách Giáo dục).    Nhưng thôi, lịch sử thì dài, đời con người thì ngắn! Một cá nhân làm đến nơi đến chốn chỉ một việc nhỏ còn chưa chắc làm xong. Nào ai đã làm xong?    Nhân một ý thơ Victor Hugo, nói lại thế này. Một ông già cả đời cày ruộng. Chiều nào ông cũng thấy Mặt trời lặn. Mới hôm qua ông già còn nhìn Mặt trời, ngỡ là nó đã chết ở phía xa. Thế mà chiều nay, Mặt trời đã lại đang nhìn thấy ông già chết thật.  Gửi lại thêm cho Vườn hồng      ​Hôm qua, thứ Bảy 12 tháng 1 năm 2019, nhà trường có Hội thảo tuyển sinh. Các cô giáo trường tôi nhao nhác xớn xác xúc động chỉ vì một chuyện nhỏ. Cô hiệu phó sau báo cáo của mình đã mời một em học sinh lớp Ba lên trình bày đề tài Chúng em đã học như thế nào. Em nói vo, kèm theo những trang hình và chữ do em soạn. Câu chuyện nhỏ đó gợi cho tôi ý nghĩ gửi tặng Vườn hồng của mình mấy bài thơ rút trong đống tư liệu còn giữ được. Ngày Tết, bà con đừng cười nhé. Dặn vậy thôi, nhưng tôi tin chắc những Bông Hồng của tôi không cười.     BẦY TRẺ VĨNH LINH  Một dãy cẳng chân  Khăn đèn dù xanh  Một chùm con mắt  Mấy đùm cơm vắt  Bầy trẻ Vĩnh Linh  Thức giấc giữa đêm  Một giường hơi thở  Bến đò ú ớ  Xóm nhỏ đỏ đèn  Bầy trẻ Vĩnh Linh  Đừng chắt tim anh  Chớ làm người lớn  Cứ làm trẻ thơ  Nhớ mạ nhớ o  Đêm đêm cứ gọi  Anh canh giấc cho em gọi  1970  MIỀN TRUNG MƯA GIÓ SỤT SÙI  Mùa mưa này lại thêm người xa nhau  Dòng sông màng tai  Đàn mưa gõ  Hỡi người em gái vai gầy  Bé bỏng con mèo dụi vai  Con mèo mười ba khăn tang trắng  Con mèo biết lau nước mắt  Và núi giăng màn            và dòng sông lũ muộn  Khóc dùm em  Dòng sông nhăn nheo  Giây đàn bờ lau  Xin được chết thay em  Anh mừng  Em tôi còn nước mắt  Xin chào  Miền Trung mưa gió sụt sùi  Nhòa nhòa hạt ở ngùi ngùi hạt đi  1972  CHIA TAY CHÂN CẦU  Anh đi em ở  Hai người xa nhau  Cùng lo cho nhau  Chia tay chân cầu  Anh đi anh đi  Nhưng đừng vội tin  Màu xanh da trời  Cũng đừng vội yêu  Nét vàng chơi vơi  Cái đẹp cạm bẫy  Giăng khắp nơi nơi  Chia tay chân cầu  Em tôi ở lại  Đừng lo cho anh  Trời kia vẫn xanh  Nét vàng vẫn lành  Thế kỷ hai mươi  Thừa điện thừa đạn  Phải lo so sẻn  Chút tình yêu đời  Phải lo dành dụm  Chút tình yêu người  Chia tay chân cầu  Lo ngày gặp nhau  Hỡi người xa nhau  Đừng lo  Phận mình mình lo  Phận đời Trời cho  1972  NGÔI NHÀ NHÌN RA HAI HÀNG BẠCH ĐÀN  Có nắng có mưa có tiếng cười lan  Ngôi nhà chở che người em nhớ thương  Sao chẳng nhắc người chỉ nhắc ngôi nhà  Ngôi nhà nhìn ra dòng sông mát xanh  Ông già quăng chài có nụ cười lành  Dòng sông nuôi người, người không được nhớ  Chỉ nhớ dòng sông chiều mưa giăng mành  Ngôi nhà dựa lưng vào triền núi xa  Nhịp đập thậm thình giọng hát sơn ca  Chẳng nhớ ngôi nhà cùng người yêu dấu  Chỉ nhớ đêm đêm núi biết khóc oà  Ngôi nhà nhìn ra hai hàng bạch đàn  Ngôi nhà bằng yên qua những cơ hàn  Em kể một lần rồi ta nhớ mãi  Có một ngôi nhà           và hai hàng bạch đàn  1986   Châu Diên          Author                Phạm Toàn        
__label__tiasang Hà Giang và tương lai?      Mấy hôm nay không ai yên được với chuyện buồn ở Hà Giang. Và ai cũng cố nghĩ để tìm phương án cho tương lai.      Hình như hầu hết chỉ tìm ra cách… quay về quá khứ! Tức là lại các trường tổ chức thi riêng. Lại tách thành hai kỳ thi, hoặc bỏ thi tốt nghiệp. Cũng phải, vì mọi chuyện “ngày xưa” có vẻ ổn hơn.  Nhưng nói cách sên sến người ta vẫn hay nói thì “quá khứ không ngủ yên”. Nó thay đổi rồi!  Tôi tốt nghiệp THPT năm 1963. Hồi đó thi tốt nghiệp tại trường, thi 6 môn, và thi vấn đáp! Các trường đại học có bài thi riêng, nhưng tổ chức thi cũng tại trường. Không có cán bộ đại học về giám sát. Không nghe nói gì về “tiêu cực”. Mà có lẽ cũng không có tiêu cực.  Ngược lại quá khứ xa hơn nữa: giáo sư Hoàng Tuỵ kể là khi ông thi vào Trường Sư phạm cao cấp ở Việt Bắc (thời kỳ kháng chiến), bài thi được gửi về nơi ông ở, Quảng Nam. Làm bài xong, giao thông kháng chiến chuyển lên Việt Bắc. Sáu tháng sau thì có kết quả!  Nói vậy để thấy, “quá khứ” thay đổi rồi, không quay về được nữa đâu. Trong cái “quá khứ” đó, hình như chưa có chữ “tiêu cực”. Cũng không hy vọng quá nhiều vào cải tiến “quy trình”, của hiện tại hay quá khứ. Tất nhiên là có thể cải tiến để tốt hơn, nhưng rồi quy trình nào cũng có kẽ hở, cũng có người tìm ra cái kẽ hở đó.  Vậy thì làm thế nào đây?  Cũng như các bạn, tôi cũng cố nghĩ. Và nghĩ chưa ra! Có điều tôi sẽ không cố gắng quay về hay “cải tiến quá khứ”. Nó thay đổi rồi.    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Hai bài học lớn để phát triển đại học      Quá trình khởi dựng và duy trì nền đại học Việt Nam từ trong những ngày cách mạng sôi sục và điều kiện kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn để lại cho chúng ta nhiều bài học mà ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhắc đến bài học về tính dân chủ để có thể thu hút được ý kiến của đông đảo trí thức trong việc quyết đáp những vấn đề quan trọng của ngành giáo dục và bài học về mối quan tâm thực sự đến điều kiện công tác và cuộc sống của người trí thức.      Dân chủ trong quyết định  Nghiên cứu các văn bản hành chính, biên bản các cuộc hội nghị giáo dục trong thời kháng chiến chống Pháp…, một điều nhận thấy đặc biệt rõ nét của công tác giáo dục thời kỳ này đó là các quyết sách lớn về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đều dựa trên việc thảo luận dân chủ và tôn trọng ý kiến của các nhân sĩ, trí thức thuộc các lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, các thầy cô giáo có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và quản lý giáo dục.   Các quyết sách định hướng phát triển giáo dục được quyết định ngay trong các hội nghị giáo dục. Hội nghị không phải chỉ bàn thảo rồi để đấy mà bàn để đi đến những quyết định trực tiếp. Đó là phong cách quản lý giáo dục của thời kỳ khó khăn này.  Mặc dù điều kiện chiến tranh vô cùng ác liệt, giao thông đi lại khó khăn, ngày 4/1/1949 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 102 lập Hội đồng Giáo dục gồm 17 vị nhân sĩ trí thức đại diện cho nhiều giới, nhiều tầng lớp và lĩnh vực. Hội đồng có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc gia Giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục. Ngày 31/3/1949, tại Việt Bắc, Hội đồng đã họp và định hướng việc xây dựng nền đại học giai đoạn đó như sau:  Tập trung lực lượng để kiện toàn các trường đại học đã có ở Trung ương, không nên mở lung tung bất cứ ở nơi nào.  Cần tổ chức các trường Trung đẳng (như trường Y sĩ) cho mạnh hơn.  Đặc biệt chú trọng đến sư phạm đại học.  Phát triển trường Đại học Y khoa.  Mời giáo sư Việt kiều ở Pháp về.  Nếu cần mở mang rộng nền đại học, thì nên hướng về khoa học nhiều hơn.  Bộ Quốc gia Giáo dục sẽ cố sức kiện toàn Nha đại học Trung ương.  Bộ Quốc gia Giáo dục nên nhắm cơ hội thuận tiện, phái người đi giao thiệp mua sắm dụng cụ, đồ thí nghiệm cho đại học.  Đề cao giá trị đại học.1  Hàng loạt các hội nghị giáo dục khác thu hút đông đảo trí thức, nhân sĩ, các nhà giáo đã được mở ra ở chiến khu Việt Bắc để giải quyết nhiều vấn đề quan trọng phát triển giáo dục thời chiến2. Các chiến lược phát triển giáo dục đại học sau kháng chiến cũng được quyết định trong một Hội nghị tương tự.  Ngày 27/11/1954, chỉ một tháng sau khi tiếp quản Thủ đô, một cuộc họp thảo luận về vấn đề đại học đã được tổ chức. Thành phần tham gia ngoài các ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Y tế, đại diện các ngành Tư pháp, Công thương, Tuyên truyền còn lại chủ yếu là các giáo sư đại học đủ các ngành khác nhau. Mục đích của buổi họp là trao đổi ý kiến dân chủ để tìm phương hướng phát triển ngành đại học, và tổ chức nền đại học mới như thế nào. Cuộc họp đã diễn ra trong 3 buổi của 3 ngày: 27/11/1954; 1/12/1954 và 8/12/1954. Nội dung trao đổi thảo luận tập trung vào 5 vấn đề:  Phương hướng phát triển của đại học có phải là chuyên nghiệp không? Phần nghiên cứu khoa học trong đại học hiện tại và tương lai sẽ có địa vị nào và tổ chức như thế nào?  Có cần sự quan hệ giữa các trường đại học và trường chuyên nghiệp trung cấp không? Nếu cần thì nên quan niệm sự quan hệ ấy như thế nào?  Với yêu cầu và khả năng của chúng ta bây giờ có cần tập trung lực lượng phát triển ngành nào trước, cấp nào trước không? Ngành nào, cấp nào có thể phát triển ở trong nước? Hoặc gửi học sinh ở ngoài nước?  Các trường đại học có nên đặt dưới sự quản trị của các Bộ, sở quản không? Hay giao phó cho Bộ Giáo dục tập trung quản trị?  Có cần một cơ quan nào: Vụ, Viện, hay Hội đồng đại học để phối hợp các trường đại học không? Nếu cần, thì cơ quan ấy có tự trị không? Cơ quan ấy để thuộc Bộ nào? Và có nhiệm vụ gì?  Xem biên bản các buổi họp này thì thấy các vị giáo sư đưa ra rất nhiều kiến giải khác nhau về định hướng giáo dục đại học. Ngay sau hội nghị này, vào năm 1955 hai trường đại học Sư phạm Văn khoa và đại học Sư phạm Khoa học đã được thành lập ở Hà Nội.  Trân trọng trí thức   Một chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch là thu hút quảng đại nhân sĩ, trí thức tham gia vào công cuộc kháng chiến. Đây cũng là nhiệm vụ đặc biệt của Bộ Quốc gia Giáo dục mà đứng đầu lúc đó là ông Nguyễn Văn Huyên, người gắn bó với sự nghiệp giáo dục, nhất là sự nghiệp giáo dục đại học nước nhà, ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và suốt 30 năm sau đó.          “Phong Lan Đình”, nơi làm việc của các giáo sư Trường Đại học Y kháng chiến ở Việt Bắc (1947-1954).          Bộ Giáo dục thời kháng chiến chống Pháp như một hạt nhân thu hút các tầng lớp trí thức tham gia vào các công tác giáo dục, văn hóa, văn nghệ. Thái độ đối với trí thức, những hạt nhân của nền giáo dục đại học, được trân trọng đặc biệt. Chúng ta hãy điểm qua một số trường hợp sau mà các văn bản còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia để thấy Bộ Quốc gia Giáo dục lúc đó đã quán triệt và vận dụng tư tưởng trọng dụng trí thức và nhân tài của Hồ Chủ tịch như thế nào.   Trường hợp 1: GS Đặng Thai Mai  Năm 1950, GS Đặng Thai Mai (1902-1984) khi đó đang phụ trách Ban Sư phạm Đại học Văn khoa tại Thanh Hóa được điều động ra Bộ Giáo dục. Được biết sức khỏe của ông không được tốt, mặc dù lúc đó chưa đến 50 tuổi, ngay lập tức, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã có Công hàm số 73 P2/CH ngày 29 tháng 8 năm 1950 gửi Bộ Tài chính đề nghị chế độ di chuyển cho Giáo sư. Nội dung bức Công hàm viết:   “Vì số học sinh Ban Sư phạm Đại học Văn khoa ở Liên khu 4 ít và vì ở xa, Ban này sẽ gặp nhiều sự khó khăn trong khi tiến hành công việc, nên bản Bộ đã quyết định kể từ niên khóa 1950-1951 sẽ tạm thời không mở Ban này trong Thanh Hóa nữa.  Ông Đặng Thai Mai, Giáo sư phụ trách Ban Sư phạm Đại học Văn khoa, sẽ được điều động ra ngoài này để giúp việc Bộ Giáo dục, hoặc dạy học tại trường Đại học Văn khoa ở Việt Bắc hoặc dạy tại các lớp Dự bị đại học (Ban Văn học).  Ông Đặng Thai Mai hiện nay người yếu không đi bộ được, cần cáng và khi ra, gia đình cũng theo ra.  Để ông Đặng Thai Mai có đủ điều kiện và phương tiện di chuyển cùng với gia đình ông, bản Bộ đề nghị quý Bộ trợ cấp đặc biệt cho ông ấy một số tiền 10 vạn đồng.  Trân trọng yêu cầu quý Bộ thỏa thuận và lập một ủy ngân 10 vạn đồng cho Ủy ban kháng chiến hành chính (UNKCHC) tỉnh Thanh Hóa để cấp cho ông Đặng Thai Mai.”3  Trường hợp 2: GS Lê Văn Thiêm  GS Lê Văn Thiêm sinh ngày 29/3/1918. Ông là người Việt Nam đầu tiên có bằng Tiến sĩ Toán học. Năm 1949, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, GS Lê Văn Thiêm đã trở về nước qua đường bay Paris – Bangkok, rồi từ Bangkok bằng đường bộ qua Campuchia về rừng U Minh, khu 9 miền Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác tại Sở Giáo dục Nam Bộ từ ngày 19/12/1949.   Nhận rõ vai trò của những trí thức được đào tạo cao cấp ở nước ngoài đối với sự phát triển của giáo dục đại học, đầu năm 1950, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã có Công hàm số 16/P3 CH ngày 25/1/1950 gửi Phó Thủ tướng Chính phủ đề nghị điều động ông Lê Văn Thiêm ra Bắc giúp cho Bộ Quốc gia Giáo dục; đồng thời đề nghị Bộ Tài chính ấn định số tiền phụ cấp cho các kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài về nước phục vụ4. Đầu năm 1951, trường Khoa học thực hành cao cấp được thành lập và GS Lê Văn Thiêm được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng.  Trường hợp 3: GS Đặng Văn Ngữ  Ngày 14/2/1950 Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên có Công hàm số 21/P2 CH cho Phó Thủ tướng yêu cầu để ông Đặng Văn Ngữ, Y khoa bác sĩ vừa ở Nhật Bản về theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, làm giáo sư dạy trường đại học Y khoa và phụ trách lập Phòng thí nghiệm tại trường. Ngày 24/6/1950, ông gửi Công điện cho UBKCHC Liên khu 4 để hỏi về trường hợp Bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Nội dung Công điện viết: “Tiếp Công điện số 130-CĐ/CH ngày 11-3-1950 yêu cầu Ban điện cho biết Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã lên đường ra Việt Bắc chưa (dấu hỏi) Nếu vì vấn đề tài chính mà bác sĩ chưa khởi hành được thì Ban hết sức giúp đỡ để bác sĩ có đủ điều kiện ra Bắc (chấm) Bộ Tài chính cho biết thỏa thuận ứng trước cho bác sĩ Ngữ và mấy nhân viên ba vạn đồng (phẩy) ngoài ra UBKCHC Liên khu 4 trợ cấp một vạn rưởi (chấm) Nhưng nếu xét với số tiền này không đủ thì Ban đặc biệt cấp thêm vào khoảng một vạn nữa để cho bác sĩ Ngữ có thể lên đường sớm (phẩy) Bộ sẽ điều chỉnh sau (chấm) Yêu cầu Ban trả lời ngay.”5  Một công điện nữa cũng từ Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên gửi UBKCHC Liên khu 4 về trường hợp của bác sĩ Đặng Văn Ngữ thể hiện sự quan tâm hết sức không chỉ đối với bản thân nhà khoa học mà còn đối với cả gia đình của họ. Đó là Công điện số 74 CĐ/12/CH ngày 4/7/1950 “yêu cầu báo cho bà Đặng Văn Ngữ ở trường Chuyên khoa Châu Phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh biết bác sĩ Đặng Văn Ngữ bận công việc quan trọng không thể vào đón được. Rồi Chính phủ sẽ tổ chức đưa ra, không cần lo về sinh hoạt và tài chính sẽ có giải pháp. Cứ tin tưởng vào Chính phủ và các bạn ở Liên khu 4.”6 Bộ trưởng cũng có công điện riêng đề nghị Ủy ban kháng chiến hành chính Liên Khu 4 tạo điều kiện giúp phương tiện để người của Phòng thí nghiệm vận chuyển sách vở và dụng cụ thí nghiệm của ông Đặng Văn Ngữ ra Việt Bắc. Bộ sẽ chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền chi phí cho việc này (Công điện số 76CĐ/BT/CH ngày 16/9/1950)7.  Những bằng chứng trên cho thấy một thái độ hết sức trân trọng với người trí thức, một sự quan tâm chu đáo đến cuộc sống, gia đình từng nhà khoa học của người lãnh đạo ngành giáo dục. Khi khó khăn thì phải đấu tranh và kiên trì phối hợp với các ngành, các cấp để đạt được mục tiêu. Đó chính là phong cách của Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên.   Chắc hẳn những tình cảm và sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với cá nhân ông đã ảnh hưởng lớn đến những suy nghĩ và ứng xử của ông đối với những người trí thức, những cán bộ trong phạm vi quản lý của mình. Và cũng với cách ứng xử này mà người trí thức mang hết mình cống hiến cho khoa học, cho kháng chiến. Và cũng chính vì thế, trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, vượt qua bao khó khăn gian khổ, không màng đến lợi ích cá nhân, nhiều nhà khoa học lớn như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Lê Văn Thiêm, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Thúc Hào… đã đặt nền móng đầu tiên cho nền đại học Việt Nam, công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Chính lớp trí thức này đã đào tạo nên thế hệ cán bộ khoa học đầu tiên của nước Việt Nam mới mà sau này đa phần đều trở thành những nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực khác nhau.   ———————-  1 Trích Biên bản Hội đồng Giáo dục đặc biệt ngày 31-1-1949; Nguyễn Văn Huyên toàn tập (tập 3), tr.186  2 Xem Nguyễn Văn Huyên toàn tập, tập 3, NXB Giáo dục, 2005  3 Sách đã dẫn, tr.657  4 Nguyễn Văn Huyên: Sách đã dẫn, tr.562 và 564  5 Sách đã dẫn, tr. 620;   6 Sách đã dẫn, tr. 636;   7 Sách đã dẫn, tr. 662    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai cách tiếp cận “bùng binh” công nghệ nano      Ở bài viết trước, tôi đã miêu tả công nghệ nano như một “bùng binh” mà mỗi con đường dẫn đến “bùng binh” là một ngành truyền thống như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Toán ứng dụng, Chế tạo máy, Chế tạo linh kiện… Vậy có thể tiếp cận “bùng binh” này theo những cách nào?      Sinh viên sử dụng máy cất quay chân không trong phòng lab NENS của Khoa Khoa học Tiên tiến và Vật liệu Nano, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH. Nguồn: USTH  Một cách đơn giản nhất, ta có thể tiến vào bùng binh theo các con đường dẫn đến, tức là sinh viên lựa chọn các ngành học truyền thống, sau đó tập trung chuyên sâu vào các đối tượng có kích thước nhỏ của công nghệ nano. Với cách tiếp cận này, bên cạnh những kiến thức thuộc ngành học của mình, sinh viên phải tự trang bị các kiến thức đa ngành khác theo đòi hỏi của chủ đề mà mình muốn theo đuổi và học sâu hơn. Ví dụ, một sinh viên theo học Vật lý nhưng muốn chế tạo các bề mặt cấu trúc nano để thu được các hiệu ứng siêu không dính ướt thì sẽ phải tự đọc các tài liệu cơ bản về phản ứng hóa học, các cách thức tiến hành thí nghiệm ăn mòn hóa học trong dung môi hoặc trong môi trường khí, các yêu cầu về bảo vệ an toàn phải tuân theo, các thiết bị cho phép đánh giá đặc trưng hình ảnh bề mặt… Mặc dù quá trình tự học này có sự trợ giúp của cán bộ hướng dẫn, sinh viên vẫn cần nỗ lực để bù đắp các kiến thức còn thiếu và thực hành nhiều để có kinh nghiệm thực tế. Trong đa số trường hợp, sinh viên cần có nền tảng tiếng Anh vững vàng để giúp việc đọc các tài liệu về công nghệ nano trở nên dễ dàng.  Cách thứ hai là “nhảy dù” vào giữa “bùng binh”, tức là theo một chương trình học trực tiếp nào đó về công nghệ nano. Cách tiếp cận này có nhiều điểm ưu việt hơn so với cách tiếp cận truyền thống. Thứ nhất, sinh viên được trang bị các kiến thức đa ngành trong suốt quá trình học. Trong trường hợp sinh viên theo học bằng cử nhân hoặc kỹ sư, năm đầu tiên các em sẽ được học các môn học truyền thống của chương trình thiên về khoa học tự nhiên như đại số, giải tích, cơ nhiệt điện quang, nhập môn hóa học… Năm tiếp theo, sinh viên dần dần làm quen với các môn học cao cấp hơn về vật lý như điện từ hay cơ học lượng tử, về hóa học như hóa hữu cơ, hóa phân tích hay điện hóa về các phương pháp mô phỏng số và sử dụng các phần mềm kỹ thuật. Năm cuối cùng, sinh viên sẽ được học các môn học thực tế chỉ dành cho công nghệ nano như các môn học về các phương pháp chế tạo vật liệu và linh kiện nano, đi kèm với các phương pháp đánh giá đặc trưng và quan sát trực tiếp – việc hiểu nguyên lý hoạt động của mỗi phương pháp kể trên là yêu cầu quan trọng và cũng là đặc trưng đa ngành của công nghệ nano. Còn nếu theo học bằng thạc sĩ, năm đầu tiên, trong phần lớn trường hợp, học viên đã phải lựa chọn đi sâu theo hướng công nghệ nano trong hóa học, vật lý, sinh học hay trong kỹ thuật công nghiệp. Quyết định theo hướng nào sẽ là tiền đề để sinh viên lựa chọn các môn học theo định hướng đó, đi kèm với các môn học mang tính nền tảng chung. Tại bậc học này, những người hướng dẫn đóng vai trò tương đối quan trọng trong việc giúp học viên có được những lựa chọn phù hợp nhất với nghề nghiệp tương lai theo sở thích cá nhân và các điều kiện kinh tế xã hội thực tế.  Ưu điểm thứ hai của cách tiếp cận “nhảy dù” là do học trực tiếp vào công nghệ nano, sinh viên không phải học những môn không cần thiết, thí dụ như những môn học có đối tượng là kích thước lớn, để dành thời gian đó học các môn thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Nếu với cách tiếp cận thứ nhất, sinh viên được trang bị kiến thức chuyên ngành sâu nhưng đôi khi chưa cần đến ngay, thì với cách tiếp cận thứ hai, sinh viên sẽ được trang bị các kiến thức đa ngành rộng và thiết thực. Các kiến thức “chuyên sâu” sẽ được trang bị dần dần khi sinh viên lên các bậc học cao hơn và khi làm việc với các đối tượng cụ thể của công nghệ nano.  Tóm lại, khi học công nghệ nano, sinh viên cần chuẩn bị tinh thần sẽ phải học các kiến thức đa ngành, bao gồm các ngành thiên về truyền thống như Toán học, Vật lý, Hóa học và các ngành thiên về công nghệ kỹ thuật như Cơ khí, Điện tử, Mô phỏng tính toán. Phụ thuộc vào cách tiếp cận mà sinh viên có thể chọn cho mình một cơ sở đào tạo phù hợp. Chọn cách truyền thống, sinh viên có thể nhập học tại các khoa có các từ khóa bao gồm Vật lý, Hóa học, Cơ khí, Điện tử Viễn thông, Kỹ thuật vật lý, Kỹ thuật hóa học1. Cách tiếp cận thứ hai, tạm gọi là “tối ưu nhưng tương đối mạo hiểm”, chủ yếu chỉ có tại các trường đại học mới ra đời, mang tính quốc tế với mức học phí “dựa theo quy luật cung cầu”, khi mà các khoa và chương trình học được thiết kế tối ưu cho những yêu cầu mới của công nghệ nano2. Nói “tương đối mạo hiểm” là dựa trên quan điểm “bảo thủ” của tâm lý chung tại Việt Nam, những gì mới quá thường không dễ được chấp nhận ngay. Đối với các sinh viên có năng lực tốt, ngoài việc tìm học bổng đi học nước ngoài thì tìm học bổng để theo học các chương trình học mới cập nhật như công nghệ nano cũng là một lựa chọn không tồi.  Song, dù có tiếp cận theo cách nào, chúng ta vẫn cần nhìn nhận “công nghệ nano” về bản chất là một ngành công nghệ kỹ thuật mới. Khi mang yếu tố mới, nó đòi hỏi nhiều ở sinh viên các phẩm chất về sáng tạo, nỗ lực tìm tòi và tự học hỏi. Do đó như một sự chọn lọc tự nhiên, đa số các sinh viên quyết định theo học công nghệ nano đều có nhu cầu học cao hơn, từ cử nhân/kỹ sư thì học tiếp thạc sĩ, học xong thạc sĩ sẽ làm tiếp tiến sĩ. Và khi học các bậc cao hơn, chúng ta thường có xu hướng đi theo sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy. Tuy nhiên, với những kiến thức đa ngành được trang bị khi theo học ngành công nghệ nano, sinh viên hoàn toàn có thể tự tin tìm được các công việc chuyên môn phù hợp khác mà không nhất thiết phải tiếp tục học lên.  Kỳ tới: Học công nghệ nano sẽ biết làm những gì?  ————-  1Các khoa truyền thống như Sinh học, Kỹ thuật sinh học, Toán ứng dụng cũng có thể nằm trong danh sách này.  2Các chương trình học về công nghệ nano thường có tại các trường đại học mới, và cũng có tại các trường “truyền thống” nhưng với các bậc học cao hơn bậc cử nhân/kỹ sư.    Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Hai lỗ hổng “chiến lược”!      Triết l&#253; gi&#225;o dục (TLGD) v&#224; T&#226;m l&#253; gi&#225;o dục (TLGD) l&#224; những cơ sở phương ph&#225;p luận khoa học s&#225;t sườn nhất cho việc hoạch định chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục. Hạt nh&#226;n của TLGD l&#224; t&#237;nh nh&#226;n bản. Hạt nh&#226;n của TLGD l&#224; t&#237;nh hướng nghiệp. Nguồn nh&#226;n lực được đ&#224;o tạo để v&#224;o đời v&#224; hội nhập kh&#244;ng thể thiếu hai tố chất l&#224;m tiền đề căn bản đ&#243;. Nhưng thật đ&#225;ng lo ngại, to&#224;n bộ dự thảo chiến lược đ&#227; kh&#244;ng đề cập g&#236; đến Gi&#225;o dục nh&#226;n bản (GDNB) v&#224; Gi&#225;o dục hướng nghiệp (GDHN) trong khi ch&#250;ng ch&#237;nh l&#224; bệ ph&#243;ng của một nền GD ph&#225;t triển. Ngay từ quan điểm chiến lược, trong dự thảo chưa vạch r&#245; một thực trạng hiện nay để x&#225;c định điểm nhấn cho tầm nh&#236;n. Đ&#243; l&#224;, học sinh v&#224; sinh vi&#234;n (HS-SV) đang học rất nhiều về khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ, nhưng lại kh&#244;ng được r&#232;n kỹ về th&#225;i độ nh&#226;n bản &amp; tinh thần hướng nghiệp khi giao tiếp cộng đồng v&#224; hội nhập quốc tế. Về điều n&#224;y, nhiều kết quả nghi&#234;n cứu (1) đ&#227; cho thấy phần lớn HSSV ra trường bị hẫng hụt v&#224; vấp ng&#227; về c&#225;ch ứng xử nh&#226;n bản giữa người với người v&#224; c&#225;ch tương t&#225;c chuy&#234;n nghiệp giữa người với việc.        GDNB (lấy chữ NHÂN làm gốc) giúp HSSV biết trọng văn hóa, trọng lẽ phải, trọng công lý, trọng tín nghĩa, trọng hòa hợp, trọng bang giao… Nhưng trên thực tế, đây lại là những điều ít được quan tâm (còn bị cho là “xa xỉ”) trong nội dung đào tạo lâu nay. Một thực tế bị trả giá là các hiện tượng phi nhân bản xẩy ra ngày càng nhiều về lượng và tàn bạo về chất. Khi mọi giá trị cuộc sống bị đảo lộn thì những giá trị ảo và các phẩm chất phi nhân bản “được” lên ngôi, cái xấu đẩy lùi cái tốt!  Thời hội nhập toàn cầu lại càng phải cấp thiết tạo dựng được một nền GDNB, vì, cùng với ý thức dân tộc, người học cần được nâng cao ý thức cộng đồng (cộng đồng quốc tế) khi hợp tác và phát triển. Lâu nay, sự yếu kém và không coi trọng về GDNB đã là một lỗ hổng lớn nhất của việc đào tạo nhân lực. Tình trạng băng hoại, sa sút phẩm chất (kể cả khi giao tiếp quốc tế) của nhiều HSSV và nhân lực xã hội (nhất là khi lao động hợp tác) đã chứng tỏ điều trên đây. Bây giờ, thiết kế chiến lược GD mà không nghĩ đến chuyện phát hiện và lấp đầy lỗ hổng đó, thật đáng tiếc và cũng thật đáng lo, vì nó chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn!          Tinh thần hướng nghiệp của GDHN lấy chữ CHUYÊN làm trọng. Theo đó, không chỉ là chuyên ngành, chuyên môn, chuyên biệt, mà cơ bản nhất là chuyên tâm (đầu tư tập trung tâm sức cho công việc) và rèn luyện tốt để trau dồi tính chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp không chỉ yêu cầu thạo việc và lành nghề, mà quan trọng hơn là thể hiện sự chu đáo, tận tâm trong thái dộ công vụ và tinh thần phục vụ, với ý thức trách nhiệm cao.         Lỗ hổng thứ hai trong dự thảo chiến lược, như đã nêu, là không thấy đề cập gì đến GD hướng nghiệp, trong khi GDHN là mũi nhọn chủ lực của “công nghệ” trồng người và đào tạo nhân lực. Bản dự thảo có nói đến GD nghề nghiệp, nhưng đó chỉ là một ngành học trong hệ đào tạo (như ngành phổ thông, ngành đại học…) chứ không phải GDHN. Tinh thần của GDHN là tư tưởng chỉ đạo “bổ dọc” (xuyên suốt các ngành học trong hệ đào tạo: từ mầm non đến đại học và sau ĐH) chứ không phải “bổ ngang”, nghĩa là không chỉ có GD nghề nghiệp mới chịu sự chi phối của tinh thần hướng nghiệp). GD nghề nghiệp chỉ là một nội dung hẹp của tinh thần hướng nghiệp mà thôi.  Tinh thần hướng nghiệp của GDHN lấy chữ CHUYÊN làm trọng. Theo đó, không chỉ là chuyên ngành, chuyên môn, chuyên biệt, mà cơ bản nhất là chuyên tâm (đầu tư tập trung tâm sức cho công việc) và rèn luyện tốt để trau dồi tính chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp không chỉ yêu cầu thạo việc và lành nghề, mà quan trọng hơn là thể hiện sự chu đáo, tận tâm trong thái dộ công vụ và tinh thần phục vụ, với ý thức trách nhiệm cao. Đó là sự định hướng mang tính chiến lược của việc đào tạo ngưồn nhân lực cho trước mắt và lâu dài. Mơ hồ hoặc không thấu triệt về vấn đề này sẽ là một sai lầm về phương pháp luận khoa học.  Sự thiếu chuyên tâm và yếu kém về tính chuyên nghiệp của số đông HSSV hiện nay khi ra trường đã khiến họ không đủ sức cạnh tranh về mặt nhân lực. Sau khi tốt nghiệp, đa số trong nguồn nhân lực được đào tạo đã không thích ứng được với nghề, khiến cho việc tuyển dụng nhân lực gặp rất nhiều khó khăn. Nếu được tuyển chăng nữa, phần lớn (trên 50%) phải qua đào tạo lại (2), Tiếc thay, trong dự thảo đã không có hoạch định và giải pháp chiến lược nào để khắc phục hậu quả đó, để hy vọng đến năm 2020 đào tạo được những thế hệ nhân lực phát triển toàn diện nhưng có chuyên sâu, vững tay nghề, mê sáng tạo, thích ứng cao với nghiệp vụ đã theo đuổi.  Nếu hai yếu tố trên đây (GDNB & GDHN) không được coi trọng và không được hoạch định đúng tầm trong chiến lược phát triển GD, thì, theo các chuyên gia chiến lược, nền GD của chúng ta có nguy cơ bị đẩy đến chỗ phản GD. Hơn thế, nếu hai lỗ hỗng nói trên không được lấp đầy trong chiến lược GD và trong thực tế GD, sẽ có nguy cơ làm “thủng” thêm các lỗ hổng khác, đưa đến suy thoái trầm trọng và hậu quả khó lường…      ____________________  (1) và (2): Tư liệu khoa học của Viện NCGD, có thể truy cứu tại www.ier.edu.vn    Author                Quản trị        
0.4
__label__tiasang   Ngô Tự Lập      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai luận văn của Rousseau: Khai minh về khai minh      Học thuyết của J. J. Rousseau hình thành từ  những trải nghiệm cay đắng và dằn vặt trong bối cảnh xã hội đương thời.  Bằng vài nét phác họa, thử dõi theo hành trình tư tưởng của ông dẫn đến  “Émile hay là về giáo dục” (1762), cùng năm với “Khế ước xã hội”.      LUẬN VĂN THỨ NHẤT (1750)    Những tư tưởng mới của “thế kỷ ánh sáng” (hoan nghênh và tin tưởng vào sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghiệp và thương mãi; sử dụng lý tính để hiểu biết thế giới và hiện đại hóa chính quyền và luật pháp; chống lại mọi hình thức áp bức và kiểm duyệt, tin tưởng vào sự tự do của tư tưởng và công luận) hầu hết bắt nguồn từ nước Anh với Francis Bacon (1561-1626) và John Locke (1632-1704). Nhưng, cuộc đấu tranh cho tư tưởng khai minh ấy lại diễn ra quyết liệt ở Pháp, do các thế lực bảo thủ (nhà thờ và nhà nước bảo hoàng) rất mạnh. Giá phải trả rất đắt: thủ lĩnh phong trào khai minh Pháp là Diderot bị tống giam vào ngục!  Năm 1749, trên đường (lội bộ!) từ Paris đến nhà tù ở Vincennes để thăm Diderot, Rousseau đột nhiên có một “thức nhận” khác lạ. Đó là khi ông vô tình đọc thấy tin Viện Hàn Lâm ở Dijon treo giải cho cuộc thi viết về đề tài: “Phải chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần lành mạnh hóa phong tục?”. Ông kể lại: “Đúng giây phút tôi đọc tin ấy, tôi đã thấy một thế giới khác và tôi đã trở thành một con người khác. Đột nhiên lòng tôi ánh lên hàng nghìn tia chớp… Tôi xúc động quá đến nỗi phải ngồi nghỉ dưới gốc cây suốt nửa tiếng đồng hồ, và khi đứng lên, cả vạt áo tôi đã ướt đầm nước mắt!”. Và, như ta đã biết, trong trạng thái kích động cao độ, lại được Diderot khích lệ, bài “Luận văn về khoa học và nghệ thuật” đoạt giải của ông đã gây chấn động dư luận, vì ông đã trả lời “không!” cho câu hỏi ấy!  Câu trả lời gây sửng sốt vì ông đã hoài nghi triệt để niềm tin cơ bản của phong trào khai minh rằng lý tính là nguồn gốc của “cái chân” lẫn “cái thiện”. Lần đầu tiên, từ trong lòng phong trào khai minh, bằng chính công cụ của khai minh là lý tính, Rousseau phản tỉnh một cách phê phán, hay nói khác đi, tiến hành khai minh về khai minh. Luận điểm trung tâm: cần phê phán các hình thức xã hội nhân tạo và  giả tạo do lý tính con người lập ra vì chúng đã làm tha hóa bản tính sâu xa của con người.  Chính lề thói và quy ước xã hội (nhất là của “cung đình”) đã làm cho con người không dám tự thể hiện là chính mình, và trở thành một bầy đàn không tự chủ. Thêm nữa, con người tuy được quy định bởi lý tính nhưng cũng còn bởi “bản tính tự nhiên” nữa. Ông chống lại xã hội đương thời, vì nó dựa vào lý tính để đè nén bản tính tự nhiên, nhưng ông chống lại cũng bằng cách dựa vào lý tính để giải phóng bản tính con người ra khỏi xiềng xích ấy.  LUẬN VĂN THỨ HAI (1754)  Bốn năm sau (1754), Viện Hàn Lâm Dijon lại thông báo một cuộc thi viết khác, với đề tài: “Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên?”. Ngụ ý của đề tài: những sự bất bình đẳng xã hội không gì khác hơn là sự thể hiện ra bên ngoài của những sự bất bình đẳng tự nhiên (như chiều cao, sức mạnh…). Chính ẩn ý này làm Rousseau phẫn nộ. Ông thuật lại: “Suốt ngày tôi lang thang trong rừng, hét to cho mình nghe: hỡi bọn người điên khùng không ngừng trách móc tự nhiên kia, hãy biết rằng mọi tội lỗi của các người đều do chính các người gây ra!”.  Ta biết rằng một giả thuyết về “bản tính con người” thường là bộ phận không thể thiếu của bất kỳ học thuyết chính trị nào. Xã hội gồm nhiều con người, nên thật dễ hiểu khi phải bắt đầu với việc tìm hiểu cái “vật liệu” tạo nên xã hội. Nhưng, Rousseau có cái nhìn khác với nhiều triết gia xưa nay quen quan niệm về một “bản tính người” ít nhiều cố định (dù “tốt” hoặc “xấu”). Với ông, “bản tính tự nhiên” của con người quá độc đáo, đơn nhất, nên không thể nói về một “bản tính người nói chung”. Con người có một lịch sử. Họ đã biến đổi từ trạng thái này (động vật linh trưởng “hồn nhiên vô tội”) sang trạng thái khác (con người văn minh, phức tạp ngày nay), tức, cả con người lẫn xã hội đều luôn tiến hóa thành cái gì khác trước, là “mềm dẻo”, dễ “uốn nắn” (một quan niệm mới mẻ với nhiều… hệ quả!).  Một vài quan niệm chính yếu của ông:  – “Trạng thái tự nhiên”: nếu mọi xã hội đều khác nhau, thì có nghĩa chúng đều giả tạo và không có gì là “tự nhiên” cả. Cũng có nghĩa: con người “tự nhiên” hay “tiền-xã hội” có thể đã tồn tại trong một “trạng thái tự nhiên” rất xa xưa trước khi xã hội và chính trị được thành lập.  – “Pháp quyền tự nhiên”: thường được các nhà tư tưởng rút ra từ bản tính tự nhiên của con người. Rousseau khéo léo không nói về “pháp quyền tự nhiên”, vì ông không tin vào một “bản tính tự nhiên” bất biến nào cả. Ông hiểu cách khác: “tự nhiên” là không bị ô nhiễm bởi xã hội giả tạo!  – “Con người tự nhiên”: ta không thể biết chính xác “bản lai diện mục” của “con người tự nhiên” hiểu như sự thật lịch sử mà chỉ như giả thuyết nghiên cứu: họ là “tốt” và “hồn nhiên” theo nghĩa thụ động là không làm điều gì nguy hại. Họ chưa có cách hành xử “văn minh” với tư duy lôgíc hay sự hợp tác. Do đó, không thể rút ra những “pháp quyền tự nhiên” từ “bản tính tự nhiên” của họ được.  – “Con người hiện đại và xã hội hiện đại”: khí hậu thay đổi, dân số tăng đã tập hợp họ lại thành những bộ lạc, dần định cư, bắt đầu lưu ý đến nhau, và chính sự so bì đã dẫn đến lòng ghen tị, sự bất bình đẳng, sự kiêu ngạo hay quỵ lụy. Vậy, sự bất bình đẳng không phải là “tự nhiên” mà từ những lựa chọn trong quá khứ, được hợp thức hóa bằng những “khế ước xã hội” ranh mãnh của những kẻ khôn ngoan. Quan hệ xã hội trở thành quan hệ chủ nô.  – “Chọn con đường khác!”: Rousseau đồng ý với việc dùng “khế ước xã hội” để lý giải nguồn gốc của xã hội và chính quyền, nhưng ông cho rằng “khế ước” như thế luôn sai lầm, và nay không còn hiệu lực ràng buộc nữa. Khác với con vật, con người có năng lực tự giác, và vì thế, là tự do, và, nếu đã có thể biến “trạng thái tự nhiên” thành “trạng thái đồi bại”, thì từ nay cũng có thể thay đổi vận mệnh của chính mình. Mọi việc phải và có thể được thay đổi!  “Con người sinh ra tự do, và đâu đâu cũng bị ở trong xiềng xích!”(câu mở đầu nổi tiếng cho quyển Khế ước xã hội (1762)). Nhưng, nếu sự mất tự do không phải do tự nhiên (hay Thượng đế) gây ra thì nó là sản phẩm của chính con người do đã xa rời và tự tha hóa khỏi trạng thái nguyên thủy. Và vậy thì, cũng chính con người phải tự giải phóng chính mình! Không sức mạnh nào ngoài lý tính có thể hàn gắn lại những gì đã đổ vỡ. Thước đo cho điều ấy lại không gì khác hơn là “bản tính tự nhiên”. Đó là sự tự do nguyên thủy, không phải bằng lý trí tính toán mà bằng sự thoát ly khỏi sự ô nhiễm của xã hội, với tư cách là tự do của CON NGƯỜI, tức của bất kỳ con người nào, không phân biệt.  Trong tinh thần ấy, “làm lại khế ước xã hội!” là tham vọng của học thuyết chính trị của Rousseau!  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 14, 19.12.2013)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai năm một trường đại học phi lợi nhuận: Thực tế hay viển vông?      TS Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng Đại học FPT, cho rằng, mặc dù còn thiếu một khung pháp lý mạch lạc cho việc hình thành các trường đại học tư phi lợi nhuận thật sự ở Việt Nam, nhưng hoàn toàn có thể vận dụng các quy định pháp lý hiện có để bắt tay ngay vào công việc nhiều ý nghĩa xã hội đó.    Trường đại học phi lợi nhuận cũng thuộc hệ thống các tổ chức phi lợi nhuận, thế nhưng hiện nay Việt Nam chưa có quy định riêng về việc thành lập và quản lý hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận. Chính việc thiếu khung pháp lý mạch lạc là một trong những nguyên nhân lớn hạn chế tiến trình hình thành các trường đại học tư phi lợi nhuận thực sự tại Việt Nam từ các nguồn quyên góp, hiến tặng. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng, với khung pháp lý hiện nay thì các trường đại học tư dù tuyên bố phi lợi nhuận thì cũng không thể hoạt động phi lợi nhuận như mong muốn.   Việc chuyển đổi các trường tư (cả dân lập và tư thục) ở Việt Nam thành đại học phi lợi nhuận ở thời điểm này nói chung là không tưởng. Nó chỉ có thể xảy ra hoặc ở các trường được quản lý hoàn toàn bởi một cá nhân/gia đình – để việc chuyển đổi không gây mâu thuẫn với các cổ đông khác – hoặc khi có ai đó đứng ra mua lại toàn bộ một trường đại học rồi chuyển nó thành phi lợi nhuận – nhưng ngay cả tìm được người bỏ tiền thì việc mua cổ phần của từng cổ đông cũng hết sức đau đầu vì cổ đông có người muốn bán có người không, rồi giá cả thế nào, bộ máy quản lý sắp tới ra sao – điều sẽ làm nản lòng ai đó có tiền và có tâm.  Tuy nhiên xem kỹ lại các quy định pháp lý hiện nay của Việt Nam, nếu biết khéo vận dụng, tôi tin là đủ cơ sở để thành lập một trường đại học phi lợi nhuận đảm bảo đồng thời được các mong muốn: Có cơ chế huy động các khoản đóng góp, hiến tặng – các khoản hiến tặng của tổ chức, cá nhân kể cả sau khi trường đã hoạt động đều được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân; Hoạt động phi lợi nhuận thực sự, tức không còn cơ chế chia lợi nhuận cho cổ đông; Có cơ chế quản lý theo dạng hội đồng bình đẳng, dân chủ; Nguồn hiến tặng và tài sản của trường không bị tư nhân hóa ngược lại sau này, thậm chí ngay cả khi giải thể trường vì một lý do nào đó; Có nền tảng để phát triển với định hướng tốt và có bộ máy lãnh đạo, lực lượng giảng viên tâm huyết.   Phương thức thực hiện  Phương thức để thực hiện việc này là thành lập một quỹ xã hội – chẳng hạn với tên gọi là “Quỹ Đại học phi lợi nhuận Việt Nam” – để vận động đóng góp hiến tặng. Quỹ sẽ được thành lập theo Nghị định số 30/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/4/2012 về tổ chức hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Tiền có thể do cá nhân, tổ chức đóng góp, hiến tặng – với mục tiêu ban đầu là đủ để thành lập một trường đại học và đưa vào hoạt động.   Tiền đóng góp, hiến tặng cho Quỹ sẽ được tính là chi phí hợp lý trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo Khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 18/6/2014, và miễn thuế thu nhập cá nhân theo Khoản 3 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 15/8/2013. Các khoản lợi nhuận sau này của Quỹ (nếu có) sẽ không chia cho những người đóng góp Quỹ (Điều 4 Nghị định 30/2012/NĐ-CP), và sau này nếu vì lý do gì đó mà Quỹ giải thể thì tài sản sẽ thuộc về xã hội (Điều 39 Nghị định 30/2012/NĐ-CP).  Quỹ có Hội đồng điều hành do những người sáng lập Quỹ bầu ra, và hội đồng tiếp theo sẽ do những người sáng lập hoặc hội đồng nhiệm kỳ trước giới thiệu (Điều 23 Nghị định 30/2012/NĐ-CP). Chi phí cho việc điều hành Quỹ mỗi năm không quá 5% số tiền huy động được trong năm (Điều 34 Nghị định 30/2012/NĐ-CP).   Dự kiến sau một năm vận động, Quỹ sẽ đủ tiền để đứng ra thành lập trường đại học và đóng vai trò cổ đông duy nhất của trường. Trường sẽ không phải nộp thuế trong quá trình hoạt động vì mọi lợi nhuận nếu có đều không chia cho ai và được giữ lại để phát triển (Điều 66, Luật Giáo dục Đại học). Quỹ sẽ lập ra Hội đồng Quản trị của trường, và hội đồng này sẽ lựa chọn Hiệu trưởng.  Một số vấn đề cần tháo gỡ  Tuy nhiên, vẫn còn một số rào cản cần được tháo gỡ từ phía những người làm chính sách.   Theo quy định hiện nay, mỗi trường đại học tối thiểu phải do ba cổ đông góp vốn (Điều 7, Quyết định 61/2009/QĐ-TTg, Điều 1 Quyết định 63/2011/QĐ-TTg). Để Quỹ có thể thành lập trường đại học với một cổ đông duy nhất, đề nghị Chính phủ bỏ đi quy định này trong Quy chế đại học tư thục, hoặc Quỹ sẽ “lách luật” bằng cách thành lập ra ba tổ chức khác và ba tổ chức này góp vốn thành lập trường.   Cũng theo quy định hiện nay, mỗi trường đại học để được thành lập cần có vốn 250 tỷ đồng không kể đất đai (Điều 3 Quyết định 64/2013/QĐ-TTg). Để trường phi lợi nhuận sớm hoạt động, đề nghị Chính phủ cho phép hoạt động với số vốn năm năm đầu có thể theo định mức đầu tư 100 triệu đồng/sinh viên và sẽ tăng vốn theo tiến độ tăng sinh viên.   Một trở ngại nữa là quy định đến 2015 không thành lập trường đại học mới, từ 2016 đến 2020 chỉ thành lập trường thay thế các trường bị sáp nhập, giải thể (Khoản 5, Điều 3 Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg). Đề nghị Chính phủ bỏ đi rào cản này.   Cuối cùng, để thuận lợi cho trường hoạt động, không tốn nguồn lực vào các hoạt động không mang lại giá trị gia tăng, đề nghị cho trường được làm những gì mà luật pháp không cấm và được tự chủ tối đa trong hoạt động – những gì không nhất thiết phải xin thì các cơ quan quản lý nhà nước đừng bắt trường cứ phải xin mới được thực hiện.   Thực tế hay viển vông?  Có viển vông không với ước mơ hai năm tới sẽ có một trường đại học Việt Nam thực sự phi lợi nhuận, mở đường cho các trường đại học phi lợi nhuận khác?   Sẽ là rất khích lệ nếu mỗi một đồng huy động cho Quỹ Đại học phi lợi nhuận được Nhà nước góp thêm một đồng. Đã có người cam kết sẽ huy động 2,5 tỷ đồng cho Quỹ nếu Nhà nước góp thêm 2,5 tỷ, để đủ số tiền tối thiểu cần có ban đầu là 5 tỷ thành lập Quỹ theo Điều 12 Nghị định 30/2012/NĐ-CP.   Sẽ là rất khích lệ nếu có địa phương nào đồng ý cấp 30ha đất sạch cho trường ở vị trí phù hợp.   Cũng sẽ là rất khích lệ, nếu như thay cho việc huy động đóng góp rộng rãi, trước mắt có một cá nhân nào đó góp một khoản đủ lớn để thành lập trường. Cá nhân này có quyền đặt tên cho Quỹ, đặt tên cho Trường, và tên này sẽ không thay đổi trong quá trình hoạt động sau này, nếu không được cá nhân hoặc người được thừa kế/ủy quyền đồng ý. Các cá nhân đóng góp khác sẽ được đặt tên cho các hạng mục, công trình khác trong trường.  Đã từng tham gia thành lập và xây dựng Đại học FPT tám năm qua và với sự phát triển vững vàng của Đại học FPT hiện nay, tôi nghĩ mình có thể bàn giao vị trí lãnh đạo Đại học FPT cho các cá nhân khác để tham gia xây dựng Quỹ, xúc tiến các thủ tục thành lập và tham gia Ban lãnh đạo nhiệm kỳ đầu của trường đại học phi lợi nhuận này nếu như được Quỹ tín nhiệm.   Thay cho việc ngồi chờ một hành lang pháp lý, thay cho việc tranh luận, thậm chí xung đột về đại học vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, thay cho việc ngồi mơ về một Harvard hay một Stanford của Việt Nam, nên chăng chúng ta cùng nhau bắt tay ngay vào hành động.  Đọc thêm:    * Chính sách nào cho đại học tư phi lợi nhuận? (Diệp Trần)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7740  * “Trở lại” mô hình phi lợi nhuận (Phỏng vấn nhà văn Nguyên Ngọc, CT HĐQT Đại học Phan Châu Trinh)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=785        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai phương pháp định lượng nhằm tiếp cận ĐH đẳng cấp quốc tế      Việt Nam đang có những chủ trương và bước đi cụ thể nhằm đưa Việt Nam vào bản đồ đại học thế giới, và phấn đấu để đến năm 2020 có ít nhất một vài trường đại học VN lọt vào top 200 của khu vực và tiến đến lọt vào top 200 của thế giới. Để đạt được mục tiêu tất nhiên là cần có nguồn lực, nhưng quan trọng hơn nhiều là vấn đề phương pháp. Bài viết này sẽ bàn đến hai phương pháp tiếp cận đại học đẳng cấp quốc tế mà thế giới đang sử dụng, đó là xếp hạng (ranking) và đối sánh (benchmarking), ý nghĩa của nó đối với thực tiễn của Việt Nam.    Phương pháp xếp hạng (ranking)  Xếp hạng các trường đại học là đánh giá từng trường theo một bộ tiêu chí chung theo cách có thể so sánh được với nhau nhằm mục đích xác định thứ bậc cao hay thấp trong mức độ đạt được các tiêu chí đó giữa các trường với nhau. Bản thân việc xếp hạng thuần túy chỉ là vấn đề thứ tự cao thấp của các đối tượng được xếp hạng. Bằng cách đơn giản hóa, việc xếp hạng cho phép chúng ta dùng một số tiêu chí nhất định để đánh giá những thông tin phức hợp. Việc phân tích dữ liệu có được bằng cách xếp hạng thường đòi hỏi những thống kê phi tham số (non-parametric statistics).Mỗi hệ thống xếp hạng đưa ra những tiêu chí khác nhau để xếp hạng. Ví dụ  hệ thống xếp hạng quốc tế do Đại học Giao thông Thượng Hải thực hiện (gọi tắt là SJTU) sử dụng 5 chỉ tiêu là chất lượng cựu sinh viên (tính bằng số lượng cựu sinh viên đoạt các giải thưởng và huy chương đặc biệt như giải Nobel), chất lượng giảng viên (tính theo cùng phương pháp đo lường chất lượng cựu sinh viên), kết quả nghiên cứu (tính bằng số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học), tầm cỡ của nhà trường (tính bằng kết quả hoạt động so với quy mô của nhà trường). Hệ thống xếp hạng quốc tế của Phụ trương Giáo dục Đại học của Thời báo Luân Đôn (Times Higher Education Supplement – THES) dựa trên các chỉ tiêu: kết quả khảo sát đồng nghiệp (các giảng viên, nhà khoa học) (40%), đánh giá của nhà tuyển dụng (10%), sự hiện diện của giảng viên/ nhà khoa học quốc tế (5%), sự hiện diện của sinh viên quốc tế (5%), tỷ lệ giảng viên trên sinh viên (20%), và tỷ lệ bài báo khoa học trên giảng viên (20%). Vì vậy thứ hạng của một trường sẽ khác nhau trong các hệ thống xếp hạng khác nhau là tất yếu. Điều này có nghĩa là khi chúng ta nói Đại học Harvard được xếp hạng cao nhất trong bảng xếp hạng THES thì chỉ có nghĩa là cao nhất về những mặt đã được nêu trong tiêu chí xếp hạng mà thôi.  Mặc dù kết quả xếp hạng đại học được Chính phủ các nước, các trường đại học và công chúng vô cùng quan tâm, nhưng những ý kiến phê phán việc xếp hạng cũng hết sức mạnh mẽ, vì những lý do chính sau đây: i/bản thân các phương pháp và tiêu chí xếp hạng luôn luôn phải đương đầu với thử thách của các nhà khoa học và của công chúng: vì sao lại chọn tiêu chí này mà bỏ qua tiêu chí kia, vì sao tiêu chí này lại được tính với trọng số cao hơn tiêu chí khác.v.v. ii/ Tính chất trung thực, khách quan của các số liệu được sử dụng để xếp hạng: các số liệu này phần nhiều do các trường cung cấp, và không có gì đảm bảo chắc chắn tính chất trung thực, khách quan, chính xác của nó. Xét một cách căn cơ hơn, việc xếp hạng bị chỉ trích và phản đối còn là vì bản chất của nó là đơn giản hóa một thực thể phức tạp và vì vậy không thể phản ánh chính xác bản chất, đặc điểm và giá trị thực sự của một trường đại học.  Hơn thế nữa, mỗi trường đại học tồn tại trong một không gian lịch sử và văn hóa cụ thể khác nhau, có những sứ mạng và mục tiêu khác nhau, phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của xã hội, vì vậy mọi sự so sánh đều có thể khập khiễng.  Chính vì vậy, việc chạy đua theo các thứ hạng của bảng xếp hạng mà nhiều nước châu Á đang rơi vào có thể làm tổn hại đến việc phát triển những giá trị chân chính của một trường đại học, mặc dù xét về mặt “tiếp thị” hình ảnh một quốc gia, thứ hạng cao trong bảng xếp hạng vẫn là một điều đáng mong muốn.    Phương pháp đối sánh (benchmarking)  Phương pháp đối sánh là một công cụ của quản lý, đặc biệt là quản lý chiến lược. Đây là một thuật ngữ của khoa học quản lý, để chỉ việc đánh giá một số nhân tố trong quá trình hoạt động của một đối tượng trong tương quan so sánh với những đối tượng tốt nhất cùng loại. Điều này cho phép các tổ chức xây dựng kế hoạch chiến lược để đạt đến mức độ tốt nhất như cái đã được coi là chuẩn mực để đối sánh, thông qua việc tăng cường những nhân tố được phát hiện là yếu hơn so với vật chuẩn.  Nói cách khác, đối sánh là quá trình so sánh một đối tượng với một vật chuẩn nhằm cải thiện hoạt động để đạt đến chất lượng giống như vật chuẩn.                     Như vậy, giống như xếp hạng, đối sánh cũng là một phương pháp định lượng và muốn đối sánh người ta cũng phải có các tiêu chí (criteria) và chỉ báo (indicators) để đo lường vật được đối sánh và vật chuẩn. Tuy nhiên giữa xếp hạng và đối sánh có những khác biệt hết sức cơ bản sau đây:  a. Trước hết là khác biệt về mục tiêu và người thực hiện: Xếp hạng là do một đối tượng bên ngoài nhà trường thực hiện nhằm xác định ai cao ai thấp, với mục đích cung cấp thông tin cho bên thứ ba (người học, gia đình, Chính phủ, toàn xã hội). Do việc xếp hạng được thực hiện một cách tương đối “khách quan” (người khác xếp hạng mình) nên các trường được xếp hạng cao (dù công bằng hay không công bằng) đều sử dụng kết quả này như một công cụ tiếp thị. Trong khi đó, đối sánh là do chính nhà trường thực hiện để cải thiện chất lượng các hoạt động của chính mình; nói cách khác, đây là một công cụ quản lý chất lượng quan trọng phục vụ việc xây dựng kế hoạch chiến lược để tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh gay gắt.  b. Do khác biệt về mục tiêu, nó cũng sẽ khác biệt về phương pháp tiến hành. Nói một cách khái quát, xếp hạng thì nhìn vào hiện tượng trong lúc đối sánh thì nhìn vào bản chất. Chẳng hạn như:  – Xếp hạng quan tâm đến nguồn lực trong lúc đối sánh thì quan tâm đến việc quản lý và sử dụng nguồn lực. Các bảng xếp hạng chỉ quan tâm đến những con số thể hiện nguồn lực, chẳng hạn trường này có ngân sách hằng năm là bao nhiêu, trong lúc đó việc đối sánh đòi hỏi phải biết rõ không chỉ con số ngân sách hoạt động, mà cần biết nhà trường đã quản lý và sử dụng số tiền đó như thế nào, hiệu quả ra sao nhằm phân tích và đối chiếu để hiểu rõ tính chất của hai đối tượng được đối sánh.  – Xếp hạng quan tâm đến kết quả trong lúc đối sánh thì quan tâm đến nguyên nhân. Các bảng xếp hạng chỉ cần thống kê số người đoạt giải Nobel, số bài báo khoa học, trong lúc đối sánh cần biết vì sao, hay nói cách khác, nhà trường ấy đã làm gì để thu hút và giữ chân được những tài năng như vậy. Xếp hạng cần biết số sinh viên tìm được việc làm còn đối sánh thì cần lý giải được nguyên nhân vì sao sinh viên trường ấy lại có sức cạnh tranh cao trên thị trường lao động, những giá trị và phẩm chất nào họ đã được nhà trường đào luyện để có được sức cạnh tranh ấy.  c. Do khác biệt về phương pháp tiến hành, nó cũng sẽ khác biệt về tính chất và kết quả: xếp hạng là do bên ngoài xác định, do vậy có thể thay đổi, và chỉ có giá trị tức thời, trong lúc đối sánh là tự mình tiến hành, tự mình so mình với vật chuẩn, do vậy mà có tính chất bền vững. Điều này có thể thấy rất rõ với cú sốc mà bảng xếp hạng THES năm 2005 giáng cho Malaysia khi hai trường đại học hàng đầu của nước này tụt xuống hơn 100 bậc so với kết quả lần xếp hạng trước. Kết quả này thực ra là do thay đổi về phương pháp và tiêu chí xếp hạng. Trong lúc đó đối sánh không nhằm vào thứ bậc cao thấp, mà nhằm vào một vật chuẩn để xác định chỗ mạnh chỗ yếu nhằm tìm kiếm giải pháp, vì vậy nó ổn định, bền vững, và có giá trị lâu dài. Mặt khác, xếp hạng là phiến diện, trong lúc đối sánh là toàn diện. Kết quả xếp hạng chỉ cho chúng ta biết ai cao ai thấp về những mặt đã được nêu rõ trong tiêu chí xếp hạng. Kết quả đối sánh cho chúng ta biết đối tượng này so với vật chuẩn có những khác biệt như thế nào và do vậy đem lại cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về đối tượng.  Tóm lại, xếp hạng là nhìn ra bên ngoài, trong lúc đối sánh là nhìn vào bên trong. Nếu cần phải quảng cáo tiếp thị, thì xếp hạng là công cụ hoàn hảo nếu như ta có đủ sức lọt vào top đầu của bảng xếp hạng. Nhưng nếu cần phải cải thiện chất lượng hoạt động để đạt được sự phát triển bền vững, lâu dài, thì xếp hạng không giúp ích được gì. Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tham gia vào các bảng xếp hạng quốc tế chỉ cho chúng ta thấy được khoảng cách của chính mình với các trường đại học khác trong khu vực và trên thế giới, nhưng sẽ không mang lại cho chúng ta những thông tin cần thiết đủ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch chiến lược cho giáo dục đại học nói chung và cho từng trường đại học nói riêng.  ***  Kết luận  Giáo dục đại học VN đang tụt hậu rất xa so với khu vực và thế giới về chất lượng và hiệu quả. Và với thực trạng đó, để có một trường đại học đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam có thể còn là một mục tiêu rất xa, nhưng những chuẩn mực quốc tế để làm cột mốc cho các trường đại học Việt Nam dựa vào đó mà tiến hành quá trình đối sánh nhằm xây dựng kế hoạch phát triển chiến lược là điều hoàn toàn có thể thực hiện được trong tương lai gần.  —  Tài liệu tham khảo  1.    Armacost, R. L., A. L. Wilson(2004) “Benchmarking Academic Programs: Methods and Examples” Presentation at 2004 AIR Annual Forum, June 2, 2004. Available at http://uaps.ucf.edu  2.    Dage, B. G. et al (eds) (2007) Managing Quality (5th ed). Chapter 21: “Benchmarking”. Australia: Blackwell Publishing.    Tiến trình thực hiện việc đối sánh  Về đại thể việc đối sánh đòi hỏi chúng ta đi qua các bước sau:  1.    Xác định đối tượng: Chúng ta sẽ đối sánh cái gì, và đối sánh với ai? Trả lời câu hỏi này là một việc không hề đơn giản. Mục tiêu của chúng ta là đưa giáo dục đại học Việt Nam đến chỗ ngang bằng với khu vực và tiến đến chỗ có vị trí trên trường quốc tế, vậy chúng ta sẽ chọn trường nào trong nước để thực hiện đối sánh, vì sao lại chọn trường ấy, và đối sánh với ai? Singapore, Trung Quốc, hay Hoa Kỳ, trường nào trong các quốc gia ấy, và tại sao lại chọn đối tượng ấy?  2.    Xác định nội dung đối sánh: Chúng ta sẽ thực hiện đối sánh toàn bộ mọi đặc điểm và hoạt động của nhà trường hay chỉ một vài khía cạnh? Và khía cạnh nào? Nguồn lực? Giá trị? Cơ chế tổ chức quản lý?     Quá trình hoạt động? Chương trình và kết quả đào tạo?  3.    Lựa chọn các tiêu chí (criteria) và chỉ báo (indicators): Việc lựa chọn tiêu chí nhằm tạo ra một khung thông tin (information framework) cần thu thập, còn việc lựa chọn chỉ báo nhằm xác định phương pháp đo lường các tiêu chí đã xác định.  4.    Phân tích thông tin và dữ liệu: các nguồn thông tin cần được tổng hợp, phân tích và diễn giải nhằm mục đích xác định rõ khoảng cách giữa đối tượng với vật chuẩn (thuật ngữ gọi là chuẩn đối sánh – benchmark).  5.    Thông báo kết quả phân tích và xác định nguyên nhân: Các kết quả phân tích phải được thông báo đến các bên có liên quan, những người thực hiện các hoạt động, sử dụng và quản lý các nguồn lực, và tạo ra các kết quả đã được đem đối sánh, và tìm hiểu nguyên nhân của khoảng cách vừa được xác định giữa đối tượng với chuẩn đối sánh.  6.    Xây dựng mục tiêu và chiến lược: Trên cơ sở những thông tin đã được kết luận về mặt mạnh mặt yếu của đối tượng (so với chuẩn đối sánh) và nguyên nhân của nó, có thể xác định được các mục tiêu (goals) và kế hoạch chiến lược (strategies) nhằm đạt được mức độ như vật chuẩn.  7.    Xác định nguồn lực: Thông qua đối sánh có thể tính toán được những nguồn lực cần có (về tiền bạc, về con người, về thời gian) để đạt được mục tiêu nói trên.  8.    Xây dựng lộ trình và kế hoạch thực hiện: Chỉ sau khi đã xác định được khoảng cách, nguyên nhân của sự cách biệt, xây dựng được mục tiêu và chiến lược rút ngắn khoảng cách, và nguồn lực cần có (hoặc có thể có) để thực hiện mục tiêu đã vạch ra, thì mới có thể xây dựng được lộ trình và kế hoạch thực hiện mang tính khả thi.  Vũ Thị Phương Anh & Phạm Thị Ly      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai thái cực cần tránh      Lần đầu Việt Nam tham gia  PISA (chương trình kiểm tra, đánh giá và so sánh trình độ học sinh ở độ  tuổi 15 giữa các nước trong khối OECD), Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh  Hiển, cho rằng, không nên quá quan trọng hóa, gây căng thẳng cho GV và HS; mặt khác cũng tránh không để  xảy ra tình trạng HS thờ ơ với kỳ kiểm tra, làm bài thiếu tinh thần  trách nhiệm.     Thưa Thứ trưởng, xin ông cho biết những lợi ích mà giáo dục Việt Nam nhận được khi tham gia PISA 2012?   Có thể nói rằng, tham gia PISA là một bước tiến tích cực trong việc hội nhập quốc tế về giáo dục (GD) của nước ta. Những dữ liệu thu thập được (ở quy mô lớn, độ tin cậy cao) từ PISA giúp cho chúng ta có cơ sở để so sánh “mặt bằng” GD quốc gia với GD quốc tế, biết được những điểm mạnh, điểm yếu của nền GD nước nhà. Dựa trên kết quả PISA, OECD đưa ra kết quả phân tích và đánh giá về chính sách GD quốc gia và đề xuất những thay đổi về chính sách GD cho các quốc gia.  Những kết quả, đề xuất này sẽ góp phần chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Mặt khác, kết quả PISA sẽ gợi ý cho chúng ta đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá, đưa ra cách tiếp cận mới về dạy – học.  Đối với mỗi HS, tham gia làm các bài kiểm tra của PISA, các em sẽ được mở rộng hiểu biết về thế giới, cọ xát với những tình huống thực tiễn mà HS các nước phát triển đang gặp và giải quyết. Cùng với đó, các em sẽ học được cách tư duy qua các trả lời câu hỏi của PISA, vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đhề thực tiễn. Từ đó góp phần giúp các em điều chỉnh cách học tập, nghiên cứu của mình.  Tham gia PISA 2012, Việt Nam có những thuận lợi và khó khăn gì? Đến nay, công tác chuẩn bị để tham gia PISA đã đến đâu, thưa Thứ trưởng?          PISA là chương trình nghiên cứu so sánh,  đánh giá chất lượng giáo dục lớn nhất trên thế giới từ trước đến nay.  PISA được triển khai với mục đích kiểm tra, đánh giá và so sánh trình độ  học sinh ở độ tuổi 15 giữa các nước trong khối OECD (Tổ chức Hợp tác và  Phát triển kinh tế) và các nước khác trên thế giới. Chương trình được tổ chức định kỳ 3 năm một lần. Kỳ khảo sát PISA diễn ra tại Việt  Nam vào ngày 12, 13, 14/4/2012         Tham gia PISA 2012, Việt Nam có thuận lợi là gần đây, trong quá trình thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, chúng ta đã xây dựng được một đội ngũ chuyên gia cơ bản có thể đảm đương được các yêu cầu kỹ thuật của OECD khi triển khai PISA tại Việt Nam. Tuy nhiên, lần đầu tiên Việt Nam tham gia một kỳ kiểm tra mang tính quốc tế với đối tượng học sinh rất đông và đa dạng về trình độ, lại yêu cầu kỹ thuật cao và nghiêm ngặt như PISA, chúng ta nhận thấy rằng, Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm tổ chức và dù đã có một số chuyên gia nhưng lực lượng chuyên gia chuyên nghiệp vẫn còn rất mỏng.  Bên cạnh đó, các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt rất ít, chủ yếu bằng tiếng nước ngoài nên việc tìm hiểu và tiếp cận với Chương trình PISA rất hạn chế. Thêm vào đó, GV và HS Việt Nam chỉ mới được làm quen với các dạng đề kiểm tra của PISA qua một lần khảo sát thử nghiệm trên phạm vi rất hẹp; cách dạy – học và đánh giá hiện nay ở Việt Nam cũng chưa thật sự phù hợp, nên nếu không chuẩn bị kỹ cho HS làm quen với tư duy của các dạng đề kiểm tra của PISA, HS sẽ khó khăn trong việc thực hiện bài kiểm tra, mặc dù các kiến thức đòi hỏi ở người học trong các đề kiểm tra của PISA không hoàn toàn xa lạ với HS Việt Nam.   Về công tác chuẩn bị, có thể nói đến nay, chúng ta đã chuẩn bị khá đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người để bước vào kỳ khảo sát chính thức PISA. Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật theo hướng dẫn của OECD và năng lực của đội ngũ chuyên gia VN được OECD đánh giá cao. Đến thời điểm này, các trường cũng đã sẵn sàng về mọi mặt, kể cả chuẩn bị tâm thế cho GV và HS tham gia PISA.  Xin Thứ trưởng cho biết Việt Nam sẽ có bao nhiêu trường và bao nhiêu HS tham gia vào PISA 2012?  Theo mẫu khảo sát chính thức mà OECD lựa chọn, Việt Nam có 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố tham gia PISA 2012. Có 4 tỉnh, thành phố không có trường rơi vào mẫu khảo sát là Điện Biên, Lai Châu, Bắc Kạn và Cần Thơ. Đối tượng HS tham gia PISA ở Việt Nam là những HS sinh năm 1996, chủ yếu rơi vào lớp 10 THPT chính quy, ngoài ra cũng có một số HS trường nghề, trường THCS, trung tâm GDTX rơi vào mẫu khảo sát.  Trong kỳ đánh giá PISA của Việt Nam lần này, liệu có sự khác biệt nào về vị thứ của Việt Nam trên thế giới so với các kỳ thi Olympic quốc tế các môn học, thưa Thứ trưởng?   Để biết thêm về điều này, chúng ta cần nhận thức được sự khác biệt của 2 kỳ thi. Về kỳ thi Olympic quốc tế, chúng ta chọn ra những học sinh giỏi nhất của một số môn học để tham gia thi đấu. Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm tổ chức cho học sinh giỏi dự thi Olympic quốc tế, và chúng ta đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong lĩnh vực này.  Trong khi đó, PISA là một chương trình đánh giá HS ở tuổi 15 – xét trên mẫu dân số quốc gia, tức là đánh giá toàn bộ thông qua đánh giá các đại diện HS đang theo học ở tất cả các cơ sở GD, các loại hình GD, là những HS bình thường, đang học các chương trình GD phổ thông, giáo dục thường xuyên hoặc dạy nghề. OECD lựa chọn chọn mẫu trường và học sinh tham gia PISA một các ngẫu nhiên trên cơ sở nguồn dữ liệu học sinh toàn quốc do Việt Nam cung câp, do đó, HS các trình độ khác nhau đều có thể rơi vào mẫu khảo sát PISA.  Mặt khác, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kỳ khảo sát PISA, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân: Các chỉ số tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người và chỉ số phát triển con người của mỗi quốc gia; Sự đầu tư cho phát triển GD của mỗi quốc gia; Chương trình giảng dạy; Thái độ làm bài của HS…   Việt Nam xác định tham gia PISA trước tiên để học hỏi kinh nghiệm đánh giá GD của quốc tế, thứ hai để biết GD nước ta ở đâu so với các nước phát triển trên thế giới. Còn kết quả PISA của Việt Nam có thể chưa cao cũng không phải là điều khó hiểu, bởi vì 2 chỉ số ảnh hưởng lớn đến kết quả GD của một đất nước thì theo kết quả so sánh năm 2011, Việt Nam đứng thứ 69/70 về tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người và đứng thứ 70/70 về chỉ số phát triển con người trong số các nước tham gia PISA 2012.   Tuy nhiên, là nước lần đầu tham gia, PISA cũng có thể chứa đựng những yếu tố bất ngờ, chúng ta hãy chờ đợi xem kết quả của Việt Nam như thế nào. Dù kết quả ra sao thì tham gia PISA, chắc chắn GD Việt Nam sẽ được rất nhiều. Như đã nói, thông qua kỳ kiểm tra PISA, OECD sẽ phân tích kết quả, các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và đưa ra các khuyến nghị về chính sách GD cho các quốc gia, thông qua đó, Việt Nam sẽ biết mình nên làm gì để hội nhập quốc tế và phát triển GD.    Kỳ kiểm tra PISA đã cận kề, ông có lưu ý nào tới các HS và các trường tham gia chương trình này không, thưa Thứ trưởng?     Tôi muốn nhấn mạnh rằng, các Sở GD-ĐT cũng như các nhà trường, GV và HS không nên quá lo lắng về kỳ kiểm tra, về kết quả PISA. Chúng ta đang cần một kết quả thực chất để có các chính sách phát triển chất lượng GD hiện tại và xây dựng một chương trình GD phổ thông sau 2015.  Có 2 thái cực cần tránh khi tham gia kỳ kiểm tra PISA. Đó là không nên quá quan trọng hóa, gây căng thẳng, áp lực tâm lý cho GV, HS. Điều này dễ làm ảnh hưởng đến tinh thần và thái độ của HS khi các em làm bài kiểm tra PISA; mặt khác chúng ta cũng không để xảy ra tình trạng HS thờ ơ với kỳ kiểm tra này, làm bài thiếu tinh thần trách nhiệm, không nỗ lực hết khả năng của mình. Cả 2 thái cực trên đều dẫn đến việc làm sai lệch kết quả, không phản ánh đúng thực chất về chất lượng GD phổ thông Việt Nam, từ đó sẽ dẫn đến những khuyến nghị không phù hợp cho GD nước ta.  Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai trường ĐH Việt Nam thuộc tốp 300 châu Á 2015      Theo Tổ chức xếp hạng các trường đại học trên thế giới QS (World University Rankings by Subject), Việt Nam có hai trường ĐH là ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh lọt vào tốp 300 châu Á.      Ngày 10/6/2015, Tổ chức QS đã lần lượt công bố kết quả các bảng xếp hạng đại học năm 2015, bao gồm Bảng xếp hạng QS thế giới, Bảng xếp hạng QS châu Á, Bảng xếp hạng QS châu Mỹ La tinh, Bảng xếp hạng QS Ả rập, Bảng xếp hạng QS BRICS.   Từ năm 2009, QS đánh giá, xếp hạng và công bố 300 đại học hàng đầu Châu Á dựa trên các tiêu chí xếp hạng phản ánh đặc thù, thách thức và những ưu tiên của khu vực. Trong bảng xếp hạng này, về số lượng Trung Quốc là quốc gia đứng đầu với 74 trường đại học, Nhật Bản là quốc gia có nhiều đại diện thứ hai trong xếp hạng QS châu Á với 68 trường. Tiếp theo là Hàn Quốc (45 trường), Đài Loan (28), Malaysia (21) và Ấn Độ (17).  Các quốc gia châu Á khác cũng có trong top 300 châu Á là: Thái Lan (11 trường), Pakistan (10), Indonesia (7). Singapore, Việt Nam và Bangladesh là 3 quốc gia có 2 đại học trong top 300. Sri Lanka, Brunei và Macau mỗi nước chỉ có một trường.  Trong bảng xếp hạng QS châu Á lần này, hai đại học của Việt Nam là ĐHQG Hà Nội (thuộc nhóm 191-200) và ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh (thuộc nhóm 201-250).  Top 10 đại học hàng đầu châu Á của năm 2015 gồm có ĐH Quốc gia Singapore, ĐH Hong Kông, Viện Nghiên cứu Khoa học & Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), ĐH Công nghệ Nanyang Singapore (NTU), ĐH Khoa học & Công nghệ Hong Kong, ĐH Trung Hoa Hong Kong, ĐH Bắc Kinh, ĐH Quốc gia Seoul, ĐH Thành thị Hong Kong và   ĐH Pohang. So với năm 2014, ĐH Tokyo của Nhật Bản không còn nằm trong top 10 đại học hàng đầu châu Á, thay vào đó ĐH Thành thị Hong Kong lần đầu tiên lọt vào top 10.  Theo GS Nguyễn Hữu Đức, năm nay thứ hạng của hai đại học Việt Nam chủ yếu được quyết định bởi các chỉ số đánh giá của các học giả và các nhà tuyển dụng trong nước và khu vực. Các chỉ số về số lượng và chất lượng các bài báo khoa học thống kê từ cơ sở dữ liệu Scopus mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng so với sự gia tăng tương quan với các trường đại học hàng đầu trong châu lục Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn.    Nguồn:http://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N18047/Top-300-dai-hoc-trong-bang-xep-hang-QS-Chau-a-2015.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc đi tìm một hình mẫu sinh viên kiểu mới      “20 hoặc 30 năm trước đây, chúng tôi cần những sinh viên có thể học hỏi được một số thứ và bám theo được lối mòn mà các nước tiên tiến đã tạo ra. Nhưng bây giờ Hàn Quốc đã trưởng thành, và chúng tôi không nên chỉ đơn giản đi theo sau những gì người khác đã làm… Chúng ta cần những con người mới với óc sáng tạo mới.”  &#160;    Trong khi gần 700.000 sinh viên trường cao đẳng ở Hàn Quốc đang miệt mài gắng sức cho kỳ thi vào đại học vào tháng mười một, thì Yu Hwa Young lại dành cả ngày đi tàu lượn siêu tốc và chụp hình tại Everland, một khu vui chơi giải trí.   “Mọi người đều ghen tị,” một sinh viên sắp tốt nghiệp 19 tuổi của trường trung học Posung nói, Yu được miễn kỳ kiểm tra vì đã được nhận vào chương trình nghiên cứu quốc tế tại trường ĐH Sogang, dựa trên bảng điểm với điểm gần như tuyết đối trong bài thi tếng Anh, bài phỏng vấn, và các hoạt động ngoại khoá, ví dụ như tham gia làm báo ở trường và tham gia hội Mô hình Liên Hợp Quốc.  Các bài thi vượt rào then chốt được chuẩn hoá vốn từ lâu là cánh cửa dẫn đến đào tạo giáo dục cấp cao ở Hàn Quốc, nay đã không còn là con đường duy nhất để vào được các trường đại học. Hơn 10% sinh viên mới bắt đầu học vào tháng Ba sắp tới được chọn lựa bởi những cán bộ tuyển sinh kiểu mới, những người đã trải qua khóa đào tạo nhằm đánh giá những phẩm chất khó định lượng, như khả năng lãnh đạo và tư duy độc lập. Thay đổi trong các kỳ tuyển sinh là vấn đề trọng tâm của một loạt các cải cách về chính sách nhằm thúc đẩy sự sáng tạo của các sinh viên trước đây được đào tạo để ghi nhớ, và triệt để xử lý vấn đề về khối trường tư thục đang làm cho con đường tới các trường đại học ngày càng đắt đỏ.    Cảnh sát Seoul giúp các thí sinh đại học lạc đường đến điểm thi đúng giờ.  Lee Ju Ho, Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ, nói rằng, tuyển sinh đại học phải cải cách trước khi cải cách mọi lĩnh vực khác. “Mọi bậc cha mẹ thường muốn con của mình được học ở trường tốt nhất có thể. Đó là nguyên nhân dẫn tới hệ quả là văn hóa thi cử của chúng ta,” ông nói. “Tất cả các nỗ lực bỏ ra chỉ để nâng cao điểm các bài thi, không phải nhằm phát triển óc sáng tạo hay bất kì khía cạnh tự nhiên nào khác của con người… Đó là thách thức lớn nhất của chúng tôi.”      Bộ đã đầu tư 31 triệu đô-la Mỹ, hay 35 – tỉ won, vào năm 2010, tăng gần 2 triệu đô-la Mỹ so với năm 2007, để chi trả tiền lương và chi phí đào tạo cho các nhà tuyển dụng kiểu mới. Hệ thống đã mở rộng đến hơn 100 trường đại học, bao gồm cả một số trường không nhận ngân quỹ của chính phủ.   Các trường đại học ở những quốc gia khác, vốn từ lâu sử dụng cơ chế tuyển dụng dựa nhiều vào thi cử, nay cũng đang nỗ lực cải cách nhằm cải thiện chỗ đứng trên toàn cầu và thu hút các sinh viên ngoại quốc. Các trường đại học đứng đầu của Hồng Kông và đại lục Trung Hoa đang mở rộng các tiêu chí tuyển sinh để khích lệ những phẩm chất như khả năng sáng tạo và tham gia hoạt động cộng đồng. Hiệp hội Quốc gia Tư vấn Tuyến sinh Đại học của Mỹ đã và đang chào đón các du khách đến từ Romania, Ukraina cũng như Hàn Quốc, những người thực sự quan tâm với hệ thống giáo dục linh động hơn này.   Nhưng thay đổi hoàn toàn một nền văn hóa thi cử có hàng thế kỷ ở Hàn Quốc cũng khó khăn không kém nơi nào khác. Các trường học và các gia đình cần thời gian để theo kịp với tư duy mới, trong bối cảnh xã hội vẫn quan niệm rằng chương trình giảng dạy ngoại khóa nghĩa là các lớp toán và tiếng Anh nâng cao, và sự cạnh tranh vào các trường đại học hàng đầu là vô cùng khốc liệt, khiến việc phụ đạo thêm là khó tránh khỏi và sinh viên không có thời gian để làm bất cứ việc gì khác ngoài việc học. Nhiều bậc cha mẹ hoài nghi rằng cải cách định hướng này sẽ chẳng tồn tại nổi sau cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo vào năm 2013.   Tuy thế, các nhà quan sát nói thay đổi mới hình thành đang thúc đẩy những cuộc đối thoại quan trọng ở Hàn Quốc trong một bối cảnh mang tính bản lề. Sinh viên trường trung học cơ sở đang bắt đầu nghĩ về những gì họ có thể làm ngoài việc học. Và các trường cao đẳng đang bắt đầu hỏi, “chúng ta đang cần những hình mẫu thanh niên tài năng gì, và chúng ta sẽ làm cách nào để tìm ra họ?” nhận định từ Chung Kwang Hee nhà nghiên cứu các chính sách tuyển sinh ở Viện Phát triển Kinh tế Hàn Quốc.  Gốc rễ của việc cải cách  Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc được sự ngưỡng mộ rộng rãi với nỗ lực thành công cứu quốc gia này ra khỏi cảnh nghèo đói sau cuộc chiến tranh Triều Tiên và mang lại sức mạnh cho nền kinh tế lớn thứ 13 của Thế giới chỉ trong sáu thập niên ngắn ngủi. 78% dân số Hàn Quốc mù chữ vào năm 1948 và một phần nhỏ của 1% đạt trình độ giáo dục sau trung học. Ngày nay, Hàn Quốc là một trong số những nước có tỷ lệ mù chữ thấp nhất trên thế giới (2 %) và tỉ lệ hoàn thành các chương trình học hệ cao đẳng khá cao: 58 % người trưởng thành trong độ tuổi từ 25 đến 34 có bằng đào tạo 2 hoặc 4 năm.          “Mọi bậc cha mẹ thường muốn con của mình được học ở trường tốt nhất có thể. Đó là nguyên nhân dẫn tới hệ quả là văn hóa thi cử của chúng ta,” ông nói. “Tất cả các nỗ lực bỏ ra chỉ để nâng cao điểm các bài thi, không phải nhằm phát triển óc sáng tạo hay bất kì khía cạnh tự nhiên nào khác của con người… Đó là thách thức lớn nhất của chúng tôi.”  Lee Ju Ho, Bộ trưởng GD, KH&CN Hàn Quốc        Người Hàn Quốc ca tụng những cổ tích về “những con rồng” “nổi lên từ mương rãnh,” hoặc những người đạt được thành tựu vĩ đại từ những bước khởi đầu khiêm tốn, thường là nhờ giáo dục. Lee Myung Bak được sinh ra trong một gia đình nghèo và phải làm việc kiếm sống trong suốt thời kỳ học trung học và đại học, trước khi trở thành giám đốc điều hành tại Hyundai và cuối cùng trở thành Tổng thống.  Nhưng nhu cầu quá tải đối với giáo dục đại học cũng đã gây ra cuộc cạnh tranh dữ dội để dành những cơ hội được đào tạo giáo dục tốt nhất. Văn hoá cạnh tranh này đang hình thành nên nền công nghiệp giáo dục tư nhân với ước tính là 19 tỷ đô-la Mỹ, hoặc 21,6 nghìn tỷ won vào năm 2009. Ngày nay, hệ thống giáo dục nổi tiếng của quốc gia này bị đổ lỗi cho hiện tượng sụt giảm tỉ lệ sinh nở, những số liệu về tình trạng tự tử, và hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu hơn.  Nhiều sinh viên có đủ nguồn tài chính đã rời khỏi Hàn Quốc để theo đuổi nền giáo dục cao hơn. Số lượng sinh viên học ở nước ngoài tăng từ 24.000 trong 1985 lên 218.000 vào năm 2007, theo số liệu thống kê của chính phủ, với một phần ba số sinh viên trên đang học tại Bắc Mỹ. Ngày càng nhiều sinh viên còn lại đang rời các trường trung học hoặc trường trung học cơ sở để học tiếng Anh và để dành thời gian chuẩn bị cho việc vào các trường đại học Phương Tây. “Ngày nay nếu bạn muốn hóa rồng, bạn phải có tiền,” Kwon Heok Seung, Phó Trưởng phòng tuyển sinh tại Đại học Quốc gia Seoul nói.  Một nghề chuyên môn mới ra đời: làm công tác tuyển sinh   Đại học Quốc gia Seoul, trường đại học công lập trọng điểm của đất nước, là một trong những trường đầu tiên bắt đầu áp dụng cơ chế tuyển sinh mới. “Khi mới bắt đầu, chúng tôi thậm chí còn không có chức danh thích hợp. Chúng tôi được gọi là chuyên gia nghiên cứu,” theo lời Lee Seung Yeon, một viên chức của văn phòng tuyển sinh bắt đầu làm việc tại Đại học Quốc gia Seoul từ năm 2001. Trong vòng một thập kỷ trở lại đây, nhờ sự giúp đỡ của các nhà tư vấn từ ĐH California – Berkeley và ĐH Cornel, các nhà tuyển sinh cùng nhau xây dựng một phương pháp để xem xét tuyển sinh không chỉ dựa trên điểm số hoặc trình độ giáo dục mà còn dựa trên chất lượng chuẩn bị hồ sơ của các thí sinh.    Trong khi các thí sinh đại học làm bài,  mẹ của họ sẽ đến chùa cầu cho họ thi tốt.  Ngày nay đại học có 24 nhà tuyển sinh và một toà nhà độc lập. Phác thảo về các thiết bị hiện đại trong tương lai được treo tại văn phòng trưởng khoa. Văn phòng điều phối một hệ thống thông tin phức tạp theo ba định hướng tiêu chí trong việc tuyển chọn 3.000 sinh viên hàng năm.      Định hướng tiêu chí chủ đạo cho phép sinh viên thể hiện sức mạnh của mình hơn là yêu cầu họ đạt điểm cao nhất trong mọi môn học. Hầu hết các thí sinh vẫn tham gia làm bài thi vào cao đẳng, nhưng họ được đánh giá dựa vào trình độ, bài giới thiệu tiến cử, các bài luận, và các tài liệu để thể hiện tài năng hoặc mối quan tâm về các lĩnh vực của họ.  Định hướng thứ hai nhằm đa dạng vùng miền bằng việc xem xét các sinh viên với điểm cao nhất ở mỗi trường trung học của Hàn Quốc, và nhà nước khẳng định các sinh viên này sẽ sớm được áp dụng các tiêu chí tuyển sinh mới khác nữa. Và định hướng thứ ba cân nhắc về điểm trung bình theo truyền thống và qua cuộc thi đầu vào của trường đại học. Vậy nên, trong khi một số sinh viên đang tìm kiếm sự xem xét trên những tiêu chí đặc biệt thì những sinh viên khác vẫn đang cặm cụi học suốt ngày đêm để làm sao đạt điểm kiểm tra cao nhất có thể.   Thông qua quá trình mở rộng tiêu chí tuyển sinh, các nhà tuyển sinh nói, họ đã nhận tuyển vào các trường đại học hàng đầu của đất nước những sinh viên vốn không thể được chấp nhận nếu căn cứ theo cơ chế tuyển sinh trước đây. Một số sinh viên gặp khó khăn trong những năm đầu nhưng sau đó lại trở nên thành công, hay một số là những học sinh đầu tiên của một tỉnh trong vòng 30 năm nay vào được nhóm các trường đại học hàng đầu, họ đến từ các trường trung học các tỉnh vùng nông thôn nơi có ít cơ hội tiếp cận với hình thức học phụ đạo tư nhân phổ biến như ở Seoul.   Các trường đại học đã phải giới thiệu hệ thống giảng dạy và các lớp học ở trình độ vừa phải hơn và hệ thống phụ đạo cho những em không theo kịp. Nhưng các nhà tuyển sinh tin rằng họ đang nhận vào nhiều hơn những sinh viên thực sự quan tâm về lĩnh vực của mình thay vì chạy đua theo uy tín bằng cấp. Nuôi trồng phẩm chất tò mò trí tuệ cũng là một ưu tiên hàng đầu mới của các trường đại học, với mong muốn thu hút được các nhà lãnh đạo tiềm năng của tương lai.          Hàn Quốc đang nỗ lực giải quyết điều nghịch lý được thể hiện qua các kỳ thi tầm quốc tế: trong khi kỹ năng của các sinh viên Hàn Quốc được xếp vào hạng cao nhất trên thế giới, các kết quả khảo sát lại chỉ ra rằng, sự hứng thú hay lòng tự tin của họ trong toán học hoặc khoa học là thấp hơn hẳn so với mức trung bình.         Hàn Quốc đang nỗ lực giải quyết điều nghịch lý được thể hiện qua các kỳ thi tầm quốc tế: trong khi kỹ năng của các sinh viên Hàn Quốc được xếp vào hạng cao nhất trên thế giới, các kết quả khảo sát lại chỉ ra rằng, sự hứng thú hay lòng tự tin của họ trong toán học hoặc khoa học là thấp hơn hẳn so với mức trung bình.  “20 hoặc 30 năm trước đây, chúng tôi cần những sinh viên có thể học được một số thứ và bám theo được lối mòn mà các nước tiên tiến tạo ra. Nhưng bây giờ Hàn Quốc đã trưởng thành, và chúng ta không nên chỉ đơn giản đi theo sau những gì người khác đã làm. Chúng ta cần những con người mới với óc sáng tạo mới,” nhận định từ Seon Moon Suk, một cán bộ tuyển sinh tại Viện Khoa học Công nghệ Tiên tiến Hàn quốc, hay còn gọi là Kaist, tại trường đại học nghiên cứu khoa học công nghệ đầu ngành của quốc gia. Kaist đã sớm mở rộng cơ chế tuyển sinh. Bài kiểm tra đầu vào của trường đã trở thành không bắt buộc từ cách đây hơn một thập niên trước, và các sinh viên được đánh giá dựa trên các cuộc phỏng vấn, điểm số, và các nhận xét đề cử.  Nhiều sinh viên đến từ các trường trung học chuyên, nơi mà họ tập trung vào nghiên cứu và có thể tốt nghiệp sớm một năm và được nhận thẳng vào đại học mà không cần thi đại học.Vào năm 2008, Kaist bắt đầu thuê các chuyên gia tuyển sinh để xây dựng hệ thống mô hình để đánh giá hồ sơ cho các thí sinh từ các trường trung học đại chúng.   Mỗi trường đại học đang thực hiện theo một hệ thống riêng. Một số yêu cầu thi tuyển qua hệ thống thi của quốc gia hay các bài kiểm tra chuẩn hoá khác, như là Toefl; một số trường khác thì không.  Hầu hết các chuyên gia tuyển sinh cho biết họ đang tìm kiếm những sinh viên có thể suy nghĩ độc lập và không phụ thuộc nhiều vào gia sư riêng. Nhiều người tin rằng việc học thêm quá nhiều theo sự hướng dẫn của gia sư gây ra lối học thụ động và chỉ tập trung đối phó với thi cử.  “Chúng tôi muốn gửi một thông điệp mới rằng nếu bạn học hành chăm chỉ ở trường và biết tận dụng lợi thế tại trường của bạn, bạn có thể thành công,” khẳng định từ Jung Hee An, một nhà tuyển sinh tại trường Đại học Ewha Womans, nơi mà một phần tư lớp sinh viên năm thứ nhất được lựa chọn căn cứ theo một đợt kiểm tra bao quát toàn diện hơn.  Tư duy học thuật kiểu cũ vẫn giữ vai trò chủ đạo  Các trường đại học đang yêu cầu các trường trung học công lập cải cách để chuẩn bị cho học sinh một hành trang toàn diện hơn, tạo ra những con người tự lập hơn. Nhưng đây là một đòi hỏi thay đổi quá lớn cho một hệ thống tuyển sinh được xây dựng quanh một kỳ thi sinh tử, trong đó có vai trò tham gia ngày càng tăng của các trường tư. Tại nhiều trường học ở Seoul, các sân thể thao và lớp học vắng tanh sau tiếng chuông cuối cùng, vì tất cả sinh viên vội vã đến với các gia sư riêng hoặc các trường luyện thi, nơi họ chuẩn bị cho kỳ thi vào trường đại học.  Chính phủ đang đẩy mạnh viện trợ cho các trường để thu hút học sinh đến với các hoạt động ngoài giờ. Nhưng trong nỗ lực nhằm cạnh tranh với trường luyện thi và cạnh tranh lẫn nhau (điểm chuẩn các bài thi của từng trường được công bố công khai), nhiều trường công lập đang tập trung nguồn hỗ trợ này vào các môn học chủ đạo như tiếng Hàn Quốc, tiếng Anh, và toán học, và chấp nhận hi sinh các môn thể thao và mỹ thuật.   Yu Hwa Young, người sẽ bắt đầu học tại trường ĐH Sogang vào tháng ba, nói, cậu ta đã tham gia vào tờ báo ở trường trung học Posung, nhưng ở trường cũng có câu lạc bộ khác để tham gia. Cậu ta cũng tham dự nhiều hoạt động ở các nơi khác. Cậu đăng ký tham gia tại một học viện đặc biệt được thiết kế cho các sinh đăng ký theo các chương trình nghiên cứu về quốc tế. Trong suốt khoá học hai buổi mỗi tuần, cậu ta được nghe bài giảng về các vấn đề quốc tế và kinh tế, và được cho đọc sách giáo trình của Thomas L. Friedman và Noam Chomsky. Khoá đào tạo đã giúp cậu ta hình thành các quan điểm về các vấn đề quốc tế then chốt, và cung cấp cho cậu sự chuẩn bị quý báu cho cuộc phỏng vấn vào trường đại học.   Yu sống ở nước ngoài trong suốt ngững năm học trung học để học tiếng Anh, và cha mẹ của cậu ta cũng thuê gia sư để giúp cậu cải thiện điểm thi Toefl nhiều tháng trước kì thi. Yu cho biết: “Các trường cao đẳng thì nói họ không muốn điểm số cao, nhưng điểm cao vẫn luôn tốt hơn.”  Trong khi các trường trung học công lập đang từ từ thay đổi, các trường tư lại nhanh chóng thích nghi với tư duy “chính thống” mới. Một danh mục các dịch vụ tư vấn và các học viện chào mời học sinh các cơ hội tình nguyện miễn phí, các khóa đào tạo chuẩn bị cho các cuộc thi quốc gia được tổ chức nhằm cải thiện hồ sơ đăng ký đại học của học sinh, và cung cấp lời khuyên học sinh nên xây dựng một hồ sơ cá nhân gồm điểm trung bình học kỳ, điểm bài thi, và tham gia các hoạt động như thế nào thì sẽ mang đến thành công.   Sự bùng nổ mới nhất này ở khu vực giáo dục tư nhân đang thổi bùng lời chỉ trích rằng, sự can thiệp của các nhà tuyển sinh đang làm tăng sự bất bình đẳng giàu nghèo thay vì giảm đi, vì những học sinh giàu có sẽ có được sự chuẩn bị đặc biệt hơn.   Tuy nhiên, Yang Hee Neyong, sinh viên trong nhóm dẫn đầu của một trường trung học danh tiếng mức trung bình ở miền trung Hàn Quốc nghĩ rằng hệ thống mới là cơ hội tốt nhất cho một sinh viên như cô để trở nên nổi bật khi đăng lý tai trường đại học Ewha Womans vào năm tới.   Đến từ một gia đình trung lưu ở một thành phố công nghiệp, cách ba tiếng đi từ thủ đô, cô ấy không có cơ hội để học ở nước ngoài hoặc để tham dự một trong những “học viện nổi tiếng của Seoul,” như cô nói. Thay vào đó, cô ấy cố gắng đứng đầu lớp học tiếng Anh của mình bằng cách luyện tập ở nhà, với sự giúp đỡ thỉnh thoảng từ gia sư, và bằng cách lắng nghe các bài học trên băng và tự ghi lại giọng nói để thực hành phát âm.   Cô hy vọng sẽ gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh nhờ sự đam mê học tiếng Anh, ước mơ trở thành người phiên dịch, và khả năng rèn luyện độc lập của mình. “Tôi nghĩ việc tôi tự học lấy đã thể hiện được tiềm năng của tôi,” cô nói.   Để chuẩn bị cho việc vào trường đại học, cô ở lại ở trường cho đến 11h đêm mỗi ngày. Cô nghiên cứu bài thi nhưng cũng viết thơ và các đoạn văn bằng tiếng Anh để chuẩn bị cho các cuộc thi đấu. Ở nhà, cô duy trì một trang blog với các bài học ngữ pháp tiếng Anh hài hước, và cô cũng dịch sách của trẻ em bằng tiếng Anh sang tiếng Triều Tiên. Vào những buổi cuối tuần, khi nhiều bạn bè của cô đi học thêm tại các học viện tư nhân, thì cô làm tình nguyện ở viện dưỡng lão hoặc tự học lấy. Giáo viên của cô duy trì danh mục hồ sơ những thành tích đa dạng của cô và đưa ra những lời góp ý và động viên. Nhưng việc tránh các trường luyện thi trong một hệ thống nơi thứ hạng có vai trò quan trọng làm cho cô cảm thấy lo lắng, “lo lắng rất nhiều,” cô nói.  Một buổi tối tháng mười một, cô bé nhìn lướt qua cuốn sách giới thiệu về trường Ewha, về hồ sơ của những sinh viên được tuyển chọn bởi các cán bộ tuyển sinh mới.   Cô bé đọc to những mô tả về các cô gái đã là chủ tịch lớp của họ, có người đã đi những nơi xa xôi trên Thế giới để làm tình nguyện, hoặc có người sáng lập ra câu lạc bộ hoạt động xã hội của riêng họ, và ở lớp học điểm số của những cô gái đó vẫn được duy trì ở mức gần như đứng đầu vì họ đã chăm chỉ đến sớm về muộn học bài hơn mọi học sinh khác. Sau vài phút, vẻ tự tin tươi tắn của Yang biến mất:  “Ôi trời ơi, sao tôi có thể làm được như vậy?”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc điều tra về các công bố có trẻ em là đồng tác giả      Nhiều nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã gia tăng cơ hội vào đại học của con em mình bằng cách đưa chúng vào danh sách đồng tác giả trong bài báo khoa học của mình.      Các học sinh chuẩn bị tham gia kỳ thi Đánh giá khả năng học đại học – kỳ thi chuẩn để vào đại học ở Hàn Quốc. Nguồn: Nature  Chính phủ Hàn Quốc đang mở rộng cuộc điều tra về việc các nhà nghiên cứu đã thêm tên con em mình vào vị trí đồng tác giả trên các bài báo khoa học do mình và đồng nghiệp thực hiện. Sau báo cáo với chính phủ Hàn Quốc vào cuối tháng 1/2018, cuộc thăm dò mở rộng này được loan báo rộng rãi vào ngày 1/2/2018, trong đó đã xác nhận 82 bài báo quốc tế có đồng tác giả là con hoặc họ hàng của nhà nghiên cứu, thậm chí nhiều em còn đang học phổ thông cấp 2 hoặc cấp 3.  Trong một số trường hợp, hành động này được cho là để giúp các em có thêm lợi thế khi nộp hồ sơ vào đại học – quá trình thi tuyển vào đại học ở Hàn Quốc vốn cạnh tranh rất khắc nghiệt.  Trong vòng một tháng, cuộc điều tra do Bộ Giáo dục Hàn Quốc đảm trách đã diễn ra nhằm xem xét các bài báo quốc tế do 70.000 nhà nghiên cứu về khoa học và nghệ thuật ở các trường đại học Hàn Quốc xuất bản trong vòng 10 năm qua. Vụ việc này bắt đầu từ một trường hợp phát hiện ra tác giả trẻ em có mặt trong công bố ở Đại học Quốc gia Seoul hồi cuối năm ngoái.  Kết quả điều tra đã được công khai vào ngày 25/1/2018, đã tìm ra những trường hợp tương tự từ 29 trường đại học Hàn Quốc. Trong 39 bài báo thuộc số này có các học sinh được cho là đã tham gia vào nghiên cứu như là một chương trình học liên quan; 43 bài báo khác thì không.  Các công bố có chỉ mục  Bộ Giáo dục Hàn Quốc không công bố tên của các nhà nghiên cứu tham gia vào những bài báo đồng trẻ em giả mạo này cũng như các tạp chí đã xuất bản bài báo. Tuy nhiên, theo các phương tiện truyền thông Hàn Quốc, nhiều bài báo trong số này đã xuất hiện trên các tạp chí thuộc danh mục SCI. Giải thích với Nature, Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho rằng việc đánh giá ban đầu dựa vào các vụ việc do chính các trường báo cáo với Bộ, số lượng này có thể không đầy đủ bởi nhiều nhà nghiên cứu còn đang trong kỳ nghỉ đông.  Trong cuộc thăm dò vẫn tiếp tục diễn ra đến 16/3/2018 này, Bộ Giáo dục dự định kiểm tra các bài báo của các tác giả Hàn Quốc được lập chỉ mục trên các cơ sở dữ liệu trích dẫn, bao gồm SCI, Web of Science và Scopus, và để kiểm tra chéo tên họ của 76.000  nhà nghiên cứu thuộc biên chế các trường đại học với những người có mối quan hệ gia đình của họ.  Bộ Giáo dục dự định chuyển từng trường hợp tới ủy ban đạo đức nghiên cứu của các trường đại học quản lý họ để xác nhận liệu trong công bố của họ có hành vi sai trái hay không. Theo quan điểm của Bộ Giáo dục, nếu trường hợp đồng tác giả học sinh không tham gia vào nghiên cứu thì có thể sẽ kỷ luật, thậm chí là sa thải các nhà nghiên cứu vi phạm.  Các trường đại học bị ảnh hưởng nhất về việc đồng tác giả này có cả một số trường đại học hàng đầu ở Seoul như Đại học Sungkyunkwan (8 trường hợp), Đại học Yonsei (7 trường hợp), Đại học Quốc gia Seoul và Đại học Kookmin (6 người). Người phát ngôn của ĐH Sungkyunkwan khẳng định, trường sẽ mở cuộc điều tra theo yêu cầu của Bộ, bao gồm cả phạt hoặc sa thải.  Phát ngôn viên của ĐH Quốc gia Seoul nhấn mạnh rằng vẫn chưa có các phát hiện nào để khẳng định rằng hành vi sai trái đã xảy ra ở trường, và ủy ban liêm chính nghiên cứu sẽ điều tra tất cả các trường hợp. ĐH Yonsei từ chối trả lời câu hỏi của Nature về vụ điều tra, và đang chờ đợi thêm thông tin từ chính phủ.  Phát ngôn viên của ĐH Kookmin nói với Nature rằng một cuộc tìm hiểu ban đầu về các vụ việc của trường cho thấy rằng việc hợp tác là hợp pháp – “Chúng tôi có một số bản ghi và ghi chú rằng con em của họ tham gia vào nhiều hoạt động nghiên cứu, vì vậy, chúng tôi nghĩ là không có vấn đề gì với trường chúng tôi.”  Truyền thông giận dữ  Vụ việc bị tiết lộ đã dẫn tới làn sóng phản đối khắp nước. Trong một bài xã luận, Korea Herald gọi đây là các hành vi “không kém một sự gian lận, đe dọa đến tính liêm chính của trường đại học và giáo dục khắp Hàn Quốc.”  Bộ Giáo dục Hàn Quốc nói rằng bất kỳ học sinh, sinh viên được liệt kê là đồng tác giả mà không tham gia vào nghiên cứu sẽ bị rút lại giấy nhập học.  Theo Kyosu Shinmun – một tờ báo về giáo dục đại học, trong tương lai, Bộ Giáo dục cũng cần nêu có biện pháp tương tự với bất kỳ học sinh ở tuổi vị thành niên là đồng tác giả bài báo quốc tế nào.   Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-01512-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng loạt ngành học phải đóng cửa      Không chờ đến nguyện vọng (NV) 2, một số trường ĐH đã đóng cửa ngành học ngay khi công bố điểm chuẩn NV1.    Ngày 8-8, ĐH Đà Nẵng công bố điểm chuẩn NV1 cho các trường thành viên, đồng thời thông báo đóng cửa hai ngành kinh tế chính trị và thống kê tin học do không có thí sinh trúng tuyển. Đây là năm thứ hai liên tiếp trường đóng cửa các ngành này sau khi xét tuyển NV1 mà không đợi đến NV2, NV3.   Tương tự, Trường ĐH Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) cũng thông báo đóng cửa ngành tài chính ngân hàng sau khi công bố điểm chuẩn NV1. Mặc dù đây là ngành “hot” hiện nay nhưng cũng chỉ có một thí sinh trúng tuyển và trường đã phải chuyển thí sinh này sang ngành khác.  Không có thí sinh  Không chỉ các trường ĐH địa phương, trường tốp dưới mà ngay cả các ĐH vùng cũng nằm trong tình cảnh một số ngành “cửa mở nhưng không có người học”. Phân hiệu ĐH Huế tại Quảng Trị nằm trong cảnh éo le này. Và để có thể tuyển được thí sinh, ĐH Huế vừa phải hạ điểm chuẩn hai ngành mỹ thuật ứng dụng và quản trị kinh doanh đối với phân hiệu tại Quảng Trị. Không chỉ hạ điểm chuẩn, ĐH này còn vận dụng điều 33 cho phân hiệu này mới mong tuyển đủ chỉ tiêu.  Tình hình còn bi đát hơn tại Trường ĐH Đồng Tháp. Với hơn 1.800 chỉ tiêu NV2 cho 26 ngành bậc ĐH nhưng đến thời điểm này mới có 130 hồ sơ đăng ký xét tuyển. Có ngành chỉ có một hồ sơ, có ngành vẫn chưa có hồ sơ nào.           Hồi hộp chờ đóng cửa… ngành   Trong khi đó, một số trường ngoài công lập đang hết sức hồi hộp chờ xét tuyển NV3. Đến thời điểm này, một số ngành như tiếng Nhật, kỹ thuật xây dựng của ĐH Hùng Vương TP.HCM chỉ có chưa tới 10 hồ sơ.    Trong khi đó, ĐH Văn Hiến dù nhận hơn 900 hồ sơ nhưng phần lớn tập trung vào nhóm ngành kinh tế. Các ngành khối xã hội như văn học, xã hội học, tâm lý học, tiếng Anh, Đông phương học chỉ có trên 10 hồ sơ/ngành. Năm 2010, ĐH Văn Hiến phải đóng cửa hai ngành văn hóa học và VN học do có quá ít thí sinh.    Ông Nguyễn Quốc Hợp – trưởng phòng đào tạo ĐH Văn Hiến – cho biết tình hình hồ sơ xét tuyển NV2 năm nay ảm đạm hơn năm trước. Tuy nhiên do thí sinh được rút hồ sơ xét tuyển nên trường cũng hi vọng vào những ngày cuối, thí sinh sẽ nộp nhiều hơn hoặc sẽ phải chờ đến NV3.        TS Nguyễn Văn Đệ – Hiệu trưởng ĐH Đồng Tháp – cho biết cách đây khoảng một tuần, khi thống kê số thí sinh trúng tuyển NV1 và hồ sơ NV2, trường dự kiến phương án cho các khoa thương lượng để có thể chuyển thí sinh và đóng cửa hơn 10 ngành. Tuy nhiên trường sẽ chờ xét tuyển hết NV2, NV3 mới quyết định. Riêng hai ngành sư phạm kỹ thuật công nghiệp, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp dù đã áp dụng điều 33 nhưng cũng chỉ có hai thí sinh/ngành. Một số ngành không có thí sinh dự thi NV1 và lượng hồ sơ NV2 quá ít nên chắc chắn sẽ phải đóng cửa là sư phạm kỹ thuật công nghiệp, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ thiết bị trường học, khoa học thư viện, công tác xã hội, quản lý văn hóa. “Mặt bằng điểm thi của thí sinh khu vực khá thấp. Phổ điểm chủ yếu đủ vào bậc CĐ trong khi nguồn tuyển NV2 cho bậc ĐH rất ít. Nhiều ngành chỉ có 1, 2 hồ sơ,” ông Đệ cho biết thêm.  Tương tự, ông Hoàng Xuân Quảng – Phó hiệu trưởng ĐH An Giang – cho biết tổng hồ sơ vào trường nhiều hơn chỉ tiêu cần tuyển nhưng chủ yếu tập trung ở bậc CĐ. Ở bậc ĐH, một số ngành sẽ phải đóng cửa do có quá ít thí sinh. Trong đó có các ngành sư phạm bậc ĐH như lý, hóa, địa lý, lịch sử… và ngành chăn nuôi. “Những năm trước các ngành sư phạm đã ít nhưng cũng còn đủ số lượng mở lớp, chỉ khó khăn ở các ngành sư phạm kỹ thuật. Năm nay các ngành sư phạm cơ bản cũng phải đóng cửa,” ông Quảng cho hay.   Không chỉ các ĐH vùng, ĐH địa phương, ngay cả các trường tại TP.HCM cũng nằm trong tình cảnh này. PGS-TS Huỳnh Thanh Hùng – Phó hiệu trưởng ĐH Nông lâm TP.HCM – cho biết một số ngành thuộc nhóm ngành cơ khí, nông nghiệp có thể sẽ đóng cửa trong kỳ tuyển sinh năm nay. Một số ngành cơ khí có ít thí sinh trúng tuyển nên có thể sẽ gộp nhiều ngành lại đào tạo chung chứ không đủ số lượng để mở ngành đào tạo riêng.    Chính sách bất hợp lý?  Từ năm 1998-2009 có 312 trường ĐH, CĐ được thành lập mới. Tỉ lệ sinh viên/1 vạn dân năm 1997 là 80 và tỉ lệ này đã tăng hơn gấp đôi vào năm 2009 (195 sinh viên/1 vạn dân).   Theo TS Vũ Thị Phương Anh – Phó giám đốc Trung tâm bồi dưỡng và hỗ trợ chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập:  “Năm nào cũng có trường ĐH-CĐ mới thành lập, chỉ tiêu tuyển sinh các trường tăng đều mỗi năm. Chỗ học tăng lên trong khi lượng thí sinh tăng không đáng kể, Bộ lại giữ nguyên điểm sàn trong nhiều năm nay nên dĩ nhiên nhiều trường sẽ không thể tuyển đủ chỉ tiêu. Nhiều người lo ngại điểm sàn thấp chất lượng đào tạo sẽ như thế nào. Tuy nhiên điểm sàn mới chỉ là chất lượng đầu vào, còn cả quá trình bồi dưỡng, đào tạo ở các trường nữa. Lẽ ra nên kiểm soát đầu ra thì Bộ lại khoán trắng cho các trường và nắm chặt đầu vào.”  Trưởng phòng đào tạo một trường ĐH tại ĐBSCL cho rằng việc một số ngành không tuyển sinh được, trong đó có ngành sư phạm, bắt nguồn từ nhu cầu nhân lực của xã hội đã bão hòa nên thí sinh không lựa chọn. Thêm vào đó, một số ngành tuy có nhu cầu nhân lực nhưng mặt bằng điểm thi của thí sinh khá thấp, không thể vào được. Kinh nghiệm tuyển sinh nhiều năm cho thấy dù xét NV2, NV3 vẫn không thể tuyển được vì nguồn tuyển đã hết. Thí sinh điểm cao khu vực khác lại không chịu về học ở các trường ĐH địa phương.  Trong khi đó, PGS-TS Nguyễn Thiện Tống – Phó hiệu trưởng ĐH Cửu Long – cho rằng việc quy hoạch và xây dựng chiến lược phát triển ĐH chưa hợp lý. Chúng ta thiếu các trường ĐH cộng đồng tốp dưới đáp ứng cho đại đa số người có nhu cầu học tập và làm việc tại các địa phương, trong khi lại phát triển quá nhanh trường ĐH tốp giữa. Cái cần chúng ta lại chưa phát triển trong khi việc ĐH hóa các trường CĐ như hiện nay khiến mạng lưới bị thừa và lẫn lộn. Cách tuyển sinh hiện nay mới chỉ nhắm vào khúc giữa, chưa phù hợp với các trường tốp dưới. Điểm sàn cần phù hợp với mặt bằng chung giáo dục của vùng miền và đặc thù đào tạo đáp ứng nhu cầu của người học và nhân lực của địa phương. Cần xác định rõ loại hình trường để có hình thức tuyển sinh hoặc điểm sàn phù hợp.          Luật sư Lưu Văn Tám, đoàn Luật sư Bà Rịa – Vũng Tàu cho rằng, tuyển sinh không phải như một hợp đồng dân sự, nên giải quyết tranh chấp ở lĩnh vực này không đơn giản.               Trong khi đó, luật sư Phan Thiên Vượng, Chủ nhiệm đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai nói trường ĐH không thể phủi trách nhiệm với thí sinh. Trường mở ngành đào tạo, rồi tuyển sinh nhưng không dạy thì phải bồi thường ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, nhà trường tạo niềm tin thì thí sinh mới dự thi, không được đi học nghĩa là thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần. Người trúng tuyển vẫn có thể kiện trường đại học để đòi bồi thường nếu thấy việc chuyển ngành không đúng với nguyện vọng, làm mình bị thiệt hại.              GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng GD-ĐT, cho rằng, ai ký quyết định mở ngành học thì mới được phép đóng (ngành học đó), trường tự đóng mà không xin ý kiến của người cấp quyền là sai. “Cần nhất là việc tổ chức quản lý Nhà nước về giáo dục chặt chẽ và quyết liệt. Đào tạo phải nhắm vào thị trường lao động đang cần gì, không thể có chuyện mở ngành này không được lại bắt người ta học ngành khác.”                                                                                                     Theo Sài Gòn Tiếp Thị                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Harvard rớt khỏi vị trí đại học tốt nhất thế giới      Đại học Harvard lần đầu tiên rớt khỏi vị trí đầu bảng trong danh sách các trường đại học chất lượng nhất thế giới năm học 2011-2012, sau khi bị Viện Công nghệ California (Caltech – bang California, Mỹ) qua mặt.    Bảng xếp hạng này do tạp chí Times Higher Education (Anh) thực hiện từ năm 2004 đến nay, với số liệu do tập đoàn truyền thông Thomson Reuters cung cấp. Suốt bảy năm qua, trường Harvard liên tục dẫn đầu danh sách này. Biên tập viên của bảng xếp hạng, ông Phil Baty, cho biết chính nhờ tiền đầu tư cho nghiên cứu tăng 16% của Caltech đã giúp trường này qua mặt Harvard.   Caltech toạ lạc tại thành phố Pasedena, khuôn viên học viện khá nhỏ. Hàng năm, Caltech có khoảng 2.000 sinh viên tốt nghiệp, khoảng 500 nhân viên, trong đó gồm 300 giảng viên, so với trường Oxford (vị trí thứ 4) có 21.000 sinh viên. Trường Caltech được thành lập từ năm 1891. Đến nay, đã có 30 cựu sinh viên trường này đoạt các giải thưởng Nobel. Ở bảng xếp hạng năm ngoái, Caltech đứng vị trí thứ 2.   Trong bảng xếp hạng năm nay, các trường đại học Mỹ và Anh vẫn thống trị. Mỹ có 75 trường đại học lọt vào Top 200, 7 trường trong top 10. Nước Anh có 32 trường đại học trong Top 200. Tuy nhiên, Anh đang trải qua thời kì cải cách lớn từ năm ngoái, khi học phí tăng, chi tiêu phải cắt giảm, việc cấp thị thực cho sinh viên quốc tế bị hạn chế. Do vậy, thứ hạng của các trường đại học Anh trong năm sau chắc chắn sẽ có thay đổi lớn.  Đại diện từ châu Á đạt hạng cao nhất trong bảng xếp hạng năm nay là  Đại học Tokyo (Nhật Bản) ở hạng 30. Nhật Bản cũng là nước có nhiều trường đại học trong Top 200 nhất: 5 trường.   Tạp chí Times Higher Education nhận định các trường đại học Nhật Bản duy trì vị trí khá vững chắc trong bảng xếp hạng, nhưng họ cần phải cải tiến nhiều hơn để thích nghi với vấn đề toàn cầu hóa của giáo dục đại học. Hồng Công có bốn trường và Trung Quốc có ba trường lọt vào top 200. Israel là quốc gia duy nhất của khu vực Trung Đông có tên trong danh sách này, với Đại học Hebrew ở Jerusalem (vị trí 121) và đại học Tel Aviv (hạng 166).  Bảng xếp hạng được thực hiện dựa trên cuộc điều tra về các trường đại học trên khắp năm châu, bao gồm thu nhập của trường, chất lượng giảng dạy, tỉ lệ giảng viên/sinh viên, tỉ lệ được trích dẫn ý kiến và triển vọng nghiên cứu và quốc tế. Top 10 trường đại học hàng đầu trong năm học 2011-2012 lần lượt là viện Công nghệ California (Mỹ), Harvard (Mỹ), Stanford (Mỹ), Oxford (Anh), Princeton (Mỹ), Cambridge (Anh), MIT (Mỹ), Imperial College (Anh), Chicago (Mỹ), UC Berkeley (Mỹ).                                                   Theo Business Week, Mainichi, Times Higher Education    Author                Quản trị        
__label__tiasang Harvard trong thế kỷ XXI *      H&#244;m nay ch&#250;ng ta trao bằng tốt nghiệp cho c&#225;c em sinh vi&#234;n, những người thuộc về một thế hệ m&#224;, theo tờ New York Times, phải đối diện với t&#236;nh trạng c&#244;ng ăn việc l&#224;m kh&#243; khăn nhất trong nhiều thập kỷ qua, khi c&#225;c lĩnh vực hiện vẫn đang x&#225;o trộn với những đ&#242;i hỏi thay đổi về quy định h&#224;nh ch&#237;nh, đền b&#249;, tr&#225;ch nhiệm trước x&#227; hội&#8230;    Quan điểm CỦA Harvard Về trường ĐH nghiên cứu trong thế kỷ 21?  Trong tình hình hiện nay, khi kiến thức và những người nắm giữ kiến thức đóng vai trò chủ chốt trong giải quyết các thách thức mà chúng ta đang phải đối mặt, các trường đại học đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tổng thống Obama đã tuyên bố rằng: Nước Mỹ phải hỗ trợ “các trường cao đẳng và đại học theo kịp đòi hỏi của một thời đại mới”, phải “khôi phục khoa học về đúng vị trí của nó”, và phải dẫn đầu thế giới trong công việc nghiên cứu và phát kiến. Bộ trưởng Năng lượng Steven Chu đã củng cố thêm cho thông điệp này bằng việc xác nhận rằng, sự thịnh vượng của quốc gia trong những năm tới lệ thuộc vào “khả năng nuôi trồng tài nguyên trí tuệ”.  Nhưng xác nhận lại tầm quan trọng của các trường đại học là chưa đủ, chúng ta bắt đầu thấy rằng phải thay đổi cách làm việc. Tại các viện nghiên cứu hàng đầu ở Harvard, chúng ta đối diện với những hoàn cảnh mới, đòi hỏi phải thay đổi chiến lược, phải quyết định cái gì có thể và bắt buộc phải loại bỏ. Nhưng tất cả những việc này mới chỉ là sự bắt đầu của một tiến trình lâu dài. Đã tới lúc không nên nghĩ mình là một phần tử bất lực trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chúng ta không chỉ đóng vai trò quản lý và phục vụ cho một Harvard có bề dày truyền thống đáng tự hào, mà còn phải xác định và tạo dựng các mục tiêu của một trường đại học trong thời đại mới.        Cuộc khủng hoảng tài chính đơn thuần chỉ làm sáng rõ những vấn đề tiềm ẩn về tương lai nghiên cứu khoa học của nước Mỹ cũng như sự hỗ trợ cho khoa học tại các trường đại học – một địa chỉ thiết yếu phục vụ nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của nước Mỹ.         Nhà sử học danh tiếng nghiên cứu về thời Trung Cổ đã từng nhận xét rằng “thay đổi là điều khiến chúng ta phải tự hỏi ta là ai”. Cái gì là phù du? Cái gì là nền tảng? Cái gì chỉ là thói quen? Chúng ta phải đặt ra những câu hỏi này, phải giành lấy thời khắc thay đổi với những cơ hội nó mang lại để trở thành người kiến tạo, thay vì là nạn nhân của nó. Chúng ta phải tự hỏi rằng mình muốn trở thành như thế nào khi cơn suy thoái và khủng hoảng qua đi – khi thế giới đi tới một trạng thái mà ta gọi là sự bình thường mới. Chúng ta dự kiến như thế nào về bản thân mình và các mục tiêu hướng tới?  Những câu hỏi này đặt ra yêu cầu cho mọi thành viên trong trường phải quyết định và lựa chọn. Mỗi lựa chọn đều sẽ có ảnh hưởng và vai trò của nó, nhưng tôi muốn các bạn chú ý tới ảnh hưởng toàn cục. Những lựa chọn này, một cách tổng thể sẽ trả lời cho câu hỏi: Harvard có quan điểm ra sao về một trường đại học nghiên cứu trong thế kỷ 21?   Tôi muốn tập trung vào 3 khía cạnh cơ bản dưới đây.  Duy trì chi phí giáo dục nâng cao ở mức chấp nhận được là điều rất quan trọng đối với nước Mỹ, cũng như đối với Harvard, nhằm cung cấp các cơ hội công bằng để có thể thu hút được các tài năng.  Chúng ta đã hành động quyết đoán vì những mục tiêu này. Trong 5 năm qua, chúng ta đã tạo dựng những chương trình học bổng được cải cách cơ bản nhằm hỗ trợ cho sinh viên cấp đại học, đảm bảo chắc chắn rằng mọi sinh viên có năng lực ở mọi hoàn cảnh tài chính đều có thể mơ ước học tại Harvard. Và trong thập kỷ vừa rồi, chúng ta cũng đã tăng gấp 3 học bổng cho nghiên cứu sinh và sinh viên các trường chuyên sâu. Hỗ trợ cho các sinh viên tài năng là một phần cơ bản làm thành bản sắc của chúng ta, vì chúng ta tin rằng những ý tưởng khôn ngoan nhất không phải là đặc quyền của một nhóm xã hội, một sắc tộc, một giới tính, hay một quốc tịch riêng biệt.   Cùng với cam kết đưa được những tiềm năng tốt nhất tới ghế giảng đường, chúng ta phải tiếp tục đầu tư cho một đội ngũ giảng dạy hàng đầu để có thể dẫn dắt họ, cũng như theo đuổi các công việc nghiên cứu. Ngay cả khi các nguồn lực eo hẹp, chúng ta phải tiếp tục duy trì và xây dựng đội ngũ giảng dạy cho tương lai.                 Quyền tự do trong học thuật đi kèm bổn phận nói ra sự thật, ngay cả khi điều ấy khó khăn hay ngược với quan điểm số đông. Cái đích hướng tới tận cùng là chân lý dưới hình thức tri thức khoa học thuần túy, không chịu sự tác động từ các hệ tư tưởng hay quyền lợi chính trị.               ————————————   Chúng ta cũng phải tạo ra những cách thức mới để duy trì chúng khi thời cuộc thay đổi. Chúng ta chịu trách nhiệm đối với những truyền thống này cùng các giá trị mà chúng hàm chứa, duy trì niềm tin rằng sự tự do theo đuổi chân lý sẽ tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.         Trường đại học có vai trò của một địa chỉ thiết yếu phục vụ nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của nước Mỹ. Trong những năm gần đây, lượng đầu tư hữu hạn cho hoạt động này từ khối doanh nghiệp tư nhân đang suy giảm, tiêu biểu nhất là ví dụ về sự thu hẹp của Phòng nghiên cứu Bell, nơi trước đây từng cho ra lò những nghiên cứu cơ bản quan trọng.   Hỗ trợ của Chính phủ cũng ở trong tình trạng tương tự. Ba thập kỷ vừa qua, kinh phí của Liên bang dành cho nghiên cứu và phát triển, nếu tính theo tỉ lệ với GDP, thực tế đã giảm 15%. Gói hỗ trợ kinh tế của Chính phủ phần nào giúp giảm nhẹ sức ép này: Với 21 tỷ USD được sử dụng trong 2 năm qua, đồng thời Chính phủ đặt ra mục tiêu dành hơn 3% GDP cho nghiên cứu và phát triển ngay cả khi gói hỗ trợ kinh tế chấm dứt. Nhưng thâm hụt ngân sách nặng nề kết hợp với sự suy giảm nguồn lực của các trường đại học sẽ tạo ra những trở ngại thực sự trước tham vọng này. Thậm chí từ trước khi nền kinh tế suy thoái, mô hình hỗ trợ cho khoa học cần phải được xem lại. Theo một bản báo cáo từ Viện Hàn lâm Quốc gia trong năm 2007, nước Mỹ phải đối diện với một “cơn bão đang hình thành”, khi mà quá ít sinh viên chọn ngành học là khoa học; quá ít người có được sự hỗ trợ cần thiết để bắt đầu và duy trì sự nghiệp; quá nhiều người chọn những nghiên cứu an toàn, với kết quả dễ đoán trước, nhằm có được kinh phí; quá ít người có thể tự do đi theo trí tò mò nhằm theo đuổi những tư tưởng thật sự có tính cách mạng. Cuộc khủng hoảng tài chính đơn thuần chỉ làm sáng rõ những vấn đề tiềm ẩn về tương lai nghiên cứu khoa học của nước Mỹ cũng như sự hỗ trợ cho khoa học tại các trường đại học nghiên cứu của chúng ta.    Gói kinh phí kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn không thể làm chúng ta sao lãng tìm kiếm những giải pháp lâu dài. Tại Harvard, chúng ta đã nghĩ tới những mối liên kết mới với các tổ chức và doanh nghiệp, cũng như với các tổ chức giáo dục lân cận. Chúng ta đã thấy những mối hợp tác mới tại Harvard, với các bệnh viện, với Viện Broad, với trường MIT, và các trường đại học khác có vai trò quan trọng như thế nào cho các nghiên cứu hiện nay và sắp tới về tế bào gốc, khoa học thần kinh, gene, và công nghệ sinh học. Sự liên kết này sẽ mang lại nhiều hứa hẹn để chi phí học hành tại Harvard đủ rẻ cho mọi người. Muốn duy trì sự ưu việt trong nghiên cứu khoa học, chúng ta phải tạo ra những cách thức mới trong tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu.   Các trường đại học có vai trò như người phản biện và lương tâm của xã hội. Chúng ta vốn phải là nơi sinh ra không chỉ kiến thức, mà cả sự nghi ngờ- bởi sự hiểu biết vốn có gốc rễ từ nghi vấn, từ việc liên tục đặt ra câu hỏi, chứ không phải hùa theo một cách thụ động những gì đã được công nhận. Có lẽ, hơn bất cứ tổ chức nào trong xã hội, các trường đại học hướng tới tầm nhìn xa và được quyền sinh ra những quan điểm phê phán vì người ta không bị bắt phải lệ thuộc tuyệt đối vào hiện tại.  Các trường đại học vẫn thường được đánh giá dựa trên những đóng góp đo đếm được như đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh. Nhưng những đóng góp như vậy chỉ là một phần trọng trách của một trường đại học. Chúng ta cần đến những mục tiêu lâu dài hơn, ít thực dụng hơn.   Tôi e rằng các trường đại học chúng ta còn chưa làm hết những gì có thể làm, chưa đặt ra những câu hỏi sâu xa, chưa dám đặt những nghi vấn ngay tại nền tảng – vốn là điều cần thiết cho tính chính trực của mọi xã hội. Khi mà thế giới chìm trong những bong bóng tan vỡ của sự thịnh vượng vật chất giả tạo, liệu chúng ta có nên làm rõ bản chất rủi ro và tự huyễn hoặc cố hữu trong các lựa chọn kinh tế và tài chính, bằng hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, và bình luận của mình? Liệu chúng ta có nên phản biện mạnh mẽ hơn trước những sự thừa thãi, vô trách nhiệm, những tư duy ngắn hạn kéo theo hậu quả dài hạn?  Quyền tự do trong học thuật đi kèm bổn phận nói ra sự thật, ngay cả khi điều ấy khó khăn hay ngược với quan điểm số đông. Cái đích hướng tới tận cùng là chân lý dưới hình thức tri thức khoa học thuần túy, không chịu sự tác động từ các hệ tư tưởng hay quyền lợi chính trị. Chân lý có thể đến theo cách nhìn của các nhà nghiên cứu nhân văn, dạy chúng ta cách đọc và nghĩ một cách nghiêm túc, chặt chẽ, và khách quan; cho chúng ta được biết cách nhìn nhận của những nơi chốn khác, quan điểm khác, và thời đại khác. Chân lý cũng có thể đến qua tác động mới mẻ độc đáo của nghệ thuật – giúp chúng ta hiểu mình hơn, hiểu thế giới hơn qua tai và mắt. Chân lý cũng đến khi ta đặt ra những câu hỏi về đạo đức và trách nhiệm cốt lõi của các trường chuyên sâu. Sự tăng cường vai trò của chúng ta trong phản biện và nghi vấn gắn với việc giáo dục cấp đại học phải nỗ lực “tháo gỡ các định kiến, xa lạ hoá những gì đã quen thuộc…, để làm mất phương hướng của những người trẻ tuổi và giúp đỡ họ tự mình tìm thấy phương hướng riêng”.   Các trường đại học là động cơ thúc đẩy cơ hội; các trường đại học là địa chỉ cơ bản cho nghiên cứu khoa học của nước Mỹ; các trường đại học là nơi phát ra tiếng nói sự thật: Đây là ba khía cạnh căn bản để chúng ta tự nhìn nhận mình. Nhưng mỗi khía cạnh đều đứng trước các thử thách của thời kỳ mới – thử thách về cấu trúc, về tính khả thi, về quan niệm giá trị. Và chúng ta cũng đứng trước thách thức làm sao thể hiện cam kết của mình trước những quy củ này, vốn từ lâu làm thành cốt lõi của bản sắc đã được xác lập. Chúng ta không được phép quên những quy củ này, không bỏ rơi chúng khi đưa ra rất nhiều lựa chọn trong các tháng sắp tới về cái gì nên giữ lại, cái gì phải từ bỏ. Nhưng chúng ta cũng phải tạo ra những cách thức mới để duy trì chúng khi thời cuộc thay đổi. Chúng ta chịu trách nhiệm đối với những truyền thống này cùng các giá trị mà chúng hàm chứa, duy trì niềm tin rằng sự tự do theo đuổi chân lý sẽ tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Đây là điều truyền cảm hứng cho tất cả những việc chúng ta làm, cũng như mỗi khi chúng ta tự nghi vấn mình – trong hiện tại và những năm tháng tới.  PHẠM TRẦN LÊ lược dịch   —————————–  * Lược thuật bài phát biểu của bà Hiệu trưởng Drew Faust  trong lễ tốt nghiệp thứ 358 của Đại học Harvard (04/06/09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt nhân “khai minh” trong các triết thuyết giáo dục      Các… “ism” (“chủ thuyết”)  Ngày nay, nghe đến từ “chủ thuyết”, “chủ nghĩa”, nhiều người nhíu mày e ngại. Không phải không có lý do:      –     Không có chủ thuyết nào tinh ròng, trái lại, luôn là… số nhiều, ngay trong lòng một chủ thuyết lớn;  –     Trong lĩnh vực xã hội, nhân văn, nhất là chính trị, không khỏi gợi lên tính ý hệ, giáo điều, thiển cận;  –     Chủ thuyết nào cũng là một sự trừu tượng hóa cao độ, nhiều khi cách rất xa những vấn đề khiến ta đang bức xúc. Các chủ thuyết có thể dẫn đến những “vấn đề giả” không mấy ai quan tâm.  Dầu vậy, cũng có đủ lý do cho sự cần thiết phải tìm hiểu và tiếp cận các chủ thuyết:  –     Chúng có thật, vì thế, cần được tôn trọng và tìm hiểu, trao đổi nghiêm chỉnh, thỏa đáng;  –     Là những trào lưu tư tưởng, những thế giới quan, nhân sinh quan đa dạng, phức tạp, phong phú, cần có sự phân định để tránh lẫn lộn, vì yêu cầu học thuật và truyền thông.  –     Sự tương phản (nếu có) giữa các chủ thuyết làm nổi bật vấn đề, buộc ta phải lưu ý và chọn thái độ (chẳng hạn giữa: lạc quan-bi quan, tuyệt đối-tương đối, hiện đại-hậu hiện đại, tự do-cộng đồng, bảo thủ-cấp tiến, chủ chiến-chủ hòa v.v..). Nhiều sự tương phản, qua thời gian, dịu lại, và, qua đối thoại, tìm được sự tổng hợp mới, kích thích hoạt động tinh thần của con người.  –     Quan trọng hơn, chính sự đa dạng của các chủ thuyết là cơ hội lý tưởng cho việc giáo dục tinh thần dân chủ, tương kính trong xã hội hiện đại. Đa viễn tượng chưa hẳn là chiếc đũa thần cho sự trưởng thành, nhưng là một chiếc cầu không thể thiếu để vượt bỏ óc nệ cổ và mê tín.     –     Chủ thuyết nào cũng là một công cụ để nhìn, suy nghĩ và phán đoán. Ngoài tính công cụ (có thể nhất thời), chủ thuyết nào cũng ít nhiều mang theo những “hạt nhân chân lý”, những châu ngọc đích thực của nền văn minh nhân loại.  Tóm lại, câu chuyên giáo dục xin chọn cách kể lại một cách giản dị câu chuyện của những triết thuyết, như một sự gợi mở và mời gọi suy tư.  Mười triết thuyết giáo dục tiêu biểu  Mọi lựa chọn đều đau đớn! Do khuôn khổ có hạn của Câu chuyện, xin không đề cập các triết thuyết giáo dục quan trọng nhưng đã ít nhiều quen thuộc với chúng ta, chẳng hạn các triết thuyết giáo dục thuộc truyền thống tam giáo Đông phương (Nho, Phật, Lão) và triết thuyết giáo dục mác-xít. Câu chuyện dành chỗ cho các triết thuyết giáo dục có nguồn gốc Tây phương, nhưng đã và đang còn gây ảnh hưởng sâu đậm không chỉ ở Tây phương. Tuy nhiên, ngay ở đây, cũng chỉ có thể chọn giới thiệu mười triết thuyết tiêu biểu nhất, như khi buộc phải chọn mười đóa hoa trong một vườn hoa.            Các triết thuyết giáo dục      quan hệ gần hay ít nhiều tương đồng với…          Thuyết duy tâm      Thuyết duy nhiên, Khai minh, Thuyết duy   tâm Đức, Thuyết hiện sinh          Thuyết duy thực      Khai minh, Thuyết thực dụng, Triết học   phân tích, Thuyết hậu-hiện đại          Thuyết duy nhiên      Thuyết duy tâm, Khai minh, Duy Tâm Đức,   Thuyết hiện sinh          Khai minh      Duy tâm, Duy thực, Duy nhiên, Duy tâm Đức,   Thực dụng, Hiện Sinh, Triết học phân tích, Triết học hoài nghi, Thuyết hậu-hiện   đại          Thuyết duy tâm Đức       Duy tâm, Duy Nhiên, Khai minh, Thuyết hậu-hiện   đại                        Thuyết thực dụng      Duy thực, Khai minh, Hiện sinh, Triết học   phân tích, triết học hoài nghi, Hậu-hiện Đại          Thuyết hiện sinh      Duy tâm, Duy nhiên, Khai minh, Thực Dụng,   Hoài nghi Hậu-hiện đại          Triết học phân tích      Duy thực, Khai Minh,Thực dụng, Triết học   hoài nghi          Triết học hoài nghi      Khai minh, Thực Dụng, Hiện sinh, Hậu-hiện   đại          Thuyết hậu-Hiệnđại      Duy thực, Khai Minh, Duy tâm Đức, Hiện   sinh, Triết học hoài nghi            Ta thấy yếu tố, hay đúng hơn, chủ trương “khai minh” có mặt trong cả chín triết thuyết còn lại, điều này không phải ngẫu nhiên. Trong ý nghĩa cơ bản, triết học là khai minh. Vì thế, Khai minh không chỉ là danh hiệu riêng của một thời đại (thế kỷ 17-18 ở Châu Âu), mà còn được hiểu theo nghĩa rộng như là tâm thế, ý hướng và hành động của con người. Ngày nay, người ta dễ dàng đồng ý xem Khai minh là mục tiêu và lý tưởng giáo dục (đào tạo trẻ em thành con người tự do, tự trị, làm chủ đầu óc của chính mình), nhưng không dễ đồng ý với nhau về phương pháp và phương tiện để đạt được mục tiêu và lý tưởng ấy. Ưu và khuyết điểm của triết thuyết giáo dục khai minh, do đó, cũng sẽ ảnh hưởng đến số phận của các triết thuyết còn lại.  Viễn tượng, ẩn dụ, nhân vật và lý tưởng xã hội  Mỗi triết thuyết giáo dục là một cách nhìn và một tầm nhìn về giáo dục, tạm gọi là một “viễn tượng” (perspective). Được định hình và gây ảnh hưởng, mỗi triết thuyết là công sức của nhiều thế hệ tiếp nối, nhưng lịch sử không quên tên tuổi của những người khởi xướng hoặc có ảnh hưởng nhiều nhất. Nhắc đến họ (“nhân vật”), ta dễ liên tưởng đến cả một triết thuyết. “Ẩn dụ” là hình ảnh tượng trưng, tiêu biểu, thường gắn liền với mỗi triết thuyết, nói lên tinh thần, phương pháp và mục tiêu giáo dục. Sau cùng, “lý tưởng xã hội” (hay, có khi, “không tưởng xã hội”) là ước mơ và lý tưởng phấn đấu mà một triết thuyết tự đặt ra cho mình như một sứ mệnh để xây dựng và cải tạo xã hội. Bảng sau đây tóm lược những điều ấy:                Viễn tượng      Nhân vật      Ẩn dụ      Lý tưởng xã hội          Duy tâm      Platon       Ánh sáng      Nhà Nước  giáo Dục          Duy thực      Aristoteles      Trung đạo      Cộng đồng   trí Tuệ          Duy nhiên      Rousseau       Hạt mầm      Cộng đồng   dân chủ   cơ sở          Khai minh      Kant       Tiến bộ      Cộng đồng  công dân thế giới          Duy tâm Đức      Hegel, Schelling, Hölderlin       Cái toàn thể      Hòa giải các mặt đối lập          Thực dụng      Dewey       Công cụ      Dân chủ          Hiện sinh      Jaspers, Heidegger,  Arendt       Bị vứt bỏ      Tự do cá nhân          Triết học phân tích      Peters, Scheffler      Phân tích khái niệm                 Triết học hoài nghi      Socrates       Hộ sinh      Xã hội đạo lý          Hậu-hiện đại      Lyotard      Quần đảo      Sống chung của (những) cái không thể hòa   giải            Trọng tâm  Khuôn khổ câu chuyện sẽ đi vào các trọng tâm sau:  –     Duy tâm: giá nào cho việc theo đuổi những lý tưởng cao đẹp?  –     Duy thực: làm sao có được đời sống thiện hảo và đa diện?  –     Duy nhiên: tính tự nhiên và tính chân thực trong định chế giáo dục hiện đại, ranh giới và nguy cơ?  –     Khai minh: vấn đề tự trị trong dạy và học?  –     Duy tâm Đức: giáo dục không chỉ về hạnh phúc mà cả về bất hạnh và bi kịch?  –     Thực dụng: những… “chân lý vô dụng” có cần thiết không?  –     Hiện sinh: những hoàn cảnh giới hạn và trải nghiệm về “ý nghĩa” lẫn sự “vô nghĩa” trong giáo duc?  –     Triết học phân tích: câu hỏi “để làm gì?’ và “phải làm gì?’ phải chăng là không quan trọng?  –     Triết học hoài nghi: ý nghĩa của việc “không biết” trong giáo dục hiện đại?  –     Hậu-hiện đại: phải chăng chỉ đề cao sự tùy tiện và mất phương hướng?  Cuộc hành trình sẽ khá dài. Xin thưa trước: các triết thuyết giáo dục không hứa hẹn mang lại câu trả lời cho những vấn đề cụ thể. Chúng làm việc khác: cung cấp những viễn tượng, khái niệm và cách lý giải cho phép suy nghĩ và suy nghĩ lại về việc định hướng giáo dục.   —    (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 3, 03.10.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hậu Covid-19: Nghĩ lại về vai trò của trường học      Đại dịch Covid-19 diễn ra vào thời điểm chúng ta cũng đồng thời chứng kiến toàn cầu hóa trên mọi mặt, cả kinh tế, văn hóa và bệnh tật; và quá trình chuyển đổi sang thời đại kỹ thuật số – đã được các sử gia về lược sử loài người nhận định là sẽ làm thay đổi căn bản xã hội loài người. Nhưng dù bước vào thời đại nào, chúng ta cũng phải trao truyền tri thức khoa học, tư duy phản biện, lòng trắc ẩn, thấu hiểu các quan điểm đa dạng khác nhau giúp các thế hệ sau đối diện với những thay đổi mới. Nhân loại có đầy đủ các tri thức khoa học và công nghệ để ứng phó với Covid-19 nhưng nhìn dài hạn hơn, chúng ta phải chuẩn bị cho các khủng hoảng khác tương tự bằng cách thức giáo dục mới, bằng các nền tảng kiến thức khoa học xã hội. Do vậy trong cụm bài này chúng tôi đề cập tới vấn đề đại dịch sẽ trao cho ta những câu hỏi gì về vai trò của trường học (GS Roger-François Gauthier), KHXH và giáo dục sẽ phải trang bị cho học sinh những gì (GS Keith C. Barton, PGS Li-Chig Ho). Cùng với đó là những điều cần lưu ý khi chuyển đổi từ dạy học truyền thống sang dạy học trực tuyến (TS. Nguyễn Tấn Đại).       GS Roger-François Gauthier,  Đại học Paris-Descartes.   Chỉ trong một thời gian ngắn, đại dịch Covid-19 đã làm biến đổi sâu sắc bức tranh giáo dục trên toàn thế giới. Các nhà giáo dục giờ đây đang phải đối diện với những câu hỏi đầy thách thức: Nhà trường đang dạy những gì? Học sinh sẽ học được điều gì? Và rộng hơn nữa, bản chất của Giáo dục là gì?   Những câu hỏi ấy vẫn luôn ở đấy, nhưng chỉ khi lớp học biến mất, chỉ còn lại người giáo viên với học sinh – cách nhau bởi màn hình máy tính, chúng mới có dịp hiện lên rõ ràng.   1. Nhà trường có phải là nơi nắm giữ chân lý?   Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và văn hóa, giáo dục ở các nước trên thế giới cũng có những hình thái khác nhau, nhưng nhìn chung, ở hầu hết các nước, việc tiếp thu kiến thức ở trường được xem là một con đường độc đạo, thậm chí gần như là một điều hiển nhiên: người ta chưa từng tham gia tiết học ở một ngôi trường nào khác ngoài ngôi trường họ từng học. Họ cũng chưa từng nảy ra ý tưởng nào về những chủ đề nhà trường nên dạy – ngoài những chủ đề họ vốn được học. Tất cả chúng ta đều như vậy. Tất cả chúng ta, hậu-trẻ-em, đều có nguy cơ bị bó hẹp về kinh nghiệm sống, bị giới hạn trong trải nghiệm cá nhân và những kiến thức được học dưới mái trường địa phương.     Thoạt nghe, có vẻ như các hệ thống giáo dục đã quên rằng, trong suốt lịch sử loài người, không phải lúc nào nhà trường cũng truyền đạt điều hay lẽ phải. Nhưng dù là thời nào, tất cả đều giống nhau, đều có hai điểm cần lưu ý: thứ nhất, vẫn còn tồn tại một quy tắc ngầm, đó là học sinh không được phép nghi ngờ những gì mình được dạy, nói cách khác, thầy cô là người ‘nắm giữ’ chân lý. Và thứ hai, đừng quên trong một số giai đoạn, trường học vẫn có thể dạy những điều sai trái theo một hệ tư tưởng lệch lạc, chẳng hạn như trường hợp Đức Quốc xã dưới chế độ độc tài của Hitler, hay chính sách phân biệt chủng tộc Apartheid ở Nam Phi, và những trường hợp như vậy ngày nay vẫn tồn tại ở những nơi theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thù hằn dân tộc hoặc phân biệt chủng tộc. Những vấn đề nhà trường dạy chúng ta chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ là lẽ dĩ nhiên.    Hầu hết các hệ thống giáo dục thường quên điều này, vì họ mải tập trung vào việc đánh giá và xếp hạng học sinh. Hãy nhớ rằng chúng ta không chỉ đánh giá và xếp hạng học sinh về cách học và tiếp thu kiến thức có giá trị, mà còn theo dõi những lỗ hổng kiến thức hoặc sai lầm trong nhận thức, hành vi! Nhiều hệ thống giáo dục trên thế giới đang sử dụng sai phương pháp để kiểm tra và đánh giá học sinh, mà Pháp là một ví dụ điển hình.   Mục đích của việc đến trường không chỉ là chiến thắng các cuộc thi và đạt điểm số cao nhất. Mục đích của việc đến trường là để học hỏi. Hãy truyền đạt cho học sinh những điều mà thầy cô nghĩ là cần thiết để có thể tồn tại trong một thế giới không ngừng biến đổi – chứ không phải chỉ vì nó đã được dạy suốt hàng chục năm nay. Đây thực sự là một vấn đề cấp thiết và thú vị, nhưng hiếm khi được xem xét kỹ càng.      Đại dịch đã trao cho chúng ta một cơ hội hiếm có để suy ngẫm về câu hỏi: nhà trường nên dạy gì cho học sinh?      2. Đại dịch trao cho chúng ta điều gì?  Điều thú vị là, đại dịch đã khiến một số vấn đề của ngành giáo dục – mà trước đây chúng ta không mấy bận tâm – hiện rõ hơn bao giờ hết. Trong giai đoạn này, học sinh phải làm bài tại nhà, học tập từ xa với sự kèm cặp của cha mẹ. Và do đó, những kiến thức đã từng là kim chỉ nam cho học sinh, giờ đây bắt đầu bước ra ngoài đời sống một cách ‘trần trụi’, không còn bị ‘thần thánh hóa’. Học tập không còn là một bước đệm cho việc đánh giá và xếp hạng, mà nó đã thực sự mang lại ý nghĩa từ bên trong. Hơn nữa, kiến ​​thức ở trường có cơ hội gặp gỡ với kiến ​​thức trong gia đình, kiến ​​thức bản địa và đôi khi là kiến ​​thức từ góc nhìn nghề nghiệp của phụ huynh. Tri thức xuất hiện nhờ quá trình học trực tuyến, nó được giải phóng khỏi quyền năng vô hình của giáo viên và nhà trường.    Trong lịch sử loài người, không phải lúc nào nhà trường chính thống cũng dạy những điều hay lẽ phải. Trong một số giai đoạn, nhà trường đã từng là nơi truyền bá những tư tưởng sai lệch như phân biệt chủng tộc. Ảnh: Năm 1955, học sinh da màu ở Mỹ xếp hàng chờ đợi đăng ký đi học sau sự kiện một phụ huynh da màu kiện các hội đồng giáo dục vì đã phân biệt đối xử (Brown v. Board of Education) và đòi hỏi học sinh cần phải được tiếp cận giáo dục công bằng bất kể chủng tộc nào. Kể từ đây học sinh da đen mới được đi học cùng trường với học sinh da trắng. Nguồn: Gordon Tenney / Smithsonian National Museum of African American History and Culture.   Hơn nữa, sự vắng mặt của các bạn cùng lớp khiến các em cảm nhận được tầm quan trọng của bạn bè trên con đường học tập và tích lũy kiến ​​thức. Xa hơn, đại dịch xuất hiện và mang đến cho học sinh cơ hội suy ngẫm về vai trò của khoa học, về ý nghĩa của sự thật, và sự hoa mỹ của những lời nói dối. Vì vậy, một cách ngắn gọn, có thể nói, đại dịch đã trao cho chúng ta một cơ hội hiếm có để suy ngẫm về câu hỏi: nhà trường nên dạy gì cho học sinh? Và đó cũng là một trong những câu hỏi quan trọng mà xã hội nào cũng cần tìm kiếm câu trả lời.  3. Tầm quan trọng của tri thức  Thế giới của chúng ta, hơn bao giờ hết, ngập tràn các tin tức giả mạo và thuyết âm mưu. Lúc này nhà trường nên giúp học sinh hiểu được tại sao chúng lại có sức hấp dẫn đến vậy, đó sẽ là liều vaccine hiệu quả, giúp các em có kỹ năng ứng phó với các thể loại tin giả và thuyết âm mưu hiện nay.  Nhìn chung, chủ nghĩa tương đối (relativism) cũng là một loại tin giả nguy hiểm, nó có khả năng khiến học sinh thờ ơ với sự thật: ở một số quốc gia, học sinh được quyết định cái gì là sự thật và cái gì thì không, kể cả những tri thức về lịch sử hình thành vũ trụ, cuộc sống, hay loài người.   Các trường học cần có biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh hứng thú hơn với việc khám phá tri thức. Đại dịch, cùng ‘cơn sóng thần’ tin giả, đã chứng minh đây là yếu tố quan trọng hàng đầu.  4. Khi kiến ​​thức trong nhà trường là nền tảng để tiếp thu các dạng kiến thức khác  Như đã nói, đại dịch là cơ hội hiếm có để những kiến thức hàn lâm trong trường học có cơ hội gắn kết với đặc điểm của các thành viên trong gia đình, với những kiến thức phong phú ở thế giới ngoài kia.   Điều này chỉ cho thấy rằng lằn ranh ngăn cách những kiến thức trong trường học – như thể ngăn cách một nơi tôn nghiêm – đã biến mất. Kiến thức nhà trường cần phải là chìa khóa mở ra những dạng kiến ​​thức mới, cần thiết, trong thời đại toàn cầu hóa. Từ đó, cho thấy rằng người giáo viên không nên bỏ qua hoặc coi thường những kiến thức không nằm trong sách giáo khoa. Các loại kiến ​​thức khác, bất kể là trên Internet, trong đời sống học sinh, trong các tôn giáo, quan điểm và ý thức hệ khác nhau đều cần được tôn trọng. Tất nhiên trường học không cần phải dạy mọi thứ, ngược lại, nhà trường nên dạy một cách chọn lọc từ những kiến thức đã có sẵn.       Trong bối cảnh phức tạp này, nhà trường cần phải đặt ra cho học sinh những giới hạn, hướng dẫn học sinh xử lý các loại thông tin mà các em sẽ phải tiếp nhận trong suốt phần đời còn lại. Do đó, một nhiệm vụ mới được đặt ra cho các trường học hiện nay: giúp học sinh sắp xếp lượng kiến thức, bao gồm cả việc lựa chọn các chủ đề mà nhà trường sẽ dạy hoặc chia sẻ cho các em.      Bên cạnh đó, trong bối cảnh phức tạp này, nhà trường cần phải đặt ra cho học sinh những giới hạn, hướng dẫn học sinh xử lý các loại thông tin mà các em sẽ phải tiếp nhận trong suốt phần đời còn lại. Do đó, một nhiệm vụ mới được đặt ra cho các trường học hiện nay: giúp học sinh sắp xếp lượng kiến thức, bao gồm cả việc lựa chọn các chủ đề mà nhà trường sẽ dạy hoặc chia sẻ cho các em.    5. Sự bất bình đẳng trong giáo dục  Trong suốt đại dịch, tình trạng bất bình đẳng lại càng hằn sâu hơn bao giờ hết. Từ xã hội này sang xã hội khác, dù là xã hội nào, cơ hội được đến trường và học hỏi kiến ​​thức có giá trị giữa các em học sinh cũng không hề giống nhau.    Rõ ràng, bất bình đẳng trong chia sẻ tri thức cho các em học sinh là một việc làm không thể chấp nhận được – bất kể hậu thảm họa, cuộc sống trên Trái đất này có khác đi như thế nào đi chăng nữa.  Chia sẻ kiến thức một cách công bằng không chỉ là yêu cầu suông: đó là một câu hỏi về giá trị của sự sẻ chia giữa các nền văn hóa khác nhau. Đại dịch đã nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta cũng chỉ là một giống loài trong vô số những giống loài khác, chúng ta phải khiêm nhường trước thiên nhiên – chứ không phải xem chúng như một loại tài sản để sở hữu. Nhưng trên hết, sự khiêm nhường này cần phải được hòa quyện và chấp nhận trong toàn bộ những nền văn hóa, giữa những cá nhân và các nhóm người khác nhau: chứ không phải là một mô hình áp đặt lên tất cả các dân tộc, mà chúng ta vẫn thường thấy trong nhiều trường hợp xuyên suốt quá khứ và thậm chí là đến tận ngày nay.  6. Cạnh tranh hay hợp tác?  Chúng ta vẫn thường nói, trên khắp thế giới, trường học đang trở thành một nơi nguy hiểm. Đó dường như là một võ đài khốc liệt trong suốt một khoảng thời gian dài: giữa học sinh với học sinh, giữa các trường với nhau, giữa các loại hình trường học (tư thục và công lập), và cuối cùng là giữa các quốc gia, hay thậm chí là giữa các châu lục. Các em học sinh đã phải chịu đựng những áp lực này trong một môi trường học đường tồi tệ, các em rồi sẽ chán nản, mất tự tin, và thậm chí luôn nghĩ rằng mình là một kẻ thất bại trong suốt phần đời về sau.   Đại dịch đã khiến mọi người suy nghĩ về một mô hình cạnh tranh tổng thể, mà ở đó những yếu tố như sự đồng cảm, hợp tác, bảo vệ những người yếu thế, đóng góp cho xã hội và một nền y tế công cộng dành cho tất cả mọi người sẽ là những giá trị trung tâm.   Các trường họ cần phải tự mình thay đổi: họ nên phát huy các giá trị hợp tác và sự đồng cảm trong quá trình dịch bệnh lây lan, và họ nên cân nhắc để giảm thiểu những yếu tố có thể gây căng thẳng cho các em học sinh.     Đại dịch là thời điểm bộc lộ rõ nhất những bất bình đẳng trong giáo dục. Trong thời gian nghỉ học do dịch Covid-19, trong khi học sinh thành phố có thể học tập trực tuyến thì học sinh ở các khu vực miền núi không có phương tiện để học. Trong ảnh là thầy cô giáo ở Hồng Ca, Trấn Yên, Yên Bái treo bài tập vào các ống nhựa để học sinh lấy mà không phải tiếp xúc.   Các trường học cần phải dạy về tính đúng đắn của khái niệm “chọn lọc tự nhiên” của Darwin, rằng quy luật này là chính xác, ngoại trừ việc nó bị các chế độ độc tài lợi dụng – đây là những thứ cần phải bị xã hội loài người loại bỏ ngay từ đầu, mà trường học là nơi thích hợp để thực hiện điều đó.   7. Tri thức là tài sản của nhân loại  Khi đại dịch xảy đến, mọi người dần hiểu được tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các nhà khoa học, không chỉ trong nước mà cả quốc tế, và nhiều người đã bị sốc khi biết rằng loại vaccine sắp tới có thể chỉ được dành riêng cho một số quốc gia cụ thể. Thứ hai, sự hợp tác giữa các ngành khác nhau, từ các lĩnh vực khoa học khác nhau, định lượng cũng như định tính, thực nghiệm cũng như lý thuyết, đều rất cần thiết. Thứ ba, tại nhiều quốc gia, dịch vụ y tế công cộng là yếu tố quan trọng quyết định khả năng ứng phó trước đại dịch.   Vì vậy, có thể nói rằng, trong bối cảnh tư nhân hóa đang thống trị các quốc gia trên thế giới, lợi nhuận được đặt lên hàng đầu, trường học không nên là nơi dạy cho học sinh ích kỷ với những hiểu biết của mình. Ngược lại, trường học phải là nơi đầu tiên dạy cho các em biết rằng, kiến thức là sở hữu chung của loài người, chứ không phải là một thứ tài sản sở hữu, chỉ mang lại lợi nhuận cho số ít.   8. Nếu không có lương tri, sẽ không thể học hỏi bất cứ điều gì giá trị  Nếu hỏi rằng đâu là bài học mà chúng ta có thể rút ra từ đại dịch, thì có thể nói chưa bao giờ khoa học lại được xem là yếu tố quyết định đến sự sống còn của nhân loại như hiện tại: hằng ngày, người dân ở khắp mọi nơi đều mong chờ kết quả của những thí nghiệm khoa học, bước tiến trong quá trình nghiên cứu vaccine, hoặc tò mò về những công trình mới của các nhà dịch tễ học. Chưa bao giờ khoa học được đề cao đến thế. Chưa bao giờ mọi người cảm nhận được sự liên kết của khoa học với quyết định của các chính trị gia rõ ràng đến thế, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc giải đáp các nhu cầu của xã hội, hoặc thúc đẩy lợi nhuận.   Dường như có một khoảng trống giữa những tiến bộ công nghệ với mong muốn của mọi người về sự tự do: chẳng hạn, liệu có thể chấp nhận được việc truy dấu những người nghi ngờ mắc Covid-19 bằng điện thoại thông minh của họ? Chúng ta có nên đặt ra cho học sinh những câu hỏi này trong những tiết dạy về thuật toán và trí tuệ nhân tạo không? Bất kỳ một tiến bộ khoa học hay nền tảng công nghệ nào cũng đặt ra cho chúng ta câu hỏi về ý nghĩa đạo đức của nó đối với xã hội loài người.      Nhà trường mang trong mình sứ mệnh giúp trẻ em thực hành tư duy phê phán khi tiếp xúc với khoa học và công nghệ. Ảnh: Học sinh tìm hiểu về corona ở Đắk Nông. Nguồn: Dân trí.   Còn những chính sách được đưa ra sau khi tham khảo ý kiến các nhà khoa học thì sao? Chẳng lẽ nó không phải là một tấm gương phản chiếu những gì khoa học đang có, và đồng thời đang đại diện cho tiếng nói của người dân hay sao? Trong xã hội hiện đại của chúng ta, nơi khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng, nhà trường cần đặt ra những vấn đề để học sinh có thể suy ngẫm về vai trò của đạo đức trong khoa học, cũng như giúp các em thực hành tư duy phê phán khi tiếp xúc với khoa học công nghê.   Ngày nay, nhà trường mang trong mình một sứ mệnh quan trọng: đặt ra cho học sinh câu hỏi về giá trị đạo đức và ý nghĩa thực sự của tri thức. Nhà trường phải có trách nhiệm trước mỗi học sinh với tư cách là một cá nhân, chịu trách nhiệm trước các cộng đồng khác nhau (bao gồm cả cộng đồng quốc gia), chịu trách nhiệm trước Nhân loại, và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chịu trách nhiệm trước Hành tinh này. □  Anh Thư dịch  ——  *Giáo sư Đại học Paris-Descartes (Pháp)  Nội dung này sẽ được GS Roger-François Gauthier trình bày trong tham luận tại hội thảo Vietnam Education Symposium (VES), ngày 9/6/2020 do AVSE Global và trường Đại học Giáo dục (ĐHQG Hà Nội) đồng tổ chức.    Author                Roger-François Gauthier        
__label__tiasang Hãy chấm dứt sự không trưởng thành!      Tại sao xã hội ngày càng phát triển, cấu trúc sinh học của con người ngày càng hoàn bị, con người lại thiếu trưởng thành?    “Khai minh là việc con người đi ra khỏi sự không trưởng thành do chính mình tự chuốc lấy. Không trưởng thành là sự bất lực, không biết dùng đầu óc của chính mình mà không có sự hướng dẫn của người khác. Còn do tự mình chuốc lấy là khi nguyên nhân của sự không trưởng thành không phải do thiếu đầu óc mà do thiếu kiên quyết và dũng cảm để sử dụng đầu óc, không có sự hướng dẫn của người khác. Sapere aude! (Hãy dám biết!). Hãy có gan sử dụng chính đầu óc của mình! Đó là khẩu hiệu của sự khai minh”.  Câu khởi đầu bất hủ ấy của Immanuel Kant trong luận văn ngắn: “Để trả lời câu hỏi: Khai minh là gì?” (30.9.1784) lưu mãi trong ký ức văn hóa của phương Tây như một lời hiệu triệu. Ảnh hưởng của nó lên nền giáo dục hiện đại thật vô bờ! Công cuộc cải cách giáo dục của Humboldt hay của Pestalozzi, những nhát cắt làm thay đổi diện mạo của nền học thuật Tây phương hiện đại, khởi đi từ lời hiệu triệu ấy. Xin dành chút thời gian đọc lại văn bản quan trọng này.  NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ KHÔNG TRƯỞNG THÀNH  Nếu sự không trưởng thành là “do tự mình chuốc lấy”, tức, do lỗi của chính mình gây ra, ắt nó không phải là trạng thái cố hữu, vốn có, trái lại, có nguyên nhân lịch sử và hình thành trong lịch sử. Con người được phú bẩm có lý trí, có đầu óc, do đó, có sự trưởng thành “tự nhiên”, nhưng đã bị đánh mất. Đây chính là hạt nhân của “thông điệp khai minh”: tin vào năng lực tự giác của con người có lý trí. “Không trưởng thành” không phải là định mệnh của con người!  Thế nhưng, tại sao xã hội ngày càng phát triển, cấu trúc sinh học của con người ngày càng hoàn bị, con người lại thiếu trưởng thành? Ắt phải do nguyên nhân chủ quan: sự lười biếng và hèn nhát của mỗi cá nhân. Lười biếng vì không gì an nhàn, thoải mái hơn là dựa dẫm vào sự chỉ dẫn, sắp đặt, lo liệu “bao cấp” của “người đỡ đầu”: “Có một quyển sách mang lại trí khôn cho tôi, có một tu sĩ lo hộ lương tâm cho tôi, có thầy thuốc lo cho sức khỏe của tôi v.v…, tôi việc gì phải nỗ lực cho mất công. Tôi chẳng phải bận tâm suy nghĩ, nếu chỉ cần đủ sức trả tiền; người khác sẽ chu tất cho tôi mọi sự phiền phức!”. Hèn nhát vì liên tục bị đe dọa bằng đủ thứ nguy hiểm có thật hay tưởng tượng do người đỡ đầu cố tình tạo ra. “Sau khi đã làm cho đàn gia súc của họ ngu đần đi (…), họ chỉ cho thấy những hiểm nguy đang đe dọa, nếu dám đi một mình. Chỉ cần một đôi ví dụ theo cách ấy thôi cũng có thể gây rụt rè, nhũn lòng, làm nhát sợ, xa lánh những bước thăm dò khác”. Nếu con người không trưởng thành là “bầy gia súc của kẻ thống trị”, thì không lạ gì khi kẻ thống trị rất muốn giữ mãi tình trạng không trưởng thành bằng cách khai thác sự hèn nhát!  CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT  Kant xét ở hai bình diện: cá nhân và xã hội. Với từng cá nhân, việc trưởng thành thường là rất khó khăn, bởi “quen mất nết đi rồi”: sự không trưởng thành đã trở thành bản tính thứ hai! Mỗi cá nhân riêng lẻ thường dễ thất bại, dù cố vùng vẫy và khước từ những nội quy, công thức có sẵn: “kẻ nào vứt bỏ nó đi, kẻ ấy cũng sẽ chỉ làm một bước nhảy không chắc chắn qua cái hố nhỏ hẹp, bởi họ không quen làm động tác tự do theo kiểu ấy”. Tất nhiên, cũng có người thành công, nhưng không nhiều: “Chỉ có một số ít thành công trong việc tự giải thoát khỏi tình trạng không trưởng thành qua sự thao luyện tinh thần và tạo ra được bước đi vững chãi”.  Nhưng, tình hình sẽ khác và có triển vọng hơn nhiều trên phạm vi toàn xã hội, hay, theo thuật ngữ của Kant, trong “công luận xã hội”. “Vâng, chỉ cần để cho công chúng được tự do thôi, thì điều ấy hầu như chắc chắn có thể thực hiện được”. “Thực hiện khai minh không đòi hỏi gì hơn ngoài Tự do và là một tự do nguyên vẹn nhất trong tất cả những gì có thể gọi là tự do, đó là: hoàn toàn có thể sử dụng công khai lý trí của mình”. Sự sử dụng công khai lý trí bao gồm tối thiểu ba quyền tự do: tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do học thuật. Kant phân biệt sự tự do “công khai” với tự do “riêng tư”, theo nghĩa cục bộ, nội bộ của một giới nhất định trong phạm vi chức trách của mình, chẳng hạn, của viên chức hay người thầy giáo. Kant viết: “Sự sử dụng lý trí mà một thầy giáo nhậm chức thực hiện trước nhóm quần chúng của ông chỉ là một sự sử dụng “riêng tư”, vì nhóm quần chúng này vẫn chỉ là cuộc tập họp nội bộ, dù cho có lớn đến bao nhiêu, và, trong tư cách đó, ông không tự do, cũng không được phép tự do, vì ông đang thực hiện một công việc do bên ngoài quy định. Ngược lại, với tư cách học giả nói với công chúng thực sự, công chúng ấy là toàn thế giới, và, trong tư cách ấy, người thầy giáo phải được hưởng quyền tự do không hạn chế và phát ngôn trong nhân cách của chính mình”.  Tuy nhiên, liệu một tập đoàn những người có thẩm quyền như thế có quyền tự thỏa thuận với nhau để “vĩnh viễn hóa chính sách ngồi trên đầu nhân dân” hay không? Kant khẳng định mạnh mẽ: “Tôi nói: điều ấy hoàn toàn không thể được! Một thỏa ước hầu chận đứng vĩnh viễn mọi sự khai minh lâu dài của loài người, được ký kết như thế, là tuyệt đối không được và không thể có được, ngay cả trong trường hợp nó được xác nhận bởi quyền lực tối cao như hội đồng nhà nước và những hiệp ước hòa bình trọng thể nhất. Một thời đại không thể tự câu kết với nhau và thề nguyền đặt thời đại kế tiếp trong tình trạng không trưởng thành. Điều đó là một tội ác, nghịch lại bản chất con người mà định nghĩa nguyên thủy của nó nằm ngay trong sự tiến bộ ấy, và vì thế, những kẻ hậu sinh hoàn toàn có quyền bác bỏ những quyết định đã được chấp nhận một cách vô thẩm quyền và càn bậy”. Ở vài dòng sau, Kant viết tiếp: “Cho mỗi cá nhân, và cũng chỉ tạm thời trong lúc còn phải tìm hiểu, học hỏi, một người nào đó có thể hoãn lại sự khai minh, nhưng triệt tiêu sự khai minh, dù cho một cá nhân, hay tệ hơn nữa, cho cả thế hệ hậu sinh, có nghĩa là vi phạm và chà đạp quyền thiêng liêng của nhân loại”.  DIỄN TRÌNH KHAI MINH  Kant hiểu rằng khai minh là tất yếu, nhưng là diễn trình lâu dài, gian khổ, với vô vàn trở lực. Một cuộc cách mạng có thể lật đổ kẻ độc tài, nhưng không dễ dàng mang lại sự cải cách đích thực về “lề lối tư duy”. Các định kiến mới chỉ thay chỗ cho các định kiến cũ, vì lề lối tư duy khó mà được thay đổi một cách đột ngột. “Khai dân trí”, vì thế, có nhiệm vụ tham gia tích cực và thường xuyên vào tiến trình khai minh, đồng thời cần được suy tưởng như con đường đi đến sự tự nhận thức tự do. Kant viết: Chính trong tư duy như thế, ta thấy sự căng thẳng giữa một bên là sự yếu đuối, bất lực nhất thời, và bên kia là lòng tin tưởng mạnh mẽ, lớn lao về diễn trình trí tuệ của nhân loại”.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 24, 10.07.2014)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hãy giữ người tài ở lại      Hằng năm, không lâu sau dịp Tết, tôi thường được Đại sứ quán Pháp mời tham gia một hội đồng phân bổ học bổng cho những sinh viên Việt Nam xuất sắc có nguyện vọng học thạc sỹ hay tiến sỹ tại Pháp. Mỗi lần như vậy, chứng kiến cảnh lượng sinh viên xuất sắc đăng ký thì nhiều, trong khi lượng học bổng thì ít, hẳn ai cũng cảm thấy phiền lòng. Điều ấy khiến ta không khỏi nghĩ về tính hiệu quả đối với đất nước từ những sự hỗ trợ như thế này.      Viện John von Neumann (ĐHQG Tp.HCM) mời các giáo sư nước ngoài và Việt kiều về giảng dạy cho sinh viên. Nguồn: Viện John von Neumann.  Các trường đại học và cơ sở nghiên cứu thành công nhất trên thế giới như Harvard hay Cambridge thường chi nhiều tiền để thu hút sinh viên quốc tế tài năng; trong khi đó chúng ta làm ngược lại, tiêu nhiều tiền cho việc gửi người đi học ở nước ngoài. Tất nhiên, trong thâm tâm chúng ta hi vọng một ngày nào đó giáo dục Việt Nam cuối cùng sẽ thoát khỏi tình trạng hiện tại và hướng tới đẳng cấp như của Harvard hay Cambridge. Muốn vậy, nền giáo dục của Việt Nam phải thay đổi định hướng bởi nếu cứ theo hướng đi hiện nay thì nạn chảy máu chất xám vốn đã kéo dài vài thập kỷ sẽ còn tiếp tục mãi. Tuy nhiên, sự tụt hậu là quá xa, chúng ta không thể mong lấp đầy ngay trong ngày một ngày hai mà chỉ có thể từng bước rút ngắn khoảng cách đến mục tiêu mong muốn.  Một trong những thay đổi với cách làm từng bước có tính khả thi cao là Việt Nam cùng các nước khác tiến hành những chương trình hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo. Mỗi nghiên cứu sinh sẽ do hai nhà nghiên cứu, một từ trong nước, một từ nước ngoài, đồng hướng dẫn. Phát triển theo hướng đi này ở mức cao hơn, chúng ta sẽ có sự hợp tác giữa hai nhóm nghiên cứu, một từ trong nước, một ở nước ngoài, cùng thực hiện các nghiên cứu và cùng công bố kết quả. Các nghiên cứu sinh được hướng dẫn bởi thành viên từ cả hai nhóm nghiên cứu, sẽ dành một phần thời gian ở Việt Nam, phần còn lại ở nước ngoài. Như vậy, sau khi bảo vệ luận án các nghiên cứu sinh sẽ có bằng từ cả trong nước và nước ngoài; mặt khác trong suốt quá trình đào tạo người học viên đó sẽ luôn giữ liên lạc và nhận được sự hỗ trợ từ người hướng dẫn và nhóm nghiên cứu trong nước để có định hướng nghiên cứu tốt nhất, vừa phù hợp với năng lực cá nhân, vừa gắn với nhu cầu thực tế nghiên cứu ở trong nước. Hai nhóm nghiên cứu qua quá trình hợp tác sẽ học hỏi từ nhau và cùng được hưởng nhiều lợi ích; khi một nhóm nghiên cứu đào tạo, hướng dẫn các kiến thức, kỹ năng cho một nghiên cứu sinh của nhóm bên kia, trên thực tế họ không chỉ đào tạo cho một cá nhân mà thực ra là họ đang truyền đạt tri thức và kinh nghiệm cho cả tập thể nhóm bên kia. Đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, cách hợp tác như vậy giúp họ hiểu rõ hơn hoàn cảnh và những điều kiện hạn chế trong nền giáo dục và khoa học ở Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển nói chung. Về phía các nhà nghiên cứu Việt Nam, họ sẽ học được cách làm việc của những nhóm nghiên cứu tốt nhất trên thế giới, qua đó cũng tiếp thu được kỷ luật và đạo đức học thuật của họ. Những mối quan hệ như vậy giúp cộng đồng khoa học Việt Nam nắm rõ hơn xu hướng vận động của nền khoa học đương đại để biết được đâu là những ngành quan trọng cần được quan tâm nhất; đồng thời giúp Việt Nam hiện đại hóa nội dung chương trình giảng dạy trong các trường đại học, phát triển những lĩnh vực phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới.  Tôi có thể hiểu được nếu bạn đọc đang mỉm cười, cho rằng viễn cảnh tôi đưa ra ở đây là quá lạc quan. Đúng vậy, viễn cảnh ấy cách khá xa so với thực tế.  Hiện nay ở Việt Nam, người ta quy định rằng một nghiên cứu sinh trong chương trình đồng hướng dẫn để được nhận bằng từ cơ sở trong nước sẽ phải chờ hơn một năm kể từ khi nhận bằng từ nước ngoài (sau khi đã bảo vệ trước một hội đồng quốc tế với đầy đủ các thành viên từ cả trong nước và nước ngoài). Điều này nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng không may lại đúng là như vậy. Dường như người ta cho rằng các nhà khoa học trong nước ưu tú hơn nhà khoa học nước ngoài, dẫn tới không thể tin tưởng vào đánh giá của hội đồng quốc tế, bởi vậy người học viên sẽ phải bảo vệ lần thứ hai trước một hội đồng chỉ gồm các nhà khoa học trong nước, và phải trải qua vô vàn những thủ tục nhọc nhằn một cách không cần thiết. Ít năm trước, tôi viết một lá thư ngỏ gửi Bộ GD&ĐT để trình bày về tình trạng bất cập này và đề nghị họ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chương trình đồng hướng dẫn. Thứ trưởng Bùi Văn Ga đã rất lịch thiệp nói rằng ông hoàn toàn hiểu vấn đề này, rằng cấp dưới của ông đang khắc phục nó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có gì thay đổi.  Trái ngược với sự quan liêu phi lý trên đây từ cơ quan quản lý, giới khoa học Việt Nam lại thể hiện một sự tự ti quá mức, họ không tin vào năng lực của bản thân cũng như những gì các nhà nghiên cứu trong nước có thể làm được. Như tôi thường viết, sinh viên Việt Nam hiển nhiên không hề thua kém trí tuệ so với sinh viên quốc tế, và nhìn chung học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp có một nền tảng kiến thức khá vững vàng, chỉ tới khi lên cấp đại học họ mới bắt đầu bị tụt hậu so với thế giới. Tuy nhiên, những em giỏi nhất khi học trong nước vẫn không thua kém, miễn là được sự hỗ trợ cần thiết. Do vậy, thay vì gửi người đi du học nước ngoài rồi quên lãng họ, như chúng ta vẫn thường làm – tôi có thể dẫn ra rất nhiều trường hợp – hãy giữ các em ở lại và hỗ trợ các em hình thành các nhóm nghiên cứu nhỏ. Thay vì lãng phí tiền bạc tài trợ cho người đi du học, chúng ta có thể đầu tư cho việc nâng cao chất lượng đào tạo cho cùng một lúc rất nhiều sinh viên trong nước bằng cách dành tiền cho việc mời các giảng viên quốc tế đến Việt Nam. Những chuyên gia quốc tế giỏi có thể được mời đến làm việc trong ngắn hạn để giúp bồi dưỡng cho các nhóm nghiên cứu trẻ và hướng dẫn cho các nghiên cứu sinh tiến sỹ trong nước. Chúng ta có thể khởi đầu chỉ với một nhóm nghiên cứu rất nhỏ, ví dụ như hai người làm postdoc, rồi bồi đắp dần dần bằng cách đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh. Lưu ý rằng các nghiên cứu sinh phải dành phần lớn thời gian làm việc ở trong nước. Một trong những tiêu chí đo lường thành công của các trường đại học đang hợp tác với quốc tế trong đào tạo trên đại học là lượng thời gian mà các nghiên cứu sinh của họ làm việc ở trong nước. Nếu chỉ tiêu đó tăng một cách vững chắc thì nghĩa là họ đang thành công.      Thay vì lãng phí tiền bạc tài trợ cho người đi du học, chúng ta có thể đầu tư cho việc nâng cao chất lượng đào tạo cho cùng một lúc rất nhiều sinh viên trong nước bằng cách dành tiền cho việc mời các giảng viên quốc tế đến Việt Nam.        Trên thực tế, các nhà khoa học Việt Nam cũng ý thức về điều này. Qua tiếp xúc với các nghiên cứu sinh Việt Nam, tôi được biết có nhiều nhóm nghiên cứu đang thực hiện điều tôi vừa trình bày. Về phía các nhà khoa học quốc tế, nhiều người bày tỏ rất quan tâm đến việc hỗ trợ sự phát triển khoa học ở Việt Nam và sẵn sàng dành thời gian cho việc này – đóng góp của Viện Nghiên cứu và Phát triển Pháp cho lĩnh vực lúa gạo có thể coi là một ví dụ mẫu mực. Tuy nhiên, về phần hệ thống quản lý ở Việt Nam, ở tầm Bộ GD&ĐT, hay các viện nghiên cứu và trường đại học, đa số chưa dành sự hỗ trợ và khuyến khích cần thiết cho những sáng kiến như vậy. Ví dụ như trong các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu, việc giảm thải khí nhà kính là vấn đề quan trọng hàng đầu trên bình diện toàn cầu, nhưng với điều kiện của Việt Nam thì chưa nên quá coi trọng vấn đề này, xét trong tương quan với [lượng phát thải của Việt Nam chẳng thấm tháp gì so với] nước láng giềng Trung Quốc hay nước Mỹ với Donald Trump tại vị trong Nhà Trắng. Vấn đề cấp bách hơn với Việt Nam là việc nằm trong số những nước bị thiệt hại nặng nhất bởi thiên tai do biến đổi khí hậu. Lũ lụt, nước biển dâng đi kèm với sự thu hẹp đồng bằng châu thổ, sự tàn phá các khu rừng đước, gia tăng xâm nhập mặn các vùng ven biển, nạn lở đất,… là những vấn đề cần được xem xét một cách thấu đáo trong thời gian sớm nhất. Vậy tại sao chúng ta lại cử người ra nước ngoài để nghiên cứu về giảm khí nhà kính? Lẽ ra việc [đào tạo người làm] nghiên cứu ứng dụng cần căn cứ trên nhu cầu cụ thể của đất nước, vốn dĩ có thể rất khác so với những vấn đề của các nước đã phát triển. Để thực hiện những vấn đề mà Việt Nam cần nghiên cứu, cần thu hút các nhà khoa học quốc tế đến hợp tác với các nhà khoa học Việt Nam hơn là gửi người trong nước ra nước ngoài.  Để thay đổi thực trạng này trước hết cần thay đổi nhận thức của các nhà quản lý. Bộ GD&ĐT cần thay đổi các quy định quan liêu nhằm thúc đẩy thay vì hạn chế sự tiến bộ. Các trường đại học nên hiểu rằng việc cử hàng loạt sinh viên của mình ra nước ngoài là điều sai lầm. Họ nên xây dựng các chương trình nhằm thu hút nhà khoa học nước ngoài đồng thời hấp dẫn sinh viên tài năng ở lại trong nước. Chúng ta cần khiến thế hệ trẻ thay đổi quan niệm định kiến rằng muốn thành tài thì không thể học ở trong nước mà phải du học nước ngoài. Chúng ta phải thảo luận với các quốc gia đang trợ giúp Việt Nam về những nhu cầu nghiên cứu trong nước và dành một phần kinh phí gửi người đi du học chuyển thành tài trợ cho các nhà khoa học nước ngoài đến làm việc với các nhóm nghiên cứu trong nước trong ngắn hạn. Khi đề ra các nhu cầu của mình với các quốc gia khác, chúng ta trước hết phải hiểu rõ đó là những nhu cầu gì. Vì vậy, trong chính sách của Nhà nước phải nêu rõ ràng về các nhu cầu của quốc gia, chỉ rõ đâu là trọng tâm ưu tiên, công khai cho công chúng được biết đâu là định hướng mà đất nước sẽ thực hiện, và đâu là những quy định hướng dẫn cần được tuân thủ, v.v. – lưu ý rằng đôi khi không có quy định hướng dẫn còn tốt hơn là những quy định hướng dẫn tồi tệ.  Tôi hiểu rằng những vấn đề này rất phức tạp, không thuần túy đen hay trắng, và mỗi trường hợp cụ thể đều cần được xem xét toàn diện. Nhưng tôi hi vọng rằng ở đây tôi đã trình bày rõ ràng về một tinh thần mới, một phong cách mới, mà theo quan điểm của tôi, chúng ta cần áp dụng, cùng những đổi mới mà chúng ta cần nuôi dưỡng và khuyến khích.     Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang HĐKH trường đại học: Vì sao vai trò mờ nhạt ?      Ở Việt Nam, Hội đồng Khoa học (HĐKH), dù ở đại học công hay tư, đều chỉ là tổ chức tư vấn, chứ không phải tổ chức có thẩm quyền cao nhất về mặt học thuật như thông lệ quốc tế. Không những thế, với cách thức hình thành và vận hành như hiện nay, nó còn biến thành tổ chức “tự tư vấn cho chính mình”.       ĐH Văn Hiến (TP. Hồ Chí Minh) có 20 thành viên HĐKH, trong đó có bảy thành viên ngoài trường, bao gồm các cựu hiệu trưởng trường công. Tuy nhiên trường hợp như trường ĐH Văn Hiến không mấy phổ biến. Trong ảnh: Thư viện ĐH Văn hiến. Nguồn: vhu.edu.vn.  Hiện nay, HĐKH (Academic Senate, Academic Council) là một thiết chế được quy định trong tất cả các văn bản pháp lý hiện hành về tổ chức hoạt động của trường đại học, bao gồm Điều 55 Luật Giáo dục 2005; Điều 19 Luật Giáo dục đại học (GDĐH) 2012; Điều 13, Điều 21, Điều 25 của Điều lệ Trường Đại học 2014 ban hành theo Quyết định 70/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 (gọi tắt là Điều lệ Đại học).  Khảo sát theo trình tự thời gian ban hành, cũng như theo cấp độ văn bản, có thể thấy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐKH ngày càng được quy định rõ hơn và chi tiết hơn, nhưng có một điểm nhất quán trong tất cả các văn bản pháp quy về HĐKH cho đến nay: Luật Việt Nam quy định HĐKH là một tổ chức tư vấn cho hiệu trưởng.  Cũng xét theo trình tự thời gian thì luật Việt Nam đang có khuynh hướng trao cho HĐKH nhiều thẩm quyền hơn. Đặc biệt, HĐKH của trường tư được trao thẩm quyền lớn hơn nhiều so với trường công: họ có quyền thông qua những quy định liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường – tương tự như đại hội đồng cổ đông có quyền thông qua những quy định liên quan đến tài chính – trên cơ sở đó hội đồng quản trị (HĐQT) ra quyết nghị về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung Quy chế. Đó là một bước tiến rất đáng ghi nhận trong việc coi trọng tiếng nói thẩm quyền của giới chuyên môn.  Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành cũng đang cản bước trong việc giúp cho tiếng nói thẩm quyền của HĐKH có hiệu lực trong thực tế. Nhận định này dựa trên hai cơ sở sau đây:  (1) Thành phần của HĐKH:  Điều 19 Luật GDĐH 2012 quy định thành phần của HĐKH bao gồm: (a) hiệu trưởng; (b) các phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, NCKH; (c) trưởng các đơn vị đào tạo, NCKH; (d) các nhà khoa học có uy tín đại diện cho các lĩnh vực, ngành chuyên môn.  Điều lệ Đại học nói cụ thể hơn, nhưng lại cho thấy sự có mặt của giới chuyên môn ngoài trường là không nhất thiết (Điều 13). Đây là một bước lùi về mặt hướng dẫn thực hiện, vì nó sẽ làm cho HĐKH chủ yếu trở thành tiếng nói của người trong trường, và bị hạn chế bởi năng lực của chính các thành viên trong trường cũng như vị thế độc lập của HĐKH do mâu thuẫn lợi ích.  (2) Quy trình thành lập HĐKH:  Luật Giáo dục 2005 và Luật GDĐH 2012 đều không đề cập quy trình thành lập HĐKH, ngoại trừ quy định HĐ KH&ĐT được thành lập theo quyết định của hiệu trưởng (Điều 19 Luật GDĐH).  Điều lệ Đại học nói rõ hơn là quy định cụ thể về HĐKH phải được thể hiện trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường (Điều 13). Điều này có nghĩa là khung pháp lý hiện nay cho phép hiệu trưởng chủ trì việc chọn nhân sự đưa vào HĐKH và ra quyết định thành lập, mở ngỏ cho khả năng hiệu trưởng sẽ thiên về chọn những người có lợi cho việc bảo vệ quyền tối hậu trong việc ra quyết định của mình, dù rằng luật cũng đã trao quyền quyết định cho hiệu trưởng trong trường hợp HĐKH có ý kiến khác (Điều 25).  Một góc nhìn so sánh  Như trên đã đề cập, dù ở trường công hay trường tư, HĐKH nói chung chỉ là tổ chức tư vấn, không phải là một đơn vị có thẩm quyền.  Chúng tôi chưa có thống kê đầy đủ, nhưng phỏng vấn sâu một số lãnh đạo cấp trường và thu thập thông tin trên website các trường cho thấy, có trường có danh sách HĐKH rất hùng hậu, bao gồm cả những người ngoài trường thuộc về chính quyền như Chủ tịch UBND, Chủ tịch UBND thành phố, Giám đốc Sở GDĐT (mặc dù các vị này đều có học vị tiến sĩ, nhưng rõ ràng là họ không còn hoạt động với tư cách nhà khoa học).  Trong khi đó, vai trò của HĐKH theo định nghĩa trong quy chế từng trường đại học ở Hoa Kỳ, Anh, Úc có thể khác nhau ít nhiều, nhưng đều có một điểm chung về chức năng: đó là tổ chức do giảng viên bầu chọn và có trách nhiệm bảo vệ các chuẩn mực học thuật của nhà trường, thông qua xây dựng và rà soát các quy định về giảng dạy, học tập, đánh giá kết quả, bao gồm tuyển sinh, tốt nghiệp, bổ nhiệm giảng viên, v.v., nói cách khác, là tổ chức có thẩm quyền cao nhất về mặt học thuật trong trường đại học1. Nghĩa là nhiệm vụ của họ thuần túy thuộc về công việc chuyên môn và đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể. Vì thế rất ít khi chúng ta thấy viên chức chính quyền tham gia HĐKH ở các trường.  Một khác biệt rõ rệt nữa giữa HĐKH ở Việt Nam và các trường phương Tây là ở phương thức hình thành: trừ một số ít thành viên mặc định, đa số thành viên HĐKH ở các nước được bầu chọn từ các khoa/tổ bộ môn của họ. Ở Scotland, Luật Đại học quy định thành viên mặc định của Hội đồng bao gồm các trưởng khoa, trưởng phòng phục vụ đào tạo, thư viện, đại diện sinh viên, còn lại là các thành viên được bầu chọn. Ở Hoa Kỳ, thành viên HĐKH có thể bao gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đào tạo, các trưởng khoa, còn lại là các thành viên được bầu chọn2.  Trong khi đó, ở Việt Nam, khung pháp lý hiện nay chỉ quy định thành phần của HĐKH mà không đề cập gì về quy trình lựa chọn, ứng cử, đề cử hay bầu cử những vị trí này. Điều lệ đại học có yêu cầu “quy định cụ thể về HĐKH của trường đại học phải được thể hiện trong quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường” (Điều 13). Tuy nhiên, việc khảo sát bản quy chế này ở một số trường cho thấy hầu hết các trường không quy định cụ thể về việc thành viên HĐKH sẽ được lựa chọn theo quy trình và nguyên tắc nào hoặc có nêu ra thì quy định Hội đồng bao gồm những thành viên đương nhiên, và thành viên do hiệu trưởng bổ nhiệm (còn dựa trên tiêu chuẩn nào để lựa chọn và bổ nhiệm thì Quy chế không đề cập) và việc bổ nhiệm/miễn nhiệm là do Chủ tịch Hội đồng đề xuất. Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy có trường đại học Việt Nam nào quy định rằng thành viên HĐKH được bầu ra từ tổ bộ môn hay ở cấp khoa.  Ở các nước phương Tây, hiệu trưởng có thể là chủ tịch HĐKH, bởi vì hội đồng này không phải là một tổ chức tư vấn, mà là một tổ chức có quyền đưa ra quyết định trong mọi vấn đề có tính chất nguyên tắc liên quan đến học thuật, ví dụ như xây dựng chính sách giảng viên, các tiêu chuẩn học thuật, định hướng nghiên cứu. Tuy nhiên, cần lưu ý là Academic Senate, hay Academic Council không quyết định những việc cụ thể như xét duyệt đề tài hay kinh phí nghiên cứu. Công việc này là của các Quỹ tài trợ nghiên cứu hoạt động trên cơ sở bình duyệt đồng nghiệp.      Chúng tôi chưa có thống kê đầy đủ, nhưng phỏng vấn sâu với một số lãnh đạo cấp trường và thu thập thông tin trên website các trường cho thấy, có trường có danh sách HĐKH rất hùng hậu, bao gồm cả những người ngoài trường thuộc về chính quyền như Chủ tịch UBND, Chủ tịch UBND thành phố, Giám đốc Sở GDĐT (mặc dù các vị này đều có học vị tiến sĩ, nhưng rõ ràng là họ không còn hoạt động với tư cách nhà khoa học).        Nhiệm vụ chính của HĐKH ở các trường phương Tây là thảo luận để đưa ra những quyết định có tính chất nguyên tắc trong lĩnh vực học thuật, đào tạo và nghiên cứu. Họ phải xây dựng chính sách, rà soát các quy định, quy trình do các bộ phận chuyên môn đề xuất, để bảo vệ các chuẩn mực học thuật và bảo đảm rằng những quy định quy trình này phù hợp với mục tiêu và giá trị của nhà trường. Hiệu trưởng là chủ tịch HĐKH là để bảo đảm rằng giới lãnh đạo sẽ đưa ra những quyết định về học thuật ở cấp trường trên cơ sở thảo luận và đồng thuận của giới hàn lâm trong trường.  Trong khi đó, HĐKH ở Việt Nam được định nghĩa là một tổ chức tư vấn và có thẩm quyền rất giới hạn. Đó là lý do dẫn tới vị trí mờ nhạt của HĐKH trong thực tế ở các trường hiện nay. Mặc dù Luật GDĐH quy định trong trường hợp ý kiến của HĐKH khác với ý kiến của hiệu trưởng thì vị này được quyền quyết định và báo cáo HĐT/HĐQT, nhưng trường hợp này chưa từng xảy ra ở Việt Nam, vì HĐKH hầu như không có khả năng và động lực để phản biện quan điểm của hiệu trưởng.  Khuyến nghị chính sách  Như đã phân tích trên đây, HĐKH ở Việt Nam là một tổ chức có chức năng tư vấn, nhưng thành phần của nó lại chủ yếu là người trong trường, và chủ tịch HĐKH hầu hết là hiệu trưởng, khiến nó không thể thực hiện tốt chức năng tư vấn hay phản biện. Vì vậy, về bản chất nó khác với HĐKH ở các trường phương Tây, vốn là một tổ chức có thẩm quyền quyết định trong những vấn đề chuyên môn.  Với tư cách là một tổ chức có thẩm quyền quyết định, HĐKH là một thiết chế dựa trên nền tảng của cơ chế đồng quản trị, theo đó, quyền ra quyết định trong mỗi lĩnh vực sẽ thuộc về những người có khả năng tốt nhất trong lĩnh vực ấy dựa trên cơ sở thảo luận và biểu quyết trong hội đồng, giúp tránh được sự thao túng và khả năng hạn hẹp của một cá nhân. Có thể nói, HĐKH là một trong ba chân kiềng quan trọng trong cơ chế quản trị cấp trường, bên cạnh HĐQT và Ban giám hiệu. Ba đơn vị chức năng này có trách nhiệm khác nhau, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau, hợp tác cùng nhau, nhưng đồng thời có mức độ độc lập tương đối nhằm giám sát lẫn nhau, tạo ra thế cân bằng cho quản trị cấp trường. Trong cơ chế đó, HĐQT đóng vai trò điều phối hơn là một đơn vị ra quyết định trong tất cả mọi vấn đề (Kenneth Mortimer và Thomas McConnell, 1979). Một cơ chế như vậy có thể bao hàm được quan điểm toàn diện, phát huy được trí tuệ tập thể, giảm nhẹ những mâu thuẫn tiềm tàng, và làm cho giảng viên, nhân viên gắn bó với trường, bởi tiếng nói của họ được lắng nghe và đóng góp của họ có ý nghĩa, cũng như được ghi nhận.  Đối với trường hợp Việt Nam, khuyến nghị của chúng tôi là:  – Củng cố HĐKH như một thiết chế trong cơ chế đồng quản trị, tức là một tổ chức có thẩm quyền quyết định. Trong trường hợp này, phải xây dựng lại quy chế tuyển chọn, bổ nhiệm thành viên dựa trên những tiêu chí về năng lực chuyên môn, về uy tín, và dựa trên bầu chọn. Thành viên sẽ chủ yếu là người trong trường, và Chủ tịch Hội đồng có thể là hiệu trưởng. Điều quan trọng là, đi cùng thiết chế này là những quy định trao quyền cho HĐKH ra quyết định trong những vấn đề có tính chất nguyên tắc và chính sách về hoạt động chuyên môn.  – Trong trường hợp chưa thể áp dụng cơ chế HĐKH như một thiết chế thẩm quyền, mà vẫn duy trì tính chất tư vấn của HĐKH như hiện nay, thì các nhà khoa học có uy tín ngoài trường phải là một thành phần quan trọng, nếu không nói là chủ yếu của HĐKH. Hiệu trưởng không nên là Chủ tịch HĐKH trong trường hợp này.  Khảo sát nhanh của chúng tôi qua trang web của 27 trường đại học (trong đó có tám trường tư thục) cho thấy chỉ sáu trường có thông tin về HĐKH, trong đó có một trường tư. Có 11 trường trong sơ đồ tổ chức có chỗ cho HĐKH, trong số đó có đến 5/11 trường dù có chỗ cho HĐKH trong sơ đồ nhưng không có bất cứ thông tin nào về HĐKH. Điều này nói lên một ý nghĩa khá rõ: vai trò của HĐKH trong thực tế ở các trường hiện nay rất mờ nhạt. Mặc dù được định nghĩa là “có chức năng tư vấn cho hiệu trưởng”, có 5/7 HĐKH có chủ tịch hội đồng chính là hiệu trưởng, một trường chủ tịch là phó hiệu trưởng, và một trường tư, chủ tịch là thành viên HĐQT. Tuy thế, dường như không ai cảm thấy việc “tự mình tư vấn cho chính mình” là một điều kỳ cục.    Tư liệu tham khảo  AMERICAN ASSOCIATIONOF UNIVERSITY PROFESSORS. 1995. Statement on Government of Colleges and Universities. Washington, DC: American Association of University Professors.  ASSOCIATION OF GOVERNING BOARDS OF UNIVERSITIES AND COLLEGES. 1996. Renewing the Academic Presidency: Stronger Leadership for Tougher Times. Washington, DC: Association of Governing Boards.  BERDAHL, ROBERT O. 1991. “Shared Academic Governance and External Constraints.” In Organization and Academic Governance in Higher Education, 4th edition, ed. Marvin W. Peterson, Ellen E. Chaffee, and Theodore H. White. Needham Heights, MA: Ginn Press.  BIRNBAUM, ROBERT. 1991. How Colleges Work: The Cybernetics of Academic Organization and Leadership. San Francisco: Jossey-Bass.  DILL, DAVID D., and HELM, K. P. 1988. “Faculty Participation in Policy Making.” In Higher Education: Handbook of Theory and Research, vol. 4, ed. John C. Smart. New York: Agathon.  LEE, BARBARA. 1991. Campus Leaders and Campus Senates. In Faculty in Academic Governance: The Role of Senates and Joint Committees in Academic Decision Making, ed. Robert Birnbaum. San Francisco: Jossey-Bass.  MORTIMER, KENNETH P., and MCCONNELL, THOMAS RAYMOND. 1979. Sharing Authority Effectively. San Francisco: Jossey-Bass.  SCHUSTER, JACK H., and MILLER, LYNN H. 1989. Governing Tomorrow’s Campus: Perspectives and Agendas. New York: American Council on Education/Macmillan.  SCHUSTER, JACK H. ; SMITH, DARYL G. ; CORAK,KATHLEEN A.; and YAMADA, MYRTLE M. 1994. Strategic Governance: How to Make Big Decisions Better. Phoenix, AZ: Oryx Press.  WESTMEYER, PAUL. 1990. Principles of Governance and Administration in Higher Education. Springfield, IL: Charles Thomas Publishers.  —————  1https://en.wikipedia.org/wiki/Academic_Senate  2Birnbaum, R. (1989), “The latent organizational functions of the academic senate: why senates do not work but will not go away”, The Journal of Higher Education, Ohio State University Press, 60 (4): 423–443, doi:10.2307/1982064, JSTOR 1982064          Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang Hệ thống giáo dục quốc dân      Hệ thống gi&#225;o dục quốc d&#226;n hiện đại l&#224; một sản phẩm tự nhi&#234;n của Cuộc sống hiện đại, với cốt l&#245;i vật chất l&#224; nền sản xuất vật chất.  Nền sản xuất hiện đại l&#224; nguy&#234;n nh&#226;n vật chất tạo ra sự ph&#226;n ho&#225; c&#225;c lứa tuổi của Trẻ em hiện đại, l&#224; căn cứ đ&#225;ng tin cậy nhất để thiết kế c&#225;c bậc học.  C&#225;c bậc học chẳng qua l&#224; sự ph&#226;n đoạn to&#224;n bộ tiến tr&#236;nh ph&#225;t triển tự nhi&#234;n (song song với sự trưởng th&#224;nh tự nhi&#234;n) của Trẻ em hiện đại.    Nên học Cách làm bên ngành xây dựng. Mọi việc bắt đầu từ Thiết kế (theo “Đề bài” – tư tưởng định hướng) với hai công đoạn, thiết kế kiến trúc rồi thiết kế thi công.  Có thể tham khảo Lẽ sống và Sức sống của ngành điện. Lộ trình bắt đầu từ Nhà máy điện (chứ không phải từ Văn phòng Bộ Công thương) đến tận từng ngọn đèn trong mỗi gia đình khắp nẻo đất nước, sao cho bất cứ ngọn đèn nào cũng được cấp năng lượng để cháy sáng hết công suất.  Nếu Lẽ sống và Sức sống của ngành điện được khẳng định bằng dòng điện thì của ngành giáo dục là bằng sức lao động trí óc cấp cho học sinh hiện đại!  Học sinh hiện đại từng giây từng phút luôn luôn sống Cuộc sống thực, dù ở trường, ở nhà, ở công viên, ở cửa hàng… ở đâu, em cũng ngày ngày lớn lên (trưởng thành) và phát triển thành một người lao động sản xuất, có sức lao động trí óc.  Sức lao động trí óc của mỗi cá nhân hiện đại là thành tựu sau một quá trình phát triển.  Ở quả không thể nhận ra một chút dấu vết nào của hạt giống đem gieo. Ở dòng điện không hề có một giọt nước nào của dòng nước đẩy tua-bin chạy. Sức lao động trí óc bắt đầu có từ khi Bé bú mẹ, từ thao tác bú. Tiếp đó, theo một trật tự tự nhiên thiên nhiên, các thao tác khác lần lượt hình thành: lẫy – bò– đi – chạy – nhảy – leo trèo…  Chỉ cần sống trong xã hội loài người, sống chung với người lớn, trong 5/6 năm đầu đời, trẻ em bình thường đều có đủ bộ (hệ thống) thao tác tay chân (vật chất), nói sõi cùng với những kinh nghiệm sống (niềm tin đạo đức, quan hệ tình cảm…). Số vốn ấy đủ cho trẻ sống suốt đời trong xã hội cổ truyền, nếu chỉ cần sức lao động chân tay.          Sự nghiệp giáo dục hiện đại có thể xây lên như một ngôi nhà hiện đại với những khái niệm của chính nó: đóng cọc, đổ móng, xây nền, dựng khung, tường bao, trần nhà… đều là những khái niệm chưa hề có ở ngôi nhà trệt năm gian hai chái ông bà để lại: cột, kèo, rui, mè, hiên, giại…          Sống 5/6 năm đầu đời, mỗi Bé là một thực thể tự nhiên như hạt giống đã nảy mầm. Với nghĩa này, những gì sẽ có thì đã gieo ở lứa tuổi này, rồi phát triển một cách tự nhiên thiên nhiên. Sống theo bản tính tự nhiên thiên nhiên này, Bé luôn luôn đúng! Từ đó, người lớn hãy “chịu thua” trước, rồi mới tìm cách “thắng” lại và thắng ngay trên cái “lý đúng” của Bé, có thế Bé mới khẩu phục tâm phục người lớn!  Lớp Một nên nhận học sinh 6 hay 7 tuổi? Những năm 70 thế kỷ XX, ở Liên Xô, Viện Hàn lâm Giáo dục bàn luận mãi rồi kết luận: 7 tuổi, với nhân nhượng: nếu phụ huynh học sinh xin thì có thể nhận trẻ 6 tuổi. Mấy thập niên sau, chỉ có đâu chừng 30% trẻ 6 tuổi xin vào lớp Một. Lý do “Phái 7 tuổi” đưa ra: Hãy thương Bé một chút! Cho Bé chơi thêm một năm cho đã! Thư cho Bé một năm để Bé còn hưởng thêm Hạnh phúc tuổi thơ quý hơn vàng!  Bậc tiểu học có hai đặc trưng:  Một, về mặt xã hội – chính trị, Học sinh còn nhỏ, em còn có bố mẹ, anh chị em ruột, ông bà nội ngoại, chú bác cô dì… Có hàng chục người gắn với một em.  Hai, về mặt Nghiệp vụ sư phạm, không đâu như ở tiểu học, Nghiệp vụ sư phạm phải tinh tế nhất, phải ăn chắc nhất, làm gì được nấy, làm đâu chắc đấy!  Nếu bậc tiểu học làm tốt, gia đình dễ yên ấm. Gia đình yên ấm, xã hội dễ yên lành.  Bậc tiểu học có hai cơ hội vàng:  Một, cơ hội vàng cuối cùng để giữ em trong “vòng tay giáo dục”, bảo đảm cho đời sống nội tâm thấm đẫm sâu hơn truyền thống gia đình và dân tộc. Với nghĩa này, bậc tiểu học phải thuần Việt!  Hai, cơ hội vàng đầu tiên cho em tiếp cận ngay với nền văn minh nhân loại, tạo ra sự phát triển chủ đạo về lý trí thông qua các Môn học khoa học như Ngôn ngữ học (Tiếng Việt), Toán học, Đất nước học, Ngoại ngữ. Với nghĩa này, bậc tiểu học phải hiện đại!  Bậc trung học có thêm hai nhân tố mới:  Một, quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá càng triển khai càng phải hội nhập sâu vào thế giới hiện đại, buộc cả 100% dân cư phải đi học, phải có học vấn nhà trường.  Hai, học xong bậc tiểu học hiện đại, Học sinh học được cách làm việc trí óc và đủ sức tự học.  Những thành tựu ấy ở bậc tiểu học là mục đích thì nay phải biến thành phương tiện để hình thành mục đích mới ở trung học: Hình thành vững chắc tư duy lý thuyết (tư duy lý luận, tư duy khoa học) để xử lý ba mối quan hệ cơ bản nhất, với xã hội, với nền sản xuất vật chất và với chính bản thân mình. Cụ thể là:  Với xã hội – các Môn học khoa học xã hội.  Với nền sản xuất vật chất – các môn Khoa học tự nhiên.  Với chính bản thân mình – các hoạt động xã hội, các hoạt động nghệ thuật…  Cuộc sống thực của Học sinh trung học bùng phát (cùng với dậy thì) hết sức đa dạng, phong phú, mà học chữ chỉ là một, thậm chí không còn sức hấp dẫn như ở tiểu học, khi còn đóng vai trò chủ đạo.  Bậc trung học bắt đầu hội nhập một phần với thế giới hiện đại bằng các môn học khoa học tự nhiên.  Hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại   Sự phát triển tự nhiên của Trẻ em hiện đại có thể hình dung theo sự trưởng thành tự nhiên của cây:  Phần gốc rễ (ở trong lòng đất): 0-5 tuổi.  Phần thân: 6-11 tuổi.  Phần cành lá: 12-16 tuổi.  Phần gốc rễ (0-5 tuổi) là cuộc sống tự nhiên tự phát, hãy để cho Bé thả sức vui chơi ở nhà hay ở nơi công cộng… Không nên đưa lứa tuổi này khuôn vào Hệ thống giáo dục quốc gia như một bậc học gọi là Trường mẫu giáo, cho bé học. Việc học hiện đại dành cho Trẻ em từ 6/7 tuổi.  Bậc tiểu học có hai phương án:  5 năm hay 6 năm. Nên là 6 năm: Thêm 1 năm giữ em lại trong “vòng tay giáo dục”, thêm 1 năm cho chắc ăn hơn, chớ vội “thả” sớm! Đừng dại “nhổ nhớm” cây cho nó chóng lớn.  Đặc điểm cơ bản để “định nghĩa” bậc tiểu học: thuần Việt và hiện đại.  Bậc trung học hiện đại cũng có 2 phương án:  5 năm hay 6 năm, sao cho giáo dục phổ thông là 10 năm hoặc 11 năm.  Đặc điểm cơ bản để “định nghĩa” bậc trung học: Tự chọn và quốc tế hoá một phần.  Bậc đại học và dạy nghề có mục tiêu rõ ràng: Tạo ra sức lao động cấp cho nền sản xuất đương thời và vì sự sống ngay ngày hôm nay của cá nhân và xã hội.  Sức lao động cá nhân là tài sản cá nhân thuộc sở hữu cá nhân như một hàng hoá, có thể mua bán trên thị trường, mà thị trường hiện đại ngày càng mở rộng, vượt ra khỏi mọi ranh giới nhân tạo về địa vực, quốc gia. Để có sức lao động cấp cho thị trường cỡ ấy, bậc đại học và dạy nghề như một nhân tố của nền kinh tế toàn cầu phải hội nhập vào thế giới hiện đại.  Có một ranh giới dứt khoát về lý thuyết giữa giáo dục phổ thông và đào tạo nghề (đại học hay trung cấp, sơ cấp).  Ngày trước, 5% dân cư đi học để làm quan. 95% dân cư không đi học vẫn sống bình thường.  Ngày nay, chỉ để được sống bình thường, tất cả 100% dân cư phải đi học, phải có học vấn phổ thông như một nhân tố hữu cơ hiện đại của sự sống, như ánh sáng, không khí, nước… mà thiên nhiên từng cho không. Lẽ nào, trong xã hội hiện đại, một “nhân tố hiện đại” của sự sống hiện đại (là học vấn phổ thông) cũng phải bỏ tiền ra mua?  Học đại học hay học nghề để có được hàng hoá – sức lao động đem bán, thì phải bỏ tiền ra ứng trước (đóng học phí). Còn học phổ thông để có học vấn phổ thông như hưởng một phúc lợi xã hội hiện đại thì nên miễn phí.  Hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại là một sản phẩm tự nhiên của Cuộc sống hiện đại, với cốt lõi vật chất là nền sản xuất vật chất.  Nền sản xuất hiện đại là nguyên nhân vật chất tạo ra sự phân hoá các lứa tuổi của Trẻ em hiện đại, là căn cứ đáng tin cậy nhất để thiết kế các bậc học.  Các bậc học chẳng qua là sự phân đoạn toàn bộ tiến trình phát triển tự nhiên (song song với sự trưởng thành tự nhiên) của Trẻ em hiện đại.  Trẻ em hiện đại lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử hiện thực, lớn lên trong Phạm trù cá nhân.  Nửa sau thế kỷ XX, tâm lý học “phát hiện” ra Trẻ em hiện đại như phát hiện một năng lượng mới: Trí tuệ trẻ em hiện đại lớn đến ngỡ ngàng, không lường nổi! Phát hiện này đã nhóm mồi cho cuộc “nổi loạn” đầy phiêu lưu những năm 60, nhằm “lật đổ” nền giáo dục cổ truyền. Họ đã thất bại, những kẻ thất bại đáng phong anh hùng! Dẫu thất bại, ít ra họ cũng đã làm “mất thiêng” nền giáo dục vì người lớn, đầy định kiến với Trẻ em.  Nền giáo dục hiện đại sẽ như thế nào đây?        Liệu có thể có một Nền giáo dục “định nghĩa” các bậc học:              Tiểu học: Thuần Việt – hiện đại.              Trung học: Tự chọn – Quốc tế hoá một phần.              Đại học: Hội nhập.        Cách đây 30 năm, năm 1978, đã có câu trả lời bằng Giáo dục thực nghiệm: Trường thực nghiệm ra đời cùng với học sinh lớp Một bằng xương bằng thịt của Hà Nội.  Liệu có thể có một Nền giáo dục mà Ai cũng được học, ai cũng học được, học gì được nấy, học đâu chắc đấy?  Liệu có thể có một Nền giáo dục cho Học sinh cảm thấy Đi học là hạnh phúc! Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui?  Liệu có thể có một Nền giáo dục thừa nhận Trẻ em luôn luôn đúng để dám lấy Trẻ em làm căn cứ, làm nơi đi và nơi đến của toàn bộ hoạt động giáo dục của Người lớn?  Liệu có thể có một Nền giáo dục thả cho Trẻ 0-5 tuổi được tận hưởng tình yêu thương của gia đình, được tự do vui chơi thoải mái hết cỡ?  Liệu có thể có một Nền giáo dục “định nghĩa” các bậc học:  Tiểu học: Thuần Việt – hiện đại.  Trung học: Tự chọn – Quốc tế hoá một phần.  Đại học: Hội nhập.  Liệu có thể có một Nền giáo dục dám loại bỏ mọi sự cưỡng bức, áp đặt từ bên ngoài bằng những mẹo mực khen thưởng, trừng phạt, cho điểm, thi cử, bằng cấp, xếp loại…?  Cuối cùng, Trẻ em thế kỷ XXI sinh ra Trời đã cho 99,9% số gene giống nhau, không phụ thuộc vào nguồn gốc xuất thân và nơi sinh sống thì liệu Người có cho cơ hội 99,9% như nhau được hưởng giáo dục mình mong muốn?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống giáo dục và SGK phổ thông: Định hướng triết lý hệ thống ?      Hệ thống giáo dục phổ thông mở cho phép có nhiều nguồn sách giáo khoa để đa dạng hóa tiếp cận văn hóa, tri thức, phương pháp… có nhiều ưu điểm hơn hệ thống giáo dục đóng. Nhưng dường như chúng ta vẫn loay hoay giữa mở và đóng, và thiếu nhiều điều kiện để triển khai một hệ thống mở.    Một giờ học của học sinh trường Hoàng Ninh, Việt Yên, Bắc Giang. Ảnh: BN  Mở đầu  Hệ thống giáo dục phổ thông có thể được phát triển như là một hệ thống khép kín hoặc theo một hệ thống mở. Nếu theo hệ thống khép kín, sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình giáo dục rất hạn chế. Khi đó sách giáo khoa (SGK) là nguồn học liệu duy nhất và cũng chỉ có một nguồn SGK duy nhất do cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo sự thống nhất của toàn hệ thống. Trong trường hợp như vậy, Chương trình Giáo dục (CTGD) có thể được trình bày rất vắn tắt, ngắn gọn, và được thể hiện chủ yếu qua SGK. Một hệ thống như vậy có những hạn chế về phạm vi tiếp cận tri thức, phương pháp, tính đa dạng, nhưng lại có những ưu điểm về tính tinh gọn, dễ thực thi, sẽ phù hợp với những hoàn cảnh nhất định như trong chiến tranh.   Ngược lại, một hệ thống mở cho phép sự tham gia của nhiều bên liên quan, cũng đồng nghĩa với sự đóng góp tài lực và trí lực tập thể, là một hệ thống phức tạp hơn nhiều. Đây chính là hàm nghĩa của khái niệm “xã hội hóa” trong giáo dục. Với một hệ thống như vậy, Nhà nước quản lý chặt chẽ CTGD và giám sát việc triển khai chương trình, còn SGK chỉ là một yếu tố đầu vào để triển khai quá trình giáo dục. Hệ thống này cho phép nhiều nguồn SGK để đa dạng hóa tiếp cận văn hóa, tri thức, phương pháp… Việc đầu tư phát triển SGK cũng không chịu bất cứ sự hạn chế nào nhưng sản phẩm phải trải qua quá trình đánh giá, tuyển lọc khắt khe để có thể bước vào nhà trường. Hệ thống mở có nhiều ưu điểm, nhưng cần điều kiện để thực thi. Đó là năng lực của hệ thống, tức là các bên liên quan cần có đủ năng lực để tham gia.  Hiện trạng: đồng nhất và bất nhất  Tư duy và thực hành: mở hay đóng?  Theo các mô hình lý thuyết về giáo dục được xây dựng từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy CTGD đóng vai trò chính yếu trong khi SGK chỉ là một trong rất nhiều yếu tố đầu vào góp phần triển khai CTGD. CTGD xác định triết lý, nguyên lý, cách tiếp cận giáo dục, phương pháp sư phạm mà SGK hay bất cứ học liệu nào được lựa chọn cần phải đáp ứng. Tác giả CTGD và SGK cần phải hoàn toàn độc lập. Đặc biệt trong giáo dục theo cách tiếp cận dựa trên năng lực hay dựa trên chuẩn đầu ra, vai trò của SGK không còn quan trọng như trong giáo dục dựa trên nội dung khi trọng tâm của quá trình giáo dục đặt vào việc phát triển năng lực cho người học thay vì ‘nhồi’ thông tin, kiến thức. SGK thường được biên soạn theo chương trình đã có.  Xét ở khía cạnh ‘thực hành’, ở Việt Nam, việc vừa biên soạn SGK vừa ‘viết’ chương trình dường như là có tính truyền thống, thậm chí “SGK đi trước, chương trình đi sau”. Cải cách 1981 được triển khai theo hình thức cuốn chiếu, ‘vừa biên soạn SGK, vừa viết chương trình’ (theo mô tả của PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào). Cho đến cải cách chương trình và thay SGK 2000, Chương trình và SGK cũng tiếp tục được biên soạn cuốn chiếu, cụ thể Chương trình Tiểu học ban hành năm 2001, Chương trình THCS ban hành năm 2002 và Chương trình toàn vẹn được ban hành vào 2006. Các bản chương trình này khi được công bố đều cho thấy khá sơ sài, chủ yếu bao gồm thông tin về kế hoạch giáo dục ở các cấp học, phân bổ thời lượng theo bộ môn và khối lớp, và nội dung chi tiết về kiến thức theo từng khối lớp. CTGD phổ thông 2018 bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học cũng cho thấy cấu trúc tương tự, dù đã có thêm những thông tin về ý tưởng, cách tiếp cận giáo dục và phương pháp sư phạm. Có thể thấy việc xây dựng CTGD khá đơn giản, không tách bạch với việc biên soạn SGK. Việc nhiều người trong ban biên soạn CTGD phổ thông cũng chính là các tác giả, chủ biên, tổng chủ biên SGK cũng cho thấy sự không rõ ràng trong biên soạn Chương trình và SGK.   Một giờ đọc sách của học sinh trường Hoàng Ninh, Việt Yên, Bắc Giang. Ảnh: BN  Ngay cách đặt tên nhiệm vụ là ‘biên soạn chương trình’, và phân công vai trò “tổng chủ biên” CTGD cũng cho thấy vấn đề nhận thức về việc xây dựng và phát triển CTGD. CTGD không đơn giản là quá trình chắp bút ‘viết’ hay ‘biên soạn’ mà là một quá trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm dày công để có cơ sở đưa ra các đề xuất thiết kế hệ thống. Phải chăng việc nghiên cứu này được ẩn ngầm vào việc biên soạn SGK hay đã hoàn toàn không diễn ra?  Một điều đáng chú ý nữa, khi triển khai CTGD phổ thông 2018 với chủ trương nhiều bộ SGK đã có nhiều vướng mắc (trình bày cụ thể hơn ở phần sau) nhưng ngay lập tức, các thảo luận về SGK và Chương trình ở nhiều cấp lại quay trở về “một bộ sách”. Tranh luận về một bộ sách hay nhiều bộ sách lại trở về điểm xuất phát bởi nó dường như không có điểm neo về định hướng triết lý hệ thống. Vấn đề không phải nằm ở số ít hay số nhiều; vấn đề nằm ở định hướng chiến lược mở hay không mở và chiến lược này còn quyết định hàng trăm yếu tố khác nhau, không phải chỉ SGK và Chương trình.   Điều kiện thực hiện hệ thống mở: thiếu, yếu, không đồng bộ, thậm chí xung đột với nhau  Với các hệ thống giáo dục theo triết lý mở và khai phóng, việc phát triển SGK không phụ thuộc vào việc xây dựng chương trình. Việc đánh giá và lựa chọn SGK được thực hiện quy củ, thực chất và tuân thủ quy định đảm bảo chất lượng, được thực hiện bởi một hội đồng cấp sở bao gồm các chuyên gia giáo dục, ngôn ngữ, văn hóa, và giáo viên có kinh nghiệm theo bộ tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn SGK đã được ban hành. Điều đáng nói là quy trình này kéo dài hàng năm, trải qua nhiều vòng, nhiều phiên làm việc để đảm bảo chất lượng của học liệu được lựa chọn. Đặc biệt, quy trình đánh giá, lựa chọn học liệu, SGK được khởi động trong điều kiện các nguồn học liệu đã được phát hành trên thị trường, quy trình, tiêu chuẩn, tiêu chí đều đã được xây dựng, ban hành.     Tranh luận về một bộ sách hay nhiều bộ sách lại trở về điểm xuất phát bởi nó dường như không có điểm neo về định hướng triết lý hệ thống. Vấn đề không phải nằm ở số ít hay số nhiều; vấn đề nằm ở định hướng chiến lược mở hay không mở và chiến lược này còn quyết định hàng trăm yếu tố khác nhau, không phải chỉ SGK và Chương trình.    Đối với CTGD phổ thông 2018, mặc dù thời điểm triển khai Chương trình được lùi lại so với dự kiến hai năm, SGK cũng chỉ có mặt trên thị trường trước khi năm học 2020-2021 bắt đầu khoảng ba tháng. Khoảng thời gian này là quá ngắn, không cho phép việc tập hợp, phân tích cặn kẽ, đầy đủ để có thể đưa ra đánh giá. Chưa kể các bộ sách không có đủ như dự kiến (chỉ có 3 bộ thay vì 5 bộ như kế hoạch điều chỉnh), và mỗi bộ sách được ban hành ‘cuốn chiếu’ nên cũng không đủ cả bộ các năm để có thể đánh giá toàn diện tính hệ thống, tính nhất quán của bộ sách.   Việc không có nhiều tài liệu (các bộ sách) để lựa chọn, sách không có đủ bộ và chỉ được phân phối đến các trường trong thời gian quá ngắn đã khiến cho việc thẩm định, lựa chọn chỉ mang tính hình thức. Trong bối cảnh gấp gáp, vội vã và lúng túng đó, việc kiểm soát tác động của hoạt động quảng cáo, marketing, ‘vận động hành lang’ cho các bộ sách để đảm bảo đánh giá khách quan, chính xác là khó thực hiện.   Cuối cùng, không thể không nhắc tới bộ tiêu chí lựa chọn SGK. Có thể thấy hầu hết các tỉnh đều đã ban hành bộ tiêu chí để lựa chọn SGK. Điều dễ thấy là các bộ tiêu chí này có nhiều khác biệt về cả nội dung và cấu trúc. Việc ban hành một bộ tiêu chí là không khó, nhưng thách thức ở chỗ liệu bộ tiêu chí có thể sử dụng được, có đủ rõ ràng để giúp những cán bộ, giáo viên liên quan lựa chọn được SGK hay không. Có lẽ còn cần có những đánh giá, rà soát, phân tích sâu hơn.   Ở một số quốc gia như Australia, giáo viên được trao toàn quyền lựa chọn học liệu để giảng dạy và để học sinh học tập. Nói chung, nhà trường được trao quyền tự chủ và có trách nhiệm tối ưu hóa học liệu, học cụ theo nhu cầu thực tế sử dụng, tránh lạm dụng và lãng phí.   Vậy mở hay đóng?  Quyết định này có thể nằm trong phạm vi quyết định của cá nhân mỗi chúng ta hay không thể hiện hệ thống được thiết kế đóng hay mở, và mở đến đâu. Lẽ dĩ nhiên, chính chúng ta phải trang bị cho mình những năng lực cần thiết, những kiến thức, hiểu biết và nền tảng lập luận rành mạch để có thể tham gia hiệu quả vào một hệ thống mở, nếu có, và để đưa ra quyết định và lựa chọn, mà không ‘đẽo cày giữa đường’.   CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM NHỮNG GÌ?   Điều cốt yếu trước khi nghĩ tới bất cứ đề xuất nào là việc xác định thiết kế hệ thống: đóng hay mở; mở ở những chiều kích nào, và mở đến đâu, qua đó xác định những nguyên tắc định hướng phát triển căn bản. Điều này cũng giúp chúng ta tránh những cải cách nửa vời, lãng phí. Có nhiều yếu tố chỉ báo cho thấy hệ thống giáo dục Việt Nam đang phát triển theo hướng hệ thống mở; do vậy các đề xuất dưới đây được đưa ra theo định hướng như vậy.  1. Đặt SGK vào vị trí phù hợp, nhất quán với thiết kế hệ thống  Việc ‘mở’ nguồn SGK thay vì chỉ có một bộ SGK duy nhất là phù hợp và là tất yếu. Tuy nhiên đi với nó cần có những điều chỉnh tổng thể nhằm đồng bộ hóa hệ thống, đảm bảo tính nhất quán để việc ‘mở’ nguồn SGK có thể thực hiện thành công. Cụ thể, các chương trình đào tạo giáo viên, bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên phổ thông và cán bộ quản lý giáo dục cần trang bị kỹ năng, phát triển năng lực đánh giá, lựa chọn tài liệu, học liệu, SGK. Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cần đặt ra yêu cầu về năng lực này. Quy định, quy trình và tiêu chuẩn đánh giá, phân tích và lựa chọn SGK tại các địa phương cần được rà soát, điều chỉnh, đảm bảo tính khoa học, nhất quán về triết lý, cách tiếp cận giáo dục, phương pháp sư phạm với CTGD phổ thông, đặc biệt cần lưu ý thời gian tối thiểu để đảm bảo quá trình thực hiện đảm bảo chất lượng.   2. Phát triển học liệu mở và tài liệu số hóa, blended learning với và EdTech  Blended learning, kết hợp giữa học tập trực tiếp và trực tuyến, đã được phát triển và ứng dụng từ nhiều năm nay ở các nước phát triển, nhưng có lẽ sau đại dịch Covid-19, các nước đang phát triển như Việt Nam mới có đà và động lực để triển khai blended learning. Năm học 2022-2023, thành phố Hồ Chí Minh cũng triển khai blended learning với 35% thời lượng online. Rất nhiều chương trình học tập trực tuyến cho bậc phổ thông hệ K-12 đã được phát triển và sử dụng rộng rãi ở nhiều nước. Việc áp dụng EdTech – công nghệ vào giáo dục cho phép các nhà thực hành sư phạm, giáo viên triển khai đổi mới phương pháp một cách hiệu quả.   Đọc sách ở câu lạc bộ Ô Xinh, nơi thực hiện phương pháp giáo dục và học bộ sách Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ trương. Ảnh: CLB Ô Xinh.  Việc số hóa các nguồn học liệu, đặc biệt là tài liệu tham khảo, các tài liệu bổ trợ, tài liệu thiết kế các hoạt động tương tác đi kèm các bộ SGK nhằm hỗ trợ phân phối tài liệu miễn phí đến các vùng miền là một giải pháp có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng SGK lên học sinh cũng như hệ thống. Tùy theo vùng miền, việc số hóa toàn bộ SGK để xây dựng thư viện trực tuyến mở cho giáo viên và học sinh truy cập miễn phí hoặc thu một khoản phí đăng ký nhỏ hoặc trang bị SGK cho thư viện trường để cho mượn lâu dài cũng là những giải pháp cắt giảm lãng phí in ấn và phân phối SGK hiện đang đổ vào hộ gia đình.   Tuy nhiên, một lần nữa cần phải nhấn mạnh rằng, bất cứ giải pháp nào cho những bất cập về SGK, cần phải đồng bộ với các yếu tố khác trong hệ thống. Đồng thời, để có các giải pháp căn cơ, đối với mỗi bộ sách, cần phân biệt rõ những đầu sách bổ trợ, tham khảo, có tính chất không bắt buộc với những đầu sách cốt lõi, bắt buộc, và các trường phải chịu trách nhiệm giải trình về danh sách những đầu sách (và học cụ) mà học sinh bắt buộc phải mua.  3. Đổi mới công tác đào tạo giáo viên  Để việc ‘mở’ học liệu và SGK có hiệu quả, thực chất và bền vững, việc tối quan trọng là nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên để họ có thể làm chủ nguồn học liệu, có năng lực đánh giá, phân tích, lựa chọn và sử dụng linh hoạt các nguồn học liệu khác nhau trong giảng dạy. Do vậy chương trình đào tạo giáo viên cần trang bị cho người học nền tảng kiến thức chuyên môn vững chắc, những kỹ năng cần thiết để lập kế hoạch bài giảng và thực hành giảng dạy mà không lệ thuộc vào SGK, thậm chí ‘thoát ly’ SGK trong môi trường lớp học mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức và có thể áp dụng các phương pháp sư phạm một cách thuần thục, nhuần nhuyễn. Việc điều chỉnh chuẩn đầu ra của chương trình sư phạm kéo theo cấu trúc, nội dung của chương trình đào tạo, cũng như phương pháp sư phạm thay đổi.   4. Tăng cường giám sát đối với việc xuất bản, phát hành và phân phối SGK  Để tăng cường giám sát từ nhiều phía đối với việc xuất bản, phát hành và phân phối SGK, trước hết cần phải tăng cường minh bạch hóa thông qua cung cấp, công bố thông tin chính thống rộng rãi về SGK. Bộ GD&ĐT và/hoặc các sở GD&ĐT công bố các bộ SGK được phê duyệt, công nhận kèm theo danh mục các đầu sách bắt buộc, sách tham khảo, sách bổ trợ tự chọn đi kèm mỗi bộ sách. Nhà xuất bản cần công bố danh mục theo các bộ sách kèm theo giá và chính sách giá để phụ huynh và nhà trường đều có thể tiếp cận thông tin. Đối với các trường phổ thông, trường cần phải công bố danh mục đầu sách được chọn để sử dụng trong nhà trường trước khi năm học mới bắt đầu trong đó nêu rõ những đầu sách bắt buộc và tự chọn. Đối với những đầu sách, tập bài không bắt buộc hoặc chỉ sử dụng một phần, nhà trường và giáo viên cần công bố phương án đảm bảo cung cấp học liệu đầy đủ cho toàn bộ học sinh. Việc công khai thông tin về SGK từ các bên là một cơ chế cho phép sự giám sát toàn diện, cho phép phụ huynh tham gia, có cơ hội lựa chọn, đồng thời tăng cường hiểu biết và có trách nhiệm với việc học tập của chính con em mình.   Đối với các trường phổ thông, cần có chính sách loại bỏ lợi ích của trường và các cá nhân lãnh đạo, quản lý nhà trường trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến SGK và học liệu, cụ thể là hoa hồng từ việc phân phối SGK. Bằng cách này có thể góp phần loại bỏ nguồn gốc gây ra ‘xung đột lợi ích’, qua đó giảm thiểu nguy cơ học sinh phải gánh thêm những chi phí học tập ngoài mức cần thiết. Các công cụ giám sát như thanh tra tài chính, kiểm toán độc lập thường niên có thể được sử dụng để đảm bảo chính sách này được thực thi.   5. Hỗ trợ kỹ thuật cho địa phương và các trường phổ thông  Trong khi chờ những thay đổi trong đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm, cơ quan quản lý giáo dục địa phương và các trường phổ thông cần được hỗ trợ chuyên môn để có thể triển khai việc phân tích, đánh giá, thẩm định và lựa chọn SGK một cách hiệu quả. Gói hỗ trợ chuyên môn có thể bao gồm hướng dẫn về tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá SGK, các bộ tiêu chí phụ trợ, chẳng hạn bộ tiêu chí phân loại văn bản cho môn Tiếng Việt, hướng dẫn quy trình thực hiện, việc thành lập hội đồng đánh giá, vv. Hỗ trợ chuyên môn về nội dung này có thể kết hợp với hỗ trợ chuyên môn về xây dựng CTGD địa phương Bộ GD&ĐT đang triển khai. Đây có thể coi là một phần trong các hoạt động nâng cao năng lực cho địa phương để đảm bảo chất lượng và sự phù hợp của bộ SGK được lựa chọn, đảm bảo tính khoa học, sự khách quan của những người có trách nhiệm, tránh bị thao túng bởi NXB hay các nhà phân phối sách và học liệu.   6. Xây dựng quy trình đảm bảo chất lượng SGK  Để đảm bảo chất lượng SGK, cần rà soát quy định về biên soạn và thẩm định SGK, trong đó cần đặt ra quy định về việc thực nghiệm đối với toàn bộ các bài học trong SGK dưới nhiều hình thức khác nhau, thực nghiệm với lớp học có đối tượng học sinh phù hợp, thực nghiệm với lớp học mô phỏng, thực nghiệm với giáo viên, giáo sinh, vv. Đồng thời cũng cần quy định về đảm bảo chất lượng việc lựa chọn văn bản, ngôn ngữ cho một số môn học như Tiếng Việt/Ngữ Văn. Đồng thời, bộ quy tắc chống ‘xung đột lợi ích’ cần được xây dựng và áp dụng cho toàn bộ quy trình biên soạn, thẩm định, và lựa chọn SGK ở các cấp khác nhau nhằm hạn chế tối đa tác động của nhân sự tham gia vào các quá trình này làm giảm tính khách quan, công tâm của các kết luận về SGK, qua đó, nâng cao chất lượng SGK được phê duyệt, thẩm định và lựa chọn.   Kết luận  Thời điểm này có lẽ không phải là phù hợp để bàn về việc xây dựng CTGD phổ thông bởi CTGDPT 2018 vừa mới được phê duyệt, ban hành và đưa vào thực hiện. Tuy nhiên, cho một con đường dài, cần phải tách bạch việc xây dựng, phát triển CTGD và SGK. CTGD cho hệ thống giáo dục quốc dân là sản phẩm của nghiên cứu tầm vĩ mô, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan liên ngành, trong khi đối tượng tham gia vào việc biên soạn SGK hoàn toàn là các nhà chuyên môn thuần tuý về giáo dục, sư phạm. Việc phát triển CTGD là nhằm hiện thực hóa không chỉ Chiến lược giáo dục, mà cả Chiến lược phát triển con người, Chiến lược phát triển Kinh tế, Xã hội…, cần phải được đặt vào tay của những người đủ năng lực khoa học để thực hiện nhiệm vụ này. Việc này cần một Tổng công trình sư có tầm nhìn và kiến thức vượt khỏi ‘truyền thống’, ‘thói quen’ và ‘kinh nghiệm’, tiếp cận khoa học giáo dục thế giới. Chúng ta không thể có một thế hệ trẻ ‘sánh vai các cường quốc năm châu’ mà ‘cha đẻ’ của CTGDPT lại chỉ quẩn quanh ‘lũy tre làng’. Tất nhiên, điều này cần sự hợp sức của những cá nhân, làm việc với trách nhiệm cá nhân, phối hợp với tinh thần tập thể hợp tác.□  Tài liệu tham khảo  Giáo dục Việt Nam, (2018). Những quy luật bất thường qua 3 lần thay sách giáo khoa. Tại: https://giaoduc.net.vn/nhung-quy-luat-bat-thuong-qua-3-lan-thay-sach-giao-khoa-post186972.gd  Nguyễn Xuân Hãn, (2021). Đổi mới Sách giáo khoa – 45 năm chưa tìm thấy “chuẩn kiến thức”. Available at: http://baovannghe.com.vn/fcviet-1-2-24124.html  Smith, A. (1985). Textbook Selection: A More Defined Way. American Secondary Education, 14(3), 6–9. http://www.jstor.org/stable/41063726VietNamNet, (2013). Ba kỳ bộ trưởng chưa xong sách giáo khoa. Truy cập tại: https://vietnamnet.vn/ba-ky-bo-truong-chua-xong-sach-giao-khoa-135997  html?fs=e&s=cl&fbclid=IwAR0XU i3rxESua1Ks1tYp4ZyXmIm5NOQ_N8ZHE4YHQV9GI0JfcLuJr3Rb0to    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Hệ thống  xếp hạng  đại học mới  của châu Á      Vừa qua, sau khi kết quả xếp hạng đại học châu Á năm 2010 được Quacquarelli Symonds (QS) công bố, công chúng trong nước đã ráo riết đặt câu hỏi: “Hiện nay đại học Việt Nam đang ở đâu, và khi nào chúng ta mới có mặt trong các bảng xếp hạng khu vực và thế giới?” Để trả lời câu hỏi này, cần nhớ rằng mỗi bảng xếp hạng sử dụng các tiêu chí chất lượng, các chỉ số và cách chấm điểm khác nhau. Vì vậy, không nên tuyệt đối hóa các kết quả xếp hạng, mà quan trọng hơn là hiểu rõ ý nghĩa và những hạn chế của chúng, để có thể có những chuẩn bị cần thiết để lựa chọn và tham gia các hệ thống xếp hạng khi cần. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết này của tác giả Richard Holmes, đã đăng trên tờ báo mạng University World News (Tin giáo dục đại học thế giới) ngày 16/5/2010 vừa qua. Richard Holmes hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Teknologi MARA, Shah Alam, Malaysia và là chủ trang blog mang tên University Ranking Watch (Theo dõi xếp hạng đại học thế giới) tại địa chỉ http://rankingwatch.blogspot. com/.&#160;&#160; Vũ Thị Phương Anh dịch và giới thiệu                        Kết quả xếp hạng các đại học châu Á do Công ty QS thực hiện mới công bố gần đây chắc chắn sẽ gây ra những tranh cãi nóng trên toàn châu Á.   Có rất nhiều điều gây ngạc nhiên: không chỉ là những thay đổi so với kết quả xếp hạng đại học châu Á năm ngoái ,mà kết quả này còn rất khác với kết quả xếp hạng thế giới cũng do QS thực hiện, mặc dù hai bảng xếp hạng này có sử dụng chung một số dữ liệu.   Đại học Quốc gia Singapore đã tăng hạng đáng kể, từ vị trí thứ 10 lên vị trí thứ 3 trong khi Đại học Bắc Kinh, năm trước đồng hạng với NUS, nay đã rớt hoàn toàn ra khỏi 10 vị trí đầu.   Chắc chắn sẽ có những lời khiếu nại về vị trí đầu bảng của trường Đại học Hong Kong và tiếp theo là trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong, trong khi trường Đại học Tokyo, có vị trí thứ năm trong các kết quả xếp hạng này, lại là trường đại học châu Á có vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng thế giới của THE-QS hồi năm ngoái.   Nhìn chung, các vị trí đầu trong bảng xếp hạng này chủ yếu do Hong Kong và Nhật Bản chiếm lĩnh, trong khi Trung Quốc và Hàn Quốc lẹt đẹt theo sau, một điều có thể làm nhiều người ngạc nhiên khi xem xét thành quả nghiên cứu của hai quốc gia này. Các học viện công nghệ của Ấn Độ có kết quả khá tốt, trong khi kết quả xếp hạng của các trường đại học ở Thái  Lan, Malaysia và Philippines nói chung là ở mức trung bình.   Trong thời gian năm năm, QS đã hợp tác với bản Phụ trương Giáo dục đại học của tờ báo Times (THE) để thực hiện bảng xếp hạng các trường đại học thế giới. Mối quan hệ đối tác này đã đi đến một kết thúc gay gắt và giờ đây hai tổ chức QS và THE tạo ra các bảng xếp hạng thế giới độc lập của riêng mình.   Có vẻ như QS đang cố gắng phát triển các bảng xếp hạng ổn định của khu vực: bảng xếp hạng các trường đại học châu Á đầu tiên đã ra đời năm ngoái và hiện nay công ty này đang chuẩn bị ra mắt bảng xếp hạng thế giới cho Ả Rập và khu vực châu Mỹ La-tinh.   Ấn bản kết quả lần thứ hai của bảng xếp hạng các trường đại học châu Á sẽ được rất nhiều trường đại học ở châu Á hân hoan chào đón. Các bảng xếp hạng có thể có lỗi nhưng chúng cũng cung cấp được các thông tin dễ dàng sử dụng cho sinh viên, các nhà quản lý cùng các bên liên quan khác.   Trong vài năm qua, thái độ đối với các bảng xếp hạng trường đại học ở châu Á đã thay đổi đáng kể. Sự thiếu hưởng ứng của các trường đại học trong khu vực trước đây đã đóng góp vào sự sụp đổ của bảng xếp hạng các trường đại học châu Á của tờ báo Asiaweek năm 2001.   Vậy mà giờ đây có thể thấy họ háo hức xếp hàng tham gia các hội nghị do QS tổ chức, đồng thời theo dõi sát sao vị trí của mình trong các bảng xếp hạng do QS hoặc của trường Đại học Giao thông Thượng Hải, và ở một mức độ thấp hơn là bảng xếp hạng của  Webometrics.   Bảng xếp hạng châu Á hiện nay dựa trên bảng xếp hạng đại học thế giới của QS, sử dụng một cách tiếp cận tương tự mặc dù cũng có một số khác biệt đáng kể.             Sinh viên Đại học Quốc gia Seoul        Một cách ngắn gọn, sự khác biệt ở đây là trong số dành cho các cuộc khảo sát ý kiến của giới học thuật, mà QS khăng khăng gọi là đánh giá đồng nghiệp, giảm từ 40% xuống còn 30%, đưa vào thêm hai tiêu chí về mức độ quốc tế hóa là số lượng sinh viên trao đổi gửi ra và nhận vào để bổ sung vào hai tiêu chí sẵn có là số lượng giảng viên và sinh viên quốc tế, và sử dụng hai tiêu chí mới về thành tích nghiên cứu là số bài báo trên giảng viên và số lần trích dẫn trên bài báo.   Tiêu chí đầu tiên nhằm đo lường kết quả nghiên cứu bình quân của các giảng viên và tiêu chí thứ hai nhằm đo bình quân tầm ảnh hưởng của các bài báo do trường công bố. Hai tiêu chí này được tính tỷ lệ 30% tổng số điểm, còn trong bảng xếp hạng thế giới thì chỉ có tiêu chí số lần trích dẫn trên mỗi bài báo với tỷ lệ là 20%.  Một đặc điểm rất đáng hoan nghênh của bảng xếp hạng này là nó cung cấp thông tin về điểm số cho từng chỉ số, đồng thời cũng nêu điểm số của chỉ số đó trong năm 2009, cho phép thực hiện một số phân tích chi tiết.   Nhiều người sẽ thắc mắc tại sao trường Đại học Hong Kong đang được xếp ở vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng đại học châu Á trong khi nó được xếp ở vị trí thấp hơn trường Đại học Tokyo trong bảng xếp hạng thế giới của QS-THE hồi năm ngoái.   Sự mâu thuẫn hiển nhiên này là kết quả của việc sử dụng cùng một nguồn dữ liệu được theo những phương pháp đối sánh khác nhau. Về cơ bản, trường Đại học Tokyo tốt hơn trường Đại học Hong Kong về kết quả “đánh giá học thuật của đồng nghiệp”, đánh giá của nhà tuyển dụng, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên, số bài báo trên giảng viên, và hơi thấp hơn về số lần trích dẫn trên mỗi bài báo, nhưng kém xa khi xét trên các chỉ số về mức độ quốc tế hóa.   Các chỉ số về mức độ quốc tế hóa chỉ chiếm 10% điểm số tổng thể, cũng giống như trong bảng xếp hạng thế giới. Nhưng hiệu quả của việc so sánh thứ hạng cao nhất trên từng chỉ số đã tạo ra một tầm quan trọng lớn hơn cho những điểm số này.   Kết quả là Hong Kong dẫn đầu, không phải vì bất kỳ sự cải tiến thực sự nào kể từ cuối năm ngoái, mà chỉ do một thay đổi tùy hứng trong cách chuẩn hóa số liệu của QS.   Vậy tại sao Đại học Quốc gia Singapore (NUS) lên hạng nhiều đến thế trong năm nay? Điều này cũng khá đơn giản: trong bảng xếp hạng thế giới năm 2009 và trước đó, cũng như trong bảng xếp hạng châu Á, NUS không thua kém bất kỳ trường đại học châu Á nào trên mọi chỉ số, ngoại trừ một chỉ số duy nhất.   Đó là tỷ lệ sinh viên trên giảng viên, với điểm số không mấy ấn tượng là 46/100 trong bảng xếp hạng thế giới và 51/100 trong bảng xếp hạng đại học châu Á.  Vậy mà trong bảng xếp hạng đại học châu Á năm 2010, điểm của NUS đã tăng vọt lên đến 92,7.   Nói ngắn gọn, đến tận cuối năm ngoái NUS vẫn báo cáo tỷ lệ này là khoảng 14.  Nhưng đến năm nay thì số lượng học giả được sử dụng để tính toán tỷ lệ này bỗng tăng gấp đôi vì công thức cho phép tính cả cán bộ nghiên cứu trong tổng số giảng viên, và vì vậy tỷ lệ này giảm xuống còn có 6,25 – một trong những tỷ lệ thấp nhất ở châu Á.   Cần nhấn mạnh rằng NUS đã không hề làm điều gì phi đạo đức: QS nêu rõ rằng các cán bộ chuyên nghiên cứu nhưng không giảng dạy cũng được tính trong tổng số giảng viên. Tuy nhiên, sự tăng hạng của NUS trong năm nay không hề có liên quan đến bất kỳ sự cải tiến nào, cũng như kết quả chưa xuất sắc của NUS năm ngoái chẳng phản ánh bất kỳ sự khiếm khuyết thực sự nào.   Một vài chỉ số đã thay đổi rất nhiều từ năm 2009 đến năm 2010. Ví dụ, một số trường có kết quả tốt vì đạt điểm cao về mức độ quốc tế hóa. Nếu các kết quả xếp hạng này có thể tin được, thì hẳn trong năm cả châu Á phải có sự mở rộng một cách ấn tượng về các chương trình trao đổi sinh viên, cả đưa sinh viên ra nước ngoài và nhận sinh viên ngoại quốc vào, mà đặc biệt là ở Hàn Quốc và Nhật Bản.   Nếu xét việc đưa sinh viên đi trao đổi, có thể thấy rằng trường ĐH Daejin đã tăng từ 23,1 lên đến 99,9 điểm, ĐH Seoul từ 48 lên đến 94,9 điểm, và ĐH Yonsei từ 43,1 lên đến 90,4 điểm. Nhưng những thay đổi này chẳng thấm vào đâu khi so sánh với ĐH Nông nghiệp và Công nghệ Tokyo, khi điểm số của trường này tăng vọt từ 3,9 lên đến 100 điểm.   Nếu quả thực có sự tăng trưởng phi thường như vậy về số lượng các chương trình trao đổi thì cũng cần phải tự hỏi, vào thời điểm suy thoái kinh tế thế giới như thế này, liệu đây có phải là cách sử dụng tốt nhất ngân quỹ của Chính phủ hay tiền thu từ học phí của người học chăng?   Rõ ràng là sự tăng trưởng đáng kể về số lượng các chương trình trao đổi sinh viên châu Á như báo cáo của các trường chẳng qua chủ yếu là vì nó là một chỉ số để chấm điểm trong bảng xếp hạng QS.   Đáng chú ý là các trường đại học Trung Quốc có vị trí khá tốt trong bảng xếp hạng nhưng không quá xuất sắc. Khi đối chiếu với việc Trung Quốc gần đây đã đẩy mạnh công bố khoa học như báo cáo của Thomson Reuters, giờ đây là tổ chức cung cấp dữ liệu cho THE, nguyên đối tác của QS, kết quả này có vẻ đáng ngạc nhiên.   Nhưng có vẻ như Trung Quốc đang theo đuổi chính sách phát triển nghiên cứu ở cấp cơ sở, nhấn mạnh sự phát triển về quy mô nhưng không phải lúc nào cũng có chất lượng cao.   Hiện Trung Quốc đang thiếu hụt các nhà nghiên cứu có tầm cỡ. Toàn bộ lục địa Trung Quốc chỉ có được bốn nhà nghiên cứu có chỉ số trích dẫn cao được nêu bởi ISI so với Hong Kong có đến 20 người.   Trong khi đó, chỉ tính ba trường đại học của Saudi Arabia đã có đến 20 nhà nghiên cứu có chỉ số trích dẫn cao.  Những bản tường thuật về nạn đạo văn và lời than phiền về sự giảm sút chất lượng của nghiên cứu có thể hơi có chút cường điệu, nhưng nó cũng cho thấy Trung Quốc dường như đã bắt đầu hụt hơi trong việc mở rộng nghiên cứu và điều này có thể đã được phản ánh qua các thứ hạng mờ nhạt trong bảng xếp hạng.   Để kết luận, có thể nói bảng xếp hạng châu Á có những sai sót tương tự như bảng xếp hạng thế giới và vì thế dễ gây hiểu nhầm ở nhiều khía cạnh. Vì vậy, không nên xem kết quả xếp hạng đại học châu Á là những số đo hoàn hảo về chất lượng.   Các chỉ số về số lượng bài báo và tần số trích dẫn mang tính thiên vị đối với các ngành công nghệ và y học, trong khi các chỉ số khác thì rất dễ bị thay đổi.  Các chỉ số đánh giá của đồng nghiệp và đánh giá của nhà tuyển dụng thì lại chủ quan và thiếu tính đại diện.   Những sự tùy tiện về phương pháp có thể dẫn đến những sự lên hạng hoặc xuống hạng mà không phản ánh bất kỳ thay đổi thực sự nào. Mặc dù vậy, bảng xếp hạng này vẫn và sẽ tiếp tục trong tương lai gần là nguồn thông tin so sánh duy nhất của số không nhỏ các trường đại học của châu Á.   ————-  * Richard Holmes giảng dạy tại Trường ĐH Teknologi MARA, Shah Alam, Malaysia và là chủ trang blog mang tên University Ranking Watch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện trạng giáo dục Việt Nam nhìn từ quan điểm phê phán của triết học Nietzsche      Trong tâm thức người Việt Nam, “tranh luận” dễ bị đồng nhất với “tranh cãi” hay “tranh chấp”, phê phán thường bị hiểu ngầm là “chê bai, coi thường”. Thêm vào đó là truyền thống “Tôn sư trọng đạo”: thầy gần như cha hoặc thậm chí còn hơn cha, mà cha thì chỉ “dạy từ trên xuống”. Những lề lối tư duy và hành động ấy đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc, quy định cách thức mà hệ thống giáo dục của chúng ta đang vận hành.      Theo Chỉ số phát triển giáo dục (EDI) năm 2008 do UNESCO công bố, Việt Nam đứng thứ 79/129 nước, tức là tụt 9 bậc so với năm 2004 dù đầu tư của Chính phủ cho giáo dục không ngừng tăng lên. Kết quả này khiến chúng ta phải “giật mình” về chất lượng của nền giáo dục [1]. Một trong những lý do khiến đại học Việt Nam nói riêng, giáo dục Việt Nam nói chung vẫn ở trong tình trạng yếu kém, thiết nghĩ chính là do sự thiếu vắng nghiêm trọng của tinh thần phê phán. Đây cũng chính là vấn đề mà chúng tôi muốn soi chiếu từ quan niệm về phê phán của triết học Nietzsche, trong bài viết này.    “Tranh luận” không phải là “tranh cãi” hay “tranh chấp”*  Ngay từ những trang đầu tiên của cuốn Nietzsche và triết học [2], Deleuze xác định rõ quan niệm của Nietzsche về sự phê phán: Phê phán không phải là một phản ứng của sự phẫn hận, mà là biểu hiện tích cực của một lối sống tích cực: tấn công nhưng không trả thù: tính xâm hấn tự nhiên của một phương thức tồn tại, sự độc ác thần thánh mà không có nó ta không thể hình dung được sự hoàn thiện (tr. 3-4).  Deleuze sau đó còn nhiều lần nhắc lại tư tưởng đó của Nietzsche, chẳng hạn: […] sự phê phán là sự phủ định dưới hình thức mới này: sự phá hủy trở thành hoạt năng, thành tính xâm hấn hết sức gắn bó với khẳng định. Phê phán là phá hủy trong tư cách là niềm vui , là sự xâm hấn của kẻ sáng tạo. Kẻ sáng tạo các giá trị không tách biệt với kẻ hủy diệt, không tách biệt với một tội đồ hay một người phê phán: phê phán các giá trị đã được thiết lập, phê phán các giá trị phản ứng, phê phán sự hèn hạ (trang 121).  Nếu ứng dụng tinh thần này vào giáo dục, ta sẽ thấy, ngay từ những cấp lớp đầu tiên, học sinh cần được rèn luyện tư duy phê phán một cách khoa học. Cụ thể, học sinh được rèn luyện vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc… từ khả năng quan sát và kinh nghiệm, từ việc thu thập chứng cứ, thông tin, lý lẽ nhằm đưa ra nhận định về sự việc, ra quyết định, và hình thành cách ứng xử của mình. Tư duy phê phán do đó trở thành nền tảng để phát triển tư duy độc lập – yếu tố không thể thiếu khi con người phải thường xuyên đối diện với những vấn đề đa dạng trong cuộc sống. Phê phán tích cực giúp học sinh, sinh viên tránh được cái sai, xấu, lỗi thời và hướng đến cái mới tốt hơn, hoàn thiện hơn trên con đường sáng tạo không ngừng.   Đáng tiếc là tinh thần phê phán đó vẫn chưa phát triển trong xã hội Việt Nam hiện nay nói chung, và trong trường học Việt Nam nói riêng.  Một trong những đặc điểm văn hóa và tư duy của người Việt là đề cao quan hệ xã hội theo hướng “dĩ hoà vi quý”. Khác với phương Tây, ý thức cá nhân trong xã hội truyền thống Việt Nam hoàn toàn bị thủ tiêu. Do đặc điểm này, “tranh luận” sẽ dễ dàng bị đồng nhất với “tranh cãi” hay “tranh chấp”, nghĩa là những thái độ tiêu cực mang tính cá nhân, cục bộ, địa phương hay gây mất đoàn kết. Vì vậy, trong tâm thức người Việt Nam, phê phán thường bị hiểu ngầm là “chê bai, coi thường”. Thêm vào đó là truyền thống “Tôn sư trọng đạo”: thầy gần như cha hoặc thậm chí còn hơn cha, mà cha thì chỉ “dạy từ trên xuống”. Những lề lối tư duy và hành động ấy đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc, quy định cách thức mà hệ thống giáo dục của chúng ta đang vận hành.  Cụ thể, cách thức giáo dục nặng về truyền đạt, nhồi nhét kiến thức và có phần áp đặt, theo mẫu, thiếu phát huy suy nghĩ độc lập vẫn đang tồn tại phổ biến ở nước ta hiện nay. Thật khó có thể đào tạo nên những con người năng động sáng tạo một khi học sinh, sinh viên luôn chịu áp lực rất lớn không những vì chương trình quá tải mà còn vì phải làm theo những bài mẫu, đáp án mẫu, phải ghi nhớ những kiến thức và lý lẽ có sẵn trong bài giảng, bất chấp nó có còn phù hợp với thực tế cuộc sống và kiến thức của nhân loại hay không. Không những thế, cách thức giáo dục này còn làm mai một dần tính năng động và năng lực tư duy của học sinh, sinh viên và tạo ra những con người giỏi bắt chước hơn sáng tạo, nhìn sự việc bằng con mắt của người khác, suy nghĩ và hành động bằng cái đầu của người khác.   Khác biệt không có nghĩa là lập dị, không biết không có nghĩa là kém hiểu biết  Vừa qua, báo chí đã dành sự quan tâm đáng kể cho sự kiện một sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCM, sau khi “cãi” một giáo sư người Mỹ đã được ông tài trợ chi phí để sang Mỹ tham quan và học tập [3]. Việc một sinh viên “dám” phản biện giáo sư – vốn rất bình thường trong các trường học ở phương Tây – lại được công luận trong nước chú ý như thế, chứng tỏ tinh thần phê phán trong học tập của sinh viên Việt Nam vẫn còn rất yếu kém. Sản phẩm của cách thức giáo dục này khó có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng gay gắt của thời đại toàn cầu hóa. Bảng xếp hạng 100 trường Đại học hàng đầu Đông Nam Á năm 2010 của Webometrics đã minh chứng cho điều đó: Việt Nam chỉ có 6 trường lọt vào danh sách với các thứ hạng lần lượt là 41, 46, 58, 61, 66 và 85; hiện chưa đại học nào của Việt Nam có vị trí trong bảng xếp hạng các đại học hàng đầu châu Á cũng như thế giới [4].   Nền giáo dục của chúng ta đang nợ người dân một lời thừa nhận thẳng thắn, trung thực về sự thật và cội nguồn của tình trạng yếu kém đó.   Nietzsche nói: Tư duy có nghĩa là: khám phá, sáng tạo những khả năng mới của đời sống (tr. 139). Hệ thống giáo dục của chúng ta cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên thói quen không bao giờ mặc nhiên công nhận điều gì mà chưa có cơ sở chắc chắn và luôn ý thức rằng: không có gì là tuyệt đối; ai cũng có thể sai, sách cũng có thể sai; chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về đa số. Nghĩa là, học sinh, sinh viên cần được giáo dục để biết “cười” khi nghe sự khẳng định về một sự thật, một chân lý duy nhất, giống như “[…]Các thần linh đã chết, nhưng họ chết vì cười, khi nghe một Đức Chúa nói rằng mình là Đức Chúa duy nhất.” (tr. 5)  Ngoài ra, nền giáo dục cũng cần rèn luyện cho học sinh bản lĩnh ứng xử với những trở ngại có thể có từ cộng đồng mà tinh thần phê phán và tư duy phản biện còn chưa cao. Đó là khi ý kiến của bản thân mâu thuẫn với ý kiến lãnh đạo thì dễ bị cho là sai, không trung thành; ý kiến khác biệt với suy nghĩ của đa số thì dễ bị quy chụp là lập dị; khi mạnh dạn nói “điều đó tôi không biết, không thể” thì dễ bị cho là kém hiểu biết; thay đổi ý kiến khi phát hiện mình sai dễ bị cho là không có lập trường kiên định… Nghĩa là, cần giúp học sinh nuôi dưỡng “bản năng hướng về tri thức bị buộc không ngừng phải từ bỏ mảnh đất nơi con người quen sống và lao vào cái không chắc chắn” để “tư duy vượt lên trên những giới hạn mà đời sống ấn định cho nó”. Khi đó, “tư duy không còn là một hệ số, đời sống không còn là một phản ứng” (tr. 140).  Thực tế cho thấy bộ máy Nhà nước với việc đề cao tinh thần phê phán và tinh thần phản biện của mọi tầng lớp trong xã hội chính là nền tảng cho sự phát triển của các quốc gia. Ngược lại, một xã hội với số đông những người thụ động trong tư duy và hành động là một xã hội trì trệ, việc phát huy nguồn lực trí tuệ sẽ bị kìm hãm, nhất là khi những người đó lại giữ vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo. Tình trạng đó sẽ tạo nên một trở lực đáng kể đối với sự phát triển của bất kì quốc gia nào.   Không có phát minh mới nào, chủ trương, chiến lược hợp lý nào, giải pháp đúng đắn nào lại không dựa trên cơ sở tư duy phân tích, phê phán để phủ định cái sai, cái dở, tiếp thu và phát huy cái đúng, cái hay trên tinh thần sáng tạo, từ đó tìm ra cái mới. Chính vì thế, kỹ năng phê phán phải là chiếc chìa khóa mà hệ thống giáo dục nước ta cần trao cho học sinh, sinh viên để mở ra cánh cửa tư duy độc lập, sáng tạo nhằm phát huy trí tuệ của dân tộc.             Bài tiểu luận này được thực hiện trong khuôn khổ chuyên đề hướng dẫn cách đọc một tác phẩm triết học tại Khoa Văn học và Ngôn Ngữ, ĐHKHXHNV TP HCM.               —  * Các tít phụ do Tia Sáng đặt.  [1] Xem thêm tại http://vovnews.vn/Home/Viet-Nam-dung-thu-79-ve-Chi-so-phat-trien-Giao-duc-cho-moi-nguoi/200811/98735.vov  [2] Nietzsche và triết học, Gilles Deleuze, Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, Nxb. Tri thức, 2010. Các trích dẫn từ đây về sau đều lấy từ công trình này.  [3] Xem thêm tại http://tuoitre.vn/nhip-song-tre/415241/anh-sinh-vien-%E2%80%9Cngo-nguoc%E2%80%9D-duoc-moi-di-my.html  [4] Xem thêm tại www.webometrics.info  —  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1.    Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học, Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, Nxb. Tri thức, 2010.  2.    Dương Ngọc Dũng, Tư duy sáng tạo và phê phán trong giáo dục Mỹ, 09/02/2003:  http://www.chungta.com/Desktop.aspx/GiaoDuc/DeXuat-GiaiPhap-GD/Tu_duy_sang_tao_va_phe_phan_trong_giao_duc_My/  http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1546:phe-phan-va-sieu-nhan-nietzsche-qua-din-gii-ca-deleuze&catid=100:vn-hoa-lch-s-trit-hc-giao-dc&Itemid=161  3. Nguyễn Thị Từ Huy, Phê phán và siêu nhân (Nietzsche qua diễn giải của Deleuze), 10/10/2010:  4.    Trần Ngọc Thêm (2010), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  5.    Trần Thượng Tuấn , Tư duy phê phán, 09/10/2010:  http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/41544/Tu-duy-phe-phan.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình thức thực hiện Luận án đồng hướng dẫn      Cách đây hơn ba năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ cho Việt Nam đến năm 2020. Thông báo đó tạo nên nhiều hy vọng lớn nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi là làm thế nào để có thể đạt được mục tiêu như vậy? Bài viết&#160; này đưa ra một gợi ý về việc đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam theo hình thức luận án đồng hướng dẫn với những trường đại học uy tín ở nước ngoài, nhằm góp một phần trả lời câu hỏi đó.      Chúng ta đều biết để đào tạo được một tiến sĩ cần biết bao nhiêu công sức, sự cống hiến và kiên nhẫn của người hướng dẫn, sự hy sinh và nỗ lực của gia đình để có thể tạo điều kiện cho con cái họ theo đuổi nghiên cứu cho đến hết những năm cuối tuổi hai mươi. Năm nay, phòng thí nghiệm Vật lý Thiên văn của chúng tôi tại Hà Nội kỷ niệm mười năm thành lập. Trong mười năm này, chúng tôi chỉ đào tạo được ba tiến sĩ. Hiện tại, chúng tôi đang đào tạo bốn tiến sĩ nữa, nhưng tất thảy cũng không đóng góp được đến nửa phần nghìn mục tiêu của Nhà nước. Hay nói theo cách khác, nếu tất cả các cơ sở đào tạo tiến sĩ mà kém hiệu quả như phòng thí nghiệm của chúng tôi thì Việt Nam sẽ cần khoảng 3.000 phòng thí nghiệm như vậy trên cả nước để có thể đạt được mục tiêu, rõ ràng điều này là phi thực tế.    Hình thức luận án đồng hướng dẫn         Các tiến sĩ tương lai là những người không phải trải qua những khó khăn do lịch sử như thế hệ cha mẹ và thầy cô của họ. Không như thế hệ trước, họ được giáo dục một cách bài bản và có nhiều cơ hội để phát triển tài năng của mình. Họ là những đứa con của Đổi mới, cha mẹ họ đã làm hết sức mình để đem lại cho họ sự giáo dục tốt nhất. Đã đến lúc đất nước cần phải sử dụng một cách thỏa đáng sự đầu tư này bằng cách tạo cho họ tương lai mà họ xứng đáng có được. Việt Nam cần nhiệt huyết tuổi trẻ của họ để tiến lên thành công trong thế kỷ mới.        Tôi không có chiếc đũa thần nào để giúp Việt Nam tăng tốc độ đào tạo tiến sĩ; tôi không thể làm nhiều hơn những gì mình đang làm. Nhưng tôi có thể đóng góp một cách hữu ích khi chia sẻ kinh nghiệm của chúng tôi về chủ đề này.  Nhưng theo suy nghĩ của tôi, ba bằng tiến sĩ đề cập ở trên đã được thực hiện theo một hình thức rất phù hợp với nhu cầu hiện nay của Việt Nam: hình thức thực hiện luận án đồng hướng dẫn với những trường đại học uy tín nước ngoài (tiếng Pháp gọi là cotutelle). Sau đây tôi sẽ giải thích về hình thức này.    Đối với ba trường hợp thực hiện luận án đồng hướng dẫn nói trên, trường đại học Việt Nam và nước ngoài đã ký thỏa thuận chung, bằng văn bản theo mẫu, trước khi luận án được thực hiện để đảm bảo quyền lợi của mỗi trường và mỗi nước. Ví dụ, trong thỏa thuận có quy định số lượng thành viên hội đồng chấm luận án của mỗi nước phải tương đương và sinh viên phải dành thời gian thực hiện luận án tại phòng thí nghiệm ở Việt Nam và nước ngoài. Thực tế, trong trường hợp của chúng tôi, các nghiên cứu sinh dành ba tháng mỗi năm tại trường đại học nước ngoài và phần thời gian còn lại tại phòng thí nghiệm trong nước. Một trong những điều khoản của thỏa thuận nói rằng, sau khi bảo vệ luận án, sinh viên sẽ nhận được bằng tiến sĩ do cả hai nước cấp.    Lợi ích của hình thức luận án đồng hướng dẫn   Tôi tin rằng đối với Việt Nam hiện nay, việc thực hiện luận án tiến sĩ theo cách thức này là rất thích hợp, thực sự tuyệt vời đối với cả hai nước: nếu dùng thuật ngữ thịnh hành hiện nay thì đó là sự hợp tác “đôi bên cùng có lợi” (“win-win” arrangement). Hợp tác với trường đại học uy tín ở nước ngoài đảm bảo chất lượng của luận án, loại trừ gian lận, đạo văn hay những hành vi sai trái tương tự. Như các bạn đã biết, Việt Nam chưa được bảo vệ một cách thích đáng khỏi những hành vi này.          Gần đây, tôi cũng được một đồng nghiệp Việt Nam hỏi rằng: Nếu muốn giúp khoa học, tại sao ông không đến một nước khác? Ở Việt Nam sẽ mất nhiều thời gian trước khi có thể thay đổi. Tôi cố gắng giải thích rằng tôi không làm điều này vì mình, vinh quang của tôi đã ở phía sau, nhưng đối với sinh viên của tôi; họ là người Việt Nam; tôi phải ở Việt Nam để có cơ hội giúp đỡ họ.            Hợp tác đồng hướng dẫn tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa Việt Nam và những trường đại học uy tín nước ngoài. Đây là một cách đầu tư rất hiệu quả cho tương lai. Là sự hợp tác của hai nhà khoa học biết tôn trọng nhau và là những người sẵn sàng làm việc cùng nhau để đem lại chất lượng đào tạo tốt nhất cho nghiên cứu sinh của mình.   Một lợi ích của việc thực hiện luận án đồng hướng dẫn nữa là đem lại cơ hội, cho sinh viên cũng như thầy hướng dẫn, tiếp xúc với môi trường văn hóa học thuật khác, một kinh nghiệm luôn luôn bổ ích. Nó làm cho các thầy hướng dẫn phía Việt Nam hiểu hơn về hệ thống học thuật nước ngoài, điều này có thể sẽ khơi nguồn cảm hứng cho những ý tưởng mới giúp đại học Việt Nam phát triển hơn. Nó làm cho các thầy hướng dẫn nước ngoài nhận thức rõ hơn những khó khăn mà các nước đang phát triển gặp phải trong nghiên cứu và đào tạo, điều đó khuyến khích họ giúp đỡ các nước này nhiều hơn nữa.   Hơn nữa, theo tôi, đặc điểm có ý nghĩa lớn nhất của hợp tác đồng hướng dẫn ở chỗ, nó hạn chế được hiện tượng chảy máu chất xám hơn so với trường hợp gửi nghiên cứu sinh đi đào tạo hoàn toàn ở nước ngoài. Thêm vào đó, việc theo sát và giúp đỡ nghiên cứu sinh sau khi hoàn thành luận án sẽ dễ dàng hơn. Một trong những thất bại chính của hệ thống hiện nay là không có khả năng tận dụng tốt đầu tư vào đào tạo sinh viên ở nước ngoài. Chúng ta biết nhiều ví dụ về những sinh viên được đào tạo ở nước ngoài khi trở về nước không có cơ hội sử dụng kỹ năng mà mình học được ở nước ngoài. Ngày họ rời đất nước cũng là ngày chúng ta mất thông tin về họ, hệ thống đào tạo hiện nay không cung cấp khả năng theo dõi sự tiến bộ của họ và đầu tư Nhà nước dành cho việc đào tạo họ đã phần nào bị lãng phí. Ngược lại, khi được đào tạo dưới hình thức hợp tác đồng hướng dẫn, các sinh viên vẫn luôn giữ liên hệ với đất nước.    Những trở ngại khó hiểu   Tôi hy vọng qua tóm tắt một vài đặc điểm của hình thức đồng hướng dẫn có thể thuyết phục độc giả về giá trị của nó trong nỗ lực nhằm tăng số lượng và chất lượng tiến sĩ trong nước. Tôi nhận thức rõ rằng phương thức này không thể áp dụng để đào tạo ra phần lớn số tiến sĩ cho mục tiêu đặt ra vì hình thức này đặt ra yêu cầu cao về phía người hướng dẫn; nhiều người hướng dẫn ở Việt Nam chưa có vị thế để có thể tìm được đồng nghiệp nước ngoài sẵn sàng đầu tư thời gian và công sức cho cuộc phiêu lưu như vậy. Tuy nhiên, ngay cả khi hình thức hợp tác này không đóng góp nhiều về số lượng nhưng ý nghĩa “đôi bên cùng có lợi”, nếu bạn cho phép tôi sử dụng từ này, rõ ràng xứng đáng được hoàn toàn ủng hộ. Nhưng thật không may, ở Việt Nam hình thức này chưa được ủng hộ. Cho đến nay, hơn mười tám tháng sau khi luận án tiến sĩ đầu tiên được bảo vệ, sinh viên của tôi đã nhận bằng do đại học nước ngoài cấp từ lâu nhưng chưa nhận được bằng do phía Việt Nam cấp. Mặc dù tôi là giáo sư mời của trường Đại học đó nhưng tôi không thể hiểu được thực sự vấn đề nằm ở chỗ nào. Tôi đã hỏi, nhưng không ai có thể trả lời cho tôi. Tôi đã tin rằng, thỏa thuận đã ký là đảm bảo cho sự tôn trọng lẫn nhau. Hoặc ít nhất, khi vấn đề phát sinh, tôi mong đợi được biết đó là vấn đề gì. Tuy nhiên, tôi chỉ có thể  nhận được những lời ngập ngừng về sự thông cảm hay thú thực về sự bất lực. Gần đây, khi thảo luận thân mật về vấn đề này với một người quen có liên hệ với những người có quyền quyết định cao nhất về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, ông nói rằng không có khả năng nào để sinh viên của tôi có thể nhận bằng do Việt Nam cấp, ngay cả Thủ tướng Chính phủ cũng không thể ký trao bằng được. Điều này nghe rất kỳ lạ đối với tôi: có khó khăn gì khi ký một tờ giấy không hại ai mà lại có lợi cho nhiều người?          Tôi không mong đợi bất cứ ai cảm ơn tôi. Những gì tôi làm là cho các sinh viên của mình. Tôi thích làm việc đó vì tôi yêu khoa học và tôi yêu Việt Nam. Nhưng tôi cũng không mong đợi những thủ tục hành chính lỗi thời làm cho cuộc sống của chúng ta khó khăn hơn.        Đôi khi, những đồng nghiệp Việt Nam và bạn bè hỏi tôi rằng: Tại sao anh lại quan tâm? Sinh viên của anh đã nhận được bằng nước ngoài rồi, tấm bằng đó còn uy tín hơn tấm bằng Việt Nam nhiều? Tôi cố gắng giải thích với họ rằng tôi quan tâm đến việc làm sao để Việt Nam có được những trường đại học tốt hơn so với hiện nay, và để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho những người muốn giúp đỡ, thay vì gây trở ngại cho họ với những thủ tục hành chính lỗi thời. Tôi cố gắng giải thích rằng tôi quan tâm đến việc làm cho tấm bằng của Việt Nam sớm trở nên uy tín như tấm bằng của nước ngoài, thậm chí uy tín hơn, tại sao không? Gần đây, tôi cũng được một đồng nghiệp Việt Nam hỏi rằng: Nếu muốn giúp khoa học, tại sao ông không đến một nước khác? Ở Việt Nam sẽ mất nhiều thời gian trước khi có thể thay đổi. Tôi cố gắng giải thích rằng tôi không làm điều này vì mình, vinh quang của tôi đã ở phía sau, nhưng đối với sinh viên của tôi; họ là người Việt Nam; tôi phải ở Việt Nam để có cơ hội giúp đỡ họ.    Tôi đã nghĩ đến tất cả các lý do có thể để giải thích cho việc này, một số trong đó đã không sáng suốt đến nỗi tôi không dám đề cập đến ở đây. Tôi chỉ giữ lại hai lý do khá chính đáng. Một là, Việt Nam cho rằng trình độ của các trường đại học nước ngoài trong các thỏa thuận (Paris VI/Jussieu và Paris-Sud/Orsay) quá thấp so với trình độ của đại học Việt Nam. Nếu trường hợp này là đúng, tôi muốn được nghe lời khẳng định nhưng không muốn bình luận về việc đó. Lý do còn lại –  hy vọng là nguyên nhân thực sự của vấn đề – do sự quan liêu của một số quan chức, cùng những quy định hành chính cứng nhắc và lỗi thời đã tạo nên trở ngại khiến phía Việt Nam không thực hiện cam kết của mình. Nếu đó là lý do thì cộng đồng chúng ta cần đề nghị Chính phủ phải thay đổi các quy tắc lỗi thời bằng những quy tắc tốt hơn để thúc đẩy sự phát triển.    Tôi không mong đợi bất cứ ai cảm ơn tôi. Những gì tôi làm là cho các sinh viên của mình. Tôi thích làm việc đó vì tôi yêu khoa học và tôi yêu Việt Nam. Nhưng tôi cũng không mong đợi những thủ tục hành chính lỗi thời làm cho cuộc sống của chúng ta khó khăn hơn.              PHẠM TRẦN LÊ  dịch                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hổ Mẹ của nước Mỹ      Không có gì mới trong mong muốn những đứa con được thành công, nhưng điều khiến cuốn sách của Amy Chua trở thành tiêu điểm của giới truyền thông là những lời bộc bạch chân thật về phương pháp dạy con của Amy Chua, những phương pháp nặng nề hơn nhiều lần so với cách dạy con thông thường của người Mỹ.        Ba câu hỏi từ cuốn sách**  Cuốn sách “Khúc chiến ca của hổ mẹ” là một quyển sách dễ đọc, được viết theo lối hội thoại rất sinh động. “Hổ mẹ” trong trường hợp này chính là Amy Chua, và “trận chiến” mà bà viết tới chính là những nỗ lực của bà để giúp hai cô con gái thành công. Phần lớn cuốn sách miêu tả những nỗ lực hàng ngày của bà để đảm bảo hai cô con gái có thể cạnh tranh và chiến thắng ở những nấc thang cao nhất của xã hội Mỹ. Không có gì mới trong mong muốn những đứa con được thành công, nhưng điều khiến cuốn sách của Chua trở thành tiêu điểm của giới truyền thông là những lời bộc bạch chân thật về phương pháp dạy con của Amy Chua, những phương pháp nặng nề hơn nhiều lần so với cách dạy con thông thường của người Mỹ, và bà chứng minh phương pháp của mình bằng cách khẳng định rằng bà biết rất rõ mình đang làm gì, rằng sự nghiêm khắc của bà không hề khắc nghiệt, mà “cách dạy con của cha mẹ Trung Quốc” là sự thể hiện quyết định đối với những kết quả rực rỡ của bà mẹ này.  Câu hỏi làm thế nào để nuôi nấng và dạy bảo con cái luôn là một trong những trăn trở day dứt nhất của con người, và tôi nghĩ rằng rất ít người không có chút quan điểm nào trong vấn đề này. Vì thế, Chua xứng đáng nhận lời khen ngợi cho việc khơi dậy sự quan tâm với vấn đề muôn thưở này. Tôi tin rằng, cuốn sách của Chua không chỉ hấp dẫn về cách nuôi dạy con cái (bà chỉ đơn giản khuyên chúng ta không nên nuông chiều chúng), mà còn về những điều mà cuốn sách hé lộ, có thể chỉ là tình cờ, về ba câu hỏi sau đây:  1.    Nên dạy con cái của bạn về những giá trị châu Á trong thời đại toàn cầu hóa như thế nào?  2.    Cuốn sách này đã hé lộ gì về con đường tìm tới thành công và địa vị ở xã hội Mỹ?  3.    Chúng ta kì vọng gì về những đứa trẻ của “Cha mẹ Hổ”, khi mà sự xuất hiện của chúng ngày càng nhiều hơn ở Mỹ, ở Trung Quốc, Việt Nam và những nơi khác nữa.  Và Chua nghĩ bà đang làm gì với vai trò một người mẹ Trung Quốc? Câu trả lời được gói gọn trong một câu thành ngữ của Việt Nam “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Bà đã viết rất cởi mở về những khó khăn mà cha mẹ bà đã phải trải qua khi di cư từ Đài Loan sang Mỹ, và cách mà dù phải đối mặt với tất cả những khó khăn, họ vẫn trở nên thành đạt, và những đứa con của họ – sinh ra ở Mỹ – còn trở nên thành đạt hơn. Và điều gì sẽ xảy ra với thế hệ thứ ba? Những đứa trẻ được sinh ra trong nhung lụa vốn là không tưởng với thế hệ thứ nhất? Thế hệ này cần một “Hổ mẹ” bởi như Chua nói “tất cả những yếu tố thuộc về thế hệ này đều có xu hướng đi xuống”.  Điều này có ý nghĩa gì trong thực tế? Thực ra, điều này chỉ đơn giản chính là “thực tế”. Phần lớn cuốn sách miêu tả những nỗ lực của bà để khiến hai cô con gái tránh khỏi những hoạt động “mang màu sắc Mỹ” như thay vì chơi điện tử thì đó là chơi đàn piano và violon tới độ khiến chúng và cha mẹ nhận được sự công nhận của quốc tế.    Có thuần Á Đông?  Độc giả Việt Nam có thể nghĩ rằng cách dạy con này mang đậm màu sắc Á Đông, nghĩ rằng những cha mẹ châu Á thường hi sinh tất cả cho con mình, khi yêu cầu những đứa con từ bỏ những thói quen hưởng thụ thì lại khiến một đứa trẻ trở nên quá hư hỏng và lười biếng để thành công. Tuy nhiên, vì sao không nói rằng Chua là một bậc phụ huynh “Á Đông”?  Câu trả lời là không có gì thuần chất Á Đông ở đây cả. Mặt khác, những ví dụ về cách thức nuôi dạy con này có thể tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới, và nó đặc biệt phổ biến với những người di cư và con cái của họ. Những bậc cha mẹ này thường là những người chuyển từ nông thôn lên những thành phố lớn, hay những người là thành viên đầu tiên trong gia đình có bằng đại học. Chua đã gọi phương pháp dạy con này là của người Trung Quốc vì đó là cách mà bà đã trải nghiệm. Tuy nhiên, câu thành ngữ về những thế hệ sau sẽ trở nên yếu ớt “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” có thể tìm thấy ở bất cứ thứ ngôn ngữ nào. Quan trọng hơn, lí do mà Chua viết cuốn sách này đã gây tranh cãi ở Mỹ rằng rất nhiều trường học của Mỹ nơi có một số lượng nhỏ, nhưng cũng đáng kể những học sinh gốc Á. Những học sinh này thường đạt kết quả cao trong học tập, và không thể nói đó là sự tình cờ khi họ đều là con của những người nhập cư, những người phải phấn đấu rất vất vả để có được một vị trí ổn định trong xã hội mới.  Lý do tôi đưa ra luận điểm này là không có gì “thuần chất Á Đông” trong những giá trị của Chua. Amy Chua đã lên được nấc thang danh vọng rất cao của Mỹ, cao hơn rất nhiều so với nhiều người Mỹ có thể với tới. Bà không chỉ là một tác giả nổi tiếng mà còn là một giáo sư ở một trong những đại học luật danh tiếng nhất của nước Mỹ, và cuộc sống riêng tư của bà cũng đạt những thành quả rất rực rỡ: con gái của bà là những học sinh xuất sắc, và một trong số họ đang trên đường trở thành nghệ sĩ nổi tiếng. Chồng bà cũng là một giáo sư luật lỗi lạc. Gia đình họ khỏe khoắn, vui vẻ, thon thả và mạnh mẽ. Tóm lại, vẻ ngoài của họ đều đẹp, giống như những ngôi sao điện ảnh hơn là những người bình thường.  Làm sao mà tôi biết được tất cả những điều này nhỉ? Ừm, chính Chua đã gợi nhắc cho độc giả về điều ấy, một cách liên tục. Khi nói về công việc của mình, bà không chỉ nói là “trường luật”, mà là “trường luật Yale”. Và tất cả độc giả Mỹ đều biết rằng Đại học Yale nằm trong danh sách những trường danh giá hàng đầu. Chua liên tục nhắc tới sự liên quan của bản thân với những trường đại học, trường trung học, giáo viên dạy nhạc và cả những người bạn của gia đình khác nhau. Một ai đó từ một đất nước khác sẽ cảm thấy lúng túng với những cái tên ấy, nhưng nó sẽ dễ hiểu và hợp lý một khi bạn nhận ra rằng bất kể Chua đang nhắc tới điều gì rất tốt và đáng khen thì phần lớn đó là những điều mà người Mỹ cũng rất khó đạt được, ngay cả khi họ rất cố gắng.  Về phần tôi, tôi không thể gọi sự thiếu khiêm tốn này là “thuần Á Đông”. Dù những cha mẹ châu Á dạy con họ làm việc chăm chỉ thế nào, tôi tin rằng một “Hổ mẹ” châu Á thực sự sẽ rất hoảng hốt với ý nghĩ khi lớn lên con bà ta sẽ quảng cáo những điều mà mình đạt được với quần chúng. Theo lẽ tự nhiên, mọi quốc gia đều có những người thiếu khiêm tốn, nhưng điều gây ấn tượng mạnh cho tôi trong suốt khoảng thời gian ở châu Á là cách thái độ thiếu khiêm tốn bị ghét bỏ và những người có thể kiểm soát cái tôi rất được coi trọng. Chua lại hoàn toàn thiếu sự khiêm tốn “thuần chất Á Đông” này.  Ám ảnh thành công  Có vẻ như tôi đang hạ thấp Chua, nhưng chúng ta phải nhớ rằng thật khó để những người nhập cư và con cái của họ có thể khiêm tốn về vấn đề này. Mặc dù Chua không phải lớn lên trong sự nghèo túng như cha mẹ bà, sự thành công của bà, trong một phạm vi rộng, là do những thành quả và khả năng của chính bà để “khiến bản thân tiến lên”. Đó là lí do vì sao cuốn sách của bà phần lớn hé lộ những điều mà tôi gọi là con đường đi tìm thành công và địa vị ở xã hội Mỹ.  Cuốn sách đã khiến Chua rất nổi tiếng và có vẻ như bà đã nhận được khoản tiền $500,000 cho nó. Tôi không biết liệu điều này có hoàn toàn đúng, nhưng có lẽ cũng công bằng nếu kết luận rằng cuốn sách đã khiến Chua giàu có và nổi tiếng. Từ góc độ này, có thể dễ dàng suy luận rằng Chua biết về cách suy nghĩ của người Mỹ, về những bậc phụ huynh châu Á hà khắc và cố tình khiến độc giả da trắng choáng váng về những câu chuyện mà bà bắt hai cô con gái luyện đi luyện lại những bản đàn, thay vì cho chúng vui chơi. Những chi tiết như vậy khiến Chua trở thành một tác giả khác biệt và cuốn sách của bà cũng được biết tới nhiều hơn.  Ngay cả khi Chua chủ ý tìm kiếm sự nổi tiếng và tiền tài, bà vẫn khá chân thật trong sự lo lắng về sự thành công và thịnh vượng của gia đình. Đọc cuốn sách, bạn có thể băn khoăn rằng liệu một người phụ nữ đã kiếm được nửa triệu đô-la còn phải lo lắng gì, nhưng hãy suy nghĩ về hoàn cảnh của Chua. Bà muốn những cô con gái của mình bước tới được bậc thang thượng lưu của xã hội học thuật và nghệ thuật của Mỹ. Điều này vô cùng tốn kém. Vì giờ đây con gái lớn của Chua đi học ở Harvard hoặc Yale, và cũng với cách nuôi dạy như thế, rất có thể cô con gái thứ hai sẽ vào một ngôi trường danh tiếng không kém. Những trường này tốn hơn $50,000 một năm, và khoản này chưa tính vào những chi phí phát sinh đáng kể mà cha mẹ phải trả. Chắc chắn rằng sẽ có nhiều học sinh được nhận học bổng, nhưng dựa trên những điều kiện thực tế, một “Hổ mẹ” của nước Mỹ sẽ muốn nhiều hơn sự cống hiến hết mình cho con. Bà còn phải cần tiền nữa.  Tại sao điều này nên khiến cho người Việt Nam phải suy nghĩ? Ở một phạm vi nhất định, cuốn sách của Chua chỉ đơn giản nhắc lại những chuyện phiếm gia đình như thể nó là một cái nhìn hiểu biết đầy quan trọng. Mặt khác, độc giả Việt Nam nên chú ý về những điều mà cuốn sách đã hé lộ về môi trường làm việc trong lòng nước Mỹ. Người Mỹ luôn bị ám ảnh với sự thành công, địa vị và sự thăng tiến trong xã hội. Một số lượng lớn các tác phẩm văn học hay nhất của nước Mỹ (ví dụ như cuốn “Gatsby vĩ đại” xuất bản năm 1925) đã miêu tả những điều khủng khiếp mà người Mỹ phải làm để tránh bị coi là kẻ thất bại, hoặc tự coi mình là kẻ thất bại. Điều mà Chua thêm vào cuộc tranh luận là thông điệp rằng bắt con bạn phải làm việc chăm chỉ là không đủ để đạt được thành công. Hơn cả thế, bạn phải bắt chúng làm việc “chăm chỉ một cách điên loạn”, đó cũng là cách mà chính Chua làm việc ở trường luật.  Với cách hiểu này, có thể Chua đã không nhận ra, Chua đã cho rằng nước Mỹ và châu Á đang trở nên giống nhau, không phải về “những giá trị”, mà ở cách sống trong tình trạng được định hướng bởi một xã hội nơi mà những người có địa vị cao hơn phải chịu nhiều cuộc cạnh tranh gắt gao hơn. Như nhiều cha mẹ Việt Nam đã biết, nếu chỉ có rất ít vị trí cho những đứa trẻ, thì chúng phải được đào tạo để cạnh tranh để giành lấy những vị trí ấy. Một cách cụ thể, thông điệp mà Chua gửi tới độc giả Mỹ rằng mặc cho những vật chất đủ đầy ở Mỹ, con cái của những bậc cha mẹ tham vọng nhất vẫn lớn lên theo cách giống những bạn đồng trang lứa ở Trung Quốc hay ở nơi khác.    “Làm tốt” hay “làm tốt hơn người”?  Nhưng liệu Chua có đúng khi cho rằng “những hổ mẹ” là tối quan trọng để truyền dẫn tôn chỉ làm việc ấy? Ở Mỹ, Chua bị chỉ trích nặng nề. Một nhà báo của tờ Thời báo New York đã xúc phạm Chua và một ban hội thẩm đã được triệu tập để thảo luận về tác động xấu của những phương pháp của Chua có thể gây ra với trẻ em Mỹ. Với bất cứ hình thức buộc tội mang tính cá nhân nào lên Chua, chúng ta không được đối xử với bà như thể bà đã tự tạo ra những vấn đề mà bà miêu tả. Bà không chỉ đúng với việc cho rằng những người trẻ tuổi có tài phải đối mặt với những cuộc cạnh tranh khốc liệt mà bà còn đúng trong việc chỉ ra rằng con trẻ sẽ trở nên yếu kém nếu bị dạy rằng không có sự khác biệt nào giữa chất lượng công việc bình thường và chất lượng công việc xuất sắc.  Tuy nhiên, chỉ đơn giản vì những giá trị của Chua không “thuần Á Đông”, tôi không dám khẳng định rằng những giá trị ấy hoàn toàn tốt đẹp. Chua và hai con gái đã đạt được một vị trí ổn định trong xã hội Mỹ. Nhưng chúng ta có thể băn khoăn rằng liệu điều làm “Hổ mẹ” lo lắng nhất là hai cô con gái có cách làm việc kém và phong thái lười biếng hay hai cô sẽ không giỏi hơn những người khác. Đó là một tâm lí rất chung của con người và chẳng có gì liên quan tới việc cha mẹ bạn di cư từ Trung Quốc hay Đài Loan. Nó liên quan tới cách suy nghĩ của bạn rằng điều gì là quan trọng nhất: làm việc tốt, hay được thừa nhận là “hơn người”.  Không may, Chua đã quá nhấn mạnh vào động cơ của bà. Đáng lẽ, bà cố thuyết phục độc giả rằng cuốn sách của bà viết chung cùng những cô con gái và bà học được gì từ một lần cãi mẹ của cô con gái út. Viết theo cách đó sẽ cho bà cái mà luật sư gọi là “phản kháng có hiệu lực” với những lời buộc tội rằng bà đang lợi dụng những cô con gái làm phương tiện cho những nhu cầu và tham vọng của riêng bà. Độc giả Việt Nam có thể quyết định lời phản kháng đó hiệu lực tới đâu.  Tuy nhiên suy cho cùng, điều quan trọng hơn động cơ của Chua là hiện tượng xã hội mà bà đại diện. Rất có thể những nhà lãnh đạo tương lai của Mỹ và nhiều quốc gia khác sẽ là con của “những cha mẹ hổ”. Ở một phương diện, điều này có thể rất tốt, vì chỉ những con người được dạy để nỗ lực không ngừng mới có thể hi vọng đương đầu với những thử thách gian truân mà hành tinh chúng ta sẽ gặp phải. Mặt khác, rất có thể những đứa trẻ này sẽ không bị ảnh hưởng xấu khi không tiếp thu tất cả những giá trị Á Đông mà Chua dường như đã lãng quên.  Trong trường hợp cụ thể, nếu chúng ta dạy con cái luôn lo lắng liệu chúng có được giới thượng lưu của xã hội chấp nhận không, liệu chúng ta thực sự nghĩ rằng chúng sẽ đủ đáng tin cậy để đương đầu những giá trị của xã hội khi nó đã “lạc hướng”? Hơn nữa, liệu có khôn ngoan khi tin rằng “những đứa con Hổ” sẽ lớn lên mà không bị ám ảnh bởi nỗi sợ thất bại? Và liệu chúng ta có thể kì vọng một kẻ luôn sợ hãi về thất bại có thể thực sự dũng cảm?  Trang 221: Câu “nó không thể bị đánh bại….bất cứ nơi nào có nó, nó đều thể hiện xuất sắc” từ chối đối chất bằng cách giữ nguyên ý tưởng của nó.  * Giáo sư, Tiến sĩ của Trường Barrett cho các sinh viên danh  dự, thuộc ĐH Bang Arizona  ** Các tít phụ do Tia Sáng đặt               Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ đại học tư thục phi lợi nhuận – bao giờ có chính sách?      Ở một số nước, chính phủ hỗ trợ các trường bằng cách miễn thuế tất cả tiền đầu tư, tài trợ cho giáo dục phi lợi nhuận, thậm chí giảm thuế quỹ tiền còn lại của các nhà đầu tư, nhà tài trợ. Trong khi ở Việt Nam, các trường tư thục vẫn phải đóng 25% thuế như doanh nghiệp, thực tế bổ về học phí sinh viên.    Đã từ lâu, người ta đồng ý với nhau rằng xã hội hóa giáo dục là hướng đi tất yếu. Tuy vậy, vận số của các trường đại học tư thục chưa bao giờ hết lận đận. Khó khăn của các trường đại học tư thục những năm gần đây xoay quanh việc tuyển sinh, đào tạo, cơ sở vật chất…, và đau đầu nhất phải kể đến nguồn vốn, đặc biệt là các trường đại học tư thục chủ trương phi lợi nhuận. Nếu các trường này giải được bài toán tài chính thì những thiếu hụt về cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ giảng viên… sẽ không còn gây quá nhiều trở ngại.  Nguồn thu của đại học tư thục chủ yếu dựa vào hai khoản: học phí, lệ phí tuyển sinh và đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Nhưng với qui định ngặt nghèo và bất hợp lý về điểm sàn đại học, trường công hạ mức điểm trúng tuyển sát điểm sàn khiến cho các trường tư thục càng khan hiếm thí sinh dự tuyển dẫn đến nguồn thu từ sinh viên cạn kiệt.   Khoản 7 điều 4 Luật Giáo dục đại học qui định: “Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.” Về cơ bản, qui định như vậy là hợp lý, nhưng những nỗ lực của các nhà cải cách trong thời gian vừa qua gần như chưa thể đơm hoa kết trái khi vẫn thiếu một cơ chế để hỗ trợ tài chính cho các trường tư thục phi lợi nhuận. Các trường tư thục phi lợi nhuận, những tổ chức/cá nhân đầu tư cho các trường phi lợi nhuận không được chia sẻ bất cứ chính sách khuyến khích nào ngoài lý tưởng vì nền giáo dục nước nhà. Hiện nay các trường tư thục vẫn phải đóng 25% thuế như doanh nghiệp, thực tế bổ về học phí sinh viên. Trong bối cảnh đó, thật khó để các nhà đầu tư chịu chi tiền (đầu tư, tài trợ) cho giáo dục đại học tư thục phi lợi nhuận, đặc biệt đối với Việt Nam trong khi cha mẹ sẵn sàng chịu vất cả, khổ cực để chi thật mạnh tay cho công cuộc học tập của con em mình, thì việc chi tiền cho một trường học thì lại quá xa lạ với họ. Ví dụ điển hình là Đại học Phan Châu Trinh – Hội An: ngôi trường được sáng lập từ rất nhiều nỗ lực của những người tâm huyết với giáo dục Việt Nam như Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Hoàng Tụy…, nhiều năm qua cũng phải vất vả tìm kiếm nguồn vốn từ các nhà đầu tư và gặp không ít cách trở chỉ vì lý tưởng Canh tân giáo dục bằng mô hình phi lợi nhuận của mình.    Vì sao đại gia nước ngoài chi tiền cho giáo dục đại học  Việt Nam bây giờ thật lắm đại gia! Họ sở hữu vô vàn siêu xe thuộc hàng đắt đỏ nhất thế giới, là chủ nhân của các biệt thự không chỉ ở trong nước, vây quanh họ là các cô chân dài gắn trên người toàn hàng hiệu giá khủng. Và hàng ngày, báo chí đưa tin về sự giàu có của họ như những chiến công. Công chúng ghen tỵ và ngưỡng mộ tài sản của họ. Dường như đó là cách duy nhất để rất nhiều đại gia tự khẳng định vị thế của mình. Trong khi đó chúng ta sẽ rất dễ dàng tìm thấy những thông tin dạng như thế này trên Internet:  “Ông Graham Tuckwell tặng 50 triệu Úc kim cho Trường đại học quốc gia Úc ANU ở thủ đô Canberra để đóng góp vào Quỹ học bổng.”  “Ông bà Leland Stanford, một triệu phú tại California đã tặng 40 triệu đô la, số tiền tương đương với 1 tỷ đô la vào năm 2010, cho việc xây dựng một trường đại học mới lấy tên là Leland Stanford Junior University (tên chính thức của Đại học Stanford).”  “Zhang Lei – người sáng lập và đồng quản lý của quỹ đầu tư Hillhouse có trụ sở tại Bắc Kinh đã đóng góp 8.888.888 USD cho trường đại học Yale danh tiếng.”   “Tỷ phú Michael Bloomberg vừa quyết định tặng thêm 350 triệu USD cho đại học Johns Hopkins, nâng tổng số tiền ông đã tặng lên con số kỷ lục 1,1 tỷ USD.”  “Cặp vợ chồng của hãng Nike, Phil và Penelope Knight đã tặng 125 triệu đôla cho khoa tim mạch, Viện Đại học Y tế và Khoa học Oregon. James Simons, nhà quản trị rủi ro của Tập đoàn đầu cơ Renaissance Technologies, tặng 60 triệu đôla cho trung tâm máy tính của Đại học California, Berkeley.”  Rất nhiều tỉ phú ở nước ngoài quyên tặng cho các trường đại học vì tin rằng giáo dục là chìa khóa thoát khỏi nghèo đói, họ hi vọng có thể cải thiện dịch vụ và nghiên cứu khoa học ở trường. Đa phần trong đó tài trợ tiền cho trường đại học cũ của mình, vì họ biết ơn những gì trường đại học đó đã mang đến cho mình. Tức là họ kiếm tiền bằng lao động và trí tuệ, họ trân trọng giáo dục đại học đã khai mở và giải phóng tiềm năng của họ. Sinh viên Việt Nam không nhận được một sự khai phóng nào và hầu như không trân trọng những năm tháng đại học. Bằng quan sát, chúng ta có thể thấy, những sinh viên mất phương hướng mang đến xung quanh trường đại học bao nhiêu quán xá: tiệm ăn, quán nhậu, cà phê, karaoke, tạp hóa… và chỉ có vậy.   Giáo dục đại học ở Việt Nam hầu như chỉ mang đến cho sinh viên tấm bằng. Họ sẽ mang tấm bằng đi tìm việc, những công việc đúng hoặc không đúng ngành nghề đào tạo. May mắn gặp “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, họ sẽ giàu có, sẽ thành đại gia và họ đâu có lỗi gì khi không quyên tiền cho trường đại học mình đã học.   ***  Ở một số nước, chính phủ hỗ trợ các trường bằng cách miễn thuế tất cả tiền đầu tư, tài trợ cho giáo dục phi lợi nhuận, thậm chí giảm thuế quỹ tiền còn lại của các nhà đầu tư, nhà tài trợ. Nhờ vào chính sách thuế khuyến khích đầu tư cho giáo dục, các trường đại học tư thục phi lợi nhuận có một nguồn thu rất lớn để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.  Còn ở Việt Nam bao giờ Nhà nước sẽ có chính sách rõ ràng để hỗ trợ cho đại học tư thục phi lợi nhuận – vốn là động lực rất mạnh thúc đẩy phát triển nhân lực? Vấn đề này đã được thảo luận sôi nổi trong dự thảo Luật giáo dục đại học nhưng còn bỏ ngỏ.  Khi nào các đại gia sẽ đua nhau tặng tiền cho đại học phi lợi nhuận, tài trợ cho các công trình khoa học, bảo trợ cho các nhà nghiên cứu? Lúc đó, siêu xe, biệt thự, chân dài…không còn là thước đo đẳng cấp và sự giàu có. Báo chí hàng ngày sẽ đưa tin: Ông A vừa trao tặng bao nhiêu triệu, bao nhiêu tỉ đồng cho đại học B, Bà X đầu tư bao nhiêu phần trăm tài sản cho nghiên cứu Y… Đó là cách tiêu tiền của những người thông minh. Lúc đó, xã hội sẽ trân trọng họ với niềm ngưỡng mộ thực sự. Cống hiến cho công cuộc giáo dục là ghi danh vào tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ đào tạo hay là một cách để thu hút chất xám      Chuyện Iran  Đầu năm 2003, c&#225;c nh&#224; hữu tr&#225;ch của Khoa Kỹ sư Điện lực Đại học Stanford đ&#227; sửng sốt nhận thấy l&#224;, trong cuộc thi lựa chọn sinh vi&#234;n v&#224;o l&#224;m tiến sĩ (PhD), mấy sinh vi&#234;n đỗ đầu đều c&#249;ng xuất th&#226;n từ một trường, đ&#243; l&#224; Đại học Sharif ở Teheran, thủ đ&#244; Iran.     Stanford là trường mà rất nhiều sinh viên Iran tới học. Nhưng đó không phải là trường duy nhất được sinh viên Iran lựa chọn. Các trường nổi tiếng khác như MIT, Caltech … đều đã nhận thấy số sinh viên của xứ này tới xin học ngày một gia tăng. Ở các nước khác như Canada, Úc, Anh Quốc… người ta cũng thấy có một chiều hướng tương tự.   Sinh viên của Đại học Sharif, cũng như của một vài đại học khác của Iran như ĐH Teheran, ĐH Công nghệ Isfahan đã lập được những thành tích sáng chói trong các cuộc thi tài quốc tế như các Olympiades về mọi ngành khoa học như Toán, Vật lý, Hoá học, Máy tự động. Nhờ những kết quả này mà tỉnh Isfahan đã được quyền tổ chức Olympiades về Vật lý, một vinh dự mà không một xứ nào ở Trung Đông đã có.  Trước hiện trạng đó, những công ty kỹ nghệ cao của Mỹ đã đứng rình ngay ở phía sau. Các hãng Google, Yahoo … đã lấy được hàng trăm sinh viên Iran về làm cho họ, cũng như rất nhiều viện nghiên cứu và đại học khác. Những sinh viên đã lấy được những giải Olympiades đặc biệt rất được chiêu đãi. Theo thống kê, 90% sinh viên Iran được những giải này đã ra ngoại quốc du học.     Tại sao lại có hiện tượng đó?   Iran là một xứ tuy có nhiều dầu hoả nhưng đời sống dân chúng rất khó khăn, do hệ thống chính trị nội bộ và chính sách bế quan toả cảng của các nước Tây phương đối với xứ này. Lương bổng, nhất là lương công chức, rất thấp: người ta thường thấy những giáo sư, ngoài giờ làm việc, còn phải đi làm thêm ở ngoài, kể cả đi lái taxi để sinh sống. Có nhiều lý do cho ta giải thích tại sao sinh viên Iran lại giỏi như vậy, trong đó có hai lý do chính:    Iran là một nước có một truyền thống học hỏi cao, cũng như các quốc gia theo Khổng giáo (như Việt Nam). Trong các gia đình, cha mẹ thường hy sinh tất cả để con cái có điều kiện được học lên cao, và học giỏi.   Các sinh viên thường rất chăm học và hết sức cố gắng để có hy vọng được vào những trường nổi tiếng. Trong số khoảng một triệu rưỡi sinh viên thi vào các đại học, chỉ có 1% được nhận vào những trường kể trên.     Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho các sinh viên này là, một khi ra trường, họ không kiếm được việc làm xứng đáng với tài năng và cố gắng của họ. Vì vậy, du học là phương pháp giải thoát. Theo lời của một cựu sinh viên ĐH Sharif: “Khi bạn sống ở Iran và chứng kiến những bực bội của cuộc sống hằng ngày, bạn mong ước được rời khỏi xứ, và sách vở và học hành là những chìa khoá để có thể có một đời sống tốt đẹp hơn. Nó hơn cả là học hành, nó trở thành một ám ảnh đưa bạn đến việc hằng ngày cố gắng dậy sớm từ 4 giờ sáng để có thể học thêm được vài giờ nhiều hơn các bạn bè.”  Kết quả là, phần lớn các sinh viên giỏi đi du học và cái thành công của sinh viên Iran trong việc học hành trở thành một thảm hoạ cho xứ đó: sinh viên thành tài chỉ có một mong ước là đi ra ngoại quốc. Ngược lại, đó là một dịp may cho các đại học và các hãng công nghệ cao của nước ngoài. Họ sẽ dùng đủ mọi phương tiện và mánh khoẻ để lôi kéo những người này tới làm việc cho họ. Đó là một sự mất chất xám trầm trọng cho Iran.      Trông người lại nghĩ tới ta  Thật không có gì khó: ta chỉ cần thay tên Iran bằng Việt Nam, và thấy tất cả những gì viết ở trên đều đúng cho xứ ta vậy. Sinh viên Việt Nam cũng giỏi, hiện tượng mất chất xám cũng đang xảy ra một cách trầm trọng.   Hiện nay, rải rác trên toàn thế giới, có khoảng 30 ngàn sinh viên Việt Nam đang du học. Trong những năm gần đây, số sinh viên đi sang các nước Tây phương, nhất là Mỹ và các nước nói tiếng Anh (Úc, Canada, Anh Quốc…) ngày càng nhiều. Chỉ có một phần nhỏ các sinh viên này là những người có học bổng quốc gia hoặc nước ngoài, còn phần đông là đi tự túc.   Hiện trạng này đem lại những thiệt hại cho quốc gia về nhiều phương diện:    trước hết, như đã nói ở trên, thiệt hại lớn nhất là mất chất xám. Cần nhớ rằng, những sinh viên du học là thành phần ưu tú. Ngoài những sinh viên có thành tích trong các cuộc thi quốc tế ( như olympiades ), ngay những sinh viên đi du học tự túc cũng phải là những người giỏi thì mới được nhận vào học trong những đại học có tiếng ở nước ngoài. Nói một cách khác, chính những phần tử ưu tú của quốc gia lại bị mất đi. Những học bổng nước ngoài, những chương trình đào tạo chất lượng mà các nước thành lập ở Việt Nam thực ra chỉ là những phương cách trá hình để chọn lựa và bắt cóc những thành phần ưu tú.  thiệt hại thứ nhì cũng rất đáng kể là mất ngoại tệ. Để có một ý niệm về vấn đề này, ta chỉ cần biết là chi tiêu cho học phí và sinh sống trong các nước phát triển là khoảng từ 20 tới 40 ngàn USD một năm (trừ ở Pháp và một vài nước ở châu Âu không phải trả học phí). Vậy nếu ta trừ đi những sinh viên có học bổng hoặc có người thân sống ở nước ngoài hỗ trợ, còn lại khoảng hơn một nửa tổng số được hỗ trợ bởi gia đình, và với chi tiêu trung bình là 30 ngàn USD một năm, ta thấy là tổng số tiền thất thoát ra nước ngoài lên tới gần nửa tỷ USD mỗi năm! Việc Nhà nước không phải lấy tiền ở ngân quỹ ra (và có lẽ vì vậy mà Nhà nước không quan tâm!) không có nghĩa là quốc gia đã không mất ra ngoài một số tiền lớn.               Trong vòng 15 năm qua đã có hơn một trăm sinh viên ưu tú của Việt Nam được học bổng sang học  ở trường Bách khoa (Ecole Polytechnique) Pháp. Cho tới nay, mới có 4 người thành tài trở về nước. Nhân dịp Thủ tướng Việt Nam tới thăm trường Bách khoa này hồi tháng 6 năm ngoái, ông hiệu trưởng của trường đã có nhận xét sau đây về những sinh viên này cũng như những sinh viên đang du học ở những nơi khác: … ( trong tình trạng hiện hữu ) một số những người này sẽ không trở về nước sau khi học xong. Chỉ có một cuộc cải tổ các đại học, các trường kỹ sư lớn và những viện nghiên cứu Việt Nam, cùng với một sự tăng trưởng rõ rệt về lương bổng cho các cán bộ cao cấp, mới có thể làm giảm bớt hiện tượng mất chất xám và lôi kéo được thành phần ưu tú đang sống ở nước ngoài. Đối với những nhân tài của tương lai này, và đặc biệt là những sinh viên của trường Bách khoa, nước Việt Nam cần phải trình bày những viễn tượng hấp dẫn hơn.          Khi gửi sinh viên đi du học ở nước ngoài, Chính phủ cũng như gia đình cho rằng sau này một khi thành tài, những sinh viên này sẽ trở về Việt Nam với những hiểu biết và cái nhìn mới để giúp ích cho xứ sở. Sự thật ra sao? Ta hãy nhìn gương của Trung Quốc: trong 20 năm, từ 1985 tới 2005, đã có 850 ngàn sinh viên đi du học ở ngoại quốc, phần lớn ở các nước Tây phương. Kể tới năm 2005, số sinh viên thành tài trở về nước là 40 ngàn người, tức là 5%! Cũng cần phải nói thêm là sinh viên thành tài càng giỏi bao nhiêu thi xác suất hồi hương càng nhỏ bấy nhiêu vì họ bị các đại học và các hãng công nghệ cao nước ngoài bắt cóc bằng những lương bổng và lợi tức rất lớn.   Nói như vậy không có nghĩa là không nên gửi sinh viên đi du học. Ngược lại, lớp trẻ ưu tú của Việt Nam cần được đi ra ngoài để học hỏi những cái hay của các nước tiền tiến. Vả lại, trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, dù có muốn đi nữa, Nhà nước cũng không thể cấm đoán không cho sinh viên đi du học. Vấn đề là làm thế nào để sau khi thành tài, những người này sẽ trở lại quê hương để giữ nhiệm vụ hướng dẫn.    Từ vài năm gần đây, Trung Quốc đã nhận ra điều này và đã có những cố gắng đáng kể để thu hút lại những nhân tài trẻ du học ở nước ngoài. Những cố gắng này nằm trên ba phương diện :    trước hết về lương bổng, những nhân tài trở về nước được hưởng lương cao dựa trên khả năng, tuy không bằng lương ở các nước tiên tiến nhưng cao hơn lương của cán bộ nội địa và đủ để cung cấp cho một đời sống bình thường  cung cấp những điều kiện thuận tiện cho việc làm phù hợp với khả năng  khuyền khích hồi hương bằng những biện pháp đặc biệt như việc để cho các chuyên viên xin tạm nghỉ việc trong một thời gian ngắn ( một vài năm ) ở chỗ đang làm để về làm thử trong nước để quan sát tình hình.     Những biện pháp này đã có những hiệu quả tốt: không những người Trung Hoa mà ngay cả người nước ngoài cũng đang bắt đầu tới làm việc ở Trung Quốc. Đây là một hướng đi mà Chính phủ Việt Nam cần nghiên cứu và áp dụng, hầu thu hút lại một phần những chất xám đang ( và còn tiếp tục )  bị thất thoát ở nước ngoài.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoạt động của các viện nghiên cứu trong các trường đại học của Đức      Một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sinh viên quốc tế đến Đức du học ngày một gia tăng chính là vai trò “Hoạt động của Viện nghiên cứu trong các trường đại học của Đức”.    Trong cơ cấu tổ chức của các trường đại học Đức đều có các Viện nghiên cứu (VNC) với chức năng chính là nghiên cứu và giảng dạy. Mỗi Viện đều có hướng nghiên cứu chuyên sâu riêng của mình đồng thời có sự liên kết chặt chẽ giữa các viện khi nghiên cứu những đề tài có quy mô lớn.  Thông thường mỗi viện có một giáo sư đầu ngành giữ vị trí Viện trưởng. Dưới đó là một kỹ sư cao cấp (Oberingenieur) có vai trò thay mặt giải quyết các công việc của viện khi giáo sư vắng mặt, thư ký viện và đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cán bộ phụ trách kỹ thuật phòng thí nghiệm, trang thiết bị… Tùy quy mô mà VNC có thể có nhiều chuyên ngành nhỏ. Ví dụ: Tại đại học Tổng hợp Hannover, Viện Cơ bao gồm: Viện Rôbốt (Institut fuer Robotik), Viện Cơ liên tục (Institut fuer Kontinuumsmechanik) và Viện Động lực học và dao động (Institut fuer Dynamik und Schwingungen).                     Các giáo sư viện trưởng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm kiếm và đảm bảo uy tín, tín nhiệm với các đề tài nghiên cứu khoa học cho Viện. Thông thường họ đã trải qua quá trình công tác thực tế, thu thập kinh nghiệm quản lý và nâng cao trình độ tại các công ty trong và ngoài nước, từng nắm các vị trí quan trọng trước khi giữ vai trò Viện trưởng. Số tiền dành cho công tác nghiên cứu thường rất lớn. Nguồn tiền dành cho nghiên cứu có thể từ: trường Đại học, các công ty, nhà máy (VW-Stiftung…) và Chính phủ (các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia, quốc tế). Mỗi cán bộ đều phụ trách hoặc tham gia một hoặc nhiều đề tài. Trong quá trình nghiên cứu tất yếu sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mới và đối với các cán bộ nghiên cứu trẻ thì đây là cơ hội tốt để họ phát triển thành các đề tài tiến sỹ của mình. Ngoài đội ngũ cán bộ nghiên cứu còn có sự hỗ trợ đắc lực của các sinh viên có khả năng, đam mê nghiên cứu khoa học. Vì thế, sinh viên có cơ hội rất tốt tiếp xúc với thực tế và còn được trả lương góp phần trang trải cuộc sống. GS.TS Berend Denkena, Viện trưởng Viện Kỹ thuật sản xuất và máy công cụ (IFW) tâm sự trong một buổi tiệc mừng Noel của Viện: “Chúng tôi cảm ơn các cán bộ nghiên cứu đã nỗ lực trong công tác nghiên cứu đồng thời bày tỏ lòng cảm ơn tới sự đóng góp to lớn của đội ngũ sinh viên, các bạn đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều, cảm ơn các bạn”.                  Giáo sư, TSKH. Bodo Heimann, Viện trưởng Viện Rôbốt kiêm giám đốc Trung tâm cơ điện tử Hannover cho biết:  “Hoạt động của Viện nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng trong việc trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu. Hàng tuần chúng tôi đều có ít nhất một buổi họp của giáo sư với các cán bộ nghiên cứu để thảo luận về các vấn đề mới trong các đề tài, hoặc tổ chức các buổi hội thảo với các chuyên gia của các trường Đại học khác, các cán bộ cao cấp đến từ các công ty… Do đó các cán bộ luôn được cập nhật những thông tin kỹ thuật, công nghệ mới nhất”.  Ông cho biết thêm, theo yêu cầu, các đề tài nghiên cứu khoa học đều phải gắn kết thiết thực tới các vấn đề của cuộc sống, luôn tối ưu hóa các công nghệ và sản phẩm đã có. Điều đó giúp cho nền khoa học, kỹ thuật và công nghệ của Đức luôn ở vị trí tiên phong trong mọi lĩnh vực. Ví dụ: Các hướng nghiên cứu của Viện Rôbốt hiện nay tập trung trong các lĩnh vực: Rôbốt tự hành (các rôbốt sẽ thay thế con người làm việc trong các môi trường độc hại và nguy hiểm); Cơ điện tử trong hệ thống ôtô (nghiên cứu tổng hợp hệ thống phức tạp trong ôtô: cơ khí, điện, điện tử, tin học để tối ưu hóa chuyển động của ôtô, bảo đảm độ an toàn, kỹ thuật sản xuất: Nghiên cứu các phương án sản xuất tối ưu về thời gian và kinh tế cho sản phẩm); Kỹ thuật y tế (Phát triển các thiết bị phục vụ trong y tế như cánh tay mổ tự động, chẩn đoán và điều trị bệnh…); Rôbốt (các loại rôbốt truyền thống, các loại Rôbốt cơ cấu động lực học song song- PaLida).        Bên cạnh công tác nghiên cứu thì các VNC cũng đảm nhiệm công tác giảng dạy cho sinh viên. Mỗi viện thường có một vài môn học và các môn học này đều liên quan và gắn liền với công tác nghiên cứu của viện do các giáo sư trực tiếp giảng dạy, trong một số môn học cho phép tiến sỹ đứng giảng bài (điều kiện tối thiểu để đứng giảng bài là cán bộ phải có bằng Tiến sỹ).         Sự liên kết giữa các Viện còn thể hiện qua một mô hình rất mới mẻ, đó là mô hình các Viện có chức năng liên quan mật thiết đến nhau được đặt tập trung trong một khu vực để thuận tiện cho việc nghiên cứu cũng như học tập của sinh viên. Điển hình là mô hình “Khoa học và sản xuất dưới cùng một mái nhà” của Trung tâm kỹ thuật sản xuất Hannover (PZH: Produktionstechnisches Zentrum Hannover).  Tại Trung tâm này hội tụ 6 Viện lớn của Khoa Cơ khí: Viện Kỹ thuật sản xuất và Máy công cụ – IFW, Viện Phương tiện giao thông và Tự động hóa – ITA, Viện Công nghệ vi điện tử – IMT, Viện Kỹ thuật Biến dạng – IFUM, Viện Vật liệu IW và Viện Thiết bị nhà máy IFA với trên 400 các kỹ sư, cán bộ nghiên cứu có chất lượng cao. Trung tâm này là sự hiện thực hóa ý tưởng liên kết giáo dục, nghiên cứu với sản xuất, tư vấn của nền giáo dục Đức nói chung và đại học Hannover nói riêng.  Bên cạnh công tác nghiên cứu thì các VNC cũng đảm nhiệm công tác giảng dạy cho sinh viên. Mỗi viện thường có một vài môn học và các môn học này đều liên quan và gắn liền với công tác nghiên cứu của viện. Giáo sư trực tiếp giảng dạy, trong một số môn học cho phép tiến sỹ đứng giảng bài. Đây là điều đặc biệt của nền giáo dục Đức,  điều kiện tối thiểu để đứng giảng bài là cán bộ phải có bằng Tiến sỹ. Các cán bộ trong viện vừa tham gia nghiên cứu khoa học vừa hỗ trợ giáo sư trong các công tác chuẩn bị bài tập, đề thi và chấm thi. Điều đặc biệt và rất quan trọng là mỗi cán bộ sẽ có giờ dành cho sinh viên có thể tới hỏi các vấn đề liên quan đến môn học. Các sinh viên có thắc mắc có thể đến vào giờ này và sẽ được hướng dẫn rất tận tình. Hai cán bộ trẻ của Viện Rôbốt là Hubertus Eilers và Stephan Baron cho biết, hiện nay họ đang nghiên cứu rôbốt ứng dụng trong y tế, mổ tự động và đề tài này có sự liên kết chặt chẽ với Trường đại học Y khoa của Hannover. Bên cạnh đó, họ cũng phụ trách chữa bài tập cơ học cho giáo sư. Hubertus Eilers còn phụ trách thêm về các vấn đề liên quan đến ngành học Cơ điện tử trong trường. Được làm việc cùng những cán bộ trẻ mới thấy được nhiệt huyết và đam mê khoa học đáng nể của họ. Người Đức vốn đặt hiệu quả lên đầu. Họ luôn cố gắng làm việc một cách khoa học, sắp xếp thời gian, lịch làm việc tối ưu. Trong công tác nghiên cứu, họ sẵn sàng ở lại thêm thời gian để làm việc, tìm kiếm các bài viết trên mạng và trong các tạp chí, sách báo chuyên ngành. Điều đáng chú ý nữa là các các bộ nghiên cứu đều phải sử dụng thành thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, để viết báo cáo và tham dự các hội thảo quốc tế. Đây là điều mà các nhà nghiên cứu của chúng ta cần học tập. Một điểm yếu bấy lâu nay của các nhà Khoa học Việt Nam đó chính là khả năng sử dụng ngoại ngữ cho nghiên cứu và trao đổi khoa học.           Nghiên cứu Rôbốt mở tự động với Camera quan sát.          Giáo trình học của Viện hàng năm đều được cập nhật các kết quả, kiến thức mới và thông qua sự đánh giá của sinh viên để luôn luôn được hoàn thiện hơn. Các sinh viên tham gia đánh giá chất lượng bài giảng, giáo trình, bài tập, nội dung… Sau đó giáo sư và các cán bộ sẽ tổng kết, thống kê, sửa chữa và bổ sung, làm mới cho môn học. Giáo sư Bodo Heimann khi đang soạn giáo trình mới đã từng cười rất tươi và nói đùa: “Bạn có biết trong trường ai làm chúng tôi đau đầu nhất không? Đó chính là các sinh viên, họ luôn bắt chúng tôi đổi mới và hoàn thiện”. Các viện cũng xây dựng các bài thí nghiệm, đồ án môn học cho sinh viên. Trên các viện luôn có các đề tài được rút ra từ các đề tài nghiên cứu và sinh viên có thể tự lựa chọn phù hợp với sở thích và điểm mạnh của mình.  Có thể nói hoạt động của VNC thể hiện sự chuyên sâu và chuyên môn hóa cao trong công tác giảng dạy của nền giáo dục Đức. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, sản xuất, công nghiệp… đóng vai trò quan trọng đưa sinh viên sớm tiếp cận thực tế, thực hiện tốt “học đi đôi với hành”.  Nhìn về thực tế trong nước, đôi khi các hoạt động nghiên cứu xa rời thực tế, các kết quả nghiên cứu nhiều khi không được đưa ra áp dụng gây sự lãng phí rất lớn trong công tác đầu tư. Chúng ta đang từng bước hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước thì việc hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục là một yêu cầu tất yếu và cấp bách. Một trong những công việc chúng ta có thể học tập các nước tiên tiến, mà cụ thể ở đây là nước Đức chính là chuyên môn hóa và tập trung phát triển vai trò, chức năng của các VNC, góp phần tránh lãng phí và đưa nền giáo dục, xã hội lên một tầm cao mới.  —————-  *(Sinh viên hệ Thạc Sỹ Cơ Điện Tử – Đại học tổng hợp Hannover)  Vũ Anh Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoạt động khoa học xã hội ở đại học      Hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học xã hội (KHXH), chính là một điểm yếu của giáo dục đại học Việt Nam. Làm thế nào để góp phần hạn chế điểm yếu này? Để tránh việc lặp lại những kiến nghị mang tính chất chung chung, tôi xin nêu ra đây một vài biện pháp cụ thể:      1. Xác định lại quan niệm và yêu cầu về giảng viên đại học: Giảng viên đại học đồng thời là nhà nghiên cứu  Giáo viên đại học không chỉ dừng lại ở việc soạn các bài giảng. Họ là những người tổ chức, tham gia vào các hội thảo nghiên cứu khoa học, là tác giả của các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế cho thấy, nếu đại học Việt Nam bị coi là phổ thông cấp 4 thì nguyên nhân là ở chỗ nó chưa thực sự trở thành môi trường nghiên cứu. Số người làm nghiên cứu có, nhưng không nhiều. Vậy, để nâng cấp đại học, trước hết phải nâng cấp vai trò của giảng viên đại học. Các giảng viên tương lai để được tuyển chọn cần có phẩm chất của nhà nghiên cứu, và thực tế công việc phải đòi hỏi họ trở thành nhà nghiên cứu. Các thế hệ sinh viên Việt Nam không thiếu những người có phẩm chất này. Vấn đề là cần có chính sách tuyển chọn và sử dụng người hợp lý.  2. Để giảng viên đại học có thể dễ dàng đảm nhiệm vai trò nghiên cứu của mình, về mặt phương pháp và quy định cơ cấu chương trình giảng dạy cũng cần có sự thay đổi  2.1. Ngoài việc thực hiện chương trình khung do Bộ Giáo dục nghiên cứu và áp dụng ở các trường đại học, giảng viên cần có một sự độc lập nhất định trong việc chọn nội dung chương trình để giảng, một sự độc lập giúp họ có thể công bố các nghiên cứu mới của họ cho sinh viên.   2.2. Đặc biệt đối với đào tạo sau đại học, từ thạc sĩ trở lên, hằng năm giảng viên cần đưa ra một chuyên đề mới. Nếu không thực hiện được hằng năm thì cũng phải thay đổi sau một thời hạn nhất định, tối đa là ba năm. Vì việc dạy đi dạy lại một chuyên đề trong nhiều năm liền sẽ không kích thích khả năng sáng tạo và thay đổi trong nghiên cứu của giảng viên.   Ở Pháp, ngay ở cấp Licence, tức là cấp thấp nhất của đào tạo đại học, chủ đề và nội dung của các bài giảng cũng được giáo viên thay đổi. Còn tại Paris 7, nơi tôi từng theo học có những giảng viên không bao giờ lặp lại bài giảng của họ, năm nào họ cũng đưa ra một vấn đề mới để giảng cho sinh viên. Vì mục đích của giáo dục đại học không phải là trang bị kiến thức.  Ở phương Tây, ta có thể dễ dàng mua những cuốn sách với nhan đề như: “Bài giảng của năm….” Một ví dụ đã trở nên điển hình: “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure thực chất chính là nội dung của các bài giảng của Saussure do học trò ông ghi lại. Cuốn “Herméneutique du sujet” của Michel Foucault cũng là những bài giảng của ông ấy vào năm 1982 được học trò xuất bản từ vở ghi. Hiện nay một số giảng viên ở Pháp có thói quen là sau một năm học, họ hoàn thiện và cho xuất bản luôn bài giảng mà họ đã giảng cho sinh viên, và năm sau lại bắt đầu một bài giảng mới. Như vậy, bài giảng thực chất là một công trình nghiên cứu. Và đấy chính là điều kiện để cho đại học trở thành môi trường nghiên cứu.  2.3. Trước mắt nếu tính tự nguyện ở các giảng viên trong việc nghiên cứu chưa cao, cần có những quy định mang tính bắt buộc của ngành, ví dụ quy định mỗi năm phải công bố bao nhiêu kết quả nghiên cứu, ở những mức độ nào. Nhiều khi sự bắt buộc cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển. Giai đoạn bắt buộc sẽ kết thúc khi mà giáo dục đại học đạt tới một chất lượng nhất định, lúc mà các giảng viên đã tự bắt buộc chính họ dưới hình thức gọi là tự nguyện, lúc mà họ thấy việc nghiên cứu là nhu cầu của chính họ, nhu cầu phát triển của chuyên ngành mà họ đảm nhận, cũng như nhu cầu thể hiện và khẳng định năng lực, khẳng định giá trị của họ.        Giảng viên ở Pháp có thói quen là sau một năm học, họ hoàn thiện và cho xuất bản luôn bài giảng mà họ đã giảng cho sinh viên, và năm sau lại bắt đầu một bài giảng mới. Như vậy, bài giảng thực chất là một công trình nghiên cứu. Và đấy chính là điều kiện để cho đại học trở thành môi trường nghiên cứu.        Tuy nhiên, chính sách bắt buộc chỉ có thể thực thi trong trường hợp giảng viên đại học được trả lương xứng đáng với lao động của họ, hoặc ít nhất họ có thể đủ sống bằng công việc chính của họ mà không phải mất thời gian mưu sinh bằng những việc khác không liên quan đến chuyên môn.   3. Công khai hoá việc sử dụng ngân sách của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học cấp cho ngành giáo dục  Một số điều cụ thể:  3.1. Công bố ngân sách Nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học của ngành giáo dục trên website của Bộ Giáo dục để tất cả cán bộ đều được biết và có thể nộp hồ sơ tham gia.   3.2. Công bố các điều kiện và yêu cầu, cũng như các ngành khoa học cụ thể được Nhà nước đầu tư trong nghiên cứu khoa học.  3.3 Công bố danh sách thành viên của các hội đồng xét duyệt và thẩm định các công trình nghiên cứu.  3.4 Chi tiết hoá kinh phí và cập nhật tại mỗi thời điểm có sự thay đổi, và công bố công khai trên mạng: đã chi bao nhiêu; cho những công trình gì, do ai phụ trách, do hội đồng nào xét duyệt; còn lại bao nhiêu…  3.5. Công bố danh sách các công trình nhận được tài trợ của Chính phủ.   3.6. Phổ biến các công trình đã nghiệm thu trên website của Bộ, để chất lượng của chúng có thể được đánh giá một cách công khai.   4. Tạo cơ hội cho cán bộ trẻ tham gia vào các hoạt động nghiên cứu  – Cán bộ trẻ, đặc biệt là sinh viên vừa tốt nghiệp được giữ lại trường thường không được giao nhiều công việc, vì họ chưa có nhiều kinh nghiệm. Cho phép họ tổ chức cho sinh viên các buổi thảo luận về các vấn đề mà họ đã được học. Hoặc hướng dẫn sinh viên cách đọc một văn bản, cách viết thu hoạch, cách tóm tắt các sách khảo cứu. Việc chữa các lỗi tiếng Việt và ngữ pháp, hướng dẫn cách viết, cách đọc cho sinh viên, các giáo sư không có thời gian để làm, có thể giao việc đó cho các nghiên cứu sinh hoặc các cán bộ trẻ. Ở Pháp có một chế độ gọi là monitorat, dành cho các nghiên cứu sinh, công việc của moniteur tại các Khoa KHXH là tổ chức các hoạt động đọc và viết cho sinh viên, chữa bài cho họ. Sinh viên Pháp viết sai tiếng Pháp không phải là chuyện hiếm, gặp khó khăn khi viết một báo cáo cũng không phải là hiếm. Chế độ monirtorat được thiết lập để giúp sinh viên khắc phục nhược điểm này. Đấy đồng thời cũng là một hình thức giúp cán bộ trẻ quen dần với việc nghiên cứu.   – Cán bộ trẻ cũng có thể tổ chức các cuộc hội thảo, hoặc các nhóm nghiên cứu tuỳ theo lĩnh vực và sự quan tâm của họ.  – Các cán bộ trẻ cũng cần nhận được sự đầu tư của Nhà nước nếu họ có những dự án có chất lượng và nếu họ chứng minh được khả năng thực hiện dự án đó.  5. Đưa Lịch sử triết học thế giới thành một bộ môn của các ngành KHXH  Tại sao có đề xuất này?   Hoạt động nghiên cứu KHXH đòi hỏi kiểu tư duy trừu tượng. Và tư duy trừu tượng vốn không phải là điểm mạnh của người Việt Nam. Tuy nhiên các công trình của triết gia Trần Đức Thảo cho thấy rằng người Việt Nam không phải không có khả năng tư duy trừu tượng. Nhưng chúng ta chưa tạo môi trường cho kiểu tư duy này phát triển. Việc giảng dạy môn triết học, giảng dạy các khái niệm và vấn đề triết học cho các ngành KHXH chính là một cách tạo điều kiện cho việc góp phần xây dựng kiểu tư duy này. Không thể có hoạt động nghiên cứu nếu không có những con người có phẩm chất nghiên cứu. Và sẽ không có những người có phẩm chất nghiên cứu nếu không đào tạo họ.        Triết học sẽ nuôi dưỡng sự quan tâm đặc biệt đối với các giá trị tinh thần, giúp con người hiểu rõ chính mình trong những chiều kích khác nhau, từ những vấn đề cụ thể trong đời sống hằng ngày của chính họ: sự sống, cái chết, cái tôi, tha nhân, tâm hồn, cơ thể, hạnh phúc, đạo đức, chính trị v.v…cũng như những tầm cao mà họ có thể đạt tới trong tư duy.         5.1. Triết học là một môn thi tốt nghiệp phổ thông bắt buộc ở Pháp. Ở các nước phát triển khác, lịch sử triết học và phương pháp luận khoa học (epistemologie) được giảng dạy ở đại học cả trong khoa học tự nhiên và KHXH. Đó không những là nền tảng kiến thức quan trọng của nhân loại mà còn là bộ môn giúp xây dựng khả năng phát triển tư duy trừu tượng. Vượt qua mọi tính chất cụ thể của các bộ môn khoa học cụ thể, nó là khoa học của mọi khoa học, là thành tựu đặc thù của tư duy nhân loại. Triết học thể hiện đầy đủ năng lực tư duy trừu tượng của con người. Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, con người Việt Nam không thể không biết những gì mà nhân loại đã trải qua trên con đường tư duy về cuộc sống, về nhân sinh, về vũ trụ, về quan hệ giữa con người với bản thân mình, quan hệ giữa con người với đồng loại, quan hệ giữa con người với thế giới…  Trong KHXH nói riêng, như đã nói, thiếu tư duy trừu tượng sẽ dẫn đến sự thiếu vắng các nghiên cứu và các lý luận mang tính hệ thống. Do vậy, điều mà bộ môn lịch sử triết học có thể mang lại không chỉ là các kiến thức tổng hợp, mà còn là sự giới thiệu và gợi mở về các hình thái tư duy phức tạp. Nó sẽ góp phần, về lâu dài, xoá bỏ tình trạng thiếu vắng các nhà lý luận, các nhà nghiên cứu và các nhà tư tưởng. Nó cũng sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng băng hoại các giá trị tinh thần. Vì triết học sẽ nuôi dưỡng sự quan tâm đặc biệt đối với các giá trị tinh thần, giúp con người hiểu rõ chính mình trong những chiều kích khác nhau, từ những vấn đề cụ thể trong đời sống hằng ngày của chính họ: sự sống, cái chết, cái tôi, tha nhân, tâm hồn, cơ thể, hạnh phúc, đạo đức, chính trị v.v…cũng như những tầm cao mà họ có thể đạt tới trong tư duy.   5.2. Việc giảng dạy cụ thể bộ môn này ở từng ngành KHXH khác nhau, có thể cần có những trọng tâm khác nhau. Trọng tâm chương trình áp dụng cho sinh viên khoa văn sẽ có sự khác biệt so với khoa sử, khoa ngôn ngữ, văn hoá… Điểm khác biệt chủ yếu sẽ nằm ở sự lựa chọn các tác giả, tác phẩm và trích đoạn tác phẩm được đưa vào phân tích cho sinh viên, và ở cách khai thác các tác phẩm, trích đoạn ấy.  Làm thế nào để có các tác phẩm triết học thế giới để dạy cho sinh viên?   Thực tế đó là một vấn đề nan giải. Vì rõ ràng chỉ có thể dạy cho sinh viên dựa trên những bản dịch tiếng Việt. Chúng ta có quá ít các bản dịch. Trong khi những triết gia đương đại như Derrida đã trở thành phổ biến ở Trung Quốc thì có những tác giả cổ điển vẫn chưa hề được dịch ở Việt Nam. Như vậy chúng ta đã lạc hậu quá nhiều so với Trung Quốc.  Hiện nay ở Việt Nam có những dịch giả tâm huyết và đủ năng lực để chuyển dịch những tác phẩm thuộc lĩnh vực rất khó dịch này. Một chính sách thoả đáng của Chính phủ để sử dụng năng lực của họ cho một chiến lược tuyển chọn dịch và giới thiệu một cách có hệ thống các tác giả kinh điển của triết học thế giới sẽ thúc đẩy quá trình đi nhanh hơn. Đồng thời tận dụng được tối đa tài nguyên chất xám mà chúng ta đang có.  Tất cả những điều nói trên cho thấy chỉ khi Chính phủ thực hiện một chính sách mang tầm chiến lược thì mới có thể thực sự phát triển nghiên cứu ở đại học, đặc biệt là những nghiên cứu về KHXH, vốn đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều về thời gian. Và tầm quan trọng của việc phát triển KHXH là ở chỗ: nó đóng vai trò cốt yếu trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển các giá trị nhân văn, các giá trị tinh thần, các giá trị đạo đức. Khoa học xã hội cung cấp hiểu biết về xã hội (Việt Nam và thế giới) để dựa trên đó, nhà cầm quyền có thể xây dựng và chọn lựa chính sách. Nếu không có KHXH thực sự, thì các “nhà KHXH” chỉ đóng vai trò “minh họa” hay biện minh cho một chính sách không căn cứ vào thực tế xã hội, đến khi chính sách này bị cuộc sống đào thải, thì lại “minh họa” cho một chính sách khác. Trước những ảnh hưởng nhanh chóng và ồ ạt của các yếu tố đến từ nước ngoài trong điều kiện hội nhập hiện nay, nếu KHXH của ta không đủ mạnh, và không áp dụng được các kết quả nghiên cứu vào đời sống, thì việc không bảo vệ được bản sắc dân tộc là điều có thể nhìn thấy. Cùng với sự suy vi của bản sắc dân tộc sẽ là sự băng hoại các giá trị đạo đức, các giá trị tinh thần, các giá trị nhân bản.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học cách học: Một bài học quan trọng bậc nhất đang bị bỏ quên      Nếu bạn gặp một bài toán khó, dù cố gắng nhiều mà giải mãi không xong, thì làm thế nào? Câu trả lời phổ biến nhất là cố gắng tìm ra chỗ sai trong lập luận rồi đi tiếp hoặc “làm lại từ đầu”. Cả hai phương án theo kinh nghiệm này không phù hợp với những lời khuyên của các chuyên gia về não bộ.      Theo họ, não bộ của chúng ta hoạt động theo hai cơ chế khác nhau: tập trung (focused mode) và thư giãn (diffused mode). Khi ta tập trung cao độ vào giải quyết một bài toán, não sẽ vào cuộc sử dụng cơ chế tập trung với số ít các tế bào thần kinh tại một vùng tập trung của não bộ được huy động. Khi ta rơi vào thế bí như tình huống đã dẫn, thì dù có cố gắng đến mấy, cũng chỉ có vùng não tập trung được hoạt động. Có nghĩa là chúng ta có xu hướng lặp đi lặp lại các cách giải quyết vấn đề, và khó lòng thoát ra khỏi bế tắc. Khi đó hành động rà soát lại lời giải hay đi lại từng bước từ đầu không có ích gì mấy. Như thiên tài Albert Einstein từng nhận xét đại ý “bạn không thể giải bài toán theo 1000 cách giống nhau rồi hy vọng có lời giải khác!”. Trong những lúc bí bách như thế này, cách tốt nhất là tạm rời xa bài toán đấy, đi chơi, thư giãn rồi hẵng quay lại với bài toán. Đây không phải là lời xúi bậy vô trách nhiệm. Việc bạn tạm rời bài toán đó để đi bộ, hóng gió, hoặc ngồi thiền ít phút sẽ giúp não bộ chuyển sang chế độ thư giãn, lúc này các vùng khác của não bộ được kích hoạt. Nếu quay trở lại giải toán, bạn sẽ có khả năng tìm ra một con đường khác, không bế tắc như lúc đầu.    Trên đây chỉ là một trong hàng tá ví dụ cho thấy những nghiên cứu về não bộ có thể giúp cải thiện đáng kể cách thức chúng ta học tập và làm việc. Tuy nhiên, bấy lâu nay chúng ta vẫn không mấy khi nghĩ về việc tìm hiểu các kiến thức loại này để cải thiện cách học tập, vì chúng ta thường phó mặc cho thói quen sai khiến trong các hoạt động của mình.    Có thể dẫn ra đây một thói quen tai hại khác vẫn chiếm chỗ trong trường học của chúng ta: các bài giảng dài. Bạn có thể gặp ở bất kì trường học nào các tiết học kéo dài từ 45 phút tới vài tiếng. Bạn cũng dễ dàng bắt gặp cảnh tượng hàng tá học sinh lơ đãng, ngủ gật, hoặc ngồi làm việc riêng trong lớp vì không thể chú tâm vào bài giảng. Trong khi hầu hết các giáo viên đổ lỗi cho các cô cậu học trò, thì các chuyên gia não bộ có một lời giải thích đơn giản cho hiện tượng này: não chúng ta chỉ có khả năng chú tâm suy nghĩ trong một thời gian rất ngắn, chừng 10 phút1, sau đó là sẽ đến giai đoạn mất tập trung. Đây là cơ chế phòng vệ hết sức tự nhiên của não người, vì vậy hãy phân chia các bài giảng thành từng phân đoạn ngắn hơn. Sau mỗi mười phút tập trung, hãy thiết kế một hoạt động để thư giãn và chuyển đổi sang phân đoạn tiếp theo. Thực ra đã từ lâu người ta đã biết dùng kĩ thuật phân giờ Pomodoro với các quy tắc đơn giản kể trên để gia tăng đáng kể năng suất làm việc và học tập.    Một nghiên cứu đăng trên Psychological Science in the Public Interest năm 20132 cho thấy, những phương pháp học tập được sử dụng phổ biến trong nhà trường như “tóm tắt nội dung bài giảng”, “dùng bút đánh dấu đoạn văn bản quan trọng khi đọc sách”, “đọc đi đọc lại một chương sách” hoá ra lại là những cách không mang lại mấy hiệu quả về ghi nhớ. Có những cách khác hữu hiệu hơn nhiều để giúp gia tăng hiệu quả học tập như: tích cực làm các bài luyện tập, hay học tập các kiến thức theo hình thức luyện tập phân tán với các khối kiến thức được chia nhỏ và học tập qua thời gian đủ dài.    Nhìn từ những tình huống kể trên, trường học hiện nay có vẻ đang phí phạm rất nhiều thời gian của học trò chỉ vì ưa thích kinh nghiệm mà ít quan tâm tới việc tìm hiểu và vận dụng các kiến thức khoa học về việc con người học tập như thế nào để từ đó xây dựng các hoạt động giáo dục cho tối ưu.    Chúng ta có thể liên hệ việc học tập như câu chuyện cái cần câu và con cá. Cách dạy truyền thống phổ biến hiện nay là dạng cho đi con cá, trong khi nếu ta trang bị năng lực tự học cho học sinh thì tức là cho họ một cái cần câu để tự lập suốt đời.    Sự thiếu vắng những bài học liên quan đến việc rèn luyện kĩ năng học tập sẽ mang lại hậu quả mà chúng ta đã được chứng kiến là những thế hệ học trò thụ động chỉ biết trông chờ kiến thức và chân lý từ giáo viên và những người đi trước mà không để chủ động tự mình xây dựng tri thức cho mình. Điều này càng trở nên tai hại trong bối cảnh thời đại tri thức và số hóa hiện nay khi mà lượng thông tin mỗi năm tăng trưởng theo cấp số mũ. Kiến thức ngày hôm nay còn đúng, ngày mai có thể đã sai đi nhiều. Chỉ có cách làm chủ việc học như thế nào mới giúp học sinh đứng vững trong thế giới ngày nay. Thế cho nên, nhiều nhà giáo hiện nay đã thừa nhận rằng tiêu chuẩn xóa mù hiện nay không chỉ là biết đọc biết viết mà còn phải thạo cách tự học. Nhìn theo hướng này, chúng ta có thể dễ dàng đồng tình với nhận định của cha đẻ phương pháp Bản đồ Tư duy Tony Buzan: “Kĩ năng tự học là kĩ năng quan trọng nhất mà một người có thể sở hữu”.    Thật may mắn là chúng ta có thể tìm thấy những sáng kiến mới trong một số chương trình giáo dục có để ý tới việc rèn luyện năng lực tự học trong chương trình giáo dục. Như sáng kiến Khung Kỹ năng thế kỷ 21 (P21.org) đã xếp kĩ năng học tập và sáng tạo thành một trong bốn hạng mục chính trong các năng lực cốt lõi mà học sinh thế kỉ 21 này phải thành thục.    Hay như nhóm Cánh Buồm chủ trương xây dựng chương trình giáo dục tiểu học hiện đại xoay quanh tư tưởng chủ đạo với một từ duy nhất: tự học. Theo đó học sinh được rèn luyện phương pháp học tập từ tiểu học. Kết thúc bậc tiểu học, trẻ em có được năng lực tự học vững vàng để sang bậc học cao hơn các em sẽ sử dụng năng lực ấy để tự mình đến với tri thức thay vì phụ thuộc vào sự truyền tải thông tin một chiều từ nhà trường. Nhóm Cánh Buồm xác quyết: “Giáo dục tức là tự giáo dục, tự làm ra chính mình!”. Nhóm đã đi xa hơn việc tuyên ngôn vài bước với sự quy trình hóa kĩ thuật để trẻ em thực sự xây dựng được phương pháp học cho mình.    Người xưa có câu, phàm phải trong tình huống khó lường thì “lấy bất biến ứng vạn biến”. Đối với việc học tập, cái bất biến là phương pháp tự học, cái vận động không ngừng là tri thức của thời đại. Không gì bằng trang bị cho được cái bất biến đó để người học của thế kỉ 21 có thể tự mình đi trên đôi chân tự do khám phá cánh đồng tri thức của nhân loại trong suốt cuộc đời. Thiếu kĩ năng thiết yếu này thì những khẩu hiệu rổn rảng về xã hội học tập, hay học tập suốt đời chỉ cùng lắm là những lời nói cho sang miệng. Bài học về cách học cần phải là bài học căn cơ nhất mà mỗi học sinh cần phải được luyện rèn.   —————  [1]Medina, J. (2011). Brain Rules: 12 Principles for Surviving and Thriving at Work, Home, and School (Large Print 16pt). ReadHowYouWant. com.  [2]Dunlosky, J., Rawson, K. A., Marsh, E. J., Nathan, M. J., & Willingham, D. T. (2013). Improving students’ learning with effective learning techniques promising directions from cognitive and educational psychology.Psychological Science in the Public Interest, 14(1), 4-58.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học công nghệ nano sẽ biết làm những gì?      Trong các bài trước, ta đã làm quen với khái niệm công nghệ nano là một lĩnh vực đa ngành với đối tượng chủ đạo là các vật thể có kích thước nhỏ. Hình ảnh trực quan là một “bùng binh” với nhiều con đường dẫn tới, mỗi con đường là một ngành truyền thống. Ta có thể tiếp cận “bùng binh” bằng cách đi theo những con đường nhánh, hoặc “nhảy dù” thẳng vào bùng binh bằng cách học trực tiếp các chương trình được thiết kế đặc biệt cho công nghệ nano. Vậy học xong các công nghệ nano thì chúng ta biết làm gì? Chắc hẳn đây là câu hỏi mà người học kỳ vọng nhận được câu trả lời thỏa đáng nhất.      Một giờ học tại lớp Công nghệ nano, Đại học Việt – Nhật. Nguồn: VJU.  Trước hết, chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng hai khái niệm: biết (kiến thức – knowledge) và biết làm (knowhow). Khi đi học biết có thể mang lại cho chúng ta điểm cao. Tuy nhiên khi ra trường, biết làm mới khiến chúng ta được đánh giá cao. Người nào có khả năng biến những thứ biết được dạy tại trường thành biết làm thì cơ hội thành công trong công việc cao hơn. Cũng như vậy, chương trình đào tạo nào giúp người học vận dụng kiến thức trên lớp thành kỹ năng thực tế, chương trình đó sẽ được các nhà tuyển dụng đánh giá cao hơn. Học công nghệ nano, chúng ta sẽ được học kiến thức đa ngành, vậy nếu vận dụng tốt những kiến thức đa ngành đó, chúng ta có biết làm đủ thứ như một “con dao Thụy Sĩ” hay không?  Hiển nhiên, tại các bậc học khác nhau thì biết và biết làm cũng sẽ khác nhau.  Đối với trình độ cử nhân, bậc học chính quy thấp nhất của công nghệ nano1, với các kiến thức về hóa học đã được truyền thụ, sinh viên ít nhất sẽ biết thực hiện các phản ứng hóa học, sau đó biết phân loại các hóa chất sau khi dùng để xử lý. Với các kiến thức về Vật lý được học, sinh viên ít nhất biết xử lý các mạch điện cơ bản, biết sử dụng các phần mềm mô phỏng các quá trình vật lý cơ bản như cơ nhiệt điện quang. Với các kiến thức về phần mềm kỹ thuật, sinh viên ít nhất cũng biết vẽ các bản vẽ kỹ thuật cơ bản hay lập trình viết lệnh sử dụng các phần mềm tính toán như Mathlab. Các kiến thức về tính chất của vật liệu là một yếu tố không thể thiếu của công nghệ nano, mà nhờ đó sinh viên ít nhất sẽ biết sử dụng các thiết bị chụp chiếu khảo sát các tính chất cơ điện cấu trúc của vật liệu và phân tích chi tiết các kết quả.  Khi học lên các bậc học cao hơn của công nghệ nano, các kiến thức và kỹ năng sẽ không ở trạng thái chung chung như bậc cử nhân mà bắt đầu phụ thuộc rất nhiều vào lựa chọn của từng cá nhân. Tại bậc học thạc sĩ, việc lựa chọn định hướng và chủ đề đào sâu đã được định hình ngay từ năm đầu tiên, dựa trên hai nhánh chính là thực nghiệm hay lý thuyết tính toán mô phỏng. Với mỗi lựa chọn này, học viên cao học cũng bắt đầu đào sâu hơn theo hướng “đi từ trên xuống2” kiểu vật lý hay “đi từ dưới lên3” kiểu hóa học, hay hướng vào các ứng dụng trong y sinh, dược phẩm hoặc môi trường. Các biết làm sẽ chuyên sâu hơn nhiều so với bậc cử nhân, tương ứng với lựa chọn định hướng. Ví dụ, nếu học viên cao học đã lựa chọn đi theo hướng hóa học thì sẽ biết làm nhiều về tổng hợp hay đo đạc phân tích tính chất đặc trưng cho hóa học. Tại bậc học này thời gian làm luận văn đặc biệt quan trọng vì nó sẽ quyết định bước đi nghề nghiệp tiếp theo. Trường hợp muốn đi theo hướng hàn lâm học thuật, học viên cao học phải biết đọc và hiểu các bài báo khoa học chuyên ngành bằng tiếng Anh. Một số bạn có thể biết viết các công bố khoa học chuyên ngành bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh. Trường hợp muốn đi theo hướng làm việc tiếp tại các doanh nghiệp, học viên cao học nên làm luận văn tại nơi họ muốn tìm việc sau đó.  Lên đến bậc tiến sĩ, câu trả lời cho biết và biết làm có lẽ sẽ không quá quan trọng vì làm luận án tiến sĩ là một dự án mang tính nghề nghiệp chứ không đơn thuần là đi học. Để được phép tiến hành một dự án nghề nghiệp, chắc chắn các nghiên cứu sinh đã phải biết làm một số việc quan trọng phù hợp với chủ đề tiến sĩ của mình. Một lần nữa cần nhấn mạnh, đối với lĩnh vực công nghệ nano, sau khi xong bậc tiến sĩ, các kiến thức sẽ chuyên sâu và rộng hơn nhiều so với hai bậc học trước đó. Ngoài các biết làm mang tính chuyên sâu trong lĩnh vực công nghệ nano mà ví dụ ở dưới sẽ đề cập, biết làm tại bậc tiến sĩ cũng phong phú hơn: nếu đi theo hướng hàn lâm học thuật, các tiến sĩ trẻ sẽ biết viết các đề xuất nghiên cứu phù hợp với năng lực và tổ chức gọi tài trợ; nếu đi theo hướng quản lý, các tiến sĩ trẻ cũng biết quản lý công việc theo hướng đa nhiệm, biết truyền cảm hứng cho những người theo mình và đặc biệt biết tập trung làm việc với cường độ cực lớn trong khoảng thời gian đủ lâu để có thể vượt qua trở ngại hoàn thành nhiệm vụ.  Phần trình bày ở trên mang một đặc điểm là tập trung vào từng bậc học để phân tích người học sẽ có các kỹ năng gì, kiến thức nào và biết làm gì. Vậy liệu có thể nhìn theo chiều dọc về một thứ biết làm được phát triển từ bậc cử nhân, lên thạc sĩ và tiến sĩ? Có thể tìm thấy một phần câu trả lời qua ví dụ cụ thể như sau: đa số sinh viên theo học ngành công nghệ nano, ít hay nhiều, đều thắc mắc tại sao phải học môn đại số tuyến tính và làm bài tập chéo hóa ma trận. Những kiến thức được học này sẽ được chuyển thành biết làm nào và có ích gì cho công việc trong tương lai của họ? Đối với bậc cử nhân, ta vận dụng kiến thức chéo hóa ma trận vào việc chia vấn đề thành các bài toán nhỏ độc lập để giải quyết. Đây là một biết làm rất quan trọng trong hầu hết mọi công việc nghề nghiệp sau này.  Lên đến bậc thạc sĩ, giả sử học viên cao học muốn đi sâu vào vật liệu và các tính chất vật lý đằng sau vật liệu đó, chắc chắn họ cần ứng dụng chéo hóa ma trận trong cơ học lượng tử. Cụ thể hơn, khi phải giải và hiểu bài toán của điện tử trong chất rắn, chéo hóa ma trận được mở rộng thành giải phương trình giá trị riêng của các toán tử tác dụng lên các hàm bình phương khả tích, ở đây là hàm sóng của điện tử, từ đó thu được sự lượng tử hóa động lượng điện tử và đặc biệt là sự phụ thuộc của năng lượng vào động lượng. Từ sự phụ thuộc này, học viên cao học có thể hiểu được các tính chất quang học, như hấp thụ hay phát xạ của vật liệu, các tính chất dẫn điện dẫn nhiệt của vật liệu và biết phân tích các kết quả đo đạc thu được với các tính chất tương ứng của vật liệu. Một trong số các thông tin thu được là khi nằm trong chất rắn, điện tử có thể được coi là tự do với khối lượng hiệu dụng có thể nhỏ hơn rất nhiều khối lượng tĩnh của điện tử4.  Lên bậc học tiến sĩ, từ việc hiểu sự phụ thuộc của năng lượng vào động lượng của điện tử trong chất rắn, và bằng việc sử dụng các thiết bị chế tạo vật liệu cấu trúc nano, nghiên cứu sinh có thể chế tạo được các linh kiện mà tại đó có sự tương tác đặc biệt giữa ánh sáng truyền trong vật liệu và điện tử kích thích trong vật liệu đó. Tương tác này tạo ra một loại giả hạt5 phức (exciton-polariton), có thể hiểu nôm na là hạt tạo bởi ánh sáng liên kết với vật chất, liên kết mạnh đến nỗi vận tốc truyền ánh sáng bị giảm đi rất nhiều. Khi nghiên cứu dòng chuyển động của các giả hạt này và vận tốc của sóng âm trong vật liệu, nghiên cứu sinh có thể giả lập được đường chân trời sự kiện6 của lỗ đen7. Hay với một loại cấu trúc linh kiện khác, nghiên cứu sinh có thể tạo được các ngưng tụ Bose-Einstein8 cho các giả hạt exciton-polariton tại nhiệt độ phòng, điều mà từ trước chỉ có thể đạt được tại nhiệt độ vô cùng thấp9, và đặc biệt hơn, nghiên cứu sinh còn phát ánh sáng laser từ các ngưng tụ này10. Như vậy từ kiến thức ban đầu là chéo hóa ma trận, khi học công nghệ nano theo định hướng linh kiện vật lý, ta có thể hiểu rõ hơn tính chất của điện tử trong chất rắn, kết hợp với biết cách chế tạo vật liệu nano, ta có thể giả lập được lỗ đen, một vật thể vũ trụ con người không thể với tới, trong một mẩu bán dẫn cấu trúc nano, hay làm được các nguồn laser hoàn toàn mới so với các nguồn đang dùng trong cuộc sống hằng ngày.  Kỳ tới: Cơ hội cho người học công nghệ nano ở Việt Nam  ——  1 Hiện tại chưa có hình thức đào tạo nghề hay trung cấp về công nghệ nano.  2Đi từ trên xuống (top-down approach) là cách chế tạo vật liệu và linh kiện kích thước nhỏ từ vật liệu khối kích thước lớn thông qua các phương pháp vật lý như đục, đẽo, khắc, phủ, mài, ép.  3Đi từ dưới lên (bottom-up approach) là cách chế tạo vật liệu và linh kiện kích thước nhỏ từ các nguyên tử phân tử thông qua các phản ứng hóa học.  4Khối lượng tĩnh của điện tử me= 9.1×10-31 kg.  5Giả hạt (quasiparticle) là một loại hạt gắn với hạt thật và tương tác với các hạt khác hoặc với môi trường xung quanh.  6Một lỗ đen tồn tại khi khối lượng vật chất được tích tụ vượt qua một giá trị tới hạn, khi đó dưới sức mạnh của trọng trường ngay cả ánh sáng cũng không thoát ra được nếu ở đủ gần lỗ đen. Giới hạn này gọi là chân trời sự kiện.  7H.S. Nguyen, D. Gerace, I. Carusotto, D. Sanvitto, E. Galopin, A. Lemaitre, I. Sagnes, J. Bloch, A. Amo, Acoustic Black Hole in a Stationary Hydrodynamic Flow of Microcavity Polaritons, Phys. Rev. Lett. 114 (2015) 36402.  8Ngưng tụ Bose-Einstein chỉ áp dụng cho các hạt có spin bằng không hoặc nguyên, có thể coi là một trạng thái khác của vật chất tại đó tất cả các hạt đều nằm tại một mức lượng tử. Các hạt có spin bán nguyên tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli sẽ không thể tạo được ngư tụ này.  9M.H. Anderson, J.R. Ensher, M.R. Matthews, C.E. Wieman, E.A. Cornell, Observation of Bose-Einstein Condensation in a Dilute Atomic Vapor, Science. 269 (1995) 198–201.  10S. Christopoulos, G.B.H. von Högersthal, A.J.D. Grundy, P.G. Lagoudakis, A. V. Kavokin, J.J. Baumberg, G. Christmann, R. Butté, E. Feltin, J.-F. Carlin, N. Grandjean, Room-Temperature Polariton Lasing in Semiconductor Microcavities, Phys. Rev. Lett. 98 (2007) 126405.    Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Học để làm người tự do      Tôi cho rằng, mục tiêu của giáo dục là giúp cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Học lại là hoạt động trọng tâm của giáo dục. Vì thế, câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ là: Học để trở thành con người tự do, trong đó quan trọng nhất là tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, tự do kiến tạo.      Học để làm gì? là một câu hỏi cơ bản nhưng nhiều khắc khoải. Trong mấy năm vừa rồi, mỗi khi có dịp, tôi lại tiến hành những khảo sát bỏ túi với học sinh, sinh viên về câu hỏi nghe qua rất đơn giản này. Hầu hết các em không trả lời được.  Nếu gặng hỏi thì thường sau một hồi suy nghĩ, các em sẽ đưa ra một trong các câu trả lời khuôn mẫu: Học để làm người, học để phát triển bản thân, học để có công ăn việc làm, học để sau này đỡ khổ, học để thi v.v.  Ngay cả sau khi đã suy nghĩ như vậy thì phần lớn những câu trả lời này đều là một sự đối phó. Khi được hỏi đây là câu trả lời các em vừa nghĩ đến, hay đã nghĩ trước đó rồi, thì trên 80% cho biết vừa mới nghĩ đến. Và cũng trên 80% các em cho biết, chưa bao giờ tự mình đặt ra câu hỏi “Học để làm gì?” cho chính bản thân mình.  Chưa kể, nếu hỏi sâu hơn một chút, rằng: học để làm người, nhưng đó là con người nào, hoặc học để phát triển cá nhân, nhưng là phát triển cái gì, thì gần như 100% các em đều bí.  Điều này cũng hợp lý, vì trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, tôi cũng chưa bao giờ tự đặt ra những câu hỏi đó cho mình. Các thầy cô của tôi cũng không bao giờ nhắc đến. Đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập, đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập… là một chu trình khép kín mỗi ngày. Còn học, kiểm tra, thi, rồi lại học, kiểm tra, thi là một chu trình khép kín của mỗi năm học. Phần lớn chúng ta đi qua và thực hiện chu trình đó như một sự hiển-nhiên, không hề chất vấn ý nghĩa của nó đối với sự trưởng thành của chính mình. Cho đến một ngày ra trường, ta giật mình tự hỏi, và hoang mang khi biết rằng mình đã dành mười mấy năm đi học, nhưng không biết học để làm gì!  Học mà sau mười mấy năm vẫn không biết học để làm gì thì chưa gọi là học. Người học khi đó đã bị mắc kẹt vào chính những điều mình được học và bị học. Sự học như vậy chưa làm người học thức tỉnh, dám thoát ra khỏi những điều mình đã học, sàng lọc lại và sử dụng chúng như những công cụ phục vụ cho công việc và cho sự trưởng thành về trí tuệ của chính mình.  Chỉ dấu đầu tiên cho những người trưởng thành như thế là khả năng tư duy độc lập, và xa hơn là những con người tự do, có khả năng tự lãnh đạo cuộc đời mình, và dám chịu trách nhiệm với chính mình về sự tự lãnh đạo đó.  Vấn đề đặt ra: Con người tự do là con người nào mà lại được coi là đích đến của giáo dục?  Tự do tư tưởng  Con người tự do trước hết thể hiện ở khả năng tự do tư tưởng của người đó. Để làm được như vậy, người đó phải có khả năng sử dụng lý trí của mình để tư duy một cách độc lập hầu phát triển nhận thức của riêng mình, nhưng cũng lại tôn trọng nhận thức của người khác.  Biểu hiện thứ hai của tự do tư tưởng là khả năng dịch chuyển nhận thức, dịch chuyển các khung tham chiếu mà mình đang có; làm mới hoặc từ bỏ nhận thức đã có để đón nhận một khung nhận thức mới khách quan, toàn diện hơn. Một người không có khả năng dịch chuyển nhận thức thì sẽ mắc kẹt vào chính nhận thức của mình. Khi đó anh ta không sử dụng nhận thức mà đang bị nhận thức, đóng vai trò như một định kiến, sử dụng mình.  Biểu hiện thứ ba của tự do tư tưởng là khả năng diễn đạt ý kiến, suy nghĩ, tư tưởng của mình một cách công khai cho đại chúng. Suy nghĩ, tư tưởng diễn ra trong đầu mỗi người, người ngoài không thể truy nhập được. Nếu anh không diễn đạt công khai cho người khác biết để cùng thảo luận, để được đón nhận hoặc bác bỏ, thì sự tự do tư tưởng đó không có ý nghĩa. Khi đó tư tưởng sẽ luôn bị giới hạn, thiếu kiểm chứng và phản biện khách quan, và như vậy tự do tư tưởng sẽ chỉ là che đậy cho một sự chủ quan và sợ hãi, chứ không phải là tự do tư tưởng đích thực.  Tự do lựa chọn  Sau khi đã có tự do tư tưởng thì con người tự do sẽ thực thi nó trong đời sống cá nhân và xã hội thông qua tự do lựa chọn. Nói cách khác, người đó phải có khả năng đưa ra lựa chọn của mình một cách chân thật, trong tự do và sau khi suy xét, chứ không vì một sự ép buộc hay a dua nào.  Khác với tự do tư tưởng có khi chỉ diễn ra trong tâm trí của mỗi người, tức trong thế giới chủ quan chỉ mình người đó biết, tự do lựa chọn tạo ra tác động đến bản thân chủ thể và thế giới xung quanh, và người đưa ra lựa chọn sẽ phải chịu trách nhiệm về tác động đó, với pháp luật hoặc luân lý xã hội.  Tự do lựa chọn sẽ luôn đi kèm với việc tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của bản thân. Một người tự do lựa chọn sẽ là chủ nhân đích thực của đời mình, sống cuộc đời của chính mình, do mình lựa chọn và tự chịu trách nhiệm, chứ không phải do thầy cô hay bố mẹ chọn thay, cũng không phải do một sự áp đặt nào khác.  Như thế, học để trở thành người có tự do lựa chọn là học cách lãnh đạo bản thân mình, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về các lựa chọn của mình, trong tự do và thấu hiểu.  Lưu ý rằng, tự do tài chính, một khái niệm đang được nói nhiều trong giới trẻ, chỉ là một biểu hiện cụ thể của tự do lựa chọn về mặt tài chính.  Tự do trở thành  Một cách hiển nhiên, sự trở thành của mỗi người là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Nếu tự do tư tưởng là thứ tự do có tính cách nội tại, thì tự do lựa chọn lại có tính ngoại. Chính sự tương tác giữa hai yếu tố bên trong và bên ngoài ở thời điểm hiện thời này sẽ tạo ra sự trở thành cho mỗi người ở thời điểm kế tiếp. Tự do trở thành vì thế chính là khả năng làm chủ sự trở thành của mình, thông qua việc thấu hiểu làm chủ những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình.  Vì những gì diễn ra bên trong mình không chỉ là suy nghĩ và tính toán, mà một phần rất lớn và quan trọng là cảm xúc. Một người thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong mình vì thế đòi hỏi không chỉ có trí tuệ của lý trí, mà còn thấu hiểu và phát huy được trí tuệ cảm xúc trong một sự cân đối, hài hòa.  Cũng lại vì những gì diễn ra bên ngoài mình, tức thế giới xung quanh, không thể chỉ đơn thuần gói gọn trong các mô tả và diễn giải có tính lý thuyết, nên một người muốn thấu hiểu những gì đang diễn ra trong thế giới xung quanh đòi hỏi trước hết ở trải nghiệm và khả năng kết nối với thế giới đó, sau đó là trí tuệ phân tích và trực giác, để thấu hiểu nó theo cách chân thật nhất.  Một người như thế là một người không chỉ có tự do, mà còn rất tỉnh thức, với những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, và với cả cách thức mà mình đang đi qua cuộc sống này. Nói cách khác, người đó đã trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” và “Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình?”, và luôn tỉnh thức để có được sự trở thành nhất quán với các câu trả lời đó.  Một người như thế là một người lịch lãm tinh thông trong việc sống. Do tinh thông việc sống như thế, người đó sẽ có được bình an từ bên trong, luôn làm chủ bản thân và làm chủ cách đón tình huống mà mình đang đối mặt, theo cách tự nhiên và hiệu quả.  Tự do kiến tạo  Một biểu hiện quan trọng khác của con người tự do là ở khả năng tự do kiến tạo. Tự do kiến tạo cũng là điều kiện cần thiết cho một cuộc sống tự do đích thực và có ý nghĩa không chỉ với bản thân mà còn với xã hội.  Để có được tự do kiến tạo, trước hết một người phải có khả năng kiến tạo trong tâm trí mình điều mà họ mong muốn. Muốn vậy, trước hết phải có tự do tư tưởng, nếu không người đó sẽ mắc kẹt vào những điều đã biết và không có khả năng kiến tạo ra cái gì mới.  Sau đó, người ấy phải có tự do lựa chọn để có khả năng chuyển những điều mình đã kiến tạo trong tâm trí ra bên ngoài thông qua lựa chọn. Nhưng sau khi đã lựa chọn rồi, để không bỏ cuộc khi gặp khó khăn và cam kết với sứ mệnh mình đã đặt ra, người đó phải có khả năng thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, làm chủ sự trở thành của mình, tức làm chủ diễn tiến của cuộc đời mình, trong tự do và thấu hiểu.  Nhận thức của mỗi người có được là do trải nghiệm ở trong quá khứ của cá nhân người đó, vì thế để có được tự do kiến tạo, thì một người phải thấu hiểu các giới hạn do quá khứ mang lại, và sẵn lòng vượt thoát khỏi quá khứ để kiến tạo cái mới.  Ngoài ra, để hiện thực hóa một sự kiến tạo xứng đáng thường bao giờ cũng đòi hỏi nguồn lực và sự tham gia của nhiều hơn một người . Điều này đòi hỏi ở mỗi người năng lực phối hợp làm việc cùng người khác. Do đó, những kỹ năng như làm việc nhóm, tư duy phê phán, chung sống trong sự đa dạng, tôn trọng sự khác biệt, cân bằng và điều phối lợi ích, thỏa hiệp để đạt đồng thuận… trở thành những yêu cầu bắt buộc.  Chỉ khi có được tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, khả năng vượt qua được những giới hạn trong nhận thức của mình, và khả năng phối hợp làm việc cùng người khác trong một tâm thế chủ động, một người mới có được tự do kiến tạo để tạo ra một điều gì đó xứng đáng, quan trọng nhất là kiến tạo chính cuộc đời mình và mang lại cho nó một giá trị, một ý nghĩa, trong suốt hành trình sống.  Đến đây, hẳn bạn đã nhìn ra câu trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì?  Với tôi, học là để trở thành con người tự do. Và tôi luôn nhất quán với câu trả lời xuyên suốt đó.    Author                Giáp Văn Dương        
__label__tiasang Học gì để thành lập trình viên?      Có ba câu hỏi căn bản thường bám đuổi một người đi học: “Học thế nào?”,“Học cái gì?” và “Học để làm gì?”. Trong bài viết “Học lập trình cần bao nhiêu thời gian ?”1, tôi có dịp nêu lại quan điểm của các nhà tâm lí học cũng như các lập trình viên mẫu mực về việc phải tích lũy đủ thời gian rèn luyện và cải tiến liên tục để lập trình viên có thể đi từ học việc tới mức độ chuyên gia trong nghề. Đó là một phần câu trả lời cho câu hỏi “Học thế nào?”. Trong khi đó, với lượng kiến thức đồ sộ cùng với sự thay đổi nhanh chóng của bản thân ngành phần mềm, những người học nghề lập trình ngày nay rất dễ bị ngợp và có thể gặp khó khăn với câu hỏi “Học cái gì ?”. Bài viết này sẽ nỗ lực cung cấp những gợi ý cơ bản.      Hiện nay có rất nhiều kiểu lập trình viên khác nhau, có kiểu chỉ cần vài tháng học việc, có kiểu lại cần bỏ ra tới vài năm.   Trong bài “Học lập trình trong 10 năm” rất có ảnh hưởng, Perter Norvig khuyên lập trình viên: “Hãy học ít nhất khoảng nửa tá ngôn ngữ lập trình, bao gồm: Một ngôn ngữ hỗ trợ việc tạo các lớp trừu tượng (Java hoặc C++), một ngôn ngữ lập trình hàm (Lisp hoặc ML), một ngôn ngữ cú pháp (Lisp), một ngôn ngữ hỗ trợ khai báo định danh (Prolog hoặc C++ templates), một ngôn ngữ hỗ trợ coroutine (Icon hay Scheme), một ngôn ngữ hỗ trợ song song (Sisal)”. Thực tế là một sinh viên thường chỉ học được một nửa trong số đó sau khi hoàn tất một chương trình đại học về kĩ thuật phần mềm (software engineering). Liệu Norvig có yêu cầu cao quá không? Thực ra, đó là lời khuyên dành cho chặng đường 10 năm. Một người học việc có thể chỉ quan tâm tới những gì là “vừa đủ để bắt đầu làm việc”. Khi được hỏi “đâu là bộ kĩ năng tối thiểu mà một lập trình viên cần có?”, Norvig trả lời trong cuốn sách “Lập trình viên nói về công việc”2 rằng: “chỉ cần đủ để nhìn ra được một sự tiến bộ nào đó, và biết cách cải thiện dần”. Điều Norvig nói hàm ý khả năng tự học liên tục. Tuy câu trả lời rất sâu sắc, nhưng rõ ràng là chưa đi thẳng vào vấn đề, chưa đủ cụ thể.  Kì thực, cụm từ “lập trình viên” có thể khiến chúng ta mất phương hướng khi tìm hiểu. Hiện nay có rất nhiều kiểu lập trình viên khác nhau, có kiểu chỉ cần vài tháng học việc, có kiểu lại cần bỏ ra tới vài năm. Mỗi kiểu công việc đó lại đòi hỏi những bộ kĩ năng không hoàn toàn giống nhau. Nói cách khác, đối với việc học lập trình, trước khi tìm hiểu “học cái gì” thì phải tìm hiểu về đầu ra của việc học. Yêu cầu công việc thế nào thì học thế ấy. Người học việc có thể tự học hoàn toàn, tham gia một trung tâm đào tạo lập trình viên chuyên nghiệp, tham gia một chương trình học tập trực tuyến, hoặc học ở trường đại học. Bất kì con đường nào đều có thể dẫn đến cái đích lập trình viên, nhưng chính yêu cầu công việc mà người học việc lựa chọn sẽ quyết định họ cần phải học tối thiểu những gì.  Có một dạng lập trình viên dường như cần ít thời gian học hơn cả là “web front-end developer” (lập trình viên giao diện web, gọi tắt là front-end developer). Tất cả những gì tối thiểu họ cần học là hiểu biết sâu sắc về HTML, CSS, JavaScript, UI/UX và sử dụng một số công cụ cũng như framework cần thiết để thuần thục trong việc thao tác với phần nổi của một hệ thống web, là phần mà chúng ta nhìn thấy khi vào một trang web. Quá trình học tập này có thể chỉ kéo dài vài tháng.  Hiện nay, nhu cầu công việc cho front-end developer không phải là ít. Nhiều nhóm phát triển sản phẩm cần front-end developer để làm đẹp cho giao diện của ứng dụng, hoặc thiết kế trải nghiệm người dùng thật ưu việt. Ngược lại, có những startup lại tập trung làm thuê hoặc làm sẵn những themes, templates (các mẫu giao diện) để đem bán cho các nhà phát triển phần mềm khác. Ngay ở Việt Nam thôi, có startup kiếm tiền triệu đô bằng việc tập trung vào phân khúc này.      Mark Zuckerberg biết những gì khi tạo ra Facebook? Daria Karasek, một chuyên gia ở Inwedo, cho biết trên Quora3, Mark Zuckerberg đã biết dùng kiến thức về Visual Basic, VBscript, C, C++, Java, Javascript, ASP, và PHP để tạo ra Facebook.        Ngược lại với các front-end developer, các lập trình viên back-end (back-end developer) chuyên viết mã lệnh để thực hiện những nghiệp vụ ở phía sau cho một hệ thống phần mềm. Một trang web bán hàng trực tuyến có thể chỉ có một vài trang hiển thị thông tin sản phẩm, vài trang khác để hướng dẫn người dùng mua hàng. Nhưng ở đằng sau, hàng tá chương trình khác được viết ra để thực hiện việc truy xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu, gửi thông tin qua mạng, tổ hợp thông tin hiển thị, và thực hiện việc giao dịch trực tuyến với các hệ thống khác của ngân hàng. Nếu hệ thống ứng dụng web là một ngôi nhà, thì phần back-end chính là phần thô của ngôi nhà đã xây xong, còn front-end chính là nội thất và phần decor của ngôi nhà đó. Trong nhiều loại phần mềm hiện nay, phần chìm back-end chiếm phần lớn nỗ lực phát triển.  Quá trình học tập để trở thành back-end developer thường mất công hơn nhiều so với các front-end developer. Họ phải học một trong các ngôn ngữ lập trình chủ đạo như PHP, Ruby, Python, Java, C#…, cùng với các công cụ và thư viện sẵn có để biết cách xử lí nghiệp vụ; học cách sử dụng thành thạo một hoặc vài cơ sở dữ liệu để lưu trữ, truy vấn và xử lí dữ liệu; thành thạo thao tác với các máy chủ web; có hiểu biết về hệ thống đa lớp, bảo mật, lập trình phân tán và mạng, cũng như hiểu biết sâu sắc hơn về quy trình và phương pháp luận phát triển phần mềm (Agile, Scrum, XP, CMMI…) với các nhóm làm việc có quy mô khác nhau. Tùy từng quy mô và yêu cầu mà những lập trình viên back-end cũng sẽ phải thành thạo nhiều hơn các công cụ cộng tác, các công cụ quản trị dự án, các công cụ quản lí mã nguồn và cấu hình, các công cụ và quy trình tự động hóa để gia tăng chất lượng và năng suất. Ở một số lĩnh vực, lập trình viên còn phải hiểu sâu sắc nghiệp vụ của lĩnh vực ấy (domain knowledge) mới có thể làm việc được. Một lộ trình học tập như vậy thường đòi hỏi thời gian gấp đôi hoặc hơn thế so với các lập trình viên front-end.  Kể từ khi các nền tảng điện toán di động lên ngôi, lực lượng lập trình viên ứng dụng di động (mobile app developer) cũng bắt đầu tăng dần. Đây là những người chuyên kiến tạo các ứng dụng nhỏ xinh chạy trên các điện thoại thông minh như chạy hệ điều hành iOS của Apple, Android của Google, Windows Mobile của Microsoft, Tizen của Samsung… Quá trình học việc của các lập trình viên ứng dụng di động gần giống với các lập trình viên back-end, nhưng thường tập trung hơn vào một nền tảng công nghệ (ví dụ lập trình viên iOS thì tập trung phát triển ứng dụng trên hệ điều hành iOS, sử dụng các công cụ và ngôn ngữ lập trình chủ yếu do Apple cung cấp, như Objective-C, Swift, XCode; trong khi lập trình viên Android thì sử dụng các công cụ do Google cung cấp, chủ yếu dùng ngôn ngữ Java để làm ra ứng dụng cho các điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android, v.v.).    Bốn – năm năm trở lại đây, cụm từ “full-stack developer” (tạm dịch: “lập trình viên toàn năng”) cũng hay xuất hiện trên các bản tin tuyển dụng. Thông thường, nó đề cập tới những lập trình viên có khả năng làm được cả phần front-end, back-end và thậm chí là cả mobile app nữa. Những lập trình viên kiểu này thường có hạng (rank) cao hơn, được trả lương cao hơn, và đòi hỏi không chỉ bộ kĩ năng rộng hơn, mà cả kinh nghiệm nhiều hơn. Nhiều startup, do điều kiện đặc thù, đòi hỏi các lập trình viên của mình là full-stack để có thể làm được nhiều việc hơn, phản hồi nhanh hơn với các trục trặc của hệ thống, và sáng tạo hơn trong việc đề xuất các giải pháp mới. Như chúng ta có thể đoán ra, việc trở thành full-stack developer khó khăn hơn, mất thì giờ hơn nhiều so với các loại lập trình viên đã kể ở trên.  Ngoài ra, chúng ta có thể bắt gặp thêm các lập trình viên hệ thống (system programmer) chuyên viết phần mềm hệ thống (hệ điều hành, phần mềm bảo mật…), lập trình viên ứng dụng (application developer) chuyên viết các phần mềm chạy độc lập trên các máy tính cá nhân, lập trình viên nhúng (embedded system developer) chuyên viết mã lệnh để nhúng trực tiếp vào các thiết bị không phải là máy tính (như tủ lạnh, điều hòa, ô tô, hay hàng loạt những thiết bị IoT đang ra đời…), lập trình viên game (chuyên viên lập trình trong các dự án sản xuất trò chơi máy tính), v.v. Thông thường, lộ trình học tập của những lập trình viên này có thể dài tương đương với các full-stack developer hoặc hơn.  Như chúng ta thấy, bài này đã cung cấp một lát cắt về những lộ trình học tập khác nhau liên quan đến một số loại hình lập trình viên phổ biến. Đó tất nhiên chưa phải là toàn bộ những công việc mà các lập trình viên trên thế giới đang làm. Ngành phần mềm luôn chuyển động rất nhanh, liên tục sinh ra những kiểu công việc chưa từng có. Đôi khi các công việc này đòi hỏi những người cần ít năng lực hơn, nhưng cũng có khi đòi hỏi nhiều năng lực hơn. Tuy vậy, có một vài thứ mà các lập trình viên mọi thể loại đều phải biết qua hoặc thành thục. Thông thường, đó là những phần “nền tảng” trong các chương trình đào tạo lập trình chính quy. Có thể kể đến: cơ sở toán học (logic và toán rời rạc), ngôn ngữ lập trình, hệ điều hành, quy trình phát triển phần mềm, phân tích nghiệp vụ, thiết kế và kiến trúc, kiểm thử phần mềm, thiết kế tương tác, cấu trúc dữ liệu và giải thuật, đạo đức nghề nghiệp. Ngoài ra, người học việc cũng phải tích lũy đủ những kĩ năng mềm căn bản như kĩ năng giao tiếp, cộng tác và làm việc nhóm, kĩ năng phản biện và đặc biệt là năng lực tự học suốt đời. Việc trang bị những kiến thức nền này sẽ giúp lập trình viên có thể đi xa hơn trên con đường nghề nghiệp đầy thử thách nhưng hết sức thú vị.  ———  * Tác giả là cố vấn Phát triển nghề nghiệp tại CodeGym.  1 http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Hoc-lap-trinh-can-bao-nhieu-thoi-gian—10643  2 Peter Seilbel, Coders at work: Reflections on the craft of programming, 2009, NXB Apress  3 https://www.quora.com/During-Facebook’s-startup-did-Mark-Zuckerberg-write-all-the-code-in-one-language-or-did-he-know-most-of-the-languages-at-that-time-which-are-being-used-today          Author                Dương Trọng Tấn        
__label__tiasang Học KH&CN ở bậc giáo dục phổ thông      Do quan niệm rằng trẻ em “còn non nớt”, “tư duy chưa phát  triển”, nên các nhà làm sách giáo khoa giáo dục phổ thông cho trẻ em  tiểu học thường không biết bắt đầu từ đâu khi muốn đưa nội dung khoa  học, kỹ thuật vào nội dung học.       Cách làm bộc lộ tư duy  Một trong những tiêu chí phân biệt hai  nền giáo dục phổ thông là ở  hướng tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh tri  thức. Có một hướng là chiếm  lĩnh từ những tri thức lẻ tẻ rồi đến một lúc  nào đó sẽ tổng quát hóa  chúng thành nguyên lý. Hướng “học tập” và  “nghiên cứu khoa học” này đã  có từ thời xuất hiện homo sapiens – những  tổ tiên của con người này  cũng biết quan sát (bắt đầu với cái gì ăn được  và cái gì ăn không  được), rồi mô tả, rồi thống kê, rồi phân tích …  Những chuyện như thế  này ít ra đã được Gaston Bachelard phân tích khi  phân biệt tư duy tiền  khoa học với tư duy khoa học.  Do quan niệm rằng trẻ em “còn non nớt”, “tư duy chưa phát triển”, nên các nhà làm sách giáo khoa giáo dục phổ thông cho trẻ em tiểu học thường không biết bắt đầu từ đâu khi muốn đưa nội dung khoa học, kỹ thuật vào nội dung học. Thời Pháp thuộc, chương trình tiểu học từ chính quốc mang sang có môn Lecon de choses được các nhà Nho chuyển tên thành môn Cách Trí (cách nói tắt của “cách vật trí tri”). Môn học này, tiếc thay, gần một thế kỷ sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng chỉ đến được khái niệm Khoa học thường thức. Còn nội dung “thường thức” của các thứ “khoa học” thì đều tùy… tiện theo cảm hứng của người biên soạn sách.   Nhưng như thế cũng còn là may!       Gần đây, chương trình cải cách giáo dục năm 2000 gọi tắt là CT-2000 được hoàn thành việc triển khai ra cả nước vào năm 2004 và được Luật Giáo dục do Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 7 năm 2005 hỗ trợ quy định trên toàn quốc chỉ có một bộ chương trình và một bộ sách giáo khoa. Chương trình và sách đó lại được trụ đỡ một lần nữa bằng một CHƯƠNG TRÌNH KHUNG ban hành kèm theo văn bản 5842-BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011. Ra đời năm 2011 nghĩa là chậm hơn 10 năm so với việc ban hành CT-2000, bộ “chương trình khung” này cho ta biết rằng trẻ em ở bậc tiểu học không còn phải học “Khoa học thường thức” nữa, mà được học ít nhất trong những môn học sau: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Thủ công và Kỹ thuật.       Tư duy Khoa học – Công nghệ của nhóm Cánh Buồm      Nhóm Cánh Buồm xác định trẻ em học môn Khoa học – Công nghệ để tự tạo cho mình một cách làm việc thực nghiệm qua đó mà có một tư duy thực chứng.       Thế nào là cách làm việc thực nghiệm? Đó là tự tay mình tiến hành những việc làm thật, dùng những kết quả có thật để đi đến những kết luận chung và cả những kết luận cho riêng mình nữa. Cách làm thực nghiệm đó lâu dần sẽ tạo ra trong tâm lý người học một cách suy nghĩ chỉ tin vào cái gì con người có thể làm ra (trong phòng thí nghiệm hoặc trong cuộc sống thực) – nói cách khác, những con người không nô lệ vào các giáo điều được đúc kết sẵn.      Ở lớp Một, sách Khoa học – Công nghệ của nhóm Cánh Buồm tập trung vào tổ chức cho trẻ em học phương pháp thực nghiệm. Song, công việc thực nghiệm không diễn ra trong chân không, mà phải thực hiện với vật chất làm vật liệu. Vật liệu thì có nhiều, trong giáo dục phải chọn vật liệu làm mẫu, phải tìm thứ vật liệu nào tồn tại quen thuộc để khám phá. Với học sinh lớp Một, chúng tôi chọn Nước là vật liệu chủ chốt cho trẻ em khám phá bằng thực nghiệm.       Tiết học đầu tiên dưới trời nắng, cô giáo và học trò giội một chậu nước ra sân trường (chỗ sân bê tông) và lấy phấn khoanh viền bờ nước. Một câu hỏi Tại sao được đặt ra: đố biết tại sao cô lại lấy phấn ghi viền bờ nước lại? Thôi để đấy, cô và trò vào lớp tiếp tục bài mở đầu: trong cuộc sống con người có những câu hỏi Tại sao như thế nào? Các nhóm thi nhau xem nhóm nào tìm ra nhiều thứ Tại sao hơn cả. Gần hết tiết học, cô giáo giả vờ như chợt nhớ ra chuyện gì đó: chết quên, chúng mình ra sân xem nước lúc nãy giội ra sân bây giờ thế nào? A ha ha… Bây giờ đám nước “co lại” nằm sâu bên trong viền phấn. Tại sao thế nhỉ? Và đây là câu hỏi Tại sao cụ thể của lớp Một trường Nguyễn Văn Huyên một chiều tháng 10 năm 2010. Có một chi tiết cần nói lại cho rõ: “cô giáo”này chính là một thầy giáo, bạn Nguyễn Thành Nam.      Các em cùng nêu ra cách giải thích (đó chính là giai đoạn tìm giả thiết cho công việc nghiên cứu), một câu hỏi hy vọng là sẽ đeo đuổi các em cho tới tiết học sau. Tiết sau sẽ giải đáp bằng thực nghiệm giả thiết nước bốc hơi. Cái gì làm nước bốc hơi? Các em sẽ thí nghiệm đun nước ngay tại lớp để chứng minh rằng nhiệt độ cao sẽ làm nước bốc hơi.       Trong quá trình thí nghiệm, học sinh phải được học cách dùng công cụ nghiên cứu (thước đo, cân, nhiệt kế) và phải có những bài tập để các em hoạt động quanh năm không biết chán (theo dõi chiều cao, cân nặng từng bạn là thú vị nhất hạng!).       Xin nói thêm vài lời về tên sách: Khoa học – Công nghệ. Điều khó khăn của người làm sách giáo khoa là không được phép lẫn lộn khái niệm. Khoa học là khái niệm thể hiện trình độ trí khôn người trong việc trả lời các câu hỏi Tại sao và Như thế nào. Kỹ thuật là khái niệm chỉ trình độ tài khéo của con người trong một thời kỳ phát triển nhất định trong lịch sử. Từ khi công nghiệp phát triển và thành xu thế trong nền sản xuất của thời đại chúng ta, thì khoa học và kỹ thuật còn phải đem lại lợi ích cho cuộc đời thông qua công nghệ nữa, đó là khoa học về chuỗi kỹ thuật để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.      Theo tinh thần thời đại, trong sách Khoa học – Công nghệ có chuỗi việc làm thể hiện trong mỗi lớp và chuỗi chủ đề được thể hiện trong toàn bộ bậc học. Chuỗi chủ đề khoa học – công nghệ trong hệ thống Cánh Buồm là:       Lớp Một Phương pháp thực nghiệm – Cách khám phá vật chất   Lớp Hai Thiên nhiên – Bảo vệ môi trường bền vững   Lớp Ba Sống với giới thực vật   Lớp Bốn Sống với giới động vật   Lớp Năm Con người – Cơ thể, trí tuệ, tâm linh      Song, thật đáng tiếc (cho nhóm Cánh Buồm) chúng tôi chỉ mới soạn xong tập 1 của trọn bộ 5 tập kể trên. Lý do đáng kể nhất là: không có người và không có tiền. Và một lý do thứ hai: chúng tôi cần tập trung vào thế mạnh của mình là các môn Văn (giáo dục nghệ thuật), Tiếng Việt (giáo dục Ngôn ngữ học), Lối sống (giáo dục đạo đức đồng thuận), tiếng Anh (giáo dục năng lực thâm nhập nền văn hóa xa lạ). Bà Nguyễn Thị Bình rất thương quý chúng tôi, hối thúc Cánh Buồm soạn sách Toán, nhưng chúng tôi đã xin phép không nhận đầu việc này.       Thực ra Cánh Buồm rất tiếc không làm tiếp các cuốn sách Khó học – Công nghệ cho trọn bộ ở bậc tiểu học. Bởi vì chỉ riêng thành tố tâm linh trong sách lớp 5 cũng xứng đáng để bỏ rất nhiều tâm tư công sức vào, những mong con em sẽ không hiểu tâm linh như cách hiểu của quá nhiều người lớn hiện nay! Nhưng đó lại sang thêm một đề tài khác nữa rồi.            Trong sách “Quốc văn giáo khoa thư” do Nha Học chính Đông Pháp xuất bản, các cây bút giáo khoa kỳ cựu Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận đã có sáng kiến “chuyên chở” các nội dung khoa học bằng các bài “văn”, mà đây là một vài thí dụ:           Bài       Tên bài      Nội dung kèm          1      Trường học vui      Nên bảo nhau đi học          4      Lịch sử nước ta      Phải hiểu biết lịch sử đất nước          5      Khuyên hiếu đễ      Phải hết lòng thờ cha mẹ          8      Làng tôi      Phải yêu làng nước mình          9      Chọn bạn mà chơi      Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng          18      Bệnh ghẻ      Phải giũ vệ sinh thân thể          28      Thợ làm nhà      Cách thức làm một ngôi nhà          37       Bữa cơm ngon      Trọng tình cảm gia đình          51      Học thuộc lòng       Phương pháp học tập           56      Đứa bé và con mèo      Phải thương yêu loài vật          60      Một cái thư      Cách viết thư và gửi thư          68      Lý trưởng làng ta      Tổ chức chính quyền ở làng xã          80      Gừng và riềng      Khoa học thường thức          81      Chuyện ông Tử Lộ      Thờ phụng cha mẹ                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Học kỹ thuật với các giáo sư hàng đầu của Anh      Từ 7 đến 13/9, sinh viên chuyên ngành kỹ  thuật tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh sẽ có cơ hội nghe những bài  giảng kỹ thuật do chín giáo sư đến từ những trường ĐH thuộc Sterling  Group, Vương quốc Anh trực tiếp đứng lớp.    Khởi đầu cho lịch trình giảng dạy, các giáo sư sẽ có một buổi hội thảo “Học và nghiên cứu khoa học kỹ thuật tại Anh” tại Hà Nội (ngày 8/9, khách sạn Hotel de l’Opera) và TP Hồ Chí Minh (ngày 12 tháng 9, khách sạn Sofitel Plaza Sài Gòn).  Hội thảo sẽ cung cấp một tổng quan về việc giảng dạy và học tập bộ môn kỹ thuật tại Anh. Ngoài ra, những cựu sinh viên chuyên ngành kỹ thuật tại Anh cùng với các giáo sư sẽ chia sẻ kinh nghiệm xin học bổng tại Anh như: lựa chọn khóa học, chuẩn bị hồ sơ, viết đề cương nghiên cứu, tìm giáo sư hướng dẫn và các nguồn tài trợ cho dự án…  Cùng trong buổi sáng ngày 8/9, tại Khách sạn Hotel de l’Opera, giáo sư Guy Houlsby, trưởng khoa Khoa học kỹ thuật, ĐH Oxford cũng sẽ có buổi nói chuyện chuyên đề về sự dịch chuyển của nền đất khi xây dựng công trình ngầm trong thành phố. Việc xây dựng công trình tàu điện ngầm không tránh khỏi việc tạo ra sự dịch chuyển của nền đất phía trên nó, có thể ảnh hưởng tới các công trình xây dựng trên mặt đất. Đây là chủ đề được sự quan tâm của nhiều người dân, các nhà quy hoạch, chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng trong bối cảnh Hà Nội và TP Hồ Chí Minh sẽ xây dựng hệ thống tàu điện ngầm trong kế hoạch phát triển giao thông đô thị.  Sau buổi hội thảo mở đầu, các giáo sư sẽ giảng dạy tại các trường ĐH kỹ thuật lớn tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh.  Đây là lần thứ năm các thành viên của Sterling Group, nhóm các trường đại học nghiên cứu hàng đầu Vương quốc Anh, đến Việt Nam. Tham gia giảng bài lần này gồm nhiều nhiều giáo sư đầu ngành tại các trường ĐH Aston, Cambridge, Durham, Edinburgh, Leeds, Loughborough, Newcastle, Southampton và Oxford.  Chương trình hội thảo và giảng dạy do Hội đồng Anh tổ chức. Cũng trong dịp này, Hội đồng Anh phối hợp với ĐH Bách Khoa Đà Nẵng tổ chức Hội nghị Quốc tế Anh – Việt, triển lãm về Năng lượng sạch năm 2012 (CECE 2012) và Hội thảo về Hệ thống Giám sát tiên tiến (ASSW 2012) vào ngày 10/09 tại ĐH Bách Khoa Đà Nẵng.         Các chủ đề chính được giảng dạy:   1. Gia tăng khả năng kháng chấn của nút khung bê tông cốt thép bằng sợi thép.   2. Cảm biến sợi quang. Phương pháp giáo dục đổi mới và truyền cảm hứng trong giáo dục và đào tạo ngành kỹ thuật.   3. Những phát triển của động cơ ô-tô hiện nay.   4. Thiết bị nhận dạng: Làm thế nào để lập trình máy tính nhận ra các đối tượng quen thuộc và theo dõi sự việc xung quanh.   5. Đánh giá tính chất cơ lý và thiết kế các thiết bị có cấu trúc nano.   6. Phục hồi các kim loại điện hóa từ nước thải.   7. Dự báo sự dịch chuyển của nền đất khi xây dựng công trình ngầm trong thành phố.   8. Kết cấu của tàu vũ trụ – một hệ thống phụ quan trọng?   9. Những phát triển mới nhất trong chuyển hóa năng lượng biển tái tạo.   10. Những thách thức trong việc đưa các nguồn năng lượng tái tạo vào cuộc sống.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Học làm người – Học làm nghề      Nhân kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, vừa qua, Tạp chí Tia Sáng phối hợp với Đoàn Thanh niên khoa Luật – ĐHQG Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: Học làm người – học làm nghề. Trước những thắc mắc, băn khoăn của một số sinh viên, các nhà giáo: GS. Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã có những ý kiến trao đổi chân tình, cởi mở. Tia Sáng xin trích lược một phần nội dung của buổi tọa đàm.    GS. Hoàng Tụy: Giáo dục bằng hình mẫu  Bàn về chuyện Học làm người, học làm nghề, trước tiên là bàn chuyện học. Muốn học thì phải có hình mẫu để học. Xã hội ta trước kia có hình mẫu vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Chuyên” là nghề. “Hồng” là làm người. Nhưng ở xã hội nào có có hình mẫu ấy đồng thuận tùy theo lý tưởng của từng thời. “Hồng” trong nội dung xã hội hiện đại khác hẳn thời xưa. Đó là điều hiển nhiên đúng vì xã hội đã thay đổi. Ngày nay, trong xã hội ta không có hình mẫu, mà hình mẫu ngược lại có khi nhiều hơn. Điều này đúng bởi xã hội ta đang trong giai đoạn khủng hoảng. Tôi đồng ý với các bạn phải học làm người nhưng người như thế nào mới học được chứ. Tôi đã sống, học ở trường thực dân Pháp, tôi đã dạy trong thời kỳ kháng chiến, và cũng có thời gian dạy ở Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc, ở những nước xã hội chủ nghĩa trước kia cũng như ở các nước tư bản sau này. Dù đó là một đất nước hiện đại, một quốc gia siêu cường hay chỉ là một nước nhỏ, thì ở xã hội ấy, dù nói hay không nói, người ta vẫn tôn thờ, lý tưởng một hình mẫu nào đó. Và dĩ nhiên lý tưởng ấy thay đổi tùy theo thời đại, mang tính thời đại.  Một trong những ưu điểm của giáo dục thời xưa (mà bây giờ thiếu) là giáo dục nghề (hay giáo dục người nói chung) và hết sức đề cao lương tâm nhà nghề. Lần đầu tiên tôi sang Đông Đức, hồi ấy là thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa xã hội, người ta nói công nhân Đức sở dĩ họ làm tốt kỹ thuật là nhờ lương tâm nhà nghề. 99% được giao việc đều cố gắng làm cho đầy đủ bổn phận. Đó là do tác dụng của giáo dục. Cách giáo dục cứng nhắc của chúng ta đè nén con người quá sức. Một mặt, nền giáo dục ấy “nặn” được những con người răm rắp theo tổ chức, đó là sức mạnh. Song mặt khác lại khiến cho con người mất lòng tin. Muốn học làm người, đầu tiên phải chú trọng đến tổ chức, quản lý xã hội, làm sao thấy được mẫu người tốt để noi theo.  Gần đây trên báo chí có nêu lên vấn đề đạo đức thầy giáo sa sút, phát hiện nhiều tiêu cực trong ngành giáo dục. Có ý kiến cho rằng sự sa sút của đạo đức trong giáo dục là do lương thấp. Người ta lí giải rằng: do đồng lương thấp nên giáo viên phải xoay xở để kiếm sống, khó mà không phạm lỗi này hay lỗi khác. Có người gay gắt hơn thì cho rằng không phải do đồng lương thấp mà cái chính là do tư cách, đạo đức của người thầy xuống cấp. Nhưng theo tôi, nguyên nhân sâu xa là do quản lý. Tiêu cực trong giáo dục thực chất không nghiêm trọng bằng tiêu cực trong nhiều cơ quan công quyền khác, nhưng sở dĩ nó nổi lên thành vấn đề xã hội cấp thiết là do giáo dục liên quan, tác động đến mọi gia đình.  Quay trở lại với việc giáo dục. Khi giáo dục, nhà trường chú ý nhiều đến giáo dục kiến thức, kỹ năng nhưng có điều tôi nghĩ thiếu sót là kỹ năng sống, sống để làm người. Tôi thống nhất với TS Phạm Duy Nghĩa là giáo dục cảm xúc là một bộ phận quan trọng trong giáo dục. Con người không có cảm xúc, không rung động, vô cảm trước mọi việc thì không thể làm được bất cứ việc gì. Mỗi bạn trưởng thành, chuẩn bị bước vào đời, cần phải hình dung trước tương lai của mình, đề ra lý tưởng sống cho bản thân và cố gắng thực hiện để đạt được lý tưởng ấy.  PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa: Giáo dục con người biết xấu hổ  Nền giáo dục Việt Nam hiện nay mang đậm tính hành chính. Tính hành chính ấy thể hiện ngay trong kiến trúc trường học. Nếu ở phương Tây, trong những trường danh tiếng, chỗ đẹp nhất, trang trọng nhất bao giờ cũng là nhà thờ, thư viện. Còn ở Việt Nam, “nổi” nhất bao giờ cũng là cái cổng, đằng sau cái cổng ấy là cả hệ thống nào gác cổng, bảo vệ, nào xe cộ, hiệu bộ…Về việc học, sinh viên được học chữ, học kĩ năng, học chính trị, học quản lý Nhà nước… nhưng rốt cuộc là học để lấy bằng. Việt Nam là như vậy. Có được mảnh bằng trong tay, cộng với một khoản nào đó hay một mối quan hệ nào đó, kiếm được một chỗ làm và chính chỗ làm ấy dạy con người thành nghề. Ở Việt Nam không học lấy chữ, không học lấy đức mà học lấy bằng. Và hệ lụy của việc học lấy bằng vô cùng tệ hại. Nó làm cho chữ phải biến dạng, đức phải méo mó. Với một nền học vấn hành chính hóa cao độ ấy, giáo viên trở thành những cỗ máy còn học sinh chưa bao giờ được đặt ở vị trí trung tâm. Chưa hề. Trong khi đó, nền giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới luôn coi trọng người học, đặt người học ở vị trí trung tâm theo đúng nghĩa. Bởi vậy, thứ nhất, giảng đường phương Tây thường được thiết kế tạo độ dốc, sinh viên ngồi bên trên cao vòi vọi, thầy giáo đứng dưới phải nhìn lên thuyết trình. Thứ hai, cuối năm bao giờ sinh viên cũng được quyền đánh giá thầy: Thầy ăn mặc có chỉn chu không, thầy đi dạy có đúng giờ không, thầy dạy có nghiên túc không… Nhưng ở Việt Nam, sinh viên không được phép chấm điểm thầy, mà ngược lại chỉ có thầy chấm điểm sinh viên và không hiếm trường hợp chấm điểm kèm mặc cả.  Đó còn là một nền giáo dục mang tính lễ nghi. Mỗi dịp 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, hàng tá sơ mi, kẹo sôcôla, rượu tây “chạy” một chu trình: từ cửa hàng đến nhà thầy rồi từ nhà thầy lộn lại cửa hàng. Tôi bắt đầu thấy chán, thấy hoảng về một sự lễ nghi mà đằng sau là sự còi cọc về đạo đức, nhân cách ở nhiều phương diện. Đằng sau lễ lạt 20/11 là những phân tâm rất ghê gớm, nhất là trong bối cảnh của năm nay, 2006. Đó là bức tranh pha tạp màu sắc trong nền giáo dục Việt Nam: ở đâu đó có hiện tượng thầy “ăn tiền” chạy trường, ở đâu đó có hiện tượng thầy “đòi tình” con trẻ, ở đâu đó có thầy say xỉn với sinh viên, ở đâu đó có thầy hăng hái “chỉ tội” đồng nghiệp…  Một nền giáo dục đúng nghĩa, theo tôi, bên cạnh truyền thụ tri thức phải dạy người ta biết xấu hổ. Tại sao nhà thờ lại là nơi trang trọng nhất trong các trường đại học nổi tiếng của thế giới? Bởi, giáo dục phải bắt đầu bằng niềm tin, không có niềm tin không thể có giáo dục. Tôn giáo, tín ngưỡng, những giá trị về tâm linh… là nguồn động lực mạnh mẽ, làm cho con người biết xấu hổ. Học làm người phải bắt đầu bằng học xấu hổ. Người nào còn xấu hổ nhiều, người ấy còn có thể giáo dục được. Chừng nào mất hết dây thần kinh xấu hổ, chừng ấy mất khả năng dạy học làm người. Muốn xấu hổ phải bắt đầu từ xã hội, bắt đầu từ nghĩa vụ của mình với tập thể, với cộng đồng. Ví như cái ô tô thì nhập về rất nhanh nhưng còn văn hóa của người ngồi đằng sau vô lăng lại là điều cần xem xét lại. Giả thử chị bán rau đánh rơi cân cà chua xuống đường, hàng loạt cái ô tô sẽ đè bẹp dúm cà chua của chị mà không ai xuống để nhặt lên. Liêm sỉ phải bắt đầu bằng giáo dục, bắt đầu bằng việc xấu hổ với chính mình, xấu hổ với việc mình lái ô tô sang trọng như vậy mà đè bẹp lên cà chua của những người dạy từ 2 – 3 giờ sáng, đi bộ 40 – 50 cây số từ ngoại ô vào thành phố cho kịp buổi chợ sáng. Sự giáo dục như vậy làm con người xấu hổ trước những điều không phải, xấu hổ trước cái ác. Tính hướng thiện, suy cho cùng, bắt đầu từ xấu hổ. Song giáo dục Việt Nam dường như thiếu hẳn, nhất là ở quan chức đôi khi mất luôn khả năng xấu hổ.                Nhà văn Nguyên Ngọc: Giáo dục con người biết tự vấn  Từ xưa đến nay, trường học của ta dạy đủ thứ đạo đức, việc dạy làm người có từ cấp học phổ thông. Vấn đề là ở chỗ ta dạy quá nhiều nhưng không trúng. Mà nguyên nhân của hiện tượng này, theo tôi, do trong một thời kỳ, một giai đoạn nào đó trên con đường đi của mình, trên sự tiếp nhận – lựa chọn của mình, chính chúng ta đã phá vỡ đi những giá trị cơ bản nhất của xã hội. Đó là do bước ngoặt. Và 1950 là một bước ngoặt như thế. Trước 1950, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dù đời sống của chúng ta còn chật vật, khó khăn, thiếu thốn song con người sống với nhau rất tình cảm, rất đẹp. Tôi còn nhớ, ra trận mà người ta vẫn còn hát “Thiên thai”, “Cô lái đò”… Vậy mà sau giải phóng biên giới 1950, sau thành công của Cách mạng Trung Quốc năm 1949, xã hội ta có sự chuyển hướng quan trọng về đạo đức, kéo theo sự thay đổi hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng Trung Hoa tràn vào nước ta và ít nhiều để lại những ảnh hưởng không tốt. Nói như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn: Cải cách ruộng đất phá vỡ làng Việt Nam, đánh tan làng Việt Nam, một tế bào cơ bản của xã hội Việt Nam. Nhưng tôi thấy nó còn phá luôn một tế bào cơ bản là gia đình. Cải cách ruộng đất sinh ra chuyện con tố cha, vợ tố chồng…, những thứ mà trong hàng nghìn năm trước cha ông ta không bao giờ làm vậy. Điều này đã để lại hậu quả nặng nề, một vết thương khó lành, phá vỡ xã hội Việt Nam với bao truyền thống tốt đẹp. Đã đến lúc phải nghiêm túc suy nghĩ về chuyện này. Chừng nào chưa có sự tự vấn sâu sắc, chưa có sự nhìn lại, sám hối của mỗi cá nhân, của xã hội, chừng ấy chưa có nền tảng cơ bản để thay đổi. Hiện nay chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức mà sức đề kháng của xã hội lại đã suy yếu. Bởi thế con người càng phải phát huy khả năng độc lập của bản thân. Giáo dục đóng vai trò cải tạo xã hội chứ không chỉ là sản phẩm bị động của xã hội, con người phải là tác giả của chính mình. Nghĩa là phải có sự tự do bên trong để cắt đứt, phá vỡ mọi giáo điều áp đặt, ràng buộc lên mỗi người. Theo tôi, mỗi bạn sinh viên ngồi đây cần phải chiếm lấy cái tự do của mình, suy nghĩ tự do, hành động tự do, để biết sống độc lập, dám sống độc lập.           HẠNH NGUYÊN ghi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Học lập trình cần bao nhiêu thời gian?      Tiếp theo bài đầu tiên về chủ đề nâng cao cơ hội việc làm cho sinh viên trên Tia Sáng số 7 (ra ngày 05/04/2017), chúng tôi sẽ cung cấp loạt bài về chủ đề này trong từng lĩnh vực đào tạo cụ thể. Bài viết dưới đây của tác giả Dương Trọng Tấn, cố vấn Phát triển nghề nghiệp tại CodeGym, nói về cách một lập trình viên có thể đi từ vị trí của người học việc đến tinh thông.      So sánh việc truyền tin khi có và khi không có myelin dày. Ảnh: Wikipedia.  Có hai hiện tượng trái ngược đang diễn ra. Trong khi các dự báo ngành CNTT cho thấy có sự thiếu hụt nhân lực hết sức trầm trọng1 thì rất nhiều sinh viên ngành phần mềm lại khó xin tìm được việc làm khi ra trường. Các doanh nghiệp liên tục nhìn thấy “cơ hội hết sức to lớn” từ cuộc Cách mạng 4.0, rồi niềm hy vọng “Quốc gia khởi nghiệp”, còn nhân lực thiếu vẫn hoàn thiếu, “không thiếu mục tiêu, thiếu mỗi người làm”2.  Một trong số các nguyên nhân hàng đầu của sự lệch pha trên là sinh viên không làm được việc ngay cả khi các đơn vị tuyển dụng đã hạ mức “sàn” tiêu chuẩn xuống khá thấp. Tuy vậy, nguyên nhân của nguyên nhân bề mặt này lại nằm ở những chỗ khác mà một trong số đó là: Cả người dạy và người học lập trình hiện nay đã không để ý tới cách thức đúng đắn để xây dựng nền tảng cho người làm nghề.  Trước hết là về thời lượng, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Trung bình một người cần học lập trình trong bao nhiêu lâu là đủ? Chỉ bốn năm đại học? Hay ba năm cấp 3 cộng bốn năm đại học (tức bảy năm)? Hay ba tháng sau khi hoàn thành khoá học online “Lập trình Android cấp tốc, kiếm tiền nghìn đô”? Hay đơn giản là 21 ngày (đọc xong “Lập trình Java trong 21 ngày”)?  Chuyên gia lập trình và trí tuệ nhân tạo Peter Norvig, Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Google, thì xác quyết là CẦN 10 NĂM. Trong bài viết rất quan trọng “Tự học lập trình trong 10 năm”3, Norvig dẫn các nghiên cứu của nhiều nhà tâm lí học để khẳng định con số ấy. Ông viết: “Dù cho đó là Mozart, thiên tài âm nhạc nảy nở từ năm lên 4 tuổi, cũng phải mất 13 năm để cho ra đời tác phẩm nhạc cổ điển đầu tiên. Dù cho đó là Beatles, trước khi cho ra lò những bản hit đầu tiên vào năm 1964, họ cũng đã phải cặm cụi trong những câu lạc bộ nhỏ tại Liverpool hay Hamburg từ năm 1957, và trong khi họ có sức hấp dẫn đại chúng từ rất sớm, thành công quan trọng đầu tiên của nhóm là Sgt. Pepper,  album được phát hành năm 1967.”  Chúng ta có thể thấy cái nhìn của Norvig phản ảnh quan điểm của Malcom Gladwell, tác giả “Những kẻ xuất chúng”, về quy tắc 10.000 giờ rất nổi tiếng vốn có gốc gác từ những nghiên cứu tâm lí học của Anders Ericsson. Đó là số giờ luyện tập có chủ đích tương đối mà một người cần phải trải qua để trở nên xuất sắc trong nghề. Trong cuốn sách “Năm tư duy cho tương lai”, Howard Gardner, nhà tâm lí học nổi tiếng của Đại học Harvard, cha đẻ của lí thuyết trí thông minh đa dạng (Multiple Intelligences), một lần nữa dẫn lại con số đó, tương đương chừng 10 năm để một người từ chỗ là người học việc (novice) đến chỗ tinh thông (expert) lĩnh vực của mình. Nghĩa là, không thể có câu chuyện Phù Đổng trong phát triển năng lực ở con người.  Song liệu có phải một người cứ lập trình 10 năm thì ắt sẽ giỏi? Ở Việt Nam, không dễ tìm ra các lập trình viên có thâm niên ngoài 10 năm để phỏng vấn cho kĩ. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không tìm ra được những manh mối quan trọng.  Trong bài viết kể trên, Norvig ghi lại cách thức học tập quan trọng nhất trong 10 năm học nghề của mình: “Điều quan trọng là về phương pháp thực hành: không chỉ là việc lặp đi lặp lại đơn thuần, mà còn thử thách chính mình bằng những nhiệm vụ như vượt qua khả năng hiện tại của bản thân, cố gắng, phân tích hiệu suất của mình trong và sau quá trình rèn luyện, và sửa chữa bất kỳ sai lầm nào. Cứ như vậy, lặp đi lặp lại.” Điều được Norvig mô tả chính là biểu hiện của cái mà nhà tâm lí học Ericsson gọi là “luyện tập có chủ đích” (deliberate practices) hay Daniel Doyle gọi bằng cái tên “luyện tập sâu” (deep practices) trong cuốn sách nổi tiếng “Mật mã tài năng”.  Andy Hunt, cùng với Dave Thomas – một lập trình viên nổi tiếng khác, đồng tác giả của “Tuyên ngôn Phát triển Phần mềm Linh hoạt” (The Manifesto for Agile Software Development) có ảnh ưởng rất lớn tới tiến trình hiện đại hóa ngành lập trình, cũng có quan điểm tương tự. Các tác giả bàn rõ cách thức mà một lập trình viên có thể đi từ vị trí của người học việc đến tinh thông trong cuốn sách nổi tiếng “Pragmatic Programmer: From Journeyman to Master”. Chặng đường ấy diễn biến từ từ, bắt đầu bằng bắt chước, lặp đi lặp lại việc học từng kĩ năng thành phần, phát triển dần các kiến thức và kĩ năng mới, rồi tích hợp chúng với mức độ thuần thục tăng dần.  Những hướng dẫn này được thể hiện lại dưới một cách diễn đạt khác về cách học ở con người do hai giáo sư Barbara Oakley và Terence Sejnowski giảng dạy trong khóa học trực tuyến đại chúng mở (MOOC) “Learning how to learn” trên Coursera. Theo đó, não người phải xây dựng các khối (chunk) kiến thức từ từ, chậm rãi kết nối và gia cố chúng để xây dựng những khối mới qua năm tháng, dần dần rồi mới có được kiến thức và kĩ năng đáng kể.  Trong quá trình xây dựng kiến thức và kĩ năng ấy, cấu trúc vật lí của não bộ cũng sẽ thay đổi. Doyle, trong cuốn sách “Mật mã tài năng”, cho chúng ta biết, các myelin bao bọc kết nối thần kinh sẽ dày lên khi chúng ta luyện tập sâu. Khi đó, việc truyền dẫn tín hiệu giữa các tế bào thần kinh sẽ có tốc độ cao hơn. Nếu phóng to myelin lên, chúng ta có thể thấy chúng giống như những chiếc xúc xích căng đầy. Khi không có luyện tập, myelin không khác gì một cái dây khô. Càng tinh thông kĩ năng, myelin càng dày. Xét trên quan điểm truyền tin, có thể ví mạng lưới tế bào thần kinh có myelin dày (có được khi luyện tập nhiều, mức độ tinh thông kĩ năng cao) như một mạng kết nối Internet băng thông rộng vậy.  Nếu coi hệ thống myelin như là hệ thống “cơ bắp” của não bộ, thì việc luyện tập sâu chính là một biện pháp để gia tăng độ dày của loại “cơ bắp” đặc biệt này. Vậy hóa ra, việc luyện tập cho não bộ, cũng không khác gì mấy chuyện các nam thanh nữ tú đang ngày đêm vã mồ hôi ở các phòng tập gym để xây dựng thân hình cuốn hút.  Từ Norvig đến Hunt, Thomas – các chuyên gia lập trình, cho tới các chuyên gia tâm lí học và các nhà thần kinh học, chúng ta có một liên tưởng: Việc luyện kĩ năng lập trình, cũng như việc tập gym xây dựng cơ bắp, phải đều, bền bỉ, có chủ đích và đúng cách, từ từ, trong thời gian đủ lâu thì mới có kết quả.  Vì con số tương đối 10 năm dường như vượt xa thời gian một sinh viên học tập ở nhà trường, chúng ta có thể rút ra một gợi ý quan trọng khác: Tài năng phải được doanh nghiệp nuôi dưỡng chứ không thể “ngồi chờ sung rụng”. Doanh nghiệp không chỉ có mỗi nhiệm vụ là “sử dụng lao động”, mà còn phải chủ động tạo điều kiện học tập liên tục cho nhân viên thì mới mong có một đội ngũ nhân lực chất lượng, đủ sức chinh mục những mục tiêu cao hơn.  ———  1 Năm 2017: Nhóm nghề CNTT thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng (http://m.viettimes.vn/nam-2017-nhom-nghe-cntt-thieu-hut-nhan-luc-nghiem-trong-96618.html)  2 Theo lời Hoàng Nam Tiến, Chủ tịch FPT Software, trong một bài viết về mục tiêu 1 tỉ USD gây tranh luận trên mạng xã hội gần đây (http://soha.vn/ chu-tich-f-soft-hoang-nam-tien-gia-cong-phan-mem-cung-chang-khac-gi-cong-nhan-may-vi-cu-cai-gi-lam-ra-tien-la-duoc-201704201624551.htm). Tình trạng của FPT Software cũng là tình trạng chung của nhiều doanh nghiệp phần mềm hiện nay.  3 Peter Norvig, “Teach Yourself Programming in Ten Years” (http://norvig.com/21-days.html)       Author                Dương Trọng Tấn        
__label__tiasang Học nhiều hơn, IQ cao hơn?      Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Na Uy, thời gian đến trường dài hơn có thể giúp tăng trí thông minh.    Nghiên cứu được đăng trong Kỷ yếu của Viện Khoa học quốc gia nước này cho biết cứ đến trường thêm một năm thì chỉ số IQ có thể tăng thêm gần 4 điểm.   Các tác giả của nghiên cứu cho rằng hiệu quả của việc đến trường đối với việc phát triển IQ trong giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành là khá lớn.    Tuy nhiên, các nhà khoa học không chắc chắn liệu điều này có đúng với tất cả các thiếu niên không, hay chỉ đúng với những đối tượng trong nghiên cứu này.    Học nhiều hơn thì IQ sẽ cao hơn – mối liên hệ này đã được chứng minh, các tác giả cho biết. Tuy nhiên, việc xác định xem có đúng là đến trường nhiều hơn thì IQ sẽ tăng hay không hoàn toàn không đơn giản, vì có thể những em bẩm sinh có IQ cao lại cũng là những em có thời gian đến trường dài hơn.    “Hiệu quả đáng kể”    Các nhà nghiên cứu thuộc Cơ quan Thống kê Na Uy và ĐH Oslo đã tận dụng các số liệu liên quan đến 107.223 học sinh trong hệ thống giáo dục của nước này.    Từ năm 1955 tới năm 1972, Na Uy đã tăng thời gian đến trường bắt buộc từ 7 lên 9 năm. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh  tốt nghiệp lúc 16 tuổi thay vì 14 tuổi.    Hiệu quả của việc tăng số năm học bắt buộc này được nhận thấy ở tuổi 19 khi mà quân đội cho tất cả nam thanh niên làm một bài kiểm tra IQ.    Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: “Có sự tăng mạnh bất thường cả ở số năm đến trường trung bình và chỉ số IQ trung bình cùng thời điểm tiến hành cải cách”.    Họ nói rằng cứ thêm một năm đến trường thì chỉ số IQ lên 3,7 điểm. “Dựa vào việc tăng số năm đến trường kể từ khi có cuộc cải cách trong giáo dục bắt buộc, nghiên cứu này phát hiện ra hiệu quả đáng kể và quan trọng của giáo dục trung học đối với chỉ số IQ trong giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành ở người Na Uy”.    Các chuyên gia thống kê cảnh báo rằng không nên rút ra quá nhiều kết luận vì họ cho rằng hiệu quả này có thể chỉ đúng với xã hội Na Uy hoặc hệ thống giáo dục của nước này vào thời điểm đó.    Tuy nhiên, họ cũng đồng ý rằng có thể cải thiện trí thông minh ở tuổi vị thành niên.    Nguyễn Thảo dịch từ  http://www.bbc.co.uk/news/health-16320306    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học như thế nào?      Trong khuôn khổ Chuỗi các sự kiện Cầu nối ASEAN lần thứ tư do International Peace Foundation tổ chức, chiều 13/3 tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện với sinh viên ĐH Bách khoa về chủ đề “Học như thế nào?”. Dưới đây là nội dung bài nói chuyện.      Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi về “bí quyết học tập”.  Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”.   Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này mình không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học. Trong quá trình ấy, chắc tôi cũng đã từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có điều những suy nghĩ đó chưa bao giờ được sắp xếp lại một cách hệ thống và được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói chuyện này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái việc mà phải thú thật là rất vất vả nhưng hy vọng là có ích.  Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học bách khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các quí vị, các bạn sinh viên, học sinh đã đến dự buổi nói chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của quí vị là động cơ mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.  Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: cái gì là động cơ căn bản cho việc học tập. Thứ hai: học chữ hay học làm người? Thú thực là tôi không thích câu hỏi này, vì nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng chính tính đa nghĩa của nó để triển khai thành các câu hỏi nhỏ xung quanh việc học cái gì? Câu hỏi cuối cùng làm thành nhan đề của bài nói chuyện này: học như thế nào? Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy đủ cho cả ba câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp lại những suy nghĩ tản mạn của mình thành những câu trả lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối buổi nói chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.    Về sự hướng thượng và hướng thiện       Sách Tam Tự Kinh mà các cụ học ngày xưa bắt đầu bằng câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Con người được sinh ra có bản tính vốn là hiền lành. Liệu có đúng không nhỉ ? Tin tức hàng ngày dễ làm cho người ta nghi ngờ cái “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”. Đầu tháng Một ở Ấn độ, một cô gái 23 tuổi bị sáu người đàn ông hãm hiếp đến chết trên một chiếc xe buýt. Cuối tháng Một, ở Bắc Ninh, người ta nô nức, chen lấn nhau tham gia lễ hội chém lợn. Con lợn bị nhát đao xẻ làm hai mảnh lăn quay trong vũng máu lênh láng và trong tiếng hò reo của những người trảy hội. Đây là những hiện tượng dị biệt, không tiêu biểu cho cuộc sống của người dân Ấn độ và Việt nam. Tôi nêu chúng ra như ví dụ vì chúng cùng phản ánh sự độc ác của con người một cách vô cùng rõ nét. Xét cho cùng, giết lợn cũng chỉ là việc giết động vật để ăn thịt, cái mà con người buộc phải làm để duy trì cuộc sống của chính mình. Hãm hiếp cũng nảy sinh từ một bản năng cơ bản của con người là bản năng duy trì nòi giống. Phải chăng, con người được sinh ra với hai bản năng cơ bản duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống, cái mà ở  trong đó đã có sẵn mầm mống của cái ác, của cái ác khủng khiếp. Nếu chỉ dừng lại đây thì quả khó mà tin được vào cái “Nhân chi sơ tính bản thiện”.   Nếu con người được sinh ra chỉ có hai bản năng nói trên thì chắc rằng hai sự việc kể trên sẽ không phải là những hiện tượng dị biệt, mà ngược lại, là phổ biến, đến mức không làm chúng ta kinh ngạc hay xúc động nữa. Có thể tôi còn là một người lạc quan, nhưng tôi tin rằng con người được sinh ra còn có một bản năng khác nữa: đó là bản năng hướng thượng, hướng thiện. Nhìn vào một đứa trẻ sơ sinh, xinh xắn như một thiên thần ta có thể nghĩ rằng đó là hiện thân của sự tốt đẹp. Nhưng cái kiểm soát mọi hành động của đứa trẻ là chỉ đơn thuần bản năng sinh tồn của nó. Tôi nghĩ rằng, trong đứa trẻ không có sẵn một tâm hồn cao thượng, nhưng đã có sẵn tiềm năng để xây dựng nên từ đó cái tâm hồn ấy. Theo tôi, nếu có “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”, thì nó chính là cái tiềm năng ấy.  Cái tiềm năng ấy được triển khai trong học tập và là động cơ chính cho việc học tập. Có thể có người không đồng ý với quan điểm này và cho rằng học là để sau này có một cuộc sống tử tế, để sau này có một vị trí tốt trong xã hội. Tôi cho rằng cách suy nghĩ như vậy là phiến diện. Thứ nhất, để có một cuộc sống tử tế, đó cũng chính là biểu hiện của sự hướng thượng, hướng thiện – tất nhiên một khi nó đã biến thái để nhắm tới cái đích là hưởng thụ một cuộc sống an nhàn nhờ vào sức lao động của người khác, thì cái động cơ hướng thượng hướng thiện đó đã bị tha hoá nghiêm trọng. Thứ hai, tôi tin rằng đa số người ta thực ra không có khả năng phấn đấu vì một cái gì xảy ra trong một tương lai quá xa, phần lớn người ta học chỉ vì đó là cách hoàn thiện bản thân mình, tức là học với một động cơ hướng thượng thuần khiết nhất. Vì vậy, nhiều khi chính quan niệm xã hội lại làm tha hoá một động cơ mà bản chất là thuần khiết.   Cần lưu ý là quan niệm xã hội không phải là cái duy nhất làm cho sự hướng thượng hướng thiện bị tha hoá. Tôn thờ cá nhân, có thể là lãnh tụ, danh thủ bóng đá, hay là ca sĩ Hàn quốc, là một hình thức tha hoá của sự hướng thượng. Bản năng hướng thượng, hướng thiện luôn phải vật lộn với hàng loạt bản năng xấu: tính lười biếng, tính đố kỵ, tính gian dối, tính hiếu thắng, tự phụ. Bị tha hóa, nó không còn mấy cơ hội để làm động cơ cho việc học tập.  Học chữ hay học làm người?  Gần đây, trên báo chí có khá nhiều người ở đặt ra câu hỏi “Cần học chữ hay học làm người?” Hoặc giữa hai cái, cần học cái nào trước. Câu hỏi này thực ra tối nghĩa. Học chữ, là tiếp thu kiến thức. Còn học làm người là như thế nào, hẳn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp: học làm người như học kỹ năng sống, học nghệ thuật sống, tóm lại là học những hành vi văn minh.  Cũng có thể hiểu học làm người theo nghĩa rộng tức là học những gì làm nên cốt cách của một con người – như vậy thì lại quá rộng, và bao hàm nốt cả học chữ rồi. Có lẽ vì ý nghĩa của câu hỏi không được phân tích rạch ròi mà nhiều cuộc thảo luận trên báo chí về đề tài có cái vẻ gì đó hơi luẩn quẩn.  Trong cái nghĩa hẹp, có thể đặt lại câu hỏi trên khác đi, và làm cho nó rõ nghĩa hơn: “Trường học phải dạy chữ hay dạy kỹ năng sống, nghệ thuật sống?” Có vẻ như càng ngày càng có nhiều người ngả về quan điểm hiện đại “Trường học phải dạy cho trẻ kỹ năng sống”.  Quan điểm cổ điển được nhà triết học Đức Hannah Arendt phát biểu rành rọt trong bài viết “Khủng hoảng trong giáo dục” như thế này: “Chức năng của nhà trường là dạy cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho chúng nghệ thuật sống”. Tôi đồng ý với quan điểm này, và trong phần tiếp theo của bài viết quan điểm này sẽ được làm rõ hơn lên.  Ẩn trong câu nói của bà Hannah Arendt, có cả câu trả lời cho câu hỏi học làm người theo nghĩa rộng. Học làm người là học về thế giới, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người, để mỗi cá nhân nhận thức được vị trí của mình ở trong đó, nhận thức hết các tương tác giữa cá nhân mình với những người khác, để triển khai mọi tiềm năng của mình, để hoàn thiện mình và đồng thời làm cho thế giới xung quanh trở nên một nơi an toàn hơn, thân thiện hơn cho cuộc sống.   Để trẻ có kỹ năng sống, người lớn phải là tấm gương  Tôi từng nghe người ta kể chuyện một đứa bé sơ sinh bị sói tha đi. Sau này người ta tìm lại được đứa bé. Tuy vẫn còn hình hài của một con người, tính nết của nó là tính nết của loài sói. Ở đây, chính cái “tiềm năng hướng thượng, hướng thiện” đã biến nó thành người sói. Đối với nó, cái đại diện cho sự tốt đẹp chính là mẹ sói của nó. Mẹ sói cho nó bú, tha mồi về cho nó ăn. Đứa trẻ lớn lên giữa bày sói tất trở thành một con sói, cái nó coi là tốt là cái tốt của loài sói. Kể ra nếu nó tiếp tục sống trong rừng cùng với bày sói thì như thế cũng không sao. Bi kịch đến với nó vào cái ngày mà người ta buộc nó quay lại sống với con người.  Ở Lào, ở Thái Lan có phong tục gửi trẻ nhỏ vào sống ở trong chùa một thời gian, từ ba ngày, ba tuần, ba tháng cho đến ba năm. Ở trong chùa, ngoài việc học kinh kệ, trẻ còn học yêu quí cuộc sống thanh đạm, ngăn nắp của người tu hành. Khi đi thăm Lào và Thái Lan, người ta luôn cảm thấy ngạc nhiên về sự sạch sẽ, ngăn nắp của làng quê, kể cả ở những nơi nghèo nhất.   Tôi xin phép dẫn thêm một ví dụ cá nhân, nhỏ nhặt và tầm thường thôi. Vợ chồng tôi ít xem vô tuyến, hầu như không xem bao giờ. Có lẽ vì thế mà mấy đứa con của chúng  tôi hoàn toàn không có sở thích xem truyền hình, bố mẹ không cần cấm đoán hay hạn chế gì cả. Nếu có thời gian, chúng nó thích đọc sách hơn. Nhiều khi tôi muốn xem phim cùng với đám trẻ con, tôi lại phải mặc cả với chúng.  Những ví dụ này nhắc nhở chúng ta, những người có bổn phận làm người lớn, đừng bao giờ quên rằng dù muốn hay không muốn, chúng ta luôn là tấm gương để cho trẻ soi vào. Ngoài trách nhiệm cho trẻ một mái nhà, cung cấp thức ăn cho đủ no, quần áo cho đủ mặc, người làm cha mẹ luôn phải tâm niệm rằng mình cư xử ngày hôm nay như thế nào, ngày mai trẻ sẽ cư xử giống như thế. Đó là bài học của chuyện cái máng gỗ mà chắc các bạn đều biết cả.   Cái tôi muốn nói là nếu người lớn biết cư xử đúng mực thì trẻ con không cần đi học những lớp kỹ năng sống nữa. Và người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục hành vi cho trẻ là cha mẹ, gia đình, chứ không phải nhà trường. Những bài lên lớp của thầy cô giáo không có cùng tác dụng nhiều lên hành vi của đứa trẻ như chính hành vi của cha mẹ nó.   Tất nhiên tôi không muốn nói rằng trường học hoàn toàn không có chức năng giáo dục hành vi cho trẻ nhỏ. Trong tâm hồn trẻ nhỏ, thầy cô giáo có một vị trí thiêng liêng, có lẽ thiêng liêng hơn bố mẹ, vì thế nên cách ứng xử của các thầy cô trong cuộc sống nhà trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp hành vi của học sinh. Nhưng không vì thế mà cha mẹ có thể trút toàn bộ trách nhiệm giáo dục hành vi của trẻ lên vai thầy cô giáo.  Vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách  Khi đứa bé mới ra đời, bản năng sinh tồn điều khiển mọi hoạt động của nó. Đối với nó, toàn bộ thế giới là bầu sữa mẹ. Khi lớn lên, nó có thêm nhận thức về thế giới xung quanh, về những con người khác. Dần dần nó hiểu rằng không chỉ có nó cần sinh tồn, mà cả những người khác cũng cần sinh tồn như nó. Điều này thoạt nghe thật hiển nhiên, nhưng đó là một bước chuyển hoá vĩ đại của tư duy, đứa trẻ đã chấp nhận sự tồn tại của khách thể, của người khác, như một lực lượng đối lập với bản thân nó.   Chấp nhận sự tồn tại của khách thể là điều kiện để phân biệt giữa cái thiện và cái ác. Cái thiện là sung sướng trong sự hạnh phúc của người khác, đau khổ trong sự bất hạnh của người khác, còn ngược lại cái ác là sung sướng trong sự bất hạnh của người khác, đau khổ với sự hạnh phúc của người khác. Như vậy, khi đứa trẻ còn chưa nhận thức về người khác, theo nghĩa ở trên, các khái niệm thiện và ác chưa thể áp dụng vào nó. Thêm nữa, khái niệm “người khác” không nhất thiết phải là người. Đó có thể là con ong, cái kiến. Đó cũng có thể là con lợn ở Bắc Ninh. Cái cảm giác phấn khích, hân hoan của con người trong cái chết tức tưởi của con lợn biểu đạt cái ác ở trạng thái thuần tuý nhất của nó.  Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế giới xung quang, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người. Nó bắt người ta phải nhận thức về sự tồn tại của người khác, cái là điều kiện để phân biệt giữa thiện và ác. Chỉ biết phân biệt thiện và ác thôi không đủ. Có một câu ngạn ngữ nói rằng “Đường đến địa ngục lát bằng thiện tâm”.  Biết phân biệt rành rọt giữa thiện và ác là cần thiết nhưng sẽ thật thiếu sót, thậm chí nguy hiểm, nếu coi việc hình thành nhân cách chỉ đơn giản là phân biệt giữa thiện và ác. Trong phần lớn các trường hợp, vấn đề không phải là ở chỗ phân biện giữa thiện và ác.  Để nhận thức được vị trí của mình trong thế giới, mỗi người phải tự đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản nhất về thân phận con người, phải tự tìm ra câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó, hoặc ít ra cũng biết về những câu trả lời mà tiền bối đã từng đưa ra. Việc phân biệt giữa cái thiện và cái ác là một trong những câu hỏi như thế, nhưng nó không phải là câu hỏi duy nhất và có lẽ cũng không phải là câu hỏi quan trọng nhất.  Có những câu hỏi thoạt nghe thì có vẻ ngây thơ ví dụ “Những cái gì là nhu cầu căn bản của con người? Tự do và công bằng có phải là như cầu căn bản của con người hay không”. Con người có cả nhu cầu sống trong cộng đồng, trong xã hội, vì mỗi người không thể làm ra được hết tất cả những gì mình cần. Nếu tự do và công bằng cũng là nhu cầu căn bản thì xã hội phải được thiết kế thế nào để cho tự do của mỗi người và sự công bằng giữa người này và người khác được bảo đảm? Triển khai câu hỏi đến đây thì ta thấy câu hỏi này phức tạp hơn nhiều so với câu hỏi phân biệt giữa cái thiện và cái ác, và có lẽ cũng quan trọng hơn.    Trả lời cho câu hỏi về vai trò của giáo dục nhân văn nói chung vượt ra ngoài khuôn khổ của bài nói chuyện này và khả năng của tôi.  Trong phần tiếp theo, tôi muốn thu hẹp câu hỏi lại và trao đổi kỹ hơn về vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách.  Cơ chế căn bản cho việc hình thành nhân cách là chiêm nghiệm về một sự việc cụ thể đã xảy ra trong một hoàn cảnh cụ thể, ngẫm xem người ta đã quyết định như thế nào, đã làm gì, và hậu quả, ảnh hưởng của việc đó lên cuộc sống của người khác và của chính người đó như thế nào. Có thể thấy rằng con người chiêm nghiệm bằng xúc cảm nhiều hơn là bằng tư duy. Người ta chiêm nghiệm sâu sắc nhất về những gì xảy ra với chính mình, hoặc là xảy ra với người thân của mình, vì những trải nghiệm đó để lại những xúc cảm mạnh nhất.  Nhưng nói chung, trải nghiệm của một người trẻ, kể cả những trải nghiệm được gia đình chia sẻ, không đủ phong phú để người đó hình thành một nhân cách vững vàng. Vốn trải nghiệm của anh ta sẽ giàu có hơn nhiều, nếu anh ta biết đặt mình vào trong lịch sử, nơi những câu chuyện của quá khứ được ghi lại một cách trung thực, hoặc là trong văn học, nơi có những câu chuyện lớn, tuy có thể là được hư cấu, nhưng luôn xuất phát từ sự trải nghiệm chân thực của nhà văn.   Trong một bài viết trên blog cá nhân, đặt tên là Giữ ký ức, tôi có kể câu chuyện về học sinh phổ thông ở Đức học về tội ác của chế độ quốc xã lên người Do thái như thế nào. Học sinh Đức học ở trong sách vở, đọc nhật ký của cô bé Anne Frank viết khi trong thời gian hai năm trốn trong góc tủ để rồi cuối cùng cũng bị bắt rồi bị giết. Họ đi tham quan trại tập trung Buchenwald. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn cả là học sinh Đức còn phải tự đi điều tra xem xung quanh nơi mình ở, trước đây đã từng có người Do thái nào sống, họ tên là gì, họ đã bị bắt trong hoàn cảnh nào, đã bị giết chết như thế nào. Làm như thế để cho những trải nghiệm trở nên gần gũi nhất. Một vài tháng sau khi viết bài này, tôi có nói về chuyện với một nhiếp ảnh gia người Đức, ông ấy nói người Đức phải làm như thế vì nếu không họ sẽ lại phạm lại đúng những sai lầm khủng khiếp nhất trong quá khứ. Giáo sư Hà Huy Khoái cũng bình luận như thế này: “Người Đức khôn thật, họ cho học sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào không làm điều đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần học lại, thi lại đều phải trả giá đắt hơn trước. Giá ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền như sinh viên thi lại!”.   Tôi nghĩ về câu chuyện này từ một khía cạnh khác. Trải nghiệm chân thực về những sự thật dù đau đớn đến mấy cũng làm cho cốt cách con người trở nên mạnh mẽ, trái với những sự dối trá, có thể ngọt lịm, nhưng luôn làm tha hoá tâm hồn con người. Chức năng của giáo dục nhân văn không phải là ngợi ca cái thiện, phê bình cái ác mà là giúp con người tìm đến sự thực và để cảnh giác với sự dối trá của người khác và của chính mình. Cảnh giác với bản năng lười nhác, ích kỷ và hèn nhát, những cái rất giỏi ngụy trang trong tấm áo thiện tâm để dắt tay con người đi về địa ngục, cái không phải là gì khác mà chính là sự tha hóa hoàn toàn của tâm hồn con người. Giáo dục nhân văn nghiêm túc rèn cho chúng ta thái độ nỗ lực không mệt mỏi trong cố gắng đi tìm sự thật cùng với khả năng chiêm nghiệm bằng tư duy vì nếu chỉ chiêm nghiệm bằng xúc cảm, con người rất dễ bị đánh lừa.  Tôi đã nhắc đến chuyện bản năng hướng thượng hướng thiện của con người rất dễ bị tha hoá để trở thành hiện tượng sùng bái cá nhân, có thể xuất hiện dưới dạng là sùng bái lãnh tụ hoặc ca sĩ Hàn quốc. Vai trò của giáo dục nhân văn là dắt tay con người đi theo “tấm biển chỉ đường của trí tuệ” để đi về với cái chân thiện, chân mỹ.  Ngôn ngữ và thái độ khoa học  Nếu bản năng hướng thượng, hướng thiện là động cơ của học tập, nó không phải là công cụ. Con người biểu đạt sự hiểu biết về thế giới khách quan bằng lời. Con người thụ hưởng vốn hiểu biết mà nhân loại tích tụ được thông qua ngôn ngữ. Có hai thái độ ứng xử với ngôn ngữ đối lập nhau, dẫn đến hai phương pháp tư duy đối lập nhau: một bên là thái độ tôn giáo, coi ngôn từ như đối tượng để tôn thờ, một bên là thái độ khoa học, coi ngôn từ như một công cụ để định hình tư tưởng.  Định nghĩa chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh là điển hình của thái độ tôn giáo đối với ngôn từ. Đạo được mô  tả như thế này, như thế kia, Đạo không phải là thế này, không phải là thế kia, nhưng không một lần Đạo được định nghĩa là cái gì. Đạo là một từ đại diện cho một khái niệm linh thiêng không định nghĩa được, người ta chỉ có thể biết thuộc tính của nó là như thế này, như thế kia, cùng lắm là biết nó không phải là cái gì, tức là hạn chế khái niệm bằng phủ định, chứ không thể nói nó là cái gì, tức là định nghĩa khái niệm bằng khẳng định.  Tính linh thiêng của chữ Đạo nằm chính ở chỗ ta không thể định hình được nó.  Tôi dẫn ví dụ Đạo Đức Kinh không với ý muốn đánh giá thấp giá trị triết học của tác phẩm này. Tôi chỉ muốn chỉ ra sự đối lập với giữa thái độ tôn giáo của nó đối với ngôn ngữ và thái độ khoa học. Thái độ tôn giáo với ngôn ngữ đưa đến những luận điểm bao quát, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống, con người cũng có thể vận dụng chúng để diễn giải những gì xảy ra với mình, và tự an ủi mình. Mà trên đời này, ai là người không cần được an ủi.  Đóng góp lớn nhất của văn hoá Hy lạp cổ đại cho tư duy loài người có lẽ là sự phát minh ra thái độ khoa học với ngôn ngữ mà điển hình là sách Cơ sở của Euclid. Để nói về hình tròn, người ta không nói nó là cái gì đó giống mặt trời, hay mặt trăng vào thời kỳ trăng tròn, mà người ta định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm có một khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước, gọi là tâm của đường tròn. Cái đáng lưu ý nhất là khái niệm luôn được xây dựng trên cơ sở khẳng định: nó là cái gì, chứ không phải trên cơ sở phủ định: nó không phải là cái gì.   Cũng cần lưu ý là ở đây đường tròn không được gán cho bất kỳ một thuộc tính thiêng liêng nào cả, nó chỉ là cái tên đưa ra để định hình khái niệm tập hợp các điểm có khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước. Thậm chí trong thực tế, không có cái gì chính xác là hình tròn cả, chỉ có những hình tròn gần đúng mà thôi. Các định nghĩa của Euclid chỉ có giá trị giới hạn trong phạm vi của hình học. Theo một nghĩa nào đó, hình học là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ, là một trò chơi của tư duy. Giá trị lớn nhất của trò chơi này nằm ở ngay trong sự hạn chế của nó. Vì luật chơi bao gồm một số tiên đề, và một số phép suy luận được quy định trước, một phát biểu hình học chỉ có thể hoặc là đúng, hoặc là sai, một chứng minh chỉ có thể là đầy đủ chặt chẽ hoặc là thiếu sót ngộ nhận.  Đây là cuộc chơi mà tư duy logic của con người được tha hồ thi thố. Cho đến bây giờ nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa đó. Để cho trẻ học được phương pháp lập luận chặt chẽ, không có gì tốt hơn là học hình học Euclid.  Ưu điểm của trò chơi tư duy mà trong các luật chơi được cố định trước là trong phạm vi của cuộc chơi này, mọi cái đúng cái sai đều rõ ràng. Ưu điểm quan trọng khác là con người có thể rút ra kết luận rõ ràng chi tiết từ hệ thống tiên đề và khái niệm, để rồi đem nó ra kiểm chứng, đối chiếu với quan sát thực tế.   Ở điểm này, thiên hướng của khoa học khiêm tốn hơn nhiều so với thiên hướng của tôn giáo. Những luận điểm của tôn giáo thường có tính khái quát cao, nhưng không có tính chi tiết để có thể kiểm chứng đối chiếu được qua các quan sát thực tế. Trong mọi trường hợp tôn giáo yêu cầu người ta phải tin và phải chấp hành. Ngược lại, lý thuyết khoa học đưa ra những luận điểm đủ cụ thể để có thể kiểm chứng với thực tế và dành cho thực tế quyền phán xét cuối cùng. Sự khiêm tốn, luôn đặt mình vào vị trí để cho thực tế phán xét, hoặc khẳng định, hoặc phủ nhận, theo Karl Popper chính là thuộc tính đặc trưng của khoa học, đối lập với tín điều.  Sự khiêm tốn này cũng chính là cái làm nên sức sống của khoa học. Tôn giáo sẽ chết khi con người không còn đặt lòng tin vào tín điều nữa. Còn trong bản chất của mình, luận điểm khoa học chấp nhận sự phủ định, nó như chỉ chờ được thực tế phủ định để hồi sinh, lột xác thành một lý thuyết khoa học mới, phức tạp hơn, có phạm vi ứng dụng rộng hơn lý thuyết cũ.    Trong bản chất, mọi lý thuyết khoa học chỉ mô tả được một phạm vi nào đó của thế giới, lý thuyết càng thô sơ thì phạm vi áp dụng của nó càng hẹp. Đi ra ngoài phạm vi đó là bắt đầu một cuộc chơi mới, con người lại phải sáng tạo một hệ thống ngôn ngữ, khái niệm mới, tìm ra một luật chơi mới.  Nhưng không phải vì thế mà lý thuyết cũ nhất thiết phải bị thủ tiêu khi một lý thuyết mới ra đời. Trong phạm vi cuộc sống hàng ngày, khi các vật thể chuyện động chậm hơn nhiều so với ánh sáng, cơ học Newton vẫn đúng.  Người đi tìm hiểu thế giới gần như bắt buộc phải đi lại gần như toàn bộ hành trình tìm hiểu thế giới của loài người. Đây là cái khó khăn rất lớn. Đã có một số quan điểm sai lầm trong giáo dục muốn bỏ qua những lý thuyết khoa học trước đây để đưa học sinh đến với những lý thuyết tiên tiến nhất. Ở phương tây những vào những năm 70 đã có trào lưu xây dựng lại toàn bộ giáo trình toán học dựa theo cách trình bày toán học hiện đại của nhóm Bourbaki. Kết quả của thí nghiệm đại trà này không tốt. Cảm nhận chung là trình độ toán học của học sinh tốt nghiệp phổ thông kém đi nhiều.  Gần đây, con lắc cực đoan có vẻ như bị văng theo hướng ngược lại. Người ta muốn lược đi khỏi chương trình tất cả những gì được coi là không cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Tôi vô cùng ngạc nhiên bởi ý kiến của một vị Giáo sư cho rằng học sinh không cần học vi phân, tích phân vì hàng ngày có ai cần dùng đến vi phân, tích phân đâu. Nhưng chính là nhờ vào thiên tài của Newton và Leibnitz, các hiện tượng tự nhiên được mô tả một cách tường minh dưới dạng phương trình vi phân. Loại bỏ đi đạo hàm tích phân có khác gì tự nguyện quay lại với tư duy mơ hồ của siêu hình trung cổ.  Vấn đề không phải đem những kiến thức khoa học tiên tiến nhất đến cho học sinh, vì có muốn cũng không làm được. Vấn đề cũng không phải là tập trung rèn luyện cho học sinh kỹ năng tính toán để phục vụ cho những nhu cầu hàng ngày. Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy khoa học: định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó với thế giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để đưa ra những luận điểm cụ thể, kiểm chứng những luận điểm đó với thế giới khách quan.  Còn một thuộc tính khác của một khoa học có sức sống là khả năng đem đến sự bất ngờ. Hình học Euclid không còn khả năng đưa ra những khẳng định bất ngờ nào nữa và theo nghĩa này, nó là một môn khoa học chết. Nó chỉ còn là một trò chơi trí tuệ để học sinh rèn luyện khả năng tư duy logic. Nhận định của Einstein rằng tia sáng bị uốn cong khi đến gần các vật thể có khối lượng lớn nhờ vào những tính toán trong lý thuyết tương đối là một bất ngờ khi trong hình dung của chúng ta, đường thẳng là đường truyền của ánh sáng. Sức sống của một bộ môn khoa học thể hiện ở chỗ từ một hệ thống khái niệm, tiên đề chấp nhận được, bằng tính toán và lập luận, người ta có thể đưa ra những giải thích chưa biết cho những hiện tượng đã biết, hoặc là tiên đoán về những hiện tượng chưa được biết đến.  Khi khoa học “nhận nhiệm vụ” diễn giải, chứng minh cho một luận điểm cho trước, để phục vụ một mục đích chính trị hoặc tôn giáo, bất kể mục đích đó tốt hay xấu, về mặt thực chất khoa học đã mất đi cái làm nên sức sống của nó.  Vấn đề “nhận nhiệm vụ” ảnh hưởng nhiều đến khoa học xã hội hơn là khoa học tự nhiên. Như một số người đã nhận xét, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, các ngành khoa học tự nhiên có thể rất phát triển trong khi các ngành khoa học xã hội để lại rất ít dấu ấn vào văn minh nhân loại. GS Hà Huy Khoái có lần phát biểu nửa đùa nửa thật “Thực chất, ở Việt Nam chưa có khoa học xã hội”. Phát biểu của ông đã gây ra những phản ứng khá dữ dội. Nói một cách khách quan hơn, nó có đấy, nhưng nó yếm khí và thiếu sức sống.  Học như thế nào?  Ngày xưa để học được chữ thánh hiền, cái quan trọng nhất là cần có chí. Cái chí để đi bắt đom đóm bỏ vào lọ làm đèn mà đọc sách thâu đêm. Trong công việc học tập bây giờ, trong việc tiếp thu kiến thức khoa học của nhân loại tưởng như vô hạn, chỉ có chí thôi chắc là không đủ.  Như tôi vừa trình bày ở trên, khoa học không bị cái bệnh tự phụ coi những luận điểm của mình đúng một cách tuyệt đối, đúng một cách phổ quát. Mỗi lý thuyết khoa học được khai triển bằng tính toán, bằng lập luận từ một số nhỏ khái niệm, một số tiên đề cơ sở. Mỗi lý thuyết có logic nội tại của nó, nó không tự mâu thuẫn, nhưng những kết luận mà người ta rút ra từ nó chỉ khớp với thực tế khách quan trong một phạm vi nào đó. Theo một nghĩa nào đó, mỗi lý thuyết là một trò chơi trí tuệ, với luật chơi được xác định rõ ràng mà trong đó người chơi có thể triển khai khả năng tư duy của mình để đi đến những kết quả nhiều khi nằm ngoài sự mong đợi ban đầu.  Rất ít khi người ta chơi trò gì một mình.  Để cho cuộc chơi thực sự cuốn hút, để cho người chơi có thể thực sự triển khai mọi tiềm năng tư duy của mình để đi đến những kết quả bất ngờ, đi đến sáng tạo, cuộc chơi phải có bạn chơi và phải có trọng tài. Để minh hoạ quan điểm này, tôi xin đưa ra một gợi ý nhỏ, nhưng rất nghiêm túc.  Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn phí rất nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng. Một số trường đại học có tên tuổi như MIT, Stanford còn tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư liệu học tập. Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến đó học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được nhận vào học, bạn có thể truy cập miễn phí các tư liệu học tập, theo dõi các bài giảng video. Vậy có đúng là bạn cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học như sinh viên ở MIT hay ở Stanford hay không.  Tôi nghĩ rằng trừ khi bạn có một ý chí sắt đá, dù có được cung cấp tất cả mọi tài liệu trên đời, dù dược theo dõi miễn phí các bài giảng, ở nhà một mình bạn vẫn không thể học được. Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng trên mạng một mình không phải là một cuộc chơi thú vị: không có địch thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không thấy mục tiêu, không thấy giải thưởng. Đó là những thứ không liên quan trực tiếp đến nội dung khoa học của bài giảng nhưng đó là cái mà người đi học cần để phấn đấu liên tục. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong một hai ngày cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể, có lớp học, có thầy giáo để duy trì nỗ lực học tập.  Gợi ý của tôi là tại sao các bạn không tự tổ chức cùng học theo giáo trình được cung cấp trên mạng. Tại sao không thể dùng trực tiếp bài giảng, tư liệu học tập cung cấp miễn phí trên mạng trong các lớp học chính khoá. Các thầy không nhất thiết phải giảng cả buổi nữa, mà có thể cho sinh viên xem bài giảng trên mạng, có thể làm trước phụ đề tiếng việt, sau đó dành thời gian để giải thích thêm, trả lời câu hỏi của sinh viên, và hướng dẫn làm bài tập. Và cuối cùng là tổ chức thi cử nghiêm túc. Tất nhiên gợi ý thì dễ, mà làm thì khó, nhưng tôi không tin là việc này không thể làm được. Kinh phí để tổ chức lớp học như thế có lẽ là không nhiều lắm, nếu so sánh với học phí 50 ngàn đô la một năm ở MIT hay Stanford.  Với gợi ý có tính suy tưởng này, tôi hy vọng làm nổi lên được sự quan trọng của việc tổ chức học tập. Học tập là một hoạt động tập thể và có tổ chức. Như đã nêu ở trên, thiếu một tập thể có tổ chức, con người nói chung không có khả năng duy trì nỗ lực của mình trong một thời gian dài. Thiếu tranh biện con người nhanh chóng lạc vào con đường chủ quan, con đường luôn dẫn đến cái đích là sự bế tắc. Bản tính con người là hiếu thắng, cái cần thiết để tạo ra sự sôi động trong tranh luận, những cũng là cái làm hỏng cuộc tranh luận, biến nó thành chiến trường để người này đè bẹp người kia. Vì vậy trong mọi cuộc chơi tập thể cần có một luật chơi lành mạnh để cho sự cạnh tranh chỉ tạo ra nỗ lực để mỗi người vượt lên chính mình, chứ không phải là cái cớ để thỏa mãn bản năng hiếu thắng. Và cuộc chơi cần một người trọng tài, nắm vững luật lệ và có thẩm quyền điều khiển cuộc chơi. Ngoài ra, chính những ràng buộc của luật chơi bắt người chơi phải vươn tới sự sáng tạo thực sự.  Tôi để ý thấy người ta phá bỏ luật chơi dễ dàng quá. Tôi xin dẫn một ví dụ nhỏ là việc viết thư giới thiệu. Viết thư giới thiệu là một công việc khá vất vả mà lại không thể mong đợi phần thưởng gì khác ngoài cảm giác hoàn thành bổn phận. Để giới thiệu cho một đồng nghiệp vào một vị trí phó giáo sư, hay giáo sư, thường thì người giới thiệu phải tìm hiểu kỹ công trình của người mình giới thiệu để chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào đặc sắc, chỗ nào thì cũng chỉ bình thường, và nêu ra ý nghĩa chung của công trình. Không viết được đầy đủ nội dung như vậy, thì lá thư giới thiệu không có mấy trọng lượng, mà người viết thư giới thiệu lại có thể bị đánh giá, hoặc là về sự nghiêm túc, hoặc là về trình độ. Viết thư là một việc rất vất vả, mà không có ai khen ông này ông kia viết thư giới thiệu rất hay, vì trên nguyên tắc thư giới thiệu được giữ bí mật. Tóm lại, viết thư giới thiệu là một việc vất vả, không có bổng lộc, nhưng lại cần phải làm để ủng hộ một người đồng nghiệp xứng đáng, hoặc chỉ đơn thuần là để thực hiện bổn phận của mình. Viết thư giới thiệu cho sinh viên cũng mất công, nhưng không vất vả như viết thư giới thiệu cho đồng nghiệp.  Có một lần, một sinh viên mà tôi đã từng dạy ở Hà nội nhờ tôi viết thư giới thiệu.  Khi tôi còn đang do dự vì tôi đánh giá bạn ấy không thực sự xuất sắc, thì anh ta gửi cho tôi một bức thư giới thiệu soạn sẵn để tôi chỉ việc ký vào đó. Khi tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về cách làm này, thì bạn ấy trình bày là các thầy giáo khác yêu cầu bạn ấy làm như thế. Một số người có thể coi đây là việc nhỏ, nhưng tôi nghĩ chính từ những chuyện nhỏ như thế sẽ làm tha hoá cả hệ thống.  Khi chuẩn bị bài nói chuyện này, ý định của tôi là chia sẻ những suy nghĩ tản mạn của mình về việc học tập, chứ không định phê bình ai cả, càng không có ý định phê bình nền giáo dục ở nước ta. Đã có nhiều người chỉ ra rất nhiều bất cập, tôi không thấy cần thiết phải hoà thêm tiếng nói của mình vào đó. Nhưng nếu chỉ nêu ra một vấn đề, vấn đề lớn nhất, thì theo tôi đó là mức độ tha hóa của hệ thống.  Xin quay lại sự kiện Đồi ngô mà các bạn đều đã biết cả. Đây là một sự kiện vô cùng đặc biệt, vì chuyện thí sinh quay phim giám thị vi phạm qui chế thi là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Đây là một câu chuyện rất buồn, nó phải là tiếng chuông cảnh tình về mức độ tha hoá của hệ thống. Hãy khoan quy trách nhiệm cho một cơ quan, một cá nhân nào mà hãy bình tâm suy nghĩ. Để cho một việc như vậy xảy ra, phải có nhiều người từ trung ương đến địa phương, ở trong và ngoài ngành giáo dục, đã không tôn trọng luật chơi. Kết quả là kỳ thi tốt nghiệp, cái đáng ra phải là một thủ tục mang tính nghiêm cẩn, phải là một cái mốc thiêng liêng cho cả quá trình lao động học tập của học sinh, lại trở thành một trò đùa, một trò đùa làm chúng ta muốn khóc.  Nước Mỹ có thể tự hào về những trường đại học của mình. Các đại học ở Mỹ thường là tương đối trẻ, trường đại học Chicago nơi tôi làm việc cũng mới khoảng 100 tuổi, đồng niên với Đại học quốc gia Hà nội. Có lẽ cũng phải trả lời câu hỏi, cái gì là “bí quyết thành công” của họ. Vào thời điểm hiện tại thì ta có thể nói rằng lý do thành công của họ là họ rất giàu, có nhiều giáo sư giỏi, có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại. Nhưng nói như thế là nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân. Ban đầu, họ không giàu, mà cũng không có nhiều người thực sự xuất sắc nếu so với cái trường đại học ở châu Âu vào cùng thời. Tuy không có một câu trả lời duy nhất, nhưng một nguyên nhân chắc chắn được nhắc đến là tinh thần fair-play, mọi hành vi ăn gian đều bị trừng trị một cách vô cùng nghiêm khắc.   Tôi cho rằng sự trung thực là một hành vi khó mà học được từ trong sách vở. Để trẻ học được tính trung thực, trước hết người lớn cũng phải học tính trung thực, để tự biết mà làm gương.   Tôi đã nói nhiều về sự cần thiết của việc tổ chức học tập, tính kỷ luật và tính trung thực. Nhưng bạn có thể thắc mắc rằng tại sao tôi nói về trường học mà cứ như là nói về doanh trại quân đội.  Tính kỷ luật và trung thực tất nhiên là không đủ. Cái còn thiếu chính là “niềm say mê” mà tôi nhắc đến lúc bắt đầu.  Say mê đi tìm cái mới, cái chưa biết, tìm lời giải thích cho những gì còn chưa hiểu.  Niềm say mê đi từ đâu đến? Thú thực là tôi không biết chắc chắn, và vì thế mà tôi giả sử rằng con người sinh ra với một bản năng hướng thượng, nói cách khác là đã có sẵn trong mình mầm mống của niềm ham mê. Tôi nghĩ rằng thực ra câu hỏi niềm ham mê sinh ra từ đâu không quan trọng bằng làm thế nào để gìn giữ niềm ham mê, và không để cho nó bị tha hoá. Niềm đam mê, tính hướng thượng hướng thiện là động cơ cho việc học tập, và chính việc học tập đích thực là cái nuôi dưỡng sự hướng thượng hướng thiện bởi những giá trị nhân văn chân thiện, chân mỹ, bởi tình yêu sự thật, và bởi niềm hạnh phúc của sự khám phá,  để vượt qua biên giới giữa những gì đã biết và những gì chưa biết.  Một người bạn tôi có góp ý với tôi rằng bên cạnh niềm ham mê, đừng quên bổ sung sự quả cảm. Sự quả cảm là cái bạn cần để không để lười biếng, hèn nhát dụ dỗ mà quay lưng lại với sự thật. Sự quả cảm cũng là cái bạn rất cần khi đi tìm cái mới. Bạn có tập thể, có đồng đội để cùng học tập, tiến bộ. Nhưng dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy rằng khi đã vượt qua biên giới của những gì đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa biết, bạn rất cần tính quả cảm vì đi tìm cái mới thường là một hành trình cô đơn, và nó có thể kéo dài nhiều năm.  Lời cảm ơn   Xin chân thành cảm ơn các ông Bùi Đức Lại, Nguyễn Xuân Long, Hoàng Hồng Minh và Nguyễn Phương Văn về những góp ý quí báu.  Tài liệu tham khảo  1. Hannah Arendt: La crise de l’éducation:    www.meirieu.com/COURSPHILO/textephilo4.pdf  2. Ngô Bảo Châu: Giữ ký ức: thichhoctoan.net/2013/01/16/giu-ky-uc/  3. Hà Huy Khoái: Muốn có ứng dụng, phải có lý thuyết: vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/04/562806/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Học phí: Sợi dây giữa cơ sở giáo dục và người học      Việc của các cơ sở giáo dục (CSGD) là đảm bảo sản phẩm giáo dục họ cung cấp ‘đáng đồng tiền bát gạo’ mà người dân chi trả. Học phí là một sợi dây ràng buộc giữa người học/gia đình và CSGD nhưng không phải là duy nhất để các CSGD có thể ‘tăng đại’ theo ý muốn.  ‘Học phí’ ở đâu trong câu chuyện đổi mới giáo dục đại học?      Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ học đại học thấp nhất trong khu vực ASEAN. Nguồn ảnh: Laodong.  `Học phí’ ở đâu trong câu chuyện đổi mới giáo dục đại học?     Có thể nói học phí đại học quá thấp là một bất cập lớn và đây chính là một trong những nguồn cơn thúc đẩy cuộc đấu tranh đòi quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học từ đầu những năm 2000. Kể từ đó đến nay, chính sách hạn mức học phí (khung/trần học phí) liên tục được nới lỏng, gắn mức tăng và trần học phí với các cam kết về đảm bảo chất lượng và các điều kiện, tình trạng tự chủ của cơ sở giáo dục (CSGD). Học phí ở bậc đại học đã tăng gấp hơn 5 lần từ năm 2004 so với 2018 (WB, theo số liệu điều tra VHLSS năm 2004 và 2018). Nhóm các trường công tự chủ tài chính được phép tự xác định mức học phí theo phương pháp quy định trong Thông tư số 14/2019/TT-BGĐT về hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật và phương pháp xây dựng giá dịch vụ giáo dục đào tạo áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Đối với các trường vẫn nhận ngân sách chi thường xuyên, chưa thực hiện tự chủ toàn diện, quy định về khung và trần học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP được áp dụng với chương trình đại trà đã tính đến đặc thù của ba nhóm ngành khác nhau (Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản; Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch; Y dược). Như vậy, đối với các chương trình chất lượng cao, liên kết quốc tế, vv. các trường không phải tuân theo khung trần này.   Như vậy, bản chất của các kêu gọi ‘tăng học phí’ trong thời gian gần đây là gì?     Theo đại biểu quốc hội Lê Quân, “mức trần học phí đáp ứng rất thấp so với kỳ vọng và yêu cầu của các cơ sở giáo dục”, từ đó kiến nghị “cần có chính sách cho phép cơ sở giáo dục không nhất thiết tự chủ hoàn toàn mới được xác định học phí trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật”. Có thể hiểu kiến nghị của ông Lê Quân là: các đại học vẫn nhận ngân sách nhà nước (NSNN) và đồng thời vẫn được tự ý xác định học phí cao tùy ý. Với tư cách Giám đốc ĐHQGHN, phát biểu này được cho là gắn với trường hợp của ĐHQGHN, một trong những trường nhận NSNN nhiều nhất trong hệ thống, và các trường cùng nhóm. Câu hỏi là nếu ĐHQGHN muốn tăng học phí tùy ý, thì tại sao không tuân thủ luật chơi “tự chủ tài chính và tự chủ toàn diện” giống như 23 trường đã thực hiện theo Nghị quyết 77 mà lại kiến nghị một cơ chế riêng, vừa không muốn tự chủ, vừa không muốn tuân theo trần học phí?      Hình 1: Tổng tỉ lệ nhập học ở bậc sau phổ thông ở Việt Nam và các quốc gia được lựa chọn, giai đoạn 2000-2016 (Nguồn: WB).  Cần phải lưu ý rằng Nghị định số 86/2015/NĐ-CP chỉ quy định khung trần học phí đến hết 2021. Như vậy, đây là thời điểm một nghị định mới đang được xây dựng. Bất cứ một đề xuất, kiến nghị liên quan nào tại thời điểm cũng rất nhạy cảm đối với việc vận động hành lang cho các thay đổi chính sách. Do vậy, nhất thiết phải xem xét đề xuất này một cách toàn diện, thấu đáo.      Tăng học phí để hạn chế số lượng người học đại học?    Trong giai đoạn 2000-2016, số lượng sinh viên tăng từ 0.9 triệu lên 2.3 triệu, mở rộng tiếp cận giáo dục sau phổ thông lên đáng kể, đẩy tổng tỷ lệ nhập học thô ở bậc này tăng từ 9% lên 28%. Tuy nhiên, kể cả với tỷ lệ này, Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ học đại học thấp nhất trong khu vực ASEAN, kém xa các nước Đông Á như Hàn Quốc (Hình 1).    Chúng ta KHÔNG ‘thừa thầy, thiếu thợ’ mà thiếu cả thầy, cả thợ, thiếu cả thầy giỏi và thợ lành nghề. Chính vì vậy, giả sử có manh nha ý định dùng học phí cao để làm rào cản đối với giáo dục sau đại học thì rất cần phải cân đối thận trọng trên toàn hệ thống, tránh gây những tác động nguy hại lâu dài đối với thị trường lao động và nguồn nhân lực.      Tăng học phí để loại trừ người học ‘không rõ mục đích, động lực học tập’?    Về lý thuyết, khi giá mua hàng cao hơn, khách hàng sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về quyết định mua hàng. Tuy nhiên giáo dục phức tạp hơn bởi mục đích khi trả tiền cho một chương trình/khóa học có thể là kiến thức, kỹ năng, năng lực đạt được, nhưng cũng có thể chỉ là tấm bằng làm giấy thông hành khi chính thị trường lao động còn lẫn lộn vàng thau, tuyển dụng dựa trên quan hệ, và việc đánh giá nhân sự không thực sự dựa trên hiệu quả công việc. Trong khi đó, bối cảnh thực tế của việc hướng nghiệp ở phổ thông còn rất yếu, sinh viên tiếp tục theo học sau phổ thông mà không rõ định hướng nghề nghiệp và ‘học đại’ là không hề hiếm gặp. Ngay cả ở các quốc gia có giáo dục phổ thông và hướng nghiệp phát triển, việc người tốt nghiệp không làm việc đúng ngành đào tạo, hoặc người học bỏ dở và chuyển ngang sang chương trình học khác khá phổ biến. Ngay cả khi giáo dục và tư vấn hướng nghiệp ở phổ thông diễn ra từ rất sớm và rất phát triển thì trong các trường đại học, khối các trường khai phóng (liberal arts) vẫn mở rộng cửa đón những người học ‘chưa biết muốn học cái gì, muốn làm nghề gì’.     Giải pháp cần phải tập trung vào việc mở rộng các lựa chọn, khả năng chuyển đổi, liên thông cho người học, và nâng cao chất lượng xuyên suốt quá trình đào tạo để chương trình thú vị, hữu ích, cộng với các giải pháp truyền thông, kết nối giữa đại học và trường phổ thông, cũng như phát triển tư vấn hướng nghiệp nhằm khuyến khích người học học lên cao hơn và giữ chân người học bằng những chương trình chất lượng.  Sử dụng học phí làm rào cản là tối sách, phản giáo dục và rõ ràng không phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước ở thời điểm này.      Tăng học phí để cải thiện điều kiện học tập và giảng dạy, cũng như chất lượng đào tạo?    Về lý thuyết, tăng nguồn thu sẽ giúp cho tổ chức có nguồn lực để đầu tư vào các yếu tố giúp nâng cao năng lực và chất lượng. Tuy nhiên giá tăng không tự động dẫn tới chất lượng tăng. Trong giáo dục, học phí tăng không nghiễm nhiên dẫn đến đầu tư vào quá trình đào tạo tăng nếu không có những cơ chế minh bạch hóa và giải trình tài chính một cách hiệu quả, đáng tin cậy. Người học, phụ huynh và công chúng nói chung không được tiếp cận các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán độc lập của các CSGD.       Hình 2: Cơ cấu nguồn thu của các trường đại học công lập, năm 2004 và 2017 (%) (Nguồn: WB, 2020).  Ngay cả khi đầu tư cho các yếu tố đào tạo đầu vào tăng cũng chưa chắc chất lượng và hiệu quả đào tạo tăng nếu như đầu tư không đúng và không trúng. Chưa kể đối với các đại học công không tự chủ toàn diện, việc đầu tư, tăng giảm chi tiêu còn chịu điều chỉnh bởi nhiều quy định của nhà nước. Chẳng hạn, mức lương cho cán bộ giảng viên và nghiên cứu ở các đại học công chưa tự chủ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khung, bậc lương nhà nước hoặc quyền tự chủ hạn chế của hiệu trưởng. Năng lực quản lý tài chính, quản trị và lãnh đạo của ban giám hiệu trực tiếp quyết định thu nhập của cán bộ, giảng viên, chứ không phải các nguồn thu. Do vậy, không thể tùy ý nâng mức học phí khi chưa bàn đến vấn đề hiệu quả, hiệu suất trong vận hành cũng như hoạt động đào tạo và năng lực lãnh đạo của nhà trường.      Gỡ trần học phí: những vấn đề quản trị hệ thống     Tài chính đại học thiếu lành mạnh, kém bền vững    Xem xét cơ cấu nguồn thu và tài chính cho đại học trong giai đoạn 2004-2018, báo cáo GDĐH của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ: học phí tăng gấp hơn 5 lần (105USD năm 2004 so với 574USD  năm 2018) trong khi học phí chiếm tỷ lệ hơn gấp đôi trong tổng nguồn thu của đại học (26% năm 2004 so với 55% năm 2017 – Hình 2).     Cơ cấu nguồn thu đại học tính đến 2017 cho thấy NNSN chiếm 22%, học phí chiếm 55% và 23% còn lại bao gồm tất cả các nguồn như nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, các loại dịch vụ và các khoản cho tặng, tài trợ. Điều đáng nói là ở nhiều trường, học phí lên tới 60-65%, và từ năm 2017 đến nay với việc tăng học phí liên tục ở nhiều trường, tỷ lệ hiện nay được cho là còn cao hơn. Đặc biệt, trong 23% còn lại, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ ở nhiều trường kể cả các đại học tốp đầu chỉ chiếm khoảng 5-7%, một con số rất rất khiêm tốn cho thấy các trường lệ thuộc quá nhiều vào đào tạo mà yếu kém về nghiên cứu. Cơ cấu tài chính như vậy rất thiếu bền vững cho các trường đại học, nhất là các đại học (định hướng) nghiên cứu.     Theo cơ quan Thống kê Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ, năm 2012, học phí ròng (đã khấu trừ hết các khoản hỗ trợ, học bổng…) chiếm trung bình 26% trong cơ cấu tài chính của các đại học công lập Mỹ. Tỷ lệ nguồn thu từ học phí so với từ các hợp đồng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ là tương đối cân bằng (xem tỷ lệ các nguồn thu của bốn đại học nghiên cứu công lập  trong Hình 3). Đối với các trường đại học của Úc, tổng nguồn thu học phí chiếm 44.6% tổng nguồn thu, trong đó học phí từ sinh viên quốc tế chiếm 26.4% và sinh viên bản xứ chỉ chiếm 18.2%.    Việc tiếp tục nâng học phí và nâng theo nhu cầu và nguyện vọng của các trường khiến cho họ lệ thuộc càng thêm lệ thuộc vào đào tạo, càng thêm thiếu động lực để phát triển nghiên cứu, công nghệ và đối mới sáng tạo. Nếu muốn phát triển đại học nghiên cứu hay định hướng nghiên cứu, cần phải có chính sách cân đối các nguồn thu từ đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.       Bảng 1: So sánh về mức tài trợ ngân sách cho GDĐH và Mức độ phụ thuộc vào đóng góp từ gia đình (Nguồn: WB, 2020). (Chi phí đơn vị – unit cost là chi phí CSGD phải bỏ ra để cung cấp dịch vụ giáo dục).  Chưa dừng ở đó, mức đầu tư (tỷ trọng trên GDP) cho giáo dục sau phổ thông của Việt Nam và mức đóng góp của người học ở các trường công lập (tỷ trọng học phí trong tổng chi phí đơn vị) cũng cho thấy những bất cập khi đối sánh tương đối với các quốc gia khác. Việt Nam nằm trong nhóm có mức chi học phí cao nhất (chiếm trên 40% tổng chí phí đơn vị) trong khi mức đầu tư của nhà nước thấp nhất (0.33% GDP) (Bảng 1). Điều này có nghĩa rằng, chúng ta đang đổ gánh nặng chi phí học sau phổ thông sang gia đình.      Thiếu cơ chế và trách nhiệm giải trình với người học    Các thảo luận cũng như kiến nghị, đề xuất từ CSGD về tăng học phí thường thiếu vắng các cam kết về chất lượng và trách nhiệm giải trình đi kèm.   Mặc dù chính sách gắn tự chủ toàn diện với tự chủ tài chính, cắt nguồn ngân sách cho chi thường xuyên cần phải đánh giá và xem xét, có thể nói đó là một cơ chế cho phép các trường tự chủ tài chính thực hiện một phần trách nhiệm giải trình với nhà nước. Tuy nhiên trách nhiệm giải trình với người học, với phụ huynh, và với xã hội về chất lượng đào tạo còn để ngỏ.     Câu hỏi chính đáng mà bất cứ người dân nào cũng có thể đặt ra là: Học phí tăng bao nhiêu là đủ và đáp ứng được yêu cầu của CSGD? Phần học phí gia tăng sẽ được sử dụng như thế nào? CSGD có cam kết, đảm bảo chất lượng giáo dục sẽ tăng và tăng tương ứng với mức tăng học phí? Và cơ chế nào để xã hội giám sát việc thực hiện các cam kết của CSGD?    Theo người viết, với tình trạng tỷ trọng học phí chiếm trên 55% và việc tăng học phí đồng loạt trong ba năm trở lại đây, trước khi tiếp tục gỡ trần và mở cửa cho các trường đại học tiếp tục tăng học phí, cần phải thảo luận và đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi trên để ngăn chặn việc ‘tăng đại’ học phí.      Gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục sau đại học    Theo đánh giá của nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế giới (2020), các công cụ hỗ trợ tài chính hiện có (học bổng, miễn/giảm học phí và cho vay sinh viên) chưa thực sự phát huy hiệu quả” và “bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục sau phổ thông ngày càng giãn rộng giữa các nhóm thu nhập và dân tộc”.       Điểm cốt yếu tại thời điểm này là nghiên cứu, đề xuất, thí điểm các chương trình tín dụng sinh viên, các chương trình học bổng toàn phần và các dạng thức hỗ trợ một phần sao cho đúng đối tượng và hiệu quả, để cải thiện tiếp cận giáo dục sau phổ thông cho nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp, các nhóm yếu thế và các nhóm dân tộc ít người. Nếu tiếp tục tăng học phí, kể cả duy trì trần học phí ở khung cao hơn, mà chưa có các chương trình hỗ trợ hiệu quả sẽ đào sâu thêm hố ngăn cách giữa các nhóm hộ gia đình có mức thu nhập khác nhau.       Hình 3: Nguồn thu của một số trường đại học, năm tài chính 2015 (Nguồn: American Academy of Arts & Sciences, Public Research Universities: Changes in State Funding, Cambridge, Mass.: American Academy of Arts & Sciences, 2015).     Kết luận     Đóng vai trò chính yếu và chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo trước tiên là CSGD, với toàn bộ đội ngũ lãnh đạo, quản lý, hành chính, giảng dạy, chứ không phải là người học. Mọi thảo luận về chất lượng và đổi mới giáo dục sau phổ thông, gồm đại học và giáo dục nghề nghiệp, đều cần phải lấy tâm là năng lực của CSGD và năng lực của đội ngũ trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu. Học phí và động lực của người học hiển nhiên là quan trọng, nhưng cả hai yếu tố vệ tinh này được quyết định bởi nhiều vấn đề trong đó phần lớn chính bởi năng lực của CSGD và đội ngũ giảng viên. Không thể tách rời câu chuyện về tăng học phí với năng lực của nhà trường và trách nhiệm của họ đối với chất lượng giáo dục.     Các gia đình trả tiền cho chương trình học, nhưng họ không có tiếng nói trong các quyết sách liên quan đến đào tạo và quyền lợi của người học không được đặt lên trước. Người học sẵn sàng trả tiền cho một trải nghiệm giáo dục xứng đáng, kể cả bằng vay nợ. Việc của các CSGD là đảm bảo sản phẩm giáo dục họ cung cấp là ‘đáng đồng tiền bát gạo’ mà người dân chi trả. Học phí là một sợi dây ràng buộc giữa người học/gia đình và CSGD nhưng không phải là duy nhất để các CSGD có thể ‘tăng đại’ theo ý muốn.     Do vậy, việc gỡ bỏ khung trần học phí đại học, cho bất cứ đối tượng nào, cần hết sức thận trọng. □  ——  1 Do tác giả tính toán dựa trên số liệu từ Báo cáo OECD 2020, Education at a Glance và Ngân hàng Thế giới; là tỷ lệ giữa học phí đại học công lập dành cho dân bản xứ trên GDP bình quân đầu người năm 2018.  Tài liệu tham khảo  Dilip Parajuli, Võ Kiều Dung, Jamil Salmi, và Trần Thị Ánh Nguyệt (2020). Nâng cao Hiệu quả Giáo dục Đại học tại Việt Nam: Các ưu tiên chiến lược và lựa chọn chính sách. Washington, DC: Ngân hàng Thế giới. Truy cập tại: https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/33681/Improving-the-Performance-of-Higher-Education-in-Vietnam-Strategic-Priorities-and-Policy-Options.pdf?sequence=1&isAllowed=y  National Center for Education Statistics, IPEDS Analytics: Delta Cost Project Database 2000–2012. Available at: https://nces.ed.gov/ipeds/deltacostproject/    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Học qua vấn đề và dự án – Cũ mà mới      Xu hướng sử dụng ngày càng nhiều phương pháp học qua vấn đề (problem-based learning) và học qua dự án (project-based learning) cho thấy những chuyển dịch lớn từ việc học từng kĩ năng riêng lẻ sang học tích hợp, từ việc tiếp thu thông tin sang tiêu hóa kiến thức và tái kiến tạo tri thức.       Xu hướng mới, ý tưởng cũ  Từ cuối thế kỉ trước, nhiều nhà giáo dục đã trăn trở với câu hỏi “Chúng ta cần trang bị kĩ năng gì cho con em để sống tốt trong thế kỉ của thông tin đầy biến động này?”  Bước sang thế kỉ 21, Khung tham chiếu các kĩ năng cần thiết cho thế kỉ 21 (P21.org – một sáng kiến toàn cầu) đã trở thành công cụ tham khảo quan trọng trong các chương trình giáo dục tại nhiều quốc gia với trọng tâm là cụm kĩ năng 4C: Giao tiếp (Communication), Cộng tác (Collaboration), Phản biện (Critical Thinking) và Sáng tạo (Creativity). Để đạt được những kĩ năng đó, việc học cần có những chuyển dịch lớn: từ việc học từng kĩ năng riêng lẻ sang học tích hợp, từ việc tiếp thu thông tin sang tiêu hóa kiến thức và tái kiến tạo tri thức. Biểu hiện cụ thể nhất của sự chuyển dịch này là xu hướng sử dụng ngày càng nhiều phương pháp học qua vấn đề (problem-based learning) và học qua dự án (project-based learning) – gọi chung là các phương pháp PBL. Chúng ta có thể cảm nhận rõ xu hướng này ngày càng lan rộng trong các chương trình giảng dạy theo khung Common Core State Standards1 ở Mỹ, việc cải cách giáo dục ở Singapore, hay việc Phần Lan chuyển sang dạy theo chủ đề thay vì những môn riêng lẻ như cũ.   Học qua vấn đề là một ý tưởng không mới. Nó đã được nhắc tới từ đầu thế kỉ trước với triết lí giáo dục hành dụng của John Dewey: học chính là cuộc sống, giáo dục phải tham gia vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Phương pháp này bắt đầu bằng việc nêu vấn đề có thật, đưa ra tình trạng của vấn đề, các thách thức gặp phải, nêu các thông tin cần thiết và những hướng dẫn về mặt phương pháp của chuyên ngành để giúp người học tự mình khám phá giải pháp.         Ngày càng nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những kết quả tích cực khi áp dụng PBL, như cải thiện điểm số hay đạt được những kĩ năng vượt ra khỏi nội dung sách vở thuần túy.        Trong khi đó, Học qua dự án có thể coi như một nhánh đặc biệt của triết lí học qua giải quyết vấn đề. Sự khác biệt nằm ở chỗ nó đưa vấn đề vào khuôn khổ của các dự án, với sự kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ hơn. Hơn nữa, phương pháp Học qua dự án thường tiếp cận các vấn đề mang tính chỉnh thể hơn, và được giải quyết trong một nhóm học sinh thay vì riêng lẻ từng cá nhân. Nhờ vào việc học tập trong một nhóm hướng đến những sản phẩm hay giải pháp thực tiễn, Học qua dự án là phương pháp rất phù hợp để cùng một lúc rèn luyện các kĩ năng 4C, áp dụng các kĩ năng liên môn, liên ngành.   Theo Viện nghiên cứu giáo dục Buck (BIE), PBL sẽ khuyến khích học sinh học hỏi sâu hơn, có thể rèn luyện tư duy phản biện, và rèn luyện năng lực trình bày công khai trước đông đảo cử tọa – đều là những kỹ năng cần thiết cho các em trong thế kỷ 21.   Ngày càng nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những kết quả tích cực khi áp dụng PBL, như cải thiện điểm số2 hay đạt được những kĩ năng vượt ra khỏi nội dung sách vở thuần túy. Chuyên gia về PBL Thom Markham nhận định: “Học sinh không chỉ tìm hiểu kiến thức thuộc chương trình giảng dạy mà còn áp dụng những gì các em biết để giải quyết các vấn đề thực.” PBL đồng thời cũng tập trung hơn vào việc giáo dục học sinh, chứ không chỉ đơn thuần tập trung vào chương trình giảng dạy – đây là một sự thay đổi bắt buộc mang tính toàn cầu, tài sản mang lại cho thế giới khi ấy chính là niềm đam mê, sự sáng tạo, sự đồng cảm, và khả năng học được cả những điều không được giảng dạy trong sách giáo khoa.”3  Giáo viên cần chuẩn bị gì cho PBL?  Việc vận dụng PBL, đối với các giáo viên, là một thay đổi căn bản trong cách nghĩ, cách làm và cần sự chuẩn bị chu đáo mới mong mang lại kết quả tích cực.   Để có thể triển khai PBL, trước hết, giáo viên cần nắm vững cách thiết kế các bài học dựa trên vấn đề hoặc dự án và lên lộ trình cho chuỗi hoạt động để dựa vào đó học sinh có thể tự làm việc hướng đến các mục tiêu giáo dục định trước.   Khác với hình thức giảng dạy truyền thống, nơi giáo viên làm chủ bục giảng trong phần lớn thời gian, giáo viên PBL cần thông thạo kĩ năng tổ chức cho học sinh tự học, huấn luyện các kĩ năng khám phá, trợ giúp và thúc đẩy học sinh khám phá.   Cuối cùng, việc theo dõi, quản lí, can thiệp và đánh giá trong PBL cũng sẽ khác với phương pháp dạy truyền thống, theo đó, các đánh giá, phản hồi liên tục và sự trợ giúp đúng lúc sẽ đóng vai trò quan trọng. Giáo viên lúc này phải biết vận dụng các hình thức đánh giá khác nhau như tự đánh giá, bình duyệt, tổ chức triển lãm sản phẩm, đánh giá theo hồ sơ…   Do những đòi hỏi về sự đổi mới toàn diện như vậy, nhiều giáo viên thấy PBL không dễ thực hiện. Tuy nhiên, nhiều tổ chức giáo dục đã tích cực nhập cuộc, cung cấp các kiến thức và kĩ năng sư phạm cần thiết, bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm để giúp các giáo viên thuận lợi hơn trong việc áp dụng PBL. Số lượng sách vở hướng dẫn PBL ngày càng nhiều và đa dạng. Cùng với sự rộng mở của Internet, việc triển khai PBL không còn là vấn đề lớn nếu chúng ta có một kế hoạch chu toàn. Vấn đề chỉ còn là, chúng ta có thực sự muốn nhập cuộc hay không.   —————  1 Là bộ tiêu chuẩn phục vụ việc xây dựng chương trình giáo dục “mang tính thiết thực và liên quan đến đời sống thực tế, phản ảnh những kiến thức cùng kỹ năng cần thiết cho thế hệ trẻ để thành công ở bậc đại học cũng như sự nghiệp sau này”.   Khung tiêu chuẩn cốt lõi quy định các chuẩn đầu ra chính cho các lĩnh vực Ngữ văn và Toán học mà dựa vào đó, các tiểu bang sẽ có kế hoạch triển khai cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương.   Hiện đã có 42 tiểu bang tiếp nhận và triển khai bộ tiêu chuẩn này.  http://www.corestandards.org/  2 Theo Sawyer, R. K. (2006) The Cambridge Handbook of the Learning Sciences. New York: Cambridge University Press.  3 Markham, T. (2011). Project Based Learning. Teacher Librarian, 39(2), 38-42    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học Quản trị Kinh doanh: Bằng giả, trường ma, kiểm định dỏm!      Theo một nguồn tin không chính thức, thì riêng một cơ sở liên kết đào tạo phía Việt Nam mà trụ sở ở ngay tại TP.HCM đã đưa ra thị trường đến 500 tấm bằng kiểu như vậy, gồm 300 thạc sĩ và 200 tiến sĩ (!). Câu hỏi: những thạc sĩ, và nhất là tiến sĩ này, hiện đang làm gì, ở đâu?                        Tôi ngờ rằng một số không nhỏ những người này đang làm giảng viên tại các trường đại học của Việt Nam, đặc biệt là khối ngành kinh tế, quản trị, kế toán. Vì nó vốn là khối ngành nóng hiện nay, với rất nhiều người theo học. Và những kiến thức và kỹ năng mà nó cung cấp là những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho người học để làm việc trong thời kinh tế toàn cầu hiện nay.   Nói rằng chúng cần thiết, là dựa trên giả định rằng các chương trình học có thực sự trang bị kiến thức, kỹ năng cho sinh viên, thực sự bắt người học làm việc, và chỉ cấp bằng cho những người thực sự có năng lực, còn những ai chưa có đủ năng lực thì sẽ được chương trình đào tạo tìm mọi cách để giúp rèn luyện, trau dồi năng lực cần có.  Nhưng điều đó, tiếc thay, đang không xảy ra tại các chương trình liên kết như vậy! Vậy mà những chương trình liên kết như vậy lại đang giúp Việt Nam đào tạo các “máy cái” cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian sắp tới: đào tạo giảng viên cho các trường đại học kinh tế, quản trị của Việt Nam!!! Nhằm góp phần đáp ứng các mục tiêu phát triển giáo dục đại học của đất nước, hiện thực hóa ước mơ đẳng cấp quốc tế trong tương lai đó chăng??? Thật đáng lo ngại.  Xin mô tả chân dung của một trường mà tôi đã tìm hiểu hơi sâu một chút. Trường này không chỉ đang hoạt động ở Việt Nam, mà còn (có vẻ thế) đang tung hoành dọc ngang khắp châu Á này, đặc biệt là Malaysia, với cái tên thật “ấn tượng” đối với những người sính đồ ngoại và tôn sùng nước Mỹ, nhưng thực sự chỉ làm cho những người có hiểu biết chút ít trở nên hết sức cảnh giác, đó là trường International American University (IAU – Trường Đại học Quốc tế Mỹ??? !!!)  Xin mở ngoặc nói thêm: nếu các bạn thiếu thông tin và đang muốn tìm trường tốt để học, thì lời khuyên sau đây của tôi tuy thô thiển nhưng chắc chắn sẽ giúp bạn lọc đi được ít nhất là 30% các chương trình bậy bạ: HẾT SỨC CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG TRƯỜNG CỦA MỸ MÀ LẠI CÓ CHỨA TỪ AMERICAN HOẶC INTERNATIONAL. Vì đa số chúng là trường dỏm, ảo, ma, bậy bạ!!! Tên của các trường đại học Mỹ, ý tôi nói là trường thật ấy, thì chỉ có tên tiểu bang mà thôi, nếu không phải là những tên mà ai cũng biết như Yale, Havard, Stanford, MIT, vv.  Còn cái trường mà tôi đang nhắc đến trong entry này, thật ấn tượng, có cả hai từ đáng cảnh giác ấy: International và American!!!.  Dưới đây là một số thông tin lấy từ trang web của trường này:  1. Lịch sử: Tồn tại bắt đầu từ năm 2005 với tên gọi là MIA (Management Institute of America), một công ty tư nhân của Mỹ. Đổi tên thành International American Unversity năm 2006.   Nhận xét quan trọng: Cần cảnh giác với những trường của Mỹ mới thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây, vì chúng chủ yếu nhắm vào đối tượng sinh viên nước ngoài ở những nền giáo dục đang phát triển ồ ạt về số lượng giống như Việt Nam.   2. Các chương trình giảng day: Tên trường thì to tát (Đại học Quốc tế Mỹ!!!), nhưng chỉ có mỗi một ngành, 2 khoa chuyên môn mà thực chất thì cũng chỉ có 1, đó là Khoa Doanh thương và Công nghệ (!), tiếng Anh là School of Business and Technology. Khoa còn lại là khoa Anh, chủ yếu là dạy tiếng Anh cho sinh viên nước ngoài vì thường là những sinh viên này yếu tiếng Anh, nhưng trời ơi, IAU cũng offer cả bằng Master ngành Giảng dạy tiếng Anh nữa, hoảng quá!!!.   Nhận xét: Cần cảnh giác với những trường thành lập dưới danh nghĩa University mà thực chất chỉ có một, hai ngành, lại toàn là ngành không cần đầu tư như ngành Doanh thương hoặc tiếng Anh (chỉ cần người đứng lớp, tài liệu và tri thức thì đã có sẵn từ những trường khác, chương trình thì chép của người khác, dễ ợt!).   3. Cán bộ, giảng viên chủ chốt: Rất đáng ngờ! Danh sách các nhân vật chủ chốt (thuộc hàng lãnh đạo cấp khoa, trường) của IAU có rất nhiều người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ từ các trường tư vì lợi nhuận, online, ví dụ như University of Phoenix (trường đại học Phượng Hoàng!!!!), Capella University, hoặc Walden University; những trường này chủ yếu đào tạo cho giới doanh nhân để làm chứ không đào tạo ra giới học thuật hàn lâm, nghiên cứu, tạo ra tri thức mới cho xã hội.   Không những thế, trong danh sách các cán bộ chủ chốt của IAU còn xuất hiện những tên trường khác nghe rất lạ, coi chừng là trường có vấn đề, như trường United States International University!!! (trường ĐH Quốc tế Hiệp chủng Quốc????). Hoặc National University thành lập năm 2001.   Hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều cuộc điều tra tìm hiểu vấn đề này, nhằm góp phần xây dựng nền giáo dục nước nhà.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh học được gì từ môn Sử?      Sau sự kiện trường THPT dân lập Lương Thế Vinh, Hà Nội, không có học sinh nào đăng ký thi tốt nghiệp môn Sử, có vô số lời bình luận được nêu lên, vô số nguyên nhân được chỉ ra,… nhưng một câu hỏi đơn giản là học sinh của chúng ta đang học gì từ môn Sử thì lại có rất ít ý kiến đề cập.     Để có thể hình dung học sinh của chúng ta đang học gì từ môn Sử, tôi xin mô hình hóa một cách giản lược những kiến thức được học và cần học trong sơ đồ sau (phần màu xanh nhạt là những gì học sinh được học, phần màu đỏ và xanh đậm là không/chưa được học hoặc được học rất ít):       Nhìn vào sơ đồ trên với phần được học (màu xanh nhạt) chiếm một tỉ trọng quá “nhạt nhòa” so với yêu cầu của môn Sử, chúng ta có thể hình dung học sinh chỉ được học rất ít kiến thức trong vô vàn kiến thức lịch sử. Theo đó, lịch sử tự nhiên hầu như không được học mà chỉ có phần xã hội. Trong phần xã hội có ba phần căn bản nhất (lịch sử khoa học, lịch sử thế giới và lịch sử quốc gia) thì học sinh của chúng ta chủ yếu học lịch sử quốc gia. Nhưng trong phần lịch sử quốc gia thì chương trình chủ đạo chỉ đề cập đến lịch sử quân sự. Với 100% học sinh hiện nay không hề trải qua (hoặc biết đến) chiến tranh thì những kiến thức có vẻ mơ hồ đó trở nên quá xa lạ. Và việc 0% học sinh đăng ký thi môn Sử dường như là một điều tất yếu.    Bên cạnh đó, “Lối dạy và học chú trọng ghi nhớ “biên niên sự kiện” và áp đặt sự bình luận, giải thích lịch sử theo quan điểm của sách giáo khoa và người dạy khiến học sinh chán nản… là một biểu hiện của cơn đại khủng hoảng của nền giáo dục đã quá lạc hậu và đứng bên lề của dòng chảy thời đại.”1   Trong khi chờ đợi một giải pháp đồng bộ (nếu có), thiết nghĩ, chúng ta cũng nên có một vài giải pháp vi mô bằng một vài “kế sách” nho nhỏ. Chẳng hạn, có thể thay các câu hỏi: Có bao nhiêu tên địch chết trong trận đánh (…) bằng các câu hỏi: Mì tôm được phát minh ở đâu, từ khi nào? Điện thoại di động được phát minh năm nào? Nhà toán học đầu tiên của Việt Nam đoạt giải Field là ai? Phần mềm đầu tiên của Việt Nam đứng đầu kho ứng dụng iTunes là gì, do ai lập trình?… Những kiến thức này chắc chắn sẽ hấp dẫn các em hơn nhiều.   Tuy nhiên, để có thể đặt được những câu hỏi đó trong đề thi môn Sử thì lại phải trả lời câu hỏi đầu tiên đã nêu trong bài này: Học gì từ lịch sử? Câu hỏi này cần sự trả lời ở cả chương trình và hiệu quả của “Trận đánh lớn” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.  —    1 http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Khi-hoc-sinh-khong-chon-mon-Su-thi-tot-nghiep-PTTH-post140669.gd      Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh mới chính là “giáo viên” trong giáo dục STEM      Từ 2011, nghiên cứu “Học với trưởng nhóm đồng đẳng” (PLTL) đã được Đại học Syracuse đưa vào thực nghiệm, thông qua chương trình, học sinh đã hoàn thành xuất sắc khóa học được mời trở lại vào năm sau với tư cách là trưởng nhóm đồng đẳng cho học sinh mới vào.     Chu trình tự giúp đỡ này giữa các học viên đã đem lại kết quả ấn tượng, với những cải tiến đáng kể về điểm số và đảm bảo kết quả đầu ra của khóa học, đây cũng là điều rất quan trọng nhằm giữ lại thêm nhiều học viên chuyên ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, và Toán học (STEM).  “Đơn giản là đặt trách nhiệm học tập tích cực lên người học. Các trưởng nhóm đồng đẳng không phải một giáo viên hay gia sư. Thay vào đó, họ là thành viên không thể thiếu của nhóm học tập với trách nhiệm tạo điều kiện cho cả nhóm hướng tới giải quyết vấn đề mà họ chưa thể tìm ra câu trả lời”.  Việc tuyển dụng và giữ chân một số ít học viên tham gia vào giáo dục STEM trở thành nhiệm vụ rất quan trọng ở nhiều trường đại học ở Mỹ. Với mục tiêu đó, các nhà giáo dục hi vọng mô hình giáo dục đồng đẳng này sẽ được triển khai rộng rãi, tiến tới mở rộng sự tham gia trong các lĩnh vực STEM và đa dạng hóa cộng đồng khoa học.   Thu Quỳnh lược dịch theo Sciencedaily  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/03/160317105627.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh Mỹ bê bết trong các kỳ thi quốc tế, thì đã sao?      Kết quả của một kỳ thi quốc tế quan trọng với tên PISA1 vừa được công bố, và học sinh Mỹ một lần nữa lại làm bài chẳng ra làm sao: Học sinh tuổi 15 của chúng ta bê bết môn Toán, đạt trung bình môn Đọc hiểu và Khoa học, và nhìn chung các em hoàn toàn bại trận trước những người đồng lứa từ những vùng như Thượng Hải, Nhật, Hàn Quốc, Phần Lan.    Dường như đã là một truyền thống của nước Mỹ. Ngay từ thập niên 1960, học sinh Mỹ thường xếp hạng áp chót ở hầu hết các phần của bài thi trong Nghiên cứu về môn Toán quốc tế lần thứ nhất (FIMS). Trong báo cáo có tựa đề “Đất nước lâm nguy” (A Nation at Risk), Ủy ban đặc trách giáo dục của Nhà trắng thậm chí đã tuyên bố kết quả học tập của học sinh Mỹ như vậy đã trở thành một mối đe dọa đến sự thịnh vượng về kinh tế và an ninh của đất nước.  Báo cáo đó được viết từ năm 1983, và trong suốt mấy chục năm qua chúng ta vẫn kém cỏi trong các kỳ thi. Nhưng mức phát triển của chúng ta chưa bao giờ thua các nước phát triển khác. Vậy thì tại sao bây giờ lại phải lo lắng? Đầu óc được xem là kém cỏi của người Mỹ vẫn xoay sở sao đó để phát minh ra được Internet. Và coi kìa, dù người Mỹ vốn be bét trong môn Toán ở phổ thông, nhưng những thiên tài toán học của chúng ta ở Phố Wall vẫn có thể suýt làm cả thế giới sập tiệm vì các mô hình quản trị rủi ro rất thuyết phục trên giấy mặc dù sai bét trên thực tế.  Có một câu trả lời đến từ ông Eric Hanushek, một nhà kinh tế học giáo dục và một là người ủng hộ cải cách nhà trường phổ thông từ Học viện Hoover, một đơn vị có tư tưởng bảo thủ thuộc ĐH Stanford (bạn có thể cũng đã nghe tên ông với tập tài liệu có tựa là “Chờ đợi Siêu nhân” (Waiting for Superman). Ông và các đồng sự đưa ra lập luận rằng điểm thi có thể giúp tiên đoán sự tăng trưởng kinh tế, vì các quốc gia thông minh hơn cũng là những quốc gia có nhiều phát minh và nền sản xuất tốt hơn, và có thể thu hút được đầu tư nước ngoài nhiều hơn. Nếu có thể tăng điểm thi của mình lên cho bằng với mức của Canada, ví dụ thế, thì Mỹ có thể tăng thêm 77 ngàn tỷ USD cho nền kinh tế của họ trong vòng 80 năm tới.   Dựa trên một cuộc nghiên cứu (nay đã được xuất bản thành một cuốn sách) so sánh điểm thi và sự tăng trưởng của 50 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2009, Hanushek và các cộng sự của ông lập luận, nước Mỹ đã tăng trưởng cao hơn dự đoán nếu xét theo điểm thi của học sinh mình. Nhưng ông cho rằng cơ hội này có lẽ sắp không còn nữa bởi vì mức tăng trưởng này phản ánh những lợi thế mang tính lịch sử mà nước Mỹ đã có được lâu nay. Kinh tế Mỹ được xây dựng dựa trên các thị trường mở, quyền tư hữu vững chắc và mức thuế nhìn chung là dễ chịu; một hệ thống giáo dục đại học thuộc hàng nhất thế giới; và chính sách nhập cư cởi mở cho phép những người có trình độ cao vào làm việc. Nhưng những lợi điểm trên đang giảm đi vì các quốc gia khác hiện cũng đang áp dụng những thể chế và phương pháp tương tự như Mỹ. Nói cách khác, giờ đây khi Trung Quốc đã trở thành một nền kinh tế thị trường, thì chúng ta có thể dự đoán rằng những nơi như Thượng Hải sẽ giành mất phần ăn của chúng ta.   Nhưng có đúng thế không nhỉ? Như tác giả Rebecca Strauss thuộc Hội đồng quan hệ quốc tế đã nêu hồi đầu năm nay, mối liên hệ giữa điểm thi toán và khoa học với sức mạnh của nguồn nhân lực dường như không được rõ ràng cho lắm.  Ở Trung Quốc, người ta đang ngày càng ý thức hơn về “tình trạng điểm thi cao, năng lực thấp” của nguồn nhân lực, với những con người khi ra đời làm việc không thể nào phát triển được, nhưng lại có điểm thi đầu vào đại học (gọi là kỳ thi Cao khảo) rất cao, và điểm học tập trong quá trình ở đại học cũng rất tốt.   Mối liên hệ giữa điểm thi môn Toán và những đặc điểm nhân lực cần có của một đất nước sáng tạo thì lại càng mơ hồ hơn nữa. Xin hãy tạm gác Thung lũng Silicon và nước Mỹ sang một bên. Thay vào đó, chúng ta thử xét trường hợp Israel, một quốc gia khác có điểm thi chỉ ở hạng thường thường bậc trung nhưng lại là một trung tâm khởi nghiệp và sản xuất phần mềm đáng kể, nơi nhận được mức vốn đầu tư tính theo tỷ lệ GDP cao hơn bất cứ quốc gia khác nào trên thế giới.  Hoặc thử xét điện thoại thông minh. Hãng Apple rõ ràng đã thành công vì biết kết hợp công nghệ với sự phán đoán hợp lý về nghệ thuật của Steve Jobs. Hãng Nokia, đơn vị có tỷ lệ đóng góp chiếm đến một phần tư sự tăng trưởng của Phần Lan trong thập niên từ 1998 đến 2007, đã bán những chiếc điện thoại thời trang được thiết kế bởi một thanh niên người California là Frank Nuovo (nhân tiện, anh chàng này hồi còn tuổi học sinh chỉ suốt ngày gõ trống trong một ban nhạc Jazz Fusion, chứ chẳng hề bỏ thời gian học hành thi cử gì cả).  Có người thậm chí còn cho rằng quá nhấn mạnh thi cử có thể sẽ gây hại cho sự phát triển kinh tế. Sau khi phát hiện ra rằng điểm thi Toán trong kỳ thi FIMS năm 1964 có tương quan nghịch với mức độ tăng trưởng kinh tế, ông Keith Baker, nguyên là nghiên cứu viên của Bộ Giáo dục, đã viết:  Trong số các quốc gia đạt điểm cao, một trình độ học vấn nào đấy – như được phản ánh qua điểm thi – đúng là cần thiết để tạo thành một bệ phóng cho sự thành công của đất nước. Nhưng một khi đã vượt qua ngưỡng ấy thì những yếu tố khác sẽ trở nên quan trọng hơn là tiếp tục cố gắng tăng điểm thi. Thực vậy, một khi đã đạt đến ngưỡng đó rồi, nếu vẫn cứ cố gắng tăng điểm số thì đó là một chính sách sai lầm bởi vì điều này sẽ làm phân tán mối quan tâm, nỗ lực, và nguồn lực mà lẽ ra cần được tập trung vào những yếu tố quan trọng hơn cho sự thành công của một quốc gia.  Lịch sử gần đây của Nhật cũng khiến ta thêm nghi ngờ về giả thuyết rằng có mối liên hệ giữa điểm thi và số phận của mỗi quốc gia. Đã từng là nỗi ám ảnh về kinh tế của nước Mỹ trong thập niên 1990, trong hai thập niên gần đây nền kinh tế của quốc gia này đã trở nên trì trệ, do những sai lầm trong chính sách kinh tế vĩ mô, mặc dù hệ thống giáo dục của nước Nhật được cả thế giới ca ngợi đã tạo ra những học sinh có kết quả thi rất tốt.  Tất cả những điểm nêu trên không có nghĩa là chúng ta nên vứt bỏ những kỳ thi như PISA. Nó chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng của nền giáo dục của chúng ta, như sự cách biệt về kết quả giữa học sinh giàu và nghèo, hoặc thái độ dửng dưng đối với môn Toán của cả nước. Như GS Martin Carnoy thuộc ĐH Stanford, một người phê phán quan điểm của Hanushek, đã phát biểu: “Điểm thi chắc chắn liên quan đến nguồn vốn nhân lực của một quốc gia.”  Nhưng, ông cũng nói thêm, điểm thi thấp không có nghĩa là không còn hy vọng về tăng trưởng kinh tế. Và điều này sẽ làm cho bọn đần độn người Mỹ chúng ta có thể an lòng đôi chút.              Phương Anh dịch  —-  1 Programme for International Student Assessment (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh nhóm Cánh buồm tự thiết kế triển lãm “Em học – Em nghĩ – Em làm”      Hẳn nhiều người nghĩ “Học sinh lớp 1 thì biết gì!”, “cùng lắm” mới chỉ là “đọc thông viết thạo”, nhưng các em lớp 1 được học chương trình Văn, Tiếng Việt, Lối sống theo phương pháp của nhóm Cánh Buồm đã có thể tự sáng tác truyện ngắn, xây dựng “Tờ báo lớp em” hay biết phân tích ngữ âm tiếng Việt rất rành rọt.    Những tác phẩm của “sinh viên đại học chữ to” ấy đang được trưng bày tại triển lãm “Em học – Em nghĩ – Em làm” do chính các em tự thiết kế, trưng bày ở trường phổ thông liên cấp Gateway International School. Các sản phẩm như truyện ngắn, thơ, tranh vẽ, tượng, ảnh… của học sinh các lớp khác nhau ở cấp Tiểu học cho thấy quá trình phát triển tư duy của các em. Từ chỗ các em lớp 1, 2 mới còn bỡ ngỡ trình bày những bài thơ, câu chuyện trong cuốn “sổ tay sáng tác” của mình cho tới chỗ các em lớp 3, 4 thảo luận, hùng biện một cách rất “chuyên nghiệp” về những vấn đề khác nhau trong cuộc sống như quyền trẻ em, lối sống (tập thể dục hàng ngày, nghe điện thoại khi tham gia giao thông, phong tục mừng tuổi…)… Bất cứ bậc phụ huynh nào, khi đến triển lãm đều sẽ “giật mình thảng thốt”, hết sức ngỡ ngàng, cảm động trước khả năng cảm nhận và những quan sát tinh tế của các em.  Triển lãm “Em học – Em nghĩ – Em làm” cho thấy được hình dáng của các “sản phẩm” của học sinh học sách Cánh Buồm, cách tổ chức việc học gắn với phương châm “Làm mà học, làm thì học” (Learning by doing) theo phương pháp Cánh Buồm ở trường Gateway và một vài lát cắt về “cách làm” của đội ngũ giảng dạy sách Cánh Buồm.  Triển lãm “Em học – Em nghĩ – Em làm” mở cửa từ thứ Hai ngày 05/06/2017 cho đến hết ngày 09/06/2017 (từ 7:30 đến 17:00 hằng ngày) tại trường phổ thông liên cấp Gateway International School. Địa chỉ: Lô TH1 KĐT mới Dịch Vọng, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội.  Một số hình ảnh tại triển lãm:    Một góc triển lãm.    “Tờ báo lớp em” của học sinh lớp 1C trường Gateway.    Phân tích ngôn ngữ của một học sinh lớp 2.    Nhà giáo Phạm Toàn và khách tham quan triển lãm.        Author                Lê Anh Vũ        
__label__tiasang Học sinh Ta và Tây – vai trò của giáo dục và truyền thông      Không biết đã có nhà nghiên cứu nào so sánh chi tiết cử chỉ hành động, cách sống của các tú tài Việt Nam và Pháp chưa? Nhưng bằng kinh nghiệm thường, ai cũng thấy phần lớn các cô cậu tú Việt Nam “ngoan ngoãn” và cả “thụ động” hơn phần lớn các bạn đồng trang lứa người Pháp.     Có lẽ đây là một hiện tượng tập thể, một hiện tượng xã hội diễn tả hai thói quen, hai tập tính, hai nền văn hóa Âu – Á khác nhau chứ không phải là chuyện cá nhân. Chúng ta có thể phân tích vấn đề từ nhiều cách nhìn, nhưng ở đây tôi xin nói về hai khía cạnh đó là giáo dục và truyền thông.      Người Việt Nam nói: “trẻ em như tờ giấy trắng”, nghĩa là hai đứa trẻ sơ sinh, Tây hay Ta thì cũng giống nhau, những rồi người lớn chúng ta sẽ làm cho một bé trở thành một người Pháp và một bé khác trở thành một người Việt, khác nhau về đủ thứ, trong đó có những biểu hiện như đã nói ở trên. Người lớn làm điều đó bằng con đường nào nhỉ?   Giáo dục  Trước tiên là giáo dục, những khẩu hiệu thường thấy trong nhà trường Việt Nam là “con ngoan trò giỏi” là “tiên học lễ, hậu học văn”. Nghĩa là, trước khi giỏi, trước khi học chuyên môn thì phải ngoan đã, phải học lễ nghĩa phép tắc trong ứng xử với người lớn. Theo cách nào đó sự ngoan ngoãn được định nghĩa như sự vâng lời người lớn. Người lớn, thầy cô dạy sao phải nghe vậy, phận làm trò, làm con không được đặt vấn đề cãi cọ… Nghĩa là người lớn nắm chân lý, nói đúng là đúng, nói sai là sai. Lên tiếng, lý lắc với người lớn nhiều khi học sinh bị cho là hỗn với thầy, là mang tội cãi cha cãi mẹ, một trong những biểu hiện của tội bất hiếu, được xem là rất nặng trong văn hóa Việt Nam. Những khẩu hiệu như thế không chỉ thấy ở các lớp mẫu giáo, các trường tiểu học, mà theo người học sinh tới tận đại học. Trở thành những chuẩn mực chung cho toàn xã hội. Người lớn căn cứ vào đó mà đánh giá học sinh tốt hay xấu, trẻ nhỏ căn cứ vào đó để soi mình, và để hành động cho phù hợp để khỏi bị la rầy. Phải chăng bằng cách đó người Việt Nam đã thiết kế nên tính thụ động nơi nhân cách của con em mình? Phải chăng đây là nguyên nhân của hiện tượng mà có người đã miêu tả: Một đứa bé Việt lúc bắt đầu biết nói rất thông minh, bé hỏi người lớn đủ thứ một cách rất tự nhiên, nhưng rồi số lượng các câu hỏi giảm dần với tuổi tác, với trường lớp, để rồi ở đại học, các sinh viên từa tựa nhau về mặt tư tưởng, rất ít tranh luận, phản biện, đặt lại các vấn đề, những việc mà đáng lý ra sinh viên phải nên làm.   Ở Pháp thì khác, ngay khi lọt lòng mẹ, đứa bé đã được giáo dục tính tự lập bằng cách cho ngủ riêng, lên mẫu giáo thì phải biết tự làm nhiều thứ, như tự sắp xếp đồ đạc trò chơi sau khi chơi vv. Nghĩa là người lớn chủ trương không làm thay, nhưng giáo dục tính tự chủ, tự làm, tự chịu trách nhiệm cho trẻ. Như đã nói đứa bé Pháp khi còn nhỏ cũng như đưa trẻ Việt thôi, đến cái tuổi nói, tuổi khám phá thế giới xung quanh là chúng đặt đủ thứ câu hỏi, nhưng người lớn Pháp thì đối xử khác xa so với người lớn Việt, phần lớn người Pháp kiên trì trả lời các câu hỏi của trẻ, ngoan ngoãn vâng lời có lẽ cũng được định nghĩa khác. Vì cuộc sống chung, trẻ phải được trang bị một số chuẩn mực xã hội trong cách sống, cách ứng xử với mọi người xung quanh, nhưng người lớn sẵn sàng giải thích cho trẻ hiểu tại sao lại phải tuân thủ như vậy, thầy cô ở trường không khuyến khích trẻ ngoan ngoãn bằng cách bảo sao nghe vậy, nhưng khuyến khích trẻ đặt câu hỏi, chủ động chứng tỏ bản thân, năng khiếu của mình. Lớn lên thì khuyến khích học sinh, sinh viên đặt lại vấn đề, ngay cả đối với những chuẩn mực, những luật lệ mà các em đang buộc phải tuân thủ. Ðiều này bắt nguồn từ quan niệm triết lý giáo dục Châu Âu từ nhiều thế kỷ nay.  Truyền thông   Một đứa trẻ Việt phải học hỏi vô số những quan hệ xã hội chằng chịt từ trong gia đình và ra ngoài xã hội. Ðứa trẻ không những chỉ học phát âm, mà còn học phép tắc lễ nghĩa gắn liền. Ðối diện với ông bà, cậu dì, chú bác thì phải tự xưng mình là cháu, với cha mẹ thì là con, với anh chị là em… Khi đặt mình vào từng vị trí, bé phải học các thái độ, cách ứng xử đi kèm cho phù hợp để được khen là ngoan. Cách thức xưng hô trong gia đình được mở rộng ra ngoài xã hội. Ví dụ, đối diện với người có tuổi bằng cha chú mình thì phải gọi là bác hoặc chú, và đương nhiên trẻ phải dạ thưa tử tế cho hợp với vai trò phận cháu chắt. Cách xưng hô trong giao tiếp phải cụ thể trong từng trường hợp, văn hóa Việt không khuyến khích chữ chử “tôi”, không “cá đối bằng đầu” trong cách xưng hô. Trật tự xã hội trên dưới đã được thiết lập ngay trong cách truyền thông hằng ngày. Tất cả những điều này trở thành những đường nét trong nhân cách, trong tập tính chung của người Việt, mà có lẽ cũng là một trong các lý do làm nên tính thụ động, bởi rất khó cho một học sinh phải tranh luận một cách công bằng sòng phẳng trước mặt thầy cô, trước mặt những người lớn mà mình chỉ là phận cháu chắt, em út.  Ở Pháp lại khác, cũng có đầy đủ các danh từ như ông bà cha mẹ cô dì chú bác…, nhưng trong truyền thông trực tiếp, đứa bé không buộc phải đóng vai kẻ trên người dưới. Ðối diện với bất kỳ ai trước mặt thì trẻ cũng xưng “tôi”, và người kia là “toi” hoặc “vous” tùy theo mức độ thân mật, và người kia cũng sử dụng cùng những danh từ này để gọi lại. Nghĩa là trong cách xưng hô nói năng hằng ngày đã có sự công bằng, không phân biệt trên dưới, đứa trẻ không phải đổi vai liên tục và cũng không cần phải lễ phép dạ thưa cho dẫu người đối diện là ai. Với ai thì người Pháp cũng chỉ sử dụng “oui” và “non”, chứ không phân biệt như người Việt với dạ, vâng, ừ, hữ… theo thứ bậc. Cứ logic này thì một học sinh Pháp sẽ dễ dàng tranh luận một cách công bằng sòng phẳng với người lớn từ những chuyện ngoài đời cho đến những chuyện học thuật trong trường học, và điều này rất có lợi cho sự phát triển xã hội nói chung và phát triển khoa học nói riêng.  Như nhà sáng lập xã hội học Pháp, E. Durkheim đã nói: chẳng phải giáo dục (giáo dục gia đình, giáo dục trường học) là con đường dẫn trẻ vào xã hội đó sao? Ðúng vậy, nhân cách một con người, tập tính của một dân tộc, phần lớn tùy thuộc vào giáo dục, mà nhân cách, thói quen một con người lại quyết định số phận của người đó, cũng vậy, tập tính chung của một dân tộc cũng quyết định số phận của dân tộc đó. Nghĩa là, muốn thay đổi số phận của một đất nước, phải thay đổi con đường giáo dục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học sinh Việt Nam làm kỹ sư Google ‘ấn tượng’      Một kỹ sư phần mềm của Google bị ‘ấn tượng’ bởi khả năng của học sinh Việt Nam sau khi chứng kiến một nhóm học sinh lớp 11 giải toán.    Câu chuyện bắt đầu từ chuyến đi Việt Nam gần đây nhất của ông Neil Fraser. Ông đã ghé thăm một số trường học để quan sát trình độ tin học của học sinh từ lớp 2 đến lớp 11 tại Việt Nam.  Và những điều mà ông Fraser chứng kiến đã mang lại cho ông một sự “bất ngờ ấn tượng”, ông viết trên trang blog cá nhân của mình.  Giỏi hơn học sinh Mỹ?  “Từ lớp hai học sinh đã bắt đầu học những bài cơ bản, như việc làm thế nào để bảo quản đĩa mềm”, Fraser viết.  “Đến lớp 3, các em đã bắt đầu sử dụng Microsoft Window.  “Đến lớp 4, các em bắt đầu học lập trình bằng Logo. Bắt đầu bằng cách chuỗi mệnh lệnh và sau đó tiến đến vòng lặp.”  “Tới lớp 5, học sinh đã có thể viết thủ tục chứa vòng lặp.”  Ông cho rằng tới giai đoạn này, đã có thể so sánh trình độ của học sinh Việt Nam với Mỹ.  Quan sát của ông tại một trường khoa học và công nghệ ở San Francisco cho thấy, ngay cả học sinh lớp 11 và 12 ở đây cũng gặp khó khăn trong việc sử dụng HTML.  “Kiến thức về vòng lặp và điều kiện cũng rất kém tại đây”, ông Fraser viết.  “Nói rằng tôi bị ấn tượng bởi trình độ tin học của học sinh tiểu học ở Việt Nam là một cách nói chưa thật đầy đủ.”  ‘Đậu phỏng vấn Google’  “Nếu học sinh lớp 5 ở Việt Nam có trình độ tin học ngang với lớp 11 ở Mỹ, vậy học sinh lớp 11 ở Việt Nam thì sao?”, ông Fraser đặt câu hỏi.  Sau khi chứng kiến học sinh lớp 11 ở Việt Nam chỉ mất 45 phút để giải một bài toán hình trong lớp tin học, ông Fraser đã đem câu hỏi về Mỹ để tham kiến đồng nghiệp của mình tại trụ sở Google.  Đồng nghiệp của Fraser cho rằng nếu so sánh câu hỏi này với những câu hỏi trong bài phỏng vấn của Google, có thể xếp chúng ngang với cấp độ ba câu hỏi khó nhất.  “Không có bất kỳ nghi vấn nào về việc một nửa số học sinh của lớp 11 ấy có thể vượt qua bài phỏng vấn của Google,” ông Neil Fraser viết trên trang Bấm blog của mình.  Món quà ‘phần mềm’  Cơ sở vật chất để đào tạo cho ngành tin học ở Việt Nam vẫn còn rất thiếu thốn, theo nhận định của tác giả.  “Khi tôi hỏi tôi có thể làm gì để giúp đỡ, câu trả lời đầy bất ngờ, đó là ‘phần mềm'”.  “Phần mềm giáo dục ở Việt Nam gần như không tồn tại, và nếu có tồn tại đi nữa, họ cũng không có ngân sách để mua.”  “Thế nên phần lớn thời gian chuyến đi của tôi được dùng vào việc viết phần mềm.”  Ông Fraser cho biết ông đã tặng cho trường tiểu học Bế Văn Đàn ở thành phố Đà Nẵng phần mềm “Blockly’s Maze”, một chương trình dạy vòng lặp và điều kiện.  “Tất cả mọi thứ đều phải nén vào đĩa CD, vì nhà trường không đủ tiền để lắp đặt Internet có đường truyền tốt.”  ‘Mua giáo viên’  Giáo viên dạy tin học của trường sau đó hứa với Neil sẽ dạy Blockly ngày hôm sau. Tuy nhiên trường học lại gặp một vấn đề khác.  “Vì không đủ ngân sách, trường chỉ có thể thuê một giáo viên tin học. Tôi hỏi họ, lương giáo viên là bao nhiêu. Và họ trả lời là 100 đôla một tháng.  “Vậy là tôi chạy ra ATM rút tiền, và tặng họ một giáo viên mới cho một năm nữa.”  Ông Fraser cũng để ý việc các trường không đủ tiền mua phiên bản gốc của Windows cho học sinh mà phải dùng các bản sao chép không có bản quyền:  “Gần như 100% người Việt vẫn sử dụng Windows XP. Và có lẽ tất cả đều cùng một số serial.”  “Tuy nhiên, đây là một điều dễ hiểu nếu biết rằng một phiên bản gốc của Windows tốn một tháng lương tại đây.”  “Họ muốn nhiều hơn thế”  “Tôi đã bước vào lớp học này, với tầm lý sẵn sàng giúp đỡ họ bằng tất cả khả năng có thể,” ông Fraser viết.  “Thế nhưng trái lại, tôi đã học từ họ. Họ cho tôi thấy cách mà lẽ ra giáo dục về khoa học máy tính nên được tiến hành.”  “Phải cho các em học từ rất sớm, và cho phép những em có nhiều đam mê nơi để phát triển.”  Tuy nhiên, ông Fraser cũng cho rằng hệ thống vẫn có điểm yếu.  “Tin học vẫn còn khá mới ở Việt Nam. Và được cập nhật tới tất cả các cấp lớp học cùng một lúc.”  “Khi tôi ghé thăm một trường đại học, tôi không bị ấn tượng lắm bởi những gì họ đang làm.”  “Tuy nhiên điều này sẽ nhanh chóng thay đổi, khi các học sinh cấp dưới ngày càng tích tụ nhiều kinh nghiệm hơn.”  Ông Fraser cho rằng có một niềm đam mê tin học rất lớn từ các học sinh mà ông đã gặp.  “Nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh tỏ ra rất hứng thú, ở một mức độ mà tôi không thấy ở Mỹ.”  “Chỉ tốn 10 phút để chỉ cho giáo viên tin học về phần mềm “Blockly’s Maze”. Các học sinh của cô ấy chỉ mất có một buổi học để hoàn thành 9 cấp độ của chương trình.”  “Họ muốn nhiều hơn thế.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học tại nhà ở Mỹ      Để góp phần vào cải cách nền giáo dục phổ thông ở nước ta, xin mạo muội nêu lên vấn đề phục hồi và phát triển hình thức lớp học tại nhà để thay thế một phần cho hình thức học tại trường, dưới những điều kiện nhất định và trong phạm vi nhất định qua mô hình học tại nhà ở Mỹ.    Học ở nhà là hình thức giáo dục cổ xưa nhất của loài người. Các lớp học tại gia với giáo viên là phụ huynh gia đình hoặc gia sư, học trò là con cháu trở thành phương thức giáo dục quan trọng đào tạo nhân tài thời xưa. Ngay cả sau khi xuất hiện hệ thống trường học công và tư ở khắp nơi, khi đời sống của người dân đã xã hội hóa cao độ, không ít gia đình vẫn duy trì lớp học tại gia. Nhà phát minh vĩ đại Thomas Edison thủơ nhỏ học chữ và toán từ bà mẹ. Tổng thống Mỹ W. Wilson được bố dạy học từ bé cho tới năm 19 tuổi thì thi vào trường Đại học Princeton. Nữ hoàng Anh Elizabeth II học ở nhà suốt tuổi nhi đồng và thiếu niên. Nhà cách mạng Che Guavara được mẹ dạy học ở nhà cho tới năm 13 tuổi mới đến trường …    Học tại gia ở Mỹ  Học ở nhà là hình thức phổ biến ở Mỹ từ xa xưa; nhưng từ ngày các bang đưa ra Luật giáo dục cưỡng bức, yêu cầu trẻ em đều phải học ở trường thì các lớp học ở nhà dần dần biến mất. Từ thập niên 50-60 thế kỷ XX, xuất hiện phong trào học ở nhà (homeschooling), một phong trào đòi quyền dân chủ tự do trong việc lựa chọn hình thức giáo dục.  Có mấy nguyên nhân nảy sinh homeschooling:  – Sự bất mãn của giới phụ huynh học sinh (HS) đối với các yếu kém của hệ thống trường công: hoạt động xơ cứng, máy móc, kiến thức cổ lỗ không đáp ứng nhu cầu thị trường nhân lực, coi nhẹ cá tính HS, không đáp ứng nhu cầu của trẻ cá biệt, hiệu suất dạy và học thấp; – Sự bất đồng về giá trị quan: nhà trường dạy HS một số giá trị quan mâu thuẫn với tín ngưỡng tôn giáo của gia đình HS (thí dụ thuyết Tiến hóa mâu thuẫn với giáo lý đạo Ki Tô); phụ huynh sợ con mình bỏ đạo; – Lo sợ lũ trẻ chịu tác hại của các thói xấu thịnh hành tại nhiều trường công như dùng ma túy, tình dục sớm, bạo lực bắt nạt kẻ yếu… Nạn HS dùng súng bắn giết thầy trò cũng vô cùng đáng ngại; – Nhà xa trường, bất tiện cho trẻ đi học hằng ngày.  Ngoài ra, tầng lớp trung lưu ngày càng đông, có điều kiện kinh tế và thời gian (thường có 1 người không đi làm), phụ huynh thường có trình độ văn hóa cao (một điều tra cho thấy 20% cao hơn giáo viên trường công), mạng Internet cung cấp nguồn kiến thức và tài liệu giáo dục vô tận … cũng là môi trường thuận lợi để phát triển homeschooling.  Với các nguyên do trên, từ thập niên 50 một số gia đình bắt đầu không cho con đến trường mà kéo về dạy “chui” ở nhà; tuy biết như thế là phạm luật. Thậm chí họ còn công khai nêu khẩu hiệu “Không được thể chế hóa nhà trường”, “Nhà trường biến mất”, gây ra cuộc tranh cãi gay gắt giữa nhà trường với một số phụ huynh cấp tiến.  Phía nhà trường nói phụ huynh thiếu chuyên môn sư phạm nên không thể dạy tốt được, nội dung giảng dạy ở nhà khác với nhà trường, như vậy là phạm luật giáo dục nghĩa vụ, học ở nhà sẽ trở ngại sự phát triển của xã hội và quyền của Nhà nước thực hiện việc giáo dục lớp trẻ…. Phía phụ huynh thì nói lựa chọn hình thức giáo dục là một quyền dân chủ, đã là quyền dân chủ thì phải thực hiện …. Cuộc tranh cãi được đưa ra tòa phân xử. Quá trình tố tụng diễn ra rất lâu, đầu thập niên 70 Tòa Tối cao ra phán quyết bênh vực quyền tự do lựa chọn hình thức giáo dục của phụ huynh HS. Từ đó trở đi phía nhà trường bắt đầu hiểu được vai trò quan trọng của học ở nhà, họ chuyển sang ủng hộ và hợp tác với các phụ huynh. Chẳng hạn các trường cho phép HS học ở nhà được quyền dự giờ học, các hoạt động ngoại khóa và đi xe bus của trường. Việc vào đại học (ĐH) của các HS học ở nhà không có gì khó khăn, dù họ không có chứng chỉ của nhà trường cấp, nhưng chỉ cần vượt qua kỳ sát hạch SAT (một kiểu thi ĐH khá nhẹ nhàng) là được.  Từ đầu thập niên 90, cả 50 bang lần lượt ban hành văn bản pháp luật xác định địa vị hợp pháp của homeschooling. Giới phụ huynh cũng lập các đoàn thể để bênh vực lớp học ở nhà, như Home School Legal Defense Association …  Quy mô phát triển. Năm 1970, nước Mỹ có khoảng 10-15 nghìn HS học ở nhà. Theo thống kê của Trung tâm Thống kê giáo dục quốc gia (NCES; công bố 7-2001), năm 1999 có 0,85-0,97 triệu HS học ở nhà, chiếm 1,7% số trẻ lứa 5-17 tuổi. Tốc độ tăng hiện nay là 11%/năm. Theo Ann Zeise (homeschooling.gomilpitas.com): năm 2000 có 905.979 HS học ở nhà; năm 2003 – 1,1 triệu (2,7% tổng số trẻ cùng tuổi); năm 2007 – 1.319.392 HS.  Sự quản lý của chính quyền. 9 bang không hạn chế quyền hạn của phụ huynh đối với lớp học ở nhà. 10 bang chỉ yêu cầu phụ huynh khai báo việc học ở nhà với chính quyền. 20 bang yêu cầu phụ huynh trình báo kết quả sát hạch hoặc đánh giá về học lực để theo dõi tình hình HS. 11 bang ngoài các yêu cầu trên còn quy định cơ quan quản lý giáo dục địa phương có quyền thường xuyên thăm lớp học ở nhà và tổ chức huấn luyện chuyên môn cho phụ huynh dạy học …  Lợi và bất lợi. Do một thầy dạy một (hoặc hai) trò nên dễ thực hiện dạy theo đối tượng, dựa hứng thú và nhu cầu của HS, cho phép trẻ học theo cách của chúng, tiến độ linh hoạt, thích hợp với HS, nhờ đó việc học từ bị động trở thành chủ động. Thầy trò giao tiếp nhiều nên thầy có dịp hiểu HS hơn, từ những chuyện vụn vặt mà dạy chúng. Thực hiện được cá tính hóa giáo dục, khắc phục tình trạng “cào bằng” giáo dục ở trường. Nâng cao tính tích cực của phụ huynh tham gia công tác giáo dục, tận dụng nguồn nhân lực giáo dục. Hiệu suất học cao hơn hẳn ở trường, giảm tối đa thời gian lãng phí khi học ở trường.  Chi phí giáo dục ít mà hiệu quả lớn: bình quân chi cho một HS học ở nhà là 546 USD/năm (ở trườngtrường. công là 5325). Bình quân điểm số sát hạch của HS học ở nhà cao hơn 30% so với HS học ở trường.             Người Việt Nam ta từ thời xa xưa, ở đô thị và nông thôn hầu như đâu đâu cũng có những lớp học tại gia do các thầy đồ mở để dạy con em mình, cũng nhận cả con cháu người thân. Nhiều nhà trí thức nước ta đã thành tài từ các lớp học đó. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh rồi Hồ Chí Minh học những chữ Nho đầu tiên từ thân phụ, tiếp đó học Tứ thư ngũ  kinh và các kinh điển Khổng Mạnh khác. Cho đến nửa đầu thế kỷ XX, mặc dù hệ thống trường công và tư đã hình thành và khá phát triển, song nhiều nơi vẫn còn các lớp học ở nhà như vậy. Hình thức học tại gia rất phổ cập trong thời trước 1945 kể cả trong tầng lớp làm công ăn lương. Bản thân người viết bài này tuy có cha là giáo viên trung học nhưng cũng học ở nhà cho đến 10 tuổi, do anh chị dạy; còn 4 anh chị (trừ anh cả) đều học ở nhà cho đến 16 tuổi, do gia sư dạy.          Dư luận chủ yếu lo ngại việc học ở nhà sẽ hạn chế sự xã hội hóa trẻ em, không giúp chúng phát triển tinh thần hợp tác, đồng đội và năng lực thích nghi với xã hội. Chưa kể gia đình không thể có sân bãi rộng để trẻ chạy nhảy chơi đùa, không có thư viện, phòng thí nghiệm, nhà tập thể dục … Cũng có ý kiến lo HS học ở nhà sẽ kém tính cạnh tranh.  Hai mặt ưu và khuyết của hình thức học ở nhà ở Mỹ cũng vậy, nó đang được bổ cứu bằng nhiều biện pháp hữu hiệu.    Cả 4 con đều học ở nhà  Gia đình ông bà Steve và Sandy Scoma ở thành phố Columbia có 4 con thì cả 4 đều học xong chương trình trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông  (THPT) ở nhà. Bà Sandy là giáo viên chính của lũ trẻ, vì bà không đi làm. Ông Steve chỉ tham gia giảng dạy một phần ngoài giờ đi làm. Năm nay, hai cậu út – cặp sinh đôi Sam và Stan Scoma 18 tuổi cùng tốt nghiệp THPT từ lớp học này. Ông bà soạn giáo trình giảng dạy với sự hợp tác của chính quyền bang và địa phương, với sự giúp đỡ của các tổ chức như National Home Education Network (xem www.nhen.org). Thành phố Columbia với 516 nghìn dân hiện có khoảng 2 nghìn học sinh đang học ở nhà và mỗi năm có chừng 120 em tốt nghiệp THPT. Do nhiều nguyên nhân, số học sinh học ở nhà tăng lên trong suốt 20 năm qua.  Sam và Stan cho biết, ngoài các môn học trong giáo trình ra, họ còn học được hai bài học đặc biệt, đó là phương pháp học tập và tinh thần tự giác. “Điều thích nhất khi học ở nhà là bạn có thể học được cách tự dạy mình” – Sam nói, “Nếu chưa hiểu điều gì, bạn có thể nhờ cha mẹ giúp; nhưng bạn học được cách nghiên cứu và tự tìm ra giải đáp vấn đề.”  Stan nói hầu hết học sinh học ở trường đều đứng trước các cám dỗ làm cho hứng thú học tập bị phân tán; hai em đã học được khá nhiều về tinh thần tự giác tôn trọng kỷ luật.  Tiến độ học tập của hai em rất linh hoạt: khi nào học dễ vào thì “thầy cô” sẽ cho tăng tốc độ học, khi học khó vào thì tiến độ chậm lại; khi vấn đề nào đã chín muồi thì hai em tự thảo luận vấn đề đó với nhau. Đôi khi cha mẹ còn mời những thầy đặc biệt, thí dụ một chính khách tới dạy hai cậu cách diễn thuyết trước đám đông.   Sam và Stan đã tốt nghiệp PTTH với điểm số 3,9 và cao hơn (theo thang điểm 4,0), vượt yêu cầu của Hội Học tại gia độc lập Nam Carolina (South Carolina Independent Home School Association), một tổ chức theo dõi và đánh giá tiến bộ của các HS học ở nhà và cấp chứng chỉ cho họ. Nhờ học giỏi nên hai em đã nhận được học bổng toàn phần của trường ĐH cộng đồng hai năm Midlands Technical College (ở Columbia). Sau đó họ sẽ học chương trình thạc sĩ tại University of South Carolina. Sam sẽ theo đuổi ngành hàng không vũ trụ, còn Stan thì yêu môn hóa và có thể sẽ nghiên cứu dược phẩm.  Steve và Sandy Scoma đến sống tại Dallas bang Texas khi hai con lớn là cô Stacy và cậu Steve Jr. đến tuổi đi học. Ông Steve kể: “Chúng tôi cho các cháu học ở nhà với suy nghĩ có thể tạo cho lũ trẻ một khởi đầu tốt nhằm thích ứng với tình hình cạnh tranh trong học tập.” Năm 1990 họ dọn nhà tới Nam Carolina và kinh doanh một nhà tập luyện thể dục. Hai con út Sam và Stan cũng làm việc part time tại đây. Ông bà vẫn để các con học ở nhà, chủ yếu vì cho rằng chất lượng học tại các trường công vùng này chưa tốt. Các trường tư có chất lượng tốt hơn, nhưng học phí lại quá cao, họ không đủ sức chi trả. Năm nay Stacy và Steve Jr. cùng tốt nghiệp ĐH South Carolina. Stacy 26 tuổi làm cô giáo vườn trẻ, Steve Jr. 24 tuổi làm kỹ sư máy tính.  Do gia đình theo Ki Tô giáo nên Sam và Stan được giáo hội tài trợ đi thăm Mexico, Ấn Độ, Romania và vài nước; qua đó học được rất nhiều kiến thức về các nền văn hóa khác. Hai em cũng được hưởng nhiều lợi ích từ chương trình dạy âm nhạc của nhà thờ. Stan trở thành một nhạc công piano xuất sắc. Sam chơi giỏi cả piano lẫn ghi ta và bass. Cả hai em đều là thành viên chính của ban nhạc trẻ và dàn hợp xướng của nhà thờ. Hai em còn là những vận động viên thể thao tài năng hoạt động trong các đội thể thao của phường.      Nguyễn Hải Hoành (Theo Homeschooling) 17-250808      Author                Quản trị        
__label__tiasang Học tập gì từ nền giáo dục châu Á?      Tiến sĩ Yong Zhao (Viện Chính sách Y tế và Giáo dục Mitchell, Melbourne, Australia) cho rằng việc hệ thống giáo dục của các nước châu Á thu được thành công không phải là kết quả của những nỗ lực cải cách đó mà ngược lại, là nhờ phát huy những thế mạnh truyền thống.    Mấy năm gần đây, mối quan tâm tới việc học hỏi các hệ thống giáo dục đạt thành tích cao của các nước châu Á ngày càng lớn. Hàng loạt các báo cáo nghiên cứu, những câu chuyện trên các phương tiện truyền thông cũng như lý giải của các cá nhân về cách mà những hệ thống này đạt được những vị trí cực kì cao trong các bảng tổng sắp quốc tế đã được quảng bá rộng rãi và được coi như những đề xuất cho các hệ thống giáo dục trên khắp thế giới. Tuy nhiên, phần lớn những quan sát phổ biến trong dư luận đã không chỉ ra được những bài học quan trọng nhất cần được học tập.  Không thể tìm được những bài học hay nhất từ châu Á bằng cách hỏi: “Điều gì đã giúp cho những hệ thống này giành được điểm thi cao ngất trời như thế?” Đúng hơn, câu hỏi cần đặt ra là: “Ở những nước này, điều gì đã và đang làm thay đổi những thực hành giáo dục của họ trong mấy thập niên qua?”  Công việc của tôi ở Viện Chính sách Y tế và Giáo dục Mitchell ở Melbourne bao gồm một nghiên cứu về những nỗ lực cải cách trong các hệ thống giáo dục thành tích cao của các nước châu Á, đặc biệt là Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Thượng Hải, trong ba thập niên qua. Nghiên cứu này không nhằm tìm cách giúp Úc “đuổi kịp” các hệ thống trường lớp châu Á trong các bảng xếp hạng quốc tế. Nó tập trung vào những bài học nhằm xây dựng tương lai chứ không phải để sửa chữa quá khứ. Cơ sở của nó là phân tích các văn bản chính sách quan trọng, xem xét các tài liệu nghiên cứu, và phỏng vấn tại chỗ các quan chức chính phủ, các nhà nghiên cứu và các nhà lãnh đạo giáo dục làm việc trong bốn hệ thống giáo dục này.  Những người đứng ngoài quan sát có thể lầm tưởng rằng những nỗ lực cải cách hiện nay của châu Á chính là động cơ dẫn tới thành công của họ. Trên thực tế, những thành tích nổi bật của họ trong các kỳ đánh giá quốc tế không phải nhờ những cải cách đó mà là kết quả của truyền thống văn hóa và các chính sách đã được thiết lập trong quá khứ, cái quá khứ mà hiện nay họ đang cố gắng thay đổi.  Trong khi đó, những người làm việc bên trong những hệ thống này, tức là những người có quyền tự hào về thành tích của mình, thì lại không hài lòng. Những nỗ lực cải cách cấp tiến mà họ đã và đang tiến hành trong ba thập kỷ qua được thúc đẩy bởi niềm tin rằng hệ thống giáo dục của họ còn xa mới được coi là chất lượng cao. Ví dụ, những người trong hệ thống của Trung Quốc chỉ ra sự thiếu hụt những tài năng trong lĩnh vực sáng tạo và kinh doanh, tỉ lệ sinh viên bị trầm cảm cao, sức khỏe thể chất cũng suy giảm và áp lực học hành thì nặng nề.  Công trình nghiên cứu của tôi chưa hoàn thành nhưng đã xác định được một số thay đổi đa dạng trong chính sách được áp dụng ở những hệ thống giáo dục khá khác nhau nói trên. Một số hệ thống đang áp dụng công nghệ, phân quyền kiểm soát và không quá chú trọng vào việc thi cử. Cả bốn hệ thống đều đang thực hiện những cải cách giúp mở rộng định nghĩa về kết quả của giáo dục, đưa nó vượt ra ngoài thành tích học tập một số môn học hạn hẹp, phát triển những “kỹ năng của thế kỉ XXI”, ví dụ như khả năng sáng tạo, giao tiếp, hợp tác, và tư duy bậc cao.   Ngược lại, những nỗ lực cải cách ở các nước phương Tây, ví dụ như Úc, lại có xu hướng theo chiều ngược lại: tiến tới một chương trình giảng dạy chung toàn quốc và coi trọng hơn những kì thi đã chuẩn hóa, tức là thu hẹp định nghĩa về thành tích giáo dục. Họ làm vậy để mong đạt được thành tích cao như châu Á. Nực cười là, những nhà cách tân ở châu Á thì lại đang tìm cách áp dụng những giá trị của phương Tây nhằm chuẩn bị cho sinh viên của họ một tương lai mang tính cạnh tranh.  Khi đã hiểu rõ được những việc mà các hệ thống giáo dục ở châu Á đã và đang cố gắng làm, bài học cho Úc là thay vì tiến hành cải cách nhằm đạt được điểm cao trong các kì thi như học sinh châu Á, Úc cần tận dụng những điểm mạnh truyền thống của mình, ví dụ như sự tháo vát và đầu óc kinh doanh, nhằm phát triển một hệ thống giáo dục có khả năng chuẩn bị thế hệ thanh niên cho một nền kinh tế toàn cầu hóa và một thị trường lao động đang thay đổi từng ngày.  Tôi hy vọng rằng công trình nghiên cứu với Viện Mitchell sẽ đóng góp thêm những bằng chứng, mở rộng định nghĩa và nhận thức về thế nào là một hệ thống giáo dục chất lượng cao thực sự. Bài học quan trọng rút ra từ hệ thống giáo dục thành tích cao của châu Á là chúng ta không được tập trung vào việc sửa chữa quá khứ, mà cần phải làm việc tích cực nhằm tạo dựng tương lai.  Phạm Nguyên Trường dịch từ bài của TS Yong Zhao, Giáo sư thành viên Viện Mitchell tại Đại học Victoria, Úc.   http://www.abc.net.au/radionational/programs/saturdayextra/lessons-that-matter-what-should-we-learn-from-asian-education/5706304    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học về sự học      Cá nhân nào cũng phải học và quốc gia nào cũng phải tổ chức dạy và học. Quan niệm về sự học và cách thức học tập khác nhau đã tạo ra nguồn chất lượng con người khác nhau và do đó, tạo ra vị trí của các quốc gia cũng khác nhau.      Trẻ cần được học tranh luận, đóng vai, thuyết trình, biện luận… “học về cách học” chứ không chỉ học kiến thức. Nguồn ảnh: Thanh niên.     Lẽ thường, khi chúng ta muốn bắt tay khởi sự việc gì, nhất là những việc hệ trọng, thì chúng ta sẽ học về cách để làm điều đó. Chẳng hạn muốn mở một công ty thì cần học về cách thức quản trị, tiếp thị, gọi vốn… Càng học kỹ càng về những điều này, người ta càng có cơ hội thành công. Thế nhưng logic thông thường này lại không được áp dụng cho sự học, nhất là tại Việt Nam như lâu nay, mặc dù sự học là quan trong và mang tính lâu dài đối với cá nhân và xã hội như đã nói. Người lớn cứ chăm bẵm chuyển tải các kiến thức cho trẻ em, bắt các em học, thâu nạp những gì người lớn muốn, mà không lưu ý trang bị cho học sinh các năng lực để các em biết cách học thế nào, sử dụng phương pháp nào, công cụ nào, nguồn lực nào phù hợp với bản thân nhằm tự xây tạo nên “vốn văn hóa” của mình một cách đúng và hiệu quả nhất. Nghĩa là nhà trường chưa quan tâm đủ về việc dạy và học về chính sự học (apprendre à apprendre).     Học về sự học là gì?     Sự học là bao la, nên cũng có vô số điều đáng nói khi bàn đến việc học thế nào. Người học là duy biệt xét về nhiều mặt1 nên cần khác biệt hóa trong cách thức tổ chức giảng dạy2, và cả trong phương cách học tập. Vậy nên, học về sự học trước hết là học về bản thân: học nhận diện các đặc điểm tâm thể lý, loại hình thông minh nổi trội và tiềm ẩn, cách thâu nhận thông tin… để tìm ra “chân dung học tập” của riêng mình; đó còn là việc học về não bộ, học để tự tin, học cách tập trung, học cách tự chăm sóc cơ thể, học cách giữ cân bằng trong cuộc sống, học cách chống stress, cách bảo vệ mắt, tai và lưng, cách tự bơm thêm động lực. Học về sự học còn là học về cách thức thức tổ chức, học tập thế nào ở trường, ở nhà và ở ngoài xã hội một cách hiệu quả nhất, chẳng hạn học về phương pháp, về những điều cụ thể như học cách đọc, cách viết, cách tra từ điển, cách trình bày, thuyết phục người khác, cách phản biện, cách đặt câu hỏi, cách đặt giả thuyết, cách tra cứu và kiểm chứng thông tin, cách chuẩn bị ba lô đến trường, cách nói chuyện với thầy cô giáo và cha mẹ, cách làm việc nhóm, cách tự chủ, cách nhờ sự hỗ trợ của người khác khi cần, cách thi cử, cách lập kế hoạch trong học tập và cuộc sống … (Xem Giordan, 2016).    Trong chương trình cải giáo dục hiện nay của các nước mà tôi biết như Pháp, Phần Lan và cả Việt Nam, Học về sự học đã được nhấn mạnh rất nhiều. Tôi xin lấy giáo dục Pháp như một ví dụ.     Vị trí của học về sự học trong chương trình, nội dung giảng dạy tại Pháp     Chương trình cốt lõi mới của giáo dục phổ thông Pháp được áp dụng từ năm học 2017 – 2018 bao gồm năm lĩnh vực, cụ thể:    Lĩnh vực 1: Các ngôn ngữ để tư duy và truyền thông trao đổi với nhau;    Lĩnh vực 2: Các phương pháp và công cụ để học tập (học về sự học);    Lĩnh vực 3: Đào tạo con người và công dân;    Lĩnh vực 4: Các hệ thống tự nhiên và kỹ thuật (các kiến thức và kỹ năng về khoa học tự nhiên và kỹ thuật)    Lĩnh vực 5: Các biểu trưng của thế giới và hoạt động của con người.    Trong 5 lĩnh vực, thì lĩnh vực 2 liên quan đặc biệt đến “học về sự học”. Các kỹ năng liên quan không gói gọn trong một môn học hay một vài chuyên đề mà là một phần nhiệm vụ chính yếu của toàn bộ chương trình, thể hiện bằng những yêu cầu về kỹ năng và được đo lường, đánh giá một cách cụ thể thông qua từng bài học trong tất cả các môn học và các hoạt động học tập.    Dưới đây, tôi xin lấy sách “Lịch sử – Địa lý – Giáo dục đạo đức và công dân lớp 6”, xuất bản năm 2016, đang được sử dụng tại Pháp như một ví dụ để làm rõ hơn cách người Pháp triển khai giáo dục các kỹ năng này cho học sinh của họ một cách cụ thể thế nào.        Tóm tắt chương trình tổng thể Pháp và 1 trang sách giáo khoa môn lịch sử.   Ngay sau phần giới thiệu về các tác giả (có trên 200 tác giả tham gia và số đông là các giáo viên phổ thông đang trực tiếp giảng dạy, với sự cộng tác của hầu hết tất cả các Phòng giáo dục (academie) địa phương trong nước) là 16 trang giới thiệu về cơ cấu, tóm tắt nội dung, cách tiếp cận, cách thức đánh giá, cách thức sử dụng cuốn sách và phương pháp học dành cho học sinh.    Sách căn dặn học sinh với những điều rất cụ thể chẳng hạn như: – Tớ xem thời khóa biểu và lịch của mình để chuẩn bị ba lô vào tối hôm trước; – Trong ba lô, tớ luôn mang theo hộp đựng đồ dùng học tập, sổ liên lạc, lịch, vở nháp và một số giấy trắng để làm bài kiểm tra …    Sách đề nghị học sinh cần phải làm thế nào khi ở trường và ở nhà, chẳng hạn:  – Tớ nghỉ một chút khi ở trường mới về trước khi làm bài tập; – Tớ học ở những nơi yên tĩnh; – Tớ lấy lịch và hộp đựng đồ dùng học tập ra; – Tớ tắt điện thoại di động, máy tính, truyền hình… (tr. 18).    Xuyên suốt các bài học trong sách có năm hoạt động: tranh luận, đóng vai, thuyết trình, biện luận và thực hiện những chọn lựa và nghiên cứu. Từ khóa chính trong từng trang sách là “compétence” (năng lực, kỹ năng). Các năng lực được chia thành bốn mức khi đánh giá học sinh: mức 1 là chưa đạt; mức 2 là còn yếu; mức 3 là thỏa mãn và mức 4 là đạt.    Nhiệm vụ của mỗi phần, mỗi chương sách là trang bị cho các học sinh một số năng lực cụ thể, đó là các năng lực về làm việc nhóm, các năng lực của nhà nghiên cứu như biết đặt câu hỏi, thiết lập các giả thuyết, kiểm chứng, biện luận, khai thác các tài liệu, xác định thời gian, không gian, viết, trình bày…  Phần cuối của mỗi chương luôn có phần bài tập và phần để các học sinh tự đánh giá một số năng lực của bản thân. Trong các phần luôn có hộp thông tin (box) quan trọng dẫn các em đến các trang web để tải một ứng dụng miễn phí nhằm sử dụng vào việc học hay để làm bài tập, xem một phim tài liệu, một bộ sưu tập của bảo tàng số…    Xin lấy chương (bài) 1 “Khởi đầu của loài người” để trình bày rõ hơn.    Trong bài có các phần:    Trước hết là giới thiệu cách học với những yêu cầu, chỉ dẫn như : chỉ dẫn học sinh truy cập web để xem video tài liệu “Sự phiêu lưu của những con người đầu tiên“, theo dõi các phát hiện mới nhất của những phát hiện mới nhất của các nhà nghiên cứu sinh học cổ và khám phá những sưu tầm mới của bảo tàng về Con Người; một bài trắc nghiệm ngắn để giúp học sinh nhận biết những gì mình có liên quan đến chủ đề ; mục tiêu của bài học và những năng lực mà học sinh sẽ phải đạt được thông qua việc học bài này: năng lực 1: biết và sử dụng được các thuật ngữ thích hợp; năng lực 2: sử dụng được một tài liệu; năng lực 3: làm việc nhóm; và năng lực 4: biết tự định vị trong thời gian. (tr. 24 – 25).    Phần kế tiếp là trình bày những kiến thức nền tảng giúp học sinh làm căn cứ với những hình ảnh, sơ đồ, bản đồ, số liệu, mốc thời gian và một “hồ sơ nghiên cứu” (dossier – enquete). Trong box đầu của phần này, học sinh được yêu cầu nhập vai như thành viên của nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra bộ xương hóa thạch năm 1984 có biệt danh là “Thiếu niên Turkana”. Nhiệm vụ của học sinh là làm việc nhóm để nghiên cứu và trình bày kết quả bằng một bài viết.    Để giúp học sinh làm điều này, trong một box khác, các tác giả sách giáo khoa đem ra những câu hỏi cụ thể chẳng hạn: Cái gì? Ở đâu? Trong tình trạng nào? Trong lớp đất nào? Tương ứng với thời kỳ nào? Học sinh có thể tìm các thông tin trong các mục sau đó như giới thiệu địa điểm khai quật phát hiện ra bộ xương, so sánh với các bộ xương người tiền sử khác, các công cụ lao động đầu tiên của người tiền sử. Sách cũng không quên hướng dẫn các học sinh tải ứng dụng để làm cho bài viết đẹp hơn với yêu cầu trình bày ngắn gọn bằng ngôn ngữ của lớp 6.    Phần cuối bài là một box gút lại với nội dung “Hoan hô! bằng cách thực hiện nghiên cứu này, tớ đã học được: –  làm việc nhóm;  –  tự đặt các câu hỏi và thiết lập cá giả thuyết; – kiểm chứng phương pháp của mình và biện luận”. (tr. 19).    Như vậy có thể thấy, học sinh không bị yêu cầu học thuộc lòng các kiến thức có sẵn để đi thi, mà học để có năng lực, học phương pháp, học cách tư duy và thực hành của các nhà khoa học. Sách dành nhiều nội dung để chuyển tải các kỹ năng liên quan đến học về sự học, từ những công việc đơn giản như chuẩn bị cặp vở thế nào, cho đến công việc của các nhà khoa học như cách viết một bài báo khoa học thế nào. Học xong bài học, điều quan trọng không phải là các em phải nhớ các ngày tháng và những thông tin cụ thể liên quan đến các sự kiện lịch sử, mà biết cách tìm kiếm, thẩm định những thông tin đó, biết công việc của các nhà khảo cổ học, các nhà sử học thế nào. Tức là biết con đường và biết cách sử dụng các công cụ để tìm kiếm và công bố các kiến thức của mình.     Chương trình mới của Việt Nam     Cũng giống như Pháp và các nước khác, năm 2018, Bộ Giáo dục đã chính thức ban hành Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể mới theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực, theo đó có 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi cần phát triển nơi học sinh. Các năng lực liên quan đến “học về sự học” được thể hiện ở nhiều điểm, đặc biệt trong phần “tự học, tự hoàn thiện”, chẳng hạn như các yêu cầu đối với học sinh cấp trung học cơ sở là:    – Tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện. – Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập;  lựa  chọn  được  các  nguồn  tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin  có  chọn  lọc  bằng  ghi  tóm  tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa;  ghi  chú  bài  giảng  của  giáo viên theo các ý chính.    – Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập.      Bộ Giáo dục có thể phân quyền đủ cho các giáo viên sáng tạo trong công việc hằng ngày của họ không? Ảnh: Tập huấn “Giáo dục phát triển năng lực và triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông mới” của Bộ Giáo dục. Nguồn: MOET.  Trích dẫn trên là những điểm tiến bộ mà chương trình tổng thể mới đã đạt được về mặt lý thuyết. Điều quan trọng là những nội dung này sẽ được triển khai, chuyển tải thế nào trong các bộ sách giáo khoa mới sau này và trong thực hành giáo dục tại các cơ sở.    Điều đáng lo là hệ thống giáo dục của chúng ta lâu nay vận hành trong một cơ chế tập quyền với một chương trình, một bộ sách giáo khoa, thậm chí là một sách giáo án. Các cán bộ quản lý địa phương, các hiệu trưởng và các giáo viên được “bao tiêu” gần như toàn bộ kể cả tư duy. Liệu những con người quen với văn hóa “đồng phục” này có thể thay đổi thực sự trong cách nghĩ và cách làm chỉ qua những khóa bồi dưỡng ngắn hạn? Các trường sư phạm đã và đang đào tạo các giáo viên thế nào, các giáo sư đào tạo các giáo viên “thế hệ mới” liệu có mới thực sự không? Bộ Giáo dục có phân quyền đủ để các giáo viên có thể sáng tạo trong công việc hằng ngày của họ không?    Tập tính tập thể và thói quen cá nhân cũ đã ăn sâu bám rễ từ nhiều năm, sức ì của nó là rất lớn. Tôi sợ rằng quán tính của hệ thống cũ sẽ nghiền nát tất cả các cố gắng đổi mới nếu chúng ta không có cách làm phù hợp.    Tóm lại, làm việc gì, nhất là những việc quan trọng, muốn thành công thì nhất thiết phải học cách làm, học phương pháp làm. Học – dạy lịch sử thì không những học cách thâu nhận các kiến thức lịch sử một cách hiệu quả, mà còn để tập tành cho các em các kỹ năng và khả năng của các nhà sử học: biết nghiên cứu, biết đọc các dữ liệu lịch sử, biết phản biện và tư duy độc lập, biết trình bày bằng văn bản và bằng lời các vấn đề lịch sử.    Nắm bắt phương pháp học là một sự giàu có nơi người học. Khi người học hiểu biết về bản thân, hiểu biết về sự học, nắm chắc cách học, cách nghiên cứu thì họ có thể tự học mọi nơi và suốt đời. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại thông tin và kỹ thuật số hiện nay, cũng như bản chất duy biệt của từng học sinh.    Không phải ngẫu nhiên mà người trẻ tại các nước phát triển nói chung và Pháp nói riêng thường tỏ ra tự chủ, có chính kiến, biết làm việc nhóm và hợp tác với người khác một cách hiệu quả. Trong khoa học, họ có nhiều phát minh, nhiều công bố quốc tế,… vì tất cả những điều này đã được luyện tập rất kỹ trong chương trình giáo dục phổ thông mà những điều trình bày trên là một minh chứng. □  —  1 Tác giả đã trình bày trong bài viết “Người học là ai?” đăng trên Tia Sáng (số 13, ngày 5/7/2020).  2 Tác giả đã trình bày trong bài “Khác biệt hóa trong giáo dục” đăng trên Tia Sáng (số 14 ngày 5 /8/2020)     Tài liệu tham khảo  Giordan, A. (2016). Học thế nào bây giờ – Chiến lược phát triển bản thân và thành công trong việc học dành cho học sinh cấp 2 (Nguyễn Khánh Trung dịch năm 2017). Hà Nội: Nxb: KHXH.  Blanchard, E., & Mercier, A., và cộng sự. (2016). Histoire – Geographie – Enseignement moral et civique. Lyon: Editeur de manuels scolaires collaboratifs et innovants.  Sahlberg, P. (2015). Bài học Phần Lan 2.0 (Đặng Việt Linh dịch năm 2016).  Bộ Gd & ĐT. (2018). Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể.  Bộ GD & ĐT. (2018). Chương trình giáo dục phổ thông – Môn lịch sử.  Cách làm trong đổi mới giáo dục của ta khác với Phần Lan. Người Phần Lan chủ trương đổi mới các trường và khoa sư phạm trước khi đổi mới giáo dục phổ thông của họ rất lâu. Chính những giáo viên thế hệ mới được đào tạo chất lượng này là những chủ thể chính phát động, thúc đẩy, và triển khai các thay đổi (Pasi Sahlberg, 2016), chứ những thay đổi không đến từ trên và các giáo viên phải chạy theo một cách thụ động.    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Học viện Khám phá: Mang thực hành khoa học giản dị tới trẻ em      Xuất hiện ở Việt Nam với tên gọi Học viện  Khám phá- chương trình giáo dục cho lứa tuổi từ mẫu giáo đến trung học  có bản quyền của Tập đoàn High Touch High Tech, Hoa Kỳ, đã có hơn một  năm đi vào hoạt động, thu hút và tạo cơ hội cho khoảng 10 nghìn lượt học  sinh tham gia.      Từ câu chuyện của một nhóm các bà mẹ trẻ (từng học tập và làm việc ở nước ngoài) có con nhỏ trong lứa tuổi từ mầm non đến tiểu học, trung học phải học rất nhiều nhưng lại thiếu những sân chơi lành mạnh, nơi các em được chơi mà học, học mà chơi, tháng 1/2014, Học viện Khám phá (HVKP) đã ra đời sau gần nửa năm chuẩn bị.   Trên cơ sở nhận thấy nhu cầu học và chơi của trẻ em Việt Nam là thiết yếu, HVKP đã nỗ lực tìm kiếm những mô hình giáo dục khoa học có tính tương tác cao, hấp dẫn trẻ em, áp dụng thành công tại các quốc gia phát triển. Trong số các mô hình như Toán thông minh, nghệ thuật… HVKP chọn mô hình thiên về khoa học, bởi theo bà Lê Thị Thái Hà, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Khám phá Khoa học: “Trẻ con được tiếp xúc với khoa học từ sớm sẽ có sự kích thích về tư duy, nhất là tư duy logic”. Điều này cũng phù hợp với tình hình ở Việt Nam là trẻ em trong lứa tuổi trên ít có cơ hội tiếp cận với khoa học một cách gần gũi, thực tế; sự nhìn nhận của các bậc phụ huynh với các bộ môn khoa học chưa thực sự cởi mở. Trong khi nếu được tiếp cận với các môn khoa học từ sớm một cách hứng thú, thì kỹ năng quan sát, tập trung, mở rộng trí tưởng tượng còn có tác dụng với nhiều môn học khác.  Xem xét khoảng 10 mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới (Mỹ, châu Âu, Úc), chương trình Science made fun của tập đoàn High Touch High Tech được HVKP lựa chọn dưới hình thức nhượng quyền bởi bốn lí do chính. Thứ nhất chương trình đáp ứng được mục tiêu ban đầu mà nhóm đặt ra là một mô hình giáo dục phù hợp với độ tuổi mong muốn, nơi trẻ em được thoải mái vui chơi mà vẫn ghi nhớ được kiến thức tiếp nhận. Thứ hai là chương trình của High Touch High Tech tạo ra một môi trường để trẻ em được tương tác với nhau, các em được trực tiếp làm thí nghiệm khoa học và có buổi thuyết trình ở buổi cuối của khóa học. Thứ ba là với hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực giáo dục (thành lập năm 1994), High Touch High Tech là thương hiệu đã được kiểm định về chất lượng và hiệu quả lâu dài của nó (đến nay phiên bản chương trình đã có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Canada, Singapore, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Qatar và Việt Nam; thu hút hơn 4 triệu lượt trẻ em tham gia mỗi năm). Thứ tư là HVKP nhận được sự hỗ trợ cao nhất từ đơn vị nhượng quyền để giải quyết những khó khăn gặp phải khi triển khai chương trình ở Việt Nam, điều mà khi đề cập với những thương hiệu nhượng quyền khác trước đó, HVKP không chắc chắn nhận được cam kết giúp đỡ.   Khó khăn đầu tiên đối với HVKP khi đưa Sience made fun vào Việt Nam là việc chuyển ngữ các khái niệm khoa học sang tiếng Việt một cách giản dị mà không làm sai lệch đi bản chất để các em nhỏ có thể hiểu được, công việc này cần một khoảng thời gian nhất định chuẩn bị. Khó khăn thứ hai là về nguyên vật liệu phải đảm bảo an toàn cho trẻ. Ngoài những nguyên liệu như rau, cây, hạt – thứ mà ở đâu cũng có thì những nguyên liệu khác như bột màu thực phẩm, bột nở…, HVKP phải sử dụng sản phẩm nhập từ nước ngoài bởi so với Mỹ và nhiều nước có ngành công nghiệp phụ trợ phát triển khác, nhiều nguyên liệu dành cho thí nghiệm lại không dễ kiếm ở Việt Nam.   Một khó khăn không kém phần quan trọng là khâu chuẩn bị đội ngũ giáo viên. Thông thường giáo viên bậc mầm non, tiểu học ở các nước phát triển có thời gian thực hành nhiều, có đủ kĩ năng dẫn dắt một lớp học thực hành thí nghiệm, trong khi các giáo viên bậc học này ở Việt Nam lại nặng về lý thuyết, ít thực hành không đáp ứng được yêu cầu dẫn dắt, truyền cảm hứng cho các em. Do vậy, HVKP đã tuyển đội ngũ giáo viên có trình độ đại học (trình độ khá giỏi, trong đó giỏi là chủ yếu) với nền tảng kiến thức khoa học tự nhiên tốt thuộc các trường khoa học tự nhiên (yêu cầu có chứng chỉ sư phạm) hoặc Trường Sư phạm (nhưng học các ngành tự nhiên) rồi tiến hành đào tạo trong thời gian khoảng sáu tháng với nhiều bài test cụ thể.   “Các khóa đào tạo giáo viên được tiến hành theo nhóm và kế tiếp nhau. Khi tập hợp được 15 giáo viên, bên phía High Tech High Touch cho người sang training tổng duyệt một lần nữa”, chị Thái Hà cho biết. Từ năm giáo viên lúc đầu, hiện nay HVKP đã có một đội ngũ khoảng 20 giáo viên (chọn trong 50 giáo viên nộp đơn vào HVKP) đảm nhiệm vai trò hướng dẫn, truyền cảm hứng cho các em. Khi trình bày một vấn đề, yêu cầu đặt ra là giáo viên không được nói quá 10 phút, sau đó chuyển sự chú ý của các em sang quan sát, làm thí nghiệm, chỉ có như vậy, với thời lượng 90 phút trong mỗi buổi học (thực hành ba đến năm thí nghiệm) theo đúng chương trình bản quyền, các em học mà vẫn được chơi, đảm bảo tập trung mà vẫn thích thú với bài học.  Hiện nay HVKP đã khai thác được khoảng 20% trong số hơn 1.000 thí nghiệm khoa học của sáu bộ môn Sinh học, Vật lý, Hóa học, Địa lý, Môi trường và Không gian của chương trình bản quyền High Touch High Tech. Lứa tuổi tập trung của khóa học là từ 5-13 tuổi. Các em có thể lựa chọn các khóa học căn bản như: Khoa học Kỳ thú (Amazing Science), Khoa học Khám phá (Eureka Science), Khoa học Khám phá (Fantastic Science) hoặc Khóa học chuyên sâu (làm nhà khoa học tập sự) về Vật lý, Hóa học, Sinh học trên nền tảng căn bản đã có. Bên cạnh chương trình trên lớp học, chương trình ngoại khóa sau giờ học, các chương trình trại hè (một ngày đến một tuần), chương trình tiệc sinh nhật tổ chức tại nhà, các sự kiện dành cho trẻ em như ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, Ngày Gia đình 28/6, Tết Trung Thu, v.v. cũng đáp ứng nhu cầu khám phá khoa học của trẻ em ở mọi lúc mọi nơi.  Tuy vậy điều đó không đồng nghĩa với việc số đông trẻ em sẽ được tiếp cận với hình thức giáo dục lý thú và bổ ích này bởi không phải phụ huynh nào cũng có khả năng tài chính chi trả cho các khóa học, các chương trình của HVKP. “Trong khi tiềm lực chưa quá mạnh thì HVKP tích cực tìm kiếm những nhà tài trợ để mở rộng hơn nữa cơ hội mang khoa học đến với những đối tượng ít có khả năng chi trả hơn, nhất nhà những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn”, bà Thái Hà chia sẻ. Dự án Bé làm Khoa học (Empower Junior Scientists- EJS) là một ví dụ, nhưng cũng theo bà Thái Hà thì EJS không phải là kênh cuối cùng hay duy nhất mà HVKP hợp tác.            Bé làm Khoa học (Empower Junior Scientists -EJS)  là đại diện duy nhất của Việt Nam trong số 50 dự án xuất sắc nhất tại  cuộc thi “Quỹ Sáng Kiến Kết Nối Cựu Sinh Toàn Cầu- AEIF” năm 2014 do Bộ  Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức.  Sau  nửa năm tiến hành (từ tháng 10/2014 đến tháng 04/2015), Dự án Bé làm  Khoa học đã tổ chức 96 buổi học cho 100 em khối 4, 5 trong nội thành Hà  Nội (các điểm trường tiểu học Thái Thịnh, Tây Sơn, Trần Nhật Duật, và Lý  Thường Kiệt). Phương thức tổ chức là mỗi trường chọn ra 25 em, học 1  buổi/tuần các chủ đề Vật lý, Hoá học, Môi trường, Không gian, Địa lý, và  Sinh học tại trường sau giờ học chính khoá.  Dự  án Bé làm Khoa học cũng đã tổ chức bốn trại khoa học cho khoảng 1.000  học sinh tại bốn tỉnh lân cận Hà Nội: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng  Yên.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Học viện STEM tham gia Hội sách thiếu nhi 2016 *      Từ ngày 1 đến 5/6, Học viện STEM tham gia Hội sách thiếu nhi 2016 tại khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và mang đến cho các bạn học sinh chương trình trải nghiệm giáo dục STEM – phương pháp giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay.    Học sinh trường Đoàn Thị Điểm hào hứng tham giacác trải nghiệm tại ngày hội  Chương trình với rất nhiều hoạt động STEM khoa học về Robotics, Khoa học máy tính và nhiều hoạt động trải nghiệm đã từng được diễn ra trong chuỗi sự kiện STEM X vừa qua.  Ngày hội sách thiếu nhi 2016, Học viện STEM sẽ có rất nhiều hoạt động như: STEM Robot Show trình diễn Robot giới thiệu về chủ đề “GIAO THÔNG THÔNG MINH”, mô phỏng quá trình Robot tham gia giao thông vận chuyển các kiện hàng đến nhà máy sản xuất; Trình diễn sản phẩm Robot và trải nghiệm STEM Robotics với các hoạt động thi tài xếp Rubik và thi đấu Robot Hammer Car; Hoạt động trải nghiệm lớp học lập trình STEM Khoa học máy tính; Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo: điều khiển vật thể bằng sóng não và Trải nghiệm công nghệ thực tế ảo.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nhập giáo dục đại học thế kỷ XXI:  Những bài học từ Ấn Độ      Ấn Độ đang nỗ lực tạo ra 30 trường đại học &#8220;đẳng cấp quốc tế&#8221;, 8 Viện Khoa học C&#244;ng nghệ mới, v&#224; 7 Viện Khoa học Quản l&#253; trong v&#242;ng năm năm tới; đồng thời c&#243; kế hoạch đầu tư lớn để n&#226;ng cấp v&#224; mở rộng hệ thống gi&#225;o dục đại học. Nhưng trong qu&#225; tr&#236;nh thực hiện &#8220;tham vọng&#8221; n&#224;y dựa tr&#234;n m&#244; h&#236;nh đại học Mỹ, họ đ&#227; gặp kh&#244;ng &#237;t trở ngại.     Kết quả xếp hạng quốc tế cho thấy, Ấn Độ không có trường nào trong số 348 trường đại học được xếp hạng trong top 100 của thế giới, và giới giảng viên Ấn Độ được trả lương khá thấp khi so sánh với các nước khác. Sinh viên cũng phải chịu đựng tình cảnh thiếu chỗ học trong những trường hàng đầu của Ấn và cả trong hệ thống giáo dục đại học. Vì vậy khi Ấn Độ cải cách giáo dục đại học, họ đã bỏ qua các trường đại học hiện có và khởi sự những trường hoàn toàn mới như các Viện Khoa học Công nghệ – nơi có những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.  Tuy nhiên, khi Ấn Độ đầu tư những số tiền lớn và nguồn nhân lực mạnh cho việc nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo, mà không có những chiến lược nhằm bảo đảm kết quả của những đầu tư ấy, các nguồn lực sẽ bị lãng phí và thất bại là điều cầm chắc. Cho dù đã có một cuộc thảo luận về việc tổ chức một vài trường đại học theo mô hình Mỹ, cho đến nay vẫn chưa có một ý tưởng hay nguồn tài chính nào đủ lớn để thực hiện. Thế mà một tờ báo đã tường thuật phát ngôn của một quan chức với quan điểm cho rằng: “Không nên có sự phân biệt tôn ti thứ bậc hay cách biệt trong tiêu chuẩn giữa các trường đại học, cũng như những cải cách thay đổi đối với các trường đại học đẳng cấp quốc tế, cần được áp dụng cho tất cả các trường đại học”. Thái độ này cho thấy một sự hiểu lầm hoàn toàn vì hệ thống các trường Hoa Kỳ có sự phân biệt tôn ti thứ bậc rất rõ giữa các trường công.   Xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế là một việc đòi hỏi lên kế hoạch thận trọng và hiểu biết rõ về những chỗ yếu của hệ thống hiện tại, để từ đó có những bước đi, giải pháp thích hợp, chứ không phải như một quan niệm sai lầm cho rằng chỉ cần bơm thêm tiền và nguồn lực cho trường đại học yếu kém đó.   Cách làm việc quan liêu           Philip G. Altbach là Giám đốc Trung tâm Giáo dục Đại học, Trường Đại học Boston, Hoa Kỳ.         GS. N. Jayaram, Hiệu trưởng Trường Khoa học Xã hội, thuộc Viện Khoa học Xã hội Tata, Mumbai, India.         Ấn Độ nổi tiếng thế giới về chế độ quan liêu cứng nhắc, và giáo dục đại học Ấn vừa khớp với cái khuôn ấy. Rất ít quyết định được đưa ra mà không có sự cho phép của cấp trên, và bánh xe của quá trình ra quyết định thì quay rất chậm. Nỗi khiếp sợ sụp đổ hoặc mất quyền kiểm soát đã giúp tệ quan liêu cố thủ. Giảng viên và các nhà quản lý ở các trường đại học Ấn có ít động lực khích lệ để cải cách giáo dục đại học, thậm chí thực tế lại còn trái ngược. Hoàn toàn không thể xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế trong một bối cảnh quan liêu như vậy. Nếu những trường mới thành lập phải chịu đựng trách nhiệm với cả chính quyền Trung ương và chính quyền tiểu bang sở tại, gánh nặng quan liêu sẽ trở thành quá sức chịu đựng.  Địa điểm xây dựng các trường đại học  Những trường đại học lớn cần được đặt trên một vùng đất thân thiện. Nói chung, những trường đại học tốt nhất thế giới nằm trong hay ít nhất là ở gần những trung tâm đô thị lớn, hoặc những nơi có sức mạnh và truyền thống học thuật lâu đời. Hoàn toàn có thể có những trường tốt ở mỗi tiểu bang của Ấn Độ, nhưng ý tưởng có một trường đại học đẳng cấp quốc tế thực sự (một trường có thể cạnh tranh được với những trường tốt nhất trên thế giới) ở những vùng như Guwahati hay Bhubaneshwar thì rõ ràng là phi thực tế. Thật vô cùng khó lôi cuốn được các giáo sư hàng đầu, thậm chí cả các sinh viên giỏi nhất khi hạ tầng “mềm” như những tiện nghi văn hóa cũng không có. Công nghệ kỹ thuật cao cũng không có mặt ở những vùng này và vì vậy thật khó cám dỗ người ta đến đó. Dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng bảo đảm có thể xây dựng được những trường đẳng cấp quốc tế ở những nơi như thế.  Cơ chế trả lương giảng viên  Giới học thuật Ấn Độ xứng đáng với đồng lương cao, và phong trào gần đây đòi nhanh chóng cải thiện đồng lương là một bước đi tích cực. Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu chỉ đơn thuần tăng lương cho các giảng viên mà không đồng thời kèm theo những cải cách cơ bản về cơ chế quản lý giảng viên. Giới học thuật Ấn được ban thưởng nhờ thâm niên, và nhờ sự tuân phục hơn là nhờ những nỗ lực cải cách và kết quả công việc. Chính điều đó các trường đại học đã không giữ được những người tài giỏi nhất, sáng láng nhất.    Quản trị và văn hóa học thuật  Các trường đại học Ấn bị mắc kẹt trong “văn hóa dễ bằng lòng với hiện tại”, nói cách khác, có rất ít cạnh tranh giữa các trường hay giữa các giảng viên. Các trường phụ thuộc nhiều vào những ý nghĩ nhất thời của các chính trị gia và không thể tự lên kế hoạch cho tương lai của mình. Giới giảng viên ít khi nắm quyền quản lý và lãnh đạo nhà trường. Tệ quan liêu cai trị mọi thứ và kéo lùi mọi cải tiến. Không có những thay đổi cốt yếu và sâu sắc về cơ chế quản trị và văn hóa của nhà trường, thì có rất ít khả năng nâng cao chất lượng. Một thách thức khác là một số trường đẳng cấp quốc tế đang được tạo ra bằng cách nâng cấp những trường hiện hữu. Điều này là cực kỳ khó, vì những trường này, với rất ít ngoại lệ, sa lầy trong tệ quan liêu và văn hóa bằng lòng với những gì xoàng xĩnh, khó lòng theo được những đổi thay và cải tiến, ngay cả với “củ cà rốt” nguồn lực bổ sung.   Tham nhũng tồn tại ở mọi cấp của hệ thống giáo dục đại học, từ chủ nghĩa thiên vị trong chính sách tuyển sinh và bổ nhiệm các chức vụ giảng viên, cho đến gian dối trong thi cử, hệ thống luyện thi đáng ngờ, và nhiều thứ khác nữa. Gây thiệt hại ở mọi cấp độ, tham nhũng phá hủy văn hóa nghiên cứu và khiến mục tiêu đại học đẳng cấp quốc tế trở thành bất khả thi.   Tuyển dụng và sử dụng người tài             Sinh viên Ấn Độ ở thủ phủ công nghệ thông tin Bangalore.           Các trường đại học đẳng cấp quốc tế là những tổ chức mang tính chất hoạt động theo chế độ nhân tài một cách sâu sắc nhất. Họ tuyển dụng những giáo sư giỏi nhất, nhận những sinh viên thông minh nhất, khen thưởng những giảng viên sáng láng nhất, và tất cả mọi quyết định đều được đưa ra trên cơ sở cân nhắc về chất lượng. Họ từ chối – và trừng phạt- thói đạo văn, chủ nghĩa thiên vị trong bổ nhiệm, và bất kỳ hình thức tham nhũng nào. Nhiều giảng viên Ấn, tiếc thay, không phản ánh những giá trị này. Có những vấn đề trở ngại có tính chất cơ chế. Thực tiễn của việc tuyển sinh và bổ nhiệm giảng viên dựa trên những chỉ tiêu cứng nhắc dành cho những nhóm dân số cụ thể – đến 49%- tuy có ý tốt hay có lý do, vô hình trung đã ngăn cản chế độ nhân tài. Ăn sâu vào xã hội và nền chính trị Ấn, hệ thống dành chỗ trước này có thể giải thích được, nhưng để thành công trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, thì chế độ nhân tài phải là một nguyên tắc thúc đẩy cơ bản.       Vai trò của nghiên cứu   Các trường đại học đẳng cấp quốc tế trước hết phải là những trường nghiên cứu rất mạnh. Nhưng  có thể nói do hàng loạt trở ngại trong việc xây dựng văn hóa nghiên cứu, nên hiện nay mặc dù trong hệ thống đại học Ấn có một vài khoa có trình độ cao trong nghiên cứu và nhiều giáo sư có những thành tích đáng kể đang làm việc, nhưng không có một trường đại học nào ở Ấn là đại học nghiên cứu. Trong khi đó các Viện Khoa học Công nghệ, và các Viện Nghiên cứu Khoa học Cơ bản Tata, Viện Nghiên cứu Y khoa ở Ấn đã tạo ra những kết quả nghiên cứu đầy ấn tượng và được quốc tế kính trọng.   Nguồn lực tài chính  Hơn 32 triệu rupi cho 12 trường đại học quốc gia, cộng với một con số ấn tượng được thông báo cho những dự án liên quan, nghe có vẻ như là một số tiền lớn. Nhưng để tạo và duy trì một trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế có khả năng chiếm một vị trí trong nhóm các trường tinh hoa là một việc tốn kém hơn rất nhiều. Ví dụ, một trường nghiên cứu mạnh mới thành lập ở Trung Quốc tốn khoảng 700 triệu USD tiền xây dựng và ngân sách hoạt động hằng năm là gần 400 triệu USD.   ***  Ấn Độ muốn thành công trong nền kinh tế tri thức, thì cần phải có những trường đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng những khó khăn, trở ngại đang gặp phải trên con đường tạo ra một trường đại học như vậy cho thấy cần nhìn nhận lại giải pháp được coi là có tính quyết định: Tiêu một số tiền lớn theo kiểu rải đều và sao chép những mô hình đào tạo thành công của Hoa Kỳ.   Phạm Thị Ly dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác đào tạo đại học giữa Việt Nam và Trung Quốc:  THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT      T&#211;M TẮT:  Từ khi quan hệ Việt Nam &#8211; Trung Quốc được b&#236;nh thường h&#243;a đến nay, hoạt động hợp t&#225;c trong lĩnh vực gi&#225;o dục, đặc biệt l&#224; gi&#225;o dục đại học giữa hai Ch&#237;nh phủ v&#224; c&#225;c Trường Đại học, Cao đẳng của hai nước diễn ra mạnh mẽ v&#224; phong ph&#250;. Việc hợp t&#225;c n&#224;y đ&#227; mang lại cơ hội học tập, n&#226;ng cao tr&#236;nh độ cho nh&#226;n d&#226;n hai nước, đặc biệt l&#224; đối với Việt Nam, g&#243;p phần cho sự ph&#225;t triển ổn định, to&#224;n diện v&#224; l&#226;u d&#224;i của mối quan hệ Việt – Trung. Tuy nhi&#234;n b&#234;n cạnh đ&#243;, việc hợp t&#225;c n&#224;y cũng đặt ra những kh&#243; khăn, th&#225;ch thức kh&#244;ng nhỏ đối với Việt Nam trong tương lai.  B&#224;i viết sẽ tr&#236;nh b&#224;y về thực trạng hợp t&#225;c đ&#224;o tạo đại học giữa Việt Nam v&#224; Trung Quốc, ph&#226;n t&#237;ch những đ&#243;ng g&#243;p, hạn chế của n&#243; đối với Việt Nam, từ đ&#243; đề xuất một số giải ph&#225;p khắc phục.    1. Nhu cầu hợp tác đào tạo đại học giữa Việt Nam và Trung Quốc  Giáo dục đại học của Trung Quốc kể từ khi cải cách, mở cửa đến nay phát triển rất mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Xét về số lượng, tính đến nay Trung Quốc có khoảng hơn 1150 trường đại học; về chất lượng đào tạo của các trường đại học ở Trung Quốc cũng đã bước đầu được khẳng định và vươn ra tầm thế giới. Theo bảng xếp hạng của Trường Đại học giao thông Thượng Hải năm 2008, Trung Quốc đã có 18 trường được xếp vào nhóm 500 trường đại học hàng đầu của thể giới và nhóm 100 trường đại học hàng đầu của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.     Bảng 1: Tổng hợp thứ hạng của 10 trường đại học hàng đầu ở Trung Quốc năm 2008 (không bao gồm Hồng Kông và Đài Loan)          STT      World  Rank      Institution      Region      Regional Rank      Country      National  Rank          1      201-302       Nanjing Univ      Asia/Pac      23-41      China       1-6          2      201-302      Peking Univ      Asia/Pac      23-41      China      1-6          3      201-302      Shanghai Jiao Tong Univ      Asia/Pac      23-41      China      1-6          4      201-302      Tsinghua Univ      Asia/Pac      23-41      China      1-6          5      201-302      Univ Sci & Tech China      Asia/Pac      23-41      China      1-6          6      201-302      Zhejiang Univ      Asia/Pac      23-41      China      1-6          7      303-401      Fudan Univ      Asia/Pac      42-68      China      7          8      402-503      China Agr Univ      Asia/Pac      69-100      China      8-18          9      402-503      Dalian Univ Tech      Asia/Pac      69-100      China      8-18          10      402-503      Jilin Univ      Asia/Pac      69-100      China      8-18          Nguồn: Center for World-Class Universities, Shanghai Jiao Tong University.     Qua bảng tổng hợp trên, 6 trường Đại học nổi tiếng nhất của Trung Quốc gồm: Đại học Nam Kinh, Đại học Bắc Kinh, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Thanh Hoa, Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc và Đại học Triết Giang đang ở nhóm các trường đại học có thứ hạng từ 23 đến 40 của khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thứ hạng từ 201 đến 302 của thế giới; Trường Đại học Phúc Đán đứng thứ 7 của Trung Quốc được xếp ở nhóm có thứ hạng từ 41 đến 68 của khu vực và nhóm có thứ hạng từ 303 đến 401 của thế giới,… Tuy chưa có các trường đại học đứng hàng đầu thế giới, nhưng Trung Quốc đang có một khoảng cách khá xa cả về chất lượng lẫn trình độ đào tạo so với hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam.  Đối với Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, hệ thống các trường đại học phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt đó lại thiên về quy mô, trong khi chất lượng đào tạo lại không được quan tâm đúng mức, làm cho nguồn nhân lực được đào tạo ra không đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có trường đại học nào được xếp vào nhóm 200 trường đại học uy tín của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.   Sự phát triển của Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra yêu cầu phải đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng quốc tế. Tuy nhiên, do hệ thống các trường đại học trong nước chưa thể đáp ứng được, nên trong nhiều năm qua, Chính phủ và người dân Việt Nam đã phải bỏ ra một khoản kinh phí khá lớn để đưa học sinh Việt Nam sang học tập ở các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và cả Trung Quốc.  Tuy chất lượng đào tạo đại học của Trung Quốc không bằng các nước châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, nhưng với lợi thế chi phí học tập và sinh hoạt rẻ, đi lại thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều người dân Việt Nam, nên nhu cầu du học tại Trung Quốc của học sinh Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây.  Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học và cao đẳng hai nước đẩy mạnh các hoạt động hợp tác đào tạo để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân hai nước.     2. Hợp tác đào tạo đại học giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1993 đến nay  2.1. Hoạt động hợp tác giữa Chính phủ hai nước  Từ khi chính thức bình thường hóa đến nay, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc từng bước được khôi phục và phát triển. Khởi đầu cho hoạt động hợp tác chính thức trong lĩnh vực giáo dục giữa Chính phủ hai nước đó là việc kí kết “Biên bản hội đàm về hợp tác giáo dục Việt – Trung năm 1993” nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Đoàn đại biểu giáo dục Việt Nam do Bộ trưởng Trần Hồng Quân dẫn đầu vào tháng 02 năm 1993.  Tiếp sau đó, ngành giáo dục hai nước lần lượt kí kết các văn kiện hợp tác cho từng giai đoạn: “Biên bản hội đàm về hợp tác giáo dục từ 1994 đến 1996”(12/1993); thỏa thuận về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo giữa hai nước trong giai đoạn 1997 – 2000 (27/9/1996); “Thỏa thuận về giao lưu và hợp tác giáo dục giữa hai nước trong giai đoạn 2001 – 2004” (18/4/2000); “Chương trình hợp tác và giao lưu giáo dục Việt – Trung giai đoạn 2005 – 2010”(2005),….   Nội dung của các thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc bao gồm: “trao đổi đoàn đại biểu, trao đổi giáo viên, trao đổi lưu học sinh, hợp tác nghiên cứu khoa học, tổ chức các hoạt động học thuật, khuyến khích hợp tác trực tiếp giữa các cơ sở nghiên cứu giáo dục và các trường học của hai nước”1. Đặc biệt trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (25/4 – 01/5/2009), hai bên nhất trí tăng cường hợp tác về giáo dục đại học và sau đại học, Trung Quốc giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến sĩ từ năm 2009 đến 2020 và hỗ trợ Việt Nam kiểm định chất lượng giáo dục bậc đại học. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Chu Tế đã ký Hiệp định Công nhận tương đương bằng cấp giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục Trung Quốc.  Trên cơ sở những thỏa thuận trên, từ năm 1993 đến nay, hoạt động hợp tác giáo dục giữa Chính phủ hai nước đã đạt được những thành tựu đáng kể:  Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc đã có những hỗ trợ cho một số trường đại học của Việt Nam trong việc đào tạo nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Trung Quốc. Đặc biệt, Bộ Giáo dục Trung Quốc đã giúp (kinh phí và nhân lực) biên soạn hoàn chỉnh bộ giáo trình Hán ngữ dùng trong các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam và thực hiện chương trình đưa giảng viên tình nguyện của Trung Quốc sang giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc tại khoa Trung văn của một số trường đại học Việt Nam.  Thứ hai, chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi thực tập sinh giữa hai nước bắt đầu được triển khai và đi vào ổn định. Trong giai đoạn từ năm học 1995 – 1996 đến năm học 2004 – 2005, Chính phủ Trung Quốc đã cấp học bổng cho 425 lưu học sinh Việt Nam sang du học tại Trung Quốc và ngược lại, số lưu học sinh Trung Quốc sang du học ở Việt Nam theo chương trình này là 92 người2. Năm 2002 và 2003, Trung Quốc cấp thêm 40 suất học bổng/năm ngoài kế hoạch và từ năm 2004 tăng lên 60 suất/năm để bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên dạy tiếng Trung Quốc trong dịp hè tại Trung Quốc.  Thứ ba, bên cạnh số du học sinh được đài thọ bằng nguồn học bổng viện trợ của Chính phủ hai nước, còn có nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học tự túc và bằng ngân sách Nhà nước (theo Đề án 322) tại các trường đại học của Trung Quốc. Tính đến năm 2006, có khoảng 10.000 lưu học sinh Việt Nam đang theo học tại Trung Quốc3, đưa Trung Quốc trở thành một trong những nước mà người Việt Nam sang học đông nhất.  Những kết quả trên cho thấy, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay không ngừng phát triển, không chỉ hợp tác đào tạo ngôn ngữ của hai nước mà còn cả các ngành thể thao, văn hóa, khoa học – kĩ thuật,…dưới nhiều hình thức khác nhau.  2.2. Hoạt động hợp tác trực tiếp giữa các trường đại học  Bên cạnh hoạt động hợp tác cấp Nhà nước, các trường đại học ở Việt Nam và Trung Quốc đã trực tiếp hợp tác đào tạo trình độ đại học chính quy và liên thông với nhiều ngành đào tạo khác nhau với hình thức chủ yếu là tổ chức các chương trình du học tại chỗ ở Việt Nam với nhiều mô hình như:  Hợp tác đào tạo theo mô hình 2+2  Mô hình này thường được áp dụng cho các ngành kinh tế, khoa học – công nghệ. Sinh viên có hai năm học ngoại ngữ và các môn cơ sở ở trong nước để đạt một khối lượng kiến thức cơ bản vững chắc cho chuyên ngành, đồng thời giúp sinh viên giảm được rất nhiều chi phí học tập. Trong hai năm cuối, sinh viên học chuyên ngành, thực tập tại trường đại học ở Trung Quốc.  Hợp tác đào tạo theo mô hình 1+3  Mô hình này thường được áp dụng cho ngành ngôn ngữ Trung Quốc, nhằm giúp sinh viên có 1 năm học tiếng Trung Quốc hoặc Việt Nam ở trong nước. Trong ba năm cuối, sinh viên học chuyên ngành, thực tập tại trường đại học ở Trung Quốc.  Hợp tác đào tạo theo mô hình 1+4  Sinh viên sẽ có một năm học tiếng Trung Quốc ở trong nước để có thể đạt được trình độ Hán ngữ tương đương HSK cấp độ 3. Trong 4 năm còn lại, sinh viên học chuyên ngành, thực tập,… tại trường đại học ở Trung Quốc.  Ngoài ra, các trường đại học ở Việt Nam và Trung Quốc đào tạo ngành tiếng Trung Quốc và tiếng Việt còn có những chương trình hợp tác ngắn hạn dưới 1 năm dành cho sinh viên sang học tập và thực hành.  Theo thống kê của Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Giáo dục Đào tạo, tính đến năm 2006, có khoảng trên 30 trường đại học và cao đẳng Việt Nam có quan hệ giao lưu, hợp tác trực tiếp với trên 45 trường đại học và học viện của Trung Quốc và hơn 20 Khoa ở các Trường Đại học Việt Nam đào tạo ngành tiếng Trung Quốc hoặc văn hóa Trung Quốc 4 (xem bảng 2), đưa Trung Quốc trở thành nước có nhiều trường đại học đang hợp tác đào tạo với các trường đại học Việt Nam nhất.     Bảng 2: Các trường đại học của Trung Quốc có hợp tác đào tạo trực tiếp với các trường đại học của Việt Nam          STT      Trường Đại học      STT      Trường Đại học          01      Trường Đại học Dân tộc Vân Nam      18      Trường Đại học Quảng Tây          02      Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Điện tử Quế Lâm      19      Trường Đại học Tài chính Thượng Hải           03      Trường Đại học Bách khoa Quế Lâm      20      Học viện Dân tộc Quảng Tây          04      Trường Đại học Sư phạm Quế Lâm      21      Học viện Hồng Hà          05      Trường Đại học Công nghệ Quế Lâm      22      Trường Đai học Nông nghiệp Vân Nam           06      Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung      23      Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây           07      Trường Đại học Dầu khí Trung Quốc      24      Học viện TDTT Quảng Châu          08      Học viện Khoa học và Công nghệ Hoa Bắc      25      Trường Đại học y dược Quảng Châu          09      Trường Đại học Mỏ và Công nghệ Trung Quốc      26      Trường Đại học ngoại ngữ Bắc Kinh          10      Trường Đại học Tây Bắc (Tây An)      27      Trường Đại học Khoa học Vũ Hán          11      Trường Đại học Sư phạm An Huy       28      Trường Đại học Công nghệ Hoa Nam          12      Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Côn Minh      29      Trường Đại học Công nghiệp Nam Kinh           13      Trường Đại học Công nghiệp An Huy       30      Trường Đại học Sư phạm Hoa Nam          14      Trường Đại học Điện lực Hoa Bắc      31      Trường Đại học y An Huy          15      Trường Đại học Công nghệ Liêu Ninh      32      Học viện Bách Sắc           16      Trường Đại học Sư Phạm Nam Kinh      33      Trường Đại học Ngoại ngữ Ngoại thương Quảng Đông          17      Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Sơn Đông      34      Trường Đại học Công nghệ Quảng Đông              Nguồn: Số liệu do tác giả tổng hợp từ các trường đại học ở Việt Nam          3. Một số nhận xét, đánh giá và đề xuất  Những tác động tích cực  Hoạt động hợp tác đào tạo đại học giữa chính phủ hai nước và giữa các trường đại học Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian qua diễn ra khá linh hoạt, đơn giản và hiệu quả, giúp người học có thể tiết kiệm được chi phí đào tạo, tạo ra nhiều cơ hội học tập ở các trường đại học của Trung Quốc có chất lượng khá hơn ở Việt Nam cho nhiều học sinh Việt Nam. Việc hợp tác giữa các trường đại học ở Việt Nam và Trung Quốc trong đào tạo tiếng Việt và tiếng Trung cũng đã mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo hai chuyên ngành này.  Kết quả của hoạt động hợp tác trên đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của mỗi nước, đặc biệt là đối với Việt Nam, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển toàn diện, ổn định và lâu dài của quan hệ Việt – Trung. Trong thời gian tới, hoạt động hợp tác này sẽ có khả năng tiếp tục phát triển mạnh hơn.     Những hạn chế và thách thức đối với Việt Nam  Thực trạng hợp tác đào tạo đại học giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian qua cho thấy, các trường đại học của Trung Quốc đang hợp tác với các trường đại học của Việt Nam phần lớn là những trường có chất lượng chưa cao (không có trường nào nằm trong số các trường có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng 100 của khu vực và 500 của thế giới).  Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, đều là thành viên của WTO, mặt bằng chất lượng đào tạo của các trường đại học Trung Quốc hiện nay hơn hẳn Việt Nam và đang thu hút mạnh mẽ lực lượng học sinh Việt Nam. Với tốc độ phát triển của nền giáo dục đại học Trung Quốc như hiện nay và thực hiện những cam kết trong giáo dục giữa Việt Nam với WTO trong thời gian tới, chắc chắn các trường đại học Việt Nam sẽ bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các trường đại học của Trung Quốc nói chung và đặc biệt các trường thuộc các tỉnh phía Nam Trung Quốc.     Một số ý kiến đề xuất đối với Việt Nam  Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc cần tiếp tục thúc đẩy hoạt động hợp tác giáo dục giữa hai nước, để đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, trong điều kiện hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại chưa đáp ứng kịp. Tuy nhiên bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng cần công bố những thông tin cụ thể về chất lượng của các chương trình đào tạo liên kết và các trường liên kết của Trung Quốc để hạn chế các chương trình liên kết chất lượng thấp, gây lãng phí.  Thứ hai, Trung Quốc hiện nay (2008) đã có 18 trường đại học nằm trong nhóm từ 201 đến 500 trường nổi tiếng của thế giới và nhóm 100 của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Việt Nam cần có những chiến lược cụ thể để khuyến khích, thu hút các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc này hợp tác với các trường đại học Việt Nam và đầu tư vào Việt Nam. Với sự phát triển của quan hệ Việt – Trung như hiện nay, Việt Nam cũng có thể thông qua kênh ngoại giao để thu hút một số trường đại học hàng đầu của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam như mô hình của Trường Đại học Việt – Đức, Việt – Pháp đang được triển khai gần đây.  Thứ ba, Việt Nam cần phải đẩy mạnh cải cách, tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam, tạo ra được những trường đại học có tầm cỡ khu vực và quốc tế, đủ sức cạnh tranh với các trường đại học Trung Quốc trong tương lai.  ——–  *ThS. Trường Đại học Đồng Tháp  1 Trung tâm KHXH & NV Quốc gia – Trung tâm NC Trung Quốc (2001), Quan hệ kinh tế văn hoá Việt Nam – Trung Quốc: Hiện trạng và triển vọng – Kỉ yếu hội thảo khoa học, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 230.  2 Theo thống kê của Vụ quan hệ quốc tế, Bộ Giáo dục và đào tạo.  3 Bộ Ngoại giao Việt Nam (2007), Thúc đẩy hợp tác toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, http://www.mofa.gov.vn/.  4 Vũ Minh Tuấn (2005), “Giao lưu và hợp tác giáo dục Việt – Trung thực trạng và triển vọng nền giáo dục Trung Quốc”, Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển hướng tới tương lai, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 566.     —————-  Tài liệu tham khảo  1. Bộ Ngoại giao Việt Nam (2007), Thúc đẩy hợp tác toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, http://www.mofa.gov.vn/.  2.  Nian Cai Liu, “Các trường đại học nghiên cứu ở Trung Quốc, sự phân biệt, cách phân loại và vị trí, đẳng cấp thế giới trong tương lai”, Thông tin giáo dục quốc tế, Sô 4/2008, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Tp. HCM.  3. Trung tâm KHXH & NV Quốc gia – Trung tâm NC Trung Quốc (2001), Quan hệ kinh tế văn hoá Việt Nam – Trung Quốc: Hiện trạng và triển vọng – Kỉ yếu hội thảo khoa học, Nxb KHXH, Hà Nội.  4. Vũ Minh Tuấn (2005), “Giao lưu và hợp tác giáo dục Việt – Trung thực trạng và triển vọng nền giáo dục Trung Quốc”, Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển hướng tới tương lai, Nxb KHXH, Hà Nội.  5.http://www.moet.edu.vn và website của các trường đại học ở Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác giữa ĐH Quốc gia TP HCM và ICISE      Ngay sau Tuần lễ khoa học “Gặp gỡ Việt Nam”  lần thứ 9, ngày 20/8, GS Phan Thanh Bình – Hiệu trưởng Đại học Quốc gia  TP HCM đã ký kết với GS Trần Thanh Vân hợp tác đào tạo và nghiên cứu tại  Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành ICISE, Quy Nhơn.    Mục tiêu của chương trình là tập hợp các nguồn lực trong và ngoài nước, hỗ trợ, hợp tác lẫn nhau nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp giáo dục, đạo tạo và phát triển khoa học – công nghệ.  Đại học Quốc gia TP HCM bao gồm một hệ thống các trường đại học, trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao được Nhà nước ưu tiên phát triển.   Trong khi đó, tổ chức “Gặp gỡ Việt Nam” do vợ chồng GS Trần Thanh Vân sáng lập là tổ chức quốc tế khoa học – giáo dục có vai trò thúc đẩy khoa học Việt Nam phát triển, hội nhập với thế giới, giúp đỡ và đào tạo nhân tài cho Việt Nam.  GS Trần Thanh Vân, người sáng lập Hội khoa học “Gặp gỡ Việt Nam”, cho biết, chương trình hợp tác giữa hai bên gồm các nội dung, trường Đại học Quốc gia TP HCM phối hợp với “Gặp gỡ Việt Nam” tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế, quốc gia cũng như các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn tại Trung tâm ICISE.  Cử các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ tham gia tổ chức các hoạt động tại Trung tâm ICISE đối với các hoạt động trong khuôn khổ hợp tác song phương. Mời các nhà khoa học kiệt xuất về làm việc tại Trung tâm ICISE và Đại học Quốc gia TP HCM. Kêu gọi đầu tư và khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất Trung tâm ICISE phát triển lâu dài.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác nghiên cứu KH – Một trong những điều kiện tiên quyết để hội nhập vào cộng đồng ĐH quốc tế      Đổi mới mô hình tổ chức, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển hệ thống doanh nghiệp trực thuộc để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, đó là những cải cách của trường đại học Bách khoa Hà Nội đang tiến hành từ vài năm nay với mục tiêu trở thành một trường đại học hoạt động theo chuẩn mực quốc tế.  Giáo sư Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBK HN) đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về những cải cách này.    PV: Xin Giáo sư cho biết những cải cách của ĐHBKHN được thực hiện trên mô hình tổ chức nào?  GS. Nguyễn Trọng Giảng: Muốn hội nhập vào cộng đồng đại học quốc tế, trước hết ĐHBK HN phải hội nhập về mô hình. Vì thế ngay từ đầu những năm 90, chúng tôi đã tìm hiểu và thấy mô hình của đại học các nước Âu Mỹ thích hợp với tính tự chủ của đại học (điều mà sớm hay muộn hệ thống đại học của chúng ta sẽ phải thực thi) và quyết định sẽ dựa trên mô hình đại học của các nước đó để tổ chức lại mô hình hoạt động của ĐHBK HN. Theo đó, ĐHBK HN là University bao gồm các Học viện (Colleges hoặc Schools). Hiện nay, ĐHBK HN đã hình thành 9 Học viện được tổ chức rất mạnh về các mặt quản lý: khoa học, đào tạo, tài chính… để xây dựng, quản lý và điều hành toàn bộ chương trình đào tạo. Các tổ bộ môn không còn nhiệm vụ quản ngành, chỉ tham gia giảng dạy theo sự điều hành của Học viện và nghiên cứu khoa học. (Trong tương lai, các tổ bộ môn sẽ chỉ là các nhóm nghiên cứu xung quanh các phòng thí nghiệm).   Mô hình của trường như vậy, nhưng việc giảng viên dành quá nhiều thời gian cho giảng dạy thì họ đâu có thời gian nghiên cứu khoa học?   Thực ra, ở ĐHBK với 15 sinh viên/giảng viên thì không phải là thiếu giảng viên mà là chất lượng đội ngũ nói chung còn thấp. Trường chúng tôi với trên 800 cán bộ trẻ dưới 35 tuổi rất khao khát được có đề tài nghiên cứu. Năm nay mặc dù trường đề xuất  270 đề tài cấp Bộ nhưng chỉ được cấp kinh phí có 33 tỷ (mỗi đề tài vài chục triệu) nên số đề tài có thể triển khai được không nhiều. Hiện nay, có thể nói hầu hết các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, thậm chí cấp Nhà nước chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng và dàn trải ra nhiều lĩnh vực, phục vụ chủ yếu cho yêu cầu sản xuất trước mắt của các doanh nghiệp. Theo tôi, muốn nâng cao vị thế khoa học cho các trường đại học, tạo cho giảng viên có nhiều cơ hội nghiên cứu khoa học, Nhà nước cần giao cho các trường đại học xây dựng những chương trình nghiên cứu có tính chiến lược, có mục tiêu cụ thể đáp ứng yêu cầu phát triển về lâu dài của đất nước. Chẳng hạn như với chương trình sản xuất máy bay không người lái, kinh phí hàng nghìn tỉ đồng sẽ lôi kéo hàng chục ngành tham gia với hàng trăm đề tài được triển khai để giải quyết rất nhiều vấn đề như thiết bị bay, khí động học, điều khiển, năng lượng của động cơ, vật liệu, xử lý thông tin truyền thông… Như vậy, buộc nhà trường phải thu hút cán bộ trẻ, nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu.             Tòa nhà ITIMS – kết quả hợp tác quốc tế giữa ĐHBK HN và đối tác nước ngoài        Hẳn còn lâu ĐHBK HN mới trở thành một trường đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng theo Giáo sư bao giờ thì có thể nói ĐHBK HN  đang hoạt động theo chuẩn mực quốc tế?   Trong chiến lược phát triển ĐHBK HN được Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phê duyệt năm 2006, mục tiêu đặt ra rất rõ là ĐHBK HN phấn đấu trở thành trường đại học đa ngành và có một số lĩnh vực đạt chuẩn quốc tế, là địa chỉ tin cậy của các nhà đầu tư, giới doanh nghiệp. Sản phẩm của nhà trường là đáp ứng yêu cầu của xã hội, đồng thời phải hội nhập quốc tế tốt nhất có thể, mà trước hết là hội nhập về khoa học, cùng với các đối tác nước ngoài thực hiện các chương trình nghiên cứu, chứ không phải là hội nhập về giảng dạy (đó là hội nhập cấp thấp). Hiện ĐHBK HN đã có một vài trung tâm nghiên cứu hợp tác với nước ngoài như Trung tâm nghiên cứu quốc tế về thông tin đa phương tiện, truyền thông và ứng dụng (gọi tắt là MICA) hợp tác với CNRS (Pháp) hình thành từ đầu năm 2000, vừa hợp tác tiến hành các đề tài nghiên cứu (chủ yếu là là các đề tài của Âu-Mỹ) vừa đào tạo tiến sĩ do hai bên cùng điều hành. Các nhà nghiên cứu 6 tháng làm việc ở Việt Nam, 6 tháng làm việc ở Pháp. Trung tâm này được CNRS xác nhận là một trong hai phòng thí nghiệm nước ngoài ở châu Á của họ. Chậm nhất trong tháng 7 năm nay, chúng tôi sẽ khánh thành một trung tâm nghiên cứu hỗn hợp khác là Trung tâm khoa học vật liệu tính toán (Khoa học thiết kế vật liệu) do một giáo sư người Pháp làm giám đốc, hai phó giám đốc người Việt; tiếp theo đó vào tháng 10 sẽ là Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ định vị toàn cầu). Theo tôi, việc cùng một lúc đưa mọi hoạt động của trường theo chuẩn quốc tế là điều không thể. Trước hết cần tập trung vào hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là triển khai hợp tác quốc tế những lĩnh vực có thế mạnh rồi từ đó nhân rộng ra.   Xin GS cho biết kinh phí đầu tư cho nghiên cứu của mỗi trung tâm này là bao nhiêu?  Mỗi năm đối tác đầu tư khoảng 100.000 tới 200.000 Euro để đáp ứng cho yêu cầu quản lý, chưa kể kinh phí cho nghiên cứu và học bổng cho các nghiên cứu sinh. Từ kết quả nghiên cứu, thu nhập bình quân của các trưởng nhóm nghiên cứu ở các trung tâm này thường là 15-20 triệu/tháng.           Mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học và công nghiệp ở Việt Nam kém nhưng lỗi không phải hoàn toàn là do các trường đại học. Lý do chính là ở các nước phát triển, một doanh nghiệp muốn cạnh tranh thành công phải nghĩ đến công nghệ cho 5-10 năm tới, do vậy buộc họ phải tìm tới các trường đại học để đặt hàng. Tôi đã chứng kiến trong phòng thí nghiệm của một trường đại học ở nước ngoài do 3 công ty đầu tư thiết bị. Còn ở ta, công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu so với công nghệ sẵn có của thế giới. Khi cần đổi mới công nghệ thường họ mua công nghệ của nước ngoài, vừa đáp ứng được yêu cầu về thời cơ kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn về tài chính. Công ty Lioa là một ví dụ điển hình. Thường các doanh nghiệp chỉ tìm đến các trường đại học nhờ giúp họ bảo trợ công nghệ, đào tạo đội ngũ và khắc phục khi có hỏng hóc xảy ra.          Ngoài các trung tâm này, nhà trường có giải pháp nào để khắc phục được tình trạng giảng viên nhất là giảng viên trẻ thiếu các đề tài nghiên cứu?  Từ 2009 nhà trường có chủ trương tự xây dựng các chương trình, đề tài nghiên cứu đáp ứng yêu cầu trước mắt của phát triển kinh tế xã hội (không ỷ lại vào các chương trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nước) và các chương trình này cũng không cần được Nhà nước chấp nhận. Trên cơ sở các đề tài đó Nhà trường sẽ tìm đối tác trong và ngoài nước có nhu cầu, có kinh phí để triển khai. Như vậy, sẽ đa dạng hóa được các nguồn thu để giảng viên có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đồng thời giúp Nhà trường có nhiều thuận lợi trong việc chuyển giao công nghệ. (Như việc nhà trường đã hình thành các doanh nghiệp trực thuộc để tự thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu hoặc liên kết, góp cổ phần bằng các sản phẩm công nghệ với các doanh nghiệp bên ngoài…).   Nhiều người cho rằng việc ĐHBK HN hình thành các đơn vị kinh doanh để thương mại hóa các sản phẩm của mình có nguy cơ làm mất đi tính tự do trong nghiên cứu của đại học. Ý kiến của GS?  Làm sao mất đi được tính chất của đại học. Hiện nay trên thế giới người ta hình thành các thành phố khoa học công nghệ như ở Nhật Bản, Hàn Quốc… Đây là nơi tập trung các trường đại học KH&CN rất mạnh, bên cạnh đó là cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ để lôi kéo các doanh nghiệp vào. Các doanh nghiệp công nghệ cao là một bộ phận trong các thành phố này, có chức năng liên kết nhà trường với công nghiệp. Điều này thúc đẩy các nghiên cứu, đào tạo của trường đại học gắn với đời sống xã hội.  GS có thể nói một cách khái quát trình tự xây dựng các chương trình nghiên cứu như thế nào?  Các chương trình, đề tài nghiên cứu hiện nay đòi hỏi sự phối hợp liên ngành. Vì vậy, nhà trường hình thành các Hội đồng liên ngành với chức năng đề xuất ra các chương trình nghiên cứu trên cơ sở định hướng nghiên cứu trong vòng 5 năm tới của nhà trường và của các Học viện, các nhóm nghiên cứu; xem xét tính khả thi của các chương trình nghiên cứu; làm việc với các ban quản lý chương trình chi tiết hóa các đề tài sau đó thông báo rộng rãi để các giảng viên đăng ký tham gia; thẩm định tính khả thi của các đề tài đã được đăng ký trình Nhà trường xét duyệt.    Để làm được những chức năng như vậy, Hội đồng liên ngành được tổ chức như thế nào?  Hội đồng liên ngành bao gồm một số nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có uy tín cả về năng lực và phẩm chất. Chủ tịch Hội đồng là một giáo sư có khả năng điều hành, tập hợp tốt do nhà trường chỉ định. Các thành viên Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng đề xuất, nhà trường quyết định. Ý kiến của mọi thành viên Hội đồng đều có giá trị ngang nhau. Hội đồng liên ngành chỉ có chức năng tư vấn, mọi quyết định xét duyệt các chương trình đề tài thuộc Hội đồng khoa học của Nhà trường. Thành phần của Hội đồng liên ngành không cố định mà có thể thay đổi hằng năm và theo yêu cầu công việc. Khi phản biện các chương trình đề tài, Hội đồng có thể mời các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia.   Để nâng cao chất lượng nghiên cứu ngoài các giải pháp kể trên, theo GS cần có giải pháp nào khác?  Theo tôi, nói chung nếu cách tổ chức như trên vận hành tốt thì đương nhiên chất lượng nghiên cứu tại các trường đại học sẽ được nâng cao. Chúng tôi sẽ cố gắng đến năm 2030 nói đến ĐHBK HN đồng nghĩa nói đến một đại học có vị thế hàng đầu trong nghiên cứu của hệ thống các trường đại học của Việt Nam và có một vài lĩnh vực nghiên cứu ngang tầm quốc tế. Điều kiện tiên quyết để mục tiêu này thành hiện thực ĐHBK HN phải hội nhập tốt nhất có thể với cộng đồng đại học quốc tế trong nghiên cứu khoa học.            PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam      Trong nền văn minh tr&#237; tuệ đầu thế kỷ XXI hiện nay, kinh tế tri thức được t&#244;n vinh ở nhiều quốc gia ti&#234;n tiến tr&#234;n thế giới. Đ&#226;y l&#224; nền kinh tế trong đ&#243; tri thức đ&#243;ng vai tr&#242; nguồn lực ch&#237;nh trong sự tăng trưởng kinh tế. B&#226;y giờ, thị trường to&#224;n cầu được đặc trưng bởi những nh&#226;n tố mới (như Tổ chức Thương mại Thế giới, c&#225;c tập đo&#224;n xuy&#234;n quốc gia, c&#225;c tổ chức phi ch&#237;nh phủ kết nối to&#224;n cầu), c&#243; sự chi phối của những quy tắc mới (c&#225;c hiệp định đa phương về thương mại, về dịch vụ v&#224; về sở hữu tr&#237; tuệ) v&#224; được li&#234;n th&#244;ng bởi c&#225;c c&#244;ng cụ mới l&#224; internet, điện thoại di động, mạng truyền th&#244;ng. Trong đ&#243;, ph&#225;t triển nguồn nh&#226;n lực l&#224; một vấn đề cực kỳ quan trọng, nhất l&#224; ở Việt Nam, một đất nước đang chuyển m&#236;nh bứt ph&#225; từ một nước n&#244;ng nghiệp ngh&#232;o n&#224;n lạc hậu sang một nước c&#244;ng nghiệp h&#243;a, hiện đại h&#243;a. Từ đ&#243;, gi&#225;o dục, nhất l&#224; gi&#225;o dục đại học c&#243; một vai tr&#242; rất quan trọng. Đặc biệt năm nay l&#224; năm gi&#225;o dục đại học Việt Nam phải c&#243; một bước chuyển mới c&#243; &#253; nghĩa quyết định, v&#236; theo Hiệp định GATS (General Agreement on Trade in Services), ng&#224;y 1-1-2009 l&#224; thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa ho&#224;n to&#224;n cho c&#225;c cơ sở gi&#225;o dục đại học c&#243; 100% vốn nước ngo&#224;i hoạt động trong nước. Nếu kh&#244;ng c&#243; chiến lược v&#224; những bước đi th&#237;ch hợp trong việc &nbsp;hội nhập quốc tế, gi&#225;o dục đại học Việt Nam kh&#244;ng thể đạt tr&#236;nh độ cao, chất lượng cao để c&#243; thể cạnh tranh v&#224; đứng vững b&#234;n cạnh c&#225;c trường đại học quốc tế.    1. THỜI CƠ CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM  Việt Nam đã gia nhập của WTO (World Trade Organization) vào ngày 7-11-2006 và là thành viên thứ 150. Sự kiện này đã mở ra một thời cơ to lớn cho giáo dục đại học Việt Nam:  1.1. Chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận với những xu thế phát triển giáo dục hiện đại, học tập được những kinh nghiệm tốt về giáo dục trên thế giới.  1.2. Có nhiều cơ hội thu hút các nguồn đầu tư về khoa học, kỹ thuật , cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hiện đại hoá điều kiện học tập và thu hút lực lượng chuyên gia giáo dục, kể cả Việt kiều, từ các nước.  1.3. Có điều kiện hợp tác xây dựng các cơ sở đào tạo đại học, chuyên nghiệp 100% vốn nước ngoài, tạo cơ hội cho học sinh, sinh viên Việt Nam có thể “du học tại chỗ” với chi phí thấp hơn và chất lượng có thể tốt hơn so với đi học ở nước ngoài.  1.4. Tình hình mới đòi hỏi phải cải tiến môi trường vận hành các hoạt động giáo dục, đổi mới thể chế quản lý, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, xây dựng hệ thống các chuẩn giáo dục theo thông lệ quốc tế.   1.5. Sản xuất, kinh doanh sau khi vào WTO được mở rộng, thúc đẩy cải cách giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực bậc cao.  1.6. Có cơ hội hội nhập tích cực với giáo dục quốc tế, tham gia các tổ chức kiểm định chất lượng quốc tế, ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về bằng cấp tương đương trên cơ sở hợp tác, liên kết, liên doanh tiến tới xác lập thương hiệu của riêng mình.  1.7. Hợp tác quốc tế tạo điều kiện phát triển nhiều chuyên ngành mới, tạo nhiều khả năng học tập, tìm kiếm việc làm cho sinh viên, học sinh.  1.8. Ta có điều kiện đổi mới tư duy làm việc theo kinh tế thị trường, hội nhập với khu vực và thế giới, nâng cao năng lực quản lí của đội ngũ cán bộ hiện nay.     2. THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM  2.1. Thách thức lớn nhất là làm sao vừa thực hiện những cam kết về giáo dục, vừa bảo đảm giữ vững chủ quyền quốc gia, thực hiện những mục tiêu cơ bản của ta về giáo dục, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Phải cảnh giác với những tác động tiêu cực trong hoạt động dịch vụ giáo dục nhằm thu lợi nhuận, trái với mục đích của giáo dục là phát triển con người, phát triển văn hoá, góp phần phát triển đất nước. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, cần tránh tình trạng bị lệ thuộc.  2.2. Cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục trên toàn thế giới sẽ rất gay go, đặc biệt về mặt chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ và khả năng kết nối với công nghiệp và dịch vụ xã hội. Các trường nước ngoài sẽ chiếm ưu thế về chất lượng, sinh viên ra trường có việc làm ngay, lương cao, cơ hội làm việc quốc tế trong lúc khả năng cạnh tranh bình đẳng của ta còn yếu kém. Chất lượng giáo dục Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về cung cấp nguồn nhân lực cho yêu cầu phát triển kinh tế, năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục Việt Nam, nhất là các trường đại học và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn yếu, chưa đủ sức tham gia thị trường giáo dục quốc tế, chưa đủ sức thu hút học sinh nước ngoài vào Việt Nam.  2.3. Xu hướng xuất khẩu giáo dục không lành mạnh từ các nước có nền giáo dục phát triển là thách thức và rủi ro rất lớn đối với giáo dục nước ta trong khi quản lý của ta về hoạt động giáo dục xuyên biên giới còn rất yếu kém, thiếu các văn bản pháp quy, tổ chức quản lý phân tán, chồng chéo. Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý các hoạt động đào tạo có yếu tố nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), đội ngũ cán bộ quản lý thiếu và yếu.  2.5. Đào tạo xuyên biên giới, e-learning sẽ xuất hiện nhiều hơn đòi hỏi ngành giáo dục phải có cơ chế quản lí thích hợp.   2.4. Nếu không tạo ra được những cơ sở đào tạo có khả năng cạnh tranh được với các cơ sở nước ngoài, các trường đại học trong nước sẽ đánh mất dần niềm tin của dân chúng, mất đi sự ủng hộ về chính sách và nguồn vốn cấp cho giáo dục đại học có thể vì thế mà sút giảm dần.  2.5. Xuất hiện hiện tượng rò rỉ chất xám theo các phong trào du học, tìm việc làm ở nước ngoài tự phát và không kiểm soát được; nhiều lao động bậc cao có xu hướng đi ra nước ngoài.  2.6. Các trường đại học tư thục xuất hiện nhiều hơn, thách thức khả năng quản lí và kiểm soát chất lượng của ngành giáo dục.  2.6. Liên tục điều chỉnh quy trình, tiêu chuẩn chất lượng đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải năng động hơn và cần có quy trình đánh giá, tiêu chuẩn chặt chẽ hơn, tin cậy hơn bằng cách kiểm toán độc lập, kiểm định độc lập.  2.7. Luật pháp, chế độ, chính sách thay đổi để phù hợp với quy định WTO, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục nước ngoài, cắt bỏ trợ cấp với các cơ sở trong nước, gỡ bỏ rào cản thương mại dịch vụ.  2.8.  Các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo chưa được rà soát và sửa đổi cho phù hợp với bối cảnh khi đã vào WTO, mô hình quản lý giáo dục còn mang nặng tính chất kế hoạch hoá tập trung, chưa phù hợp với giáo dục trong cơ chế thị trường, nặng về quản lý hành chính sự vụ, chưa quan tâm đầy đủ chất lượng. Vấn đề liên kết đào tạo chưa được quan tâm quản lý chặt chẽ, có thể dẫn đến nhiều phức tạp khi các đối tác yêu cầu thực hiện các nguyên tắc của WTO.   Dù có nhiều thách thức như thế, nhưng tất yếu chúng ta phải tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo và tăng tính cạnh tranh.     3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT  Để giải quyết những vấn đề về hợp tác quốc tế nêu trên nhằm đẩy mạnh chất lượng các trường đại học, thiết nghĩ cac cấp quản lý ở tầm vĩ mô và ở các trường đại học Việt Nam:  3.1. Trước hết, cần hoàn chỉnh hệ thống chính sách của Nhà nước về vấn đề hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ theo hướng nâng cao tính công bằng, khách quan trong tuyển chọn, đào tạo và sử dụng theo đúng yêu cầu thực tế của xã hội Việt Nam hiện nay.   3.2. Trong quá trình hợp tác quốc tế, nhân tố con người là quan trọng nhất. Vì thế tiếp theo, các cấp quản lý trường đại học cần quan tâm phổ cập kiến thức hội nhập cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường, sau đó sẽ mở rộng đến đội ngũ sinh viên.  –  Hàng năm có kế hoạch đào tạo cán bộ đang trực tiếp tham gia hội nhập quốc tế ở tất cả các ngành học. Đồng thời với việc cử đi đào tạo ở nước ngoài, cần có chiến lược và lộ trình thích hợp. Tổ chức cho các nhà khoa học tham gia các hội thảo và chương trình hợp tác nghiên cứu ở tầm quốc tế nhằm nâng cao khả năng hội nhập, đồng thời chuẩn bị đủ năng lực và trình độ để thu hút, tổ chức các diễn đàn trao đổi với các nhà khoa học, viện nghiên cứu hàng đầu của các nước.   –  Có chính sách thoả đáng để thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về đóng góp về  khoa học cho đất nước. Họ sẽ là cầu nối giữa các nhà khoa học trong nước với các nhà khoa học quốc tế, giúp chúng ta có thể bắt kịp trình độ quốc tế.   – Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên tham gia công tác hợp tác quốc tế, cần chú ý giúp đội ngũ này:  + Nắm vững khung pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập, các hiệp định liên quan trong phạm vi ngành giáo dục, các văn bản ký kết, các luật định, thông lệ quốc tế, quá trình rà soát và xây dựng hệ thống pháp lý của Việt Nam liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế;  + Nắm được các Hiệp định có liên quan đến các ngành học trong WTO và các Hiệp định GATS hiện tại Việt Nam đang đàm phán và đã kết thúc đàm phán. Thường xuyên nắm được tiến trình hội nhập của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế và khu vực;  + Có kỹ năng đàm phán, cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức thương mại quốc tế, các Hiệp định …;  + Phân tích tác động của hội nhập, quản lý hội nhập, phân tích khả năng cạnh tranh của giáo dục Việt Nam;  + Các kiến thức bổ trợ khác như ngoại ngữ, tin học, các vấn đề liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin.  –  Về hình thức đào tạo: Nên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức hợp tác quốc tế theo hướng đa dạng hoá các phương thức đào tạo, loại hình đào tạo, thời lượng các khoá đào tạo nhằm đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau để việc phổ biến kiến thức hội nhập trong ngành được phát triển nhanh.  3.3. Để nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cần đổi mới hệ thống chương trình đào tạo của Việt Nam theo hướng hội nhập với chương trình đào tạo hiện đại của thế giới sao cho phù hợp với đặc thù Việt Nam.   3.4. Tạo mối quan hệ hợp tác hữu hiệu với các trường đại học, viện nghiên cứu của các nước có nền khoa học mạnh. Mở rộng các hình thức liên kết đào tạo quốc tế tại Việt Nam nhằm thích ứng với điều kiện kinh phí còn khó khăn của giáo dục nước ta. Bên cạnh các khóa đào tạo dài hạn, cần tổ chức các lớp chuyên đề, mời các chuyên gia nước ngoài tới giới thiệu các xu hướng nghiên cứu khoa học mới, công nghệ mới cho các nhà khoa học trong nước.      Tóm lại, hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học là một xu hướng tất yếu sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Để có thể phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn trong quá trình hội nhập thế giới, thiết nghĩ chúng ta cần có những bước đổi mới mạnh mẽ theo một lộ trình phù hợp. Trong đó, nhân tố cần được quan tâm hàng đầu là nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực bậc cao, nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của nền giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình nâng cao chất lượng nhằm có đủ năng lực cạnh tranh với các trường đại học quốc tế theo Hiệp định GATS. ”Cần phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.”(Bộ Chính trị – Kết luận số 242-TB/TƯ ngày 15/4/2009.)     —————————–  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1.  Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lí Giáo dục – Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lí trường đại học, chuyên đề: Quản lí khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế – Tài liệu lưu hành nội bộ – Hà Nội 2006.  2.  Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lí Giáo dục – Tài liệu hội nhập kinh tế quốc tế trong ngành giáo dục và đào tạo – Tài liệu lưu hành nội bộ – Hà Nội 2008.  3. www. Thegioi AG.net  26-02-2007- Hội nhập kinh tế quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam- MOI  www.vietbao.vn  12-5-2006 – Làm gì để hội nhập giáo dục đại học?– Lý Hà, Mai Minh  5. www.viện khoa học công nghệ Việt Nam.com  8-01-2008 – Hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực – giải pháp để hội nhập thành công- Cao Hồng Thuý  6.Website hợp tác kinh tế thương mại VN TQ  2008-01-31 – Giáo dục Việt Nam sau khi gia nhập WTO    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác quốc tế trong Giáo dục Đại học giữa Việt Nam và Nhật Bản: Sử dụng công cụ hợp tác trực tuyến cho Giáo dục xuyên biên giới      Tổng quan  Từ giữa thập kỷ 80, dưới ch&#237;nh s&#225;ch cải c&#225;ch kinh tế được gọi l&#224; Đổi mới, Việt Nam đ&#227; t&#237;ch cực khuyến kh&#237;ch đầu tư nước ngo&#224;i trong l&#227;nh vực doanh nghiệp ở thị trường tự do. Kết quả l&#224; GDP đ&#227; tăng gấp đ&#244;i trong thập kỷ 90. Khuynh hướng gia tăng hội nhập quốc tế trong kinh tế thị trường đ&#227; nhanh ch&#243;ng th&#226;m nhập v&#224;o gi&#225;o dục đại học ở Việt Nam. Gần đ&#226;y, Việt Nam đ&#227; đồng &#253; gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization`s -WTO) v&#224; k&#253; kết Hiệp định chung về Thương mại v&#224; Dịch vụ (General Agreement in Trading and Service -GATS), một thỏa ước bao gồm việc xem gi&#225;o dục l&#224; h&#224;ng h&#243;a khả mại. &nbsp;Điều n&#224;y dẫn đến kết quả l&#224; nhiều người tin rằng gi&#225;o dục Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng của triết l&#253; gi&#225;o dục quốc tế v&#224; động cơ v&#236; lợi nhuận. (Varghese, 2007). Một l&#227;nh vực mới của gi&#225;o dục, như học tập trực tuyến thường rơi v&#224;o phạm tr&#249; dịch vụ gi&#225;o dục xuy&#234;n bi&#234;n giới, c&#243; nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng mạnh đến gi&#225;o dục Việt Nam trong tương lai. Bản b&#225;o c&#225;o n&#224;y xem x&#233;t thực trạng hiện tại của gi&#225;o dục Việt Nam, những th&#225;ch thức m&#224; Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực gi&#225;o dục đại học; v&#224; t&#236;m kiếm một giải ph&#225;p thực tiễn nhằm th&#250;c đẩy mối quan hệ hợp t&#225;c    Bối cảnh  Việt Nam đã gia nhập WTO và ký kết Hiệp định GATS. Tuy vậy, chỉ từ năm 1995 giáo dục mới bắt đầu được xem là hàng hóa khả mại theo Hiệp định GATS. GATS định nghĩa phạm vi của những phương thức thị trường trong giáo dục một cách khá rộng. Thương mại trong giáo dục có thể thực hiện dưới bốn hình thức:  1) cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; bao gồm đào tạo từ xa xuyên biên giới, môi trường học tập ảo, nội dung số hóa của giáo dục, và học tập trực tuyến. 2) sự tiêu thụ dịch vụ ở nước ngoài, ví dụ như sinh viên du học ở nước khác 3) hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ giáo dục ở một quốc gia khác, ví dụ một trường nước ngoài mở chi nhánh hay cơ sở đào tạo ở nước khác, và 4) sự hiện diện trực tiếp của lực lượng nhân sự ở một quốc gia khác nhằm cung cấp dịch vụ giáo dục, ví dụ như các giáo sư các nhà nghiên cứu, hay giảng viên làm việc ở nước ngoài (Ninomiya, 2003; Shidu, 2007).    Theo Hiệp định GATS, mọi quốc gia đều có quyền tự do quyết định về việc mở ra những loại dịch vụ nào. Pháp, Đức, Nigeria và Nga là những nước chỉ có các điều chỉnh tối thiểu. Mặt khác, những nước như Nam Phi, Cyprus, UAE áp dụng những quy định điều chỉnh vô cùng nghiêm khắc (Verbik and Jokivirta, 2005 dẫn theo Varghese, 2007.) Nếu như thiếu các quy định sẽ gây ra quan ngại về tình hình giáo dục trong nước, thì quá nhiều quy định sẽ cản trở việc hợp tác quốc tế.  Theo Varghese (2007), những nước như Việt Nam nên áp dụng quy định ở mọi giai đoạn của quá trình đào tạo – từ việc đăng ký học đến việc cấp bằng và công nhận, nhằm bảo vệ giáo dục trước động cơ vì lợi nhuận của các trường tư.        Giáo dục đại học Việt Nam  Cải cách kinh tế bắt đầu từ Đổi mới năm 1986 đã khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài (foreign direct investment -FDI) đổ vào Việt Nam và cùng với xu hướng này, giáo dục đại học Việt nam đã mở rộng rất đáng kể trong những năm 90. Ngày nay, tỉ lệ nhập học tổng quát (GER) là khoảng 10 đến 12 phần trăm, và lịch trình cải cách đã đề xuất mở rộng hệ thống này gấp ba đến bốn lần quy mô hiện nay từ nay đến năm 2020. Người ta mong đợi rằng đến năm 2020, sẽ có gần 40% sinh viên học tại các trường tư. (Varghese, 2007).  Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ tác động sâu sắc và mang đến nhiều thách thức cho giáo dục đại học Việt Nam. Vẫn còn những mối quan ngại về việc thông qua mở rộng tự do trong các dịch vụ giáo dục, hiệp định GATS sẽ đưa giáo dục theo hướng không mong đợi, vì giáo dục sẽ được định hình bằng những nguyên tắc của thị trường trái với chức năng của Nhà nước (Altbach, 2001; Robertson et al. 2002, Sidhu, 2007, Varghese, 2007). Chẳng hạn, vì những chính sách thương mại ở một thời điểm nhất định có thể mâu thuẫn với những mối quan tâm của quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển giáo dục, Susan Robertson et al. (2002) đoan chắc rằng sự cố kết xã hội và sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ có thể chịu rủi ro khi bị áp chế dưới sự dắt dẫn thương mại của Hiệp định GATS. Những giá trị truyền thống và bản sắc quốc gia có thể bị coi là thứ yếu dưới những ưu tiên quốc tế hóa và thương mại hóa. Những thay đổi và bình đẳng xã hội cũng có khả năng bị coi nhẹ dưới quá trình mở rộng tự do của giáo dục đại học. Chẳng hạn, ai có khả năng trả tiền nhiều hơn thì sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận giáo dục đại học hơn. Điều này có nghĩa là các nhà giáo dục Việt nam nhất thiết phải hiểu rõ tầm quan trọng của các triết lý giáo dục nhằm bảo vệ các thế hệ học sinh sinh viên sắp tới của mình.      Những cơ hội mới cho Giáo dục Đại học Việt Nam   Tuy vẫn có nhiều thử thách không tiên lượng được, việc mở rộng tự do trong các dịch vụ giáo dục cũng sẽ mang tới nhiều cơ hội. Chẳng hạn, việc gia nhập Hiệp định GATS sẽ đưa vào Việt Nam những hình thức đào tạo mới. Ninomiya (2003) cho rằng việc cung ứng dịch vụ giáo dục xuyên biên giới như đào tạo từ xa và dùng những nội dung số hóa trong việc giáo dục xuyên biên giới là những lĩnh vực đang phát triển rất nhanh. Cùng với tỉ lệ nhập học tổng quát đang tăng nhanh trong giáo dục đại học, giáo dục xuyên biên giới cũng sẽ phát triển nhanh trong những thập kỷ tới.  Đặc biệt trong lãnh vực dịch vụ giáo dục xuyên biên giới, (Mode 1) là đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa. Một mô hình đào tạo có tiềm năng hữu dụng trong việc hỗ trợ đào tạo xuyên biên giới giữa giáo dục đại học Việt Nam và Nhật Bản có khả năng sẽ là đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa (Mode 1). Giáo dục đại học Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với yêu cầu của kinh tế toàn cầu hóa. Việc tiếp cận khoa học công nghệ, xóa mù tin học, học tập hợp tác sẽ trở thành những lĩnh vực quan trọng của giáo dục đại học không chỉ ở Nhật mà cả ở Việt Nam.      Công nghệ Thông tin và Truyền thông cho Giáo dục Xuyên Biên giới giữa Việt Nam và Nhật bản  Trong việc phát triển giáo dục xuyên biên giới, chương trình đào tạo cần được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Theo nghĩa ấy, việc lựa chọn mục đích, mục tiêu, và triết lý phù hợp với mối quan tâm của cả sinh viên Nhật và Việt là điều quan trọng dẫn tới thành công trong hợp tác quốc tế. Một khả năng hợp tác trong giáo dục xuyên biên giới giữa Việt Nam và Nhật Bản là xây dựng một chương trình khuyến khích 1/ việc tiếp cận internet của sinh viên 2/xóa mù tin học cho sinh viên Việt và Nhật 3/ học tập thể như một hoạt động có tiềm năng dẫn tới những hiểu biết có tính chất toàn cầu và sự khoan dung đối với những khác biệt văn hóa.   Một trường hợp nghiên cứu điển hình do Iinuma et al (2008) thực hiện ở một trường dại học Nhật để tìm một giải pháp thực tiễn nhằm cải tiến chất lượng việc học tập thể và nâng cao hiểu biết quốc tế trong giới giáo dục đại học Nhật. Trong công trình này, một môi trường trực tuyến không đồng bộ, một trang web tập thể dã được dùng để hỗ trợ cả giảng viên và sinh viên. Một nhóm hai mươi sinh viên ở Đại học Keio University, Japan, tham gia một lớp học ngoại ngữ tiếng Anh nâng cao. Trong khóa học, sinh viên dược tham gia “Dự án Định hướng Văn hóa về Việt Nam” trong đó, lớp học sẽ dùng sách giáo khoa của tác gỉa Iinuma & Thy (2007) cũng như những phương tiện kỹ thuật khác như mô hình 3D, video files, và Microsoft Sharepoint® một trang web hợp tác. Trang web này được các thành viên trong lớp sử dụng cả trong và ngoài thời gian của khóa học. Sinh viên dùng trang web này để tiếp cận các nội dung số hóa như các mô hình 3D và video clips, để giao tiếp với thành viên khác trong lớp thông qua bảng thảo luận, e-mails, WIKI, và blogs. Trang web này cũng được dùng để hợp tác trực tuyến trong các nhóm nhỏ. Bằng cách này, mỗi nhóm có thể có không gian riêng trong trang web để giao tiếp với các thành viên khác qua những công cụ điện tử để thực hiện dự án của họ.   Cũng vậy, website hợp tác đã được dùng dể dẩy mạnh giao tiếp giữa giảng viên và lớp học. Một trợ giảng người Việt bên ngoài nước Nhật truy cập vào trang web hợp tác và giao tiếp với những sinh viên đang theo học bằng cách dùng bảng thảo luận trên trang web và email được hệ thống này hỗ trợ. Hình 1, cho thấy trang web hợp tác này dã cho phép tạo các trang web con cho những nhóm nhỏ sinh viên như thế nào.        Hình 1. Trang web tập thể    Công trình nghiên cứu của Iinuma (2008) có thể áp dụng cho giáo dục xuyên biên giới giữa Việt Nam và Nhật Bản trong giáo dục đại học. Dùng Microsoft Sharepoint®, làm việc nhóm và hợp tác giữa các sinh viên với nhau và giữa sinh viên với giảng viên có thể thực hiện được dễ dàng ngay cả trong tình trạng xuyên quốc gia. Nội dung đào tạo theo kiểu mới dung những phương tiện truyền thông như 3DCG và video có thể chia sẻ rất dễ dàng. Chẳng hạn, hình 2 là một tài liệu 3 D mẫu được tạo ra bằng những phần mềm như Lattice Designer® và Microsoft Excel® có thể xem và chia sẻ được dễ dàng giữa sinh viên Việt Nam và Nhật Bản như một hình thức giáo trình số hóa trực tuyến. Hoàn toàn có khả năng là sinh viên Việt Nam và Nhật Bản có thể tiếp cận trang web tập thể này và chia sẻ tài liệu dưới nhiều cách thức. Sinh viên cũng có thể tham gia vào việc tạo ra danh mục tác phẩm hay câu chuyện kể của riêng họ dưới dạng số hóa để đưa lên mạng và chia sẻ với bạn học của mình.     Hình 2. 3DCG và văn bản có thể tạo sẵn trên trang web tập thể     Những công nghệ mới này có thể thực hiện khá dễ dàng ở các trường đại học Nhật, chi phí rất hiệu quả và dễ sử dụng thậm chí kể cả những người mới tập tành vi tính, và có thể là một công cụ mạnh nhằm nối kết các thành viên xuyên quốc gia ở cấp độ địa phương hóa hơn. Nó cũng có thể hỗ trợ cho những nỗ lực tạo ra các chương trình đào tạo được chia sẻ có thể giúp ích cho cả sinh viên Việt và Nhật. Những công cụ công nghệ được lựa chọn này ngày nay đang bắt đầu được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh làm ăn, và biết cách sử dụng những công cụ ấy sẽ có lợi cho sinh viên khi họ tham gia vào thị trường lao động.       Kết luận  Tham gia hiệp định GATS sẽ mang lại cả cơ hội và thử thách cho giáo dục đại học Việt Nam. GATS sẽ mang động lực vì lợi nhuận vào giáo dục đại học và có thể đặt lợi ích quốc gia sang một bên. Dồng thời nó cũng sẽ mang lại cơ hội mới cho cải cách giáo dục nhằm dáp ứng nhu cầu của xã hội toàn cầu hóa và vun trồng một thế hệ sinh viên mới cho Việt Nam. Một lãnh vực dược mong đợi sẽ phát triển khá nhanh là dịch vụ giáo dục xuyên biên giới. (Mode 1). Một giải pháp thực tế cho sự phát triển này là khuyến khích các hoạt động quốc tế giữa các nước như Việt và Nhật, thông qua việc cùng tham gia xây dựng những chương trình đào tạo với tinh thần chia sẻ mục tiêu và lợi ích. Một khả năng dể dẩy mạnh những hoạt động như vậy là dùng công nghệ dể hỗ trợ những nỗ lực hợp tác giữa các lớp học. Công nghệ mới này có thể hỗ trợ việc cùng xây dựng chương trình đào tạo cho cả giáo viên và sinh viên Việt và Nhật.      Phạm Thị Ly dịch  ———-  * Khoa Nghiên cứu Truyền thông, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Tokyo, Nhật Bản  Tư liệu tham khảo  Altbach, P. (2001) Higher education and the WTO: Globalization run amok. The Chronicle of Higher Education.  Iinuma, M. & Chiyokura, H. (2008) Integrating Global Media Contents for EFL Course in Japan: “Cultural Orientation Project on Vietnam” International Journal of Pedagogies and Learning, Vol.4.Issue 4  Iinuma、M. & Tran Nu Mai Thy (2007)“Spirit of Vietnam:　International Perspective” Keio SFC Academic Society; Endo, Fujisawa  McConnell, D. (2005). Examining the dynamics of networked e-Learning groups and communities. Studies in Higher Education. Vol. 30, No. 1, pp.-25-42  Ninomiya, A. (2003). Some WTO/GATS Issues of Free Trade of Higher Education Service. Hiroshima University　Journal of 　Educational Research,　Vol. 3　No.52　21－28．  Robertson,S.L., Bonal, X. &　Dale, R.（2002）GATS and the education service industry: the politics of scale and global reterritorialization. Comparative Education Review; 46,4; p.472-496.  Sidhu, R. (2007). GATS and new developmentalism: Governing transnational education. Comparative Education Review. Vol 51. No.2 203-227.  Varghese, N.V. (2007). GATS and higher education: the need for regulatory policies. International Institute for Educational Planning. UNESCO, Paris.  Yepes, C. (2006). World regionalization of higher education: Policy proposal for international organization. Higher Education Policy, 19, 111-128.  Authors  Mizuho Iinuma Ed.D is an Assistant Professor at Tokyo University of Technology, Department of Media Studies. She has earned her doctoral degree from Teachers College, Columbia University.  Tagiru Nakamura, M.A is an instructor at Tokyo University of Technology, Department of Media Studies. He has earned his masters degree at Keio University.  Tomoki Itamiya, M.A is a doctoral candidate at Keio University.  Hiroaki Chiyokura, Ph.D is a professor at Tokyo University of Technology, Department of Media Studies. He has earned his doctoral degree from Tokyo University.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Humboldt 1810: Giữa hai tự do*      Tự do có lắm nghĩa, nhưng sau đây là hai nghĩa chính trong học thuyết chính trị Âu châu lúc Đại học Humboldt thành lập năm 1810, tạm gọi là: tự do “tiêu cực” và tự do “tích cực”(1).     Tự do tiêu cực và tự do tích cực  Trong quan niệm thứ nhất, tôi tự do có nghĩa là không ai được can thiệp vào việc tôi làm. Trong quan niệm thứ hai, tôi tự do khi tôi tự mình cai trị mình, tôi là ông chủ của tôi.   Vấn đề trong quan niệm thứ nhất là phải định nghĩa lĩnh vực, mức độ: trong lĩnh vực nào, đến mức độ nào, không ai được quấy rầy tôi? Câu ấy khó trả lời. Ai cũng nói: lĩnh vực đó càng lớn, tự do của tôi càng nhiều. Nhưng lĩnh vực nào, và đâu là mức tối thiểu bất khả xâm phạm? Tôn giáo chăng? Ý kiến chăng? Ngôn luận chăng? Tài sản chăng? Hay nói một cách khác tổng quát hơn: cái gì mà nếu từ bỏ thì con người sẽ đánh mất bản chất người của mình? Nhưng cái gì là bản chất? Tha hồ tranh luận. Điểm đồng ý duy nhất giữa các triết gia bênh vực quan niệm này là: phải vạch biên giới. Về chính trị, biên giới đó buộc Nhà nước phải dừng lại, bước thêm bước nữa là thành độc tài. Luật pháp là để ngăn cấm không cho ai bước thêm bước nữa. Các lý thuyết gia cực đoan nói thêm: Nhà nước chỉ làm phận sự của anh gác đêm, anh cảnh sát tuýt còi điều khiển giao thông trên đường mà thôi.   Tự do trong nghĩa đó không nhất thiết đi đôi với dân chủ. Dân chủ là chính thể bảo vệ tự do hữu hiệu nhất, nhưng tinh yếu của dân chủ không phải là tinh yếu của tự do. Dân chủ trả lời câu hỏi: “Ai cai trị tôi?” Câu hỏi đó khác với câu hỏi của tự do: “Đến mức nào quyền lực không được can thiệp vào lĩnh vực hoạt động của tôi?”. “Ai cai trị tôi?” là câu hỏi đặt ra cho tự do trong quan niệm thứ hai. Nếu tôi trả lời được khảng khái: “Chính tôi!” thì tức là tôi tự do. Các lý thuyết gia dân chủ bảo tôi trả lời như vậy, vì dân chủ là tự mình cai trị mình. Có ai không muốn nói, muốn nghĩ như vậy? Trên lý thuyết, con người dân chủ quả là như vậy. Thế nhưng, trên thực tế, chẳng ai tự mình cai trị mình cả. Tôi phải bầu lên những người để cai trị giúp tôi, và rốt cuộc, các người đó trở thành ông chủ của tôi trên thực tế.   Làm sao biện luận rằng tôi vẫn là chủ chứ không phải các vị kia, đó là đề tài sôi nổi trong học thuyết chính trị. Phải biện luận được như vậy, chính thể dân chủ mới có thể tồn tại, không thì tiêu ma từ nền móng. Nhưng không phải chỉ chính thể dân chủ quan tâm đến biện luận đó: các chính thể toàn trị lại càng hăng hái hơn. Ở đây, tôi hạn chế vấn đề vào chính thể dân chủ và xin bắt đầu ở chỗ bắt đầu, tức là Cách Mạng 1789 của Pháp, cái mốc tư tưởng mà tất cả các triết gia lớn nhất thời Humboldt đều chịu ảnh hưởng, để nhận và để phản ứng.  Tư tưởng 1789 nhìn con người trước hết như một sinh vật có lý trí. Có lý trí, cho nên mới biện luận. Tôi là sinh vật có lý trí, cho nên tôi quyết định theo lý trí, tôi muốn các quyết định của tôi tùy thuộc ở tôi và chỉ ở tôi mà thôi. Tôi muốn có ý thức về tôi như một sinh vật biết suy tư, biết trách nhiệm về mọi lựa chọn, biết giải thích sự lựa chọn đó theo ý nghĩ và mục tiêu mà tôi nhắm đến. Đó là tự do “tích cực” mà Cách Mạng Pháp đưa vào lý thuyết và thực tế. Đó là lời mở đầu để trả lời: “Ai là chủ?”.  Tuyên ngôn nhân quyền 1789 tuyên bố ngay trong câu đầu: “Con người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Rồi câu thứ hai: “Mục đích của tổ chức chính trị là để duy trì các quyền tự nhiên và bất khả triệt tiêu của con người. Các quyền đó là: tự do, tài sản, an ninh và chống lại áp bức.” Đến câu thứ ba thì vấn đề “ai là chủ” được giải quyết. “Chủ quyền nằm ở Dân Tộc. Không cơ quan nào, không cá nhân nào có thể hành xử một quyền không do từ Dân Tộc mà ra”. Điều đó có nghĩa gì? Có nghĩa rằng người chủ không phải là tôi; chính xác hơn, không phải là tôi-cá nhân mà là tôi-cộng đồng, tôi-dân tộc, tôi như là một phần tử của Dân Tộc nhưng đã hòa tan vào Dân Tộc, và Dân Tộc đó không có hình dạng mặt mũi, chỉ là một khái niệm trừu tượng, không phải dân tộc theo nghĩa “peuple” cụ thể, mà theo nghĩa Nation viết hoa một cách thiêng liêng. Vậy thì: như là cá nhân, tôi mất tự do rồi chăng? Ấy là bắt đầu biện luận.  Rousseau trả lời: đâu có! Tôi, cũng như anh, cũng như tất cả mọi cá nhân khác trong cộng đồng, ai cũng bình đẳng ngang nhau, ai cũng dâng hiến trọn vẹn quyền của mình cho tất cả, vậy thì có ai dâng mình cho ai đâu? Tôi dâng hết phần của tôi, người khác dâng hết phần của họ, vậy là hoàn toàn bình đẳng giống nhau trong chuyện cho, rồi tôi cũng nhận lại hết phần của anh, anh nhận lại hết phần của tôi, tức là bình đẳng nữa trong chuyện nhận: cho hết thì nhận lại hết, có ai lời ai lỗ, có ai lệ thuộc gì ai đâu? Liên kết với tất cả mà không lệ thuộc ai, mỗi người trong chúng ta, trong cộng đồng, trong Dân Tộc, chỉ tuân theo mình mà thôi, vậy thì chẳng phải tôi vẫn là chủ, vẫn tự do như tự do từ trước sao?   Một lý luận hoàn toàn dựa trên lý trí, giữa những con người trừu tượng, trong một Dân Tộc trừu tượng. Những người chống lại Rousseau hỏi: vậy thì trên thực tế, Dân Tộc trừu tượng ấy cai trị qua ai, làm luật qua ai? Tất nhiên phải qua một tổ chức chính trị cụ thể, gồm những mặt mũi cụ thể, trong đó có thể không có tôi, vì tôi đi bầu xong là về nhà. Còn họ, họ làm luật, và luật đó có thể hợp với người khác mà không hợp với tôi, tôi đành cắn răng mà chịu. Trên lý thuyết, tôi là chủ; trên thực tế, tôi là tớ. Tôi là chủ như là công dân, vì tôi tham dự vào chủ quyền, tôi là một thành phần của chủ quyền. Tôi là tớ như là cá nhân vì tôi không bảo vệ được tự do của tôi, tự do của tôi, ý muốn của tôi, đã bị người khác tước đoạt.   Rousseau trả lời rất lý trí: đâu có, luật là kết quả của một ý muốn chung, và ý muốn chung ấy không phải là con số cộng của tất cả những ý muốn riêng, cho nên không phải là ý muốn của đa số. Trong mỗi chúng ta đều có hai con người: con người cá nhân và con người xã hội. Con người cá nhân trong ta hẹp hòi, ích kỷ, thường nghĩ đến ích lợi riêng. Nhưng con người xã hội, con người công dân trong ta lại hướng đến ích lợi chung. Tự do, chính là khả năng – mà mọi người đều có – biết đặt ích lợi chung, ý muốn chung, lên trên ích lợi riêng. Tuân theo khả năng đó tức là tham dự vào ý muốn chung, tức là thực hiện tự do thực sự. Bởi vậy, làm cho một người nào đó đang bị ích lợi riêng chế ngự phải tuân theo ý muốn chung, dù bằng cưỡng bách, chỉ là buộc anh ta phải tự do mà thôi. Làm cho thiểu số tuân theo luật mà đa số đã bỏ phiếu, cũng là thực hiện tự do, không phải vi phạm. Bởi vì bỏ phiếu cho một dự luật không phải nhằm mục đích chấp thuận hay từ chối dự luật đó, mà là để nói luật đó có hợp với ý muốn chung hay không, và ý muốn chung đó chỉ được biết sau khi bầu phiếu. Nếu ý kiến trái với ý kiến của tôi thắng, điều đó chỉ có nghĩa rằng tôi đã lầm: điều mà tôi tưởng là ý muốn chung hóa ra không phải là ý muốn chung. Tôi tuân theo ý muốn chung đó là tôi tuân theo tôi, theo con người cao hơn trong tôi, con người thực sự trong tôi, tức là tôi tự do và đó mới là tự do thứ thiệt.  Suốt nửa đầu thế kỷ 19, các tác giả thuộc phái tự do tấn công kịch liệt vào quan điểm đó. Bởi vì, sau 1789, Cách Mạng Pháp đi vào một giai đoạn đẫm máu cũng vì ảnh hưởng của lý thuyết đó. Một Ủy ban cách mạng, nhân danh Dân Tộc, nắm hết chủ quyền, sinh sát không thua gì một ông vua chuyên chế. Từ kinh nghiệm đó, tư tưởng tự do sợ nhất là quyền lực quá lớn, và quyền lực của đa số trong chế độ dân chủ có khuynh hướng càng ngày càng lớn vì được trang bị bằng một lý thuyết gán cho họ trọn vẹn chủ quyền. Trên thực tế, thủ lĩnh của phái tự do, John Stuart Mill, nói: chính phủ do dân là chẳng phải tự do gì ráo, người cai trị đâu có phải là dân quèn như người bị trị? Con người bao giờ cũng vậy, cũng có khuynh hướng áp đặt ý kiến của mình trên người khác. Bởi vậy, đa số càng lớn, áp lực càng mạnh, thiểu số càng mất tự do. Để bảo vệ tự do chống lại độc đoán của đa số, thiểu số không có cách gì khác hơn là vạch một lằn ranh làm bằng một lòng tin đạo đức kiên cố: “Nếu tất cả mọi người chia sẻ một ý kiến trừ một người có ý kiến khác, và họ buộc người đó phải im đi, thì đó là một hành động bất công không khác gì việc người đó, nếu cầm tất cả quyền hành trong tay, buộc tất cả nhân loại phải im đi”(2).   Vạch lằn ranh để ngăn chặn quyền lực quá lớn là chủ trương chung của tất cả các tác giả phái tự do, dù lằn ranh đó là lòng tin đạo đức, là luật tự nhiên, là quyền tự nhiên của con người, hay tiêu chuẩn gì khác. Một chính thể tôn trọng tự do hay không là tùy ở sự kiên cố của biên giới đó. Và theo họ, không gì đe dọa cái biên giới đó bằng lý thuyết của Rousseau: “tôi dâng hiến tôi cho tất cả tức là tôi chẳng dâng hiến tôi cho ai”.   Đó là hai luồng tư tưởng về tự do của thời đại Humboldt lúc ông bắt tay vào việc thành lập Đại học Berlin. Đại học của ông đứng ở đâu giữa hai quan điểm ấy? Đặt câu hỏi ấy là do bối cảnh tư tưởng nói trên còn sóng đôi với một bối cảnh lịch sử đặc biệt: năm 1806, nước Phổ của Humboldt bị bại trận thảm nhục trước quân đội của Napoléon, và Đại học Berlin được khai sinh là cốt để phục hưng một nước Đức mới. Đặt câu hỏi còn vì một lý do nhân sự: cùng với Humboldt, Fichte là nhân vật chủ chốt trong việc khai sinh, mà Fichte thì, với những bài diễn văn nảy lửa dân tộc đọc năm 1807 tại Berlin, đến rất gần với luồng tư tưởng thứ hai về tự do. Hay thật, hai người, hai tư tưởng khác nhau về tự do, vẫn có thể cùng nhau hợp tác? Đại học là nơi cộng sinh của những tư tưởng khác nhau? Hay là có một cái gì đó vượt lên trên mâu thuẫn để đưa đến dung hợp? Đó là cái gì?  Humboldt và tự do  Hãy nói về Humboldt trước. Giống như các triết gia đầu đàn đồng thời với ông, ông đón nhận Cách mạng Pháp với đầy thiện cảm, vì 1789 đập tan xiềng xích nô lệ và loan báo một thời đại mới tự do. Nhưng rất nhanh, ông bắt đầu e dè từ khi Cách mạng đưa lên máy chém cả ông vua lẫn bà hoàng hậu. Ba năm sau Cách mạng, ông hoàn thành một tác phẩm được xem như sách tiêu biểu của phái tự do, mang nhan đề khiến hậu thế dễ đặt ông ngồi chung chiếu với các tác giả chủ trương “biên giới”: “Giới hạn của hành động Nhà nước”(3). Quyển sách cũng được xem như là phản ứng của Humboldt đối với Cách mạng.  Tự do: đó là đòi hỏi của ông. Nhưng tự do của Humboldt là tự do của một con người khác với “con người” của Cách mạng Pháp. Cái gì quan trọng nhất trong con người, theo ông, chính là cái khí chất, cái năng lực đầy sinh động, sáng tạo. Cái khí lực ấy không ngừng thúc đẩy con người phát triển, phát triển mãi, để nảy nở, nảy nở hài hòa nhất phần bên trong của mình, nhân cách riêng của mình. Khác với tư tưởng chính trị của Pháp, của Anh, nhấn mạnh quyền, tư tưởng của Humboldt nhấn mạnh sự phát triển của con người, phát triển ở bên trong, nắm bắt mọi cơ hội để vun đắp cái năng lực ấy, rồi sử dụng năng lực ấy để phát triển thêm những tiềm năng khác, không ngừng. Điều kiện để con người phát triển như vậy là tự do. Không bị ai ép buộc, kìm hãm, thì con người mới tự mình phát triển, tự mình giáo dục mình được. Do đó, vai trò của Nhà nước là tối thiểu, là hạn chế vào việc bảo vệ an ninh. Giáo dục là lĩnh vực tư, cũng như tôn giáo, cũng như luân lý, Nhà nước không can thiệp. Để cá nhân tự mình phát triển, tự mình chủ động, tự mình quyết định vận mạng của mình, thì xã hội mới năng động, đa diện, phong phú. Trong tư tưởng của Pháp, cá nhân chủ nghĩa bao hàm ý tưởng mọi người bình đẳng như nhau; trong tư tưởng của Humboldt, cá nhân chủ nghĩa có nghĩa là mỗi người có một đặc tính riêng, một sắc thái riêng, mỗi người phát triển nét đặc thù của mình không ai giống ai, như vậy xã hội mới phong phú, không rơi vào đồng bộ. Tránh đồng bộ (uniformité), đó cũng là tư tưởng chủ đạo của phái tự do nói chung. Phận sự của Nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi ở bên ngoài để mỗi cá nhân phát triển lên như thế. Humboldt là một trong những triết gia rất hiếm ở Đức chống lại quyền lực quá đầy của Nhà nước.  Phát triển tận cùng khả năng như vậy của con người, của mỗi người, là mục tiêu của giáo dục. Mục tiêu đó, Humboldt sẽ thực hiện với Đại học sẽ mở. Nhưng như vậy, phải chăng con người Humboldt-hành động mâu thuẫn với con người Humboldt-tư tưởng gia? Nếu ông nghi ngờ Nhà nước như thế, dị ứng như thế với Nhà nước chuyên chế của vua Frederick-Wilhelm II, tại sao ông nhận lời thành lập một đại học mà nhiệm vụ được giao phó là làm hồi sinh Nhà nước ấy? Ông phục vụ cho lý tưởng tự do hay là ông đang trở thành công bộc của vua?   Trước chất vấn đó (4), những người bênh vực ông trả lời: phần “bên trong” của con người không biệt lập hẳn với phần “bên ngoài”, với những liên hệ xã hội. Chúng ta phát triển thông qua mối tương giao giữa nhân cách cá biệt của ta với nhân cách cá biệt của người khác. Humboldt viết trong tác phẩm nói ở trên: “Con người cô độc không phát triển được, chẳng khác gì con người bị xiềng xích”(5). Ta phá mọi xiềng xích trong xã hội chính là để thiết lập càng nhiều càng tốt những liên hệ mới. Điều đó không những sẽ đưa đến việc cải tổ Nhà nước chuyên chế của Frederick mà còn làm thay đổi bản chất trong tương quan giữa Nhà nước và con người. Humboldt rất thán phục chính thể dân chủ ở Hy Lạp cổ đại: đó là chính thể đã đem lại hài hòa giữa con người như là cá nhân và con người như là công dân. Vì Nhà nước nhỏ và dân số ít, dân ở Athènes có thể tự mình cai trị mình, nghĩa là đưa chính trị vào lĩnh vực tư, dùng giáo dục để đào tạo những công dân tốt. Đáng lẽ tình trạng đó đưa đến kết quả xấu vì Nhà nước can thiệp vào phần “bên trong” của con người, nhưng vì chính trị ở Athènes nhắm đến việc phát huy tính tốt nơi con người nên đã dẫn đến kết quả ngược lại: họ đồng thời đào tạo những công dân biết chừng mực và có khí lực. Chính trị của vua nước Phổ không như vậy. Nhắm đến phồn vinh vật chất, Nhà nước ấy bóp nghẹt khí lực của con người, đè con người thấp xuống để đào tạo những công dân ngoan ngoãn, chỉ biết sản xuất. Bởi vậy, giữa con người và Nhà nước, Humboldt muốn phát triển những hội đoàn xã hội tự nguyện mà ngày nay ta gọi là xã hội dân trị.   Có phải từ khái niệm “hội đoàn xã hội” ấy mà Humboldt phát triển lên thành khái niệm “dân tộc” khoảng 1809-1810? Ông lý luận: con người là một phần của lịch sử, bắt buộc phải phát triển trong những điều kiện lịch sử đặc thù, theo hướng đi mà thời gian đã vạch ra, liên hệ với từng môi trường văn hóa riêng biệt. Gạt bỏ giải pháp cách mạng, ông khuyên: người hành động phải hiểu như vậy, phải ý thức rằng mình là sản phẩm của thời gian và lịch sử, đừng hấp tấp, nôn nóng, phải từ tốn, thận trọng, khôn ngoan, để vươn tới tiến bộ, đưa tiến bộ đến một lý tưởng cao hơn. Bởi vậy, đại học mà ông sẽ thành lập không phục vụ Nhà nước mà phục vụ “dân tộc”, nhưng khác với “Dân Tộc” trừu tượng trong Cách mạng Pháp, dân tộc ở đây có lịch sử, có truyền thống, có văn hóa, có ngôn ngữ, có mặt mũi riêng biệt. Giữa nhà nước và con người, dân tộc là giải pháp giải quyết mâu thuẫn. Nếu dân tộc chịu trách nhiệm về giáo dục, và nếu tự do được thực hiện trong giáo dục, trong đại học, giáo dục sẽ làm phát triển một đời sống cộng đồng ở bên trong và cả bên ngoài nhà trường, tạo cơ hội phát triển đồng thời năng lực trong mỗi con người. Vai trò giáo dục của nhà nước sẽ chấm dứt. Nơi nhà nước chấm dứt là nơi dân tộc nảy nở. Nhà nước chỉ còn lãnh nhiệm vụ tạo cơ sở pháp lý. Giáo dục là lĩnh vực của dân tộc.  Đi vào cụ thể, Humboldt chủ trương ngân sách giáo dục sẽ do dân tộc đài thọ. Người dân tham gia tích cực thì người dân dấn thân tích cực cho tương lai, cho thành công của giáo dục, của đại học. Humboldt hứng khởi viết thư cho vợ năm 1809(6), vài tuần trước khi nhận chức vụ ở Berlin, về dự án cải tổ giáo dục của ông, giao trách nhiệm ngân sách cho dân tộc, độc lập với nhà nước, từ bậc tiểu học đến đại học. Ông còn đề nghị trao đất của phong kiến cho Đại học Berlin canh tác để tự chủ về ngân sách. Dân tộc hành động tích cực. Nhà nước hành động “tiêu cực”. Nhà nước để cho công dân “tự mình giáo dục mình”(7).  Vậy thì giáo dục phục vụ ai? Con người! Con người chứ không phải công dân. Chấm dứt các nhà trường phân biệt thành phần xã hội hoặc có mục đích đào tạo chức vụ. Chấm dứt các trường quân sự dành cho giai cấp quý tộc. Chấm dứt các trường trung cấp dành cho giới trẻ không thích học hoặc không đủ điều kiện tài chính để vào đại học. Quý tộc hay bình dân, thượng lưu hay thợ thuyền, tất cả đều học cùng một trường, kể cả thành phần ưu tú. Giáo dục nhắm tới đào tạo con người tự do, chứ không phải công dân tốt. Bởi vì con người được đào tạo như thế sẽ thành công dân tốt, tốt hơn là được đào tạo để thành công dân. Cũng giống như khoa học: để tự khoa học làm việc thì hữu hiệu hơn là khoa học do nhà nước lãnh đạo.   Với giáo dục bình đẳng như vậy, chương trình học cũng đổi mới. Humboldt kết hợp giáo dục tổng quát, có mục đích giúp mỗi học viên phát triển năng lực đặc thù của mình, với tự do mở rộng để thăng tiến. Giáo dục tổng quát chủ yếu là toán, cổ ngữ, lịch sử. Chỉ sau khi học tổng quát xong, học viên mới học chuyên môn. Từ bậc trung học, học sinh đã được học để độc lập về trí thức, nghĩa là học thế nào. Học sinh được xem như trưởng thành khi “đã học đủ nơi người khác để có thể tự học”(8). Đại học là nơi quy tụ sinh viên vào một cộng đồng học vấn, trong đó ai cũng để hết tâm trí vào việc học, mọi người cùng trao đổi kiến thức với nhau để phát triển năng lực nơi mình và nơi tập thể. Khác với hai cấp dưới, trong đó ông thầy là cần thiết, ông thầy ở đây không cần thiết nữa. “Ông giáo sư đại học không phải là ông thầy, sinh viên không phải là người học trò mà là người đến tìm kiến thức bằng cách tự tìm kiếm, ông giáo sư chỉ hướng dẫn và nâng đỡ” (9) Qua tiếp xúc làm việc chặt chẽ giữa hai bên, người sinh viên phải có thể tự mình theo đưổi một công trình khoa học. Tự do hiểu biết và tự trị đại học là hai nguyên tắc rường cột của khuôn mẫu Đại học Humboldt. Ông viết: “Giáo dục sẽ tốt nếu người ta đừng can thiệp vào; đại học càng tốt hơn nữa nếu người ta để tự do cho ông thầy hăng hái và cho học trò tranh đua”(10).   Từ thấp đến cao, tóm lại, học “không phải cốt học cái này hay cái nọ mà cốt học thế nào để ký ức được tập luyện, hiểu biết được mài giũa, phán đoán được chỉnh đốn, đạo đức được tô bồi”. Giáo dục mới đó nhắm tạo ra một dân tộc gồm những con người đạo đức; những con người như vậy sẽ là những công dân tốt. Giáo dục, nhắc lại lần nữa, là lĩnh vực của dân tộc, không phải của nhà nước. Nhưng một dân tộc được đào tạo như vậy thì nhà nước cường thịnh. Để chống lại đô hộ của Napoléon, Humboldt kêu gọi phát triển “đạo đức”, “tinh thần”, hơn là sức mạnh vật chất. Khí giới mà Humboldt muốn trao vào tay của dân tộc Đức đại bại là khoa học, là học vấn, là giáo dục, tất cả đều phải phát triển trong tự do. Nhà nước phải hiểu rằng để cho dân tộc phát triển tự do như vậy thì chính nhà nước được phục vụ, phục vụ tốt hơn là chính nhà nước can thiệp vào.   Những ý tưởng đó góp phần xây dựng nền móng cho mẫu đại học mang tên Humboldt, trái ngược với mẫu đại học Napoléon. Ba nguyên tắc chỉ đạo đại học sẽ mở. Một là tự do tuyệt đối, độc lập toàn vẹn trong việc giảng dạy, nhà nước không xen vào. Hai, đại học không phải là trường đào tạo ngành nghề cho nhà nước. Ba, đại học trước hết là nơi nghiên cứu thuần túy. Nếu khoa học bị chính trị hóa thì sẽ đánh mất thiên chức của mình là phục vụ cho sự thật. Nhưng tại sao đại học lại phải tự do, độc lập? Vì đại học là tinh hoa của dân tộc, tiếng nói của dân tộc. Nước Đức có thể bị thất trận, dân tộc Đức vẫn sẽ chiến thắng, sẽ đứng đầu.   Với tin tưởng, với tự hào cao ngất trời đó, các triết gia Đức, trước rồi sau, thổi vào chính trị Âu châu một tư tưởng mới lồng cái Tôi cá nhân vào cái Tôi tập thể, trộn đam mê tự do với đam mê dân tộc. Trong bối cảnh một nước Đức bị chiếm đóng, tư tưởng đó chưa đe dọa ai, nhưng trong trái cây đầu mùa, con ong đã chích vào một độc tố. Trái cây đầu mùa trong dòng tư tưởng đó là những bài diễn văn nảy lửa dân tộc của Fichte, cộng sự viên tương lai của Humboldt trong việc khai sinh Đại học Berlin. Từ dân tộc của Fichte đến dân tộc chủ nghĩa sau ông, con đường không xa lắm.    Fichte và tự do  Fichte là con đẻ của Cách Mạng Pháp. Khác với Humboldt, bạo lực cách mạng không làm ông mất cảm tình. Nhân dân Pháp, ông nói, có quyền thay đổi chế độ, dù là bằng bạo lực. Cho đến 1804, ông còn khen ngợi nước Pháp là nước dẫn đầu văn minh nhân loại, nơi ánh sáng bừng lên. Hai năm sau, 1806, chiến tranh tràn qua nước ông, chỉ vài tuần Napoléon đánh gục nước Phổ. Nhục nhã, ông phất lá cờ dân tộc trong 14 bài diễn văn danh tiếng đọc tại Học viện Berlin, in thành sách năm 1807 dưới nhan đề: Nói chuyện với dân tộc Đức(11). Lý trí của Cách mạng Pháp kết hợp với tình yêu của trường phái lãng mạn Đức khai sinh ra một lý thuyết mới về giáo dục và dân tộc, trong đó tự do được viện dẫn như cứu cánh, nhưng là một thứ tự do khác hẳn quan niệm của Humboldt. Dân tộc! Làm sao ngăn chặn không để cho kẻ chiến thắng kia làm thấp xuống, làm hèn đi dân tộc Đức? Bằng cách nào hồi phục lại vinh quang? Giáo dục! “Chúng ta đã mất tất cả, nhưng chúng ta còn lại giáo dục”. Bằng giáo dục mới, chúng ta đào tạo một thế hệ mới, đưa nước Đức lên địa vị tiên phong, cứu rỗi cho cả nhân loại.  Cho rằng tính ích kỷ nơi cá nhân là nguồn gốc của mọi tai họa, nguyên nhân đưa đến thảm bại của nước Đức, Fichte nâng đạo đức lên thành mục tiêu của giáo dục, thổi vào giáo dục một hơi thở tâm linh. Giáo dục, theo ông, có cứu cánh duy nhất là làm nảy nở tính đạo đức nơi con người, “giáo dục là nghệ thuật đưa người học trò đến với sự tinh khiết đạo đức”. Tinh khiết, nghĩa là đừng để cho một yếu tố nào, động cơ nào, từ bên ngoài làm hư hỏng đầu óc đứa bé. Nếu ngay từ ban sơ, đầu óc của đứa bé đã không tinh khiết thì suốt đời nó sẽ không đạt được tinh khiết. Cho nên giáo dục mới phải bắt đầu với sự tinh khiết đó, xem đầu đứa bé như sẵn sàng khai mở và con người có khả năng vượt lên trên mình để vươn tới một đời sống đạo đức. Không thể tách rời giáo dục với giáo dục đạo đức, bởi vì giáo dục chính yếu là đào tạo ý muốn đạo đức nơi người học trò.  Áp dụng lý thuyết đó vào thực tế, Fichte chủ trương giáo dục phải toàn vẹn, đứa trẻ phải được đào tạo bằng cách tách nó ra khỏi người lớn, để ngay từ đầu nó không bị tiêm nhiễm tính ích kỷ của người lớn. Tách ra khỏi cha mẹ, trẻ con được giao phó trọn vẹn cho nhà trường, và nhà trường là một tập thể riêng biệt, độc lập. Chỉ ở trong một tập thể nhỏ như vậy, đứa bé mới được biến đổi thành người lớn, nghĩa là thành những người lớn khác, mang trong đầu một cách tự nhiên ý thức về một tập thể xã hội mới, trong đó cá nhân họp với cộng đồng thành một.   Trong những tập thể nhỏ như vậy, lao động là quan trọng. Không bao giờ được để cho trẻ nhỏ nhàn rỗi, nhàn rỗi là căn nguyên của mọi tính xấu. Trẻ nhỏ phải luôn luôn bận, ngoài giờ học phải làm việc chân tay, phải tập sống tự túc. Không ai tự do nếu phải lệ thuộc người khác, cho nên các tập thể học trò cũng phải học tự túc để sống. Người dạy phải làm cho trẻ nhỏ thấy rằng chính chúng nó đã tự mình góp phần vào đời sống độc lập của cộng đồng với tất cả sức lực hăng hái của chúng nó.   Tự túc về vật chất là điều kiện để làm nảy nở đạo đức. Vấn đề ở đây là phải truyền tải đến trẻ nhỏ lòng ham thích cố gắng và tự lập, hơn nữa, lòng tự hào: chúng ta tự do nên chúng ta chỉ tùy thuộc vào chính mình. Và hơn thế nữa: chúng ta tự do nên chúng ta sống đạo đức một cách tự nhiên; đạo đức của chúng ta là không bao giờ làm việc cho chúng ta mà cho toàn thể xã hội. Tạo ra lòng thích thú làm việc nơi trẻ nhỏ không phải chỉ cốt làm cho chúng hổ thẹn khi phải tùy thuộc kẻ khác, mà còn giúp chúng ý thức được rằng lao động cật lực thực chất là một hành động thương yêu tập thể.   Thương yêu: đó là mục tiêu tối hậu của giáo dục đạo đức. Giáo dục phải làm nảy nở lòng thương yêu đạo đức. Biết thương yêu đạo đức, ấy là tự do, bởi vì lòng thương yêu đó đã được đào tạo để đến một cách tự nhiên, không suy nghĩ. Còn suy nghĩ, ấy là chưa tự do, giáo dục phải dẹp bỏ tự do suy nghĩ, thúc đẩy sự tuân phục rốt ráo, thì lòng thương yêu đạo đức mới phát triển. Ta có một bản tính thô, bản tính đó phải được vượt qua để làm hiển lộ bản tính thuần túy đạo đức. Tự do không phải là bản tính thứ hai, đó là bản tính mới, không trái ngược với bản tính đầu tiên, nhưng hướng dẫn, chỉ đạo, làm chủ nó trọn vẹn. Tự do chỉ có thể có được khi khuynh hướng đầu tiên bị khuynh hướng thứ hai kiểm soát, và giáo dục chính là để giải phóng đầu óc ra khỏi tự do suy nghĩ, tự do định đoạt. Giáo dục là làm cho con người sinh lại lần thứ hai như là người mà bản chất là thương yêu đạo đức như một giá trị vĩnh cửu.  Giáo dục mới đó chỉ có thể thực hiện được bằng một cải cách chính trị mà mục đích là đưa vào giáo dục một sức mạnh tâm linh. Sức mạnh đó là dân tộc. Vì vậy, giáo dục đó phải là giáo dục toàn dân, mở rộng cho tất cả mọi người cùng chung nhau một nguồn gốc, san sẻ cùng những giá trị. Nhằm dẹp bỏ nơi mỗi người tính ích kỷ, thay thế bằng ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, giáo dục đó tạo ra nơi mỗi người một cái tôi mới, cái tôi cộng đồng, cái tôi dân tộc. Cái tôi đó đã có sẵn nơi mỗi người, nhưng cho đến bây giờ vẫn chỉ mới hiện hữu như là ngoại lệ, chứ không phải thường xuyên.   Fichte gửi tâm huyết đến mọi tầng lớp xã hội, mọi giai cấp, nhấn mạnh vai trò của những lực lượng lãnh đạo xã hội, những người đang chuẩn bị cho tương lai, gánh trên vai sức mạnh tâm linh của dân tộc Đức. Giáo dục sẽ chuyển giao đến thế hệ tương lai những đặc tính dân tộc mà mọi người cùng có, chỉ cho dân chúng biết thế nào họ phải trở thành, thế nào họ phải gìn giữ những yếu tính đạo đức nối kết mọi người với nhau và mỗi người với dân tộc, chống lại những gì là ngoại lai đe dọa làm mất đi bản tính đích thực của dân tộc(12).   Có lẽ phải chép lại nguyên văn một đoạn trong bài nói chuyện thứ tám của Fichte: “Đó, một dân tộc là như vậy, trong cái nghĩa cao nhất, và trong viễn tượng một thế giới tâm linh: dân tộc là một toàn thể những người sống thành xã hội, không ngừng tự mình tái tạo đời sống tâm linh một cách tự nhiên, tuân theo một thứ luật đặc biệt theo đó tính thiêng liêng có thể nảy nở trong cộng đồng. Luật chung đó nối kết toàn thể dân chúng ấy thành một tổng thể tự nhiên, tự mình đầy đủ, trong thế giới vĩnh cửu cũng như trong thế giới hiện tại”.  “Tổng thể”, “tự nhiên”, “tâm linh”, “thiêng liêng”, “vĩnh cửu”, tất cả những ý niệm đó được gợi lên không ngoài mục đích dạy cho con người biết thương yêu những giá trị tập thể, thương yêu như thương yêu trong tôn giáo. Có lẽ phải trích thêm một đoạn nữa: “Cứ mỗi bước một người tiến lên là mỗi bước tất cả bản tính người trong nó làm cho nó bước tới. Ở đâu mà cái “tôi” nhỏ bé, chật hẹp của mỗi người đã bị tổ chức chính trị dẹp bỏ, mỗi người sẽ yêu thương tất cả mọi người như yêu thương chính mình, bởi vì mỗi người chỉ là một phần tử cấu thành của cái “Tôi” to lớn, đối tượng duy nhất của thương yêu. Là một phần tử, mỗi người sẽ cùng được hoặc cùng mất đồng thời với cái Tất cả”.   Cái “Tất cả” ấy là dân tộc. Thương yêu là gửi đến dân tộc. Thương yêu một cách tự nhiên, không suy nghĩ, như thương yêu Thượng đế. Như Thượng đế, dân tộc ngự trị trên nhà nước. Nhà nước không phải là cái gì nguyên thủy tự nó có giá trị nội tại. Nhà nước chỉ là phương tiện để thực hiện triết lý giáo dục vừa trình bày. Dân tộc mới là nơi nối kết giữa quá khứ và hiện tại, giữa thế giới vật chất với thế giới tâm linh. Con người có khuynh hướng tự nhiên muốn vươn tới trời với hai chân dính đất, muốn công sức của mình đổ ra trên đất này kéo dài đến một cái gì trường tồn, muốn gieo và gặt trong đời sống ngắn ngủi này một cái gì không mất. Giải pháp là dân tộc, vì dân tộc là vô tận, thiên thu.   Nhưng giáo dục đạo đức ấy, chỉ dân tộc Đức, và chỉ dân tộc Đức mà thôi, mới lĩnh hội được, không một dân tộc Âu châu nào khác có khả năng nhận lãnh. Vì sao? Vì một đặc tính căn bản bí mật: chỉ người Đức mới còn giữ nguyên vẹn ngôn ngữ của mình, và ngôn ngữ là cái gì nguyên thủy nhất, cái đầu nguồn, cái sơ sinh, cái chỉ riêng mình có. Đời sống tâm linh, đạo đức của một dân tộc, chính ngôn ngữ làm cho hiện hữu. Ngôn ngữ là chìa khóa của tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì không có cội rễ. “Con người là do ngôn ngữ làm thành chứ không phải con người làm ra ngôn ngữ”, Fichte nói vậy. Tất cả các ngôn ngữ Âu châu khác đều lai giống, mất gốc, thay đổi, bên ngoài còn sống nhưng bên trong đã chết. Gọi rằng “tiếng mẹ đẻ”, nhưng chỉ người Đức còn giữ, tất cả các giống dân khác đều mất, đều đã để cho chết. Một bên là sống, một bên là chết. Cái họa lớn nhất của một dân tộc là đánh mất bản chất, là lai văn hóa. Mà ngôn ngữ chết thì văn hóa lai. Bởi vậy, ngôn ngữ sống của Đức sẽ làm nước Đức trở thành một dân tộc đích thực, ngọn hải đăng soi đường cho nhân loại ngày mai.   Chỉ trích văn hóa lai, ngôn ngữ lai, Fichte nhắm tố cáo một bộ phận trí thức thượng lưu Đức hồi đó sính dùng tiếng Pháp, thích văn chương Pháp. Nhưng đằng sau lý thuyết ngôn ngữ ấy là một thực chất chính trị: nước Đức hồi đó chưa thống nhất, còn chia vụn ra thành nhiều vương quốc nhỏ, yếu tố chung duy nhất thắt chặt dân tộc Đức sống vụn trên nhiều lãnh thổ khác nhau như thế là ngôn ngữ, là tiếng Đức, là văn hóa. Với ngôn ngữ còn giữ nguyên vẹn nguồn gốc, dân tộc Đức có quyền tự tuyên bố mình là dân tộc. Hơn thế nữa, chỉ người Đức mới thực sự có tổ quốc, “bởi vì chỉ người Đức mới có thể yêu dân tộc của mình bằng một tình yêu chân thật và hợp với lý trí”.   Trước dân tộc mang ý nghĩa thần linh như vậy, tự do của con người còn là gì trên thực tế? Còn là gì khi cá nhân tan biến trong tập thể, khi lý tưởng của cá nhân là trọn vẹn phục vụ tập thể, hy sinh tất cả cho tập thể? Khi giáo dục “toàn vẹn” thực chất là nhồi sọ? Khi Fichte tuyên bố một câu bất hủ: “Phải đào tạo cá nhân thế nào để nó chỉ có thể muốn cái gì ta muốn nó muốn”? Bằng cách gì? Cưỡng bách. Nhưng cưỡng bách mà không phải cưỡng bách, thế mới hay. Cưỡng bách đó, chính là tự do, tự do “tích cực” đã nói từ trang đầu. Fichte lý luận: Với nhà nước, ta không có tự do, vì nhà nước cai trị bằng cưỡng bách, và cưỡng bách đó đến từ bên ngoài. Làm mất cái đặc tính “đến từ ngoài” đó thì ta sẽ không còn cảm thấy mất tự do nữa. Nghĩa là: nếu tự ta, ta hiểu rằng cưỡng bách đó là hay, là tốt, là có lợi cho ta, là chính lý tưởng mà ta muốn vươn tới nhưng chưa ý thức được rõ ràng, thì ta sẽ không còn cảm thấy bị cưỡng bách nữa, thì ta tự do! Ta muốn thế mà ta chưa biết, ta chưa biết vì ta chưa đủ lý trí. Giáo dục là mang cái ánh sáng đó của lý trí đến cho ta. Là làm ta tự do! Cứu cánh của cưỡng bách là tự do! Tự do không phải là muốn cái riêng mà vươn đến cái chung; tự do là muốn cái chung! Và như thế ta mới đích thực là ta.   Giữa hai tự do  Thật lạ lùng, Humboldt và Fichte, hai quan niệm về tự do khác nhau như nước với lửa, vậy mà họ ngồi chung được với nhau để cùng xây dựng Đại học Berlin! Khi ngồi vào bàn, Fichte đã có sẵn một đồ án cho đại học ấy, và đồ án của ông phảng phất những ý tưởng chung về giáo dục vừa nói ở trên. Lệ thuộc nhà nước về mọi mặt, từ ngân sách đến nội dung giảng dạy, đại học của ông đào tạo những công dân tương lai để đảm trách những chức vụ cho nhà nước, với một cách tổ chức đẳng cấp, chuyên chế, độc tài, trong đó cá nhân mất hết tính cách độc lập, giáo sư không được quyền có quan điểm riêng, bởi lẽ, ông nói, chân lý chỉ có một và tranh luận về lập trường chỉ hạ thấp tư tưởng xuống mức bút chiến. Fichte quan niệm đại học như một nhà thờ, dạy học như dạy giáo lý, giáo sư giống như tu sĩ – “tu sĩ của chân lý” – chiến tranh chống ngu dốt giống như thập tự chinh, hành động để cải tổ nhân loại giống như hành động cải đạo của các nhà truyền giáo. “Hành động, hành động, vì vậy mà ta đến đây!” là khẩu hiệu lừng danh của ông để kêu gọi các nhà trí thức do đại học đào tạo tác động lên nhân loại để làm cho nhân loại tự do hơn, năng động hơn, nhờ được phát huy lý trí. Đại học của Fichte na ná như một chủng viện, trong đó sinh viên và giáo sư ăn chung, ở chung, suy nghĩ chung, trao đổi chung, để người học trò được thường xuyên thăm dò, theo dõi, kiểm soát. Với những “thầy trẻ đang tập sự” và những “thầy lớn dạy đạo” y như trong chủng viện, đại học tách biệt sinh viên ra khỏi thế giới bên ngoài, đãi ngộ họ chế độ biệt trú, để họ tập trung chăm lo duy nhất và suốt đời vào cái chức năng cao quý ấy: cải huấn thế giới do mở mang lý trí.   Như vậy thì có cái gì chung nhau giữa Humboldt và Fichte? Có cái gì đâu ngoài dân tộc? Về lý thuyết, dân tộc là cái dung hợp giữa cá nhân và nhà nước trong tư tưởng Humboldt. Về thực tế, dù khác nhau đến bao nhiêu đi nữa, hai ông đều là con đẻ của một dòng văn hóa Đức đặc thù, đi từ sự tôn sùng lý trí đến sự mộ đạo tình cảm, mang chung với nhau trong mình bão tố và đam mê (“Sturm und Drang”) nhận được từ Klinger, Schiller, Goethe, Klopstock, Herder… Bão tố bại trận đã khiến họ cùng gửi đam mê vào dân tộc, mỗi người một cách, nhưng đều qua giáo dục.   Khi viết về văn hóa Đức, người Pháp thường nhấn mạnh sự khác nhau cơ bản giữa hai văn hóa Pháp và Đức, đặc biệt là ở vào giai đoạn lịch sử ấy. Nửa đùa nửa thật, người Pháp định nghĩa về mình lúc đó như thế này: “Tôi là người do tự nhiên, và tôi là người Pháp do tình cờ”. Còn người Đức thì định nghĩa: “Tôi chủ yếu là người Đức và tôi là người do tôi là người Đức” (“I am essentially a German and I am a man through my being a German”)(13). Biết đâu cụ Humboldt 42 tuổi và cụ Fichte 47 tuổi đã cùng nhau cười xòa định nghĩa với nhau như thế khi bắt tay nhau ngồi vào bàn làm việc tháng 4 năm 1809. Nhưng cũng may cho cụ Humboldt – và cũng may cho chúng ta – là có một nhân vật thứ ba cùng ngồi chung bàn, cũng là chiến lược gia, cũng là sáng lập viên đại học, cũng là triết gia, đối thủ không nhân nhượng với Fichte, tác giả một đồ án khác cho Đại học Berlin: đó là cụ Schleiermacher 41 tuổi. Ba vị tranh luận với nhau sôi nổi và rốt cuộc Humboldt gạt đồ án của cụ Fichte, nhận đồ án của cụ Schleiermacher, phóng khoáng, tự do(14). Hơn một năm sau, chắc là ngày rất lành và tháng rất tốt, vì có đến ba con số 10 (10-10-1810), Đại học mở cửa. Khoa trưởng khoa thần học được giao cho Schleiermacher. Khoa trưởng khoa triết lọt vào tay Fichte. Humboldt đã từ giã Berlin từ sáu tháng trước, tháng 4-1810. Cũng lạ: Fichte, người mà đồ án đã bị bác, được bầu lên chức vụ Viện trưởng đầu tiên, tháng 10 năm 1811. Nhưng ông gây tranh chấp với sinh viên, ở không yên ổn ngồi không vững vàng, phải từ chức khá nhanh, tháng 2 năm 1812(15).   Soi gương   “Ngàn năm gương cũ soi kim cổ”, soi thấy cái gì đây trong giáo dục và dân tộc? Trước hết, phải nhận rằng ông Fichte nói đúng: dân tộc hưng vong là do giáo dục. Mất nước cũng vì giáo dục. Lịch sử quả thật trớ trêu: năm 1870, tới phiên nước Pháp thất trận, Napoléon III của Pháp bị Bismarck của Đức cầm tù. Trí thức Pháp cắt nghĩa nguyên nhân thảm bại: một phần là do yếu kém về văn hóa và tâm linh trong đó việc thiếu vắng những đại học đích thực, biết đào tạo kiến thức, là quan trọng. Phe Cộng hòa tiến bộ phát hiện lại Fichte và tác phẩm của ông để nhắc lui nhắc tới luận điểm căn bản: phải cải tổ lại toàn bộ hệ thống giáo dục Pháp, nhất là phải thành lập một đại học xứng đáng với tên gọi để vực dậy một văn hóa dân tộc và một nước Pháp bại trân. Đại học Humboldt được tuyên dương như mẫu mực thành công đã đưa nước Đức lên địa vị cường quốc.  Thứ hai, cũng giản dị: Cả hai ông Humboldt và Fichte đều nhấn mạnh khía cạnh “tâm linh” mà ta nên hiểu theo nghĩa thiêng liêng, không nhất thiết hàm chứa nội dung tôn giáo. Dù phải dè chừng ông Fichte khi ông đưa “dân tộc” lên ngai của một ông thần, và ông thần đó sẽ tác oai tác quái trong học thuyết và trên thế giới đầu thế kỷ 20, dù phải dè chừng như vậy, dân tộc đối với ta vẫn mang ý nghĩa thiêng liêng mà giáo dục phải vun đắp trong tâm tư học trò từ tiểu học đến đại học. Bởi vậy, đại học đào tạo cả hai, con người và công dân, con người yêu nước trong một dân tộc lành mạnh. Con người khoa học trong một xã hội đạo đức.  Đạo đức, đó là ý nghĩ thứ ba, cũng đơn giản. Cả hai ông đều đưa đạo đức lên hàng đầu, dù mục tiêu nhắm đến có khác nhau. Con người hiện đại quên mất đạo đức, nhưng đạo đức không quên con người hiện đại. Nó thường xuyên đánh thức, nhắc nhở. Nó mở rộng phạm vi ra khỏi liên hệ giữa người với người. Với thú vật, với thiên nhiên, với sự sống, đạo đức hiện diện cùng khắp. Đạo đức trong miếng ăn. Đạo đức trong viên thuốc. Đạo đức trong kinh doanh. Đạo đức cả trên quan hệ quốc tế. Đạo đức đó, trẻ con phải học từ nhỏ. Và có lẽ từ nhỏ cũng phải học thêm một thứ đạo đức nữa bao trùm lên khắp đời sống: đạo đức chính trị. Giáo dục này không thể thiếu vắng trong đại học.  Điều kiện để thực hiện giáo dục như vậy là tự do của mô hình Humboldt. Không có tự do thì không có đại học. Ít nhất cũng phải xem đó như là lý tưởng nhắm đến, nếu chưa thực hiện được. Nhưng, xin lỗi ông Fitchte, tự do kiểu của ông sao mà từa tựa như tự do kiểu cách mạng văn hóa ở thời đại hồng hoang nào đó, đại học ở thế kỷ 21 này không dám nhận. Đó là ý nghĩ thứ tư, cũng đơn giản.  —  * * Trích từ “Đại học Humboldt 200 năm (1810 – 2011): kinh nghiệm thế giới và Việt Nam”, NXB Tri Thức  **Giáo sư émérite Đại học Picardie, Pháp.     (1) Tôi mượn hai khái niệm “tự do tích cực” và “tự do tiêu cực” trong: I. Berlin, Two Concepts of Liberty, in: Isaiah Berlin, Four Essays on Liberty, Oxford University Press, 1969.  (2) J. Stuart Mill, trích trong: C. Northcote Parkinson, L’évolution de la pensée politique, Gallimard, Idées, 1965, trang 133.  (3) Bản dịch tiếng Anh nhan đề “Limits of State Action”.  (4) Paul R. Sweet, Young Wilhelm von Humboldt’s Writings (1789-93), Journal of the History of Ideas, Vol 34, N°3, July-Sept 1973. Về sự liên hệ giữa “bên trong”, “bên ngoài”, xem thêm: Christoph Wulf, Perfecting the Individual: Wilhelm von Humboldt’s Concept of Anthropology, Bildung and Mimesis, Educational Philosophy and Theory, Vol. 35, N° 2, 2003.  (5) David Sorkin, Wilheim von Humboldt: The Theory and Practice of Self-Formation (Bildung), 1791-1810, Journal of the History of Ideas, Vol 44, N°1, Jan-March1983.   (6) Như trên.  (7) Có lẽ tiếng Pháp nói chính xác hơn: “l’éducation de soi par soi”.  (8) D. Sorkin, đã dẫn.   (9) Gerd Hohendorf, Wilheim von Humboldt, 1767-1835, Perspective, Revue trimestrielle d’éducation comparée, Paris, Unesco, Vol 23, N° 3-4, 1993.  (10) Như trên.  (11) Những câu để trong ngoặc kép là trích trong “Discours à la Nation allemande” của Fichte. Xem thêm: Jean-Jacques Chevallier, Les grandes oeuvres politiques de Machiavel à nos jours, Armand Colin, 1970; Guillaume Vergne, J. G Fichte et l’éducation, http://skhole.fr/s%C3%A9rie-jg-fichte-et-l-%C3%A9ducation; Claude Piché, La Staatslehre de 1813 et le caractère “autoritaire” de l’éducation chez Fichte, http://perso.cpdr.ucl.ac.be/maesschalck/textedeCPiche.pdf   (12) Những vấn đề trên được nói trong: Christophe Prémat, La liberté du sujet éthique chez Kant et Fichte, http://www.memoireonline.com/12/07/752/m_liberte-sujet-ethique-kant-fichte0.html. Đây là một giảng văn tại Đại học Paris I.  (13) Louis Dumont, Homo Aequalis II: L’idéologie allemande, France-Allamagne et retour, Gallimard, 1991. Tôi trích câu tiếng Anh trong bản dịch tiếng Anh: German Ideology: From France to Germany and Back, Introduction, tr. 3.  http://www.google.fr/#hl=fr&source=hp&q=louis+dumont+the+only+question+we+shall+ask+is%3A+what+is+it+that+i   Xem thêm tác giả rất quan trọng này: Louis Dumont, L’Anthropologie philosophique de G. de Humboldt, Presses universitaires de Lille, 1991.   (14) Về đồ án “tự do, phóng khoáng” của Schleiermacher, có thể đọc: Christian Berner, Schleiermacher et la question de l’université dans le contexte de l’idéalisme allemand, http://philolarge.hypotheses.org/619   (15) Về tất cả những vấn đề này, xem thêm Alain Renaut, Le modèle humboldtien. Observatoire européen des politiques universitaires. Bài viết rất hay, có thể đọc trên mạng http://oepu.paris-sorbonne.fr/spip/spip.php?article88      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng đến sự thấu cảm trong việc dạy-học văn ở nhà trường phổ thông      Định nghĩa về sự thấu cảm ở đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia mới đây đã gây nhiều tranh cãi trên các diễn đàn. Tuy nhiên, bên cạnh những phản biện có tính thuyết phục về cách diễn giải khái niệm này, rất ít người chú ý đến sự thay đổi trong diễn ngôn của đề thi văn, từ đó, nhìn nhận lại những khả năng của việc dạy- học môn văn đối với sự phát triển con người.      Nhập vai, hóa thân vào nhân vật là một hoạt động đang được áp dụng nhiều trong dạy học văn hiện nay song đó không phải là phương pháp duy nhất để khơi dậy tiềm năng thấu cảm. Học “Truyện Kiều” bằng cách hóa thân vào nhân vật tại trường THPT Trưng Vương (Quận 1, TP.HCM), tháng 4/2015. Nguồn: muctim.com.vn    1. Trên trang cá nhân của mình, Đặng Hoàng Giang – tác giả của đoạn trích về sự thấu cảm được sử dụng làm đề thi – đã phát biểu: “Chữ “thấu cảm” ít xuất hiện trong xã hội hiện nay, ít hơn nhiều so với những chữ như “kỹ năng”, “tài năng”, “quyết tâm” hay “chăm chỉ”. Đây là một điều đáng tiếc, bởi thấu cảm là nền tảng để trên đó xây dựng sự khoan dung, lòng trắc ẩn và sự tử tế.”  Tạm thời chưa bàn đến việc thật sự thấu cảm có phải là gốc của “sự khoan dung, lòng trắc ẩn và sự tử tế”, quan sát của Đặng Hoàng Giang cho thấy những từ khóa thời thượng trong các diễn ngôn về giáo dục hiện nay nhấn mạnh vào sự thành công, sự thông minh về trí tuệ, nghị lực chiến thắng hoàn cảnh… như là những giá trị quan trọng nhất mà giáo dục cần phải định hướng cho học sinh. Quan sát này có phần xác đáng nếu ta thử khảo sát các đề thi môn văn từ cấp trung học cơ sở đến trung học phổ thông được giới thiệu trên mạng, phần đọc hiểu và nghị luận xã hội thường được lấy từ các sách kỹ năng sống hay các văn bản mang tính ngụ ngôn, qua đó yêu cầu học sinh trình bày quan điểm của mình về những vấn đề đạo đức thiên về tính duy ý chí như sự kiên trì, lòng lạc quan, trách nhiệm đối với đất nước, quê hương, gia đình, hay sự trải nghiệm thực tế. Tất cả những giá trị trên đều cần được bồi đắp cho học sinh, song nếu như chỉ khai thác những giá trị ấy, việc dạy-học văn ở nhà trường sẽ mất đi nhiều sức mạnh của nó, với tư cách là một môn học mang tính khai phóng.  Một quan sát khác của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trên trang cá nhân của ông cũng rất đáng để suy ngẫm. Ông đặt câu hỏi: “Giá lúc này đây trước mặt tôi là một học sinh chuyên văn. Tôi sẽ hỏi em những bài văn nào trong nhà trường đã dạy cho em về lòng trắc ẩn khiến em sẽ nhớ trong suốt cuộc đời. …rất ít, có phải không em?” Nỗi băn khoăn của ông thực sự làm tôi, trong tư cách của người dạy học môn văn trong nhà trường phổ thông, phải nghĩ lại về công việc mình vẫn làm.  2. Thấu cảm là một mối quan hệ liên chủ thể giữa “ta” và “kẻ khác”/”cái khác”. Nói cụ thể hơn, khi thấu cảm, ta cảm nhận được những gì mà một người khác, có thể rất xa lạ, không thân quen gì với ta, đang nếm trải bên trong. Thấu cảm là một nỗ lực để hiểu kẻ khác trong toàn bộ tính phức tạp, mâu thuẫn của họ. Nó không phải là sự xóa nhòa cái tôi của mình, đồng nhất cái tôi ấy vào người khác. Nó chỉ là sự từ chối phán xét, là cố gắng đến gần hơn tha nhân. Nói như lời của Nam Cao, thấu cảm là cách để “người gần với người hơn”, song không phải trong sự đồng dạng mà trong sự đa dạng, phong phú, khác biệt của nhân cách, cá tính, tư tưởng…  Trên phương diện ấy, văn học, hay nói hẹp hơn môn văn trong nhà trường, có khả năng lớn trong việc khơi dậy và bồi dưỡng năng lực thấu cảm. Nhưng đây là vấn đề chưa được nhận thức thấu đáo trong việc dạy và học văn hiện nay.  Ở Việt Nam, chúng ta đã rất quen với định nghĩa được cho là của Maxim Gorky về văn học – “Văn học là nhân học”, đến mức xem đấy là một chân lý không thể bác bỏ. Nhưng trên thực tế, thứ “nhân học” mà Gorky hình dung gần với “dân tộc học” nhiều hơn.[1] Hệ quả là, trong một thời gian dài, những người giảng dạy và nghiên cứu văn học coi cái đích của việc tìm hiểu văn chương là khám phá con người giai cấp, con người xã hội chứ không phải là con người cá nhân với vô vàn những nét dị biệt, nghịch lý, không thể quy giản về những phạm trù trừu tượng. Đó cũng là lý do vì sao khái niệm “điển hình” lại được nâng lên thành chuẩn mực cho sáng tạo và thẩm định văn học. Ở một hình tượng điển hình, cái được nhấn mạnh là những phẩm chất mang tính đại diện, tính phổ biến của nhân vật hơn là những gì riêng tư nhất, cá biệt nhất, sâu kín nhất. Nội dung sẽ được đào sâu khi học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao là bi kịch của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng, ở “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là bi kịch của người phụ nữ trong xã hội gia trưởng nam quyền… Thực ra, sự thấu cảm rất hiếm khi nảy nở được trên nền tảng những “điển hình”, những “tấm gương” như vậy.  Khái niệm “thấu cảm” có thể sẽ được ít người nghiên cứu và giảng dạy văn học chú ý vì có vẻ như nó gần với một khái niệm thông dụng hơn, được lắp vào hầu hết các bài văn là khái niệm “nhân đạo”. Nhưng ở những diễn ngôn về “nhân đạo” trong việc dạy-học văn ở phổ thông, lại có thể dễ dàng nhận thấy nội hàm của nó nghiêng về nhận thức và đồng cảm với tình trạng nạn nhân của con người và thường quy hoàn cảnh là nguyên nhân cho tình trạng ấy. Nhìn vào các mẫu chữa các đề bài nghị luận về giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học, có thể thấy ngay thứ tình cảm này đã bị quy về các khuôn mẫu, các công thức không đòi hỏi sự chất vấn, suy tư lại. Nhân đạo, được hiểu đơn giản, là thương nỗi khổ của con người, căm ghét các thế lực gây ra nỗi khổ ấy, ngợi ca nghị lực, khả năng chiến đấu chống lại hoàn cảnh, số phận con người. Trong khi đó, nhân đạo, trong sự rộng rãi nhất, theo tôi, chính là thấu cảm, là sự nhận ra và tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác, sự phức tạp nằm ngoài quy luật đã có của những tình thế nhân sinh, sự bí ẩn của nội tâm con người và thế giới. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” phong phú hơn rất nhiều so với việc nó lên tiếng về nguy cơ lưu manh hóa của những con người dưới đáy; nó nằm trong những trạng thái cảm xúc của nhân vật mà nếu chỉ dùng khung đạo đức để nhận diện và đánh giá nó sẽ là hẹp hòi: nỗi sợ tuổi già, cái chết, sự cô độc của nhân vật; ở cái ngẩn ngơ của Chí Phèo khi thấy cái bóng mình nhễ nhại dưới trăng, khi vật ngửa Tự Lãng để nhìn vào khuôn mặt của ông già say khướt ấy; ở cảm giác của Chí Phèo thèm làm nũng Thị Nở như với mẹ mình; ở sự tỉnh táo nhưng đau đớn đến tột cùng khi biết rằng khuôn mặt đầy vết rạch của mình đã vĩnh viễn bị xem không phải là mặt người… Những cảm giác ấy nhiều khi rất mơ hồ, nhiều khi lý tính không chạm vào được, chính chúng làm nên sự bí ẩn của nhân vật, khiến chúng ta phải không ngừng nghĩ lại về nhân vật của Nam Cao dù đã có bao nhiêu nghiên cứu về tác phẩm “Chí Phèo”.  3. Sự thấu cảm, có lẽ không cần bàn cãi nhiều, là năng lực mà giáo dục cần thiết phải vun đắp. Chỉ có điều ta cần ý thức khai thác khả năng này từ đâu. Thế giới đương đại tiềm tàng nhiều nguy cơ làm thui chột sự thấu cảm ở con người mà rất có thể chúng ta chưa ý thức hết: bầu không khí chính trị thế giới trong vài năm trở lại đây chứng kiến những sự phân rẽ, tấn công vào sự đa dạng, khác biệt từ màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo; xu hướng toàn cầu hóa với áp lực cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng lớn khiến các diễn ngôn về giáo dục nhấn mạnh hơn vào những kỹ năng, những chiến lược để thích nghi, để thành công, để làm chủ kẻ khác và theo đó, biến con người thành công cụ hơn là một chủ thể tự do; thời đại của những tiến bộ không ngừng về công nghệ tiếp sức cho quá trình giản lược hóa con người, biến con người trở thành những thực thể bị số hóa… Trong ngữ cảnh ấy, việc dạy học văn nên thay đổi không phải chỉ để phù hợp hơn với hoàn cảnh mà quan trọng hơn, còn để kháng cự lại những nguy cơ đơn giản hóa nhân tính, làm rỗng con người bên trong, làm nghèo nàn cảnh quan tinh thần ở nhân loại.  Nhận thức được điều ấy, trong chương trình ngữ văn mới, thay vì chỉ khai thác những tác phẩm có thể giúp ích cho việc hình thành con người công dân, rất cần chọn lựa những tác phẩm giàu giá trị nhân bản, dần dần đưa học sinh tiệm cận sự phức tạp, sự bí ẩn khôn cùng của thế giới và con người, từ đó trân trọng, bảo vệ chính điều ấy. Tác phẩm văn chương luôn có tiềm năng khơi dậy khả năng thấu cảm, trắc ẩn nhưng cần phải tìm được góc độ và phương pháp khai thác. Nhập vai, hóa thân vào nhân vật là một hoạt động đang được áp dụng nhiều trong dạy và học văn hiện nay song đó không phải là phương pháp duy nhất, hiệu quả nhất. Đối với tôi, sự thấu cảm được khơi dậy từ các câu hỏi với mục đích làm sao để học sinh nhận ra còn có phần nào đó mình chưa biết được về con người qua nhân vật, qua những tình thế được mô tả trong tác phẩm văn học. Văn chương, về bản chất, không phải là câu trả lời trọn vẹn cho bất cứ cái gì, nhất là về con người. Nhưng nó luôn làm chúng ta phải thắc mắc, trong nhận thức và cả trong tình cảm đạo đức, rằng mình đã hiểu đúng hơn, sâu hơn, thấu đáo hơn về con người hay chưa. Nó là một kinh nghiệm về thái độ “cận nhân tình”.  Giáo viên cũng nên nghĩ lại về tham vọng đem đến cho học trò một khuyên nhủ, một bài học đạo lý từ tác phẩm văn học. Sự thấu cảm không tồn tại trong hình thức ấy. Rất có thể việc dạy và học văn chỉ giúp cho người dạy lẫn người học mỗi lúc một vỡ lẽ hơn về sự thật này: làm người rất khó, rất khổ, nhưng chính sự chấp nhận cái khó, cái khổ ấy qua việc chống lại thói quen, đối mặt với những thách thức không tưởng, biết trước thất bại mà vẫn dấn thân, thấy trước sự cô độc mà vẫn lựa chọn, ý nghĩa của đời sống con người mới được xác lập. Lòng trắc ẩn đúng nghĩa chính là sự trắc ẩn về sự khổ đau nhưng cũng đẹp đẽ của con người trong nỗ lực kiến tạo ý nghĩa đời sống ấy.           [1]Nhà nghiên cứu người Trung Quốc Liu Weiquin trong bài báo Second Thought on the Proposition “Literature is the Study of Man” (Nghĩ lại về mệnh đề “Văn học là nhân học”) trên tạp chí Social Sciences in China (Khoa học xã hội Trung Quốc), số II, tháng Năm năm 2011, đã có những phát hiện rất đáng chú ý về mệnh đề được cho là của Maxim Gorky này. Theo đó, chưa thể xác quyết xuất xứ câu nói này từ văn bản nào của Gorky. Thêm nữa, cứ cho đây là điều Gorky nói, thì theo diễn giải của nhiều nhà văn và học giả Trung Hoa, khái niệm nhân học mà Gorky nói đến gần với dân tộc học nhiều hơn. Hoặc cũng có thể xem định nghĩa này của Gorky chỉ là cách ông phản ứng lại một số phê bình về bút pháp chủ nghĩa hiện thực của ông vốn cho rằng nó gần với lối miêu tả dân tộc học (trang 106-117). Cũng theo Liu, vào thời kỳ Cách mạng văn hóa, khái niệm “văn học và nhân học” được một số nhà văn diễn dịch lại, theo hướng văn học nghiên cứu về cảm xúc, về bản chất con người phổ quát thì lại bị phê phán từ lập trường giai cấp (trang 106-117).        Author                Trần Ngọc Hiếu        
__label__tiasang Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới      Bài viết nhấn mạnh vai trò then chốt của  nguồn nhân lực cho phát triển – qua đó thấy rõ hơn tính cấp thiết của  việc đổi mới cơ bản, toàn diện và đúng đắn nền giáo dục Việt Nam. Trong  rất nhiều công việc có thể làm để thay đổi diện mạo giáo dục Việt Nam, bài viết đặc biệt nhấn mạnh bốn công  việc: kiến trúc lại hệ  thống giáo dục, giải quyết vùng trũng tiếng Anh, tài chính – xã hội hóa  giáo dục, và đưa CNTT vào giáo dục.     Nhân lực – yếu tố then chốt phát triển đất nước và công thức Ray Cline  Nghị quyết Đại hội XI đã khẳng định cần phải “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”, xem đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển đất nước.   Điều này đặc biệt quan trọng để tận dụng thế mạnh của Việt Nam thời kỳ lịch sử “dân số vàng” và vừa thoát ngưỡng thu nhập thấp, và quan trọng hơn nữa khi thực trạng giáo dục đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực hiện nay đang có nhiều vấn đề nghiêm trọng. Điều này cũng được chỉ rõ trong văn kiện Đại hội Đảng XI: “Giáo dục và đào tạo có tiến bộ trên một số mặt, nhưng còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc cho xã hội… Quản lý nhà nước về giáo dục còn lúng túng… Chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm yếu cản trở sự phát triển”.  Ray Cline – Tiến sỹ đại học Harvard, nguyên Giám đốc CIA đã đưa ra công thức Ray Cline khá nổi tiếng đo tiềm lực một quốc gia:   P = (C+E+M) × (S+W)  trong đó P (National Power) – Tiềm lực quốc gia được đo qua các yếu tố:  – C (Critical Mass) – Nguồn nhân lực được đào tạo  –    E (Economic power) – Tiềm lực kinh tế  –    M (Military power) – Tiềm lực quân sự  –    S (Strategy) – Chiến lược quốc gia  –    W (Will) – Ý chí  Công thức này có thể xem như một biểu diễn dạng toán học cho quan điểm: với tiềm năng kinh tế (E) và quân sự (M) ở mức độ vừa phải – Việt Nam có thể nâng tiềm lực quốc gia lên cao nếu có một Chiến lược đúng (S), một Ý chí mạnh mẽ (W) và dựa vào Nguồn nhân lực tốt (C).  Với dân số đông đảo đứng thứ 13 trên thế giới, nếu có bước đi đúng đắn, Việt Nam có quyền mơ ước đến năm 2020 sẽ có một dịch chuyển quan trọng – như một mục tiêu chiến lược – biến dân số đông từ gánh nặng kinh tế xã hội thành ưu thế cạnh tranh – để đưa đất nước lên vị trí xứng đáng. Điều này không chỉ cần thiết ở quy mô quốc gia mà còn ở quy mô các địa phương – để các địa phương đông dân phải trở thành các địa phương giàu có, chứ không phải là nơi luôn cần sự hỗ trợ của ngân sách nhà nườc.  Câu hỏi để suy ngẫm: Vì sao Thanh hóa – tỉnh đông dân thứ 3 của Việt Nam (sau Hà nội và TP HCM), có truyền thống hiếu học, có chất lượng giáo dục phổ thông thuộc loại TOP của Việt Nam (căn cứ vào kết quả thi tốt nghiệp, thi đại học, thi học sinh giỏi hàng năm) – lại là tỉnh phải bù ngân sách nhiều nhất trong 63 tỉnh thành? Lời giải để biến dân số đông từ gánh nặng kinh tế xã hội thành ưu thế cạnh tranh cho Thanh hóa – phải chăng cũng là lời giải cho Việt Nam?     Kiến trúc phù hợp cho hệ thống giáo dục Việt Nam   Việc đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục đào tạo bắt đầu từ đổi mới tư duy, đổi mới quản lý – nhưng để đổi mới một cách đúng đắn phải bắt đầu từ công việc mang tính cơ bản là xem xét và thay đổi kiến trúc cuả hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam. Thiếu một kiến trúc hợp lý, việc đổi mới giáo dục sẽ tiếp tục mang tính chắp vá.  Mỗi quốc gia có một cấu trúc, một kiến trúc giáo dục đào tạo mà phần lớn nhìn gần giống nhau (nhà trẻ mẫu giáo – tiểu học – trung học – dạy nghề/cao đẳng/đại học). Giáo dục đào tạo Việt Nam sau nhiều thay đổi đang có cấu trúc/kiến trúc chắp vá [1421] (không tính nhà trẻ mẫu giáo):   [1 tiểu – 4 trung – 2 cao – 1 đại]  [1 tiểu] là 1 hệ tiểu học, [4 trung] là 4 hệ trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, [2 cao] là 2 hệ cao đẳng nghề và cao đẳng chuyên nghiệp (cao đẳng “không nghề”), [1 đại] là 1 hệ đại học – bao gồm cả đại học và sau đại học.   Thời gian học hết trung học phổ thông là 12 năm, thời gian để có bằng cao đẳng/cao đẳng nghề là thêm 3 năm sau phổ thông, thời gian có bằng đại học là thêm 4-5 năm sau phổ thông. Cộng với 6 năm đầu đời sẽ ra tuổi có bằng cấp tương ứng: 18, 21, 22-23 tuổi để có bằng trung học phổ thông, cao đẳng và đại học.   Kiến trúc mang tính chắp vá này cần phải thay đổi cơ bản đáp ứng 5 mục tiêu:  –    Phù hợp với hội nhập quốc tế, tương thích với nhiều quốc gia, đảm bảo tính chuyển đổi, sử dụng được tài nguyên học tập quốc tế và trao đổi giáo dục quốc tế.   –    Định hướng nghề nghiệp, phân luồng nghề nghiệp sớm, giải quyết tâm lý xã hội đang đổ xô chen chúc vào cửa đại học.  –    Liên thông các cấp học trong nước mềm dẻo, dễ dàng.  –    Giảm thời gian vào đời, hướng tới việc học suốt đời.  –    Quản lý về mặt nhà nước thuận lợi, không chồng chéo.  Trong dự thảo đề án đổi mới giáo dục có nhắc sơ bộ đến việc gộp hệ nghề và hệ chuyên nghiệp nhưng không đưa ra được kiến trúc phù hợp. Và liệu có kiến trúc giáo dục nào đáp ứng được cả 5 mục tiêu nêu trên hay không?  Một phương án kiến trúc đáp ứng được cả 5 mục tiêu trên là kiến trúc [1111] thay cho kiến trúc [1421]:  [1 tiểu – 1 trung – 1 cao – 1 đại]  –    [1 tiếu] là 1 cấp tiểu học, thời gian là 5 năm.   –    [1 trung] là 1 cấp trung học, thời gian là 4 năm.  9 năm này theo mô hình 5 năm Primary + 4 năm Secondary trong hệ thống giáo dục của nhiều nước theo mô hình Anh, được áp dụng rộng rãi tại các nước khối thịnh vượng chung. Học xong 9 năm có bằng tốt nghiệp văn hoá phổ thông.   –    [1 cao] là cao đẳng, thời gian học 3 năm. Không phân biệt 2 hệ cao đẳng nghề và cao đẳng “không nghề”.  Việc gộp cao đẳng nghể và cao đẳng “không nghề” đã được nhắc đến trong dự thảo đề án. Còn việc không còn trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề là một thay đổi quan trọng.   Trung học phổ thông được thay bằng 2 năm “dự bị đại học” (Pre-University) dành cho những ai mong muốn học đại học, 2 năm dự bị này học theo định hướng chuyên môn qua các môn tự chọn để sau đó lấy kết quả xét tuyển hoặc thi tuyển vào các trường đại học, và cũng để giảm bớt thời lượng học đại học sau này.   Trung học chuyên nghiệp/trung học nghề được gộp chung và đưa thành giai đoạn đầu (1.5 năm) của Cao đẳng. Học sinh học xong lớp 9 (xong phổ thông) có thể phân luồng học Cao đẳng luôn thay cho hướng học Dự bị đại học. Học xong giai đoạn đầu 1.5 năm của Cao đẳng (trung cấp trước đây) được nhận bằng Cao đẳng (Diploma) và có thể đi làm sớm, học thêm giai đoạn 2 của Cao đẳng (1.5 năm) nhận bằng Cao đẳng Nâng cao (Higher Diploma). Có bằng Cao đẳng Nâng cao có thể học tiếp liên thông đại học (2 năm) nếu muốn hoàn thiện học vấn.   Đây là mô hình áp dụng ở nhiều nước. Hiện nay Singapore hàng năm đều sang Việt Nam tuyển học sinh học hết lớp 9 sang Singapore học Polytechnic (Cao đẳng) là theo mô hình này. Nếu hiện nay xong lớp 12 mới vào đại học, trượt đại học mới vào cao đẳng thì theo mô hình mới [1111], sau 9 năm có nhánh rẽ cao đẳng.   –    [1 đại] là đại học, thời gian học 3-4 năm thay cho 4-5 năm hiện nay. Việc giảm 1 năm học đại học nhờ đã có kiến thức trong 2 năm học dự bị đại học. Với sinh viên có bằng Cao đẳng Bậc cao, thời gian học liên thông đại học là 2 năm bổ sung.   Việc đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ không có gì thay đổi. Việc liên thông các cấp độ học và các chương trình học được thực hiện theo hình thức “chuyển đổi tín chỉ” – tức chuyển đổi một số nội dung đã học để bớt đi một số môn và thời gian học khi chuyển sang chương trình học cao hơn hoặc chương trình khác. Với quan niệm liên thông này, việc liên thông được tiến hành tự do, mềm dẻo giữa các ngành và các cấp học.   Hệ thống trường học sẽ quy hoạch lại để chỉ còn trường Tiểu học, trường Trung học, trường Cao đẳng và trường Đại học (không tính các trung tâm dạy nghề ngắn hạn). Chương trình phổ thông được thiết kế lại thành hệ 9 năm. Việc học dự bị đại học được thực hiện tại trường Trung học.   Với kiến trúc giáo dục hiện tại, sẽ gộp trường Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông thành trường Trung học, gộp trường Trung cấp vào trường Cao đẳng.   Kiến trúc mới [1 tiểu – 1 trung – 1 cao – 1 đại] đáp ứng được cả 5 mục tiêu nêu trên. Bộ Giáo dục sẽ quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông trở xuống. Bộ Đại học quản lý đào tạo sau phổ thông (cao đẳng – đại học).  Tuổi để có bằng phổ thông là 15 (trước đây là 18), tuổi có bằng Cao đẳng/Cao đẳng Nâng cao là 17-18 (trước đây là 21), tuổi có bằng đại học là 20-21 (trước đây là 22-23). Thanh niên vào đời sớm hơn phù hợp với tiêu chí sinh học giới trẻ hiện nay, việc giảm thời gian học ngoài cái lợi là giảm chi phí xã hội còn tăng được thời gian cống hiến của cá nhân, và đất nước có thêm nguồn lao động trẻ.   Xóa vùng trũng Tiếng Anh & Bình dân học vụ 2.0  Tiếng Anh đang là ngôn ngữ được sử dụng ở nhiều quốc gia nhất, và là ngôn ngữ được sử dụng trên Internet nhiều nhất, có nhiều thông tin bằng thứ tiếng này nhất. Việt Nam hiện đang là vùng trũng tiếng Anh trong khu vực khi các nước xung quanh như Philippines, Singapore, Malaysia, Thailand, Campuchia, Hongkong… với các bước đi phù hợp đã biến tiếng Anh thành ngôn ngữ thông dụng của dân chúng.   Hiệu ứng “Vùng trũng tiếng Anh” là rào cản lớn trong hội nhập quốc tế, chuyển giao công nghệ, xuất/nhập khẩu giáo dục của Việt Nam, là một thước đo thể hiện mức độ yếu kém của nguồn nhân lực Việt.  Cần phải xem việc xóa “Vùng trũng tiếng Anh” là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Cần xem tiếng Anh là công cụ quan trọng mà không có nó thì không thể hội nhập quốc tế.  50 năm trước, với phong trào Bình dân học vụ, học vấn bình dân cho dân chúng được hiểu là “biết đọc-viết”. Bình dân học vụ 2.0 sẽ phải bao gồm “3 biết”: biết đọc-viết, biết Tin học và biết tiếng Anh. Việt Nam đã cơ bản giải quyết xong việc phổ cập “biết đọc- viết”, việc phổ cập “biết Tin học” không phải là công việc quá khó, chỉ cần học một vài tháng, thậm chí không cần trường lớp. Cái biết thứ 3 – biết tiếng Anh khó hơn nhiều – và biết tiếng Anh phải là biết như một công cụ dùng được – chứ không phải là biết dưới dạng một môn học đã từng được học qua như hiện nay.   Việc xóa mù tiếng Anh phải được giải quyết ở trường phổ thông như một kỹ năng giáo dục phổ cập – để nâng cao dân trí, để người dân có điều kiện tận hưởng các tiện ích xã hội thông qua tiếng Anh, để người dân có điều kiện thể hiện vai trò xã hội đầy đủ hơn, và để đất nước có cơ sở nền tảng hội nhập quốc tế sâu rộng đúng nghĩa.   Việc xóa mù tiếng Anh được giải quyết ở trường phổ thông cũng là tiền để để nâng cao chất lượng giáo dục sau phổ thông (cao đẳng, đại học), tận dụng được học liệu và giảng viên quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục, để xây dựng một nền giáo dục sau đại học mang tính quốc tế hóa, cho phép mơ đến viễn cảnh xuất khẩu giáo dục (thu hút sinh viên nước ngoài đến học ở Việt Nam, mở cơ sở đào tạo của Việt Nam ở nước ngoài) chứ không chỉ đơn thuần hội nhập theo dạng đi nước ngoài du học như hiện nay.   Phổ cấp tiếng Anh là con đường Singapore đi cách đây 50 năm, là con đường Malaysia đi cách đây 15 năm, và là con đường Indonesia đang đi hiện nay.   Với dân số đứng thứ 13 trên thế giới, Việt Nam cần thực hiện Bình dân học vụ 2.0, đặt mục tiêu chiến lược là xóa “vùng trũng tiếng Anh”, xem đây là nhiệm vụ của giáo dục phổ thông để mau chóng trở thành 1 trong 10 quốc gia có nhiều người dùng tiếng Anh nhất vào năm 2020.   Tài chính giáo dục – vấn để xã hội hóa và thu hút đầu tư  Giáo dục là lĩnh vực mang tính xã hội – nhân văn. Mô hình đầu tư giáo dục lý tưởng nhất là nhà nước dùng ngân sách đầu tư toàn bộ để xây dựng một nền giáo dục chất lượng cao, học tập miễn phí ở tất cả các cấp học. Đây là mong muốn của mọi nhà nước do dân, vì dân. Việc gắn giáo dục với yếu tố thị trường bao giờ cũng có những mặt trái không ai mong muốn.   Trong đề án đổi mới giáo dục, Việt Nam cần đặt mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông bắt buộc và phải là giáo dục phổ thông có chất lượng (hệ 9 năm – cùng các năm nhà trẻ mẫu giáo), học sinh đi học không phải đóng bất cứ khoản phí nào. Đây cũng là ưu việt XHCN cần hướng tới và thực hiện sớm. Hy vọng rằng có thể tính toán để có ngân sách đủ chi cho việc này.   Cần nói thẳng luôn – dù rất muốn thì nhà nước cũng không đủ tiền chi cho giáo dục sau phổ thông miễn phí, kể cả chấp nhận chất lượng thấp.  50 năm trở lại đây, bức tranh giáo dục đã có sự thay đổi lớn ở quy mô toàn cầu, trong đó một trào lưu mà không quốc gia nào cưỡng nổi là hiện tượng đại chúng hóa giáo dục sau phổ thông. Số liệu thống kê của hầu hết các quốc gia cho thấy rõ điều này. Mỹ là quốc gia đầu tiên có tỷ lệ học vấn sau phổ thông (post-secondary education) vượt ngưỡng 40% dân số vào đầu những năm 60, tiếp theo là Canada. Tây Âu và Nhật bản gia nhập trào lưu này vào những năm 80 và sau đó là các quốc gia khác, trong đó có cả các nước đông dân như Trung quốc, Ấn độ cũng bị cuốn theo trào lưu này. Điều này được dẫn dằt bởi nhu cầu nhân lực của nền kinh tế hiện đại cần lao động qua đào tạo sau phổ thông, và nhu cầu có học vấn của người dân ngày càng cao.   Hiện tượng này cũng dễ dàng quan sát ở Việt Nam qua các con số thống kê về việc tăng trưởng sinh viên. Nếu 50 năm như trước đây – ai đó ở Việt Nam có học vấn tiểu học, trung học đã là tinh hoa xã hội – thì giờ đây có bằng đại học – thậm chí trên đại học – chưa chứng tỏ điều gì.   Có đủ kinh phí cho hệ thống giáo dục sau phổ thông trở thành nhiệm vụ không thể kham nổi của ngân sách quốc gia. Các nước giàu có ở Tây Âu cố gắng tối đa, và cuối cùng phải chấp nhận thu và tăng học phí đại học công, dẫn đến biểu tình, xung đột giữa sinh viên với chính quyền những năm gần đây (Anh, Pháp…).   Việt Nam không nằm ngoài quy luật này: số sinh viên bùng nổ, tăng nhanh chóng, từ lâu ngân sách nhà nước – dù co kéo để dành tối đa cho giáo dục, dù cố tăng hàng năm (hiện là 20% chi ngân sách và đến ngưỡng không tăng them được nữa vì còn chi cho y tế, quốc phòng an ninh, phúc lợi xã hội khác…) – đã không đáp ứng được nhu cầu khi số lượng sinh viên tăng và đòi hỏi về chất lượng đào tạo cao của xã hội cũng như của người học.  Chúng ta muốn ai cũng được học hành như Bác Hồ từng mong. Chúng ta muốn chất lượng đào tạo tốt – thậm chí xem đây là mục tiêu số một, mục tiêu không được phép thỏa hiệp, cả xã hội đồng thanh nói không với chất lượng giáo dục chất lượng thấp.   Nhưng nhà nước không đủ nguồn tài chính cần thiết thực hiện việc này. Đây là một thực tế không được phép né tránh, cần phải đối mặt và nhìn nhận rõ ràng trong đề án đổi mới giáo dục Việt Nam.   Giải quyết mối quan hệ giữa 3 yếu tố:  –    Chất lượng đào tạo (sau phổ thông) yêu cầu ngày càng cao   –    Nguồn lực đầu tư giáo dục (từ nhà nước) hạn chế   –    Số lượng sinh viên bùng nổ  là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không làm rõ vấn đề này thì những gì nêu trong đề án đổi mới giáo dục chỉ là khẩu hiệu và duy ý chí.   Nếu chỉ nhấn mạnh một khía cạnh – chẳng hạn xem chất lượng giáo dục lên hàng đầu – thì ở khía cạnh mô hình lý thuyết, lời giải khá rõ: chỉ cần giảm số sinh viên đi 10 lần (hạn chế chỉ tiêu) – thì suất đầu tư cho mỗi sinh viên cũng tăng lên 10 lần, đủ tiền đề để nâng cao chất lượng.   Bài toán Ba yếu tố giáo dục (3G) trong bối cảnh Việt Nam cần thiết phải có nguồn nhân lực đông về số lượng, tinh về kỹ năng nghiệp vụ để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế cần được phát biếu chính xác là: với nguồn ngân sách hạn chế, với yêu cầu chất lượng cao, cần xây dựng một hệ thống giáo dục để đào tạo càng nhiều càng tốt.   Bài toán 3G:   Mục tiêu:   [Số lượng đào tạo] -> MAX  Ràng buộc:  [Ngân sách giáo dục] < NS  [Chất lượng giáo dục] > CL  Lời giải ở đây là: Với giáo dục phổ thông (9 năm), nhà nước đầu tư tối đa để phổ cập với chất lượng tốt. Với giáo dục sau phổ thông thì [1 tập trung 2 tăng cường]:  –    Tập trung ngân sách nhà nước vào a) đào tạo các ngành thiết yếu (xã hội, khoa học, văn hóa…); b) đào tạo nhân tài; c) hỗ trợ sinh viên nghèo – và thu hẹp số lượng sinh viên trường công để duy trì suất đầu tư/sinh viên cao đủ để đảm bảo chất lượng.   –    Tăng cường xã hội hóa giáo dục, có chính sách để thu hút mạnh mẽ đầu tư đa thành phần vào lĩnh vực này như một dạng dịch vụ.   –    Tăng cường kiểm soát chất lượng   Thực tiễn hiện nay là so với các nước khác, phần trăm ngân sách chi cho giáo dục Việt Nam đang ở dạng cao nhất, và tỷ lệ [sinh viên tư]/[sinh viên công] thấp nhất. Việt Nam đã chi tối đa ngân sách cho giáo dục (20% ngân sách), và ôm đồm quá nhiều sinh viên trường công (86 sinh viên trường công/14 sinh viên trường tư) – bức tranh ngược hẳn mô hình phát triển bình thường của các nước trong khu vực. Suất đầu tư ngân sách/sinh viên thấp – dẫn đến chất lượng thấp là điều không tránh khỏi.             Quốc gia        % công (sau phổ thông)      % ngoài công lập          Brunei       33      67          Cambodia       41      59          Indonesia       3      97          Lào      31      69          Malaysia       12      88          Myanmar       100      －          Philippines      11      89          Singapore       56      44          Thái Lan       57      43          Viet Nam      86      14            Tỷ lệ sinh viên công lập/ngoài công lập (theo TS Zianxin Zhang)                   Quốc gia      % ngân sách chi cho   giáo dục      Số liệu năm               (theo World Bank)          Thái Lan      22.3%      2011          Việt Nam      19.8%      2008          Malaysia      18.9%      2009          Indonesia      17.1%      2009          Hàn Quốc      15.8%      2008          Philippines      15.0%      2009          Lào      13.2%      2010          Cambodia      12.0%      2007          Singapore      10.2%      2010          Nhật Bản      9.4%      2008               Về tiêu chí tỷ lệ học sinh công/tư – lẽ ra cấp học càng cao thì mức độ xã hội hóa càng nhiều – thì bức tranh giáo dục Việt Nam đang hoàn toàn ngược lại: tỷ lệ xã hội hóa giáo dục mầm non mẫu giáo là cao nhất, sau đó đến trung học, và thấp nhất là xã hội hóa giáo dục sau phổ thông.             Năm học 2008-2009      Tỷ lệ ngoài công lập          Nhà trẻ      63.93%          Mẫu giáo      44.53%          Trung học      15.78%          Cao đẳng đại học      14.43%            Đã thế lại kèm theo hiệu ứng xã hội tập trung “ném đá” phê phán xã hội hóa đào tạo sau phổ thông, xem các nhà đầu tư cao đẳng đại học như tội đồ chạy theo lợi nhuận. Giai đoạn phát triển cần thu hút mạnh mẽ đầu tư xã hội hóa giáo dục hiện nay – mà lại luôn nhấn mạnh yếu tố phi vụ lợi trên các nghị quyết của Đảng, nhà nước và trên các diễn đàn xã hội – thì sẽ không đạt được mục tiêu thu hút đầu tư giáo dục đa thành phần.   Cũng cần phát triển một mô hình đầu tư giáo dục mới là các Khu đào tạo tập trung – mô hình thế hệ tiếp theo của Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao – nhằm thu hút đầu tư giáo dục chất lượng cao, cho phép triển khai một dự giáo dục nhanh chóng, tiết kiệm nhờ sử dụng hạ tầng và các tiện ích giáo dục dùng chung. Một số quốc gia trong khu vực như Qatar (Qatar Education city), Tiểu vương Ả rập Thống nhất (Dubai Academic City), Malaysia đã và đang triển khai thành công mô hình này. Nếu cần thiết khuyến khích chuyển đổi một số khu công nghiệp thành Khu đào tạo tập trung và hình thành các Khu đào tạo trong Khu công nghệ cao.      Các khu đào tạo tập trung quốc tế (2010)  Đây cũng là lời giải cho Câu hỏi suy ngẫm đặt ra ở phần 1. Để biến dân số đông từ một gánh nặng kinh tế xã hội thành ưu thế cạnh tranh cho địa phương đông dân hiếu học – cần nhanh chóng thành lập Khu đào tạo đại học tập trung tại đây, lôi kéo các trường đại học chất lượng cao về đầu tư triển khai hoạt động đào tạo – để vừa hình thành một dịch vụ mới cho địa phương, vừa từng bước giữ người học sau phổ thông giảm bớt nạn chảy máu chất xám về các đô thị lớn như Hà nội, HCM, vừa là tiền đề thu hút đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế khi có sẵn nguồn nhân lực được đào tạo tại chỗ.   Đưa CNTT vào giáo dục    Để đổi mới cơ bản – toàn diện giáo dục – chắc chắn phải đưa CNTT vào hệ thống giáo dục – đưa một cách cơ bản – toàn diện, từ việc quản lý đào tạo, phương pháp đào tạo đến tài nguyên phục vụ đào tạo, khảo thí.   Nhiều nhiệm vụ đặt ra trong đổi mới giáo dục như tái cấu trúc, trao đổi tài nguyên đào tạo xuyên biên giới, hội nhập quốc tế, dạy và học tiếng Anh trong môi trường sinh ngữ, triển khai mô hình khu đào tạo tập trung gắn với mô hình đa cơ sở (một trường nhiều cơ sở) chỉ có thể thực hiện được hiệu quả khi sử dụng CNTT và dựa trên hạ tầng CNTT.   CNTT cũng đang nhanh chóng thay đổi bộ mặt của giáo dục đào tạo. Giáo dục đào tạo thế kỷ 21 sẽ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, và nền giáo dục đào tạo nhân lực cho kinh tế hướng tri thức & hội nhập – sẽ hoàn toàn khác nền giáo dục hình thành trong lòng xã hội công nghiệp. Cần có khảo sát nghiên cứu mang tính nền tảng để những gì đổi mới không lạc hậu với thời đại.   ***  Chúng tôi hy vọng những đổi mới lớn lao sẽ diễn trong giáo dục đào tạo trong thời gian tới, chứ không chỉ đơn thuần là các thay đổi mang tính xử lý tình huống.   Các giải pháp đề xuất trong bài viết này hướng tới mục tiêu chung là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nhằm tạo ra lực lượng lao động cạnh tranh toàn cầu, làm bệ phóng đưa Việt Nam vượt ngưỡng thu nhập trung bình đến kinh tế tri thức – xã hội thông tin, sánh vai với các nước tiền tiến trên thế giới, thực hiện mục tiêu: Dân giàu – Nước mạnh – Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.  Để kết luận, xin nhắc lại lời nói của một thi sỹ thời Tống: “Trên đời có 3 điều đáng tiếc nhất: những bức danh họa bị mất giá trị vì bị những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng; những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều bởi những bàn tay bất tài dày vò, và những thanh niên ưu tú bị hư hỏng vì một hệ thống giáo dục sai lầm” (Lichilai).   Hà Nội, tháng 8/2012  * Hiệu trưởng Trường ĐH FPT  Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học – Cao đẳng ngoài công lập       Author                Quản trị        
__label__tiasang Huyền thoại đỏ và huyền thoại đen về giáo dục thuộc địa Đông Dương      Lời tòa soạn: Tranh cãi gay gắt gần đây xung quanh vai trò, đóng góp của chữ quốc ngữ với sự phát triển văn hóa dân tộc hay đó là “công cụ xâm lăng” cũng như “công” hay “tội” của linh mục Alexandre de Rhodes để rồi đề xuất lấy tên ông đặt cho một con đường ở Đà Nẵng đã nhận sự phản ứng dữ dội từ nhiều trí thức ở đây cho thấy rằng để nhìn nhận về những di sản của giáo dục dưới thời thuộc địa là không đơn giản. Trong loạt bài hai kỳ dưới đây, TS Nguyễn Thụy Phương (trường ĐH Geneva), nhà nghiên cứu về giáo dục thời thuộc địa và hậu thực dân cố gắng phân tích một cái nhìn hệ thống về những thảo luận trái chiều về giáo dục thuộc địa ở Đông Dương.          Đại học Đông Dương, Hà Nội 1920 – 1929. Ảnh : Flickr    Chế độ thuộc địa Pháp tại Đông Dương coi việc xây dựng nên một hệ thống giáo dục là hiện thực hóa sứ mạng khai hóa. Pháp quốc có sứ mệnh truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và có nghĩa vụ giải thoát các tộc người khỏi những bạo ngược của thiên tai, bệnh tật, dốt nát và khỏi sự chuyên chế bằng cách đem lại cho họ kỹ thuật, y tế, giáo dục và một nền quản trị trong sạch1. Đối với những quan chức thuộc địa, từ người sáng lập ra trường Tham biện Hậu bổ Sài Gòn (1873) Éliacin Luro đến thống sứ An Nam Paul Bert đều cho rằng “Trường học là công cụ hữu hiệu nhất, chắc chắn nhất nằm trong tay kẻ đi chinh phục“.     Sau nhiều thập niên thể nghiệm các phương pháp sư phạm, năm 1905, chính quyền thuộc địa lập ra Nha Học chính và thiết lập hệ thống giáo dục gọi là “Pháp-bản xứ” dành riêng cho dân bị trị với cơ sở trường lớp và chương trình riêng. Trường Pháp dành cho người Pháp cũng có thể tiếp nhận học sinh Đông Dương xuất sắc hoặc xuất thân từ giới tinh hoa. Hệ thống giáo dục thuộc địa phát triển dần dần và đạt đến độ trưởng thành vào đầu những năm 1930. Năm 1945 khi chế độ thuộc địa sụp đổ, có hơn 14.000 trường học, kể từ trường làng đến trường đại học, và có gần một triệu học sinh (theo Niên bạ thống kê Đông Dương 1943-1946, Volume 11). Là trường hợp duy nhất trong các xứ thuộc địa, Đông Dương có hẳn một hệ thống giáo dục hoàn thiện, lên đến bậc học cao nhất, dành cho người bản xứ. Uy tín trường Y khoa Đông Dương cũng ngang hàng với Y khoa Paris.     Thế nhưng, chỉ cần 48 giờ, khi Nhật đảo chính Pháp thì 80 năm gây dựng chế độ thuộc địa đã sụp đổ. Những biểu tượng của chế độ thực dân bị loại bỏ hoặc đạp đổ. Riêng trong địa hạt giáo dục, một ngày sau khi Nhật đầu hàng, 15/8/1945, hệ thống giáo dục công được chuyển giao cho triều đình, Đại học Đông Dương và các trường dạy nghề được chuyển cho chính phủ quốc gia, các trường trung học Pháp và Nha Học chính Đông Dương bị xóa bỏ.     Năm 1946, triết gia Trần Đức Thảo, một trong những “sản phẩm” xuất chúng nhất của nền giáo dục Pháp tại Đông Dương đã viết thế này trên tờ Les Temps Modernes của triết gia hiện sinh chủ nghĩa Jean-Paul Sartre:      Trước con số thống kê học đường, người Pháp sẽ hết lời thán phục, còn người An Nam sẽ phản đối rằng, trước cuộc chinh phục thuộc địa, Việt Nam gần như không có người mù chữ. Người Pháp chỉ nhìn thấy những gì đã được làm, còn người An Nam thì nhìn thấy những gì không được làm hoặc những gì đáng lẽ phải được làm nếu như họ được tự do phát triển không bị kìm kẹp.     Hai quan điểm đối lập nhau này, mà chúng tôi xin mượn thuật ngữ “huyền thoại đỏ” và “huyền thoại đen” của sử gia Marc Ferro2 sẽ minh chứng cho chúng ta thấy việc lập ra một bản tổng kết công bằng cho di sản giáo dục thuộc địa là không hề dễ dàng.     Kỳ 1 “Huyền thoại đỏ”     “Huyền thoại đỏ” được ca tụng trên rất nhiều các ấn phẩm phổ biến giới thiệu công cuộc thuộc địa ở Đông Dương. Những ấn phẩm này thường được các giáo viên Sử-Địa và các vị thanh tra giáo dục chắp bút, họ tô hồng công cuộc giáo dục. Trong trang “đại tự sự” thuộc địa này, nước Pháp hào phóng và bảo trợ dẫn dắt người Đông Dương đến với văn minh. Sau 1945, quan điểm này, có được điều chỉnh đôi chút trước những đòi hỏi độc lập của người Việt, nhưng chủ yếu vẫn tiếp tục được bảo lưu bởi những người giữ các trọng trách trong chế độ cũ. Năm 1947, Albert Charton, giám đốc Nha học chính Đông Dương trong thập niên 1940, vẫn khẳng định:     Nhiều người nhận thấy […] giá trị của sự nghiệp giáo dục tại Đông Dương, với nỗ lực không ngưng nghỉ trong hơn nửa thế kỷ, bởi những nhà giáo dục Pháp, kết quả đạt được trước năm 1939 đều được cộng đồng quốc tế và chính cả người Đông Dương công nhận vì họ khao khát tham gia vào tiến trình hòa nhập với văn hóa Pháp. Cuối cùng, chúng ta nhận thấy chất lượng và sự phi vụ lợi của chính sách giáo dục […] đã mở rộng những cánh cửa của ngôi đền tri thức và văn hóa.     Năm 1956, giáo sư Auguste Rivoalen, hiệu trưởng cuối cùng của Đại học Hà Nội, cũng biểu đạt tương tự: Một công trình lớn không thể xây xong trong một ngày. Cần đến nửa thế kỷ để sự nghiệp giáo dục của Pháp tại Việt Nam mang hình dạng và sức mạnh như ngày nay. Không đáng kể gì khi ta nhìn vào kết quả đạt được: một xứ sở cách xa vạn dặm bỗng trở nên gần gũi với nước Pháp, xứ sở đó tư duy, cảm nhận như nước Pháp, nói tiếng Pháp, chia sẻ cùng nền văn hóa […]. Hôm qua cũng như hôm nay, mặc cho những nghi vấn về một cuộc chiến và một cuộc giải phóng, thì một lĩnh vực vẫn được bảo toàn, đó là nơi nền giáo dục của chúng ta đã gieo mầm và còn gieo những hạt giống tốt nhất.     Ngày nay, chúng ta ghi nhận những gì từ hệ thống giáo dục thuộc địa tại Đông Dương? Hệ thống này mang những nét đặc thù tạo nên những khác biệt so với những thuộc địa khác và so với chính quốc. Nó để lại những hệ quả lâu dài trong xã hội Việt Nam.    Một hệ thống “hoàn thiện”     Hệ thống giáo dục thuộc địa Đông Dương có thể được coi là một trong những hệ thống hoàn chỉnh và hoàn thiện nhất trong tất cả các thuộc địa của Pháp với gần 1 triệu tổng sỹ số học sinh vào năm 1945 và một hệ thống trường lớp từ trường làng cho đến đại học tại thủ đô. Chúng ta hãy hình dung, vào cuối giai đoạn thuộc địa, về mặt lý thuyết, một thanh niên Đông Dương có thể theo đuổi việc học hành đến nơi đến chốn, đến tận bậc đại học có trình độ tương đương với chính quốc. Đông Dương là trường hợp duy nhất trong các thuộc địa. Mặc dù đỉnh tháp rất nhọn nhưng vẫn có nhiều học sinh người Đông Dương xuất sắc vươn tới đỉnh tháp này. Các Chính phủ Việt Nam độc lập ngay sau 1945 đã tiếp nhận và thừa hưởng hệ thống này trên phương diện phương pháp, kết cấu, thiết chế và chỉ “quốc hữu hóa” nội dung chương trình.      Nữ sinh trường Đồng Khánh. Nguồn ảnh: Tư liệu của TS Nguyễn Thụy Phương chụp Tạp chí L’Asie Nouvelle, số 57, ra ngày 31/12/1937.    Thập niên 1920 chứng kiến sự tăng trưởng sỹ số học sinh trong toàn hệ thống. Đầu thập niên 1930, hệ thống giáo dục thuộc địa được kiện toàn. Chi phí cho giáo dục tăng gấp ba trong 10 năm, từ 1921 đến 1931, và đạt 13 triệu đồng Đông Dương. Nền giáo dục Đông Dương đi trước chính quốc khi thiết lập ngay từ năm 1924 mô hình trường học duy nhất. Đương nhiên trong hệ thống này, sự đối lập trên phương diện xã hội giữa bậc tiểu học và bậc trung học biến thành sự đối lập trên phương diện xã hội-sắc tộc giữa giáo dục Pháp-bản xứ với giáo dục thuần Pháp. Mô hình trường học duy nhất của hệ thống Pháp-bản xứ giữ vai trò củng cố các ranh giới giai tầng thuộc địa và cản trở việc học sinh người Việt nhảy vào các trường trung học dành cho người Pháp. Đông Dương giống như một phòng thể nghiệm các ý tưởng cải cách giáo dục mà chính quốc Pháp chỉ thực hiện thành công dưới nền Đệ Ngũ Cộng Hòa (kể từ 1958 đến nay).      Biểu đồ: Số trường trung học Pháp và tỉ lệ học sinh phân theo nguồn gốc từ 1924 đến 1944.    Giáo dục tư thục (bản xứ, của Hoa kiều, công giáo Pháp và thế tục Pháp) giữ vị trí rất quan trọng, chiếm 13% tổng sỹ số, tức 60.000 học sinh vào năm 1930. Sự thành công này gắn liền với quá trình đô thị hóa ở Đông Dương. Giáo dục tư thục tuyển nguồn giáo viên từ những người đỗ bằng Tú tài và Bằng Cao đẳng Tiểu học. Từ năm 1925 trở đi, những người tốt nghiệp Đại học Đông Dương được quyền mở và điều hành các trường tư thục từ bậc tiểu học đến trung học.    Chương trình giáo dục mang tính thích ứng     Một phần chương trình học được dạy bằng bản ngữ, gắn liền với văn hóa bản xứ. Chương trình chủ yếu được các thầy giáo bản địa viết ra và giáo cụ được áp dụng phù hợp với các sắc dân khác nhau. Hoàn toàn trái với thứ huyền thoại dai dẳng cho rằng trẻ con các xứ thuộc địa Pháp phải học thuộc lòng “Tổ tiên chúng ta là người xứ Gaule“, học sinh trường Pháp-bản xứ ở Đông Dương không phải học thuộc câu này3. Hơn thế, nhân danh một thứ “ái quốc địa phương”, nền giáo dục còn rất chú trọng đến các nền văn hóa bản địa đến mức còn đưa vào chương trình những nhân tố dân tộc tính. Sự thích ứng này một phần xuất phát từ lý do chính trị nhưng một phần không nhỏ là do những nhà chức trách giáo dục thuộc địa đang tìm tòi một tư duy và phương pháp sao cho một nền giáo dục kiểu Tây phương có thể thích ứng với các nền văn hóa khác nhau.     Thành công trong việc đổi mới trường chùa tại Lào và Campuchia và việc mở rộng giáo dục đến các dân tộc thiểu số ở các xứ thượng cũng là những điểm đáng ghi nhận của nền giáo dục thuộc địa, tuy nhiên, chúng ta vẫn thừa hiểu sau đó là những toan tính và mục đích chính trị.     Melting pot và nam nữ học chung     Chính dưới chế độ thuộc địa, nữ sinh chính thức được đến trường đi học. Ban đầu, quan chức thuộc địa lo lắng vì lo ngại với văn hóa Khổng giáo thì điều này khó thực thi nhưng trên thực tế các gia đình người Việt lại đón nhận tích cực chính sách này. Tỉ lệ học sinh nữ ở tất cả các bậc học công lập tăng dần đều nhưng không vượt quá 20% tổng sỹ số. Chỉ riêng Nam kỳ có trội hơn vào năm 1943: 29% nữ sinh ở bậc sơ cấp và 26% ở bậc tiểu và trung học4.     Việc nam sinh và nữ sinh học riêng vẫn còn diễn ra ở Pháp cho đến tận thập niên 1960 thì tại Đông Dương, nam nữ học chung đã trở nên phổ biến ngay từ đầu thế kỷ 20, nhất là trong hệ thống trường trung học công lập Pháp và Pháp-bản xứ. Việc học chung này không hề tạo ra những vấn đề nổi cộm nào. Các báo cáo của chính quyền thuộc địa đều nêu bật những tích cực và không hề đả động đến những tranh luận về chủ đề này bên chính quốc. Trong một báo cáo khảo sát vào năm 1939, Francisque Vial, cựu trưởng ban Ban Trung học, viết số nữ sinh chiếm 25% trong các trường trung học Pháp. Thực chất, việc học chung này xuất phát từ một tính toán thực dụng của chính quyền, đó là sự thiếu kinh phí và phương tiện để mở ra hai loại trường cho nam riêng, nữ riêng. Cũng có thể tỉ lệ nữ sinh thấp (nhất là ở bậc trung học) mà chính quyền coi là không đủ để tạo thành một cuộc tranh luận.     Điều đáng ghi nhận nữa ở nền giáo dục thuộc địa là sự pha trộn sắc tộc trong trường học ở tất cả các bậc học. Tỉ lệ học sinh người Đông Dương trong các trường trung học Pháp chiếm khá cao, gần 50% vào đầu thế kỷ 20 và ổn định dần xung quanh con số 20%. Vào cuối giai đoạn thuộc địa, những trường trung học Pháp nổi tiếng như Albert-Sarraut ở Hà Nội, Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn hay Yersin ở Đà Lạt nhận học khoảng 20% học sinh Đông Dương.     Tuy nhiên, sự pha trộn sắc tộc này bị phản đối mạnh mẽ, không phải vì lý do tạo cơ hội cho học sinh Đông Dương hưởng một nền giáo dục Pháp toàn diện mà vì lo sợ sự pha trộn giữa học sinh Pháp và Việt. Francisque Vial, nhân việc nói về thành tích học tập đáng nể của học sinh ở kết quả thi Chứng chỉ Tiểu học, đã nhận xét:  [Thành tích này] đạt được dù cho lượng học sinh pha trộn rất nhiều ; trẻ con nhiều màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục khác nhau không thể tưởng tượng được, hòa trộn vào nhau trong trường học như chốn dung hợp đáng ngạc nhiên, biến thành một thứ hợp kim đồng chất vừa dẻo vừa bền.     Dẫu cho Vial có dùng chữ “dù cho” ám chỉ những phân biệt chủng tộc không tránh khỏi trong bối cảnh đó thì mô tả của ông ta khiến chúng ta hình dung được về thực tế học đường mang dáng dấp melting-pot. Cũng ở thời điểm đó, năm 1937, trong bài diễn văn nhân lễ trao giải thưởng, thầy giáo Phạm Duy Khiêm của Trung học Albert-Sarraut nhắn nhủ đến các học sinh trường trung học này:      Ở đây các em có lợi thế duy nhất là được ngồi cùng băng ghế với những bạn khác giới và đến từ những chủng tộc khác (ít nhất là hai chủng tộc) […]. Các em được phép, trực tiếp hay gián tiếp, làm quen với những xứ sở khác, với những tâm hồn rất khác […]. Bên cạnh những khác biệt về chủng tộc và giáo dục, các em sẽ biết phân biệt những khác biệt trên phương diện cá nhân con người, đây thường là điểm quan trọng nhất. Sự pha trộn sắc tộc gần như không có ở bậc đại học vì sinh viên Pháp chiếm quá ít ỏi, chỉ trừ trong giai đoạn Đại chiến Thế giới thứ hai.    Những canh tân giáo dục bền lâu     Nền giáo dục thuộc địa đã tiến hành những cải cách, canh tân, vì thế đã để lại tác động lâu dài lên các nền giáo dục quốc gia độc lập sau đó, và vào cả xã hội bản địa.     Trên phương diện sư phạm, theo nhà xã hội học Trịnh Văn Thảo, bậc tiểu học đã đặt “nền móng cho một hệ thống hợp lý và hiện đại“. Hệ thống này đã đưa vào chương trình giảng dạy các môn khoa học và kỹ thuật, mở ra cánh cửa văn chương và triết học ra ngoài khuôn khổ Khổng giáo, và đem đến kiến thức văn hóa và nghệ thuật vượt ra ngoài lục địa Á châu. Trên phương diện xã hội, giáo dục dành cho nữ sinh, hoàn toàn không có trong truyền thống Khổng giáo, đã góp phần làm thay đổi vị thế của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Giáo dục cho con em các dân tộc thiểu số và hiện đại hóa trường chùa trong các xứ theo đạo Phật đều là những thành tích đáng kể của nền giáo dục này.     Giới tinh hoa bản địa Pháp học cũng được hình thành. Kể từ thập niên 1920, giới trí thức Đông Dương được đào tạo trong nhà trường Pháp, tại Đông Dương hay Pháp đều thành thạo cả Việt văn và Pháp văn. Chính họ là những người làm nên một Việt Nam mới kể từ 1945 dù cho thiên hướng chính trị có khác nhau. Nhiều hồi ký của các cựu học sinh được xuất bản tại Việt Nam từ hai mươi năm trở lại đây kể lại đời sống học đường, về những kỷ niệm khó quên với các thầy giáo như nhà địa lý học Pierre Gourou (với những công trình nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ. Ông là thầy giáo ở Trung học Albert-Sarraut, từng kết giao với Võ Nguyên Giáp và có giai đoạn ông Giáp là trợ lý nghiên cứu cho Gourou) hay Hippolyte Le Breton5, và những dấu ấn khó phai từ việc được thụ hưởng nền giáo dục đó.     Di sản cơ bản nhất mà nền giáo dục thuộc địa để lại là sự tiếp nhận và “chiếm lĩnh” trở lại chữ Quốc ngữ của người Việt. Được định hình vào thế kỷ 17, chữ viết này không vượt ra ngoài khuôn khổ việc truyền đạo. Chính việc sử dụng nó vào mục đích giáo dục, giảng dạy dưới thời thuộc địa khiến cho chữ quốc ngữ trở nên thông dụng với đại chúng. Ngoài ra, việc dạy chữ quốc ngữ đơn giản hơn dạy chữ Hán cũng là điều kiện thuận lợi mà nhà trường Pháp đã nhận thấy từ sớm. Việc sử dụng nó một cách phổ biến và đại chúng khiến hình thành và phát triển một nền báo chí6 và một nền văn học7 chữ Quốc ngữ sống động và phong phú hoàn toàn khác với những mô hình, điển tích Trung Hoa. Tổng cộng các thể loại, có khoảng 10.000 đầu sách được xuất bản trong những năm 1923 – 19448. Năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh đã biến việc sử dụng và phổ biến chữ quốc ngữ thành ưu tiên hàng đầu cho chính phủ non trẻ này.□    Đón đọc kỳ 2: Huyền thoại đen  ——  1 Nguyễn Thế Anh, “Sứ mạng khai hóa”, trong Ooi Keat Gin (chủ biên), Đông Nam Á: một bách khoa thư lịch sử, từ Angkor Wat đến Đông Timor, ABC-CLIO, 2004, tr. 899-900.  2 Marc Ferro, Histoire des colonisations, Paris, Editions du Seuil, 1994.  3Marie-Paule Ha, “From Nos Ancêtres, les Gaulois” to “Leur Culture Ancestrale”: Symbolic Violence and the Politics of Colonial Schooling in Indochina », French Colonial History, vol. 3, 2003, p. 104.  3Gouvernement Général de l’Indochine, Annuaire Statistique de l’Indochine 1943-1946, Volume 11, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1948.  5Hippolyte Le Breton (1881- ?) là giáo viên tại Quốc học Vinh và sau đó ở Trung học Albert-Sarraut. Ông là tác giả của nhiều nghiên cứu về thời tiền sử và khảo cổ về Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh). Giáo sư Vũ Ngọc Khánh, nhà nghiên cứu dân gian học và cựu học sinh của Quốc học Vinh, đã kể lại tinh thần nhân văn của người thầy này trong cuốn sách kỷ niệm 90 thành lập trường. Vũ Ngọc Khánh (ed.), Trường Quốc học Vinh –Trung học Huỳnh Thúc Kháng (1920- 2010), Nghệ An, Sở Thông tin và Truyền thông Tỉnh Nghệ An, 2010.  6Gia Định báo là tờ báo quốc ngữ đầu tiên được thành lập năm 1865. Ước tính có khoảng 490 tờ báo bằng quốc ngữ được phát hành trong suốt giai đoạn thuộc địa. John DeFrancis, Colonialism and language policy in Viet Nam, The Hague, Mouton, coll. “Contributions to the sociology of language; 19”, 1977, p. 217.  7Tiểu thuyết đầu tiên bằng chữ quốc ngữ được xuất bản năm 1925. 20 năm sau, có khoảng từ 400 đến 500 tiểu thuyết được ấn hành, đã dẫn như trên.  8David G. Marr, Vietnamese tradition on trial, 1920-1945, Berkeley & Los Angeles, University of California Press, 1981, p. 49.    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Huyền thoại đỏ và huyền thoại đen về giáo dục thuộc địa Đông Dương (Kỳ 2 “Huyền thoại đen”)      Trong kỳ 1 về “huyền thoại đỏ”, chúng ta đã cùng chứng kiến những lời tụng ca’ trong trang đại tự sự về giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc địa. Tuy nhiên, giáo dục thuộc địa cũng chứa đầy những bất cập. Chỉ trích về ‘huyền thoại đen’ của nền giáo dục thuộc địa được nêu lên bởi những người chống thực dân. Mà một trong số họ không ai khác là Nguyễn Ái Quốc.          Nữ sinh ở Sài Gòn. Nguồn ảnh: Tư liệu của TS Nguyễn Thụy Phương chụp Tạp chí L’Asie Nouvelle.  Tại Đại hội Tours năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo trên diễn đàn đại hội chính sách “làm cho dân ngu để dễ trị” (Bản án chế độ thực dân Pháp). Năm 1946, Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau cũng thẳng thắn chỉ ra:     Quả thật, trong 80 năm, người ta mở ra vài ngàn trường tiểu học, ba hay bốn trường trung học và chừng sáu trường đại học cho khoảng 20 triệu dân. […] Sau 80 năm, hiện trạng của nền học chính này là hơn 90% dân số mù chữ. Khi ta nói nền học chính là ta đang lạm dụng từ này. Thực vậy, làm sao ta có thể gọi là học chính khi đó chỉ là một hệ thống nhồi sọ với mục đích điều chỉnh giáo dục, về chất lượng và số lượng, theo những nhu cầu ti tiện của chế độ thực dân?1      Lời cáo buộc mạnh mẽ nhất chính là những nỗ lực không hết mình của chính quyền thực dân cho giáo dục. Ngoài nạn mù chữ, chỉ có khoảng 1 triệu học sinh trên tổng số 12 triệu trẻ đến tuổi đến trường được đi học2, nghĩa là chỉ chiếm 8% so với 17%, là tỉ lệ ở chính quốc vào thời kỳ đầu nền Đệ Tam Cộng hòa. Phân chia nhiều bậc – cấp học, cộng với đó là các loại bằng cấp và kỳ thi, tạo nên những vật cản khiến đa số học sinh khó tiếp tục học lên cao được3. Năm 1943, chỉ có 1 trên 10 học sinh qua được bậc tiểu học, 1 trên 100 học xong cao đẳng tiểu học, và dưới 2 trên 1000 học sinh chạm đến cánh cửa trung học và đại học. Như vậy, một thiếu niên Đông Dương học trường làng thì vận may học cao tiến xa là rất thấp, nếu không muốn nói đó như một giấc mơ. Năm 1925 Bùi Quang Chiêu, sáng lập viên Đảng Lập hiến, mỉa mai một thực tế; “người ta yêu cầu giấy khai sinh của một đứa trẻ khi nó muốn đi học nhưng chẳng ai đòi hỏi bất cứ giấy tờ gì khi bán cho nó một lạng thuốc phiện“4. Chính đại diện của Bộ Thuộc địa cử từ chính quốc sang tiến hành một cuộc khảo sát vào năm 1927 cũng chỉ trích chính sách giáo dục ở ba góc độ sau:     Quá đào thải vì chỉ có không quá một phần ba học sinh tiếp tục học lên tiểu học, […] rõ ràng là không đủ vì chỉ chiếm một phần tư số trẻ em đến tuổi đi học, […] chất lượng “xoàng” một phần vì quá Pháp và vì đào tạo đội ngũ giáo viên không đủ5.     Biểu đồ dưới đây là bức tranh tổng quan về tỉ lệ học sinh theo từng bậc học vào năm 1943.         Biểu đồ 1 : Sỹ số hệ thống công lập Pháp-bản xứ vào năm 1943.     Việc nữ sinh đến trường, dù là một bước tiến xa so với giáo dục truyền thống thì cũng chỉ chiếm một tỉ lệ khiêm tốn trong tổng sỹ số trong khối công lập : 14% vào năm 1943. Ở Đông Dương, hệ thống trường tư thục cũng rất phát triển: năm 1943, hệ thống này tiếp nhận 150.000 học sinh. Biểu đồ này cho thấy sự phát triển theo chiều thẳng liên tục của trường tư.          Biểu đồ 2 : Sỹ số trong hệ thống tư thục (1923 – 1943).        Kể từ giữa thập niên 1930, số lượng học sinh của bậc cao đẳng tiểu học và trung học tư thục vượt hẳn số lượng trong hệ thống trường công, như biểu đồ dưới đây cho thấy.         Biểu đồ 3: Sỹ số bậc cao đẳng tiểu học và trung học công và tư (1929 – 1943).        Các Chính phủ của Việt Nam độc lập đã tiến hành chỉ trong vài năm các chiến dịch, chương trình xóa nạn mù chữ đại trà cho quần chúng mà chính quyền thuộc địa mất 80 năm không làm được.     Điểm chỉ trích thứ nhì là nền giáo dục thuộc địa bị phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu kinh tế và những câu thúc chính trị. Năm 1931, Pierre Gourou đã đề xuất ba giải pháp cho giáo dục:     điều chỉnh giáo dục theo nhu cầu như quần chúng mong đợi, hoặc theo như thế lực thống trị dự kiến; hoặc có thể điều chỉnh theo những lợi ích duy nhất của thế lực thống trị.6     Trên thực tế, chỉ có giải pháp thứ hai và thứ ba được áp dụng, và chế độ thuộc địa đã nhất trí và cố thủ trong chính sách cốt sao kiềm tỏa và kiểm soát được giới trẻ Đông Dương. Nghĩa là một nền giáo dục ‘ngắn hạn, thiết dụng và thực dụng chỉ nhằm đào tạo ra những người thừa hành và phụ tá, trình độ học vấn và kiến thức vừa đủ để không trở thành những phần tử gây rối chính trị. Đối với chính quyền thuộc địa, không bao giờ có chuyện đào tạo ra cái gì khác ngoài những nhân viên thuộc cấp và hạ cấp, vì những vị trí lãnh đạo, quản lý là của người Pháp. Nền thuộc địa sản sinh ra một tầng lớp tư sản bao gồm đa phần là công chức hạng trung, thêm một chút những công chức có phẩm bậc, rồi những điền chủ, người hành nghề tự do (bác sỹ, dược sỹ, luật sư…) và một nhóm nhỏ trí thức (văn nghệ sỹ, nhà báo, giáo viên…)7.    Ngành công nghiệp không phát triển hoàn toàn là chủ đích của nhà cầm quyền : nhất quyết không thể để cho dân bản xứ lập công ty để cạnh tranh với các công ty của Pháp. Nước Pháp muốn duy trì Đông Dương là nền sản xuất thủ công, là nền kinh tế địa phương không đòi hỏi chất lượng nhân công cao8. Mặc dù có những chỉ trích của những nhà công nghiệp và nhà kinh tế học ngay tại thời điểm đó, vì họ muốn một ngày nào đó Đông Dương có thể tự mình vươn dậy, một ngày nào đó mà Pháp có thể đặt hàng sản phẩm cho người bản xứ, thì chính sách kiềm tỏa này chưa từng bị chất vấn. Tóm lại, chính quyền hài lòng với việc đào tạo thợ hơn thầy, công nhân hơn kỹ sư. Và như chúng ta thấy, Đại học Khoa học chỉ được lập ra ở Đông Dương vào năm 1942, chỉ ba năm trước khi chế độ này sụp đổ.       Một lớp học tiểu học ở Phúc Yên. Nguồn ảnh: Tư liệu của TS Nguyễn Thụy Phương chụp Tạp chí L’Asie Nouvelle.    Những cấp thiết và bức bách của chính trị đương nhiên là yếu tố căn bản của việc hạn chế và kiềm tỏa số lượng học sinh. David Marr ước tính giới trí thức Việt chỉ có khoảng 10.000 người vào cuối thập niên 1930. ‘Tấm rèm tri thức mong manh” này, như lời của Bộ trưởng Paul Reynaud9, đặt chính quyền thuộc địa vào thế khó ăn khó nói và làm lộ rõ mâu thuẫn căn bản của chế độ thuộc địa Pháp. Đó là, một mặt, Pháp muốn thực thi sứ mạng khai hóa, và mặt kia là nỗi lo sợ và ám ảnh khi sứ mạng này lại là phương tiện để trang bị vũ khí tinh thần cho quần chúng bị trị. Sự lo sợ này còn tăng lên khi những thí dụ về những người theo dân tộc chủ nghĩa được giáo dục theo kiểu Tây phương đòi độc lập ở Ấn Độ, Ai Cập hay Philippines. Giới quan chức thuộc địa lên tiếng đề phòng những mối nguy do giáo dục đem lại như một con dao hai lưỡi, có thể biến dân bản xứ thành những kẻ ‘mất gốc’ hay bất mãn và nguy hiểm. Một quan điểm nữa cho rằng có một ‘vực thẳm tinh thần còn sâu hơn đại dương giữa kẻ thống trị và bị trị, và rằng giáo dục kiểu Pháp chỉ tổn hại đến đời sống tinh thần của dân bị trị.    Lời kết     Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là một ca đặc biệt trong Đế chế Pháp. Việt Nam tiền thuộc địa đã có sẵn một hệ thống đào tạo quan bảng, khoa cử lấy khuôn mẫu từ chế độ khoa bảng Khổng giáo Trung Hoa. Cuối thể kỷ 19, chế độ khoa bảng này mất dần vị trí độc tôn vì khả năng kém thích nghi trước thời cuộc. Chỉ còn mỗi tinh thần hiếu học như một thứ bản sắc văn hóa Việt là vẫn được coi trọng, vì học hành là con đường tiến thân để thành đạt. Người Pháp đã biết cách đặt thuộc tính văn hóa Việt này vào hệ thống giáo dục thuộc địa tại Đông Dương, vốn được coi là một hệ thống đầy đủ và kiện toàn nhất trong tất cả các xứ thuộc địa của Pháp.     Ở những thập niên đầu của thế kỷ 20, tầng lớp tinh hoa Đông Dương kiểu mới được đào tạo trong nhà trường Pháp, tha thiết với quá trình hiện đại hóa, đã bắt đầu tìm cách tận dụng những lợi ích của “sứ mạng khai hóa”. Họ đòi hỏi cho con cái họ được học lên bậc trung và đại học, thậm chí trong những ngôi trường trung học danh giá vốn chỉ dành cho học sinh Pháp. Nhưng câu trả lời từ chính quyền không như họ mong đợi. Trường Pháp có tiếp nhận con cái họ nhưng học phí đắt đỏ và đầu ra thì hiếm hoi và bạc bẽo. Hễ khi tình hình chính trị căng thẳng, chính quyền lập tức thít chặt đầu vào ở các trường bên Pháp, chẳng hạn như hạn chế đưa sinh viên Đông Dương sang Pháp trong những năm 1930. Những ai du học ở Pháp trở về đều chung một suy nghĩ những giá trị đang thịnh hành ở chính quốc đều bị mất giá trên chính xứ sở của họ. Học trò Việt ý thức được sự bất công về một nền giáo dục ca tụng tự do cá nhân và tinh thần phản biện, trong khi đó việc biểu đạt những giá trị này tại Đông Dương thì sớm muộn sẽ bị trấn áp, ngay cả trên ghế nhà trường10. Một bộ phận của thế hệ này, mà nhà xã hội học Trịnh Văn Thảo gọi là “Thế hệ 192511“, sẽ làm cho hàng ngũ theo phái quốc gia, cộng sản và trotskyste đông đảo lên. Vì không còn đủ kiên nhẫn về một cuộc cải tổ thuộc địa giản đơn nên trong cuộc đấu tranh, họ huy động và vận dụng những kỹ năng và kiến thúc tiếp thu được từ nhà trường Pháp. Tuy nhiên, cùng lúc đó, giáo dục Pháp vẫn “chinh phục” được giới tinh hoa người Việt, Lào và Campuchia. Ngay cả khi ảnh hưởng chính trị và quân sự của Pháp suy yếu từ những năm 1940 trở đi thì tầng lớp này vẫn tiếp tục gửi con em họ đến học ở những trường trung học Pháp. Nhưng đây là một chủ đề khác mà chúng tôi sẽ bàn tiếp với quý độc giả. □        ——  Tài liệu tham khảo   1Phạm Văn Đồng, ‘Les rapports culturels entre la France et le Viet-Nam, Discours prononcé le 6 mai 1946 à la Cité universitaire à Paris’, La Pensée, no 8, Juillet 1946.  2 Tức là có 1 triệu học sinh trên 12 triệu trẻ em đến tuổi đến trường, từ 0 đến 19 tuổi. Con số 12 triệu là ước tính dựa vào tỉ lệ nhân khẩu. Xem trong Banens M., Việt Nam và sự tái dựng lịch sử dân số trong thế kỷ 20, Asian Historical Statistics COE Project, Institute of Economic Research, Hitotsubashi University, Tokyo, 2000, tr. 46.  3 Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, NXB Văn hóa, 1998, p. 179. Ý kiến này cũng được các cựu học sinh khác, như Dương Thiệu Tống và Vũ Ngọc Khánh, khẳng định.  4 Bùi Quang Chiêu (1872-1945), ingénieur agronome de l’Institut National Agronomique, grand propriétaire terrien en Cochinchine, fonde le Parti Constitutionaliste en 1917. Ce parti souhaite une réforme du système politique associant plus directement les Indochinois. Très critique initialement de la colonisation, ce Parti évolue vers des positions plus modérées et pro-françaises, notamment après les révoltes des années 1930.  Bùi Quang Chiêu, France d’Asie. L’Indochine moderne. Être ou ne pas être. Vers le dominion, Toulouse, Imprimerie du Sud-Ouest, 1925, p. 9.  5 Trịnh Văn Thảo, L’école française en Indochine, đã dẫn, p. 59.  6 Antoine Léon, Colonisation, enseignement et éducation, Paris, L’Harmattan, 1991, tr. 50.  7 Pierre Brocheux et Daniel Hémery, Indochine, la colonisation ambiguë, 1858-1954, Paris, Éditions La Découverte, 2004, tr. 218.  8 Pierre Brocheux, Une histoire économique du Viet Nam, 1850-2007. La palanche et le camion, Paris, Les Indes Savantes, 2009, tr. 102‑113.  9 Paul Reynaud, Le Voyage d’Études du Ministre des Colonies en Indochine’, La Revue du Pacifique, 15 Janvier 1932, tr. 9‑21.  10 Kelly Gail Paradise, Franco-Vietnamese schools, 1918 to 1938, PhD Thesis, University of Wisconsin-Madison, 1975.  11 Trịnh Văn Thảo, Việt Nam, từ chủ nghĩa Khổng giáo đến chủ nghĩa Cộng sản, Paris, L’Harmattan, 1990, tr. 16.    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Huyền thoại giáo dục Phần Lan      Giáo dục Phần Lan bắt đầu được dư luận quốc tế quan tâm từ sau khi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD tổ chức các kỳ thi PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment). Thành công xuất sắc của học sinh Phần Lan trong các kỳ thi này đã làm cả thế giới ngạc nhiên.      PISA là bài kiểm tra kiến thức của các trẻ em 15 tuổi, thực hiện 3 năm một kỳ tại hơn 40 địa điểm cho gần nửa triệu HS trên toàn cầu. PISA mới tiến hành được 4 kỳ (2000-2003-2006-2009) thì Phần Lan giành được vị trí thứ nhất trong 3 kỳ đầu. Tại PISA 2009 họ đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học.        Sau một thời gian say sưa tranh cãi về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ, cuối cùng phương pháp giáo dục của Phần Lan lại đang trở thành một chủ đề nóng ở Mỹ sau khi nước này chiếu bộ phim tài liệu Chờ đợi Siêu nhân1 , vạch ra các vấn đề tồn tại của giáo dục công lập Mỹ, có so sánh với Phần Lan. Báo The Economist của Anh Quốc còn kiến nghị các nhà lãnh đạo châu Âu tạm ngừng công việc để đến Phần Lan dự các giờ học cấp phổ thông, tìm hiểu xem vì sao học sinh nước này giỏi thế. Người Trung Quốc càng hết lời ca ngợi giáo dục Phần Lan. Một bà mẹ đem hai con sang Phần Lan sống mười mấy năm, tự mình trải nghiệm thực tế giáo dục từ vườn trẻ đến đại học của xứ này, sau đó nhận xét: So với Phần Lan thì giáo dục Trung Quốc chỉ là một bãi rác lớn.         Cần nhấn mạnh: người Phần Lan không hề coi trọng mọi kỳ sát hạch học sinh, kể cả PISA, họ không bao giờ mở các lớp chuyên để đào tạo “gà nòi” đi thi PISA như ở một số nước khác. GS Pasi Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan (National Centre for International Mobility and Cooperation, CIMO) nói: “Chúng tôi chuẩn bị cho trẻ em học cách để học chứ không phải học cách để làm một bài kiểm tra. Chúng tôi không quan tâm nhiều tới PISA. Nó không phải là thứ chúng tôi nhắm tới”.  Chính người Phần Lan cũng không hiểu tại sao HS họ lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kỳ kiểm tra PISA, bởi lẽ họ đâu có quan tâm gì tới việc xếp hạng. Nhưng khi các đoàn cán bộ giáo dục từ khắp thế giới kéo đến Phần Lan tìm hiểu kinh nghiệm dạy và học của xứ này thì họ mới để ý tới chuyện ấy. Ngành du lịch Phần Lan cũng khởi sắc nhờ thành tích của ngành giáo dục.  Triết lý giáo dục đúng đắn  Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo, thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhất này của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức.        GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.        Sự ưu ái HS thể hiện ở chỗ ngành giáo dục phải làm cho nhà trường trở thành thiên đường của trẻ em! Muốn thế người Phần Lan đã hủy bỏ mọi chuyện khiến lũ trẻ đau đầu nhức óc như cạnh tranh (hoặc dưới mỹ từ “thi đua”), xếp hạng giỏi kém trong học tập và các kỳ sát hạch thi cử. Ở cấp tiểu học hoàn toàn không có kiểm tra kiến thức. Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội. Tóm lại, HS không phải chịu bất cứ một sức ép nào trong học tập.  GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.  Luật pháp Phần Lan quy định không được dùng cách xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các HS trước lớp 6. Khi các thầy cô muốn bình xét năng lực và biểu hiện của HS nào đó thì họ phải dùng văn bản ghi lại sự đánh giá, có thuyết minh cặn kẽ, chứ không được đơn giản dùng điểm số hoặc thứ bậc xếp hạng để bình xét. Bởi lẽ mỗi HS đều có sở trường của riêng mình, giáo viên chỉ có thể thông qua nhiều hình thức hoạt động để tìm hiểu HS và khai thác phát huy tiềm năng của các em.  Có người cho rằng trong môi trường không có so sánh, không có cạnh tranh, không có sát hạch thi cử thì HS sẽ không có động lực để học tập. Thực ra HS Phần Lan vẫn có thi đại học, kỳ thi duy nhất sau 12 năm học, cạnh tranh cũng rất quyết liệt, nhưng khi ấy HS đã trưởng thành. Người ta cố gắng không để HS cạnh tranh với nhau quá sớm. Các nhà trường ở châu Á cạnh tranh với nhau rất gay gắt, đó là do giáo viên, phụ huynh, HS và mọi người luôn so bì lẫn nhau. Người Phần Lan không làm như vậy, họ trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. Đây là một ưu điểm của chế độ giáo dục Phần Lan.   Một nhà tâm lý học từng nói: “Hôm nay HS biết hợp tác với nhau thì ngày mai họ sẽ có năng lực cạnh tranh”. Muốn giỏi cạnh tranh thì trước hết phải biết mình, rồi tìm hiểu người khác. Biết mình để tự tin. Biết người, tức biết đối phương, là để hiểu được ưu điểm của họ; điều ấy thực hiện được trong quá trình hợp tác với họ, qua đó sẽ có được năng lực cạnh tranh. Trau dồi năng lực sáng tạo trong môi trường chan hòa tình người thì tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, vì khi ấy người ta không muốn chia sẻ kinh nghiệm cho người khác, và cũng không muốn mạo hiểm, như vậy sao có thể có được sức sáng tạo. Vì thế người Phần Lan chủ trương HS học hỏi lẫn nhau, chia sẻ với nhau thành công của mình.        Người Phần Lan trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh.         Chủ thể quan trọng thứ hai của giáo dục là giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Thầy cô giáo phải được xã hội tôn trọng hết mức. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.   Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường. Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình. Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?  GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt. Cách làm như thế là không đúng. Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”.   Điều đó xuất phát từ nhận thức: Nếu xã hội đã không tín nhiệm chính thầy cô giáo của mình thì còn nói gì tới việc HS tin yêu và nghe lời thầy cô? Một khi thực thi cơ chế đánh giá xếp hạng giáo viên thì tất nhiên giáo viên bị xếp hạng thấp sẽ còn đâu uy tín để dạy các em? Một nhà trường bị xếp hạng kém thì còn ai muốn cho con mình vào học? Như vậy giáo dục còn có ý nghĩa gì?  Nếu bạn hỏi bất cứ quan chức nào của Bộ Giáo dục Phần Lan về chất lượng giáo viên xứ này thì họ sẽ nói: “Tất cả thầy cô giáo của chúng tôi đều giỏi như nhau!”. Họ cũng nói: “Tất cả các trường của chúng tôi đều giỏi như nhau!” “Tất cả các HS của chúng tôi đều giỏi cả”. Câu trả lời ấy nói lên sự tự tin của một quốc gia đã thực sự đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, vì vậy họ có quyền nói như thế. 2        Giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên.         Nhằm thực hiện được các nội dung triết lý kể trên, Bộ Giáo dục Phần Lan nêu yêu cầu cực cao đối với chất lượng giáo viên, chỉ tuyển những người có tinh thần hết lòng phụng sự nhân dân và đạo đức nghề nghiệp cao thượng, và hơn nữa còn tạo điều kiện tốt nhất tiếp tục đào tạo họ. Về trình độ chuyên môn, toàn bộ thầy cô giáo tiểu học và trung học đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, và phải có chứng chỉ đạt yêu cầu sát hạch tư cách giáo viên. Người giỏi mới được làm giáo viên. Các trường sư phạm tuyển sinh rất khắt khe, tỷ lệ thi đỗ chỉ đạt 10%. GS Sahlberg cho biết: trong năm 2010 có khoảng 6.600 ứng viên tranh nhau 660 chỗ giảng dạy ở cấp tiểu học. Nghề giáo thực sự là nghề cao quý, được xã hội trọng vọng.  Ngành giáo dục thiết lập một hệ thống dựa trên tinh thần trách nhiệm, cho phép giáo viên được quyền tự do nhất định trong việc giảng dạy. HS cũng được quyền tự chọn phương thức học tập của mình. Giáo viên lên lớp bình quân 3 tiết mỗi ngày (so với 7 ở Mỹ), do đó có nhiều thời gian để sáng tạo bài giảng truyền được cảm hứng cho HS.  Một quốc gia không có cơ chế đánh giá hoặc xếp thứ hạng giáo viên và HS, không yêu cầu thầy trò tranh vị trí thứ nhất, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên.   Giấc mơ bình đẳng giáo dục          Trước thập niên 70 thế kỷ XX, giáo dục Phần Lan chưa có gì đáng tự hào. Ngành giáo dục thực hiện chế độ quản lý tập trung, có rất nhiều quy chế ràng buộc công việc của giáo viên. Thời ấy HS đến 10 tuổi đều phải qua một kỳ thi, dựa theo kết quả thi để phân ban, một loại là lớp phổ thông, một loại là lớp học nghề; việc phân ban đó quyết định tương lai các em một cách võ đoán, tương lai cả cuộc đời phụ thuộc vào một kỳ thi. Kết quả thi được cho điểm từ 4 đến 10; điểm 10 là điểm số cao nhất; điểm 4 là trượt. Thời ấy các em HS tuổi còn nhỏ mà đã biết dùng đẳng cấp để so bì lẫn nhau, qua điểm số mà cho rằng mình kém hoặc hơn người khác. Trong mỗi lớp lại còn chia ra các nhóm HS tùy theo năng lực, các em luôn so kè lẫn nhau.   Về sau giới chức giáo dục Phần Lan nhận thấy cách làm như vậy là không tốt, bởi lẽ mỗi người đều có năng lực và cách biểu hiện khác nhau. Làm như vậy chẳng khác gì bắt voi, chim cánh cụt và khỉ thi tài leo cây; dùng tài leo cây làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực của chúng là rất vô lý. Vì thế ngành giáo dục nước này đã quyết định hủy bỏ chế độ chia đẳng cấp, không dùng điểm số để phân chia thứ bậc nữa. Các giáo viên nhanh chóng nhận thấy cách làm này là tốt. Nhờ thế đã thay đổi không khí học tập trong trường, thầy trò hợp tác với nhau, đoàn kết nhất trí. Từ thập niên 80, mọi hình thức sát hạch và thi cử, kể cả chế độ thi thống nhất chung cho các trường đều bị hủy bỏ.  Một nội dung nữa của triết lý giáo dục Phần Lan là toàn thể HS phổ thông trong cả nước phải được hưởng nền giáo dục như nhau, không thể để con nhà giàu được học tốt hơn con nhà nghèo, con em người da trắng được học tốt hơn con em người da màu di cư từ châu Phi châu Á đến. Tư tưởng bình đẳng giáo dục ấy được Nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.   Trong đợt cải cách giáo dục tiến hành vào những năm 70 thế kỷ XX, ngành giáo dục Phần Lan nêu ra ước mơ HS trong cả nước đều được học trong các trường công chất lượng tốt 3. Họ gọi ước mơ ấy là Giấc mơ Phần Lan (The Finnish dream). Sự nghiệp giáo dục của họ phát triển liên tục, bền vững suốt 40 năm nay chính là nhờ tất cả các nhiệm kỳ Chính phủ nước này đều nối tiếp nhau thực hiện bằng được giấc mơ bình đẳng giáo dục ấy, dù đảng phái nào lên cầm quyền cũng vậy.     Ít thấy nước nào có được giấc mơ giáo dục đẹp như thế, nó kích động lòng người và gợi mở bao ý tưởng tuyệt vời, nó giúp thu hẹp tới mức tối thiểu sự khác biệt giữa các trường và khoảng cách giữa HS kém nhất với HS giỏi nhất, giảm đáng kể ảnh hưởng của địa vị kinh tế-xã hội của phụ huynh đối với HS. Các trường đều không có cơ chế đào thải HS khi các em chưa đủ 10 tuổi ; tất cả HS đều có cơ hội học tập bình đẳng. Điều đó xuất phát từ nhận thức: Tâm hồn trong trắng ngây thơ của trẻ em cần được sự dẫn dắt đúng đắn của người lớn trong môi trường trong sạch thuần khiết chứ không phải môi trường cạnh tranh tàn nhẫn của thế giới người lớn.   Phải thay đổi tư duy nếu muốn học được gì từ giáo dục Phần Lan  Rõ ràng tư duy giáo dục của người Phần Lan rất độc đáo. Nguyên tắc giảm hết mức sức ép đối với HS, chủ trương thực hiện trường nào, thầy trò nào cũng giỏi như nhau của họ khác xa lối dạy và học nhồi nhét kiến thức cũng như chủ trương xây dựng các trường lớp “chuyên” thường thấy ở phương Đông. Phải chăng chừng nào chưa thay đổi tư duy thì khó có thể học được điều gì từ huyền thoại giáo dục Phần Lan?  Các phụ huynh Á Đông lo chuyện học tập của con với tư duy không để con thua kém ngay từ vạch xuất phát,  chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo. Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu óc sáng tạo nào cho chúng hay không4. Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè. Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ. Cả xã hội lao vào thi cử, học để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo. HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện.   Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em. Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức. Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em. Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra. Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng. Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.         Hàn Quốc có một Thần đồng thất bại. Đó là Kim Ung-Yong sinh năm 1962, được sách Kỷ lục Guinness công nhận có IQ cao nhất thế giới : trên 210. Mới 4 tuổi Kim đã được học và đọc được ba ngoại ngữ Nhật, Đức, Anh. Sau đó chú bé được mời vào học khoa Vật lý Đại học Hanyang. 7 tuổi, Kim được Cơ quan Không gian NASA mời sang Mỹ. Tại đây anh học xong đại học và lấy bằng tiến sỹ vật lý khi chưa đầy 15 tuổi. Sau 10 năm ở Mỹ, Kim quyết định về nhà để… phụng dưỡng cha mẹ, chọn con đường làm người kỹ sư xây dựng bình thường, tránh xa mọi vinh quang của danh hiệu thần đồng.        Khưu Thành Đồng – người Hoa đầu tiên được tặng huy chương Fields Toán học (1982) – từng khuyên Trung Quốc bỏ các kỳ thi Olympic, vì các nghiên cứu sinh Trung Quốc do ông hướng dẫn tuy đều là HS giỏi thi Olympic nhưng rất kém năng lực sáng tạo. Ngược lại, Einstein học tiểu học, trung học, đại học đều rất bình thường, thậm chí bị chê là chậm hiểu. Hồi học trung học ông từng bị đuổi học một lần, thi đại học lần thứ hai mới đỗ. Nhưng điều đó đâu có ảnh hưởng tới sức sáng tạo vĩ đại của ông.  Quá nhấn mạnh giáo dục ngay từ khi trẻ còn nhỏ, nóng vội nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho trẻ thực ra là cách làm mâu thuẫn với chính lời của cổ nhân Trung Quốc:  Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 5, coi giáo dục là việc lâu dài, cần hết sức nhẫn nại chờ đợi. Đời người là cuộc chạy marathon, chỗ nào, lúc nào cũng là vạch xuất phát, phải học suốt đời thì mới giỏi, người dẫn đầu lúc mới xuất phát chưa chắc đã là người về nhất sau chót. Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá, ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.        Vài số liệu về Phần Lan (theo CIA Factbook và các nguồn khác):               Diện tích 338.145 km2. Số dân 5,26 triệu. Số người đi học 1,9 triệu. Số trường học các loại 5103. GDP năm 2011: 195,6 tỷ USD (PPP). GDP đầu người 38.700 USD. Chi phí giáo dục (2007) chiếm 5,9% GDP hoặc hơn 15% ngân sách. Có hơn 3500 trường tiểu học và trung học.               [So sánh: Singapore 5,35 triệu dân và giàu hơn (GDP đầu người 59.900 USD) nhưng số trường tiểu-trung học ít hơn Phần Lan gần 10 lần; Hà Nội 6,5 triệu dân có 1444 trường tiểu-trung học].            —————————-  Ghi chú:  1 Waiting for Superman , được tặng giải thưởng phim tài liệu hay nhất năm 2010 tại Sundance Film Festival.   2 Báo Trung Quốc kể chuyện khi đến thăm một trường phổ thông ở Mỹ, đoàn cán bộ giáo dục Trung QuốcQ có tặng nhà trường hai con gấu trúc nhồi bông với đề nghị dùng để thưởng cho hai HS giỏi nhất. Ông hiệu trưởng cảm ơn và nói “Ở trường chúng tôi em nào cũng giỏi như nhau cả ”.  3 Finnish Lesson #3: What can we learn from educational change in Finland?    http://www.pasisahlberg.com /blog/?p=32.  4 Tôi đã tận mắt thấy chương trình lớp 10 ở Singapore dạy HS tác phẩm Macbeth, một vở bi kịch viết bằng thứ English cổ của Shakespeare cực kỳ khó hiểu ngay cả với người Anh; hơn nữa thày dạy là người Singapore thì HS chỉ có thể học vẹt chứ sao mà tiếp thu nổi.  5 Thập niên dục thụ, bách niên dục nhân (It takes ten years to grow trees, but a hundred years to rear people). Xin chớ nhầm với câu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ích gì, Toán học ?      Có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : “Ích gì, Toán học? Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra  đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca.      Trong những dịp kỷ niệm 5 năm, 10 năm,… của tổ chức nào đó, người ta thường liệt kê những việc đã làm, những kết quả đạt được. Thực chất là cố gắng “chứng minh” rằng, việc thành lập cái tổ chức đó là cần thiết, rằng nó có ích. Vậy nên câu hỏi “Ích gì, Chương trình quốc gia phát triển Toán học?”, “Ích gì, VIASM?” , nếu không được phát biểu một cách công khai, thì chắc chắn cũng lởn vởn trong đầu không ít người, như nó đã từng được đặt lên bàn của những nhà hoạch định chính sách, của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo.  Vậy nên, khi được đề nghị làm một “bài giảng đại chúng”, tôi đã chọn đề tài “Ích gì, Toán học?”. Mà người “mách nước” cho tôi chọn đề tài đó lại không là một nhà toán học, mà là… Chế Lan Viên! Hình như ông cũng đã từng trăn trở với câu hỏi “Ích gì Thơ ca? Ích gì, Nghệ thuật?”.  Ích gì? (Chế Lan Viên – Di cảo)  Khéo rồi mất giống bò sữa, hoạ mi, ngựa đua, gà chọi…  Khó gì? Ta không giữ, không nuôi thì nó mất  Giống các nhà thơ cũng vậy  Tuyết trên non cao không ai thấy,  Giống nàng tiên, ông Bụt hiện trong mơ  Mà chả cần ai giết  Chỉ thôi yêu là nó chết  Chỉ cần bâng quơ, vu vơ đặt ra câu hỏi  Trịnh trọng cái bâng quơ, vu vơ ấy  Hỏi rằng: Ích gì họa mi?  Ích gì bò sữa?  Ích gì xạ hương?  Ích gì thi sĩ?  Ích gì cái hôn?  Ích gì giấc mơ?  Ông Bụt ích gì?….  Đến nhà thơ cũng khó trả lời những câu hỏi như “Ích gì cái hôn? Ích gì thi sĩ? Ích gì giấc mơ? Ích gì ông Bụt?”, nói chi đến những người cầm túi tiền để cân nhắc đầu tư! Nhưng, nếu cứ luôn luôn đặt ra câu hỏi “Ích gì?”, lại còn “trịnh trọng” cái câu hỏi ấy, thì đến bò sữa còn chết, huống gì họa mi và giấc mơ? Với tôi, bài thơ trên còn thiếu một câu: Ích gì, Toán học?  Đối tượng của toán học: tìm về cội nguồn  Lo lắng như Chế Lan Viên cũng phải, nhưng làm sao có thể lảng tránh câu hỏi “Ích gì”? Nhất là đối với Toán học, khi nhìn sang “bên cạnh”, hình như chưa có ai đặt ra câu hỏi: “Ích gì, Vật lý? Ích gì, Sinh học?”  Ích gì, Vật lý? Dễ trả lời thôi, vì vật lý học nghiên cứu vật chất và chuyển động của chúng trong không gian và thời gian. Có ai lại không cần những kiến thức đó?  Ích gì, Sinh học? Dễ trả lời thôi, vì sinh học nghiên cứu các cơ thể sống và tương tác của chúng với môi trường. Có ai lại không cần những kiến thức đó?  Nhưng “Ích gì, Toán học? Toán học nghiên cứu cái gì?” thì lại là câu hỏi không dễ trả lời. Để hiểu đối tượng của Toán học, phải tìm về cội nguồn của nó. Tức là phải tìm đến Cơ sở của Euclid. Trước khi cuốn Cơ sở ra đời (khoảng 300 năm trước Công nguyên), Toán học chưa phải là một khoa học độc lập. Nó “lẫn” vào Triết học và Thiên văn học.  Bắt đầu với những “định nghĩa cơ bản” về những đối tượng của Toán học, trong Cơ sở –  cuốn I, Euclid đưa ra 23 định nghĩa cơ bản. Xin nhắc lại ba trong số đó, định nghĩa thứ 1, 2 và 15:  αʹ. Σημεῖόν ἐστιν, οὗ μέρος οὐθέν.  (1. Điểm là một cái không có kích thước)  βʹ. Γραμμὴ δὲ μῆκος ἀπλατές.  (2. Đường là cái chỉ có chiều dài, không có chiều rộng).  ιεʹ. Κύκλος ἐστὶ σχῆμα ἐπίπεδον ὑπὸ μιᾶς γραμμῆς περιεχόμενον [ἣ καλεῖται περιφέρεια], πρὸς ἣν ἀφ ̓ ἑνὸς σημείου τῶν ἐντὸς τοῦ σχήματος κειμένων πᾶσαι αἱ προσπίπτουσαι εὐθεῖαι [πρὸς τὴν τοῦ κύκλου περιφέρειαν] ἴσαι ἀλλήλαις εἰσίν.  (15. Đường tròn là một hình phẳng chỉ gồm một đường duy nhất (gọi là chu vi), (sao cho) mọi đường thẳng xuất phát (đến chu vi) từ một điểm nằm bên trong hình đều bằng nhau)  Như vậy thì, Toán học nghiên cứu những sự vật….không hề tồn tại trong thực tế! Không thể tìm ra một “vật thể” không có kích thước, cũng như không thể tìm ra một cái gì đó không có chiều rộng. Và hiển nhiên, cái đường tròn “lý tưởng” của Toán học không thể tồn tại, người ta chỉ nhìn thấy “vành nón tròn”, “Mặt trời tròn”, hay “khuôn trăng đầy đặn” của Thuý Vân!  Vậy thì, ích gì, cái khoa học nghiên cứu những sự vật không hề tồn tại? Tìm về cội nguồn lại không cho ta câu trả lời, mà ngược lại, hình như còn làm ta bối rối thêm.  Nhưng, phải chăng những gì không tồn tại trong thực tế đều vô ích, đều cần phải biến mất sau câu hỏi “Ích gì?”  Ta thử tìm về Pablo Picasso, hoạ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20. Người ta nhìn thấy Picasso không chỉ trong những bức tranh ông để lại, mà cả trong những vật dụng hằng ngày. Ông làm thay đổi quan niệm của chúng ta về cái đẹp. Và điều kỳ diệu đó Picasso làm được, khi đưa ta về tận cùng của bản chất sự vật.          Hình 1        Hình 2        Hình 3        Một trong những đề tài thường gặp trong tranh Picasso là bò tót. Con bò tót, đấu bò gần như là biểu tượng của Tây Ban Nha. Nhưng trong tranh Picasso, bò tót tượng trưng cho sức mạnh u tối của chủ nghĩa phát xít Franco những năm 30 của thế kỷ trước. Ta hãy xem cách Picasso vẽ bò tót.  Nhưng đó hiển nhiên chưa phải là “con bò của Picasso” vì nó hoàn toàn giống như con bò ta vẫn nhìn thấy trên đấu trường.  Con bò nổi tiếng của Picasso “đơn giản”, và “xấu” hơn nhiều (hình 2).  Nhưng để đi đến con bò như bức vẽ của trẻ con đó, nhà hoạ sĩ vĩ đại đã phải trải qua một quá trình sáng tạo nhọc nhằn. Ta hãy xem cách ông đi từ con bò giống như thật đến con bò với nét vẽ trẻ con (hình 3).  Như vậy, Picasso đã đi từ “con bò tót” đến “khái niệm bò”! Con bò “khái niệm” của Picasso với bộ sừng đáng sợ, với bộ óc nhỏ như một “điểm” của Euclid, đã thể hiện đầy đủ cái sức mạnh ngu muội của chủ nghĩa phát xít những năm 30. Hơn hai ngàn năm trước, Euclid cũng bằng cách đó đi từ “mặt trời tròn”, “vành trăng tròn” đến cái “đường tròn” của toán học.  Cái không có trong thế giới thực tại lại mô tả chân thực nhất thế giới thực tại, vì nó đưa ta về với bản chất. Phải chăng đó là lý do giải thích việc các lý thuyết toán học cho ta công cụ mô tả chính xác thế giới tự nhiên. Nói như Galilei, Thượng đế viết nên tự nhiên bằng ngôn ngữ của toán học.  Nghề làm Toán  Nhiều người hỏi bác Tôm (René Thom, nhà toán học Pháp, giải thưởng Fields) về nghề làm Toán. Thấy khó nói quá, bác bèn kể chuyện săn rồng. Chuyện rằng, xưa bên Trung Quốc, có anh chàng học nghề đi săn. Anh chẳng chịu học săn hổ, săn lợn, mà lại học nghề săn Rồng! Nghề này khó lắm, phải thực tập nhiều. Bởi thế nên khi anh ta thạo nghề thì trên thế gian chẳng còn lấy một con Rồng nào! Có người hỏi: Bây giờ sống bằng nghề gì? Đáp: đi dạy nghề săn Rồng! Bác Tôm nói: làm Toán tức là đi dạy nghề săn Rồng vậy! (thảo nào chẳng có chú Rồng nào dám bén mảng đến nhà bác Tôm!).  Thế thì, làng nước đâu có cần cái anh săn Rồng ấy. Có còn Rồng nữa đâu mà học nghề săn rồng? Ấy chết, đừng vội nói thế. Rồng thì chẳng còn, nhưng có khi vẫn phải học nghề săn Rồng đấy. Nếu anh đi học nghề săn lợn thì chắc gì đã bắn được hổ? Mà học nghề săn hổ thì chắc gì bắn được voi? Nhưng nếu đã thạo nghề săn Rồng thì hổ, báo, sư tử, voi,…chắc chắn đều săn được tuốt! Này nhé, Rồng có thân như cá sấu, móng vuốt như hổ, đầu sư tử, ẩn hiện như trăn, vậy mà còn không thoát được tay anh săn Rồng, thì chẳng nói gì đến hổ, báo, voi, trăn, mà sau này có “nhân bản” ra con nào nữa, anh ta cũng chẳng sợ! Thành ra, đã định học nghề đi săn thì hãy cứ học nghề săn Rồng!  Từ cá sấu, hổ, sư tử, trăn,…người xưa “trừu tượng hóa” thành con Rồng. Cũng như thế, từ thực tiễn, người ta trừu tượng hóa thành Toán học. Câu chuyện đơn giản của bác Tôm mà thâu tóm được cả cái mạnh, và cái yếu, của Toán học là vậy.  Khi đã trừu tượng hoá để tìm đến bản chất, Toán học không phải bao giờ cũng dễ dàng trở về với thực tại, vốn là nơi xuất phát của nó. Thậm chí, người ta còn nghi ngờ cái khả năng nó có thể quay về với thực tại.  Bởi thế nên mới có người hỏi khích bác Tôm: “Mấy cái anh làm Toán gàn dở bịa ra những phương trình, vi phân, tích phân,…gì gì nữa nhỉ, thực tế làm gì có? Bọn họ chỉ ngồi chơi cái trò chơi trí tuệ đấy thôi”! Bác Tôm hỏi lại: “Này nhé, nếu anh đánh rơi cái nhẫn trong góc nhà kho bừa bộn, tối om, mà lại không có đèn, thì anh tìm nó ở đâu”? Anh chàng nọ ngạc nhiên: “Hỏi lạ nhỉ, thì chui vào đó mà tìm chứ ở đâu nữa”! Bác Tôm cười: “Thế thì có khi mấy tháng trời vẫn chưa tìm ra. Cứ như tôi thì tôi sẽ chạy ra dưới ngọn đèn sáng mà tìm vậy”! Anh chàng được mẻ cười vỡ bụng: “Mấy anh làm Toán gàn quá đi mất, biết tỏng tòng tong là nhẫn rơi trong góc nhà kho, mà lại ra dưới đèn tìm thì có mà suốt đời tìm cũng không thấy”. Ấy vậy mà cái anh đồ (Toán) gàn dở chẳng dại lắm đâu. Này nhé, anh ta cầm lấy chiếc nhẫn, đứng dưới ngọn đèn mà thả cho nó rơi. Tất nhiên là tìm lại được ngay (ở đó sáng lắm). Cứ như thế mười lần, hai mươi lần, một trăm lần,…anh ta phát hiện ra quy luật: khi rơi thì cái nhẫn nói chung chạy theo hướng nào. Bởi thế lúc vào góc nhà kho tối om, anh ta tìm ra ngay chiếc nhẫn. Mà không chỉ chiếc nhẫn ấy, nhà kho ấy, mà dù chiếc nhẫn khác, rơi ở nhà kho khác cũng tối om như vậy, thì đối với anh làm Toán, tìm nó cũng chẳng khó khăn gì!  Các phương trình, các lý thuyết Toán học cũng như ngọn đèn của bác Tôm vậy. Có nó, người ta mới “làm Toán” được, tức là mới tìm ra quy luật của sự vật. Muốn trở về được với thực tiễn thì trước tiên phải biết rời xa thực tiễn, để không còn bị che lấp bởi cái rườm rà, không bản chất của đời thường.  Ba trăm năm trước bác Tôm, Newton đã từng nói: “Không có gì gần với thực tiễn hơn là một lí thuyết đẹp!”  Ứng dụng Toán học  Nhưng cái câu hỏi “Ích gì, Toán học?” vẫn cứ lởn vởn đâu đây, nhất là khi nhìn những nhà toán học hàng đầu nghiên cứu những thứ hoàn toàn “xa rời thực tế” , mà ngay cả bản thân họ cũng chưa biết mình sẽ đi đến đâu.  Người ta thường hỏi nhà Toán học: Lí thuyết của anh ứng dụng vào đâu? Không phải lúc nào cũng có câu trả lời. Vào Thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, nếu ai đó hỏi Apolonius rằng nghiên cứu các đường cônic (nhận được bằng cách cắt mặt nón bởi mặt phẳng) để làm gì, thì chắc Apolonius không trả lời được. Ông ta chỉ nghiên cứu các đường cônic vì thấy là chúng “đẹp”. Không chỉ Apolonius không thể trả lời, mà hơn chục thế kỉ sau cũng không ai trả lời được. Phải chờ đến Kepler và Newton, tức là 20 thế kỉ sau, người ta mới biết ông già Apolonius đã từng làm trò chơi với các quỹ đạo chuyển động của các hành tinh! Chính vì bị ám ảnh bởi các đường cônic ngay từ thuở ấu thơ mà Kepler đã nghi ngờ kết luận của những người đi trước về quỹ đạo tròn, và đưa ra giả thuyết quỹ đạo đó là đường ellip, với hai tiêu cự rất gần nhau. Giả thuyết đã được Newton chứng minh, với định luật vạn vật hấp dẫn. “Cái đẹp”, từ chỗ không biết để làm gì, đã tìm thấy một ứng dụng vào loại vĩ đại nhất trong lịch sử, sau hơn hai ngàn năm.  Bác Tôm có lần nói: đối với những người mở đường, đừng hỏi họ đi đâu, khi người ta biết mình đi đâu, người ta không đi được xa ”quand on sait òu va, on va pas loin”. Thật thế, nếu anh định đi đến thành phố Hồ Chí Minh thì chắc là anh cũng chỉ đi đến Cà Mau là cùng. Ngay như cái anh Armstrong, biết mình đi đến Mặt trăng thì cũng chỉ đến đó thôi, rồi về. Còn bác Tôm chẳng biết mình đi đâu, nên bác có thể đi xa hơn, đến tận sao Hỏa, hay những miền đất mới của khoa học. Và chúng ta, dù không đi xa được như bác Tôm, nhưng muốn ngày mai có bát cơm ngon, thì đừng quá sốt ruột nếu hôm nay chưa “ra ngô, ra khoai” gì! Còn nếu muốn “ra ngô, ra khoai” ngay thì có khi cả đời chỉ biết ăn ngô, ăn khoai!  Vậy nhưng, nếu các lý thuyết Toán học đều phải cần đến 2000 năm sau mới có ứng dụng, thì câu hỏi “Ích gì, Toán học?” sẽ dễ nhận được câu trả lời là “Vô ích”! Dù “nhìn xa” đến mấy, người ta cũng khó nhìn đến tận…2000 năm sau!  Nhưng Toán học đi vào thực tiễn với những con đường khác nhau. Có khi 2000 năm, có khi chỉ hai năm, thậm chí chỉ cần hai tháng! Ví dụ nổi tiếng là những hệ mật mã khoá công khai, như hệ mã RSA hay hệ mã dùng  đường cong elliptic. Từ trang giấy của nhà nghiên cứu toán học đến ứng dụng vào cái điện thoại thông minh hay cái thẻ tín dụng gần như là tức thời.  Không chỉ là những ứng dụng dễ nhìn thấy, Toán học giúp cho con người luôn hướng đến sự đơn giản trong tư duy. Tư duy Toán học chính là lối tư duy loại bỏ tất cả những gì không cần thiết, những gì rườm rà. Sự tối giản chính là một tiêu chuẩn của sự tối ưu, và nhiều khi, còn là tiêu chuẩn của cái đẹp. Một lần nữa, Toán học lại rất gần với Nghệ thuật.  Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.    Nhưng, tại sao sau tất cả những điều đã nói, vẫn tồn tại dai dẳng câu hỏi: “Ích gì, Toán học”?  Người ta hằng ngày dùng điện thoại di động để nói đủ thứ chuyện, đôi khi là để nói về cái sự vô ích của Toán học. Người ta hằng ngày dùng thẻ tín dụng để chuyển tiền, rút tiền. Nhưng sẽ không có điện thoại thông minh, không có thẻ tín dụng nếu không có mật mã khoá công khai, không có Toán học. Vậy nhưng người ta có thể vẫn rất ngại dùng tiền đó đầu tư cho Toán học, vì “Ích gì, Toán học?” Khi dùng điện thoại, khi rút tiền, không ai thấy “tích phân, vi phân, tổ hợp hay số học” trong đó. Nói khác đi, Toán học đã đến mức “trong suốt” đối với người sử dụng nó (tất nhiên chỉ khi đó nó mới được dùng cho tất cả mọi người).  Xem ra, sự “trong suốt” đôi khi lại là trở ngại lớn hơn ngọn núi!  Năm 1674  Mayow tìm thấy trong khí quyển một chất giúp cho sự sống. Năm 1773, Karl Scheele lần đầu tiên cô lập được chất khí đó. Antoine Lavoisier lặp lại thí nghiệm đó của Scheele và gọi đó là “oxygen”. Như vậy, oxy được “tìm ra” khá muộn. Tại sao? Vì nó trong suốt. Người ta hầu như không nhận thấy mình đang cần đến oxy. Và không chịu bỏ tiền ra “cho nó”.  Phải đến khi con người nhìn thấy những hình ảnh sau đây:                      Đó là không khí ở Bắc Kinh. Nó không còn trong suốt nữa. Và người ta buộc phải nhìn thấy nó, buộc phải họp nhau ở Rio de Janeiro, ở Kyoto, ở Paris để bàn nhau tìm cách bỏ tiền ra làm cho nó trong suốt trở lại. Giá như người ta nhìn thấy sự cần thiết từ khi nó còn trong suốt!  “Tính” và “Toán”  Một người bạn của bác Tôm, ông F.Hirzebruch, khi trả lời phỏng vấn của các nhà báo, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học châu Âu, đã nói:  “Người ta thường hay nhấn mạnh vai trò của Toán học trong phát triển công nghệ, nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ đến lúc công nghệ phát triển để giải phóng con người, cho họ thời gian quay về với thơ ca, âm nhạc và Toán học”.  Phải chăng, Hirzebruch muốn ám chỉ rằng, trong Toán học có hai phần: “tính” và “toán”.  Nếu như tính rất cần thiết cho công nghệ, thì Toán, ngoài chức năng phát triển phần tính ra, còn góp phần làm nên Con Người, cũng giống như âm nhạc, nghệ thuật và thơ ca.  Nhưng có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : “Ích gì, Toán học?”  Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca.      Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang IMO lần thứ 53: VN đoạt một HCV      Tin từ Mar del Plata (Argentina), cả sáu học  sinh Việt Nam dự kỳ thi toán quốc tế (IMO) lần thứ 53&#160; đều đoạt  huy chương, trong đó có một huy chương vàng.    Kết quả chính thức như sau: Đậu Hải Đăng, lớp 12, THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội (31 điểm), đoạt huy chương vàng; đoạt huy chương bạc là các em: Nguyễn Tạ Duy, lớp 12, THPT chuyên đại học Sư phạm Hà Nội 27 điểm; Nguyễn Phương Minh, lớp 12, THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội 27 điểm; Nguyễn Hùng Tâm, lớp 12, THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam 24 điểm; đoạt huy chương đồng là Trần Hoàng Bảo Linh, lớp 11, trường Phổ thông Năng khiếu – Đại học Quốc Gia TP.HCM 20 điểm và Lê Quang Lâm, lớp 12, THPT chuyên Lam Sơn – Thanh Hóa 19 điểm.  Đoàn Việt Nam được 148 điểm, xếp hạng 9 toàn đoàn. Hàn Quốc xếp thứ nhất với 6 huy chương vàng và Trung Quốc xếp thứ hai với 5 huy chương vàng, 1 huy chương đồng. IMO 2012 có 100 đoàn tham dự với tổng cộng 548 thí sinh.   Đoàn Việt Nam tham dự Olympic 2012 có phó giáo sư, tiến sỹ khoa học Vũ Đình Hòa là trưởng đoàn, TS Lê Bá Khánh Trình làm phó đoàn.  * Theo Bộ Giáo dục – Đào tạo, đoàn học sinh dự thi Olympic sinh học quốc tế năm 2012 tại Singapore đã đoạt 1 huy chương bạc, 3 huy chương đồng.  Nguyễn Thu Trang, học sinh lớp 12 Trường chuyên THPT Lê Hồng Phong, Nam Định đoạt huy chương bạc. Ba huy chương đồng thuộc về những học sinh đến từ Trường chuyên Vĩnh Phúc, chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội và chuyên Lê Hồng Phong Nam Định.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Index: Chuyện nhỏ mà không nhỏ      Theo ông Đỗ Hoàng Sơn, giám đốc công ty sách Long Minh, làm index cho sách khoa học không chỉ là trách nhiệm của người viết sách mà còn tạo áp lực thay đổi tình trạng thiếu cập nhật của từ điển thuật ngữ khoa học.       Vào năm 1988, tôi có một bộ sưu tập sách về cờ vua bằng tiếng Nga gồm 200 quyển. Đằng sau mỗi quyển sách này đều có rất nhiều index như index về ván đấu, index về các giải đấu, index về các kiểu khai cuộc, index về các vận động viên. Nhờ học theo các index này, dù không có huấn luyện viên, tôi vẫn vô địch giải cờ vua không chuyên ở Hà Nội năm 20051.                       Index là danh sách các từ khóa được sắp xếp theo  vần, chỉ ra vị trí xuất hiện của nó trong một cuốn sách. Với những tác  phẩm phi hư cấu (non-fiction) và đặc biệt là những sách khoa học với  nhiều nhân vật, danh từ, thuật ngữ, sự kiện phức tạp… danh sách các từ  ngữ trong mục index được sắp xếp hợp lí là công cụ quan trọng để người  đọc tiếp cận cuốn sách và tra cứu thông tin mình cần nhanh và hiệu quả  nhất. Nói một cách dễ hiểu, index cũng giống như Google của một quyển  sách.           Sách 20 trang của thiếu nhi cũng có index  Khi tôi nói chuyện với những nhà xuất bản sách ở nước ngoài, họ cho rằng làm index cho một cuốn sách là “chuyện đương nhiên”. Có một quyển sách khoa học cho thiếu nhi chỉ có 20 trang và số từ khóa chỉ đếm trên đầu ngón tay dành cho trẻ dưới 10 tuổi cũng có index. Tất cả sách giáo khoa cho học sinh phổ thông, thậm chí cho cả các em mẫu giáo về toán, khoa học và kỹ thuật ở Mỹ đều có index để rèn luyện cho các em một tư duy khoa học, tư duy hệ thống.   Bên cạnh sách giáo khoa, sách tham khảo, sách khoa học cho các em cũng cần có index giúp các em biết cách nghiên cứu độc lập. Lấy ví dụ, một nhóm học sinh năm người được phân công tìm hiểu về Archimedes. Nếu sách không có index, các em sẽ phải đọc cả quyển để tìm kiếm thông tin, như vậy là “nhồi nhét”. Các em có thể tra google, nhưng các thông tin bằng tiếng Việt chỉ cung cấp những dữ liệu mang tính chất tham chiếu chứ không có giá trị về mặt nghiên cứu, học thuật.     Từ index đến từ điển thuật ngữ khoa học  Không có một quy định nào bắt buộc sách phải có mục index nhưng nếu không có, một quyển sách khoa học sẽ bị mất giá trị bởi nó không thể hỗ trợ người đọc tối ưu trong việc nghiên cứu. Có thể, trước mắt, việc sách giáo khoa và sách tham khảo ở phổ thông chưa ảnh hưởng lớn nhưng về lâu dài, sách giáo trình cho sinh viên; đề cương đề tài, dự án; sách khoa học không có index sẽ có những tác động tiêu cực tới nền học thuật.  Trước hết, sách giáo trình không có index sẽ hạn chế việc thu thập và xử lí thông tin của sinh viên – một phương pháp luận quan trọng nhất ở trường đại học. Thứ hai, với số lượng lớn sách khoa học không có index sẽ ảnh hưởng đến việc cập nhật các thuật ngữ khoa học trên thế giới. Hiện nay, không phải là các thuật ngữ hiện đại về công nghệ không được dịch ra tiếng Việt nhưng phần lớn mới dừng lại ở mức diễn đạt ngữ nghĩa và chưa được chắt lọc, thiếu thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, dịch giả. Nếu có một học giả muốn thực hiện cập nhật một cuốn từ điển chuyên ngành và phải tham khảo những nghiên cứu trước đó, họ phải “lội qua” một khúc dài vô số những bản dịch cùng biểu đạt một thuật ngữ trong hàng ngàn quyển sách không có index (tức là không hề tổng hợp các thuật ngữ) thì đó là việc quá sức và cập nhật định kì là điều bất khả. Việc không thống nhất và không cập nhật các thuật ngữ chuyên ngành sẽ cô lập khoa học công nghệ của việt Nam với thế giới.   Index được coi là một phần nội dung của tác phẩm và sách không có index là trách nhiệm của tác giả và nhà xuất bản. Tôi nghi ngờ việc các giáo sư, tiến sĩ không biết đến khái niệm và vai trò của index; nhưng nếu họ biết mà vẫn cố tình “lờ đi” trong các tác phẩm và đề cương thì đó là do họ vô trách nhiệm. Bên cạnh đó, cũng có trường hợp, tác giả đã viết index nhưng trong quá trình biên tập, nhà xuất bản đã tự tiện cắt đi. Nghe có vẻ giống chuyện đùa nhưng có không ít trường hợp những sách khoa học nước ngoài được dịch ra tiếng Việt đã bị lược bỏ mục index, mặc dù đó là vi phạm bản quyền.   Phải thừa nhận rằng, các cơ quan hữu quan ở Việt Nam không có ý thức làm và cập nhật từ điển khoa học chuyên ngành. Việc mục index trong các tác phẩm, tài liệu khoa học bị coi nhẹ chỉ là một biểu hiện của điều đó. Tuy nhiên, nếu có sự tham gia của cộng đồng: tất cả các nhà xuất bản yêu cầu tất cả các tác giả viết sách khoa học cần phải làm mục index, các hội đồng khoa học bắt buộc tất cả các đề tài, dự án khoa học phải có mục index mới được nghiệm thu thì có thể thay đổi cục diện này. Giả sử, mỗi năm, có khoảng 500 người được phong PGS hoặc GS và mỗi người viết ba quyển sách. Cứ như vậy, mỗi năm sẽ có thêm 1.500 quyển sách có index. Các sách đã in cũng được chuẩn hóa lại bằng cách cập nhật index và đăng tải trên internet. Từ đó, điều này sẽ thúc đẩy các sinh viên và nghiên cứu sinh lớp sau học tập và tiếp nối. Trong vòng 10 năm, điều này sẽ tạo ra sự thay đổi về mặt học thuật.   Hiện nay, câu chuyện đã có phần sôi nổi hơn trước, có rất nhiều nhà xuất bản đã in sách có index, trong đó có NXB Kim Đồng, NXB Trẻ, Công ty Đông A, Nhã Nam (một số sách lịch sử), công ty Long Minh và đặc biệt, khoảng 1/3 sách giáo khoa về Toán, Vật lý, Hóa học và Công nghệ của NXB Giáo dục Việt Nam đã có mục index.              Hiện nay, điều cần làm để cải cách giáo dục đại học là làm index cho tất cả các giáo trình chuyên ngành. Sinh viên, những người cần được tạo lập thói quen nghiên cứu, cần phải nắm chắc thuật ngữ, biết cách tra cứu, thu thập dữ liệu và xử lí thông tin thông qua index của tài liệu. Thực hiện được điều này là hoàn toàn khả thi và cần bắt đầu từ ý thức của các giảng viên – những người soạn giáo trình. Hiện nay, một số trường đại học ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc này, trong đó có NXB Đại học Bách khoa Hà Nội và trường Đại học FPT.                                                                                                                                                         Hảo Linh ghi  ————————-  1Khi thi đấu cờ vua, người chơi cần phải nắm được (càng nhiều càng tốt) các kiểu khai cuộc để biết được đường đi nước bước của đối phương.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Internet với nền giáo dục 2.0      Trong nền giáo dục với sự hỗ trợ mạnh mẽ của  internet, mà Hiệu trưởng ĐH FPT Lê Trường Tùng gọi là nền giáo dục 2.0,  cả người dạy và người học đều phải chủ động hơn, và biết tiếng Anh là  yêu cầu bắt buộc.    Đó là những thay đổi quan trọng được nhấn mạnh tại tọa đàm “Internet đã, đang và sẽ thay đổi cách dạy và học như thế nào?” do ĐH FPT, Hiệp hội Internet Việt Nam và tạp chí Tia Sáng đồng tổ chức tại Hà Nội sáng 05/12.  Tại buổi tọa đàm, nhiều ý kiến cho rằng công nghệ thông tin nói chung và internet nói riêng đã khiến hình thức giáo dục truyền thống trở nên thụ động và lạc hậu. Việc dạy học theo lối giáo viên đọc bài cho học sinh chép đã không còn phù hợp nữa. Người thầy từ vai trò truyền thụ kiến thức sẽ chuyển sang vai trò hướng dẫn cho học sinh cách tìm kiếm và chọn lọc thông tin giữa biển kiến thức trên internet. Theo ông Hoàng Văn Phú, hiệu phó chuyên môn của Trường trung học Chu Văn An, người thầy có thể đặt ra những yêu cầu để buộc học sinh phải phát huy khả năng tự học, khả năng tự tìm kiếm trên internet. “Chẳng hạn, học sinh của chúng tôi đã rất quen với những yêu cầu của thầy cô giáo như tìm những câu hỏi thường gặp về một dạng toán nào đó,” ông nói.  Cùng với sự hình thành của các hình thức học tập mới, không gian dạy và học truyền thống cũng bị phá vỡ. Việc học sinh phải lên lớp trực tiếp nghe thầy cô giảng không còn là yêu cầu bắt buộc. Thông qua các học hiệu mở, thư viện mở, học sinh có thể tự nghiên cứu và trang bị kiến thức cho mình về nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho những ai muốn học suốt đời.  Để tận dụng được kho kiến thức trên internet, TS Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng ĐH FPT,  cho rằng tiếng Anh là một yêu cầu bắt buộc vì hầu hết các tài liệu hiện nay đều bằng tiếng Anh. “Cho đến ngày chúng ta có những công cụ trong mơ giúp dịch tài liệu sang bất kỳ tiếng nào chúng ta muốn thì biết tiếng Anh vẫn là yêu cầu bắt buộc,” ông nói. Ông dẫn ra trường hợp ĐH FPT phải dành năm đầu tiên để xóa vùng trũng tiếng Anh cho sinh viên và đi đến kết luận rằng, nếu hệ thống giáo dục phổ thông làm tốt việc dạy tiếng Anh thì sinh viên sẽ tiết kiệm được thời gian ở bậc đại học.   Thế nhưng, có tới 90% giáo viên Tiếng Anh chưa đạt chuẩn, theo thống kê trình độ của giáo viên tiếng Anh từ tiểu học đến THPT được TS Nguyễn Ngọc Hùng, Trưởng bộ phận thường trực Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 (Bộ GD&ĐT), thông tin tại tọa đàm.   Bên cạnh kỹ năng tiếng Anh, theo ông Ngô Trung Việt, chuyên gia CNTT, ngay từ khi trên ghế nhà trường, học sinh  cần sớm được các thầy cô giáo hướng dẫn cách làm việc theo nhóm, bởi nếu trước đây nói đến internet là nói đến cơ sở hạ tầng thì ngày nay nói đến internet là nói đến việc hình thành nhóm những người hiểu biết cùng nhau làm việc trong môi trường internet.       Author                Quản trị        
__label__tiasang IPhO 2012: Năm học sinh VN đều đoạt giải      Ngày 23-7, Cục Khảo thí và Kiểm định chất  lượng giáo dục (Bộ GD&amp;ĐT) cho biết, năm học sinh Việt Nam dự thi  Olympic Vật lý quốc tế (IPhO) lần thứ 43 tại Estonia (từ ngày 13  đến 25-7) đều đoạt huy chương, trong đó có hai vàng, một bạc và hai  đồng.    Huy chương vàng thuộc về Đinh Ngọc Hải, học sinh lớp 12 Trường THPT chuyên Biên Hòa (Hà Nam) và Ngô Phi Long, học sinh lớp 11 Trường THPT chuyên Sơn La (Sơn La); Lê Huy Quang, học sinh lớp 12 Trường THPT chuyên Lam Sơn (Thanh Hóa),đoạt huy chương bạc; Đinh Việt Thắng và Bùi Xuân Hiển, cùng là học sinh lớp 12 Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định), đoạt huy chương đồng.  Cuộc thi năm nay có 300 thí sinh của 88 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự.  Đây là kết quả cao nhất mà đoàn Việt Nam đạt được trong bốn kỳ Olympic quốc tế gần đây.     Author                Quản trị        
__label__tiasang JEAN-JACQUES ROUSSEAU:  Đa tài, đa nạn, đa đoan      Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để… lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở “thời khóa biểu” ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau.    Immanuel Kant, đại triết gia Đức, cứ đúng bốn giờ chiều là ra khỏi nhà, đi dạo một mình và trên cùng một con đường. Dân thành phố đợi ông ra khỏi nhà để… lên dây cót đồng hồ! Nhưng, suốt mấy mươi năm trời, chỉ có hai lần, ông bỏ dở “thời khóa biểu” ấy. Lần thứ nhất, mê mải đọc quyển Emille hay là về giáo dục của Rousseau vừa mới xuất bản (1762), và, lần thứ hai, khi nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ (1789). Năm 1762 ấy cũng đồng thời là năm xuất bản quyển Về Khế ước xã hội của Rousseau. Cả hai quyển đều bị cấm lưu hành và bị hạ lệnh thiêu hủy ngay từ lần xuất bản thứ nhất! Quyển trước đã ảnh hưởng sâu đậm lên tư duy giáo dục hơn bất kỳ tác phẩm nào khác. Quyển sau đã góp phần trực tiếp vào việc lật đổ chế độ chuyên chế, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa hiện đại như chúng ta đều biết. Hai buổi đi dạo bị bỏ lỡ của ông triết gia bên kia bờ sông Rhin (cách nhau 17 năm!) đã nói lên rất nhiều!  Rousseau trọn đời lận đận, nghèo túng và bị truy đuổi, nhưng “hậu vận” khá tốt! Như một lời ghi nhận và biết ơn, năm 1794, vào lúc cao điểm của Cách mạng Pháp, di hài ông được long trọng chuyển vào an nghỉ trong điện Panthéon (Paris) ở vị trí danh dự bên cạnh Voltaire, tác giả luận văn Về sự khoan dung, nhà chiến sĩ dân chủ tiền phong, dù khi sinh thời, hai ông không phải lúc nào cũng hòa thuận với nhau.  Học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục của Rousseau (thường gọi là “thuyết duy nhiên”) không phải là hai bộ phận độc lập mà là một khối thống nhất: triết thuyết giáo dục duy nhiên nhằm đào tạo con người thực hiện lý tưởng chính trị dân chủ. Tuy nhiên, nơi Rousseau, “tính tự nhiên” trong giáo dục và nền “dân chủ” chính trị lại là hai vấn đề không ngừng gây tranh cãi cho đến tận ngày nay! Điều này xảy ra không chỉ vì sự phức tạp của bản thân vấn đề mà do chính những phát biểu hàm hồ, nước đôi trong các tác phẩm của ông, có thể làm đảo lộn và xuyên tạc hoàn toàn ý hướng ban đầu. Về giáo dục, “tính tự nhiên” do ông đề xướng (“hãy để cho đứa bé tự phát triển”) dường như đã giành được thắng lợi hoàn toàn khi “tự nhiên” đồng nghĩa với cái đúng, cái tốt, còn “trái tự nhiên” là sai, là xấu. Nhưng, liệu nền giáo dục triệt để chống quyền uy ấy có thể thực hiện trong môi trường cách ly với xã hội một cách giả tạo, bằng những biện pháp giáo dục có tính lèo lái rất đáng ngờ? Về chính trị, người thì tôn vinh ông là “nhà dân chủ tiên phong”, nhà “dân chủ tự do, tiến bộ”, đồng thời không thiếu người xem ông là “có xu hướng bảo thủ, quyền uy, phản đa nguyên”, thậm chí, là “kẻ đào mồ chôn nền dân chủ”. Tại sao có sự đánh giá mâu thuẫn nhau đến như thế? Việc đưa di hài ông vào điện Panthéon vừa xứng đáng với tầm vóc của ông, vừa không khỏi gợi nên thắc mắc: tại sao lại từ tay Robespierre, thủ lĩnh phái Jacobins khét tiếng độc tài, khát máu trong thời kỳ đại khủng bố của cách mạng Pháp? Và sau cùng, chính cuộc đời ông cũng là hiện thân của một khối mâu thuẫn lớn. Yêu trẻ em, chủ trương “lấy trẻ em làm trung tâm” trong giáo dục, tại sao nỡ giao hết mấy đứa con mình vào trại trẻ mồ côi? Là một trong những khuôn mặt sáng giá nhất của “thế kỷ ánh sáng”, tại sao đi đến chỗ xung đột kịch liệt với Voltaire, đoạn giao với những người bạn lừng danh trong “nhóm Bách khoa thư” như Diderot, d’Alembert… của phong trào khai minh đang lên? Nhận xét của Eugen Fink: “mọi sự vĩ đại đều mang tính nước đôi” tuy không phải lúc nào cũng đúng, nhưng dường như không sai trong trường hợp Rousseau! Khác với những bậc “thánh hiền” thường có hình ảnh toàn bích, Rousseau có lẽ bắt đầu thuộc về một loại hình mới và khác: nhà trí thức hiện đại. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu ông ở cả ba phương diện: cuộc đời, học thuyết chính trị và triết thuyết giáo dục.  CUỘC ĐỜI ĐA NẠN VÀ ĐA ĐOAN  J. J. Rousseau (1712-1778) bất hạnh từ nhỏ. Mẹ mất ngay sau khi sinh. Cha ông, thợ đồng hồ ở Genève, gà trống nuôi con không lâu thì phải bỏ trốn sau một vụ ẩu đả khi ông lên mười. Mười hai tuổi phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề. 16 tuổi, trốn nhà từ Genève lên Turin. Từ đó bắt đầu cuộc đời phiêu bạt, mà những phút giây yên ổn, hạnh phúc là ngoại lệ. Làm đủ thứ chuyện (khoa học, xã hội, nghệ thuật), nhưng chủ yếu độ nhật bằng nghề chép nhạc. Dang díu với nhiều “quý Bà”, cha của năm đứa con, đều gửi hết vào trại mồ côi! Việc làm này gây tổn hại lớn đến thanh danh “nhà giáo dục” của ông, nhất là từ sự công kích của Voltaire. Ông cũng tỏ ra rất đau khổ và nhiều lần biện bạch: cuộc sống quá bấp bênh, không có lối thoát, khó có điều kiện nuôi dạy con cái đàng hoàng (nhưng ông cũng có lúc khá sung túc với người vợ kia mà?).  Năm 1742, ông lên Paris, kết bạn với Diderot và các nhà “Bách khoa thư”. Năm sau, được làm thư ký cho sứ quán Pháp ở Venise, được ủy thác soạn phần nhạc học cho bộ Bách khoa thư, trình diễn được mấy vở nhạc kịch khá thành công. Sau đó, đổ vỡ quan hệ với Diderot và nhóm Bách khoa thư vì bất đồng quan điểm.   1762 là năm quyết định của đời ông: xuất bản một lúc cả hai tác phẩm bất hủ: “Émille” và “Khế ước xã hôi”. Không tán đồng quan niệm về “tội tổ tông” do chủ trương con người “tính bản thiện”, sách bị cấm và lệnh truy nã được ban ra. Ông phải trốn chạy sang Thụy sĩ, rồi ba năm sau lại bị trục xuất và rút về ẩn cư nơi một đảo nhỏ, thời gian hạnh phúc ngắn ngủi vì được đắm mình trong thiên nhiên như sở nguyện. Năm 1766, sang Anh theo lời mời của triết gia David Hume, được dư luận Anh chào đón nhưng lại sớm xích mích với Hume! Suốt bốn năm sau đó, sống lang bạt đầy bất an ở các vùng nông thôn nước Pháp do lệnh truy nã vẫn còn hiệu lực. Mãi đến 1770 mới về lại Paris, tiếp tục viết nhạc độ nhật.  Ta không quên mấy mốc lớn khác trong đời ông:  – 1749: đi bộ từ Paris đến nhà tù Vincennes thăm Diderot đang bị giam cầm, viết Luận văn thứ nhất về các ngành khoa học và nghệ thuật.  – 1754: viết Luận văn thứ hai về nguồn gốc và căn nguyên của sự bất bình đẳng giữa con người. Hai luận văn then chốt, xác lập vị trí riêng biệt của Rousseau trong đấu trường tư tưởng đương thời.  – 1763: chuẩn bị tư liệu cho tác phẩm Tự thú nổi tiếng, một loại tự truyện “tự phơi bày chính mình”, mô phỏng tác phẩm cùng tên của thánh Augustino thời trước.  –  1761, công bố tiểu thuyết dưới hình thức các bức thư: Nàng Heloise mới, mở màn thể loại tiểu thuyết diễm tình ở châu Âu (trong đó có Tình sầu của chàng Werther của Goethe).  – 1774, xuất bản Từ điển thuật ngữ thông dụng trong ngành thực vật học, và, 1776-1778, soạn tập thơ văn xuôi Những giấc mơ của kẻ bộ hành cô độc, tác phẩm lớn cuối cùng, khai mào cho nền văn học lãng mạn.  –  1778, về nghỉ ngơi ở lâu đài Ermenonville theo lời mời của bá tước de Girardin và mất ít lâu sau đó.  Một cuộc đời sóng gió, đầy ắp năng lực sáng tạo và lòng tự tin: “Tôi bắt tay vào một công việc vô tiền khoáng hậu. Tôi muốn cho mọi người thấy một con người tràn đầy mãnh lực tự nhiên, và con người ấy sẽ là chính tôi đây!” (Tự thú).  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 13, 12.12.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang J.J. Rousseau: Tự do, giao mà không mất?      Con người là tự do. Nhưng xã hội – dưới mắt  Rousseau – lại không như thế, bởi đâu đâu con người cũng ở trong xiềng  xích và mất tự do. Đó là điều ông không thể chấp nhận được! Học thuyết  chính trị của Rousseau, vì thế, xoay quanh hai câu hỏi lớn:     1.     Tại sao con người tự do nguyên thủy lại rơi vào cảnh nô lệ, nhưng đồng thời vẫn có tiềm năng để trở thành người “công dân tự do”?  2.    Làm sao “tìm ra một hình thức sống chung vừa đủ sức bảo vệ nhân thân và tài sản, vừa giúp cho mỗi người, khi tham gia cùng với mọi người khác, vẫn chỉ tuân lệnh chính mình và được tự do như trước kia?”.  Nói ngắn gọn, đâu là con đường đi từ sự “tự do tự nhiên” đến sự “tự do công dân” (bao gồm tự do đạo đức và tự do chính trị)?  TỰ DO TỰ NHIÊN  Trong trạng thái tự nhiên (giả định), con người là tuyệt đối tự do, sống trong sự cô lập, không dựa vào ai và cũng không bị ai cưỡng chế. Sở dĩ như thế vì nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu sinh tồn vốn giới hạn ở mức tối cần thiết. Tình trạng tự do nhờ sự độc lập này không thể kéo dài khi con người không còn có thể tự cấp tự túc được nữa.  TỰ DO CÔNG DÂN  Từ bỏ trạng thái tự nhiên đi vào trạng thái xã hội, quan niệm về tự do cũng thay đổi theo.Vấn đề bây giờ là phải đi tìm một hình thức xã hội chính đáng, sao cho mỗi người vẫn được hưởng tự do hệt như trước đây, dù phải sống trong lòng nhà nước.  Trước hết là tự do đạo đức. Con người từ nay phụ thuộc vào nhau, nhưng vẫn phải phù hợp với căn tính tự do cùng với lý trí của họ. Sự hợp quần không phải để phục tùng ý chí xa lạ, mà là một sự tự nguyện phục tùng có tính đạo đức đối với pháp luật do mọi người cùng ban hành, gắn kết cá nhân với xã hội. Nếu con người nguyên thủy chỉ biết nghe theo tiếng gọi của tự nhiên, thì con người công dân hiện đại tự giác tuân theo lương tâm và lý trí của mình để thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ vì hạnh phúc cá nhân và xã hội.  Từ đó dẫn đến sự tự do chính trị. Giả sử con người là xấu xa và không có năng lực dùng lý trí để sống chung với nhau trong cộng đồng, ắt mô hình nhà nước hung dữ như quái vật (Leviathan) theo hình dung của Thomas Hobbes là không thể tránh khỏi, nhằm ngăn chặn cuộc chiến triền miên của “tất cả chống lại tất cả”. Theo Rousseau, tình hình không bi quan đến như thế! Cuộc sống chung hòa bình là có thể thực hiện được, khi con người đến với nhau trong sự đồng thuận về đạo đức, tạo nên một khối đoàn kết hoàn hảo bằng cách “giao nhượng trọn vẹn” phần của mình cho hạnh phúc của cộng đồng và cho sự tự do của chính mình. Nếu ai ai cũng làm như thế, thì mọi người đều bình đẳng – bình đẳng và tự do. Trong nền cộng hòa của Rousseau, mỗi công dân là một bộ phận của nhà nước, mất bao nhiêu thì sẽ nhận lại được bấy nhiêu, vừa “làm chủ” trên tất cả, vừa “làm tớ” cho tất cả! Con người thoát khỏi sự độc tài cá nhân lẫn tập thể, và tận hưởng sự tự do chính trị lâu bền.  NHỮNG MÂU THUẪN NAN GIẢI  Học thuyết chính trị của Rousseau vừa tân kỳ, vừa chứa nhiều mâu thuẫn nan giải.   Trước hết là câu hỏi cơ bản: sự tự do có thể “xuất nhượng”, hay nói nôm na, có thể giao mà không mất? Để biện minh cho việc thiết lập “khế ước mới” (như là cơ sở cho tự do công dân và nhà nước hiện đại), ông lấy gia đình – tổ chức xã hội mang tính tự nhiên nhất – làm hình mẫu cho cộng đồng chính trị: “người đứng đầu nhà nước tương ứng khuôn mặt người cha, còn nhân dân như là con cái. Tất cả sinh ra bình đẳng và tự do và chỉ nhường sự tự do, khi nó mang lại ích lợi”. Một mặt, ông xem tự do là căn tính, mặt khác lại đòi giao nhường nó cho “người cha”. Hiểu sao đây? Chính ông bảo rằng “từ bỏ tự do có nghĩa là từ bỏ tính người, từ bỏ quyền và nghĩa vụ làm người (…) Lấy mất tự do là lấy mất ý nghĩa đạo đức của hành động” kia mà? Dùng kịch bản gia đình (con cái nhường sự tự do cho cha cho đến khi trưởng thành vì chính lợi ích của con cái) áp dụng cho xã hội, liệu có chính đáng và không nguy hiểm?  Về quan hệ giữa tự do và quyền lực cai trị, Rousseau giải quyết bằng cách đòi cho mỗi cá nhân đều được tham gia vào sự cai trị. Đồng thời, khác với Hobbes, ông tước bỏ tính chính đáng của “bạo lực thân thể” (như là sự biện minh cho quyền cai trị), vì sẽ dẫn con người trở lại với sự mất tự do và sự lệ thuộc phản tự nhiên. Vì thế, chủ quyền nhất thiết phải do toàn dân thực thi một cách trực tiếp, chứ không được phép thông qua sự đại diện nào cả. Ý tưởng về chủ quyền thuộc về nhân dân trong cách hiểu hiện đại về nền dân chủ là cống hiến lịch sử, là nét son bất hủ của học thuyết Rousseau! Tuy nhiên, các biện pháp thực thi của ông lại có nhiều tính không tưởng và dễ bị lạm dụng. Nền dân chủ trực tiếp là nguyện vọng tốt đẹp, nhưng khó thực thi ở diện rộng và thường xuyên. Về quan hệ giữa ý chí cá nhân và ý chí tập thể, ông giải quyết bằng sự phân biệt nổi tiếng giữa ý chí phổ biến (volonté générale), ý chí của tất cả (volonté de tous) và ý chí đặc thù (volonté particulìere). Ý chí phổ biến nhắm đến quyền lợi chung, còn ý chí của tất cả chỉ là sự cộng dồn mọi lợi ích riêng tư, tức của những lợi ích đặc thù. Đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng là lẽ phải tự nhiên, nhưng ở đây, “ý chí phổ biến” là khái niệm rất dễ bị “nhân danh” để lấn át mọi ý kiến khác trong diễn ngôn chính trị. Trong thực tế, các nền dân chủ hiện đại vận hành theo “ý chí của tất cả” có tính thường nghiệm, hơn là từ một “ý chí phổ biến” mơ hồ và… nặc danh.  Rousseau luôn ủng hộ sự phát biểu ý kiến tự do, tuy nhiên mục tiêu của thảo luận là nhằm dẫn dắt cộng đồng càng đến gần sự nhất trí càng tốt. Ông khó chấp nhận các xung đột về lợi ích, hay nói cách khác, ông thiên về những cộng đồng với trình độ phát triển thấp về các sự dị biệt hóa và đa nguyên xã hội.  Giấc mơ của Rousseau là một đời sống cộng đồng thân mật, trong suốt, dễ kiểm soát và không có sự phân quyền như nơi Locke và Montesquieu. Nhưng, “cộng đồng” khác với “xã hội”. Nền dân chủ hiện đại, khổ thay, luôn có xu hướng phá vỡ cộng đồng. Chỗ mạnh, đồng thời là chỗ yếu của nó, là ở chỗ không mong ước đạt tới sự đồng thuận và nhất trí cho bằng bảo vệ và duy trì quyền được có ý kiến khác. Quyền được bất đồng thuận, chứ không phải nghĩa vụ phải đồng thuận là đặc trưng và sức sống của xã hội dân chủ hiện đại, và chính điều này mới tạo nên “tính hiện đại” của nó (“tính hiện đại” thường được hiểu theo nghĩa: không có tính chuyên chế và không định hướng theo “luân lý cộng đồng”).  Triết lý chính trị của Rousseau sẽ được bổ sung bằng triết thuyết giáo dục của ông, như ta sẽ tìm hiểu trong các bài kế tiếp.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 15, 26.12.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kant: Giáo dục là gì?      Lập trường giáo dục của Kant dựa trên nhận  định cơ bản sau đây: giáo dục là mệnh lệnh đối với sự phát triển của  nhân loại. Chính vì con người có “xu hướng mạnh mẽ hướng đến tự do”, nên  con người “cần phải làm quen ngay từ tuổi ấu thơ để chấp nhận mệnh lệnh  của lý trí”.     Ta vừa biết qua bốn câu hỏi cốt lõi của triết học Kant: Tôi có thể biết gì? Tôi phải làm gì? Tôi được phép hy vọng gì? và, sau cùng, theo ông, cả ba câu hỏi quy về câu hỏi thứ tư: Con người là gì? Chưa đi sâu, ta có thể nhận ra rằng câu hỏi thứ tư không nhắm đến những câu trả lời trừu tượng, viển vông, trái lại, là câu hỏi năng động: “Con người chỉ có thể trở thành người thông qua giáo dục. Con người không gì khác hơn là những gì được giáo dục tạo nên.” (Về giáo dục, 1803). “Con người là gì hay vận mệnh của con người ra sao, theo nghĩa đạo đức là thiện hay ác, là do chính con người làm lấy, cả bây giờ và trong quá khứ.” (Tôn giáo trong ranh giới của lý tính đơn thuần, 1793). Vậy, có thể mạnh dạn nói rằng, theo nghĩa thâm sâu nhất, triết học Kant là một triết thuyết giáo dục!  Kant tiếp cận các vấn đề đặt ra trong các câu hỏi nói trên ở cả hai bình diện tư tưởng:  –  Thứ nhất, trong tinh thần phê phán và khai minh, Kant cố làm rõ tiềm năng lẫn giới hạn của lý tính con người. Điều này giải thích sự “khiêm tốn” lạ thường khi Kant cho rằng ta nên vừa lòng với tiềm năng mà kinh nghiệm có thể mang lại cho ta (“những hiện tượng”). Trong tác phẩm trứ danh “Phê phán lý tính thuần túy”, ông biện minh cho điều ấy và chứng minh sự phi lý và bất khả của những “tín điều” xuất phát từ tham vọng muốn dùng “lý tính thuần túy” (vượt khỏi phạm vi kinh nghiệm) hòng xây dựng tri thức “khoa học” về “những vật tự thân” mà ta không tài nào đạt đến được.  –   Nhưng, mặt khác, Kant không muốn trói buộc con người trong phạm vi chật hẹp của kinh nghiệm giác quan, cắt cụt đôi cánh hướng thượng trong tâm hồn phong phú của con người. Ông nhìn nhận những khả thể vô hạn của con người trong kích thước đạo lý và nhân sinh. Đó là kích thước của tự do nội tâm, của hành động luân lý, của đức tin vào cái siêu việt. Tuy nhiên, những đức tin có thể mang lại an vui, hạnh phúc cho con người này tuyệt nhiên không được phép biến thành những “học thuyết” giáo điều để rao giảng, nhồi sọ vì nhầm tưởng rằng có thể “chứng minh” được chúng. Kant cảnh báo rằng, nếu giả sử chúng được chứng minh theo kiểu khoa học thì tự do trí tuệ, tự do lương tâm ắt không còn có lý do tồn tại! Làm sao “chứng minh” được sự tự do khi ta hàng ngày hàng giờ ở trong vòng vây của những định luật tự nhiên tất yếu? Cũng thế, làm sao “chứng minh” được nhân phẩm nếu ta chỉ xem xét con người đơn thuần ở phương diện sinh vật? Thế nhưng hiếm có ai dám phủ nhận tự do và nhân phẩm! Vậy, giải quyết như thế nào? Kant cho rằng ta nên quan niệm con người đồng thời là “công dân” của cả hai thế giới: thế giới khả giác và thế giới siêu cảm giác. Ta không thể và không cần chứng minh, trái lại ta thể nghiệm và sống thật với hai thế giới ấy qua vô vàn ví dụ trong đời sống thường ngày. Không ai “bắt” ta phải cứu người bị nạn không quen biết ngoài sự tự do lương tâm của ta. Không ai có thể ngăn cản ta lên tiếng và phản kháng nếu ta cảm thấy nhân phẩm mình bị xúc phạm hay chà đạp. Quan niệm của Kant là một phiên bản mới của lý thuyết “hai thế giới” vốn quen thuộc trong lịch sử tư tưởng: hoặc mang tính thần học trong các nền tôn giáo lớn, hoặc mang tính huyền học trong nhiều triết thuyết (chẳng hạn nơi Platon và Plotius v.v…). Phiên bản của Kant là mới mẻ, bởi nó không phải là thần học lẫn huyền học mà là triết học, theo nghĩa thế tục, dựa hoàn toàn vào bản tính con người như một sinh vật có lý tính và tự do. Khi Kant viết: “Tôi thấy cần thiết phải dẹp bỏ tri thức để dành chỗ cho lòng tin”, ông không muốn nói gì khác hơn là cần phân định rạch ròi thẩm quyền và phạm vi của “biết” và “tin”, mở đường cho những điều xác tín về đạo lý trong không gian sinh hoạt nhân sinh vô cùng phong phú của con người. Có thể nói, học tập để biết cách làm người “công dân” xứng đáng của hai thế giới là mục tiêu của triết thuyết giáo dục khai minh của Kant.  KANT VÀ “CÁC BÀI GIẢNG VỀ GIÁO DỤC”  Tư tưởng giáo dục của Kant bàng bạc trong những tác phẩm chính yếu của ông (ba quyển Phê phán nổi tiếng) dù chúng không trực tiếp bàn về giáo dục. Những công trình khác cũng rất quan trọng gồm một số những bài viết ngắn mà tiêu biểu là: “Ý niệm về lịch sử phổ quát với mục đích làm công dân thế giới” (1784); “Phỏng đoán về khởi nguyên của lịch sử loài người” (1786); “Trả lời câu hỏi: Khai minh là gì?” (1784) và một số tác phẩm dài hơn: “Hướng đến nền hòa bình vĩnh cửu” (1795); “Nhân học dưới giác độ thực tiễn” (1798) và “Tôn giáo trong ranh giới của lý tính đơn thuần” (1793).  Là giáo sư triết học, ông thỉnh thoảng được yêu cầu phải giảng chuyên đề về triết học giáo dục. Kant đã giảng vào bốn lục cá nguyệt từ 1776/1777, 1780, đến 1783/1784 và 1786/1787. Như ta đã biết, các bài giảng này được môn đệ tập hợp lại, công bố năm 1803 với nhan đề “Về giáo dục học”. Trong khuôn khổ giới hạn, ta sẽ tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Kant dựa trên các bài giảng này, xung quanh ba câu hỏi chủ yếu: giáo dục là gì? giáo dục cho ai? và giáo dục như thế nào? Ta sẽ không quên liên hệ ba câu hỏi này với các tác phẩm khác, nếu xét thấy cần thiết để hiểu ông hơn.  Ý NIỆM GIÁO DỤC  Lập trường giáo dục của Kant dựa trên nhận định cơ bản sau đây: giáo dục là mệnh lệnh đối với sự phát triển của nhân loại. Chính vì con người có “xu hướng mạnh mẽ hướng đến tự do”, nên con người “cần phải làm quen ngay từ tuổi ấu thơ để chấp nhận mệnh lệnh của lý trí”. Nếu con người (cá nhân cũng như giống loài) không gì khác hơn là sản phẩm của giáo dục, thì cần nhận rõ rằng “con người luôn được người khác dạy dỗ và bản thân những người này cũng từng được dạy dỗ trước đó”. Vậy, giáo dục có thể được xem như là sự kiện thường nghiệm, diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, nhưng đồng thời, cần được xét theo bề sâu nhân học trong sự liên hệ mật thiết với một “Ý niệm” mang tính quy phạm. “Ý niệm” là thuật ngữ then chốt của triết học Kant, và không có nghĩa gì khác hơn là khái niệm về một sự hoàn hảo mà ta không bao giờ có thể trải nghiệm trọn vẹn được. Ý niệm là ngôi sao Bắc đẩu dẫn đường, đồng thời là đường chân trời chỉ có thể tiệm cận và càng đến gần càng lùi xa.  Do đó, Ý niệm về giáo dục là thước đo cho việc thực hành giáo dục. Chính nó mới là cơ sở cho phép ta tiến hành mọi sự phê bình, đánh giá đối với nền giáo dục nói chung cũng như đối với nhà trường cũng như việc dạy và học. Dù khó thực hiện hoặc chỉ có thể thực hiện từng bước, Ý niệm giáo dục, theo Kant, chính là “việc phát triển tối đa mọi tố chất và tiềm năng thiên phú của con người, vì sự thiện hảo”.   Nền giáo dục thiện hảo là gì và nó nắm giữ chìa khóa bí mật nào cho sự thăng tiến của nhân loại nói chung và cho con người với tư cách “công dân thế giới”?  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 17, 22.05.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kant: Ngòi bút và dân quyền      Bàn về phương pháp giáo dục, Kant nhấn mạnh:  “Mỗi cá nhân học hỏi và ghi nhớ sâu sắc nhất những gì hầu như chỉ học  cho chính mình”. Vì thế, việc học nơi con người khác về chất với việc  huấn luyện nơi thú vật.      PHƯƠNG PHÁP SOCRATES  Thú vật được huấn luyện để bắt chước. Con người cần học dể biết suy nghĩ. “Nền giáo dục tương lai nhất thiết phải dựa trên phương pháp Socrates”, như ông khẳng định mạnh mẽ. Cốt lõi của “phương pháp Socrates” là tin vào năng lực tự đặt câu hỏi của mỗi người. Và chỉ những câu trả lời nào đến từ “bên trong” ta, mới thật là của ta và cho ta. Do đó, nhiệm vụ của giáo dục không phải là rao giảng, thuyết phục, áp đặt, trái lại, bằng phương pháp và kỹ thuật đặt câu hỏi, giúp mọi người tự tìm thấy lẽ phải, chân lý vốn bị che phủ bởi sự mê muội, định kiến. Không lạ gì khi phương pháp ấy được mệnh danh là phương pháp “hộ sinh tinh thần”. Bốn bước cọ xát thông qua đối thoại: – giả vờ không biết để nhờ người đối thoại giảng cho. Rồi bằng những câu hỏi trúng đích, chứng minh người đối thoại thật ra cũng chẳng biết gì chính xác cả! – tiếp theo, dùng phương pháp quy nạp để xây dựng từng bước cái biết vững chắc. Đó là phân tích chính xác các ví dụ, từ đó rút ra những kết luận và định nghĩa tạm thời. – bằng phương pháp tổng họp, làm cho những định nghĩa tạm thời ấy ngày càng tinh vi và chính xác hơn. – sau cùng, có được nhũng định nghĩa rõ ràng, chính xác về vấn đề đang bàn “hầu như có sẵn từ chính mình”. Vậy, biết nghe và biết hỏi là yếu tố cơ bản để thành công. Nhưng, hỏi không phải để bắt bí mà để người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự trả lời: câu trả lời là do chính họ tìm ra. Nền móng của đối thoại là là sự trung thực, minh bạch và tin cậy lẫn nhau, cũng như tránh mọi cực đoan và luôn kiểm tra có phê phán sự hiểu biết của chính mình.  HỌC LÀ HỌC CÁCH HỌC      Kant là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Ta không bao giờ có thể học triết học mà cùng lắm chỉ là học cách triết lý” (Phê phán lý tính thuần túy). Tất nhiên, ta vẫn có thể và cần học triết học (và khoa học nói chung) với tư cách là kiến thức vững chắc về lịch sử tư tưởng. Nhưng, kiến thức có tính “lịch sử” ấy chưa chứng tỏ được năng lực phán đoán từ chính đầu óc của mình. Ta chỉ mới được “đào tạo theo lý trí của người khác” như một “khuôn dấu sống” mà thôi. Do đó, ai muốn học cách triết lý thì phải xem “mọi hệ thống (tư tưởng) chỉ như là lịch sử về việc sử dụng lý trí”, và ta hãy dùng chúng như là chất liệu cho sự rèn luyện của chính mình. “Người học trò không học những tư tưởng mà học tư duy”, và vì thế, “thật là một sự lạm dụng chức trách sư phạm khi thay vì mở rộng năng lực suy nghĩ của học sinh và đào luyện họ để có được sự thức nhận trưởng thành trong tương lai thì lại làm cho họ lầm tưởng rằng đã có sẵn một kho kiến thức đã hoàn tất, khiến từ đó nảy sinh bao ngộ nhận về khoa học”.  TÍNH CÔNG KHAI        Đối với giáo dục cũng như với “hiến chương của đời sống dân sự” nói chung, tính công khai là yếu tố quyết định, bởi vì bản chất của lý tính là tính có thể thông báo được một cách không bị hạn chế đối với chính mình và với người khác. Triết học, khoa học hiểu tầm quan trọng ấy nên luôn tạo ra “ý chí thông báo”. Lý tính sẽ chết ngạt nếu không có bầu dưỡng khí của sự truyền thông. Đi vào chi tiết, Kant vạch rõ rằng mọi hình thức của lý tính đều cần đến tính thông báo công khai. Những khái niệm (khoa học) là đều có thể thông báo được, khác với những cảm giác riêng tư của ta. Phán đoán về hành vi đạo đức cũng cần được thông báo một cách phổ biến qua những khái niệm của lý tính thực hành như tốt, xấu, thiện, ác. Phán đoán thẫm mỹ tuy không cần đến “khái niệm của lý trí”, nhưng vẫn được tiến hành nhờ vào ý niệm về một “cảm quan chung” hầu như là phán đoán nhân danh cảm thức chung của con người.  Chỉ nhờ sự thông báo công khai thì mới mở rộng và kiểm tra lý tính được. Vì thế, Kant gọi tính công khai là điều kiện của tính người, của tính nhân văn, hay nói nói mạnh mẽ hơn như Hegel sau này, “nếu không thể và không cho thông báo cho nhau thì chính là chà đạp lên tính người”. Ta nhớ lại ba châm ngôn của lý trí tự do đã giới thiệu trước đây. Bên cạnh việc “tự suy nghĩ bằng cái đầu của mình” và “suy nghĩ nhất quán với chính mình”, Kant còn nhấn mạnh đến châm ngôn: “suy nghĩ từ vị trí hay quan điểm của người khác”. Đó là nguyên tắc của “cung cách tư duy mở rộng”, vượt ra khỏi “các điều kiện riêng tư, chủ quan của phán đoán”.  Vậy, tự do thông báo là điều kiện của tự do tư duy. Không có tự do thông báo thì tư duy bị dồn vào góc hẹp của cá nhân và trong sự nhầm lẫn chủ quan. Ông viết: “Quyền lực bên ngoài nào tước đoạt sự tự do thông báo công khai tư tưởng của con người thì cũng tước đoạt sự tự do suy nghĩ của họ”.  Tiến trình giáo dục khai minh thoát thai từ sự tự do của lý tính và tạo nên sự tự do ấy trong toàn bộ đời sống chính trị-xã hội bằng hai bước: sự khai minh cho quảng đại nhân dân và sự khai minh đối với nhà cầm quyền.  Với nhân dân, sự khai minh yêu cầu mọi người “sử dụng lý trí của mình một cách công khai trong mọi lĩnh vực”. Ông phân biệt: một viên chức, một binh sĩ phải tuân lệnh trong khi thi hành nhiệm vụ. Nhưng, cũng chính con người ấy, để không trở thành công cụ mù quáng, thì, với tư cách là “học giả”, họ lại có quyền phát biểu công khai về những sai lầm của bộ máy hành chính hay quân sự. Vì, không quên rằng, giống như trong các lĩnh vực khác, họ đồng thời là “công dân” của “hai thế giới”: thế giới của đời sống thực tồn và thế giới của tự do tinh thần. Và, nếu họ thấy chức trách không còn phù hợp với lương tâm và lẽ phải nữa thì hãy từ chức! Kant viết: “Trong công việc thì phải tuân lệnh, nhưng trong phát biểu công khai của lý tính thì mọi sự giới hạn là phản lý tính”. Sự phân biệt của Kant có ảnh hưởng lớn đến cuộc thảo luận chung quanh vấn đề đạo đức công vụ và ngăn chặn việc trốn chạy trách nhiệm viện cớ tuân lệnh cấp trên.  Tính công khai trong đời sống chính trị là điều kiện tiên quyết của luật pháp và nhà nước pháp quyền. Không có tính công khai, không thể thực hiện được sự công chính. Người công dân tiền giả định rằng người cầm quyền không muốn vi phạm những quyền hợp pháp của mình, và nếu vi phạm là do nhầm lẫn hay không am tường các hậu quả nào đó của việc thực thi pháp luật. Vì thế, song hành với “suy đoán vô tội” đầy thiện chí ấy, hiển nhiên người công dân phải có quyền phát biểu công khai về điều mà họ cho là vi phạm pháp luật. Như thế, “tự do của ngòi bút là vị thần linh duy nhất của dân quyền”. Các giới hạn của quyền tự do này chỉ có thể là do chính lý trí tự đặt ra cho chính mình mà thôi: đó là sự tôn trọng hiến chương dân sự, tôn trọng lề lối tư duy tự do và sự làm chủ phẩm cách và tinh thần phê phán của lý tính.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 22, 26.06.2014)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kant và bốn câu hỏi cốt lõi      Khi luồn cúi người khác thì bản thân kẻ được  luồn cúi cũng chẳng ra gì, bởi cả hai đều chà đạp nhân phẩm (Kant).  Nhân phẩm đòi hỏi phải có ý thức. Có ý thức mới có thể lựa chọn. Biết  lựa chọn là tự do. Nhân phẩm – Ý thức – Tự do là tinh hoa của triết học  Kant, cũng là linh hồn của giáo dục và sự khai minh đầu óc.    Xin hãy làm quen với Immanuel Kant (1724-1804). Tư tưởng giáo dục của ông – được môn đệ tập hợp lại từ các khóa giảng về giáo dục học mà chúng ta sẽ tìm hiểu – không thể so sánh với tư tưởng triết học của ông về bề rộng lẫn chiều sâu. Lý tưởng giáo dục hiện đại kết tinh trong ý tưởng về sự tự trị của mỗi cá nhân sẽ không thể hiểu được, nếu không được đặt vào trong toàn cảnh triết học của ông. Vì thế, ta không thể không nhắc qua hành trình tư tưởng khi giới thiệu đôi nét về cuộc đời.  CHÀNG ĐỘC THÂN “KHÓ TÍNH”?  Kant sinh năm 1724 tại Königberg, thành phố miền Đông Phổ, nay là Kaliningrad thuộc Nga. Thành phố này hầu như bị tàn phá hoàn toàn vào cuối thế chiến 2, kể cả ngôi nhà nơi Kant sinh ra. Nay chỉ còn Bảo tàng Kant trong đại học và ngôi mộ nổi tiếng của ông đàng sau giáo đường đổ nát như là di tích tưởng niệm. Những trang tiểu sử về ông thường cho ta hình ảnh về một cuộc sống học giả khá đơn điệu, buồn tẻ, thiếu vắng những biến cố cá nhân:  –  Xuất thân gia đình nghèo, nhưng may mắn được hưởng nền giáo dục chu đáo. Năm 16 tuổi, vào đại học, sau đó làm gia sư kèm trẻ. Tốt nghiệp, được làm giảng viên không lương, phải độ nhật nhờ chân phó thủ thư thư viện hoàng gia. Mãi đến năm 46 tuổi mới ổn định cuộc sống nhờ được bổ nhiệm làm giáo sư thực thụ. Từ đó, ông chỉ giảng dạy, viết sách (có lúc làm viện trưởng đại học) và mất năm 1804 với câu nói an nhiên lúc lâm chung giống như Nguyễn Du của chúng ta: “Thế là tốt!”.  –  Sinh ra, ăn học, làm thầy giáo và qua đời tại thành phố quê hương, không đến nơi nào khác, dù có nhiều lời mời. Sinh hoạt trọn đời theo một “thời khóa biểu” nghiêm ngặt của đời sống độc thân: dậy thật sớm, giảng bài cũng rất sớm để có thời gian viết sách. Đúng 4 giờ chiều, đi dạo, một mình, trên cùng một con đường. Dân thành phố cứ chờ ông ra khỏi nhà đi dạo để lên dây cót đồng hồ! (Chỉ hai lần ông trễ giờ: nhận được quyển Émile của Rousseau và nghe tin Cách mạng Pháp bùng nổ).  Hình ảnh khá buồn tẻ và nghiêm nghị này thật ra chỉ đúng một nửa! Kant suốt đời không ra khỏi thành phố quê hương và từ chối ghế giáo sư ở nhiều đại học khác còn có lý do khách quan: thành phố hẻo lánh ngày nay, vào thời Kant, không chỉ là kinh đô của Đông Phổ mà còn là trung tâm văn hóa và trí thức của khu vực nói tiếng Đức, lớn hơn cả Berlin. Quan hệ của Kant với thành phố phong nhã này còn là một quan hệ “thẩm mỹ”, vì ta không quên rằng, bên cạnh một triết gia của lý tính, Kant còn là triết gia về sở thích, về trí tưởng tượng và sự lịch thiệp của đô thị. Điều này thể hiện ngay trong phong cách của ông, trái với hình dung thông thường: ăn mặc sành điệu, thông thạo các môn giải trí, vui vẻ và là khách mời được yêu chuộng trong các “phòng khách văn chương” danh giá nhất.   Ông cố ý chỉ dành buổi sáng cho công việc chữ nghĩa (giảng dạy và viết sách), còn cả buổi chiều để giao du thoải mái với bạn bè: buổi ăn trưa kéo dài, dịp để thưởng thức hương vị của thức ăn và rượu ngon, đàm đạo và cập nhật thông tin trên mọi lĩnh vực. Buổi tối đọc sách văn chương và du ký. Giai thoại cho biết ông am tường đến từng chi tiết những cây cầu trên dòng sông Seine hơn cả dân Paris!  Nhưng, chính đời sống tinh thần phong phú mới thật sự làm nên tên tuổi bất hủ của Kant.   Năm 1783, ông viết: “Chính David Hume [triết gia Anh] đã đánh thức tôi khỏi giấc ngủ giáo điều”. Vì Hume là nhà hoài nghi, và, hoài nghi là khởi điểm của mọi sự phê phán. Ngoài Hume, còn có J. J. Rousseau và Pierre Bayles. Sự “thức tỉnh” của Kant, dưới ảnh hưởng của ba tác giả trên, bắt đầu từ 1760 và đã chuyển sự quan tâm của ông từ lĩnh vực khoa học tự nhiên (Kant vốn là nhà thiên văn học và toán học có tiếng) sang triết học và việc phê phán năng lực nhận thức nói chung. Sự hoài nghi không tự dưng mà có, nó cũng cần một cơ hội bên ngoài, thường là nỗi thất vọng lớn hay một thảm họa. Ngày 1.11.1755, một trận động đất đã tàn phá thành phố Lissabon (Bồ đào nha), một trong những trung tâm thương mãi lớn của châu Âu thời bấy giờ. 30.000 người mất mạng. Giống như nhiều thảm họa “phi lý” về sau, trận động đất Lissabon đánh một đòn mạnh vào phong trào Khai minh và lòng tự tin của châu Âu thế kỷ 18. Người ta gọi đó là “cái chết của lòng lạc quan”. Từ đó nảy sinh một cách tiếp cận khác, một “diễn ngôn” mới: từ nay cần nghiên cứu thảm họa và nguy cơ: thay vì chỉ bàn về tội lỗi và trừng phạt, nghiên cứu về địa chất và địa tầng thay vì chỉ nói về cơn đại hồng thủy thần thoại. Nói cách khác, khai minh cần đi vào chiều sâu với tư duy và tri thức khoa học vững vàng.  TINH THẦN SOCRATES  Đối thủ chính yếu của Kant là cả hai phía cực đoan: thuyết duy lý giáo điều (tưởng rằng có thể dùng lý trí để giải thích mọi việc, kể cả cái siêu nhiên, vô hình) và thuyết hoài nghi giáo điều (không còn tin tưởng vào năng lực giải thích nào hết).  Kant cho rằng mục tiêu và phương pháp của thuyết hoài nghi giáo điều không thể bẻ gãy được thuyết duy lý giáo điều! Trái lại, theo ông, vấn đề là làm thế nào để ngay trong sự hoài nghi triệt để, vẫn có thể xây dựng được tri thức vững chắc. Nghi ngờ cách lý giải giáo điều của thần học, vẫn có chỗ dành cho đức tin; nghi ngờ sự “toàn tri” của giáo hội, vẫn có thể bàn về luân lý, đạo đức. Ở phương diện này, có thể so sánh Kant với Socrates cổ đại, một sự tương đồng mang ý nghĩa giáo dục và sư phạm học sâu sắc. Thời Socrates, đã từng có những nhà biện sĩ tài ba phá đổ tất cả, và Socrates là người đã nỗ lực đi tìm tri thức có giá trị phổ quát và cả những quy phạm không kém phổ quát cho hành động đạo đức. Một tình thế mới kiểu Socrates đang đặt ra cho Kant: vừa phải phá hủy, vừa phải cứu vãn để đưa khoa học tiến bước vững chắc lên một cấp độ mới mẻ.  Kant thừa biết đây là công cuộc suy tưởng hết sức nặng nề và phức tạp. Âm thầm ôm ấp mối hoài nghi từ năm 36 tuổi (1760), mãi hai mươi năm sau (1781), ông mới giải đáp được câu hỏi đầu tiên: “Tôi có thể biết gì?” bằng kiệt tác “Phê phán lý tính thuần túy”. Và rồi còn ba câu hỏi lớn khác nữa cần được lần lượt giải đáp: “Tôi phải làm gì?”; “Tôi được phép hy vọng gì?”, và, sau cùng quy về câu hỏi: “Con người là gì?”.  Bốn câu hỏi nổi tiếng ấy của Kant sẽ là cái giá đỡ và nguồn dưỡng chất cho tư tưởng giáo dục và phương pháp giáo dục “khai minh” đúng theo nghĩa đen của từ này.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 16, 15.05.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kant và bốn trách vụ giáo dục      Kant phân biệt bốn trách vụ và cũng là bốn  hình thức của giáo dục: kỷ luật hóa, văn hóa hóa, văn minh hóa và đạo  đức hóa. Quan niệm khá phong phú ngày nay về các “loại hình tư duy”  trong giáo dục từ kỹ năng đến phê phán, sáng tạo và ý thức trách nhiệm  đều bắt nguồn ít hay nhiều từ cách phân loại này của Kant.     Ngay sau Thế chiến 2, để góp phần xây dựng lại nền đại học Đức đã bị chế độ độc tài toàn trị của chủ nghĩa quốc xã tàn phá, Karl Jaspers nêu những ý tưởng của mình trong quyển sách nổi tiếng với nhan đề “Ý niệm đại học” (bản tiếng Việt của Hà Vũ Trọng và Mai Sơn, Ban Tu thư ĐH Hoa Sen, 2013). Ông đã sử dụng lại thuật ngữ “Ý niệm” theo nghĩa của Kant như là “linh hồn”, “ngôi sao Bắc đẩu dẫn đường” nay cần khôi phục lại sau khi đã bị làm cho lu mờ, biến dạng (sự độc lập tư duy và khách quan khoa học). Ta đã biết rằng, với Kant, “ý niệm giáo dục”, theo nghĩa trọn vẹn nhất, là “phát huy tối đa mọi tố chất và tiềm năng của con người”. Nay, trong phạm vi đại học, theo Jaspers, ý niệm đại học là phát huy tối đa “lòng hiếu tri nguyên thủy”. Lòng hiếu tri thông thường thỏa mãn và dừng lại khi mục đích nào đó đã đạt được. Ngược lại, “lòng hiếu tri nguyên thủy” thì vô hạn, vô vị lợi, không bao giờ thỏa mãn hay kết thức. Nó là chân trời vẫy gọi, là lẽ sống và sức sống dào dạt của đời sống đại học. Mọi mục đích khác, dù chình đáng (đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cấp cao cho kinh tế, xã hội…) phải đặt dưới “ý niệm đại học”, nếu không, đại học sẽ thoái hóa và sa đọa.  Nhờ tiếp thu Kant, Jaspers đã góp phần cứu vãn và tái tạo nền đại học hiện đại. Về phần mình, Kant hiểu “ý niệm giáo dục” trong chân trời còn rộng lớn hơn nữa, khi kết hợp với hai “ý niệm” khác: ý niệm (về) tự do và ý niệm (về) nhân loại trên quy mô “toàn hoàn vũ”.  NỀN GIÁO DỤC THIỆN HẢO  “Nền giáo dục thiện hảo là nguồn suối cho mọi điều thiện hảo trên đời này” (Về giáo dục, 1803). Từ đó dẫn Kant đến đại nguyên lý về giáo dục: “trẻ em không phải chỉ được dạy dỗ để đạt tới được cấp độ hiện tại, mà còn hướng đến cấp độ cao hơn trong tương lai của loài người, hay nói cách khác, phải lưu tâm đến ý niệm về nhân loại và vận mệnh chung của con người”.  Một trong những phản bác của Kant đối với nền giáo dục đương thời, chẳng hạn trong gia đình, là chỉ lo “trang bị” kiến thức cho con cái để “thích ứng với ngày hôm nay, cho dù nó tệ hại đến đâu”. Trong khi đó, nền giáo dục thiện hảo đúng ra phải góp phần thăng tiến và cải thiện thế giới nói chung. Tất nhiên, đó là nhiệm vụ của nhiều thế hệ nối tiếp nhau, và mỗi thế hệ tiến bước trên con đường hoàn thiện, “hướng tới sự phát triển cân đối hơn” mọi thiên hướng tự nhiên. Hạnh phúc và bất hạnh tùy thuộc vào chính mỗi cá nhân trên chiều hướng chung ấy. “Vì thế, giáo dục là vấn đề lớn nhất và khó khăn nhất mà con người phải đương đầu, bởi sự thông sáng tùy thuộc vào giáo dục, và giáo dục, đến lượt nó, tùy thuộc vào sự thông sáng, thức tỉnh”. Kant xem hoạt động giáo dục là sinh hoạt văn hóa nền tảng, hiểu như sự phản tỉnh về toàn bộ thân phận con người, qua đó, xác lập mối quan hệ trực tiếp giữa giáo dục và sinh hoạt chính trị: “Hai phát minh của con người phải được xem là khó khăn nhất: đó là nghệ thuật quản trị nhà nước và nghệ thuật giáo dục”.   BỐN TRÁCH VỤ GIÁO DỤC  Kant phân biệt bốn trách vụ và cũng là bốn hình thức của giáo dục: kỷ luật hóa, văn hóa hóa, văn minh hóa và đạo đức hóa. Quan niệm khá phong phú ngày nay về các “loại hình tư duy” trong giáo dục từ kỹ năng đến phê phán, sáng tạo và ý thức trách nhiệm đều bắt nguồn ít hay nhiều từ cách phân loại này của Kant.   “Kỷ luật hóa” nói đền sự rèn luyện và chăm sóc thân thể, nhất là cho lứa tuổi nhỏ, nhưng luôn gắn liền với viễn cảnh một sinh thể tự trị, vì thế phải luôn có mặt ý niệm về tự do.  “Văn hóa hóa” là các kỹ năng văn hóa (nói, đọc, viết, cư xử…), nơi đó việc học không mang tính máy móc, trái lại từ sự thông sáng, thức nhận. Những kỹ năng văn hóa cơ bản ấy cũng phải đặt trong viễn cảnh của “chân trời văn hóa, giá trị và quy phạm mang tính nhân cách”.  “Văn minh hóa” là tiếp thu những thái độ, cung cách, giá trị, quy tắc luân lý để có năng lực hoạt động xã hội. Nó cũng giúp rèn tập hành vi chính trị và xã hội với ý thức trách nhiệm cá nhân, do đó, không đơn thuần là việc xã hội hóa.  Và, sau cùng là “đạo đức hóa” (đạt tới từng bước trong tương lai) nói lên sự đào luyện nhân cách của mỗi cá nhân, nhất là vun bồi năng lực “phán đoán đạo đức” về người và việc. Đây là mục tiêu và ý niệm về nền “đạo dức học tự trị”, tức của hành động được hướng dẫn một cách tự giác bằng nguyên tắc đạo đức.  Kant đủ thực tế để cho rằng thời đại của ông chỉ mới thực hiện được ba trách vụ đầu tiên, còn trách vụ thứ tư thì “còn rất xa vời”! Hơn hai trăm năm sau Kant, tương lai ấy còn mù mịt hơn nữa! Tuy nhiên, trong “Nhân học dưới giác độ thực tiễn”, Kant tỏ ra rất trải đời và không bi quan: trong thời kỳ “văn minh hóa”, “ngay cả việc con người đóng trò với vẻ ngoài đức hạnh giả tạo, thì với thời gian, đức hạnh sẽ dần dần thực sự đánh thức con người và họ sẽ đi đến được sự xác tín nội tâm”. Triết học giáo dục của Kant chia sẻ niềm tin lạc quan vào sự tiến bộ của cả thời Khai minh trên cả ba bình diện: bình diện cá nhân là sự tự hình thành nhân cách trong suốt cuộc đời; bình diện xã hội trong sự tiếp nối của các thế hệ; và bình diện nhân loại “trong diễn trình lịch sử”.  CON NGƯỜI: SINH THỂ MỞ NGỎ  Hai đặc điểm khác trong quan niệm giáo dục của Kant: con người là sinh thể mở ngỏ và tính “biện chứng” của giáo dục. “Tính bản nhiên của con người là thiện hay ác? Không phải cả hai, vì, từ bản tính, con người vốn không phải là sinh thể đạo đức”. “Vì thế, con người chỉ trở thành tốt nhờ đức hạnh, tức từ sự tự cưỡng chế trong khuôn khổ nghĩa vụ với chính mình và với người khác”. Vậy, chính quan hệ “biện chứng” giữa tính mở ngỏ của bản tính con người và sự bó buộc của năng lực văn hóa là không gian và cơ sở cho hoạt động giáo dục. Giáo dục, theo Kant, vừa phải góp phần phát triển và hoàn thiện cá nhân, vừa phải góp phần duy trì và hoàn thiện văn hóa lẫn xã hội.  Tuy nhiên, cả hai thống nhất trong “ý niệm nhân loại”. “Nghĩa vụ với bản thân chính là ở chỗ con người bảo tồn phẩm giá của nhân loại ở trong nhân cách của mình”. Đồng thời, “nghĩa vụ với người khác là tôn trọng và hành động phù hợp với nhân quyền”. Cao điểm của giáo dục là sự hợp nhất giữa nghĩa vụ, sự tuân thủ và lý trí tự do: “chọn lựa hành động theo nghĩa vụ là tuân theo sự chỉ bảo của lý tính”.  Tự do và nghĩa vụ là hai mặt của một đồng tiền. Ta không thể đi xa hơn vào triết thuyết giáo dục của Kant nếu không dừng lại đôi chút để tìm hiểu tư tưởng đạo đức học của ông.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 18, 29.05.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kant với vấn đề giáo dục      B&#224;i viết nhằm giới thiệu một số &#253; kiến của triết gia thời Khai s&#225;ng, I. Kant, về vấn đề gi&#225;o dục m&#224; kh&#244;ng đưa ra ph&#234; ph&#225;n hay hệ thống ho&#225;, c&#243; mục đ&#237;ch cung cấp t&#224;i liệu tham khảo để thảo luận hay suy nghĩ tiếp.     Giáo dục (Erziehung) hay đào tạo (Bildung) là khái niệm trưởng cho những phân loại những chiều kích khác nhau trong lý thuyết GD của Kant. Về tính cách sư phạm, Kant phân biệt GD tiêu cực trong nghĩa nghiêm khắc, kỷ luật, kỷ cương trên bình diện sinh vật lý và GD tích cực trong nghĩa chăm sóc, trau dồi, đào tạo văn hóa, vun trồng văn minh, huấn luyện đạo đức. Về cấu trúc GD, thoạt tiên khái niệm GD của Kant bao gồm 3 chiều kích: nuôi nấng (Wartung), kỷ luật (Disziplin) và giáo huấn (Unterweisung). Ba chiều kích này Kant xếp vào lãnh vực GD thể dục (physische Erziehung). Sau đó khái niệm GD lại được phân biệt rõ hơn bao gồm:   Kỷ luật (Disziplin), Văn hoá (Kulturalisierung), văn minh hoá (Zivilisierung), đạo đức hoá (Moralisierung). Trong ba khái niệm sau được xếp vào nguyên tắc trau dồi tính khéo léo, khôn ngoan và đức hạnh. Trong 3 nguyên lý này lý tính về kỹ thuật thực hành, thực tiễn thực hành và đức lý thực hành được thực hiện. GD như thế phải có khả năng thực hiện tất cả những cách thế hiện tượng của lý trí thực tiễn.  Theo Kant GD kỷ luật làm nảy sinh ý thức về qui luật, về nguyên tắc và hướng dẫn người học biết tư duy và vào trong lãnh vực liên chủ thể, biết tôn trọng tha nhân như là chủ thể giống mình. GD kỷ luật tạo nên trong ý thức của người học cơ sở lý trí (thay đổi thú tính), trong lúc GD văn hoá giúp sự vun trồng tự ngã, bản ngã cũng như đào tạo một chân trời qui tắc về hành xử trong cuộc sống cho cá nhân và từ đó lý tính văn hóa liên hệ đến chủ thể đặc thù được phát sinh. GD văn hoá nhào nặn con người trở nên một chủ thể có bề dày kiến thức về văn hóa và tinh thần. GD văn minh kiện toàn tri thức và giá trị của một chủ thể văn hoá nằm trong xã hội, làm thế nào để chủ thể này là một phần tử con người trong tôn trọng người khác. GD văn minh đào tạo con người trở nên một công dân hoàn vũ. Nhưng theo Kant tất cả ba chiều kích này cần được xây dựng trên nền tảng đạo đức như là mục đích của GD: nền tảng này theo Kant làm nền móng cho giá trị con người trong quá trình “thành nhân”: đó là tự chủ và tự do trong sáng tạo và ngay chính trong hành động đạo đức.  Khái niệm về “con người” được xem là một thực thể khác với những sinh vật khác ở điểm nó có lý trí nhưng đồng thời cũng mang thú tính tự nhiên. Con vật sống theo bản năng và tùy thuộc vào sự chỉ định của thế lực bên ngoài. Con người cũng là con thú nhưng là con thú có lý trí tự chủ, từ tình trạng sơ sinh lệ thuộc vào người khác (như con thú, nhưng con thú có bản năng tự vệ tự nhiên bẩm sinh) con người có thể được hướng dẫn trở thành độc lập và tự chủ. Giáo dục con người chính là để giảm thiểu, kiểm soát thú tính và làm nảy nở phát triển lý tính của con người trong viễn tượng sống chung với loài người: “con người chỉ là người khi được giáo dục”.  Lý thuyết GD của Kant di chuyển trong sự căng thẳng của cặp mâu thuẫn nằm chính trong định nghĩa con người: thú tính – nhân tính, tự chủ (Autonomie) – ngoại thuộc (Heteronomie), kỷ luật cứng rắn (bắt buộc) – giải phóng tự do (Freiheit), tùy thuộc – độc lập, cá thể – hợp quần.   Kant cho rằng một nền GD thành công là phải làm thế nào luyện tập con người trong kỷ cương, tuân thủ tuyệt đối, khéo léo tài tình trong mọi ứng xử bên ngoài, đồng thời chính từ kỷ cương ấy con người có thể phát triển nội lực tự chủ, sức mạnh giải phóng và ý chí tự do, và nhất là cảm nghiệm đạo đức làm người.           Nhìn chung, nền tảng dự án GD của Kant là nền tảng nhân bản cho rằng con người được có thiên chức làm người trong xã hội con người. Đối tượng của GD không phải là một con người cô lập, mà là một cá nhân trong xã hội trên bình diện không gian, một công dân của thế giới hoàn vũ, trên bình diện thời gian nó là mắt xích của lịch sử, thừa hưởng di sản thế hệ đi trước và có trách nhiệm đối với người đi sau. Trách nhiệm đối với người đi trước là “học làm người” và trách nhiệm với người đi sau là “giáo hóa” thế hệ trẻ trong viễn tượng “thành người” trong thế giới nhân bản tương lai.           Nhìn từ tương quan mâu thuẫn ấy, GD của Kant mang đặc tính siêu việt, không thuộc bình diện thực nghiệm của lý thuyết sinh lý học về con người như một tiền định, cũng không duy lý cực đoan cho rằng con người không lệ thuộc thú tính. Siêu việt tính trong lý thuyết GD của Kant chính nằm trong ý niệm lý tính là đặc điểm nền tảng nhân bản của mỗi người. Tính nhân bản ấy theo Kant là mầm mống nền tảng từ khi con người sinh ra, chỉ cần khai phóng và giáo hóa, thay đổi sự thô thiển – đó là thú tính – để lấy chất sáng của ngọc ẩn núp trong đá thô kệch bằng điều tiết và hướng dẫn, dạy bảo. Lý tính chính là sự tiến bộ của con người trong ý nghĩa khai sáng trí tuệ và trưởng thành (Mündigkeit) trong hành động qua sự đào luyện của GD.  Từ quan điểm ấy, một nền GD toàn diện không phải bắt đầu từ đại học mà bắt đầu từ sự nuôi nấng dạy bảo trẻ em, ngay cả trẻ sơ sinh: nớm bú cũng là một khía cạnh GD trong nghĩa nhân bản. Ở đây Kant ủng hộ phương pháp rèn luyện cứng rắn và chống lại mọi cách làm mềm yếu trẻ con. Kant lập luận sự nuôi dưỡng không ở trên bình diện sinh lý hay y lý, mà ngay chính ở đây đã thấy ý niệm nhân bản về giáo dục của ông. Theo đó sự săn sóc trẻ sơ sinh phải được kiện toàn theo những tiêu chuẩn giáo dục nâng cao phẩm chất con người.  Bên trên lập luận theo tự nhiên của Rousseau về tương quan săn sóc trẻ con, còn có sự đòi hỏi về đức lý trong nghĩa tuyệt đối, phải để cho trẻ sơ sinh nhận được những giúp đỡ đầy đủ mọi mặt về tinh thần trong đó có tình thương. Ngay ở trong lãnh vực nuôi dưỡng, phải đưa vào những cách ứng xử sửa soạn tính tự do và đồng thời hợp lý sư phạm chỉ dạy trẻ con.  Như thế Kant đã hội nhập ý niệm về sự trưởng thành (Mündigkeit) ngay ở giai đoạn này. Ngoài ra ông từ chối sự phân chia cách biệt giữa GD và nuôi nấng. Hơn thế nữa ông còn công nhận nơi đứa trẻ sơ sinh giá trị chủ thể (Subjektwertigkeit). Chính từ giá trị chủ thể của đứa trẻ, những khả thể cốt tủy nhân bản của con người được thực hiện qua nuôi nấng và giáo dục:  “Phương pháp sư phạm đúng đắn là phương pháp đào tạo trước hết người hiểu biết, rồi đến người có lý trí, rồi đến người uyên bác…”. Người trẻ tuổi “không nên học những ý tưởng mà nên học biết tư duy; ta không nên cõng nó trên lưng mà dẫn dắt nó, nếu ta muốn rằng trong tương lai nó nên tự đi lấy một mình”.  Với Kant: “Người ta không thể làm cho con người hạnh phúc, nếu không làm cho con người trở nên đạo hạnh và khôn ngoan”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Karl Jaspers: Thắp sáng niềm tin      Hiện hữu và hiện sinh gắn bó với nhau, nhưng  không hòa làm một, cũng không hoàn tách rời nhau. Phủ nhận hiện sinh  siêu việt, ta rơi vào thuyết duy vật chất tầm thường; xem nhẹ hay bỏ qua  hiện hữu, ta rơi vào thuyết hư vô.       “Hiện hữu” khác với “hiện sinh”! Có lẽ đó là  điểm cốt lõi trong triết học của Karl Jaspers (1883-1969) và cũng là  định hướng cho triết thuyết giáo dục của ông. Giáo dục, dù trong nghĩa trọn vẹn nhất, vẫn chỉ mới là điều kiện cần để thỏa ứng các nhu cầu của cuộc “hiện hữu”, nhưng chưa phải là điều kiện đủ để sống đích thực theo nghĩa “hiện sinh”. Sống “hiện sinh” đòi hỏi một kích thước khác, một nỗ lực cá nhân có tính đột phá, được ông gọi là “thắp sáng hiện sinh” (Existenzerhellung). Tư tưởng cốt lõi này đi theo ông cả khi nhận trọng trách khôi phục lại nền đại học Đức sau thời Quốc xã trong tác phẩm thời danh Ý niệm Đại học (Hà Vũ Trọng và Mai Sơn dịch, Ban tu thư Đại học Hoa Sen, 2013).  “Hiện hữu” và “hiện sinh”  Con người “ham thích” những hiện tượng sặc sỡ muôn màu, sự an toàn và những gì tưởng như hiển nhiên. Jaspers gọi đó là sự “thích khoái hiện hữu”. Nhưng nếu sự thích khoái ấy trở thành động lực tuyệt đối, nó sẽ hủy hoại con người. May thay, bên cạnh sự thích khoái tự nhiên ấy, “tôi luôn lắng nghe tiếng gọi từ sự hiện sinh”. Bởi, theo ông, cho dù tôi đắm mình bao nhiêu trong thế giới của sự hiện hữu đi nữa (nhìn ngắm, suy nghĩ, yêu ghét, hành động, sản xuất, tác tạo…), tôi vẫn đồng thời nhận ra rằng có một điều gì khác với hiện tượng – tạm gọi là cái siêu việt – luôn nhắc nhở và tỏ lộ với tôi. Vâng, chính “hiện sinh” là yếu tố vừa gây bất an, vừa trấn an tôi, nâng tôi lên khỏi thế giới và cuộc sống thường ngày, thế nhưng tôi khó biết nó thật sự là gì! Dù sao, chính sự “bất an” và “bất mãn” với hiện hữu ấy lại là biểu hiện cho khả thể của “hiện sinh”. Sự bất mãn và bất an là mũi gai châm vào sự hiện hữu, giúp tôi cảm nhận sự “sự cô đơn của khả thể”. Hiện sinh xuyên phá hiện hữu từng phút từng giờ, và, việc nhận ra sự xuyên phá này được Jaspers gọi là “thắp sáng hiện sinh”.  Xuyên phá, xuyên thủng, đột phá là ẩn dụ về không gian, thiết yếu gắn liền với một ranh giới. Trong những hoàn cảnh nhất định nào đó, những ranh giới của hiện hữu bị tinh thần ta “xuyên phá”. Thế nhưng, xuyên phá không phải để dẫn ta sang một thế giới khác, mà ở ngay trong thế giới này, trong cuộc đời này. Đây không phải là một sự mở rộng hay chiếm lĩnh kiến thức, mà để cảm nhận vể những khả thể đi tới chân lý, về việc “tôi có thể thay đổi, tôi “trở thành”. Nói khác đi, “hiện sinh”: – không phải là một đối tượng để nắm bắt, – không phải là một lý tưởng tinh thần để vươn tới. Trái lại, thắp sáng hiện sinh chỉ ra sự “có thật” của hiện sinh, sự vượt lên để trở về với chính mình, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.  Jaspers biết rằng cách nói ấy khá mơ hồ, khả nghi, có vẻ “chủ quan” và trái tai với những ai quen suy nghĩ một cách “khoa học”! Nhưng ông tin rằng, bất kỳ ai thật sự suy tư thấu đáo về chính mình và về “thân phận” mình, không bị đóng khung trong lối suy tư công thức và đồng phục, ắt sẽ nhận ngay ra rằng đây quả nhiên là câu hỏi về khả thể của sự thực hành tự do của chính ta. Hiện sinh là hành động; thắp sáng hiện sinh là kinh nghiệm và suy tư về khả thể quyết định và hành động một cách tự do. Thắp sáng hiện sinh giúp ta cảm nhận được sự tự do, nhưng cũng chính vì thế mà chưa phải là sự tự do! Tự do sẽ không có mặt nếu không sử dụng nó. Nếu triết lý “suông” không mang lại gì, thì triết lý thắp sáng hiện sinh lại có tác động. Sự thắp sáng ấy – trong tư duy siêu việt lên khỏi thực tại – cho ta biết những gì có thể có tử sự tự do, trong chừng mực ấy, cũng đã biểu lộ “ý chí tự do”. Dù hiện sinh là một phương diện khó mô tả chính xác, khó giới ước một cách khu biệt, nhưng có thể “trải nghiệm” được, thậm chí có thể sống thực với nó được, và, nhất là, nếu được thắp sáng bằng triết học, nó có thể “truyền thông” hay “giao tiếp” với bao người khác nữa.  Hiện sinh, theo cách hiểu ấy, là: – kinh nghiệm về tự do, khẳng định phẩm giá và bản sắc con người; – là kinh nghiệm về vô vàn những khả thể để tự kiến tạo cuộc đời mình theo phong cách riêng; – là kinh nghiệm thấm thía về sự cô đơn và cô độc!  Trong khi đó, “hiện hữu” phản ánh kích thước thời gian và vật lý của đời người, ít nhiều mang tính “khách quan”, có thể mô tả được và có thể trở thành đối tượng của nghiên cứu lý thuyết. Hiện hữu và hiện sinh gắn bó với nhau, nhưng không hòa làm một, cũng không hoàn tách rời nhau. Phủ nhận hiện sinh siêu việt, ta rơi vào thuyết duy vật chất tầm thường; xem nhẹ hay bỏ qua hiện hữu, ta rơi vào thuyết hư vô. Nói như Jaspers, chúng là “đôi cánh” của đời người. Và vấn đề là phải biết giữ cho đôi cánh ấy được cân bằng, tránh cả hai cực đoan. Mượn ngôn ngữ triết học truyền thống, ông bảo chính “lý tính” có chức năng thắp sáng hiện sinh, biết thoát ly và phản tỉnh về sự hiện hữu, còn “giác tính” giúp ta giải quyết phương diện thực tiễn của cuộc sống. Giác tính thỏa mãn, khi có thể giải quyết những bài toán đời thường; còn lý tính thúc dục ta tiếp tục tra hỏi.  “Những hoàn cảnh ranh giới”   Cái gì thúc đẩy ta “thắp sáng hiện sinh”? Đó chính là những “hoàn cảnh ranh giới” đẩy ta ra khỏi giấc ngủ êm đềm của “giường chiếu hẹp”, đặt ta vào chân tường để phải tỉnh thức, lựa chọn và quyết định. Trải nghiệm hoàn cảnh ranh giới và thắp sáng hiện sinh là đồng nghĩa với nhau. Jaspers dành nhiều trang tuyệt đẹp để mô tả, phân tích những hoàn cảnh ranh giới ấy, từ cảm nhận về cái chết – như là “việc tôi thu phục đời mình trong nỗi cô đơn tuyệt đối” – cho tới cảm nhận về tội lỗi, hạnh phúc, khổ đau, bệnh tật, xung đột…  Tự do là cốt lõi của đời người, là việc chọn lựa và năng lực chọn lựa (không chỉ đối với triết học hiện sinh mà còn với toàn bộ đạo đức học). Hiện sinh là ý thức rằng mình tự do. Mỗi khi hành động, tôi nhận ra rằng: – tôi lựa chọn, tôi quyết định, tức tôi tự do; – tôi chấp nhận rủi ro, vì không lường hết hậu quả; – tôi gắn mình với một giá trị; – tôi chịu trách nhiệm và có thể phạm vào “tội lỗi”.  Tôi có thể “trốn chạy trước tự do” bằng nhiều cách: làm đà điểu vùi đầu vào cát, tìm sự an ủi nơi các thế lực siêu nhiên, hay bi quan, yếm thế v.v.. Triết thuyết hiện sinh, nhất là phiên bản của Jaspers, chủ trương ngược lại: “Ta trở thành chính ta, khi mở trừng mắt trước những hoàn cảnh ranh giới!”.  “Cuộc chiến đấu yêu thương”  “Trong cuộc đấu tranh sinh tồn của sự hiện hữu, mọi vũ khí đều được huy động, mọi âm mưu, thủ đoạn đều được tận dụng để chống lại kẻ thù, thì cuộc đấu tranh vì lẽ hiện sinh là cái gì hoàn toàn khác: đó là sự cởi mở tận cùng, là loại bỏ hết mọi thứ quyền lực và ưu thế, là xem cuộc hiện sinh của người khác như của chính ta”. (K.Jaspers, Triết học, II, 1948).  Có phần khác với tư tưởng “hiện sinh” của Sartre và Heidegger, triết hiện sinh của Jaspers chủ yếu có tính “giao tiếp liên chủ thể”. Thắp sáng hiện sinh là truyền thông, là khai minh và khai phóng, một triết thuyết mang đậm giá trị và tinh thần giáo dục.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 39, 23. 07.2015)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khác biệt hóa trong giáo dục      Khác biệt hóa trong giáo dục (différenciation pédagogique) hay giáo dục khác biệt hóa (la pédagogie différenciée) là một hình thức giảng dạy dựa trên bản chất duy biệt của học sinh*. Câu hỏi khó đặt ra là làm thế nào để có thể tổ chức được trong bối cảnh Việt Nam, với những lớp học có khi và có nơi trên 50 học sinh? Bài viết này xin thử đưa ra một vài phác thảo mang tính giải pháp.       “Học thầy không tày học bạn” – trẻ có thể học được rất nhiều nếu có thể đóng vai trò “phụ giáo”. Trong ảnh, học sinh cùng tìm hiểu và giảng giải về ý nghĩa của các hiện vật trong Khu di tích Văn miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: Ban quản lý khu di tích Văn miếu – Quốc tử giám.    Khái niệm khác biệt hóa  Trước hết, chúng ta cần hiểu khác biệt hóa trong giáo dục không phải là cá nhân hóa kiểu một thầy một trò, thầy kèm riêng cho từng cá nhân, được tổ chức giống nhau mọi nơi và với tất cả các loại hình kiến thức. Hình thức giảng dạy như vậy là một loại hình “đồng phục” khác, bất khả thi và cũng không cần thiết. Bất kỳ hình thức cố định cứng nhắc nào trong giáo dục, kể cả khác biết hóa, cũng có nguy cơ cản trở các loại hình khác và ngăn cản sự sáng tạo và không phù hợp với bản chất duy biệt của người học.   Khác biệt hóa là một hình thức tổ chức giảng dạy dựa trên sự duy biệt và nhu cầu của từng học sinh. Nó phải linh động để có thể thích ứng với từng học sinh, từng nội dung giáo dục và hoàn cảnh của từng địa phương và trường học. Có những học sinh cần sự kèm cặp đặc biệt (những học sinh gặp khó khăn trong học tập, những học sinh có các vấn đề về tâm thể lý cần được kèm cặp riêng bởi các giáo viên được đào tạo đặc biệt…), nhưng cũng có những học sinh không cần giáo viên kèm riêng, thậm chí không cần giáo viên giảng bài theo kiểu truyền thống mới có thể hiểu bài, mà chỉ cần giáo viên hướng dẫn thì cũng có thể tự học, tự tìm tòi kiến thức. Việc học từ xa của đa số học sinh trên thế giới trong thời gian vừa qua bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19 là một minh chứng về khả năng tự học của các em. Cũng vậy, sẽ có những kiến thức, những hoạt động giáo dục thích hợp với từng nhóm nhỏ như các kiến thức cần thí nghiệm, các kỹ năng cần thực hành, nhưng cũng có những loại thông tin, kiến thức có thể truyền thụ trong các hội trường lớn, tập trung hàng trăm, thậm chí hàng ngàn học sinh.      Khác biệt hóa là một hình thức tổ chức giảng dạy dựa trên sự duy biệt và nhu cầu của từng học sinh. Nó phải linh động để có thể thích ứng với từng học sinh, từng nội dung giáo dục và hoàn cảnh của từng địa phương và trường học.      Cách đây mấy năm, chúng tôi đã quan sát giáo dục Phần Lan, đất nước có một nền giáo dục phổ thông nổi bật nhất thế giới nhờ chất lượng của nó (Nguyễn Khánh Trung, 2015), một trong những đặc điểm quan trọng là người Phần Lan áp dụng khác biệt hóa trong giảng dạy một cách nhất quán. Điều này được thể hiện rất rõ trong các văn bản chính thức ở các cấp độ khác nhau cũng như trong các thực hành trong các trường học. Chương trình Cốt lõi quốc gia của Phần Lan nói về điều này như sau:  Khác biệt hóa là phương tiện căn bản nhằm thỏa mãn nhu cầu của các nhóm giảng dạy và sự khác biệt của học sinh thể hiện qua sự hướng dẫn. Chú ý đến những cách học, nhịp độ riêng khác nhau của học sinh, những nhu cầu riêng, những cảm xúc riêng của các em. Trong kế hoạch cũng phải tính đến sự khác biệt, môi trường riêng của học sinh nam, nữ, cá nhân của từng học sinh. Sự khác biệt được sử dụng nhằm gây ảnh hưởng lên động lực học tập của học sinh. Sự khác biệt hóa trong giảng dạy có thể cung cấp cho học sinh những kinh nghiệm, những thử thách của sự thành công, làm cho các em có những cơ hội phát triển và học tập theo thế mạnh của mình.   Ba chiều kích chìa khóa của sự khác biệt hóa là những thay đổi, chiều sâu trong học tập và sự tiến bộ trong học tập. Sự khác biệt có thể tập trung vào các khía cạnh như nội dung giáo dục, giáo cụ và phương pháp áp dụng, cách làm việc, số lượng bài làm ở trường, ở nhà và thời gian có sẵn. Môi trường học tập và phương pháp có thể được điều chỉnh nhằm tạo cơ hội tham gia cho học sinh, cung cấp sự lựa chọn, việc sử dụng không gian, sự linh hoạt của nhóm học sinh… (Chương trình Cốt lõi Quốc gia về Giáo dục cơ bản – phần bổ sung sửa đổi 2011, tr. 5 – 6).  Trích dẫn trên đã trình bày khá rõ các chiều kích của khái niệm khác biệt hóa trong giảng dạy. Hiện nay người Phần Lan cũng đang đổi mới giáo dục và họ càng đẩy mạnh khác biệt hóa trong mọi khía khía cạnh, phòng học được thiết kế theo những không gian mở, tiện nghi, tạo ra nhiều lựa chọn khác nhau cho học sinh trong cách thức học tập dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự duy biệt của học sinh.  Tổ chức giảng dạy  Như vậy, với hình thức khác biệt hóa, một giáo viên vẫn có thể phụ trách nhiều học sinh, nhưng hình thức tổ chức giảng dạy phải thay đổi theo nhu cầu của học sinh và theo tính chất của từng loại hình kiến thức và kỹ năng. Sự thay đổi này phải linh động, trong đó giáo viên phải được trao nhiều quyền và trách nhiệm, để cùng học sinh, tạo ra các hoạt động, thiết kế môi trường sư phạm để thúc đẩy các em tự học, tự nghiên cứu, tự phát triển về mọi mặt theo cách của mình.  Thay vì học theo truyền thống với thời khóa biểu chung và theo từng môn học, giáo sư Giordan đề nghị một thời khóa biểu linh động, cá nhân hóa, dựa trên nhu cầu của từng học sinh với bốn trục chính:  – Thời gian lãnh hội   – Thời gian dành cho những học sinh bắt đầu và những học sinh cần đào sâu  – Thời gian trao đổi  – Thời gian dành cho sự hỗ trợ và kèm cặp (tutorat)  Nhà trường và mỗi học sinh đạt đến mục tiêu của mình xoay quanh bốn trục thời gian này.  Thời lượng linh động tùy theo mỗi hoạt động, có thể chỉ vài phút nếu đó là một ca tư vấn, kéo dài nửa ngày nếu đó là một hội thảo hay một bài tập thực hành (atelier), có thể kéo dài vài ngày nếu đó là thời gian “thực tập” cho một dự án văn hóa hay ngôn ngữ (chẳng hạn như thực hành tiếng Anh với các giáo viên nước ngoài, hay một chuyến “du học” bên ngoài nhà trường).  Các nội dung giảng dạy cần được nghiên cứu và thiết kế thành các hoạt động, chẳng hạn:  – Các bài tập cá nhân có hướng dẫn của giáo viên hay các anh chị lớn hơn trong trường.  – Các seminar chuyên đề  – Các hội thảo  – Các hoạt động thực hành theo nhóm   – Các dự án  – Các buổi trao đổi kiến thức  – Các chủ đề theo tuần  – Họp nhóm lớp hằng tuần với giáo viên chủ nhiệm để nhìn lại, để bổ sung các kế hoạch cá nhân, nhóm… (Giordan, 2018, tr. 116)  Ngoài các hoạt động trên, học sinh có thể tham gia các tổ chức như các câu lạc bộ, các nhóm thiện nguyện để đào sâu một môn học nào đó, một ngôn ngữ nào đó, một kỹ năng nào đó, hay để củng cố văn hóa đọc, rèn luyện kỹ năng hùng biện, hay cùng nhau thực hiện một dự án thú vị nào đó được nhà trường và cộng đồng khuyến khích…       Với hình thức khác biệt hóa, một giáo viên vẫn có thể phụ trách nhiều học sinh, nhưng hình thức tổ chức giảng dạy phải thay đổi theo nhu cầu của học sinh và theo tính chất của từng loại hình kiến thức và kỹ năng.      Tất cả các học sinh theo các hoạt động trên và được quyết định bởi nhóm lớp nơi có giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên phải có khả năng thấu hiểu từng học sinh của mình để hỗ trợ từng em thiết kế nên các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn với các mục tiêu riêng dựa trên nhu cầu của từng em. Như vậy thời gian biểu được cá nhân hóa theo nhu cầu của học sinh. Các đơn vị nhóm lớp không đóng vai trò trung tâm như cách tổ chức giảng dạy truyền thống, mà chỉ là “nhà” với một số hoạt động cơ bản. Học sinh tham gia vào các hoạt động nói trên theo các kế hoạch khác nhau, nghĩa là các em có các bạn khác, các nhóm khác bên ngoài đơn vị lớp mà không nhất thiết là theo từng lứa tuổi.   Các hoạt động nói trên được phụ trách bởi các giáo viên với sự hỗ trợ đắc lực của các “phụ giáo” là chính các học sinh trong trường, với sự hợp tác của các chuyên gia ngoài trường. Đó có thể là chính các phụ huynh có chuyên môn và khả năng, các tình nguyện viên đến từ các hội đoàn, các tổ chức thiện nguyện tại địa phương.  Học thầy không tày học bạn  Người Việt chúng ta có câu “học thầy không tày học bạn”, quả thật trong nhiều trường hợp, sự giúp đỡ của bạn cùng lứa, hay các anh chị lớn hơn cùng trường sẽ hiệu quả hơn so với giáo viên. Vậy nên giáo viên nên kêu gọi các học sinh hỗ trợ mình trong các hoạt động nêu trên. Những học sinh khi được phân công kèm bạn, hay đàn em, sẽ rất hãnh diện, và đây cũng là một cách học, một cách nắm bắt và nhớ bài rất hiệu quả đối với các học sinh đóng vai “phụ giáo” này. Một nghiên cứu đã chỉ ra, khi chúng ta nói lại hay viết lại những gì được học, chúng ta sẽ nhớ được 70% nội dung, khi chúng ta làm những gì được học, chúng ta sẽ nhớ tới 90% nội dung (Bath & Bourke, 2010, tr. 25). Việc kèm bạn là một cơ hội cho các học sinh thực hành cách học chủ động này.  Để kiến thức trở thành cái riêng của từng học sinh, hay nói cách khác để học sinh trở thành “tác giả” của sự học của mình, thì học sinh cần phải đối chiếu quan điểm, sự hiểu biết của mình với thực tế, với người khác, phải chủ động suy nghĩ, có chính kiến, có óc phản biện, có khả năng trình bày và thuyết phục người khác theo quan điểm của mình nếu mình cảm thấy sự hiểu biết của mình là chính xác, nhưng cũng cần có khả năng lắng nghe và thay đổi khi được người khác thuyết phục. Người khác ở đây có thể là giáo viên hay các bạn học khác, người khác ở đây cũng có thể là các tác giả của các tài liệu khoa học, hay các chuyên gia trong các chủ đề mà học sinh đang theo đuổi. Nhà trường cần tạo ra một môi trường với những “người khác” luôn có sẵn như thế để dẫn dắt, thúc đẩy và tạo ra sự thuận tiện cho việc học hỏi của học sinh.  Học nhóm, tham gia các hoạt động là những cơ hội cho học sinh thực hành những điều trên một cách tự nhiên, không cảm thấy bị áp đặt. Các kỹ năng trình bày, lập luận, diễn đạt, phản biện, truy vấn, đối chiếu cần trở thành những nội dung ưu tiên trong mục tiêu giáo dục đối với từng học sinh, cũng có nghĩa là đối với mục tiêu giáo dục của từng trường học và của quốc gia.  Lẽ dĩ nhiên, giáo viên được đào tạo vẫn luôn là quan trọng và đóng vai trò chủ chốt trong các hoạt động giáo dục. Trong hình thức giảng dạy này, giáo viên đóng vai người hướng đạo, những người hiểu biết về trẻ em, về não bộ, về tâm lý, về sự học để có thể hướng dẫn từng học sinh đi trên con đường đúng nhất. Người hướng đạo không chỉ phải thông thạo con đường mình đang hướng dẫn, mà còn phải hiểu biết các con đường gần đó trong khu vực để có thể hỗ trợ học sinh tốt nhất.  Kết luận  Như vậy, khi trong trường tổ chức những môn học xuyên lớp như đã nêu, với sự hỗ trợ của chính các học sinh và trong nhiều trường hợp là của các phụ huynh (những phụ huynh có chuyên môn được mời gọi cộng tác với nhà trường), hay các tình nguyện viên đến từ các đoàn thể và tổ chức thiện nguyện địa phương, khi giáo viên không phải giảng từ đầu đến cuối, thì giáo viên sẽ có nhiều thời gian, nghĩa là áp lực sĩ số học sinh không còn là trở ngại quá lớn trong việc thực hiện khác biệt hóa trong giáo dục (lẽ dĩ nhiên, một lớp học 50 học sinh không bao giờ là lý tưởng). Cũng có nghĩa là, chúng ta vẫn có thể thực hiện khác biệt hóa trong giảng dạy trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.  Chúng ta đang trong tinh thần “Đổi mới căn bản và toàn diện”, các trường và các giáo viên đã được phân quyền nhiều hơn trước đây, tôi nghĩ nếu các giáo viên tận dụng tốt những không gian tự do của mình để thay đổi và làm thật tốt hình thức khác biệt hóa, thì sẽ tạo ra những hiệu ứng tích cực để thúc đẩy sự thay đổi từ dưới lên.  Một hình thức giảng dạy theo tinh thần mà bài viết ngắn này đã phác thảo sẽ tạo ra một môi trường giáo dục phong phú, nhiều lựa chọn, nhiều tương tác và kết nối, là môi trường phù hợp với cơ chế hoạt động của não bộ mà bài viết trước tôi đã đề cập. “Một môi trường ‘phong phú’ liên quan đến những kích thích và các mối tương tác, sẽ là thuận tiện cho việc học. Môi trường tạo thuận lợi cho việc gia tăng độ dày của vỏ não. Các nơ ron lớn lên và tự phân nhánh… (Giordan, 2016, tr. 87).  Xét về mặt xã hội, khác biệt hóa trong giáo dục cũng là một hình thức tạo ra “công bằng cơ hội” ngay trong trường học (công bằng trong giáo dục sẽ tạo ra công bằng xã hội) theo nghĩa các học sinh kém may mắn, gặp nhiều khó khăn sẽ được nâng đỡ và kèm cặp nhiều hơn so với các học sinh khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và trí tuệ.   Đây là hình thức giảng dạy tin vào khả năng tự học và những điều sẵn có của học sinh, phù hợp để giáo dục tính tự chủ, tự tin và các kỹ năng trong học tập, nghiên cứu, cũng như các kỹ năng xã hội, khả năng làm việc, cộng tác, kết nối với người khác, rèn luyện óc phản biện, sáng tạo, những điều làm nên chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.  Đây cũng là hình thức tốt nhất có thể tạo ra động lực bên trong có tính lâu dài nơi học sinh, yếu tố rất quan trọng thúc đẩy các em học sâu và tiến xa trên con đường học tập và phát triển bản thân mà nếu có dịp, tôi sẽ trình bày trong một bài viết khác.   Tài liệu tham khảo  Giordan, A., & Saltet, J. (2018). Changer le collège, c’est possible. Paris: Play Bac  Giordan, A. (2016). Apprendre. Paris: Belin.  Nguyễn Khánh Trung. (2015). Giáo dục Việt Nam và Phần Lan – Một nghiên cứu so sánh điển hình về vai trò các chủ thể tại hai trường tiểu học công lập của hai nước. Hà Nội: Nxb. KHXH.  Bath, D., & Bourke, J. (2010). Getting Started with Blended Learning. Griffith Institute for Higher Education.  —  Chú thích:   *Tác giả đã trình bày trong bài viết “Người học là ai?” đăng trên Tạp chí Tia Sáng (số 13, ngày 5/7/2020).    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Khắc phục tình trạng “cơm chấm cơm”      &nbsp;&#8220;Kh&#225;t nh&#226;n lực giảng dạy&#8221; đang l&#224; vấn đề n&#243;ng bỏng đối với c&#225;c trường đại học của nước ta, đặc biệt đối với những trường tư mới được th&#224;nh lập. Trong nhiều th&#225;ng qua, b&#225;o ch&#237; cả nước li&#234;n tiếp đưa tin về vấn đề n&#224;y. Thống k&#234; cho biết, trong năm học 2007 &#8211; 2008 vừa qua cả nước c&#243; 38.217 giảng vi&#234;n ở tr&#236;nh độ đại học nhưng chỉ c&#243; 5.643 (chiếm 14,77 %) l&#224; c&#243; tr&#236;nh độ tiến sỹ.     Các nhà báo hài hước gọi đó là hiện tượng “cơm chấm cơm” (cử nhân dạy cử nhân, thạc sỹ dạy thạc sỹ) và Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyên bố sẽ chấm dứt tình trạng này. Nhiều ý kiến cũng cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chuẩn hóa học vị của giảng viên đại học phải từ trình độ tiến sỹ trở lên.  Nhưng thực tế cho thấy, công tác tuyển dụng giảng viên có học vị cao của các trường đại học trên toàn quốc đang gặp rất nhiều khó khăn; cộng thêm việc chảy máu chất xám, giảng viên bỏ nghề ra ngoài làm, dẫn đến thực trạng, nhiều trường tư mới thành lập “lấp liếm” bằng cách mượn tên những người có học vị tiến sỹ hoặc nhiều tiến sỹ “chạy sô” dạy cho 2,3 trường cùng một lúc.   Giải pháp cho vấn đề này, nhiều trường thực hiện chính sách “nâng cao nội lực” bằng cách cử giảng viên đi học ở các bậc cao hơn, cả trong nước lẫn ngoài nước. Lại có trường bố trí việc làm cho cả… vợ hoặc chồng trong trường hợp chồng hoặc vợ người đó có học vị cao… Nhưng cho đến nay, tình hình dường như vẫn chưa được cải thiện.  Mặt khác, chúng ta lại cũng đang kêu gọi các trường đại học “đào tạo sinh viên phục vụ nhu cầu xã hội.”   Như vậy, có thể ngầm hiểu rằng nhiều giảng viên có học vị cao là điều kiện “cần và đủ” cho việc trường đại học có thể đào tạo sinh viên ra trường có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội.  Nhận định trên hình như chưa thật đúng. Một chuyên gia giáo dục người Singapore, trong bài trả lời phỏng vấn báo Dân trí gần đây đã “gián tiếp” phản bác lại nhận định này khi cho rằng: “Không làm nghề sao dạy được nghề. Muốn giảng dạy báo chí, rõ ràng giáo viên phải đã hoặc đang công tác tại một tòa soạn báo chí, có kinh nghiệm nghề nghiệp trong phỏng vấn, thu thập thông tin, viết bài.” Điều này cũng đúng đối với một số ngành khác như xây dựng, giao thông, thủy lợi, quản trị kinh doanh, kỹ sư tin học…. Một người thầy ít kinh nghiệm lăn lộn trên công trường, thì liệu sẽ dạy được cho sinh viên trở thành những kỹ sư xây dựng, giao thông hay thủy lợi của tương lai? Một người thầy chưa từng làm kinh doanh liệu có thể đào tạo sinh viên trở thành những nhà lãnh đạo doanh nghiệp?   Nhưng thực tế, những người có học vị tiến sỹ thì thường sau đó sẽ tiếp tục đi theo con đường nghiên cứu. Mà đã nghiên cứu thì còn thời gian đâu để cọ xát với thực tế, để có kinh nghiệm nghề nghiệp?    Đến đây, câu hỏi của chúng ta sẽ là: “Để sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu xã hội, thì đội ngũ giáo viên phải cần điều kiện gì: học vị hay kinh nghiệm thực tế?    Câu trả lời rất đơn giản: Cần cả 2. Sinh viên cần những người thầy có học vị cao, tức là có khả năng nghiên cứu tốt để trang bị cho những kiến thức cơ bản. Bên cạnh đó, sinh viên cũng rất cần những người thầy có kinh nghiệm thực tế để dạy cho các kỹ năng chuẩn bị cho việc hành nghề sau này.   Như vậy, điều các trường đại học cần làm là phải xây dựng được một chương trình giảng dạy trong đó kết hợp được hài hòa giữa số giờ lên lớp của các thầy giáo có học vị lẫn các thầy giáo có kinh nghiệm thực tế, nhằm đáp ứng được mục tiêu, chiến lược đào tạo của nhà trường.   Nhưng điều này lại nảy sinh một loạt các nghịch lý: Rõ ràng, ai cũng biết, các đại học tiên tiến trên thế giới thì điều bắt buộc đối với giáo sư là phải có học vị tiến sỹ. Hơn nữa, những người có đã kinh nghiệm thực tế, thì làm sao vừa đi dạy lại vừa đi làm ngoài để có thêm kinh nghiệm nghề nghiệp?   Những nghịch lý này sẽ được lý giải dễ dàng, nếu chúng ta xét trên triết lý gắn kết nhà trường với các doanh nghiệp – xu hướng tất yếu của các trường đại học ngày nay. Trong xu hướng đó: những người có học vị cao sẽ có biên chế trong các trường đại học làm công việc nghiên cứu những vấn đề khoa học phát sinh từ mối hợp tác nhà trường – doanh nghiệp đó. Còn các doanh nhân, các kỹ sư làm việc cho các doanh nghiệp sẽ trở thành giáo sư thỉnh giảng, thời vụ tại các trường mà công ty của họ có liên kết; qua đó, họ cũng được hưởng lợi vì có được nguồn nhân lực tương lai từ chính các sinh viên của họ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khái niệm thị trường giáo dục và vai trò các tác nhân      Bài viết dưới đây bàn về vai trò của một số tác nhân chính trong thị trường giáo dục, vốn phải phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng mỗi bên đều có khoảng trống và quyền hạn riêng – đó là Nhà nước, nhà trường, người học và phụ huynh, những tác nhân     Khái niệm thị trường giáo dục là chủ đề của 9 bài báo khoa học đăng trên Revue de recherche internationale et comparative en education (Tạp chí Nghiên Cứu Quốc Tế và So Sánh Giáo Dục), số 6/2011 vừa mới phát hành. Phải nói ngay để khỏi gây hiểu lầm cho những ai vốn dị ứng với khái niệm này rằng các tác giả các bài viết không có ý xem giáo dục như một loại hàng hóa trao qua đổi lại như các loại hàng hóa trên thị trường kinh tế.   Giáo dục trước hết là một dịch vụ, sản phẩm được tạo ra là những con người hoàn toàn có thể chủ động tham gia vào quá trình đào tạo, chính bản thân họ là những tác nhân ảnh hưởng mạnh mẽ trên sự điều tiết của thị trường giáo dục. Hơn nữa, giáo dục có những sứ mệnh và lý tưởng cao xa hơn thị trường kinh tế, chẳng hạn như vai trò của giáo dục trong việc đào tạo các công dân tự do, hay cuộc chiến của trường học với sự bất bình đẳng xã hội, vv. Vì những điều như vậy, chúng ta không thể sử dụng cùng những logic trong việc trao đổi hàng hóa trên thị trường kinh tế để bàn luận về giáo dục.   Gọi là thị trường vì trong giáo dục có các tác nhân khác nhau, có cung và cầu, có sự cạnh tranh, có sự lựa chọn, có cơ chế điều tiết vv. Những điều này đều thấy trong đa số các nền giáo dục, tuy mức độ, hình thức, tính logic và cả cách hiểu về chúng có thể khác nhau trong các quốc gia. Ở đây nếu có dính dáng tới kinh tế, thì thị trường giáo dục cũng được vận hành theo nguyên tắc “bàn tay vô hình” trong lý thuyết cổ điển của Adam Smith ở chỗ, thị trường tự điều chỉnh trên nguyên tắc có lợi cho mỗi bên tác nhân tham gia và vì lợi ích của tất cả.   Nói tóm lại, “thị trường” là một khái niệm của kinh tế, nhưng chúng ta có thể “xã hội học hóa” nó để biến thành một khái niệm công cụ nhằm lý giải và so sánh các nền giáo dục khác nhau1. Trong ý nghĩa này, giáo dục Việt Nam cũng là một thị trường, bởi ít nhiều cũng có các yếu tố đã nói, nhưng là một thị trường không giống ai, và có lẽ vì thế mà chất lượng giáo dục cũng khác xa với thiên hạ. Ở đây tôi xin bàn về vai trò một số tác nhân chính trong thị trường này, đó là Nhà nước, nhà trường, người học và phụ huynh.  Vai trò của Nhà nước  Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong giáo dục. Tại bất kỳ quốc gia nào, thông qua những chính sách về giáo dục của mình, Nhà nước đều ít nhiều tác động, lèo lái và ảnh hưởng trên giáo dục, ảnh hưởng trên sự điều tiết, trên hành vi, chiến lược của các tác nhân khác trên thị trường giáo dục. Thế nhưng đa phần tại các nước có nền giáo dục phát triển, Nhà nước đã không vì chuyện tiền bạc mình bỏ ra đầu tư mà có quyền thống trị thị trường, nhưng chỉ được xem là một tác nhân, một bên trong sự tương quan với các tác nhân khác mà thôi.  Tại các nước phương Tây, Nhà nước là bên đầu tư chính cho giáo dục với mục đích là đảm bảo công bằng trong cơ hội, đảm bảo quyền được học hành của người dân. Nhà nước không những là nhà đầu tư chính cho các trường công, mà còn cho các trường tư.   Tại Bỉ, Nhà nước tài trợ cho các trường tư dựa vào số lượng học sinh, hay dựa vào kết quả học tập của người học. Nhưng làm sao để có được nhiều học sinh đến học, có nhiều học sinh đạt kết quả tốt (theo sự kiểm định của Nhà nước) để tranh thủ kinh phí của Nhà nước lại là chuyện riêng của trường. Ðiều này vừa đảm bảo được quyền tự do chọn trường của các gia đình, vừa kích thích sự cạnh tranh giữa các trường bằng cách đem ra những chiến lược bảo đảm chất lượng, cũng cố uy tín để thu hút học sinh.   Tại Mỹ, Nhà nước đầu tư một quỹ rất lớn cho giáo dục, chẳng hạn vào năm 2006 là 250 tỷ USD, khoảng 70% sinh viên đại học được nhận một khoản chi phí nào đó2. Thế nhưng Nhà nước lại không có quyền can dự vào chuyện nội bộ của trường như chương trình nội dung giảng dạy, tuyển dụng và bố trí nhân sự, cách thức tuyển lựa sinh viên. Pháp cũng đang cải cách theo chiều hướng này. Theo tinh thần bộ luật về giáo dục đại học 2007, thì đại học tại quốc gia này đang nhận được quyền tự chủ rất lớn, hội đồng trường là bộ phận quyền lực nhất, bầu ra hiệu trưởng, quyết định các chính sách, đường hướng phát triển của trường3, trong khi Nhà nước vẫn phải đóng vai trò là nhà tài trợ chính.   Tại Việt Nam, đặc điểm nổi bật là chính sách tập quyền trong quản lý giáo dục. Nhà nước bao sân, lấn át, thậm chí triệt tiêu tự do của các tác nhân khác. Trong giáo dục đại học chẳng hạn, Nhà nước xen sâu vào công việc đáng lý ra là của trường như tổ chức tuyển sinh, khống chế chỉ tiêu tuyển sinh, đặt để bố trí nhân sự, can dự vào nội dung chương trình giảng dạy… trong khi nhiệm vụ, trách nhiệm chính của mình lại có khuynh hướng đẩy cho phía nhà trường, mà thực ra là đẩy cho phía người dân, đó là vấn đề kinh phí.   Hiện nay đang ồn ào bàn tán đến quyền tự chủ của đại học trong nước, thế nhưng chúng ta chưa thấy các đại học có quyền tự chủ gì ngoài việc càng ngày càng bị tự chủ về mặt tài chính, mà theo đó là học phí ngày càng tăng lên, chất thêm gánh nặng cho người dân, trong khi họ chẳng có nhiều cơ hội lựa chọn trong học tập như người dân các nước khác.  Vai trò của nhà trường  Tại các nước phương Tây, các trường, nhất là các trường đại học được hưởng quyền tự chủ rất cao, được xem là một phía, một tác nhân trong tương quan với Nhà nước. Nhà nước tuy có ảnh hưởng trên nhà trường, nhưng nhà trường không thụ động phụ thuộc vào Nhà nước hoàn toàn.   Ở Mỹ, Bộ Giáo dục và Nhà nước trung ương không có quyền quản lý đối với đại học, cũng tương tự tại Pháp, Bộ Ðại học chỉ có quyền can dự vào một trường khi trường đó có những vấn đề đình đám nghiệm trọng. Ngược lại, bằng những chiến lược riêng, bằng những tiếng nói, những phản ứng của mình trong một môi trường dân chủ, nhà trường góp phần làm thay đổi, làm hình thành các chính sách của Nhà nước về giáo dục. Trong một thị trường giáo dục có sự cạnh tranh, những chiến lược riêng của trường thông qua nội dung chương trình giảng dạy, chất lượng các dịch vụ, chất lượng các giáo viên, vv, liên hệ mật thiết đến sự thành bại của mình. Làm sao thu hút được “khách hàng”, cũng có nghĩa là thu hút các nguồn tài chính từ Nhà nước và các thành phần khác là chuyện riêng của các trường. Trong tình thế như vậy, nhà trường buộc phải thực lòng hướng về người học, hướng về xã hội bằng cách nêu cao khẩu hiệu “uy tín là vàng”, uy tín ở đây gắn liền với chất lượng đào tạo thể hiện qua sản phẩm, gắn liền với chất lượng các dịch vụ trong trường, cũng như gắn liền với sự đa dạng hóa trong phương thức và loại hình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nói tóm lại, cũng như trong lĩnh vực kinh tế, sự cạnh tranh cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho người thụ hưởng trực tiếp ở đây là các học sinh, cho các gia đình của họ và cho toàn xã hội nói chung.  Tại Việt Nam, như đã nói, Nhà nước lấn quá sâu vào nội bộ các trường, làm triệt tiêu sự cạnh tranh, sự sáng tạo và những đóng góp đến từ các tác nhân khác. Hệ thống đại học hiện nay tựa như một đại học khổng lồ, các trường chỉ là các phân khoa dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám hiệu là Bộ GD-ÐT. Hậu quả là các trường cứ từa tựa nhau xét về các mặt từ phương thức tổ chức đến nội dung đào tạo. Trường Ðại học KHXHNV TP.HCM và trường Ðại học KHXHNV Hà Nội có lẽ không khác nhau là mấy, bởi cả hai cùng chịu sự quản lý của một nơi, cùng phải dùng một chương trình khung, cùng phải theo những chủ trương chung, cùng phải sử dụng những giáo trình “pháp lệnh, vv. Sản phẩm đào tạo do đó cũng bình bình như nhau.   Các trường không tạo được những nét đặc thù riêng, không lo củng cố chất lượng, mà cũng chẳng cần tự chịu trách nhiệm về sản phẩm đào tạo của mình vì mọi sự đã có nhà nước bao, trong khi người học và gia đình họ không đủ trọng lượng để quyết định số phận của các trường. Nói cách khác, nhà trường đóng một vai trò mờ nhạt, phụ thuộc Nhà nước đủ thứ, chỉ là nơi, là phương tiện trong tay Nhà nước và được sử dụng để làm cụ thể hóa ý muốn của các nhà lãnh đạo, chứ không phải là một tác nhân chủ động, một bên trên thị trường giáo dục như tại các quốc gia khác.   Vai trò của học sinh và phụ huynh  Ở đây tôi không bàn sâu về vai trò của học sinh, những tác nhân trực tiếp trong giáo dục với những đặc điểm, khả năng riêng, những chiến lược học tập riêng trong sự tương quan với nhà trường và với các giáo viên. Chúng ta chỉ nói đến vai trò của phụ huynh trong việc lựa chọn trường lớp cho con cái mình.   Tại Bỉ và Hà Lan, việc tự do chọn lựa trường là một quyền của các gia đình, trở thành nguyên tắc căn bản xuyên suốt của bộ luật giáo dục. Nhưng dựa vào đâu để các gia đình chọn trường, các nghiên cứu4 đã chỉ ra là đa số dựa vào yếu tố chất lượng và sự đa dạng của “nguồn cung” do các trường giới thiệu, tuy rằng nhận thức về chất lượng hoàn toàn không giống nhau, mà chúng ta không có điều kiện để bàn sâu ở đây. Trong một bối cảnh cạnh tranh, hành động lựa chọn của các học sinh và gia đình quyết định số phận của các trường. Những than phiền, những yêu cầu, những sáng kiến từ phía người học và phụ huynh do đó được lắng nghe, góp phần làm thay đổi giáo dục theo hướng dân chủ hóa trong giảng dạy. Ðiều này kích thích và thu hút được những đóng góp từ mọi thành phần trong xã hội cho giáo dục.     Khái niệm “xã hội hóa giáo dục” đang được chủ trương tại Việt Nam có lẽ nên triển khai theo nghĩa này chứ không nên chỉ gắn liền với việc kêu gọi các thành phần xã hội bỏ vốn kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, mà thực ra đang làm cho giáo dục trở thành một thị trường bát nháo, chụp giật mà nạn nhân lại là người dân. Ở nước ta, vai trò của người học và phụ huynh bị xem nhẹ. Ở lớp, học sinh bị nhồi nhét đủ thứ với một chương trình nặng nề cưng nhắc, mà học sinh cũng như phụ huynh không có quyền can thiệp và cũng chẳng có quyền lựa chọn có nên học hay không. Họ chỉ là những thực thể thụ động trước sự áp đặt của Nhà nước và nhà trường. Khi thiết kế chương trình đào tạo, khi ban hành các chính sách giáo dục, người ta cũng không chú ý mấy đến phía người học đang nghĩ gì, đang phản ứng thế nào. Giáo dục vì thế chỉ là phương tiện của phía Nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của mình, chứ không phải là một dịch vụ lấy khách hàng làm trung tâm. Vai trò của người học và phụ huynh hoàn toàn bị mờ nhạt, trước sự lấn sân của Nhà nước, không thể trở thành một tác nhân có thể tác động lên nhà trường, và qua đó góp phần làm thay đổi, làm phát triển hiện trạng giáo dục vốn đang rất u ám hiện tại.   Giáo dục hiện đại nên là địa bàn chung, là nơi gặp gỡ giao thoa giữa nhiều bên, nhiều tác nhân trong một cơ chế cạnh tranh và dân chủ. Các bên gặp nhau trong những cơ chế điều tiết, tuy phải phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng mỗi bên đều có khoảng trống, có quyền hạn riêng. Có ảnh hưởng từ Nhà nước trên các trường và các gia đình, nhưng cũng có ảnh hưởng từ các gia đình và nhà trường lên các chính sách của Nhà nước. Sự tương tác phụ thuộc lẫn nhau này trong một cơ chế cạnh tranh giữa các trường, trong một tinh thần sư phạm và thái độ phục vụ hướng về người học sẽ làm hài hòa và thúc đẩy giáo dục phát triển.   Mỹ đang có một nền giáo dục rất phát triển mà không những Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới muốn học hỏi. Ðiều gì đã làm nên kỳ tích này? Nhiều nhà nghiên cứu5 đã bình luận điều làm nên sự phát triển nhanh, sự đa dạng và phong phú của giáo dục Mỹ không phải nhờ vào sự chỉ đạo thống nhất, tập trung từ trung ương mà chính là nhờ vào những lựa chọn, những quyết định trong cơ chế cạnh tranh của thị trường giáo dục. Ðây là bài học lớn cho Việt Nam đang trên đường đi tìm lối ra cho sự khủng hoảng giáo dục hiện nay.  —  1. Xem Georges Felouzis. (2011). Les marchés scolaires et l’éducation comparée. Éducation comparée. Revue de recherche internationale et comparative en education. Nouvelle série. Số 6/ 2011, tr. 10 – 11.  2. Johnstone, B.D. “The US Higher Education System”. Trích bởi Xem Lâm Quang Thiệp. (2011). Humboldt, Mỹ và đại học Việt Nam. Kỷ yếu Ðại học Humboldt 200 năm (1810 – 2010) – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam. Hà Nội. Nxb. Tri Thức. Tr. 299.   3. Loi n 2007 – 1199 du 10 aout 2007 relative aux libertes et responsabilites des universites.  4. Xem Karin Müller (2011). Libre choix des ecoles – Libre choix de quoi et par Qui? Éducation comparée / nouvelle série, số °6/2011, pp. 29-48.  5. Xem Lâm Quang Thiệp. (2011). Humboldt, Mỹ và đại học Việt Nam. Kỷ yếu Ðại học Humboldt 200 năm (1810 – 2010) – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam. Hà Nội. Nxb. Tri Thức, tr. 296.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá hành tinh thông minh cùng STEM X      Dù chỉ diễn ra trong vòng nửa ngày nhưng gần 300 bạn nhỏ trên địa bàn thủ đô đã có một cuộc khám phá hành tinh thông minh đầy hấp dẫn và lý thú tại Ngày hội STEM X do Học viện STEM tổ chức vào ngày 24/4.       Cũng tương tự như các hoạt động của Ngày hội STEM 2015 tại trường ĐH Bách Khoa Hà Nội và Ngày hội STEM 2016 tại TPHCM, chương trình “Hành tinh thông minh” chủ yếu dành cho các học sinh lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở. Ban tổ chức chương trình đã tập trung vào các hoạt động giới thiệu những kiến thức mới về những công nghệ phổ biến trong tương lai như robot giao thông thông minh, nhà thông minh, thiết kế hệ thống đèn chiếu sáng thông minh, khám phá vũ trụ thông qua công nghệ thực tế ảo, điều khiển vật thể bằng sóng não… thông qua các gian trưng bày theo chủ đề STEM Robot, STEM CS – lập trình games và phim hoạt hình, Tự học IoT, Sáng tạo Toán học, Khám phá khoa học, Văn hóa đọc, Openspace. Các bạn nhỏ thích thú lắng nghe giới thiệu của những chuyên gia phụ trách từng gian trưng bày để sau đó, tự tay mình thực hiện những sản phẩm “công nghệ đỉnh cao” như làm tên lửa thông minh một cách siêu đơn giản ở gian Văn hóa đọc, xếp dán các hình đa khối nhiều màu sắc ở gian Sáng tạo Toán học…  Mỗi một gian trưng bày giới thiệu cho các bạn nhỏ một khía cạnh của một cuộc sống khác biệt trong tương lai, khi yếu tố công nghệ tham gia một cách mạnh mẽ và thiết yếu vào đời sống của mỗi cá nhân và cộng đồng.  Một trong những hoạt động thu hút sự theo dõi của đông đảo bạn nhỏ là Openspace. Lần đầu tiên, các bạn nhỏ được tận mắt sờ thấy, được chạm vào những “bộ não” của những thiết bị đo sóng não Emotiv, kính thực tế ảo, Wii, xBox… Không ngại chờ đợi, các bạn nhỏ xếp hàng dài để đến lượt mình được hướng dẫn chụp bộ đo sóng não Emotiv lên đầu, kết nối với máy tính để thích thú theo dõi dòng suy nghĩ của chính mình qua màn hình dưới dạng các điểm nút nhiều màu: màu cam thể hiện sự hưng phấn hoặc bình tĩnh, màu xám cho thấy sự thờ ơ,  màu xanh dương thể hiện sự suy ngẫm… Không chỉ dừng lại ở đó, những cặp kính công nghệ chuyên biệt còn đem lại cơ hội cho các bạn nhỏ tham gia chuyến du hành vũ trụ bằng công nghệ thực tế ảo, ngắm nhìn thế giới khủng long ở kỷ Jura cũng như cùng góp sức bảo vệ dải ngân hà khỏi bàn tay xâm lược của các thế lực đen tối. Một trải nghiệm thú vị khác của các bạn nhỏ ở Openspace là tham gia hoạt động thể thao thông minh mà theo giới thiệu của ban tổ chức là tập thể thao và tham gia giải trí theo phong cách hiện đại để sống khỏe hơn trong hành tinh thông minh, như giữ thăng bằng để ăn bi, tung hứng, chạy nhảy với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khát vọng Duy Tân      Những ngày đầu năm 2018, nhìn từ cổng Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng, sẽ thấy một tấm biển rất to, đầy tự hào treo phía đối diện: “Chúc mừng trường Đại học Duy Tân đoạt giải nhất Nhân tài đất Việt”. Đó là cổng trường Duy Tân, trường đại học “từ 0 điểm về nghiên cứu khoa học” ngày trước tới khát vọng “top 300 đại học quốc tế”.      Sinh viên trường Đại học Duy Tân giành giải nhất cuộc thi Nhân tài đất Việt 2017. Nguồn: ĐH Duy Tân.  Cái khó ló cái khôn  Một ngày cuối năm 2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao giải nhất cuộc thi Nhân tài đất Việt cho các chàng trai Đà Nẵng tại cung hữu nghị Việt Xô, nhiều người đã trầm trồ: Đúng là dân miền Trung học giỏi quá, và làm cái sản phẩm công phu quá. Đó là giải thưởng công nghệ thông tin duy nhất được trao cho sản phẩm sử dụng công nghệ mô phỏng 3D thực tại ảo để mô phỏng cơ thể người, với đầy đủ các hệ cơ quan như: hệ xương, hệ cơ, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ hô hấp, tiêu hóa, hệ bài tiết và sinh dục, các tuyến và hạch, bao gồm đầy đủ các chi tiết giải phẫu gần giống với cơ thể người thật nhất để phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong khối ngành khoa học sức khỏe.  Thạc sỹ Lê Văn Chung, Giám đốc Trung tâm Mô phỏng và Mô hình hóa (Center of Visualization & Simulation – CVS) – phụ trách nhóm nghiên cứu của sản phẩm “Ứng dụng công nghệ mô phỏng thực tại ảo 3D xây dựng cơ thể người phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong khối ngành khoa học sức khỏe” chia sẻ rất gọn về lý do thành công của dự án này: “Cái khó ló cái khôn thôi!”. Để có được kết quả như ngày nay ĐH Duy Tân đã mất hơn 4 năm đầu tư cho việc phát triển dự án này. Xuất phát từ phản ánh của dư luận về việc các trường ĐH, Cao đẳng đua nhau mở ngành Y, Dược, Điều dưỡng trong khi cơ sở vật chất của đơn vị đó không  đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập. Một trong những yêu cầu cần thiết là xác người để học môn giải phẫu. Đây là môn học quan trọng nhất và xuyên suốt trong quá trình học. Các trường thường chữa cháy bằng cách cho sinh viên học trên tranh ảnh, các phần mềm không có bản quyền hoặc mô hình nhựa plastic dẫn đến quá tải phòng thực hành và thiếu trực quan. Các xác người được ngâm trong bể formol khô đét và co quắp, các chi tiết bị biến dạng do mổ thực hành quá nhiều. Rất khó quan sát. Bên cạnh đó qui trình bảo quản lại cực kỳ phức tạp.      “Sứ mệnh của trường Đại học Duy Tân: Đào tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu”. (NGUT Lê Công Cơ, Hiệu trưởng ĐH Duy Tân)        Với những việc “mắt thấy tai nghe” như thế họ nảy sinh ý tưởng: tại sao chúng ta không mô phỏng thực tại ảo cơ thể người để có thể giúp cho sinh viên, học sinh nghiên cứu? Thậm chí có thể mô phỏng các hệ cơ quan trong cơ thể cử động như thật… Ý tưởng ban đầu làm hệ xương và hệ cơ nay đã phát triển toàn bộ các hệ cơ quan trong cơ thể đồng thời giả lập các hệ cử động của các cơ quan.  Trường ĐH Duy Tân đã đầu tư rất lớn và bài bản cho Trung tâm CVS để phát triển dự án này. Từ máy móc cấu hình “khủng” nhập từ nước ngoài cho đến các thiết bị hiện đại như kính Oculus Riff, HTV Vive, kính Hololens… Bên cạnh việc đầu tư về cơ sở vật chất nhà trường còn phải đầu tư về chuyên môn. Vốn dĩ CVS là trung tâm làm các dự án phần mềm mô phỏng, không có chuyên môn về y học, do vậy phải gửi các thành viên trong dự án này đi học các khóa về giải phẫu. Đồng thời kết hợp với các giáo sư đầu ngành về giải phẫu ở các trường ĐH Y khoa lớn như ĐH Y khoa Huế, ĐH Y Dược Hà Nội để thẩm định tính chính xác về mặt hình ảnh dữ liệu và mô phỏng. Chi phí khá lớn, vì hầu như tháng nào nhóm phát triển cũng phải đi Huế hoặc Hà Nội để làm việc với các giáo sư để thẩm định.  “Hơn 4 năm có quá nhiều khó khăn và đầu tư tốn kém nhưng ĐH Duy Tân vẫn quyết đầu tư với mong muốn tạo ra được sản phẩm phần mềm Giải phẫu của người Việt nhằm hỗ trợ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho khối ngành sức khỏe từ đó phát triển và mở rộng sang việc mô phỏng các bệnh lý giúp hỗ trợ cho người bệnh, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên tốt hơn” – ông Chung cho biết.   Giải mã “gene khoa học cần cù”  Trao đổi với Tia Sáng, Tiến sĩ Lê Nguyên Bảo, phó hiệu trưởng trường ĐH Duy Tân bảo: “Triết lý nghiên cứu của Duy Tân có 2 vế: Nghiên cứu để tăng sự hiện diện khoa học của Duy Tân trong cộng đồng giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới, và nghiên cứu để áp dụng thực tế cho nhà trường và xã hội. Hiện tại, những bước đi của Duy Tân tự nhiên đang định vị trường là một trường đại học nghiên cứu ở Việt Nam. Nhưng so trên bình diện thế giới thì khối lượng nghiên cứu như vậy có thể chưa đạt đến chuẩn là đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Có lẽ thời gian sẽ trả lời”.  Cách trả lời của ông Bảo, có phần khiêm tốn so với những gì mà họ đã “chiến đấu” trong suốt thời gian qua. Gọi là “chiến đấu”, vì với một trường tư thục, việc thu hút nhân tài không phải là việc đơn giản, nên Duy Tân đã tranh thủ từng cơ hội nhỏ nhất. Hiếm có cơ hội nào để tìm kiếm tài năng khoa học mà đội ngũ này bỏ qua. “Nhóm học viên đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Đà Nẵng – hay gọi là đề án 922, có vài tiến sĩ về nước, thì đều được trường Duy Tân mời đến trò chuyện để chia sẻ các định hướng dài hạn về khoa học của họ. Đãi ngộ rất tốt, đặc biệt là việc đầu tư để có thể có những bài báo khoa học công bố quốc tế. Cơ chế săn người này quả thật là lợi hại” – một tiến sĩ công nghệ thông tin từ Anh về chia sẻ.  Chuyện tương tự cũng xảy ra với những nhân sự Việt kiều hoặc cộng đồng Du mục kỹ thuật số (digital nomads – những chuyên gia công nghệ thích di chuyển khắp nơi trên thế giới để làm việc và tìm nguồn cảm hứng), ở đâu hình như cũng có “tai mắt” của trường Duy Tân. Anh Bảo, một cựu giảng viên của Đại học UC Berkeley của Mỹ vừa về thăm quê được hơn tuần thì đã nhận được điện thoại của Duy Tân. Anh Madds, một giảng viên thỉnh giảng của trường Đại học Boston, vừa tham gia diễn đàn công nghệ trực tuyến ở Đà Nẵng cũng lập tức được chiêu dụ bởi Duy Tân… “Ít có chương trình nào mà thiếu bóng dáng các nhân sự của trường Duy Tân. Họ cần cù làm việc, đứng giữa trời miền Trung đầy nắng để tiếp khách, trao đổi về công nghệ với tất cả sự cầu thị, và luôn rủ rê về trường họ để trò chuyện với sinh viên” – Peter Vũ, một chuyên gia về trí tuệ nhân tạo thốt lên.  Để lý giải cho sự cần cù và ham học này, có lẽ không chỉ nói một câu “dân miền Trung” được, mà đó là một thứ nền tảng được xây dựng từ 23 năm trước. Ông Lê Công Cơ, Hiệu trưởng ĐH Duy Tân, nói đầy tự hào trong ngày khai giảng vừa rồi: “Năm 1992, có 3 người đứng ra thành lập một Ban vận động để hình thành Đại học Tư thục miền Trung, sau đổi tên trường thành Đại học Duy Tân. Duy Tân là đổi mới, khát vọng Duy Tân là khát vọng đổi mới, đổi mới để hội nhập, để phát triển, để bền vững, để đưa đất nước chúng ta tiến lên. Về nghiên cứu khoa học, chúng ta đi từ con số 0. Năm 2009, khi kiểm định lần 1, trường Duy Tân 0 điểm về nghiên cứu khoa học, nhưng từ 2010 đến nay, chúng ta đã phát triển nghiên cứu khoa học trở thành điểm sáng của trường. Chúng ta có 25 công trình Nafosted, trên 650 bài báo ISI công bố quốc tế…”.  Ông nói thêm: “Khi nghe Duy Tân khát vọng vào Top 300, có nhiều người gọi điện nói có phải Duy Tân “điếc không sợ súng không”. Xin thưa đó là “khát vọng”, chúng ta có quyền khát vọng, nó có thể trở thành hiện thực trong tương lai gần, hay xa. Ngày xưa khi còn nô lệ, thời đánh Pháp, đánh Mỹ, chúng ta có nghĩ đến ngày độc lập, tự do như hôm nay đâu. Chúng ta khát vọng độc lập, thống nhất, và giờ Duy Tân khát vọng Top 300 châu Á. Dĩ nhiên lộ trình đi còn vô vàn khó khăn và không đơn giản, các tổ chức kiểm định thế giới đều có những tiêu chuẩn và tiêu chí cụ thể, đánh giá công minh, không thiên vị khoa học”.  Ông Lê Nguyên Bảo, thế hệ kế thừa của Duy Tân, thì nhìn vấn đề một cách khiêm tốn như lối sống của mình: “Mình đam mê làm ra sản phẩm ứng dụng thật để giải quyết một vấn đề nào đó. Ở một nghĩa nào đó nó là nghiên cứu khoa học khi tạo ra thành tố mới hoàn toàn cho sản phẩm, nhưng không phải bao giờ nó cũng là nghiên cứu khoa học vì đôi khi để làm ra sản phẩm chỉ cần lắp ghép thành quả của những nghiên cứu đã có. Dĩ nhiên lắp ghép như thế nào để có sản phẩm cũng sẽ tốn nhiều công sức suy nghĩ”.  Xin kết lại bằng câu nói cuối của ông Cơ trên bục khai giảng: “Người lính già như tôi từ chiến tường trở về, miền Trung nghèo, muốn thoát nghèo không có con đường nào khác là phải học, bởi tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, nhưng trí tuệ không bao giờ cạn kiệt, nếu chúng ta biết tích hợp và tác động lẫn nhau, trí tuệ sẽ phát triển thay cho tài nguyên. Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 đã được thúc đẩy và thế giới đang rầm rập bước vào, trường Đại học Duy Tân cũng phải bước vào việc đó. Mong rằng, mỗi chúng ta khi còn sống hãy trồng một cái cây, để khi chết để lại cho đời một bóng mát. Cây đó là “cây đời”, bóng mát có thể nhỏ hoặc to tùy từng người”.  Và họ vẫn chọn cái cây khoa học để tỏa bóng mát cho đời.       Author                Trần Vũ Nguyên        
__label__tiasang Khi người lớn học STEM      Trong khuôn viên của hội trường C2 Đại học Bách khoa rộng 625 m2, suốt hai ngày diễn ra Ngày hội STEM, lán trại của mỗi hoạt động luôn ở trong tình trạng “quá tải” mặc dù các em đã đăng kí từ trước. Có những em nhỏ xem đi xem lại Science show (trình diễn khoa học) tới năm lần. Thế nhưng, những gì người lớn học được cũng nhiều không kém gì các em nhỏ.    Giáo dục STEM là gì?  Có thể nói, khái niệm “Giáo dục STEM” còn rất mới mẻ ở Việt Nam và hầu hết phụ huynh tới tham dự ngày hội đều chia sẻ rằng, trước đó, họ chưa từng biết tới khái niệm này bao giờ.  Giáo dục STEM vẫn được giải thích một cách “trừu tượng” rằng, đó là một phương pháp giảng dạy tích hợp bốn môn: Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering), Toán học (Mathematics). Tuy nhiên, mọi người có lẽ chỉ thực sự hiểu về nó khi thấy con mình trực tiếp tham gia các trải nghiệm khoa học trong các lán trại. Có những lán trại mà số người tham gia gấp đôi số người đăng kí do phụ huynh cũng muốn vào… chơi.   Vườn ươm tài năng Talinpa do GS. Ngô Bảo Châu sáng lập có ba lán trại. Trước khi ngày hội diễn ra, các lán trại của vườn ươm là nơi hết chỗ đăng kí chậm nhất nhưng bất ngờ là trong thời gian diễn ra ngày hội, lại có lúc trở thành địa điểm “tụ tập ăn chơi nhảy múa” của mọi người –  theo lời của anh Nguyễn Quốc Khánh, Phó giám đốc Vườn ươm này. Mỗi lán trại về toán chỉ cho phép tối đa 16 người đăng kí nhưng có lúc lên tới 30 người tham gia, trong đó có cả phụ huynh học sinh.   Một trong những hoạt động Toán hấp dẫn nhất là xây cầu Da Vinci bằng cách ghép các thanh gỗ rời có kích thước bằng nhau, không cần đóng đinh, không cần keo dán để xây thành một chiếc cầu cong. Không giới hạn số lượng thanh gỗ được sử dụng, người chơi có thể xây cầu với càng nhiều thanh gỗ càng tốt. Trong quá trình chơi như vậy, người tham gia sẽ tự điều chỉnh độ nghiêng, khoảng cách giữa các thanh gỗ một cách thích hợp để cây cầu vẫn đứng vững khi tiếp tục đưa các thanh gỗ mới vào để tăng độ cong và độ dài của chiếc cầu. Ngoài ra, còn có các trò chơi khác như cờ đẳng thức, trong đó, mỗi quân cờ vua sẽ được dán một ký hiệu toán học (chữ số hoặc các dấu cộng, trừ, nhân, chia), ai tạo một phép tính đúng đầu tiên khi chơi cờ thì sẽ chiến thắng; trò “Hiệp sĩ tắc đường” yêu cầu các em xác định cách đi để “cứu thoát” một chiếc xe ô tô trong tình huống tắc đường; trò sử dụng những tấm giấy hình học để dán thành bức tranh… “Người ta lại tưởng lán trại Toán là xưởng nghệ thuật, “tí toáy” hay gì đó” – anh Khánh nói. Có trường hợp, bố mẹ và các con cùng ngồi chơi với nhau suốt từ trưa đến chiều trong lán của Toán.   Anh Khánh kể lại, hoạt động Toán “hot” tới mức, sau khi Vườn ươm tài năng Talinpa đăng ảnh các hoạt động lên Facebook, GS. Phùng Hồ Hải và PGS. Phan Thị Hà Dương nhắn tin cho anh lúc 12h đêm ngày 16/5 để xin vé đưa con tham dự vào hôm sau.  Ví dụ về trại Toán ở trên là cách thức giáo dục STEM. Thực ra, giáo dục STEM không xa lạ như người ta vẫn tưởng, thậm chí lại còn quen thuộc. Đó là cách “học qua hành”, học qua các ví dụ, qua các trò chơi mà các em sẽ phải kết hợp kiến thức của nhiều môn với nhau. Chị Thu Hương, đồng sáng lập Học viện Sáng tạo S3, trong buổi trò chuyện về giáo dục STEM cho trẻ em đã chia sẻ rằng, mặc dù khái niệm STEM mới có cách đây khoảng một thập kỷ nhưng phương pháp giáo dục STEM đã hình thành từ cách đây 100 năm dưới hình thức của giáo dục Steiner – một chương trình giáo dục được khởi xướng bởi Wardolf Steiner và hiện nay đang được áp dụng ở hàng nghìn trường phổ thông toàn thế giới và triết lí giáo dục có rất nhiều điểm tương đồng với giáo dục Phần Lan: Học sinh nỗ lực và cố gắng vì sự đam mê, vì niềm vui chứ không phải vì sự cạnh tranh. Và niềm vui đó được tạo ra bằng cách dạy liên môn, chẳng hạn như dạy Toán thông qua Âm nhạc và Hội họa. Theo chương trình giáo dục Steiner các em học hoàn toàn bằng thực hành qua những dự án trong từng môn học, các em phải vận dụng lí thuyết để tạo ra sản phẩm.     Tự dạy STEM  Bên cạnh những hoạt động diễn ra sôi nổi ở trong hội trường còn có diễn đàn STEM dành riêng cho phụ huynh tham dự. Tham gia thuyết trình là các nhà khoa học, giáo viên và những người khởi nghiệp thành công trong lĩnh vực KH&CN. Nội dung của diễn đàn khá đa dạng nhưng rồi lại luôn quay  trở lại với những câu hỏi về việc dạy và học STEM và các diễn giả, nhiều khi trao đổi với khán giả như giữa những ông bố, bà mẹ với nhau.   Trong buổi đầu tiên của Ngày hội STEM, một phụ nữ đã thành thực chia sẻ với GS. Pierre Darriulat rằng, con chị mới 10 tuổi và tỏ ra rất có năng khiếu về khoa học. Nếu sau này cháu muốn theo đuổi công việc nghiên cứu, liệu gia đình có nên cố gắng cho cháu đi du học hay không?  Bản thân chị không tin vào nền giáo dục của Việt Nam nhưng gia đình chị không giàu có. GS. Pierre cho rằng, thực ra đại học trong nước có thể đào tạo một cách hiệu quả. Ông đã chứng kiến nhiều gia đình dành rất nhiều tiền cho con đi học nước ngoài với hi vọng con mình sau khi tốt nghiệp có thể thành công để rồi vỡ mộng, đáng buồn hơn là con họ học những ngành mà Việt Nam chưa cần. Bản chất của việc học nằm ở đam mê và lòng quyết tâm và nếu có hai điều đó thì dù ở đâu cũng có thể học tốt, nhất là hiện giờ đã có sự trợ giúp của internet.  Nhiều phụ huynh tới Ngày hội STEM với nỗi hoang mang rằng, những gì mà trẻ con cần ngày càng đa dạng và phức tạp mà khả năng của họ khó lòng theo kịp. Có người khi biết về ngày hội thậm chí đã tìm hiểu trước về STEM trên thế giới để hỏi diễn giả rằng, làm thế nào để dạy trẻ em lập trình khi cha mẹ không biết, đa số các trường tiểu học thì không dạy trong khi trên thế giới, trẻ em được khuyến khích lập trình từ khi dưới 10 tuổi ? Câu hỏi của phụ huynh này được trả lời bằng bài phát biểu của anh Trần Tuấn Anh, trưởng văn phòng đại diện phía Nam của DTT về “lập trình không cần máy tính”. Gọi tám khán giả lên cầm tám tờ giấy có đánh số từ 1-8, anh đố những người ở dưới (không hề biết ai cầm số nào) tìm được số lớn nhất bằng cách cho hai người bất kì so sánh các số mình cầm với nhau. Đó vừa là trò chơi nhưng cũng vừa là bài tập luyện tư duy máy tính. Bên cạnh đó, theo anh Thế Trung các trường Đại học như MIT và Carnegie Melon cũng phát triển những ngôn ngữ lập trình miễn phí, trực quan dành cho trẻ em tự học như ngôn ngữ lập trình Scratch và Alice (Một trong những lán trại đông nhất tại ngày hội là Computer Science với hơn 40 người mỗi lượt, thậm chí có em không đăng kí cũng vẫn vào chơi vào buổi trưa để làm phim hoạt hình bằng ngôn ngữ lập trình này).    Xã hội hóa STEM  Anh Thế Trung, người đã triển khai chương trình Robotics ở 20 trường tiểu học và trung học cơ sở trên toàn quốc cho biết: “Chỉ cần đầu tư 1.000 đồng cho mỗi em học sinh thì đã mất 15 tỉ để đầu tư cho giáo dục cả nước. Vì vậy khó có thể trông đợi sự phổ cập của Bộ Giáo dục. Chúng tôi nghĩ phương thức giáo dục STEM phải được làm từ dưới lên với sự đồng hành của những người tâm huyết với giáo dục STEM”.  Giáo dục STEM có thể bắt đầu từ bây giờ ở mỗi trường phổ thông với sự đóng góp từ phía phụ huynh, trước hết bằng cách thành lập các tủ sách khoa học và câu lạc bộ khoa học ở mỗi trường để các em có thể mượn sách về và chia sẻ kiến thức với bạn bè, vận dụng chúng để làm những dự án thực tế như làm tên lửa, máy bay bằng vật liệu tái chế. Trên thực tế, chương trình Sách hóa Nông thôn và nhà sách Long Minh đã từng thiết lập một hệ thống gồm khoảng 3000* tủ sách tại các trường tiểu học và trung học cơ sở tại huyện Thái Thụy, Thái Bình do phụ huynh đóng góp khoảng 50.000/người/năm và sắp tới sẽ được triển khai ở Nam Định.  Tương tự như vậy, Ngày hội STEM cũng không nên chỉ dành cho 2.000 trẻ em mà cần phải lan đến 15 triệu học sinh trên cả nước. Vì vậy theo Ban tổ chức, những kinh nghiệm xây dựng Ngày hội STEM lần thứ nhất tại Hà Nội sẽ được tài liệu hóa và công khai trên mạng để tất cả mọi người đều có thể vào đọc và các trường phổ thông và địa phương đều có thể tự thực hiện với quy mô tùy thuộc vào điều kiện của mình.  *Chỉnh sửa lại so với bản in Tạp chí Tia Sáng ra vào ngày 20/5 là “hơn 1000”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi truyện tranh trở thành phương tiện giáo dục      Trong liên tưởng của nhiều người, chính trị và truyện tranh có lẽ không phải là một sự kết hợp khả dĩ, càng không phải là chủ đề để trao đổi với trẻ nhỏ trước giờ đi ngủ. Thế nhưng, trên thực tế, truyện tranh lại có thể mang đến một cách tiếp cận nhẹ nhàng đối với những vấn đề phức tạp và hóc búa như bất bình đẳng giới, biến đổi khí hậu, chiến tranh, nhập cư hay nhân quyền.      Năm ngoái, Chris Riddell, nhà văn nổi tiếng của trẻ em, đã mang đến cho các độc giả nhí một món quà khác thường: một phiên bản truyện tranh về Đạo luật Nhân quyền mang tên My Little Book of Big Freedoms (tạm dịch: Cuốn sách nhỏ về những Tự do lớn) xuất bản hợp tác với tổ chức Ân xá Quốc tế. Quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền không bị làm nô lệ – tất cả đều được chuyển tải một cách khéo léo qua hình ảnh những em nhỏ và những con vật dễ thương, thể hiện cho những khái niệm tự do trừu tượng. Đó là một cuốn sách đẹp, không có cốt truyện nhưng mang đến cho người đọc một cảm giác về sự ca tụng tự do và một lời kêu gọi đấu tranh nhẹ nhàng nhưng vẫn nồng nhiệt. Cuốn sách còn là điểm khởi đầu lý tưởng để trò chuyện với những em nhỏ tò mò về thế giới và những người cai trị thế giới, hoặc băn khoăn trước những cảnh tượng dã man mà các em đã được xem hoặc đọc trên các phương tiện truyền thông.  Michael Foreman, một nhà văn lớn khác của thiếu nhi, cũng vừa thử sức trong chủ đề chính trị với cuốn sách sắp ra mắt The Little Bookshop and the Origami Army (tạm dịch: Cửa hàng sách nhỏ và Quân đoàn Giấy xếp). Với lời lẽ mạnh mẽ, cuốn sách này là một sự tấn công trực diện vào tình trạng hiện tại ở quốc hội. Khi cửa hàng sách của ông Bookseller bị đưa vào hạng mục các công trình sắp bị phá bỏ, cậu bé Joey đã nhờ bạn mình là Cô gái Giấy xếp trợ giúp. Cô gái Giấy xếp đã đứng lên tập hợp một đạo quân gồm các nhân vật trong những cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng như Peter Pan, Alice, và Ếch Xanh để cùng đi giải cứu hiệu sách vô giá của họ. Khi xông vào trụ sở quốc hội, đạo quân này nhìn thấy các vị chính khách đang “ngáy pho pho như lũ lợn chầu quanh một cái máng ăn.” Cô gái Giấy xếp cố gắng đánh thức họ dậy thì vị thủ tướng lên tiếng ngơ ngác hỏi: “Sao lại đánh thức chúng tôi? Đã tới kỳ nghỉ đâu?” “Những kẻ này thực là vô dụng,” Cô gái Giấy xếp nói rồi kêu gọi viện binh từ Thư viện Công cộng. Sau đó, họ cùng nhau thuyết phục sự hợp tác của các công nhân xây dựng để hủy bỏ kế hoạch xây khu siêu thị đồng thời mở rộng Cửa hàng Sách nhỏ và xây dựng một công viên lớn cho toàn thể người dân trong vùng.  Trong khi đó, với cuốn Green Lizards vs Red Rectangles (tạm dịch: Cuộc chiến giữa Thằn lằn xanh và Hình chữ nhật Đỏ), Steve Antony lại chọn một thách thức khác không kém phần khó khăn là nói về chủ đề chiến tranh với các độc giả truyện tranh nhí. Sau lời tuyên chiến, những khối hình chữ nhật và những con thằn lằn xông lên tranh cãi và tìm cách diệt trừ nhau cho đến khi một con thằn lằn dũng cảm cất tiếng hỏi: “CHÚNG TA TRANH GIÀNH NHAU VÌ CÁI GÌ?” Nhưng thật không may, chú ta nhanh chóng bị đè bẹp và cuộc chiến càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Tuy vậy, kết thúc truyện là một thỏa thuận cùng chung sống rất hợp lý giữa hai bên. Với cách thể hiện vừa hài hước lại vừa dữ dội, cuốn sách này là một phương tiện dễ dàng và an toàn để nói với con trẻ về chiến tranh, khác hẳn với những hình ảnh kinh hoàng trên truyền thông.  Và cuối cùng là cuốn sách không lời xuất sắc của Shaun Tan, The Arrival (tạm dịch: Điểm đến). Tuy ra đời từ cách đây khoảng một thập kỷ song những gì mà cuốn sách đề cập tới vẫn còn nguyên tính thời sự của nó, bởi hàng nghìn người tị nạn trên thế giới vẫn đang vật lộn để thích nghi và hòa nhập với môi trường mới. Sự dịu dàng toát lên từ những nét vẽ bằng than chì của Tan – những bức ảnh với những nụ cười hạnh phúc, những con chim bằng giấy, những vật dụng cũ kỹ và thân thuộc – được đặt trong thế tương phản với quá khứ bạo lực đầy sợ sệt mà những người nhập cư vừa thoát khỏi cũng như với nỗi hoang mang chất chứa trong họ khi phải tìm cách thích nghi với môi trường hoàn toàn mới, từ ngôn ngữ cho tới bản đồ, đồ ăn thức uống, công việc hay trò chơi. Dẫu vậy, một cảm giác về niềm hy vọng vẫn ánh lên qua từng trang sách. Có lẽ, điểm chung giữa tất cả những cuốn sách kỳ lạ này là một lời kêu gọi âm thầm rằng chúng ta hãy cùng chung tay gìn giữ những điều quan trọng trong cuộc sống. Tự do, trí tưởng tượng phong phú, tinh thần sẵn sàng thỏa hiệp hay thái độ cởi mở đón chào người mới đến – tất cả đều là những thông điệp tuyệt vời để trao gửi cho nhau trước giờ đi ngủ, đối với cả các bậc phụ huynh và trẻ nhỏ.   Quỳnh Ca dịch theo The Guardian  http://www.theguardian.com/books/booksblog/2016/jan/27/politics-in-picture-books-big-questions-for-the-smallest-readers    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khổ luyện để vào đại học Mỹ      Có khoảng 103.000 học sinh, sinh viên Hàn Quốc đang học tập tại các trường của Mỹ ở mọi cấp học, nhiều hơn so với bất kỳ một quốc gia nào khác, theo thống kê của Chính phủ Mỹ. Ở cấp đại học, chỉ Ấn Độ và Trung Quốc với dân số gấp hơn 20 lần mới có số lượng sinh viên nhiều hơn Hàn Quốc.    Lúc này đã là 10 giờ 30 tối. Nhưng học sinh trường chuyên Daewon (Hàn Quốc) vẫn miệt mài tự ôn bài. Thường họ phải học rồi ôn bài tổng cộng 15 giờ/ ngày. Cửa sổ phòng học được chống lên để không khí lạnh buổi tối lan vào cho học sinh tỉnh táo.    Kim Hyun Kyun, là một nữ sinh đã tích lũy được gần đủ số điểm tối đa của kỳ kiểm tra SAT (một loại thi trắc nghiệm đầu vào đại học Mỹ). Nhưng em cần phải tiếp tục ôn luyện để chuẩn bị cho các kỳ thi Vật lý, Hóa học và Lịch sử.  Em mơ ước được học ở Harvard, Yale và các đại học nổi tiếng khác của Mỹ. Kim cho biết: “Em không thể để lãng phí thời gian dù chỉ 1 giây”.    Tháng tư năm 2008, cũng như bao năm trước, hầu hết 133 học sinh trường Trung học phổ thông Ngoại ngữ Daewon nộp đơn (trước) xin vào các đại học Mỹ danh tiếng đều đã trúng tuyển. Đó là một tỉ lệ thành công mà các bậc phụ huynh ở Mỹ có thể sẽ phải rất ghen tị.    Ở Hàn Quốc, đối thủ cạnh tranh của Daewon là Học viện Minjok, nằm cách Seoul về phía đông 14 phút xe hơi. Trường này đã có thành tích đáng chú ý về tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các Đại học Ivy League (nhóm trường nổi tiếng ở Đông Bắc nước Mỹ: Harvard, Yale, Penn, Princeton, Columbia, Brown, Dartmouth và Cornell).           Học sinh trường Minjok vẫn có những giờ học “thư giãn”- như học đàn, ngoài giờ học luyện thi ĐH.          Vậy trường Hàn Quốc đã làm gì để đạt được kết quả nói trên?    Công thức thành công tương đối đơn giản. Họ tuyển những học sinh có điểm tốt nghiệp cao nhất ở các trường Trung học cơ sở của Hàn Quốc. Sau đó, xếp các học sinh có nguyện vọng thi vào đại học Mỹ vào những lớp dạy bằng tiếng Anh, do giáo viên Hàn Quốc, giáo viên Mỹ và các nước khác được trả lương cao đứng lớp. Những lớp này học tập trung kỹ năng làm tiểu luận và các kỹ năng khác cần thiết để thành công trong các kỳ kiểm tra SAT. Học sinh cũng học viết bài luận bắt buộc theo yêu cầu tuyển sinh của đại học Mỹ.  Cả 2 trường của Hàn Quốc đều dùng sách giáo khoa chuẩn của quốc gia, nhưng giảng dạy theo phương pháp phương Tây và đều dẹp hết những sở thích, thói quen lãng mạn của tuổi thiếu niên vì cho rằng những chuyện đó chỉ tổ làm lãng phí thời gian.  Alexander Vershbow, Đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc, cho biết: “Ở Hàn Quốc, việc rèn luyện học sinh thi vào các trường đại học tốt nhất của Mỹ đã trở thành một vấn đề mang tính quốc gia”.  Theo William Fitzsimmons, trưởng ban tuyển sinh Đại học Harvard, số học sinh Hàn Quốc nộp đơn vào trường đã tăng gấp 3 lần, từ 66 trong năm 2003 lên tới 213 người vào mùa xuân năm nay.  Hiện Harvard có khoảng 37 sinh viên Hàn Quốc bậc cử nhân, nhiều hơn so với số lượng sinh viên của các nước khác, trừ Canada và Anh. Tính chung các trường Harvard, Yale và Princeton có khoảng 103 sinh viên Hàn Quốc bậc cử nhân, trong đó có 34 em từng học ở trường Daewon và Minjok.  Kim Hyun Kyun, 17 tuổi, đã đạt được số điểm tối đa – 800 điểm – trong kỳ kiểm tra SAT môn đọc hiểu và toán; 790 điểm cho môn viết. Em dự định tháng 5/2008 này sẽ tham gia 9 kỳ thi xếp lớp với các môn Toán học, Vật lý, Hóa học và Lịch sử châu Âu và 5 môn khác nữa. Do vậy, em rất bận rộn.  Hằng ngày, em thức dậy vào lúc 6 giờ sáng, đón xe buýt và đến trường lúc 6 giờ 50. Đến trường Daewon, em chộp lấy cây chổi và giúp các bạn cùng lớp làm vệ sinh lớp học. Từ 8 giờ đến trưa, em nghe giáo viên Hàn Quốc giảng về quy luật cung và cầu (kinh tế học), về đất đai Hàn Quốc (địa lý) và cả thơ cổ (văn học). Buổi trưa, em cùng các bạn học sinh khác trong đồng phục màu xanh đi đến nhà ăn, nơi có thức ăn chế biến từ đậu xanh, gạo, bánh bao chiên, củ cải muối chua. Kim ăn cùng với các bạn gái. Các cậu con trai thì ngồi ở khu vực khác, ăn vội vàng và nhai ngấu nghiến thức ăn rồi nhanh chóng chạy ra một bãi đất bụi bặm chơi bóng đá để lấy lại tinh thần trước khi bước vào các tiết học buổi chiều.  Đến 3 giờ 20 là giờ học tiếng Anh do Mani Tadayon, một người Iran biết nhiều thứ tiếng, tốt nghiệp đại học Mỹ California, Berkeley, giảng dạy. Tiếp đó là bài học về tổ chức Nhà nước và chính trị do Hugh Quigley, trước đây là luật sư ở Thị trường chứng khoán Phố Wall bên Mỹ, phụ trách.  Lớp học ôn buổi tối bắt đầu lúc 7 giờ 45. Kim Hyun Kyun chất đống sách giáo khoa ở một chiếc bàn bên cạnh. Em nhìn vào danh sách những việc cần làm. Các bạn cùng lớp em thì treo những chiếc ba lô lên chỗ ngồi, mở cửa sổ và bắt đầu ôn bài.  Ba giờ sau, sàn nhà đầy những túi carton nước trái cây đã uống hết và chai không. Một cô bé đã gục xuống bàn ngủ. 10 giờ 50, chuông reo và Kim ra khỏi lớp, đón xe buýt để về nhà ở Seoul, phía nam sông Hàn.  Em cho biết: “Em thấy tự hào vì đã chịu đựng được và vượt qua thêm một ngày nữa”.  Thời khóa biểu của trường nội trú Minjok, nằm ở vùng nông thôn với những tòa nhà lợp ngói, dường như còn dễ làm người ta nản chí hơn.  Học sinh ở đây thức dậy lúc 6 giờ để tập võ thuật, sau đó mặc áo choàng dài màu đen và xám lao vào một ngày học không ngừng nghỉ. Ngày học chỉ kết thúc khi gần đến nửa đêm.  Gang Min Ho, một học sinh sắp tốt nghiệp trường, cho biết: “Nhưng sau đó hầu hết mọi người vẫn tiếp tục học bài đến tận 2 giờ sáng, khi bóng đèn ở khu nội trú được tắt đi. Nhưng một số học sinh vẫn thắp đèn lồng lên để tiếp tục học. Nói chung, chúng em rất mệt mỏi”.  Thỉnh thoảng, học sinh cho biết mình bị kiệt sức, đến nỗi Alexander Ganse, giáo viên người Đức dạy môn lịch sử châu Âu, phải hỏi: “Đêm qua em có ngủ chút nào không?”.  Nhưng Choi Jung Yun, một học sinh từng sống ở San Diego, cho biết: “Chúng em không chỉ là lũ ngốc”. Choi cho biết học sinh trường Minjok thường chơi thể thao, tham gia các câu lạc bộ giải trí và thậm chí còn lập cả một ban nhạc rock nữa.  Đại sứ Vershbow, một người mê đánh trống, cũng xác nhận điều này. Ông có một số bức hình chụp cảnh ông bị mắc kẹt giữa các ca sĩ, nhạc công thiếu niên trong chuyến thăm trường Minjok hồi năm 2007.  Còn có những cách khác để làm giảm bớt đi không khí học tập căng thẳng. Một tấm băng-rôn từng được treo trên một tòa nhà của trường Minjok có nội dung “Ngôi trường này là một thiên đường đối với những ai muốn học và là địa ngục đối với những người không muốn học” nhưng sau đó đã bị tháo xuống sau khi ban giám hiệu cho rằng nó thật khó nghe và thô tục.  (theo New York Times)  Ngọc Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và giáo dục – những nghịch lý      Từ khi học vỡ lòng đến khi học hết bậc đại học học sinh, sinh viên Việt Nam được học vô số các thứ gọi là… “khoa học”, trừ một định nghĩa “khoa học” là gì?      Đầu xuân mấy ông đồ gàn ngồi với nhau nhâm nhi ly rượu bàn cái sự đời….   Đầu tiên là ngâm nga bài vè để cười chơi về cái sự đời… “Cây cau cây móc/Con cóc con ba ba/Con gà con chó/Cái đó cái xa”. Hỏi tại sao lại như thế, thì các cụ đồ gàn phán rằng… Sự đời gồm những nghịch lý, tỷ như “Con cóc thì ở trên cạn, nhưng lại xuống nước đẻ một lũ nòng nọc; Con ba ba thì sống dưới nước, nhưng lại lên cạn đẻ trứng”; “Còn cái được gọi tên là ‘đó’ thì dùng đơm cá ở tít cánh đồng xa; trong khi cái được gọi tên là cái “xa” thì lại dùng kéo sợi ngay bên cạnh mình”  Ông đồ gàn nọ hỏi ông đồ gàn kia: Thế thì liên quan gì đến cái khoa học và giáo dục?  Ấy thế mà liên quan đấy! Khoa học và giáo dục ở ta hiện nay cũng loanh quanh những nghịch lý y hệt như vậy! Nhân ngày xuân, các cụ đồ gàn hết chuyện, tản mạn mấy chuyện… chơi… về nghịch lý (và nghịch nhĩ) về khoa học và giáo dục.  Học đủ thứ KH&CN, … trừ hai định nghĩa: “khoa học” và “công nghệ” là gì?  Mấy năm vừa qua, tôi có dịp giảng môn Phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên và các lớp sau đại học ở một số trường đại học trong nước. Tôi thường mở đầu bài giảng như thế này:  “Trong những năm học đại học, chắc chắn các bạn đã học rất nhiều lý thuyết khoa học. Vậy tôi xin các bạn cho một định nghĩa khoa học là gì?”. Hầu như rất ít sinh viên trả lời được. Ngay đối với những học viên cao học và nghiên cứu sinh, những người đang bước chân vào con đường làm khoa học, sẽ là tác giả của hàng loạt lý thuyết khoa học trong tương lai, khi tôi đặt ra câu hỏi đó, họ cũng không dễ trả lời được suôn sẻ (!)   Tôi không ngạc nhiên. Họ không trả lời được là đúng, bởi vì trong các môn học được dạy ở bậc đại học, không có môn học nào cho họ một định nghĩa trọn vẹn “Khoa học” là gì và “Lý thuyết khoa học” là gì?  Các bạn có biết điều tôi ngạc nhiên nữa là gì không? Lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Năm 1943, trong bài học đầu tiên khi tôi học lớp 1, hồi đó gọi là lớp Đồng ấu, tôi đã được học khái niệm “Khoa học” là gì.  Đó là bài học cho lớp khai tâm, Bài số 1 trong cuốn sách Quốc văn Giáo khoa thư Lớp Đồng Ấu của các tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc và một số người khác. Tôi nhớ mang máng là có bài dạy cho lớp khai tâm biết khái niệm “Khoa học” là gì. Tôi đang định vào Thư viện Quốc gia để tìm, thì may mắn sao, tôi bắt gặp cuốn sách ở ngoài hiệu sách. Cuốn sách do Nhà xuất bản Thanh Niên in lại. Đây là bộ sách được Nha Học chính Đông Pháp DIRIF (Direction de l’Intruction de l’ Indochine Française) phê duyệt làm sách giáo khoa từ đầu thế kỷ 20. Rất cảm ơn Nhà xuất bản Thanh Niên đã cho những người thuộc lớp tuổi tôi có dịp tìm lại được cuốn sách. Bây giờ tìm lại không phải để học như hơn bảy mươi năm trước đây, mà tìm để nghiên cứu. Bài đầu tiên của Lớp Đồng Ấu, tức lớp Khai tâm là Bài số 1 trong sách Quốc văn Giáo khoa thư. Đó là bài “Tôi đi học”1:  “Năm nay tôi lên bảy tuổi. Tôi không chơi đùa lêu lổng như mấy năm còn bé. Tôi đi học. Tôi học đọc, học viết, học tính, học vẽ và nhiều khoa học khác nữa.”  Khái niệm “khoa học” được in nghiêng, có phần giải thích: “Khoa học: ở đây có nghĩa là môn học, như luân lý, toán, địa lý, sử, v.v...”. Tôi kinh ngạc về sự giải thích của học giả Trần Trọng Kim thời đó. Bởi vì khái niệm khoa học những năm đầu thế kỷ 20 còn tương đối sơ sài. Tôi thử tìm kiếm trong cuốn Từ điển Larousse xuất bản từ đầu thế kỷ 20 xem thời đó người ta đã định nghĩa khoa học như thế nào. Thì ra thời đó, khái niệm này thực sự là còn hết sức giản đơn. Tôi tìm được hai định nghĩa: “Connaissance exacte et raisonnée de certaines choses déterminées”, nghĩa là “Tri thức chính xác và duy lý về một số sự vật xác định”, và “Tout ensemble de connaissances fondée sur l’étude”, nghĩa là “Toàn bộ tập hợp kiến thức được thiết lập trên cơ sở nghiên cứu”.  Điều tôi rất đỗi ngạc nhiên là thời đó khoa học chưa phát triển. Thế mà các nhà trí thức đương thời đã đi trước cả chúng ta, đi trước một thế kỷ, đã viết sách dạy cho học sinh lớp 1 định nghĩa giản dị mà chuẩn xác về khái niệm “khoa học”. Điều đáng buồn là một thế kỷ đã qua từ ngày bộ sách Quốc văn Giáo khoa thư chính thức được phê duyệt để dạy trong các trường tiểu học, thế mà không ở một chương trình đại học nào ngày nay dạy cho sinh viên của ta khái niệm “khoa học” một cách trọn vẹn.  Gắn với khái niệm “Khoa học” còn có khái niệm “Công nghệ”. Nhiều người cứ giải thích rằng khái niệm “Công nghệ” là mới. Ấy vậy mà trong sách Quốc văn Giáo khoa thư lớp Dự bị (giống như lớp 2 ngày nay) của Trần Trọng Kim từ thập niên đầu thế kỷ 20 cũng đã có cả một bài riêng dạy cho những học trò đang còn ở tuổi rất non nớt thế nào là “Công nghệ”. Trần Trọng Kim diễn giảng như sau: “Công nghệ là những nghề đòi hỏi sự đóng góp của bàn tay thợ”. Khi nói về đặc điểm của công nghệ, ông viết: “Nhưng xưa nay, các công nghệ của ta có cái thói lạ, là nhiều nơi có nghề gì riêng, thì cố giữ, không cho nghề ấy lọt ra ngoài. Mỗi nghề lại thờ một ông thánh sư, là người sáng lập ra nghề ấy”. Thì ra thời đó Trần Trọng Kim đã khéo léo dạy cho lớp học sinh nhỏ tuổi biết thế nào là bí quyết công nghệ (know-how) và quyền sở hữu đối với các bí quyết công nghệ, mặc dầu hình như ông nhìn quyền sở hữu này không mấy thiện cảm.  Ngày nay, tri thức về bản thân cái gọi là “khoa học” và “công nghệ” đã phát triển quá xa so với những hiểu biết thời học giả Trần Trọng Kim. Cả một hệ thống lý thuyết đồ sộ về “khoa học” và “công nghệ”, “phương pháp luận khoa học”, “lý thuyết đổi mới công nghệ”, “những khía cạnh xã hội của khoa học và công nghệ”, “lý thuyết phát triển khoa học và công nghệ” đã được phát triển chưa từng thấy. Vậy mà, trong khi sinh viên của chúng ta được học hàng trăm bộ môn khoa học và công nghệ khác nhau, họ lại không được có một hiểu biết sơ khai: “Khoa học là gì?” cũng như “Công nghệ là gì?”, hơn nữa, khoa học và công nghệ có mối quan hệ tương tác nào với sự phát triển kinh tế và xã hội.    Lý thuyết là gì?   Từ khi học trung học, học sinh của chúng ta đã bắt đầu làm quen với vô số các thứ lý thuyết. Lên học đại học sinh viên càng được học nhiều lý thuyết hơn nữa. Vậy mà khi hỏi “Lý thuyết là gì?” thì hầu như sinh viên của chúng ta, kể cả những học viên sau đại học đều luôn ngớ ra, và rất ngỡ ngàng, rằng tại sao họ lại không được học những khái niệm như thế.  Câu hỏi của tôi hoàn toàn bất ngờ đối với sinh viên cũng như nhiều học viên sau đại học. Quả thật, nếu xem kỹ lại chương trình ở bậc đại học, trong suốt những năm ngồi trên ghế trường, sinh viên được học khoảng 50 -60 bộ môn khoa học và hàng trăm thứ lý thuyết khác nhau, nhưng điều kỳ lạ là, họ không được học một môn nào cung cấp cho họ một định nghĩa trọn vẹn “Lý thuyết là gì?”  Một điều lý thú nữa là rất nhiều bạn đã đưa ra hai định nghĩa khác nhau về “Lý thuyết” và “Lý luận”. Thật là hay. Thực ra, lý thuyết và lý luận đâu có là hai khái niệm, mà là hai cách dịch sang tiếng Việt của một từ tiếng nước ngoài, chẳng hạn, tiếng Anh là “Theory”. Trong Anh – Hán Đại Từ điển của Trịnh Dị Lý, “Theory” được dịch sang tiếng Hán là “Lý luận”; “Học lý”; “Luận thuyết”, “Học thuyết”.   Nhiều bạn nghiên cứu sinh không thật sự hiểu rõ, đáng ra trong công việc của họ có một bộ phận rất quan trọng là xây dựng các lý thuyết. Có những người đã viết nên một số cơ sở lý thuyết, nhưng khi trao đổi với họ “lý thuyết là gì”, thì thực sự họ cũng không cắt nghĩa được ngọn ngành lý thuyết là gì, và lý thuyết gồm những bộ phận hợp thành nào, và việc xây dựng các bộ phận đó cần phải đi theo một lộ trình như thế nào. Như vậy có thể nói là họ làm lý thuyết dựa trên cảm tính, nếu không nói quá rằng, họ làm ra lý thuyết một cách mò mẫm, thiếu hẳn những “cơ sở lý thuyết” của việc làm ra “lý thuyết”, như thể các nghệ nhân chơi đàn mà không cắt nghĩa được cơ sở lý thuyết của nó. Giá như các nhà sáng tạo lý thuyết tương lai được học những cơ sở lý thuyết của lý thuyết, thì sẽ giảm đi được biết bao nhiêu những nỗ lực sai lệch về phương pháp, định hướng, và có phải là sản phẩm của họ sẽ chuẩn xác, khách quan hơn bao nhiêu không!  Dạy cho thiên hạ đủ các phương pháp, trừ phương pháp cho riêng mình  Một nghịch lý thú vị, khoa học dạy điều hay lẽ phải và phương pháp cho mọi lĩnh vực hoạt động: dạy từ công nghệ nấu ăn cho đến công nghệ chế tạo bom nguyên tử; dạy từ công nghệ chế tạo các vật dụng hằng ngày cho đến công nghệ chế tạo tàu vũ trụ… trừ việc ít chăm lo hoàn thiện các phương pháp của chính khoa học… Quả thật, chúng ta có thể tìm mỏi mắt trên mạng cũng khó tìm được một luận án tiến sỹ nào nghiên cứu về phương pháp luận khoa học.  Không chỉ có như vậy đâu.  Tôi nhớ cách đây mấy năm, tôi và tiến sỹ Trịnh Ngọc Thạch (nay là Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Quốc Hội) được Đại học Quốc gia Hà Nội giao cho thực hiện một đề tài nghiên cứu về “Nâng cao năng lực nghiên cứu” của chính Đại học Quốc gia, chúng tôi đã gửi đi một phiếu thăm dò ý kiến về việc đưa môn học về phương pháp nghiên cứu khoa học thành một môn học bắt buộc đối với sinh viên, thì một vị giáo sư luôn được vinh danh trong giới sử học đã viết vào phiếu trả lời chúng tôi là “chỉ cần dạy cho sinh viên về nhận thức luận Marx-Lenin là đủ”. Quả thật, ông đã nhầm lẫn trong lý luận về phương pháp nghiên cứu khoa học: Nhận thức luận Marx-Lenin chỉ gợi ý cho sinh viên hướng tiếp cận nghiên cứu (Research Approach), chứ không giúp sinh viên những bước cụ thể trong kỹ năng nghiên cứu (Research Skills).  Trong một hội thảo phối hợp tổ chức giữa Bộ KH&CN và Đại học Quốc gia Hà Nội về nghiên cứu cơ bản, tôi còn giữ 10 bản báo cáo của các vị giáo sư và phó giáo sư và trưởng phòng quản lý khoa học của các trường thành viên của Đại học Quốc gia, trong đó có 6 bài đã nhầm lẫn giữa hai khái niệm “nghiên cứu khoa học cơ bản” (Basic Sciences) và “nghiên cứu cơ bản” (Fundamental Research).  Mùa xuân đến rồi. Đã đến lúc các cụ đồ gàn bàn nhiều hơn đến các nghịch lý, hầu mở ra một trang sử mới cho khoa học và giáo dục nước nhà.   ————-  1 Trần Trọng Kim và các tác giả: Quốc văn Giáo khoa thư, NXB Thanh Niên, 2000.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi đầu chấn hưng đại học bằng “tinh hoa”      1/ Gần đây, một số báo chí, hay một số người Việt Nam phát biểu thường nhắc đến bảng xếp thứ tự các trường “đại học”, thí dụ như bảng xếp của Jiao Tong University (nếu tôi không lầm chữ Hán, thì nghĩa là Đại học Giao thông) ở Thượng Hải. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học nước ngoài cho rằng không thể coi đó như là một thứ “khuôn vàng thước ngọc”. Xin nêu vài nhận xét sau đây của họ, mà phần nào tôi chia sẻ:    Người đánh giá xếp hạng (Đại học giao thông, một đại học “một ngành”), xếp lẫn lộn các “trường” mà hình như họ cũng không phân biệt được định nghĩa. Thí dụ như với Pháp họ xếp lẫn các Universités (bao gồm nhiều ngành, nhiều khoa) với các “Grandes Ecoles” (thường chỉ có một ngành, và tầm cỡ khối lượng có khi chỉ tương đương với một khoa). Nói chi tiết một chút cho rõ. Bằng tú tài Pháp (baccalauréat) ra đời năm 1808, có đặc điểm sau đây: theo luật, nó vừa là bằng kết thúc Trung học (định nghĩa thứ nhất), đồng thời  là “bằng cấp đầu tiên của đại học”, (“premier grade universitaire”, định nghĩa thứ nhì). Vì cái định nghĩa thứ nhì là như thế nên từ thuở được khai sinh đến nay đã 200 năm, người có bằng tú tài Pháp được đương nhiên ghi tên vào học Université (“đại học” Pháp, tôi dùng tiếng Pháp cho khỏi lẫn lộn dưới đây) mà không phải thi tuyển gì hết: bằng tú tài Pháp là kết quả của một sự “gộp thi”, một thứ bằng “hai trong một”, một tai họa mà từ mấy chục năm nay, các chính quyền tả hay hữu cố sửa mà không sửa được. Và vì thế mà “kẹt”: các Universités không được phép tuyển sinh, nghĩa là không lọc được “đầu vào”; bất cứ ai có bằng tú tài cũng được phép ghi tên vào học dù không học được. Với một số lượng sinh viên rất lớn, với trình độ linh tinh, không ngân sách nào có thể chịu đựng nổi; số sinh viên phải rời trường sau 3 năm, không được phép học tiếp, không có một mảnh bằng nào trong tay, là một con số khổng lồ. Do đó sự lãng phí thật khủng khiếp về thời gian, về nhân lực, về ngân quĩ, khuynh gia bại sản các Universités. Trong khi đó, cũng do lý do lịch sử để lại, có sự hiện diện song song của một số cơ sở giáo dục mà Pháp gọi là những “Grandes Ecoles” – (“Trường lớn”, tôi dùng tiếng Pháp cho khỏi lẫn lộn dưới đây, tóm tắt là những trường kỹ sư, những trường thương mại quản lý, chủ yếu là những trường cao cấp dạy nghề) –  đã được mở bên ngoài các Universités. May cho các cơ sở này, và may cho nền giáo dục của Pháp: nhờ được mở bên ngoài các Universités mà các cơ sở này không bị “kẹt” vào cái định nghĩa thứ hai của cái bằng tú tài kể trên. Do đó, các “Grandes Ecoles” tuyển sinh theo kiểu thi tuyển ở mức tú tài +2. “Đầu vào” nghiêm chỉnh, nên không lãng phí, và có phương tiện học hành đầy đủ hơn. Nhưng đây chỉ là một thiểu số. Các Universités thực sự chỉ “bảnh bao” ở cấp đào tạo tiến sĩ vì trừ một số trường hợp đặc biệt, đa số “Grandes Ecoles” không đảm nhiệm cấp này. Nói rất tóm tắt, có ý nghĩa gì khi đem so sánh– (cùng có trên bảng danh sách xếp hạng) – Université Paris XI (27000 sinh viên “đầu vào” không thi tuyển trong nhiều ngành như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Luật, Kinh tế… trong đó có 7000 sinh viên Y-Dược, 4500 sinh viên cấp thạc sĩ, 2600 sinh viên cấp tiến sĩ) với Ecole Nationale Supérieure des Mines (Trường kỹ sư Hầm Mỏ, nghĩa là một ngành, với non 1300 sinh viên, mà “đầu vào” đã thi tuyển ở mức tú tài + 2, con số sinh viên vừa kể gồm cả 200 sinh viên cấp thạc sĩ, 470 sinh viên cấp tiến sĩ)?  Nghe nói một trong những tiêu chuẩn để đánh giá xếp hạng cao thấp các trường của Đại học Giao thông Thượng hải là đếm số ấn phẩm. Nhưng “người” đánh giá xếp hạng lại không kể những ấn phẩm viết bằng tiếng Pháp!  Một số lớn nghiên cứu khoa học ở Pháp được thực hiện ở trong các phòng thí nghiệm của Universités, nơi chứa nhiều ê-kíp nghiên cứu hoặc nghiên cứu viên của nơi khác, kể cả của CNRS (Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia) và của Grandes Ecoles. Nhưng vì lý do nghề nghiệp, khi đăng công trình, nhiều nghiên cứu viên lại không ghi là nghiên cứu đã thực hiện trong Universités! Do vậy con số ấn phẩm bị đếm sai. Nhưng chính một số người quản lý Universités Pháp vẫn dùng con số sai lệch đó để than vãn, để đòi thêm ngân quĩ, cũng như để đòi quyền tự chủ để tiến hành cải cách. Do đó, theo tôi, ta không nên bị ám ảnh bởi sự xếp hạng.  2/ Về việc thành lập một đại học có trình độ nghiêm chỉnh, đàng hoàng – tôi chủ ý tránh dùng những cụm từ như đẳng cấp cao, đẳng cấp quốc tế… – tôi cũng đã nhiều lần kiến nghị (kể cả qua các bài báo) việc thành lập mới một đại học “hoa tiêu” công lập, bước đầu cỡ nhỏ dần dần khuếch trương ra, theo khả năng, nhưng luôn luôn giữ được chất lượng để làm gương. Ý này cũng đã được nhiều đồng nghiệp trong nước chia sẻ và kiến nghị nhiều lần từ một số năm nay (thí dụ như Bản Kiến nghị chung của 22 nhà khoa học, trí thức, tham dự xê-mi-na “Chấn hưng giáo dục” trình bày với chính quyền vào tháng 5-2004). Nhà cầm quyền đã ưu tiên giải pháp gộp nhiều trường lại với nhau cho đồ sộ mà không có thanh lọc, và chủ trương nâng cấp những cơ sở sẵn có, với những kết quả mà cả nước đều biết. Nếu cần nói một cách cụ thể cho ngày hôm nay, thì theo tôi giải pháp nhanh nhất, rẻ rất, hợp lý nhất, tốt nhất, là việc thành lập một đại học từ các cơ sở sẵn có của Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia: tuyển nghiêm chỉnh giáo sư từ đội ngũ sẵn có của viện hoặc từ các đại học khác, sử dụng các phòng ốc của viện, sử dụng các phòng thí nghiệm sẵn có của viện, chỉ mở một số ngành “mạnh” theo nghĩa đủ nhân sự và phương tiện trang bị, tuyển sinh “đầu vào” chặt chẽ trong đám các học sinh giỏi, chuyển các nghiên cứu sinh nghiêm chỉnh sẵn có sang trường này… Đại học này có thể đặt dưới sự đồng chủ quản của Bộ GD&ĐT và Bộ Khoa học và Công nghệ. Bước đầu như vậy, rồi dần dần sẽ khuếch trương. Như vậy, chẳng cần phải đợi đến 2020 để mơ lọt vào cái bảng xếp top 200 trường đại học nào đó, bởi vì đại học “hoa tiêu” này ngay từ bước đầu có thể đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng, trừ tiêu chuẩn khối lượng. Về tiêu chuẩn khối lượng này, tôi muốn nhắc lại câu của Trần Hưng Đạo trả lời khi các quan nhà Trần xin tuyển thêm binh để chống giặc Nguyên thời thế kỉ 13: “Binh cốt giỏi, chứ không cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi thì như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không ích gì!”. Bồ Kiên đây là vua Tiền Tần thời cổ bên Tàu, có đến 100 vạn quân mà bị thua nhà Tấn.  Ngày nay, nước ta cần chấn hưng giáo dục, nghĩa là cần đánh giặc dốt; nếu cứ nhắm tuyển tướng không giỏi, quân không giỏi, thì thắng sao được? Tôi đọc những bản tin, thấy ở ta nhắc nhiều đến sự so sánh rằng nước này cứ 1 vạn dân thì có bao nhiêu sinh viên, rằng nước kia cứ 1 trăm sinh viên có bao nhiêu thầy, nhưng đồng thời không thấy nhấn mạnh đến việc nước họ không có chuyện “ngồi nhầm lớp”, “đứng nhầm lớp” tràn lan. Dự báo, thì cứ dự báo, nhưng tôi nghĩ rằng phải khởi đầu sự chấn hưng bằng “tinh hoa” đã, còn “đại trà” là bước sau.  —–  *Nguyên giáo sư đại học Paris, Pháp  GS. Bùi Trọng Liễu*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khơi dòng cảm xúc      So với trước đây, trẻ em ngày nay được quan tâm và đầu tư nhiều hơn bao giờ hết, cả về vật chất lẫn tinh thần. Vậy vì sao con em chúng ta vẫn nghèo nàn về cảm xúc?    Cháu tôi năm nay vừa học xong lớp 4 chuẩn bị lên lớp 5, được xếp hạng học sinh giỏi, tính tình ngoan hiền. Thế nhưng có vài lần tôi bắt gặp cháu cắn bút khóc vì không làm được bài tập làm văn cô giao về nhà. Những đề văn khá đơn giản như mô tả một con vật yêu thích khi đi xem vườn bách thú, hay tả lại cánh đồng lúa chín khi được về quê, nhưng cháu tôi hoàn toàn bất lực trước trang giấy trắng và không biết phải bắt đầu từ đâu. Văn chương phải bắt đầu từ cảm xúc, nhưng không ai khơi nguồn cảm xúc cho cháu tôi.  Điều này tưởng như là nghịch lý, khi mà vấn đề giáo dục trẻ em luôn được xã hội và các gia đình quan tâm hàng đầu. Sau nhiều lần đổi mới, cải cách, những cuốn sách giáo khoa môn văn ngày nay đã chứa đựng nhiều đề tài phong phú, có mục đích giúp học sinh tích lũy kiến thức toàn diện về gia đình, bạn bè, nhà trường, và xã hội, với những nội dung về giáo dục đức tính cao thượng, trung thực, dũng cảm, và yêu thương. Một số chương trình tiểu học còn cho xen kẽ cả những bài tập kể chuyện, đóng vai, giúp tăng tính sinh động cho các bài giảng và giúp trẻ em dễ tiếp cận, hóa thân vào trong nội dung bài giảng.   Bên cạnh đó, sự phát triển về kinh tế và công nghệ đã tạo ra những kênh thông tin phong phú mới mẻ. Ngày nay trẻ em không còn bị giới hạn trong những không gian bó hẹp như trước đây. Ở nhà hằng ngày các em thường xuyên được tiếp xúc với những nội dung giải trí phong phú qua truyền hình, internet, sách báo. Chưa kể có những gia đình có điều kiện, cứ vài tuần lại một lần tổ chức đi dã ngoại, giúp con mình sớm được khám phá, thăm thú những di tích, thắng cảnh, thậm chí được đi chơi xa sang tận nước ngoài.  Tuy nhiên, tất cả những điều kiện ưu đãi, thuận lợi ấy dường như không giúp con em của chúng ta tăng tiến được thêm nhiều về cảm xúc. Không hiếm tình trạng trẻ em cấp tiểu học chán học văn, hoặc cảm thấy khó khăn chật vật khi phải đặt bút viết văn. Sản phẩm của các em làm ra, một phần không nhỏ là những bài văn nghèo về ý, gượng gạo hoặc sáo mòn về cảm xúc. Đây là điều mà những bậc cha mẹ và các nhà giáo dục cần phải quan tâm suy nghĩ.    Sách giáo khoa và thầy cô giáo    Nội dung sách giáo khoa môn văn cấp tiểu học ở Việt Nam có thể nói là đa dạng, phong phú, nhưng quá đầy. Điều này gây khó khăn cho chính các thày cô giáo. Nên chăng, những người soạn sách giản lược đi, chỉ để lại những gì là tối thiểu. Như vậy sẽ giúp học sinh và các thày cô cùng lắng sâu hơn những gì là cốt lõi nhất.  Rất nhiều các tiết hướng dẫn viết văn ở cấp tiểu học hiện nay bắt đầu bằng việc giáo viên cho học sinh đọc bài văn mẫu và hướng dẫn về phân đoạn, sau đó là phần nội dung ghi nhớ với mục đích giúp học sinh nắm bắt được một số yếu tố chính hoặc cách thức cơ bản xây dựng đoạn văn, và cuối cùng là phần luyện tập với yêu cầu học sinh tự mình xây dựng một đoạn văn hoặc một bài văn.   Một tiết học với những cấu phần như vậy thoạt nghe có vẻ hợp lý nhưng thực ra là quá ôm đồm. Để kịp tiến độ, nhiều khi dạy tới phần ghi nhớ các giáo viên đơn thuần chỉ đọc cho học sinh chép, và vội vàng giao bài luyện tập về nhà mà rất hạn chế trong việc kích thích các em tự rút ra những cảm nhận của riêng mình. Hậu quả là, hết tuần này sang tuần khác, lớp học cứ trải qua cùng một kịch bản, học sinh đọc đoạn văn mẫu, phát biểu nhận xét, rồi lại cô đọc trò chép, nhưng rút cục đa số học sinh vẫn không thể tự mình viết văn một cách đúng nghĩa. Có thể một số em khá giỏi học được cách cắt ghép những đoạn văn mẫu của người khác, xào xáo trên cảm xúc của người khác, mà không hề khơi thông được nguồn cảm xúc của chính mình.             Tâm hồn của trẻ vốn vô cùng phong phú, và sẽ  là một sự sai lầm tai hại nếu người lớn không tích cực tương tác để  khơi dậy cảm xúc, những hạt mầm tốt đẹp trong các em.         Nên chăng, thay vì chạy theo các nội dung giảng dạy mang tính rập khuôn liên tục chạy theo giáo trình như vậy, các thày cô giảng chậm lại để chú trọng vào việc khơi gợi những cảm nghĩ riêng của trẻ em. Thay vì lệ thuộc vào những bài văn mẫu trong sách, các em nên được đọc bài của nhau, tự nhận xét về bài của bạn cũng như bài của mình.   Nhưng để làm được như vậy, yêu cầu đặt ra cho các thày cô là phải thật sự tôn trọng, hòa đồng với học sinh, nhưng vẫn phải tỉnh táo để đạt được mục đích giáo dục đề ra. Thay vì quan sát, tưởng tượng, trình bày hộ học trò, họ phải kiên nhẫn khơi gợi để các em tự quan sát, tự cảm nhận. Tất nhiên, để khơi nguồn cảm xúc, ban đầu giáo viên phải bắt đầu từ việc kích thích các em khá, giỏi trước khi tiếp nối đến tất cả các em khác. Mấu chốt là không để ai đứng ngoài cuộc, tất cả đều phải làm việc, phải có sản phẩm đầu ra là những cảm nghĩ của riêng mình. Trong quá trình cùng làm việc ấy, trí tưởng tượng của các em sẽ vừa kích thích lẫn nhau, vừa có tính điều chỉnh để đạt được những mẫu số chung về tính nhân văn, giúp cảm nhận của từng cá nhân được vun đắp và bồi bổ.   Vai trò quan trọng của gia đình  Tất cả những điều con người làm ra, tốt hay xấu phần nhiều xuất phát từ thái độ và tình cảm. Xã hội chỉ có thể phát triển đi lên đúng nghĩa nếu trẻ em ngay từ tấm bé, đã được gia đình và cộng đồng hun đúc những tình cảm chân thành, không gượng ép, ẩn chứa trong những sản phẩm hằng ngày của các em.  Những bậc cha mẹ ngày nay có nhiều điều kiện vật chất hơn xưa, có thể cho con rất nhiều, cả về vật chất, tiền bạc, kể cả thời gian. Nhiều phụ huynh có thể mua cho con những đồ chơi đắt tiền, và không hiếm những ông bố, bà mẹ dành thời gian ngồi học giải bài tập với con. Họ đều mong muốn cho con hạnh phúc, được hưởng một cuộc sống tốt đẹp nhất. Nhưng ngay bản thân họ cũng chưa thật thấu hiểu về hạnh phúc. Các bậc cha mẹ chỉ cố gắng thỏa mãn những nhu cầu nhất thời bề ngoài, mà không biết khơi dậy ý thức tự chủ và chia sẻ những khao khát vươn lên trong cuộc sống của các em. Vậy nên, rất ít người kiên nhẫn cùng con tập thể dục, cùng làm việc nhà, và đánh giá, động viên những sản phẩm nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng của các em.  Khái niệm sản phẩm ở đây không nhất thiết cứ phải gắn với điểm số bài vở trên lớp hay những công việc phụ giúp gia đình của trẻ. Sản phẩm ở đây có thể đơn thuần là những suy nghĩ và tình cảm dành cho người thân và gia đình trong cuộc sống hằng ngày. Sự tương tác của người lớn là rất cần thiết. Thay vì chỉ ôm ấp, vỗ về, hãy đặt cho trẻ những câu hỏi về mọi con người và sự vật xung quanh để kích thích cảm nhận. Tâm hồn của trẻ vốn vô cùng phong phú, và sẽ là một sự sai lầm tai hại nếu người lớn không tích cực tương tác để khơi dậy cảm xúc, những hạt mầm tốt đẹp trong các em. Ví dụ như ngày nay không ít trẻ em được tạo điều kiện đi chơi xa, khám phá các miền đất nước, những làng nghề, những di tích lịch sử, nhưng thật lãng phí nếu trong những sinh hoạt ấy, người lớn không tương tác, khơi gợi lên những suy nghĩ, xúc cảm, khiến tâm trí của trẻ chẳng đọng lại được điều gì đặc biệt đáng nhớ. Kết quả là khi về, ta hỏi rằng cháu có thích không, trẻ bảo rất thích, nhưng khi hỏi thích gì nhất, thích như thế nào thì đứa trẻ chịu không nói được. Đó chính là hậu quả của sự thụ động trong tâm trí trẻ xuyên suốt chuyến đi, và lẽ ra các bậc cha mẹ hoàn toàn có khả năng thay đổi điều này. Ví dụ như trong những chuyến đi tắm biển, thay vì chuẩn bị hết mọi thứ cho con từ quần áo, giày dép, đến các đồ chơi, vật dụng (có bậc cha mẹ đi tắm biển thì chuẩn bị cả kính lặn, mũ lặn) hãy yêu cầu các con tự chuẩn bị. Hãy cùng con cảm nhận thế giới, yêu cầu và lắng nghe con tả lại về những con người và sự vật, cảnh mặt trời mọc trên biển buổi sáng, cảnh trăng lên trên biển, lúc vắng vẻ hay đông vui. Những điều nhỏ bé ấy chắc chắn sẽ khiến con họ giàu có và mạnh mẽ hơn rất nhiều trong tâm hồn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khơi gợi và nuôi dưỡng tình yêu khoa học trong giới trẻ      TS. Ngô Đức Thế và TS. Lưu Quang Hưng, hai nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài, đã chia sẻ với Tạp chí Tia Sáng những suy nghĩ và mục tiêu mà họ hướng đến khi thành lập Trường hè Khoa học, một khóa học diễn ra vỏn vẹn vài ngày mỗi năm nhưng bước đầu đã thực hiện được điều họ mong đợi: góp phần khơi gợi và nuôi dưỡng tình yêu khoa học trong các bạn trẻ.    Ngô Đức Thế, Lưu Quang Hưng    Một tiết học tương tác tại Trường hè Khoa học 2016  (Ảnh: Quốc Toản – VNU Media).  Những ngày đầu gian nan  Khi còn cùng làm việc tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS), ba nhà khoa học trẻ Ngô Đức Thế, Lưu Quang Hưng và Giáp Văn Dương luôn băn khoăn về sự thờ ơ của giới trẻ với khoa học và nghề nghiên cứu. Những câu hỏi ấy vẫn luôn được gợi lên trong những cuộc thảo luận về khoa học của họ với nhóm các đồng nghiệp người Việt ở NUS. Làm gì để cổ vũ giới trẻ có thêm dũng khí theo đuổi con đường nghiên cứu đầy chông gai mà chính bản thân họ cũng đang phải đối mặt?  Khi chia tay nhau ở Hà Nội để chuẩn bị mỗi người tới một phương trời mới, cả ba cùng tìm thấy câu trả lời cho băn khoăn này, đó là tổ chức một lớp học dành cho những sinh viên yêu thích khoa học nhằm trang bị những kỹ năng và hành trang cơ bản từ những trải của những người đi trước. Xa hơn, trường hè còn có thể truyền thêm nhiệt huyết và nuôi dưỡng tình yêu dành cho khoa học của các bạn trẻ. Trường hè Khoa học Việt Nam (Vietnam Summer School of Science, VSSS) đã ra đời vào tháng 8 năm 2013 trong hoàn cảnh đó.  Trong quá trình chuẩn bị tổ chức, hàng loạt những vấn đề đã lần lượt nảy sinh: để thu hút các em quan tâm hơn đến khoa học thì cần những nội dung bài giảng gì; thời lượng bao nhiêu là phù hợp cho khóa học; lấy ở đâu ra kinh phí (dự kiến hàng chục triệu) để mở lớp khi chẳng ai sẵn lòng tài trợ cho ý tưởng họ chưa nhìn thấy, thậm chí là lĩnh vực chẳng mang lại tác dụng quảng bá gì với doanh nghiệp; liệu các bạn trẻ sẽ đón nhận ra nó sao, có sinh viên nào thật sự quan tâm đến lớp học như vậy không khi luôn có hàng trăm hoạt động khác hấp dẫn hơn? Tìm đâu ra sinh viên chỉ trong vòng có vài tuần trong bối cảnh các em đang đều về quê nghỉ hè? Rất nhiều những câu hỏi khác những người tổ chức phải tự đặt ra cho mình và loay hoay tìm giải pháp.  Thật may, ý tưởng của nhóm đã nhận được sự ủng hộ nhiệt thành của lãnh đạo trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, đặc biệt là của TS. Trịnh Thị Thúy Giang. TS. Giang là người đã giúp kết nối với lãnh đạo nhà trường nhằm hỗ trợ cơ sở vật chất, đồng thời bảo lãnh về nội dung để Trường hè có thể đi vào hoạt động từ con số 0 tròn trĩnh.  Trường hè khoa học đầu tiên đã diễn ra trong hai ngày, mùng 5 và 6 tháng 8 năm 2013. Một lớp học ấm cúng với 80 học viên ưu tú nhất được chọn từ hơn 180 hồ sơ nộp trực tuyến. Sáu giảng viên trẻ (nhóm ba người đầu tiên cùng với ba giảng viên đại học trẻ khác, PGS.TS. Ngô Đức Thành, TS. Phạm Thái Sơn và ThS. Hồ Huyền) thay nhau giảng 6 bài. Số lượng các bạn trẻ đăng ký học vượt xa mong đợi ban đầu của họ, góp phần tạo nên một không khí lớp học sôi nổi chưa từng có. Suốt hai ngày liên tiếp, các bài giảng diễn ra từ 8h sáng tới 7h tối nhưng không học viên nào bỏ về giữa chừng, thậm chí đa phần còn nán lại với nhiều câu hỏi và thảo luận cùng các giảng viên.  Nuôi dưỡng tình yêu khoa học trong giới trẻ  Luôn coi trường hè là nơi những nhà khoa học trẻ đi trước thể hiện trách nhiệm dìu dắt những thế hệ tiếp theo, VSSS đã tập hợp được một bộ khung chương trình giảng dạy với sự tham gia của những nhà khoa học trẻ có chuyên môn tốt và giàu nhiệt huyết. Lối giảng dạy tươi mới, cởi mở, đa chiều và phong phú về nội dung là những ưu điểm của Trường hè và may mắn luôn được các học viên đón nhận. Điều bất ngờ là các giảng viên đều tham gia tự nguyện tham gia, không đòi hỏi bất kỳ một khoản thù lao nào, chỉ với một mục đích là nỗ lực nuôi dưỡng tình yêu khoa học trong các bạn trẻ.  Thành công ở lần tổ chức đầu tiên đã thắp lên niềm tin cho nhóm sáng lập tiếp tục duy trì và phát triển Trường hè. Ngay sau khi chương trình kết thúc, Ban tổ chức đã nhận được những phản hồi tích cực của cộng đồng bạn trẻ yêu thích nghiên cứu về mục tiêu, nội dung cũng như phương pháp giảng dạy. Với sự ủng hộ nhiệt thành này, các kỳ trường hè tiếp theo chứng kiến sự mở rộng quy mô học viên và sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học trẻ đang làm việc trong nước bằng việc cùng tham gia tổ chức giảng dạy như TS. Nguyễn Đức Dũng (Đại học Bách khoa Hà Nội), TS. Đặng Văn Sơn (Đại học Quốc gia Hà Nội)… Các kết quả tích cực giúp Trường hè nhận được sự ủng hộ của một số tổ chức khác như Viện VEPR (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm DEPOCEN, Công ty Trung Nguyên, Công ty AlphaSchool, Công ty AlphaBooks.  Cho đến năm 2016, Trường hè Khoa học đã qua bốn kỳ tổ chức liên tiếp. Số lượng sinh viên quan tâm các chương trình học của Trường hè ngày một tăng. Mặc dù quy mô lớp học mỗi năm đã được tăng lên gần gấp ba (trên 200 người) nhưng số lượng hồ sơ nộp hàng năm luôn ở mức trên dưới 500. Đồng thời, Ban tổ chức cũng nhận được những phàn hồi rất tích cực từ các bạn học viên về sự thú vị và những điều bất ngờ mà chương trình mang lại.  Vì vậy từ chỗ chỉ gói gọn trong các nội dung về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, các bài giảng của Trường hè đã được mở rộng ra nhiều nội dung về khoa học xã hội, kinh tế, nghệ thuật nhờ sự tham gia tích cực của nhiều giảng viên mới ở các lĩnh vực này như TS. Nguyễn Ngọc Anh (DEPOCEN), TS. Nguyễn Tô Lan, TS. Trần Trọng Dương (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), TS. Nguyễn Đức Thành, TS. Phạm Sỹ Thành (Viện nghiên cứu kinh tế VEPR, đại học Quốc gia HN),.. và nhiều nhiều nhà khoa học khác đang làm việc tại Việt Nam.  Ảnh hưởng của trường hè  Qua bốn lần tổ chức, nội dung khung của trường hè đã được định hình rõ nét. Nội dung chính bao gồm các bài giảng về: phương pháp luận khoa học, tư duy phản biện, tư duy nghiên cứu, kỹ năng công bố công trình khoa học, đạo đức của người làm khoa học và cách trích dẫn, các kinh nghiệm hữu ích nhằm chuẩn bị theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ xin việc trong lĩnh vực học thuật, cách tìm kiếm học bổng du học. Bên cạnh dàn bài khung đó, mỗi năm sẽ có những bài giảng “mềm” mới về khoa học ứng dụng và nghệ thuật.  Kể từ trường hè lần thứ ba (2015), một nội dung mới được đưa vào là tương tác, nhằm rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và các tình huống khoa học giả định, bất ngờ trở thành nội dung sôi nổi nhất của kỳ trường hè các năm sau đó. Qua khảo sát sau chương trình, hơn 80% học viên đã đánh giá các bài tập nhóm và tương tác ở mức độ “rất hữu ích”.  Sau bốn kỳ tổ chức, VSSS đã bắt đầu cho thấy những tác động tích cực của nó lên giới trẻ qua những phản hồi của các cựu học viên. Gần 80% cựu học viên trả lời rằng tình yêu của họ đối với khoa học và nghiên cứu khoa học tăng lên rõ rệt, trong đó có gần 25% người đã thể hiện quyết tâm chuyển sang theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học lâu dài sau khi học Trường hè. Ở góc nhìn khác, bài giảng chia sẻ kinh nghiệm xin học bổng và du học nước ngoài giúp các bạn có thêm cơ hội du học ở nước ngoài. Qua khảo sát chưa đầy đủ, ít nhất 10% cựu học viên phản hồi rằng họ đã kiếm được học bổng du học nước ngoài sau khi tham gia học trường hè. Hơn 60% trong số này khẳng định học bổng họ nhận được có đóng góp đáng kể từ các bài học thực tế tại trường hè. Như vậy, đến nay, trường hè đã giúp ít nhất 50 bạn theo đuổi ước mơ du học của mình.  Trường cũng thay đổi góc nhìn khác của các em về mặt đạo đức khoa học. Một ví dụ vui gần đây được dùng như một minh chứng cho sự thay đổi rõ rệt về tư duy của học viên về vấn đề đạo văn. Rất nhiều học viên sau khi tham dự trường hè viết kèm các trích dẫn nguồn cẩn thận khi viết các vấn đề xã hội trên facebook của họ. Tất nhiên đây chỉ là một thông tin vui, có thể nói, tư duy phản biện của các em sau trường hè trở nên rõ nét. Có em đã chia sẻ về quyết tâm theo đuổi con đường khoa học “Trước khi tới với trường hè, định hướng cho tương lai của mình còn khá đơn giản, mình định tìm 1 công việc thu nhập cao, có tiền phụ giúp gia đình và đi đây đi đó. Mình từng là người yêu khoa học, yêu nghiên cứu nhưng không định hướng đó là hướng đi cho mình sau khi ra trường. Đến trường hè, khi ở giữa môi trường xung quanh toàn người giỏi, toàn con người của khoa học, tình yêu nghiên cứu chưa bao giờ trỗi dậy trong lòng mình mạnh đến thế. Trước kia mình chưa bao giờ nghĩ đến việc này, nhưng hôm nay mình đã có thể nói nó ra, cố gắng phấn đấu vì nó, mình muốn theo đuổi niềm đam mê trong lĩnh vực của mình”. Có bạn còn tâm sự: “Ba ngày ở đây, nghe những điều chưa-từng-được-nghe, thấy những điều chưa-từng-được-thấy và học những điều chưa-bao-giờ-học. Ba ngày ở đây là ba ngày được thỏa mãn khát khao tìm hiểu, được đặt ra những câu hỏi, nhận những câu trả lời và ôm về một mớ khác nhiều hơn… Đi học Trường hè thực sự là một trong những trải nghiệm đáng nhớ nhất của đời sinh viên. Không chỉ là khai sáng tri thức, mở mang đầu óc và nhìn thế giới bằng những góc nhìn khác nhau, Trường hè còn là nơi cho tôi thấy những người trẻ đã và đang sống như thế nào.” Đọc hàng trăm những cảm  nhận tích cực khác của các em về trường hè không khiến giảng viên bồi hồi xúc động, như “Có thể em chưa thấm được 100% các bài giảng nhưng cái em thấy em nhận được là năng lượng tích cực lan tỏa từ những trái tim các thầy cô. Trong khoảnh khắc bế mạc, các thầy cô đứng trên sân khấu, em lại có thêm được quyết tâm rằng 7 năm nữa, em sẽ là người đứng trên đó, nối tiếp con đường của các thầy cô”.  Trường hè đi về đâu?  Dù mang trong mình rất nhiều nhiệt huyết của những bạn trẻ với khát khao nuôi dưỡng tình yêu khoa học cho thế hệ sau, trường hè phải đối mặt với rất nhiều thách thức nan giản. Có thể nói, tài chính vẫn luôn là vấn đề đau đầu với những người tổ chức ngay từ ngày đầu thành lập. Là một sự kiện tự phát từ những cá nhân, Trường hè được bắt đầu từ con số 0 với những đóng góp cá nhân của chính những người tổ chức. Sự phát triển về quy mô của Trường hè cũng đi kèm với đòi hỏi sự tiêu tốn thêm nhiều nguồn tài chính khác đề hỗ trợ các bạn học viên. Dù đã được Đại học Quốc gia Hà Nội hỗ trợ nhưng các thành viên ban tổ chức Trường hè cũng đã phải tự nỗ lực rất nhiều để duy trì trường hè suốt 4 năm qua.  Một tin vui đáng khích lệ cũng đến với Trường hè. Năm 2016, lần đầu tiên Quỹ Rencontres du Vietnam mà đại diện là GS. Jean Trần Thanh Vân tài trợ một khoản tài chính đáng kể (30.000.000 đồng), cùng với đó là sự đóng góp của nhiều trí thức người Việt đang sống và làm việc ở nước ngoài như GS. Trần Văn Thọ (Nhật Bản), GS. Phạm Xuân Yêm (Pháp), PGS. Vũ Minh Khương (Singapore) cũng giúp san sẻ bớt gánh nặng tài chính, qua đó giúp cho nhiều học viên ở xa Hà Nội (chủ yếu là ở các tỉnh miền Trung và miền Nam) được hỗ trợ một phần chi phí đi lại, đồng thời đem lại phần thưởng nho nhỏ cho cuộc thi nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ trường hè.  Qua 4 lần tổ chức, Trường hè đã ghi nhận những tác động tích cực tới lòng yêu khoa học và quyết tâm theo đuổi con đường nghiên cứu của giới trẻ. Tuy nhiên xét về hiệu quả thì con số 700 học viên đã tham dự trường hè vẫn còn quá khiêm tốn. Vì vậy để phát huy được những mặt tích cực của nó, trong những năm tiếp theo, mô hình Trường hè Khoa học vẫn cần được hoàn thiện và cần có sự hỗ trợ nhiều hơn nữa từ xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không chỉ là chuyện thi trắc nghiệm      Chiều 28 – 9, Bộ GD&ĐT đã chính thức công bố phương án thi THPT và xét tuyển ĐH, CĐ 2017. Theo phương án này, môn Toán là một trong những môn thi bắt buộc, được tiến hành theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Với hình thức thi này, dư luận đã có những ý kiến trái chiều nhau, đồng ý cũng có mà phản đối cũng có. Bài viết này không đi vào đánh giá hay bình luận về Phương án thi THPT nói chung mà chỉ nêu một số ý kiến cá nhân về việc thi trắc nghiệm khách quan đối với môn Toán.       Yêu cầu và mục đích của kì thi THPT có phải là đánh giá tư duy nói chung và tư duy Toán học nói riêng?  Hình thức, nội dung, đề thi, thời gian làm bài của môn Toán  Với Phương án tổ chức kì thi THPT 2017, bài thi Toán là một bài thi bắt buộc, được tiến hành theo hình thức trắc nghiệm khách quan; mỗi thí sinh trong cùng phòng thi có một mã đề thi riêng (giữa hai đề thi sẽ có khoảng 20% nội dung câu hỏi giống nhau); thí sinh làm bài thi trên Phiếu trả lời trắc nghiệm (Phiếu TLTN); kết quả bài thi của thí sinh trên Phiếu TLTN được chấm bằng phần mềm máy tính.  Về nội dung thi, năm 2017 nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 12 cấp THPT; năm 2018, nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 11 và lớp 12 cấp THPT; từ năm 2019 trở đi, nội dung thi nằm trong Chương trình cấp THPT. Về đề thi, đề thi gồm các câu hỏi ở các cấp độ cơ bản, phục vụ mục đích xét công nhận tốt nghiệp THPT và các câu hỏi phân hóa phục vụ mục đích xét tuyển ĐH, CĐ; đề thi có 50 câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu hỏi trắc nghiệm có bốn phương án trả lời với duy nhất một phương án trả lời đúng.  Về thời gian làm bài thi, thời gian làm bài là 90 phút.  Như vậy, có thể nói rằng nội dung phương án thi trắc nghiệm môn Toán được quy định và thể hiện khá rõ ràng.  Những luồng ý kiến khác nhau về bài thi trắc nghiệm môn Toán  Sau khi công bố Phương án thi THPT, dư luận đã có nhiều đánh giá nhận xét khác nhau trên nhiều phương diện (như thời gian làm bài thi, cách ghép thi các môn để tạo thành tổ hợp bài thi…). Tuy nhiên, môn Toán lại là môn thi nhận được nhiều ý kiến đánh giá, phản biện nhất. (Trong khi đó, một số môn vốn đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan như Vật lí, Hoá học thì lại không vấp phải những phản ứng trái chiều như vậy). Đây có lẽ cũng là một điều dễ hiểu bởi lẽ truyền thống giáo dục Việt Nam trước nay vốn đã quen với hình thức thi tự luận. Có thể tóm tắt những ý kiến này thành ba luồng chính: ủng hộ hình thức thi trắc nghiệm; đề nghị hoãn áp dụng hình thức thi trắc nghiệm và cần phải nghiên cứu thêm; bác bỏ hoàn toàn hình thức thi trắc nghiệm.  Cả ba luồng ý kiến này đều xuất phát từ những người tâm huyết, rất có trách nhiệm (bất luận họ là phụ huynh học sinh, giáo viên, nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục, hay là một người đam mê và yêu thích toán học thuần tuý) đối với công việc nghiên cứu khoa học, giáo dục nói chung và thi Toán nói riêng, dù rằng góc nhìn và sự ưu tiên lẫn “cái lí” của họ đối với vấn đề có thể không như nhau. Đa số những người ủng hộ phương án thi trắc nghiệm đều là những nhà quản lí và giáo viên đứng lớp; cũng có một số nhà toán học ủng hộ với một sự thận trọng nhất định bằng việc gắn cụm từ “nếu được chuẩn bị tổ chức tốt”. Còn những người phản đối, những người đề nghị hoãn áp dụng và cần nghiên cứu thêm chủ yếu lại là những nhà toán học ở các viện nghiên cứu và trường đại học.  Những người ủng hộ cho rằng thi trắc nghiệm có ưu điểm quan trọng là đỡ tốn kém, dễ áp dụng; kết quả đánh giá khách quan; có độ bao phủ kiến thức tốt. Những người còn lại thì một mặt thừa nhận những ưu điểm trên, nhưng mặt khác lại nêu ra một hạn chế đáng chú ý của hình thức thi trắc nghiệm là chỉ đánh giá được kết quả chứ không đánh giá được quá trình tư duy đi đến kết quả, theo đó là không có khả năng đánh giá được học sinh có năng lực toán học (bên cạnh các hạn chế như: việc tổ chức thi cập rập, có tính chất thời vụ, dễ gây hoang mang và lo lắng cho cả người dạy và người học, thậm chí có thể làm hỏng những thành tựu toán học đã có; nghi ngờ năng lực và chất lượng, kết quả biên soạn đề thi của Bộ GD&ĐT do việc này chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn).  Yêu cầu và mục đích của kì thi THPT có phải là đánh giá tư duy nói chung và tư duy Toán học nói riêng?  Yêu cầu của kì thi THPT là kiểm tra, đánh giá kiến thức tổng quát của học sinh, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn một cách cơ bản để phân loại học sinh, từ đó đi đến quyết định đỗ tốt nghiệp hay không đỗ tốt nghiệp; đủ trình độ học đại học hay không đủ trình độ học đại học. Như thế, kì thi THPT quốc gia có mục đích là lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ tuyển sinh ĐH, CĐ. Có lẽ chính vì vậy mà sự băn khoăn của một số nhà khoa học về việc thi trắc nghiệm chỉ phản ánh được kết quả chứ không phản ánh được quá trình tư duy đi đến kết quả là một băn khoăn dù đúng với bản chất của hình thức thi trắc nghiệm nhưng khó có thể được xem là một lí do có sức thuyết phục để phản đối hình thức thi này. Nếu coi đây là lí do để phản đối trắc nghiệm thì môn học nào cũng có lí do để phản đối thi trắc nghiệm vì rằng môn học nào cũng dạy học sinh tư duy đặc thù của nó bên cạnh việc dạy kiến thức.  Thêm vào đó, việc thi THPT dù được tiến hành dưới hình thức tự luận hay trắc nghiệm thì cuối cùng cũng chỉ đi đến một kết quả duy nhất là để xem học sinh có đủ điều kiện hay tiêu chuẩn để xét tốt nghiệp và vào đại học hay không mà thôi. Đây là một kì thi để xét tốt nghiệp và xét chuyển bậc học, chứ không phải là kì thi tuyển chọn những anh thợ giải toán hay những anh thợ viết văn lành nghề. Việc đánh giá năng lực tư duy giải toán nói riêng và năng lực tư duy chuyên biệt của từng môn học không phải là nhiệm vụ của kì thi này. Muốn đánh giá một năng lực chuyên biệt hay khả năng đặc biệt nào đó của học sinh, người ta luôn cần đến các bài thi, kì thi riêng.  Tư duy của học sinh là cái được hình thành, bộc lộ và được đánh giá từ quá trình dạy và học chứ không phải được hình thành, bộc lộ và được đánh giá từ trong một bài thi. Cũng cần lưu ý rằng bất kì môn học nào cũng có nhiệm vụ chính là cung cấp kiến thức về môn học đó. Môn học nào cũng vậy, bên cạnh việc cung cấp tri thức chuyên biệt của mình còn phải giúp học sinh hình thành phương pháp tư duy chuyên biệt theo kiểu tư duy của chính môn học đó. Toán học có kiểu tư duy của toán học, cũng như văn học có kiểu tư duy của văn học, lịch sử có kiểu tư duy của lịch sử… Cho nên, quan niệm cho rằng giáo dục toán học ở bậc học phổ thông không nhằm mục tiêu chính là cung cấp kiến thức rộng, mà mục tiêu quan trọng nhất là rèn luyện tư duy, dạy học sinh biết cách tìm hiểu vấn đề, suy nghĩ thấu đáo về một vấn đề và tìm ra phương pháp giải phù hợp là một quan niệm không có sức thuyết phục, nếu không muốn nói là sai về mục tiêu giáo dục.  Thi trắc nghiệm có ảnh hưởng tiêu cực đến cách dạy và học Toán?  Công bằng mà nói trong giáo dục mệnh đề học gì thi nấy luôn đồng tồn cùng thi gì học nấy. Thực chất câu nói này là gì? Học gì thi nấy, thi gì học nấy là những cách nói nhấn mạnh đến khía cạnh nội dung dạy học và thi cử chứ không  nhấn mạnh đến cách dạy học và cách thi cử. Học gì thi nấy, thi gì học nấy là câu chuyện liên quan và chi phối tới cả cách thi tự luận lẫn trắc nghiệm. Vì vậy, cũng không nên e ngại quá rằng việc thi trắc nghiệm sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến cách dạy và học ở trong nhà trường, bởi vì mỗi một kiểu thi kiểu học đều có những điểm mạnh điểm yếu riêng, đều có những yêu cầu riêng. Việc thi cử có thể để xảy ra những sai sót, tiêu cực, gian lận, may rủi một cách cố ý,…, việc đua nhau học vẹt học tủ, đua nhau học nhồi nhét, học thêm,… là một thứ virus đang phá hoại nền giáo dục nói chung và phong cách dạy học thi cử nói riêng do chúng ta không có định hướng giáo dục rõ ràng, chứ không thể là hệ quả trực tiếp của việc tiến hành thi trắc nghiệm hay thi tự luận.  Sự khác biệt giữa thi tự luận và thi trắc nghiệm  Về bản chất, thi tự luận (trắc nghiệm tự luận) hay thi trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan) đều là trắc nghiệm (test), và đều là những phương tiện đánh giá kết quả giáo dục của người dạy đối với người học, kiểm tra trình độ kiến thức hiện tại của người học có đáp ứng được mục tiêu giáo dục đã đề ra hay không, có khả năng học tiếp lên cao hay không… Sự phân biệt giữa thi tự luận và thi trắc nghiệm khách quan là sự phân biệt có tính hình thức, chứ không có nghĩa là cứ trắc nghiệm khách quan là đảm bảo được tính “khách quan”. Xét ở một khía cạnh nào đó, cả thi tự luận lẫn thi trắc nghiệm khách quan ít nhiều vẫn có tính chủ quan.  Thi tự luận là bài thi truyền thống mà ở đó người ta đưa ra những yêu cầu xác định buộc người học phải trả lời các yêu cầu đó bằng chính kiến thức và sự diễn giải của mình. Vì thế, thi tự luận có điểm mạnh là: đánh giá được quá trình tư duy đi đến kết quả; phát huy được tối đa vốn và kĩ năng, kiến thức của người học; giúp người học có được kĩ năng trình bày vấn đề,…; nhưng điểm yếu của trắc nghiệm tự luận lại là: mất nhiều thời gian làm bài thi; kiến thức thi không bao quát hết được nội dung dạy học; có tính chủ quan trong việc đánh giá; dễ đưa đến học lệch, học tủ… Trong khi đó, thi trắc nghiệm là cách mà người ta đưa ra các yêu cầu với những phương án trả lời khác nhau và đòi hỏi người học phải chọn lấy đáp án đúng. Vì vậy mà thi trắc nghiệm có những điểm mạnh quan trọng là: không gây áp lực thi cử đến người học – một vấn đề đang bị xã hội lên án gay gắt; kiến thức kiểm tra bao quát được nội dung học, có cơ sở và đảm bảo được tính hệ thống từ thấp đến cao; khách quan hóa được quá trình đánh giá; dễ áp dụng và có tính thống nhất cao; có tính phân hoá trình độ mạnh; tận dụng thế mạnh của công nghệ hiện đại; tiết kiệm và gọn nhẹ;… Tuy vậy, thi trắc nghiệm cũng có hạn chế là: chỉ đánh giá được kết quả chứ không đánh giá được quá trình tư duy đi đến kết quả; tính chất lựa chọn ngẫu nhiên hay đoán mò ít nhiều vẫn có thể xảy ra trong quá trình làm bài; mất nhiều thời gian công sức để soạn bài thi trắc nghiệm khách quan.  Nếu thi tự luận đòi hỏi người học phải tư duy rồi viết ra kết quả, phải tự tìm kiếm câu trả lời và trình bày câu trả lời đó dài sao cho đủ ý, còn thi trắc nghiệm đòi hỏi người học đọc và suy nghĩ rồi lựa chọn đáp án ngắn gọn sao cho phù hợp. Chất lượng và điểm bài thi tự luận phụ thuộc nhiều vào chủ quan người chấm, còn chất lượng và điểm bài trắc nghiệm phụ thuộc nhiều vào người xây dựng đề thi, phụ thuộc vào chính đề thi. Tất cả những điểm mạnh và yếu này của thi trắc nghiệm khách quan không chỉ đúng với môn Toán mà còn đúng với các môn khác nữa, mặc dù về tiểu tiết có thể khác nhau chút ít. Chính vì những ưu điểm như vậy mà hiện nay chúng ta cũng thấy rằng hình thức thi trắc nghiệm Toán đã và đang trở thành một xu hướng mạnh có mặt ở nhiều nước vốn có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Thuỵ Điển, Israel, Hàn Quốc,…, dù rằng sự tranh cãi giữa hai hình thức thi tự luận và trắc nghiệm vẫn còn tồn tại. Những bài thi trắc nghiệm như SAT, ACT, GRE, GMAT hiện nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi và đem lại nhiều hiệu quả tốt.  Vì những lẽ trên, trong điều kiện tổ chức thi THPT để đánh giá học sinh trên diện rộng, với nhiều lực lượng khác nhau tham gia coi thi, chấm thi, tôi ủng hộ sử dụng hình thức thi trắc nghiệm để có thể đánh giá chính xác, đảm bảo khách quan, công bằng cho thí sinh, tiết kiệm thời gian và công sức, chi phí đầu tư cho việc chấm thi… Tuy vậy, tình hình thực tế hiện này không thể không khiến người ta lo lắng về tính khách quan và độ tin cậy của bài thi trắc nghiệm Toán.  Những băn khoăn lo lắng của dư luận là có cơ sở  Bộ GD & ĐT cho biết đã đề ra kế hoạch thi trắc nghiệm trong tuyển sinh ĐH, CĐ từ năm 2007. Ngay sau đó Bộ đã triển khai thi trắc nghiệm cho các môn thi là Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học và Sinh học. Đến năm 2010, Bộ GD&ĐT đã ban hành hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra, trong đó có hướng dẫn biên soạn đề trắc nghiệm khách quan các môn học, kể cả môn Toán (Công văn số 8773/BGD &ĐT – GDTrH). Từ năm học 2010-2011 đến nay, trong văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, các sở GD&ĐT đã yêu cầu giáo viên các trường THPT ra đề kiểm tra cần kết hợp hình thức tự luận và hình thức trắc nghiệm khách quan. Như vậy, phong cách xây dựng đề thi và làm bài thi trắc nghiệm chắc hẳn không còn xa lạ và không dễ gì có thể gây hoang mang cho giáo viên và học sinh. Cho tới năm 2013, Bộ đã giao cho ĐH Quốc gia Hà Nội thực hiện thi đánh giá năng lực hoàn toàn bằng trắc nghiệm khách quan để tuyển sinh ĐH. Ba năm qua kì thi năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội đã thu hút hàng trăm nghìn lượt thí sinh dự thi, và đã được dư luận xã hội đánh giá tốt. Hiện tại, Bộ đang tập hợp lực lượng các nhà khoa học, thầy cô giáo nhiều kinh nghiệm trong việc ra đề thi để xây dựng ngân hàng thi trắc nghiệm đủ lớn, công việc này sẽ được hoàn thành vào tháng 5/2017 để phục vụ kì thi.  Mặc dù Bộ GD&ĐT đã có những chuẩn bị như vậy, song từ thực tế những gì đang diễn ra, các nhà toán học cũng không thể không băn khoăn lo lắng. Bởi lẽ, trong nhiều năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã không có được một phương án thi THPT nhất quán và ổn định. Chính vì lẽ đó, dư luận cho rằng cách tổ thức kì thi như vậy là một việc làm cập rập, có tính thời vụ là có lí. Hơn nữa, một đề thi trắc nghiệm muốn có độ tin cậy cao thì phải được chuẩn hoá, phải được thử nghiệm, phải qua các khâu thẩm định và phản biện nghiêm nhặt… Trên thực tế, Bộ GD & ĐT đương nhiên phải có đủ năng lực để biên soạn ngân hàng đề thi trắc nghiệm, nhưng với một thời gian xây dựng ngân hàng đề thi ngắn như vậy liệu có thể đảm bảo rằng tất cả các bộ đề thi trắc nghiệm Toán có đủ độ tin cậy, có tính phân biệt khó dễ, có phù hợp với thực tế dạy học và năng lực của học sinh hay không… Đây là điều mà dư luận không nhìn thấy và tìm thấy trong cách tổ chức thi THPT của Bộ GD & ĐT. Mặt khác, hình thức thi trắc nghiệm cần một lượng câu hỏi đủ lớn, có chất lượng không phải là một việc có thể dễ dàng được đáp ứng như Bộ hình dung. Cho dù Bộ có nói rằng sẽ khảo sát, nghiên cứu kế thừa và phát triển đề thi năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội thì giới chuyên môn cũng không khỏi băn khoăn khi họ không được “thực mục sở thị” việc đánh giá phản biện về tính khoa học, sự khách quan và độ tin cậy của bộ đề thi này.  Thay lời kết: Không chỉ là chuyện thi trắc nghiệm  Với Phương án thi trắc nghiệm môn Toán như trên, Hội Toán học đã chính thức lên tiếng đề nghị Bộ GD & ĐT hoãn áp dụng thi trắc nghiệm năm 2017 và cần tiến hành nghiên cứu thận trọng trước khi quyết định có đưa vào sử dụng chính thức hay không. Có thể coi đây là một việc làm tâm huyết, kịp thời và có trách nhiệm của Hội Toán học. Hội Toán học cũng đã có buổi làm việc chung với Bộ GD & ĐT để trình bày quan điểm của mình, song vẫn chưa nhận được câu trả lời thoả đáng. Chuyện thi trắc nghiệm môn Toán cũng như nhiều việc lớn mà ngành giáo dục triển khai gần đây (ví dụ như dự thảo Chương trình và Sách giáo khoa mới, việc dạy ngoại ngữ, thí điểm Công nghệ giáo dục,….) cho thấy giữa Bộ GD&ĐT với các hiệp hội chuyên ngành, với xã hội,… dường như không có tiếng nói thống nhất, thiếu sự tham khảo, lắng nghe lẫn nhau. Thiết nghĩ, để mỗi chủ trương chính sách có thể đi vào thực tiễn xã hội và phát huy tối đa hiệu quả của mình, ngành giáo dục rất cần có sự tham khảo, lắng nghe từ phía các tổ chức, bộ phận có trách nhiệm hữu quan.       Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Không chỉ là giấc mơ…      Cuộc thi viết “Tôi mong đợi gì ở các trường đại học?” do trường Đại học Hoa Sen tổ chức nhân kỷ niệm Đại học Humboldt 200 tuổi hướng đến mục tiêu lắng nghe nguyện vọng của sinh viên và công chúng. Bài viết được trích đăng sau đây là của thí sinh đoạt giải cao  nhất: Huỳnh Trúc Phương, người chọn cách dẫn dắt rất độc đáo là nhân cách hóa trường  đại học của mình thành một người bạn…    Đại học thân mến!  Tớ từng nghĩ rằng tớ sẽ không bao giờ rung động trước ai cả, các bạn tiểu học, trung học rất dễ mến nhưng tớ không thích sự nhút nhát, rụt rè và quá ngoan ngoãn của các bạn, thế mà từ khi gặp cậu ở ngày hội Hướng Nghiệp, tớ đã không còn là tớ của trước đây nữa. Lúc trước, tớ cứ đi học, học bài rồi chép bài, tớ chán lắm. Tớ chỉ hăng say với những hoạt động như võ, đá cầu, văn nghệ thôi, có những lần tớ nói dối mẹ là đi học để đi tập kịch. Đôi lúc tớ cũng không biết tớ đi học để làm gì, không học thì ba mẹ sẽ buồn… rồi khi ai hỏi đến ước mơ sau này… tớ chỉ biết lúng túng trả lời “tớ không biết nữa”. Thế rồi từ lần đầu tiên gặp cậu, hôm ấy cậu mặc chiếc áo Hoa Sen rất mộc mạc và tớ đã yêu cậu từ những điều giản dị như thế. Những lời cậu phát biểu cứ như chạm vào trái tim, chạm vào những mơ ước đâu đó sâu thẳm trong con người mình. Tớ chợt nhận ra sự vô tình về bản thân với những ước mơ của tớ, trách nhiệm với gia đình và những người xung quanh tớ.   Tớ không sao quên được cảm giác lần đầu tiên khi tớ bước chân vào ngôi nhà của cậu… Cảm ơn cậu đã đón tớ rất nhiệt tình, cảm ơn cậu đã động viên mỗi khi tớ sụt sịt khóc vì nhớ nhà, cảm ơn cậu đã không còn bắt tớ phải chép bài thật nhiều khi nghe cậu giảng và cảm ơn vì những câu lạc bộ rất ý nghĩa của cậu. Tớ thấy được sức mạnh của tinh thần làm việc nhóm và tư duy cùng thắng. Tớ thích tất cả câu lạc bộ, tớ thích nhất nhóm Tình Thương, nhóm nhảy November, Hey Step và cả Đội Văn nghệ Xung kích nữa… hình như tớ thích hết luôn rồi. Tớ được học tiếng Anh với thầy nước ngoài, lúc đầu tớ bỡ ngỡ lắm, giờ thì tớ có thể hiểu được những bài hát tiếng Anh mà tớ yêu thích và việc nghiên cứu tài liệu cũng đỡ khó khăn hơn. Tớ còn được học những môn thể thao mà lúc trước tớ và các bạn tớ đều thích như cầu lông, Karate-Do, bóng chuyền… Tớ thích môi trường năng động như thế! Cậu biết không ngày trước tớ sợ vào lớp vì cứ ngồi yên rồi chép bài, giờ thì tớ được học với máy chiếu rất hiện đại và trong lúc học còn được thảo luận nhóm với các bạn. Tớ được tự do thể hiện mình, được thỏa sức sáng tạo qua những video clip do chính tớ và người bạn cùng nhóm thực hiện. Nhất là khi thuyết trình xong, các nhóm khác đặt câu hỏi, giây phút cả nhóm cùng bàn bạc và hỗ trợ nhau là những lúc tớ thấy các bạn đáng yêu nhất. Tớ chợt nhớ câu nói của nhà văn George Eliot: “Chúng ta sống vì cái gì, nếu không phải là để làm cho cuộc đời của mỗi người ít khó khăn hơn”.           Lễ công bố kết quả cuộc thi “Tôi mong đợi gì ở các trường đại học?”          Trong ngôi nhà lớn của cậu, tớ thích nhất là phòng sách, mà cậu cứ bắt tớ phải gọi là thư viện. Ừ! Thì là thư viện. Thư viện có đủ thể loại sách mà tớ thích, tớ còn được truy cập Internet và có một góc học tập rất yên tĩnh… Mỗi lần bước dọc hành lang, nhìn các nhóm bạn đang tranh luận, cùng làm đề án, thuyết trình say sưa… tớ cảm thấy rất bình yên…  Tớ chợt nhận ra sống như một cuộc thương lượng với tạo hóa.“Việc thương lượng thường là trò chơi dành cho thiểu số những chuyên gia có tinh thần trách nhiệm, tinh tế, nhạy bén, kiên trì kèm theo phương pháp hợp lý. Nhiệm vụ của bạn, là bảo vệ nguyện vọng của mình một cách phù hợp.” Đây là một trong những điều mà cậu đã hướng dẫn cho tớ. Nhờ vậy mà tớ còn nghiệm ra được một bí mật của cuộc thương lượng giữa chúng ta với cuộc sống, đó là cần phải xây dựng và củng cố sức mạnh của mình. Cách cậu và tớ nhìn nhận về khả năng của mình sẽ quyết định kết quả thương lượng. Khả năng đó và sự tự tin bắt nguồn từ nhận thức, từ sự chuẩn bị và suy nghĩ thấu đáo… Một người bạn của tớ, vì hoàn cảnh gia đình nên không thể lên thành phố học như tớ nhưng cậu ấy vẽ và điêu khắc giỏi lắm. Cậu ấy tìm một người bạn khác để học nghề, giờ cậu cũng đã có việc làm ổn định và có được nguồn thu nhập phụ giúp gia đình. Tớ nghĩ cậu ấy cũng đã và đang giành thế mạnh trong cuộc thương lượng giữa số phận với tạo hóa.   Sau nhiều chuyện, tớ rút ra được rất nhiều điều, nhất định là luôn có một giải pháp nào đó tốt hơn, tớ tin là như thế! Những bài kiểm tra, những cuộc thi của cậu… giờ tớ không sợ đâu nhé! Dần dần, tớ đã quen với cách suy nghĩ khác đi, không phải tất cả lời cậu nói đều đúng và phù hợp với tớ, đôi khi còn là cách cậu rèn luyện, kiểm tra bản lĩnh của tớ nữa, tớ nói vậy có đúng không? Tớ cũng biết con đường tớ đang đi còn rất nhiều khó khăn nhưng tớ sẽ không bao giờ bỏ cuộc vì đã có tình yêu và đam mê làm mềm bước chân tớ! Giới hạn của cuộc sống là không giới hạn, tớ không còn ngây ngô đặt mình vào những chiếc hộp kín, chỉ có Kiên Giang quê tớ, gia đình và bạn bè… tớ thấy mình ở ngày mai, ở thế giới mà tớ luôn mơ ước… Đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, đọc nhiều sách, suy nghĩ nhiều, phản biện nhiều làm tớ cảm thấy cuộc sống đẹp, thú vị biết bao và tớ còn học được cách yêu thương, đón nhận người khác với trái tim tinh tế, cởi mở và thoải mái  hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không còn thời gian để bào chữa hay đổ lỗi      Điều 51 Hiến pháp 2013 viết: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất nước nói chung, giáo dục đại học và KH&amp;CN nói riêng, lâu nay được xây dựng và phát triển theo định hướng này với mong muốn kết hợp những ưu việt của hai thể chế.    Thế nhưng, nói riêng trong giáo dục và KH&CN, hơn hai chục năm qua, định hướng đó đã không mang lại kết quả ngọt ngào như mong muốn, thậm chí những nhược điểm của hai thể chế còn thả sức hoành hành.      Hãy lấy một thí dụ. Thi cử và bằng cấp thì theo cơ chế thị trường tự do mà mặt trái là có thể mua bán bằng cấp và trường học có cả trường giả lẫn trường nhái. Trong khi đó, việc đánh giá và bổ nhiệm chủ yếu chỉ căn cứ theo bằng cấp và do Nhà nước độc quyền nắm giữ mà không có cơ chế hiệu quả để loại trừ tác động của những mối quan hệ dựa trên tiền bạc hoặc huyết thống. Vì vậy, đạo đức khoa học bị xuống cấp, các lâu đài của khoa học, giáo dục không còn chăm lo cho uy tín của mình vì lãnh đạo các đơn vị nhà nước đó không lo bị xã hội đào thải. Những tài năng trẻ – già, giáo sư thật – giả, cán bộ đầu ngành, v.v là một mớ vàng thau lẫn lộn. Đến mức Đại học Quốc gia số một đất nước cũng liên kết đào tạo với những đại học trá hình như ĐH Griggs hay ĐH Irvine, cho ra lò hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ rởm.      Trong khi đó, việc đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một quá trình có tính thừa kế liên tục trong lâu dài, và cách đào tạo theo kiểu mua – bán và tuyển dụng, bổ nhiệm theo kiểu “cận huyết” như bấy lâu nay tất yếu sẽ làm suy thoái các thế hệ trí thức kế tiếp. Điều này càng nguy hiểm cho toàn hệ thống xã hội khi họ được đề bạt nắm trọng trách nhờ tấm bằng kém chất lượng, bằng giả, hoặc quan hệ cá nhân.      Đây chính là sự thật nhức nhối mà chúng ta phải nhìn nhận để có những điều chỉnh quyết liệt ngay từ bây giờ, nhằm xây dựng được một thế hệ trí thức vừa có tài vừa có tâm với xã hội và đất nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thay đổi cách làm giáo dục, trường học sẽ thành “chợ”      Cách chia thành trường “điểm”, trường “chất lượng cao”, trường “chuyên” sẽ làm đảo lộn những giá trị giáo dục truyền thống. Trường học sẽ trở thành “chợ” mà ở đó ai có nhiều tiền thì có nhiều quyền lợi.     Với tựa đề “Nghịch lý trường mầm non”, báo Tuổi Trẻ ngày 18-3 nhận định có một nghịch lý đang diễn ra tại các trường mầm non (MN) trên địa bàn TP.HCM từ nhiều năm nay: học sinh con nhà khá giả vẫn nhận được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, còn học sinh con nhà nghèo phải tự lực cánh sinh.  Báo này dẫn chứng tại quận Gò Vấp, ngôi trường được nhiều phụ huynh tín nhiệm là Trường MN Hồng Nhung – trường đạt chuẩn quốc gia với sân chơi, phòng ốc rộng rãi, thoáng mát, đa số giáo viên đều đạt giáo viên giỏi. Nhưng mỗi tháng phụ huynh Trường Hồng Nhung chỉ phải đóng 800.000 đồng/HS, bao gồm tất cả các khoản: học phí, vệ sinh phí, tiền ăn, tiền bán trú… Trong khi đó, trên cùng địa bàn quận Gò Vấp, một số nhóm trẻ gia đình cũng thu 800.000 đồng/tháng/HS nhưng chất lượng chăm sóc, nuôi dạy thì ngược lại: phòng học chật chội, nóng bức, thiếu đồ dùng, đồ chơi, người chăm sóc trẻ chưa đạt trình độ trung cấp sư phạm MN. Cũng theo bài báo, tình trạng trên không chỉ xảy ra ở quận Gò Vấp mà ở hầu hết các quận, huyện trên địa bàn TP.HCM.   Bài báo đặt câu hỏi “ai sẽ được học ở những ngôi trường lý tưởng như các trường trên?” và trả lời hiện chưa có cơ quan, ban ngành nào làm khảo sát cụ thể, nhưng chỉ cần dạo một vòng vào giờ tan học tại các trường trên cũng thấy không ít phụ huynh đi xe hơi nối đuôi nhau đưa đón con em mình đi học. Trong một buổi làm việc với HĐND TP.HCM, Ths Nguyễn Thị Kim Thanh – trưởng Phòng GD mầm non (Sở GD-ĐT TP.HCM) – cũng nhắc đến vấn đề này: “Phần đông học sinh học ở trường MN đạt chuẩn quốc gia, trường tiên tiến cấp TP đều thuộc diện gia đình khấm khá. Còn HS ở các nhóm trẻ gia đình rất khổ, đa số là con em nhân dân lao động”.  Thật ra, tình trạng “trường tốt dành cho con em nhà giàu, trường xấu cho con em nhà nghèo” đã được nhiều nhà giáo dục chỉ ra cả chục năm nay rồi. Lúc sinh thời, GS Dương Thiệu Tống đã rất nhiều lần chống lại cách làm giáo dục hiện nay nhưng hầu như chẳng quan chức giáo dục nào nghe. Ông phản đối cách chia thành trường “điểm”, trường “chất lượng cao”, trường “chuyên”. Ông nói đó là cách làm nguy hiểm, dẫn tới làm đảo lộn những giá trị giáo dục truyền thống. Trường học sẽ trở thành “chợ” mà ở đó ai có nhiều tiền thì có nhiều quyền lợi. Ông dẫn ra ở Liên Xô (cũ) nhiều trường học của nhà nước trở thành phục vụ cho giới nhà giàu, quan chức cấp cao vì phụ thuộc vào mức mà họ “đóng góp” nhiều hơn. Còn con em nhà nghèo, của giới thợ thuyền đành chấp nhận học ở những trường không được tốt về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học.  Cách làm giáo dục như vậy đã phá vỡ mục tiêu công bằng trong giáo dục. Trẻ em, đáng lý được hưởng một chất lượng giáo dục như nhau, thì nay phải chịu sự đối xử bất công của người lớn. Thử hỏi các thế hệ mà về sau sẽ trở thành người chủ tương lai của đất nước nghĩ gì, sẽ đáp lại quá khứ của mình như thế nào, hay sự bất công sẽ tiếp tục bất công?  Nhưng vì sao một cách làm giáo dục… phản giáo dục như vậy vẫn cứ tồn tại, thậm chí liên tục phát triển? Có thể nhận ra vì nó dính tới đặc quyền, đặc lợi của các quan chức trong ngành giáo dục. Trong điều kiện thu nhập còn khiêm tốn, họ quyết duy trì những “giá trị” này để tạo thế “cân bằng” với những ngành khác vốn cũng đầy rẫy đặc quyền, đặc lợi còn nhiều hơn cả ngành giáo dục. Tất nhiên, người lãnh đạo cao hơn của ngành giáo dục, của địa phương quản lý có thấy nhưng không dại gì “chọc vào tổ kiến lửa”. Vả lại, ngay bản thân và con em họ cũng đã hưởng được các đặc quyền, đặc lợi đó rồi. Thay đổi để làm gì?  Cuối cùng, vẫn chỉ con em dân nghèo thua thiệt!  Giáo dục phải được cung cấp đồng đều cho mọi trẻ em, không phân biệt giàu nghèo, thành thị hay nông thôn với giá rẻ nhất có thể hoặc miễn phí. Bởi vì có như vậy mọi trẻ em mới được đến trường một cách bình đẳng. Đó là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể quay lại kiểu thi cũ      Sự bất bình đối với một số bất cập của khâu tuyển sinh đại học-cao đẳng năm nay là hoàn toàn chính đáng, nhưng nếu vì thế mà phủ nhận thành công căn bản của kỳ thi là quá vội vàng. Với cách suy nghĩ thiếu bình tĩnh, nặng cảm tính đó thì chẳng bao giờ có thể đổi mới được giáo dục.      Mặc dù được long trọng tuyên bố là quốc sách hàng đầu nhưng trong một thời kỳ dài cách đây không lâu, chất lượng sút kém của giáo dục là nỗi lo thường xuyên của mọi gia đình, của toàn xã hội.   Tuy nhiên rất may, từ vài năm nay, giáo dục đã bắt đầu chuyển mình, tuy còn xa với yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, năm nay giáo dục đã có một thành công đáng ghi nhận: bắt đầu đổi mới mạnh mẽ kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và tuyển sinh đại học-cao đẳng (ĐH-CĐ).  Xưa nay trong xã hội ta thường phổ biến một quan niệm lạc hậu, cũ kỹ về học và thi, nhất là thi tốt nghiệp các cấp.   Trong khi ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, thi cử chỉ là một khâu kiểm tra để bảo đảm kết quả một quy trình học tập thì ở nước ta không biết tự bao giờ nó đã biến thành một khổ dịch nặng nề đối với cả thầy lẫn trò và phụ huynh. Đất nước còn nghèo, đời sống người dân còn khó khăn mà chỉ nguyên một mùa thi hằng năm đã ngốn một khối lượng công sức và tiền của khổng lồ, không kể những hệ lụy tinh thần do áp lực tâm lý gây ra cho thế hệ trẻ. Vì thế, đổi mới thi cử từ lâu đã trở thành một trong những yêu cầu bức thiết để chấn hưng giáo dục.   Đó là lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, vừa qua đã tổ chức kỳ thi quốc gia THPT thay cho hai kỳ thi riêng biệt tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh ĐH-CĐ như mọi năm trước đây.  Chủ trương này hoàn toàn đúng đắn và sự thực hiện nhìn chung cũng khá suôn sẻ, đó là một thành công đáng ghi nhận. Tất nhiên, vì là lần đầu thực hiện nên không tránh khỏi một số khuyết điểm, đặc biệt trong khâu tuyển sinh, gây ra phản ứng tiêu cực của một bộ phận đáng kể dư luận xã hội đối với chủ trương này. Cho nên việc đánh giá bình tĩnh, khách quan, có cơ sở khoa học, là cần thiết để biết những cái hay cần giữ lại và những cái dở cần tránh cho năm sau.  Cơ sở khoa học của phương án đổi mới thi cử  Trước hết, đổi mới thi cử cần xuất phát từ quan niệm đúng đắn về thi tốt nghiệp ở mọi cấp học, trong một nền giáo dục tiên tiến.   Theo tôi, thi cử trong nhà trường cũng giống như kiểm tra chất lượng trong nhà máy. Sản phẩm cuối cùng (thành phẩm) của một nhà máy thường gồm nhiều bộ phận (mô-đun) lắp ráp lại mà thành. Mỗi bộ phận làm ra ở phân xưởng nào thì phải kiểm tra chất lượng ngay ở phân xưởng đó. Đến khi quy tập các bộ phận để lắp ráp ra thành phẩm thì chỉ cần chú ý xem khâu lắp ráp có vấn đề gì không chứ không có chuyện đến lúc đó lại lôi ra từng bộ phận để kiểm tra lại chất lượng lần nữa.   Tương tự như thế, một quy trình học tập, đào tạo, gồm nhiều học phần (môn), mỗi học phần học đến đâu phải kiểm tra nghiêm túc đến đó, đến năm cuối cấp nếu mọi học phần đều đã đạt yêu cầu kiểm tra thì cấp bằng tốt nghiệp, chứ không cần bắt phải thi lại từng học phần. Nghĩa là không cần thi tốt nghiệp, hoặc có chăng chỉ cần một cách thi có tính chất tổng hợp (ví dụ bảo vệ một tiểu luận), giống như kiểm tra khâu lắp ráp trong nhà máy. Nhiều nước, chẳng hạn Mỹ, đã làm như vậy từ lâu rồi. Rất ít thấy có nước nào thi tốt nghiệp mà phải thi lại hầu hết các môn một cách nặng nề như ta đã làm suốt nhiều năm trước đây.  Như vậy, việc đầu tiên là phải xem lại cách dạy và học của chúng ta, bỏ cách dạy và học lơ mơ, không kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả vững chắc, mà chỉ dồn hết mọi cố gắng vào kỳ thi tốt nghiệp nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà thiếu nghiêm túc. Từ cách dạy và học này đã sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Thêm nữa, vì chỉ mấy ngày thi mà quyết định tốt nghiệp hay không cả một quá trình học tập nhiều năm trời, nên may rủi nhiều, dù học nghiêm túc suốt cả quá trình cũng không chắc thi tốt, điều đó dễ dẫn đến tư tưởng phòng vệ tiêu cực bằng “phao” hay những cách gian lận, quay cóp khác. Thi nhiêu khê, mất nhiều công sức nhưng kết quả thực tế là thường chỉ rớt một số rất ít thí sinh quá kém mà thật ra không cần thi, chỉ cần xét học bạ cũng loại ra được ngay.           Thi cử trong nhà trường cũng giống như kiểm tra chất lượng trong nhà máy. Sản phẩm cuối cùng của một nhà máy thường gồm nhiều bộ phận lắp ráp lại mà thành. Mỗi bộ phận làm ra ở phân xưởng nào thì phải kiểm tra chất lượng ngay ở phân xưởng đó. Đến khi quy tập các bộ phận để lắp ráp ra thành phẩm thì chỉ cần chú ý xem khâu lắp ráp có vấn đề gì không chứ không có chuyện đến lúc đó lại lôi ra từng bộ phận để kiểm tra lại chất lượng lần nữa.         Đó là những lý do xác đáng khiến nhiều người đã đề nghị bỏ hẳn kỳ thi tốt nghiệp THPT. Trong tình hình cụ thể của chúng ta, trước mắt chưa thể bỏ ngay được, nhưng trong bước quá độ để tiến tới đó, có thể và cần giảm nhẹ đến mức tối thiểu bằng cách: chỉ thi hai môn chính bắt buộc (văn, toán), và cho thí sinh được tự chọn thi một số môn khác, đồng thời để xét tốt nghiệp, không chỉ dựa duy nhất vào kết quả thi mà còn căn cứ vào học bạ nữa. Mặt khác, để phục vụ việc tuyển sinh ĐH-CĐ, những môn thi do thí sinh tự chọn sẽ dùng để tổ hợp thành các nhóm môn thi theo yêu cầu từng khối thi xét tuyển ĐH-CĐ. Có thể nói phần thi tự chọn đóng vai trò giống như thi ba chung trước đây, nhưng nhẹ nhàng hơn nhiều.  Phương án này khi mới đưa ra rất được học sinh hoan nghênh.   Theo tôi hiểu, đây hoàn toàn không phải là sự kết hợp máy móc hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ. Quả thật, nếu giữ thi tốt nghiệp như kiểu cũ thì hai kỳ thi này có yêu cầu khác biệt hẳn nhau, kết hợp gượng ép chỉ có thể gây ra thảm họa cho cả hai, như nhiều người đã cảnh báo từ lâu. Song vì yêu cầu thi tốt nghiệp THPT đã thay đổi, được giảm nhẹ đến mức gần như bỏ hẳn, cho nên sự kết hợp hai kỳ thi trở thành tự nhiên, khả thi và hợp lý. Hoàn toàn không phải là làm ngược với thế giới, mà tôi nghĩ đây thật sự là một giải pháp tốt, vừa tiếp cận với kinh nghiệm quốc tế, vừa thích hợp với thực tế trong nước. Thực chất đây không phải là kết hợp hai kỳ thi trong một, mà là bỏ kiểu thi ba chung trước đây và thay vào đó, cải tiến cách thi tốt nghiệp THPT để một mặt làm cho kỳ thi nhẹ nhàng vì có chú ý thích đáng các sở thích, xu hướng nghề nghiệp tương lai khác nhau của thí sinh; mặt khác có thể dùng các kết quả thi tốt nghiệp THPT phục vụ luôn cho tuyển sinh ĐH-CĐ. Theo tôi, cách thiết kế kỳ thi như vậy khá hợp lý và khoa học. Trái lại, nếu vẫn tiếp tục giữ kiểu thi tốt nhiệp THPT nặng nề như cũ, và sau đó một tháng là thi ba chung căng thẳng, thì e rằng đó mới chính là cách làm không giống ai, đi ngược lại xu thế phổ biến của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.  Hiệu quả thực tế của kiểu thi mới  Về phương diện học thuật, như trên đã phân tích, việc tổ chức chỉ một kỳ thi quốc gia vừa để xét tốt nghiệp THPT vừa để lấy kết quả phục vụ tuyển sinh ĐH-CĐ là một sáng kiến đổi mới rất hợp lý, có cơ sở khoa học. Nhưng quan trọng hơn, về phương diện thực tế kỳ thi năm nay so với những năm trước đã giảm đáng kể áp lực tinh thần, tâm lý cho thí sinh và phụ huynh, đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và một khối lượng công sức, tiền của rất lớn cho xã hội. Đó là cái được đáng kể nhất của cuộc đổi mới thi cử.   Để thấy rõ sự khác biệt, chỉ cần nhớ lại cảnh tượng hãi hùng một mùa thi trước đây, hàng triệu con người vừa sĩ tử vừa cha mẹ, hoặc anh chị, dắt díu nhau về các thành phố lớn, thuê ở trọ hàng tháng trời trước kỳ thi để tìm một chỗ học khả dĩ trong các lò luyện thi chật chội, nóng bức, không chắc có giúp học thêm được chút gì không nhưng mọi người cứ tin là cần thiết. Có ai thử tính tất cả gánh nặng những chi phí lớn lao về thời gian, công sức và tiền của mà mỗi gia đình có con em đi thi phải chịu đựng trong mỗi mùa thi như vậy, chưa kể biết bao hệ lụy tiêu cực gây ra từ áp lực tâm lý trong một xã hội từ xưa vốn rất nặng tư tưởng khoa bảng, bằng cấp?   Cho nên, chí ít thì cuộc cải cách thi cử vừa qua đã giúp giải thoát cho xã hội khỏi một cảnh tượng lạc hậu phi lý mà chỉ ở Việt Nam mới có.  Vài con số để minh chứng rõ hơn cho nhận định đó. Năm 2014 có khoảng 900.000 thí sinh dự thi tốt nhiệp THPT và 1,3 triệu thí sinh dự thi cả ba đợt tuyển sinh ĐH-CĐ. Năm 2015, trong khoảng 1 triệu thí sinh dự thi kỳ thi quốc gia chỉ có khoảng 700.000 thí sinh đăng ký dự thi tuyển sinh ĐH-CĐ. Như vậy năm nay, con số thí sinh đã giảm chỉ còn một nửa, kèm theo đó là sự tiết kiệm những khoản chi phí không nhỏ về ra đề thi, chấm thi, tổ chức thi, v.v.   Rất tiếc việc tuyển sinh ĐH-CĐ sau đó làm không được tốt đã gây ra cảnh hỗn loạn, rắc rối, nộp rút, rút nộp hồ sơ rất tốn kém và căng thẳng tinh thần cho một bộ phận thí sinh. Do đó đã phát sinh nhiều luồng ý kiến trái chiều, lẻ tẻ có ý kiến đánh giá việc đổi mới thi cử này là thất bại, thậm chí đòi dừng đổi mới và quay lại kiểu thi cũ lạc hậu trước kia.   Đương nhiên sự bất bình đối với một số bất cập của khâu tuyển sinh là hoàn toàn chính đáng, ngành giáo dục cũng đã rút kinh nghiệm sâu sắc về việc đó. Nhưng nếu vì thế mà phủ nhận thành công căn bản của kỳ thi là quá vội vàng. Với cách suy nghĩ thiếu bình tĩnh, nặng cảm tính đó thì chẳng bao giờ có thể đổi mới được giáo dục.           Dù thế nào cũng không thể quay lại kiểu thi cũ, cũng phải thay đổi, mà thay đổi như vừa qua, với tất cả những sai sót khó tránh hoàn toàn của nó, thì cái giá ấy thật chẳng có gì là cao so với thiệt hại nếu duy trì kiểu thi cũ.         Thật ra, những bất cập trong tuyển sinh cũng có mức độ chứ không đến nỗi quá nghiêm trọng như một số ý kiến đã cường điệu. Theo thống kê, số lượt thí sinh phải rút hồ sơ để nộp vào trường khác chỉ chiếm 9% tổng số, mà số này nếu thi theo kiểu cũ chắc chắn phải đổ về các thành phố lớn, chui vào các lò luyện thi hàng tháng trời, cái khổ đó còn gấp mấy việc đi rút và nộp lại hồ sơ như vừa qua. Nếu thi theo kiểu cũ, đâu chỉ có số hơn ba vạn thí sinh đó mà cả mấy chục vạn thí sinh sẽ cùng chịu cảnh khổ như thế. Chưa kể còn bao nhiêu căng thẳng, tốn kém phức tạp khác liên quan đến việc tổ chức liền mấy kỳ thi quy mô cả nước trong vòng chỉ hơn một tháng. Cho nên nếu tính đầy đủ, khách quan mọi mặt thì ngay cả với những căng thẳng và tốn kém gây ra do các bất cập trong tuyển sinh, kỳ thi vừa qua so với kiểu thi cũ vẫn là nhẹ nhàng và tiết kiệm hơn rất nhiều – điều mà, như tôi đã kiên trì kiến nghị từ cả chục năm trước, lẽ ra cần phải thực hiện từ lâu rồi đối với một đất nước nghèo và còn nhiều khó khăn như ta.  Đáng nói nhất là kiểu thi cũ tạo ra một tâm lý học chỉ cốt để thi đỗ, để giành giật một mảnh bằng, chứ không cốt mở mang trí tuệ, phát triển kỹ năng, rèn luyện tư cách, phẩm chất. Nhiều người ngoại quốc đã nói rất đúng: cả thời kỳ dài trước đây, muốn hiểu giáo dục Việt Nam lạc hậu đến đâu chỉ cần quan sát một mùa thi. Cho nên tôi thật sự nghĩ rằng, ngày nay mà còn tiếp tục duy trì kiểu thi cũ kỹ, cực kỳ tốn kém và lạc hậu đó, là một tội ác đối với con em ta. Dù thế nào cũng không thể quay lại kiểu thi cũ, cũng phải thay đổi, mà thay đổi như vừa qua, với tất cả những sai sót khó tránh hoàn toàn của nó, thì cái giá ấy thật chẳng có gì là cao so với thiệt hại nếu duy trì kiểu thi cũ.  Mặt khác cũng cần thấy rằng những bất cập trong cách tuyển sinh không gắn liền với cách thi mới mà hoàn toàn có thể khắc phục được với khả năng hiện nay của ta.   Mọi lộn xộn chỉ bắt nguồn từ việc không có biện pháp thích hợp và công việc xử lý hồ sơ đều làm phần lớn theo phương thức thủ công, lợi thế của công nghệ thông tin như hiện nay đã phổ biến khắp nơi trên thế giới và hoàn toàn trong tầm khả năng của ngành giáo dục chưa được khai thác. Trong khi đó, thí sinh năm nay lại được nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn trường, chứ không phải chỉ ba nguyện vọng như những năm trước.   Rất may, khó khăn đó sẽ không còn nếu áp dụng phương pháp có cơ sở khoa học vững chắc dựa trên phân tích toán học mà GS Hà Huy Khoái đã đề nghị với Bộ GD&ĐT và vừa mới đây đã trình bày lại trước một cử tọa khá đông tại Viện Toán học. Do đó có thể tin rằng nếu củng cố nền tảng công nghệ thông tin để tuyển sinh hoàn toàn trên mạng và áp dụng phương pháp khoa học GS Hà Huy Khoái đã đề nghị, thì sẽ không còn những khó khăn vấp váp như vừa qua.  ***  Thay đổi một kiểu thi đã thành tập quán từ nhiều chục năm không phải là chuyện đơn giản, vì phải vượt qua không ít rào cản tư duy, tâm lý. Bên cạnh đó, cũng phải nhìn nhận, do sự sa sút kéo dài nhiều năm trước đây của giáo dục (khiến riêng tôi cũng đã nhiều lần góp ý khá gay gắt) nên nhiều người ít nhiều đã mất tin tưởng, không nhìn thấy hết những cố gắng và tiến bộ của giáo dục mấy năm gần đây. Mặc dù giáo dục còn nhiều tồn tại lớn, nhất là bậc đại học, nhưng công bằng mà nói, một số những tồn tại đó xét ra có phần không chỉ do lỗi Bộ GD&ĐT mà còn do nhiều mắc mứu trong cơ chế quản lý kinh tế xã hội hiện nay của ta nữa. Lấy ví dụ tự do học thuật là điều kiện tối cần thiết để phát triển đại học đang bị nhiều hạn chế, và hệ lụy chủ nghĩa lý lịch chưa phải đã xóa hết; hay tình trạng thất nghiệp hằng năm của một số khá lớn cử nhân, thậm chí cả thạc sĩ, gây bức xúc cho xã hội. Đây là những vấn đề lớn, rất đáng đưa ra mổ xẻ, phân tích kỹ các nguyên nhân liên quan đến cả đường lối phát triển kinh tế xã hội của chúng ta, thay vì chỉ suy nghĩ đơn giản và quy hết cho yếu kém của giáo dục và đào tạo.   Nhân đây tôi cũng muốn nhắc tới một việc nữa là vừa qua có lúc dư luận rộn lên về chuyện một em học sinh 14 tuổiphát biểu tại một diễn đàn người lớn, phê phán giáo dục của ta hiện nay là thối nát. Mặc dù ý kiến đó khá phù hợp bức xúc của nhiều người đứng trước thực trạng nhiễu nhương đáng xấu hổ của xã hội hiện nay, tôi thành thật không nghĩ rằng đó là một cách phê phán giáo dục mà ta nên khuyến khích đối với học sinh nhỏ tuổi. Theo tôi, có nhiều cách giáo dục cho trẻ em tư duy phê phán và tinh thần độc lập suy nghĩ hay hơn là biến các em thành những ông cụ non, dù là những ông cụ rất đáng được xã hội ngưỡng mộ về tư tưởng và nhân cách.      Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Không thỏa hiệp trong đảm bảo chất lượng giáo dục      Bắt đầu tuyển sinh từ năm 2010, mới đây ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã được ADB cho vay 190 triệu USD để phát triển theo mục tiêu trở thành một trường công lập đẳng cấp quốc tế có mặt trong Top 200 các trường ĐH thế giới vào năm 2030.&#160;GS Pierre Sebban, Hiệu trưởng USTH, chia sẻ về dự án này.     Trước khi sang Việt Nam làm hiệu trưởng Trường Đại học khoa học và công nghệ Hà Nội, ông có biết nhiều về cộng đồng khoa học Việt Nam và hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam?   Tôi sang Việt Nam làm việc từ năm 2007 với tư cách giáo sư của trường đại học Paris 11 theo chương trình hợp tác với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Trường đại học Paris 11 có lịch sử hợp tác lâu dài với Việt Nam. Tại đại học, tôi theo học ngành vật lý nhưng sau đó chuyển sang làm tiến sĩ về sinh học. Tại Việt Nam, tôi giảng dạy bộ môn Lý Sinh học (Biophysics). Bên cạnh tiến hành các nghiên cứu thực hiện với các nhà khoa học tại Viện Vật lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tôi tham gia đào tạo thạc sĩ cho một số chương trình của Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi thực sự cảm thấy hạnh phúc vì được làm việc với các sinh viên Việt Nam và thực sự bị ấn tượng bởi sự say mê học hỏi của các em.   Năm 2009, tôi tham gia vào nhóm dự án liên kết đào tạo Tiến sĩ cho Việt Nam của trường đại học Paris 11 và đại học Toulouse tại Pháp. Năm 2010, tôi được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng tạm thời của trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, và sau đó là Hiệu trưởng chính thức của nhà trường.   Đâu là những thách thức chính của giáo dục đại học của Việt Nam mà các ông đang cố gắng góp phần giải quyết?          Giáo sư Pierre Sebban   Hiệu trưởng trường ĐH KH&CN Hà Nội – USTH (2010), giáo sư Đại học Paris 11.    Học vật lý tại Đại học Paris 7 và 11, Nghiên cứu sinh tiến sĩ về Sinh học tại Đại học Paris 11 (1979).   Nghiên cứu viên (1982), làm post-doc tại Đại học Illinois, Mỹ (1986-1987) , Giám đốc nghiên cứu tại CNRS (1994).    Giám đốc phòng thí nghiệm Hóa Lý Orsay (1999-2005), giảng dạy tại Đại học Paris 11 (2003).   Phó hiệu trưởng phụ trách quan hệ hợp tác quốc tế tại trường Đại học Paris 11 (2010).         Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đang được xây dựng thành một thành một trong 4 trường đại học xuất sắc theo tiêu chuẩn quốc tế cùng với đại học Việt Đức đã thành lập tại Tp. Hồ Chí Minh và hai trường đại học nữa sẽ được thành lập tại Đà Nẵng và Cần Thơ trong khuôn khổ Dự án Xây dựng các Trường Đại học xuất sắc của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.   Một trong những vấn đề của giáo dục đại học mà chúng tôi muốn giải quyết là nâng cao chất lượng và tính thực tiễn của giáo dục. Chúng tôi mong muốn xây dựng tại Việt Nam một nền giáo dục với tiêu chuẩn chất lượng cao; mặt khác kết hợp nghiên cứu với giảng dạy, tri thức khoa học với kỹ năng thực tiễn và tăng cường mối quan hệ với các doanh nghiệp và ngành công nghiệp.     Xin ông cho biết về đội ngũ giảng dạy của trường đại học khoa học và công nghệ Hà Nội?    Năm ngoái chúng tôi đã tiến hành tuyển sinh ở bậc cử nhân và bậc thạc sĩ với 2 chuyên ngành. Giảng viên ở bậc cử nhân và thạc sĩ có những những yêu cầu riêng tuy nhiên đều phải đảm bảo yêu cầu ưu tiên hàng đầu là trình độ xuất sắc.   Ở bậc cử nhân, giảng viên phần lớn là người Việt Nam, nhưng tất cả các bài giảng đều bằng tiếng Anh. Khi tuyển dụng giảng viên, các ứng viên được yêu cầu thực hiện 15 phút trình bày trước hội đồng, sử dụng các thiết bị hỗ trợ giảng dạy, 5 phút giới thiệu về bản thân và quá trình làm việc, 10 phút thể hiện trình độ tiếng Anh và trình bày về phương pháp giảng dạy cũng như nội dung giảng dạy. Các bước đánh giá như vậy khiến cho ứng viên thể hiện được tốt nhất trình độ năng lực của mình.    Một điều nữa không thể thiếu là nền tảng kiến thức khoa học của giảng viên. Bên cạnh kiến thức chuyên môn tốt, nhà trường còn đòi hỏi cao ở giảng viên khả năng sư phạm, một yếu tố quan trong để có thể trở thành một giảng viên tốt . Công bố quốc tế với chỉ số trích dẫn cao và hệ số ảnh hưởng cao là một trong những tiêu chí để đánh giá giảng viên/nghiên cứu viên. Tiếng Anh cũng là một trong những tiêu chuẩn quan trọng vì toàn bộ chương trình giảng dạy của trường đều bằng tiếng Anh.   Ở bậc thạc sĩ, chúng tôi đã mở hai chương trình thạc sĩ: Khoa học vật liệu – Công nghệ nano ; Công nghệ sinh học – Dược học. 80% khối lượng giảng dạy của bậc học này do giảng viên người nước ngoài đảm nhận. Chúng tôi có sự hỗ trợ lớn về mặt kỹ thuật từ Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Liên minh các trường Đại học và Viện nghiên cứu Pháp.   Một số nhà khoa học cho rằng một trong những thách thức lớn của USTH là thiếu đội ngũ giảng viên dài hạn có chất lượng cao. Ông nghĩ sao về điều này?  Tôi vẫn thường xuyên nhận được hồ sơ từ những nghiên cứu sinh tiến sĩ, sau tiến sĩ Việt Nam ở nước ngoài với mong muốn được quay về tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Trường chúng tôi. Nhiều người trong số họ rất xuất sắc. Chúng tôi cũng nỗ lực thu hút các giảng viên/nhà nghiên cứu giỏi tại Việt Nam. Mức lương thấp là một trong những vấn đề của giáo dục Việt Nam hiện nay. Nhiều giảng viên tại các trường đại học lớn buộc phải làm thêm để có thêm thu nhập, do vậy họ không có thời gian dành cho nghiên cứu. Mức lương tốt sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút đội ngũ giảng dạy chất lượng cao. Chúng tôi đang trong quá trình thảo luận để có thể đưa ra chế độ đãi ngộ hấp dẫn nhằm thu hút các giảng viên/nghiên cứu giỏi. Chúng tôi cũng dự định trong tương lai gần sẽ tuyển dụng những ứng viên giỏi trở thành giảng viên cơ hữu của Trường.   Không tham gia vào tuyển chọn sinh viên qua kỳ thi đại học như nhiều trường đại học công lập khác, vậy làm thế nào để trường đảm bảo được chất lượng của sinh viên?  Năm ngoái khi chúng tôi bắt đầu tuyển sinh khóa Cử nhân đầu tiên. Trong số 73 sinh viên đăng ký học, chỉ có 40 được nhận vào lớp dự bị bồi dưỡng tiếng Anh trong 5 tháng. Trong số 40 người này, cuối cùng chỉ có 18 người được chính thức tuyển vào học tại trường. Đó là cái giá phải trả khi đòi hỏi giáo dục chất lượng  xuất sắc, nhưng chúng tôi không thỏa hiệp.  Nhiều người đã khuyên chúng tôi tiến hành giảng dạy bằng tiếng Việt ở bậc cử nhân rồi sau đó mới đưa vào giảng dạy bằng tiếng Anh ở bậc học cao hơn. Nhưng chúng tôi kiên quyết đưa tiếng Anh vào ngay từ đầu. Trường có tổ chức những khóa dự bị tiếng Anh tăng cường do giáo viên người Việt và người bản xứ giảng dạy.   Năm ngoái là năm đầu tiên chúng tôi bắt đầu tuyển sinh, do vậy chúng tôi có mềm dẻo hơn trong quá trình tuyển chọn. Nhưng bắt đầu từ năm nay, chúng tôi sẽ thắt chặt hơn, dù số chỉ tiêu ở bậc cử nhân có tăng lên và mở thêm 2 chương trình thạc sĩ mới (Nước – Môi trường – Hải dương học và Khoa học Công nghệ Thông tin và Truyền thông). Chúng tôi đặc biệt đánh giá cao nguyện vọng học tập của sinh viên và đánh giá điều này qua phỏng vấn với Hội đồng tuyển sinh gồm các giảng viên quốc tế.  Trong nỗ lực quảng bá thông tin về Trường đến đông đảo các phụ huynh và học sinh THPT, chúng tôi đã đến thăm các trường trung học phổ thông hàng đầu ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, và một số thành phố lớn khác của Việt Nam để giới thiệu về  chương trình giảng dạy và các chương trình học bổng tài năng của nhà trường dành cho học sinh lớp 12.  Chúng tôi đã phổ biến với giới học sinh viên về trường đại học công lập đầu tiên tại Việt Nam theo hệ thống LMD (hệ cử nhân trong 3 năm, thạc sĩ 2 năm và tiến sĩ 3 năm), về đắng cấp chất lượng giáo dục mà chúng tôi xây dựng, và đặc biệt là về mức học phí chỉ 750 USD/năm, thấp hơn nhiều so với mức vài nghìn USD tại các đại học quốc tế khác ở Việt Nam.   Chúng tôi nỗ lực thiết lập quan hệ hợp tác với khối doanh nghiệp trong và ngoài nước để đảm bảo chương trình học đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng và sinh viên có điều kiện làm quen với môi trường làm việc trước khi tốt nghiệp. Trường cũng mời các doanh nghiệp tới nói chuyện với sinh viên, tổ chức các buối seminars… Sinh viên ngoài học chuyên ngành còn được trang bị các kiến thức về khoa học xã hội và quản lý như Luật, Quản lý dự án, Kinh doanh… Sắp tới trường sẽ thành lập quỹ học bổng hỗ trợ cho sinh viên đi thực tập tại các phòng thí nghiệm, công ty trong và ngoài nước.  Khi nào sinh viên bắt đầu lựa chọn chuyên ngành của mình, thưa ông?  Năm thứ nhất, các môn học sẽ cung cấp kiến thức nền tảng cho sinh viên. Họ sẽ được học Toán học, Hóa học, Vật lý, Sinh học, CNTT, Ngoại ngữ… Chúng tôi cho rằng, sinh viên năm thứ nhất chưa có kinh nghiệm để có thể đưa ra quyết định đúng khi lựa chọn chuyên ngành. Tôi không muốn sinh viên của mình lựa chọn học Công nghệ thông tin chỉ vì môn học này thời thượng. Do vậy, bắt đầu từ năm thứ hai, sinh viên mới tiến hành lựa chọn chuyên ngành của mình. Với kiến thức nền tảng về khoa học, một sinh viên học về công nghệ thông tin có thể học tin học áp dụng cho công nghệ vật liệu, hàng không…    Hiện tại trường có mở hai khoa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Khoa học vật liệu – Công nghệ Nano, Công nghệ sinh học – dược học, và sắp tới là  bốn chuyên ngành Nước-Môi trường-Đại dương học, Năng lượng, Khoa học và Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Hàng không và vũ trụ. Tại sao các ông lại lựa chọn những chương trình đạo tạo này?  Hai năm trước, Ủy ban hỗn hợp Việt – Pháp đã làm việc cùng nhau để xác định ra những chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam. Chúng tôi không lựa chọn thay cho các bạn; chúng tôi chỉ đặt ra câu hỏi: lĩnh vực nào các bạn cần chúng tôi hỗ trợ. Và như chúng ta thấy, khoa học vật liệu – nano, công nghệ sinh học, dược học đều là những ngành quan trọng và cơ bản đối với các quốc gia.   Trường không có những khoa khoa học cơ bản như Vật lý, Hóa học, Toán học… Làm thế nào có thể đảm bảo được chất lượng đào tạo các chuyên ngành hẹp nếu không có những ngành học cơ bản?  Chúng tôi không có khoa Toán nhưng chúng tôi có những giảng viên giỏi về Toán học. Họ sẽ cung cấp kiến thức toán cho những sinh viên học trong các chuyên ngành khác. Chúng tôi không muốn theo đuổi mô hình trường đại học với những khoa truyền thống sắp xếp theo ngành dọc, ít có mối quan hệ với nhau. Chúng tôi muốn có một cách tiếp cận liên ngành.   Trường có Hội đồng tư vấn quốc tế gồm các nhà khoa học quốc tế và của Việt Nam tư vấn về lựa chọn môn học, nội dung chương trình học.   Chính phủ Pháp hỗ trợ như thế nào cho dự án đại học này?  3 năm trước, Ủy ban hỗn hợp của chính phủ Việt Nam và Pháp đã quyết định thành lập 6 phòng thí nghiệm quốc tế. Bên cạnh đó, Chính phủ Pháp cũng hỗ trợ chương trình học bổng đào tạo 400 nghiên cứu sinh, gây dựng Quỹ phát triển hỗ trợ việc thực tập tại các phòng thí nghiệm, doanh nghiệp của Pháp. Chính phủ Pháp cũng hỗ trợ trong việc trả lương cho các giảng viên của Pháp tới Việt Nam giảng dạy tại Trường. Nếu không có những hỗ trợ về tài chính như thế này, rất khó có thể mời được giảng viên Pháp sang vì mức lương trả cho họ rất cao.   Trường hỗ trợ sinh viên thích nghi với môi trường học tập mới như thế nào?  Hiện nay chúng tôi có 3 giáo vụ phụ trách công tác sinh viên, giúp đỡ sinh viên và học viên giải quyết những vướng mắc trong học tập cũng như cuộc sống. Chúng tôi cũng yêu cầu các giảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc hỗ trợ cho sinh viên. Họ tới đây không chỉ đơn giản vì đãi ngộ hấp dẫn  mà còn vì những mục đích chung, đặc biệt là xây dựng môi trường giáo dục và nghiên cứu hiện đại, thân thiện. Những giảng viên nước ngoài sau khi về nước vẫn giữ liên lạc trao đổi thường xuyên với sinh viên của nhà trường.   Chúng tôi xác định có hai vai trò phải hoàn thành tại Việt Nam: tri thức và văn hóa. Bản thân tôi luôn muốn giữ tinh thần cởi mở và niềm vui trong lúc làm việc. Khi có mặt ở trường, tôi luôn sẵn sàng đón tiếp tất cả các bạn sinh viên.  Ông có theo đuổi mô hình đại học nào đó của thế giới khi bắt tay vào xây dựng Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội không?    Không. Chúng tôi ở Việt Nam và mọi thứ đều mới mẻ. Muốn trở nên xuất sắc, mỗi ngày phải là một sự sáng tạo mới. Phương châm của tôi là: thực tế, khiêm tốn và thích ứng với hoàn cảnh.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Không tiếc khi trở về dù đối mặt nhiều rào cản      Là một trong những chuyên gia công nghệ thông tin hàng đầu trong lĩnh vực hàng không thế giới, GS Dương Nguyên Vũ chọn về nước làm việc khi đang ở thời kì khoa học sung sức của mình. Ông tham gia thành lập viện nghiên cứu John Von Neumann (thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM) theo mô hình các trung tâm xuất sắc thế giới, hòng mong tạo đột phá góp phần cho nghiên cứu khoa học Việt Nam. Nhưng trên con đường thực hiện mục tiêu đó, ông gặp phải quá nhiều rào cản.  &#160;    Đến gặp GS Dương Nguyên Vũ, giám đốc viện John Von Neumann (JVN), vẫn nụ cười thật trẻ thơ, vẫn hai tay đút túi quần jeans mang dáng dấp trẻ trung, giọng nói ấm, sự điềm đạm, thông minh trong lối trò chuyện, và tư duy logic, nhưng lần này còn là cả một sự mệt mỏi chùng nặng khó giấu.   GS Vũ cười bảo, làm việc ở Việt Nam mệt mỏi là thường. Mệt mỏi không phải đến từ chất xám mình tiêu dùng mà do những cái “rất kì” làm mình bực mình. Những cú thay đổi công việc liên tục vào giờ chót làm ông phải đối phó với nó, kế hoạch bị vỡ, chất lượng công việc đi xuống. Nhưng đó chưa phải là tất cả…  Dùng tri thức khoa học ứng dụng vào thực tiễn   Là một trong những chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT) đầu ngành trong lĩnh vực hàng không thế giới, GS Dương Nguyên Vũ được biết đến nhiều nhất với ứng dụng toán tối ưu trong dự đoán và điều tiết lịch trình bay và công trình về đường bay tự kiểm soát, tạo ra bứt phá trong ngành hàng không. Với quản lý bay tự động trong những vùng không kiểm soát không lưu hoặc kiểm soát không lưu ít, thì hiện tất cả các máy bay bay vào khu vực châu Âu đều buộc phải có công cụ hệ thống hỗ trợ sự cách ly giữa các máy bay trên không phận. Sau thành quả này, GS Vũ tiếp tục có những tham gia đóng góp lớn vào các quản lý bay không cần không phận, không cần kiểm soát qua các vùng kiểm soát, những hệ thống tối ưu hóa cho các luồng bay, giảm vấn đề nhiên liệu, âm thanh, môi trường, thời gian…   Đang ở thời kì khoa học sung sức như vậy, thì năm 2010, GS Vũ quyết định về Việt Nam, thành lập viện John von Neumann (JVN), với các lĩnh vực toán ứng dụng, khoa học hệ thống, khoa học tri thức và khoa học thông tin, theo mô hình các trung tâm xuất sắc trên thế giới (COE – Center of Excellence). Đây là mô hình nhằm vào cải cách đại học qua việc hỗ trợ có định hướng, tạo ra các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đạt đẳng cấp quốc tế bên trong các trường đại học; đào tạo sau đại học, hợp tác nghiên cứu khoa học (NCKH) với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… GS Vũ chia sẻ, ông mong muốn tạo được một môi trường nghiên cứu khoa học cách tân, không nặng nề về cấu trúc hành chính, tự chủ về tài chính, tự trị về quản lý và tự do về học thuật.   Để làm được điều đó, ngoài thu hút được nhiều nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước cùng chung sức, GS Dương Nguyên Vũ đi theo hướng: dùng tri thức khoa học để thực tiễn hóa mô hình hợp tác giữa viện, trường đại học với doanh nghiệp! Theo đó, viện JVN tập trung vào hướng tư vấn, đào tạo, hợp tác với doanh nghiệp qua các dự án, để cho ra những công cụ (mẫu, ý tưởng, phương pháp, quy trình,…) giúp doanh nghiệp làm sản phẩm tốt hơn, hoặc làm ra sản phẩm mới, giúp doanh nghiệp tăng tiềm năng cạnh tranh trên thị trường.   Sau bốn năm hoạt động, hiện viện đã bắt đầu có doanh nghiệp chủ động tìm đến hợp tác, thay vì phải hoàn toàn đi tìm và thuyết phục họ như trước. Nhưng thứ mà JVN làm được là xây dựng một môi trường làm việc khoa học! Đến nay viện đã thu hút được 40 SV cao học, năm nghiên cứu sinh, 10 giảng viên cơ hữu và hơn 20 giảng viên ở nước ngoài. SV được tuyển vào học được giảm từ 25-100% học phí, học và nghiên cứu với nhiều nhà khoa học Việt giỏi trong ngoài nước, có thể kể như: GS.TS Vũ Hà Văn (GS toán học của ĐH Yale – Mỹ, từng đoạt các giải thưởng George Polya, NSF Career, Fulkerson), GS.TS Phạm Xuân Huyên (GS về toán kinh tế – ĐH Paris 7), GS.TS Hồ Tú Bảo (Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ Nhật Bản), TS Trần Minh Triết (giải thưởng Quả cầu vàng về công nghệ thông tin 2009),…             NCKH không phải là làm ra sản phẩm  “Xã  hội hiện vẫn còn suy nghĩ NCKH, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển  khai nghĩa là làm ra sản phẩm, thay vì làm ra tri thức. Vì vậy người làm  NCKH ở Việt Nam chưa được coi trọng, còn người làm ra sản phẩm đem bán  ngoài chợ được coi trọng hơn nhiều. Nhà nước không đầu tư cho NCKH nhiều  bằng đầu tư cho những trung tâm, viện làm ra sản phẩm, đồng thời không  hề tiến hành đánh giá để biết những sản phẩm ấy cho đến nay liệu đã thực  sự đóng góp được những gì cho xã hội? Tất nhiên cần có sự phân chia mục  tiêu ngắn – dài hạn phù hợp, nhưng nếu cứ tiếp tục theo con đường này,  đất nước sẽ không thể có một nền NCKH mạnh. Một quốc gia không có NCKH  như một căn nhà có những đứa con không được đi học, chúng chỉ làm việc  tay chân. Muốn một quốc gia có khoa học thì cần nuôi dưỡng những đứa con  để nó làm ra tri thức mới”. – GS Dương Nguyên Vũ.            Viện đã đạt được  mong muốn đặt ra ban đầu? GS Vũ nhìn nhận: Chưa, chỉ mới đạt 1/3, gồm  cả mục tiêu nguồn tài chính cho trả lương, học bổng, và chưa có kết quả  nghiên cứu khoa học nào để kể. Đối với GS Dương Nguyên Vũ, bốn năm về  làm ở Việt Nam là những trải nghiệm thực tế không cho phép mình chùn  bước, và… khó lường hết được! Ông đau đáu: hiện có quá nhiều rào cản  lớn trong làm khoa học hiện nay ở nước nhà…  Vấn đề tài chính và con người  Chia sẻ khó khăn cũng là rào cản trong NCKH hiện nay mà viện JVN vẫn đang phải đối mặt là tài chính, GS Vũ nhận định, cả hai nguồn tài chính, từ doanh nghiệp lẫn Nhà nước đều đang “có vấn đề”!   Ông phân tích, thực tế hiện nay, một số doanh nghiệp vẫn dựa vào mối quan hệ, hoặc bởi tính độc quyền của một số doanh nghiệp trên thị trường khiến cả hai nhóm này đều không hoặc chưa cần đến đổi mới sáng tạo, vì họ không bị cạnh tranh. Nguyên nhân khác, văn hóa các trường, viện ở Việt Nam từ lâu chỉ đào tạo, không NCKH, nên doanh nghiệp cũng không biết các trường, viện nghiên cứu có thể làm được gì cho họ, hay chỉ nói lí thuyết, cái trên mây. Vì vậy, các doanh nghiệp thường không làm việc với các trường đại học, viện nghiên cứu. “  JVN cần một nguồn thu ổn định, có mức lương đàng hoàng để người nghiên cứu có thể tập trung làm ra chất lượng, từ đó nó giúp lại mình làm việc được với doanh nghiệp, rồi tạo ra thu nhập”, GS Vũ giải thích. Ông nói, vòng xoay con gà – quả trứng này khi đã xoay được, tất nó sẽ xoay lên. Nhưng tiếc rằng, bốn năm nay, nó xoay rất chậm, đẩy thì nó xoay, không thì ngưng. Trong khi đó, doanh nghiệp thường cần những cái trước mắt chứ không phải cái đi đầu của 5-10 năm nữa như NCKH. Nên với GS Vũ, JVN rất cần thêm nguồn từ Nhà nước.   Nhưng với ngân sách nhà nước ở nước ta, quy chế quản lý tài chính dù đã được đổi mới nhưng vẫn còn rất phức tạp so với quốc tế, lại không có sự tách biệt giữa vai trò quản trị dự án và vai trò làm nghiên cứu, đã không chỉ hạn chế năng lực sáng tạo của những người làm khoa học, mà nhiều khi còn buộc họ phải lựa chọn: hoặc là làm ra sản phẩm khoa học nhưng đi trái quy trình tài chính, hoặc là làm theo quy trình tài chính để có tiền nhưng không mang lại sản phẩm khoa học đúng nghĩa. “Lựa chọn thứ hai là cái hiện nay đa số mọi người đang làm, nhưng trong khoa học có một số điểm mấu chốt không bao giờ có thể thay đổi, đó là trước một lựa chọn dễ dẫn tới sự sai lệch so với chuẩn mực và đạo đức khoa học, chúng ta phải từ chối nó!”, GS Vũ tâm tư.   Chính vì vậy, lựa chọn của GS Vũ là đi tìm các nguồn tài chính khác từ hợp tác với doanh nghiệp. Ông chấp nhận phải làm việc rất vất vả và bản thân không còn thời gian để nghiên cứu. Từ lúc JVN thành lập, thời gian nghiên cứu của ông còn rất ít, chỉ có nửa buổi đến một buổi/tuần để làm việc với SV, nghiên cứu sinh của mình. Tối ngày ông vất vả tìm những dự án, những mối quan hệ, hợp tác, nhân rộng nó lên để có được một nguồn tài chính ổn định cho JVN…   Nhưng tài chính không phải là tất cả. GS Vũ còn nặng một tâm tư rất thật khác: Ở Việt Nam, ông có quá ít những cộng sự toàn tâm toàn ý làm khoa học. Rất khó để giữ chân những cộng sự toàn tâm đồng hành làm khoa học, khi mà môi trường nghiên cứu khoa học ở nước ngoài tốt hơn; chưa kể, ngay ở trong nước đã có một “thị trường” cạnh tranh khác: nhiều công ty săn nhà khoa học giỏi về làm việc với mức lương cao gấp 5-10 lần, dù ở viện JVN, có những lúc GS Vũ đã có thể lo được thu nhập cho một giảng viên ở mức hơn 1.000 USD/tháng (gồm lương cơ bản, tiền giảng dạy và phụ cấp nghiên cứu)! JVN đang khó thu hút người là vậy.   Nhưng GS Vũ nói, ông không tiếc vì quyết định về Việt Nam của mình. Được sống trong không khí, cây cối, con người này, đây là quê hương của ông, và “được tham gia vào sự phát triển của đất nước, chẳng phải ý nghĩa lắm sao!”. Bởi vậy, dù rất nhiều mệt mỏi và có những lúc nghĩ muốn buông, thì vị giáo sư này vẫn tếu táo: “Chúng tôi sẽ không bao giờ thua vì mình có thời gian. Một nhiệm kì chỉ có năm năm, còn mình thì không có nhiệm kì…”   Tất bật lo cho JVN hoạt động, có những lúc nhớ nghề, trong đầu ông chỉ nghĩ về khoa học thuần túy. “May quá, giờ tôi ít được rảnh nên không nhớ nhiều lắm!”, ông cười nhẹ.   Tự tin bản thân đã có khả năng xây dựng những nhóm, ekip nghiên cứu uy tín, phòng thí nghiệm có tầm ảnh hưởng trên thế giới ở nước ngoài rồi, GS Vũ chia sẻ: Hai năm nữa, khi mọi sự đang trên đà đi lên như hiện nay, ông sẽ quay lại làm khoa học thật sự, nghĩa là ông sẽ có khoảng 50% thời gian cho NCKH. Và chừng nào đất nước cần tri thức của ông, ít nhất ở lĩnh vực hàng không đã ghi dấu ông trên bản đồ tri thức thế giới, ông sẽ làm!…               GS.TS Dương Nguyên Vũ tốt nghiệp Trường Quốc  gia Cầu cống thuộc viện Công nghệ Paris (Pháp). Năm 1990, ông trở thành  tiến sĩ với đề tài liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Trước khi về Việt  Nam, GS Vũ từng là cố vấn khoa học cấp cao kiêm chủ nhiệm Hội đồng Khoa  học tại trung tâm Nghiên cứu không lưu của châu Âu – Eurocontrol, gồm 37  quốc gia thành viên, và là thành viên Hội đồng Khoa học của Liên minh  châu Âu trong lĩnh vực nghiên cứu về hàng không (SESAR). Ông còn là giáo  sư tại trường Telecom-ParisTech và EPHE Sorbonne (Pháp) và từng là giám  đốc Phòng thí nghiệm khoa học tại trường này.                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không tuyển hệ đào tạo theo nhu cầu xã hội      Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga khẳng định từ năm 2011 dứt khoát không có hệ đào tạo theo nhu cầu xã hội ở các trường; và chỉ có một chỉ tiêu tuyển sinh được xác định ngay từ đầu, các trường chỉ thực hiện đúng theo một chỉ tiêu tuyển sinh này.    Thứ trưởng Ga cũng cho biết thêm theo tinh thần nghị quyết của Quốc hội, bộ chỉ cho phép các trường mở hệ đào tạo chất lượng cao được phép thu học phí cao. Nhưng như thế nào là đào tạo chất lượng cao, mức học phí thu thế nào là phù hợp…, các trường phải có đề án, chứng minh được rõ ràng, không chỉ với Bộ GD-ĐT mà cả với Bộ Tài chính vì liên quan đến vấn đề học phí. Chỉ tiêu đào tạo chất lượng cao cũng chỉ nằm trong tổng chỉ tiêu được phê duyệt, trong số thí sinh được tuyển sinh vào trường chứ không phải phát sinh thêm số lượng mới với mức điểm chuẩn khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng GD ĐH tại Trung Quốc      &#160;&#160;&#160; Những dấu hiệu khủng hoảng đầu tiên của giáo dục đại học Trung Quốc đã bộc lộ từ lâu, nhưng bị khỏa lấp bởi những thành tựu dễ làm lóa mắt – sự phát triển vượt bậc về số lượng đã có lúc khiến cả thế giới phải quan tâm theo dõi1, cùng với đó là thái độ trầm trồ, thán phục của các nước đang phát triển, xem Trung Quốc như hình mẫu để học tập. Mãi gần đây, khi khủng hoảng đã ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển kinh tế và xã hội, báo chí Trung Quốc mới bắt đầu lên tiếng, phơi bày mặt trái của tấm huân chương.              “Trung Quốc không có nổi một trường đại học đẳng cấp quốc tế!”      Tựa nhỏ  trên đây là phát biểu vừa được đăng ngày 18/4/2010 trên  chinadaily.com.cn trong mục “Trích dẫn trong tuần” (Weekly Quote). Tác  giả của nó là nguyên Hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, ngôi trường luôn luôn  dẫn đầu danh sách xếp hạng các trường đại học Trung Quốc. “Đẳng cấp  quốc tế” ở đây cần được hiểu là 200 vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng  đại học thế giới (ARWU) của Đại học Giao thông Thượng Hải (SJTU).        Việc  không có tên trong 200 vị trí đầu của ARWU là rất bình thường đối với  hầu hết các trường đại học trên khắp thế giới. Có lẽ ngoài Trung Quốc  (và một vài nước đua đòi theo giấc mơ “đại học đẳng cấp quốc tế” của  Trung Quốc) thì bảng danh sách này không có ý nghĩa gì lắm đối với giới  lãnh đạo giáo dục các nước khác. Tổng số trường đại học trên thế giới  hiện nay theo ước tính thận trọng nhất cũng đã lên đến cả chục nghìn  trường (chỉ riêng Mỹ đã có hơn 4.000). Con số 200 so với hơn 10 nghìn là  một tỷ lệ đủ nhỏ để người ta có thể xem nó như một ngoại lệ hơn là quy  luật.        Nhưng đối với Trung Quốc thì hoàn toàn khác. Theo Nian Cai Liu,  tác giả của ARWU, bảng xếp hạng có mục đích giúp các trường đại học  Trung Quốc hiện thực hóa ước mơ và cũng là chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và  Nhà nước: Phải xây dựng cho được một số trường đại học đẳng cấp quốc tế.  Từ lúc ra đời vào năm 2004 đến nay, việc soán được một vị trí cao trong  bảng xếp hạng ARWU trở thành mục tiêu phấn đấu của giáo dục đại học  Trung Quốc, cũng là cơ sở để quyết định mức độ đầu tư của Nhà nước cho  các trường trọng điểm. Thế nhưng dù đã được Nhà nước liên tục đổ hàng  núi tiền, các trường vẫn cứ quanh quẩn vị trí 300-400, mức khởi đầu khi  bảng xếp hạng ra đời.        Song kể cả bỏ qua việc kém thành công ở bảng xếp  hạng này thì vẫn còn rất nhiều dấu hiệu khủng hoảng khác đang bộc lộ dồn  dập trên nhiều khía cạnh, tạo ra hình ảnh về giáo dục đại học Trung  Quốc không giống những điều người ta vẫn tự hào và tin tưởng bấy lâu  nay.         “Công bố đi rồi chết!”       “Publish or perish” (Công bố hay là chết)  là phương châm hoạt động của giới học thuật phương Tây, với ý nghĩa mọi  giảng viên đại học và nhà nghiên cứu đều cần có công bố khoa học để tồn  tại một cách xứng đáng. Nghiên cứu và công bố cũng là những yếu tố đánh  giá trong bảng xếp hạng ARWU, và điều này đã khiến cho các giảng viên  Trung Quốc “điên cuồng” chạy đua công bố khoa học trong những năm qua.        Nhưng tại sao lại là Công bố đi rồi chết (Publish and perish), như tựa  của một bài viết đăng trên tờ China Economic Review2 hồi tháng 3/2010?  Bài viết dường như đã điểm đúng tử huyệt của giáo dục đại học Trung  Quốc: nạn “tham nhũng học thuật” đang làm ô nhiễm trầm trọng môi trường  học thuật của đất nước này.         Bài báo nêu, cuộc khảo sát do Bộ Khoa học  và Công nghệ Trung Quốc thực hiện năm 2006 cho thấy, 60% các giáo sư  thừa nhận đã sao chép tác phẩm của người khác, đút tiền để được đăng bài  trên tạp chí khoa học, hoặc khai man số bài báo khoa học của mình.          Cũng theo bài báo, sự gian lận này không phải không ai biết. Đã từng có  nhiều lời than phiền cùng những lá đơn thỉnh nguyện của giới trí thức  kêu gọi các nhà lãnh đạo phải ra tay, có điều chúng đều bị bỏ ngoài tai.  Chỉ đến khi gian lận bị phát hiện ở nước ngoài thì những người có trách  nhiệm mới bắt đầu có một vài động thái, chẳng hạn như đuổi việc những  giảng viên thuộc Đại học Vũ Hán bị lộ tẩy đạo văn năm 2007.         Tiếc thay,  những động thái mạnh mẽ như trên còn khá hiếm hoi, bởi vậy hầu như chẳng  cải thiện được tình hình. Ngoài việc đạo văn, thực chất là “đánh cắp  tài sản trí tuệ” của người khác, trước áp lực nặng nề của việc phải có  công bố khoa học để tồn tại hoặc duy trì các vị trí mà tài năng của họ  không tương xứng, một số “nhà khoa học” Trung Quốc còn có các hành vi  đáng lên án khác như tạo ra những “công trình khoa học rác” với số liệu  giả và kết luận vô căn cứ; hoặc dùng tiền để mua bài viết, luận án tiến  sĩ, công trình khoa học từ các “lò đạo văn” rồi công bố dưới tên mình.  Một nguyên nhân căn bản khác của nạn đạo văn là áp lực khủng khiếp mà  ARWU vô tình tạo ra từ chỉ tiêu khắt khe: tỷ lệ công bố khoa học trên  giảng viên.         Chính tham vọng đẳng cấp quốc tế của giới lãnh đạo chính trị đã gây ra nhiều sức ép đối với giới học thuật, cộng với sự lẫn lộn giữa vị trí hành chính và vị thế chuyên môn, đã tạo ra tình trạng “tham nhũng học thuật”, tình trạng nhộn nhạo chợ luận văn và công trình, bài báo ma, công trình giả, dỏm, luận văn mua… hỗn loạn trong giáo dục đại học Trung Quốc hiện nay.             Bài viết Công bố đi rồi chết còn dẫn ra nghiên cứu của Đại  học Vũ Hán cho biết, ba năm qua, các nghiên cứu sinh và giáo sư của  Trung Quốc đã bỏ ra đến 146 triệu USD mua “bài viết ma” để nộp làm luận  án tiến sĩ hoặc công bố khoa học của mình.         Nạn mua bán công trình khoa  học thậm tệ đến nỗi nhật báo China Daily của Nhà nước Trung Quốc phải  thốt lên: “Một số trí thức Trung Quốc ngày nay thực sự không còn biết hổ  thẹn là gì nữa!”         Hiện tượng này cũng được AsiaOne, tờ báo mạng của  Singapore Press Holdings, nêu ra hồi tháng 3/2010 trong bài viết có cái  tựa dí dỏm “Đại nhảy vọt” đã kích thích các khu nhà ổ chuột trong giới  học thuật3. Bài viết có đoạn: “Nhiều giáo sư và sinh viên [Trung Quốc]  hoàn toàn không hổ thẹn về việc đạo văn của mình vì cho rằng ai cũng làm  như thế. Thật lố bịch khi một bài báo khoa học trong ngành Y đã bị đạo  văn đến sáu lần khác nhau với tổng số “đạo chích” lên đến 25 người!”         Phải làm gì bây giờ? Kỷ luật thật nặng, đuổi việc, tước bằng, cách chức,  như đã bắt đầu xảy ra gần đây? Tờ China Daily đưa ra một quan điểm  khác, thoạt nhìn có vẻ bất ngờ nhưng nghĩ kỹ lại hoàn toàn phù hợp với  tình hình Trung Quốc và các quốc gia nơi nhà nước can thiệp khá sâu vào  công việc của trường đại học, đó là: chấm dứt chế độ lương thưởng dựa  trên thành tích công bố khoa học của các giáo sư. “Những giáo sư nào cảm  thấy cần công bố thì cứ việc công bố, chứ không nên thúc ép họ công bố  theo kiểu ngu xuẩn như lâu nay nữa,” bài báo viết.                  ***        Những ví dụ trên  cho thấy rõ là giáo dục đại học Trung Quốc chưa thành công, thậm chí có  thể nói là đã thất bại, trong tham vọng “tạo ra một số trường đại học  đẳng cấp quốc tế”. Cho dù điều đó là chỉ đạo của lãnh đạo tối cao của  đất nước này từ cuối thập niên 1990 mà hơn một thập niên nay các trường  đại học của đất nước này đã miệt mài theo đuổi, với sự hỗ trợ về tài  chính rất lớn lao từ ngân sách công.         Tại sao có thể xem là ngành giáo  dục của Trung Quốc đã thất bại trong giấc mơ đẳng cấp quốc tế? Là bởi  vì, cho đến nay không những Trung Quốc vẫn chưa thực hiện được kế hoạch  lọt vào top 200 của bảng xếp hạng ARWU, mà ngay cả điều kiện cơ bản là  có các giáo sư, các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh giỏi chuyên môn và  có đạo đức học thuật thì Trung Quốc cũng hoàn toàn chưa làm được. Ngược  lại, chính tham vọng đẳng cấp quốc tế của giới lãnh đạo chính trị đã  gây ra nhiều sức ép đối với giới học thuật, cộng với sự lẫn lộn giữa vị  trí hành chính và vị thế chuyên môn, đã tạo ra tình trạng “tham nhũng  học thuật”, tình trạng nhộn nhạo chợ luận văn và công trình, bài báo ma,  công trình giả, dỏm, luận văn mua vv hỗn loạn trong giáo dục đại học  Trung Quốc mà hiện nay cả thế giới đều biết rõ.        Tuy nhiên, đánh giá  thành tựu của giáo dục đại học Trung Quốc chỉ thông qua số lượng công bố  khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, các giải thưởng lớn về khoa học  công nghệ, hay sự tồn tại của các trường đại học nghiên cứu có đẳng cấp  quốc tế có lẽ là không  chính xác. Bởi giáo dục đại học không chỉ nhằm  thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ ở đỉnh cao, mà có lẽ quan trọng  hơn, là nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát  triển kinh tế của một quốc gia.       Một quốc gia như Trung Quốc với trên một  tỷ dân và một nền kinh tế mới nổi, đang chuyển từ nông nghiệp sang công  nghiệp, thì trước hết cần có các trường đại học giảng dạy (teaching  universities) tốt, còn việc xây dựng các đại học nghiên cứu có tầm cỡ để  cạnh tranh với Mỹ có thể cũng chưa cần thiết. Cũng vậy, các giảng viên  làm việc trong các trường đại học giảng dạy như vậy không nhất thiết  phải là những người có nhiều công bố trên các tạp chí khoa học mà đa  phần là của các nước tư bản phương Tây, vốn có một truyền thống học  thuật rất khác với Trung Quốc. Vậy, những thành tựu của giáo dục đại học  Trung Quốc trong việc đào tạo nhân lực cho xã hội là như thế nào nhỉ?.      (Xem tiếp kỳ 2: Một số khía cạnh khủng hoảng khác của giáo dục đại học ở  Trung Quốc – sinh viên ra trường không tìm được việc làm hoặc phải làm  lao động phổ thông, các trường đại học địa phương mở ra ồ ạt nay đang  phá sản hàng loạt – đồng thời lý giải nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng  hoảng.)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng giáo dục  Đại học tại Trung Quốc      Giáo dục đại học Trung Quốc không chỉ thất bại trong tham vọng “tạo ra một số trường đại học đẳng cấp quốc tế”. Nhiều số liệu đã chỉ ra một khía cạnh khủng hoảng khác – khủng hoảng về chất lượng đào tạo nhân lực cho xã hội.    Sau hai thập kỷ miệt mài theo đuổi mục tiêu “đại học đẳng cấp quốc tế”, với hỗ trợ về tài chính rất lớn từ ngân sách công, Trung Quốc vẫn chưa thành công như mong muốn. Ngay cả điều kiện cơ bản là hình thành đội ngũ các giáo sư, nhà khoa học, nghiên cứu sinh giỏi chuyên môn và có đạo đức học thuật, Trung Quốc cũng chưa làm được. Tuy nhiên, đánh giá thành tựu của giáo dục đại học chỉ thông qua số lượng công bố khoa học trên các tạp chí chuyên ngành hay giải thưởng lớn về khoa học công nghệ có lẽ là thiếu toàn diện. Bởi lẽ, bên cạnh thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đại học còn nhằm cung cấp nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế. Vậy, giáo dục đại học Trung Quốc đã đạt thành tựu gì ở mặt này?  “Tốt nghiệp là thất nghiệp!”  Đó là tựa bài viết đăng ngày 24/3/2010 trên trang mạng youthiawaaz.com1, một diễn đàn trực tuyến xuất phát từ Ấn Độ nhằm kết nối thanh niên trên toàn thế giới. Bài viết mở đầu với những dòng sau: “Trong vòng 5 năm trở lại đây, thật dễ dàng tìm được các mẩu tin và phóng sự về nạn thất nghiệp của thanh niên trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc. Vấn nạn thất nghiệp đã trở nên quá quen thuộc với thanh niên Trung Quốc đến nỗi hầu như mọi thanh niên Trung Quốc đều biết câu thành ngữ mới này: tốt nghiệp là thất nghiệp.”             Sinh viên tốt nghiệp xếp hàng dài để vào Hội chợ việc làm ở TP Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên               (ảnh: China Daily)          Nạn thất nghiệp trong những người có bằng đại học ở Trung Quốc tệ đến như vậy sao, hay đây chỉ là cái nhìn thiếu khách quan của báo chí Ấn Độ? Vậy truyền thông chính thống của Trung Quốc nói gì về nạn thất nghiệp này? Dưới đây là những thông tin và số liệu lấy từ các tờ báo chính thống của Trung Quốc:   “Theo tin từ thành phố Đông Quản, một trong những trung tâm sản xuất chính ở vùng châu thổ sông Châu Giang miền Nam Trung Quốc, có đến hơn 90% các nhà máy nói rằng họ rất khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự vào sáu tháng cuối năm 2009, khi kinh tế bắt đầu hồi phục và các đơn đặt hàng từ nước ngoài bắt đầu đổ vào Trung Quốc. Việc hoạt động hết công suất dường như đối với các nhà máy ở Trung Quốc chỉ còn là một giấc mơ xa lắm rồi.”   Mẩu tin trên lấy từ trang web của Trung Hoa nhật báo bản tiếng Anh (China Daily) ngày 12/1/20102. Phải chăng tình trạng trên là do số lượng sinh viên tốt nghiệp chưa đủ để đáp ứng nhu cầu lớn lao của các khu công nghiệp? Hoàn toàn không! Theo bài viết, tình trạng trên phần lớn do sinh viên tốt nghiệp không phù hợp hoặc không đáp ứng yêu cầu công việc. Bài viết có một cái tít nghe thật đau xót: “Nỗi đau giáo dục của người đi xin việc”.  Tình trạng thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp không phải không ai biết, bản thân Nhà nước Trung Quốc rất quan tâm. Một mẩu tin gần đây trên China Daily cho biết “Tìm việc làm ở các địa phương cho sinh viên tốt nghiệp là ưu tiên hàng đầu của chính quyền”3. Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành nghề trong một thời gian hợp lý cũng là một trong những yêu cầu đánh giá chất lượng trường đại học của Trung Quốc.   Nạn ngụy tạo số liệu   Trước yêu cầu trên của chính quyền, thật mỉa mai, thay vì cố gắng thay đổi nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, và tăng cường hoạt động hỗ trợ việc làm, thì một số trường đại học lại giở bài “gian lận”, đưa ra thông tin giả về tình trạng việc làm của cựu sinh viên.   Mẩu tin có tiêu đề “Các trường đại học ngụy tạo số liệu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp” đăng trên trang web china.org tháng 7/20094 viết:   “Trong hồ sơ lưu của trường đại học nơi cậu tốt nghiệp, Tiểu Đồng được ghi là đã có việc làm. Nhưng thực ra hiện nay cậu vẫn đang vật vã cố tìm việc làm tại Bắc Kinh.   “Chỉ có 10 trong số 29 sinh viên tốt nghiệp lớp tôi đã tìm được việc làm đúng nghĩa,” Tiểu Đồng nói. Cậu tốt nghiệp từ một trường đại học hàng đầu của Trung Quốc. “Nhưng trường tôi lại khoe khoang với bên ngoài rằng 90% sinh viên tốt nghiệp đã có việc làm.”   Theo Bộ Nhân lực và An sinh xã hội (Ministry of Human Resources and Social Security) Trung Quốc5, tỷ lệ có việc làm của những người tốt nghiệp đại học trong vòng ba năm qua dao động quanh mức 70%, tức tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ 30%.   Đặc biệt, theo tin ngày 18/2/2010 trên China Daily6 thì đến tháng 6/2010 năm nay, áp lực việc làm sẽ rất lớn, khi 6,3 triệu sinh viên đại học và cao đẳng tốt nghiệp. Đây là kết quả của sự phát triển liên tục về số lượng của giáo dục đại học trong hơn 10 năm qua. Thử tưởng tượng, với tỷ lệ 30% thất nghiệp hiện nay, sắp có thêm 2,1 triệu người trình độ đại học gia nhập đội quân thất nghiệp!   Nhưng số phận của những sinh viên tìm được việc làm cũng có vẻ chẳng khá hơn bao nhiêu. Kết quả khảo sát vừa được công bố hồi tháng 3/2010, cũng trên trang mạng China Daily7, cho biết:   “27% trong số 8.700 cựu sinh viên được khảo sát cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay của họ là không có cơ hội phát triển nghề nghiệp. Mối quan tâm lớn thứ hai của họ là lương; có đến 20% những người được hỏi cho rằng sau khi trừ hết chi phí ăn ở, sinh hoạt thì lương của họ hầu như không còn xu nào.”  Áp lực của việc học ở bậc đại học, cùng với viễn cảnh tương lai không mấy sáng sủa khi tốt nghiệp, đã đè nặng lên tâm lý của sinh viên, đặc biệt sinh viên từ tỉnh lẻ lên thành phố ăn học. Theo China Daily cuối tháng 3/2010, một nữ sinh viên ở thành phố Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô đã tự vẫn trong nhà tắm tại ký túc xá, để lại bức thư cho gia đình, giải thích về cái chết của mình là do “áp lực quá sức chịu đựng khiến cho cô không thể quyết định sau khi tốt nghiệp sẽ tìm việc làm hay tiếp tục ôn tập để dự kỳ thi tuyển đầu vào sau đại học”  Những bức tranh ảm đạm vừa nêu, được phác họa lên từ tin tức và số liệu chính thức trên báo chí chính thống của Trung Quốc – đó là chưa kể đến rất nhiều tin tức ảm đạm khác trên báo chí phương Tây và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới hoặc UNESCO – liệu đã tạm đủ để bước đầu kết luận về sự khủng hoảng của nền giáo dục đại học của Trung Quốc hay chưa?   ————  1 http://www.youthkiawaaz.com/2010/03/graduation-means-unemployment-say-youth-in-china/  2 http://www.chinadaily.com.cn/opinion/201001 /12/content_9303031.htm  3 http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2010-02/11/ content_9460345.htm  4 http://www.china.org.cn/china/news/2009-07/29/ content_18225468.htm  5 http://www.chinadaily.com.cn/china/2010-01/23/ content_9366164.htm  6 http://www.chinadaily.com.cn/china/2010-02/18/ content_9473273.htm  7 http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2010-03/ 23/content_9629367.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng nhân lực cho kinh tế biển      Hàng hải là một trong những ngành được xác định là mũi nhọn của kinh tế biển, đang đứng trước nguy cơ tụt hậu rất lớn so với thế giới. Cả nước hiện chỉ có hai đại học, hai trường cao đẳng và một trường dạy nghề hàng hải… hàng năm cho ra lò 1.000 – 1.500 người từ trung cấp đến đại học, nhưng chỉ hơn một nửa làm đúng nghề được đào tạo.    Với trên 3.000km bờ biển, hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, lại nằm ngay một giao lộ thông thương quốc tế, lẽ ra Việt Nam từ lâu phải là một cường quốc biển. Năm 2007, một chiến lược kinh tế biển đã ra đời, xác định đến năm 2020 nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp 53 – 55% tổng GDP của cả nước. Loạt bài này nhằm đánh giá khâu chủ chốt của chiến lược ấy – đào tạo nhân lực – đến nay đã thực hiện được những gì.    Khai thác thuỷ sản bị người học quay lưng  Năm học 2011 – 2012, khoa Khai thác của trường đại học Nha Trang lấy chỉ tiêu 180 sinh viên bao gồm các ngành khai thác thuỷ sản, an toàn hàng hải, điều khiển tàu biển. Kết quả tuyển sinh: số thí sinh đậu nguyện vọng 1, tức trên điểm sàn, vào hệ đại học chỉ vỏn vẹn bốn người! Nếu tính cả hệ cao đẳng, lấy 10 điểm trở lên, có lẽ toàn khoa có chưa tới 30 thí sinh trúng tuyển nguyện vọng 1.  TS Trần Đức Phú, trưởng khoa cho biết, nếu như năm 2007 khoa mở được hai lớp với 94 sinh viên, thì liên tục hai năm 2008 – 2009 mỗi năm chỉ mở một lớp với 14 sinh viên. Riêng năm 2010, không mở được lớp nào do số sinh viên quá ít.  Khoa khai thác thuỷ sản là một trong bảy khoa đặc thù của đại học Nha Trang (trước đây là đại học Thuỷ sản), nơi có bề dày hơn 50 năm giảng dạy và nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển như: kỹ thuật chế tạo ngư cụ, khai thác thuỷ sản, kỹ thuật hàng hải và pháp luật hàng hải, quản lý nghề cá, hải dương học nghề cá… Theo thời gian, đặc biệt sau khi trường đại học này chuyển đổi thành đại học đa ngành, quy mô đào tạo của khoa thu hẹp dần, đến nay chỉ còn hai ngành chủ yếu là khai thác thuỷ sản và khoa học hàng hải (ghép từ hai ngành an toàn hàng hải và điều khiển tàu biển). Ngành cơ khí thuỷ sản trước kia được chuyển thành kỹ thuật tàu thuỷ vẫn không có nguồn tuyển và nhiều năm liền gần như không có sinh viên. “Với đà này chỉ vài năm nữa, các địa phương sẽ không có người làm công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, quản lý ngư trường, tàu thuyền…”, ông Phú lo lắng nói.          “Với đà này chỉ vài năm nữa, các địa phương sẽ không có người làm công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, quản lý ngư trường, tàu thuyền…”        Không bi đát như các ngành khai thác thuỷ sản, nhưng thực trạng của ngành chế biển thuỷ sản lại mang một sắc thái khác. Hiện cả nước có hơn 30 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và trường nghề đào tạo các ngành nghề có liên quan đến công nghệ thực phẩm và chế biến thuỷ sản nhưng thực tế đào tạo thì mỗi nơi mỗi khác. Ở đại học Nha Trang, ngành chế biến thuỷ sản được xếp chung nhóm công nghệ thực phẩm, và nuôi trồng thuỷ sản nhiều năm liền không đủ chỉ tiêu. Ông Nguyễn Văn Việt, hiệu trưởng trường cao đẳng Thuỷ sản, Bắc Ninh thừa nhận: “Mười năm trước, khoa nuôi trồng thuỷ sản của trường mỗi năm tuyển được hàng trăm sinh viên, gần đây trầy trật lắm chỉ tuyển được vài chục người”.  Không học vì sợ ra biển?  Giải thích nguyên nhân thiếu sức hút của các ngành khai thác biển, Th.S Nguyễn Trọng Thảo, trưởng bộ môn công nghệ khai thác thuỷ sản bộc bạch: “Sở dĩ có tình trạng như vậy một phần do người học hiểu nhầm tốt nghiệp ngành khai thác là phải đi biển trên tàu cá, mà trong tình hình Biển Đông hiện nay ai dám cho con em mình đi biển, vừa thu nhập thấp vừa không an toàn”. Thực tế trong ba ngành (trừ ngành điện) thì chỉ có ngành điều khiển tàu biển ra trường mới làm việc trên các con tàu, còn lại hai ngành khai thác thuỷ sản và an toàn hàng hải chủ yếu làm việc trên bờ tại các cơ quan quản lý đánh bắt hay bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, các chi cục kiểm ngư, cảng vụ… Theo ông Thảo, nhiều xí nghiệp xuất nhập khẩu thuỷ sản không có lấy một kỹ sư khai thác, làm sao đáp ứng yêu cầu của đầu ra sản phẩm là phải truy xuất được nguồn gốc nguyên liệu? Đó là chưa kể lực lượng kiểm ngư Việt Nam mới thành lập cũng cần hàng ngàn kỹ sư khai thác thuỷ sản.            Chưa đến 1% thí sinh chọn các ngành kinh tế biển   “Nhìn lại số liệu thí sinh dự thi các năm qua, nếu như ngành quản trị kinh doanh, ngành kế toán, tài chính – ngân hàng là ba ngành có thí sinh lựa chọn nhiều nhất trong tổng số gần 240 ngành học với tỷ lệ lần lượt là 9,81%, 8,17%, 7,62% thì tỷ lệ thí sinh chọn các ngành kinh tế biển chưa đến 1%, với điểm trung bình thí sinh dự thi không cao. Trong các ngành kinh tế biển thì các ngành kỹ thuật, công nghệ, kinh tế có điểm trung bình dự thi của thí sinh đỡ hơn các ngành còn lại. Như vậy, xu hướng chuộng các ngành kinh tế, kỹ thuật, công nghệ cũng xảy ra đối với chính các ngành kinh tế biển. Vì vậy, cần phải có chính sách cho người học đối với các ngành còn lại của nhóm ngành kinh tế biển.   Xu hướng chung là ngành học nào ít cơ sở đào tạo, điểm chuẩn thấp thì sẽ thu hút người học. Nhưng điều này lại không đúng với các ngành kinh tế biển.   TS Lê Thị Thanh Mai, phó ban Đào tạo sau đại học,               ĐH Quốc gia TP.HCM          Bên cạnh đó, mức lương quá thấp và điều kiện lao động nặng nhọc trong các doanh nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản cũng là lý do khiến người học quay lưng. “Nhiều người tốt nghiệp làm đủ công việc khác nhau trừ liên quan tới biển”, Trương Hữu Thuật – cựu sinh viên khoa khai thác khoá 37 đại học Nha Trang ra trường làm cho xí nghiệp thức ăn nuôi tôm được sáu năm, sau đó học thêm bằng quản trị kinh doanh rồi lặng lẽ chuyển nghề, cho biết.  Theo quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, các ngành kinh tế biển phải có sức hút lớn đối với thị trường lao động. Tuy nhiên, trước thực tế trên, TS Trần Đức Phú cho rằng để có thể thúc đẩy phát triển nghề cá, bắt buộc phải có chính sách ưu đãi về học phí, chế độ cử tuyển cho con em vùng duyên hải nghèo, đặc biệt là con em ngư dân; đồng thời Nhà nước cần đầu tư một trung tâm huấn luyện đủ tầm cỡ quốc tế để huấn luyện tay nghề cho ngư dân.     Điểm chuẩn thấp vẫn không đủ tuyển  Hai cơ sở đào tạo cung cấp nhân lực chủ yếu cho ngành hàng hải Việt Nam là đại học Hàng hải Việt Nam (Hải Phòng) và đại học Giao thông vận tải TP.HCM. Do yêu cầu khắt khe của các ngành này, những năm trước điểm chuẩn hầu hết đều cao so với mặt bằng tuyển sinh khối A, D. Vài năm trở lại đây, do áp lực cạnh tranh giữa các nhóm ngành và để đảm bảo chỉ tiêu, điểm chuẩn nhóm ngành hàng hải và kỹ thuật tàu thuỷ liên tục giảm chạm sàn: 13 điểm. Riêng nhóm ngành kinh tế vẫn giữ điểm chuẩn khá cao, như ngành kinh tế vận tải biển của đại học Hàng hải năm 2011 lấy điểm chuẩn là 17,5 và không tuyển nguyện vọng 2. Tương tự, đại học Giao thông vận tải TP.HCM lấy điểm chuẩn hai ngành kinh tế vận tải biển và xây dựng công trình thuỷ lần lượt là 14,5 và 13,5, các ngành hàng hải và kỹ thuật tàu thuỷ đều 13 điểm. Theo ông Cổ Tấn Anh Vũ, trưởng phòng đào tạo đại học Giao thông vận tải TP.HCM, điều khiển tàu biển và khai thác máy tàu thuỷ là hai ngành có chỉ tiêu cao nhất nhưng gần đây rất khó tuyển sinh dù nhu cầu lao động không ngừng tăng.  Thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh, hội Khoa học kỹ thuật và kinh tế biển TP.HCM khẳng định: với đội tàu biển hàng ngàn chiếc và không ngừng tăng, việc khủng hoảng thuyền viên một ngày gần đây là không tránh khỏi! Tổng số thuyền viên được bổ sung hàng năm từ các trường chừng 1.500, và cũng gần từng ấy sẽ rời tàu vì không còn tuổi đi biển, đồng nghĩa với tổng số thuyền viên hàng năm không tăng bao nhiêu nếu số lượng và quy mô các cơ sở đào tạo không thay đổi. Còn theo dự báo của cục Hàng hải Việt Nam, Việt Nam đang thiếu hụt 600 – 1.000 sĩ quan hàng hải chủ yếu là sĩ quan quản lý, chưa kể nhu cầu xuất khẩu lao động.  Đầu tư đã ít lại lãng phí  Một trong những bất cập lớn nhất của ngành hàng hải là môi trường đào tạo. Ông Cổ Tấn Anh Vũ cho biết, thuyền viên Việt Nam được tổ chức Hàng hải quốc tế đánh giá là khá tốt, đáng lẽ khâu đào tạo phải đạt chuẩn quốc tế từ lâu, nhưng với mức đầu tư hiện nay, khó có thể đào tạo có chất lượng. Với mức học phí của sinh viên chính quy là 1,8 triệu đồng/năm, nội tiền thuê tàu cho sinh viên thực tập trong một tuần đã không đủ. Việc hỗ trợ thực tập cũng như giới thiệu việc làm cho sinh viên trước nay chủ yếu dựa vào những mối quan hệ của nhà trường là chính.          Với đội tàu biển hàng ngàn chiếc và không ngừng tăng, việc khủng hoảng thuyền viên một ngày gần đây là không tránh khỏi!        Nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy ít cập nhật cũng là một trở ngại. Nội dung năm năm đào tạo kỹ sư có đủ thứ lý thuyết nhưng những kiến thức rất cơ bản của nghề đi biển thì không được học. Minh Đức, một sinh viên vừa tốt nghiệp ngành điều khiển tàu biển cho biết, quy trình đào tạo trong nhà trường hiện rất lãng phí và chưa sát yêu cầu sử dụng. Nhiều sinh viên sau năm năm đào tạo tốn kém không đủ sức khoẻ làm việc trên tàu, thậm chí sau khi đi thực tập về còn bỏ luôn thi tốt nghiệp, có người trong quá trình làm việc không chịu được áp lực của môi trường trên tàu cũng sớm bỏ nghề.  “Tuy số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào các ngành hàng hải và kinh tế biển những năm vừa qua có giảm, nhưng sắp tới chắc chắn sẽ tăng. Về lâu dài các doanh nghiệp vận tải, chủ tàu biển phải tham gia quá trình đào tạo như chủ động đặt hàng đào tạo và hỗ trợ chi phí thì nhà trường mới có thể đáp ứng đủ nguồn cung nhân lực”, ông Vũ nói. (còn tiếp)          Theo ThS Đỗ Thành Sen, phó tổng giám đốc trung tâm Đào tạo và nguồn nhân lực hàng hải (liên doanh giữa đại học Giao thông vận tải TP.HCM và tập đoàn đào tạo vận tải biển và giao thông STC–Group, Hà Lan): từ năm 2005 đến nay trung tâm đã đào tạo và cung ứng hàng trăm sinh viên các ngành đi biển cho các hãng tàu biển với học bổng do các doanh nghiệp chi trả. Sinh viên được đào tạo bổ sung các chứng chỉ theo yêu cầu của công ước quốc tế STCW’95 hoặc của công ty tàu để đạt được chứng chỉ chuyên môn mức vận hành (sĩ quan hàng hải cấp thấp) và mức quản lý (sĩ quan hàng hải cấp cao). Ông Sen cho biết, khoảng 130 sĩ quan tốt nghiệp từ chương trình này đang làm việc cho các chủ tàu quốc tế với mức lương 500 – 2.500 USD/tháng.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỉ nguyên phát triển bền vững      Các khóa học trực tuyến toàn cầu là một phần  của cuộc cách mạng thông tin đang diễn ra trên toàn thế giới – một cuộc  cách mạng đang định hình lại một cách căn bản nền giáo dục đại học,  quan trọng nhất là tạo ra những con đường mới để cho nhiều người trên  toàn thế giới tiếp cận được với nền giáo dục đại học.    Nửa thế kỉ trước, ông John F. Kennedy nhận xét rằng, “con người nắm trong bàn tay chết chóc của mình cả sức mạnh có thể xóa bỏ mọi biểu hiện của nghèo đói cũng như mọi biểu hiện của cuộc sống của con người.” Hôm nay, câu nói của ông càng có ý nghĩa đặc biệt.  Đúng là thế hệ của chúng ta có thể xóa sổ tai họa của đói nghèo cùng quẫn. Nhưng, bằng cách tàn phá môi trường, chúng ta cũng có thể phá hủy cả hệ thống đang duy trì đời sống của trái đất.  Vì nhu cầu, chúng ta đã bước vào kỉ nguyên phát triển bền vững. Vì vậy, tôi vô cùng sung sướng khai trương khóa học đại học trực tuyến, miễn phí với tên gọi là The Age of Sustainable Development (Kỉ nguyên phát triển bền vững) vào tháng Giêng năm 2014. (Những người muốn tham gia khóa học có thể đăng ký tại đây: register here) Tôi hy vọng rằng mọi người trên khắp thế giới sẽ tham gia khóa học – và sau đó tham gia cuộc tìm kiếm kéo dài cả thế hệ nhằm đạt được sự phát triển bền vững.  Phát triển bền vững vừa là biện pháp tìm hiểu thế giới, vừa là biện pháp nhằm bảo vệ nó. Như là biện pháp tìm hiểu thế giới, các sinh viên khóa học phát triển bền vững sẽ nghiên cứu những mối tương tác của nền kinh tế, môi trường, chính trị, và văn hóa và ảnh hưởng của chúng đối với sự thịnh vượng, hòa nhập xã hội và sự bền vững môi trường. Các sinh viên khóa học phát triển bền vững do đó phải học nhiều môn, trong đó có phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, biến đổi khí hậu, hệ thống năng lượng, đa dạng sinh học, đô thị hóa, và những môn khác nữa.  Như là biện pháp nhằm bảo vệ thế giới, phát triển bền vững khuyến khích phương pháp tiếp cận chủ toàn với đời sống con người, tức là cách tiếp cận bao gồm phát triển kinh tế, các mối liên kết xã hội mạnh mẽ và sự bền vững của môi trường. Thách thức đang trở nên cấp bách hơn bởi vì nền kinh tế thế giới to lớn và đang phát triển nhanh chóng gây ra những vụ phá hủy môi trường trên diện rộng, và công nghệ mới đòi hỏi những kỹ năng mới. Thanh niên không được đào tạo và không có kỹ năng phù hợp sẽ có ít khả năng tìm được cơ hội làm việc và thu nhập phù hợp.   Tôi dự đoán rằng phát triển bền vững sẽ trở thành nguyên tắc tổ chức nền chính trị, nền kinh tế, và thậm chí cả đạo đức của chúng ta trong những năm tới. Trên thực tế, các chính phủ trên thế giới đã đồng ý đặt nó vào trung tâm của chương trình nghị sự về phát triển thế giới sau năm 2015. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ thông qua những Mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals (SDGs)), tức là những mục tiêu sẽ giúp đưa thế giới vào quỹ đạo an toàn hơn và công bằng hơn trong thế kỉ XXI. Cũng như các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals), được thông qua vào năm 2000, đã chứng minh hiệu quả cao trong cuộc chiến chống đói nghèo và bệnh tật, các Mục tiêu phát triển bền vững (sẽ tiếp tục các mục tiêu MDG sau hai năm nữa) hứa hẹn sẽ giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu mà chúng ta sẽ phải đối mặt trong những lĩnh vực như năng lượng, thực phẩm, nước, khí hậu, và việc làm.  Tôi cũng tin rằng giảng dạy trực tuyến, miễn phí về phát triển bền vững có thể giúp thúc đẩy những giải pháp mang tính toàn cầu. Các khóa học trực tuyến toàn cầu là một phần của cuộc cách mạng thông tin đang diễn ra trên toàn thế giới – một cuộc cách mạng đang định hình lại một cách căn bản nền giáo dục đại học, quan trọng nhất là tạo ra những con đường mới để cho nhiều người trên toàn thế giới tiếp cận được với nền giáo dục đại học.  Tôi biết điều đó từ kinh nghiệm của cá nhân mình. Trông hầu hết thời gian tôi làm giáo sư, công nghệ giáo dục cơ bản không thay đổi nhiều. Tôi đứng trước một lớp học và giảng bài trong 57 phút. Có, bảng đen đã nhường chỗ cho máy chiếu, và sau đó nhường chỗ cho PowerPoint, nhưng trong những lĩnh vực khác, “công nghệ” cơ bản trong lớp học không thay đổi nhiều.  Tuy nhiên, với các công nghệ thông tin mới, giáo dục đại học (và đương nhiên cả giáo dục ở các cấp học khác nữa) đang thay đổi một cách đột ngột. Các khóa học có thể kết hợp nhiều thông tin – dữ liệu, video, và thậm chí có thể trò chuyện trực tiếp với các chuyên gia nằm cách đó nửa vòng trái đất. Ngày càng có nhiều người trên thế giới có thể truy cập miễn phí tài liệu học tập chất lượng cao mà trước đây chỉ dành cho một số ít người may mắn. Hiện nay, điều này càng đặc biệt quan trọng, bởi vì những thách thức của phát triển bền vững đòi hỏi những người công dân có kiến thức và được giáo dục phải có mặt ở khắp mọi nơi.  Theo số liệu gần đây, các khóa học đại học trực tuyến đã đến được với sinh viên ở hơn 190 quốc gia, giúp họ theo dõi bài giảng, làm bài kiểm tra, và giao lưu với các các sinh viên đồng môn và cả các giáo sư. Dạy học trực tuyến cũng đang làm thay đổi những trải nghiệm tại lớp học nữa. Bây giờ, thay vì nghe giảng trong 57 phút, sinh viên của tôi tại Đại học Columbia (Columbia University) có thể xem trước các bài giảng trực tuyến, làm cho những buổi thảo luận trong lớp học phong phú hơn và có chiều sâu hơn.  Trong những năm tới, tôi tin rằng tất cả chúng ta sẽ phải trở thành nhà lãnh đạo về phát triển bền vững trong ngôi nhà của chúng ta, trong cộng đồng và quốc gia của chúng ta. Chẳng bao lâu nữa, hàng triệu thanh niên phải giúp giúp giải quyết những vấn đề về biến đổi khí hậu, nước, năng lượng, giao thông vận tải và giáo dục. Hàng ngàn thành phố và 200 quốc gia trên toàn thế giới sẽ phải tập hợp tất cả các bên liên quan – chính phủ, cộng đồng, các chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ – để buộc họ thực hiện vai trò của họ, và giáo dục mở, trực tuyến mở sẽ là thành phần chủ yếu trong việc phổ biến các thông tin mà họ cần.  Vì những lý do đó, tôi còn vui mừng khi thấy rằng khóa của tôi sẽ là một phần của chương trình giáo dục tổng quát hơn của Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững (Sustainable Development Solutions Network – SDSN), một sáng kiến được Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon bảo trợ mà tôi được vinh dự làm giám đốc. Mạng lưới SDSN huy động các chuyên gia trong lĩnh vực hoa học và kỹ thuật từ các học viện, xã hội dân sự và khu vực tư nhân nhằm giúp giải quyết vấn đề phát triển bền vững ở quy mô khu vực, quốc gia và toàn cầu.  Một trong những mục tiêu chủ yếu của mạng lưới SDSN là tiếp cận với sinh viên trên toàn thế giới bằng cách phát triển và phổ biến trực tuyến những tài liệu học tập về phát triển bền vững. Hơn một chục trường đại học đã cam kết đưa chương trình The Age of Sustainable Development – đã được cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và vấn đề khu vực – vào các lớp học của họ.  Mạng lưới SDSN sẽ khuyến khích các trường đại học trên thế giới tham gia vào kỉ nguyên giảng dạy trực tuyến trên toàn cầu. Mục tiêu là trang bị cho thanh niên ngày nay để họ có thể sử dụng một cách sáng suốt sức mạnh mà chẳng bao lâu nữa sẽ nằm trong tay họ nhằm giúp giải quyết những thách thức vô cùng to lớn của thế giới.   Jeffrey D. Sachs, là giáo sư về phát triển  bền vững, giáo sư về chính sách và quản lí y tế, giám đốc Viện trái đất  (Earth Institute) ở Đại học Columbia (Columbia University), ông đồng thời là cố vấn đặc biệt của Tổng thư kí Liên hiệp quốc và Mục  tiêu thiên nhiên kỉ.  Phạm Nguyên Trường dịch    Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/jeffrey-d–sachs-proposes-a-new-curriculum-for-a-new-era    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm định chất lượng giáo dục: Gian nan bước khởi đầu      Do những áp lực gia tăng về trách nhiệm giải trình và hiệu quả đào tạo trong giáo dục đại học trên thế giới trong suốt hơn ba thập kỷ qua, kiểm định chất lượng (KĐCL) đã dần trở thành công cụ đảm bảo chất lượng phổ biến ở nhiều hệ thống giáo dục kể cả phát triển và chưa phát triển. Không đứng ngoài xu hướng này, sau khi thí điểm, Việt Nam đã đưa KĐCL thành một yêu cầu bắt buộc đối với các trường đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 12 năm, các cơ quan hữu trách vẫn chưa hoàn tất chu kỳ kiểm định thứ nhất trong toàn hệ thống.      Từ năm 2014 đến đầu năm 2016, Bộ GD&ĐT đã thành lập bốn trung tâm KĐCL, ba trong số đó được đặt tại Đại học Quốc gia ở Hà Nội và TP.HCM, và ĐH Đà Nẵng. Trong ảnh: Toàn cảnh khu Đại học Quốc gia TP.HCM thuộc quận Thủ Đức (TP.HCM) và thị xã Dĩ An (Bình Dương) nhìn từ khuôn viên của tòa nhà điều hành. Nguồn: tuoitre.vn   Một xu hướng toàn cầu  KĐCL được định nghĩa là “quá trình một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục đại học hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ chức đánh giá đặt ra” (Vlăsceanu, Grunberg et al. 2007, pp. 25).  Xuất phát từ Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ 19, KĐCL có sức lan tỏa mạnh mẽ ra khắp thế giới như một công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Hầu hết các quốc gia bắt đầu triển khai KĐCL từ khoảng giữa những năm 1990. Trong số những nước sớm đưa KĐCL vào sử dụng có các nước ở khu vực Đông Âu như Albania, Bulgaria, Hungary, và Romania. Những quốc gia có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức cũng đã sử dụng KĐCL từ nhiều năm nay. Các nước Mỹ La-tinh và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Ả-rập Saudi, Chile và các nước châu Á không đứng ngoài xu hướng này. Ở khu vực châu Á và châu Á Thái Bình Dương, KĐCL có mặt ở khắp mọi nơi từ Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Campuchia. Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á đã phát triển hệ thống KĐCL riêng được biết đến với tên gọi AUN-QA dành cho các trường đại học trong khu vực. Ở khu vực châu Phi, Kenya và Nam Phi cũng đã sử dụng KĐCL.  Đối với các nhà nghiên cứu và thực hành đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới, KĐCL là công cụ nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học, và tác động và hiệu quả của nó đối với chất lượng giáo dục đại học còn chưa được khẳng định. Dù được phổ biến rộng rãi, công cụ này gặp nhiều chỉ trích do những hệ quả tiêu cực mà nó gây ra. Chẳng hạn, ở nhiều nước phát triển, KĐCL vấp phải sự phản đối của giới học thuật, với những cáo buộc rằng công cụ này củng cố sự rập khuôn và thúc đẩy văn hóa đối phó, vốn được cho là không có lợi cho cải tiến và nâng cao chất lượng. KĐCL cũng bị cho là công cụ cồng kềnh, mang nặng tính hành chính, khiến tệ quan liêu thêm nặng nề.  Mặc dù gặp nhiều chỉ trích, KĐCL vẫn đang là công cụ hoàn chỉnh nhất về quy trình cũng như khung pháp lý và chưa hề có công cụ thay thế tiềm năng. Tức là, bất kể những bất cập của KĐCL, chính phủ các nước vẫn phải dựa vào KĐCL để quản lý chất lượng giáo dục đại học. Tuy vậy, cần lưu ý rằng, cơ quan chức trách ở các nước như Mỹ, Australia, Hà Lan đều tích cực rà soát, đánh giá chặt chẽ hệ thống KĐCL của họ để liên tục điều chỉnh, khắc phục những bất cập của hệ thống này và ngày càng hoàn thiện nó.  Việt Nam: Vẫn loay hoay trong chu kỳ đầu  Sau khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD& ĐT ra đời vào năm 2003, KĐCL đã được đưa vào thí điểm trong giáo dục đại học Việt Nam từ năm 2005 như là công cụ quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học. Chương trình thí điểm KĐCL đến năm 2009 đã triển khai được một khâu quan trọng là đánh giá ngoài với 40 trường đại học phần lớn nằm trong tốp đầu. Kết quả đáng kể nhất của chương trình này là đã phát triển được bộ tiêu chí đánh giá và xây dựng toàn bộ quy trình KĐCL cơ sở giáo dục đại học với sự tư vấn của các chuyên gia KĐCL Hà Lan, có tham khảo hệ thống KĐCL của Mỹ và Hà Lan.  Tiếp đó, từ năm 2014 đến đầu năm 2016, Bộ GD&ĐT đã thành lập bốn trung tâm KĐCL được cho là độc lập. (Ở các hệ thống KĐCL thuộc các nước phát triển, từ ‘độc lập’ này được hiểu là khả năng đánh giá và ra quyết định KĐCL mà không chịu tác động hay sức ép từ bất cứ bên nào, dù là chính phủ hay cơ sở giáo dục.) Trong số bốn trung tâm nói trên, ba trung tâm được đặt tại Đại học Quốc gia ở Hà Nội và TP.HCM, và ĐH Đà Nẵng; một trung tâm trực thuộc Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Việt Nam. Bộ GD&ĐT cũng đặt ra quy định về việc đào tạo và cấp chứng chỉ kiểm định viên. Đến nay, các trung tâm đã tổ chức nhiều khóa đào tạo kiểm định viên, đồng thời nhận đăng ký của các trường và tiến hành đánh giá ngoài. Tuy vậy, với số lượng xấp xỉ 450 trường đại học và cao đẳng, chưa kể khối trường nghề trực thuộc sự quản lý của Bộ LĐTB&XH, bốn trung tâm này không đủ năng lực đáp ứng nhu cầu KĐCL toàn bộ các trường. Trong giai đoạn từ năm 2009, sau khi kết thúc thí điểm giai đoạn 2, đến năm 2016, phần lớn các trường đại học và cao đẳng đã hoàn thành tự đánh giá và nộp báo cáo tự đánh giá cho Bộ GD&ĐT trong khi không có thêm trường nào được đánh giá ngoài, đồng nghĩa với việc không được kiểm định.  Những chậm trễ kéo dài khó giải thích trong việc triển khai hệ thống KĐCL quốc gia khiến cho yêu cầu các trường đại học và cao đẳng bắt buộc phải KĐCL theo Luật Giáo dục (2005 và 2009) trở nên hình thức. Sở dĩ nói như vậy là vì khi các cơ quan hữu trách chưa triển khai đánh giá hết một vòng các trường trong hệ thống, thì không thể áp dụng chế tài đối với những trường trì hoãn hoặc lảng tránh KĐCL. Bất kể sự chậm trễ này là do nguyên nhân gì, nó đã làm suy giảm đáng kể niềm tin vào chính sách cũng như sự tích cực và hăng hái tham gia KĐCL của các trường.  Hai mặt của KĐCL  Cần lưu ý rằng KĐCL vốn là công cụ mang tính áp đặt từ cơ quan quản lý nhà nước xuống các cơ sở giáo dục. Hơn nữa, do cơ chế quản lý tập trung và văn hóa tuân thủ vẫn đang điều chỉnh hành vi tổ chức, sự thay đổi trong hoạt động đảm bảo chất lượng của các trường về căn bản là do ép buộc nhiều hơn là tự nguyện. Tức là, các trường buộc phải tham gia KĐCL và tuân thủ những tiêu chuẩn KĐCL. Quá trình tuân thủ này giúp các trường học hỏi được rất nhiều điều mới về quy cách quản lý và tổ chức nhà trường. Nhưng mặt khác, việc học hỏi và cải tiến nhà trường cũng bị giới hạn trong phạm vi các tiêu chuẩn, tiêu chí mà cơ quan KĐCL đặt ra. Theo đánh giá về KĐCL ở các nước khác, việc học hỏi để cải tiến này thường chỉ xảy ra chủ yếu trong chu kỳ kiểm định đầu tiên; tác động này ở các chu kỳ tiếp theo suy giảm đáng kể.  Điều quan trọng là KĐCL chỉ là điều kiện chứ không nghiễm nhiên dẫn tới việc nâng cao chất lượng đào tạo. Đánh giá trong KĐCL là đánh giá ‘sự phù hợp với mục tiêu’ (fitness for purpose), chứ không phải đánh giá chất lượng. Vì thế cho dù tất cả các trường đại học và cao đẳng được KĐCL cũng không có nghĩa chúng ta đã đảm bảo được hay nâng cao chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam.  Bản thân KĐCL cũng đã và đang phải trải qua chu kỳ PDCA (Plan-Do-Check-Act) trong quản lý chất lượng với những điều chỉnh cả về thiết kế, phương pháp, quy trình để khắc phục những bất cập. Ví dụ, Hà Lan bắt đầu triển khai KĐCL năm 2003, trước Việt Nam hai năm, nhưng chỉ ba năm sau họ đã hoàn thành KĐCL toàn hệ thống (tất nhiên quy mô hệ thống của họ nhỏ hơn Việt Nam). Và sau hai chu kỳ KĐCL toàn bộ các trường đại học và cao đẳng, Hà Lan đã có những điều chỉnh căn bản để cải tiến hệ thống KĐCL của họ. Còn với Australia, trước đây họ không sử dụng KĐCL mà triển khai một công cụ tương tự: thẩm định chất lượng (audit). Năm 2011, khi bắt đầu triển khai KĐCL, họ đã có những điều chỉnh đáng chú ý so với hệ thống KĐCL nguyên mẫu của Mỹ. Ngay ở nước Mỹ nơi khởi nguồn của KĐCL, liên tục trong nhiều năm qua, họ cũng có không ít sửa đổi để khắc phục những bất cập của công cụ này.  Còn hệ thống KĐLC mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng ngày hôm nay về cơ bản vẫn dựa trên phiên bản mô hình từ 10-15 năm trước. Cần phải nhấn mạnh rằng, khi Việt Nam bắt đầu triển khai KĐCL năm 2005, dù chậm hơn một chút so với các nước khác nhưng không phải là quá trễ. Tuy nhiên, đến thời điểm này, sau 12 năm, chúng ta vẫn đang xoay xở kiểm định chu kỳ thứ nhất đối với các trường đại học và cao đẳng, một dấu hiệu hiển nhiên về sự tụt hậu.  Kỳ tới: Kiểm định chất lượng: Từ góc độ kỹ thuật  Tác giả bài viết là nhà nghiên cứu giáo dục độc lập, tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành “Hiệu quả đào tạo và Cải tiến trường học” tại Đại học Groningen, Hà Lan, và lấy bằng tiến sỹ Nghiên cứu Giáo dục đại học tại Đại học Melbourne, Australia. Chị từng đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm Đảm bảo Chất lượng giáo dục thuộc trường Đại học Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, và Trưởng phòng Nghiên cứu giáo dục, Viện Đảm bảo Chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu bao gồm: Mô hình hiệu quả giáo dục trong giáo dục phổ thông và giáo dục đại học; Đảm bảo chất lượng: kiểm định, benchmarking và xếp hạng; Quản trị đại học; M&E – Đánh giá và Giám sát.    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Kiểm định chất lượng giáo dục: Nhìn từ góc độ kỹ thuật      Phân tích hệ thống kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục đại học Việt Nam từ góc độ tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định cũng như quy trình và cách thức triển khai, có thể thấy rõ sự lúng túng và thiếu ổn định của hệ thống này.      Nhiều trường công lập tích cực tham gia KĐCL ngay từ đầu nhưng cũng có những trường không vội vàng triển khai mà chờ đợi, thăm dò diễn biến chung. Trong ảnh: Đánh giá nội bộ chất lượng cơ sở giáo dục trường Cao đẳng Công nghệ, ĐH Đà Nẵng, tháng 12/2015. Nguồn: udn.vn  Hai cấp KĐCL  Kiểm định chất lượng có thể được triển khai ở hai cấp, cấp cơ sở đào tạo (CSĐT), hay còn gọi là cấp trường, và cấp chương trình đào tạo (CTĐT). Ở cấp trường, nội dung đánh giá phủ rộng các mặt hoạt động của cơ sở giáo dục, tập trung nhiều vào sứ mạng, mục tiêu, chiến lược, quản trị và quản lý của CSĐT, đồng thời đánh giá các nguồn lực như cơ sở vật chất trên phạm vi toàn trường. Ngược lại, đối với CTĐT, việc đánh giá tập trung sâu vào chương trình và quá trình giáo dục.  Trong giai đoạn đầu triển khai thí điểm và khởi động hệ thống, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ yếu tập trung triển khai KĐCL cấp trường. Mặc dù đã có chủ trương KĐCL CTĐT thể hiện qua các văn bản pháp quy do Bộ GD&ĐT ban hành suốt từ những năm 2008, 2013 và 2016, KĐCL chương trình về cơ bản vẫn để trống do các trường và cơ quan KĐCL còn đang xoay sở thực hiện KĐCL cấp trường. Để khỏa lấp khoảng trống này, Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường tự tham gia KĐCL quốc tế đối với các chương trình tiên tiến, chất lượng cao.  Theo quy định hiện hành về KĐCL của Bộ GD&ĐT, chu kỳ KĐCL ở Việt Nam là 5 năm; tức là cứ 5 năm, các trường phải tiến hành tự đánh giá và đăng ký KĐCL một lần. Điều này cũng có nghĩa để thực thi quy định KĐCL đối với CSĐT theo Luật Giáo dục, các cơ quan KĐCL trong hệ thống phải hoàn thành KĐCL toàn bộ gần 450 trường trong vòng 5 năm. Chưa kể các nhiệm vụ khác như KĐCL CTĐT và đánh giá phục vụ phân tầng và xếp hạng, nhiệm vụ này là gánh nặng quá lớn đối với bốn trung tâm KĐCL hiện tại.  Nguyên tắc và quy trình KĐCL – một cái nhìn so sánh  Nguyên tắc ‘Độc lập’  Độc lập là nguyên tắc căn bản nhất trong KĐCL trên thế giới, được hiểu là hoạt động kiểm định – gồm toàn bộ quá trình đánh giá, ra quyết định điều chỉnh đối với CSĐT hoặc CTĐT – là khách quan, không thiên vị, không chịu tác động hay ảnh hưởng, dù về chính trị hay tài chính, của các bên liên quan bao gồm Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các CSĐT hay các đối tượng tham gia vào quá trình này.  Thực tế triển khai KĐCL trên thế giới cho thấy nguyên tắc này có thể được đảm bảo bằng nhiều cơ chế khác nhau chứ không phụ thuộc vào việc tổ chức KĐCL là cơ quan nhà nước hay do Chính phủ thành lập hay không. Chẳng hạn, hơn 60 cơ quan KĐCL CSĐT và CTĐT theo chuyên ngành của Mỹ hoạt động độc lập hoàn toàn, kể cả về hình thức tổ chức, với Chính phủ và Bộ Giáo dục Mỹ. Các cơ quan này chủ yếu là các tổ chức hiệp hội, ví dụ Hiệp hội các trường ĐH&CĐ khu vực Bắc Mỹ, hoặc là các tổ chức nghề nghiệp, được Hội đồng KĐCL giáo dục đại học Mỹ (CHEA) giám sát và công nhận. Chính phủ Mỹ không trực tiếp tham gia hay can thiệp vào toàn bộ quá trình này mà quản lý chất lượng giáo dục đại học thông qua NACIQI, một ủy ban tư vấn độc lập về việc sử dụng KĐCL và kết quả KĐCL như thế nào, và CHEA. Như vậy, toàn bộ quy trình KĐCL của Mỹ được thực hiện hoàn toàn độc lập với các cơ quan quản lý nhà nước và Chính phủ Mỹ. Trong khi đó, TEQSA, cơ quan KĐCL của Australia, mặc dù được thành lập theo Điều luật TEQSA 2011 của Chính phủ Australia, Chủ tịch và các Ủy viên của TEQSA đều do Chính phủ bổ nhiệm nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc ‘độc lập’ thông qua các quy định: (1) Bộ chủ quản không được phép đưa ra chỉ đạo đối với hoặc liên đới tới một trường ĐH&CĐ cụ thể nào; (2) TEQSA không chịu chỉ đạo của ai trong việc thực hiện chức năng và thực thi quyền hành, ngoại trừ chỉ đạo của Bộ chủ quản trong trường hợp nhằm đảm bảo tính liêm chính trong giáo dục đại học (Điều 135-136, Mục 2, Chương 8, TEQSA 2011).  Trong hệ thống KĐCL của Việt Nam, các trung tâm KĐCL được gọi là các trung tâm độc lập nhưng toàn bộ các tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá, cũng như quy trình KĐCL là do Bộ GD&ĐT quy định. Theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT quy định về KĐCL cơ sở giáo dục đại học ban hành hồi tháng Năm mới đây, các trường phải gửi báo cáo tự đánh giá và báo cáo rà soát giữa kỳ cho Bộ GD&ĐT. Việc cấp chứng chỉ hành nghề kiểm định viên cũng là do Bộ GD&ĐT thực hiện. Sự can thiệp khá sâu của Bộ vào quá trình kiểm định cộng với việc các trung tâm KĐCL nằm trong các đại học quốc gia và đại học vùng, đặt ra dấu hỏi lớn về tính độc lập của các trung tâm KĐCL và liệu nguyên tắc độc lập của hệ thống có thể đạt được bằng cách nào.  Nguyên tắc ‘Bắt buộc’  Hệ thống KĐCL ở các nước trên thế giới đều hướng tới ràng buộc các trường trong hệ thống tham gia KĐCL nhưng bằng hai tiếp cận khác nhau, bắt buộc hoặc tự nguyện. Ở Mỹ, nơi sinh ra KĐCL, các trường ĐH&CĐ không bắt buộc phải tham gia KĐCL, nhưng kết quả KĐCL lại được ràng buộc với việc cấp ngân sách liên bang theo đầu sinh viên. Còn ở các nước khác như Hà Lan, Australia và nhiều nước Tây Âu, KĐCL là bắt buộc.  Ở Việt Nam, KĐCL cũng là bắt buộc theo Luật Giáo dục. Thông tư 12/2017 ràng buộc KĐCL với các điều kiện tự chủ cho các trường. Thế nhưng, trên thực tế, nguyên tắc ‘bắt buộc’ về cơ bản chưa được thực hiện, đồng nghĩa với việc Luật chưa được thực thi, do những chậm trễ và non yếu trong triển khai hệ thống và cung cấp dịch vụ KĐCL.1  Nguyên tắc ‘Liên tục cải tiến’  Tất cả các hệ thống KĐCL trên thế giới đều nhấn mạnh nguyên lý ‘cải tiến liên tục’, thể hiện qua việc triển khai những khuyến nghị cải tiến trong các báo cáo đánh giá ngoài. Ở Australia, TEQSA soạn thảo và xuất bản báo cáo hằng năm về kết quả KĐCL trong toàn hệ thống nhằm tổng kết và phân tích hoạt động và thực hành của các trường ĐH&CĐ, rút ra các quy tắc thực hành tốt (good practices), giới thiệu và đề xuất áp dụng những quy tắc này, qua đó khuyến khích các trường vượt ra ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn sàn trong bộ tiêu chuẩn KĐCL và thúc đẩy quá trình cải tiến chất lượng không ngừng trong hệ thống GDĐH.  Ở Việt Nam, trong Thông tư 12/2017, lần đầu tiên bộ tiêu chuẩn KĐCL mới nhất đã đưa ra tiêu chuẩn riêng về nâng cao chất lượng nhiều mặt của các cơ sở giáo dục, trong đó có đào tạo, nghiên cứu và quản trị (Tiêu chuẩn 12). Thay đổi này chắc chắn sẽ tác động đến ý thức cải tiến chất lượng ở các trường nhưng kết quả ra sao, có lẽ còn phải chờ hành động thực tế của các trường sau khi hoàn thành KĐCL theo bộ tiêu chuẩn mới.  Quy trình KĐCL  Quy trình KĐCL ở Mỹ cũng như ở các nước du nhập hệ thống này trải qua những bước căn bản sau: Đăng ký KĐCL – Tự đánh giá – Đánh giá ngoài – Thẩm định kết quả đánh giá – Ra quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (xem Bảng 1), với các bên tham gia bao gồm cơ sở giáo dục đại học và cơ quan KĐCL. Các khâu trong quy trình nói trên tạo ra hai sản phẩm quan trọng và đồ sộ là báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài. Theo quy định mới nhất của Bộ GD&ĐT, quy trình KĐCL của Việt Nam cũng gồm các bước cơ bản như vậy nhưng trong quá trình thực hiện, ngoài CSĐT, cơ quan KĐCL, còn có sự liên quan trực tiếp của Bộ GD&ĐT. Sự khác biệt này gây ra vấn đề về tính ‘độc lập’ như đã được nhắc tới ở trên.  Một vấn đề lớn mà hệ thống KĐCL gặp phải ở các nước là sự cồng kềnh của toàn bộ quá trình đánh giá (giấy tờ, quy trình, thủ tục…). Để giải quyết vấn đề này, hệ thống KĐCL của Australia đã có cải tiến quan trọng là xóa bỏ khâu tự đánh giá và viết báo cáo tự đánh giá trong quy trình, theo đó, các trường chỉ phải tập hợp minh chứng gửi cho TEQSA, nhờ vậy khối lượng công việc các trường phải hoàn thành giảm đi đáng kể. Đây là một gợi ý cho KĐCL của Việt Nam trong bối cảnh chúng ta có tới gần 450 trường trong phạm vi KĐCL, chưa kể hàng ngàn CTĐT cấp bằng, mà chỉ có bốn trung tâm KĐCL.    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn      1 Gồm các trường đại học và cao đẳng có cấp bằng nằm trong nhóm mục IV thuộc Luật Giáo dục Đại học Mỹ năm 1965, thuộc phạm vi điều chỉnh của chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên của Chính phủ Liên bang Mỹ.  2 Gồm 40 trường công lập, 2 trường quốc tế và 1 trường tư; có một số ít trường cao đẳng được cấp bằng và thuộc phạm vi KĐCL.  3 Gồm 18 trường ĐH nghiên cứu và 42 trường ĐH ứng dụng.  4  Bao gồm 60 cơ quan KĐCL được CHEA công nhận, kể cả 6 tổ chức KĐCL vùng, và một số cơ quan KĐCL được Bộ GD Mỹ (USDE) công nhận. Có những tổ chức KĐCL giả, không được CHEA hay USDE công nhận.  5 Thành lập năm 2002. Hiện nay Chính quyền Flanders (vùng đất nói tiếng Hà Lan thuộc Bỉ) đã xây dựng hệ thống KĐCL riêng.  6Hệ thống KĐCL của Hà Lan được điều chỉnh năm 2011, theo đó KĐCL trường, được triển khai từ 2002, đã được xoá bỏ, thay vào đó là thẩm định chất lượng. Hệ thống KĐCL chỉ còn triển khai KĐCL CTĐT    Đánh giá trong KĐCL từ góc độ tiêu chuẩn, tiêu chí  Năm 2005 khi triển khai thí điểm đợt 1 KĐCL với 20 trường đầu tiên, Bộ GD&ĐT đã phát triển bộ tiêu chuẩn KĐCL đánh giá CSĐT gồm 10 tiêu chuẩn2 với 53 tiêu chí. Sau thí điểm, bộ tiêu chuẩn được chỉnh sửa thành 10 tiêu chuẩn với 61 tiêu chí.  Theo Thông tư 12/2017 mới đây, bộ tiêu chuẩn KĐCL tiếp tục được sửa đổi đáng kể thành 25 tiêu chuẩn3 với 111 tiêu chí. Có thể nói bộ tiêu chuẩn mới này là ‘bản dịch’ của Bộ tiêu chuẩn đánh giá CSĐT của AUN-QA (ASEAN University Network – Quality Assurance, tức hệ thống KĐCL giáo dục đại học của khu vực Đông-Nam Á), kể cả thang điểm đánh giá theo 7 mức. Việc sao chép nguyên văn bộ tiêu chuẩn của khu vực để đưa vào áp dụng trong hệ thống KĐCL của Việt Nam liệu có phù hợp không – đây là câu hỏi lớn cần thời gian đánh giá, nghiên cứu mới có thể đưa ra câu trả lời xác đáng. Nhưng một điều có thể thấy ngay là có những tiêu chuẩn, như tiêu chuẩn 25 về ‘Kết quả tài chính và thị trường’, bao gồm hai tiêu chí yêu cầu trường phải xác lập ‘chỉ số tài chính’ và ‘chỉ số thị trường’ của các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, khá xa lạ với bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam. Hơn nữa, khi bộ tiêu chuẩn KĐCL quốc gia giống hệt với bộ tiêu chuẩn KĐCL AUN-QA thì liệu những trường đạt KĐCL của Bộ có được coi là đạt KĐCL AUN-QA không? Nếu có, kết quả có được AUN-QA công nhận để trường đỡ tốn kém triển khai KĐCL AUN-QA? Đây là những câu hỏi cần được giải đáp.  Lúng túng và thiếu ổn định  Kể từ khi KĐCL mới được bắt đầu thí điểm rồi trở thành yêu cầu bắt buộc, một hệ thống các văn bản pháp quy dày đặc điều chỉnh các hoạt động KĐCL trong giáo dục đại học đã được ban hành liên tiếp vào các năm 2007 (65/2007/QĐ-BGDĐT), 2008 (29/2008/QĐ-BGDĐT), 2012 (37/12/TT-BGDĐT; 60&61& 62/2012/TT-BGDĐT), 2013 (18/2013/TT-BGDĐT; 38/2013/ TT-BGDĐT), 2016 (04/2016/TT-BGDĐT), 2017 (12/2017/TT-BGDĐT).  Trong khi hệ thống KĐCL giáo dục đại học trên thực tế chưa vận hành đầy đủ và các trường chưa trải qua một lượt KĐCL, kể cả ở cấp CSĐT và CTĐT, thì những quy định về tiêu chuẩn, tiêu chí, quy trình, chu kỳ… đã lại bị thay đổi và bổ sung liên tục, dẫn đến sự mất ổn định của hệ thống KĐCL. Sự mất ổn định này sẽ còn tiếp diễn ít nhất tới ngày 30/06/2018 khi thời hạn hoàn thành KĐCL theo bộ tiêu chuẩn cũ kết thúc. Cần lưu ý rằng, ở nhiều nước, những thay đổi căn bản về quy trình và bộ tiêu chuẩn thường được đưa ra sau khi có đánh giá, rà soát tối thiểu 1-2 chu kỳ KĐCL của các trường, tức là sau khoảng 10 năm.  Trước những quy định, yêu cầu của Bộ GD&ĐT với các CSĐT đại học về công tác đảm bảo chất lượng nói chung và KĐCL nói riêng, phản ứng thông thường của các trường trong một hệ thống quản lý mang tính tập trung hóa cao như Việt Nam là tuân thủ. Tuy nhiên, sau bước tìm hiểu và triển khai thụ động, một số trường đã có ý thức tạo ra những hạt nhân nhân sự KĐCL, như hai Đại học Quốc gia đã nhanh chóng tích cực đầu tư và xây dựng hệ thống KĐCL riêng, với bộ tiêu chuẩn riêng để KĐCL các trường thành viên và chương trình của mình. Có thể nói, việc hai Đại học Quốc gia xây dựng lực lượng triển khai công tác KĐCL, dù còn rất mỏng, đã đóng góp đáng kể cho việc phát triển hệ thống KĐCL của Việt Nam.  Bên cạnh đó, một số trường công lập khác cũng tích cực tham gia KĐCL ngay từ đầu, như 40 trường tình nguyện tham gia chương trình KĐCL thí điểm giai đoạn 2005-2009. Ngược lại, một số trường không vội vàng triển khai mà chờ đợi, thăm dò diễn biến chung bởi họ cho rằng, tham gia KĐCL chưa thấy lợi ích đâu mà đã thấy nhiều vấn đề trước mắt như tốn kém thời gian và tiền bạc, lại đòi hỏi hiểu biết kỹ thuật đánh giá. KĐCL buộc các trường phải thống kê và công bố nhiều thông tin về các hoạt động của mình cho bên ngoài đánh giá, dẫn đến sự e ngại từ phía lãnh đạo nhà trường về kết quả đánh giá và ảnh hưởng của nó tới uy tín cá nhân lãnh đạo. Trong khi đó, nếu không (chưa) tham gia KĐCL thì trường vẫn được hoạt động, được tuyển sinh và cấp bằng bình thường. Ở những nước coi KĐCL là bắt buộc, những CSĐT/CTĐT chưa được KĐCL sẽ không được phép cấp bằng, dù có thể vẫn được phép đào tạo.  Mặt khác, sự chậm trễ và thiếu ổn định trong triển khai hệ thống KĐCL đã gây ra sự thất vọng cho không ít trường, đặc biệt là các trường tích cực, hăng hái tham KĐCL ngay từ giai đoạn đầu. Đối với 40 trường đã được đánh giá ngoài trong giai đoạn 2005-2009, kết quả KĐCL không được công bố. Còn với nhóm trường hăng hái tham gia tiếp theo, đã triển khai tự đánh giá và hoàn thành báo cáo tự đánh giá thì không được đánh giá ngoài trong suốt thời gian từ 2009 đến 2015, đồng nghĩa với việc không được KĐCL. Từ khi các trung tâm KĐCL hoạt động đến nay mới được hơn một năm thì bộ tiêu chuẩn KĐCL đã lại bị thay đổi. Có những trường đã chuẩn bị đánh giá theo bộ tiêu chuẩn cũ mà chưa kịp đăng ký KĐCL trước ngày 4/7/2017 khi Thông tư 12/2017 bắt đầu có hiệu lực, thì đều phải chuyển sang bộ tiêu chuẩn mới.  Việc thay đổi nhiều nội dung trong bộ tiêu chuẩn KĐCL mới dẫn tới việc phải tập huấn lại cho toàn bộ cán bộ ĐBCL và cán bộ tham gia tự đánh giá cấp trường. Hơn nữa, rõ ràng là đánh giá theo bộ tiêu chuẩn cũ với 61 tiêu chí chắc chắn sẽ dễ đạt chuẩn hơn so với bộ tiêu chuẩn mới tăng thêm tới 50 tiêu chí, tức là thêm 50 yêu cầu. Sự xáo trộn này hiển nhiên tác động không nhỏ tới kế hoạch hoạt động cũng như chiến lược của nhiều trường.1  Kỳ cuối: Một số gợi ý/đề xuất về định hướng triển khai KĐCL  ——  1 Xem thêm: http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-Gian-nan-buoc-khoi-dau-10955  2 Bao gồm: (1) Sứ mạng và mục tiêu của nhà trường; (2) Tổ chức và quản lý; (3) Chương trình đào tạo; (4) Hoạt động đào tạo; (5) Đội ngũ giảng viên, nhân viên và cán bộ quản lý; (6) Người học; (7) Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (8) Hợp tác quốc tế; (9) Thư viện, và trang thiết bị; và (10) Tài chính và quản lý tài chính.  3 Bao gồm: (1) Tầm nhìn, sứ mạng, và văn hoá; (2) Quản trị; (3) Lãnh đạo và Quản vụ cộng đồng; (6) Quản lý nguồn nhân lực; (7) Quản lý tài chính và cơ sở vật chất; (8) Các mạng lưới và quan hệ đối ngoại; (9) Hệ thống ĐBCL bên trong; (10) Tự đánh giá và đánh giá ngoài; (11) Hệ thống thông tin ĐBCL bên trong; (12) Nâng cao chất lượng; (13) Tuyển sinh và nhập học; (14) Thiết kế và rà soát chương trình dạy học; (15) Giảng dạy và học tập; (16) Đánh giá người học; (17) Các hoạt động phục vụ và hỗ trợ người học; (18) Quản lý nghiên cứu khoa học; (19) Quản lý tài sản trí tuệ; (20) Hợp tác và đối tác nghiên cứu khoa học; (21) Kết nối và phục vụ cộng đồng; (22) Kết quả đào tạo; (23) Kết quả nghiên cứu khoa học; (24) Kết quả phục vụ cộng đồng; và (25) Kết quả tài chính và thị trường.       Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Kiểm định chất lượng giáo dục: Quốc gia hay quốc tế, trường hay chương trình ?      Như đã đề cập ở hai bài viết trước, cho đến thời điểm hiện tại, năng lực của hệ thống kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu kiểm định bắt buộc của tất cả các trường đại học và cao đẳng, do đó các trường được khuyến khích tham gia KĐCL quốc tế. Vậy các trường nên chủ động tham gia KĐCL quốc tế theo hướng nào cho hiệu quả?      Một số trường tích cực triển khai đồng loạt KĐCL quốc gia và quốc tế đối với cả cấp trường và cấp chương trình. Thí dụ, tính đến năm 2016, ĐH Bách khoa TPHCM đã có 20 chương trình được KĐCL quốc tế và mới đây vừa được KĐCL quốc tế cấp trường. Trong ảnh: Phòng thí nghiệm Chuyển hóa sinh học thuộc ĐH Bách khoa TPHCM hoạt động trong lĩnh vực Vi sinh vật học, Chuyển hóa sinh học, Thực phẩm chức năng. (Nguồn: khoahoctot.vn).  Từ góc độ khung pháp lý, yêu cầu về KĐCL ở cả hai cấp cơ sở đào tạo (CSĐT) và chương trình đào tạo (CTĐT) đều đã được đặt ra tương đối đầy đủ trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học cũng như các văn bản dưới luật hướng dẫn triển khai KĐCL.  Từ góc độ quản lý nhà nước trong thực thi các quy định KĐCL, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã triển khai KĐCL trường cấp quốc gia, mặt khác cũng khuyến khích các trường tham gia KĐCL quốc tế đối với các chương trình tiên tiến, chất lượng cao. Bộ cũng đã tạo điều kiện kết nối các trường trong hệ thống với các tổ chức KĐCL quốc tế. Đây là chiến lược hợp lý trong khi hệ thống chưa đủ năng lực triển khai cả KĐCL trường và chương trình trên diện rộng cho toàn bộ các trường và chương trình đào tạo hiện có.  Từ góc độ thực thi trên thực tế tại các trường, có thể thấy một số trường tốp đầu nắm bắt xu thế khá nhanh. Đây là những trường tích cực triển khai đồng loạt KĐCL quốc gia và quốc tế đối với cả cấp trường và cấp chương trình. Trong số những trường này đầu tiên phải kể đến ĐH Bách khoa TPHCM. Tính đến năm 2016, trường đã có hai chương trình được KĐCL bởi ABET (Mỹ), 11 chương trình được KĐCL bởi AUN-QA (ASEAN), và bảy chương trình được KĐCL bởi CTI (Pháp). Ở cấp trường, bên cạnh KĐCL theo bộ tiêu chuẩn của Bộ, ĐH Bách khoa TPHCM cũng vừa được KĐCL bởi HRECES của Pháp, cùng với ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa Đà Nẵng, và ĐH Xây dựng Hà Nội. Trong khi đó, một số trường lại đang đặt mục tiêu KĐCL cấp trường theo tiêu chuẩn AUN-QA. Trường đi đầu phong trào này là ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, bắt đầu tham gia đánh giá chất lượng cấp trường theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA từ tháng 01/2017 và sau một thời gian bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, minh chứng đã được xét công nhận đạt chuẩn chất lượng AUN-QA cấp trường vào ngày 20/11/2017. Tuy nhiên, các trường phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về nguồn lực cũng như tính hiệu quả và sự cần thiết của việc KĐCL cấp trường theo AUN-QA.  Ở cấp chương trình, do việc KĐCL quốc tế bởi ABET hay AACSB là rất tốn kém1, các trường thường chọn chương trình hàng đầu của mình, vốn có thế mạnh trong nhiều mặt, từ công bố quốc tế của giảng viên cho đến khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế của sinh viên tốt nghiệp để tham gia KĐCL. Trong khi nhiều trường không thể tìm ra chương trình nào để KĐCL quốc tế thì những trường như ĐH Bách khoa TPHCM không đủ kinh phí để tham gia KĐCL ABET với tất cả các chương trình họ có tiềm năng.  Như vậy có thể nói, việc tham gia KĐCL quốc tế là cần thiết, tuy nhiên ở mức độ nào và quy mô nào để đạt hiệu quả là câu hỏi đối với nhiều trường. Trên thực tế, do tính chất và phạm vi đánh giá của KĐCL cấp trường (bao trùm các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, quản trị… và các nguồn lực như cơ sở vật chất) và cấp chương trình (chủ yếu tập trung vào quá trình giáo dục), việc KĐCL đối với cấp chương trình đem lại nhiều lợi ích cho người học hơn so với KĐCL cấp trường. KĐCL quốc tế cấp chương trình hầu hết là sự công nhận của các tổ chức KĐCL chuyên ngành quốc tế đối với các CTĐT chuyên ngành có cấp bằng. Sự công nhận này tạo điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp có thể tham gia thị trường lao động quốc tế hoặc học tập cao hơn ở nước ngoài. Nó cũng cho phép các trường mở rộng hợp tác đào tạo quốc tế, tuyển sinh sinh viên quốc tế, và trao đổi sinh viên trong phạm vi một chương trình cụ thể.  Từ những phân tích trên cho thấy, các trường đại học và cao đẳng nên tham gia KĐCL quốc tế cấp chương trình với những chương trình có thế mạnh; còn với cấp trường, chỉ cần KĐCL quốc gia theo bộ tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT là đủ. Đối với những chương trình chưa đủ mạnh để KĐCL quốc tế, các trường có thể tham khảo bộ tiêu chuẩn KĐCL chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành để có định hướng phát triển và cải tiến chương trình trong khi chờ đợi KĐCL chính thức. Với những áp lực ngày càng gia tăng về trách nhiệm giải trình và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong tuyển sinh, việc chuẩn bị để sẵn sàng tham gia KĐCL ở cấp chương trình dù theo chuẩn quốc gia hay quốc tế đều sẽ mang tính quan trọng sống còn với các trường trong thời gian tới.  Tư vấn KĐCL, một hoạt động cần được hợp thức hóa  Có một thực tế rằng các trường đại học và cao đẳng hiện nay khi triển khai đánh giá và đăng ký KĐCL dù quốc tế hay trong nước đều có nhu cầu tư vấn do năng lực bảo đảm chất lượng (ĐBCL)2 và thực hiện các yêu cầu kỹ thuật trong KĐCL của các trường còn rất hạn chế. Ngoài một số trường đã có nhiều kinh nghiệm và có đội ngũ cán bộ ĐBCL vững chuyên môn, rất ít trường tự tin tham gia KĐCL mà không phải thuê tư vấn, dù không trường nào công bố việc này. Công việc tư vấn, thường diễn ra lặng lẽ, dưới dạng hợp đồng tư vấn giữa các trường và cán bộ của các cơ quan KĐCL. Có thể nói có ‘cầu’, có ‘cung’, và có sản phẩm khá đặc thù, đòi hỏi chuyên môn riêng biệt, tức là có ‘thị trường’ và thị trường này không hề nhỏ. Tuy vậy mảng hoạt động tư vấn đang diễn ra một cách khá ‘tế nhị’ và chưa được ghi nhận chính thức, dẫn đến hoạt động này chưa được quản lý và điều chỉnh. Để đảm bảo chất lượng tư vấn và quyền lợi của các bên, cũng như để kiểm soát vấn đề xung đột lợi ích liên quan đến các bên tham gia trong quá trình KĐCL, hoạt động tư vấn cần được hợp thức hóa, có quy tắc hành xử của nghề và có thể có hiệp hội nghề.  Bên cạnh việc tạo hành lang pháp lý và chuyên môn cho hoạt động tư vấn như một ‘nghề’ trong KĐCL, hệ thống KĐCL của Việt Nam cần phải giải quyết một số vấn đề cốt yếu khác.  Thứ nhất là bài toán cân đối giữa ‘sức cung’ hay năng lực KĐCL của hệ thống với bốn trung tâm KĐCL độc lập và nhu cầu của hệ thống với 445 trường đại học và cao đẳng và hàng ngàn chương trình đào tạo. Để giải quyết bài toán này, có thể đánh giá lại năng lực triển khai của các trung tâm KĐCL độc lập, từ đó hoặc thành lập thêm tổ chức KĐCL hoặc hỗ trợ nâng cao quy mô và năng lực của những trung tâm hiện có. Tuy nhiên, giải pháp này cần đi kèm các biện pháp đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực chuyên gia cũng như năng lực tổ chức, quản lý của các đơn vị. Cũng có thể tính đến giải pháp đơn giản hóa quy trình kiểm định nhằm làm giảm khối lượng phải KĐCL từ cả phía các cơ quan KĐCL và các trường.  Thứ hai là vấn đề hiệu quả của công tác KĐCL. Cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống đã phát huy tác dụng tốt ở giai đoạn đầu triển khai KĐCL. Cùng với văn hóa tuân thủ thường thấy trong khối trường công lập, các chính sách và yêu cầu liên quan đến KĐCL đã được các trường răm rắp thực hiện, giúp cho KĐCL thâm nhập vào hệ thống giáo dục đại học dễ dàng. Tuy nhiên, nếu các cán bộ ĐBCL và lãnh đạo các trường chỉ hành động theo kiểu đối phó với với các quy định của cơ quan quản lý nhà nước thì KĐCL, dù rất tốn kém, cũng không mang lại hiệu quả thực chất. Như vậy, sau khi khởi động thành công, cách tiếp cận cần được linh hoạt chuyển sang tác động từ dưới cơ sở lên. Tức là cần có hệ thống các biện pháp, chính sách khuyến khích KĐCL, tạo động lực đảm bảo chất lượng tự thân của các trường, đặc biệt cần thúc đẩy sự chủ động tham gia ĐBCL của các giảng viên và cán bộ quản lý ở cấp cá nhân. Đồng thời, cần hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách công tác ĐBCL ở các trường thông qua tập huấn, đào tạo, hướng dẫn, cung cấp hệ thống hỗ trợ, xây dựng mạng lưới, diễn đàn chung để trao đổi ý kiến và học tập lẫn nhau.  Thứ ba là tính ổn định của hệ thống. Như đã phân tích trong các phần trước, do những thay đổi về thiết kế của hệ thống, về công cụ và quy trình cũng như các bên trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức KĐCL, có thể nói, suốt hơn 10 năm qua, tính ổn định của hệ thống ở mức rất thấp. Tháng Năm năm nay, Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT đã giới thiệu bộ tiêu chuẩn KĐCL mới, dù vẫn còn một số câu hỏi để ngỏ, đã tiếp thu được những ưu điểm của bộ tiêu chuẩn AUN-QA, như yêu cầu đối với việc xây dựng hệ thống ĐBCL nội bộ và nâng cao chất lượng nhiều mặt của các cơ sở giáo dục đại học. Điều tối cần thiết lúc này là kiên định triển khai đầy đủ các quy định cập nhật trong tối thiểu bảy năm tới – quãng thời gian đủ cho tất cả các trường trải qua một chu kỳ KĐCL theo bộ tiêu chí mới, để từ đó có cơ sở đánh giá và đưa ra đề xuất thay đổi, điều chỉnh phù hợp. Sự ổn định này là quan trọng nhằm đảm bảo toàn bộ các trường trong hệ thống được đánh giá trên cùng một thước đo, đem lại cái nhìn bao quát về hiện trạng các điều kiện ĐBCL trong hệ thống giáo dục đại học. Đồng thời, sự ổn định này cho phép đánh giá toàn diện về chính bản thân hệ thống KĐCL.  Ngay từ lúc này, cơ quan quản lý nhà nước cần phải nghĩ đến việc đánh giá hệ thống KĐCL quốc gia, xây dựng các chỉ số giám sát và đánh giá và hệ thống công cụ thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá. Một đánh giá hiện trạng đầu vào ‘baseline study’ ở thời điểm này cũng sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá hiệu quả của hệ thống về sau.  Thứ tư, năng lực đội ngũ kiểm định viên luôn là vấn đề then chốt trong việc đảm bảo hiệu quả công tác KĐCL. Các trung tâm KĐCL đã liên tục mở các khóa đào tạo KĐCL, tuy nhiên việc đào tạo này được thực hiện theo định hướng ‘bộ tiêu chuẩn’. Tức là chương trình đào tạo tập trung, hướng dẫn người tham gia thực hiện đánh giá theo bộ tiêu chuẩn và quy trình đang được sử dụng. Điều này dẫn tới việc phải đào tạo lại kiểm định viên khi bộ tiêu chuẩn và quy trình mới được áp dụng. Trong các vấn đề kỹ thuật, chuyên môn của KĐCL, cần phân định rõ Cục Quản lý Chất lượng (Bộ GD&ĐT) đóng vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động KĐCL hay là cơ quan chuyên ngành quản lý chuyên môn của KĐCL, tránh ảnh hưởng đến tính độc lập của hoạt động KĐCL.  Cùng loạt bài Kiểm định chất lượng giáo dục của TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên trên Tia Sáng, còn có: Gian nan bước khởi đầu (số 19, ngày 05/10/2017); Nhìn từ góc độ kỹ thuật (số 20, ngày 20/10/2017).     Đính chính: Bài viết gốc đăng ngày 9/11 đề cập tới việc trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội tham gia đánh giá chất lượng cấp trường theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA nhưng đã không thành công. Tuy nhiên, thông tin này được Trường phản ánh là chưa chính xác, do vậy, chúng tôi đã sửa chữa lại thông tin. Cụ thể là: trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội bắt đầu tham gia đánh giá chất lượng cấp trường theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA từ tháng 01/2017 và sau một thời gian bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, minh chứng, đã được xét công nhận đạt chuẩn chất lượng AUN-QA cấp trường vào ngày 20/11/2017.  ——-  1Mỗi cơ quan KĐCL quốc tế có mức phí và yêu cầu khác nhau, ví dụ ABET có chi phí chính thức vào khoảng 40.000 USD, chưa kể các chi phí khác để làm tự đánh giá và hậu cần cho đánh giá ngoài. Các chi phí chính thức đều được công bố trên các trang web của các tổ chức KĐCL.  2Hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ của các trường được thiết kế nhằm hướng đến liên tục đánh giá, đo lường, kiểm soát, duy trì và cải thiện chất lượng của mọi hoạt động chính yếu của nhà trường như học tập, giảng dạy, nghiên cứu, và cung ứng dịch vụ.          Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Kiểm tra trước: Công cụ học tập hiệu quả      Cải thiện đáng kể thành quả học tập sau mỗi khóa học nhờ làm bài kiểm tra trước (pretesting) là một trong những phát triển lý thú nhất của ngành khoa học nghiên cứu cách học (learning-science) hiện nay.     Hãy thử tưởng tượng vào ngày đầu tiên của một khóa học “khó xơi”, khi chưa được học kiến thức nào, thì bạn lại có trong tay đề kiểm tra cuối khóa. Toàn bộ đề bài kiểm tra không có lời giải, không có chú thích hay hướng dẫn, chỉ là các câu hỏi. Liệu nó có giúp bạn học hiệu quả hơn không?   Câu trả lời tất nhiên là có. Sau khi đọc các câu hỏi cẩn thận, bạn sẽ biết phải chú trọng những kiến thức nào khi ghi chép. Tai bạn sẽ vểnh lên chăm chú bất cứ khi nào giáo viên đề cập những vấn đề liên quan đến các câu hỏi trong đề. Bạn sẽ tìm trong sách giáo khoa những phần thảo luận về mỗi câu hỏi kiểm tra. Nếu cẩn thận thì bạn còn học thuộc câu trả lời cho tất cả các câu hỏi. Rồi vào ngày kiểm tra, bạn sẽ là người đầu tiên hoàn thành bài làm và lãnh gọn điểm A+. Nhưng như thế bạn mắc tội gian lận.   Nếu thay vào đó, vào ngày đầu tiên của khóa học, bạn làm một bài kiểm tra với nội dung cũng bao quát như bài kiểm tra cuối kỳ nhưng không chính xác là bản sao của nó thì sao? Tất nhiên bạn sẽ làm hỏng bét. Bạn có thể không hiểu được một câu hỏi nào. Nhưng dù trải nghiệm này có làm bạn cảm thấy mất phương hướng đến đâu thì nó sẽ vẫn thay đổi cách bạn tiếp cận với khóa học, và nhờ đó cải thiện đáng kể thành quả học tập tổng thể của bạn.   Đây chính là ý tưởng đằng sau việc làm bài kiểm tra trước (pretesting), một trong những phát triển lý thú nhất trong ngành khoa học nghiên cứu cách học (learning-science) hiện nay. Qua một loạt các loại thí nghiệm, các nhà tâm lý học nhận thấy rằng, trong một số trường hợp, các câu trả lời sai trong các bài kiểm tra trước không đơn thuần là những đoán mò vô ích. Thật ra, những nỗ lực phỏng đoán này làm thay đổi cách chúng ta nghĩ về và lưu trữ những thông tin bao hàm trong các câu hỏi đó. Đối với một số loại bài kiểm tra, đặc biệt là trắc nghiệm, việc trả lời sai giúp chỉ dẫn cho não của ta tiếp nhận những thông tin tiếp theo tốt hơn. Như vậy, làm bài kiểm tra trước giúp ta thu nhận thông tin theo một cách mà việc học bình thường không thể làm được.   Sự hào hứng của các nhà khoa học đối với ý tưởng bài kiểm tra trước bắt nguồn từ một thực tế là các bài kiểm tra này có vẻ như giúp cải thiện kết quả trong các chủ đề ít quen thuộc hơn ở các lĩnh vực như địa lý, xã hội học hay tâm lý học, ít nhất là trong phạm vi thí nghiệm. Nhà tâm lý học Elizabeth Ligon Bjork thuộc Đại học California, Los Angeles, vừa hoàn thành một thí nghiệm, theo đó việc kiểm tra trước đã làm tăng kết quả kiểm tra cuối kỳ của một nhóm sinh viên trong lớp lên trung bình 10% so với nhóm cùng lớp nhưng không được làm bài kiểm tra trước.   Như vậy, kiểm tra có thể là chìa khóa cho việc học chứ không phải là ngược lại. Kiểm tra không chỉ là một công cụ để đo đếm, đánh giá mà còn là một cách để làm giàu và chỉnh sửa bộ nhớ.   Ảo tưởng về sự trôi chảy  Hầu như ai cũng ít nhất một lần rơi vào tình cảnh mở bài thi ra và gặp phải một dãy câu hỏi mà mình chẳng hiểu gì. Những lúc đó thị giác của ta sẽ mờ đi, đầu óc hoảng loạn. Trường hợp phổ biến hơn là khi ta mở bài thi ra, đọc thấy câu hỏi về một vấn đề quen thuộc mà ta đã học, thậm chí là thuộc lòng mới ngay hôm qua thôi, nhưng lúc này lại chẳng nhớ gì nữa.   Tại sao lại xảy ra những trường hợp như vậy? Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu việc học từ lâu và kết luận rằng, lý do tiêu biểu không phải vì chúng ta thiếu cố gắng hay không có “gene làm bài thi”. Vấn đề là chúng ta đánh giá sai độ sâu những hiểu biết của mình. Chúng ta bị đánh lừa bởi nhận thức sai lầm về “sự trôi chảy”. Ta tin tưởng rằng nếu mình đã nhớ một dữ kiện, một công thức thì nó sẽ ở mãi trong trí nhớ của ta. Ảo tưởng này mạnh đến nỗi, một khi ta cảm thấy mình đã nắm được một vấn đề, ta coi như việc nghiên cứu tiếp vấn đề đó cũng không thể làm tăng trí nhớ của ta về nó.   Thường thì chính những phương pháp mà học sinh hay sử dụng như đánh dấu, gạch các ý chính, tóm tắt các chương v.v. tạo nên ảo tưởng về sự trôi chảy. Nhận thức sai lầm về sự trôi chảy này được hình thành một cách tự động trong tiềm thức của ta, khiến ta trở nên cực kỳ kém trong việc thẩm định những gì chúng ta cần học hoặc thực hành lại.           Kiểm tra có thể là chìa khóa cho việc học chứ không phải là ngược lại. Kiểm tra không chỉ là một công cụ để đo đếm, đánh giá mà còn là một cách để làm giàu và chỉnh sửa bộ nhớ.         Cách tốt nhất để vượt qua ảo tưởng này là làm bài kiểm tra – tự nó là một phương pháp học tập hiệu quả. Đây không phải là một khám phá mới mẻ gì, người ta đã nhận ra điều này từ thuở bắt đầu giáo dục chính quy, có khi còn sớm hơn thế. Năm 1620, nhà triết học Francis Bacon đã viết: “Nếu bạn đọc một đoạn văn 20 lần, bạn sẽ không học thuộc được nó dễ dàng như khi bạn chỉ đọc 10 lần, trong lúc đó cố đọc thuộc lòng và chỉ nhìn sách khi không nhớ ra được.”   Năm 1916, nhà tâm lý học Arthur Gates tại Đại học Columbia đã tiến hành một thí nghiệm nhằm kiểm chứng nhận định của Bacon. Kết quả thí nghiệm cho thấy, nhìn chung, để học thuộc lòng một bài thơ của Shakespeare nhanh nhất, người học cần dành một phần ba thời gian đầu tiên đọc bài thơ đó và hai phần ba thời gian còn lại cố đọc theo trí nhớ.  Đến những năm 1930, Herbert F. Spitzer, nghiên cứu sinh tại Đại học Bang Iowa, đã nhận ra ngụ ý rộng hơn từ thí nghiệm của Gates: việc cố đọc thuộc lòng cũng chính là một hình thức tự kiểm tra. Như vậy, việc kiểm tra được sử dụng như một phương pháp học. Từ đó, nảy ra câu hỏi: nếu việc kiểm tra hữu ích như vậy thì thời điểm nào là tốt nhất để tiến hành kiểm tra?   Để tìm câu trả lời, Spitzer đã thực hiện một thí nghiệm với qui mô lớn trên 3.500 học sinh lớp 6 đến từ 91 trường tiểu học tại chín thành phố ở bang Iowa. Kết quả cho thấy, nhóm được làm bài kiểm tra một – hai lần trong vòng một tuần sau khi học đã làm bài kiểm tra cuối khóa tốt hơn so với nhóm chỉ được làm bài kiểm tra sau khi học trên hai tuần. Spitzer kết luận rằng kiểm tra là một phương pháp hữu ích cần được áp dụng sớm trong quá trình học.   Định hướng cho não  Vậy cần áp dụng việc kiểm tra sớm đến mức nào? Liệu có nên tiến hành kiểm tra ngay từ buổi đầu tiên của khóa học không? Thí nghiệm của nhà tâm lý học Bjork đề cập ở trên đã khẳng định tác dụng tích cực của việc kiểm tra trước, gợi ý rằng kiểm tra trước giúp chỉ dẫn cho não, định hướng não tiếp thu những thông tin mới.  Các nhà khoa học có một vài giả thuyết về cơ chế của hiện tượng này.   Một logic khá dễ nhận thấy là: khi biết mình sẽ bị kiểm tra những gì, học sinh sẽ suy xét và chắt lọc những thông tin quan trọng hơn trong quá trình học. Đây là điều mà những người thầy giỏi nhất cũng không thể làm thay học sinh của mình. Làm bài kiểm tra và trả lời sai sẽ giúp điều chỉnh tư duy của ta về những tài liệu mà ta cần biết trong bước học tập tiếp theo.  Giả thuyết thứ hai liên quan đến khái niệm “trôi chảy”. Bài kiểm tra trước hoạt động như một loại vaccine chống lại ảo tưởng về sự trôi chảy. Việc trả lời sai trong bài kiểm tra trước sẽ phơi bày ảo tưởng về sự trôi chảy của ta, nhất là trong các bài kiểm tra trắc nghiệm khi ta phải chọn lựa giữa nhiều đáp án đều có vẻ hợp lý. Ví dụ, cứ cho là ta rất chắc chắn rằng thủ đô của Úc là Canberra; nhưng khi phải trả lời một câu hỏi trắc nghiệm với nhiều lựa chọn khác như Sydney, Melbourne hay Adelaide, có thể ta sẽ bắt đầu cảm thấy ngờ ngợ, không chắc chắn nữa. Nếu trước đó ta chỉ học câu trả lời đúng thì ta sẽ mất đi khả năng đánh giá các lựa chọn có vẻ đúng khác xuất hiện trong bài kiểm tra.   Nhìn từ mặt sinh học, để ôn tập lại thông tin, trí nhớ hoạt động theo những cách mà ta thường không nhận ra. Truy hồi – tức là nhớ lại – là một hoạt động trí óc khác với việc học: não bộ phải lật xới lại một kiến thức cùng với mạng lưới những gì liên hệ với kiến thức đó. Việc này sẽ thay đổi và làm phong phú cách mà mạng lưới liên hệ được tái lưu trữ sau đó. Nhưng phỏng đoán là một hoạt động khác biệt rõ ràng so với việc học và truy hồi. Việc phỏng đoán cũng giúp định hình lại mạng lưới tư duy của ta thông qua việc lồng ghép những khái niệm chưa biết vào những câu hỏi mà ta ít nhiều hiểu được phần nào. Những phán đoán câu trả lời sẽ hiện ra khi ta nghe lại các khái niệm lạ này trong quá trình học sau đó.           Những nghiên cứu về bài kiểm tra trước đang dự báo một xu hướng sư phạm tiến bộ trong tương lai, khi đó, bài kiểm tra sẽ trở thành một cách giới thiệu cho học sinh những gì các em nên học hơn là một phán xét về những gì các em đã không học được.         Ngày nay từ “kiểm tra” vẫn còn mang ý nghĩa rất nặng nề và vẫn chưa được gắn với khoa học về việc học tập. Các nhà giáo dục và chuyên gia đã tranh cãi rất nhiều về giá trị của các bài kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn từ hàng thập kỷ nay. Nhiều giáo viên than phiền rằng việc chú trọng bài kiểm tra làm họ bị hạn chế khả năng khám phá môn học với học sinh. Một số người khác công kích việc kiểm tra là những thước đo không hoàn chỉnh về việc học, không nhìn nhận được bất cứ hình thức tư duy sáng tạo nào.   Những nghiên cứu về bài kiểm tra trước đang dự báo một xu hướng sư phạm tiến bộ trong tương lai, khi các giáo viên sẽ phải chuyển từ “dạy để làm được bài kiểm tra” sang “học để nắm được bài kiểm tra trước”. Bài kiểm tra sẽ trở thành một cách giới thiệu cho học sinh những gì các em nên học hơn là một phán xét về những gì các em đã không học được.   Khánh Minh lược dịch từ bài viết của Benedict Carey, phóng viên khoa học của tờ The Times, tác giả của cuốn How We Learn: The Surprising Truth About When, Where and Why It Happens.  Nguồn: http://www.nytimes.com/2014/09/07/magazine/why-flunking-exams-is-actually-a-good-thing.html?ref=magazine       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiến tạo xã hội học tập      Hầu như tất cả chính sách của chính phủ, vô  tình hay hữu ý, dù tốt dù xấu, đều có tác động trực tiếp và gián tiếp  tới với việc học.     Công dân ở các nước giàu nhất thế giới cho rằng nền kinh tế của họ ngày nay dựa trên nền tảng là sự đổi mới sáng tạo. Nhưng trong suốt hơn hai thế kỷ vừa qua, đổi mới sáng tạo là một phần của nền kinh tế của thế giới đã phát triển. Thật vậy, trong suốt hàng ngàn năm, trước cuộc Cách mạng Công nghiệp, thu nhập không tăng là bao. Sau đó, thu nhập bình quân đầu người tăng vọt, hết năm này qua năm khác, thỉnh thoảng mới bị gián đoạn bởi tác động của những dao động có tính chu kỳ. Robert Solow, nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel, cách đây 60 năm đã nhận xét rằng thu nhập tăng chủ yếu không phải là do tích lũy vốn mà do tiến bộ công nghệ – do người ta học được cách làm mọi thứ một cách tốt hơn.   Một phần nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng năng suất lao động là do một số những phát kiến lớn lao, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu là rất nhiều những sáng kiến, cải tiến nhỏ. Điều này có nghĩa là chúng ta cần tập trung chú ý vào những phương pháp học tập của xã hội, và những chính sách, giải pháp giúp thúc đẩy việc học – trong đó có cả việc học phương pháp học tập.   Một thế kỷ trước, ông Joseph Schumpeter, nhà kinh tế và chính trị học, khẳng định rằng ưu điểm quan trọng nhất của kinh tế thị trường là ở khả năng thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo. Ông cho rằng các nhà kinh tế học đã sai lầm khi chú trọng vào các thị trường tự do; quan trọng là sự cạnh tranh vì thị trường, chứ không phải là cạnh tranh trên thương trường. Cạnh tranh vì thị trường đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo. Theo quan điểm này, về lâu dài, việc các công ty độc quyền thế chỗ nhau sẽ dẫn tới các mức sống cao hơn.   Kết luận của Schumpeter không phải không bị phản bác. Các công ty độc quyền và các công ty nắm quyền chi phối thị trường, như Microsoft, có thể cản trở đổi mới. Nếu không bị các cơ quan chống độc quyền ngăn chặn, họ có thể tham gia vào hoạt động chống cạnh tranh, tức là những hành động góp phần củng cố sức mạnh độc quyền của họ.   Hơn nữa, thị trường chưa chắc đã là công cụ hiệu quả để tạo ra những khoản đầu tư đầy đủ và đúng hướng cho các hoạt động nghiên cứu và giáo dục. Các động cơ của khu vực tư nhân không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích xã hội: các công ty hưởng lợi từ đổi mới sáng tạo có thể biến khai thác lợi thế đó để chiếm lĩnh thị trường, dùng sức mạnh để thao túng các quy định của Nhà nước, chiếm đoạt các nguồn thu đáng lẽ thuộc về người khác.   Nhưng, một trong những nhận thức thấu triệt của Schumpeter vẫn cực kì giá trị: nhìn từ quan điểm đổi mới/học tập trong dài hạn, những chính sách chỉ chú tâm vào tính hiệu quả trong ngắn hạn có thể là không đáng mong muốn. Điều này đặc biệt đúng đối với các nước đang phát triển và các thị trường mới nổi.   Các chính sách trong lĩnh vực công nghiệp – trong đó, các chính phủ can thiệp vào việc phân bổ các nguồn lực giữa các ngành hoặc ủng hộ một số ngành công nghệ hơn những ngành khác – có thể giúp tăng cường tiến trình học hỏi ở “các nền kinh tế non trẻ”. Tiến trình học hỏi ở một số ngành (ví dụ như sản xuất công nghiệp) có thể rõ rệt hơn so với các ngành khác, và những lợi ích của tiến trình học hỏi, trong đó có cả việc phát triển các thiết chế cần thiết cho sự thành công, có thể lan tỏa sang các hoạt động kinh tế khác.   Việc áp dụng những chính sách như thế thường trở thành đối tượng chỉ trích. Người ta thường nói chính phủ không nên đứng về phía ngành này hay ngành kia, mà hãy để các thị trường tự quyết định lấy. Nhưng các bằng chứng cho luận điểm ủng hộ thị trường tự do không thực sự thuyết phục.   Trong những năm trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khu vực tư nhân của Mỹ rất kém trong việc phân bổ nguồn vốn và quản lý rủi ro, trong khi các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng các dự án nghiên cứu của chính phủ đem lại lợi nhuận trung bình cho nền kinh tế thực sự cao hơn so với các dự án của khu vực tư nhân – chủ yếu vì chính phủ đầu tư nhiều hơn vào những công trình nghiên cứu cơ bản quan trọng, ví dụ đơn giản là những lợi ích xã hội được mang lại từ những công trình nghiên cứu dẫn tới sự phát triển của Internet hoặc tìm ra DNA.   Nhưng, đặt những thành công như vậy sang một bên, trọng tâm của chính sách công nghiệp hoàn toàn không phải là để chọn ngành này hay ngành khác. Thay vào đó, một chính sách công nghiệp được coi là thành công khi xác định được nguồn gốc của những tác động ngoại biên tích cực (positive externalities) – tức là những ngành mà ở đó tiến trình học hỏi có thể lan tỏa lợi ích sang các ngành khác trong nền kinh tế.   Xem xét các chính sách kinh tế dưới góc độ thúc đẩy tiến trình học hỏi cho ta một góc nhìn khác về nhiều vấn đề. Kenneth Arrow, một nhà kinh tế vĩ đại, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học qua thực tiễn công việc. Ví dụ, phải có công nghiệp thì mới học được những điều cần thiết để công nghiệp phát triển. Mà để trước tiên có một ngành công nghiệp thì đôi khi người ta phải thực hiện một số chính sách như đảm bảo rằng tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước mình luôn ở mức cạnh tranh, hoặc cho phép ngành công nghiệp ưu tiên được hưởng tín dụng ưu đãi – như một số quốc gia Đông Á đã làm và là một trong những nguyên nhân mang lại thành công đáng kể cho chiến lược phát triển của họ.   Như vậy, ưu tiên chú trọng một số ngành công nghiệp đối với các nền kinh tế non trẻ có thể coi là một luận điểm khá thuyết phục. Bên cạnh đó, tự do hóa thị trường tài chính có thể làm suy yếu khả năng học hỏi một loạt các kỹ năng cần thiết cho phát triển: làm sao phân bổ được nguồn lực và quản lý được rủi ro.   Tương tự như thế, nhìn từ góc độ thúc đẩy tiến trình học hỏi, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nếu không được thiết kế một cách phù hợp, có thể là một con dao hai lưỡi. Trong khi điều đó có thể tăng cường khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu, nó cũng có thể khuyến khích người ta giữ bí mật – cản trở dòng luân chuyển kiến thức cần thiết cho việc học hỏi, đồng thời khuyến khích các công ty lợi dụng một cách tối đa kiến thức của tập thể và giảm đến mức tối thiểu sự đóng góp của các công ty này. Khi đó, [chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ có thể khiến] tốc độ đổi mới sáng tạo suy giảm.   Nói rộng hơn, nhiều chính sách (đặc biệt là những chính sách liên quan tới “Đồng thuận Washington” của phái tân tự do) áp đặt cho các nước đang phát triển với mục tiêu cao quý là thúc đẩy việc phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, trên thực tế, lại đang cản trở tiến trình học hỏi, và do đó, về lâu dài sẽ khiến cho mức sống thấp đi.   Hầu như tất cả chính sách của chính phủ, vô tình hay hữu ý, dù tốt dù xấu, đều có tác động trực tiếp và gián tiếp tới với việc học. Các nước đang phát triển có người làm chính sách hiểu rõ về những hiệu ứng này là những nước có nhiều khả năng thu hẹp khoảng cách kiến thức giữa họ và các nước đã phát triển. Trong khi đó, các nước đã phát triển nếu nhìn thấy rõ được tác động tới tiến trình học hỏi sẽ có thể cải thiện các chính sách của mình, và tránh được nguy cơ trì trệ lâu dài.   Joseph E. Stiglitz, là giáo sư tại Đại học Columbia, giải thưởng Nobel về kinh tế, từng là Chủ tịch nhóm cố vấn về kinh tế cho Tổng thống Bill Clinton, từng giữ chức phó chủ tịch và kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Tác phẩm mới của ông (cùng với Bruce Greenwald) có nhan đề Kiến tạo xã hội học tập: Cách tiếp cận mới đối với tăng trưởng, phát triển và tiến bộ xã hội (Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress).      Phạm Nguyên Trường dịch   Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/joseph-e—stiglitz-makes-the-case-for-a-return-to-industrial-policy-in-developed-and-developing-countries-alike    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh doanh đại học ở Mỹ      Có thể khẳng định là hầu hết các đại học Mỹ,  dù là công hay tư, đều không có mục đích kinh doanh, không có cổ phần  viên hưởng lợi nhuận.     Gọi là đại học công vì chúng nằm dưới sự quản lý về tài chính và nhận tiền tài trợ từ ngân sách tiểu bang hoặc thành phố. Gọi là đại học tư vì chúng không chịu sự quản lý của chính quyền về mặt tài chính.    Hội đồng quản trị  Đại học tư hay đại học công đều có một hội đồng quản trị (thường gọi là Board of Trustees hay Board of Regents) có nhiệm vụ gây quỹ, theo dõi tài chính, đề ra phương hướng phát triển trường một cách tổng quát và bổ nhiệm hiệu trưởng (president). Ở đại học tư thì người trong hội đồng quản trị là do hội đồng quản trị đương nhiệm bổ nhiệm. Ở đại học công thì do thống đốc tiểu bang hoặc thị trưởng bổ nhiệm. Mỗi thành viên đều có nhiệm kỳ, thường là 5 năm, và tự giải nhiệm nếu không được bổ nhiệm lại. Trừ Chủ tịch hội đồng là có lương khi làm việc toàn thời gian, các thành viên khác không có lương nhưng được trả chi phí tham dự các cuộc họp. Hội đồng quản trị thường bao gồm những thành phần sau: (i) những người có đóng góp lớn về tiền bạc cho trường và có uy tín để gây quỹ cho trường; họ thường nhận được phần thưởng là tên trường, tên khoa, tên một tòa nhà hoặc một phòng học mang tên họ; (ii) các nhà doanh nhiệp có thể vừa cho tiền, vừa sẵn sàng nhận sinh viên khi ra trường; (iii) các nhà giáo dục và văn hóa có uy tín; (iv) các nhà chính trị về hưu có uy tín. Nói chung, họ là những người vừa có uy tín, vừa năng động hoặc có tiền sẵn sàng đóng góp vào việc xây dựng uy tín cho trường.  Về mặt luật pháp, các trường tư phần đông đều tổ chức vô vị lợi (non-profit corporations) chịu sự kiểm tra của sở thuế và luật pháp và khi hội đủ điều kiện về quá trình hoạt động được luật pháp chứng nhận là công ty vô vị lợi. Công ty vô vị lợi không phải trả thuế doanh thu trên học phí thu được và không trả thuế trên lợi nhuận công ty (tức là nếu thu nhập lớn hơn chi phí thường xuyên). Lợi nhuận công ty đương nhiên được giữ lại để đầu tư phát triển vì trường không có cổ phần viên. Cái lợi thứ hai cho công ty vô vị lợi nhưng có tầm quan trọng hơn cả là việc luật pháp Mỹ cho phép những người đóng góp vào công ty vô vị lợi được trừ phần đóng góp khỏi thu nhập chịu thuế. Thí dụ một người làm ra 100.000 USD một năm tức là ở mức lợi tức chịu thuế 30% thì nếu người này đóng góp 50.000 USD vào hoạt động vô vị lợi, họ chỉ phải đóng thuế trên lợi tức còn lại sau khi đóng góp vào hoạt động vô vị lợi là 50.000 USD. Ở mức lợi tức này, tỷ lệ thuế có thể thấp hơn, chẳng hạn 20%, như vậy sau khi đóng thuế là 10.000 USD họ giữ lại được 40.000 USD. Nếu không đóng góp vào hoạt động vô vị lợi họ mang về được 70.000 USD. Như vậy họ thiệt đi 30.000 USD nhưng giáo dục vô vị lợi thu được 50.000 USD. Đây là phương cách hay chính sách “nhân dân và nhà nước cùng làm” ở Mỹ để phát huy hoạt động vô vị lợi.  Tài chính   Đại học công từ học phí là 19%, từ chính quyền Trung ương 11%, 36% từ chính quyền địa phương, phần còn lại 10% dựa vào đóng góp của nhà hảo tâm hoặc từ tài trợ nghiên cứu.  Đại học tư dựa nhiều hơn vào học phí (42%) và đóng góp của giới hảo tâm (20%) và kinh doanh phụ (21%). Như vậy đại học tư, đặc biệt là trường vô vị lợi, không nhất thiết dựa chủ yếu vào học phí. Nhiều trường tư danh tiếng chỉ dựa 40-50% vào học phí, phần còn lại là do thu nhập tạo ra từ việc đầu tư tài sản mà các nhà hảo tâm đóng góp cho trường và những đóng góp thường xuyên của các nhà hảo tâm, cựu sinh viên, và tiền tài trợ cho các công trình nghiên cứu của chính phủ hoặc hoạt động kinh doanh.  Dĩ nhiên ở Mỹ vẫn có những người lập ra đại học để kinh doanh, có chủ sở hữu và lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu nhưng những đại học này chỉ là những trường dạy nghề. Họ phải chịu đóng thuế doanh thu và thuế lợi tức và hầu hết không được công nhận (accredited) là có tư cách đại học bởi các hiệp hội công nhận tư cách đại học có uy tín.  Mỹ lại có không ít các đại học bán bằng tiến sĩ cho bất cứ ai. Những đại học này không nằm trong danh sách 4.300 đại học được công nhận là có tư cách đại học đã nói đến ở trên.    —  * Trích bài: Đại học Hoa Kỳ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm giáo dục      KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC* (Experience and Education) của John Dewey là một cuốn sách mỏng được xuất bản năm 1938 dựa trên một bài nói chuyện do ông thực hiện cùng năm đó theo lời mời của Hội Kappa Delta Pi. Đây là lần thứ hai John Dewey được Kappa Delta Pi mời nói chuyện về giáo dục.        Và mục đích của lần mời này đã được Kappa Delta Pi nêu như sau: “Vì lợi ích của cách hiểu sáng sủa và một sự hiệp lực, Ban Giám đốc của Kappa Delta Pi đã đề nghị Tiến sĩ Dewey đề cập một số vấn đề tranh luận đang chia rẽ nền giáo dục Mỹ thành hai phe và do đó làm cho nền giáo dục này suy yếu vào thời điểm nó cần có trọn vẹn sức mạnh để hướng dẫn một dân tộc đang hoang mang để vượt qua những rủi ro do đổi thay xã hội” (Lời nói đầu của Kinh nghiệm và giáo dục).  Triết gia Mỹ nổi tiếng (có thời gian ông và John Dewey cùng dạy tại Đại học Columbia) là Mortimer J. Adler (1902-2001) trong cuốn sách viết chung với Milton Mayer xuất bản năm 1958 có tên Revolution in Education (Cuộc cách mạng trong giáo dục) đã viết: “Trong vòng chưa đầy 50 năm, kể từ năm 1840 đến 1883, tỉ lệ trẻ em đến trường đã tăng 520 phần trăm… Trong nhiều thế kỷ trước đó, chưa có ai từng mơ tới một thời đại ở đó bất cứ ai là công dân thì đều bắt buộc phải trải qua giáo dục nhà trường. Chưa có ai khi nghĩ tới giáo dục lại dám nghĩ rằng giáo dục nghĩa là giáo dục toàn dân”. Năm 1776, năm ký bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ được coi là cuộc cách mạng thứ nhất của đất nước này. Gần ba chục năm sau cuộc “Cách mạng giáo dục”, nước Mỹ bước vào cuộc cách mạng thứ ba – cuộc cách mạng công nghiệp, Kỷ nguyên Tiến bộ (Progressive Era), kéo dài từ những năm 1890 cho tới những năm 1920. Một nền kinh tế tự do chưa từng có trong lịch sử nhân loại, đã ra đời. Nền kinh tế này được đặc trưng bởi tính năng động và hiệu quả. Henry Ford (1863 – 1947) với phát minh ra phương pháp sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp (assembly line), Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) với việc tìm ra những nguyên tắc của “quản lý theo khoa học” (scientific management), đó mới chỉ là kể tới hai gương mặt điển hình của một kỷ nguyên đã đem lại sự thay đổi hoàn toàn cho không chỉ nền công nghiệp của nước Mỹ, mà còn cho toàn bộ nền công nghiệp thế giới.  Một nước Mỹ ngày đó sôi sục với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và kéo theo đó là những đổi thay to lớn chưa từng thấy trong xã hội và trong tâm lí cũng như cung cách ứng xử của con người. Vậy mà, nhà trường Mỹ vẫn như kẻ đi dạo, bàng quan với tất cả mọi sự, và hệ quả tất yếu là nhà trường đó mỗi ngày càng trở nên lạc hậu hơn so với xã hội ở bên ngoài. Điều đáng để suy ngẫm là ngay cả những bộ óc thông minh của thời bấy giờ (chẳng hạn như chính Mortimer J. Adler) vẫn không thấy là nhà trường đang lạc hậu! Adler vẫn tiếp tục say sưa với những “chân lí vĩnh cửu”, những “giá trị vĩnh cửu” …tách rời khỏi cuộc sống thực tế, giống như ngày hôm nay ở nền giáo dục của nước ta vẫn có những nhà giáo dục tiếp tục hô khẩu hiệu Chân, Thiện Mỹ, như một cách lảng tránh trách nhiệm nhìn thẳng vào thực tế để giải quyết những bài toán thực tiễn! Vì thế, nhà trường của nước Mỹ vẫn tiếp tục duy trì dai dẳng lối dạy nhồi nhét, áp đặt còn trẻ em thì ghi nhớ thụ động, học vẹt.  Vào những năm cuối thế kỉ 19, một trào lưu cải cách sư phạm xuất hiện ở Mĩ, trào lưu này được gọi tên là tân-giáo dục (progressive education). Tân-giáo dục được xem là một sự đoạn tuyệt về “triết học” với nhà trường cổ truyền, đặc biệt là nhà trường của thế kỉ 19, và tiếp tục có ảnh hưởng rất lớn về mặt “tư tưởng” tới nhà trường tiến bộ sau này.  John Dewey, sinh năm 1859, mất 1952, triết gia theo thuyết hành dụng (pragmatism), sau này ông phát triển con đường riêng là công cụ luận (instrumentalism), được coi là cha đẻ của trào lưu tân-giáo dục. Có thể lướt qua một số nét trong cốt lõi tư tưởng của tân-giáo dục qua tác phẩm có tính tuyên ngôn của John Dewey (xuất bản năm 1897) có nhan đề Tín điều sư phạm của tôi(My Pedagogical Creed):  –  Giáo dục là sự tham gia của cá nhân vào ý thức của chủng tộc. Quá trình này gồm hai mặt: mặt tâm lí và mặt xã hội, trong đó mặt tâm lí là cơ sở. Vì thế những gì trẻ em học đều có một điều kiện bắt buộc là phải mang tính xã hội. Nhà trường có nhiệm vụ chuẩn bị những điều kiện cho trẻ em tự mình tạo dựng kiến thức cho chính mình bằng toàn bộ các công cụ của chúng: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân … và công cụ quan trọng số một là tư duy. Để cho trẻ em phát triển hết tầm, sẵn sàng sử dụng mọi công cụ của mỗi em, đó chính là sự chuẩn bị đích thực cho cuộc sống tương lai.  –  Giáo dục thất bại là bởi vì nó coi nhẹ nguyên lý căn bản nói trên. Trường học không phải là nơi để người lớn dạy cho trẻ em các bài học, bài học kiến thức lẫn bài học luân lý, mà trường học là một hình thái của đời sống cộng đồng. Do đó, giáo dục là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đó.  – Nội dung của giáo dục hoặc chương trình học phải phản ánh sự phát triển của loài người. Vì thế nội dung phải mang tính tăng tiến. Tức là chương trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người.  –  Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em là những cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn, những người đã trưởng thành. Người thầy không phải là một vị quan tòa, một quyền uy độc đoán trong lớp học, mà người thầy là một thành viên của cộng đồng lớp học. Vì thế phương pháp sẽ là cái gì đó tự nhiên, không cản trở sự phát triển tự nhiên ở trẻ em, không thay thế trẻ em bằng những ông cụ non.  – Giáo dục là phương pháp căn bản của tiến bộ xã hội. Giáo dục là phương pháp cải tạo xã hội chắc chắn nhất.  Và đây là những câu kết luận của John Dewey:  – Mỗi người thầy nên nhận thức rõ phẩm giá nghề nghiệp của mình; rằng anh ta là một nô bộc xã hội được giao riêng nhiệm vụ duy trì trật tự xã hội thích hợp và đảm bảo sự phát triển xã hội đúng đắn.  – Theo cách này, người thầy mãi mãi là nhà tiên tri của Thượng đế đích thực và là người trợ giáo trong vương quốc đích thực của Thượng đế.  Gần một trăm năm đã trôi qua, Kinh nghiệm và giáo dục của John Dewey vẫn tiếp tục có sức sống. Con đường của ông cũ mà không cổ hủ bởi nó như tấm gương để ngày hôm nay chúng ta soi vào thấy hiện ra diện mạo đích thực của chính mình.  Con đường của Kinh nghiệm và giáo dục bắt đầu bằng:  “Con người ưa suy nghĩ theo những điều đối lập cực đoan. Con người có thói quen phát biểu niềm tin theo lối Hoặc này – Hoặc kia, giữa những lựa chọn đó con người không thừa nhận bất kỳ khả năng trung gian nào. Khi bị buộc phải thừa nhận rằng không thể làm theo những thái cực đó, con người vẫn sẵn sàng cho rằng chúng là chấp nhận được trên lý thuyết, song hoàn cảnh buộc chúng ta phải thỏa hiệp khi gặp phải những vấn đề thực tiễn.  Và kết thúc:  “Tôi hi vọng và tin rằng, tôi không ủng hộ bất kỳ mục đích hoặc phương pháp nào chỉ bởi vì có thể gắn cho nó cái tên “tiến bộ”. Vấn đề căn bản nằm ở bản chất của giáo dục mà không có những tính từ bổ nghĩa đứng ở trước. Điều chúng ta mong muốn và đòi hỏi là giáo dục phải được hiểu theo nghĩa thuần khiết và giản dị, và chúng ta nhất định sẽ tạo ra sự tiến bộ chắc chắn và nhanh chóng hơn nếu như dành toàn bộ nỗ lực vào việc tìm ra chỉ một điều này: giáo dục là gì và những điều kiện nào cần phải được thỏa mãn để giáo dục có thể trở thành một thực tế chứ không phải một cái tên gọi hoặc một khẩu hiệu.”  Ở Việt Nam, từ đầu những năm 1940, John Dewey đã được giới thiệu qua một bài báo của Vũ Đình Hòe trên tạp chí Thanh Nghị do ông làm chủ bút (Vũ Đình Hòe là bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Gần 70 năm sau, John Dewey được dịch sang tiếng Việt, đầu tiên là cuốn sách được coi là quan trọng nhất của ông: Dân chủ và giáo dục – một dẫn nhập vào triết lý giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch, nhà xuất bản Tri thức xuất bản năm 2008), và lần này là bản dịch độc giả đang cầm trên tay, Kinh nghiệm và Giáo dục. Chúng tôi hi vọng, qua bản dịch này, bài học được rút ra từ Kinh nghiệm và giáo dục của John Dewey có thể được lắng nghe bởi tất cả các nhóm quan điểm cải cách khác nhau trong sự nghiệp xây dựng giáo dục Việt Nam tại thời điểm khó khăn chưa từng thấy như hiện nay: làm ra một điều tích cực là chống tiêu cực mạnh mẽ nhất.  —  * Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ, DTBoooks và IRED ấn hành tháng 2/2012    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm tự chủ của giáo dục Thụy Điển      Với hệ thống phiếu thanh toán học phí trả tiền trực tiếp cho các trường theo số đầu học sinh thực tế, các trường học ở Thụy Điển đang được trao quyền tự chủ rất lớn, đồng thời cũng có nghĩa vụ phải luôn cải tiến để cạnh tranh lẫn nhau.&#160;     Mô hình Trường tự chủ   Những năm 1970, các trường công lập ở Thụy Điển đã trở thành công cụ của chính sách xã hội nhắm tới bình đẳng chứ không nhắm tới thành tích giáo dục. Chính sách một loại hình trường lớp cho mọi người đã tạo ra một hệ thống nguyên khối, trong đó tất cả học sinh đều được cho là có nhu cầu như nhau và được dạy theo cùng một cách. Ngoại trừ một vài trường tư thục, dành cho con em những gia đình có thể trả học phí cao, hầu như tất cả các trường đều là trường công lập. Mặc dù, nhà nước phúc lợi với những khoản thuế khóa cao hứa sẽ cung cấp một nền giáo dục tốt cho tất cả mọi người, trên thực tế, kết quả hoàn toàn ngược lại. Con em các gia đình không có truyền thống học tập – tức là con em công nhân hay trung lưu bậc thấp – có kết quả học tập kém nhất. Theo tất cả các thước đo kết quả giáo dục quốc tế, Thụy Điển đều đi xuống. Cuộc tranh luận chính trị rộng rãi hồi cuối những năm 1980 về nhu cầu cải cách giáo dục, trong đó có tự do lựa chọn trường lớp, đưa ra thông điệp rất rõ ràng: để cho phụ huynh giữ số tiền mà ngân sách địa phương dành cho việc học tập của con em họ, và để họ tự tổ chức hoạt động nhà trường một cách hiệu quả hơn. Ý tưởng phiếu thanh toán học phí (school voucher) được chính thức hóa từ năm 1992, dẫn đến sự ra đời của các trường tự chủ nhưng vẫn dùng tiền ngân sách của Nhà nước.  Phiếu này được địa phương thanh toán trực tiếp cho nhà trường, hoàn toàn dựa trên số học sinh đang theo học, giá trị của phiếu thay đổi theo mức chi phí sinh hoạt ở từng địa phương. Các trường tự chủ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận nhưng “phiếu thanh toán” là nguồn đầu tư duy nhất của họ, ngoài ra họ không được thu thêm bất kỳ khoản phí nào của học sinh, và không được quyền yêu cầu thêm chi phí từ chính phủ mà phải “tái phân phối” chi phí được cấp cho phù hợp với lựa chọn của học sinh và phụ huynh. Các trường tự chủ cũng không được phép sàng lọc đầu vào mà phải tiếp nhận mọi học sinh theo nguyên tắc ai đến trước được nhận trước.   Về cách thức tổ chức hoạt động, ngoài một số nội dung chương trình giảng dạy căn bản do Nhà nước quy định, các trường tự chủ được toàn quyền quyết định việc tổ chức chương trình và phương pháp giảng dạy. Nhà nước chỉ kiểm soát kết quả và chất lượng đầu ra của học sinh các trường. Như vậy, với nguồn thu không lớn hơn so với các trường công lập được bao cấp, trong khi vẫn bị kiểm soát về chất lượng sản phẩm đầu ra, các trường tự chủ chỉ có thể đứng vững nếu chất lượng đào tạo tương đương hoặc cao hơn so với các trường công lập được bao cấp.    Mô hình trường tri thức  Mô hình trường tri thức (Kunskapsskolan) là một đề xuất đổi mới giáo dục từ khu vực tư nhân với những nhà đầu tư quan niệm giáo dục có tiềm lực kinh tế mạnh. Từ ý tưởng hình thành cho đến cách thức tổ chức, công nghệ, phương pháp giảng dạy của những trường này đều hướng đến việc cá nhân hóa giáo dục, lấy học sinh (được tôn trọng như những cá nhân độc đáo, riêng biệt, có tiềm năng lớn) làm trung tâm của giáo dục. Tất cả các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn đều được hoạch định độc lập cho từng cá nhân học sinh, và được thường xuyên theo dõi, điều chỉnh nếu cần thiết. Các trường trong hệ thống hoạt động tương tác nhằm thường xuyên trao đổi phương pháp giảng dạy, để liên tục đổi mới, tạo ra một cách giảng dạy tốt, phù hợp và hiện đại nhất. Học sinh là người được hưởng lợi nhất từ những hoạt động hợp tác tích cực và mang tính chủ động của hệ thống này.  Nguồn đầu tư cho việc thành lập và duy trì hoạt động của trường đều từ các cá nhân. Theo số liệu của Peje Emilson (thành viên sáng lập mô hình), các nhà đầu tư đã bỏ khoảng 125 triệu SEK (khoảng 11 triệu bảng Anh) để xây dựng và phát triển hệ thống trường tri thức. Hoạt động với tư cách doanh nghiệp kinh doanh, nên hệ thống trường này chịu ảnh hưởng lớn từ các tác động của thị trường. Trường học thành công hay thất bại phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn của khách hàng – học sinh và phụ huynh.   Kết quả từ những mô hình mới  Trước năm 1991, chỉ có 1% số học sinh ở độ tuổi từ 6 đến 16 học trường dân lập, đến nay, con số này là 11%. Còn số học sinh từ 16 đến 18 tuổi theo học trường dân lập đã tăng từ 1% lên 23 %  vào năm 2011.   Xét về kết quả học tập thì học sinh trường tự chủ có điểm trung bình điểm thi các môn chính trong kì thi quốc gia luôn cao hơn các trường công lập. Đầu năm 2011, điểm trung bình của học sinh lớp 9, cả trường công lập và trường tự chủ là 211 (trên thang điểm tối đa là 320), nhưng riêng điểm của học sinh trường tự chủ là 229.   Hệ thống trường tự chủ cũng nhận được phản hồi tích cực qua các cuộc điều tra khảo sát. Đa số các phụ huynh, học sinh, và cả những người trực tiếp giảng dạy khẳng định họ thấy mãn nguyện hơn với các trường tự chủ. Điều đặc biệt đáng ghi nhận là ở tác động tích cực (ngoài dự tính) với mô hình cũ: các trường công lập buộc phải hoạt động tốt hơn do phải cạnh tranh với những thành tích và ưu thế ngày một rõ rệt của các trường tự chủ.  Hiện nay, hơn 60% các trường được tự chủ hoạt động như các công ty trách nhiệm hữu hạn sinh lợi.  Đối với hệ thống trường tri thức, sau một thời gian hoạt động, các trường này đã giành được vị thế đáng kể trong hệ thống giáo dục toàn quốc. Hệ thống này bắt đầu từ năm 2000 với con số là 5 trường phổ thông trung học, nhưng đến năm 2011 đã phát triển thành 33 trường. Theo số lượng được Peje Emilson, hệ thống trường này hiện có 10.000 học sinh và 800 nhân viên. Về kết quả học tập, đầu năm 2011, học sinh của trường thi tốt nghiệp lớp 9 với số điểm trung bình là 237, so với điểm trung bình của toàn quốc là 211, và của học sinh các trường tự chủ là 229. 15 trong số 21 trường được xếp hạng trường tốt nhất ở các địa phương về kết quả tốt nghiệp học sinh lớp 9.   Có một loạt tác nhân đằng sau thành công của mô hình trường tự chủ nói chung và mô hình trường tri thức nói riêng. Thứ nhất, mô hình phiếu thanh toán học phí đem lại cho phụ huynh các phương án để họ lựa chọn và khuyến khích các nhà trường phải cạnh tranh.    Ngoài ra còn có một đặc điểm quan trọng nữa, đó là động cơ thị trường. Nếu trường tự chủ có số học sinh theo học đông thì họ sẽ có lời và chỉ có chất lượng cao mới làm cho số người đăng kí học gia tăng mà thôi. Các trường tự chủ chỉ có thể bền vững và có lời nếu họ cung cấp được chất lượng cao hơn so với các trường công lập hiện có. Tổ chức nguồn lực một cách hợp lí, tỉ lệ giáo viên-học sinh và những tác nhân đầu vào khác có thể ảnh hưởng đến chi phí; nhưng trong dài hạn, nếu những tác nhân đó không tạo được sự hấp dẫn và không giúp nâng cao chất lượng học tập thì chúng cũng không thể nào tạo được những ngôi trường có lời.   Nếu không có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận – và đền bù cho những người sở hữu và người đầu tư vì những rủi ro thông qua cổ tức trả cho các cổ đông – đã không có các trường tự chủ có thành tích tốt hơn là những trường công lập. Không có quyền trở thành công ty có lợi nhuận, hệ thống các trường tri thức không thể phát triển được.     —-    (*) Những số liệu trong bài được lấy từ bài viết Động cơ lợi nhuận trong nền giáo dục Thụy Điển của tác giả Peje Emlison do Phạm Nguyên Trường dịch. Bài viết của Emilson nằm trong cuốn Động cơ lợi nhuận trong giáo dục: Cuộc cách mạng đang tiếp diễn do James B. Stanfield biên soạn,Viện Các vấn đề kinh tế (IEA) xuất bản tại Anh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế đi lên, đại học đi xuống      Giáo dục đại học của Ấn Độ không “bắt kịp” với sự phát triển của nền kinh tế khiến các trường đại học bị “lép vế” so với các doanh nghiệp trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.    Các trường ĐH ở Ấn Độ , từ ở Học viện Công nghệ IIT Ấn Độ (Indian Institutes of Technology) tinh hoa đến các trường cao đẳng kỹ thuật của địa phương, đang thiếu giáo viên nghiêm trọng. Nhiều trường chỉ có được 35% số giảng viên cần thiết, sinh viên phải học trong các giảng đường chật kín.  Nguyên nhân tình trạng này một phần do sự thành công của nền kinh tế. Từ khi Ấn Độ bỏ các chính sách bảo hộ công nghiệp, hàng triệu cơ hội việc làm đã được tạo ra. Không chỉ  lĩnh vực công nghệ thông tin, mà các ngành truyền thông, giải trí, thời trang, quảng cáo, du lịch và đầu tư tài chính cũng hút rất nhiều người giỏi mới ra trường. Lương giáo sư hàng đầu của IIT cũng không quá 15.000 USD/năm, trong khi một kĩ sư sau vài năm làm cho doanh nghiệp có thể có thu nhập gấp đôi số đó.   Do học phí của ĐH công lập Ấn Độ rất thấp và các trường này chỉ dựa vào nguồn tài chính của nhà nước nên mức lương của giảng viên chỉ tăng với tốc độ “rùa bò”. Thiếu người, giờ dạy phải tăng lên, giảng viên ĐH khó lòng theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu. Nghiên cứu giảm, công việc ở các trường ĐH, thậm chí cả ở các trường ĐH hàng đầu, càng trở nên kém sức hút. Kết quả là nhiều trường ĐH phải bằng lòng với đội ngũ giảng viên thiếu đào tạo. Một báo cáo của chính phủ gần đây cho biết, 57% giáo sư ở các trường ĐH của Ấn Độ không có bằng thạc sĩ khoa học (M.Phil), chưa nói gì đến tiến sĩ. Tình hình tồi tệ đến mức, tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã chỉ trích hệ thống đào tạo ĐH của Ấn Độ là “trục trặc”.  Chính phủ Ấn Độ từ lâu đã lo lắng về vấn đề chỉ có hơn 10% thanh niên Ấn Độ theo học ĐH; còn giảng viên ĐH thì nói học không hiểu các trường ĐH mới hoạt động thế nào khi mà 350 trường ĐH hiện có của Ấn Độ còn đang thiếu người.  “Tình hình trong tương lai sẽ còn tệ hơn nữa”- B.B. Bhattacharya, Hiệu phó trường ĐH Jawaharlal Nehru ở New Delhi nói – “Sinh viên giỏi thậm chí không thèm làm tiến sĩ các ngành kinh tế, luật, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật lý mà vào thẳng các tập đoàn.    “Thảm họa đang tới”  Một báo cáo của UB Quốc hội đã phác họa mức độ nghiêm trọng của sự khủng hoảng. 16 trường ĐH của liên bang – tức các trường tinh hoa – đang có gần 2.000 chỗ trống. Báo cáo nói rằng vấn đề của các trường ĐH lớn sẽ càng trở nên tồi tệ và “cần những bước chuyển mạnh mẽ để sinh viên không còn bị hổng kiến thức”.  Từ đó đến nay tình hình vẫn không thay đổi bao nhiêu. Ví dụ, tại trung tâm IIT ở New Delhi, vị trí giảng viên còn khuyết tới 29%. Trong một Lễ tốt nghiệp gần đây, Giám đốc IIT Ramamurthy đã phát biểu rằng đây là một “thảm họa đang tới” và”cần dốc lực lượng để giải quyết”.  Các trường ĐH nhỏ hơn là nơi phải chịu tình trạng thiếu hụt giảng viên nghiêm trọng nhất. Nhiều khoá trình bị dạy dở hoặc không được dạy. Tháng 6 vừa qua, một nhóm sinh viên năm thứ ba ở ĐH kỹ thuật Jalpaiguri ở Tây Bengal đã biểu tình tuyệt thực, tuyên bố họ không được chuẩn bị cho kỳ thi vì không có lớp cho họ trong suốt 6 tháng. Đáng lẽ nhóm sính viên này phải được 20 giáo sư dạy, song họ chỉ được một. Các nhà quản lý cố tuyển thêm, song nhận ra rằng không có đủ người đáp ứng được yêu cầu.  Để đối phó với tình trạng này, một vài trường ĐH đã sử dụng cử nhân trong các phòng thí nghiệm và giảng dạy. Đó là việc bình thường ở Mỹ, nhưng lại bị phản đối ở Ấn Độ. Một giáo sư cho biết, năm nay IIT, không chính thức, đã dùng cử nhân để giảng dạy. Nỗ lực chính thức hóa việc này đã thất bại vì bị các giáo sư khác phản đối. Họ cho rằng chỉ có những người làm tiến sĩ mới có thể giảng dạy. Cả giới giảng dạy và quản lý để nói rằng chế độ trả lương linh hoạt sẽ giải quyết được tình trạng trên. Hệ thống sau ĐH nổi tiếng quan liêu ở Ấn Độ xem các giáo sư, bất kể thiên tài ra sao, đều là những người “phục vụ dân”.  “Dù có đoạt 5 giải Nobel thì lương anh cũng không thể hơn một thư ký, khoảng 45.000 rupee/tháng (tương đương 1.120USD)” – CNR Rao, cố vấn khoa học của Thủ tướng nói. Nhưng một quan chức lại còn “oai” và có nhiều quyền lực hơn.  Vì hiệu quả làm việc không được coi trọng nên tất cả phó giáo sư, bất kể công bố bao nhiêu, đều có lương như nhau. “Phải có cách để đánh giá hiệu quả làm việc, và cơ chế này phải đổi mới” – T.A. Abinandanan, GS có 14 năm làm việc IIT ở Bangalore phát biểu.Giới quan chức nói chính và phương thức quản lý cho nghiên cứu cần phải cải thiện.  “ĐH của chúng tôi không có cái gì là “ngân sách nghiên cứu”, và tình trạng này cần phải thay đổi” – Rao phát biểu trong một hội thảo về KHCN, nơi ông chỉ trích mạnh mẽ mức chi của chính phủ cho hệ thống ĐH. Ủy ban Tri thức Quốc gia Ấn Độ, một cơ quan chuyên tư vấn, đã đề ra một số cải cách, trong đó có cả về việc tăng số giảng viên ĐH. Các khuyến nghị có thể là khích lệ các công ty tham gia vào hệ thống ĐH hay tăng học phí. Nếu có thêm nguồn thu nhập, các trường có thể tăng lương cho giảng viên.  Thủ tướng Ấn Độ  Singh đã phát biểu rằng ông ủng hộ cả việc doanh nghiệp tham gia đào tạo và tăng học phí, song vấn đề là chính phủ có dám thực hiện chính sách không có lợi về chính trị đó hay không. Báo cáo của Ủy ban Quốc hội thì gợi ý giữ chân giảng viên bằng “phụ cấp hấp dẫn và hỗ trợ các hoạt động học thuật” cho những ai có thành tích xuất sắc. Song tất cả những hỗ trợ đó sẽ do chính phủ thực hiện bởi các trường ĐH không được phép làm việc đó.  Thiếu hành động  Các biện pháp của chính phủ Ấn Độ để giảm bớt sự thiếu hụt trên hiện chỉ là kéo dài tuổi hưu cho giảng viên và cho phép một số ĐH hàng đầu tuyển giáo sư nước ngoài. Song trong khi nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu muốn ra nước ngoài làm việc để có lương cao hơn thì không hiểu biện pháp thuê giáo sư nước ngoài của Ấn Độ có thành hiện thực? Ông Misra ở IIT Bombay cho biết, một số giáo sư Ấn Độ định cư ở nước ngoài tỏ ra quan tâm, song không rõ sẽ có bao nhiêu người về mà chấp nhận mức lương hiện nay.  Ủy ban Kinh phí Đại học của Ấn Độ gần đây đã đề nghị tăng học bổng tiến sĩ để giữ họ lại trường. IIT cũng tăng tỷ lệ thù lao cho giáo sư khi họ tư vấn cho doanh nghiệp. Thêm nữa, nhiều doanh nghiệp và hội cựu sinh đã tài trợ cho các nghiên cứu của trường ĐH, khiến công việc trong trường hấp dẫn hơn. Song các trường ĐH cấp nhà nước và bang lại lo ngại sẽ bị chính phủ cắt tài trợ nếu tự gây quỹ riêng. “Nếu tôi gây quỹ tài trợ từ doanh nghiệp, giả sử là 100.000 rupee, chính phủ sẽ cắt một số khoản kinh phí hỗ trợ”- Deepak Pental, hiệu phó ĐH Delhi phát biểu. Ông cho rằng vấn đề thiếu hụt giảng viên là do các trường ĐH là do cơ chế quan liêu. “Chúng tôi không đến mức quá thiếu tiền, mà phần lớn do sự ỳ ạch của chúng tôi”.  TRẦN ANH (theo The Chronicle of Higher Education)    ————  CHÚ THÍCH ẢNH: Khối kinh tế hút hết người giỏi của khối đại học Ấn Độ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế, toán học và tuyển sinh      Những thành tựu của Alvin Roth và Lloyd Shapley (hai đồng chủ nhân giải Nobel Kinh tế 2012) có thể được ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam như thế nào, từ việc thiết kế cơ chế điều phối hiến tặng nội tạng đến cơ chế tuyển sinh?    Xu hướng áp dụng những thành tựu toán học trong nghiên cứu kinh tế đã có lịch sử lâu đời, và đặc biệt nổi bật trong khoảng mấy chục năm gần đây. Để minh họa nhận định đó, xin điểm qua một số giải Nobel Kinh tế mà người được giải là nhà toán học, hoặc những phương pháp toán học đóng vai trò chủ yếu trong thành tựu của giải:      – Năm 1975, L. Kontorovich – nhà toán học Nga – nhận giải nhờ những nghiên cứu trong lý thuyết tối ưu, cụ thể là vấn đề phân bổ nguồn lực một cách tối ưu.     – Năm 1994, nhà toán học Mỹ J. Nash cùng với J. Harsanyi và R. Selten được trao giải nhờ những kết quả về cân bằng trong trò chơi bất hợp tác.     – Năm 2005, R. Aumann, Th. Schelling được vinh danh nhờ những nghiên cứu về xung đột và hợp tác trong lý thuyết trò chơi.     – Năm 2007, L. Hurwicz, E. Maskin, R. Myerson, bằng công cụ toán học xây dựng nên cơ sở cả lý thuyết thiết kế cơ chế.     – Năm 2012, A. Roth và L. Shapley, dựa trên những nghiên cứu về thuật toán chấp nhận trì hoãn đã đưa ra và kiểm nghiệm trên thực tế Lý thuyết phân phối ổn định và thiết kế thị trường.     Ngoài ra còn có thể kể đến những giải Nobel Kinh tế khác mà trong đó những phương pháp toán học đóng vai trò chính yếu: G. Debreu (1983 – Lý thuyết cân bằng tổng quát); V. Smith (2002 – Phân tích thực nghiệm trong nghiên cứu thị trường), R. Engle (2003 – Phân tích chuỗi thời gian).     Dưới đây, chúng tôi chủ yếu trình bày những thành tựu của Roth và Shapley, đồng thời đề xuất một số khả năng ứng dụng của những nghiên cứu đó vào thực tiễn Việt Nam.     Đây không phải là những nghiên cứu mới của tác giả, mà chỉ là giới thiệu một số thành tựu mới cho những độc giả không chuyên.     Chi tiết hơn có thể tìm thấy trong những tài liệu liệt kê ở phần Tài liệu tham khảo.      Tiền đề thực tiễn của lý thuyết Roth và Shapley     Trong kinh tế, nhiều vấn đề được giải quyết bằng hệ thống giá cả. Tuy nhiên, cũng có nhiều lĩnh vực mà cơ chế giá cả không thể giải quyết trọn vẹn vấn đề, nhất là khi đụng chạm đến phạm trù đạo đức. Ví dụ như việc hiến tặng nội tạng, hay phân phối học sinh vào các trường công lập. Đặc điểm chung của những lĩnh vực đó là các “sản phẩm” không hoàn toàn đồng nhất, hoặc thị trường rất “mỏng”.     Năm 1984, Roth nghiên cứu thị trường tuyển dụng bác sĩ mới ra trường ở Mỹ. Cho đến trước những năm 1940, thị trường này còn “mỏng” và không tập trung. Thời gian sau đó bắt đầu chứng kiến sự bùng nổ của thị trường, dẫn đến hiện tượng tắc nghẽn. Để có thể tuyển dụng được, các bệnh viện phải đưa ra những quyết định tuyển người rất sớm, vì nếu từ chối ứng viên nào đó, rất có thể là đã quá muộn để có một ứng viên khác nộp đơn. Tình hình đó buộc các bệnh viện đưa ra những thời hạn chót cho ứng viên rất gấp. Điều này kéo theo việc sinh viên phải nhận chỗ làm tương lai thậm chí ngay từ khi chưa quyết định mình sẽ theo chuyên ngành gì.      Tình hình tương tự cũng được quan sát thấy ở các nước khác như Anh và Canada.     Để giải quyết tình trạng trên, khoảng những năm 1950 ở Mỹ đã thành lập những trung tâm điều phối, nhằm giúp cho thị trường bác sĩ mới tránh được hiện tượng “tắc nghẽn”. Năm 1984, Roth phát hiện ra rằng, thuật toán mà các trung tâm điều phối ở Mỹ áp dụng thực chất gần với thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale và Shapley, xây dựng trong một bài báo đăng trên tạp chí American Mathematical Monthly năm 1962.      Một hiện tượng khác cho thấy sự cần thiết phải có thuật toán điều phối tương tự là vấn đề tuyển sinh vào các trường công lập ở New York. Học sinh có thể chọn trường mình muốn theo học, nhà trường có thể ưu tiên theo những tiêu chí riêng của họ, như học lực, khả năng thể thao, văn nghệ,… Cho đến trước năm 2003, việc phân phối học sinh vào các trường theo nguyên tắc sau: mỗi học sinh đưa ra năm nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên, các trường lấy từ trên xuống cũng theo thứ tự ưu tiên của họ. Nếu học sinh nào mà cả năm nguyện vọng đều không được thỏa mãn (hết chỗ) thì buộc phải theo sự sắp xếp của thành phố. Quy tắc này giống với cách tuyển sinh đại học (theo thứ tự điểm) áp dụng hiện nay ở Việt Nam. Tạm gọi đó là thuật toán chấp nhận tức khắc. Theo quy tắc này, hằng năm ở New York có khoảng 30.000 học sinh không được theo học ở trường nào trong năm trường có nguyện vọng.     Roth phát hiện ra rằng, những vấn đề nêu trên đối với thị trường bác sĩ cũng như tuyển sinh, và nhiều vấn đề khác của thực tiễn có thể giải quyết nhờ thuật toán chấp nhận trì hoãn.      Thuật toán chấp nhận trì hoãn     Những vấn đề của thị trường bác sĩ và tuyển sinh có nét chung: đó là cần đến sự “ghép cặp” (giữa nhà tuyển dụng và ứng viên, giữa học sinh và nhà trường). Việc ghép cặp này phải bảo đảm ba yêu cầu:                             David Gale (trái) và Lloyd Shapley, hai đồng tác giả của thuật toán chấp nhận trì hoãn được công bố lần đầu vào năm 1962.             – Ổn định: không xảy ra “nguyện vọng chéo”, tức là không xảy ra việc ứng viên A muốn vào X thì bị ghép vào Y, ngược lại ứng viên B muốn vào Y thì bị ghép vào X. Nếu có tình trạng đó, các ứng viên sẽ có nguyện vọng trao đổi, và hệ thống mất ổn định.     – Khuyến khích sự thành thật: các ứng viên cần đưa ra thứ tự ưu tiên thật sự của mình. Thuật toán cần đảm bảo sao cho sự thành thật làm lợi cho ứng viên, tránh tình trạng người gian dối được hưởng lợi.     – Thuật toán phải đơn giản, dễ áp dụng.     Điều đáng ngạc nhiên là một thuật toán đáp ứng cả ba yêu cầu đó đã được hai nhà toán học Gale và Shapley đưa ra năm 1962 ([3]), nhưng chính các tác giả không hề biết về khả năng áp dụng thuật toán.     Thuật toán chấp nhận trì hoãn (deferred acceptance algorithm) có thể mô tả như sau.     Xét một thị trường hai phía, gồm nhà tuyển dụng và ứng viên (ví dụ nhà trường và sinh viên). Các trường và sinh viên gửi danh sách thứ tự ưu tiên của mình đến một trung tâm thông tin.     Bước 1: Trung tâm xếp các sinh viên vào các trường theo “nguyện vọng 1” của họ. Các trường nhận (tạm thời) theo thứ tự ưu tiên. Khi đã đủ số cần thiết, những ứng viên còn lại bị từ chối.     Quá trình trên được lặp lại, cụ thể là:     Ở bước thứ k, mỗi sinh viên bị từ chối ở các bước 1 đến k-1 sẽ được đưa vào trường tiếp theo trong danh sách các nguyện vọng của sinh viên đó. Các trường sẽ lại xét theo danh sách mới (bao gồm các sinh viên đã được chấp nhận tạm thời ở những bước trước và những sinh viên vừa được đưa vào) và đưa ra danh sách chấp nhận tạm thời mới. Những sinh viên còn lại bị từ chối.     Quá trình kết thúc khi không còn đơn nhập học nào bị từ chối, hoặc khi chỉ còn lại những sinh viên đã bị từ chối ở tất cả các bước.     Có thể minh họa thuật toán một cách đơn giản như sau (theo cách trình bày của Shapley).  Giả sử có bốn chàng trai Adam, Bob, Charlie và Don, cùng “theo đuổi” ba cô gái Mary, Jane và Kate.     Thứ tự ưu tiên của các chàng trai được cho bởi bảng sau đây:                Adam      Bob      Charlie      Don          Mary      Jane      Mary      Mary          Jane      Mary      Kate      Kate          Kate      Kate      Jane      Jane            Thứ tự ưu tiên của các cô gái:            Mary      Jane      Kate          Adam      Adam      Don          Bob      Charlie      Charlie          Charlie      Don      Bob          Don      Bob      Adam            Ngày thứ nhất, các chàng trai cầu hôn các cô gái mà mình thích nhất. Trong những người đến cầu hôn, mỗi cô gái chấp nhận (tạm thời) người đứng thứ tự cao nhất trong bảng ưu tiên của mình, từ chối những người còn lại.     Các chàng trai bị từ chối sẽ tiếp tục cầu hôn cô gái thứ hai trong “bảng ưu tiên”. Các cô gái sẽ xét những lời cầu hôn mới, kết hợp với người đã “lựa chọn tạm thời” để chấp nhận (vẫn chỉ là tạm thời) người có thứ tự cao nhất trong bảng ưu tiên.     Quá trình tiếp tục cho đến khi những chàng trai chưa được ghép cặp đã bị từ chối bởi tất cả các cô gái.      Với trường hợp cụ thể trên đây, quá trình diễn ra như sau:                        Ngày 1      Ngày 2      Ngày 3      Ngày 4      Ngày 5          Mary      Adam (Charlie và Don bị từ chối)      Adam (không có lời cầu hôn mới)      Adam (không có lời cầu hôn mới)      Adam (từ chối Bob)      Adam   (không có lời cầu hôn mới)          Kate      Không có lời cầu hôn nào      Don (Charlie bị từ chối)      Don (không có lời cầu hôn mới)      Don (không có lời cầu hôn mới)      Don (Bob   bị từ chối)          Jane      Bob      Bob (không có lời cầu hôn mới)      Charlie (Bob bị từ chối)      Charlie (không có lời cầu hôn   mới)      Charlie   (không   có lời cầu hôn mới)          Như vậy, với Thuật toán chấp nhận trì hoãn, kết quả “ghép cặp” sẽ là: Mary-Adam; Kate-Don; Jane-Charlie.   Gale và Shapley đã chứng minh chặt chẽ về mặt toán học những kết luận sau đây:     – Thuật toán kết thúc sau hữu hạn bước, và cho một lời giải ổn định     – Lời giải là tốt nhất có thể đối với các chàng trai. Nếu các cô gái được chủ động kén rể, thì kết quả sẽ tốt nhất cho các cô gái. Trong ví dụ trên đây, kết quả ghép cặp không thay đổi, tuy nhiên trong trường hợp tổng quát, kết quả có thể sẽ khác. Tức là, thuật toán nhằm ưu tiên quyền lợi cho “ứng viên”.      – Thuật toán áp dụng được cho cả những trường hợp số chàng trai và số cô gái khác nhau.  Cho đến những năm 1970, thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale và Shapley chỉ có ý nghĩa lý thuyết.      Lý thuyết thiết kế thị trường     Alvin Roth là người phát hiện ra khả năng ứng dụng to lớn của thuật toán chấp nhận trì hoãn. Roth chỉ ra rằng quan điểm “ổn định” giúp ta hiểu được khi nào thị trường hoạt động tốt, khi nào thì không. Cùng với các cộng sự, Roth đã kết hợp giữa những nghiên cứu thực tế với những thí nghiệm kiểm soát được trong phòng thí nghiệm, với việc sử dụng tương tự trên máy tính để kiểm tra cơ chế hoạt động của thị trường. Họ đã hoàn thiện và phát triển thuật toán của Gale và Shapley, áp dụng chúng để đề xuất những cơ chế giúp thị trường hoạt động tốt hơn. Những nghiên cứu này đã tạo nên một lĩnh vực mới trong kinh tế, được gọi là thiết kế thị trường. Trong lý thuyết của mình, Roth sử dụng cả những thành tựu của lý thuyết trò chơi hợp tác và bất hợp tác.      Từ năm 2003, những phương án do Roth và các cộng sự đề xuất cũng được áp dụng vào việc tuyển sinh của các trường công lập ở New York. Kết quả thật ấn tượng: con số khoảng 30.000 học sinh không được học đúng nguyện vọng hằng năm giảm xuống còn khoảng 3.000. Nhiều thành phố khác cũng bắt đầu áp dụng thuật toán đó, chẳng hạn Boston bắt đầu áp dụng từ 2005.     Những nghiên cứu về thiết kế thị trường của Roth cũng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước khác, như Anh, Canada, Nhật, vì những vấn đề đặt ra ở đó là hoàn toàn tương tự.     Những công trình về thiết kế thị trường của Roth và Shapley không chỉ liên quan đến những thị trường hai phía, mà còn cả những thị trường một phía. Năm 1974, Shapley và Scarf nghiên cứu những thị trường một phía, trong đó người tham gia có những tài sản nào đó (chẳng hạn những lô đất) mà họ muốn trao đổi với nhau không thông qua việc trả tiền. Mô hình này còn được cải tiến cho trường hợp có những người tham gia mà không có tài sản gì! Shapley và Scarf chứng minh rằng, thuật toán chu trình thương mại hàng đầu (top-trading cycle algorithm) của Gale sẽ đưa ra được một phân phối ổn định. Có thể mô tả thuật toán đó như sau.     Xét một tập hợp những đối tượng tham gia trao đổi. Ta vẽ một mũi tên xuất phát từ mỗi đối tượng A và đi đến đối tượng B đang nắm giữ tài sản mà A thích nhất. Làm như vậy, về mặt toán học, ta được một đồ thị hữu hạn có hướng. Trong mỗi đồ thị như vậy đều tồn tại ít nhất một chu trình. Khi đó những đối tượng nằm trong chu trình sẽ trao đổi với nhau, và họ được loại ra ngoài hệ thống. Quá trình tiếp tục cho đến khi không còn đối tượng nào. Roth và Postlewaite (1977) chứng minh rằng tồn tại duy nhất một phân phối ổn định.     Thuật toán trên đây được áp dụng rất hiệu quả ở Anh trong vấn đề điều phối việc hiến tặng nội tạng. Ví dụ, một người nào đó muốn hiến thận cho người thân của mình, nhưng nhóm máu của họ không hợp. Khi đó, họ sẵn sàng hiến cho người khác, với điều kiện người thân của mình nhận được quả thận thích hợp. Nếu chỉ có hai cặp như vậy chỉ cần tiến hành bốn ca mổ đồng thời. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp hơn nhiều nếu không tìm ngay được một cặp thích hợp. Điều này dẫn đến việc phải thành lập những trung tâm điều phối, hoạt động trên cơ sở thuật toán vừa mô tả.      Kết luận     Giải Nobel 2012 của Roth và Shapley là thành tựu của việc kết hợp giữa lý thuyết toán học (thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale-Shapley và thuật toán chu trình thương mại hàng đầu của Gale) với những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thực tiễn thị trường (Roth và các cộng sự). Điều này một lần nữa minh chứng cho tiềm năng ứng dụng của những nghiên cứu toán học trừu tượng, và những thành tựu đạt được với sự phối hợp những nghiên cứu đa ngành, một xu hướng tất yếu của khoa học hiện đại.     Sự đơn giản và hiệu quả của thuật toán chấp nhận trì hoãn cho chúng ta hy vọng có thể tìm thấy những ứng dụng của nó trong thực tiễn Việt Nam. Ví dụ như trong việc thiết kế cơ chế tuyển sinh thế nào cho phù hợp với xã hội; thiết kế cơ chế hoạt động của Trung tâm Điều phối hiến tặng nội tạng được thành lập cách đây không lâu.     Cũng cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn luôn đặt ra rất nhiều vấn đề phải giải quyết, và thị trường Việt Nam chắc chắn không giống với thị trường của bất kỳ nước nào. Vì thế, những thành tựu của Roth và Shapley, nếu có thể ứng dụng vào Việt Nam, chắc chắn cần nhiều cải tiến cho phù hợp.     Viết thêm     Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương dùng kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển đại học, tôi cùng với TS Phan Huy Phú (trường ĐH Thăng Long) đã đề xuất một phương án tuyển sinh dựa trên thuật toán chấp nhận trì hoãn, có một số cải tiến để phù hợp với điều kiện Việt Nam. Với phương án này, mỗi thí sinh chỉ cần đưa một danh sách nguyện vọng của mình theo thứ tự ưu tiên, mà không cần quan tâm đến kết quả thi của các thí sinh khác. Các trường có thể đưa ra những ưu tiên xét chọn phù hợp với trường mình (điểm thi, năng khiếu, hình thể,…) Vấn đề còn lại là máy tính sẽ sắp xếp sao cho mỗi thí sinh có thể vào trường cao nhất theo thứ tự ưu tiên, tùy thuộc vào điểm thi và những điều kiện khác của bản thân.     Phương án này đã được trường ĐH Thăng Long trình lên Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 10/2014; cùng với một thử nghiệm trên máy tính. Mô hình thử nghiệm được xây dựng trên giả định có một triệu thí sinh (gần với con số thực tế), và thuật toán cho kết quả “xét tuyển” ổn định sau hai giờ chạy máy.    ———————–  TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] I. Ashlagi and A. Roth. New challenges in multi-hospital kidney exchange. American Economic Review, 102, 2012, pp. 354-359.  [2] R.J. Aumann and L.S Shapley. Values of non-atomic games. Princeton Univ. Press, 1974.  [3] D. Gale and L. S. Shapley. College admissions and the stability of marriage. American Mathematical Monthly, 69, 1962, pp.9-15.  [4] A. Roth. The economics of matching: stability and incentives. Mathematics of Operations Research, 7, 1982, pp. 617-628.  [5] A. Roth. What have we learned from market design? Economic Journal, 118, 2008, pp. 285-310.  [6] A. Roth. Deferred acceptance algorithm: History, theory, practice, and open question. International Journal of game theory, 36, 2008, pp. 537-569.  [7] Stable allocations and the practice of market design. Economic Science Prize Committee of the Royal Swedish Academy of Sciences., 2012., 44 p.   Đọc thêm:  Không thể quay lại kiểu thi cũ  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=9157http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=9157      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ thi quốc gia: Đúng hướng, nhưng vẫn vướng!      Có thể thấy những thay đổi khá mạnh dạn, thậm chí mang tính cách mạng, trong phương án thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2015 mà Bộ GD&amp;ĐT vừa chính thức công bố. Nhưng bên cạnh đó, dường như vẫn có những kịch bản chưa được tính đến đầy đủ để có giải pháp phù hợp.    Những thay đổi có tính cách mạng và đúng hướng  Sau thời gian dài bàn bạc, tham khảo ý kiến chuyên gia và thăm dò dư luận quần chúng, ngày 9/9 vừa qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố phương án chính thức cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2015. Đây là lần đầu tiên kỳ thi này được sử dụng với mục đích kép, vừa công nhận tốt nghiệp vừa sử dụng làm một căn cứ quan trọng để tuyển sinh vào đại học.   Theo phương án thi mà Bộ vừa công bố, có thể thấy những thay đổi trong kỳ thi THPT năm 2015 là khá mạnh dạn, thậm chí có những thay đổi mang tính cách mạng. Sử dụng chung kết quả của một kỳ thi cho cả hai mục đích tốt nghiệp và tuyển sinh sẽ làm giảm áp lực đối với học sinh, đồng thời cũng giảm các chi phí hữu hình và vô hình của toàn xã hội – một điều mà cả xã hội đã lên tiếng từ nhiều năm nay. Đưa môn ngoại ngữ vào danh sách các môn thi bắt buộc cũng là một việc làm rất cần thiết, chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ ở bậc đại học, phù hợp với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng của đất nước. Quan trọng hơn, lần đầu tiên trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, vai trò chủ động của người học đã được nhìn nhận khi thí sinh được trao quyền lựa chọn môn thi tốt nghiệp, dù quyền lựa chọn này hiện nay vẫn còn hạn chế.           Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ cần cấp cho học sinh đã học xong chương trình lớp 12 nhưng không có nhu cầu vào đại học một tờ giấy chứng nhận hoàn tất chương trình THPT (có thể phân quyền cho các sở). Khi nào các em có ý định đi học đại học thì lúc ấy các em sẽ đăng ký thi tốt nghiệp sau cũng không muộn.           Vể mặt kỹ thuật, việc xây dựng bài thi cũng có nhiều đổi mới. Theo thông tin chính thức từ Cục Khảo thí, đề thi năm 2015 sẽ tiếp tục hướng đi đã được bắt đầu từ kỳ thi năm 2014 là chú trọng đánh giá năng lực người học, tăng các câu hỏi ở các mức độ nhận thức cao hơn là chỉ nhận biết kiến thức, tăng các câu hỏi mở để đánh giá khả năng vận dụng và sáng tạo. Những câu hỏi này nhằm phân hóa học sinh và giúp các trường đại học có thể dựa vào đó để lựa chọn được các thí sinh phù hợp với yêu cầu đào tạo của nhà trường. Mặt khác, bài thi vẫn duy trì phần cơ bản mà thí sinh chỉ cần làm được hết phần đó là đạt được yêu cầu tốt nghiệp. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu giảm áp lực thi cử cho thí sinh cũng như toàn xã hội.   Mặc dù ngay lúc này vẫn còn quá sớm để đưa những ra nhận định chính xác, nhưng rõ ràng đã có một số dấu hiệu về tác động của việc đổi mới thi cử đối với việc dạy và học ở trường phổ thông. Học sinh lớp 12 đã bắt đầu có ý thức đầu tư vào những môn học mà mình yêu thích và có thế mạnh để có thể xét vào trường đại học theo khối thi mà mình muốn, theo tinh thần “học cho mình”. Thầy cô giáo dạy Văn bắt đầu chú trọng cho học sinh làm những đề mở và sáng tạo hơn. Trong khi đó, các trường chuyên bắt đầu lo lắng về khả năng bị giảm học sinh trong tương lai, do cách tuyển sinh đại học từ năm 2015 làm cho những lợi thế của học sinh trường chuyên giảm đi rất nhiều so với trước đây. Nói vắn tắt, kỳ thi quốc gia phản ánh những thay đổi sâu sắc trong quan điểm của những nhà lãnh đạo và quản lý giáo dục, và ta có quyền hy vọng rằng con tàu giáo dục của Việt Nam đang bắt đầu đi đúng hướng.  Lúng túng hai cụm thi  Mặc dù có nhiều ưu điểm trên những nét lớn, nhưng kỳ thi quốc gia vẫn còn một số điều gây băn khoăn và tranh cãi trong cách tổ chức. Nổi cộm nhất có lẽ là sự tồn tại của hai loại cụm thi – cụm thi của các trường đại học và các cụm thi của các sở giáo dục. Theo phương án do Bộ công bố, cụm thi của các sở (cụm thi địa phương) là dành cho thí sinh không có nguyện vọng vào đại học. Việc phân loại đối tượng để xếp vào hai loại cụm thi khác nhau dựa trên việc thí sinh có hoặc không có nguyện vọng vào đại học đã tạo ra một sự bất bình đẳng về đẳng cấp giữa hai loại cụm thi này. Đã có các trường đại học ngay lập tức tuyên bố sẽ “nói không với các thí sinh thi ở cụm thi của sở”1. Trong khi đó, theo nguyên tắc thì trong cùng một kỳ thi không thể có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào đối với thí sinh thi ở cụm này hay cụm khác.  Sự phân biệt hai loại cụm thi khác nhau đang tạo ra một tình trạng không thể chấp nhận là tấm bằng tốt nghiệp THPT của các học sinh khác nhau sẽ có giá trị khác nhau, dựa trên việc người cầm tấm bằng ấy đã đăng ký dự thi ở cụm thi nào. Chỉ tấm bằng tốt nghiệp của những người đã thi ở cụm thi của trường đại học mới có giá trị xét tuyển vào đại học. Trả lời về sự không công bằng giữa hai thí sinh thi ở hai loại cụm thi khác nhau, lãnh đạo Cục Khảo thí cho rằng điều này cũng chỉ giống như trước đây có những thí sinh có bằng tốt nghiệp nhưng không nộp đơn thi vào đại học mà thôi2. Thực ra thì hai điều này không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể tạm chấp nhận. Tuy nhiên có một điều mà Bộ chưa làm rõ, đó là tấm bằng tốt nghiệp của các em đã thi ở cụm thi của sở sẽ được nhìn nhận ra sao vào những năm sau. Liệu có thể xảy ra tình trạng tấm bằng của những thí sinh đã thi ở cụm thi của địa phương sẽ mãi mãi không bao giờ được công nhận để xét tuyển vào đại học? Và nếu tình trạng này xảy ra, thì có nghĩa là chúng ta đang có hai loại bằng tốt nghiệp khác nhau (mặc dù hoàn toàn giống nhau về hình thức, tên gọi, cùng dựa trên một kỳ thi chung với cùng một bộ đề thi). Những em đã dự thi tốt nghiệp ở cụm thi của sở khi muốn vào đại học ắt hẳn sẽ lại phải thi tốt nghiệp ở cụm thi của một trường đại học để được công nhận. Như vậy, việc dự thi tốt nghiệp ở cụm thi của sở gần như chỉ là một thủ tục để xác nhận việc hoàn tất chương trình trung học phổ thông chứ không có giá trị gì khác. Trong trường hợp đó, Bộ chỉ cần cấp cho học sinh đã học xong chương trình lớp 12 nhưng không có nhu cầu vào đại học một tờ giấy chứng nhận hoàn tất chương trình THPT (có thể phân quyền cho các sở). Ý tưởng này đã được nhiều người nêu ra trước đây, và không phải là không có lý. Khi nào các em có ý định đi học đại học thì lúc ấy các em sẽ đăng ký thi tốt nghiệp sau cũng không muộn. Chẳng cần bắt các em đi thi ngay năm vừa hoàn tất lớp 12 (nhưng chưa có ý định vào đại học) để khỏi tốn kém, và quan trọng hơn là còn tạo ra tình trạng hỗn loạn trong đó cùng một tấm bằng giống nhau lại có thể có giá trị khác nhau. Thời gian tới, Bộ cần có những quyết định dứt khoát về hai loại cụm thi khác nhau, và thông báo đầy đủ và rộng rãi cho mọi người được biết trước khi thực sự triển khai – một thời gian không còn dài nữa.     ———  1 http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/198711/dh—noi-khong—voi-thi-sinh-o-cum-thi-so.html   2 http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/198513/bo-lo—boc-suon—so-ho-ky-thi-quoc-gia.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ thi quốc gia hai trong một: Những bất cập mang tính kỹ thuật      Bài viết dưới đây, thảo luận hai thay đổi lớn và gây nhiều tranh cãi của kỳ thi quốc gia trong vòng bốn năm qua: sáp nhập kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và tuyển sinh đại học làm một và chuyển hình thức thi tất cả các môn (trừ môn Văn) sang trắc nghiệm.      Thí sinh kỳ thi THPT quốc gia 2018. Nguồn ảnh: Soha.  Một đề thi có thể đạt được hai mục đích?  Trong nhiều năm, hai kỳ thi quốc gia bao gồm tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học được tổ chức độc lập, tiếp nối nhau thường cách nhau khoảng 2 tháng. Kể từ năm 2015, Bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã ghép hai kỳ thi này vào làm một, tức là tổ chức 1 kỳ thi tốt nghiệp THPT và sử dụng kết quả bài thi này để tuyển sinh đại học. Đây là một trong những thay đổi lớn nhất trong công cuộc cải cách thi cử nói riêng và giáo dục nói chung. Dù đã trải qua bốn kỳ thi ghép, việc có nên và có thể ghép hai kỳ thi này vào một bài thi vẫn gây nhiều tranh cãi.  Theo lý thuyết khảo thí, tùy vào mục đích và tính chất của đánh giá mà đề thi có thể là một trong hai dạng quy chiếu nhóm chuẩn (norm-referenced) hoặc quy chiếu tiêu chí (criteria-referenced). Về bản chất, kỳ thi tốt nghiệp THPT không nhằm so sánh năng lực hay kiến thức của các thí sinh với nhau mà chỉ đánh giá thí sinh có đạt hay không đạt một ngưỡng chuẩn, nên đây là kỳ thi thuộc dạng quy chiếu tiêu chí. Trong khi đó kỳ thi tuyển sinh đại học với mục đích đánh giá sự khác biệt về năng lực, kiến thức của thí sinh để tuyển chọn đầu vào các trường đại học, đòi hỏi tính phân loại cao, đây là đánh giá quy chiếu nhóm chuẩn. Có thể diễn giải một cách đơn giản, đề thi tốt nghiệp cần có độ khó ở mức trung bình, còn đề thi đại học cần phân loại học sinh và do vậy độ khó cần phải ở mức cao. Do tính chất và mục đích của hai kỳ thi này khác nhau, việc ghép chúng vào một bài thi là khiên cưỡng và có thể gây ra nhiều hệ luỵ.  Trên thực tế rất khó thiết kế đề thi sao cho đảm bảo cùng lúc thực hiện được mục tiêu của hai kỳ thi và kiểm soát mức độ khó của đề thi theo thiết kế này. Kết quả kỳ thi quốc gia 2017 cho thấy đề thi các môn quá dễ, điểm 10 tràn lan, dẫn tới độ phân loại rất thấp, khiến việc tuyển sinh vào đại học kém hiệu quả. Ngược lại, kỳ thi 2018 vừa kết thúc, dù chưa có kết quả thi, các đề thi đều được đánh giá là quá khó, quá dài, và một số môn sẽ hiếm có điểm tuyệt đối. Mức độ khó cao rõ ràng gây áp lực không nhỏ và tiêu cực về tâm lý cho thí sinh và phụ huynh nói chung. Nghiêm trọng hơn, đề thi tốt nghiệp quá khó gây thêm bất lợi cho nhóm học sinh yếu thế, đặc biệt những học sinh ở nông thôn và miền núi, có thể làm gia tăng bất bình đẳng trong giáo dục.      Đề thi tốt nghiệp cần có độ khó ở mức trung bình, còn đề thi đại học cần phân loại học sinh và do vậy độ khó cần phải ở mức cao. Do tính chất và mục đích của hai kỳ thi này khác nhau, việc ghép chúng vào một bài thi là khiên cưỡng và có thể gây ra nhiều hệ luỵ.      Ngoài ra, việc đánh giá sơ bộ đề thi dựa trên kết quả thi thông qua xem xét phổ điểm cũng hầu như không hiệu quả. Đối với bài thi quy chiếu tiêu chí, phổ điểm không tuân theo phân bố chuẩn hình chuông (bell curve). Do vậy, phổ điểm của các bài thi tốt nghiệp sẽ chủ yếu lệch đuôi (skewed) về nửa bên trái của thang điểm (trong khoảng từ 5 đến 10 điểm) nếu điểm 5 là điểm đạt yêu cầu, tức là phần lớn thí sinh sẽ có điểm từ 5 trở lên. Trái lại, với kỳ thi tuyển sinh đại học, nếu đề thi chuẩn, điểm thi sẽ tuân theo quy luật phân bố chuẩn.  Việc ghép hai kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học vào một bài thi khiến cho việc xem xét, phân tích phổ điểm không thể thực hiện theo các nguyên tắc thông thường. Có thể suy luận rằng nếu đề thi tốt, tức là có thể phục vụ được cả hai mục đích xét tốt nghiệp và xét tuyển đại học thì kết quả sẽ có thể là hình chuông tương đối chuẩn nhưng nằm lệch về nửa bên phải của dải điểm và có thể thấy khoảng phân loại giảm chỉ còn ½, đồng nghĩa với đó là mức độ có thể phân loại học sinh sẽ nhỏ đi. Việc thiết kế câu hỏi thi với chênh lệch độ khó nhỏ và độ phân loại cao là không đơn giản bởi lẽ không phải cứ độ khó cao thì dẫn tới độ phân loại cao. Với năng lực và kinh nghiệm khảo thí hiện tại, việc thiết kế và xây dựng đề thi đáp ứng cả hai mục đích nói trên là không khả thi, và không phải là giải pháp phù hợp.    Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đi thị sát điểm thi tại Gia Lâm. Và tại hội nghị trực tuyến toàn quốc đánh giá tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018 ngày 2/7, ông đánh giá kỳ thi THPT quốc gia đạt được mục tiêu đề ra, an toàn, nghiêm túc, khách quan và đặc biệt nhẹ nhàng. Ảnh: Dân trí.     Thi trắc nghiệm liệu đã đủ?  Một trong những thay đổi lớn trong công tác thi cử, tuyển sinh là việc chuyển đổi từ dạng bài thi tự luận đối với tất cả các môn học trong những năm 80-90 sang hình thức trắc nghiệm. Đầu những năm 2000, trắc nghiệm mới chỉ chiếm một phần và được áp dụng với một số môn như Ngoại ngữ, đến nay đã chuyển sang tất cả môn Toán, Lý, Hoá, thậm chí cả các môn xã hội vốn chỉ dùng hình thức tự luận như Sử, Địa lý. Từ năm 2017, chỉ còn duy nhất môn Ngữ văn sử dụng dạng câu hỏi thi tự luận. Việc sử dụng dạng câu hỏi thi trắc nghiệm được giải thích là để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá. Tuy nhiên đây có phải là dạng câu hỏi phù hợp cho các kỳ thi có tầm quan trọng (high-stake) như kỳ thi tốt nghiệp quốc gia hay đề thi tuyển sinh đại học hay không là vấn đề cần xem xét kỹ lưỡng và đánh giá qua các kỳ thi đã qua.  Có thể thấy rằng mặc dù sử dụng loại câu hỏi trắc nghiệm, các đề thi của Bộ chỉ có duy nhất một dạng câu hỏi trắc nghiệm có nhiều đáp án (multiple choice). Đây là dạng câu hỏi ‘lựa chọn đáp án cho sẵn’ và cùng loại này còn có những hình thức câu hỏi khác như câu hỏi ghép nối (matching), lựa chọn Đúng/Sai/Không liên quan (True/False/NA).  Ưu, nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm so với câu hỏi tự luận  Dạng câu hỏi trắc nghiệm được cho là đánh giá khách quan do có đáp án đúng/sai rõ ràng, không phụ thuộc vào ý chí hay cảm xúc của người chấm. Loại câu hỏi này cũng cho phép phân tích chi tiết đáp án lựa chọn (response) bất kể câu trả lời của học sinh đúng hay sai. Và do tính chất ‘không phụ thuộc vào con người’ này mà thông thường loại câu hỏi này sẽ được dùng cho các bài thi trên máy tính hoặc sử dụng máy quét để chấm bài, ví dụ bài thi TOEFL của ETS, Hoa Kỳ, để hạn chế sai sót trong quá trình chấm điểm và quản lý điểm thi.  Cần biết rằng loại câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choice questions) được dùng rất rộng rãi trong giáo dục Mỹ cho tới tận thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Bắt đầu từ cuối những năm 90, các học giả và nghiên cứu giáo dục đã chỉ trích loại câu hỏi thi này là thúc đẩy học vẹt, khuyến khích phát triển các kỹ năng đơn giản, trí nhớ ngắn hạn, không giúp phát triển tư duy bậc cao cho người học và phương pháp học tập tích cực, hạn chế năng lực diễn đạt và trình bày của học sinh (Karen Scouller 1998) (Gunderman and Ladowski 2013; Roediger and Marsh 2005). Mặc dù với số lượng câu hỏi thường nhiều hơn rất nhiều so với hình thức tự luận, tức là có thể đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn, nhưng học sinh có thể sử dụng mẹo để làm bài mà không nhất thiết phải nắm vững kiến thức. Đó là chưa kể có xác xuất may mắn chọn câu trả lời đúng ngay cả khi hoàn toàn không nắm được kiến thức. Đối với các môn học như Toán hay Vật lý, loại câu hỏi trắc nghiệm không ghi nhận được cách thức lập luận để giải bài toán, qua đó đánh giá năng lực tư duy và giải quyết vấn đề của người học. Hơn nữa, viết câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn tốt là không hề dễ dàng, đặc biệt là thiết kế câu hỏi chính xác theo mức độ khó định sẵn. Một câu hỏi trắc nghiệm tốt cần phải đáp ứng rất nhiều yêu cầu kỹ thuật.  Ngoài dạng câu hỏi trắc nghiệm, các câu hỏi thi cho phép/yêu cầu thí sinh ‘viết câu trả lời’ được gọi là dạng câu hỏi tự luận. Loại câu hỏi tự luận thường dễ viết, nhưng khó chấm và phụ thuộc vào chủ quan của người chấm, như đối với môn Văn.  Mỗi dạng câu hỏi đều có những điểm mạnh và bất cập riêng. Do vậy thông thường một đề thi tốt thường có xu hướng kết hợp nhiều dạng câu hỏi khác nhau chứ không chỉ sử dụng một loại nào đó. Có thể thấy điều này ở các bài thi chuẩn hoá quốc tế có uy tín như bài thi IELTS do Trung tâm Khảo thí tiếng Anh của Đại học Cambridge phát triển hoặc các bài thi quốc gia NAPLAN của Úc và GCSE của Anh. Những bài thi hoàn toàn bằng hình thức trắc nghiệm như TOEFL hay SAT đòi hỏi rất cao về kỹ thuật viết câu hỏi thi, sự hỗ trợ của công nghệ, phần mềm trong việc tổ chức thi và việc kiểm nghiệm câu hỏi thi vô cùng chặt chẽ, ngặt nghèo.  Với một bài thi có tầm quan trọng như bài thi tốt nghiệp hoặc tuyển sinh đại học, nhất thiết hình thức thi, dạng câu hỏi thi và format bài thi phải được xem xét, tính toán kỹ lưỡng và thiết kế với sự cẩn trọng khoa học.  Bài thi chuẩn hoá và quy trình chuẩn hoá câu hỏi thi  Thông thường ở các nước với bài thi có tầm quan trọng như hai bài thi nói trên đều phải là đề thi chuẩn hoá (standardized tests). Đây là bài thi yêu cầu tất cả thí sinh làm bài trong điều kiện, cách thức như nhau, và được chấm theo cùng một cách nhằm đặt ra chuẩn chung (Issitt and McMahon 2013).  Đã từ lâu các tổ chức khảo thí lớn trên thế giới như ETS, Trung tâm Khảo thí tiếng Anh Cambridge đã áp dụng quy trình chuẩn hoá câu hỏi thi của họ. Tuỳ vào loại câu hỏi mà quy trình cũng như kỹ thuật sử dụng để chuẩn hoá câu hỏi thi có thể khác nhau. Đối với đề thi diễn ra mỗi năm một lần như đề thi tốt nghiệp THPT sử dụng loại câu hỏi thi trắc nghiệm nhiều lựa chọn, thông thường để đảm bảo chất lượng câu hỏi và đề thi thời gian cần thiết cho quá trình xây dựng và duyệt đề thi thường kéo dài hàng năm.  Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi thi và đề thi ở các tổ chức khác nhau sẽ có khác biệt, tuy nhiên thông thường quy trình này bao gồm các bước cơ bản sau:  1. Xác định mục đích và phạm vi đánh giá: do hội đồng thi thực hiện;  2. Xây dựng ma trận, cấu trúc đề thi: xác định phạm vi nội dung đánh giá, loại câu hỏi thi, thời lượng bài thi và loại bài thi quy chiếu tiêu chí hay quy chiếu nhóm chuẩn;  3. Biên soạn, biên tập, rà soát và sàng lọc câu hỏi thi: do chuyên gia biên soạn đề thi, chuyên gia khảo thí, giáo viên, chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn được đánh giá và người biên tập câu hỏi thi thực hiện. Trong giai đoạn này, một câu hỏi thi lần lượt được chuyển qua những thành viên này đánh giá, rà soát về kỹ thuật viết câu hỏi thi, ngôn ngữ, văn hoá và có thuộc phạm vi nội dung đánh giá hay không; nhìn chung là đánh giá tính giá trị (validity) bằng phương pháp chuyên gia.  4. Thử nghiệm, đánh giá câu hỏi thi: thử nghiệm đối với đối tượng tương đương thí sinh dự kiến, sử dụng các phân tích thống kê để đánh giá độ tin cậy (reliability), độ phân biệt, và độ độ khó của câu hỏi thi (IRT-Item Response Theory); sàng lọc những câu hỏi thi quá dễ hoặc quá khó hoặc có độ phân biệt thấp hoặc âm; đồng thời ghi lại thời gian cần thiết để trả lời câu hỏi để căn định thời gian làm bài phù hợp.  5. Xây dựng và đánh giá đề thi: trộn các câu hỏi thi có độ khó tương đương theo ma trận nội dung, dạng câu hỏi để tạo thành các đề thi khác nhau; thử nghiệm và đánh giá độ tin cậy của đề thi.  6. Tiếp tục đánh giá và phát triển ngân hàng câu hỏi thi: sử dụng kết quả thi để tiếp tục phân tích, đánh giá và sàng lọc câu hỏi thi. Đối với một số kỳ thi có tính chất quan trọng sống còn với thí sinh, đôi khi cần thiết phải phân tích kết quả thi để rà soát sai sót của đề thi và đáp án và có điều chỉnh cần thiết trước khi chấm và công bố kết quả.  Quy trình chuẩn hoá câu hỏi thi thường được thực hiện chặt chẽ nhằm đảm bảo tính giá trị, độ tin cậy cũng như kiểm soát độ dài hợp lý của đề thi trong thời gian làm bài cụ thể.  Một số gợi ý về kỳ thi 2 trong 1  Đối với kỳ thi 2 trong 1: Nên xem xét triển khai xét tốt nghiệp THPT dựa trên học bạ THPT của người học. Việc xét tốt nghiệp theo học bạ sẽ có tác dụng tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của nhà trường và giáo viên trong quá trình tổ chức quản lý và giảng dạy, phù hợp với lộ trình cải cách giáo dục trong thời gian tới, cụ thể là những thay đổi về chương trình giáo dục, phương pháp sư phạm và kiểm tra đánh giá ở bậc phổ thông. Khi đó kỳ thi quốc gia chỉ còn phục vụ mục đích tuyển sinh đại học. Việc kiểm soát độ khó, độ phân loại, và chất lượng đề thi tuyển sinh sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các trường đại học muốn sử dụng điểm thi tuyển sinh.  Một khi chỉ còn một bài thi tuyển sinh đại học, tính chất bắt buộc của kỳ thi không còn. Người học có thể lựa chọn tham dự kỳ thi nếu muốn tiếp tục học ở bậc đại học. Cùng với việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học trong công tác tuyển sinh, số lượng thí sinh tham dự kỳ thi tuyển sinh sẽ giảm, quy mô và gánh nặng kỳ thi cũng giảm tương ứng.  Về định dạng đề thi, dạng câu hỏi thi: cần nghiên cứu và đánh giá lại việc sử dụng duy nhất một hình thức câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn đối với các môn khoa học như Toán; tham khảo ý kiến chuyên gia ngành về định dạng đề thi nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu đánh giá.  Về công tác ra đề thi: cần xây dựng quy trình chuẩn hoá đề thi chặt chẽ và các quy định về đảm bảo chất lượng đề thi nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình trong khâu ra đề thi và cải thiện chất lượng đề thi.  Về công tác khảo thí: Hằng năm, sau khi có kết quả thi, cần tổ chức phân tích, đánh giá đề thi và câu hỏi thi để làm cơ sở cho các điều chỉnh về đề thi trong các năm tiếp theo.  Tài liệu tham khảo  Gunderman, R. B., & Ladowski, J. M. (2013). Educational Perspectives: Inherent Limitations of Multiple-Choice Testing. [Article]. Academic Radiology, 20, 1319-1321, doi:10.1016/j.acra.2013.04.009.  Standardized testing (2013). Great Neck Publishing.  Karen Scouller, a. (1998). The Influence of Assessment Method on Students’ Learning Approaches: Multiple Choice Question Examination versus Assignment Essay. [research-article]. Higher Education(4), 453.  Roediger, H. L., & Marsh, E. J. (2005). The Positive and Negative Consequences of Multiple-Choice Testing. Journal of Experimental Psychology: Learning, Memory, and Cognition, 31(5), 1155-1159.    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Kỳ thi THPT Quốc gia 2015: 91,58% thí sinh tốt nghiệp      Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố kết quả chấm thi kỳ thi  Trung học phổ thông (THPT) quốc gia năm 2015, theo đó, bình quân chung tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2015 đạt 91,58%.     Cụ thể, tỷ lệ tốt nghiệp ở khối THPT đạt 93,42%; ở khối giáo dục thường xuyên đạt 70,08%.  Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đối với các thí sinh dự thi tại các cụm thi do sở GDĐT chủ trì là 84,45% và ở các cụm thi do trường đại học chủ trì là 94,74%.    So với các năm trước, tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2015 có giảm (năm 2014 tỷ lệ là 99,02%, năm 2013 là 98,97%). Giống như những kỳ thi trước, sự khác biệt về tỷ lệ tốt nghiệp giữa các tỉnh/thành phố vẫn được duy trì. Những nơi có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT cao đều là tỉnh/thành phố có điều kiện giáo dục phát triển tốt hơn.  Dự thi năm nay có 752.367 thí sinh thuộc khối THPT và 64.463 thí sinh thuộc khối giáo dục thường xuyên.   Phổ điểm của các môn thi kỳ thi THPT Quốc gia năm nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng kết, cho thấy, môn hóa học có kết quả thi tốt nhất (số thí sinh đạt điểm 7 chiếm đông nhất), tiếp theo đó là môn toán (6,5),  vật lý (6), địa lý (6), ngữ văn (5), lịch sử (5), sinh (4), ngoại ngữ (2,5).                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ thi Toán theo tinh thần Olympic      LTS: Xung quanh những tranh cãi liên quan đến việc tổ chức kỳ thi học sinh giỏi quốc gia mà GS. Phùng Hồ Hải đã đề cập đến trong số Tia Sáng ngày 20/3/2019, chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài viết của GS. Nguyễn Hùng Sơn, Đại học Tổng hợp Warsaw, người đã nhiều lần tham gia tuyển chọn và bồi dưỡng trong học sinh giỏi Toán của Ba Lan. Đây là kỳ thi Toán uy tín bậc nhất ở châu Âu với “tinh thần Olympic” như một hướng giải quyết mà Việt Nam có thể tham khảo.      GS. Nguyễn Hùng Sơn, tác giả bài viết (bìa trái) trao thưởng cho các em học sinh đạt giải trong kỳ thi Olympic Toán Balan năm 2018. Ảnh do tác giả cung cấp.  Ba Lan là một trong các quốc gia có phong trào thi Olympic Toán học dành cho học sinh phổ thông lâu đời nhất trên thế giới. Kỳ thi này có tên tiếng Ba Lan là Olimpiada Matematyczna vì vậy nó thường được viết tắt là OM. Đây là kỳ thi do Hội Toán học Ba Lan sáng lập ra và tổ chức lần đầu tiên vào năm học 1949-1950 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập hội. Năm nay, nhân kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Hội Toán học Ba Lan và cũng là 70 năm ngày thành lập kỳ thi OM, Quốc hội Cộng hòa Ba Lan đã quyết định gọi năm 2019 là “năm toán học”. Ba Lan cũng là một trong 7 nước sáng lập ra kỳ thi Toán quốc tế (IMO) vào năm 1959.   Mô hình tổ chức  Bắt đầu từ năm 2009, ngân sách các cuộc thi Olympic của Ba Lan, trong đó có OM, được Bộ Giáo dục Ba Lan phụ trách và cứ 5 năm một lần, bộ lại tiến hành đấu thầu để chọn ra đơn vị đứng ra đăng cai tổ chức các kỳ thi Olympic. Và từ đó đến nay, kỳ thi OM được tổ chức bởi “Hội Giáo dục Toán học” (Stowarzyszenie Edukacji Matematycznej).   Đối tượng chính của cuộc thi là các thí sinh ở lứa tuổi trung học phổ thông, nhưng tất cả các học sinh của Ba Lan, kể cả học sinh ở trung học cơ sở cũng có thể tham gia. Toàn bộ kỳ thi được chia làm 3 vòng:   • Vòng 1: các thí sinh tự nguyện tham gia, làm bài ở nhà và gửi lời giải qua bưu điện. Đề thi ở vòng 1 gồm có 12 bài và được chia làm 3 phần. Các thí sinh có khoảng 1 tháng để làm và gửi lời giải cho mỗi phần. Thông thường hằng năm, đề thi vòng 1 được thông báo đại chúng vào ngày 1 tháng 9 và thời hạn gửi lời giải của các phần thường rơi vào cuối tháng 9, tháng 10 và tháng 11.  • Vòng 2: đây là vòng thi khu vực và thường tổ chức vào giữa tháng 2. Tất cả các thí sinh tham gia vòng 2 sẽ thi cùng một lúc nhưng viết bài tại khu vực tương ứng nơi mình sinh sống. Vòng 2 gồm 2 ngày thi, mỗi ngày các em phải giải 3 bài toán trong thời gian 5 tiếng đồng hồ.  • Vòng 3: còn gọi là vòng chung kết thường được tổ chức vào đầu tháng 4 tại một địa điểm chung. Cũng giống như vòng 2, các thí sinh tham gia vòng chung kết phải giải 6 bài toán trong 2 ngày, mỗi ngày 5 tiếng. Sau 2 ngày thi, các thí sinh có 1 ngày tham quan và vui chơi. Ngày hôm sau sẽ là lễ bế mạc, thông báo kết quả và trao phần thưởng. Chung kết cuộc thi Olympic Toán học lần thứ 70 của Ba Lan vừa diễn ra vào các ngày 3, 4 tháng Tư năm 2019.   Trách nhiệm tổ chức và giám sát toàn bộ cuộc thi OM là “Ban điều hành trung ương” (Komitet Główny). Hỗ trợ cho ban điều hành trung ương là 11 “Ban điều hành địa phương” (Komitet Okregowy) và “Tiểu ban đề thi”. Các thành viên của các ban là những người có uy tín và đã có kinh nghiệm với các kỳ thi Olympic. Họ có thể là giáo viên ở các trường, sinh viên các khoa toán lý, các giảng viên đại học, các cán bộ ở các viện nghiên cứu hoặc thậm chí là những người đã từng gắn bó với phong trào Olympic Toán nhưng hiện nay đã làm các công việc khác ở các doanh nghiệp. Danh sách thành viên của ban điều hành trung ương phải được “Hội Giáo dục Toán học” thông qua. Dach sách các thành viên các ban và tiểu ban chỉ cần có sự đồng ý của ban điều hành trung ương. Nhiệm vụ của các ban như sau:   Ban điều hành địa phương :   • chấm các bài thi vòng 1;   • quyết định danh sách các thí sinh vào vòng 2 trong khu vực của mình;   • tổ chức thi vòng 2 tại khu vực;   • chấm điểm sơ bộ vòng 2.   Tiểu ban đề thi:   • lựa chọn các bài toán cho các vòng thi;   • chuẩn bị đáp án các bài thi;   • xác minh điểm của các bài thi vòng 2;   • chấm các bài thi ở vòng chung kết.   Ban điều hành trung ương:   • quyết định danh sách các thí sinh tham gia vòng 2 trúng tuyển vào vòng chung kết;   • tổ chức cuộc thi chung kết;   • quyết định danh sách khen thưởng ở vòng chung kết;   • xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng cho các trường hợp khiếu nại ở vòng 2 và vòng chung kết;   • tổ chức trường hè cho các học sinh;   • đưa các đội tuyển tham gia các kỳ thi Quốc tế và khu vực.   Toàn bộ kinh phí phục vụ cho các hoạt động trên đều được chi trả bằng tiền ngân sách từ Bộ Giáo dục.  Một điều đặc biệt của kỳ thi Olympic Toán học Ba Lan là cách tính điểm có một không hai trên thế giới. Mặc dù thang điểm cho mọi bài thi là 6, nhưng chỉ 4 điểm số được dùng, đó là 0, 2, 5 hoặc 6 điểm. Điểm 6 được dành cho các lời giải đúng, còn điểm 5 là điểm của các lời giải tuy đúng, nhưng có một số sai sót nhỏ. Điểm 2 thường được coi là điểm dành cho một nửa bài (nếu bài có 2 phần) hoặc dành cho các lời giải tuy sai, nhưng đã giải quyết được phần quan trọng của lời giải đúng. Điểm 0 là điểm dành cho các lời giải chưa đủ điểm 2.   Ở vòng 1, các thí sinh có thể giải bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc phụ huynh. Thí sinh có thể thông báo cho ban tổ chức cuộc thi tên của giáo viên hướng dẫn. Ban điều hành địa phương được quyền quyết định danh sách các thí sinh của khu vực được vào vòng 2. Vì vậy mốc điểm ở các địa phương có thể khác nhau.     Logo kỳ thi Olympic cho thiếu niên (OM) và cho thiếu nhi (OMJ). Ảnh do tác giả cung cấp.  Tổng số học sinh được chọn vào vòng 2 thường vào khoảng 600 em. Mỗi bài thi ở vòng 2 được chấm sơ bộ bởi ban giám khảo của ban điều hành địa phương và được xác minh bởi 2 vị giám khảo của ủy ban đề thi để đảm bảo sự công bằng giữa các khu vực. Thường có khoảng 120-140 em được chọn vào vòng chung kết. Ở vòng chung kết các học sinh sẽ tập trung ở cùng một nơi và mỗi bài thi được 2 vị giám khảo chấm.   Phần thưởng cho tất cả các thí sinh tham gia vòng chung kết là các em được điểm tối đa môn toán trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và được nhận vào phần lớn các trường đại học của Ba Lan, thậm chí được nhận vào một số ngành học không liên quan đến toán học. Những học sinh xuất sắc nhất của vòng chung kết được đại diện cho Ba Lan đi dự thi kỳ thi toán quốc tế (IMO) và các kỳ thi trong khu vực như MEMO, EGMO, Baltic Way. Đội tuyển của Ba Lan đi thi các kỳ thi trên bao gồm khoảng 15 học sinh. Ngoài ra, một số thí sinh trẻ, mặc dù không được giải thưởng, vẫn có thể được chọn tham gia trại hè toán học để chuẩn bị cho các kỳ thi năm sau.   Công việc của Tiểu ban ra đề trong mỗi kỳ Olympic thường bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến hết tháng 6 năm sau. Thư ký của tiểu ban nhận các bài toán do các thành viên của tiểu ban và các cộng tác viên và lưu trữ vào ngân hàng đề thi. Sau mỗi kỳ thi Olympic, các bài thi chưa được sử dụng sẽ được trả về cho tác giả, và tác giả có thể gửi các bài cũ hoặc mới vào ngân hàng. Tiểu ban họp ít nhất mỗi tháng một lần để chọn các bài thi vòng 2, đề thi vòng chung kết và đề thi vòng 1 của kỳ Olympic năm sau. Ngoài ra, tiểu ban còn chọn ra các bài toán đặc biệt nhất để gửi đi làm đề xuất cho các kỳ thi quốc tế và khu vực như IMO, MEMO, EGMO hoặc Baltic Way.   Các thành viên trong ban đề thi tuyệt đối tin tưởng nhau, vì vậy họ có thể trao đổi với nhau qua email. Tất nhiên, khi trao đổi, các thông tin đều được mã hóa đề phòng trường hợp email bị gửi nhầm địa chỉ. Lúc đó người nhận thư bất đắc dĩ không thể đọc được nội dung. Trong trường hợp một thành viên nào đó của tiểu ban đề thi có người thân tham gia OM, người đó sẽ tự động xin ngừng tham gia các công việc của tiểu ban. Một điều quan trọng là các thành viên trong ban ra đề tuyệt đối không được tham gia dạy các học sinh đi thi.   Các tiêu chí không chính thức của cuộc thi  Một trong các tiêu chí của cuộc thi OM là tính phổ cập được đo bằng số thí sinh tham gia dự thi ở vòng 1. Vì vậy hơn một nửa số các bài thi ở vòng một phải đảm bảo tiêu chí: hay, đẹp, gần gũi, phổ thông. Trung bình hằng năm, số học sinh tham gia dự thi vòng 1 vào khoảng 5.000 em. Có một số năm, do bài thi vòng 1 quá khó, số học sinh tham gia vòng 1 bị giảm xuống chỉ còn khoảng 3.000. Năm đó được coi là không thành công về tính phổ cập của kỳ thi OM.   Ngoài ra, ban tổ chức cuộc thi cũng trao giải thưởng mang tên Andrzej Mąkowski cho thí sinh có lời giải được trình bày đẹp nhất trong vòng chung kết. Giải thưởng này tôn vinh các lời giải hay, đẹp, trình bày ngắn gọn và đặc sắc hơn cả đáp án.   Kể từ năm 2005, phiên bản của OM dành cho các học sinh phổ thông cơ sở mang tên OMJ (Olimpiada Matematyczna dla Juniorów) cũng được tổ chức hằng năm với thể thức tương đối giống với OM. Đây cũng là sân chơi để các học sinh ở lứa tuổi thiếu niên có điều kiện luyện tập trước khi tham gia OM.   Thay cho lời kết  Theo tôi, mục đích chính của các kỳ thi Olympic toán học, từ quốc gia, khu vực, châu lục hay quốc tế, đều là phát hiện và đào tạo các học sinh có năng khiếu toán học. Muốn hiểu năng khiếu toán học là gì, nó được biểu hiện như thế nào, và làm sao phát hiện các năng khiếu đó, chúng ta cần phải trả lời câu hỏi cơ bản nhất:   Có một nghịch lý là năng khiếu toán học không phải lúc nào cũng bộc lộ trong các giờ học toán ở trường. Các suy luận kiểu rập khuôn, lặp đi lặp lại một mô hình cho hàng loạt các ví dụ tương tự là công việc không hỗ trợ cho tư duy sáng tạo. Thường thì để đối phó với các bài tập như vậy, học sinh không không nhất thiết phải có năng khiếu toán học, mà chỉ cần có khả năng nhớ và tái tạo một cách hiệu quả các bước trong dạng bài toán đã học. Vì vậy các giáo viên phải rất tinh ý mới có thể phát hiện các năng khiếu toán học. Dấu hiệu của năng khiếu toán học có thể có các biểu hiện như:   • tìm kiếm các lời giải ngắn gọn, thông minh, khác so với cách giải mẫu.   • đặt các câu hỏi chính xác hoặc đưa ra các nhận xét sâu sắc.   • thậm chí có thể cố tình thể hiện sự chán chường trong giờ học.   Do đó các kỳ thi học sinh giỏi chính là cơ hội giúp chúng ta tìm ra các tài năng toán học. Đó là các sân chơi để các em có dịp cọ xát và thể hiện khả năng của bản thân. Với tiêu chí như trên, các cuộc thi Olympic của Ba Lan luôn chọn các bài toán tuy lạ mắt, độc đáo, nhưng chỉ cần dùng các kiến thức phổ thông là có thể giải quyết được. Ban ra đề luôn hy vọng là với cách ra đề như vậy, các học sinh lớp chuyên, mặc dù được tiếp xúc với nhiều dạng bài toán khác nhau, nhưng nếu không biết vận dụng thì chưa chắc đã vượt qua các học sinh có năng khiếu nhưng đang ở các lớp bình thường.  Cũng cần phải nhắc lại ý nghĩa của từ Olympic. Tại sao ta lại gọi là Olympic Toán học mà không dùng từ giải vô địch toán học? Cũng giống như Olympic thể thao, Olympic Toán học không chỉ bao hàm thi đua mà còn là một ngày hội, là dịp để những người yêu thích môn học có cơ hội được gặp nhau, làm quen nhau. Mỗi thí sinh đến với Olympic đều phải thấy niềm vui vì được gặp những người cùng sở thích và được thi đua, học hỏi với tinh thần: phải vượt qua chính mình. Vì vậy không chỉ những thí sinh đạt kết quả cao nhất mới cảm thấy tự hào mà kể cả các em không đạt giải, những em chỉ làm được một bài trọn vẹn cũng có thể thấy tự hào là các em đã vượt qua chính mình.   Ở Ba Lan, ngay sau mỗi buổi thi ở vòng 2 và vòng 3 đều có một buổi tọa đàm để các thí sinh có cơ hội trình bày lời giải của mình trước các bạn và các thầy chấm thi.  Tôi có may mắn được làm việc cho Olympic toán Ba Lan gần 15 năm gần đây và tôi cũng luôn theo dõi các kỳ thi học sinh giỏi hằng năm của Việt Nam. Theo ý kiến riêng của tôi, VMO (Vietnamese Mathematical Olympiad) trong những năm gần đây đã mất đi tính Olympic, đã không còn là sân chơi cho những người yêu toán và là nơi để tìm ra các nhân tài toán học. Nó đã trở thành cuộc thi khốc liệt và chỉ dành cho các lớp chuyên. Các bài thi mang nặng tính kỹ thuật và mỗi bài thi thường là kết hợp của một vài dạng bài toán đã biết. Đề thi Olympic trở nên hoàn toàn xa lạ thậm chí là với các học sinh khá giỏi hoặc các giáo viên ở các trường phổ thông. Cuộc thi đã trở thành cuộc đấu trí giữa các thầy luyện thi, các thí sinh và những người ra đề và duy nhất 6 em trong đội tuyển quốc gia là những người thắng cuộc.   Tất nhiên, không thể áp dụng mô hình Olympic toán học của Ba Lan vào điều kiện ở Việt Nam, vì nó có đòi hỏi tính tự giác rất cao của các học sinh cũng như các thầy giáo. Tuy nhiên, chúng ta nên tham khảo các kỳ thi Toán ở các quốc gia trên thế giới để tìm ra một giải pháp tương ứng nhằm đưa kỳ thi VMO của Việt Nam quay trở lại gần gũi hơn với tinh thần Olympic toán học.□    Author                Nguyễn Hùng Sơn        
__label__tiasang Lại nói về luận văn tiến sĩ      Theo kế hoạch của Bộ giáo dục và đào tạo, trong thời gian tới chúng ta phải có 2 vạn Tiến sĩ mới! Hóa ra là chúng ta đang thiếu nhiều Tiến sĩ, chứ không phải như có người nói là chúng ta đang có quá nhiều Tiến sĩ… Tuy nhiên cũng có nhiều người băn khoăn về con số 2 vạn. Để đạt được con số đó có lẽ cần phát động phong trào “người người làm Tiến sĩ, trường trường làm Tiến sĩ, ta nhất định tiến, địch nhất định qụy…”!    Có một cách đơn giản để có thể đạt kế hoạch, hoặc thậm chí vượt mức kế hoạch 2 vạn Tiến sĩ. Đó là hạ thấp yêu cầu của luận án Tiến sĩ, chẳng hạn chỉ cao hơn luận án Thạc sĩ  một chút là được. Trước đây ta cũng từng làm như vậy, khi đổi chức danh Phó Tiến sĩ thành Tiến sĩ. Điều đó thực chất là yêu cầu luận văn Tiến sĩ ngày nay chỉ bằng Phó Tiến ngày xưa mà thôi. Cũng một cách tương tự, trên cơ sở của các trường Cao đẳng ở địa phương (mà phần lớn là trường Cao đẳng Sư Phạm), ta có thể nâng lên trường Đại học Đa ngành một cách dễ dàng. Và các thầy giáo dạy Cao đẳng đương nhiên trở thành thầy giáo Đại học một cách dễ dàng… Thế là ta có thêm rất nhiều trường Đại học.  Nhưng có lẽ Bộ GD&ĐT không có chủ trương hạ thấp yêu cầu đối với luận án Tiến sĩ, mà ngược lại đang có kế hoạch “nâng tầm” luận án theo mức thế giới… Ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo đã có lần nhắc nhở rằng (đại ý ) “Nếu làm luận án Tiến sĩ mà không có gì mới thì đừng có làm, mất thì giờ của mình và của người khác”. Điều đó  có nghĩa là: đã là luận án Tiến sĩ thì phải có cái mới. Cố nhiên “có cái mới” chỉ là điều kiện cần, mà hoàn toàn không phải là điều kiện đủ… Cái mới đó phải đúng, phải hay, phải dùng được thì mới đủ để “lấy bằng” Tiến sĩ…  Nhân đây tôi muốn nói thêm một chút rằng thật ra thì những điều đó không có gì mới. Sở dĩ  Bộ trưởng phải nhắc lại cái điều rất cũ ấy vì lâu nay hình như chúng ta (kể cả người viết luận án lẫn người chấm luận án Tiến sĩ ) “quên” mất cái điều kiện cần và đủ cho một luận án Tiến sĩ là phải có cái mới…           Một người bạn kể cho tôi về một luận án Tiến sĩ  “Cây xanh đô thị” (chắc là thuộc ngành Môi trường). Luận án có nhiều chương, có nhiều thống kê, nhiều biểu đồ của từng vùng, từng thời gian… Phần  Kết luận của luận án gồm ba điểm chính: Một là, cây có tán rộng thì có nhiều bóng mát hơn, hai là cây có tán rộng thì khi gió to dễ bị đổ hơn, và ba là nên trồng cây tán rộng xen kẽ với cây tán hẹp… Có lẽ ông bạn tôi đã thêm thắt hoặc thổi phồng lên cho vui chuyện…, nhưng dẫu sao khi đọc qua một số tiêu đề của luận án gần đây cũng có thể thấy rằng có rất ít cái mới trong nhiều luận án…  Ai cũng biết rằng, tìm được cái mới không phải dễ dàng, đặc biệt là đối với các môn khoa học cơ bản. Trong một luận án về toán học chẳng hạn, những điều tác giả đưa ra phải là những định lí mới và cố nhiên phải được chứng minh đầy đủ và đúng đắn.  Tuy nhiên một điều hết sức khó khăn cho Hội đồng chấm luận án là không biết rằng “cái mới” đó có thật là “mới” hay không, hay là đã có ở đâu đó trước đây rồi, của ai đó đã đăng rồi… Đã có những luận án sau khi bảo vệ thành công, người ta mới phát hiện ra là tác giả của nó đã “đạo” (tức là “thuổng”) của người khác… Điều đó rất dễ xảy ra vì không biết có bao nhiêu tạp chí toán học trên thế giới, và không phải bài nào đăng trên các tạp chí – kể cả những tạp chí uy tín nhất- đều có người đọc… Tác giả các bài báo không phải ai cũng là các nhà toán học lớn có tên tuổi, mà có thể chỉ là những người đang tập sự nghiên cứu toán học, đang cần có “thành tích” về số bài được đăng, để được xét một cái gì đó (đại loại như ở Việt Nam ta), hoặc đơn giản là để khoe. Những bài như vậy thường không có người đọc và dĩ nhiên không được trích dẫn trong các bài báo khác. Bởi vậy nếu một ứng viên Tiến sĩ nào đó chép một vài kết quả của các bài báo như thế làm kết quả của chính mình, thì có nhiều hi vọng rằng Hội đồng chấm cũng không hay biết…  Còn “cái mới” trong luận văn Tiến sĩ của các môn Khoa học Xã hội và nhân văn lại càng khó khăn hơn nhưng là khó khăn theo kiểu khác: mới thì mới nhưng không được trái với những đường lối, chủ trương, chính sách hiện hành…   Nếu Ông Kim Ngọc- tác giả của chủ trương “Khoán” trong Nông nghiệp- hồi còn sống mà làm cái luận án Tiến sĩ về “Khoán” thì  “cái mới” chắc là bao trùm toàn bộ luận văn… Nhưng chắc chắn là không có Hội đồng nào dám nhận lời chấm một cái luận án như thế. Chính ông Ngọc cũng không dám viết luận án, mà ông chỉ cố gắng làm “khoán chui” mà thôi…  Gần đây, thấy có xuất hiện nhiều bài báo ca ngợi một số nhân vật từng “có vấn đề “, từng  bị “lên án” như  Trần đức Thảo, Đào duy Anh, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Dần… Nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là các bài báo, và chỉ nói về một vài cá nhân trong trào lưu “Nhân văn Giai phẩm”… Không hiểu rồi đây có thí sinh nào định làm một luận án về đề tài “Nhân văn Giai phẩm” hay không? Hay là phải chờ vài chục năm nữa mới có những luận văn như vây?  Có rất nhiều đề tài nhạy cảm khác như “Cải cách ruộng đất”, “Cải tạo Công thương”,“Biên giới Việt-Trung, xưa và nay”… rất cần có những nghiên cứu, ít nhất cũng tập hợp và lưu giữ những tư liệu lịch sử, những hồi ức của các nhân vật trong cuộc còn sống… Tuy nhiên và hiển nhiên là trong những vấn đề đó, “cái mới” thực sự là khó có thể ra đời… Bởi vậy để có được cái mới thì không dại gì mà chọn các đề tài như vậy cho một luân văn Tiến sĩ. Tốt nhất là nên chọn các đề tài đại loại  như: “Tổ chức tắm và giặt cho bộ đội phía Bắc”, “Quan niệm của sinh viên về tình yêu và hôn nhân”, “Về bệnh béo phì của trẻ em đô thị”, “Mắm tôm và  dịch tả”, “ Cách đánh số nhà”, “Phương pháp thi công tối ưu để cắt ngọn nhà cao tầng trái phép”… Đối với những đề tài như vậy, cứ gắng suy nghĩ một chút thế nào cũng tìm ra cái mới…  Vừa rồi trong báo cáo của HĐ Chức danh Giáo sư có đưa ra một con số đáng ngạc nhiên: 70% luận văn Tiến sĩ là của các nhà quản lí, 30% còn lại là của các nhà nghiên cứu khoa học. Vâng, tôi đã từng biết có ông giám đốc Sở, ông Phó chủ tịch tỉnh, ông hay bà Bộ trưởng hoặc thứ trưởng… bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, nhưng tôi không ngờ cái tỉ lệ các ông bà quản lí lại cao đến như vậy… Bắt buộc một Tiến sĩ  khoa học phải làm một nhà quản lí là điều bất đác dĩ, còn bắt nhà quản lí phải là một Tiến sĩ khoa học thì lại càng khó hiểu hơn, nhất là khi luận văn của ông ta không  thuộc về  khoa học quản lí. Thực ra thì chẳng ai bắt buộc ông quản lí phải làm bằng Tiến sĩ, nhưng thực tế thì ai cũng biết nếu có bằng cấp cao hơn thì dễ được cất nhắc hơn, thăng quan tiến chức nhanh hơn. Có lẽ đã đến lúc cần “nói không với bệnh bằng cấp” cũng giống như là “nói không với bệnh thành tích” vậy.  Văn Như Cương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lại nói về “tạm dừng” và “giãn tiến độ”      Chuyện “Bộ Giáo dục xin giãn tiến độ thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới” 1]chẳng có gì đáng buồn hoặc đáng mừng. Vì tại Hội thảo Giáo dục 2017 do UB Văn hoá, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng tổ chức vừa qua, tôi đã thẳng thắn nói rằng chương trình tổng thể (CTTT) và bộ sách của nó chắc chắn thất bại vì một lý do này thôi: nhìn cách chuẩn bị CTTT, xem những cách hiểu và cách làm CTTT thì biết tạo vật đó sẽ tiên thiên bất túc.  Có điều là người viết bài này muốn không chỉ “giãn tiến độ” mà cần “tạm dừng”.  Sẽ giải thích vì sao.      Học sinh trường TH Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy, Hà Nội trong giờ học ngoại khóa tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám.   Chúng ta cần phải tiến hành đổi mới toàn diện và triệt để sự nghiệp Giáo dục quốc dân (tạm viết tắt là CCGD) chỉ vì một thực tại mang tính nguyên nhân: Trình độ của nền Giáo dục Việt Nam hiện nay không đáp ứng nguyện vọng học của người dân và do đó càng không đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.  Chỉ nhìn số thanh thiếu niên có tiền đã di tản Giáo dục qua các nước (xoàng nhất cũng là qua Trung Quốc) để theo học – có khi học từ bậc Trung học – đủ cảm nhận được sự từ chối khéo nền Giáo dục quốc dân “vì con em chúng ta” ở trình độ ra sao.  Và đến đây, ta gặp một câu hỏi: còn các nhà cải cách, thì sao?  Các nhà cải cách Giáo dục đương thời  Một nhà cải cách Giáo dục rất đương thời, trong một cuộc trả lời báo chí, khi được hỏi về sự chậm trễ trong xây dựng Chương trình Giáo dục phổ thông đã nêu lên một số nguyên nhân, trong đó có việc “vì còn chờ bên Ngân hàng Thế giới “hiệp ý”2.  Hóa ra người cho tiền Dự án chưa thông qua thì ta chưa làm dù có chậm đến một năm rưỡi!  Câu hỏi suy diễn: thế ngộ nhỡ Người ta không cho tiền, thì chúng ta không cải cách nền Giáo dục quốc dân nữa sao?  Về phía mấy ông tác giả mô hình trường học mới (VNEN) cũng vậy! Xã hội đang chưa đủ nhất trí về “Nhà trường Mới Việt Nam” nhưng các ông dám nhận mô hình Colombia về thì các ông phải dám chịu trách nhiệm tiếp tục chứ? Sao các ông không đứng ra xin được làm chuyên gia và làm cho mô hình VNEN thành công dù ít dù nhiều cũng đỡ mang tiếng?  Với cái tư duy “mới” theo cung cách đó, làm sao trông chờ những sản phẩm sắp tới sẽ hứa hẹn tốt đẹp?  Nhưng đó không là cái thiếu sót duy nhất mang tính tử huyệt của các nhà cải cách Giáo dục Việt Nam đương thời!  Tử huyệt thứ nhất của Cải cách Giáo dục Việt Nam  Tử huyệt thứ nhất của CCGD Việt Nam là thiếu vắng một nhà tư tưởng về công cuộc to tát đó.  Một tư tưởng cho một cuộc cải cách không nhất thiết phải dẫn đến thành công, nhà tư tưởng không nhất thiết phải thiên kinh vạn quyển.  Nhưng hễ đã định làm một cuộc CCGD thì nhất thiết phải có một tư tưởng nào đó.  Cách đây năm trăm năm, vua Thế Tông (Sejong) nước Hàn Quốc soạn sách Huấn dân chính âm tự mình tạo ra bộ chữ ghi ngữ âm tiếng Hàn, bày cho toàn dân học. Đó là một tư tưởng CCGD mang tư tưởng thoát vành đai Hán Ngữ mà nhờ đó dân tộc này đã mở mày mở mặt như ngày nay – đừng mất công quy nhầm mọi thành tích hiện thời ở nước này cho những nhà “dân chủ” tầm cỡ phát xít như Park Chung Hee!  Còn ở nước Israel, các nhà chính trị có tầm tư tưởng vừa lớn vừa thực dụng của nước này đã tổ chức ở nước họ hình thức kibbutz – một “trường Đại học-Hợp tác xã” của toàn thể nhân dân – mà gia đình nào cũng muốn cho con em vào trải nghiệm.  Hình thức kibbutz cho dù không vượt ra ngoài phạm vi nước Israel kín đáo ít lời, nhưng nó cần được sự cộng hưởng của các nhà cải cách đích thực, không cải cách vì Dự án hoặc vì nhiệm kỳ.  Những chương trình CCGD của Pháp theo định hướng dân chủ-xã hội của Paul Langevin và Henri Wallon cũng như Nhà trường Tự do của Célestin Freinet tuy thất bại, nhưng thảy đều đáng học3.  Đặc biệt hình thức mỗi trường học có một nhà in của Freinet có thể áp dụng ở mỗi lớp học để học sinh thấy bài học do mình tạo được đem in và trao đổi với sản phẩm in của các lớp trong cùng trường cũng có giá trị ngang bài học có sẵn trong sách giáo khoa.  Nước ta đã thiếu nhà tư tưởng Giáo dục thì người hậu thế nên biết cách học và tuyệt đối tránh học nhầm.  Học Makarenko là một kiểu học nhầm. Ông ta là một ông quản giáo trại giam tuyệt vời, biết yêu thương học trò. Lý ra nên cho tất cả quản giáo cả nước học Makarenko thì lại định áp dụng rộng, và thất bại là cái cầm chắc trong tay từ khi chưa làm.  Chỉ vì toàn thể thanh thiếu niên chiếm số đông tuyệt đối so với học trò trong Trại giam của Makarenko!  Tử huyệt thứ hai của Cải cách Giáo dục Việt Nam  Đã không có tư tưởng, lại không có năng lực kỹ thuật hóa một tư tưởng nào đó tạm chấp nhận là hay, đó là tử huyệt thứ hai của các nhà CCGD nước Việt hôm nay.  Xin mạo muội nói luôn: Hồ Ngọc Đại là người duy nhất trong nửa thế kỷ qua đã kiên trì một tư tưởng CCGD có tên gọi gây khó chịu cho những ai không tìm hiểu cặn kẽ: Công nghệ giáo dục.  Cùng với tư tưởng cải cách mang tên Công nghệ Giáo dục, Hồ Ngọc Đại có một đóng góp hết sức quan trọng: dùng thực nghiệm Giáo dục như cái van an toàn trước khi đưa ra cho toàn thể dân số học sinh.  Tiếc rằng Hồ Ngọc Đại cũng rơi vào tử huyệt thứ ba sắp nói bên dưới đây, khiến cho những người không hiểu đã bị những người thiếu thiện chí đánh lừa, gọi thực nghiệm là nuôi chuột bạch!  Thực ra, nếu như thực nghiệm của Hồ Ngọc Đại có “làm hại” lứa học sinh đầu tiên như Ngô Bảo Châu, Nguyễn Lân Hiếu, Từ Phương Thảo, Hà Việt Anh, Nguyễn Thị Bạch Yến …4 thì cũng còn hơn là các Chương trình năm 2000 và VNEN cả gan đè cả triệu trẻ em ra bắt dùng sách ngay theo lối “cuốn chiếu”!  Tử huyệt thứ ba của Cải cách Giáo dục Việt Nam  Tử huyệt thứ ba là tính thiếu hệ thống trong thực thi mà rõ nhất là không hệ thống nào – cả Công nghệ GD, cả CT – 2000 và cả VNEN – đều không trình ra xã hội được trọn vẹn bộ chương trình và sách giáo khoa thể hiện lý tưởng của chương tình đã được rao giảng.  Công nghệ Giáo dục, cho tới nay, đã ngót nghét bốn chục năm, vẫn chưa hoàn thiện chương trình và hoàn toàn thiếu sách.  Tại Hội thảo Giáo dục Việt Nam 2017, ông Trần Kiều tuyên bố khá dễ dãi là chỉ có Chương trình tổng thể 2017 của giáo sư Nguyễn Minh Thuyết là có đầy đủ các thứ, và là “lần đầu tiên” nữa chứ!  CTTT hứa hẹn tháng 10 năm 2017 công bố chương trình. Hôm nay khi viết bài này, tờ lịch đã chỉ mồng 2 tháng 10. Tôi không tin là đến tháng 12 này sẽ công bố đủ chương trình cho xã hội phản biện.  Còn với sách của CTTT, liệu những người thực hiện có đủ tự tin để làm đến đâu hòm hòm thì đưa dần lên mạng!  Trong việc viết lách, ở đời này có ít nhất mấy kiểu viết.  Sướng nhất là làm thơ – nhà thơ nói chuyện chủ yếu là nói một mình cho riêng mình, nên chẳng cần xã hội thích hay không thích.  Nhà thơ Pháp Philippe Souppault cả đời ngây ngô “Kỳ lạ nhất hạng trong những gì kỳ lạ, ô hay, mặt trời lặn đằng Tây” – ai thích thì thích, ai không thích thì đừng đọc.  Sướng thứ nhì là viết tiểu thuyết. Dù nhà tiểu thuyết đã hướng ngoại nhiều hơn nhà thơ, song việc giao tiếp với công chúng vẫn chưa phải mục đích duy nhất của nhà văn. Vì lẽ đó mà nhà văn tồi vẫn viết và số phận công trình của đời mình… đến đâu hay tới đó!  Khổ nhất và cũng thú vị nhất là viết sách giáo khoa, mặc dù phẩm chất một nhà viết sách giáo khoa phải bao trùm ba nhà trong một nhà – nhà văn hóa, nhà giáo dục, và nhà thơ.  Là nhà thơ, để con tằm ấy đủ tình yêu và can đảm nhả những sợi tâm hồn tốt đẹp nhất thanh sạch nhất cho trẻ em.  Là nhà văn hóa, để cuốn sách giáo khoa cũng sẽ đẹp như một bức tranh và từ những trang sách hồng nằm mơ màng ngủ ấy (“nói” như Trịnh Công Sơn) cũng vang lên tiếng nhạc, cũng thấp thoáng điệu múa, vai chèo … và cả tiếng vi vu con diều trên cả những cánh đồng dù đang nhiễm độc nhiễm mặn vì đó là cánh đồng của mơ tưởng – mơ tưởng vào khung cảnh văn hóa dân tộc.  Sau hết, là nhà giáo dục, vì sứ mệnh luôn luôn nhắc nhở không được viết sách giáo khoa vì những lợi ích riêng. Không được mang sách giáo khoa chưa thực nghiệm kỹ đem dùng theo lối cuốn chiếu. Phải trình ra đủ bộ rồi mới được phép đem dùng. Ngược lại sẽ là thiếu phẩm tính của nhà giáo dục!  Kết luận  Có lẽ chẳng cần viết thêm lời kết luận nữa, vì đã kết luận theo lối cuốn chiếu rồi mà!  ————  Chú thích  1 Bộ Giáo dục đã xin giãn tiến độ thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới; ‘http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Bo-Giao-duc-da-xin-gian-tien-do-thuc-hien-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-moi-post180042.gd  2  Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết giới thiệu chân dung học sinh sau năm 2017, xin coi trong  http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/nguoi-thay/gs-nguyen-minh-thuyet-gioi-thieu-chan-dung-hoc-sinh-sau-nam-2017-trong-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-366495.html  (Trích, chỗ tô đậm là nhấn mạnh của tác giả bài viết này):  – (Hỏi) Theo Nghị quyết 88 thì đến năm 2018 chúng ta bắt đầu dạy học theo chương trình mới, SGK mới. Liệu việc xây dựng chương trình-SGK mới có kịp lộ trình này?  – (Đáp) Về tiến độ xây dựng Chương trình GDPT, mặc dù Bộ GDĐT đã hết sức chủ động, nhưng có nhiều việc so với tiến độ đề ra đã chậm 1,5 năm. Việc này có nguyên nhân khách quan và chủ quan.  Về khách quan, một số quyết định liên quan đến việc xây dựng chương trình được ban hành rất chậm. [ … …] Việc bổ nhiệm các thành viên trong Ban Phát triển Chương trình cũng không diễn ra nhanh chóng do danh sách ứng viên phải được lọc và gửi sang Ngân hàng Thế giới để hiệp y.  Mãi đến ngày 8/12/2016 mới có thư của Ngân hàng Thế giới chấp thuận Tổng chủ biên Chương trình GDPT; cuối tháng 12/2016 mới có quyết định bổ nhiệm. Và cho đến ngày 14/3/2017 vừa rồi (cách đây vừa 1 tháng) mới có thư của Ngân hàng Thế giới chấp thuận thành viên các Ban Phát triển Chương trình môn học” (Hết trích).  3 Có thể tham khảo các chương tình Langevin-Wallon và C. Freinet cùng vài ba mô hình tuy thất bại nhưng có tư tưởng đáng kính trọng trong: Phạm Toàn, Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục, Tri thức xuất bản, 2004.  4 Hè hè hè … xin lỗi mấy cậu Thanh Bình tóc xù, cậu Đạt “Loe”, cậu Hồng Quang “Nhật” … mình không kể hết tên nhé! Cả cô bé gì đó hai lần giật giải Pushkin nhỉ, quên tên rồi! Già lão khổ thế đấy!.       Author                Phạm Toàn        
__label__tiasang Lạm bàn về dạy và học tiếng Trung Quốc ở Việt Nam      Lựa chọn học tiếng Trung Quốc là điều hoàn toàn bình thường, vì học được một ngoại ngữ mới là có thêm một cách tư duy khác ngoài cách quen thuộc theo tiếng mẹ đẻ, đồng thời ai thành thạo thêm một ngoại ngữ thì cơ hội việc làm cũng lớn hơn, có được nhiều kiến thức, nhiều thông tin hơn, nhất là với thứ ngôn ngữ phổ biến như tiếng Trung Quốc (chỉ xếp sau Anh văn).       Việc dạy và học Trung văn như một ngoại ngữ là có ích cho người học và cho sự phát triển của đất nước.  Tuy nhiên, riêng ở Việt Nam có những góc nhìn rất khác nhau về việc học tiếng Trung Quốc liên quan đến các yếu tố văn hóa, lịch sử. Đại loại như gần đây có những ý kiến “cần dạy chữ Hán trong trường phổ thông”, “cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt”, “Dạy chữ Hán thay tiếng Anh..”,1 hay đề án dạy tiếng Trung là ngoại ngữ thứ nhất dạy từ lớp 3 của Bộ GD&ĐT2… Những vấn đề này đã và đang gây nên những cuộc tranh luận nảy lửa. Một điều thú vị là chỉ riêng ở Việt Nam, chỗ thì nói là chữ Hán (Hán văn?, Hán ngữ?), chỗ thì nói là tiếng Trung (Trung văn). Người ngoài cuộc trố mắt hỏi “Hán văn và Trung văn là hai hay là một?”  Hán ngữ và tiếng Trung Quốc  Khi ai đó hỏi người Trung Quốc nói tiếng gì, tất nhiên câu trả lời là họ nói tiếng Trung Quốc. Thực ra, người Trung Quốc sẽ không trả lời như vậy. Họ sẽ trả lời hoặc là tôi nói tiếng Mandarin (tức tiếng Quan thoại hay tiếng Bắc Kinh), hoặc là tiếng Quảng Đông-Cantonese, tiếng Hakka (Khách gia-Hẹ), tiếng Hokkien (Phúc Kiến)… Đưa cho họ một tờ báo, xem thì ai cũng hiểu nội dung, nhưng đọc thành tiếng thì chẳng ai hiểu ai cả, khi nói chuyện với nhau cũng vậy, chẳng ai hiểu ai. Nhưng khi đưa cho họ một quyển sách Trung Hoa cổ, ví dụ như Hán Thư, Lã thị Xuân Thu… thì họ đọc được, nhưng cũng chẳng hiểu được mấy tí, vì sách cổ Trung Hoa viết bằng Văn ngôn, khác xa với tiếng Trung hiện đại, muốn hiểu phải có chuyên gia Hán ngữ phiên dịch ra văn viết thông thường, gọi là Bạch thoại. Có thể nói Trung Quốc có một chữ viết thống nhất là chữ Hán, có một ngữ văn thống nhất là Trung văn ngày nay và Văn ngôn – Hán ngữ ngày xưa, nhưng Trung văn với Văn ngôn không giống nhau, còn tiếng nói thì xưa và nay đều không thống nhất.  Để hiểu rõ chuyện này, tốt nhất, hãy nghe người Trung Quốc nói gì về ngôn ngữ của họ. Dưới đây chúng tôi chuyển ngữ những phần chủ yếu một bài thuyết giảng phổ thông về vấn đề này của học giả Viên Đằng Phi 袁腾飞, Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Thủ đô Bắc Kinh đăng trên Nam phương bộ thị báo南方都市报 (www.nddaily.com 南都网). Trong bài viết này, ông cũng lý giải về nguồn gốc lịch sử dẫn tới nhược điểm “nhất tự đa nghĩa” (cùng một từ có nhiều nghĩa dẫn tới mơ hồ và khó khăn trong diễn đạt, một biểu hiện của sự lạc hậu, thiếu thốn từ vựng trong ngôn ngữ) của tiếng Trung Quốc hiện đại:  (…)  Ngôn ngữ quan phương hiện tại (Quan thoại), được gọi là phương ngữ miền Bắc, là một ngôn ngữ đã bị Hồ hóa trong quá trình lịch sử, tính ưu mỹ của Hán ngữ đã hỗn giao với sự thô sơ của ngôn ngữ các rợ Hồ làm cho Hán ngữ trở nên thô thiển, đơn sơ, ngoại trừ việc còn giữ được cơ sở kết cấu ngữ pháp (chủ vị tân) của ngữ hệ Hán-Tạng ra, thì Hán ngữ về cơ bản đã bị đánh gục tơi tả, cuối cùng bị Hồ hóa theo ngữ hệ Altai, là loại ngôn ngữ địa phương mà về tính chuẩn xác, tính thực dụng thì lạc hậu hơn nhiều so với các phương ngữ miền Nam (…) mà đại diện là Cantonese (tiếng Quảng Đông).  Từ cuối nhà Đường trở đi, phía Bắc bị cai trị lâu dài bởi Khiết Đan, Nữ Chân (Mãn), Mông Cổ v.v. (thuộc ngữ hệ Altai là chủ yếu) do đó chắc chắn là phương ngữ phía Bắc khó mà tránh khỏi bị Altai hóa, nên mất đi hầu hết những đặc điểm vốn có trong Hán ngữ, đồng thời bị pha tạp một số khẩu âm (giọng) ngoại tộc. Tỷ như, đại bộ phận các giọng địa phương của Hán ngữ đều có thể phân biệt hầu hết các âm gió-nổ (尖团音Tip group tone) trong khi các ngữ thanh phương Bắc không thể phân biệt được.  Đa số Hán ngữ địa phương đều phân biệt nhập thanh (入声) với phi nhập thanh (非入声). Tiếng phương Bắc không phân biệt được. Tiếng phương Bắc chỉ có bốn âm giai điệu (Tone): Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Âm khứ阴去。  Còn Hán ngữ lại phân thành tám âm giai điệu: Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Dương thượng 阳上, Âm khứ 阴去, Dương khứ 阳去, Âm nhập 阴入, Dương nhập 阳入.  Các phương ngữ miền Nam, trừ tiếng Việt Quảng Đông 粤语 ra, đều ít nhiều có hiện tượng mất bớt âm giai điệu, nhưng số âm giai điệu còn lại đều nhiều hơn phương Bắc, ít nhất là còn từ sáu âm giai điệu trở lên. Và tiếng Việt Quảng Đông không chỉ bảo tồn tám âm giai điệu, mà còn thêm vào giữa Dương nhập và Âm nhập một âm giai điệu nữa là Trung nhập, thành ra tiếng Việt Quảng có đến chín âm giai điệu.  (…)  Ngữ hệ Altai được đặc trưng bởi ít ngữ tố, đa âm tiết, ví dụ đặc biệt là Nhật Bản ngữ. Phương Bắc, so với phương Nam, cũng hiện rõ đặc điểm này, do đó mà có khó khăn lớn khi biểu đat. Tỷ như dùng tiếng phổ thông khi giảng giải có dính dáng chút ít học thuật, chỉ dùng lời nói (khẩu ngữ) không thôi là không đủ, bắt buộc phải viết ra chữ (văn tự) thì mới hiểu được.  Bởi vì có quá ít âm tố 音素, dẫn đến hiện tượng đồng âm quá nhiều. Vì vậy, để làm giảm đồng âm, miền Bắc sẽ phải tăng số lượng các âm tiết của từ vựng. Ở phía Bắc, các từ vựng đơn âm tiết là cực kỳ ít, còn số từ vựng đa âm tiết thì cực lớn.  Các phương ngữ miền Nam thì ngược lại, vì có nhiều âm tố nên hiện tượng đồng âm ít hơn, số lượng từ vựng đơn âm rất phong phú, số từ vựng có hơn ba âm tiết rất ít, và chủ yếu là đến từ tiếng miền Bắc.  Vậy cho nên để thể hiện cùng một ý tứ trong một đoạn thoại, người miền Nam dùng ít từ hơn người Bắc, đương nhiên là hiệu suất ngôn ngữ cao hơn nhiều.  Ngôn ngữ Bắc chẳng hiểu sao lại bắt người ta đệm thanh âm “ěr -儿” vào, chẳng có lý do mà phải tăng thêm âm tiết “ěr”, khiến ngôn ngữ diễn đạt đã có hiệu suất không cao, nay lại càng bị kéo thấp xuống nữa.  Nếu bạn so sánh phim Hồng Kông bản tiếng Quảng Đông với bản tiếng Quan thoại, bạn sẽ phát hiện ra hiện tượng trong bản tiếng Quan thoại nhiều nội dung ngôn từ bị cắt gọt bớt. Lý do là tiếng Quảng Đông chỉ với mười từ âm tiết là đủ ý cho một đoạn thoại, còn tiếng Quan thoại phải sử dụng đến 15, 16 âm tiết mới đủ, cho nên để khớp lời với miệng, chỉ có cách cắt bớt nội dung.  Từng có người luận bàn rằng Hán ngữ là một loại ngôn ngữ lạc hậu, luận điểm có nhiều chỗ sai, nhưng cũng có rất nhiều điểm là hoàn toàn chính xác, tìm hiểu đến nơi đến chốn thì ra người đánh giá này chỉ dựa trên cơ sở của Hán ngữ hiện tại, lý luận sặc mùi sùng ngoại, thật đáng thương hại, anh ta dường như quên mất Hán ngữ cổ rồi!  Trong thực tế, chúng ta phải dám thừa nhận, ngôn ngữ đơn âm, nếu chỉ có bốn âm giai điệu mà lại bắt nó phải rạch ròi chuẩn xác thì thật nực cười. Hãy thử lấy phương ngữ Hakka là đại diện của miền Nam, nhờ số cách phát âm nhiều, rất dễ giải quyết hiện tượng câu đa nghĩa quá nhiều trong Hán ngữ hiện đại.  (…) Ngôn ngữ quyết định trình độ của nền văn minh của một dân tộc. Trung Quốc, là một trong bốn nền văn minh cổ đại, trên thực tế, kể từ khi khởi đầu thời đồ đá, nền văn minh Trung Hoa biến đổi theo thời gian ngày càng lạc hậu so với văn minh Tây phương. Khi ở Trung Quốc vào thời nhà Hạ nhà Thương, thì văn minh La Mã, Ai Cập, Lưỡng Hà đã đi trướcTrung Quốc 2.000-3.000 năm, và Trung Quốc, trong hoàn cảnh kín cổng cao tường, đã phải mất gần hai ngàn năm, cuối cùng đã bắt kịp, và sau đó vượt xa lên phía trước. Nhưng kể từ sau đời Tống thì lại nhanh chóng suy nhược, ở đây liên quan đến một hiện tượng rất quan trọng, đó là trước Tống thì chính quyền quốc gia dựa trên ngôn ngữ chính thức (quan phương ngữ ngôn) là Hán ngữ, ưu mỹ, chuẩn xác, còn sau thời Tống thì ngôn ngữ chính thức của quyền lực nhà nước lại là ngữ ngôn phương Bắc (…) Các Trạng nguyên thời Đường, Tống, Nam Bắc triều về cơ bản là tương đồng, từ Tống về sau thì bị phương Nam lũng đoạn, thời cận đại, phương Nam phát triển cao hơn Bắc, Bắc phát triển cao hơn Tây Bắc, còn Đông Bắc trở thành một đỉnh cao vì thời kỳ đầu công nghiệp nặng tập trung ở mảnh đất này, được sự trợ giúp của nhà nước, thế mà cũng vẫn không thể sánh nổi với phương Nam.  (…) Âm phương Bắc có rất nhiều các loại âm mà phương Nam không có như âm ěr (“ㄦˇ，hậu tị âm (âm sau mũi 后鼻音)，hậu thiệt âm (âm sau lưỡi 后舌), là những âm khi nói cần phải vận động đầu lưỡi rất nhiều, phương nam ít loại âm này nên nói được rất nhanh. Mọi người hãy thử nói câu “骑车上公园儿” theo ngữ ngôn Bắc (Qí chē shàng gōngyuán er = Đi xe ra công viên) rồi so với cách nói miền Nam “骑 sang公园” xem nó chậm hơn bao nhiêu. Tốc độ của tư duy tỷ lệ thuận với tốc độ lời nói, nói nghĩ kiểu ậm à ậm ừ lai rai của người phương Bắc làm sao có thể cạnh tranh được với hiệu suất cao của người phương nam?  (…)  Tại sao một số học giả tin rằng tiếng Quảng Đông gần Hán ngữ cổ hơn cả? Thật ra đây không phải là nói chơi, bởi vì tiếng Quảng Đông đã bao hàm tất cả bốn thanh tám vần của Hán ngữ, một phần nhỏ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các dân tộc Lĩnh Nam [ý nói các dân tộc ở cực Nam Trung Hoa như xưa như, Âu Lạc, Nam Việt …](…) trong tiếng Quảng Đông có một số lượng lớn các từ bế âm tiết, âm đọc phụ âm nguyên âm tương đương nhau, có hoặc không có bế âm tiết tạo ra khác biệt rất lớn. Tỷ dụ hai chữ Đại 大 và Đạt 达 trong tiếng Quan thoại chỉ đọc khác nhau ở âm vận (dấu thanh điệu) “dà và dá” nhưng trong cách phát âm tiếng Quảng Đông chữ đầu là âm tiết mở (khai âm), chữ sau là âm tiết đóng (bế âm). Chữ đầu đọc là “dai”, chữ sau đọc là “dat” (chữ t là ký hiệu biểu thị tác dụng đóng của âm tiết thứ hai, không phát thành âm). Tiếng Quảng Đông không có âm uốn lưỡi, cũng giống như Hán ngữ cổ vậy. Nhìn ra ngoài Trung Quốc xem hai nước Việt Nam và Hàn Quốc là những nước chịu ảnh hưởng của Hán ngữ cổ, tuy rằng họ có bản ngữ dân tộc riêng, nhưng khi họ đọc chữ Hán (Hán tự thỉnh thoảng dùng để biểu ý khi ghi chép sang bản ngữ dân tộc của họ), thì thực là rất giống tiếng Quảng Đông.  Ví dụ, tất cả chúng ta đều biết rằng thương hiệu Hàn Quốc “三星 Tam Tinh-Ba sao) thì hai chữ Hán đó Hàn Quốc đọc là “Samsung”, còn tiếng Việt (tam tinh) và tiếng Quảng Đông (saam sing) đọc hai chữ này gần giống nhau (…)  Sự phân hóa của Hán ngữ bắt đầu lúc nào?  Thời Mạt Đường Ngũ Đại, dân thiểu số lại gây vó ngựa sa trường, Bắc Tống chỉ lo giữ cho được đất gốc của Trung Quốc, còn Yên Vân thập lục châu (16 vùng thuộc Bắc Kinh Thiên Tân và bắc phần Sơn Tây Hà Bắc ngày nay) rơi vào tay Khiết Đan, cũng là lúc bắt đầu thời Hán Hóa Khiết Đan. Khiết Đan thuộc chi ngôn ngữ Altai-Mông Cổ (một phiên bản cổ của chi ngôn ngữ Altai -Tungus), khác với mười sáu nhóm nhỏ ngôn ngữ của rợ Hồ. Vùng đất Hán cũ trước khi bị người Khiết Đan chiếm vốn đã có một lịch sử văn minh, cho nên để gìn giữ chế độ Khiết Đan cũ, họ đã cố phân chia ra hai vùng Khiết Đan và Hán riêng biệt để cai trị. Họ lấy ngôn ngữ dân tộc làm ngôn ngữ chính thức của đế quốc, có văn tự riêng, tuy vậy thì văn hóa dần dần cũng bị Hán đồng hóa, dù dưới sự cai trị lưỡng chế, nhưng ngôn ngữ không phải là chuyện của riêng ai, theo chính trị thâm nhập mạnh mẽ vào Bắc Hán ngữ, bắt đầu làm cho cách phát âm của Hán ngữ pha giọng Altai từ đấy.  Vả lại văn tự Hán ngữ thì tốt cho việc biểu đạt mà không đòi hỏi cùng một khẩu ngữ, nên chi Hán ngữ có sức mạnh lớn đồng hóa các tộc khác, không cần tác động lên văn tự của ngôn ngữ Khiết Đan có vị thế chính trị cao hơn. Mặc dù người Khiết Đan đọc chữ Hán với âm khác với người Hán, nhưng về văn tự thì đều hiểu như nhau, nên sự phát âm như nhau là không bắt buộc.  Tôi đoán từ thời gian này trở đi, khi Bắc Kinh đã trở thành lãnh thổ phía Nam của nhà Liêu, ngôn ngữ nói của Trung Quốc vì phục tùng tầng lớp cai trị của đế chế Đại Liêu nên bắt đầu quá trình Hán ngữ phía Bắc biến hóa theo phát âm của kiểu Altai. Âm uốn lưỡi (卷舌音-quyển thiệt âm retroflex) (bao gồm cả âm bật lưỡi 弹舌音-Đạn thiệt âm- Tongue sound) cực nhiều trong ngữ hệ Altai, ở đây, từ phía Bắc của Bắc Trung Quốc, ngữ âm Altai bắt đầu thâm nhập vào Hán ngữ. Kim diệt Liêu, chia đôi thiên hạ, nửa theo chế độ của nhà Kim, người Hán thiên di về Nam, Hán ngữ Hoa Bắc nhận thêm kẻ xâm lược mới: ngữ hệ Altai-Tongus, bắt đầu thời kỳ âm cuốn lưỡi gia tăng mạnh, lượng bế âm mất dần.  (…) Nhà Tống nam di, sau khi định đô ở Lâm An, ngôn ngữ của tầng lớp quan liêu quý tộc bị ảnh hưởng bởi phương ngữ Hán Ngô Việt vốn có nguồn gốc Hán Tạng đã tồn tại trước thời Xuân Thu, so với Hán ngữ thời Nam Bắc triều thì đã phân hóa rõ rệt. Hán ngữ Hoa Bắc đã bị Tongus hóa, nhưng vùng miền núi có thể là biệt lệ (bằng chứng cho thấy rằng nay vẫn còn có những ngôi làng ở khu vực miền núi ở Sơn Tây còn giữ được thanh nhập của Hán ngữ), còn khẩu ngữ của hoàng thân quốc thích và quan lại triều Nam Tống thì đã chuyển đổi dần theo giọng nói của Ngô Việt. (Sau 1.500 năm lịch sử, vốn dĩ đã thông dụng Hán ngữ, muốn đồng hóa họ e cũng khó khăn), và phía Nam của dãy Nam Lĩnh, vì núi non cản trở, nên ở đây Hán ngữ gốc có từ thời Tần Thủy Hoàng ít bị thay đổi. Loại Hán ngữ phá cách từ phương bắc theo vó ngựa xâm lược của dân du mục, khi đến được Giang Nam, Hoa Nam vượt qua bao nhiêu núi đồi cách trở nên ảnh hưởng đã yếu đi nhiều, chưa kể đến hàng rào cản là dãy Lĩnh Nam.  Đế quốc Mông Cổ chiếm nước Kim, một lần nữa Hán ngữ Hoa Bắc lại nhận thêm kẻ xâm nhập với khẩu ngữ mới (người Mông Cổ giết hại 90% dân số sống ở Bắc Trung Quốc, và phần còn lại phải chịu tuân phục). Lần này kẻ thống trị Hoa Bắc lại nói tiếng thuộc chi ngữ hệ Altai-Mông Cổ. Ai có hứng thú xem lại lịch sử nhà Nguyên nên biết rằng sự cưỡng bức chính trị thời này là đặc biệt kinh khủng. Các quan chức người Hán ai mà không tập theo tiếng Mông Cổ thì không thể yên ổn được (…)  Lúc này, trải qua sự xâm nhập và ảnh hưởng của chi ngữ ngôn Altai-Mông Cổ lẫn chi Altai-Tongus vào Hoa Bắc, đầu tiên tại kinh đô Đại Đô (tức Bắc Kinh) của nhà Nguyên đã hình thành nên tiếng Nguyên Đại Đô (tiếng Bắc Kinh), đó chính là thủy tổ của tiếng Phổ thông ngày nay.  Nhà Minh lật đổ sự thống trị thực dân Mông Cổ, lập Kinh Đô ở Nam Kinh, nhưng rồi thân vương mạnh nhất là Yên Vương Chu Lệ ở Bắc Kinh thoán đoạt ngôi vua, lại quay về Bắc Kinh đóng kinh đô, giữ Nam Kinh làm kinh đô phụ (Bồi Đô-陪都), dẫn tới số phận Hán ngữ Hoa Bắc bị Hồ hóa là điều không thể thay đổi. Cuối cùng thì nhà Minh cũng xác định tiếng nói của Đại Đô là tiếng nói chính thức của nhà nước. Sau đó, các vùng phụ thuộc Minh, các sắc dân Mãn Châu thuộc chi Tongus, nơi đã từng khởi binh chinh phục Trung Hoa, đều bị Hán hóa hoàn toàn, về văn hóa thì bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa, nhưng tiếng nói của vùng Hoa bắc cũng bị pha tạp, cuối cùng hình thành nên cơ sở cho ngôn ngữ hiện tại là tiếng phổ thông Quan thoại (mandarin) – kỳ thực thì tên gọi này đối với người Hán là một đại sỉ nhục, vì Mandarin chính là phiên âm của”满大人- Mãn đại nhân” tức là “tiếng nói của các quan Mãn Châu” (chữ Quan thoại cũng từ đó mà ra).  Hán tự, Hán văn và Trung văn – học sinh cần học gì?  Sau khi đọc đoạn viết của học giả Viên Đằng Phi, chắc ai cũng thấy rõ là chuyện học Hán tự, Hán văn và Trung văn là hoàn toàn khác nhau  Đối với người Trung Quốc, phương Bắc, phương Nam… thì ngoài phát âm tiếng mẹ đẻ của họ ra, họ chỉ phải học tiếng Quan thoại mà Bắc Kinh gọi là tiếng Phổ thông, Đài Loan gọi là Quốc ngữ… như vậy họ cũng đồng thời học được Hán tự (chữ Hán), còn Hán văn (cổ) dưới dạng Văn ngôn là ngữ văn của các chuyên gia, người dân Trung Hoa chỉ cần dùng Bạch thoại là dạng ngữ văn cho mọi người. Tiếng Trung Quốc (sau đây gọi là Trung văn) hiểu như vậy chính là Chữ Hán + Ngữ văn Bạch thoại + phát âm Bắc Kinh. Mọi người không phải là người Trung Hoa, muốn học tiếng Trung Quốc thì chỉ cần học chừng đó là đủ.  Nhưng nếu đề án ngoại ngữ của Bộ GD&ĐT chỉ học Trung văn mà không Hán ngữ cổ thì liệu có giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt không? Chắc chắn là không. Vì rõ ràng tiếng Việt liên quan chặt chẽ với Hán ngữ cổ chứ không phải Trung văn ngày nay. Còn nói rằng sẽ tạo cho lớp trẻ cơ hội bảo lưu và phát huy một kho di sản văn hóa khổng lồ của dân tộc trong quá khứ thì lại càng khó thuyết phục. Người Trung Hoa bình thường cũng không hiểu nổi các văn sách Hán văn cổ của cha ông họ, vẫn cần phải có chuyên gia phiên giải, bình chú, thì làm sao mà một học sinh Viêt Nam lại có thể hiểu được văn sách, bia, ký… cổ bằng Hán văn (hoặc chữ Nôm) của các nhà Nho Việt Nam viết ngày trước. Không thể nói vì Nhật Bản còn buộc học sinh phải học 2.000 chữ Hán, tại sao Việt Nam không. Nên nhớ là Nhật Bản vẫn dùng đến quá nửa chữ Hán nguyên mẫu trong văn tự của họ, không biết chữ Hán làm sao viết, đọc được tiếng Nhật. Còn ở chữ quốc ngữ Việt Nam thì không cần điều đó.  Vấn đề ở Việt Nam hiện nay liên quan đến sự tách rời của Hán ngữ với Trung văn như học giả Viên Đằng Phi đã phân tích ở trên. Bộ GD&ĐT muốn chọn Trung văn như một trong các ngoại ngữ, còn các nhà ngôn ngữ học lại muốn đưa vào nhà trường Hán ngữ (Hán tự + Hán văn cổ) như một môn học bắt buộc. Mà Hán ngữ này là Hán ngữ Việt Nam (còn gọi là Hán Việt), nói nôm na là chữ Nho, không tồn tại và không ai hiểu ngay ở Trung Hoa, trừ các chuyên gia ngôn ngữ chuyên về Hán ngữ cổ, mà họ cũng chỉ hiểu khi nhìn đọc trên văn bản, không hiểu khi nghe đọc.  Nên dạy và học Trung văn ở Việt Nam như thế nào?  Đứng trên góc nhìn khoa học, dù khen hay chê, dù yêu hay ghét thì Trung văn vẫn là một ngoại ngữ phổ biến và sẽ ngày càng phổ biến. Việc dạy và học Trung văn như một ngoại ngữ là có ích cho người học và cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy nên khuyến khích cho những người yêu thích và có tầm nhìn lựa chọn ngoại ngữ này, còn những người vì những lý do riêng không yêu thích thì cũng không nên bài xích. Tuy nhiên, không nên chỉ dạy Trung văn cho người Việt giống như dạy cho người Nga, người Mỹ… Nên kết hợp dạy chữ Trung Quốc ngoài phát âm theo pinyin (Bính âm) cần kèm theo âm Hán Việt nữa. Ngoài ra số tiền dự tính dùng cho việc đưa Hán Việt vào trường phổ thông (nếu có) nên giao phần lớn cho các nhà Hán Nôm số hóa, dịch và chú giải toàn bộ kho tàng văn hóa Hán Nôm của nước ta, (thực ra không quá lớn, đến mức không làm nổi trong một vài năm), và cho phép mọi người tiếp cận miễn phí kho tàng văn hóa đó. Một phần tiền nên dành cho việc đào tạo thêm Hán Việt (chữ Nho) cho các thầy cô giáo dạy Trung văn. Nếu làm được như vậy thì chắc chắn đủ nhân lực cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng như kết nối thế hệ trẻ với kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc.  ————-  1 http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/day-chu-han-thay-tieng-anh-vi-nhung-le-sau-324496.html  2 http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/giao-duc/tieng-trung-thanh-ngoai-ngu-thu-nhat-bo-gd-dt-len-tieng-3319332/    Author                Trần Gia Ninh        
__label__tiasang Lạm bàn về dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi      Luật Giáo dục (GD) là đạo luật được xã hội đặc biệt quan tâm bởi giáo dục liên quan đến mọi người, mọi nhà, mọi giai tầng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, sự hưng thịnh của dân tộc. Ban chuẩn bị Dự thảo luật giáo dục (Dự thảo) đã có nhiều nỗ lực, chuẩn bị công phu cho đạo luật quan trọng này, trong đó thể hiện được tinh thần hội nhập trên cơ sở bám sát thực tiễn đất nước và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của chúng ta trong tương lai; đồng thời sửa chữa một số nhược điểm, hạn chế, tồn tại của luật cũ, bổ sung một số vấn đề mới.      Nền giáo dục của chúng ta cần đạt chất lượng và chuẩn mực quốc tế. Ảnh: Sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam, một trong những trường tiên phong trong việc thúc đẩy nghiên cứu và công bố quốc tế. Nguồn: vnua.edu.vn.  Tuy nhiên, khi đọc Dự thảo, không ít người vẫn còn băn khoăn về tên gọi cũng như quan điểm và tư tưởng chỉ đạo khi tiến hành biên soạn văn bản quan trọng này.  Về tên gọi. Phải chăng tên Dự thảo nên là ‘Luật Giáo dục (sửa đổi)’, hoặc nếu có thể thì nên là ‘Luật Giáo dục năm 2018’. Không nên để tên là dự thảo ‘Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục’, bởi Dự thảo lần này đụng chạm đến hầu hết các Điều của Luật GD 2005 và Luật sửa đổi, sung 2009 (50 Điều). Hơn nữa, đã đến lúc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục 2005 một cách toàn diện. Cần rà soát lại tất cả, không phải chỉ 50 điều, để có thể sửa đổi, bổ sung thành một đạo luật đủ mạnh, tạo cơ sở pháp lý đủ tầm cho sự phát triển GD&ĐT của đất nước nói riêng, sự phát triển kinh tế xã hội nói chung trong những thập niên tới. Có như vậy mới thực sự đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế như yêu cầu của Nghị quyết 29 (NQ29 TW8).  Tư tưởng chỉ đạo và quan điểm  Luật phải thể hiện tinh thần và cụ thể hóa được Hiến pháp 2013, nhất là Điều 39 và Điều 61. Ví dụ, Điều 39 nêu ‘công dân có quyền và nghĩa vụ học tập’, muốn vậy luật phải định hướng việc thiết kế nền giáo dục sao cho nhu cầu học là nhu cầu thực và bức thiết hằng ngày như ăn, như thở, khi đó tự khắc mọi công dân sẽ đều có nhu cầu ‘học tập suốt đời’, việc học tập mới không còn tính trang trí hình thức. Bên cạnh đó, để làm được điều đã khẳng định tại Điều 61, ‘phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’, trước hết phải làm rõ các nội hàm thực sự của ‘quốc sách hàng đầu’ và ‘bồi dưỡng nhân tài’ là những gì.  Luật phải thể hiện được tinh thần các Nghị quyết (NQ) của Đảng về GD&ĐT. Trước hết là NQ 29 TW8, phải cụ thể hóa nội hàm ‘hội nhập quốc tế’ – phải chăng nội hàm ở đây là nền giáo dục của chúng ta hướng tới đạt chất lượng và chuẩn mực quốc tế, để học sinh, sinh viên (HS, SV) của chúng ta có thể trở thành ‘công dân toàn cầu’, đảm bảo tính liên thông với nền giáo dục thế giới, mà trước hết là với các nước trong ASEAN? Luật cũng cần cập nhật thêm những nội dung của Nghị quyết 19 về sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập và vấn đề tự chủ của các cơ sở giáo dục; hay tương tự như vậy với Nghị quyết Trung ương 6.  Luật cũng phải phù hợp với cam kết quốc tế của nhà nước ta, như WTO, CPTPP, chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc 2030 và các điều ước quốc tế khác; đồng thời cũng phải đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước trong những thập niên tới. Để tăng tính thuyết phục của Dự thảo, cần có một Phụ lục về nền giáo dục quốc tế, nhất là của các nước xung quanh để biết họ đã làm như thế nào, những vấn đề gì Việt Nam có thể vận dụng, những vấn đề nào không, để đất nước có thể theo kịp cách mạng công nghiệp lần thứ 4.  Để thể hiện tính kế thừa cao, mỗi khi thay đổi chính sách cần phải tổng kết chính sách cũ. Chúng ta cần làm rõ về nhu cầu cấp bách chỉnh sửa, bổ sung luật cũ hay thậm chí là xây dựng luật mới, căn cứ trên một báo cáo tổng kết phản ánh đúng với thực tế, trung thực, khách quan về các kết quả đã đạt được cũng như các tồn tại, vướng mắc, hạn chế mà nền GD đang phải đối mặt. Với từng mặt tồn tại, yếu kém của giai đoạn trước (ví dụ, các hạn chế trong hệ thống giáo dục quốc dân, quy hoạch mạng lưới, cân đối trong cơ cấu, trình độ, mục tiêu phát triển năng lực cá nhân, sự mất cân đối giữa dạy chữ với dạy người, v.v…) cần chỉ ra giải pháp sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện trong luật mới, được thể hiện cụ thể và thiết thực. Đặc biệt cần làm rõ hơn trách nhiệm của nhà nước, xã hội, người học và gia đình họ để đạt được mục tiêu của GD&ĐT như NQ 29 và Hiến pháp 2013 đã đề ra sau 13 năm thực hiện Luật cũ. Cần khẳng định và nêu bật những cam kết mới, ví dụ phải đạt mục tiêu phổ cập, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm kể từ sau 2020, hay miễn học phí cho giáo dục mầm non tới 5 tuổi trước 2020 v.v…  Luật GD nên được coi là luật gốc, là nền tảng, là cơ sở, để từ đó xây dựng các luật về mầm non, luật về phổ thông, luật về đại học, luật về giáo dục nghề nghiệp, luật nhà giáo, v.v…. hình thành Bộ Luật về GD trong tương lai. Đồng thời, phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và các Luật khác trong hệ thống pháp luật của chúng ta, như Bộ Luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Bình đẳng giới, Luật Giáo dục nghề nghiệp, v.v… Ví dụ, Luật Lao động qui định các chủ doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng các nhà trẻ, nhà mẫu giáo cho người lao động của mình, điều đó cũng phải được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục lần này.      Trách nhiệm quản lý và giải trình của nhà nước cũng như các cơ sở giáo dục, vấn đề tài chính đầu tư cho giáo dục và xã hội hóa giáo dục… là những điều cần được làm rõ hơn. Đặc biệt cần thể chế hóa và cụ thể hóa được quan điểm đổi mới quản lý giáo dục theo hướng quản lý chất lượng, đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền tự chủ và nâng cao trách nhiệm các cơ sở giáo dục đào tạo.      Luật Giáo dục cần được viết để xã hội thấy chúng ta đặt việc giáo dục cao hơn việc học, nhất là ở bậc phổ thông, có như thế mới đảm bảo ‘thày ra thày trò ra trò; trường ra trường lớp ra lớp’. Các ‘chủ thể’ của nền giáo dục và mối quan hệ giữa họ với nhau cần được làm rõ. Ví dụ trong quan hệ giữa người học, phụ huynh, nhà giáo, nhà trường, hiện nay không có quy định nào về việc cha mẹ phải có nghĩa vụ tôn trọng nhà giáo.  Cần phân biệt Luật Giáo dục với Luật về các cấp học, bậc học. Cụ thể, việc giáo dục phổ thông, đặc biệt là giáo dục đầu đời (từ 1 đến 3 tuổi là nhà trẻ, 3 đến 6 tuổi là mẫu giáo, và 5 năm tiểu học) có vai trò quan trọng nhất để hình thành nhân cách, phẩm chất, năng lực của con người, cần có sự phối hợp chặt chẽ và hữu cơ giữa nhà trường và gia đình. Giáo dục phổ thông chính là để giúp cho đất nước trong tương lai có được những con người yêu nước, tự trọng, trung thực, quí trọng đồng loại và yêu quí thiên nhiên, mang văn hóa và tâm hồn Việt; đồng thời có những phẩm chất sáng tạo, tự chủ, tự tin, độc lập và có bản lĩnh. Với GD đại học thì mục tiêu đặt ra lại khác, đó là: đào tạo cho đại chúng phải đảm bảo người học nào cũng có một ‘nghề’ để kiếm sống; bên cạnh đó đào tạo ra những chuyên gia, cán bộ khoa học và cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, vững về kiến thức nhân văn – xã hội, có tinh thần dấn thân và tư tưởng đổi mới – những cái gốc của sự sáng tạo, theo tinh thần của giáo dục khai phóng, với quan điểm đào tạo đại học là quốc tế hóa càng sớm càng tốt, càng sâu rộng càng tốt, nhằm sớm nhất có những chuyên gia, các nhà khoa học đầu đàn, các nhà quản lý tài ba, tiệm cận nhanh chóng với các chuẩn mực quốc tế về chuyên môn và ngoại ngữ, để đất nước sớm có thể xuất khẩu chuyên gia chứ không chỉ xuất khẩu lao động.  Đặt việc giáo dục cao hơn việc học còn thể hiện ở đánh giá HS, SV không chỉ qua các kỳ thi và điểm số môn học, mà còn qua các hoạt động xã hội, đóng góp cho cộng đồng… trong quá trình học của các em. Cũng không nên bó hẹp thời gian học trong trong ĐH một cách cứng nhắc, nên cho phép SV đang học có thể nghỉ đi làm, đi khởi nghiệp, vài ba năm lại trở về học tiếp. Nên có những quy định cụ thể về việc cho phép HS phổ thông học sớm hoặc muộn 1-2 tuổi, HS học xuất sắc có thể học vượt cấp v.v.  Các khái niệm, các thuật ngữ trong luật cần được làm rõ để ai đọc cũng hiểu. Ví dụ, thế nào là hệ thống giáo dục mở (đặc trưng, phạm vi, tiêu chí của hệ thống giáo dục mở), và liên thông (quy trình cách thức quản lý trong liên thông và phân luồng các cấp học); giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; giáo dục trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT), v.v… – phải chăng cái gì ngược với chính quy thì được coi là không chính quy, ngược lại với thường xuyên là không thường xuyên, và liệu giáo dục thường xuyên khác và giống gì với giáo dục suốt đời của các nước?  ***  Luật giáo dục là một luật lớn, liên quan đến các thành phần xã hội, nên cần xin ý kiến rộng rãi toàn xã hội nhiều lần, kể cả các em HS, SV, trên tinh thần thực sự cầu thị, thực chất, tránh hình thức, làm cho có, cho đủ thủ tục; cần công khai các ý kiến đóng góp, làm rõ cái gì tiếp thu, cái gì chưa hoặc không tiếp thu. Tránh tình trạng ai góp ý cứ góp ý, còn ban soạn thảo cứ biên soạn theo chủ quan của mình, hoặc chỉ tiếp thu ý kiến của lãnh đạo các bộ ban ngành của Trung ương, hoặc những cá nhân có tầm ảnh hưởng nhất định trong xã hội.  Về Mục tiêu giáo dục, đã được nêu: “nhằm phát triển toàn diện con người, phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của họ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu hội nhập quốc tế; nghĩa là chúng ta hướng đến mục tiêu xây dựng nền GD Việt Nam dân tộc, tiên tiến, hiện đại”, cũng cần phải cụ thể hóa cho các cấp học, ví dụ như học sinh tốt nghiệp tiểu học có thể làm được những việc gì, tương tự với các bậc THCS, THPT, Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ, v.v… thành một hệ thống chuẩn các năng lực, kĩ năng, phẩm chất từ dưới lên trên. Quy định về đầu tư cho giáo dục cần có định hướng sau này mở rộng thu hút nguồn lực đầu tư xã hội hóa để cùng với ngân sách nhà nước phát triển giáo dục, vì vậy cần có quy định về các thủ tục để chuyển đổi các hình thức sở hữu. Vấn đề hệ thống cơ sở giáo dục: cần phải xác định rõ hơn, mạch lạc hơn với các loại hình nhà trường, chuyển đổi các loại hình nhà trường theo quy định mới như thế nào. Ví dụ, trong Dự thảo sửa đổi chúng ta chia ra hai loại trường, công lập và ngoài công lập, ngoài công lập lại chia ra bốn loại trường; các loại trường này có cơ chế tài chính khác nhau. Vì thế, dự thảo cũng cần làm rõ, phải có quy định cụ thể. Trách nhiệm của nhà trường đó với sản phẩm đào tạo ra cũng cần được làm rõ. Quản lý giá dịch vụ giáo dục: và theo cơ chế giá hiện nay các loại trường thu học phí rất khác nhau; vậy ở các cấp học khác nhau, loại hình trường khác nhau, vùng miền khác nhau…nhà nước có quy định giá không, và nhà nước quản lý như thế nào?    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Làm gì để nâng cao chất lượng đại học?      Khi đã xác định một quan điểm chất lượng phù hợp để theo đuổi, để được kiểm định và để đạt đến thứ hạng cao theo trào lưu hiện nay thì một trường đại học vẫn phải tiếp tục công cuộc cải thiện chất lượng nếu nó vẫn muốn giữ vững cấp bậc đó và cả thu nhập từ địa vị đang có trong xã hội của nó.    Chất lượng giáo dục đại học là một vấn đề phức tạp do có quá nhiều quan điểm khác nhau. Chất lượng giáo dục đại học có thể được xem như là sự vượt trội, sự hoàn hảo, sự phù hợp với mục tiêu, sự vượt ngưỡng, sự thỏa đáng với vốn đầu tư, và sự biến đổi (Eshan, 2004; Parri, 2006; Horsburgh 1998, Harvey and Green, 1993; van Damme, 2003). Khi đã xác định một quan điểm chất lượng phù hợp để theo đuổi, để được kiểm định và để đạt đến thứ hạng cao theo trào lưu hiện nay thì một trường đại học vẫn phải tiếp tục công cuộc cải thiện chất lượng nếu nó vẫn muốn giữ vững cấp bậc đó và cả thu nhập từ địa vị đang có trong xã hội của nó (Williams, 1993). Vậy, các trường cần làm gì để nâng cao chất lượng?   Đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng  Đảm bảo chất lượng (quality assurance) và nâng cao chất lượng (quality enhancement) đều dẫn đến những tiến bộ nhất định về chất lượng của một trường đại học (Lomas, 2004).   Đảm bảo chất lượng đặt trọng tâm vào việc đạt những chuẩn mực và tránh việc cung cấp những dịch vụ hoặc sản phẩm chất lượng không cao. Nó thiên về việc làm thỏa mãn những yêu cầu của một tổ chức bên ngoài và duy trì công việc kiểm soát chất lượng hơn là đi tìm sự vượt trội về chất lượng (Dew & Nearing, 2004). Đảm bảo chất lượng cũng nhấn mạnh những hoạt động phù hợp với những mục tiêu đặt ra nhưng lại ít đề cập những vấn đề có liên quan đến công tác giảng dạy và học tập (Middlehurst, 1997; West-Burnham & Davies, 1994). Nó chủ yếu tiến hành đánh giá và giải quyết các vấn đề đã xảy ra hoặc những việc trước mắt hơn là những việc có tầm chiến lược lâu dài (Lomas, 2004).   Trong khi đó, nâng cao chất lượng lại liên quan đến tiến trình thay đổi toàn diện và lâu dài, bao gồm cả thay đổi về dạy và học. Nó liên quan trực tiếp tới việc gia tăng kiến thức cho sinh viên (value-adding), nâng chuẩn chất lượng và tiến hành áp dụng những cái mới mang tính thay đổi (Jackson, 2002; Middlehurst, 1997). Và có lẽ chính vì nâng cao chất lượng bao hàm những yếu tố làm thay đổi một trường đại học nên gần đây nó được các trường đại học quan tâm nhiều hơn (Yorke 1996).  Mô hình duy nhất nâng cao chất lượng giáo dục đại học – chuyện không tưởng  Chất lượng là làm những gì cần làm cho đúng theo phương cách đúng nhất (Jacques, 1999) và vì thế nâng cao chất lượng có nghĩa làm những gì cần làm cho đúng theo phuơng cách tốt hơn. Thật không may, chúng ta có quá nhiều đối tượng liên đới (stakeholder) với trường đại học như giáo viên, sinh viên, gia đình sinh viên, nhà tuyển dụng,… nên vấn đề ‘chất lượng’ trở nên vô cùng phức tạp vì quan điểm chất lượng đại học khác nhau đối với các đối tượng đứng trên lập trường khác nhau (Houston, 2007); và do đó, việc tồn tại một mô hình duy nhất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học là chuyện không tưởng.   Deming cho rằng cách thức tốt nhất để nâng cao chất lượng là tìm ra điểm yếu của tổ chức và khắc phục nó (Houston, 2008). Có lẽ vì lý do này mà đánh giá chất lượng, kiểm định chất lượng, công nhận chất lượng đã trở nên những biện pháp chủ yếu được sử dụng và tuyên bố là có tác dụng đảm bảo và nâng cao chất lượng. Những hoạt động này được thực hiện định kỳ ở các trường thông qua hệ thống bình bầu giữa các trường (peer review). Khi được cơ quan kiểm định chất lượng có thẩm quyền công nhận, một trường đại học sẽ được xem như ‘có năng lực về chất lượng’ (quality competence) (Alderman & Brown 2005).   Tuy nhiên, tôi không nhận thấy những hoạt động này góp phần quyết định vào việc nâng cao chất lượng nếu xét riêng về bản chất của chúng. Chúng ta cần xem xét tính khách quan cũng như giá trị của những cái chuẩn được đưa ra để đánh giá các trường; và sau khi được công nhận đạt chuẩn chất lượng, những trường này có đảm bảo giữ vững mức độ chất lượng đó và tiếp tục nâng cao nó hay không vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ.   Được đặt trong một thế giới đang biến đổi, mỗi trường phải luôn vận động để đạt những mục tiêu của riêng mình và những yêu cầu của xã hội, mà trước hết là yêu cầu của những tổ chức đã được ủy nhiệm kiểm định chất lượng. Vì thế, đánh giá chất lượng, kiểm định chất lượng, công nhận chất lượng sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt quá trình phát triển của một tổ chức và những hoạt động này khiến cho việc nâng cao chất lượng trở thành một gánh nặng đầy phiền toái, một gánh nặng do ai đó quyết định và áp đặt xuống tất cả các trường, ít nhất là trong phạm vi một quốc gia, mà không cần biết đến tình hình cụ thể của từng trường, tầm nhìn và mục tiêu của họ.  Deming cũng đề cập mối quan hệ giữa những mục tiêu mà một tổ chức đặt ra và tiến trình nhằm đạt được chúng. Ở trường đại học nói riêng, cho dù một trường nào đó có đặt mục tiêu gì thì các hoạt động học thuật như giảng dạy, học tập, nghiên cứu không thể bị phủ nhận và chúng phải là tâm điểm của việc nâng cao chất lượng. Cơ quan đảm bảo chất lượng QAA của Anh đã định nghĩa nâng cao chất lượng là ‘tiến trình thực thi một cách thận trọng các bước ở cấp độ trường học nhằm nâng cao chất lượng của cơ hội học tập’ (QAA, 2006 p.16, in Becket & Brookes 2008).   Định nghĩa này khiến chúng ta tự hỏi nâng cao chất lượng học tập cho ai và làm thế nào để tạo cơ hội cho việc học đó xảy ra. Dễ nhìn thấy nhất, đó là việc học của sinh viên nhưng còn một khía cạnh nữa của việc học ở môi trường đại học đó chính là việc tự học để trau dồi trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên vì kiến thức của họ, cách thức họ tổ chức việc học, cách thức họ đánh giá sinh viên có liên quan trực tiếp đến chất lượng việc học của sinh viên. Do đó, đội ngũ giảng viên phải luôn được ưu tiên và tạo mọi điều kiện để nâng cao trình độ.   Chức năng dịch vụ bên trong và bên ngoài  Bên cạnh đó, một trường đại học bất kỳ nào cũng là một tổ chức nên công việc quản lý là quan trọng và cần thiết, nhất là ở những trường được phân cấp và có tính tự quản, tự chịu trách nhiệm cao. Lẽ dĩ nhiên, cơ sở vật chất, những dịch vụ tư vấn hỗ trợ cùng những yếu tố bên trong giúp mọi hoạt động trong trường đại học hoạt động một cách tốt nhất và đồng điệu nhất cũng phải được cải thiện, và xin được lập lại, để phục vụ chức năng học thuật. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nếu tất cả những yếu tố này được cải thiện nhưng bản thân sinh viên không tham gia tích cực vào hoạt động học thuật thì chất lượng của việc học cũng không thể được nâng lên vì việc học chỉ xảy ra bởi/cho người học: sinh viên là người đồng sản xuất để tạo ra sản phẩm giáo dục của chính họ (McCulloch, 2009). Vì thế, hoạt động học thuật và những hoạt động tổ chức phải làm sao để kích thích tính tích cực học tập của người học, bao gồm cả sinh viên và giảng viên. Đến đây, tôi xin mạn phép đặt tên cho tất cả những yếu tố vừa nêu trên bằng một thuật ngữ chung là chức năng dịch vụ bên trong.   OECD (2008) đã xác định rõ 4 vai trò của giáo dục học đại học trong thời đại của chúng ta: (1) xây dựng nguồn nhân lực, (2) sản sinh tri thức mới, (3) chuyển giao và ứng dụng tri thức, (4) duy trì, bảo tồn vốn kiến thức của nhân loại. Nhìn chung cả bốn vai trò này đều nhắm vào chức năng học thuật của giáo dục đại học, nhưng nó không bó hẹp trong khuôn viên của trường đại học mà nó còn phải được hướng ra bên ngoài để phục vụ cộng đồng với tư cách làm dịch vụ (như ký hợp đồng nghiên cứu với các doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ,…), đơn giản bởi vì nó là một bộ phận không thể tách rời trong xã hội. Nó đóng góp vào sự phát triển của xã hội thông qua công tác giảng dạy, nghiên cứu và những dịch vụ có liên quan (Houston, 2008). Nếu mối liên kết giữa trường đại học và xã hội được làm tốt, chúng ta sẽ tạo ra những sinh viên tốt nghiệp ưu tú hơn vì những sinh viên này sẽ mang những tố chất gần với yêu cầu công việc mà họ sẽ đảm nhận ngoài xã hội khi rời ghế nhà trường chứ không chỉ thiên về lý thuyết suông. Điều này sẽ giúp các trường tránh việc lãng phí và lúng túng trong quá trình đào tạo, đồng thời tạo cơ hội cho sinh viên tìm việc dễ dàng hơn.   Tương tự như vậy, hoạt động nghiên cứu là để ứng dụng vào cuộc sống thực tế; thậm chí nghiên cứu thuần túy (pure research) cũng nên đi theo hướng này vì một nghiên cứu sẽ trở nên vô dụng nếu nó chẳng giúp ích gì cho con người. Những công trình nghiên cứu của trường đại học sẽ mang lại lợi ích cho xã hội, rồi đến lượt xã hội sẽ tạo điều kiện để các trường hoạt động tốt hơn, ít nhất là xét về vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và sự ưu ái mà xã hội dành cho các trường vì đó là nhà máy sản sinh ra sản phẩm mà không phải ngành công nghiệp nào cũng có thể làm được: tri thức.   Như vậy, việc giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng là những thành tố trong một chu kỳ xoắn ốc; chúng không bó hẹp trong phạm vi của riêng chúng mà nó có tác dụng thúc đẩy việc học nói riêng, và chức năng học thuật ở trường đại học nói chung (Houston, 2008). Tôi đặt tên cho sự liên kết học thuật và dịch vụ với xã hội của trường đại học là chức năng dịch vụ bên ngoài.  ***  Nói tóm lại, trong môi trường đại học, chức năng học thuật (giảng dạy-học tập-nghiên cứu) cần phải được ưu tiên nâng cao. Thêm vào đó, dịch vụ bên trong và bên ngoài trường đại học cần được điều chỉnh sao cho phục vụ chức năng học thuật được hiệu quả nhất. Quản lý chất lượng là cần thiết, nhưng xét về bản chất của hoạt động này, nó không phải là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục.   Câu hỏi còn lại là: Chúng ta có thể thực hiện tất cả những hoạt động trên cùng lúc để nâng cao chất lượng giáo dục hay không? Đó chính là khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành vì lý thuyết có xu hướng lý tưởng hóa mà không phải chịu tác động của bất kỳ yếu tố nào trừ yếu tố nhận thức của người xây dựng lý thuyết ấy, trong khi thực hành phải chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác trên thực tế. Thật vậy, bản thân việc xác định tất cả những yếu kém trong tổ chức của mình để sửa đổi là một nhiệm vụ nan giải nên chúng ta chỉ có thể làm từ từ bằng cách nhận diện từng yếu kém một để sửa.   Ở đây, một nguy cơ khác lại xuất hiện từ việc làm này: mỗi tổ chức là một mắt xích không thể tách rời, khi sửa một khâu nào đó trong dây chuyền tổ chức, nó sẽ ảnh hưởng đến các khâu có liên quan. Như thế, việc sửa sai cứ phải tiến hành suốt đời không thể dừng lại được mà chưa chắc đã mang lại chất lượng cao hơn cho trường đại học. Có lẽ chính lý do này đã khiến các học giả và nhà quản lý đưa ra một số mô hình để quản lý chất lượng chăng? Nhưng như đã nói ở trên, quản lý chất lượng không thật sự là yếu tố hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng trường đại học. Thôi thì trong khi chờ đợi một mô hình toàn diện, chúng ta nên hài lòng với những lợi ích, nếu có, từ các mô hình quản lý chất lượng xây dựng trên nền tảng công nghiệp vậy!  Tài liệu tham khảo  Alderman, G & Brown, R 2005, ‘Can Quality Assurance Survive the market? Accreditation and Audit at the Crossroads?’, Higher Education Quarterly, vol. 59, no 4, pp. 261 – 274.   Becket, N & Brookes, M 2008, ‘Quality Management Practice in Higher Education – What Quality Are We Actually Enhancing?’, Journal of Hospitality, Leisure, Sport & Tourism Education, vol.7, no. 1, pp. 40 – 54.  Dew, JR & Nearing, MMc 2004, Continuous quality improvement in higher education, Greenwood Publishing Group, Inc, Westport.  Harvey, L & Green, D 1993, ‘Defining Quality’, Assessment and Evaluation in HE, vol.18, no.1, pp. 9-14.  Ehsan, M 2004, ‘Quality in higher education: Theoretical overview’, Asian Affairs, vol. 26, no. 3, pp. 61-72.  Horsburgh, M 1998, ‘Quality Monitoring in Two Institutions: a Comparison’, Quality in Higher Education, vol. 4, no. 2, pp.115-135.  Houston, D 2007, ‘TQM and higher education: A critical systems perspective on fitness for purpose’, Quality in Higher Education, vol. 13, no. 1, pp. 3-17.  Houston, D 2008, ‘Rethinking quality and improvement in higher education’, Quality Assurance in Education. vol. 16, no. 1, pp. 61-79.  Jackson, N 2002, ‘Principles to support the enhancement of teaching and student learning’, Educational Developments, vol. 3 no. 1, pp. 1-6.  Jacques, M L 1999, ‘The Call of quality: doing right things right’, Quality Progress, September, pp. 48-54.  Lomas, L 2004, ‘Embedding quality: the challenges for higher education’, Quality Assurance in Education, vol. 12 no. 4, pp. 157-165.  Lomas, L 2007, ‘Zen, motorcycle maintenance and quality in higher education’, Quality Assurance in Education, vol. 15, no.4, pp. 402-412.   McCulloch, A 2009, ‘The student as co-producer: learning from public administration about the student-university relationship’, Studies in Higher Education, vol. 32, no. 2, pp. 171-183.  Middlehurst, R 1997, ‘Enhancing quality’, in F Coffield & B Williamson (eds.), Repositioning Higher Education, SRHE/Open University Press, Buckingham, pp.45-56.  OECD 2008, Tertiary education for the Knowledge Society: OECD Thematic Review of Tertiary Education: Synthesis Report. OECD Publication online, viewed 15 April 2008, <www.oecd.org/dataoecd/20/4/40345176.pdf>.  Parri, J 2006, ‘Quality in HE’, VADYBA Management, no. 2, pp.107-111.  QAA, HEFCE & The Higher Education Academy 2008, ‘Quality enhancement and assurance: A changing picture’, viewed 15 March 2009, <http://www.heacademy.ac.uk/assets/York/Events/Past_Events/Documents/QualityEnhancementreport.pd>  van Damme, D 2003, Standards and Indicators in Institutional and Programme Accreditation in HE, UNESCO CEPES.  West-Burnham, J & Davies, B 1994, ‘Quality management as a response to educational changes’, Studies In Educational Administration, no. 60, p. 49.  Williams, G 1993, ‘Total Quality Management in Higher Education : Panacea or Placebo?’, Higher Education, vol.25, no. 3, pp. 229-273.  Yorke, M 1996, ‘Shouldn’t quality be enhanced, rather than assessed?’ , Tertiary Education and Management, vol. 2, no. 1, pp. 86-94.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm gì khi con bạn nói “Con ghét mẹ”?      Tôi không thể nào quên được lần đầu tiên khi cậu con trai lớn của tôi, lúc đó chừng sáu tuổi đã vênh cái mặt méo đi vì giận dữ và thốt ra câu: “Con ghét mẹ” khi tôi không mua cho nó một bộ đồ chơi mới.    Tôi không thể nào quên được lần đầu tiên khi cậu con trai lớn của tôi, lúc đó chừng sáu tuổi đã vênh cái mặt méo đi vì giận dữ và thốt ra câu: “Con ghét mẹ” khi tôi không mua cho nó một bộ đồ chơi mới.  Lúc đó, tôi có cảm xúc hỗn loạn giống như hầu hết các bậc cha mẹ khi rơi vào hoàn cảnh đó: nửa muốn bật cười vì tôi biết con tôi chỉ lặp lại lời nói mà cháu đã nghe ở đâu đó mà không nghĩ đến nghĩa thật của nó; một nửa trong tôi muốn bật khóc vì thất vọng. Tại sao con trai tôi, người mà tôi yêu quý nhất lại nói rằng nó không thích tôi một cách thiếu tôn trọng như vậy? Cũng cùng lúc đó, tôi bỗng nhận ra con trai tôi đã đủ lớn để can đảm đứng trước mặt người mẹ đầy quyền lực của nó và thông báo rằng: “Con ghét mẹ” với sức mạnh của sự tức giận. Vì vậy, tôi phải suy nghĩ cách đối xử với cháu sao cho cháu cảm thấy được tôn trọng.   Hầu hết các bậc cha mẹ có con từ 5 tuổi đến 13 tuổi, đều phải nghe không biết bao nhiêu lần những câu nói như: “Mẹ (Bố) thường xuyên nói không đồng ý”, “Bố tốt hơn mẹ nhiều”, “Bố thật không công bằng”, “Mẹ chỉ giả vờ thôi”… Phản ứng lại bố, mẹ là một cách để trẻ em, đặc biệt là trẻ vị thành niên trưởng thành và những cách phản ứng của chúng, đôi khi đẩy các bậc làm cha làm mẹ vào những tình huống “dở khóc dở cười”.  Đừng phản ứng quá vội vàng  Mặc dù rất khó khăn để không giận sôi lên trong những tình huống như vậy. Cách tốt nhất để thay đổi thái độ tức giận của bọn trẻ đối với chúng tôi là thở sâu 2- 3 phút và không cho phép mình rơi vào cái bẫy… làm cho cuộc tranh cãi kéo dài thêm. Hãy chú ý vào cảm xúc đừng để ý đến lời nói và giữ bình tĩnh. Điều quan trọng là những đứa trẻ biết bạn thừa nhận những cảm xúc bên trong của nó mà không phản đối hay từ chối nó.  Ví dụ: Tôi nói với con trai tôi: “Mẹ biết con rất giận mẹ. Chúng ta sẽ nói về chuyện đó sau nhưng không phải là bây giờ. Hãy để đến lúc con bình tĩnh hơn”.    Học cách lắng nghe                   Hãy chú ý đến cảm xúc của trẻ thay vì từ ngữ        Thời hạn của cuộc nói chuyện tiếp theo cũng rất quan trọng. Hãy thử tính xem cần bao nhiêu thời gian để bạn cũng như con bạn trở về trạng thái cân bằng tâm lý hơn. Chị Sheila, người mẹ của cậu con trai 8 tuổi chia sẻ : “Tôi biết là đã đến lúc có thể đến gần con khi nghe thấy tiếng hắng giọng ở trong phòng của nó. Nếu nó còn giận dữ thì nó còn giữ im lặng”.  Một khi bạn đã ngồi xuống để nói chuyện, hãy quên hết những cảm xúc giận dữ cá nhân và nghĩ về cuộc thảo luận như để tìm ra chân lý. “Tôi tập trung vào câu hỏi và lắng nghe” – Lila, mẹ của cô bé Marte 11 tuổi nói. “Tôi muốn con gái nói về điều gì đã làm cho cháu buồn, tôi đã làm gì để cháu giận dữ như vậy”? Tôi đã rất khó khăn để không phản đối lại khi Marte buộc tội tôi là cố tình ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu, khi không cho cháu đi đến siêu thị, mặc dù Marte hiểu rõ rằng, cháu không được phép đi vì ngày mai có bài kiểm tra. Dưới góc nhìn của cháu, lỗi là của tôi nên tôi chỉ gật đầu. Tôi có thể giải thích ý kiến của mình sau đó. Lila đã học được rằng, nếu cô ấy ngắt lời than phiền của con gái, Marte, cũng như phần lớn trẻ khác, sẽ lại cảm thấy giận dữ.  Hỏi ý kiến của bé  Hãy hành động ngay sau khi bé đã than phiền hết – Lila khuyên. Hãy hỏi bé là có thể làm gì để không xảy ra những bực tức như thế lần nữa? Khi đặt câu hỏi như thế nghĩa là bạn đã… đá quả bóng vào chân con bạn. Bé sẽ không chỉ cảm thấy hài lòng vì ý kiến của mình được đánh giá mà còn phải đương đầu với một thách thức tìm ra giải pháp cho vấn đề và điều đó sẽ làm con bạn cảm thấy dễ chịu hơn. Hãy luôn nhớ rằng đôi khi những than phiền của con bạn là có cơ sở. Cha mẹ có thể hứa mua thứ gì đó nhưng không làm, gây ra những mong chờ không thực tế hoặc buộc tội con mình cái mà nó không làm.  Thường thì những yêu cầu của trẻ có thể dễ dàng thực hiện được. Con trai bảy tuổi của Evelin rất ghét cô ấy nói chuyện điện thoại sau bữa tối vì muốn cô ấy giúp nó làm bài tập về nhà. Evelin đã thay đổi thói quen của mình để làm vừa lòng cậu con trai.  Kết thúc với lòng yêu thương  Nên cho trẻ biết rằng tất cả chúng ta ai cũng có những lúc có cảm xúc mạnh hơn bình thường, thậm chí căm ghét, nhưng điều đó là tự nhiên và nó sẽ kéo dài không lâu. “Ngay cả khi mẹ giận con thì mẹ vẫn yêu con” – là câu tôi thường nói với con trai lúc nó còn bé và cháu cũng nhắc lại như thế với tôi sau mỗi lần cãi nhau. Trẻ con ở mọi lứa tuổi cần luôn được nhắc nhở rằng, khi “cơn bão” qua đi thì nó sẽ lại tìm thấy mình được an toàn và yêu thương  Hải Yến      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm ra cái có      Một giải ph&#225;p gi&#225;o dục đ&#237;ch thực về cả triết học lẫn thực tiễn phải l&#224; Giải ph&#225;p ph&#225;t triển gi&#225;o dục. Muốn ph&#225;t triển th&#236; phải c&#243; năng lượng vật chất cấp cho n&#243;, lấy đ&#226;u ra?  – Kh&#244;ng thể lấy từ c&#225;i kh&#244;ng. Chỉ c&#243; thể lấy từ c&#225;i c&#243;, hơn nữa, phải l&#224; c&#225;i c&#243; lần đầu ti&#234;n chủ động l&#224;m ra theo nguy&#234;n l&#253; mới chưa hề c&#243;!  &nbsp;    Em sinh năm 2001, năm đầu tiên thế kỷ XXI. Em sống trọn đời trong thế kỷ XXI.  Năm học 2007 – 2008, em đến trường, học lớp Một. Tất cả 100% trẻ em sinh năm 2001 đều đi học, dù sinh sống trên bất cứ vùng đất nào của Tổ Quốc Việt Nam.  Năm 2019, tất cả 100% các em này sẽ là 100% cử tri đi bầu đại biểu Quốc hội, nghĩa là từ năm 2019, toàn thể công dân Việt Nam, cả 100% đều là sản phẩm chính thức, chính thống, chính cống của nền giáo dục đầu thế kỷ XXI. Xin lưu ý, nền giáo dục đầu thế kỷ XXI không sinh ra từ một xã hội hiện đại có sẵn. Cũng vậy, xã hội đầu thế kỷ XXI không có sẵn cho mình một nền giáo dục hiện đại. Cả hai cùng sinh thành ra nhau. Chuyện chưa hề có trong quá khứ, nhưng là bước phát triển tất yếu theo logic nội tại của lịch sử.  Xã hội tồn tại và vận động bằng năng lượng vật chất của nền sản xuất đương thời. Một nền sản xuất đặc trưng bởi sức lao động. Làm nghề nông, nghề thủ công, thì cần sức lao động chân tay. Nền sản xuất hiện đại đặc trưng bởi sức lao động trí óc. Để trở thành người lao động sản xuất hiện đại, học sinh phải học để có sức lao động trí óc. Một tiêu chí này đủ sức “định nghĩa” nền giáo dục hiện đại.  Sức lao động trí óc hiện đại chẳng qua là một hình thái của Khoa học – Công nghệ hiện đại. Ngay từ lớp Một, nhà trường đã cho học sinh trực tiếp tiếp cận với hệ thống khái niệm khoa học (môn học khoa học) ở trình độ hiện đại. Chuyện chưa hề có trong quá khứ. Nghe nói đến “cái chưa hề có”, không ít người la toáng lên là “bị phủ định sạch trơn”. Ô hay, nói không với cái hiện có thì dấy lên một phong trào “tích cực”. Nói không với phương pháp đọc – chép (mà em nó là phương pháp chiếu – chép) lại được coi là theo xu hướng hiện đại! Thế đấy, tư duy trực quan kinh nghiệm là thế đấy, nghe có vẻ “cấp tiến”, kỳ thực cũng chỉ là một thái độ “tiêu cực”: Từ chối cái hiện có, xoá bỏ cái hiện có, đích thực là “phủ định sạch trơn” cái hiện có. Nhưng mà này, thà như thế còn hơn là cứ thản nhiên chấp nhận cái hiện có như “chân lý vĩnh cửu”! Chỉ có điều, nên lưu ý rằng lịch sử chỉ có thể tồn tại bằng cái có và phát triển bằng cái mới, lần đầu tiên có. Máy cày là cái mới so với cày chìa vôi. Máy cày biểu hiện sức mạnh trí tuệ (sức lao động trí óc) khác với sức mạnh cơ bắp tự nhiên thiên nhiên của trâu bò.  Một giải pháp giáo dục đích thực về cả triết học lẫn thực tiễn phải là Giải pháp phát triển giáo dục. Muốn phát triển thì phải có năng lượng vật chất cấp cho nó, lấy đâu ra?  – Không thể lấy từ cái không. Chỉ có thể lấy từ cái có, hơn nữa, phải là cái có lần đầu tiên chủ động làm ra theo nguyên lý mới chưa hề có!  Các bác lão nông thân mến, muốn có một nền nông nghiệp hiện đại, các bác chớ trông chờ vào cày chìa vôi thật “hiện đại”! Chẳng có đâu, chỉ có chiếc máy cày mới dám là hiện đại thôi! Cũng vậy, thưa các nhà giáo kính mến, phong trào “nói không” nhằm phục hồi “sự nghiêm túc” học hành thi cử thì vẫn chỉ biết độc một “cày chìa vôi” của mình, nói chữ là công thức Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ. Vấn đề hiện nay đâu phải là Thầy giảng giải cho nghiêm chỉnh, chứ không phải đọc – chép! Vấn đề là Thầy không giảng giải như không tiếp tục cày bằng cày chìa vôi nữa. Vấn đề hiện nay đâu phải là thi cử nghiêm túc theo kiểu ngàn năm như thế. Vấn đề là không tiếp tục thi cử như thế nữa! Vâng, tôi biết, chữ không này cũng là một ấy chữ không quen nói, vẫn chưa phải là giải pháp. Một giải pháp đích thực phải là giải pháp làm ra cái có theo công thức mới:     Thầy thiết kế – Trò thi công.  Học sinh hiện đại phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, vì lợi ích thiết thân của chính mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao để có sách giáo khoa tốt      Trong công cuộc đổi mới giáo dục, SGK (sách giáo khoa) giữ một vị trí cực kỳ quan trọng. Ai cũng biết, thiếu SGK hoặc SGK kém chất lượng thì giáo dục rất khó phát triển. Chẳng những SGK cần cho thầy giáo và học sinh trong nhà trường, nó còn là phương tiện hỗ trợ người tự học, giúp cho sự phổ cập giáo dục thường xuyên và xây dựng xã hội học tập. Một nền giáo dục tiên tiến hay lạc hậu, điều đó có thể thấy ngay trong các SGK.&#160; Thật không may, trong nhiều năm qua SGK luôn là một khâu yếu trong sự yếu kém toàn diện của giáo dục chúng ta.&#160;      Mặc cho rất nhiều cố gắng cải tiến công tác biên soạn, xuất bản, phát hành và phổ biến SGK, cho đến nay những khó khăn, bất cập kinh niên của công tác này vẫn còn đó. Cũng như còn đó nhiều căn bệnh trầm kha khác đã bao năm tàn phá giáo dục.   Trong một cuộc hội thảo mới đây về SGK nhiều nhà giáo, chuyên gia, đã góp ý kiến nhiệt thành về cách biên soạn SGK như thế nào để có những SGK tốt.         Trong khi ở nhiều nước, các bộ SGK lưu hành ở mỗi thời kỳ là kết quả một  quá trình cạnh tranh lành mạnh để sàng lọc trong nhiều năm thì ở ta chỉ  có một bộ SGK, do Bộ GD tổ chức và đảm nhận việc biên soạn và xuất bản.  Chính vì sự khác nhau đó mà SGK của ta cứ cải tiến hoài mà chất lượng  vẫn không lên, sách vẫn dở, chẳng những không đáp ứng tốt yêu cầu mà lại  rất tốn kém cho học sinh, trong lúc đất nước còn rất nghèo.        Song phải thẳng thắn nhìn nhận hình như chúng ta đang làm ngược quy trình. Trong mọi trường hợp, SGK phải dựa vào chương trình cho nên bàn về SGK trước khi xác định chương trình có lẽ chưa thật hợp lý đối với một số môn, nhất là về khoa học xã hội. Hơn nữa, cuộc hội thảo lại chỉ tập trung bàn về những nguyên tắc cải tiến cách biên soạn SGK: nào là phải lấy học sinh làm trung tâm, nào là phải nhằm phát triển kỹ năng, không chạy theo kiến thức, v.v.  Đành rằng ở đâu cũng vậy, sách dở là do biên soạn tồi, song ở ta hình như vấn đề không phải chỉ đơn giản như vậy. Trong khi ở nhiều nước, các bộ SGK lưu hành ở mỗi thời kỳ là kết quả một quá trình cạnh tranh lành mạnh để sàng lọc trong nhiều năm thì ở ta chỉ có một bộ SGK, do Bộ GD tổ chức và đảm nhận việc biên soạn và xuất bản. Chính vì sự khác nhau đó mà SGK của ta cứ cải tiến hoài mà chất lượng vẫn không lên, sách vẫn dở, chẳng những không đáp ứng tốt yêu cầu mà lại rất tốn kém cho học sinh, trong lúc đất nước còn rất nghèo.         Ở đây cũng như trong nhiều vấn đề khác, khó khăn chủ yếu là do ta đi sau  mà lại coi thường kinh nghiệm của các nước đi trước, khư khư bám giữ tổ  chức và tư duy cũ kỹ, làm chẳng giống ai lại cứ tự ru ngủ với những  thành tích giả tạo hoặc  tưởng tượng.          Cho nên vấn đề cấp bách cần bàn chưa phải là những vấn đề về kỹ thuật, phương pháp biên soạn như là đề tài chính trong hội thảo vừa qua. Tôi tin chắc trong hàng chục năm qua các tiểu ban biên soạn SGK ở Bộ GD cũng đã bàn thảo nghiêm túc về các vấn đề đó, vậy mà chất lượng cũng chỉ đến thế thôi, thì nguyên nhân ắt phải tìm ở những vướng mắc về tổ chức, chính sách, cơ chế. Nếu những yếu tố này không sửa đổi thì dù các tiểu ban do Bộ lập ra có giỏi giang và cố gắng gì đi nữa sớm muộn cũng sẽ lặp lại những bất cập kinh niên như đã thấy trong nhiều thập kỷ qua.    Cho nên bàn về SGK trước hết cần rà soát lại  những gì còn chưa ổn, cần thay đồi trong tư duy, cách hiểu và các quan niệm cơ bản về tính chất, chức năng SGK. Từ đó mới có thể xây dựng một cơ chế biên soạn và xuất bản SGK hợp lý, không có độc quyền, trái lại khuyến khich sự tham gia tích cực của thầy cô giáo, từ việc biên soạn cho đến việc cạnh tranh lành mạnh để qua sàng lọc khách quan có được những bộ SGK thật sự tốt.   Chung quy có mấy quan niệm cơ bản sau đây về SGK cần xác định lại cho rõ.  1. Không cần thiết và không nên quy định chỉ có một bộ SGK duy nhất cho mọi trường học trong cả nước. Về chuyện này cách đây 30 năm khi  tôi làm Chủ tịch Hội đồng duyệt sách SGK toán ở Bộ GD, tôi đã đề xuất nên cho phép có nhiều bộ SGK về mỗi bộ môn.  Theo chủ trương đó, về môn toán chẳng hạn, có thời chúng ta đã có hai bộ SGK toán, do hai nhóm biên soạn tự nguyện, một ở miền Bắc, một ở miền Nam. Nhưng thật đáng tiếc, chỉ vài năm sau chủ trương đó đã bị bác bỏ, với suy nghĩ đơn giản đất nước đã thống nhất thì SGK cũng phải thống nhất, chỉ có thể cho  phép có một bộ SGK chung cho cả nước !  2. Vì chỉ cần có một bộ SGK duy nhất nên theo chế độ quản lý tập trung bao cấp đương nhiên bộ SGK ấy phải do Nhà Nước (Bộ GD) chịu trách nhiệm biên soạn và xuất bản. Chính đó là sai lầm đưa tới nhiều hệ lụy không tốt, ngày càng rõ nhưng càng khó khắc phục.  Trước đây, mỗi lần cải cách giáo dục đều có một ban tu thư để biên soạn bộ SGK mới phù hợp chương trình mới.  Với tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ, khó có thể thể làm khác được.  Lỗi của chúng ta là lầm tưởng đó là cách làm thời nào cũng đúng nên đã duy trì nó quá lâu, trong khi tình hình và điều kiện đều đã thay đổi cơ bản và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu buộc chúng ta phải thay đổi mới có thể thich nghi được.  3. Vì SGK do Bộ GD thống nhất biên soạn nên dẫn tới quan điểm không đúng coi SGK là “pháp lệnh”, bắt buộc thầy giáo phải dạy đúng y theo SGK, thậm chí đến thi cử mà thí sinh trả lời không theo đúng SGK cũng bị mất điểm. Nên từ bỏ quan điểm đó, cần xác định chỉ có chương trình là bắt buộc phải theo đúng, còn thực hiện chương trình như thế nào thì tùy thầy giáo, có thể tự soạn riêng giáo trình, hay dùng SGK nào thích hợp nhất cho đối tượng học sinh cụ thể của mình.  Như thế mới khuyến khích thầy giáo suy nghĩ sáng tạo trong cách giảng dạy, đồng thời thúc đẩy sự cạnh tranh gữa các SGK khác nhau để nâng cao chất lượng.  Hơn nữa, trong một nền giáo dục mà người thầy bị gò bó bởi quá nhiều quy định không cần thiết – phải dạy theo đúng SGK (dù biết  sai sót cũng phải theo), rồi còn soạn giáo án, làm báo cáo thi đua, hàng đống sổ sách, … – trong khi đồng lương eo hẹp buộc phải bươn chải kiếm thêm thu nhập, thì xu hướng tất yếu là nhắm mắt làm theo, còn đâu thì giờ tâm trí để cải tiến nghiệp vụ.   4. SGK không nhất thiết phải bó hẹp nội dung trong các vấn đê thuộc phạm vi chương trình, mà có thể bao gồm một nội dung rộng hơn, sâu hơn, tuy vẫn trong tầm tiếp thu của học sinh các lớp tương ứng.  Như thế học sinh khá, giỏi  có thể dùng SGK tự bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng, tập cho các em biết tự học, tự tìm cách mở rộng hiểu biết.  Mặt khác,  tuy chương trình cần tương đối ổn định trong khoảng 10-15 năm, nhưng kinh nghiệm  cho thấy trong khoảng thời gian ấy, chương trình thường vẫn có thể có những điều chỉnh nhất định.  Khi đó nếu SGK chỉ bám sát đúng chương trình thì có thể không đáp ứng yêu cầu, có khi phải soạn lại mới dùng được.  Cho nên, để giữ cho SGK có thể dùng tương đối lâu dài thì thường nó phải có nội dung đủ rộng, dĩ nhiên ở mức độ thich hợp.  Như thế một mặt tránh được sự lãng phí lớn hàng năm hoặc vài ba năm lại phải chính sửa, in lại SGK rất tốn kém, mặt khác do SGK có thể dùng ổn định trong 10-15 năm nên trong gia đình SGK của anh có thể để lại cho em dùng, hoặc bán lại với giá rẻ cho người khác.  Đồng thời, nhà trường có thể sắm đủ SGK để hàng năm cho học sinh mượn dùng hoặc thuê với giá rẻ.  Đó là cách làm phổ biến từ lâu ngay cả ở nhiều nước giàu. Dân ta còn nghèo mà sử dụng SGK như ta chẳng những quá lãng phi mà còn gây nhiều khó khăn cho người học.    5. Không nên trao độc quyền biên soạn và xuất bản SGK cho bất cứ một cá nhân hay một  tổ chức nào, kể cả của Bộ GD. Cần cho phép bất cứ ai cũng được quyền biên soạn, xuất bản SGK. Tuy nhiên để bảo đảm chất lượng tối thiểu cần thiết, chỉ những SGK nào đã qua sự thẩm định của một Hội đồng có thẩm quyền của Bộ GD mới được phép dùng trong trường học. Như vậy sẽ có nhiều bộ SGK được phép dùng và qua cạnh tranh thực tế các SGK sẽ được cải tiến, sửa chữa những sai sót, nâng cao dần chất lượng về cả nội dung lẫn hình thức trình bày. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy qua quá trình sàng lọc thực tế đó thường chỉ tồn tại vài ba bộ hay 3-4 bộ SGK có chất lượng để dùng cho nhiều năm.  Thậm chí có trường hợp một SGK tốt  tồn tại qua mấy thập kỷ chỉ lâu lâu mới có những chỉnh sửa không đáng kể cũng là nhờ quá trình sàng lọc tự nhiên, chứ không phải do ưu ái độc quyền.  Đó là những quan niệm về SGK cần phải thay đổi trước hết thì rồi mới có thể nâng cao chất lượng SGK, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD.    Đương nhiên việc tổ chức công tác SGK theo hướng trên  sẽ  không dễ dàng, vì sức ỳ bảo thủ, và cũng không loại trừ vì lợi ích nhóm.  Cho nên phải có thời gian và một lộ trình chuyển tiếp để có thể xử lý suôn sẻ nhiều vấn đề cụ thể.         Trước hết phải đầu tư xây dựng chương trình cho tốt thể hiện được tinh  thần khai sáng của giáo dục, có thể giữ tương đối ổn định trong khoảng  mươi năm (chính vì thế phải xây dựng cẩn trọng, có tính chuyên nghiệp  cao).        Dù thế nào trước hết phải đầu tư xây dựng chương trình cho tốt thể hiện được tinh thần khai sáng của giáo dục, có thể giữ tương đối ổn định trong khoảng mươi năm (chính vì thế phải xây dựng cẩn trọng, có tính chuyên nghiệp cao).   Sau khi chương trình đã được xác định thì công bố cho mọi người biết và khuyên khích các cá nhân và tổ chức tham gia biên soạn  SGK.  Riêng Bộ GD cần chuẩn bị  một bộ SGK để tạm dùng trong giai đoạn đầu.  Tuy nhiên về sau bộ SGK này sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với những SGK do các nhóm tác giả khác biên soạn.   Thật ra, về nhiều môn học (chẳng hạn toán và các môn khoa học tự nhiên) chương trình chỉ có thể thay đổi trong một phạm vi nhất định. Do đó ngay bây giờ cũng nên khuyến khich những nhóm nghiên cứu biên soạn SGK mới, như nhóm Cành Buồm ở Hà Nội hay nhóm tác giả sách Vật lý vừa ra mắt ở TH HCM.  Nhiều người có thể lo ngại rằng những đổi mới trên đòi hỏi người thầy phải có trình độ vững, điều mà hiện ta còn thiếu. Dĩ nhiên trình độ người thầy càng vững thì thực hiện những đổi mới trên càng phát huy hiệu quả. Và vì thế, việc thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ của thây giáo luôn luôn phải được coi trọng. Nhưng chính những đổi mới này, thực hiện đồng bộ với những giải pháp khác, sẽ   tạo cơ hội cho thầy giáo nâng cao nghiệp vụ, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Chờ cho thầy giáo nâng cao trình độ mới thực hiện những đổi mới cần thiết thì chẳng bao giờ đổi mới được và cũng chẳng bao giờ nâng cao được chất lượng giáo dục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao để học sinh ghét Sử?      Đó là cái tựa lạ lùng của một bài viết bằng  tiếng Anh “How to: Make sure your students hate history”, mà chỉ đọc 1, 2  đoạn là tôi hiểu ra được là vì sao học sinh của Việt Nam ghét học môn  Sử. Xin phỏng dịch (theo kiểu phóng tác) bài viết đó dưới đây.      1. Hãy bắt học sinh học thuộc lòng. Đừng để cho học sinh suy nghĩ và vận dụng kiến thức vào thực tế làm gì vì phức tạp, mất thời gian. Cứ bắt chúng học thuộc lòng và trả bài thì đơn giản và nhanh hơn nhiều.  2. Tuyệt đối không nên tìm tòi thông tin từ nhiều nguồn tư liệu, chỉ làm học trò rối rắm. Chắc chắn bạn sẽ không muốn bị học trò đặt ra những câu hỏi mà chính bạn cũng không trả lời được phải không? Gợi ý của tôi: Cứ bám sát theo sách giáo khoa thôi!  3. Khi giảng bài môn Sử, cứ đều đều mà nói. Nói về lịch sử mà biểu lộ cảm xúc thì chẳng phù hợp chút nào.   4. Nếu bạn định cho học sinh xem phim lịch sử, hãy chọn những phim dài lê thê 3, 4 tiếng và phải xem trọn bộ. Bởi cho xem trích đoạn sẽ làm cho học sinh thiếu cái nhìn toàn cảnh. Cũng đừng cho chúng bất kỳ câu hỏi gợi ý nào cả, mà chỉ cần cung cấp cho chúng một tờ giấy và yêu cầu chúng điền vào những chi tiết đại khái là có mấy chiếc xe tăng đã bị phá hủy. Nhớ là đừng bắt chúng suy nghĩ về bất kỳ sự kiện lịch sử nào cả, chỉ mất thời gian.  5. Nhớ đừng bao giờ yêu cầu học sinh làm bài viết. Trao đổi trong lớp là tốt rồi. Vả lại, khi bạn giao bài viết cho học sinh làm tức là bạn sẽ phải đọc và chấm, tự làm khổ mình đấy.  6. Luôn để cho học sinh làm việc riêng lẻ. Chẳng nên cho chúng làm việc theo nhóm làm gì, sẽ mất thì giờ lắm.   7. Hãy cung cấp sẵn cho chúng câu trả lời, chứ không phải là gợi ra cho chúng những câu hỏi quan trọng. Tuyệt đối không nên đề cập đến những vấn đề lịch sử có tính tranh cãi.     8. Hãy nhớ hai từ “tuyệt diệu” này: Trắc nghiệm! Đó là cách đánh giá tuyệt vời, vì bạn sẽ chẳng cần suy nghĩ gì hết.   9. Đừng đọc thêm bất kỳ tài liệu nào viết về lịch sử. Những thông tin mà bạn cần để dạy Sử cho học sinh sẽ chẳng có trong mấy tài liệu đó đâu. Đọc chỉ mất thì giờ thôi.  Và cuối cùng  10. Tuyệt đối không dùng bất kỳ ứng dụng công nghệ giảng dạy nào. Không sử dụng các trò chơi giáo dục, các mô phỏng, hoặc trang web. Trường học là để học, chứ không phải để chơi.  Ngoài 10 nguyên nhân kể trên khiến học sinh ghét môn Sử, theo nhiều nhà giáo, nhà sử học, còn có một nguyên nhân quan trọng hàng đầu, đó là các SGK môn Lịch sử của chúng ta từ nhiều năm nay đã được biên soạn theo quan điểm, phương pháp và thái độ giáo điều.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sinh viên đại học hàng đầu      Trường đại học là nơi tập hợp những người ưu tú; học sinh và tầng lớp tinh hoa từ khắp nơi trên thế giới gặp nhau tại đây, nơi được gọi là kho tàng tri thức nhân loại. Họ khoan dung, quý mến lẫn nhau. Trong không khí tràn đầy tinh thần đại học, mọi người cùng nhau tự do phát hiện khám phá, trăm hoa đua nở, tìm kiếm theo đuổi chân lý, thực hiện giấc mơ của mình.      Đại học hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào?  Trong số ngót 23 nghìn học sinh ưu tú trên toàn thế giới nộp đơn xin vào ĐH Harvard năm 2007, chỉ có 2.058 người từ 79 nước trúng tuyển. Đây là tỷ lệ trúng tuyển thấp kỷ lục lịch sử, chỉ có khoảng 9% người gặp may. Vậy đại học hàng đầu thực sự cần tuyển chọn những học sinh như thế nào?  1. Phát huy năng lực tính sáng tạo và tính tập thể  Trong số 2.058 người gặp may nói trên, có một học sinh chưa đầy 18 tuổi, tên là Ngô Sinh Vĩ [1], được dư luận hết sức quan tâm. Anh đỗ thủ khoa tốt nghiệp cấp III (trong số thí sinh xin vào Harvard có khoảng 3.000 thủ khoa như vậy); và đạt 2.380 điểm thành tích thi toàn quốc Mỹ (tức thi SAT, hàng năm có 7 dịp thi, điểm số cao nhất là 2.400), – nhưng trong số thí sinh cũng có không ít người đạt 2.400 điểm SAT.  Ngô Sinh Vĩ không những nhận được giấy báo thi đỗ của Harvard mà còn nhận được giấy báo trúng tuyển của các đại học danh tiếng như Princeton, Yale, California (Berkley). Điều may mắn hơn nữa là anh nhận được học bổng đặc biệt cho phép có thể học ở bất cứ đại học nào mà vẫn được chu cấp toàn bộ chi phí trong thời gian học đại học cho tới khi tốt nghiệp tiến sĩ (gồm học phí, chi phí sinh hoạt, tiền mua sách báo v.v…), tổng cộng không dưới nửa triệu USD.  Vì sao Ngô Sinh Vĩ được coi trọng như vậy?   Chẳng những học giỏi mà Ngô Sinh Vĩ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Anh là Chủ tịch Phân bộ nhà trường của Tổ chức Ân xá quốc tế, Chủ tịch Phân bộ nhà trường của Tổ chức Chính trị gia trẻ nước Mỹ, Phó Chủ tịch Phân hội nhà trường của Hội Học sinh Danh dự toàn quốc, cũng là đội trưởng Đội Tranh luận của trường mình, Đội này từng đoạt giải nhất bang California năm 2006.  Ngô Sinh Vĩ còn có một thành tích nữa được mọi người đặc biệt quan tâm, đó là năm 15 tuổi anh sáng lập CLB Khoa học của học sinh trường mình, về sau lại sáng lập Hội Triển lãm khoa học, bố trí cho học sinh cấp III cặp đôi với học sinh tiểu học, giúp các em nhỏ tự chọn đề tài KHKT mình ưa thích để tiến hành nghiên cứu và sau đó thành tích nghiên cứu của các em được trưng bày tại Triển lãm KHKT.  Cho dù làm hoạt động xã hội nào, Ngô đều tỏ ra có tính sáng tạo và tính tập thể. Một cậu học trò 15 tuổi mà tự mình sáng lập được những hai tổ chức: CLB và Hội Triển lãm. Chúng ta hoàn toàn có lý do để tin rằng một học sinh giàu tính sáng tạo như vậy sau này dù có làm ngành nào thì đều sẽ có sáng tạo. Một học sinh giàu tính tập thể như thế rất đáng được mọi người hoan nghênh.  2. Các thể hiện xuất sắc về diện tri thức và nhiều lĩnh vực  Ngày 1/4/2007, Thời báo New York dùng toàn bộ trang bìa một và hơn 10 trang tiếp theo đưa tin về cuộc sống của cô gái Thang Mai Tiệp [2], nguyên là học sinh trường Trung học phổ thông trực thuộc ĐH Phục Đán (Trung Quốc), nay là sinh viên năm thứ nhất ĐH Harvard. Toàn bộ trang bìa tờ báo này in đầy những lời hay ý đẹp bằng hai thứ tiếng Anh và Trung Quốc màu đỏ: Đã đến lúc thay đổi định nghĩa của truyền thống thành công; Điểm số không nói lên tất cả; Học sinh không phải là thứ đồ đựng…  Thời báo New York đánh giá cao thành tích cải cách giáo dục của trường Trung học trực thuộc ĐH Phục Đán. Bài báo viết: “Thành công của Thang Mai Tiệp không phải là ở chỗ em cố trở thành thứ nhất trong lớp mình ….” “Tuy rằng em có những biểu hiện xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, nhưng thành tích thi của em thường là không lọt vào Top 100 học sinh giỏi của nhà trường (nếu căn cứ theo thành tích ấy thì khó được vào các Đại học hàng đầu Trung Quốc). “Nhưng em đã mở rộng được định nghĩa truyền thống của mọi người về thành công; đây là thành quả hoàn mỹ mà công cuộc giáo dục tố chất ở Trung Quốc nên hướng tới”.   3. Thành tích công tác tập thể và xã hội của sinh viên  Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ cho nước Mỹ và thế giới như vậy?   Hiệu trưởng Đại học Yale trả lời: Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống, khi ở Yale đều là những sinh viên từng đảm đương chức vụ lãnh đạo trong các tổ chức đoàn thể và xã hội của sinh viên. Công tác xã hội là công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” của sinh viên. Tổng thống, các nhân vật kiểu thủ lĩnh (kể cả các nhân vật đứng đầu giới học thuật) đều được đào tạo từ trong các tổ chức đó.  Dù là Thang Mai Tiệp hay Ngô Sinh Vĩ, hai sinh viên này đều đem lại cho chúng ta những gợi ý và suy nghĩ rất quan trọng: muốn có nhân tài kiệt xuất cho xã hội thì phải bắt đầu đào tạo họ ngay từ khi còn nhỏ tuổi!  Chúng ta cần phải mạnh dạn đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục, cần tạo cơ hội cho đông đảo bạn trẻ có điều kiện thể hiện bản thân, sao cho Trung Quốc xuất hiện ngày một nhiều những người như hai em sinh viên nói trên và được các trường đại học Trung Quốc ưa chuộng.  Trách nhiệm của sinh viên đại học  Trường đại học là nơi tập hợp những người ưu tú; học sinh và tầng lớp tinh hoa từ khắp nơi trên thế giới gặp nhau tại đây, nơi được gọi là kho tàng tri thức nhân loại. Họ khoan dung, quý mến lẫn nhau. Trong không khí tràn đầy tinh thần đại học, mọi người cùng nhau tự do phát hiện khám phá, trăm hoa đua nở, tìm kiếm theo đuổi chân lý, thực hiện giấc mơ của mình.  Mỗi học viên trẻ đều cần có ước mơ của mình, có ước mơ lớn, có ước mơ nhỏ. Ước mơ lớn đều như nhau, đó là ước mơ để cho đất nước ta thực sự đứng lên trên thế giới này, đứng cho thẳng, đứng cho vững.  Có ba yếu tố rất quan trọng để thực hiện ước mơ, để thành tài, đó là: nhân sinh quan, sở thích và cơ hội.  Dù bạn thông minh đến đâu, dù bạn chịu khó đến đâu nhưng nếu không có cơ hội thì sẽ rất khó thành tài.  Tình hình Trung Quốc hiện nay rất tốt, là mảnh đất mầu mỡ đầy hy vọng, thể hiện ở chỗ tạo ra nhiều cơ may chưa từng có cho các bạn trẻ. Các trường Đại học của chúng ta luôn luôn cung cấp sân chơi cho mọi bạn trẻ, tạo cơ hội cho họ thành tài.  Như Einstein từng nói: “Hàng ngày tôi tự nhắc nhở mình trên trăm lần rằng cuộc sống tinh thần và vật chất của tôi đều dựa vào lao động của người khác (kể cả người đang sống và người đã mất). Tôi phải cố gắng hết sức đóng góp cùng phần như vậy để đền đáp tất cả những gì tôi đã và đang được hưởng”.  Đó là niềm tin của Einstein và cũng nên là một phần trong nhân sinh quan của chúng ta.  Có động lực như vậy thúc đẩy thì ta sẽ có thể sẵn sàng đón tiếp mọi thách thức, vượt mọi khó khăn. Nhưng muốn sáng tạo được thì phải phát huy sức mạnh tập thể.  “Hãy làm cho mỗi viên ngọc đều tỏa sáng”, đồng thời “không những mình phải tỏa sáng mà còn phải làm cho người khác cũng tỏa sáng”. Tôi nhớ lại lời của một chủ nhân giải Nobel: “Bạn chẳng những cần được thưởng thức thành tích của mình mà đồng thời nên thưởng thức thành tích người khác giành được”.  Tóm lại, như lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói tại buổi liên hoan sinh viên Đại học Liêu Ninh và Đông Bắc đêm giao thừa 17/2/2007:   “Mỗi sinh viên trước hết cần hiểu được đạo lý và mục tiêu suốt đời của mình là yêu Tổ quốc và phấn đấu vì Tổ quốc. Chỉ khi nào có tình yêu sâu sắc đất nước và nhân dân mình thì mới có tinh thần trách nhiệm mãnh liệt, thì mới có tinh thần hiến thân vì đất nước và nhân dân. Trò phải yêu thầy, thầy cũng phải yêu trò. Phải có tình yêu lớn với nhân dân. Có như vậy mới trở thành con người chân chính, con người có đạo đức”.      Huy Đường lược dịch  Ghi chú của người dịch:  [1] Tức Jonathan Wu, sinh năm 1989, có cha mẹ là người Hàn Quốc gốc Hoa sang Mỹ định cư.  [2] Nữ sinh Thang Mai Tiệp học xong lớp 11 ở Thượng Hải rồi sang Mỹ học lớp 12 trường tư nổi tiếng Sidwell Friends Middle School, nơi đào tạo nhiều nhân vật tinh hoa (con gái Bill Clinton, con trai Al Gore, con gái Obama đều học ở đây). Do có biểu hiện tốt về mọi mặt, nhất là về hoạt động xã hội và thể thao nên Thang được Harvard tuyển vào học và cấp học bổng 45000 USD/năm. Ban Tuyển sinh của Harvard chọn sinh viên không theo cách tổ chức thi thống nhất mà căn cứ theo thành tích tổng hợp của thí sinh, kể cả thành tích học tập, chứng chỉ tiếng Anh, các khen thưởng, hai thư giới thiệu của trường PTTH và hai luận văn ngắn của thí sinh. Có lẽ Sidwell Friends Middle School (chứ không phải trường ở Thượng Hải) giới thiệu Thang vào Harvard.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm việc tại Viện Toán học: Cơ hội cho các bạn trẻ      Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam, đã xây dựng một phương thức quản lý mới, nhằm tạo cho  các sinh viên mới ra trường, các thạc sĩ, tiến sĩ trẻ cơ hội học tập,  nghiên cứu tại Viện cũng như giới thiệu họ đi học, nghiên cứu, thực tập ở  nước ngoài.      Mô hình đào tạo đại học và trên đại học thông thường trên thế giới hiện nay gồm các giai đoạn sau: Cử nhân (3-4 năm), Thạc sĩ (2 năm), Tiến sĩ (3-5 năm), và đặc biệt đối với một số ngành khoa học cơ bản, các tiến sĩ mới ra lò còn có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, thời gian này thường kéo dài từ 3 tới 6 năm. Nghiên cứu sinh là giai đoạn bước đầu học cách nghiên cứu. Yêu cầu thông thường đối với một luận án tiến sĩ là thu được một số kết quả nghiên cứu mới. Tuy nhiên ở trong bước đầu này, vai trò của người thầy còn khá lớn trong việc đưa ra vấn đề, hướng giải quyết vấn đề và nhiều khi là cả kỹ thuật giải quyết vấn đề. Vì những lý do đó, thực tập sau tiến sĩ là khoảng thời gian quan trọng, giúp cho các tiến sĩ trẻ khả năng độc lập nghiên cứu. Thời gian thực tập sau tiến sĩ khá dài cho ta thấy việc trở thành một người có khả năng nghiên cứu độc lập cũng như thu được những kết quả hoàn toàn của riêng mình không hề đơn giản.  Về mặt tài chính, mặc dù ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới, học phí đối với thời gian học cử nhân rất cao, nhưng ngay từ bậc học thạc sĩ, nhiều trường đã có chương trình cấp học bổng, có thể là thông qua phương thức nhận làm trợ giảng (chữa bài tập hay chấm bài cho các giảng viên chính). Đại đa số các nghiên cứu sinh đều có học bổng toàn phần, trực tiếp hoặc dưới dạng trợ giảng. Thực tập sau tiến sĩ cũng vậy, với mức tài trợ thường gấp đôi nghiên cứu sinh.  Phương thức đào tạo tại Việt Nam chưa bắt kịp mô hình này. Một mặt nhà nước đầu tư rất nhiều tiền để gửi học sinh đi học ở nước ngoài, gần giống mô hình gửi lưu học sinh đi học ngày xưa. Mặt khác, tất cả các hệ đào tạo trong nước đều phải đóng tiền, từ đại học cho tới tiến sĩ. Khái niệm thực tập sau tiến sĩ chưa có ở Việt Nam. Có lẽ Viện nghiên cứu cao cấp về Toán là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam xây dựng được mô hình thực tập sau tiến sĩ, tuy nhiên với một khuôn khổ rất khiêm tốn, 2-3 người trong một năm.  Trong hai năm qua, để đáp ứng yêu cầu phát triển của chính mình, cũng như với trách nhiệm nâng cao hơn nữa đóng góp vào việc đào tạo lực lượng cho Toán học Việt Nam, Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã xây dựng một phương thức quản lý mới, nhằm tạo cho các sinh viên mới ra trường, các thạc sĩ, tiến sĩ trẻ cơ hội học tập, nghiên cứu tại Viện cũng như giới thiệu họ đi học, nghiên cứu, thực tập ở nước ngoài.  Theo phương thức mới này, các tiến sĩ, thạc sĩ trẻ hay cả các sinh viên mới ra trường có thể đăng ký xét tuyển viên chức (biên chế) ngạch nghiên cứu viên tại Viện. Thời hạn ký hợp đồng viên chức thường là ba năm (các ứng viên xuất sắc có thể được ký hợp đồng không thời hạn ngay lập tức). Các hợp đồng này sẽ được xem xét lại sau thời gian ba năm. Tùy thuộc vào thành tích học tập, nghiên cứu của cán bộ, Viện sẽ cân nhắc việc ký hợp đồng không thời hạn. Mặt khác, các cán bộ trẻ, sau một thời gian làm việc tại Viện cũng sẽ cân nhắc có tiếp tục làm việc lâu dài tại Viện không, hay chuyển công tác cho phù hợp với hoàn cảnh và năng lực của mình.          Cán bộ trẻ làm việc tại Viện được hưởng lợi kép: vừa là viên chức lại vừa như nhận học bổng để nâng cao trình độ. Viện Toán học mong các bạn khắp nơi trong cả nước biết những thông tin này và xin mời các bạn đăng ký xét tuyển vào làm việc tại Viện!          Cơ chế linh hoạt này trước tiên là một cơ hội cho các sinh viên trẻ được học tập, được hướng dẫn nghiên cứu tại một cơ sở nghiên cứu cơ bản hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời họ cũng được trả lương và hưởng các tiêu chuẩn khác của một cán bộ nhà nước. Viện không những tạo điều kiện và cơ hội, mà còn tạo sức ép đối với cán bộ trẻ.   Tiêu chí thành tích quan trọng nhất đối với họ là kết quả học tập và nghiên cứu. Ngoài ra ý thức tham gia đóng góp trong các hoạt động chung của Viện cũng là một yếu tố được tính đến.  Các bạn trẻ cần chuẩn bị gì nếu muốn được xét tuyển vào biên chế của Viện? Chắc chắn không phải là quà cáp phong bì. Do yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tiêu chí duy nhất để nhận cán bộ của Viện là tài năng và chỉ có tài năng. Thực ra trong 45 năm xây dựng và phát triển, bài toán kinh phí luôn là bài toán lớn đối với các thế hệ cán bộ quản lý của Viện. Hiện nay thu nhập của các cán bộ Viện thấp hơn hẳn so với thu nhập của các đồng nghiệp tại các trường đại học. Tuy nhiên nguồn kinh phí hạn hẹp lại cũng góp tạo cho Viện một môi trường mang đậm không khí học thuật. Suy nghĩ chung của các cán bộ trong Viện là “đóng góp cho Viện và tự lo cho mình”. Viện xác định việc tạo cho mình một môi trường học thuật nghiêm túc, một không khí dân chủ, minh bạch trong các hoạt động chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của Viện.   Khi đánh giá trình độ của các ứng viên, các thành viên hội đồng của Viện thường không đề cao quá vai trò của các công bố khoa học. Kiến thức cơ bản vững, hiểu biết rộng về Toán học, hiệu biết sâu về những đề tài mình nghiên cứu (trong đồ án tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ) là những yêu câu cơ bản đối với ứng viên.         Trong thực tế, nhiều cán bộ trẻ mới được nhận vào Viện trong hai năm qua đã được Viện giới thiệu đi học tập và nghiên cứu tại các trường đại học và cơ sở nghiên cứu uy tín ở Pháp, Đức, Mĩ, Italia, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore. Chương trình cao học quốc tế của Viện trong ba năm qua đã gửi hơn 20 học viên sang các nước Pháp, Mĩ, Italia với học bổng do phía bạn cấp. Trong số các học viên này, các cán bộ trẻ của Viện thường là những người xuất sắc nhất. Về khả năng, Viện có thể gửi đi số lượng gấp đôi, gấp ba con số đó. Rất tiếc, nhiều sinh viên mới ra trường vì thiếu thông tin đã không dự thi vào chương trình này. Việc gửi cán bộ đi đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ở nước ngoài cũng là một cách để Viện tạo biên chế trống cho các bạn trẻ khác. Với cơ chế động như vậy, Viện Toán học hy vọng sẽ góp phần đào tạo được nhiều cán bộ trẻ cho nền toán học nước nhà, một trong bốn nhiệm vụ được Nhà nước giao phó khi thành lập. Trong quá trình đó, những cán bộ có năng lực, có định hướng nghiên cứu sẽ trở thành những trụ cột lâu dài của Viện.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Lãn Ông lên tiếng “gửi người lớn…”      Lịch sử có nhiều hiện tượng lặp lại, song khó có thể tin rằng con người bao giờ cũng có ý thức đúng về những diễn biến giống nhau.      Chẳng hạn như chuyện bạn học sinh lớp 12 tự làm clip phát biểu về nền Giáo dục nước nhà năm 2013. Liệu bạn đó có ý thức mình đang là kẻ nổi loạn hay không? Liệu trong một mức độ nào đó, bạn có thấy là mình đang làm lại hành vi của nhiều học sinh trường Bưởi đầu thế kỷ trước như Đặng Xuân Khu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Khắc Viện … nay nhắc lại thấy như một thời nào đó đã lùi xa … quá xa khỏi ký ức người đương thời hôm nay vào năm 2013 này?    Còn xa hơn sâu hơn nữa vào Lịch sử, em học sinh lớp 12 đã tự gọi mình là “kẻ lười biếng”. Song sự so sánh đó chắc chắn chỉ là tình cờ. Người học trò Việt Nam của năm 2013 ấy làm sao đủ trình độ, đủ ý thức, đủ can đảm và đủ cả liều lĩnh so sánh mình với “kẻ lười biếng quê vùng biển” là Hải Thượng Lãn ông!  Đơn giản thế này thôi: chàng trai lớp 12 trong clip tự quay chỉ mới có nổi một ý thức phản kháng đủ để anh lên tiếng gửi người lớn, gửi tất cả những người lớn có trách nhiệm trước sự nghiệp giáo dục của đất nước một lời dõng dạc này thôi: “Này, người lớn, các vị hãy nhìn vào chúng tôi đây, hãy nhìn kỹ những sản phẩm ra lò của các vị đây: thế hệ học trò chúng tôi đây, một lũ ngu và lười”.  Câu nói ấy gợi cho tất cả chúng ta một liên tưởng: chỉ là “thế hệ chúng tôi” thôi ư? Còn thế hệ các vị, thế hệ đã đúc khuôn thành chúng tôi thì sao? Đã gọi là liên tưởng, thì liên tưởng này nhất thiết sẽ dắt dây sang một liên tưởng khác cho đến một liên tưởng gần như kiệt cùng: các vị đã tổ chức nền giáo dục ra sao, theo hình ảnh nào để chúng tôi đến nông nỗi này – để chúng tôi thành một lũ ngu và lười, liệu các vị có thoát khỏi trách nhiệm trước tình trạng ấy không?  Chàng trai trong clip ấy không nói thẳng hết ý nghĩ “nổi loạn” của thế hệ mình. Chàng trai ấy chỉ tập trung nêu câu hỏi: học biết bao nhiêu những “thứ đó” nhưng học để làm gì? Đây là câu hỏi khó trả lời ngay cả đối với khá nhiều người lớn. Bởi suy cho cùng thì mục đích học của họ cũng chỉ là để có một mảnh bằng “chính chủ” cộng thêm văn bằng hai văn bằng ba văn bằng bốn, cuối cùng cũng chỉ để nhăm nhe một chức quan to nhỏ, và chỉ đến thế thôi.     Và trong suốt quá trình học, thì việc tự tìm đến tri thức bị coi là phụ, mà cả cuộc đời học đường hầu như chỉ là chuyện thi cử, suốt đời thi cử, mươi hai năm đằng đẵng thi cử… để làm gì? Chàng trai trong clip đã nói toạc ra: nếu không có chuyện thi, liệu còn có ai chịu học bài?  Rõ ràng, trong câu hỏi ấy, người học trò “ngu và lười” bộc lộ nguyện vọng của mình rằng anh ta muốn học, học, và học, học khổ đến bao nhiêu cũng được, nhưng không chấp nhận cái khổ của thi cử, không bằng lòng coi thi cử như một kích thích cho việc học.  Nguyện vọng ấy nếu được thực thi sẽ bẻ gãy cái roi của những nhà giáo dục các cỡ. Roi từ gia đình, từ họ tộc, từ truyền thống trường, từ những khu phố văn hóa đầy ma túy và bạo lực, và từ những cuộc ganh đua “chăm phần chăm” – áp lực của thói quen tư duy trong một nền văn hóa của số lượng và của sự thô kệch, nơi các “nhà văn hóa” chỉ nhìn thấy sức mạnh giả định trong đám đông, nơi đó tất cả những Einstein những Gandhi và những Charles Chaplin chụm lại cũng chỉ có thể chiếm 1 phần trăm sau nhiều số không đứng sau dấu phẩy!  Dường như ta có nghe thấy em học sinh lớp 12 trong clip đó nói thế này: chúng con kính trọng các thày, nhưng xin thày hãy thoát ra khỏi cách diễn giải vẫn còn thiếu thẳng băng, đòi thế tục hóa nền Giáo dục khỏi mọi chủ thuyết.  Dường như em học sinh lớp 12 vô danh đó đang nói thay các thế hệ tương lai, rằng các thày hãy Tự do trong giảng dạy và trong hành động. Tự do là cái Quyền thiêng liêng nhất mà Tự Nhiên phú cho con người. Có ai cấm các thày tạo ra những bộ sách mới theo chương trình học mới làm hả hê thỏa thuê nguyện vọng chấn hưng đất nước của các thày?  Ngay cả ở bậc đại học là bậc phải dành lấy quyền tự chủ mà các thày cũng cứ bó tay cho sự Tự do trôi tuột đi mất, thế thì lũ trẻ con “ngu và lười” chúng em còn biết trông cậy vào đâu nữa?  Các thầy hãy hành động tự do như trí tuệ tự do của các thày thôi thúc. Còn về phía xã hội, những nhà lãnh đạo phải có sứ mệnh dân chủ hóa cuộc chạy đua tự do vì sự nghiệp chấn hưng văn hóa và giáo dục của dân tộc. (Dân chủ hóa nói ở đây nghĩa là đối xử không phân biệt với mọi khuynh hướng sáng tạo văn hóa và giáo dục khác nhau).   Nhưng giữa hai khuynh hướng Tự do và Dân chủ ấy, thì cần coi trọng khuynh hướng thứ nhất hơn. Dân chủ thì trước sau gì rồi cũng sẽ tới với cuộc sống xã hội. Nhưng Tự do là cái có sẵn trong từng con người sáng tạo. Sản phẩm của Tự do cách tân nền Giáo dục cho cả một Dân tộc sẽ xóa sổ những thứ tự do vờ vịt cốt nuốt trôi lợi nhuận một trường tư thục là cùng.  Trong Tự do có sự thi đua lành mạnh của những tài năng đích thực vì nước vì dân. Hình như chàng trai lớp 12 chân thành hùng biện trong clip tự quay đòi hỏi cuộc sống hành xử Tự do và Dân chủ trong Giáo dục như vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lãnh đạo sự thay đổi – Cẩm nang cải tổ trường học      Cuốn Lãnh đạo sự thay đổi – Cẩm nang cải tổ trường học do các chuyên gia giáo dục thuộc ĐH Harvard thực hiện cung cấp những công cụ cần thiết làm thay  đổi quan điểm, tư duy, tầm nhìn, phương pháp và những bước đi thích hợp  cho công cuộc cải tổ trường học trước thách thức và yêu cầu mới trong thế kỷ 21.     Năm 1983, một ủy ban độc lập do chính phủ Hoa Kỳ chỉ định đã công bố một báo cáo nhan đề “Một quốc gia lâm nguy“ (A Nation at risk), thông báo về tình trạng “khủng hoảng“ trong hệ thống giáo dục công tại Mỹ. Bản báo cáo chỉ ra rằng an ninh kinh tế Mỹ đang bị đe dọa bởi lực lượng lao động yếu kém, không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Bản báo cáo gây ra nhiều tranh luận nẩy lửa, khởi nguồn cho ba cuộc họp thượng đỉnh cấp quốc gia quy tụ nhiều thống đốc và lãnh đạo các công ty cùng ngồi lại để thảo luận về khủng hoảng giáo dục. Hai đảng tại Mỹ đồng thuận với nhau tầm quan trọng của việc phải đảm bảo học sinh sinh viên được tiếp cận cơ sở vật chất và chương trình đào tạo tốt nhất. Đến đầu thập niên 1990, “cải cách giáo dục” đã trở thành ưu tiên hàng đầu của chính quyền các tiểu bang. Năm 2001, khi dự thảo luật “Không trẻ em nào bị bỏ rơi” (No child left behind) được thông qua, chính quyền Liên Bang đã đảm nhận quyền lực tối đa về các trường công trên nước Mỹ.  “Các trường công của Mỹ chưa bao giờ thiết kế để dạy cho học sinh những kỹ năng mới cần thiết để làm việc, học tập và trở thành công dân tích cực trong nền kinh tế tri thức mới và chúng tôi trình bày nhu cầu cần thiết phải thiết kế một hệ thống đủ sức giáo dục cho toàn bộ học sinh khả năng thành công trong thế kỷ 21…” Với nhận định như vậy, công trình nghiên cứu dưới sự tài trợ bởi quỹ Bill& Melinda Gates, nhóm Lãnh đạo thay đổi (Change Leadership Group – CLG), bao gồm các chuyên gia giáo dục thuộc trường Đại học Harvard (HGSE) thực hiện trong năm năm, đã đúc kết thành một tập sách mang tên “Lãnh đạo sự thay đổi – Cẩm nang cải tổ trường học”. Từ hướng tiếp cận nâng cao kết quả học tập của học sinh, đầu tiên và trên hết là phải nâng cao chất lượng giảng dạy và lãnh đạo giảng dạy, toàn bộ công trình được thể hiện qua 10 chương với nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu, trãi nghiệm từ thực tế lãnh đạo giảng dạy tại các trường học của khắp các tiểu bang trên toàn nước Mỹ. Qua công trình của mình, nhóm tác giả đã cung cấp những công cụ cần thiết làm thay đổi quan điểm, tư duy, tầm nhìn, phương pháp và những bước đi thích hợp cho công cuộc cải tổ trường học trước thách thức và yêu cầu của nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức trong thế kỷ 21.   Cải tổ trường học, một câu chuyện giáo dục với những vấn đề cơ bản thiết yếu tưởng chừng như đã được giải quyết từ lâu ở một siêu cường quốc hàng đầu thế giới, một đất nước luôn chiếm những đỉnh cao trên hầu hết mọi lĩnh vực từ kinh tế, khoa học, giáo dục, nghệ thuật,… Thế nhưng một hệ thống giáo dục biết thích nghi trước những biến đổi của thời đại luôn là những đòi hỏi thúc bách, sống còn cho sự phát triển vững bền của một quốc gia. Và hiển nhiên cải cách giáo dục hay cải tổ trường học là những nhiệm vụ hay đúng hơn đó là sứ mệnh của đội ngũ giáo viên, những nhà quản lý giáo dục, những nhà hoạch định chính sách và đường lối phát triển quốc gia.  Đất nước ta, trải qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng khi bàn về chiến lược phát triển kinh tế nước nhà, giáo dục luôn được xem là quốc sách, là động lực nền tảng cho sự hưng thịnh của quốc gia. Nhiều cuộc Hội nghị, diễn đàn, hội thảo đã, đang và sẽ còn tiếp tục được luận bàn về công cuộc chấn hưng, canh tân giáo dục. Bắt đầu từ đâu? Đâu là khâu đột phá? Giải pháp nào có tính quyết định tạo sự chuyển biến và mang lại hiệu quả lâu bền? Mọi câu hỏi vẫn đang chờ lời đáp…  Tuyển chọn và chuyển dịch công trình này để xuất bản ở Việt Nam, những người thực hiện xem đây như là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai tâm huyết với sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Và nếu như bạn đang là giáo viên, là hiệu trưởng, là cán bộ quản lý giáo dục ở các cấp Quận, Huyện, Tỉnh, Thành, Trung ương, tiếp cận tập sách này ắt hẳn sẽ có bao điều để suy ngẩm, để thay đổi cách nhìn về sứ mệnh thiêng liêng cao quý và không kém phần quan trọng của những người tạo dựng nên tương lai của quốc gia. Từ đó hãy bắt tay và có những bước khởi động cần thiết, dù nhỏ cho sự nghiệp trồng người…        “Lãnh đạo sự thay đổi là một quyển sách sáng  ngời và thật sự tuyệt vời. Các ý tưởng đặt ra thật mạnh mẽ, sâu sắc,  bao quát, và kèm theo là những công cụ để biến thành hành động. Một  quyển sách hiếm hoi nắm bắt được những khó khăn trong việc đề xuất thay  đổi và thực thi thay đổi.”                – Micheal Fullan, nguyên trưởng khoa, Học viện nghiên cứu Giáo dục Ontario,   Đại học Toronto; tác giả cuốn Leading in a Culture of Change     “Nhóm nghiên cứu lãnh đạo sự thay đổi tại  Trường Giáo dục Harvard, thông qua những hoạt động với các nhà giáo dục,  đã phát triển cách tiếp cận ý nghĩa, biến đổi trường học, giúp họ đối  mặt với yêu cầu trách nhiệm. Quyển sách này giới thiệu công việc của  Nhóm Lãnh đạo sự thay đổi đến với công chúng rộng rãi hơn, đưa ra bộ  khung phân tích việc thay đổi nhà trường của mình. Nó minh chứng cho một  cách tiếp cận mới và mạnh mẽ về lãnh đạo trường học.”   – Richard F. Elmore, Giáo sư về Lãnh đạo Giáo dục, Trường Giáo dục Harvard    “Đứng trước tình huống tiến thoái lưỡng nan,  một mặt phải chuẩn bị cho học sinh bước vào thế kỷ mới, và một mặt là  các yêu cầu chính trị phải nâng cao kết quả học tập dựa trên các bài thi  tiêu chuẩn, nhiều nhà giáo dục đã đầu hàng nhưng đồng thời cũng có  người dấn thân với kỹ năng và tầm nhìn lãnh đạo mới. Cùng làm việc với  những nhà lãnh đạo này, Tony Wagner, Robert Kegan, và cộng sự của mình  đã viết nên một quyển sách hướng dẫn vô cùng quý giá dành cho những ai  dũng cảm hành động nhưng chưa tìm thấy câu trả lời và sẵn sàng học tập  lẫn nhau.”   – Peter M.Senger, Giáo sư Viện Đại học MIT; tác giả cuốn The Firth Discipline         (*) Tác giả: Tony Wagner, Robert Kegan, Lisa Lahey, Richard W. Lemons, Jude Garnier, Deborah Helsing, Annie Howell, Harriette Thurber Rasmussen;Dịch giả: Trần Thị Ngân Tuyến; DT BOOKS và NXB Trẻ ấn hành tháng 1/2012; Số trang: 337 trang; Giá bìa: 120.000 đồng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lập trình trong thời đại ngày nay      Lập trình là kĩ năng mới để điều khiển các thiết bị tự động và xử lí thông tin, rất cần cho xã hội hiện đại, bên cạnh các kĩ năng thông thường như đọc, viết, tính toán. Với trẻ em, có thể dạy lập trình bắt đầu từ những hoạt động đơn giản nhất nhưng thích ứng với cuộc sống công nghệ hiện đại.    Các em làm quen với lập trình Scratch (lập trình đơn giản cho thiếu nhi) trong ngày hội STEM diễn ra vào ngày 16-17/5/2015 tại Hà Nội  Lập trình, hiểu đơn giản, là tổ chức một công việc nào đó theo một trình tự để nó diễn ra được và đưa tới một kết quả hay sản phẩm. Với trẻ em, lập trình thường tập trung vào các trò chơi và khám phá máy móc tự động, không có mục đích như người lớn là lập trình để điều khiển máy móc và tổ chức. Các em chỉ cần biết cách điều khiển và làm cho các thiết bị hoạt động là được. Đây là một kĩ năng mới mà các cháu bé thích nghi rất nhanh trong khi những người lớn tuổi thì lại gặp khó khăn không dễ theo được (do đó mới có nỗi sợ công nghệ và sợ các máy móc mới).   Ít người biết rằng, sử dụng các phương tiện di dộng hay Ipad cũng đã là một loại hình lập trình bởi có nhiều bước phải nhớ và làm đúng thì nó mới chạy được. Chơi trò chơi điện tử cũng được coi là một hoạt động thực hiện theo chương trình. Khi chơi, các em thuộc các qui tắc của trò chơi thì tự động lập trình các thao tác của mình để đáp ứng với hoàn cảnh của nó.   Tuy nhiên, hai ví dụ trên mặc dù mang bản chất của việc lập trình nhưng không mang ý thức lập trình. Với việc sử dụng máy móc, các em học theo kiểu thử và sai, tức là sau vài lần làm sai thì các em sẽ học được cách dùng đúng. Còn khi chơi trò chơi điện tử, các em ít để ý tới cách chơi mà chỉ để ý tới kết quả. Chính vì thế, để định hướng tư duy lập trình trẻ em từ những hoạt động đơn giản hằng ngày, người dạy cần có cái nhìn sâu rộng hơn.   Dạy lập trình như thế nào cho đúng?    Mọi trò chơi, đều là hình thức lập trình đơn giản gồm một số bước, một trình tự nào đó. Khi chơi, ta sẽ thấy có một số việc lặp lại, một số việc rẽ nhánh khi có điều kiện, và có một số việc tuần tự nhau. Đó là cấu trúc điều khiển trong lập trình. Trong trò chơi, người chơi tự đồng nhất mình thành một cái máy tính, “biến mình” thành một bộ xử lý để thực hiện các thao tác tuỳ theo hoàn cảnh xuất hiện. Còn khi được học về ngôn ngữ lập trình, người lập trình sẽ phải bố trí các lệnh theo các cấu trúc điều khiển để chương trình tự động chạy.    Hiểu được như vậy, qua việc chơi, thầy giáo sẽ hướng dẫn để các em nhận biết các động tác của mình là thực hiện các cấu trúc điều khiển (bấm lặp lại một số phím, bấm các phím để đổi hướng chuyển động,…). Các em nhờ vậy sẽ biết được mình đang tham gia vào việc điều khiển các hệ thống. Điều này có thể khuyến khích một số em tạo ra chương trình điều khiển như vậy, tức là tham gia vào hoạt động lập trình chuyên nghiệp. Tương tự với việc sử dụng các thiết bị ngày càng hiện đại với nhiều chức năng, trẻ em cần được hướng dẫn sử dụng. Thậm chí, các em phải biết cách viết ra các bước thực hiện. Đó cũng chính là một hình thức học lập trình.   Dĩ nhiên, tùy theo hoàn cảnh mà các em sẽ được học cái gì và đến mức nào trong lập trình. Với những em có năng khiếu và đam mê với lập trình, có thể dạy các em ngôn ngữ lập trình, viết các chương trình và giải quyết những vấn đề xung quanh. Tuy nhiên, với số đông, việc dạy lập trình là để phổ cập và hỗ trợ các em thích ứng với công nghệ mới, làm chủ các công cụ hiện đại trong tương lai bởi khi đó, riêng việc điều khiển các thiết bị thông minh trong gia đình cũng đã là hoạt động lập trình đơn giản.    Chương trình học phổ thông hiện nay của chúng ta chưa chú trọng khía cạnh này, vì vậy nếu đưa ngay khía cạnh lập trình chuyên nghiệp vào dạy là chưa thích hợp (các em chỉ được học cách sử dụng phần mềm soạn thảo và một số ngôn ngữ lập trình). Trên thực tế, ngôn ngữ lập trình và phần mềm thay đổi qua thời gian. Mấy năm nữa chưa chắc có ai còn dùng phần mềm máy tính hiện nay, mà những phần mềm mới dễ dùng hơn nữa sẽ xuất hiện và thay thế chúng. Bây giờ học lập trình Pascal đã quá lạc hậu, vì trên thế giới không ai dùng nữa. Cũng không học sinh phổ thông nào học kiến trúc máy tính hay hệ điều hành DOS hay thậm chí Windows trong tương lai.    Còn một điều quan trọng khác, ý thức về lập trình cần nhìn ở nhiều góc độ đa dạng, không nên chỉ lấy kĩ năng lập trình cho máy tính là chủ chốt. Lập trình còn là điều khiển tập hợp con người thì thành kĩ năng quản lí, lãnh đạo, quản lí dự án, lập kế hoạch…Nhiều người không cần lập trình cho máy tính nhưng họ biết lập trình cho doanh nghiệp, cho tổ chức thì cũng rất tốt và cần thiết, đặc biệt là cho tổ chức làm việc trên nền công nghệ thông tin.   Chính vì vậy, đối với trẻ em cần phải dạy nhiều kỹ năng và cần đặt lập trình trong tổng thể các kỹ năng khác. Lập trình của các em, có thể không cần cho máy móc mà cho một tập hợp người như lập kế hoạch dự án, biết triển khai công việc để làm ra được sản phẩm. Ngoài ra, bên cạnh đó là các kĩ năng giao tiếp để có thể khuyến khích và động viên mọi người cùng làm việc, kĩ năng định hướng phát triển cho một nhóm người…    Người dùng sản phẩm của lập trình, người dùng công nghệ hiện đại cần biết cách sử dụng các thiết bị và hệ thống mới. Điều này đưa tới người ta phải có thói quen lập trình cho các việc sử dụng, và do đó quen với cách tổ chức làm việc hiện đại theo kiểu chương trình (lập kế hoạch quản lí cũng là một hình thức lập trình cho nhóm người làm việc). Đây là cách dùng đại trà các thiết bị và công nghệ mới với tư duy của lập trình, cần phổ cập cho số đông để biết cách dùng tối đa năng lực đã tích luỹ trong thiết bị và hệ thống mới.  – Người làm ra sản phẩm và công nghệ mới thì cần biết cách viết chương trình, lập trình bố trí trước dãy các lệnh để cho máy móc hay nhóm người theo đó làm được công việc của họ. Những người này học lập trình cho các thiết bị máy móc hiện có, theo nghĩa nào đó đây là các nhà chuyên môn, không phổ cập cho số đông      Author                Ngô Trung Việt        
__label__tiasang Lễ hội khoa học tại Anh, Mỹ      Thuật ngữ STEM (Science – Technology – Engineering – Math) trở nên phổ biến trong một vài năm trở lại đây, khi các chính phủ đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục khoa học ở bậc phổ thông, ngay từ bậc tiểu học, và một trong các hoạt động thu hút nguồn lực trẻ tham gia vào các lĩnh vực STEM là lễ hội khoa học toàn quốc.       Tại mỗi nước, các hoạt động, cách tổ chức lễ hội khoa học có thể khác nhau đôi chút nhưng tinh thần chung là  nhằm đem khoa học tới đông đảo quần chúng, thu hút sự quan tâm của giới trẻ tới các hoạt động khoa học qua việc các nhà khoa học trở thành các đại sứ truyền tải các nội dung khoa học một cách đơn giản, hấp dẫn; tổ chức các cuộc trình diễn trên sân khấu, ngoài đường phố, các hoạt động trải nghiệm làm khoa học cho trẻ con, người lớn, các buổi trò chuyện, gặp gỡ, ăn trưa với những nhà khoa học nổi tiếng, các cuộc trình diễn-tương tác giữa khoa học và nghệ thuật.  Tại Anh, lễ hội đầu tiên được tổ chức vào năm 2005. Tiếp sau đó, hằng năm vào tháng chín, tuần lễ khoa học lần lượt được tổ chức tại các thành phố lớn. Các hoạt động trung tâm của lễ hội do các trường đại học của thành phố đứng ra tổ chức.  Tháng 9/2014, Lễ hội Khoa học toàn Anh Quốc (Bristish Science Festival) lần thứ mười tổ chức tại thành phố Birmingham (Đại học Birmingham là đơn vị tổ chức chính) với 44.829 người tham dự các buổi nói chuyện, tranh biện, workshop, các ngày khoa học cộng đồng. Trong số người tham dự, 90% đánh giá các hoạt động khoa học tại lễ hội là xuất sắc, và 66% có cái nhìn tích cực hơn (so với trước khi tham dự lễ hội) về sự phát triển các ngành nghề trong lĩnh vực STEM. Các hoạt động trong tuần lễ khoa học vô cùng đa dạng, phong phú: từ các hoạt động ngoài trời mang tính ấn tượng, giải trí như các hoạt động dành cho cả gia đình: tạo bóng khổng lồ, xem cấu tạo hoạt động của enzyme v.v… đến các hoạt động thực hành, trải nghiệm khoa học như lắp ráp và điều khiển robot, làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, dùng máy in 3D để tạo ra ô tô, nhà cửa… Các lĩnh vực khoa học được trình diễn trải rộng trong mọi lĩnh vực khoa học – công nghệ.  Tại Mỹ, lễ hội khoa học – kỹ thuật quy mô quốc gia (USA Science & Engineering Festival) lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 10/2010, do các doanh nghiệp tài trợ, các nhà khoa học sáng lập và tổ chức. Liên tiếp sau đó, lễ hội lần thứ hai năm 2012 thu hút hơn 250 nghìn người tham dự, lần thứ ba năm 2014 với hơn 350 nghìn người. Nhà Trắng cũng đã đứng ra tổ  chức “Ngày hội Khoa học Nhà Trắng” (White House Science Festival) trong cùng năm 2010, nhằm tuyên dương, trao giải cho các cá nhân (học sinh phổ thông) có các dự án, sản phẩm khoa học – công nghệ xuất sắc trong năm. Đặc biệt, trong ngày hội khoa học toàn quốc lần thứ 5 tại Nhà Trắng vừa qua, 23/03/2015, Tổng thống Obama đã dành nguyên một ngày nghe từng học sinh trình bày dự án của mình, cùng họ chụp ảnh, truyền thông, họp báo…. Trong rất nhiều các  sản phẩm xuất sắc trưng bày tại Nhà Trắng, chiếc cốc Kangaroo để lại khá nhiều ấn tượng cho người xem bởi tính hữu dụng và bởi người sáng chế ra nó là cô bé 11 tuổi. Lilly Born có người ông bị bệnh Parkinson, mỗi khi quan sát ông sử dụng cốc uống nước rất khó khăn, vì chân tay run làm văng đổ nước, cô bé đã nung nấu ý tưởng về một chiếc cốc không thể bị đổ… Và chiếc cốc ba chân ra đời từ việc quan sát đời sống như thế. Cô bé 11 tuổi đã mạnh dạn biến ý tưởng khả dụng và khả thi của mình thành sản phẩm thương mại.  Lilly đã thu hút được nguồn vốn từ các cá nhân (crowdfunding) để sản xuất cốc Kangaroo và 10.000 chiếc cốc đầu tiên đã bán hết trên các trang mạng gây quỹ. Một cô bé 11 tuổi đã làm nên câu chuyện sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm khoa học, câu chuyện luôn mới đối với hầu hết các nhà khoa học hiện nay.  Nước ta hiện nay, lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghệ – sáng tạo đều rất yếu và thiếu. Vậy nên chăng Việt Nam cũng cần một vài cú huých cho lớp người trẻ nhất, ngay từ học sinh tiểu học, để thúc đẩy họ theo đuổi con đường nghiên cứu và phát triển, một con đường dài hơn cho sự phát triển bền vững chứ không phải đi tắt đón đầu? Và có khả dụng, khả thi hay không việc tổ chức một lễ hội khoa học cho học sinh tiểu học?  Câu trả lời là có, khi cả xã hội cùng chung tay!1  —————  Nguồn tham khảo:  http://www.usasciencefestival.org/check-out-past-festivals.html  http://en.wikipedia.org/wiki/Science_festival  http://www.britishscienceassociation.org/british-science-festival  https://www.whitehouse.gov/sites/default/files/microsites/ostp/fy_2015_stem_ed.pdf      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lẽ sống và Sức sống của nền giáo dục hiện đại      Lẽ sống là sự sống tinh thần dưới hình thức như lý tưởng, đạo lý, triết lý…  Sức sống đo bằng năng lượng vật chất cấp cho sự sống trần thế để tồn tại và phát triển.  Thể thống nhất Lẽ sống – Sức sống làm nên Cuộc sống thực (từ Cuộc sống thực của nhân loại, của mỗi cộng đồng lớn nhỏ, đến Cuộc sống thực của mỗi gia đình, của mỗi cá nhân).    Cuộc sống thực mỗi thời theo một nguyên lý. Có nguyên lý tồn tại trong hàng chục thế kỷ. Có thế kỷ mở ra một thời mới, như thế kỷ XVIII – thời đại công nghiệp.  Em sinh năm 2001, năm đầu tiên thế kỷ XXI. Em đến trường học lớp Một năm học 2007-2008 và hưởng trọn vẹn nền giáo dục thế kỷ XXI.  Đến thời em, thế kỷ XX ra đi như một kẻ đột tử, buộc thế kỷ XXI ngay lập tức phải tự lo lấy thân mình. May sao, đi qua thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Cuộc sống thực như chạy trên đường băng, sắp cất cánh. Và ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI, con tàu cuộc sống ấy đã rời đường băng trên đất liền, vĩnh viễn để lại thế kỷ XX cho thời đã qua. Với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”, con tàu – Cuộc sống thực thế kỷ XXI một mình bay vào không gian bao la, tự xoay xở lấy, sống theo đúng Lẽ sống và Sức sống của chính mình, và ngay lập tức bộc lộ ba đặc điểm này: Một, nền kinh tế thị trường ngày càng đi theo hướng toàn cầu hóa cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hai, nhu cầu dân chủ ngày càng trở nên thiết thân trong đời sống xã hội. Ba, phạm trù cá nhân ngày càng xứng danh là “anh hùng thời đại”.  Từ xa xưa, Cuộc sống thực đã đưa lên hàng đầu triết lý này: Muốn gì thì muốn, trước hết phải sống đã !  Sống, hiểu theo nghĩa gốc nguyên thuỷ, theo nghĩa đen sát sạt là phải ăn, ở, đi lại, quan hệ đàn ông – đàn bà.  Từ một chuyện ăn, có thể thấy các bước phát triển của phạm trù người: từ chỗ thụ động hưởng cái có sẵn (bằng đánh bắt, hái lượm) đến chỗ chủ động tạo ra nguồn sống thường trực (bằng chăn nuôi, trồng trọt). Tính chủ động này sinh ra và nuôi lớn trí khôn người.  Mỗi bước phát triển của trí khôn đặc trưng bởi một nguyên lý tư duy và hành động. Lấy việc đi lại làm ví dụ. Hàng triệu triệu năm, người cũng như mọi loài chỉ biết độc một cách đi là đi bộ, và đinh ninh đó là cách đi duy nhất. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, gần đây thôi, trí khôn mới đủ khôn để dám làm chuyện “ngông cuồng” – dám nghi ngờ, rồi đánh đổ thế độc tôn đi bộ: Sáng chế ra xe đạp. Sau bước đột phát này, trí khôn được thể, ngày càng táo tợn hơn. Chỉ trong vòng vài mươi năm đầu thế kỷ XX, các vụ “đánh đổ” ngoạn mực liên tiếp xẩy ra: xe máy – ô tô – máy bay – con tàu vũ trụ.  Hegel nói đúng, trí khôn vừa mạnh lại vừa mưu. Mạnh vì có mưu. Cái mưu đầu tiên là lấy một hòn đá sắc cạnh chặt một cành cây làm gậy khều, để kéo dài tầm thước tự nhiên của cơ thể trời cho. Cái mưu ấy chính là cái mầm khái niệm mới: Lao động cùng với sức lao động thực thi, mà mãi sau này khi mầm kia thành cành thì phân đôi thành sức lao động chân tay và sức lao động trí óc.  Chỉ vì cần đến sức lao động trí óc, hơn hai ngàn năm trước, Thầy Khổng Tử mở trường, khai sinh giáo dục nhà trường.  Giáo dục nhà trường và nền sản xuất cùng thời đều mang dòng máu của cuộc sống thực đương thời, cả lý thuyết lẫn kỹ thuật, có thể nhìn thấy một cách trực quan, ví dụ, việc làm nhà.  Ngày xưa, để dựng cung vua trăm gian thì chỉ cần triệu về kinh bác thợ cả giàu kinh nghiệm làm nhà năm gian ở quê. Cũng thế thôi, dù trăm ngàn hay năm ba gian thì các gian nhà ấy đều thấp một “tầm trệt” như nhau. Kỹ thuật kia khó gì đem các gian ấy đặt cạnh nhau, kéo dài ngôi nhà ra.  Trong giáo dục nhà trường, kỹ thuật thực thi có từ thời Thầy Khổng Tử, được thâu tóm vào một công thức:  Thầy giảng giải – Trò ghi nhớ.  Một công thức quá hiển nhiên, hiển nhiên như đã đi thì là đi bộ, đã làm nhà thì là làm nhà trệt. Cũng như đi bộ và nhà trệt, công thức ấy dùng nhất loạt cho tất thảy các hạng học trò, cho kẻ học với Thầy đồ ở làng, cho người vác lều chõng về kinh thi hội, thi đình. Cho đến tận ngày nay, công thức ấy vẫn còn dùng nhất loạt cho tiểu học, cho trung học, cho đại học, cho sau đại học…  Kỹ thuật là một nhân tố vật chất với bản tính thụ động, nhưng lại là một hình thái của trí khôn. Có hai loại trí khôn. Trí khôn lâu đời nhất đúc bằng kinh nghiệm nhặt nhạnh trong cuộc sống thường ngày gọi là trí khôn kinh nghiệm chủ nghĩa. Trí khôn loại này chỉ biết một cách hoàn thiện kỹ thuật (do đó, cũng hoàn thiện bản thân mình) bằng phương thức cải tiến (trong giáo dục ngày nay, người ta gọi chệch đi là cải cách, đổi mới…).  Phương thức cải tiến, về bản chất, là bảo thủ. Chỉ chăm chăm vào cải tiến, trí khôn kinh nghiệm chủ nghĩa mặc nhiên thừa nhận cái đang có như “chân lý tuyệt đối”, là độc tôn. Đã là nhà thì là nhà trệt, cải tiến để nhà dài ra hơn. Thế nhưng từ Cuộc sống thực cùng thời đã nảy nòi kẻ “ngông cuồng” dám nghĩ đến chuyện dựng đứng ngôi nhà trệt, đem các gian chồng lên nhau, – thì đời mới có nhà năm tầng, nhà trăm tầng. Muộn hơn nhiều, nhưng rồi cũng đến lượt, trong giáo dục nhà trường, từ thập niên 70 thế kỷ XX, đã có kẻ dám hỗn, hỏi các Thầy: Nếu Thầy không giảng giải thì chuyện gì sẽ xảy ra?  – Một công thức mới, lạ hoắc, kỳ cục, ra đời:  Thầy thiết kế – Trò thi công.  Công thức cũ so với công thức mới như sức lao động chân tay so với sức lao động trí óc, như trí khôn kinh nghiệm chủ nghĩa so với trí khôn khoa học – công nghệ.  Sức lao động chân tay cũng như đi bộ không bao giờ bị vứt bỏ (bị phủ định sạch trơn) mà chỉ bị vượt bỏ thôi! Vượt bỏ là nói về triết học, về lý thuyết, về nguyên lý. Còn trong lịch sử hiện thực, những kẻ bị vượt bỏ vẫn tiếp tục tồn tại với nguyên giá trị tuyệt đối, chỉ riêng giá trị tương đối thì giảm đi nhiều, mà dù giảm nhiều đến mấy, Cuộc sống thực vẫn cần. Đi bộ vẫn cần cho việc đi lại hiện đại đấy chứ. (Chẳng có chiếc ô tô nào chở người ta vào tận giường ngủ).  Xưa nay, dù sống ở thời nào, ai cũng phải cần đến sức lao động chân tay như cần không khí, cần cơm ăn nước uống… Sống ở thời nào cũng vậy, để có sức lao động chân tay, trẻ em phải học từ bé, thậm chí từ lúc mới lọt lòng, học tại nhà, học với người lớn, học bằng bắt chước, bằng tích luỹ kinh nghiệm, không cần đến giáo dục nhà trường. Thời ấy, 95% dân cư mù chữ mà họ vẫn sống bình thường. Dễ hiểu thôi, trong nền sản xuất thời ấy, sức lao động chân tay và kinh nghiệm ấy đủ để làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh nuôi sống mình.  Ngày nay, thế kỷ XXI, không một sản phẩm vật chất nào chỉ do một sức lao động chân tay làm ra. Phần tri thức (hiểu là trí khôn khoa học – công nghệ) ngày càng chiếm một tỷ lệ cao hơn trong mỗi sản phẩm. Sức mạnh tri thức ấy từng bước một đẩy sức lao động chân tay lùi xuống, lùi xuống mãi, thế là từ địa vị độc tôn đầy quyền uy thời nào, nay sức lao động chân tay tụt xuống làm kẻ sai việc cho sức lao động trí óc.  Sức lao động trí óc lên ngôi, trở thành nhân vật số 1 của Cuộc sống thực thế kỷ XXI. Và ngay lập tức, sức lao đông trí óc là mục tiêu bắt buộc phải đạt đến của nền giáo dục thế kỷ XXI: Sức lao động trí óc là sức mạnh vật chất làm nên lẽ sống và sức sống của mỗi cá nhân hiện đại.  Trong cuộc sống thực tự nhiên, từ thuở nảo nao, giáo dục gia đình đã dùng 5 – 6 năm đầu tiên để huấn luyện cho trẻ các thao tác tay chân làm nên sức lao động chân tay. Ngày nay, chỉ có bấy nhiêu sức lao động chân tay thì không thể sống bình thường trong xã hội hiện đại. Các vật dụng thường ngày trong cuộc sống bình thường hiện đại chẳng qua là những hình thái khác của sức lao động trí óc hiện đại: Tivi, điện thoại, xe máy, Email, Internet… Điều quan trọng hơn là sức lao động trí óc hiện đại lại có tầm cỡ toàn cầu. Sức lao động chân tay chỉ có thể loanh quanh trong làng, trong nhà máy, nghĩa là bị hoàn cảnh địa lý khống chế. Trong khi đó, sức lao đông trí óc hiện đại coi đại dương như ao nhà, coi chuyện đẩu đâu trên thế giới như chuyện hàng xóm… Điều còn quan trọng hơn nữa, là mỗi cá nhân hiện đại có thể là một chủ thể kinh tế, mà là chủ thể có tính toàn cầu. Dù y sinh sống ở bất cứ đâu, đều có thể dùng sức lao động trí óc của mình làm việc cho mình hoặc cho bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này.  Vân vân.  Cuộc sống thực hiện đại với ba đặc điểm: kkinh tế thị trường, dân chủ, phạm trù cá nhân chứa trong bản thân mình những vấn đề lý thuyết và kỹ thuật thực thi của giáo dục hiện đại nhà trường hiện đại.  Công thức Thầy thiết kế – Trò thi công không đơn thuần là một vấn đề “kỹ thuật”, mà nếu có phần “kỹ thuật” thì là kỹ thuật của một lý thuyết.  Thi công tức là làm. Làm để học. Học là học làm. Làm là làm ra sản phẩm có thể cân đo đong đếm, ít ra cũng cảm nhận được một cách cảm tính. Sản phẩm làm ra trong đời, trong Cuộc sống thực, khác hẳn với sản phẩm ghi nhớ lời thầy giảng. Trong nền văn minh hiện đại, lời Thầy giảng nhiều lắm như lời chỉ đường (Khổng Tử gọi là đạo), thì Trò phải tự mình đi lấy từ đầu này đến tận cuối kia. Nào có ích gì sự nhớ thuộc lòng lời thầy mà cứ đứng yên một chỗ, không đi, không làm.  Học là học làm, nhưng không phải làm tuỳ tiện, may rủi, lúc được lúc chăng. Phải làm theo thiết kế, như ca sĩ hát theo bản nhạc (của nhạc sĩ).  Thầy thiết kế sao cho bất cứ học sinh bình thường nào (không bị thiểu năng), ai cũng làm được, cũng làm ra sản phẩm mong muốn, – phải làm ra bằng được sản phẩm mong muốn như đã thiết kế.  Học sinh thế kỷ XXI đến trường học là học làm, tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình. Ai làm nhiều có nhiều. Ai làm ít có ít. Ai không làm gì thì không có gì.  Đã có một luận điểm này của Hegel và Mác, nói từ thế kỷ XIX, rằng loài người tự sinh ra mình bằng lao động, thì đến thế kỷ XXI, chẳng có gì mới, nếu nói rằng mỗi cá nhân hiện đại tự sinh ra mình bằng việc học, do đó, chẳng có gì quá đáng, nếu nói rằng toàn bộ sự nghiệp giáo dục hiện đại thâu tóm vào một việc học của học sinh.  Cuộc sống thực thế kỷ XXI ừ thì vẫn tiếp tục triết lý cũ như tiếp tục đi bộ: Muốn gì thì muốn, trước hết phải sống đã! Thế nhưng triết lý đặc trưng cho Cuộc sống thực thế kỷ XXI là Phải sống tốt hơn! Ngày mai phải sống tốt hơn hôm nay.  Sống hòa hợp với tính năng động của Cuộc sống thuộc thế kỷ XXI “một ngày bằng hai mươi năm”, mỗi cá nhân phải học, hôm nay học, ngày mai học, luôn luôn học, thường xuyên học, mà bước vào lớp Một đã bắt đầu học cách làm việc trí óc. Nhu cầu học ngày càng trở nên phổ biến, cả 100% dân cư đều có nhu cầu được học. Nhà nước lấy đó làm một nhiệm vụ xã hội – chính trị bất khả kháng đặt ra cho giáo dục nhà trường hiện đại. Vậy về mặt nghiệp vụ thực thi, giáo dục nhà trường liệu có đảm bảo cho cả 100% học sinh đều học được?  – Ai được học thì học được! Câu trả lời này đảm bảo bởi công thức  Thầy thiết kế – Trò thi công.  Hồ Ngọc Đại      Author                Quản trị        
__label__tiasang Leonhard Euler- người thầy vĩ đại      Trong Tia Sáng số 7 tháng 4, chúng ta đã biết về cuộc sống thăng trầm của Euler. trong bài này chúng ta cùng điểm lại các kết quả nghiên cứu cũng như các đóng góp tiêu biểu theo các thời kỳ mà Euler đã để lại cho thế hệ sau của ông.       Kì II: Các kết quả của Euler  Thời kỳ ở Basel  Trong quãng thời gian ngắn sống ở Basel, Euler đã cho ra đời hai bài báo được đăng trên Acta Eruditorum, một bài về đường đẳng thời và bài còn lại về các đường cong tương hỗ, cả hai bài này đều được hướng dẫn bởi Bernoulli. Nhưng trong thời gian này, Euler liên quan tới Dissertatio physica de sono đã giúp ông được bổ nhiệm làm giáo sư Vật lý tại Đại học Basel.    Trong đó, Euler đã giải thích về giới tự nhiên, quá trình truyền âm, tổng quát về âm thanh phát ra từ các loại nhạc cụ.    Thời kỳ ở St.Petersburg lần I  Như chúng ta đã biết, đây là thời kỳ mà Euler gặp rất nhiều vấn đề với sức khoẻ, nhưng không vì thế mà hiệu quả làm việc của ông bị suy giảm. Các kết quả được công bố trên “Mechanica sive motvs scientia”. Cụ thể là ông đã công bố hơn 70 bài báo từ Giải tích, lý thuyết số, cơ học, khí tượng học.      Bài viết trong hai số của tờ “Mechanica” là cơ sở cho một chương trình nghiên cứu rất sâu của Euler từ cơ học lý thuyết với các cơ hệ; các vật có tính cứng và các vật có tính đàn hồi cho tới cơ học chất lỏng với các dòng chảy…     Trong các bài nghiên cứu này, Euler đã đưa vào các công cụ Toán học để nghiên cứu các chuyển động Vật lý như Vi phân, tích phân, phương trình vi phân để biểu diễn cũng như tính toán các chuyển động cơ học của các cơ hệ. Tại thời điểm đó, Euler đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi và sự nể phục từ các nhà khoa học hàng đầu cho kết quả đó của ông: Johann Bernoulli đã nói “Điều đó đã cho thấy tài năng cũng như sự nhạy cảm của Euler”, Lagrange cũng ghi nhận những đóng góp của Euler trong bài viết trên “Mécanique analytique” năm 1788 là “một công việc vĩ đại, mà ở đó Giải tích đã được ứng dụng vào khoa học chuyển động”. Tuy vậy Lý thuyết và công cụ đó của Euler lại không được hoàn thiện một cách đầy đủ vì một lý do rất đơn giản là trong đầu của Euler luôn thường trực rất nhiều ý tưởng.     Trong thời gian này, ông cũng viết một cuốn sách về âm thanh và âm của các nhạc cụ thuộc bộ dây và bộ khí, cuốn “Tentament novae theoria musicae” xuất bản năm 1739 nhưng thực chất được hoàn thành vào năm 1731, còn ý niệm về nó đã thai nghén trong đầu của Euler từ thời kỳ ở Basel.     Công việc ấy đã mở ra một hướng giải thích mới cho các âm thanh như là sự chuyển động của các phân tử khí, quá trình truyền âm, nguồn âm từ dây và phối khí.     Trong quá trình biến âm nhạc trở thành một môn khoa học chính xác, Euler không đơn độc, cùng đi với ông còn có Descarte, Mersenne, d’Alembert và còn nhiều người khác. Vào năm 1766 và 1774, Euler trở lại với chủ đề âm nhạc trong ba bài viết khác.    Dấu mốc quan trọng thứ hai với sự phát triển của cơ học lý thuyết ở giai đoạn này là trong hai kỳ của “Scientia navalis”, Euler đã đưa ra quy luật thuỷ tĩnh thứ tư, cũng như phát triển lý thuyết cân bằng lực, và cân bằng về dao động ba chiều của các vật thể chìm trong nước. Lý thuyết này đóng vài trò quan trọng với việc đóng tàu và tính toán với sự chuyển động của các vật thể trong môi trường nước.  Thời kì ở Berlin  Trong thời kì này, Euler với các cuộc tham vấn về kỹ thuật và các dự án công nghệ thì đây cũng là một thời kỳ mà Euler cho ra nhiều chuyên luận khoa học vĩ đại và đặc biệt là một tác phẩm nói lên triết lý của khoa học.    Khởi động với bài toán “brachistochrone” được đưa ra bởi Johann Bernoulli. Nội dung của bài toán như sau.     Tìm quỹ đạo để một vật chuyển động từ A tới B (điểm B có độ cao thấp hơn điểm A) với thời gian ngắn nhất, xét tới cả lực ma sát và trọng lực của trái đất.     Đây là một ví dụ về bài toán tối ưu. Cái tên “Brachistochrone” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với Brachistos’ nghĩa là ngắn nhất và ‘chronos’ nghĩa là thời gian.     Vào năm 1744 và sau đó là 1766, xuất phát từ một ý tưởng của Lagrange, Euler đã tổng quát hoá vấn đề này và khai sinh ra một chuyên ngành mới của Toán học là “Giải tích biến phân”.    Trong giai đoạn này, ông còn viết hai tiểu luận, một về quỹ đạo của các hành tinh và sao chổi, một về quang học và tham gia vào các tranh luận về tính chất sóng, hạt của ánh sáng.     Theo yêu cầu của Hoàng đế Frederik II, Euler đã dịch một cuốn sách về đường đạn được viết bởi Benjamin Robins. Việc dịch cuốn này diễn ra trước khi Euler cho ra đời cuốn Artillerie.    Cũng trong giai đoạn này, Eule xuất bản ba cuốn sách: Introduction in analysin infinitorum (1748); Institutiones calculi differentialis (1755); Institutiones calculi integralis (1768).    Euler vẫn tiếp tục phát triển các lý thuyết cơ học và các nghiên cứu trước đây, đồng thời hoàn thiện dần cơ học chất rắn, ( ngày nay ta gọi là cơ học Newton). Trong đó chứa cả các phương trình vi phân và Euler cũng là người đầu tiên đưa ra ý tưởng sử dụng hai hệ trục toạ độ, một cố định, một không cố định gắn với vật và các phương trình vi phân của chuyển động, các góc phát sinh được gọi là góc Euler.     Năm 1766, Euler lại quay lại với cơ học trong chính Seminal của mình, và Euler đã tìm ra được công thức cho luật tuyến tính và góc mô-men.    Trong suốt quãng thời gian ở Berlin, ông bị lôi cuốn bởi quang học và các dụng cụ quang học, trong hồi ký của mình Euler có nói tới ba cuốn sách về khúc xạ và việc mà Euler rất quan tâm là cải tiến các dụng cụ quang học, từ kính hiển vi cho tới kính thiên văn, đặc biệt là cách khử quang sai.     Vai trò như một nhà Triết học của Euler còn gây nhiều tranh cãi, Euler có viết một văn bản khoảng 200 chữ bằng tiếng Pháp, đó là một lá thư gửi cho công chúa người Đức, với nội dung nói về triết lý, khoa học và đạo đức.  Thời kì ở St. Petersburg thứ II  Đây cũng là thời kỳ làm việc hiệu quả nhất của Euler với trên 400 tác phẩm được công bố với các nội dung trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ hình học, xác suất , thống kê bản đồ cho tới cả nông nghiệp, khoa học cho hải quân…    Cũng trong thời kỳ này, cuốn sách “Vollständige Anleitung zur Algebra “ (gọi tắt là Đại số) của Euler ra đời. Với mục đích là qua cuốn sách giới thiệu cho đại chúng về đại số, ông đã thử nghiệm nó với người thợ may đến cùng với ông từ Berlin, một người được ông nhận xét là có khả năng tính toán nhưng không hề có bất kỳ một ý niệm nào về toán học trong đầu. Qua đó, anh ta hiểu đươc hầu hết các phần và có thể xử lý được các bài toán về Đại số mà anh ta gặp phải.     Điều đó cho thấy khả năng sư phạm tuyệt vời của Euler, trình bày từ các câu chuyện số học đơn giản cho tới các phương trình đại số bậc 4, phân tích Diophantine. Hơn nữa các ví dụ được mang ra tính toán đều rất gần gũi với cuộc sống. Quỹ đạo và sự tương tác của Mặt trăng từ lâu đã thu hút không chỉ Euler mà còn rất nhiều các nhà khoa học thời đó, và rồi cuốn sách về “lịch tuần trăng” ra đời. Các ý tưởng nghiên cứu về sự tác động của cơ hệ gồm ba thành phần là Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất. Đây là một vấn đề rất khó, chính Newton đã từng nói “Lời giải cho vấn đề này vượt quá khả năng của con người”. (Ngày nay thì chúng ta biết lời giải chính xác là không thể. Euler đã giải quyết vấn đề này bằng cách xấp xỉ dựa vào các số liệu quan sát và kết hợp với việc gắn hai hệ toạ độ để quan sát.)    Một cuốn sách lý thuyết về tàu cũng ra đời trong thời kỳ này để sử dụng cho các thuỷ thủ và công nhân đóng tàu, những con người không có nhiều kiến thức về toán học. Chính nhờ khả năng sư phạm tuyệt vời của Euler mà cuốn sách được sử dụng rất hiệu quả, tới mức các trường tài chính và hàng hải của Pháp cũng như Anne Robert Jacques Turgot (nhà kinh tế học người Anh) đã kiến nghị Vua Louis XVI rằng tất cả các học viên của trường hàng hải phải nghiên cứu các tài liệu của Euler.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử là thực tế tiền công nghiệp      Bài trả lời phỏng vấn sau đây của giáo sư sử học Barbara Hahn, một học giả lịch sử kinh tế tại Viện đại học Texas Tech, phó tổng biên tập tạp chí Technology and Culture thuộc Hiệp hội Lịch sử Công Nghệ Hoa Kỳ, mang đến cho độc giả những góc nhìn khoa học về nghiên cứu, giảng dạy, và học sử của Mỹ.      Phương pháp nghiên cứu đóng một vai trò quan trọng trong việc khám phá câu chuyện lịch sử. Vậy làm thế nào để chúng ta tạo ra một môi trường nghiên cứu tự do mà không làm mất đi tính nguyên tắc của nó?     Dạy sinh viên cách làm nghiên cứu trong khi cho phép họ tìm thấy cách nghiên cứu riêng và cách viết riêng của họ là một điều cần phải được thực hiện. Nó không phải như là giáo sư viết ra hướng dẫn và sinh viên cứ theo những hướng dẫn đó mà học để trở thành một sử gia. Sự tương tác giữa những người có kinh nghiệm đào tạo với những người đang tìm kiếm kinh nghiệm và sự đào tạo là rất quan trọng cho quá trình học tập. Bằng cách này, lịch sử thực sự là một thực tế tiền công nghiệp. Nó có nghĩa là không phải một điều gì đó có thể được sản xuất từ xưởng máy cũng thậm chí không tuân theo những chuẩn mực mang tính trật tự trong cùng một thời gian bất kể ai làm công việc đó.Thay vì vậy, nó là một quá trình rất cá nhân và mỗi người phải tìm ra phương tiện để nghiên cứu từng vấn đề và trình bày kết quả nghiên cứu.      Cách tốt nhất để giúp sinh viên tiếp cận và quan tâm đến phương pháp lịch sử là gì?     Tôi nghĩ các ví dụ sẽ luôn giúp sinh viên hiểu tốt hơn. Trong lớp học về các phương pháp lịch sử, tôi cố gắng cung cấp một bài tập thực hành cho mỗi phương pháp đang được xem xét. Điều này giúp sinh viên thực hành phương pháp đó. Trong khi thảo luận, sinh viên học cả hai: giá trị của phương pháp đó và những mối nguy hiểm của nó – Những gì mà một loại tư liệu cụ thể cung cấp cho các nhà sử học, và nó yếu hoặc không đáng tin cậy ở những điểm nào.      Nhiều sinh viên không thích học lịch sử vì họ cảm thấy kinh nghiệm cá nhân của họ không được phản ánh trong các câu chuyện lịch sử họ được dạy . Giáo sư có thể đề nghị một số  triết lý sư phạm có thể làm cho sinh viên thích thú hơn với lịch sử ?             Lịch sử thực sự là một thực tế  tiền công nghiệp. Nó có nghĩa là không phải một điều gì đó có thể được  sản xuất từ xưởng máy cũng thậm chí không tuân theo những chuẩn mực mang  tính trật tự trong cùng một thời gian bất kể ai làm công việc đó.Thay  vì vậy, nó là một quá trình rất cá nhân và mỗi người phải tìm ra phương  tiện để nghiên cứu từng vấn đề và trình bày kết quả nghiên cứu.          Một số sinh viên hứng thú với lịch sử chỉ vì nó cung cấp một cái nhìn phức tạp và mang sắc thái của thế giới ngày nay, và làm thế nào chúng ta phát triển đến thời điểm hiện tại, cũng như một cái nhìn tương tự về các mối quan hệ nhân – quả trong quá khứ. Tôi cũng nghĩ rằng khi con người có tuổi, họ bắt đầu nhận ra rằng lịch sử phản ánh những kinh nghiệm của họ, hay là nó rọi một tia sáng lên những sự kiện mà con người nghĩ rằng họ đã hiểu và học được từ lịch sử rằng nguyên nhân của những khoảnh khắc họ đã sống, trải qua là thực sự sâu sắc hơn những gì họ đã biết vào thời điểm đó.      Trong việc giảng dạy và phương pháp học tập lịch sử ở Mỹ? Giảng viên và giáo trình ở Mỹ độc lập thế nào với các giả định tư bản chủ nghĩa ?     Thị trường tư bản chủ nghĩa vốn đã phân cấp, vì vậy ngay cả những ý tưởng cũng hình thành trong một thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi khi điều đó có nghĩa là các sự kiện cũng tùy thuộc vào “những cuộc tranh luận đại chúng”. Ví dụ, giải thích sai về các nguyên nhân của cuộc nội chiến Mỹ là một trong những yếu tố chính trong ý  thức hệ bảo thủ hiện đại hay tư tưởng chính trị của “Tea Party”. Những người tin rằng chính phủ là to lớn và xấu xa cũng tin rằng tổ tiên của họ đã chiến đấu chống lại chính phủ liên bang thay mặt cho các tiểu bang riêng biệt và quyền của các tiểu bang để thiết lập luật pháp và các chính sách riêng của họ. Họ tin vào điều này một cách thấu suốt hơn khi họ không suy nghĩ về quyền mà các tiểu bang của họ muốn bảo vệ, đó là giữ chế độ nô lệ. Vì vậy, một lịch sử của cuộc Nội chiến nhấn mạnh chế độ nô lệ sẽ được bán tốt hơn trong một thị trường miền Nam, và sẽ có thể rất khó khăn cho một giáo sư để thuyết phục các sinh viên về các sự kiện mà tất cả các nhà sử học biết là đúng, ngay cả khi cho họ tiếp cận các nguồn tư liệu gốc có sẵn và khẳng định rằng chế độ nô lệ chính là lý do mà các tiểu bang ly khai khỏi liên bang.      Ngày nay lịch sử được nghiên cứu dưới ánh sáng của những xu hướng mới, chẳng hạn như quan điểm liên văn hóa hoặc hậu hiện đại . Ý kiến của bà về những trường tư tưởng này ra sao? Có các trường nào khác cần được xem xét không?     Hậu hiện đại là một trạng thái, hơn là một ý kiến ​​hay quan điểm. Con người không thể nào thoát khỏi nó hơn nữa như khi họ có thể thoát khỏi thời hiện đại trong những ngày hoàng kim của nó vào những năm đầu thế kỷ 20. Ta đều biết rằng chúng ta kể những câu chuyện khác nhau từ những vị trí, điểm nhìn khác nhau. Ví dụ cảnh sát , bạn bè, cha mẹ, thầy cô … mỗi người sẽ nhận được một mẩu chuyện khác nhau về một ngày ta sống chẳng hạn. Đây chính là một cái nhìn căn bản của tư duy hậu hiện đại. Tương tự, những quan điểm liên văn hóa xuất phát từ thực tế rằng chúng ta đang sống trong một xã hội với nhiều hơn một nền văn hóa, và rằng cả thế giới có muôn màu muôn vẻ những kinh nghiệm và văn hóa có ý nghĩa đến những thực thể tham gia nó, ngay cả khi những kinh nghiệm, văn hóa này là rất khó khăn cho những người đến từ xã hội khác hiểu được. Sự đồng cảm thúc đẩy các quan điểm liên văn hóa. Và tính tương đối trong thời kì hậu hiện đại cũng thế.      Thống kê, công nghệ thông tin, tư duy biện luận và các kỹ năng nghiên cứu khác của thế kỷ 21 tham gia bao nhiêu vào việc giảng dạy lịch sử ? Sinh viên sẽ được đáp ứng tốt hơn bằng cách học chúng trong chính ngành hay trong những lĩnh vực khác nữa?     Các phương pháp lịch sử đang thích nghi với những thay đổi công nghệ nhanh chóng và mang tính cách mạng mà chúng ta đang trải qua hiện nay. Nếu một giảng viên có những kỹ năng đặc biệt mới hoặc hiếm, cô ta nên dạy chúng cho sinh viên của mình. Mặt khác, các phương pháp thường thay đổi và phát triển rất nhanh chóng, nên việc nó chỉ được áp dụng trong một ngành đơn lẻ là không thể. Trong trường hợp sinh viên cần một kỹ năng nghiên cứu cụ thể mà không có giáo sư lịch sử nào trong phân ngành có thể dạy, sẽ là tốt để tìm kiếm những kĩ năng này trong các phân ngành hoặc thậm chí những lĩnh vực khác.      Về tỷ lệ, mức độ quan trọng thích hợp của các việc giảng dạy, nghiên cứu, công tác hành chính và phục vụ cộng đồng được phân chia thế nào?     Đại học Texas Tech nơi tôi giảng dạy, là một Viện nghiên cứu. Vì lý do đó, công việc của tôi là khoảng 40% giảng dạy, 30% nghiên cứu  và 30 % dịch vụ, nhưng tỷ lệ có thể biến đổi rất lớn. Người làm việc trong tổ chức thiên về giảng dạy hơn  dành ít thời gian của mình hơn cho việc nghiên cứu, và nhận được ít hơn phần thưởng từ nó. Ngay cả trong phân ngành Lịch sử tại trường Texas Tech cũng có nhiều biến thể. Nhiều đồng nghiệp của tôi làm dịch vụ cộng đồng địa phương trong khi dịch vụ của tôi thường là làm việc với các tổ chức chuyên nghiệp quốc tế. Chẳng hạn, tôi là Phó tổng biên tập của tạp chí Công nghệ và Văn hóa, đó là tạp chí của Hiệp hội Lịch sử Công nghệ, và tôi cũng tham gia trong Hội Đồng Quản Trị của Hội nghị Lịch sử kinh doanh.     Văn Cầm Hải thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên kết đào tạo giữa ĐHQG Hà Nội và ĐH Griggs: Nhiều thông tin cần được làm rõ      Thông tin mà chúng tôi thu thập được cho  thấy lời phản bác của ĐHQG Hà Nội đối với kết luận của Thanh  tra chính phủ về những sai phạm trong liên kết đào tạo với ĐH  Griggs chưa thực sự thuyết phục.  &#160;    Vừa qua, Thanh tra chính phủ vừa có kết luận về những sai phạm trong liên kết đào tạo với nước ngoài tại ĐHQG Hà Nội, kèm kiến nghị xem xét không công nhận hơn 2.000 bằng cử nhân, thạc sĩ do đối tác nước ngoài cấp. Trong số các văn bằng này có một số không nhỏ từ chương trình liên kết với ĐH Griggs của Hoa Kỳ. Kiến nghị này sau đó đã được ĐHQG Hà Nội phản hồi khá gay gắt là “không đúng pháp luật và không hiểu biết”, vì “học viên hoàn toàn yên tâm về những tấm bằng do các chương trình liên kết đào tạo tại ĐH Quốc gia đã cấp cho các em”, và “chương trình MBA của [Trung tâm Công nghệ đào tạo và hệ thống việc làm] ETC [ĐHQG HN] liên kết với ĐH này [tức ĐH Griggs] đã được DETC – một tổ chức kiểm định của Hoa Kỳ – kiểm định và cấp chứng nhận”.   Thực hư của việc này là như thế nào? Nhằm làm rõ hơn những vấn đề đang được dư luận quan tâm, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin về trường ĐH Griggs và việc kiểm định chương trình đào tạo theo DETC.    Về tư cách pháp nhân của Griggs  Trường ĐH Griggs là một phần của tổ chức giáo dục tư nhân có tên là Griggs University & International Academy. Tổ chức này do Hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm (Seventh-day Adventist, một hệ phái Tin Lành của Mỹ) thành lập từ năm 1909 trước hết nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo cho hệ phái tôn giáo này, và sau đó mở rộng cho các đối tượng khác. Cần chú ý đây không phải là một cơ sở giáo dục đầy đủ theo nghĩa truyền thống mà là một tổ chức chuyên cung cấp các chương trình đào tạo từ xa (các chương trình hàm thụ trước khi có mạng Internet, và các chương trình hỗn hợp kết hợp học tập truyền thống và học tập từ xa qua mạng). Điều này được phản ánh rõ qua lịch sử và các tên gọi của tổ chức này: đầu tiên nó mang tên là The Fireside Correspondence School (Trường Hàm thụ Lửa hồng, hàm ý người học có thể học tại nhà, bên lò sưởi), sau đó đổi thành Viện Đào tạo tại gia (The Home Study Institute), rồi Viện Đào tạo tại gia quốc tế (Home Study International), và từ đầu thập niên 1990 mới có tên Griggs University như hiện nay1.  Lời tự giới thiệu của Griggs University and International Academy trên trang web của tổ chức này cũng nêu rõ:  Griggs là một tổ chức có nguồn gốc tôn giáo chuyên cung cấp các chương trình học tập từ xa và học tập tại gia “được kiểm định”. Griggs cung cấp từng môn học riêng biệt hoặc toàn bộ chương trình đào tạo ở mọi trình độ từ mẫu giáo đến đại học2. (Tình trạng kiểm định của ĐH Griggs sẽ được bàn thêm ở phần sau).  Cần lưu ý rằng theo thông tin chính thức của Griggs thì từ ngày 1/11/2010 quyền sở hữu Griggs University & International Academy đã được chuyển toàn bộ sang ĐH Andrews, và trụ sở của Griggs cũng đã được chuyển từ Maryland sang Michigan, nơi ĐH Andrews tọa lạc. Cũng theo thông tin chính thức từ trên mạng của Griggs, với sự thay đổi quyền sở hữu này, tất cả các chương trình đào tạo từ xa của Griggs đều được chuyển về bộ phận đào tạo từ xa của ĐH Andrews3.   Một điểm khác cần lưu ý, cũng theo thông tin cập nhật nhất trên trang web chính thức của Griggs, thì tất cả  các chương trình đại học của Griggs đều do các trường đại học khác tổ chức giảng dạy và cấp bằng. Ba trường đại học mà Griggs có “liên kết đào tạo” là ĐH Andrews (nay là sở hữu chủ của Griggs), ĐH Oakwood, và ĐH Cơ Đốc Phục Lâm Washington – cả ba đều là các trường trong hệ thống các trường đại học của Hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm đã nêu ở trên. Như vậy, có thể kết luận là hiện nay ĐH Griggs không có quyền cấp bằng đại học tại Mỹ, chỉ đóng vai trò người cung cấp tài liệu giảng dạy, quản lý việc học tập và thi cử qua mạng mà thôi4.   Điều không rõ ràng là hiện nay các chương trình đào tạo được thực hiện tại Việt Nam là do ai cấp bằng: ĐH Andrews, ĐH Cơ Đốc Phục Lâm Washington, hay ĐH Griggs? Nếu nơi cấp bằng cho các sinh viên của Việt Nam là ĐH Griggs thì liệu bằng cấp này có được ai công nhận hay không?  Về tình trạng kiểm định của Griggs  Lời tự giới thiệu của ĐH Griggs (đúng hơn là tổ chức có tên gọi là “Đại học và Học viên quốc tế Griggs” (Griggs University & International Academy) đã nêu ở trên khẳng định đây là một tổ chức “được kiểm định”. Như chúng ta đã biết, hệ thống kiểm định của Mỹ khá phức tạp, vì có rất nhiều tổ chức kiểm định khác nhau cho các chương trình và các loại hình cơ sở đào tạo khác nhau. Trong khi đó, Griggs là tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau, đồng thời vừa cung cấp từng môn học riêng rẽ (tương tự như dạy kèm) vừa cung cấp toàn bộ chương trình đào tạo thông qua việc liên kết với các trường đại học khác, nên chắc chắn sẽ được kiểm định bởi nhiều tổ chức kiểm định. Vậy tình trạng kiểm định của Griggs cụ thể là như thế nào?  Theo thông tin chính thức trên trang web của Griggs, ta thấy Griggs được kiểm định bởi bốn tổ chức khác nhau, trong đó có hai tổ chức chuyên kiểm định giáo dục phổ thông và một tổ chức chuyên kiểm định các trường có nguồn gốc tôn giáo nên không liên quan đến chương trình liên kết tại Việt Nam. Tổ chức còn lại là DETC (Distance Education and Training Council), là tổ chức được ĐHQG Hà Nội nêu như một bảo đảm về chất lượng chương trình đào tạo của Griggs đang được liên kết giảng dạy tại Việt Nam. Điều này có chính xác không?  Có lẽ ở Việt Nam ai cũng biết DETC là tổ chức chuyên kiểm định các hoạt động đào tạo từ xa (ít nhất 51% khối lượng học tập được thực hiện theo phương thức đào tạo từ xa); tuy nhiên, có lẽ chúng ta ít chú ý rằng DETC thực hiện kiểm định ở mọi trình độ từ mẫu giáo đến đại học. Như đã nêu ở trên, hiện nay Griggs không trực tiếp cấp bằng đại học tại Mỹ mà liên kết với các trường đại học khác để tổ chức giảng dạy, trong đó Griggs chỉ đóng vai trò người cung cấp chương trình, tài liệu học tập, và quản lý các hoạt động học tập từ xa. Như vậy, có thể tạm kết luận rằng việc kiểm định của DETC đối với Griggs chỉ bao gồm các môn học/chương trình đào tạo ở các bậc đào tạo từ trung học trở xuống, chứ không bao gồm trình độ đại học và sau đại học như các chương trình liên kết tại ĐHQG Hà Nội.  Một điểm cần lưu ý là cho đến cuối năm 2011 thì DETC chỉ thực hiện kiểm định cho các cơ sở đào tạo hoạt động tại Mỹ, không kiểm định các chương trình triển khai ở nước ngoài. Nói cách khác, ngay cả khi Griggs có được DETC kiểm định cho các chương trình/môn học ở bậc đại học thì trong thời gian qua, điều đó cũng không có ý nghĩa đối với chương trình liên kết tại Việt Nam, mà chỉ có ý nghĩa nếu chương trình được triển khai tại Mỹ. Nói cách khác, trong một thời gian rất dài thì chất lượng của các chương trình đào tạo liên kết tại nước ngoài của các trường đại học của Mỹ không nằm trong phạm vi quan tâm của DETC; điều này chỉ mới thay đổi vào đầu năm 2012 mà thôi.  Quy định mới của DETC, có hiệu lực từ đầu từ năm nay, đã đưa ra những yêu cầu đối với những chương trình đào tạo từ xa được các trường đại học Mỹ thực hiện ở bên ngoài nước Mỹ. Theo quy định này, mọi chương trình đào tạo từ xa được thực hiện bên ngoài nước Mỹ đều phải tuân thủ theo đúng các yêu cầu mà DETC đã đặt ra cho các trường đại học tại Mỹ. Đặc biệt, cần lưu ý rằng DETC đòi hỏi mọi hợp đồng hợp tác với nước ngoài phải được báo cáo đến DETC để xem xét và phê duyệt trước khi được tiến hành5. Như vậy, lời khẳng định củ ĐHQG Hà Nội rằng chương trình liên kết tại Việt Nam của ĐH Griggs là thực sự có chất lượng vì đã được DETC kiểm định liệu có chính xác?  Một điều khác cần được làm rõ là khi ĐH Griggs đã đổi chủ sở hữu, đồng thời cũng không phải là cơ sở giáo dục được cấp bằng đại học tại Mỹ, thì những chất lượng của các chương trình liên kết tại Việt Nam và các tấm bằng được cấp cho sinh viên sau khi hoàn tất sẽ do ai chịu trách nhiệm giám sát, và giá trị của những tấm bằng này sẽ được ai công nhận?  ***  Trên đây là một số thông tin mà chúng tôi đã thu thập được, tất cả đều từ những nguồn tin chính thức của ĐH Griggs hoặc của tổ chức kiểm định DETC. Những điểm chưa rõ ràng mà chúng tôi đã nêu ra cho thấy lời phản bác của ĐHQG Hà Nội đối với những kết luận và kiến nghị của Thanh tra chính phủ chưa thực sự thuyết phục. Thiết nghĩ ĐHQG Hà Nội cần tìm hiểu thông tin kỹ lưỡng hơn và làm rõ những điều chưa rõ, hòng lấy lại niềm tin của người học đối với một đại học hàng đầu của Việt Nam nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam nói chung.  —  1/ http://wsv2.griggs.edu/about-griggs/history  2/ http://www.griggs.edu/index.html  3/ http://www.griggs.edu/new-ownership.html  4/ http://www.griggs.edu/college.html  5/ http://www.detc.org/accreditationhandbook/2012/C.%2017.%20Policy%20on%20International%20Activities12.pdf      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên kết đào tạo sau đại học:  phân biệt thật và dỏm      Trong điều kiện thiếu thốn về cơ sở vật chất và giáo sư, liên kết đào tạo với các đại học nước ngoài là một giải pháp tốt. Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và khoa học kĩ thuật ở nước ta dẫn đến nhu cầu lớn về chuyên gia quản trị kinh doanh và quản lí hành chính. Nhưng các đại học nước ta không đáp ứng được nhu cầu này, do thiêu giáo sư và cơ sở vật chất đào tạo. Do đó, một phương án thực tế nhất là liên kết với các đại học nước ngoài để vừa đào tạo vừa học. Đó là một phương án chẳng những mang tính thực tiễn cao mà còn có thể xem là một giải pháp tốt cho các nghiên cứu sinh trong nước.                          Trong liên kết đào tạo, vấn đề đặt ra là cần phải chọn đối tác có uy tín. Điều này thì chắc chẳng ai phản đối, bởi vì hợp tác với các trung tâm hay đại học có uy tín, chẳng những đảm bảo chất lượng đào tạo, mà còn giúp từng bước nâng cao uy danh và uy tín của đại học Việt Nam trên trường quốc tế.  Nhưng câu hỏi mấu chốt là: thế nào là một đại học có uy tín? Khi nói có “uy tín” (credential) ở đây, tôi muốn nói đến: (a) trường đó được cơ quan thẩm quyền của Nhà nước công nhận, (b) bằng cấp từ trường đó được giới chuyên ngành hay cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước công nhận, và (c) giáo sư trường đó hội đủ tiêu chuẩn của một nhà khoa bảng.   Đối với các trường ở Mỹ, có thể kiểm tra các trường được Nhà nước công nhận rất dễ dàng. Để xác định danh tính các trường đại học và cao đẳng hợp pháp ở Mỹ, có thể tra cứu tại Cơ sở lưu trữ dữ liệu các viện và chương trình đào tạo sau trung học được công nhận, thuộc Bộ Giáo dục Mỹ. Vào website đó, và gõ vào tên trường, kể cả tên viết tắt, nếu không tìm thấy, tức là trường đó chưa được Bộ Giáo dục Mỹ công nhận. Chưa được Bộ Giáo dục công nhận cũng có nghĩa là bằng cấp từ trường đó cũng chưa được giới chuyên ngành công nhận.  Không khó để nhận dạng một giáo sư thật hay giả. Ở các đại học Mỹ nói riêng, hay các đại học phương Tây nói chung, các giáo sư đều có trang web riêng do trường quản lí.  Trong trang web đó, người ta cung cấp thông tin về bằng cấp cao nhất, chức danh, và công trình nghiên cứu. Không một giáo sư Mỹ từ một trường có uy tín nào mà không có công trình nghiên cứu khoa học. Thật ra, trong giới chuyên môn, chỉ cần nhìn qua lí lịch khoa học với những tập san khoa học mà người đó công bố, là có thể biết ngay người đó là giáo sư thật hay dỏm, thậm chí có thể đoán biết ngay giáo sư đó ở đẳng cấp nào.   Gần đây, có tín hiệu cho thấy một số cơ sở kinh doanh bằng cấp của Mỹ vào Việt Nam để tuyển sinh. Đã có ít nhất 20 cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm (tiếng Anh gọi là “Diploma Mill” – hãng sản xuất bằng cấp) đang có mặt ở Việt Nam tích cực tuyển sinh. Các cơ sở kinh doanh này xuất hiện dưới danh xưng “university” (đại học), nên dễ gây hiểu lầm trong những người chưa quen với hệ thống đại học Mỹ. Cũng giống như khi chúng ta mở cửa sổ thì ngoài việc có ánh sáng, cũng có ruồi muỗi bay vào quấy nhiễu. Sau một thời gian đóng cửa, giáo dục Việt Nam mở cửa, và khi cánh cửa mở rộng, thì bên cạnh những trung tâm giáo dục danh tiếng vào hợp tác, cũng có những cơ sở kinh doanh bằng dỏm nhân cơ hội làm ăn. Các cơ sở kinh doanh này thấy được nỗi khát khao có bằng ngoại quốc của người Việt, và họ lợi dụng tình trạng thiếu thông tin để kiếm chát. Đối với họ, việc in ra một tờ giấy làm học vị thạc sĩ, thậm chí tiến sĩ, là điều quá dễ dàng, vì họ chẳng quan tâm đến giáo dục (điều xa xỉ) mà chỉ quan tâm đến đồng tiền.  Chẳng những tuyển sinh, một vài cơ sở kinh doanh bằng cấp còn liên kết với đại học Việt Nam để đào tạo sau đại học.  Qua Tuổi Trẻ gần đây, chúng ta biết rằng một phó bí thư tỉnh ủy đã được cơ sở kinh doanh có tên là Irvine University cấp bằng thạc sĩ quản trị danh dự.  Tôi đã kiểm tra và biết rằng Irvine University nằm trong danh sách cơ sở kinh doanh bằng cấp, và không được giới chức giáo dục Mỹ công nhận là trường đại học.  Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là Irvine University đã liên kết với Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đào tạo thạc sĩ!  Bản tin của ĐHQGHN “43 học viên được trao bằng thạc sĩ Quản trị Kinh doanh quốc tế” còn cho biết 160 học viên đang theo học thạc sĩ theo chương trình liên kết giữa ĐHQGHN và Irvine University.  Bản tin trên còn tuyên bố rằng đây là “một trong những chương trình liên kết đào tạo có uy tín tại Việt Nam”! Thật khó tưởng tượng nổi một cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm liên kết với một đại học hàng đầu và mang danh nghĩa “quốc gia” để đào tạo thạc sĩ!  Sự liên kết giữa Irvine University và ĐHQGHN là điều khó hiểu. Trong một bản tin khác có tựa đề “Ngày hội MBA” của Hanoi School of Business (HSB, một trung tâm đào tạo quản trị kinh doanh của ĐHQGHN) cho biết tham gia buổi lễ tốt nghiệp của học viên có nhiều quan chức và nhà khoa bảng nổi tiếng như GS. TSKH Vũ Minh Giang (Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội); GS. TS Nguyễn Hữu Công (Trưởng Khoa sau đại học, ĐHQGHN); GS. Hà Tôn Vinh (Cố vấn cao cấp Khoa Quản trị Kinh doanh, ĐHQGHN); Ông Nguyễn Việt Thắng (Phó chủ nhiệm Khoa Quản trị Kinh doanh, ĐHQGHN), và bên Irvine University có “TS. Eric H. Furlong” (được giới thiệu là “Phó Chủ tịch Hội đồng Hàn lâm khoa học ĐH Irvine”). Nhưng trong thực tế Eric H. Furlong chưa có bằng tiến sĩ, và cái gọi là “Hội đồng Hàn lâm” đó chẳng phải là hội đồng học thuật gì cả. Điều ngạc nhiên là tham dự lễ bế giảng có có ông Brent Omdald, đại diện Đại Sứ quán Mỹ tại Việt Nam. Chẳng lẽ sứ quán Mỹ ủng hộ chuyện bán bằng giả cho Việt Nam?  Vấn đề đáng quan tâm là giá trị của những văn bằng đã được cấp. Trong số những học viên được cấp bằng thạc sĩ sự liên kết (hay “liên doanh”) có nhiều người đang nắm giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống kinh tế và hành chính ở VN. Nhưng những bằng cấp đó không được công nhận, bởi vì Irvine University không được Nhà nước Mỹ và giới học thuật công nhận. Điều đáng tiếc là các giáo sư của một đại học hàng đầu tại Việt Nam không nhận ra đâu là dỏm và đâu là thật, và để cho Irvine University gây hoen ố tên trường như thế.    Không thể chấp nhận được một đại học mang tiếng là “quốc gia” mà liên kết đào tạo với một cơ sở kinh doanh bằng cấp dỏm. Tôi đề nghị các tất cả các đại học ta nên ngưng ngay “chương trình hợp tác” này để tránh khỏi những hệ lụy tiêu cực về sau, và để bảo vệ uy tín của một đại học quốc gia Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu bằng đôi có trở thành những “tấm bằng hạ giá?”      Với tư cách một chiến lược quốc tế hóa, các chương trình bằng đôi (double degree) và đa học vị (multiple degree) quốc tế đụng chạm đến vấn đề cốt lõi của giáo dục, đó là quá trình giảng dạy/học tập và sự sản sinh tri thức mới giữa các quốc gia. Nhưng nếu sự yêu thích dành cho chương trình bằng đôi/đa học vị ngày càng nở rộ thì sự lo ngại về các chương trình này cũng ngày càng tăng, bởi các chương trình này cấp đến hai hoặc nhiều văn bằng khác nhau cho người học dựa trên cùng một số lượng tín chỉ giống nhau.     Trong vòng năm năm trở lại đây, số lượng và chủng loại các chương trình bằng đôi và đa học vị quốc tế đã gia tăng một cách đáng kinh ngạc. Theo báo cáo của Hiệp hội quốc tế các trường đại học năm 2014 về quá trình quốc tế hóa, các chương trình bằng đôi đã tăng hơn 50% trong suốt ba năm qua ở nhiều chuyên ngành, cụ thể tăng 19% ở các ngành khoa học tự nhiên, 14% ở các ngành khoa học xã hội. Tuy những con số này chỉ mang tính gợi ý và không cho thấy được toàn bộ sự phát triển của chương trình bằng đôi/đa học vị trên thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á và châu Âu, song chúng đã minh họa rất rõ ràng vai trò của những chương trình này trong khung cảnh giáo dục đại học quốc tế ngày nay, cũng như sự phổ biến của chúng đối với sinh viên và các cơ sở giáo dục.     Sự khác nhau giữa các loại bằng cấp    Cần phải có một vài lời giải thích về ý nghĩa thật sự của các chương trình bằng đôi/đa học vị và những vấn đề liên quan, bởi hiện đang có nhiều cách diễn giải khác nhau dẫn đến vô số nhầm lẫn về ý nghĩa của cụm từ này.    Chương trình bằng đôi hoặc đa học vị quốc tế là chương trình có sự tham gia của hai hoặc nhiều tổ chức giáo dục từ những quốc gia khác nhau cùng hợp tác và triển khai một chương trình học thuật. Thông thường, mỗi tổ chức sẽ cấp một văn bằng riêng của mình. Điều này khác với các chương trình liên kết đào tạo (joint-degree program) hoặc thỏa thuận đồng hướng dẫn trong bậc học Tiến sĩ.     Trong chương trình liên kết đào tạo, một văn bằng sẽ được cấp chung bởi hai hay nhiều cơ sở giáo dục hợp tác với nhau; còn với thỏa thuận đồng hướng dẫn, các trường đối tác phải cùng làm việc để phát triển và thực hiện một chương trình đào tạo; tuy nhiên người học chỉ nhận được một văn bằng duy nhất từ cơ sở giáo dục nơi người học đăng ký. Trong bài viết này chúng tôi thừa nhận sự đóng góp của cả ba cách tiếp cận trên, nhưng sẽ chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến chương trình bằng đôi/đa học vị.     Chỉ một lần học, nhưng được cấp đến hai hoặc nhiều văn bằng?    Với tư cách một chiến lược quốc tế hóa, các chương trình bằng đôi/đa học vị đụng chạm đến vấn đề cốt lõi của giáo dục, đó là quá trình giảng dạy/học tập và sự sản sinh tri thức mới giữa các quốc gia. Các chương trình bằng đôi vốn được xây dựng dựa trên nguyên lý hợp tác học thuật quốc tế và có thể đem lại nhiều lợi ích quan trọng cho sinh viên, giảng viên, cơ sở giáo dục, và các hệ thống giáo dục quốc gia hoặc địa phương. Nhưng nếu sự yêu thích dành cho chương trình bằng đôi/đa học vị ngày càng nở rộ thì sự lo ngại về các chương trình này cũng ngày càng tăng, bởi các chương trình này cấp đến hai hoặc nhiều văn bằng khác nhau cho người học dựa trên cùng một số lượng tín chỉ giống nhau. Phản ứng đối với các chương trình bằng khá đa dạng, tùy theo sự khác biệt về cách thiết kế chương trình, sự tham gia của những cơ sở đào tạo mới (cả đàng hoàng lẫn lừa đảo), sự hoài nghi về quá trình đảm bảo chất lượng và công nhận văn bằng, và cuối cùng là vấn đề đạo đức trong việc quyết định thời lượng học cần thiết và/hoặc những kỹ năng cần đạt tới để nhận được tấm bằng đôi/đa học vị.     Đối với giới học thuật và những nhà hoạch định chính sách, các chương trình bằng đôi được đón nhận như một sự mở rộng tự nhiên của các chương trình trao đổi và giao lưu quốc tế. Số khác cho rằng các chương trình bằng đôi/đa học vị là một sự phát triển phiền toái, dẫn đến việc thừa nhận các công việc chuyên môn đến hai lần và do đó hủy hoại tính chỉnh thể của các văn bằng đại học và tiến tới gần ranh giới mong manh của gian lận trong học thuật.   Thu hút sinh viên    Có vô số lý do khiến sinh viên cảm thấy bị thu hút bởi những chương trình bằng đôi/đa học vị. Chỉ cần tham gia vào một chương trình học nhưng lại được cấp đến hai hoặc nhiều tấm bằng từ các trường đại học đặt tại các quốc gia khác nhau là điều mà người học cho rằng sẽ làm gia tăng cơ hội tuyển dụng và con đường sự nghiệp của họ. Một số sinh viên cũng tin rằng chương trình có sự hợp tác của nhiều đối tác sẽ có giá trị cao hơn vì được cấu trúc từ năng lực của hai hay nhiều trường đại học. Những sinh viên khác lại không mấy hứng thú với chất lượng được nâng cao mà bị thu hút bởi việc giành được hai tấm bằng mà chỉ phải trả “giá của một tấm bằng.” Có những sinh viên cho rằng thời lượng học của chương trình bằng đôi ngắn hơn, khối lượng công việc chắc chắn ít hơn việc học hai bằng riêng biệt, và gánh nặng tài chính cũng nhẹ nhàng hơn. Luận điểm đó tuy không phù hợp với tất cả chương trình thuộc dạng này, song vẫn có vài điểm chính xác với thực tế.    Ngay cả những mô hình đào tạo hợp tác song đôi (twinning) truyền thống, trong đó chương trình đào tạo và bằng cấp của cơ sở đào tạo tại một nước được đem sang một nước khác thông qua sự hợp tác với một cơ sở giáo dục địa phương, cũng đang dần chuyển hóa thành chương trình bằng đôi – một bởi cơ sở giáo dục gốc và một từ cơ sở giáo dục đăng cai thực hiện, mặc dù chỉ các tín chỉ của duy nhất một chương trình học được thực hiện. Không phải tất cả chương trình bằng đôi/đa học vị đều yêu cầu sinh viên phải đi sang một quốc gia khác để học, vì việc di chuyển người dạy sẽ tiết kiệm hơn là di chuyển người học, và những lớp học ảo cũng dần trở nên phổ biến hơn. Cuối cùng, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố đẳng cấp. Có một cách nhìn nhận cảm tính là đẳng cấp tinh hoa gắn liền với việc sở hữu bằng cấp học thuật từ nhiều đại học ở những nước khác nhau, ngay cả khi sinh viên đó chưa từng thực sự ra nước ngoài du học.     Lợi ích và thách thức đối với các cơ sở giáo dục    Đối với các cơ sở giáo dục, các chương trình bằng đôi/đa học vị đặc biệt hấp dẫn bởi chúng đem lại nhiều lợi ích trong việc đổi mới chương trình, trao đổi giảng viên và nhà nghiên cứu, và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn tri thức chuyên môn và các quan hệ của đại học đối tác. Một lý do quan trọng khác là nhằm tăng uy tín và thứ hạng của cơ sở giáo dục vì là một trường đại học có những hoạt động hợp tác quốc tế. Để đạt được điều này, các cơ sở giáo dục chủ tâm hợp tác với những đối tác có vị thế ngang bằng hoặc cao hơn mình. Một điểm thú vị là một số cơ sở còn ưu ái chương trình bằng đôi với những trường đối tác có bậc hạng cao hơn nhằm mục đích tránh né những yêu cầu về kiểm định trong nước. Có những trường còn cho rằng việc tính cả số lượng sinh viên của chương trình bằng đôi có thể làm tăng số sinh viên tốt nghiệp và tần suất đào tạo.    Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đa dạng của chương trình bằng đôi, những thách thức cũng đa dạng không kém. Sự khác biệt về hệ thống quy định, lịch học, kế hoạch đảm bảo và kiểm định chất lượng, hệ thống tín chỉ, học phí và các chương trình học bổng, phương pháp giảng dạy, yêu cầu đầu vào và thi cử, ngôn ngữ sử dụng trong giảng dạy, cách hướng dẫn làm luận văn/luận án… chỉ là một số trong rất nhiều vấn đề mà các cơ sở hợp tác giáo dục cần quan tâm giải quyết.  Những câu hỏi then chốt     Khi phân tích các chương trình bằng đôi/đa học vị của một số tổ chức giáo dục đại học ở các quốc gia, có thể thấy không có một khuôn mẫu nhất định, cũng như không cần phải có một mẫu chuẩn bởi điều kiện của mỗi địa phương là hết sức khác biệt. Tuy nhiên, khi số lượng và chủng loại của các chương trình bằng đôi/đa học vị này ngày một gia tăng, nhiều câu hỏi mới đang được đặt ra. Ví dụ: Đâu là cách tốt nhất để kiểm định một chương trình bằng đôi/đa học vị – kiểm định ở tầm quốc gia, liên quốc gia, khu vực, hay quốc tế? Chỉ với một luận văn/luận án liệu có thể đáp ứng yêu cầu của hai chương trình nghiên cứu sau đại học được không? Liệu rằng những chương trình hợp tác quốc tế có dẫn đến sự lạm dụng tiếng Anh và sự đồng hóa tất cả các chương trình? Quá trình xây dựng đẳng cấp và bệnh sính bằng cấp liệu có hủy hoại chất lượng và mục tiêu giáo dục của những chương trình liên kết quốc tế này không? Liệu những chương trình này có khả năng tự tồn tại mà không cần thêm nguồn quỹ hỗ trợ nội bộ hoặc từ bên ngoài hay không?     Tính chỉnh thể và hợp pháp của văn bằng đang bị đe dọa    Một thách thức mà cộng đồng giáo dục đại học khắp thế giới hiện đang phải đối mặt là phát triển một nhận thức thống nhất về ý nghĩa thực sự của các chương trình bằng đôi/đa học vị, về những yêu cầu học thuật và học vị được cấp khi hoàn tất, và về việc chúng khác biệt với những chương trình liên kết đào tạo ra sao. Các chương trình liên kết đào tạo là những lựa chọn rất hấp dẫn nhưng chúng lại đang vấp phải nhiều rào cản pháp luật và thủ tục hành chính, bởi ở nhiều quốc gia việc cấp bằng liên kết với các cơ sở giáo dục khác là bất khả thi. Quan trọng hơn hết, cần phải có một cuộc thảo luận nghiêm khắc về những vấn đề nhức nhối như việc kiểm định, công nhận văn bằng, và “tính hợp pháp” của những loại văn bằng này để bảo đảm các chương trình bằng đôi/đa học vị quốc tế được tôn trọng và thừa nhận bởi sinh viên, các cơ sở giáo dục cũng như nhà tuyển dụng khắp thế giới; và để đảm bảo các chương trình bằng đôi/đa học vị này không trở nên nổi tiếng chỉ vì chúng cung cấp “những tấm bằng hạ giá”.     * Tác giả bài viết Jane Knight hiện là giáo sư tại Viện Ontario chuyên ngành Nghiên cứu Giáo dục, Đại học Toronto, Canada. Email: janeknight@sympatico.ca    Ly Nga dịch, Phương Anh hiệu đính  Nguồn:ejournals.bc.edu/ojs/index.php/ihe/article/view/8729    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi ích xã hội của khoa học nhân văn      Dạy các khoa học nhân văn có phải là một thứ chơi sang mà các xã hội chúng ta không còn có thể tự ban cho mình được nữa? Nữ triết học Mỹ Martha Nussbaum trả lời rằng ngược lại, trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu hóa về kinh tế, các khoa học nhân văn có một lợi ích xã hội và chính trị.      Trong cuốn sách Not for profit, Martha Nussbaum, nhà nữ  triết học Mỹ trình bày, bàn biện hộ cho một quan niệm nhất định về giáo  dục và các khoa học nhân văn dựa trên các tác phẩm về giáo dục đại học  của bà như Upheavals of Thought (Oxford, Cambridge University Press,  1986) hay Cultivating Humanity (Cambridge, Harvard University Press,  1997). Nhưng lần này, trong Not for profit, bà sử dụng một giọng nói  khác: kiên quyết, rõ ràng, sẵn sàng cho tranh luận công khai.  Một cuộc khủng hoảng của khoa học nhân văn?     Với tư cách này, cuốn sách nằm trong một bối cảnh của Hoa Kỳ vốn tràn ngập những tiểu luận và bài viết tranh luận về số phận của các khoa học nhân văn trong thời khủng hoảng kinh tế, trong khi hệ thống giáo dục, từ sơ đẳng cho đến cao học, đang chịu áp lực của đòi hỏi phải đem lại lợi ích. Trong rất nhiều ví dụ, có thể kể chẳng hạn Crisis on Campus của Mark C. Taylor (New York, A. Knopf, 2010), Why Choose the Liberal Arts? của Mark William Roche (Notre Dame, University of Notre Dame Press, 2010), hay Reforming Our Universities của David Horowitz (Washington, Regnery Publishing Inc., 2010).     Cuộc tranh luận có thể chia làm hai phe khá khác biệt: một bên là những người bào chữa cho một sự thay đổi của giáo dục nhằm đáp ứng những yêu cầu khắc nghiệt của kinh tế và những đòi hỏi ngày càng tăng của cạnh tranh toàn cầu. Theo quan điểm của những người này, việc dạy các khoa học nhân văn nhiều lắm cũng chỉ là một thứ chơi sang, đẹp thì có đẹp đấy nhưng mà vô dụng, trong trường hợp tệ hơn thì là một thứ tự sướng tội lỗi. Phía bên kia, là những trạng sư của các khoa học nhân văn rất nhiều khi bị đẩy vào thế thủ, dù muốn dù không phải trở thành những kẻ bảo vệ một di sản truyền thống.     Ưu điểm lớn của công trình của Martha Nussbaum là ở chỗ bà trình bày một bản biện hộ cho các khoa học nhân văn mà không hề là một kiểu chống cự yếu ớt cho một thứ biệt đãi xã hội. Bà đối mặt trực tiếp với các thách thức đương đại chứ không hề bày tỏ nỗi tiếc nuối một thời huy hoàng giả định của các khoa học nhân văn: nhất là, không coi các khoa học nhân văn và các ngành nghệ thuật là một tài sản tiên nghiệm, bà không lùi bước trước nhiệm vụ minh chứng lợi ích xã hội và chính trị của chúng, và đã làm việc đó một cách thật tài năng.      Biện luận của Nussbaum được triển khai thành bảy chương ngắn được cấu trúc chung quanh sự đối lập giữa hai hình mẫu giáo dục điển hình. Một bên là giáo dục hướng đến lợi ích kinh tế (“education for profit” hay “education for economic growth”) trước hết nhằm trang bị cho học sinh và sinh viên một số lượng nhất định những năng lực sáng tạo kỹ thuật cho phép họ phát triển trong một thế giới cạnh tranh kinh tế toàn cầu hóa. Về phía khác là mẫu hình mà Nussbaum ủng hộ, của một nền giáo dục hướng đến dân chủ (“education for democracy”). Theo Nussbaum, một nền giáo dục chỉ hướng đến lợi nhuận sẽ triệt tiêu một cách chậm rãi nhưng chắc chắn những điều kiện cho phép các xã hội dân chủ có thể vận hành.     Tóm lại, biện luận của Nussbaum đi theo con đường sau đây: Nếu chúng ta gắn bó với các giá trị dân chủ, thì chúng ta phải đào tạo ra không chỉ những nhà kỹ thuật giỏi, mà còn là những con người nam và nữ có những khả năng phê phán và đồng cảm với tha nhân để có thể làm tròn vai trò công dân của mình. Sự đa dạng về văn hóa ngày càng tăng lên và toàn cầu hóa chỉ càng làm chúng ta cần những công dân có khả năng hiểu được những hoàn cảnh và những vấn đề được giải thích trong một khung khổ đạo đức và văn hóa khác. Mà, và đây là bước cuối trong biện luận của Nussbaum, những năng lực cần thiết ấy về tinh thần phê phán, sự cởi mở đồng cảm với tha nhân và hiểu biết về tính đa dạng của các nền văn hóa được phát triển chủ yếu bằng nghệ thuật và các khoa học nhân văn, hay đúng hơn bằng một cách thức thực hành nhất định các nghệ thuật và các khoa học nhân văn.      Sư phạm Socrate và trí tưởng tượng tự sự     Theo Nussbaum, nếu nghệ thuật và khoa học nhân văn là một bộ phận của câu trả lời cho việc duy trì một xã hội dân chủ, ấy là vì nó trả lời cho câu hỏi về việc hình thành các xúc cảm dân chủ. Như vậy câu hỏi dẫn đường của bà là: làm sao có thể dạy cho các cá nhân để họ không tìm kiếm sự thống trị và loại trừ, mà là sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau? Kiểu cảm xúc cần được giáo dục để một xã hội vận hành trên một nguyên lý không phải theo tôn ti mà bình đẳng là gì? “How do people become capable of respect and democratic equality? What makes them seek domination?” (“Làm sao để con người ta có thể trở thành có lòng tôn trọng (người khác) và dân chủ bình đẳng? Vì lẽ gì mà họ đi tìm kiếm sự thống trị? tr. 29). Như vậy Nussbaum dấn mình vào nhiệm vụ vạch rõ những dự tính tâm lý của mọi lý thuyết sư phạm. Lý thuyết của bà quay lại với ý tưởng nổi tiếng của Huntington về một “cuộc va chạm của các nền văn minh”. Nussbaum nói với chúng ta rằng, cuộc va chạm đó không chỉ là ở bên ngoài của các nền văn minh mà cả ở bên trong: nếu có một “clash”, thì nó là nội tại, “within”, ở trong cá nhân, và trong các nền dân chủ.     Giáo dục cần cố gắng đem đến cho sinh viên và học sinh những phương tiện để giải quyết cuộc va chạm ấy, nó đối kháng một bên là các thiên hướng tôn ti đưa đến gây hấn và loại trừ (tha nhân), với bên kia là các thiên hướng bình đẳng và cảm thông với người khác. Câu trả lời riêng của Nussbaum có cơ sở trên một lý thuyết đặc biệt về sự phát triển của các xúc cảm tìm thấy trong sự gây hấn một cách đáp trả riêng biệt trong việc giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương của chúng ta. Ở đây ta tìm thấy lại một chủ đề liên quan đến những tranh luận về care (sự quan tâm) và nhấn mạnh đến chiều kích mang tính chính trị rất lớn trong sự quan tâm đến các xúc cảm và đến tính dễ bị tổn thương (của con người).      Một luận đề thứ hai làm cơ sở cho ý tưởng của Nussbaum liên quan đến siêu đạo đức học: bà suy ngẫm về loại năng lực phải phát triển ở các cá nhân để họ có thể suy nghĩ một cách thích đáng về các vấn đề có tính chuẩn tắc phức tạp đặt ra đối với các công dân của các nền dân chủ đương đại. Bà nhấn mạnh rằng trí tưởng tượng, như là năng lực tự đặt mình vào vị trí của người khác, là rất thiết yếu trong các xã hội đa văn hóa: năng lực tưởng tượng ra số phận của người khác là điều rất căn bản đối với những ai ở vị trí phải bỏ phiếu hay quyết định về (số phận của) người khác. Điều đó lại càng quan trọng hơn trong một bối cảnh chính trị toàn cầu. “Citizens cannot relate well to the complex world around them by factual knowledge and logic alone” (“Những người công dân không thể gắn mình với xã hội phức hợp bao quanh mình chỉ nhờ có hiểu biết có tính sự kiện và tư duy lô gích”. tr 95). Những vấn đề chuẩn tắc không thể chỉ được giải quyết bằng cách viện đến lý lẽ, mà bằng một kiểu quan tâm nhất định đến các hoàn cảnh, buộc ta phải tự đặt mình vào vị trí của người khác: về mặt đó phải rèn luyện “the ability to think what it might be like to be in the shoes of a person different from oneself, to be an intelligent reader of that person’s story, and to understand the emotions and whishes and desires that someone so placed might have” (“năng lực nghĩ đến hệ quả điều đó sẽ gây ra ở vào vị trí của một người khác, năng lực làm một người đọc thông minh lịch sử của người ấy, hiểu được những xúc cảm, những ước vọng, những ham muốn của một con người bị đặt vào hoàn cảnh đó”, tr. 95-96). Coi nghệ thuật và các khoa học nhân văn là công cụ chính của sự phát triển trí tưởng tượng đồng cảm đó, hẳn là một cách nhìn rất lạc quan về tác dụng của chúng. Về mặt này, Nussbaum tán đồng Winnicot, người quan niệm “the role of arts in human life as, above all, that of nourishing and extending the capacity for empathy” (“vai trò của nghệ thuật trong đời sống của con người chủ yếu là nuôi dưỡng và phát triển năng lực đồng cảm” tr. 101). Như vậy, Nussbaum bảo vệ quan niệm về việc thực hành các nghệ thuật và các khoa học nhân văn, coi chúng là công cụ khai phóng và tri thức. Và một cách khiêm tốn hơn, có thể nhận thấy rằng “[k]nowledge is no guarantee of good behavior, but ignorance is a virtual guarantee of bad behavior” (“tri thức không đảm bảo cho một lối hành xử tốt, nhưng sự ngu muội hầu như là đảm bảo chắc chắn của hành vi tồi” tr. 81).     Cuối cùng có thể chỉ ra một luận đề quan trọng gắn với quan niệm đặc biệt về sư phạm theo đường hướng của Rousseau, Pestalozie, Dewey hay Rabindranath Tagore mà Nussbaum rất ủng hộ. Tất cả họ đều có một điểm chung là chủ trương giáo dục các khoa học nhân văn tiếp liền với giáo dục thực hành và nỗ lực giải quyết những nhiệm vụ hằng ngày.       Cải cách nghiên cứu và đòi hỏi tăng trưởng     Trong số những luận đề được thảo luận chi tiết, bà tập trung vào hai điểm quan trọng:  Trước hết, nhiều lần trong công trình của mình Nussbaum nhấn mạnh rằng ở Hoa Kỳ, các áp lực chống lại việc dạy các khoa học nhân văn là từ phía các nhà chính trị và các nhà cai trị, trong khi những người hỗ trợ tốt nhất cho các chương trình này là những cựu học sinh giàu có, tức những nhà tài trợ tư. Nói cách khác, một trong những sự bảo vệ có hiệu quả nhất cho các chương trình “giáo dục khai phóng” là tài trợ tư nhân, chống lại các chỉ đạo chính trị. Nussbaum chỉ ra rằng khi các nhà cai trị thúc giục phải đóng cửa hay thu hẹp các chương trình giáo dục khoa học nhân văn, thì sự chi viện lại đến từ những người học trò cũ vẫn nhớ những năm cao học thật hạnh phúc của họ “we go to wealthy alums whose educational values pretty well match our own since they are by and large alums who loved their undergraduate liberal education” (“Chúng tôi kêu gọi những cựu học sinh giàu có mà những giá trị sư phạm càng trùng khớp với các giá trị chúng tôi đề cao nhất là khi họ đặc biệt đánh giá cao chương trình giáo dục khai phóng họ đã được hưởng trong những năm đầu đại học” tr. 132). Tình hình này liên quan đến hai điểm đặc biệt của hệ thống giáo dục Mỹ: trước hết những năm đầu đại học (ở Mỹ) không được chuyên môn hóa, mà đòi hỏi sinh viên phải theo một chương trình rộng lớn gồm nhiều môn học, trong đó có các khoa học nhân văn. Sau nữa, việc thực hành công tác từ thiện và tài trợ tư nhân nói chung là một sự đặc trưng văn hóa Hoa Kỳ. Dù biết rõ những đặc điểm riêng biệt của hệ thống Mỹ, bài học ở đây vẫn cung cấp cho ta một lối đi đáng quan tâm để suy nghĩ về một mẫu hình tốt (về quan hệ) giữa việc dạy các nghệ thuật và các khoa học nhân văn với xã hội.     Vấn đề thảo luận thứ hai là Nussbaum đề nghị phân tích áp lực phổ biến đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có một ”lợi ích”. Đặc biệt, mấy đoạn nói về những cải cách gần đây ở Anh (việc áp dụng Research Excellence Framework1 – xem tr. 127 và các tr. tiếp theo), trong đó đặt các khoa học nhân văn vào một khuôn khổ đối nghịch với nó: đặc biệt, bà nhấn mạnh rằng hệ thống tài trợ cho nghiên cứu theo dự án, nếu có vận hành như được đối với các ngành khoa học (tự nhiên) thì lại chẳng có mấy ý nghĩa đối với các khoa học nhân văn. Bà cũng nhận xét rằng cuộc cải cách ấy được tiến hành theo một tinh thần nói chung là đầy hoài nghi đối với các khoa học nhân văn, chỉ nhìn thấy ở đấy trước hết là những trò tô điểm vô dụng.     Rất đáng chú ý là phản ứng của Nussbaum không chỉ dừng ở phê phán đó. Hoàn toàn ngược lại, bà đề xuất một câu trả lời xây dựng và năng động để đưa các khoa học nhân văn ra khỏi vị thế chỉ có than thở của chúng. Không chối bỏ toàn bộ vấn đề lợi ích của giáo dục, nhưng theo Nussbaum phải làm cho đạt đến được tư duy coi “lợi ích” của giáo dục không thu hẹp ở hiệu quả tăng trưởng kinh tế, mà là ở chỗ làm tăng trưởng cái xã hội tạo ra tăng trưởng ấy.      Bị thúc ép bởi một đòi hỏi lợi ích và tìm kiếm tăng trưởng đầy lo âu, những người bảo vệ các khoa học nhân văn có nhiều việc để làm hơn là chối từ toàn bộ vấn đề, tự đóng mình lại trong một tư thế cố thủ: trái lại họ có thể nắm lấy cơ hội để tái định nghĩa và mở rộng điều được coi là tăng trưởng, lợi ích và tiến bộ xã hội. Đương nhiên, để có thể đứng ngang tầm của cuộc chơi. Một chương trình đầy tham vọng và hấp dẫn.          NGUYÊN NGỌC dịch  —————–   1 Research Excellence Framework là một chương trình được khởi xướng ở Anh năm 2008, tiếp theo chương trình Research Assesssement Exercice, nhằm tài trợ cho những “nghiên cứu ưu tú” ở các trường đại học. Nussbaum cho rằng các chương trình này chủ yếu nhằm vào “impact” (tác động) kinh tế, chỉ coi các khoa học nhân văn là một thứ trang trí hoa hòe.  Ở Pháp cũng có kiểu đầu tư nghiên cứu khoa học này theo hình thức gọi là Labex (viết tắt của Laboratoire d’Excellence – Phòng nghiên cứu Ưu tú).  Trong các dòng tiếp theo, Nussbaum nhắc đến yêu cầu giáo của các “Chương trình ưu tú” phải có được “impact” (tác động), và impact thì phải “đo lường” được, trong khi impact về kinh tế thì dễ đo lường, còn ảnh hưởng của các khoa học nhân văn lại khó đo lường được một cách cụ thể và tức thì, mà thấm sâu và lâu dài vào tận nền tảng của con người và xã hội. Ở đoạn trên khi bà nói về tài trợ (cho các chương trình giáo dục các khoa học nhân văn) đến từ các cựu sinh viên giàu có nhớ lại những năm hạnh phúc khi họ được hưởng chương trình ấy ở đại học, tư tưởng này dược chứng minh một cách thú vị (ND)              Không có nghĩa là các ngành nhân văn cứ điềm nhiên tọa thị                       Trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu hóa về kinh tế, các khoa học nhân văn có một lợi ích xã hội và chính trị. Biện luận này của Nussbaum dựa trên niềm tin rằng “nếu chúng ta gắn bó với các giá trị dân chủ, thì chúng ta phải đào tạo ra không chỉ những nhà kỹ thuật giỏi, mà còn là những con người nam và nữ có những khả năng phê phán và đồng cảm với tha nhân để có thể làm tròn vai trò công dân của mình”.              Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này, nhưng không có nghĩa là các ngành nhân văn cứ việc điềm nhiên tọa thị, ung dung với cách làm hiện nay. Ngược lại, các ngành nhân văn phải bước ra khỏi tháp ngà và gắn chặt với đời sống hiện đại, với những vấn đề nó đặt ra và sử dụng những phương pháp và công cụ quen thuộc của nó (toán học, công nghệ thông tin vv). Một ví dụ rõ ràng: ở Mỹ trong khi đa số các trường đại học mang tính hàn lâm hiện nay ngày càng có xu hướng thu hẹp các ngành nhân văn, thì ở ĐH Stanford, một đại học tư nổi tiếng về các ngành công nghệ và khoa học ứng dụng, lại bỏ rất nhiều tiền và công sức để đầu tư cho các ngành nhân văn và có một chương trình nghiên cứu độc đáo là digital humanities (ngành nhân văn kỹ thuật số). Họ cho rằng các kỹ sư của trường đào tạo ra gặt hái nhiều thành công là vì không chỉ giỏi công nghệ và khoa học tự nhiên mà còn rất giỏi về khoa học nhân văn.              Tuy nhiên, đó là với các ngành nhân văn ở Mỹ, còn ở Việt Nam các ngành nhân văn rất yếu kém trong việc hình thành tư duy cho người học, vì chỉ đào tạo theo lối học vẹt, nói theo người trên, chưa kể có những giảng viên dạy những điều vô bổ. Với tư duy học vẹt như vậy, những con người được đào tạo ra không chỉ đóng góp thấp về hiệu quả kinh tế cho xã hội, mà đóng góp hiệu quả tinh thần cũng sẽ hoàn toàn là số không nếu không phải là số âm! Do đó, từ quan điểm của Nussbaum về giá trị của các ngành nhân văn trong việc đào tạo ra những con người có tư duy phê phán và năng lực đồng cảm, chúng ta càng thấy rằng các ngành nhân văn ở Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi cải cách vô cùng cấp bách.                                                                                                                                                          Vũ Thị Phương Anh                                      Lợi ích cho ai, và làm gì cho có lợi ích thật sự?                  Bài dịch “Lợi ích xã hội của khoa học nhân văn” đăng vào dịp này có lẽ là đúng dịp. Cho phép tôi lấy thí dụ từ hai trường hợp, đều là những người quen.    Trường hợp thứ nhất là một cô giáo, một đồng nghiệp ở Hà Nội. Cô đi Pháp làm luận án tiến sĩ văn chương. Năm ngoái, sau nửa năm ở Pháp, cô viết thư cho tôi khoe rằng “Em đã có một quyết định quan trọng, là bỏ tiền riêng đi học Triết học, theo một chương trình ba năm – lý do: càng học thì càng thấy rằng sau nhiều năm được đào luyện ở nước mình, gần như cái gì em cũng biết, trừ triết học”. Lẽ dĩ nhiên, với một người tự học, một phần tư thế kỷ trong một nhóm dịch thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi, và chủ yếu là dịch thuê tài liệu Triết học, có khi tiêu hết nhuận bút mới lĩnh chỉ để có dịp ngồi cùng nhau tìm cho ra khái niệm thực sự gửi trong một thuật ngữ mới… dĩ nhiên là tôi thông cảm được với quyết định can đảm và thông minh ấy.     Trường hợp thứ hai là tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy. Chị từ Hà Nội đi làm tiến sĩ ở Pháp theo một đề tài văn học. Khi về nước, đóng góp đầu tiên và quan trọng của chị lại là một công trình dịch thuật về nhà triết học Deleuze. Trong thời hiện đại, đã nhúng vào triết học, lại nhúng vào trường hợp Deleuze, thì khó mà thoát thân. Triết học đem lại sự yên tĩnh cho con người, nhất hạng là khi con người ấy lại mang một tâm hồn cồng kềnh.     Khi Từ Huy chuyển vào Nam làm việc, tôi bảo chị: “Rồi lại trở về đất Bắc cho mà coi”. Buột miệng nói thế, có lẽ vì trong đáy sâu tiềm thức, tôi chợt thấy trỗi dậy cái nhận xét hóm hỉnh của Ilya Ehrenbourg trong bộ hồi ức đồ sộ Les Années et les hommes” của ông. Ehrenbourg viết đại ý ngẫm mà coi, ở miền Bắc của Tây Ban Nha, ta có những con người trầm tư, thế rồi vượt dãy Pyrénées lên miền Nam nước Pháp, ta đã bắt gặp những con người vui tươi vô lo vô lự như Tartarin. Và khi ở miền Bắc nước Pháp ta có những Montaigne, thì vượt sông Rhin lên miền Nam nước Đức, ta đã lại bắt gặp chàng Ulenspiegel rồi …     Dĩ nhiên là tôi bị Từ Huy phản đối. Chứng cớ là chị vẫn đang nhúng vào Triết học ở chốn phương Nam và gần gũi với nhà triết học họ Bùi đầy trầm tư ở Nam phương đương thời. Và tôi bỗng ngộ ra một điều rằng, nhìn kỹ vào cái xứ sở này, chẳng cứ miền nào, Triết học và các môn Nhân văn khác hình như chỉ mới mang lại lợi ích cho những người vừa viết tiểu luận vừa hớn hở như con trẻ, vả nhiều khi lại vừa viết tiểu luận vừa “nắm tay day môi” và lởn vởn trong đầu họ là những tai ương.    Một cách học Triết học và các môn Nhân văn khiến cho vài năm gần đây hình như chỉ còn dưới 2% thí sinh chọn các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn. Quả thật, nếu học các ngành đó chỉ để có bộ mặt hớn hở hoặc chỉ có những tai ương, thì học làm gì? Học như thế thì có lợi cho ai?     Có người đổ tội cho việc nội dung chương trình chỉ có học thuyết Marx. Tôi nghĩ khác. Nội dung chương trình chỉ có học thuyết Marx cũng được. Vấn đề là cách học. Học hồn nhiên, tìm căn nguyên cội nguồn của từng khái niệm, phản biện tự do mà không bị trù dập, thì học thuyết nào làm chủ đạo trong nhà trường cũng được. Không kể Giordano Bruno lên dàn thiêu, thời Trung Cổ vẫn có Gallilée và Copernic đấy chứ?                                                                                           Phạm Toàn            Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗi nhỏ… cần sửa      Mỗi lần c&#243; tổ chức thế giới n&#224;o đ&#243; đ&#225;nh gi&#225; (xếp hạng) c&#225;c học viện v&#224; đại học tr&#234;n thế giới, ch&#250;ng ta lại biết được vị tr&#237; của c&#225;c đại học v&#224; trường đại học tại VN. Tại sao t&#244;i kh&#244;ng chỉ n&#243;i đại học m&#224; c&#242;n n&#234;u l&#234;n trường đại học ở VN? Điều n&#224;y dễ hiểu v&#236; c&#225;c tổ chức xếp hạng thế giới đều d&#249;ng Anh ngữ để t&#236;m hiểu rồi đ&#225;nh gi&#225;, v&#224; khi t&#236;m hiểu về c&#225;c đại học ở VN, họ kh&#244;ng biết đến hiện tượng &#8211; chỉ c&#243; ở VN &#8211; l&#224; nhiều đại học (universities) trong một đại học (university). V&#237; dụ, Trường đại học B&#225;ch Khoa Tp.HCM, c&#243; t&#234;n tiếng Anh l&#224; University of Technology, kh&#244;ng đứng độc lập m&#224; l&#224; một th&#224;nh vi&#234;n thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM với t&#234;n tiếng Anh l&#224; Vietnam National University &#8211; HCMC. Mỗi trường đại học th&#224;nh vi&#234;n của Đại học Quốc gia Tp. HCM đều mang một t&#234;n tiếng Anh l&#224; &#8220;University&#8230;&#8221; Như vậy đ&#226;y kh&#244;ng phải l&#224; nhiều &#8220;universities&#8221; trong một &#8220;university&#8221; th&#236; l&#224; g&#236;?    Trước khi nói tiếp câu chuyện trên, chúng ta cần tìm hiểu cho rõ ràng những từ Anh ngữ liên quan đến vấn đề này. Đó là các từ: university, faculty, college, và school. Tôi chỉ có trong tay quyển Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English, Encyclopedic Edition, nên liền tra ngay các từ vừa nói. Các định nghĩa có liên quan với nhau của mỗi từ được chép lại dưới đây.  –         university (colleges, buildings, etc of an) institution that teaches and examines students in many branches of advanced learning, awarding degrees and providing facilities for academic research…  –         faculty … department or group of related departments in a university, etc: the Faculty of Law, Science, etc…  –         college 1 institution for higher education or professional training… 2 (a) (in Britain) any of a number of independent institutions within certain universities, each having its own teachers, students and buildings: the Oxford and Cambridge Colleges ○ New College, Oxford. (b) (in the US) university, or part of one, offering undergraduate courses…  –         school … 2 (US) college or university: famous schools like Yale and Harvard… 5 department of a university concerned with a particular branch of study: the law, medical, history school ○ the School of Dentistry…  Nói chung, các nước sử dụng Anh ngữ làm tiếng mẹ đẻ như Anh, Canada, Mỹ, Úc, v.v., thường có mỗi “university” theo đúng nghĩa là đại học[nghiên cứu] tổng hợp nhiều ngành, và các trường thành viên – cũng có thể gọi là khoa – của “university” đó (nằm chung trong một “làng đại học – campus” hoặc nằm ở nhiều vị trí riêng biệt) đều được gọi là “faculty,” “college,” hoặc “school.” Chính vì vậy mà ở các thành phố lớn của các nước này thường có nhiều “universities” theo đúng nghĩa vừa nói. Đối với người Mỹ, “college” hoặc “school” cũng có nghĩa là trường đại học. Ngay ở Lào, Đại học Quốc gia Lào tại Vạn Tượng (National University of Laos [in Vientiane] – NUOL) có một trường thành viên là Trường đại học (hoặc Khoa) Khoa học Kỹ thuật – nằm tại một cơ ngơi khá rộng và ngoài “campus” của ĐHQG Lào – có tên Anh ngữ là Faculty of Engineering. Quá đúng! Còn tại VN thì sao?  Các trường đại học như Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Bách Khoa, Trường đại học Quốc tế, v.v., thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam – TP.HCM, khi viết như thế bằng tiếng Việt thì không có gì là sai sót cả. (Tôi đề nghị cần thống nhất là mỗi thành viên của một đại học lớn Đại học Quốc gia VN thì cần thêm từ “trường” để thành “Trường đại học …”, còn một “đại học” mang tên một ngành riêng thì nên thêm từ “trường” thành “Trường đại học X.” Ví dụ, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội dù chẳng thuộc “ông đại học” nào cả nhưng chỉ chuyên về ngành khoa học ứng dụng và kỹ thuật thì nên gọi nó là “Trường đại học BK HN” chứ không nên gọi tắt là “Đại học BK HN”). Tuy nhiên, tên Anh ngữ của các trường thành viên của ĐHQGVN đúng là có vấn đề. Vấn đề ở đây là “Mẹ” được gọi là “University” mà “[các] Con” cũng là “Universities.” Điều này chẳng khác nào một bàn tay có năm ngón, mỗi ngón có một tên khác nhau, cho dù đó là tiếng Việt hay tiếng Anh. Nhưng chẳng lẽ người Việt khi dùng tiếng Anh để giao dịch khi nói đến bàn tay là “hand” và mỗi ngón tay cũng là “hand” hay sao? Lâu nay đã có một số người nêu lên vấn đề này nhưng cho đến nay chẳng có gì thay đổi cả. Cách nay khoảng 10 năm, tôi có trao đổi với một người công tác về quan hệ quốc tế của một trường thành viên ĐHQGVN (người này nói và hiểu tiếng Anh khá tốt, và đã được công tác tại một số nước nói tiếng Anh) là khi một người nước ngoài – với Anh ngữ là tiếng mẹ đẻ – cầm một tuyển tập báo cáo khoa học với cả hai dòng chữ riêng biệt “Vietnam National University” và “University of …” phía trên trang bìa thì ông/ bà ta sẽ nghĩ hội nghị đó do cả hai “universities” kể trên tổ chức. Câu đáp lời mà tôi nghe được là có thể tôi nói đúng nhưng “không sao, vì nhờ đó mà người nước ngoài ấy có cơ hội tìm hiểu thêm về trường đại học của ta.” Bó tay thôi với cách giải thích này. Tôi còn nghe một ông giáo sư tây kể lại lời giải thích về cái lỗi dùng từ này từ một quan chức đại học, nhưng xin cho tôi miễn kể lại ở đây.  Có một câu chuyện khác như thế này. Các ông giáo sư tây ưa khôi hài nói là VN thích “chơi” sang nên đặt ra Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ministry of Education and Training – MOET) vừa giáo dục con người vừa huấn luyện thú vật. Đây chỉ là nói cho vui chứ sự việc chẳng có gì nghiêm trọng cả. Nhưng thực tế thì cụm từ “Đào tạo” có hơi bị thừa. Muốn hiểu lý do tại sao các vị ưa khôi hài có cớ để nói như vậy thì ta cứ tra trong cuốn tự điển tiếng Anh đã nói ở trên  –         education 1 (system of) training and instruction (esp of children and young people in schools, colleges, etc) designed to give knowledge and develop skills: … 2 knowledge, abilities and the development of character and mental powers that result from such training: intellectual, moral, physical, etc education, …  –         training process of preparing or being prepared for a sport or job … (Còn động từ train là “bring (a person or an animal) to a desired standard of efficiency, behaviour, etc by instruction and practice : …”)  Như vậy, trong “education” đã có chuyện “training” rồi. Nhưng “education” là cả một hệ thống giáo dục dành riêng cho con người, còn “training” là quá trình đào tạo con người và huấn luyện thú vật. Do đó khi thêm từ “Đào tạo” vào trong “Bộ Giáo dục và Đào tạo” thì đó có nghĩa là “đào tạo con người và huấn luyện thú vật.” Đây chỉ là chuyện nhỏ, không cần phải sửa bỏ phần dư thừa. Nhưng chuyện các “universities” trong một “university” thì không phải như vậy. Đây là một lỗi không thể chấp nhận được.  Thế thì tại sao một lỗi nhỏ như vậy mà cho đến nay vẫn chưa sửa? Hay là các vị có trách nhiệm sợ phải tốn tiền cho sửa sai? Tiền sửa sai này chẳng thấm vào đâu so với nhiều lãng phí trong giáo dục, chẳng hạn như dự án 112. Vậy thì vấn đề nằm ở đâu? Qua một số lần trao đổi với nhiều người khác nhau về nền giáo dục VN, tôi hình dung ra vấn đề nằm ở chỗ mà nhiều người cũng thường nhắc tới là khi “trên” đã quyết định cái gì đó thì dù thế nào chăng nữa cũng không nên sửa đổi.   Một cái lỗi nhỏ như thế, cho dù không sửa cũng chẳng “chết” ai cả, nhưng nếu khả năng sửa đổi vẫn không có thì những chuyện lớn hơn bao giờ mới làm được đây?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lòng nhân ái và cơ sở tự lập      Tư duy giáo dục của chúng ta cần được cải tổ bắt đầu từ câu hỏi: Chú trọng giáo dục nhân phẩm như thế nào?     Giáo dục về nhân phẩm là nội dung chiếm một phần nhỏ trong chương trình giáo dục các cấp trong nước hiện nay. Ở các cấp phổ thông, giáo dục nhân phẩm được đưa vào các lớp dạy môn giáo dục công dân, còn ở cấp đại học thì được bổ sung thêm trong các lớp dạy về triết học và ý thức công dân. Cách thức giáo dục tách biệt như vậy quá khô khan, nặng về lý thuyết, thiếu sức sống, và thực tế đã cho thấy nó không giúp cải thiện đáng kể những hiện tượng suy thoái đạo đức xã hội.  Giáo dục về nhân phẩm không thể là một nội dung tách biệt hoàn toàn. Nó phải là một phần trong hầu hết mọi nội dung giáo dục khác, kể cả giáo dục phục vụ ngành nghề. Bởi vì con người không thể được coi đơn thuần là một công cụ thực hiện các chức năng do xã hội phân công. Trong mọi nội dung hoạt động mà con người tham gia, yếu tố nhân phẩm luôn nổi bật lên đầu tiên, dù là ngầm mặc định hay công khai, thường thể hiện trên hai phạm trù: đạo đức và văn hóa. Trong chính trị có đạo đức và văn hóa chính trị, trong khoa học có đạo đức khoa học và văn hóa khoa học, và trong từng ngành nghề, giáo dục về đạo đức và văn hóa nghề. Với mỗi lĩnh vực, đạo đức và văn hóa đều có thể được coi là nội dung giáo dục quan trọng hàng đầu. Nhưng khái niệm đạo đức và văn hóa còn khá chung chung trong giáo dục ở các cấp học của ta hiện nay, chưa giúp học sinh/sinh viên nắm bắt được giá trị cốt lõi của phạm trù nhân phẩm, đó là giúp con người định vị bản thân mình trong thế giới. Để nắm bắt rõ hơn điều này, chúng ta không cần tìm kiếm đâu xa mà có thể nhìn lại trong tinh thần của chữ Lễ của nền giáo dục Nho giáo.  Lễ trong Nho giáo          Khổng Tử nói, “khắc kỷ phục lễ vi nhân”,  nghĩa là không để cái tôi chi phối, hành xử theo Lễ vì lòng nhân ái. Hay  nói theo cách khác là bước ra ngoài cái tôi nhỏ hẹp, quan tâm tới con  người và thế giới, liên tục khám phá và cầu tiến để tìm hành xử hài hòa.         Lễ có thể hiểu là những hành xử mạch lạc, đạt tới sự hài hòa với nội tâm cũng như ngoại cảnh. Khi ứng xử không hài hòa, cá thể sẽ không tránh khỏi bị chông chênh, như Khổng Tử nói “bất học lễ, vô dĩ lập”, nghĩa là người ta không học lễ thì không biết mình đứng ở đâu.   Nhưng để biết mình đứng ở đâu thì phải biết tới gốc rễ, điểm tựa rốt ráo đằng sau mọi hành xử. Gốc rễ đó là tình yêu thương con người. Lễ không phải là biểu thị hình thức bề ngoài một cách cứng nhắc. Khổng Tử nói, “khắc kỷ phục lễ vi nhân”, nghĩa là không để cái tôi chi phối, hành xử theo Lễ vì lòng nhân ái, hay nói cách khác là bước ra ngoài cái tôi nhỏ hẹp, quan tâm tới con người và thế giới, liên tục khám phá và cầu tiến để tìm hành xử hài hòa.   Lòng nhân ái với con người ở đây không phải là thứ tình cảm mơ hồ, mà phải được thể hiện qua những tương tác cụ thể, khởi đầu với chính những người xung quanh mình: ở trong nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài kính nhường người hơn tuổi, thận trọng giữ chữ tín, yêu thương mọi người và thân cận [học hỏi] người nhân đức (“Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc để, cẩn nhi tín, ái chúng nhi thân nhân).   Sự thực hành lòng nhân ái một cách cơ bản với những con người và môi trường xung quanh cụ thể như vậy có tác dụng tích cực giúp chúng ta nhận thức và định vị được bản thân mình một cách khách quan (có kiểm chứng qua thực tế), khiến chúng ta tôn trọng bản thân mình và thế giới, và từ đó có cơ sở lành mạnh vững chắc để tiếp tục phát triển sự học hỏi để biết trân trọng những giá trị phong phú và tinh tế khác – thực hành [lòng nhân ái] mà còn dư sức thì có thể học văn (“hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn”). Và đó chính là nền tảng để con người ngày càng hoàn thiện sự hài hòa trong mọi hành xử, ở mọi hoàn cảnh và mọi lĩnh vực.      Có thể nói rằng tuy Nho giáo là một hệ thống giáo dục ít nhiều bị phê phán vì sự bảo thủ cứng nhắc, nhưng những nguyên tắc giáo dục trên đây là khá hiện đại và linh hoạt, giúp người học liên tục tự giáo dục và chủ động tự làm mới mình trong suốt đường đời, phù hợp với mọi lĩnh vực và hoàn cảnh sống mà họ phải thích nghi.  Hệ quả của tư duy giáo dục thời bao cấp          Giáo dục  thời bao cấp là một quá trình trang bị cho mỗi cá nhân một số chức năng  nhất định, và khi quá trình này hoàn tất thì người học được phân công  công tác theo nhu cầu của hệ thống xã hội. Thoạt nghe thì có vẻ phương  thức này đem lại sự tồn tại hài hòa giữa cá thể và hệ thống xã hội,  nhưng trong thực tế nó rất trái với quy luật phát triển trong thế giới  tự nhiên, nơi tất cả mọi cá thể đều phải nỗ lực để học cách định vị bản  thân mình và không ai – cá nhân hoặc tổ chức – có quyền hay đủ năng lực  để làm thay họ điều này.        Nền quản lý kiểu bao cấp ngày nay đã hầu như không còn, nhưng tư duy từ nền giáo dục của nó còn kéo dài đến nay ở nước ta. Người học thụ động tiếp thu kiến thức từ bên ngoài rót vào thay vì do mình chủ động tự xây dựng lấy. Họ làm những bài tập mà người thầy giao xuống như những người làm thuê, và không ý thức được rằng chỉ khi tri thức được hấp thụ nhằm phục vụ cho quá trình tự định vị bản thân thì tri thức ấy mới thực sự có sức sống lâu bền và trở thành tài sản đích thực của họ.      Hệ quả của một nền giáo dục theo tư duy bao cấp là rất nhiều những học sinh và sinh viên bị mất định hướng, không xác định được mình đang ở đâu trong thế giới, và không hình dung được những sức ép khi phải tự lập khởi nghiệp. Họ được học bách nghệ, thậm chí được đào luyện chuyên sâu và trở thành gà chọi, nhưng tri thức chưa bao giờ thực sự là của họ, và sau một thời gian sẽ bị lãng quên bay biến. Thậm chí không ít người có xu hướng ngộ nhận về thế giới, cho rằng mọi giá trị đều đã được hệ thống định hình, tối ưu hóa, không cần thiết phải nghi ngờ, phải đặt câu hỏi để xây dựng lại những chân lý và hệ thống xã hội một cách toàn diện từ đầu. Từ đó, họ trở thành kẻ lệ thuộc vào sự sắp xếp của hệ thống, hoặc dễ buồn chán chỉ nghĩ nhiều cho cái tôi. Điều đó lý giải tại sao nhiều thanh niên trẻ ngày nay được tiếp cận với nguồn tri thức khổng lồ qua internet, được tiếp xúc với cái hay cái đẹp qua nhiều loại phương tiện nghe nhìn, nhưng họ vẫn không cảm thấy hạnh phúc, thậm chí hiện tượng trầm cảm còn phổ biến hơn.   Nhưng vấn đề gây hệ lụy lớn nhất trong hệ thống giáo dục theo tư duy bao cấp là người học được đào tạo các chức năng để sau này phục vụ xã hội và được tiếp thu những bài giảng đạo lý khô khan, song hệ thống giáo dục ấy lại không thúc đẩy việc thực hành lòng nhân ái một cách liên tục, thiết thực và cụ thể. Lòng nhân ái của họ không được cọ xát và phát huy, không chịu những sức ép cần thiết để trưởng thành, nuôi lớn những niềm đam mê và ý chí.     Chú trọng trật tự xã hội hay giá trị con người cá thể          Quá trình giáo dục đề cao tính tương tác đó  hợp với tự nhiên, làm sớm bộc lộ và phát huy những giá trị tinh túy tốt  đẹp bên trong con người, tạo ra sản phẩm là những con người đĩnh đạc  đường hoàng, tự chủ và không quên ý thức về giá trị nhân phẩm của mình.         Giữa giáo dục Nho giáo và nền giáo dục theo tư duy bao cấp có nhược điểm chung, đó là sự gò ép con người cá nhân, buộc con người chấp hành theo tập thể và trật tự của hệ thống. Bản thân điều này cũng có ưu điểm là duy trì tính cân bằng trong gia đình và xã hội, cho phép các cá thể hòa thuận với nhau, đặc biệt là đối với một nền kinh tế dư dả đủ để đảm bảo chất lượng đời sống cho số đông (ví dụ như mô hình xã hội Nhật Bản). Nhưng một cộng đồng xã hội như vậy cũng dễ có xu hướng giảm năng lực sáng tạo, khó có phát triển đột phá.  So sánh giữa tư duy giáo dục Nho giáo với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới mà hiện nay đang tập trung tại các nước phương Tây, chúng ta thấy nền giáo dục ở các nước này vẫn bảo tồn được những mục tiêu cốt lõi cao đẹp tương tự như của Nho giáo – tính nhân ái và tinh thần tự lập, chủ động gánh vác các trách nhiệm, liên tục cầu tiến – mà không cần gò ép con người vào các khuôn khổ, đồng thời thúc đẩy tương tác giữa con người với nhau một cách lành mạnh. Trẻ em được khẳng định mình, học cách tự chủ tương tác trong mọi mối quan hệ xã hội từ rất sớm, trên tinh thần yêu thương và tôn trọng người khác, đối với từng cá nhân cụ thể và không phân biệt hoặc bỏ sót ai. Quá trình giáo dục đề cao tính tương tác đó hợp với tự nhiên, làm sớm bộc lộ và phát huy những giá trị tinh túy tốt đẹp bên trong con người, tạo ra sản phẩm là những con người đĩnh đạc đường hoàng, tự chủ và không quên ý thức về giá trị nhân phẩm của mình.  Bên cạnh đó, ngay từ phổ thông trung học các học sinh ở các nước phát triển đã được học về kinh tế và tài chính, những điều sẽ giúp họ có những nhận thức cụ thể thiết thực về thế giới bên ngoài và sự cần thiết của việc tự lập xây dựng một kế hoạch cho tương lai. Tâm lý được chuẩn bị vững vàng này cũng đem lại những giá trị gia tăng tích cực cho việc định hình và hoàn thiện nhân cách của con người.   Tất nhiên, để đạt được kết quả tiến bộ như vậy là sau cả một quá trình phát triển song hành tương hỗ của xã hội và giáo dục. Vì vậy, với nền giáo dục Việt Nam, chúng ta sẽ phải xác định xã hội mình đang ở chặng đường phát triển nào – có cần quá chú trọng tới sự ổn định, hay trật tự ổn định ấy liệu có gây trì trệ và kìm hãm phát triển hay không – từ đó đưa ra lựa chọn cho một tư tưởng trong giáo dục: đề cao trật tự xã hội hay con người cá thể.   Nhưng dù thế nào, điều trước mắt mà nền giáo dục của chúng ta cần phải làm là thoát khỏi tư duy cô lập giáo dục nhân phẩm khỏi các lĩnh vực khác, thúc đẩy việc thực hành lòng nhân ái và tôn trọng con người ngay từ cấp giáo dục tiểu học, tạo một nền tảng cơ bản để con người sớm tự lập và liên tục tự làm mới sự học, tự định vị lại bản thân mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lớp học toàn cầu      Khi còn giảng dạy tại Đại học Stanford (Stanford University) trong những năm 1970, tôi luôn luôn để ý tìm cách áp dụng các tiến bộ công nghệ để cải thiện việc học hành. Một cải tiến lớn của thời đó là các lớp học của tôi được truyền hình khắp khu vực Vịnh San Francisco. Ngoài ra, chúng tôi thậm chí còn gửi những cuốn băng ghi bài giảng tới những nơi ở xa hơn.       Ngày nay, các giáo viên ghi lại và tải lên mạng bài giảng của họ, và, nhờ Internet mà sinh viên ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có thể xem đi xem lại bao nhiêu lần cũng được. Giáo dục – một trong những ngành kinh tế lớn cuối cùng chậm chân trong việc chuyển hóa sang thời đại kỹ thuật số – nay đã tới thời điểm chín muồi cho một cuộc cách mạng số hóa. Đó là điều tất yếu, bởi mạng Internet là nguồn năng lượng mới của thế kỷ XXI, và nó sẽ đưa người học thuộc mọi lứa tuổi, từ mọi miền trên thế giới, đến một tương lai thành công.   Ví dụ, MOOCs (Massive Open Online Courses – tạm dịch: Các khóa học mở trực tuyến dành cho đại chúng) cung cấp các chương trình đại học miễn phí hoặc với chi phí thấp cho hàng trăm ngàn người trên Internet, giúp mọi người dễ dàng học hỏi bất cứ điều gì và ở bất cứ nơi nào họ muốn. Chúng ta có thể thấy trước những cơ hội tương tự như vậy sẽ đến với giáo dục tiểu học và trung học trong tương lai.  MOOCs tạo điều kiện cho một số lượng không hạn chế sinh viên học hầu như bất cứ môn nào, từ khoa học máy tính cho đến âm nhạc, do một số chuyên gia hàng đầu trên thế giới giảng dạy. Một số MOOCs có lượng người học rất lớn, thí dụ như các lớp của trường Đại học Alicante (University of Alicante) ở Tây Ban Nha và Đại học Humboldt (Humboldt Institute) ở Đức, hai trường đều cung cấp các khóa học mang đến những thông tin hữu ích đầy tính thực tiễn về quá trình khởi nghiệp doanh nghiệp. Đại học Alicante hiện đã có phiên bản thứ hai và đã có hơn 30.000 người học.   Các MOOCs khác, ví dụ như chương trình sắp được mở do Viện đại học Mines-Télécom của Pháp (Institut Mines-Télécom) được thiết kế phù hợp cho từng nhóm đối tượng đặc thù. MOOCs hoàn toàn có thể được biến thành những chương trình học tập có tính sáng tạo hoặc độc đáo riêng biệt. Những người muốn tìm hiểu vì sao và bằng cách nào mà các cầu thủ bóng đá được trả tiền nhiều như thế có thể đăng ký vào lớp học mở trên mạng có tên là Valoración de Futbolistas do Đại học Valencia cung cấp. Trong chương trình này, người ta có thể tìm hiểu tất những điều mà họ muốn biết về cách đánh giá giá trị của một cầu thủ bóng đá. Một lớp học như vậy có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta trải nghiệm một trận đấu bóng đá!  Ở những nơi mà tỉ lệ thất nghiệp trong thanh niên vẫn còn cao, MOOCs cung cấp một giải pháp mới tăng cường các kỹ năng và khả năng xin được việc làm. Một lĩnh vực quan trọng là hỗ trợ cho giáo viên, đặc biệt là trong ngành khoa học máy tính, nhất là trong các chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thông.   Một điều đáng mừng là nhiều chính phủ đang tiến hành những bước đi ban đầu nhằm thúc đẩy cuộc cách mạng trong giáo dục trực tuyến. Chính phủ Malaysia đã công bố kế hoạch cung cấp máy tính xách tay nhẹ cho các trường tiểu học và trung học trên toàn quốc, và đã cho mười triệu học sinh, giáo viên và phụ huynh sử dụng miễn phí email cùng các phần mềm thời khóa biểu và xử lý văn bản. Cung cấp dịch vụ trên mạng cho học viên và giáo viên là tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin và làm cho thông tin đến được với tất cả mọi người – không phụ thuộc vào nguồn lực tài chính, địa điểm, hoặc ảnh hưởng – để họ có thể trở thành những người có học.  Nhưng còn nhiều việc phải làm hơn nữa. Chính phủ phải mở rộng cơ sở hạ tầng để những người học trong những khu thị tứ đông đúc cũng như ở những làng bản xa xôi đều có thể tiếp cận được với Internet như nhau.  Các dự án hợp tác công-tư (PPP) thường là biện pháp tốt để thực hiện điều này. Ví dụ, trong năm nay, thông qua hợp tác với một nhà cung cấp viễn thông địa phương, 10.000 trường công lập của Malaysia sẽ được truy cập mạng 4G.  Khi sinh viên truy cập được vào mạng thì họ có thể làm bất cứ điều gì với lượng thông tin khổng lồ mà họ có thể tiếp cận, đồng thời họ có thể hợp tác và học hỏi lẫn nhau một cách không giới hạn. Hãy tưởng tượng các sinh viên ở Malaysia làm việc với các sinh viên trên toàn thế giới trong một dự án về thời tiết. Họ có thể tiến hành thí nghiệm ảo, phối hợp cập nhật dữ liệu trong một bảng tính hoặc văn bản tại cùng một thời điểm, và cùng chia sẻ một bài báo cáo tường trình cuối cùng.   Ở những nơi máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay còn chưa được phổ biến rộng rãi, sinh viên có thể sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng nhằm thúc đẩy việc học tập của mình. Ví dụ, họ có thể tương tác với một phiên bản 3D của tế bào thông qua các ứng dụng phức tạp trên điện thoại di động hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu sinh học, hoặc tiến hành một thí nghiệm tâm lý học bằng cách dùng các ứng dụng hỗ trợ việc khảo sát, trưng cầu, lấy ý kiến.  Người học có thể tham gia các nhóm học tập một cách dễ dàng và linh hoạt hơn với Internet. Một đứa trẻ khó có thể đi đến nhà bạn cùng lớp để học sau giờ học do đường xấu, khu dân cư không an toàn, hoặc cha mẹ đang làm việc và không đưa đi được (hay không có xe), nhưng chỉ cần có đủ băng thông, chúng có thể gặp gỡ và cùng học trên mang thông qua Google+ Hangouts hoặc các chương trình truyền thông xã hội khác – hoặc học với các chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Nhờ Internet, khoảng cách không còn là vấn đề trở ngại: thế giới rộng lớn có thể thực sự trở thành lớp học của chúng ta.           Phạm Nguyên Trường dịch   từ bài viết của Vint Cerf, phó chủ tịch và trưởng phòng quảng bá Internet tại Google.  https://www.project-syndicate.org/commentary/vint-cerf-goes-inside-the-online-revolution-in-education    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lứa sinh viên VN đầu tiên tốt nghiệp ngành NLNT tại Nga      Theo báo điện tử Sputnik, ngày 13/2, 28 sinh viên Việt Nam học chuyên ngành năng lượng nguyên tử tại Đại học hạt nhân quốc gia Nga (MIFI), đã được trao bằng tốt nghiệp sau hơn sáu năm học tập.      Các sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp MIFI. Nguồn: Viện NLNTVN  Trao đổi với tạp chí Tia Sáng, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, cho biết, đó là những sinh viên đầu tiên trong số hơn 400 sinh viên Việt Nam được cử tới MIFI và một số trường đại học khác của Nga học về năng lượng nguyên tử vào năm 2010, theo thỏa thuận giữa Nga và Việt Nam nhằm chuẩn bị cho Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. MIFI là trường đại học hàng đầu của Nga về lĩnh vực công nghệ hạt nhân và trước kia chỉ đào tạo các sinh viên Nga. Đây là lần đầu tiên, trường tiếp nhận một số lượng lớn sinh viên nước ngoài tới học tập.  Do Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận đã dừng thực hiện nên “có thể nhiều em trong số này sẽ chuyển sang làm việc tại trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình cũng như trong các nhà máy nhiệt điện và các ban quản lý dự án nhà máy nhiệt điện của EVN như giải pháp mà thông cáo báo chí về việc dừng thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận của Văn phòng Chính phủ đã nêu. Chúng tôi hy vọng rằng, nếu dự án CNEST [Trung tâm KH&CN hạt nhân] được triển khai, sẽ có cơ hội tuyển chọn để đào tạo và định hướng các em theo con đường nghiên cứu”, TS. Trần Chí Thành nêu ý kiến.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Luận về thị trường dạy và học      Trước mắt chúng ta là một hệ thống tầng tầng lớp lớp các loại hình dạy học, và đội ngũ những người hành nghề dạy học. Đông đảo hơn hàng chục lần, chính là lớp lớp những người cần học. Nhìn một cách tổng thể theo quy luật cung – cầu một cách tự nhiên, khách quan, bỏ qua mọi vấn đề khác, thì rõ ràng thực tế xã hội đang cân bằng giữa hai lực lượng này. Người có nghề thì được hành nghề, kẻ có nhu cầu học thì được học. Rõ ràng điều này đang làm ổn định hệ thống dạy và học. Tất nhiên sự ổn định này có mang đến sự phát triển lành mạnh hay không, thì lại là một vấn đề hoàn toàn khác.    Người ta bức xúc vì nhìn thấy một đội quân học xong mà không được hành nghề (tạm gọi là A) đang bị gia tăng hằng năm, nhưng dường như còn chưa để ý thấy tại thời điểm này, chính đội quân này đã phần nào thay thế cho đội quân gồm những người muốn học mà không được học (tạm gọi là B) và đội quân đang hành nghề dạy học mà bị dừng dạy (tạm gọi là C). Và có phải chăng trong hoàn cảnh thực tại của đất nước, chỉ có thể lựa chọn một trong hai, hoặc A hoặc B và C?  Về bản chất nếu đáp ứng càng cao cho nhu cầu được học, tức B được giảm thiểu, thì C cũng được giảm thiểu, và đương nhiên khi đó A sẽ có thể bị gia tăng, và đôi khi có chiều ngược lại. Như vậy trong thời điểm hiện tại, xã hội có vẻ như đang đứng trước sự lựa chọn hoặc A hoặc B, xem đằng nào lợi hơn!? Sự thật không ít người đã trả lời ngay được rằng, nên cần đáp ứng tối đa nhu cầu được học tập của xã hội. Và rằng hãy để quy luật cung cầu giữa dạy và học được phát huy cao nhất có thể, theo cơ chế thị trường.  Cần nói thêm rằng, A bị gia tăng, tức là những người học xong mà không được hành nghề gia tăng, không hẳn chỉ là hệ quả của thị trường dạy và học, mà nó còn có nguồn gốc từ nhiều nguyên nhân luôn biến động khác. Vì thế thực tế hơn, người ta thường tập trung quan tâm làm cho thị trường dạy và học được phát triển lành mạnh, tức là người học có nhu cầu thực học, còn phía nơi dạy phải đảm bảo được đúng chức năng nghề nghiệp của mình, cùng với nó là thị trường tuyển dụng lành mạnh.  Sự thực ở Việt Nam trong những năm qua, một mặt đội ngũ các nhà tư bản còn chưa phát triển như mong muốn của cơ chế thị trường, cùng hàng loạt cơ quan và công ty nhà nước bị xóa bỏ, mặt khác việc tuyển dụng nhân lực ở các khu vực công còn thiếu khách quan, đã góp phần tác động tiêu cực đến thị trường dạy và học. Bên cạnh đó còn có nguyên nhân văn hóa như bệnh háo danh-trọng bằng cấp…, cũng góp phần tác động đến thị trường dạy và học này.  Cũng cần chú ý thêm rằng, trong một thời gian dài, nhiều tác động tiêu cực đến giáo dục, như tính bao cấp còn quá nặng nề, bệnh thành tích và bằng cấp hoành hành, bên cạnh đó là chủ nghĩa hình thức và bệnh phong trào còn không được ngăn chặn, sử dụng và khuyến khích nhân tài còn chưa hiệu quả, thậm chí người làm giáo dục đâu đó còn bị tước đi quyền làm chủ nghề nghiệp…, đều đã ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển lành mạnh của thị trường dạy và học.  Quốc gia nào cũng vậy, để thị trường dạy và học phát triển lành mạnh, thì không có gì khác là vai trò của thể chế. Rồi vấn đề là nhà nước cần nắm giữ những loại hình đào tạo chủ chốt nào phục vụ cho mục tiêu chiến lược quốc gia, đặc biệt là cần được đầu tư thích đáng, để nó trở thành những lực lượng chủ lực, làm chỗ dựa cho giáo dục. Thứ nữa là phải làm cho thị trường tuyển dụng lành mạnh.  Rõ ràng cuối cùng thị trường dạy và học luôn cần được ổn định, một cách khách quan, dưới bất cứ một hình thái chính trị nào. Vì sự ổn định này góp phần quan trọng vào ổn định xã hội. Tuy nhiên việc thị trường này có phát triển lành mạnh theo hướng văn minh và hiệu quả hay không, thì hoàn toàn trước hết phụ thuộc vào thể chế chính trị, thứ nữa là văn hóa dân tộc, và còn lại là khả năng kinh tế.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Luận về xã hội hóa giáo dục      Xã hội hóa giáo dục, không chỉ là vấn đề xã hội tham gia vào việc dựng trường, mở lớp, hay tài trợ, mà còn có nghĩa là, xã hội cần được (có trách nhiệm) tham gia vào quá trình xây dựng các chương trình giáo dục.    Bấy lâu nay xã hội đã và đang phải chịu đựng rất nhiều bất cập trong giáo dục phổ thông, như sự quá tải trong nhiều lớp học, tệ nạn bắt ép trẻ học thêm, bệnh thành tích, bằng cấp, và nhiều tệ nạn khác… Rồi vấn đề trả lương, vấn đề thừa thiếu giáo viên ở các cấp học, hay những sinh viên tốt nghiệp sư phạm mà không được tuyển dụng. Chưa kể chương trình và sách giáo khoa ít nhiều còn  áp đặt, chủ quan, lên mọi vùng miền, và mọi đối tượng. Hơn nữa tính cạnh tranh trong giáo dục còn rất thấp.  Một số vấn đề nổi cộm khác, giáo dục phổ cập trong nhiều năm qua, mang  nhiều khuyết tật, như  đâu  đó chất lượng còn bị buông lỏng, hay các chương trình còn cứng nhắc, rồi dường như yếu tố văn hóa đặc thù còn chưa được quan tâm đúng mức. Còn giáo dục tinh hoa, hình như được hiểu theo kiểu trường chuyên, lớp chọn. Kết quả như  đã thấy, nguồn  nhân lực chất lượng cao ở mọi lĩnh vực còn rất hạn chế, làm ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình hội nhập của đất nước.      Tất cả những vấn đề nêu trên tạo sức ép rất lớn lên giáo dục công lập trong khi năng lực quản lý và nguồn kinh phí của Nhà nước tỏ ra không đủ để đáp ứng giải quyết những phát sinh ngày càng gia tăng đó. Có lẽ giáo dục phổ thông đang cần một cú hích, để tạo đà cho phát triển bền vững. Tất nhiên nó không thể là, vấn đề giữ hay bỏ biên chế, mà đã có thời điểm gây ra nhiều tranh cãi trong xã hội.  Nếu nhìn nhận từ  góc độ kinh tế thị trường, cũng như quá trình phát triển các nền giáo dục của các nước tiên tiến, thì có thể thấy rõ lời giải bài toán giáo dục phổ thông hiện nay, chính là cần phải thúc đẩy xã hội hóa giáo dục, theo dòng chảy của kinh tế thị trường. Để làm điều này, trước hết cần phải xây dựng  một hệ thống luật pháp phù hợp, giúp cho việc hình thành các không gian giáo dục mở, mà ở đó sự cạnh tranh lành mạnh và thực chất về chất lượng giáo dục được thực thi. Thêm nữa, nó còn tạo điều kiện để mọi công dân đều có thể tham gia và đóng góp vào giáo dục.  Cũng cần chú ý thêm rằng, xã hội hóa giáo dục, không chỉ là vấn đề: xã hội tham gia vào việc dựng trường, mở lớp, hay tài trợ, mà còn có nghĩa là, xã hội cần được (có trách nhiệm) tham gia vào quá trình xây dựng các chương trình giáo dục. Từ đó mà xã hội hóa được nội dung giáo dục. Đặc biệt là, giúp đa dạng hoá, hiện đại hóa chương trình, nhằm  đáp ứng được những đòi hỏi phong phú của xã hội. Ngoài ra  giáo dục trong nhà trường phải luôn được gắn kết với xã hội, trên cơ sở những nghiên cứu và tổng kết khách quan về các vấn đề xã hội, trong đó xã hội phải được coi là một thực thể sống luôn biến đổi và phát triển không ngừng.  Tại thời điểm này, để tháo gỡ nhiều bế tắc trong giáo dục, cũng như để hội nhập thành công, cần phải đón nhận và vun đắp cho thị trường giáo dục, và xem nó như một thị trường đặc thù, một hiện thực khách quan, theo quy luật của kinh tế thị trường. Cùng với đó là nâng cao vai trò của quản lý nhà nước, để thị trường này phát triển, vừa đảm bảo quy luật cung-cầu, vừa đảm đương được sứ mệnh mà đất nước đặt hàng cho nó.  Hình ảnh của thị trường giáo dục phổ thông, rõ ràng sẽ phải gồm hai hệ thống chính, hệ thống công lập và hệ thống dân lập. Hai hệ thống này cần phải hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, và đặc biệt là bình đẳng theo đúng luật chơi của kinh tế thị trường toàn cầu. Vì chỉ có như vậy mới có cạnh tranh lành mạnh về chất lượng giáo dục giữa các cơ sở giáo dục, mang lại tiến bộ không ngừng cho chất lượng giáo dục.  Tất nhiên trong bối cảnh hiện nay của đất nước, như  vấn đề thể chế chính trị  còn đang cần phải cải cách, vấn đề  của văn hóa, thực trạng của nền kinh tế, vấn đề của chất lượng đội ngũ nhà giáo…, đều cần phải được tính đến trong quá trình xã hội hóa. Làm sao để tiến trình này diễn ra, mà không gây sốc cho  xã hội. Thay đổi và phát triển phải luôn đi cùng với sự ổn định của xã hội, đặc biệt là luôn phải đặt quyền lợi của người học lên trên hết.     Rõ ràng bất luận như thế nào, thì giáo dục phổ thông cũng cần phải hướng tới đáp ứng giáo dục phổ cập, đại chúng, và giáo dục tinh hoa. Tất nhiên phổ cập đến đâu, hay quan niệm về giáo dục tinh hoa như thế nào cũng cần phải được làm rõ. Và có lẽ nên chăng hệ thống giáo dục phổ cập và hệ thống giáo dục tinh hoa, sẽ chủ yếu nằm trong hệ thống giáo dục công lập, nhưng vẫn phải đảm bảo được yếu tố cạnh tranh lành mạnh của cơ chế thị trường. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nếu giáo dục phổ cập nhằm đáp ứng sự nghiệp nâng cao dân trí, thì giáo dục tinh hoa sẽ nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.     Tóm lại, xã hội hóa giáo dục, như một dòng chảy tự nhiên của lịch sử giáo dục, nó không những loại bỏ được những trói buộc không đáng có trong giáo dục hiện nay, mà còn phát huy cao nhất được nhân lực và tài lực-trí lực của xã hội đóng góp cho giáo dục, cũng như tăng sức sống cho giáo dục, và đáp ứng cao nhất quy luật cung-cầu giữa dạy và học. Rằng đó chính là cách thức đưa hệ thống giáo dục đến với tiến trình hội nhập. Tất nhiên sự thành công của nó đến đâu, trước hết còn phụ thuộc vào sự thay đổi tư duy giáo dục, sự tiến bộ của hệ thống quản lý giáo dục. Và rõ ràng một khi thị trường giáo dục phát triển lành mạnh, thì nhiều vấn đề nan giải, bất cập như đã có, tự khắc sẽ biến mất.    Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Luật giáo dục đại học cần giải quyết những vấn đề cốt tử của giáo dục đại học      Tại kỳ họp thứ 3 tới đây, Quốc hội sẽ xem xét và biểu quyết thông qua dự thảo Luật Giáo dục đại học (GDĐH).&#160; Có thể khẳng định nhiều ưu điểm cũng như nêu ra nhiều hạn chế của bản dự thảo này.    Tuy nhiên, điều làm chúng tôi tôi băn khoăn nhất ở bản dự thảo này là nó chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết những vấn đề cốt tử của GDĐH hiện nay, đồng thời vẫn còn nhiều lỗi kỹ thuật đáng ra không thể có trong lần cuối cùng trình Quốc hội này.  Dưới đây là ý kiến của chúng tôi về các vấn đề đó:  1. Vấn đề quan hệ giữa quy mô và chất lượng GDĐH  Theo “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII thì từ năm 1998 đến năm 2009 đã có 312 trường ĐH, CĐ được thành lập, nghĩa là trung bình cứ 2 tuần lại có 1 trường ĐH, CĐ ra đời. Kết quả, tính đến tháng 9/2009, cả nước có 440 trường ĐH, CĐ, trong đó có 77 trường ngoài công lập. Tổng quy mô đào tạo ĐH, CĐ năm học 2008 – 2009 là 1.719.499 SV, tăng 13 lần so với năm 1987; tỷ lệ SV/số dân năm 1997 là 80 SV/1vạn dân thì đến năm 2009 là 195 SV/1 vạn dân, và năm 2010 có thể đạt 200 SV/1 vạn dân. “Trong khi quy mô đào tạo ở tất cả các bậc học và hệ đào tạo tăng nhanh thì các điều kiện cơ bản để bảo đảm chất lượng đào tạo không theo kịp […] Vì vậy, chất lượng đào tạo đại trà của sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới.” [1]  Như vậy, vấn đề cốt tử của GDĐH hiện nay là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển quy mô với nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó chất lượng đào tạo phải được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, ngành GDĐH hiện nay vẫn đang phấn đấu theo hướng tăng quy mô đào tạo với chỉ tiêu cả nước có 573 trường ĐH, CĐ; bình quân 400 SV/1 vạn dân vào năm 2020.[2] Trong khi đó, dự thảo Luật GDĐH không xác lập được các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển quy mô với nâng cao chất lượng đào tạo. Có thể nhận thấy thiếu sót này qua những khía cạnh sau :  1.1. Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH  “Việc mở trường và mở ngành tràn lan dẫn tới tình trạng mất cân đối về hình thức, trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền” [3] trong thời gian qua cho thấy quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH chưa tốt. Để điều chỉnh lĩnh vực quy hoạch này, dự thảo Luật chỉ có một điều (Điều 9). Nhưng đáng lẽ phải quy định một cách cụ thể về tiêu chí lập quy hoạch, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch thì Điều 10 chỉ nêu một số quy định chung về nguyên tắc, nội dung quy hoạch, chưa đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt, thực tế thành lập và hoạt động của các trường đại học ngoài công lập thời gian qua cho thấy nhiều trường ban đầu đăng ký thành lập và hoạt động ở một số tỉnh chưa có trường đại học nhưng sau một thời gian ngắn không tuyển được sinh viên lại chuyển về Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là những đô thị đang có rất nhiều trường. Dự thảo Luật  chưa có quy định để điều chỉnh những trường hợp này; cũng chưa quy định các điều kiện ưu đãi để khuyến khích mở trường ở vùng chậm phát triển và mở các ngành công nghệ là những ngành mà đất nước đang rất cần.       1.2. Kiểm định chất lượng đào tạo  Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Dự thảo Luật dành hẳn một chương với 5 điều quy định về “Bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH”, nhưng hầu hết các quy định đều không cụ thể, đồng thời rất nhiều nội dung thiết yếu để tiến hành hoạt động kiểm định chất lượng lại chưa được quy định, ví dụ: thẩm quyền thành lập tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo, điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo, xử lý kết quả kiểm định chất lượng đào tạo, thừa nhận kết quả kiểm định chất lượng đào tạo, giải quyết tranh chấp về kết quả kiểm định chất lượng đào tạo, xử lý vi phạm pháp luật về kiểm định chất lượng đào tạo v.v…  Thiếu những quy định như trên, Luật GDĐH có ra đời cũng không thể tổ chức được các cơ sở kiểm định chất lượng và thực hiện được việc kiểm định chất lượng. Trong trường hợp dự thảo Luật trao toàn quyền cho cơ sở GDĐH quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, hình thức tuyển sinh, tự chủ về chương trình đào tạo, tổ chức và quản lý đào tạo, in và cấp phát văn bằng thì việc thiếu những quy định về kiểm định chất lượng sẽ dẫn tới tình trạng sa sút nghiêm trọng về chất lượng GDĐH.    1.3. Giáo dục thường xuyên (đào tạo tại chức)  Dư luận nhiều năm nay rất phàn nàn về việc phát triển quy mô kèm theo sự tuỳ tiện trong tổ chức đào tạo và sự sa sút nghiêm trọng về chất lượng giáo dục thường xuyên. Đây là vấn đề nhất thiết phải giải quyết nếu muốn xây dựng một xã hội học tập lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước. Để tiến tới một xã hội học tập, trong đó người lao động có thể học bất kỳ một học phần nào để nâng cao hiểu biết và kỹ năng, phục vụ cho công việc của mình, không nên quan niệm cứng nhắc giáo dục thường xuyên phải tổ chức thành những lớp học riêng, học phải lấy bằng, mà cần quan niệm là tuỳ điều kiện thời gian của mình và khả năng tiếp nhận của cơ sở giáo dục, người học có thể theo học cùng sinh viên chính quy hoặc học lớp riêng. Nhưng để nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, đảm bảo giáo dục thường xuyên có mặt bằng ngang với mặt bằng đào tạo chính quy, những người có nguyện vọng học lấy bằng hay tín chỉ cần thi học phần, thi tốt nghiệp chung với sinh viên chính quy. Tóm lại, theo chúng tôi, Luật GDĐH cần thể hiện quan niệm mới hơn về giáo dục thường xuyên và dành cho loại hình giáo dục này ít nhất một chương, trong đó có những quy định về chương trình, chỉ tiêu tuyển sinh, phương thức đào tạo, kiểm tra, cấp bằng,…  1.4. Văn bằng tốt nghiệp  Vấn đề này tuy thiên về hình thức nhưng cũng thể hiện quan điểm về phân công nhiệm vụ đào tạo nhân lực và tác động không nhỏ đến chương trình, phương thức đào tạo, tâm lý giảng viên, sinh viên, tâm lý xã hội, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Khác với quy định tại điều 43 Luật Giáo dục, dự thảo Luật GDĐH quy định toàn bộ văn bằng tốt nghiệp các ngành khác nhau đều là “văn bằng tốt nghiệp CĐ hoặc ĐH” (Điều 40), không còn các danh hiệu cử nhân, bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư. Hàm ý của quy định mới này là nhường việc bồi dưỡng, công nhận các danh hiệu ấy cho tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Nếu vậy thì quy định này chắc chắn ảnh hưởng đến chương trình, phương thức đào tạo sinh viên và sự gắn bó của cơ sở GDĐH với đơn vị sử dụng lao động. Có lẽ ở đây chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm sâu sắc về tác động tiêu cực của việc gọi sinh viên là “học sinh ĐH” trong những năm 70 của thế kỷ trước. Chỉ bằng sự thay đổi tên gọi ấy, chúng ta đã góp phần làm cho sinh viên giảm sút ý thức về vị thế “người lớn” của mình và trường ĐH nhanh chóng trở thành “trường phổ thông cấp 4”.     2. Vấn đề thị trường GDĐH  Từ khoảng 20 năm nay, cùng với sự ra đời của các cơ sở giáo dục ngoài công lập, cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và các hình thức liên kết đào tạo với nước ngoài, đã dấy lên cuộc tranh luận về việc có hay không có, nên chấp nhận hay không chấp nhận thị trường giáo dục ở nước ta. Tới nay, với các quy định tại khoản 3 Điều 7 về “cơ sở GDĐH có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài”, “cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài”, dự thảo Luật GDĐH đã chính thức chấp nhận sự tồn tại của loại thị trường này.  Sự tồn tại thị trường giáo dục không phải là thảm hoạ. Tuy nhiên, luật pháp cần phân biệt rõ hai loại hình dịch vụ giáo dục – dịch vụ vì mục đích lợi nhuận và dịch vụ không vì mục đích lợi nhuận – để có chính sách phù hợp với mỗi loại hình.  Khoản 7 Điều 4 dự thảo Luật GDĐH giải thích: “Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận nếu phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất huy động tiền gửi bình quân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.”  Theo quy định tại Điều 16 thì trường tư thục thành lập hội đồng quản trị – tổ chức đại diện duy nhất cho quyền sở hữu của nhà trường. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ “tổ chức thực hiện các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông” – cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất về đường lối phát triển của nhà trường theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường ĐH tư thục [4].    Thành viên hội đồng quản trị bao gồm: “a) Đại diện của các tổ chức, cá nhân có số lượng cổ phần đóng góp ở mức cần thiết theo quy định; b) Hiệu trưởng; đại diện cơ quan quản lý địa phương nơi cơ sở giáo dục đại học có trụ sở; đại diện tổ chức Đảng, đoàn thể; đại diện giảng viên.”  Chấp nhận chia lợi tức và dành thẩm quyền cao nhất cho các cổ đông như quy định tại dự thảo Luật GDĐH và Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường ĐH tư thục không khác gì nguyên tắc tổ chức, hoạt động của công ty cổ phần. Chính vì vậy mà có nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Trên thực tế, có thể nói 100% ĐH tư thục ở Việt Nam là vì lợi nhuận” [5] Cũng theo nhà nghiên cứu này, “các trường ĐH tư thục vì lợi nhuận thường xuất hiện ở những lĩnh vực đào tạo có lợi nhuận, tránh đầu tư lớn và dài hạn […] Những hạn chế do phải thoả mãn yêu cầu về lợi nhuận của các cổ đông làm cho các ĐH tư thục vì lợi nhuận không thể đáp ứng được những chức năng giáo dục thường có của một trường ĐH công lập. Những hạn chế đó thường là thương mại hoá giáo dục, chạy theo lợi nhuận, chạy theo ngành đào tạo chi phí thấp, nhu cầu lớn, không có đầu tư lớn vào nghiên cứu cơ bản, thậm chí có những hành vi vi phạm quy chế tuyển sinh và quy chế đào tạo.” [6] Nguyên tắc hoạt động vì mục đích lợi nhuận cũng giải thích vì sao ở nhiều trường ĐH ngoài công lập nước ta phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ gay gắt, kéo dài. Những trường ĐH như vậy rất khó để phát triển.  Đáng tiếc là dự thảo Luật GDĐH đang duy trì tình trạng không rõ ràng về mục đích hoạt động vì lợi nhuận/không vì lợi nhuận và kéo dài sự ưu đãi của Nhà nước cho các cơ sở kinh doanh giáo dục.     3. Vấn đề gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học và với đơn vị sử dụng lao động  Phát triển theo mô hình của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, ở nước ta, các cơ sở GDĐH và cơ sở nghiên cứu khoa học là hai hệ thống độc lập với nhau. Nhiều cố gắng thống nhất hai hệ thống này với nhau đều không thành công. Kết quả cao nhất chỉ là thành lập được một số viện hoặc trung tâm nghiên cứu & chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ ở các trường ĐH và thành lập hai trường ĐH thuộc hai cơ quan Viện Khoa học công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Tóm lại là mỗi hệ thống phát triển thêm bộ máy của mình và tiếp tục hoạt động độc lập với hệ thống kia. “Nhiều cơ sở đào tạo chưa thấy nghiên cứu khoa học là một khâu không thể thiếu trong chương trình đào tạo để đảm bảo chất lượng giảng dạy, học tập. Phần lớn các trường ngoài công lập thậm chí không bố trí kinh phí cho công tác này. Về phía GV, do số giờ giảng cao, thường đem lại thu nhập tức thời và cao hơn thu nhập từ nghiên cứu khoa học, đồng thời do ngại tiến hành các thủ tục đăng ký đề tài, đấu thầu, nghiệm thu, quyết toán,… nên ít dành thời gian tham gia nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.” [7]  Giữa các trường ĐH, CĐ với các đơn vị sử dụng lao động (trong đó có doanh nghiệp) cũng chưa thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ. “Tình hình trên dẫn đến hệ quả là đào tạo thường không đáp ứng ngay được yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động, do đó tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm phù hợp hoặc tương đối phù hợp với ngành nghề đào tạo ngay sau khi tốt nghiệp không cao [8], tỷ lệ sinh viên phải đào tạo lại sau khi ra trường còn cao.” [9]  Nhận thức rõ những hạn chế nói trên, Ban soạn thảo Luật GDĐH đã đưa vào dự thảo Luật quy định về chính sách của Nhà nước “gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học với cơ sở nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp” (khoản 4 Điều 11). Tuy nhiên, cũng như hầu hết các chính sách được quy định tại Điều 11, chính sách gắn đào tạo với việc sử dụng lao động không được triển khai cụ thể ở bất kỳ điều khoản nào trong dự thảo Luật. Còn hoạt động khoa học và công nghệ tuy được dành hẳn một chương với 4 điều nhưng các quy định đều chung chung. Điều mong đợi nhất là chính sách đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trong các cơ sở GDĐH thì giao các Bộ quy định (Điều 44). Hàng chục năm qua, chính sách này đã được giao các Bộ nghiên cứu xây dựng nhưng chưa thành công. Đến lúc này, Luật vẫn không đưa ra được quy định cụ thể mà giao các Bộ tiếp tục nghiên cứu thì giải pháp gắn bó đào tạo với nghiên cứu khoa học lại tiếp tục được xếp vào hồ sơ lưu, chờ thêm nhiều năm nữa hoặc nhiều chục năm nữa mới được giải quyết.  Luật GDĐH không phải luật riêng của ngành giáo dục. Do đó, trong thời gian tới, Chính phủ cần huy động sự tham gia tích cực của các Bộ, thúc đẩy nghiên cứu vấn đề này và những vấn đề khác còn vướng mắc để đưa vào Luật những quy phạm pháp luật có tính khả thi và tính hiệu quả cao.     4. Vấn đề hệ thống GDĐH  Theo Điều 7, cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) trường cao đẳng; b) trường đại học, học viện; c) đại học, đại học quốc gia. Sự phân loại này không lôgic vì nó vừa căn cứ vào trình độ đào tạo mà cơ sở GDĐH đảm nhiệm (cao đẳng/đại học và sau đại học), vừa căn cứ vào mô hình tổ chức (đại học 1 cấp/đại học 2 cấp) và vị thế trong hệ thống (trường đại học/đại học/đại học quốc gia). Cũng theo sự phân loại này thì không rõ các học viện có đào tạo đại học và sau đại học như Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Quốc phòng thuộc vào loại nào: các học viện này không nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nhưng cũng không thuộc đối tượng được quy định ở khoản 2 (viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ). Cũng không rõ các trường cao đẳng nghề thuộc hệ thống dạy nghề có phải đối tượng áp dụng của Luật GDĐH không.  Lẽ ra, việc soạn thảo và ban hành Luật GDĐH là cơ hội để khắc phục tình trạng lộn xộn của hệ thống GDĐH nhưng Dự thảo Luật chỉ nhắc lại những cái tên rất thiếu rõ ràng và thiếu tính hệ thống đang có trong thực tế. Dự thảo Luật không có khoản nào giải thích trường đại học khác học viện, học viện khác viện đại học như thế nào. Cách dùng danh từ đại học vốn chỉ một bậc học (một trình độ đào tạo) làm tên gọi một loại cơ sở GDĐH (đại học, đại học quốc gia) ngay từ đầu đã bị nhiều người phản đối vì sai  tiếng Việt nhưng đến nay vẫn được giữ chỉ vì đã quen dùng.  Sự phân loại cơ sở GDĐH ở Điều 7 còn thể hiện một hệ thống bất hợp lý và siêu hình, không phù hợp với thực tế GDĐH ở nước ta hiện nay cũng như khả năng phát triển của nó trong tương lai. Theo sự phân loại này thì những trường đại học trọng điểm như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Y Hà Nội cũng được xếp vào loại b, trong khi vị trí, uy tín và năng lực của họ không hề thấp hơn so với các cơ sở loại c và chắc là Luật cũng không thể hạn chế quyền tự chủ của họ. Khoản 3 Điều 12 quy định trường đại học tư thục có cơ cấu tổ chức như một trường đại học được quy định tại khoản 1, tức là đại học 1 cấp. Quy định này không tính đến triển vọng một số cơ sở GDĐH tư thục trở thành đại học 2 cấp, mà đây là một quyền không ai bác bỏ được của cơ sở. Ví dụ, theo chúng tôi được biết Đại học Bình Dương đã thành lập trường đại học thành viên đầu tiên của mình dưới tên gọi “phân hiệu”. Ở các nước phát triển, chúng ta cũng thấy hàng loạt đại học tư thục được tổ chức theo mô hình 2 cấp.  Theo chúng tôi, tốt nhất là Luật GDĐH nên xác định tiêu chí xếp hạng cơ sở GDĐH gắn với chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, làm cơ sở xác định mức đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước (đối với trường công lập) và việc giao đề tài nghiên cứu khoa học (đối với cả trường công lập và ngoài công lập).  5. Một số vấn đề kỹ thuật  Ngoài bốn vấn đề quan trọng nói trên, một số chi tiết trong Dự thảo Luật cũng cần được điều chỉnh. Dưới đây là một số trong những chi tiết ấy:     5.1. Giải thích từ ngữ (Điều 3)  Nhiều thuật ngữ được giải thích tại Điều 6 như giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên, ngành đào tạo, chuyên ngành đào tạo, liên thông trong giáo dục đại học không chính xác, cần được chỉnh sửa. Ví dụ:  “1. Giáo dục chính quy là hình thức đào tạo theo các khoá học tập trung toàn bộ thời gian tại cơ sở giáo dục đại học để thực hiện chương trình đào tạo một trình độ của giáo dục đại học.”  Theo định nghĩa này thì toàn bộ các khoá đào tạo có thời gian thực tập ngoài khuôn viên nhà trường (như ở trường y, trường sư phạm) không phải là giáo dục chính quy.  “2. Giáo dục thường xuyên gồm vừa làm vừa học và đào tạo từ xa, là hình thức đào tạo theo các lớp học, khóa học tại cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở liên kết đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học để thực hiện chương trình đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học.” Như đã nói, cách hiểu về về giáo dục thường xuyên ở đây không phù hợp các hình thức giáo dục thường xuyên trong một xã hội học tập mà ở đó mỗi người có thể học bất kì tín chỉ nào để bổ sung kiến thức, kĩ năng cần cho công việc của họ, không nhất thiết để lấy bằng và không nhất thiết tổ chức thành lớp riêng.    “3. Ngành đào tạo là một tập hợp những kiến thức và kỹ năng chuyên môn của một  lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, khoa học nhất định.” Giải thích ngành đào tạo như tại khoản này thì cần phải hiểu các thuật ngữ mở ngành đào tạo, chấm dứt hoạt động của ngành đào tạo quy định tại Điều 31 như thế nào? Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không có cụm từ ngành đào tạo nhưng có từ ngành và từ này được giải nghĩa là “lĩnh vực hoạt động về chuyên môn, khoa học, văn hoá, kinh tế”. [10]  Tôi rất lấy làm tiếc là bản thân đã phát hiện những sai sót này trong lần góp ý thứ 2 cho Dự thảo Luật nhưng không được tiếp thu.  5.2. Chính sách của Nhà nước về phát triển GDĐH (Điều 10)  Điều 10 có những quy định tuy đúng nhưng không thể coi là chính sách của Nhà nước, vì Nhà nước chỉ có thể tạo điều kiện ưu đãi về thuế, đất đai và về các mặt khác để khuyến khích cơ sở GDĐH, cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp gắn kết với nhau, chứ không thể làm thay các đơn vị này. Ví dụ:  – “Đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở GDĐH với cơ sở nghiên cứu khoa học và với danh nghiệp.” (khoản 4)  – “Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm tiếp nhận và tạo điều kiện để sinh viên, giảng viên thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.” (khoản 6)  Khoản 5 Điều 10 quy định: “Nhà nước đặt hàng và bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đối với cơ sở giáo dục đại học có tiềm lực mạnh về khoa học công nghệ.” Theo tôi, Luật nên bãi bỏ chế độ cấp kinh phí NCKH theo kiểu bao cấp như hiện nay. Nhà nước nên cấp kinh phí NCKH cho các cơ sở GDĐH công lập và cơ sở GDĐH khác hoạt động không vì mục đích lợi nhuận qua hình thức đấu thầu.    5.3. Hiệu trưởng (Điều 18)  Luật cần quy định rõ: “Hiệu trưởng không kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch Hội đồng trường.” và “Chủ tịch Hội đồng trường không kiêm nhiệm chức vụ hiệu trưởng.”  Đồng thời cũng nên cân nhắc xem nên để hiệu trưởng hay chủ tịch Hội đồng trường làm chủ tài khoản, vì ở cơ sở GDĐH ngoài công lập, chủ tài khoản là chủ tịch Hội đồng quản trị, chứ không phải hiệu trưởng.  5.4. Thẩm quyền quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể, … đối với cơ sở giáo dục đại học (Điều 25)  Khoản 3 quy định: “Người có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học thì có thẩm quyền quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục đại học.” Đối với cơ sở GDĐH  ngoài công lập, quy định này không áp dụng được.  Khoản 4 quy định: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép hoạt động đào tạo, đình chỉ hoạt động đào tạo trường cao đẳng, trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài.” Dự thảo Luật không quy định cấp nào có thẩm quyền đối với (viện) đại học và (viện) đại học quốc gia.  5.5. Thời gian đào tạo (Điều 33)  Khoản 2 quy định: “Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định số học phần và khối lượng tín chỉ tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo.” Theo chúng tôi, Luật nên quy định rõ người có thẩm quyền này là hiệu trưởng, vì có thể có cách diễn giải chủ tịch Hội đồng trường, Hội đồng quản trị mới là người đứng đầu cơ sở GDĐH.  5.6. Về câu chữ  Cách diễn đạt trong một số điều khoản Luật còn thiếu chuẩn mực. Ví dụ, quy định tại Điều 8 là một kiểu văn nói, không thật đúng ngữ pháp tiếng Việt: “Ngôn ngữ dùng trong cơ sở giáo dục đại học thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Luật Giáo dục.”  Cách trình bày tại điểm đ khoản 1 Điều 34 dễ bị suy diễn sai, không có lợi cho quan hệ quốc tế và công tác tôn giáo: “Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tự chủ, tự chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, bảo đảm không gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng, không có nội dung truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử, ảnh hưởng xấu đến văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục và đoàn kết các dân tộc Việt Nam, hòa bình và an ninh thế giới. Không truyền bá tôn giáo và thực hiện các nghi lễ tôn giáo trong trường học là quy định chung đối với tất cả các cơ sở GD, không riêng cơ sở GD có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng đặt vào giữa các nội dung cấm khác ở điều này, quy định “không truyền bá tôn giáo” gây ấn tượng truyền bá tôn giáo là một điều xấu như “gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng, ảnh hưởng xấu đến văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục và đoàn kết các dân tộc Việt Nam, hòa bình và an ninh thế giới”. Điều này, trong cả hai lần hội thảo trước, chúng tôi đều góp ý nhưng chưa thấy sửa. Theo chúng tôi, toàn bộ các yêu cầu nêu tại điểm đ khoản 1 này là quy định chung cho chương trình đào tạo của tất cả các cơ sở GDĐH, chứ không riêng gì cơ sở GDĐH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Tuy nhiên, dù coi là quy định chung hay quy định riêng cho cơ sở GDĐH nước ngoài cũng nên tách nội dung “không truyền bá tôn giáo và thực hiện các nghi lễ tôn giáo” thành một khoản riêng.   Nói tóm lại, dự thảo Luật GDĐH trình Quốc hội lần này chưa giải quyết được những vấn đề quan trọng nhất của GDĐH và còn khá nhiều lỗi kỹ thuật. Theo ý chúng tôi, Quốc hội nên dành thêm thời gian bàn kỹ về những chính sách lớn, giao các cơ quan hữu quan thể hiện lại để kỳ họp cuối năm xem xét, bởi vì có thông qua dự thảo như hiện nay thì Luật cũng không có tác dụng gì đối với sự phát triển GDĐH .        [1] “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII, tháng 5/2010.     [2] Dự chi cho kế hoạch này từ nay tới 2020 là 2.135.000 tỷ đồng (bao gồm cả kinh phí chăm sóc sức khoẻ); tức là khoảng 10 tỷ USD mỗi năm. Dự toán này quá chênh lệch với khả năng thực tế, nếu biết rằng hằng năm ngân sách nhà nước chỉ có thể chi cho GD khoảng 4 – 5 tỷ USD, trong đó GDĐH chỉ được 500 triệu USD; số kinh phí chăm sóc sức khoẻ và kinh phí huy động từ xã hội không đáng kể.     [3] “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII, tháng 5/2010.   [4] Ban hành kèm theo Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 63/2011/QĐ-TTg ngày 10/11/2011.  [5] Phạm Duy Nghĩa. Đa dạng hoá loại hình đại học – một số góp ý xây dựng Luật GDĐH. – Nghiên cứu lập pháp, số 6 (214)/2012, tr. 29.   [6] Như trên.  7] “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII, tháng 5/2010.  [8] Theo kết quả khảo sát của Hội Sinh viên Việt Nam, khoảng 50% SV Việt Nam ra trường không có việc làm trong lĩnh vực chuyên môn của mình.  [9] “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII, tháng 5/2010.  [10]  Viện Ngôn ngữ học. Hoàng Phê chủ biên. Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2005, tr. 669.                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật giáo dục đại học mới tác động đến các trường thế nào?      Trao nhiều thẩm quyền hơn cho Hội đồng trường ở trường công và can thiệp ít hơn vào Hội đồng trường ở trường tư, đó là một động thái nổi bật ở Luật Giáo dục đại học sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua vào cuối tháng trước.      Sinh viên ngành Dược, Đại học Nguyễn Tất Thành, trong giờ thực hành tại phòng thí nghiệm của trường. Ảnh: ntt.edu.vn     Quá khứ “bánh xe thứ năm”  Để hiểu được ý nghĩa và tác động của những thay đổi trong quy định về hội đồng trường (HĐT), cần phải tóm tắt lại quá trình diễn tiến của HĐT ở Việt Nam.  Khái niệm “HĐT” lần đầu tiên được đưa ra chính thức trong Điều lệ Trường đại học năm 2003; được thể chế hóa trong Luật Giáo dục năm 2005 tại Điều 53; sau đó được chi tiết hóa ở Điều 14, 16 Luật GDĐH năm 2012 và Điều lệ Trường đại học năm 2014.  Tuy nhiên, những nỗ lực lập pháp này đã không mang lại kết quả như mong muốn. Cho đến năm 2010, chỉ có chưa tới 10 trường có HĐT; còn tính đến nay, sau công văn của Bộ và dưới áp lực của kiểm định, có khoảng vài chục trường thành lập được HĐT. Đó là chưa kể, nhiều người tiếng là thành viên HĐT nhưng hầu như chỉ có mặt trong lễ công bố quyết định, còn không dự bất cứ buổi họp nào và không có bất cứ hoạt động gì. Thực tế này là tất yếu, vì trước khi có Luật GDĐH sửa đổi, HĐT không nắm giữ thẩm quyền nào đáng kể, cho nên ở trường công, HĐT tồn tại như “bánh xe thứ năm”; còn ở trường tư thì ngược lại, HĐT bị lẫn lộn với vai trò điều hành, dẫn đến không thực hiện được vai trò giám sát trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng.  Trong Luật GDĐH mới, số chữ dành cho vấn đề HĐT chiếm một phần ba tổng số chữ của văn bản. Lý do dễ thấy nhất của thay đổi này là áp lực của việc mở rộng tự chủ. Tự chủ mà không đi kèm trách nhiệm giải trình thì tất yếu sẽ thành tùy tiện. HĐT chính là một trong các thiết chế quan trọng nhằm giám sát trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng. Từ trước đến nay, vai trò này nằm trong tay cơ quan quản lý nhà nước, tức là Bộ GD-ĐT và chính quyền địa phương. Nay mở rộng tự chủ ở cấp trường thì cần củng cố thiết chế HĐT như một công cụ tất yếu nhằm mở rộng dân chủ hóa trường học và tăng cường sự tham gia của các bên.  Mô hình “các bên liên quan” cho trường công, “cổ đông” cho trường tư  Cũng như trong Luật GDĐH 2012, Luật GDĐH sửa đổi phân ra HĐT ở các trường công lập và tư thục trong hai điều mục riêng, Điều 16 và Điều 17.  Theo đó, ở các trường công lập, chủ tịch HĐT không được kiêm nhiệm các chức vụ quản lý trong trường (không chỉ giới hạn trong vị trí hiệu trưởng/phó hiệu trưởng như trước đây); và thành viên HĐT bao gồm 25% trên tổng số là giảng viên, 30% là người ngoài trường. Đây là một điểm tiến bộ đáng ghi nhận, thể hiện đúng tinh thần “trường đại học là một tổ chức của nhiều bên liên quan” như được đề cập lần đầu tiên ở Luật sửa đổi. Khác với mô hình “quản lý” (mục tiêu là quản lý các nguồn lực); mô hình “cổ đông” (mục tiêu là lợi nhuận); mô hình “các bên” có mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động trên cơ sở tương tác giữa các bên, phù hợp với bản chất của trường đại học.  Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với các trường tư (cả vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận). Điều này cho thấy, mặc dù định nghĩa HĐT đối với trường tư là “tổ chức quản trị đại diện cho nhà đầu tư và các bên liên quan”, trong thực tế các nhà làm luật vẫn thiết kế HĐT ở trường tư theo mô hình “cổ đông”, tức là phục vụ chủ yếu cho giới đầu tư.  Đây là điều khó tránh, vì về bản chất các trường tư hiện nay là các doanh nghiệp tư nhân. Trong bối cảnh Việt Nam, có lẽ đòi hỏi các trường tư phải giống như những trường đại học tư không vì lợi nhuận ở các nước phát triển là không hợp lý, vì đại học tư ở Việt Nam chưa có cơ chế để huy động các nguồn vốn hiến tặng của xã hội, mà chủ yếu vẫn là đầu tư của cá nhân.  Có thể nhận thấy cố gắng của các nhà làm luật trong việc trao thêm nhiều thẩm quyền quan trọng cho HĐT. Trước đây, HĐT chỉ tham gia vào quá trình tuyển chọn hiệu trưởng, nay ở trường công, họ có quyền quyết định bổ nhiệm/ bãi nhiệm/miễn nhiệm hiệu trưởng, cơ quan quản lý nhà nước chỉ đóng vai trò thẩm định cuối cùng trong việc ra quyết định công nhận. Còn ở trường tư, quyết định này trực tiếp thuộc thẩm quyền của HĐT theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường. Điều này sẽ làm thay đổi rất đáng kể vai trò của HĐT, và tăng cường thiết chế giám sát trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng.  Và trong khi Luật GDĐH sửa đổi trao việc xây dựng thiết chế HĐT ở trường công cho chính phủ, thì ở trường tư, việc này được xác định trong Quy chế tổ chức hoạt động của trường. Như vậy nghĩa là trường tư được giao cho một mức độ tự chủ lớn hơn, tương ứng với những rủi ro mà nhà đầu tư phải gánh chịu.  Cụ thể, đối với trường vì lợi nhuận, HĐT bao gồm nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường, và được thiết lập qua bầu chọn tại hội nghị nhà đầu tư, cơ chế quyết định là theo tỷ lệ vốn góp, nghĩa là, nhà đầu tư được trao quyền tuyệt đối trong việc quyết định HĐT bao gồm những ai và thuộc thành phần nào. Tuy Luật có quy định HĐT phải bao gồm thành phần trong và ngoài trường, nhưng đó là những ai thì hoàn toàn do nhà đầu tư quyết định.  Cách xử lý này cho thấy các nhà lập pháp đang cố gắng tách “quyền sở hữu” ra khỏi “quyền quản trị”, một mô hình quản trị tiến bộ trên thế giới. Song do Luật không hạn chế việc nhà đầu tư đồng thời là thành viên HĐT và nắm giữ các vị trí quản lý cao cấp, có thể dự đoán là trong thực tế, tình trạng lẫn lộn hai vai trò quản trị và quản lý sẽ vẫn tiếp tục. HĐT trong trường hợp này hoặc chính là nhà đầu tư, hoặc được thiết lập để phục vụ cho lợi ích của nhà đầu tư. Điều này một lần nữa cho thấy các nhà làm luật đang dùng mô hình “cổ đông” chứ không phải mô hình “các bên liên quan” để hướng dẫn việc quản trị tại các trường vì lợi nhuận.  Điểm khác biệt duy nhất giữa trường vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận trong việc thiết lập HĐT là bên cạnh nhà đầu tư, thành viên HĐT của trường không vì lợi nhuận còn bao gồm thành viên đương nhiên và thành viên được bầu chọn. Thành viên đương nhiên gồm có bí thư cấp uỷ, hiệu trưởng, chủ tịch công đoàn, đại diện Ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Thành viên được bầu bao gồm đại diện người lao động và đại diện giảng viên. Thành viên bên ngoài trường đại học là nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà khoa học, doanh nhân, cựu sinh viên; đại diện cơ quan, tổ chức sử dụng lao động do hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường bầu chọn.  Một yếu tố tế nhị nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với trường không vì lợi nhuận là tỉ lệ thành viên HĐT là nhà đầu tư (lưu ý: luật dùng từ “nhà đầu tư” đối với trường không vì lợi nhuận, không còn dùng từ “người góp vốn” như trước đây) sẽ do trường tự quyết định và nêu trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường. Ai là người soạn thảo, phê duyệt Quy chế này? Tất nhiên đối với trường mới thành lập, thì đó là nhà đầu tư. Điều này cho thấy, mặc dù có mở rộng sự tham gia của các bên liên quan trong mô hình quản trị trường không vì lợi nhuận, về cơ bản quyền quyết định vẫn nằm trong tay nhà đầu tư, giống như đối với trường vì lợi nhuận.  Qua một số phân tích trên đây, có thể nhận thấy những nỗ lực tiếp cận kinh nghiệm quốc tế của các nhà làm luật. Việc trao nhiều thẩm quyền hơn cho HĐT trường công và can thiệp ít hơn vào HĐT trường tư là những động thái tích cực, nhưng việc thực hiện nó sẽ là một thách thức to lớn khi chúng ta có rất ít người được đào tạo để hiểu rõ vai trò thực sự của HĐT, và đặc biệt là nền tảng dân chủ trường học làm bệ đỡ cho hoạt động của HĐT.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang Lý tưởng giáo dục      Cũng đã lâu lắm rồi nhỉ, hồi tôi có dịp gặp một chàng sinh viên triết học trường Sorbonne. Tình cờ thôi, chàng Stéphane, sau thành bạn, trong một cái quán cafe ở cái khu vực vui vẻ trẻ trung này.      Anh chàng này thật toàn tài, thấy cái gì cũng tinh sắc cả. Chàng lại rất hứng thú triết học xứ Đông, nào những «âm dương ngũ hành», «dĩ nhu thắng cương»…   Cuối cùng anh chàng bảo không hiểu nổi là tại sao Nho giáo và Lão giáo đều cứ cố dạy người ta phải «thắng người» là làm sao? Hý hoáy suốt đời lo thành thánh nhân là lẽ sống ư?  Nho thì xúi người ta tranh đằng trước nơi quan trường, tranh nhau nịnh phò vua để sấn lên. Lão thì khuyên «bất tranh nhi thiện thắng», «chót vót đằng sau thiên hạ», hơn người trong thế dỗi. Không thể chịu chấp nhận kém ai ở sâu trong tâm khảm mình.  Phật giáo thì lại không hướng chỉ dẫn người ta vươn lên tổ chức đời sống cộng đồng, mỗi ai chỉ lo tu riêng cái đức của mình, để tự thành La Hán.  Thế thì lý tưởng tu tập là để có một xã hội ai biết người nấy, không ai chịu ai?  Mà cuộc sống tôi nghĩ căn bản là cái khác. Là chia sẻ, là hợp tác, là học hành, là giúp đỡ, là vui chơi, là hạnh phúc cùng nhau.  Hay là tôi hiểu sai xứ Đông? Anh có chỉ dẫn gì khác vậy?  …  Ở xứ ta, năm nào cũng có các học sinh đoạt giải thế giới về các môn khoa học. Như thế là người ta biết luyện người giỏi rồi, ít ra ở mức tú tài ! Chuyện này hiển nhiên.  Nói rộng ra, để luyện thánh nhân, xứ ta đã sẵn sàng.  Hơn thế nữa xã hội xứ ta đã là xã hội của những thánh nhân. Cứ nhìn xe chạy trên đường thì biết, rặt cao thủ.  Bây giờ vấn đề là thế này.  Chúng ta đã thực sự mệt mỏi và chán cái xã hội của những thánh nhân chưa? Chưa chán thì chịu. Coi như bài viết hết ở chỗ này nghen, “goto end”.  Nếu chúng ta đã mệt mỏi và chán cái xã hội của những thánh nhân rồi, thì phải dựng lại mô hình.  Nghĩa là phải bắt đầu lại từ đầu, từ tuổi thơ.  Để cho mỗi em bé trong nhà là một công dân trong nhà, chứ không là «vua chã». Em bé phải hiểu các qui tắc đời sống trong nhà, biết sống đầm ấm, qui củ, sáng tạo, tự do với ông bà, bố mẹ, anh em, vật nuôi, cây cỏ.  Để cho mỗi em bé đến trường là một công dân nhà trường, chứ không phải là một tay giang hồ đi tìm các chiêu võ hiệp để đoạt ngôi các kì thi. Nhà trường cho em một xã hội ưu tiên học và tập, trong mọi lĩnh vực, từ thể chất tới kiến thức, từ khoa học tới thể thao, văn hóa, nghệ thuật, từ kỉ cương tới tự do, từ ý chí tới niềm vui dào dạt.  Để cho mỗi thanh niên có thể thay đổi lại định hướng của cuộc đời mình sau những năm tháng đầu tiên lao động chuyên nghiệp lại thấy mình còn say mê ngành khác hơn. Và cả các bậc trung niên hay tiền cao niên đi nữa. “Đào tạo lại” ngắn ngày, dài ngày là công việc phải được luật pháp hóa và mỗi ai đều có quyền và qui chế để được hưởng quyền này.  Để cho mỗi người phát triển được những năng lực khác nữa của mình, không chỉ làm mỗi cái công việc robot hóa của mình, dù mình có đang là đại tướng giáo sư tiến sĩ gì đi nữa.  Để cho các cụ già vẫn say mê đến các cơ sở đào tạo, bắt gặp lại niềm vui cắp sách và nỗi lo thi cử cái môn mình vẫn đang đam mê.  Để cho học tập là niềm vui dai dẳng nhất, bền lâu nhất, kiến thiết nhất, hữu ích nhất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý tưởng giáo dục Humboldt: Mô hình hay huyền thoại?*      Yếu tố trung tâm trong triết lý giáo dục của Humboldt là việc đào luyện nhân cách một cách toàn diện và khuyến khích phát triển cá tính thông qua việc đào tạo (văn hóa) tổng quát. Lý thuyết giáo dục tân-nhân bản này kiên quyết không nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và kinh tế, khẳng định nhiệm vụ then chốt của nhà trường là “đào tạo con người còn nhỏ trở thành con người trưởng thành.      Người còn thì của hãy còn…  Trước hết, xin ôn lại một chút lịch sử để hiểu hơn con người và đường lối giáo dục của Wilhelm von Humboldt, nhân vật trung tâm của Kỷ yếu lần này.  Năm 1807, nước Phổ (một phần quan trọng của nước Đức ngày nay) hầu như trắng tay. Hegel còn kịp đứng từ ban công nhà mình nhìn thấy Napoléon cưỡi ngựa vào chiếm lĩnh và thị sát thành phố Jena như thấy… “Tinh thần-thế giới đang tụ lại ở một điểm”, rồi vội vã ôm bản thảo quyển Hiện tượng học Tinh thần còn chưa ráo mực lánh nạn trước khi quân Pháp vào cướp phá thành phố. Với hòa ước Tilsit (1807), Phổ mất hết phần lãnh thổ phía đông; phần còn lại do quân Pháp chiếm đóng, và phải cung phụng đủ điều cho kẻ thắng trận. Napoléon còn áp đặt những điều khoản bồi thường chiến tranh nghiệt ngã, tương đương mười sáu lần thu nhập thường niên của Phổ. Đất nước tan nát, dân chúng nghèo kiệt, đồng ruộng bỏ hoang. Mọi sự tiêu dùng vượt khỏi mức “sống cầm hơi” đều là xa xỉ. Trong tình cảnh ấy, Humboldt làm gì?  Ông vẫn tiếp tục thản nhiên yêu cầu học sinh ngồi yên, dành hàng giờ để học… cổ văn Hy Lạp như thể trên đời này không còn có gì quan trọng hơn thế! “Cường quyền giậm đạp mái đầu; văn chương tám vế say câu mơ màng”? Mà thời ấy, học tiếng Hy Lạp, Latin thì đâu có gì lạ? Không, ông bảo, lâu nay học là học lối “chi, hồ, giả, dã”, học cái xác chết chứ không phải học phần hồn! Ông viết thư cho Thủ tướng Hardenberg để kêu gọi ủng hộ ông: “Khi đất nước không may rơi vào tình cảnh rất khác xưa, thì càng cần thiết phải thu hút sự chú ý vào một việc và làm nổi bật một phương diện. Nước Phổ từng khuyến khích sự khai minh và khoa học, nay càng cần tăng cường điều ấy để tranh thủ thiện cảm của nước ngoài, và, bằng một cách vô hại về chính trị, đạt cho được một sức mạnh tinh thần ở nước Đức, vì sức mạnh ấy sẽ hết sức quan trọng về nhiều mặt trong tương lai”. Nói cách khác, nước Phổ phải giương cao ngọn cờ giáo dục và khoa học, phải cường tráng về tinh thần để được lân bang kính nể sau khi chịu bại trận. Mất hết sức mạnh đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để xây dựng sức mạnh từ bên trong!  Nhưng tại sao lại là… cổ văn Hy Lạp? Tất nhiên, đây là chỗ đặc thù của văn hóa Tây phương. Xin nghe ông giải thích: “Người không có điều kiện học cao, ắt sẽ phải chìm sâu vào trong đời sống thường ngày. Vì thế, càng cần phải trang bị kỹ lưỡng cho họ cái “hình thức” tối thiểu để họ có thể thực sự thấm nhuần”. Cái “hình thức” nói ở đây trái với cách hiểu quen thuộc ngày nay. Trong tư duy Hy Lạp – và trong cách hiểu của văn hóa cổ điển Đức – “hình thức” bắt nguồn từ “mô thức” (eidos/form), là tất cả những gì tác động trực tiếp đến hình thái (shape) để mang lại tính cách, cung cách cho con người. Đó là những ý tưởng và lý tưởng sẽ đào luyện tâm hồn của đứa trẻ, mang lại cấu trúc và dung lượng cho thế giới tinh thần của nó về sau. Sở dĩ như thế, vì người Hy Lạp biết thoát ly khỏi mọi mối quan tâm đối với chất liệu để luôn nhìn thấy cái mô thức ở trước mắt mình, tức, biết đi từ cái vụn vặt đến cái lý tưởng, từ cái đơn giản nhất đến cái cao cả nhất, từ cái cá lẻ đến toàn bộ vũ trụ, nghĩa là, từ muôn vàn những văn bản, hãy biết lắng nghe giai điệu của sự tự do. Luôn có trước mắt một hình dung lý tưởng chứ không chịu để thực tế trước mắt trói chân, tâm hồn Hy Lạp “bao giờ cũng đi tìm sự tất yếu và cái Ý niệm, vứt bỏ hết vô vàn những cái ngẫu nhiên, bất tất của hiện thực”. Nhìn mọi việc bằng con mắt khinh khoái như thế, nên mới có thể mỉm cười trong cảnh ngộ đau đớn tột cùng, và không dễ dàng buông thả trong khoái lạc: “Biến tất cả mọi sự thành trò chơi, nhưng chỉ theo nghĩa là biết gạt bỏ sự khắc nghiệt của trần gian, đồng thời giữ vững sự nghiêm chỉnh của lý tưởng”.   Theo Humboldt, dạy cho những đầu óc ấu thơ tinh thần Hy Lạp không phải là ru chúng vào giấc ngủ viễn mơ, hoài cổ, lý tưởng hóa quá khứ, ngoảnh lưng với thực tại. Trái lại, tinh thần ấy gần gũi hơn hết đối với lý tưởng của ông trong việc đào luyện con người. Vì sao? Vì tinh thần ấy tránh được cả ba cực đoan: tinh thần của văn hóa La Mã hướng đến nhà nước và sự cai trị, với xu hướng áp bức cá nhân; tinh thần khắc nghị của tín ngưỡng Kitô giáo với xu hướng đè nén nhục cảm, và tinh thần của thời hiện đại hướng đến những công nghệ máy móc và những lợi ích bề ngoài. Humboldt đồng cảm và chia sẻ với lý tưởng nhân bản của thế hệ ông với những Schiller, Goethe, Herder, Winckelmann: lý tưởng về con người “toàn diện” như sự thống nhất giữa thể xác và tâm hồn, giữa lý trí và nhục cảm, giữa nghĩa vụ và xu hướng, giữa thế giới và cá nhân, đúng như những chủ đề mà Friedrich Schiller đã trình bày trong Các bức thư về việc giáo dục thẩm mỹ cho con người. “Sống” đã đành. Còn phải “sống đẹp” nữa! Sự trùng hợp không ngẫu nhiên: Humboldt là chuyên gia uyên thâm về ngữ văn Hy Lạp, và, từ hơn mười năm trước (1794), ông cùng người vợ trẻ đã dọn sang Jena để được gần gũi Schiller. Ở đó, đã có những buổi hội ngộ thật ấm cúng để bàn về văn hóa Hy Lạp với cả Goethe và em trai ông, Alexander von Humboldt. Humboldt gọi những năm tháng đẹp đẽ này là “trải nghiệm giáo dục của đời tôi”.   “Sách vở ích gì cho buổi ấy?”  Tập trung vào việc huy động sức mạnh tinh thần và đạo đức như là giải pháp duy nhất để cứu vãn tình thế, Humboldt không chỉ phải đương đầu với tình cảnh khốn quẫn về vật chất của quốc gia mà còn phải đối phó với một trở lực bất ngờ và có sức nặng hơn nhiều đến từ phía “đồng minh tự nhiên” của mình: phong trào Khai minh. Trong tiến trình khai minh từ Thế kỷ Ánh sáng, tư tưởng thực dụng đến mức vụ lợi ngày càng lan tràn trên mọi lĩnh vực. Tất cả đều được mang ra đo đếm với tiêu chuẩn này, và, những gì so ra không có giá trị, đều sẵn sàng bị vứt bỏ. Từ chỗ muốn thoát khỏi ách mê tín và từ chương thời Trung cổ, các nhà khai minh nhanh chóng trở nên cực đoan. “Thượng đế” chẳng mang lại cơm cháo gì, đã bị gạt sang một bên. Bây giờ đến lượt văn chương, chữ nghĩa, nghệ thuật. Nhà khai minh vĩ đại của nước Anh, John Locke, lớn tiếng cảnh báo trước những thứ đẹp đẽ nhưng vô dụng như thi ca, âm nhạc. Trong Các tư tưởng về giáo dục, ông khuyến cáo các bậc cha mẹ nên cảnh giác và ngăn chặn xu hướng ham thích văn chương của con cái: “Hễ thấy chúng có khuynh hướng ấy thì đừng khuyến khích mà hãy ngăn chặn ngay, bởi văn chương chỉ làm chúng khinh ghét các công việc khác, nghĩa là, chỉ làm mất thì giờ và sức lực”. Trong cao trào chuộng “thực học” không phải hoàn toàn vô lý ấy, Descartes, bên cạnh các ngành nghệ thuật, ghét nhất là cổ văn Hy Lạp! Khi được nữ hoàng Thụy Điển yêu cầu dạy tiếng Hy Lạp, Descartes đã nói: “Thật ngạc nhiên tại sao bệ hạ lại thích thứ ấy làm gì. Hạ thần từ nhỏ đã học đầy bụng, tới khi trưởng thành, có đầu óc mới thấy may mắn là đã quên sạch hết rồi!”  Sử học cũng chẳng thiết thực gì, và, đương nhiên, thay chỗ cho Hy Lạp, Latin là tiếng Pháp cung đình lịch lãm. Các ngành khoa học tự nhiên lên ngôi, nhất là toán học và triết học được dành cho vị trí trung tâm trong nhà trường. Khoa học hiện đại và triết học khai minh giúp con người chia tay với nền văn hóa truyền thống.   Nhà trường trong thời Khai minh quả đã nhận được nhiều luồng gió mới, nhưng cũng bị mang tiếng là thực dụng, thiển cận. Tuy nhiên, nó lại đáp ứng đúng mong muốn của giới thống trị đương thời. Các ông vua chuyên chế cần có những bề tôi đắc lực chứ không muốn có những người công dân có đầu óc. Nền tư bản mới manh nha cần những người thợ chuyên môn và an phận chứ không ham những tâm hồn thi sĩ! Vả lại, được đào tạo sâu về văn hóa, khó mà không làm giảm sút sự vâng lời. Friedrich Đại đế nói toạc móng heo: “Ở nông thôn chỉ nên cho học ít thôi, biết đọc, biết viết là đủ rồi. Học cho lắm, chúng lại đòi lên thành phố, muốn làm thư ký này nọ!”.   Humboldt cương quyết chống lại chủ trương giáo dục như thế.   “Bildung”: cuộc phiêu lưu của một khái niệm  Lý tưởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ “Bildung” hết sức khó dịch cho trọn nghĩa sang tiếng Việt. Nó là một từ tiếng Đức tiêu biểu mang rất nhiều hàm ý, thường được dịch sang tiếng Anh một cách giản dị là education, trong khi thực ra nó gần gũi hơn với từ formation, hay với từ paideia trong tiếng Hy Lạp. Không phải chỗ chẻ sợi tóc làm tư, tuy nhiên cũng nên lược qua cuộc phiêu lưu của khái niệm này để hiểu Humboldt.  –     Trước hết, trong Bildung có từ Bild (hình ảnh, ảnh tượng, sự sáng tạo), chỉ rõ nguồn gốc thần học của nó. Những dòng đầu tiên trong Kinh Thánh (Sáng thế ký), đã nói đến việc Thượng đế đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của mình, nhưng lại cấm con người tạo ra một ảnh tượng về Thượng đế! Meister Eckhart (1260-1327) thời Trung cổ có lẽ là người đầu tiên sáng tạo nên thuật ngữ tiếng Đức này trong khuôn khổ học thuyết về Imago-Dei (hình ảnh của Thượng đế) nói trên. Ở đây, động từ bilden được hiểu là do Thượng đế “ban hình ảnh”, theo hình ảnh của Ngài. Cả linh hồn và con người cũng được kiến tạo theo hình ảnh ấy. Do đó, Bildung là một tiến trình mà cá nhân riêng lẻ không có vai trò gì. Việc tạo dựng hình ảnh không phải là công việc của con người mà là một tiến trình được mang lại từ bên ngoài. Theo nghĩa ấy, homo insipiens (Latin) (con người ngu muội, chưa được đào luyện) sẽ có thể trở thành một homo sapiens (con người khôn ngoan) thông qua sự giáo dục và đào luyện (Bildung).  –    Bước ngoặt xảy ra vào thời Phục hưng khi con người thức tỉnh, vì lần đầu tiên được mở rộng tầm mắt nhờ công lao lịch sử của Johannes Gutenberg phát minh máy in và kỹ thuật in sách. Nhờ đó, nhà nhân văn chủ nghĩa Erasmus ở Rotterdam viết hàng trăm quyển “sách giáo dục” và sớm nhận ra rằng: con người không phải được sinh ra mà là được giáo dục! Khái niệm Bildung bắt đầu rời mảnh đất thần học để đi vào thế giới sư phạm. Từ Latin đương thời eruditus (“được giáo dục”, “được khai minh”) có gốc từ nguyên là “ra khỏi trạng thái thô lậu”. Comenius hiểu quá trình “ra khỏi” ấy là vun bồi tư duy và ngôn ngữ để “biết phân biệt những sự vật và có thể gọi mỗi sự vật bằng đúng tên của nó”.  –    Sang thế kỷ 18, khái niệm Bildung lại được cải biến với sự ra đời một hình ảnh mới mẻ về con người “được khai minh”, biết suy nghĩ và hành động bằng những phạm trù khoa học. Khái niệm Bildung càng được thế tục hóa nhanh chóng: ý nghĩa thần học cố hữu của nó nhường bước cho một cách hiểu gần với mô hình của Platon. Con người không còn phát triển theo hình ảnh của Thượng đế nữa, trái lại, theo đuổi mục tiêu tự-hoàn thiện chính mình (Pestalozzi, Herder, Schiller và Goethe). Trong Bàn về sư phạm, Immanuel Kant xác định nhiệm vụ của “Bildung” như sau:   “Sư phạm học hay giáo dục học có hai phương diện: thể xác và thực hành […]. Sư phạm thực hành hay luân lý là nhằm đào luyện (gebildet) con người để có thể sống như một hữu thể hành động tự do […]. Đó là giáo dục nhân cách, giáo dục con người hành động tự do, tự bảo tồn mình và trở thành một thành viên của xã hội, nhưng vẫn có thể giữ vững một giá trị nội tại cho chính mình”.   Như thế, trước thời Khai minh, những mục đích của Bildung là do Thượng đế mang lại, còn bây giờ là do sự tất yếu của con người phải sống trong xã hội. Nhiệm vụ của Bildung là biến con người “thô lậu” thành một thành viên hữu ích của xã hội nhưng có giá trị tự thân. Đó chính là tiến trình phát triển tất cả những tố chất và năng lực sẵn có. Tuy nhiên, đến giai đoạn này, những mục đích của Bildung vẫn chưa thực sự do chính con người cá nhân xác lập nên mà vẫn còn hướng theo những hình dung lý tưởng có giá trị độc lập với cá nhân mỗi con người và hầu như được đề ra cho con người như những nhiệm vụ đến từ bên ngoài.   –    Chính chủ nghĩa duy tâm Đức kế tục Kant mới thực sự biến khái niệm Bildung thành một khái niệm mang tính chủ thể đầy đủ. Bildung bây giờ được hiểu như là Bildung của Tinh thần, tự sáng tạo nên chính mình. Johann Gottlieb Fichte (1762-1814) – triết gia kế tục Kant và là người cộng tác với Humboldt trong công cuộc cải cách giáo dục – nêu khẩu hiệu ngắn gọn về tiến trình chủ thể hóa này như sau: “Cái Tôi như là thành quả của Tự ngã tôi!”. Và tiếp theo đó là Hegel, hiểu Bildung là tiến trình đi từ bản thể đến chủ thể, nhận ra chính mình trong cái khác của mình để hoàn thiện một tiến trình tự vận động.  –     Và sau cùng, chính Humboldt là người đã nâng nhận thức này lên thành cương lĩnh và chương trình giáo dục. Nếu trước đây, “giáo dục” thường gắn liền với “dạy dỗ” và “truyền đạt kiến thức” theo cách hiểu thông thường thì, từ Humboldt, nó mang nặng yếu tố “tự chủ”, tức là sự “tự-đào luyện của nhân cách” con người. Humboldt minh họa giản dị như sau:  “Có những kiến thức nhất định nào đó cần phải trở nên phổ biến. Tuy nhiên, lại càng phải có sự đào luyện những tâm thế và tính cách mà không ai được phép thiếu cả. Mỗi người rõ ràng chỉ có thể trở thành một thợ thủ công, một doanh nhân, binh sĩ hay công chức tài giỏi, khi người ấy là một con người và là một công dân được khai minh, tốt lành và đàng hoàng, độc lập với nghề nghiệp đặc thù của mình. Có được sự giáo dục cần thiết cho công việc này rồi, thì người ấy về sau sẽ dễ dàng học lấy một nghề và bao giờ cũng có thể tha hồ thay đổi nghề nghiệp như vẫn thường xảy ra trong cuộc sống(1).   Như thế, theo Humboldt có sự khác biệt giữa giáo dục (Erziehung) theo nghĩa thông thường như là tiến trình điều chỉnh sự phát triển nhân cách từ bên ngoài với Bildung như là tiến trình và kết quả của việc đào luyện cá nhân từ bên trong. Khác với giáo dục hay dạy nghề, Bildung không trực tiếp gắn liền với những mục đích kinh tế, mặc dù nó là tiền đề cho việc hướng nghiệp và huấn nghiệp. Heinrich Pestalozzi: “Đào luyện những năng lực nội tại của bản tính con người thành trí tuệ thuần túy của con người là mục đích chung nhất của Bildung, ngay cả cho người thấp kém nhất. Còn tập luyện, áp dụng và sử dụng năng lực và trí tuệ vào trong những hoàn cảnh đặc thù là việc dạy nghề. Việc dạy nghề luôn phải được đặt bên dưới mục đích chung ấy của Bildung”. Herder cũng đồng ý như thế: “Chúng ta là những con người trước đã, rồi mới trở thành những kẻ hành nghề! […] Khi con dao đã được mài sắc, nó mới có thể cắt đủ mọi thứ được”. Friedrich Paulsen, trong Từ điển sư phạm học 1903, tóm tắt lại: “Không phải khối lượng những gì người ta biết hay đã được học tạo thành Bildung, mà là sức mạnh và sự độc đáo riêng có để vận dụng những gì đã học. Không phải chất liệu quyết định Bildung, mà là hình thức”. Ta gặp lại chữ “hình thức”, “mô thức” (eidos) của tư duy Hy Lạp!  Hình ảnh một tam giác đều nói lên ba phương diện của Bildung bao trùm mọi ngành nghề và mọi cấp học, đó là: tri thức, tư duy và năng lực giao tiếp. Tri thức bao gồm những nội dung học vấn; tư duy là các chiến lược khác nhau để mở rộng tri thức như giải quyết vấn đề, mô tả, suy luận, lý giải v.v… Còn năng lực giao tiếp là biết cách làm cho người khác hiểu rõ tư tưởng, ý tưởng, luận điểm… của mình và ngược lại, chủ động đặt mình vào trong vị trí và tư tưởng của người khác. Hình ảnh đối nghịch sẽ là cái thang ba chân khập khiễng! Tóm lại, ba phương diện cơ bản nói trên của Bildung cũng là cơ sở cho mọi phương diện khác của Bildung: tư duy và hành động hợp đạo lý, năng lực sáng tạo về lý thuyết, nghệ thuật hay công nghệ.   Chung quanh di sản của Humboldt  Rời lĩnh vực lý thuyết giáo dục để đi vào di sản thực tế của cương lĩnh Humboldt sau hai trăm năm, cuộc tranh luận xoay quanh câu hỏi: cương lĩnh ấy còn có tính thời sự không, và, nếu có, trong chừng mực nào? Câu hỏi không dễ trả lời, bởi một mặt, ý kiến rất khác nhau: người thì xem cương lĩnh Humboldt vẫn còn là một mô hình lý tưởng cần vươn tới như một sứ mệnh, người khác cho rằng đó chỉ là một huyền thoại đã bị thực tế vượt qua một cách phũ phàng(2). Mặt khác, việc áp dụng là quá đa dạng ở nhiều nước khác nhau, nên khó có thể có một cái nhìn vừa bao quát, vừa đầy đủ chi tiết dựa trên những dữ kiện được kiểm chứng. Vì thế ở đây chỉ xin giới hạn cuộc thảo luận ở một vài luận điểm then chốt, dựa trên một số tài liệu tại mảnh đất đã khai sinh ra chúng, nước Đức.  1. Vai trò của nhà nước:   Khi cho rằng Bildung có nguồn gốc trong nội tâm mỗi người, và những điều kiện, những định chế bên ngoài chỉ là những “trợ duyên” để nó tự hình thành hơn là “tạo ra” nó từ bên ngoài, cương lĩnh giáo dục của Humboldt mặc nhiên có tính phê phán đối với mọi nỗ lực của nhà nước và xã hội muốn gò ép cá nhân theo những định hướng và mục đích của mình. Nhưng, mức độ của sự phê phán này được đánh giá khác nhau. Schäfer(3) cho rằng Humboldt kịch liệt phê phán tham vọng của nhà nước muốn chăm lo cho phúc lợi của từng cá nhân, vì điều này chỉ tạo ra sự đơn điệu và ỷ lại. Trong khi đó, Schwinges (4) lý giải thái độ của Humboldt đối với nhà nước một cách ôn hòa hơn: “Ý định của Humboldt không phải là tách rời đại học ra khỏi sự kiểm soát của nhà nước, trái lại, ông chỉ muốn tăng cường đại học để hoàn thành sứ mạng của nó, và vì thế, cần đảm bảo cho đại học nguồn thu nhập tương đối ổn định”. Theo đó, Humboldt xem nhiệm vụ chính yếu của nhà nước là đảm bảo an ninh và tích cực hỗ trợ nhưng không can thiệp quá sâu vào việc giáo dục. Humboldt đặt câu hỏi: người ta đòi hỏi gì ở nhà nước, và ông trả lời ngay: không gì khác ngoài việc mở rộng sự giáo dục càng mạnh mẽ, càng rộng rãi càng tốt. Mô hình về một nhà nước hỗ trợ, ít can thiệp và dành sự tự trị rộng rãi cho các định chế giáo dục có còn mang tính thời sự không? Cũng thật khó trả lời dứt khoát, vì thực tế phức tạp hơn nhiều. Một mặt, không thể phủ nhận rằng nhà nước – nhất là nhà nước Đức – luôn tìm cách giành quyền hoạch định chính sách và chương trình giảng dạy một cách nghiêm ngặt và khá cứng nhắc, nhưng mặt khác, cũng không thể bảo chính sách ấy bóp nghẹt việc phát huy sở thích và năng khiếu cá nhân. Röhrs(5)  cho thấy rằng việc du nhập quyền tự do chọn lựa ngành học và các môn học, cùng với việc tăng cường nhiều môn nhiệm ý, và dành nhiều sự ưu tiên cho nguyện vọng của người học rõ ràng đã rất gần gũi với tư tưởng cốt lõi của Humboldt về sự tự do giảng dạy và học tập: “Điều gì người ta không tự mình lựa chọn mà bị ép buộc và điều khiển thì không nhập tâm được, mãi mãi là cái gì xa lạ, và, trong trường hợp ấy, con người không hành động bằng sức mạnh của con người, trái lại, chỉ bằng kỹ năng máy móc”(6).  Về phương diện tự chủ tài chính, rõ ràng mô hình Humboldt gặp rất nhiều thử thách. Ở nước Đức, ngân sách của nhà trường và đại học vẫn còn phụ thuộc phần lớn vào ngân sách nhà nước, và cuộc tranh cãi chỉ xoay quanh việc tự quản nguồn kinh phí được cấp ấy như thế nào. Nước Đức nói riêng và ở nhiều nước Âu châu khác, còn lâu lắm mới có thể tự chủ về tài chính như ở Mỹ với nguồn lực dồi dào qua sự quyên góp và tài trợ nghiên cứu.  2. Hệ thống giáo dục   Cũng có những đánh giá khác nhau về công lao xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại của Humboldt. Một đánh giá tiêu cực và khá nghiệt ngã đến từ Hübner(7). Theo Hübner, toàn bộ kế hoạch cải cách của Humboldt phải được xem là thất bại, nếu quan sát sự tiếp tục phát triển của hệ thống giáo dục trong thế kỷ 19. Cống hiến duy nhất của Humboldt là thành lập Đại học Berlin, tuy nhiên, cấu trúc của đại học này đã có sẵn từ trước, và Humboldt chỉ hoàn thiện nó mà thôi: “Hệ thống giáo dục của nước Phổ trong thế kỷ 19 có những người cha khai sinh khác hơn là Humboldt”! Cách đánh giá cực đoan ấy không được nhiều người đồng tình, bởi Hübner chưa xét cương lĩnh của Humboldt một cách toàn diện (ở cả ba cấp: tiểu học, trung học và đại học) cũng như thoát ly điều kiện lịch sử đương thời.  Borsche có cách đánh giá chừng mực hơn và được nhiều người tán đồng:   –    Đừng quên rằng vào thời điểm Humboldt đảm nhận trách vụ cải cách giáo dục, nhà nước hết sức chuyên quyền và chỉ muốn lạm dụng nền giáo dục để đào tạo những thần dân trung thành, biết vâng lời. Để ngăn chặn điều ấy, Humboldt đã ra sức đề xướng sự tự do học thuật và phác thảo một cấu trúc hoàn toàn mới mẻ cho toàn bộ nền giáo dục. Cấu trúc này đã phát huy tác dụng và còn đầy đủ tính thời sự cho đến ngày nay và đó cũng chính là công lao lịch sử của Humboldt:  –    Humboldt xóa bỏ hệ thống trường học có tính đẳng cấp (phong kiến, quý tộc, và các loại trường dạy nghề quá sớm), tạo điều kiện cho mọi trẻ em thuộc mọi tầng lớp có cơ hội và điều kiện học tập ngang nhau.  –    Quan trọng hơn là việc thiết kế nội dung cho hệ thống giảng dạy: chia làm ba cấp học: tiểu học, trung học và đại học, với sự phân biệt rõ rệt ranh giới và tính chất của mỗi cấp, trong đó đại học có chức năng nghiên cứu và đào tạo trí thức và dứt khoát không được phép là… trường phổ thông cấp 4! Ông nhấn mạnh: cấp 1 là để tạo sự hứng thú với việc học, cấp 2 là để thu nhận một số kiến thức cơ bản, cấp 3 là để chuẩn bị vào đời. Đại học phải trở lại với nghĩa nguyên thủy của nó là universitas (theo Hiến chương thành lập Đại học Vienna năm 1365) gồm hai bộ phận: – nghiên cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát của nó (universitas litterarum) và – hình thành một cộng đồng khoa học giữa thầy và trò (universitas magistorum cum studentorum), vì tri thức chỉ có thể có thông qua tìm tòi, trao đổi, đối thoại.  3. Vấn đề đào tạo (văn hóa) tổng quát  Yếu tố trung tâm trong triết lý giáo dục của Humboldt là việc đào luyện (Bildung) nhân cách một cách toàn diện và khuyến khích phát triển cá tính thông qua việc đào tạo (văn hóa) tổng quát. Lý thuyết giáo dục tân-nhân bản này kiên quyết không nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và kinh tế, khẳng định nhiệm vụ then chốt của nhà trường là “đào tạo con người còn nhỏ trở thành con người trưởng thành, chứ không phải đào tạo con ông thợ giày thành ông thợ giày” (Hermann, Borsche)(8). Yêu cầu này rõ ràng bị thực tế thử thách gắt gao. Như Ash (9) nhận xét rất đúng rằng tuy chính sách đại học Đức luôn ca tụng và cam kết hướng theo lý tưởng của Humboldt, nhưng trong thực tế vẫn tập trung vào việc đào tạo có tính hướng nghiệp. Đã từ lâu, bên cạnh các đại học mang đặc trưng Humboldt vẫn tồn tại nhiều loại định chế đào tạo bậc cao khác. Ví dụ tiêu biểu nhất là sự khác biệt và song hành giữa đại học và các trường cao đẳng hướng nhiều về thực hành (Fachhochschule). Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh mẽ của nhiều hình thức dạy nghề chuyên nghiệp rất phong phú. Nhìn chung, rõ ràng có sự quá độ dần dần sang mô hình kiểu Mỹ, là nơi đại học không ngần ngại tiếp cận và hợp tác chặt chẽ với giới công thương nghiệp. Lý do cơ bản của sự chuyển đổi này, theo Ash, là “bước ngoặt quản trị xí nghiệp”, xem đại học cũng là một bộ phận của guồng máy kinh tế.   Ở đây đang đặt ra hàng loạt vấn đề mới mẻ và chưa được giải quyết thỏa đáng về mặt lý luận:   –    Mô hình Humboldt (gắn liền với khuôn khổ “dân tộc” để đào tạo con người về văn hóa, chính trị, pháp lý…) ứng phó thế nào trước những thử thách của tiến trình toàn cầu hóa (và nói riêng ở châu Âu, còn là châu Âu hóa), nhất là trước các yêu sách “tự do hóa”, “thương mại hóa” và “quốc tế hóa” giáo dục trong nhiều quy định của WTO?  –    Mô hình Humboldt trả lời ra sao trước xu hướng tân-tự do (Friedrich von Hayek, Milton Friedman…) muốn viện dẫn Humboldt để bênh vực chủ trương tư nhân hóa các cơ sở giáo dục, thậm chí tiến tới xóa bỏ “khu vực công”, nhân danh sáng kiến chủ động và tinh thần tự chịu trách nhiệm của “người công dân trưởng thành”? (bản thân Humboldt cũng không tán thành việc học đại học miễn phí!).  –    Mô hình Humboldt đối phó ra sao trước tiềm lực khổng lồ của những lực lượng chi phối “thị trường giáo dục” toàn cầu và công nghệ thông tin với ưu thế tuyệt đối của tiếng Anh và của các tập đoàn truyền thông hầu như chiếm địa vị độc quyền trong việc tiếp cận thông tin (AOL Time Warner, Vivendi Universal, News Corporation, Viacom, Walt Disney Co. và Bertelsmann)?   –    Phải chăng đang diễn ra một tiến trình hội tụ về mô hình giáo dục giữa châu Âu và Bắc Mỹ, một tiến trình nhất định sẽ có ảnh hưởng sâu đậm đến các châu lục khác? Trước áp lực cạnh tranh của nền giáo dục Mỹ, châu Âu không thể xem nhẹ yêu cầu cung ứng nhân lực cho thị trường lao động (employability). Tính cách thực dụng thể hiện rõ rệt trong “tiến trình Bologna” nhằm nhất thể hóa học trình, bằng cấp đại học trong 29 nước thuộc Cộng Đồng Chung châu Âu, khởi động từ 1999, qua đó, tăng cường năng lực cạnh tranh của các nước EU. Ở Bắc Mỹ, các ngành khoa học nhân văn và xã hội ngày càng được trọng dụng, vì những người được đào tạo trong các bộ môn này tỏ ra linh hoạt, năng động và cầu tiến trong mọi vị trí công tác. Nhìn chung, đó cũng chính là nguyện vọng của bản thân Humboldt: chuyên môn sâu trên nền một văn hóa rộng.    4. Học tập suốt đời  Một tâm điểm khác trong lý tưởng giáo dục của Humboldt là quan niệm rằng con người là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời. Vì thế, việc đào luyện (Bildung) con người là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng lại giữa đường. Quan niệm này có hiện thực không? Liệu con người có đủ thì giờ và sức lực để học tập suốt đời? Nếu có đủ điều kiện đi nữa, liệu số đông người có thể thực hiện và theo đuổi?  Chính xã hội thông tin và tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng chưa từng có ngày nay đã giúp cho lý tưởng này trở thành nhu cầu thường trực. Những kiến thức thu hoạch được lúc còn trẻ và trong nhà trường nhanh chóng lạc hậu, khiến người ta khó đứng vững trong môi trường lao động và nghiên cứu mà không tiếp tục học hỏi và đổi mới kiến thức. Vô số các hình thức học tập để bổ sung và giúp cập nhật kiến thức là bằng chứng hiển nhiên(10).   Bóng mát của một vĩ nhân  Xét đơn thuần về đường hoạn lộ, Humboldt là một người thất bại. Ông chỉ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo giáo dục vỏn vẹn 16 tháng, với hai lần nộp đơn từ chức (lần đầu vào ngày 29.04.1810 và lần sau vào ngày 23.06.1810) trước vô vàn lực cản từ bộ máy quan liêu. May mắn cho ông là hai người kế nhiệm (Georg H. Nicolovius, cháu rể của Goethe, và Johann W. Süven, nhà ngữ văn học) – vốn là những người cộng sự mật thiết với ông – đã vượt mọi khó khăn để thực hiện thành công kế hoạch cải cách giáo dục của ông.   Thành công này thật sự có tầm vóc lịch sử, vì hiếm khi một Ý tưởng đơn thuần trong đầu óc, một lý tưởng chỉ ôm ấp trong tim (như trong Các lá thư về giáo dục thẩm mỹ cho con người của F. Schiller) lại được hiện thực hóa thành những định chế, những mệnh lệnh hành chính mà không phản bội lại lý tưởng ban đầu.   Trước sau, Humboldt giữ vững một xác tín: chỉ có con người sống đẹp mới là một con người thực sự tự do.  Trước sau, ông chỉ có một mong mỏi: nhà trường phải thực sự là nơi hiện thân của ý niệm, của lý tưởng, nơi đó Tinh thần có thể được đào luyện (Bildung) trong sự an tĩnh và thanh khiết. Trước mọi sự xô bồ và khắc nghiệt của cuộc sống, nhà trường cần phải là cái đối ứng, thậm chí, cái đối cực để nuôi dưỡng lý tưởng, không để lý tưởng bị sa đọa và suy kiệt. Nói ngắn, tuổi hoa niên và những tháng ngày được cắp sách đến trường là món quà quý báu và đẹp đẽ nhất của một đời người: hãy để cho tuổi trẻ học được cách làm chủ bản thân mình và không bao giờ chịu làm nô lệ, kể cả làm nô lệ cho nghề nghiệp và cơm áo.   Lý tưởng, triết lý và mô hình giáo dục ấy vẫn còn đầy đủ tính thời sự.                                                                                                                                 20.11.2010  * Trích từ “Đại học Humboldt 200 năm (1810 – 2011): kinh nghiệm thế giới và Việt Nam”, NXB Tri Thức    (1) Dẫn theo Peter Berglar: Wilhelm von Humboldt, Rowoht, Reinbeck 1970, tr. 87 (từ Báo cáo của Humboldt cho Đức vua, 1809. Tác phẩm 5 tập, tập 4, tr. 218).  (2) Rainer Christoph Schwinges, Humboldt International, Basel, 2001.  (3) Alfred Schäfer, Das Bildungsproblem nach der humanistischen Illusion, Weinheim, 1996.  (4) Xem: (2), tr. 174.  (5) Hermann Röhrs, Tradition und Reform der Universität unter internationalem Aspekt, Frankfurt / M, 1987, tr. 121.   (6) W. v. Humboldt, Werke in Fünf Bänden, I, Darmstadt, 1987, tr. 77.  (7) Ulrich Hübner, Wilhelm von Humboldt und die Bildungspolitik. München 1983, tr. 145 và tiếp.  (8) Ulrich Hermann, In memoriam Wilhelm von Humboldt, München, 1985.      – Tilman Borsche, Wilhelm von Humboldt, München, 1990.  (9) Mitchell Ash, Mythos Humboldt, Wien, 1999.  (10) Günther Dhomen, “Zauberformal LLL: Lebenlanges Lernen”, Der Bürger im Staat: Bildungspolitik 4 (1997): 1-17.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Martin Gardner – Người gợi cảm hứng  cho niềm say mê toán học      Martin Gardner giữ vị trí đặc biệt trong cộng đồng toán học. Chưa từng học qua một khoá học về toán tại trường đại học, Gardner đảm nhận chuyên mục Toán học vui của tạp chí Scientific American trong suốt 25 năm 1956 tới 1981. Chuyên mục của ông đã làm say mê nhiều thế hệ độc giả của tạp chí khoa học này, làm cho họ nhận ra vẻ đẹp của toán học và niềm vui khám phá bắt đầu từ việc tìm ra lời giải cho những câu đố nhỏ. Gardner qua đời ngày 22/5/2010 tại bệnh viện Norman, Oklahoma, Mỹ.      Martin Gardner sinh năm 1914 tại Tulsa, cha ông kinh doanh dầu mỏ. Thuở nhỏ, Gardner thích chơi bài, các trò ảo thuật và đọc những tác phẩm phiêu lưu mang tính chất ma thuật của nhà văn Braum. Niềm say mê những trò chơi trí tuệ đã giúp cho Gardner về sau này khi lựa chọn Toán học vui như một phần quan trọng của cuộc đời mình.   Gardner tốt nghiệp khoa triết tại trường Đại học Chicago năm 1936. Năm 1937 Gardner trở lại Oklahoma và trở thành phóng viên cho tờ báo Tulsa Tribune, sau khi làm một thời gian ngắn tại phòng truyền thông của Đại học Chicago. Vào năm 1942, ông tham gia hải quân. Trong một đêm canh gác, Gardner đã nghĩ ra tình tiết cho câu truyện ngắn đầu tiên “The Horse on the Escalator” đăng trên tạp chí Esquire. Sau khi chiến tranh kết thúc, Gardner trở thành nhà văn tự do. 7 năm sau, ông tìm thấy công việc ổn định tại tạp chí Humpty Dumpty, tạp chí dành cho trẻ nhỏ. Ông viết đều đặn hằng tháng những câu truyện ngắn và những bài thơ đưa ra những lời khuyên về đạo đức cho thiếu niên.   Sau đó, tổng biên tập Dennis Flanagan đã mời Gardner viết bài đều đặn cho mục Toán học vui. Khi được giao phụ trách chuyên mục Toán học vui của Scientific American, Martin chạy vội ra tiệm sách cũ ở New York tìm mua những cuốn sách về đố vui toán học. Những cuốn sách cũ này cộng với niềm say mê những trò ảo thuật, trí tò mò đã giúp Martin trụ vững ở tạp chí khoa học có uy tín của Mỹ và đều đặn đưa ra những câu đố làm bối rối độc giả. Không tham gia khóa học toán nào kể từ khi rời trung học, có lẽ chính điều này đã giúp Martin viết về toán học một cách sinh động, dễ hiểu với phần đông độc giả. Kết quả là Toán học vui đều đặn xuất hiện từ năm 1956 tới 1981 và đã trở thành một trong những chuyên mục được nhiều người đọc nhất của tạp chí, thu hút sự chú ý của những nhà toán học và cả những người yêu thích toán, dẫn dắt một thế hệ người đọc trẻ vào niềm say mê giải quyết các vấn đề.                  Chuyên mục toán học cùng với những tri thức về văn hóa, khiếu hài hước đã biến Gardner người chưa từng theo học toán tại trường trung học, trở thành người thổi hồn cho chuyên mục Toán học vui và gợi niềm cảm hứng cho những thế hệ mới suy nghĩ về làm toán và làm khoa học. Gardner tin rằng giây phút con người kêu lên thích thú khi tìm ra câu trả lời cực kỳ quan trọng trong văn hóa của nhân loại. Ông cho rằng điều làm nên sự khác biệt giữa xã hội công nghiệp hiện đại với thời kỳ Hy Lạp cổ là khả năng giải các câu đố. Một màn hình tivi không thể được giải bởi một cá nhân mà hàng trăm người đã tham gia vào giải những câu đó để tạo nên chiếc tivi. Mỗi khi một câu hỏi được giải, niềm vui sướng lại đến. Một người giải được câu đó cũng có cái cảm giác sung sướng, thỏa mãn như các nhà khoa học khi khám phá ra những điều kỳ diệu.   Bên cạnh niềm say mê toán học, Gardner là cây bút nhiệt tình trong việc lên tiếng chống lại hiện tượng mạo danh khoa học. Trong số 70 cuốn sách, cuốn “Những trò lố bịch nhân danh khoa học” dành nhiều để nói về những lỗi khoa học và thủ đoạn. Năm 1976, Gardner tham gia vào nhóm của Carl Sagan, Isaac Asimov và nhiều người khác thành lập Ủy ban điều tra những hiện tượng huyền bí, siêu linh.                Gardner còn viết sách để giải thích các hiện tượng khoa học bao gồm cả cuốn “Thuyết tương đối cho mọi người”.  Năm 1960, ông xuất bản cuốn sách “Chú giải truyện Alice trong xứ sở thần tiên”, nói về thế giới trong cuốn sách “Alice trong xứ sở thần tiên” của Carroll. Gardner sử dụng những tri thức về vật lý, tâm lý, lịch sử và toán để làm sáng tỏ những câu chuyện kinh điển.   Trong cuốn sách “Đêm dài”, Gardner sắp xếp các chủ đề say mê của mình theo 7 thể loại: khoa học vật lý, khoa học xã hội, ngụy khoa học, toán học, nghệ thuật, triết học và tôn giáo. Ông thừa nhận, “tôi đưa cho độc giả cảm giác tôi hiểu biết sâu về nhiều lĩnh vực vì tôi bỏ nhiều công sức tìm kiếm, viết mạch lạc và luôn làm các hồ sơ tài liệu về những thứ làm tôi quan tâm”.   Là tác giả của rất nhiều cuốn sách về khoa học, bản thân Gardner tự nhận cách làm việc của ông không “khoa học”. Ông không có thời gian làm việc cố định, trong tuần ông có thể dành vài ngày đi chơi ở một vùng nào đó cùng với vợ rồi trở về nhà và làm việc vào cả ngày chủ nhật.   25 năm của cuộc đời mình để viết cho chuyên mục Toán học vui của Scientific American giúp ông nhận được nhiều giải thưởng của cộng đồng toán học. Tuy nhiên, Martin chưa bao giờ nhận mình là nhà toán học, ông chỉ xem mình là nhà báo viết về những điều ông say mê.    Ngọc Tú    (Theo Scientific American,   Washington Post, New York Times)    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Mất con” vì du học      Tôi có một người bạn, bố anh từng là một cán  bộ cao cấp của một bộ quan trọng trong chính phủ. Gia đình anh là một  gia đình hiếu học và bản thân anh là một “con ngoan trò giỏi” dù anh là  “con một và bố làm quan”. Sẽ chẳng có gì phải bàn vì vợ chồng anh có  công việc tốt và lương cao, nếu không có chuyện của cậu con trai duy  nhất của anh.     Cậu ta vốn được “bôn ba” cùng bố mẹ đi du học nên có vốn tiếng Anh “làu hơn tiếng Việt”. Thế nhưng khi quay về học ở Việt Nam, sức học của cậu cứ giảm dần.  Cho tới một hôm, cậu bỏ học giữa chừng khiến bố mẹ cậu vô cùng lo lắng. Gặng hỏi mãi, cuối cùng vợ chồng bạn tôi cũng có câu trả lời: Cậu không thể học tốt tất cả các môn trong chương trình với số lượng môn học nhiều hơn gấp đôi số môn mà cậu phải học ở nước ngoài, dù cậu đã cắt hết thời gian vui chơi và thể thao. Nhiều môn học bắt buộc nhưng cậu không hiểu học nó để làm gì! Và tất nhiên, điểm số của cậu rất thấp. Càng ngày cậu càng cảm thấy cô đơn trong lớp học và càng cố thu mình lại. Cậu dần trở thành một học sinh cá biệt – cái “danh hiệu” khi đã khoác lên cổ thì coi như tàn một đời… học sinh. Vì vậy, cậu muốn bỏ học.  Ngày hôm sau, vợ chồng bạn tôi lập tức đưa con đi khám ở bệnh viện tâm thần. Bác sĩ cho biết, cậu bị trầm cảm nặng, rất may bố mẹ đưa đến kịp thời. Tuy nhiên, bác sĩ khuyến cáo cậu cần 6 tháng để điều trị. Điều đó đồng nghĩa với việc cậu phải lưu ban. Dù buồn vì cậu con phải học chậm một năm nhưng vợ chồng bạn tôi cũng được an ủi phần nào khi cậu bé phục hồi rất nhanh. Có những đứa trẻ khác đang điều trị ở đây nặng hơn cậu bé rất nhiều và không có cơ hội về nhà. Nguyên nhân thì giống nhau: Học quá tải.   Chỉ sau ba tháng cậu đã được xuất viện nhưng bác sĩ vẫn khuyên bố mẹ cho cậu nghỉ ngơi đến hết năm học. Với một quyết tâm cao độ, vợ chồng bạn tôi quyết định cho con đi du học bậc tiểu học như một cách “tị nạn giáo dục”. Sau một năm cuối cấp một ở Singapore, bạn tôi lại quyết định cho cháu sang Mỹ học cấp hai. Thấm thoắt bốn năm trôi qua, cậu bé đã học hết cấp hai. Đây cũng là lúc bố mẹ cậu đã dùng hết số tiền dành dụm định để mua nhà! Quyết định lại được ban ra: Bây giờ con đã đủ trưởng thành để chịu áp lực học như mọi học sinh khác ở Việt Nam. Dĩ nhiên cậu phải chấp nhận thực tế đó.  Khỏi cần phải nói cậu cũng đã biết được những gì đang chờ đợi phía trước và cậu sẽ phải đương đầu như thế nào. Thế nhưng bi kịch lần này không đến từ trường lớp như hồi cấp một mà nó lại đến ngay tại gia đình. Ở cái tuổi dở người lớn dở trẻ con, cậu đòi một phòng riêng biệp lập. Điều đó không khó với bố mẹ cậu. Nhưng xung đột bắt đầu nảy sinh từ  những việc hết sức nhỏ nhặt như việc mẹ cậu muốn vào để dọn phòng cho cậu thì phải hỏi ý kiến trước… Những việc này gây khó chịu cho bố mẹ cậu nhưng họ cũng chấp nhận. Bước qua năm lớp 11 cậu bắt đầu có bạn gái. Lúc đầu chỉ đến chơi rồi về, sau đó là ở lại ban ngày, rồi ở lại ban đêm, rồi ở cả ngày lẫn đêm trong phòng và khóa trái cửa lại! Chịu hết nổi, một lần bố cậu giật cửa xông vào thì bắt gặp đôi tình nhân nhí đang truy hoan. Sau một trận khẩu chiến kịch liệt bất phân thắng bại, cậu bé viết đơn từ cha mẹ vì đã “vi phạm quyền công dân” và cùng bạn gái bỏ nhà ra đi.  Gặp lại anh sau biến cố đó, tôi vô cùng bối rối khi thấy anh suy sụp hoàn toàn. Câu hỏi của anh cứ nhói lên trong tôi: Tại sao con đẻ của mình trở thành một người xa lạ vậy? Tôi không dám khuyên anh điều gì mà chỉ tự hỏi mình: Phải chăng vì anh đã cho con đi “tị nạn giáo dục” từ quá sớm?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mật mã tài năng      Mật mã tài năng của Daniel Coyle cung cấp cho bạn đọc những cách thức mới để nhận diện bản chất đích thực của tài năng, đồng thời chỉ cho các bạn thấy tài năng được ươm trồng bằng cách khai thác một cơ chế hoạt động của bộ não – mới được phát hiện – như thế nào. Rồi từ đó, nó cung cấp những công cụ giúp các bạn phát huy tối đa tiềm năng của bản thân và của cả những người khác.      Daniel Coyle đã đi nhiều nơi trên thế giới để nghiên cứu và giải mã tài năng, một lĩnh vực thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như những người muốn làm cho tài năng nở rộ. Ông cũng đã đến thăm các phòng thí nghiệm thần kinh học hiện đại – nơi đang nghiên cứu về myelin – và trao đổi với các nhà khoa học.  Các phát hiện mà Coyle đã tìm ra dường như có vẻ không mang tính đột phá lắm, nhưng quá trình giải mã tài năng của Coyle có sức hấp dẫn thật kỳ lạ, đặc biệt là những câu chuyện ông đã thu thập được từ cuộc hành trình đến những cái nôi tài năng của thế giới: từ đội bóng chày ở một hòn đảo nhỏ bé trên vùng biển Ca-ri-bê cho đến một học viện âm nhạc bị lãng quên ở vùng núi Adirondacks của tiểu bang New York, từ các nghiên cứu trường hợp về những cầu thủ bóng đá giỏi nhất thế giới, những tên cướp nhà băng khét tiếng, cho đến những nhạc công vĩ cầm, phi công chiến đấu, ca sĩ, vận động viên trượt ván…                Dựa trên những kết quả nghiên cứu thần kinh học hiện đại và nghiên cứu trực tiếp ở những cái nôi tài năng đó, Coyle đã xác định được ba yếu tố cho phép phát triển tài năng và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của con người trong thể thao, nghệ thuật, âm nhạc, toán học, hoặc bất cứ lĩnh vực nào. Đó là:  • Tập luyện sâu: Mọi người đều biết rằng thực tế là chìa khóa để thành công. Nhưng cái mà mọi người chưa biết là có một dạng tập luyện cho phép tăng tốc độ đạt được kỹ năng lên gấp mười lần so với tập luyện thông thường.  • Đánh lửa: Chúng ta cần một chút động lực để bắt đầu. Nhưng cái gì thật sự phân biệt thành công với thất bại? Có một thứ cao hơn sự cam kết – đó là niềm đam mê, được một «tín hiệu điều khiển căn bản» kích hoạt – sẽ sản sinh ra ham muốn sâu thẳm trong tâm thức của chúng ta. Vấn đề là cần biết cách làm thế nào để tạo ra những tín hiệu kích hoạt, giúp bạn thắp lên niềm đam mê, khiến nó trở thành chất xúc tác mạnh mẽ để phát triển kỹ năng.  • Cách huấn luyện bậc thầy: Khám phá những bí quyết của các giáo viên, giảng viên, huấn luyện viên hiệu quả nhất trên thế giới; khám phá bốn đức tính cho phép họ – «những người nói thầm đầy tài năng» – đốt cháy lên niềm đam mê, truyền cảm hứng cho tập luyện sâu và mang lại kết quả tốt nhất cho học trò của mình.  Ba yếu tố nói trên sẽ cùng nhau làm việc với bộ não của bạn để hình thành myelin – một vi chất thần kinh, một chất trơ cách điện cho các tế bào não – và lượng myelin trong não nói lên tốc độ và độ chính xác của các hành động và suy nghĩ của bạn. Các nhà khoa học cho rằng myelin là nền tảng của mọi sự vĩ đại; trong thực tế, nó là bí quyết để có được các kỹ năng thành thục. Lượng myelin trong não không cố định từ khi con người được sinh ra, mà nó phát triển. Và cũng giống như bất cứ những gì có thể phát triển, nó cũng có thể được chúng ta ươm trồng và nuôi dưỡng. Những nghiên cứu mới đã tiết lộ thêm nhiều điều thú vị về nó, nhưng điều thú vị nhất là myelin luôn phát triển để thích ứng với các hoạt động của con người, và chúng ta có thể kiểm soát nó.  Cuốn Mật mã tài năng của Coyle cho thấy những cơ chế – đơn giản nhưng cực kỳ mạnh mẽ – mà thông qua đó con người đạt được kỹ năng: Tập luyện sâu, Đánh lửa và Cách huấn luyện bậc thầy để myelin có thể phát triển nhanh nhất. Kết hợp các phân tích rõ ràng, mạch lạc với các ví dụ sinh động về những con người bình thường đã đạt đến sự vĩ đại, cuốn sách không chỉ thay đổi cách bạn suy nghĩ về tài năng, mà còn giúp bạn vận dụng những kiến thức và công cụ hữu hiệu để biến những tiềm năng của mình thành tài năng đích thực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mẹ Hổ người Hoa làm rung chuyển nước Mỹ      Amy Chua tự xưng là Mẹ Hổ có thể vì bà sinh năm Hổ (1962) hoặc có thể vì bà cho rằng mình đã dạy con như một Hổ mẹ – nghiêm khắc đến tàn nhẫn để chúng có thể sinh tồn trong một xã hội cạnh tranh quyết liệt không có chỗ cho kẻ yếu hèn. Cách dạy con ấy được một số người ủng hộ, nhưng đa số sửng sốt, kinh hãi.      Bài Vì sao các bà mẹ người Hoa giỏi thế? (Why Chinese Mothers Are Superior) đăng trên bản điện tử Nhật báo Phố Wall số ra ngày 8/1 năm nay đã lập kỷ lục hơn 1 triệu lượt người truy cập và 7743 lời bình luận đã lôi cuốn các tờ báo lớn như Time, New York Times… và các đại gia truyền thông như NPR, NBC, BBC vào cuộc. Bên kia Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, các tờ The Times, The Daily Telegraph, The Guardian… cùng hàng trăm báo đài Trung Quốc, Hongkong, Đài Loan vào cuộc, cùng hàng trăm nghìn cư dân mạng người Hoa trên toàn thế giới phát biểu ý kiến.  Bài báo nói trên giới thiệu về cuốn sách Battle Hymn of the Tiger Mother (Chiến ca của Mẹ Hổ) dày 256 trang tiếng Anh này kể lại chuyện dạy con trong một gia đình người Mỹ có mẹ gốc Hoa và bố gốc Do Thái.   Tác giả bài báo và cuốn sách là bà Amy Chua – còn gọi là Mẹ Hổ người Hoa (Chinese Tiger Mother) – thực sự đã làm rung chuyển nước Mỹ, chủ yếu vì bà dám công khai trình bày cách dạy con độc đáo có phần cực đoan của mình.  Amy Chua tự xưng là Mẹ Hổ có thể vì bà sinh năm Hổ (1962) hoặc có thể vì bà cho rằng mình đã dạy con như một Hổ mẹ – nghiêm khắc đến tàn nhẫn để chúng có thể sinh tồn trong một xã hội cạnh tranh quyết liệt không có chỗ cho kẻ yếu hèn.   Cách dạy con ấy được một số người ủng hộ, nhưng đa số sửng sốt, kinh hãi. Một người viết: Tôi không thể tin bài báo này. Nhiều người gọi bà là “yêu quái”, kết tội bà “ngược đãi” con, là một “mẫu người nguy hiểm” cho xã hội…Trong hàng chục nghìn bức thư gửi về địa chỉ Amy Chua, một số người còn đe dọa tính mạng bà, khiến bà phát hoảng và cảm thấy rất khổ tâm. Đã mấy lần Amy Chua xuất hiện trên đài, báo thanh minh về bài viết ấy.  Ngay trong ngày đầu tiên phát hành, Chiến ca của Mẹ Hổ được xếp hạng bestseller thứ 6 trên mạng Amazon. Trên Facebook xuất hiện khoảng 100 nghìn lời bình sách này.     Tiếng tăm Amy Chua càng nổi hơn khi trang bìa tạp chí TIME số cuối tháng 1/2011 in hình ảnh tượng trưng “Mẹ Hổ” cao lớn đứng khoanh tay trước cô con gái nhỏ bé tay cầm chiếc vĩ cầm đang e sợ ngước nhìn mẹ; chính giữa in dòng chữ Sự thật về các Mẹ Hổ (The Truth About Tiger Moms) – tên một bài viết dài trong tạp chí này.   Khi Amy Chua sang Thụy Sĩ dự Diễn đàn kinh tế thế giới Davos (26-31/2011), các nhà báo khắp thế giới bám riết bà. Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV có phát đi một đoạn băng video ngắn phỏng vấn Amy Chua [1]. Bà xuất hiện trước ống kính, tươi cười thoải mái trả lời bằng tiếng Anh, đại ý: Tôi không phải là chuyên gia giáo dục. Cuốn sách của tôi chỉ là một bản hồi ký chuyện gia đình. Một tờ báo trích dẫn vài đoạn trong sách của tôi và đặt tên là “Vì sao các bà mẹ người Hoa trội hơn?” Tôi đọc rồi và rất không thích cái tên bài báo ấy. Mỗi gia đình có một cách dạy con riêng, tôi không định nêu lên một hình mẫu dạy con cho ai cả …  Mẹ Hổ dạy con  Hai cô con gái của Amy Chua là Sophia và Louisa, nay đã 18 và 15 tuổi, lớn lên trong sự dạy dỗ nghiêm khắc hiếm thấy, buộc phải răm rắp tuân theo bản nội quy gia đình do bà mẹ áp đặt gồm 10 điều:   – Cấm qua đêm ở nơi không phải nhà mình;  – Cấm xem phim;   – Cấm tham gia biểu diễn văn nghệ ở nhà trường;   – Không được oán trách vì điều cấm ấy;   – Cấm xem truyền hình hoặc chơi game máy tính;   – Không được tự chọn hoạt động ngoại khóa (mà do mẹ chọn);   – Điểm sát hạch, điểm thi tất cả các môn học phải đạt mức A (tức cao nhất);   – Trừ môn thể dục và sân khấu ra, thành tích học tất cả các môn khác đều phải nhất lớp;   – Trừ dương cầm và vĩ cầm ra, không được chơi bất cứ nhạc cụ nào khác;   – Phải học dương cầm và vĩ cầm.  Amy Chua viết: Các bạn phương Tây của bà cho rằng bắt con mỗi ngày tập đàn từ 30 phút đến 1 giờ là quá nghiêm khắc rồi, thế nhưng các bà mẹ người Hoa thì bắt con tập đàn liền 3 tiếng đồng hồ. Người Hoa cho rằng muốn yêu thích công việc gì thì hãy tập làm công việc ấy thật nhiều; khi làm giỏi thì sẽ thấy yêu thích việc đó.  Amy Chua kể: Bắt chước cha mẹ mình, bà thường hay mắng con là “Đồ ăn hại” mỗi khi chúng ương bướng. Trong một bữa tiệc ở nhà người bạn, Amy Chua từng mắng Sophia là “garbage (đồ rác rưởi)” khi con bé tỏ ra hỗn xược; một bà khách người Mỹ nghe thế đã mủi lòng chảy nước mắt và xin kiếu ra về. Sau đấy chủ nhân bữa tiệc phải cố gắng dàn xếp mối quan hệ giữa Amy Chua với các thực khách để họ ở lại tiếp tục dự tiệc.   Amy Chua cho rằng các phụ huynh người Hoa khác người phương Tây ở 3 điểm:   – Người phương Tây rất ngại làm tổn thương lòng tự tin, tự trọng của con, cho nên thường hay khen con quá đáng, khi con bị điểm xấu cũng vẫn khen, còn người Hoa thì mắng ngay và hỏi cho ra nhẽ tại sao bị điểm xấu;   – Người Hoa cho rằng con cái phải biết ơn cha mẹ về mọi chuyện họ làm cho chúng, do đó chúng phải nghe lời cha mẹ, phải cố làm cho cha mẹ tự hào vì con;   – Cha mẹ người Hoa tin rằng họ biết điều gì là tốt nhất đối với con mình, cho nên họ không cần để ý tới yêu cầu và thị hiếu của con mà cứ ép buộc con làm theo ý họ, dù chúng không thích.  Amy Chua kể: Hồi Lulu (tên thân mật của Louisa) lên 7, cháu phải tập piano bài Chú lừa con lông trắng của nhạc sĩ Pháp Jacques Ibert. Bản nhạc rất hay nhưng khó phối hợp hai tay, con bé tập mãi không được. Nó chán nản tức giận bỏ cây đàn, giậm chân thình thịch không chịu tập. Tôi ra lệnh: “Ngồi vào đàn ngay!” Lulu cãi: “Mẹ không được bắt con làm thế.” Tôi bảo: “Ô hay, mẹ bắt con phải làm thế đấy!”   Sau khi ngồi vào đàn, con bé phản ứng bằng cách bấm phím loạn xạ rồi xé bản nhạc vứt xuống đất. Tôi nhặt lên dán lại rồi kẹp vào bìa ni lông, như vậy nó không thể xé được nữa. Rồi tôi kéo túi đồ chơi của Lulu đến bên chiếc ô tô và bảo nó: “Nếu ngày mai con chưa tập được bài ấy thì mẹ sẽ đem chỗ đồ chơi này của con cho các bạn khác hết.” Con bé nói: “Mẹ đem cho hết đi.” Thấy vậy tôi dọa: “Thế thì hôm nay con sẽ không được ăn trưa, ăn tối… Con sẽ không được tổ chức sinh nhật, Lễ Giáng sinh này sẽ không có quà…”  Thấy tình hình căng thẳng, ông xã nhà tôi bèn kéo tôi ra ngoài khuyên tôi chớ nên mắng mỏ con bé. Tôi không nghe mà còn cự lại: “Sophia bằng tuổi này đã chơi được bài nhạc ấy; cớ sao Lulu lại không?” ….   Rốt cuộc tôi kèm Lulu tập đàn cho tới bữa ăn tối. Suốt thời gian ấy tôi không cho cháu nghỉ một phút nào, không cho uống nước, không cho đi toa-lét. Phòng tập đàn như bãi chiến trường.   Cuối cùng hai tay của Lulu dường như đã phối hợp được với nhau. Dấu hiệu thành công đây rồi. Tôi thở dài khoan khoái. Lulu cũng mỉm cười. Cháu bảo: “Mẹ xem này, chẳng có gì khó cả!” Sau khi chơi thạo bản nhạc rồi, nó còn muốn nán lại chơi thêm vài lần.   Tối hôm ấy cháu được phép ngủ chung với tôi. Hai mẹ con ôm lấy nhau tưởng như không bao giờ xa rời nữa.   Mấy tuần sau, Lulu biểu diễn độc tấu bài Chú lừa con lông trắng rất thành công. Các vị phụ huynh đến dự xúm lại chỗ tôi nức nở khen: “Ôi, Louisa giỏi quá!” Ông xã cũng khen tôi mãi…  Sự thật đằng sau câu chuyện Mẹ Hổ  Thực ra từ lâu phương Tây đã quá biết về phương pháp giáo dục truyền thống của phương Đông – nghiêm khắc tới tàn nhẫn, ép buộc chứ không tôn trọng sự lựa chọn của học sinh, đánh giá thành tích học qua điểm số, coi trọng thi cử, học thuộc lòng, ghi nhớ kiến thức có sẵn càng nhiều càng tốt, ít chú trọng sáng tạo, phản biện, tranh luận với thầy, với sách …Khi dạy con, người châu Á không cần nghĩ tới chuyện chúng có vui sướng hay không mà chỉ lo làm sao cho chúng học giỏi, thi đỗ đại học, ra đời sẽ có đời sống bảo đảm.   Phương Tây có phương pháp giáo dục khác hẳn, cha mẹ tôn trọng sự lựa chọn, sở thích của con chứ không ép buộc theo ý của cha mẹ. Đứa trẻ phải tự lập từ nhỏ đến lớn. Phương Tây tự hào về truyền thống giáo dục của họ. Trên Slate.com ngày 9/2, Ray Fisman viết: Nếu Mary Gates và Karen Zuckerberg là “Mẹ Hổ” thì họ không thể nào tán thành con trai mình bỏ học ở ĐH Harvard để theo đuổi giấc mơ lập công ty riêng, và do đó chúng ta sẽ không có Microsoft và Facebook.  Vì sao dư luận Mỹ phản ứng gay gắt đến thế về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ? Vì tự ái chăng, khi Amy Chua nói các mẹ người Hoa “siêu” hơn các mẹ Âu Mỹ?    Trong mấy thế kỷ qua, văn minh phương Tây lấn át, thắng phương Đông, cả thế giới đều ca ngợi nền giáo dục phương Tây. Nhưng giờ đây hình như gió đã đổi chiều. Thống kê cho thấy người gốc Á chỉ chiếm 4,5% số dân Mỹ nhưng lại chiếm 12-16% tổng số thí sinh thi đỗ đại học ở Mỹ và 20% sinh viên các ĐH nhóm Ivy League; và xu thế đó ngày một tăng.   Thành tích học tập của học sinh châu Á ngày càng trội hơn phương Tây. Cuộc thi Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) cuối năm 2010 cho thấy phương Đông bắt đầu chiếm ưu thế rõ rệt. Trong 34 nước và lãnh thổ dự thi, Trung Quốc tham gia lần đầu tiên lại có thành tích cao nhất, Mỹ đứng thứ 17. Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan đều đạt thành tích cao hàng đầu.   Nhiều năm qua, kinh tế Mỹ sa sút trông thấy trong khi kinh tế châu Á tăng trưởng cao. Trung Quốc nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và sắp vượt Mỹ. Giáo dục có vai trò gì trong chuyện ấy? Người Mỹ bắt đầu xem xét lại các khiếm khuyết trong nền giáo dục của mình. Đây không phải lần đầu tiên họ làm như vậy.  Năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik, cả nước Mỹ rung chuông báo động: khoa học và công nghệ Mỹ đang tụt hậu, chủ yếu vì giáo dục phổ thông có vấn đề. Chưa đầy một năm sau, Quốc hội Mỹ thông qua Luật Giáo dục quốc phòng Nhà nước (National Defense Education Act) đầu tư hàng tỷ USD cho cải cách giáo dục.   Thập niên 80, Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và bắt đầu “mua dần nước Mỹ”. Tổng thống Reagan quyết định tái cải tổ ngành giáo dục. Hơn 400 chuyên viên bỏ ra 4 năm nghiên cứu đề xuất Dự án 2061 – Các tiêu chuẩn tố chất khoa học cho người Mỹ (Project 2061: Benchmarks for Science Literacy) nhằm mục tiêu đến năm 2061, khi sao chổi Halley trở lại Trái đất lần thứ hai (lần đầu 1985), toàn thể người Mỹ được hưởng giáo dục đại học.   Mỹ đã thắng Liên Xô và Nhật trong cả hai cuộc chạy đua nói trên, nhưng lần này thì sao? khi đối thủ là một quốc gia gồm 1,4 tỷ người Hoa hừng hực khí thế muốn đòi lại vai trò bá chủ địa cầu thời nhà Đường xa xưa của họ.  Có người ví, nếu năm 1957, tiếng “Bíp” của Sputnik Liên Xô báo động nền giáo dục Mỹ đã tụt hậu, thì giờ đây, khi người khổng lồ Trung Quốc sắp vượt Mỹ, khúc quân hành Chiến ca của Mẹ Hổ vang lên đang đánh thức người Mỹ tỉnh dậy sau hơn nửa thế kỷ say sưa với bao nhiêu thành công đã đạt được.  Chiến ca của Mẹ Hổ được dư luận quan tâm vì nó dường như muốn gợi ý phương Tây, nếu không để bị tụt hậu, thì nên tham khảo phương pháp giáo dục của phương Đông. Không phải ngẫu nhiên mà tại Diễn đàn Kinh tế thế giới DAVOS, nhà kinh tế lừng danh Lawrence Summers lại tìm gặp và tranh luận với Amy Chua. Chắc hẳn vị Bộ trưởng Tài chính dưới thời Clinton, cố vấn kinh tế của mấy đời Tổng thống Mỹ ấy đã thấy rõ mối liên hệ giữa kinh tế với giáo dục.    Tạp chí TIME có lý khi viết: “Mẹ Hổ Trung Hoa đã chạm vào nỗi đau của nước Mỹ, siêu cường này đang lo thua Trung Quốc và các quốc gia châu Á trỗi dậy trong cuộc chạy đua kinh tế ở thế kỷ XXI. Ngòi bút sắc bén của Amy Chua khiến cho các bà mẹ phương Tây bắt đầu tự hỏi: Phải chăng chúng ta chính là kẻ thua cuộc mà bà ấy nhắc tới? Mẹ Hổ đang dạy lũ hổ con để chúng thống trị thế giới; còn thế hệ tương lai của phương Tây bị cha mẹ bỏ mặc không dạy dỗ, đang thiếu sự chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh toàn cầu ác liệt ấy.   ————————   [1] Xem video theo link: http://v.ku6.com/ show/llTn5Qw0VfCe5rCL.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mẹ  Hổ  thắng  rồi!      Amy Chua tự xưng Mẹ Hổ — người từng làm rung chuyển nước Mỹ với cuốn tự truyện xuất bản cách đây ngót 4 tháng — lại lần nữa gây cơn sốt dư luận khi báo chí đăng tin con gái đầu của bà vừa trúng tuyển cả hai Đại học Harvard và Yale.    Hôm 1/4 , blog Above the Law chuyên đưa tin về giới luật pháp Mỹ cho biết: Đầu tuần vừa rồi, Sophia nhận được Giấy báo vào học của ĐH Harvard. Tờ Yale Daily News (báo của ĐH Yale) hôm 4/4 cũng đưa lại tin nói trên.  Nhưng theo trang Facebook ngày 2/4 của bà Amy Chua, cô Sophia Chua-Rubenfeld, 17 tuổi, vẫn chưa quyết định sẽ học Harvard hay Yale, sau khi được cả hai trường này nhận.   Khi đưa tin ấy, tờ Boston Herald hôm 2/4 viết:  “Mẹ Hổ thắng rồi! … Amy Chua tác giả Chiến ca của Mẹ Hổ sẽ gửi con gái đầu lòng là cô Sophia — người từng bị bà mắng là đồ rác rưởi (garbage) và không cho phép xem ti-vi hoặc tham gia hoạt động văn nghệ — tới một trường ĐH thuộc nhóm Ivy League…   Nhưng tôi không nghĩ rằng cách dạy con của tôi có liên quan gì tới việc cháu được vào đại học. Đây 100% là kết quả cố gắng của Sophia — Chua viết trong một email gửi Boston Herald…”    Đây quả là một chiến công không dễ dàng khi người ta biết rằng tỷ lệ tuyển sinh năm nay của ĐH Harvard thấp kỷ lục — chỉ có 6,2% trong số 35 nghìn thí sinh trúng tuyển.  Một số báo khác cũng nhận định: giờ đây có thể nói cách dạy con của Mẹ Hổ Amy Chua đã tạm thời giành phần thắng, bà Chua đã đạt được mục đích của mình.   Sophia trúng tuyển cả hai ĐH Harvard và Yale là kết quả tất nhiên: thành tích học tập của cô xưa nay chưa bao giờ thấp dưới mức A (tức mức cao nhất), thần đồng âm nhạc này khi mới 14 tuổi đã vinh dự được biểu diễn độc tấu dương cầm tại Phòng Hòa nhạc Carnegie. Hơn nữa cha mẹ cô đều tốt nghiệp trường Luật Harvard với hai tấm bằng thạc sĩ và tiến sĩ. Amy Chua là một điển hình thành công của người Mỹ gốc Hoa: bà cùng một cô em gái và ông bố bà đều là giáo sư của 3 trường ĐH danh tiếng nước Mỹ.  Song những người phê phán cách dạy con của Mẹ Hổ vẫn cho rằng nói bà ấy thắng là quá sớm. Blog Holistic mamas viết: “Chẳng những con cái của Mẹ Hổ, mà con cái các Mẹ Mèo (pussycat) hiền lành cũng có thể trúng tuyển Harvard. Những người ra đời không ngậm chìa khóa vàng trong miệng mà vượt qua mọi bất lợi, thi đỗ vào ĐH danh tiếng thì mới là thành công thực sự.”  Trong bài Amy Chua nhát gan, nhà bình luận của tờ New York Times viết: “Muốn thành công thì phải học được cách chung sống với người khác và biết cách xử lý mối quan hệ cộng đồng. Nhưng Amy Chua cấm các con gái mình chơi với bạn bè, ngăn cản chúng học được những thứ khó học ấy.”  Nhà kinh tế lừng danh Larry Summers khi tranh luận với Amy Chua từng nói: Nếu các bà mẹ của Bill Gates và Mark Zuckerberg đều là Mẹ Hổ thì nhất định họ không cho con trai họ giữa chừng bỏ học ĐH Harvard để lập công ty riêng nhằm thực hiện dự định của mình, và như thế loài người sẽ không có Microsoft và Facebook.   Tự truyện Chiến ca của Mẹ Hổ từng nhận được những phản ứng thô bạo. Trong ngót 10.000 lời bình, các bạn đọc của tờ Wall Street Journal gọi Amy Chua bằng đủ mọi cái tên, từ kẻ đáng ghê tởm, kẻ nguy hiểm tới kẻ hung ác. Thậm chí có người viết thư đe dọa giết bà.  Ấy thế mà cuộc bỏ phiếu trên mạng do chính báo này tổ chức lại cho kết quả ngược lại: 60,7% tán thành cách dạy con nghiêm khắc của phương Đông, chỉ có 39,3% tán thành cách dạy con nhẹ nhàng của phương Tây.   Các bà mẹ người Mỹ chẳng những mua sách Chiến ca của Mẹ Hổ — xếp hạng thứ 14 trong bảng Sách Bán chạy nhất của tờ New York Times trong 11 tuần qua — mà họ còn bắt đầu quan tâm tới những lời khuyên của Mẹ Hổ.  “Và bây giờ, khi Sophia được nhận vào không phải một mà là hai trường Ivy League, bạn có thể cá là sẽ có thêm nhiều phụ huynh tán đồng sự khôn ngoan sắt đá của Mẹ Hổ.” — bài báo trên tờ Boston Herald viết.  Đúng thế, dù sao số phụ huynh người Mỹ có tham vọng muốn con mình trở thành Bill Gates hoặc Mark Zuckerberg bao giờ cũng vẫn ít hơn số người muốn chúng thi đỗ đại học. Và như vậy, nói Mẹ Hổ tạm thời thắng là đúng thôi.  Còn Sophia thì nghĩ gì?   Trong thư gửi mẹ, được đăng trên tờ New York Post, cô bé viết:   “Có được một người mẹ như mẹ không phải là bữa tiệc trà (tea party)… Từng có một số buổi liên hoan văn nghệ con muốn dự [mà mẹ không cho dự] và một số buổi tập trung tập dương cầm con muốn trốn [song mẹ vẫn bắt dự]. Nhưng bây giờ con đã 18 tuổi và sắp sửa xa rời hang hùm (tiger den), con vui mừng vì đã được mẹ và bố nuôi dạy con theo cách của bố mẹ.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang MI      Howard Gardner, giáo sư về môn giáo dục và môn trí lực  của trường ĐH Harvard, đưa ra một phương pháp khác dựa vào một quan  điểm cấp tiến khác về đầu óc con người. Quan điểm này nhìn nhận những  khía cạnh khác biệt và riêng lẻ về nhận thức, cho rằng người ta có những  năng lực trí tuệ khác nhau và những cách thức hiểu biết khác nhau.    Mọi người được tạo ra bình đẳng, nhưng người ta bẩm sinh  có bình đẳng về trí thông minh không? Người ta sống hết đời người, ai  cũng tay không về cõi khác, thì ai dại ai khôn? Dạy học mười mấy năm,  tôi biết chắc một điều: Không phải đứa học trò nào cũng tiếp thu bài học  như nhau, lớp nào cũng có đứa học giỏi và đứa học dở. Nhưng sống hơn  nửa thế kỷ tôi cũng biết thêm một điều: những đứa học trò dở (của tôi)  ra đời vẫn phát triển, nhiều đứa thành đạt, và những đứa không công danh  gì vẫn sống an vui tử tế. Thì dựa vào đâu mà bảo một người nào đó ngu?  Hay đảo ngược lại, những tiêu chuẩn nào chứng tỏ một người nào đó thông  minh?    Ở bên Pháp, hồi đầu thế kỷ trước, người ta dùng một kiểm tra gọi là “Intelligence Quotient”, thường viết tắt là IQ, để đánh giá khả năng trí tuệ của người ta. Đến giữa thế kỷ trước thì bên Mỹ có thêm SAT (Scholastic Assessment Test, trắc nghiệm đánh giá khả năng học tập). Giống như dùng cân để biết trọng lượng và dùng thước để đo chiều cao thân thể, IQ và SAT được dùng để đo trí lực học sinh trong suốt thế kỷ 20, đã chứng tỏ hiệu quả. Các trường trung học tư Mỹ thường cho học sinh làm những bài trắc nghiệm bằng bút chì trên giấy để đánh giá chỉ số IQ và SAT. Các trường đại học danh giá sẽ dựa vào chỉ số đó để tuyển sinh. Những người “đi săn đầu” là đi lùng tìm những kẻ có chỉ số thông minh cao theo kết quả của IQ và SAT.   IQ và SAT chấm điểm chủ yếu cho khả năng tính toán, lý luận và ngôn ngữ. Những học sinh có điểm IQ cao được chọn vào những khóa học đòi hỏi cao kỹ năng tư duy, tính toán và kỹ năng nhận định, phê phán. Sự đào luyện này càng làm tăng chỉ số IQ, tăng cơ hội được tuyển vào những đại học hàng đầu, rồi ra trường kiếm được việc làm “hàng đầu”, và trồi lên những địa vị “hàng đầu” trong xã hội. Theo ông Howard Gardner thì cách đánh giá và tuyển lọc đó có những ưu điểm về tuyển lựa nhân tài. Ông gọi đầu óc được rèn luyện như vậy là đầu óc giáo sư luật tương lai.  Nhưng ông Howard Gardner, giáo sư về môn giáo dục và môn trí lực của trường Đại          Howard Gardner cho rằng con người có những năng lực trí tuệ khác nhau và những cách thức hiểu biết khác nhau.        học Harvard, đưa ra một phương pháp khác dựa vào một quan điểm cấp tiến khác về đầu óc con người. Quan điểm này nhìn nhận những khía cạnh khác biệt và riêng lẻ về nhận thức, cho rằng người ta có những năng lực trí tuệ khác nhau và những cách thức hiểu biết khác nhau. Ông đề ra khái niệm trường học hướng vào từng cá nhân học sinh, giáo dục học sinh theo năng lực nhận thức và kiểu cách nhận thức của từng cá nhân, chứ không dùng một chuẩn mực chung sàng lọc ra một loại nhân tài. Mô hình trường học này dựa vào thành tựu của những ngành khoa học mới như khoa học trí lực (cognitive science) và khoa học não bộ (brain science). Phương pháp của ông được gọi là lý thuyết đa trí năng (Multiple Intelligences) thường viết tắt là MI.  MI ra đời năm 1983, đến nay đã có hàng trăm quyển sách, hàng trăm luận văn tốt nghiệp, hàng ngàn bài báo của nhiều tác giả khác nhau bàn luận, phê bình, phát triển lý thuyết này. Và hàng ngàn trường học trên khắp thế giới đã áp dụng lý thuyết này vào cải cách giáo dục. MI đưa ra tám trí thông minh, hay năng lực trí tuệ, tức năng khiếu, khả năng dễ dàng tiếp nhận xử lý thông tin bằng cách nào đó, vốn tiềm tàng trong con người. Đó là năng khiếu ngôn ngữ, tính toán, hình ảnh, thân thể, âm nhạc, ngoại giao, nội cảm, và thiên nhiên. Một đứa trẻ có thể tiềm tàng hay bộc lộ nhiều năng khiếu, cũng có thể bộc lộ năng khiếu này trội hơn năng khiếu khác, thí dụ năng khiếu hình ảnh lấn át năng khiếu lời nói. Nó sẽ tiếp thu, xử lý và diễn đạt tri thức bằng hình ảnh, mặc dù nó đọc hiểu và viết lách khó khăn. Được giáo dục đúng cách, đứa trẻ sẽ trở thành họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, vv. Những kiến trúc sư hay họa sĩ vĩ đại chắc chắn không “ngu” mặc dù chỉ số IQ của họ có thể không cao bằng sinh viên luật trường Harvard.   Sau một phần tư thế kỷ đưa ra một quan điểm làm thay đổi phương pháp giáo dục nhiều nơi, ảnh hưởng đến nhiều số phận con người, Howard Gardner viết lại những luận điểm chính và thực nghiệm của lý thuyết MI trong cuốn sách có tựa Multiple Intelligences. Những thông tin trong bài này đều được lượm hái trong sách.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục      Sức mạnh chủ yếu của hệ thống giáo dục đại  học Mĩ là có nhiều trường, các trường rất đa dạng và có tổ chức phức tạp  và có nguồn tài chính khác nhau.     Khác với nhiều quốc gia khác, Mĩ không có các trường đại học quốc gia trực thuộc trung ương. Nhiều trường nhận được tài trợ từ chính phủ liên bang, nhưng đa số các khoản tài trợ này là dành cho các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhờ đó mà nhà trường được dành một phần cho công tác quản lí. Điều đó làm cho một số chuyên gia nổi tiếng có ảnh hưởng rất lớn. Và khi họ chuyển từ trường này sang trường kia, ảnh hưởng đó làm cho người ta tin rằng họ sẽ được đối xử một cách xứng đáng.   Tất cả các bang đều có trường đại học công lập, giữa những trường này cũng có sự cạnh tranh. Thường thì mỗi bang đều muốn có mấy loại hình trường đại học công lập: a) trường đại học tinh hoa, hướng vào công tác nghiên cứu – thí dụ như trường đại học của bang California, trường đại học của bang Michigan; b) những trường đại học dành cho đại chúng, không phải tinh hoa; c) mỗi trường lại có rất nhiều phân hiệu – thí dụ như đại học California ở Los-Angeles, đại học California ở Berkerly, đại học California ở San-Diego; d) trường cao đẳng với chương trình học tập kéo dài hai năm, dành cho những họcsinh không đủ điểm vào những trường đại học có uy tín hơn. Tất cả những loại hình trường lớp này bảo đảm công ăn việc làm cho các giáo viên (những người thường tốt nghiệp các trường ưu tú). Như vậy là những trường đại học bình thường gián tiếp ủng hộ những trường ưu tú.   Các trường đại học tôn giáo cũng có tình hình tương tự. Vì Mĩ không có tôn giáo của nhà nước cho nên các tôn giáo khác nhau đều tìm cách mở trường đại học của riêng mình. Bang nào cũng có những trường như thế và hầu như tôn giáo nào cũng có trường riêng.  Các trường tư thục như Harvard University, Yale, Princeton, Stanford, Duke University, Chicago, Pennsylvania (mặc dù gọi là trường University of Pennsylvania, nhưng đây là trường tư, còn trường đại học quốc gia ở bang này lại có tên lên Pennsylvania State University) là những trường có uy tín nhất.  Uy tín của các trường này là do đấy là những trường lâu đời nhất, khởi kì thủy là do các giai cấp trên xây dựng lên và thành phần sinh viên quyết định tính kế thừa địa vị tinh hoa của chúng. Trong suốt hàng chục năm ròng, các trường này có thể lôi kéo những giáo sư tài ba nhất đến làm việc ở đấy. Các trường này cũng thường xuyên tìm được tài trợ cho các công trình nghiên cứu và trở thành những trung tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước.   Các trường mang tính thương mại. Đây là những trường xuất hiện chưa lâu, uy tín không cao. Thí dụ như University of Phoenix – đây là loại trường buổi tối, giá rẻ, dành cho những sinh viên muốn có một số nghề nghiệp nhất định.   Những kiểu trường đại học khác nhau – quốc gia, tôn giáo, tư thục – thường xuyên tìm cách bắt chước nhau. Thí dụ như các trường Thiên chúa giáo không quá lệ thuộc vào những vấn đề tôn giáo và có thuê các các giáo sư không phải là người Thiên chúa giáo. Nhiều trường đại học Tin lành tìm cách chuyển thành các trường thế tục.   Các trường đại học Mĩ có thể bảo đảm được quyền tự chủ là vì họ có nhiều nguồn cung cấp tài chính:  – tài trợ của nhà nước (nhà nước trực tiếp cung cấp tài chính cho các trường đại học quốc gia, cũng như tài trợ cho công tác nghiên cứu và học bổng cho sinh viên);   – đóng góp của sinh viên, những khoản đóng góp này cũng góp phần bảo đảm sự tự chủ khỏi việc kiểm soát của nhà nước;   – đóng góp mang tính từ thiện – từ những người giàu có, các công ty và sinh viên đã ra trường. Cung cấp tiền cho các trường đại học là vấn đề uy tín. Những trường đại học nổi tiếng nhất thường mang tên người sáng lập (Harvard, Yale, Stanford, Duke). Đôi khi người ta tìm cách vinh danh những người bảo trợ giàu có bằng cách gắn tên tuổi của họ với một trong những tòa nhà của trường;  – thể thao cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Trong thế kỉ XX, trường đại học có thể trở thành nổi tiếng nếu có một đội bóng đá hay bóng rổ mạnh. Trường có thể có thu nhập khá lớn từ bán vé các trận đấu, bán quyền truyền hình và bán quần áo thể thao với biểu tượng của đội… Ở các nước khác, thể thao thường tách khỏi nhà trường. Vì vậy mà không ở đâu có nguồn thu như thế. Kết quả thật bất ngờ là những trường nổi tiếng nhất không phải là những trường có trình độ giáo dục cao nhất mà lại là những trường có đội thể thao thành công nhất.   * * *   Do có nhiều nguồn thu cho nên cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều không thể kiểm soát được hoàn toàn trường học. Đấy là bảo đảm cho sự tự chủ của nhà trường. Làm thế nào mà chuyện đó có thể nâng cao được năng suất trong lĩnh vực trí tuệ và làm cho Mĩ trở thành nước giữ thế thượng phong về mặt trí tuệ trên thế giới? Các trường đại học tìm cách mời những giáo sư nổi tiếng nhất và có năng suất cao nhất và thường thì các trường của Mĩ cũng có điều kiện trả họ mức lương cao hơn và sự tự chủ để các giáo sư có thể thực hiện được những ý tưởng của mình.   Một tác nhân quan trọng khác – cơ cấu bên trong, các trường đại học Mĩ có rất nhiều giáo sư trong từng lĩnh vực. Đấy là sự khác biệt với hệ thống giáo dục truyền thống của châu Âu – nơi “mỗi ngành chỉ có một giáo sư”. Các trường đại học Mĩ thường tìm cách thành lập những khoa lớn với nhiều giáo sư trong mỗi lĩnh vực, điều đó đã chuyển trung tâm quyền lực lãnh đạo của trường xuống các khoa. Như vậy nghĩa là các khoa trở thành trung tâm cải tiến.   Từ sau Thế chiến II, hệ thống giáo dục Mĩ đã chiếm được những vị trí đầu tàu trên thế giới. Một phần là do sự suy sụp của các trường đại học ở Đức (chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã). Mĩ đã được lợi vì nước này thu nhận những giáo sư-nhập cư tài giỏi nhất vào các trường đại học của mình. Nhiều giáo sư hiện nay là học trò của những người di dân thuở nào.   Năm 1945 cũng là thời điểm mà giáo dục đại học Mĩ trở thành đại chúng: tỉ lệ thanh niên theo học đại học từ 10 phần trăm đã tăng dần và hiện chiếm tới lên 60 phần trăm. Điều này làm gia tăng nhu cầu số lượng trường đại học, giáo viên và kết quả là gia tăng những cơ cấu khuyến khích sáng kiến. Ở Pháp thì lại khác, các trường đại học ở nước này bị giới hạn bởi cơ cấu của trung ương. Các trường ở Anh, tuy có được khá nhiều quyền tự chủ, nhưng càng ngày càng bị chính phủ áp lực vì họ hầu như chỉ có một nguồn tài trợ duy nhất là ngân sách.   * * *   Hiện nay các trường đại học Mĩ cũng gặp một số khó khăn tạm thời. Từ khi các trường tinh hoa nhận được nhiều tiền quyên góp của các cá nhân thì họ cũng trở thành những tay chơi có máu mặt trên thị trường chứng khóan, vì vậy mà cùng với sự suy thoái kinh tế trong hai năm vừa qua, họ đã phải đưa ra những kế hoạch tài chính mang tính bảo thủ hơn. Nhưng đây chỉ là một trong những nguồn thu cho nên tôi nghĩ rằng nó cũng không có ảnh hưởng lớn đối với tính tự chủ của họ.   Trong các môn khoa học tự nhiện, có sự hợp tác gắn bó giữa giới doanh nghiệp và các trường thực hiện những dự án nghiên cứu đặc thù. Một số nhà phê bình phàn nàn rằng điều đó sẽ buộc các trường phải quên đi lí tưởng là tìm kiếm kiến thức và làm cho họ có thói hám lợi. Áp lực là có, nhưng cũng có những tác nhân cân bằng khác: tầm quan trọng của việc giữ các giáo sư nổi tiếng trong cùng một khoa, điều này sẽ thúc đẩy những hoạt động thuần túy trí thức. Tuy nhiên, phát minh vĩ đại hay lí thuyết mới vẫn là phương pháp tạo uy tín tốt nhất. Nhiều giáo sư đại học còn thể hiện sáng kiến riêng bằng cách đưa phát minh của mình ứng dụng vào lĩnh vực thương mại. Thí dụ như sự bùng nổ của công nghệ sinh học trong mấy năm gần đây. Vì vậy mà không được coi hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hoàn toàn là do nhu cầu của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhiều xí nghiệp công nghệ cao lại làm cho người ta liên tưởng tới khuôn viên đại học. Các xí nghiệp này bắt chước cách làm việc của trường đại học.   Nhưng cũng không nên cường điệu sự độc quyền về trí tuệ của các trường đại học Mĩ. Trong những lĩnh vực trí tuệ như triết học, văn học và xã hội học, trung tâm tri thức thế giới trong 50 năm lại đây có lẽ nằm ở Paris. Chuyện đó xảy ra là do sự kết hợp một cách tài tình những trường đại học tinh hoa, ngành in ấn và công nghệ truyền thông, trung tâm chính trị và thế giới nghệ thuật của Pháp – từ đó mới có các “nhà tư tưởng” nổi tiếng của Pháp như Sartre, Lévi-Strauss và Bourdieu, những người nổi tiếng cả ở bên ngoài khuôn viên đại học.   Mĩ không có cơ chế như thế – các nhà trí thức Mĩ thường phàn nàn về chuyện đó. Washington là trung tâm chính trị chứ không phải là trung tâm trí thức; New York và Los-Angeles là trung tâm truyền thông, ở đấy cũng có một số trường đại học tốt, nhưng các thành phố này không phải là thủ đô và cũng không giữ thế thượng phong trong thế giới đại học. Các trường đại học lớn nằm ở Boston, Chicago, San-Fransisco, Philadenphia, và nhiều thành phố nhỏ hơn như Princeton hay New-Haven.              Collinz Randall là nhà xã hội học, triết học  khoa học người Mĩ, chủ tịch hiệp hội xã hội học Mĩ. Trong những năm  1970 ông là một trong những sáng lập viên tạp chí “Theory and Society”.  Hiện nay ông đang dạy tại trường đại học Pennsylvania và là thành viên ban  biên tập tạp chí “Social Evolution & History”.           Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: dịch từ bản tiếng Nga tại địa chỉ http://www.russ.ru/pole/Velikaya-obrazovatel-naya-derzhava    Author                Quản trị        
__label__tiasang Minh họa cho Cánh Buồm      Theo quan điểm tự học, tự làm ra chính mình,  thì ngay chính hình minh họa đã dần trở thành một yếu tố thừa, chỉ nên ở  lại trên trang sách như một sự gợi ý tưởng tượng cho trẻ em.     Khi còn bé, đắm chìm trong những trang sách của nhà xuất bản Cầu vồng – Liên Xô cũ, tôi mê mệt với những hình minh họa tuyệt hay – từ “đẹp” không đủ nói hết những hình minh họa ấy và phải nói là “hay,” vì chúng đã góp phần tạo nên cả một thế giới tươi đẹp, mơ mộng, đồng thời tăng kích thước não cho cả một thế hệ người Việt Nam thời đó. Chính nhờ những hình minh họa tuyệt vời đó trên nhiều sách của nhà xuất bản Tiến bộ (Liên Xô cũ) mà lứa chúng tôi hình thành thói quen chê bai những hình minh họa gọi là có trong sách suốt 12 năm phổ thông.   Vèo một cái bây giờ tôi đã thành họa sĩ vẽ bìa hoặc minh họa cho nhiều nhà xuất bản, cả trong nước và trên thế giới. Và những bức minh họa cần chê bai nhất bây giờ hóa ra lại là của chính bản thân mình, nhất là từ khi tôi làm sách cho nhóm Cánh Buồm.  Khác với những dự án vẽ theo lô và cầm về một cục tiền, sách của Cánh Buồm đưa ra một đường lối khiến nhóm minh họa chúng tôi không thể làm theo kiểu sách thị trường. Đó là tổ chức một môi trường cho trẻ em tự làm việc, tự làm ra chính mình. Hình minh họa của Cánh Buồm không còn đơn thuần là “họa” cho “minh” hay lấp chỗ trống cho những chỗ nhiều chữ, mà tự nó là một thao tác mang tính gợi mở, nói bằng hình ảnh, và chính nó cũng là nội dung.  Cái khó khi vẽ minh họa cho sách trẻ em, nhất là bậc tiểu học, là ở chỗ nó vừa không nên quá cụ thể theo kiểu tả thực, dễ làm cho sách giáo khoa trở thành một bộ từ điển hình ảnh, và sa đà vào lối cũ của sách cũ, thể hiện sự hạn chế tưởng tượng của chính họa sĩ, nhưng lại cũng không nên quá trừu tượng, vì đây không phải sách triết học cho người lớn.  Cái khó thứ hai là từ khi có Internet, có multimedia, trẻ em không còn hấp dẫn với những trang sách generic thuần túy. Các em đã quen với tư duy được tương tác với hầu như mọi hình ảnh được nhìn thấy hằng ngày – web, tivi, smart phone, ebook … do đó hình vẽ cho Cánh Buồm cố gắng cập nhật bằng cách tạo ra những hình minh họa mang tính gợi mở, để nhiều khoảng trống có chủ ý cho trẻ em có thể tương tác, vẽ thêm, vẽ nối, thậm chí vẽ mới. Theo quan điểm tự học, tự làm ra chính mình, thì ngay chính hình minh họa đã dần trở thành một yếu tố thừa, chỉ nên ở lại trên trang sách như một sự gợi ý tưởng tượng cho trẻ em. Các nền giáo dục lớn đã chỉ ra rằng người ta nhớ được đến trên 80% qua con đường thị giác, nhưng còn lớn hơn nữa nếu người học tự làm ra bài học của mình. Tưởng tượng trẻ em làm ra bài học của mình bằng chính các hình vẽ thì ta có thể khẳng định ít ra nếu không xuất sắc cũng không đến nỗi làm cho các em bị nhồi sọ đến mức sợ học như trong nhà trường hiện tại.  Do tính tương tác – không chỉ là đòi hỏi cấp thiết với sách giáo khoa, mà còn là sự khách quan lan tỏa trong mọi loại hình nghệ thuật hiện đại, cuộc sống ngày nay – giáo viên được hỗ trợ thêm rất nhiều trong công việc giảng dạy của chính mình. Minh họa tương tác – chỉ vẽ gợi mở – giống như đưa cho trẻ em cách làm việc chứ không phải kết quả, làm cho người dạy trẻ tham gia tương tác với trẻ và với chính mình. Khi nhìn một hình vẽ mà cái miệng cười bay ra khỏi khuôn mặt, thì đó là thái độ cười chứ không còn là khuôn mặt cười nữa. Đó là một bài học bằng hình ảnh, mà lại không phải bài học, vì nó thêm cho trẻ một ý niệm về sự cười, chứ không mô tả lại cái cười hằng ngày sẵn có.  Tuy đã nhiều năm làm việc với các dự án lớn, có những đơn hàng phức tạp như matte-painting đòi hỏi vẽ nền cho phim ảnh phải thật như chụp, nhưng khi làm sách cho Cánh Buồm tôi lại đặc biệt hâm mộ các họa sĩ trẻ, nhất là Phương Hoa. Cô bé này bắt đầu động bút cho Cánh Buồm từ khi chưa đến 20 tuổi, và 3 năm qua cô vẫn là họa sĩ chủ lực của Nhóm, thay thế khá nhiều họa sĩ quen tay khác. Ngay trong nhà tôi, trong phòng của một họa sĩ, vẫn đang treo những hình minh họa của Hoa mà tôi thích thú tự in ra. Cái hấp dẫn tôi ở chỗ Hoa vẽ không cầu kỳ, đôi lúc đơn giản đến mức nhìn vào không thể tin là một người trẻ đến thế lại vẽ được, và chịu vẽ đơn giản đến thế. Có thể gặp trong bộ minh họa của Hoa những người ngồi thiền nhưng hình vẽ thì lại nghiêng như bay, hay một người suy tưởng trong đó số nét vẽ không quá số ngón của bàn tay, hay có những hình thì lại mộc mạc như bộ tranh khắc trong sách của Henri Oger. Ngoài Tạ Huy Long – là họa sĩ ít hình thức nhất mà tôi hâm mộ tự treo tranh trong nhà, thì Phương Hoa là họa sĩ thứ hai, hiện chúng tôi vẫn may mắn giữ chân được cho sách Cánh Buồm.  Đôi khi tôi sợ những trang minh họa ngày nay đến nỗi đi các hiệu sách cũ để tìm mua những cuốn như Mít Đặc, Buratino, Tam đả Bạch Cốt Tinh… hay những tác phẩm mộc mạc của các cụ Nguyễn Bích, Tạ Thúc Bình… để giữ lại sau này cho con gái bé bỏng của mình. Nhưng đó là những hình minh họa tinh hoa, đẹp vì vốn sống của chính họa sĩ. Làm sao tôi có thể vẽ được những hình minh họa đẹp như của thời đại thực sự đẹp đẽ ngày xưa, có lẽ tôi chỉ có thể tạo ra những hình vẽ mang tính gợi mở, con gái tôi sẽ vẽ nốt phần của nó, và khi ấy một hình minh họa sẽ có giá trị không kém một bức tranh, có thể đàng hoàng treo trong nhà không phải e ngại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở cửa tòa nhà “tri thức học sinh-triển” của Jean Piaget      “Tri thức học sinh-triển”, có nghĩa là khoa học về sự nhận thức, về sự hình thành tri thức dựa trên nguyên lý có sự tạo sinh và tiến hoá của trí khôn, được Piaget phát triển và trở thành nổi tiếng.     Quyết định mới đây của ngành giáo dục Hoa Kỳ về Common Core Standards sẽ dẫn tới thay đổi căn bản cách dạy và học ở các trường phổ thông từ năm học tới: Triệt để thanh toán việc học sinh “học thuộc lòng” một cách thụ động, không chỉ tìm ra đáp án bài tập mà phải giải thích được tại sao tìm ra đáp án ấy – nghe chẳng khác tinh thần “đi lại con đường mà nhà văn, nhà ngôn ngữ đã đi để đến được tác phẩm văn học, kiến thức ngôn ngữ” của nhóm Cánh Buồm.  Quyết định này có sau 50 năm khi tác phẩm của Jean Piaget được dịch một cách hệ thống và gây tác động lớn ở một đất nước hiện đại, cho đến lúc ấy vẫn bị ngự trị bởi những lý thuyết giáo dục “hành vi luận” thể hiện chủ yếu ở việc áp đặt kiến thức, kỹ năng từ trên xuống cho người học.   Dịch những tác phẩm mang tính chuyên môn sâu của Piaget là một sự khổ công nhưng không thiếu niềm vui khám phá cho người dịch không được đào tạo chuyên ngành. Tôi hy vọng người đọc cũng có được hứng thú khám phá tương tự khi vượt qua những khó khăn tất yếu trong quá trình đọc sách.  Trong bài viết này, tôi chỉ xin chia sẻ vài điều mà bản thân tôi thu hoạch được trong quá trình vừa học vừa dịch/hiệu đính ba tập sách “Sự ra đời trí khôn ở trẻ em”, “Sự xây dựng cái thực ở trẻ em”, “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em” của Piaget.     Vài dòng về ba tập sách của Piaget    Tập 1: Sự ra đời trí khôn ở trẻ em  Tác giả quan sát, ghi chép tỷ mỷ mọi hành vi tự phát và phản ứng với các thí nghiệm mà ông thực hiện trên ba đứa con của mình trong hai năm đầu đời. Từ thực tế đó, tham chiếu các loại lý thuyết tâm lý, ông đi đến kết luận: ngay từ trong nôi, trẻ đã chứng tỏ một hoạt động cảm giác và vận động mang tính trí khôn, đến cuối năm thứ nhất thì hoạt động này đã thể hiện mọi tính chất của sự hiểu mang tính trí khôn. Tác giả gọi thời kỳ ra đời trí khôn của trẻ là thời kỳ trí khôn thực hành/cảm giác-vận động, và chia thành những giai đọan: thích nghi cảm giác-vận động tạo bởi phản xạ (như bú…) và thích nghi học được; thích nghi cố ý đi từ đồng hoá tái tạo đến phát kiến những phương tiện mới bằng các kết hợp tâm trí. Đó là sự phát triển trí khôn trước khi có ngôn ngữ.    Tập 2: Sự xây dựng cái thực ở trẻ em  Nghiên cứu những thời kỳ trẻ đi đến chỗ có được biểu trưng của thế giới khách quan thường trực và độc lập với chính biểu trưng ấy. Từ sự phát triển ý niệm vật thể, trường không gian và sự kiến tạo các nhóm dịch chuyển, đến sự phát triển ý niệm nhân quả, trường thời gian, trẻ đi đến kiến tạo vũ trụ khách quan. Vậy là từ trạng thái thuần túy cá nhân của trí khôn ở bình diện cảm giác-vận động, trẻ đi đến sự hợp tác là cái xác định bình diện của tư duy. Đó cũng là quá trình chiến thắng tâm lý quy ngã (lấy cái tôi làm trung tâm) và những cản trở khác đối với sự hợp tác, và chính sự hợp tác cung cấp các công cụ để kéo dài sự xây dựng lý tính trong hai năm đầu đời và khai triển nó thành một hệ thống các quan hệ logic và những biểu trưng thích đáng.  Tập 3: Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em    Phân tích sự chuyển từ trí khôn cảm giác-vận động sang tư duy dựa trên các biểu tượng và ký hiệu, là bước chuyển quyết định đối với sự tiến hoá của lý tính. Thông qua phân tích giấc mơ và trò chơi của trẻ, Piaget vạch lại con đường tạo sinh biểu trưng, từ việc bắt chước tự phát của trẻ còn bú mẹ đến bắt chước chuyển vào nội tâm và có hình ảnh của ấu nhi. Như vậy, hoạt động biểu trưng của trẻ đi từ thời kỳ cảm giác-vận động, qua thời kỳ tiền khái niệm gắn với cấu trúc ngôn từ sơ khai, đến tư duy trực giác và thao tác, là những biểu trưng mang tính nhận thức.   Một số khái niệm xuyên suốt    Trong quá trình dịch/hiệu đính, chúng tôi vấp phải nhiều thuật ngữ – khái niệm quen thuộc nhưng Piaget sử dụng với nội hàm đặc biệt cho hệ thống lý thuyết của ông, và cả những thuật ngữ – khái niệm do ông đặt ra. Sau đây là một số khái niệm xuyên suốt mà tôi nghĩ nếu hiểu thấu thì có nghĩa là hiểu được căn bản các ý tưởng chính của tác giả.  Tri thức học sinh-triển: Đầu tiên phải nói về thuật ngữ “Tri thức học sinh-triển” (Epistémologie génétique) (một số bậc đàn anh của tôi đã dùng từ “biến sinh” để dịch “génétique”)  Từ “génétique/genetic” (nghĩa gốc phái sinh của từ “genèse”: sự tạo sinh) do nhà triết học và tâm lý học Mỹ James Mark Baldwin(1861 – 1934) tạo ra để nhấn mạnh tính có sinh ra và có phát triển, có tiến hoá của tư duy logic, đối lập với những thuyết duy nghiệm coi kinh nghiệm là nguồn duy nhất của kiến thức.   “Tri thức học sinh-triển”, có nghĩa là khoa học về sự nhận thức, về sự hình thành tri thức dựa trên nguyên lý có sự tạo sinh và tiến hoá của trí khôn, được Piaget phát triển và trở thành nổi tiếng. Chính ông đã lập ra và trực tiếp làm Giám đốc Trung tâm Quốc tế về Tri thức học sinh-triển Genève từ năm 1955 đến khi qua đời năm 1980. Lý thuyết của ông rốt cuộc dẫn tới một chân lý giáo dục thật đơn giản: Trẻ em thu nhận kiến thức trong quá trình xây dựng kiến thức đó, nghĩa là rất tích cực, chủ động chứ không bị động, hay nói nôm na là “học thông qua làm”.  Cấu trúc sơ khai (schème): Piaget dùng từ “schème” của triết học cổ điển nhưng cho nó một nội hàm hoàn toàn khác.  “Schème” từ gốc Hy Lạp σχῆμα (skhêma), nghĩa là “sơ phác”, được Emmanuel Kant dùng để chỉ một phương cách hay phương tiện liên can đến trực giác, thông qua nó mà một khái niệm trở thành thực.   Các schème là những biểu trưng tâm trí đóng vai trò trung gian giữa các phạm trù của sự hiểu với các hiện tượng cảm giác. Khái niệm gắn với sự hiểu, trực giác gắn với biểu trưng của kinh nghiệm cảm tính. Ta có được các phán đoán là nhờ một cơ chế trung gian giữa hai vế. Cơ chế ấy Kant gọi là schème. Thí dụ: schème về số và con số, schème về thực thể là sự thường trực của cái thực tế trong thời gian…  Còn Piaget dùng schème để chỉ một cấu trúc hay tổ chức của các hành động luôn biến đổi hay phổ cập hoá khi được lặp lại trong những hoàn cảnh giống nhau hay tương tự, có thể thích nghi với nhiều tình huống, chứ không phải là một cơ chế tự động thuần túy.   Một số từ điển xuất bản ở Sài Gòn trước đây dịch schème là “sơ cấu”, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã dùng cách dịch này. Chúng tôi dịch là “cấu trúc sơ khai” cho dễ hiểu.  Theo Piaget, các đơn vị sơ cấp của hoạt động trí tuệ không phải là cảm giác, tri giác hay hành động mà là các cấu trúc sơ khai (CTSK). Thí dụ, CTSK của một hành động là tổng thể cấu trúc hoá của những tính chất có thể phổ cập của hành động, tức là những tính chất cho phép lặp lại cùng hành động ấy hay áp dụng vào những nội dung mới. Các CTSK biến đổi theo hướng ngày càng phổ cập hoá (thí dụ: CTSK mút ở bé sơ sinh, thoạt tiên thể hiện ở việc mút không, đến mút ngón tay, sau thành mút nhiều vật khác nhau, rồi thành bú vú mẹ). Vậy là CTSK trở nên có tính “linh động” hơn. Chúng sẽ phối kết với nhau trong một tổ chức kiểu phương tiện – mục đích (thí dụ: CTSK cầm nắm + CTSK kéo,cấu trúc của động tác cầm cái que để kéo đồ chơi về phía mình).  Vậy các cấu trúc của trí khôn từ cảm giác-vận động đến thao tác, ngôn ngữ, khái niệm là những CTSK sinh ra và tiến hoá trong sự tương tác giữa chủ thể với môi trường.  Sự tương tác này thể hiện ở quá trình đồng hoá-điều tiết.  Cặp khái niệm đồng hóa-điều tiết: Piaget cho rằng sự học tập, tức là sự phát triển các CTSK thao tác, là kết quả của một quá trình năng động tìm kiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường, trong đó:  – Đồng hoá (assimilation) là sáp nhập một vật hay một tình huống vào cấu trúc tiếp nhận của chủ thể (cấu trúc đồng hoá). Trong quá trình ấy, chủ thể biến đổi các yếu tố của môi trường để có thể sáp nhập chúng vào cấu trúc tiếp nhận của mình.  Trí khôn chính là sự đồng hoá theo nghĩa nó nhập toàn bộ dữ kiện của kinh nghiệm vào các khuôn khổ của nó.   Thí dụ: Xuất phát từ CTSK “mút không” có được như một phản xạ bản năng, đứa bé đi đến mút ngón tay cái, hay bất cứ vật gì tình cờ chạm vào môi, và sau đó là núm vú mẹ, tức là nó “đồng hoá” những vật thể này vào CTSK mút. Sự đồng hoá được phổ cập hoá như thế là cơ sở để trẻ “tái tạo” những kết quả có được từ hành vi có trước đó, hay “nhận ra lại” những vật quen thuộc, là một bước tiến của trí khôn cảm giác-vận động. Đồng hoá một mẫu hình vào những CTSK có sẵn cũng là nội dung của việc bắt chước, một bước tiếp của quá trình nhận thức thực tại. Hay sau này, khi trẻ để một cái vỏ sò trên một tờ bìa để chơi trò con mèo ở trên bức tường, nghĩa là trẻ “đồng hoá” cái vỏ sò vào “con mèo”, đó chính là sự hình thành “biểu trưng”, một bước tiến mới của trí khôn. Cuối cùng, người học thu nhận những cái mới lạ của thực tại vào trí óc của mình, tức là “đồng hoá” cái chưa biết vào khuôn khổ có sẵn trong kho kiến thức của mình.   – Điều tiết (accommodation): khi vật thể hay tình huống cưỡng lại những CTSK có sẵn của chủ thể, cũng có nghĩa là mới lạ so với khuôn khổ các CTSK ấy, thì cơ chế điều tiết làm việc, kéo theo sự biến cải cấu trúc tiếp nhận của chủ thể theo cách cho phép nó sáp nhập các yếu tố là đối tượng của việc học tập. Và như thế, chủ thể bị môi trường làm biến đổi và tiến hoá, hoàn thiện các CTSK của mình.  Thí dụ đơn giản nhất là: Việc trẻ bắt chước một động tác của người cha chính là kết quả sự điều tiết mắt khi theo dõi động tác ấy. Bắt chước hay chơi trò chơi là sự điều tiết phức tạp hơn các vận động của trẻ với những hoàn cảnh nảy sinh.  Từ lúc đầu, đồng hoá và điều tiết không tách khỏi nhau, để sau đó khu biệt nhau, rồi lại dựa vào nhau, điều phối với nhau, bổ sung nhau một cách biện chứng.  Tất cả quá trình thu nhận được/học được những cái mới đều là kết quả sự điều phối giữa đồng hoá các yếu tố của môi trường vào các CTSK đã có của chủ thể, đồng thời điều tiết các CTSK ấy với các yếu tố mới của môi trường. Có lúc vế đồng hoá vượt trội, có lúc vế điều tiết vượt trội, có lúc hai vế cân bằng nhau, tạo ra sự đa dạng của các hình thức thu nhận.   Tổng quan về quá trình nhận thức thế giới của trẻ: quá trình kép đồng hoá-điều tiết làm biến đổi quan điểm hoàn toàn chủ quan, quy ngã (lấy cái tôi làm trung tâm) trong tâm lý đứa trẻ thơ thành sự nhận thức những vật thể tồn tại thường trực bên ngoài cái tôi, mở đầu quá trình định vị cái tôi ấy trong thế giới khách quan, hình thành mối quan hệ tương tác chủ quan – khách quan – là cơ sở nhận thức thế giới của người trưởng thành.  Nhìn một cách tổng quát, kết quả cuối cùng của quá trình đồng hoá-điều tiết là  sự thích nghi (adaptation) của chủ thể với môi trường. Hoạt động trí khôn chính là hình thức cao cấp của sự thích nghi ấy.  Có thể kết luận: tư tưởng giáo dục Piaget – đào tạo những người sáng tạo tương lai thay vì những kẻ tuân phục mô hình hiện hành có sẵn của người lớn – đã hoàn toàn tỏ ra đúng đắn.   Tư tưởng ấy không hình thành một cách “duy ý chí”. Nó là kết quả của việc nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn trọng dựa trên quan sát, thực nghiệm, đúc kết thành môn “Tri thức học sinh-triển” Piaget, mà bộ ba tập “Sự ra đời trí khôn ở trẻ em”, “Sự xây dựng cái thực ở trẻ em”, “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em” được coi như nền tảng của lý thuyết tâm lý học giáo dục ấy.   Ẩn ý của Tủ sách Tâm lý học Cánh Buồm mở đầu với bản dịch Piaget chính là sự gợi ý cho các nhà giáo dục Việt Nam đang đứng trước những vấn nạn của sự nghiệp trồng người, mà giải pháp nào thì cũng không thoát khỏi việc hiểu trẻ em – dạy trẻ em, như khẩu hiệu từ ban đầu của nhóm Cánh Buồm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mơ giữa ban ngày ?      Mùa tuyển sinh 2011-2012 có thể nói là một mùa “thất bát” của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (NCL).      “Nguy cơ tan rã”, “khủng hoảng”, “sống lay lắt ”, đó là những cụm từ rất buồn mà ta có thể bắt gặp trong những tựa báo viết về các trường NCL gần đây. Nhưng các trường NCL chắc chắn còn buồn hơn khi đọc những lời lẽ phê phán đầy thành kiến hoặc chế giễu, mỉa mai như: “dở khóc dở cười”, “ngồi trên lửa”, “đứng ngồi không yên”, “loạn giấy báo nhập học”, “tung chiêu lôi kéo sinh viên”, “tung tiền mua sinh viên”, “bất chấp luật lệ”,  “nhắm mắt làm sai quy chế”, và nhiều lời nặng nề khác nữa.  Những lời phán quyết chụp lên đầu toàn bộ khối trường NCL mà chẳng có mấy chứng cứ. Ừ, thì có một trường nào đó đã tặng số tiền 500,000 cho mỗi sinh viên đến nộp hồ sơ để hỗ trợ chi phí ban đầu khi nhập học. Rồi một vài trường khác hứa cấp học bổng cho những sinh viên nào có điểm đậu cao hơn điểm sàn nộp hồ sơ vào trường vv. Quả có chút hơi hướng thị trường và cạnh tranh, nhưng những việc này có gây hại cho ai?  Những việc tương tự như trên từ nhiều năm nay vẫn thường xảy ra ngay tại Việt Nam trong các “hội chợ giáo dục” (Education Fair) quốc tế. Tại những “hội chợ” như vậy, người tham dự có thể có những phần thưởng nho nhỏ – chẳng hạn, được miễn phí nhập học (admission fee) các trường nước ngoài, được cấp học bổng bán phần, hay được một món quà kỷ niệm. Về bản chất, những hội chợ này cũng chỉ là những chiến dịch tiếp thị tuyển sinh của các trường đại học nước ngoài tại Việt Nam mà thôi, nhưng hoàn toàn không bị báo chí “ném đá” như các trường NCL của Việt Nam.  Trong tình hình tuyển sinh bi đát và sự kỳ thị của dư luận như hiện nay, nguy cơ đóng cửa một số trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Nhưng có vẻ như dư luận, và cả Bộ Giáo dục nữa, hoàn toàn dửng dưng trước tình cảnh nói trên. Thậm chí, thỉnh thoảng ta còn thấy bộc lộ ra ở đâu đó một sự hài lòng nữa. Chất lượng kém thì đóng cửa là đáng rồi. Làm giáo dục mà chỉ chăm chăm vào lợi nhuận thôi, thì chất lượng ở đâu ra?  Sự khe khắt nói trên chắc cũng không bất ngờ đối với các nhà đầu tư. Hơn ai hết, họ luôn hiểu rằng sự giám sát của dư luận, và sự cạnh tranh của thị trường, bao giờ cũng nghiệt ngã. Và mỗi người chúng ta với tư cách là “người tiêu dùng giáo dục” chắc chắn sẽ không bao giờ nhân nhượng với cách làm giáo dục chỉ vì lợi nhuận, bất chấp những tác hại cho xã hội. Nhưng để cho công bằng, cũng cần đặt câu hỏi rằng những kết luận của báo chí về các trường ngoài công lập (NCL) có phải là kết quả của những cuộc điều tra chính thức với số liệu đáng tin cậy về chất lượng đầu ra của sinh viên hay không, hay chỉ phản ảnh thành kiến cố hữu của những người đã quen với tình trạng bao cấp và độc quyền về giáo dục của Nhà nước?   Để trả lời, chúng ta hãy tự hỏi, liệu khối trường NCL có thể tồn tại đến ngày nay không nếu quả thật chúng đều có chất lượng thấp lè tè mà học phí thì cao ngất ngưởng (vì sinh viên các trường công lập đã được Nhà nước hỗ trợ học phí đến 70%), ra trường thì không kiếm được việc làm tử tế? Có lẽ không ai dại dột đến mức bỏ ra vài chục triệu một năm trong suốt 4, 5 năm trời để cố lấy được một mảnh bằng mà giá trị không hơn một tờ giấy lộn như thế.   Nhưng cứ thử giả định rằng tất cả các trường NCL đều tệ hại, và trước sau gì “bong bóng đại học NCL” cũng sẽ bị vỡ. Ai sẽ được lợi, và ai bị thiệt hại khi điều ấy xảy ra?   Người bị thiệt trước hết là Nhà nước. Khi các trường NCL phá sản, thì chủ trương “xã hội hóa giáo dục” – một chủ trương đúng đắn, phản ánh đúng xu thế phát triển đại học trên thế giới ngày nay – cũng đồng thời bị phá sản.   Người học và gia đình, và xa hơn nữa là toàn xã hội, cũng sẽ bị thiệt hại. Hơn ai hết, các bậc phụ huynh hiểu rất rõ đầu tư cho việc học của con cái là đầu tư cho tương lai – “đi học để thoát nghèo” là suy nghĩ thông thường của rất nhiều người dân Việt Nam. Nhưng không có trường NCL, tức sự lựa chọn ít đi, thì cơ hội đầu tư cho tương lai của người dân cũng trở nên hạn chế. Lúc ấy toàn xã hội cũng thiệt hại, vì không có đủ nhân lực có trình độ để phát triển kinh tế.   Có vẻ như người được lợi chính là các trường ĐH, CĐ công lập, vì không còn bị cạnh tranh. Nhu cầu học đại học ở VN hiện đang rất lớn và sẽ còn tiếp tục tăng, vì đó là xu thế chung của nền kinh tế tri thức toàn cầu. Khi không còn lựa chọn nào khác, thì người học sẽ phải dồn vào trường công, bất kể chất lượng ra sao. Mặt khác, vì không đủ chỗ học cho mọi người, nên nếu không vào được hệ chính quy thì người học sẽ phải chấp nhận vào hệ phi chính quy, tất nhiên với mức học phí cao hơn. “Nồi cơm” của các trường đại học công lập có thể sẽ nở ra thêm một chút.  Nhưng về lâu dài, chính các trường công lập của Việt Nam cũng sẽ bị thiệt hại. Khi không còn cạnh tranh, các trường sẽ không còn động lực để cải tiến, chất lượng đương nhiên sẽ đi xuống. Người học vì không hài lòng với “dịch vụ giáo dục” kém chất lượng mà họ được cung cấp tại các trường công lập của Việt Nam sẽ có những lựa chọn khác. Rất hiển nhiên, nếu có đủ tiền, nhiều người sẽ chọn tham gia các chương trình đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam, hoặc “xuất dương” du học.   Thử nhìn sự thành công của RMIT Việt Nam, một trường có 100% vốn đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam, với mức học phí trên 150 triệu/năm. Ở Úc, RMIT chỉ là một trường “thường thường bậc trung”. RMIT Việt Nam – hoạt động hoàn toàn độc lập với “thương hiệu mẹ” ở Úc – có lẽ cùng lắm chỉ có chất lượng gần bằng trường gốc. Nhưng ở Việt Nam, RMIT được xem là một ngôi sao sáng chói. Sự thành công này có liên quan gì với việc RMIT được hưởng đầy đủ mọi sự tự chủ đối với Bộ Giáo dục, đặc biệt là trong việc tuyển sinh, và cũng hoàn toàn thoát khỏi mọi sự soi mói, thành kiến của báo chí?   Một sự kỳ thị ngược của báo chí Việt Nam đối với các trường đại học của chính mình?  Nhưng biết đâu những bài báo thiếu thiện cảm trên báo chí trong mùa tuyển sinh năm nay chỉ là một cách nói khích các trường NCL và kích thích dư luận lên tiếng, để từ đó dẫn đến một sự nhìn nhận lại vai trò và sự đóng góp của khối trường NCL trong sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam?   Và biết đâu sau khi bài viết này được đăng lên, Nhà nước sẽ nghĩ lại và cho phép các trường đại học NCL của Việt Nam – vốn không sử dụng ngân sách của Nhà nước – được hưởng một sự tự chủ về tuyển sinh giống như trường RMIT kia? Nếu được như thế, thì sự “thất bát” của mùa tuyển sinh năm nay thực sự là “tái ông mất ngựa”.   Chỉ mong rằng những gì được viết ở trên đây không phải là mơ giữa ban ngày.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình ĐH hoa tiêu (Kỳ cuối): Bối cảnh quốc gia và những biến số khác      Mô hình ĐH hoa tiêu nhằm mục đích đưa ra một  cách tiếp cận khác trong nhận thức thay cho hình mẫu mơ hồ của Trường  ĐH ĐCQT đang thống trị trong các cuộc thảo luận quốc tế, trong các hội  thảo khoa học và các tập san. Tuy thế mục tiêu ở đây thậm chí còn tham  vọng hơn: hỗ trợ cho một đặc điểm, một văn hóa tổ chức trong một nhóm  trường được chọn lọc, tự xác định mục tiêu trở thành ĐH hoa tiêu hoặc  được nhà nước giao nhiệm vụ.       Đó là những trường bắt rễ sâu từ đặc điểm của quốc gia hay khu vực và xem tính thiết yếu cho quốc gia hay khu vực là sứ mạng của mình, đồng thời được hỗ trợ bởi những hoạt động và cách xử sự nảy sinh từ nhu cầu nội tại trong việc giải trình trách nhiệm.   Những trường ĐH tốt nhất là những trường luôn phấn đấu để trở thành tốt hơn nữa, và không đơn giản chỉ là trong lĩnh vực nghiên cứu, một mối quan tâm chủ yếu của những sáng kiến chính trị hoa mỹ nhằm đạt cương vị ĐH ĐCQT trong các bảng xếp hạng. Nó là một trách nhiệm rộng lớn hơn nhiều bao gồm giảng dạy, phục vụ cộng đồng, và những cơ chế nội tại hỗ trợ cho chất lượng và sự ưu tú.  Cũng như trong cuộc thảo luận làm cách nào xây dựng một trường ĐH ĐCQT, có những biến tố môi trường hay bối cảnh quốc gia/ khu vực ảnh hưởng tới sự hình thành hay bền vững của một trường tuyên bố mình là ĐH hoa tiêu. Những biến tố đó có thể là:    •    Lịch sử xây dựng hệ thống GDĐH – Các nước thường có lịch sử xây dựng hệ thống GDĐH rất khác nhau, và điều này có ảnh hưởng đến những nỗ lực cải cách. Như đã nêu trước đây, nếu truyền thống chính trị của quốc gia và những chính sách cụ thể liên quan tới mạng lưới ĐH ủng hộ cho lối cấp ngân sách cào bằng, thì những nỗ lực nhằm phân biệt về sứ mạng của những trường đang tồn tại, đôi khi những trường có tiếng nói mạnh mẽ về mặt chính trị, sẽ cản trở việc nhà nước chính thức giao cho trường nào đó làm ĐH hoa tiêu cùng với một nguồn lực đặc biệt. Tuy vậy những trường hàng đầu của khu vực hay của cả nước, với nhiều đặc điểm giống như các ĐH hoa tiêu, bao gồm nhiều ngành đào tạo đa dạng và một văn hóa chú trọng phục vụ cộng đồng, có thể tự xác định mình là một ĐH hoa tiêu, vận dụng cách diễn đạt này để giúp định hình văn hóa của nhà trường cũng như coi đó là bản chất của nhà trường để thảo luận với Bộ giáo dục và là hình ảnh nhà trường bộc lộ trước công chúng.   •    Biến tố nhân khẩu học và tăng trưởng kinh tế – Các nước có dân số đang tăng, thường cũng tăng nhanh về sự đa dạng, trong đó có các nhóm nhập cư, là những nước đặc biệt có nhu cầu về những trường được xem là ĐH hoa tiêu. Nhìn chung, tuy không phải bao giờ cũng thế, các trường ĐH vận hành trong một môi trường đòi hỏi về ngân sách và của sinh viên ngày càng tăng. Dân số giảm hay ổn định tạo ra môi trường khó khăn hơn cho ĐH hoa tiêu, nhưng có thể khiến họ tập trung nhấn mạnh vào một đặc điểm nào đó ví dụ như phục vụ cộng đồng, chuyển giao công nghệ và trực tiếp phục vụ  cho việc phát triển kinh tế ở địa phương.    •    Phân biệt giới, chủng tộc và giai cấp – Một biến số liên quan tới nhân khẩu học là những chính sách và thực tiễn văn hóa phân biệt giới, chủng tộc và giai cấp. Mọi xã hội đều có ít nhiều tệ nạn phân biệt này; là thứ có thể loại ra hay chia tách một nhóm người nhất định không phải vì năng lực trí tuệ của họ mà vì những định kiến xã hội.  Một cực đoan trong phân biệt giới là loại trừ phụ nữ trong một số hay tất cả hình thức học ĐH. Những hình thức chia tách ấy, chính thức hay không chính thức, đã ngăn chặn bất cứ nước nào muốn đạt đến một trường ĐH hoa tiêu hay bất cứ tuyên bố nào về ĐH ĐCQT.    •    Truyền thống dân chủ và một chính phủ ổn định – Những nước có truyền thống dân chủ mạnh mẽ và có một niềm tin phổ biến vào năng lực và sự cởi mở của chính phủ, cùng với nền kinh tế đa dạng và phát triển, nhìn chung sẽ mang lại cơ sở vững chắc cho một hệ thống GDĐH giàu sức sống cũng như cho mô hình ĐH hoa tiêu. Những quốc gia thất bại, hay những nước có cơ chế tập trung hóa cao độ, hay là bị chính trị kiểm soát quá chặt chẽ thì sẽ tạo ra nhiều hạn chế đáng kể khiến các trường khó lòng gắn bó đầy đủ với lý tưởng của một ĐH hoa tiêu, hoặc khó lòng được công nhận cương vị ĐH ĐCQT.  Đồng thời, một số nước với truyền thống dân chủ mạnh mẽ cũng có thể có các cơ quan quản lý giáo dục nhà nước liên tục theo đuổi những thay đổi trong cơ chế giải trình trách nhiệm và cấp tài trợ, khiến môi trường chính sách thành ra không ổn định đòi hỏi các trường phải điều chỉnh nhiều lần cho thích hợp với những đìi hỏi từ bên ngoài. Điều này trái ngược với đặc tính quan trọng của ĐH hoa tiêu là nhấn mạnh cơ chế bảo đảm chất lượng nội bộ và chiến lược của nhà trường để trở thành thiết yếu cho khu vực và cho quốc gia.   •    Hệ thống tuyển sinh có chất lượng – Đường vào ĐH, trong đó có chất lượng của giáo dục trung học dành cho dân chúng cả nước, là một yếu tố chính làm cột trụ cho một trong những mục tiêu của trường ĐH hoa tiêu: công bằng trong cơ hội vào ĐH, nhằm phục vụ cho con đường chuyển dịch kinh tế xã hội lành mạnh. Hầu hết các trường ĐH hiện nay, kể cả những trường có thứ hạng cao hay tự xem mình là trường đỉnh, đều làm ngơ không lý gì tới tiềm năng của họ có thể giúp định hình và tác động đến chất lượng của các trường phổ thông.  Như đã nêu vắn tắt trong mô hình ĐH hoa tiêu, có nhiều hoạt động mà các trường ĐH có thể can dự vào để hỗ trợ hệ thống giáo dục phổ thông, như cải thiện chương trình đào tạo, mang lại trải nghiệm có tính hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, v.v.  •    Một xã hội cởi mở  – Những nước đang gánh chịu các hình thức phân biệt cực đoan, những nước không có khả năng bảo đảm tự do diễn đạt một cách đáng kể hay tiêu chuẩn về tự do học thuật không được hiểu biết rộng rãi, là những nước đang tự loại trừ họ ra ngoài việc có được những trường ĐH thực sự vĩ đại, trong đó có mô hình ĐH hoa tiêu. Giới hàn lâm và giới lãnh đạo hiểu rất rõ điều này và đã có nhiều nỗ lực để cải thiện tình trạng ấy trong những nước có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước về thông tin và về mọi hình thức chống đối.xxxviii  •    Thu hút và giữ chân người tài – Có một sự thật vô cùng đơn giản: chất lượng và thành quả của một trường ĐH, dù là ĐH hoa tiêu hay bất kỳ ĐH nào khác, được quyết định bởi chất lượng và đạo đức của đội ngũ giảng viên trường ấy. Điều này dẫn đến một dấu hiệu nhận diện khác của ĐH hoa tiêu, là chất lượng hàng đầu của sinh viên sau ĐH, những người đang làm việc ngày càng nhiều trong không gian toàn cầu. Nhưng có nhiều biến tố khác khiến cho việc tuyển dụng và giữ chân người tài trở nên khó khăn. Có phần vì trong những nền kinh tế đang phát triển, nhìn chung đang thiếu cả những chương trình đào tạo tiến sĩ lẫn cả giảng viên và nghiên cứu sinh. Giảng viên có đủ uy tín và phẩm chất để đào tạo bậc tiến sĩ thì thường được đào tạo từ nước ngoài và có nhiều cơ hội để làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Khó mà giữ chân họ khi những công việc ở các nước phát triển được trả tiền cao hơn nhiều dĩ nhiên là có sức hấp dẫn hơn.   Một loạt công trình nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Chuyển đổi GDĐH đã nêu ra vắn tắt những khó khăn về mặt năng lực của các trường ĐH tiểu vùng Sahara Châu Phi, do thiếu giảng viên có bằng tiến sĩ, thiếu hụt nguồn cung để đáp ứng cho nhu cầu về giảng viên  ngày càng tăng, cùng với nó là thiếu nguồn tài chính và thời gian cho giảng viên làm nghiên cứu.xxxix    Hiện tượng chuyển dịch tài năng trên phạm vi toàn cầu, dù là giảng viên, nhân viên, hay sinh viên, vừa là một lợi ích vừa là một thách thức.  Các trường ĐH có thể dùng những chiến lược gì để tạo ra một tập thể đủ lớn các nhà khoa học từ cỡ giỏi đến cỡ hàng đầu, và giữ chân họ? Câu trả lời khác nhau rất nhiều và chịu tác động bởi nhiều vấn đề: chất lượng sống, tiền lương, khối lượng giảng dạy, nhận thức về mục đích và sinh khí của bản thân nhà trường. Mô hình hoa tiêu nhấn mạnh vào giá trị của nhà trường, những mong đợi của giảng viên và vai trò thích hợp của họ trong việc lãnh đạo và quản lý nhà trường. Tuy nhiên, chính phủ không ổn định, chính sách bên ngoài thay đổi liên tục, tệ nạn phân biệt (chủng tộc, giới tính, giai cấp), hay tình trạng thiếu hụt tự do học thuật, là những yếu tố làm cho việc xây dựng và duy trì một đội ngũ giảng viên và nhân viên tài năng thêm phần khó khăn.    •    Năng lực lãnh đạo và quản lý nhà trường  – Mô hình hoa tiêu nhấn mạnh nhiều đến yếu tố vận hành của nhà trường, trong đó có mức độ tự chủ, vai trò của giảng viên trong việc quản lý hoạt động khoa học và đào tạo, kỳ vọng đặt ra cho giảng viên và quy trình phát triển đề bạt, những chính sách về tự do học thuật.v.v. Tuy thế, vẫn có những nhân tố khác liên quan đến năng lực lãnh đạo và quản lý, ví dụ như phẩm chất của người lãnh đạo, sự kính trọng mà giảng viên dành cho họ, năng lực của họ trong việc tạo ra một quy trình tư vấn và tạo sự đồng thuận với những đề xướng chính sách chủ yếu, cũng như với việc sử dụng ngân sách. Những trường phải thường xuyên đáp ứng với các chỉ thị hướng dẫn ở cấp Bộ, về việc ngân sách phải tiêu vào việc gì và như thế nào, hay nói cách khác, có mô hình tổ chức tập trung cao độ, trong đó các trường và các khoa dường như được miễn trừ khỏi những sáng kiến cải cách và phân bổ ngân sách, là những trường đã tự làm giảm năng lực của mình trong việc trở nên trưởng thành và mở rộng vai trò của mình đối với xã hội.     Ngoài những biến tố bối cảnh tác động đến điều kiện hình thành những trường chất lượng hàng đầu như đã nêu trên, người ta cũng nhận thức được những khó khăn đầy dẫy trong mô hình hoa tiêu. Phải thú nhận rằng, đây là một nỗ lực thăm dò  duy nhất để đem lại ý nghĩa cho ý tưởng về một trường ĐH hoa tiêu, phần nào bị trở ngại là vì mô hình này chưa bao giờ được định nghĩa đầy đủ ngay cả trong bối cảnh Hoa Kỳ. Để khám phá ý nghĩa của mô hình ĐH hoa tiêu, cũng như thử nghiệm chỗ mạnh yếu của nó, sau đây  là những câu hỏi và một phần câu trả lời về mô hình ĐH hoa tiêu và khả năng áp dụng của nó:  •    Mô hình này thiết yếu cho các nền kinh tế phát triển hay cho những nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi? – Mô hình hoa tiêu mà chúng tôi trình bày ở đây có ý nghĩa thiết yếu cho cả những nước đã phát triển (như Tây Ban Nha hay Hy Lạp) và các nền kinh tế đang phát triển, nhưng nhiều khả năng là có tác động nhất đối với những nước vẫn còn trong quá trình mở rộng và định hình hệ thống GDĐH. Các nền kinh tế phát triển thường có một hệ thống pha trộn nhiều loại trường hiện đang tồn tại, đôi khi như ở Đức và Pháp, một mạng lưới các trường/viện ĐH nghiên cứu với năng suất rất cao như Max Planck Institutes và CNRS/Grands Etablissements hoạt động chủ yếu tách biệt với khu vực ĐH công. Điều này có nghĩa là vai trò dẫn đầu của các trường này trong hệ thống giáo dục quốc gia là rất hạn chế, và về mặt chính trị rất khó đạt được. Tuy thế nét nổi bật trong ý nghĩa thiết yếu với quốc gia và khu vực, sự đa dạng trong các lĩnh vực chuyên ngành, các chính sách và hoạt động chủ yếu như đã nêu ra trên đây, vẫn có thể áp dụng với những điều chỉnh cần thiết với môi trường chính trị địa phương và nguồn tài trợ.   Những nền kinh tế đang phát triển có một khoảng không gian rộng lớn hơn cho vai trò lãnh đạo của trường ĐH hoa tiêu, trong đó nó là một bộ phận của một hệ thống lớn hơn và tìm cách ảnh hưởng lên hệ thống ấy qua việc giúp nó định dạng và phát triển. Nói chung có nhiều cơ hội hơn để mở ra các chương trình đào tạo và cùng làm việc với các doanh nghiệp, các tổ chức nhà nước trong cộng đồng địa phương.   Nhưng cũng có vô vàn khó khăn về mặt tài chính, và, chẳng hạn như ở Châu Phi, khó khăn trong đào tạo, thu hút và giữ chân những giảng viên tài năng. Lương thấp so với chi phí sinh hoạt khiến giảng viên phải tìm cách làm thêm– thường là giảng dạy ở trường khác. Thiếu một cơ chế đồng quản trị, hay đơn giản chỉ là lãnh đạo thiếu kinh nghiệm hay thiếu khả năng, nhiều khi khiến những giảng viên có tài tìm nguồn tài trợ và thực hiện những nghiên cứu của họ với những tổ chức hay viện nghiên cứu bên ngoài nhà trường.  Một biến tố khác liên quan tới bối cảnh quốc gia: một số nền văn hóa duy trì sự tồn tại của mình phần nào qua những hình thức tham nhũng khác nhau cũng sẽ đặt ra khó khăn trầm trọng cho các trường, ngay cả trong số những trường được xếp hạng cao nhất nước, để có thể trưởng thành như một hình mẫu của ĐH hoa tiêu. Một số vùng trên thế giới có những luật lệ phong tục khắc nghiệt hạn chế khả năng phụ nữ có thể can dự vào giáo dục bậc cao hay tham gia vào thị trường lao động ngang bằng như nam giới. Một số nước có những chính sách và thực tế hạn chế tự do học thuật. Tất cả những biến tố đó khiến cho lý tưởng của ĐH hoa tiêu gần như không thể nào đạt được.   Các trường có tham vọng với mô hình hoa tiêu trong các nền kinh tế đang phát triển hay đang chuyển đổi, cũng đương đầu với vấn đề cung cầu về sinh viên tốt nghiệp, và về việc tạo ra những sinh viên tài năng, những người sẽ tìm cơ hội phát triển ở những nước tiên tiến  – nguy cơ “chảy máu chất xám” vẫn còn là một quan ngại chính sách nghiêm trọng. Chúng tôi vẫn đang thấy một phong trào di chuyển nổi bật của giới hàn lâm từ phía nam tiến về phía bắc. Chúng ta mong muốn là hiện tượng chảy máu chất xám rút cục sẽ được thay thế bằng khái niệm “lưu thông chất xám” khi những người tài, giảng viên, nhân viên, sinh viên, giới doanh nghiệp,–ngày càng di chuyển nhiều hơn giữa các nước, các khu vực kinh tế. Chúng ta đã thấy mô hình này trong những nền kinh tế phát triển bậc nhất, và cả ở những vùng ít phát triển hơn, như một số nơi ở châu Âu. Nhiều nước có nền kinh tế đang phát triển đã xây dựng những chương trình thu hút giới học thuật tài năng, hầu hết là các nhà khoa học và kỹ sư, và những người bản xứ nay đã là công dân ở các nước phát triển, về làm việc trong các trường đỉnh của mình. Mô hình hoa tiêu, với đặc điểm của nó, có thể hỗ trợ cho những nỗ lực này, mang lại những giá trị làm cho những trường này trở nên hấp dẫn hơn.      Đồng thời, nhiều nước cũng đang gặp khó khăn trong việc đem lại cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, như ở Trung Quốc, Tây ban Nha, và ngay cả ở Mỹ. Đây là một sự đứt đoạn phần nào phản ánh cấu trúc của nền kinh tế. Ở Trung Quốc chẳng hạn, khu vực dịch vụ và các bộ phận khác của nền kinh tế cần người có trình độ cao vẫn còn tương đối nhỏ, mặc dù đang lớn dần.xl Ở Tây ban Nha, cũng có những khó khăn tương tự, tuy tỉ lệ thất nghiệp hẳn nhiên cũng là hậu quả của suy thoái kinh tế và sự hồi phục rất chậm của các doanh nghiệp. Tuy thế một trong những câu chuyện tuyệt vời trong sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, và là sự hỗ trợ cho quá trình dịch chuyển kinh tế xã hội, là hầu hết các tiểu bang đã tìm cách tạo ra nhu cầu với những người có bằng đại học trước khi nó trở thành một đòi hỏi nổi bật, rút cục là tạo đà cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tôi cảm thấy bài học lịch sử này ngày nay vẫn còn có ý nghĩa nổi bật.  •    Phải chăng có thể thấy nhiều trường ĐH Quốc gia đang đóng vai trò là các trường ĐH hoa tiêu? – Nhiều trường có một số yếu tố của mô hình hoa tiêu, nhưng thiếu tự chủ, hoặc thiếu sự phong phú của các lĩnh vực chuyên ngành (rất nhiều trường được xếp hạng trên đỉnh chỉ tập trung vào khoa học tự nhiên và công nghệ), hoặc chưa chú trọng trách nhiệm phục vụ cộng đồng, hoặc chưa đủ năng lực và chính sách quản lý chất lượng nội bộ, hoặc kết hợp một số trong những điểm ấy. Trong lúc đó, các trường ĐH quốc gia, hay một nhóm nhỏ các trường tinh hoa, có danh tiếng và có ảnh hưởng trong một nước, một số trong đó đang khao khát vươn tới địa vị trường ĐH ĐCQT, có phần là để giành được tài trợ từ chính phủ. Đó là những trường có khả năng cao nhất để trở thành các trường ĐH hoa tiêu.  •    Mô hình hoa tiêu có cần được nhà nước chính thức xác nhận và cấp ngân sách? –  Như đã nêu trên, mô hình hoa tiêu có thể là một khát vọng, giúp định hướng cách xử sự của những trường đã tương đối (hoặc rất) trưởng thành, những trường nhìn thấy giá trị của mình trong việc phục vụ lợi ích công. Mô hình này có khả năng thay thế, hoặc giúp điều chỉnh lại hình mẫu về ĐH ĐCQT.  Ngày càng nhiều người công nhận rằng cần có sự khác biệt về sứ mạng của các trường, nghĩa là không phải tất cả các trường đều như nhau. Cuộc chạy đua ĐH ĐCQT chỉ là một ví dụ về sự công nhận này; phổ biến hơn là những nỗ lực gián tiếp tạo ra sự phân biệt, ví dụ như rà soát và điều chỉnh cơ chế cấp ngân sách, như ở Anh.        Rút cục, sự tiến triển được mong muốn sẽ là có một số trường, có thể thông qua cạnh tranh do chính phủ phát động, đạt được sự công nhận của nhà nước, là ĐH hoa tiêu– điều chỉnh từ hình mẫu ĐH ĐCQT là thứ đang làm các bộ giáo dục và một số trường mê đắm. Tự xác định mình là ĐH hoa tiêu cũng là con đường khả dĩ, con đường này ít gặp sự kháng cự chống đối hơn, nhưng có lẽ cần một đoạn đường dài để đạt được mục tiêu nếu không có nguồn tài chính bổ sung nào khác. Tuy vậy, một số trường có thể tự xác định con đường của mình là trở thành ĐH hoa tiêu, thông qua chiến lược và kế hoạch đào tạo của mình để vận động nguồn tài trợ từ chính phủ.   •    Một trường tư có thể trở thành một trường ĐH hoa tiêu của quốc gia hay không? – Lý tưởng hoa tiêu có con đường phát triển lịch sử từ trường công, với trách nhiệm chủ yếu (ở Mỹ cũng như ngày càng nhiều trên phạm vi quốc tế) là nhấn mạnh việc phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch xã hội. Tuy thế nhiều trường tư trong đó có những trường thuộc các tổ chức Thiên chúa giáo, có chứa ít nhiều đặc điểm của ĐH hoa tiêu và mong muốn đạt được một hồ sơ thành tích như những gì đã được miêu tả ở phần trên. Nhưng tôi có khuynh hướng xem mô hình này là phù hợp nhất cho một nhóm nhỏ trường công được giao nhiệm vụ trở thành dẫn đầu cho cả hệ thống và gắn tài trợ của ngân sách công với việc thúc đẩy phục vụ lợi ích công và giúp định hình cho giáo dục phổ thông nói chung.   Đang có một khoảng trống hiểu biết về việc tại sao các trường hàng đầu lại tồn tại, và tham vọng của họ nên là như thế nào. Cho đến nay, hình ảnh hoa mỹ về ĐH ĐCQT vẫn đang là động lực ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ nhiều nước (không phải tất cả đều dở) và cách xử sự của các trường (không phải tất cả đều dở). Tuy thế hình mẫu này có một tầm nhìn quá hạn chế, theo quan điểm của tôi, thực chất đã là một lực lượng kìm hãm các trường đại học quốc gia trong việc đạt được những gì họ cần phải đạt đến.      Trường ĐH hoa tiêu, với một hồ sơ có tính chất thăm dò được đưa ra trên đây, là một mô hình bổ sung và chắc chắn là toàn diện hơn có thể áp dụng cho một nhóm nhỏ các trường ĐH chủ chốt.  Tuy các chính phủ và các bên liên quan khác có quyền chính đáng để tác động lên sứ mạng và hoạt động của các trường cũng như định dạng cho nó, mô hình hoa tiêu theo nhận thức của tôi có thể mang lại một con đường cho một số trường để  tìm kiếm bản sắc của nhà trường một cách rõ nét hơn, tạo ra một nền văn hóa tự cải thiện mạnh mẽ hơn, và cuối cùng, đóng góp lớn lao hơn cho sự phát triển kinh tế và sự chuyển dịch kinh tế xã hội mà nước nào cũng đều mong đạt đến. Để điều đó biến thành hiện thực, một số trường cần phải gắn bó với một mô hình rõ nét và bày tỏ dứt khoát về con đường của mình. Một lần nữa, ĐH ĐCQT và hình mẫu tạo ra bởi các bảng xếp hạng vẫn đang lan tràn phổ biến khắp nơi, trở thành một phần lớn trong văn hóa nhận thức của các bộ giáo dục, các nhà quản lý, các học giả về GDĐH, và có thể sẽ chẳng bao giờ bị thay thế.    Viết xong ngày 22.1.2014    PHỤ LỤC 1  Đặc điểm của Trường ĐH ĐCQT   Nguồn: Jamil Salmi, Thách thức trong việc xây dựng ĐH ĐCQT” World Bank 2009; Alden, J., and G. Lin. 2004. “Đối sánh đặc điểm của Trường ĐH ĐCQT: Xây dựng chiến lược quốc tế ở cấp trường.”  Leadership Foundation for Higher Education, London.  o    Có uy tín quốc tế trong nghiên cứu;  o    Có uy tín quốc tế trong hoạt động giảng dạy;  o    Có một số ngôi sao trong hoạt động nghiên cứu, những người dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực chuyên ngành của họ;  o    Không những được những trường ĐH ĐCQT khác công nhận, mà còn cả thế giới bên ngoài GDĐH cũng công nhận;  o    Có một số đơn vị, khoa, trung tâm đạt đẳng cấp quốc tế (nghĩa là, không nhất thiết mọi đơn vị);  o    Được xây dựng trên thế mạnh của mình về nghiên cứu và có uy tín cũng như trọng tâm đặc biệt (nghĩa là, hàng đầu trên những lãnh vực cụ thể);    o    Tạo ra những ý tưởng cách tân, tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng;  o    Làm ra những kết quả nghiên cứu đột phá được giới chuyên môn công nhận thể hiện qua các giải thưởng (ví dụ, được trao giải Nobel);  o    Thu hút được những sinh viên tài năng và tạo ra những người tốt nghiệp tốt nhất;   o    Có thể thu hút và giữ chân được những giảng viên tài năng nhất;  o    Có thể tuyển dụng được giảng viên quốc tế và thu hút được sinh viên quốc tế trên thị trường toàn cầu;  o    Thu hút được nghiên cứu sinh với tỉ lệ cao (để đào tạo họ và để làm nghiên cứu);  o    Thu hút một tỉ lệ cao sinh viên quốc tế;  o    Hoạt động trong thị trường toàn cầu và mang tính chất quốc tế trong nhiều hoạt động (ví dụ, liên kết trong nghiên cứu, giao lưu giảng viên và sinh viên, nhiều khách quốc tế là những người có cương vị và thành tích cao);   o    Có nền tảng tài chính vững chắc;  o    Nhận được nguồn vốn hiến tặng và thu nhập lớn;  o    Có nguồn thu đa dạng (ví dụ, từ ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp hay khu vực tư nhân, từ các hợp đồng nghiên cứu, và từ học phí của sinh viên nước ngoài);  o    Mang lại một môi trường học tập/nghiên cứu có tính chất hỗ trợ và có chất lượng cao cho giảng viên và sinh viên (ví dụ, cơ sổ vật chất và trang thiết bị hiện đại);  o    Có đội ngũ quản lý hạng nhất, với tầm nhìn chiến lược và một kế hoạch hành động;    o    Đào tạo ra những người cuối cùng sẽ đạt đến vị trí có ảnh hưởng lớn hay có quyền lực (tức là, những người tạo ra chuyển động mạnh mẽ ví dụ như thủ tướng hay tổng thống);  o    Có một lịch sử thành tựu lâu dài (ví dụ như Cambridge ở Anh hay Harvard ở Hoa Kỳ);  o    Có những đóng góp lớn lao cho xã hội và thời đại;  o    Không ngừng tự đối sánh mình với những trường thuộc hàng đỉnh cao khác trên teh61 giới, và   o    Tự tin xác lập kế hoạch hành động của riêng mình   Người dịch: Phạm Thị Ly  Viện Đào tạo Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM  —    Tài liệu tham khảo:  Alden, J., and G. Lin. (2004). “Benchmarking the Characteristics of a World-Class University: Developing an International Strategy at University Level.”  Leadership Foundation for Higher Education, London.  Altbach, Philip (2005). “A world class country without world class higher education: India’s 21st century dilemma,” International Higher Education Summer 2005.  Altbach, Philip (2003). “The costs and benefits of world-class universities,” International Higher Education (Fall 2003)  Asian Development Bank News (2001). “Viet Nam to Build its First World-Class University.” http://www.adb.org/Documents/News/VRM/vrm_200107.asp  Business Weekly (2002). “Building top-notch universities.” (April 24, 2002) Web-site: http://www.chinadaily.com.cn/chinagate/doc/2002-04/24/content_247215.htm  Cheng, Y & Liu, N.C. (2005). “Forecasting world class universities from GDP perspective,” In Liu, Nian Cai, ed. (2005) Proceedings of the First International Conference on World-Class Universities (WCU-1) (Shanghai: Shanghai Jiao Tong University).  Chirikov, Igor (2013). “Research Universities as Knowledge Networks: The Role of Institutional Research, Studies in Higher Education, Vol. 38. No. 3: 456-469.  Cloete, N. et al (2011). Universities and Economic Development in Africa, Higher Education Research and Advocacy Network in Africa (HERANA) Centre for Higher Education Transformation, Cape Town, South Africa.  Douglass, J.A. (1998). “Shared Governance at the University of California,” CSHE Research and Occasional Papers, CSHE.1.98 (March) http://cshe.berkeley.edu/shared-governance-university-california-historical-review;  Douglass, J.A. (2009). “Higher Education’s New Global Order: How and Why Governments are Creating Structured Opportunity Markets,” CSHE Research and Occasional Papers Series, December: http://cshe.berkeley.edu/publications/publications.php?id=348.  Douglass, J.A. (2009). “The Race for Human Capital” in J. A. Douglass, C.J King and I. Feller (ed.), Globalization’s Muse: Universities and Higher Education Systems in a Changing World (Berkeley Public Policy Press 2009).  Douglass, J.A. (2012). “China Futurisms: Research Universities and Leaders or Followers?” Social Research: An International Quarterly, vol.79, no. 3, pp. 639-688.  Eaton, Judith (2004). “The opportunity cost of the pursuit of international quality standards,” International Higher Education (Summer 2004)  Filliatreau, Ghislaine and Michel Zitt (2005). “Being a World-Class University: Bibliometric Considerations,” In Liu, Nian Cai, ed. (2005) Proceedings of the First International Conference on World-Class Universities (WCU-1) (Shanghai: Shanghai Jiao Tong University).  Fong, Pang, & Linda Lim (2003). “Evolving great universities in small and developing countries,” International Higher Education (Fall 2003)  Frazer, Malcolm (1994). “Quality in Higher Education: An International Perspective,” in Diana Green, ed., What Is Quality in Higher Education? London: Society for Research into Higher Education, 1994, pp. 101-111  Huisman, J. (2008). World-class universities. Higher Education Policy, 21(1), 1–4.  Hobbs, Arthur (1997). “World Class University and cultural diversity,” Web-site: http://www.math.tamu.edu/~arthur.hobbs/3d.html  Jackman, W. Robert and Randolph M. Siverson (1996). “Ratings the Rating: An Analysis of the National Research Council’s Appraisal of Political Science Ph. D. Programs.” PS: Political Science and Politics, Vol. 29, No. 2 (Jun., 1996), 155-160.  Jiang, Xueqin (2001). “China’s Top 2 Universities Try for ‘World Class’ Status.” The Chronicle of Higher Education Web-site: http://chronicle.com/weekly/v48/i17/17a03301.htm  King, R. (2011). Universities Globally: Organizations, Regulation and Rankings. Cheltenham: Edward Elgar.  King, Christine (2003). “World Class?” Web-site:   http://education.guardian.co.uk/worldclass/story/0,14048,1085324,00.html  Knobel, Marcelo, Tania Patricia Simoes, and Carlos Henrique de Brito Cruz (2013). “International Collaborations Between Universities: Experiences and Best Practices,” Studies in Higher Education, 2013, Vol. 38. No. 3: 405-424.  Lee, Gilton (2000). “Brain Korea 21: A development-oriented national policy in Korean higher education,” International Higher Education (Spring 2000)  Liu, N. C., Wang, Q., & Cheng, Y. (Eds.). (2011). Paths to a World-Class University. Global Perspectives in Higher Education, 43. Rotterdam: Sense Publishers.  Ma, W. (2008). The University of California at Berkeley: An emerging global research university. Higher Education Policy, 21(1), 65–81.  Marginson, S. (2008). “Ideas of a University for the global era.” Paper for seminar on Positioning University in the Globalized World: Changing Governance and Coping Strategies in Asia. Centre of Asian Studies, The University of Hong Kong; Central Policy Unit, HKSAR Government; and The Hong Kong Institute of Education, 10-11 December, The University of Hong Kong.  Marginson, S. (2011). Higher Education in East Asia and Singapore: Rise of the confucian model. Higher Education, 61(5), 587–611.  Mohrman, Kathryn (2005). “World-class universities and Chinese higher education reform,” International Higher Education (Spring 2005).  Mowery, David C., Richard R. Nelson, Bhaven N. Sampat, and Arvids A. Zeidonis (2004). Ivory Tower and University-Industry Technological Transfer Before and After the Bayh-Dole Act, Stanford CA: Stanford University Press.  National Research Council (1995). Research-Doctorate Programs in the United States: Continuity and Change. Washington, DC: National Academy Press.  Ngok, Kenglun & Weiging Guo (2008). The Quest for World Class Universities in China: critical reflections, Policy Futures in Education, Vol 6, No 5.  Niland, John (2000). “The challenge of building world class universities in the Asian region,” On Line opinion (Australia’s e-journal of social and political debate) Website: http://www.onlineopinion.com.au/view.asp?article=997  Postiglione, G. (2011). The rise of research universities: The Hong Kong University of Science and Technology. In P. Altbach & J. Salmi (Eds.), The Road to Academic Excellence: The Making of World-Class Research Universities (pp. 63–100). Washington: The World Bank.   Proctor, Lita M (2005). “Presentation to the President’s commission of the future of FSU,” Web-site: http://www.fsu.edu/~future/proctor.html  Proulx, R. (2005). “Criteria for ranking universities with affiliated components” In Liu, Nian Cai, ed. (2005) Proceedings of the First International Conference on World-Class Universities (WCU-1) (Shanghai: Shanghai Jiao Tong University).  Shattock, M. (2013). “University Governance, Leadership and Management in a Decade of Diversification and Uncertainty,” Higher Education Quarterly, Vol 67, No 2, pp. 217-233.  Stensaker, B. (2013). “Re-Inventing Shared Governance: Implications for Organizational Culture and Institutional Leadership, Higher Education Quarterly, Vol 67, No 2, pp. 256-274.  Tijani, Ibikunle H. (2013). “Developing World Class Universities in Nigeria: Challenges, Prospects and Implications,” paper delivered at the 2nd FUNAI Leadership Development Seminar, Federal University Ndufu-Alike Ikwo, Ebonyi State, Nagieria, June 5.  Salmi, Jamil, and Alenoush Saroyan (2007). League Tables as Policy Instruments: Uses and Misuses. Higher Education Management and Policy 19 (2): 31–68.   Vest, Charles (2005). “World class universities: American lessons,” International Higher Education (Winter 2005).  Volkwein, Fredericks J., Ying Liu, and James Woodell (2012). “The Structure and Functions of Institutional Research Offices,” in Howard, Richard D., Gerald W. MacLaughlin, and William E. Kight (ed), The Handbook of Institutional Research, San Francisco: Josse-Bass.  Wang, Yingjie (2001). “Building the world-class university in a developing country: universals, uniqueness, and cooperation.” Asia Pacific Education Review (2001), Vol. 2, No.2.  Wende, M. C. van der. (2009). European Responses to Global Competitiveness in Higher Education. Research and Occasional Paper Series, No.7, 2009. Berkeley: Center for Studies in higher Education, University of California: http://cshe.berkeley.edu/european-responses-global-competitiveness-higher-education.  xxxviii “Hefei Statement on the Ten Characteristics of Contemporary Research Universities” joint statement of the Association of American Universiities, Group of Eight, League of European Research Universities, Chinese 9 Universities October 10, 2013: See http://www.leru.org/files/news/Hefei_statement.pdf  xxxix Nico Cloete et al (2011). Universities and Economic Development in Africa, Higher Education Research and Advocacy Network in Africa (HERANA) Centre for Higher Education Transformation, Cape Town, South Africa.  xxxx Thảo luận về những thách thức mà các trường ĐH Trung Quốc đang đương đầu, xem “China Futurisms: Research Universities and Leaders or Followers?” Social Research: An International Quarterly, vol.79, no. 3 Fall 2012, pp. 639-688: http://socialresearch.metapress.com/link.asp?id=bv6l4755157834u4 ; a version published in University World News Dec 16, 2012 Issue No 252:   http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20121212160450595  (Đã được dịch ra tiếng Việt. Xem bản tin IIE số 8-2013)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình ĐH hoa tiêu (Kỳ I): Các bảng xếp hạng xác định đẳng cấp thế giới như thế nào?      GS John Aubrey Douglass (Trung tâm Nghiên cứu GDĐH, ĐH California, Berkeley) đề xuất mô hình ĐH hoa tiêu với sứ mạng trở thành hàng đầu của quốc gia hay khu vực theo nghĩa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương. Thay vì phải tìm cách đáp ứng thước đo của các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu như ĐH đẳng cấp quốc tế, những trường này hoạt động trên nền tảng văn hóa tự cải thiện và một cơ chế đảm bảo chất lượng được chi phối bởi những động lực nội tại.    Đại học đẳng cấp quốc tế (ĐH ĐCQT) là một khuôn mẫu quen thuộc nếu không muốn nói là đã được giải thích đầy đủ. Một trường ĐH được xem là “đẳng cấp quốc tế” khi nó có thành quả nghiên cứu chiếm thứ hạng cao trên bảng xếp hạng, một văn hóa ưu tú, cơ sở hạ tầng tuyệt vời, và một thương hiệu vượt qua biên giới quốc gia. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất, đó phải là một trường được xếp thứ hạng cao trong một hay nhiều bảng xếp hạng ĐH toàn cầu được các tổ chức vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận xây dựng hàng năm. Đó là bằng chứng tối hậu cho chính phủ nhiều nước và cho phần lớn cộng đồng GDĐH.  Hay liệu có phải là như thế?   Hiện tượng xếp hạng ĐH quốc tế tương đối gần đây gắn với một dải hẹp dữ liệu và điểm số đánh giá mức độ danh giá của nhà trường. Điểm chỉ số trích dẫn thiên về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, thiên về những gì được tính đến trong các tập san có bình duyệt– (chủ yếu là các tập san ở Hoa Kỳ và châu Âu, và bằng tiếng Anh), và nghiêng về một nhóm nhỏ chọn lọc bao gồm những trường ĐH có tên tuổi lớn, những cái tên luôn được xếp hạng cao trong mọi cuộc khảo sát về danh giá, cùng với số người đạt giải Nobel hay những giải thưởng khác của các ngôi sao trong giới hàn lâm.    Không phải là những chỉ báo này không hữu ích hay không có ý nghĩa thông tin. Nhưng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở các nước đã đặt quá nhiều tin tưởng vào một mô hình không thể nào đạt được hoặc không có ích gì đối với nhu cầu kinh tế và sự chuyển dịch kinh tế – xã hội ở nước họ.  Họ nhắm vào một tập hợp nhỏ các trường ĐH để giành lấy vị trí trong bảng xếp hạng này hay bảng xếp hạng khác bằng cách xây dựng một cơ chế giải trình trách nhiệm đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách xử sự của lãnh đạo các trường, và rút cục là đến giới giảng viên. Cái đó cũng có chỗ tốt, khi nó khích lệ việc tái xác định văn hóa bên trong của hệ thống ĐH ở một số nước vốn đang thiếu những chính sách có hiệu quả và kinh nghiệm về kiểm soát chất lượng và trách nhiệm giải trình. Nhưng nó cũng gây ra một cuộc chơi cho lãnh đạo các trường ĐH và đang thúc đẩy các trường hành động hướng về một mô hình không rõ ràng của cuộc cạnh tranh toàn cầu, một mô hình không phải là tốt nhất cho lợi ích của quốc gia mà nó phải phục vụ.          Hình 1 – Nhóm các trường luôn đạt thứ hạng cao trên bảng xếp hạng Times Higher Education (UK based) – Kết quả xếp hạng 2013               1.    Caltech              2.    Harvard University              3.    University of Oxford              4.    Stanford University              5.    MIT              6.    Princeton University              7.    University of Cambridge              8.    UC Berkeley              9.    University of Chicago              10.    Imperial College London              11.    Yale University              12.    UCLA              13.    Columbia University              14.    ETH Zurich              15.    Johns Hopkins University              16.    University of Pennsylvania              17.    Duke University              18.    University of Michigan              19.    Cornell University              20.    University of Toronto              21.    University College London              22.    Northwestern University              23.    University of Tokyo              24.    Carnegie Mellon University              25.    University of Washington              Source: Times Higher Education/Thomson Reuters World University Rankings        Trong phần tiếp theo tôi sẽ thử vận động ủng hộ cho khái niệm ĐH hoa tiêu như một lý tưởng thiên về sự thiết yếu cho xã hội – một mô hình cho các trường ĐH công và có thể với một số ĐH tư –  có thể thay thế hoặc bổ sung, hoặc trở thành một sự lựa chọn khác về nhận thức, cách xử sự và mục tiêu cho chính phủ các nước và các trường ĐH trong động lực đạt đến một cương vị cao và tạo ra ảnh hưởng với xã hội. Đó là một mô hình không bỏ qua chuẩn mực quốc tế về sự ưu tú, vốn tập trung nhiều vào năng suất nghiên cứu, nhưng đặt nền tảng vững chắc trên sự phục vụ nhu cầu thực sự của quốc gia và của khu vực, với những đặc điểm và trách nhiệm cụ thể mà chúng ta phải công nhận là sẽ không thích nghi với cơ chế của các bảng xếp hạng. Thực ra, một mục đích ở đây là diễn đạt một con đường, một tiếng nói của mô hình ĐH hoa tiêu, nhằm giảm nhẹ sự nhấn mạnh quá mức vào các bảng xếp hạng và giúp mở rộng trọng tâm của trường ĐH ra xa hơn hoạt động nghiên cứu.i     Sau một thời kỳ dài chính phủ các nước và các Bộ Giáo dục cứ cố gắng xác định sứ mạng và hoạt động cho các trường ĐH với nhiều cơ chế giải trình trách nhiệm khác nhau và đòi hỏi các trường trở thành ĐH đẳng cấp quốc tế, giờ đây chúng ta cần bước vào một giai đoạn mới trong đó bản thân các trường sẽ có nhiều quyền tự chủ hơn và có khả năng tài chính  để tạo ra một thứ văn hóa nội tại về tự cải thiện và quản lý dựa trên minh chứng.  Khó khăn lớn đối với các trường là các nhà lãnh đạo hệ thống ĐH cần xác định rõ sứ mạng của các trường ĐH và tăng cường ý nghĩa cho vai trò của trường ĐH trong xã hội, bởi xã hội đã cho nó cuộc sống và lý do để tồn tại.  Hồ sơ ĐH hoa tiêu mà chúng tôi đưa ra trong bài này có thể được xem như một khả năng xây dựng cho sự nghiệp ấy.            Có một mối tương quan trực tiếp giữa việc hình thành các bảng xếp hạng quốc tế và nỗi ám ảnh cũng như những tuyên ngôn hoa mỹ về cương vị ĐH ĐCQT. Xây dựng trên cơ sở mô hình do các bảng xếp hạng ĐH có tính chất thương mại ở Hoa Kỳ tạo ra như một thứ cẩm nang tiêu dùng cho những người chuẩn bị vào ĐH, các hệ thống xếp hạng quốc tế hiện nay dựa trên những công thức gần giống nhau xuất hiện vào khoảng năm 2004.ii Khi chính phủ các nước ngày càng nhấn mạnh vai trò của các trường ĐH, coi đó như một con đường dẫn đến phát triển kinh tế và có nhu cầu tự đánh giá về một số trường ĐH nghiên cứu hàng đầu của họ, họ đã nhanh chóng vận dụng các bảng xếp hạng như một nguồn thông tin định lượng để đánh giá vị trí các trường ĐH của mình trên thị trường toàn cầu.              Hình 2 – Nhóm các trường luôn đạt thứ hạng cao trên bảng  xếp hạng- Kết quả xếp hạng 2013 của Shanghai Jiaotong Academic Ranking  of World Universities 2013              1.    Harvard University              2.    Stanford University              3.    UC Berkeley              4.    MIT              5.    University of Cambridge              6.    CalTech              7.    Princeton University              8.    Columbia University              9.    University of Chicago              10.    University of Oxford              11.    Yale University              12.    UCLA              13.    Cornell              14.    UC San Diego              15.    University of Pennsylvania              16.    University of Washington              17.    Johns Hopkins University              18.    UC San Francisco              19.    University of Wisconsin              20.    ETH Zurich              21.    University of Tokyo              22.    University College London              23.    University of Michigan              24.    Imperial College              25.    University of Illinois        Các nhà quản lý đại học và giới hàn lâm cũng dùng thứ ngôn ngữ của ĐH ĐCQT để nhấn mạnh kết quả xếp hạng, về bản chất là làm mạnh thêm một hình mẫu vốn chỉ tập trung vào một dải hẹp, chủ yếu là năng suất nghiên cứu, trong hoạt động của trường ĐH.iii Theo tôi, không phải tất cả các bảng xếp hạng các trường ĐH đều dở, nhưng không có bảng xếp hạng nào là đặc biệt tốt– dù nó do một tổ chức kinh doanh hay một trường ĐH thực hiện, kể cả do một tổ chức chính phủ đứng ra dùng những tổ chức chuyên môn để tạo ra một bảng xếp hạng quốc gia riêng chăng nữa. Nếu bạn cho rằng phương pháp xếp hạng hiện nay đang thiếu sót trầm trọng, hoặc quá thiên lệch, hoặc   có ảnh hưởng thái quá, thì câu trả lời sẽ là: hãy có thêm nhiều bảng xếp hạng hay tiêu chí xếp hạng hơn nữa!!!     Không hài lòng với kết quả xếp hạng nghèo nàn của các trường ĐH Nga, Liên bang Nga bèn tạo ra một bảng xếp hạng ĐH quốc tế của riêng mình, trong đó ĐH Quốc gia Moscow đứng hàng thứ năm, trên cả ĐH Harvard hay Cambridge. Sửng sốt trước thứ hạng thấp của các trường ĐH Pháp, và châu Âu nói chung so với Hoa Kỳ và Anh, Cộng đồng Châu Âu đã bảo trợ cho những nỗ lực nhằm giúp cho ciệc xếp hạng “khách quan hơn và thiên về các trường ĐH Châu Âu hơn” (Liệu có thật trùng hợp khi bảng xếp hạng của THE thường xếp hạng các trường ĐH Anh cao hơn so với kết quả của các bảng xếp hạng khác?).iv       Sự công nhận rộng rãi tính chất thiên vị của các bảng xếp hạng quốc tế đã dẫn đến việc tìm kiếm những mô hình khác.  Universitas 21 tìm cách xếp hạng chất lượng hoạt động chung của cả hệ thống GDĐH của một quốc gia thay vì xếp hạng từng trường. Nỗ lực này không phải là nhằm tìm kiếm một hệ thống GDĐH tốt nhất, mà là nhằm bổ sung cho hiểu biết của chúng ta, rằng bối cảnh quốc gia là rất quan trọng, trong đó có mức độ đầu tư cho GDĐH so với nước khác, và số lượng công bố quốc tế của một nước phải được xem xét trong tương quan với dân số.v      Một cách tiếp cận khác với vấn đề xếp hạng là cách làm mà Thomson Reuteur đang theo đuổi. Dự án Hồ sơ Các Trường ĐH toàn cầu của họ dự định tạo ra hồ sơ của các trường bằng cách dùng những yếu tố nêu trong sứ mạng của nhà trường như một cái chuẩn để đo kết quả hoạt động nhằm cung cấp thông tin cho nhà nước và cho khách hàng của các trường. Dự án bao gồm kết quả của Khảo sát Uy tín Học thuật Hàng năm do Thomson Reuteur thực hiện, dữ liệu do các trường cung cấp, và dữ liệu trắc lượng thư mục do Web of Science cung cấp.vi        Tuy thế bảng xếp hạng ĐH quốc tế hàng năm do THE và ARWU đưa ra rõ ràng là có thế mạnh tiếp thị  trong việc ảnh hưởng lên cách xử sự của các Bộ Giáo dục và các trường ĐH. Các bảng xếp hạng ĐH không quá phức tạp và tinh tế, tạo ra một công cụ giải trình trách nhiệm khó mà có thể thay thế được.  Hình 3 – Địa điểm của Tri thức Hàn lâm: Các tập san phân bố theo quốc gia và chỉ số tác động        Có một số trở ngại khác trong các bảng xếp hạng hiện nay cũng đáng được thảo luận. Bên cạnh những phương pháp đáng ngờ, các bảng xếp hạng toàn cầu còn tạo ra những mục đích không thể nào đạt được đối với phần lớn các trường đang có tham vọng ấy. Khoảng 10-25 trường ĐH hàng đầu được công nhận hầu như trong tất cả các bảng xếp hạng,  và danh sách này rất ít thay đổi trong mấy thập kỷ qua, cũng có rất ít khả năng sẽ thay đổi nhiều trong tương lai. Nó là một nhóm rất nhất quán (xem Hình 1 và 2) trong các bảng xếp hạng được biết đến nhiều nhất.vii Mục đích của tôi ở đây không phải là sa đà vào thảo luận về sự định kiến, thiên vị hay thiếu sót của các bảng xếp hạng, nhưng sự thống trị của Hoa Kỳ và Anh trong các tập san khoa học thì rất đáng lưu ý (xem Hình 3).viii Mức độ tập trung của các tập san khoa học, chỉ số trích dẫn là sự phản ánh thế mạnh có lịch sử dài lâu của các trường ĐH nghiên cứu, và sự thống trị của tiếng Anh như là ngôn ngữ giao tiếp của khoa học có thể sẽ thay đổi qua thời gian. Nhưng rõ ràng là nó mang lại lợi thế cho các trường ĐH Anglo trong cuộc chơi xếp hạng và giữ ổn định vị trí đó trong tương lai gần, và cũng có thể trong một thời gian rất dài nữa.      Ngầm định rằng một trường ĐH ĐCQT là một trường được xếp hạng trong số 50 hay thậm chí 100 trường ĐH hàng đầu thế giới trong một số bảng xếp hạng ĐH toàn cầu được công nhận, chỉ là một trò chơi có tổng bằng không, mà người này được thì người kia phải mất, cũng tương tự như đánh giá các trường theo mô hình quy đổi phân bố normal kiểu quả chuông. Tuy thế chính phủ nhiều nước và nhiều trường vẫn cố đạt đến cương vị đẳng cấp quốc tế với ngầm định rằng các bảng xếp hạng hiện nay sẽ kịp thời giải mã tầm quan trọng của việc đó.      Chính phủ các nước châu Âu phàn nàn rằng có quá ít trường ĐH Châu Âu trong top 50, và nhiều nước đang tiêu tốn khá nhiều tiền vào việc này. Họ cũng có cảm giác về tiềm năng thất bại của những nỗ lực ấy, cái mà  Marijk van der Wende gọi là nghịch lý châu Âu: “Lẽ nào Châu Âu có tri thức và năng lực nghiên cứu cần thiết, nhưng lại thất bại trong việc đưa những thứ ấy thành đổi mới sáng tạo, tăng cường năng suất và tăng trưởng kinh tế?ix Để khuyến khích các trường gắn bó hơn với nền kinh tế và cải thiện vị trí xếp hạng, Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Khoa học Đức đã phát động một cuộc thi toàn quốc được công bố rộng rãi nhằm xác định 10 trường trong tổng số 104 trường ĐH của Đức có tiềm năng trở thành những trường tinh hoa,– Chương trình Xuất sắc, với ngân sách ban đầu là 1,9 tỉ EUR.x Giúp vào cơn điên rồ xếp hạng, Trung Quốc lên kế hoạch cho 20 trường hàng đầu đạt đến năng suất và uy tín của MIT. Ở Châu Phi, Nigeria hy vọng sẽ có 20 trường ĐCQT trước năm 2020xi; Sri Lanka muốn có ít nhất một trường ĐH ĐCQT. Bộ Giáo dục Nhật có mục tiêu đạt được 30 trường ĐCQT không kể University of Tokyo và có năm trường trong top 30 của bảng xếp hạng ĐH toàn cầu, ít nhất một trường vào top 10.xii       Năm 2013, với một kỳ vọng ít nhiều khiêm tốn, chính phủ Nga thông báo một kế hoạch có ít nhất năm trường trong số các ĐH Quốc gia Nga trong top 100 ĐH ĐCQT trước năm 2020. Họ đã chỉ định cụ thể trường nào, ngoài ĐH Quốc gia Moscov, sẽ phải đạt mục tiêu này, và cũng như nước Đức, họ cung cấp những khoản bao cấp tài chính đặc biệt cho những trường ấy: Tomsk Polytechnic University, the Higher School of Economics – Moscow, the Engineering Physics Institute, the Moscow Institute of Steel and Alloys and the National Research University of Information Technologies, Mechanics and Optics.xiii       Tuy nhiên, tham vọng không thể đi nhanh hơn thực tế nếu như các bảng xếp hạng đã được định hình theo mô hình quy đổi phân bố normal kiểu quả chuông trở thành chuẩn mực. Khi cuộc cạnh tranh giành thứ hạng nóng lên, các trường ở một số vùng trên thế giới không chỉ chơi trò xảo thuật với việc xếp hạng (chẳng hạn như tuyển dụng tạm thời các giáo sư chủ chốt đúng vào thời điểm thu thập dữ liệu xếp hạng, một thực tế đã được biết ở Anh), mà còn điều khiển dữ liệu, hay tìm kiếm những sinh viên quốc tế có điểm SAT cao (như đã thấy ở Hoa Kỳ). Có một số bằng chứng cho thấy báo cáo về tỉ lệ giảng viên/sinh viên của các trường ĐH Hoa Kỳ ngày càng không đáng tin cậy– trong khi nó chính là một yếu tố chủ yếu trong tiêu chí xếp hạng của bảng xếp hạng ĐH do US News và World Report thực hiện. Cũng có suy đoán rằng một số tổ chức xếp hạng đã ăn tiền để giúp một số trường ĐH trườn lên thứ hạng cao hơn chút ít.     Cấu tạo khá giống nhau của các bảng xếp hạng ĐH quốc gia và quốc tế đã dẫn đến một câu hỏi, và hệ quả của câu hỏi ấy là một lời khuyên: làm thế nào để đạt được địa vị ĐCQT? Có lẽ không có tổ chức nào gắn với việc ủng hộ tìm ra một con đường thích hợp hơn là Ngân hàng Thế giới,xiv dù rằng một công nghiệp tư vấn và học giả chuyên về đề tài ĐH ĐCQT đã hình thành, thậm chí có cả hội thảo hàng năm về đề tài làm thế nào đạt đến địa vị ĐCQT.xv Vậy cái gì đã định nghĩa nên một trường ĐH ĐCQT? Theo Ngân hàng Thế giới, và nhiều người khác, có ba đặc điểm chung nhất: tập trung cao độ nhân tài (giảng viên và sinh viên); nguồn lực dồi dào; và cơ cấu quản trị thuận lợi với một mức độ tự chủ cao.xvi      Thực  ra, những thứ ấy đều rất quan trọng, nhưng tự bản thân nó thì không đủ.xvii  Tuy có ảnh hưởng mạnh mẽ lên việc phân bổ kinh phí của nhà nước và những sáng kiến “ưu tú”, trong những thiết chế kiểm định chất lượng quốc gia mới đây và những đòi hỏi giải trình trách nhiệm khác nhau, cũng như trong thái độ xử sự của các trường, đang có một sự công nhận ngày càng mạnh mẽ, rằng hình mẫu về ĐH ĐCQT quả thật là không đầy đủ. Nó vẫn là một mô hình bị chi phối bởi một số thành quả được ưa thích (nhìn chung, đó là chỉ số trích dẫn thiên về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, thu nhập từ hoạt động nghiên cứu, giải Nobel hay các giải thưởng nghiên cứu được công nhận trên phạm vi quốc tế, khảo sát về uy tín của các trường) và những ý kiến thay đổi thất thường về việc bằng cách nào đạt được những thành tích đó. (xem Phụ lục 1 về những gì một trường cần có để nổi lên như một ĐH ĐCQT).      Ngay cả trong những đề xướng ban đầu về mô hình ĐH ĐCQT người ta cũng công nhận những thiếu sót của nó và lo lắng về những ảnh hưởng không mong đợi của nó.xviii Trong một phân tích trước đây vào năm 2006 về phong trào xây dựng trường ĐH ĐCQT, mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự, Henry M. Levin và đồng tác giả đã lưu ý một mối quan ngại: “Bản chất chủ quan của cương vị ĐCQT có nghĩa là các trường sẽ cố đưa trường mình theo hướng được đánh giá cao về danh tiếng, và sẽ nhấn mạnh những gì có thể nhìn thấy được. Về mặt đó, hoạt động nghiên cứu, ấn phẩm khoa học, chỉ số trích dẫn, giải thưởng của giảng viên rõ ràng là đập vào mắt và có thể đo lường được, trong lúc chất lượng của quá trình giáo dục thì không”. Gần đây hơn, hai tác giả Philip Altbach và Jamil Salmi, trong khi đề xuất “những con đường khác nhau” nhằm đạt đến cương vị ĐH ĐCQT và lưu ý thái độ quá hăng hái của các nước cũng như tiêu điểm quá hẹp của các bảng xếp hạng, cũng đã khẳng định rằng những trường như thế cần phải ít nhiều gắn với nhu cầu của địa phương và của quốc gia  –dù vậy ý nghĩa này vẫn còn khá mơ hồ.xix     Bộ Giáo dục của các nước nên đổ tiền của vào một số chương trình đặc biệt với dự định đem lại năng suất nghiên cứu cao hơn và chỉ số trích dẫn nhiều hơn có lẽ là ý tưởng dẫn đầu các kết luận trong những công trình nghiên cứu về việc bằng cách nào các trường có thể đạt được cương vị ĐCQT: có vẻ như là phần lớn các nước chưa có được một trường ĐH được xếp hạng cao sẽ tìm thấy con đường nhanh nhất để có nó bằng cách khởi sự một trường mới từ đầu thay vì định dạng lại và tài trợ cho những trường hiện đang tồn tại.xx     Mặc cho những ý kiến phàn nàn hay những lời cảnh báo, thực tế vẫn là bảng xếp hạng và những thiết chế giải trình trách nhiệm kiểu ấy vẫn đang tồn tại dưới hình thức này hay hình thức khác. Nhưng vẫn có không gian cho những ý tưởng cách tân hơn về việc một trường ĐH hàng đầu có thể hoặc nên là như thế nào, thực chất là một sự khao khát về một lựa chọn khả dĩ khác, hay là một mô hình nhận thức được điều chỉnh lại ít nhiều.    Kỳ II: Cội nguồn của ý tưởng về ĐH hoa tiêu   Người dịch: Phạm Thị Ly  Viện Đào tạo Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM  —    i Với sự phê phán tương tự đối với hệ thống  xếp hạng và mô hình ĐH ĐCQT, Simon Marginson và Ma Wanhua đã đưa ra ý  tưởng về một khái niệm có tham chiếu các tiêu chuẩn của “ĐH nghiên cứu  toàn cầu” (Ma, 2008; Marginson, 2008), trong đó các yếu tố vật chất làm  cột trụ cho hoạt động của nhà trường là những thứ có thể quan sát và đo  lường được. Hơn nữa, không có giới hạn về số trường có thể đạt được  những phẩm chất này, vì cái nhãn “ĐH nghiên cứu toàn cầu” không bị hạn  chế trong 50 hay 100 trường hàng đầu. Xem Marginson, S. (2008). “Ý tưởng  về một trường ĐH cho kỷ nguyên toàn cầu”, báo cáo tại Hội thảo “Định vị  Trường ĐH trong thế giới Toàn cầu hóa: Thay đổi Cách Quản trị và Chiến  lược ở Châu Á”   do Centre of Asian Studies, The University of Hong  Kong; Central Policy Unit, HKSAR Government; and The Hong Kong Institute  of Education, tổ chức ngày 10-11 December, 2008 tại The University of  Hong Kong; Ma, W. (2008). “The University of California at Berkeley: Một  trường ĐH nghiên cứu toàn cầu đang nổi hình thành”, Higher Education  Policy, 21(1), 65–81. Tôi thấy việc xem xét lại khái niệm ĐH ĐCQT ở đây  có giá trị. Tuy nhiên quan niệm này vẫn tiếp tục nhấn mạnh hoạt động  nghiên cứu như là cái mà một trường ĐH hàng đầu nên là; trong khi ĐH hoa  tiêu là một quan điểm rộng hơn về một lý tưởng cho sứ mạng và vai trò  của nhà trường trong xã hội.   ii Ở Hoa Kỳ, những nỗ lực học  thuật nhằm xếp hạng chất lượng các trường hay các chương trình đã có  lịch sử từ lâu. Những bảng xếp hạng mang tính thương mại mới xuất hiện  từ năm 1985. Năm đó, U.S. News & World Report công bố báo cáo đầu  tiên vể những trường ĐH tốt nhất Hoa Kỳ – một bảng xếp hạng được dẫn  chiếu nhiều nhất ở Mỹ  — như một hình thức tạo ra nguồn tạo ra thu nhập  mới. Từ năm  2003, Shanghai Jiao Tong University tạo ra bảng xếp hạng  Academic Ranking of World Universities, phân tích các trường hàng đầu  thế giới về chất lượng của giảng viên (40%), sản phẩm nghiên cứu (40%),  chất lượng giáo dục (10%) và hoạt động so với quy mô (10%).[14] Bảng xếp  hạng của nó hầu như chỉ bao gồm các đại học nghiên cứu, chủ yếu là  trong khoa học thực nghiệm. Thời báo Times Higher Education công bố bảng  xếp hạng ĐH thế giời hàng năm của họ Times Higher Education–QS World  University Rankings lần đầu tháng 11-2004 Tháng 10- 2009 Times Higher  Education tách ra với QS (QS sau này cùng với các đối tác tiếp tục thực  hiện xếp hạng), rồi sau đó ký hợp đồng với Thomson Reuters để cung cấp  dữ liệu thay vì xếp hạng.  iii Francisco O. Ramirez và Dijana  Tiplic đã thực hiện một nghiên cứu phân tích về việc tiêu điểm ĐHĐCQT đã  lớn lên như thế nào qua thời gian trong các tập san về GDĐH, với một  bước nhảy vọt từ năm 2006.  Francisco O. Ramirez và Dijana Tiplic  (2013). In Pursuit of Excellence? Discursive Patterns in European Higher  Education Research,” Higher Education, published on-line 16 November:  http://link.springer.com/article/10.1007/s10734-013-9681-1  iv  Được biết đến dưới tên gọi “ Xếp hạng ĐH đa chiều” hay U-Multirank, dự  định sẽ mang lại một cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng cho người học, dự án  này dựa trên sự hỗ trợ của Ủy ban Truyền thông về hiện đại hóa GDĐH Châu  Âu  (COM (2011) 567 final)  [1] (accompanied by Staff Working Document  (SEC (2011) 1063 final), p. 5-6) and is implemented by a consortium of  research organisations – CHERPA Network (Consortium for Higher Education  and Research Performance Assessment) và được Ủy ban Châu Âu tài trợ.  Nghiên cứu “Thiết kế và Thử nghiệm Tính Khả thi của Xếp hạng Đại học Đa  chiều” kế thúc tháng 6-2011 đã chứng tỏ tính khả thi của dự án này.    v Universitas21 và Melbourne Institute of Applied Economics and Social  Research, U21 Ranking of National Higher Education Systems 2013,  University of Melbourne, May 2013:  http://www.universitas21.com/article/projects/details/152/u21-ranking-of-national-higher-education-systems  vi  “Vì thế giới ngày càng phẳng và trở nên chuyên sâu, cơ sở dữ liệu về hồ  sơ các trường viện, các cá nhân, các ngành cần phải mở rộng về quy mô,  sâu hơn về nội dung , và ngày càng linh hoạt”, website của Dự án Thomson  Reuters tuyên bố. Về mặt nào đó điều này phản ánh một nỗ lực tương tự  thoát ra khỏi lối xếp hạng các trường theo kiểu tính toán và tiến tới  xếp hạng các trường theo từng chuyên ngành và những hình thức phân tích  với các đơn vị của nhà trường. See  http://ip-science.thomsonreuters.com/globalprofilesproject/  vii The Times Higher Education World Rankings tuyên bố rằng họ là  bảng xếp  hạng ĐH toàn cầu duy nhất đã đánh giá các trường ĐH ĐCQT qua thất cả các  sứ mạng cốt lõi của các trường: giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công  nghệ và tính chất quốc tế hóa. Bảng xếp hạng này dùng 13 chỉ báo được  xem xét thận trọng để mang lại kết quả so sánh toàn diện và cân bằng  nhất, một bảng xếp hạng đã giành được lòng tin của sinh viên, giới hàn  lâm, giới quản lý ĐH, cha mẹ sinh viên và chính phủ.   viii Sản phẩm  của tri thức khoa học và các ấn phẩm công bố khoa học có một bản đồ địa  lý rất phân biệt. Bản đồ này dùng dữ liệu trích xuất từ Web of Knowledge  Journal Citation Reports (JCR) từ 2009, cho phép chúng ta đo lường địa  điểm và chỉ số tác động của mỗi tập san. JCR Science Edition chứ tư liệu  của trên 7,300 tập san về khoa học và công nghệ. JCR Social Sciences  chứa tư liệu của 2,200 tập san trong khoa học xã hội. Tư liệu của mỗi  tập san trong số 9,500 tập san về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội  đã được tải về để phân tích vị trí địa lý của tập san. Một biểu đồ diện  tích được dùng cho mỗi nướcm, đại diện cho số lượng tập san được xuất  bản trong nước đó. Độ đậm nhạt của mỗi nước phản ánh chỉ số tác động  trung bình (một chỉ số phản ánh mức độ được trích dẫn ít hay nhiều của  các tập san trong nước đó.    ix Xem Wende, M. C. van der.  (2009). European Responses to Global Competitiveness in Higher  Education. Research and Occasional Paper Series, No.7, 2009. Berkeley:  Center for Studies in higher Education, University of California.  x Germany’s Excellence Program, see:  http://www.germaninnovation.org/research-and-innovation/higher-education-in-germany/excellence-initiative  xi  Ibikunle H. Tijani, “Developing World Class Universities in Nigeria:  Challenges, Prospects and Implications,” paper delivered at the 2nd  FUNAI Leadership Development Seminar, Federal University Ndufu-Alike  Ikwo, Ebonyi State, Nagieria, June 5, 2013; “Guidelines for raising  Nigerian universities to world class status,” Report submitted to the  National Universities Commission (NUC) and the Association of Vice  Chancellors of Nigerian Universities (AVCNU), September 27-29, 2010  xii Jannuzi, Charles (2008). “Japan Aims for ‘World Class’ Universities,”  Japan Higher Education Outline, Feb 5, 2008:  http://japanheo.blogspot.jp/2008/02/japan-aims-for-world-class-universities.html;  Kenglun Ngok & Weiging Guo, The Quest for World Class Universities  in China: critical reflections, Policy Futures in Education, Vol 6, No  5, 2008.  xiii Eugene Vorotnikov, “Government approves universities  for world-class bid,” University World News, September 11, 2013 Issue  No. 287:  http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20130911144451887;   Smolentseva, Anna. 2010. ―In Search for World-Class Universities: The Case of Russia.‖ International Higher Education 58: 20–22.  xiv Trong các ấn phẩm thực hiện với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới,  có  ột “hướng dẫn” xây dựng một ĐH nghiênc ứu từ số không. Xem Philip G.  Altbach và  Jamil Salmi, The Road to Academic Excellence: The Making of  World-Class Research Universities, Directions in Development Series (Đã  được dịch ra tiếng Việt. Xem bản tin Thông tin Quốc tế về GDĐH IEI số  1-2012)  xv Tổ chức ở Shanghai và do Hệ thống xếp hạng của ĐH  Thượng Hải hỗ trợ, Hội thảo về ĐGHĐCQT lần thứ năm đã được tổ chức từ  3-6-2013.  Xem: http://www.shanghairanking.com/wcu/cp.html  xvi  Jamil Salmi, The Challenge of Establishing World-Class Universities,  Directions in Development, World Bank: Washington D.C., 2009; Deem, R.,  K. H. Mok, and L. Lucas. 2008. Transforming Higher Education in Whose  Image? Exploring the Concept of the ‘World-Class’ University in Europe  and Asia. Higher Education Policy 21 (1): 83–97.  xvii Trong một  bài báo năm 2006 thử định nghĩa thế nào là ĐH ĐCQT, Henry M. Levin, Dong  Wook Jeong và Dongshu Ou ở Teachers College, Columbia University, lưu ý  tính chất chủ quan của danh hiệu này, và lưu ý rằng “Mặc dù hoạt động  giảng dạy, phục vụ xã hội và nghiên cứu đều được nhấn mạnh trong các  tuyên ngôn về những gì làm nên sự vĩ đại của một trường ĐH, việc cho  điểm đánh giá uy tín dường như đã bị giới hạn chủ yếu trong khía cạnh  nghiên cứu  trong các phân tích thống kê của chúng ta”. Henry M. Levin,  Dong Wook Jeong and Dongshu Ou, “What is a World Class University?”,  Paper presented at the Conference on Comparative & International  Education Society, Honolulu, Hawaii, March 16, 2006:  http://www.tc.columbia.edu/centers/coce/pdf_files/c12.pdf  . (Đã được  dịch ra tiếng Việt. Xem Bản tin Tư liệu Tham khảo của Trung tâm Nghiên  cứu Giao lưu VH GDQT số 1-2009. Có thể download tại đây:   http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=20  xviii  Ibid., Jamil Salmi, một chuyên gia về mô hình ĐH ĐCQT đã cảnh báo “Cần  tránh làm to chuyện quá mức về tầm quan trọng của ĐH ĐCQT và làm méo mó  cơ cấu phân bổ ngân sách trong hệ thống GDĐH quốc gia. Ngay cả trong nền  kinh tế tri thức toàn cầu hóa, khi tất cả các nước công nghiệp hóa và  đang phát triển đều tìm cách tăng phần mình trong chiếc bánh kinh tế,  thì sự cường điệu chung quanh ĐH ĐCQT cũng vượt xa nhu cầu và năng lực  của một số nước để họ có thể được hưởng lợi từ những cơ hội nghiên cứu  và đào tạo cao cấp ấy, ít ra là trong ngắn hạn. Thực ra, ở một số nước,  khi các trường ĐH hiện đang tồn tại có thể tạo ra những người tốt nghiệp  với chất lượng tốt hơn so với những cơ hội việc làm có thể mở ra cho  họ, thì các trường ĐH ưu tú có thể sẽ chỉ làm trầm trọng thêm nạn chảy  máu chất xám vốn có”.  xix Có nhiều ví dụ về những cuộc thảo luận  nghiêm túc giữa các trường ĐH lớn về chủ đề làm thế nào có thể hấp thu ý  nghĩa của xếp hạng cũng như tên gọi ĐH ĐCQT. The University of Cape  Town, Danie Visser và Marilet Sienaert đã nêu tóm tắt  về việc họ đã đi  đến một cách tiếp cận “mềm” như thế nào. Ý thức rõ những ý kiến và đáp  ứng rất khác nhau của giảng viên đối với vấn đề xếp hạng ĐH, nhà trường  đã giúp giới giảng viên hiểu về các hệ thống xếp hạng ĐH toàn cầu đang  nổi lên, kể cả mục tiêu và triết lý đàng sau việc xếp hạng, cũng như  những định kiến thiên lệch, điểm mạnh và điểm yếu của nó, và tác động  của bảng xếp hạng lên các nhà tài trợ và những người làm chính sách.   Thông qua thực tiễn này, nhà trường quyết định bốn chiến lược và nguyên  tắc giúp nhà trường đạt đến sự ưu tú trong thế giới cạnh tranh và toàn  cầu hóa, đó là nhấn mạnh vị trí đặc biệt của nhà trường trong khu vực  Châu Phi; tăng cường hợp tác quốc tế; tăng cường sự hiện diện về nghiên  cứu và tăng cường hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu ở mọi cấp độ.” Xem Danie  Visser and Marilet Sienaert, “Rational and Constructive Use of  Rankings: A Challenge for Universities in the Global South,” Qi Wang,  Ying Cheng and Nian Cai Liu (Ed.) Building World-Class Universities:  Difference Approaches to a Shared Goal, Sense Publishers, 2012.  xx Philip G. Altbach và Jamil Salmi (2011), The Road to Academic  Excellence: The Making of World-Class Research Universities, Directions  in Development Series. The World Bank.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình ĐH hoa tiêu (Kỳ II): Cội nguồn ý tưởng      Khái niệm về một trường ĐH hoa tiêu do nhà  nước lập ra có liên quan tới thời kỳ phát triển ban sơ của hệ thống GDĐH  Hoa Kỳ những năm giữa thế kỷ 19, về bản chất là sự pha trộn giữa những  ảnh hưởng của sự trung thành với truyền thống Anh quốc của các trường ĐH  bản xứ, với mô hình Humbold nhấn mạnh đào tạo sau ĐH và nghiên cứu độc  lập. Nghiên cứu khoa học, ngược lại, sẽ đem lại thông tin, tri thức nhằm  định hình cho hoạt động giảng dạy và xây dựng một cộng đồng học thuật  mạnh mẽ hơn.&#160;&#160;     Những truyền thống châu Âu ấy đã thúc đẩy nhu cầu phát triển một mô hình ĐH công theo cách rất Mỹ, một mô hình tìm kiếm ý nghĩa thiết yếu của nhà trường với xã hội thông qua nâng cao sự phát triển kinh tế và thúc đẩy những chuyển động kinh tế xã hội trong vùng và trong nước.  Đây là một yếu tố được bổ sung thêm nhằm làm cho mô hình ĐH hoa tiêu thêm phần thực tiễn và gắn bó với xã hội. Các trường ĐH công hình thành những năm 1800 ở vùng trung tây và miền tây Hoa Kỳ  từng bước  cho thấy một mô hình đặc biệt Mỹ và mang lại nền tảng cho những nỗ lực tiên phong tạo ra một hệ thống GDĐH đại chúng đầu tiên trên thế giới – được hỗ trợ chủ yếu là từ túi tiền của nhà nước. Xét về lịch sử, ở Hoa Kỳ mô hình này có các đặc điểm:     •  Tạo ra cơ hội tiếp cận ĐH: Ý tưởng tạo ra các trường ĐH công là nó có thể mở cửa cho mọi công dân bất kể nơi chốn, nguồn gốc xuất thân hay địa vị kinh tế, xã hội – trái với nó là các trường tư và những trường thuộc về một bộ phận nào đó trong cộng đồng và xã hội. Theo lời một nhà vận động xã hội nổi tiếng ở thế kỷ 19,  trường ĐH hoa tiêu công lập cần phải cung cấp “một nền giáo dục đặc biệt tốt cho những người bình thường”.   • Gắn với phục vụ cộng đồng và phát triển kinh tế: Những trường này có thể là trường tổng hợp, có những chương trình đào tạo theo truyền thống giáo dục tổng quát, những chuyên ngành trực tiếp liên quan đến kinh tế của địa phương và khu vực. Cả hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu trong những lĩnh vực ấy, chẳng hạn như nông nghiệp hay kỹ thuật, cùng với những chương trình mở rộng hay dịch vụ cung cấp cho nhà nông hay các doanh nghiệp địa phương, sẽ tiếp thêm nhiên liệu cho công cuộc phát triển kinh tế và tạo ra chuyển động về kinh tế – xã hội trong vùng.   • Mang tính chất dẫn đầu: Các trường ĐH hoa tiêu công cũng có trách nhiệm giúp xác lập chuẩn mực và xây dựng những khu vực khác trong hệ thống giáo dục nhà nước – từ trường tiểu học đến trung học phổ thông, cho đến những trường ĐH và cao đẳng công lập khác. Trên toàn nước Mỹ, chính quyền địa phương và chính quyền tiểu bang có trách nhiệm xây dựng hệ thống giáo dục, hầu hết ngân sách giáo dục và một hay vài trường sư phạm, nhưng không dành cho trung học. Các trường ĐH hoa tiêu công trở thành nhân vật chính giúp xây dựng các trường trung học, thoạt tiên được đầu tư cho các trường công ngày nay trở thành các trường tiểu học, có phần là do lợi ích của bản thân họ, tức là tạo ra nguồn sinh viên cho nhà trường; nhưng phần khác đó là vai trò được giao cho họ để tăng số người được đào tạo ở địa phương.    Cách dùng từ “hoa tiêu” (“Flagship”) để miêu tả một trường ĐH hình thành từ cuối những năm 1800 ở Hoa Kỳ, lấy từ thuật ngữ của ngành hàng hải, trong đó tàu hoa tiêu hay con tàu dẫn đường trong hải quân là bộ phận trung tâm ở đó vị đô đốc điều phối, phân công nhiệm vụ cho quân lính. Khi nhà nước xây dựng mạng lưới các trường ĐH và cao đẳng, nhiều tiểu bang khi muốn “tấn phong” cho một trường nào đấy đóng vai trò lãnh đạo rút cục đã dùng từ “hoa tiêu” để diễn đạt ý ấy.     Trong vùng biển phía đông, khi dân Mỹ tới định cư thưở đầu, các trường tư có xu hướng lấn át trong khi sự phát triển của các trường công vẫn còn hạn chế. Có rất ít trường ĐH đóng vai trò là ĐH hoa tiêu. Tuy vậy ở miền tây và trung tây Hoa Kỳ, nhà nươc đã nhanh chóng tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho người dân và lập nên các trường ĐH công nhằm mở rộng số người vào ĐH.     Các tiểu bang vẫn đang có trách nhiệm tổ chức và điều phối hệ thống giáo dục ở địa phương. Ở cấp liên bang, không có một cơ quan nào nắm quyền tương tự như Bộ Giáo dục như ở hầu hết các nước khác trên thế giới. Nhưng sự thúc đẩy phải có những trường ĐH hoa tiêu đã xuất phát từ vai trò cực kỳ quan trọng của chính quyền liên bang ở Washington. Năm 1862, và trong thời kỳ giữa Đệ nhị Thế Chiến, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật cấp đất cho các trường ĐH nông nghiệp, nhờ đó các tiểu bang có thể xây dựng các trường ĐH và phát triển những ngành đặc biệt cần cho kinh tế địa phương.   Không loại trừ những môn cổ điển, học tập quân sự và những lĩnh vực khoa học khác, các trường này “dạy những môn liên quan tới nông nghiệp, cơ khí theo cách mà các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã đòi hỏi, nhằm thúc đẩy giáo dục tổng quát và thực tiễn cho nhiều loại nghề nghiệp chuyên môn trong cuộc sống.”  Cần thú nhận rằng, vai trò lịch sử của các trường ĐH công chủ chốt trong việc hỗ trợ cho các tổ chức giáo dục khác trong tiểu bang nay đã bị lu mờ. Nhưng tôi nghĩ lý tưởng đó có ý nghĩa thiết yếu rất đáng kể đối với nhiều nơi trên thế giới– đặc biệt là những nền kinh tế đang phát triển và những nơi hệ thống GDĐH đang trải qua những cải cách căn bản và mở rộng nhanh chóng về quy mô.  Có lẽ do ảnh hưởng của Hoa Kỳ, khái niệm trường ĐH hoa tiêu đã nổi lên lúc này hay lúc khác ở một số nơi trên thế giới. Trong thời hậu chiến và thập kỷ 60, chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng cái được gọi là “trường ĐH hoa tiêu quốc gia” trong mỗi khu vực bao gồm 8 tỉnh và trong hai thành phố riêng. Trong thời kỳ xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập, hầu hết các trường này là kết quả của việc sáp nhập những trường nhỏ đang tồn tại trong khu vực. Ngày nay mỗi trường trong số 10 trường đó đều có riêng một khoa y và những tổ chức phục vụ công; và cũng như ở những trường được chỉ định làm ĐH quốc gia trong khu vực châu Á, thi tuyển vào trường này rất khó. Nhưng không có định nghĩa hay miêu tả rõ ràng về việc một trường ĐH hoa tiêu thì phải như thế nào. Thực ra lối nói “ĐH hoa tiêu” hầu như đã biến mất sau năm 1968.       Mượn ít nhiều khái niệm “ĐH hoa tiêu”, một số nước Châu Âu, đặc biệt là Hungary, đã dùng cách gọi này để phân biệt một số trường ĐH. Nhưng những khó khăn về tổ chức và có tính chính trị cố hữu trong việc  chỉ định một trường ĐH trở thành hoa tiêu và giành cho nó một nguồn lực ưu tiên trong bối cảnh của một hệ thống quốc gia mà các trường ĐH có tiếng nói mạnh mẽ và đòi công bằng trong phân bổ ngân sách công, về bản chất đã chấm dứt động lực cải cách theo lối đó.      Một dự án gần đây do Liên hiệp Châu Âu tài trợ đặt tại ĐH Oslo cũng đã sử dụng khái niệm này để tìm hiểu bằng cách nào một số trường ĐH Châu Âu đã vận dụng đòi hỏi của các Bộ Giáo dục và các doanh nghiệp để gắn bó hơn với sự phát triển kinh tế và tham gia vào những vấn đề của xã hội. Trong dự án này, một trường ĐH hoa tiêu được định nghĩa là “một trường ĐH nghiên cứu tổng hợp, đặt tại một trong những vùng đô thị lớn nhất nước” . Thiết kế nghiên cứu của dự án nhằm tìm hiểu những hoạt động và mục tiêu của các khoa khác nhau đang tồn tại trong một số trường ĐH trong số 11 trường ở Bắc Âu  –về bản chất, nó là cách tiếp cận quy nạp trong đó các trường hợp điển hình sẽ giúp xác định mô hình ấy có thể là như thế nào.     Theo quan điểm của tôi, để mô hình ĐH hoa tiêu có ý nghĩa thiết yếu với xã hội, chúng ta cần tìm hiểu nó có thể là như thế nào. Nó không đơn giản là tập hợp một số hoạt động hiện có theo một lối khác rồi đặt cho nó một cái tên mới, mà là một mô hình và một mục tiêu gắn chặt với văn hóa nội tại của nhà trường, và tốt nhất tuy không nhất thiết, là được sự hỗ trợ của nhà nước.  Người dịch: Phạm Thị Ly  Viện Đào tạo Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM    —-  xxi     Dựa trên ARENA Centre for European Studies at the University of Oslo, dự án nghiên cứu này có tên là Các trường ĐH hoa tiêu ở Châu Âu: Cân bằng Ưu tú về Học thuật với sự Thiết yếu cho Xã hội  Xem: http://www.sv.uio.no/arena/english/research/projects/flagship/      Đọc thêm:  Mô hình ĐH hoa tiêu (Kỳ I): Các bảng xếp hạng xác định đẳng cấp thế giới như thế nào?   http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7225        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình ĐH hoa tiêu (Kỳ III): Xây dựng hồ sơ      Trong phần này tôi cố gắng đưa ra một  hồ sơ ban đầu của mô hình ĐH hoa tiêu. Mục đích là giúp cho việc xác  định đâu là đặc điểm và hoạt động của nó trong khuôn khổ một trường ĐH  nghiên cứu: dạy và học, nghiên cứu và tạo ra tri thức mới, và dịch vụ  công.          Tôi nhận ra rằng việc này có thể có định kiến do ảnh hưởng lịch sử phát triển của khái niệm ĐH hoa tiêu ở Mỹ cũng như sứ mạng hiện tại của một số trường ĐH hoa tiêu tuyệt vời hiện nay ở Hoa Kỳ, cũng như ít nhiều ảnh hưởng những nghiên cứu lịch đại trước đây của tôi về mục đích và ảnh hưởng của các trường ĐH công lập.       Điều này tuy hiển nhiên nhưng cũng cần nhắc lại, các nước khác nhau và các trường khác nhau có những cách thức vận hành khác nhau, phản ánh văn hóa, chính trị, kỳ vọng và thực tế kinh tế- xã hội của cái thế giới mà trong đó họ đang vận hành.  Những điều chúng tôi trình bày dưới đây cũng không phải là quá nhấn mạnh đến những điều kiện môi trường cho phép một trường ĐH hoa tiêu hình thành hoặc tồn tại– những điểm nhấn đã được nêu trong nhiều tài liệu và thảo luận về ĐH ĐCQT. Mục đích của chúng tôi không phải là đưa ra một cái danh sách để đánh dấu, hay một cái mẫu, mà là liệt kê những đặc điểm và thông lệ đã nối kết một nhóm chọn lọc các trường ĐH với môi trường kinh tế xã hội mà các trường ấy buộc phải can dự và định hình cho nó– một mô hình mà người khác có thể mở rộng và làm cho nó bớt xa lạ. Hơn nữa, lý tưởng của trường ĐH hoa tiêu không phải, và không bao giờ là cự tuyệt toàn bộ việc xếp hạng và những thước đo toàn cầu, hay là khát vọng muốn tăng cường sự hiện diện của mình trên không gian toàn cầu.   Có một số ngầm định chủ yếu sau đây:  •    Một sứ mạng khác biệt – Hệ thống GDĐH quốc gia đòi hỏi một số hình thức khác biệt về sứ mạng trong mạng lưới các trường ĐH và cao đẳng, bao gồm một nhóm nhỏ những trường ĐH nghiên cứu, một số trong đó có thể là những ĐH hoa tiêu tổng hợp.   •    Là ngọn cờ đầu– Dù là do nhà nước giao nhiệm vụ làm ĐH hoa tiêu, hay do các trường tự xác định sứ mạng trở thành ĐH hoa tiêu, những trường này có tham vọng hỗ trợ cho phát triển kinh tế và sự chuyển động kinh tế – xã hội của khu vực và của quốc gia, hiểu rõ và tìm kiếm vai trò của mình trong việc hỗ trợ những bộ phận, đơn vị khác trong khu vực giáo dục.  •    Bao gồm nhiều ngành đào tạo một cách toàn diện  – Các trường ĐH hoa tiêu có hoặc muốn có các chương trình đào tạo cấp bằng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn bao gồm cả những chuyên ngành hẹp như kỹ thuật, luật khoa, y khoa, giáo dục, sư phạm, và phúc lợi xã hội.   •    Hoạt động bảo đảm chất lượng được chi phối bởi chính nhà trường – Tuy các cơ quan quản lý giáo dục cấp Bộ có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến chất lượng những chương trình đào tạo và hoạt động của các trường, rút cục thì các trường hạng đỉnh bao giờ cũng phải có đủ sự độc lập cần thiết để xây dựng văn hóa nội bộ về chất lượng và sự ưu tú– điều này cần được chi phối bởi những động lực nội tại từ bên trong.    Có một ngầm định phụ khác: cơ chế chính sách nhà nước và những nỗ lực cải thiện chất lượng và hoạt động của một nhóm nhỏ các trường ĐH quốc gia được chọn lọc đã phản ánh sự nghi ngờ về khả năng các trường ĐH của họ có thể trở thành những trường hàng đầu có thể cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, và thường là sự nghi ngờ ấy có lý do chính đáng. Tuy vậy, bộ giáo dục các nước nên nhìn những yêu cầu của nhà nước và những chính sách “chỉ một cỡ cho tất cả” (ví dụ chính sách quốc gia về phát triển khoa học) đơn giản chỉ là giai đoạn khởi sự nhằm mục đích đạt đến những trường ĐH hoa tiêu có chất lượng cao, với giai đoạn kế tiếp quan trọng hơn là tập trung vào quyền tự chủ đầy đủ  nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng văn hóa tự cải thiện của nhà trường.   Các trường ĐH hoa tiêu rất quan tâm tới mối quan hệ tương tác toàn cầu và tác động mà họ tạo ra trên trường quốc tế (trong đó có chỉ số trích dẫn trên các tập san), cũng như trách nhiệm của họ đối với khu vực và ảnh hưởng của nhà trường trong những lĩnh vực như phát triển kinh tế và chuyển động xã hội. Họ quan tâm tới các bảng xếp hạng về bản chất khuyến khích họ trở thành cái có thể gọi là “trường ĐH của một vũ trụ hài hòa” (với mục tiêu chất lượng và mục tiêu nghiên cứu không bị trói buộc trong giới hạn địa lý của nhà trường hay phụ thuộc trực tiếp vào nhu cầu xã hội), nhưng vẫn phải đặt cơ sở vững chắc trên những giá trị và hoạt động khiến họ trở thành thiết yếu với xã hội.   Hồ sơ chân dung Đại học hoa tiêu sau đây có 4 loại tóm tắt trong hình 5, được phân chia theo trách nhiệm chính của họ với thế giới bên ngoài và cách vận hành trong nội bộ nhà trường. Ý tưởng chính ở đây là: trong bối cảnh của hệ thống GDĐH, một số trường sẽ có chung một số đặc điểm về điều lệ, mục đích, logic hoạt động, và vốn liếng.  Chân dung I: Các trường ĐH hoa tiêu và hệ thống GDDĐH quốc gia   1.    Định vị trong một hệ thống GDĐH rộng lớn hơn  – Như đã nói trong phần trên, ý tưởng về ĐH hoa tiêu, cũng tương tự như ý tưởng về ĐH ĐCQT, ngầm định rằng một hệ thống GDĐH quốc gia ngày càng có thêm nhiều trường ĐH sẽ đòi hỏi các trường ĐH phải có những sứ mạng khác nhau.   Hầu hết các nước đều nhận ra rằng xây dựng một hệ thống GDĐH chất lượng cao trong đó tất cả mọi trường đều là tất cả với tất cả mọi người là một điều chẳng những tốn phí không hiệu quả mà còn bất khả thi. Trong một mạng lưới các trường công và tư, điều quan trọng sống còn là có một nhóm nhỏ có thể dẫn đầu cả hệ thống bằng cách theo đuổi một số hoạt động đặc thù với một chất lượng vượt trội, là điều có thể giúp đất nước đẩy mạnh phát triển kinh tế và cải thiện hoàn cảnh kinh tế- xã hội nói chung.    Nhưng bao nhiêu trường ĐH hoa tiêu là phù hợp? con số này có thể khác nhau nhiều tùy theo điều kiện địa lý, mật độ dân số, nhu cầu kinh tế-xã hội, và khả năng tài chính. Tiêu chí căn bản để nhận diện những trường này là những đặc điểm bao gồm cả khái niệm truyền thống về chất lượng như năng suất nghiên cứu và tác động chung của nhà trường đối với khu vực.    2.    Xác định lĩnh vực phục vụ – Phần lớn các trường ĐH công đều nhận thức được trách nhiệm của họ trong việc đào tạo cho sinh viên trong vùng. Nhưng họ hiểu biết mơ hồ hơn về vai trò của họ trong việc phục vụ lợi ích công và phát triển kinh tế. Một định nghĩa rộng hơn và công khai hơn về một khu vực dịch vụ cụ thể– mà không loại trừ những hoạt động có tính quốc tế rộng lớn hơn– sẽ là một khuôn khổ quan trọng để hướng dẫn hay khuyến khích hoạt động của các trường, và đánh giá hiệu quả của họ.  3.    Tuyển sinh có mức độ chọn lọc cao – Đây là điều kiện được mặc định do vị trí hoa tiêu của nó, các trường ĐH hoa tiêu cần tuyển chọn những em có tài trong cả nước, nhưng điều này không nên loại trừ những thí sinh giỏi ở nước khác hay vùng khác – nhằm những mục đích khác nhau ở cả cấp cử nhân lẫn sau đại học và đào tạo chuyên ngành.    Tiêu chuẩn tuyển sinh ở cấp cử nhân thường được quy định bởi chính sách quốc gia tập trung vào một kỳ thi chung. Các trường ĐH hoa tiêu cần nhiều linh hoạt hơn để tìm kiếm tài năng trong những sinh viên tiềm năng và cân bằng giữa nhiều yếu tố chẳng hạn hoàn cảnh kinh tế xã hội của sinh viên, tính chất tiêu biểu cho các vùng miền, và ngoại lệ dành cho những em đặc biệt xuất sắc (Xem thêm mục 13. Bốn thứ tự do cốt lõi cho ĐH hoa tiêu).    Chân dung II: Sứ mạng hoa tiêu cốt lõi – Giảng dạy và nghiên cứu  4.    Mục tiêu đào tạo bậc ĐH /Bằng cử nhân thứ nhất – Một mục tiêu cốt lõi của ĐH hoa tiêu là đào tạo bậc cử nhân qua một nền giáo dục gắn kết và thúc đẩy sự sáng tạo và uyên bác, và kết quả là những kỹ năng bậc cao. Những trường khác nhau thì có khó khăn khác nhau khi theo đuổi mục tiêu này, chẳng hạn chất lượng đầu vào, hoàn cảnh kinh tế xã hội của sinh viên, truyền thống văn hóa liên quan tới lối học lối nghĩ, và hạn chế về nguồn lực để có thể giữ tỉ lệ sinh viên/giảng viên thấp và duy trì những dịch vụ hỗ trợ (trợ giảng, tư vấn, v.v.). Nhưng mục tiêu giáo dục của trường thì vẫn là tạo ra một môi trường kích thích học tập cho sinh viên (Xem hình 6).            Hình 6 –Học tập gắn kết với xã hội              •    Hợp tác và can dự với mức độ cao.              •    Tìm kiếm câu trả lời cho một  ấn đề từ nhiều nguồn tri thức khác nhau.              •    Dựa trên quan hệ đối tác –giữa sinh viên với nhau, giữa sinh viên và giảng viên.              •    Được định dạng bởi nhiều quan điểm và kỳ vọng khác nhau.              •    Xử lý những vấn đề đang diễn tiến, khó giải quyết; những vấn đề phức tạp này có thể thay đổi không ngừng              •    Có nỗ lực và tạo ra tác động lâu dài.              •    Đòi hỏi những cách tiếp cận và chiến lược đa dạng.              •    Qua con đường xuyên ngành – một thách thức cho những trường chủ yếu là đơn ngành.        5.    Đào tạo sau đại học  – Các trường ĐH hoa tiêu có những trách nhiệm đặc biệt về đào tạo sau ĐH và bồi dưỡng chuyên môn, và cần đảm bảo tỉ lệ hợp lý giữa SV ĐH và sau ĐH, thường là SV sau ĐH chiếm từ 30-50% tổng số SV. Trường cũng cần đào tạo tiến sĩ và bồi dưỡng chuyên môn ở nhiều ngành khác nhau. Một dấu hiệu quan trọng khác là số bằng cấp được hàng năm, tất nhiên là đi cùng với những thước đo khác về bảo đảm chất lượng.      Thêm nữa, các trường ĐH hoa tiêu cần có những chương trình đào tạo sau ĐH nhằm vào việc đào tạo lực lượng nghiên cứu khoa học cho tương lai, cũng như những nhà chuyên môn trực tiếp mang lợi ích đến cho quốc gia và khu vực. Sự có mặt những chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ trong những ngành nghề thực hành chuyên môn (như luật, y khoa và sư phạm) không khớp với khái niệm hiện tại về trường ĐH ĐCQT, nhưng tôi cho rằng một nhân tố quan trọng trong quan niệm về trường ĐH hoa tiêu, là tính toàn diện và thiết yếu đối với phát triển kinh tế của khu vực.  6.    Nghiên cứu – Năng suất nghiên cứu ở mức độ cao là đặc điểm nổi bật của các trường ĐH hoa tiêu, một trách nhiệm ngang bằng với trách nhiệm giảng dạy và với nhiều mục đích khác nhau như:   •    Khám phá – về khoa học cơ bản, hoặc những đề tài “ở trên trời”, có thể chưa tạo ra lợi nhuận tức thời trong thực tế;   •    Hợp nhất – tổng hợp thông tin nhiều chuyên ngành, nhiều chủ đề trong một chuyên ngành, hay diễn biến qua thời gian dài;  •    Gắn bó với xã hội – ứng dụng những tri thức chuyên ngành và tạo ra các kết quả có thể chia sẻ, và/hoặc được đồng nghiệp đánh giá; và  •    Dạy và học – nghiên cứu có hệ thống về quá trình dạy và học. Nó khác với việc dạy kiến thức, trong đó người dạy phải theo một khuôn mẫu cho phép chia sẻ công khai đồng thời tạo cơ hội cho người khác có thể áp dụng hay đánh giá.    7.    Gắn bó với quốc tế – Tất cả các trường ĐH hoa tiêu đều cần có những mục tiêu và chương trình gắn bó với quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau – từ tuyển sinh và hỗ trợ sinh viên, đến chương trình đào tạo và hoạt động nghiên cứu. Phạm vi của những hoạt động ấy tuy thế sẽ khác nhau nhiều tùy theo vị trí địa lý, ngôn ngữ, những tính toán chính trị, chính sách quốc gia (ví dụ chính sách về visa) và cái lợi trong thu hút nhân tài hay nhu cầu luân chuyển chất xám của khu vực hay quốc gia.      Tuy mô hình ĐH hoa tiêu ở đây nhấn mạnh đến sự thiết yếu với quốc gia và khu vực nhưng cũng có một sự thật là, như một nghiên cứu gần đây về sự gắn bó với hoạt động nghiên cứu quốc tế giữa các nước Ibero-American đã nêu ra, “Hợp tác quốc tế không những là một xu hướng, mà hầu như còn là một thực tế bắt buộc đối với bất cứ cá nhân, nhóm nghiên cứu, hay nước nào…”xxii. Trao đổi sinh viên và những hình thức khác của trải nghiệm giáo dục xuyên biên giới cũng là một phần khá phổ biến của các trường ĐH nghiên cứu, cùng với nó là những chương trình đào tạo liên kết ngày càng nhiều.   Tuy thế, điều quan trọng cần lưu ý là hầu hết các trường chưa có một chiến lược rõ ràng về gắn kết với quốc tế, một phần là vì bản chất phi tập trung của hoạt động học thuật và mức độ tự chủ cao của giảng viên. Trong khi vội vã tăng tốc hướng tới gắn bó toàn cầu, các trường ĐH nói chung cần nhấn mạnh hơn đến  chất lượng của mối quan hệ tương tác, thay vì số lượng của các hoạt động giao lưu hay văn bản ghi nhớ.   Chân dung III: Các trường ĐH hoa tiêu và sự gắn kết với nền kinh tế/ dịch vụ công   8.    Tri thức và dịch vụ gắn với cộng đồng – Các trường ĐH hoa tiêu thúc đẩy hoạt động phục vụ cộng đồng dưới nhiều hình thức và do giảng viên, sinh viên thực hiện qua nhiều chương trình và sự khích lệ chính thức. Việc mở ra bên ngoài này cực kỳ quan trọng vì nó mang lại tác động trực tiếp cho cộng đồng địa phương hay khu vực, và là minh chứng trực tiếp cho những gì được xem là ưu tiên của một trường ĐH hoa tiêu.     a. Hoạt động tình nguyện phục vụ cộng đồng  – giảng viên, nhân viên, sinh viên ở hầu hết các trường ĐH đều có tương tác không chính thức (với tư cách cá nhân) dưới nhiều hình thức phục vụ cộng đồng. Nhưng một trường ĐH hoa tiêu thì cần có những cơ chế chính thức như “trung tâm phục vụ cộng đồng” có chức năng tìm kiếm cơ hội phục vụ tình nguyện và làm cầu nối giữa cộng đồng đại học với những cơ hội ấy.   b. Học tập thông qua phục vụ – Trường ĐH cần tạo điều kiện cho sinh viên gắn kết với các cơ hội học tập, kể cả qua yêu cầu môn học lẫn tín chỉ môn học, có gắn với mục tiêu phục vụ công chúng. Đây là một hình thức giáo dục thông qua trải nghiệm thực tế trong đó sinh viên gắn với những hoạt động nhằm đáp ứng trực tiếp những nhu cầu của con người và cộng đồng nhưng đồng thời cũng được thiết kế chặt chẽ để thúc đẩy việc học tập và phát triển của sinh viên.          Hình 7 – Năng lực đầu ra của sinh viên qua việc gắn kết với cộng đồng:               •    Củng cố số lượng SV kiên trì theo học, không bỏ học giữa chừng, nhất là với sinh viên thế hệ thứ nhất.              •    Tăng cường sự đa dạng trong thành phần sinh viên ở địa phương như một hình thức giao tiếp với cộng đồng               •    Củng cố thành tựu của những mục tiêu học tập chủ chốt và tác động tới tiến trình đạt kết quả tốt nghiệp.              •    Làm cho việc học trở nên có ý nghĩa thiết yếu đối với sinh viên, giúp họ hiểu rõ năng lực và mối quan tâm của mình ngay từ bước đầu trong sự nghiệp; nó thường tác động đến nhiều sự lựa chọn chủ yếu về sự nghiệp.              •    Phát triển kỹ năng xã hội, công dân, và lãnh đạo.              •    Tăng cường năng lực và kỹ năng nghiên cứu cho sinh viên               •    Khuyến khích sinh viên tham gia hoạt động cộng đồng qua việc nối kết họ với xã hội chung quanh.        c. Nghiên cứu tri thức gắn với cộng đồng – Các trường ĐH hoa tiêu tìm cách khuyến khích những công trình khoa học có ý nghĩa thiết yếu đáp ứng sứ mạng và mục tiêu của nhà trường đồng thời đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Về bản chất, đó là một lịch trình nghiên cứu tích hợp những vấn đề của cộng đồng vào hoạt động nghiên cứu của trường như một giá trị, một đóng góp của giới giảng viên. Trong định nghĩa này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi đối tượng ngoài trường, do vậy những hoạt động ấy được xem là đóng góp tập thể cho lợi ích công.  9.    Gắn với việc phát triển kinh tế của khu vực – Đây là sứ mạng chủ yếu của ĐH hoa tiêu, là điều cốt lõi biện minh cho sự tài trợ của ngân sách, và vai trò của nhà trường trong xã hội– về bản chất, là một con đường làm cho những công trình nghiên cứu mà nhà trường thực hiện (cả nghiên cứu cơ bản lẫn ứng dụng, nói chung là mọi tài sản trí tuệ nhà trường tạo ra) trở thành có ý nghĩa thiết yếu.     a. Nhu cầu lao động – Tuy các trường ĐH hoa tiêu  rất chú trọng đào tạo tài năng cho cả nước (thật ra là cho thị trường lao động toàn cầu), họ vẫn phải có ý thức hỗ trợ cho kinh tế khu vực. Đây là một quá trình năng động bao gồm hai con đường:  o    Hỗ trợ thị trường lao động địa phương và nhu cầu của các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước thông qua những hoạt động phục vụ cộng đồng, qua định hướng các công trình nghiên cứu của giảng viên, và qua những công việc bán thời gian. Những hoạt động này có thể xem như những cơ hội học việc vừa giúp hướng dẫn cho những mối quan tâm nghề nghiệp của sinh viên vừa giúp cho sự phát triển của kinh tế địa phương.       o    Đào tạo những lĩnh vực chuyên nghiệp cụ thể như kỹ thuật, luật, y khoa, thường là qua những sinh viên đang bước vào thị trường lao động kỹ năng cao.  b. Chuyển giao công nghệ – Chuyển giao công nghệ không chỉ liên quan tới những công trình nghiên cứu do giảng viên của trường thực hiện, mà còn là một vấn đề có tính chất tổ chức ở cấp trường và liên quan tới khu vực tư nhân cũng như nhà nước. Những bước đi chủ yếu của chuyển giao công nghệ là: công bố những khám phá mới; quản lý và lưu trữ hồ sơ; đánh giá và tiếp thị; nộp hồ sơ cấp bằng sáng chế; thương lượng và soạn thảo thỏa thuận cấp phép; quản lý những giấy phép đang vận hành.  Hoạt động chuyển giao công nghệ của trường ĐH chủ yếu xoay quanh việc công bố, xin cấp bằng sáng chế, cấp phép, và đưa vào hoạt động.  Nó đòi hỏi các chính sách về:  o    Mục đích của chuyển giao công nghệ – Tuy mối quan tâm đến nguồn thu nhập đáng kể và ổn định từ bằng sáng chế và cấp phép chuyển giao công nghệ, hay từ những doanh nghiệp mà nhà trường lập ra, thường là một trong các mục tiêu của ĐH hoa tiêu, nhưng nó hiếm khi trở thành thực tế. Chi phí cho việc đưa các kết quả nghiên cứu của nhà trường vào được thị trường và bảo vệ tác quyền để nó không bị xâm phạm, có thể sẽ rất cao. Điều quan trọng hơn là, chuyển giao công nghệ là một phần của việc thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương cũng như tương tác giữa giảng viên/ sinh viên với cộng đồng khu vực và các doanh nghiệp.– một con đường chủ yếu để lưu hành chất xám trong cả khu vực công và khu vực tư. Cần lưu ý là số lượng bằng sáng chế và cấp phép chuyển giao công nghệ hay lợi ích phụ không nhất thiết là những dấu hiệu quan trọng nhất cho vai trò quan trọng của nhà trường trong thúc đẩy phát triển kinh tế. Dòng chảy thông tin giữa nhà trường và giới doanh nghiệp, và có lẽ, quan trọng nhất là sự luân chuyển nhân sự giữa giới hàn lâm trong nhà trường và giới chuyên môn trong các doanh nghiệp mới được dẫn chiếu như một chỉ báo quan trọng sống còn  của việc thúc đẩy bầu không khí kinh doanh năng động trong xã hội.xxiii Cơ cấu kinh tế quốc gia, cùng với một chính phủ và khung pháp lý ổn định cho các trường ĐH và các doanh nghiệp hoạt động là điều có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng tăng cường vai trò đóng góp của nhà trường cho sự phát triển kinh tế.  o    Tổ chức và hỗ trợ – Hầu hết các ĐH lớn đều có văn phòng Chuyển giao Công nghệ với thẩm quyền và hiệu quả hoạt động khác nhau khá nhiều. Xu hướng chung là giúp các trường thiết lập một đơn vị chức năng có nhiệm vụ nối kết các giảng viên, đánh giá  giá trị của các ý tưởng và phát minh, hỗ trợ thủ tục xin cấp bằng sáng chế, và liên hệ với các nguồn quỹ hay đối tác tiềm năng có thể khai thác những ý tưởng hay phát minh đó. Những trường lớn hơn và có chương trình nghiên cứu khoa học về tự nhiên và kỹ thuật mạnh thì thường có nhân viên chuyên trách chuyển giao công nghệ cho từng lĩnh vực chuyên ngành.     o    Quy tắc về bản quyền và tài sản trí tuệ – Thông thường chính sách được xây dựng ở cấp quốc gia và cấp trường/viện, với thực tế ngày càng phổ biến là giảng viên chia sẻ quyền sở hữu tài sản trí tuệ với nhà trường, và có khi với cả nơi đã cấp nguồn tài trợ cho nghiên cứu– thường là một tổ chức chính phủ. Cơ cấu và tỉ lệ sở hữu có thể khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là có lợi cho người phát minh cũng như khích lệ nhà trường đưa những ý tưởng phát minh ấy vào thị trường và tạo điều kiện cho việc kinh doanh những sản phẩm phụ của các tài sản trí tuệ ấy.  10.    Học tập suốt đời/ Mở rộng hợp tác – Một bộ phận quan trọng trong chiến lược mở rộng tri thức nghiên cứu của nhà trường là đưa ra những chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ và cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực chuyên ngành, những thứ gắn với các hoạt động nhằm phát triển kinh tế. Xưa nay đó vẫn là một phần cực kỳ quan trọng trong sứ mạng của các trường ĐH hoa tiêu ở Mỹ, tập trung vào các chương trình huấn luyện hay dịch vụ về thực phẩm và gia đình, môi trường và phát triển kinh tế cộng đồng. Kiểu hoạt động này phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, nhưng thường thì không được tổ chức sắp xếp lại và cấp ngân sách theo một cách coi nó là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường.   11.    Quan hệ với các trường khác – Một khái niệm chủ chốt khác trong mô hình ĐH hoa tiêu là sự trợ giúp qua đó tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên các trường khác trong vùng. Đó là:  a. Xác định tiêu chuẩn chương trình– Thông qua tiêu chí tuyển sinh (thí dụ như những môn bắt buộc) hay những phương tiện khác như tham gia xây dựng tiêu chuẩn chương trình quốc gia, hay những khóa học nâng cao đặc biệt, các trường ĐH hoa tiêu có thể tạo ra tác động to lớn với sự phát triển của các trường, nhất là bậc trung học.  b. Đào tạo giáo viên – Tất cả các ĐH hoa tiêu đều nên có chương trình đào tạo giáo viên và tuyển sinh một cách chọn lọc. Không cần phải lớn, nhưng được coi như nơi xác lập tiêu chuẩn về đào tạo sư phạm. Xưa nay các trường ĐH hoa tiêu cũng thường lập ra các “trường thực nghiệm” để áp dụng những ý tưởng cách tân và thực hiện những chương trình đào tạo đặc biệt được thiết kế phù hợp với thực tế kinh tế xã hội trong vùng.  c. Đào tạo hiệu trưởng các trường phổ thông – Như một phần quan trọng trong việc hỗ trợ các trường phổ thông địa phương, nhiều trường ĐH hoa tiêu có đào tạo sau ĐH về quản lý giáo dục cho các hiệu trưởng hiện tại và tương lai của các trường phổ thông.    d. Tăng cường truyền thông giao tiếp với học sinh và trường phổ thông  – Giảng viên, nhân viên và sinh viên của các trường ĐH hoa tiêu nên tạo cơ hội cho học sinh phổ thông đến thăm trường và được giới thiệu để hiểu làm sinh viên ĐH thì có ý nghĩa như thế nào.   12.    Quan hệ với các trường ĐH và cao đẳng khác trong vùng  – Mô hình hoa tiêu ngầm định rằng sẽ có một số hình thức chính thức hoặc không chính thức để hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau với các trường ĐH-CĐ khác trong một lĩnh vực chuyên môn hoặc trong khu vực và trong nước. Phải thú nhận rằng điều này sẽ phải đương đầu với văn hóa chính trị của nhiều trường ĐH nghiên cứu lớn nơi chuẩn mực quốc gia đã quen xem mỗi trường như một ốc đảo, dường như tách biệt với sự vận hành của những trường khác đôi khi bị xem như đối thủ cạnh tranh. Các hình thức phối hợp này có thể là:  a. Liên thông và điều phối các môn học – Các trường ĐH hoa tiêu có thể xây dựng những chương trình đào tạo cấp bằng cử nhân hoặc những chương trình chuyên ngành dưới hình thức phối hợp với các trường trong vùng. Những nơi có hệ thống đôi [Ví dụ như ở Hà Lan, nơi hệ thống GDĐH có hai con đường song đôi: các trường định hướng nghề nghiệp, và các trường ĐH nghiên cứu (chú thích của người dịch. Xem thêm: Phạm Thị Ly, Hệ thống GDĐH Hà Lan và việc phân tầng ĐH ở Việt Nam. Báo cáo nghiên cứu số 8. Bộ GD-ĐT, 2013)], ĐH hoa tiêu có thể tạo ra con đường liên thông để sinh viên chuyển từ hệ này sang hệ khác để lấy bằng cử nhân.      b. Những chương trình chuyển đổi – Việc liên thông môn học cũng có thể dẫn đến những chương trình hợp tác chính thức giữa các trường trong đó SV có thể học một số môn nhất định ở trường khác và chuyển tiếp sang học ở trường ĐH hoa tiêu khi đáp ứng đủ điều kiện.   c. Tham gia những nỗ lực hướng đến cộng đồng bên ngoài nhà trường– Các trường ĐH hoa tiêu phải dẫn đầu và phối hợp với những trường khác trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận ĐH cho những nhóm thu nhập thấp và hoàn cảnh khó khăn. Điều này có thể thực hiện thông qua cung cấp thông tin cho học sinh phổ thông và tiếp xúc cá nhân để tư vấn, tổ chức những chương trình đưa học sinh đến các trường ĐH để tham quan và tìm hiểu môi trường ĐH nhằm mang lại cho các em cảm giác là mình có cơ hội để theo đuổi bậc học ĐH.  Chân dung IV: ĐH hoa tiêu- Việc quản lý và trách nhiệm giải trình  13.    Về quyền tự chủ của nhà trường – Việc quản lý và tổ chức hệ thống GDĐH đang thay đổi trên toàn cầu, nhìn chung là theo hướng ngày càng tăng mức độ tự chủ của các trường trong việc ra quyết định, và ngày càng đòi hỏi cao về trách nhiệm giải trình. Tuy vậy, những khác biệt về văn hóa và bối cảnh quốc gia vẫn có ý nghĩa rất quan trọng; có những nước vẫn đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống kinh tế theo mệnh lệnh. Mặc dù vậy, ĐH hoa tiêu nói chung phải có bốn thứ tự do cốt lõi sau đâyxxiv:  •    Quyền được chọn sinh viên – trong một số khuôn khổ chung của chính sách quốc gia.  •    Xác định nên dạy thứ gì.  •    Và giảng dạy như thế nào   •    Và ai sẽ thực hiện giảng dạy.  14.    Quản trị – Mức độ tự chủ của nhà trường được nhà nước và Bộ Giáo dục công nhận thì khác nhau vô cùng lớn ở các nước, dù rằng nhìn chung xu hướng đang là tăng quyền tự chủ trong vấn đề tài chính và các quyết định trong đào tạo, cũng như thẩm quyền quản lý của lãnh đạo các trường.      Không có quyền tự chủ ở mức độ cao về quản lý tài chính, nhân sự, các trường ĐH hoa tiêu không thể cạnh tranh với các trường đỉnh khác để hoàn thành trách nhiệm của mình.  Đồng thời, bản thân mức độ tự chủ cao (qua các quy định luật pháp của nhà nước) cũng không đủ để hỗ trợ cho mục tiêu trở thành trường ĐH hoa tiêu. Nó phải đi cùng với một cơ chế quản lý và lãnh đạo cho phép quá trình ra quyết định được thực hiện với sự rõ ràng về thẩm quyền và với các quy tắc của đồng quản trị.    a. Hội đồng Trường– rất phổ biến với các trường ĐH hoa tiêu ở Hoa Kỳ, và ngày càng được áp dụng nhiều hơn ở những trường ĐH nghiên cứu lớn trên toàn thế giới. Đây là hình thức một hội đồng trường bao gồm một số thành viên ngoài xã hội và là một tổ chức có đủ quyền tự chủ mà không bị chi phối trực tiếp bởi Bộ Giáo dục, hoặc nhà nước nói chung.   b. Lãnh đạo điều hành cấp cao – Ở nhiều nước, vai trò của hiệu trưởng cực yếu, phần nhiều là do tính chất nghi lễ, tạm thời hay được bầu của vị trí này và không có thẩm quyền gì đặc biệt để quản lý điều hành nhà trường. Tương tự như vậy, thẩm quyền mạnh mẽ của Bộ và những quy định của nhà nước khiến hội đồng trường có rất ít không gian để mà xoay sở.   Vai trò quan trọng của những người lãnh đạo cao nhất của nhà trường trong tương quan với vai trò của giới giảng viên là nguồn gốc của những căng thẳng và nhiều lẫn lộn. Như Michael Shattock lưu ý trong một bài viết về các trường ĐH Anh, sự trỗi dậy của các nhà lãnh đạo ĐH với sự mất mát của các thành tố truyền thống trong cơ cấu quản trị ĐH có thể sẽ đẩy vai trò can dự của giới giảng viên ra xa và dẫn tới “sự mất mát sinh khí và tính chất đặc biệt của giới giảng viên”xxv. Tuy thế việc xác định lại vai trò của các nhà lãnh đạo ĐH, của Hội đồng Trường, của giảng viên thậm chí còn đầy kịch tính hơn ở phần lớn lục địa Châu Âu, kể cả Pháp và Châu Mỹ Latin,  nơi quyền tự chủ được mở rộng và những cơ chế giải trình trách nhiệm mới đòi hỏi những mối quan hệ mới và những năng lực tốt hơn để định hình hoạt động và kết quả của nhà trường. Có lẽ chỗ khó khăn nhất về mặt quan hệ và thẩm quyền là xác định vai trò của giảng viên trong quá trình này. Hầu hết các trường chưa hề diễn đạt đầy đủ vai trò này trong những chính sách chính thức được đưa ra; thay vào đó họ làm theo những tiền lệ và thường là với một vai trò lãnh đạo rất yếu.  c. Đồng quản trị – Theo truyền thống văn hóa của nhiều nước, vai trò khác biệt của giảng viên trong việc quản lý hoạt động khoa học và đào tạo có liên quan chặt chẽ tới chất lượng và hoạt động của nhà trường xét về lâu dài. Với thẩm quyền ngày càng mạnh của những người lãnh đạo học thuật, như các hiệu trưởng chẳng hạn, cần phải xác định rõ vai trò của giới giảng viên, nhất là trong những vấn đề liên quan đến hoạt động khoa học và đào tạo của nhà trường, như chương trình giảng dạy, chính sách tuyển sinh, phát triển hoạt động khoa học, những lĩnh vực mà các trường được quyền tự do làm theo ý mình.    Nhìn chung, các trường ĐH cần phải có một tổ chức đại diện chính thức cho giới giảng viên (một Hội đồng Giảng viên, hay cái gì đó tương tự) với thẩm quyền tổ chức bộ máy và lên tiếng về những lĩnh vực mà họ là những người có thẩm quyền phát ngôn chủ yếu (những quyết định về chương trình đào tạo), hoặc có thẩm quyền can dự (bổ nhiệm vị trí và chức danh giảng viên), và có thẩm quyền cố vấn (những quyết định chủ yếu về phân bổ ngân sách liên quan đến các chương trình đào tạo).  University of California có chính sách rất rõ ràng về đồng quản trị thể hiện trong những thẩm quyền mà nhà trường giao cho Hội đồng Đào tạo – một tổ chức đại diện cho giới giảng viên của trường. Những thẩm quyền do Hội đồng Trường trao cho họ là:  •    Thẩm quyền xác định tiêu chí, điều kiện tuyển sinh.   •    Thẩm quyền thiết lập điều kiện để cấp bằng tốt nghiệp và giám sát các môn học, chương trình học. Hội đồng có trách nhiệm quản lý chất lượng của các chương trình đào tạo mà sinh viên bắt buộc phải học để được công nhận tốt nghiệp cũng như phải duy trì chất lượng của những môn khác trong chương trình.   •    Thẩm quyền xác định tư cách thành viên của giảng viên trong trường bao gồm hai thành tố. Hội đồng Giảng viên có trách nhiệm quản lý chất lượng của giảng viên, những người đang giảng dạy, thiết kế chương trình, thực hiện nghiên cứu khoa học. Giảng viên trong toàn trường được đánh giá theo một bộ tiêu chí thống nhất nhằm duy trì một mức độ ưu tú nhất định giữa các trường thành viên của hệ thống UC. Để bảo đảm chất lượng giảng viên, Hội đồng này cũng quản lý luôn cả những vấn đề phúc lợi tác động tới việc tuyển dụng hay giữ chân giảng viên.     •    Thẩm quyền cố vấn về ngân sách của nhà trường tạo điều kiện cho Hội đồng giảng viên ủng hộ việc phân bổ nguồn lực cho những hoạt động tăng cường chất lượng hoạt động khoa học và đào tạo của nhà trường.   •    Thẩm quyền phán quyết trong những vấn đề thưa kiện hay kỷ luật giảng viên nhằm củng cố tiêu chuẩn đạo đức của giảng viên như đã nêu trong Quy tắc đạo đức của Giảng viên và trong những chính sách khác của nhà trường.     Tuy vậy cần lưu ý là việc giao quyền tương đối mạnh mẽ cho giảng viên và các nhà quản lý không đủ để thực thi cơ chế đồng quản trị một cách hiệu quả. Cần phải có một văn hóa chia sẻ gánh nặng và tôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng học thuật. Trong một nghiên cứu về bản chất đang thay đổi của cơ chế đồng quản trị trong các trường ĐH Na Uy, Bjorn Stensaker lưu ý rằng “tuy hầu hết các trường ĐH nhấn mạnh năng lực lãnh đạo và quản lý, phần nhiều các nỗ lực ấy đã bỏ qua nhân tố văn hóa và biểu tượng của việc quản trị trong quá trình này.”xxvi Trong những trường đang trải qua nhiều thay đổi cơ bản về cấu trúc thẩm quyền, tạo ra một môi trường văn hóa như thế có thể sẽ rất khó và cần nhiều thời gian.xxvii  15.    Tự do học thuật – Điều trọng yếu đối với thành công của trường ĐH hoa tiêu là nguyên tắc về tự do học thuật, có thể được định nghĩa như sau:  Tự do học thuật là quyền của giảng viên trong việc xác định nội dung giảng dạy và cách giảng dạy những nội dung ấy; cũng như tự do lựa chọn nghiên cứu vấn đề gì và công bố những kết quả nghiên cứu ấy. Nó cũng bảo đảm rằng họ sẽ không bị trừng phạt vì diễn đạt ý kiến hay vì những liên đới trong năng lực cá nhân hay năng lực công dân của họ.xxviii   Trên đây là tuyên ngôn về quyền tự do học thuật của ĐH Columbia, nhưng cũng có nhiều tuyên ngôn khác với nội dung tương tự, trong đó có Tuyên ngôn Hợp Phì về Mười Đặc điểm của Trường ĐH Nghiên cứu Hiện đại, được thiết lập như một tuyên ngôn quốc tế  dưới sự ủng hộ của Hiệp hội các Trường ĐH Hoa Kỳ, Nhóm 8 trường ở Australia, Nhóm các Trường ĐH hàng đầu Châu Âu, và nhóm C9, tức 9 trường tinh hoa của Trung Quốc. Tuyên ngôn này viết:  “Các trường cần thực thi quyền tự do học thuật có trách nhiệm với giảng viên, để họ không bị kiềm chế một cách không đáng trong việc tạo ra và phổ biến tri thức thông qua nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ; để họ làm việc trong một không gian văn hóa khoa học dựa trên con đường rộng mở trong tìm kiếm tri thức; để họ không ngừng kiểm nghiệm những hiểu biết đang có ở mức độ vượt ra xa hơn tính chất nghề nghiệp hay công cụ; để họ nhìn xa hơn những nhu cầu trước mắt, và tìm cách phát triển sự hiểu biết, kỹ năng và tri thức chuyên môn cần thiết cho tương lai và cho việc diễn giải về thế giới đang thay đổi của chúng ta.”xxix     Những quyền tương tự cũng cần được mở rộng cho sinh viên, về mặt tự do diễn đạt ý kiến. Tuy vậy đối với cả giảng viên và sinh viên, có những hạn chế trong mọi xã hội về một vài hình thức phát biểu, trong đó có những phát biểu có tính chất phân biệt chủng tộc, giới tính, hay tấn công một nhóm xã hội nào đó, hoặc những hình thức xúi giục bạo loạn khác nhau. Môi trường văn hóa và chính trị trong đó trường ĐH hoa tiêu đang vận hành là điều không thể không tính đến, dù vậy vẫn cần phải có một hình thức nào đó về tuyên ngôn tự do học thuật, trong đó có những chân lý đương nhiên ví dụ như không nên có bất cứ hình thức kiểm tra chính trị nào trong việc bổ nhiệm hay đề bạt giảng viên hay nhân viên.   16.    Chất lượng/ Giải trình trách nhiệm – Trong tất cả các nước có một hệ thống GDĐH phát triển cao, các bộ giáo dục, hay các cơ quan quản lý nhà nước khác, đang có những tiến triển trong hoạt động bảo đảm chất lượng và nâng cao trách nhiệm giải trình của các trường. Tuy vậy, một dấu hiệu nhận diện của trường ĐH hoa tiêu chính là những nỗ lực nảy sinh từ bên trong nhà trường nhằm tạo ra văn hóa tự cải thiện, nó nối kết sứ mạng giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ cộng đồng của nhà trường với những quy tắc luật lệ và cách xử sự của giảng viên nhân viên trong toàn trường.   a. Bổ nhiệm và phát triển giảng viên – Giảng viên của các trường ĐH hoa tiêu cần phải nêu rõ ràng những kỳ vọng giúp định hình cách xử sự của giảng viên và nâng cao phạm vi trách nhiệm của giảng viên đối với nhà trường. Việc bổ nhiệm và phát triển giảng viên cần dựa trên quy trình bình duyệt đồng nghiệp – chứ không phải theo cơ chế bổ nhiệm công chức. Điều quan trọng là cần công nhận những khác biệt to lớn trong mối quan tâm của giảng viên, và những mối quan tâm ấy có thể thay đổi nhiều qua thời gian. Đây là một số tiêu chí làm ví dụxxx:  Giảng dạy — Những minh chứng biểu thị rõ ràng chất lượng cao trong việc giảng dạy là một tiêu chí cốt lõi cho việc bổ nhiệm, thăng tiến hay đề bạt. Nó bao gồm cả những tư liệu về khả năng và sự cần cù trong vai trò giảng dạy. Để đánh giá hiệu quả giảng dạy của một ứng viên, việc bình duyệt đồng nghiệp cần xem xét những điểm sau: mức độ nắm vững chuyên môn; khả năng tổ chức tư liệu và trình bày nó một cách hợp logic và có sức thuyết phục; khả năng đánh thức nhận thức của sinh viên về quan hệ giữa vấn đề đang được dạy và những lĩnh vực tri thức khác; khả năng vun đắp sự độc lập và năng lực tư duy duy lý của sinh viên; tinh thần và nhiệt tình của giảng viên; khả năng khơi dậy sự tò mò cho sinh viên; khuyến khích tiêu chuẩn cao và kích thích tinh thần sáng tạo trong sinh viên; những phẩm chất cá nhân tác động tới việc dạy học; mức độ hay kỹ năng tham gia vào việc hướng dẫn và cố vấn cho sinh viên; hiệu quả trong việc tạo ra một môi trường học tập cởi mở và khích lệ cho mọi sinh viên, kể cả việc áp dụng những cách cụ thể cho các nhóm sinh viên ít được chú ý đến.   Hội đồng xét duyệt cần chú ý những đòi hỏi khác nhau đặt ra cho những cách giảng dạy khác nhau tùy theo chuyên ngành và ở nhiều cấp độ, và cần đánh giá tổng thể về hoạt động của giảng viên trong sự tham chiếu thích hợp với trách nhiệm mà họ được giao.    Nghiên cứu và những hoạt động sáng tạo — Minh chứng cho óc sáng tạo và năng suất cao phải được thể hiện qua những kết quả nghiên cứu đã được công bố của giảng viên, hay trong những sản phẩm nghệ thuật được công nhận trong lĩnh vực thiết kế kỹ thuật kiến trúc, hay những thứ đại loại như thế. Công bố khoa học trong nghiên cứu và những thành quả sáng tạo khác cần được đánh giá chứ không chỉ tính đếm. Cần có những minh chứng cho thấy ứng viên gắn với những hoạt động sáng tạo một cách liên tục và tích cực với chất lượng cao và nổi bật. Những công trình dở dang cũng cần được đánh giá khi có thể được. Khi những ấn phẩm đã công bố có đồng tác giả, trách nhiệm của trưởng khoa là xác định rõ ràng vai trò của ứng viên trong công trình đồng tác giả ấy.  Cần công nhận rằng trong một số trường hợp đặc biệt trong nghệ thuật, sự đóng góp cụ thể của những người làm nên tác phẩm, không dễ nhận ra với những người chỉ nhìn thấy sản phẩm khi nó đã hoàn tất.    Hoạt động và năng lực chuyên môn — Trong một số trường chuyên môn như kiến trúc, quản lý kinh doanh, nha khoa, kỹ thuật, luật khoa và y khoa, một số điểm khác biệt biểu thị cho năng lực đặc biệt phù hợp với đặc điểm riêng của lĩnh vực cần được công nhận như tiêu chí cho việc bổ nhiệm hay đề bạt. Hoạt động chuyên môn của ứng viên cần được xem xét như một minh chứng cho thành tựu và tư cách lãnh đạo trong chuyên ngành khi nó biểu thị sự tiến bộ trong giải pháp giải quyết vấn đề kể cả những giải pháp dành cho các nhóm ít được chú ý.   Trường ĐH và phục vụ lợi ích công — Giảng viên có một vai trò quan trọng trong việc quản lý và xây dựng chính sách của nhà trường. Bởi vậy cần có sự công nhận đối với những học giả chứng minh rằng họ có thể quản lý hữu hiệu và tham gia vào quá trình điều hành khoa, trường, cũng như xây dựng chính sách. Những dịch vụ mà giảng viên đem lại cho cộng đồng, nhà nước, và quốc gia cả trong năng lực đặc biệt của họ với tư cách nhà khoa học lẫn trong những lĩnh vực xa hơn chuyên ngành, cần được công nhận như là minh chứng để xem xét đề bạt. Những hoạt động của giảng viên nhằm hỗ trợ cho các trường phổ thông trong vùng cũng là ví dụ cho hoạt động phục vụ công ích tương tự. Tương tự, những đóng góp cho lợi ích của sinh viên ví dụ như phục vụ trong các hội đồng giảng viên- sinh viên, hoặc tư vấn cho các tổ chức của sinh viên, cũng cần được công nhận là minh chứng. Những minh chứng này sẽ đóng góp cho sự đa dạng, cơ hội công bằng trong trường thông qua việc can dự vào những hoạt động như tuyển dụng, giữ chân và hướng dẫn cho giảng viên và sinh viên.  b. Những tiêu chuẩn về đạo đức và chính sách về mâu thuẫn lợi ích – Giảng viên và nhân viên ngày càng gắn bó nhiều hơn với những hoạt động bên ngoài nhà trường, thường là để thực hiện vai trò phục vụ cộng đồng của  nhà trường, đôi khi có ít nhiều thù lao. Các trường cần có chính sách bảo đảm cho người của trường có những cam kết lâu dài về thời gian cho những hoạt động phục vụ, cũng giống như đối với việc giảng dạy và hướng dẫn cho sinh viên.  Họ cũng cần tránh gắn với việc tư vấn hay với những quỹ tài trợ nghiên cứu mà lợi ích tài chính của nó mâu thuẫn với trách nhiệm bổn phận của họ như một giảng viên của trường, hay là mâu thuẫn với sự đánh giá của giảng viên với tư cách là người nghiên cứu.   Chính quyền khu vực hay chính phủ các nước có thể có những chính sách chung quy định về đạo đức giảng viên, nhưng các trường cũng cần có chính sách riêng của mình và những phương tiện để củng cố nó. Đây là một số ví dụ về chính sách của University of California và phản ánh chính sách của tiểu bang:   Giảng viên, nhân viên của cộng đồng ĐH được mong đợi sẽ cống hiến lòng trung thành nghề nghiệp  với trường ĐH và sứ mạng giảng dạy, nghiên cứu, và phục vụ cộng đồng của nhà trường. Những công việc bên ngoài nhà trường không được xen vào can thiệp những bổn phận với nhà trường của họ. Những hoạt động chuyên môn bên ngoài, lợi ích tài chính cá nhân, hoặc nhận tiền từ bên thứ ba có thể tạo ra mâu thuẫn lợi ích giữa sứ mạng của nhà trường và lợi ích cá nhân của giảng viên. Những giảng viên có nhiều lợi ích riêng trong hoạt động chuyên môn có thể gây ra mâu thuẫn lợi ích với nhà trường cần được yêu cầu công khai những lợi ích ấy phù hợp với chính sách của nhà trường trong việc xử lý những trường họp mâun thuẫn lợi ích. Trong mọi vấn đề, người ta mong đợi giảng viên có những bước đi phù hợp, kể cả tìm sự cố vấn, nếu vấn đề không rõ ràng, để tránh mâu thuẫn lợi ích và sự xuất hiện của những mâu thuẫn ấy.xxxi   c. Rà soát chương trình – Rà soát chương trình đào tạo hiện hành nhằm bảo đảm duy trì các tiêu chuẩn về sự ưu tú và tạo điều kiện để khoa/ trường có cơ hội lên kế hoạch chiến lược cho tương lai.    Ở nhiều nơi trên thế giới, rà soát chương trình, cũng giống như kiểm điểm hậu biên chế là những khái niệm mới. Các bộ giáo dục ngày càng đưa ra nhiều yêu cầu, nhiều mẫu phiếu cho việc rà soát chương trình và kiểm định. Nhưng con đường quan trọng nhất cho tự cải thiện và quản lý dựa trên minh chứng, là quy trình bình duyệt, kiểm điểm nội bộ, là thứ có thể mang lại những đánh giá trung thực về những chỗ mạnh và yếu của nhà trường.    Việc kiểm điểm chương trình đào tạo được đặt ra nhằm thu thập ý kiến đóng góp của giảng viên, sinh viên, nhân viên. Mô hình ở Berkeley tương tự như ở các trường công hàng đầu khác, bao gồm:  •    Hội đồng Kiểm điểm Chương trình do Hội đồng Giảng viên lập ra để phối hợp và giám sát quá trình kiểm điểm, được hỗ trợ bởi nhân viên Phòng Phân tích Nội bộ của nhà trường.     •    Mỗi khoa, trường, hay bộ môn thực hiện tự phân tích, tự đánh giá về kế hoạch làm việc,  mục tiêu và nguồn lực của chương trình, những khó khăn và cơ hội. Dữ liệu sẽ được hỗ trợ bởi Phòng kế hoạch và Phân tích.   •    Một báo cáo do một đơn vị bên ngoài thực hiện dựa trên kết quả phỏng vấn giảng viên, sinh viên  nhân viên và những số liệu được phòng Phân tích Nội bộ cung cấp. Khoa/phòng/ban/bộ môn được kiểm điểm sẽ có cơ hội phản hồi bản báo cáo này và bản báo cáo do Hội đồng Kiểm điểm chương trình  soạn thảo. Sau đó các văn bản này sẽ được nộp cho Hội đồng Giảng viên và Hiệu trưởng.  •    Kết quả kiểm điểm sẽ được miêu tả trong một bản báo cáo bao gồm phác họa kế hoạch hành động cho lãnh đạo khoa/ trường để phản hồi. Trưởng khoa chịu trách nhiệm phổ biến cho đơn vị sau khi kiểm điểm.    •    Cuối cùng, kết luận về nội dung kiểm điểm sẽ được trình bày trong công văn của Hiệu trưởng, văn bản này được xem là một phần của hồ sơ được công bố.  •    Khoa/phòng/ban/bộ môn được kiểm điểm cần có những hành động để giải quyết những vấn đề mà bản báo cáo kiểm điểm đã nêu ra. Văn bản kết luận có nêu kế hoạch thời gian để hành động nhằm giải quyết những gì được đề xuất. Các đơn vị này cần báo cáo về những hành động mà họ đã thực hiện để đáp ứng với những đề xuất ấy và phòng phân tích nội bộ cần lưu giữ dữ liệu này.    17.    Đa dạng về nguồn tài trợ – Hầu hết các trường ĐH trên thế giới đều đang tìm kiếm tài trợ từ nhiều nguồn đa dạng hơn, xa dần mô hình hoàn toàn phụ thuộc hoặc chủ yếu là phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Trường ĐH hoa tiêu có nên trộn lẫn nhiều loại hay cân bằng các nguồn tài chính khác nhau tương tự như thế? Bên cạnh nét đặc thù của đất nước mà các trường ĐH hoa tiêu đang hoạt động, nhất là về mức độ phụ thuộc vào ngân sách của Bộ, câu trả lời này còn phụ thuộc vào đặc diểm của các chương trình và hoạt động của một trường cụ thể.     Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, chính phủ đã là nguồn chủ yếu cung cấp tài trợ cho những trường ĐH công như Berkeley, Michigan, Texas, và North Carolina. Trong thập kỷ 1950s, ngân sách nhà nước chiếm khoảng 70% kinh phí hoạt động của các trường. Ngày nay, như Berkeley chẳng hạn, chỉ 12% kinh phí là từ ngân sách, phần còn lại là học phí, tài trợ nghiên cứu và hợp đồng nghiên cứu, thu nhập từ bằng sáng chế và quà tặng. Một mặt, điều này cũng phản ánh mức giảm sút nghiêm trọng về đầu tư công cho GDĐH, do đại suy thoái. Mặt khác, nó phản ánh sự đa dạng ngày càng tăng trong các hoạt động của trường ĐH nghiên cứu– một xu thế của toàn cầu.  Điều cốt yếu là tuy các trường ĐH hoa tiêu nhìn chung đang đa dạng hóa nguồn tài chính, họ vẫn tiếp tục duy trì sự cam kết đối với vai trò của mình trong việc phát triển kinh tế và xã hội ở địa phương. Đồng thời, một hồ sơ đa dạng về nguồn tài trợ cũng hứa hẹn ổn định hơn về tài chính, và trong hầu hết mọi trường hợp, là con đường để đạt được mức tự chủ cao hơn.  18.    Năng lực nghiên cứu nội bộ của nhà trường – Tất cả các trường đều cần theo đuổi tiến trình ra quyết định dựa trên minh chứng. Phòng Phân tích nội bộ là một bộ phận không thể thiếu  để tăng cường trách nhiệm quản lý cũng như xây dựng văn hóa tự cải thiện. Hầu hết các trường ĐH trên khắp thế giới đều có rất ít chính sách và chiến lược chính thức về việc thu thập mọi dữ liệu của nhà trường, và tuyển dụng những chuyên viên được đào tạo đầy đủ để phân tích, xử lý thông tin cần cho việc lãnh đạo nhà trường một cách hiệu quả. Một chất xúc tác cho quá trình này có thể là những đòi hỏi thông tin của Bộ Giáo dục nhằm thích ứng với tiến triển trong cơ chế giải trình trách nhiệm; hoặc những bảng xếp hạng ĐH quốc gia và quốc tế cũng khiến các trường phải nỗ lực thu thập và bảo quản dữ liệu, cũng như xây dựng chiến lược để cải thiện chỉ số trích dẫn và những thước đo khác về kết quả đầu ra.            Hình 8 – Các nhóm và phương thức gắn kết với quốc tế               Nhóm 1 – Sáng kiến của cá nhân giảng viên               •    Hợp tác nghiên cứu               •    Giảng dạy và xây dựng chương trình               •    Lãnh đạo các chương trình đào tạo               •    Phê chuẩn về quyền tác giả               Nhóm 2 – Quản lý bản đồ nhân khẩu học của trường               •    Tuyển sinh viên quốc tế vào trường               •    Tuyển giảng viên và cán bộ quản lý người nước ngoài               •    Giáo sư và giảng viên thỉnh giảng               •    Khóa ngắn hạn, hội thảo, đoàn khách viếng thăm               •    Khóa học mùa hè, các khóa tập huấn nghiệp vụ và các chương trình nâng cao trình độ ngoại ngữ               Nhóm 3 – Sáng kiến tạo ra năng động              •    Chương trình trao đổi giao lưu sinh viên               •    Chương trình học một vài tuần hay học kỳ ở nước ngoài, thực tập, học tập qua phục vụ cộng đồng, các dự án nghiên cứu và thực hành               Nhóm 4 – Thay đổi chương trình và phương pháp giảng dạy               •    Thay đổi chương trình đào tạo               •    Ngoại ngữ và văn hóa nước ngoài               •    Giao tiếp xuyên văn hóa và năng lực liên văn hóa               •    Phương pháp giảng dạy mới và công nghệ cho dạy và học               •    Chương trình ngoại khóa và những hoạt động do sinh viên đề xướng.               Nhóm 5 – Gắn bó xuyên quốc gia               •    Hợp tác và đối tác với các trường nước ngoài               •    Bằng đôi, bằng kép, và cùng cấp bằng               •    Liên kết đào tạo ở nhiều địa điểm               •    Thỏa thuận chuyển tiếp, Chương trình đôi, nhượng quyền thương hiệu               •    Đối tác chiến lược trong nghiên cứu               •    Liên minh chiến lược               •    Chi nhánh, cơ sở vệ tinh, v.v.                Nhóm 6 – Xây dựng mạng lưới               •    Mạng lưới tri thức và học thuật               •    Tập đoàn              •    Mạng lưới cựu sinh viên              Nhóm 7 – Những hành động về văn hóa, bản sắc và biểu tượng                •    Đặc điểm quốc tế: Thay đổi văn hóa của nhà trường               •    Lãnh đạo với tinh thần gắn bó         Tuy thế nhiều trường ĐH nghiên cứu vẫn thiếu năng lực phân tích nội bộ và nhiều lãnh đạo ĐH vẫn thiếu hiểu biết về tầm quan trọng cũng như lợi ích tiềm tàng của việc tổ chức tốt hơn công tác quản lý và ra quyết định dựa trên thông tin ở mọi cấp độ trong công tác điều hành. ĐH hoa tiêu cần tập trung vào dữ liệu và nhu cầu phân tích của chính họ, bao gồm những nỗ lực thực hiện trách nhiệm giải trình nội bộ như ví dụ rà soát kiểm điểm chương trình, chứ không chỉ là để đáp ứng với những đòi hỏi từ bên ngoài.  Một cách giải thích cho những mục đích nội tại này, khá đơn giản, một là phân tích chính sách quản lý trong trường (tôi sẽ thêm vào: thu thập và bảo quản dữ liệu về nhà trường); hai là lên kế hoạch chiến lược, kế hoạch tuyển sinh và quản lý tài chính; và ba là đánh giá kết quả, rà soát chương trình, báo cáo giải trình trách nhiệm với trong và ngoài trường và đo lường hiệu quả hoạt động của nhà trường.xxxii     Đồng thời, tất cả các trường đều cần, ở mức độ tối thiểu, tìm kiếm và hỗ trợ một đội ngũ chuyên môn, hay hợp tác với các trường ĐH quốc gia để xây dựng mạng lưới chuyên gia phân tích nội bộ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những trường ĐH nghiên cứu có vai trò dẫn đầu như các ĐH hoa tiêu. Nhiều trường không có một bộ phận chức năng cấp trường có đủ thẩm quyền để hướng dẫn những nỗ lực chiến lược, đã phải tạm thời dùng những giảng viên chưa được đào tạo đầy đủ để thực hiện một vài việc thuộc chức năng của phòng phân tích nội bộ, thường là theo từng dự án. Những người này khó lòng xem xét được đầy đủ dữ liệu và đáp ứng được nhu cầu phân tích của nhà trường. Những trường lớn cần phân biệt trách nhiệm giảng viên với trách nhiệm của những chuyên viên thực thi phân tích nội bộ, dù rằng việc tương tác dĩ nhiên là rất quan trọng, và một số giảng viên có thể sẽ muốn chuyển sang làm công tác phân tích này.   Thông tin là quyền lực. Thật oái oăm là hầu hết các trường đều cực kỳ hạn chế về năng lực phân tích nội bộ, phần nào có thể hiểu được điều này khi hầu hết các trường đều có cấu trúc phân quyền và mãi đến gần đây vẫn còn có ít đòi hỏi trách nhiệm giải trình đến từ bên ngoài. Mô hình tổ chức có thể khác nhau, kèm theo đó là khác nhau trong mức độ tập trung cho công tác phân tích nội bộ, do họ chịu ảnh hưởng những đòi hỏi khác nhau từ cơ quan quản lý nhà nước.xxxiii Tuy thế tôi có cảm giác là tất cả các trường đều cần có ít nhiều hình thức phân tích nội bộ ở cấp trường vì qua thời gian, người ta sẽ thấy thông tin có sức mạnh to lớn, ví dụ như trong việc yêu cầu nguồn lực, bởi vậy năng lực về phân tích nội bộ sẽ được củng cố ở nhiều cấp trong hoạt động quản lý nhà trường.  19.    Hợp tác quốc tế và các hiệp hội – Tuy trường ĐH hoa tiêu nên có điểm nhấn là nhu cầu của quốc gia và khu vực, nó cũng phải là đòn bẩy cho sự hợp tác của giới giảng viên trong trường với các trường ĐH khác trên thế giới. Có vô số cơ hội để ủng hộ những hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng, cũng như học hỏi kinh nghiệm quốc tế, và xây dựng chương trình, chiến lược của nhà trường, trên quan điểm so sánh đối chiếu.     Bài viết này ngầm định rằng có nhiều điểm tương tự nổi bật trong những vấn đề về chính sách, trong đòi hỏi của xã hội và của nền kinh tế, khiến kết quả tất yếu là các trường ĐH công có nhiều thứ để chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Họ cũng được hưởng lợi trong việc bộc lộ và can dự vào cuộc thảo luận làm thế nào các trường có thể thực hiện được sứ mạng của mình và có thể cải thiện chất lượng.xxxiv Thực ra, hợp tác quốc tế và những hoạt động liên kết có thể tương tác và mang lại nhiều thông tin rất hữu ích cho nhà trường.xxxv    Cùng lúc đó, các trường ĐH, dù có phải là hoa tiêu hay không, cần tập trung vào quan hệ quốc tế để nó hỗ trợ mà không làm giảm nhẹ sứ mạng của nhà trường. Có thể tranh cãi rằng, có những trường xây dựng một số hình thức hợp tác quốc tế không thực sự tập trung cho mục đích này và đôi khi người ta đánh giá mức độ gắn với các trường ngoài nước hơn là những giá trị thực sự của mối quan hệ ấy, trong khi nó lấy đi tiền bạc, thời gian của nhà trường mà không mang lại kết quả nào tương xứng.  Nói như thế không phải để làm nản lòng những nỗ lực thử nghiệm và dám chấp nhận rủi ro, mà chỉ là một cảnh báo khi chúng ta đang ở giai đoạn đầu của việc hợp tác quốc tế dưới nhiều hình thức.xxxvi   Trong một bài trước đây, Richard Edelstein và tôi đã xây dựng một bảng phân loại những hành động và logic mà các trường sử dụng để đề xướng những hoạt động quốc tế, và các chương trình đào tạo.xxxvii Bảng phân loại này được tổ chức bằng cách dùng những khái niệm như cụm hành động, phương thức gắn kết, và logic của nhà trường. Mục đích của nó là mang lại một khuôn khổ cho các nhà nghiên cứu và các trường để hiểu và đánh giá cái đã thành một cuộc chạy đua của các trường để trở nên gắn kết toàn cầu nhiều hơn.   Bảng phân loại này được khái niệm hóa thành danh sách các phương thức gắn kết, có thể tổ chức thành 7 cụm hành động (xem Hình 8). Tám cụm bao gồm: đề xướng của cá nhân giảng viên, việc quản lý bản đồ nhân khẩu học của nhà trường, những đề xướng về lưu chuyển giảng viên/sinh viên, sự thay đổi về chương trình và phương pháp, liên kết các trường xuyên quốc gia, xây dựng mạng lưới quan hệ; và văn hóa, đặc tính, năng lực lãnh đạo của nhà trường. Chín loại logic của nhà trường được miêu tả và đề xuất như những biến giải thích về việc các trường đã diễn giải môi trường toàn cầu của họ và đánh giá chiến lược, chính sách và hành động mà họ thực hiện   như thế nào.       Người dịch: Phạm Thị Ly  Viện Đào tạo Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM  —  xxii Knobel, Marcelo, Tania Patricia Simoes, and Carlos Henrique de Brito Cruz (2013). “International Collaborations Between Universities: Experiences and Best Practices,” Studies in Higher Education, 2013, Vol. 38. No. 3: 405-424.  xxiii David C. Mowery, Richard R. Nelson, Bhaven N. Sampat, and Arvids A. Zeidonis, Ivory Tower and University-Industry Technological Transfer Before and After the Bayh-Dole Act (Stanford CA: Stanford University Press, 2004).  xxiv Năm 1957, Justice Felix Frankfurter đã đặt ra một điểm tựa cho tư do học thuật ở Hoa Kỳ, lấy từ tiếng nói của các nhà giáo dục Nam Phi khi đấu tranh với luật cấm trong giáo dục, phân biệt giữa người da trắng và da màu trong cùng một trường ĐH. “Mang lại một bầu không khí truyền dẫn cho nghiên cứu, thể nghiệm và sáng tạo là công việc của trường ĐH. Đó là một bầu không khí trong đó bốn thứ tự do cơ bản sau đây phải thắng thế: tự do xác định trên nền tảng khoa học ai có quyền dạy, dạy cái gì, và như thế nào, cũng như ai có thể được nhận vào học”. Sweezy v. New Hampshire 354 U.S. 234 (1957).  xxv  Michael Shattock (2013). “University Governance, Leadership and Management in a Decade of Diversification and Uncertainty,” Higher Education Quarterly, Vol 67, No 2, pp. 217-233.  xxvi Bjorn Stensaker (2013). “Re-Inventing Shared Governance: Implications for Organizational Culture and Institutional Leadership, Higher Education Quarterly, Vol 67, No 2, pp. 256-274.  xxvii Về lịch sử đồng quản trị ở University of California, xem John Aubrey Douglass, “Shared Governance at the University of California,” CSHE Research and Occasional Papers, CSHE.1.98 (March 1998) http://cshe.berkeley.edu/shared-governance-university-california-historical-review.  xxviii  Đây là ví dụ của Columbia University, nhưng nhiều trường khác cũng có tuyên ngôn tương tự.  xxix “Hefei Statement on the Ten Characteristics of Contemporary Research Universities” (Tuyên ngôn Hợp Phì về Mười Đặc điểm của Trường ĐH Nghiên cứu Hiện đại), ký kết bởi các liên minh:  Hiệp hội các Trường ĐH Hoa Kỳ, Nhóm 8 trường ở Australia, Nhóm các Trường ĐH hàng đầu Châu Âu, và nhóm C9, tức 9 trường tinh hoa của Trung Quốc. ngày 10-10-2013 See http://www.leru.org/files/news/Hefei_statement.pdf (Đã được dịch ra tiếng Việt. Xem bản tin IIE số 8-2013)  xxx Đây là tóm tắt các tiêu chí được vận dụng ở University of California’s Academic Personnel Manual (APM), section 120.  xxxi  Xem http://policy.ucop.edu/doc/1220367/BFB-G-39  xxxii Volkwein, Fredericks J., Ying Liu, and James Woodell (2012). “The Structure and Functions of Institutional Research Offices,” in Howard, Richard D., Gerald W. MacLaughlin, and William E. Kight (ed), The Handbook of Institutional Research, San Francisco: Josse-Bass.  xxxiii  Igor Chirikov, “Research Universities as Knowledge Networks: The Role of Institutional Research, Studies in Higher Education, 2013, Vol. 38. No. 3: 456-469.  xxxiv John Aubrey Douglass (2009). “Higher Education’s New Global Order: How and Why Governments are Creating Structured Opportunity Markets,” CSHE Research and Occasional Papers Series, December: http://cshe.berkeley.edu/publications/publications.php?id=348; also John Aubrey Douglass, “The Race for Human Capital” in J. Douglass, C.J King and I. Feller (ed.), Globalization’s Muse: Universities and Higher Education Systems in a Changing World (Berkeley Public Policy Press 2009).  xxxv Về cuộc thảo luận chủ đề các tập đoàn quốc tế, xem “Marc Tadaki and Christopher Tremewan, “Reimagining Internationalization in Higher Education: International Consortia as Transformative Space? Studies in Higher Education, Vol. 38. No. 3: 367-387.  xxxvi Xem Richard Edelstein và John Aubrey Douglass “The Truth About Branch Campuses” with Richard Edelstein, Chronicle of Higher Education, February 27, 2012: http://chronicle.com/article/To-Judge-International-Branch/130952/  xxxvii Richard J Edelstein and John Aubrey Douglass, “Comprehending the International Initiatives of Universities: A Taxonomy of Modes of Engagement and Institutional Logics,” Research and Occasional Papers Series (ROPS), Center for Studies in Higher Education, CSHE 19.12 (December 2012): http://cshe.berkeley.edu/publications/publications.php?id=426; a version published on-line on Global Higher Education and Inside Higher Education, March 24, 2013: http://www.insidehighered.com/blogs/globalhighered/internationalization-taxonomy-engagement-and-institutional-logic.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình duy thực: Từ cuộc đời của bậc tôn sư      Khác với những người theo mô hình lý tưởng  trong giáo dục, các nhà duy thực, tất nhiên, gần gũi hơn với thực tế  cuộc sống và nhận rõ ranh giới giữa cái khả thi và cái bất khả thi. Tuy nhiên, ta đừng vội hiểu lầm: không thích  những giấc mơ không tưởng không đồng nghĩa với việc “là là” trên mặt  đất, chấp nhận và vừa lòng với hiện trạng một cách không phê phán.      Hướng đến thực tại là hướng đến sự đa dạng muôn màu của cuộc sống, lưu tâm đến vô vàn động cơ và mục đích của con người (khác với mô hình lý tưởng chỉ quan tâm đến một số ít và được chọn lọc). Cái nhìn đa nguyên về thực tại mang lại tinh thần dân chủ cho mô hình duy thực. Đặc biệt, những yêu cầu đạo đức, chính trị không được đặt ra quá cao, trái lại, vừa với tầm với của con người, nói lên kích thước nhân đạo của mô hình này.  HIỆN THÂN CỦA MÔ HÌNH DUY THỰC  Ta không nhắc đến Aristoteles (384-324 tr. CN) như một nhân vật lịch sử đã lùi quá xa vào quá khứ. Ta đến với ông như một hiện thân sống động và còn đầy sức thuyết phục của một mô hình giáo dục mang nhiều tính hiện đại: mô hình nhà giáo và nhà khoa học chuyên nghiệp.  Trong bộ sách quý: “Cuộc đời và sự nghiệp của sáu trăm nhân vật quan trọng nhất trên thế giới” (1977), Olof Gigon viết như sau về ông: “Aristoteles không phải là bậc giáo chủ khai thị những chân lý vĩnh cửu, cũng không phải người chiến sĩ đấu tranh đến cùng cho công lý cho dù thế giới vì thế mà trở thành tro bụi. Ông cũng không phải là con mọt sách mua vui với việc chẻ sợi tóc làm tư, và càng không phải là một ông già khó tính ban bố nhỏ giọt từng mẫu chân lý cho những môn đồ sùng kính. Trong toàn bộ sự nghiệp, ông chỉ tha thiết một điều, đó là sự khách quan: sự sáng sủa về ý nghĩa của các khái niệm và sự vững chắc của các luận cứ. Thế giới quan của ông gắn với thực tại càng sát sườn càng tốt, còn đạo đức học và triết học chính trị của ông đòi hỏi nơi con người và cộng đồng đúng những gì họ đủ sức làm được, không hơn và không kém. Ngay từ thời cổ đại, ai muốn đi tìm sự đam mê cuồng nhiệt hay sự thoát tục êm đềm thì đến với Platon và các nhà khắc kỷ, còn ai muốn được thông tin khách quan về những gì ta có thể biết được và làm được, hãy đến với Aristoteles”.  Ôn lại vài nét tiểu sử của ông, thiết nghĩ cũng không thừa: Aristoteles sinh năm 384 tr. CN, con của vị ngự y cho vua Amyntas II xứ Macedonie, mồ côi cha rất sớm. 17 tuổi rời quê nhà, lên Athens, vào làm môn đệ trong Viện Hàn Lâm của Platon suốt 20 năm cho đến khi Platon qua đời (347). Có lẽ do không được chọn làm “chưởng môn” nối nghiệp, ông rời Athens, cư ngụ ba năm trên đảo Lesbos, cơ hội tốt để ông đắm mình nghiên cứu sinh vật học và động vật học từ kho tàng thiên nhiên dồi dào của vùng này.          “Rễ của giáo dục thì đắng, nhưng quả của nó thì ngọt”    Aristoteles        Năm 342, nhận lời mời của vua Philipp II xứ Macedonie, làm thầy dạy cho chàng hoàng tử trẻ tuổi, sau này sẽ lừng danh là Alexandre Đại đế. Cậu học trò nổi tiếng này không quên công ơn thầy: trên đường viễn chinh, gom góp những mẫu vật hiếm và lạ chuyển về cho thầy làm tiêu bản nghiên cứu, kể cả tài liệu quý về “Lô gíc học Ấn độ”!   Năm 335, ông quay về Athens, mở trường riêng (“Học Viện”) và dành suốt 12 năm để giảng dạy và biên soạn. Sau cái chết đột ngột của Đại hoàng đế trẻ tuổi vào năm 323, “Học Viện” có nguy cơ bị các thế lực mới trả thù và phá hủy, Aristoteles nhường lại cho môn đệ coi sóc và tạm lánh sang đảo Eunoea và qua đời một năm sau đó. Lý do Aristoteles biện hộ cho sự lánh mình: ông không muốn Athens lại phạm tội ác lần thứ hai đối với triết học (lần thứ nhất là với Socrates). Thêm một bài học “duy thực” về con đường “xuất” và “xử”!  CHÂN LÝ TRƯỚC ĐÃ  Aristoteles thường được trích dẫn qua câu nổi tiếng, đại ý: “tôi yêu Platon, nhưng còn yêu chân lý hơn nhiều” (amicus Plato, sed magis amica veritas). Thật thế, tuy có nhiều chỗ tương đồng, nhưng khó có thể bảo Aristoteles là người kế tục Platon về triết học. Nội dung, phong cách và triết thuyết giáo dục (ít được phát biểu minh nhiên) của Aristoteles trái ngược hẳn với Platon ở những điểm cốt lõi. Aristoteles trước hết là một nhà bác học bách khoa. Phần lớn nhất trong sự nghiệp của ông dành cho việc nghiên cứu, mô tả, phân loại những hiện tượng thường nghiệm của tự nhiên, xã hội, ngôn ngữ. Thư viện của ông thu thập hầu như toàn bộ những bản “hiến pháp” đương thời (161 bản!) và rất nhiều những bộ sưu tập về thực vật và động vật. Trong số 171 tác phẩm được nhắc đến ở thời cổ đại, phần ông đã chiếm tới 47 quyển. Ông mới thật sự là người giữ… một bồ trong bốn bồ chữ của thiên hạ! Quan trọng hơn thế, ông là cha đẻ của rất nhiều bộ môn khoa học đang giảng dạy ngày nay trong các trường đại học.  Công trình của ông được chia thành ba loại, liên quan đến ba năng lực nhận thức khác nhau: lý thuyết, thực hành và tạo tác. Lĩnh vực thứ nhất (lý thuyết) dành cho “những sự vật bất biến” (như thần học, bản thể học, lôgíc học, số học, thiên văn học, và cả các bộ môn khoa học thường nghiệm: vũ trụ học, khí tượng học, tâm lý học, động vật học, thực vật học). Lĩnh vực thứ hai liên quan đến đời sống thực hành (theo nghĩa: hành động/praxis) của con người ở cấp độ cá nhân và xã hội (như đạo đức học và chính trị học). Sau cùng, phần thứ ba là các khoa học “tạo tác” (theo nghĩa hoạt động sản xuất và sáng tạo/poiesis (như thủ công, nghệ thuật, y khoa…). Khác với thầy mình, Aristoteles không chỉ quan tâm đến các vấn đề trừu tượng mà trước hết đến thế giới hiện tượng, khả giác, cần được quan sát, phân tích và phân loại một cách tỉ mỉ, có hệ thống. Đúng như nhận xét của Bertrand Russell trong “Lịch sử triết học Tây phương”, Aristoteles là “người đầu tiên viết như một giáo sư”, tức như “một nhà giáo đích thực” chứ không phải như “một triết gia đầy cảm hứng”, do đó, văn ông mang tính “phê phán, kỹ lưỡng, khô khốc, không mang dấu vết nào của sự cuồng nhiệt, say sưa”.  Phương Tây thật may mắn khi ngay từ đầu đã có hai con đường, hai phong cách làm khoa học và giáo dục khác nhau để hậu thế lựa chọn hoặc tìm cách kết hợp!  CON ĐƯỜNG DUY THỰC  Con đường duy thực – được hiểu như tương phản với con đường Platon – xuất phát từ bốn xác tín: 1- ta đang sống trong thế giới có thực; 2- thực tại ấy độc lập với việc ta có “sử dụng” nó hay không; 3- ta có thể nhận thức được thực tại ấy một cách khá vững chắc; 4- và, sau cùng, nhận thức ấy là cơ sở đáng tin cậy để định hướng cho hành động và hoạt động của ta.  Ta sẽ lần lượt tìm hiểu bốn niềm xác tín ấy dưới giác độ triết thuyết giáo dục.   (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 7, 31.10.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình giáo dục phổ thông không thi cử      GS Trần Xuân Hoài cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần loại bỏ hoàn toàn các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và đề xuất mô hình mới cho hệ thống giáo dục trên cơ sở tham khảo mô hình giáo dục của&#160; Đức, Thụy Sĩ, Áo, …     PV: Thưa Giáo sư, một trong những vấn đề giáo dục được xã hội quan tâm rất nhiều trong những năm qua là căn bệnh thành tích và tình trạng gian lận trong thi cử. Vì vậy, đã có nhiều ý kiến cho rằng nên bỏ thi tốt nghiệp phổ thông (PT). Xin Giáo sư cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?  GS Trần Xuân Hoài: Tôi cho rằng cần phải thiết kế lại hệ thống giáo dục PT theo xu hướng của các nước tiên tiến trên thế giới, trong đó đặc biệt phải khắc phục được tình trạng gian dối trong dạy, học và thi cử.   Hệ thống giáo dục có nhiều phần, như triết lý giáo dục, phương pháp giáo dục, chương trình và sách giáo khoa… thuộc về phần hồn của giáo dục, còn phải thảo luận nhiều. Ở đây tôi chỉ đề cập tới phần cứng, tức là thiết kế một mô hình mới cho hệ thống giáo dục PT, trong đó loại bỏ hoàn toàn các kỳ thi tốt nghiệp trong trường học như hiện nay. Nguyên lý ở đây là khi hệ thống giáo dục PT được tổ chức tốt, học sinh đến trường học lấy kiến thức để ra đời làm việc chứ không nhằm ứng phó với các kỳ thi, thì cả người học và người dạy học sẽ không phải gian lận nữa.     Vậy mô hình mới do Giáo sư đề xuất như thế nào?    Đó là một hệ thống được thiết kế ít nhất phải thỏa mãn yêu cầu bền vững với thời gian, ví dụ cho 20 năm tới. Nó phải đáp ứng lòng hiếu học (phần nào cũng xuất phát từ sự ham danh) của dân ta. Nó phải tạo ra bình đẳng về cơ hội học tập và phát triển cho mọi người nhưng cũng phải đảm bảo trung thực và chất lượng thực theo đúng khả năng từng cá nhân. Tất nhiên, phải làm sao khả thi, gọn nhẹ nhất, tiết kiệm nhất cho nhà nước và cá nhân; phân luồng được học sinh, và cùng với phần hồn giáo dục tốt, hệ thống này sẽ tạo ra những con người đa dạng, có đạo đức làm người và chất lượng nghề nghiệp tối đa.  Mô hình mới được đề xuất này dựa trên việc tham khảo mô hình của các nước tiên tiến ở châu Âu, với cấu trúc 6 – 4 – 2 (6 năm tiểu học, 4 năm PT, 2 năm PT nâng cao). Sau khi học xong PT, học sinh có thể ghi danh để tuyển vào PT nâng cao, học nghề/trung cấp hoặc tìm việc làm. Hết các cấp học, học sinh chỉ được cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành chương trình học và học bạ thay vì tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp như hiện nay. Tất nhiên cũng sẽ xuất hiện chứng nhận kém, rởm… nhưng chúng sẽ không có hại gì nhiều cho xã hội, vì với các nhà tuyển dụng lao động, chứng nhận đó của người xin việc chỉ là một yếu tố tham khảo, kỹ năng nghề và khả năng lao động mới là điều quan trọng nhất.          Mô hình hệ thống giáo dục PT mới:                 Thay đổi từ cấu trúc 5 – 4 – 3 (5  năm tiểu học, 4 năm THCS, 3 năm THPT) hiện nay sang cấu trúc 6 – 4 – 2  (6 năm tiểu học, 4 năm PT, 2 năm PT nâng cao). Cụ thể, từng cấp học như  sau:              – Bậc tiểu học (từ lớp 1 tới lớp 6) là bậc phổ cập bắt buộc đối  với mọi trẻ em từ 6 tuổi; Nhà nước chi trả 100% kinh phí, học sinh không  phải đóng góp. Học xong lớp 6, học sinh được cấp một giấy chứng nhận  hoàn thành phổ cập giáo dục và có quyền được vào học các trường PT mà  không qua thi tuyển. Thêm 1 năm vào bậc phổ cập là thêm trách nhiệm của  nhà nước, giảm đóng góp của dân ở cấp cao hơn, đồng thời nâng cao trình  độ phổ cập lên.              – Bậc PT (từ lớp 7 tới lớp 10): học sinh ra trường đã  bước sang tuổi 17, đủ năng lực học nghề/trung cấp hay làm lao động PT  và chịu trách nhiệm hình sự. Nhà nước và người dân cùng chia sẻ kinh phí  theo tỉ lệ Nhà nước 70% – nhân dân 30%. Đây không phải bậc học bắt buộc  nhưng Nhà nước phải khuyến khích học sinh theo học. Hết bậc PT, học  sinh được cấp chứng nhận đã hoàn thành bậc học và có quyền ghi danh để  tham gia tuyển chọn vào bậc PT nâng cao, học nghề/trung cấp hoặc tìm  việc làm.              – Bậc PT nâng cao (từ lớp 11 tới lớp 12): Việc tuyển đầu  vào do các trường tự tổ chức (có thể thi tuyển/phỏng vấn hoặc xét học bạ  tùy theo từng trường). Bậc học này nhằm nâng cao kiến thức, chuẩn bị  cho học sinh vào ĐH nên việc học có cường độ cao, có phần tự do hơn, có  thể tự chọn tăng cường những môn học sinh yêu thích. Nhà nước và người  dân cùng chia sẻ kinh phí theo tỉ lệ bằng nhau 50 – 50. Sau khi học xong  PT nâng cao, học sinh sẽ có một chứng nhận đã hoàn thành bậc học và có  quyền tham dự kỳ thi tú tài.          So với hệ PT cơ sở và hệ PT trung học hiện nay, vì sao thiết kế mới này lại nâng cấp trung học PT thêm 1 năm (lớp 10) và rút PT nâng cao xuống còn 2 năm?  Một người hoàn thành Trung học phổ thông được coi là cơ bản đầy đủ kiến thức và tư cách làm người để bắt đầu tự lập. Vì vậy cần tối thiểu 10 năm học tập. Vả lại sau những năm học tập PT, đa số sẽ bước vào đời sống nghề nghiệp, nếu tuổi vào đời là 15 sang 16 thì còn non, tốt nhất là sang tuổi 17. Ở bậc phổ thông nâng cao, chủ yếu là bổ sung, nâng cao kiến thức, có thể học với cường độ cao, kiến thức chọn lọc, cho nên 2 năm là đủ.  Như vậy, chúng ta sẽ tuyển đầu vào cho ĐH như thế nào?  Sẽ có một cuộc thi thường niên, cấp quốc gia, độc lập với hệ thống trường học, được tổ chức chung toàn quốc (Bộ GD&ĐT tổ chức) có thể tạm gọi là “Thi tú tài” hoặc “Thi trung học PT quốc gia”. Thi theo nội dung chương trình phổ thông nâng cao, ví dụ có 8 môn thi cho thí sinh chọn, 4 môn trên trung bình là đỗ. Kỳ thi này mở rộng cho bất kỳ ai đã có chứng nhận hoàn thành phổ thông nâng cao hoặc tương đương (không phụ thuộc vào thời gian, nơi cấp). Đây là kỳ thi duy nhất, bằng cấp văn hóa duy nhất của đời người cho những ai muốn có bằng cấp hoặc muốn học lên cao hơn. Những thí sinh có bằng tú tài sẽ tùy thuộc vào kết quả (môn học nào đỗ) được công nhận trên bằng để ghi danh vào các chuyên ngành đại học tương ứng.   Cách tuyển sinh như vậy sẽ có ưu điểm gì so với cách làm hiện nay ở Việt Nam?          Kỳ thi lấy bằng tú tài là kỳ thi quốc gia  ,độc lập với trường học, không có thi riêng hoặc cộng điểm cho bất kỳ  đối tượng nào và phải được tổ chức thường niên, nghiêm ngặt. Có thể gồm 8  môn thi: văn, toán ,vật lý, hóa, sinh, sử, địa, ngoại ngữ theo chương  trình phổ thông nâng cao. Thí sinh có thể tự chọn môn thi, chỉ cần đạt 4  môn trên trung bình là đỗ, nhưng trong 4 môn đó bắt buộc phải có ngoại  ngữ và toán hoặc văn; phân loại bằng thành 3 loại: A-đỗ 8 môn, B-đỗ 6  môn và C-đỗ 4 môn. Trong bằng phải ghi rõ điểm số của từng môn. Được thi  lại nhiều lần, bảo lưu điểm thi 3 năm.              Những thí sinh có bằng Tú tài  A có thể chọn bất kỳ trường ĐH nào để ghi danh, những thí sinh đỗ B  hoặc C chỉ được ghi danh vào những trường ĐH có chuyên ngành phù hợp với  những môn mình đỗ. Giá trị ghi danh là 10 năm. Trong đời người học chỉ  có một kỳ thi văn hóa này cho những ai có nhu cầu.        Cái lợi thứ nhất của việc này là học sinh sẽ không bị nặng nề chuyện thi cử, vì thi thường niên, không đỗ môn nào năm sau thi lại môn đó, hoặc chọn môn khác cho đến khi đỗ hoặc chán thi thì thôi. Trường học cũng không mất công nhào nặn kết quả thi bởi họ không phải tổ chức một kỳ thi nào cả, chỉ tập trung cho chất lượng học tập thôi. Học sinh ra trường chỉ có duy nhất một chứng nhận đã hoàn thành bậc học và học bạ.  Bằng tú tài này sẽ được bảo lưu 10 năm, trong thời gian đó, học sinh hoàn toàn có quyền sử dụng nó để ghi danh tuyển vào các trường ĐH. Đây chính là cái lợi thứ hai – tức là các trường Đại học không nhất thiết phải tổ chức kỳ thi ĐH phức tạp, chỉ cần xét Bằng tú tài và phỏng vấn (trường nào thấy cần tổ chức kỳ thi ĐH riêng thì cứ việc tự tổ chức). ĐH nào uy tín sẽ có nhiều người ghi danh.  Rõ ràng, không có kỳ thi nào nghĩa là chấm hết trò gian lận trong thi cử ở bậc PT, nhưng có thể một số trường PT vẫn không trung thực, cứ thích tạo ra những học bạ thật đẹp để giữ gìn danh tiếng của họ?  Học bạ đẹp sẽ không có nghĩa lý gì khi trường đó có tỉ lệ học sinh vào được PT nâng cao và đỗ kỳ thi tú tài thấp. Với việc công khai kết quả Thi tú tài một cách rộng rãi, các bậc phụ huynh sẽ tự biết trường PT nâng cao nào có chất lượng tốt để cho con mình học.  Chỉ sau một thời gian, trường PT nâng cao nào tuyển đầu vào dễ dãi, tỉ lệ học sinh đỗ tú tài thấp thì sẽ mất dần thí sinh ghi danh– đây là nguyên tắc cạnh tranh, chính là cái lợi thứ ba. Tức là các trường PT nâng cao phải đua nhau lựa chọn học sinh tốt, đào tạo cẩn thận để đảm bảo đầu ra. Để chọn được học sinh tốt, các trường này cũng phải được giao quyền tự chủ: có thể tổ chức thi kiểm tra, phỏng vấn, hoặc chọn theo học bạ. Hiện nay, sai lầm lớn nhất là nhà nước liên tục tổ chức các kỳ thi một cách hình thức, còn các trường không chịu trách nhiệm gì nhiều.          GS Hồ Ngọc Đại:                Bậc học phổ thông phải được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn một có 6 năm “thiết thân với trẻ em như nước, như ánh sáng, như không khí”, Nhà nước phải chi toàn bộ kinh phí, kể cả tiền sách vở; giai đoạn hai có 3 năm, nhà nước và cha mẹ học sinh cùng chia sẻ kinh phí.   GS Văn Như Cương:              Theo tôi, cần tái cơ cấu bậc học phổ thông từ 12 năm xuống 9 năm. Sau khi học xong cấp hai, nên phân luồng thành hai hệ thống cho học sinh ở cấp ba: dự bị đại học hoặc học để đi học nghề. Những người học dự bị đại học chỉ chiếm 1/3 tổng số học sinh, và số này sẽ đi lên các đại học tinh hoa.        Thế còn cơ hội đối với những người học hết PT nhưng chưa thể thi vào PT nâng cao ngay hoặc những người đã đi học nghề/đi làm nhưng một thời gian sau lại muốn vào ĐH?  Nếu người học không có điều kiện, hoặc không được tuyển chọn học ở trường PT nâng cao thông thường thì có thể vừa làm vừa học bổ túc, hoặc học các trường trung cấp nghề kèm chương trình PT nâng cao chọn lọc. Chỉ có điều, không có kỳ thi tú tài riêng cho học bổ túc văn hóa hay trung cấp nghề này, tú tài là tú tài, một kỳ thi, một chất lượng, bất kể người học ở đâu. Còn nữa, trong vòng 10 năm sau khi thi đỗ tú tài, người học vẫn có thể nộp hồ sơ vào ĐH bất kỳ lúc nào. Có thể họ đi làm tích đủ tiền rồi mới đi học ĐH.  Về mặt tài chính, ở bậc học PT nâng cao, người học và phụ huynh phải tự lo lấy tiền học là chính, nên người học và gia đình phải tự cân nhắc chọn PT nâng cao, hoặc chọn học nghề kèm văn hóa…Để không bỏ sót những học sinh nghèo có thực tài, có thể đề ra các quy chế học bổng, hỗ trợ…  Mô hình do Giáo sư đề xuất dựa trên cơ sở mô hình giáo dục PT của nước nào?  Quan niệm của tôi là phải nghiên cứu mô hình giáo dục của các nước nhưng không áp dụng nguyên văn, chỉ áp dụng những điều phù hợp với hoàn cảnh đất nước mình. Chẳng hạn, nhiều hệ thống giáo dục PT ở châu Âu, nhất là Đức, không thi cử căng thẳng và có sự phân luồng từ rất sớm, ngay sau cấp tiểu học. Cụ thể, ở Đức, sau khi học hết tiểu học (hết lớp 6), tùy theo khả năng (việc đánh giá khả năng này rất khó thực hiện ở nước ta) học sinh sẽ được phân luồng vào một trong 4 loại trường cấp trung học:  + Hauptschule, từ lớp 7 tới 10 (tạm dịch:Trung học giản lược) sau khi hoàn thành sẽ vào học nghề hoặc đi làm. Học sinh giỏi đặc biệt có thể chuyển sang PT nâng cao.  + Realschule, lớp 7-10 (Trung học chuẩn) để sau đó học tiếp Trung cấp nghề kèm PT nâng cao, có thể liên thông lên Cao đẳng/Cao cấp (Fachhochschule); học nghề; đi làm. Học sinh giỏi đặc biệt có thể chuyển sang trường PT nâng cao.  + Gesamtschule, từ lớp 7 -10- 12(Trung học nâng cao kết hợp): Học xong lớp 10 có thể chuyển qua học nghề, hoặc học tiếp PT nâng cao (11-12) hoặc Nghề + PT nâng cao để lấy bằng Abitur (tương tự Tú tài)   +Gymnasium, từ lớp 7-12 (Trường Trung học nâng cao chọn lọc ) học liên tục từ 7 đến 12, mục đích chính là đạt bằng Abitur và vào Đại học.  Nhưng ở ta, không thể phân luồng ở bậc tiểu học như của Đức, do ba khác biệt cơ bản:  Họ phổ cập trung học, ta chỉ tiểu học. Vì vậy ta không thể phân luồng ngay sau tiểu học.  Do các cấp tiểu học được tổ chức tốt, nghiêm túc nên Đức phân luồng học sinh rất sớm và không tổ chức kỳ thi nào trong giáo dục PT. Việt Nam chưa thể phân luồng sớm sau cấp tiểu học như vậy vì chưa thể tổ chức tốt cấp tiểu học, chỉ có thể phân luồng lần 1 sau  cấp PT (lớp 10) lên PT nâng cao bằng tuyển chọn của trường.   Ưu điểm của ta là hệ thống giáo dục thống nhất toàn quốc, do đó hệ thống của ta thiết kế đơn giản, thống nhất hơn hệ thống giáo dục của Đức. Đó cũng là tiền đề để tổ chức kỳ thi quốc gia thống nhất, độc lập với hệ thống trường học địa phương. Kỳ thi này là đặc thù của nước ta và có thể cũng có ở dạng gần như thế ở một số quốc gia châu Á (như Hàn Quốc chẳng hạn), khác với hệ thống của Đức.   Trong hệ thống mà GS đề xuất, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ đóng vai trò gì?   Tổ chức kỳ thi quốc gia cấp bằng tú tài sao cho trung thực, chất lượng là một công việc cụ thể  thuộc trách nhiệm của Bộ Giáo dục. Ngoài việc cụ thể đó ra, Bộ chỉ cần đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước, đào tạo giáo viên, quy định chương trình khung cho bậc PT, vv.., và giám sát, kiểm tra chất lượng đào tạo. Quan trọng là Bộ Giáo dục phải làm sao cung cấp thông tin chất lượng giáo dục một cách chính xác, công khai, minh bạch, đặc biệt là thông tin về tỉ lệ học sinh các trường đỗ, trượt kỳ thi tú tài. Như trên tôi đã nói, công khai chất lượng đồng nghĩa với việc các trường sẽ không dám lơ là chất lượng dạy học, chất lượng kém chắc chắn bị đào thải.  Liệu có điểm hạn chế, hệ lụy nào nếu không tổ chức các kỳ thi ở bậc PT?    Trước tiên, chúng ta nên đặt ra câu hỏi thẳng thắn rằng các kỳ thi ở PT hiện nay có giá trị gì không? Còn nếu tổ chức thi gian dối thì càng nên bỏ. Để ghi nhận công học tập và trình độ tương đối của người học, trường chỉ cần cấp chứng nhận hoàn thành chương trình, kèm điểm số là đủ.  Một kỳ thi quốc gia tốt để lấy bằng tú tài là quá đủ (căng thẳng) cho một đời người rồi! Các bằng cấp sau tú tài chỉ là bằng cấp nghề mà thôi (cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ..), ai dạy nghề thì người đó cấp và chịu trách nhiệm về chất lượng. Việc thay đổi này sẽ không có tác động xấu gì cho xã hội, mà chỉ tác động tới các cấp quản lý của ngành giáo dục, đó là trao quyền cho các trường, các tỉnh nhiều hơn. Còn đương nhiên, giám sát, đảm bảo chất lượng vẫn luôn là việc của các cơ quan ngành giáo dục. Xin nói thêm, xây dựng hệ thống mà chúng ta đang nói ở đây không gây xáo trộn, thêm công việc hay tốn kém gì thêm đối với xã hội cả. Nó chỉ hoàn thiện, sắp xếp lại cấu trúc hiện tại (12 năm học, 3 cấp học, kỳ thi 3 chung…). Chỉ cần trên cơ sở hiện có đó nhưng thiết kế tốt thì sẽ hữu ích và hiệu suất hơn, tạo điều kiện dạy thực và học thực, loại bỏ được nhiều khả năng sinh ra tiêu cực.  Đối với quản lý giáo dục trong các hệ đào tạo ngoài PT thì chúng ta sẽ cần làm gì?  Tất nhiên hệ thống PT trên đây phải kết hợp hữu cơ với hệ thống dạy nghề trung cấp, cao đẳng và đại học. Hệ thống này hiện nay rất lộn xộn, bất hợp lý và chất lượng thấp. Cần phải gấp rút cải cách.   Trước mắt, với bậc giáo dục ĐH thì bộ GD&ĐT không nên can thiệp vào mà phải tạo điều kiện để thực thi tự trị (autonomous) trong đại học. Trường tự chủ tuyển sinh theo khả năng, không phải xin cho chỉ tiêu. Trường tự đào tạo thì tự đảm bảo số lượng và chất lượng. Ngoài ra cũng không nên học quá nhiều môn ngoài chuyên ngành. Ở Đức, ví dụ sinh viên học ngành Vật lý không phải học những vấn đề ngoài chuyên nghành như các môn tư tưởng, quân sự, thể chất… hết đến hơn 1/3 thời lượng như ở ta, mà chỉ tập trung vào chuyên ngành. Thời gian đó dành cho sinh viên xuống xưởng thợ, nhà máy để thực tập, học nghề, thành thạo như một người thợ khi ra trường. Trường ĐH cũng không tổ chức học ngoại ngữ, việc đó phải hoàn thành ở cấp phổ thông, sinh viên kém phải tự tìm học ngoại ngữ ở đâu cũng được, nhưng nếu ngoại ngữ yếu sẽ thể hiện ngay trong khi đọc tài liệu, làm seminar và bị điểm kém. Chuyện đào tạo đại học còn nhiều vấn đề phải bàn, nhưng chúng ta sẽ phải để dành cho một dịp khác.  Xin cảm ơn giáo sư!                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình hội đồng tự quản, coi trẻ em như người lớn?      Đề xuất mô hình là việc các nhà khoa học  thường làm. Nhưng một khi đã là mô hình, chỉ  được coi đúng sai khi có kết quả áp dụng thực tế, có thể dùng đối chứng  so sánh, đánh giá được.     Mô hình “Hội đồng tự quản” đã được đưa vào Dự thảo Điều lệ trường tiểu học, nghĩa là được luật hóa. Nó bắt nguồn từ Dự án Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva (GPE-VNEN). Bản thân dự án tự đánh giá mô hình này là “kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam”. Và cắt nghĩa khó bác bỏ bằng cách dẫn liệu dựa theo một mô hình trên thế giới “khởi nguồn từ Colombia những năm 1995-2000, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm”, với nhận xét “vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học…”. Sơ đồ mô hình, gồm “một Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh, hai phó Chủ tịch và các ban tham gia Hội đồng tự quản (Ban học tập, Ban quyền lợi, Ban sức khoẻ, vệ sinh, Ban văn nghệ, thể dục, Ban thư viện; Ban đối ngoại…)”, được thành lập qua ba công đoạn, “Trước bầu cử. Bầu cử. Hình thành các ban chuyên trách”. Đánh giá mối quan hệ giữa Hội đồng tự quản với các bạn cùng học, dự án sử dụng nội hàm khái niệm chính trị về mối quan hệ giữa nhà nước (hội đồng tự quản) với nhân dân (học sinh) “vì học sinh, bởi học sinh,… giúp học sinh phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục”. Đưa ra kỳ vọng vượt quá tầm tuổi, không đúng mục tiêu dào đạo lẫn chương trình tiểu học, “giúp các em hiểu được quá trình bầu cử tự do, công bằng và dân chủ của đất nước”.     Giới hàn lâm thâm niên nước ta hiện nay không khó để nhận ra mình cũng đã từng nằm trong mô hình đó, nhất là ở bậc đại học (còn có các tổ chức đoàn, đảng cùng cấp), nay mở rộng áp dụng cho trẻ em, học sinh tiểu học.    Đề xuất mô hình là việc các nhà khoa học thường làm. Nhưng một khi đã là mô hình, chỉ được coi đúng sai khi có kết quả áp dụng thực tế, có thể dùng đối chứng so sánh, đánh giá được. Vì dự án không đưa ra các dữ liệu áp dụng và kết quả ở Colombia, cũng như những tranh cãi hiện nay ở họ (ở các nước hiện đại bao giờ cũng vậy), nên không thể phản biện. Tuy nhiên, về mặt phương pháp khoa học, một khi đã tham khảo mô hình của Colombia thì không có lý do gì không tham khảo thêm các mô hình khác làm đối chứng so sánh, vốn là lợi thế cho những quốc gia đi sau tránh thất bại của các quốc gia đi trước, và là phương pháp luận cần thiết trong các bộ môn khoa học xã hội, tránh “thầy bói xem voi”. Có thể lấy mô hình ở Đức như một ví dụ làm đối chứng:    *Mô hình    Theo Hiến pháp Đức, giáo dục thuộc trách nhiệm tiểu bang. Vì vậy tùy luật từng tiểu bang, các lớp học tự bầu một hoặc hai em được gọi là “phát ngôn viên”, kèm một hay hai em phó, bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Thậm chí ở những khóa trẻ học nghề có số học sinh không cố định, còn bầu phát ngôn viên từng ngày, vài ngày hay tuần.     Khác Dự thảo điều lệ trường tiểu học ở ta căn cứ vào phương pháp dạy học, “lấy học sinh làm trung tâm…”, “kế thừa truyền thống… đổi mới về căn bản”, và ngoại suy sẽ mang lại lợi ích “các em tham gia dân chủ, phát huy quyền làm chủ”, các văn bản luật về giáo dục ở Đức đều dựa trên nền tảng Hiến pháp. Theo đó, nhà nước họ bị chế tài phải bảo đảm dân chủ trong giáo dục và mọi quyền cơ bản cho học sinh như đối với bất kỳ tổ chức nào, đảng, hội đoàn, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp… Như vậy, mô hình tổ chức lớp học không do nhà nước “muốn” mà “phải”. Nói cách khác, chỉ hiến pháp mới là thước đo đúng sai, được phép hay không, cho sự ra đời của mô hình đó, chứ không phải suy ra từ hệ quả nó có thể mang lại.     *Tính khả thi     Bầu bán là một phương pháp dân chủ cần có thời gian hiểu được ứng viên, nếu không sẽ không thực chất, vì vậy mô hình phát ngôn viên ở Đức không áp dụng cho lớp một vốn lần đầu gặp nhau đang lạ lẫm. Mặt khác, khả năng vận dụng phương pháp đó phụ thuộc theo tầm tuổi vốn không thể định lượng, vì vậy luật mỗi tiểu bang ấn định một khác, sớm nhất từ lớp 2, muộn nhất tới lớp 5. Nói cách khác, bậc tiểu học (lớp 1-4) không nhất thiết áp dụng mô hình phát ngôn viên.     *Phát ngôn viên là ai?     Trả lời câu hỏi này sẽ cho biết các mô hình phát ngôn viên, hội đồng tự quản có thực sự dân chủ như hiến pháp bắt buộc hay không. Sở dĩ Đức dùng khái niệm phát ngôn viên là để phân biệt với khái niệm chủ tịch, bởi về góc độ xã hội học, lớp học được coi như một hội đoàn hiểu theo nghĩa phổ quát trên thế giới: độc lập và tự nguyện. Tức, không ai lệnh được cho ai nếu họ không tự nguyện chấp hành. Nhưng khác với hội đoàn ở chỗ, học sinh có nhiệm vụ học, tức thụ hưởng chứ không phải làm ra sản phẩm cho xã hội để hưởng và chịu trách nhiệm với sản phẩm đó. Chúng cũng chưa phải người lớn có năng lực pháp lý. Vì vậy, khác vai trò chủ tịch hội đoàn, phát ngôn viên không chịu trách nhiệm pháp lý cả với vai trò của mình lẫn hoạt động toàn lớp, được luật định: Phát ngôn viên không được quyền hưởng ưu tiên gì hay bị thiệt thòi gì so với bất cứ học sinh nào. Từ đó nhiệm vụ của phát ngôn viên không có gì ghê gớm hay ý nghĩa “cao siêu” như trong mô hình ở ta, mà đơn giản: 1- “Đại diện” cho lợi ích và mong muốn của cả lớp “trước” thầy cô giáo (ở đây, khái niệm “trước” tương tự như các hội đoàn “trước” chính quyền; còn khái niệm “đại diện” được hiểu theo nghĩa là người tập hợp và truyền đạt ý kiến, không phải cấp trên có quyền ra lệnh cho học sinh / hội viên phải thi hành). 2- Giúp đỡ lớp tổ chức các hoạt động ngoài giờ học (giúp đỡ chứ không phải ra lệnh). Từ đó phát ngôn viên có trách nhiệm thay mặt cả lớp nêu những vấn đề thuộc nội bộ lớp với cả lớp, và những ý kiến đề xuất của các bạn với thầy cô giáo, với lãnh đạo trường. Các chuẩn mực trên được các tiểu bang đưa vào luật trường học, như ở tiểu bang Baden-Württemberg quy định tại Điều 63, 65-67, 70, và chi tiết hóa trong văn bản dưới luật, Cộng đồng Trách nhiệm của học sinh (SMV-Verordnung).     *Quy định đối với phát ngôn viên    Để bảo đảm các chuẩn mực pháp lý trên được thực hiện, họ quy định phát ngôn viên không được phép, và không thể: – Là cánh tay nối dài của giáo viên chủ nhiệm. Đây cũng là quy định đối với hội đoàn ở Đức hoàn toàn độc lập tự chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của mình. – Giám sát bạn học khi giải lao. – Phải tự mình làm mọi việc của lớp. – Người có quyền hành và biểu tượng của lớp. – Người có thể giải quyết mọi vấn đề. – Người cùng tham gia mọi trò chơi dại dột của lớp. – Người thiên tài, đưa ra mọi đề xuất. – Người được bầu nhưng mặc kệ mọi người không quan tâm. – Người duy nhất báo cáo các kiến nghị chỉ trích với thầy cô giáo, còn các học sinh khác không được phép.    *Những năng lực được chú ý khi bầu phát ngôn viên    Các công trình nghiên cứu đưa ra các dấu hiệu sau: 1- Có khả năng phát hiện vấn đề nảy sinh trong lớp. 2- Có khả năng thuyết phục bạn học và thầy cô giáo. 3- Tâm huyết để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. 4- Công bằng. 5- Lịch sự. 6- Hiểu được quyền và trách nhiệm của từng bạn học và thầy cô giáo. 7- Giải quyết hợp tình lý không gây áp lực. 8- Hòa nhã. 9- Sáng tạo. 10- Dũng cảm. 11- Ý thức được trách nhiệm. 12- Nhìn nhận vấn đề cụ thể, không chung chung. 13- Phát ngôn trôi chảy. 14- Không thiên vị. 15- Giữ bí mật cá nhân cho bạn học. 16- Đồng cảm, chia sẻ. 17- Chắc chắn.    Tuy nhiên trên thực tế không ít lớp, học sinh bầu phát ngôn viên nhằm vào những đối tượng cá biệt, như thường ngủ gật, hay đi học trễ, lười phát biểu, ít hoạt động xã hội… để buộc phải tự khắc phục nhược điểm đó, chứ không cần người “xuất chúng”, bởi chúng tự giải quyết được! Có nghĩa dù mô hình gì, thì lớp học trước sau vẫn là một xã hội thu nhỏ của học sinh, chứ không lý tưởng hóa được nó, khiên cưỡng nó phải theo. Nó hoàn toàn không phải của nhà trường hay giáo viên, càng không phải của phát ngôn viên hay chủ tịch hội đồng tự quản, để buộc được nó! Đó cũng chính là bản chất của khái niệm dân chủ, cần được coi là thước đo cho mọi mô hình lớp học, nếu thực muốn “giúp các em hiểu được quá trình bầu cử tự do, công bằng và dân chủ của đất nước”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình lý tưởng và giá phải trả cho việc ra khỏi hang động      Bắt đầu cuộc hành trình, chúng ta dành ba kỳ để làm quen với Platon và mô hình triết thuyết giáo dục “duy tâm” của ông.     Theo nghĩa thông thường, “duy tâm” là kẻ dành hết năng lượng cuộc đời cho việc theo đuổi lý tưởng mà mình xác tín là tốt lành và cần thiết. Theo nghĩa triết học, là những ai cho rằng chính thế giới tinh thần hay tâm linh là căn nguyên hơn thế giới của hiện tượng vật chất. Người kết hợp cả hai ý nghĩa ấy là Platon (427-347 tr CN), và triết học giáo dục của ông vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến nền giáo dục hiện đại hơn ta tưởng.  Giáo dục: Con đường đau khổ  Cộng Hòa, danh tác tầm cỡ thế giới của Platon (bản tiếng Việt của Đỗ Khánh Hoan, NXB Thế giới, 2012) bàn về lẽ công bằng và hình thức nhà nước thiện hảo. Tác giả dành quyển thứ bảy để phát họa cương lĩnh giáo dục và trở thành một trong những văn bản xưa nhất và quan trong nhất trong lịch sử tư tưởng giáo dục Tây phương.  Socrates (thay lời Platon) mở đầu câu chuyện: “Bạn thử hình dung đoàn người ở trong một hang sâu dưới lòng đất có lối đi lên trên. Từ bé, họ đã bị trói chặt, ngồi một chỗ, đầu không thể quay ra sau. Sau lưng họ có ánh lửa. Giữa đống lửa và đám tù nhân là một bức tường thấp. Dọc theo bức tường là những người dương cao những đồ vật đủ loại…”  Khi Glaucon, người đối thoại với Socrates, kinh ngạc trước hình ảnh mô tả lạ lùng ấy, Socrates đáp lời: có gì lạ đâu, họ giống hệt chúng ta thôi! Như những tù nhân, ta không hề thấy được những sự vật chân thật mà chỉ có thể xem những hình bóng phản chiếu trước mặt là thực tại duy nhất. Socrates hỏi tiếp: nếu một người trong bọn họ được cởi trói và buộc phải đột ngột đứng phắt dậy, đi về hướng ánh lửa, mọi cử động khiến thân đau, mắt lóa. Bạn nghĩ người đó sẽ nói gì khi được cho hay rằng những gì thấy trước đây đều không thực, còn bây giờ đến gần sự thực hơn? Chắc hẳn người ấy sẽ đồng ý, nhưng ta đừng quên điểm ít được chú ý khi bình giảng đoạn này: người tù nhân tuy được “giải phóng”, nhưng đã bị “buộc phải” đứng dậy, quay đầu, chịu “thân đau mắt lóa”! Ta mơ hồ hiểu ra rằng con người không dễ dàng từ bỏ sự an phận, và tiến trình giáo dục không thực sự diễn ra một cách hoàn toàn “tự nguyện”: nếu buộc anh ta phải nhìn thẳng vào ngọn lửa, mắt anh ta sẽ bị đau, sẽ tránh né và tìm cách quay lại với hoàn cảnh cũ. Rồi nếu tiếp tục bị ép buộc kéo đi lên lối mòn dốc ngược lởm chởm cho tới khi thấy ánh sáng mặt trời (chứ không phải chỉ ánh lửa), người đó sẽ vùng vằn, chống đối quyết liệt!  Hậu quả cũng không mấy vui vẻ khi phải trở về lại hang động với những người “bạn tù vĩnh cửu”: mắt người ấy liệu không bị lòa lần thứ hai vì đột ngột đi vào bóng tối? Tệ hơn nữa: trong thời gian chờ thích nghi trở lại, người ấy không tự biến mình thành trò cười? Bạn tù chế nhạo, bảo việc lên cao rồi trở về khiến mắt bị hỏng, nên việc lên cao như thế thật chẳng bỏ công! Và còn nguy hiểm hơn: nếu vì nhiệt tâm muốn cứu vớt bạn tù mà cởi trói, dẫn họ đi lên, thì, “nếu tóm được người nhiệt tâm ấy, liệu họ có giết chết tức thì?”. Glaucon buồn bả trả lời: “Họ làm thế thật!”. Chính Socrates bằng xương bằng thịt là nạn nhân chứ không ai khác!  Sáu kích thước giáo dục trong dụ ngôn hang động    Dụ ngôn hang động nổi tiếng trên đây của Platon có ít nhất sáu kích thước giáo dục;  1.  Dụ ngôn xuất phát từ sự đối lập giữa ánh sáng của chân lý và bóng tối hang động của thường kiến, tư kiến. Tiến trình giáo dục xoay quanh sự khác biệt ấy, và được diễn tả ngắn gọn bằng sự đối lập giữa biết và tin.  2. Giáo dục được hiểu là cuộc đấu tranh “gian nan, cực nhọc” cho chân lý. Thoạt đầu, con người phải bị buộc phải hướng đến chân lý, và, khi đã đến gần, phải học cách bảo vệ và chiến đấu cho nó.  3. Giáo dục có nghĩa vụ thực hành, bởi không thể sống lâu dài trong cõi ý niệm thuần túy, tách rời thế giới con người.  4. Cần nhận chân hai thế lực: sức mạnh của chân lý được biểu trưng bằng ánh sáng, và sức mạnh còn ghê gớm hơn của thói quen, định kiến và sự mù quáng.  5.Tiến trình giáo dục liên quan trước hết đến từng cá nhân con người, trước khi trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến. Tiến trình giáo dục cũng là công cuộc cô đơn, thường không phải hoàn toàn tự nguyện, và gắn liền với nhiều nguy cơ lẫn hệ quả tiêu cực. Tiến trình giáo dục, nói như Helmuth Plessner khi tiếp thu dụ ngôn hang động, không chỉ là tiến trình mở rộng, dị biệt hóa và ngày càng đào sâu hơn, mà còn là tiến trình mất mát và bất an: “Ai muốn “về nhà” an toàn và ấm cúng, hãy hiến mình cho lòng tin. Ai muốn sống chung với tinh thần, thì một đi không trở lại!”. Platon: “giáo dục không phải như những gì nhiều người chỉ biết ca tụng một chiều”. Ta nhớ lời tương tư trong Thánh kinh: “Chân lý sẽ làm cho các ngươi được tự do”, chứ không phải: “chân lý sẽ làm cho các ngươi được hạnh phúc!”.  6. Tiến trình giáo dục là không thể đảo ngược. Một khi đã tận mắt “thấy ánh sáng mặt trời”, con người không thể tiếp tục an phận với cuộc sống tối tăm “trong hang động” trước đây. Khi đã một lần nếm quả ngọt từ “cây tri thức”, con người đánh mất sự ngây thơ hồn nhiên vô tội và muốn… tiếp tục ăn nữa!   Giáo dục là nghệ thuật chuyển hóa    Con người có thể bị “thân đau, mắt lóa” theo hai cách và do hai nguyên nhân khác nhau: từ bóng tối ra ánh sáng và từ ánh sáng vào lại bóng tối. Giáo dục là biết tinh tế phân biệt và đồng cảm với hai trạng thái chỉ giống nhau ở bề ngoài ấy.  Giáo dục, theo Platon, không phải “đưa hiểu biết vào tâm trí như đem thị giác vào cho cặp mắt bị mù”. Trái lại, năng lực học hỏi là tự nhiên trong tâm trí mọi người. Vấn đề là: giống như con mắt không thể xoay từ bóng tối sang ánh sáng nếu toàn bộ cơ thể không xoay, vì thế, tâm trí cũng phải xoay toàn bộ từ thế giới biến dịch cho tới khi có thể nhìn thẳng vào thực tại chói lọi hơn hết trong mọi thực tại, mà ta gọi là Chân và Thiện. Vậy, giáo dục là nghệ thuật thực hiện công việc nói trên, là nghệ thuật chuyển hóa. Giáo dục phải trù tính phương pháp làm thế nào để tâm trí có thể xoay chuyển dễ dàng và hữu hiệu, tránh xoay không đúng cách và nhìn không đúng chỗ.  Nếu ta nhìn dụ ngôn hang động với con mắt ít nhiều hoài nghi, ta tự hỏi: Ai xác định cái gì là “bóng tối”, cái gì là “ánh sáng”? Từ đâu biết có con đường ra khỏi hang động? Hay vẫn chỉ là “lòng tin” đơn thuần? “Khai minh” phải chăng lại là một “bóng tối” khác? Và kỳ cùng, tại sao cứ “bóng tối” và “cuộc sống với bóng tối” là xấu?  Platon nghĩ gì về những câu hỏi ấy, từ bối cảnh lịch sử của thời đại ông?   —  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 4, 10.10.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình phát triển tài chính đại học      Phát triển tài chính đại học là một trong các vấn đề chủ yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đại học nào trên thế giới trong quá trình chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng. Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về các xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một vài đề xuất có liên quan đến việc phát triển nguồn tài chính đại học của Việt Nam.      I. MƯỜI XU THẾ CHUNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC  Mười xu thế chung của giáo dục đại học được trình bày dưới đây được tổng hợp bởi một nhóm chuyên gia quốc tế cao cấp về giáo dục đại học (Michael & Kretovics, 2005):  1. Nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng (Greater Participation)  Số người có nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự gia tăng này không chỉ do sự gia tăng cơ học của dân số ở mỗi quốc gia mà còn thể hiện nhu cầu được hiểu biết, được tiếp cận những công việc mang lại thu nhập tốt hơn trong thời đại nền kinh tế tri thức đang ngày càng chiếm lĩnh ưu thế.  2. Hệ thống trường học ngày càng phát triển (Greater Institutional Diversification)  Đi đôi với sự gia tăng số trường đại học là sự xuất hiện ngày càng nhiều các trường đào tạo chuyên ngành, chẳng hạn các trường đại học kỹ thuật, kinh tế, y khoa, … Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận giáo dục đại học, nhiều quốc gia đã quan tâm phát triển hệ thống các trường cao đẳng/đại học cộng đồng, các hình thức đào tạo tại chức/từ xa/qua mạng.    3. Đối tượng người học ngày càng đa dạng (Greater Student Diversity)  Cùng với sự gia tăng số người học đại học là sự phát triển của đối tượng người học không/phi chính quy, từ các quốc gia khác đến, từ các cộng đồng thiểu số, và từ các tầng lớp xã hội khác nhau. Ở một số quốc gia, tỷ lệ người học là nữ cũng đang tăng lên nhanh chóng.    4. Nguồn tài chính đại học ngày càng phong phú  (Greater Diversification of Sources of Funding)  Mặc dù chính phủ là nhà đầu tư chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: người học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội/phi chính phủ trong và ngoài nước, sự tài trợ của quốc tế, … Bản thân các trường đại học cũng đang ngày càng nâng cao khả năng tăng nguồn thu thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng, …  5. Tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm xã hội của trường đại học ngày càng được tăng cường (Greater Accountability and Control)  Các trường đại học ngày càng được trao quyền quyết định nhiều hơn trên tất cả các mặt: học thuật, nhân sự, tài chính, …. Thông qua hoạt động kiểm định đại học ngày càng phổ biến ở tất cả các quốc gia, các trường đại học cũng ý thức và thực hiện tốt hơn trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội.  6. Mức độ tư nhân hóa giáo dục đại học ngày càng tăng (Greater Privatization)  Giáo dục đại học đang được nhiều quốc gia xem là một “thị trường” theo đúng nghĩa của nó, và vì vậy sự xâm nhập của thành phần tư nhân vào giáo dục đại học là điều tất yếu. Tư nhân hóa một phần của giáo dục đại học còn là chính sách của đa số các quốc gia nhằm góp phần chia sẻ gánh nặng chi phí và mở rộng cơ hội học tập cho nhiều người dân. Hệ thống đại học tư thường được phân ra thành hai loại: phi lợi nhuận (non-profit) và vì lợi nhuận (for-profit). Một đặc điểm đáng lưu ý là trong thập kỷ qua, nhiều trường thuộc nhóm vì lợi nhuận được đánh giá cao về chất lượng và vì vậy đã thu hút ngày càng nhiều người học, tiêu biểu trong số này là Trường Đại học Phoenix của Hoa Kỳ.  7. Mức độ đóng góp của người học ngày càng lớn (Greater User-Pay)  Sự gia tăng số người học và chi phí thực tế trên mỗi người học đã buộc hầu hết các quốc gia đi đến giải pháp gia tăng mức đóng góp của người học thông qua học phí. Bên cạnh sự gia tăng này, nhiều quốc gia đã thiết lập cơ chế cho phép người học vay nợ và sau đó trả dần sau khi tốt nghiệp.    8. Qui mô đầu tư của Nhà nước cho trường đại học ngày càng gắn với chất lượng (Growing Popularity of Performance Funding)  Ở nhiều quốc gia, đầu tư cho đại học từ chính phủ không còn theo kiểu bình quân hay dựa vào số lượng sinh viên đầu vào mà căn cứ chủ yếu vào việc đạt được các chỉ số thực hiện (performance indicators) thể hiện năng lực duy trì chất lượng của mỗi trường. Chẳng hạn tại Anh, sự phân bổ kinh phí đại học được căn cứ trên kết quả kiểm toán các trường đại học tiến hành bởi Cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (QAA – Quality Assurance Agency for Higher Education).  9. Chí phí đại học ngày càng được chú ý (Greater Cost Consciousness)  Chi phí đào tạo đại học, được hiểu là tổng chi phí để đào tạo một sinh viên ra trường, ngày càng tăng cao. Nhìn chung, mức tăng này còn cao hơn cả tỷ lệ lạm phát bình quân của xã hội. Về bản chất, mức tăng này là kết quả của sự nhận thức ngày một đầy đủ hơn về các chi phí thực tế trong hoạt động của trường đại học. Nhiều quốc gia đã có chính sách buộc các trường đại học phải không ngừng cải tiến phương pháp quản lý, phục vụ để giảm bớt chi phí.  10. Xếp hạng đại học ngày càng được quan tâm (Commercial Ranking of Institutions)  Một khi giáo dục đại học trở thành thị trường, thì tất yếu khách hàng cần phải được cung cấp thông tin đầy đủ về các sản phẩm. Đa số người học không có đủ thời gian và kiên nhẫn để nghiên cứu các báo cáo về chất lượng của các trường đại học dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Họ mong muốn được nhìn thấy một kết quả xếp hạng tương đối giữa các trường để có thể đưa ra sự lựa chọn. Nhiều trường đại học, tuy phản đối chuyện xếp hạng hay không đồng tình với bộ tiêu chí dùng để xếp hạng do các tổ chức độc lập đưa ra, họ cũng không thể thản nhiên đứng ngoài việc xếp hạng. Với nhiều trường đại học, thà được có mặt trong bảng xếp hạng với những tiêu chí chưa đạt còn hơn là không có tên trong danh sách xếp hạng! (Not to be listed at all is seen as worse than being listed with information that seems unsatisfactory) (Michael & Kretovics, 2005, tr.23).     II. BỐN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC  Bốn mô hình phát triển tài chính đại học được trình bày dưới đây đã được tổng hợp bởi Hauptman (2007):  Mô hình 1: Giáo dục đại học công lập miễn phí hoặc với học phí thấp (Expansion of a public sector charging little or no tuition fees)  Đây là mô hình chủ đạo ở nhiều quốc gia trong suốt nửa thế kỷ qua. Nhà nước đóng vai trò là nhà đầu tư chủ yếu để phát triển nền giáo dục đại học công lập và chỉ yêu cầu một phần đóng góp khiêm tốn từ người học và gia đình thông qua nguồn thu học phí. Trong mô hình này, học phí chỉ chiếm khoảng 10% chi phí hoạt động của trường đại học dành cho giảng dạy và quản lý (chưa tính đến chi phí nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác).  Vào những năm 1950 và 1960, Hoa Kỳ đã áp dụng mô hình này để phát triển nền giáo dục đại học đại chúng, bao gồm việc phát triển hệ thống các trường cao đẳng cộng đồng và các trường đại học công lập. Trong một phần tư thế kỷ qua, một số quốc gia của khu vực Bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan cũng đã áp dụng mô hình này. Để có thể áp dụng thành công mô hình, các quốc gia cần phải có đủ năng lực tài chính để đầu tư cho giáo dục công. Đây là điều khiến nhiều quốc gia không thể áp dụng mô hình này.    Mô hình 2: Chi phí đại học được hoàn trả sau khi sinh viên tốt nghiệp (Publicly financed fees repaid through the tax system once students graduate)  Úc đã giới thiệu một mô hình phát triển đại học mới vào cuối những năm 1980 thông qua Chương trình hỗ trợ đại học (HECS). Chương trình này được xây dựng trên hai cơ sở: thứ nhất là sự cần thiết phải có sự tham gia của các thành phần tư nhân vào sự nghiệp phát triển giáo dục đại học, thứ hai là nhiều sinh viên và gia đình của họ không muốn chi trả học phí theo cung cách truyền thống. Để thực hiện chương trình này, chính phủ Úc đã đầu tư kinh phí hoạt động cho các trường, và sau đó tổ chức thu hồi lại từ sinh viên thông qua hệ thống thuế thu nhập cá nhân. Anh và Thái Lan cũng đã bắt đầu áp dụng các mô hình tương tự như của Úc từ năm 2006.  Yêu cầu then chốt của việc áp dụng mô hình này, cũng tựa như đối với mô hình 1, là các quốc gia cần có đủ năng lực tài chính để đầu tư ban đầu cho hệ thống giáo dục đại học. Ngay đối với Úc cũng đã từng xem xét đến việc giảm bớt sự hỗ trợ đối với các đối tượng có thu nhập thấp, đồng thời gia tăng tỷ lệ thu nợ từ sinh viên tốt nghiệp để chương trình có thể tồn tại bền vững. Một yêu cầu quan trọng nữa là Nhà nước cần thiết lập được một cơ chế hữu hiệu nhằm thu hồi nợ vay của sinh viên. Theo Phạm (2007), tỷ lệ hoàn vốn từ nguồn nợ vay của sinh viên Trung Quốc là 55%, của Hàn Quốc là 64%, còn đối với các nước phát triển thì cao hơn. Nhằm giảm bớt áp lực cho bộ máy quản lý, nhiều số quốc gia đã giao trách nhiệm cho vay-thu hồi nợ này cho hệ thống ngân hàng (Tilak, 2006).    Mô hình 3: Gia tăng học phí kết hợp với mở rộng các chính sách hỗ trợ (Increased cost sharing combined with higher levels of student aid)  Theo mô hình này, học phí của giáo dục đại học được tính toán sao cho có thể bù đắp một phần đáng kể các chi phí hoạt động của nhà trường, đồng thời mở rộng các chính sách hỗ trợ học phí đối với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Trong một phần tư thế kỷ qua, Hoa Kỳ, New Zealand, và Canada có thể được xem là những quốc gia áp dụng thành công mô hình này.  Gia tăng học phí được xem như một giải pháp chủ yếu nhằm chia sẻ chi phí giáo dục. Trong thực tế, các quốc gia thực hiện giải pháp này theo những cách khác nhau. Nhiều quốc gia ở Châu Âu và Châu Phi thiết lập cơ chế học phí song song: những sinh viên không hội đủ những điều kiện nào đó về kết quả học tập thì không được theo học miễn phí mà phải đóng học phí ở mức cao. Tuy nhiên, cách làm này không thể hiện được sự công bằng về quyền được hưởng các phúc lợi công trong giáo dục đại học (Salerno, 2006), dễ dẫn đến nguy cơ bỏ học hoặc không tiếp cận được giáo dục đại học của nhóm sinh viên nghèo (Phạm, 2007).  Một cách làm khác có thể giúp vừa gia tăng sự chia sẻ chi phí giáo dục, vừa đáp ứng tốt hơn yêu cầu công bằng là: những sinh viên theo học những ngành được Nhà nước quan tâm phát triển thì sẽ đóng mức học phí thấp, còn những sinh viên theo học các ngành mà xã hội đang có nhu cầu cao như kinh tế hay luật thì sẽ phải đóng học phí ở mức cao. Các mức học phí khác nhau còn được áp dụng đối với các cấp độ đào tạo và đối tượng người học: học phí chương trình sau đại học thì cao hơn so với chương trình đại học, sinh viên nước ngoài hoặc học viên tại chức phải đóng mức học phí cao hơn so với sinh viên chính qui bản xứ. Úc là một ví dụ đối với cách làm này: những sinh viên thỏa mãn các điều kiện tham gia chương trình HECS được tính mức học phí theo qui định của chính phủ, còn các sinh viên khác và sinh viên nước ngoài phải đóng mức học phí cao hơn nhiều.  Mô hình 4: Mở rộng hệ thống đại học tư (Expansion of a private sector of institutions)  Mở rộng hệ thống đại học tư được xem như một giải pháp giúp chia sẻ chi phí đại học và đồng thời đáp ứng nhu cầu học đại học ngày một gia tăng. Ở các quốc gia thuộc Trung Đông và một số quốc gia ở Châu Á, hệ thống đại học tư đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực đào tạo nghề. Đối với Nhật và Hàn Quốc, sự phát triển gần đây của hệ thống giáo dục đại học chủ yếu nằm ở khu vực tư nhân. Ba Lan cũng là một ví dụ điển hình ở Châu Âu về sự phát triển hệ thống đại học tư.  Một điều có tính phổ biến là trong khi số sinh viên đầu vào của hệ thống đại học tư ngày càng tăng nhanh, thì số sinh viên vào các trường đại học công có xu hướng tăng chậm hoặc không tăng. Sự khác biệt này chủ yếu do nguồn ngân sách Nhà nước dành cho các trường công hầu như không được gia tăng đáng kể. Một trong những giải pháp hiệu quả nhằm thu hút sinh viên vào học tại các trường đại học tư là cho phép sinh viên cũng được vay để đi học, và được xét cấp các loại học bổng. Một giải pháp đáng kể khác là Nhà nước cần tổ chức hoạt động kiểm định để đánh giá các chương trình đào tạo được các trường tư cung cấp.    II. MỘT VÀI ĐỀ XUẤT  Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng trong những năm gần đây. Bảng 1 cho thấy chỉ sau 7 năm (từ 2000 đến 2007), số lượng trường đại học của Việt Nam đã tăng gấp đôi, trong đó có sự phát triển đáng kể của hệ thống đại học ngoài công lập. Tuy nhiên, do phần lớn các trường đại học được xây dựng gần đây có qui mô trung bình/nhỏ, nên tổng số sinh viên theo học chỉ tăng được khoảng hơn 1,5 lần.  Bảng 1: Sự gia tăng của hệ thống trường đại học của Việt Nam  (nguồn: Website Bộ GD&ĐT)           NH 1999 – 2000  NH 2006 – 2007      Tổng số trường đại học         69            139      Công lập         52       109      Ngoài công lập         17        30      Tổng số sinh viên       719.842       1.173.14          Đối chiếu với 10 xu thế của giáo dục đại học trên thế giới, có thể nhận ra rằng giáo dục đại học của Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật và sự vận động chung. Trong số 10 xu thế này, chỉ còn hai xu thế chưa diễn ra ở Việt Nam nhưng cũng đã nằm trong kế hoạch/dự kiến của Bộ GD&ĐT: gắn qui mô đầu tư trường đại học với kết quả kiểm định chất lượng, và xếp hạng trường đại học! (Bộ GD&ĐT, 2008).  Về tài chính đại học, trong nhiều năm qua giáo dục đại học Việt Nam phát triển chủ yếu theo Mô hình 1. Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống đại học ngoài công lập trong thập niên vừa qua đã góp phần không nhỏ trong việc chia sẻ bớt nguồn lực Nhà nước dành cho giáo dục đại học (theo Mô hình 4). Trong vài năm gần đây, sinh viên được vay tiền Nhà nước để trang trải chi phí học tập (theo Mô hình 2), và Nhà nước cũng đang nghiên cứu khả năng tăng học phí đại học kết hợp với mở rộng hệ thống chính sách hỗ trợ cho sinh viên (theo Mô hình 3). Như vậy, có thể nói rằng giáo dục đại học của Việt Nam đã, đang, và sẽ triển khai theo cả bốn mô hình nói trên. Vấn đề là chúng ta nên chọn ưu tiên phát triển theo mô hình nào tương ứng với từng giai đoạn phát triển, và với mỗi mô hình cần lưu ý đến những vấn đề gì để sự phát triển có tính bền vững và đạt hiệu quả cao. Bảng 2 nhằm giới thiệu những đề xuất có tính tóm tắt của tác giả liên quan đến việc áp dụng các mô hình phát triển tài chính đại học trong bối cảnh của Việt Nam.  Bảng 2: Những vấn đề cần quan tâm đối với các mô hình phát triển tài chính đại học        Mô hình  Những vấn đề cần quan tâm         Giáo dục đại học công lập miễn phí hoặc với học phí thấp    Chỉ nên sử dụng đối với các trường quân sự hoặc đối với một số ngành học đặc thù cần cho sự phát triển bền vững của quốc gia nhưng hiện ít được SV ưa chuộng (chẳng hạn một số ngành thuộc khối nông-lâm-ngư, ngành khảo cổ, nghiên cứu lịch sử, …).  Cần sớm xây dựng cơ chế cấp kinh phí công cho các trường đại học dựa trên kết quả kiểm định chất lượng.           Chi phí đại học được hoàn trả sau khi sinh viên tốt nghiệp     Cần sớm xây dựng giải pháp thu hồi nợ vay từ SV, hoàn thiện hệ thống theo dõi thu nhập cá nhân và các chính sách liên quan đến thu hồi nợ vay của SV.Mở rộng hệ thống các quỹ tín dụng SV trên cơ sở kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp (chẳng hạn Quỹ tín dụng “Chắp cánh tương lai” của Hội SV Tp. HCM).        Gia tăng học phí kết hợp với mở rộng các chính sách hỗ trợ   Xây dựng khung học phí đa dạng, gắn với ngành nghề đào tạo, bậc đào tạo, đối tượng người học, và kết quả kiểm định chất lượng về chương trình đào tạo và nhà trường.   Các chính sách hỗ trợ cần đặc biệt chú ý đến các nhóm SV nghèo, thuộc các dân tộc thiểu số, và khuyết tật.      Mở rộng hệ thống đại học tư  Tăng cường công tác kiểm định chất lượng để công bố với xã hội về chất lượng của các chương trình đào tạo, của nhà trường.   Hoàn thiện cơ chế liên thông (cả về chương trình đào tạo lẫn các bậc đào tạo) giữa hai hệ thống đại học công và tư.           Tài liệu tham khảo  Bộ GD&ĐT (2008). Thông báo số 1007/TB-BGDĐT ngày 13/2/2008 về “Kết luận của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học, ngày 05 tháng 01 năm 2008”.  Hauptman, A. M. (2007). Four models  of growth. International Higher Education, 46.  Michael, S. O. & Kretovics, M. A. (Eds.) (2005). Financing higher education in a global market. New York: Algora Publishing.  Phạm, Phụ (2007). Công bằng xã hội trong giáo dục đại học (Bài trả lời phỏng vấn trên Tạp chí Tia sáng). Tải về ngày 6/4/2008 tại: www.tiasang.com.vn/print?id=1618  Salerno, Carlo (2006). Cost sharing in higher education financing: economic perils in developing countries. International Higher Education, 43.  Tilak, J.B. G. (2006). Global Trends in Funding Higher Education. International Higher Education, 42.  (Tất cả các bài viết thuộc tạp chí International Higher Education có thể được tải về từ địa chỉ: http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/)  * Trường Đại học Nha Trang  Lê Văn Hảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình trường chọn không chuyên      Có thể nói rằng các trường chuyên lớp chọn của ta những năm qua đã góp phần đáng kể vào bước đầu hình thành lớp người tinh hoa cho đất nước. Tuy nhiên, câu hỏi sau 50 năm trường chuyên lớp chọn là có nên tiếp tục duy trì mô hình này hay không?&#160;  Nếu không thì chọn mô hình nào?        Các lớp “chuyên” trong giáo dục của Nhật Bản  Tuy nhiên, câu hỏi là có nên tiếp tục duy trì mô hình trường chuyên lớp chọn sau 50 năm không? Có mô hình nào khác phù hợp hơn để bồi dưỡng những em nhỏ có năng khiếu đặc biệt về khoa học không? Có cách nào khác để giáo dục phổ thông gắn kết tốt hơn với việc hình thành lớp người tinh hoa của đất nước?  Muốn biết mình thì phải biết người. Nên chăng nhìn vào sự hình thành lớp người tinh hoa của nhiều quốc gia để nghĩ về các trường chuyên lớp chọn của chúng ta? Chẳng hạn thử xem nền giáo dục Nhật Bản gắn với việc hình thành lớp người tinh hoa của họ thế nào. Ở cấp tiểu học, học sinh ở Nhật học như chơi, không lưu ban, không thi cử và chấm điểm, nhà đâu học đấy và việc phát triển thể chất rất được chú trọng. Ở cấp trung học cơ sở cũng nhà đâu học đấy nhưng cuối cấp có việc thi vào các trường trung học phổ thông (THPT). Mỗi tỉnh đều có một, hai trường THPT hàng đầu, chất lượng và điều kiện tốt hơn hẳn các trường khác, những học sinh giỏi nhất hoặc có năng khiếu đặc biệt về một lĩnh vực nào đó ở tỉnh đều gắng thi vào đây. Các trường hàng đầu chọn những giáo viên giỏi nhất của tỉnh về dạy. Một số trường đại học cũng có các lớp phổ thông riêng và chọn lọc của mình, và cũng có nhiều trường tư chất lượng cao nhận và đào tạo học sinh giỏi hoặc có năng khiếu đặc biệt. Trong các môi trường trò giỏi thầy giỏi này, học sinh được yêu cầu học toàn diện tất cả các môn trong chương trình phổ thông (các thầy cô dạy giỏi luôn có khả năng lôi cuốn học sinh hào hứng học tập các môn khác nhau). Học sinh giỏi vào trường mỗi năm không phân thành các lớp chuyên, mà chia ngẫu nhiên vào các lớp học của khóa. Mỗi trường đều có các câu lạc bộ về những môn học khác nhau, cho phép học sinh có năng khiếu hoặc ham thích các môn học này tham gia, được dìu dắt và rèn luyện tư duy với các thầy cô giỏi. Cách làm này đáp ứng được nhu cầu phát triển năng khiếu của học sinh trong khi vẫn giữ việc học toàn diện thay vì sớm chuyên sâu vào một môn học. Sở dĩ như vậy là vì nhà khoa học dù có xuất sắc đến đâu trong một lĩnh vực, những hiểu biết phổ thông và căn bản về xã hội, kinh tế, nghệ thuật… vẫn hết sức cần thiết để họ đóng góp được tốt hơn cho xã hội và khoa học, và để cho chính họ có một cuộc sống hài hòa, tốt đẹp. Rất nhiều học sinh trường chuyên Việt Nam khi vào đời, hoặc khi có dịp học tập ở nước ngoài đã nhận ra sự thiếu hụt kiến thức chung do không học tốt ở các trường chuyên lớp chọn.  Việc thi vào đại học cũng phản ánh quan điểm giáo dục toàn diện ở bậc phổ thông ở Nhật. Dù ai rất giỏi một môn nào đó, nhưng nếu không có tổng điểm cao của ba môn Toán, Quốc ngữ và tiếng Anh, cũng rất khó vào được các đại học hàng đầu. Hầu hết sinh viên của Đại học Tổng hợp Tokyo và Đại học Tổng hợp Kyoto, hai trường hàng đầu nước Nhật, đều là học sinh giỏi đến từ các trường hàng đầu của các tỉnh. Từ bậc đại học trở đi, họ mới chính thức bắt đầu quá trình “chuyên” của mình, và do có kiến thức phổ thông tốt cộng với môi trường đại học tốt, năng khiếu của họ được phát triển nhanh trên một con đường dài với khả năng thành công cao. Thông thường, sau khoảng gần 10 năm chuyên trong một lĩnh vực nào đó để hoàn thành các chương trình cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, họ có thể trở thành những người có khả năng làm nghiên cứu độc lập. Từ đây và thường sau một quãng đường dài nữa họ mới có thể trở thành những nhà khoa học có đóng góp tốt và có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Tất nhiên, từ bậc đại học trở đi, những người xuất sắc có cơ hội sớm đạt được những kết quả rực rỡ, có cơ hội gặp được những người thầy rất giỏi dẫn dắt vào khoa học.  Phần lớn những người trưởng thành từ các đại học hàng đầu lại làm việc ở các đại học và viện nghiên cứu hàng đầu, các công ty lớn và các tổ chức quan trọng. Lớp người tinh hoa của xã hội đại thể được hình thành như vậy. Cách chọn lọc và đào tạo người tài, người có năng khiếu này phổ biến ở nhiều nước, và khác rất nhiều với cách làm trường chuyên lớp chọn của ta.   Xây dựng mô hình trường chọn không chuyên  Sau một chặng dài 50 năm của “trường chuyên lớp chọn”, khi tình hình đất nước và điều kiện giao lưu quốc tế đã nhiều đổi thay, nên chăng xem xét các mô hình khác, chẳng hạn mô hình “trường chọn không chuyên” sau đây:  Xây dựng ở mỗi tỉnh một trường phổ thông trung học chất lượng cao, với thầy cô giỏi cho tất cả các môn học. Cũng có thể có một số trường chất lượng cao ở các trường đại học lớn chung cho cả nước hay cho học sinh ở các vùng miền Bắc, Trung, Nam.  Chọn vào trường những học sinh xuất sắc toàn diện hoặc có năng khiếu vượt trội về một môn của khoa học tự nhiên hay xã hội ở bậc trung học sơ sở.  Học sinh của trường được học tập toàn diện, được học tốt về tiếng Việt và tiếng Anh. Các em có năng khiếu vượt trội sẽ được sinh hoạt câu lạc bộ hợp với năng khiếu đó do các thầy cô giỏi dẫn dắt.   Mô hình “trường chọn không chuyên” này đã thành công ở nhiều quốc gia. Theo tôi, nó phù hợp hơn với xu thế chung toàn cầu, với sự thay đổi của môi trường sống và thế giới quanh ta, và có thể với cả nguyện vọng của phần lớn các gia đình có con cái có năng khiếu đặc biệt. Lấy thí dụ hai đồng nghiệp nước ngoài trong ngành học máy và khai phá dữ liệu của chúng tôi, một lĩnh vực sôi động của công nghệ thông tin với nền tảng từ nhiều chuyên ngành toán học: giáo sư Zhi-Hua Zhou ở Đại học Nam Kinh và giáo sư Masashi Sugiyama ở Đại học Tokyo. Họ đều còn khá trẻ, hoàn toàn được đào tạo ở Trung Quốc và Nhật Bản. Theo quan sát của tôi, trong lĩnh vực của mình, hiện họ là người có uy tín trên thế giới cũng như xuất sắc nhất ở nước họ trong vòng ba bốn chục năm qua. Giáo sư Zhou học phổ thông ở “trường điểm” của tỉnh (trường được xếp thứ hạng cao nhất tỉnh và học sinh được chọn qua thi tuyển), nơi không tổ chức theo các lớp chuyên. Giáo sư Sugiyama cũng học ở một trường trung học phổ thông có thứ hạng cao nhất tỉnh Chiba, nơi cũng không có các lớp chuyên. Tôi tin rằng những nhà khoa học xuất sắc của ta đã trưởng thành từ các lớp chuyên cũng sẽ đạt được thành tựu đã có nếu họ học trong các “trường chọn không chuyên”.  Với nhiều ưu điểm hơn so với mô hình “trường chuyên lớp chọn”, mô hình “trường chọn không chuyên” phải chăng nên được xem xét cẩn thận, đánh giá và lựa chọn cho chặng đường tiếp theo của giáo dục nước nhà?         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình trường học 1USD ở Nepal      Uttam Sanjel bắt đầu thành lập hệ thống trường học xây dựng bằng tre với cái tên Samata Shiksha Niketan ở thủ đô Kathmandu từ năm 2001. Samata Shiksha Niketan có nghĩa là “giáo dục cho mọi người” với chi phí học tập thuộc loại thấp kỷ lục: chỉ 100 Rupi Nepal/ học sinh/ tháng (1,35 USD).    Một nền giáo dục tốt là giấc mơ xa vời đối với nhiều người dân Nepal. Nepal có tỉ lệ người trưởng thành biết chữ chưa tới 50%. Hiện nay quốc gia này có khoảng 7 triệu người ghi danh theo học ở các bậc tiểu học và trung học, nhưng chỉ có 1 trong số 4 trẻ em học tới lớp 10, tỉ lệ học sinh bỏ học cao, đặc biệt là học sinh nữ. Bấp chấp việc Nepal đã chi tới 17% GDP cho giáo dục, hệ thống trường công ở đất nước này hãy còn rất nghèo nàn, giáo viên đã được đào tạo còn thiếu và yếu.   Nạn tham nhũng lan rộng và chính trị hoá trường học được cho là những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên. Quy chế bổ nhiệm giáo viên bị ảnh hưởng bởi các đảng phái chính trị, trong khi các khoản chi ngân sách thì được quản lý một cách yếu kém.     Tuy nhiên, hiện nay đang có một người đi tiên phong trong sứ mạng quét sạch nạn mù chữ ở Nepal bằng sáng kiến xây dựng trường tư chi phí thấp. Vào năm 2001, Uttam Sanjel bắt đầu thành lập hệ thống trường học xây dựng bằng tre với cái tên Samata Shiksha Niketan ở thủ đô Kathmandu. Samata Shiksha Niketan có nghĩa là “giáo dục cho mọi người”. Trường có chi phí học tập thuộc loại thấp kỷ lục: chỉ 100 Rupi Nepal/ học sinh/ tháng (1,35 USD).    Hệ thống trường Samata Shiksha Niketan do Uttam Sanjel xây dựng được đánh giá là chuỗi trường giáo dục ngoài công lập lớn nhất Nepal với 19 trường học, thu hút hơn 25.000 học sinh từ mẫu giáo đến lớp 12. Năm 2010, trong tất cả số học sinh thi tốt nghiệp lấy chứng chỉ ra trường, đã có 80% học sinh đỗ. Uttam Sanjel đang lên mục tiêu đầy tham vọng là mở ít nhất là một trường Samata tại mỗi quận trong tổng cộng 75 quận của Nepal.     Ý tưởng đặc biệt này của Uttam đã nhận được các khoản hỗ trợ từ nhiều doanh nhân địa phương, người nước ngoài, nhà ngoại giao và các tổ chức từ thiện nước ngoài. Các khoản tài trợ này chiếm tới 75% ngân sách hoạt động. Uttam khẳng định rằng ông đang tự mình điều hành 19 trường học dựa trên số ngân sách 250.000 USD tiền quyên góp/năm. Khoảng một nửa số giáo viên của Uttam là các tình nguyện viên và họ đã có công việc dạy học chính ở các trường khác.    Vấn đề lớn nhất của Uttam là chỉ có một mình ông đứng ra cáng đáng mọi việc. Mỗi tháng, Uttam kiểm tra tài khoản ngân hàng để xem liệu đã đủ tiền để trả lương cho các giáo viên tận tâm của mình chưa. Và nhiều khi ông không đủ tiền. Các giáo viên rất thông cảm vì điều đó, nhưng để đầu tư giáo dục cho 25.000 trẻ em thì quả là mạo hiểm, đặc biệt là Uttam vẫn đang lên kế hoạch cho những dự án mới: thành lập một trường đại học và một bệnh viện, cả hai đều sẽ được xây dựng bằng tre.     Thanh Hải lược dịch    Nguồn: http://www.aljazeera.com/programmes/101east/2012/10/20121015175122492927.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình tự chủ đại học của Trung Quốc      Tự chủ đại học giờ đây được xem là một ưu tiên trong tiến trình cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc. Tuy nhiên đây là một quá trình tự chủ trong khuôn khổ, các cơ quan quản lý vẫn giữ lại một số quyền quyết định quan trọng về nhân sự và tài chính.      Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh là hai đại học tự chủ ở Trung Quốc và cũng là những trường được đầu tư nhiều nhất trong Đề án 985 (mỗi trường nhận 1,8 tỷ NDT). Ảnh: Nhóm nghiên cứu của GS Kang Feiyu (ĐH Thanh Hoa) đã giành được Giải thưởng Shenzhen 2019 nhờ nghiên cứu liên quan đến pin lithium ion, thúc đẩy sự phát triển của công nghệ chế biến sâu than chì tự nhiên của Trung Quốc.  Nguồn: Tsinghua University  Cho đến những năm 1950, mô hình giáo dục đại học Trung Quốc chịu sự kiểm soát chặt chẽ và toàn diện của Nhà nước, trong đó mối quan hệ giữa chính phủ và trường đại học mang tính một chiều “từ trên xuống”. Chính quyền trung ương chịu trách nhiệm hoạch định chính sách giáo dục đại học, phân bổ nguồn lực, kiểm soát việc quản lý, điều động cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, phát triển chương trình dạy học, lựa chọn giáo trình, tuyển sinh và phân công công việc cho sinh viên tốt nghiệp. Trong những năm 1960, Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý hoạt động của các trường đại học, bao gồm cả thiết kế và phê duyệt giáo trình. Việc thành lập, thay đổi và hủy bỏ các chương trình giảng dạy đều phải được sự chấp nhận của Bộ.    Bước sang thập kỷ 1980, cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa chính phủ và trường đại học Trung Quốc cũng chuyển biến đáng kể. Năm 1985, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua Quyết định Cải cách hệ thống Giáo dục tại Hội nghị Giáo dục Quốc gia, trong đó tự chủ đại học được xem là một ưu tiên.     Chính phủ nới lỏng kiểm soát     Năm 1993, Chương trình Cải cách và Phát triển Giáo dục ở Trung Quốc được ban hành để tái khẳng định thông điệp của Quyết định năm 1985, rằng chính phủ sẽ không trực tiếp kiểm soát hoạt động giáo dục, thay vào đó, sẽ trao quyền tự chủ nhiều hơn cho tất cả các trường đại học và đóng vai trò là người hỗ trợ.      Như đánh giá của UNESCO, có thể hiểu, tổ chức đảng chính là hội đồng quản trị của trường đại học công lập ở Trung Quốc.      Do đó, trong hai thập kỷ qua, các trường đại học và chính phủ Trung Quốc tiếp tục đổi mới để trao cho các trường đại học có sự tự chủ nhiều hơn, đồng thời bắt đầu từ bỏ vai trò độc quyền và tạo điều kiện cho các khu vực ngoài nhà nước tham gia nhiều hơn vào giáo dục đại học. Trách nhiệm xây dựng chính sách và kế hoạch phát triển dài hạn cho từng trường đại học được giao vào tay hiệu trưởng, bao gồm thiết kế kế hoạch dạy học, tổ chức các khoa, bộ môn, lựa chọn giáo trình và tổ chức các hoạt động dạy học. Tương tự, các phòng ban cũng có quyền chủ động hơn trong giảng dạy, nghiên cứu, nhân sự và phân bổ nguồn lực.    Thay đổi này đã nhanh chóng mang lại kết quả giúp các trường tạo ra các chương trình giảng dạy, thành lập các ngành học phù hợp với thực tiễn, qua đó kịp thời đáp ứng nhu cầu của người học với số lượng sinh viên gia tăng nhanh chóng. Một minh chứng là ở Đại học Sư phạm Hoa Đông (ECNU), một trong 36 đại học được xếp hạng A trong kế hoạch hạng nhất kép (Double First-class) ở Trung Quốc, từ tổng số 7.233 sinh viên năm 1995 lên 12.348 sinh viên năm 2000, 19.424 sinh viên năm 2005 và 25.548 sinh viên năm 2011. Số lượng sinh viên sau đại học tăng nhanh hơn so với sinh viên đại học kể từ năm 2000.     Tự chủ tài chính: vẫn được Nhà nước tài trợ mạnh tay     Nhờ tăng số lượng sinh viên và được chủ động trong việc tìm kiếm các đề tài nên các trường như ECNU đã có thể chủ động tăng thêm nguồn kinh phí hoạt động, tuy nhiên không vì thế mà đầu tư và hỗ trợ của Nhà nước giảm xuống. Đến nay, ngân sách của chính phủ trực tiếp rót vào ECNU vẫn chiếm khoảng một nửa chi phí hoạt động thường xuyên (khoảng 1.520 triệu NDT), trong đó tài trợ của chính quyền trung ương và chính quyền thành phố lần lượt chiếm 32,1% và 18,6% trong năm 2008. Còn lại, khoản thu khác đến từ nhiều nguồn khác nhau: Học phí, đào tạo và các dự án tư vấn mang lại khoảng 345 triệu NDT (học phí của sinh viên và thu nhập tạo ra từ các chương trình đào tạo chiếm khoảng 24% tổng nguồn vốn – với mỗi sinh viên phải nộp khoản học phí hàng năm khoảng 5.000 NDT); Các hợp đồng nghiên cứu lên tới khoảng 279 triệu NDT; Văn hóa gây quỹ và quyên góp chỉ mới bắt đầu hình thành nên với tổng số tiền quyên góp cho nhà trường mới chỉ đạt khoảng 10 triệu Nhân dân tệ vào năm 2006, một con số không đáng kể.      Đại học Sư phạm Hoa Đông (ECNU) hiện có hai Phòng thí nghiệm Trọng điểm quốc gia, một Trạm Nghiên cứu và Quan sát Thực địa Quốc gia, sáu phòng thí nghiệm – trung tâm kỹ thuật trọng điểm, và sáu cơ sở nghiên cứu chính về khoa học xã hội và nhân văn của Bộ Giáo dục. Ảnh: Nhóm nghiên cứu do GS Wu Peng và PGS Xu Hao (trường Hóa học và Kỹ thuật Phân tử, ECNU) đứng đầu đã phát triển thành công vật liệu sàng phân tử ECNU-21 với cấu trúc hoàn toàn mới. Nguồn: ECNU  Tuy nhiên, các nguồn tài trợ “gián tiếp” của nhà nước thông qua các chương trình, đề án vẫn rất lớn. Kể từ năm 2009, Bộ đã chủ trương quyên góp cho các cơ sở giáo dục đại học thuộc sở hữu nhà nước thông qua các khoản tài trợ phù hợp, phù hợp với phương pháp quản lý của địa phương. Nhờ đó, số tiền cho ECNU đã tăng từ 4 triệu NDT vào năm 2008 lên 40 triệu NDT vào năm 2009 và 80 triệu NDT vào năm 2010. Đáng chú ý, chính quyền trung ương và thành phố đã ký một thỏa thuận chung đầu tư 800 triệu NDT vào ECNU thông qua Đề án 9851 về “Thúc đẩy các trường đại học đẳng cấp thế giới của Trung Quốc” trong giai đoạn 2010-2013. Ngoài ra, ECNU cũng là trường được lựa chọn tài trợ trong Dự án 211, một dự án trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu của các trường đại học ở Trung Quốc2.     Tự chủ về cơ cấu tổ chức: cải tổ nhưng trong khuôn khổ     Luật Giáo dục Đại học năm 1998 cho phép các trường đại học công lập quyền thay đổi cơ cấu tổ chức của họ, chính vì vậy mà các trường đã tiến hành cải tổ, nhằm huy động các nguồn lực từ cả chính phủ và thị trường. Nhờ đó, các trường đã có thể cho thành lập các quỹ phát triển và các trung tâm hợp tác giáo dục với quốc tế, bên cạnh đó là sự ra đời của các bộ phận quan hệ công chúng, các hiệp hội cựu sinh viên, nhằm ghi nhận tầm quan trọng của các nguồn lực ngoài nhà nước, bao gồm các khoản đóng góp từ những cựu sinh viên và toàn xã hội. Các văn phòng giáo dục quốc tế được thành lập với mục đích quản lý các sinh viên quốc tế, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế.    Các trường cũng chủ động xây dựng các ủy ban chuyên môn nhằm thể chế hóa hệ thống quản lý nội bộ, như hội đồng đại học, ủy ban học thuật, ủy ban bằng cấp, ủy ban giảng dạy, ủy ban giáo sư, tạo ra sự cân bằng giữa quyền lực và trách nhiệm giữa các giảng viên, cũng như bảo vệ quyền tự chủ của các chương trình học thuật trong tương lai.    Quyền tự chủ về nhân sự được thể hiện ở việc các trường tự quyết định hợp đồng với các giảng viên, được chuyển từ hợp đồng dài hạn sang hợp đồng có thời hạn nhằm đòi hỏi các giảng viên và nhà nghiên cứu trong trường luôn cố gắng đảm bảo các chỉ tiêu đề ra chứ không phải “an phận” với tiêu chuẩn vị trí việc làm trọn đời như trước.     Tuy nhiên, năm 2000, một cuộc khảo sát với sự tham gia của các giáo sư và phó giáo sư từ hơn 200 trường đại học đã cho thấy, chỉ 55% người được hỏi cho rằng các cơ sở của họ được chủ động hơn trong việc tuyển dụng giảng viên. Đa số người được hỏi tin rằng họ thiếu quyền tự chủ trong thăng chức hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ chủ chốt (55%), tuyển dụng chuyên viên cấp cao, trưởng bộ phận (52%).      Đại học Thiên Tân là một trường tự chủ và tham gia Đề án 211 rất sớm, nhằm thực hiện “Kế hoạch hành động đổi mới nền giáo dục thế kỷ 21”. Cuối năm 2000, Bộ Giáo dục và thành phố Thiên Tân đã ký một thỏa thuận nhằm xây dựng Đại học Thiên Tân trở thành trường đại học hàng top trên thế giới. Ảnh: Các sinh viên quốc tế của Đại học Thiên Tân. Sinh viên trường này đã nhận được Học bổng Chính phủ Trung Quốc 2020 mang tên “Chương trình con đường tơ lụa”. Ảnh: Tianjin University.       Đến nay, tình trạng nêu trên có thể đã được cải thiện phần nào, với việc các trường có thể dễ dàng thiết lập các chương trình tiến sĩ, đánh giá học giả và nhà quản lý, bổ nhiệm trưởng khoa và trưởng phòng, điều chỉnh các phòng ban. Nhưng nhìn chung, việc sa thải một giảng viên vẫn cực kỳ hiếm gặp ở các trường đại học Trung Quốc. Đặc biệt, các trường vẫn chịu sự kiểm soát trực tiếp từ Bộ giáo dục và các cơ quan chức năng trong việc bổ nhiệm những vị trí chủ chốt như Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng.     Vai trò giám sát sát của Đảng và các cấp chính quyền     Chính phủ cho rằng kinh nghiệm từ các trường đại học phương Tây cho thấy, đa dạng hóa các nguồn tài trợ có thể gia tăng quyền tự chủ, nhưng nó cũng có thể kéo theo các rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là với nguồn tài trợ từ doanh nghiệp hoặc tư nhân nên vẫn cần có sự giám sát, điều chỉnh, bao gồm từ cả chính quyền trung ương và địa phương. Ví dụ, ECNU từng trực thuộc Bộ Giáo dục (từ năm 1951 đến năm 2005) và chịu sự quản lý của chính quyền trung ương nhưng kể từ năm 2006, sự kiểm soát độc tôn này đã được thay thế bằng một thỏa thuận quản lý chung giữa chính quyền trung ương và thành phố Thượng Hải – nghĩa là thay vì chỉ chịu sự quản lý của chính quyền trung ương, nay nhà trường phải đặt dưới sự giám sát của cả chính quyền trung ương và thành phố.  Chính quyền Thượng Hải gánh một phần gánh nặng tài chính cho ECNU. Đổi lại, trường đại học phải đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của Thượng Hải.  Thị trường đã trở thành yếu tố thứ ba chen vào giữa mối quan hệ giữa trường đại học và chính phủ. Tuy nhiên, thị trường đôi lúc có thể điếc và mù và làm mất đi tính công bằng trong giáo dục nên nhà nước vẫn phải đóng vai trò đảm bảo công bằng. Vì vậy chính quyền trung ương trở thành một “nhà quản lý thị trường” và chuyển vai trò từ kiểm soát sang giám sát thị trường. Để đảm bảo trách nhiệm giải trình, Bộ Giáo dục đã thành lập các cơ quan hỗ trợ nhằm đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học (Bộ Giáo dục thành lập Trung tâm Đánh giá Giáo dục Đại học HEEC vào tháng 8 năm 2004, đánh dấu giai đoạn mới của một hệ thống đánh giá chuyên nghiệp về giáo dục đại học ở Trung Quốc).    Về mặt cơ cấu tổ chức, Hiệu trưởng có quyền quản lý độc lập, nhưng dưới sự giám sát của Đảng. Các lãnh đạo bao gồm Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy do Bộ Giáo dục bổ nhiệm. Các Hiệu phó và Phó bí thư Đảng ủy cũng do Bộ bổ nhiệm theo đề xuất của Hiệu trưởng và Bí thư Đảng ủy.    Cơ chế quản lý ở các trường đại học công lập Trung Quốc có thể hình dung ngắn gọn qua câu “Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành nhà trường, dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Như đánh giá của UNESCO trong Báo cáo “Cải cách giáo dục đại học: trường hợp của Trung Quốc”, có thể hiểu, tổ chức đảng chính là hội đồng quản trị của trường đại học công lập ở Trung Quốc. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc điều hành. Cơ cấu tổ chức trong trường chia làm các ủy ban khác nhau, nhưng tách thành hai hệ thống riêng rẽ: dưới sự quản lý của Hiệu trưởng và dưới sự quản lý của Đảng. Dù hai bên đã đưa ra những quy tắc đảm bảo sự hợp tác giữa hai hệ thống, nhưng đã có một số báo cáo cho thấy giữa hai thiết chế này vẫn chưa hoàn toàn khớp nối trơn tru.  ***  Như vậy, với quyền tự chủ trên một số phương diện, đặc biệt có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ khu vực Nhà nước, các trường đại học Trung Quốc đã đạt được những kết quả ấn tượng nhất định, thể hiện qua số lượng đào tạo đại học và sau đại học, các kết quả nghiên cứu và hợp tác quốc tế về chuyên môn, cùng một số nền tảng cho quyền tự chủ về học thuật. Tuy nhiên, mô hình tự chủ của các trường đại học này vẫn nằm trong khuôn khổ và có sự giám sát chặt chẽ từ bên trên đối với các nhân sự quản lý cấp cao nhất. Chúng ta vẫn cần thêm thời gian để đánh giá liệu những thành công trong tự chủ đại học ở Trung Quốc có thực sự bền vững hay không.□     Anh Thư  tổng hợp  Nguồn tham khảo:  Báo cáo “Cải cách giáo dục đại học: trường hợp của Trung Quốc” của UNESCO, năm 2014. Nguồn: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000231858  Báo cáo “Trao quyền tự chủ cho các các đại học ở châu Á” của UNESCO, năm 2014. Nguồn: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000229831  Ratanawijitrasin S. (2015) The Evolving Landscape of South-East Asian Higher Education and the Challenges of Governance. In: Curaj A., Matei L., Pricopie R., Salmi J., Scott P. (eds) The European Higher Education Area. Springer, Cham. https://doi.org/10.1007/978-3-319-20877-0_15   Li Lixu Shandong Normal, China’s Higher Education Reform 1998-2003: A Summary University, Asia Pacific Education Review, 2004, Vol. 5, No. 1, 14-22. https://web.archive.org/web/20100623215250/http://eri.snu.ac.kr/aper/pdf/Vol%205%20No%201%20July%202004%20PDF/02.Li%20Lixu.pdf   ——  1 Ra đời vào năm 1998 theo quyết định của Chủ tịch kiêm Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Đề án quyết định cả chính phủ và các chính quyền địa phương tập trung phân bổ số tiền lớn một số trường đại học trọng điểm để xây dựng các trung tâm nghiên cứu mới, cải thiện cơ sở vật chất, tổ chức các hội nghị quốc tế, thu hút các giảng viên nổi tiếng thế giới và các học giả tham quan, đồng thời giúp các giảng viên Trung Quốc tham dự các hội nghị ở nước ngoài . Theo Academic Ranking of World Universities 2018/19 và Times Higher Education 2019/20, hầu hết trong số 39 trường đại học trong Đề án 985 đều thuộc top 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Project_985  2 Đây là một dự án dành cho 116 trường đại học đạt tiêu chuẩn, với khoản đầu tư trong giai đoạn 1996 đến 2000 vào khoảng 2,2 tỉ USD. Tuy nhiên trong báo cáo “Cải cách giáo dục đại học: trường hợp của Trung Quốc” của UNESCO không cho biết số tiền tài trợ mà ECNU nhận được là bao nhiêu. Nguồn: https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/east-china-normal-university ; https://www.chinaeducenter.com/en/cedu/ceduproject211.php  https://en.wikipedia.org/wiki/Project_211    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở ra ô cửa mới      Trao đổi với PV của tạp chí Tia Sáng, TS. Pierre Lesaffre, nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp hiện đang làm việc tại phòng thí nghiệm LERMA, Đài thiên văn Paris – một trong những trung tâm thiên văn lớn nhất trên thế giới – đã chia sẻ một số cảm nhận về triển vọng sinh viên Việt Nam theo học chương trình đào tạo thạc sĩ khoa Vũ trụ và Ứng dụng tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội.      Ông cho biết năm nay khoa đặt chỉ tiêu tuyển khoảng 15 em, và tới nay đã có khoảng 20 – 30 em quan tâm gửi hồ sơ đăng ký học. Tất cả những sinh viên này sẽ phải vượt qua kỳ phỏng vấn để được nhận vào học. Do nội dung chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh nên toàn bộ nội dung phỏng vấn cũng được thực hiện bằng tiếng Anh, và đây được coi là một nhược điểm cơ bản của nhiều sinh viên Việt Nam. Là một cán bộ giảng dạy tại khoa trong năm học tới, TS Lesaffre đã trực tiếp tham gia phỏng vấn khoảng 12 người, và ông nhận thấy rằng có tới một nửa trong số này có trình độ ngoại ngữ khá hạn chế. Tuy nhiên, ông cho biết trình độ chuyên môn khoa học của các em nhìn chung đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của trường. Trong số 12 người đã qua phỏng vấn, ông đánh giá có khoảng 10 người đủ khả năng được nhận vào học.  Trong những năm học tới, dự kiến số lượng sinh viên đủ tiêu chuẩn theo học sẽ được nâng lên, do có khả năng sẽ tiếp nhận một số cử nhân do chính Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (Đại học KHCNHN) đào tạo ra, và một phần khác là do thông tin về khoa được phổ biến rộng rãi hơn.  Khóa học sẽ trang bị cho các sinh viên này những kiến thức cơ bản để họ có thể theo đuổi một trong hai con đường sự nghiệp, một là trở thành chuyên gia kỹ thuật và được nhận bằng Thạc sĩ ngành kỹ sư vũ trụ, hai là đi theo con đường mang tính học thuật nhiều hơn và được nhận bằng Thạc sĩ ngành Khoa học vũ trụ và Ứng dụng. Điều khiến TS Lesaffre ngạc nhiên là qua phỏng vấn cho thấy số lượng sinh viên mong muốn theo đuổi con đường ứng dụng kỹ thuật và con đường học thuật thuần túy là khá đồng đều nhau.   Đội ngũ giảng viên tới làm việc tại khoa hằng năm dự kiến sẽ có khoảng 20 người Pháp, 3 người Việt, tất cả đều phải có bằng tiến sĩ cấp bởi một quốc gia có nền khoa học tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, v.v. Trưởng khoa là TS Yannick Giraud– Héraud, giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp. Trường Đại học KHCNHN có lợi thế đặc biệt do được những giảng viên từ các đại học của Pháp tới giảng dạy tại trường theo chương trình hợp tác giữa 2 chính phủ. “Đích thân Bộ trưởng Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp chỉ định 50 trường liên kết hỗ trợ gửi giảng viên tới Đại học KHCNHN, trong đó có những trường hàng đầu của Pháp, TS Lesaffre cho biết. Trong bối cảnh cơ sở vật chất của khoa nói riêng và Đại học KHCNHN nói chung còn rất hạn chế, thì mối quan hệ hợp tác như trên là rất cần thiết, vì sẽ giúp các sinh viên của trường được tạo điều kiện sang Pháp đi thực tập ở những phòng thí nghiệm hiện đại.  Mục tiêu đào tạo mà khoa Vũ trụ và Ứng dụng đặt ra là đào tạo được những thạc sĩ đủ năng lực để làm việc tại các cơ sở ứng dụng công nghệ vũ trụ, hoặc tiếp tục theo đuổi chuyên sâu vào con đường học thuật tại các chương trình đào tạo tiến sĩ của Pháp và các nước có nền khoa học vũ trụ tiên tiến. Kết thúc mỗi khóa học tại khoa, khoảng 10 người giỏi nhất sẽ được gửi đi thực tập tại Pháp.   Nguyễn Hữu Quang, thư ký Khoa Vũ trụ và Ứng dụng, cho biết rằng ngoài những lớp đào tạo chuyên môn khoa học kỹ thuật, các sinh viên của khoa còn bắt buộc phải học một số môn xã hội có mối liên quan mật thiết với sự nghiệp của họ sau này, dù đó là sự nghiệp mang tính ứng dụng hay học thuật, bao gồm: quản trị dự án, quản trị doanh nghiệp và tổ chức, quản trị nhân lực, và tài chính.   Cũng theo Quang, ở Đại học KHCNHN tuyệt đối không có sự thỏa hiệp. Các sinh viên phải thi theo đúng tiêu chuẩn đào tạo của Pháp, nếu thi không qua sẽ phải thi lại, và nếu thi lại không qua sẽ phải học lại. Tuy nhiên, đến nay đa số các nghiên cứu sinh thạc sĩ của trường đều nỗ lực quyết tâm, chỉ có 10% có môn phải thi lại, và chưa từng có ai phải học lại.  TS Lesaffre nhìn nhận rằng trong tương lai gần, nhu cầu sử dụng nhân lực được đào tạo từ khoa Vũ trụ và Ứng dụng sẽ gia tăng. Những vấn đề nóng bỏng trong thực tế như tranh chấp biển đảo và giám sát đánh bắt cá trên biển Đông, giám sát biến động môi trường nông thôn và đô thị, giám sát và dự đoán ảnh hưởng biến đổi khí hậu, tất cả đều đòi hỏi không chỉ sự đầu tư về công nghệ, thiết bị, mà cả một nguồn nhân lực đáng kể được đào tạo bài bản về ứng dụng công nghệ vũ trụ. Việt Nam sẽ không chỉ cần những người biết sử dụng các trang thiết bị mà còn cần cả những người có năng lực về phân tích, đánh giá dữ liệu do vệ tinh cung cấp.   Tuy nhiên, do năm nay sẽ là năm đầu tiên khởi động chương trình thạc sĩ khoa Vũ trụ và Ứng dụng nên TS Lesaffre cho rằng chưa có căn cứ xác thực để dự đoán được mức độ thành công cua chương trình. Thách thức lớn nhất mà ông đặt ra cho mình là làm sao cung cấp được những bài giảng phù hợp cho tất cả mọi sinh viên dù họ khởi đầu với những khác biệt về trình độ, năng lực. Ông mong muốn sẽ đem lại niềm vui cho tất cả mọi sinh viên vào ngày cuối khóa học, cho dù họ khởi điểm rất khác nhau.  PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỗi chúng ta là một thiên tài?      Khoa học chứng minh rằng mỗi con người đều  sở hữu trong mình những tiềm năng thể chất và trí tuệ vô tận nhưng chỉ  mới thực sự sử dụng một phần rất nhỏ những gì chúng ta có. Nói khác đi,  con người đang bỏ phí rất nhiều những khả năng tiềm ẩn của chính mình.    Thế nhưng bạn đừng nhầm tưởng thiên tài là bẩm sinh hay có những người sinh ra đã mang gene kém cỏi. Bằng những phân tích khoa học tỉ mỉ, qua cuốn sách Thiên tài trong mỗi chúng ta*, David Shenk đã bác bỏ quan niệm sai lầm ngự trị lâu đời: Gene là khuôn mẫu quy định tài năng và trí thông minh của con người. Ông chỉ ra rằng: Sự khác biệt về di truyền đóng vai trò quan trọng, nhưng bản thân các gene lại không quyết định đặc điểm cơ thể và hành vi cá nhân. Thực ra, số phận của chúng ta là sản phẩm của sự tương tác năng động giữa gene và môi trường.   Giống như những bí mật được bật mí trong cuốn Những kẻ xuất chúng Malcolm Gladwell, chính việc luyện tập kiên trì và khoa học sẽ mang đến sự hoàn hảo! Điều này được chứng minh bằng hàng ngàn giờ luyện tập của các thiên tài âm nhạc Wolfgang Mozart, Yo-Yo Ma, các siêu sao thể thao Tiger Woods, Michael Jordan và cả các tài xế taxi tuyệt vời ở London.   Viết về khoa học di truyền bằng ngôn ngữ phân tích rõ ràng và những minh chứng sinh động, David Shenk đã đem đến một thông điệp mang tính cách mạng về sự thành đạt của con người. Ông đã thuyết phục được hàng triệu độc giả, các bậc phụ huynh, nhà giáo dục, những người hoạch định chính sách và làm thay đổi cuộc đời của rất nhiều đứa trẻ trên thế giới chỉ bằng một công thức đơn giản:   Gene x Môi trường = Tài năng  Chỉ có gene thôi là không đủ, con người muốn tài năng và thành công thì cần phải có môi trường, cần sự rèn luyện kiên trì không mệt mỏi…  Bạn hoàn toàn có thể cao lớn hơn, thông minh hơn, tài năng hơn và thành công hơn.   Hãy thử tin tưởng và vận dụng công thức này để thay đổi cuộc đời bạn!. . .  Thiên tài trong mỗi chúng ta là bestseller của Thời báo New York, London Guardian BookShop, ABA IndieBound, và lọt vào danh sách Festival Ý tưởng Sách tốt nhất Bristol năm 2011. Chúng tôi tin rằng, bạn đọc từng yêu thích và say mê Những kẻ xuất chúng hẳn sẽ yêu thích và tìm được những điều bổ ích cho mình trong cuốn sách này.  —-  * Thiên tài trong mỗi chúng ta: Khám phá mới về gene, tài năng và IQ của David Shenk, Hoàn Lê dịch, AlphaBooks và NXB Thế giới ấn hành quý III/2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mời gọi lên đường      Giáo dục luôn có nghĩa là sự khởi hành để thực hành việc lập luận, lý luận mang tính suy lý, cân nhắc giữa những chủ thuyết khác nhau cùng với lý lẽ biện minh hoặc phản bác chúng.    “Ta thấy những kiến thức mà trong những thời đại trước đây, tinh thần lão luyện của bao người đã phải dày công nghiên cứu, nay được hạ thấp xuống thành những thông tin, bài tập, thậm chí trò chơi của tuổi ấu niên. Trong sự tiến bộ này của nền giáo dục, ta có thể nhận ra lịch sử của việc đào tạo văn hóa (Bildung) của toàn thế giới được tái hiện lại ở những nét phác thảo”.  Không bàn ở đây về sự tương đồng giữa sự sinh triển của cá thể (ontogenesis) với sự sinh triển của của cả giống loài (polygenesis), nhận định trên đây của Hegel trong tác phẩm bất hủ “Hiện tượng học Tinh thần” cho ta biết thêm một kích thước cốt lõi khác trong quan niệm về “giáo dục” (Bildung) trong truyền thống duy tâm Đức: sự tương tác giữa cái tôi cá nhân và toàn bộ thế giới hay giữa cái chủ quan và cái khách quan, trong di sản tư tưởng của Humboldt và Hegel.  DI SẢN CỦA HUMBOLDT VÀ HEGEL  W. V. Humboldt gọi “giáo dục” (Bildung) là “sự tương tác tổng quát nhất, mãnh liệt nhất và tự do nhất giữa cá nhân và thế giới”. Tiến trình giáo dục thành công là hấp thu “thế giới” càng nhiều càng tốt. Vậy, “thế giới” là gì? Theo ông, thế giới là cái “trung tâm không định nghĩa được” mà mọi ngôn ngữ, mọi nền văn hóa đặc thù đều hướng tới. Không một ngôn ngữ, văn hóa đặc thù nào có thể nắm bắt thế giới một cách toàn vẹn. Chỉ có những viễn tượng văn hóa khác nhau và sự “phiên dịch” thực tại bằng nhiều cách mới tiếp cận được thế giới muôn màu. Như thế, đến với thế giới không phải là đến với một loại đối tượng nào đó ở bên ngoài ta mà là nắm bắt ý nghĩa phổ quát của nó, vượt ra khỏi chân trời và văn cảnh hạn hẹp của riêng ta. Theo nghĩa ấy, Bildung khác với “học hỏi” chỉ tập trung vào sự tương tác cá nhân với môi trường khép kín của chính mình. Với tư cách cá nhân là nhà ngôn ngữ, Humboldt đề xướng môn ngữ học so sánh và dịch thuật liên-văn hóa.  Thứ hai, Bildung cũng khác với việc chỉ tôn sùng nỗ lực “tự quy”, “phát triển bản ngã”, nếu việc làm này không đan quyện với chân trời rộng mở của “thế giới ý nghĩa phổ quát”. Thế nhưng, làm sao tiếp cận với những nội dung mang tầm vóc “thế giới” có giá trị phổ quát? Hegel mang lại nhiều câu trả lời cho đề án phác thảo còn khá sơ sài này của Humboldt.  Hegel phân biệt Bilung theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, Bildung là chặng đường đặc thù trong sự phát triển của tinh thần cá nhân. Cá nhân dần dần không còn bận tâm với từng sự việc hay từng con người riêng lẽ mà với cả hệ thống những niềm tin và quy phạm của cộng đồng đặc thù nơi mình sinh sống. Tiến trình Bildung là tiến trình vượt qua việc xem hệ thống ấy là đương nhiên, không cần tra hỏi. Một khi biết xem những niềm tin, quy phạm ấy là thuộc (tinh thần) khách quan cần phải xem xét, đánh giá chính là vượt khỏi sự ngây thơ “chủ quan”, xóa bỏ tính trực tiếp và ngoại tại của chúng. Cá nhân biết tương tác với chúng là đạt tới sự “tồn tại-cho-mình”, tức như một chủ thể có năng lực thấu hiểu, diễn giải, biện minh hoặc phê phán chúng.  Còn theo nghĩa rộng, Bildung là tên gọi khác của toàn bộ tiến trình đào luyện và phát triển của tinh thần nói chung. Đó là tiến trình thường xuyên tự phân hóa, tự phê phán, vươn lên những cấp độ cao hơn qua nhiều chặng đường trung gian ngày càng phức tạp. Bildung là tiến trình “khách quan hóa” cái tôi trong những người khác, trong các niềm tin tập thề, để rút cục nhận ra chính mình trong những thành tựu khách quan ấy một cách tỉnh táo và có phê phán.  Giáo dục là hoạt động tinh thần. Nói đơn giản, đó là việc tập hợp và phân loại sự vật, sự việc dựa trên những chỗ giống nhau và khác nhau của chúng để xây dựng những khái niệm thích đáng. Tập hợp và phân biệt là tìm ra chỗ giao thoa giữa những gì là đúng đắn, có giá trị khách quan và thể hiện trong những phán đoán. Phán đoán chỉ đúng khi chúng được biện minh bằng những luận cứ được những người có lý trí đồng tình chấp nhận. Nói khác đi, những phán đoán, nhận định đúng đắn nhất thiết vượt ra khỏi bối cảnh hẹp hòi nhỏ hẹp của môi trường văn hóa xã hội đặc thù, tạo nên được cái “không gian lô gíc phổ quát”. Không gian phổ quát ấy đồng nghĩa với thuật ngữ kinh điển: “thế giới”.  ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ CỦA “BILDUNG”  Ví công cuộc đào luyên văn hóa với cuộc chơi lớn, điều kiện tiên quyết là để cho mọi người được tham gia cuộc chơi một cách bình đẳng. Yêu cầu có vẻ hiển nhiên ấy, trong thực tế, bị vi phạm liên tục, nhất là với trẻ em và người trẻ tuổi khi họ là nạn nhân của lối giáo dục nhồi sọ. Họ thường không được khuyến khích, thậm chí, ngăn cấm thẩm tra những khẳng định, quy phạm trong sách giáo khoa, trong niềm tin tập thể. Nói theo ngôn ngữ Hegel, họ không có cơ hội “khách quan hóa” trước khi thật sự “nội tâm hóa” những khẳng định, niềm tin bị nhồi nhét ấy.  Do đó, giáo dục luôn có nghĩa là sự khởi hành. Khởi hành để đi về đâu? Không phải để đi đến những hệ thống kiến thức và niềm tin đặc thù, hạn hẹp, trái lại, là lên đường thực hành việc lập luận, lý luận mang tính suy lý, cân nhắc giữa những chủ thuyết khác nhau cùng với lý lẽ biện minh hoặc phản bác chúng.  Cuộc “khởi hành suy lý” ấy là điều kiện cần, nhưng chưa phải điều kiện đủ nếu thiếu động cơ và tư thế thích hợp. Động cơ này không gì khác hơn là sự “thấu cảm” về chính những niềm tin hay tri thức còn ở giai đoạn ngây thơ, mê muội, tiền-khái niệm của chính mình, với bao ước mơ, sợ hãi, hoang mang gắn liền với chúng. Những niềm tin này cần được giải bày trong lớp học và việc giải bày ấy là khởi điểm của việc dạy và học.  Từ sự thấu cảm chính mình sẽ đi đến việc thừa nhận và tôn trọng người khác. Đây là “bước nhảy” từ sự “kể lể” chủ quan sang diễn đạt một cách suy lý. “Tôn trọng” nói ở đây là xem người khác cũng là một “trung tâm ý thức biết suy lý”, có quyền đánh giá, lựa chọn và quyết định giống như mình. Như thế, tôn trọng người khác là thừa nhận năng lực suy tư và hành động (ít ra là ở dạng tiềm năng) của người khác, của học sinh, sinh viên trên con đường vạn dặm. Ta gặp lại ở đây nguyên tắc đạo đức cốt lõi của triết thuyết giáo dục từ Kant đến Hegel: con người là “cứu cánh tự thân”. Lý tưởng này cũng sẽ được các nhà giáo dục Anh-Mỹ tiếp thu và tán đồng. Nổi bật là John Dewey (ta sẽ tìm hiểu tiếp theo đây), luôn nhấn mạnh rằng giá trị của giáo dục là phát huy tiềm lực của “con người tự thân”, chứ không phải là biến họ thành công cụ cho những mục đích chính trị, kinh tế, xã hội nhất thời và ngoại tại.  “Liberal Education” (Giáo dục khai phóng) trong thế giới Anh-Mỹ đi theo cảm hứng ấy, tuy không tát cạn hết được nội hàm của từ “Bildung”, trong đó nhìn nhận cả sự thất vọng, bất hạnh và đau khổ cũng là thành tố tất yếu của “giáo dục” như sẽ bàn thêm ở bài sau.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 29, 25.09.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Môn triết học và mục tiêu đào tạo con người độc lập      Ngày 16/6 vừa qua, học sinh lớp 12 ở Pháp đã  thi môn triết trong kỳ thi tú tài. Đọc các đề thi môn học này, chúng ta  có thể thấy phần nào mục tiêu đào tạo con người có khả năng tư duy độc  lập, lập luận một cách logic dựa trên lý tính và có óc phản biện mà giáo  dục phổ thông của họ đặt ra.       Dưới đây là các đề thi môn triết dành cho các phân ban khác nhau trong bậc trung học phổ thông, mỗi ban đều có ba đề để thí sinh chọn một:  Đề thi của ban Khoa học (Bac Scientifique):  Đề 1: Phải chăng người nghệ sĩ (nghệ nhân) làm chủ tác phẩm của họ?  Đề 2: Phải chăng chúng ta sống để được hạnh phúc?  Đề 3: Yêu cầu thí sinh giải thích, bình luận một trích đoạn của Descartes trong tác phẩm “Règles pour la direction de l’esprit” (Các quy tắc hướng dẫn tinh thần) viết năm 1628, khoảng nửa trang. Thí sinh được yêu cầu không cần thiết phải liệt kê những kiến thức liên quan đến học thuyết của triết gia, mà chỉ cần chứng tỏ mình hiểu chính xác bản văn và các vấn đề mà bản văn đặt ra.   Tôi đọc một đề xuất “đáp án” của đề thi này trên trang Ledudiant.fr thì thấy thí sinh được gợi ý trước tiên phải trình bày rõ những vấn đề mà triết gia Descartes đặt ra, mà trong đoạn trích nói trên, vấn đề trung tâm là: Tại sao cần xem toán học là một mẫu hình của tất cả loại hình nghiên cứu về sự thật. Các thí sinh phải tìm cách làm rõ luận thuyết này trong bối cảnh của bản văn, liên hệ đến tư tưởng của các triết gia khác như Nietzsche hay của Kant. Trong phần kết luận, thí sinh được khuyên nên trình bày các giới hạn của học thuyết Descartes bằng cách sử dụng lý luận của các nhà phê bình…     Đề thi của ban Văn chương (Bac de Littérature):  Đề 1: Phải chăng các tác phẩm nghệ thuật giáo dục nhận thức của chúng ta?  Đề 2: Phải chăng chúng ta làm tất cả để được hạnh phúc?  Đề 3: Yêu cầu thí sinh giải thích một đoạn văn trong tác phẩm “La connaissance objective” (Tri thức khách quan)  của Popper, xuất bản năm 1972. Cũng như trên thí sinh được yêu cầu không cần thiết phải liệt kê những kiến thức liên quan đến học thuyết của Popper, mà cần giải thích rõ, chứng tỏ rằng mình hiểu chính xác đoạn trích và các vấn đề mà bản văn đặt ra.  Đề thi của ban Kinh tế và Xã hội (Bac Economique et Social):    Đề 1: Phải chăng để được tự do chỉ cần có chọn lựa là đủ?  Đề 2: Tại sao cần phải tìm để hiểu chính mình?  Đề 3: Thí sinh được yêu cầu giải thích một trích đoạn của Hannah Arendt, trong tác phẩm “Condition de l’homme moderne” (Thân phận con người hiện đại) viết năm 1958. Thí sinh cũng được yêu cầu như các đề thứ ba của hai ban đã trình bày phía trên.  Đề thi của Ban Kỹ thuật (Bac Technologique):  Đề 1: Phải chăng sự trao đổi qua lại luôn có lợi ích cần thiết?  Đề 2: Một chân lý có thể tồn tại vĩnh viễn không?  Đề 3: Thí sinh được yêu cầu giải thích một đoạn trích trong tác phẩm “Gorgias” của Platon.   Đề thi của ban Âm nhạc và Khiêu vũ:   Đề 1: Phải chăng sự khác biệt của các nền văn hoá là rào cản đối với sự thống nhất nơi loài người?  Đề 2: Chúng ta có thể thờ ơ với chân lý được không?  Đề 3: Thí sinh được yêu cầu giải thích một trích đoạn của Kant, trong tác phẩm “Doctrine de la vertu” (Học thuyết về đức hạnh), viết năm 1795.  Tất cả thí sinh các ban đều có thời gian làm bài như nhau, kéo dài trong 4 giờ.   Môn học của các môn học  Triết học là một môn rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông tại Pháp, tất cả học sinh dù là của bất kỳ chuyên ban nào cũng bắt buộc phải học và thi môn học quan trọng này mặc dù các đề thi có hơi khác nhau để phù hợp với học sinh từng ban. Ngày thi tú tài nói chung và thi môn triết học nói riêng hết sức quan trọng đối với cuộc đời học vấn của học sinh, nên thu hút sự quan tâm của báo giới và dư luận xã hội.  Thông qua nội dung các dạng đề thi cũng như một vài đề xuất “đáp án” liên quan, tôi thấy các thí sinh không phải học thuộc lòng bất kỳ điều gì, cũng không đòi hỏi phải tư duy theo bất kỳ khuôn mẫu nào. Các đề thi đều thuộc dạng mở, khuyến khích khả năng tư duy, biện luận của học sinh. Muốn làm bài tốt, các thí sinh phải có một vốn kiến thức triết học và kiến thức phổ thông rộng, khả năng liên hệ vận dụng những kiến thức triết học vào trong những vấn đề của cuộc sống nhân sinh, có óc phản biện, khả năng tư duy độc lập để trình bày những suy tư của mình về ý nghĩa, mục đích của cuộc sống; về thân phận con người; về hạnh phúc, tự do, chân lý; về sự khác biệt; về nghệ thuật, v.v.   Những chủ đề, những câu hỏi được đặt ra trong các đề thi còn phản ánh trình độ cũng như những đòi hỏi rất cao đối với các thi sinh. Tuy mới là cấp trung học phổ thông, nhưng học sinh đã được tiếp cận với tư tưởng và văn bản của các triết gia từ cổ chí kim: Platon, Descartes, Kant, Popper…   Người Pháp đặt nặng vai trò của môn triết trong chương trình giáo dục phổ thông vì họ ý thức rằng môn học này là môn học cần thiết để trang bị cho học sinh khả năng tư duy độc lập, khả năng lập luận một cách logic dựa trên lý tính.  Trong chương trình trung học phổ thông tại Việt Nam không có môn triết, các kiến thức triết học mà chủ yếu là triết học Mác – Lê được giảng dạy lồng trong môn giáo dục công dân, cụ thể là trong phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” của chương trình của lớp 10. Tuy nhiên môn học này bị xem là môn học phụ, không bao giờ có mặt trong chương trình thi tốt nghiệp, nên người dạy và người học đều xem nhẹ.   Mục tiêu của môn học này là hướng đến trang bị cho học sinh những kiến thức phục vụ mục tiêu đào tạo “con người Việt Nam XHCN” theo luật định. Nghĩa là các kiến thức triết học, luật pháp, chính trị, kinh tế và xã hội được giảng dạy trong môn Giáo dục công dân đều đã được định hướng để đào tạo học sinh theo một khuôn mẫu có sẵn, chứ không nhằm trang bị cho học sinh khả năng tư duy một cách độc lập, có chính kiến… như các học sinh cùng lứa người Pháp.  Qua chuyện này, chúng ta cũng phần nào thấy được sự khác biệt trong quan niệm về mẫu người mà hai nền giáo dục phổ thông tại hai quốc gia muốn nhắm tới. Học sinh phổ thông của chúng ta có thể không thua học sinh Pháp về toán, lý, hoá, sinh, v.v, nhưng lại không được trang bị những kiến thức và kỹ năng căn bản như là nền của tất cả các môn học, của sự học, sự phát triển trí tuệ, rèn luyện tư duy, khả năng lý luận và phản biện.   Phải chăng điều này giải thích tại sao, học sinh Việt Nam trải qua 12 năm đèn sách hết sức vất vả nhưng hình như không thể chững chạc trưởng thành để bước vào đời hay bước vào đại học vốn là môi trường dành để tập tành nghiên cứu?      Author                Quản trị        
__label__tiasang Môn Văn: Nơi học sinh phải được thể hiện văn hóa cá nhân      Cho dẫu nhìn nhận Ngữ Văn như một môn học có những quy phạm trường ốc thì nội dung quan trọng nhất, đồng thời cũng là yếu tố lớn nhất làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của nó vẫn là nó cho phép người học được thể nghiệm những gì cá nhân nhất của mình: từ góc nhìn, từ những xúc động, khả năng tưởng tượng, khả năng biểu đạt. Bởi vậy, việc dạy học, ra đề thi, soạn đáp án, chấm điểm môn học này cần chú trọng các tiêu chí định tính hơn các tiêu chí định lượng.    Thấy gì qua những cải tiến ở đề thi năm nay?    Đề thi môn Văn năm nay được ra theo tinh thần đánh giá năng lực học sinh qua các kỹ năng đọc và viết, khả năng tích lũy vốn sống, trải nghiệm thực tế, hình thành quan điểm cũng như khả năng cảm thụ các văn bản nghệ thuật. Do là năm đầu tiên sáp nhập kỳ thi tốt nghiệp trung học và kỳ thi đại học nên hoàn toàn có thể thông cảm được khi những người ra đề chọn giải pháp an toàn với một đề thi vừa sức, có mức độ phân hóa vừa phải. Chủ trương lượng hóa cách đánh giá được thể hiện rõ ở phần một của đề thi – phần Đọc hiểu, gồm hai đoạn trích với tám câu hỏi. Hai đoạn trích gồm một văn bản nghị luận và một đoạn thơ.    Tôi sẽ không bình luận chi tiết về đề thi vì điều này không còn tính thời sự mà chỉ muốn nhìn từ đề thi để suy nghĩ lại về định hướng dạy học môn Văn trong nhà trường. Phần “Đọc hiểu” vốn là phần kiểm tra kỹ năng nắm bắt, xử lý, suy luận, diễn giải thông tin khi đọc một văn bản. Nó có thể làm ta liên hệ đến phần “Reading Comprehension” trong sách luyện thi IELTS, TOEFL, Cambridge… Điều đáng nói nếu ở trong các bộ đề thi tiếng Anh lấy chứng chỉ quốc tế này, người ta hạn chế tối đa việc đưa các văn bản nghệ thuật, thay vào đó là văn bản khoa học, chính luận, báo chí. Các câu hỏi nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu thường rất chú trọng khả năng suy luận, phân tích logic của văn bản, hiểu nghĩa các từ, các thuật ngữ, các cách diễn giải đặc biệt… Hiện tại, nếu nhìn vào đề thi minh họa của Bộ, đề thi thử của các đơn vị đào tạo và đề thi chính thức, chúng ta lại quan tâm nhiều hơn đến việc nhận dạng văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nào và các câu hỏi chủ yếu đều hướng đến việc nắm bắt các thông tin lộ thiên. Dung lượng văn bản trong các đề thi ở Việt Nam tương đối ngắn nên đề thi cũng khó kiểm tra được khả năng “quét” thông tin của thí sinh trong một khoảng thời gian áp lực.            Mọi vấn đề của đời sống đều có thể trở thành đề thi. Song nhìn vào cách những người ra đề đưa đáp án, và nhất là qua thực tiễn giảng dạy phần nghị luận xã hội ở nhà trường, có lẽ chúng ta đang hướng học sinh trở thành những người bình luận tin nhanh và thay vì định hướng học sinh đưa ra góc nhìn cá nhân của mình, chúng ta đang áp đặt một tư duy chiết trung vô tận trước các vấn đề của đời sống được đưa vào đề thi cùng với việc quy nạp mọi góc nhìn về một thái độ đạo đức. Điều đáng nói đó lại là một thứ đạo đức của số đông, đã định hình, đã sẵn có, đã được thiết chế hóa.        Vấn đề bất cập trở nên rõ hơn khi đề thi đưa các văn bản văn chương vào nội dung của phần Đọc hiểu với các câu hỏi cố gắng “lượng hóa” tối đa để có thể chấm điểm một cách chính xác nhất. Các câu hỏi phổ biến dùng cho đọc hiểu văn bản văn chương từ đề thi minh họa đến đề thi thử, thi chính thức thường là: “Nội dung của đoạn thơ này là gì?”, “Đoạn thơ truyền tải thông điệp gì của tác giả”, “Hãy nêu hai biện pháp tu từ có trong đoạn văn trên và phân tích ngắn gọn hiệu quả của chúng?”… Cách đặt câu hỏi như vậy, nhìn chung, vẫn nằm trong cách tư duy văn học cũ: xem nội dung văn học là cái tồn tại độc lập với hình thức, tác phẩm văn học là sự phản chiếu một hiện thực đời sống khách quan, là sự thể hiện một tâm tư, nỗi lòng của tác giả… Để có thể lượng hóa đáp án, người ra đề chỉ có thể chọn những văn bản “đơn nghĩa”, khống chế tối đa những cách diễn giải đa dạng có thể có. Điều này không những xa rời những phẩm chất quan trọng của văn chương, nó còn có thể làm mai một mỹ cảm ở học trò. Trong khi đó, văn học là lĩnh vực nghệ thuật duy nhất còn được đưa vào chương trình trung học phổ thông.    Đưa nghị luận xã hội vào đề thi môn Văn ở trường trung học phổ thông được nhiều người xem là một cải tiến đáng ghi nhận của việc đổi mới thi cử môn Văn hiện nay, sau một thời kỳ dài đề thi chỉ độc tôn phần nghị luận văn học với các tác phẩm gói gọn chủ yếu trong chương trình lớp 12. Mục đích của các đề văn nghị luận xã hội, quan trọng nhất, là kích thích ý thức bày tỏ quan điểm, chính kiến – một khả năng ít được khuyến khích trong nhà trường từ nhiều năm, biết lập luận để tạo sức thuyết phục cho quan điểm của mình. Việc áp dụng các tiêu chí định lượng để đánh giá quan điểm cá nhân ở đây có lẽ sẽ dễ trở nên bất nhẫn.    Hình thức của đề nghị luận xã hội cũng có những đổi thay tích cực: từ những đề chủ yếu chờ đợi thí sinh minh họa cho một nhận định đến những đề đặt thí sinh đứng trước những vấn đề có nhiều cách đánh giá để từ đó đề nghị họ phải đưa ra quan điểm của riêng mình. Gần đây hơn, như một nỗ lực phá vỡ định kiến về sự gián cách giữa môn Văn trong nhà trường và thực tế đời sống, các đề thi bắt đầu hướng đến các vấn đề thời sự để yêu cầu thí sinh bình luận. Một quan điểm tương đối đơn giản về khả năng tương tác của môn Văn như thế đã khiến đề thi văn trở thành hiện tượng xã hội, có độ “hot” và nhận được nhiều bình luận trên mạng không kém các tin giải trí. Người ra đề mạnh dạn đưa vào đề thi những nhân vật như Bà Tưng, Sơn Tùng MTP cho đến Ánh Viên, Nick Vujicic; những hiện tượng từ an toàn giao thông, sử dụng facebook cho đến vụ vượt rào vào công viên nước Hồ Tây hay sự kiện giàn khoan HD 981. Tất nhiên, mọi vấn đề của đời sống đều có thể trở thành đề thi. Song nhìn vào cách những người ra đề đưa đáp án, và nhất là qua thực tiễn giảng dạy phần nghị luận xã hội ở nhà trường, có lẽ chúng ta đang hướng học sinh trở thành những người bình luận tin nhanh và thay vì định hướng học sinh đưa ra góc nhìn cá nhân của mình, chúng ta đang áp đặt một tư duy chiết trung vô tận trước các vấn đề của đời sống được đưa vào đề thi cùng với việc quy nạp mọi góc nhìn về một thái độ đạo đức. Điều đáng nói đó lại là một thứ đạo đức của số đông, đã định hình, đã sẵn có, đã được thiết chế hóa.  Đổi mới phải xuất phát từ những đặc trưng của văn chương     Đổi mới đề thi môn Văn là một khâu trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay mà mục tiêu của nó là đào tạo được những con người mới có nhân cách, có tri thức, có những kỹ năng đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc sống không ngừng chuyển động, trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đổi mới đề thi môn Văn chỉ thật sự hiệu quả khi xuất phát từ những đặc trưng của văn chương, từ những khả năng đóng góp của văn chương trong việc hình thành ở học trò những năng lực để hội nhập, thích ứng, chủ động trong bối cảnh thời đại mới. Nhưng quan trọng hơn, nó phải xuất phát từ những khả năng đóng góp của văn chương trong việc kiến tạo các giá trị nhân văn trong đời sống. Bởi các giá trị nhân văn ấy mới là điểm tựa cho sự phát triển hài hòa các mối quan hệ không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người với thế giới.            Đổi mới đề thi môn Văn chỉ thật sự hiệu quả khi xuất phát từ những đặc trưng của văn chương, từ những khả năng đóng góp của văn chương trong việc kiến tạo các giá trị nhân văn trong đời sống. Bởi các giá trị nhân văn ấy mới là điểm tựa cho sự phát triển hài hòa các mối quan hệ không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người với thế giới.           Văn chương là lĩnh vực của những trải nghiệm cá nhân. Cho dẫu nhìn nhận Ngữ Văn như một môn học có những quy phạm trường ốc thì nội dung quan trọng nhất, đồng thời cũng là yếu tố lớn nhất làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của nó vẫn là nó cho phép người học được thể nghiệm những gì cá nhân nhất của mình: từ góc nhìn, từ những xúc động, khả năng tưởng tượng, khả năng biểu đạt. Nói một cách khác, qua bài văn, người viết thể hiện được văn hóa cá nhân của mình. Một đề bài lý tưởng để tính cá nhân của người học được bộc lộ nên có độ mở và do đó, các tiêu chí định tính để đánh giá phải được chú trọng hơn các tiêu chí định lượng.    Một thí dụ có thể minh họa cho tính mở mà đề văn có thể hướng đến: Năm 2006, kỳ thi đại học ở Thượng Hải chỉ có một câu như sau:     Hãy làm theo đề bài: “Tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn”. Yêu cầu: 1- Bài làm trên 800 chữ; 2- Không được làm thành thơ; 3- Không được tiết lộ thông tin liên quan đến cá nhân.    Đề bài chỉ đơn giản đưa một mệnh đề, ngoại trừ yêu cầu không được phép viết thành thơ, thí sinh được phép sử dụng linh hoạt các phương thức biểu đạt, miễn là men theo cách thí sính diễn dịch mệnh đề. Khi đọc hai bài văn được điểm cao nhất với đề bài này, có thể thấy người chấm hoàn toàn căn cứ theo sự thuyết phục của cách đặt vấn đề và khả năng diễn đạt của thí sinh chứ không phải theo những sườn ý có sẵn của đáp án. Điều thú vị là ở hai bài, cách hiểu và phát triển mệnh đề “Tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn” đi theo hai hướng rất khác nhau. Bài làm thứ nhất, diễn giải hành động “nắm tay” tượng trưng cho sự chia sẻ, ủng hộ, bênh vực còn “bạn” ở đây là những người “dám nói lên sự thật”, bất chấp điều này có thể khiến họ chịu nhiều sức ép, bị cô lập, thậm chí ảnh hưởng đến sinh mệnh như bác sĩ Chung Nam Sơn, người đầu tiên nêu ra bệnh SARS hay Cao Diệu Khiết, người Trung Hoa đầu tiên, công bố thông tin về bệnh AIDS ở đại lục và vấp phải sự đe dọa, cảnh cáo của nhiều quan chức địa phương. Ở bài làm thứ hai, theo tôi, độc đáo hơn, thí sinh coi “văn chương” chính là “người bạn”, “tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn” là hành động thể hiện sự tri ân của cá nhân người viết đối với những giá trị mà văn chương đem đến trước hết cho riêng mình. Một bài có sự sắc nét của lối văn nghị luận trong khi bài còn lại có thể xem như một bài tản văn nghệ thuật.1    Đề thi văn phải là nơi cái cá nhân được khuyến khích thể hiện mình. Có như thế môn Ngữ Văn trong nhà trường mới không mâu thuẫn với bản chất của văn chương. Giáo viên trung học cần phải là người định hướng, khích lệ học trò hình thành nên văn hóa cá nhân của riêng mình. Và về điều này, môn Văn có nhiều ưu thế để giúp giáo viên tác động đến học trò.    Khi kỳ thi trung học phổ thông quốc gia sắp diễn ra, người ta chứng kiến một “cơn sốt” của độc giả Việt Nam trước đề thi tú tài của Pháp (chữ dùng của nhà báo Danh Đức)2. Đúng hơn, khi nhìn vào hình thức kiểm tra, đánh giá các môn khoa học xã hội và nhân văn của nước ngoài, ta mới thấy khoảng cách còn rất xa của giáo dục Việt Nam với mặt bằng thế giới. Trong khi triết học hầu như bị gạt khỏi chương trình phổ thông hoặc được giảng dạy phiến diện, hời hợt ở bậc đại học, thiết tưởng các giáo viên văn không nên chỉ ngồi đó thở dài, rằng nước mình thì khác. Hãy bắt đầu thay đổi từ các bài đọc hiểu. Hãy mạnh dạn đưa những bài luận, những trích đoạn kinh điển để học trò cũng tìm hiểu, diễn giải. Nếu nhà trường có vẻ thụ động thì thực tế cho thấy xã hội nhạy cảm hơn trong việc tìm ra các giải pháp phát triển toàn diện cho trẻ em. Những cuốn sách triết học cho các bạn trẻ hiện đã được xuất bản như bộ Thú vui tư duy của NXB Tri thức, Những câu hỏi hóc búa về cái Tôi, về đức tin của NXB Kim Đồng… và nhận được sự quan tâm của một số phụ huynh. Nhưng thật tiếc, trong những dịp được làm việc với các đồng nghiệp của mình tại một số trường phổ thông ở Hà Nội, tôi nhận thấy họ hầu như không có thông tin gì về chúng. Hoặc có người gạt đi phũ phàng, những sách ấy làm gì phù hợp với trình độ của học sinh bây giờ. Sẽ thật buồn nếu như chúng ta làm công việc giảng dạy nhưng lại luôn định kiến đối tượng của chúng ta là đối tượng không thể cải tạo, không thể dung nạp bất cứ cái gì phức tạp và không thực dụng.         Nỗi ám ảnh định lượng                Theo cấu tạo chương trình môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông hiện nay, trọng tâm nằm ở phần Văn chứ không phải là phần Ngữ. Văn chương vốn không phải là lĩnh vực mà các phương pháp đánh giá định lượng có thể áp dụng hiệu quả. Thế nhưng từ trước đến nay, việc dạy học, ra đề thi, soạn đáp án, chấm điểm môn học này bị ám ảnh quá lớn bởi tính chất định lượng. Hậu quả là giáo viên phải biết quy một tác phẩm văn chương về một vài diễn giải được xem là chuẩn kiến thức, học sinh phải nắm được đầy đủ ngầy ấy đơn vị chuẩn kiến thức để thể hiện trong bài thi của mình, đáp án cũng lượng hóa thang điểm đến mức nhỏ nhất là 0,25 và người chấm thì thường tuân theo chủ trương “đếm ý đo điểm”.               Có thể liệt kê nhiều hệ lụy từ việc dạy và học văn như vậy nhưng ở đây chỉ xin nói thêm hai điểm theo quan sát của một người làm công việc dạy văn ở trường phổ thông: Thứ nhất, đây là nguyên nhân sâu xa và quan trọng của tình trạng học sinh không còn tìm thấy hứng thú ở môn Văn trong nhà trường. Thay vì là môn học khuyến khích bản chất sáng tạo, khuyến khích sự hình thành quan điểm cá nhân và tự do biểu đạt (dù gì thì đến cấp trung học, môn Văn là một “nghệ thuật” duy nhất được giảng dạy chính thức), nó lại biến thành một môn học thuộc với rất nhiều những kỵ húy. Thứ hai, điều oái oăm là trong khi áp dụng phương pháp định lượng để đánh giá học sinh thì chính giáo viên văn lại cảm thấy bối rối bởi sự rạch ròi, chi ly bởi các hình thức lượng hóa. Nhiều giáo viên không ủng hộ hình thức đánh giá lượng hóa triệt để nhất là biến đề thi môn Văn thành đề trắc nghiệm. Các giáo viên cũng rất ngại ngần cho điểm 10 môn Văn bởi luôn mặc định trong đầu, với môn học này, tái hiện kiến thức không thôi là chưa đủ, nêu hết các ý có trong đáp án cũng chưa phải là toàn bích. Cần có thêm “một cái gì đó nữa”. Nhưng đó là cái gì? Sự mơ hồ này khiến việc chấm điểm đánh giá ở môn Văn luôn có yếu tố cảm tính, chủ quan và đây cũng là điều khiến học sinh thường ít tự tin về bài làm Văn của mình sau mỗi kỳ thi.            —    1 Xin xem Những bài văn đạt điểm tối đa của thí sinh thi đại học Trung Quốc (2006-2012), Ngọc Ánh biên dịch, NXB Văn học 2014, trang 18-27.    2 Danh Đức, “Từ cơn sốt đề thi tú tài Pháp”, báo Tuổi trẻ 23/6/2015, http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/thoi-su-suy-nghi/20150623/tu-con-sot-de-thi-tu-tai-phap/765420.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang MOOCs giữa ngã ba đường      Khái niệm MOOCs (Massive Open Online Courses – Các khóa học đại trà mở trực tuyến) xuất hiện lần đầu năm 2008, và lên đến đỉnh điểm thu hút sự quan tâm của công luận bốn năm sau đó, đến mức tạp chí New York Times gọi năm 2012 là “năm của MOOCs”. Cũng trong năm đó, nhiều người thậm chí so sánh MOOCs với những phát minh lớn của loài người trước kia như việc tìm ra lửa hay sự ra đời của Internet. Hai năm sau “đỉnh cao”, MOOCs vẫn phát triển nhưng không bùng nổ đúng như kỳ vọng trước đó. Tại sao vậy?     Khát vọng xây dựng nên một nền giáo dục là công cụ xóa bỏ giàu nghèo, đẳng cấp, giai cấp; nền giáo dục cho mọi người, từ nghèo nhất đến giàu nhất, từ không có địa vị xã hội đến có địa vị xã hội, từ phi tôn giáo đến tôn giáo là ước mong cháy bỏng của loài người hàng trăm năm nay.   Anh Quốc là quốc gia đầu tiên nghĩ đến và thực hiện được điều này. Năm 1858, trường Đại học London (một trường không thuộc hệ thống các trường tôn giáo vốn thịnh hành thời bấy giờ) được Nữ hoàng Victoria phê chuẩn quyền được tổ chức kiểm tra đánh giá và cấp bằng cho sinh viên. Sự kiện này mở ra cơ hội có bằng đại học cho hàng nghìn người dân lao động nghèo thời bấy giờ. Đến cuối thế kỷ XIX, người Mỹ, được chắp cánh bởi đạo luật Morrill về cấp đất cho các trường, tiếp tục phát huy tinh thần “giáo dục đại chúng” của người Anh với việc lần lượt Đại học Chicago và Đại học Columbia mở rộng phạm vi hoạt động theo các chương trình đào tạo từ xa cho hàng trăm nghìn công nhân nhập cư trong ngành than mỏ để trở thành những giám sát viên và kỹ sư bậc cao.   Thập kỷ 1950, thập kỷ đầu tiên sau khi Thế chiến thứ II kết thúc là bước khởi đầu cho công cuộc “đại chúng hóa giáo dục đại học” lần thứ hai trên thế giới. Tại Mỹ, đạo luật GI Bill ra đời, hỗ trợ tài chính cho cựu quân nhân quay lại ghế giảng đường giúp nước này có thêm gần năm triệu người có bằng đại học. Tại châu Âu, chính sách ưu tiên đầu tư của Nhà nước cũng giúp giáo dục đại học mở rộng nhanh chóng. Tại châu Á, những trường đại học hiện đại nối tiếp nhau được thành lập. Giáo dục đại học thực sự chuyển mình từ “tinh hoa” sang “đại chúng”.   Cho đến thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, toàn thế giới đã có tới hơn 150 triệu sinh viên. Ngay cả tại những nước đang phát triển như Việt Nam, tỷ lệ thanh niên là sinh viên đại học đã vượt ngưỡng hơn 20%. Tại những nước đã phát triển, giáo dục đại học thậm chí nhảy sang nấc thang mới: “phổ cập giáo dục đại học” (universe higher education). Tỷ lệ thanh niên là sinh viên ở những nước như Hàn Quốc, Đài Loan hay Mỹ lên tới hơn 80%.   Dân số bùng nổ, giáo dục đại học mở rộng quá nhanh, nhu cầu đi học từ người dân quá lớn. Hệ thống các trường đại học và cao đẳng, cả công và tư, khắp nơi trên thế giới “bung ra” chưa có tiền lệ. Nhà nước không đủ nguồn lực để bao cấp cho giáo dục đại học: đầu tiên là cắt giảm hỗ trợ sinh hoạt phí; rồi học phí tăng dần theo từng năm. Để hỗ trợ người dân, các chương trình tín dụng ra đời nhằm giảm bớt gánh nặng, nhưng rốt cục, kinh tế khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao, vay vốn cho việc học đại học lại trở thành gánh nặng đối với nhiều người. Tại Mỹ, báo cáo hồi đầu năm của Cục Trách nhiệm giải trình cho biết từ 2005 đến 2013, tổng số nợ tín dụng sinh viên trong cả nước đã tăng từ 400 lên tới hơn 1.000 tỷ USD. Có những người vay tiền đi học bốn năm để rồi cả đời vẫn chưa hết trả nợ.   Với các nước đang phát triển, khi giáo dục đại học mới phổ cập ở mức 20-30% thanh niên, vấn đề cân bằng “chất lượng – số lượng” còn nghiêm trọng hơn. Để đảm bảo chất lượng, đầu tư cho sinh viên phải tăng, nhưng nhà nước lại cạn nguồn lực; học phí vì vậy phải tăng; nhưng học phí tăng tức là con nhà nghèo khó có khả năng chi trả; trong khi tín dụng sinh viên không phải lúc nào cũng hiệu quả.   Giữa lúc “tiến thoái lưỡng nan” trong cân bằng “chất lượng – số lượng”, MOOCs xuất hiện như một cứu tinh. Trước MOOCs đã có e-learning. Nhưng khác e-learning, MOOCs có sự hỗ trợ của mạng xã hội, giúp tăng cường tương tác thầy- trò, điểm yếu nhất của e-learning.  Cả thế giới hy vọng vào MOOCs.   Những kết quả ban đầu với MOOCs thật khả quan. Mùa thu 2011, Đại học Stanford mở ba khóa theo hình thức MOOCs, ngay lập tức thu hút 160.000 sinh viên ghi danh. Rồi lần lượt EdX, Coursera rồi Udacity ra đời, với sự tham gia của hàng loạt các trường lớn như Harvard, Berkeley, Stanford … với vốn đầu tư hàng chục triệu USD, thu hút hàng triệu học viên. Cũng năm 2012, sự tỏa sáng của Học viện Khan (Khan Academy) theo hình thức MOOCs từ nỗ lực của cá nhân đơn lẻ (Salman Khan) càng làm người ta tin tưởng hơn vào sự thành công của hình thức học mới này.   Thực vậy, học online, bài giảng do các giáo sư hàng đầu trình bày, giá rẻ, tương tác thầy – trò (hoặc trò – trò) được đẩy mạnh nhờ mạng xã hội.     MOOCs có thực sự là cứu tinh?   Nhưng rồi, ngày vui qua mau, MOOCs không phải là thuốc tiên như người ta nghĩ. Thống kê cho thấy hơn 90% sinh viên ghi danh rời bỏ khóa học trước khi nó kết thúc. Kể cả với sự hỗ trợ của mạng xã hội như Facebook hay Twitter, và kể cả khi người thiết kế bài giảng đã nghĩ ra rất nhiều cách để làm bài giảng bớt buồn ngủ hơn, chẳng hạn như bắt buộc sinh viên phải trả lời câu hỏi (quiz) giữa chừng thì mới cho học tiếp, tỷ lệ sinh viên hoàn hành khóa học vẫn không thể vượt quá 10%. Lại là một sự hao phí nguồn lực giống như tín dụng sinh viên (sinh viên không thể trả nợ sau tốt nghiệp), nhưng theo một cách khác.           Giữa lúc “tiến thoái lưỡng nan” trong cân bằng “chất lượng – số lượng”, MOOCs xuất hiện như một cứu tinh. Trước MOOCs đã có e-learning. Nhưng khác e-learning, MOOCs có sự hỗ trợ của mạng xã hội, giúp tăng cường tương tác thầy, trò – điểm yếu nhất của e-learning.          Trong bối cảnh đó, nhiều người phản ứng với MOOCs: họ lo ngại vấn đề bản quyền; họ sợ MOOCs phát triển sẽ dẫn đến giảng viên bị thất nghiệp. Đây đó trên toàn thế giới, phong trào chống MOOCs ra đời.       MOOCs bắt đầu được biết đến rộng rãi ở Việt Nam qua nỗ lực của TS. Giáp Văn Dương. Đầu năm 2013 GiapSchool được TS. Dương cho ra đời; đến tháng Tám cùng năm, TS. Dương trình bày tham luận về MOOCs và GiapSchool tại Hội thảo khoa học tại Viện Nghiên cứu cao cấp về toán. Sự say mê và tinh thần dấn thân của TS. Dương thuyết phục được tất cả mọi người. Báo chí trong nước sau đó ngập tràn các bài viết về GiapSchool nói riêng cũng như MOOCs nói chung. Cùng thời gian đó, một đề án do Bộ GD&ĐT chủ trì với việc thành lập hai trung tâm giáo dục trực tuyến gắn với hai Viện Đại học Mở ở hai đầu cả nước theo mô hình MOOCs cũng được xúc tiến.       Hơn một năm trôi qua, số lượng khóa học của GiapSchool vẫn còn khiêm tốn và Đề án của Bộ vẫn còn đang chờ phê duyệt. MOOCs ở Việt Nam chưa thất bại nhưng rất nhiều người phải thừa nhận: không dễ. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, hàng loạt các vấn đề với MOOCs được các nhà giáo dục trong nước chỉ ra:       MOOCs có thể thay thế được chương trình học chính quy theo cách truyền thống hay không? Nếu có thì là toàn phần hay một phần?      Nếu đáp án cho câu hỏi một là Có (dù là toàn phần hay một phần) thì kiểm định chất lượng ra sao? Kiểm tra, đánh giá như thế nào? Làm sao để chống gian lận? Làm sao để giảm tỷ lệ bỏ dở học giữa chừng của sinh viên?       Riêng ở Việt Nam và những nước đang phát triển, liệu MOOCs có thành công ở mức độ đại trà khi dân nghèo cũng như người dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn chưa có thói quen tiếp nhận công nghệ mới một cách dễ dàng? 1                          Bài học từ MOOCs:   
__label__tiasang Một báo cáo về xếp hạng đại học Việt Nam      Trong khi chưa lọt vào các bảng xếp hạng quốc tế uy tín thì liệu các trường đại học Việt Nam có cách nào để tự xếp hạng với nhau, nhằm có thêm thông tin tham khảo và qua đó thúc đẩy các đại học đổi mới và nâng cao chất lượng? Một nhóm chuyên gia độc lập đã giải đáp câu hỏi này bằng cách tiến hành và công bố một bảng xếp hạng tổng thể đối với 49 trường đại học. Tia Sáng xin giới thiệu bài viết của nhóm về phương pháp đánh giá và những kết quả sơ lược của bảng xếp hạng lần đầu có ở Việt Nam này.      Xếp hạng là một cách để đánh giá các đại học một cách định lượng, nhằm có thông tin tham khảo tốt hơn cho sinh viên, xã hội và chính bản thân các trường.Trong ảnh: Sinh viên của Học viện Nông nghiệp.  Xu hướng chung  Đánh giá và xếp hạng đang là mối quan tâm lớn của các trường đại học trên thế giới. Đặc biệt, từ năm 2003, khi Đại học Giao thông Thượng Hải công bố bảng xếp hạng đại học toàn cầu lần đầu tiên, và sau đó là sự ra đời các bảng xếp hạng đại học khác, như Times Higher Education (THE), World University Rankings (QS), Webometrics,… thì việc xếp hạng đại học đã nổi lên thành một xu hướng mới, thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng giáo dục đại học. Không chỉ sinh viên tham khảo kết quả xếp hạng để chọn trường, mà bản thân các trường cũng sử dụng kết quả này để điều chỉnh hoạt động của mình.Giữa các trường đã âm thầm diễn ra cuộc đua thăng hạng đầy gay cấn. Tụt hạng, thăng hạng, hay lọt vào các Top 100, 200 hay 500 trường đại học trên thế giới giờ đây trở thành mối quan tâm hàng đầu của các trường đại học cũng như của các quốc gia đang muốn có nền giáo dục đại học hội nhập với thế giới.  Ở Việt Nam, năm 2013, Báo cáo Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-2020 có một hạng mục đáng lưu ý: Đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu có một trường đại học lọt Top 200 đại học tốt nhất trên thế giới. Ngay khi đó, giới chuyên môn đã cho rằng, đó là mục tiêu quá xa vời.Và thực tế diễn ra đúng như vậy. Cho đến nay, năm 2017, trong các bảng xếp hạng đại học uy tín, Việt Nam vẫn chưa có trường đại học nào lọt vào danh sách Top1000 đại học trên thế giới. Các trường đại học của Việt Nam thậm chí còn không có tên trong danh mục các bảng xếp hạng này.  Điều đó cho thấy, mục tiêu lọt vào Top 200 đại học trên thế giới vào năm 2020 không thể nào đạt được. Quan sát sự thay đổi vị trí của các trường đại học trong các bảng xếp hạng, chúng ta thấy, không có cách nào để một trường đại học thăng hạng từ vị trí ngoài Top1000 vào Top 200 chỉ trong ba năm.  Xếp hạng đại học Việt Nam: Nhu cầu có thật  Dù còn nhiều tranh cãi, xếp hạng đại học vẫn đang là một xu hướng. Ở góc độ nào đó, xếp hạng cũng là một cách để đánh giá các đại học một cách định lượng, nhằm có thông tin tham khảo tốt hơn cho sinh viên, xã hội và bản thân các trường. Nhưng không lọt vào danh sách của các bảng xếp hạng quốc tế uy tín thì liệu chúng ta có cách nào để tự đánh giá xếp hạng mình?  Năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, các đại học của Việt Nam được phân thành ba hạng: Hạng 1, tương ứng với 30% số trường có điểm cao nhất; Hạng 2, tương ứng với 40% số trường có điểm cao thứ 2; Hạng 3, tương ứng với 30% số trường còn lại, có mức điểm thấp nhất.  Tuy nhiên, cách phân hạng các trường đại học thành ba loại khác nhau không cung cấp góc nhìn chi tiết về thực trạng của các trường, do đó thiên về phân loại nhóm trường thay vì xếp hạng định lượng các trường như cách làm của các bảng xếp hạng quốc tế phổ biến, do đó không tạo ra động lực để các trường phấn đấu cải thiện chất lượng. Chưa kể, việc phân tầng như vậy đã gây ra nhiều tranh cãi. Cho đến nay, sau hai năm ban hành nghị định, bảng xếp hạng phân tầng đại học vẫn chưa thấy được công bố.  Trong bối cảnh ấy, tuy đã gặt hái được những thành tựu nhất định, nhiều trường đại học Việt Nam đang đối diện với không ít thách thức và hạn chế, đó là: thiếu động lực cạnh tranh và nâng cao chất lượng mạnh mẽ; thiếu động lực trong minh bạch thông tin; và thiếu động lực hội nhập quốc tế. Việc có một bảng xếp hạng toàn diện có thể góp phần giúp giải quyết ba vấn đề này.  Bảng xếp hạng của nhóm chuyên gia độc lập  Việc có một bảng xếp hạng đại học Việt Nam toàn diện và độc lập, thay vì chỉ phân hạng chung chung, trở thành một nhu cầu thiết yếu. Vì thế, một nhóm chuyên gia độc lập đã tiến hành thu thập số liệu, xây dựng bộ tiêu chí xếp hạng đại học toàn diện tương tự như các bảng xếp hạng đại học uy tín trên thế giới, dựa trên các nguyên tắc: phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, định lượng, khả tín, khách quan và hướng tới chuẩn mực quốc tế.  Chất lượng của trường đại học nằm chủ yếu ở các sản phẩm mà nó tạo ra, một phần khác ở nguồn lực giúp nó tạo ra các sản phẩm đó. Vì thế, vị thế của một đại học sẽ được đánh giá thông qua chất lượng kết quả của các hoạt động nghiên cứu (đo bằng kết quả nghiên cứu đã công bố, đề tài khoa học, v.v..); chất lượng của các hoạt động đào tạo (đo bằng tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm, tỷ lệ giảng viên/sinh viên, chất lượng đầu vào, v.v..); và quy mô cơ sở vật chất, chất lượng quản trị của chính nhà trường, cơ sở vật chất là nền tảng đảm bảo một môi trường học thuật có chất lượng.  Không chỉ bảng xếp hạng mà cả bộ tiêu chí và phương pháp phân tích cũng được công khai cho cộng đồng tham khảo1. Cụ thể:  Ba nhóm tiêu chí dùng để xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam với các trọng số tương ứng khác nhau, phản ánh góc nhìn riêng của nhóm chuyên gia, được thiết kế thông qua thảo luận nội bộ và tham khảo các bảng xếp hạng đã có trên thế giới. Theo đó, hai nhiệm vụ chính của nhà trường, bao gồm đào tạo và nghiên cứu khoa học, được đánh giá là quan trọng như nhau, nên mỗi bên đều chiếm 40% trọng số. Tuy nhiên, để có thể làm tốt được việc đào tạo và nghiên cứu thì cơ sở vật chất, chất lượng quản trị nhà trường, cũng có đóng góp quan trọng, do đó chiếm 20% trọng số còn lại.  Tương tự như vậy, các tiêu chí lớn lại được chia thành các tiêu chí nhỏ hơn, với các trọng số tương ứng. Mỗi tiêu chí thành phần được lựa chọn phải thỏa mãn các điều kiện sau:  i. Phản ánh chất lượng của cơ sở giáo dục phù hợp (conformable) với nguyên tắc xếp hạng đã được thiết lập;  ii. Lượng hóa được (measurable) dưới dạng số liệu (data);  iii. Giúp phân biệt được một cách định lượng cao thấp (differentiable) giữa các trường với nhau;  iv. Số liệu cho tiêu chí phải thu thập được (collectible) từ các nguồn công khai trên internet, bao gồm trang web của trường, cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế (Web of Science, Scopus), v.v..;  v. Số liệu cho tiêu chí phải hiện hữu trên đa số (prevalent) trường được lựa chọn.  Với mỗi nhóm tiêu chí, các tác giả cố gắng cân bằng trọng số giữa chất lượng và quy mô của các tiêu chí thành phần. Nếu chỉ tập trung vào khía cạnh chất lượng, những đơn vị nhỏ, số sinh viên ra trường ít, kèm theo đó là tầm ảnh hưởng của nguồn nhân lực được nhà trường đào tạo đến sự phát triển của xã hội thấp hơn lại có thể có thứ hạng cao. Ngược lại, nếu chỉ tập trung vào quy mô, các cơ sở giáo dục đại học lớn (về số lượng sinh viên, đội ngũ giảng viên và nguồn lực về cơ sở vật chất) sẽ dễ dàng có vị trí rất cao trong bảng xếp hạng.Điều này dẫn tới vị trí xếp hạng sẽ gần như không đổi hằng năm, trong khi yếu tố quan trọng là sản phẩm đầu ra của cơ sở giáo dục đại học (kết quả nghiên cứu, chuyên môn của người được đào tạo) bị xem nhẹ. Trong bảng xếp hạng này, các tác giả phân bổ hai tiêu chí lượng hóa quy mô-chất lượng theo tỷ lệ tương đương 1:1.  Phân bổ về điểm số và tiêu chí thành phần lại được chia nhỏ chi tiết hơn, như sau:  1. Thước đo về nghiên cứu khoa học dựa trên số liệu là các công trình khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI, gồm:  * Quy mô và chất lượng nghiên cứu (20%)  * Mức độ ảnh hưởng trong khoa học của các nghiên cứu (10%)  * Năng suất nghiên cứu (10%)  2. Thước đo về giáo dục và đào tạo tập trung đánh giá quy mô, chất lượng sinh viên và đội ngũ giảng dạy:  * Quy mô đào tạo (10%)  * Đội ngũ giảng dạy (10%)  * Chất lượng giảng dạy (10%)  * Chất lượng sinh viên (10%)  3. Thước đo về cơ sở vật chất và quản trị gồm:  * Giảng đường và thư viện (10%)  * Chất lượng quản trị (10%)  Nguồn số liệu cho hai thước đo sau được lấy từ báo cáo ba công khai, công bố trên website của trường, điểm thi đại học và chỉ số minh bạch thông tin. Bộ tiêu chí được lựa chọn sao cho có thể đo lường được, khả thi trong thu thập số liệu và tự kiểm chứng được một cách độc lập.  Lưu ý rằng, báo cáo này chỉ là một cách xếp hạng phản ánh góc nhìn riêng của nhóm.Các nhóm xếp hạng khác có thể tự xây dựng chỉ số vả đưa ra những trọng số khác nhau, đưa đến kết quả xếp hạng  khác đi.  Kết quả ban đầu: Một vài bất ngờ  Đề án xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam của nhóm được bắt đầu tiến hành từ năm 2014, thông qua nhiều bước, bao gồm xây dựng tiêu chí, thử nghiệm mẫu số nhỏ, tối ưu hóa tiêu chí, thu thập số liệu ở số lượng mẫu quy mô lớn, xử lý số liệu và thiết lập bảng xếp hạng. Trong lần công bố đầu tiên này, nhóm chỉ xếp hạng 49 trường đại học có đầy đủ thông tin nhất trong số dữ liệu hơn 100 trường mà nhóm đã thu thập được.  Kết quả cho thấy, các đại học quốc gia và đại học vùng đều có thứ hạng cao. Ba trong tổng số năm trường top đầu là các đại học quốc gia và vùng ở trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, bao gồm Đại học Quốc gia Hà Nội (số 1), Đại học Đà Nẵng (thứ 4) và Đại học Quốc gia TPHCM (số 5). Trong Top 10 trường hàng đầu còn có sự góp mặt của các đại học lớn khác là Học viện Nông nghiệp (thứ 3), Đại học Cần Thơ (thứ 6), Đại học Bách khoa Hà Nội (thứ 7), và Đại học Sư phạm Hà Nội (thứ 10).  Điều gây ngạc nhiên là một số trường đại học trẻ, ít được biết đến hơn lại chiếm vị trí cao trong bảng xếp hạng, bao gồm trường Đại học Tôn Đức Thắng (thứ 2) và trường Đại học Duy Tân (thứ 9). Thứ hạng cao chủ yếu đến từ thành tích về công bố quốc tế, phản ánh thành quả của chính sách đầu tư và khuyến khích xuất bản của các cơ sở giáo dục đại học này.  Các trường đại học thuộc khối kinh tế có tiếng lâu nay và là lựa chọn của nhiều sinh viên giỏi (điểm thi đầu vào luôn thuộc top 10-30% của phổ điểm) đều có xếp hạng trung bình, như các trường Đại học Ngoại thương (thứ 23), Đại học Thương mại (thứ 29), Đại học Kinh tế Quốc dân (thứ 30) và Học viện Tài chính (thứ 40). Nguyên nhân được cho là sự hiện diện của các trường này trên các ấn phẩm khoa học quốc tế còn mờ nhạt, đồng thời có thể quy mô đào tạo lớn hơn so với năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ (đo bằng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trên sinh viên).Các trường sẽ cần vượt qua nhiều thách thức, đặc biệt trong công bố quốc tế, nếu muốn vươn lên vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng thời gian tới.  Nhìn chung, các đại học có quy mô lớn và lịch sử lâu đời đều có vị trí cao. Tuy nhiên, các đại học “trẻ” hơn đang vươn lên ngày một mạnh mẽ nhờ tăng cường sự hiện diện trên các ấn phẩm khoa học. Sức ép cạnh tranh sẽ khiến các trường đại học không dựa được vào ánh hào quang “truyền thống” nữa, mà cần đầu tư theo chiều sâu vào nghiên cứu và nâng cao chất lượng giáo dục.  Đây là lần đầu tiên một bảng xếp hạng tổng thể đại học Việt Nam được xây dựng và công bố bởi một nhóm chuyên gia độc lập với cơ quan quản lý nhà nước. Kết quả của nghiên cứu sẽ được công bố và thảo luận rộng rãi vào ngày 6/9/2017 tại Hà Nội2 và sau đó, bảng xếp hạng đại học Việt Nam cùng báo cáo chi tiết sẽ được đăng tải trên website: http://www.xephangdaihoc.org.  Hy vọng bảng xếp hạng đại học độc lập này sẽ trở thành nguồn tham khảo khả tín cho xã hội, tạo ra động lực cải cách cho các trường đại học Việt Nam, đồng thời mở ra phương pháp và tiền lệ đánh giá xếp hạng đại học cho các năm tới.     Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam gồm: TS. Lưu Quang Hưng, nhà nghiên cứu làm việc tại Melbourne, Australia (chủ biên báo cáo xếp hạng); TS. Nguyễn Ngọc Anh, Giám đốc và nhà kinh tế trưởng của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách DEPOCEN (đồng chủ biên báo cáo);TS. Giáp Văn Dương, nhà nghiên cứu độc lập, Chủ tịch Công ty GiapGroup (đề xuất dự án xếp hạng); TS. Ngô Đức Thế, nhà nghiên cứu đang làm việc tại Đại học Manchester, Anh; ThS. Trần Thanh Thủy, nhà nghiên cứu tại DEPOCEN;và ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền, nghiên cứu sinh tại Đại học East Angila, Anh.        1 Bài viết tiếp theo trên Tia Sáng của nhóm sẽ trình bày rõ hơn cách lựa chọn tiêu chí và trọng số tương ứng.  2 Sự kiện này sẽ diễn ra vào 15 giờ ngày 6/9 tại Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng.          Author                Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam        
__label__tiasang Một bộ tiểu thuyết hấp dẫn      SÁCH GIÁO KHOA theo nghĩa kinh điển vẫn còn, chỉ có điều nó không còn ở hàng đầu như trước, nó không còn là duy nhất như trước, nó không còn đơn điệu và cứng nhắc như trước. Nó lùi về hàng hai làm một chỗ dựa cho SÁCH GIÁO KHOA hiện đại.    Đến lượt mình, SÁCH GIÁO KHOA hiện đại cũng chỉ là một chỗ dựa, chỗ đi và nơi đến, còn cả quá trình thì thể hiện ở SÁCH BÀI TẬP.  Có thể hiểu theo nghĩa đen thuần túy: SÁCH BÀI TẬP do học sinh tự viết lấy, theo sự hướng dẫn của thầy giáo. Chỉ có điều, xin đừng hiểu thuần túy theo nghĩa đen của “sự hướng dẫn này”.  Sự hướng dẫn cơ bản nhất đã được in sẵn, có đánh dấu các cột mốc trên cả con đường (quá trình) từ chỗ ra đi đến nơi phải đến bằng được.  SÁCH GIÁO KHOA chủ yếu có tính đồng loạt, còn SÁCH BÀI TẬP thì phải thực hiện được sự phân hóa tốt nhất.  SÁCH GIÁO KHOA có thể dùng đi dùng lại nhiều lần, cho nhiều năm khác nhau, còn SÁCH BÀI TẬP chỉ để cho một người dùng một lần, cho một năm học.  SÁCH BÀI TẬP có cùng một CHẤT LIỆU như SÁCH GIÁO KHOA, với đầy đủ những VẬT LIỆU ở SÁCH GIÁO KHOA, ngoài ra còn có thể thêm những VẬT LIỆU khác, đặc biệt những phản thí dụ, để có được độ tin cậy vững chắc vào CHẤT LIỆU đang hình thành.  Toàn bộ những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của giáo dục hiện đại, rút cục, được thể hiện chi tiết cho từng dòng, trên từng trang sách.  SÁCH GIÁO KHOA và SÁCH BÀI TẬP phải thỏa mãn cả hai yêu cầu: đồng loạt cho cả lớp và cá thể hóa cho từng học sinh một.  Thông qua từng trang sách giáo khoa và sách bài tập, học sinh được tiếp sức trực tiếp, nói ví dụ, với từng cây (qua VIỆC LÀM) để rồi phải thấy được cả rừng.  Qua từng TIẾT HỌC học sinh tự làm ra dần KHÁI NIỆM KHOA HỌC của một BÀI HỌC. Rồi qua từng BÀI HỌC mà hình thành dần tư tưởng (linh hồn) của MÔN HỌC.  Nhìn một lượt MÔN HỌC, BÀI HỌC và TIẾT HỌC thì mới thấy được cả mạch tư tưởng và cách triển khai nó trong thực tiễn giáo dục.  Trên một ý nghĩa nào đó, có thể ví SÁCH GIÁO KHOA và SÁCH BÀI TẬP như một bộ tiểu thuyết, hấp dẫn người đọc trên từng trang sách mà cái đọng lại là tư tưởng chủ đạo của sách (cả nội dung và phương pháp).  Người thiết kế (người viết sách giáo khoa và sách bài tập) trước hết và sau cùng, phải là một nhà giáo dục, nhà giáo dục chính cống, chứ không phải nhà toán học hay nhà ngôn ngữ học, là nhà giáo dục chính hiệu, chứ không phải là nhà văn hay nhà thơ, là nhà giáo dục đích thực, chứ không phải là họa sĩ hay nhạc sĩ, thế nhưng nhà toán học, nhà ngôn ngữ học, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ… lại không thể bắt bỏ được những gì ở sản phẩm của họ mà nhà giáo dục đưa vào sách.      Hồ Ngọc Đại      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cách dạy ngôn ngữ – tư duy mới      Đã bao giờ mọi người tự hỏi, tại sao các em học sinh lớp Một lại được học chữ a, b, c trước rồi đến chữ o, d, đ và e, g, h không? Nguyên tắc khoa học nào đằng sau thứ tự dạy các con chữ này?    12/16 tập của bộ sách đã được xuất bản  Câu trả lời là, không thực sự có một nguyên tắc rõ ràng nào cả. Các em chỉ học thuộc mặt chữ mà không ý thức được các từ ngữ liên kết với nhau ra sao. Đây là phương pháp giáo dục theo định hướng nội dung, hướng đến mục tiêu làm thế nào để học sinh có thể nhớ nội dung được giảng dạy thay vì việc các em sử dụng chúng như thế nào.  Bộ sách Phát triển năng lực tư duy – ngôn ngữ (dành cho học sinh tiểu học) (do NXB Giáo dục ấn hành, 2015) của nhà ngôn ngữ học trẻ Phạm Văn Lam (Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm KHXH VN) tìm đến một cách tiếp cận khác. Bộ sách này được biên soạn theo phương pháp giáo dục định hướng năng lực cho học sinh – một phương pháp giáo dục dựa trên năng lực đặt ra cho từng chuyên ngành và năng lực của từng cá nhân học sinh. (Phương pháp này chú trọng quản lý “đầu ra”, việc xác định mục tiêu năng lực mà mỗi học sinh phải đạt được rất rõ ràng trong từng môn học). Hơn nữa, đây có lẽ là bộ sách ứng dụng cho trẻ em đầu tiên ở Việt Nam được ra đời từ các kết quả nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành của ngôn ngữ học, tâm lí học, lô gích học, giáo dục ngôn ngữ,… Các tri thức và bài tập được thiết kế trong bộ sách dựa trên một hệ thống quan điểm lí thuyết do chính tác giả Phạm Văn Lam xây dựng, phát triển.  Mỗi từ ngữ là một viên bi lăn…   Bộ sách có 16 tập nhưng hiện nay mới ra mắt độc giả 12 tập được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó. Những tập đầu, học sinh sẽ được học về thuộc tính của các sự vật và quá trình (ví dụ như lửa thì nóng, ớt thì cay, muối thì mặn, nói thì liến thoắng, đi thì lững thững,…); được học về vai trò, chức năng, công dụng, nhiệm vụ của người, vật (ví dụ như giáo viên thì có nhiệm vụ là dạy học, học sinh thì có nhiệm vụ học bài, bác sĩ thì chữa bệnh, bệnh nhân thì bị bệnh, chữa bệnh, khám bệnh thì được diễn ra ở bệnh viện…) được học về sự so sánh phân biệt, so sánh đối lập, so sánh đồng nhất giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình và thuộc tính với nhau (ví dụ to – nhỏ, lớn bé, to lớn – nhỏ bé, chết, mất và hi sinh, nhanh và nhanh nhẹn, nhanh chóng…); được học về các thao tác tư duy quy loại, phân loại và định vị (ví dụ như hoa hồng bạch là một loại hoa, hoa là một loại thực vật, thực vật là một loài sinh vật, sinh vật là một loại thực thể…) được học các thao tác suy diễn, lập luận (ví dụ như sút thì có thể trúng hoặc trượt, vá thì suy ra rách, rách thì phải vá,…). Cuối cùng, các em sẽ được tiếp xúc với bản đồ tư duy – ngôn ngữ, là một mạng lưới hệ thống gồm các từ và khái niệm được nối với nhau theo các nguyên tắc tổ chức xác định một cách hệ thống và có lí do của ngôn ngữ và tâm lí, tư duy con người,…  Để hiểu hơn về nội dung của bộ sách, có thể hình dung như thế này, mỗi một từ được đưa ra giống như viên bi nằm trên một mặt phẳng, nó có thể lăn theo n hướng, tùy thuộc vào cách mà người ta tác động vào nó. Tác động theo hướng nào thì viên bi sẽ lăn theo hướng đó. Chẳng hạn với từ hoa, nếu kích theo hướng mặt quy loại, ta sẽ có hoa là một loại thực vật, hoa là một loại vật trang trí,… ; theo hướng phân loại, ta sẽ có hoa thì có hoa hồng, hoa lan, hoa huệ,… hoa hồng thì có hoa hồng nhung, hoa hồng bạch,…; theo hướng cấu tạo thì sẽ có hoa gồm có đài hoa, cánh hoa, nhụy hoa, hoa là một bộ phận của cây,…; theo hướng thuộc tính thì hoa có mùi thơm, có màu sắc sặc sỡ,…; theo hướng chức năng công dụng thì hoa dùng để trang trí,…; theo hướng chuỗi tiến trình thì ra nụ rồi sẽ nở hoa, đơm hoa rồi thì sẽ kết trái,…; theo hướng tư duy hình tượng thì hoa đại diện cho cái đẹp, cho người con gái, cho sự cần phải nâng niu,… Mỗi từ ngữ trong bộ sách sẽ được nhìn nhận như một phần tử ở trong hệ thống vốn có các giá trị riêng của mình, những giá trị này của từ được xác lập bởi mối liên hệ hay nói đúng hơn là sự tương phản có tính chất hệ thống với các từ khác. Chính vì vậy, khi tiếp xúc với một từ ngữ nào đó, học sinh sẽ có một bức tranh toàn cảnh về sự liên kết về mặt ngôn ngữ và tâm lí, tư duy giữa các từ, nghĩ đến từ này sẽ liên tưởng đến các từ khác một cách mặc định và tự nhiên chứ không phải học từ mới, học ngữ pháp mới theo kiểu học thuộc máy móc. Với cách học tập và rèn luyện này, bộ sách đã đánh thức, kích hoạt và phát triển được tiềm năng ngôn ngữ – tư duy sẵn có trong trí não đứa trẻ một cách tự nhiên và hệ thống. Cũng với chính cách học này, những vấn đề hóc búa mà học sinh, giáo viên và cả phụ huynh thường gặp phải như các vấn đề về từ ghép, từ láy, giải thích ý nghĩa của từ,… trong chương trình giáo dục nhà trường đã có được một lời giải đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng. Giả dụ học sinh có một từ nào đó, học sinh có thể dễ dàng tạo được rất nhiều từ khác nữa từ chính từ gốc này, và cũng rất dễ dàng hiểu và giải thích được ý nghĩa của chúng. Chẳng hạn, áp dụng mô hình  X + ăn để sản sinh từ, học sinh sẽ dễ dàng có được một loạt từ như nhỏ nhắn, xinh xắn, đứng đắn, vuông vắn, tươi tắn, may mắn, ngay ngắn, chín chắn,…, học sinh cũng dễ dàng hiểu và giải thích được rằng những từ láy này là những từ mang ý nghĩa khái quát, có nét nghĩa đánh giá tích cực  so với chính những tiếng gốc, từ gốc.  Mục đích của bộ sách là đánh thức, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy ngôn ngữ cho trẻ em. Từ vốn từ quen thuộc có sẵn, các em có thể phát triển thành một hệ thống từ vựng lớn hơn, được tổ chức một cách mạch lạc, các em sẽ có được năng lực giải thích từ ngữ, năng lực sản sinh ra các mệnh đề và năng lực viết và nói, cao hơn nữa là các em có thể có được năng lực quy gán và giải thích, tạo lập các ý nghĩa xã hội của lời nói một cách phù hợp trong từng ngữ cảnh sử dụng riêng rẽ. Những bài tập đầu tiên của bộ sách xuất phát từ những “từ mớm” – những viên bi rất quen thuộc như gà, vịt, học sinh, cô giáo, bảng đen, phấn trắng… đối với mỗi đứa trẻ. Nhưng đến khi đọc, học xong bộ sách thì học sinh đã có được một mạng lưới hệ thống từ ngữ và khái niệm phức tạp, có quan hệ với nhau theo những nguyên tắc ngôn ngữ, lô gích xác định, có được và nắm được các thao tác tư duy lô gích và hình tượng xác định vốn luôn song hành với những từ ngữ, khái niệm đó. Anh Phạm Văn Lam cho biết: “Đứa trẻ nào cũng có những từ như vịt, gà, trứng, đẻ, biết gáy, biết kêu, ò ó o… Và các em cũng hiểu được rằng gà là vật nuôi trong nhà, gà trống thì gáy ò ó o, gà mái thì gáy cục ta cục tác, gà mái thì đẻ trứng, biết ấp và nuôi con nhưng vịt cũng biết đẻ trứng nhưng lại không biết ấp và nuôi con,… Bộ sách chỉ làm nhiệm vụ là kích hoạt những từ ngữ vốn có như vậy sao cho chúng có thể được lấy ra và sử dụng một cách dễ dàng, hiệu quả và nhanh nhất, đáp ứng được các mục đích liên tưởng, suy luận, sáng tạo, giao tiếp, biểu đạt tư tưởng phức tạp của con người”.    “Tự vui chơi, vui học”  Mặc dù đây là bộ sách về tư duy – ngôn ngữ nhưng người sử dụng sẽ thấy ngạc nhiên vì có rất nhiều tri thức dân gian và tri thức bách khoa, chẳng hạn như đặc điểm của các loài cá, đặc điểm của các loài chim, các trạng thái tồn tại của nước, thuộc tính của các nhân vật trong truyện cổ tích… Lí do được đưa ra rất đơn giản: “Nếu muốn có khả năng đọc hiểu, giải mã (lời nói, văn bản), muốn có năng lực giao tiếp nói và viết tốt thì phải có mạng lưới những khái niệm, tri thức bách khoa, tri thức nền. Đã sử dụng ngôn ngữ, hơn nữa là muốn sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và hiệu quả thì phải có những cái này” – anh Lam cho biết.   Các bài tập đã được thiết kế theo tinh thần “học mà chơi, chơi mà học”, “tự vui chơi, vui học” nhưng lại không hề đơn giản và đôi khi có thể người lớn cũng phải gãi đầu gãi tai bởi nó đòi hỏi người “chơi” phải suy luận một cách có hệ thống theo các nguyên tắc sẵn có của ngôn ngữ và lô gích. Hơn nữa, nhiều tình huống truyện, nhiều bài tập được thiết kế theo lô gích đa trị, với những đáp án và cách giải quyết mở,… Chính vì vậy, bộ sách khuyến khích người lớn tương tác và trò chuyện với trẻ em khi trẻ em làm bài tập. “Vì thế, những ai tư duy thông thường, tư duy đơn giản đúng hoặc sai, một chiều thì mới chỉ khai thác được một phần lợi ích của bộ sách” – Anh Lam nói.   Cách học xem xét một từ trong mối quan hệ cả về mặt ngữ nghĩa lẫn lô gích với các từ khác ở trong hệ thống như vậy có phải là cách học ngôn ngữ nhanh nhất? Không chỉ nhanh nhất mà còn là hiệu quả nhất. “Khi ta thiết lập một mạng lưới từ theo các nguyên tắc ngôn ngữ, lô gích, tâm lí cụ thể như thế thì ta mới biết ngôn ngữ của mình có tổ chức như thế hay không, vốn từ vựng của ta được tổ chức như thế nào so với người khác, các thuật ngữ khoa học có gì khác với ngôn ngữ dân gian. Tiếng Việt nói bàn tay, cánh tay, khuỷu tay nhưng tiếng Anh không gọi các bộ phận của tay có chữ tay như vậy, hay chúng ta bảo cái này là tóc, cái này là râu, cái này là  ria, cái này là  lông, cái này là  lông cáy, … nhưng tiếng Anh họ dùng một từ cho tất cả.” Như vậy, với cách tiếp cận của bộ sách, học sinh sẽ học được một hệ thống từ vựng, khái niệm tiếng Việt một cách nhanh chóng và hiệu quả do chỗ học từ này sẽ biết được từ kia, học từ này qua từ kia, học từ này liên quan đến từ kia, học một từ sẽ biết được một loạt các thao tác tư duy liên quan…   Tác giả của bộ sách, Phạm Văn Lam không chỉ dành hơn 10 năm nghiên cứu về ngôn ngữ học (cụ thể là từ vựng học, ngữ nghĩa học, ngôn ngữ dân tộc, giáo dục ngôn ngữ,…) mà còn là người tự học được nhiều ngoại ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Anh từng giảng dạy đại học ở Masarakhan, Thái Lan trong vòng 3 năm.  Anh cũng đã cùng với các đồng nghiệp từng thực hiện đề tài xây dựng Mạng từ tiếng Việt (wordnet) do Bộ KH&CN tài trợ. Mạng từ về bản bản chất là một hệ thống các khái niệm được tổ chức theo theo các quan hệ lô gích – ngữ nghĩa như đồng nghĩa, trái nghĩa quy loại, phân loại,  nhân quả,… Mạng từ đã được phát triển ở nhiều nước và có thể được sử dụng như một từ điển và được ứng dụng nhiều vào trong các hoạt động xử lí ngôn ngữ tự nhiên như dịch máy, tóm tắt văn bản, truy vấn thông tin…       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Một cách nói khác      Có thể hiểu hành vi xô đổ cổng trường Thực nghiệm của các bậc phụ huynh chính  là một cách nói khác của người dân về tính bức thiết phải đổi mới căn  bản và toàn diện nền giáo dục hiện nay, như Đại hội Đảng lần thứ XI đã  nêu ra hồi đầu năm ngoái.      Năm học cũ chưa kết thúc, nhưng không khí năm học mới đã nóng hầm hập sau sự kiện hàng trăm phụ huynh xô đổ cổng sắt trường PTCS Thực nghiệm (Hà Nội) để tranh suất mua hồ sơ vào lớp 1 cho con sáng 12/5. Ngay ở một đất nước mà việc xếp hàng hầu như được mặc định chưa phải là thói quen như Việt Nam thì sự kiện không mấy đẹp mắt này vẫn khiến người ta phải suy nghĩ. Vì sao các bậc phụ huynh “quyết liệt” như vậy? Vì sao nạn nhân lại là cái cổng trường Thực nghiệm chứ không phải của ngôi trường nào khác?  Trường PTCS Thực nghiệm ra đời năm 1978, là mô hình cụ thể hóa tư tưởng công nghệ hóa quá trình giáo dục để có thể kiểm soát nó một cách chắc chắn, không may rủi của GS Hồ Ngọc Đại. Ngôi trường nổi tiếng với những khẩu hiệu như: “Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui”, “Trò là nhân vật trung tâm, thầy đóng vai trò quyết định”, “Thầy thiết kế – trò thi công”…  Thế nhưng, nên biết rằng tư tưởng giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại ngay từ đầu đã không nhận được sự ủng hộ từ những người có học hàm học vị, có chức trách nhà nước. GS Hồ Ngọc Đại kể: Khi tôi đưa ra khẩu hiệu học trò là trung tâm thì họ la lên thầy giáo sẽ bị cho ra rìa à? Khi tôi nói phải công nghệ hóa quá trình giáo dục thì họ bảo giáo dục là “mềm dẻo”, sao lại là một công nghệ cứng nhắc?  Trong khi việc tranh luận học thuật còn chưa ngã ngũ và phương pháp giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại vẫn chỉ dừng ở thử nghiệm, thì sự lựa chọn của các bậc phụ huynh lại tỏ ra rất rõ ràng và dứt khoát – hình ảnh cổng trường bị xô đổ đủ nói lên điều đó. Có bậc cha mẹ nào không mong muốn một môi trường giáo dục tốt lành cho con mình, bởi vậy hành động của họ có thể bột phát, nhưng không hẳn là ngẫu nhiên, và ở khía cạnh nào đó, còn đáng được thông cảm, nếu chúng ta nhìn vào thực tế phổ biến của nền giáo dục bấy lâu nay – tốn kém, nhiều áp lực mà không hiệu quả. Cũng có thể hiểu hành vi xô đổ cổng trường chính là một cách nói khác của người dân về tính bức thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục hiện nay, như Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu ra hồi tháng 1/2011.  Từ trước đó, Việt Nam đã không ngừng thể hiện mong muốn và quyết tâm đổi mới nền dục qua Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2000 và các chỉ thị đi kèm. Nhưng vì mọi sự đổi mới chỉ hạn chế trong phạm vi sách giáo khoa – mà về cơ bản vẫn là độc quyền, những đổi mới cốt lõi về phương pháp và triết lý giáo dục hầu như không được đề cập, nên các vấn đề bí bách như nạn học thêm, học vụ điểm, chạy trường chạy lớp…, không được giải quyết tận gốc. Qua sự kiện phụ huynh xô đổ cổng trường Thực nghiệm, một lần nữa chúng ta lại được kiểm chứng kết quả thực tế, chứ không phải là kết quả trên giấy tờ, của chương trình năm 2000: Sau nhiều năm ngành giáo dục thực hiện đổi mới với biết bao tốn kém, các bậc phụ huynh vẫn chưa trút được nỗi hoang mang, lo lắng về con đường học tập của con cái mình.   Lên tiếng bằng một cú xô đổ cổng, các bậc phụ huynh cho thấy lòng kiên nhẫn và niềm tin của họ ở ngành giáo dục đang bị thử thách đến giới hạn. Vấn đề là tiếng nói đó sẽ được lắng nghe như thế nào?  Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cái nhìn về giáo dục đại học Hà Lan và Việt Nam      Cuộc thi viết “Tôi mong đợi gì ở các trường đại học?” do trường Đại học Hoa Sen tổ chức nhân kỷ niệm Đại học Humboldt 200 tuổi hướng đến mục tiêu lắng nghe nguyện vọng của sinh viên và công chúng. Bài viết được trích đăng sau đây là của thí sinh đoạt giải&#160; nhì Hoàng Trung Nghĩa, người chia sẻ những khác biệt giữa hai môi trường học tập Việt Nam và Hà Lan và đưa ra những gợi ý thu ngắn khoảng cách.    …Với tư cách là một sinh viên đã hoàn thành chương trình đại học cả ở  Việt Nam lẫn Hà Lan, tôi xin trình bày một cách ngắn gọn nhất những ưu  điểm của hệ thống giáo dục Hà Lan, qua đó nêu ra một số điểm hệ thống  giáo dục Việt Nam cần khắc phục…     Giáo dục đại học Hà Lan chú trọng vào phát triển khả năng tự học, sự tự tìm tòi, khám phá của sinh viên. Mỗi năm học được chia thành 5 “block” – mỗi block gồm 7 tuần học và 1 tuần thi. Trong 7 tuần ngắn ngủi đó, sinh viên phải biết cách tự quản lý quỹ thời gian của mình sao cho hợp lý. Bài giảng của giáo viên chỉ là sự giới thiệu môn học một cách cơ bản và tổng quát nhất, thông thường chỉ khoảng 2 tiết một tuần. Những bài giảng này được đưa lên trang web của trường một hai ngày trước buổi học để sinh viên có thể soạn bài trước ở nhà. Sau mỗi bài giảng, thường có một số lượng rất đông sinh viên xếp hàng để giáo viên giải đáp các thắc mắc. Nhiệm vụ của sinh viên là dựa vào bài giảng, đọc giáo trình và hệ thống hóa kiến thức cho riêng mình.        Khi tôi còn là sinh viên của trường Đại học  Ngoại thương TP.HCM, chúng tôi được học lập trình FoxPro của những năm  80– vừa khó lại vừa lạc hậu và chẳng còn ai sử dụng. Giáo viên dạy môn  đó nói với chúng tôi rằng anh không được đổi sang một lập trình khác do  quy định của trường là vậy.        Các trường đại học Hà Lan luôn chọn lựa những giáo trình hay nhất, cập nhật nhất, thường là từ các nhà xuất bản như Oxford, Harvard hay Routledge. Ngoài những môn bắt buộc, sinh viên được quyền chọn những môn mình yêu thích. Những môn học này luôn bám sát thực tế và có khả năng ứng dụng cao. Lấy ví dụ môn thống kê: giáo viên không bao giờ yêu cầu sinh viên học từng công thức một vì họ biết bất kỳ một phần mềm thống kê nào cũng đã tích hợp những công thức đó. Trái lại, họ đòi hỏi sinh viên phải hiểu công thức đó được dùng trong những trường hợp nào, kết quả đầu ra từ phần mềm mang ý nghĩa gì và có hợp lý hay không. Sinh viên được cung cấp dữ liệu thực tế, khi là tình hình kinh doanh của các công ty, khi thì chỉ số cổ phiếu của một sàn giao dịch nào đó. Vì vậy, hầu hết sinh viên rất hào hứng với môn học của mình vì họ biết những kiến thức này là cần thiết cho nghề nghiệp tương lai của họ.   Trong năm cuối đại học, các sinh viên phải chọn một “seminar” – được tổ chức như một hội thảo thực sự. Sinh viên được cung cấp tài liệu cần thiết, thông thường là các bài viết trên các tạp chí khoa học có uy tín. Tôi còn nhớ một trong những bài viết tôi được cung cấp là bài viết về cấu trúc của Modigliani (Nobel Kinh tế năm 1985) và Miller. Chúng tôi được yêu cầu đưa ra nhận định của mình về tính ứng dụng của lý thuyết trong thời điểm hiện tại, về những điểm chưa hợp lý trong bài viết. Mỗi tiết học, một sinh viên sẽ phải đóng vai “Chủ tịch hội nghị”– là người điều hành buổi hội thảo và cũng là người lắng nghe, phân tích và tổng hợp ý kiến của các thành viên tham dự. Đóng góp, phát biểu trong hội thảo là những chỉ tiêu quan trọng để giáo viên cho điểm các sinh viên.   Để có đủ kiến thức, sinh viên phải tìm tòi và đọc rất nhiều. So với sinh viên châu Âu, sinh viên châu Á thường rất nhút nhát trong việc đưa ra ý kiến của mình, nhưng giáo viên luôn tìm cách khuyến khích để các sinh viên thụ động trở nên bạo dạn hơn. Mỗi tháng một lần, giáo viên sẽ gặp riêng từng sinh viên để trao đổi ý kiến về khóa học, đưa ra nhận xét về tình hình học tập của sinh viên đó và góp ý để sinh viên tham gia hội thảo tốt hơn. Do đó, hình thức học theo kiểu hội thảo này rất hiệu quả trong việc giúp sinh viên phát triển tư duy, nhận định, khả năng ngôn ngữ, giao tiếp và sự tự tin.        Những bài giảng này được đưa lên trang web  của trường một hai ngày trước buổi học để sinh viên có thể soạn bài  trước ở nhà. Sau mỗi bài giảng, thường có một số lượng rất đông sinh  viên xếp hàng để giáo viên giải đáp các thắc mắc.        Hầu như tất cả các khóa học đều có bài tập nhóm. Điểm được chấm cho toàn bài và cũng cho từng cá nhân. Vì vậy, sinh viên vừa phải nỗ lực cho phần bài viết của mình, vừa phải đóng góp để cho bài viết của đội mình tốt hơn. Bài tập nhóm thường rất thú vị và hấp dẫn. Chẳng hạn nhóm chúng tôi được yêu cầu thiết lập các mô hình kinh tế để định giá tài sản của Công ty Bưu chính TNT. Giáo viên hướng dẫn của chúng tôi – cũng như hầu hết các giáo viên khác của trường là giáo viên kiểu 4/1, nghĩa là 4 buổi trong tuần họ là nhân viên của một công ty nào đó và 1 buổi là giáo viên của trường. Chính giáo viên này cũng đang cùng các đồng nghiệp của mình thực hiện dự án định giá tài sản của TNT. Mỗi khi bế tắc, chúng tôi có thể viết email cho giáo viên và họ trả lời rất nhiệt tình. Cuối khóa học, chúng tôi phải trình bày kết quả định giá của mình trước đại diện của công ty TNT. Vì thế, tôi và các bạn tôi đều rất hào hứng và luôn cố gắng để hoàn thành bài tập của mình một cách tốt nhất.   Một trong những bài tập khác mà tôi còn nhớ, đó là trò chơi giả lập đầu tư chứng khoán. Mỗi nhóm sẽ được cung cấp một số vốn nhất định để đầu tư sao cho rủi ro là thấp nhất và lợi nhuận là cao nhất. Bài tập này buộc chúng tôi phải biết cách phân tích rủi ro, cách tính lợi nhuận và dự đoán biến động của danh mục đầu tư của mình. Đó là một sự tìm tòi, khám phá đầy khó khăn nhưng bổ ích và thú vị.  Để tốt nghiệp, chúng tôi phải hoàn thành khóa luận tốt nghiệp– được bắt đầu bằng việc trình bày bằng văn bản ý tưởng của mình với giáo viên. Chỉ khi nào ý tưởng được kiểm chứng là khả thi và hữu dụng thì đề tài mới được thông qua. Mỗi sinh viên đều được cung cấp mật mã để tải số liệu và dữ liệu từ những nguồn phổ biến nhất trên thế giới như Thomson One Banker, Bloomberg, Zephyr… Sách trong thư viện vô cùng phong phú, thủ tục mượn sách rất đơn giản và dễ dàng. Mọi thông tin cần thiết về tài liệu đều được lưu trong cơ sở dữ liệu. Trong trường hợp tài liệu cần mượn không có trong trường, quản lý thư viện sẽ liên lạc với các trường khác để sinh viên có được tài liệu trong thời gian nhanh nhất. Sinh viên phải trình bày kế hoạch thực hiện đề tài của mình và giáo viên hướng dẫn có trách nhiệm giúp đỡ sinh viên bằng mọi cách để hoàn thành khóa luận của mình. Tất cả các bài tập hay luận văn của sinh viên đều được kiểm tra rất kỹ bằng phần mềm chống đạo văn của trường. Vì thế, không có chuyện sinh viên làm luận văn bằng cách xào lại hay cắt dán từ những những tài liệu có sẵn… Sau khi nộp luận văn, giáo viên hướng dẫn sẽ tự tìm một giáo viên khác để đọc và phản biện, sinh viên không được biết trước tên của giáo viên này. Do đó, việc sinh viên tặng quà hay đút tiền cho giáo viên là chuyện không bao giờ có.         Tất cả các bài tập hay luận văn của sinh  viên đều được kiểm tra rất kỹ bằng phần mềm chống đạo văn của trường. Vì  thế, không có chuyện sinh viên làm luận văn bằng cách xào lại hay cắt  dán từ những những tài liệu có sẵn…        Sau mỗi khóa học, sinh viên được yêu cầu đánh giá khóa học của mình, bao gồm cả việc đánh giá giáo viên. Thông tin về sinh viên đánh giá hoàn toàn được bảo mật. Các chỉ tiêu đánh giá thường là: Bạn có hài lòng về khóa học của mình? Khóa học này có thiết thực đối với bạn? Bạn đánh giá thế nào về giáo trình môn học? Bạn đánh giá thế nào về giáo viên?… Kết quả đánh giá của sinh viên sẽ được tổng hợp và công bố cho toàn thể sinh viên. Giáo viên nhận được nhiều đánh giá khả quan nhất của sinh viên sẽ được chọn là “Giáo viên của năm”. Việc này buộc các giáo viên luôn phải nỗ lực để khóa học của mình tốt hơn. Bên cạnh đó, điểm số của sinh viên được thông báo qua trang web của trường. Sinh viên có thể biết được tỉ lệ đậu hay trượt là bao nhiêu và mình đứng thứ mấy trong khóa học.     Trong khi đó, nhìn về giáo dục đại học Việt Nam, không khó để chúng ta trả lời vì sao chất lượng đầu ra của sinh viên nước ta còn thấp. Thứ nhất, giáo dục đại học Việt Nam không quá khác biệt với giáo dục phổ thông, nghĩa là còn nặng về việc dạy và học theo hình thức đọc, chép và học thuộc lòng. Thực trạng này dẫn đến việc học thụ động, không khuyến khích được sự tự tìm tòi, khám phá của sinh viên. Chính vì nặng về dạy học theo kiểu đọc – chép nên giáo dục đại học Việt Nam không có thời gian cho việc rèn luyện các kỹ năng khác của sinh viên. Sinh viên Việt Nam, dù đã tốt nghiệp, ra trường và đi làm, vẫn không đủ tự tin để phát biểu trước đám đông. Bên cạnh đó, giáo dục đại học Việt Nam chưa chú trọng nhiều đến việc phát triển khả năng làm việc tập thể của sinh viên. Việc này giải thích tại sao sinh viên Việt Nam thường gặp khó khăn khi phải làm việc theo đội nhóm.    Thứ hai, cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam còn yếu kém và giáo viên bị gò bó về nhiều mặt. Điển hình, khi tôi còn là sinh viên của trường Đại học Ngoại thương TP.HCM, chúng tôi được học lập trình FoxPro của những năm 80 – vừa khó lại vừa lạc hậu và chẳng còn ai sử dụng. Giáo viên dạy môn đó nói với chúng tôi rằng anh không được đổi sang một lập trình khác do quy định của trường là vậy. Chúng tôi cảm thấy thời gian chúng tôi bỏ ra cho môn này là một sự lãng phí lớn. Hơn nữa, chúng tôi không khỏi ngán ngẩm khi biết đến kỳ thi, chúng tôi phải viết lập trình trên giấy.   Thứ ba, chất lượng giảng viên đại học Việt Nam không cao, vẫn còn tình trạng “cử nhân đào tạo cử nhân”. Có thể vì văn hóa, chúng ta ngại chuyện sinh viên đánh giá giáo viên, nhưng việc này rất bình thường ở những quốc gia khác. Có đánh giá, giáo viên mới biết chất lượng giảng dạy của mình thế nào và cố gắng hơn để đáp ứng yêu cầu của sinh viên.   Thứ tư, chuyện “xào” lại luận văn của sinh viên vẫn là căn bệnh nan y. Một khi không có cách ngăn chặn hiệu quả, chúng ta không thể nâng cao khả năng tư duy và nghiên cứu khoa học của sinh viên – và vì thế mục tiêu giáo dục của chúng ta bị thất bại. Trong khi đó, các phần mềm kiểm tra đạo văn đã được hầu hết các nước châu Âu, Mỹ và một số nước châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản ứng dụng.   Thứ năm, ngăn chặn việc “đi cửa sau” của sinh viên không phải là một việc khó. Chỉ cần chúng ta áp dụng mô hình của Hà Lan: sinh viên không được biết tên của giáo viên phản biện và giáo viên phản biện nắm vai trò quyết định trong việc đánh giá kết quả của sinh viên. Chỉ khi nào chúng ta có một hệ thống giáo dục công bằng, minh bạch thì chất lượng giáo dục của chúng ta mới được cải thiện.   Để kết thúc, tôi xin mượn lời của Sherwood Anderson – nhà văn người Mỹ: “Toàn bộ mục tiêu của giáo dục là để phát triển tư duy. Tư duy sẽ là thứ duy nhất phát huy hiệu quả”1. Rõ ràng, giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn quá nhiều việc phải làm để mục tiêu này thành hiện thực.   ——–  * Ths.- Đại học Erasmus Rotterdam– Hà Lan  ———————  1 “The whole object of education is to develop the mind. The mind should be a thing that works.” –  Sherwood Anderson (1876–1941)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một chương trình-nhiều bộ SGK: Những điều kiện đủ      Chủ trương “Một chương trình-nhiều bộ sách giáo khoa” của Bộ Giáo dục và Đào tạo” là rất đáng hoan nghênh nhưng nó chỉ phát huy tác dụng và không rơi vào “chủ nghĩa hình thức” khi được bảo đảm bởi những điều kiện đủ nhất định.      Theo tin từ Đài truyền hình Việt Nam (VTV)1, Chính phủ và Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đồng ý thực hiện “một chương trình-nhiều bộ SGK”. Cho dù trong cuộc phỏng vấn, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển chưa cho biết lộ trình, thời gian cụ thể thực hiện cơ chế trên nhưng đây thực sự là một tín hiệu tốt, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy của phía quản lý giáo dục. Đứng ở góc độ là một giáo viên, tôi ủng hộ quyết định này.   “Một chương trình-nhiều bộ sách giáo khoa” có thể được diễn đạt ngắn gọn bằng một thuật ngữ mượn từ tiếng Nhật là “cơ chế  kiểm định SGK”. Bản chất của cơ chế này nằm ở chỗ nó thừa nhận tính tương đối của SGK: SGK chỉ đóng vai trò là một trong những tài liệu tham khảo chủ yếu, quan trọng trong quá trình học tập chứ không phải là duy nhất và tuyệt đối. Những điều viết trong SGK không phải là chân lý tuyệt đối đúng đắn, bất di bất dịch mà giáo viên chỉ cần thuyết giảng, học sinh chỉ cần ghi nhớ là… xong. Trong cơ chế này, Bộ Giáo dục & Đào tạo sẽ đóng vai trò là nơi đưa ra khung hướng dẫn, quy chế thực hiện biên soạn, thẩm định, lựa chọn SGK và giám sát việc thực hiện. Việc biên soạn nội dung cụ thể của SGK sẽ trở thành quyền tự do của các cá nhân hoặc tập thể tác giả và nhà xuất bản (NXB).   Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều cơ chế biên soạn và tuyển chọn sách giáo khoa như: “quốc định”, “kiểm định”, “tự do”. Ở cơ chế “quốc định”, nhà nước sẽ nắm quyền biên soạn, phát hành một bộ SGK duy nhất. SGK đó sẽ được sử dụng thống nhất ở tất cả các vùng, miền. Cơ chế “tự do” rất thịnh hành ở các nước Bắc Âu, nơi SGK được xuất bản và lựa chọn giống như vô vàn các cuốn sách thông thường khác. Những nước như Nhật Bản, Trung Quốc… hiện đang thực hiện cơ chế “kiểm định”.   Xét trong lịch sử giáo dục thế giới, chế độ kiểm định SGK thường xuất hiện cùng lúc với quá trình cận đại hóa giáo dục. Nhật Bản đã thực hiện cơ chế này từ thời Minh Trị (1868-1912) và tái thực hiện nó từ năm 1945 sau một thời gian dài gián đoạn bởi chủ nghĩa phát xít. Ở Việt Nam, phải thừa nhận một điều chúng ta không có truyền thống và kinh nghiệm đối với cơ chế này. Nhưng đây là bài toán mà thế giới đã giải xong từ vài chục năm trước, bởi vậy chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi và áp dụng. Hơn nữa, cơ chế kiểm định SGK sẽ là một tất yếu không thể tránh nếu muốn cải cách giáo dục. Tuy nhiên, nhìn vào kinh nghiệm của Nhật Bản, tôi muốn nêu ra đây một vài vấn đề cần lưu ý khi thực hiện cơ chế này.   Những cái khó sẽ cần tháo gỡ  Thứ nhất, cần lưu ý và đảm bảo tính minh bạch, công khai, công bằng của toàn bộ quy trình thẩm định và lựa chọn SGK. Bộ Giáo dục & Đào tạo cần phải có quy chế chặt chẽ đảm bảo không có những tiêu cực dưới dạng “ưu ái” hay “phân biệt đối xử”  đối với các bản thảo đăng kí thẩm định. Các quy định này cần phải được công bố rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng để giới chuyên môn và nhân dân theo dõi, giám sát. Các nội dung thẩm định, yêu cầu sửa chữa, lý do “đánh trượt”… cần phải được thông báo bằng văn bản đối với NXB và tác giả. Các tác giả và NXB có quyền phản biện, khiếu nại, bảo lưu ý kiến khi không cảm thấy thỏa mãn với quyết định của Hội đồng thẩm định. Các cuốn sách không vượt qua vòng thẩm định có thể xuất bản dưới dạng sách tham khảo hoặc sách phổ biến tri thức thông thường khác.   Thứ hai, cần đảm bảo tính liêm chính, công bằng và tiêu chuẩn học thuật của Hội đồng thẩm định. Khi thực hiện cơ chế kiểm định SGK, đương nhiên Bộ Giáo dục & Đào tạo sẽ phải là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc tổ chức Hội đồng thẩm định. Vấn đề đặt ra là Hội đồng thẩm định sẽ gồm những ai? Quyết định cuối cùng đối với bản thảo SGK là quyết định của chủ tịch Hội đồng hay dựa trên kết quả của các lá phiếu độc lập từ mỗi thành viên? Theo kinh nghiệm của nước Nhật, thành viên của Hội đồng cần có sự tham gia của các thành phần như: quan chức quản lý giáo dục, các giáo sư ở các trường đại học, các nhà nghiên cứu độc lập, giáo viên giảng dạy trực tiếp tại trường phổ thông, đại diện hội đoàn xuất bản và truyền thông… Thành viên của Hội đồng phải là những người có uy tín về mặt khoa học và đạo đức học thuật. Hội đồng phải được giám sát chặt chẽ bởi công luận để tránh việc “đi đêm” giữa Hội đồng với phía biên soạn SGK.   Thứ ba, cần xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm lựa chọn SGK. Một khi chấp nhận và thực hiện cơ chế kiểm định SGK nói trên thì việc lựa chọn bộ SGK nào trong số các bộ SGK vượt qua vòng thẩm định theo định kì sẽ thuộc về ai? Giáo viên bộ môn, tổ chuyên môn, sở giáo dục và đào tạo hay hiệu trưởng nhà trường? Cần phải có “hàng rào pháp lý” để ngăn chặn sự lựa chọn dựa trên lợi ích phe nhóm thay vì dựa trên chất lượng SGK và mục tiêu giáo dục.   Kinh nghiệm của Nhật Bản  Ở Nhật Bản, việc biên soạn SGK mọi cấp từ tiểu học đến THPT là do các NXB tư nhân và các tác giả tiến hành, không có sự tham gia trực tiếp của nhà nước. Các SGK mà chúng ta thấy học sinh Nhật Bản sử dụng trong trường là các cuốn sách được các NXB này biên soạn dựa trên bản “Hướng dẫn học tập” của Bộ Giáo dục. Văn bản này là văn bản chỉ đạo chính thức của Bộ Giáo dục về mục tiêu, nội dung, phương pháp của từng môn học ở các cấp phổ thông. Tuy nhiên bản “Hướng dẫn học tập” này của Bộ Giáo dục rất chung chung và chỉ nêu ra những điểm gợi ý mang tính chất khái quát. Do vậy để tiến hành biên soạn sách SGK, các NXB phải chủ động và dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu văn bản này và biên soạn nên nội dung của SGK. Sau khi biên soạn xong, NXB sẽ đăng kí xin thẩm định. Bộ giáo dục sẽ tiến hành kiểm tra, thẩm định các bản thảo được đăng kí và đưa ra quyết định nó có được trở thành SGK hay không. Thủ tục thẩm định được xác định bởi “Quy tắc kiểm định sách giáo khoa” và bản “Hướng dẫn học tập”.   Những văn bản này đều được đăng tải công khai. Đảm nhận công việc này là Hội đồng thẩm định SGK do Bộ Giáo dục thành lập. Hội đồng này thường bao gồm các viên chức của Bộ, nhân viên thẩm định do Bộ chỉ định từ các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông và đại học với số lượng khoảng vài trăm người. Các buổi thảo luận để đưa ra quyết định của Hội đồng được tiến hành công khai. Theo thông lệ, kết luận của Hội đồng thẩm định sẽ được đưa ra vào tháng 11 cùng năm tiếp nhận đăng kí. Trong trường hợp cuốn sách được công nhận là SGK, thông báo trúng tuyển sẽ được  gửi ngay tới NXB . Tuy nhiên trên thực tế thì phần lớn các cuốn sách đăng kí không được Hội đồng thẩm định chấp nhận nguyên văn mà Hội đồng sẽ bảo lưu quyết định và yêu cầu sửa chữa với văn bản giải thích cụ thể các điểm. Đối với các trường hợp không đạt, Hội đồng phải đưa ra thông báo công khai. Trong trường hợp này, NXB có quyền phản biện ý kiến thẩm định và yêu cầu được tái thẩm định.   Các SGK sau khi vượt qua vòng thẩm định sẽ được tuyển chọn đưa vào sử dụng. Các trường THPT và các trường tiểu học, THCS công lập có thể lựa chọn SGK từ danh sách các SGK đã qua kiểm định theo quy mô trường hoặc  theo khu vực quy định. Tính ở thời điểm năm 2011 trên toàn nước Nhật phân chia làm 582 khu vực tuyển chọn SGK. Mỗi khu vực này sẽ chọn chung một bộ sách giáo khoa.   Một khi thực hiện cơ chế kiểm định SGK, triết lý, quy trình, cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá  đương nhiên cũng thay đổi. Mục tiêu giáo dục sẽ là tiêu chuẩn quy chiếu quan trọng khi tiến hành kiểm tra đánh giá. Ở Nhật trừ kì thi tuyển sinh vào cấp Trung học phổ thông (dùng đề thi riêng của từng trường) và kì thi tuyển sinh vào đại học (dùng đề chung trên toàn quốc)  mang tính cạnh tranh, việc  kiểm tra đánh giá học tập thuộc quyền tự chủ của giáo viên và nhà trường. Sự phong phú của SGK và thực tiễn giáo dục của giáo viên không hề gây khó khăn cho kiểm tra đánh giá bởi nó vẫn tuân thủ mục tiêu giáo dục và những nội dung cơ bản  nhất được quy định trong bản “Hướng dẫn học tập” của Bộ.   Cần một triết lý giáo dục rõ ràng và cụ thể  Cuối cùng, chúng ta cần phải ghi nhớ rằng trong một cuộc cải cách giáo dục để tạo nên sự thay đổi căn bản, đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi tình thế khó khăn có thể nói là nguy nan hiện tại, cơ chế kiểm định SGK là cần thiết nhưng chưa đủ. Mục đích của cơ chế này là nhắm đến tính tự chủ, sáng tạo của các tác giả viết SGK và quan trọng hơn là sự sáng tạo, chủ động trong tinh thần tự do truy tìm chân lý của giáo viên trực tiếp giảng dạy tại hiện trường giáo dục. Triết lý-mục tiêu-phương châm giáo dục cần phải được minh định để các giáo viên căn cứ vào đó mà sáng tạo. Mẫu hình con người mơ ước- nơi thể hiện tập trung triết lý giáo dục- càng rõ ràng và có tính phổ quát thì sẽ càng tạo điều kiện thuận lợi giúp định hướng cho giáo viên.   Thêm nữa,  cần chú ý rằng cơ chế này sẽ không phát huy được tác dụng và rơi vào “chủ nghĩa hình thức” một khi khung hướng dẫn do Bộ đưa ra quá chặt chẽ, chi tiết. Nên nhớ rằng bản hướng dẫn chương trình càng ngắn gọn, khái quát thì sẽ càng tạo thuận lợi cho  các tác giả SGK và giáo viên. Các cơ quan và những người nắm giữ vai trò quản lý giáo dục cần phải  công nhận và đảm bảo cho mối quan hệ độc lập tương đối giữa chương trình-SGK và “thực tiễn giáo dục” của giáo viên. Về phía những người giáo viên, nên coi đây là cơ hội lớn để tiến hành các “thực tiễn giáo dục”. Những “thực tiễn giáo dục” phong phú từ hiện trường sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng tạo nên hàng vạn, hàng triệu cuộc  “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Sự tương tác giữa hai dòng chảy cải cách giáo dục “từ trên xuống” và “từ dưới lên” sẽ tạo ra những thay đổi quan trọng và tích cực cho giáo dục Việt Nam.   —  1 http://vtv.vn/thoi-su-trong-nuoc/se-co-mot-chuong-trinh-nhieu-bo-sach-giao-khoa/120856.vtv      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một chút kỷ niệm với Văn Như Cương      Thầy Văn Như Cương trong giờ nghỉ với học trò trường Lương Thế Vinh ( ảnh: Bùi Văn Sơn) Thoắt một cái, chỉ mới cách hôm nay chừng hai tuần lễ, tại nhà Đoàn Tử Huyến, chúng tôi chia tay nhau, Văn Như Cương về trước, còn lại Trung Trung Đỉnh, Phạm Xuân Nguyên và …      Thầy Văn Như Cương trong giờ nghỉ với học trò trường Lương Thế Vinh ( ảnh: Bùi Văn Sơn)  Thoắt một cái, chỉ mới cách hôm nay chừng hai tuần lễ, tại nhà Đoàn Tử Huyến, chúng tôi chia tay nhau, Văn Như Cương về trước, còn lại Trung Trung Đỉnh, Phạm Xuân Nguyên và tôi ngồi nán lại…  Văn Như Cương lách qua chỗ Đoàn Tử Huyến rồi đi ngang qua tôi, anh nắm tay chào tôi theo thói quen, Đại ca tiếp tục nỗ lực nhé…   Không ngờ, đó lại là lời di chúc của Văn Như Cương cho tôi.  Tôi không phải dân Toán. Tôi vô cùng dốt Toán. Thời Pháp thuộc, học hết Tiểu học, tôi không sao vào nổi một trường công lập, chỉ vì những bài Toán số học lằng nhằng bằng tiếng Tây về cái vòi chảy vào cái vòi chảy ra và những cái cây trồng ở đầu đường…  Cho nên tôi rất khâm phục những người học Toán, càng kính nể những người giỏi Toán.  Vào đầu những năm 1980, tôi chỉ nghe Hồ Ngọc Đại bình luận “Cương nó ủng hộ lắm… cả bà Sính cũng ủng hộ…”. Đó là câu chuyện về cách tổ chức học Toán cho học sinh Tiểu học của trường Thực nghiệm. Một cách học dễ hướng dẫn cho trẻ em tự học.  Dễ nhưng trình độ cao, dễ đến độ anh Lưu Nguyên, giảng viên Toán Đại học sư phạm Hà Nội xung phong về làm Toán Tiểu học ở trường Thực nghiệm, trong một cuộc huấn luyện ở tình Bắc Thái năm 1984 đã đùa trước cả lớp huấn luyện ở trường Đội Cấn “Các bạn thấy không, cách dạy Toán này rất dễ thực hiện, ngay một người dốt Toán như thầy Toàn cũng dạy được… sách Toán Thực nghiệm của ta ngay thầy Văn Như Cương và cô Hoàng Xuân Sính cũng thích…”  Tôi ghi nhớ cái tên Văn Như Cương từ đó, như một con dấu bảo hành độ tin cậy cho một cách dạy Toán. Thấy tiếc là những cái đầu lớn đó chưa ngồi với nhau thực sự để làm lợi cho con em…  Mãi tới đầu năm 2000 tôi mới chính thức gặp Văn Như Cương trong một chuyến đi dài xuyên Việt mang tên Toyota. Tôi thường được bố trí ở chung buồng với Văn Như Cương và Nguyên Ngọc.  Tôi thích Văn Như Cương từ dạo đó không vì chuyện Toán Tiểu học, mà thích những nụ cười thầm ẩn khuất sau chòm râu bạc. Thích những thú vui lang thang khi đến một miền đất lạ với anh.  Lang thang ở Kon Tum, anh nhớ tới nước Nga, anh kể tôi nghe chuyện anh học tiếng Nga. “Lần đầu mình viết một bài văn tiếng Nga. Mình mở đầu thế này: Nước Nga lạnh như một cái tủ lạnh vĩ đại… Bà giáo bò ra cười…”  Tôi nhận ra một bài học về thao tác tư duy của học sinh cả khi học Toán cũng như khi học Văn hoặc học ngôn ngữ, tất cả đều có một mẫu số chung là trí tưởng tượng cùng với cách biểu đạt trí tưởng tượng bằng những công cụ khác nhau. Bất kể đó là ngôn ngữ tự nhiên hay ngôn ngữ hình ảnh hoặc ngôn ngữ Toán.  Bẵng đi hồi lâu, chỉ thỉnh thoảng gặp nhau trong những cuộc vui nhẹ nhàng, khi tôi chiêm ngưỡng Văn Như Cương cầm micro nhảy lên bục hát chung với Văn Giá… hát say sưa như người nghệ sĩ đích thực không biết âu lo là gì. Người có tâm hồn nghệ sĩ đó cũng là người sau những năm xa mẹ về thăm mẹ chỉ có một ước vọng cõng mẹ đi khắp làng cho mẹ được nhìn làng nước…  Kỷ niệm với Văn Như Cương của tôi không nhiều, và thường liên hệ tới những bối cảnh chung. Như với Tạp chí Tia Sáng này chẳng hạn. Những bữa sáng chủ nhật (thường là ở Hà Nội, nhưng có lần lên tận nhà vùng đồi của Văn Như Cương) anh em gặp nhau bàn về nội dung một kỳ báo sắp đến.  Nội dung đa dạng, nhưng thường hay quay về chủ đề Giáo dục. Những buổi đó, Văn Như Cương thế nào cũng có vài đôi câu đối rất nhanh, rất tài hoa, vịnh cảnh, vịnh người. Và chơi chữ nói lái kiểu ông đồ Nghệ. Thầy giáo tháo giầy … lấy giáo án dán áo …   Gần đây, tôi có “vặn” anh về chuyện học sinh thích hay không thích học Lịch sử. Văn Như Cương lại có dịp giễu lại tôi thay cho câu trả lời rất khó trong bối cảnh đất nước ta. Nhân cái đầu gần như trọc của tôi, Văn Như Cương dùng hình ảnh đó làm vế ra đối:  Gặp thầy Toán chẳng quanh co ông sư hỏi Sử, và anh tự đối lại luôn, để cùng cười trừ với nhau  Thời khó khăn cùng cười xòa lá cờ ương Cương…   Thôi mà, tha cho nhau mà, còn lạ gì mà vặn vẹo nhau!  Tình cờ cách nay hơn hai tuần chúng tôi lại hội ngộ ở nhà Đoàn Tử Huyến. Được tận mắt tận tay và được cảm nhận sự bất biến của đời con người: một Đoàn Tử Huyến hiểu mọi điều nhưng không thể nói ra được… một Văn Như Cương vội vàng tìm hiểu nốt bè bạn …  Bữa đó hình như đề tài tôi nói với Văn Như Cương xoay quanh chỉ một chủ đề: cải cách Giáo dục là việc của trăm năm, không phải công việc của một dự án vài ba năm tuổi thọ…   Tiếc rằng chưa ai kịp làm hết những gì mình nghĩ thì Giời đất đã bắt và bắt dần từng người phải dừng tay làm giữa chừng.  Lời chia tay của Văn Như Cương hôm đó, Đại ca tiếp tục nỗ lực nhé… bỗng thành một lời di chúc.  Mình hứa với ông, Văn Như Cương à, mình sẽ cố làm nốt những gì ông nghĩ như mình và mình nghĩ như ông.  Cho tới khi Giời bắt phải ngừng.  Tạm biệt nhé. Giữ cho mình một suất trên chuyến xe mây về cõi xa xôi, ở đó chắc là lạnh như một tủ lạnh vĩ đại… và nóng như một đài Hoàn vũ vĩ đại.   Hà Nội, 9-10-2017  PGS.TS Văn Như Cương sinh năm 1937 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1954, học xong phổ thông, ông ra Hà Nội học Khoa Toán, Đại học Sư phạm Hà Nội, và sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở thành cán bộ giảng dạy tại trường. Năm 1971, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ. Về nước, ông làm giảng viên, công tác tại bộ môn Hình học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh. Ông đã chủ biên và trực tiếp biên soạn hơn 60 đầu sách sách giáo khoa, sách tham khảo phổ thông và giáo trình đại học về chuyên ngành hình học. Ông là tác giả bộ sách giáo khoa hình học phổ thông (chương trình nâng cao) của Việt Nam. Năm 1989, ông mở trường Lương Thế Vinh, trường phổ thông dân lập đầu tiên của Việt Nam từ khi Đổi mới và làm Hiệu trưởng đến năm 2014. Ông qua đời rạng sáng ngày 09/10/2017, sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư.       Author                Phạm Toàn        
__label__tiasang Một gam kinh nghiệm hơn một tấn lý thuyết      Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân chủ và giáo  dục” (bản tiếng Việt của Phạm Anh Tuấn, NXB Tri Thức, 2008, 2010, 2012),  John Dewey có câu viết nổi tiếng không kém: “Một gam kinh nghiệm tốt  hơn một tấn lý thuyết, đơn giản chỉ vì lý thuyết chỉ có ý nghĩa sống  động và kiểm tra được ở trong kinh nghiệm. Kinh nghiệm, dù khiêm tốn  nhất, cũng có thể sản sinh và chống đỡ cho lý thuyết, còn lý thuyết mà  không liên hệ với kinh nghiệm thì không thể xác định và nắm bắt như là  lý thuyết. Nó dễ trở thành công thức, thành khẩu hiệu đầu môi, khiến tư  duy và ‘lý thuyết’ đích thực trở nên không cần thiết và không thể có  được”.    Việc nhấn mạnh đến “kinh nghiệm”, và cùng với nó, là “hành động” không phải là điều mới mẻ. Đông hay Tây đều thấy mối quan hệ giữa tri và hành. Từ thời cổ đại, triết học Tây phương chẳng từng quan tâm đến hành động (vita activa) đó sao? Vậy, quan niệm của Dewey, nhà triết học giáo dục hàng đầu của nước Mỹ, có gì thật sự mới mẻ để ta không hiểu nhầm “triết thuyết dụng hành” (pragmatism) của ông là một thuyết “thực dụng” thô thiển, nông cạn? Trong khuôn khổ giới hạn vốn có, ta sẽ thử tìm hiểu triết thuyết giáo dục của Dewey qua một số câu hỏi: Dewey là ai? Giáo dục là gì? Trường học là gì? Nội dung của giáo dục là gì? Đâu là bản chất của phương pháp giáo dục? và sau cùng, nhà trường đóng góp gì cho sự tiến bộ xã hội?  John Dewey: Một cuộc đời rất dài…  Với tuổi thọ đến 93, Dewey (1859-1952) quả thật có một cuộc đời đầy kinh lịch. Và còn đầy sinh lực nữa: vợ mất sớm (từ năm 1927), ông lấy bà vợ thứ hai khi mới… 87 xuân xanh! Sức viết còn khủng khiếp hơn nữa: toàn tập gồm 37 tập! Đời ông trải qua hầu như toàn bộ lịch sử đầy biến cố của Hoa kỳ và thế giới hiện đại: cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-64), cuộc đại suy thoái những năm 20 của thế kỷ 20, hai cuộc thế chiến, sự bùng nổ của kinh tế sau 1945, đưa nước Mỹ lên hàng cường quốc thế giới, chứng kiến những tiến bộ vượt bậc về khoa học, công nghệ: xe hơi, máy bay, bom hạt nhân, sản xuất hàng loạt trên băng chuyền… Tất cả củng cố lòng tin vào kho kinh nghiệm phong phú và đa dạng của thế giới, nhất là về khả năng kiểm soát và thao túng thế giới và xã hội.  Từ năm 1844, sau khi tốt nghiệp đại học Johns Hopkins với luận văn về triết học Kant, ông bắt đầu giảng dạy tại đại học Michigan, rồi 10 năm sau, về đại học Chicago. Chính thời kỳ ở Chicago, ông thay đổi nhiều về nhận thức triết học, thiên về phái duy nghiệm, từ đó phát triển lý thuyết dụng hành và công cụ luận về việc truy tìm nhận thức và chân lý. Ông có cơ hội biến lý thuyết giáo dục thành thực hành: lãnh đạo “Viện Giáo dục” và “Trường thực nghiệm giáo dục” nổi tiếng thuộc đại học Chicago trong thời gian dài. Năm 1904, ông chuyển về đại học Columbia ở New York, tiếp tục giảng dạy triết học cho đến khi về hưu vào năm 1931.  Là một trong những nhà triết học giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20, ông còn là người đại diện chính danh nhất cho trào lưu khai phóng và dân chủ hóa nền giáo dục trường ốc. Có lẽ chính cuộc đời giàu trải nghiệm về những sự đổi thay nhanh chóng, sôi động, không chút trì trệ của thế giới chung quanh, nhất là ở nước Mỹ quê hương ông, đã giúp ông hoài nghi và phê phán những cao vọng đi tìm “những chân lý vĩnh cửu và bất biến” của triết học truyền thống. Nhan đề vài tác phẩm của ông: “Đi tìm sự xác tín (1919)”, “Đổi mới triết học (1920)” phần nào nói lên điều ấy. Theo ông, nhiệm vụ của triết học là phải mang lại phương pháp để suy nghĩ và giải quyết những “vấn đề” (thực sự) của con người. Tức phải làm rõ, phê phán và xác định lại những giá trị và niềm tin của xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề và xung đột nảy sinh trong những thời kỳ có sự biến động văn hóa. Ông triệt để đề cao “thực học”, chống lại “hư học”! Từ triết học giáo dục sang triết học chính trị một cách nhất quán: đi tìm những “giải pháp” cho những vấn đề nội tại của nền dân chủ-tự do đương đại, cũng như tái tạo lý thuyết dân chủ cho phù hợp với những biến chuyển của thời đại.  Giáo dục là gì?   Giáo dục – độc lập với mọi ý định – là “một sự không ngừng mở rộng kinh nghiệm”. Nơi để thực hành và mở rộng kinh nghiệm, theo Dewey, là:  – thực tiễn hàng ngày trong từng hoàn cảnh,  – thực tiễn nghiên cứu khoa học, và  – thực tiễn giáo dục (sư phạm-văn hóa-chính trị…).  Theo nghĩa đó, “giáo dục” không khác với “văn hóa”, vì “văn hóa là khả thể thay đổi ý nghĩa, là mở rộng và cải thiện phạm vi của việc nắm bắt ý nghĩa”. Ở đây, không hề có điểm kết thúc hay mục đích sau cùng, mà chỉ có sự không ngừng mở rộng, dị biệt hóa, rồi tiếp tục mở rộng và dị biệt hóa, nói khác đi, chỉ có sự “tăng trưởng”. “Vì trong thực tế không có cái gì để sự tăng trưởng bấu víu cả, ngoại trừ việc tiếp tục tăng trưởng, nên khái niệm giáo dục cũng không phục tùng một khái niệm nào khác, ngoại trừ việc tiếp tục giáo dục. Tại sao thế? Ông trả lời giản dị: vì đó là “sự kiện nhân học hiển nhiên của việc tiếp nối và đan xen các thế hệ: người này mất đi, người kia sinh ra, tạo nên sự đổi mới liên tục những tế bào xã hội, với sự trao truyền tập quán và ý tưởng”.   Từ đó, dễ dàng nhận thấy trẻ em là một sinh thể năng động, thu thập kiến thức, kỹ năng, cách ứng xử để sử dụng trong tương lai, nhờ sự tương tác với môi trường sống chung quanh. Vậy, trẻ em và môi trường sống là hai cực mà giáo dục phải tìm cách nối liền. Ông gọi đó là “cực tâm lý” và “cực xã hội”. Cực tâm lý là “bản năng” (nhu cầu, lợi ích, năng lực do bản tính tự nhiên mang lại), là nền tảng của giáo dục; cực kia là trình độ “văn hóa” đương thời (thành tựu và di sản văn minh, cung cách ứng xử tích lũy từ bao đời) như là thành trì ngăn ngừa việc “rơi trở lại sự dã man”.  Hai cực ấy quan hệ với nhau như thế nào? Đóng góp nổi bật của Dewey ở đây là tránh cả hai lập trường cực đoan. Theo ông, giáo dục “truyền thống” đặt văn hóa lên trên đứa trẻ, xem đứa trẻ là kẻ thụ nhận, chứ không phải người cùng tham dự. Cực kia cũng “sai lầm” không kém. Nhân danh giáo dục “mới”, “tiến bộ”, đặt đứa trẻ lên trên văn hóa, chú tâm vào những kinh nghiệm giới hạn của đứa bé, thay vì hướng vào hậu cảnh và chân trời rông rãi của văn hóa, vốn cần thiết để hiểu thế giới và hoạt động hiệu quả. Sau khi phê bình cả hai chủ trương cực đoan, Dewey đề xướng giải pháp tổng hợp: hãy từ bỏ việc “đặt trên” và “đặt dưới”, thay vào bằng hình ảnh của sự “liên tục”, trong đó đứa bé là khởi điểm và văn hóa là đích đến của giáo dục. Việc “diễn giải” các nhu cầu của trẻ em và hoán chuyển chúng thành những yêu cầu xã hội là nhiệm vụ cao quý nhất, đồng thời cũng là khó khăn nhất mà thầy cô giáo và phụ huynh phải thực hiện.  Dewey không bao giờ tự nhận mình là “tiến bộ” theo nghĩa “lấy trẻ em làm trung tâm”, vì ông có quan niệm khác về nhà trường! Ông muốn vượt qua sự “nhị nguyên” giữa “cũ” và “mới”, giữa “truyền thống” và “tiến bộ”, như ta sẽ thấy.             Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một khát vọng mang chung tên gọi      Càng hợp tác với nhau, tôi càng nghiệm ra  rằng, nếu thiếu vắng cái mẫu số chung gọi tên thành hai chữ Việt Nam,  chắc chắn ngọn gió cao nguyên sẽ chẳng bao giờ vờn tới cánh buồm mơ mộng  của chúng tôi.     Tình bạn giữa một cao nguyên lồng lộng gió núi với một cánh buồm tình nguyện chọn “bão tố chốn bình yên” (Lermontov) hình như đã bắt đầu vào một buổi sáng se se lạnh Hà Nội, bữa đó Nguyên Vũ nhờ Văn Thành của báo Tia Sáng rủ tôi tới dùng cà phê ở đầu phố Ngô Quyền – cái quán thuộc hệ thống nhà hàng cà phê Trung Nguyên, nó vừa đủ nhỏ để ta được thân tình, và nó cũng vừa đủ to để khách cà phê ra vào không đụng nhau nhưng không “to” một cách huênh hoang, xa lạ.  Ngay lập tức trong hương cà phê pha với hương vị rất “đàn ông” của xì gà, hai chúng tôi trước con mắt theo dõi đầy tình cảm của Văn Thành, chúng tôi nói với nhau những điều gan ruột nhất – những hoài bão của tôi ở lúc cuối đời nên càng cảm nhận được định nghĩa thế nào là “chân trời”, cái chốn càng đi tới càng thấy phải đi tới nữa nữa – và những hoài bão của Nguyên Vũ, nhỉnh chút chút hơn một nửa tuổi của tôi, con người đang thành đạt, và vẫn đang âu lo một chút gì đó không để cho riêng cá nhân mình.  Sáng hôm đó, chúng tôi nói với nhau về những việc đang làm, về Giáo dục, về gây dựng một Khát vọng mang chung tên gọi là Việt Nam. Kỳ lạ là sự bắt quen để thành tình bạn, mà tôi nghĩ đó không thể là do sự hấp dẫn của cá nhân một người đang là ông già với một chàng trai chưa bao giờ thành ông già như Nguyên Vũ.   Càng hợp tác với nhau, tôi càng nghiệm ra rằng, nếu thiếu vắng cái mẫu số chung gọi tên thành hai chữ Việt Nam, chắc chắn ngọn gió cao nguyên sẽ chẳng bao giờ vờn tới cánh buồm mơ mộng của chúng tôi.   Nguyên Vũ đã mở màn cho loạt sự kiện chúng tôi tổ chức vào ngày thứ Bảy giữa mỗi tháng: những Ngày Sư phạm Cánh Buồm – cái buổi đầu tiên ấy, tôi không thể quên, có nội dung tập trung vào sự lựa chọn lý thuyết Tâm lý học chỉ đạo cách cư xử với trẻ em trong sự nghiệp Giáo dục. Như một cơ duyên Trời định, buổi sinh hoạt khoa học phổ cập đầu tiên ấy có cả Nguyên Vũ, có cả Ngô Bảo Châu, lại có cả Giáp Văn Dương. Đã gọi là “buổi sinh hoạt” dù là sinh hoạt về nội dung sư phạm, nhưng đó vẫn là một câu lạc bộ, với nội dung là những gợi ý khoa học chứ không là những “bài học” áp đặt. Thế thì, cái buổi thứ Bảy giữa tháng 7 năm 2013 ấy chính là một diễn đàn cho những ý kiến tìm cách hội tụ về một định hướng – định hướng hạnh phúc của con người Việt Nam cho con người Việt Nam, không phải thứ “hạnh phúc” ở chân trời, mà cái hạnh phúc ở đây và ngay hôm nay – khi trẻ em theo cách tổ chức được Tự học – Tự Giáo dục của Cánh Buồm, đang chung tay thày và trò cùng hiện đại hóa nền Giáo dục cho chính mình.       Ngày Sư phạm Cánh Buồm được tổ chức hằng tháng tại Cà phê Trung Nguyên   52 Hai Bà Trưng, Hà Nội. Trong ảnh: Ban tổ chức cùng những diễn giả chính   của Ngày Sư phạm Cánh Buồm đầu tiên, tháng 7/2013       Một công cuộc hiện đại hóa không lai căng. Một công cuộc hiện đại hóa không tốn tiền. Một công cuộc hiện đại hóa nhất thiết phải bắt đầu với trẻ em lớp Một và bắt đầu với việc tổ chức cho các em biết TỰ HỌC – năng lực tự học như một món quà duy nhất nhà giáo dục hai tay dâng tặng trẻ em để các em mang hành trang đó đi suốt cuộc đời.  Kỷ niệm một năm Nguyên Vũ gặp đoàn thủy thủ Cánh Buồm, một năm Nguyên Vũ “ra lệnh” cho Trung Nguyên ở Hà Nội tháng tháng giúp tổ chức Ngày sinh hoạt sư phạm Cánh Buồm – với “hội trường” vừa đủ lịch sự, với trợ giúp tài chính (và cả cà phê, khá nhiều cà phê) đủ để tạo được sự động viên thân tình của người đồng hành với những bạn thủy thủ không bao giờ hết viển vông – cái viển vông khiến họ sống trong sáng, ưỡn ngực đón gió, mãi mãi vươn tới cái Đẹp của sự nghiệp Giáo dục, không phải là sự luồn cúi đi tìm “thắng lợi” trong “công tác” Giáo dục.  Kỷ niệm một năm đoàn thủy thủ Cánh Buồm gặp và nhận gió từ cao nguyên của Đặng Lê Nguyên Vũ, mình thay mặt Cánh Buồm tặng bạn bài thơ mình dịch đã hơn 50 năm và không bao giờ đăng báo, bài thơ “Cánh Buồm” của nhà thơ Nga Lermontov, ấy là khi mình tự học tiếng Nga, ngồi lẩn mẩn làm “bài tập” vào lề cuốn sách Le Russe của bà Nina Potapova.    Cánh Buồm  Đơn độc cánh buồm trắng  Trong sương mờ biển xanh  Tìm chi nơi xa vắng  Mà lảng tránh đất lành?  Biển dâng gió gào rú  Cột buồm vặn đớn đau  Nơi nào có hạnh phúc  Hạnh phúc biết tìm đâu!  Lấp lóa buồm căng lướt  Ánh vàng mặt trời lên  Cánh Buồm trong bão tố  Sóng gió chốn bình yên  1970    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một khía cạnh khác  của hiện tượng ngồi nhầm lớp      Gần đây dư luận xã hội lại nóng lên khi báo chí đưa tin về câu chuyện một học sinh lớp 6 bị trả về học lớp 1 ở Sóc Trăng do chưa biết đọc. Ngay sau đó, cũng tại tỉnh này báo chí còn cung cấp thêm rất nhiều trường hợp học lớp trên mà không đọc nổi bài lớp dưới.           Không chỉ là một trường hợp duy nhất  Bên cạnh hai nguồn tin chính thức này, nhiều độc giả cũng đã bức xúc cung cấp thêm rất nhiều thông tin tương tự như vậy ở địa phương mình cho báo giới. Như vậy, dường như hiện tượng này không phải chỉ là một hiện tượng đơn lẻ duy nhất, mà đó là một hiện tượng khách quan có mặt ở nhiều nơi, nhiều trường, nhiều tỉnh,…  Tiếp xúc với những thông tin “động trời” như vậy, không ai không khỏi xót xa cho bản thân và gia đình các em học sinh đó, không ai có thể bàng quan trước bệnh thành tích mà ngành giáo dục đang nhiễm phải mà vẫn chưa thể có thuốc chữa. Đáng buồn hơn, chính những giáo viên lên tiếng vạch ra những sự thực đó thì lại bị người có chức có quyền gây khó khăn. Người dân thì đang đổ lỗi cho bệnh thành tích của ngành giáo dục, đổ lỗi cho các bậc cha mẹ không quan tâm đến con cái, đổ lỗi cho giáo viên thiếu trách nhiệm, đổ lỗi cho học sinh lười, đổ lỗi cho cái đói, cái nghèo, cái thiếu chữ,… Các cơ quan quản lí giáo dục thì nói sẽ rà soát, sẽ kiểm tra, và đổ lỗi cho hiệu trưởng, hiệu trưởng lại đổ lỗi cho giáo viên đứng lớp,… Người ta lo đổ lỗi cho người này, kỉ luật người kia, chứ không lo tìm hiểu và không thừa nhận, hiểu vấn đề một cách thấu đáo và khách quan nhất để từ đó đưa ra giải pháp thích hợp.  Liệu vấn đề có thể nằm ở đây?  Em học sinh đó rất có thể đã mắc chứng khó khăn về đọc. Khi đã bị mắc chứng khó đọc (bác sĩ Nguyễn Khắc Viện gọi là vụng đọc, khoa học hiện đại hay gọi là mù đọc, chứng đọc khó), học sinh đó khó có khả năng đọc được như bình thường. Nếu không được phát hiện và can thiệp, hỗ trợ sớm, khả năng đọc đó của học sinh rất khó có thể tiến bộ được dù có tiếp tục học lên cao, dù rằng vẫn có năng lực học được các môn học khác.  Nhiều nghiên cứu kĩ lưỡng ở các nước phương Tây đã chỉ ra rằng tỉ lệ học sinh mắc chứng khó khăn về đọc như vậy có thể lên đến vài phần trăm. Bản thân người viết cũng từng có một người bạn gặp chứng khó khăn về đọc (học hết lớp 9 nhưng vẫn không thể đọc được bình thường) và một người học trò dù học đến đại học rồi những vẫn chỉ có khả năng đọc như một học sinh đầu cấp tiểu học. Nghe nói danh họa Picasso cũng là người mắc chứng khó khăn về đọc.  Trong giáo dục, người ta thường hay nói tới năm kĩ năng học tập cốt lõi là nghe, nói, đọc, viết và tính toán. Như ở trên, những học sinh có khó khăn về kĩ năng đọc sẽ rất khó có thể nghe hiểu người khác nói như bình thường. Tương tự, những học sinh có khó khăn về nghe, viết, nói, tính toán cũng rất khó có thể viết, nói và tính toán được như bình thường, dù có tiếp tục được học lên cao. Trên thực tế, nếu báo giới và giáo viên tinh ý, có phương pháp đánh giá và tiếp cận đúng, chắc chắn sẽ còn phát hiện ra những hiện thực khách quan khác nữa về tính vấn đề trong các kĩ năng nói, viết, nghe, tính toán, bên cạnh kĩ năng đọc, của học sinh.  Có nhiều nguyên nhân đưa đến chứng khó đọc cũng như những chứng khó khăn học tập khác. Đó có thể là do những bất thường trong cấu trúc bộ não của học sinh, có thể là do sự khiếm khuyết về khả năng nhìn hay sự hạn chế về tốc độ xử lí thông tin, có thể là do sự khiếm khuyết về nhận thức âm thanh,… Ở đây, do muốn nhấn mạnh đến bản chất “bệnh lí” cố hữu của vấn đề, tính tồn tại khách quan của vấn đề, cho nên tôi không muốn kể thêm các nguyên nhân khác nữa cũng góp làm trầm trọng thêm tình trạng khó đọc ở các em (ví dụ như các em đó là người dân tộc thiểu số, những hạn chế của chữ viết đem lại (thử so sánh tổ quốc – con cuốc, của – quả, lý do – lí do, giạ lúa – giặt gịa), sự phù hợp và bổ trợ cho nhau giữa kênh hình và kênh chữ,…).  Những vấn đề đặt ra đối với ngành giáo dục  Những em có khó khăn về đọc như báo chí đã đưa là những em có nhu cầu giáo dục đặc biệt ở trên một phương diện nào đó, là những em cần có sự giúp đỡ riêng từ phía hệ thống giáo dục mà trực tiếp nhất là các thầy cô đứng lớp. Những em này vốn dĩ đã là những em thiệt thòi so với các bạn cùng trang lứa, nhưng nếu không được phát hiện, hỗ trợ, can thiệp sớm thì các em lại tiếp tục nhận thêm thiệt thòi, khó khăn. Như vậy, để có thể phát hiện sớm để rồi hỗ trợ, can thiệp giúp học sinh cải thiện về những khó khăn như nghe, nói, đọc, viết, tính toán như đã đề cập ở trên, thiết nghĩ, ngành giáo dục cần:      Cần có một sự đầu tư nghiên cứu để có thể miêu tả chi tiết về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là trẻ từ 0 – 6 tuổi, từ 6 – 12 tuổi, để rồi từ đó có thể tiến hành xây dựng các bộ tiêu chuẩn năng lực ngôn ngữ của trẻ và các kĩ năng ngôn ngữ, học tập cốt lõi của trẻ.      Cần có một sự đầu tư nghiên cứu để có thể miêu tả chi tiết về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là trẻ từ 0 – 6 tuổi, từ 6 – 12 tuổi, để rồi từ đó có thể tiến hành xây dựng các bộ tiêu chuẩn năng lực ngôn ngữ của trẻ và các kĩ năng ngôn ngữ, học tập cốt lõi của trẻ.  Cần xây dựng các bộ công cụ đánh giá và sàng lọc trẻ theo tuổi, theo lớp học có khó khăn về các kĩ năng ngôn ngữ và kĩ năng học tập cốt lõi.  Trước khi trẻ bước chân vào lớp 1, trẻ cần cần được kiểm tra về năng lực ngôn ngữ nói chung và các kĩ năng ngôn ngữ chuyên biệt nói riêng.  Cần có một sự khảo sát, điều tra, nghiên cứu toàn diện và đủ dài để có thể nắm vững được thực trạng học sinh có vấn đề về các kĩ năng ngôn ngữ và kĩ năng học.  Cần tuyên truyền, giải thích để mọi người, nhất là đối với giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục, có thể nhận thức được và đương nhiên ghi nhận hiện tượng trẻ có những khó khăn về ngôn ngữ và học tập như một hiện thực khách quan; tránh tình trạng chỉ trích giáo viên và nhà trường hay bản thân các em hoặc phụ huynh các em một cách vô lí, thiếu hẳn các chứng cớ về giáo dục, về thể chất và tâm lí;  Cần đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên gia về bệnh học ngôn ngữ, chuyên gia tâm lí học đường,…  Khi công việc giáo dục hoà nhập càng được tiến hành sâu rộng thì các yêu cầu tất yếu, bức thiết tối thiểu trên càng cần phải được đáp ứng càng nhanh càng tốt.       Author                Bảo Ngọc        
__label__tiasang Một kinh nghiệm thất bại của Đại học George Mason khi mở chi nhánh quốc tế      Năm 2005, George Mason trở th&#224;nh một trong những trường Đại học Mỹ đầu ti&#234;n mở một chi nh&#225;nh đ&#224;o tạo ở C&#225;c Tiểu Vương Quốc Ả Rập &#8211; nhưng v&#224;o th&#225;ng 5 vừa rồi, n&#243; trở th&#224;nh trường đầu ti&#234;n quyết định đ&#243;ng cửa, d&#249; chưa hề cho tốt nghiệp một sinh vi&#234;n n&#224;o.      “Ba tháng trước, các đối tác của chúng tôi đã thay đổi chính sách của họ về mức độ tài trợ”, Peter N. Stearns, Hiệu trưởng của trường cho biết. “Họ không nói với tôi trực tiếp là ‘chúng tôi đang gặp khó khăn, mong các bạn hiểu tình hình chúng tôi đang phải đối diện’, nhưng trong giai đoạn hiện nay, tôi nghĩ không khó để thấy nguyên nhân đến từ nền kinh tế”.  Trường George Mason đã luôn gặp trở ngại kể từ khi nó mở chi nhánh tại Ras al Khaimah, một tiểu vương quốc không hoa lệ được như Dubai, hay giàu có được như Abu Dhabi.  Trường cũng chưa bao giờ thu hút được nhiều sinh viên, chỉ có khoảng 120 người đang theo học chương trình chính thức, và 60 người đang theo học khóa tiếng Anh. Không có giảng viên nào đến từ phía cơ sở của Mỹ, quyền lãnh đạo liên tục bị xáo trộn, và cơ sở chi nhánh còn chưa làm xong quá trình làm thủ tục cấp phép, vốn khá tốn thời gian.  Trong những năm gần đây, nhiều trường Đại học Mỹ đã được lôi kéo tới vùng Vịnh, với những điều khoản hấp dẫn, trong đó đối tác từ phía địa phương – trong trường hợp này là một tổ chức công lập nào đó – cung cấp tất cả cơ sở hạ tầng và hỗ trợ tài chính, còn lại thì trường Đại học của Mỹ sẽ hoàn toàn phụ trách phần giáo dục.   Trường New York University đang thiết lập đại diện ở Abu Dhabi, trong khi cơ sở trường Michigan State đang hiện diện ở Dubai. Các trường Carnegie Mellon, Cornell, Georgetown, Northwestern, Texas A&M và Virginia Commonwealth đều đang có chương trình đào tạo ở Qatar.   Tuy nhiên, kinh nghiệm của trường Mason có tính đại diện cho một số khó khăn mà các cơ sở giáo dục quốc tế thường gặp phải.      Để duy trỳ uy tín, các trường chi nhánh quốc tế chỉ chấp nhận sinh viên có cùng trình độ với sinh viên nhập học ở cơ sở chính quốc. Nhưng để tìm thấy các sinh viên với khả năng tiếng Anh hoàn hảo, điểm SAT tương đương với sinh viên Mỹ, và năng lực đủ chín muồi để được đào tạo đại học, quả là việc không dễ dàng.  “Chúng tôi không thể cấp bằng Mỹ nếu chúng tôi không duy trì các chuẩn mực, với cách nghĩ như vậy thì thấy rằng điều chúng tôi đang làm là hoàn toàn xác đáng”, tiến sỹ Stearns nói. “Nhưng đây quả là một rào cản lớn cho việc thu nhận sinh viên. Chính các lãnh đạo giáo dục của địa phương cũng nhận thấy khâu đào tạo chuẩn bị vào đại học của họ còn chưa ở cùng ngưỡng”.  Một vấn đề lớn nữa là việc điều hành. Thường thì phó hiệu trưởng của chi nhánh phải chịu quyền kiểm soát của tiến sỹ Stearns, như thông lệ Mỹ vẫn yêu cầu. Nhưng công việc này gần đây được giao cho một lãnh đạo có tính tạm thời, và các nhà tài trợ địa phương không chịu trả tiền để thuê một phó hiệu trưởng mới, và chỉ muốn ai đó trực tiếp báo cáo với họ.  Tiến sỹ Stearns nói ông hi vọng các sinh viên Ras al Khaimah, đa số là du học sinh từ Nam Á và một số nước Trung Đông khác, sẽ được chuyển sang học tại trường George Mason ở Virginia, nơi ông khẳng định họ sẽ được giảm trừ tiền học phí vốn áp dụng cho mọi sinh viên đến từ bên ngoài bang. Tuy nhiên, ông nói, không có đảm bảo nào rằng họ sẽ được cấp visa. Đồng thời, vì trường còn chưa có đủ giấy phép hoạt động, khả năng các sinh viên được chuyển sang các trường khác ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập cũng sẽ bị hạn chế.  Tuy gặp kinh nghiệm khó khăn ở vùng Vịnh nhưng tiến sỹ Stearns vẫn khẳng định George Mason sẽ tiếp tục quan tâm tới việc phát triển các chi nhánh quốc tế, và vẫn đang thảo luận các phương án tại các nơi khác trên thế giới.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một lớp học “lạ”      Qua hai khoá đào tạo về lĩnh vực viễn thông với các giảng viên giỏi trong nước và nước ngoài, 58 học viên của Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) vẫn được “đào tạo lại”. Điều thú vị là ông thầy của lớp học này cho phép các học viên tự chọn bất kì chủ đề nào, ở bất cứ giáo trình nào, kể cả… bóng đá.    Ông thầy Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Viettel, thậm chí cũng không giảng gì về 11 trang sách mà các học viên trong lớp đã tự chọn để làm tài liệu kiểm tra mà chỉ nêu yêu cầu: “Nếu các bạn trả lời được các câu hỏi trong phạm vi 11 trang sách đó thì được tốt nghiệp”. Dù được quyền chọn một chủ đề bất kỳ, nhưng các học viên vẫn chọn một chủ đề liên quan đến ngành học của mình: Mobility Management.  Một tuần sau, thầy đến và hỏi đúng một câu: “Tại sao người ta lại dùng từ Funtion trong câu này mà lại dùng từ Feature trong câu này (một câu trong tài liệu)?”. Toàn bộ các học viên sửng sốt với một câu hỏi bị coi là rất “trời ơi đất hỡi”, không liên quan gì đến viễn thông cả, và tất nhiên là không ai trả lời được. Giải thích về lý do hỏi một câu “không đâu vào đâu”, thầy giáo cho biết: “95% các từ được dùng để viết sách xuất phát từ khoảng 1.500 từ cơ bản. Nếu các bạn hiểu kỹ nghĩa của những từ cơ bản thì việc đọc sách sẽ trở nên rất dễ dàng nhưng vấn đề là không ai chịu học từ cho thấu đáo cả”. Sau đó, ông thầy này cũng giải thích thêm: “Điều mà tôi muốn truyền đạt là phương pháp học chứ không phải là kiến thức. Kiến thức các bạn có thể tự đi tìm được trong sách, hỏi bạn bè, đồng nghiệp, chuyên gia hoặc hỏi tôi. Còn về phương pháp học thì cốt lõi là việc luôn đặt câu hỏi tại sao”. Sau một vài giải thích về cách học cho các học viên tiếp đó, cả lớp được nghỉ để về tự học tiếp một tuần theo định hướng đặt các câu hỏi tại sao rồi mới tiếp tục.  Lại đúng một tuần sau, thầy lại đặt một câu hỏi về một câu viết trong tài liệu và yêu cầu các học viên “ánh xạ” lý thuyết vào thực tiễn. Tất cả các học viên lại “tắc tị”. Ông thầy lại giải thích tại sao lại hỏi câu hỏi đó: “Nếu học mà không tìm hiểu những lý thuyết mình đang học sẽ được áp dụng như thế nào trong thực tiễn thì tất cả những điều mình học sẽ biến mất chỉ trong vài ngày sau khi kỳ kiểm tra kết thúc”. Việc học ở trường đại học nhiều khi vì thế mà “chữ thầy trả thầy bằng hết”.  Tuần học thứ hai kết thúc với sự hoang mang của toàn bộ học viên. Lớp trưởng Nguyễn Văn Tiến, người tốt nghiệp loại giỏi khoá học trước đó kể: “Lúc đó chúng tôi bị khủng hoảng vì cách học thay đổi 180o.”.  Đến tuần thứ ba thì thầy lại yêu cầu các học viên phải tự đứng lên trình bày về những vấn đề đã từng được giải đáp và hỏi tiếp các câu hỏi tại sao, tại sao, tại sao… và kết cục là cũng chưa có một học viên nào kể cả học viên từng thi đỗ loại xuất sắc trước đó đạt yêu cầu tối thiểu. Một số học viên của lớp ở vào trạng thái lo sợ thực sự vì chưa bao giờ họ phải học một lớp học mà người ta không dậy cho mình kiến thức gì, chỉ giao cho mấy trang sách mà cứ liên tục vặn vẹo hết câu hỏi tại sao này đến câu hỏi tại sao khác.  Sau hơn một tháng, tất cả các học viên tự thay đổi chiến thuật: Họ chia thành 11 nhóm nhỏ để học nhóm và thảo luận về cách đặt câu hỏi cũng như tìm các câu trả lời. Trong mỗi nhóm, người giỏi kèm người kém, và tất cả đều có nhiệm vụ đi tìm câu hỏi cũng như các câu trả lời. Điểm quan trọng là trong mỗi buổi học nhóm, tất cả các thành viên đều phải đứng lên thuyết trình về các vấn đề mình tìm hiểu.  Dù tìm ra phương thức học cho lớp học lạ lùng này, không ít học viên vẫn tỏ ra băn khoăn. Một số học viên nói với thầy Nguyễn Mạnh Hùng: “Bọn em học đã tới hơn 7 tháng mà không biết bao giờ mới học xong. Kiểm tra kiểu này, nếu không đạt thì lỡ đi bao cơ hội đến các công ty khác”. Phó Tổng giám đốc Viettel liền quyết định ký hợp đồng lao động với toàn bộ 58 học viên, dù theo nguyên tắc trước đó, chỉ những người vượt qua kỳ sát hạch mới được ký hợp đồng. “Tôi tin là có 90% năng lực của các bạn vẫn đang còn nằm ngủ, và chỉ cần đánh thức thêm 10% năng lực có sẵn trong con người các bạn thì cũng thừa sức vượt qua kỳ kiểm tra của lớp học này” – Thầy Hùng nói.  Thêm 2 tháng, học trò viên bắt đầu ngấm triết lý ”Tại sao”. Điều bất ngờ nhất trong kỳ kiểm tra sát hạch cuối cùng là: không phải ông thầy giáo là người đặt câu hỏi sát hạch mà chính là những học viên là người đặt câu hỏi cho người khác trả lời; ở dưới sẽ là một học viên khác làm nhiệm vụ chấm điểm. Phó Tổng giám đốc Viettel là người chấm kiểm định cuối cùng. Thêm một điểm đặc biệt khác, đợt sát hạch chỉ diễn ra đối với vài cặp học viên – những học viên xuất sắc sẽ hỏi những học viên kém. Và kết quả cuối cùng đã không làm thất vọng các học viên: họ đã được công nhận. Phó Tổng giám đốc Viettel Nguyễn Mạnh Hùng cho biết: “Về mặt kiến thức thì các học viên cần phải bổ sung thêm nhiều, nhưng về phương pháp học cũng như triết lý của Viettel thì các học viên đã ‘ngấm’. Đó cũng là điều làm chúng tôi vui nhất”.  Phạm Quang Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nền giáo dục thời bình      L&#224;m thế n&#224;o để con em ch&#250;ng ta, thế hệ tương lai của đất nước, c&#243; được những phẩm chất của một nh&#226;n c&#225;ch lớn? C&#226;u hỏi n&#224;y qu&#225; tham vọng, nhưng n&#243; đ&#225;ng để ch&#250;ng ta suy nghĩ. Hẳn ch&#250;ng ta mong muốn những c&#225; thể của thế hệ tương lai c&#243; một đời sống tinh thần phong ph&#250; v&#224; l&#224;nh mạnh, gi&#224;u l&#242;ng nh&#226;n &#225;i, c&#243; tinh thần kh&#225;ch quan v&#224; độ lượng, v&#224; tự tin ở c&#225;c phẩm chất của c&#225; nh&#226;n m&#236;nh. Vậy th&#236; đ&#243; cũng ch&#237;nh l&#224; những y&#234;u cầu trong đơn đặt h&#224;ng của ch&#250;ng ta cho nền gi&#225;o dục đương thời.&nbsp;&nbsp;     Sự phát triển tâm lý tự nhiên ở trẻ em  Khi các em còn bé, cha mẹ mua về những món đồ chơi. Không phải ngẫu nhiên mà những món đồ chơi này mô phỏng sự vật thường ngày. Chiếc ô tô, tàu thuỷ, búp bê, những món đồ hàng, đều là sự mô phỏng các hình ảnh cuộc sống thường ngày quanh ta. Khi chơi đùa với chúng, bề ngoài ta đơn giản chỉ thấy các em vui vẻ. Còn thực chất bên trong là một sự phát triển hài hoà về tâm lý. Đó là cảm giác kiểm soát được cuộc sống, yên tâm về cuộc sống, và xây dựng, sáng tạo trên nền tảng của sự yên tâm ấy.  Khi các em lớn hơn, trí tưởng tượng mở rộng hơn do sự nghe nhìn phong phú hơn. Những món đồ chơi đơn sơ không còn làm cho các em thoả mãn. Một cách tự nhiên, trẻ em tìm niềm vui theo cách khác. Ở các đô thị phát triển, trẻ em ham mê đọc truyện tranh, hay chơi game điện tử. Đối tượng ưa thích của các em thường là những người hùng, hoặc những nhân vật nổi tiếng. Bằng việc hoá thân vào nội dung truyện tranh, game, vào vai trò người hùng hoặc người nổi tiếng, các em cảm thấy sự yên tâm, tự chủ, và giá trị cá nhân được khẳng định.   Nhu cầu làm chủ cuộc sống và được khẳng định vị thế là điều tự nhiên trong con người nói chung, trong đó có trẻ em. Sẽ phản tự nhiên nếu người lớn tìm cách kiềm chế, đè nén nhu cầu này của các em. Nhưng chúng ta cũng biết rằng tuổi thơ là khoảng thời gian quan trọng nhất trong việc hình thành cá tính, nhân cách của trẻ, và chuẩn bị cho các em sau này trở thành những con người gánh vác các trách nhiệm thực tế. Những hoạt động giải trí mà chúng ta đề cập ở trên, chỉ mới giúp thoả mãn nhu cầu tâm lý nhất thời, chứ chưa giúp bồi dưỡng nhân cách và rèn luyện khả năng thích nghi với thực tế cuộc sống. Thậm chí những truyện tranh và game điện tử mang tính chất bạo lực thường kích thích tính hiếu thắng, khiến trẻ cảm thấy có thể dễ dàng khẳng định được giá trị cá nhân thông qua việc phá huỷ các chướng ngại, tiêu diệt các đối thủ. Chúng không hề giúp rèn luyện những phẩm chất quan trọng cho nhân cách của trẻ, như tính kiên nhẫn và độ lượng, sự trân trọng các vẻ đẹp, những thành quả được vun đắp, xây dựng bởi tạo hoá hay con người.   Hệ lụy từ tính bạo lực trong nội dung giáo dục  Tính bạo lực là sự đối nghịch với lòng nhân ái. Nó phổ biến vì dễ dàng phát sinh từ nhu cầu con người muốn nhanh chóng vượt qua các trở ngại để khẳng định vị thế của mình. Đáng lo ngại là nội dung giáo dục của chúng ta từ vài thập kỷ trở lại đây nhuốm khá nhiều màu sắc bạo lực. Lịch sử dân tộc bị phủ bóng bởi các cuộc xung đột vũ trang. Những tấm gương anh hùng đa số là hình ảnh những người cầm gươm ra trận. Văn, thơ khắc họa chiến tranh vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong văn học Việt Nam hiện đại. Những ấn tượng đó có thể tác động tiêu cực tới sự hình thành lòng nhân ái trong nhân cách của trẻ. Chúng cũng dễ tạo ra suy nghĩ trong trẻ thơ rằng điều quan trọng nhất mà cha ông ta trong lịch sử làm được là việc tiêu diệt kẻ thù.   Không phủ nhận rằng lịch sử đất nước ta gắn chặt với một quá trình giữ nước và dựng nước có tính bền bỉ liên tục. Rằng chiến tranh chỉ mới xa rời chúng ta được ba, bốn thập kỷ. Nhưng lịch sử của người Việt đáng tự hào không chỉ vì cha ông ta chiến đấu giỏi và luôn cố gắng giữ lấy đất, mà còn vì dân tộc ta đã xây dựng nên được một nền văn hiến sâu sắc, phong phú và có bề dày lâu đời.   Có lẽ việc chú trọng giảng dạy về chiến tranh vốn xuất phát từ nhu cầu xã hội của một thời kỳ loạn lạc. Nhưng không thể sống trong thời bình mà vẫn giáo dục con người theo cách của thời loạn. Hệ quả tiêu cực ngoài mong muốn là những gì chúng ta đã và đang được thấy hằng ngày. Đạo đức xã hội suy thoái. Môi trường thiên nhiên bị tàn phá, hủy hoại. Những công trình xây dựng kém chất lượng nhanh chóng xuống cấp. Các di sản văn hóa bị xâm phạm. Nguyên nhân của tất cả những hiện tượng trên xuất phát từ con người, cũng là sản phẩm của một đường lối giáo dục tiêu cực kéo dài.   Xem nhẹ con người cá nhân liệu có là phản giáo dục?  Làm sao để những sự kiện lịch sử không nhất thiết cứ phải là ta thắng, địch thua, thì mới thu hút trẻ?  Làm sao để trẻ em tìm thấy hưng phấn, sự đồng cảm khi tiếp thu các giá trị văn hóa nhân bản?  Làm sao để những tên người, những địa danh, gắn với những ấn tượng sống động thay vì khô khan, tẻ nhạt?  Sự đồng cảm giữa người học với kiến thức chỉ xảy ra sau một sự đối chiếu giữa nội dung thông tin được học với kinh nghiệm cá nhân của người học.  Trẻ em là những cá thể đang chập chững học cách vào đời, tìm kiếm một chỗ đứng trong cuộc sống, với nhu cầu được đồng cảm và tôn trọng. Vì vậy mà các em rất dễ hóa thân vào các nhân vật. Thông qua hành xử của nhân vật và thái độ của chúng ta với nhân vật, trẻ em học ứng xử, tư duy. Nếu chúng ta tỏ ra kính trọng nhân vật, trẻ em cũng sẽ kính trọng nhân vật. Nếu chúng ta khắc họa cá nhân nhân vật với những chi tiết mà trẻ có thể hiểu và đồng cảm được, trẻ sẽ yêu nhân vật.    Nhưng nếu không có sự khắc họa thân phận cá nhân con người thì không có sự đồng cảm với người học. Như vậy thì sẽ không có giá trị văn hóa đáng kể nào được truyền thụ. Và cũng không thể có tấm gương cụ thể để trẻ em rèn luyện noi theo.     Hơn nữa, nếu chúng ta muốn giáo dục trẻ em về tinh thần trách nhiệm của cá nhân, về ham muốn phát huy sáng tạo cá nhân, vậy thì chính chúng ta phải trân trọng con người cá nhân. Tư duy giáo dục sai lệch trước đây, chỉ khắc họa thành quả của tập thể mà xem nhẹ vai trò cá nhân, đã dẫn đến hệ quả ngoài mong muốn là thói lợi dụng danh nghĩa tập thể và nấp bóng tập thể để lảng tránh trách nhiệm cá nhân.  Dạy tính khách quan và đại lượng như thế nào?  Hai phẩm chất cần thiết đầu tiên là tính khách quan và đại lượng. Vậy thì phương pháp giáo dục phải ra sao? Qua hai vấn đề chính mà chúng ta vừa đề cập thì có thể thấy như sau.   Phải giảm nhẹ tính bạo lực trong nội dung giáo dục. Tinh thần đối kháng gay gắt vốn phần nào xuất phát từ tính tiểu khí. Nó hoàn toàn vô ích khi giáo dục trẻ em.  Phải tôn trọng cá nhân người học, song song với việc giáo dục sự tôn trọng cá nhân người thầy. Và tất nhiên, người thầy phải tự giáo dục mình sao cho xứng đáng với sự tôn trọng ấy.   Phải nêu cao những tấm gương lớn về nhân cách của những con người có công với xã hội và đất nước. Họ không chỉ là những chiến binh, mà cả các nhà văn hoá, khoa học, nghệ sĩ, … Thậm chí nên cân nhắc cả những người mà lịch sử trước đây từng có đánh giá lệch lạc. Điển hình như nhà văn hoá Phạm Quỳnh, nhà thơ Trần Dần, hay Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. Họ đều là những nhân cách lớn, với những đóng góp thầm lặng mà xã hội đang dần công nhận rộng rãi. Việc bảo tồn những tên tuổi này trong sử sách sẽ là minh chứng cho sự tiến bộ của xã hội, theo xu hướng khách quan hơn, đại lượng hơn.  Phải giảm bớt khối lượng những bài vở nặng về tính kỹ thuật. Thay vào đó mở rộng sự phong phú của những nội dung xã hội và nhân văn, nhằm giúp các em có thêm cơ hội tự do phát huy trí tưởng tượng của mình. Cuộc sống là hành trình để khám phá chứ không đơn thuần là một chuỗi những sự vụ ép buộc phải hoàn thành. Chúng ta cần các em tập dượt để sau này làm chủ cuộc sống chứ không cần những người thợ bị lệ thuộc vào gánh nặng. Một đời sống mang quá nhiều gánh nặng, với những mục tiêu quá cụ thể, sẽ làm thiếu không gian để phát triển nhân cách lớn.  Nhưng có lẽ mấu chốt quan trọng nhất chính là sự giáo dục từ gia đình. Như đã đề cập, mọi trẻ em đều có nhu cầu tâm lý chính đáng là được trân trọng và làm chủ được cuộc sống. Những bậc phụ huynh có thể do thiếu kinh nghiệm, hoặc thời gian, hoặc cả hai, thường đáp ứng điều này một cách dễ dàng. Nhưng chính những đứa trẻ được nuông chiều lại là những cá thể thường xuyên cảm thấy không được thoả mãn. Sự tôn trọng đến một cách quá dễ dàng cũng gần với sự thiếu được tôn trọng. Các em cần được vượt qua thử thách. Trong bài viết Trên ghế nhà trường(1), tác giả Cao Huy Thuần từng đề cập tới sự quan trọng của việc giáo dục trẻ em tính chuyên cần, làm việc gì cũng tới nơi tới chốn. Tính chuyên cần này không chỉ giúp các em sau này trở thành những người làm việc giỏi trong mọi lĩnh vực. Nó cũng là chìa khoá giúp mọi người có một đời sống tinh thần khoẻ khoắn. Cảm giác trọn vẹn vượt qua một thử thách là điều cần thiết, và không thể thay thế được trong đời sống mọi cá thể. Nó cho phép con người tự tin ở mình. Từ đó mới có được sự độ lượng và khách quan chân thật.  Lời kết:  Những yêu cầu đặt ra trong bài viết này thật bình thường. Chúng hiển nhiên phải có trong một xã hội tiến bộ. Nếu chúng ta tin tưởng rằng xã hội mình tất yếu phải đi tới sự tiến bộ, thì nghiễm nhiên ai cũng phải đối diện với câu hỏi của một thế hệ trong tương lai. Rằng chúng ta đã và đang làm gì cho sự tiến bộ mà ai cũng mong muốn này?   ———-  (1) Cao Huy Thuần, Trên ghế nhà trường, Tạp chí Tia Sáng, số 2+3 ngày 15/01/2009        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nền học của ta và cho ta      Nền học mới mà ta chủ trương xây dựng, như được chỉ rõ trong các văn kiện chính thức, phải là một nền giáo dục có nội dung tiên tiến, hiện đại và truyền thống. Hiện đại là nói đến tri thức khoa học tiên tiến của nhân loại, đã và đang có những bước tiến vượt bậc và có tác động to lớn đến sự chuyển biến của kinh tế và xã hội loài người hiện nay; còn truyền thống phải chăng là những cái hay, cái đẹp trong nền học của dân tộc ta từ hàng ngàn năm nay, đã góp phần tạo nên cái cốt cách tinh thần của dân tộc ta trong quá khứ và vẫn còn cần thiết cho cuộc sống hôm nay?    Trong công cuộc cải cách giáo dục hiện nay của chúng ta, cái vế giữ gìn truyền thống tuy có được nói đến nhưng theo tôi nghĩ là còn mờ nhạt, chưa có những nội dung cụ thể. Cần có thêm những nghiên cứu sâu sắc hơn để xác định được những gì cần giữ và cần phát huy, cần được kết hợp ra sao với các nội dung khác trong một chương trình giáo dục thống nhất. Còn yếu tố hiện đại cũng cần được hiểu phù hợp với sự phát triển của khoa học trong thời đại ngày nay và với nhu cầu nhận thức của người học về những tri thức khoa học đang không ngừng phát triển đó.  Thuật ngữ “hiện đại” thường được gắn cho một giai đoạn phát triển khoa học và văn hóa của nhân loại, mà chủ yếu là của các nước phương Tây, từ thế kỷ 17 đến khoảng giữa thế kỷ 20, với sự thống trị của tư duy duy lý và chủ nghĩa thực chứng, được xây dựng trên cơ sở những ý tưởng cơ bản sau đây:  Có một thực tế tất định, không thay đổi và tuyệt đối. Vũ trụ là cố định, tiên đoán được, và vận động theo qui luật. Mơ hồ hay bất định chỉ là do thiếu thông tin hay thiếu một lý thuyết tốt để giải thích.  Thực tế có thể được giải thích theo các qui luật của vật lý học Newton và các suy luận lôgich. Mọi phán đoán đều hoặc đúng hoặc sai, không có chỗ cho sự mập mờ, nghịch lý và đa nghĩa.  Vũ trụ có thứ bậc, với các nguyên tử ở bậc thấp nhất, rồi từ đó xây dựng nên các bậc cao hơn của các phân tử, các tế bào, các cơ thể,… Các tổ chức xã hội cũng được cấu trúc theo cùng các bậc thang từ dưới lên hay từ trên xuống.  Vũ trụ được hợp thành từ các bộ phận riêng biệt, tách rời và thay đổi được cho nhau. Thực tế vật lý có thể được giải thích bằng các nguyên tử cá thể và các lực tác động lẫn nhau giữa chúng.  Ý thức con người đứng ngoài thế giới vật lý. Ta biết được các bí mật của tự nhiên thông qua việc khảo sát khách quan các đối tượng của nó. Tự nhiên được nhận thức như là cái “khác” ta, được ta chinh phục và sử dụng.  Nội dung của khoa học “hiện đại” được giảng dạy trong nhà trường từ các nước Âu Mỹ rồi sau đó lan rộng khắp thế giới cho đến gần suốt thế kỷ 20 đều chủ yếu là truyền thụ các kiến thức tuân theo các ý tưởng cơ bản nói trên.  Nhưng sự phát triển của khoa học đã không dừng lại ở cách nhìn cơ giới như vậy. Ngay từ giữa thế kỷ 19 khoa học đã có ba phát minh lớn vượt ra ngoài khuôn khổ của tư duy cơ giới Newton là phát minh ra trường lực điện từ trong điện động lực học, lý thuyết tiến hóa trong sinh học và nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học về việc tăng entropy của một chất khí trong bình kín. Các phát minh này mãi cho đến giữa thế kỷ 20 vẫn gần như vắng bóng trong chương trình giảng dạy của nhà trường, trong đó có phát minh lớn như thuyết tiến hóa sinh học cho mãi đến nay vẫn bị cấm kỵ không được dạy và học trong nhiều nhà trường ở Anh, Mỹ. Sang thế kỷ 20, liên tiếp nhiều lý thuyết khoa học khác nằm ngoài phạm vi của tư duy cơ giới ra đời, như: thuyết tương đối Einstein, cơ học lượng tử, việc giải mã di truyền DNA, sự ra đời và phát triển của các lý thuyết về Hỗn độn và Phức tạp dẫn đến sự hình thành vào cuối thế kỷ cả một lĩnh vực Khoa học về Phức tạp được xem như một Khoa học mới cho thế kỷ 21, hiện đang được phát triển mạnh mẽ tại nhiều nước và được xem là nguồn cung cấp cho chúng ta những tri thức mới để lý giải nhiều vấn đề cơ bản về sự tạo thành, tiến hóa và phát triển của các hệ thống phức tạp trong tự nhiên, cuộc sống và kinh tế, xã hội của loài người. Các lý thuyết khoa học mới này đang góp phần tạo nên một cuộc cách mạng mới trong nhận thức của chúng ta, giải phóng tư duy của chúng ta khỏi cách nhìn cũ về một thế giới giản đơn, vật chất, tiên đoán được, và được thống trị bởi các luật cơ giới, các lý thuyết mới này đồng thời cũng đã là cơ sở cho nhiều phát minh công nghệ mới làm nên nhiều sản phẩm công nghệ cao được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong vài ba thập niên gần đây, nhiều nhà khoa học và giáo dục trên thế giới đã có những đề xuất nhằm đưa các tri thức của các lĩnh vực khoa học mới này vào chương trình giảng dạy trong nhà trường, với một lý do rất đơn giản là không thể để những con người mà thời đại đào tạo ra không biết gì về những tri thức của thời đại đang góp phần làm thay đổi cuộc sống của thời đại mình. Và đối với chúng ta, trong sự nghiệp cải cách nội dung giáo dục hiện nay, tôi nghĩ rằng cũng không nên xem đó là công việc của thiên hạ mà chưa phải là công việc của mình.  Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng trong công cuộc đổi mới, xây dựng một nền học mới của ta và cho ta, về nội dung giáo dục ta cần đầu tư nghiên cứu một cách thấu đáo việc kết hợp ba nguồn tri thức: nguồn tri thức từ trong văn hóa truyền thống của dân tộc, nguồn tri thức khoa học “hiện đại” nay đã trở thành cổ điển, và nguồn tri thức từ các lý thuyết khoa học mới đang và sẽ có tác động lớn đến cuộc sống con người trong tương lai. Tất nhiên, kết hợp được một cách nhuần nhuyễn các nguồn tri thức đó để tạo nên nội dung của một chương trình giáo dục thống nhất phù hợp với trình độ tiếp thu của người học không phải là dễ, và nếu làm được chắc chắn sẽ là một đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp đổi mới nền giáo dục, và xây dưng nền giáo dục độc lập của chúng ta.  Phan Đình Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngày chơi/vui với Toán học      Bất chấp trời mưa, khoảng 300-400 người đã tới dự sự kiện “Một ngày với Toán học” lần thứ hai do Viện Toán học tổ chức, rất nhiều trong số đó là các học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.      “Ngày mở cửa” hay “Một ngày với Toán học” là một hoạt động hằng năm của Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN, với mục đích đưa Toán học tới gần hơn với công chúng.      Đây là dịp để mọi người có thể tìm hiểu đôi chút về hoạt động nghiên cứu Toán học, về vai trò, ý nghĩa và những đóng góp của Toán học tới khoa học và cuộc sống; cũng là dịp để các nhà Toán học truyền những say mê, cảm hứng và kinh nghiệm của mình cho các bạn trẻ.     “Ngày mở cửa” đã được thực hiện rộng rãi tại nhiều trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trên thế giới, giúp công chúng hiểu biết hơn về công việc của các nhà khoa học, tiếp cận một cách chân thực, cụ thể hơn với khoa học và các ứng dụng của chúng vào cuộc sống, đồng thời là một cách khuyến khích các bạn trẻ lựa chọn con đường theo đuổi khoa học.     Với Viện Toán học, đây là lần thứ hai chúng tôi tổ chức “Một ngày với Toán học” – lần đầu tổ chức vào năm ngoái, nhân dịp ra đời Ngày KH&CN Việt Nam, 18/5/2014. Năm nay nội dung quan trọng nhất của chương trình là bài loạt giảng đại chúng của một số nhà toán học xuất sắc, lại là những người rất quan tâm tới các hoạt động phổ biến Toán học, gồm các giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (ĐH Toulouse, Pháp), Hoàng Xuân Phú, Hà Huy Khoái và Ngô Việt Trung (Viện Toán học).      Những nội dung mà họ chia sẻ với công chúng hết sức phong phú và cuốn hút, từ bài giảng của GS Nguyễn Tiến Dũng về những cảm nhận, kinh nghiệm của mình trong việc học toán, nghiên cứu toán, với quan điểm “không có bài toán nào không có lời giải, vấn đề là nhiều khi chúng ta cần mở rộng quan điểm, khuôn khổ tư duy của mình, tìm lời giải trong một phạm vi rộng hơn”; những minh họa đơn giản và trực quan của GS Hoàng Xuân Phú về các định luật về sự truyền ánh sáng cũng như ứng dụng của nó vào cuộc sống, giúp chỉ ra rằng Toán học giúp giải quyết những vấn đề của Vật lý, còn Vật lý là động lực cho sự phát triển của Toán học; tới bài toán mà GS Hà Huy Khoái đưa ra về ghép cặp ổn định và những ứng dụng của nó, đặc biệt là khả năng ứng dụng của nó tới việc tuyển sinh đại học nước ta – kèm theo đó là nguồn gốc của bài toán ghép cặp ổn định được phát triển bởi các nhà toán học Gale, Shapley (1962) tới Shapley và Roth (Nobel Kinh tế 2012), được trình bày tuân theo những chuẩn mực của một báo cáo khoa học nhưng lại hết sức đơn giản dễ hiểu. Cuối cùng là câu chuyện lịch sử ra đời và phát triển của Toán học Việt Nam, được GS Ngô Việt Trung kể một cách đầy sinh động.     Không chỉ nghe các bài thuyết trình, công chúng còn được tham gia nhiều hoạt động do các đơn vị đồng tổ chức thực hiện. Vườn ươm Talinpa giới thiệu một bộ sưu tập nhỏ với nhan đề “Dấu vết Toán học qua các sách báo, tạp chí tiếng Việt từ xưa tới nay”. Mặc dù còn chưa có nhiều hiện vật, triển lãm đã góp thêm thông tin về các giai đoạn phát triển của Toán học ở Việt Nam– mong rằng trong thời gian tới, chúng ta sẽ có một bộ sưu tập đầy đủ hơn góp phần đánh giá diện mạo phát triển của Toán học nước nhà trong thế kỷ qua. Trung tâm PoMath mang tới cho ngày hội Toán học một sân chơi trí tuệ, nơi toán học gặp gỡ các bạn trẻ qua những trò chơi. Bên cạnh đó, rất nhiều sách phổ biến kiến thức về Toán học và Khoa học cũng đã được giới thiệu cho các phụ huynh và em nhỏ.     Như vậy, “Một ngày với Toán học” thực sự là một ngày chơi/vui với Toán học. Theo ước đoán của ban tổ chức, từ ba tới bốn trăm người đã tới dự, rất nhiều trong số đó là các học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.     Viện Toán học chân thành cảm ơn các đơn vị phối hợp tổ chức, trong đó có Tạp chí Tia Sáng, đồng thời cảm ơn sự nhiệt tình của tất cả những người đã đến tham dự sự kiện “Một ngày với Toán học” năm nay.   ***  Toán học vốn trong sáng  Hảo Linh      GS. Nguyễn Tiến Dũng bị “bí” khi một học sinh hỏi ký hiệu số 60 của   người Babylon là gì vì slide của ông chỉ đến số 59. Ảnh: Hảo Linh    Tôi không dám chắc bài giảng đại chúng “cho lứa tuổi từ 6-66” của các giáo sư Viện Toán học dễ hiểu với các học sinh tiểu học hôm đó, nhưng dám chắc các thính giả sẽ rời hội trường với ấn tượng khác về các ký hiệu và định lý toán học mà họ từng biết: toán học dù sâu sắc, nhưng vô cùng gần gũi, trong sáng và sinh động.  Ở trường phổ thông, càng học lên cao, sẽ càng thấy Toán học “bớt trong sáng” bởi những định lý và kí hiệu toán học được học sinh “miễn cưỡng thừa nhận”, chỉ nhằm giải quyết những bài toán đơn lẻ, khô khan, thay vì giúp họ học cách mô tả và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. GS Nguyễn Tiến Dũng khi dẫn ra bài toán giải phương trình của kỳ thi Đại học 2015 đã thừa nhận: “Trong suốt cuộc đời làm Toán của mình, tôi chưa bao giờ gặp những phương trình như thế này. Họ ra những đề bài này chỉ vì họ nghĩ họ có thể giải được”.   Toán học nên được hiểu vượt ra khỏi việc giải quyết những bài toán đơn lẻ phổ thông mà là để trả lời những phân vân của con người về thế giới và lịch sử của mình. Chẳng hạn, tại sao số phức lại ra đời? Vì con người nghĩ rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết được, vì người ta không chấp nhận việc phương trình x2+1 = 0* là vô nghiệm.   Toán học đi vào đời sống, thân thuộc hơn những gì người ta vẫn nghĩ. Ví dụ, GS Nguyễn Tiến Dũng nói “ người làm âm nhạc là phải hiểu Toán học, âm nhạc hay ở chỗ “người ta đếm mà không biết là mình đếm” (Archimedes). Người đầu tiên nghĩ ra hình Mobius không phải là Ferdinand August Mobius mà thực ra là Sebastian Bach. Nối cách chơi hai dòng nhạc đối âm trong Crab Canon của Bach là thành dải băng Mobius.”   Những bài giảng ngày hôm đó không chỉ hướng mọi người đến tình yêu Toán học, mà truyền cảm hứng cho trẻ em về khoa học nói chung thông qua việc dấy lên những mối nghi ngờ và những câu hỏi tự nhiên. “Tưởng như chúng ta đến được chân lý rồi nhưng bản năng nghiên cứu khoa học khiến ta nghi ngờ chân lý,” GS Hoàng Xuân Phú nói.   Ít có sự kiện nào mà nhà khoa học có cơ hội gần gũi với công chúng như vậy, kể cả ngày hội STEM cách đây vài tháng tại Hà Nội: các nhà toán học và các diễn giả (khi chưa đến lượt) cùng ngồi dự thính, pha trò và chơi trò chơi với các thính giả.  “Một ngày với Toán học” là cơ hội cho tất cả những ai tham gia, đặc biệt là trẻ em, được lắng nghe, đối thoại, thậm chí tự do “vặn vẹo” các nhà Toán học hàng đầu của đất nước. Các em thấy, nhà Toán học, cũng như những bài giảng của họ: thông minh, sâu sắc nhưng rất bình dị và hài hước.   GS Pierre Darriulat từng nêu lí do cần tổ chức Ngày hội Khoa học: “Một nhà khoa học thấm nhuần đạo lý của khoa học sẽ nhận thấy rằng mình có nghĩa vụ giới thiệu với công chúng những công việc mà mình đang làm”. Và không chỉ Viện Toán học, các viện nghiên cứu khác cũng nên tổ chức những ngày “mở cửa” như vậy.  * sửa lại so với bản in là x2+1          Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngày trong vỏ hạt dẻ      Ngày 20/12/2015, nhân tổng kết năm&#160; năm “chương trình trọng điểm quốc gia về phát triển toán học”, Viện nghiên cứu cao cấp về Toán đã tổ chức một ngày hội “Math open day”.&#160;  Với tôi, từ xưa đến nay toán vẫn là một “thứ” khô khan trừu tượng và rất khó “gần”. Nhưng đến ngày hội, tôi đã được chứng kiến một thứ toán học thật sự khác biệt, không còn trừu tượng và khó gần mà được hiển thị một cách cụ thể rõ ràng cho không chỉ riêng tôi mà tất cả mọi người tham gia ngày hội.       Ngày hội với trình diễn của các đơn vị như Học viện sáng tạo S3, Hexagon, Pomath, Sputnik, Booksquare đã biến không gian nghiên cứu trở thành một không gian hội vô cùng ấn tượng và đặc sắc. Trước hết, phải kể đến việc lần đầu tiên có một triển lãm các mô hình toán khổng lồ do Học Viện sáng tạo S3 tổ chức.  Đường hầm Fibonacci, “Đó chỉ là một đường hầm đơn giản?” Câu trả lời là không! Mà ẩn chứa trong một mô hình “vô tri vô giác” ấy lại là những kiến thức toán học vi diệu, từ tỉ lệ vàng, một tỷ lệ mà nó làm nên cái đẹp tuyết diệu và bí ẩn trong hội họa, kiến trúc… rồi dãy số Fibonacci, câu chuyện diện tích, bài toán đếm… Một mô hình khác còn đặc sắc hơn mà làm cho rất nhiều người bất ngờ đó là một mô hình “cong – thẳng”. Các bạn có tin từ các đường thẳng mà chúng ta lại tạo ra được một mặt cong kỳ diệu? Chắc hẳn nhiều bạn trong số chúng ta nghĩ đó là một điều không tưởng? Nhưng đó lại là một điều có thực. Với mặt Hyperboloid, một dạng mặt kẻ, là dạng mà tại mỗi điểm trêm mặt ta luôn vẽ được một đường thẳng đi qua điểm ấy và nằm trọn trên mặt đó.                         Mặt Hyperboloid        Triển lãm không gian của Học Viện sáng tạo S3          Không chỉ vậy không gian phía trong ta còn thấy các khối đa diện với nghệ thuật sắp đặt được treo thả tạo nên một không gian đẹp lung linh và huyền ảo, cũng trong cái không gian ấy các bạn nhỏ được trải nghiệm các mô hình toán cực kỳ thú vị và phải giải quyết vấn đề, trong đó có những bài toán mà các Tiến sĩ cũng phải “nhăn mày nhăn mặt” mới có thể tìm ra được lời giải. Bài toán đường đoản thời, một bài toán kinh điển, hãy tìm con đường đi nhanh nhất từ A tới B; bài toán “hình chữ nhật hoàn hảo” với một hình chữ nhật ta có thể chia hình chữ nhật ấy thành các hình vuông có kích thước nguyên khác nhau không? Hay một cây cầu được xếp từ các thanh rời nhau mà lại có thể gắn kết không cần bắt kỳ một chất kết dính, một con ốc giữ? ….  Không dừng lại ở mức xem, tất cả mọi người tới với ngày hội còn được trực tiếp thực hành để tạo ra các mô hình mini bằng các vật liệu vô cùng đơn giản và luôn sẵn có xung quanh ta để mang về làm kỉ niệm của ngày hội. Nghe thì đơn giản vậy nhưng mà dù được xem các mô hình mẫu khổng lồ, được các tình nguyện viên hướng dẫn nhưng còn rất nhiều người không thể vượt qua được thử thách làm các mô hình mang về và rõ ràng thực hành luôn khác xa với lý thuyết mà chúng ta đã biết.   Xem rồi, làm rồi vẫn là chưa đủ, ta còn phải vượt qua các thử thách “hại não” đến từ Pomath và Hexagon. Các thử thách với các bài toán trên bàn cờ vua, tám quân hậu trên một bàn cờ ; quân mã đi tuần hết các ô trên bàn cờ ; tháp Hà Nội ; rồi thiết kế đường đi, phân chia đất đai, các bài toán với que diêm. Đề bài thì rất dễ hiểu nhưng nó lại ko hề đơn giản để có được một lời giải và các thử thách này dành cho tất cả mọi người từ bảy tuổi cho tới 100 tuổi.           Thử tài cùng Hexagon                    Cuộc chiến sắc màu với POMATH.          Đã xem, đã làm, đã đố chúng ta còn được học, những bài học vô cùng vi diệu đến từ các giáo sư hàng đầu trong các lĩnh vực hẹp của Toán. GS Hà Huy Khoái với bài giảng “Ích gì, Toán học” ; GS Nguyễn Hữu Việt Hưng với bài giảng “Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả”; GS Đỗ Đức Thái với bài giảng “Từ trường chuyên tới đỉnh cao toán học”.  Cả ba bài giảng “Mỗi bài một vẻ, mười phân vẹn mười” đã cho chúng ta thấy Toán học không hề khô khan mà nó hấp dẫn và lãng mạn đầy chất thơ. Cũng trong khuôn khổ của ngày hội, một buổi tọa đàm với chủ đề “Chuyên Toán đi đâu, về đâu?” Với sự tham gia của những nhân vật hàng đầu trong làng Toán như GS Trần Văn Nhung, GS Nguyễn Hữu Việt Hưng, PGS Phan Thị Hà Dương, thầy giáo Nguyễn Khắc Minh đã phơi bày rõ một phần thực tế của các trường chuyên và bước đầu đưa ra những hướng đi cho khối các trường chuyên lớp chọn bổ sung cho những thiếu sót và ngày một hoàn thiện hệ thống trường chuyên các cấp.   Đúng như chủ đề “Toán học trong vỏ hạt dẻ”,  đến với ngày hội tất cả chúng ta được khám phá thế giới toán học kỳ bí ẩn sau lớp vỏ khô khan, nhàm chán lại là những thứ vi diệu, tinh hoa không hề xa lạ giống như hạt dẻ ngon bùi nằm sau lớp vỏ cứng !    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nghĩa cử của Viettel      Với chương trình cung cấp thiết bị, lắp đặt và cho sử dụng miễn phí vĩnh viễn Internet băng rộng gần 40.000 trường học trên cả nước, giảm 70% cước thuê kênh cho các trường đại học, cao đẳng và trung cấp, Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) đã có một nghĩa cử, góp phần tô đậm bản chất tốt đẹp của “Anh Bộ Đội Cụ Hồ”.     Trong buổi lễ “Khởi công kết nối mạng giáo dục” ngày 25/9 vừa qua, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc Viettel đã lý giải việc thực hiện chương trình này là do: “trong quá trình kinh doanh, Viettel nhận thấy một thực tế, rất nhiều người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ mà không có nhu cầu chi trả. Ở đất nước của chúng ta, số người này rất đông và chính họ là những người ảnh hưởng tới tương lai đất nước. Chúng tôi nghĩ rằng, những người này nếu được đào tạo, trang bị kiến thức tốt sẽ có rất nhiều cơ hội trong tương lai. Và khi họ có cơ hội thì họ sẽ trở thành những người có thu nhập cao hơn, khi đó họ sẽ nhớ về quá khứ, nhớ về những người đã giúp đỡ họ, đồng thời họ sẽ có ý thức giúp đỡ những người khác còn khó khăn hơn mình. Những vòng luân chuyển như vậy sẽ khiến xã hội ngày càng tốt đẹp hơn…”. Ông cũng cho biết thêm, Viettel đang tiến tới kỷ niệm 20 năm thành lập Tổng công ty. Trong số các hoạt động hướng tới ngày trọng đại đó thì quan trọng nhất là cảm ơn xã hội Việt Nam đã nuôi dưỡng Viettel. “Lời cảm ơn ấy, chúng tôi muốn dành trước tiên cho ngành giáo dục bằng một chương trình cụ thể là phổ cập Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục trên cả nước”.               … Trong kinh doanh thì công ty nào cũng muốn hướng đến người có tiền cả. Mà đối với dịch vụ như Internet băng rộng thì có những người thực sự rất cần như những trường học lại không có tiền mà đây lại chính là những nơi quyết định tương lai của đất nước này. Nếu như chúng ta đều coi giáo dục là tương lai của đất nước này thì tại sao lại không dám mạnh tay đầu tư cho giáo dục? Khi làm chương trình này, chúng tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng: khi mình giúp người nghèo trở thành người có tiền và có thể trở thành người giàu thì ít nhất họ cũng nhớ đến mình như những người tốt bụng, tử tế mà cao hơn nữa thì họ sẽ sử dụng dịch vụ của mình, nói tốt cho mình với những người khác… Thử hình dung xem bạn phải bỏ bao nhiêu tiền để có được hàng chục triệu người yêu mến công ty của bạn một cách thực sự?              … Trong triết lý kinh doanh của Viettel có ghi rõ một điều: kinh doanh có trách nhiệm với xã hội. Chúng tôi luôn nhận thức rằng, để có Viettel ngày hôm nay, một doanh nghiệp mạnh của đất nước với doanh thu năm 2008 ước đạt hơn 32 nghìn tỷ đồng thì lý do chính là nhờ xã hội 85 triệu dân Việt Nam. Nhờ chính trị ổn định, nhờ kinh tế phát triển thì chúng tôi mới có được doanh thu ấy. Chúng tôi xác định, gần 7.000 tỷ đồng lợi nhuận của Viettel năm nay không thuộc về Viettel mà chính là thuộc về xã hội Việt Nam.  Nguyễn Mạnh Hùng                Phó Tổng giám đốc Viettel          Phát biểu trong buổi lễ này, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã cho rằng Chương trình này thực sự giành được sự quan tâm, kỳ vọng và những tình cảm tốt đẹp của không chỉ thầy cô và hàng chục triệu học sinh mà của cả những người tâm huyết với sự phát triển giáo dục, đào tạo của đất nước. “Xin thay mặt hơn 1 triệu thầy cô giáo và 53 triệu học sinh cả nước, trong đó có 1,6 triệu sinh viên thì vẫn phải trả phí nhưng với giá rẻ, cám ơn chân tình tới Viettel . Chúng tôi tin rằng, ngày 25.9.2008 sẽ là ngày lưu vào lịch sử của giáo dục Việt Nam và lịch sử của ngành công nghệ thông tin truyền thông Việt Nam”. Ông nói.  Còn ông Quách Tuấn Ngọc, Giám đốc Trung tâm Tin học Bộ GD&ĐT thì khẳng định với các nhà báo: “Chương trình mà Viettel dành cho ngành giáo dục là một chương trình vĩ đại nhất mà tôi từng biết của một công ty viễn thông. Đây không chỉ là một chương trình đặc biệt tại Việt Nam mà còn là một chương trình đặc biệt và duy nhất trên toàn thế giới. Tôi thách tất cả mọi người có thể tìm được công ty thứ hai trên thế giới dám làm một chương trình như vậy…”. Ngoài việc dành cho Viettel những lời khen ngợi có phần “hơi quá”, ông Ngọc đã nhờ ông Kriengkrai Bhuvanij- người phụ trách các chương trình Chính phủ của IBM Thái Lan, một đối tác của Bộ GD&ĐT Việt Nam -soạn thảo và phát tức thời đến các hãng thông tấn nước ngoài một thông cáo báo chí bằng tiếng Anh về Chương trình của buổi lễ.  Vị đại diện của IBM đã bày tỏ với ông Nguyễn Mạnh Hùng sự ngưỡng mộ của mình trước nghĩa cử cao đẹp của Viettel: “Thái Lan là một nước giàu hơn Việt Nam nhiều nhưng số lượng người dùng Internet ở các trường học chỉ khoảng 1,5 triệu người và cũng chưa tìm ra cách để đưa số người sử dụng Internet tại Thái Lan tăng lên. Việt Nam là một nước nghèo hơn Thái Lan nhiều nhưng lại có một công ty dám tài trợ cho hàng chục triệu học sinh, sinh viên dùng Internet miễn phí vĩnh viễn thì đúng là một điều rất khó tin”.    Mục tiêu của Chương trình   Không chỉ phục vụ mục tiêu cám ơn xã hội nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập mà chương trình kết nối mạng giáo dục của Viettel là một dạng marketing đặc biệt.                Điểm đặc biệt đầu tiên là nó xuất phát từ ý tưởng: trả ơn xã hội, trả ơn hơn 85 triệu người dân Việt Nam – những người nuôi dưỡng Viettel; nhưng đối tượng được nhắm đến lại là những người không có tiền để chi trả cho những dịch vụ mà Viettel đang cung cấp (những công ty khác thì chỉ nhắm vào các đối tượng khách hàng có khả năng trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ của mình). Điểm đặc biệt thứ hai là dù sẽ phải chi những khoản tiền cực lớn, thường xuyên cho những người có khả năng chi trả thấp nhất xã hội nhưng chương trình phải đảm bảo mục tiêu bền vững tức là phải “có lãi”.  Nếu chỉ nhìn sơ qua từ bên ngoài, việc nhắm tới các đối tượng ít có khả năng chi trả thường xuyên cho các dịch vụ Internet băng rộng là các trường Mầm non, Tiểu học, THCS và THPT có vẻ không phù hợp với mục tiêu marketing trước mắt cũng như mục tiêu “có lãi”. Thứ nhất, nếu như họ đã ít hoặc không có khả năng chi trả cho dịch vụ của Viettel thì họ không nằm trong diện khách hàng tiềm năng hiện tại nên không phải là mục tiêu marketing ưu tiên. Thứ hai, mục tiêu “có lãi” là cực kỳ viển vông bởi Viettel cung cấp hoàn toàn miễn phí mọi thứ cho đối tượng này thì lấy đâu ra tiền mà “có lãi”?              Kế hoạch triển khai việc kết nối mạng giáo dục như sau:  – Đến tháng 10/2008: Dự kiến sẽ hoàn thành kết nối giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo tới tất cả các Sở Giáo dục và Đào tạo trong cả nước.  – Đến tháng 6/2009: Kết nối tới các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Dạy nghề:  – Vào năm 2009 hoặc 2010: Sẽ hoàn thành kết nối tới các trường trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học,…  Theo ước tính đến năm 2010, Viettel sẽ thực hiện kết nối Internet với hơn 39.000 trường trên cả nước và 27 triệu người sẽ được hưởng lợi ích từ các dịch vụ này.             Nhưng theo Viettel, tất cả các học sinh từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở… là những khách hàng miễn phí của Viettel ở trường học nhưng tương lai sẽ là những khách hàng có trả phí của Viettel khi ở nhà hoặc ở nơi khác. Việc quảng bá mạnh mẽ dịch vụ tới đối tượng khách hàng này từ khi còn nhỏ cho tới khi lớn sẽ hỗ trợ cho Viettel rất nhiều trong việc bán hàng khi những đối tượng này trở thành những người có khả năng chi trả. Điều thú vị ở đây là: gần như toàn bộ các khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông sau này đều là những người đã được thụ hưởng các lợi ích từ chương trình Internet băng rộng miễn phí cho trường học của Viettel (từ khi họ còn nhỏ xíu cho tới khi lớn). Trong tâm trí của những khách hàng tương lai này, chắc chắn Viettel là một thương hiệu tốt bụng và tử tế hơn bất cứ một thương hiệu viễn thông nào khác.  Chưa hết, những người trong ngành giáo dục, cha mẹ của những khách hàng tương lai (những học sinh mầm non, tiểu học, trung học…) khi nhắc tới Viettel cũng sẽ hình dung ra một công ty của những người tử tế và tốt bụng dù có thể họ chưa dùng dịch vụ của công ty này. Mặc dù Viettel chỉ dự kiến việc cung cấp dịch vụ Internet băng rộng miễn phí sẽ tới được hơn 27 triệu học sinh, giáo viên, nhân viên… trong ngành giáo dục, nhưng sức ảnh hưởng của chương trình này chắc chắn sẽ lan tỏa thực sự đến toàn bộ xã hội Việt Nam bởi những học sinh đang không có tiền để chi trả này chính là tương lai của đất nước.  Chỉ tính riêng chi phí hằng năm cho việc cung cấp Internet băng rộng miễn phí cho hơn 39.000 trường Mầm non, Tiểu học, THCS và THPT đã là trên 300 tỷ đồng. Đây là chưa kể đến chi phí ban đầu mà Viettel bỏ ra để kết nối miễn phí tới các trường, cũng như việc cung cấp modem miễn phí cho các trường này.  Có thể nói rằng, ai cũng hiểu việc đầu tư cho ngành giáo dục là một khoản đầu tư chiến lược cho tương lai, nhưng cho đến nay chưa có bất kỳ một doanh nghiệp nào thực hiện một khoản đầu tư cực lớn trước mắt như Viettel chỉ để nhận được những thành quả “vô hình” chỉ có thể thấy được trong một tương lai không gần. Vì thế không ngạc nhiên khi trong giới doanh nghiệp công nghệ thông tin không ít người cho rằng Viettel chơi “ngông”.  Phải chăng đó là cách “chơi ngông” mang bản sắc văn hóa Viettel.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nguyên nhân làm hạn chế hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy ĐH tại Việt Nam      Thực trạng về phương ph&#225;p giảng dạy ở c&#225;c bậc học tại Việt Nam đ&#227; được quan t&#226;m ph&#226;n t&#237;ch, đ&#225;nh gi&#225; rất nhiều trong thời gian gần đ&#226;y. B&#224;i viết n&#224;y t&#225;c giả chỉ ph&#226;n t&#237;ch một nguy&#234;n nh&#226;n thuộc về kh&#237;a cạnh tổ chức của trường đại học.           Trong một báo cáo được thực hiện năm 2006 bởi Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ gửi đến Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) sau một thời gian khảo sát tại một số trường đại học của Việt Nam, có phần nhận xét về phương pháp dạy và học như sau:  ·         Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực (như giao bài tập về nhà có chấm điểm, thảo luận trong lớp), kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học. Nhiều giảng viên không định ra lịch để tiếp sinh viên.  ·         Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu.  ·         Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi).   (Báo cáo “Những quan sát về giáo dục đại học trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật điện-điện tử-viễn thông và vật lý tại một số trường đại học Việt Nam”, tr.10)  Nguyên nhân của thực trạng trên đây đã được nhiều báo cáo phân tích ở các góc độ khác nhau. Nhưng chưa mấy ai bàn đến vai trò của các tổ chức chuyên trách về nâng cao năng lực dạy và học của các trường đại học. Bảng 1 thống kê sự hiện diện của đơn vị chuyên trách về nâng cao năng lực dạy và học tại 20 trường đại học công lập ở Việt Nam. Bảng 2 cũng tương tự như vậy đối với 20 trường đại học ở Hoa Kỳ. Các trường đại học Việt Nam được tác giả chọn theo tiêu chí đại diện cho đơn ngành, đa ngành, cho địa phương; còn các trường đại học Hoa Kỳ được lấy theo tiểu bang và nằm trong danh sách các trường có liên kết với VEF. Nội dung khảo sát dựa trên thông tin do trang web của các trường cung cấp.    Bảng 1: Sự hiện diện của đơn vị chuyên trách về nâng cao năng lực dạy và học tại 20 trường đại học công lập ở Việt Nam            STT  Tên trường  Đơn vị chuyên trách về nâng cao năng lực dạy&học  Trang web đơn vị      1  Đại học Quốc gia Hà Nội  Trung tâm ĐBCL đào tạo & Nghiên cứu phát triển GD  http://www.ceqard.vnu.edu.vn      2  Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  Trung tâm Nghiên cứu giáo dục  http://www.hnue.edu.vn/portal/page/portal/dhsphn/ttc/88297/dvnckh/74249      3  Trường Đaị học Nông nghiệp Hà Nội  Khoa Sư phạm & Ngoại ngữ  http://www.hua.edu.vn/khoa/supham_ngoaingu/index_supham.htm      4  Trường Đaị học Bách khoa Hà Nội  Trung tâm Đảm bảo chất lượng  http://www.hut.edu.vn/      5  Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  Không có         6  Đại học Thái Nguyên  Khoa Giáo dục  http://www.dhsptn.edu.vn/      7  Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên  Khoa Sư phạm kỹ thuật  http://www.utehy.edu.vn/      8  Trường Đại học Vinh  Trung tâm Đảm bảo chất lượng  http://www.vinhuni.edu.vn/      9  Đại học Huế  Trường Đại học Sư phạm  http://www.dhsphue.edu.vn/      10  Đại học Đà Nẳng  Trường Đại học Sư phạm  http://www.dce.udn.vn/      11  Trường Đại học Nha Trang  Phòng Đảm bảo chất lượng đào tạo & Khảo thí  http://www.ntu.edu.vn/phongban/chatluongdt/default.aspx      12  Trường Đại học Đà Lạt  Khoa Sư phạm  http://www.dlu.edu.vn/faculty.aspx?orgId=73      13  Trường Đại học Tây Nguyên  Khoa Sư phạm  http://www.taynguyenuni.edu.vn/web/Home/DepartmentDetails.aspx?deptid=8      14  Đại học Quốc gia TP. HCM  Trung tâm Khảo thí & Đánh giá CLĐT  http://cete.vnuhcm.edu.vn/main.php      15  Trường Đại học Nông lâm TP. HCM  Khoa Sư phạm Kỹ thuật  http://ate.hcmuaf.edu.vn      16  Trường Đại học Kinh tế TP. HCM  Phòng Khảo thí & Đảm bảo chất lượng  http://www.ktkd.ueh.edu.vn/      17  Trường Đại học Sư phạm TP. HCM  Viện Nghiên cứu Giáo dục  http://www.ier.edu.vn/      18  Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM  Khoa Sư phạm Kỹ thuật  http://www.hcmute.edu.vn/khoaspkt/khoaspkt.htm      19  Trường Đại học An Giang  Khoa Sư phạm  http://dept.agu.edu.vn/edu/      20  Trường Đại học Cần Thơ  Khoa Sư phạm  http://www.ctu.edu.vn/colleges/education/ksp1/           Bảng 2: Sự hiện diện của đơn vị chuyên trách về nâng cao năng lực dạy và học tại 20 trường đại học ở Hoa Kỳ          STT      Tên trường      Đơn vị chuyên trách về nâng cao năng lực dạy&học      Trang web đơn vị          1      Arizona State University      Center for Learning and Teaching Excellence      http://clte.asu.edu/          2      Boston University       Center for Excellence in Teaching      http://www.bu.edu/cet/          3      Carnegie Mellon University*      Eberly Center for Teaching Excellence      http://www.cmu.edu/teaching/          4      Cornell University      The Center for Learning and Teaching      http://www.clt.cornell.edu/             5      Florida State University      Center for Teaching and Learning      http://learningforlife.fsu.edu/ctl/          6      Georgia Institute ofTechnology*      Center for the Enhancement of Teaching and Learning      http://www.cetl.gatech.edu/          7      Iowa State University      Center for Excellence in Teaching and Learning      http://www.celt.iastate.edu/homepage.html          8      Kansas State University      Center for the Advancement of Teaching and Learning      http://www.k-state.edu/catl/          9      Oregon State University      Center for Teaching and Learning      http://oregonstate.edu/ctl/          10      Pennsylvania State University      Schreyer Institute for Teaching Excellence      http://www.schreyerinstitute.psu.edu/          11      Rensselaer Polytechnic Institute*      The Lois J. & Harlan E. Anderson Center              for Innovation in Undergraduate Education      http://www.ciue.rpi.edu/index.html          12      Temple University          Teaching and Learning Center      http://www.temple.edu/education/CTE/          13      Texas A&M University      Center for Teaching Excellence      http://cte.tamu.edu/          14      Virginia Polytechnic Institute and State University      Center for Excellence in Undergraduate Teaching      http://www.ceut.vt.edu/          15      University of Buffalo      Teaching & Learning Center      http://www.etc.buffalo.edu/          16      University of Connecticut         Institute for Teaching & Learning      http://itl.uconn.edu/             17      University of Delaware         Center for Teaching Effectiveness      http://cte.udel.edu/          18      University of Minnesota      Center for Teaching and Learning      http://www1.umn.edu/ohr/teachlearn/index.html          19      University of California, Los Angeles      Office of Instructional Development      http://www.oid.ucla.edu/          20      Washington State University         Center for Teaching, Learning, & Technology      http://www.ctlt.wsu.edu             Bảng 1 và 2 cùng với các thông tin trên trang web của các trường cho phép rút ra những nhận xét đối với các trường trong hai bảng như sau:  –         Trong số các đại học ở Việt Nam, chỉ có Đại học Quốc gia Hà Nội có đơn vị chuyên trách nghiên cứu về hoạt động dạy và học phục vụ cho các trường thành viên. Các đại học khác có khoa hoặc trường đại học sư phạm nhưng chủ yếu tập trung cho đào tạo và nghiên cứu trong phạm vi giáo dục phổ thông.  –         Ngoại trừ các trường đại học sư phạm, hầu hết các trường đại học khác ở Việt Nam đều giao nhiệm vụ nghiên cứu/nâng cao năng lực dạy và học của nhà trường cho khoa sư phạm (nếu có) hoặc đơn vị chuyên trách công tác đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, trong khi các khoa sư phạm tập trung vào giáo dục phổ thông thì các đơn vị đảm bảo chất lượng thường chịu trách nhiệm chủ yếu về hoạt động kiểm định và khảo thí.  –         Đa số các trường đại học của Hoa Kỳ có khoa/trường sư phạm (trừ 3 trường có đánh dấu *) nhưng tất cả đều thành lập trung tâm/viện chịu trách nhiệm về nâng cao năng lực dạy và học cho trường.  Kết quả so sánh trên cho thấy về mặt cơ cấu tổ chức, nhiều trường đại học ở Việt Nam chưa quan tâm xây dựng các đơn vị chuyên làm nhiệm vụ nghiên cứu về dạy và học để trực tiếp nâng cao năng lực dạy và học cho nhà trường, nhất là các trường không chuyên về sư phạm. Trong bối cảnh công nghệ dạy học ngày càng có nhiều ứng dụng mới và lý luận/phương pháp giảng dạy đại học không ngừng phát triển thì việc xây dựng các đơn vị như vậy là rất cần thiết nhằm hỗ trợ giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Đây cũng là một trong các khuyến nghị của Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ trong báo cáo nói ở phần đầu. Lâu nay chúng ta hay kêu gọi giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng thực tế nhiều giảng viên không biết phải đổi mới như thế nào, ai/đơn vị nào trong trường có thể giúp đỡ hay hỗ trợ họ trong việc đổi mới.   Các trường đại học ở Việt Nam có thể tham khảo các trang web của các trường đại học Hoa Kỳ (Bảng 2) để xây dựng nhân sự, chức năng nhiệm vụ và nội dung hoạt động cho các đơn vị chuyên làm nhiệm vụ nghiên cứu về dạy và học. Có thể lấy mô hình của Centre of Teaching, Learning & Technology (CTLT) của Washington State University (WSU) làm ví dụ:  –         Nhân sự: Trung tâm có 16 biên chế với các lĩnh vực chuyên môn: thiết kế chương trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá, sử dụng công nghệ dạy học, thiết kế và ứng dụng các phần mềm phục vụ đào tạo.  –         Chức năng: CTLT là đơn vị nghiên cứu giáo dục đại học và hỗ trợ nghiệp vụ sư phạm cho tất cả giảng viên của WSU.  –         Nhiệm vụ:  o       Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ dạy học mới và các phần mềm phục vụ dạy học và đánh giá  o       Hỗ trợ giảng viên tiến hành nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục  o       Hỗ trợ giảng viên và các khoa, bộ môn trong công tác đào tạo: thiết kế chương trình, đánh giá, sử dụng công nghệ và phần mềm dạy học, cung cấp thông tin, tư vấn và tổ chức tập huấn về nghiệp vụ sư phạm (CTLT có riêng một phòng máy tính để hỗ trợ bất cứ giảng viên nào có nhu cầu tìm hiểu về các phần mềm phục vụ dạy học)  o       Phối hợp với các khoa, bộ môn để tổ chức các loại khảo sát ý kiến (CTLT chịu trách nhiệm xây dựng các mẫu phiếu khảo sát người học, giảng viên, doanh nghiệp, … và xử lý số liệu)  Tại trang web của CTLT, người xem có thể tiếp cận nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp giảng dạy đại học (Teaching resources), về cách sử dụng Hồ sơ học tập trực tuyến (ePortfolios) và Ma trận đánh giá (Rubrics) – là hai thế mạnh của CTLT trong nghiên cứu ứng dụng về giảng dạy đại học hiện nay. Một điểm mạnh của CTLT về mặt nhân sự mà các trường đại học của Việt Nam có thể học tập là sự gắn kết giữa các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và công nghệ thông tin trong cùng một đơn vị để cùng làm việc theo những mục tiêu chung.   Tất nhiên, việc thành lập các đơn vị chuyên làm nhiệm vụ nghiên cứu về dạy và học trong mỗi trường đại học mới chỉ là điều kiện cần. Để việc đổi mới phương pháp giảng dạy thật sự mang lại kết quả mong muốn, các trường cần có thêm những chính sách, chế độ và sự đầu tư phù hợp để tạo điều kiện và động lực đổi mới cho giảng viên.  ———-  * TS. Học giả VEF 2008-09 tại Washington State University, WA, Hoa Kỳ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nỗ lực đáng trân trọng      Theo GS.TS Trần Đức Viên, dù chung quanh báo cáo do Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam công bố lần đầu còn nhiều tranh cãi, nhưng nó đã thực sự làm được một việc là góp phần khiến xã hội nhìn nhận lại giá trị cốt lõi của giáo dục đại học theo hướng tiệm cận dần những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.      Sinh viên thực tập trong phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và Công nghệ, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Hảo Linh     Không đi thì không đến  Xếp hạng đại học (ĐH) là một công việc hết sức khó khăn, gai góc và phức tạp, đòi hỏi sự khách quan, nghiêm túc, công phu, thận trọng, dựa trên cơ sở dữ liệu đủ lớn, khả tín, minh bạch với một hệ thống tiêu chí cũng như trọng số của từng tiêu chí phải hết sức khoa học và thuyết phục. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi hành vi của mỗi cá nhân và cộng đồng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi triết lý sống ‘một trăm cái lý không bằng một tí cái tình’ hay ‘xấu đều hơn tốt lỏi’, v.v…, thì đây còn là một công việc tế nhị và nhạy cảm mà những người không đủ bản lĩnh và dũng khí sẽ không dám làm. Vì thế, việc Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam (sau đây xin được gọi tắt là ‘Nhóm’) gồm TS. Lưu Quang Hưng, TS. Nguyễn Ngọc Anh, TS.Giáp Văn Dương, TS. Ngô Đức Thế, ThS. Trần Thanh Thủy, và ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền, mỗi người ‘một phương trời’, cùng nhau tiến hành và công bố bảng xếp hạng mang tính tổng thể đầu tiên đối với 49 trường đại học Việt Nam đã được đông đảo những người quan tâm đến chấn hưng giáo dục đại học Việt Nam đón nhận một cách trân trọng.  Đã có nhiều ý kiến bày tỏ lòng khâm phục sự nỗ lực, dám đối mặt với khó khăn và không cầu toàn của Nhóm tác giả, tin tưởng vào các phương pháp định lượng được sử dụng, dù còn nhiều tiêu chí và trọng số của các tiêu chí cần được thảo luận thêm. Đặc biệt, điều đáng hoan nghênh là Nhóm đã chú trọng đến chất lượng, nhất là chất lượng nghiên cứu khoa học (NCKH), cái quyết định danh tiếng và đẳng cấp của một trường đại học.  Thực tế là, kết quả xếp hạng đại học, dù do một tổ chức uy tín đến mấy công bố thì cũng không thể hoàn hảo bởi không có bảng xếp hạng nào phản ánh được toàn diện tất cả các mặt và lĩnh vực hoạt động của một trường ĐH. Nhưng bất cứ bảng xếp hạng nào cũng đóng góp những giá trị nhất định và có sự tương thích nào đó với chất lượng đào tạo và NCKH của các trường nằm trong bảng xếp hạng, và vì thế, đó là một tài liệu tham khảo – còn mức độ quan trọng đến đâu thì phụ thuộc vào mục đích và quan điểm của người sử dụng… Các bảng xếp hạng này, không ít thì nhiều, đã góp phần vào việc thay đổi chính sách quốc gia, chiến lược cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường đại học theo hướng ngày một nhân văn và khai sáng hơn. Xếp hạng còn khuyến khích các trường minh bạch thông tin, giúp xã hội và nhà nước giám sát tốt hơn chất lượng hoạt động của các trường.  Vạn sự khởi đầu nan, không đi thì không đến, vì thế, với việc công bố báo cáo xếp hạng đầu tiên, Nhóm đã làm cho nhiều người, ít nhất là những bạn bè và đồng nghiệp trong giới học thuật của tôi, vui mừng; vì:  (i) Như vậy là, chúng ta đã có một hệ thống xếp hạng đại học riêng, do một nhóm học giả Việt Nam độc lập tiến hành, đảm bảo khách quan, minh bạch, có tham khảo và đối sánh kỹ càng với các bảng xếp hạng quốc tế nhưng không sao chép, rập khuôn, phù hợp với điều kiện của đất nước;  (ii) Trong khi các tổ chức và cơ quan có trách nhiệm vẫn còn đang loay hoay với việc thực hiện Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/09/2015 của Chính phủ về ‘phân tầng xếp hạng’ đại học, và câu chuyện ấy vẫn còn đang gây ra nhiều tranh cãi, thì rất may ‘tự dưng’ chúng ta lại có một bảng xếp hạng đại học của Việt Nam do một nhóm phi lợi ích, phi chính phủ, độc lập và không bị tác động của lợi ích nhóm nào, tiến hành;  (iii) Công trình đó không xài một đồng tiền thuế nào của dân, nhóm chỉ có sáu người, làm trong ba năm;  (iv) Kết quả xếp hạng khả tín, vì kết quả này cũng tương đồng với các công bố gần đây về xếp hạng đại học Việt Nam của các bảng xếp hạng quốc tế và trong nước có đánh giá các trường đại học Việt Nam, như Webometrics và Scientometrics for Vietnam;  (v) Chắc chắn phương pháp thu thập số liệu, tiêu chí và các trọng số trong bảng xếp hạng sẽ còn tiếp tục là đề tài tranh luận sôi nổi của những người quan tâm đến chất lượng giáo dục đại học Việt Nam; và vì thế, tự nó đã tạo ra một diễn đàn sôi nổi và xây dựng về chất lượng giáo dục đại học Việt Nam;  (vi) Tạo ra văn hóa chất lượng trong đánh giá đại học, hạn chế dần sự tù mù định tính chung chung, trường này thuộc top trên, trường kia thuộc top dưới như xã hội vẫn thường ‘xếp hạng’;  (vii) Rất có thể công bố này sẽ làm các nhà làm chính sách, các trường đại học phải xem lại công việc của mình, và xã hội cũng sẽ có những điều chỉnh thang bậc giá trị trong giáo dục đại học theo hướng tiệm cận dần những chuẩn mực và thông lệ quốc tế – điều đó, không ít thì nhiều, đều có ích cho người học, cho xã hội; v.v…  Cú huých làm bừng tỉnh nhiều người  Điều quan trọng là kết quả xếp hạng lần đầu này đã như một ‘cú huých’ làm bừng tỉnh không ít người.  Trong nhiều năm qua, các thang bậc giá trị của giáo dục đại học trong xã hội phần nhiều được nhìn nhận cảm tính theo những thước đo của đám đông, không ít trong số đó là phi khoa học. Họ gọi trường X là trường top trên vì trường này nhiều học sinh giỏi bậc THPT thi vào, điểm chuẩn đầu vào cao; họ coi trường Y là trường top dưới vì ít học sinh giỏi thi vào, thí sinh đa phần là con em nông dân, vùng sâu vùng xa, điểm chuẩn đầu vào thấp hơn. Thì ra, trường thuộc top nào phụ thuộc vào điểm chuẩn, mà điểm chuẩn lại phụ thuộc vào việc sinh viên trường ấy ra trường dễ kiếm được việc làm ở các vị trí ‘thơm tho’, nghĩa là lương cao hơn, nhàn hạ hơn, được làm việc trong phòng có máy lạnh, không phải đầu tắt mặt tối, dầm mưa dãi nắng, có nhiều cơ hội thăng tiến hơn, v.v… Họ không cần biết trường đại học ấy đã có những công trình khoa học nào được ứng dụng thành công trong thực tiễn sản xuất và đời sống, có đóng góp đáng kể nào cho quốc kế dân sinh hay đã có cống hiến gì làm phong phú thêm kho tàng tri thức của dân tộc và của nhân loại.  Về đại thể, GDĐH có ba nhiệm vụ chủ yếu: (i) sáng tạo ra tri thức mới thông qua NCKH và phát triển công nghệ, (ii) truyền bá những tri thức ấy và những tri thức kế thừa khác cho thế hệ đương thời và thế hệ sau thông qua đào tạo, và (iii) thắp lên ngọn lửa đam mê sáng tạo, ý thức nghề nghiệp, và trách nhiệm công dân trong lòng người học. Vì thế, để GDĐH không biến thành ‘phổ thông cấp 4’ thì NCKH phải trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, ngang bằng (nếu không muốn nói là hơn) với nhiệm vụ giảng dạy, như các trường ĐH Nhật Bản và phương Tây đã làm, và sau đó một số nước đang phát triển khác đã khôn ngoan học theo. Vì vậy nhiều người đánh giá cao bộ tiêu chí về NCKH chiếm 40% tổng số điểm xếp hạng của Nhóm.  ‘Cú huých’ này sẽ làm các trường đại học suy nghĩ nghiêm túc hơn về NCKH, cái làm nên ‘sức sống của trường đại học’, nhưng thời gian qua không được mấy trường dành cho sự quan tâm thích đáng. Trong GDĐH Việt Nam thì ‘vùng trũng’ sâu nhất là NCKH; nó cần được ‘lấp đầy’ trước hết, để cùng với lực kéo của nhu cầu học tập của xã hội, thì lực đẩy của NCKH trong các trường ĐH sẽ tạo ra những bước đột phá, đưa ĐH Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với bè bạn quốc tế theo những thước đo và thang bậc giá trị chung.  Trong một thế giới mở, cạnh tranh về GDĐH về thực chất là cạnh tranh về NCKH và năng lực đổi mới sáng tạo của các trường đại học vì suy cho cùng, danh tiếng của các trường ĐH được xây dựng và khẳng định dựa trên chất lượng đào tạo, mà chất lượng đào tạo lại phụ thuộc vào chất lượng NCKH – tác động vào ‘điểm nhấn’ này sẽ khiến các nội hàm khác của  của GDĐH thay đổi theo.  Đôi điều góp ý  Nhiều ý kiến cho rằng khi đánh giá về NCKH, Nhóm lấy các công trình công bố trên hệ thống ISI và Scopus là đúng, nhưng chưa đủ. Trong điều kiện cụ thể của đất nước, các tiêu chí về NCKH nên quan tâm nhiều hơn đến các phát minh, tiến bộ kĩ thuật, giải pháp hữu ích, đổi mới và sáng tạo công nghệ được áp dụng trong thực tiễn sản xuất và đời sống, phục vụ quốc kế dân sinh… Những công trình này cần có trọng số cao hơn là các công bố quốc tế, ít nhất là trong giai đoạn hiện nay. Có lẽ là các nhà khoa học Triều Tiên công bố quốc tế rất ít, nhưng họ vẫn khiến cộng đồng khoa học quốc tế nể trọng bởi các cống hiến khoa học của họ cho đất nước mình. Hy vọng là, cách tính này sẽ góp phần thúc đẩy hình thành thị trường KH&CN, một khâu chúng ta còn đang rất yếu.  Nhóm cũng cần bổ sung tiêu chí về tiền ngân sách trên đầu giảng viên, trên một công bố quốc tế, một bản quyền công nghệ, v.v… Cùng trong hệ thống giáo dục đại học quốc dân nhưng có trường được nhà nước đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho chi thường xuyên và cho NCKH, hỗ trợ đến hơn mười triệu đồng/sinh viên/năm học, trong khi có trường lại chỉ nhận được vài ba triệu đồng/sinh viên/năm học, bên cạnh những trường (đại học tự chủ) không nhận được đồng nào hoặc được nhận rất ít sự hỗ trợ kinh phí của nhà nước. Họ phải tự lo mọi hoạt động, cố gắng dành dụm từng đồng cho NCKH. Như vậy, sự cạnh tranh thứ hạng ở đây rất không công bằng. Chúng ta có thể có bức tranh xếp hạng hoàn toàn khác, nhất là về NCKH, nếu Nhà nước đầu tư cho các trường một cách bình đẳng, việc phân bổ kinh phí chỉ dựa trên KPIs (Key Performance Indicators) của các cơ sở giáo dục đại học.  Cùng với xếp hạng theo trường, Nhóm cũng cần quan tâm đầy đủ hơn đến việc xếp hạng theo ngành hay nhóm ngành NCKH và đào tạo, như cách các tổ chức xếp hạng quốc tế đang làm. Một trường có thể xếp hạng 100 trong xếp hạng tổng thể, nhưng lại đứng thứ nhất về lĩnh vực khoa học X, đứng thứ 50 về lĩnh vực khoa học Y, v.v… Làm sao để khi soi vào bảng xếp hạng, hầu hết các trường đều thấy mình trong đó, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.  Chúng tôi tin rằng, trong các năm tiếp theo, Nhóm sẽ hoàn thiện thêm phương pháp nghiên cứu, bổ sung và chỉnh sửa các tiêu chí và trọng số của các tiêu chí, đồng thời kiên trì và dũng cảm giữ vững tính độc lập, khách quan, tự tin và cầu thị, từ đó giành được thêm niềm tin của xã hội.             Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Một quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề giáo dục đại học như một dịch vụ trong giáo dục xuyên biên giới      Những tư liệu trước năm học 2003-2004 cho thấy trung b&#236;nh một sinh vi&#234;n Mỹ muốn theo đuổi việc học để c&#243; được tấm bằng tiến sĩ sẽ mắc nợ khoảng chừng $41,540 USD; để c&#243; bằng tiến sĩ Luật, con số n&#224;y l&#224; &nbsp;$80,754 USD, v&#224; tiến sĩ y khoa l&#224; &nbsp;$125,819 USD.&nbsp;  Năm 2009, một sinh vi&#234;n muốn v&#224;o trường một đại học chuy&#234;n ng&#224;nh để lấy bằng tiến sĩ y khoa hoặc tiến sĩ luật sau khi c&#243; bằng cử nh&#226;n,&nbsp; sẽ phải đối mặt với một khoản học ph&#237; bổ sung th&#234;m khoảng chừng tr&#234;n&nbsp; $100,000 USD.&nbsp; Một số sinh vi&#234;n may mắn được gia đ&#236;nh hỗ trợ t&#224;i ch&#237;nh cho việc học, nhưng đ&#243; chỉ l&#224; ngoại lệ. Những sinh vi&#234;n phải vay tiền từ những chương tr&#236;nh cho vay học ph&#237; của ch&#237;nh phủ biết rằng sẽ phải mất nhiều năm sau khi tốt nghiệp để trả hết khoản nợ vay v&#224; tiền l&#227;i n&#224;y, giả sử họ được bảo đảm một chỗ l&#224;m đủ cho ph&#233;p họ trả nợ h&#224;ng th&#225;ng c&#249;ng với c&#225;c chi ph&#237; sinh hoạt, nh&#224; ở, xe cộ, bảo hiểm.&nbsp;&nbsp; Với chi ph&#237; gi&#225;o dục tăng cao như thế, sinh vi&#234;n sẽ c&#243; mong đợi nhận được một nền gi&#225;o dục tốt nhất v&#224; những kinh nghiệm gi&#225;o dục c&#243; &#253; nghĩa thực sự. Đối với sinh vi&#234;n, gi&#225;o dục đại học l&#224; một sự đầu tư, sinh vi&#234;n l&#224; kh&#225;ch h&#224;ng, v&#224; gi&#225;o dục l&#224; dịch vụ m&#224; họ được nhận.     Ngay cả trước khi học phí đại học leo thang, ý tưởng giáo dục là một dịch vụ cũng không có gì mới mẻ ở Hoa Kỳ. Các nhà giáo dục ở Hoa Kỳ vẫn thường xem sinh viên như khách hàng của họ. Với tư cách một khách hàng, sinh viên có thể mong đợi rằng những thông tin nhất định về bản thân họ phải được giữ bí mật.  Trong Luật Liên bang, Luật về Quyền Riêng tư và Quyền Giáo dục Gia đình năm 1974  (FERPA), nghiêm cấm các trường đại học để lộ thông tin cá nhân về hồ sơ học tập của sinh viên cho bên thứ ba- trừ phi bên thứ ba yêu cầu bằng văn bản và có sự chấp thuận bằng văn bản của bản thân sinh viên ấy. Một trường đại học có thể thu thập và công bố danh mục thông tin về sinh viên của mình, trừ phi  sinh viên yêu cầu bằng văn bản không để lộ những thông tin ấy. Sinh viên cũng có quyền kiểm tra và xem xét hồ sơ của họ được nhà trường lưu trữ chính thức.  Họ có quyền thử thách tính chất xác thực của những hồ sơ ấy, và nhà trường phải trả lời trong vòng 45 ngày. Nếu nhà trường không tuân theo điều luật nói trên của liên bang, sinh viên có quyền khiếu nại Văn phòng Quy định và Chính sách Gia đình của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ  Các trường đại học cung cấp một nền giáo dục có chất lượng nhằm phục vụ khách hàng của họ. Chẳng hạn, trường luật ở Hoa Kỳ không được phép gửi sinh viên của họ ra nước ngoài để học lấy tín chỉ tích lũy cho bằng tốt nghiệp ở một trường đại học ngoài nước Mỹ. Chỉ những chương trình đào tạo xuyên biên giới được sự chấp thuận của Hội đồng Đào tạo và Tuyển sinh Ngành Luật trực thuộc Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (gọi tắt là Hội đồng) mới được nhận sinh viên để đào tạo cấp tín chỉ; và chỉ khi đó là những chương trình được Hội đồng công nhận. Hội đồng này đã xây dựng một bộ chuẩn cụ thể trong quá trình thành lập những chương trình đào tạo xuyên biên giới không cấp bằng, và dùng bộ tiêu chuẩn này để đánh giá và kiểm định những chương trình như thế.    Năm 1952, Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ đã thành lập Hội đồng này và trao quyền cho Hội đồng như một tổ chức kiểm định cấp quốc gia về đào tạo ngành luật ở cấp thạc sĩ , tiến sĩ khoa học luật và tiến sĩ luật. Với thẩm quyền ấy, Hội đồng đã đồng thời xây dựng tiêu chí cho các chương trình đào tạo thạc sĩ luật và tiến sĩ khoa học luật cho sinh viên nước ngoài, những người đã có ít nhất là bằng Cử nhân luật tại nước họ. Hội đồng cũng xây dựng tiêu chí riêng cho chương trình đào tạo tiến sĩ luật dành cho sinh viên Hoa Kỳ.  Về những chương trình đào tạo xuyên biên giới không cấp bằng, Hội đồng áp đặt một loạt các yêu cầu phải được đáp ứng để một trường luật ở Hoa Kỳ được phép gửi sinh viên Hoa Kỳ ra nước ngoài. Cụ thể là, đối với những chương trình lien kết đào tạo không cấp bằng giữa một trường luật của Hoa Kỳ và một trường nước ngoài, những yêu cầu đó bao gồm:  –         Một trường đại học Hoa Kỳ (“trường bảo trợ”) phải nộp đơn cho Hội đồng để được chấp thuận, cùng với đơn là bản Hợp đồng Liên kết Đào tạo giữa trường bảo trợ và trường nước ngoài.  –         Giảng viên và Trưởng khoa chịu trách nhiệm thành lập và quản lý điều hành chương trình. Nhằm bảo đảm quyền tự do học thuật, giảng viên có quyền chấp thuận hoặc không chấp thuận nội dung học thuật của chương trình. Tuy nhiên nội dung đào tạo  cần đáp ứng cùng một tiêu chuẩn và việc đánh giá hoạt động của sinh viên cần thực hiện như những chương trình khác của trường bảo trợ.  Một phần của chương trình đào tạo cần có liên quan đến nước sở tại hoặc có trọng tâm so sánh quốc tế.    –         Báo cáo tài chính, Thu nhập, Chi phí, Thông tin về Tài trợ,   –         Báo cáo về Tình trạng Kiểm định của trường mẹ/ trường bảo trợ.   –         Báo cáo về việc Chương trình Liên kết Đào tạo này có mối liên quan như thế nào đối với Sứ mạng/ Chương trình Đào tạo tổng quát của trường bảo trợ.   –         Nếu Chương trình Liên kết Đào tạo không cấp bằng này được Hội đồng chấp thuận, Ủy ban Kiểm định của Hội đồng sẽ tiến hành một cuộc viếng thăm tại thực địa trong năm đầu hoạt động tại nước ngoài. Hội đồng sẽ yêu cầu trường bảo trợ cung cấp các dịch vụ sau đây cho sinh viên trong quá trình liên kết với trường nước ngoài:    ·    Trưởng Chương trình tại đơn vị liên kết   ·    Nguồn sách ở Thư viện của trường nước ngoài đủ đáp ứng nhu cầu của sinh viên Mỹ   ·    Chương trình Liên kết về cơ bản phục vụ cho trường bảo trợ  ·    Cơ sở vật chất cho quản lý, không gian học tập và nghiên cứu cho sinh viên  ·   Nhà ở cho giảng viên, các nhà quản lý và sinh viên  –    Tất cả thông tin về việc hủy bỏ môn học hay đóng cửa chương trình liên kết đào tạo cần được thông báo rõ ràng trước.  Việc hoàn lại học phí trong những trường hợp như vậy phải được thực hiện trong vòng 20 ngày sau khi hủy lớp.     –  Tất cả thông tin về Chương trình liên quan đến các môn học, số tín chỉ, số sinh viên nhập học, chi phí, trang thiết bị học tập, nhà ở, việc hủy lớp nếu có, v.v… phải được cung cấp đầy đủ cho sinh viên.    Nếu Ủy ban chấp nhận Chương trình liên kết đào tạo này trong năm đầu thực hiện, nó sẽ được tiếp tục trong năm năm tiếp theo. Để Hội đồng có thể quản lý được chương trình và bảo đảm chất lượng đào tạo,  Trường bảo trợ phải lập hồ sơ Phiếu Điều tra Hàng năm nộp cho Văn phòng của Ủy ban, trong đó xác định rõ các thông tin:   •   Thông tin khái quát về nhà trường   •    Số sinh viên nhập học, Các khóa học, Tín chỉ, Điểm số, Số sinh viên hiện diện   •     Nguồn lực thư viện   •    Trợ giúp tài chính dành cho sinh viên   •   Hồ sơ lý lịch của giảng viên và các nhà quản lý   •   Thông tin về tài chính của nhà trường   •    Dịch vụ công nghệ thông tin   •     Những chương trình học tập tại nước ngoài do trường bảo trợ   Hội đồng sẽ thực hiện một cuộc viếng thăm tại thực địa trong vòng năm năm kế tiếp, trước cuộc viếng thăm này trường bảo trợ cần chuẩn bị một bản báo cáo toàn diện bao gồm Bảng Điều tra như đã nói trên và các hồ sơ minh chứng. Nếu Chương trình Liên kết Đào tạo được chấp thuận trong lần viếng thăm này, thì lần viếng thăm kế tiếp sẽ là mỗi bảy năm sau.  Thông thường một Báo cáo Trường bảo trợ chuẩn bị cho thăm viếng thực địa phải bao gồm những thông tin sau:   •   Lịch sử của trường  •   Những Chương trình Tự nghiên cứu của trường   •   Những chương trình đào tạo về ngành luật   •    Thông tin về đội ngũ giảng viên ( cán bộ giảng dạy, trong biên chế, ngoài biên chế)   •    Thông tin về sinh viên và việc nhập học   •    Tiền lương, thưởng của cán bộ quản lý và giảng dạy   •   Nguồn lực thông tin (Thư viện)   •   Trang thiết bị công nghệ thông tin của trường   •    Tài chính của Trường Luật (những hỗ trợ và nguồn tài chính của trường)   •    Cơ sở vật chất   •    Các môn học   •    Tư liệu về tài chính   •     Thống kê về số lượng sinh viên vượt qua được kỳ thi lấy chứng chỉ hành nghề luật    Những yêu cầu trên đây về việc thành lập và duy trì một chương trình đào tạo xuyên biên giới không cấp bằng ở nước ngoài có vẻ như có thể làm nản lòng các trường luật Hoa Kỳ và những đối tác nước ngoài tiềm năng của họ.  Những yêu cầu này là cần thiết để bảo đảm mang lại dịch vụ tốt nhất cho khách hàng, sinh viên ngành luật, một ngành cực kỳ cạnh tranh. Về mặt vị trí, dù là trong nước hay ngoài nước, chất lượng của dịch vụ giáo dục được mang đến cho sinh viên phải ở mức độ cao nhất.  Nếu không, những bằng cấp mà sinh viên có được sẽ là vô nghĩa và vô giá trị.    Phạm Thị Ly dịch  (Nguồn: A US Perspective on Higher Education as Service in Cross-Border Education. By Prof. Xuan Thao Nguyen. Paper submitted to The Third Conference in Comparative Education in Vietnam held by CIECER, Oct 2009. Copyright Xuan Thao Nguyen)   ———–  * Trường Đại học Luật SMU Dedman, Dallas, Texas, Hoa Kỳ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một sản phẩm của tư duy giáo dục lạc hậu      Dư luận đang sửng sốt với Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sửng sốt không phải chỉ vì số tiền dự toán quá lớn: 70 nghìn tỷ đồng, mà còn vì chất lượng đề án quá thấp, thể hiện tư duy giáo dục lạc hậu.    Đọc bản đề án 32 trang mang tên “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD&ĐT, bất cứ người quan tâm đến giáo dục nào cũng không khỏi ngỡ ngàng về sự sơ sài của nó. Nếu không tính đến trang bìa, phần mục lục và sơ đồ phụ lục đính kèm thì bản đề án này chỉ có vẻn vẹn 29 trang đánh máy khổ A4. Tuy nhiên, phạm vi tác động của nó lại vô cùng lớn. Nó tác động trực tiếp đến gần 20 triệu học sinh và giáo viên trên toàn quốc. Số kinh phí dự trù để triển khai đề án cũng lên đến mức kỷ lục: 70 nghìn tỷ đồng!  Bao biện    Một trong những nội dung quan trọng của đề án là phần II: “Đánh giá việc xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa hiện hành”. Phần này chia thành 6 tiểu mục, chiếm dung lượng khoảng 7 trang khổ A4. Tất cả các đánh giá trong mỗi tiểu mục này đều tuân theo mô-típ “ưu điểm & hạn chế” tối giản – tức là theo kiểu khen một tí, chê một tí – mà không dựa trên bất kỳ một cứ liệu khoa học nào. Với các đánh giá mang tính khoa học, bên cạnh phần thuyết minh thì con số, bảng biểu, hình vẽ… đóng vai trò linh hồn của đánh giá. Nhưng rất tiếc, những linh hồn này đã không hề xuất hiện. Cho nên, phần đánh giá này thực chất chỉ là phần bao biện vòng vo của các tác giả đề án.  Để có hình dung cụ thể, xin nêu ví dụ sau: Trong phần đánh giá về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đề án cho rằng: “Xét về tổng thể, quá trình xây dựng chương trình được qui định khá đầy đủ, rõ ràng và hợp lý”, nhưng “ các quan điểm định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi chương trình tiểu học” và “còn thiếu một số công trình nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển chương trình phổ thông”. Như vậy, quá trình xây dựng chương trình đã được tiến hành khi chưa có quan điểm định hướng đổi mới, chưa có đủ cơ sở khoa học – tức là làm mà không biết đang làm gì, và tại sao lại làm như vậy.  Chính kiểu đánh giá khen một tí, chê một tí như thế này đã thể hiện sự không nghiêm túc của các tác giả đề án, thực chất chỉ là một sự bao biện hoa mỹ có thể viện dẫn bất cứ khi nào bản đề án cần đến. Vì thế sẽ không ngạc nhiên khi những bao biện ở phần II này đã phát triển trở thành các lập luận tự mâu thuẫn trong những phần còn lại của nội dung đề án.  Sáo rỗng  Nếu xem xét bốn nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì thấy chúng hết sức chung chung, dùng đâu cũng được, cho bất kỳ đề án nào cũng được: quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật; đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm quốc tế, đảm bảo tính thống nhất toàn quốc và linh hoạt vùng miền, khả thi, phù hợp với đối tượng học sinh; đảm bảo tính đồng bộ về nội dung, phuơng pháp dạy học phương thức đánh giá kết quả học tập. Xin hỏi, có đề án nào lại không quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật, có đổi mới nào lại không mang tính kế thừa, có đề án nào khi đang xin xét duyệt lại tự nhận là không khả thi, và đề án giáo dục thì đương nhiên phải phù hợp với học sinh. Cho nên, tất cả những thứ liệt kê trong bốn nguyên tắc này thực chất đều là những sáo ngữ vạn năng, dùng đâu cũng được, dùng đâu cũng đúng, không hy vọng mang lại bất kỳ ý nghĩa gì mới cho đề án.  Tương tự như các nguyên tắc đổi mới nêu trên, các định hướng đổi mới, như: điều chỉnh hài hòa, cân đối giữa “dạy chữ”, “dạy người” và từng bước “dạy nghề”; nội dung giáo dục mang tính cơ bản, hiện đại, thực tiễn giúp hình thành phát triển năng lực học tập – cũng không hề mới. So sánh với chương trình, sách giáo khoa hiện hành “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì chương trình, sách giáo khoa dự định hướng tới này thực sự là một bước tụt lùi.  Trong những định huớng còn lại, ngoài việc diễn giải hết sức sơ sài ý định tiếp cận phát triển năng lực thì đề án không cho thấy bất cứ một điểm nào mới. Nếu tước bỏ cụm từ “phát triển năng lực” ra khỏi đề án thì toàn bộ những định hướng chính này do đó nội dung của toàn bộ đề án, trở nên hết sức vô nghĩa, và phần nào vô duyên.    Tự mâu thuẫn  Chính vì sự không nghiêm túc trong việc xây dựng đề án, và sự mù mờ, tối nghĩa của các khái niệm và bản thân phương pháp tiếp cận được cho là mới của đề án, đã dẫn đến những mâu thuẫn nội tại của nó. Đây là điều tối kỵ của bất cứ đề án hay lập luận có tính khoa học nào.   Đề án cho rằng nội dung chương trình phải là “những tri thức cơ bản của nhân loại, những giá trị lịch sử, văn hóa tinh hoa của dân tộc, những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại của thế giới”, nhưng “thiết kế nội dung dạy học phải theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành”. Hai tiêu chí này rõ ràng là trái ngược nhau: một bên thì cố gắng ôm đồm mọi tinh hoa của dân tộc và thế giới cả trong lịch sử và hiện đại, còn bên kia thì lại chủ trương giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành. Trên thực tế, điều này còn mâu thuẫn với điểm “độc sáng” của đề án là tiếp cận theo hướng phát triển năng lực, vì nếu triển khai những nội dung này thì về thực chất đề án sẽ được triển khai theo hướng trang bị kiến thức của cách tiếp cận nội dung – thủ phạm làm cho chương trình và sách giáo khoa hiện hành trở nên bất cập đến mức cần phải thay thế như đánh giá trong phần II của đề án – do đó, những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành sẽ được lặp lại trong chương trình, sách giáo khoa mới.  Đi từ tiếp cận nội dung, trong đó chú trọng dạy kiến thức, sang tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng phát triển năng lực cá nhân của học sinh, đòi hỏi một nguồn học liệu rất đa dạng và một tư duy linh hoạt, biện chứng, khuyến khích sự đa dạng. Nhưng việc lựa chọn chỉ có một chương trình, một bộ sách giáo khoa duy nhất dùng chung cho cả nước lại mâu thuẫn với chính mục tiêu phát triển năng lực của học sinh.   Sự tự mâu thuẫn này còn thể hiện ở các định hướng xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách giáo khoa duy nhất nhưng lại phải linh hoạt vùng miền. Đảm bảo thống nhất tòan quốc nhưng các địa phương lại được quyền biên soạn các tài liệu giáo khoa hỗ trợ.  Những phân tích trên còn chưa xét đến sự mâu thuẫn trong toàn bộ quy trình làm việc, như xây dựng chương trình trước khi xác định mô rõ hình giáo dục và trước cả việc ban hành chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, như giới chuyên gia đã chỉ ra trong những ngày qua.  Sở dĩ xảy ra các mâu thuẫn này là do tư duy của Bộ GD&ĐT về giáo dục nói chung, và tư duy về sách giáo khoa nói riêng, đã lạc hậu và cần phải thay đổi.  Mập mờ  Với những đề án có kinh phí lớn như thế này, đặc biệt kinh phí phần lớn lại là vốn ngân sách, thì theo qui định của pháp luật, cần phải trình lên Quốc hội. Nhưng dường như qui trình này đã không được tôn trọng.  Trong đề án thể hiện ở sự thiếu rõ ràng về tiêu chí “đổi mới căn bản và toàn diện”. Đành rằng đã đổi mới thì ai cũng muốn đổi mới căn bản và toàn diện, nhưng căn bản và toàn diện như thế nào thì không nêu, nên nếu tước bỏ cụm từ “căn bản và toàn diện” này đi thì nội dung thực sự của đề án không hề thay đổi, vì trên thực tế, cụm từ này chỉ được sử dụng làm đồ trang trí cho đề án chứ không mang một nội dung cụ thể nào.  Cách tiếp cận theo phát triển năng lực, điểm “độc sáng” của đề án, lại cũng hết sức thiếu rõ ràng. Những năng lực này là năng lực gì, vì sao phải có nó, và có ở mức độ nào, cũng không hề được làm rõ. Cụm từ “tiếp cận theo phát triển năng lực” vì thế cũng chỉ có giá trị trang trí chứ không mang nội dung cụ thể nào.  Sở dĩ người viết mạnh dạn đề xuất lược bỏ hai cụm từ “đổi mới căn bản và toàn diện” và “phát triển năng lực”, vì chúng thực sự không mang một nội dung cụ thể nào. Đã đổi mới thì bao giờ chẳng kêu gọi đổi mới căn bản và toàn diện; còn giáo dục theo hướng phát triển năng lực thì lạy giời, chương trình giáo dục nào chẳng hướng tới tiêu chí đó, trừ phi Bộ GD&ĐT tổng kết cho thấy chương trình giáo dục và sách giáo khoa hiện hành đang hủy diệt năng lực của học sinh và cần phải thay đổi.    Tối nghĩa          Để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ – 70 nghìn tỉ đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, chính quyền địa phương – cũng như để không đẩy giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là hủy bỏ đề án này và triển khai việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.        Lý do ra đời, và do đó nội dung mấu chốt, của đề án sách giáo khoa này là lập luận sau: “chương trình, sách giáo khoa hiện hành được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung nên thiên về trang bị kiến thức khoa học bộ môn”; còn chương trình, sách giáo khoa xây dựng theo đề án này sẽ “tiếp cận theo hướng phát triển năng lực”, chẳng hạn “năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường…”  Đây có thể coi là điểm mới duy nhất của đề án này. Nếu không có nó, đề án không khác gì so với những đề án thay đổi chương trình, sách giáo khoa trước đó. Nhưng rất tiếc, sự độc sáng này lại phần nhiều là “trò chơi ngôn ngữ” hơn là nội hàm khoa học mà nó có. Giả sử thay từ “năng lực” bằng “kỹ năng” thì sao? Trong văn cảnh mà đề án đề cập, khái niệm “năng lực” không khác gì so với khái niệm “kỹ năng”, ví dụ: năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường… chính là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xã hội, kỹ năng thích ứng với môi trường. Nhóm kỹ năng này được nhiều nhà nghiên cứu gọi với một tên khác phổ biến hơn là kỹ năng mềm, kỹ năng sống…  Bằng thủ thuật đổi từ đồng nghĩa trong cùng văn cảnh như thế, cách tiếp cận của đề án sẽ trở thành: tiếp cận theo cách phát triển kỹ năng. Nhưng từ xưa đến nay, có chương trình giáo dục nào không nhằm hướng tới phát triển kỹ năng của học sinh? Thực tế, các chương trình giáo dục đều nhắm đến phát triển tổng thể kỹ năng, tri thức, đạo đức và thể chất, chứ không chỉ nhằm phát triển kỹ năng đơn thuần.  Một cách tương tự, nếu thay chữ “năng lực” bằng “kiến thức” thì kết quả thu được cũng gần như trên. Lý do là năng lực và kỹ năng, kiến thức không bao giờ tách rời nhau. Một người không có năng lực chính là một người thiếu kỹ năng và thiếu kiến thức. Điều đó cho thấy, “điểm sáng” duy nhất của đề án không được sáng như các tác giả nghĩ, mà thực ra, hết sức mù mờ. Chỉ bằng một động tác thay những cụm từ đồng nghĩa, toàn bộ giá trị mới của đề án đã gần như bị loại bỏ.  Giả sử với sự mù mờ trong khái niệm như thế, những người soạn chương trình và sách giáo khoa sẽ gia công tập trung vào phát triển các kỹ năng và kiến thức nói trên, thì chương trình và sách giáo khoa mới sẽ còn kém chất lượng hơn chương trình và sách giáo khoa hiện hành rất nhiều. Vì như đánh giá trong phần I và phần II của đề án: “chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại, vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước” và có ưu điểm “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”, thì một chương trình và sách giáo khoa mới chỉ nhắm đến phát triển các năng lực đơn thuần sẽ là một bước lùi về mặt chất lượng.  Trên thực tế, chương trình và sách giáo khoa hiện hành cũng đã được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực chứ không chỉ tiếp cận nội dung thuần túy. Ví dụ chương trình tiểu học yêu cầu: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người. Có kỹ năng cơ bản về nghe nói, đọc, viết và tính toán. Có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh…”, thì rõ ràng chương trình này hướng đến phát triển cả tri thức và năng lực của học sinh tiểu học.  Vì thế, những khái niệm quan trọng nhất của đề án, lẽ ra cần phải làm rõ trước hết, thì lại trở nên rất tối nghĩa, được sử dụng với mục đích trang trí hơn là mang những nội dung khoa học thực sự.  Những thất bại trong cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua đều có một nguyên nhân là tư duy giáo dục đã lạc hậu. Đó là tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát toàn bộ. Nhưng tiếc rằng, chính tư duy này lại là sợi dây xuyên suốt bản “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” lần này. Vì thế, để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ – 70 nghìn tỉ đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, chính quyền địa phương – cũng như để không đẩy giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là hủy bỏ đề án này và triển khai việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.  Vòng luẩn quẩn?  Theo đánh giá của đề án, một trong những lý do để thay đổi chương trình, sách giáo khoa hiện hành vì “các quan điểm và định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi xây dựng chương trình tiểu học. Nhưng sai lầm này dường như đang được lặp lại ở mức độ cao hơn. Trong khi chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 vẫn còn đang soạn thảo, và chưa biết đến bao giờ mới ban hành, thì đề án sách giáo khoa này, với tư cách là một phần của chiến lược giáo dục, lại được lên kế hoạch triển khai trước. Mô hình giáo dục phổ thông cũng chưa được làm rõ trong khi nội dung của nó lại được đầu tư xây dựng trước. Như vậy bài học về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, dù đã được viết thành một tiểu mục riêng trong đề án này, trên thực tế không hề được đoái hoài đến.  Nếu để ý, chương trình sách giáo khoa hiện hành được triển khai theo Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000, đến nay được 11 năm. Lần này, đề án cũng kéo dài trong 11 năm, 2011-2022. Những mốc thời gian 10-11 năm này tương ứng với 2 nhiệm kỳ làm việc. Dư luận vì thế sẽ có quyền đặt câu hỏi, liệu có tư duy nhiệm kỳ nào chi phối việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa này?  Viễn cảnh đáng sợ đó hoàn toàn có thể xảy ra, vì ngay như trong bản đề án này đề cập: Việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa lần này chỉ là bước “chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa trên cơ sở một bộ chương trình thống nhất trên cả nước”.  Câu hỏi đặt ra là: Tại sao Bộ GD&ĐT không triển khai ngay một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa như các nước? Có cần thiết phải chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy không?   Niềm tin có còn?  Bộ chương trình, sách giáo khoa hiện hành được Bộ GD&ĐT đánh giá là “lần đầu tiên trong lịch sử, bộ chương trình đã được xây dựng theo xu hướng quốc tế” và “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”.   Một chương trình và sách giáo khoa ưu tú như vậy, được biên soạn theo một quy trình “được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, hợp lý” như vậy, mà chỉ sau giai đoạn hoàn thiện 5 năm (2004-2006) đã phải biên soạn lại theo một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Người dân sẽ đăt câu hỏi: Những người tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa hiện hành, liệu có còn đủ năng lực để tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa mới hay không, khi sản phẩm của họ chỉ 5 năm sau đã phải sửa đổi toàn diện? Và trên hết, Bộ GD&ĐT, tác giả của chương trình, sách giáo khoa hiện hành có còn đáng tin để triển khai đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa lần này?  ***  Sở dĩ vấn đề chương trình, sách giáo khoa nói riêng và cải cách giáo dục nói chung gặp thất bại liên tiếp trong thời gian vừa qua, dẫn đến việc giáo dục mỗi năm đều trở thành vấn đề nóng của xã hội, là do tư duy giáo dục của Bộ GD&ĐT đã quá lạc hậu. Muốn khắc phục được vòng luẩn quẩn này, đồng thời khôi phục niềm tin của xã hội đối với giáo dục, thì nhất thiết tư duy giáo dục cần phải thay đổi trước hết. Điều này đồng nghĩa với việc Bộ GD&ĐT phải từ bỏ tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát mọi thứ, tham gia mọi khâu của mình.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một “siêu lý thuyết” về giáo dục      “Siêu lý thuyết” (metatheory) nghe ghê gớm  thật ra chỉ là lý thuyết về… lý thuyết! Nếu giáo dục là đối tượng  nghiên cứu (lý thuyết), đồng thời là hành động thực hành (dạy và học)  thì “siêu lý thuyết” bàn về cả hai lĩnh vực ấy. Nó sẽ giúp ta có cái  nhìn tổng quan về đời sống giáo dục với tất cả sự phức tạp và phong phú  của nó.    Siêu lý thuyết giáo dục  Trong mớ bòng bong của thế giới giáo dục, Wolgang Brezinka (1928-), một trong những nhà lý luận giáo dục hàng đầu hiện nay, cho ta cái nhìn khá sáng sủa, dễ hiểu khi phân biệt ba lớp lý thuyết, gồm: khoa học giáo dục, triết học giáo dục và sư phạm thực hành (“Siêu lý thuyết về giáo dục”, 1978).  Khoa học giáo dục  Là một “khoa học”, khoa học giáo dục (hay giáo dục học) quan sát, mô tả, phân tích nhân quả, rút ra những dự đoán và thao tác theo hướng “công nghệ học”:  –     trước hết, nó mô tả những hiện tượng và những gì liên quan đến giáo dục từ thực tại quan sát được, thử tìm các mối quan hệ nhân quả giữa những hiện tượng ấy, đưa ra các dự đoán, và, từ đó, phát triển một “công nghệ học”, tức phương tiện và phương pháp nhằm tạo ra những kết quả được mong muốn nhưng chưa có trong thực tế. Khoa học giáo dục chỉ mang lại những thông tin về sự kiện và các mối quan hệ, nhưng không đưa ra những đánh giá có tính quy phạm.  Triết học giáo dục  Triết học giáo dục (hay triết lý giáo dục) thì khác! Là một bộ môn triết học, nó tra hỏi những khái niệm và những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc của giáo dục, tức tra hỏi về tiến trình giáo dục lẫn về ngành giáo dục. Triết học không mô tả như khoa học giáo dục, trái lại, từ những mô tả ấy, đưa ra những đánh giá và đề ra những quy phạm cho nền giáo dục. Những đánh giá ấy thường vượt ra khỏi phạm vi khoa học đơn thuần, nhưng rất cần thiết cho việc lấy quyết định (chẳng hạn, về mục tiêu của giáo dục đối với cá nhân và xã hội v.v..). Nói cách khác, triết học giáo dục sử dụng kết quả của khoa học, có tính chặt chẽ khoa học (đón mời phản biện và phản đề nghị), nhưng lại sử dụng phương pháp đặc thù triết học.  Sư phạm thực hành  Trong trường hợp lý tưởng, sư phạm thực hành sẽ tiếp thu có chọn lọc các thành tựu của khoa học giáo dục và triết học giáo dục để đề ra lý thuyết giáo dục. Hướng đến hành động, lý thuyết giáo dục thường được soạn thảo từ một quan điểm triết học, đạo đức, thế giới quan hay tín ngưỡng nhất định nào đó. Chẳng hạn, lý thuyết giáo dục (mác xít, tự do, Phật giáo, Kitô giáo v.v..) cho ta biết những gì nên làm và không nên làm trong lĩnh vực giáo dục nơi một bối cảnh văn hóa-lịch sử cụ thể. Từ đó, có đường lối, chính sách và định chế giáo dục tương ứng.    Một hay nhiều triết học giáo dục?  Câu chuyện giáo dục của chúng ta sẽ diễn ra trong khuôn khổ cuộc Trò chuyện triết học, vì thế, hướng trọng tâm vào các vấn đề thuộc triết học giáo dục. Đây hoàn toàn là do đặc tính của cuộc trao đổi chứ không phải do việc đặt nặng hoặc xem nhẹ một trong ba hướng tiếp cận đều có tầm quan trọng riêng: khoa học giáo dục, triết học giáo dục và sư phạm thực hành.            “Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trong thế giới này”.    Mahatma Gandhi        Đi vào triết học giáo dục, lập tức ta gặp phải mấy khó khăn lớn:  –     trước hết là sự đa tạp đến vô cùng của những ý kiến khác nhau. Trong nhiều ngành khoa học khác, nhất là trong khoa học chính xác và khoa học tự nhiên, tuy vẫn có ý kiến khác biệt, nhưng hầu như đều dễ đồng thuận về những vấn đề cốt lõi giữa những nhà chuyên môn có thẩm quyền và đều thừa nhận công trình nào thật sự có đóng góp vào chuyên ngành. Trong triết học nói chung, và triết học giáo dục nói riêng, tình hình khác hẳn: bên cạnh những nhà chuyên môn, ai cũng thấy mình có quyền tham gia ý kiến, và cho ý kiến mình là đúng, chưa nói đến việc sẵn sàng sử dụng quyền lực và quyền uy! Ranh giới đúng/sai thường mập mờ, và chỉ còn có thể chờ đợi ở thiện chí và tinh thần đối thoại.  –     Các chủ đề thường rất rộng, khó bao quát hết, lại đụng chạm ngay đến những xác tín, niềm tin cố hữu của mỗi cá nhân, tập thể, dễ gây chia rẽ, phân hóa hơn là đoàn kết, đồng thuận. Thử điểm qua một vài trong vô số quan điểm đối lập khó bề hòa giải: – giáo dục là truyền đạt kiến thức hay tăng cường năng lực tự trị trong nhận thức và phán đoán? – những kiến thức, năng lực ấy là gì và trong chừng mực nào chúng là linh hoạt, mềm dẻo hay có thể tác động, lèo lái, đưa vào khuôn khổ? – giành ưu tiên cho giáo dục tự do hay giáo dục “sứ mệnh”, giáo dục cá nhân hay giáo dục công dân? – đâu là sự khác biệt giữa giáo dục với giáo huấn, với huấn luyện và nhồi sọ? – giữa quyền hạn của trẻ em, phụ huynh, nhóm chủng tộc và xã hội, và, trong trường hợp có xung đột, ai được hưởng quyền ưu tiên? – giữa giáo dục và cải cách xã hội: giáo dục để cung ứng nhân lực và tái sản xuất xã hội sẵn có hay là nhân tố để thay đổi xã hội? v.v..và v.v..  –     Giáo dục và tư tưởng giáo dục có lịch sử quá lâu dài với vô số triết thuyết khác nhau từ Đông sang Tây. Giáo dục đi liền với sự hình thành văn minh nhân loại, trong đó biết bao nhiêu châu ngọc bị vùi lấp và lãng quên cần phải được khai quật và mài dũa cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Liệu có thể bàn về triết học giáo dục “từ hư vô” với lòng kiêu mạn ngây ngô của kẻ phát minh cái bánh xe?  Vâng, có bao nhiêu loại triết học, bao nhiêu nền triết học, bao nhiêu cách triết lý thì có bấy nhiêu loại triết học giáo dục và bấy nhiêu cách thức “làm ra” chúng. Theo nghĩa ấy, không hề có cái gì gọi là “triết học giáo dục nói chung”, mà chỉ có những nền triết học giáo dục có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau mà thôi. Khó mà không đồng tình với nhận định trên đây cùa Bách Khoa Thư Giáo dục Gale!  Thế nhưng ai và quốc gia nào cũng kêu than về sự khủng hoảng, thiếu vắng triết lý giáo dục và hô hào xây dựng một nền triết lý giáo dục thật đặc sắc và vô địch cho riêng mình!   Sống trong nhiều viễn tượng!  Trong hoàn cảnh nhất định, mỗi người, mỗi quốc gia đều công khai hay mặc nhiên bị chi phối bởi một triết học giáo dục. Thụ động chấp nhận hoặc mù quáng tuyệt đối hóa nó đều trái với tinh thần… triết học! Khác với mọi sinh vật khác, con người có thể sống trong nhiều viễn tượng: nhất quán với mình, đồng thời biết rằng bên cạnh mình còn có nhiều viễn tượng khác đáng được trân trọng và khám phá. Triết học giáo dục, nếu có, khó có thể là cái “túi khôn” bao chứa và thâu thái mọi tinh hoa, trái lại, theo thiển ý, chỉ có thể là một thái độ, một tầm nhìn, một cách ứng xử văn hóa.  Chúng ta sẽ đến với kho tàng triết học giáo dục trong tinh thần ấy.  —  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 2, 25.09.2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số cách hủy hoại nền đại học – Kỳ 1      Để có thể đảm nhiệm hai sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu đem lại lợi ích cho toàn xã hội của mình, hệ thống đại học cần có được sự tụ hợp của nhiều điều kiện thuận lợi trong một quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên, trong lịch sử, hệ thống đại học không phải lúc nào cũng có được những điều kiện thuận lợi để phát triển, mà trái lại, luôn có các thế lực hay chính sách vì cố tình hay vô ý đã và đang hủy hoại nền đại học.      Cắt giảm kinh phí  Không cần đàn áp các học giả hay phá hủy cơ sở vật chất, mà chỉ cần bỏ đói họ, không cung cấp đủ kinh phí cho các đại học hoạt động, thì các đại học cũng sẽ tự khắc xuống cấp, thoái hóa.  Sự bỏ đói dễ nhận thấy nhất, là khi các giáo sư đại học được trả lương cực thấp so với các nghề khác, có khi thấp hơn cả nhân viên quèn ở các hãng tư.  Thời Xô Viết, các nhà khoa học tuy không giàu, nhưng đủ sống và được chăm lo bao cấp nhiều khoản, không phải lo về vật chất, có thể yên tâm giảng dạy nghiên cứu khoa học. Bởi vậy đó là thời kỳ hoàng kim của khoa học Nga nói chung. Khi chính quyền Xô Viết sụp đổ, chế độ mới lên thay đã bỏ rơi giáo dục và đại học trong hai thập kỷ 1990-2010, khiến cho nền giáo dục và nền đại học của Nga xuống cấp trầm trọng về chất lượng, đặc biệt là đại học. Trong khi kinh tế tư nhân ở Nga “bùng nổ”, giá cả ở Matxcơva trở nên đắt đỏ loại nhất thế giới, và thu nhập trung bình của người dân Matxcơva cũng trở nên thuộc loại khá cao trên thế giới (chủ yếu nhờ vào xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có), thì thu nhập của giảng viên đại học ở Nga chậm thay đổi, không theo kịp sự trượt giá. Vào thời điểm 2010, lương giáo sư của MGU (đại học danh giá nhất nước Nga) chỉ có khoảng 1000 USD một tháng, trong khi một kỹ sư máy tính xoàng cũng có thể được 2-3 nghìn USD/tháng.          Giảng viên đại học và sinh viên biểu tình tại thủ đô London. (Ảnh: Getty Images)          Hệ quả tất yếu của việc cắt giảm kinh phí là sự chảy máu chất xám. Nếu như trước 1991 số lượng các nhà khoa học Nga “vượt biên” sang phương Tây còn tương đối hiếm (trừ những người gốc Do Thái đi khỏi Nga về Israel), thì trong suốt giai đoạn 1991-2010 có sự ra đi ồ ạt của các nhà khoa học Nga sang phương Tây và sang cả các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v. Những người còn ở lại Nga thì cũng thỉnh thoảng ra nước ngoài kiếm sống, bỏ rơi sinh viên trong nước, hoặc “chân trong chân ngoài”, hoặc tệ hơn là tham nhũng thoái hóa, bán điểm, làm luận án thuê, v.v. Nhiều giáo sư hay tiến sĩ của Nga sẵn sàng viết thuê luận án, bán danh dự để nuôi thân.   Các nước Đông Âu như Ba Lan và Hungary, sau khi không còn XHCN và sáp nhập vào với Cộng đồng châu Âu, đã có chính sách tốt hơn trong quá trình chuyển đổi, không bỏ đói đại học một cách tồi tệ như Nga, nên các nhà khoa học ở các nước đó (cũng giỏi không kém gì ai) phần lớn yên tâm làm việc ở nước mình, không phải “chạy loạn” như các nhà khoa học Nga.  Tình hình ở Pháp tất nhiên không đến nỗi tồi như ở Nga, nhưng cán bộ đại học hay nghiên cứu khoa học Nhà nước của Pháp cũng được trả lương khá thấp so với nhiều nước tiên tiến khác. Một tiến sĩ trẻ được nhận vào làm nghiên cứu viên CNRS ở Paris (là một công việc khá “danh giá”) nhưng đi thuê nhà không thuê được, vì với mức lương CNRS như vậy không ai cho thuê nhà. Theo một thống kê (xem: http://nicolas.tentillier.free.fr/Salaires/index.html), lương khởi điểm của “maitre de conference” (“giảng viên chính”) ở Pháp bị giảm liên tục trong hơn 20 năm 1986-2008 sau khi đã trừ đi lạm phát (tức là lương tăng chậm hơn so với lạm phát), lương năm 2008 chỉ có sức mua bằng khoảng 85% lương năm 1986, trong khi nền khi tế đi lên nhiều trong hơn 20 năm đó.  Chính phủ Pháp vào năm 2010 đang “làm bộ” quan tâm hơn đến khoa học với những cải cách này nọ, nhưng về cơ bản thì cán bộ đại học vẫn bị đối xử tệ. Ngay chính sách tài trợ nghiên cứu của Pháp hiện tại cũng không khuyến khích được mọi người tích cực nghiên cứu hơn. Nói một cách nôm na, đó là chính sách “20% tốt, 80% dốt” (tiếng Pháp: “20% de bons, 80% de cons”). Có nghĩa là người ta đặt ra một qui định khá máy móc tùy tiện là, chỉ có 20% số giảng viên đại học xin tiền phụ cấp nghiên cứu được xếp hạng “tốt” và được phụ cấp nghiên cứu, thường trong quãng 4 nghìn đến 6 nghìn Euro/năm). Còn lại 80% giáo sư/phó giáo sư, dù có tích cực nghiên cứu cũng không được phụ cấp, và điều này khiến cho nhiều người chán nản bỏ nghiên cứu.   Thế hệ trẻ khi thấy tấm gương bị bỏ đói của các thầy cô giảng viên đại học của mình, thì sẽ không còn ham muốn đi theo con đường nghiên cứu và giảng dạy khoa học. Hệ quả là, đất nước sẽ ỳ ạch mãi hoặc lụi bại dần về khoa học và công nghệ, dẫn đến kém phát triển về lâu dài. Điều này không chỉ thấy ở Nga hay ở Việt Nam, mà ngay ở Pháp và một số nước tiên tiến khác cũng đang diễn ra: xã hội không coi trọng khoa học, sinh viên không thích đi theo khoa học, lượng sinh viên đăng ký học các ngành khoa học ngày càng giảm.   Một xu hướng ở nhiều nước hiện nay là, mỗi khi Chính phủ có khó khăn về tài chính (chẳng hạn do phải vung tiền cứu giới tài chính sau khi giới này đầu cơ làm loạn tài chính và kinh tế thế giới), thì hệ thống đại học là một trong những nơi dễ bị cắt giảm ngân sách nhất. Cắt giảm ngân sách cũng là một cách “bỏ đói” đại học. Dù rằng đại học có là động lực để phát triển kinh tế về lâu dài, và kinh tế trước nay được hưởng dương rất nhiều từ đại học, và hệ thống đại học không phải là nơi gây ra các khó khăn khủng hoảng về kinh tế, nhưng trước mắt chỗ nào cắt được thì họ cứ cắt. Nhiều nhà chính trị nhìn “không xa quá mũi”, đối với họ các nghiên cứu cơ bản và các nghiên cứu có ảnh hưởng tốt chung đến xã hội trong những lĩnh vực không đếm ra được ngay thành tiền (như văn hóa, nghệ thuật, tinh thần) chẳng có ý nghĩa gì mấy, và ngân sách cho những chỗ đó càng dễ bị cắt giảm. Ở Anh, theo tin BBC ngày 15/10/2010 (xem: http://www.bbc.co.uk/ news/education-11550619), hệ thống đại học sẽ bị cắt giảm ngân sách đến 4.2 tỷ bảng Anh. Điều này ắt hẳn sẽ làm cho Anh trở nên kém cạnh tranh trên thế giới về chất lượng đại học và khoa học, và làm cho nền kinh tế Anh trì trệ thêm về lâu dài.  Việc cắt giảm kinh phí đại học hiện không chỉ xảy ra ở Anh, mà còn ở các nước khác như Mỹ, Tây Ban Nha, v.v. với lý do “khó khăn kinh tế”. Chẳng hạn ở Tây Ban Nha, các giảng viên đại học đều bị giảm lương khoảng 6%. Một điều hơi khó hiểu là, Chính phủ Mỹ một mặt in tiền và tung các gói “kích cầu” khổng lồ nhằm vực kinh tế khỏi suy thoái, nhưng một mặt lại cắt giảm kinh phí cho đại học, mà đại học chính là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế bền vững. Nếu như trong những thập kỷ trước, nước Mỹ thu hút được nhiều nhân tài từ các nước khác trên thế giới do đổ nhiều tiền vào đại học, cho nhiều học bổng cho học sinh nước ngoài, v.v. thì ngày nay thế mạnh đó của Mỹ đang giảm đi (trong khi thế mạnh của Trung Quốc tăng lên).  Thương mại hóa  Hầu hết các đại học lớn quan trọng nhất trên thế giới, dù là Đại học công như Cambridge hay là đại học tư như Princeton, hiện đều là các đại học phi lợi nhuận, còn các đại học vì lợi nhuận chỉ tạo thành một phần nhỏ của hệ thống đại học. Lý do là, các đại học là các tổ chức có ảnh hưởng dương rất lớn đến xã hội (nói theo thuật ngữ kinh tế, là có “positive externality”), làm lợi chung cho toàn xã hội. Chính vì toàn bộ xã hội được ảnh hưởng dương rất lớn từ hệ thống đại học, nên có thể coi đại học là của cải chung của xã hội, và xã hội có trách nhiệm “nuôi” nó. Các đại học tư phi lợi nhuận do các doanh nhân giàu có bỏ tiền tài trợ, cũng là một hình thức đóng góp và gây ảnh hưởng đến xã hội của họ. Các đại học vì lợi nhuận có vai trò nhất định trong xã hội, nhưng không đem lại được lợi công cho xã hội như là đại học phi lợi nhuận, mà mục đích chính của chúng là đem lại lợi tư cho chủ sở hữu. Các đại học vì lợi nhuận sẽ chỉ chú trọng đầu tư vào những gì sinh lời tư nhanh chóng, mà không đầu tư vào những hướng nghiên cứu hay đào tạo có ảnh hưởng tốt lâu dài đến toàn xã hội. Bởi vậy, xã hội muốn được hưởng nhiều thành quả từ hệ thống đại học, thì không thể dựa vào đại học vì lợi nhuận, mà cần dựa vào đại học phi lợi nhuận. (Cũng vì vậy, ở Việt Nam, khi một số “chuyên gia kinh tế” xui chính phủ nên cổ phần hóa các đại học công lớn. Đây là một ý tưởng sai lầm, sẽ chỉ làm lợi cho một số tư nhân mà làm hại chung cho toàn đất nước).        Khi các đại học không còn được Chính phủ hay tổ chức từ thiện cung cấp kinh phí, mà  chủ yếu dựa vào hợp đồng với các hãng tư nhân vì lợi nhuận cho ngân sách khoa học của mình, thì việc nghiên cứu khoa học bị bóp méo đi, các nghiên cứu có lợi chung cho xã hội bị bỏ rơi, “cha chung không ai khóc”, chỉ có những nghiên cứu đem lại lợi tư được phát triển.        Tuy nhiên, ở một số nước tư bản hiện nay, song song với xu hướng cắt giảm ngân sách Nhà nước cho đại học, đang có một xu hướng khá nguy hiểm là thương mại hóa đại học, dần dần biến chúng thành các “công ty thương mại”. Khi các đại học không còn được Chính phủ hay tổ chức từ thiện cung cấp kinh phí, mà  chủ yếu dựa vào hợp đồng với các hãng tư nhân vì lợi nhuận cho ngân sách khoa học của mình, thì việc nghiên cứu khoa học bị bóp méo đi, các nghiên cứu có lợi chung cho xã hội bị bỏ rơi, “cha chung không ai khóc”, chỉ có những nghiên cứu đem lại lợi tư được phát triển. Sự tự do tư tưởng trong nghiên cứu cũng sẽ mất dần đi. Từ “giáo sư” sẽ mất dần đi ý nghĩa “người thầy” cao quí của nó, mà dần dần biến thành nghĩa “người làm công ăn thuê cho các ông bà chủ nắm quyền ở đại học”.  Việc đại học hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp, để điều chỉnh công việc đào tạo và nghiên cứu cho thích hợp với nhu cầu xã hội, là việc tốt và cần thiết. Việc doanh nghiệp tài trợ cho đại học, đổi lấy sự đảm bảo nguồn nhân lực trí thức và sự hỗ trợ về khoa học công nghệ, là việc tốt. Nhưng nếu đại học trở nên quá phụ thuộc về kinh tế vào các doanh nghiệp tư, thì lại thành xu hướng nguy hiểm: đấy là xu hướng nô lệ về kinh tế, trở thành tay sai cho các quyền lợi tư, mất đi ảnh hưởng dương đến chung toàn xã hội. Một ví dụ gần đây về sự nguy hiểm của việc nô lệ hóa đại học về kinh tế là, khi xảy ra vụ nổ giàn khoan dầu của công ty British Petroleum ở ngoài vịnh Mexico vào tháng 04/2010, dẫn đến một lượng dầu hỏa rất lớn chảy ra biển và tràn vào các bờ biển gây tác hại lớn cho môi trường và cho người dân, thì British Petroleum đã liên tục tìm cách “bịt mặt” công chúng, đưa ra các con số thiệt hại nhỏ hơn nhiều lần thực tế. Họ thuê các chuyên gia đại học đi điều tra về vụ này, nhưng lại ra điều kiện là các kết quả điều tra được phải nộp lại cho British Petroleum mà không được cho công chúng biết. Khi ăn tiền như vậy, thì đại học không còn giá trị xã hội nữa, mà thành tay sai của công ty tư nhân.          Vụ nổ giàn khoan dầu trên vịnh Mexico đã gây ra thảm họa sinh thái nghiêm trọng. Công ty British Petroleum thuê các chuyên gia đại học đi điều tra về vụ này, nhưng lại ra điều kiện là các kết quả điều tra được phải nộp lại cho British Petroleum mà không được cho công chúng biết. Khi ăn tiền như vậy, thì đại học không còn giá trị xã hội nữa, mà thành tay sai của công ty tư nhân          Đại học Luxembourg (mới thành lập từ năm 2003 ở Luxembourg) là đại học công, nhưng là một ví dụ về việc quản lý đại học như là công ty thương mại. Trong cái “công ty thương mại” đó, giáo sư chỉ là một nhân viên dưới quyền quản lý của cấp trên trực tiếp, và ngược lại là sếp của mấy cấp dưới trực tiếp (phụ giảng, postdoc), chứ không có được sự tôn trọng như là người thầy và sự tự do như ở những nơi khác. Giáo sư cho đến nghiên cứu sinh ở Luxembourg phải đến phòng làm việc ngồi hàng ngày “từ 9 giờ đến 5 giờ” và mỗi năm được cấp một số ngày phép y hệt như là các nhân viên bàn giấy. Khi nghỉ phép, thì họ “được phép” dừng hết mọi hoạt động khoa học. Nhưng kiểu quản lý như vậy hoàn toàn trái ngược với truyền thống của giới khoa học (làm việc không kể giờ giấc, cả khi đi nghỉ hay khi ở nhà vẫn nghĩ về khoa học, không cần “ngày phép” chính thức, nhưng cần tự do). Kiểu quản lý đó khiến cho sinh viên thì không có được thói quen làm việc của nhà khoa học mà chỉ thành những nhân viên làm công ăn lương, còn các nhà khoa học giỏi thì ít muốn đến trường Luxembourg làm việc tuy lương ở đó khá cao.  Một biểu hiện của xu hướng thương mại hóa, là khi sinh viên được coi thành “khách hàng”, quan hệ giữa trường đại học và sinh viên không còn là một quan hệ có trách nhiệm xã hội trong đó, mà xuống cấp thành quan hệ thương mại “kẻ mua – người bán”. Khách hàng là “thượng đế”, nên đại học sẽ ra sức “chiều” sinh viên, đổi “điểm tốt” lấy tiền. Giảng viên thì không dám kỷ luật sinh viên không nghiêm túc hay cho điểm xấu những sinh viên học kém, vì sợ làm “mếch lòng thượng đế”. Hậu quả là lạm phát văng bằng, chất lượng đào tạo không đảm bảo, học ấm ớ vẫn có đủ các thứ bằng miễn là nộp đủ tiền. Xu hướng thương mại hóa cũng góp phần tạo rào cản cho những học sinh học giỏi nhưng ít tiền không vào được đại học (kể cả đại học công), trong khi con nhà giàu học dốt thì được nhận học. Hệ quả là vừa lãng phí đầu tư công và lãng phí tiềm năng xã hội, vừa làm tăng phân biệt giàu nghèo.  Một biểu hiện nữa của xu thế thương mại hóa, là việc bỏ quá nhiều tiền cho các trò có tính quảng cáo, ví dụ như trò thi đấu thể thao. Theo ông trưởng khoa toán ở Đại học California Berkeley (một đại học công hàng đầu của Mỹ) cách đây không lâu, Berkeley hiện chi đến 25% ngân sách của trường cho các trò thể thao không liên quan gì đến khoa học, và người được trả lương cao nhất đại học Berkeley (trên 1 triệu USD/năm) không phải là một nhà khoa học danh tiếng lừng lẫy nào, mà là ông huấn luyện đội tuyến bóng bầu duc (American football) nghiệp dư của trường ! Tại sao trong khi tiền cho khoa học thì thiếu, mà trường công lại chi quá nhiều tiền cho thể thao ? Ban giám hiệu giải thích là, việc đó cần thiết để gây thanh thế cho đại học và nhận được tài trợ của các nhà hảo tâm.   Khi xã hội và các nhà hảo tâm nhớ đến các đại học vì thành tích “tiêu khiển tốt”, thay vì các đóng góp về đào tạo và nghiên cứu, thì giá trị đích thực của đại học đã bị giảm đi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số cách hủy hoại nền đại học – tiếp theo và hết      THA HÓA  Các trí thức theo đúng nghĩa phải là những con người có tư cách đàng hoàng. Hay như theo cách nói của nho giáo, đại học là phải tuân theo “tam cương lĩnh” minh đức – tân dân– chí thiện. Tiếc rằng, rất nhiều người ở đại học kể cả nhiều nhà khoa học có trình độ khoa học&#160; cao không có được tư cách như vậy, mà đã bị “tha hóa”, để trở thành những lực lượng phá hoại đại học. Họ gây bè, kéo cánh trong đại học, trù dập những nhà khoa học khác không chịu luồn cúi đối với mình, bán rẻ công lý lấy quyền lực và danh hão, v.v.      Có rất nhiều cách làm “tha hóa” con người nói chung, và giảng viên đại học nói riêng. Chẳng hạn như:  – Đề bạt lên chức không dựa trên trình độ chuyên môn, mà dựa trên các quan hệ quyền lực và sự biết luồn cúi và nịnh hót những người “phía trên”.  – “Lương ít bổng nhiều”. Lương chính thức thì ít, nhưng bổng lộc (dành cho những ai ăn cánh, một cách tùy tiện và thiếu minh bạch) thì nhiều, là một cách hiệu quả làm thoái hóa trí thức: khi phải lựa chọn giữa việc “chịu làm nô lệ để được nhận bổng” và “không chịu nô lệ chấp nhận chết đói”, ít ai sẽ đủ dũng cảm nhận giải pháp thứ hai. Khi đã “nhận bổng” thì là như “há miệng mắc quai”, không còn dám lên tiếng phản đối những điều mà mình nhận thấy là sai trái, trở nên đồng lõa với những sự lộng quyền hay tham nhũng phía trên. Chế độ “lương ít bổng nhiều” này là một hình thức cai trị “ràng buộc mềm” thịnh hành từ thời phong kiến, nhưng đến thế kỷ 21 này nó vẫn còn tồn tại.  – “Chạy theo thành tích”. Ví dụ, tỷ lệ tốt nghiệp cao được lấy làm thước đo thành tích chính (mà coi nhẹ các yếu tố khác), dẫn đến ngay xu hướng dễ dãi trong dạy và học, khuyến khích gian lận thi cử. Hậu quả là chất lượng đào tạo xuống cấp, và cả giáo viên và học sinh trở thành những kẻ gian lận.  – “Đếm bài ăn tiền” (hay có thể gọi là kiểu thô thiển hóa các thước đo thành tích khoa học). Ở bên Anh, từ thời Thatcher, các nhà chính trị không hiểu gì về khoa học muốn “đo lường thành tích khoa học” bằng các thước đo thô thiển mà họ hiểu được. Và thế là họ đưa vào các tiêu chuẩn “định lượng” thô thiển: công trình khoa học được đo bằng bài báo, bài báo được đo bằng tạp chí đăng nó, tạp chí được đo bằng “impact factor”, và thế là mọi thứ qui về mấy con số ngô nghê như “số bài báo” hay “chỉ số ảnh hưởng”, mà không tính đến chất lượng thật sự ra sao. Xu hướng này được nhân rộng ra trên thế giới, nhiều nước sử dụng, trở thành một trào lưu đáng ngại. Nó làm cho rất nhiều nhà khoa học trên thế giới, kể cả những người đã có tiếng tăm, thay vì làm những kết quả có ý nghĩa lớn đăng trong 1-2 bài báo chất lượng cao, thì sẽ viết thật nhiều, một kết quả cũng phải chia 5 xẻ 7 thành nhiều bài vụn vặt, và viết cả nhiều bài hoàn toàn nhảm nhí, cho được nhiều bài, rồi tạo các “băng nhóm” trích lẫn nhau nhiều lần v.v., để có “bảng thành tích” đẹp, bỏ rơi cái gọi là “integrity” (sự trung thực) trong khoa học.  – “Không phải việc của tôi”. Như người ta nói, xã hội muốn tồi tệ đồi bại đi, thì chỉ cần người tử tế im lặng (do “sợ” hoặc “ngại”) để kẻ xấu hoành hành, hoặc bỏ rơi người bị nạn. Tương tự như vậy, nếu ở đại học mà có những kẻ gian (như “tiến sĩ khoa học” mua bằng) ngồi đó mà từ ban giám hiệu trở xuống không làm gì để đuổi việc hay kỷ luật kẻ gian cả (mà chỉ xì xào sau lưng), ai cũng nghĩ “đấy không phải việc của mình, đụng chạm vào thiệt thân” thì là một hệ thống đã bị đồi bại hóa, tha hóa. Tệ hơn nữa, là khi mà có các quan chức hay nhân viên trong ngành đại học, việc rõ ràng thuộc trách nhiệm của họ phải làm nhưng họ không làm, đợi đến lúc nào có người đến cầu cạnh đút lót lúc đó mới làm.   “DÂN CHỦ” KHÔNG PHẢI LỐI  Sự dân chủ hóa đại học cũng góp phần làm cho hệ thống đại học phát triển nhanh trên thế giới trong mấy thế kỷ qua. Một trong các hệ quả tốt đẹp là, ngày càng có nhiều người được học đại học, có được văn hóa cao. Tuy nhiên, từ “dân chủ” có thể bị hiểu sai nghĩa, bị lạm dụng, tạo ra những kiểu “dân chủ không phải lối”, có hại cho hệ thống đại học nói riêng và cho xã hội nói chung. Một số các kiểu dân chủ không phải lối đó là:  Coi sinh viên và giảng viên ngang bằng nhau. Câu nói kiểu như “sinh viên là chủ của đại học” là câu nói “mị dân” nghe thì hay, nhưng không phản ánh đúng sự thật. Theo lẽ tự nhiên, trong một ngôi nhà có bố mẹ và trẻ em, thì thường bố mẹ phải là chủ ngôi nhà và có trách nhiệm nuôi nấng trẻ em, chứ không phải ngược lại. Đại học tương tự như vậy: sinh viên là những người mà đại học có tránh nhiệm “nuôi nấng” về mặt tinh thần cho trưởng thành, nhưng không phải “ông bà chủ” ở đó. Trong quan hệ thầy-trò, thì người thầy phải có “oai” trò mới nghe, mới dạy được trò. Khi đặt thầy trò ngang bằng nhau, thầy không có “oai” trong con mắt trò, thì thầy nói trò không nghe, không dạy được trò. Tất nhiên, không phải người thầy nào cũng tốt, và sinh viên cần có quyền góp ý cho thầy hay khiếu nại về những người thầy dạy không nghiêm túc, nhưng điều đó không có nghĩa là “bình đẳng thầy trò”. Và thầy có oai không có nghĩa là thầy nói gì trò cũng phải chấp nhận thế là đúng, không dám hỏi lại. Đối ngược lại với thái cực “dân chủ quá trớn” là thái cực “thầy độc tài trò thụ động” cũng không tốt cho đại học.  Coi những người thư ký hay phụ trách hành chính ngang bằng với giáo sư, hay thậm chí coi phụ trách hành chính quan trọng hơn giáo sư. Bộ phận hành chính là để phục vụ các giảng viên chứ không phải ngược lại. Khi cơ chế khiến cho các bộ phận hành chính và các thư ký trở nên quan trọng hơn giáo sư, thì họ sẽ trở nên lũng đoạn đại học, biến cả giáo sư lẫn sinh viên thành các “nô lệ” của mình.  Mô hình “đại học sọt rác” (université poubelle). Ở Pháp, sự “dân chủ hóa quá mức” đại học dẫn đến có hai hệ thống đại học song song: hệ thống “grandes écoles” (trường lớn) và hệ thống “universités” (đại học tổng hợp). Về mặt chất lượng giảng viên, chất lượng nghiên cứu, và lương bổng, thì hai hệ thống này tương đương với nhau. Về ngành nghề thì có hơi khác nhau (bên “grandes écoles” thiên về kỹ thuật hơn, bên “universités” thiên về lý thuyết hơn) nhưng cũng có nhiều ngành chung và université cũng có thể mở các ngành kỹ thuật. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở sự tuyển sinh viên và chế độ cho sinh viên: sinh viên muốn vào grande école thì phải thi tuyển, còn vào université thì chỉ cần bằng tốt nghiệp phổ thông, không phải thi (và cũng không mất học phí). Hệ quả là, grande école chọn được các sinh viên giỏi, còn université thành cái “sọt rác” hứng toàn bộ các sinh viên còn lại, trong đó một phần khá lớn là quá kém, văn hóa thấp, lười biếng, bỏ học nhiều. Tất nhiên một đại học với sinh viên như vậy sẽ dần mất đi “tên tuổi” của mình.   PHUNG PHÍ TÀI NGUYÊN  Ném tiền bừa bãi ngân sách dành cho đại học cũng là một cách phá hoại nền đại học. Vì tiền khi ném vào những chỗ không đem lại hiệu quả (mà có thể rơi vào túi một số cá nhân nào đó), thì không còn tiền cho những chỗ khác đang rất cần tiền để phát triển, có thể đem lại hiệu quả cao hơn nhiều. Ví dụ như mua những máy móc thí nghiệm rất đắt rồi bỏ đấy không dùng (vì người cần dùng máy và người có quyền quyết định mua là hai người khác nhau, người mua không phải là mua vì người dùng, mà là vì được hưởng lợi tư từ việc mua đó).   Phung phí thời gian của sinh viên và của giảng viên, làm ra những chương trình đào tạo bắt sinh viện bỏ quá nhiều thời gian vào học những môn “vô bổ” không nơi nào cần đến, những kiến thức đã lỗi thời, cũng là một hình thức phá hoại đại học, làm giảm giá trị của nó.  BỎ RƠI SINH VIÊN  Không có sinh viên, thì cũng không còn đại học.  Một sai lầm mà các đại học nghiên cứu hay mắc phải, đó là quá coi nặng phần nghiên cứu mà coi nhẹ phần đào tạo. Bởi vậy có nhiều giáo sư giỏi về nghiên cứu, nhưng dạy học kém, hay thậm chí dạy không nghiêm túc, do sự đánh giá quá thiên lệch về nghiên cứu tạo ra. Điều này làm ảnh hưởng xấu tới sinh viên, và làm mất uy tín đại học.  Khi mà đại học tuyển sinh theo lý lịch, hay theo khả năng trả học phí, thì đó cũng là một cách bỏ rơi các sinh viên giỏi nhưng con nhà nghèo hoặc “lý lịch tồi”.  Tất nhiên, khi giảng viên bị bỏ đói, thì hệ quả là sinh viên bị giảng viên bỏ rơi (hay tồi tệ hơn, là giảng viên coi sinh viên là nguồn thu nhập của mình bằng cách bán điểm, bán bằng), như đã viết phía trên. Khi giảng viên bị hút tâm trí vào những việc kiếm tiền khác, thì họ sẽ không thể dạy hay được, vì họ không còn thời giờ để quan tâm tới sinh viên, để cải thiện cách dạy học sao cho hay hơn, và kiến thức của họ cũ kỹ không được cập nhật, không theo kịp thời đại.  ***  Ngoài các cách kể trên, ắt hẳn còn nhiều cách khác. Chẳng hạn như quan liêu hóa: tạo dựng bộ máy quan liêu quản lý đại học thật nặng nề cồng kềnh, để làm bất cứ cái gì cũng đòi hỏi thật nhiều giấy tờ, giải quyết bất cứ công việc gì cũng chậm chạp, làm mất thật nhiều thời gian của mọi người và tiền của của đại học, v.v.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số điều nên và không nên trong giảng dạy Toán      Một số quan điểm c&#243; thể c&#242;n phiến diện của t&#244;i về những điều n&#234;n v&#224; kh&#244;ng n&#234;n trong giảng dạy được r&#250;t ra từ kinh nghiệm bản th&#226;n, việc nghi&#234;n cứu c&#225;c t&#224;i liệu về gi&#225;o dục, sự trao đổi với đồng nghiệp v&#224; sinh vi&#234;n, v&#224; những suy nghĩ để l&#224;m sao dạy học tốt hơn.T&#244;i sẽ chủ yếu n&#243;i về việc dạy to&#225;n, tuy rằng nhiều điểm &#225;p dụng được cho hầu hết c&#225;c m&#244;n học kh&#225;c. T&#244;i sẽ d&#249;ng từ &#8220;giảng vi&#234;n&#8221; để chỉ cả giảng vi&#234;n đại học lẫn gi&#225;o vi&#234;n phổ th&#244;ng, từ &#8220;học sinh&#8221; (student) để chỉ học sinh sinh vi&#234;n hay học vi&#234;n ở mọi cấp học, từ phổ th&#244;ng cho đến sau đại học. V&#224; những điều t&#244;i viết ở b&#224;i n&#224;y kh&#244;ng theo thứ tự đặc biệt n&#224;o.    Nên: Thỉnh thoảng thay đổi môn dạy nếu có thể. Nếu dạy một môn nhiều lần, thì cải tiến thường xuyên phương pháp và nội dung dạy môn đó.Không nên: Dạy mãi năm này qua năm khác một môn, với giáo trình nhiều năm không thay đổi.Các chức vụ quản lý lãnh đạo thường có nhiệm kỳ, và thường có nguyên tắc là không ai làm quá 2 nhiệm kỳ ở cùng 1 vị trí. Lý do là để tạo sự thay đổi cải tiến thường xuyên, tránh sự trì trệ. Ngay trong việc dạy học cũng vậy: một người mà dạy quá nhiều năm cùng một thứ, thì dễ dẫn đến nhàm chán trì trệ. Để tránh chuyện đó, có những cơ sở đại học có qui định là các môn học cũng có nhiệm kỳ: ai mà dạy môn nào đó được 4-5 năm rồi thì phải giao cho người khác đảm nhiệm, trừ trường hợp không tìm được người thay thế.Nhiều khoa toán có phân chia việc dạy các môn cho các tổ bộ môn, ví dụ môn “phương trình vi phân” thì chỉ dành cho người của tổ bộ môn phương trình vi phân dạy. Việc phân chia như vậy có cái lợi là đảm bảo chất lượng dạy, đặc biệt là trong điều kiện trình độ giảng viên nói chung còn thấp, phải “chuyên môn hóa” trong việc dạy để đảm bảo chất lượng tối thiểu. Tuy nhiên nó có điểm hạn chế, là nó tạo ra xu hướng người của tổ bộ môn nào sẽ chỉ biết chuyên ngành hẹp đấy, tầm nhìn không mở rộng ra. Ở một số trường đại học tiên tiến, nơi có nhiều giảng viên trình độ cao (và với nguyên tắc đã là giáo sư hay giảng viên cao cấp thì đủ trình độ để dạy bất cứ môn nào trong các môn toán bắt buộc ở bậc cử nhân), công việc giảng dạy không phân chia theo tổ bộ môn hẹp như vậy, mà giảng viên (cao cấp) nào cũng có thể đăng ký dạy bất cứ môn nào ở bậc cử nhân.Tất nhiên, việc thay đổi môn dạy đòi hỏi các giảng viên phải cố gắng hơn trong việc chuẩn bị bài giảng (mỗi lần đổi môn dạy, là một lần phải chuẩn bị bài giảng gần như từ đầu), nhưng đổi lại nó làm tăng trình độ của bản thân giảng viên, giúp cho giảng viên tìm hiểu những cái mới (mà nếu không đổi môn dạy thì sẽ không tìm hiểu, do sức ỳ). Đặc biệt là các môn ở bậc cao học: việc chuẩn bị bài giảng cho một môn cao học mới có thể giúp ích trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học của giảng viên.Tôi có một số kinh nghiệm cá nhân về việc này. Ví dụ như năm 1999 tôi nhận dạy 1 học kỳ cao học về hệ động lực Hamilton, và trong quá trình đọc tài liệu để chuẩn bị bài giảng cho môn đó, tôi phát hiện ra một số vấn đề cơ bản liên quan đến dạng chuẩn địa phương của hệ động lực chưa được nghiên cứu, và điều đó thúc đẩy tôi nghiên cứu được một số kết quả khá tốt. Năm 2008 tôi nhận dạy môn đại số (mở rộng trường và một ít đại số giao hoán) cho sinh viên toán năm thứ 4, tuy rằng trước đó tôi hầu như không đụng chạm đến những thứ đó. Việc dạy môn đại số đã giúp tôi nắm chắc thêm được một số kiến thức về đại số, ví dụ như hiểu thêm ý nghĩa của tính chất Noether (đây là tính chất đặc trưng của “đại số”, đối ngược với “giải tích”).Tất nhiên có nhiều người, do điều kiện công việc, phải dạy cùng một môn (ví dụ như môn toán lớp 12) trong nhiều năm. Để tránh trì trệ trong trường hợp đó, cần thường xuyên cải tiến phương pháp và nội dung giảng dạy (đưa vào những ví dụ minh họa mới và bài tập mới từ thực tế hiện tại, sử dụng những công nghệ mới và công cụ học tập mới, tìm các cách giải thích mới dễ hiểu hơn, v.v.)Nên: Dạy và kiểm tra kiến thức học sinh theo lối “học để hiểu”Không nên: Tạo cho học sinh thói quen học vẹt, chỉ nhớ mà không hiểu               Lớp 10B3 với chuyên đề Toán học trường PTTH Nguyễn Gia Thiều – HN        Các nhà giáo dục học và thần kinh học trên thế giới đã làm nhiều phân tích và thí nghiệm cho thấy, khi bộ óc con người “hiểu” một cái gì đó (tức là có thể “make sense” cái đó, liên tưởng được với những kiến thức và thông tin khác đã có sẵn trong não) thì dễ nhớ nó (do thiết lập được nhiều “dây nối” liên quan đến kiến thức đó trong mạng thần kinh của não – một neuron thần kinh có thể có hàng chục nghìn dây nối đến các neuron khác), còn khi chỉ cố nhồi nhét các thông tin riêng lẻ vào não (kiểu học vẹt) mà không liên hệ được với các kiến thức khác đã có trong não, thì thông tin đó rất khó nhớ, dễ bị não đào thải. Thực ra thì môn học nào cũng cần “hiểu” và “nhớ”, tuy rằng tỷ lệ giữa “hiểu” và “nhớ” giữa các môn khác nhau có khác nhau: ví dụ như ngoại ngữ thì không có gì phức tạp khó hiểu lắm nhưng cần nhớ nhiều (tất nhiên để nhớ được các câu chữ ngoại ngữ thì cũng phải liên tưởng được các câu chữ đó với hình ảnh hay ý nghĩa của chúng và với những thứ khác có trong não), nhưng toán học thì ngược lại: không cần nhớ nhiều lắm, nhưng phải hiểu được các kiến thức, và quá trình hiểu đó đòi hỏi nhiều công sức thời gian. Có những công thức và định nghĩa toán mà nếu chúng ta quên đi chúng ta vẫn có thể tự tìm lại được và dùng được nếu đã hiểu bản chất của công thức và định nghĩa đó, còn nếu chúng ta chỉ nhớ công thức và định nghĩa đó như con vẹt mà không hiểu nó, thì cũng không dùng được nó, và như vậy thì cũng không hơn gì người chưa từng biết nó. Ví dụ như công thức tính Christoffel symbol cho liên thông Riemann của một Riemannian metric là một công thức hơi dài, và tôi chẳng bao giờ nhớ được chính xác nó lâu tuy “mang tiếng” là người làm hình học vi phân: cứ mỗi lần đụng đến thì xem lại, nhớ được một lúc, rồi lại quên. Nhưng điều đó không làm tôi băn khoăn, vì tôi hiểu bản chất của Christoffel symbol và các tính chất cơ bản của liên thông Riemann, từ đó có thể tự nghĩ ra lại được công thức nếu cần thiết (tốn một vài phút) hoặc tra trên Internet ra ngay. Sinh viên ngày nay (là những chuyên gia của ngày mai) có thể tra cứu rất nhanh mọi định nghĩa, công thức, v.v., nhưng để hiểu chúng thì vẫn phải tự hiểu, không có máy móc nào hiểu hộ được. Cách đây 5-10 năm, theo thông lệ của những người dạy trước tôi, tôi thường không cho phép sinh viên mang tài liệu vào phòng thi trong các kỳ thi cuối học kỳ, và đề bài thi hay có 1 câu hỏi lý thuyết (tức là phát biểu đúng 1 định nghĩa hay định lý gì đó thì được điểm). Nhưng trong thời đại mới, việc nhớ y nguyên các định nghĩa và định lý có ít giá trị, mà cái chính là phải hiểu để mà sử dụng được chúng. Bởi vậy những năm gần đây, trong các kỳ thi tôi dần dần cho phép học sinh mang bất cứ tài liệu nào vào phòng thi, và đề thi không còn các câu hỏi “phát biểu định lý” nữa. Thay vào đó là những bài tập (tương đối đơn giản, và thường gần giống các bài có trong các tài liệu nhưng đã thay tham số) để kiểm tra xem học sinh có hiểu và sử dụng được các kiến thức cơ bản không. Về mặt hình thức, chương trình học ở Việt Nam (kể cả bậc phổ thông lẫn bậc đại học) khá nặng, nhưng là nặng về “nhớ” mà nhẹ về “hiểu”, và trình độ trung bình của học sinh Việt Nam thì yếu so với thế giới (tất nhiên vẫn có học sinh rất giỏi, nhưng tỷ lệ học sinh giỏi thực sự rất ít, và cũng khó so được với giỏi của phương Tây). Vấn đề không phải là do người Việt Nam sinh ra kém thông minh, mà là do điều kiện và phương pháp giáo dục, chứ trẻ em gốc Việt Nam lớn lên ở nước ngoài thường là thành công trong đường học hành. Hiện tượng rất phổ biến ở Việt Nam là học sinh học thuộc lòng các “kiến thức” trước mỗi kỳ kiểm tra, rồi sau khi kiểm tra xong thì “chữ thầy trả thầy”. Việt Nam rất cần cải cách chương trình giáo dục theo hướng tăng sự “hiểu” lên, và giảm sự “học gạo”, “nhớ như con vẹt”. Tôi có phỏng vấn nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi ngành toán ở Việt Nam, nhưng khi hỏi một số kiến thức khá cơ bản thì nhiều em lại không biết. Lỗi không phải tại các em mà có lẽ tại hệ thống giáo dục. Nhiều thầy cô giáo chỉ khuyến khích học sinh làm bài kiểm tra giống hệt lời giải mẫu của mình, chứ làm kiểu khác đi, tuy có thể thú vị hơn cách của thầy thì có khi lại bị trừ điểm. Tôi đã chứng kiến trường hợp sinh viên chỉ đạt điểm thi 7-8 lại giỏi hơn sinh viên đạt điểm thi 9-10 vì kiểu chấm thi như vậy. Kiểu chấm điểm như thế chỉ khuyến khích học vẹt chứ không khuyến khích sự sáng tạo hiểu biết.  Xem tiếp kỳ sau    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số vấn đề về quản lý và những thách thức trong nền giáo dục Việt Nam*      Với tư cách là người hoạt động trong giáo dục đại học, cũng như với tư cách là phụ huynh học sinh, tôi xin nêu vài suy nghĩ của mình về vấn đề quản lý giáo dục, quản trị đại học và những thách thức đối với giáo dục Việt Nam. Trong phần đầu về quản trị, tôi sẽ lấy ví dụ nhiều hơn trong giáo dục đại học, là lãnh vực mà tôi có nhiều trải nghiệm thực tế. Trong phần hai, về minh bạch tài chánh, tôi sẽ nói về nền giáo dục một cách rộng rãi hơn, với quan điểm vừa của người trong ngành vừa là phụ huynh học sinh, thành phần của công chúng sử dụng dịch vụ giáo dục từ các nhà trường.                        1.    Quản trị đại học Việt Nam và tính minh bạch  Cần nói ngay là có những yếu tố có vẻ thuận lợi cho việc tăng cường tính minh bạch trong quản trị đại học Việt Nam. Nhưng thuận lợi chỉ thấy ở bề mặt và thường không được sử dụng đúng, nguy cơ nằm ở bề sâu và sẽ không khắc phục được căn cơ nếu không nhận diện rõ ràng.  Quản lý tập trung có nhiều bất lợi, đặc biệt là trong quản trị đại học, vì các trường đại học, hơn mọi cơ sở giáo dục ở trình độ khác, cần sự tự chủ, độc lập để thực thi sứ mạng của mình. Nhưng ít ra, quản lý tập trung cũng có vẻ (và thường gây ảo tưởng là) thuận lợi cho sự minh bạch.   Trước hết, khi quản lý tập trung, trách nhiệm điều hành và giải trình được quy về một hay một số ít đầu mối. Không một trường mẫu giáo, trường phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hay đại học nào ở Việt Nam, dù là công hay tư, dù do người Việt hay người nước ngoài làm chủ, có thể ra đời, hoạt động mà không có sự cho phép bằng văn bản (sau một quá trình xét duyệt, thẩm định có nhiều bộ phận của cơ quan công quyền tham gia và thường tốn thời gian không ngắn) của một cơ quan nhà nước Việt Nam, trong nhiều trường hợp là Bộ Giáo dục&Đào tạo, song nếu không, cũng là một cơ quan nhà nước phần lớn từ cấp tỉnh, thành phố trở lên. Sau khi đã có quyết định thành lập, rất nhiều hoạt động khác của nhà trường, từ mở chương trình, ngành, bậc học mới đến các hoạt động thường xuyên như tuyển sinh, cấp bằng tốt nghiệp, công nhận giáo sư và xếp ngạch, bậc giảng viên, giáo viên, quản lý lao động, khen thưởng, kỷ luật giảng viên, nhân viên và sinh viên đều có những quy định của Bộ, Sở, có sự xét duyệt, công nhận của cơ quan công quyền các cấp. Mọi người cũng có quyền (ít nhứt là trên nguyên tắc) khiếu nại, khiếu tố, khiếu kiện lên chính quyền cấp trên nếu cảm thấy không hài lòng về chủ trương, chánh sách hay quyết định của nhà quản lý các cơ sở giáo dục. Có đầu mối tập trung, là thuận lợi cho việc đặt ra và yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực quản lý, điều hành cho phép kiểm soát chất lượng, ngăn ngừa tiêu cực. Khi xảy ra khiếm khuyết hay vi phạm, về lý mà nói, cũng dễ chỉ ra cơ quan hay bộ phận, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm.  Tiếp theo, quản lý tập trung cho phép cơ quan quản lý yêu cầu, thậm chí cưỡng chế sự minh bạch thông tin từ các cơ sở đào tạo, như hiện nay Bộ Giáo dục đã bắt đầu làm thông qua chủ trương công khai thông tin về các điều kiện đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục sau phổ thông.  Vậy thì, tại sao cảm giác bất an, trì trệ vẫn nặng nề?  Tôi xin nêu ra một số trong các nguyên nhân. Đó cũng là những thách thức phải vượt qua, nếu chúng ta thực sự thấy thiết yếu cần tăng cường tính minh bạch và chất lượng giáo dục.  Nguyên nhân thứ nhứt: sự thiếu ràng buộc và nếu có ràng buộc cũng là không tương xứng giữa quyền hạn quản lý, cấp phép và nghĩa vụ, trách nhiệm giải trình, xử lý vi phạm hay bất cập. Quy trình lấy quyết định thường phức tạp, trải qua nhiều khâu xét duyệt, lấy ý kiến của nhiều Vụ, Cục, Phòng, Ban thuộc Bộ/Sở/UBND trước khi có quyết định do lãnh đạo Bộ/Sở/UBND/Chính phủ ký. Nhưng khi phát hiện sơ hở, khiếm khuyết, thậm chí vi phạm ít nhiều nghiêm trọng thì người ta lại chần chừ trong việc xác định trách nhiệm cá nhân và bộ phận, cấp quản lý nhà nước. Cùng lắm, chỉ có cơ quan nói chung hay cấp lãnh đạo cao nhứt của Bộ phải “giải trình” – thường không tới nơi tới chốn –  trước công luận, còn trách nhiệm cụ thể của cấp tác nghiệp thường bị che phủ hoặc bởi lý cớ là quy trình phức tạp, có nhiều tác nhân tham gia, hoặc bởi sự “im lặng vì lý do tế nhị”. Sự vi phạm trong giáo dục càng được coi là “nhạy cảm”, khó đề cập hay công bố, vì cái bị ngộ nhận là “truyền thống tôn sư trọng đạo” hay các thành kiến khác khẳng định tính “thiêng liêng” của giáo dục và sự “không tương thích” giữa giáo dục và lợi ích tài chánh, càng không tương thích khi đó là lợi ích bất chính.  Nguyên nhân thứ hai: sự thiếu chú trọng đến quản lý tài chánh trong bộ máy quản lý, cũng như trong toàn đội ngũ những người hoạt động giáo dục, kể cả giáo dục ngoài công lập. Sự thiếu chú trọng nầy dẫn đến bất cập kéo dài về nhân lực, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, đặc biệt về kế toán, kiểm toán, kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát tài chánh nói riêng. Lưu ý: kiểm soát chủ yếu là kiểm soát việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chánh, không có nghĩa là người thiếu thông tin, thiếu hiểu biết đều được bình luận vô tội vạ về những dữ kiện họ không có tri thức đầy đủ, cũng không có thẩm quyền và trách nhiệm kiểm tra.  Nguyên nhân thứ ba, là nguyên nhân cơ bản nhứt: quan hệ xin-cho và bản thân cơ chế quản lý tập trung quan liêu triệt tiêu trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, kể cả dạy nghề và cao đẳng, đại học, hay nói gọn hơn, triệt tiêu mọi nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm của họ. Khi các trường bị Bộ và các Ủy ban nhân dân đối xử như trẻ vị thành niên, họ không chủ động trong chiến lược và hành xử của mình, không chọn được cách làm hiệu quả nhứt cho chất lượng và cũng không chịu trách nhiệm về hậu quả, tác hại gây ra, nếu có. Nhà nước bắt đầu nói đến uy tín, độ tin cậy của từng cơ sở giáo dục (thường bị gọi sai và hiểu sai là “thương hiệu”); nhưng thiệt ra, cơ chế quản trị đại học hiện tại chưa cho phép từng trường thực sự quản lý uy tín và độ tin cậy riêng của mình. Sự thiếu minh bạch đầu tiên chính là thiếu minh bạch – bên cạnh những khiếm khuyết, bất cập khác – của các chính sách, quy chế quản lý giáo dục ở nhiều cấp độ. Mọi điều kiện hoạt động bình thường của cơ sở giáo dục phụ thuộc quá nhiều vào thẩm quyền “xét duyệt” và “ban phát” của cấp trên, thì đó là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực phát sinh và phát triển.  Thẩm quyền quản lý tập trung thường xuyên bị sử dụng sai mục đích và trái với điều kiện nhằm đạt hiệu quả phân minh, đồng bộ về chất lượng giáo dục. Khi có sự cố (thường là những vi phạm chuẩn mực gây hại cho cộng đồng), quyền lực tập trung thường thiên về giải pháp tự vệ co thủ, giới hạn quyền tự do hoạt động (dù là hoạt động lành mạnh và hiệu quả) của số lớn các cơ sở chỉ vì sự vi phạm trầm trọng của một số ít cơ sở mà người ta không dám “chỉ mặt đặt tên” vì ngại “bứt dây động rừng”. Điều nầy dẫn đến tệ trạng mà công luận than trách đã nhiều nhưng không thấy có dấu hiệu hay cơ may khắc phục; người ta gọi đó là quy luật “hễ không quản lý được (thực chất là quản lý kém hiệu quả, vì có quyền lực quản lý nhà nước, có chức vụ và hưởng lương để làm việc đó, sao lại gọi là “không quản lý được”?) thì cấm”. Trong lúc cấm hay tạm dừng, vẫn có trường hợp được giải quyết ngoại lệ và người ta rất khó xác định mức độ chính đáng của những ngoại lệ không phải ít, không phải nhỏ.  Tóm lại, thách thức lớn nhứt trong quản trị đại học là trả quyền tự chủ một cách rộng rãi và thực chất về cho các cơ sở giáo dục đại học, không phải theo cách nhỏ giọt từng bước “giao quyền” cho những cơ sở được chọn lọc theo một trật tự ưu tiên với những tiêu chí cũng kém minh bạch và khó thuyết phục. Các cơ sở giáo dục phải được kiểm soát về năng lực thực hiện sứ mạng trước khi cấp phép ra đời và hoạt động. Thẩm định trên hồ sơ, giao hoạt động với quy mô nhỏ trong thời gian thử thách đều là những biện pháp thẩm định, kiểm soát khả thi và hiệu quả nếu người ta tự cho mình đủ ý chí và nhân lực chuyên gia thích hợp để thực hiện, nếu các quy trình nầy có sự minh bạch và nghiêm minh cần thiết. Sau khi được cấp phép, các cơ sở giáo dục, đặc biệt ở các năm cuối phổ thông và ở trình độ sau phổ thông, đều phải có đầy đủ sự tự chủ để có nghĩa vụ giải trình và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình phù hợp với pháp luật. Xây dựng hệ thống pháp luật vừa đủ chặt chẽ để bảo đảm các chuẩn mực vừa đủ cập nhật và linh hoạt để tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của hệ thống giáo dục là điều không quá khó vì có thể tham khảo nhiều kinh nghiệm, cách làm hay của quốc tế.   Cuối cùng, phát triển hợp tác quốc tế (không đồng nghĩa với bê nguyên xi chương trình, đội ngũ, cũng không giản lược là thực hiện các loại công thức 2+2, 3+1, v.v…, hay chỉ tập trung xây mới đại học quốc tế tại Việt Nam), quốc tế hóa giáo dục đại học (không đồng nghĩa với phát triển tùy tiện và thiếu kiểm soát các trường tự xưng quốc tế một cách ít nhiều chính đáng) và nghiên cứu khoa học là những xu thế phát triển tất yếu sẽ mang lại nhiều cơ may tăng cường minh bạch và chất lượng, hiện đại hóa quản trị đại học tại Việt Nam.     2.    Minh bạch tài chánh, thách thức và đề xuất  Các biện pháp gia tăng sự minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chánh trong giáo dục phải phù hợp với sứ mạng của giáo dục, bám sát thực tế hoạt động của các trường trong một môi trường kinh tế-xã hội còn nhiều ô nhiễm.  Như trong báo cáo đề dẫn đã nêu, giáo dục là lãnh vực lớn thứ nhứt hay thứ hai sử dụng ngân sách. Như vậy, chỉ về qui mô, chi tiêu ngân sách cho hiệu quả đã là việc ảnh hưởng lớn đến lợi ích chung. Trong hoàn cảnh Việt Nam, nước nghèo nhưng hiếu học, sự đầu tư chẳng những của nhà nước mà còn của toàn xã hội cho giáo dục là rất lớn và thường là biểu hiện của hy sinh đáng trân trọng từ gia đình và cộng đồng. Do đó, mong mỏi của người dân càng cấp thiết và chính đáng về sự sử dụng hiệu quả nỗ lực đầu tư đó.  Sự thiếu minh bạch mà ai cũng thấy và rất nhiều người là nạn nhân, trước hết là thiếu minh bạch về học phí và chi phí khác cho học tập. Nhiều trường học Việt Nam, nhứt là trường công, còn quá nhiều chi phí thiếu công khai, minh bạch mà phụ huynh phải chi cho giáo dục con em. Bất chấp công luận nhiều lần lên tiếng, cơ quan nhà nước ban hành hết chỉ thị nầy đến nhắc nhở kia, học phí và các chi phí khác phải nộp chính thức cho nhà trường luôn khác biệt, có khi rất xa giữa các cơ sở giáo dục công với nhau, mà không có sự giải trình rõ ràng và thuyết phục. Bên cạnh chi phí nộp chính thức còn vô số những khoản chi không chính thức, chi gián tiếp khác làm mất hẳn ý nghĩa của công bằng cơ hội mà giáo dục công có trách nhiệm bảo đảm như một sứ mạng cơ bản của mình.   Thực trạng nầy trước hết làm khổ số đông các nhà quản lý giáo dục và đội ngũ sư phạm lương thiện của nhà trường, làm mất uy tín ngành giáo dục, tổn thương quan hệ thầy trò, trong khi người hưởng lợi chỉ là một thiểu số mà chưa thấy trường nào, cấp trên nào của trường xác định và truy tố được, trừ vài ngoại lệ hiếm hoi. Sự thiếu minh bạch, nhứt quán cũng làm cho các khoản thu và chi chính đáng cũng kém sức thuyết phục một cách oan uổng. Tất nhiên, nạn nhân đông nhứt là học sinh và gia đình của họ. Vì vậy, tuy phải chi thường là nhiều lần cao hơn cho các trường phổ thông quốc tế, phụ huynh vẫn có cảm giác dễ chịu, yên tâm hơn. Bởi sự thiếu minh bạch tài chánh liên quan đến nhiều sự thiếu minh bạch, thiếu công bằng khác mà không ai muốn con mình là nạn nhân trong thời thơ trẻ của các cháu. Di hại của sự mất lòng tin – và càng về sau, cảm giác hình như ngày càng nhiều cháu không có cả một lòng tin ban đầu để mà mất – vào các giá trị trung thực, lương thiện, công lý, chưa nói đến quan hệ thầy trò, bè bạn, sự ganh đua lành mạnh trong nỗ lực học tập, rèn luyện là rất lớn lao, lâu dài, mức độ tàn phá đối với sự cố kết của cộng đồng và nhân phẩm các công dân tương lai không sao lường hết được!  Các nhà trường cũng là nơi tiêu dùng ngày càng nhiều những sản phẩm, dịch vụ từ xã hội. Họ là khách hàng có nhu cầu tiêu dùng và sức mua ngày càng cao; mà tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và cơ sở pháp lý để các nhà quản lý giáo dục và giáo viên tự bảo vệ mình và bảo vệ lợi ích chính đáng của học sinh, của xã hội không tăng tương ứng với các khoản chi trong ngân sách của họ. Thủ phạm của các vi phạm về tài chánh có thể gồm cả người bên ngoài nhà trường (người cung ứng sản phẩm, dịch vụ; nhưng không loại trừ cơ quan quản lý cấp trên hay những người có vị thế mà nhà trường phải kiêng dè) lẫn người bên trong nhà trường, từ cấp quản lý, giáo viên, nhân viên đến cả một số học sinh có đặc quyền hơn các bạn. Thật không đơn giản cho những người lương thiện muốn giữ sự trong sạch, danh dự của bản thân hay muốn tố cáo tiêu cực, góp phần làm trong sạch môi trường giáo dục, một sự trong sạch cần thiết như không khí người ta thở. Không khí đó bị ô nhiễm thì mọi nỗ lực giáo dục, đào tạo đều có nguy cơ trôi sông đổ biển.   Việc xây dựng cơ sở vật chất ngày càng khang trang, tốn kém, mua sắm những thiết bị ngày càng phức tạp, hiện đại đặt ra thách thức ngày càng cao, nguy cơ kém hiệu quả ngày càng lớn cho các nhà trường. Không có đội ngũ quản lý nào từ các trường phổ thông và nhiều trường đại học có thể tự trang bị đủ tri thức và kinh nghiệm để là người tiêu dùng hiểu biết, khôn ngoan, hiệu quả trong những lãnh vực xa với chuyên môn, nghiệp vụ của mình đến vậy.  Lương thấp và/hoặc không công bằng, hợp lý (ngay trong nội bộ một trường, một bậc học), chế độ đãi ngộ bất cập từ nhà nước, nhà trường tăng thêm nguy cơ, cám dỗ của những “tấn công” từ xã hội mà nhà giáo là nạn nhân trực tiếp, sau đó biến đồng nghiệp, học sinh mình và cộng đồng thành nạn nhân ở cấp số nhân.  Có thể đề xuất gì trước muôn vàn thách thức ấy?  Trước hết, tôi nghĩ cần công khai các dữ liệu, thông tin để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của cơ sở giáo dục, không chỉ là nơi thực thi sứ mạng giáo dục, mà còn là một tổ chức, cần được quản lý chuyên nghiệp, hiệu quả như bất kỳ tổ chức nào khác.   Cần thực sự tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý giáo dục, không chỉ là quản lý sư phạm, mà còn là quản lý tổ chức về nhiều phương diện, quản lý các nguồn lực trong đó có nhân lực và tài chánh. Phải hướng đến phân công, tổ chức lao động thế nào để người thầy, cũng là người lao động, dùng tài sức, tâm trí của mình giáo dục, đào tạo học sinh, đồng thời cũng làm tròn nghĩa vụ đóng góp cho hoạt động của nhà trường, được bảo đảm điều kiện làm việc hiệu quả, nghỉ ngơi hợp lý; đặc biệt quản lý sao cho người thầy cơ hữu thực sự làm việc toàn thời gian, và được trả lương, đãi ngộ xứng đáng, tại một cơ sở giáo dục; chấm dứt tình trạng “chạy sô”, lạm dụng dạy ngoài giờ là những vi phạm nghiêm trọng cả về kỷ luật lao động, cả về đạo đức nghề nghiệp, lẫn sự lương thiện cơ bản nhứt. Tuy nhiên, cần có sự kết hợp hiệu quả giữa quy chế quản lý và sự đề cao lương tâm nghề nghiệp, lòng tự trọng của người làm giáo dục; chớ không dùng biện pháp mệnh lệnh hành chánh thô thiển, thiệt ra hoàn toàn không hiệu quả.  Quản lý tài chánh cùng nhiều mặt quản lý khác (cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, quy trình mua sắm, khấu hao, v.v…) của nhà trường cũng cần tăng tính chuyên nghiệp; thực hiện theo các nguyên tắc quản lý thông thường trong mọi tổ chức. Muốn vậy, cần “phi thiêng liêng hóa” tính đặc thù của cơ sở giáo dục. Nếu quả thật quản lý tài chánh, tài nguyên minh bạch, hiệu quả là quan trọng, thiết yếu trong giáo dục – mà tôi tin mạnh mẽ là như vậy, vì các lý do đã phân tích ở trên – thì càng cần thiết có quy định pháp lý, có đầu tư nhân lực chuyên nghiệp (về quản lý tổ chức) để bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả đó; để xử lý thích đáng, kịp thời các vi phạm bằng quy chế của ngành, pháp luật nhà nước.  Cải tiến quản lý, đổi mới phương pháp dạy, học, thi cử, kiểm tra, xét tuyển, thi tuyển vào cấp học cao hơn theo hướng giảm thiểu rủi ro và chủ quan “ban phát” ơn huệ trong đánh giá và trong quản lý giáo dục nói chung, tăng cường sự chủ động của cấp cơ sở, của người dạy, người học, sự tương tác hiệu quả giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau, giữa người dạy, người học và cộng đồng trong, ngoài nhà trường, trong, ngoài nước Việt Nam đều là những xu thế mới trong giáo dục, chẳng những có lợi ích sư phạm lớn lao, mà còn gia tăng sức mạnh của nhà giáo dục và người học, của cộng đồng trong việc quản lý giáo dục đào tạo một cách minh bạch và hiệu quả, bảo đảm chất lượng đồng bộ với một mức tối thiểu đáp ứng được chuẩn mực phổ quát.          Để tăng cường tính minh bạch, sự lành mạnh, an toàn và hiệu quả quản lý tài chánh nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung, Việt Nam cần phi thiêng liêng hóa nhà trường và nghề dạy học; cần đãi ngộ tốt hơn đội ngũ sư phạm, không bằng lời lẽ tôn vinh sáo rỗng mà bằng cơ chế quản lý bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc thực tế hiệu quả cho nhà giáo dục, trước hết là bằng cách tăng thu nhập thực tế của nhà giáo và sửa đổi những cơ chế đang gây tổn hại nặng nề đến uy tín và lòng tự trọng nghề nghiệp của họ.         Việc tự động hóa quản lý hệ thống thông tin cũng là giải pháp kỹ thuật, tuy không đủ, nhưng hữu dụng, nhằm bảo đảm tính nhứt quán và tạo thuận lợi cho kiểm tra, kiểm soát, trước hết là kiểm soát nội bộ. Kiểm định chất lượng giáo dục, nhứt là theo chuẩn mực quốc tế và được thực hiện bởi cơ quan kiểm định độc lập cũng là những giải pháp có lợi về nhiều mặt cho minh bạch và chất lượng.  Xã hội và các nhà trường cũng cần có cơ chế công khai khuyến khích toàn thể thành viên trong và ngoài tổ chức giáo dục – bao gồm người học và cộng đồng xã hội – góp phần vào tính minh bạch, lành mạnh, trong sạch và chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục. Các cơ chế nầy cần được xây dựng và không ngừng hoàn thiện trên cơ sở học tập các cách làm hay (best practices) của quốc tế.  Tóm lại, để tăng cường tính minh bạch, sự lành mạnh, an toàn và hiệu quả quản lý tài chánh nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung, Việt Nam cần phi thiêng liêng hóa nhà trường và nghề dạy học; cần đãi ngộ tốt hơn đội ngũ sư phạm, không bằng lời lẽ tôn vinh sáo rỗng mà bằng cơ chế quản lý bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc thực tế hiệu quả cho nhà giáo dục, trước hết là bằng cách tăng thu nhập thực tế của nhà giáo và sửa đổi những cơ chế đang gây tổn hại nặng nề đến uy tín và lòng tự trọng nghề nghiệp của họ.   Những người chống tiêu cực trong ngành giáo dục – từ nhà quản lý từ chối bẻ cong quy định để được lòng cấp trên hay đồng nghiệp, học sinh; tới nhà giáo (bao gồm người thầy và nhân viên làm các công tác quản lý đào tạo, quản lý khác) kiên quyết bảo vệ công bằng trong đánh giá học sinh, lương thiện trong sử dụng mọi nguồn tài nguyên (kể cả thời lượng và chất lượng lao động theo nghĩa vụ, ràng buộc do hợp đồng lao động) của tổ chức; người học từ chối quay cóp, ăn gian, mua điểm số, văn bằng bằng tiền hay bằng lợi ích khác được cung cấp bất lương cho những người có quyền “ban phát” trong tổ chức giáo dục – tất cả những nỗ lực phù hợp đạo làm người và có trách nhiệm công dân đó phải được khuyến khích và tưởng thưởng, chí ít là bằng cơ chế bảo đảm an toàn và lợi ích xứng đáng cho họ. Và đương nhiên, những vi phạm phải bị xử phạt nghiêm minh, tương xứng.  Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong giáo dục, chống tham nhũng, lãng phí, bất lương trong lãnh vực hoạt động rất quan trọng nầy là cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, gian khó. Nhưng tôi tin là nó xứng đáng cho chúng ta dành tâm sức, thời gian, trí tuệ để tìm ra và thực hiện những biện pháp hữu hiệu. Vì để kéo dài tình trạng như hiện nay, thì tác hại đã, đang, sẽ vô cùng lớn lao và nghiêm trọng, không chỉ riêng đối với chất lượng của giáo dục.  ———————  *Tham luận tại Hội thảo “Tham nhũng và ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục Việt Nam Làm thế nào nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình?”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số yêu cầu đối với hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học      Khi đặt mục ti&#234;u trong hợp t&#225;c quốc tế l&#224; đưa chất lượng một trường đại học của Việt Nam l&#234;n đẳng cấp quốc tế th&#236; việc hợp t&#225;c kh&#244;ng thể t&#249;y tiện, phải &#8220;chọn bạn m&#224; chơi&#8221;. T&#244;i xin đề xuất một số y&#234;u cầu đối với việc hợp t&#225;c quốc tế như sau.    1. Phải đảm bảo sự bình đẳng tối thiểu về mặt khoa học trong hợp tác quốc tế.Không thể hợp tác theo kiểu “ta có mặt bằng còn bạn đầu tư máy móc, công nghệ”. Cần xác định rằng việc hợp tác quốc tế là để nâng cao chất lượng, trình độ của giáo viên để thông qua đó nâng cao chất lượng sinh viên. Để có thể thật sự thành công trong hợp tác quốc tế một trường đại học của ta phải đủ khả năng đào tạo bậc cử nhân theo đúng nghĩa của điều này, cũng như ít nhất là một phần của chương trình đào tạo cao học và nghiên cứu sinh. Để đảm bảo chất lượng phải có một chương trình giảng dạy, đánh giá theo tiêu chí quốc tế. Vấn đề đầu vào thực ra không phải quá quan trọng, đầu ra mới đóng vai trò then chốt. Phải có một quá trình sàng lọc khắt khe, thi cử nghiêm túc để đảm bảo được chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Đây là một dilemma. Với tâm lý trọng bằng cấp hơn kiến thức của người Việt thì một trường đại học mà chỉ có 50% số sinh viên tốt nghiệp trên tổng số sinh viên nhập học (một tỷ lệ phổ biến tại các nước tiên tiến) rõ ràng sẽ không lôi kéo được sinh viên vào học. Nhưng không giải quyết được điều này thì bài toán chất lượng của trường sẽ không bao giờ được giải quyết. Có thể học tập kinh nghiệm của các trường đại học ở Mỹ. Nếu so với Tây Âu thì có lẽ đầu vào họ kém hơn vì chất lượng phổ thông của Mỹ thấp hơn. Để giải quyết vấn đề trình độ đầu vào các trường ở Mỹ thường có các khóa chuẩn bị, về cơ bản là dạy lại chương trình phổ thông cho các sinh viên mới nhập trường còn bị yếu về kiến thức. Phương thức này cũng đang bắt đầu được các nước châu Âu học tập.Tại các trường đại học lớn, những bài giảng chính cho các sinh viên năm đầu luôn được thực hiện bởi những giáo sư giỏi nhất của trường. Ngoài kiến thức uyên thâm, những kinh nghiệm nghiên cứu hoặc hợp tác với các đối tác ngoài trường của họ còn là những động lực quan trọng cho sự say mê học tập của sinh viên. Đối với các trường trong nước hiện nay, điều này còn chưa khả thi. Mặt khác việc mời các giáo sư nước ngoài có đủ cả uy tín lẫn nhiệt tình về làm việc dài hạn ở Việt Nam để tham gia vào việc giảng dạy sinh viên lại càng không khả thi. Chính vì vậy trường phải có chương trình đặc biệt để lôi kéo các nhà khoa học trẻ xuất sắc của Việt Nam về làm việc và thông qua việc hợp tác nghiên cứu với đối tác nước ngoài tạo điều kiện để họ trở thành các giáo sư nòng cốt của trường.2. Hợp tác trong nghiên cứu khoa học phải đóng vai trò then chốt trong toàn bộ chương trình hợp tác           Để một trường đại học có thể đạt được “đẳng cấp quốc tế” trước tiên nó phải được tổ chức theo mô hình của các trường đã có “đẳng cấp” cụ thể là mô hình liên thông giữa đào tạo và nghiên cứu, có quy chế tuyển chọn giáo sư theo thông lệ quốc tế. Các giáo sư phải được tin tưởng, tôn trọng, được tạo điều kiện cao nhất để làm việc và có tiếng nói quyết định trong các chiến lược giáo dục và đào tạo của trường.          Nếu nhìn việc có được một trường đại học “đẳng cấp quốc tế” như là thu hoạch được những quả ngọt thì bước đầu tiên chúng ta phải trồng cây và sau đó là sử dụng các biện pháp chăm bón để tới ngày có quả ngọt. Việc “chăm bón” cho một trường đại học không gì khác ngoài việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy mà điểm mấu chốt là thông qua việc nghiên cứu khoa học. “Nghiên cứu khoa học” ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng để phân biệt với giảng dạy, tương tự như phân biệt giữa học và hành. Đối với các lĩnh vực cơ bản như Toán, Lý,… nghiên cứu khoa học có thể là những nghiên cứu cơ bản. Những giảng viên có nghiên cứu sẽ có những bài giảng cho sinh viên lý thú hơn nhiều so với những người chỉ thuần túy dạy lại những kiến thức mà họ đã được học, cho dù họ có được bồi dưỡng bao nhiêu đi nữa những kiến thức sư phạm. Đối với những lĩnh vực kỹ thuật nghiên cứu khoa học cũng có thể là những nghiên cứu ứng dụng, hợp tác với doanh nghiệp. Những kinh nghiệm thực tế của giảng viên sẽ rất có giá trị cho các bài giảng của họ…Chính nghiên cứu khoa học là lĩnh vực mà các trường đại học muốn nâng cao chất lượng cần sự hợp tác quốc tế nhất. Trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thực lực của chúng ta còn quá kém và phải nói rằng “không thầy đố mày làm nên”. Các chương trình trao đổi nghiên cứu với một vài trường đại học có chất lượng ở nước ngoài, trước tiên là đảm bảo điều kiện nghiên cứu ở tầm quốc tế cho các giảng viên trong trường, giúp họ tiếp tục vươn lên trong khoa học, mặt khác chỉ với các chương trình đó mới đảm bảo được chất lượng đào tạo cao học và nghiên cứu sinh của trường.“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ngay một cây lúa chúng ta cũng không ép nó lớn nhanh quá được. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo là lâu dài. Tư duy “đi tắt đón đầu” chắc chắn sẽ chỉ làm hại cho sự nghiệp này.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thế hệ tỉnh thức      COVID-19 và cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu này hoàn toàn có thể giúp chúng ta hy vọng một “thế hệ tỉnh thức” sẽ được sinh ra!      Chúng ta không nên quên rằng đến năm 2025, thế hệ Y dự kiến sẽ chiếm 75% nhân công lao động toàn cầu, và thế hệ Z dự kiến chiếm 27%.    Có một thế hệ mang tên “COVID-19”?     Khi COVID ập tới, người già và người trẻ là hai nhóm tuổi chịu nhiều tổn thất nhất: với người già là sức khỏe và sinh mạng, với người trẻ là điều kiện sống, cả vật chất lẫn tinh thần.    Thất nghiệp và thiếu thốn vật chất đã trở thành những hệ quả nhãn tiền mà giới trẻ phải gánh chịu khi các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra từ nhiều năm nay, ngay tại các quốc gia phát triển. Đơn cử như tại Pháp, trong quý 3 năm 2020, tỉ lệ thất nghiệp của lứa tuổi 15-24 lên đến 21,8% so với 9% toàn dân số (INSEE). Ở trong toàn khối OECD, 1 trên 8 thanh niên trong độ tuổi 15 – 29 không có việc làm, thậm chí vào đỉnh điểm của dịch COVID, tỉ lệ này còn lên tới 1 trên 5 người.    Tuy nhiên, những hệ lụy về tinh thần mới thực sự là điều chưa từng có tiền lệ mà giới trẻ phải hứng chịu. Khi đại dịch đổ ập đến thì: vừa nhập học đã phải ngưng, thực tập bị hủy, đi tìm việc bị hoãn, đi làm thêm chấm dứt, hội hè dẹp sang bên, thổ lộ tình yêu chuyển lên màn hình… Những yếu tố này tác động đến điều kiện sống, học hành và làm việc, làm gia tăng bất bình đẳng, ảnh hưởng xấu tâm lý và sức khỏe tinh thần. Theo nghiên cứu Youth and COVID-19: Response, recovery and resilience (OECD, 6/2020), 55% thanh niên nhóm tuổi 15-29 lo lắng cho sức khỏe tinh thần, mối bận tâm này còn quan trọng hơn cả việc học hành và công việc. Thống kê vào tháng 3/2021 cho thấy, người trẻ các nước Mỹ, Pháp hay Bỉ rơi vào trạng thái trầm cảm hay lo âu lớn hơn 30% đến 80% so với người lớn tuổi.    Lẽ thường, gia vị làm nên tuổi trẻ là những dự phóng vào tương lai, là tương tác với xã hội, là thoát dần khỏi vòng tay bảo bọc của gia đình. Thế nhưng, đại dịch khiến thanh niên hết tiền bỏ nhà thuê về ở với cha mẹ (một chiếc vé “bắt ép” quay về tuổi thơ), khiến họ không được giao tiếp với xã hội nơi tạo ra các mối quan hệ và cơ hội nghề nghiệp. Cảm thức rằng tuổi trẻ là những “năm tháng đẹp nhất của cuộc đời” bị che phủ vì cảm giác hạnh phúc giảm đi, mà căng thẳng, lo âu, trầm cảm tăng lên, đời sống tình cảm (bạn bè và yêu đương) bị đảo lộn hay tan vỡ.  Định nghĩa “tuổi trẻ” của ba nhà xã hội học:  Theo Edgar Morin, tuổi trẻ là một hiện tượng văn hóa, cùng với sự xuất hiện của «văn hóa trẻ». Pierre Bourdieu nhận định giới trẻ chỉ là một khái niệm chứ không phải là một tầng lớp xã hội vì nó bị chia rẽ sâu sắc bởi nguồn gốc xã hội. Olivier Galland coi tuổi trẻ như một giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ thơ và người lớn đi qua những cột mốc: đi làm, ở riêng, lập gia đình. Nhưng ngày nay, giai đoạn chuyển tiếp này ngày càng dài ra và các cột mốc trở nên mờ nhạt đi.     Từ Thế hệ “COVID” đến Thế hệ “Khí hậu”     “Bấp bênh, bất ổn, vô định” là những từ chúng ta mô tả về thế hệ trẻ ngày nay. Đa số hoài nghi và mất lòng tin vào chính quyền và chính trị. Gần 80% người trẻ ở Tây Ban Nha, Mỹ và Anh, 60% ở Pháp, 42% ở Đức cho rằng các chính phủ hoàn toàn không làm chủ được đại dịch COVID-19 (Ipsos Mori Survey, 10/2020). Không đi bầu cử hay bỏ phiếu trắng là cách họ biểu đạt chính kiến với công quyền. Niềm tin vào nền dân chủ giảm sút, từ 50% vào năm 2016 xuống 35% vào 2020 (Financial Times).    Ở hầu hết mọi quốc gia, chưa khi nào trình độ học vấn và bằng cấp của thế hệ trẻ ngày nay lại cao đến vậy so với các thế hệ trước. Nếu như các phương thức lên tiếng hay tham gia chính trị không còn thông qua các kênh “truyền thống”, như bầu cử, gia nhập đảng hay công đoàn, thì điều này không có nghĩa là thanh niên thờ ơ với chính trị. Không chỉ có vậy, họ còn quan tâm đến những vấn đề xã hội như bình đẳng giới, chống kỳ thị đồng tính, chủng tộc, bảo vệ những nhóm yếu thế…    Người trẻ không đi bầu cử nhưng họ vẫn dấn thân! Dường như “Thế hệ COVID” cũng chính là “Thế hệ Khí hậu”. Bị kẹp trong một viễn cảnh hành tinh kiệt quệ dần nguồn tài nguyên, bị giam trong một đời sống thường nhật cấm túc, người trẻ càng có ý thức dấn thân bảo vệ môi trường. Các bạn trẻ ưu tiên những hành động cùng và trong cộng đồng, hướng đến những cái cụ thể và trực tiếp. Các sáng kiến tương trợ lẫn nhau, giữa các thế hệ, xuất hiện ở rất nhiều quốc gia Á, Âu, Mỹ: chống bạo lực gia đình, trao đổi thư từ giữa thiếu niên với người cao tuổi, phụ đạo online, dịch vụ tư vấn tâm lý cho phụ nữ, cho thanh niên và được làm bởi thanh niên, quyên góp và phân phối thực phẩm… Với công cụ là mạng xã hội, họ truyền tải một thông điệp, tụ hội một cộng đồng cùng chia sẻ hệ giá trị. Và hơn thế, các sáng kiến, hành động cũng là hành trình kiếm tìm ý nghĩa cuộc đời cho chính họ.    Gìn giữ môi trường và bảo vệ môi sinh vừa là phương cách người trẻ tự thử thách mình trước thời cuộc vừa là phương tiện họ đang tìm cách đối thoại, chất vấn với các chính thể. Khi đã quyết định hành động, họ sẽ hành động cho bản thân, cho người khác và cho tương lai. Đây là một thế hệ biết gây tác động, biết sáng tạo ra những không gian chính trị mới, đặt thách thức khí hậu lên bàn cờ chính trị quốc tế, đang đảo lộn phương thức tư duy và tiêu thụ, hướng đến phát triển bền vững. Giới trẻ này mang sức lan tỏa!     Đừng gọi chúng tôi là “thế hệ hiến sinh”     “Thế hệ COVID-19 không phải là thế hệ hiến sinh mà là một thế hệ dấn thân hết mình, đoàn kết, táo bạo, dám nghĩ dám làm và dũng cảm”. (Léna Van Nieuwenhuyse, sinh viên, chủ tịch Pass’Politique và tác giả cuốn sách Génération Engagée).    Cuộc điều tra về giới trẻ thuộc nhiều quốc gia do Vice Media Group thực hiện năm 2020 sau đây đem lại nhiều tín hiệu tích cực. 62% thanh niên thuộc khối EMEA (châu Âu, Phi và Trung Đông) lo lắng cho người thân mắc COVID hơn là cho chính họ (chỉ chiếm 25%). 57% nghĩ rằng “coronavirus đem lại những tác động tích cực về lâu dài cho xã hội”. Và nhiều người tìm thấy những điều tích cực trong cơn khủng hoảng y tế như “có những ý tưởng mới”, “tạm ngưng để suy nghĩ”, “cơ hội để làm lại từ đầu”… 49% tập trung phát triển bản thân, làm những việc mang tính sáng tạo trong thời gian cấm túc. 41% cho rằng việc cảm thấy mình có ích cho hôm nay và tương lai đem lại sự trấn an tinh thần.      Dường như “Thế hệ COVID” cũng chính là “Thế hệ Khí hậu”. Bị kẹp trong một viễn cảnh hành tinh kiệt quệ dần nguồn tài nguyên, bị giam trong một đời sống thường nhật cấm túc, người trẻ càng có ý thức dấn thân bảo vệ môi trường.      Thế hệ trẻ này hoàn toàn ý thức rằng mọi thứ sẽ không tốt đẹp hơn mà phải dự đoán các hệ quả xấu và tìm thấy những tín hiệu tốt nảy sinh. Các thế hệ Y (1981-giữa thập niên 1990), Z (giữa thập niên 1990 đến những năm đầu thập niên 2010) đã kêu gọi những thay đổi đến từ thượng tầng từ nhiều năm nay. Các thiết chế và chính thể phải lắng nghe họ và tiến hành những thay đổi cùng với họ. Hãy chỉ cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp đỡ các bạn trẻ và cùng nhau tìm ra các giải pháp. Chúng ta không nên quên rằng đến năm 2025, thế hệ Y dự kiến sẽ chiếm 75% nhân công lao động toàn cầu (The Deloitte Millennial Survey, 2014) và thế hệ Z dự kiến là 27% (McCrindle Research, 2019).    Ít may mắn hơn thế hệ Baby Boomer, sinh thời hậu chiến, được hưởng thành quả kinh tế, thế hệ trẻ ngày nay, trong nhiều năm qua, đã chứng tỏ được sức bền và sức bật trong một tinh thần lạc quan và vì cộng đồng.□    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Một ước vọng giáo dục hiện đại      Bài viết của GS. Alain Fenet về bản báo cáo “Sách giáo khoa như là một ước nguyện hiện đại hóa nền giáo dục của Việt Nam” của nhóm Cánh Buồm.    Các bộ sách giáo khoa chính là phương tiện đầu tiên được nhóm Cánh Buồm dùng cho ví dụ cụ thể trực quan nói trên “nhằm mục đích giải thích cho toàn xã hội hiểu được cơ sở lý luận của nguyên tắc hiện đại hóa giáo dục”.  Trong hoàn cảnh hiện nay, tôi thấy cách tiếp cận này là đúng đắn, bởi vì:  – Các bộ sách giáo khoa của Cánh Buồm sẽ là một công cụ hỗ trợ cụ thể để truyền bá trong xã hội một tư tưởng giáo dục mà nhiều người còn chưa quen;  – Các bộ sách giáo khoa của Cánh buồm sẽ cung cấp cho những giáo viên đang đứng lớp những hiểu biết giúp họ buộc phải thay đổi trước yêu cầu về “một nhà trường hiện đại hóa” và đồng thời giúp họ suy nghĩ về những thành tựu có thật của xu hướng cải cách sư phạm trên thế giới và ở Việt Nam;  – Các bộ sách giáo khoa của Cánh Buồm sẽ là một cách để báo cáo với những người có trách nhiệm của đất nước về công việc hiện nay nhóm đang làm.  Vấn đề giải pháp đổi mới giáo dục bằng giảm tải chương trình học (trang 8)  Giải pháp giảm tải chương trình đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đưa ra chỉ là một cái mẹo tung con chim mồi để nhử. Nhiều nước đã từng thử làm cách này thì đều thất bại. Hoàn toàn có thể gọi đây là một cách làm dễ dãi quan liêu của những con người không có trí tưởng tượng, mặc dù điều này không có nghĩa là không thể đặt ra vấn đề giảm tải chương trình theo một cách thức hợp lý. Nhưng có một điều chắc chắn là không thể giải quyết được khủng hoảng giáo dục bằng cách giảm tải chương trình học. Vấn đề không nằm ở định lượng, mà nằm ở định chất. Định giải quyết khủng hoảng giáo dục bằng giảm tải chương trình học thực ra chỉ là một cách không dám đối mặt với khủng hoảng.          Nhưng có một điều chắc chắn là không thể  giải quyết được khủng hoảng giáo dục bằng cách giảm tải chương trình  học. Vấn đề không nằm ở định  lượng, mà nằm ở định chất. Định giải quyết  khủng hoảng giáo dục bằng giảm tải chương trình học thực ra chỉ là một  cách không dám đối mặt với khủng hoảng.        Ước nguyện của Cánh Buồm là hiện đại nền giáo dục bằng những thành quả của khoa học giáo dục đặt trọng tâm vào trẻ em chứ không phải người thầy.  Cách tiếp cận này tự nó đã đòi hỏi phải mang tính khoa học, phải được dựa trên những nghiên cứu tâm lý học, và cụ thể hơn là những nghiên cứu để “tìm ra những thao tác học của người học” (trang 13. Tự đặt mình vào trong khuôn khổ của xu hướng cải cách sư phạm ở cuối thế kỷ 19, Cánh Buồm đặt tên đường lối cải cách của họ bằng khái niệm “công nghệ giáo dục”. Quan niệm này chắc chắn đã được giới chuyên môn thừa nhận, tuy nhiên tôi thấy nó vẫn còn khó hiểu đối với những ai không có chuyên môn, chẳng hạn như bản chất của phương pháp sư phạm của công nghệ giáo dục là tự học, giáo viên hầu như không can thiệp và chỉ đóng vai trò người tổ chức các hoạt động tự học của học sinh, quá trình học phải là quá trình tự do và trách nhiệm.  Vấn đề hiệu lực pháp lý của sách giáo khoa (trang 16)  Quy định tính pháp lý cho sách giáo khoa tức là trao cho sách giáo khoa của Nhà nước một tính chất ràng buộc pháp lý, điều này bắt nguồn từ một tầm nhìn độc đoán về vai trò của Nhà nước trong hệ thống giáo dục. Quy định này có thể hiểu được vì nhiều lý do khác nhau khi mà đất nước ở trong thời kỳ mới bắt đầu xây dựng một nền giáo dục công lập, song nó hoàn toàn không đáp ứng được những yêu cầu của các xã hội hiện đại ở thế kỷ 21. Sách giáo khoa dùng trong nhà trường chỉ có thể đáp ứng được yêu cầu của xã hội ở thế kỷ 21 bằng cách Nhà nước cho phép sự đa dạng hóa hoạt động sư phạm, cho phép sự sáng tạo của các tác giả làm sách giáo khoa, cho phép quyền tự do của người thầy trong lớp học, cho phép sự đa dạng của trẻ em.  Để bù lại, Nhà nước hoàn toàn có lý do chính đáng khi muốn áp đặt một chương trình học khung dành cho các trường công lập, chương trình đó có thể được xây dựng dựa trên sự đóng góp của nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau cung cấp cho người giáo viên.  Sách giáo khoa do Cánh Buồm biên soạn là “kết quả người dạy và người học cùng làm ra trong tiết học” (trang 19)  Quan niệm này nằm trong những nguyên tắc và mục tiêu của các nhà sư phạm hiện đại được nhóm Cánh Buồm tiếp thu. Theo tôi hiểu thì điều được rút ra có liên quan rõ rệt hơn tới hai vấn đề: sự tham gia của người dạy và việc xây dựng chương trình học.  Phương pháp của Cánh Buồm đòi hỏi rất nhiều sự tham gia của người dạy. Phương pháp này đòi hỏi người dạy phải có sự tập trung, linh hoạt, sáng tạo; người dạy không được phép làm việc theo thói quen xói mòn; người dạy phải có sức chịu đựng lớn. Người dạy phải hiểu được quan niệm rằng dạy học không phải là một nghề như bao nghề khác mà dạy học là một sứ mệnh thiêng liêng.  Chủ trương sư phạm và sách giáo khoa của nhóm Cánh Buồm liệu có cho phép xây dựng được một chương trình học chính thức? Phương pháp sư phạm và sách giáo khoa của Cánh Buồm liệu có đảm bảo sự cân bằng giữa học để có những năng lực và học để có kiến thức ? Những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục có thể có lý do chính đáng để đặt câu hỏi này. Để trả lời câu hỏi này một cách thỏa đáng thì dĩ nhiên phải thông qua một cơ chế kiểm chứng cụ thể.  Nhìn vào các bộ sách giáo khoa của nhiều môn học của Cánh Buồm thì có thể thấy nhóm Cánh Buồm đã có sự sáng tạo và tuân thủ phương pháp nghiêm ngặt. Những lý luận liên quan và những khó khăn trở ngại cụ thể phải được nêu tùy theo tình hình cụ thể diễn ra.  Môn học “Lối sống”   Cần nêu bật công lao của nhóm Cánh Buồm đối với môn học này. Nhà trường cổ truyền, và ngay cả nhà trường của ngày hôm nay nữa, hầu như cố tình né tránh môn học này. Dạy lối sống tức là dạy cho trẻ em trưởng thành như là những cá nhân tự chủ và có trách nhiệm để chúng biết cách sống hòa hợp trong thế giới hiện đại. Dường như trong đầu tôi bỗng nảy ra suy nghĩ trùng hợp với quan niệm mà Cánh Buồm muốn nhấn mạnh ấy là sự lúng túng của trẻ em khi bắt đầu đến trường (trang 55): lúng túng trước rất nhiều những khuôn mẫu khác nhau và mâu thuẫn với nhau trong thế giới của người lớn, lúng túng trước khoảng cách vênh nhau giữa [một bên là] những chuẩn mực đạo đức hay chuẩn mực công dân và [một bên là] những cách ứng xử thực tế mà chúng chứng kiến hằng ngày. Giáo dục trẻ em tức là cho phép trẻ em xác định được bản thân mình dựa trên nền tảng của những giá trị phổ quát.  Tôi muốn nêu một điểm nữa, nó không được đề cập trực tiếp trong bản báo cáo: vai trò quan trọng của người thầy dạy giỏi đối với sự phát triển của trẻ em. Ai trong chúng ta cũng đều có kỷ niệm về một người thầy nào đó để lại dấu ấn đặc biệt, được ngưỡng mộ, thậm chí được yêu. Chẳng phải chúng ta vẫn hay hỏi trẻ em là “các em có yêu thầy cô không”? Có sinh viên nào, có học trò nào lại chẳng trải qua sự mong muốn làm vui lòng thầy cô của chúng cơ chứ?  Vấn đề “đào tạo sư phạm” được trình bày trong bản báo cáo (trang 33) không cho biết về những điểm được nêu ở trên.  Phạm Anh Tuấn dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mừng hay lo?      Mới đây, Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam đã công bố báo cáo đầu tiên của mình. Nhân sự kiện này, TS Phạm Thị Ly có bài viết phân tích mức độ tin cậy của báo cáo – vấn đề được người sử dụng quan tâm hàng đầu – từ góc độ xây dựng tiêu chí, trọng số và chất lượng dữ liệu.      TS Phạm Thị Ly phát biểu tại tọa đàm công bố báo cáo “Một cách xếp hạng đại học Việt Nam”, Hà Nội, 6/9/2017. Ảnh: Thu Quỳnh.  Sinh viên và phụ huynh, đối tượng chính mà các bảng xếp hạng đại học trên thế giới nhắm tới, là những người ít quan tâm chú ý tới phương pháp và tiêu chí xếp hạng, mà chỉ nhìn vào thứ hạng cao thấp của trường này hay trường khác, và mặc định là trường nào có thứ hạng cao hơn tức là tốt hơn, bất chấp một sự thật là ngay cả những trường tốt nhất thế giới cũng không thể tốt nhất về tất cả mọi mặt.  Chính vì thế, từ lâu, các bảng xếp hạng đã đi khá xa khỏi mục tiêu ban đầu của nó là cung cấp thông tin cho người học, chủ yếu trở thành một phương tiện tiếp thị để thu hút người học và các nguồn đầu tư hay tài trợ.  Khi giáo dục thực sự trở thành một thị trường, thì tiếp thị cũng là điều bình thường, không phải cái gì xấu xa đáng chê trách. Tuy vậy, vấn đề là, đạo đức kinh doanh đòi hỏi chúng ta chỉ có thể quảng cáo cho những giá trị mà mình thực sự có. Như thế nghĩa là, có ba vấn đề đặt ra với các bảng xếp hạng: (1) Thứ hạng trong các bảng xếp hạng phản ánh đúng đến mức độ nào chất lượng hoạt động của nhà trường; (2) Chúng ta phải diễn giải ý nghĩa các kết quả ấy như thế nào cho đúng?; và cuối cùng (3) các bảng xếp hạng đem lại tác động, ý nghĩa gì cho xã hội nói chung và người học nói riêng.  ĐÁNG TIN CẬY TỚI MỨC ĐỘ NÀO?  Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xác định rõ, các bảng xếp hạng dự định đo cái gì, bằng cách nào, dựa trên nguồn dữ liệu từ đâu và có chất lượng như thế nào. Nói cách khác, tính khả tín của nó phụ thuộc vào tiêu chí xếp hạng, phương pháp thu thập xử lý dữ liệu, và chất lượng nguồn dữ liệu.  Về các tiêu chí xếp hạng  Trên thế giới, mỗi bảng xếp hạng có một bộ tiêu chí khác nhau, các tiêu chí và thước đo của mỗi bảng cũng không ngừng được thay đổi, cải thiện từ năm này qua năm khác. Các tiêu chí phổ biến là thành tích nghiên cứu khoa học (đo bằng giải Nobel/Fields, số bài báo khoa học có bình duyệt trong danh mục ISI/Scopus/ số trích dẫn tính trên đầu giảng viên, số bằng sáng chế…); kết quả/chất lượng đào tạo (số giảng viên có bằng tiến sĩ, số nghiên cứu sinh hay bằng tiến sĩ đã cấp hằng năm); mức độ quốc tế hóa (số sinh viên/giảng viên nước ngoài,v.v.), hoặc tiêu chí chung nhất là uy tín của nhà trường (đánh giá qua ý kiến của người trong ngành). Những tiêu chí này phản ánh hai nhiệm vụ truyền thống của nhà trường là nghiên cứu và đào tạo.Thực ra, nhiệm vụ thứ ba của nhà trường là phục vụ cộng đồng đang ngày càng được nhấn mạnh, nhưng đã rất ít được đề cập đến trong các bảng xếp hạng. Lý do có thể là vì nó không dễ đo lường.  Đã có vô số bài viết chỉ ra những bất cập trong các tiêu chí nói trên, bao gồm việc nó áp dụng một thước đo chung cho các trường ĐH vốn cực kỳ đa dạng về trọng tâm sứ mạng, vì thế không thể hiện được những thành tựu quan trọng khác của nhà trường nếu những thành tựu đó không được nêu ra và tính đếm qua các tiêu chí xếp hạng. Ví dụ tỉ lệ sinh viên có việc làm, mức lương bình quân của sinh viên sau khi ra trường ba năm, những đóng góp của nhà trường trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động kinh tế của địa phương và trong việc phát triển xã hội, v.v. Vì thế, khi chạy theo một số tiêu chí được chú trọng trong các bảng xếp hạng, các trường sẽ xao nhãng những sứ mệnh quan trọng khác, trở thành đồng phục, làm mất đi sự đa dạng vốn là bản chất và sức mạnh của hệ thống đại học.  Bảng xếp hạng 49 trường Việt Nam đã đề xuất ba nhóm tiêu chí, bao gồm nghiên cứu khoa học; chất lượng giảng dạy, đào tạo; và cơ sở vật chất và quản trị[1] – nhìn chung đều là những tiêu chí “truyền thống”, “cổ điển” của các bảng xếp hạng trên thế giới.  Bên cạnh đó, lại xuất hiện hai tiêu chí mới không thấy trong các bảng xếp hạng quốc tế là điểm đầu vào của sinh viên, và chỉ số minh bạch trong quản trị nhà trường. Đây là hai tiêu chí rất “đặc thù Việt Nam”.  Điểm đầu vào của sinh viên, về nguyên tắc, thể hiện mức độ cạnh tranh để vào trường, và nói lên uy tín, chất lượng đào tạo của trường. Điểm đầu vào cao sẽ góp phần quan trọng trong chất lượng đầu ra. Tiêu chí này xem ra có vẻ rất hợp lý.  Đáng tiếc là điều này không hoàn toàn đúng ở Việt Nam. Ai cũng biết điểm chuẩn 30,5/30 để vào trường an ninh/quân đội trong năm qua và điều này chỉ thể hiện “mức độ đáng mơ ước” chứ không thể hiện chất lượng đào tạo của trường. Nhận xét này dựa trên cách hiểu về “chất lượng đào tạo” như là năng lực sáng tạo đổi mới và khởi nghiệp, kỹ năng học tập suốt đời, phẩm chất công dân và khả năng đóng góp cho xã hội.  Chỉ số minh bạch là điều đáng lưu ý. Về nguyên tắc, chỉ số minh bạch có thể là một biểu hiện của quản trị tốt, dù không phải là tất cả. Tuy nhiên, vấn đề là chỉ số minh bạch của các trường đã được đo bằng cách nào. Theo nhóm tác giả cho biết, chỉ số minh bạch này dựa trên một kết quả nghiên cứu trước đó của Ngân hàng Thế giới, đo bằng mức độ đáp ứng của trường với các quy định của nhà nước về những thông tin phải được nêu công khai. Trong bối cảnh Việt Nam, nếu có thể minh bạch được cách đo minh bạch để thúc đẩy sự minh bạch thì đó là điều đáng khích lệ. Tuy vậy, tiếc là thước đo minh bạch như đã nói trên còn khá thô sơ, vì nó không đo được sự khả tín của những thông tin được nêu công khai. Cũng cần lưu ý là minh bạch chỉ là một yếu tố trong chất lượng quản trị. Yếu tố cốt lõi trong chất lượng quản trị là cơ cấu trao quyền và sự tham gia của các bên khác nhau trong quá trình ra quyết định.  Vấn đề trọng số  Trọng số cho các tiêu chí là cách làm phổ biến và truyền thống của các bảng xếp hạng trên thế giới. Tuy vậy, do bị phản đối dữ dội nên các bảng xếp hạng ra đời sau này ít dùng tới trọng số để xếp hạng chung. Trọng số thể hiện mức độ nhấn mạnh của chúng ta đối với một số yếu tố được xem là cốt lõi tạo ra chất lượng hoạt động của trường. Ví dụ như xếp hạng của ĐH Giao thông Thượng Hải nhấn mạnh nghiên cứu, còn Times Higher Education thì nhấn mạnh vào uy tín chung của trường.  Trọng số bị phản đối là vì nó chủ quan và tạo ra một khuôn mẫu đồng nhất cho các trường có sứ mệnh khác nhau. Ai cũng biết nghiên cứu là chức năng, vai trò, nhiệm vụ cốt lõi của trường ĐH, nhưng nếu một hệ thống ĐH chỉ gồm các trường nghiên cứu và chỉ đào tạo ra những người nghiên cứu chuyên nghiệp, thì rõ ràng là hệ thống đó không đáp ứng được nhu cầu vốn đa dạng hơn nhiều của cuộc sống. Chúng ta không chỉ cần những người tìm kiếm tri thức mới, mà còn cần những người biến kiến thức đó thành những sản phẩm, hoạt động, dịch vụ đa dạng của đời sống, những người thực thi nghề nghiệp một cách thành thạo.  Vì thế, nếu trọng số được ấn định dựa trên sứ mạng của trường, thì có thể dễ được chấp nhận hơn. Nếu nhà trường tự xác định sứ mạng của mình là nghiên cứu, mà quy mô, tác động, năng suất nghiên cứu của trường quá khiêm tốn thì rõ ràng là rất khó biện minh. Nhưng nếu nhà trường không coi nghiên cứu là sứ mạng cốt lõi của mình, mà coi nghiên cứu chủ yếu là nhằm cập nhật kiến thức để phục vụ việc đào tạo, thì việc không tập trung nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và không có nhiều sản phẩm nghiên cứu phải được coi là bình thường, hợp lý, và không thể nói rằng một trường như thế là kém chất lượng và đáng phải đứng ở cuối bảng. Một kết quả xếp hạng không gắn với sứ mệnh đa dạng của trường sẽ làm cho công chúng hiểu sai về giá trị đóng góp của nhà trường và làm lệch hướng con đường lẽ ra mỗi trường nên đi.  Về chất lượng dữ liệu  Chất lượng dữ liệu là một trong những lý do chính gây nghi ngờ đối với bảng xếp hạng 49 trường. Theo nhóm tác giả, nguồn dữ liệu dùng để xếp hạng lấy từ nhiều nguồn, trong đó ngoài dữ liệu công bố quốc tế thì chủ yếu là do các trường cung cấp, và không ai kiểm chứng được tính xác thực của những thông tin đó. Các bảng xếp hạng quốc tế cũng dựa trên dữ liệu do các trường cung cấp, nhưng ở các nước phát triển, do trách nhiệm giải trình và tính minh bạch được đề cao, các trường thường không làm giả số liệu một cách thô thiển, mà thường tìm những cách khéo léo hơn để tạo ra con số đẹp. Ví dụ, để có tỉ lệ bài báo trên giảng viên hay số tiến sĩ cao hơn, người ta không tính giảng viên đang làm việc theo chế độ hợp đồng (vốn có thể chiếm hơn nửa tổng số giảng viên).  Ở Việt Nam, theo một chuyên gia kiểm định chất lượng, phải rất ngây thơ mới dựa vào báo cáo ba công khai để xếp hạng. Ngay cả các báo cáo tự đánh giá hoặc báo cáo kiểm định của các trung tâm kiểm định, vốn kèm theo dày đặc các loại minh chứng, mà độ khả tín còn có mức độ, thì những con số tự kê khai đó quả đáng ngờ. Đó là lý do khiến một số kết quả xếp hạng gây bất ngờ cho những người trong giới, chẳng hạn như ĐH Bách Khoa Hà Nội xếp thứ 25 về cơ sở vật chất, trong lúc không ít ý kiến cho rằng nó tốt hơn nhiều so với một số trường được xếp hạng cao hơn.  MỪNG HAY LO?  Trong cơn sốt ý kiến trái chiều về bảng xếp hạng 49 trường này, người ủng hộ kẻ phản đối, và không ít ý kiến chỉ trích khắc nghiệt, những là tiêu chí hay phương pháp có vấn đề, những là kết quả sai lạc, gây rối loạn xã hội, v.v. liệu chúng ta có nên lo lắng?  Trong một xã hội trưởng thành, quan điểm khác nhau là điều hết sức bình thường, và chúng ta nên khích lệ sự cọ xát những ý kiến trái chiều. Tuy chưa thực sự có một cộng đồng học thuật vững mạnh, nhưng nhờ vào hội nhập toàn cầu và tiến bộ của công nghệ truyền thông, chúng ta đã và đang có một sân chơi cho nhiều tiếng nói tham gia hơn, và nếu có những bảng xếp hạng không dựa trên một nền tảng vững chắc, không dựa trên những phương pháp thuyết phục, nó sẽ được hàng trăm, hàng ngàn người chỉ ra chỗ yếu, chỗ sai ngay tức khắc. Những gì đang diễn ra với bảng xếp hạng 49 trường này đã minh họa cho điều vừa nói.  Không có cách nào khác, là mỗi người phải tự học cách làm chủ những thông tin mà mình có, tự mình đánh giá những luận điểm nào là đáng tin cậy hoặc không. Đó là thử thách của một xã hội trong đó người dân có quyền được thông tin. Sẽ có những lệch lạc, có người bị thiệt thòi, có những tác động không mong muốn, nhưng đó là cái giá để chúng ta tiến tới một xã hội trưởng thành, trong đó quyền được thông tin của người dân được bảo đảm.  Vì thế, chúng ta hoan nghênh nỗ lực của nhóm tác giả và chào mừng sự ra đời của bảng xếp hạng 49 trường ĐH Việt Nam với tất cả những khiếm khuyết của nó. Hy vọng năm sau chúng ta sẽ nhìn thấy những tiêu chí được cải tiến và những dữ liệu đáng tin cậy hơn.         [1] Xem thêm “Một báo cáo về xếp hạng đại học Việt Nam” (http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Mot-bao-cao-ve-xep-hang-dai-hoc-Viet-Nam-10893)        Author                Phạm Thị Ly        
__label__tiasang Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại      Luật Giáo dục Đại học (GDĐH) Việt Nam, được  ban hành và có hiệu lực từ 1-1-2013, đã xác định rõ chủ trương của Nhà  nước về xây dựng một hệ thống GDĐH có tính chất đa dạng, với những loại  trường khác nhau nhằm thực hiện những sứ mạng khác nhau và đáp ứng những  nhu cầu khác nhau của xã hội. Trong ba loại trường ĐH (nghiên cứu, ứng  dụng và thực hành), trường ĐH nghiên cứu có vai trò đặc biệt trong việc  duy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới  nhằm dẫn dắt tiến bộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia.    Do vai trò đặc biệt đó, trường ĐH nghiên cứu cần có những đặc quyền, không chỉ về nguồn lực, mà còn là một môi trường hỗ trợ nhằm bảo đảm cho nó thực hiện được những nhiệm vụ trọng yếu của mình. Nhận thức rõ điều này, ngày 10 tháng 10 năm 2013 vừa qua, tại thành phố Hợp Phì (Trung Quốc-TQ), chín trường ĐH tinh hoa của TQ– thành viên của nhóm C9 thường được công nhận là “Ivy League của TQ” – đã ký một bản tuyên ngôn cùng với các vị Chủ tịch Hiệp hội các Trường Đại học Hoa Kỳ, Nhóm 8 trường của Australia, và Nhóm các Trường ĐH Nghiên cứu hàng đầu ở Châu Âu, nhằm cam kết việc xây dựng, gìn giữ, và xiển dương những giá trị cốt lõi đã làm nên các trường ĐH nghiên cứu và bảo đảm cho nó thực hiện được vai trò của mình. Bản Tuyên ngôn nêu ra mười đặc điểm của trường ĐH nghiên cứu hiện đại, và khẳng định rằng “không có một môi trường hỗ trợ, trường ĐH nghiên cứu không thể truyền đạt được những kiến thức cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh, và không thể nào đạt được sự công nhận trên phạm vi toàn cầu”.   Dưới đây là toàn văn Tuyên Ngôn Hợp Phì về mười đặc điểm của trường ĐH nghiên cứu.  MỤC ĐÍCH   Mục đích của bản Tuyên ngôn này là xác định những đặc điểm trọng yếu đã làm nên các trường ĐH nghiên cứu và đem lại hiệu quả cho nó; cũng như thúc đẩy một môi trường chính sách có thể bảo vệ, nuôi dưỡng và vun trồng những giá trị, chuẩn mực và cách xử sự vốn là biểu hiện của những đặc điểm trọng yếu ấy, và tạo điều kiện cho những giá trị, chuẩn mực, và cách xử sự ấy có thể nảy nở nếu như nó hiện chưa tồn tại. Không có một môi trường hỗ trợ như thế, trường ĐH nghiên cứu không thể truyền đạt được những kiến thức cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh, và không thể nào đạt được sự công nhận trên phạm vi toàn cầu mà các nước đều tìm kiếm.  Bốn tổ chức liên minh ký tên trên văn bản này cam kết rằng họ sẽ:  • Làm việc cùng nhau để phát triển và gìn giữ những đặc điểm này;   • Làm việc với các thành viên trong liên minh của mình nhằm bảo đảm họ sẽ cùng đạt đến nhận thức ấy; và  • Thúc đẩy những giá trị căn bản của các đặc điểm này trong việc xây dựng chính sách về giáo dục đại học.   Đã có những thay đổi hết sức to lớn trong các hệ thống GDĐH ở hầu hết các nước trên thế giới trong thập kỷ qua. Đặc biệt là, nó được dẫn dắt ít ra là một phần bởi quá trình tái cấu trúc nền kinh tế trong đó khu vực dịch vụ ngày càng quan trọng, và bởi nền kinh tế tri thức đang tiếp tục tăng trưởng. Các trường ĐH trên thế giới đang ngày càng tăng số lượng và quy mô. Ở nhiều nước, nó cũng ngày càng đa dạng, phản ánh nhu cầu đem lại những dịch vụ có chi phí hợp lý đáp ứng những yêu cầu tức thời của từng nước. Một thước đo cho sự đa dạng ấy là công nhận các trường ĐH nghiên cứu, vốn có số lượng tương đối ít, nhưng có một vai trò rất đáng kể trong những nỗ lực về hoạt động nghiên cứu khoa học của từng nước.  Vì các trường ĐH đã phát triển từ những tổ chức tinh hoa vốn chỉ phục vụ một số ít người được chọn lọc trong dân chúng, trở thành những tổ chức đào tạo ngày càng nhiều người, nhiều đối tượng đa dạng trên phạm vihầu như toàn cầu, môi trường chính sách trong đó các trường đang vận hành đã và đang thay đổi. Đặc biệt là, chính sách ở nhiều nước đang thể hiện quan điểm xem các trường như những công cụ, một quan điểm đã trói buộc vai trò và mục đích của nhà trường vào việc sản xuất ra những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc vận hành nền kinh tế hiện đại và thực hiện những nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển của quốc gia.   Tuy đó rõ ràng là những mục tiêu đáng mong muốn, sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào những mục tiêu ấy đã loại ra ngoài những vai trò trọng yếu khác của trường đại học, khiến hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như chính sách GDĐH chỉ tập trung vào những kết quả trước mắt, là điều thực ra chỉ phản ánh được một phần nhỏ những gì trường đại học đóng góp cho xã hội, cho sự thịnh vượng nói chung, và cách mà các trường thực hiện điều này. Những thay đổi trong các ưu tiên của quốc gia đã khiến chính sách nói chung và các chương trình cụ thể nói riêng định hướng hoạt động của các trường vào việc đáp ứng những mục tiêu hẹp của quốc gia; nhưng lại đặt các trường ĐH nghiên cứu vào tình thế hiểm nghèo là đánh mất những gì đã khiến họ trở thành độc nhất, không thể thay thế trong hệ thống đổi mới quốc gia và những gì họ có thể đóng góp cho sự thịnh vượng của đất nước. Phần lớn những gì nhà nước và xã hội mong ước ở trường ĐH là những thứ nảy sinh từ những năng lực nằm sâu bên trong và là những kết quả vô hình mà lối tiếp cận coi nhà trường là công cụ đã không đánh giá đúng, thậm chí đã không nhìn thấy.  Các trường ĐH trên khắp thế giới đứng trước rủi ro mất đi sự hiệu quả của mình nếu môi trường chính sách toàn cầu và chính sách của từng nước tiếp tục nhấn mạnh vào những thứ trước mắt thay vì nhằm vào lợi ích dài hạn, tiếp tục nhắm vào những thứ đã biết thay vì phải nhằm vào những gì chưa biết, và tiếp tục những lối đi hẹp thay vì mở ra một con đường rộng hơn.   MỞ ĐẦU  Các trường ĐH nghiên cứu được xem là đặc biệt là do chất lượng, bề rộng và chiều sâu của những cam kết mà họ dành cho hoạt động nghiên cứu. Các nước ngày càng dựa vào các trường ĐH nghiên cứu nhiều hơn trong việc dẫn dắt sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia. Những người tốt nghiệp ĐH rời trường đi làm trong khu vực nhà nước, các doanh nghiệp, hay các tổ chức phi lợi nhuận, mang theo họ kiến thức, kỹ năng, và sự hiểu biết khiến cho những cơ quan, tổ chức ấy hoạt động có hiệu quả, có thể đáp ứng với một bối cảnh đang thay đổi, và không ngừng đổi mới. Trong công việc của họ cũng như trong các tương tác xã hội, họ dựa vào những trải nghiệm tiếp thu được trong thời sinh viên và những giá trị được xây dựng trên những trải nghiệm ấy, để tạo ra một xã hội giàu có hơn, có sức bật mạnh hơn, đa dạng hơn và nhân văn hơn.   Các trường ĐH nghiên cứu là trung tâm của việc phát triển những ý tưởng mới và những khám phá mới. Họ mở rộng sự hiểu biết của chúng ta bằng cách kiểm nghiệm và thách thức những kiến thức hiện đang có. Họ cũng là trung tâm sáng tạo, nơi phát triển những kỹ thuật mới và những cách thức mới để làm điều này điều khác. Thông qua việc đào tạo và tạo ra tri thức uyên bác, những trường này đã đóng góp to lớn cho văn hóa, nghệ thuật của địa phương, của quốc gia và cả quốc tế. Những nghiên cứu mà các trường này thực hiện là động lực cho đổi mới, giúp cho việc đáp ứng với những vấn nạn chính của quốc gia và của toàn cầu, và đem lại những diễn giải giúp chúng ta hiểu biết nhiều hơn về một thế giới ngày càng biến động và thay đổi nhanh chóng.   Các trường ĐH nghiên cứu là tâm điểm của hợp tác quốc tế, đem lại cơ hội tiếp cận các kiến thức chuyên môn đa quốc gia và những điều kiện có thể không có sẵn ở từng nước. Họ làm tăng thêm uy tín quốc tế cho đất nước của họ, và thu hút tài năng trên khắp thế giới. Điều quan trọng là, các trường ĐH cũng là nơi lưu giữ kiến thức và cất trữ những năng lực có thể chuẩn bị cho các doanh nghiệp, các chính phủ, các cộng đồng xã hội một sự bảo hiểm thận trọng dựa trên năng lực để giúp họ xử lý những sự cố bất ngờ, hay những gì chưa bao giờ được biết đến trước đây. Khả năng đáp ứng nhanh chóng và sáng tạo này, rút ra từ bề dày của năng lực hình thành xuyên suốt các chuyên ngành, càng lúc càng quan trọng hơn trong một thế giới ngày càng nhiều biến động và những điều bất ngờ không thể dự tính trước đã biến thành chuyện hàng ngày.     “ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU” CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?   Các trường ĐH nghiên cứu được định nghĩa bởi những cam kết nghiêm túc và xuyên suốt của họ với hoạt động nghiên cứu khoa học; bởi sự ưu tú, bởi bề rộng và khối lượng những kết quả nghiên cứu của họ; và bởi cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong mọi hoạt động của họ, từ giảng dạy, nghiên cứu đến gắn kết với giới doanh nghiệp, với chính phủ, và với cộng đồng xã hội. Việc đào tạo bậc ĐH ở các trường ĐH nghiên cứu được hưởng lợi to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư và nghiên cứu sinh đang làm việc ở tuyến đầu của tri thức. Đào tạo sau ĐH ở các trường ĐH nghiên cứu được làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lượng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì được lợi rất nhiều nhờ sự sáng tạo và năng lượng của các nghiên cứu sinh. Các trường ĐH nghiên cứu thường chỉ là số ít trong hệ thống GDĐH của mỗi nước, nhưng bao giờ cũng chiếm một phần đáng kể thành quả nghiên cứu của quốc gia.   Chính phủ các nước có vai trò hỗ trợ rất quan trọng đối với các trường ĐH nghiên cứu thông qua những khoản tài trợ nghiên cứu trọn gói hoặc tài trợ trên cơ sở cạnh tranh; kể cả thông qua việc công nhận và hỗ trợ cương vị của họ bằng một môi trường quản lý thích hợp. Tuy vậy, sắc lệnh hay nghị định chính phủ tự bản thân nó không thể tạo ra được các trường ĐH nghiên cứu. Những trường ĐH như thế được xây dựng trong khuôn khổ một hệ thống quản lý có tầm nhìn chiến lược và có sự vận hành xuất sắc nhằm bảo đảm nhiều nguồn tài trợ cần cho việc trang bị cơ sở vật chất và tuyển dụng tài năng ở nhiều chuyên ngành. Chính những giảng viên tài năng lại thu hút nghiên cứu sinh tài năng, những người này lại là cục nam châm thu hút những giảng viên tài năng mới từ nơi khác. Địa vị của một trường ĐH nghiên cứu được công nhận bởi năng lực của nó trong việc cạnh tranh giành ngân sách nghiên cứu, bởi năng suất của nó trong việc tạo ra những tri thức và kết quả nghiên cứu được quốc tế công nhận, và bởi phẩm chất, tầm cỡ của những sinh viên và nghiên cứu sinh mà nó đào tạo. Những thành quả này tạo ra nhu cầu hợp tác nghiên cứu ở các trường khác, trao đổi giảng viên, và những quan hệ chiến lược bền vững. Trường ĐH nghiên cứu là một phần của mạng lưới hợp tác toàn cầu giữa những trường tương tự, tạo ra những đóng góp đáng kể và đáng giá trong những nỗ lực nghiên cứu toàn cầu. Nó hội nhập vào cộng đồng quốc tế bởi vì sự ưu tú được công nhận của nó có khả năng thu hút được sự chú ý, những quan hệ hợp tác, và sự ủng hộ.   Mặc dù ĐH nghiên cứu có ảnh hưởng quan trọng và lớn lao như thế, có những dấu hiệu cho thấy rằng môi trường chính sách GDĐH và công chúng đang xem đóng góp của những trường ĐH này là chuyện đương nhiên. Trọng tâm của trường ĐH nghiên cứu là mở rộng tri thức, dẫn đến những hiểu biết mới, sản phẩm mới, quá trình mới, nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, và làm phong phú cho nền văn hóa của đất nước. Lợi ích của những tri thức tiên tiến là cực kỳ to lớn, nhưng con đường đạt đến nó thì dài. Các trường ĐH nghiên cứu đang bị áp lực chuyển từ nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng nhằm tạo ra những lợi ích ngắn hạn và thu hẹp chương trình đào tạo của họ lại nhằm theo đuổi những mục tiêu giáo dục ngày càng mang tính chất công cụ. Điều tối quan trọng là tất cả những chính sách liên quan phải thể hiện được sự công nhận những lợi ích rộng lớn, dài hạn và lan tỏa mạnh mẽ của hoạt động nghiên cứu và đào tạo của trường ĐH; cũng như đem lại sự hỗ trợ và một môi trường bảo đảm cho những trường này tiếp tục đơm hoa kết trái; duy trì những đặc điểm nền tảng đã khiến các trường ĐH nghiên cứu trở thành một phần vô giá của hạ tầng quốc gia ở bất cứ nước nào.     ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU  1. Theo đuổi sự ưu tú trong tất cả mọi hoạt động của mình, tự điều chỉnh mình qua sự đánh giá vô tư, vô vụ lợi, độc lập, và có cơ sở thông tin của các tổ chức và cá nhân trong giới hàn lâm ngoài trường; cam kết duy trì một hệ thống dùng người minh bạch, chỉ dựa trên tài năng và phẩm chất trong việc lựa chọn giảng viên, sinh viên và nhân viên; tạo ra một môi trường nội bộ có thể nuôi dưỡng tinh thần học tập, sự sáng tạo và khám phá, và làm nảy nở, làm phát triển mọi tiềm năng của giảng viên, nhân viên, sinh viên và nghiên cứu sinh.   2. Có một kết quả nghiên cứu đáng kể, với chiều sâu và chiều rộng, tạo ra những kết quả nghiên cứu được quốc tế công nhận, và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm khoa học, qua giảng dạy và gắn bó với cộng đồng.  3. Có sự cam kết với việc đào tạo những người làm nghề nghiên cứu, đặc biệt là thông qua các chương trình đào tạo tiến sĩ, là nơi sẽ đem lại dòng chảy liên tục không ngừng những người có năng lực cao và được kính trọng (theo đánh giá của các nhà nghiên cứu có cương vị quốc tế), những người có khả năng tạo ra bước tiến mới cho tri thức và sự hiểu biết, và đóng góp cho sự đổi mới quốc gia và quốc tế trên mọi lĩnh vực.   4. Có sự cam kết với việc giảng dạy ở cả bậc ĐH và sau ĐH, nhằm tạo ra những người được giáo dục với nền tảng kiến thức rộng và có khả năng đóng góp cho sự giàu mạnh của quốc gia qua nhiều hoạt động phong phú.   5. Tận tâm tận lực với những chuẩn mực cao nhất về sự chính trực trong hoạt động nghiên cứu và những nghĩa vụ đạo đức liên đới. Đó là điều bảo đảm cho sự trung thực trong khi thu thập dữ liệu, đánh giá và phân tích, khiến nó độc lập với bất cứ tính toán nào về nguồn tài trợ, về những lợi ích của cá nhân hay của tổ chức, và điều này được hỗ trợ bởi một quy trình rõ ràng và hiệu quả để đáp ứng với bất cứ luận điệu hay nhận thức nào về những cách xử sự hay những công trình nghiên cứu phi đạo đức.   6. Thực thi quyền tự do học thuật có trách nhiệm với giảng viên, để họ không bị kiềm chế một cách không đángtrong việc tạo ra và phổ biến tri thức thông qua nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ; để họ làm việc trong một không gian văn hóa khoa học dựa trên con đường rộng mở trong tìm kiếm tri thức; để họ không ngừng kiểm nghiệm những hiểu biết đang có ở mức độ vượt ra xa hơn tính chất nghề nghiệp hay công cụ; để họ nhìn xa hơn những nhu cầu trước mắt, và tìm cách phát triển sự hiểu biết, kỹ năng và tri thức chuyên môn cần thiết cho tương lai và cho việc diễn giải về thế giới đang thay đổi của chúng ta.   7. Có thái độ khoan dung, công nhận và hoan nghênh những quan điểm, cách nhìn, khuôn khổ nhận thức và cương vị khác nhau, vì đó là điều cần thiết để hỗ trợ cho sự tiến bộ; cùng với nó là cam kết gắn bó với những tranh luận dân sự và những cuộc thảo luận nhằm nâng cao hiểu biết, tạo ra tri thức mới, công nghệ mới.   8. Có quyền tự xác định ưu tiên của nhà trường, trên nền tảng khoa học, về những gì cần làm và bằng cách nào thực hiện nghiên cứu và giảng dạy, dựa trên sứ mạng của nhà trường, dựa trên kế hoạch phát triển chiến lược và sự đánh giá của nhà trường về nhu cầu hiện tại và trong tương lai của xã hội; có quyền xác định sẽ tuyển dụng người nào và tuyển sinh như thế nào, trong đó có cả khả năng tuyển dụng trên phạm vi quốc tế nhằm thu hút những người tài giỏi nhất nhằm đạt được những ưu tiên ấy.   9. Cam kết hỗ trợ cộng đồng địa phương và quốc gia cũng như đóng góp cho sự thịnh vượng của thế giới bằng cách hành động và xây dựng một thứ văn hóa có thể phát huy tối đa những lợi ích trước mắt và lợi ích dài hạn của những hoạt động nghiên cứu và giảng dạy mà nó thực hiện.   10. Có một cơ cấu quản trị cởi mở và minh bạch có thể bảo vệ và hỗ trợ cho sự gắn bó liên tục với những đặc điểm đã làm nên và duy trì sự tồn tại những trường ĐH nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, và đồng thời, bảo đảm cho nhà trường thực hiện được trách nhiệm của nó trước công chúng.   Phạm Thị Ly viết lời giới thiệu và dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Muốn làm sách lịch sử… bán chạy      Giám đốc Alpha Books từng muốn lên tiếng  “đánh động” giới trẻ về sự thiếu hiểu biết và thái độ bàng quan với lịch  sử, nhưng sau đó anh nhận ra rằng xã hội cần những giải pháp cụ thể hơn  là những lời chỉ trích.    Anh có nhắc đến một giải pháp, khi mới đây anh muốn tìm kiếm sự hợp tác với Viện Sử học, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam để sử dụng những tư liệu lịch sử quý giá mà Viện đang lưu trữ để in sách và giới thiệu cho đông đảo độc giả?  Vừa qua tôi đã đến Hội Khoa học Lịch Sử, Viện Sử học, Viện Hán Nôm ở Hà Nội và nhiều nơi khác để “tham quan” kho tư liệu. Tôi thấy có nhiều “gia tài lịch sử” cực kỳ hấp dẫn mà chúng ta chưa khai thác hết và ít người được tiếp cận. Những cuốn sách sử hiện nay hầu hết in ở dạng bìa cứng, dày như Bách Khoa Toàn Thư, giá lại cao nên chỉ phù hợp với giới nghiên cứu và số lượng phát hành rất hạn chế.   Hiện nay, tôi đã hình dung ra những gì tôi muốn làm và vừa bắt tay vào triển khai ở Alpha Books. Tôi dự định sẽ lựa chọn và tìm kiếm những cuốn sách về lịch sử hấp dẫn, thú vị và ít được biết đến nhưng sẽ trình bày ở dạng sách bỏ túi và được biên soạn sao cho dễ đọc, dễ hiểu.   Chúng tôi dự kiến tháng 9 tới sẽ xuất bản bộ sách đầu tiên mang tên “Câu chuyện lịch sử” với một số câu chuyện tiêu biểu: Trận đánh của Quang Trung ở gò Đống Đa; những ngày của Bảo Đại ở Hà Nội; câu chuyện về Đề Thám, Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Thái Học… Đây là những tài liệu đầu tiên tôi đọc được và thấy cách viết rất hấp dẫn, không giống cách trình bày trong sách giáo khoa lịch sử. Những nhân vật trong đó, những câu chuyện trong đó sống động hơn, con người hơn, chân thật hơn. Họ là con người chứ không chỉ là hình mẫu khô khan cách biệt với chúng ta…    Điều gì giúp anh tự tin rằng bộ sách này sẽ dễ đọc và dễ bán?  Sách lịch sử có hai loại: loại thứ nhất là những bộ sử đồ sộ, chẳng hạn Đại Việt sử ký toàn thư, loại sách này hầu như chỉ dành cho giới nghiên cứu bởi đắt tiền, quá nặng, rất khó mang theo bên người. Nhiều bộ sử còn kèm theo phần in chữ Hán nên rất ít người đọc được. Bởi vậy tôi định làm một loại sách thứ hai: sách khổ nhỏ (khoảng 11x18cm hoặc 13×20,5cm), câu chữ đơn giản, trình bày thoáng, đẹp và có giá bìa rẻ, phù hợp với giới trẻ – điều mà các nhà sử học lâu nay không tìm ra cách làm.  Giới trẻ ngày nay ít quan tâm đến lịch sử, điều đó không chỉ có ở Việt Nam mà còn có ở nhiều nước khác. Nhưng cũng phải có cách nhìn công bằng, rõ ràng kể cả những em yêu thích lịch sử cũng khó tìm đọc những tác phẩm đồ sộ và cũng không có những cách kể chuyện lịch sử thực sự mang lại hấp dẫn và bổ ích cho các em.  Khi nói đến từ “bán chạy”, anh nghĩ đến số lượng bao nhiêu?  Tôi nghĩ đến con số khoảng 2.000 đến 3.000 cuốn. Tôi không dám nghĩ đến con số 10.000, sách về lịch sử thì không thể “best-seller” như Harry Potter được. Nhưng quan trọng nhất là tôi muốn thay đổi suy nghĩ định kiến của nhiều người rằng “sách sử thì ai mua, ai đọc”. Nếu so với những bộ sách sử lâu nay xuất bản theo chương trình của nhà nước, in 500 bản rồi đem tặng, đem cho thì dự án này hoàn toàn mang tính chất tư nhân và thương mại hóa.  Bản thân tôi là một người đọc yêu thích đề tài lịch sử, tôi thấy ý nghĩa lớn nhất và quan trọng nhất của môn lịch sử ở chỗ giúp ta nhìn vào quá khứ để hiểu tương lai. Với cá nhân tôi, những câu chuyện và nhân vật lịch sử chứ không phải toán, lý, hay hóa, giúp tôi hiểu được đâu là giá trị đích thực của cuộc đời. Trong gần 10 năm điều hành Alpha Books, tôi chưa từng phải dùng đến phép tính phức tạp nào ngoài cộng – trừ – nhân – chia, nhưng những bài học lịch sử luôn hữu ích với tôi, với doanh nghiệp của tôi.  Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ cấp học bổng nâng cao cho bốn tiến sĩ NLNT      Kể từ tháng 2/2015, bốn tiến  sĩ sẽ sang Mỹ học tập và đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan tới  điện hạt nhân. Đó là kết quả của thỏa thuận giữa Viện NLNTVN và công ty  Điện lực Westinghouse Mỹ ngày 15/1/2015.    Phát biểu tại lễ ký kết thỏa thuận, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Việt Thanh nhấn mạnh vai trò của sự kiện, coi đó là bước đi quan trọng sau khi Việt Nam và Mỹ đã ký kết Hiệp định 123 về lĩnh vực sử dụng công nghệ hạt nhân giữa hai chính phủ Việt Nam và Mỹ.    Theo thỏa thuận, công ty Westinghouse sẽ cấp học bổng cho bốn tiến sĩ của Viện NLNTVN và trường ĐH Bách khoa Hà Nội tới làm việc và học tập trong các lĩnh vực chuyên môn: an toàn hạt nhân (TS Hoàng Sỹ Thân), thiết kế chống động đất (TS Phạm Ngọc Đồng) tại trụ sở của Westinghouse; đào tạo chuyên gia về năng lượng hạt nhân (TS. Nguyễn Kiên Cường, TS. Nguyễn Văn Thái) tại trường ĐH Bắc Carolina. Khóa học tập và làm việc này sẽ diễn ra trong vòng sáu tháng.  Dự kiến, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ thì trong những năm tiếp theo, thỏa thuận sẽ được tiếp tục gia hạn cho các nhà nghiên cứu khác của Viện NLNTVN.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Sinh viên trường tư nhận hỗ trợ gấp 10 lần sinh viên trường công      Khung pháp lý hoàn chỉnh và truyền thống hiến tặng được xem như những lý do chủ yếu giúp các đại học tư thục ở Mỹ phát triển theo định hướng nghiên cứu. Tuy vậy, thực tế này không phải là không có những bất cập. Bài viết dưới đây của nhà báo Joe Pinsker, đăng trên The Atlantic ngày 21/10 vừa qua chỉ ra những bất cập này.1      Năm 2002, Meg Whitman (cựu sinh viên Đại học Princeton khóa 1977), khi đó là Chủ tịch của eBay, hứa sẽ hiến tặng 30 triệu USD cho trường cũ của mình để xây dựng một khu ký túc xá mang tên bà. Tổng chi phí của ký túc xá có sức chứa 500 sinh viên này, trong đó bao gồm chi phí trả cho “thợ xây có tay nghề cao để cắt hàng ngàn viên đá” và “những cánh cửa gỗ sồi dày ba inch”2, tính ra trị giá khoảng 200.000 USD cho mỗi sinh viên mà ký túc xá mới này có thể chứa được. Mặc dù đã bỏ ra khoảng 30 triệu USD vào thời điểm đó, một nhà kinh tế học ước tính rằng khoản tiền thực mà Meg Whitman phải trả ít hơn nhiều: chỉ 20 triệu USD, nhờ vào chính sách miễn giảm thuế đối với các khoản hiến tặng cho trường đại học của Chính phủ Mỹ. Nghĩa là về bản chất, chính Bộ Tài chính Mỹ đã chi khoản 10 triệu USD chênh lệch.   Chính phủ, mà gián tiếp chính là những người nộp thuế, đóng góp một lượng tiền khổng lồ đáng kinh ngạc cho các trường tư thục xuất sắc, mà phần lớn những khoản tiền này khá là khó nhận biết và nắm bắt do chúng chỉ thể hiện qua các khoản khấu trừ thuế, như trong trường hợp của Whitman. Khó nắm bắt tương tự và thậm chí còn nhiều lợi nhuận hơn, đó là việc Chính phủ liên bang không đánh thuế đối với khoản thu nhập mà các trường kiếm được từ những khoản hiến tặng trị giá hàng tỷ USD. Một số khoản khấu trừ thuế được áp dụng để thúc đẩy nghiên cứu; các khoản khác tồn tại đơn giản vì các trường đại học, với danh nghĩa là các tổ chức xã hội, cam kết nghĩa vụ phục vụ lợi ích công cộng.   Khi tính cả những khoản miễn giảm thuế này, chúng ta nhận thấy tiền Chính phủ chi cho mỗi sinh viên trường tư thục với tiêu chuẩn đầu vào gắt gao cao hơn nhiều lần so với các trường công lập ít chọn lọc sinh viên hơn. Theo Robert Reich, một giáo sư về chính sách công tại Đại học California, Berkeley, số tiền trung bình mà Chính phủ chi cho các trường đại học công chưa đến 4.000 USD/sinh viên, trong khi số tiền tương ứng được chuyển đến cho các trường tư thục xuất sắc, ví dụ như Princeton là hơn 50.000 USD.   Những chính sách miễn giảm thuế này, dưới danh nghĩa chủ nghĩa quân bình, lại làm lợi đặc biệt cho các trường có mức độ đa dạng về thành phần kinh tế của sinh viên thấp. Tại các trường có đầu vào chọn lọc nhất của quốc gia, tương ứng với mỗi sinh viên thuộc nhóm 25% dân số nghèo nhất thì lại có 14 sinh viên từ nhóm 25% dân số giàu có nhất. Người ta thường cho rằng các trường đại học giàu có nhất với những khoản quyên tặng khổng lồ sẽ thoải mái hơn trong việc tiếp nhận những sinh viên không có khả năng trả đầy đủ học phí và vì thế là những nơi có thể nở rộ sự đa dạng về thành phần kinh tế xã hội trong cộng đồng sinh viên của mình. Nhưng một phân tích trên tờ New York Times gần đây đã chỉ ra rằng độ lớn của các khoản hiến tặng không quyết định sự đa dạng về thành phần kinh tế như lập luận nói trên.     Độ lớn của khoản tiền từ Chính phủ đến với Princeton càng kinh khủng hơn khi đặt trong sự so sánh với khoản tiền mà Đại học New Jersey, một trường công lập có quy mô tương tự nằm cách Princeton chỉ khoảng 10 dặm, nhận được. Năm 2011, khoản thuế thu nhập được giảm đối với các hiến tặng dành cho Princeton, cùng với các tài trợ nghiên cứu từ liên bang và các khoản miễn thuế tăng giá trị tài sản, đạt khoảng 420 triệu USD, tương ứng với 54.000 USD cho mỗi sinh viên. Còn trường New Jersey, với khoản hiến tặng khiêm tốn 26 triệu USD, chỉ nhận được chưa đến 2.000 USD cho mỗi sinh viên từ các khoản tiền chính phủ trong năm đó.   Những năm gần đây, người ta phát hiện ra rằng việc tăng tỷ lệ sinh viên nghèo vào đại học thực tế lại dẫn đến nhiều bất bình đẳng hơn. Theo dõi dòng chảy tiền thuế của dân có thể cho chúng ta một lý giải nhất định. Mặc dù nhiều sinh viên thu nhập thấp đang theo học đại học, nhưng nguồn lực mà trường của họ nhận được lại thiếu hụt hẳn so với những trường tư thục đắt tiền. Nhiều sinh viên trong số họ thậm chí còn không tốt nghiệp được và sau đó gặp khó khăn khi phải trả hết các khoản mà họ đã vay để đi học, những vấn đề này ít gặp phải ở các trường đại học ưu tú.   Vậy chúng ta có thể làm gì? Một lựa chọn là loại bỏ hoàn toàn chính sách miễn giảm thuế cho các trường, mặc dù đây có thể là một động thái hơi thái quá. Cách khác là cho phép các trường tự áp dụng các chính sách sáng tạo của mình để tăng cường sự đa dạng về thành phần kinh tế xã hội trong sinh viên: thí dụ, trường Grinnell ở bang Iowa duy trì một tỷ lệ phần trăm tối thiểu sinh viên có cha mẹ không học đại học trong mỗi khóa đầu vào. Nhưng sẽ là hơi lý tưởng hóa nếu chúng ta thực sự cho phép các trường hoạt động tự do và chịu trách nhiệm về hoạt động của họ. Thay vào đó, một khả năng khác là chỉ nên trao các ưu đãi về thuế không trực tiếp liên quan tới nghiên cứu cho những trường thực tế có đông sinh viên từ thành phần xã hội có thu nhập thấp theo học. Khi đó, tiền thuế của người dân sẽ đến được nơi nó cần đến, chứ không phải là dành cho “những cánh cửa gỗ sồi dày ba inch”.                                                                                                Hoàng Tuấn Anh dịch  ———————-  1  Tia Sáng đặt lại tên bài báo từ tên gốc “Princeton Gets 10 Times as Much Tax Money per Student as Public Colleges”.   2 Năm 2002, trường Princeton xây thêm ký túc xá với đầu tư lớn nhằm phục vụ tốt nhất cho sinh viên nhưng với một số người, việc đầu tư này có phần hơi hoang phí (ví dụ như chi tiết cửa phòng ký túc được làm từ gỗ sồi dày 3 inch, tức gần bằng 8cm, thay vì các chất liệu thông thường khác).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm bài học lớn đại học Mỹ nên học từ các đại học châu Á      Thượng nghị sỹ Lamar Alexander, nguyên là hiệu trưởng ĐH Tennessee, gần đây đã cảnh báo “cũng giống như nền công nghiệp ô tô những năm 60, đã có một vài dấu hiệu cho thấy ĐH Mỹ đang trong giai đoạn khủng hoảng”.     Cảnh báo này của ông làm tôi nhớ lại cuộc trò chuyện với một giáo sư ĐH Harvard khi vị giáo sư này đến thăm Nhật Bản những năm 80 và đã rất kinh ngạc khi thấy những dây chuyền sản xuất hiện đại của Toyota. Khi quay trở về Mỹ, giáo sư đã chia sẻ với phó chủ tịch tập đoàn General Motors (GM) về những tiến bộ vượt bậc của Toyota nhưng ngài phó chủ tịch có nói: “Tôi cũng biết thế nhưng nếu tôi nói với hội đồng quản trị của GM là Toyota đang có những thay đổi vượt trội thì tôi sẽ mất việc ngay mà GM thì lại sẽ chẳng thay đổi gì hết.”   Câu chuyện này giải thích những khó khăn hiện nay của GM. (Rất trớ trêu, sau 20 năm bây giờ Toyota đang mắc phải những sai lầm hệt như GM trước đây). Và chính điều này là bài học cảnh báo lớn cho các ĐH Mỹ mặc dù hiện nay ĐH Mỹ đang được coi là hàng đầu của thế giới. Khỏi phải bàn cãi ai cũng biết những ĐH ưu tú nhất của Mỹ như Harvard, Princeton, Stanford và Yale đứng ngoài tất cả các cuộc cạnh tranh và xếp hạng ĐH trên toàn thế giới nhưng có mấy ai biết số sinh viên nhập học của họ chỉ chiếm một phần vô cùng nhỏ trong tổng số sinh viên nhập học toàn nước Mỹ. Và trong khi các ĐH Mỹ còn đang dẫm chân tại chỗ thì các ĐH châu Á đang phát triển như sóng dậy. Với hơn hai mươi triệu sinh viên, năm 2005 Trung Quốc đã tranh vị trí quán quân của Mỹ là nước có thị trường GDĐH lớn nhất thế giới.   Và bây giờ là lúc ĐH Mỹ phải nghĩ đến một điều chưa bao giờ có trong lịch sử là học hỏi kinh nghiệm từ các ĐH Châu Á. Dưới đây là năm điều khuyến nghị cho các nhà lãnh đạo và quản lý ĐH Mỹ:    1) Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục đại học (GDĐH) trong sự phồn thịnh kinh tế của một quốc gia     Ở Trung Quốc năm 1995 chỉ có 5% sinh viên độ tuổi 18-22 vào được ĐH nhưng đến năm 2007 con số này đã tăng lên 23%. Thời gian đó nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển rất mạnh. GDP của Trung Quốc năm 1995 chỉ có 728 tỷ USD nhưng đã tăng lên là 3.251 tỷ vào năm 2007.   Tất nhiên sự phát triển mạnh của giáo dục GDĐH không phải là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế Trung Quốc nhưng nó là một phần quan trọng. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới kết luận “Những phép màu nhiệm trong kinh tế không phải bất ngờ mà có, nó phải dựa trên những phép màu xuất phát từ nền giáo dục.”   2) Phát triển chính sách GDĐH tầm quốc gia    Trong một thời gian dài Mỹ đã luôn áp dụng chính sách tư nhân hóa giáo dục đại học và đã có những kết quả tuyệt vời trên thực tế. Nhưng điều này cũng dẫn đến một cân nhắc là liệu trong cuộc cạnh tranh mới này có đáng phải đầu tư theo những hướng đi mới hay không.   Trung Quốc có thể sẽ vượt mặt Mỹ không những chỉ trong so sánh về số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học mà còn ở số những đại học có đẳng cấp thế giới. Chỉ trong giai đoạn từ 1995 đến 2000, rất nhiều các cơ quan chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn một vài trường ĐH ở Trung Quốc để nâng cấp trang thiết bị và giáo trình giảng dạy với khoản đầu tư khoảng 20 tỷ USD. Trong những năm tiếp theo, 38 trường trong số các trường được đầu tư đợt đầu sẽ tiếp tục nhận hỗ trợ.   Ví dụ điển hình là từ 1999 đến 2003, hai ĐH hàng đầu Trung Quốc là ĐH Bắc Kinh (Peking  University) và ĐH Thanh Hoa (Tsinghua University) nhận được khoảng 225 triệu USD mỗi trường trong khoản đầu tư này.    Song song với việc đầu tư, rất nhiều ĐH Trung Quốc thường được giao nhiều quyền tự chủ trong việc tuyển sinh cũng như mở ngành học mới. Những trường này được khuyến khích thiết lập quan hệ đối tác với các trường ĐH và viện nghiên cứu hàng đầu thế giới thông qua các hoạt động tổ chức hội thảo, thu hút các học giả có tiếng trên khắp thế giới đến Trung Quốc và đặt nền móng trong việc hợp tác đào tạo cấp bằng cũng như các chương trình nghiên cứu song phương. Từ 1998 đến 2006, thông qua chương trình học bổng Trường Giang (Changjiang Scholars Program) của Bộ Giáo dục Trung Quốc, đã có khoảng 800 giáo sư được tuyển dụng vào các trường ĐH Trung Quốc. 90% trong số các giáo sư được tuyển dụng này đã học hoặc có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài.    Ấn Độ cũng là một nước nhận thức rất rõ vai trò của giáo dục đại học như một sức mạnh vượt trội. Ấn Độ đặt mục tiêu tăng số sinh viên nhập học lên 5% vào năm 2012. Chính phủ cũng chủ trương thành lập mới khoảng vài chục ĐH, trong đó bao gồm cả 14 trường ĐH đẳng cấp thế giới. Một vài giáo sư gốc Ấn đang giảng dạy tại các trường hàng đầu ở Mỹ như Jagdish Bhagwati (ĐH Columbia), C.K. Prahalad and Ashutosh Varshney (ĐH Michigan), Tarun Khanna (ĐH Harvard). Rất nhiều giáo sư trong số này đang giúp tư vấn thành lập những ĐH hàng đầu ở Ấn Độ. Nếu trong một hoặc hai thập kỷ tới, Ấn Độ tạo nên một làn sóng mới với những trường ĐH đẳng cấp thế giới thì có lẽ sẽ không phải là một điều ngạc nhiên lớn lắm.    Một nghiên cứu của Goldman Sachs đã dự đoán đến năm 2050, thế giới sẽ bao gồm bốn nền kinh tế lớn là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ và Nhật. Những dự đoán này không hề bao gồm những phân tích chiến lược phát triển giáo dục ĐH của Trung Quốc và Ấn Độ. Trong khi những nước này dấy lên những chiến lược giáo dục mang tầm cỡ quốc gia, liệu Mỹ có thể đứng yên tại chỗ mà chẳng có một chiến lược nào?       3) Đừng tưởng nước Mỹ có tất cả các câu trả lời    Theo xếp hạng mới nhất của Tạp chí GDĐH Mỹ (Times Higher Education), không có một trường ĐH nào ở châu Á lọt vào bảng xếp hạng 20 ĐH hàng đầu thế giới. Nhưng Hiệu trưởng ĐH Yale Richard C. Levin gần đây đã nhận định “Bảng xếp hạng 20 ĐH hàng đầu thế giới sẽ có nhiều khả năng bị thay đổi trong vài năm tới: ĐH Quốc gia Singapore (National University of Singapore) là một ví dụ vì trường này đang tiến rất gần đến bảng xếp hạng. Ngoài ra, ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa của Trung Quốc cũng sẽ có khả năng lọt vào bảng xếp hạng trong tương lai gần.”   Hơn nữa, các trường ĐH Mỹ cũng nên có sự so sánh toàn cục với tất cả các trường ĐH Châu Á chứ không phải chỉ một vài trường được chọn lựa. Thí dụ, tại ĐH Massachusetts ở Boston chỉ có 33% sinh viên tốt nghiệp trong vòng 6 năm từ lúc bắt đầu nhập học, ít hơn 41% so với ĐH Montana và ít hơn 44% so với ĐH New Mexico. Theo các nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) chỉ khoảng hơn 50% sinh viên các trường ĐH Mỹ tốt nghiệp theo các chương trình ĐH truyền thống, trong khi con số này ở Hàn Quốc là 83% và Nhật Bản 91%.   Một khía cạnh văn hóa khác cũng góp phần trong thành công của các ĐH Trung Quốc cũng như các ĐH Châu Á khác đó là sự khát khao giáo dục. Và sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi những khát khao này kết hợp với sự bùng nổ các trường ĐH mới và đem lại những kết quả vượt trội.   4) Nghiên cứu kết quả và nguyên nhân dẫn đến thành công của các ĐH Châu Á  ĐH Quốc gia Singapore là một minh chứng rõ ràng trong việc này khi họ cho sinh viên hội nhập với nền giáo dục toàn cầu bằng cách liên kết với các ĐH khắp các nơi trên thế giới như ở Bangalore, Bắc Kinh, Silicon Valley ở California, Thượng Hải và Stockholm. Thay vì cách học theo phương pháp truyền thống, sinh viên có cơ hội sáng tạo, làm việc cũng như chia sẻ thách thức, khó khăn và những say mê trong công việc như một nhà kinh doanh thực thụ. Điều quan trọng là những trải nghiệm này diễn ra ngoài nơi mà họ đã từng quen sống.    Trong khi đó, rất nhiều sinh viên Mỹ vẫn tiếp tục được giáo dục trong môi trường không hề biến đổi. James B. Hunt, cựu Thống đốc bang North Carolina từng cảnh báo: “Sinh viên Mỹ bị mắc kẹt trong nền giáo dục đơn phương. Nền giáo dục này có thể phù hợp với kỷ nguyên công nghiệp nhưng chính nó làm cho sinh viên của chúng ta thiếu hẳn sự chuẩn bị cho những yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21”. Ông cũng luôn thúc giục các ĐH Mỹ bổ sung thêm kiến thức về lịch sử, ngôn ngữ cũng như ngoại giao quốc tế vào chương trình giảng dạy.      5) Hợp tác với các ĐH châu Á    Trong khi một ĐH ở châu Á đơn cử như ĐH Quốc gia Singapore đã có quan hệ đối tác với một loạt các trường như  ĐH MIT, Johns Hopkins, Duke, Harvard Kennedy School, thì chỉ một số rất ít các trường ĐH Mỹ đặt nền móng quan hệ với các trường ở châu Á. Rất nhiều ĐH Mỹ chỉ trông chờ các ĐH châu Á tiếp cận với quan hệ xin cho chứ không phải một quan hệ đối tác bình đẳng.    Cơ hội cho quan hệ hợp tác không phải chỉ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mà còn trong cả khoa học cơ bản với những ngành đụng chạm nhiều đến khác biệt văn hóa và đạo đức. ĐH Quốc gia Singapore từ lâu đã trở thành trung tâm nghiên cứu y học vì đã có công phát hiện một vài bệnh thường thấy như ung thư phổi, bệnh béo phì, đột quỵ có những diễn biến khác biệt giữa người Âu với người Á. Tương tự như vậy với ảnh hưởng của một vài loại thuốc. Để giúp sáng tỏ những nguyên nhân và ảnh hưởng này, các nhà nghiên cứu y học phương tây đang hợp tác với các nhà nghiên cứu châu Á tiến hành những nghiên cứu tiên tiến trong lĩnh vực này.    Các trường ĐH Mỹ rất nên chuẩn bị tâm lý cho một thế giới cạnh tranh mà quan hệ hợp tác với các ĐH châu Á là nhân tố quyết định của thành công. Và các ĐH châu Á luôn sẵn sàng cho những quan hệ hợp tác này là một tín hiệu tốt để khởi đầu.       CÚC THƯ dịch với sự cho phép từ “The Chronicle of Higher Education”, số ra ngày 7/3/2010.      —  (*) Kishore Mahbubani là giáo sư giảng dạy môn Chính sách công tại ĐH Quốc gia Singapore. Ông cũng từng là Đại sứ của Singapore tại Liên hiệp quốc.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm điểm mới trong tuyển sinh ĐH, CĐ      Tại Hội nghị hiệu trưởng các trường ĐH, CĐ  do bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức sáng 14/2 tại Hà Nội, những điểm mới trong tuyển  sinh ĐH, CĐ năm 2012 đã được thảo luận và thông qua, cụ thể như sau:    Tuyển thẳng đối với học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia (đạt giải nhất, nhì, ba) vào đại học và giải khuyến khích vào cao đẳng các ngành đúng hoặc ngành gần theo môn học sinh đạt giải.   Trong trường hợp học sinh không sử dụng quyền tuyển thẳng hoặc không đăng ký vào học đúng nhóm ngành theo môn đoạt giải, nếu dự thi ĐH, CĐ thì được ưu tiên: nếu dự thi đủ số môn quy định, kết quả thi đạt điểm sàn đại học trở lên, không có môn nào bị điểm 0 thì các trường tuyển thẳng vào đại học; nếu dự thi đủ số môn quy định, kết quả thi từ điểm sàn cao đẳng đến dưới điểm sàn đại học, không có môn nào bị điểm 0 thì các trường tuyển thẳng vào cao đẳng.  Bổ sung khối thi A1  Năm nay, bên cạnh các khối thi truyền thống A, B, C, D, các khối năng khiếu, sẽ có thêm khối thi A1 với các môn Toán, Vật lý, Tiếng Anh.  Để bảo đảm sự ổn định ở các trường tuyển sinh theo khối thi truyền thống và không ảnh hưởng đến việc học tập, định hướng ôn tập của học sinh trong ba năm học trung học phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường vẫn tuyển sinh theo các khối thi của từng ngành đào tạo như những năm trước và có thể bổ sung khối A1 nếu thấy cần thiết và phù hợp đối với từng ngành đào tạo.  Điều chỉnh lịch thi tuyển sinh  Kỳ thi năm nay vẫn bao gồm ba đợt thi và được tổ chức vào các ngày thứ 7, chủ nhật của ba tuần đầu tháng 7. Cụ thể: đợt I tổ chức trong các ngày 7 và 8-7, thi đại học các khối A, A1 và V; đợt II tổ chức trong các ngày 14 và 15-7, thi đại học khối B, C, D và các khối năng khiếu; đợt III tổ chức trong các ngày 21 và 22-7, thi cao đẳng tất cả các khối.  Bổ sung cụm thi          Vẫn phát hành cẩm nang tuyển sinh    Tại Hội nghị, Bộ trưởng Giáo dục và Đào  tạo Phạm Vũ Luận khẳng định cuốn cẩm nang “Những điều cần biết về thi và  tuyển sinh” vẫn sẽ được in và phát hành để các thí sinh và người nhà  tiện tham khảo.    Ban đầu, Bộ Giáo  dục và Đào tạo định không in và phát hành cuốn cẩm nang này như  những năm trước. Thông tin tuyển sinh đăng ký của các trường  sẽ được đưa lên trang thông tin điện tử của Bộ, Báo Giáo dục và Thời  đại, Báo Giáo dục và Thời đại điện tử… và website của các trường.    Tuy nhiên, tại hội nghị, hiệu trưởng nhiều  trường ĐH, CĐ bày tỏ sự lo ngại điều kiện tiếp cận thông tin của các  thí sinh và phụ huynh ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi…  và kiến nghị Bộ vẫn duy trì việc in và phát hành cuốn cẩm nang này.         Năm nay, ngoài tổ chức ba cụm thi tại Vinh (Nghệ An), Quy Nhơn (Bình Định) và Cần Thơ như những năm trước, Bộ bổ sung thêm cụm thi Hải Phòng do trường Đại học Hàng hải làm trưởng cụm thi, tổ chức thi cho các thí sinh có hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng, Quảng Ninh có nguyện vọng học tại các trường đại học Hàng hải và các trường đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội.  Ngoài ra, Bộ cũng cho phép thí sinh có hộ khẩu thường trú tại bốn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị có nguyện vọng học tại trường đại học Vinh hoặc các trường đại học đóng tại Hà Nội (như những năm trước) và các trường đại học đóng tại TP Hồ Chí Minh được dự thi tại cụm thi Vinh, do trường đại học Vinh làm trưởng cụm thi.  Giao các trường tự chủ, tự chịu trách nhiệm xét tuyển  Căn cứ điểm sàn, chỉ tiêu tuyển sinh, các trường tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong xét tuyển. Bộ Giáo dục và Đào tạo không quy định số đợt, số nguyện vọng, thời gian mỗi đợt xét tuyển; không quy định điểm trúng tuyển đợt sau phải cao hơn điểm trúng tuyển đợt trước.  Sau khi xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển nhập học đối với thí sinh đăng ký dự thi vào trường, nếu còn chỉ tiêu, các trường thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của trường và các phương tiện thông tin đại chúng khác điều kiện xét tuyển: thời gian nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển mỗi đợt; thời gian công bố điểm trúng tuyển và danh sách thí sinh trúng tuyển; chỉ tiêu cần tuyển; ngành và khối tuyển; mức điểm nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển; nguồn tuyển…  Về thời hạn kết thúc xét tuyển, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khẳng định cho phép các trường xét tuyển nhiều lần nhưng sẽ nghiên cứu để chốt một mốc thời gian cụ thể cho việc xét tuyển, không để kéo dài và mốc thời gian này đến sau ngày 31- 12.          Tới dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị,  Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ, năm 2010, Thủ tướng Chính phủ có  Chỉ thị 296 về đổi mới quản lý giáo dục đại học, xác định tập trung  thực hiện trong ba năm. Đến nay, đã qua 2/3 thời gian, Bộ Giáo dục và  Đào tạo cần có sự rà soát, đối chiếu để tiếp tục thực hiện cho hiệu quả.     Phó Thủ tướng lưu ý những nội dung cần chú  trọng thực hiện là việc điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh cho phù hợp quy  hoạch phát triển nguồn nhân lực; vấn đề đổi mới cơ chế quản lý tài chính  đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo; đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu  xã hội; đánh giá, kiểm định chất lượng các trường đại học; đào tạo đội  ngũ giảng viên…   Dự hội nghị sáng nay có lãnh đạo của gần 450 trường ĐH, CĐ trong cả nước. Bên cạnh thảo luận những điểm đổi mới trong công tác tuyển sinh, các đại biểu còn nghe báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện đổi mới quản lý giáo dục ĐH năm 2011 và những nhiệm vụ trọng tâm năm 2012 do Thứ trưởng Bùi Văn Ga trình bày.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm hào      Sự việc này xảy ra vào mùa thu năm trước. Hôm đó vào đầu giờ học, các bạn cùng lớp kéo nhau thành một hàng dài, đến trước phòng nghỉ của thày giáo Ngô nộp tiền tạp chí của năm học mới. Điều này thày Ngô đã dặn từ hôm qua, trước khi tan học. Tất cả là 99,50 NDT. Người xếp hàng đầu tiên là Triệu Lương, lớp trưởng, sau đó là các đồng học vừa đi theo vừa xì xầm nói chuyện      Vương Cường cũng xếp hàng trong đội ngũ đó, tay cầm một tờ giấy bạc có mệnh giá lớn-100NDT, đầy những vết nhăm nhúm. Thế nhưng vào lúc đó, con người vốn có tính hiếu động này lại đang bồn chồn không yên, lòng đầu suy tính. Vì sao? Khoản tiền này không dễ dàng gì mà có được. Nhà Vương Cường làm nghề nông. Bố, mẹ đều là những người làm ruộng bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Tối hôm qua, cậu ta phải lấy hết dũng khí mới dám mở miệng nói với bố khoản chi trên. Lúc đó ông bố chỉ thở dài một cái và không hề nói câu nào. Không ngờ, sáng hôm sau, ông đã run rẩy đưa cho Vương Cường tờ giấy bạc đầu những nếp nhăn nhúm này, và nói: “Con trai, nhà ta dù có nghèo nữa, bố mẹ cũng không thể làm con phải tủi thân. Một trăm đồng này, là tối hôm qua bố đến nhà trưởng thôn vay, còn thừa năm hào con giữ lại mà ăn cơm trưa ở trường”. Vương Cường suýt nữa thì bật khóc vì những lời nói đó của bố. Đúng là trưa hôm nay, cậu ta không còn tiền để mua cơm trưa. Vương Cường đang trầm tư suy nghĩ, bỗng có tiếng nói sang sảng, cắt đứt những suy tính đó: “Đừng làm ồn, mọi người hãy im lặng”, thì ra thày Ngô tay cầm một cuốn sổ đăng ký, bắt đầu thu tiền. Triệu Lương là người đầu tiên nộp tờ 100 NDT, thày Ngô vừa ghi chép vừa nói: “Người đầu tiên, Triệu Lương. Này, trả lại em năm hào”.  “Thưa thày, không cần trả lại!”. Vừa nói xong, Triệu Lương đã quay người bỏ đi.  “Đợi một chút, Triệu Lương!…” Thầy Ngô gọi lớn, nhưng cậu ta đã biến mất.  Vương Cường ngẩng đầu lên nhìn, lúc đó mới phát hiện, hầu như trong tay mọi người đều cầm tờ 100 NDT cả, để ý một chút mới thấy, hình như Triệu Lương đã dẫn đầu, vì mấy bạn xếp hàng sát ngay sau cậu ta đều không lấy lại tiền thừa từ thầy Ngô. Lòng Vương Cường càng nặng nề: ta làm thế nào bây giờ, có lấy lại hay không? Lấy lại, chỉ có mấy hào, thật là đáng xấu hổ, mọi người có lấy lại đâu! Thế nhưng, nếu không lấy lại, trưa nay sẽ bị đói… Đang lúc suy tính lung tung như vậy, Vương Cường đã đi tới trước mặt thầy Ngô. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, mặt cậu đỏ lên, đúng vào lúc thày Ngô tìm tiền lẻ, cậy ta đã buột miệng nói ra câu: “không cần tìm đâu ạ!”, rồi rảo bước đi ra.  Sau khi thu tiền xong, là đến giờ ngữ văn, do thày Ngô dạy. Thày Ngô giảng rất hay, nhưng bụng dạ Vương Cường lại để đi đâu, trong lòng chỉ nghĩ đến bữa ăn trưa. Khi chỉ còn năm, ba phút nữa là hết giờ lên lớp, thày Ngô chợt ngừng giảng bài nói: “Hôm nay, các em nộp tiền rất tốt, nhưng trong khi nộp tiền đã xuất hiện một vấn đề, mỗi người các em đều nộp một tờ 100 NDT, nhưng tiền thu thực tế chỉ là 99,50 NDT, cần phải trả lại năm hào nhưng không em nào chịu nhận, có phải là định hối lộ thày không?”. Lời nói của thày Ngô làm các bạn đồng học giật mình. Nhưng không ngờ thày đã nghiêm giọng nói tiếp: “Tôi không thể làm kẻ phạm tội tham ô, vì vậy bây giờ tôi trả lại các em số tiền thừa đó. Các em hãy nhớ lấy, cố gắng nói lời nói thật, cố gắng làm một người chân thật, hãy bắt đầu từ năm hào này vậy. Thày không bao giờ muốn các học trò của thày sau này đều trở thành những con người xa lạ mang một chiếc mặt nạ!”. Nói xong, thày Ngô lấy từ ngăn bàn ra một tập tiền lẻ năm hào, lần lượt trả cho từng người, khi đến lượt Vương Cường, thày Ngô còn vỗ vỗ vào vai cậu mấy cái. Máu nóng trong người Vương Cường như trào lên, cậu cảm thấy mình đã hiểu rõ được không ít điều trái phải.                                                                                    Bành Vĩnh Quý (Trung Quốc)  Dương Quốc Anh (dịch)  Theo “Cố sự hội” tháng 2 năm 2002      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nào bàn, nào ghế …      Cứ theo như cách bố trí không gian lớp học xưa nay thì có thể thấy một điều: chưa bao giờ học trò Việt Nam có được chỗ ngồi hay tư thế thực sự độc lập và thoải mái ở chốn học đường.     Sao lục sách sử từ buổi đầu tiên có tổ chức dạy học (thế kỷ thứ II – III) cho đến khi hình thành nền học chế, thi cử dưới thời Lý với sự ra đời của Quốc Tử Giám kéo dài tới mạt kỳ phong kiến, hễ nói chuyện giáo dục, là chỉ thấy đề cập tới những việc đại sự như chuyện chế độ khảo thí, ghi chép kết quả khoa bảng, cùng lắm là luận đề học thuật tư tưởng to tát… chẳng thấy ở đâu có những dòng mô tả chi tiết, tỉ mỉ về không gian những lớp học trong thời phong kiến đã được bố trí, tổ chức ra làm sao.   Phải đợi đến khi người Pháp vào Việt Nam, chúng ta mới có được một kho dữ liệu để hình dung phần nào về đời sống của tiền nhân, trong đó có tổ chức sinh hoạt giáo dục. Nhờ những bức ảnh chụp lớp học của các thầy đồ Nho, những tranh khắc gỗ soi rọi, chúng ta biết nền học chế được diễn ra trong những điều kiện nào. Từ đó, có thể hình dung phương thức giáo dục đã gián tiếp tạo nên triết lý học tập, rèn luyện nhân cách và xa hơn, ảnh hưởng tới tính cách người Việt ra sao.    Từ những manh chiếu trải đất…  Có thể thấy rằng, trước đây, ngoài một thành phần con cháu công thần được học ở Quốc Tử Giám hay về sau là những trường lớn đô thị có tổ chức dạy học quy củ với mục đích đào tạo người tài ra phò vua giúp nước, thì hầu hết dân đen nơi thôn quê được hưởng thụ một chế độ giáo dục khá tự phát, diễn ra dưới những mái chùa, mái đình hay trong vườn, trong chái tranh của những thầy đồ Nho. Lớp học truyền thống của các thầy đồ được mô tả trong các bức ảnh tài liệu hết sức sơ sài và đơn giản: một tấm phản hay ghế gỗ cho thầy ngồi trên cao và những manh chiếu trải cho đám học trò ngồi dưới đất. Tư thế ông thầy đồ bao giờ cũng toát ra vẻ mô phạm, nghiêm khắc (có bức ảnh chụp cả cảnh ông thầy đồ ngồi trên phản gỗ, cách các học trò mình một khoảng khá xa, tay cầm một chiếc roi trỏ trên đám môn sinh đang khum người viết chữ), còn đám trò thì thường thấy trong tư thế khúm núm.   Điều đáng nói nhất, đó là một phương thức tổ chức không gian học hành hết sức thô sơ, chưa bao giờ vị trí của người học được (cái quyền) di dời thoải mái, tự do. Trong lớp học, đũng quần của họ không cất lên quá mặt đất (có lẽ vì vậy mà có thành ngữ “Mài đủng quần” để chỉ việc đi học trường lớp). Và từ một tầm nhìn thấp, các học trò ngước lên vị thầy đồ cao lồng lộng trên bậc phản hay chiếc ghế, quá trình tiếp thu kiến thức của họ chắc chắn sẽ đi cùng sự tuân phục, chịu định hướng và kính sợ.   Điều đó ăn khớp với truyền thống Nho học, “Tiên học lễ hậu học văn” mà cho đến nay, nhiều nhà trường hiện đại vẫn còn coi là kim chỉ nam của giáo dục.   Từ vị trí của kẻ ngồi trên nền đất, đứa học trò xưa tiếp nhận tri thức một cách bị động, nó được thầy đồ khai sáng vì “lớp học” có thể nói là nơi độc quyền về tri thức, việc tầm sư học đạo thật là gian nan nên nó không có nhiều lựa chọn cho con đường học vấn của mình. Ở những nơi thôn quê, số người ít học càng hiếm thì vị thế ông thầy đồ càng cao, danh giá của tấm chiếu trước sân nhà thầy đồ càng lung linh trong mắt bọn trẻ và cha mẹ chúng. Như vậy, để con mình thành nhân, thành công, phụ huynh còn cách nào khác là nằm lòng câu này: “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.   Uy thế ông thầy đồ chỉ đứng sau vua, còn trên cả thân sinh (Quân, Sư, Phụ). Cho nên, chi phí trả cho chữ nghĩa thời đó, chuyện biếu xén hiếu hỷ giữa phụ huynh với thầy dạy học hẳn cũng hao hơi tổn sức với những nhà nghèo. Hình dung thế này, con cái nhà Nho thường bảy – tám tuổi, con cái nhà bình dân chừng 10 tuổi thì được cha mẹ mang đến gặp thầy xin “khải giáo”. Lễ nhập học thường bao gồm trầu rượu gà qué xôi thịt. Người thầy mà đứa trẻ theo học được gọi là nghiệp sư. Cha mẹ đứa bé có trách nhiệm đối đãi với nghiệp sư một cách chu đáo, ngoài phí học (gọi là tiền đồng môn) còn phải có lễ tết đều đặn và khi thi đỗ thì phải có một lễ gọi là bái môn.   Uy quyền của người thầy có học thức trước đám trò là con em dân đen thể hiện rất rõ (và người ta xem đó là một phần của chữ lễ) qua lối bố trí cấp bậc của không gian dạy học thời bấy giờ. Trong tranh khắc gỗ của Henry Oger, ngoài những bức vẽ sinh hoạt dạy học bình thường, còn có cả các bức ghi lại cảnh thầy đồ ngồi trên phản, dùng roi đánh học trò (như trong bức Giần tay) cho thấy ở lớp học, ông thầy được phép thể hiện cái sự kỷ luật khắt khe của mình bằng những hình phạt răn đe mạnh mẽ, cốt để trò phải chú tâm rèn đức luyện tài, thành người sống có ích cho dân nước.   …đến bàn ghế dàn hàng ngang  Thời Pháp thuộc, lấy cái mốc từ năm 1864, năm diễn ra kỳ thi hương cuối cùng ở đất Nam Kỳ1, nền Tây học du nhập như một làn gió mạnh mẽ và thức thời thổi vào lòng xã hội Nho học từ chương ngàn năm đang trên đà suy vi, làm lật tung mọi lề lối cũ, từ chữ viết đến chế độ giáo dục thi cử, thiết lập nên một trật tự mới với tư duy đề cao khoa học, tinh thần duy lý. Bấy giờ, những lớp học thầy đồ heo hút nơi các làng quê dần dần biến mất khi xã hội không còn dùng chữ Hán, chữ Nôm mà đổi dần sang Quốc ngữ hoặc Pháp ngữ; thay vào đó là những lớp học, trường Tây mọc lên khắp cả nước, từ thành thị đến chốn thôn quê.     Lớp học đầu thế kỷ 20    Khoan bàn đến những ưu việt hay hạn chế trong chính sách đào tạo của hệ thống giáo dục, chỉ trên những hình ảnh còn ghi lại được, có thể thấy, cùng với cơ sở vật chất, việc bố trí không gian các lớp học trong các trường giáo dục Pháp Việt dưới thời thực dân có những cải tiến đáng kể. Học trò không còn cảnh rách rưới nằm nhếch nhác, ngơ ngác dưới nền đất nghe thầy đồ truyền thụ chữ nghĩa mà được ngồi vào bàn ghế tập thể ngăn nắp, gọn gàng và “bài bản” hơn. Ông thầy học có bục giảng, bảng đen, những giờ giảng các môn khoa học có trang thiết bị thí nghiệm, có bản đồ, mô hình… Riêng lối bố trí bàn ghế, vị trí của thầy trò cũng đã có khác trước. Thầy trò tuy giữ một khoảng cách lễ nghĩa nhưng đã gần nhau hơn. Việc học xem ra dân chủ hơn, quan hệ thầy – trò ở trong lớp học bây giờ là quan hệ khai sáng, không còn là quan hệ của kẻ ban phát giáo điều với người ngu muội, của giai cấp trí thức với tầng lớp “dân ngu khu đen” như trước đây. Trong tư tưởng giáo dục mới, vị trí người học được đặt cao hơn, cứu cánh giáo dục tùy thuộc vào chọn lựa của người học, có nhiều ý hướng chọn lựa trong đời, không chỉ có nhất nhất giấc mộng ngàn năm là học để ra làm quan, phò vua giúp nước nữa.  Thời này, lớp học bắt đầu xuất hiện kiểu bàn dài liền ghế, mỗi bàn có thể ngồi được năm, đến mười học sinh tùy theo quy mô sĩ số lớp học; mỗi lớp được xếp nhiều dãy bàn. Công thức kiểu bàn này được áp dụng cho đến mãi sau này, trong lớp học trong trại tập trung dưới thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và kéo dài tới những năm bao cấp, đổi mới và hôm nay dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Bàn ghế ở lớp học còn được tận dụng làm chỗ họp hành cho người lớn, lớp học có khi là chỗ hoạt động bí mật các phong trào chính trị, các cuộc phổ biến, tập trung, tuyên truyền…  Cách thức sắp xếp, bố trí bàn ghế cho người học thể hiện phần nào vị trí của họ trong không gian chế độ giáo dục hay vị trí chính trị của họ trong không gian lớp học – một mô hình thu nhỏ của xã hội. Khoảng cách giữa bàn học đầu tiên trong lớp học đến bàn thầy giáo thường cách nhau một khoảng chừng một, hai mét và chênh một bậc cấp. Người thầy ngồi độc lập ở chiếc bàn của mình, đó là chiếc bàn có khăn phủ, có bình hoa, đủ rộng để đặt phấn, thước kẻ, giáo án giáo trình và các thiết bị khác phục vụ cho việc dạy. Bàn học trò bên dưới thường dài, được chia thành nhiều khoang, hộc hoặc có khi do các học trò tự mặc định “ranh giới” với nhau tùy vào điều kiện sĩ số lớp học.   Kiểu bàn ghế này thường được các nhà trường đưa ra tỉ lệ và tự quyết định kích cỡ. Ở các vùng quê, thời bao cấp, cơ sở vật chất các trường học phổ thông còn yếu, có cái bàn ngồi năm bảy đứa, được cất cái đũng quần lên khỏi mặt đất là thấy cuộc đời “sáng ngời hy vọng” lắm, có đâu mà đòi hỏi tiêu chuẩn nọ với tỉ lệ kia. Và đúng là công cuộc Đổi Mới là dẫn chứng trực quan sáng giá nhất để dạy cho chúng biết quán triệt bài học đạo đức chung tay gìn giữ của công và tiến lên một mô hình xã hội làm chủ tập thể. Hình ảnh học trò thời bấy giờ bớt lem luốc, nhếch nhách hơn nhiều dù những bộ bàn ghế dài cũ kỹ đóng từ gỗ ván tận dụng có khi cọc cạch, cót két. Dăm, bảy học trò chen chúc trên một bộ bàn ghế ọp ẹp trong lớp học đôi khi trông rất giống những đội vận động viên đang răm rắp mái chèo cố đưa con thuyền mình vượt lên phía trước, rất đúng tinh thần lạc quan, niềm tin tươi sáng có thể nói là chủ đạo trong các bài học thời này.   Những con thuyền đồng dạng đó tiếp tục đưa biết bao thế hệ người chèo tiến vào tương lai của nền công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nhưng kiểu bàn ghế dài trong lớp học cũng đã tạo nên những nét tính cách kỳ quặc ở học trò Việt Nam (và có lẽ còn di căn thành tính xấu ở người trưởng thành về sau), đó là: núp bóng tập thể (các học trò học yếu, cá biệt thường thích ngồi bàn sau để núp lưng bạn, né tránh tầm mắt chú ý của thầy khi khảo bài), rụt rè, thụ động, thiếu ý thức cộng tác (học trò Việt Nam ít phát biểu ý kiến trong lớp học vì luôn sợ sai trước tập thể và thầy cô giáo), yếu kém trong làm việc nhóm (vì cách sắp xếp bố trí bàn ghế dàn hàng ngang, cố định nên thầy trò rất khó xoay sở trong các hoạt động thảo luận), so đo ranh giới (một thời trên các tuần báo như Hoa Học Trò, Mực Tím vẫn xuất hiện motif truyện ngắn được học trò yêu thích – vì thấy mình trong đó – đại khái: tôi giỏi toán, nó giỏi văn, hai đứa ngồi sát nhau nhưng phân chia ranh giới bằng một đường mực kẻ trên mặt bàn)…   Vẫn chờ được cải cách  Xét cho cùng, trong cái cùng này thì sinh ra cái biến kia, khi đã quá hao hơi tổn sức với những cuộc cải cách, thí nghiệm rộn ràng và bất tận từ triết lý dạy học đến chương trình sách giáo khoa nhưng vẫn bị mang tiếng chắp vá và thiếu tầm vóc, các quan chức giáo dục chợt giật mình nhớ lại, à, thì ra còn một thứ chưa được đưa vào hạng mục cải cách, đó chính là cái bàn, cái ghế của bọn học trò. Liên tiếp nổ ra những cảnh báo: cái kiểu bàn ghế lớp học được làm ra một cách đồng dạng đại trà và tỉ lệ phụ thuộc vào ông thợ mộc địa phương bấy lâu sinh ra lắm chứng bệnh ở người học. Đây, những cuộc điều tra mới về tác hại của bàn ghế sai tỉ lệ đến thể chất người học đầy tính thuyết phục để lái cuộc cải cách từ trang sách sang chiếc bàn: Tình trạng học sinh Việt Nam bị cong vẹo cột sống ở cấp tiểu học là 27,1%, cấp THCS chiếm 23,8%, THPT chiếm 23,6%. Hiện có tới hơn 50% học sinh tiểu học và hơn 70% học sinh lớp 8, 9 phải sử dụng bàn ghế kích cỡ không phù hợp 2.  Nhưng có một cuộc ảnh hưởng khác chưa được nói tới, đó là lối bố trí lớp học, bàn ghế bấy lâu đã rất có thể là nguyên nhân của những bệnh lý tinh thần và nhân cách khác: thiếu cá tính sáng tạo, thụ động, một mặt thiếu kỹ năng phối hợp trong công việc, một mặt lại thích cầu an, nương vào số đông.  Một điều hết sức thiếu sót, đó là bàn ghế học trò chưa bao giờ được xếp vào danh mục thiết bị giáo dục và có quy chuẩn cụ thể. Có lẽ các chuyên gia giáo dục quá bận tâm vào những nội dung, thông điệp giáo dục hơn là điều kiện tâm lý để người học – chủ thể của giáo dục – có thể dễ dàng tiếp nhận tri thức một cách hiệu quả nhất. Những bộ bàn ghế đi liền nhau từ thời Pháp thuộc vẫn tiếp tục tồn tại trong điều kiện nhà trường hôm nay một cách đầy hiển nhiên.3  Cho đến giữa năm 2011, Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế mới chính thức ban hành một thông tư liên tịch hướng dẫn quy định tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên cơ sở những điều tra về nhân trắc học bình thường của học sinh Việt Nam từ đó quy định kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc và bố trí bàn ghế trong phòng học. Một trong những điểm đáng chú ý trong Thông tư này đó là mỗi bàn không quá hai chỗ ngồi và bàn, ghế tách rời nhau.   Mặc dù quyết định trên được ban hành còn gây nhiều tranh cãi, song, về góc độ đầu tư cơ sở vật chất mà nói, đây là một bước ngoặt trong tư duy của nhà quản lý giáo dục và chắc chắn, nó ảnh hưởng không nhỏ đến sản phẩm giáo dục. Điều đáng chú trọng hơn, thông tư này ra đời như một sự hô ứng cần thiết khi triết lý sư phạm đã có sự thay đổi ít lâu, với một sự nhận thức mới: đề cao tư thế chủ động, tính cá nhân sáng tạo của người học trong tiếp nhận tri thức, người thầy được xem là hướng dẫn phương pháp chứ không còn áp đặt tri thức lên học trò, khoảng cách thầy trò không còn cách biệt như trước v.v. Ngoài ra, cách thiết kế thiết bị giáo dục, bố trí lớp học thoải mái, tự do, khoa học ở những trường tư, trường nước ngoài đầu tư, trường ngoại ngữ cũng là những mô hình đáng để hệ thống giáo dục công lập tiếp thu, học hỏi.   Những chiếc ghế bàn riêng với trục nâng bề mặt, khoảng cách theo điều khiển chủ động và phù hợp với người sử dụng có thể sẽ là mơ ước không xa của học trò Việt Nam cùng với sự cởi mở, tôn trọng cá nhân, vị trí của người học theo đúng tinh thần giáo dục mới – dạy học là một nghệ thuật hợp tác. TS Hồ Đắc Túc, người đã có quá trình dạy học ở ĐH Deakin (Úc), khi trở về đứng lớp ở giảng đường Việt Nam đã có nhận định:   “Lớp học ở Việt Nam thường sắp bàn hàng ngang từ trên xuống dưới, thầy đứng trên bục giảng cao, bàn ghế của thầy cũng kê trên bục cao hơn bàn ghế của trò. Thầy và trò đối diện, từ lớp một đến đại học đều bố trí phòng học giống nhau.  Trong các giờ lý thuyết trên giảng đường đại học, cách sắp bàn ghế như thế cũng hợp lý. Nhưng khi chuyển qua sinh hoạt nhóm hay chia tổ thảo luận, thầy và trò đều chật vật vì khó di chuyển các bàn và băng ghế dài để từng nhóm có thể ngồi đối diện nhau. Người thầy đi vòng quanh, không thể nhập vào từng nhóm để hòa chung với trò thảo luận một vấn đề. Cách bố trí lớp học theo truyền thống này phản ánh triết lý giáo dục truyền thống: thầy giảng trò nghe, thầy tách biệt với trò, đứng và ngồi đều cao hơn trò.   (…)  Truyền thống bàn ghế dàn hàng ngang đối diện với người thầy kéo dài cho đến khi tôi đứng trước các sinh viên ở Việt Nam. Có thời gian dài ở Úc, tôi cũng đứng trước sinh viên nhưng không để ý chuyện này vì lớp học ở Úc mỗi sinh viên một bàn một ghế, khi cần, mỗi người tự di chuyển bàn ghế để thảo luận, thầy cũng chọn một ghế trống để ngồi ngang với trò.”4  Vì thế, xem lại những hình ảnh những chiếc bàn dài liền ghế một kích cỡ cho mọi cấp học chẳng khác nào những bàn họp hợp tác xã, hay trước đó là không gian bình dân học vụ, xa hơn, nhìn về những lớp học thầy đồ với đám học trò đói rách nhếch nhác xo ro trước ông thầy khăn đóng áo the nghiêm trang trịnh trọng, con cháu chúng ta sẽ hình dung được một hành trình tư duy giáo dục của người Việt đã trải qua và cắt nghĩa được phần nào cái làm nên hình ảnh xã hội trong những giai đoạn phát triển. Vì ở đó, việc xác định tư thế, hình ảnh tương quan người học với người dạy, vị trí người học trong không gian truyền trao tri thức sẽ góp phần rọi sáng, giải mã những điều sâu xa hơn về tư tưởng, văn hóa và vị thế chính trị của cá thể – với tư cách là sản phẩm giáo dục – trong từng xã hội.   —-    Tài liệu tham khảo:  – An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển, Alphabooks & NXB Hà Nội, 2008,  – Nếp cũ, Con người Việt Nam, Toan Ánh, NXB Trẻ, 2005.  – Di sản giáo dục, y học và y tế thời Pháp thuộc của PGS TS Trần Xuân Mai:http://www.hongbang-uni.edu.vn/Khoa-Chuyennganh/pdf_ khoachuyen/vnhoc_DisanGD-YH-TY_TranXuanMai.pdf  – Kỹ thuật của người An Nam, Henry Orger, Nhã Nam, Thư Viện KHTH TP.HCM & NXB Thế giới, chủ biên Olivier Tessier & Philippe Le Failler, 2009  – Thông tư liên tịch số: 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16.6.2011.  —  1 Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là vào năm 1915 và ở Huế là vào năm 1918. Có lẽ chậm hơn so với Nam Kỳ một phần do trung ương chế độ phong kiến đóng ở Huế, còn Bắc Kỳ tuy tiếp cận với người Âu từ sớm, nhưng lại là cái nôi lâu đời nhất của Nho học tại Việt Nam.  2 “TS Lê Anh Dũng, giám đốc Công ty Thiết bị Trường học Việt Nam, cho biết, khi để mặt bàn phẳng học sinh ngồi gục đầu nhiều hơn, nhưng khi điều chỉnh mặt bàn nghiêng học sinh ngồi ngay ngắn hơn. Mặt bàn phẳng cũng là một trong những nguy cơ dẫn đến cột sống cổ c5 và c6 bị chèn ép, làm tổn thương dây thần kinh điều khiển hệ vận động, làm rối loạn chức năng vận động của tim, phổi, mắt và một số bộ phận khác…  3Bàn ghế không chuẩn còn ảnh hưởng đến hứng thú tiếp thu bài học của học sinh, làm cho chúng ức chế, mệt mỏi. Học sinh cần phải vận động nên không thể ngồi cứng đơ với cái bàn liền ghế. Bàn ghế liền làm cột sống cứng đơ trì trệ, không được vận động, căng thẳng…  Kết quả điều tra của PGS.TS Nguyễn Đức Thu, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thể chất (Bộ GD&ĐT), cùng các cộng sự về ảnh hưởng của bàn ghế tại 6 trường tiểu học, THCS và THPT ở huyện Sóc Sơn và quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) cho thấy, 30,8% học sinh bị biến dạng cột sống. Tỷ lệ học sinh bị gù tăng dần lên theo từng cấp học: 2% bị gù ở học sinh tiểu học, 4% ở THCS và 6,2% ở THPT. (Theo Sức khỏe và đời sống, tháng 11/2011)  4 Lời nói đầu, Dịch thuật và tự do, Hồ Đắc Túc, Phương Nam Book, ĐH Hoa Sen & NXB Hồng Đức, 2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập  từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946. Kỳ 1: Kích hoạt  những tiềm năng giáo dục vốn có      Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một quá trình tái cấu trúc xã hội mới trên toàn Việt Nam, ở đó nhiều hoạt động xã hội trong đó có giáo dục bắt đầu mang nội dung và tính chất khác hẳn không chỉ so với thời Pháp thuộc mà còn với cả thời quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập trước đó. Việc đưa quyền lực của quốc gia vào tay nhân dân khiến hoạt động này bắt đầu mang những nội dung và tính chất mới mẻ tức không chỉ nhằm phục vụ các mục đích của chính quyền mà còn vì lợi ích của toàn dân tộc, không chỉ là ưu thế của riêng bộ phận hữu sản mà còn là quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân. Việc nhìn lại hoạt động giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 (trở xuống viết tắt là 1945 – 1946) do đó không những có thể làm rõ thêm một thời kỳ của lịch sử giáo dục Việt Nam mà còn có thể góp phần vào việc tìm hiểu quá trình hiện đại hóa của xã hội Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám trở đi.  Nhìn lại quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam thời gian 1945 – 1946, dễ nhận ra sự mâu thuẫn giữa nhiều hiện tượng, sự chênh lệch giữa nhiều lãnh vực và sự khác biệt giữa nhiều quá trình xã hội. Nhưng giữa bấy nhiêu ngổn ngang thường thấy ở những buổi giao thời, giáo dục vẫn là khu vực hoạt động có sự thống nhất, đồng bộ và tương đồng cao nhất nên mặc dù gặp nhiều khó khăn nhất vẫn đạt được nhiều thành công nhất, điều này bắt nguồn từ thực trạng nền giáo dục của thực dân Pháp và khát vọng xóa bỏ thực trạng ấy trước Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.     Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh (trái) và PGS.TS Nguyễn Văn Huy tại tọa đàm giới thiệu nghiên cứu Tư liệu về giáo dục Việt Nam từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 do Tia Sáng tổ chức ngày 6/8/2022. Ảnh: Mỹ Hạnh.  Từ di sản của quá khứ…  Ngoài những xáo trộn thời cuộc từ khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương (9/3/1945) đến khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh (15/8/1945) làm bộ máy giáo dục tê liệt, hoạt động giáo dục đình đốn, thực trạng giáo dục mà người Pháp để lại cho nhân dân và chính quyền Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám quả thật vô cùng thê thảm. Khoảng 90% dân số Việt Nam mù chữ, giáo dục cấp tiểu học và trung học mang đậm sắc thái xa rời thực tế, giáo dục cấp đại học chỉ nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ thừa hành bản xứ phục vụ cho hoạt động cai trị của người Pháp, chương trình giáo dục có nhiều khác biệt giữa Nam Kỳ “thuộc địa” và Trung Bắc “bảo hộ”… Thực trạng ấy đã sớm đưa tới sự phản ứng trong nhận thức của nhiều trí thức Việt Nam. Chỉ nói trong phạm vi giảng dạy văn học, từ 1925 Nguyễn Văn Kinh đã uất ức “Ta thử hỏi một trò nào đủ trí khôn, coi có biết một ít tên nhà văn sỹ nước Nam cùng một ít đấng văn học của ta trong thế kỷ sau này, rồi hỏi lại nào J. J. Rausseau, nào Lamartine, nào Châteaubriad thì trò đọc suốt cả lai lịch, nhớ đến ngày sanh chỗ ở. Thiệt rõ ràng mồ cha không khóc, đi khóc đống mối!” (1), đến 1945 Ngọc Thụy lại cay đắng “Về văn học cổ điển chúng ta vẫn là nô lệ của văn học Tây phương” (báo Ngày mới, số 1, ngày 1/4/1945). Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nói tới hệ thống giáo dục của người Pháp ở Việt Nam, Thanh Thế Vỹ khẳng định “Cơ quan duy nhất về sự học của họ đặt trong nước ta là Nha Học chính. Thật là rõ rệt! Họ trắng trợn thi hành phương sách phá hoại căn bản ta. Chỉ có Học chính thôi, chứ không có giáo dục” (Trung Bắc chủ nhật số 249, ngày 17.6.1945), bàn về chương trình các bậc học của chính quyền thuộc địa, Vũ Bằng phân tích “Hồi mồ ma chính phủ Pháp, họ chia việc học ở nước ta làm bốn bậc: ban Sơ học, ban Cao đẳng tiểu học, ban Trung học và ban Cao đẳng đại học. Mục đích không có gì khác hơn là kéo dài niên khóa ra để làm tê liệt sức phát triển của học sinh” (báo Trung Bắc chủ nhật số 246, ngày 27/5/1945). Một bài viết trên báo Tin mới số 1639 ngày 5/6/1945 chỉ ra chất lượng bộ phận hương sư “Các ông giáo dưới thời bọn thực dân Pháp muốn cạnh tranh với sự bành trướng của Hội Truyền bá quốc ngữ, lập vội thật nhiều trường hương thôn và tuyển vội thật nhiều ông giáo không cần nhân cách và không cần cả học lực” , bản đề nghị nguyên tắc nền giáo dục nước Việt Nam mới của Hội Phụ huynh học sinh Việt Nam đệ lên Bộ Giáo dục Mỹ thuật tháng 5/1945 nhận định về nội dung giáo trình bậc học mẫu giáo “Sách giáo khoa và báo sư phạm trước đây thường hiểu sai tâm lý nhi đồng, thành ra dạy những trừu tượng viễn vông, xao nhãng sự mở mang ngũ quan của trẻ. Loại sách Psychologie appliquée à l’âdoration dùng ở các lớp sư phạm đều nói về tâm lý người Âu” (báo Tin mới số 1656, ngày 30/6/1945). Hơn thế nữa, có thể nói hệ thống giáo dục thuộc địa dưới thời Pháp thuộc không những không đóng góp được bao nhiêu vào việc nâng cao dân trí mà còn tạo ra nhiều nét đứt gãy trong sự nối tiếp truyền thống của xã hội Việt Nam. Chủ trương ngu dân được thực hiện bằng một chính sách thâm độc mà cụ thể là việc lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính thức trong nhà trường từ bậc học thấp nhất “Chưa học hết Việt ngữ đã bắt học chữ Pháp” (báo Trung Bắc chủ nhật số 246, ngày 27/5/1945) đã tạo ra một đội ngũ học sinh “như một lũ vẹt nhai lại một thứ tiếng ngoại quốc để nhét vào đầu óc một mớ học thức phổ thông cần phải có để vỡ lòng và để hiểu mọi lẽ của tạo vật” (báo Ngày mới, số 1, ngày 1/4/1945). Cần nói thêm rằng chương trình và giáo pháp vong bản ấy còn khiến suốt tám mươi năm dưới thời Pháp thuộc tiếng Việt chỉ vận động và phát triển một cách tự phát, đồng thời làm chữ quốc ngữ Latin với ưu thế dễ học mau nhớ không phát huy được hết tác dụng lẽ ra phải có vì vẫn bị giới hạn trong phạm vi “chữ quốc ngữ của các phương ngữ”. Tiếng Việt không được chú ý đúng mức trong nhà trường đã dẫn tới tình trạng nhiều học sinh không chỉ tiểu học mà cả trung học cũng không nắm vững tiếng Việt ở mức tương ứng với học vấn, gieo mầm vong bản trong nhiều hoạt động sản xuất tinh thần cũng như tác động bất lợi tới hệ thống giao tiếp xã hội trong nội bộ cộng đồng Việt Nam. Chính thực trạng ấy đã làm dấy lên phản ứng của xã hội Việt Nam qua phong trào giáo dục bình dân mà điểm sáng là sự xuất hiện Hội Truyền bá quốc ngữ Bắc Kỳ (2) năm 1938 và đặc biệt là phong khí mới trong hoạt động giáo dục dưới thời Đế quốc Việt Nam từ tháng 3 đến tháng 9/1945.    Trên cơ sở nền độc lập đích thực, niềm khát vọng chính đáng và những yếu tố tích cực của một quá khứ bi thảm ấy, nhân dân và chính quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời gian 1945 – 1946 đã viết nên một trang rực rỡ chưa bao giờ có được và có lẽ cũng không bao giờ lặp lại trong lịch sử giáo dục Việt Nam.    Sau khi vua Bảo Đại ban dụ số 5 ngày 17/4/1945 thành lập Nội các của Đế quốc Việt Nam trong đó có Bộ Giáo dục Mỹ thuật, ngày 22/4/1945 một đoàn đại biểu sinh viên và học sinh ở Huế đã đệ trình một bản nguyện vọng với Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn gồm một số yêu cầu quan trọng về giáo dục, đến tháng 5/1945 Hội Phụ huynh học sinh Việt Nam lại đệ lên Bộ Giáo dục Mỹ thuật bản đề nghị nguyên tắc nền giáo dục nước Việt Nam mới (Việt Nam tân báo số 31, ngày 30/4/1945 và báo Tin mới số 1654, ngày 28/6/1945). Tháng 5/1945 Vũ Bằng mong mỏi các trí thức có bằng cấp cao “có thì giờ rộng rãi, sẽ tìm những sách chuyên khoa của Âu Mỹ và theo sở trường, sở đoản mà phiên dịch ra Việt ngữ để giúp cho cái thư viện các sách giáo khoa của nước ta” (báo Trung Bắc chủ nhật số 246, ngày 27/5/1945). Theo phiến số 14 ngày 24/5/1945 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mỹ thuật được vua Bảo Đại chuẩn y, một Hội đồng Tư vấn giáo dục đã được thành lập bao gồm đại diện các bộ Tiếp tế, Thanh niên, Y tế, Giám đốc Văn hóa viện, Hiệu trưởng các trường công tư có ban trung học và ban cao đẳng, Đốc học và Kiểm học ở các tỉnh và nhiều nhân sỹ trí thức, đến ngày 31/5/1945 Hội đồng này đã nhóm họp lần đầu ở Văn hóa viện bàn về việc cải cách nền tiểu học (3). Ngày 4/ 6/1945 vua Bảo Đại ra Dụ số 41 ban hành thể lệ mới về trường tư theo hướng thống nhất về chương trình giảng dạy và không phân biệt đối xử trong việc thi cử với trường công (4). Hoạt động truyền bá quốc ngữ bùng lên ở miền Trung khiến tác giả bài Chỉ hai tháng 10 vạn người sẽ biết đọc biết viết hướng tới những cách thức và phương tiện như áp dụng cách dạy của Hội Truyền bá quốc ngữ, tận dụng tàu chuối mo cau để viết chữ, huy động giáo viên và học sinh ở miền Trung tranh thủ dịp nghỉ hè dạy học cho những người mù chữ (5). Tháng 4/1945 Thái Can mô tả việc các giáo viên chuẩn bị bài giảng bằng tiếng Việt “Suốt cả đêm họ phải tra cứu, sưu tầm, phiên dịch, hiệu đính các danh từ chuyên khoa, để sáng mai đến giảng dạy cho học trò. Rồi lúc giảng, họ hết sức theo mạch lạc để diễn ý tưởng sáng suốt ra cho học trò được dễ hiểu. Công việc các giáo sư đó thực là mười phần khó nhọc hơn xưa, cái lòng hăng hái, cái chí kiên nhẫn của họ thật đáng thán phục. Phần đông học trò đều công nhận rằng bài dạy bằng quốc văn dễ hiểu hơn Pháp văn nhiều” (6), ngày 13/6/1945 kỳ thi Sơ học bổ túc tổ chức ở miền Bắc đã dùng chữ quốc ngữ thay cho chữ Pháp (báo Trung Bắc chủ nhật số 246, ngày 27/5/1945 và báo Nước Nam số 273, ngày 23/6/1945). Tháng 6/1945 Bộ Giáo dục Mỹ thuật ở Huế, Nha Học chính Bắc Kỳ ở Hà Nội đều ráo riết tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên và hương sư (Việt Nam tân báo số 56, ngày 31/5/1946), ngoài ra Bộ Giáo dục Mỹ thuật còn dự định mở Trường Kỹ nghệ chuyên môn ở Thuận Hóa trong kỳ khai giảng năm học 1945 – 1946 để đào tạo những nhân viên chuyên môn về kỹ nghệ (7) và chuẩn bị xuất bản tờ học báo Giáo dục tân san “để truyền bá tư tưởng về nền giáo dục mới và giúp giáo viêu tiểu học trong phương pháp thực hành” (Việt Nam tân báo số 76, ngày 25/6/1945). Ngày 24/6/1945 Hội Truyền bá quốc ngữ miền Nhuệ Giang làm lễ phát phần thưởng cho học trò trong miền thi đậu khóa học thứ hai và làm lễ khánh thành Bình dân thư viện của hội lập tại tổng Phương Canh phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông (báo Nước Nam số 276, ngày 21/7/1945). Ngày 8/7/1945 Tiểu ban Học chính Bắc Kỳ họp bàn chương trình chống nạn thất học trong dân chúng với đề nghị “người Việt Nam từ 6 tuổi đến 40 tuổi đều bắt buộc phải biết chữ, hẹn trong ba năm nếu ai không biết chữ thì sẽ phải nộp một khoản thuế gọi là thuế vô học” (Trung Bắc chủ nhật số 252, ngày 8/7/1945). Ngày 28/7/1945 Tổng trưởng Nội các Trần Trọng Kim ra Nghị định thành lập Hội đồng Bảo trợ sinh viên và thanh niên đặt ở Hà Nội (báo Tin mới số 1686, ngày 4/8/1945). Ngày 31/7/1945 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mỹ thuật ra Nghị định thiết lập Nha Giám đốc Đại học vụ ở Hà Nội (Fonds Bộ Giáo dục tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III – từ đây viết tắt là Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2)…  GS. Nguyễn Văn Huyên (thứ 2 từ trái sang) tháp tùng Bác Hồ đến thăm 1 lớp học phổ thông ở Hà Nội. (nguồn: www.nguyenvanhuyen.org.vn).  Do sự cản trở, cấm đoán của người Pháp nên nhìn chung Hội Truyền bá quốc ngữ thời gian 1938 – 1945 không gặt hái được thật nhiều kết quả, còn sự tồn tại ngắn ngủi của nó cũng khiến Đế quốc Việt Nam chưa có thành tựu giáo dục nào đáng kể. Nhưng sinh hoạt xã hội, nhu cầu văn hóa, đời sống tư tưởng luôn có sự độc lập nhất định với thể chế chính trị, nên không thể đánh đồng sự độc lập giả hiệu mà người Nhật “trao trả” với khát vọng có thật của cộng đồng Việt Nam về việc xóa bỏ nền giáo dục thuộc địa để xây dựng một nền giáo dục mới, khát vọng này đã trình hiện khá tập trung mặc dù chưa toàn diện và thống nhất qua hoạt động giáo dục trong gần nửa năm thời Đế quốc Việt Nam. Trên cơ sở nền độc lập đích thực, niềm khát vọng chính đáng và những yếu tố tích cực của một quá khứ bi thảm ấy, nhân dân và chính quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời gian 1945 – 1946 đã viết nên một trang rực rỡ chưa bao giờ có được và có lẽ cũng không bao giờ lặp lại trong lịch sử giáo dục Việt Nam.  … Đến trang sử giáo dục 1945 – 1946 ở Việt Nam  Ngay sau Tuyên cáo ngày 28/8/1945 theo đó Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa có tất cả 13 bộ trong đó có Bộ Quốc gia Giáo dục (trở xuống viết tắt là Bộ Giáo dục) vừa thành lập, cơ quan này đã lập tức hoạt động. Các Thông tư số 1, 2, 3, 4 cả trước và sau ngày 2/9/1945 (Fonds Bộ Giáo dục, hồ sơ 2) cho thấy điều này. Trong hoàn cảnh bộ máy giáo dục có nhiều xáo trộn, hoạt động giáo dục đang bị đình đốn vì thời cuộc trước đó, Bộ Giáo dục đã mau chóng chấn chỉnh lại lề lối và tác phong làm việc, nỗ lực tổ chức lại bộ máy và nhân sự, cố gắng giải quyết những hậu quả của nền giáo dục cũ đồng thời đặt nền móng cho nền giáo dục mới ở một quốc gia vừa giành độc lập. Cái sinh khí hừng hực của một dân tộc vừa thoát khỏi xích xiềng nô lệ đã thay gân đổi tủy cho nhiều yếu tố giáo dục vốn có từ thời Pháp thuộc, kích hoạt những tiềm năng giáo dục vốn có của xã hội Việt Nam.    Chính vì hậu quả của việc lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân đảng chiếm đóng những nơi này trước đó. Hoạt động giáo dục thời gian 1945 – 1946 vì vậy không thể tiến hành như nhau ở các địa phương.    Cần nhìn lại hoàn cảnh Việt Nam thời gian 1945 – 1946 để thấy những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với hoạt động giáo dục. Sau khi Nhật đầu hàng, Đồng minh giao cho quân Anh giải giáp quân Nhật ở Đông Dương trên phần đất phía nam vỹ tuyến 16, nhưng ngay sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 23/9/1945 quân Pháp núp bóng quân Anh trở lại Việt Nam đã khởi sự tái xâm lược Nam Bộ, đến tháng 11/1945 đánh lan ra vùng Nam Trung Bộ rồi Tây Nguyên. Trên phần đất phía bắc vỹ tuyến 16 Đông Dương quân Trung Hoa đã theo lệnh Đồng minh tới giải giáp quân Nhật từ tháng 9/1945 rồi sau Hiệp ước Hoa Pháp ngày 28/2/1946 lại ưng thuận rút về nhường cho quân Pháp quyền hoàn tất việc giải giáp quân Nhật. Trong tình thế ấy Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, chấp nhận cho quân Pháp đổ vào Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ngay sau đó quân Pháp đã lần lượt tới đóng quân ở Hải Phòng, Hà Nội (18/3/1946), Đà Nẵng (25/3/1946), Thuận Hóa (28/3/1946), Nam Định và Hòn Gai (5/4/1946) và liên tiếp tiến hành các hoạt động khiêu khích, gây hấn… Sau khi quân Pháp đánh ra Nam Trung Bộ, ở Khánh Hòa tại những nơi bị chiếm đóng thanh niên học tập phải cử người canh gác, nếu quân Pháp kéo tới thì báo hiệu cho lớp học vùi sách vở giấy bút xuống dưới cát để tránh bị khủng bố (báo Cứu quốc số 332, ngày 30/8/1946). Ở vùng Trung Bắc thì sự có mặt của quân đội Trung Hoa rồi quân đội Pháp sau đó cũng gây ra nhiều trở ngại cho sinh hoạt xã hội nói chung cũng như cho hoạt động giáo dục nói riêng. Đầu năm học 1945 – 1946 Bộ Giáo dục phải đề nghị Tư lệnh quân Trung Hoa rút số quân tạm đóng ra khỏi Việt Nam Học xá và Trường Đại học để lấy chỗ giảng dạy (Công văn của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ngày 1/10/1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 3), đầu năm học 1946 – 1947 dư luận lại rộ lên yêu cầu quân Pháp đóng tạm ở các trường học ở Hà Nội, Hải Phòng phải rút đi để học sinh có thể vào học đúng ngày khai giảng . Sau khi quân Pháp kéo vào vùng Bắc Trung Bộ một số trường học ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa được lệnh tản cư, khi tình hình tạm thời yên ổn trở lại một số phụ huynh của học sinh Trường nữ học Đồng Khánh vẫn lo sợ không dám cho con đi học vì trường ở cạnh đồn quân Pháp (Biên bản phiên họp Hội đồng giám sát Trường trung học Đào Duy Từ ngày 13/5/1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2321)… Việc quân Pháp có mặt ở miền Bắc khiến tháng 4/1946 Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục đã phải dự thảo một Sắc lệnh tổ chức lớp võ huấn tức huấn luyện quân sự cho học sinh trung học (Dự án Sắc lệnh tổ chức lớp võ huấn cho học sinh Ban Trung học tháng 4/1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10). Chiến tranh khiến nhiều sinh viên người Nam Bộ ra học đại học ở Hà Nội bị đứt liên lạc với gia đình, lâm vào tình cảnh thiếu thốn đến nỗi tháng 2/1946, Chính phủ phải lập một Quĩ cho vay danh dự để giúp họ có điều kiện sinh hoạt và học tập (Việt Nam Dân quốc công báo số 10, ngày 9/3/1946), hay hội nghị Đà Lạt trong đó phái đoàn Pháp đòi hỏi Trường Đại học ở Hà Nội thuộc quyền Liên bang Đông Dương cũng hứa hẹn nhiều bất lợi cho hoạt động của Trường Đại học Việt Nam (báo Cứu quốc số 226, ngày 27/4/1946). Thậm chí mặc dù Nhật Bản đã đầu hàng, một số người Nhật vẫn giở trò phá bĩnh. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, viên Giám đốc Học chính Đông Dương người Nhật Sera đã cho thủ tiêu toàn bộ những hồ sơ công chức, giáo sư và sinh viên Pháp lưu trữ ở Nha Học chính khiến hồ sơ nhiều học sinh Việt Nam cũng bị mất mát, còn sau Cách mạng Tháng Tám người này lại chằng bửa không hợp tác với chính quyền mới, không giao trả công sở cho Bộ Giáo dục của nước Việt Nam (Việt Nam Dân quốc công báo, số 7 ngày 3/11/1945 và số 21, ngày 25/5/1946). Bên cạnh đó, ngoài lực lượng vũ trang của Việt Nam Cách mạng đồng minh hội thổ phỉ hóa chiếm cứ một dải Móng Cái, Hòn Gai cướp bóc tài vật, giết hại nhân dân đến tháng 4/1946 nghe tin quân Pháp kéo vào mới hoảng sợ rút chạy, từ cuối 1945 lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân đảng đã chiếm đóng Vĩnh Yên, Phú Thọ, Việt Trì, Bắc Giang không tuân lệnh Chính phủ, đến tháng 6/1946 bị Vệ quốc đoàn tấn công mới rút về phía biên giới Việt Trung. Ngày 21/8/1946 Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Nghị định mở một kỳ thi tiểu học tốt nghiệp đặc biệt vào ngày 12/9/1946 tại các tỉnh lỵ Lạng Sơn, Phú Thọ, Việt Trì, Yên Bái và hủy bỏ kết quả kỳ thi tiểu học tốt nghiệp tại Việt Trì ngày 24/6/1946 (Việt Nam Dân quốc công báo số 37, ngày 14/9/1946) chính vì hậu quả của việc lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân đảng chiếm đóng những nơi này trước đó. Hoạt động giáo dục thời gian 1945 – 1946 vì vậy không thể tiến hành như nhau ở các địa phương, chẳng hạn từ tháng 9/1945 gần như hoàn toàn bị đình đốn ở Nam Bộ rồi Nam Trung Bộ. Báo cáo tình hình chung miền Đông Nam Bộ (gồm các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn và chiến khu Đông Thành) ngày 28/12/1948 do Thanh tra Chánh trị miền Đông Nam Bộ Tạ Nhựt Tu ký tên ít nhiều cung cấp một ý niệm về tình hình giáo dục ở miền Nam trong hoàn cảnh chiến tranh “Văn hóa. Bị khủng bố ráo riết, nhiều lớp học bị thiêu hủy, nhiều giáo viên bị bắt, thiếu giáo viên, thiếu an ninh để mở rộng nhiều lớp tiểu học. Nhiều trẻ em phải vào vùng tạm chiếm để học. Cán bộ quần chúng muốn đi học nhưng không có người thay thế, không có trường trung học bình dân (…). Ty Giáo dục đã tổ chức đầy đủ ở các tỉnh, nhưng không có sự phân công ngay từ lúc ban đầu giữa các ty về tu thơ nên ty nào cũng mất nhiều thì giờ và cán bộ để làm một công chuyện giống nhau (…). Sự kiểm soát giáo dục ở hương thôn không chu đáo, có nơi dạy không chương trình không phương pháp đúng đắn” (8). Nhưng trên địa bàn Trung Bắc có điều kiện tương đối hòa bình nên có thể tiến hành một cách toàn diện, hoạt động giáo dục thời gian 1945 – 1946 cũng gặp không ít khó khăn.    Hệ thống giáo dục thuộc địa dưới thời Pháp thuộc không những không đóng góp được bao nhiêu vào việc nâng cao dân trí mà còn tạo ra nhiều nét đứt gãy trong sự nối tiếp truyền thống của xã hội Việt Nam. Ảnh: Học sinh trường làng, trường tỉnh thời Pháp thuộc. Nguồn: Giaoduc.net  Bên cạnh gánh nặng của nền giáo dục ngu dân thời Pháp thuộc, hệ thống giáo dục ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám còn phải đối mặt với nhiều trở lực khác. Diễn văn của Chủ tịch Quân sự ủy viên hội Võ Nguyên Giáp đọc ngày 2/9/1946 tại Hà Nội cho biết “Vào lúc Chính phủ nhân dân thành lập, ngân sách Đông Dương đã hụt tới 185 triệu và nợ 564 triệu. Trong ngân khố trung ương tổng cộng còn 1.230.000 đồng, trong đó có 586.000 đồng là hào nát” (9). Tình hình tài chính ngặt nghèo ấy cùng với tình trạng vật tư khan hiếm, hàng hóa đắt đỏ đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động giáo dục. Thời gian 1945 – 1946 cả Bộ Giáo dục chỉ có hai chiếc xe hơi trong đó một chiếc là camion loại nhỏ, một chiếc là “giành giật” được từ viên Giám đốc Nha Học chính Đông Dương cũ người Nhật Sera, phải xin xăng kiểu ăn đong lại không có lốp dự phòng, phải “hỏi mượn” một chiếc lốp xe bỏ không ở trụ sở Nha Nông lâm mục, đã thế còn phải đôi co qua lại với Bộ Y tế vì Bộ này “đòi lại” chiếc xe ấy (Công văn của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục gửi Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 12/2/1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10). Đi xem nhà ở Cầu Giấy để thuê mặt bằng làm trường học, Giám đốc Trung học vụ Ngụy Như Kontum hẹn với chủ nhân “Tôi sẽ đón ngài cùng đi bằng xe đạp” (Thư của Giám đốc Trung học vụ gửi ông Nguyễn Phúc Lộc ngày 27/9/1945, Fonds Bộ Giáo dục, hồ sơ 3). Việc in ấn học báo và sách giáo khoa phải xin cấp từng tấn giấy, từng trăm rames bìa (Công văn của Bộ Quốc gia Giáo dục gửi Bộ trưởng Bộ Kinh tế ngày 1/10/1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 3), thậm chí ngày 3/11/1945 Bộ trưởng Vũ Đình Hòe đã ra thông tư nhắc nhở nhân viên dè xẻn trong việc sử dụng giấy với những lời dặn dò “Trừ những trường hợp đặc biệt, những giấy từ sở này qua sở khác chỉ nên dùng khổ nhỏ (…). Có thể đánh máy cả hai mặt những giấy tờ không quan hệ (…). Phong bì gửi đến cho gấp trái nếu còn có thể dùng được” (tư liệu 117).    Cái sinh khí hừng hực của một dân tộc vừa thoát khỏi xích xiềng nô lệ đã thay gân đổi tủy cho nhiều yếu tố giáo dục vốn có từ thời Pháp thuộc, kích hoạt những tiềm năng giáo dục vốn có của xã hội Việt Nam.    Không lạ gì mà nhiều công văn, báo cáo, thư từ của Bộ Giáo dục thời gian 1945 – 1946 còn được lưu giữ đến nay là được viết hay đánh máy trên giấy tờ in tiêu đề của chính quyền cũ hay nhiều văn bản chỉ có khổ bằng bàn tay. Thời gian 1945 – 1946 các bộ trong Chính phủ chưa có ngân sách riêng, mọi chi tiêu công vụ của văn phòng và các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục đều do Bộ Tài chính tùy theo nhu cầu cụ thể mà trợ cấp hay tạm ứng (Việt Nam Dân quốc công báo số 10, ngày 24/11/1945, số 14 ngày 15/12/1945, số 3 ngày 19/1/1946, số 17 ngày 27/4/1946, số 18 ngày 4/5./1946, số 24 ngày 15/6/1946 số 29 ngày 20/7/1946). Ở các sở ở cấp kỳ hay ty ở cấp tỉnh và nhất là hệ thống các trường từ tiểu học tới trung học, tình hình cũng không có gì khá hơn. Biên bản họp của các hội đồng giám sát bốn trường Đào Duy Từ ở Thanh Hóa, Nguyễn Công Trứ ở Vinh, Đồng Khánh và Khải Định ở Thuận Hóa từ tháng 5 đến tháng 7/1946 đều nêu ra những khó khăn về trường lớp, bàn ghế, dụng cụ và phương tiện giảng dạy, sách giáo khoa và các vấn đề như học sinh nghèo không có học bổng, thiếu giáo viên vì quĩ lương có hạn (Biên bản phiên họp Hội đồng giám sát Trường trung học Đào Duy Từ ngày 13/5/1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2321). Bình dân học vụ mà đối tượng phải giúp đỡ là hàng chục triệu người mù chữ chỉ tính trên địa bàn Trung Bắc lại càng là cái khó chồng lên cái khó, không có giấy bút phải dùng cả que vạch xuống đất, than viết lên tường, không có trường lớp phải học ở quán nước cây đa, sân đình góc chợ (báo Cứu quốc số 243, 247, 248, ngày 18, 23, 24/5.1946). Đến nỗi Bộ trưởng Vũ Đình Hòe từng phải thông tư cho các công sở của bộ “để riêng một chỗ những sổ sách, giấy tờ bỏ đi và giấy tờ cũ không phải những tài liệu cần thiết quan hệ nên giữ để phát cho những đồng bào nghèo thất học dùng làm vở viết” theo yêu cầu của Bình dân học vụ Hà Nội, hay gợi ý Giám đốc Học chính Trung Bộ về việc giải quyết vấn đề học cụ “Bút viết có thể dùng những quản bút nho hay những đũa tre gọt nhọn hình ngòi bút sắt, quản bút nho Tàu ngày trước dùng được lâu lắm” (Thông sư số 357 của Bộ Quốc gia Giáo dục ngày 3/11/1945, Fonds Bộ Giáo dục, hồ sơ 3, Công văn của Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục gửi Giám đốc Học chính Trung Bộ ngày 11/1/1946). Ngay tại thủ đô cũng có tình trang nhiều thanh niên “kéo xe bò đến các sở quyên giấy lộn về cho Bình dân học vụ lọc lại để in tranh” (báo Cứu quốc số 196 và 200, ngày 24 và 28/3/1946). Tuy nhiên với Cách mạng Tháng Tám nhu cầu về một nền giáo dục mới của xã hội Việt Nam đã có điều kiện chính trị để trở thành hiện thực. Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ với luận điểm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (10). Hoạt động giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời gian 1945 – 1946 đã diễn ra trong bối cảnh và với nhận thức nói trên.□  (Còn tiếp)    Chú thích:   (1) Nguyễn Văn Kinh, Nam âm, Recueil de morceaux choisis de Poésie annamite à l’usage de la Jeunesse avec explications des mots, notices biographiques et commentaires, Nhà in Xưa Nay, Sài Gòn, 1925, tr. I – III.  (2) Trước nay khi đề cập tới tổ chức này nhiều người vẫn gọi là Hội Truyền bá quốc ngữ, nhưng đúng ra phải gọi là Hội Truyền bá học quốc ngữ Bắc Kỳ như tên chính thức của nó trong con dấu trên một số văn bản. Một tư liệu hiện còn cho biết khi Ban sáng lập hội đề nghị cho phép được hoạt động trên toàn Việt Nam, Thống sứ Bắc Kỳ đã trả lời chỉ Toàn quyền Đông Dương mới có quyền ấy, chứ ông ta chỉ có quyền cho phép hội được hoạt động trong phạm vi Bắc Kỳ mà thôi. Những hoạt động trên địa bàn Trung Kỳ và Nam Kỳ của tổ chức này do đó rất ít ỏi và chủ yếu chỉ rộ lên sau ngày Nhật đảo chính Pháp.  (3) Việt Nam tân báo số 62, ngày 7. 6. 1945 và số 73, ngày 21. 6. 1945.  (4) Việt Nam tân báo số 74, ngày 22. 6. 1945  (5) Việt Nam tân báo số 69, ngày 16. 6. 1945.  (6) Việt Nam tân báo số 11, ngày 6. 4. 1945.  (7) Việt Nam tân báo số 73, ngày 21. 6. 1945.  (8) Báo cáo tình hình chung miền Đông Nam Bộ năm 1948 (số 363-CT ngày 28. 12. 1948), Fonds Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Hồ sơ 12, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Tất cả các tư liệu lưu trữ sử dụng trong bài viết đều được lưu giữ tại cơ quan này.  (9) Xem thêm Cao Tự Thanh, Từ Cách mạng Tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến – Tư liệu và Suy nghĩ, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tư liệu 517.  (10) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4 (1945 – 1946), tr. 8.  * Bài viết đã đăng trong sách Tư liệu về Giáo dục Việt Nam từ tháng 9/1945 đến tháng 112/1946.    Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946. Kỳ 2: Bộ máy giáo dục năm 1945-1946      Mặc dù bị đặt trước nhiều khó khăn tưởng như không thể vượt qua, với tất cả khả năng và điều kiện của mình, bộ máy giáo dục từ trung ương tới địa phương ở Việt Nam thời bấy giờ vẫn nỗ lực hoạt động. Nhìn vào tổ chức của Bộ Giáo dục thời gian 1945 – 1946, có thể thấy cơ quan này phải gánh vác nhiều trách nhiệm không những về giáo dục từ phổ thông tới đại học và xóa nạn mù chữ mà còn cả về dạy nghề, nghiên cứu khoa học, bảo tàng, lưu trữ công văn và thư viện, lưu chiểu văn hóa phẩm, công tác thanh thiếu niên và phong trào thể dục thể thao.     Tranh “Lớp học bình dân” của Nguyễn Thế Vinh (Nguyễn Vĩnh Nguyên) sáng tác năm 1961. Nguồn: QDND.  Ngày 24.1.1946, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ký Nghị định cử ông Nguyễn Hữu Lương vào Nam giữ chức Giám đốc Sở Bình dân học vụ Nam Bộ (Việt Nam Dân quốc công báo, số 8 ngày 23.2.1946), đến ngày 26.1.1946 lại có công văn gửi Bộ trưởng Bộ Nội vụ “yêu cầu quí bộ cho một bức thư giới thiệu ông ấy với các Ủy ban Hành chính Bắc Trung Nam để việc chuyển dịch của ông ấy không gặp khó khăn trong tình thế nghiêm trọng này”. Ở Nam Bộ thì sau một thời gian đình đốn vì chiến tranh, hoạt động giáo dục trong vùng kháng chiến cũng từng bước được khôi phục. Phúc trình chung năm 1948 về tình hình chung trong miền Trung Nam Bộ (gồm các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Tân An, Vĩnh Long, Sa Đéc, Gò Công, Trà Vinh, Long Châu Tiền) ngày 4.1.1949 do Thanh tra Chánh trị miền Trung Nam Bộ Nguyễn Thành A ký tên có đoạn:  “Giáo dục. Phong trào học hỏi được khuyến khích và phát huy. Dân chúng ham học nhưng ở vài tỉnh phong trào tiến chậm vì giặc khủng bố luôn (Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Bến Tre). Có mở những lớp học gia đình ở những vùng bị uy hiếp”.  Và báo cáo về tình hình Bình dân học vụ:  “Ngưng trệ trong mùa nước (Long Châu Tiền) đã bắt đầu hoạt động mạnh lại. Có đào tạo giáo viên, thành lập Hội đồng giáo dục ở tỉnh, Hội chống nạn mù chữ (Vĩnh Long)”.        Tỉnh  Lớp học  Giáo viên  Học sinh      Mỹ Tho  Bến Tre (tháng 7)  Tân An  Vĩnh Long  Sa Đéc  Gò Công  Trà Vinh  Long Châu Tiền  289  136  149  447  195  112  435  69  340  136  162  139  326     549  4.696  1.545  2.084  13.878  7.985     9.098  1.623        Về Tiểu học vụ, báo cáo trên nêu ra vài con số. (Bảng trên).  Mỹ Tho mới mở một trường chưa báo cáo rõ  Bến Tre 161 lớp, 161 giáo viên, 6.261 học sinh  Tân An 38 lớp, 35 giáo viên, 1.016 học sinh  Sa Đéc 32 lớp, 50 giáo viên, 1.098 học sinh  Vĩnh Long 465 lớp, 447 giáo viên, 15.121 học sinh  Trà Vinh 316 lớp, 287 giáo viên, 10.523 học sinh  Long Châu Tiền 67 lớp, 71 giáo viên, 2.199 học sinh (11).  Ở miền Đông Nam Bộ mà tình hình còn khó khăn hơn, báo cáo ngày 28.12.1948 của Tạ Nhựt Tu cũng đề nghị “Về văn hóa: Thống nhứt công tác tu thơ để rảnh bớt một số giáo viên đang dùng vào Tiểu học vụ. Các Ban Tu thơ các ty chỉ lo soạn những tài liệu về tình hình tỉnh mình mà Ban Tu thơ Nam Bộ không làm được”. Nhưng ngày 6.1.1949, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ra Nghị định số 13-NĐ đặt Nha Giám đốc Giáo dục phụ trách các bậc trung học, tiểu học và Bình dân học vụ ở Nam Bộ (12). Trong tình hình chung ấy, cũng dễ tưởng tượng ra không khí sôi động của hoạt động giáo dục ở vùng Trung Bắc trước ngày 19.12.1946.  Từ bài diễn văn đọc trong ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa 2.9.1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp phát biểu “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học sẽ không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng (…). Trong thời hạn rất ngắn sẽ ban hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết. Ngay trong cái hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta cũng quả quyết tiến hành (13). Ngắn gọn hơn, trong bài Chống nạn thất học kêu gọi toàn thể nhân dân ủng hộ và tham gia phong trào Bình dân học vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95%. Như thế thì tiến bộ làm sao được?” (Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4.10.1945): tiến bộ xã hội được coi như cơ sở vững chắc và mục đích lâu dài của nền độc lập dân tộc, mà để có tiến bộ xã hội thì phải có một nền giáo dục độc lập và hiện đại. Và để xây dựng hệ thống giáo dục mới trên cương vị là hệ thống chính thống của nền giáo dục quốc gia, Bộ Giáo dục phải thực hiện nhiều nhiệm vụ như tổ chức bộ máy, mở rộng hoạt động, xác lập chương trình và bao trùm lên tất cả là xác định mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp giáo dục. Muốn tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam thời gian 1945 – 1946 thì cần tìm hiểu việc thực hiện các nhiệm vụ này.    Giấy chứng nhận đeo huy hiệu bình dân học vụ và bằng khen cho ông Nguyễn Đồng Hưng, tham gia dạy học xóa mù chữ trong chương trình bình dân học vụ. Ảnh do ông Đồng Hưng gửi tới Tia Sáng sau khi đọc thông tin về tuyến bài và tọa đàm của NNC Cao Tự Thanh về Nền Giáo dục của nước Việt Nam độc lập.  Cần bắt đầu từ việc xây dựng bộ máy giáo dục. Sau khi thành lập ngày 28. 8. 1945, Bộ Giáo dục đã trải qua nhiều bổ sung điều chỉnh về mặt tổ chức, đến Sắc lệnh tổ chức Bộ Giáo dục ngày 9.7.1946 rồi Nghị định ấn định nhiệm vụ các cơ quan trung ương của Bộ Giáo dục ngày 13.7.1946 thì bộ máy tổ chức cơ bản đã được xác định, theo đó ngoài văn phòng và các phòng sự vụ trung ương còn có Nha Tổng Giám đốc Đại học vụ, Nha Tổng Giám đốc Trung học vụ, Nha Tổng Giám đốc Tiểu học vụ, Nha Tổng Giám đốc Bình dân học vụ, Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể dục (Việt Nam Dân quốc công báo, số 29, ngày 20.7.1946, và số 32 ngày 10.8.1946), ngoài ra trước ngày Toàn quốc kháng chiến khoảng một tháng Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã thành lập Ban Giáo dục Ấu trĩ và chuẩn bị mở lớp huấn luyện giáo viên mẫu giáo để nuôi dạy trẻ em chưa đến tuổi đi học (Fonds Bộ Giáo dục tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III – Từ đây viết tắt là Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 5). Bên cạnh đó còn có hệ thống Thanh tra học vụ thành lập theo Sắc lệnh ngày 8. 9. 1945, được chia thành hai bộ phận Thanh tra Trung học vụ và Thanh tra Tiểu học vụ lệ vào Nha Tổng Giám đốc Trung học vụ và Nha Tổng Giám đốc Tiểu học vụ, cũng có cấp dưới ở kỳ và tỉnh (Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, ngày 29.9.1945, số 4, ngày 20.10.1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 3, Báo Cứu quốc, số 282, ngày 3.7.1946), đến tháng 7.1946 thấy Nha Tổng Giám đốc Bình dân học vụ cũng có bộ phận Thanh tra, nhưng không thấy tư liệu nào ghi nhận Nha Tổng Giám đốc Đại học vụ và Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể dục có bộ phận này (Việt Nam Dân quốc công báo, số 29, ngày 20.7.1946, và số 32, ngày 10.8.1946). Đáng chú ý là một phần công việc chuyên môn ở đây đã được xã hội hóa với các tổ chức và cá nhân không thuộc biên chế chính thức của Bộ Giáo dục như Hội đồng Cố vấn Học chính thành lập theo Sắc lệnh ngày 10.10.1945 – đến ngày 10.7.1946 Bộ trưởng Bộ Giáo dục còn ra Nghị định thành lập ở Thuận Hóa và Sài Gòn các Ban Cố vấn Học chính địa phương cho Trung Bộ, Nam Bộ (Việt Nam Dân quốc công báo, số 4, ngày 20.10.1945, Báo Cứu quốc, số 269, ngày 18.6.1946, Việt Nam Dân quốc công báo, số 32, ngày 10.8.1946), Hội đồng Sách giáo khoa chính thức thành lập theo Sắc lệnh ngày 23.7.1946 (Việt Nam Dân quốc công báo, số 17, ngày 27.4.1946 và số 31, ngày 3.8.1946) nhưng có những đóng góp rất quan trọng chẳng hạn trong việc xây dựng những nguyên tắc căn bản cho nền giáo dục mới ở Việt Nam. Không chỉ các trí thức như Vũ Đình Hòe, Cao Xuân Huy, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Thái Mai, Nguyễn Mạnh Tường, mà cả các chính khách như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng cũng tham gia vào việc giảng dạy hai lớp Cao đẳng Chính trị và xã hội ở Đại học Việt Nam (Việt Nam Dân quốc công báo, số 9 ngày 17.11.1945). Cũng phải kể thêm sự đóng góp của các tổ chức phi chính phủ như Hội Phụ huynh học sinh, Liên đoàn giáo giới (Việt Nam Dân quốc công báo, số 25, ngày 22.6.1946, Báo Cứu quốc, số 300, ngày 24.7.1946).    Tiến bộ xã hội được coi như cơ sở vững chắc và mục đích lâu dài của nền độc lập dân tộc, mà để có tiến bộ xã hội thì phải có một nền giáo dục độc lập và hiện đại.    Ngoại trừ Nha Tổng Giám đốc Đại học vụ không có tổ chức ở các địa phương, các nha còn lại đều có hệ thống cấp dưới tức sở ở các kỳ và ty ở các tỉnh. Bộ máy nhân sự ở đây được tinh giản tới mức tối đa, ví dụ ngoài Tổng Giám đốc Đại học vụ, Tổng Giám đốc bốn nha còn lại đều kiêm nhiệm chức Giám đốc các sở cấp kỳ ở Bắc Bộ, ví dụ Tổng Giám đốc Nha Tiểu học vụ kiêm Giám đốc Sở Tiểu học vụ Bắc Bộ, Tổng Giám đốc Nha Bình dân Học vụ kiêm Giám đốc Sở Bình dân Học vụ Bắc Bộ. Hay ngày 1.3.1946 có Nghị định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục tạm bãi văn phòng Tổng Thanh tra Trung học vụ, chuyển công việc này cho văn phòng Tổng Giám đốc Nha Trung học vụ tạm kiêm (Việt Nam Dân quốc công báo, số 11, ngày 16.3.1946), có lẽ vì Tổng Thanh tra Trung học vụ Đặng Thái Mai được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục thay Bộ trưởng Vũ Đình Hòe được đổi làm Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến thành lập ngày 2.3.1946.  Nha Tổng Giám đốc Đại học vụ quản lý cấp đại học và các thư viện công, các nhà bảo tàng (Quốc gia Bảo tàng viện tức Bảo tàng Louis Finot ở Hà Nội, Lâm Ấp Bảo tàng viện tức Bảo tàng Parmentier ở Đà Nẵng, Gia Định Bảo tàng viện tức Bảo tàng Blanchard de la Brosse ở Sài Gòn), các học viện như Học viện Đông phương Bác cổ (Việt Nam Dân quốc công báo, số 7, ngày 3.11.1945), Văn hóa viện Trung Bộ (Việt Nam Dân quốc công báo, số 6 ngày 27.10.1945) và một số cơ quan khác như Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc trong đó có Quốc gia thư viện tức Thư viện Pierre Pasquier ở Hà Nội, Sở Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc (Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, ngày 29.9.1945, và số 9 ngày 2.3.1946).  Nha Tổng Giám đốc Trung học vụ quản lý bậc trung học và các trường dạy nghề, tổ chức bài vở cho nguyệt san Giáo dục tân san (trung học), tham gia xây dựng chương trình cải cách bậc trung học.  Kỳ thi thanh toán nạn mù chữ ở xã Đồng Liên, tỉnh Thái Nguyên, sau năm 1954. Nguồn: Trang tin Đảng bộ TP HCM.  Nha Tổng Giám đốc Tiểu học vụ quản lý bậc tiểu học, tổ chức bài vở cho nguyệt san Giáo dục tân san (tiểu học), tham gia xây dựng chương trình cải cách bậc tiểu học, cuối năm học 1945 – 1946 còn phải chịu trách nhiệm soạn thảo dự án cải cách ngạch hương sư thành giáo viên hương học (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10). Ở cấp kỳ thì từ tháng 10.1945 trở đi do Nha Học chính cũ ở các kỳ đảm nhiệm (Fonds Bộ Giáo dục, hồ sơ 3). Theo Nghị định ngày 14.6.1946 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục thì Thanh tra Tiểu học vụ các tỉnh thành thay thế hoàn toàn các viên Ủy viên giáo dục ở địa phương trước đó (Việt Nam Dân quốc công báo, số 27, ngày 6.7.1946). Trên phương diện quản lý theo địa bàn, trường tiểu học ở các tỉnh thành còn được tổ chức thành các học khu do cơ quan Tiểu học vụ địa phương lãnh đạo.  Nha Tổng Giám đốc Bình dân học vụ thành lập theo Sắc lệnh ngày 8.9.1945 (Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, ngày 29.9.1945) phụ trách phong trào Bình dân học vụ có nội dung chủ yếu là xóa nạn mù chữ, trực tiếp thực hiện chủ trương cưỡng bách giáo dục, tiến hành hoạt động giáo dục ở cấp học bình dân. Đây là bộ phận chủ yếu làm nên không khí sôi động của nền giáo dục Việt Nam thời gian 1945 – 1946, với những cách thức và phương tiện đặc biệt vượt ra khỏi tất cả các qui chuẩn thông thường, thậm chí còn có một loại “dấu hiệu” tức huy hiệu riêng cho các nhân viên, giáo viên và kiểm soát viên (Việt Nam Dân quốc công báo, số 25, ngày 22.6.1946). Ngoài các bộ phận hành chính và chuyên môn, cơ quan này cũng có bộ phận thanh tra đặt dưới quyền Tổng Thanh tra Bình dân học vụ (Việt Nam Dân quốc công báo, số 32, ngày 10.8.1946).  Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể dục (hậu thân của Bộ Thanh niên trong Chính phủ Lâm thời thành lập ngày 28. 8. 1945 và giải thể sau khi Chính phủ Liên hiệp kháng chiến thành lập ngày 2. 3.1946) phụ trách công tác thanh thiếu niên và thể dục thể thao, được thành lập theo Sắc lệnh ngày 27.3.1946 (Việt Nam Dân quốc công báo, số 1, ngày 29.9.1945, số 14, ngày 6.4.1946 268). Sau một số khóa đào tạo cán bộ được tổ chức trong thời gian còn là Bộ Thanh niên, sau tháng 3.1946 nha này đã thành lập Trường Cán bộ Thanh niên và Thể dục (Việt Nam Dân quốc công báo số 29, ngày 20.7.1946, số 32, ngày 10.8.1946). Ngay trong hoàn cảnh quân Pháp đã nổ súng gây hấn ở Hải Phòng và ráo riết đẩy mạnh các vụ khiêu khích, xung đột quân sự trước ngày Toàn quốc kháng chiến, tháng 11.1946 nha này vẫn công bố chiêu sinh cho một khóa học từ ngày 2.12.1946 đến 15.1.1947 do Chi Cán bộ Thanh niên Trường Huấn luyện Hồ Chí Minh tổ chức ở Hà Nội (14).  Nhìn vào tổ chức của Bộ Giáo dục thời gian 1945 – 1946, có thể thấy cơ quan này phải gánh vác nhiều trách nhiệm, không những về giáo dục từ phổ thông tới đại học và xóa nạn mù chữ mà còn cả về dạy nghề, nghiên cứu khoa học, bảo tàng, lưu trữ công văn và thư viện, lưu chiểu văn hóa phẩm, công tác thanh thiếu niên và phong trào thể dục thể thao. Ngoài ra việc thành lập hai lớp Cao đẳng Chính trị xã hội trong thời gian xây dựng chương trình mới cho trường Đại học Luật khoa nhằm cấp tốc đào tạo một số cán bộ chuyên môn về hành chính, tư pháp và ngoại giao từ năm học 1945 – 1946 (Việt Nam Dân quốc công báo, số 4, ngày 20.10.1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2301, Việt Nam Dân quốc công báo số 9, ngày 17.11.1945) cho thấy Bộ Giáo dục còn phải trực tiếp góp phần đáp ứng nhu cầu cán bộ của chính quyền. Bên cạnh đó, việc thành lập trường Đại học Văn khoa, “một trường mà người Pháp ngày trước không bao giờ muốn mở cả” (Việt Nam Dân quốc công báo số 4, ngày 20.10.1945, số 9, ngày 17.11.1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2301) tuy có mục tiêu trước mắt là nhằm đào tạo giáo sư Ban Văn khoa cho bậc trung học nhưng trong thực tế còn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam. Đến cuối năm học 1945 – 1946 thì bộ máy giáo dục đã bước đầu hoàn chỉnh với bốn bậc học bình dân, tiểu học, trung học và đại học (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 5). Việc thiết lập được nền tảng hành chính bên cạnh cơ sở pháp lý nói trên là một thành tựu đặc biệt quan trọng của nền giáo dục sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.    Đến cuối năm học 1945 – 1946 thì bộ máy giáo dục đã bước đầu hoàn chỉnh với bốn bậc học bình dân, tiểu học, trung học và đại học.    Cần lưu ý rằng từ ngày 15.8.1945 Toàn quyền Đông Dương người Nhật đã ra Nghị định giải thể Nha Học chính Đông Dương và Nghị định chuyển các trường đại học, cao đẳng và trung học ở Việt Nam cho chính quyền Bảo Đại, dĩ nhiên không phải vì thật lòng trao lại quyền độc lập về giáo dục cho Đế quốc Việt Nam mà vì đúng hôm ấy Nhật hoàng Hirohito đã đọc bài diễn văn Gyokuon-hòsò tuyên bố Nhật Bản đầu hàng Đồng minh nên bộ máy cai trị của Nhật Bản ở các nước bị họ chiếm đóng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai dĩ nhiên cũng phải giải thể. Cả hai Nghị định nói trên đều cam kết bảo đảm chi trả lương bổng của những nhân viên hữu quan đến ngày 31.8.1945 bằng Ngân sách Đông Dương (Fonds Lưu trữ và Thư viện Đông Dương, Hồ sơ 1534). Việc xây dựng bộ máy giáo dục mới ở đây do đó cũng gắn liền với việc tiếp quản bộ máy và nhân viên của hệ thống giáo dục cũ với vô số vấn đề cá nhân cũng như công vụ do quá khứ để lại hay đang liên tục phát sinh. Từ việc khôi phục quyền lợi cho một số giáo viên bị đối xử không công bằng dưới thời Pháp thuộc đến việc sa thải những nhân viên, giáo chức bất lực hay hạnh kiểm xấu, từ việc giải quyết chính sách chế độ tới việc thuyên chuyển đề bạt khen thưởng kỷ luật, thậm chí có lần còn phải trả số tiền thuê in sách mà Nha Học chính Đông Dương cũ còn thiếu Nhà in Trung Bắc tân văn trước đó (Fond Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10)…, tất cả đều phải tiến hành trên cơ sở pháp lý và qui định hành chính vốn có. Có thể nêu ra hai trường hợp tiêu biểu về hoạt động của Bộ Giáo dục trên phương diện này.  Ngày 20.10.1945 Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Nghị định cho ba người trong đó có Bùi Quang Huy, Giáo sư thượng hạng hạng nhất ngạch Tiểu học tòng sự tại Trường trung học Đỗ Hữu Vị về hưu. Ngày 22.10.1945 ông này gửi đơn khiếu nại. Ngày 25.10.1945 Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục gửi văn thư trả lời “sự quyết định của Hội đồng dựa vào những lý do chính đáng, ví dụ như những điều ám muội trong một kỳ thi xưa kia,… một việc rất đáng tiếc với một nhà mô phạm”. Nhưng ngày 5.2.1946 Bộ trưởng Bộ Giáo dục lại ký Nghị định cử Bùi Quang Huy, Giáo sư thượng hạng hạng nhất ngạch Tiểu học hưu trí sung vào Hội đồng Cố vấn Học chính (Việt Nam Dân quốc công báo số 7, ngày 3.11.1945). Một người thầy trong nhà trường, trên bục giảng cần có một hình ảnh nếu không hoàn hảo thì ít ra cũng phải sạch sẽ, còn một chuyên gia trong Hội đồng Cố vấn Học chính phải có kiến thức và kinh nghiệm để phát hiện những vấn đề trong hoạt động giáo dục và có thể đóng góp ý kiến giải quyết, không thể vì lỗi lầm của người trước mà phủ nhận năng lực của người sau.  Học đánh vần bên đường. Ảnh: Tuổi trẻ.  Ngày 19.6.1945 một Thư ký hạng 6 của Nha Học chính Đông Dương được cử vào Sài Gòn công cán, nhưng Cách mạng Tháng Tám nổ ra rồi kế đó là Nam Bộ kháng chiến, ông ta nhập ngũ tham gia chống Pháp, đến ngày 20.12.1945 đang đóng ở Vũng Tàu – Bà Rịa nhân có đồng đội ra Bắc bèn gửi thư cho Bộ Giáo dục xin được lãnh lương từ tháng 7.1945 và đề nghị cho vợ mình được lãnh giúp. Sau khi được thư, ngày 12.2.1946 Bộ Giáo dục gửi công văn cho Bộ Tài chính đề nghị giải quyết bằng cách ra một sự vụ lệnh tạm thời (affectation pour ordre) bổ nhiệm ông ta về Bộ Giáo dục kể từ ngày nhập ngũ và coi lá thư kia như một giấy ủy quyền (procuration) cho người vợ được thay mặt lãnh lương từ tháng 7.1945. Vì trên nguyên tắc các nhân viên của Nha Học chính Đông Dương cũ được trả lương đến hết tháng 8.1945, tờ sự vụ lệnh kia lại thừa nhận ông ta là nhân viên của Bộ Giáo dục từ ngày Nam Bộ kháng chiến tức tháng 9.1945, nên chỉ mười ngày sau khi gửi công văn trao đổi với Bộ Tài chính, ngày 22.2.1946 Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục đã gửi văn thư cho vợ ông ta báo tin đã chuẩn bị xong ngân phiếu trả lương từ ngày 1.7.1945 đến ngày 31.12.1945 và từ ngày 1.1.1946 đến ngày 28.2.1946, “Khi nào ngân phiếu được duyệt ký, tôi sẽ gửi cho bà để bà lĩnh tiền. Còn từ tháng 3 trở đi, cứ hằng tháng Bộ Giáo dục sẽ tiếp tục làm ngân phiếu để trả lương ông Minh cho bà” (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10). Việc xử trí rất uyển chuyển mà đúng qui trình, mau lẹ và chu đáo chỉ với một nhân viên cấp thấp đang không trực tiếp làm việc ở bản bộ như vậy tự nó cho thấy nhiều điều về tác phong nỗ lực vì công việc, công tâm khi giải quyết, tuân thủ pháp luật, quí trọng con người thời bấy giờ ở Bộ Giáo dục. Tác phong hành chính tích cực ấy cũng giúp cơ quan này vượt qua được nhiều khó khăn mà hoàn cảnh Việt Nam thời gian 1945 – 1946 đưa tới. Cần nói thêm rằng trong một thời gian dài trong ngành giáo dục đã có tình hình các Bộ trưởng làm việc không hưởng lương, nhiều viên chức làm việc không nhận lương, nhiều giáo viên Bình dân học vụ dạy học không có lương, nhưng tinh thần dân tộc được kích thích bởi ý thức công dân ở một đất nước vừa giành được độc lập đã khiến nhiều người bất kể khó khăn, thiếu thốn hay bệnh tật hết lòng ra sức phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục mới của nước nhà.□  (Còn tiếp)  —–  Chú thích:  (11) Phúc trình chung năm 1948 về tình hình chung trong miền Trung Nam Bộ (số 1-TT-MT ngày 4. 1. 1949), Fonds Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Hồ sơ 12.  (12) Việt Nam Dân quốc công báo số 2, ngày 15. 3. 1949.  (13) Xem thêm Cao Tự Thanh, Từ Cách mạng Tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến – Tư liệu và Suy nghĩ, sđd., tư liệu 034.  (14) Báo Cứu quốc số 415, ngày 24. 11. 1946.    Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946. Kỳ 3: Hoạt động giáo dục năm 1945-1946      Hoạt động Bình dân học vụ nói riêng và hoạt động giáo dục nói chung thời gian 1945 – 1946 đã thực sự trở thành một lực lượng góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại hóa của xã hội Việt Nam.    Tranh lớp Trung học đầu tiên – Diệp Minh Châu vẽ năm 1948. Nguồn: Baodantoc.  Ngoài Nam Bộ hiện không có tư liệu cụ thể, trong năm học 1945 – 1946 nhiều tỉnh thành ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có trường trung học quốc lập do ngân sách quốc gia đài thọ, ít là một trường, nhiều là hai ba trường như Hà Nội có Trường Chu Văn An, Trường Nguyễn Trãi, Trường nữ học Hai Bà Trưng, Huế có Trường Khải Định, Trường nữ học Đồng Khánh. Từ tháng 9.1945 đến tháng 1.1946 một số trường tư thục cũng được mở bậc trung học như Trường nữ học Hoài Đức ở Hà Nội, các trường Minh Tâm ở Sơn Tây, Nam Thanh, Thăng Long, Nguyễn Trường Tộ, Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ, Văn Lang, Chu Văn Trinh ở Hà Nội, Hoàng Hoa Thám ở Bắc Giang (Việt Nam Dân quốc công báo số 2, ngày 6.10.1945, số 3, ngày 13.10.1945, số 6, ngày 27.10.1945, số 2, ngày 13.1.1946, số 8 ngày 23.2.1946; Fonds Bộ Giáo dục tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III – Từ đây viết tắt là Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2300; Báo Cứu quốc số 58, ngày 4.10.1945). Qua đầu năm học 1946 – 1947 các trường bán công Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Phan Bội Châu ở Quảng Bình, Phan Chu Trinh ở Quảng Nam được đổi thành trường quốc lập, lại thành lập thêm một số trường trung học quốc lập ở Hưng Yên và Hà Nam (Báo Cứu quốc, số 332, ngày 30.8.1946, Việt Nam Dân quốc công báo, số 28, ngày 21.9.1946). Một báo cáo của Bộ Giáo dục tháng 9. 1946 cho biết “Ở Bắc Bộ có 2 trường chuyên nghiệp và 9 trường trung học, ở Trung Bộ có 1 trường chuyên nghiệp và 6 trường trung học. Ngoài ra ở Trung Bộ còn có 10 trường trung học bán công, tổ chức ngoài ngân sách Việt Nam nhưng Chính phủ bảo trợ và sau này có thể thành những trường công” (Việt Nam Dân quốc công báo số 37, ngày 14.9.1946). Một số trường tư thục đặc biệt cũng được phép mở như Trường Hán văn tân thực học hiệu chuyên dạy chữ Hán ở Sơn Tây (Việt Nam Dân quốc số 9, ngày 2.3.1946), Trường Thương mại thực nghiệp chuyên dạy về kế toán, thống kê và ngoại ngữ ở Hà Nội (Việt Nam Dân quốc số 25, ngày 22.6.1946), thậm chí còn có người đề xuất ý kiến mở trường dạy chữ cho những người khiếm thị (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10). Cho nên chưa nói tới phong trào Bình dân học vụ, hoạt động giáo dục ở Việt Nam thời gian 1945 – 1946 cũng trình hiện một không khí sôi động khác hẳn thời Đế quốc Việt Nam.  Theo thống kê ngày 11.7.1946 của Nha Giám đốc Trung học vụ, tổng số học sinh học tại 15 trường trung học công lập ở Bắc và Trung Bộ (các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi, nữ học Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Lê Quý Đôn ở Thái Bình, Nguyễn Khuyến ở Nam Định, Hàn Thuyên ở Bắc Ninh, Hùng Vương ở Phú Thọ, Bình Chuẩn ở Hải Phòng, Mạc Đĩnh Chi ở Lạng Sơn, Đào Duy Từ ở Thanh Hóa, Nguyễn Công Trứ ở Vinh, Khải Định và nữ học Đồng Khánh ở Huế, Lê Khiết ở Quảng Ngãi, Võ Tánh ở Qui Nhơn) trong năm học 1945 – 1946 là 4.561 người15. Một thống kê cũng của Nha Giám đốc Trung học vụ ngày 4.4.1946 cho biết số học sinh ở 17 trường trung học, kỹ nghệ chuyên môn và mỹ nghệ thực hành ở Bắc Bộ và Trung Bộ (tức 15 trường trung học công lập và Trường Kỹ nghệ thực hành, Trường Mỹ nghệ thực hành ở Hà Nội) là 6.061 người16, tức số học sinh trong các trường dạy nghề có khoảng 1.500 người. Trong hoàn cảnh kinh tế còn lạc hậu, trình độ dân trí nói chung còn thấp ở thời điểm 1945 – 1946, có thể nói cơ cấu học sinh ở các trường trung học và dạy nghề trên đây là một cơ cấu tích cực. Mặc dù so với con số 7.493 người trong tờ trình của Giám đốc Học chính Đông Dương cuối năm học 1941 – 1942 tổng số học sinh trong các trường trung học và dạy nghề năm học 1945 – 1946 có giảm, nhưng ngoài lý do thời cuộc không yên ổn sau khi quân Pháp kéo vào miền Bắc đầu năm 1946 còn có lý do khác là giá sinh hoạt đắt đỏ, ngân quĩ của chính phủ eo hẹp nên không thể cấp học bổng cho học sinh nghèo. Tuy nhiên qua năm học 1946 – 1947 khó khăn nói trên đã bắt đầu được chú ý khắc phục: ngày 9. 10. 1946 Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ra Nghị định số 481-NĐ ấn định số tiền học bổng cấp cho học sinh Trường Tiểu công nghệ gốm ở Bát Tràng thuộc Trường Kỹ nghệ thực hành ở Hà Nội (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 1021). Về các trường tiểu học chưa tìm được những thống kê cần thiết, nhưng một Nghị định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về việc đổi tên các trường tiểu học ở Hà Nội tháng 7.1946 cho biết vào thời điểm ấy ở Hà Nội có 11 trường tiểu học (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 10), và đến đầu năm học 1946 – 1947 số học sinh các trường công lập cả trung học lẫn tiểu học ở riêng Hà Nội đã lên tới con số 20.000 người (Việt Nam Dân quốc công bố số 42, ngày 19.10.1946). Đến năm học 1946 – 1947 hệ thống các trường tư thục cũng đã có sự chuẩn bị khá toàn diện. Một quảng cáo trên báo Cứu quốc giới thiệu những đặc điểm của Trường trung học tư thục Phan Chu Trinh ở số 40 – 42 đường Phan Chu Trinh Hà Nội do Đặng Thai Mai làm Giám đốc trước ngày khai giảng năm học 1946 – 1947 như sau “Trường học lớn, đủ vệ sinh, có sân chơi, sân thể thao. Có phòng thí nghiệm, đĩa hát dạy sinh ngữ để giúp vào việc dạy học. Bốn thứ sinh ngữ: Anh Nga Pháp Tàu. Không xao lãng những giờ âm nhạc, hội họa, thủ công, nữ công, thể dục. Có bác sỹ chăm nom sức khỏe cho học sinh. Có học bổng cho học sinh chăm và nghèo. Có lớp buổi trưa và buổi tối cho những người học thêm”17. Ở các trường trung học và tiểu học, quan hệ giữa nhà trường với học sinh, giữa nhà trường với phụ huynh, giữa thầy và trò đều có những thay đổi theo chiều hướng tích cực. Hội đồng giám sát ở các trường trung học công lập đều có một đại diện của phụ huynh học sinh làm thành viên (Việt Nam Dân quốc công bố số 2, ngày 13.1.1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2321)… Hoạt động thiếu nhi được đẩy mạnh, tuy có một số vấn đề này khác nhưng cũng góp phần đưa vào học đường một nguồn sinh khí mới (Báo Độc lập, số 176, 177, 178, 179 và 181, ngày 18, 20, 21, 22, và 25 – 26.6.1946).  Học đánh vần. Ảnh: Tuổi trẻ.  Để việc học tập của học sinh không bị gián đoạn, từ cuối năm 1945 các kỳ thi tốt nghiệp trung học ở Bắc Bộ đã được tổ chức. Trong danh sách thí sinh thi trung học cao cấp ngày 2.11.1945, Ban Triết học văn chương có Đinh Xuân Lâm (số báo danh 880, sinh ngày 4.2.1925 quê Xa Lang Hà Tĩnh) và Vũ Đức Phúc (số báo danh 914, sinh ngày 15.10.1922, quê Gia Lâm Bắc Ninh)18. Đến năm học 1945 – 1946 thì việc thi tốt nghiệp từ tiểu học tới đại học đã được thực hiện một cách bình thường. Trong danh sách thí sinh thi Trung học cao cấp khóa hai ngày 23.9.1946, Ban Triết học văn chương có Doãn Quốc Sỹ (số báo danh 57, sinh ngày 3.2.1923, quê Hạ Yên Quyết Hà Đông)19. Năm 1946 Trường Đại học Thú y khóa 1942 – 1946 có 8 người tốt nghiệp với danh hiệu Thú y khoa Đại học sỹ (tư liệu 413). Trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học cuối năm học 1945 – 1946, số thí sinh ở Hà Nội có 1.757 người, so với con số 1.300 người trong kỳ thi tốt nghiệp sơ học bổ túc tháng 6.1945 thì nhiều hơn gần 500 người (Báo Cứu quốc số 272, ngày 21.6.1946 và Báo Tin mới số 1645, ngày 13.6.1945). Việc học hành và thi cử từng bước đi vào qui củ như vậy cũng đưa tới nhiều thay đổi khác. Tương ứng với các ngành học mới ở bậc đại học, nhiều loại bằng cấp mới cũng được đặt ra, như bằng Văn khoa Đại học sỹ, Triết học chuyên khoa Đại học sỹ, Việt học chuyên khoa Đại học sỹ, Hán học chuyên khoa Đại học sỹ, Sử ký địa dư học chuyên khoa Đại học sỹ trong Đại học Văn khoa, Khoa học Đại học sỹ trong ngành sư phạm, Luật khoa Đại học sỹ trong Đại học Luật khoa (Việt Nam Dân quốc công báo số 9, ngày 17.11.1945, số 45, ngày 9.11.1946, số 46 ngày 16.11.1946, 435). Một số mẫu bằng cấp mới cũng được qui định lại như bằng tốt nghiệp tiểu học (Việt Nam Dân quốc công báo số 38, ngày 21.9. 1956).  So với các cấp tiểu học, trung học hay hoạt động Bình dân học vụ, việc tổ chức giảng dạy ở bậc đại học có vẻ lặng lẽ hơn nhưng hoàn toàn không kém phần ráo riết. Vì tình thế nên sau Cách mạng Tháng Tám đến ngày 15.11.1945 các trường đại học và cao đẳng thuộc Đại học Việt Nam mới bắt đầu khai giảng, nhưng từ ngày 6. 10. 1945 Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã gửi một công văn cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân Nam Bộ đề nghị tạo điều kiện cho một số trí thức ở Nam Bộ như Nguyễn Thành Giung, Nguyễn Văn Cang, Phan Văn Hùm… ra Hà Nội giảng dạy các trường đại học, thậm chí còn cho biết “Chính phủ đang dự định lập một Đại học đường tại Nam Bộ khi tình thế được ổn định” (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 3). Từ cuối năm 1945 Bộ Giáo dục đã bày tỏ ý hướng cải tổ bậc đại học theo hướng mở rộng đối tượng và nâng cao trình độ “Năm nay nhận sinh viên vào học các năm thứ nhất sẽ chỉ cần có bằng tốt nghiệp trung học còn không có hạn tuổi, không có sát hạch vào học, không có hạn chế số sinh viên được theo học” (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2301). Cần nói thêm rằng trong hoàn cảnh đối ngoại lúc bấy giờ, việc cải tổ và xây dựng nền giáo dục Việt Nam nói chung và bậc đại học nói riêng còn mang một ý nghĩa khác. Cần lưu ý rằng giữa năm 1946 chính quyền bù nhìn Nguyễn Văn Thinh ở Sài Gòn cũng có ý hướng dùng hoạt động giáo dục như một chiêu bài để tuyên truyền mị dân, khẳng định tính hợp pháp qua năng lực điều hành của “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”. Đầu tháng 7. 1946 Đài phát thanh Sài Gòn đã loan tin ngày 22.7.1946 sẽ có một kỳ thi lấy học bổng vào Trường trung học Pétrus Ký ở Sài Gòn và Trường trung học Phan Thanh Giản ở Cần Thơ20. Một số tài liệu còn được lưu giữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước cho thấy trước khi qua Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, đoàn đại biểu Việt Nam đã yêu cầu Bộ Giáo dục cung cấp một số tư liệu về giáo dục sau Cách mạng Tháng Tám 1945 để tuyên truyền với dư luận ở Pháp. Giáo dục như vậy đã được coi như một trong những thành tựu của chế độ Dân chủ cộng hòa mới thành lập, là biểu trưng về một nền văn hóa mới đang hình thành trên đất nước Việt Nam.    Bình dân học vụ thời gian 1945 – 1946 đã trở thành một trong những nhân tố tạo ra sự hiểu biết, lòng tin cậy, việc chia sẻ và xuyên suốt tất cả là sự phối hợp chưa từng có trước đó và không chỉ trong phạm vi giáo dục.    Thành tựu nổi bật nhất của hoạt động giáo dục thời gian 1945 – 1946 là những kết quả của phong trào Bình dân học vụ. Với các Sắc lệnh, Nghị định có liên quan, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa từ Hội đồng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục đến Ủy ban Hành chính các kỳ đã đặt được cơ sở pháp lý và tạo ra hạt nhân tổ chức cho một loại hình hoạt động giáo dục không những trước đó chưa từng có ở Việt Nam mà còn có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có. Khoảng sau tháng 3.1946, trong tờ trình của Bộ Giáo dục về Dự án Sắc lệnh tổ chức các bậc học cơ bản trong nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, loại hình giáo dục này đã được pháp chế hóa thành một trong bốn bậc học chính thức của quốc gia với tên gọi bậc học bình dân (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 4, Hồ sơ 5), trong kháng chiến chống Pháp lại được nâng cao thành bậc học bổ túc bình dân với Nghị định 350-NĐ ngày 6.6.1949 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên21.  Nhìn từ phương diện giáo dục, phong trào Bình dân học vụ thời gian 1945 – 1946 là một đột phá về tổ chức và sáng tạo về hoạt động. Không những lực lượng nhân viên của cơ quan Bình dân học vụ trung ương được lấy từ nhiều nguồn (Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 3, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2) mà lực lượng giáo viên, kiểm soát viên Bình dân học vụ cũng được huy động từ tất cả các nhóm xã hội khác như thanh niên, phụ nữ, công chức, học sinh, trí thức. Nha Bình dân học vụ trung ương mở lớp huấn luyện cán bộ quốc dân thiểu số, chiêu mộ cán bộ xung phong giúp việc Bình dân học vụ ở vùng thượng du Bắc Bộ, kêu gọi những người từng hoạt động trong Hội Truyền bá quốc ngữ trước Cách mạng Tháng Tám giúp đỡ (Báo Cứu quốc số 172, ngày 24.2.1946, Báo Độc lập số 102, ngày 21.3.1946, số 161, ngày 1.6.1946), Bình dân học vụ Hà Nội mở lớp huấn luyện sư phạm cho phụ nữ, Bình dân học vụ Phú Thọ mở lớp đào tạo giảng viên (Báo Độc lập số 122, ngày 13.4.1946, Báo Dân quốc số 405, ngày 8.12.1946). Ở mọi địa phương, giáo viên tiểu học, trung học, hương sư ngoài phận sự giảng dạy còn kiêm thêm việc dạy Bình dân học vụ không hưởng lương, trước dịp nghỉ hè 1946 Trưởng ban Bình dân học vụ Quảng Bình còn gửi thư kêu gọi học sinh trung học trong tỉnh dành thời gian rảnh rỗi giúp đỡ công việc Bình dân học vụ (Báo Cứu quốc số 272, ngày 21.6.1946). Cho nên với sự tham gia của hàng trăm ngàn giáo viên, công chức, thanh niên, trí thức tôn giáo và học sinh cả trung học lẫn tiểu học nhiệt tình tham gia công cuộc xóa nạn mù chữ hoàn toàn không nhận lương bổng phụ cấp từ phía chính quyền, phong trào Bình dân học vụ đã thật sự là một phong trào vận động xã hội ở đó sự đông đảo về lực lượng chuyển hóa thành sự phong phú về hoạt động thể hiện qua các hình thức và cách thức dạy học cũng như cổ động.  Học đánh vần bền đường. Ảnh: Tuổi trẻ.  Trong thời gian 1945 – 1946 việc cổ động và ủng hộ cho Bình dân học vụ đã được tiến hành bằng nhiều cách thức, dưới nhiều hình thức, từ kêu gọi khuyến khích (như triển lãm tranh ảnh, sáng tác văn học, hội họp mít tinh, tổ chức lửa trại, chạy rước đuốc, biểu diễn văn nghệ -thậm chí vào Ngày Bình dân học vụ năm 1946 ở Hà Nội đã có một hoạt cảnh “tra khảo giặc dốt” mang hình thức kịch đường phố (Báo Cứu quốc số 238, ngày 13.5.1946), đóng góp gây quĩ)… tới cưỡng ép bắt buộc. Nhiều sinh hoạt thường nhật được nhất hóa vào việc xóa nạn mù chữ. Mùa hè nóng bức ra gánh nước ở giếng làng, ai đã biết chữ muốn gánh lúc nào thì gánh, ai chưa biết chữ thì đến đêm mới được gánh. Muốn qua đò phải kiểm tra học vấn, ai không biết chữ sẽ bị làm khó dễ. Muốn vào chợ cũng phải kiểm tra tương tự, ai không biết chữ phải đi vòng qua một cánh đồng mà vào cổng chợ ở lối sau. Vào làng có hai cổng, cổng danh dự dành cho những người có chữ nghĩa, ai không biết chữ phải vào cổng nhỏ hẹp hơn, cổng dốt (Báo Cứu quốc 243, 247, 248, ngày 18, 23, 24.5.1946; Báo Cứu quốc 318, ngày 13.8.1946, Báo Dân quốc số 405, ngày 8.12.1946). Ở Trung Bộ, thậm chí những người chưa biết chữ còn bị cấm ngặt không cho qua làng khác, hay nhà nào biết chữ rồi, nhà nào chưa biết chữ đều có bảng ghi rõ thật to cắm ngay ngoài cửa (Báo Cứu quốc 243, 247, 248, ngày 18, 23, 24.5.1946), ở ngoại thành Hà Nội định kỳ đặt trạm kiểm soát người thất học trên các tuyến giao thông (Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946). Đáng chú ý là cả thiết chế làng xã truyền thống với chế độ ruộng đất và hệ thống luật tục cũng được huy động để xóa nạn mù chữ. Trai gái muốn lấy nhau mà không biết chữ thì không có phép nộp cheo, phải biết chữ làng mới cho cưới (Báo Cứu quốc 243, 247, 248, ngày 18, 23, 24.5.1946). Ở ngoại thành Hà Nội, Ủy ban hành chính còn ra lệnh thu hồi phần công điền của những người chưa biết chữ sung làm học điền (Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946). Việc cấp phát giấy tờ theo thủ tục hành chính cũng được kết hợp với hoạt động Bình dân học vụ: tháng 6.1945 Ủy ban hành chính ngoại thành Hà Nội ra lệnh người có liên quan không được điểm chỉ mà phải ký tên trong các giấy tờ và phải đọc được những giấy tờ mình ký (Báo Độc lập số 148, ngày 17.5.1946), tháng 12.1946 Bộ Nội vụ cho phép Ủy ban hành chính các cấp đóng dấu “Biết chữ” lên thẻ công dân cho những ai đã biết viết và đọc chữ quốc ngữ (Báo Dân quốc số 409, ngày 9.12.1946). Dưới tác động của chủ trương giáo dục cưỡng bách thông qua các sáng kiến và biện pháp tự nguyện mang nhiều yếu tố tự phát của đông đảo nhân dân nên nhiều khi giống như riết róng mà có lần chính Nha Bình dân học vụ cũng phải gọi là “khủng bố” (Báo Cứu quốc số 192, ngày 20.3.1946) ấy, phong trào xóa nạn mù chữ đã thực sự tạo ra một không gian sống với hệ giá trị mới trên đất nước Việt Nam, ở đó biết chữ là một tiêu chuẩn về cách làm người. Dĩ nhiên biết chữ chưa chắc là người có học, nhưng mù chữ chắc chắn là kẻ thất học. Cho nên chưa bao giờ việc học tập ở Việt Nam trở thành tâm điểm trong sinh hoạt xã hội như thế, cũng chưa bao giờ trở nên phổ biến người người đi học nhà nhà đi học như thế. Bên cạnh các lớp học của khu phố, thôn xóm, hầm mỏ, đồn điền, nhà thờ, doanh trại, các lớp học tư gia cũng được mở khắp nơi. Phu xe kéo đi học, chị em xóm ả đào đi học, công nhân mỏ than đi học, trẻ em bán dạo đi học, người già sáu bảy mươi tuổi đi học, phụ nữ đang cho con bú đi học. Ủy ban Tăng già Bắc Bộ mở lớp dạy chữ cho trẻ em thất học ở chùa Quán Sứ (Báo Cứu quốc số 291, ngày 13.7.1946), Công giáo Cứu quốc huyện Chí Linh, Tăng già Cứu quốc huyện Tứ Kỳ Hải Dương mở nhiều lớp học bình dân (tư liệu 450). Trên nền tảng xã hội ấy, phong trào Bình dân học vụ đã huy động được nhiều nguồn lực để vượt qua những khó khăn tưởng như không thể vượt qua về tổ chức và nhân lực, tài chính và kỹ thuật đương thời. Hoàn cảnh thiếu trường sở, thiếu giáo viên, thiếu sách vở, thiếu học cụ lại đưa tới vô số bằng chứng về sự quyết tâm, lòng nhẫn nại, đức hy sinh, gương phấn đấu trên đường tìm tới ánh sáng của học vấn qua phong trào Bình dân học vụ thời gian 1945 – 1946, một phong trào tiêu biểu cho khát vọng và ý chí hiện đại hóa của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam.    Chưa bao giờ việc học tập ở Việt Nam trở thành tâm điểm trong sinh hoạt xã hội như thế, cũng chưa bao giờ trở nên phổ biến người người đi học nhà nhà đi học như thế.    Tương tự việc chấm dứt nạn đói từng giết chết hai triệu người ở Bắc Bộ trước tháng 9.1945, với kết quả “Hai triệu đồng bào đã biết đọc biết viết sau một năm theo học các lớp Bình dân học vụ” vào tháng 9. 1946, phong trào Bình dân học vụ là một kỳ tích của chế độ Dân chủ cộng hòa. Có thể nói ngay trước ngày Toàn quốc kháng chiến, phong trào này đã tạo ra được ở Việt Nam một tiềm lực giáo dục mới, một mặt bằng dân trí mới. Tuy nhiên kết quả của nó không chỉ gói gọn trong phạm vi giáo dục, vì nhìn từ phương diện xã hội, phong trào này còn có những đóng góp to lớn vào quá trình tái cấu trúc xã hội thời bấy giờ.  Chữ quốc ngữ vốn xây dựng trên cơ sở tiếng Việt, nên học chữ quốc ngữ cũng là học tiếng Việt. Ở một đất nước có nhiều tộc người và trước Cách mạng Tháng Tám còn bị kẻ thống trị ngoại nhân chia để trị như Việt Nam, việc thống nhất các tộc người khác nhau để xây dựng và bảo vệ quốc gia sau khi giành được độc lập là một nhu cầu tất yếu, và ở đây phong trào Bình dân học vụ đã trở thành một yếu tố tiên phong. Đại biểu Quốc hội Y Ngông NiêkĐăm người Rhadé tán thành việc học cả chữ Việt lẫn chữ Rhadé (Báo Cứu quốc số 179 ngày 7.3.1946), Chủ tịch nước ra Sắc lệnh về việc mở lớp huấn luyện cán bộ Bình dân học vụ cho đại biểu dân tộc thiểu số (Việt Nam Dân quốc công báo số 27, ngày 6.7.1946), Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Nghị định qui định ngân sách kỳ chịu các khoản chi để mở lớp huấn luyện cán bộ Bình dân học vụ người dân tộc thiểu số (Việt Nam Dân quốc công báo số 29, ngày 20.7.1946), phụ nữ người Mường châu Kỳ Sơn nô nức học chữ quốc ngữ (Báo Cứu quốc số 303, ngày 27.7.1946), dân tộc ít người vùng Bắc Trung Bộ sốt sắng học chữ quốc ngữ (Báo Cứu quốc số 315, ngày 9.8.1946). Hơn thế nữa, hoạt động Bình dân học vụ còn đi liền và góp phần thúc đẩy phong trào vận động Đời sống mới, xây dựng chính quyền nhân dân ở cấp cơ sở, tổ chức các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công nhân… Cho nên với sức lan tỏa và sự phổ biến của nó, phong trào Bình dân học vụ còn góp phần rất đáng kể trong việc rút ngắn khoảng cách giữa nhiều cá nhân thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau, hay nói theo ngôn ngữ xã hội học hiện đại là phát triển vốn xã hội. Nếu quan niệm “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được”22 thì trên nhiều phương diện, hoạt động Bình dân học vụ thời gian 1945 – 1946 đã trở thành một trong những nhân tố tạo ra sự hiểu biết, lòng tin cậy, việc chia sẻ và xuyên suốt tất cả là sự phối hợp chưa từng có trước đó và không chỉ trong phạm vi giáo dục. Chính trên đường hướng này, hoạt động Bình dân học vụ nói riêng và hoạt động giáo dục nói chung thời gian 1945 – 1946 đã thực sự trở thành một lực lượng góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại hóa của xã hội Việt Nam. □  (Còn tiếp)  —  Chú thích:  15 Bảng kê tổng số học sinh học tại các trường trung học phổ thông ở Bắc và Trung Bộ nước Việt Nam (ngày 11.7.1946), Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2319.  16 Bảng thống kê của Bộ Quốc gia Giáo dục về nền trung học, kỹ nghệ chuyên môn và mỹ nghệ thực hành tại Bắc và Trung Bộ nước Việt Nam (ngày 4.4.1946), Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2319.  17 Báo Cứu quốc số 385, ngày 28.9.1946.  18 Danh sách thí sinh dự thi Trung học cao cấp, Ban Triết học văn chương ngày 2.11.1945, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2304.  19 Danh sách thí sinh dự thi Trung học cao cấp khóa hai, Ban Triết học văn chương ngày 23.9.1946, Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2304. Fonds Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2313.  20 Báo Cứu quốc số 287, ngày 9.7.1946.  21 Bộ Quốc gia Giáo dục, Nghị định số 350-NĐ đặt một bậc học Bổ túc bình dân, Việt Nam Dân quốc công báo số 6, ngày 15.7.1949.  22 Laurence Prusak và Don Cohen, How to invest in social capital, 2011.    Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nền giáo dục khai phóng      Với cơ cấu kinh tế hiện tại, sẽ thuận lợi cho người tuyển dụng khi có một nguồn vốn người làm công tiềm năng được giáo dục tốt. Kiểu giáo dục mà họ cần là giáo dục xóa mù chữ để người làm công có thể tuân lệnh và làm được những việc kỹ thuật. Cái không được cần đến là giáo dục về nhận thức chính trị; bởi thế có một chuyện hoang đường thịnh hành là chính trị nên đứng ngoài giáo dục. Nhưng cái điều ngược lại hoàn toàn lại chính là điều mà nền giáo dục tổng quát nhắm vào. Nó cần phải là một nền giáo dục chính trị. Bởi vì mục đích của giáo dục phải là giải phóng chúng ta khỏi tình trạng nô lệ ăn lương và toàn bộ nền văn hóa cạnh tranh.     Sự giải phóng của nền giáo dục khai phóng   Pippin, một trong ba diễn giả được đề cập ở phần trước, là người duy nhất đã nhấn mạnh bản chất giải phóng của giáo dục khai phóng. Nhưng ông tập trung vào một hình thức thứ yếu của giải phóng. Ông giống như một người Do Thái ở Palestine sau cuộc chiến tranh của người Do Thái với Đế quốc La Mã (66-70 A.D). Vì người Do Thái thấy rằng không thể thay đổi được chủ nghĩa đế quốc của Đế quốc La Mã – thực ra thì bất kỳ mối bất đồng nào cũng đều bị cấm – nên thay vì vậy, họ tập trung vào việc bảo vệ cá nhân khỏi tội ác và đạt đến sự cứu rỗi đời đời. Tuy vậy, Pippin không ngăn chặn trực tiếp hay hiển ngôn việc nói về nhu cầu giải phóng con người khỏi cuộc sống nô lệ ăn lương, ông đã gián tiếp nói về một số hình thức của phi tự do. Ông nói về nhu cầu giải phóng con người khỏi những niềm tin được kế thừa. Tôi đồng ý với ông, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để gọi là giải phóng.   Sự giải phóng thực sự có ý nghĩa là sự giải phóng khỏi sức ép cạnh tranh giành lấy các học vị khoa học của giáo viên hay cạnh tranh giành lấy công việc tương lai của sinh viên, những thứ đơn giản chỉ là một hình thức của cuộc cạnh tranh sinh tồn trong môi trường tư bản chủ nghĩa. Nhưng Pippin cũng tỏ ra không biết gì về tình trạng nô lệ này hoặc ông cố ý im lặng về điều đó. Ông quan tâm đến khả năng tự do lựa chọn quan điểm cho bản thân giữa những quan điểm đối lập. Nói cách khác, Pippin và những người khác, đang theo đuổi sự tự chủ trong nhận thức. Chẳng hạn, kết quả của tự chủ về nhận thức là, một sinh viên có thể từ bỏ tôn giáo của cha mẹ và đi theo tinh thần của khoa học. Theo cách nghĩ của Pippin, một sinh viên như thế đã đạt được sự giải phóng ở một mức độ nào đó. Một người được giải phóng như thế đã học được một số vận động biện chứng trong triết học về tôn giáo và nay đã có thể tự mình nhận thức về thế giới.   Đó có phải là cái mà nền giáo dục khai phóng mang lại cho con người? Một khả năng đứng vững trên cái nền tảng của mình trong mọi cuộc tranh luận? Theo Pippin như thế đủ để gọi là giải phóng. Theo tôi, đó mới chỉ là khởi đầu. Mặc dù giáo dục khai phóng có thể được coi như một thứ đào tạo đấu sĩ cho đấu trường trí tuệ, cuộc đấu tranh thực sự, theo Pippin và Mearsheimer, là trong thế giới cạnh tranh nhằm kiếm sống. Và như thế, đối với họ, thế giới ấy là cái mà nền giáo dục khai phóng chuẩn bị cho sinh viên bước vào.     Một cảm nhận mạnh mẽ hơn về “giải phóng” trong giáo dục khai phóng   Theo tôi, giáo dục khai phóng có mục đích tránh cho chúng ta sự cạnh tranh giữa người với người để tồn tại. Tôi sẽ nói rõ hơn quan điểm này. Tôi không nói rằng giáo dục khai phóng giải thoát chúng ta khỏi việc lao động để kiếm sống. Để làm được điều này chúng ta phải đấu tranh với tự nhiên – với trái đất và những gì đang tồn tại trên mặt đất, trong lòng đất, và trên không gian ngoài trái đất. Và cái mà chúng ta cần trong cuộc đấu tranh này là tất cả những tri thức mà khoa học và kỹ thuật mang lại cho chúng ta. Đây là tình huống của Robinson Crusoe trước khi Friday đặt chân đến hoang đảo. Nhưng ngoài thế giới tự nhiên, còn có những con người mà chúng ta phải đấu tranh với họ, và họ bị khuất phục với chiến lược độc quyền đất đai. Và đó là nguồn gốc của hầu hết mọi cuộc chiến tranh.   Và nếu bản thân chúng ta không thực sự nhắm tới mục tiêu độc quyền, trong khi người khác thì có; chúng ta sẽ trở thành nạn nhân của họ. Luật chơi là như thế này: ai cũng cần đất đai để kiếm ăn và để nương náu. Bây giờ nếu chúng ta có thể xoay xở để người khác đem lại cho chúng ta những gì họ đã thu hoạch được và sức lao động của họ, thì chúng ta sẽ không phải lo lắng về sinh tồn của mình; thực ra lúc đó chúng ta sẽ lo sao cho mình có được cuộc sống sang trọng, tráng lệ, huy hoàng. Vậy, làm cách nào chúng ta có thể sai khiến người khác làm việc cho mình? Chúng ta có thể bắt nạt họ bằng cách biến họ thành nô lệ. Hay chúng ta có thể chiếm nguyên hòn đảo (như Crusoe tuyên bố chủ quyền của mình với toàn bộ hòn đảo), và bất cứ ai muốn sống trên mảnh đất của chúng ta sẽ phải sống theo luật lệ của chúng ta – tức cống nạp và lao động phục vụ. Và dĩ nhiên là càng có nhiều đất đai, càng có nhiều lao động và vật triều cống. Phần lớn lịch sử loài người là lịch sử chiến tranh của những người chủ đất tham lam muốn có thêm nhiều đất đai hơn nữa.   Hãy thử xem xét việc phân chia đất đai ở nước Mỹ. Mặc cho cái gọi là Cách mạng Mỹ, luật sở hữu tài sản kế thừa của nước Anh vẫn không thay đổi, kết quả là sự diệt chủng của người da đỏ, tình trạng nô lệ của người châu Phi, và hệ thống nô lệ làm công ăn lương hiện tại. Tôi nói “nô lệ làm công ăn lương” bởi vì người ta bị buộc phải bước vào cuộc cạnh tranh kinh tế này. Ai đã bắt buộc chúng ta phải làm như thế? Chà! Đó là Chính phủ Mỹ! Chính phủ đã bắt người da đỏ ở Bắc Mỹ ổn định trong vùng đất dành riêng cho bộ lạc người da đỏ ở Mỹ, và điều đó khiến mọi người trong thực tế trở thành kẻ lao động ăn lương. Và tại sao lại như thế? Bởi vì chính phủ đại diện cho quyền lợi của những kẻ độc quyền, họ chính là những kẻ đã tạo ra và duy trì cái chính phủ này.   Quần chúng là những mảnh vụn bị hy sinh trong trò chơi độc quyền này. Nhưng chẳng lẽ chúng ta không có nền dân chủ? Vâng, chúng ta có, nhưng đó không phải là nền dân chủ được giáo dục theo tinh thần giải phóng. Giáo dục khai phóng cần để làm cho người ta đồng ý với những chính sách hợp lý. Ngay bây giờ, quần chúng là một dàn tạp âm lặp đi lặp lại những điều khích động và quen thuộc đối với cảm xúc. Quần chúng bị rối bời vì sự khích động có chủ ý của các phương tiện truyền thông giải trí và các thứ tin tức đủ loại, vì những chuyện giật gân, mặc dù trong một bối cảnh lớn hơn, đó là những chủ đề vớ vẩn. Và ngay cả nếu như quần chúng tập trung chú ý vào những vấn đề quan trọng, họ cũng không biết cách thảo luận những vấn đề sao cho đi đến một thỏa thuận hợp lý. Điều quan trọng là nước Mỹ có một dân số khoảng 300 triệu người, trong đó khoảng 8 triệu người thất nghiệp, và 2 triệu người trong nhà tù. Quy mô dân số lớn bao nhiêu thì là đáng mong muốn, hay có thể xoay xở được? Tại sao lại có cảnh thất nghiệp? Có mối tương quan nào chăng giữa thất nghiệp và tình trạng bị bỏ tù?   Với cơ cấu kinh tế hiện tại, sẽ thuận lợi cho người tuyển dụng khi có một nguồn vốn người làm công tiềm năng được giáo dục tốt. Kiểu giáo dục mà họ cần là giáo dục xóa mù chữ để người làm công có thể tuân lệnh và làm được những việc kỹ thuật. Cái không được cần đến là giáo dục về nhận thức chính trị; bởi thế có một chuyện hoang đường thịnh hành là chính trị nên đứng ngoài giáo dục. Nhưng cái điều ngược lại hoàn toàn lại chính là điều mà nền giáo dục tổng quát  nhắm vào. Nó cần phải là một nền giáo dục chính trị. Bởi vì mục đích của giáo dục phải là giải phóng chúng ta khỏi tình trạng nô lệ ăn lương và toàn bộ nền văn hóa cạnh tranh.   Cái điều đang bị thiếu vắng trong nền giáo dục tổng quát hiện tại là sự mài sắc những kỹ năng và khao khát cố gắng đạt đến sự thỏa thuận. Thay vì vậy, mục đích là, như đã phân tích về Pippin, hướng sự chú ý vào việc đạt đến tự chủ cá nhân. Càng có nhiều cá nhân tự chủ, càng nhiều sự bất đồng, nhưng không có nhiều thiện chí đạt đến sự thỏa thuận. Cả ba giáo sư nêu trên có vẻ như hài lòng là sự bất đồng đang nở rộ ở ĐH Chicago. Không ai trong số họ tỏ ra quan ngại chút gì về sự đồng thuận. Tại sao vậy? Bởi vì họ đang nghĩ đến những vấn đề học thuật nằm ngoài đạo đức. Bất đồng không thành vấn đề đối với mọi vấn đề học thuật: đó là những chuyện không có hậu quả thực tế, ít ra là theo cách trực tiếp và có thể thấy trước. Nhưng bên cạnh những vấn đề học thuật còn có những vấn đề sống còn, những quyết định quan trọng và bắt buộc phải thực hiện trong cuộc sống. Chẳng hạn, để tập trung vào khía cạnh chính trị ở ĐH Chicago, năm 1998 hội đồng giảng viên nhà trường đã bỏ phiếu để giảm các môn chung cốt lõi và mở rộng số lượng sinh viên ở bậc ĐH. Liệu họ có đi đến những quyết định như thế thông qua những cuộc thảo luận dựa trên lý trí? Chà, điều này thì còn phụ thuộc vào chỗ những cuộc thảo luận dựa trên lý trí có mục tiêu đạo đức, hay mục tiêu mang lại những lợi ích thiết thực hơn. Trong trường hợp này, cân nhắc đạo đức sẽ là liệu thay đổi như thế có lợi hay có hại cho sinh viên. Nhưng, với tất cả những gì tôi biết, điều này có lẽ chưa bao giờ được đặt ra để tranh luận. Nguyên tắc cơ bản ở đây hầu như chắc chắn là sự sống còn của từng giáo sư trong trường và của ĐH Chicago, người trả lương cho họ. Giảng viên lập luận rằng nếu hy sinh sự nghiêm khắc thì sẽ có thêm nhiều người xin vào học, và như thế sẽ có thêm nhiều khách hàng trả tiền cho nhà trường. Đằng sau những lập luận ấy đối với các giáo sư, rốt cuộc, là sự sinh tồn của họ.   Thế còn giáo dục khai phóng thì sao? Theo trình bày của nhiều giảng viên khác nhau, thì họ đều có vẻ hài lòng với việc sản xuất ra các nhà ngụy biện, và việc giảm bớt các yêu cầu cốt lõi của chương trình sẽ chẳng có mấy ảnh hưởng tới điều đó. Vì giảng viên hình như không thực sự hiểu thế nào là giáo dục tổng quát, hay nếu có, họ nghĩ rằng chẳng có lợi ích thiết thực gì cho họ về mặt chính trị khi tuyên bố về sự hiểu biết ấy, một sự thay đổi nơi này nơi khác trong chương trình đào tạo có vẻ chẳng tạo ra một sự khác biệt sinh tử nào. Nhưng từ quan điểm đạo đức, cái mà họ không muốn nhìn nhận hoặc e sợ khi nhìn nhận – một nền giáo dục khai phóng cần trao quyền cho các cá nhân để họ cố gắng đạt đến sự thỏa thuận với người khác, về những điều có lợi cho tất cả mọi người về mặt chính trị hay kinh tế.   Về cái gọi là Chương trình đào tạo cho Giáo dục tổng quát   Một trường đại học là một tập hợp các khoa, và mỗi khoa đều muốn sinh tồn và phát triển mạnh. Điều này được thực hiện bằng cách có được nhiều sinh viên đăng ký học các môn do khoa mình đưa ra như những môn học hoặc bắt buộc hoặc tự chọn. Nếu chúng ta họp tất cả các trưởng khoa lại và thảo luận về chương trình cốt lõi, mỗi trưởng khoa đều sẽ cố thuyết phục rằng môn tổng quan về chuyên ngành của khoa ấy phải là môn bắt buộc. Kết quả của tâm lý sinh tồn ấy là sự thỏa hiệp trong phân bố các môn bắt buộc: quá nhiều tín chỉ của khoa tiếng Anh, quá nhiều tín chỉ của khoa học tự nhiên, của khoa học xã hội, của khoa học nhân văn, v.v. Và những cái đó được đưa ra như “giáo dục tổng quát”. Liệu họ có từng thảo luận về bản chất của giáo dục khai phóng chăng? Tôi lấy làm ngờ về điều đó. Chừng nào mà chính sách giáo dục còn là việc của hội đồng giảng viên, thì kết quả chắc chắn sẽ là một hình thức tiếp cận theo lối phân bố các môn như vậy.   Quan điểm của tôi là nội dung của giáo dục tổng quát về cơ bản phải là những vấn đề đạo đức, nhất là những vấn đề thuộc chính trị. Chẳng hạn, trong lịch sử, tôi nghĩ rằng những tác phẩm của Charles Beard, đặc biệt là “Diễn giải kinh tế về Hiến pháp Mỹ”, là rất cần. Về các nhà lịch sử và bình luận gia đương đại, tôi nghĩ Howard Zinn và Noam Chomsky đang trình bày những vấn đề rất quan trọng. Những tác phẩm ấy quan trọng bởi vì các tác giả đã nhìn lịch sử và mọi sự kiện từ quan điểm của đạo đức.   Nội dung của giáo dục tổng quát phải là những vấn đề đạo đức được đặt ra thông qua lịch sử, nhân học, xã hội học, kinh tế và chính trị. Và những vấn đề này cần được thảo luận cùng với việc phản ánh bản chất của đạo đức và bản chất của cuộc thảo luận, chẳng hạn như thông qua nghiên cứu về thuật hùng biện và logic học. Vì thảo luận được thực hiện thông qua ngôn ngữ, cần có những nỗ lực để phát triển khả năng ngôn ngữ.   Thảo luận nghĩa là gì?   Theo tôi biết, ví dụ duy nhất về những cuộc thảo luận chính cống là cuộc đối thoại của triết học Plato. Đây là những cuộc đối thoại (chỉ có hai người thảo luận), và quan hệ tối thiểu giữa họ là như sau. Một người nêu ra một nhận định, rồi người kia đáp ứng bằng cách đồng ý, hoặc đòi hỏi làm rõ những điều mơ hồ hay tối nghĩa, hoặc tạm thời ngưng phán đoán. Mỗi nhận định đều có sự đáp ứng như vậy. Chừng nào đạt đến sự đồng thuận, thì không còn cuộc thảo luận nữa. Một cuộc thảo luận được sinh ra chỉ khi có những điểm bất đồng. Và mục đích của những cuộc thảo luận theo tinh thần Socrates không phải để chiến thắng, mà để đạt đến sự đồng thuận.   Cái xảy ra cho một cuộc thảo luận trong những seminar hay trao đổi ý kiến nơi công cộng thì giống như một loạt bài giảng mini với những luận điểm hoặc chẳng có luận điểm nào. Một người nói về điều mình nghĩ, rồi đến một người khác, rồi một người khác nữa. Không có lấy một nỗ lực nào thậm chí chỉ để biết người khác đồng ý hay không đồng ý với những ý kiến ấy. Một cuộc thảo luận thực sự đòi hỏi sự phản hồi với từng nhận định, từng ý kiến. Chẳng hạn, nếu một người trình bày một luận cứ và một kết luận không được chấp nhận, đó phải là do sự không hiệu lực hay không lành mạnh của luận cứ. Nhưng để có thể hiểu được ngay cả điều này, thì người ta cũng phải có ít nhiều kiến thức, kỹ năng, và tin vào logic. Và giáo dục khai phóng cần đem lại sự tinh tế ấy của logic.  Những ý kiến kết luận về Mearsheimer, Pippin, và Abbott  Mearsheimer: Mặc dù đánh giá cao phân tích của Mearsheimer về các sự kiện quốc tế vì nó được trình bày ít ra là từ một cách nhìn có ý nghĩa đạo đức, định nghĩa hiển ngôn của ông về giáo dục khai phóng với sự đào tạo những kỹ năng tri nhận ngoài phạm vi luân lý đã đập vào mắt tôi như một sự sai lầm hoàn toàn. Theo quan điểm của tôi, bản chất cốt lõi của đạo đức là tôn trọng những thỏa thuận, và giáo dục khai phóng là một nền giáo dục nhằm đạt tới sự đồng thuận dựa trên lý trí.   Pippin: Pippin nhấn mạnh vai trò của giải phóng trong giáo dục khai phóng. Nhưng sự giải phóng mà ông tìm kiếm là sự giải phóng khỏi sự cưỡng bách nội tại và ngoại tại. Ông muốn tạo ra những con người suy nghĩ một cách tự chủ. Như thế cũng tốt, nhưng có hai điểm bị khiếm khuyết trong quan điểm của ông. Một là bản chất xã hội của giáo dục khai phóng. Nó không mang ý nghĩa thúc đẩy sự khai sáng riêng tư, mà là sự đồng thuận liên quan đến mọi người. Hai là điều kiện nô dịch hóa của trật tự xã hội. Nhưng có lẽ ông đã không biết gì về việc trật tự xã hội đã biến con người thành nô dịch như thế nào, vì bản thân ông là người nhận được khoản tài trợ có lẽ lớn nhất xưa nay dành cho một học giả.   Abbott: Abbott tuyên bố rằng giáo dục khai phóng không có mục đích vì rằng được giáo dục theo tinh thần giải phóng có nghĩa là học cách trải nghiệm thế giới từ một quan điểm phong phú hơn. Nếu chúng ta phân biệt cái thiện nội tại với cái thiện công cụ, thì cũng như Socrates, Abbott đã tìm thấy cái thiện trong những cuộc thảo luận dựa trên lý trí. Những hoạt động thực sự có bản chất thiện tự nó đã là một phần thưởng, và Abbott có vẻ say sưa với điều này; vì vậy, ông không thấy giáo dục khai phóng có mục đích nào xa hơn.   Giờ đây Plato đã hoàn toàn ý thức được bản chất quyến rũ của triết học (và của tri thức) khi ông trình bày câu chuyện ngụ ngôn về cái hang động. Cái hang động biểu hiện thế giới đời sống hàng ngày, và nếu cái hang động cầm giữ những tù nhân bị xiềng xích và bị bắt buộc phải nhìn vào bóng tối, thì đối với Plato – tuy không phải đối với Abbott – vai trò của các triết gia, hay là của một người được giáo dục trên tinh thần khai phóng, là quay trở lại cái hang động ấy và cố gắng mang lại tự do cho những người tù ấy.     TS. Phạm Thị Ly dịch  Nguồn: http://www.ditext.com/chrucky/aim.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền giáo dục thực chất và linh hoạt      Dằng dai, sôi sục hơn cả chục năm cuối cùng từ  trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cao đến thấp đã đồng thuận rằng  đúng là GDĐT khủng hoảng trầm trọng, bức bách không thể ‘chịu đựng’ được  nữa, dẫn tới các nghị quyết của Đảng về cải cách-đổi mới GDĐT với ba cụm từ  nổi bật là Căn Bản-Toàn diện-Triệt để.    Là sự nghiệp của toàn dân, toàn quốc của 20 triệu người trẻ và tất cả các hộ gia đình nên các vấn đề – triệu chứng của GDĐT biểu hiện rất rõ gây bức xúc, lo lắng trên diện bao trùm. Về con người-nhân văn ta thấy đạo đức băng hoại, xuống cấp, phong hóa suy đồi. Tệ nạn, tội phạm ngày càng bạo liệt và ‘trẻ hóa’. Nhiều người trẻ mất niềm tin, hy vọng vào tương lai, gia đình và xã hội. Thành tích học vấn giả tạo, dối trá… Các cuộc ‘chạy’: chạy trường, chạy thầy, chạy điểm, chạy thi, chạy tuyển, chạy dự án, chạy giấy phép, chạy chỉ tiêu… khiến toàn dân mệt mỏi. Về tri thức và kỹ năng thì bất cập và quá tải là phổ biến. Chất lượng ‘đầu ra’ – thành phẩm của công nghệ GDĐT là không chấp nhận được dẫn đến thất nghiệp, không làm được việc, phải đào tạo lại dẫn tới nguồn nhân lực không đáp ứng được nhu cầu xã hội.   Bộ máy và cơ chế vận hành GDĐT cũng khủng hoảng: Không có hình thù mạch lạc mà rối bời với hàng núi giấy tờ, thủ tục, lộ trình… hàng chục kiểu loại trường phổ thông, hàng trăm trường ĐH, CĐ chắp vá các loại mà trường không ra trường, trò không ra trò, thầy không ra thầy! Không gian GDĐT nhẽ ra phải là phần sạch nhất trong một xã hội bị vấy bẩn, lan tràn mọi tệ nạn từ tham nhũng, hối lộ, lãng phí đến giả dối gian lận, lừa đảo, từ bạo hành, dâm ô đến cướp giật, đánh lộn… Kết cục là 20 năm tuổi thơ-tuổi xuân đáng nhẽ là quãng đời tươi đẹp, hạnh phúc, nhân ái nhất của 20 triệu người hóa thành đáng chán, đáng ghét, đáng lo, đáng sợ, đầy rủi ro! Những trình bày mà tôi gom góp lại trên đây có thể phiến diện, thậm xưng nhưng tiếc thay về cơ bản lại đúng với bản chất và hiện thực.  Vì vậy nếu chọn một sự kiện trong năm qua mang lại hy vọng cho toàn dân thì tôi sẽ chọn ‘sự kiện’ sau: Dằng dai, sôi sục hơn cả chục năm cuối cùng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cao đến thấp đã đồng thuận rằng đúng là GDĐT khủng hoảng trầm trọng, bức bách không thể ‘chịu đựng’ được nữa dẫn tới các nghị quyết của Đảng về cải cách-đổi mới GDĐT với ba cụm từ nổi bật là Căn Bản-Toàn diện-Triệt để.      *Căn bản là gì? Bắt đầu từ ‘triết lý’ GDĐT tức lý tưởng cứu cánh của nó là gì, hướng tới cái gì, nhằm tạo ra những loại người gì với những phẩm chấy, khả năng gì? Đại loại ở nước ta từng có các ‘triết lý’ sau: Thời phong kiến là GDĐT ra một số nhỏ ưu tú, người có tri thức và kỹ năng làm quan lại với phẩm hạnh của ‘người quân tử’ tuyệt đối trung thành với vương quyền và với các giáo điều Khổng Mạnh. Thời thuộc địa là GDĐT ra một lớp người rộng lớn hơn (tùy thuộc khả năng và điều kiện của họ); người có tri thức kỹ năng chuyên ngành để hành nghề kiếm sống và sản xuất tinh thần với phẩm hạnh con người cá nhân tự do, trung thành với các lý tưởng phương Tây và chế độ thuộc địa. Tiếp sau đó là: GDĐT là của toàn dân và nhằm tạo ra ‘con người mới XHCN’, các trí thức ‘vừa hồng vừa chuyên’ với phẩm hạnh lý tưởng XHCN. Tuy nhiên các tiêu chí khá mù mờ khó thẩm định nên khi khối XHCN giải tán, đất nước chuyển mình sang kinh tế thị trường, cả quốc gia lao vào xóa đói nghèo, phấn đấu tăng trưởng vượt bậc thì GDĐT vừa như bị thả nổi, rớt lại phía sau, mất phương hướng, không có triết lý nào soi đường và chống lưng nữa.   Sứ mạng của GDĐT là cung cấp kiến thức cho toàn dân hay đào tạo trí thức tinh hoa, hay cung cấp kỹ năng cho từng nhóm để cung ứng nguồn nhân lực? Phẩm hạnh của con người được GDĐT ra là phẩm hạnh của con người cá nhân tự do, của công dân  XHCN hay của người bán sức lao động trong kinh tế thị trường? Là nền GDĐT nhằm tạo ra những con người toàn diện trí -đức- thể- mỹ, trung thành với các truyền thống dân tộc hay là nền GDĐT tạo ra những con người phát huy khả năng chuyên biệt của mình với năng lực của công dân quốc tế sẵn sàng hội nhập, toàn cầu hóa…vv và vv. Tất cả những câu hỏi ‘căn bản’ ấy vẫn /đang/ đều được/bị bỏ ngỏ. Liệu cuộc cải cách/đổi mới sắp tới có câu trả lời, có tìm ra một triết lý khác / mới?   Chỉ xin chắc chắn một điều: nền GDĐT của ta hiện nay là không thực chất và không tương thích với yêu cầu và thực tiễn xã hội cũng như mong muốn của người dân.   *Toàn diện là thế nào? GDĐT là một siêu hệ thống với hàng chục hệ con và hàng trăm hệ con-con. Đổi mới toàn diện giống như dỡ toàn bộ một tòa nhà rồi làm lại nó từ móng lên mái theo một bản thiết kế khác hoàn toàn? Hàng loạt các chùm câu hỏi cần lời giải. Và bất kì câu hỏi nào cũng có nhiều đáp án cần cân nhắc. Xin nêu vài thí dụ về các cuộc tranh luận, hiến kế, thể nghiệm gần đây nhất.      Về đối tượng GDĐT: 100% trẻ em sẽ học hết lớp 5 hay đến lớp 9. Bao nhiêu phần trăm nên học nghề, đi làm ngay sau lớp 9. Bao nhiêu phần trăm sẽ vào CĐ, ĐH? Về thời gian học sinh học 9, 10, 11 hay 12 năm ‘phổ thông’, 3-4 hay 5 năm ĐH? Hoặc theo chứng chỉ hoàn toàn không quy định thời gian. 20 tuổi, 22 hay 23 có thể có bằng đại học?   Về nội dung, chương trình: bao trùm là chuyện phải giảm tải. Có giáo sư từng cả đời dậy phổ thông cho rằng môn nào cũng cần giảm tới 1/3 khối lượng kiến thức! Cấp 1, cấp 2 học bao nhiêu môn thì vừa, những môn nào cần bỏ, nên thêm?   Về phương pháp, công nghệ thì gay gắt nhất là chuyện dậy nhồi sọ, đọc chép, không lấy người học làm trung tâm, hành khổ học sinh, giáo viên và phụ huynh, tước đi niềm vui học tập của con trẻ, giết chết sự sáng tạo của thầy cô.   Về hệ thống thi, đánh giá kết quả có hàng chục phương cách đã được đề xuất, thử nghiệm đều không thành công nhưng đều chỉ rõ thi, tuyển, đánh gía như hiện nay là nặng nề, lãng phí lớn, không chính xác thậm chí giả dối…   Về giáo viên thì nổi cộm nhất là vấn đề tiền lương, đãi ngộ không đủ sống thì phải dậy thêm kiếm thêm, phải băng hoại giáo đức! Ở đầu kia là chuyện chất lượng người dậy, nhất là bậc CĐ/ĐH vì hàng chục năm qua ta đã cấp vô vàn bằng cấp không đạt chuẩn khiến đội ngũ giảng viên không đạt chuẩn thống trị các trường lại còn phải ‘chạy xô’ đến cũng quá tải luôn! Làm sao thu hút được nhân tài Việt Kiều và nước ngoài? Làm sao hợp tác và liên thông quốc tế mà không bị lừa, bị thiệt vv và vv   Về hạ tầng thì trường lớp, trang bị quá xập xệ… Trường là đơn vị kinh doanh sinh lợi hay không sinh lợi? Trường tự chủ, tự trị đến đâu, theo cách nào và khi đó thì Bộ làm gì? Danh mục các câu hỏi đề ra cho đổi mới ‘toàn diện’ là bất tận khó biết bắt đầu từ đâu ở, khâu nào!  Triệt để đâu phải dễ! Dĩ nhiên từ triệt để trong nghị quyết là nhắm vào nội dung cải cách/đổi mới GDĐT nhưng ai, những nhân sự nào sẽ thiết kế tòa nhà mới này đây? Bộ GDĐT sẽ là chủ lực, là tổng hành dinh? Điều đó có vẻ khó vì Bộ GDĐT đã liên tục tự đổi mới, tự cải cách nhiều thứ, nhiều năm, nhiều lần đều bất thành. Trong số những người kêu gọi đổi mới nhiệt tình, chí lý, thuyết phục nhất có rất nhiều ‘nguyên’, ‘cựu’ lãnh đạo và cốt cán của Bộ. Phải chăng vì có kinh nghiệm rằng nếu còn đương chức tại cơ chế hiện hành thì không thể đổi mới được nên mới có kiến nghị muốn triệt để lần này phải thành lập một cơ quan, một ủy ban, một đại bản doanh đổi mới GDĐT độc lập (với Bộ). Đại bản doanh-phòng thiết kế này đặt ở đâu: Trực thuộc Chính phủ, Quốc hội hay Trung ương? Thành phần nhân sự của phòng thiết kế này phải/nên/cần/có thể là như thế nào, gồm những ai: các chuyên gia, trí thức đầu ngành, một số lãnh đạo ‘cựu’ và đương chức, các chuyên gia Việt Kiều và quốc tế, các chuyên gia các ngành liên quan như KH&CN, luật, tài chính…? vv và vv.   Dư luận dường như trông chờ việc thành lập cơ quan-ủy ban này như hành vi đầu tiên thể hiện quyết tâm triệt để đổi mới GDĐT.   Một cuộc đổi mới được trông đợi, hứa hẹn sẽ đưa ta tới một nền GDĐT thực chất và linh hoạt/năng động để có thể tương thích với xã hội luôn biến đổi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nên hay không nên dạy chữ Nho cho học sinh phổ thông*?      Cuộc tranh luận về chủ trương đưa chữ Nho vào chương trình giáo dục phổ thông đang diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trái chiều và chưa ngã ngũ. Tia Sáng xin giới thiệu tóm lược bài viết của PGS.TS Lê Xuân Thại về vấn đề này với quan điểm chính cho rằng cho rằng không nên, không cần thiết phải dạy chữ Nho cho học sinh phổ thông với tư cách là một môn học bắt buộc, có tính chất đại trà.    vienngonnguhoc.gov.vn  PGS.TS Lê Xuân Thại    Nguồn ảnh: Giaoduc.net.vn  Gần 20 năm nay trên báo chí có một số nhà giáo, nhà ngôn ngữ học chủ trương đưa chữ Nho vào chương trình giáo dục phổ thông. Có không ít bài viết đã trao đổi xung quanh việc có nên đưa việc dạy – học chữ Hán vào trong nhà trường vì một lí do đơn giản “để hiểu tốt hơn, chính xác hơn các từ ngữ Hán Việt” (chiếm tới già nửa vốn từ tiếng Việt). Tôi lý giải vì sao rất băn khoăn trước chủ trương dạy chữ Nho cho học sinh phổ thông Việt Nam.  Chữ Hán rất khó học  Thứ chữ Hán hay chữ Nho mà nhiều học giả chủ trương đem dạy ở trường phổ thông là thứ chữ Hán của văn bản cổ đại mà Trung Quốc gọi là văn ngôn. Chủ trương dạy chữ Hán ở đây thực chất là chủ trương dạy văn ngôn chứ không phải là dạy tiếng Hán hiện đại. Việc dạy chữ Hán và tiếng Hán hiện đại thì chẳng có gì phải bàn cãi nữa vì trước đây và hiện nay trong trường phổ thông Việt Nam đều có môn tiếng Trung (tiếng Hán hiện đại) bên cạnh các môn sinh ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga v.v… mặc dù số lượng học sinh học tiếng Trung bây giờ không nhiều như trước nữa. Học chữ Nho thì phát âm theo cách đọc Hán Việt, còn học chữ Hán tiếng Hán hiện đại thì phát âm theo hệ thống ngữ âm Bắc Kinh hiện đại.  Chữ Hán thường có bộ phận biểu ý nên trong trường hợp đồng âm, nhìn vào chữ là biết ngay được nghĩa của yếu tố đồng âm đó. Chữ ABC không có được ưu điểm này. Chẳng hạn một người Việt Nam có tên là Dương thì rất khó biết tên anh ta có nghĩa là gì: là mặt trời, là biển lớn, là tên một loài cây hay là con dê. Sức mạnh của chữ Hán cho mãi đến ngày nay là phương tiện giao tiếp chung của nhân dân Trung Quốc trong tình trạng các ngôn ngữ địa phương quá cách xa nhau, người Thượng Hải không hiểu tiếng Quảng Đông, người Quảng Đông không hiểu được tiếng Tứ Xuyên v.v… nhưng mọi người Trung Quốc có học đều đọc hiểu các văn bản chữ Hán. Cũng chính vì thế mà cho đến nay chữ phiên âm của tiếng Hán chỉ có thể là phương tiện phụ trợ trong việc dạy chữ Hán chứ không thể thay thế chữ Hán được. Nhưng nhược điểm của chữ Hán là rất khó học. Người Trung Quốc và những người nước ngoài học chữ Hán đều thấm thía điều này. Nó là một cản trở rất lớn cho việc xóa nạn mù chữ ở Trung Quốc. Trong lúc đó thì chữ ABC của ta tuy có nhược điểm như trên đã nói nhưng học rất nhanh, điểm này thì ai cũng thấy.  Cha ông chúng ta đã để lại một di sản văn hóa vô cùng quý báu, trong đó một khối lượng không nhỏ được viết bằng chữ Hán: Bài thơ Nam quốc sơn hà (có người cho là của Lý Thường Kiệt), Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, văn thơ Lý Trần, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngục trung nhật kí của Hồ Chí Minh, Nam dược thần liệu của Tuệ Tĩnh, Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Bản thảo thực vật toát yếu của Phan Chu Tiên, Đại thành toán pháp của Lương Thế Vinh v.v… Nếu ai cũng có trình độ chữ Hán đọc trực tiếp các văn bản chữ Nho đó thì tốt quá. Nhưng vấn đề là ở chỗ ngày nay dạy chữ Nho cho học sinh phổ thông có thể đạt đến trình độ đó hay không. Ai cho rằng dạy chữ Nho ở trường phổ thông để học sinh trực tiếp đọc được văn bản chữ Hán trong di sản văn hóa dân tộc thì đó là một ảo tưởng. Các cụ ta ngày xưa bao nhiêu năm đèn sách, sôi kinh nấu sử mới đạt được trình độ đó chứ đâu phải là chuyện dễ! Học chữ Nho khó không phải chỉ vì bản thân chữ Nho phức tạp mà còn vì văn chữ Nho là văn cổ đại (văn ngôn) mà ngay người Trung Quốc hiện đại cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tôi là người cảm nhận rất rõ điều này. Tôi học tiếng Hán hiện đại đến nay đã hơn 50 năm, chữ Hán tôi học được cũng khá nhiều nhưng đọc loại văn cổ đó tôi cũng chẳng hiểu được bao nhiêu. Không những tôi mà ngay các bạn học Trung Quốc cùng lớp với tôi cũng không hiểu gì mấy khi bất đầu tiếp xúc với Kinh thi, với Luận ngữ, với Sở từ v.v…  Do vậy, theo tôi thì để tiếp cận di sản văn hóa chữ Hán ở Việt Nam, cần phải đào tạo một đội ngũ chuyên gia Hán học để họ có thể nghiên cứu và dịch các trước tác chữ Hán có giá trị của cha ông ra tiếng Việt chứ không trông chờ gì ở việc học tập chữ Nho của học sinh ở trường phổ thông. Việc dịch thuật này ngay từ thời phong kiến đã có người làm như Đoàn Thị Điểm đã dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, thời Pháp thuộc vẫn tiếp tục có người làm, và sau Cách mạng tháng Tám nhất là mấy chục năm gần đây đã đạt được rất nhiều thành tựu. Việc thành lập Viện Hán Nôm, việc thành lập khoa Hán Nôm ở một số trường đại học đã có tác dụng rất lớn trong vấn đề này.  Thụ đắc từ ngữ Hán Việt không nhất thiết phải qua chữ Nho  Một lí do mà những người chủ trương dạy chữ Nho ở trường phổ thông thường hay nêu ra là dạy chữ Nho để nâng cao trình độ hiểu biết và sử dụng tiếng Việt. GS. Cao Xuân Hạo viết: “Nạn mù chữ Hán cũng là cội nguồn của việc hiểu sai các từ Việt gốc Hán. Cũng như người Pháp không thể giỏi tiếng Pháp nếu không biết tiếng La Tinh, người Việt Nam cũng không thể giỏi tiếng Việt nếu không biết chữ Hán, thứ chữ đã từng được dùng để viết hơn 70% số từ của tiếng Việt, những từ mà ngày nay vẫn được dùng với một tần suất rất cao”. Để chứng minh cho điều này, người ta đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng, các lỗi về âm, về nghĩa, về phong cách trong việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trên sách báo và trong cuộc sống thường nhật. Những lỗi này là sự thật không thể chối cãi nhưng phải chăng là do nạn mù chữ Nho và muốn khắc phục cái lỗi này thì phải dạy chữ Nho từ bậc học phổ thông? Thử lật lại vấn đề: nếu các lỗi về sử dụng từ ngữ Hán Việt là do mù chữ Nho thì tại sao có rất nhiều nhà văn, nhà báo, nhà khoa học Việt Nam chẳng biết một chữ Nho nào cả mà tác phẩm của họ chẳng có một lỗi nào về từ ngữ Hán Việt. Sở dĩ như vậy là vì tuy không biết một chữ Nho nào cả nhưng họ đã có một quá trình tu dưỡng tìm hiểu âm, nghĩa, giá trị phong cách của từ ngữ Hán Việt. Việc thụ đắc từ ngữ Hán Việt không nhất thiết phải qua chữ Nho. Người ta hoàn toàn có thể thụ đắc từ ngữ Hán Việt bằng cách liên hệ với tư duy, liên hệ với thực tế, với giao tiếp. Điều này không những đúng với việc thụ đắc từ ngữ Hán Việt mà còn đúng với việc thụ đắc các từ ngữ ngoại lai khác trong tiếng Việt. Trong tiếng Việt có nhiều từ gốc Pháp nhưng để hiểu những từ đó người Việt không nhất thiết phải học chữ Pháp, tiếng Pháp. Điều này cũng đúng đối với việc thụ đắc các từ ngữ ngoại lai của người bản địa dân tộc khác. Trong tiếng Hán có nhiều từ gốc Nhật, nhưng người Hán cũng không nhất thiết phải học tiếng Nhật, chữ Nhật (mặc dù trong chữ Nhật có nhiều chữ Hán). Như vậy, theo tôi là những người dùng sai từ ngữ Hán Việt không phải là do không biết chữ Nho mà là do họ không học tập đến nơi đến chốn tiếng Việt nói chung và từ ngữ Hán Việt nói riêng.  Có người nghĩ rằng có học chữ Nho mới hiểu được nghĩa của yếu tố cấu tạo từ, hiểu được yếu tố cấu tạo từ thì mới hiểu được nghĩa của từ ngữ Hán Việt. Thực tế không hẳn là như vậy. Có nhiều trường hợp người ta không hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt nhưng vẫn hiểu và sử dụng đúng từ ngữ Hán Việt. Người ta có thể không hiểu áitrong ái nam ái nữ nghĩa là gì, nhưng hiểu rất đúng thế nào là ái nam ái nữ (Ái ở đây có nghĩa là phảng phất, gần như), có thể không hiểu ái trong ái ngại nhưng ai cũng hiểu dùng đúng từ ái ngại (Ái ở đây có nghĩa là băn khoăn), có thể không hiểu sở trong từ khổ sở nghĩa là gì nhưng không mấy ai không hiểu và dùng sai từ khổ sở (Sở ở đây có nghĩa là đau xót). Như vậy có thể thấy rằng trong việc thụ đắc từ ngữ Hán Việt, quan trọng là việc hiểu nghĩa, hiểu cách dùng từ ngữ chứ không phải là hiểu nghĩa của từng yếu tố cấu tạo từ. Mà ngay cả việc hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt cũng không nhất thiết phải qua chữ Nho mà có thể dạy qua chữ quốc ngữ như chúng ta đã dạy ở các giờ ngữ văn phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Tất nhiên việc dạy từ ngữ Hán Việt ở trường phổ thông hiện nay còn nhiều điều phải cải tiến để thu được nhiều hiệu quả hơn nữa, nhưng đó là chuyện khác mà chúng tôi không bàn đến ở đây.  Nói tóm lại, chúng tôi cho rằng không nên, không cần thiết phải dạy chữ Nho cho học sinh phổ thông với tư cách là một môn học bắt buộc, có tính chất đại trà. Tất nhiên, những em học sinh phổ thông nào thích học chữ Nho mà nhà trường có điều kiện thì cũng có thể theo học ở những giờ ngoại khóa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu bạn muốn thay đổi thế giới      Trong diễn văn lễ tốt nghiệp 2014 ở Đại học Texas, đô đốc William H. McRaven, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Đặc nhiệm Mỹ (Commander of United States Special Operations Command – USSOCOM), chia sẻ những trải nghiệm của bản thân ông qua khóa huấn luyện đặc nhiệm hải quân (Navy Seal) – một trong những khóa huấn luyện khắc nghiệt nhất trong quân đội Mỹ – với 10 bài học mà ông tin rằng có ích cho những sinh viên vừa tốt nghiệp trên suốt đường đời.    Đã gần 37 năm kể từ ngày tôi tốt nghiệp từ Đại học Texas, cũng là ngày tôi chính thức được chuyển vào hàng ngũ sỹ quan Hải quân. Khẩu hiệu của trường ta là “những điều khởi đầu từ đây sẽ thay đổi thế giới”. Tôi phải thừa nhận mình khá tâm đắc với khẩu hiệu này.   Tối nay gần 8000 sinh viên sẽ tốt nghiệp từ Đại học Texas. Theo con số thống kê chi tiết của trang điện tử Ask.Com, trung bình mỗi người Mỹ gặp gỡ 10.000 người trong cuộc đời mình. Nhưng trong số những người bạn gặp gỡ trong cuộc đời, chỉ cần bạn thay đổi cuộc sống của mười người – rồi mỗi người trong số đó chỉ cần tiếp tục làm thay đổi cuộc sống của mười người khác – chỉ cần mười thôi – thì sau năm thế hệ – 125 năm – lứa tốt nghiệp năm 2014 sẽ làm thay đổi cuộc sống của 800 triệu người. Thử nghĩ xem, 800 triệu người tức là nhiều hơn gấp đôi dân số nước Mỹ. Và chỉ cần thêm một thế hệ nữa các bạn sẽ làm thay đổi cuộc sống của toàn bộ dân số thế giới – 8 tỷ người.  Nhưng nếu bạn nghĩ rằng rất khó để làm thay đổi cuộc sống của mười người – thay đổi một cách vĩnh viễn – thì bạn đã lầm. Tôi đã được thấy chúng ta làm thay đổi cuộc sống của nhau mỗi ngày ở Iraq và Afghanistan. Một sỹ quan Lục quân đưa ra quyết định rẽ trái thay vì rẽ phải tại một con đường ở Baghdad, nhờ thế mười binh sỹ của anh ta tránh được một cuộc mai phục. Ở tỉnh Kandahar, Afghanistan, một sỹ quan chưa chính thức trong Đội Nữ Xung kích (Female Engagement Team) cảm thấy có gì đó không đúng và chỉ đạo một trung đội bộ binh thoát khỏi một quả bom tự chế loại 500 pound, cứu mạng sống của vài chục người. Không chỉ những binh sỹ đó được cứu sống bởi các quyết định đưa ra bởi một cá nhân, mà cả con cái sau này của họ, những đứa trẻ chưa ra đời, nhờ thế mà tồn tại. Và cả cháu chắt của họ nữa. Chỉ một quyết định đúng của một người có thể cứu vài thế hệ.  Thay đổi thế giới là điều có thể xảy ra bất cứ nơi đâu và bất kỳ ai cũng có thể làm. Nhưng câu hỏi đặt ra là thế giới sẽ ra sao sau khi ta thay đổi nó?  Tôi có lòng tin rằng nó sẽ tốt đẹp hơn. Nếu các bạn cho phép, gã thủy thủ già này xin chia sẻ một vài gợi ý có thể hữu ích cho bạn trên hành trình đến một thế giới tốt hơn. Mặc dù đây là những bài học tôi có được từ cuộc đời binh nghiệp, tôi đảm bảo rằng chúng có thể hữu ích cho tất cả mọi người, mọi giới tính, sắc tộc, tôn giáo, thiên hướng tình dục, hay địa vị xã hội. Bởi vì mọi gian nan trên thế giới này đều có những đặc điểm chung và những bài học giúp ta vượt qua chúng để tiến lên phía trước – để thay đổi bản thân mình và thế giới xung quanh – hoàn toàn có thể ứng dụng cho tất cả mọi người một cách bình đẳng.    Tôi là một người lính đặc nhiệm hải quân (Navy SEAL) trong suốt 36 năm qua. Tất cả bắt đầu khi tôi rời Đại học Texas để bước vào khóa huấn luyện cơ bản dành cho người dự tuyển vào đặc nhiệm hải quân ở Coronado, California. Khóa huấn luyện này kéo dài sáu tháng, với những cuộc chạy bộ tra tấn thể lực trên nền cát mềm, bơi giữa đêm trong nước biển lạnh ngoài khơi San Diego, những bài vượt chướng ngại vật và luyện dẻo kéo dài vô tận, những ngày liên tục không ngủ, chìm trong cái lạnh, ướt át, cực nhọc.  Sáu tháng thường xuyên bị hành hạ bởi những huấn luyện viên chuyên nghiệp, những người tìm mọi cách để tìm ra điểm yếu trong tinh thần, thể chất của học viên và loại bỏ chúng trước khi học viên được chính thức trở thành đặc nhiệm hải quân. Nhưng cũng qua những thử thách đó mà người ta tìm ra được những học viên đủ khả năng tự giúp mình vượt qua môi trường thường trực sự căng thẳng, hỗn loạn, sai lầm, và khổ ải.    Với tôi, khóa huấn luyện cơ bản dành cho đặc nhiệm hải quân là tất cả những thách thức của cuộc đời được dồn ép vào trong sáu tháng. Tôi rút ra từ khóa huấn luyện đó mười bài học, và hi vọng rằng chúng sẽ có giá trị cho bạn trong cuộc đời sau này.  1. Mỗi buổi sáng trong thời gian khóa huấn luyện, các huấn luyện viên, những người từng tham chiến ở Việt Nam, đều đặn xuất hiện tại phòng của chúng tôi, và điều đầu tiên họ kiểm tra là giường nằm. Nếu gấp dọn đúng, mọi góc chăn mền đều phải vuông góc, ga phủ giường được kéo căng chặt, gối đặt ngay ngắn chính giữa đầu giường, chăn gấp gọn gàng ở cuối giường.  Nhiệm vụ này thật đơn giản và tầm thường, nhưng mọi buổi sáng chúng tôi đều bắt buộc phải làm cho giường của mình thật hoàn hảo. Khi đó đây có vẻ là chuyện nực cười, đặc biệt đối với những người được rèn luyện để trở thành các chiến binh gan góc trên chiến trường. Nhưng trải qua thời gian, tôi ngày càng cảm nhận rõ ý nghĩa của nhiệm vụ đơn giản này.    Nếu chúng ta gấp dọn giường gọn gàng mỗi buổi sáng thì tức là ta đã hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên của ngày. Điều ấy mang đến một cảm giác kiêu hãnh nho nhỏ, và nó khuyến khích chúng ta tiếp tục hoàn thành một nhiệm vụ khác, rồi lại một nhiệm vụ khác nữa. Đến cuối ngày, cái nhiệm vụ được hoàn thành đầu tiên đó sẽ chuyển thành nhiều nhiệm vụ được hoàn thành khác. Gấp dọn giường nhắc nhở chúng ta một thực tế là những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt trong cuộc sống thực ra đều có ý nghĩa.           Khóa huấn luyện cơ bản dành cho đặc nhiệm hải quân là tất cả những thách thức của cuộc đời được dồn ép vào trong sáu tháng.        Nếu ta không làm đúng được việc nhỏ, ta sẽ chẳng bao giờ làm đúng được việc lớn.   Và nếu lỡ chẳng may chúng ta có một ngày tồi tệ, ta sẽ trở về bên chiếc giường gọn gẽ do chính tay mình thu xếp ban đầu – chiếc giường sẽ động viên ta, rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.  Vì vậy, bài học đầu tiên là nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy bắt đầu bằng việc gấp dọn giường của mình.  2. Trong suốt khóa huấn luyện, các học viên được chia thành nhiều tổ đua thuyền, mỗi tổ có bảy người – mỗi mạn thuyền ba người, một người cầm lái ở đuôi thuyền. Mỗi ngày các tổ đua thuyền tập hợp ở bãi biển rồi chèo thuyền vượt qua những con sóng lớn trước khi chèo vài dặm men dọc theo bờ biển. Vào mùa đông, mỗi con sóng có thể cao từ 8 tới 10 feet (2,4 – 3 m), rất khó để chèo vượt qua nếu mọi người không cùng nỗ lực chung sức. Mọi tay chèo đều phải nhịp nhàng theo nhịp đếm của người cầm lái. Tất cả đều phải tác động một lực bằng nhau, nếu không thuyền sẽ xoay ngang và bị sóng quăng ngược về phía bờ.   Muốn thuyền đến đích, ai cũng phải chèo. Chúng ta không thể thay đổi thế giới một cách đơn độc – chúng ta cần người giúp đỡ – và để thực sự đến đích ai cũng cần có bạn bè, đồng nghiệp, sự hào phóng của những người ta không quen biết, và một người cầm lái vững chắc để định hướng đi đúng.      Vì vậy, nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy tìm ai đó cùng mình chèo thuyền.  3. Sau vài tuần rèn luyện khó khăn, lớp đặc nhiệm hải quân của chúng tôi từ 150 người tụt xuống chỉ còn 35. Vậy là còn lại năm tổ đua thuyền, mỗi tổ bảy người. Tổ của tôi gồm toàn những anh cao lớn.   Nhưng tổ đua thuyền xuất sắc nhất lại gồm toàn những anh thấp bé từ 5 ft 5 (1,65 m) trở xuống – chúng tôi gọi họ là các anh lùn – gồm một người Mỹ da đỏ, một người Mỹ gốc Phi, một người Mỹ gốc Ba Lan, một người Mỹ gốc Hy Lạp, một người Mỹ gốc Ý, và hai chàng rắn rỏi khác đến từ miền Trung Tây. Họ chèo thuyền, chạy, bơi, cái gì cũng nhanh hơn tất cả những tổ khác.  Mấy anh cao lớn từ các tổ khác vẫn thường trêu chọc những chân nhái bé nhỏ mà các anh lùn đeo vào trước khi bơi, nhưng rồi các chàng lùn, những người đến từ mọi miền đất nước, có xuất xứ từ khắp nơi trên thế giới, rút cục luôn là những người cười sau cùng – họ bơi nhanh hơn và đến đích trước tất cả những người khác.  Yếu tố quyết định làm nên chiến thắng không phải là màu da, sắc tộc, trình độ giáo dục, địa vị xã hội, mà chính là ý chí.  Vì vậy, nếu bạn muốn thay đổi thế giới thì đừng nhìn vào kích thước của chân nhái, hãy nhìn vào kích thước của trái tim.  4. Cứ vài lần trong tuần, các huấn luyện viên lại bắt cả lớp đứng xếp hàng để kiểm tra quân phục thật kỹ lưỡng. Mũ phải được đánh hồ hoàn hảo, quần áo được là không tì vết, thắt lưng bóng loáng không một gợn bẩn.  Dù chúng tôi cố gắng đến đâu thì luôn có người không đạt yêu cầu. Những người huấn luyện luôn tìm ra điều gì đó chưa tốt. Hình phạt cho học viên không đạt yêu cầu là chạy bộ, mặc đầy đủ quân phục lao xuống biển, ướt từ đầu tới chân, rồi lăn tròn trên bãi cho tới khi khắp người dính đầy cát. Người ta gọi đó là  bánh quy bọc đường. Bạn sẽ phải mặc bộ quân phục đó suốt cả ngày – lạnh, ướt, và đầy cát.   Rất nhiều học viên không thể chấp nhận được thực tế rằng mọi nỗ lực cố gắng đều vô ích, dù cố chỉnh trang quân phục của mình đến đâu thì vẫn không được cấp trên công nhận. Đó là những học viên không thể trụ lại sau khóa huấn luyện. Họ không hiểu được mục đích thực sự của việc tra tấn này. Đó là không bao giờ có một bộ quân phục hoàn hảo. Nhiều khi dù cố làm tốt đến đâu bạn vẫn bị biến thành bánh quy bọc đường. Cuộc sống nhiều khi là như vậy.    Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, đừng nản lòng vì bị người ta biến mình thành bánh quy bọc đường, hãy tiếp tục tiến bước.          Yếu tố quyết định làm nên chiến thắng không phải là màu da, sắc tộc, trình độ giáo dục, địa vị xã hội, mà chính là ý chí.        5. Liên tục mỗi ngày trong suốt khóa huấn luyện chúng tôi đối diện với nhiều bài tập thể lực – chạy việt dã, bơi việt dã, vượt chướng ngại vật, các bài luyện độ dẻo trong nhiều giờ – đồng thời cũng nhằm thử thách ý chí. Mỗi bài tập đều có những tiêu chuẩn – như thời gian hoàn thành – mà nếu không đạt thì đến cuối ngày bạn sẽ bị đưa vào một danh sách được gọi là “gánh xiếc”.  Vào gánh xiếc nghĩa là phải thực hiện bài luyện dẻo thêm hai giờ đồng hồ. Mục đích của bài tập là khiến bạn kiệt sức, mất tinh thần, và cuối cùng xin đầu hàng, rút lui khỏi khóa huấn luyện. Tất cả mọi học viên đặc nhiệm hải quân trong khóa huấn luyện đều từng bị rơi vào gánh xiếc, dù không ai muốn vì vào đó nghĩa là bạn sẽ càng đuối sức và trở nên trì trệ hơn trong ngày hôm sau, để rồi càng dễ rơi vào những gánh xiếc kế tiếp.  Tuy nhiên, điều thú vị là những người thường xuyên rơi vào gánh xiếc cứ đều đặn phải tập thêm hai giờ luyện dẻo, trải qua một thời gian bỗng trở nên mạnh mẽ hơn. Những khổ ải trong rạp xiếc khiến sức mạnh bên trong họ thêm bền bỉ.  Trong cuộc sống, ở đâu cũng có những gánh xiếc. Bạn sẽ không tránh khỏi sa chân vào chúng. Nhiều khả năng chuyện ấy sẽ xảy ra thường xuyên. Sẽ rất mệt mỏi. Bạn sẽ mất tinh thần. Sẽ có lúc bạn cảm thấy không chịu được nữa.    Nhưng nếu bạn muốn thay đổi thế giới thì đừng sợ hãi những gánh xiếc.  6. Ít nhất hai lần trong tuần, các huấn luyện viên yêu cầu chúng tôi luyện bài chạy vượt chướng ngại vật, với 25 chướng ngại vật khác nhau như tường cao 10 ft (3 m), rào lưới cao 30 ft (9,1 m), rào dây thép gai, v.v.  Nhưng chướng ngại thử thách nhất được gọi là  đường trượt cuộc đời. Ở một đầu là tòa tháp ba tầng cao 30 ft, đầu bên kia là một tòa tháp khác cao một tầng, hai tháp được nối bởi sợi dây dài 200 ft (61 m). Bạn phải trèo lên tòa tháp cao ba tầng, khi tới đỉnh thì nắm lấy sợi dây, đung đưa người xuống dưới, rồi di chuyển bằng tay nhích đi từng chút một.  Khi chúng tôi bước vào khóa huấn luyện năm 1977, thời gian kỷ lục của thử thách này đã được giữ vững trong nhiều năm trước đó. Dường như không ai đủ sức phá kỷ lục này, cho tới một ngày, một học viên quyết định vượt qua đường trượt cuộc đời theo cách không ai dám làm. Thay vì đung đưa người xuống bên dưới sợi dây, anh ta dũng cảm nằm bên trên, đầu lao về phía trước. Điều đó quả là nguy hiểm, thậm chí ngu ngốc, chỉ sơ sểnh một chút anh ta sẽ ngã, bị thương và bị loại khỏi khóa huấn luyện.  Nhưng không ngần ngại, người học viên cứ thế trườn về phía trước với một tốc độ nguy hiểm, thay vì mất vài phút như những người khác, anh ta chỉ mất đúng nửa phút, hoàn toàn phá kỷ lục.  Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, đôi khi phải lao đầu về phía trước bất chấp rủi ro.   7. Trong giai đoạn rèn luyện chiến trận, các học viên được đưa đến đảo San Clemente nằm ngoài khơi San Diego. Vùng biển này chính là nơi giao phối của cá mập trắng. Để vượt qua khóa huấn luyện, học viên bắt buộc phải trải qua một loạt các cuộc bơi việt dã, một trong số đó diễn ra trong đêm.           Bằng cách truyền niềm hi vọng cho những người khác, một người cũng có thể thay đổi thế giới.         Trước khi bơi, các huấn luyện viên hào hứng giới thiệu sơ lược về tất cả các loài cá mập sinh sống quanh đảo San Clemente. Tuy nhiên, họ trấn an chúng tôi rằng chưa từng có học viên nào bị cá mập ăn thịt. Họ cũng dạy cách xử lý khi bị cá mập bơi lượn vòng quanh, đó là hãy ở nguyên tại chỗ, không được phép bơi đi chỗ khác, và không được tỏ ra sợ hãi. Trong trường hợp gặp phải cá mập hung dữ vì quá đói mà lao tới, bạn phải dồn hết sức bình sinh nện vào mõm nó, nó sẽ đổi hướng bỏ đi nơi khác.  Trong thế giới của chúng ta có rất nhiều cá mập. Nếu bạn muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải chấp nhận đương đầu với chúng.     Vì vậy, nếu muốn thay đổi thế giới, đừng lùi bước trước tụi cá mập.  8. Là lính đặc nhiệm hải quân, một trong các nhiệm vụ của chúng tôi là tấn công tàu địch từ dưới nước. Chúng tôi phải tập luyện kỹ thuật này rất nhiều lần trong khóa huấn luyện.  Khi thực hiện nhiệm vụ tấn công tàu địch từ dưới nước, hai người lính đặc nhiệm được thả xuống gần cảng của đối phương, sau đó họ phải bơi lặn hơn 2 dặm (hơn 3,2 km) trong nước, với công cụ hỗ trợ duy nhất là chiếc thước đo độ sâu và la bàn định hướng để định vị mục tiêu.   Trong phần lớn thời gian chặng bơi, dù ở dưới nước ta vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng từ bên trên. Nhưng khi tới gần tàu đối phương, ánh sáng sẽ mất dần cho tới khi hoàn toàn bị con tàu che khuất. Học viên phải bơi xuống đáy tàu, tìm đến sống tàu, là nơi sâu nhất và tối nhất, tới mức không thể nhìn thấy bàn tay ngay trước mặt mình, tiếng động cơ con tàu khiến tai hầu như ù đặc, cũng là lúc dễ mất phương hướng và thất bại. Đó chính là lúc ta phải bình tĩnh, vận dụng tất cả kỹ năng, chiến thuật, sức mạnh thể chất cũng như tinh thần.     Nếu muốn thay đổi thế giới, ta phải phát huy được bản thân mình một cách tốt nhất giữa khoảnh khắc tối tăm nhất.    9. Tuần lễ thứ chín của khóa đào tạo được gọi là “Tuần Địa ngục”, với sáu ngày liền không ngủ, thường xuyên bị tra tấn về thể chất và tinh thần, trong đó đặc biệt nhất là ngày thứ Tư ở Mud Flats, một đầm lầy nằm giữa San Diego và Tijuana. Các học viên chèo thuyền tới đầm lầy và dành 15 tiếng liên tục cố gắng sống sót trong cái lạnh cóng của gió rét và bùn lầy, với áp lực thường trực từ các huấn luyện viên thúc giục mọi người bỏ cuộc đầu hàng.  Khi mặt trời vừa nhô lên vào buổi sáng thứ Tư đó, chúng tôi được lệnh lao xuống đầm lầy. Ai cũng ngập trong bùn đến tận cổ. Các huấn luyện viên bảo rằng chúng tôi phải ở nguyên trong bùn tới khi có đủ năm người bỏ cuộc.   Sau 8 tiếng đã có thể thấy một số học viên rõ ràng muốn bỏ cuộc. Vẫn còn gần 8 tiếng nữa phải chịu đựng chờ mặt trời mọc giữa bùn lầy lạnh tới tận xương. Tiếng răng va lập cập và rên rỉ của các học viên khiến tai chúng tôi hầu như không nghe được âm thanh nào khác. Nhưng bỗng nhiên có tiếng ai đó hát vang lên trong đêm. Một tiếng hát dở tệ, sai nhạc hoàn toàn, nhưng tràn đầy sự hứng khởi.   Một tiếng hát trở thành hai, hai thành ba, và không lâu sau tất cả mọi người cùng hát. Chúng tôi biết rằng nếu một người có thể vượt qua sự khốn khổ thì những người khác nhất định cũng có thể.  Các huấn luyện viên đe dọa rằng nếu chúng tôi cứ tiếp tục hát thì sẽ phải ở trong bùn lâu hơn – nhưng tiếng hát vẫn tiếp tục. Thế rồi không hiểu sao bùn lầy trở nên ấm hơn một chút, gió cũng dịu hơn, và bình minh không còn quá xa nữa.  Sau này khi đã được đi nhiều nơi trên thế giới, tôi nhận ra điều giá trị nhất chính là sức mạnh của niềm hi vọng. Sức mạnh đó bắt đầu từ một con người – Washington, Lincoln, King, Mandela, hay thậm chí một cô bé từ Pakistan – Malala–bằng cách truyền niềm hi vọng cho những người khác, một người cũng có thể thay đổi thế giới.  Vậy nên, nếu muốn thay đổi thế giới, hãy hát lên khi cổ bạn ngập trong bùn.  10. Ở mọi khóa huấn luyện đặc nhiệm hải quân     đều có một chiếc chuông đồng, treo ngay chính giữa doanh trại để học viên nào cũng có thể thấy. Khi muốn bỏ cuộc, học viên chỉ việc đến rung chuông. Rung chiếc chuông và bạn sẽ không còn phải dậy từ 5 giờ sáng. Rung chuông và bạn không còn phải bơi trong nước lạnh cóng. Rung chuông và bạn không còn phải chạy việt dã, vượt chướng ngại vật, những bài tra tấn thể lực, không còn những khổ ải. Đơn giản là chỉ cần rung chuông đầu hàng.  Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, đừng bao giờ rung chuông.    Các bạn khóa tốt nghiệp 2014, chỉ giây lát nữa thôi các bạn sẽ ra trường, bắt đầu hành trình vào cuộc sống. Chỉ giây lát nữa thôi, các bạn sẽ bắt đầu thay đổi thế giới – làm cho nó tốt lên.  Việc ấy không dễ. Nhưng các bạn là khóa 2014, những người sẽ thay đổi cuộc sống của 800 triệu người trong vòng thế kỷ tới. Hãy bắt đầu mỗi ngày bằng việc hoàn thành một nhiệm vụ đầu tiên. Tìm ai đó giúp đỡ mình, cùng đồng hành trong cuộc sống. Hãy tôn trọng mọi người. Dù biết rằng cuộc đời có lúc không công bằng, rằng mình sẽ có nhiều lúc thất bại, nhưng nếu bạn chấp nhận rủi ro, tiến lên phía trước vào những thời khắc khó khăn nhất, đối diện với những kẻ áp bức, nâng đỡ người bị áp bức, và không bao giờ bỏ cuộc – nếu bạn làm được như vậy thì thế hệ tới đây và những thế hệ tiếp theo chắc chắn sẽ được sống trong một thế giới tốt đẹp hơn thế giới chúng ta đang sống hôm nay rất nhiều – những gì khởi đầu nơi đây sẽ thực sự thay đổi thế giới và làm nó tốt lên.           Thanh Xuân lược dịch  Nguồn:   online.wsj.com/articles/william-h-mcraven-life-lessons-from-navy-seal-training-1400884791    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu chính sách giáo dục  chỉ hướng đến mục tiêu kinh tế      Trao đổi về bài viết Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới của tác giả Lê Trường Tùng, nghiên cứu sinh Tao Phùng nhấn mạnh, nếu một nền giáo dục không được xây dựng dựa  trên những giá trị nhân văn, thì mọi biện pháp cấu trúc lại nó dựa trên  các tính toán về mặt kinh tế sẽ không đem lại những điều tốt đẹp cho đa  số người dân.     Nhìn vào đề xuất thay đổi kiến trúc hệ thống giáo dục, tôi thấy đây là một hướng đi nhiều hứa hẹn ở khía cạnh người học có nhiều lựa chọn hơn về thời gian học tập trong nhà trường và có thể sẽ làm cho việc học tập trong nhà trường phù hợp hơn với thực tế đa dạng và phong phú của người học cũng như nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, cũng cần nhìn thấy rằng có nhiều lực lượng xã hội tham gia vào giáo dục có mong muốn gia tăng thời gian học tập trong nhà trường và dẫn đến hiện tượng người lao động ngày càng cần có bằng cấp cao để xin được việc làm.   Ở Mỹ thời gian mà một người phải đi học tăng dần lên, và hiện nay nếu như không có bằng thạc sỹ thì khả năng kiếm việc làm là hạn chế. Người ta phải đi học triền miên và gánh chịu những khoản nợ khá nặng. Một người quen của tôi ước tính sẽ phải mất 10 năm để trả nợ sau khi tốt nghiệp đại học và số tiền bạn ấy phải vay là 200 nghìn USD. Tôi google thấy có chỗ nói trung bình một sinh viên Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học phải nợ khoảng 24 nghìn USD. Nghe ra thì chỉ cần vài năm đi làm là đủ, nhưng sau vài năm đi làm, họ thường lại phải học tiếp lên. Hiện tượng này có thể do yêu cầu công việc ngày càng tăng, nhưng tôi nghĩ còn là do nền kinh tế suy thoái, không tạo được việc làm cho người dân và bản thân giáo dục đã trở thành một ngành kinh doanh. Người ta xây dựng và quảng bá các chương trình học, phối hợp với các đơn vị tuyển dụng để nâng cao yêu cầu về bằng cấp, bởi bằng cấp dù sao cũng thể hiện sự đầu tư học tập của các ứng viên. Ngành kinh doanh giáo dục có sức áp đặt của nó lên xã hội, chứ không phải chỉ biết phục vụ nhu cầu thật của xã hội. Khi nó lạm dụng quyền lực của nó, nó tạo ra các nhu cầu ảo. Nó ép người ta đi học để có bằng cấp và địa vị, và cung cấp rất nhiều sản phẩm dịch vụ người ta không cần đi kèm với những thứ người ta thật sự cần. Ngày càng phải có bằng cấp cao để tham gia thị trường lao động là một xu thế chung trên thế giới, nhưng nó là một tình thế cần các biện pháp quản lý để kiểm soát hơn là sự chấp nhận như một điều hiển nhiên là tốt đẹp.  Tôi cũng nghĩ rằng nhà nước ta không đủ kinh phí bao cấp cho hệ thống giáo dục sau phổ thông, và việc tăng học phí ở các trường đại học có lẽ là cần thiết, nhưng nó vẫn cần phải thực hiện trong một chừng mực nhất định. Các nước giàu có ở Tây Âu cũng phải chấp nhận thu và tăng học phí đại học công nhưng họ vẫn cố gắng duy trì mức học phí không quá đắt đỏ với sự trợ cấp một phần rất lớn từ nhà nước; và đó là việc họ buộc phải làm, chứ không phải là một cách thức “tiến bộ” hơn. Nhà nước chỉ tập trung lo tài chính cho giáo dục phổ thông thì sẽ dẫn đến nhiều bất công trong xã hội. Nước Mỹ đi theo lối đó, và so với các nước phát triển, đây là một nước có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất, có tỉ lệ người mắc bệnh tâm thần lớn nhất và tỉ lệ người ngồi tù cũng lớn nhất. “Xã hội hóa” giáo dục là một biện pháp cần làm, nhưng làm nó tới đâu, theo hướng nào lại là một điều cần phải tính toán. Gánh nặng về mặt tài chính và thời gian học tập cho người dân, hay là sự lãng phí nguồn lực xã hội nói chung, hầu như sẽ không giảm nếu như nhà nước không có những biện pháp sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả và đảm bảo công bằng trong xã hội.  Dường như là hơi lạc quan nếu cho rằng việc kiến trúc lại hệ thống giáo dục và xã hội hóa giáo dục chắc chắn sẽ giúp việc sử dụng nguồn lực xã hội hiệu quả hơn vì nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố phức tạp khác. Nếu một nền giáo dục không được xây dựng dựa trên những giá trị nhân văn, thì mọi biện pháp cấu trúc lại nó dựa trên các tính toán về mặt kinh tế sẽ không đem lại những điều tốt đẹp cho đa số người dân. Chẳng hạn, mọi người đều đồng ý về tầm quan trọng của công nghệ thông tin, nhưng tôi cho rằng công nghệ thông tin phát triển cần phải gắn với các chính sách về tự do ngôn luận. Việc cải thiện tiếng Anh cũng cần phải nhận ra rằng trên thế giới có rất nhiều nước coi tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức hoặc ngôn ngữ thứ hai mà không hề giàu có, như Sudan và Uganda chẳng hạn. Một cách cá nhân, tôi nghĩ người dân phải được sống sao cho họ có thể yêu đất nước của mình, có mong muốn và điều kiện để xây dựng đất nước. Một vấn đề cần quan tâm là hiện giờ nhiều bạn trẻ học tiếng Anh với khao khát là đi ra nước ngoài chứ không phải là dùng tiếng Anh để xây dựng đất nước. Tôi không nói nó chắc chắn là điều xấu, nhưng nó chắc chắn không phải là điều hiển nhiên tốt đẹp.   Những hướng đổi mới nền giáo dục mà tiến sỹ Lê Trường Tùng đưa ra có thể tạo điều kiện phát triển cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập với những hướng đi cần thiết và hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp. Nhưng những điều đầy hứa hẹn ấy có thể không trở thành hiện thực nếu như các chính sách giáo dục chỉ hướng đến các mục tiêu kinh tế chứ không phải là các mục tiêu nhân văn.  ***    * Nghiên cứu sinh ngành Chương trình, Giảng dạy và Đào tạo giáo viên, Đại học Michigan, Mỹ     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu xếp hạng là một căn bệnh, đối sánh có phải là thuốc chữa? (Kỳ 1)      Mối bận tâm về xếp hạng đại học phản ánh sự thừa nhận nói chung về việc mức tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh toàn cầu đang ngày càng bị chi phối bởi kiến thức và các trường có một vai trò trọng yếu trong bối cảnh ấy. Thực tế là, các trường ĐH có một vai trò cốt lõi trong việc hỗ trợ cho chiến lược tăng trưởng kinh tế tri thức và xây dựng xã hội dân chủ cũng như sự cố kết xã hội. Bằng cách tạo ra một lực lượng lao động kỹ năng cao, có năng suất tốt và linh hoạt, bằng cách sáng tạo, ứng dụng và phổ biến tri thức mới, công nghệ mới, các trường ĐH đang giúp cho đất nước họ tăng cường năng lực cạnh tranh toàn cầu.&#160;&#160;       Tuy vậy, những nỗ lực thử nghiệm đo lường và phân tích điều gì mang lại hiệu quả ở các trường đã và đang nhấn mạnh đến hoạt động của từng trường, chẳng hạn như mức độ cạnh tranh đầu vào, thành quả nghiên cứu, khả năng kiếm được việc làm của sinh viên tốt nghiệp, v.v. Các bảng xếp hạng quốc tế nhấn mạnh tới vị trí tương đối giữa các nước, dùng vị trí của những trường hàng đầu của mình như là một biểu tượng cho chất lượng hoạt động của cả hệ thống. Tuy nhiên, dù là các bảng xếp hạng có thể đem lại một số thông tin về từng trường trong tương quan so sánh với các trường khác, nó đã không đem lại đủ công cụ để đo lường mạnh yếu của một hệ thống GDĐH như một tổng thể. Bởi vậy, bài này sẽ bàn về mức độ thích hợp của các bảng xếp hạng với tư cách là một thước đo cho hệ thống GDĐH của các nước. Sau khi trình bày về cách sử dụng và sự lạm dụng các bảng xếp hạng, bài viết sẽ giải thích sự khác nhau về mặt phương pháp giữa xếp hạng và đối sánh. Cuối cùng, bài viết sẽ trình bày công cụ đối sánh đang được xây dựng của Ngân hàng Thế giới.  Cách sử dụng và sự lạm dụng các bảng xếp hạng   Có nhiều vô số các bảng xếp hạng ra đời những năm gần đây, có thể kể chẳng hạn như Bảng Xếp hạng ĐH toàn cầu của trường ĐH Giao Thông Thượng Hải, thường gọi Academic Ranking of World Universities (ARWU); bảng xếp hạng của Thời báo Times Higher Education’s Ranking, thường gọi THE; bảng xếp hạng The Web of World Universities Ranking, thường gọi Webometrics; hoặc CHE, hay U.S. News & World Report, chưa kể rất nhiều bảng xếp hạng ngành quản trị kinh doanh. Các bảng xếp hạng này do nhiều tổ chức khác nhau thực hiện, từ chính phủ các nước đến các tổ chức độc lập và các đơn vị báo chí truyền thông. Hình 1 cho thấy sự phân bố các bảng xếp hạng, tính đến 2010.     Đi cùng với sự nảy nở tràn lan của các bảng xếp hạng là những phản ứng mãnh liệt đủ loại, từ phản đối việc xếp hạng ngay từ những nguyên tắc cơ bản nhất, đến phê phán phương pháp xếp hạng, tẩy chay, áp lực chính trị, và thậm chí có cả hành động của tòa án nhằm chấm dứt việc công bố các bảng xếp hạng.  Sự mở rộng danh sách các trường tinh hoa và việc thực thi công việc xếp hạng không tránh khỏi sự chú ý của nhiều bên liên quan khác nhau, và phản ứng mà họ khơi ra hiếm khi tốt lành. Những bảng xếp hạng này thường bị bài bác bởi nhiều nhà phê bình do những thiếu sót sai lầm nguy hiểm trong việc thu thập dữ liệu. Nó bị tẩy chay bởi một số trường không hài lòng với kết quả xếp hạng của họ, và bị các chính khách đối lập sử dụng như một cách thuận tiện để phê phán chính phủ (Salmi and Saroyan, 2007: 80).  Kiểu phản ứng như thế không phải là không có lý do xác đáng. Kết quả xếp hạng và/hoặc sự khao khát được nâng hạng có thể bổ sung thêm những động lực khích lệ trái chiều với quá trình ra quyết định của nhà trường. Ví dụ, một trường ĐH thiết tha muốn nâng hạng có thể sẽ điều chỉnh chính sách tuyển sinh của mình theo hướng ưu tiên cho sinh viên giỏi, dù sẽ phải thỏa hiệp với những nguyên tắc về công bằng, bình đẳng và bảo đảm sự đa dạng trong sinh viên, qua đó họ làm tăng điểm đầu vào và tạo ra ấn tượng họ là trường có chất lượng. Hay là, ở cực ngược lại, các trường có thể khuyến khích sinh viên nói dối nhằm tăng tỉ lệ sinh viên hài lòng với nhà trường trong các khảo sát ý kiến, vì những kết quả này góp phần tăng điểm của trường, như đã xảy ra ở Kingston University ở United Kingdom đầu những năm 2000.  Như Malcolm Gladwell (2011: 70) đã nêu ra, ngay cả những bảng xếp hạng được biết đến rộng rãi như U.S. News & World Report cũng có nhiều sai lầm thiếu sót bởi nó không đồng nhất. Ví dụ, nó không so sánh chỉ các trường công cùng quy mô mà đi so sánh cả các trường tư có xu hướng nhỏ hơn nhiều, có tính chất chuyên ngành hơn và có mức thu lớn hơn trên mỗi sinh viên.    The U.S. News and World Report đưa vào bảng so sánh của họ không chỉ những trường như U.C. Irvine, the University of Washington, the University of Texas-Austin, the University of Wisconsin-Madison, Penn State, và University of Illinois, Urbana-Champaign – những trường công có cùng quy mô. Họ còn nhằm vào so sánh cả Penn State – một trường công cực lớn, được nhà nước cấp đất, học phí thấp, sinh viên đủ loại giàu nghèo khác nhau, đặt trụ sở ở một thung lũng nông thôn ngay trung tâm bang Pennsylvania… với Yeshiva University, một trường tư Do Thái giáo nhỏ và học phí cao, cơ sở đào tạo bậc cử nhân đặt tại hai địa điểm ở Manhattan, một nằm ngay tại khu trung tâm cho nữ, và một ở ngoại ô cho nam).    Bởi có nhiều thứ đe dọa vị trí xếp hạng tích cực của các trường trong một nước trên một bảng xếp hạng ĐH toàn cầu, không có gì đáng ngạc nhiên khi chính phủ một số nước đã đáp ứng bằng cách khuyến khích chuẩn bị một bảng xếp hạng khác, khi họ không hài lòng với vị trí hiện tại của các trường trên các bảng xếp hạng ĐH đang có hiện nay. Ví dụ, một bảng xếp hạng ĐH toàn cầu mới ra đời ở Nga, được RatER, một tổ chức xếp hạng của Nga, soạn thảo công phu, đã đặt Trường ĐH Quốc gia Moscov trên cả những trường như Harvard, Stanford và Cambridge, là những trường hàng đầu trong bảng xếp hạng Thượng Hải và Times Higher Education (Smolentseva, 2010). Trong nhiệm kỳ của tổng thống Pháp trong Liên hiệp Châu Âu, một thành tích của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục là thuyết phục được Hội đồng Châu Âu khởi động một bảng xếp hạng mới cho Châu Âu, nhằm có được sự “khách quan hơn và ưu ái hơn với các trường ĐH của Châu Âu1.   Tuy rằng có nhiều ý kiến trái ngược quanh vấn đề xếp hạng, có nhiều lý do vững chắc khiến nó vẫn sống khỏe. Đó là những ích lợi về mặt thông tin cung cấp cho sinh viên, những người đang cần phải quyết định lựa chọn sẽ theo học trường nào, trong nước hay ngoài nước. Hệ quả là, các bảng xếp hạng và thông tin về mức độ gắn bó của sinh viên, kết quả của nhà trường trên thị trường lao động thành ra có giá trị. Hơn thế nữa, các bảng xếp hạng thúc đẩy văn hóa minh bạch, khích lệ các trường thu thập thông tin và công bố những dữ liệu đáng tin cậy hơn. Cuối cùng, các bảng xếp hạng thúc đẩy việc xác lập những mục tiêu dài hạn cho các trường. Bằng cách theo đuổi mục tiêu nâng hạng, các trường có thể nảy sinh nhu cầu phân tích các yếu tố chính giúp đạt thứ hạng cao, tìm cách cải thiện hoạt động dạy, học và nghiên cứu, đề xuất các mục tiêu cụ thể để hướng dẫn (nhưng không thay thế) kế hoạch chiến lược, và bước vào những quan hệ đối tác thuận lợi.   Từ xếp hạng tới đối sánh  Kết quả xếp hạng giúp sinh viên, gia đình họ và các nhà tuyển dụng thấy được kết quả của từng trường riêng lẻ; tuy nhiên, không nói lên điều gì đáng kể về chất lượng hoạt động tổng thể của hệ thống GDDĐH một nước. Chẳng hạn, các bảng xếp hạng không đo lường kết quả của một hệ thống về mặt đem lại cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục, về chất lượng và tính thiết yếu cho xã hội, về sự phân tầng hệ thống (hay nói cách khác, sự đa dạng về sứ mạng của các trường – ND), và những đóng góp cho sự phát triển xã hội và kinh tế địa phương thông qua đào tạo một nguồn vốn con người có kỹ năng cao và tạo ra các sáng chế. Theo các bảng xếp hạng toàn cầu, những trường tốt nhất trên thế giới chủ yếu nằm ở Hoa Kỳ, như trong Hình 2, phân tích 50 trường hàng đầu trong hai bảng xếp hạng THE và ARWU. Trong THE, 40% là các trường Hoa Kỳ, còn trong ARWU, 70% trong 50 trường tốt nhất là các trường nằm tại Hoa Kỳ.  Hình 2. Biểu đồ phân phối các trường top 50, 2010    Thật đáng ngạc nhiên, Nhật Bản là quốc gia châu Á duy nhất có mặt trong bảng xếp hạng ARWU, trong khi 6 trường ĐH Châu Á khác bên cạnh Nhật Bản lại có mặt trong bảng xếp hạng THE, và những nước hay vùng lãnh thổ này, vốn được gọi là “con cọp châu Á” (Hong Kong, Singapore, South Korea, Taiwan) thường được xem là những nền kinh tế năng động bậc nhất trên thế giới. Thêm nữa, nếu tính số trường “đẳng cấp thế giới” trong tương quan với dân số của quốc gia, sẽ thấy rằng một số nền kinh tế năng động đang đạt được những kết quả rất tốt dù họ không có nhiều trường trong top 500 trên thế giới, như Bảng 1 dưới đây. Bảng này cũng cho thấy một số nước có hiệu quả hơn so với nước khác trong việc tạo ra những trường lọt top 500. Ví dụ, Phần Lan, New Zealand và Thụy Điển có số trường được lọt vào bảng xếp hạng tính bình quân trên số dân cao hơn so với các nước khác.     Tương tự, các bảng xếp hạng rất ít lưu ý đến hiệu quả của hệ thống GDĐH các nước trong việc phục vụ xã hội như một bậc thang giúp thoát khỏi đói nghèo. Như ta thấy trong Hình 3 dưới đây, những nước như Hoa Kỳ và UK, vốn có số trường được xếp hạng hàng đầu vào loại cao nhất, lại là những nước chẳng đạt được thành tích đáng kể xét về mặt tạo ra dịch chuyển trong thang bậc xã hội.        Bởi vậy, một khuôn khổ khách quan giúp đo lường những ảnh hưởng và tính hiệu quả của hệ thống GDĐH các nước trong việc tăng cường bình đẳng, cơ hội tiếp cận, chất lượng, tính thiết yếu cho xã hội, và khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội ở địa phương, là điều chúng ta rất cần phải có.  Tuy xếp hạng ít nhiều cũng có ích trong việc so sánh các trường với nhau, nó đánh mất một điểm quan trọng là đánh giá mức độ thành công của cả một hệ thống đối với việc đạt được những mục tiêu mà nó có nhiệm vụ phải đạt.  Đối sánh các hệ thống GDĐH  Không có sự đồng thuận về vấn đề các nước cần phải làm gì để cải thiện kết quả hoạt động, và có nhiều khác biệt lớn giữa chất lượng hoạt động của các hệ thống khác nhau, dù với cùng mức độ tài chính và cùng chia sẻ chung một số đặc điểm quốc gia. Đối sánh cho phép chúng ta so sánh các hệ thống GDĐH các nước ở những giai đoạn phát triển tương tự nhau, ở những khu vực gần nhau trên thế giới, hay có cùng bối cảnh chính trị. Đối sánh là quá trình so sánh hoạt động của một nền GDĐH với một nền GDĐH khác, giúp ta xác định đối thủ cạnh tranh và học hỏi từ kinh nghiệm thực tiễn của người khác.    Không như việc xếp hạng về bản chất là dẫn tới cuộc đua lên đỉnh, đối sánh mang lại một thái độ học hỏi bình thản. Mục đích của đối sánh là cải thiện hoạt động nhờ vào việc “chẩn bệnh” (tìm ra những lĩnh vực cần cải thiện, thông qua đối chiếu với những trường khác hay hệ thống khác); và xác định những biện pháp can thiệp cụ thể để khích lệ nền GDĐH các nước đạt được những kết quả mà họ có tiềm năng để đạt đến. Để đạt được mục tiêu ấy, người ta phải hiểu những nhân tố nào quyết định chất lượng hoạt động. Ma trận dưới đây tóm tắt những khác biệt chính giữa xếp hạng và đối sánh trong việc đánh giá kết quả hoạt động trong GDĐH (Bảng 2)      Bảng 2. So sánh xếp hạng và đối sánh           Đặc   điểm      Xếp   hạng      Đối   sánh          Đơn vị phân tích      Trường ĐH/ngành      Cơ sở đào tạo sau trung học hoặc   hệ thống GD sau trung học          Mục đích thực hiện      Xếp hạng cao thấp/ cạnh tranh về   uy tín      So sánh để xác định điểm mạnh yếu   nhằm mục tiêu cải thiện          Mức độ toàn diện      Tập trung vào nghiên cứu và mức   độ quốc tế hóa      Xem xét tất cả sứ mạng của các   trường (đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, gắn bó với khu vực)          Dễ sử dụng      Một con số tóm tắt toàn bộ kết   quả      Cần xem xét nhiều tiêu chí          Các yếu tố được xem xét      Giới hạn trong các tiêu chí do   tổ chức xếp hạng áp đặt       Phân tích định lượng và định   tính một cách có hệ thống về dữ liệu, các tiêu chí và các bản báo cáo          Lựa chọn đối tượng để so sánh      Do tổ chức xếp hạng áp đặt      Được một nhóm chuyên gia chọn          Trọng số các tiêu chí      Tầm quan trọng của mỗi nhân tố   (trong tương quan với các nhân tố khác) được các tổ chức xếp hạng quyết định      Tầm quan trọng của mỗi nhân tố   (trong tương quan với các nhân tố khác) được nhóm chuyên gia đối sánh quyết định          Sự minh bạch      Dựa vào những dữ liệu được công   bố và có thể kiểm chứng cũng như khảo sát về uy tín      Dựa vào những dữ liệu được công   bố và có thể kiểm chứng          Tính khách quan      Bị đe dọa bởi khảo sát về uy   tín mang tính chủ quan và bởi trọng số có tính chất tùy tiện      Gắn với việc lựa chọn các tiêu   chí          Người sử dụng      Công chúng      Phân tích theo nhu cầu của từng   trường hoặc của chính phủ          Sự tham gia của chủ thể      Nhiều khả năng chủ thể chọn   cách không trực tiếp tham gia      Chủ thể chủ động quyết định   tham gia vào quá trình          (Nguồn: Tác giả)    Để chỉ ra một ví dụ về đối sánh trong hành động, ta có thể so sánh kết quả hoạt động của Chi lê và Brazil. Nếu mục đích là có số người vào ĐH cao nhất có thể, thì Chile có thể được xem là hiệu quả hơn so với Brazil bởi họ sử dụng ít nguồn lực hơn để đạt được cùng một mục tiêu. Như minh họa trong Hình 4, Chile sử dụng 0,3% GDP và có tỉ lệ 38% vào ĐH, trong lúc Brazil tiêu tốn 0,9 % và có 24% người vào ĐH. Điều này đặt ra câu hỏi: tại sao Chile có hiệu quả hơn và Brazil có thể học gì từ ví dụ của Chile.     Bởi thế, có một sự khác biệt rõ giữa mức độ một nước đầu tư cho hệ thống GDĐH của họ và kết quả họ đạt được. Trong việc xây dựng chi tiết một khuôn khổ lý luận cho các chương trình đối sánh, sự khác biệt này được khái niệm hóa thành kết quả hoạt động và sự lành mạnh của một hệ thống GDĐH. Những yếu tố nào có thể giúp dự đoán hiệu quả của một hệ thống và dưới những điều kiện nào thì một hệ thống có thể hoạt động với kết quả cao?  Một đặc điểm trọng yếu trong công cụ đối sánh mà Ngân hàng Thế giới đề xuất là nó được xây dựng chung quanh sự phân biệt có tính chất cơ bản giữa kết quả hoạt động của một hệ thống GDĐH và những động lực có tác động đến việc tạo ra kết quả ấy, nhằm trả lời hai câu hỏi:  1.   Hệ thống GD sau trung học của một nước trong thực tế hiện tại đã tạo ra những kết quả mà người ta mong đợi nó phải đạt được như thế nào? Nói cách khác, có thể đánh giá như thế nào về chất lượng hoạt động hiện tại của cả hệ thống?  2.  Các yếu tố đầu vào chính yếu, đặc điểm của bản thân quá trình và các nhân tố thúc đẩy của một hệ thống GDĐH đã phản ánh ở mức độ nào những điều kiện được biết là sẽ giúp mang lại một kết quả đáng mong muốn?   Hơn thế nữa, công cụ đối sánh cho phép người dùng có thể đánh giá được diễn tiến hoặc tốc độ thay đổi của chất lượng hoạt động và những tiêu chí khác về sự lành mạnh của hệ thống (Còn tiếp).    Phạm Thị Lý dịch  Nguồn: Bản tin của Viện Đào tạo Quốc tế, ĐH Quốc gia TPHCM  ——————————————-  Chú thích:     1. Nguồn: Tuyên bố của Bộ trưởng Valérie Pécresse’s tại Hội thảo So sánh Quốc tế trong Giáo dục tổ chức tại Paris, tháng 12 năm 2008.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu xếp hạng là một căn bệnh, đối sánh có phải là thuốc chữa? (Kỳ cuối)      Chính phủ các nước và công chúng nói chung đang quan tâm  hơn bao giờ hết đến chất lượng hoạt động của các trường trong tương quan  so sánh với các trường khác hay nước khác, và đang nhận thức rõ hơn bao  giờ hết về giá trị của GDĐH với tư cách là người tiêu thụ dịch vụ này. Cũng như nhãn hiệu xe hơi, túi xách, hay quần jeans,  người tiêu dùng của GDĐH cũng đang tìm kiếm những dấu hiệu giúp họ có  khả năng xác định và tiếp cận những trường ĐH tốt nhất.&#160;       Chất lượng hoạt động của hệ thống  Chất lượng hoạt động của hệ thống có thể đo lường được bằng cách nhìn vào những kết quả chủ yếu mà nó đạt được. Phản ánh nhiều sứ mạng khác nhau của trường ĐH, bộ công cụ đối sánh nêu ra các kết quả sau:   •   Thành tựu xét về mặt tỉ lệ người được đào tạo trong dân số, đo bằng tỉ lệ người lớn trong độ tuổi đi làm có bằng cấp sau trung học.  •   Thành quả học tập hiểu theo nghĩa chất lượng đào tạo và ý nghĩa thiết yếu của những trải nghiệm trong nhà trường đối với người học khi họ bước vào đời. Đây là một trong những lĩnh vực khó đo lường nhất và vắng mặt trong những thước đo đang được chấp nhận rộng rãi như PISA hay TIMMS.  •   Sự bình đẳng hiểu theo nghĩa mức độ khác biệt trong kết quả (thành tựu đạt được và quỹ đạo học tập) của những nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn (gia đình thu nhập thấp, học sinh nữ, dân tộc ít người, trẻ khuyết tật, v.v.)   •   Thành quả nghiên cứu khoa học hiểu theo nghĩa ấn phẩm khoa học và đào tạo bậc cao, đo lường qua số lượng trích dẫn của các tập san khoa học (tính tỉ lệ trên số dân) và năng lực của hệ thống trong việc đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ.  •   Chuyển giao tri thức và công nghệ tiêu biểu cho những đóng góp của các trường ĐH cho sự phát triển của khu vực và địa phương. Một vài thước đo có thể kể là số lượng bằng sáng chế mà các trường ĐH đã đăng ký hoặc tỉ lệ tiến sĩ làm việc bên ngoài trường ĐH.  •   Các giá trị, cách xử sự, và thái độ hiểu theo nghĩa hiệu quả của nhà trường trong việc trang bị cho sinh viên những giá trị tích cực và kỹ năng công dân. Đây cũng là một lĩnh vực rất khó đo lường, nhưng những khó khăn về mặt phương pháp không thể là lý do biện minh cho sự thờ ơ với khía cạnh quan trọng này trong vai trò của giáo dục.  Một số ví dụ về tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của một hệ thống GDĐH có thể là:    Sự lành mạnh của hệ thống  Sự lành mạnh của hệ thống có liên đới với khả năng khích lệ những điều kiện cần có để hệ thống GDĐH có thể tạo ra những kết quả mong muốn, cải thiện và duy trì chất lượng hoạt động qua thời gian. Như minh họa trong Hình 5, các trường ĐH vận hành trong một môi trường bao gồm những thành tố sau:  •   Môi trường vĩ mô: Tình trạng kinh tế và chính trị nói chung của một nước, cùng với quy tắc pháp trị và đảm bảo những quyền tự do cơ bản, là những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị của các trường, cụ thể là việc bổ nhiệm lãnh đạo nhà trường, mức độ tài trợ của ngân sách, tự do học thuật, và sự an toàn trong môi trường vật chất của nhà trường.   •   Vai trò của lãnh đạo ở cấp quốc gia: sự hiện diện của một tầm nhìn và một kế hoạch chiến lược nhằm định hình tương lai của GD sau trung học và năng lực thực thi cải cách.    •   Cơ chế quản trị với khuôn khổ các chính sách, quy định: cơ chế và quy trình quản trị ở cấp quốc gia và cấp trường là điều xác định mức độ tự chủ mà các trường được hưởng, cũng như trách nhiệm giải trình của họ sẽ được thực hiện như thế nào và ở mức độ nào. Điều này đặc biệt quan trọng đối với chính sách nhân sự và thực tiễn quản lý, để các trường có thể thu hút và giữ được người tài.  •   Khuôn khổ đảm bảo chất lượng: những thiết chế cấp trường và công cụ để đánh giá hoặc thúc đẩy chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và học tập.   •   Nguồn lực và những khích lệ tài chính: mức độ tuyệt đối của nguồn lực sẵn có có thể cung ứng cho GDĐH bao gồm cả từ ngân sách nhà nước và luân chuyển từ khu vực tư, cũng như cách thức phân bổ nguồn lực tới các trường.   •   Cơ chế thông tin và mức độ khớp nối liên thông: những mối liên hệ, cầu nối giữa các trường trung học và đại học và giữa các loại trường ĐH-CĐ khác nhau, tất cả đều có tác động tới đặc điểm học tập của sinh viên và kết quả đào tạo của họ.  •   Vị trí: cơ sở vật chất hạ tầng và đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của nơi nhà trường đặt cơ sở cũng là yếu tố giúp thu hút sinh viên giỏi và giảng viên ưu tú.   •   Hạ tầng truyền thông và kỹ thuật số: mức độ sẵn có của đường truyền băng thông rộng và các thiết bị đầu cuối tạo điều kiện cho nhà trường thực hiện việc nghiên cứu, dạy và học cũng như quản lý theo cách hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất, với chi phí chấp nhận được.  Hình 5. Hệ sinh thái GDDH    Bộ khung phân tích này có thể diễn đạt thành những tiêu chí cụ thể trong đầu vào và quá trình để đo sự lành mạnh của hệ thống như sau:   •   Đầu vào: Nguồn lực đầu tư vào hệ thống GDĐH có mức độ như thế nào (chẳng hạn: mức tài trợ, số lượng và trình độ của đội ngũ khoa học, sự chuẩn bị cho sinh viên trước khi vào ĐH, chương trình đào tạo và hạ tầng cơ sở của việc học tập) để dẫn tới những kết quả tích cực?   • Quá trình: Quy trình hay chính sách đang được áp dụng trong việc vận hành hệ thống GDĐH có hiệu quả ở mức độ nào (chẳng hạn cơ chế quản trị, cơ chế phân bổ ngân sách, và cơ chế thực hiện trách nhiệm giải trình) trong việc tạo ra những kết quả tích cực?  Ví dụ về những tiêu chí cho sự lành mạnh của hệ thống được nêu ra như hình dưới đây:       Việc đối sánh các hệ thống GDĐH dựa trên ba loại tiêu chí: tiêu chí định lượng, tiêu chí định tính khách quan và tiêu chí định tính chủ quan.    Những tiêu chí định lượng đem lại cho chúng ta một thước đo hữu hình để so sánh chất lượng hoạt động thông qua nhiều khía cạnh khác nhau của các trường cũng như của hệ thống GDĐH các nước. Dữ liệu cho những tiêu chí này dễ thu thập hơn là dữ liệu định tính. Bởi vậy với nhóm tiêu chí này, bộ dữ liệu có ít lỗ hổng hơn. Ví dụ cho những tiêu chí này là: tỉ lệ người đạt được bằng cấp sau trung học trên dân số, hay tỉ lệ trích dẫn của các tập san khoa học trên 100.000 dân chẳng hạn.    Tiêu chí định tính khách quan miêu tả những khía cạnh chủ yếu trong sự lành mạnh của hệ thống theo cách diễn đạt không phải bằng con số. Ví dụ, trong lĩnh vực quản trị và bảo đảm chất lượng, tiêu chí định tính có thể nắm bắt được những đặc điểm chính của một hệ thống GDD9H và của các trường theo một cách khách quan (ví dụ như sự hiện hữu của một hội đồng trường độc lập, cách thức lựa chọn và bổ nhiệm hiệu trưởng, hay sự tồn tại của hệ thống kiểm định chất lượng, v.v.).   Các tiêu chí định tính chủ quan được xây dựng dựa trên nhận định của các chuyên gia về những khía cạnh chủ yếu nói lên sự lành mạnh của hệ thống. Ví dụ, một trong những động lực quan trọng của sức khỏe hệ thống là mức độ tự chủ trong quản lý mà các trường đang được hưởng, vốn là một yếu tố khó mà đo lường cho thật khách quan.  Cách tiếp cận mà chúng tôi đề nghị đã tiếp thu thông tin từ nhiều công trình nghiên cứu gần đây về những khía cạnh khác nhau trong chất lượng hoạt động của các trường và của cả hệ thống. Những công trình này cũng đã cố gắng xác định những nhân tố nào quyết định chất lượng hoạt động ấy. Có thể kể vài tác phẩm tiêu biểu là:  •   Xây dựng Xã hội Tri thức: Những thách thức mới đối với Giáo dục Sau Trung học: Đây là một bản báo cáo do Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 2002, trình bày các xu hướng chính trong giáo dục sau trung học, phân tích ý nghĩa của nó đối với việc định hình và vận hành hệ thống, đồng thời nêu ra những lựa chọn khả dĩ về cải cách chính sách.  •  Giáo dục Sau Trung học vì Xã hội Tri thức, một cuốn sách bao gồm ba tập của OECD xuất bản năm 2008, trình bày những bài học rút ra từ việc xem xét hệ thống GDĐH của 14 quốc gia thành viên, trọng tâm là vấn đề công bằng và cơ hội tiếp cận giáo dục, chất lượng giáo dục, sự nghiệp hàn lâm, mối liên hệ với thị trường lao động, việc quản trị, tài chính, quốc tế hóa, và vai trò của GDĐH đối với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.   •   Tạo ra một công cụ đánh giá để hướng dẫn các nước tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua cải thiện hệ thống giáo dục, một nghiên cứu do Tổ chức McKinsey thực hiện riêng cho Ngân hàng Thế giới năm 2007; đề xuất phương pháp xây dựng một công cụ đối sánh nhằm đo lường những kết quả mà một hệ thống giáo dục đạt được.   •   Quản trị và Chất lượng hoạt động của các trường ĐH Nghiên cứu: Minh chứng từ Châu Âu và Hoa Kỳ (Aghion et al., 2009). Đây là một nghiên cứu so sánh về các trường ĐH Hoa Kỳ và Châu Âu, cho thấy rằng bên cạnh mức độ tài trợ và mức độ tự chủ, sự yếu kém của cơ chế tài trợ trên cơ sở cạnh tranh là một trong những sự khác biệt chính giải thích kết quả hoạt động hạn chế của các trường ĐH Châu Âu thể hiện trong các bảng xếp hạng toàn cầu.   •   Những Thách thức Trong việc Xây dựng Trường ĐH Đẳng cấp Thế giới (Salmi, 2009). Tác phẩm này phân tích đặc điểm của những trường ĐH nghiên cứu tinh hoa, và tìm hiểu những cách tiếp cận nhằm xây dựng những trường ĐH thành công và được công nhận trên toàn cầu.   So sánh con đường mở rộng hệ thống của Brazil và Chile  Để minh họa cho việc công cụ đối sánh có thể được sử dụng như thế nào, phần này xem xét những yếu tố quyết định sự tăng trưởng số người học bằng cách so sánh Brazil và Chile. Như đã phân tích trong cuốn Xây dựng Xã hội Tri thức: Những thách thức mới đối với Giáo dục Sau Trung học, những nhân tố chính có tác động tới số lượng người vào ĐH và thành quả mà những người trưởng thành trong dân số đạt được trong việc học tập sau trung học, có thể kể ra là: (i) trình độ tốt nghiệp khi kết thúc trung học, (ii) mức đầu tư cho GDĐH (cả ngân sách công và nguồn tài chính tư), (iii) mức độ đa dạng của các trường (tức có nhiều loại trường, kiểu trường khác nhau, và sự phát triển của khu vực tư) và (iv) tỉ lệ ngân sách công dành cho việc trợ giúp sinh viên. Mối quan hệ giữa các biến số này có thể trình bày dưới hình thức một phương trình:     Các tiêu chí sau đây dựa trên việc đo lường những khía cạnh khác nhau này:     •   Tỉ lệ tốt nghiệp trung học, đo tỉ lệ những người từ 15 tuổi trở lên hoàn tất bậc trung học. Tiêu chí này cung cấp một dấu hiệu mạnh mẽ về nhu cầu tiềm năng đối với GDĐH.  •   Tổng ngân sách cho GD sau trung học phản ánh mức độ cam kết của chính phủ đối với GD sau trung học, cũng như sự thành công trong việc huy động các nguồn lực tư (cơ chế chia sẻ chi phí, quyên tặng, thu nhập từ nghiên cứu, tư vấn và hợp đồng đào tạo, v.v.).  •   Tỉ lệ người học trong khu vực GDĐH tư bổ sung cho các tiêu chí nói trên. Việc phản ánh tỉ lệ sinh viên trong khu vực tư cho thấy phần mở rộng hệ thống diễn ra mà không cần đầu tư từ nguồn lực tài chính công.   •   Tỉ lệ người học trong những cơ sở đào tạo sau trung học nhưng không phải là đại học (trường nghề ngắn hạn, trường ĐH mở, trường trung học kỹ thuật, v.v.) phản ánh sự đa dạng trong hệ thống GD sau trung học của một nước và năng lực mở rộng số người được đào tạo trong những ngành và những trường có chi phí thấp hơn so với các trường ĐH nghiên cứu kiểu truyền thống. Mức độ nhập học trong ISCED 5B được lấy làm cơ sở để tính tỉ lệ người học trong những cơ sở đào tạo sau trung học nhưng không phải là ĐH.   •   Tiêu chí sau cùng đo tỉ lệ ngân sách công phân bổ cho việc hỗ trợ tài chính với sinh viên (tài trợ hoặc cho vay). Ở những nước có mức độ chia sẻ chi phí cao giữa khu vực công và khu vực tư hoặc có một khu vực tư phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực GDĐH, mức độ sẵn có của các nguồn hỗ trợ tài chính có một tầm quan trọng đặc biệt xét theo quan điểm công bằng.  Nó có thể tạo điều kiện hay hạn chế cơ hội vào ĐH cũng như cơ hội thành công của những người thu nhập thấp.  Để khởi đầu cho việc so sánh Chile và Brazil, điều quan trọng là trước hết phải đánh giá chất lượng hoạt động tương đối của họ thông qua tỉ lệ bằng cấp sau trung học đạt được trong dân số. Như có thể thấy trong Hình 6 và 7 miêu tả sự tăng trưởng trong số người có bằng ở cấp tiểu học, trung học, và đại học, Chile đạt được kết quả tốt hơn trong số người học trung học và sau trung học kể từ 1980. Năm 2010, Chile đạt được tỉ lệ 11,6% dân số trong độ tuổi 25-65 có bằng sau trung học, trong khi con số này ở Bazil là 5,6%.   Hình 6 và 7. Tỉ lệ đạt được bằng cấp tiểu học, trung học và sau trung học ở Brazil và Chile      Ghi chú: màu xanh lá: tỉ lệ người trưởng thành có bằng cấp sau trung học trong dân số; màu xanh dương: tỉ lệ người trưởng thành có bằng cấp trung học trong dân số; màu đỏ: tỉ lệ người trưởng thành có bằng cấp tiểu học trong dân số. Nguồn: Barro  and  Lee.       Hình 8 dưới đây có thể giúp giải thích vì sao Chile có tỉ lệ vào ĐH cao hơn. Như ta có thể thấy, số ứng viên có đủ tư cách vào ĐH-CĐ lớn hơn nhiều. Chile có 55% dân số có bằng trung học tính đến 2010, trong lúc con số này ở Brazil là 32%.    Hình 8. Tỉ lệ người có bằng trung học trong dân số của Brazil và Chile, 2010    Enrolment rate: tỉ lệ sinh viên trong dân số ở độ tuổi ĐH   Secondary schol completion rate: tỉ lệ tốt nghiệp trung học   Hình 9 cho thấy mức độ đầu tư cho GDĐH của Chile so với Brazil. Kết quả của Chile là do Chile đã có thể huy động được một tỉ lệ lớn hơn nhiều nguồn vốn từ khu vực tư, thông qua cơ chế chia sẻ chi phí trong các trường công và qua sự mở rộng nhanh chóng khu vực tư trong GDĐH, trong lúc đó Brazil đã tiêu tốn ngân sách công nhiều hơn cho GDĐH. Nhìn chung, tổng nguồn đầu tư bao gồm cả công và tư cho GDĐH ở Chile là 1,8% GDP, trong lúc ở Brazil ít hơn một nửa, chỉ là 0,7% GDP.     Figure 9. Tổng đầu tư cho GDĐH ở Brazil và Chile, 2007      Enrolment rate: tỉ lệ sinh viên trong dân số ở độ tuổi ĐH   Public and private spending as percentage of GDP: nguồn chi từ ngân sách công và từ khu vực tư cho GDĐH tính tỉ lệ trên GDP.   Hình 10 cho thấy tỉ lệ nhập học trong khu vực GDĐH tư ở Chile và Brazil gần ngang nhau. Mức trung bình nhập học ở bậc tiểu học thấp hơn các nước này tới 30% . Tỉ lệ học sinh tiểu học ở vùng Châu Mỹ Latin và Caribe thấp hơn những nước này rất đáng kể, ở mức 30%. Cả Brazil và Chile đều dùng tỉ lệ sinh viên nhập học trong khu vực tư một yếu tố quan trọng trong chiến lược mở rộng GDĐH của họ.   Hình 10. Sinh viên nhập học trong khu vực GDĐH tư ở Brazil và Chile, 2007      Sự khác biệt về sứ mạng của các trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá sức khỏe của hệ thống. Tiêu chí này đo lường số lượng sinh viên trong các trường sau trung học, nhưng không phải là đại học chẳng hạn như các trường cao đẳng cộng đồng, các cơ sở đào tạo mở và từ xa, v.v. Hình 11 cho thấy 11% người học ở bậc sau trung học của Chile hiện đang học trong những cơ sở không phải là ĐH như thế, trong lúc con số này ở Brazil là ít hơn 10%. Người ta có thể suy đoán rằng đó có thể là lý do khiến tỉ lệ người học sau trung học ở Chile cao hơn, vì Chile đem lại nhiều cơ hội đa dạng hơn cho người học, nhiều loại trường khác nhau sẵn có hơn là so với Brazil.    Hình 11. Số lượng nhập học trong các cơ sở đào tạo sau trung học nhưng không phải là ĐH ở Brazil và Chile, 2007       Cuối cùng, Hình 12 nhấn mạnh rằng có sự khác biệt nổi bật trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính cho sinh viên để học có thể theo đuổi giáo dục bậc cao. Chính phủ Chile phân bổ 12% ngân sách công dành cho GDĐH vào việc hỗ trợ sinh viên bao gồm cả tài trợ và cho vay, trong lúc chính phủ Brazil cung cấp chỉ 2% cho mục tiêu này.    Hình 12. Hỗ trợ tài chính cho sinh viên ở Brazil và Chile, 2007    Như ta có thể thấy qua trường hợp Brazil và Chile, đối sánh mang lại một nền tảng để đánh giá tác động và hiệu quả của những chính sách khác nhau. So sánh những tiêu chí giữa các nước khác nhau cho ta một thước đo nhạy cảm với thời gian để đo những tiến bộ hay suy thoái trong chất lượng hoạt động của một hệ thống. Những thông tin này có thể được dùng để xác định những lựa chọn chính sách, để làm cơ sở cho việc ra quyết định, và để hướng dẫn cho việc phân bổ nguồn lực.      Kết luận   Thế giới quan tâm đến xếp hạng trong từng bước đi của nó. Các nước đều đang được xếp hạng trên đủ mọi lĩnh vực, từ thành tích Olympic đến chất lượng sống. Không có gì đáng ngạc nhiên khi GDĐH trên thế giới ngày nay, với đặc điểm cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng để giành giảng viên và sinh viên giỏi, đã tạo ra ngày càng nhiều danh sách các trường hàng đầu trong những năm gần đây.    Khoản đặt cược này khá là cao. Chính phủ các nước và công chúng nói chung đang quan tâm hơn bao giờ hết đến chất lượng hoạt động của các trường trong tương quan so sánh với các trường khác hay nước khác, và đang nhận thức rõ hơn bao giờ hết về giá trị của GDĐH với tư cách là người tiêu thụ dịch vụ này. Một số nước đang phấn đấu xây dựng những trường ĐH đẳng cấp quốc tế, được coi là mũi xung kích cho việc phát triển nền kinh tế tri thức. Những nước khác đang đối mặt với sự teo tóp số người học, thì chật vật thu hút sinh viên quốc tế, những người phải trả tiền cho việc học. Cũng như những thứ hàng hiếm, hàng hiệu, việc tiếp cận những thứ “đẳng cấp nhất” ngày càng tùy thuộc vào nhãn hiệu của nó. Cũng như nhãn hiệu xe hơi, túi xách, hay quần jeans, người tiêu dùng của GDĐH cũng đang tìm kiếm những dấu hiệu giúp họ có khả năng xác định và tiếp cận những trường ĐH tốt nhất.    Cùng lúc đó, những bảng xếp hạng này không đủ để đo lường chất lượng thực sự của một nền GDĐH. Vượt ra ngoài kết quả của từng trường, điều quan trọng là làm sao có thể đánh giá được các hệ thống GDĐH đang đi xa đến đâu xét về mặt bình đẳng và cơ hội tiếp cận, về chất lượng và ý nghĩa đóng góp cho xã hội, về thành tích chuyển giao công nghệ, v.v. Những công cụ đối sánh mà Ngân hàng Thế giới đang trong quá trình xây dựng là nhằm thực hiện vai trò đó, bằng cách đưa ra một công cụ dựa trên web mà các nhà làm chính sách có thể dùng để so sánh giữa các nước với những tham số và tiêu chí mà họ cần. Tuy công cụ này không có ý kê toa chính sách cho các nước, nó hoàn toàn có thể mang lại một mảnh sân cho việc thực thi công việc chẩn bệnh và tìm kiếm những kịch bản khác nhau cho việc cải cách và phát triển GDĐH.     Phạm Thị Ly dịch      Nguồn: Bản tin của Viện Đào tạo Quốc tế, ĐH Quốc gia TPHCM     Tài liệu tham khảo  Aghion, P., Dewatripont, M., Hoxby, C.M., Mas-Colell, A. and Sapir, A. 2009. The Governance and Performance of Research Universities: Evidence from Europe and the U.S. National Bureau of Economic Research (NBER) Working  Paper 14851.  Barro, R and Lee, J. 2010. Educational Attainment Dataset: www.barrolee.com  (Accessed 1 April 2012.)  Đọc thêm: Nếu xếp hạng là một căn bệnh, đối sánh có phải là thuốc chữa? (Kỳ 1)   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=8846        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga đầu tư kinh phí để nâng cấp các cơ sở khoa học      Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã thông báo, những ưu tiên của Dự án khoa học quốc gia là sẽ nâng cấp các cơ sở nghiên cứu khoa học và thiết bị nghiên cứu, hỗ trợ các nhà khoa học trẻ.      Trường đại học Công nghệ thông tin, cơ khí và quang học quốc gia Saint Petersburg (ITMO) là một trong các trường được đầu tư để lọt vào top 100 thé giới. Nguồn: ITMO  Theo hãng thông tấn Nga TASS, dự án khoa học quốc gia kêu gọi ít nhất có 15 trung tâm khoa học và giáo dục tầm cỡ thế giới cũng như nâng cấp hạ tầng nghiên cứu trong vòng 6 năm.  Ông Medvedev nhấn mạnh là tất cả các viện nghiên cứu hàng đầu của Nga sẽ nhận được các thiết bị tiên tiến với số lượng 50% thiết bị được nâng cấp hoặc thay mới.  Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tập trung vào đầu tư cho thiết bị có thể đem lại những đột phá công nghệ cũng như có một hiểu biết rõ ràng về kết quả sẽ đạt được trên chính thiết bị đó. “Việc các cơ sở hạ tầng nghiên cứu của Nga lọt vào danh sách những cơ sở nghiên cứu hiện đại bậc nhất thế giới rất quan trọng”, ông nói.  Theo tường thuật về cuộc gặp gỡ đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm Nga vào ngày 6/2/2019 của TASS, thủ tướng Medvedev cũng cho biết, Dự án khoa học quốc gia có thể giúp giải quyết nhiều thách thức mà các nhà nghiên cứu Nga phải đối mặt trong khi mục tiêu đưa Nga vào top năm quốc gia dẫn đầu thế giới về KH&CN “khó khăn nhưng vẫn có thể đạt được”.  Ông Medvedev cũng nêu rõ, các nhà khoa học trẻ cũng cần được ủng hộ, không chỉ về mặt tài chính mà còn cả việc tham gia các hoạt động học thuật như hội nghị khoa học, xuất bản công bố trên các tạp chí quốc tế, các ứng dụng từ sáng chế.  Các điều kiện xã hội cho các nhà khoa học   Ông nói, cần phải quan tâm đến việc cải thiện các điều kiện xã hội, điều kiện sống của các nhà khoa học, đồng thời thừa nhận nỗ lực thực hiện vẫn chưa đủ để đem lại cho họ chỗ ở.  Dự án Khoa học quốc gia được thiết kế để thúc đẩy điều đó cũng như các vấn đề liên quan khác. Hỗ trợ các tài năng khoa học và thúc đẩy nghiên cứu tiên tiến là ưu tiên của chính phủ, phải đi vào thực tế chứ không được là khẩu hiệu, ông cho biết thêm.  Phó thủ tướng Tatyana Golikova nói: “Chúng ta hiểu rằng để có thêm các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, chúng ta cần tạo ra cơ sở hạ tầng xã hội thiết yếu cho họ.”  Thủ tướng Medvedev thông báo, ngân sách đầu tư cho dự án quốc gia này đã được chấp thuận, với khoảng 135 tỷ ruble (2 tỷ USD) được giải ngân trong vòng 3 năm. Trên thực tế, chi phí dành cho R&D đến từ tất cả các nguồn có thể tăng lên theo GDP, như dự án đã dự kiến.  Vào tháng 11/2018 vừa qua, tổng thống Putin đã thông báo là 635 tỷ ruble (khoảng 9,6 tỷ USD) có thể sẽ được phân bổ cho dự án Khoa học quốc gia đến năm 2025 với 405 tỷ ruble từ ngân sách trung ương và 231 tỷ ruble từ các nguồn ngoài ngân sách. “Chúng ta cần hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh, các nhà khoa học và các kỹ sư xuất sắc, những người đang làm việc tại những lĩnh vực nhiều hứa hẹn nhất”, Putin nói tại một cuộc gặp gỡ Hội đồng KH&GD Liên bang Nga ngày 27/11/2018. “Chúng ta phải tập trung đầu tư tới hạn cho các lĩnh vực phát triển với các mục tiêu mà chiến lược đất nước về phát triển KH&CN đặt ra”.  Nga cần có được những kết quả mang tầm đột phát và đổi mới sáng tạo nhằm đảm bảo sức cạnh tranh của nền công nghiệp quốc gia, để hình thành một cơ sở sản xuất hùng mạnh, để làm mới cơ sở hạ tầng giao thông đất nước, để giới thiệu các công nghệ mới vào ngành công nghiệp và tăng trưởng môi trường, chất lượng y tế, theo một thông báo từ Dự án 5 – 100 của Nga.  Cắt giảm tệ quan liêu  Cùng thời điểm, Bộ KH và giáo dục đại học đang cải cách lại hệ thống quản lý quan liêu để đem lại những điều kiện tốt hơn cho các nhà khoa học, bao gồm việc cắt giảm tệ quan liêu, thủ tục hành chính giấy tờ, Bộ trưởng Mikhail Kotyukov đã thông báo như vậy trong một buổi làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học Nga ngày 28/11/2018.  Tệ quan liêu trong các trường đại học, vốn xuất hiện ở nhiều vấn đề, trải rộng từ việc cung cấp các thiết bị văn phòng, vật liệu thí nghiệm đến các báo cáo tài chính mà các nhà nghiên cứu phải nếm trải khi nhận được tài trợ cho nghiên cứu, sẽ được cắt giảm theo quan điểm chung của bộ.  Kotyukov cho biết trong khi xấp xỉ một nửa các thủ tục tài chính được đơn giản hóa thì những vấn đề liên quan tới các hoạt động nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu sẽ phải được chấp hành như trước.  “Bắt đầu một nghiên cứu mới có nghĩa là bảo vệ chủ đề nghiên cứu, điền vào các loại giấy tờ tưởng như vô tận, đi dạo quanh các tài liệu khác nhau và viết báo cáo,” Kotyukov đề cập đến vấn đề thủ tục giấy tờ trước đây các nhà nghiên cứu phải tuân theo. “Giờ tôi tin tưởng là Bộ Khoa học và giáo dục đại học cùng Viện hàn lâm Khoa học Nga sẽ làm việc cùng nhau để cắt giảm những thủ tục đó vì lợi ích của nghiên cứu.”  Chính phủ Nga đang lập kế hoạch đưa các sửa đổi đối với luật hiện hành để bắt buộc sinh viên sau đại học phải bảo vệ luận án tốt nghiệp. Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học sẽ trình bày các đề xuất và khuyến nghị của mình về các sửa đổi đó để trình chính phủ trong ba tháng đầu năm 2019.  Giáo sư Aleksandr Sergeev, Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học Nga đã nêu sự cần thiết của việc cải cách giáo dục sau đại học “để đảm bảo vai trò của nó như bước đầu tiên trong xây dựng sự nghiệp khoa học. Bảo vệ luận văn phải là yêu cầu bắt buộc với sinh viên sau đại học. Số lượng các giờ giảng dạy bắt buộc cũng phải giảm đáng kể. Họ là những nhà nghiên cứu tương lai chứ không phải giáo viên.”  Tài trợ thêm cho Dự án 5-100  Thủ tướng Medvedev cũng đã ký phân bổ một khoản trị giá 9,9 tỷ rruble (150 triệu USD) từ ngân sách liên bang hỗ trợ các trường đại học hàng đầu đất nước. Khoản kinh phí này được phân định để thúc đẩy sức cạnh tranh của chúng trên phạm vi toàn cầu và sẽ tới 21 trường thuộc Dự án 5-100.  Khoản hỗ trợ này sẽ được phân bổ cho dự án nhà nước Các nhà khoa học trẻ, vốn được trông chờ sẽ tăng sức cạnh tranh của các cơ sở giáo dục quốc gia. Nó cũng là một phần của Dự án giáo dục quốc gia nhằm mục tiêu đưa đất nước trở thành một thành viên quan trọng trong thị trường học thuật quốc tế.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.universityworldnews.com/post.php?story=20190220071424238    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga tìm lại vị thế khoa học bằng đầu tư vào giáo dục đại học      Đằng sau Dự án 5-100 – dự án đưa 5 trường đại học Nga vào top 100 thế giới vào năm 2020, là một cuộc chuyển đổi về quan điểm giáo dục và học thuật, thậm chí là “một cuộc cách mạng văn hóa” trong hệ thống giáo dục Nga.      Hiện nay trường Đại học Liên bang Lomonosov tại Moscow là trường Nga duy nhất lọt vào top 200. Nguồn: MGU  Năm 1961, khi trở thành quốc gia đầu tiên đưa người vào quỹ đạo Trái đất, Liên bang Xô viết đang ở đỉnh cao thế giới. Dẫu cho Mỹ cũng giành lấy thắng lợi trong cuộc đua đưa người lên Mặt trăng thì KH&CN vẫn là một trong những điểm mạnh để Liên bang Xô viết chứng minh sự ưu việt của mình.   Kể từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 thì khoa học Nga không còn gây ấn tượng, ngay cả khi so sánh với Trung Quốc. Nếu vào năm 1996, cả hai đều cùng có một lượng xuất bản công bố trên dữ liệu Scopus: khoảng 30.000 bài báo/năm thì tới năm 2017, Trung Quốc đã có trên 510.000 bài báo khoa học và báo cáo hội nghị trong khi Nga chỉ có 85.000 bài. Thậm chí, những chuyển động chậm chạp trong nghiên cứu trong 10 năm qua khiến Nga bị bỏ lại sau Brazil và Ấn Độ năm 2010 (dẫu cho vẫn xếp trên Nam Phi, quốc gia gia nhập nhóm BRICS – nhóm các quốc gia mới nổi gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, cũng vào năm 2010). Tuy nhiên cũng phải thừa nhận là những dữ liệu Scopus đó không thể cho chúng ta thấy bức tranh đầy đủ về khoa học Nga bởi còn có nhiều nghiên cứu của họ xuất bản bằng tiếng Nga. Nhưng ít nhất, có một điều rõ ràng là các trường đại học Nga đã suy giảm vị thế của mình trong các bảng xếp hạng quốc tế.   Dẫu vậy, trong vòng 5 đến 6 năm trở lại đây, điều đó đã thay đổi. Từ năm 2012 đến năm 2017, xuất bản khoa học của Nga trên hệ thống Scopus đã tăng gấp đôi (vượt qua Brazil) và hiện diện trên bảng xếp hạng các trường đại học quốc tế của Times Higher Education với số lượng tới 35 trường, chiếm 2,9% tổng số trường được xếp hạng (năm 2016 chỉ có 13 trường).  Sự thay đổi trong chính sách của Nga xuất phát từ việc thiết lập dự án 5-100 vào năm 2013 với mục tiêu có 5 trường lọt vào top 100 thế giới vào năm 2020. Với dự án này, 21 trường đại học đã được lựa chọn – ban đầu chỉ có 15 trường, sau đó từ năm 2015 tăng thêm 6 trường – thông qua một cuộc cạnh tranh mở để được nhận khoản tài trợ 1 tỷ rouble (11,6 triệu euro) một năm. Để được chọn, các trường phải trình bày đề xuất, hoặc lộ trình về việc họ đặt mục tiêu cải thiện vị thế quốc tế của mình như thế nào. Không phải trường nào cũng nhận được một khoản đầu tư như nhau, một số trường nhiều nỗ lực hơn sẽ được “thưởng” thêm.  Đây là cách làm “nhìn xa trông rộng” bởi hiện nay duy nhất một trường đại học Nga lọt vào top 200 là trường Đại học Liên bang Lomonosov tại Moscow với hạng 199. Tuy vậy, Lomonosov lại không có trong danh sách các trường được dự án 5-100 đầu tư (trong số 20 trường của dự án thì Viện nghiên cứu Vật lý và công nghệ Moscow MIPT mới lọt vào nhóm 251-300). Cũng có tín hiệu vui là dữ liệu của Times Higher Education cho thấy, những trường thuộc dự án 5-100 đã có bước tăng trưởng nhanh, ví dụ từ năm 2012 đến năm 2017, số công trình thuộc các tạp chí Scopus của 18/20 trường này đã tăng gấp 4, từ 7.000 lên 28.000 bài báo. Sức tăng trưởng của họ trong nghiên cứu hết sức ấn tượng. Công bố của họ luôn dẫn đầu các trường đại học Nga khác, đủ sức đưa Nga vượt qua Brazil và hầu như tương đương Ấn Độ.  Vậy dự án 5-100 có là ví dụ cho một sáng kiến đầu tư cho trường đại học xuất sắc của một chính phủ? Và ý nghĩa thực sự của nó là gì? Tương lai của dự án ở thời hạn 2020?  Cải cách giáo dục đại học có ảnh hưởng sâu rộng  Từng chứng kiến hệ thống giáo dục, khoa học trước và sau khi Liên Xô tan rã, Andrei Volkov – phó chủ tịch hội đồng quản trị của dự án 5-100, một nhà vật lý hạt nhân – tin tưởng vào dự án như “một cải cách có ảnh hưởng nhất” trong vòng 20 năm qua của giáo dục đại học Nga. Ông cho rằng, yếu tố chính dẫn đến thành công là việc chấm dứt sự chia tách giữa giảng dạy và nghiên cứu bằng việc mang các trường đại học – vốn có truyền thống tập trung vào giảng dạy – gần với các viện nghiên cứu, đầu tiên là Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS). “Tại Nga, không có trường đại học nào như thế cả: chỉ có các trung tâm đào tạo… Việc chuyển đổi từ hình thức này sang hình thức trường đại học nghiên cứu là một cuộc cách mạng văn hóa ở đất nước tôi”, ông nói.      “Dự án như một cải cách có ảnh hưởng nhất trong vòng 20 năm qua của giáo dục đại học Nga. Việc chuyển đổi từ hình thức chia tách giữa giảng dạy và nghiên cứu sang hình thức trường đại học nghiên cứu là một cuộc cách mạng văn hóa ở đất nước tôi.”(Nhà vật lý hạt nhân Andrei Volkov – phó chủ tịch hội đồng quản trị Dự án 5-100).      Trên thực tế, cuộc chuyển đổi này có nghĩa là các đơn vị nghiên cứu của RAS gắn kết nhiều hơn với các trường đại học thông qua liên kết, tăng cường hợp tác hoặc các nhà nghiên cứu được hai bên cùng bổ nhiệm.  Igor Chirikov, nhà nghiên cứu chính tại Trung tâm Nghiên cứu đại học tại trường Đại học California, Berkeley, đã nhìn một cách chi tiết vào sự thay đổi ở các trường đại học Nga mà dự án 5-100 đem lại, và đồng ý rằng sự chuyển đổi này hết sức quan trọng: “Nhiều trường đại học của chúng tôi không có sứ mệnh lịch sử là nghiên cứu nhưng việc đầu tư cho các trường thông qua dự án ít nhất đã khiến các trường phải tập trung vào nghiên cứu nhiều hơn”. Chirikov từng là hiệu phó trường Đại học Kinh tế Moscow, một trường xếp hạng cao trong 20 trường thuộc dự án.  “Hiện giờ các trường và RAS đang hợp tác gần gũi với nhau hơn trước kia”, ông nói và chỉ ra một hiện tượng tương tự diễn ra ở Đức và Trung Quốc, nơi các viện Max Planck cũng như các viện của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc đã mở rộng liên kết với chương trình giáo dục đại học và sau đại học.    Các nhà khoa học trường đại học nghiên cứu hạt nhân quốc gia MEPhI – thuộc dự án 5-100, đã phát triển một máy gia tốc plasma có khả năng tạo ra magnetron luồng xung cường độ cao trên vật liệu nóng chảy.  Chương trình 5-100 đã đem đến một kết quả tích cực: nhiều công trình trước đây chỉ xuất bản bằng tiếng Nga nay đã hiện diện với giới nghiên cứu quốc tế thông qua việc xuất bản trên các tạp chí tiếng Anh, Chirikov cho biết thêm.  Mục tiêu rõ ràng khác của dự án là tăng cường số sinh viên và giảng viên quốc tế trong các trường đại học Nga. Dữ liệu cho thấy những chỉ số này đã được cải thiện một cách nhanh chóng.   Những khó khăn trong quá trình quốc tế hóa  Theo Volkov, các nỗ lực của những trường đại học Nga để thuê được những nhà nghiên cứu quốc tế gặp những rào cản ở từng lĩnh vực khác nhau, ví dụ, tuyển một giáo sư toán học hoặc các ngành kỹ thuật khó vì lương cao trong khi các trường phải tuyển “người giỏi nhất trong số những người giỏi” để cho tương xứng với những nhà nghiên cứu Nga mà họ có, còn trong lĩnh vực khoa học xã hội thì ngôn ngữ lại là vấn đề khó vượt qua. Tuy nhiên không phải không có điểm sáng. “Tôi ngạc nhiên khi thấy chỉ trong vòng 5 năm, các trường tốt nhất lại có thể tìm được nghiên cứu sinh tốt và có được những nhà nghiên cứu đầy hứa hẹn”, ông nhận xét. Ví dụ, ông nêu trường Đại học Tyumen ở Tây Siberia, đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu từ “những trường hết sức xuất sắc” ở nước ngoài, mặc dù trường ở một nơi khá hẻo lánh của nước Nga. “Dù không phải toàn bộ nước Nga đã thu hút được nhà nghiên cứu quốc tế nhưng chúng tôi cũng đã bắt đầu có một vài nơi như vậy”.   Ngoài ra, những nỗ lực quốc tế hóa này cũng bị sự căng thẳng trong quan hệ chính trị phương Tây và nước Nga phủ bóng. Bằng chứng là sự hợp tác xuyên biên giới bị ảnh hưởng: hiện nay Nga là nền khoa học mạnh duy nhất có số lượng các công trình nghiên cứu đa quốc gia sụt giảm trong vài năm trở lại đây. Vì thế có một câu hỏi đặt ra là dự án 5-100 có thực sự làm nên sự khác biệt? Các nhà nghiên cứu Nga đều thừa nhận, căng thẳng chính trị đã ảnh hưởng đến khả năng quốc tế hóa và hậu quả là nhiều học giả Nga có ít cơ hội hợp tác hơn, tuy nhiên Volkov tin rằng, bầu không khí chính trị này có thể chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các tổ chức hơn là cá nhân các nhà nghiên cứu. Thực tế là “các trường sẽ nghi ngờ nhau nhiều hơn, điều này không hề lành mạnh cho hợp tác”.   Không phải trường đại học nào trong dự án 5-100 cũng gặp phải rào cản trong hợp tác quốc tế, ví dụ quá nửa số xuất bản trong thư mục Scopus của trường Đại học Công nghệ thông tin, cơ khí và quang học quốc gia (ITMO) ở St Petersburg trong năm 2017 đều từ các mối hợp tác quốc tế, tăng 1/3 so với 5 năm trước. Phó hiệu trưởng thường trực trường ITMO, bà Daria Kozlova, cho rằng, điều này là do sự thay đổi trong cách làm của các nhóm nghiên cứu, như việc thiết lập “một cuộc cạnh tranh mở với các phòng thí nghiệm quốc tế cho phép một phòng thí nghiệm/một nhóm nghiên cứu phải có một nhà khoa học Nga và nhà khoa học quốc tế đồng phụ trách. Các lĩnh vực hàng đầu của chúng tôi đã có được sự thúc đẩy lớn từ quá trình này.” Các đồng phụ trách không cần phải có măt tại các phòng thí nghiệm toàn thời gian nhưng để duy trì được sự liên kết của họ với các tổ chức thì “lợi ích nghiên cứu phải từ hợp tác thực sự”, Kozlova nói.  Cẩn trọng với đánh giá khoa học  Chính phủ Nga dường như cũng thận trọng trước xu hướng “chạy theo số lượng” của các trường và đã đưa ra những hình phạt về tài chính nếu phát hiện ra trường nào dùng các tạp chí ‘đen” để thúc đẩy số lượng công bố quốc tế. Chirikov cho biết, việc đề ra các mục tiêu luôn luôn dẫn đến “những chiến lược chạy đua bởi nếu anh định lượng kết quả thì mọi người sẽ cố gắng đáp ứng với phương pháp định lượng đó, các trường đại học cũng không ngoại lệ”.   Chính quyền nên trao quyền tự chủ lớn hơn cho các trường đại học là một vấn đề thường xuyên được các trường, các nhà lãnh đạo thuộc các trường Sáng kiến 5-100 và các nhà nghiên cứu đề xuất. “Giờ đây, các trường đại học Nga đã được trao một số quyền tự chủ nhưng Bộ Giáo dục vẫn còn nhiều tác động đến trường như cần phải đào tạo những người như thế nào. Nhưng các trường đều biết mình cần phải làm những gì. Hãy trao nhiều quyền tự chủ hơn, các trường có thể hiệu quả hơn trong việc đào tạo ra những chuyên gia hàng đầu cho tương lai”, Kozlova của ITMO nhận xét.   Còn bản thân Chirikov thì cũng tin tưởng “việc nhiều quyền tự chủ hơn có lẽ là cách làm đúng đắn”, đồng thời chỉ ra một quyết định được ban hành vào năm 2017 đã cho phép phần lớn các trường 5-100 được cấp bằng cho sinh viên tốt nghiệp – một khởi đầu mới đối với giáo dục Nga và là dấu hiệu cho thấy việc trao quyền tự chủ đang diễn ra.  Ông cũng cho biết, một phát triển quan trọng khác là “sự chuyển hướng cơ bản từ việc tập trung vào số lượng nghiên cứu sang chất lượng nghiên cứu. Các chỉ dấu trắc lượng khoa học vẫn được Bộ Giáo dục và các trường dùng để đánh giá cần được bổ sung thêm với những đánh giá bên ngoài và cần hướng đến tiêu chuẩn quốc tế”.   Dữ liệu xếp hạng thế giới cho thấy các trường thuộc 5-100 đang tiến chậm hơn về chất lượng nghiên cứu (dẫu cho nghiên cứu của họ trong top 10% bài báo được trích dẫn đang tăng lên), danh tiếng quốc tế của họ cũng tiếp tục thụt lùi.    Với Volkov, Dự án 5-100 chưa bao giờ “chỉ là một cuộc chơi xếp hạng” mà là để chuyển đổi một cách cơ bản toàn bộ hệ thống giáo dục Nga bằng việc đề ra mục tiêu cao hơn. Và dẫu cho việc lọt vào top đầu thế giới vẫn còn là mục tiêu chưa đạt tới thì ông vẫn không nghi ngờ vào tiến trình đó. Vì khi một quyết sách về tương lai của dự án này của Chính phủ Nga được đưa ra  – có thể là vào năm tới – không chỉ để đổi mới mà còn mở rộng dự án. “Đây là một hệ thống giáo dục xuất sắc và có sức thu hút với sinh viên toàn cầu và các nhà khoa học toàn cầu. Đây là ý tưởng tốt và các trường đại học Nga phải theo đuổi ý tưởng đó dù sớm hay muộn… và một vài trường trong số này sẽ lọt vào top dẫn đầu thế giới”, ông tin tưởng. ¨  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.timeshighereducation.com/features/russias-5-100-project-working    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày 20/11, nhà giáo nghĩ gì?      Ngày Nhà giáo Việt Nam là ngày để tôn vinh  nhà giáo. Một mục tiêu rất tốt đẹp. Nhưng sự tôn vinh một ngày đó thực  sự có ý nghĩa không khi mà 364 ngày còn lại là một thực tại nặng nề, khi  hết năm này đến năm khác các điều kiện làm việc và đãi ngộ của nhà giáo  Việt Nam hầu như vẫn chẳng có gì cải thiện?     Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 lại một lần nữa đang đến. Trong những ngày này, có vẻ như toàn xã hội đều cùng lao vào chăm lo cho các nhà giáo cả về tinh thần lẫn vật chất. Ở các trường, từ mầm non đến đại học, có thể thấy mọi người tưng bừng tham gia các hội thao, hội diễn hoặc hội thảo, họp mặt để mừng ngày 20/11. Trong các gia đình thì các bậc phụ huynh đang loay hoay tính toán nên mua quà gì để tặng thầy cô của con mình, nếu không phải là tất cả thì chí ít cũng phải được thầy/cô giáo chủ nhiệm lớp hoặc thầy/cô dạy môn chính. Ở một số trường có Hội phụ huynh năng động, người ta còn vận động đóng góp để cuối cùng có thể tặng cho tất cả các thầy cô một phong bì nho nhỏ, với giá trị vài trăm ngàn đồng chẳng hạn.  Không thể không kể đến vào những ngày sát cận ngày 20/11 ta thấy hoa được bày bán khắp nơi, đặc biệt là ở các cổng trường để bán lẻ từng bông hồng, từng cành lan, hoặc từng bó cúc cho các em học sinh đem vào lớp tặng thầy, cô giáo. Không khí lễ hội của ngày 20/11 kéo dài đến vài tuần, chẳng kém gì những ngày lễ lớn của phương Tây với hàng loạt dịch vụ  kèm theo đầy tính thương mại để kích thích tiêu dùng, như trong dịp lễ Noel vào tháng 12 sắp tới đây.   Nhìn từ bên ngoài như vậy, có lẽ tất cả chúng ta cũng tạm cảm thấy yên tâm nếu không muốn nói  là tự hào vì các nhà giáo Việt Nam rất được quan tâm và tôn trọng. Nhưng các nhà giáo của chúng ta có nghĩ như vậy không?   Vào ngày Nhà giáo, các giáo viên vẫn phải đi dạy bình thường vì đây không phải là một ngày nghỉ chính thức. Tùy từng trường, có thể người ta sẽ tổ chức một buổi “lễ” hoặc họp mặt toàn trường, các thầy cô giáo mặc quần áo đẹp, được tặng hoa, tặng “phong bì” (có lẽ đã được đưa riêng từ trước), nghe vài bài hát, vài lời ca ngợi chung chung, vài lời động viên xem chừng có chút sáo rỗng. Buổi lễ có lẽ kéo dài vài tiếng đồng hồ, “trong không khí ấm cúng, thân mật”, sau đấy ai về lớp nấy.    Niềm vui có thể kéo dài thêm trọn ngày. Và sau ngày đó, tất cả các thầy cô lại trở về với 364 ngày còn lại để có thể hoàn tất chương trình giảng dạy nặng nề, giảm tải mãi mà tải hình như cứ tăng thêm, chỉ với một bộ sách giáo khoa duy nhất hoàn toàn không xét đến những khác biệt của từng đối tượng học sinh, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Hệ thống thi cử thì nặng nề và đầy áp lực, khiến nhu cầu học thêm của học sinh là hoàn toàn có thật. Dạy thêm vì vậy đã trở thành nguồn thu nhập bổ sung chính đáng từ hoạt động nghề nghiệp của các thầy cô, nhưng hiện đang bị hệ thống nhìn nhận như một hành động phạm pháp vốn được quản lý rất chặt chẽ từ trường đến các phòng và Sở Giáo dục. Họ vẫn phải sống đời nhà giáo của mình với đồng lương không đủ sống, và lời hứa “giáo viên sẽ sống được bằng lương vào năm 2010” đã qua đi 2 năm rồi nhưng không biết đến bao giờ mới thành hiện thực.   Những áp lực nói trên thường xuyên bào mòn sức lực của người thầy từng ngày, từng giờ. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Nghề giáo ở Việt Nam bây giờ còn là một nghề hết sức rủi ro, với sự gia tăng của tình trạng học trò đánh thầy cô, phụ huynh học sinh xúc phạm thầy cô, và tệ hại hơn, là những lời sỉ nhục, mạt sát vô tình hay cố ý của giới truyền thông đối với hình ảnh của người thầy trên báo chí hôm nay. Gần đây nhất, một cô giáo trẻ dạy Văn trong độ tuổi hai mươi phải đã xin nghỉ việc, chỉ vì sự cố “canh gà Thọ Xương” của cô – chưa biết thực hư thế nào – đã được báo chí đưa lên như một scandal để dư luận tha hồ lên án, ném đá. Giờ đây, trong không khí “tưng bừng” chào đón ngày 20/11, chẳng hiểu cô giáo trẻ của chúng ta đang ở đâu, và nghĩ gì?  Có lẽ chúng ta cũng sẽ rất bất ngờ khi nghĩ về điều này: các scandal liên quan đến ngành giáo dục được khai thác trên báo chí khá nhiều đến nỗi đã tạo ra một hình ảnh xấu về nghề giáo. Nhưng hầu như không bao giờ ta được nghe lời phản hồi từ chính các nhà giáo về những scandal có liên quan đến mình, hoặc trực tiếp hoặc thông qua tổ chức đại diện của mình là Công đoàn ngành Giáo dục. Những tâm tư, nguyện vọng của các nhà giáo trong các scandal là gì, những hoàn cảnh nào khiến cho họ rơi vào những sai lầm – nếu quả là họ có sai lầm – liệu lâu nay có ai tìm hiểu để giúp họ khắc phục, cải thiện hay không? Hình như câu trả lời ở đây là: trong các vấn đề liên quan đến nhà giáo, thì chính nhà giáo lại là đối tượng vắng bóng và im tiếng nhất. Họ không hề có mặt, và không hề có tiếng nói!  Ngày Nhà giáo Việt Nam là ngày để tôn vinh nhà giáo. Một mục tiêu rất tốt đẹp. Nhưng sự tôn vinh một ngày đó thực sự có ý nghĩa không khi mà 364 ngày còn lại là một thực tại nặng nề, khi hết năm này đến năm khác các điều kiện làm việc và đãi ngộ của nhà giáo Việt Nam hầu như vẫn chẳng có gì cải thiện?                               Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày càng nhiều sinh viên Australia quan tâm tới Việt Nam      Đại sứ quán Australia tại Việt Nam cho biết, 340 sinh viên đại học Australia sẽ học và thực tập tại Việt Nam trong năm 2017 trong khuôn khổ Chương trình New Colombo Mới – một trong những chương trình giáo dục quan trọng hàng đầu của Chính phủ Australia.      Sinh viên Đại học Adelaide thăm một dự án du lịch  cộng đồng tại Mai Châu, Hòa Bình, tháng 7/2016  Số học sinh này đã tăng hơn 35% so với năm 2016 và gấp hơn hai lần số học sinh Australia đến Việt Nam năm 2015 – năm đầu tiên Việt Nam tham gia Chương trình Colombo Mới.  Trong năm 2017, Việt Nam sẽ là nước đón nhận sinh viên  nhiều thứ 7 trong số 38 nước và vùng lãnh thổ trong khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương tham gia Chương trình Colombo Mới.  “Kết quả này cho thấy sinh viên Australia ngày càng quan tâm tới Việt Nam và đây là sự bổ sung tuyệt vời cho mối quan hệ giáo dục mạnh mẽ và lâu dài giữa hai nước chúng ta” – Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick nói.  “Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á mà tôi đặt chân đến. Mặc cho khí hậu nóng ẩm, chuyến đi chỉ diễn ra trong bốn tuần và khá thách thức nhưng đó là một chuyến đi thực tế rất đáng giá với nhiều phong cảnh đẹp, những tình bạn mới và giúp tôi khẳng định lựa chọn nghề nghiệp của mình. Cơ hội đi thăm và kết nối với những tổ chức phi chính phủ địa phương và quốc tế đã bổ sung cho tôi cách tiếp cận thực sự độc đáo, bên cạnh góc độ lý thuyết của chương trình cử nhân mà tôi đang theo học. Việc gặp gỡ trao đổi với người dân địa phương sâu hơn mức độ của một  du khách thông thường thực sự rất quý giá. Tôi hi vọng chuyến đi đầu tiên này sẽ mở đầu cho nhiều chuyến đi khác của tôi tới Việt Nam trong tương lại.”- Lauren Tropeano, sinh viên Đại học Adelaide vừa có chuyến đi thực tế tại Việt Nam hồi tháng 7/2016 trong khuôn khổ Chương trình Colombo Mới chia sẻ.  Trong năm 2017, sinh viên từ 22 trường đại học của Australia sẽ học và thực tập tại hơn 30 trường đại học và các tổ chức tại Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý kinh doanh, giáo dục, y tế, kỹ thuật, khách sạn du lịch, thiết kế đô thị và lập kế hoạch vùng.  Chương trình Colombo Mới là một sáng kiến quan trọng của Chính phủ Australia nhằm nâng cao hiểu biết về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua việc hỗ trợ sinh viên đại học Australia thực hiện một phần chương trình học hoặc thực tập trong khu vực. Tính đến năm 2017, tổng số sinh viên Australia đã sống, học tập và thực tập tại các quốc gia trong khu vực trong khuôn khổ Chương trình Colombo Mới đã vượt quá 17.000 sinh viên.    Author                P.V        
__label__tiasang Ngày hiến chương nhà giáo trên thế giới      Hiện tại trên thế giới có khoảng 115 triệu trẻ em không được đến trường, chúng không được hưởng những quyền lợi cơ bản nhất của con người. Mỗi khi tỉnh giấc đón nhận ánh bình minh buổi sớm, chúng không hy vọng được thừa hưởng những lợi ích tối thiểu mà một nền giáo dục có thể mang lại. Những đứa trẻ này có thể biết về AIDS, sự đói nghèo, bệnh tật và cả những công việc nặng nhọc mà trong tiềm thức không bao giờ biết được người giáo viên có nghĩa là gì?    Dạy học là một nghề cao quý và đóng vai trò then chốt đưa nhân loại tiến bộ. Hàng năm, nhiều nước trên thế giới kỷ niệm ngày hiến chương nhà giáo để tôn vinh những con người đã ngày đêm miệt mài bên giáo án vì sự nghiệp đào tạo. Mỗi quốc gia tổ chức kỷ niệm theo những sắc thái khác nhau, tùy thuộc vào lịch sử và nền văn hóa đặc trưng.  Ngày nhà giáo quốc tế                Theo UNESCO, ngày nhà giáo quốc tế vinh danh các tổ chức giáo viên trên toàn thế giới. Nó được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 5 tháng 10 kể từ năm 1994, hơn 100 quốc gia trên thế giới kỷ niệm ngày này. Mục đích của ngày hiến chương là động viên sự ủng hộ của cộng đồng đối với giáo viên toàn cầu đồng thời đảm bảo nhu cầu giáo dục của các thế hệ tương lai tiếp tục được thỏa mãn. Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 60 triệu giáo viên. Nhưng cũng theo tổ chức quốc tế Oxfam thì hiện tại trên thế giới có khoảng 115 triệu trẻ em không được đến trường, chúng không được đón nhận những quyền lợi cơ bản nhất của con người. Mỗi khi tỉnh giấc đón nhận ánh bình minh của buổi sớm, chúng không hy vọng được thừa hưởng những lợi ích tối thiểu của một nền giáo dục có thể mang lại. Những đứa trẻ này có thể biết về AIDS, sự đói nghèo, bệnh tật và cả những công việc nặng nhọc mà trong tiềm thức không bao giờ biết được người giáo viên có nghĩa là gì? Tổ chức này đang nỗ lực hết mình vận động các chính phủ, các công ty và tổ chức quyên góp tiền vì mục tiêu “giáo dục đến với mọi người”. Để những đứa trẻ ở tất cả các nước nghèo có thể tiếp cận đến một nền giáo dục toàn cầu thì chúng ta cần khoảng hơn 15 triệu giáo viên.  Tổ chức giáo dục quốc tế (EI) có một niềm tin vững chắc rằng, ngày nhà giáo được cộng đồng quốc tế thừa nhận và kỷ niệm rộng rãi trên toàn thế giới. Những cố gắng của tổ chức giáo dục quốc tế và hơn 348 tổ chức thành viên của nó đã góp phần quan trọng cho sự công nhận rộng rãi này.  Nga                   Nước Nga lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm là ngày hiến chương các nhà giáo. Trước năm 1994, người Nga thường lấy ngày thứ sáu đầu tiên của tháng 10 làm ngày nhà giáo. Họ kỷ niệm ngày lễ này với nhiều hoạt động tưng bừng. Những bó hoa tươi thắm, những viên kẹo ngọt ngào và các món quà lưu niệm đầy ý nghĩa được tặng cho hơn 1,5 triệu nhà giáo Nga.  Trong năm nay, hơn 10.000 nhà giáo Nga được biểu dương và vinh dự nhận giải thưởng tương ứng với số tiền 100.000 rúp. Họ có thể dùng số tiền này vào bất cứ mục đích nào. Điều này rất quan trọng cho cuộc sống của họ, bởi vì lương nhận được của giáo viên Nga mỗi tháng chỉ có 3.800 rúp.  Trung Quốc  Năm 1984, Wang Zishen, nguyên chủ tịch Đại học Bắc Kinh, đã đề xuất thành lập một ngày kỷ niệm để tôn vinh các nhà giáo Trung Quốc. Đến ngày 21 tháng 2 năm 1985, quốc gia này đã thống nhất chọn ngày 10 tháng 9 hàng năm là ngày hiến chương nhà giáo của mình. Ngày nay, nhiều người Trung Quốc muốn chuyển ngày lễ này sang ngày 28 tháng 9 là ngày sinh của Khổng Tử.  Là một quốc gia phương Đông vốn có truyền thống coi trọng đạo lý “tôn sư trọng đạo”, nhiều thế hệ học sinh cũng như các bậc ông bà, cha mẹ Trung Quốc đến viếng thăm các đền miếu thờ những vị hiền triết có công tạo dựng nền giáo dục và triết lý sống nhân sinh quan của Trung Quốc như Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử…  Mỹ                  Hiệp hội Giáo dục Quốc gia Mỹ đã diễn tả ngày nhà giáo của Mỹ như là một ngày tôn vinh và ghi nhận những đóng góp và cống hiến của những người làm công tác giáo dục cho sự phát triển cuộc sống của mọi người. Nguồn gốc ngày nhà giáo ở Mỹ không rõ ràng. Vào khoảng năm 1944, một giáo viên ở Arkansas là Mattye Whyte Woodridge bắt đầu kiến nghị với những người lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục và chính trị việc cần thiết phải có một ngày tôn vinh các nhà giáo. Một trong những người lãnh đạo mà ông viết thư tới đó là bà Eleanor Roosevelt. Bà đã thuyết phục quốc hội tuyên bố ngày nhà giáo vào năm 1953.  Hiệp hội Giáo dục Quốc gia cùng với các thành viên ở bang Kansas và Indiana đã vận động quốc hội lấy một ngày trong năm làm ngày nhà giáo quốc gia. Quốc hội đã tuyên bố ngày 7 tháng 3 năm 1980 như là ngày hiến chương nhà giáo của năm đó. Sau đó, họ tiếp tục tổ chức vào tuần đủ đầu tiên của tháng năm hàng năm cho đến năm 1985 và duy trì cho đến ngày nay.  Hàn Quốc  Ngày hiến chương nhà giáo của Hàn quốc là ngày 15 tháng 5. Các học sinh tặng thầy cô giáo của họ những bông hoa cẩm chướng để biểu hiện cho tình yêu và lòng tôn kính. Ngoài ra, cũng giống như ở Việt Nam, các cựu học sinh thường đến viếng thăm và tặng những món quà đầy ý nghĩa cho thầy cô giáo cũ. Hầu hết các học sinh được nghỉ học trong ngày lễ này.  Ba Lan  Ngày 14 tháng 11 được coi là ngày nhà giáo hay còn gọi là ngày giáo dục quốc gia Ba Lan. Vào ngày này năm 1773, vua Ba Lan Stanisoaw Poniatowski đã thành lập Ủy ban giáo dục quốc gia.  Ngày hiến chương nhà giáo ở Ba Lan được các nhà giáo và học sinh đánh giá cao. Theo truyền thống, học sinh mang những bó hoa tươi và món quà nhỏ kính tặng những người thầy của họ. Họ tổ chức kỷ niệm dưới nhiều hình thức khác nhau ở trường học. Những buổi tụ tập, liên hoan được tổ chức ở trường cho cả giáo viên và học sinh. Học sinh chuẩn bị những tiết mục diễn văn nghệ và hòa nhạc. Đây là dịp để những người học trò này bày tỏ lòng biết ơn đối với những nỗ lực của thầy cô giáo đã dạy dỗ họ nên người. Những bậc phụ huynh cũng đến trường cùng với con cái họ để cảm ơn các thầy cô giáo.  Thái Lan                   Ngày 31 tháng 11 năm 1956, nội các Chính phủ Thái Lan thông qua quyết định chọn ngày 16 tháng 1 hàng năm là ngày nhà giáo Thái Lan. Ngày nhà giáo đầu tiên được tổ chức vào năm 1957.  Ngày hiến chương nhà giáo Thái Lan là một ngày lễ tôn kính của một quốc gia đạo Phật. Ngày này, các học sinh và toàn thể cộng đồng cùng nhớ lại vai trò quan trọng của những người thầy giáo như những ân nhân và là người đem lại ánh sáng cho cuộc sống. Trong cả buổi sáng, họ thường tổ chức một lễ kỷ niệm đặc biệt dành cho giáo viên. Điểm nổi bật của ngày này bao gồm các hoạt động tôn giáo. Một buổi lễ tôn giáo được tổ chức để cầu nguyện cho các nhà giáo và các hoạt động khác nhằm tăng cường sự thống nhất trong giới giáo viên.  Nguyễn Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày hội toán học: Bản giao hưởng số pi      Ngày 21/8 vừa qua, tại thư viện Tạ Quang Bửu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, với tâm niệm“Tổ chức ngày hội không phải để mọi người thấy toán dễ, vì toán thật sự không dễ, nhưng chắc chắn toán học không xa cách” (trích lời khai mạc của GS Ngô Bảo Châu), Viện nghiên cứu cao cấp về toán VIASM đã tổ chức Ngày Hội toán học mở “Bản giao hưởng số π” (tiêu đề này ngụ ý tới vẻ đẹp hài hòa, sự bất ngờ, tính phá cách có trong nội tại và cả sự tồn tại dài lâu của toán học, đồng thời cũng đề cập tới tính chất rộng lớn, phức tạp, nhưng cũng rất khoáng đạt của thế giới toán học ngày nay).    Nguyễn Quốc Khánh    Các em chơi các trò chơi Toán học  trong Ngày hội Toán học mở  Với sự phối hợp của 7 tổ chức giáo dục: Học viện sáng tạo S3; Trung tâm Toán tư duy POMATH; Trung tâm toán và khoa học Hexagon; Sputnik Education; CLB Học toán cùng Jenny; Nhóm toán-tin-khoa học MaSSP; và Trường học lớn BigSchool, nhiều trò chơi đa dạng, hấp dẫn và các phương pháp giáo dục toán học khác nhau, có các hoạt động hands-on, có các dự án nhỏ (mini project-based learning), có các nội dung mà cả phụ huynh và học sinh cùng tham gia (family-math), dù cách thức thể hiện khác nhau, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy rằng tất cả các phương pháp đó đều có một điểm chung là tạo được cho học trò không gian thực học thông qua các hoạt động thật của chính các em theo tinh thần các em sẽ học được rất nhiều khi các em phải tự mình đối diện với những câu hỏi khó, hơn nữa đôi khi các em còn học được rất nhiều khi làm việc với bạn bè (học thầy không tày học bạn).  Ngày hội là một Không-gian tương tác và đối thoại mở bắt đầu với Hội thảo“Mấy góc nhìn về giáo dục toán học ở Việt Nam” với tham luận của GS Hà Huy Khoái, TS Chu Cẩm Thơ (Đại học Sư phạm Hà Nội), TS Trần Nam Dũng (Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh), TS Trịnh Hữu Tuệ và ba bài giảng đại chúng trong đó GS Ngô Bảo Châu (Chicago University & VIASM) nói về hành trình số học từ cổ điển đến hiện đại với câu chuyện bài toán cuối cùng của Fermat, sự thú vị nội tại của toán học và ranh giới giữa làm toán nghiệp dư và làm toán chuyên nghiệp, GS Vũ Hà Văn (Yale University) nói về lý thuyết toán học trong chuyện “Người say đi đánh đề” hay là những “sự ngây thơ” của xã hội thiếu mất những hiểu biết toán học thuần túy lý thuyết căn bản. Cuối cùng không khí được đẩy lên đỉnh điểm với một Tọa đàm về một chủ đề nóng “Thi đấu toán học, ích gì?” với nhiều khách mời có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành giáo dục toán học nói chung và ươm mầm các tài năng toán học từ xưa tới nay nói riêng.  Đây là lần thứ hai VIASM tổ chức ngày Hội mở về toán học với sự tham gia của sáu đơn vị xuất bản và phát hành sách vở, học liệu giáo dục (bao gồm NXB Kim Đồng, Nhà sách Long Minh, Xưởng sáng tạo Gara Creative, công ty sách Sputnik, trung tâm sách POMATH và Quảng trường sách The Booksquare Hà Nội). Nhiều khách mời là các nhà toán học và khoa học đầu ngành, các thầy cô giáo, các nhà quản lý giáo dục uy tín, hơn 100 huấn luyện viên (instructors) và tình nguyện viên (volunteers) cùng với rất nhiều phụ huynh và gần 2000 học sinh sinh viên tới từ gần 20 tỉnh thành khắp cả nước đã “dắt nhau đi nghe nhạc toán”. “Trong ngày hội lần này, các bạn trẻ say sưa chơi các trò chơi toán học để lấy thẻ, bạn nào cuối ngày được 10 thẻ thì được đổi lấy kỷ niệm chương của Viện cao cấp. Các bạn già say sưa hội đàm từ sáng sớm đến xế chiều về học toán, dạy toán và thi toán, với cao trào là thuyết trình của GS Văn về kỳ vọng lợi nhuận trong số đề và của GS Tuệ về nghĩa không đen.” – GS Ngô Bảo Châu (Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về toán và chương trình trọng điểm quốc gia về toán giai đoạn 2010-2020) tổng kết ngay khi ngày hội vừa kết thúc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày Sư phạm Cánh Buồm 2014: Đi sâu vào “bếp núc” giáo viên tiểu học      Sau chuỗi Ngày Sư phạm Cánh Buồm tập trung  vào việc xem xét quan điểm tổng quát xây dựng nền giáo dục hiện đại được  tổ chức trong nửa cuối năm 2013, năm nay hoạt động này sẽ trở lại và đi  sâu vào công việc bếp núc của giáo viên tiểu học.      Các chủ đề chính sẽ được thảo luận tại chuỗi Ngày Sư phạm Cánh Buồm 2014 bao gồm: Phân phối chương trình từng môn Tiếng Việt, Văn, Lối sống; cách tổ chức tự học từng bài, với những tiết học mẫu; và cách tổ chức kiểm tra, đánh giá quy trình học tập, hướng đến việc bãi bỏ thi cử.    Bên cạnh đó, người tham dự vẫn có dịp quay về những quan điểm tổng quát để làm sáng tỏ những chi tiết mang tính bếp núc của nhà giáo dục trong lĩnh vực giáo dục tiểu học.  Trong buổi sinh hoạt mở màn của năm nay vào ngày 15/3 tới, Nhóm Cánh Buồm sẽ cùng cử tọa thảo luận về năng lực và cách tạo năng lực cho học sinh, ứng dụng vào môn học Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, đặc biệt là Tiếng Việt lớp Một.  Từ khi bắt tay vào biên soạn và cho ra mắt bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm (những bộ môn xã hội và nhân văn), Nhóm Cánh Buồm luôn nỗ lực đưa phương pháp tự học – tự giáo dục đến với đông đảo công chúng, đặc biệt là các bậc phụ huynh, các giáo viên và sinh viên sư phạm.  Trong năm 2013, với tài trợ của Cà phê Trung Nguyên và tạp chí Tia Sáng, Nhóm Cánh Buồm đã tổ chức sáu Ngày Sư phạm với nhiều chủ đề khác nhau, tập trung vào việc trao cho các em phương pháp học trong các lĩnh vực ngôn ngữ học (để tự học tiếng Việt), nghệ thuật (để tự học một ngữ pháp nghệ thuật), đạo đức (để tự học một lối sống đồng thuận) ngay từ bậc Tiểu học.  Thông tin chi tiết:  Thời gian: 15:00 – 17:00, thứ Bảy, ngày 15/3  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng  Chủ đề: Tạo năng lực Tiếng Việt cho học sinh lớp Một  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn và các thành viên Nhóm Cánh Buồm.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày Sư phạm Cánh Buồm      Chương trình Ngày Sư phạm Cánh Buồm hằng  tháng sẽ chính thức bắt đầu từ tháng Bảy này, nhằm tạo ra môi trường  trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền  giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em, đại diện của  Nhóm Cánh Buồm cho biết.     Ngày Sư phạm Cánh Buồm sẽ được tổ chức vào chiều thứ Bảy của tuần thứ hai mỗi tháng, từ 15 giờ đến 17 giờ 30 tại Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội. Bên cạnh phần thuyết trình của các nhà sư phạm thuộc Nhóm Cánh Buồm là Phạm Toàn, Thanh Hải, Phương Thảo, còn có phần trao đổi tự do và làm bài tập tại chỗ.   Hoạt động này hướng đến các bậc phụ huynh học sinh, giáo viên các trường tiểu học, sinh viên các trường sư phạm, và những người quan tâm đến giáo dục, sư phạm nói chung.    Ngày Sư phạm Cánh Buồm đầu tiên sẽ diễn ra vào thứ Bảy, 13/7, với chủ đề Tâm lý học giáo dục. Buổi sinh hoạt này tập trung vào việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu tâm lý đã trực tiếp hoặc gián tiếp tạo cơ sở cho phương pháp giáo dục mà Cánh Buồm theo đuổi: tự học – tự giáo dục, qua phần thuyết trình của nhà giáo Phạm Toàn.      Các Ngày Sư phạm Cánh Buồm tiếp theo cho đến hết năm 2013 sẽ tập trung trao đổi về phương pháp học các môn Văn, Tiếng Việt, Tiếng Anh, và Lối sống, theo đại diện của Nhóm Cánh Buồm.      Bằng việc tổ chức chương trình này, Nhóm Cánh Buồm đã thực hiện lời hứa của mình với những bậc phụ huynh muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ sách giáo khoa do Nhóm Cánh Buồm soạn thảo cũng như phương pháp học tập do Nhóm Cánh Buồm đề xuất, đại diện của Nhóm Cánh Buồm nói.      Đến nay, Nhóm Cánh Buồm đã soạn thảo được một số sách giáo khoa tiểu học ở bốn môn: Văn và Tiếng Việt (từ lớp 1 đến lớp 5), Lối sống (từ lớp 1 đến lớp 3), và Tiếng Anh (lớp 1 và lớp 2), với phương châm, giáo viên chỉ là người tổ chức công việc còn học sinh là người tự tích lũy kiến thức thông qua việc thực hiện các công việc.      Đăng kí tham dự tại website canhbuom.edu.vn hoặc facebook Canhbuomedu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghề học      khi hoạt động giáo dục và sát hạch hiệu quả  hơn thì học tập sẽ trở lại đúng chức năng của nó với đóng góp xã hội cụ  thể và được lượng hóa rõ ràng, điều mà các nước phát triển từ lâu đã xem  như một nghề: Nghề học.    Những ngày qua dù không ở Việt Nam, nhưng xem báo mạng, tôi vẫn cảm nhận được không khí căng thẳng quen thuộc của kỳ thi tuyển sinh đại học với cảnh tắt đường, cấp cứu thí sinh ngất xủi, nạn quay cóp và cả những vụ án hình sự vớitội phạm thi hộ “đến hẹn lại lên”… Cuộc chiến giành quyền đi học của gần một triệu thí sinh khi công tác tổ chức thi còn nhiều bất cập khiến việc học, thi dường như trở thành gánh nặng xã hội. Nhưng nhìn sâu bản chất vấn đề, khi hoạt động giáo dục và sát hạch hiệu quả hơn thì học tập sẽ trở lại đúng chức năng của nó với đóng góp xã hội cụ thể và được lượng hóa rõ ràng, điều mà các nước phát triển từ lâu đã xem như một nghề: Nghề học.  Cụ thể, Phần Lan là nơi nền giáo dục hoàn toàn miễn phí cho hầu hết các cấp học nên học sinh, sinh viên không phải đóng học phí khi đi học mà còn được chính phủ “trả lương” hằng tháng như một dạng trợ cấp để “hành nghề” với nhiều ưu đãi như bảo hiểm y tế miễn phí, bữa ăn trưa trợ giá, giảm tiền thuê nhà… Trường, lớp, phòng thí nghiệm, thư viện có trang thiết bị đầy đủ, phòng học nhóm luôn đông nghẹt trong không khí tập trung, chuyên chú. Hoạt động đăng kí môn học, lên lớp, tự học và thi hầu qua mạng nên với một tài khoản cá nhân, mọi thành viên đều có thể tham gia các hoạt động giảng dạy, học tập với thông tin được cập nhật thường xuyên qua hệ thống wifi miễn phí. Cơ sở dữ liệu trực tuyến được chia sẻ miễn phí vì các trường đã mua bản quyền liên kết của hầu hết các các tạp chí khoa học. Vậy xã hội được gì khi đầu tư ngân sách khá cao (hơn 13% ngân sách chính phủ) để chi trả và ưu đãi quá nhiều cho nhóm theo Nghề học này?  Hành nghề học    Cái được lớn nhất không thể phủ nhận là sinh viên sẽ trở thành lực lượng lao động chính, đóng góp nhiều nhất cho xã hội khi tham gia thị trường lao động. Lực lượng lao động có thực lực với kiến thức vững vàng, kỹ năng tinh nhuệ mới có thể tạo ra giá trị thặng dư cao và phúc lợi thực. Một thực tế không thể chối cãi là năng suất lao động của người học thật, kỹ năng tốt, kiến thức cao luôn cao hơn nhiều người học “giả”. Hay ít ra việc học hành bài bản và nghiêm chỉnh cũng tạo ra một thế hệ công dân lành mạnh, trưởng thành và có kỹ năng, làm việc tốt, đủ sức cạnh tranh trên thị trường lao động ngày càng đòi hỏi cao. Ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy ngoài tiếng mẹ đẻ thì hầu hết sinh viên Phần Lan có thể nói trôi chảy và viết tiếng Anh cùng một ngôn ngữ thứ ba là tiếng Thụy Điển do họ dạy thật, học thật. Trôi chảy ở đây được đánh giá trong môi trường học thuật chuyên môn của từng ngành mà sinh viên đótheo học chứ không đơn thuần trong giao tiếp thông thường.  Nói như vậy không có nghĩa là xã hội ngồi chờ để gặt hái “lợi ích đầu tư” sau khi sinh viên ra trường, đi làm mà chính nhà trường (nơi được chính phủ cấp ngân sách theo hiệu quả đào tạo) đang áp dụng nhiều cơ chế để khai thác các đóng góp của sinh viên bằng cách tạo điều kiện để sinh viên thực hiện các nghiên cứu, công trình ứng dụng, viết báo khoa học hay các hoạt động công ích. Việc sinh viên khóa trước hỗ trợ khóa sau, sinh viên bản địa giúp quốc tế, nghiên cứu sinh trợ giảng… là các công tác cụ thể mà sinh viên được yêu cầu và khuyến khích tham gia nhằm nâng cao kỹ năng. Nhà trường dần trở thành “nhà tuyển dụng” bắt đầu từ khâu tuyển sinh chọn nguồn sinh viên có tố chất và giao nhiệm học (Study Description) cụ thể cho từng sinh viên với đòi khỏi cao để “sản phẩm đào tạo” của họ mang lại hiệu quả nhất. Đồng thời, để chắc ăn là sinh viên có đủ kinh nghiệm thực tế, hầu hết các trường đều yêu cầu bắt buộc sinh viên đi thực tập tại môi trường làm việc thực tế tại nước ngoài trong ít nhất sáu tháng trước khi tốt nghiệp. Chính sinh viên cũng hào hứng với các hoạt động du học thực tiễn để cọ xát, học thật, làm thật và giữ thế chủ động trong khi “hành nghề” học đồng thời họ còn chủ động đi làm thêm để kiếm tiền vì đa số họ sống tự lập, ít nhận chu cấp từ gia đình. Một điểm thú vị nữa là các “nhà tuyển dụng trường học” không chỉ chăm lo cho đời sống giảng viên, nhân viên mà cả luôn “nhân viên sinh viên” của mình khi tích hợp các khu liên hiệp thể thao đa năng, nhà hàng, phòng máy tính rộng khắp trường.Thậm chí là cho phép mở quán bar trong khuôn viên trường sau giờ hành chính để sinh viên và giảng viên có thể ngồi lai rai, bàn luận. Đó là điểm nhấn trong tư duy quản lý mở và khuyến khích tự chủ có trách nhiệm khi việc học đã được nâng lên một tầm cao mới không chỉ là quyền cơ bản mà đã trở thành một nghề chuyên nghiệpthực thụ, được trang bị đầy đủ điều kiện và công cụ lao động mà sản phẩm đóng góp cho xã hội là tri thức thật, kỹ năng thật và sản phẩm hữu dụng để sau này người học ra đời, đi làm và đóng góp lại cho xã hội bằng cách đóng thuế thu nhập trung bình rất cao. Âu cũng là hợp lý.  —  * Giảng viên Khoa Quản lý Công nghiệp, Đại học Bách khoa – Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, hiện đang làm nghiên cứu sinh về Đổi mới trong kinh doanh (Business Innovation) theo học bổng EU Erasmus Mundus tại Trường Kinh tế TSE, Đại học Turku, Phần Lan     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghèo đi vì… giáo dục?      Một cuộc điều tra đối với 4128 người thuộc 8 thành phố lớn: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Vũ Hán, Thành Đô, Thẩm Dương, Tây An; 7 thành phố thị trấn nhỏ và vùng nông thôn ngoại vi thuộc Triết Giang, Phúc Kiến, Liêu Ninh, Hà Bắc, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Thiểm Tây vào cuối năm 2005 cho thấy, 40-50% số người được hỏi khẳng định: nguyên nhân đầu tiên và quan trọng khiến gia đình mình trở nên khó khăn là “trong nhà có trẻ tới trường”.    Các nhà kinh tế học thường đo trình độ phát triển của một xã hội dựa trên những con số. Trong tổng thu nhập của mỗi gia đình, nếu như khoản chi cho ăn uống chiếm càng nhiều phần, thì xã hội ấy càng trì trệ. Ngược lại, nếu khoản chi cho giáo dục và văn hóa của gia đình càng lớn, thì xã hội đó càng phát triển. Theo thống kê của các nước phát triển, khoản chi cho việc giáo dục con cái của mỗi gia đình đều không vượt quá 10% thu nhập của họ; bởi thế không khỏi giật mình khi nhìn lại chỉ tiêu tương quan của chúng ta: cao đến kỳ lạ, thậm chí các nước phát triển phải thua xa! Theo số liệu của “Báo cáo nghiên cứu chỉ số chất lượng cuộc sống cư dân Trung Quốc 2005”, trong các gia đình nông thôn Trung Quốc, khoản chi cho giáo dục con cái chiếm 32,6% thu nhập của họ; trong các gia đình ở thành phố và các thị xã, thị trấn nhỏ hơn, tỉ lệ này lần lượt là 25.9% và 23.3% (Theo báo Thanh niên Trung Quốc, ngày 8/2/2006).  Trung Quốc là một nước đang phát triển, mà lại có “hiện tượng siêu phát đạt” trong khoản chi cho giáo dục của mỗi gia đình!? Chỉ có điều, con số siêu cao này không hề là hình ảnh phản ánh sự siêu phát triển của xã hội. Gánh nặng chi phí cho giáo dục của các gia đình đương nhiên không khiến ai vui vẻ, chỉ đáng để suy ngẫm. Đúng như những gì “Báo cáo nghiên cứu chỉ số chất lượng cuộc sống” chỉ ra, chi phí cho giáo dục đã trở thành nguyên nhân đầu tiên và quan trọng khiến cư dân Trung Quốc trở nên nghèo hơn. Vật chất để sinh tồn phải là cái có trước, sau đó mới có thể tính chuyện phát triển tinh thần; chân lý này đã trở thành kiến thức nằm lòng phổ biến của xã hội loài người. Bởi vậy, người ta lại càng khó hiểu hơn trước hiện tượng nghịch dị: “nghèo đi vì chi phí giáo dục” ở Trung Quốc! Những ai hiểu xã hội này đều không khó khăn gì để đi đến kết luận: đây là hiện tượng phát sinh dưới tác dụng chung của chế độ giáo dục và khuynh hướng văn hóa.  Trung Quốc có văn hóa “vọng tử thành long” (mong con thành tài), chúng ta có truyền thống để con cái gánh vác chuyện thay đổi số phận của dòng họ. Song trong thời đại “kinh tế tri thức” này, nhóm người dưới đáy xã hội (về phương diện kinh tế) thông thường cũng không được học hành chu đáo, trong cuộc sinh nhai, họ phải chịu thua thiệt trước những “nhân tài” được thụ hưởng một nền giáo dục đầy đủ; ước muốn thay đổi địa vị kinh tế gia đình của đời họ trở nên vô vọng, bởi vậy, họ ký thác niềm hi vọng lên con cái, chỉ mong qua khoản đầu tư cho giáo dục siêu phụ tải, con cái họ có được năng lực cạnh tranh, từ đó vươn mình để đổi đời. Đời cha “nếm trải cái đắng trong trái đắng”, là để cho con cái có thể “làm được người hơn người”. Hi sinh hiện tại, đầu tư tương lai, đó chính là bí mật của hiện tượng “nghèo đi vì chi phí giáo dục ”. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là câu trả lời trọn vẹn.  Trong khuynh hướng văn hóa của chúng ta, ước muốn đời con thay đổi địa vị kinh tế xã hội của dòng tộc có lẽ sẽ tạo ra áp lực nào đó đối với sự phát triển nhân cách của thanh thiếu niên, nhưng từ góc độ xã hội, điều này không có gì sai trái, bởi đó là nhu cầu chính đáng được rút ngắn khoảng cách giàu nghèo liên thế hệ. Bất kể một loại hình cạnh tranh nào cũng không thể tránh khỏi tình trạng bất bình đẳng ở chừng mực nào đó. Nhưng một trong những chức năng trọng yếu của quốc gia chính là cung cấp cho công dân môi trường cạnh tranh bình đẳng nhất có thể (còn gọi là “bình đẳng cơ hội”). Trong đó bình đẳng về cơ hội giáo dục chính là loại bình đẳng cơ hội xã hội quan trọng nhất. Một gia đình Trung Quốc bỏ ra 1/4 đến 1/3 thu nhập để chi trả cho giáo dục, nhưng đầu tư cho giáo dục của quốc gia vẫn không đầy 1/20 GDP (lạc hậu so với toàn thế giới), điều này có nghĩa quốc gia đã đẩy chức trách “bình đẳng hóa cơ hội giáo dục” cho xã hội, và rồi “phân bổ” tới mỗi gia đình. Tôi cho rằng, đây chính là mấu chốt của hiện tượng “nghèo đi vì chi phí giáo dục” mà những người làm quyết sách phải suy ngẫm.  Mấy năm nay, các cuộc thảo luận quanh vấn đề giáo dục trở nên inh tai nhức óc, những phê phán quanh tệ nạn thương mại hóa giáo dục cũng không kém phần ầm ĩ. Nhưng chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy sự thay đổi nào có tính thực chất và thật sự tích cực.  Khẩu hiệu “Khổ nữa cũng không để con cái khổ, nghèo nữa quyết không để con nghèo giáo dục” đã được các gia đình quán triệt quá mức. Để chiến lược lớn “Giáo dục chấn hưng đất nước” được thắng lợi, cần tiến hành phân phối các nguồn vốn của xã hội bằng những cải cách hợp lý, công bằng.  Lưu Kình (Học giả Thượng Hải)  Nguồn tin: China.com.cn (Nhuệ Anh dịch )      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ về việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt hiện nay      Tháng 6/2020, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội gửi công văn tới đối tác yêu cầu thu hồi cuốn Từ điển chính tả tiếng Việt của hai tác giả Hà Quang Năng, Hà Thị Quế Hương. Tháng 7/2020, có nhà sách thông báo là người mua cuốn Từ điển chính tả tiếng Việt (dành cho học sinh) của tác giả Nguyễn Văn Khang được trả và nhận lại tiền nếu không muốn dùng nữa. Tuy nhiên nếu loại sách này có những cái sai hay bị coi là sai cũng là sự bình thường, điều đáng suy nghĩ hơn là vì sao chúng lại xuất hiện.      Cho đến nay vẫn chưa có quy định nào rõ ràng về việc viết các từ tiếng nước ngoài như Niu tơn hay Newton. Ảnh: Thanh niên.     Ở Việt Nam, tiếng Việt và chữ Việt là hai chuyện khác nhau. Chữ quốc ngữ ghi âm bằng mẫu tự phương Tây tiền thân của chữ quốc ngữ hiện nay được tạo ra từ thế kỷ XVII nhưng không phải là chữ viết chính thức và chỉ phổ biến trong cộng đồng Thiên Chúa giáo, còn phụ thuộc vào những dòng tu, khu vực và cá nhân khác nhau, việc chuẩn hóa chưa được đặt ra, viết b Hy Lạp hay b Latin, “bưâm bưấm” hay “bươm bướm”, “Đàng Trong” hay “Dàng Traõ” đều được. Sau khi người Pháp bắt đầu đô hộ Việt Nam và dùng chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thức, những khác biệt giữa chữ quốc ngữ ghi âm bằng mẫu tự phương Tây của Dòng Tên với chữ quốc ngữ ghi âm bằng mẫu tự Latin của Dòng Sai đã được giải quyết một cách êm thấm mà dứt khoát, nên chữ Việt Nam hiện đang dùng có thể gọi là chữ quốc ngữ Latin. Vấn đề chính tả tiếng Việt đặt ra hơn một trăm năm nay chính là vấn đề của hệ thống chữ quốc ngữ Latin này.       Đã có không ít từ điển, tự điển tiếng Việt được xuất bản, nhưng không phải đều đặt ra nguyên tắc thu thập từ vựng phù hợp, phương pháp giải thích toàn diện, cả cách sắp xếp mục từ cũng chưa phải đều đã hợp lý.      Những khoảng trống và khó khăn     Chính tả là cách viết chính thức, từ điển về chính tả dĩ nhiên là qui chuẩn về cách viết mang tính chính thống. Nhưng nhiều cách viết được coi là chính thống trong chính tả ở Việt Nam trước nay lại có chỗ không chính xác, hợp lý và nhất quán. Trong rất nhiều văn bản chữ quốc ngữ, kể cả từ điển tiếng Việt trước nay, vẫn tồn tại những lối viết song trùng kiểu “giấu diếm – giấu giếm”, “dông tố – giông tố”, “lí lẽ – lý lẽ”, “trối trăn – trối trăng”, “Các Mác – Karl Marx”… Trong các ví dụ nêu trên, “giếm” không phải “gi+ếm” mà là “gi+iếm” tức một biểu hiện bất hợp lý về ký tự, “dông” và “giông” là một biểu hiện chưa rạch ròi trong việc ghi âm, “lí” thay “lý” là một biểu hiện mất gốc về mảng từ Việt Hán, “trăn” và “trăng” là một biểu hiện vô minh về từ vựng, “Các Mác” và “Karl Marx” là một biểu hiện bất nhất trong việc tiếp nhận ngôn ngữ nước ngoài.     Cũng phải kể tới những khó khăn khác. Sự khác biệt giữa các phương ngữ ở Việt Nam, chính sách ngôn ngữ trong đó có chữ viết của chính quyền thuộc địa trước Cách mạng Tháng Tám, tình trạng chiến tranh và chia cắt đất nước từ 1945 đến 1975, thực trạng của khoa học về ngôn ngữ thế kỷ XX là những nhân tố tác động bất lợi tới sự phát triển của tiếng Việt cũng như việc hoàn thiện chính tả chữ quốc ngữ. Nói thêm thì sau Cách mạng Tháng Tám 1945 không có chính quyền nào ở Việt Nam qui định chữ quốc ngữ là chữ viết chính thức cả. Hai bản Hiến pháp các năm 1946, 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai bản Hiến pháp các năm 1956, 1967 của Việt Nam Cộng hòa và ba bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, 2013 của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho thấy điều đó. Khoảng trống pháp lý ấy ít nhiều là mảnh đất dọn sẵn cho những qui định chính tả bá láp, thậm chí là những đề xuất cải cách bá vơ. Tuy nhiên bất kể vì lý do gì thì sự chưa hoàn thiện về hệ thống ký tự, sự thiếu định hướng trong việc tiếp nhận ngôn ngữ nước ngoài và nhất là sự khiếm khuyết trong hiểu biết về tiếng Việt vẫn là những tồn tại chưa được giải quyết trong hoạt động văn tự bằng chữ quốc ngữ ở Việt Nam từ thời Pháp thuộc, nên mong muốn chuẩn hóa chính tả tiếng Việt trong rất nhiều năm qua luôn luôn là một việc ngoài tầm tay.       Trong ba vấn đề nói trên, sự chưa hoàn thiện về hệ thống ký tự là điều dễ nhận ra nên đã tạo ra một không gian sôi động với nhiều đề xuất cải cách. Công bằng mà nói, ngoài vài trường hợp cá biệt thì những đề xuất ấy đều có hạt nhân hợp lý bên cạnh yếu tố khả thi. Nhưng là một hình thức đặc biệt của ngôn ngữ, ngoài hai chức năng thông tin và giao tế, chữ viết còn đảm nhiệm chức năng lưu trữ. Nhiều ý kiến đề xuất cải cách, cải tiến chữ quốc ngữ hàng trăm năm qua không được thừa nhận chính vì không những đưa tới sự xáo trộn trong hoạt động văn tự mà còn gây ra sự đứt gãy trên phương diện truyền thừa. Từ phiên họp ngày 6/12/1902 của Tiểu ban cải cách chính tả chữ quốc ngữ trong Hội nghị quốc tế nghiên cứu về Viễn Đông lần thứ nhất ở Hà Nội, một thành viên của Tiểu ban là Cadière đã nêu ra sáu vấn nạn về những đề xuất cải cách, trong đó có hai là “3. Nếu hệ thống do Hội đồng đề nghị có loại bỏ được một số khó khăn thì ngược lại, nó lại tạo ra một số khó khăn khác. 4. Việc cải cách chữ quốc ngữ sẽ làm cho một số lớn sách không đọc được…”.       Trước khi có từ điển chính tả phải có từ điển giải thích cho thấu đáo nội hàm và sắc thái, từ nguyên và từ pháp của từ vựng trong tiếng Việt đã.      Từ ngữ mới du nhập     Bên cạnh đó, song song với việc dùng chữ quốc ngữ như chữ viết chính thức, từ cuối thế kỷ XIX xã hội Việt Nam cũng bước vào một quĩ đạo mới. Quá trình tái cấu trúc xã hội dưới tác động của ngoại nhân đã đưa vào xã hội Việt Nam nhiều hiện tượng, lĩnh vực và quá trình chưa từng có về hành chính và pháp lý, công nghệ và thương mại, khoa học và nghệ thuật, các yếu tố phương Tây này là một thử thách mang tính thời đại đối với tiếng Việt. Có thể coi Danh từ khoa học 1942 của Hoàng Xuân Hãn là một điểm sáng trong việc vượt lên thử thách ấy, nhưng đó vẫn là một thành tựu rất nhỏ bé so với những khó khăn mà tiếng Việt phải đối diện. Chỉ riêng mảng tên riêng (tên đất, tên người, tên sách…) nước ngoài, tiếng Việt trước Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng đã phải xử lý hàng vạn đơn vị có nguồn gốc từ tất cả các châu lục. Kinh nghiệm cũ với những kết quả loại Anh cát lợi – Anh liệt, Ba lê, Bồ đào nha, Cựu ước – Tân ước, Ý đại lợi, Kha luân bố, Nã phá luân, Phú lãng sa… quá nghèo nàn và phải thông qua Hán ngữ làm trung gian không thể đáp ứng nhu cầu mới, nhưng việc thông qua Pháp ngữ làm trung gian lại làm nảy sinh những tên đất tên người loại Mốtcu – Moscou (Matxcơva), Lênin (Lênhin). Đến nay thì những cách viết pha trộn nhiều lối phiên âm như “Giáo sư Shen Yi trường Đại học Phúc Đán…”, “Ông Kim Jong-un là cháu nội ông Kim Nhật Thành” vẫn không phải là điều cá biệt. Tóm lại xử lý từ vựng nước ngoài trong đó có tên riêng được du nhập vào tiếng Việt là một nội dung quan trọng trong việc chuẩn hóa chính tả, nhưng một chủ trương thống nhất với những nguyên tắc hợp lý để xử lý vẫn chưa được đặt ra.    Sau cùng và quan trọng nhất là sự khiếm khuyết trong sự hiểu biết tiếng Việt. Đã có không ít từ điển, tự điển tiếng Việt được xuất bản, nhưng không phải đều đặt ra nguyên tắc thu thập từ vựng phù hợp, phương pháp giải thích toàn diện, cả cách sắp xếp mục từ cũng chưa phải đều đã hợp lý. Từ cổ, từ địa phương, từ Việt Hán, thành ngữ tục ngữ, từ Hoa Hán du nhập theo con đường khẩu ngữ, từ nước ngoài… đều được ít nhiều giới thiệu nhưng rời rạc lẻ tẻ và không phải lúc nào cũng chính xác. Hơn thế nữa, từ thời Pháp thuộc tiếng Việt lại phát triển một cách bị động và do đó không thể tránh khỏi tình trạng tự phát trong việc tạo từ. Ký là ghi, danh là tên, nhưng ngoài ký danh ít thấy sử dụng, tiếng Việt có ba tổ hợp khác là ký tên, ghi danh, ghi tên mang nội dung khác nhau, việc tạo ra từ mới như vậy cũng có thể nói là sáng tạo, có điều từ ký tên hiện nay theo Hán ngữ truyền thống phải ghi là thự danh. Việc bài trừ Hán học của chính quyền thuộc địa đã làm suy thoái năng lực hiểu biết và sử dụng chữ Hán trên phạm vi toàn xã hội, nên mảng từ Việt Hán vẫn là một bộ phận máu thịt của tiếng Việt dần dần bị viết sai, hiểu sai và dùng sai trong các văn bản chữ quốc ngữ Latin. Ngay cơ quan ngôn luận qui tụ nhiều trí thức bậc nhất và có ảnh hưởng bậc nhất Việt Nam đầu thế kỷ XX là Nam Phong tạp chí trong phần Tự vựng như một loại Bảng tra từ ngữ thời gian 1917 – 1918 còn viết Chiết trung, Trinh sát hạm, Xung đột, Khinh suất, Trước tác, Trào phúng là Triết trung, Chinh sát hạm, Sung đột, Khinh xuất, Chước tác, Chào phúng hay lúc viết là lý lúc viết là lí, thì chính tả của những tổ chức và cá nhân khác thế nào không nói cũng biết.      Cần có từ điển ngữ nguyên     Tiếng Việt có sáu thanh trong đó ba thanh Không Hỏi Sắc là bậc Phù, ba thanh Huyền Ngã Nặng là bậc Trầm. Việc chuyển thanh từ âm đọc Việt Hán qua âm đọc Việt hóa cũng tuân theo qui luật về thanh điệu, như chủ thành chúa, chú (chú thích) thành chua, tứ thành tư là chuyển trong cùng bậc Phù, kỵ thành cưỡi, lợi thành lời/lãi, nhị thành nhì là chuyển trong cùng bậc Trầm. Miếu (ngôi miếu), mộ (ngôi mộ) phải có âm Việt hóa là miểu, mồ/mã mới đúng qui luật chuyển thanh, nhưng hiện nay rất nhiều sách vở từ điển ghi là miễu, mả. Tương tự, hiện nay rất nhiều người coi chỉnh chu là sai, chỉn chu mới đúng. Nhưng chỉn là gì chu là gì thì chẳng ai giải thích, mà giải thích thì giống như bưng đá đập chân. Vì đúng ra nó phải là chỉnh chu, là một từ Việt Hán trong đó chỉnh là gọn gàng, chu là trọn vẹn, chữ quốc ngữ Latin viết sai nhưng phổ biến rồi thì với số đông lại là đúng. Hành hạ vốn là hành hà (hà = khắc nghiệt) chuyển thanh, nghèo nàn vốn là nguy nạn (nguy = nghèo, nạn => nàn) chứ không phải nghèo hay thiếu, bất tử là không chết chứ không phải bất ngờ hay đột nhiên, vân vân và vân vân, nhưng thiên hạ vẫn nói và viết tung tóe. Tóm lại trước khi có từ điển chính tả phải có từ điển giải thích cho thấu đáo nội hàm và sắc thái, từ nguyên và từ pháp của từ vựng trong tiếng Việt đã, mà tất cả các từ điển tiếng Việt ở Việt Nam từ Từ điển Việt Bồ La 1651 trở đi dù ít dù nhiều cũng đều có chỗ thiếu chỗ sai. Thiếu là sự dĩ nhiên, nhưng không chỉnh lý hay ít nhất là giải thích rõ những chỗ sai khác thì không thể nói tới việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt.    Sau cùng, cần nói tới các ký hiệu không phải ký tự trong chữ quốc ngữ. Khác với văn bản Hán Nôm truyền thống, văn bản chữ quốc ngữ có các ký hiệu phẩy, chấm phẩy, chấm, chấm than, chấm hỏi, chấm lửng, hai chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép, gạch nối… hay lối viết hoa. Đây là hệ thống kiêm thêm chức năng ngữ pháp nhưng hiện chưa có nguyên tắc xử lý nhất quán trong thực tiễn văn tự. Viết học thuyết Khổng Mạnh, quan hệ Việt Trung, Thái y viện triều Nguyễn hay học thuyết Khổng – Mạnh, quan hệ Việt – Trung, Thái Y Viện triều Nguyễn? Viết “Mẹ chuẩn bị quần áo vật dùng cho tôi lên đường nhập ngũ” hay “Mẹ chuẩn bị quần áo, vật dùng cho tôi lên đường nhập ngũ” là đúng? Câu trong Bình Ngô đại cáo (bản dịch) “Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên làm chủ một phương” có phải viết là “Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên làm chủ một phương” không? Một khi các cơ quan hữu quan chưa quan tâm tới những chuyện loại này, thì việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt chỉ là điều nói cho sướng miệng. Bởi vì trong thực tế việc chuẩn hóa ấy đã được thực hiện nhưng với một cung cách không những đáng buồn mà còn đáng lo.  Cần lưu ý rằng vào năm 1902 thì lực lượng có khả năng tạo ra văn bản chữ quốc ngữ ở Việt Nam tối đa cũng chỉ khoảng 200.000 người, còn đến nay thì tình hình đã rất khác. Hơn thế nữa, trong bối cảnh bùng nổ thông tin với mạng internet hiện nay, việc thông tin và tiếp nhận thông tin bằng chữ viết đã lấn át việc thông tin và tiếp nhận thông tin qua lời nói. Cho nên việc chữ quốc ngữ trở thành hệ thống định chuẩn của tiếng Việt, công cụ lưu trữ trong quốc gia đã là một tình hình không thể đảo ngược, và Việt Nam không nên có một cuộc cải cách văn tự nào có thể đưa số đông tới tình trạng sẽ bị tách rời với các văn bản quốc ngữ hiện có tương tự việc số đông đã trở nên xa lạ với các văn bản Hán Nôm. Vấn đề cần thảo luận hiện nay là chuẩn hóa chính tả tiếng Việt.    Nhiều năm qua, một số cơ quan trong đó có tòa báo, nhà xuất bản đã tự đặt ra qui định chính tả, các văn bản và sách báo do họ soạn thảo hay xuất bản đều được biên tập theo những qui định ấy. Tuy nhiên đó không phải đều là những qui định đúng đắn, nhất quán và toàn diện, nên nếu ví von theo một kiểu rất ít hay ho thì đó là những người muốn dẹp loạn mười hai sứ quân nhưng năng lực thống nhất thì không đủ mà tình cảm cục bộ thì có thừa nên kết quả là lại tạo ra những khu vực cát cứ mới, một mặt bằng hỗn loạn mới, tức vô hình trung lại trở thành những sứ quân thứ mười ba trong chính tả tiếng Việt ở Việt Nam.     Cũng cần nhìn nhận hành vi nói trên từ góc độ pháp lý. Không ai phủ nhận các qui định chính tả cục bộ nói trên là xuất phát từ thiện chí, nhưng chữ viết trong đó có yếu tố chính tả là tài sản của toàn dân, phương tiện của xã hội, ngoài cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia là Quốc hội thì không một cơ quan hay tổ chức nào được phép qui định và áp đặt cách viết của mình. Cho nên trong khi chờ đợi việc lấp bằng khoảng trống pháp lý mà lịch sử để lại cho chữ quốc ngữ và chính tả chữ quốc ngữ, những người tham gia hoạt động văn tự ở Việt Nam cần đề cao ý thức tôn trọng truyền thống và tinh thần thượng tôn pháp luật bên cạnh nỗ lực học hỏi nhiều hơn, sâu hơn về tiếng Việt để có thể chủ động và khôn ngoan trong việc giải quyết các vấn đề chính tả hiện đang tồn tại và sẽ còn nảy sinh. □    Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nghĩ về việc dạy từ Việt Hán trong tiếng Việt      Thời gian qua, vấn đề dạy chữ Hán (tức mảng từ Việt Hán) trong nhà trường được báo chí đề cập nhiều lần và dư luận quan tâm. Có điều dạy chữ Hán trong trường phổ thông hay đại học thì từ việc đào tạo giáo viên tới xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình v.v sẽ rất tốn tiền, mất nhiều thời gian, mà cung cách nhồi nhét phổ biến trong nhà trường hiện nay chỉ làm công việc ấy trở thành một chuỗi các hành vi bị động, thiếu hứng thú và ít sáng tạo ở phần đông chủ thể tiếp nhận, trong khi đó phải là một quá trình tự nhiên và tự nguyện được nhất hóa vào hoạt động sống của từng cá nhân. Cho nên phải nhìn nhận từ một góc độ khác, hành động theo một cách thức khác.      Các từ điển – tự điển chữ quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX thể hiện hai dòng chính tả -ngoại nhập và Việt hóa.  Là một giá trị văn hóa phi vật thể, ngôn ngữ là một không gian xã hội mang nhiều yếu tố di sản mà mọi người đều phải hội nhập vào, đồng thời là một thực tại xã hội mang nhiều yếu tố đương đại mà mọi người đều tham gia kiến tạo. Dưới mắt người bình thường, thực tại đời sống hằng ngày thường được xem như tồn tại độc lập với ý muốn của mỗi người. Nhưng dưới cái nhìn xã hội học, thực tại ấy không phải là một thứ thực tại tự nó và không hề tồn tại tách rời khỏi cuộc đời của từng con người cá thể mà là một sản phẩm, một công trình được tạo lập bởi đời sống xã hội và trong đời sống xã hội. Nói cách khác, thực tại mà mỗi người chứng kiến và trải nghiệm trong đời sống hằng ngày chính là thực tại được kiến tạo về mặt xã hội. Tuy nhiên nhiều khi những con người cá nhân trong đời sống thường nhật không nhận ra thực tại ấy là “công trình của mình” nữa. Nói cách khác, con người có khả năng sản xuất ra một thực tại sẽ phủ nhận chính họ (Peter L. Berger và Thomas Luckmann, Sự kiến tạo xã hội về thực tại – Khảo luận về xã hội học nhận thức, bản dịch của nhóm Trần Hữu Quang, NXB Tri thức, Hà Nội, 2015). Nếu ứng dụng nhận định xã hội học nói trên vào việc nhìn nhận tiếng Việt, nhiều người sẽ thấy rõ cái thực tại này đã bị kiến tạo kiểu xuyên tạc tới mức nào. Phương châm, khúc chiết, tham quan bị nhiều người nói và viết thành phương trâm, khúc triết, thăm quan; hay quan ngại (chướng ngại vật), tự vẫn (tự tử bằng dao) được hiểu là lo ngại, tự thắt cổ hay uống thuốc độc v.v phổ biến trên báo đài, đã góp phần làm tiếng Việt mất đi sự trong sáng vốn có chứ chưa nói là cần có.  Cũng cần nhìn qua hệ công cụ của tiếng Việt tức chữ quốc ngữ Latin. Vì nhiều lý do, trước thời Pháp thuộc, Việt Nam về cơ bản không có hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ; một số nghiên cứu lẻ tẻ đầu tiên về tiếng Việt của những người nước ngoài như Alexandre De Rhodes, Taberd cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả sơ bộ nhằm dạy tiếng Việt cho các giáo sỹ Thiên chúa giáo phương Tây, chủ yếu để giao tiếp và truyền giáo. Sự xuất hiện của hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ dưới thời Pháp thuộc do đó đáng kể là một bước tiến trên con đường hiện đại hóa, nhưng hoàn cảnh lịch sử đương thời cũng khiến nó rơi vào tình trạng “dĩ Âu vi trung”, và việc du nhập các quan điểm ngôn ngữ học phương Tây đã đưa tới những nhìn nhận không chính xác về tiếng Việt, nhất là thông qua hệ công cụ văn tự mới tức chữ quốc ngữ Latin vốn còn nhiều khiếm khuyết. Một khảo sát sơ bộ về các từ điển – tự điển chữ quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai dòng chính tả được gọi là dòng ngoại nhập và dòng Việt hóa, theo đó đặc trưng của các từ điển thuộc dòng chính tả ngoại nhập là xếp mục vần theo ký tự (vốn được coi là âm vị) và xếp các từ theo âm vị, ví dụ C – Ch, G – Gi, T – Th – Tr… được xếp chung một mục mặc dù là những phụ âm đầu hoàn toàn khác nhau; còn đặc trưng của các từ điển thuộc dòng chính tả Việt hóa là xếp mục vần theo âm vị và xếp các từ theo âm tiết (chẳng hạn Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh tách C và Ch, K và Kh thành những mục khác nhau). Hay một đặc trưng khác của dòng chính tả ngoại nhập là thái độ ít thân thiện, nếu không nói là thường xuyên bài xích đối với âm vị y trong mảng từ Việt Hán, và cần nhấn mạnh rằng sau tháng 4/1975 sự thắng thế của nó đã được khẳng định với hàng loạt từ điển tiếng Việt bên cạnh một số văn bản pháp qui về lối viết i/y (Xem Cao Tự Thanh, I và Y trong chính tả tiếng Việt, NXB Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2014).  Tương tự, trên các phương diện khác cũng có tình hình qui đồng tiếng Việt về mẫu số ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ châu Âu, đến nỗi một nhà ngữ học xuất sắc đã phải nhiều lần la làng “về sự khác biệt lớn lao giữa thứ tiếng Việt mà dân ta nói và viết với thứ tiếng Việt được dạy ở nhà trường theo đúng tinh thần của các sách ngữ pháp tiếng Pháp xuất bản vào những năm 1920 – 1930” (xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, 1999). Có thể nói sự phát triển ngôn ngữ học ở Việt Nam là một bằng chứng điển hình về khuynh hướng quốc tế hóa1, chỗ khác nhau cơ bản giữa thời Pháp thuộc và sau Cách mạng Tháng Tám chỉ là quốc tế hóa cưỡng bức và quốc tế hóa tự nguyện, nhưng chính vì tự nguyện nên nguy cơ mất gốc càng cao. Có điều chính loại học thuật không tổng kết đủ, không lý giải đúng và do đó cũng không dự báo được về tiếng Việt ấy khi đưa vào nhà trường đã thực sự là một tác nhân đưa tiếng Việt tới chỗ trở thành một vườn ươm cho những mầm mống lai căng.  Một giải pháp trong tầm tay  Thật ra sự suy thoái của tiếng Việt đã diễn ra khá ồ ạt khoảng ba mươi năm nay trong đó nổi bật là việc hiểu sai dùng sai mảng từ Việt Hán. Có điều muốn hiểu đúng dùng đúng thì phải được dạy đúng, mà cho dù được dạy đúng thì vốn liếng tiếng Việt ngay cả của người tốt nghiệp đại học cũng không đủ giúp họ tiến hành được các hoạt động ngôn ngữ – văn tự một cách thuần thục và tự nhiên. Nhà trường không thể là nơi đào luyện năng lực hoàn chỉnh và phù hợp về ngôn ngữ, vả lại ngôn ngữ là một sinh thể luôn vận động và thay đổi, nên đó là một năng lực mà người ta phải tự rèn luyện suốt đời. Cho nên có thể nghĩ tới việc cung cấp điều kiện để mọi người có thể tự học sau khi rời khỏi nhà trường, nói rõ hơn là phải xác lập một hệ thống tiếng Việt có qui chuẩn và có những cách thức phù hợp để xã hội hóa nó. Một Từ điển tiếng Việt tổng hợp online có kèm chữ Hán, chữ Nôm và nguyên ngữ của những từ nước ngoài du nhập được Việt hóa để mọi người tra cứu hay tham khảo miễn phí trong hoàn cảnh mạng internet hiện nay hoàn toàn là một việc trong tầm tay.  Về đại thể, với một từ điển có nội dung tích hợp như thế người không biết chữ Hán cũng có thể thấy rõ hai từ tham quan (quan lại tham lam) và tham quan (tham dự quan sát) có tự hình khác nhau và ít nhất cũng không lầm từ sau thành thăm quan, người không biết tiếng Hoa được giải thích xường sám là trường sam (áo vạt dài) đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông thì sẽ không nói hay viết là sườn xám nữa. Học sinh sẽ viết là giấu diếm chứ không viết là giấu giếm nhờ hiểu sự khác biệt về âm đọc giữa d+iếm và gi+ếm, một số nhà báo cũng sẽ không tiếp tục đưa tin ai đó treo cổ hay nhảy xuống sông tự vẫn vì họ đã biết chữ vẫn có bộ đao tức cắt cổ bằng dao, hai lối tự chết kia là tự ải và tự trầm…  Những người thích tìm hiểu có thể thấy từ nghĩa trang vốn có nghĩa gốc là “điền trang làm việc nghĩa” do một số thương nhân và quan lại Trung Quốc từ thời Tống lập ra để giúp đỡ người trong tông tộc, việc nó được dùng để chỉ nơi chôn cất người chết như ở Việt Nam hiện nay chỉ mới xảy ra trong thế kỷ XX. Hay nhở trong nhắc nhở thật ra là nhớ chuyển thanh theo qui luật thanh điệu (cùng là thanh Phù), sau khi chuyển thanh vì có nét nghĩa qui ước khác với nhắc nhớ nên thành một từ mới, còn vì trong trị vì là vị chuyển thanh (cùng là thanh Trầm), trị vị là xử lý công việc trên ngôi, tức làm vua. Các từ ghép đẳng lập nửa Việt nửa Việt Hán như tôn thờ, nuôi dưỡng sẽ được lý giải, nguồn gốc của hai từ kinh tế (kinh bang tế thế) và kinh tế (economy) sẽ được giải thích rõ ràng. Những đậm đà điệu đà mặn mà mượt mà nuột nà ruột rà rườm rà thật thà thịt thà, chớn chở nức nở phớn phở trắc trở, gọn ghẽ sạch sẽ mát mẻ mới mẻ màu mè v.v sẽ được giải thích có hệ thống chứ không phải theo những phát kiến riêng lẻ bá láp, quan hệ ngữ âm giữa các cặp từ Việt Hán và Việt hóa loại phàm – buồm, phi – bay, phòng – buồng, phố – búa, phủ – búa, phụ – bố sẽ cho thấy búa trong chợ búa hoàn toàn không phải là bến trong câu Trên bến dưới thuyền… Hẳn hoi, thẩn thơ, vơ vẩn, ngơ ngẩn có quan hệ thế nào với hẳn hòi, thẩn thờ, vớ vẩn, ngớ ngẩn, quá trình biến đổi từ tha thiết tới se sắt, da diết, ra rít sẽ được trình bày mạch lạc.  Thứ tự các phụ âm đầu trong từ điển sẽ được sắp xếp ăn khớp với âm vị và âm tiết của tiếng Việt, ví dụ C và K, G và Gh phải dồn lại làm một; Ch, Kh và Gi phải tách riêng v.v.  Khoảng mươi nhà nghiên cứu và kỹ thuật viên lập trình có năng lực và kinh nghiệm biên soạn một từ điển như thế nhiều lắm cũng chỉ mất trên dưới bốn năm, so với một biên chế tương tự dạy tiếng Việt và chữ Hán trong trường đại học không mất nhiều thời gian hơn nhưng hiệu quả xã hội trên phương diện phổ biến tiếng Việt đúng qui chuẩn chắc chắn cao hơn. Tất nhiên việc sửa chữa và bổ sung định kỳ trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu mới và sự góp ý của dư luận phải được tiến hành, nhưng cho dù mỗi lần phải sửa chữa thêm bớt tới 10 – 15 % thì chi phí cũng không đáng kể vì không phải in ấn.  Một từ điển kết hợp nhiều lối giải thích như giải thích từ vựng (ý nghĩa từ), giải thích từ nguyên (nguồn gốc từ), giải thích từ pháp (cách tạo từ) như vậy nếu được thực hiện nghiêm túc và có phương pháp không chỉ có tác dụng trong việc dạy từ Việt Hán mà còn ít nhiều giống như tổng kết từ vựng tiếng Việt trước nay trong hoàn cảnh mới, sẽ có tác dụng lâu dài và chắc chắn tới việc tự học tiếng Việt của nhiều cá nhân trong nhiều năm.  ***  Nhìn từ góc độ xã hội hóa cá nhân, ngôn ngữ là một không gian xã hội mà mọi người đều phải nhập thân vào, một số người do nghề nghiệp còn phải thực hiện quá trình cá thể hóa nhưng ai cũng phải thực hiện quá trình tiêu chuẩn hóa. Cho nên khi chưa có một hệ thống ngôn ngữ được chuẩn hóa trước hết về từ vựng và chính tả thì quá trình ấy vẫn còn thiếu điều kiện để có thể được thực hiện ở tất cả các cá nhân và nhóm xã hội. Việc giáo dục trong nhà trường là một trong những cách xã hội hóa tiếng Việt chứ không phải là cách duy nhất, tóm lại giao trọn một nhiệm vụ to tát như thế cho những người vốn không thể thực hiện nó thì bất kể thế nào cũng không phải là một hành động khôn ngoan.  Khác với tiến trình quốc tế hóa, tiến trình hiện đại hóa luôn đòi hỏi kiểm điểm lại tất cả những nguồn lực truyền thống, nhìn nhận lại toàn bộ những kinh nghiệm quá khứ, trên cơ sở ấy cụ thể hóa truyền thống thành những bài học mới, những giá trị sống trong sinh hoạt thường nhật của mọi tầng lớp xã hội trên phạm vi toàn quốc gia. Đó chính là xuất phát điểm để nhìn nhận và thực hiện việc dạy tiếng Việt trong đó có mảng từ Việt Hán hiện nay. Dĩ nhiên không thể đòi hỏi một người bình thường có kiến thức, nhận thức và ý thức về các vấn đề ngôn ngữ nói chung hay tiếng Việt nói riêng như các nhà nghiên cứu, nhưng nếu được học một cách đúng hướng và đúng cách thì ai cũng có thể có một tâm thức ngôn ngữ lành mạnh phát huy được tác dụng tích cực trong các hoạt động ngôn ngữ – văn tự, và đó chính là nền tảng văn hóa – xã hội bền vững cho sự phát triển của tiếng Việt ngay cả trên những khúc quanh hiểm nghèo sẽ xuất hiện trong tương lai.  —————–  1 Hai khái niệm quốc tế hóa và hiện đại hóa dùng trong bài viết này dĩ nhiên còn cần có sự thảo luận, song chúng tôi quan niệm hiện đại hóa cơ bản là sự thay đổi các tổ chức, thiết chế, quan hệ trong cấu trúc kinh tế – xã hội theo hướng hoàn thiện hơn để phù hợp với nhu cầu và xu thế trước hết của các hoạt động sản xuất cả vật chất lẫn tinh thần trong quốc gia, còn quốc tế hóa chủ yếu là sự tiếp thu các mô hình, chuẩn mực, giá trị nước ngoài trên phạm vi rộng và với quy mô lớn để thích ứng trước hết với sự giao dịch thế giới. Xem thêm Cao Tự Thanh, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, NXB Văn hóa Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2012, tr. 46.       Author                Cao Tự Thanh        
__label__tiasang Nghĩa tình sâu nặng      Đó là cảm nhận của bạn bè, học trò thân thiết: GS.NGND Nguyễn Văn Chiển, nhà thơ Lê Đạt, Việt Phương, nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển, GS Hà Huy Khoái, GS Phan Đình Diệu trong buổi gặp mặt mừng Thầy Hoàng Tuỵ 80 tuổi do tạp chí Tia Sáng và báo Tuổi trẻ phối hợp tổ chức tại Tòa soạn Tia Sáng ngày 7.12.      Thay mặt “chủ nhà”, Phó tổng biên tập Hoàng Thu Hà bày tỏ lòng biết ơn về sự ưu ái, quan tâm đặc biệt của Thầy Hoàng Tụy dành cho Tia Sáng từ những ngày mới lập nghiệp. Những bài viết sâu sắc, những kiến nghị tâm huyết về phát triển khoa học và giáo dục của Thầy được dư luận đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đồng tình, đã góp phần quan trọng tạo nên diện mạo và uy tín của Tia Sáng. “Không những thế, dũng khí, sự kiên định, nhất quán trong quan điểm của Thầy trong mọi lĩnh vực của đời sống xã  hội thực sự là một tấm gương về nhân cách, đạo đức mà những người làm báo Tia Sáng noi theo”. Còn nhà báo Huỳnh Sơn Phước, Phó tổng biên tập báo Tuổi trẻ thì khẳng định: “Trí tuệ và bản lĩnh của GS Hoàng Tụy là chỗ dựa để Tuổi Trẻ có thể thẳng thắn đề cập đến nhiều vấn đề mà xã hội bức xúc, quan tâm về khoa học và giáo dục nước nhà. Dũng khí và sự nghiệp khoa học của GS là “tài sản” tinh thần lớn của tờ báo và của lớp trẻ”.        Ngày 6.12, Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân đã thay mặt Lãnh đạo Bộ đến chúc mừng GS Hoàng Tụy nhân 80 năm ngày sinh tại nhà riêng của GS. Thứ trưởng Nguyễn Quân đã chuyển lời của Bộ trưởng Hoàng Văn Phong trân trọng cám ơn những đóng góp đặc biệt lớn lao của GS đối với sự nghiệp phát triển khoa học của đất nước và chúc GS cùng gia đình khỏe, bình an. Chúc GS tiếp tục đạt được những thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học.        GS. NGND Nguyễn Văn Chiển, người mà trong một bài viết gọi “anh Tụy là một sĩ phu thời nay”, đã kể lại những ngày thật nặng nề khi có tới… 130 cuộc họp ở trường ĐH Tổng hợp cách đây hơn nửa thế kỷ, lên án GS Hoàng Tụy “thiếu tính giai cấp” trong việc đào tạo người tài. Ông tặng người bạn thân thiết của mình bài thơ:  Mừng nhà toán học tuổi tám mươi  Mặc cho thế sự cứ trêu ngươi  Một lòng son sắc không hề nguội  Chúc anh thọ mãi quá mười mươi.  Nhà thơ Việt Phương, một người bạn tâm giao của GS Hoàng Tụy quan niệm: “Người trí thức có năm điều: quý về tấm lòng; phục về tài  năng; tin về chính trị; trọng về văn hoá; yêu về phong cách – thì GS Hoàng Tụy là một trong những người xứng đáng nhất”. Nhà thơ Lê Đạt cũng chia sẻ: “Anh Tuỵ là một trong những trí thức Việt Nam mà tôi kính trọng”.  Là “đồng tác giả” với GS Hoàng Tụy trong bài báo “hơn 100 chữ mà hai người đứng tên” phê phán lối dùng chữ sáo rỗng của nhiều quan chức cách đây gần 20 năm, GS Phan Đình Diệu bày tỏ: “Tất cả anh em làm toán đều xem GS Hoàng Tụy là người đàn anh lớn. Không chỉ là về toán mà phong cách nghiên cứu, thái độ của người làm toán với cuộc đời”.  Là “học trò thầy Tuỵ” từ khi là sinh viên năm thứ nhất, sau này lại làm cùng Viện Toán trong một thời gian dài, GS Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán nói vui: “Việc GS Tụy bị “đẩy”  về Viện Toán lại là điều may  mắn cho Viện”. Cùng với GS Lê Văn Thiêm, GS Hoàng Tụy đã “định hình truyền thống vừa dân chủ, vừa nghiêm túc, hướng tới chuẩn mực quốc tế của Viện Toán. Truyền thống đó có lẽ được giữ mãi: Thầy Tụy không những dạy tôi Toán mà còn dạy tôi ý thức trách nhiệm của người trí thức.  Dũng khí, nhân cách của thầy Tụy là điều tôi luôn cố noi theo.  Với nhà văn Nguyên Ngọc, nhiều điều học được qua phẩm chất cao quí của Thầy Hoàng Tụy thực sự là may mắn, hạnh phúc lớn trong đời ông. “Ai cũng biết Hoàng Tụy là nhà toán học, khoa học lớn, nhà văn hóa lớn của đất nước. Song điều làm tôi rất bất ngờ đó là khía cạnh hết sức tình người, đồng nhất với dũng khí của Thầy. Hôm qua, tại nhà riêng trong buổi vui cùng với học trò, Thầy hai lần nhắc đến một người học trò gái tài năng mất đã lâu. Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ hết kinh ngạc về Thầy Tụy. Đến tuổi này, Thầy vẫn làm khoa học, hằng năm vẫn có công trình công bố quốc tế. Sức làm việc của Thầy thật kỳ lạ”. Có lẽ chính sự kỳ lạ này khiến GS Phạm Duy Hiển từ tuổi thơ đã coi thầy Hoàng Tụy là thần tượng, đến nay tóc đã bạc giống Thầy, ông lại tự hào khi được vài người “phê phán” là đã có cùng một số quan điểm với Thầy.                Ông già tuyết đến từ phương Nam Takahito Kuno, Đại học Tsukuba  Lúc còn là sinh viên, tôi cho rằng Tuy hoặc Tui là tên khoa học của nhát cắt lõm, một công cụ tuyệt vời để giải các bài toán cực tiểu lõm. Tất nhiên, tôi biết đây là tên của một ai đó nhưng người này phải lả một dạng nhân vật nổi tiếng của quá khứ.      Khoảng năm 1990, người hướng dẫn của tôi là GS Konno giới thiệu tôi với GS H.Tụy và con rể của ông là TS P.T.Thạch. Khi đó tôi mới có thể hình dung tên Tuy với một người còn sống chứ không phải là một công cụ của tối ưu toàn cục. Thực sự là tôi hơi thất vọng khi thấy người phát minh ra công cụ tuyệt vời này là một người đàn ông tóc bạc nhỏ bé. Tuy nhiên, ngay khi ông kết thúc bài giảng, ông đã trở thành một người hùng đối với tôi. Bây giờ tôi mới biết ông không phải là một người của quá khứ mà là một nhà nghiên cứu loại một đang đóng một vai trò tích cực ở tuyến đầu trong cộng đồng toán học quốc tế.      Sau đó, GS Tuy nhiều lần đến thăm Nhật. Lần nào ông cũng đem đến cho chúng tôi những món quà tuyệt đẹp là những ý tưởng toán học. Đúng vậy, ông như là một ông già tuyết từ phương nam đến thăm chúng tôi, những nhà nghiên cứu Nhật.      Lý do tôi gọi ông là ông già tuyết không chỉ có vậy. Ông không có tuổi! Mặc dù ông đã là một người tóc bạc khi tôi gặp ông lần đầu, ông vẫn là ông như thuở ban đầu.          Trước nghĩa tình sâu nặng của bạn bè, đồng nghiệp, học trò và những người làm báo giành cho mình, GS Hoàng Tụy xúc động đáp từ: “Tôi xin cảm ơn Tạp chí Tia Sáng và báo Tuổi trẻ đã tạo cho tôi qua các bài viết cơ hội được thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình đối với sự nghiệp phát triển khoa học, giáo dục của nước nhà. Tôi gửi gắm niềm tin, sự cảm phục đối với những người làm báo Tia Sáng và Tuổi trẻ đã tôn trọng sự thật, dám nói sự thật trong những thời điểm khó khăn nhất”. Ông bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng cho tương lai của thế hệ trẻ trước những vấn nạn và tiêu cực trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội chậm được khắc phục. Và khẳng định sẽ tiếp tục dành sức lực, tâm huyết đồng hành cùng với Tia Sáng và Tuổi trẻ góp phần vào sự nghiệp phát triển khoa học và giáo dục vì sự phồn vinh của đất nước, tương lai tốt đẹp cho thế hệ trẻ.  Với bạn bè, đồng nghiệp, những người ở các cương vị khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng đều nặng lòng với đất nước, những người không chỉ đồng cảm với Thầy trong nhiều suy nghĩ, ý tưởng mà còn nhiều năm gắn bó, giúp đỡ Thầy trong đời sống và công việc, Thầy nói: “Có được những người bạn, đồng nghiệp như vậy thật là hạnh phúc đối với tôi”.  Đúng như nhà thơ Việt Phương “với những người có tấm lòng, có tài năng, bản lĩnh thì cuộc đời rất công bằng”. Dù đã nhận được nhiều sự tôn vinh, giải thưởng của Nhà nước và cộng đồng toán học quốc tế, nhưng chắc hẳn không có sự tôn vinh nào làm Thầy Hoàng Tụy vui hơn khi được biết có trên 500 bạn đọc đã gửi thư nhờ Tia Sáng và Tuổi trẻ chuyển lời chúc mừng và sự kính trọng đến Thầy nhân 80 năm ngày sinh.      P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang NGHỊCH LÝ VÀ LỐI THOÁT: triết lý phát triển Khoa học và Giáo dục Việt Nam      Mới đây, chúng tôi vừa được xem quyển Nghịch lý và lối thoát-Bàn về triết lý phát triển Khoa học và Giáo dục Việt Nam của GS Vũ Cao Đàm (NXB Thế Giới, 2014) thì đang bi quan lại cảm thấy lạc quan lên được đôi chút, phần vì thấy tuổi ông đã khá cao mà “tâm thần vẫn chưa can”, còn đầy tâm huyết; phần khác nhận thấy nội dung sách cung cấp được nhiều thông tin và nhận định khách quan, trung thực, đôi chỗ có thể gọi là táo bạo…, phi là người quan tâm tha thiết với sự nghiệp giáo dục nước nhà thì không ai bỏ công làm được như thế.      Những năm gần đây, không kể nhiều bài báo lẻ rải rác đó đây, được biết đã có không ít sách bàn về cải cách giáo dục của một số tác giả tâm huyết với tiền đồ dân tộc, như có thể kể vài sách nổi bật của nhà xuất bản Tri Thức: Những vấn đề giáo dục hiện nay: Quan điểm và Giải pháp của nhiều tác giả (2007), Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010) do Nguyễn Xuân Xanh chủ biên (2011), Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng của Hoàng Tụy (2012, tái bản năm 2013)… Trong những sách vừa kể, các tác giả đã vạch ra khá đầy đủ và một cách hệ thống, hợp tình hợp lý giải pháp cho nền giáo dục Việt Nam, chỉ ra cho nó lối thoát, nhưng rất tiếc do bị trói buộc bởi những điều kiện chính trị-xã hội nghiệt ngã, hầu hết các ý kiến đều chưa được đem ra thực hiện, hoặc chỉ thực hiện một cách vá víu nửa vời. Đặc biệt, GS Hoàng Tụy rất nhiều lần đã đưa ý kiến cho vấn đề cải cách giáo dục, đạo đạt lên nhiều nhà lãnh đạo cấp cao, nhưng chẳng khác như Mạnh Tử, Mặc Tử… ở Trung Quốc thời cổ, đi mòn gót giầy thuyết phục các vua chư hầu cải cách chính trị, đạo đức nhưng người ta chỉ gật gù khen hay thôi chứ chẳng ai có thực tâm thực hiện, hoặc giả cũng có chút thiện chí nhưng lực bất tòng tâm!  Mới đây, chúng tôi vừa được xem quyển Nghịch lý và lối thoát-Bàn về triết lý phát triển Khoa học và Giáo dục Việt Nam của GS Vũ Cao Đàm (NXB Thế Giới, 2014) thì đang bi quan lại cảm thấy lạc quan lên được đôi chút, phần vì thấy tuổi ông đã khá cao mà “tâm thần vẫn chưa can”, còn đầy tâm huyết; phần khác nhận thấy nội dung sách cung cấp được nhiều thông tin và nhận định khách quan, trung thực, đôi chỗ có thể gọi là táo bạo…, phi là người quan tâm tha thiết với sự nghiệp giáo dục nước nhà thì không ai bỏ công làm được như thế.  Đọc vào bên trong, lại càng thấy đây là một công trình không chỉ nghiên cứu khoa học giáo dục đơn thuần mà còn nỗ lực đưa ra suy nghĩ/ đề đạt giải pháp có tính tập đại thành, trên cơ sở tổng hợp tư liệu phong phú và nhờ đó trình bày một cách tường tận đi vào ngóc ngách bộ mặt thật của đối tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể Việt Nam, của một người từng ở lâu năm trong ngành giáo dục, và từng được dịp tiếp cận với thực tiễn giáo dục nhiều nước trên thế giới, cả ở khối XHCN như Việt Nam lẫn nhiều nước phương Tây tiên tiến khác.              Triết lý KH&GD ở nước ta mang trên mình những khuyết tật có tính  hệ thống; những khuyết tật đó không thể sửa chữa vặt mang tính chắp vá,  mà phải “tư duy lại” xuất phát từ một cách tiếp cận hệ thống; bản chất  cốt lõi của luồng tư duy đó là: Trả lại quyền tự trị cho KH&GD, và  Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý vĩ mô…            Sách gồm cả thảy ba phần, bảy chương. Phần thứ nhất là “Cơ sở lý luận về triết lý khoa học và giáo dục”, nhưng những điều đáng chú ý có lẽ tập trung nhiều hơn ở Phần thứ hai, “Quá trình diễn biến triết lý khoa học và giáo dục Việt Nam” gồm hai chương 3 và 4 (từ trang 133 đến hết trang 232). Trong khuôn khổ rất giới hạn của bài báo này, không thể thuật lại chi tiết dài dòng nên chỉ xin nhắc qua vài điểm chính dựa theo những phần “tiểu kết” sau mỗi chương của tác giả.  Ở tiểu kết Chương 3 (tr.164), trên cơ sở phân tích so sánh giữa hai nền giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc, tác giả nhận định hệ thống khoa học và giáo dục (KH&GD) thuộc Việt Nam Cộng hòa (trước đây) đi theo thiết chế tự trị, còn giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) lại đi theo triết lý Nhà nước độc tôn làm khoa học. Không thể phủ nhận một thực tế, giáo chức và nhà khoa học miền Nam (từ thời Bảo Đại trở đi, 1949-1975) đã phát triển một hệ thống KH&GD phù hợp xu thế phát triển của thế giới đương đại, và hệ thống này bị khép lại sau khi nước Việt Nam thống nhất theo mô hình các nước XHCN (1975), nhưng chúng ta thấy hiện nay nó đang dần tái hiện lại hình hài của hệ thống KH&GD mà cộng đồng KH&GD miền Nam đã xây dựng trong những năm trước 1975. Do vậy, “Nghiên cứu nghiêm túc những bài học kinh nghiệm của cộng đồng KH&GD miền Nam chắc chắn sẽ góp một phần rất quan trọng vào việc xây dựng một thiết chế KH&GD tự trị, phù hợp quy luật phát triển của KH&GD hiện nay” (tr. 164).     Chương 4 (từ trang 165 đến 231) nêu một cách chi tiết với nguồn tài liệu dẫn chứng sinh động từ thực tế “Những khuyết tật trong hệ thống KH&GD Việt Nam”, làm cho nền KH&GD Việt Nam dường như không lối thoát. Theo đó, như đã nêu ở phần tiểu kết: 1. Triết lý KH&GD ở nước ta mang trên mình những khuyết tật có tính hệ thống; 2. Những khuyết tật đó không thể sửa chữa vặt mang tính chắp vá, mà phải “tư duy lại” xuất phát từ một cách tiếp cận hệ thống; 3. Bản chất cốt lõi của luồng tư duy đó là: (1) Trả lại quyền tự trị cho KH&GD, và (2) Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý vĩ mô…  Phần ba (ba chương 5, 6 và 7) “Bàn về biện pháp cải cách triết lý KH&GD Việt Nam”, với kết luận ở cuối Chương 7 (tr.392) đại khái cho rằng việc tái cấu trúc hệ thống KH&GD trên cơ sở tự trị, phù hợp xu hướng hội nhập quốc tế và bằng chính sách thực hiện mềm dẻo không câu nệ mệnh lệnh hành chính là một tất yếu khách quan, trên con đường cải cách từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường…  Cuối sách còn có ba phụ lục rất bổ ích cho những người quan tâm nghiên cứu việc cải cách giáo dục, gồm: (1) Tuyên ngôn Bologna 1999 (bản tiếng Pháp), (2) Báo cáo của Jacques Delors, UNESCO (bản tiếng Pháp); (3) Báo cáo của Jacques Delors, UNESCO (bản tiếng Anh).  Bỏ qua vài khuyết điểm nhỏ về tính thiếu minh bạch của khái niệm “triết lý giáo dục” (như thường lẫn lộn giữa chính sách, phương pháp giáo dục với triết lý giáo dục đúng nghĩa…), và đôi chỗ về cấu trúc trình bày (như dừng lại hơi thừa ở chỗ nói về nạn “quay cóp”…), công trình tâm huyết Nghịch lý và lối thoát của tác giả Vũ Cao Đàm, với tác dụng tích cực của nó, sẽ góp thêm một tiếng kêu lớn bức xúc đòi hỏi cải cách nền KH&GD Việt Nam nhằm mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho sự phồn vinh của đất nước.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu khoa học: Vùng lõm của giáo dục đại học      Giáo dục đại học (GDĐH) sẽ chỉ có thể đổi mới căn bản và toàn diện khi dựa trên ‘tam giác chức năng’ với ba trụ đỡ có quan hệ biện chứng với nhau để làm thành một chỉnh thể; đó là: (i) ‘hạt nhân cơ bản’ là đào tạo theo nhu cầu xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, nhu cầu của hội nhập quốc tế; (ii) ‘điểm nhấn’ quan trọng là đẩy mạnh nghiên cứu khoa học (NCKH) và (iii) ‘công cụ hỗ trợ’ là cải cách hành chính nhằm tối giản các thủ tục và cách hành xử ‘hành chính’.      Nguồn minh họa: Nature.  Song song với việc đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội về tri thức và kĩ năng, giáo dục đại học còn có một nhiệm vụ rất thiêng liêng và cao quí là ‘dẫn đường” cho xã hội phát triển, nghĩa là GDĐH phải ‘đi trước’, chứ không phải chỉ biết đi sau, minh họa cho những cái đang xảy ra hằng ngày trong cuộc sống. Muốn dẫn đường thì tất yếu GDĐH phải có NCKH, cả nghiên cứu cơ bản để đóng góp vào nền văn minh nhân loại, và nghiên cứu ứng dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.    Nhưng ‘vùng lõm’ sâu nhất của GDĐH Việt Nam chính là NCKH; nó cần được ‘lấp đầy’ trước hết, để cùng với lực kéo của nhu cầu xã hội, của nhu cầu hội nhập, của khát khao học hỏi của người dân, thì lực đẩy của NCKH trong các trường đại học (ĐH) sẽ tạo ra những bước đột phá để chấn hưng GDĐH, để nâng cao chất lượng dạy và học ĐH, để hội nhập với bè bạn quốc tế về GDĐH.    KH&CN trong thời đại ngày nay phát triển rất nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với bất cứ thời kỳ nào trước đó; thêm vào đó, tính tương tác giữa các lĩnh vực KH&CN với giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là rất lớn, nghĩa là sự phát triển của lĩnh vực này thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lĩnh vực kia và ngược lại.  Sự phát triển nhanh chóng của KH&CN đòi hỏi GD&ĐT phải cung cấp cho nó nguồn nhân lực tương ứng; và đến lượt mình, GD&ĐT đã luôn được làm tươi mới nhờ KH&CN. Sự phát triển KH&CN là động lực của GDĐH, là ‘nội năng’ của quá trình đổi mới GDĐH; tác động vào ‘điểm nhấn’ này thì như một phản ứng dây chuyền, các ‘nội hàm’ khác của GDĐH cũng sẽ phải thay đổi theo. Nói cách khác, để hội nhập và phát triển, chính NCKH sẽ làm thay đổi căn bản và toàn diện GDĐH, đẩy nhanh quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn của GDĐH Việt Nam với GDĐH thế giới.      Chính NCKH sẽ làm thay đổi căn bản và toàn diện GDĐH, đẩy nhanh quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn của GDĐH Việt Nam với GDĐH thế giới.      Để GDĐH thực sự là GDĐH, không còn là ‘phổ thông cấp bốn’ thì NCKH phải thực sự trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, ngang bằng với giảng dạy (nếu không muốn nói là hơn), như các trường ĐH ở các nước phát triển đã làm, và sau đó một số nước đang phát triển khác đã khôn ngoan học theo.  Một số khuyến nghị     Nhà nước cần ban hành các chính sách có liên quan đến nâng cao chất lượng đào tạo, cụ thể là:    1) Trước tiên, với đào tạo nghiên cứu sinh (NCS), nguồn nhân lực quan trọng cho nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học trong thời gian tới:    Với Thông tư 18 vừa qua của Bộ Giáo dục và đào tạo về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ cần (i) giữ nguyên yêu cầu bài báo quốc tế với cả thầy, trò và các thành viên hội đồng, nhưng yêu cầu cụ thể hơn: NCS phải là tác giả chính (tác giả thứ nhất hoặc tác giả liên hệ) của bài báo khoa học đó; (ii) giữ nguyên chuẩn tiếng Anh như cũ (tối thiểu 72 điểm TOEFL iBT); (iii) yêu cầu cao hơn về công bố quốc tế với người hướng dẫn và thành viên Hội đồng: (iv) công khai toàn văn luận án, ý kiến của các phản biện và thành viên hội đồng trên mạng của cơ sở đào tạo và của Bộ GD&ĐT; (v) Các tiêu chuẩn về công bố quốc tế và trình độ tiếng Anh cũng nên được áp dụng cho các thành viên hội đồng giáo sư nhà nước. Đối với khối ngành KHXH&NV, nếu có nhiều khó khăn trong quá trình quốc tế hóa, NCS chưa đáp ứng được yêu cầu công bố ngay thì nhà nước nên đầu tư cho việc chuyển ngữ để công bố các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực này ra tiếng Anh như đã từng đầu tư cho đề án 322 hay 911 về đạo tạo NCS tại nước ngoài.    Nhà nước đã bỏ ra nhiều triệu USD cho các đề án 322, 911 về đào tạo NCS ở nước ngoài thì cũng nên đánh giá xem được mất thế nào để xác định hướng đi tiếp. Để đào tạo một NCS ở nước ngoài, Nhà nước có thể bỏ ra cả chục, cả trăm ngàn USD; nhưng chúng ta chưa đầu tư một phần nhỏ như vậy để đào tạo NCS trong nước đang ngày càng yêu cầu phải đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Một sự bất công không nhỏ! Chúng ta có thể đào tạo NCS chất lượng cao với chi phí thấp, nhưng không thể đào tạo ra NCS chất lượng cao với chi phí rẻ mạt được.    Để tạo động lực cho NCS, có ba loại động lực là tinh thần, vật chất và môi trường làm việc. Chúng ta cần đảm bảo rằng nếu NCS nghiên cứu khoa học đạt tới chuẩn mực quốc tế, họ sẽ được đảm bảo thu nhập để không phải làm thêm ngoài chuyên môn, điều kiện làm việc tương ứng với tài năng, được xã hội vinh danh, và được thăng tiến trong nghề nghiệp. Trong bốn năm học, NCS xuất sắc cũng phải được cấp học bổng ít nhất bằng ½ học bổng mà Chính phủ cấp cho NCS đi học tập ở nước ngoài theo Đề án 322 và 911, để NCS yên tâm học tập và nghiên cứu toàn thời gian.    2) Chấp nhận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong GDĐH. Nhà nước cần có chính sách quốc tế hóa càng sớm càng tốt về GD&ĐT, KH&CN và làm cho điều đó trở nên phổ biến và thông dụng trên thực tế. Do đó, với quản lý KH&CN trong các trường đại học, phải lấy công bố quốc tế hoặc phát minh sáng chế là một tiêu chí trong việc đề bạt và bổ nhiệm cán bộ làm công tác quản lý KH&CN.      Trung tâm Nano và Năng lượng, Trường đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội.    Nên áp dụng cơ chế “hậu kiểm” với giáo sư, phó giáo sư – những người sẽ có ảnh hưởng và dẫn dắt nhiều thế hệ khoa học: nếu sau năm năm họ không có bài trên ISI và Scopus hay tạp chí tiếng Anh trong nước, thì nên chuyển thành Emeritus Professor (GS danh dự), để bảo lưu một thời kỳ vàng son, ghi dấu những tháng ngày gian khó và vinh quang họ đã dấn thân cho NCKH. Vì là ‘GS thật’ thì hiển nhiên là phải công bố quốc tế hay ít ra là có bài báo khoa học bằng tiếng Anh trên các tạp chí khoa học thuộc danh mục tạp chí của HĐGSNN, bài báo ấy phải có phát hiện mới, đóng góp mới cho ngành khoa học, cho tiến bộ xã hội. Làm như thế cũng là để xã hội thấy rằng, nghiên cứu khoa học đòi hỏi lao động vô cùng vất vả, cực nhọc, đòi hỏi một sự cố gắng rất lớn, thường xuyên và liên tục. GD&ĐT không phải là “chiếu nghỉ chân” cho các nhà hoạt động chính trị!    3) Hình thành cơ chế Quỹ KH&CN: cần thành lập các quỹ nghiên cứu đủ mạnh, nghĩa là đủ lớn về quy mô và đủ minh bạch trong quản lý tài chính. Để nuôi dưỡng, hỗ trợ và khuyến khích NCKH, các nước đều có các quỹ cấp cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp (dưới nhiều dạng như: fellowship, scholarship, student grant), trong đó có nguồn dành cho các giáo sư dùng để cấp học bổng cho NCS. Có thể kể ra đây rất nhiều quỹ như vậy, ví dụ như NHMRC, ARC của Úc, NRF của Mỹ, DFG của Đức, RRF của Thái, MEXT của Nhật, v.v… Một số nước còn có quỹ riêng hỗ trợ NCS tiến sĩ làm nghiên cứu, như The National Science Foundation Graduate Research Fellowship Program (NSFGFP) của Mỹ, Royal Golden Jubilee (RGJ), Doctoral Fellowship Program của Bộ Giáo dục Thái Lan, v.v…Việc phân phối kinh phí nghiên cứu dựa vào tiêu chí duy nhất là chất lượng nghiên cứu trước đó của nhà khoa học, của nhóm nghiên cứu, của các nhân NCS. Các quỹ do một Hội đồng các nhà khoa học điều hành, nhà nước không can thiệp. Ở một số trường ĐH của Nhật như ĐH Ritsumeikan còn có thêm một quỹ đặc biệt để khuyến khích NCKH gọi là Matching Funds, dành để thưởng thêm cho những người đã giành được kinh phí nghiên cứu từ một quỹ khác.    Ở nước ta cũng đã có Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED) – dù có đóng góp rất quan trọng vào tiến trình hội nhập, nâng cao số lượng và chất lượng công bố quốc tế trong thời gian qua nhưng còn quá nhỏ. Chúng ta cần nhân rộng mô hình này, và NAFOSTED nên là một quỹ độc lập, không thuộc một bộ ngành nào, như tiền lệ các nước đang làm, đồng thời mở rộng thêm các quỹ khác, nhất là các quỹ hỗ trợ NCS.      Chúng ta chưa khởi tạo được một cuộc cách mạng thực sự trong GDĐH mà mới chỉ là những cải tiến nặng tính tình thế và vì thế nhiều khi thành ra chắp vá.      4) Môi trường làm việc: Các nhà khoa học cần kinh phí nghiên cứu, nhưng trong nhiều trường hợp, tài chính không phải là cái quyết định số 1, mà môi trường làm việc, tự do học thuật và tự chủ quản trị còn quan trong hơn.    Chỉ có tự do và tự chủ học thuật mới mở cửa cho sức sáng tạo không biên giới trong nghiên cứu khoa học. Giáo sư Trương Duy Nghênh, (Zhang Weiying,  蠟郭短), Đại học Bắc Kinh, từng nói phát biểu với sinh viên: “Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể chia cắt, khi tư tưởng không tự do thì hành động không thể tự do; khi ngôn luận không được tự do thì tư tưởng không thể tự do. Chỉ có tự do thì mới có sáng tạo”1. Việt Nam nên tham khảo ý kiến này.    Trường đại học và viện nghiên cứu là các tổ chức học thuật, hàn lâm – nơi nhà nước cần có phương cách quản lý riêng, không thể áp dụng một mô hình quản lý chung như với các cơ quan nhà nước thông thường. Các nhà khoa học cần làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, nghĩa là họ có quyền tự chủ và tự trị tương đối, chứ không phải tự chủ như hiện nay là cắt kinh phí chi thường xuyên và giao quyền tự chủ trên giấy nhưng lại trói buộc trên thực tế. Chúng ta phải thừa nhận sự lãng phí kinh khủng đang xảy ra khi những NCS và học viên cao học từ nước ngoài trở về sau khi hoàn thành đào tạo nhờ học bổng của các Đề án 322, 911, nhưng lại không được nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác trong nước tiếp sức. Họ phải nhận mức lương ít ỏi theo ngạch bậc mà ai cũng biết là không đủ sống, rồi phải lo chạy đề tài và buộc phải không trung thực như cha anh họ. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục cung cách quản lý cũ, thì nhiều triệu USD lại đổ xuống sông xuống biển, chỉ có tác dụng làm đẹp các tấm danh thiếp, cũng không khác gì các ‘tiến sĩ giấy’ khác!    Một môi trường khoa học chân chính là nơi có các nhà khoa học đầu ngành, các nghiên cứu viên, các trợ lý nghiên cứu và các NCS cùng làm việc với nhau nhưng không có thứ bậc trên dưới, chỉ có sự thật được khẳng định qua văn hóa tranh biện thẳng thắn, trung thực và công bằng, nơi năng suất khoa học là thước đo quyết định vị thế của mỗi người, không có gì khác; ở đó vừa có tự do sáng tạo, vừa có cạnh tranh, vừa có trách nhiệm công dân của các nhà khoa học.    Môi trường làm việc như vậy sẽ tạo ra các nhóm làm việc chuyên nghiệp và ngược lại: các nhóm làm việc sẽ tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp cùng uy tín nghề nghiệp của chính họ, từ đó mà hình thành các trường phái khoa học có tên tuổi. Khi đã có một tập thể khoa học mạnh với môi trường làm việc chuyên nghiệp thì những khó khăn về tài chính sẽ được giải quyết, nhóm các nhà khoa học này sẽ liên tục nhận được các hợp đồng NCKH của các khách hàng trong và ngoài nước, nhiều nhà khoa học và sinh viên nước ngoài tìm đến với họ, nhiều hội nghị khoa học quốc tế mời họ cộng tác.    5) Phân loại và phân hạng các trường ĐH: Để tránh cho những người trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài về rơi vào cái vòng xoáy hiện tại, thì cần thành lập một số cơ sở nghiên cứu mới có đủ điều kiện ngay trong các trường đại học để họ làm việc và vận dụng những gì đã học ở nước ngoài vào điều kiện cụ thể của nước ta. Mục tiêu của các cơ sở này là đưa các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lên tầm cao mới, đủ khả năng công bố quốc tế, đủ khả năng có những sáng chế, phát minh, đồng thời chịu trách nhiệm đào tạo cán bộ nghiên cứu nòng cốt cho tương lai. Cơ chế hoạt động của các cơ sở nghiên cứu này phải hoàn toàn khác so với các cơ sở hiện có trong nước, tạo điều kiện hình thành môi trường tự do và sáng tạo như đã được đề cập.    Chúng ta cần phân loại và phân hạng các trường đại học, chỉ những đơn vị đáp ứng các tiêu chí về nghiên cứu, công bố, sáng chế hoặc chuyển giao công nghệ mới được đầu tư thành lập các trung tâm được đầu tư như vậy. Còn lại là những trường chỉ chuyên đào tạo, và có những trường vừa nghiên cứu vừa đào tạo với những yêu cầu khác nhau, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội. Ở trong mỗi trường cũng vậy, không nhất thiết đã là giảng viên thì phải nghiên cứu, họ có thể chuyên dạy để cho các đồng nghiệp khác của họ tập trung thời gian và sức lực cho công việc NCKH.    6) Cần khuyến khích và tạo điều kiện để thành lập các nhóm liên kết nghiên cứu liên ngành và đa ngành trong mỗi trường/viện và giữa các trường/viện, không phụ thuộc vào ‘biên giới’ quản lý hành chính của các viện/trường. Nhóm là tập hợp các nhà khoa học có cùng chí hướng và cùng đam mê về một lĩnh vực nghiên cứu nào đó, là thành viên của các khoa, trung tâm, trường, viện khác nhau, tự nguyện cùng làm việc dưới sự dẫn dắt của một hay vài giáo sư nhiệt huyết, công tâm, có khả năng lãnh đạo và biết tập hợp lực lượng. Các nhà khoa học này là những người đang có nhiều công trình công bố quốc tế, hoặc là có nhiều bằng phát minh, sáng chế, hoặc cả hai, có hướng nghiên cứu rõ ràng, họ có quyền quyết định trả lương, tuyển dụng hay thải hồi cán bộ nghiên cứu theo những dự định phát triển của phòng thí nghiệm, của nhóm nghiên cứu. Trưởng nhóm nghiên cứu  có thể (và nên là) các nhà khoa học trẻ triển vọng. Họ có quyền đăng ký đề tài nghiên cứu và chứng minh tiềm lực và tiềm năng nghiên cứu của họ bằng các sản phẩm đã ‘trình làng’ (bằng phát minh, sáng chế, bài báo quốc tế, các sản phẩm đã được thương mại hoá hoặc các ‘bán thành phẩm’ mà họ đã nắm được bí quyết công nghệ, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ, cần tiếp tục tìm giải pháp công nghệ để hạ giá thành sản xuất, v.v…). Người quản lý kinh phí nghiên cứu (các Quỹ khoa học) giao kinh phí nghiên cứu cho nhóm tác giả này (trả tiền qua sản phẩm) không cần quan tâm nhiều đến việc những nhà khoa học ấy thuộc ‘biên chế’ của trường và viện nào. Từ các nhóm nghiên cứu như vậy sẽ dần hình thành các trường phái KH&CN riêng, thành các ‘Trung tâm xuất sắc – Center of Excellence’ trong hoạt động KH&CN. Mô hình này đã xuất hiện ở một vài trường ĐH.    7) Xem xét và quyết định sáp nhập các viện nghiên cứu chuyên ngành về các trường đại học, nhất là các trường đã tự chủ. Trong lịch sử phát triển GDĐH Việt Nam, một số viện này vốn thuộc các trường đại học, về sau do tầm nhìn và chiến tranh bị xé lẻ thành các viện đơn ngành và nay thuộc một hay nhiều cơ quan chủ quản khác nhau. Làm như thế, các trường và các viện không chỉ mạnh lên về NCKH mà còn mạnh them về đào tạo và dịch vụ xã hội, đồng thời giải quyết được câu chuyện giảm đầu mới, giảm biên chế của Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 29/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đang được triển khai rất chậm chạp, thậm chí có bộ ngành làm chiếu lệ, đối phó, ko thực chất.  ***  Nỗi day dứt lớn nhất của các nhà giáo, nhà khoa học nước ta hơn 30 năm qua là sau ‘đổi mới’, trong khi nền kinh tế của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng, có một số lĩnh vực còn phát triển tốt hơn cả dự kiến, thì GDĐH dù đã có những thay đổi nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Chúng ta chưa khởi tạo được một cuộc cách mạng thực sự trong GDĐH mà mới chỉ là những cải tiến nặng tính tình thế và vì thế nhiều khi thành ra chắp vá.    Có lẽ chính vì nỗi day dứt ấy mà cuộc tranh luận xung quanh tiêu chuẩn đào tạo tiến sĩ, mà gần đây là Thông tư 18 của Bộ GD&ĐT, vẫn đang diễn ra sôi nổi mà chủ yếu bàn về việc làm sao đào tạo NCS tiệm cận dần các chuẩn mực quốc tế. Đây cũng là dịp để chúng ta nhìn xa hơn một Thông tư để cùng thảo luận cho những đổi mới thực chất và căn bản đối với GDĐH, mà trọng tâm là đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học. □  ——-  1 Xem “Không có tự do tư tưởng thì không thể có sáng tạo” của Trương Duy Nghênh, Giáo sư Đại học Bắc Kinh, bản dịch của Nguyễn Hải Hoành.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Nghiên cứu tổng thể đầu tiên về VNEN      Mô hình trường học mới (VNEN) được thực hiện thí điểm trong ba năm và đã tạo ra những tranh luận xã hội trái ngược, thậm chí có sự “phân hóa” sâu sắc trong chính ngành giáo dục. Trong khi một số tỉnh như Hà Tĩnh phản đối gay gắt và có quyết định sẽ dừng triển khai đại trà VNEN thì một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh ra thông báo chính thức về việc sẽ tiếp tục mô hình này. Cho đến tháng 8 vừa qua, một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), được thực hiện với sự hợp tác của Viện Nghiên cứu phát triển Mekong đã đánh giá tổng thể về tác động mô hình trường học mới VNEN.      Học sinh học theo mô hình trường học mới VNEN. Ảnh: Lao động.  Những ai muốn thay đổi mô hình giáo dục truyền thống?  Nền giáo dục phổ thông truyền thống hiện nay vẫn đang duy trì mô hình sư phạm không đổi là giảng – nghe, đọc – chép. Điều đó làm hạn chế khả năng giao tiếp và tư duy phản biện của học sinh, về lâu dài khiến trẻ khó có khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, và không thể trở thành người có tư duy phê phán, thiếu kỹ năng lãnh đạo, quản lý và làm việc nhóm. Hệ quả là đa số người lao động Việt Nam thiếu kỹ năng trong việc ra quyết định, tổ chức công việc, làm việc nhóm, tính sáng tạo và tự chủ… theo báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2014 của WB. Để khắc phục những nhược điểm trên và đáp ứng được đòi hỏi về nguồn nhân lực trong thế kỷ 21, Bộ GD&ĐT với sự hỗ trợ của WB đã áp dụng thí điểm mô hình trường học mới VNEN cho 1447 trường tiểu học trên cả nước với mục tiêu tập trung vào nâng cao kỹ năng mềm cho học sinh, gồm kỹ năng lãnh đạo, làm việc nhóm, tự chủ, độc lập, sáng tạo… thông qua đổi mới phương pháp tổ chức dạy học trong lớp học nhằm kích thích tối đa sự chủ động của học sinh. Ví dụ, thay vì nhìn lên bảng xem thầy cô giảng bài một cách thụ động, mô hình VNEN cho phép học sinh ngồi theo nhóm và tìm tòi, khám phá kiến thức mới, trao đổi, giải quyết vấn đề trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên. Dự án mô hình trường học mới VNEN bắt đầu được thực hiện từ năm học 2013 – 2014 tập trung vào ba nội dung chủ yếu gồm thay đổi phương pháp dạy (chuẩn kiến thức trong SGK giữ nguyên nhưng cách trình bày SGK có điều chỉnh để phù hợp với hoạt động tự đọc hiểu và thảo luận trên lớp của học sinh), tập huấn giáo viên và hỗ trợ cơ sở vật chất chủ yếu gồm dụng cụ học tập, tủ sách, SGK/ sách hướng dẫn học cho 1447 trường trong dự án. Tuy nhiên, liệu nhu cầu thay đổi mô hình giáo dục từ giảng – nghe sang mô hình lấy học sinh làm trung tâm của sáng tạo có phải chỉ là ý chí chủ quan được “áp” từ trên xuống? Giáo viên và phụ huynh có đánh giá như thế nào về chủ trương này?  Nghiên cứu đánh giá tác động của mô hình VNEN được thực hiện theo phương pháp khác biệt kép (difference in difference) là phương pháp đánh giá và đo lường tác động khoa học và tối ưu. Để đánh giá tác động của VNEN tới các trường trong Dự án này [1], số liệu được thu thập trên 651 trường trong đó có 325 trường thuộc Dự án VNEN và số còn lại là các trường không áp dụng mô hình VNEN thuộc nhóm đối chứng. Mỗi trường được chọn ngẫu nhiên 20 học sinh để đánh giá chất lượng trong ba năm liên tục qua các bài kiểm tra môn toán, tiếng Việt, bảng hỏi phụ huynh, hiệu trưởng, giáo viên và học sinh. Tổng số mẫu khảo sát khoảng 13.000 học sinh và phụ huynh, hơn 6.000 giáo viên và 651 hiệu trưởng.  Một trong vấn đề đầu tiên nghiên cứu này đặt ra là nhận thức của giáo viên và phụ huynh về mô hình dạy học truyền thống – liệu có còn hợp lý và nên tiếp tục duy trì hay không? Cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh của 651 trường được khảo sát đều nhận thấy cần phải thay đổi mô hình giáo dục đặt học sinh ở thế “bị động” như hiện nay. Cụ thể, có 70% giáo viên ở cả các trường trong dự án VNEN và nhóm đối chứng đều nhận thấy điều đó, 75% hiệu trưởng ở các trường VNEN và 63% hiệu trưởng các trường ở nhóm đối chứng đồng ý cần phải cải cách mô hình giáo dục, thậm chí tỉ lệ này ở phụ huynh trong các trường thuộc nhóm đối chứng lên tới hơn 80%.  Riêng đối với nhóm phụ huynh có con học ở các trường áp dụng mô hình VNEN, nghiên cứu này tập trung làm rõ hơn mức độ ủng hộ hay phản đối VNEN của họ. Trái với thông tin trên một số kênh truyền thông về việc phụ huynh ở một số địa phương phản đối gay gắt mô hình VNEN, kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ phản đối và rất phản đối VNEN chỉ chiếm 6%, tỉ lệ trung lập chiếm 9%, tỉ lệ ủng hộ và rất ủng hộ lần lượt là 24% và 61% số người được hỏi (Biểu đồ 1). “Chúng tôi khẳng định đây là số liệu trung thực, bởi toàn bộ băng ghi âm phỏng vấn các phụ huynh học sinh, giáo viên, hiệu trưởng, bài thi của học sinh và những bên liên quan vẫn được lưu trữ, chúng tôi sẵn sàng cung cấp dữ liệu này cho những ai muốn truy cập để kiểm tra tính xác tín”, TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong, trưởng nhóm nghiên cứu độc lập tham gia thiết kế và điều tra cho nghiên cứu này cho biết.    Thái độ của  phụ huynh đối với mô hình VNEN. Nguồn: Nhóm tác giả Báo cáo đánh giá tác động của VNEN.  Học sinh VNEN năng động hơn  Liệu phụ huynh những học sinh đang học mô hình VNEN có ủng hộ mô hình giáo dục này một cách cảm tính, thiếu căn cứ? Căn cứ lớn nhất ở đây chính là kết quả học tập của học sinh trong mô hình VNEN và không học VNEN. TS. Phùng Đức Tùng cho biết, nghiên cứu này được thiết kế để đánh giá tổng thể năng lực của học sinh các trường trong dự án nhằm tìm ra sự khác biệt giữa học sinh VNEN và nhóm đối chứng và giải đáp băn khoăn lớn nhất của phụ huynh trong cả nước là “con tôi học theo mô hình VNEN có bị kém về mặt kiến thức so với trường học truyền thống hay không”. Để đánh giá năng lực học sinh, nhóm nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên 20 học sinh trong một trường được khảo sát, tổ chức thi trong ba năm liên tiếp. “Để đảm bảo kết quả thi trung thực, chuyên gia giáo dục ra đề và niêm phong tại Hà Nội, quá trình chuyển đề thi tới các trường đều có giám sát chặt chẽ. Toàn bộ các phòng thi được quay video trong suốt quá trình coi thi. Mặt khác, chúng tôi kiểm tra ngẫu nhiên và lưu lại hình ảnh của học sinh để tránh bị ‘tráo’ học sinh giỏi trong suốt ba năm tổ chức thi”, TS. Phùng Đức Tùng nói.  Kết quả khảo sát cho thấy học sinh theo mô hình VNEN có năng lực kiến thức tương đương nhóm đối chứng nhưng lại có kỹ năng mềm vượt trội thông qua quá trình tương tác và chủ động trong học tập cũng như tham gia các hoạt động thực hành gần gũi với đời sống (Biểu đồ 2). Như vậy, mô hình VNEN không “đánh đổi” kiến thức cơ bản (cắt bỏ thời lượng hoặc giảm nhẹ nội dung) để tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, do đó không làm mất đi một trong những mục tiêu căn bản của mô hình giáo dục truyền thống. Mặt khác, điểm ưu trội của VNEN là học sinh học VNEN có thời gian và cơ hội thực hành các kỹ năng mềm như: làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, trình bày, ứng dụng các bài học trong thực tế… hơn rất nhiều so với mô hình giáo dục truyền thống. Đây là những yêu cầu căn bản của giáo dục phổ thông nhằm góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực đủ khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường xã hội hiện đại, nhiều biến động trong thế kỷ 21. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng chỉ ra, các trường đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực con người được tập huấn kỹ lưỡng, cán bộ quản lý giáo dục ở địa phương và giáo viên có nhận thức về sự cần thiết phải thay đổi mô hình giáo dục truyền thống… thì hiệu quả đạt được của chương trình giáo dục theo mô hình VNEN sẽ cao hơn.  Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đo lường, cho điểm để so sánh kỹ năng mềm của học sinh VNEN và nhóm đối chứng trên “tổng thể” chứ chưa có đánh giá chi tiết về từng kỹ năng mềm của học sinh. Muốn đánh giá, cần triển khai những nghiên cứu tiếp theo.    So sánhkỹ năng mềm của học sinh VNEN và nhóm đối chứng. Nguồn: Nhóm tác giả Báo cáo đánh giá tác động của VNEN.  Cần sáng tạo với tư duy mở  Nghiên cứu này cũng chỉ ra, để thực hiện được mô hình VNEN, đào tạo bồi dưỡng giáo viên thực hiện tổ chức dạy học theo phương pháp mới là thách thức lớn nhất. Bởi vì giáo viên phải chuyển từ cách giảng bài truyền thống sang cách thức “hướng dẫn/hỗ trợ” học sinh. Chẳng hạn, đầu tiên giáo viên phải tìm được cách sắp xếp các nhóm học sinh trong lớp có đủ cả nam, nữ, học sinh giỏi, trung bình và yếu sao cho tối ưu để các nhóm có thể tự học, thảo luận và phát triển khả năng sáng tạo. Các nhóm được thay đổi, luân chuyển thường xuyên để học sinh thích nghi và học cách hỗ trợ, lắng nghe và cùng hợp tác. Bên cạnh đó, để nâng cao kỹ năng mềm của các học sinh, giáo viên cũng cần phải được đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn đủ kĩ năng để dạy học và có cách thức tổ chức lớp học để tạo sự thích thú cho học sinh, học sinh sáng tạo.  Mặt khác, cũng không có chỗ cho sự “cứng nhắc rập khuôn” khi giảng dạy theo mô hình VNEN. “Giáo viên phải nghĩ ra các trò chơi tình huống nào khiến học sinh nắm được kiến thức cơ bản và vận dụng vào trong các trò chơi đó. Nhiều khi, trong các lớp học VNEN như một cái chợ, học sinh trao đổi hoặc chơi trò chơi rất ồn ào, không như lớp truyền thống im phăng phắc. Trong cái ‘chợ’ đó, giáo viên phải nắm bắt được vấn đề của từng nhóm và nhanh chóng hỗ trợ các em. Để làm được điều đó, giáo viên phải tinh ý, năng động và phải sáng tạo hơn trước đây”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Điều đó cũng có nghĩa là, cách quản lý và đánh giá hoạt động chuyên môn của giáo viên, đánh giá hiệu quả của môn học ở trong các trường phải thay đổi.    Những câu hỏi cần được tiếp tục trả lời  Nhìn chung, báo cáo nghiên cứu tổng thể bước đầu này vẫn còn một số câu hỏi ngỏ và cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn, theo TS. Phùng Đức Tùng. Thứ nhất, báo cáo chưa chỉ rõ là việc áp dụng mô hình VNEN có thể đem lại kết quả tốt nhất trong điều kiện nào và phương pháp này được triển khai như thế nào để khi giáo viên tổ chức thực hiện ở các cấp học, các địa phương với các đặc thù kinh tế xã hội khác nhau đều phát huy được thế mạnh của nó. “Ví dụ, hiện nay VNEN đang được áp dụng ở các lớp với điều kiện là học sinh phải đọc thông viết thạo. Tuy nhiên, học sinh lớp ba ở miền núi có thể chưa đủ điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học của VNEN? Vì vậy, báo cáo cũng chưa chỉ ra ở từng khu vực cụ thể như miền núi, khu vực học sinh dân tộc thiểu số thì áp dụng ở lớp mấy là phù hợp (từ lớp 3, lớp 4 hay lớp 5 hay thậm chí cấp THCS?). Cần có nghiên cứu chuyên sâu hơn để chỉ ra các điều kiện cần và đủ khi áp dụng mô hình VNEN”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Thứ hai, cần có nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo viên cần đáp ứng những kỹ năng mềm nào để có thể dạy theo mô hình VNEN. Để đưa mô hình VNEN vào thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn giáo viên theo hai cấp (tập huấn cho cán bộ các sở rồi các cán bộ này về tập huấn cho các giáo viên) có thể dẫn đến các sai sót nhất định do vậy cần có đánh giá lại về quá trình tập huấn và khả năng đáp ứng của giáo viên trong các trường thuộc Dự án. Ngoài ra, cần nghiên cứu đánh giá việc áp dụng mô hình ở các trường thuộc diện mở rộng để xác định liệu họ đã có đủ điều kiện áp dụng hay chưa. Trên cơ sở đó, Bộ GD&ĐT đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để giáo viên và các trường tự chủ động đối chiếu lại với điều kiện của trường và ra quyết định có tiếp tục thực hiện VNEN hoặc áp dụng những thành tố tích cực nào trong mô hình VNEN. Thứ ba, phải có nghiên cứu đánh giá lại SGK, sau đó chỉnh lý và hoàn thiện bởi vì SGK trong chương trình VNEN được xây dựng trong thời gian tương đối ngắn và chưa có nghiên cứu, rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này. Điều này lại càng cần thiết khi SGK VNEN được xây dựng trên nền tảng chương trình giáo dục hiện tại, khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, sự điều chỉnh lại SGK VNEN để tương thích với chương trình mới là điều bắt buộc.  Trước những câu hỏi đang đặt ra ở trên, nhóm nghiên cứu khuyến nghị, mô hình VNEN có nhiều ưu điểm nhưng để có thể áp dụng, cần chú ý đánh giá điều kiện của từng trường, đặc biệt cần chú trọng công tác tập huấn cho giáo viên và cán bộ quản lý. Điều này cũng phù hợp với việc Bộ GD&ĐT đã khuyến khích và trao quyền tự chủ cho các trường trong việc quyết định lựa chọn mô hình dạy học phù hợp, các trường và giáo viên có quyền chọn cách giảng phù hợp, chọn SGK phù hợp với điều kiện thực tế của mình.  ——–  Chú thích:  [1] Nhằm đánh giá tác động của dự án nên nghiên cứu này chỉ đánh giá các trường thuộc dự án VNEN mà không khảo sát các trường trong diện mở rộng áp dụng VNEN. Trong thực tế, ngoài 1447 trường áp dụng mô hình VNEN trong dự án VNEN thì có trên 2000 trường khác trên cả nước áp dụng mô hình này theo diện mở rộng.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nghiên cứu và phát triển ở đại học: Một vài đề xuất      Trong bài viết Nghiên cứu và phát triển ở đại học tại Hội thảo cải cách giáo dục đại học VED 2014, GS Ngô Quang Hưng cho rằng có ba yếu tố cấp bách gây cản trở cho sự phát triển R&D hài hòa ở Việt Nam: 1) Các tiêu chí đánh giá nghiệm thu đề tài, thăng công tiến chức, đều chưa được cụ thể hóa và đôi khi đi ngược lại với động cơ làm R&D của giới hàn lâm. 2) Mặt bằng trình độ làm R&D ở các đại học còn kém, bị quá tải về mặt giảng dạy, và ít có động cơ thật sự để giảng viên làm R&D, dẫn đến chất lượng R&D kém. 3) Thiếu một sự giao lưu ý tưởng và niềm tin giữa khu vực tư nhân và giới hàn lâm. Từ đó, ông đề xuất một số giải pháp để cải thiện cả chất lẫn lượng của R&D trong các trường đại học ở Việt Nam.      Giảng viên hướng dẫn sinh viên trong phòng thí nghiệm Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học (ĐHQGHN). Nguồn: ĐHQGHN  Tiêu chí đánh giá đề tài và cá nhân làm R&D  Trong làm R&D có hai mô hình: mô hình nghiên cứu phỏng theo (adaptation) thì chữ D mạnh hơn chữ R, mô hình sáng tạo (innovation) thì chữ R mạnh hơn chữ D. Ở những nước kém phát triển như Việt Nam, thì khi đánh giá đề tài ta cần biết rõ nhánh nào nên đề cao mô hình nghiên cứu phỏng theo, và nhánh nào nên đề cao mô hình nghiên cứu sáng tạo. Những lãnh vực mà nhân lực của ta có khả năng “nhảy cóc” so với thế giới hoặc cấp thiết cho quốc gia thì nên đánh giá đề tài bằng sự sáng tạo của nó. Những lãnh vực ta còn yếu thì cần phải rất chú trọng đến tác dụng xã hội của đề tài.  Phân chia rạch ròi nhánh nào nên adapt, nhánh nào nên innovate cần rất nhiều công sức tỉ mẩn, dữ liệu khoa học, nằm quá phạm vi và khả năng của người viết bài này. Ở đây chỉ xin nêu một vài ví dụ.         Nếu không làm D, nhà nghiên cứu có khả năng sẽ sống và thác trong tháp ngà của mình, bất kể chỉ số ảnh hưởng của họ cao đến mức nào. (Các cư dân trong tháp ngà trích dẫn lẫn nhau!). Một đề án nghiên cứu, dù là nghiên cứu khoa học cơ bản, mà có cơ sở ứng dụng vững chắc bao giờ cũng “nặng ký” hơn nhiều các đề tài trên trời, với các động cơ ứng dụng “vẽ vời” ra cho kêu.      Ở ngành y dược, đầu tư để sáng tạo thường là cực kỳ lớn. Trong khi đó, nếu ta mô phỏng được một loại thuốc đã có sẵn trên thị trường thế giới để cho phù hợp với thủy thổ và y sinh của dân địa phương thì hiệu quả xã hội và kinh tế rất lớn. Tương tự như vậy, các ngành làm phân bón, thức ăn gia cầm, thuốc trừ sâu trong điều kiện kinh tế đất nước nặng về nông nghiệp, hay thực phẩm trong sự bùng nổ dân số Việt Nam, đều tạo ra các thị trường đặc trưng nội địa có quy mô rất lớn mà chỉ một ít mô phỏng cũng có tác động mạnh mẽ.  Trong khi đó, ngành Khoa học Máy tính còn non trẻ, với chi phí truy cập vào các tài liệu, bài giảng, hội nghị hiện đại rất rẻ, thì sẽ có rất ít lý do để ta đánh giá cao chất lượng R&D của một đề tài “Việt hóa” một phần mềm quản trị doanh nghiệp. Còn trong lĩnh vực quốc phòng, khi điều kiện tiếp xúc trực tiếp với công nghệ tiên tiến bị giới hạn bởi bí mật quân sự, thì sáng tạo là chỉ tiêu đánh giá rất quan trọng. Do vậy một phần chi phí quốc phòng nên được dùng cho các trường đại học nghiên cứu các công nghệ tiên tiến dành cho quốc phòng.  Chúng ta không nên bám theo một số chỉ số định lượng có vẻ khách quan nhưng lại hời hợt về khả năng đánh giá như số bài báo ISI hay chỉ số ảnh hưởng. Có chăng thì các chỉ số này chỉ nên mang tính chất tham khảo. Ta cần đánh giá của chuyên gia. Trong ngành Máy tính, có tình trạng các quí vị trong tháp ngà “sáng tạo” ra các vấn đề không có tính phổ quát, giải quyết chúng bằng các kỹ thuật tầm thường, và trích dẫn lẫn nhau. Tạp chí ISI hẳn hoi. Trong khi đó, làm được một loại phân bón mới, cho dù chỉ là mô phỏng từ nước ngoài, cũng có giá trị tốt hơn hẳn cả về mặt xã hội lẫn về mặt khoa học. Ở Mỹ không có chuyện dùng “số bài báo” để đánh giá nghiệm thu đề tài. Như vậy, ở đây ta cũng có vấn đề niềm tin giữa cơ quan tài trợ và giới làm R&D.  Đó là nói về đánh giá đầu ra, đầu nghiệm thu. Còn đánh giá đầu vào của các đề án thì, một lần nữa, ta cũng cần những chuyên gia làm R giỏi, để biết về mặt ý tưởng thì có gì sáng tạo không, làm D giỏi, để biết về mặt thực tế thì có khó khăn không, và đại diện kỹ thuật của ngành công nghiệp liên đới, để hiểu phạm vi ứng dụng của đề tài.  Một cách định trị giá trị kinh tế của một đề tài là ta dùng cơ chế tài trợ dùng vốn đối ứng (matching funds) giữa nhà nước và doanh nghiệp. Ví dụ, một nhóm R&D phải tự tìm cho mình một doanh nghiệp cam kết tài trợ x% kinh phí cho đề tài, rồi một quỹ tài trợ của nhà nước sẽ “match” (100-x)% còn lại. Cơ chế này đảm bảo là đề tài đã được “thực tế” đánh giá có khả năng ứng dụng, nhưng lại cũng cho doanh nghiệp được chia sẻ bớt rủi ro tài chính cho các đề tài mà phần sáng tạo cao. Ví dụ, Chính phủ Úc có chính sách giảm thuế và hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp hợp tác làm R&D với đại học. Ở Mỹ có các chương trình SBIR/STIR…*  Cải thiện chất lượng R&D  Giả sử ta đã tìm được nguồn tài trợ, thế thì làm thế nào để tăng chất lượng R&D? Vấn đề lớn nhất là vấn đề chất lượng của nhân lực.  Để cải thiện trình độ nhân lực làm R&D thì ta cần tạo điều kiện và động cơ cho họ làm R&D, và tạo ra cơ chế rất mềm dẻo để có thể điều phối nhân lực phù hợp với dự án. (Tất nhiên là dưới các qui chuẩn đánh giá chất lượng đề tài như đã nêu ở trên.)  Điều kiện và động cơ cho các giảng viên, giáo sư, làm R&D bao gồm:  Quỹ thời gian: phải có các cơ chế giảm tải giảng dạy, ví dụ như cơ chế “buy out”, dùng tiền đề án để trả cho người dạy thay. Từng trường cũng nên có các cơ chế riêng giảm tải giảng dạy và các công việc hành chính khác, để các cá nhân xuất sắc tập trung nghiên cứu.  Quỹ tài chính: đầu tư từ các doanh nghiệp, địa phương, và nhà nước, cộng với những khuyến khích lớn hơn về mặt tài chính nếu nghiên cứu thành công. Sự giúp đỡ của các vườn ươm, phòng chuyển giao công nghệ và phòng quản lý sở hữu trí tuệ của các trường đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn faculty về mặt tài chính, quản lý nhân sự, và tìm tài trợ.  Động cơ thăng tiến: đánh giá thăng tiến cấp bậc, chức danh giáo sư, cũng cần mềm dẻo trong việc đánh giá các đóng góp R&D. Nếu ta chỉ đếm bài báo “tạp chí quốc tế” để đánh giá thì nhiều khả năng sẽ tạo ra tác động ngược.         Ở những nước kém phát triển như Việt Nam, thì khi đánh giá đề tài ta cần biết rõ nhánh nào nên đề cao mô hình nghiên cứu phỏng theo, và nhánh nào nên đề cao mô hình nghiên cứu sáng tạo. Những lãnh vực mà nhân lực của ta có khả năng “nhảy cóc” so với thế giới hoặc cấp thiết cho quốc gia thì nên đánh giá đề tài bằng sự sáng tạo của nó. Những lãnh vực ta còn yếu thì cần phải rất chú trọng đến tác dụng xã hội của đề tài      .  Tính mềm dẻo của việc điều phối nhân lực là cực kỳ quan trọng. Ví dụ ở Mỹ thì chuyện nghỉ không lương sang một trường khác vài năm làm nghiên cứu — dùng tiền dự án trả lương hoàn toàn — rất là phổ biến. Tại vì có nhiều dự án ta cần một chuyên môn nhất định, và tính mềm dẻo trong việc tìm nhân sự làm tăng chất lượng dự án lên rất nhiều. Ở ta có các ví dụ khởi sắc như Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán, Viện John von Neumann của anh Dương Nguyên Vũ, hay Viện VIASM chỗ anh Ngô Bảo Châu, có tính mềm dẻo (tương đối) về nhân sự, thu hút được nhiều tài năng và có các seminars/workshops với nhiều nhà khoa học giỏi tham gia báo cáo. Những mô hình tương đối tự chủ như vậy nên được nhân rộng ra hơn.  Một cách nữa để tăng hàm lượng tri thức cả nghiên cứu lẫn thực tế ở các trường đại học lớn là ta chuyển phần lớn các phòng/ trung tâm nghiên cứu trực thuộc các Bộ, sáp nhập các viện nghiên cứu đó vào các trường đại học. Làm như vậy thì những người làm R&D giỏi ở các Viện đó có thể tham gia giảng dạy, tăng cường chất lượng đại học, giảm tải giảng dạy cho những giảng viên sẵn có. Rồi mối liên kết đến các dự án của các Bộ, ngành, cũng sẽ thu hút được thêm các đề tài về cho các trường đại học.  Cải thiện niềm tin giữa các doanh nghiệp và giới làm R&D hàn lâm    Nhóm R&D cần tự tìm cho mình một doanh nghiệp cam kết tài trợ kinh phí cho đề tài. Nguồn: Nature  Có ba vấn đề cốt lõi của việc xây dựng niềm tin của các doanh nghiệp Việt Nam vào giới nghiên cứu hàn lâm.  Nhìn chung các doanh nghiệp chưa tin vào khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Điều này một phần là do hệ quả của sự yếu kém về năng lực R&D nói chung của giới hàn lâm.  Sự thiếu vắng một kênh giao tiếp giữa các doanh nghiệp và giới hàn lâm. Kể cả khi có kênh giao tiếp, được tạo ra bởi các vườn ươm công nghệ chẳng hạn, thì lại có giới hạn về nhận thức của các doanh nghiệp và giới hạn về kỹ năng mềm của giới hàn lâm. Do đó, vấn đề thực tế là bên A có thể giải quyết được, nhưng bên B lại không biết rằng bên A có thể giải quyết được.  Sự theo đuổi các mục tiêu tài chính ngắn hạn của các doanh nghiệp làm giới hạn tầm nhìn và giới hạn các quy hoạch đầu tư dài hơi hơn vào R&D. Đó là chưa nói tới việc đầu tư tư nhân vào nghiên cứu có khả năng yêu cầu độc quyền công nghệ, gây khó khăn cho việc đăng tải bài báo khoa học của giảng viên, giáo sư.  Bên cạnh việc tổ chức các kênh giao tiếp mà các trung tâm chuyển giao công nghệ đóng vai trò thiết yếu, thì các giảng viên và giáo sư đại học cần phải chủ động hơn trong việc giao hảo với các doanh nghiệp, tạo dựng những kênh giao tiếp cá nhân, tạo niềm tin giữa những con người cụ thể và những công việc cụ thể. Ví dụ, hầu hết các hội nghị hay tạp chí hàng đầu thế giới đều rất coi trọng những lời giải cho những vấn đề thực tế, có dữ liệu thực tế. Những nghiên cứu với dữ liệu thật thường được đánh giá rất cao so với những nghiên cứu dùng dữ liệu “tổng hợp” hoặc tự tạo. Do đó, động cơ của người làm nghiên cứu là đi tìm các vấn đề thực tế có dữ liệu thực tế, còn động cơ của doanh nghiệp là có một vấn đề cụ thể được giải quyết.  Một động cơ thứ hai cho các doanh nghiệp hợp tác và đầu tư vào một dự án R&D “trên trời” là nguồn vốn nhân lực. Với những sinh viên giỏi, được tham gia và huấn luyện “miễn phí” trong một dự án R&D, cho dù có tính rủi ro cao thì doanh nghiệp nhiều khả năng sẽ tự tạo cho mình được các nhân viên tương lai.  Một chương trình R&D được hợp tác như vậy có thể bắt đầu từ một vài sinh viên làm thực tập. Ở đây ta cần sự chủ động của cả sinh viên lẫn thầy/cô hướng dẫn để sinh viên này phát triển niềm tin, chứng minh cho doanh nghiệp nọ thấy rằng một dự án R&D sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty. Đây cũng là cách mà doanh nghiệp tuân thủ luật KH&CN đã được Quốc hội thông qua. Niềm tin xây dựng qua những con người cụ thể, bằng những công việc cụ thể, sẽ có khả năng phát triển bền vững.  Cuối cùng, niềm tin cũng có thể được xây dựng bằng tiền. Mỹ có các chương trình SBIR, STTR để thúc đẩy R&D và chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp. SBIR tài trợ cho các nghiên cứu rủi ro cao của các doanh nghiệp nhỏ. STTR tài trợ cho doanh nghiệp làm chuyển giao công nghệ. Và hợp tác kiểu này tự động mang các kỹ năng quản lý, gây quỹ, bán hàng, marketing v.v. đến với nhà nghiên cứu.  ———–  Lược trích tham luận tại hội thảo cải cách giáo dục đại học VED 2014 của GS Ngô Quang Hưng.  Tít bài do Tia Sáng đặt.  * Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định về việc thí điểm cơ chế đối ứng này.  Tham khảo:   [1] http://info.crunchbase.com/2013/08/entrepreneurs-and-universities/  [2] http://web.mit.edu/industry/industry-collaboration.html  [3] http://www.forbes.com/2008/09/12/google-general-electric-ent-tech-cx_mf_0912universitypatent.html  [4] http://unctad.org/en/Docs/iteiia20056_en.pdf  [5] http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=3670&CategoryID=43  [6]http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=169383  [7] http://www.nature.com/gim/journal/v14/n2/full/gim201159a.html  [8] http://www.icsu.org/publications/cfrs/scientific-relations-between-academia-and-industry-building-on-a-new-era-of-interactions-for-the-benefit-of-society/download-report.    Author                Ngô Quang Hưng        
__label__tiasang Nghiên cứu và phát triển trong đại học * (Kỳ 1)      Nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) là một  thành tố tối quan trọng trong một trường đại học hiện đại. R&amp;D không  những quan trọng về mặt kinh tế, phát triển khoa học nói chung và kỹ  năng nghiên cứu nói riêng, mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc cải  thiện chất lượng giáo dục.      Trong bài viết này, tôi sẽ chia sẻ một vài thu thập, quan sát, và kinh nghiệm cá nhân về việc làm R&D trong đại học. Các ví dụ và quan sát sẽ chủ yếu xoay quanh ngành Khoa học Máy tính, vì đó là ngành mà tôi làm việc và có chút ít hiểu biết. Tôi hy vọng rằng các quan sát này có thể phần nào có tính phổ quát và trở nên hữu dụng trong nhiền ngành khác nữa. Cuối cùng, bài viết nêu ra một vài ý tưởng cho việc cải thiện cả chất lẫn lượng của R&D trong các trường đại học ở Việt Nam.  Nghiên cứu và phát triển (R&D) là gì?  Để có một ngôn ngữ nhất quán cho toàn bộ bài viết về ý nghĩa của cụm từ R&D, trước hết chúng ta thống nhất ngữ nghĩa của cụm từ R&D sẽ được dùng cho bài viết này.  Chữ D – phát triển – thì đã tương đối rõ: phát triển một sản phẩm mới hoặc một bộ phận nào đó cấu thành một sản phẩm cụ thể. Trong ngành máy tính thì một sản phẩm mới có thể là một phần mềm mới giải quyết một vấn đề cụ thể, ví dụ như phần mềm điều khiển không lưu. Một bộ phận của một thành phẩm có thể là một con chip, hay một thư viện thuật toán giải quyết các bài toán tối ưu trong vận trù học, mà dùng nó ta có thể giải quyết các vấn đề ách tắc giao thông hay vận chuyển và đóng gói hàng hóa.  Chữ R – nghiên cứu – thì có nhiều tầm mức, và có thể nôm na chia thành hai loại chính, phỏng theo (adaptation) và sáng tạo (innovation). Hai loại nghiên cứu này cũng phù hợp với hai loại nhóm R&D ở các công ty, tập đoàn. Một loại nhóm R&D bao gồm chủ yếu là các kỹ sư, loại còn lại cần được gầy dựng bởi một nhóm các nhà khoa học nghiên cứu. Những nghiên cứu mang tính sáng tạo cao hơn tất nhiên là có rủi ro cao hơn, nhưng khi thành công thì lợi tức đầu tư cũng lớn hơn.  Ý nghĩa kinh tế của R&D  Các nghiên cứu kinh tế cho thấy lợi tức đầu tư công vào R&D thường là khá cao, khoảng 30% đến 100% hoặc hơn nữa, theo các báo cáo của phòng nghiên cứu Kinh Tế Quốc Gia Mỹ (NBER), của các nhà kinh tế Charles Jones và John Williams của Stanford, hoặc của ngân hàng dự trữ liên bang của San Francisco.  Nhiều trường đại học ở Mỹ có các phòng chuyển giao công nghệ làm việc rất tốt. Ở các trường hàng đầu có một “văn hóa” làm chuyển giao công nghệ lâu đời, kết hợp công tư nhuần nhuyễn, thì lợi tức của họ thật sự là đáng ghen tị. Stanford sở hữu bằng sáng chế thuật toán Page-Rank của Google, một công nghệ mang tính đột phá ngành sinh học phân tử (DNA tái tổ hợp – recombinant DNA), cùng với thu nhập từ nhiều công ty khởi nghiệp của sinh viên họ, thu về trung bình 60-100 triệu USD mỗi năm trong 40 năm qua. NYU đồng sở hữu bằng sáng chế thuốc Remicate trị thấp khớp, cùng với các sáng chế khác đã thu về 157 triệu năm 2006 (tổng chi phí nghiên cứu là 210 triệu, lời 75%). Nhưng ta không cần lấy các ví dụ từ các đại học đỉnh của thế giới như MIT, Stanford, Berkeley. Đại học Wake Forest năm 2006 thu về 60 triệu (trên tổng chi phí 146 triệu); phần nào nhờ hệ thống V.A.C., một hệ thống tạo chân không cơ học giúp hồi phục vết thương. Đại học Florida có nước Gatorade, v.v.  Trong các ngành xã hội như kinh tế, chính trị, ngoại giao thì R có ý nghĩa rất lớn về mặt làm chính sách. Ví dụ như trong công cuộc đổi mới giáo dục của chúng ta, chỉ tính trong ba tháng qua thôi là báo chí đã đăng đầy các dự án, dự thảo về thay đổi quy chế tuyển sinh, cơ chế tự chủ, trang bị máy tính bảng, vân vân. Nhưng ít khi ta thấy một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc đi kèm, đánh giá lợi hại của các dự án dự thảo mới. Các tranh luận trên báo chí phần nhiều mang tính định tính, và kể cả khi có ít định lượng thì cũng manh mún. Dân chúng không biết đâu mà lường là nên theo cái nào, làm cái nào đúng, cái nào không nên.  Một điều không thể chối cãi là R&D đã mang lại các công nghệ và sản phẩm mang tính đột phá, như Internet, hay vaccines và các thiết bị y tế, v.v., những thứ đã trực tiếp cải thiện cuộc sống sinh học, cuộc sống vật chất, và cuộc sống tinh thần của nhiều tỉ người trên trái đất. R&D ở các trường đại học cũng đã giúp khởi nghiệp nhiều nghìn công ty, tạo công ăn việc làm cho nhiều triệu người. Những đóng góp này không thể dễ dàng quy thành đô la.  Ý nghĩa khoa học của R&D  Ở đa số các ngành khoa học (có lẽ chỉ loại trừ Toán lý thuyết), thì làm R&D có ảnh hưởng rất tích cực đến sự phát triển của khoa học và của sự nghiệp khoa học của những nhà nghiên cứu tham gia làm R&D.  R&D giúp các nhà nghiên cứu định hình một tầm nhìn và nhận thức đúng đắn về các đề tài lý thuyết và phạm vi ứng dụng của chúng. Các kết quả lý thuyết hầu như bao giờ cũng bị trói trong một bộ các giả thiết đơn giản hóa vấn đề (như môi trường chân không trong Vật lý, hay thuật toán chạy trong bộ nhớ chính của máy tính). Các bộ giả thiết đơn giản này đôi khi vẫn xấp xỉ thực tế rất tốt và khi đó kết quả lý thuyết có tính ứng dụng trực tiếp cao. Nhưng đôi khi, chúng xa thực tế đến mức trở thành vô dụng. Nếu không làm D, nhà nghiên cứu sẽ có khả năng sẽ sống và thác trong tháp ngà của mình, bất kể chỉ số ảnh hưởng của họ cao đến mức nào. (Các cư dân trong tháp ngà trích dẫn lẫn nhau!)  R&D không chỉ giúp chúng ta phát triển ứng dụng hoặc phủ định các kết quả lý thuyết, mà còn truyền cảm hứng cho chúng ta về những hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, được bắt rễ chắc chắn từ những bài toán thực tế và những nhu cầu có thật, hoặc của xã hội, hoặc của các công nghệ liên quan. Ví dụ, mấy năm qua tôi viết chương trình hiện thực hóa một thuật toán của mình cho cơ sở dữ liệu, nhưng lại phát hiện ra nó làm việc tốt hơn rất nhiều nếu dùng để tính một số mô hình đồ thị thống kê, một vấn đề hoàn toàn khác.  Làm R&D cũng giúp cho các nhà nghiên cứu dễ tìm nguồn tài trợ để làm nghiên cứu cơ bản, từ cả các cơ quan tài trợ khoa học cơ bản của nhà nước lẫn từ doanh nghiệp tư nhân. Một đề án nghiên cứu, dù là nghiên cứu khoa học cơ bản, mà có cơ sở ứng dụng vững chắc bao giờ cũng “nặng ký” hơn nhiều các đề tài trên trời, với các động cơ ứng dụng “vẽ vời” ra cho kêu. Điều này hoàn toàn đúng ở Mỹ, và tôi hy vọng nó cũng sẽ phổ biến ở Việt Nam.  Ý nghĩa giáo dục của R&D  Các giảng viên hay giáo sư đã từng làm D bao giờ cũng có khả năng giảng dạy hứng khởi hơn rất nhiều so với những người giảng bài chay. Họ biết cái gì dùng được trên thực tế, những giả thiết nào là những giả thiết đơn giản hóa để gói gọn bài học, và những giả thiết nào hoàn toàn sai thực tế. Họ biết cách thiết kế các bài tập nắm bắt được tinh thần của một vấn đề thực tế, thiết lập ngữ cảnh cho bài tập để sinh viên hiểu tại sao bài tập này lại hữu dụng cho việc phát triển kỹ năng của họ.  Sâu sắc hơn một chút, khi ta có các dự án R&D mà một nhóm sinh viên được làm việc trực tiếp, tham gia giải quyết một góc của một vấn đề thực tế, thì đây là môi trường huấn luyện tuyệt vời cho các kỹ sư tương lai: khi ra trường họ đã có sẵn kinh nghiệm thực tế để làm việc. Ngược lại, phần nghiên cứu của R&D cho sinh viên các trải nghiệm làm nền tảng để họ có thể phát triển thành các nhà nghiên cứu độc lập nếu họ muốn theo đuổi con đường hàn lâm. Tất cả các sinh viên tôi đã từng tham gia hướng dẫn làm R&D, đại học hay sau đại học, đều nói rằng việc tham gia một dự án R&D dạy cho họ những kinh nghiệm quí báu hơn việc học chay rất nhiều lần.  Tham gia dự án R&D liên kết với doanh nghiệp là một dòng rất có giá trong resume của cả sinh viên lẫn chủ nhiệm đề tài.  Tại sao R&D trong trường đại học mà không phải ở các tập đoàn hay công ty?  Do các áp lực thị trường và lợi nhuận thường là ngắn hạn, khu vực tư nhân (private sector) có xu hướng không hoặc ít đầu tư vào R&D đúng nghĩa. Ở Mỹ chẳng hạn, đầu tư vào R&D từ các công ty tư chỉ khoảng 1/4 con số “tối ưu”, nói chung. Tất nhiên, khi nói riêng thì có các ngoại lệ như các chàng khổng lồ tương đối rủng rỉnh kiểu Microsoft, Facebook, Google, IBM, có hệ thống R&D rất sung mãn; và các ngành công nghiệp “sống” bằng R&D như ngành dược, và các công nghệ đột phá như công nghệ sinh học, công nghệ nano. Ở những ngành này thì các cty tư nhân có thể chi trả đến 75% chi phí cho R&D. Một lý do nữa mà các cty đầu tư ít vào R&D là trong một số công nghiệp thì quá dễ để các đối thủ copy ý tưởng. Trong ngành máy tính chẳng hạn, hệ thống bảo hộ bằng sáng chế ở Mỹ là một hệ thống hoàn toàn mục ruỗng, làm cản trở sáng tạo, tốn tiền tỉ cho các luật sư. Do đó, hệ thống bằng sáng chế không giải quyết được vấn đề sở hữu trí tuệ, làm các cty tư nhân ít đầu tư theo diện rộng vào R&D hơn.  Ở các đại học ta thường có nhân lực giá rẻ, kỹ năng nghiên cứu và kiến thức cao, tiếp cận được với những phát kiến mới nhất của nhận loại. Nhân lực ở đại học sở hữu tốt kỹ năng thực hiện chữ R trong R&D.  Chỉ có môi trường đại học, mà về mặt lý tưởng nó dung dưỡng tuyệt đối sự tự do tìm tòi, độc lập khỏi các áp lực thị trường ngắn hạn, mới có nhiều khả năng ươm các phát kiến mang tính đột phá.  Cuối cùng, như đã nói ở trên, R&D trong các đại học có ý nghĩa lớn về giáo dục, về khoa học, về phát triển sự nghiệp cho sinh viên, giảng viên, và giáo sư, và còn đóng góp về kinh tế cho trường, địa phương, quốc gia, và đôi khi cả nhân loại. (Còn tiếp)    ——————————————————-  * Tham luận của GS Ngô Quang Hưng (ĐH bang New York tại Buffalo, Mỹ) tại Hội thảo cải cách giáo dục đại học VED 2014.   (Tác giả xin chân thành cảm ơn các thành  viên Nhóm Đối Thoại Giáo Dục, các anh Lương Thành Nam, Cao Hoàng Trụ, Võ  Hưng Sơn, và Nguyễn Xuân Long, đã đóng góp các ý kiến quý báu cho bài  viết này. Lỗi trong bài là lỗi của cá nhân tôi, không phải của họ.)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu và phát triển trong đại học * (Kỳ cuối)      Chúng ta không nên bám theo một số chỉ số  định lượng có vẻ khách quan nhưng lại hời hợt về khả năng đánh giá như  số bài báo ISI hay chỉ số ảnh hưởng. Có chăng thì các chỉ số này chỉ nên  mang tính chất tham khảo. Ta cần đánh giá của chuyên gia. Trong ngành  Máy tính, có tình trạng các quí vị trong tháp ngà “sáng tạo” ra các vấn  đề không có tính phổ quát, giải quyết chúng bằng các kỹ thuật tầm  thường, và trích dẫn lẫn nhau. Tạp chí ISI hẳn hòi. Trong khi đó, làm  được một loại phân bón mới, cho dù chỉ là mô phỏng từ nước ngoài, cũng  có giá trị tốt hơn hẳn cả về mặt xã hội lẫn về mặt khoa học.       Hệ sinh thái R&D ở các đại học Mỹ  Hai nguồn tài trợ chính cho nghiên cứu trong các đại học ở Mỹ là từ các công ty tư nhân và từ các quỹ tài trợ nghiên cứu quốc gia như (NSF, DARPA, DoD, DoE, DoT, NIH, v.v.) đều có nhận thức sâu sắc về chữ D trong R&D. Tài trợ từ các công ty tư nhân thì hiển nhiên họ mong muốn thành quả tiến đến các sản phẩm cụ thể. Còn các quỹ tài trợ khoa học quốc gia cũng chịu áp lực lớn khi phải giải trình trước quốc hội về hiệu quả của các đầu tư vào nghiên cứu khoa học.  Ở mỗi trường đại học thì các phòng chuyển giao công nghệ đều có kinh nghiệm giúp đăng ký bằng sáng chế và giúp kết nối các nguồn nhân lực vật lực để tạo các công ty khởi nghiệp. Nhìn chung, ý tưởng thì có thể thiếu chứ môi trường và tài nguyên phục vụ cho thương mại hóa ý tưởng thì họ làm tương đối tốt, kể cả ở các trường ít danh tiếng.  Một quan sát tôi nhận thấy trong ngành máy tính là quan hệ trực tiếp giữa các giáo sư và các công ty tư nhân rất chặt chẽ và chất lượng. Tất nhiên khi một công ty cần kết quả nghiên cứu từ một nhóm nghiên cứu thì họ tài trợ; nhưng các công ty cũng rất hay “nuôi quân” để tìm các nhân viên chất lượng cho họ trong tương lai. Ngoài việc nhận tài trợ trực tiếp từ các công ty tư nhân, thì một GS trong trường đại học cũng có thể nhận tài trợ từ quỹ NSF thông qua một công ty tư nhân qua các dự án SBIR/STTR, vốn dùng để kích thích các nghiên cứu có tính rủi ro cao nhưng có khả năng mang lại hiệu quả thương mại lớn.  Ngược lại, các đề án phát triển và tài trợ nghiên cứu gầy dựng từ các chính trị gia, nhất là các chương trình từ các tiểu bang hay địa phương, thì lại có vẻ hoang phí hơn rất nhiều. Phần vì các chương trình này thường không có tính bền vững về mặt thời gian, các chính trị gia hay dùng chúng để làm bậc thang chính trị. Phần vì sự quan liêu của các chương trình địa phương cồng kềnh hơn các chương trình liên bang đã qua nhiều năm thử thách như NSF hay DARPA.  Một điều đáng lưu ý là budget của các quỹ nghiên cứu từ bên Quốc phòng (DARPA, DoD, US Army, US Airforce) rất lớn, rất fluid (nội DARPA không thôi đã có đến 3 tỉ, gầng bằng nửa NSF). Và DARPA dùng phần lớn tiền đó tài trợ cho các dự án lớn ở các phòng Labs và các đại học, với các program managers tài năng, kiến thiết ra các chương trình thiết yếu cho quốc phòng. Ngoài ra họ có một hệ thống thẩm định đề tài khá chặt chẽ (đến mức cồng kềnh — nên những ai làm KH cơ bản có thể không thích thú lắm). Ví dụ, nếu anh phán là anh làm phần mềm bảo mật, họ sẽ có một đội-đỏ (red team) gồm vài hackers có kinh nghiệm đến “thử” phần mềm của anh. Phương pháp nghiệm thu bằng “đội-đỏ” này được phát triển từ văn hóa tổ chức quân đội Mỹ.  Hiện trạng phát triển R&D trong các đại học Việt Nam  Ở Việt Nam đã có nhiều khởi xướng nhân vật lực từ trung ương, địa phương, đến các trường đại học để thúc đẩy R&D và tạo doanh nghiệp từ R&D. Nhiều trường đại học có các trung tâm sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trung tâm ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp. Khi xưa thì cơ sở hạ tầng, nay thì cả đào tạo, hướng dẫn, đăng ký bản quyền, dịch vụ đỡ đầu, và huy động vốn cũng đã được các trung tâm ươm tạo cho vào danh sách dịch vụ của họ.  Luật KH&CN được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2014 cũng có rất nhiều điểm tích cực: đầu tư từ ngân sách nhà nước ít nhất 2%, bắt buộc các doanh nghiệp phải dành phần lợi nhuận để tái đầu tư cho R&D, mô hình quản lý quỹ phát triển KH&CN có nhiều thông thoáng, có hình thức “đặt hàng” nghiên cứu cho các nhà khoa học, cụ thể hóa rất nhiều chính sách đãi ngộ về lương và bổng cho các nhà nghiên cứu.  Cộng các nguồn kinh phí từ nhà nước xuống địa phương, vốn tài trợ nước ngoài (ví dụ như dự án FIRST), thì tổng kinh phí cho R&D ở VN không phải là ít. (Các con số tôi đọc được biến thiên từ 0,2% đến 2% GDP, từ 600 tỉ đến 1000 tỉ một năm, nhưng lại được xan ra 1600 trung tâm và các viện nghiên cứu, nuôi 60 nghìn nhân sự.) Cũng có không ít các ví dụ làm R&D tốt từ các trường đại học và phát triển thành doanh nghiệp thành công, như Sơn Kova chẳng hạn.  Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, phát triển R&D ở các đại học VN còn yếu.  Số lượng các trung tâm ươm tạo còn hạn chế. Trong khi ở Trung Quốc có khoảng trên dưới 700 trung tâm ươm tạo, tạo được 45000 công ty; Hàn Quốc trên dưới 300 trung tâm, tạo được 5.000 công ty, thì ở ta có khoảng trên dưới 15 trung tâm, tạo được 50 công ty.  Các trường đại học của ta đều quá tải, dẫn đến tình trạng các giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ, bị quá tải đến mức khủng khiếp về mặt giảng dạy. Họ không có thời gian để phát triển kỹ năng nghiên cứu, phát triển các mối quan hệ với các doanh nghiệp để tìm tòi đề tài nghiên cứu. Sinh viên ta tương đối thụ động, do thụ hưởng nền giáo dục từ chương lâu năm, ít năng động hơn so với sinh viên các nước phát triển khi đối mặt với các đề tài mở. Cho một bài toán được thiết lập chặt chẽ với các giả thiết kiểu môi trường chân không, khí lý tưởng, thì giải cái rụp; nhưng chỉ hơi ra ngoài lề thì không biết bắt đầu từ đâu, kể cả khi họ đã có đủ kỹ năng toán học và công nghệ để giải quyết.  Một điểm quan trọng nữa là các dự án R&D đều cần làm việc theo nhóm thì mới làm được việc lớn, mà kỹ năng mềm của chúng ta nhìn chung là yếu. Làm việc với các doanh nghiệp thì kỹ năng mềm của giảng viên, giáo sư, cũng cực kỳ quan trọng; đó là những kỹ năng phần nào mang tính văn hóa. Không chỉ giao tiếp thuần túy, còn cần khả năng lãnh đạo dự án, huy động vốn, kỹ năng quản lý công nghệ và kinh doanh. Cũng phải nhắc đến cả khả năng ngoại ngữ, cả đọc hiểu lẫn giao tiếp. Tôi biết nhiều giáo sư ở các đại học phương Tây hoặc Brazil, có quan hệ rất tốt với các đối tác là các công ty ngoại quốc, Âu Mỹ, và nhờ đó tìm được các tài trợ lớn.  Về mặt cơ chế thì chưa có các cơ chế cụ thể để cho lợi ích của các bên (faculty, nhà nước, và nhà trường) được khớp với nhau. Ví dụ, ở Mỹ một faculty có thể xin tài trợ và dùng tiền tài trợ trả cho trường để “buy out” các lớp mà họ dạy. Dùng tiền này, trường và khoa có thể tìm người khác dạy thay các lớp thuộc về trách nhiệm của faculty, và nhờ đó faculty này có thời gian nghiên cứu. Nhìn chung giảng viên chúng ta ít có incentives để làm R&D thật sự, nguyên nhân mấu chốt là vấn đề tài chính: làm thì phi phỏng, không được bao nhiêu, và thu nhập không ổn định. Do đó nhiều người chọn con đường đi dạy thêm để có thu nhập ổn định. Vấn đề “lương sống được” vẫn là vấn đề then chốt. Không ai có thể nuôi một gia đình bằng cách dạy dự án khoa học.  Về tài trợ từ nhà nước, thì tiêu chí đánh giá nghiệm thu dự án chưa tạo động cơ tốt nhất để làm R&D. Luật KH&CN 2014 của quốc hội chưa có tiêu chí đánh giá rõ ràng về cách đánh giá và nghiệm thu đề tài. Ví dụ, tập trung đánh giá dựa vào các con số thô sơ như tổng số bài ISI, hay chỉ số ảnh hưởng, chưa đề cao tầm quan trọng và sự khó khăn của việc phát triển một sản phẩm phần mềm có giá trị xã hội cao. Và phải nói thẳng đây là cách đánh giá lười biếng, làm dễ cho người quản lý, nhưng cản trở tiến trình khoa học. Gầy dựng một sản phẩm có tính phổ dụng trong xã hội và trong nghiên cứu khoa học thường là tiêu tốn thời gian và công sức lao động rất lớn so với việc viết một bài báo ISI chẳng ai đọc.  Về tài trợ từ tư nhân, thì hiện có một sự khủng hoảng niềm tin của các doanh nghiệp vào khả năng nghiên cứu và phát triển của nhân lực hàn lâm. Một mặt, ta phải công nhận là sự mất niềm tin này có cơ sở khi mà R&D từ các trường đại học của ta còn rất yếu; có rất ít bằng chứng cho thấy khả năng nghiên cứu và phát triển các sản phẩm có tính sáng tạo khoa học cao, hoặc tính ứng dụng xã hội phổ biến. Mặt khác, sự mất niềm tin này cũng do nhiều doanh nghiệp thiếu một tầm nhìn về mặt đầu tư nghiên cứu, theo đuổi các mục tiêu tài chính ngắn hạn. Có những ví dụ cho thấy một sinh viên vào làm cho doanh nghiệp, giải quyết được vấn đề cho doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp lại không hiểu được rằng để có giải pháp đó thì sinh viên đã tham gia các dự án nghiên cứu “không có thành phẩm cụ thể” trong một thời gian dài.  Khi thật sự có các sáng tạo mới, thì lý ra các phòng chuyển giao công nghệ như ở Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ (iptc) của đại học quốc gia có thể đóng vai trò làm cầu nối giữa thầy trò và cách doanh nghiệp, đem lại lợi tức cho các bên tham gia, thì có hiện tượng nhóm nghiên cứu “đi đêm” để bán công nghệ ra ngoài mà không tuân theo giao kết khi nhận tiền đầu tư từ trường hay thành phố. Khi mà tình trạng chất lượng R&D còn yếu kém, thì sự thiếu chế tài sẽ làm cho các vườn ươm công nghệ/doanh nghiệp sống ngắc ngoải, trong khi đáng lý ra vai trò của các phòng chuyển giao công nghệ rất quan trọng cho việc phát triển R&D.  Nói tóm lại, có ba yếu tố cấp bách gây cản trở cho sự phát triển R&D hài hòa ở VN:  ●    Các tiêu chí đánh giá nghiệm thu đề tài, thăng công tiến chức đều chưa được cụ thể hóa và đôi khi đi ngược lại với động cơ làm R&D của giới hàn lâm.  ●    Mặt bằng trình độ làm R&D ở các đại học còn kém, bị quá tải về mặt giảng dạy, và ít có incentives thật sự để giảng viên làm R&D, dẫn đến chất lượng R&D kém.  ●    Thiếu một sự giao lưu ý tưởng và niềm tin giữa khu vực tư nhân và giới hàn lâm.  Một vài đề xuất  1. Tiêu chí đánh giá đề tài và cá nhân làm R&D  Như đã nói ở trên, có hai mô hình làm R&D chính, mô hình nghiên cứu phỏng theo (adaptation) thì chữ D mạnh hơn chữ R, mô hình sáng tạo (innovation) thì chữ R mạnh hơn chữ D. Ở những nước kém phát triển như Việt Nam, thì khi đánh giá đề tài ta cần biết rõ nhánh nào nên đề cao mô hình nghiên cứu phỏng theo, và nhánh nào đề cao mô hình nghiên cứu sáng tạo. Những lãnh vực mà nhân lực của ta có khả năng “nhảy cóc” so với thế giới hoặc cấp thiết cho quốc gia thì nên đánh giá đề tài bằng sự sáng tạo của nó. Những lãnh vực ta còn yếu thì cần phải rất chú trọng đến tác dụng xã hội của đề tài.  Phân chia rạch ròi nhánh nào nên adapt, nhánh nào nên innovate cần rất nhiều công sức tỉ mẩn, dữ liệu khoa học, nằm quá phạm vi và khả năng của người viết bài này. Ở đây chỉ xin nêu một vài ví dụ.  Ở ngành y dược, đầu tư để sáng tạo thường là cực kỳ lớn. Trong khi nó, nếu ta mô phỏng được một loại thuốc đã có sẵn trên thị trường thế giới để cho phù hợp với thủy thổ và y sinh của dân địa phương thì hiệu quả xã hội và kinh tế rất lớn. Tương tự như vậy, các ngành làm phân bón, thức ăn gia cầm, thuốc trừ sâu trong điều kiện kinh tế đất nước nặng về nông nghiệp, hay thực phẩm trong sự bùng nổ dân số VN, đều tạo ra các thị trường đặc trưng nội địa có quy mô rất lớn mà chỉ một ít mô phỏng cũng có tác động mạnh mẽ.  Trong khi đó, ngành Khoa học Máy tính còn non trẻ, với chi phí truy cập vào các tài liệu, bài giảng, hội nghị hiện đại rất rẻ, thì sẽ có rất ít lý do để ta đánh giá cao chất lượng R&D của một đề tài “Việt Hóa” một phần mềm quản trị doanh nghiệp.  Trong lãnh vực quốc phòng, khi điều kiện tiếp xúc trực tiếp với công nghệ tiên tiến bị giới hạn bởi bí mật quân sự, thì sáng tạo là chỉ tiêu đánh giá rất quan trọng. Một phần chi phí quốc phòng nên được dùng cho các trường đại học nghiên cứu các công nghệ tiên tiến dành cho quốc phòng. DARPA của Mỹ chi rất nhiều tiền cho các trường đại học Mỹ làm các dự án của họ.  Chúng ta không nên bám theo một số chỉ số định lượng có vẻ khách quan nhưng lại hời hợt về khả năng đánh giá như số bài báo ISI hay chỉ số ảnh hưởng. Có chăng thì các chỉ số này chỉ nên mang tính chất tham khảo. Ta cần đánh giá của chuyên gia. Trong ngành Máy tính, có tình trạng các quí vị trong tháp ngà “sáng tạo” ra các vấn đề không có tính phổ quát, giải quyết chúng bằng các kỹ thuật tầm thường, và trích dẫn lẫn nhau. Tạp chí ISI hẳn hòi. Trong khi đó, làm được một loại phân bón mới, cho dù chỉ là mô phỏng từ nước ngoài, cũng có giá trị tốt hơn hẳn cả về mặt xã hội lẫn về mặt khoa học. Ở Mỹ không có chuyện dùng “số bài báo” để đánh giá nghiệm thu đề tài. Như vậy, ở đây ta cũng có vấn đề niềm tin giữa cơ quan tài trợ và giới làm R&D.  Đó là nói về đánh giá đầu ra, đầu nghiệm thu. Còn đánh giá đầu vào của các đề án thì, một lần nữa, ta cũng cần chuyên gia: cần những người làm R giỏi, để biết về mặt ý tưởng thì có gì sáng tạo không, những người làm D giỏi, để biết về mặt thực tế thì có khó khăn không, và đại diện kỹ thuật của ngành công nghiệp liên đới, để hiểu phạm vi ứng dụng của đề tài.  Một cách định trị giá trị kinh tế của một đề tài là ta dùng cơ chế tài trợ dùng vốn đối ứng (matching funds) giữa nhà nước và doanh nghiệp. Ví dụ, một nhóm R&D phải tự tìm cho mình một doanh nghiệp cam kết tài trợ x% kinh phí cho đề tài, rồi một quỹ tài trợ của nhà nước sẽ “match” (100-x)% còn lại. Cơ chế này đảm bảo là đề tài đã được “thực tế” đánh giá có khả năng ứng dụng, nhưng lại cũng cho doanh nghiệp được chia sẻ bớt rủi ro tài chính cho các đề tài mà phần sáng tạo cao. Ví dụ, chính phủ Úc có chính sách giảm thuế và hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp hợp tác làm R&D với đại học. Ở Mỹ có các chương trình SBIR/STIR. ..  Cơ chế vốn đối ứng này ở ta đã có mấy năm nay. Nhưng lại có tình trạng doanh nghiệp ngần ngại khẳng định là sản phẩm có tiềm năng, vì nó vẫn chưa thành thành phẩm, mà cơ quan tài trợ nhà nước đã bảo “nếu anh kinh doanh được thì sao không tài trợ toàn bộ dự án?”  2. Cải thiện chất lượng R&D  Bây giờ giả sử ta đã tìm được nguồn tài trợ, thế thì làm thế nào để tăng chất lượng R&D? Vấn đề lớn nhất là vấn đề chất lượng của nhân lực.  Để cải thiện trình độ nhân lực làm R&D thì ta cần tạo điều kiện và động cơ cho họ làm R&D, và tạo ra cơ chế rất mềm dẻo để có thể điều phối nhân lực phù hợp với dự án. (Tất nhiên là dưới các qui chuẩn đánh giá chất lượng đề tài như đã nêu ở trên.)  Điều kiện và động cơ cho các giảng viên, giáo sư, làm R&D bao gồm:  ●    Quỹ thời gian: phải có các cơ chế giảm tải giảng dạy, ví dụ như cơ chế “buy out”, dùng tiền đề án để trả cho người dạy thay. Từng trường cũng nên có các cơ chế riêng giảm tải giảng dạy và các công việc hành chính khác, để các các nhân xuất sắt tập trung nghiên cứu.  ●    Quỹ tài chính: đầu tư từ các doanh nghiệp, địa phương, và nhà nước, cộng với những incentive lớn hơn về mặt tài chính nếu nghiên cứu thành công. Sự giúp đỡ của các vườn ươm, phòng chuyển giao công nghệ và phòng quản lý sở hữu trí tuệ của các trường đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn faculty về mặt tài chính, quản lý nhân sự, và tìm tài trợ.  ●    Động cơ thăng tiến trong nghề: đánh giá thăng tiến cấp bực, chức danh giáo sư, cũng cần mềm giẻo trong việc đánh giá các đóng góp R&D. Nếu ta chỉ đếm bài báo “tạp chí quốc tế” đề đánh giá thì nhiều khả năng sẽ tạo ra perverse incentive.  Đó là nói về việc đánh giá các nhân lực sẵn có. Để thật sự cải cách về chất nhân lực làm nghiên cứu và phát triển thì cách bổ dụng nhân sự ở các đại học VN. Xin xem thêm bài “Xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học” trong cùng kỷ yếu hội nghị.  Tính mềm dẻo của việc điều phối nhân lực là cực kỳ quan trọng. Ví dụ ở Mỹ thì chuyện nghỉ không lương sang một trường khác vài năm làm nghiên cứu — dùng tiền dự án trả lương hoàn toàn — rất là phổ biến. Tại vì có nhiều dự án ta cần một expertise nhất định, và tính mềm dẻo trong việc tìm nhân sự làm tăng chất lượng dự án lên rất nhiều.  Ở ta có các ví dụ khởi sắc như Viện KH&CN Tính toán, Viện John von Neumann chỗ GS. Dương Nguyên Vũ, hay Viện VIASM chỗ anh Ngô Bảo Châu, có tính mềm dẻo (tương đối) về nhân sự, thu hút được nhiều tài năng và có các seminars/workshops với nhiều nhà khoa học giỏi tham gia báo cáo. Những mô hình tương đối tự chủ như vậy nên được nhân rộng ra hơn.  Một cách nữa để tăng hàm lượng tri thức cả nghiên cứu lẫn thực tế ở các trường đại học lớn là ta chuyển phần lớn các phòng/trung tâm nghiên cứu trực thuộc các Bộ, xáp nhập các viện nghiên cứu đó vào các trường đại học. Làm như vậy thì những người làm R&D giỏi ở các Viện đó có thể tham gia giảng dạy, tăng cường chất lượng đại học, giảm tải giảng dạy cho những giảng viên sẵn có. Rồi mối liên kết đến các dự án của các Bộ, ngành, cũng sẽ thu hút được thêm các đề tài về cho các trường đại học.  3. Cải thiện niềm tin giữa các doanh nghiệp và giới làm R&D hàn lâm  Có ba vấn đề cốt lõi của việc xây dựng niềm tin của các doanh nghiệp VN vào giới nghiên cứu hàn lâm.  ●    Vấn đế thứ nhất là nhìn chung các doanh nghiệp chưa tin vào khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Điều này một phần là do hệ quả của sự yếu kém về năng lực R&D nói chung của giới hàn lâm.  ●    Vấn đề thứ hai là sự thiếu vắng một kênh giao tiếp giữa các doanh nghiệp và giới hàn lâm. Kể cả khi có kênh giao tiếp, được tạo ra bởi các vườn ươm công nghệ chẳng hạn, thì lại có giới hạn về nhận thức của các doanh nghiệp và giới hạn về kỹ năng mềm của giới hàn lâm. Do đó, vấn đề thực tế là bên A có thể giải quyết được, nhưng bên B lại không biết rằng bên A có thể giải quyết được.  ●    Vấn đề thứ ba là sự theo đuổi các mục tiêu tài chính ngắn hạn của cách doanh nghiệp làm giới hạn tầm nhìn và giới hạn các quy hoạch đầu tư dài hơi hơn vào R&D.  Đó là chưa nói tới việc đầu tư tư nhân vào nghiên cứu có khả năng yêu cầu độc quyền công nghệ, gây khó khăn cho việc đăng tải bài báo khoa học của giảng viên, giáo sư.  Các vấn đề này làm cho bên có expertise và bên có nhu cầu bị “trật giuộc” với nhau. Ví dụ, một thực tế đáng lưu ý là có tình trạng giảng viên trẻ đi học nước ngoài về lại đi làm thuê (R&D) cho các cty nước ngoài. Thế là ta bị chảy máu chất xám từ bên trong.  Bên cạnh việc tổ chức cách kênh giao tiếp mà các trung tâm chuyển giao công nghệ đóng vai trò thiết yếu, thì các giảng viên và giáo sư đại học cần phải “pro-active” hơn trong việc giao hảo với các doanh nghiệp, tạo dựng những kênh giao tiếp cá nhân, tạo niềm tin giữa những con người cụ thể và những công việc cụ thể. Ví dụ, hầu hết các hội nghị hay tạp chí hàng đầu thế giới đều rất coi trọng những lời giải cho những vấn đề thực tế, có dữ liệu thực tế. Những nghiên cứu với dữ liệu thật thường được đánh giá rất cao so với những nghiên cứu dùng dữ liệu “tổng hợp” hoặc tự tạo. Do đó, incentive của người làm nghiên cứu là đi tìm các vấn đề thực tế có dữ liệu thực tế, còn incentive của doanh nghiệp là có một vấn đề cụ thể được giải quyết.  Một động cơ thứ hai cho các doanh nghiệp hợp tác và đầu tư vào một dự án R&D “trên trời” là nguồn vốn nhân lực. Họ sẽ có truy cập đến những sinh viên giỏi, được tham gia và huấn luyện “miễn phí” trong một dự án R&D, cho dù có tính rủi ro cao thì doanh nghiệp nhiều khả năng là sẽ tự tạo cho mình được các nhân viên tương lai, đã làm qua một dự án cụ thể có lợi cho doanh nghiệp.  Một chương trình R&D được hợp tác như vậy có thể bắt đầu từ một vài sinh viên làm internship. Ở đây ta cần sự chủ động của cả sinh viên lẫn thầy/cô hướng dẫn để sinh viên này phát triển niềm tin, chứng minh cho doanh nghiệp nọ thấy rằng một dự án R&D sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến bottom-line của công ty. Đây cũng là cách mà doanh nghiệp tuân thủ luật KH&CN đã được quốc hội thông qua. Niềm tin xây dựng qua những con người cụ thể, bằng những công việc cụ thể, sẽ có khả năng phát triển bền vững.  Cuối cùng, niềm tin cũng có thể được xây dựng bằng tiền. Mỹ có các chương trình SBIR, STTR để thúc đẩy R&D và chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp. SBIR tài trợ cho các nghiên cứu rủi ro cao của các doanh nghiệp nhỏ. STTR tài trợ cho doanh nghiệp làm chuyển giao công nghệ. Và hợp tác kiểu này tự động  mang các kỹ năng quản lý, gây quỹ, bán hàng, marketing v.v. đến với nhà nghiên cứu.  Tham khảo  [1] http://info.crunchbase.com/2013/08/entrepreneurs-and-universities/  [2] http://web.mit.edu/industry/industry-collaboration.html  [3] http://www.forbes.com/2008/09/12/google-general-electric-ent-tech-cx_mf_0912universitypatent.html  [4] http://unctad.org/en/Docs/iteiia20056_en.pdf  [5] http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=112&News=3670&CategoryID=43  [6] http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=169383  [7] http://www.nature.com/gim/journal/v14/n2/full/gim201159a.html  [8] http://www.icsu.org/publications/cfrs/scientific-relations-between-academia-and-industry-building-on-a-new-era-of-interactions-for-the-benefit-of-society/download-report         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngộ nhận về giáo dục đại học      Kể từ khi các nhà kinh tế học chỉ ra đóng góp to lớn của các trường đại học đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế, các nhà chính trị đã bắt đầu quan tâm hơn đến giáo dục đại học. Tuy nhiên, một số ngộ nhận của các nhà chính trị về vai trò của các trường đại học đã ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả chính sách mà họ đưa ra.       Ví dụ, Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhiều lần cho rằng nước Mỹ cần gia tăng tỷ lệ thanh niên Mỹ có bằng đại học, nhưng nghiên cứu của các nhà kinh tế học về mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế cho thấy điều quan trọng nhất trong giáo dục đại học không phải là số lượng bằng đại học được cấp mà ở phương pháp giáo dục kĩ năng nhận thức, như tư duy phê phán và khả năng giải quyết vấn đề.  Không nhận thức được vấn đề này có thể dẫn đến những hậu quả to lớn. Chi phí của việc đào tạo chạy số lượng cao hơn đáng kể so với đào tạo chú trọng về chất lượng, trong khi chính phủ còn phải hỗ trợ nhiều chương trình khác – chưa kể người dân luôn có xu hướng chống lại việc tăng thuế – và ngày càng khó có đủ nguồn ngân sách Nhà nước cho những nỗ lực như vậy.   Việc thực hiện cả ba mục tiêu – chất lượng, số lượng và hiệu quả chi phí – cùng một lúc là vấn đề khó khăn, do đó nhiều khả năng người ta phải chấp nhận hi sinh một trong ba mục tiêu. Trong đó, các mục tiêu về chi phí đào tạo và số lượng đào tạo đều dễ đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ, còn mục tiêu về chất lượng rất khó để đo lường, đánh giá, quy trách nhiệm, vì vậy sẽ dễ bị hi sinh nhất.           Khi các nhà lãnh đạo của chúng ta coi giáo dục chỉ là phương tiện để tạo ra công ăn việc làm và tiền bạc, sẽ không có gì là bất ngờ nếu thế hệ tương lai cũng có chung ngộ nhận này.         Quan niệm sai lầm thứ hai của những người làm chính sách là chỉ lưu tâm tới một lợi ích của giáo dục đại học, đó là việc cung cấp cho những người tốt nghiệp cơ hội tìm được một công việc của tầng lớp trung lưu và đóng góp vào phát triển kinh tế và thịnh vượng. Trong khi đó, những lợi ích khác vẫn thường bị xem nhẹ, đó là việc những người tốt nghiệp đại học dường như dễ thích nghi hơn những người chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học trong quá trình phát triển, biến động của nền kinh tế và thị trường lao động, họ thường có tỉ lệ tham gia bầu cử cao hơn, tích cực hoạt động xã hội hơn, ít phạm tội, giáo dục con cái tốt hơn, và ít ốm đau hơn vì có lối sống lành mạnh hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng những lợi ích phụ trội này còn có giá trị cao hơn khoản tăng về thu nhập suốt đời mà tấm bằng đại học có thể mang lại, song việc xem nhẹ những lợi ích này sẽ khiến những người làm chính sách khuyến khích đường lối giáo dục nhanh chóng chạy theo số lượng với chi phí thấp hơn nhưng mang lại ít lợi ích hơn cho cả người học lẫn xã hội.  Những sự hiểu lầm như thế được thể hiện rõ ràng trong những bài phát biểu của các nhà lãnh đạo chính phủ Mỹ trong suốt hai thập kỉ qua, trong đó chủ yếu chú trọng vào mục tiêu giáo dục, đào tạo một thế hệ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ Mỹ, các nước khác cũng thể hiện một thái độ thực dụng tương tự, điển hình như chính sách chuyển quyền tài phán đối với các trường đại học Anh vào năm 1992 từ Bộ Giáo dục và Khoa học (Department of Education and Science) sang cho Bộ Giáo dục và Lao động (Department for Education and Employment), rồi năm 2009 lại chuyển sang một bộ mới là Bộ Kinh doanh, Cách tân và Kĩ năng (Department for Business, Innovation, and Skills).  Sự thu hẹp vai trò của giáo dục đại học theo xu hướng chú trọng những giá trị vật chất như trên là điều chưa từng có trước đây. Thật đáng kinh ngạc khi người ta đã bỏ qua các giá trị từ lâu vẫn được coi là những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục: hoàn thiện nhân cách đạo đức của người học và đào tạo họ trở thành những người công dân tích cực, có kiến thức. Điều này hoàn toàn trái nghịch với quan niệm cho rằng khi các nước trở thành giàu có hơn thì mối bận tâm của người dân về tiền bạc và của cải sẽ giảm đi, như John Maynard Keynes từng tiên đoán trong thập niên 1920.  Trong một xã hội dân chủ, các nhà chính trị thường phải ngả theo nhu cầu của đa số người dân, trong đó hầu hết mọi người dân đều coi trọng vấn đề tiền bạc và công ăn việc làm. Theo một cuộc khảo sát gần đây (2012), 88% sinh viên năm đầu tiên tại các đại học tại Hoa Kỳ nói rằng tìm được việc làm tốt hơn là một lý do quan trọng cho việc học đại học, và 81% nói rằng “được đảm bảo lợi ích tài chính” là mục tiêu “thiết yếu” hay mục tiêu “rất quan trọng” trong sự nghiệp.   Nhưng mặt khác, cũng có tới 82,5% các sinh viên năm đầu này khẳng định “việc học hỏi thêm những kiến thức mà tôi quan tâm” là một lý do quan trọng theo học đại học, và 73% muốn “đạt được một nền học vấn cơ bản và thông hiểu các tri thức.” Trong số các mục tiêu được coi là “thiết yếu” hoặc “rất quan trọng”, 51% có để cập tới nhu cầu “cải thiện hiểu biết của bản thân về các nước khác và những nền văn hóa khác”, 45,6% bày tỏ muốn “xây dựng một quan điểm triết lý có ý nghĩa về cuộc đời”, ngoài ra không ít người đưa ra những mục tiêu như “trở thành người lãnh đạo cộng đồng,” “góp phần thúc đẩy sự hiểu biết về các chủng tộc,” và “tham gia vào những chương trình làm sạch môi trường.”  Cuối cùng, các cuộc khảo sát cho thấy rằng điều người ta mong muốn nhất không phải là của cải mà là hạnh phúc và sự hài lòng từ một cuộc sống trọn vẹn và có ý nghĩa. Tiền có ích, nhưng còn những điều vô cùng quan trọng khác: quan hệ gần gũi giữa người với người, những hành xử nhân ái, những niềm say mê, cơ hội được sống trong một xã hội tự do, đạo đức, và được quản lý một cách dân chủ. Mặt khác, một nền kinh tế trì trệ và thiếu vắng cơ hội chắc chắn gây ra nhiều vấn đề cho xã hội, nhưng tỉ lệ người tham gia bầu cử thấp, sự thờ ơ với đời sống dân sự, thái độ coi thường những tiêu chuẩn đạo đức, và sự thờ ơ với nghệ thuật, âm nhạc, văn học, và tư tưởng cũng tạo ra nhiều vấn đề không kém.  Trách nhiệm của nhà giáo dục là giúp sinh viên của mình vươn tới một cuộc sống như mong muốn, với lối sống có trách nhiệm, và trọng trách của Nhà nước là quan tâm và khuyến khích các trường đại học nỗ lực làm tốt nhiệm vụ này. Nói cho cùng, như Louis Brandeis từng nhận xét: Dù tốt hay xấu, “Chính phủ chính là một người thầy giàu quyền lực và hiện diện khắp nơi.” Khi các nhà lãnh đạo của chúng ta coi giáo dục chỉ là phương tiện để tạo ra công ăn việc làm và tiền bạc, sẽ không có gì là bất ngờ nếu thế hệ tương lai cũng có chung ngộ nhận này.    Phạm Nguyên Trường lược dịch từ bài viết của Derek Bok, tác giả cuốn Giáo dục đại học ở Mĩ (Higher Education in America). Bok là giáo sư Đại học Harvard, đồng thời là Chủ tịch đại học này từ năm 1971 đến năm 1991 và từ năm 2006 đến 2007.   Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/derek-bok-on-policymakers—misconceptions-of-the-role-of-higher-learning      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ngoại lệ Việt Nam”      Một mối nguy hiểm thường trực đối với các quốc gia hay các nền văn hóa là niềm tin cho rằng mình là ngoại lệ, vượt ra ngoài những quy tắc có tính phổ quát. Thật đáng tiếc, có một phiên bản tương tự của cạm bẫy tinh thần này. Cho phép tôi, nếu có thể, gọi nó là “ngoại lệ Việt Nam”.    Trong suốt cuộc đời Phan Châu Trinh, một mảng lớn của thế giới, trong đó có Việt Nam, rơi vào ách đô hộ của một thiểu số cường quốc phương Tây. Sự tan rã nhanh chóng của các hệ thống chính trị vốn tồn tại trong nhiều thế kỷ buộc các nhà trí thức ở Việt Nam và trên toàn châu Á phải đi tìm lời giải thích cho sự vươn lên của phương Tây. Nhiều người đắm đuối với cái gọi là quyền lực cứng của phương Tây như công nghệ, quân sự, và sức mạnh công nghiệp. Phan Châu Trinh sâu sắc hơn. Ông kết luận rằng các yếu tố khác, trong đó có giáo dục, mới là bản chất nằm đằng sau sự trỗi dậy của phương Tây.  Vai trò trung tâm của giáo dục và đổi mới trong việc quyết định quỹ đạo phát triển của các quốc gia đúng cho ngày hôm nay cũng như dưới thời của Cụ Phan. Không phải ngẫu nhiên mà những quốc gia châu Á duy trì được sự chuyển biến kinh tế xã hội nhanh chóng và bền bỉ nhất – như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore – cũng là những quốc gia đã thành công trong việc xây dựng hệ thống giáo dục có khả năng trang bị cho người dân kỹ năng và kiến thức cần thiết để cạnh tranh và đổi mới. Giáo dục là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giúp giải thích tại sao các nền kinh tế này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao khi hầu hết các nước đang phát triển tăng trưởng chậm lại. Tất nhiên, giáo dục còn quan trọng vì nhiều lý do khác. Một công dân được giáo dục tốt sẽ là nguồn tạo ra sự thay đổi xã hội tích cực và ổn định. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Hàn Quốc và Đài Loan cũng là một trong số rất ít các nước ở châu Á đã có thể chuyển đổi thành công từ chế độ chuyên chế sang dân chủ.  ***  Chuyển đổi kinh tế của Việt Nam kể từ lần đầu tiên tôi quay lại vào năm 1985 là hết sức ngoạn mục. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam đã thừa nhận rằng mặc dù nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đã giúp Việt Nam thoát ra khỏi hàng ngũ của các nước nghèo nhất, nhưng Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào những hoạt động kinh tế này để nâng cao thu nhập của người dân trong tương lai. Giáo dục ở tất cả các cấp, đặc biệt giáo dục đại học, là chìa khóa để giải phóng nguồn lực mới cho tăng trưởng và thịnh vượng. Nói tóm lại, giáo dục là một mệnh lệnh kinh tế của Việt Nam.  Giáo dục còn là một mệnh lệnh chính trị, ít nhất ở trên hai phương diện quan trọng.  Trước tiên, giáo dục là khát vọng của người dân Việt Nam. Khi nói về sự trọng học hành của người Việt Nam, một người bạn tôi, người đã cống hiến sự nghiệp của mình không phải cho ngành giáo dục mà cho ngành nông nghiệp, đã dạy tôi một bài học rất giá trị. Khoảng 10 năm trước tôi gặp lại ông khi ông vừa trở về từ Đồng bằng sông Cửu Long, nơi ông đã trải qua những năm tháng tuổi trẻ vào thời điểm Đổi mới vừa chớm bắt đầu. Khi tôi hỏi ông về ấn tượng đối với Đồng bằng sông Cửu Long, ông đã làm tôi hoàn toàn bất ngờ. “Tommy”, ông nói, “tôi cứ cho rằng nông dân chúng tôi khát khao những gì họ luôn khao khát: nhiều đất canh tác hơn, đầu vào tốt hơn, tín dụng nhiều hơn, và sản xuất lớn hơn. Nhưng tôi đã nhầm. Những gì nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long thực sự muốn là một nền giáo dục tốt hơn để con em của họ thoát khỏi thân phận của người nông dân trồng lúa.” Cải cách giáo dục vẫn phải là một ưu tiên tối cao, không phải vì đó là điều các nhà đầu tư nước ngoài muốn mà bởi vì đó chính là điều mà người dân Việt Nam đòi hỏi. Rõ ràng là khả năng cải cách giáo dục của chính phủ nhằm cải thiện cơ hội giáo dục cho người dân sẽ quyết định đáng kể cách thức người dân cảm nhận về chính phủ của mình.          Mặc dù gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi Phan Châu Trinh qua đời năm 1926, di sản của ông vẫn còn nguyên giá trị đối với những thách thức hiện nay của Việt Nam. Điều này đúng trước tiên và trên hết trong lĩnh vực giáo dục.           Giáo dục còn là một mệnh lệnh chính trị ở một khía cạnh khác. Trong thời đại của mình Phan Châu Trinh là một nhà phân tích địa chính trị sâu sắc. Ông thấm nhuần rằng giáo dục là một cội nguồn sức mạnh của phương Tây và sự lạc hậu về giáo dục là một điểm yếu chết người của Việt Nam. Mặc dù tất nhiên là trật tự quốc tế hiện nay rất khác so với đầu thế kỷ XX, song tôi cho rằng đối với Việt Nam hiện nay, mối liên hệ giữa giáo dục và chủ quyền quốc gia cũng thực chất và có tầm quan trọng sống còn chẳng khác gì so với trước đây một thế kỷ. Nếu Việt Nam muốn duy trì nền độc lập đã phải trải qua biết bao gian khó mới có được, thì Việt Nam phải xây dựng một hệ thống giáo dục có thể đóng góp cho sự tiến bộ kinh tế và xã hội. Nếu không có một nền kinh tế năng động với giá trị gia tăng cao, mà điều này chỉ có thể đạt được nhờ cải cách giáo dục, Việt Nam có nguy cơ phải chịu đựng những mối quan hệ kinh tế và chính trị bất bình đẳng với các nước lớn. Cũng cần phải nói rõ thêm, tôi không hề muốn nói rằng Việt Nam có nguy cơ rơi trở lại tình trạng thuộc địa trước đây như thời Phan Châu Trinh. Tuy nhiên, tại thời điểm khi có sự lo lắng ngày càng tăng về mối quan hệ của Việt Nam với các cường quốc, giáo dục phải được nhận thức như là thành trì của một hệ thống kinh tế xã hội mạnh mẽ và sáng tạo.  ***  Một mối nguy hiểm thường trực đối với các quốc gia hay các nền văn hóa là niềm tin cho rằng mình là ngoại lệ, vượt ra ngoài những quy tắc có tính phổ quát. Thật đáng tiếc, xu thế này đang lan rộng ở chính đất nước tôi, đến mức có một thuật ngữ cho nó, đó là “ngoại lệ Hoa Kỳ”. Tôi đã trải nghiệm đủ ở Việt Nam để biết rằng ở đây cũng có một phiên bản tương tự của cạm bẫy tinh thần này. Cho phép tôi, nếu có thể, gọi nó là “ngoại lệ Việt Nam”. Sau một thời gian dài theo dõi các cuộc tranh luận về cải cách giáo dục ở Việt Nam, tôi thấy tính ngoại lệ này thể hiện ở ít nhất hai lĩnh vực:  Đầu tiên là về cách thức đo lường và đánh giá tiến bộ. Không thể cứ tiếp tục nói rằng Việt Nam ngày nay khá hơn Việt Nam trước đây 20 năm một khi nó vẫn tụt hậu một cách tệ hại so với các nước trong khu vực. Giáo sư Hoàng Tụy là tiếng nói mạnh mẽ nhất phản đối sự nguy hiểm của tính tự mãn trong hệ thống giáo dục Việt Nam.  Thứ hai là quản trị đại học. Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa như một cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật chẳng hạn.  Vào năm 1994, cùng với sự giúp đỡ của rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp Việt Nam, tôi đã tham gia thành lập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. Mục đích của chúng tôi là tạo ra một ngôi trường có thể hỗ trợ cho sự phát triển của Việt Nam, đồng thời cũng đóng vai trò như một mô hình mới về quản trị đại học. Hôm nay, tôi tự hào được tham gia trong nỗ lực chung của Việt Nam và Hoa Kỳ trong dự án xây dựng một trường đại học mới ở thành phố này – trường Đại học Fulbright Việt Nam. Trường Đại học Fulbright Việt Nam là sự tiếp nối và mở rộng công việc mà chúng tôi bắt đầu khi Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright mở cửa đúng 20 năm trước. Khi tiến về phía trước với dự án thú vị này, chúng tôi có thể lấy cảm hứng từ những tư tưởng của Phan Châu Trinh. Tôi nghĩ rằng nếu còn sống, ông chắn hẳn sẽ ủng hộ tầm nhìn của chúng tôi về Đại học Fulbright Việt Nam như một cơ sở học thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa di sản độc đáo và quý báu của Việt Nam với những truyền thống tốt nhất của quản trị đại học trên thế giới.     (Lược thuật bài phát biểu nhân dịp nhận giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2014 )  —    * Nhà sáng lập Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard; Chủ tịch Quỹ tín thác Đổi mới Đại học Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ngọc quý” nhập khẩu      “Người lớn”, đặc biệt là các bậc thầy cô giáo, lắm phen lắc đầu trước những lỗi ngớ ngẩn khó chấp nhận của học trò, thậm chí nhiều cái sai mà bất cứ nhà nghiên cứu giáo dục nào nhìn vào cũng đành… bó tay! Nhưng thử mở cửa nhìn bên ngoài xem ở xứ người có sáng sủa hơn không?    Thì đây, ở Pháp từ 1999 đến nay, hàng năm, cứ vào cuối thu, các thầy cô giáo lại nô nức đón chờ “lô hàng mới”, hào hứng truyền tay hoặc meo cho nhau những sản phẩm ấy. Những câu, từ có chứa cái sai, cái lỗi lượm lặt từ kỳ chấm thi Tú tài toàn quốc mà họ âu yếm gọi tên là “ngọc quý”.  Xin nêu ra đây để quý vị cùng chiêm ngưỡng một số viên ngọc quý thu nhặt được từ bài làm của các thí sinh Tú tài mà tôi đã “nhập khẩu” về Việt Nam.  Liên quan đến kiến thức tự nhiên nói chung, các em viết gì? Xin mời quý vị thưởng thức. Một lít nước 20 độ + một lít nước 20 độ = hai lít nước 40 độ. “Muốn bảo quản nước đá được tốt hơn, người ta phải làm cho nó đông lạnh”. Chưa hết, “Một chai nước sẽ nổ tung khi đông cứng, vì dưới tác động của độ lạnh, nước trở thành chất gây nổ . Đọc những câu: “Từ thời Ác-si-mét về sau, tàu thuyền có thể nổi trên mặt nước”. “Bom nguyên tử là vô hại khi nó được dùng để làm ra điện”v.v… Người ta dễ có cảm giác đang lạc vào một cõi u mê nào đó.  Riêng toán học, kết quả hơn mười năm mài ghế nhà trường với một số em: “Com-pa được dùng để đo độ của một hình tròn”. – “Hình đa giác là một hình có cạnh gần như khắp nơi”. Hay: Số tự nhiên là số có thể dùng tay sờ mó được (Úi dà…) “Định luật xác suất được gọi tên như thế vì người ta không chắc chắn là nó tồn tại”. (Nghe như chuyện hài, nhưng thực sự là chúng được trích trong các bài thi!)  Về sinh học, có em viết: “Bộ óc có hai bán cầu, một bán cầu có nhiệm vụ theo dõi bán cầu kia”. Nhạy cảm hơn: “Chỉ số sinh sản phải bằng 2 để đảm bảo việc tái tạo các thế hệ, bởi vì phải có hai người để tạo nên một em bé. Có thể có ba hay bốn người để làm việc đó nhưng hai người là đã đủ”. “Loài thỏ có xu hướng sinh sản với tốc độ của âm thanh”. Xem ra thế hệ trẻ của người ta cũng chẳng “kém cạnh” con em mình về mặt khoa học tự nhiên đấy nhỉ!  Còn khoa học xã hội? Những viên ngọc quý cũng không kém phần phong phú. Ngô nghê như: “Những truyện ngụ ngôn của La Fông-ten (La Fontaine) xưa đến nỗi người ta không còn biết tên tác giả nữa”. Ở cung bậc khác, ngọc vật lý có: “Ga-li-lê (Galilée) bị kết án tử hình vì ông là người đầu tiên biết làm cho trái đất quay”. “Bốn phương trời là: phải, trái, dưới và trên”.  Về địa lý: “Trung Hoa là đất nước đông dân nhất, với một triệu dân cho mỗi km vuông”. “Việt Nam là thủ đô của Li-băng.” (!!!???) “Nước Pháp gồm 60 triệu dân, trong số đó có nhiều thú vật”. Đặc biệt: “Đất nước càng nóng thì càng kém phát triển, lạnh thì phát triển vừa vừa, rất lạnh là rất phát triển”(!). Trả lời cho câu hỏi “Hãy cho biết tên một con sông lớn của Nga”, có em viết: “La vodka.” (là… rượu vốt-ca) !  Tương tự, ngọc lịch sử gồm những viên: “Lịch sử Trung cổ đã được giải thích rõ ràng bởi Crix-tiăng Cla-viê (Christian Clavier) trong phim “Những vị khách lạ tập 1 và 2”1. “Chữ viết được phát minh ở La Mã bởi những người Ai Cập cách đây 100 năm”. “Người Ai Cập biến người chết thành xác ướp để giữ cho họ được sống”. “Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm khoảng mười người chết nhưng chỉ về phía người Đức”.  Liên quan đến lịch sử nước Pháp, có em viết: “Thập tự chinh là chuyến du lịch bằng tàu biển do Giáo hoàng tổ chức”. “Gian-đa (Jeanne d’Arc) là tổng thống”.2 “Phrăng-xoa đệ nhất (Francois 1) là con trai của Phrăng-xoa 0 (Francois 0)”. “Lu-i XV (Louis XV) là chắt trai của chú ông ta là Lu-i XIV (Louis XIV)”.  Một số ngọc quý bắt nguồn từ sự nhầm lẫn. Bởi nhầm từ viết tắt GDP thành BNP (Banque Nationale de Paris = Ngân hàng Quốc gia Paris), có em viết: “Người ta nhận ra một đất nước là giàu hay nghèo khi nhìn vào BNP (Ngân hàng Quốc gia Paris) của họ”. Tương tự như thế, có thể kể ra: “Mỹ đã thả hai quả bom nghệ thuật ẩm thực (thay vì hai quả bom nguyên tử) trên hai thành phố Hiroshima và Nagasaki”. (“atomique”= nguyên tử/“gastronomique”= nghệ thuật ẩm thực). Do nhầm lẫn giữa “faucon” (chim cắt) và “faux con” (thằng ngu giả hiệu), mà có: “Thần Horus có đầu của một thằng ngu giả hiệu (thay vì của một con chim cắt)”. Đáng thương thay cho thần Horus!  Tên các tác phẩm văn học Pháp cũng bị bóp méo: Lẽ phải gọi là “Những quý bà kệch kỡm” thì có em viết: “Trong tất cả các vở kịch của Mô-lie (Molière), “Những viên đá quý kệch cỡm” là vở nổi tiếng nhất”. (“les précieuses” là những quý bà, nhưng “les pierres précieuses” lại là những viên đá quý). “Bô-đơ-le (Baudelaire) đã gây ra xì-căng-đan khi viết cuốn sách nổi tiếng “Những đóa hoa của con đực”. “Mal” – niềm đau, đã biến thành “mâle” – con đực. Xì-căng-đan là lẽ tất nhiên!  Đặc biệt, danh nhân của nhân loại, của Pháp cũng cùng chung số phận hẩm hiu: “Những tài năng của thời Phục Hưng Ý là: Mic-ky thiên thần (Mickey l’ange) và con tôm hùm của Vin-xi (le homard de Vinci)”, thay vì Mi-ken Lăng-giơ (Michel Ange) và Lê-ô-na đơ Vanh-xi (Léonard de Vinci). Hẳn chuột Mic-ky quen thuộc với các em hơn danh họa Mi-ken Lăng-giơ và Lê-ô-na đơ Vanh-xi, không gần gũi bằng… một chú tôm hùm! Còn “Vich-to Huy-gô (Victor Hugo) viết quảng cáo cho những kẻ khốn khổ đáng thương” (trong khi, ông là tác giả của bộ tiểu thuyết “Những người khốn khổ”).  Có một số “danh ngôn” được các thầy cô giáo ở Pháp xếp vào loại câu “không thể xếp loại nổi: “Patxcan (Pascal) đã dành trọn đời mình để viết những tiểu luận của Mông-te-nhơ (Montaigne)”.3 “Con cháu của A-đam và E-va là Giê-su Ki-tô (Jésus Christ)”. “Giu-lơ Xê-da (Jules César) là một thương hiệu pa-tê dành cho chó”.4 Và không biết việc tang ma của tướng Đơ-Gôn (De Gaulle) được tiến hành ra sao mà: “Tướng Đơ-Gôn đã được chôn cất trong hai nhà thờ ở Cô-lom-bây (Colombey)”. Chẳng lẽ vị tướng này khi qua đời đã bị… phanh thây!  Cuối cùng là một số viên ngọc khác, kèm với lời nhận xét không thể bình luận: “Nếu một người nào đó đi theo bạn ngoài đường, hãy cảnh báo trước với anh ta, anh ta có thể hãm hiếp bạn”. “Bằng cách ve vẫy đuôi, con chó diễn đạt tình cảm giống như con người”. “Đức Giáo hoàng vừa qua đời lần thứ 264”. v.v. và v.v.  Cứ thế, vào cuối thu, những viên ngọc quý ấy lại được các thầy cô bổ sung vào kho tàng “ngọc quý” của nền giáo dục Pháp. Kể ra thì… ngọc phương Tây cũng phong phú đa dạng và “sáng” đâu thua gì ngọc ta, phải không quý vị ?  Vâng! Có thế mới ngộ ra một “chân lý”: nỗi đau này… đâu của riêng ta. Trước những vấn nạn Giáo dục hiện nay có phải ầm ĩ lên thế? Dù học sinh “ngồi nhầm lớp” ở ta đã quá phổ biến, không chỉ ở tiểu học mà còn ở nhiều cấp học cao hơn. Có thể một ngày nào đấy, chúng ta có sáng kiến tổ chức một Festival quốc tế “ngọc quý học đường”, ắt hẳn sẽ thu hút sự quan tâm tham dự của đông đảo bà con, thế nào họ chẳng chen nhau từ khắp nơi đến thi thố. Hẳn cũng là một phương thức độc đáo để tạo nên thương hiệu Giáo dục cho mỗi quốc gia ấy chứ nhỉ.  —————  1 Crix-tiăng Cla-viê (Christian Clavier): một diễn viên chính của phim “Những vị khách lạ” với câu chuyện kể về thời Trung cổ.  2 Gian-đa (Jeanne d’Arc): một cô gái chăn cừu, sau thành nữ tướng chống quân Anh, bị đưa lên giàn thiêu và cuối cùng được phong thánh.  3 Patx-can (Pascal): nhà văn Pháp thế kỷ XVII, Mông-te-nhơ (Montaigne): nhà văn Pháp thế kỷ XVI.  4 Giu-lơ Xê-da (Jules César): tên của một bạo chúa La Mã.  Phạm Thị Anh Nga       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôi làng của chúng ta      Bài phát biểu của bà Long Ứng Đài, Bộ trưởng Bộ  Văn hóa của Đài Loan tại lễ tốt  nghiệp của sinh viên Học viện Y, ĐH Hồng Kông ngày 28/11/2011. Bà cũng là tác giả của bài Học trò thầy Mạnh Tử* mà Tia Sáng đã  đăng.&#160;     Hôm nay là ngày kết thúc thời gian 5-6 năm vô cùng vất vả học ngành y của các bạn. Nhưng phải chăng ta có thể nhìn nhận thế này: thực ra hôm nay chỉ là lễ bế giảng “học kỳ một trong học trình” của các bạn, và đề tài cốt yếu trong học kỳ ấy là y học; nhưng hôm nay đồng thời còn là lễ khai giảng “học kỳ hai trong học trình” của các bạn, đề tài cốt yếu trong học kỳ này là “cuộc đời”. Học kỳ hai khó hơn học kỳ một, bởi lẽ nó không có sách giáo khoa, không có giáo sư hướng dẫn. Trong bài nói hôm nay, tôi muốn chia xẻ với các bạn chút ít ghi nhận trong cuộc đời của tôi.  Sữa bột và chấy rận  Tôi lớn lên tại một thị trấn nhỏ ở miền Nam Đài Loan, đó là thị trấn Cao Hùng. Năm 1961 khi tôi đang học lớp hai, trường tôi có xảy ra một sự việc lớn. Một nữ sinh trong lớp bỗng dưng nôn thốc nôn tháo và được đưa ngay vào bệnh viện. Sau đó nhà trường cho chúng tôi về nhà, tất cả các trường học trong thị trấn đều đóng cửa. Ít hôm sau, khi chúng tôi trở lại trường, mấy chiếc ghế trong lớp không có người ngồi. Đấy là lần đầu tiên tôi nghe nói có một thứ bệnh gọi là “dịch tả”. Dĩ nhiên chúng tôi không biết năm ấy một “ngôi làng” kề bên của Đài Loan là Hồng Kông cũng đồng thời bị đợt dịch bệnh truyền nhiễm này tấn công, làm 15 người chết. Chúng ta nhiều khi không nhận ra rằng giữa con người với nhau có sự liên quan mật thiết với nhau như thế nào.          Long Ứng Đài (Lung Ying-tai, 1952-), người  Đài Loan, là nhà văn hóa, nhà văn, và nay là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Đài  Loan. Bà nổi tiếng trong thế giới người Hoa như một nhà trí thức giàu  tinh thần dân tộc và dân chủ, không chịu khuất phục bởi cường quyền. Bà  giành học vị tiến sĩ văn học Anh ở Mỹ năm 1983, trở thành phó giáo sư  trường ĐH bang Kansas. Bà là tác giả của 17 đầu sách, nhiều cuốn gây  tiếng vang.           Tôi là một đứa trẻ lớn lên tại cái gọi là “Thế giới thứ ba”. Hãy tưởng tượng những tấm ảnh đen trắng thế này: các bà mẹ trẻ ngồi chen chúc trong những căn phòng chật chội ngày này qua ngày khác làm hoa nhựa và những chiếc đèn Lễ Giáng sinh rẻ tiền, trong khi lũ trẻ con chạy nhông ngoài sân, mặc những chiếc áo cụt tay may bằng loại vải bao tải đựng sữa bột viện trợ Mỹ, đứa nào gặp may trên ngực áo còn dòng chữ “Hợp tác Trung-Mỹ” hoặc “Trọng lượng tĩnh 20 pounds”.  Năm 1975 tôi sang Mỹ du học. Sự việc đầu tiên khiến tôi ngạc nhiên là: Ồ, sao người Mỹ không ăn loại sữa pha từ sữa bột nhỉ?   Ở lớp tôi học năm 1961 nữ sinh nào cũng có chấy. Trứng chấy màu trắng nhỏ li ti bám chi chít trên từng sợi tóc thoạt nhìn cứ tưởng là gàu trắng trên đầu. Thỉnh thoảng lại thấy thầy cô giáo cầm chiếc bình thuốc trừ sâu DDT thận trọng xịt thuốc lên đầu các nữ sinh quỳ trên sàn nhà.  Người Hồng Kông và người Đài Loan thế hệ tôi có rất nhiều ký ức chung. Sữa bột, đèn Giáng sinh rẻ tiền, dịch tả và chấy rận, những dấu ấn của sự nghèo khổ. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục lội ngược dòng một hai thế hệ trước đó nữa, thì những cảnh trong thước phim đen trắng lại càng u ám đen tối hơn. Năm 1895 một nhà truyền giáo phương Tây đến Trung Quốc, quang cảnh bà ấy nhìn thấy ở đây là “Trên đường phố chỗ nào cũng thấy những người da lở loét, cổ to tướng (vì mắc bệnh tuyến giáp), mắt đui chột, thân hình tàn tật biến dạng, người ăn xin nhiều tới mức không thể tưởng tượng nổi… Những cảnh nhìn thấy suốt dọc đường ấy khiến chúng tôi vô cùng đau lòng”.  Năm 1900, một nhà văn người Nhật là Ohashi Otowa đến thăm Hồng Kông, tình cờ ông ấy rẽ qua bệnh viện và ngó vào một căn phòng. Ông kể lại: “Tôi thấy một người Trung Quốc loại cùng đinh mạt hạng đang nằm quằn quại như một con giòi” trên chiếc phản gỗ không trải chiếu trong căn phòng tối tăm. Người Nhật ấy ba chân bốn cẳng chuồn thật nhanh ra khỏi bệnh viện.  Vì sao tôi lại nói với các bạn những chuyện ấy vào ngày hôm nay, tại địa điểm này, trong trường hợp như thế này?  Thưa các bạn, tôi có những lý do của mình.  Những người sáng suốt       Các bạn là những sinh viên tốt nghiệp trong dịp trường Đại học Hồng Kông kỷ niệm 100 năm ngày thành lập của mình. Tiền thân của trường này là Trường Tây Y người Hoa Hồng Kông thành lập năm 1887. Chúng ta được biết là vào năm 1887 việc mổ tử thi vẫn bị phần lớn người Trung Quốc coi là đại nghịch vô đạo. Và năm 1897 cũng là năm khi cụ thân sinh của Lỗ Tấn nằm liệt giường vì lâm trọng bệnh, và đơn thuốc mà thầy lang ở Thiệu Hưng kê cho cụ là một cặp dế mèn, hơn nữa phải là hai con dế “còn trinh nguyên” lần đầu cặp đôi với nhau.           Bạn có từng nghĩ rằng ở thời đại của mình, trong xã hội của mình, bạn sẽ chống lại những gì, sẽ kiên trì theo đuổi những gì?        Có hiểu được bầu không khí thời đại ấy thì bạn mới hiểu được rằng 124 năm trước, việc sáng lập Trường Tây Y người Hoa Hồng Kông là một sự kiện trọng đại như thế nào, một cái mốc đánh dấu sự thay đổi thời đại. Và như vậy bạn mới thấy rằng những người đứng phía sau sân khấu thúc đẩy việc mở ra thời đại mới ấy phải có tinh thần trách nhiệm xã hội sâu sắc như thế nào, kiến thức và tầm mắt nhìn xa trông rộng ra sao. Chính là những nhà khai sơn phá thạch như Hà Khởi (Ho Kai) và Patrick Manson đã đưa các bạn vào tòa nhà lễ đường này.  Ngày 1 tháng 10 năm 1887, trường Tây Y người Hoa Hồng Kông làm lễ khai giảng. Vị Hiệu trưởng nhiệm kỳ đầu tiên là Patrick Manson đọc diễn văn. Patrick Manson – người từng hành nghề y tại Đài Loan, Hạ Môn, và cho tới ngày nay vẫn được gọi là Cha đẻ của Y học nhiệt đới, đã nói: trường Tây Y này “sẽ tạo ra cơ hội mới cho Hồng Kông, khiến thành phố này chẳng những là một trung tâm thương mại mà còn có thể là một trung tâm nghiên cứu khoa học”. Nhìn xuống các học sinh mới vào học, ông chân thành thổ lộ: “Người Hy Lạp Cổ đại thường kiêu hãnh và trân trọng nói về các vĩ nhân của họ. Chúng ta hãy kỳ vọng tại Tân Trung Quốc trong tương lai, khi các học giả tranh cãi ai là những vĩ nhân của nước này, tôi tin là sẽ có một số vĩ nhân đến từ Hồng Kông, hơn nữa số người ấy hiện đang ngồi tại đây, trong lễ khai giảng này”.  Có ba mươi học sinh đã dự lễ khai giảng năm 1887 ấy. Sau 5 năm học tập, số học sinh tốt nghiệp khóa đầu năm 1892 chỉ có hai người. Trong đó một người trở thành thầy thuốc ở một thị trấn nhỏ tại Malaysia; người còn lại nhận thấy rằng chữa bệnh cho từng cá thể bệnh nhân không quan trọng bằng chữa trị cho một quốc gia, vì thế ông quyết định bỏ nghề y để làm việc khác.  Người học trò ấy đăng ký vào trường này dưới cái tên Tôn Dật Tiên. Thoạt tiên ông chỉ có một dự định rất nhỏ bé, có chút giống như sinh viên đại học thời nay tranh thủ dịp nghỉ hè đi phục vụ tại một khu vực nhỏ. Khi đi trên đường phố Hồng Kông, nhìn thấy thành phố này dưới sự quản lý của người Anh sao mà ngăn nắp trật tự, ông ngạc nhiên nghĩ mãi mà không thể hiểu được do đâu thị trấn Hương Sơn quê mình cách đây có 80-90 cây số lại lộn xộn lạc hậu đến thế nhỉ? Dự định nhỏ bé của ông là biến Hương Sơn thành một Hồng Kông nhỏ. Nói là làm. Chàng sinh viên 20 tuổi của trường Tây Y Hồng Kông ấy tranh thủ kỳ nghỉ rét về quê kêu gọi các thanh niên cùng làng ra bắc cầu đắp đường, nhằm mục tiêu làm con đường nối hai làng lại với nhau. Cuối cùng do sự tham nhũng của quan lại địa phương, dự định nhỏ này không thành công. Thất bại ấy đã làm lay chuyển Tôn Dật Tiên, khiến ông đã chuyển sang thực thi một dự định lớn hơn: lật đổ toàn bộ đế chế Trung Hoa.  Từ diễn văn khai giảng năm 1887 của Patrick Manson cho tới bài nói tại lễ tốt nghiệp năm 2011 hôm nay, cuộc đời của chúng ta đã có những thay đổi sâu sắc, mà tất cả những thay đổi ấy đến từ những người phi thường. Những người sáng suốt đã đổi mới chế độ giáo dục. Những người hành động đã làm cách mạng cải tạo toàn bộ đất nước. Còn có rất nhiều người vừa thông minh vừa bền chí đã phát minh ra các loại vaccine hoặc liệu pháp chữa bệnh. Trong thế giới hôm nay mà bạn và tôi đang sống, bệnh đậu mùa đã bị tuyệt diệt, virus sốt rét và dịch hạch đã bị kiểm soát, các nữ sinh Đài Loan và Hồng Kông không còn biết “chấy rận” là gì. 124 năm sau ngày sáng lập trường Tây Y với xuất phát điểm chỉ là hoài bão của một nhóm người nhỏ, ngày nay Học viện Y khoa Hồng Kông đã đào tạo được rất nhiều nhà khoa học và thầy thuốc hàng đầu thế giới, đang cống hiến vì hạnh phúc của cộng đồng toàn cầu.  Các bạn chính là những người đang bước theo dấu chân của truyền thống đó.  Thời và địa  Có lẽ các bạn sẽ hỏi, nếu những bậc “trưởng lão” tiền bối như Patrick Manson và Tôn Dật Tiên đã hoàn tất bao nhiêu cống hiến trọng đại như vậy, thì ngày nay còn lại những gì để thế hệ này của các bạn có thể mơ ước, có thể đương đầu, có thể dốc sức dâng hiến và đeo đuổi nữa?   Tôi tin rằng câu trả lời là có.  Trước khi sáng lập trường Tây Y Hồng Kông, Patric Manson 43 tuổi đã nghiên cứu về “thời” và “địa” của mình. “Địa” là Hồng Kông, mà hồi ấy sự chăm sóc y tế đối với người Hoa Hồng Kông khác một trời một vực so với sự chăm sóc y tế dành cho người phương Tây. “Thời”, là thời kỳ cuối của triều nhà Thanh, khi hệ giá trị truyền thống bắt đầu tan rã sụp đổ nhưng hệ giá trị mới còn chưa thành hình. Khi tốt nghiệp đại học, Tôn Dật Tiên mới 26 tuổi. Hằng ngày khi cuốc bộ trên đường đến trường ông không lúc nào không “chẩn đoán” trạng thái tồn tại của cái xã hội này, nghĩ cách làm thế nào để đem lại hạnh phúc cho nhân dân.  Vậy thời và nơi địa mà các bạn đang sống thì như thế nào?  Trước tiên chúng ta hãy xem các bạn là ai đã. 20% sinh viên Học viện Y khoa trường Đại học Hồng Kông đến từ các gia đình chuyên làm nghề y, có nghĩa là, số 20% sinh viên này có song thân hoặc một trong song thân là bác sĩ hoặc y tá. 60% trong số các bạn xuất thân từ gia đình cha mẹ có trình độ đại học cao đẳng. Nói một cách chính xác, các bạn là tầng lớp tinh hoa của xã hội; cho dù hiện nay chưa phải là tinh hoa thì sau này sẽ là tinh hoa.  Vậy xã hội các bạn đang sống là xã hội như thế nào ?  Hồng Kông “ngôi làng” này là một nơi không giống nơi nào khác. Người dân nơi đây có thu nhập bình quân đầu người hằng năm gần 30 nghìn USD. Nhưng trong 7 triệu cư dân thành phố này có 1,2 triệu người sống dưới chuẩn nghèo. Cứ 4 trẻ em thì có một sống trong cảnh nghèo túng. Chẳng hay các bạn có để ý về những bà già tóc bạc phơ đẩy xe chở hàng ngược lên con đường dốc ở khu Trung tâm? Tại thành phố các bạn đang sống có 40% số người già thuộc vào diện thu nhập dưới chuẩn nghèo.  Ai đến Hồng Kông sẽ thấy ngay một biển quảng cáo hấp dẫn tại sân bay với dòng chữ: “Hồng Kông là đại đô thị thế giới của châu Á”. Nhưng cái biển quảng cáo ấy không nói rằng Hồng Kông cũng là đại đô thị số một về khoảng cách giàu nghèo ở châu Á. Mức độ phân hóa giàu nghèo ở đây rất cao, vượt quá cả Ấn Độ lẫn Trung Quốc đại lục. Hồng Kông cũng đứng đầu về khoảng cách giàu nghèo trong số các nền kinh tế phát triển trên thế giới.  Xã hội mà bạn và tôi đang sống là nơi dễ dàng nhất để một nhà nhiếp ảnh chẳng cần mất nhiều thời giờ để chụp được một hình ảnh điển hình ngoài đường phố, khi một chiếc Rolls Royce hoặc Bentley vừa chạy qua, phía sau nó hiện lên hình ảnh một cụ già đang vục đầu xuống thùng rác ven đường để nhặt nhạnh thứ gì đó.    Cái tầm thường nhất, nhỏ nhoi nhất  Tôi không có ý định kêu gọi các bạn bắt chước Lỗ Tấn bỏ nghề y làm nghề viết văn, hoặc theo bước Tôn Dật Tiên làm chính trị, hoặc tất cả đều đi làm công tác xã hội. Bởi lẽ cuộc đời có nhiều con đường thú vị ta có thể lựa chọn. Tôi chỉ muốn nói một điều: với tư cách là những người tiếp nhận cây gậy tiếp sức của cuộc đua quan trọng này, các bạn có thể bỏ thêm chút thời gian suy nghĩ xem mình đến từ đâu, đang ở đâu. Viên đá đầu tiên lát con đường nối tới làng bên, tức nơi hiện nay bạn đang sống, được lát cách đây 124 năm. Patrick Manson chống lại sự vô tri, kiên trì theo đuổi việc giáo dục các tri thức đã được khoa học chứng thực. Tôn Dật Tiên chống lại sự tham nhũng mục ruỗng của chế độ chính trị, kiên trì chế độ quản lý minh bạch hợp lý. Vậy bạn có từng nghĩ rằng ở thời đại của mình, trong xã hội của mình, bạn sẽ chống lại những gì, sẽ kiên trì theo đuổi những gì?           Những phán đoán và lựa chọn tưởng chừng như  nhỏ nhặt và rất phổ biến trong đời sống hằng ngày, chính là cái quyết  định chúng ta thực chất là loại người như thế nào.        Tôi không mong muốn bạn phải trả lời ngay, bởi một câu trả lời tùy tiện sẽ khiến tôi nghi ngờ sự chân thành của bạn. Những gì ta chống lại và những gì ta kiên trì theo đuổi, tổng hợp lại sẽ thành “đức tin của cá nhân”. Nhưng thay vì phải tuyên bố ầm ĩ, đức tin của mỗi cá nhân được thực hành trong từng chi tiết của cuộc đời. Nó thể hiện ở những quyết định nhỏ nhặt nhất, tầm thường nhất trong cuộc sống hằng ngày.  Về sau Patrick Manson làm Cố vấn y tế của Bộ Thuộc địa ở London, phụ trách việc kiểm tra sức khỏe những người xin đi làm công tác cơ sở tại các vùng Á Phi nhiệt đới. Ai không đạt yêu cầu sức khỏe thì không được nhận việc. Khi ấy ông phát hiện một vấn đề ngoài dự kiến: 90% số người được kiểm tra đều hỏng răng và không đạt yêu cầu kiểm tra. Rốt cuộc chỉ những người có tiền thì mới được các nha sĩ chăm sóc. Vậy ông nên giải quyết vấn đề này như thế nào?  Manson đã xử lý như sau. Ông viết công văn gửi lên Bộ Thuộc địa, nói là nếu lấy lý do hỏng răng để “loại bỏ họ thì coi như loại bỏ tất cả những người thuộc tầng lớp đó”, ông kiến nghị chính phủ nên cung cấp dịch vụ chữa răng cho những người nghèo.  Có những nhà chuyên môn chỉ thấy răng hỏng. Còn những người như Manson khi thấy răng hỏng còn đồng thời thấy được hoàn cảnh sống của con người – ông thấy được nỗi đau khổ của nhân loại. Những phán đoán và lựa chọn tưởng chừng như nhỏ nhặt và rất phổ biến trong đời sống hằng ngày, chính là cái quyết định chúng ta thực chất là loại người như thế nào.    Hương thơm tỏa mãi   Năm tôi 14 tuổi, cả gia đình dọn đến một làng chài nhỏ ở miền Nam Đài Loan. Nhà tôi nghèo đến nỗi khi con cái ốm đau, mẹ tôi không dám đưa con đến phòng khám, vì bà không có tiền để trả. Một hôm em trai tôi sốt cao và ho khá nặng, mẹ tôi buộc phải tìm đến ông thầy thuốc của làng mình. Chúng tôi đều được mẹ đưa đi theo. Bốn đứa trẻ khác tuổi nhau, đứa cao đứa thấp xếp hàng ngang đứng trơ trơ trước mặt thầy thuốc. Ông ấy rất yên lặng, hầu như không nói gì cả, khi mở miệng thì giọng nói rất nhẹ nhàng, có những câu tôi không hiểu lắm, vì ông ấy nói giọng Phúc Kiến pha lẫn tiếng Nhật.  Ông thầy thuốc kiểm tra kỹ sức khỏe lũ chúng tôi rồi cầm lấy chỗ thuốc cô y tá đem lại đặt vào tay mẹ tôi, dùng những lời khó hiểu căn dặn mẹ tôi nên chăm sóc các con như thế nào. Sau đấy ông ấy khăng khăng không nhận tiền mẹ tôi đưa. Từ đó trở đi cho tới khi cả 4 đứa chúng tôi đã trưởng thành, ông chưa bao giờ lấy tiền của mẹ tôi.  Đó là vị thầy thuốc đầu tiên trong ký ức của tôi. Căn phòng khám bệnh nho nhỏ của ông ấy hầu như không có đồ đạc gì, sàn xi măng trơ khấc nhưng sạch sẽ không một hạt bụi. Bên ngoài có một mảnh vườn nhỏ, lá cây sáng lấp lóa dưới nắng chiều. Hoa nhài nở rộ, mùi hoa thơm ngát tràn đầy căn phòng.  Xin chúc các bạn thành công và hạnh phúc. Xin cảm ơn tất cả.                                                                            Hải Hoành dịch theo bản tiếng Hoa của báo Trung Quốc Phương Nam Cuối tuần, có tham khảo bản tiếng Anh. Tên bài và các mục nhỏ trong bài do báo này đặt thêm. Chú thích trong ngoặc đơn là của người dịch bản tiếng Việt.  Nguồn:  1. 我们的村落    作 者: 龙 应 台    2011-12-22     http://www.infzm.com/ content/66849  2. 英文原文链接    Speech by Professor Lung Ying-tai  Faculty Graduation and Prize Presentation Ceremony.  November 28, 2011  http://www0.hku.hk/facmed/grad2011/speech.html   * Xem tại: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=3191    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôi trường tiểu học trong mơ      Chuỗi hoạt động Ngày Sư phạm Cánh Buồm sẽ khép lại với buổi tọa đàm về  chủ đề “Ngôi trường tiểu học trong mơ” tại Hà Nội vào thứ Bảy, ngày  14/12.    Từ khi thành lập, Nhóm Cánh Buồm luôn mơ tới một ngôi trường hiện đại – không đơn thuần là nơi có thật nhiều trang thiết bị đắt tiền – mà là không gian để trẻ tự do học tập, sáng tạo, làm ra chính mình. Ngày Sư phạm Cánh Buồm số 6 sẽ là nơi những người làm giáo dục và các bậc phụ huynh cùng thảo luận và hành động để biến giấc mơ về ngôi trường trong mơ thành hiện thực thay vì ngồi im chờ đợi.   Trong buổi sinh hoạt này, Nhóm Cánh Buồm cũng sẽ chia sẻ một số quan niệm của mình về:  •    Thế nào là nhà trường hiện đại?  •    Thế nào là tự học – tự giáo dục?  •    Làm sao giúp trẻ có khả năng tự học ngay từ những buổi học đầu tiên?  •    Phương pháp học tập mà Cánh Buồm đề xuất có ích lợi gì cho trẻ em?  •    Làm sao để ứng dụng phương pháp này?  Chuỗi hoạt động Ngày Sư phạm Cánh Buồm đã được tổ chức hằng tháng, từ tháng 7 đến tháng 12 năm nay, nhằm tạo ra môi trường trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em.   Thông tin chi tiết:  Thời gian: Từ 15:00 đến 17:00, thứ Bảy, ngày 14/12/2013.  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, số 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn – người sáng lập nhóm Cánh Buồm; Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hải – phụ trách môn Văn và môn Lối sống của Nhóm Cánh Buồm.    Đăng kí tham dự chương trình tại: http://goo.gl/B3TAcN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôi trường tiểu học trong mơ của tôi      Buổi sinh hoạt sư phạm tháng 12 do nhóm Cánh Buồm tổ chức đã diễn ra dưới chủ đề Ngôi trường tiểu học trong mơ của bạn. Xin giới thiệu văn bản ghi lại bài nói của nhà giáo Phạm Toàn trong buổi sinh hoạt này.    I have a dream – tôi có một chiếc xe Đờzim. Đó là nói vậy. Thực ra, cả chiếc xe Đờzim, và cả một ngôi trường tiểu học trong mơ của tôi, tất cả đều còn rất xa vời. Chưa kể là, khi ta hơn tám chục tuổi đời mà còn mơ, thì cầm chắc cơn mơ đó mãi mãi chỉ là mơ.  Biết thế, nhưng vẫn cần nói to lên một giấc mơ ấy.  Như một di chúc.  Tôi mơ thấy gì? Tôi đang nhìn thấy những khoảng không gian từ 5 đến 6 hecta dành cho chỉ một trường tiểu học. Trường học chuẩn bị cho trăm năm ngàn năm thì không thể chen chúc được. Đặc biệt, trường Tiểu học và trường Đại học phải thật đàng hoàng. Tiểu học mà 5-6 hecta, thì đại học phải cả chục hecta. Trong khuôn viên tiểu học phải có vườn lớn, thì đại học phải có hẳn một cánh rừng. Con người chen chúc chắc chắn không thoát khỏi lối suy nghĩ nhỏ nhen, tủn mủn, Bác sĩ Alexandre Yersin tuy là con nhà nghèo nhưng ngày ngày mở cửa sổ là nhìn ra hồ Léman rộng hơn 500 kilomet vuông. Vì thế, khi qua Việt Nam làm việc, ông đã tìm đến ngay cao nguyên Lang Bian, và chọn nơi yên nghỉ bên cạnh các phòng thí nghiệm ở bờ biển Nha Trang. Và đó là con người tìm ra Đà Lạt cho Việt Nam và là vị bác sĩ tìm ra virus dịch hạch hoành hành nhiều thế kỷ đem lại những cái chết đen thui cho nhiều triệu kiếp người.  Một trường tiểu học dăm sáu hecta và một trường đại học cả một cánh rừng!   Sẽ có câu hỏi “lấy đất đâu?” Không khó lắm! Quốc hội sẽ ra một nghị quyết lịch sử có tên “Mười năm xây dựng thiên đường tiểu học cho con em” – mười năm, xin nhắc lại, mười năm, không dây dưa –  với 2 giải pháp chi tiết tối thiểu như sau:  (1) Toàn bộ kinh phí cho giáo dục trong vòng dăm bảy năm liền chỉ tập trung cho việc xây trường tiểu học.   (2) Xây dựng chế độ miễn thuế cho doanh nghiệp nào chủ động góp kinh phí xây trường tiểu học.  Chẳng nhẽ chỉ có vậy? Bây giờ nói tiếp giấc mơ tiểu học của tôi.   Trong khuôn viên cái trường tiểu học ấy phải có một khu vườn với những nét chủ đạo như sau:  Có một cây thị cao to, một quán nước đầu làng dưới gốc thị, một đống rơm, một ngôi lều nhà quê nghèo nhưng đẹp và bên trong có các vật dụng nhà quê xưa kể từ ông đầu rau tới cái liềm cái hái cái nơm cái đó, cái guồng quay tơ bên cạnh cái khung dệt … bên ngoài lều thì có cây cau với cái đài bằng lá cau để hứng nước mưa vào ang đựng nước với gáo dừa đặt ở miệng ang …   Dưới tàn lá của cây thị sẽ có một khoảng đất trống rộng để trẻ em chơi kéo co, đấu vật, đánh cờ người, hát trống quân, hát cò lả… chính các em sẽ học hát chèo, hát tuồng và cải lương để tự biểu diễn ở đây… chính các em sẽ kể khan (sử thi Tây nguyên) tại không gian cộng đồng này… Lưu ý: trong tán lá của cây thị sẽ có một mặt trăng giả dùng điện LED cho các em hưởng cảnh đêm trăng ngay khi không có trăng.  Xa xa khỏi vùng cây thị sẽ là vùng của cuộc sống đương thời: một máy bay cánh quạt bốn cánh một động cơ (làm bằng nhựa to gần bằng thật), một xe buýt cũng to bằng thật, (có thêm một máy bay trực thăng thì càng tốt) và một nhà hát kiêm studio-film để các em tự sử dụng diễn kịch, quay phim, dựng phim…  Ôi, tôi miên man kể mãi mà vẫn không đủ về chi tiết giấc mơ, mà quên nói đến cái chủ đề, để các kiến trúc sư không bị lạc: tôi mơ ước một tập hợp những vật thể chứa đựng nền văn hóa cổ truyền Việt Nam bên cạnh những vật thể hiện đại, sao cho con em có trong tay những dụng cụ học tập và vui chơi theo định hướng ấy …  Một ngôi trường tiểu học như thế đòi hỏi một chương trình học kèm theo sách giáo khoa thể hiện truyền thống dân tộc được hiện đại hóa hoặc đi song song với cuộc sống hiện đại.  Nếu bạn tinh ý, có lẽ bạn đã nhận ra cái tư tưởng truyền thống – hiện đại ấy trong bộ sách Cánh Buồm hoặc trong thực tại triển diễn của tư tưởng Cánh Buồm, ở đó những “đồ dùng học tập” không thể chỉ là mua nhựa phế liệu về đùn đẩy trễ nải thành những chữ A B C và những con số nhựa vô duyên vô hồn.   Nhà trường tiểu học Cánh Buồm ước mơ con em không đào tẩu theo một nền giáo dục khác.      Tạm thời giấc mơ của tôi được di chúc như thế đã.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôn ngữ của giáo dục      Góp phần tích cực vào việc “giải ảo” – không  chỉ đối với các từ ngữ quen thuộc hoặc tân kỳ trong lĩnh vực giáo dục,  mà trong nhiều lĩnh vực khác, nhất là trong lĩnh vực nền tảng là tư duy  triết học nói chung – là thành quả không thể phủ nhận của trào lưu “phân  tích ngôn ngữ”, một trào lưu bắt đầu sôi nổi từ đầu thế kỷ 20 và đã trở  thành một truyền thống lớn, đặc biệt trong khu vực Anh-Mỹ, gọi là  truyền thống “triết học phân tích”, song hành và tương tranh với truyền  thống thường bị gọi là “hàn lâm”, “tư biện”, “siêu hình học” của châu Âu  lục địa.     “Dạy” là gì? “Học” là gì? “Dạy” có nhất thiết bao gồm cả “học” không? Hay nói chung, “giáo dục” là gì? Làm sao phân biệt “giáo dục” với “đào tạo”, “huấn luyện”, nhất là với “nhồi sọ, “đầu độc”? Những hàm ý nào ẩn đàng sau những từ ngữ tưởng như rất rõ ràng: “giáo dục gần với đời sống”, “giáo dục tích hợp”, “giáo dục lấy học sinh làm trung tâm”, “giáo dục tự do”. “giáo dục tiến bộ”, “giáo dục quốc tế”, “giáo dục đa văn hóa”, hay những khẩu hiệu khá hấp dẫn gần đây: “education for change”, “No child left behind”, “teach students not subjects”, v.v. Thêm nữa, ngày càng nhiều những thuật ngữ, khái niệm có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế và quản trị xí nghiệp lan tràn vào lĩnh vực giáo dục: “tăng trưởng”, “khách hàng” (người học), “cung cấp dịch vụ” (người dạy), “thị trường giáo dục”, “chỉ số năng suất”, “kiểm tra chất lượng”, “bảo đảm chất lượng”, “lãnh đạo sư phạm” v.v. Chúng ta vẫn hồn nhiên sử dụng và du nhập những từ ngữ ấy, mà ít khi tự hỏi chúng thật sự có ý nghĩa và hàm nghĩa gì. Và hẳn là ngây thơ nếu tưởng rằng việc chấp nhận và sử dụng chúng sẽ không có ảnh hưởng gì đến tư duy và hành động giáo dục cũng như không bị lừa mị trước những lối “tu từ” tưởng như hàm chứa một cách hiểu mới mẻ, độc đáo nào đó về trách vụ sư phạm và định chế giáo dục. Việc “phân tích từ ngữ”, do đó, luôn cần thiết như là yêu cầu thường trực của tư duy phê phán và tỉnh táo. Đằng sau những tuyên ngôn to tát, những lời kêu gọi thống thiết là những gì? Có thực sự mới mẻ, độc đáo những gì tưởng như độc đáo, mới mẻ? Đã thực sự suy nghĩ chín chắn những gì tưởng như khả thi? Có tuyệt đối cần thiết những gì thật ra chỉ là tương đối? v.v.  Góp phần tích cực vào việc “giải ảo” – không chỉ đối với các từ ngữ quen thuộc hoặc tân kỳ trong lĩnh vực giáo dục, mà trong nhiều lĩnh vực khác, nhất là trong lĩnh vực nền tảng là tư duy triết học nói chung – là thành quả không thể phủ nhận của trào lưu “phân tích ngôn ngữ”, một trào lưu bắt đầu sôi nổi từ đầu thế kỷ 20 và đã trở thành một truyền thống lớn, đặc biệt trong khu vực Anh-Mỹ, gọi là truyền thống “triết học phân tích”, song hành và tương tranh với truyền thống thường bị gọi là “hàn lâm”, “tư biện”, “siêu hình học” của châu Âu lục địa. Khuôn khổ bài báo chỉ cho phép ta nhắc qua thành tựu và hạn chế của truyền thống lớn này, giới hạn trong phạm vi triết học giáo dục.  Từ phân tích đến phân tích ngôn ngữ   Các triết thuyết giáo dục được bàn cho tới nay đều ít nhiều mang tính hệ thống, tức, sau khi mô tả hiện tượng giáo dục, người ta đi tìm bản chất của nó, dựa trên một số niềm tin hay xác quyết nào đó để từ đó đề ra các yêu cầu có tính quy phạm rằng giáo dục phải nên như thế này hoặc không nên làm như thế kia. Các triết thuyết, do đó, thường là các “isms” (“chủ thuyết”, “chủ nghĩa”) như duy tâm (Platon), duy thực (Aristoteles), duy nhiên (Rousseau) hay duy nghiệm (John Locke), duy lợi (John Dewey) v.v. Triết thuyết giáo dục phân tích, ngược lại, mang tính định hướng về phương pháp như là một cách tiếp cận hơn là hệ thống. Nó gần gũi với tinh thần hoài nghi của truyền thống Socrates hay truyền thống phê phán của Kant. Chẳng hạn, khác với nhà khoa học tự nhiên, Kant không nghiên cứu về thực tại, mà về những điều kiện và tiền đề của mọi nhận thức về thực tại. Trong khi nhà vật lý vũ trụ quan tâm đến độ lớn và khoảng cách của ngôi sao vừa mới phát hiện, thì Kant hỏi xem nhà vật lý phải dùng những khái niệm cơ bản nào (vd: lượng, không gian…) để có được nhận thức khách quan, thường nghiệm về ngôi sao ấy. Với quan niệm như thế về nhận thức luận, Kant là người đầu tiên phân biệt giữa nhận thức về thế giới với những điều kiện của nhận thức. Trên cơ sở đó, Kant cũng đồng thời đặt một rào cản cho những tham vọng siêu hình học kiểu Platon vì cho rằng chúng vượt khỏi những điều kiện khả thể của nhận thức con người. Triết học phân tích thế kỷ 20 (với Wittgenstein và các đại diện của Nhóm Vienna) cũng xuất phát từ cảm hứng cơ bản ấy của Kant. Ta biết rằng từ thời cổ đại cho đến Kant, việc phân tích (hay tháo rời các thành tố hình thành nên khái niệm hay phán đoán) là hoạt động cơ bản của triết học (và toán học) với rất nhiều phiên bản khác nhau. Vì thế, không ngạc nhiên khi việc phân tích giữ vai trò trung tâm trong triết học phân tích thế kỷ 20. Điểm mới mẻ là ý tưởng ngày càng chín muồi nơi các triết gia hàng đầu thuộc đại học Cambridge (Anh) với những tên tuổi như G.E. Moore (1873-1958), B. Russell (1872-1970) và nhất là L.Wittgenstein (1889-1951) cho rằng phương pháp cơ bản trong nghiên cứu triết học phải là phương pháp phân tích ngôn ngữ. Nghĩa là, việc đầu tiên mà triết học phải làm là nghiên cứu cấu trúc lôgic của ngôn ngữ và ý nghĩa của từ ngữ. Đề nghị này gắn với niềm hy vọng mang tính “cách mạng” rằng phần lớn những vấn đề triết học hóc búa xưa nay (vd: Thượng Đế, linh hồn…) sẽ được giải quyết, hay, tốt hơn nữa, sẽ được bóc trần là những vấn đề “giả”, bởi ta đã bị ngôn ngữ đánh lừa và rơi vào “bẫy” của nó.  Hai hình thức phân tích  Nhằm chống lại tư duy truyền thống, triết học phân tích tiến hành với hai hình thức bổ sung cho nhau: phân tích diễn giải và phân tích tháo rời. Phân tích diễn giải muốn giải quyết vấn đề bằng cách phiên dịch vấn đề sang những hạn từ hay những quan hệ đã biết. Ví dụ tiêu biểu nhất trong lịch sử là phiên dịch những vấn đề hình học (có thể trực quan) sang ngôn ngữ của đại số và số học không thể trực quan (vd. diễn đạt quan hệ giữa góc vuông với hai cạnh của tam giác thành a²=b²+c²). Tiến trình này cũng đồng thời gắn liền với việc tháo rời tam giác ra thành ba cạnh. Cũng thế, từ xa xưa, nếu định nghĩa con người là “con vật có lý trí”, ta có đẳng thức: “con người” = “con vật” + “lý trí”. Socrates (theo Platon) đã dùng phương pháp tháo rời ấy để cho thấy các hạn từ đều không rõ ràng , và vì thế, định nghĩa trên đây cũng không rõ ràng. Cả hai cách phân tích nói trên được tinh vi hóa bằng nhiều phương tiện hiện đại (lôgíc-toán hoặc phân tích ngôn ngữ thường ngày) và được triết học phân tích xem như phương tiện hiệu nghiệm để “giải quyết” vấn đề, và nếu được, sẽ đi đến chỗ “thủ tiêu” bản thân vấn đề!  Liệu các phương pháp tỏ ra mạnh mẽ và tân kỳ (vào lúc bấy giờ) có thể mang ra áp dụng cho các vấn đề trong lĩnh vực lý thuyết giáo dục được không? Đâu là chỗ mạnh và chỗ hạn chế của phương pháp phân tích ngôn ngữ? Yếu tố nào đã dẫn đến việc vượt bỏ tư duy phân tích để chuyển sang tư duy hậu-phân tích trong truyền thống này nói chung, và trong lĩnh vực giáo dục nói riêng?  Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 41, 24.09.2015         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngữ nguyên trong tiếng Anh      Tìm hiểu ngữ nguyên là một việc thú vị, nó cho ta biết những thông tin về lịch sử, văn hóa, cũng như giúp hiểu rõ thêm căn nguyên về mặt ngữ nghĩa. Một ví dụ điển hình, từ compassion (lòng trắc ẩn) là sự kết hợp giữa prefix com- và từ passion; com- là prefix của tiếng Latin, có nghĩa là “together” (cùng nhau); passion nếu tra theo ngữ nguyên thì nó xuất phát từ tiếng Latin pati, nghĩa là “suffering” (đau khổ). Như vậy để có được lòng trắc ẩn thì người ta cần phải trải qua những đau khổ hoạn nạn cùng với nhau.                            Ngôn ngữ chính là cái phản ánh văn hóa của một dân tộc nào đó, và qua từng thời kì, các từ dần thay đổi về mặt hình thái (morphology) và ngữ nghĩa (semantics) sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh văn hóa xã hội. Do vậy, việc tìm kiếm nguồn gốc của từ ngữ cũng chính là dò theo dấu vết lịch sử sự phát triển về mặt văn hóa của một dân tộc.  Ernest Klein cũng đã từng phát biểu trong phần Preface của cuốn “A Comprehensive Etymological Dictionary of the English Language” [1]: “Biết được nguồn gốc của từ ngữ chính là biết được lịch sử văn hóa của nhân loại.” Việc tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử của từ ngữ chính là mục đích của ngữ nguyên (etymology).   Sơ lược về lịch sử của tiếng Anh  Vì bài viết này nói về ngữ nguyên của tiếng Anh nên trước tiên sẽ nói sơ lược một chút về lịch sử của tiếng Anh.  Tiếng Anh ngày nay được gọi là tiếng Anh hiện đại, thuộc ngữ hệ Ấn -Âu (Indo-European language) [2]; trong đó có sự đóng góp của hai ngữ hệ quan trọng: thứ nhứt là ngữ hệ Italic, với tiêu biểu là tiếng Latin cổ, cùng các ngôn ngữ khác (thuộc ngữ hệ Romance, một ngữ hệ con của Italic) như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Romania; thứ nhì, và cũng là ngữ hệ đặt nền tảng cho tiếng Anh, chính là Germanic (chính xác hơn là West Germanic) [3], tổ tiên của tiếng Đức hiện đại ngày nay.  Vào khoảng thế kỉ thứ 5, có ba chủng tộc Angles, Saxon và Jutes (đến từ vùng đất mà hiện giờ là Đan Mạch và phía Bắc của nước Đức) đã vượt qua Biển Bắc (North Sea) để tới hòn đảo thuộc nước Anh ngày nay. Chữ England hiện nay là xuất phát từ Engla-land (vùng đất của người Angles), còn “English” là từ Old English Englisc, xuất phát từ tên gọi Latin dành cho người Angles Angli. Trước khi những người Germanic này đến, thì đảo Anh thuộc về người Celts, khi nhóm người Germanic đến, họ đã gọi người Celts là wealas (nghĩa là “foreigners”), và đó cũng là nguồn gốc của từ Welsh (người xứ Wales hay ngôn ngữ ở xứ Wales). Và nhóm ngôn ngữ của những người Germanic này đã tạo nên một ngôn ngữ gọi là Old English.  Tới khoảng thế kỉ thứ 9 (khoảng năm 850), những người Viking thuộc chủng tộc Norse (ở vùng Scandinavia) vượt biển đến đảo Anh, và mang luôn ngôn ngữ của họ hòa vào Old English; ví dụ như từ “dream” có nguồn gốc từ Old Norse draumr . Ảnh hưởng từ Old Norse (mà gốc của nó là từ North Germanic [3]) có thể kể đến là việc thay thế từ “sindon” sang từ “are”, hoặc là việc thêm “s” vào cuối động từ ngôi thứ ba số ít ở thì hiện tại đơn, v.v.. [4]  Năm 1066, người Norman bên Pháp sang xâm lược Anh, và mở ra một thời kì mới cho tiếng Anh lúc bấy giờ: Middle English. Đây có thể coi là sự kiện lịch sử quan trọng nhất đối với tiếng Anh, khi mà người Norman đã mang tiếng Pháp của họ vào đem lại những sự mới mẻ và làm phong phú thêm rất nhiều cho kho ngữ vựng tiếng Anh lúc đó. Ví dụ như họ thay thế “cw” bằng “qu” (queen thay cho cwen), mang “gh” (thay vì chỉ có “h”) vào những từ như “night”, “enough”, v.v. cùng với một loạt từ mượn khác của Pháp. [5]  Thời kì Middle English kéo dài đến giữa thế kỉ 15, thì tiếng Anh chuyển sang thời kì Modern English. Thời kì này còn được chia nhỏ làm hai giai đoạn: Early Modern English kéo dài từ giữa thế kỉ 15 đến thế kỉ 18, và thời kì Late Modern English từ thế kỉ 18 cho đến nay. Trong cả hai giai đoạn này, tiếng Anh chịu sự ảnh hưởng rất nhiều từ công cuộc Phục hưng bên châu Âu, với sự đổ bộ của hàng trăm từ gốc Latin và Hi Lạp như area, crisis, maximum, poem, v.v.. Rồi sau đó là ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng Công nghiệp, cũng như ảnh hưởng từ việc đế chế Anh thâu tóm ¼ Trái đất, dẫn đến việc xuất hiện thêm nhiều từ nước ngoài trong kho từ vựng tiếng Anh.  Đặc biệt, trong thời kì Modern English, bắt đầu xuất hiện một dạng tiếng Anh mới mà ngày nay rất thịnh hành, đó là American English. Đó là kết quả của quá trình thực dân Anh sang Bắc Mĩ xâm chiếm. Một điều đáng chú ý ở đây: khi mà tại quê nhà nước Anh đang bị những luồng ngôn ngữ ngoại quốc đổ bộ vào ào ạt thì ở Bắc Mĩ tiếng Anh của những người thực dân đem qua ít bị tình trạng như thế, do đó tiếng Anh vào thời Shakespeare được xem là giống với American English hơn là giống với tiếng Anh ngay tại quê hương Anh quốc. Nhìn chung, lịch sử của tiếng Anh có thể được tóm lại bằng sơ đồ sau:                     Ngữ nguyên một số từ    Tìm hiểu ngữ nguyên là một việc thú vị, nó cho ta biết những thông tin về lịch sử, văn hóa, cũng như giúp hiểu rõ thêm căn nguyên về mặt ngữ nghĩa.  Một ví dụ điển hình cho việc tìm hiểu ngữ nguyên sẽ cho ta biết căn nguyên về mặt ngữ nghĩa chính là từ compassion (lòng trắc ẩn): là sự kết hợp giữa prefix com- và từ passion; com- là prefix của tiếng Latin, có nghĩa là “together” (cùng nhau); passion nếu tra theo ngữ nguyên thì nó xuất phát từ tiếng Latin pati, nghĩa là “suffering” (đau khổ). Như vậy để có được lòng trắc ẩn thì người ta cần phải trải qua những đau khổ hoạn nạn cùng với nhau.  Một từ khác là educate (giáo dục). Gốc từ tiếng Latin của từ này là educare, nghĩa là “bring up”, có liên hệ với một từ Latin khác là educere, nghĩa là “bring out, lead out”. Để hiểu rõ tại sao lại là “bring out” thì ta phải quay về thời Hi Lạp cổ đại để gặp Socrates. Vị triết gia Hi Lạp cổ đại này có một phương pháp dạy học là đặt câu hỏi cho học sinh của mình để tự người học sinh đó rút ra được câu trả lời [6], như vậy “bring out” ở đây có thể hiểu ở nghĩa như thế.  Tìm hiểu nguồn gốc của từ có khi dẫn đến những phát hiện thú vị, ví dụ từ lesbian. Gốc của từ này xuất phát từ tên một hòn đảo của Hi Lạp, đó là hòn đảo Lesbos. Nguyên nhân là vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên, có một nữ nhà thơ tên là Sappho sống tại đảo Lesbos, và bà này có tình cảm đặc biệt với phụ nữ và chuyên làm thơ tình dành tặng cho phụ nữ. Thế là dần dần từ Lesbos, mang nghĩa hoán dụ để chỉ những người đồng tính nữ, được chuyển đổi thành lesbian.  Cũng có khi nguồn gốc của từ lại xuất phát từ một tên người cụ thể nào đó. Một ví dụ điển hình nhất là về từ sandwich. Từ này được lấy theo tên một nhà quí tộc Anh quốc vào thế kỉ 18 là Earl of Sandwich. Ông này cũng nổi tiếng là một tay cờ bạc, có thể chơi đánh bài liền tù tì suốt 24 giờ, và ông ta đã đề nghị để những lát thịt bò nằm giữa hai lát bánh mì để không bị ngắt quãng việc chơi bài bởi việc ăn uống. Sau này, hình thức ăn như thế được người ta gọi theo tên ông, tức là sandwich.  Một ví dụ khác về nguồn gốc từ xuất phát từ một tên riêng, đó là từ money. Vào thời La Mã cổ đại, có một ngôi đền mang tên Moneta dành cho nữ thần Juno của họ, ngôi đền này sau đó được dùng làm nơi đúc tiền, do đó những từ như mint hay money đều có nguồn gốc từ tên ngôi đền này mà ra.  Tiếp theo là một ví dụ về sự biến đổi nghĩa của một từ. Đó là từ consider, và khá ngạc nhiên khi biết rằng nghĩa gốc từ này là “observe the stars” (quan sát các vì sao), vì trong gốc Latin considerare (nghĩa là “observe”) có gốc sidus, nghĩa là “star” (sidus cũng là ngữ nguyên của từ sidereal). Dần dần nghĩa “observe the stars” này được hiểu rộng hơn là “observe”, sau đó đuợc hiểu theo nghĩa ẩn dụ là “think over something”, cũng chính là nghĩa của từ consider hiện nay (suy xét, cân nhắc).  Ngữ nguyên của một từ cũng có thể cho ta biết luôn nguồn gốc xuất xứ của sự vật mà từ đó chỉ đến. Đó là trường hợp của từ orange, từ này xuất phát từ tiếng Sanskrit (tiếng Phạn) naranga, và quả thật là trái cam có nguồn gốc từ Ấn Độ [7]. Sau đó từ naranga du nhập sang Tây Ban Nha, đổi thành naranj; rồi sang Pháp đổi thành orenge, đây cũng là từ tiếng Anh ở giai đoạn Middle English; cuối cùng trở thành orange như tiếng Anh ngày nay.  Một ví dụ khác về nguồn gốc của từ chỉ ra luôn xuất xứ của sự vật chính là chocolate. Xuất xứ của chocolate là từ ngôi làng Nahuatl của dân tộc Aztec bên Mexico. Khi người Tây Ban Nha đến Mexico, họ đã khám phá ra được ở ngôi làng ấy có có một thứ nước uống tên là chocoatl (choco nghĩa là “bitter”, atl nghĩa là “water”). Khi du nhập sang Tây Ban Nha thì cái âm –atl không phổ dụng trong tiếng Tây Ban Nha, nên đã được đổi thành chocolato. Cuối cùng sang tiếng Anh là chocolate.  Có một danh từ chỉ một nơi mà đi bất kì đâu cũng cần phải có, nhất là trong những quán ăn hay nhà hàng. Đó là toilet. Thật ra thì từ toilet này nghĩa ban đầu của nó không giống như nghĩa hiện nay. Từ toilet được mượn từ tiếng Pháp toilette, với nghĩa lúc đó là “cloth cover” (tấm phủ bằng vải), và thường được dùng với ý chỉ “tấm khăn trải bàn trang điểm”, rồi dần dần từ toilet dùng để ám chỉ “hành động thay đồ”, rồi biến thành “phòng thay đồ kèm theo những tiện nghi dùng để tắm rửa”, và sau cuối trở thành cái nghĩa mà hiện nay được sử dụng rộng rãi.  Cuối cùng sẽ nói về ngữ nguyên của một từ cực kì thông dụng hiện nay. Chính là từ OK. Từ này thật ra là ý chỉ gì, viết tắt cho cái gì, nó đã gây ra nhiều luồng dự đoán, nhưng mãi đến năm 1964 người ta mới thật sự tìm ra được nguồn gốc của từ OK này.  Vào năm 1838, các tờ báo ở Mĩ có xu hướng cố tình biến một từ đúng thành sai chính tả rồi viết tắt nó, ví dụ tờ Morning Post ở Boston thời bấy giờ đã dùng O.W. để viết tắt cho chữ all right, người biên tập đã viết tắt như thể chữ đó được viết là oll wright. Từ xu thế đó mà từ OK bắt đầu xuất hiện, với vai trò là viết tắt của từ oll korrect (một kiểu cố tình viết sai của cụm từ all correct), và đây chính là ngữ nguyên chính xác nhất của từ OK. Tuy nhiên từ OK này có lẽ sẽ bị rơi vào quên lãng nếu như không nhờ có một sự kiện khác. Đó là vào năm 1840, một năm sau khi từ OK chính thức xuất hiện trên mặt báo, những người theo Đảng Dân Chủ ở New York đã lập ra Câu lạc bộ OK. Tên OK của câu lạc bộ này chính là viết tắt của cụm Old Kinderhook, lấy từ tên của một thị trấn nằm ở phía bắc quận Columbia của New York, vì đó là nơi sinh của tổng thống Hoa Kì lúc đó là Martin Van Buren [8], người đứng ra tái tranh cử tổng thống vào năm 1840. Do từ OK này đã xuất hiện trước đó, nên những người của Đảng Dân Chủ này lấy tên đó với ý chỉ ứng viên của họ sẽ “all right”. Chiến dịch vận động tranh cử vào năm 1840 đã chứng kiến sự xuất hiện hàng loạt của từ OK trên khắp các phương tiện truyền thông. Có thể nói tuy Old Kinderhook không phải là ngữ nguyên của từ OK, nhưng nó đã góp phần củng cố vị trí của từ OK trong tiếng nói của người Mĩ. [9]  Còn rất nhiều ngữ nguyên thú vị khác, nhưng vì giới hạn của bài viết nên chỉ nêu ra một số như thế, phần còn lại có thể tham khảo tại một số từ điển ngữ nguyên đáng tin cậy như cuốn “A Comprehensive Etymological Dictionary of the English Language” của Ernest Klein, hay Word Origins của John Ayto, cũng có thể xem phần word origin ở các từ điển tiếng Anh nổi tiếng như từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary phiên bản thứ 8, Oxford Concise English Dictionary hay Meriam-Webster’s Collegiate Dictionary.  Sài Gòn  24/7/2010  _______  Ghi chú:  [1] Ernest Klein (1899 – 1983): nhà ngôn ngữ học người Canada, sinh ra tại Romania, có gốc Do Thái.  Nguyên văn câu của Ernest Klein:  “To know the origin of words is to know the cultural history of mankind.”   [2] Coi thêm về sơ đồ của ngữ hệ Ấn-Âu:  http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4f/IndoEuropeanTree.svg/2000px-IndoEuropeanTree.svg.png  Và sơ đồ của một nhánh ngữ hệ Ấn-Âu có liên quan đến tiếng Anh:  http://img802.imageshack.us/img802/5751/indoeuropeanlanguagesce.png  [3] Coi thêm về sự phân chia của nhóm ngôn ngữ Germanic:  http://www.wordorigins.org/index.php/site/comments/a_very_brief_history_of_the_english_language3/  [4] Crystal, David. “Old English”. The Cambridge Encyclopedia of English Language. Cambridge University Press, 2003; p.25  [5] Coi thêm một số từ trong tiếng Anh du nhập từ Pháp trong giai đoạn Middle English:  http://a.imageshack.us/img194/5712/somefrenchloansinmiddle.jpg  (Bảng này lấy từ cuốn The Cambridge Encyclopedia of English Language của David Crystal)  [6] http://www.cals.ncsu.edu/agexed/aee501/socrates.html  [7] http://hubpages.com/hub/history-and-origin-of-oranges-orange-oil-benefits  [8] Martin Van Buren (1782-1862): vị tổng thống thứ 8 của Hoa Kì, nhiệm kì 1837-1841, và là một trong những sáng lập viên của Đảng Dân Chủ.  [9] Wilton, David. “OK”. Word Myths: Debunking Linguistic Urban Legends. Oxford  University Press, 2004; p. 28.    Tài liệu tham khảo:  Ayto, John. Word Origins. A & C Black, 2nd edition, 2005  Crystal, David. The Cambridge Encyclopedia of English Language. Cambridge University Press, 2003   Klein, Ernest. A Comprehensive Etymological Dictionary of the English Language. Elsevier, 1966   Oxford Latin Dictionary. Oxford University Press, 1968.  http://www.wordorigins.org/index.php/site/comments/a_very_brief_history_of_the_english_language3/  http://www.krysstal.com/wordname.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngữ văn cần là môn học bắt buộc của bậc đại học!      Ngữ văn Đại học Trung Quốc (TQ) đang ở vào “tình trạng khẩn cấp”. Cụm từ mà tôi sử dụng không chỉ láy lại ý của bài báo trên “Thanh niên TQ” cho rằng giáo dục “Ngữ văn đại học” đã bị “ngoài lề hóa” một cách nghiêm trọng, trong khi giáo viên của môn này lại cảm thấy thất bại và lạc lõng bội phần.    Thông thường, mỗi giáo viên đều ưu ái môn của mình hơn hết, vì vậy, hay thổi phồng tầm quan trọng và nhấn mạnh tính tất yếu của việc xây dựng các giáo trình phục vụ môn học đó.  Nếu nói Ngữ văn quan trọng, vậy Lịch sử không quan trọng sao? Triết học không quan trọng sao? Chính trị quốc tế không quan trọng sao? Thậm chí, Vật lý học thiên thể không quan trọng sao? (Giả dụ không thì chúng ta lý giải thế nào về “Thần Châu 6”?) Nếu như các môn học và kiến thức đều đua nhau trở thành môn học bắt buộc chung, thì học sinh sẽ không thể chịu nổi gánh nặng này. Bởi vậy, tôi đồng ý rằng phải cân nhắc, lựa chọn giáo trình môn học chính, và nếu cần, có thể hi sinh.  Nhưng, chúng ta có thể hi sinh môn Ngữ văn không? Tôi cho là không thể. Ngược lại, trong mỗi trường đại học, Ngữ văn cần trở thành môn học bắt buộc của sinh viên (tất cả các chuyên ngành). Ở đây, điều tôi muốn nói không phải là những lý do sâu sắc mà xa xôi như “nêu cao văn hóa truyền thống” hay “giáo dục tinh thần nhân văn”… Mặc dù tôi cũng phần nào ủng hộ những lập luận này, nhưng chúng ta tạm thời gác lại những lý do ấy. Trong thời đại mà không ít người cho là thời đại của chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa vụ lợi ầm ĩ và bẩn thỉu, tôi đưa ra một lý do “thực dụng” nhất, “thiết thân” nhất, đó là các bài viết của sinh viên đại học đang ở trong tình trạng đáng báo động!  Hồi đầu mới về nước dạy học, từng nghe không ít đồng nghiệp than thở rằng “sinh viên bây giờ không biết viết một bài văn”, tôi không thể tin được. Trong hai năm sau đó, tôi đọc qua rất nhiều bài viết của sinh viên, nhiều nhất đương nhiên là các báo cáo học tập và luận văn. Cá nhân tôi đi từ kinh ngạc đến run rẩy và tê dại. Hầu hết những “văn bản” mà tôi đọc được hoàn toàn xuất phát từ cùng một mô thức – mô thức cứng nhắc, muôn bài như một. Tôi không thể dựa vào văn phong của học sinh để nhớ tên của các em, bởi dường như những con chữ này cũng từ bàn tay của một người máy vô danh mà ra. Về sau tôi mới rõ, đây thực ra là một loại “phương pháp và kỹ năng làm văn” rất thịnh hành, hoặc nói chính xác hơn, là một phương pháp che mắt rất tiện lợi, không ngần ngại lấy quan điểm của người khác làm quan điểm của mình, hơn nữa lại được biểu đạt một cách hoành tráng, khác gì thiên hùng văn! Kiểu viết như thế này đã trở thành “kiểu mẫu thông dụng” của sinh viên hiện nay. Đối với bất kỳ ai có thái độ nghiêm túc với chữ nghĩa, điều này đi ngược lại với cả hai từ “viết văn” và “thành thực”.  Nếu một giáo viên tận tâm đi tìm nguyên nhân, vén được bức màn che mắt, thì sẽ thấy rằng vẫn còn một số học sinh thực sự có cách nghĩ, quan điểm riêng, nhưng các em bất lực trong biểu đạt. Viết văn với đa số học sinh thật vất vả, họ hoảng đến mức có thể vứt bỏ cả cách nghĩ chân thực của mình để hành văn, chọn chữ theo cách mà họ mượn từ một “bài mẫu” nào đó. Nếu bạn bắt ép các em học sinh biểu đạt mình một cách chân thực, thì chỉ có một bộ phận học sinh may ra có thể làm được rõ ràng, rất ít người có thể viết ra những bài văn có “sức thuyết phục”. Còn những bài văn có phong cách, cá tính và sức biểu cảm thì cực kỳ hiếm hoi.  Những con chữ tươi mới, sống động phản ánh tâm tình của các em chỉ xuất hiện trong các tin nhắn điện thoại hoặc các diễn đàn trên mạng. Và các em tỏ ra rất giỏi về phong cách hài hước, châm biếm. Chính xác thì đây cũng là một khả năng viết văn, nhưng lại không hề là thành quả giáo dục ngữ văn của chúng ta.  Bởi thế, tôi không đồng ý với quan điểm của giáo sư Ôn Nho Mẫn ở Đại học Bắc Kinh: Việc văn học bị đẩy ra ngoài lề là bình thường, bởi vậy, “không cần thiết phải đưa giáo dục ngữ văn thành một bộ phận không thể thiếu của giáo dục đại học.” Chính xác thì, thời đại của chúng ta có thể (bất đắc dĩ) hi sinh văn học, nhưng chúng ta không thể hi sinh “ngữ văn”. Bởi theo tôi hiểu, về bản chất, “giáo dục ngữ văn” không phải là để đào tạo tiểu thuyết gia hay nhà thơ, mà thông qua “văn học” để nắm được cách đọc và viết tiếng nước mình. Tôi tin rằng đây là mục tiêu không thể đạt được nếu chỉ dựa vào cái gọi là “làm văn ứng dụng” hay “Tiếng Hán thực hành”.  Xã hội hôm nay đã có ngày càng nhiều sinh viên chọn công tác “trái ngành, trái nghề”sau khi tốt nghiệp. Theo xu thế lớn này, còn có môn học nào là bắt buộc? Nếu chúng ta cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, tiếng Anh là vô cùng quan trọng với người TQ, thậm chí có thể yêu cầu một học sinh phải học môn tiếng Anh từ cấp tiểu học cho tới nghiên cứu sinh, thì ngược lại, “ngữ văn” sẽ bị đặt vào vị trí một môn phụ có thể chọn hoặc bỏ, thậm chí bị gạt ra ngoài lề? Vậy thì, ai và dựa vào cái gì để hủy bỏ vị trí chính thức, cần thiết của Ngữ văn đại học, chẳng lẽ chúng ta không muốn đòi hỏi một lý do?      Lưu Kình    Nguồn tin: Tân Hoa xã (người dịch Nhuệ Anh)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Người châu Á chi hàng tỷ USD cho học thêm      Một nghiên cứu công bố ngày 4/7 cho thấy các bậc phụ huynh châu Á ngày càng mạnh tay chi hàng tỷ USD cho con cái học thêm, và xu hướng đó đang gia tăng bất chấp có không ít ngờ vực về hiệu quả của việc “đầu tư tương lai” này.    Theo Trung tâm nghiên cứu giáo dục thuộc Đại học Hong Kong ở Khu Hành chính đặc biệt Hong Kong (Trung Quốc), dạy thêm đang ở thành một ngành nghề phát đạt, liên tục mở rộng không chỉ ở những nước giàu mà thậm chí ở cả các nước nghèo trong khu vực khi những người làm cha làm mẹ cố gắng cho con cái được hưởng một sự khởi đầu tốt nhất.  Gần 9/10 học sinh tiểu học Hàn Quốc có gia sư trong khi con số này với học sinh tiểu học ở bang Tây Bengal của Ấn Độ cũng lên đến 6/10.  Nghiên cứu nhấn mạnh: “Tỷ lệ ở các nước khác thấp hơn, song tình hình chung ở châu Á là hình thức giáo dục này đang lan rộng ngày càng mạnh mẽ.”   Nghiên cứu kêu gọi cần xem xét lại tất cả các hệ thống giáo dục để việc dạy thêm, học thêm không còn lôi kéo các gia đình như vậy.  Phụ đạo nhằm mục đích giúp những học sinh chậm tiến và hỗ trợ các em hướng tới thành tích cao. Hình thức này đang được nhiều phụ huynh châu Á coi là một cách tích cực để tận dụng thời gian rảnh rỗi của con cái.  Tuy nhiên, theo nghiên cứu, dồn hết cho học hành như vậy sẽ khiến trẻ em không có thời gian cho thể thao hay các hoạt động khác vốn quan trọng cho phát triển toàn diện. Không những thế, nó còn gây ra căng thẳng xã hội khi các gia đình giàu có đủ lực tài chính để cho con cái được hưởng chất lượng giáo dục tốt hơn hẳn.  Ước tính chi phí cho gia sư ở Hàn Quốc tương đương tới 80% ngân sách chính phủ chi cho giáo dục công. Năm 2010, người Nhật Bản bỏ ra 12 tỷ USD cho con cái học thêm, còn ở Singapore, con số này năm 2008 là 680 triệu USD. Đặc khu Hong Kong là nơi mà trào lưu dạy thêm, học thêm diễn ra rầm rộ với 85% số học sinh phổ thông trung học.  Nhưng theo nghiên cứu, dù dạy thêm học thêm trở thành trào lưu rộng rãi như vậy, hiệu quả lại không phải là tốt đẹp toàn diện. Phần lớn phụ thuộc không chỉ vào động lực, khả năng của học sinh mà còn vào động lực, khả năng của gia sư. Ở nhiều nước, người ta trở thành gia sư mà không qua đào tạo và tính hiệu quả của một số dạng phụ đạo là đáng ngờ.  Nghiên cứu kêu gọi chính quyền cần giám sát chặt chẽ và quy định cụ thể với ngành đặc biệt này, cũng như cần đánh giá lại các hệ thống giáo dục ở châu Á: “Cần đặt ra câu hỏi tại sao dạy thêm học thêm lại trở thành hàng đầu như vậy, và cần làm gì để phụ đạo không còn là thứ tất yếu mà các phụ huynh khao khát con cái được hưởng”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người gác cổng thiên đàng      “Những sự khác biệt mà không thật sự tạo nên được những sự khác biệt thì không phải là những sự khác biệt”! Đó có lẽ là hạt nhân của triết thuyết dụng hành Mỹ, xem nguồn gốc của mọi việc là ở trong hành động, hướng đến kết quả của hành động và mời gọi hành động.      Vì thế, triết thuyết dụng hành không tra hỏi về những “sự thiện tối cao” hay những nguyên lý phổ quát, mà về sự khả biến của thế giới, về tính chất diễn trình của nó. Thế giới là “đề án”, là “thử nghiệm”, nên chìa khóa của sự tiến bộ không nằm trong quá khứ hay trong các giá trị cao xa như thói quen của triết học, mà trong việc thẩm định thực trạng. Nếu tương lai đặt nền móng trong hiện tại và con người có thể tạo nên cái mới bằng tư duy sáng tạo, thì con người cũng tự gánh chịu trách nhiệm, bởi phải tự mình cân nhắc trước những hậu quả của hành động. Chưa bàn đến lời phê bình có thể có đối với thuyết dụng hành: hành động của con người, kỳ cùng, có hướng theo những giá trị bất biến nào không, ta tập trung vào hai câu hỏi sau cùng trong triết thuyết giáo dục-hành động của John Dewey: bản chất của phương pháp và vai trò của nhà trường trong sự tiến bộ của xã hội.    BẢN CHẤT CỦA PHƯƠNG PHÁP  Dewey theo thuyết dụng hành, (thậm chí ông còn gọi là “thuyết công cụ”), vì thế, với ông, thế giới dựa trên kinh nghiệm và con người chỉ có thể học hỏi nếu biết nối kết kinh nghiệm với quá khứ và tương lai. Công thức nổi tiếng của ông: “giáo dục là kinh nghiệm liên tục được tái tạo”. Vậy, kinh nghiệm là gì? Ông trả lời: đó là tiến trình tuần hoàn liên tục giữa hành động của ta và thế giới chung quanh. Một khi vòng tuần hoàn này gặp rắc rối, bị tắt nghẽn và không thể giải quyết bằng thói quen được nữa, ta gặp phải “vấn đề”. Bấy giờ tình huống buộc ta phải suy nghĩ và tiến hành “có phương pháp”. Phần đóng góp của tư duy phương pháp càng lớn, chất lượng giáo dục của kinh nghiệm càng cao. Để kinh nghiệm có thể trở thành “kinh nghiệm giáo dục”, ta cần phân biệt hai loại kinh nghiệm: kinh nghiệm cấp một, bằng “thử và sai”; kinh nghiệm cấp hai, như là hệ thống và khoa học. Chỉ có kinh nghiệm cấp hai này mới có giá trị trong giáo dục. Ở cấp hai này, ta phải trải qua “toàn bộ hành trình tư duy” gồm năm bước:  –     nhận diện tình huống như là “có vấn đề”;  –     làm rõ tình huống bằng cách xác định vấn đề và phác họa một kế hoạch.  –     nghiên cứu vấn đề, đặt và kiểm tra các giả thuyết;  –     suy nghĩ thấu đáo những hệ quả của giải pháp; và sau cùng  –     quyết định chọn một giải pháp, rồi lại kiểm tra lần nữa trước khi chấp nhận hoặc bác bỏ.  Vậy, chỉ khi ta suy nghĩ và hành động có phương pháp, ta mới thu thập tri thức và kinh nghiệm để tiến tới kinh nghiệm cao hơn, xa hơn.  Dewey rút ra kết luận: việc học trong nhà trường là một chuỗi những tình huống có vấn đề, mà học sinh phải xử lý dựa vào “phương pháp khoa học”. Đi vào cụ thể, thầy giáo lựa chọn những tình huống sao cho học sinh không thể giải quyết chỉ bằng những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của cá nhân mình, trái lại, buộc học sinh phải tra cứu kinh nghiệm của những người đi trước, tức phải cầu viện đến tri thức hàn lâm và chuyên ngành để cân nhắc phương hướng, đề ra giả thuyết và hoàn thành được nhiệm vụ. Chính “phương pháp vấn đề” sẽ giúp phát triển năng lực tư duy trong hành động thực tiễn và nâng cao chất lượng kinh nghiệm dựa theo một kế hoạch cặn kẽ.  Theo Dewey, tất nhiên cần phải xem trọng những thắc mắc, ham thích và thiên hướng tự nhiên của học sinh, nhưng chức trách của nhà giáo còn ở chỗ thách thức người học về mặt trí tuệ bằng những đề nghị, câu hỏi và tư liệu hấp dẫn trên nhiều lĩnh vực: những bài toán, những thí nghiệm khoa học, những nghiên cứu điền dã, những công trình sáng tạo v.v.. Quan trọng ở đây là: không chỉ kích thích động cơ học tập mà còn giúp người học sở đắc những kiến thức vững chắc từ những “vấn đề” hiện thực và khách quan, qua đó mở rộng và nâng cao kinh nghiệm.    NHÀ TRƯỜNG VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI  Dewey đã từng xem nhà trường là cơ sở hiệu quả nhất của giáo dục và tiến trình xã hội hóa. Bây giờ, ông còn đi một bước xa hơn nữa: nhà trường và giáo dục là phương tiện hiệu quả nhất để biến đổi xã hội. Trong “Tín niệm giáo dục của tôi”, ông viết: “Tôi tin rằng giáo dục là phương pháp cơ bản cho sự cải cách và tiến bộ xã hội”. Nhờ năng lực khoa học và uy tín xã hội, nhà trường có thể giúp xã hội Mỹ trở thành nền “dân chủ xã hội” dựa trên sự tự do và bình đẳng về cơ hội.  Muốn thế, cần phải có một “đội ngũ” nhà giáo thực sự trưởng thành. Họ cần được huấn luyện về tâm lý, đào tạo về khoa học và sẵn sàng dấn thân. Họ không thể tiếp tục nhận đồng lương chết đói và là chỗ trú chân tạm thời cho nữ giáo viên trước khi lập gia đình như tình hình ở nước Mỹ đương thời. Trái lại, họ phải được chuyên nghiệp hóa và phục vụ xã hội, độc lập với bộ máy quan liêu. Dewey gửi gắm toàn bộ niềm tin vào sức mạnh, quyền lực và sự liêm khiết của nhà giáo qua những lời hùng hồn hiếm có khi kết thúc tác phẩm nói trên: “Tôi vững tin rằng nhà giáo luôn là công bộc của xã hội để bảo tồn trật tự xã hội đúng đắn lẫn sự tăng trưởng xã hội đúng đắn (…), vì thế, nhà giáo bao giờ cũng là nhà tiên tri của Thượng Đế đích thực và là người gác cổng của thiên đàng đích thực”.  Ông hiểu “trật tự xã hội đúng đắn” là nền dân chủ tự do do các “tổ phụ” khai sinh ra nước Mỹ tạo ra và mục tiêu mà “sự tăng trưởng xã hội đúng đắn” hướng tới là xã hội đa nguyên, không có áp bức, bóc lột và có sự tham dự và hợp tác của mọi công dân.  Dewey không đơn độc trong ước vọng này về nhà trường và giáo dục nếu ta nhớ lại bối cảnh của nước Mỹ từ nửa sau thế kỷ 19. Ngay từ 1883, Francis W. Parker, giám đốc trường sư phạm Chicago (được Dewey rất ngưỡng mộ) từng gọi nhà trường là “cộng đồng hoàn hảo” và là “bào thai của nền dân chủ”. Parker tiên đoán: “Một ngày nào đó, nhà giáo sẽ lãnh đạo xã hội và định hình công luận”. Với Parker cũng như Dewey, nhà trường là hình thức lý tưởng của xã hội, mang trọng trách song đôi: là “cơ sở đào tạo chính trị” để mang lại ý thức trách nhiệm và năng lực phê phán cho “trí tuệ xã hội”, đồng thời là “trung tâm phục vụ xã hội” giúp công dân biết tự giúp mình và tự khai phóng chính mình.  Nhưng rồi cũng chính kinh nghiệm khắc nghiệt trước thực tế xã hội đã khiến Dewey có phần điều chỉnh lại sự hưng phấn của tuổi trẻ trong “Kinh nghiệm và Giáo dục” (1938). Nhà trường và giáo dục tuy vẫn là “điều kiện cần” nhưng chưa thể là “điều kiện đủ” cho sự cải biến xã hội.  Tuy nhiên, sự xác tín không thay đổi nơi ông: nhà trường không phải là chỗ tái sản xuất những “con người công cụ” cho xã hội mà là nơi nuôi dưỡng và tái tạo nhân tố cải cách xã hội.  Người đàn ông bé nhỏ với hàng râu mép đáng yêu ấy mang dáng dấp của một Moses nhẫn nại trước ngưỡng cửa của “thiên đàng giáo dục”! (Lawrence A. Cremin, 1961).          Author                Quản trị        
__label__tiasang Người học là ai?      Biến cố do Covid-19 khiến giáo dục truyền thống phải chuyển sang trực tuyến, học sinh phải tự học là một thử thách nhưng cũng là một cơ hội để chúng ta tư duy lại một cách nghiêm túc về nhiều khía cạnh, nhiều câu hỏi trong giáo dục. Bài viết này chỉ đưa ra một số chấm phá liên quan đến câu hỏi về vai trò của người học, tức là đi trả lời câu hỏi căn bản: học sinh là ai?      Giáo dục khởi đi từ học sinh, thậm chí là từ từng học sinh là điều mà Phần Lan đang làm rất tốt. Ảnh:The Nordic Council and the Nordic Council of Ministers.  Học sinh là chủ thể duy biệt  Học sinh là ai? Dĩ nhiên các em là những con người, những trẻ em, những chủ thể duy nhất và khác biệt (duy biệt). Trẻ em không phải là tờ giấy trắng trống trơn để rồi người lớn có thể vẽ lên đó những gì người lớn muốn. Người học không phải là cái bình trống để người lớn lấp đầy những gì mình muốn, mà là ngọn lửa mà những người làm giáo dục phải tìm cách thắp sáng lên, nói theo cách của triết gia người Pháp Michel de Montaigne.  Nghĩa là mỗi người học là một chủ thể duy nhất, không có một bản sao y hệt khác trong hàng tỷ tỷ con người từ xưa đến nay. Vì là bản thể duy nhất nên người học cũng khác biệt nhau. Đây là điều tự nhiên, gắn với thân phận của con người, là một đặc ân, một sự cao trọng mà Thượng Đế ban tặng cho riêng từng con người mà ở loài vật không có. Maria Montessori đã mô tả sự duy biệt và cả sự cao quý của con người qua hình ảnh ví von “Con người là sản phẩm làm bằng tay của Thượng Đế”, khác với sản phẩm được sản xuất hàng loạt kiểu công nghiệp. Chúng ta hãy hình dung, mỗi một con người là một sản phẩm độc đáo do Thượng Đế kỳ công sáng tạo trong tình yêu của Ngài, và vì làm bằng tay, nên con người là những bản thể khác biệt nhau, mà ở đây chúng ta đang bàn về sự duy biệt của người học.  Tính duy biệt nơi người học thể hiện trên nhiều phương diện: về cách vận hành của não bộ, cách học, cách đón nhận thông tin, các loại hình thông minh, các đặc điểm tâm thể lý, hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình của người học, “vốn văn hóa” mà người học thụ hưởng trong gia đình và môi trường sống xung quanh v.v.       Một kế hoạch giáo dục, một giáo án, một cách thức giảng dạy chất lượng là những điều phải khởi đi từ học sinh, thậm chí là từ từng học sinh.      Tất cả những điều trên mang tính cá nhân, ảnh hưởng lên quá trình hình thành nhân cách, trên căn tính của từng học sinh, và tất cả lại ảnh hưởng đến việc học của từng em.   Não bộ và việc học  Não bộ là lối đi bắt buộc của sự học, vì chẳng ai có thể học được gì nghiêm túc nếu không thông qua não bộ, không động não ít nhiều. Thế nhưng chúng ta đã hiểu được về bộ phận quan trọng này bao nhiêu?   Não bộ, bộ phận mà chúng ta thường ví như gáo dừa trên cổ mỗi người chứa khoảng 100 tỷ nơ ron thần kinh. Để trao chuyển thông tin, các nơ ron này kết nối với nhau bằng các tua dài. Mỗi một nơ ron có thể thực hiện vài chục ngàn kết nối với các nơ ron khác, tạo thành các mạng lưới vô cùng phức tạp, có thể tập hợp đến hai triệu tỷ kết nối (Giordan, 2016, tr, 75). Nghĩa là não người ẩn chứa những khả năng vô cùng to lớn mà đến nay con người vẫn chưa hiểu về “vũ trụ” nhỏ bé nhưng vĩ đại của chính mình bao nhiêu. Các dữ liệu khoa học hãy còn chắp vá và còn nhiều khoảng trống, nhiều câu hỏi cần các nhà nghiên cứu trả lời. Tuy vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ như điện não đồ ngày nay cũng đã cho phép chúng ta hiểu biết hơn nhiều hơn so với trước đây, và điều này rất hữu ích cho những người làm giáo dục.  Chẳng hạn người ta biết não được chia thành nhiều vùng, nhiều trung tâm và vô số cấu trúc khác nhau. Năm 1909, nhà phẫu thuật người Đức Korbinian Brodmann đã mô tả có tới 52 bộ phận chỉ riêng tại vỏ não. Mỗi một vùng hay trung tâm đó lại liên hệ đến một, hay một số khả năng, ví như khả năng về ngôn ngữ, logic, toán học liên quan đến não trái (Howard Gardner), những gì mà trường học trên khắp thế giới rất đề cao, trong khi các khả năng về nghệ thuật như hội họa, âm nhạc lại liên quan đến não phải, những gì trường học có giảng dạy, nhưng chỉ như là những môn phụ không quan trọng. Thế nhưng thật trớ trêu, một số nghiên cứu cho rằng những môn nghệ thuật mang nhiều cảm xúc này lại liên quan rất nhiều đến trí nhớ, đến khả năng sáng tạo và lập luận, những thứ cần thiết giúp học tập, nghiên cứu một cách hiệu quả. Tạp chí Nature đã công bố một nghiên cứu trong đó “các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng âm nhạc cổ điển có thể cải thiện khả năng lập luận trừu tượng (đặc biệt là khả năng được vận dụng vào toán học, hoặc môn cờ vua) bằng cách củng cố sự kết nối giữa các phần khác nhau của não. Họ cho rằng chìa khóa của kết quả này chính là tính phức hợp của bản nhạc (theo nghĩa: được soạn rất công phu). (Bruno, 2014, tr. 64).    Chúng ta hay bàn tới các lý thuyết, mô hình giáo dục mà quên hoặc ít tiếp cận từ người học. Điều quan trọng là giáo viên phải được đào tạo, phân quyền để trở thành những chuyên gia giáo dục có khả năng thấu hiểu từng học sinh. Ảnh: Trường THCS Thực nghiệm.   Tuy vậy, cho đến nay người ta không tìm thấy một vùng, một trung tâm hay một cấu trúc của não bộ liên quan đến sự học, kiểu như trung tâm điều phối ngôn ngữ (được xác định bởi bác sĩ người Pháp Paul Broca), mà biết rằng sự học dựa trên các vùng khác nhau. Các vùng này giải mã thông tin, tập hợp, xử lý các dữ liệu khác nhau. Hàng tỷ thông điệp được trao đổi qua lại giữa chúng một cách chóng vánh, tạo ra một hiện tượng kinh ngạc nơi con người mà loài vật không có: con người tư duy (Giordan André, 2016, tr. 69). Con người có khả năng tư duy, tức là có khả năng học tập.   Việc học tập, tức là việc thâu nhận kiến thức và các kỹ năng không xảy ra một cách tuyến tính, theo đường thẳng từ bên ngoài vào người học kiểu như cách hoạt động của một máy ghi âm hay ghi hình. Mà điều này tùy thuộc vào người học, người học là chủ thể, là tác giả của những gì được học (xem Giordan, 2016). Nghĩa là người học đóng vai trò quyết định trong việc lựa lọc, đánh giá, đối chiếu, suy xét và cuối cùng là quyết định thâu nạp hay không, và thâu nạp ở mức độ nào. Việc học được một điều mới là một quá trình kết nối, tương tác trao đổi, phối hợp giữa các nơ ron thần kinh, các bộ phận khác nhau của não bộ, giữa não bộ và các giác quan khác nơi người học, giữa người học và môi trường xung quanh, giữa kinh nghiệm, quan điểm có sẵn của người học và kiến thức mới. Tất cả những gì thuộc về người học mang tính duy biệt nên kiến thức được đón nhận cũng mang tính riêng, cá nhân và do đó là mang tính chủ quan, nhưng vì người học sống trong một môi trường xã hội với một bối cảnh văn hóa, xã hội, kinh tế nhất định, nên kiến thức cũng mang những nét chung, chịu ảnh hưởng ít nhiều từ những “ý thức chung” (sens commun).         Công việc đầu tiên và quan trọng nhất của một giáo viên khi nhận một lớp học là nghiên cứu, quan sát từng học sinh để nắm rõ tất cả những đặc điểm riêng của từng em như đã trình bày, từ đó lên từng kế hoạch, thiết kế từng giáo án phù hợp với từng con trẻ để giúp trẻ tự phát triển tốt nhất theo cách của mình. Điều mà chúng ta gọi là phương cách “khác biệt hóa” trong giáo dục.      Điều này giải thích tại sao trước cùng một bài giảng, nhưng cách hiểu và mức độ thâu nhận của từng học sinh là khác nhau. Vậy nên một kế hoạch giáo dục, một giáo án, một cách thức giảng dạy chất lượng là những điều phải khởi đi từ học sinh, thậm chí là từ từng học sinh, những điều Phần Lan đã làm rất tốt mà tôi đã trình bày trong cuốn sách của mình (Nguyễn Khánh Trung, 2015). Công việc đầu tiên và quan trọng nhất của một giáo viên khi nhận một lớp học là nghiên cứu, quan sát từng học sinh để nắm rõ tất cả những đặc điểm riêng của từng em như đã trình bày, từ đó lên từng kế hoạch, thiết kế từng giáo án phù hợp với từng con trẻ để giúp trẻ tự phát triển tốt nhất theo cách của mình. Điều mà chúng ta gọi là phương cách “khác biệt hóa” trong giáo dục.  Tóm lại, não bộ không hoạt động như một máy vi tính, trí nhớ không phải là thư viện khô khan mà phụ thuộc vào tâm trạng và cảm xúc của người học, thông tin từ bên ngoài vào não không đi theo một đường thẳng mà phụ thuộc rất nhiều vào những gì người học có, nhất là phụ thuộc vào quan điểm, bộ lọc sẵn có của người học.   Não bộ, một bộ máy hết sức tinh vi với những khả năng tiềm tàng, khả năng học tập đã được thiên nhiên ban tặng cho con người một cách công bằng và hào phóng từ khi con người đang nằm trong bụng mẹ. Montessori đã cho rằng trẻ nhỏ có khả năng tham gia tương tác với môi trường vật lý và xã hội xung quanh để góp phần kiến tạo nên môi trường, cũng như có khả năng tự phát triển, tự giáo dục bản thân. Vị bác sĩ người Ý này khuyên người lớn nên đóng vai “voi mẹ” thong thả bước sau con của mình để tạo một môi trường an toàn cho con tự lớn lên về mặt thể chất và tinh thần, chứ không vội vàng can thiệp, làm thay. Những hành động như vậy bị nhà giáo dục nổi tiếng này xem là “hủy diệt linh hồn của trẻ”. Các nghiên cứu và các phát hiện sau này về khả năng của não bộ con người đã chứng minh cho những nhận xét của nhà giáo dục này.  Khả năng thấu hiểu từng học sinh  Người học là duy biệt xét về nhiều mặt và là tác giả của những gì mình có liên quan đến sự học mà bài viết ngắn này chỉ vừa mới đưa ra một vài chấm phá để chúng ta cùng nhau suy nghĩ. Lịch sử giáo dục của các quốc gia, cũng như những gì đang xảy ra trên thế giới cho chúng ta thấy, quốc gia, xã hội nào tôn trọng và biết bám trên những điểm căn bản này để thiết kế nên những trường học, những cách thức giáo dục phù hợp, thì quốc gia đó có một nền giáo dục chất lượng, tử tế, đào tạo được những công dân chất lượng, thúc đẩy quốc gia đó phát triển mà người ta hay nhắc đến Phần Lan như một ví dụ điển hình.  Việc đặt học sinh làm trung tâm, khởi đi từ người học để giúp người học tự phát triển tối đa theo cách của mình không thể xảy ra trong một hệ thống quản lý giáo dục tập quyền kiểu như “sách giáo khoa là pháp lệnh”, kiểu mà người ta thường ví von như đầu bếp của Bộ giáo dục lên một thực đơn, tự nấu các món ăn theo gu của mình và bắt mấy chục triệu học sinh trên cả nước phải ăn bất chấp nhu cầu, sự khác biệt trong khẩu vị của từng cá nhân, từng vùng miền thế nào. Hình thức áp đặt đồng loạt như thế có thể phù hợp với một nhóm học sinh nào đó nhưng không bao giờ đem lại “hạnh phúc” cho tất cả, không tạo được động lực cho tất cả vì nó phản lại với tính duy biệt mà chúng ta đã nhấn mạnh, và do đó cũng đi ngược lại với bản chất tự nhiên của con người.       Việc đặt học sinh làm trung tâm, khởi đi từ người học để giúp người học tự phát triển tối đa theo cách của mình không thể xảy ra trong một hệ thống quản lý giáo dục tập quyền kiểu như “sách giáo khoa là pháp lệnh”.      Từ xưa đến nay, chúng ta hay bàn đến các lý thuyết, các tư tưởng, các mô hình giáo dục mà quên hoặc ít tiếp cận từ người học. Chúng ta đang “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, những người chủ trương cũng đã cố gắng để gần hơn với các phương thức giáo dục tiến bộ, nhưng dường như vẫn chưa bắt đầu từ người học. Khi chúng ta khởi đi từ người học, thì sẽ không có chuyện theo mô hình A và gạt bỏ mô hình B mà là câu chuyện mô hình nào sẽ phù hợp với học sinh nào, cũng như câu chuyện mô hình sẽ trở thành thứ yếu. Điều quan trọng là giáo viên phải được đào tạo, được phân quyền, để trở thành những chuyên gia giáo dục có khả năng thấu hiểu từng học sinh, có khả năng phối hợp với các bên để lập kế hoạch cho từng em, biết tạo ra một môi trường thúc đẩy tinh thần hiếu tri, khơi gợi động lực, trang bị cho học sinh các khả năng và thói quen truy vấn, phản biện để các em không bị xô ngã trong một thế giới đầy rẫy các thông tin thật giả lẫn lộn như ngày nay. Triết gia Rousseau (1762), tác giả của Emile hay là Giáo dục đã viết: “Tạo cho trẻ sự ham thích này [ham thích học] […], thì phương pháp nào cũng sẽ tốt.”□  —-  Chú thích  * Ý chính của bài viết này đã được trình bày trong Hội thảo Quốc tế (online) được tổ chức bởi AVSE và Đại học Giáo dục hà Nội, ngày 09/06/2020.  Tài liệu tham khảo  Giordan, A. (2016). Apprendre. Paris: Belin.  Hourst, B. (2014). J’aide mon enfant à mieux apprendre. Paris : Editions Eyrolles.  Lillard, P. (1996). Phương pháp Montessori ngày nay. (Dịch bởi Nguyễn thúy Uyên Phương, 2014). Hà Nội : Nxb. KHXH.  Nguyễn Khánh Trung. (2015). Giáo dục Việt Nam và Phần Lan – Một nghiên cứu so sánh điển hình về vai trò các chủ thể tại hai trường tiểu học công lập của hai nước. Hà Nội: Nxb. KHXH.  Thomas, A. (1999). 7 loại hình thông minh – Nhận biết và phát triển trí năng tiềm ẩn (Dịch bởi Mạnh Hải và thu Hiền, 2018). Hà Nội : Nxb : Lao Động – Xã hội.       Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Người Mỹ dạy trẻ mẫu giáo      Một nh&#224; khoa học đoạt giải Nobel khi được hỏi, ở đ&#226;u &#244;ng học được những kiến thức khiến &#244;ng trở n&#234;n vĩ đại như vậy? đ&#227; trả lời rằng: Nơi t&#244;i học được nhiều nhất đ&#243; l&#224; vườn trẻ, v&#236; rằng, ở đ&#243; người ta dạy t&#244;i c&#225;ch biết tu&#226;n thủ c&#225;c quy định, biết n&#243;i xin lỗi khi m&#236;nh sai… C&#243; lẽ sẽ l&#224; thừa khi ch&#250;ng ta nhắc lại ở đ&#226;y những l&#253; luận nhằm chứng minh vai tr&#242; rất quan trọng của gi&#225;o dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu gi&#225;o đối với qu&#225; tr&#236;nh ph&#225;t triển nh&#226;n c&#225;ch của trẻ. Tuy nhi&#234;n, c&#226;u trả lời sẽ trở n&#234;n th&#250; vị, khi ch&#250;ng ta t&#236;m hiểu việc gi&#225;o dục trẻ em độ tuổi mẫu gi&#225;o ở Mỹ, nơi nền gi&#225;o dục được coi l&#224; hiện đại v&#224; ti&#234;n tiến bậc nhất tr&#234;n thế giới.    Dạy trẻ từ tính tự lập  Người Mỹ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi người. Vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn.  Những người làm công tác giáo dục mẫu giáo ở Mỹ đều được nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà.   Các kỹ năng tự phục vụ của trẻ bao gồm: Buộc dây giầy, mặc quần áo, cài cúc áo, kéo phéc-mơ-tuya, rửa mặt, đánh răng, chải đầu, ăn cơm… Tuy nhiên, những kỹ năng này không đồng nhất ở tất cả các giai đoạn phát triển của trẻ. Các nhà nghiên cứu, sau nhiều năm nghiên cứu và quan sát đã chỉ ra rằng: Trẻ từ 18-24 tháng có thể tự dùng cốc uống nước, có thể tự nhặt lấy đồ chơi; từ 2-3 tuổi có thể học cách tự mình đi đại tiểu tiện, ăn cơm, mở phéc-mơ-tuya và mặc quần áo; từ 3-4 tuổi, tính độc lập của trẻ đều phát triển mạnh, những kỹ năng đã học được ở trên đều trở nên thành thục hơn, gần như trẻ có thể làm mà không cần sự giúp đỡ của người lớn; từ 5-6 tuổi, trẻ có thể học cách tự rửa bát, sắp xếp đồ đạc của mình ngay ngắn,…  Những giáo viên mẫu giáo Mỹ khi rèn luyện cho trẻ khả năng tự lập thường dùng phương pháp là: Đồng thời với việc đề ra nhiệm vụ, họ cũng đưa ra những điều kiện để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn, để dạy trẻ tự mang giày, họ thường đưa cho trẻ những đôi giày to hơn một chút so với cỡ chân của các em. Hoặc để dạy trẻ tự rót nước sữa, họ đưa cho trẻ những bình sữa có miệng to giúp trẻ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Cách làm như vậy sẽ gây cho trẻ hứng thú cũng như tự tin trong việc hoàn thành các “nhiệm vụ”.   Đến sự lễ phép  Ở các trường mẫu giáo ở Mỹ, ngoài việc khơi mở trí lực giai đoạn đầu cho trẻ, người ta rất coi trọng việc dạy cho trẻ các quy tắc lễ nghi. Yêu cầu đối với mỗi em là phải nghe theo lời chỉ bảo của các giáo viên, học cách tham gia các hoạt động tập thể cùng với những học sinh khác. Trong các trường mẫu giáo ở Mỹ, mỗi khi có một bạn nhỏ hắt xì, sẽ phải nói với những người bạn xung quanh của em rằng: “Xin lỗi!”, ngược lại, những người bạn của em sẽ nói: “Chúc phúc cho cậu!”. Điều này đã trở thành một hành vi tự giác của trẻ.   Đối với những trẻ em phạm lỗi, không nghe lời,… người ta thường dùng phương pháp “phạt ở một mình”. Lý do là, trẻ em ở độ tuổi này sợ nhất là việc phải ở một mình. Hơn nữa, phương pháp này cũng có tính khoa học của nó. Khi trẻ bình tĩnh trở lại, mới giảng giải điều hay lẽ phải cho trẻ hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. Tất nhiên việc “giam” một mình đối với trẻ có phần nào đó khó chấp nhận đối với các bậc phụ huynh, tuy nhiên, nó có thể tạo được ảnh hưởng tích cực, đó chính là giúp trẻ hình thành thói quen giữ bình tĩnh trở lại khi đang tức giận. Nổi nóng ở những nơi công cộng là điều dường như không ai có thể chấp nhận được ở Mỹ. Do đó có thể khống chế được tình cảm của bản thân, bất luận trong tình huống như thế nào cũng có thể bình tĩnh ứng xử là một nội dung quan trọng trong các mối quan hệ công chúng ở Mỹ. Phong độ cũng như sự trầm tĩnh của người Mỹ, có lẽ liên quan nhiều đến phương pháp giáo dục ngay từ độ tuổi mẫu giáo này.                    Trong việc giáo dục những lễ nghi ứng xử cho trẻ ở giai đoạn này, một trong những yếu tố rất được đề cao là vai trò của người giáo viên. Ở độ tuổi mẫu giáo, những điều trẻ học được không phải là những lý giải mà là những mô phỏng. Vì thế, nếu như những thầy cô giáo ở trường có thái độ không tốt đối với trẻ, chúng sẽ học theo các thầy cô, đối xử không tốt với bạn bè và người xung quanh. Nói cách khác, hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý cũng như sự hình thành tính cách của trẻ. Do đó, những giáo viên mẫu giáo ở Mỹ đều phải thông qua những yêu cầu rất nghiêm ngặt về trình độ. Bên cạnh yêu cầu trình độ cử nhân trở lên, những giáo viên này còn phải thông qua một chương trình tập huấn chuyên nghiệp và đạt được “Chứng chỉ giáo viên mẫu giáo” hoặc “Chứng chỉ giáo viên tiểu học”. Những năm gần đây, một số bang của Mỹ còn đưa ra yêu cầu trình độ tối thiểu là thạc sỹ đối với các giáo viên ở trường mẫu giáo.     Sự tôn trọng: Chất “dinh dưỡng” đặc biệt   Ở Mỹ, việc tôn trọng trẻ em không chỉ vì chúng nhỏ tuổi, cần sự ưu ái, quan tâm, chăm sóc mà còn vì trong quan niệm của họ, mỗi đứa trẻ ngay từ khi ra đời đã là một cá thể độc lập, có cá tính và những mong muốn độc lập của mình. Bất kể là bố mẹ hay thầy cô giáo đều không có đặc quyền chi phối và hạn chế hành vi của chúng. Đặc biệt là trẻ em, sau này trưởng thành, cha mẹ hay thầy cô không thể thay thế thế chúng trong những lựa chọn mà chúng phải đối mặt trong hiện thực. Vì thế, cần phải làm cho trẻ cảm thấy rằng, bản thân chúng, chứ không phải ai khác là chủ nhân của mình.   Chẳng hạn, người Mỹ rất chú ý đến phương pháp cũng như giọng điệu khi nói chuyện với trẻ. Khi nói chuyện với trẻ, người lớn không chỉ phải chăm chú nghe mà có lúc còn phải quỳ xuống để nói chuyện với trẻ một cách “bình đẳng”, khiến trẻ cảm thấy được tôn trọng. Khi trẻ ăn cơm, không thể ép, khi trẻ phạm lỗi không nên quở mắng quá lời, khi muốn trẻ thay quần áo, cũng không thể to tiếng quát nạt,… nếu không, sẽ làm cho trẻ cảm giác nặng nề và tự ti.   Người Mỹ, khi đem con đến nhà người khác, nếu như chủ nhân đưa đồ ăn cho trẻ, họ sẽ không thay trẻ nói những câu đại loại như: “Không ăn đâu!”, “Không cần đâu!”,… Đồng thời, khi trẻ tỏ ý muốn ăn đồ ăn, họ cũng sẽ không to tiếng quát mắng. Họ cho rằng, trẻ muốn xem gì, ăn gì, bản thân nó không có gì sai, nếu như trẻ có nhu cầu đó, không có lý do gì có thể chỉ trích chúng cả. Điều những người lớn phải làm là, căn cứ vào thời điểm thích hợp mà đưa ra sự giảng giải thích hợp để trẻ hiểu, với tư cách là “người hướng dẫn”. Người Mỹ phản đối việc dạy dỗ con cái trước mặt người khác, càng không cho phép việc trách mắng là “ngu dốt”, “chẳng làm nên trò trống gì”, “không có chí khí”,… trước mặt nhiều người. Vì rằng, cách dạy dỗ đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự tin cũng như sự phát triển về sau của trẻ.  Nhà giáo dục vĩ đại John Locke từng nói: “Bố mẹ không nói nhiều đến các lỗi của con cái thì chúng sẽ ngày càng coi trọng danh dự của bản thân, từ đó cố gắng để đạt được những lời khen ngợi của người khác đối với mình. Nếu như cha mẹ trước mặt mọi người nhắc đến lỗi lầm của trẻ sẽ khiến chúng xấu hổ. Trẻ em càng cảm thấy danh dự của bản thân bị tổn hại, lại càng ít chú ý đến việc giữ gìn danh dự”. Có người cho rằng, người Mỹ đã tôn trọng con cái một cách quá đáng, nhưng thực tế đã chứng minh, những trẻ em được bố mẹ chúng tôn trọng tỏ ra rất hợp tác với bố mẹ, hữu hảo với bạn bè, rất lễ phép, không có cảm giác mất tự nhiên khi nói chuyện với người lớn.  Hai mươi phút quan trọng trong ngày  Nhiều nhà giáo dục Mỹ kêu gọi các bậc cha mẹ dành 20 phút mỗi ngày để đọc sách cho con cái của mình nghe. Hai mươi phút là thời gian không dài nhưng sẽ rất hữu ích với trẻ. Qua giọng đọc rủ rỉ của cha mẹ mỗi ngày, hứng thú về việc đọc sách sẽ dần được hình thành trong trẻ. Bên cạnh đó, thực tiễn đã chứng minh, việc trẻ được nghe đọc sách thường xuyên có thể giúp trẻ tăng cường khả năng chú ý, vốn từ vựng, kích thích, khơi gợi trí tưởng tượng, mở rộng tầm nhìn và kiến văn cho trẻ,… Vì thế, ở Mỹ các chuyên gia đều khuyên các bậc phụ huynh đọc sách cho trẻ nghe càng sớm càng tốt.   Người Mỹ rất chú trọng việc đọc sách cho trẻ nghe mỗi ngày. Tại bang Hawaii nước Mỹ, các nhà giáo dục kết hợp với chính quyền nơi đây đã tổ chức cả một hoạt động quy mô: “Hãy đọc vì trẻ em”, kêu gọi các bậc phụ huynh mỗi ngày dành ít nhất là 10 phút để đọc sách cho trẻ nghe. Hoạt động này nhanh chóng lan rộng ra các bang khác của Mỹ với quy mô ngày càng lớn. Từ đó, không ít các tập đoàn kinh tế tổ chức và tham gia các loại hoạt động tương tự, đồng thời gọi đó là: “Hai mươi phút quan trọng nhất trong ngày của bạn”.  Tiểu kết  Lâu nay, người ta nói nhiều, bàn nhiều đến giáo dục Mỹ với một sự ngưỡng vọng về một nền giáo dục hiện đại và phát triển nhất thế giới. Điều gì tạo nên thành công của nền giáo dục Mỹ? Nguyên nhân thì có rất nhiều, song, có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng là người Mỹ đã quan tâm một cách thực sự đến việc giáo dục và đào tạo con người ngay từ giai đoạn đầu tiên. Cách mà người Mỹ dạy trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo có lẽ sẽ cho chúng ta nhiều gợi ý về một sự quan tâm đúng mức trong việc giáo dục trẻ ở giai đoạn này.   Lê Hy Văn  lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Mỹ nói về mô hình giáo dục Phần Lan?      Tại bãi cỏ bên ngoài khuôn viên trường Kallahti, một nhóm trẻ em khoảng 9 tuổi ngồi dựa lưng vào nhau, lấy que cây, quả thông, quả dâu và đá sỏi xếp hình trên mặt đất đóng băng. Để cho các em khác tuy không nhìn thấy các hình xếp ấy nhưng vẫn có thể nói đó là hình gì, nhóm trẻ xếp hình sẽ phải dùng những từ ngữ hình học thích hợp để mô tả các hình thù đó.      Ông Veli-Matti Harjula, thầy giáo phụ trách dạy nhóm học sinh này suốt từ lớp 3 đến lớp 6, giải thích: Đây là một cách dạy toán khác với cách dùng bút và giấy, nó có thể trực tiếp đi thẳng vào đầu óc lũ trẻ. Thực ra khái niệm dạy “Toán học ngoài trời” (Outside math) ấy do các nhà giáo dục Thụy Điển nghĩ ra, chứ không phải của Phần Lan. Có điều thầy giáo Harjula chẳng cần xin phép ai cả mà vẫn có thể áp dụng phương pháp này miễn là làm sao cho học sinh đạt được các mục tiêu tổng thể của giáo trình giảng dạy do Ủy ban Giáo dục Phần Lan quy định. Nói riêng về môn toán, giáo trình cơ bản chỉ có 10 trang (tăng thêm 3,5 trang so với trước đây).   Gần đây tất cả mọi người trên thế giới đều sửng sốt khi thấy Phần Lan nổi lên như một vì sao mới trong lĩnh vực giáo dục. Trong kỳ trắc nghiệm PISA gần đây nhất vào năm 2009, Phần Lan đứng thứ 2 về hiểu biết khoa học, thứ 3 về toán và thứ 2 về đọc hiểu. Trong khi đó, thành tích của Mỹ về tất cả các chỉ tiêu hầu như đều tụt hạng, họ đứng thứ 15 về đọc, chỉ đạt trình độ trung bình của OECD. Chính bản thân người Phần Lan cũng ngạc nhiên với những thành tựu trong giáo dục của mình bởi họ cũng chỉ làm mỗi một việc là giảm hết mức việc kiểm tra sát hạch học sinh mà thôi.  Chỉ có hai cường quốc giáo dục châu Á – Hàn Quốc và Singapore mới là đối thủ thực sự của Phần Lan. Hai quốc gia này áp dụng phương pháp luyện học sinh học rất nặng, khiến người ta nhớ đến chương trình luyện học sinh giỏi để dự thi Olympic của khối Xô Viết cũ. Quả thực gần đây một bà mẹ người Mỹ gốc Hoa – bà Amy Chua, có viết một cuốn sách tên là Chiến ca của Mẹ Hổ (Battle Hymn of the Tiger Mother), trong đó bà chê trách các phụ huynh người Mỹ đã không áp dụng kỷ luật sắt trong việc dạy con – cách làm bà cho là cần thiết để đào tạo được học sinh giỏi. Cuốn sách ấy đã khiến cho nhiều người băn khoăn không hiểu làm như thế có quá đáng hay không.  Phương pháp giáo dục nhẹ nhàng thoải mái của Phần Lan có thể đem lại thành công cấp thế giới. Điều đó đã thu hút các đoàn cán bộ giáo dục từ Mỹ và khắp thế giới đến Helsinki để khảo sát học hỏi. “Tại châu Á, học sinh phải học rất nhiều giờ ở trường và nhiều giờ ở nhà. Nhưng tại Phần Lan học sinh học ở trường ít giờ hơn học sinh Mỹ. Đây là một mô hình hấp dẫn hơn”. – ông Andreas Schleicher, người phụ trách thi PISA của OECD nói.  Hơn nữa bài làm về nhà của học sinh Phần Lan cũng rất ít. Ông Katja Tuori chuyên trách công tác tư vấn tại trường Kallahti, nơi học tập của các trẻ em dưới 16 tuổi, nói: “Mỗi ngày làm bài tập ở nhà một tiếng đồng hồ là đủ để trở thành học sinh giỏi. Lũ trẻ còn có cuộc sống của chúng chứ”.   Dĩ nhiên nhà trường cũng có nội quy của mình. Chẳng hạn không được mang iPod hoặc điện thoại di động vào lớp; trong giờ học không được đội mũ (thậm chí người ta còn định cấm mặc áo khoác trong lớp, nhưng vì khí hậu quá lạnh nên thôi). Chỉ thế thôi, không nhiều hơn. Có lần thầy Tuori phát hiện thấy một học sinh nhắn tin trong giờ học, ông nhìn cậu bé với ánh mắt trách móc, thế là cậu ta ngoan ngoãn cất điện thoại đi. Tuori nói: “Chỉ khi học sinh có những hành vi thực sự xấu như đánh nhau thì mới bị trừng phạt”.  Xét về mặt coi học sinh là trẻ con để dạy dỗ chúng, người Phần Lan có rất nhiều ý tưởng khôn ngoan. Chẳng hạn họ để cho giáo viên phụ trách một lớp suốt từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu; như vậy sẽ có thời gian lâu dài dăm năm để theo dõi nắm được tính tình học sinh và qua đó tìm được cách thích hợp dạy dỗ chúng.  Thành công của giáo dục Phần Lan đa phần bắt nguồn từ một vũ khí không có gì bí mật cả – đó là thầy cô giáo. Ông Schleicher ở OECD nói: “Chất lượng giảng dạy là nhân tố làm cho Phần Lan thành công về giáo dục. Tại nước Mỹ, giáo dục đã trở thành một mô hình công nghiệp, giáo viên chỉ là công cụ dùng để chuyên chở một sản phẩm làm sẵn. Còn ở Phần Lan thì giáo viên là tiêu chuẩn mẫu mực (của xã hội)”.   Đó cũng là một trong các nguyên nhân vì sao nhiều người Phần Lan muốn trở thành giáo viên. Nhờ thế nước này có thể lựa chọn ra những giáo viên giỏi từ một kho đầy ắp nhân tài sư phạm. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2008 có 1.258 sinh viên tốt nghiệp đại học xin dự khóa đào tạo giáo viên tiểu học, nhưng chỉ có 123 người (tương đương 9,8%) được nhận. Khóa đào tạo tiêu chuẩn này kéo dài 5 năm. Mỗi giáo viên đều phải có học vị thạc sĩ (người Phần Lan gọi là thạc sĩ giáo dục, tức kasvatus, từ được dùng để gọi bà mẹ dạy con). Mức lương hằng năm của giáo viên là từ 40 đến 60 nghìn USD và họ làm việc mỗi năm 190 ngày.  Ông Jari Lavonen Chủ nhiệm Khoa Sư phạm trường Đại học Helsinki nói: “Bỏ ra 5 năm để đào tạo tất cả các giáo viên là một việc làm tốn kém, nhưng điều đó làm cho các thầy cô giáo của chúng tôi được xã hội rất tôn trọng và khen ngợi”. Nhận xét về các đồng nghiệp Phần Lan, Dan MacIsaac, chuyên gia giáo dục môn vật lý người Mỹ tại Đại học bang New York ở Buffalo từng đến thăm Phần Lan hai tuần đã nói: “Các thầy giáo của họ chuẩn bị bài dạy môn vật lý tốt hơn chúng ta. Họ được tự do phát huy kỹ năng giảng dạy chứ không như ở Mỹ, nơi người ta đối xử với giáo viên như với người đưa bánh piza, nghĩ cách làm thế nào để đưa bánh đến nơi nhanh hơn”.  Theo Reijo Laukkanen cố vấn Ủy ban Giáo dục Nhà nước: “Phần Lan là một xã hội công bằng, còn Nhật và Hàn Quốc là những xã hội cạnh tranh rất mạnh — nếu bạn không học tốt hơn hàng xóm thì cha mẹ bạn sẽ bỏ tiền cho bạn đi học các lớp học buổi tối. Người Phần Lan không quá coi trọng việc mình phải có biểu hiện xuất sắc hơn người hàng xóm. Ở xứ này mỗi người đều đạt được trình độ trung bình, nhưng trình độ trung bình ấy rất cao”. Nguyên tắc đó đã giúp cho Phần Lan gặt hái được thành công lớn về giáo dục. Kết quả trắc nghiệm PISA về kiến thức khoa học năm 2006 cho thấy 80% nhóm học sinh kém nhất của Phần Lan được điểm cao hơn mức trung bình (của nhóm học sinh kém nhất) của OECD. Còn ở nhóm học sinh khá nhất thì chỉ có 50% học sinh Phần Lan được điểm cao hơn mức trung bình (của nhóm học sinh khá nhất) của OECD. Điều đó xét về tổng thể, việc nâng cao trình độ trung bình của nhóm học sinh bậc thấp đã đem lại hiệu quả sâu xa.   Dường như Phần Lan có thể xuất khẩu một số chính sách giáo dục của họ, nhưng sẽ không dễ để họ xuất khẩu được ý tưởng “tất cả vì một người, mỗi người vì mọi người” mà họ vẫn theo đuổi. Xin nêu một thí dụ: Thái Lan từng có ý định nhập khẩu mô hình Phần Lan để áp dụng cho hệ thống giáo dục của mình. Tuy nhiên, tại xứ sở châu Á này mỗi khi xuất hiện tình hình học sinh nào đó học kém thì phụ huynh sẽ mời gia sư đến nhà dạy thêm – một chuyện khó có thể tưởng tượng ở Phần Lan.     Nguyễn Hải Hoành  lược dịch Nguồn: Finnishing School  http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,2062465,00.html Apr. 11, 2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Mỹ trăn trở: Học ngành KHKT hay Nhân văn?      Trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ suy giảm khả năng cạnh tranh trước những đối thủ mới nổi từ châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc – những nơi mà nền giáo dục có truyền thống chú trọng rèn luyện học sinh và sinh viên các kỹ năng của khoa học tự nhiên – nước Mỹ đứng trước câu hỏi, liệu có nên ưu tiên cho các bộ môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học, hơn so với các bộ môn xã hội và nhân văn. Dưới đây là quan điểm của Michael Brown, cây viết thường xuyên của tạp chí The Chronicle of Higher Education      Một số ý kiến đề xuất chương trình đào tạo dạy bao gồm cơ bản các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học (viết tắt là STEM1). Việc ưu tiên các môn học này là lý tưởng hóa tính duy lý và định lượng so với các môn được cho là tập trung vào sự đánh giá, cảm nhận, và thúc đẩy biểu hiện các “giá trị” [mang tính định tính] trong cuộc sống.  Một chương trình theo hướng STEM về cơ bản cho rằng giáo dục bậc cao trong tương lai phải nhấn mạnh những nhận thức mang tính trung tính về giá trị của lý trí thị trường, hơn là những nhận thức [định tính] giúp con người xác lập thành các giá trị (Christensen 2). Đặc tính của hành vi thị trường là ưu tiên tính định lượng. Vì thế người ta nghĩ rằng những kiến thức được sinh ra từ các thị trường, giống như các môn khoa học tự nhiên, có đặc thù trung tính, và vì thế có tính phổ quát cao. Từ đó, người ta cho rằng những lý trí thực dụng là nguồn hiểu biết duy lý [khách quan] duy nhất và nó biện minh cho việc ưu tiên các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học so với các môn nhân văn.        Một số người bảo vệ cho các ngành nhân văn với lý do các môn đó làm giàu nền giáo dục, nhưng như vậy vẫn chưa nói đúng và đủ về sự cần thiết phải cân bằng giữa khoa học và nhân văn. Khi mà một ngành tri thức được xây dựng theo định hướng giúp giáo dục cho con người một thái độ phê phán về những hoàn cảnh chung của đời sống, thì ngành tri thức ấy không đơn giản chỉ là làm giàu cho giáo dục.         Nhưng luận điệu trên đây sẽ không thuyết phục nữa nếu như người ta thấy rằng nhân văn giúp xây dựng và duy trì những tri thức mà không chỉ giới hạn trong phạm vi những sự biểu đạt, trân trọng, và đánh giá các giá trị.  Một số người bảo vệ cho các ngành nhân văn với lý do các môn đó làm giàu nền giáo dục, nhưng như vậy vẫn chưa nói đúng và đủ về sự cần thiết phải cân bằng giữa khoa học và nhân văn. Khi mà một ngành tri thức được xây dựng theo định hướng giúp giáo dục cho con người một thái độ phê phán về những hoàn cảnh chung của đời sống, thì ngành tri thức ấy không đơn giản chỉ là làm giàu cho giáo dục. Chúng ta phải nhớ rằng các môn nhân văn cung cấp hiểu biết quan trọng về bản chất xã hội, và những hiểu biết này sẽ bị loại bỏ nếu người ta theo đuổi một phiên bản cực đoan của chương trình giáo dục lấy các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học làm hạt nhân.  Sự hấp dẫn của chương trình giáo dục lấy STEM làm hạt nhân này là nó có sự hậu thuẫn từ ý tưởng cho rằng nước Mỹ chỉ có thể cạnh tranh được với thế giới nếu tư duy kỹ thuật được coi trọng hơn tư duy xã hội. Đây là một quan điểm độc đoán, phớt lờ vai trò của giáo dục về đời sống cá nhân và xã hội. Tại sao người ta lại làm vậy? Câu trả lời là, “vì chúng ta có thể.” Nói cách khác, ai có quyền lực thì người đó có tiếng nói quyết định trong cuộc tranh luận về sự cân bằng giữa khoa học và nhân văn. Có lẽ việc ủng hộ một chương trình học chủ yếu là các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học cho thấy một sự tập trung quyền lực gắn liền với lợi ích của một bộ phận cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học.         … Bảo vệ các môn STEM bằng cách hy sinh các môn nhân văn cũng có nghĩa là “giảm giá” bản chất xã hội của chúng ta.         Những người đang an toàn về quyền lợi như vậy dễ tự tin rằng lợi ích của mình đại diện cho lợi ích quốc gia, và cũng dễ tuyên bố rằng những gì họ cung cấp sẽ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mọi cá nhân và xã hội. Một tuyên bố như vậy mặc định cho rằng sự tiến bộ xã hội đòi hỏi phải có một chương trình giáo dục gồm chủ yếu những môn học phù hợp với lý tưởng của một mô hình quyền công dân mang tính cá nhân với định hướng thiết thực. Trong mô hình này, đặc thù của công dân là nhìn nhận các vấn đề theo bản chất kỹ thuật và tuân thủ theo các luật lệ mang tính kỹ trị.  Nhưng bảo vệ các môn STEM bằng cách hy sinh các môn nhân văn cũng có nghĩa là “giảm giá” bản chất xã hội của chúng ta. Nó đòi hỏi chúng ta mặc định rằng mọi câu hỏi về giá trị đều nên được giải quyết theo logic “thị trường sẽ quyết định giá cả”, vốn được cho là tự cân bằng, hiệu quả, trung tính, chính xác và phổ biến đối với mọi hoạt động quan trọng của con người.   Hoàng Minh lược dịch   The Sciences vs. the Humanities: a Power Struggle của Michael Brown đăng tháng 4/2011 trên tạp chí The Chronicle for Higher Education  —–  1 Viết tắt của Science, Technology, Engineering, và Math  2 Theo bài Disrupting College: How Disruptive Innovation Can Deliver Quality and Affordability to Postsecondary Education của Clayton M. Christensen, Michael B. Horn, Louis Caldera, Louis Soares đăng trên trang chuyên ngành của Viện Innosight, tháng 2/2011                                    Trong khi các học giả Mỹ còn tranh luận liệu nên chú trọng giáo dục khoa học tự nhiên và kỹ thuật hay là nhân văn, những ý kiến* của độc giả bình dân trên diễn đàn của trang The Take Away cho rằng không nhất thiết phải có chuyên môn thiên về kỹ thuật và các kỹ năng thực dụng mới có thể có một sự nghiệp thành công. Những ý kiến trái chiều cho rằng bản thân những người học các chuyên ngành về nhân văn cũng cần được đào tạo đầy đủ hơn các kỹ năng thực dụng cơ bản như kế toán, viết lách, giao dịch, tổ chức,… Về cơ bản các góc nhìn chung nhau quan điểm cho rằng các kỹ năng về kỹ thuật là chưa đủ để thành công trong đời sống.                Greg Neill từ Los Angeles, California:               Tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết học từ một trường đại học chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Tôi hiểu rằng những ngành liên quan tới kinh doanh đòi hỏi các chuyên môn về tài chính hay kế toán, nhưng cá nhân tôi thì không có nhu cầu. Tôi khởi nghiệp rất thành công theo ngành viết phần mềm, và cuối cùng thành một chuyên gia phát triển phần mềm, tất cả đều chỉ nhờ vào đào tạo tại chức. Hiện nay tôi đang chuẩn bị học cao học chuyên ngành tâm lý. Nhìn lại, tôi thấy mình sẽ không bao giờ đánh đổi những kỹ năng đời sống và kiến thức xã hội được học từ trường đào tạo xã hội và nhân văn, để lấy một bằng cấp thiên về kỹ thuật và nghiệp vụ.                  Darlene từ Ferndale, Michigan:              Xu thế gia tăng hiện nay là một tấm bằng về kỹ thuật không đảm bảo cho bạn một công việc tử tế, khi mà các công việc trong lĩnh vực này bị chuyển giao sang cho Trung Quốc và Ấn Độ, nơi mà những người tài năng cũng chỉ kiếm sống ở mức 15 USD một giờ, hoặc thấp hơn. Trong bối cảnh như vậy mà bạn chịu vay nợ số tiền vài chục nghìn USD để đi học là không hợp lý về kinh tế. Những ngành đáng đồng tiền bát gạo hiện nay có vẻ là những ngành giúp bạn kiếm sống mà không lệ thuộc quá mức vào một ông chủ nào đó; nói cách khác, bạn cần học những kỹ năng thiết thực tối thiểu, như kế toán căn bản, viết, marketing, kỹ năng tổ chức, và học để biết thế nào là một giao dịch kinh tế hợp lý.                Độc giả giấu tên từ Fairfield County, Connecticut:              Tốt nghiệp từ một trường xã hội và nhân văn danh tiếng (Ivy League school), nhưng khi ra trường tôi đã thực sự sốc khi nhận ra mình đã kém chuẩn bị như thế nào trước khi vào “đời thực”. Vậy nên tôi đã phải học tiếp lấy một tấm bằng MBA để có thể hiểu biết và thành công trong kinh doanh. Đây cũng là lý do tôi quyết định mở một công ty tư vấn cho sinh viên. Một mặt tôi tin vào công lao của các trường xã hội và nhân văn, mặt khác tôi thấy rằng những trường này có nghĩa vụ dạy cho sinh viên về kế toán, thống kê, và tài chính ngay trong 4 năm đại học.               *http://www.thetakeaway.org/2011/mar/28/liberal-arts-or-technology-question/            Author                Quản trị        
__label__tiasang Người nghèo “chê” giáo dục miễn phí      Hai năm rưỡi qua*, tôi đã lãnh đạo và tiến hành nghiên cứu ở Hạ-Sahara của châu Phi (Kenya, Nigeria, và Ghana) và châu Á (Ấn Độ và Trung Quốc). Và tôi đã phát hiện ra một cuộc cách mạng – do người nghèo tự làm cho mình – rất đáng chú ý nhưng cho đến nay vẫn bị lờ đi. Trong thế giới đang phát triển, người nghèo đang tìm cách né tránh hệ thống giáo dục miễn phí vì lo ngại về chất lượng thấp và thiếu trách nhiệm giải trình của nó. Trong khi đó, những người làm kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục từ những cộng đồng nghèo khó đã tự dựng lên những ngôi trường phù hợp với túi tiền của dân chúng.      Kenya là một trong những trường hợp được LHQ coi là thí dụ cho thấy tác dụng của hệ thống giáo dục cơ sở miễn phí. Giáo dục tiểu học miễn phí (FPE) được áp dụng ở Kenya từ tháng 1/ 2003, với khoản tài trợ là 55 triệu USD của Ngân hàng Thế giới (WB) – đây là khoản tài trợ trực tiếp cho lĩnh vực dịch vụ xã hội lớn nhất từ trước đến nay. Kết quả làm thế giới phải ngạc nhiên: cựu Tổng thống Bill Clinton từng nói với khán giả chương trình truyền hình trong giờ cao điểm của Mỹ rằng người ông muốn gặp nhất là Tổng thống Kibaki của Kenya vì “ông ấy đã bãi bỏ học phí”, việc này “sẽ ảnh hưởng đến nhiều người hơn là bất cứ vị Tổng thống nào đã từng làm hoặc sẽ làm”. Còn Bộ trưởng Tài chính Anh, ông Gordon Brown – khi đến thăm trường tiểu học mang tên Olympic Primary School, một trong năm trường quốc lập ở ngoại ô Kibera– đã nói với đám đông ở đấy rằng phụ huynh học sinh nước Anh hoàn toàn ủng hộ việc sử dụng tiền thuế của họ để tài trợ cho chương trình FPE. Mọi người – trong đó có các Sir Bob Geldof  và Bono – đều ca ngợi việc có thêm 1,3 triệu trẻ em Kenya được cắp sách đến trường. Lí trí thông thường cho rằng hành động hào hiệp của cộng đồng quốc tế đã cứu được những đứa trẻ này thoát khỏi cảnh dốt nát, tối tăm.  Nhưng lí trí thông thường hóa ra hoàn toàn sai. Nó bỏ qua thực tế đáng chú ý là người nghèo ở châu Phi không khoanh tay chờ đợi những ngôi sao ca nhạc và chính khách phương Tây rút hầu bao để đảm bảo con em họ được học tập một cách tử tế. Thực tế là các trường tư thục dành cho trẻ em nghèo đã đồng loạt xuất hiện trong một số những khu ổ chuột nghèo nàn nhất ở châu Phi và châu Á, có chi phí thấp hơn những trường công lập.  Tôi đã đến Kibera (ở TPNairobi, Kenya, được coi là khu nhà ổ chuột lớn nhất châu Phi) để tự mình xem xét, với linh cảm rằng câu chuyện thành công được phổ biến một cách sâu rộng có thể che giấu một cái gì đó. Ở Ấn Độ, tôi đã thấy người nghèo hoàn toàn không hài lòng với các trường công lập – công trình nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng khi các nhà nghiên cứu bất ngờ tới các trường công lập dành cho người nghèo thì chỉ có một nửa hoạt động mà thôi– như vậy là có rất nhiều trẻ em đến các trường tư thục với học phí rất thấp. Kenya có gì khác không? Mặc dù ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục nói với tôi ở nước ông trường tư là dành cho người giàu chứ không phải người nghèo, và như vậy là tôi đã lầm lạc trong quá trình tìm hiểu, nhưng tôi vẫn kiên trì và đi đến các khu ổ chuột.   Chỉ trong vòng mấy phút, tôi đã tìm thấy điều mình đang tìm kiếm. Tấm biển quảng cáo bên ngoài một ngôi nhà hai tầng lợp tôn ọp ẹp viết: “Trường cấp một Makina”. Trong văn phòng chật hẹp, cô Jane Yavetsi, người chủ của ngôi trường, sẵn sàng kể lại câu chuyện của mình: “Giáo dục miễn phí là nguyên nhân chính,” cô nói. Từ khi có giáo dục miễn phí, số học sinh của cô đã giảm từ 500 xuống còn 300, và bây giờ cô không biết lấy đâu ra tiền trả phí thuê nhà. Nhiều phụ huynh muốn con em mình ở lại, nhưng những người khá giả hơn trong số những phụ huynh nghèo khổ, cũng là những người trả học phí đúng hạn, đã mang con họ đi. Học phí ở đây chỉ khoảng 200 đồng Kenya (khoảng 2,80 USD)/tháng. Nhưng những đứa trẻ nghèo nhất, trong đó có 50 em mồ côi được miễn phí. Cô thành lập ngôi trường này cách đây 10 năm và đã vượt qua nhiều khó khăn. Nhưng bây giờ cô cảm thấy chán nản: “Giáo dục miễn phí làm tôi điêu đứng”, cô nói.  Trường của Jane không phải là trường tư thục duy nhất ở Kibera. Chúng tôi đã tìm được tổng cộng 76 trường tư thục với hơn 12.000 học sinh. Trong khi đó, năm trường của chính phủ phục vụ khu Kibera với khoảng 8.000 em – nhưng một nửa số đó sống ở các khu trung lưu. Hóa ra là, ngay cả sau khi đã có hệ thống giáo dục công lập miễn phí, các trường tư thục vẫn là nơi mà phần lớn trẻ em trong các khu ổ chuột nghèo nàn theo học.  Kinh nghiệm chung?  Những điều Jane đã trải qua có phải là điển hình kể từ khi có giáo dục tiểu học miễn phí hay không? Phần lớn trong số 70 chủ sở hữu các trường tư thục ở Kibera đều nói rằng từ ngày có hệ thống FPE, số học sinh đã giảm nghiêm trọng. Nhưng nhiều người cũng nói rằng các phụ huynh ban đầu đem con em đi thì nay đã quay trở lại vì họ không thích những chuyện đang diễn ra trong các trường công lập. Tính toán cho thấy rằng số học sinh hụt đi từ các trường tư là nhiều hơn con số 3.300 em được báo cáo là mới nhập học vào các trường công lập ở ngoại vi Kibera, và số em mới nhập học này đã được người ta tính luôn vào trong số một triệu học sinh mới đến trường – một thành tích vẫn được ca ngợi khá nhiều.  Nói cách khác, sĩ số gia tăng là điều ảo tưởng: FPE không hề làm gia tăng số trẻ đến trường, và chỉ khiến một số em chuyển từ trường tư sang trường công mà thôi.  Tôi đem kết quả nghiên cứu ra thảo luận với các quan chức cao cấp của Chính phủ, của WB và các cơ quan viện trợ. Số trường học mà tôi tìm thấy làm họ ngạc nhiên. Nhưng họ lại bảo rằng nếu trẻ em chuyển từ trường tư sang trường công thì tốt: “Không ai tin là trường tư có thể dạy với chất lượng tốt”, họ nói với tôi như thế.   Trong quá trình tiếp tục khảo sát ở Kenya, tôi và nhóm của mình đã được tiếp xúc với những phụ huynh từng mang con đến các trường “miễn phí” của nhà nước, nhưng sau đó đã phải thất vọng vì kết quả thu được và buộc phải cho con em mình quay lại trường tư. Lí do rất dễ hiễu: các lớp trong trường công quá đông, thầy giáo không thể quản nổi 100 hoặc hơn học sinh trong mỗi lớp, nhiều hơn gấp năm lần học sinh trong lớp ở trường tư. Phụ huynh so sánh và thấy rằng có khi cả tuần cũng chẳng thấy giáo viên trường công ghi nhận xét vào vở, trong khi ở trường tư giáo viên chú ý kiểm tra từng bài tập của học sinh. Họ nghe trẻ em kể lại rằng giáo viên trường công thường đan hoặc ngủ trong giờ học. Một người đã tổng kết tình hình một cách cô đọng như sau: “Ra chợ mà được cho rau quả thì đấy là rau quả thối. Muốn ăn rau quả tươi thì phải trả tiền”.  Có thể là các vị phụ huynh này đã bị lầm lẫn. Các quan chức tin là như thế. Nhưng họ có lí không? Chúng tôi đã dùng những bài tập tiêu chuẩn hóa về toán, tiếng Anh và tiếng Kiswahili để kiểm tra 3.000 em, một nửa từ khu nhà ổ chuột ở Nairobi, còn nửa kia từ các trường công lập. Chúng tôi kiểm tra hệ số IQ của cả giáo viên lẫn học sinh, chúng tôi còn phỏng vấn học sinh, phụ huynh, giáo viên và cán bộ quản lí nhà trường với mục đích nắm được tất cả các thông số có liên quan. Mặc dù trường công lập dạy cả con em tầng lớp trung lưu đặc quyền đặc lợi cũng như con em các khu ổ chuột, còn trường tư chỉ dạy con em các khu ổ chuột – học sinh trường tư giỏi hơn học sinh trường công về toán và tiếng Kiswahili, còn trường công thì khá hơn một chút về Anh văn. Nhưng con em gia đình khá giả có thể giỏi tiếng Anh vì được xem TV và giao tiếp với cha mẹ.   Nhưng thế chưa phải là hết. Trường tư còn hơn trường công ở chỗ chi phí thấp hơn. Ngay cả nếu như chúng ta bỏ qua chi phí khổng lồ của bộ máy quan liêu của chính phủ và chỉ tập trung chú ý đến lớp học thì chúng ta sẽ thấy ngay trường tư tốt hơn trường công vì lương giáo viên trường tư chỉ bằng một phần ba lương giáo viên trường công: lương giáo viên trường công là 11.080 Ksh (155 USD)/tháng, trong khi lương giáo viên trường tư chỉ là 3.735 Ksh (52 USD)/tháng.  Một phụ huynh đưa ra biện pháp: “Chúng tôi không muốn cho con em vào trường công, nơi Chính phủ cho học miễn phí. Tại sao Chính phủ không đưa tiền cho chúng tôi và để chúng tôi tự chọn trường cho con em mình?” Đối với vị phụ huynh này, hệ thống voucher (phiếu trả tiền trước, cấp cho người sử dụng) là biện pháp tiến bộ, trả lại cho bà quyền kiểm soát nhà trường.  “Giúp đỡ” mãi mãi  Nigeria đã ban hành Luật Giáo dục tiểu học miễn phí từ năm 1976. Từ đó đến nay, nền giáo dục công lập của nước này đã được cộng đồng quốc tế trợ giúp những khoản tiền lớn, nhưng dường như nó chưa làm được việc gì ra hồn.   Ở khu ổ chuột Makoko (ở TP Lagos), nơi trú ngụ của khoảng 50.000 người, có ba trường tiểu học công lập, vốn là các trường của Công giáo, đã bị nhà nước quốc hữu hóa trong thập niên 1980. Ba ngôi trường này làm người ta thất vọng. Chuyến thăm của chúng tôi đã được sắp xếp, nhà trường đã có thời gian chuẩn bị. Nhưng, dường như học sinh trong hầu hết các lớp học đều chẳng có mấy việc để làm. Trong một lớp, thầy giáo trẻ đang ngủ gật, anh ta thậm chí chẳng thèm ngẩng lên khi các học trò ồn ào đứng dậy chào khách. Trong các lớp khác, thầy giáo hoặc là đang ngồi đọc báo hoặc đang nói chuyện với ai đó bên ngoài cửa, sau khi đã viết vài câu lên bảng cho trò chép vào vở. Tại một trong ba ngôi trường đó, lớp 1 có 95 học sinh. Ghép ba lớp lại với nhau vì các giáo viên nghỉ dài hạn. Tôi hỏi các em đang học gì – không thấy em nào trả lời, bà hiệu trưởng bèn hỏi to để các em trả lời. “Đây là giờ toán”, bà nói lại một cách vui vẻ, chẳng ăn nhập gì với thực tế là trước mặt các em không có cuốn sách nào được mở ra hết.          Một trường tư không đăng ký ở vùng nông thôn Badagry, bang Lagos, Nigeria        Ông Fredson, Hiệu trưởng Trường Quốc tế Fredson, một trường tư chi phí thấp ở vùng nông thôn Badagry, bang Lagos, Nigeria.          Một trong ba trường này có thể chứa tới 1.500 học sinh. Bà hiệu trưởng bảo chúng tôi rằng cách đây vài năm, phụ huynh cho học sinh nghỉ hàng loạt vì giáo viên bãi khóa. Nhưng tình hình đã được cải thiện, các em đã quay về và hiện có 500 em. Trên tầng thượng của tòa nhà hoang vắng có sáu lớp bỏ trống, tất cả đều được trang bị đầy đủ bàn ghế, đang chờ học trò. “Tại sao phụ huynh không cho con em tới đây?”, chúng tôi hỏi. Bà ta giải thích đơn giản như sau: “Phụ huynh trong khu ổ chuột này không coi trọng giáo dục. Họ là những người mù chữ và dốt nát. Một số còn không biết là học ở đây không mất tiền nữa kia. Nhưng đa số không có thì giờ đưa con tới lớp”. Chúng tôi nhận xét một cách ngây thơ rằng có thể phụ huynh cho con em tới trường tư. Bà ta vừa cười vừa bảo: “Các gia đình sống trong khu vực này nghèo lắm… Làm sao có tiền cho con học trường tư!”  Lòng nhân từ và thương mại  Nhưng bà ta sai hoàn toàn. Trường Ken Ade (trên phố Apollo gần đó) do ông Bawo Sabo Elieu Ayeseminikan – được mọi người gọi là ông B.S.E. – dựng năm 1990, ban đầu chỉ có năm học sinh, lớp học được tiến hành trong tiền sảnh của nhà thờ, phụ huynh trả tiền theo ngày, đấy là nói lúc họ có đủ tiền. Hiện nay nhà trường có 200 học sinh, từ mẫu giáo đến lớp sáu. Học phí là 2.200 đồng Nigeria (khoảng17 USD)/học kì hay 4 USD/tháng, nhưng có 25 em được học miễn phí. “Trẻ mồ côi, tôi biết làm sao. Tôi không thể đuổi học bọn trẻ được”, ông nói. Trong động cơ xây dựng trường của ông có cả lòng nhân từ lẫn thương mại – vâng, ông cần việc làm và thấy rằng các phụ huynh thất vọng với trường công cần có chỗ cho con em học.  Khi phụ huynh động viên B.S.E. thành lập trường cách đây 15 năm, họ biết giáo viên trường công thường bãi khóa – nhằm phản đối việc chậm trả lương. Chúng tôi sắp xếp đến thăm một số phụ huynh. Tất cả phụ huynh trong cộng đồng này đều là người nghèo, đàn ông thường làm nghề đánh cá, còn đàn bà thì buôn bán cá hay những món hàng khác dọc theo phố Apollo. Thu nhập cao nhất của họ vào khoảng 50 USD/tháng. Các phụ huynh nói với chúng tôi rằng nếu họ đủ sức thì không có vấn đề lựa chọn, chắc chắn họ sẽ cho con em đến trường tư. Một số gia đình có một hoặc hai đứa trẻ đến trường tư, một hoặc hai đứa khác đến trường công. Họ bảo chúng tôi rằng họ biết rõ sự khác biệt trong những trường này. Một phụ nữ nói: “Chúng tôi thấy ở trường công các em chẳng bao giờ đụng tới sách”. Một ông nói thêm: “Chúng tôi đi qua trường công mấy lần, trẻ con toàn đứng bên ngoài lớp, chẳng làm gì hết. Nhưng trong trường tư thì ngày nào cũng học hành dữ lắm. Trong trường công trẻ con bị bỏ mặc”.   Và dĩ nhiên là trường Ken Ade không phải là trường tư duy nhất ở Makoko. Trên thực tế, đấy chỉ là một trong số 30 trường tư trong khu ổ chuột này mà thôi. Tôi biết như thế vì tôi đã đưa một đội khảo sát tới đây để tìm tất cả các trường mà họ có thể tìm. Theo báo cáo, có 3.611 học sinh theo học tại 30 trường tư thục, tất cả đều là con em khu ổ chuột, trong khi đó học sinh của ba trường công nói trên là 1.709 em, nhưng có một số là con em khu vực bên ngoài Makoko. Như vậy là đa phần, ít nhất cũng có 68%, học sinh ở Makoko, theo học các trường tư.  Dù ở Nigeria hay Ghana – hai nước này khởi động chương trình giáo dục tiểu học miễn phí vào năm 1996, hay Ấn Độ – từ năm 1986, trong những khu vực đói nghèo, các cộng tác viên của tôi đều phát hiện ra cùng một câu chuyện: đa số học sinh nghèo đều theo học các trường tư thục, đấy là những trường tốt hơn trường công, nếu so sánh về mặt chi phí cho giáo viên.  Đáng chú ý là tại bang Lagos, Nigeria, các chuyên viên của nhà nước nói với chúng tôi rằng 50% trẻ em trong độ tuổi đến trường không đi học. Nhưng kết quả khảo sát của tôi cho thấy rằng chỉ có 26% – số còn lại đang theo học trong các trường tư, nhà nước không theo dõi được.   Nhưng toàn bộ câu chuyện thành công này lại không được người ta chào đón. Lí do có thể cũng tương đối rõ. Chính phủ quốc gia bị cuộc cách mạng ngược trong lĩnh vực giáo dục như thế đe dọa, nếu việc giáo dục cơ sở mà Chính phủ không làm cho ra trò thì họ có thể làm được chuyện gì? Người dân có thể tự hỏi như thế. Các tổ chức thiện nguyện cũng có thể tự hỏi họ có lầm lẫn suốt hàng chục năm qua hay không. Còn các chuyên gia về phát triển thì cụt hứng: họ tin rằng người nghèo cần được trợ giúp thông qua các trường do chính phủ quản lí;  họ cảm thấy khó chịu khi nhận ra rằng dường như người nghèo có cách suy nghĩ riêng về biện pháp cung ứng tốt nhất những nhu cầu về giáo dục. Nhưng các phụ huynh nghèo biết việc họ đang làm. Họ muốn những điều tốt nhất cho con em mình và họ biết rằng trường tư là biện pháp tiên tiến hơn. Câu hỏi còn lại là: những người có quyền lực và ảnh hưởng có nghe họ hay không?   Phạm Nguyên Trường lược dịch   theo http://www.thefreemanonline.org/ features/backing-the-wrong-horse-how-private-schools-are-good-for-the-poor/  ————  James Tooley là giáo sư về chính sách giáo dục tại ĐH Newcastle, Giám đốc Trung tâm E.G.West Centre, và đồng tác giả công trình nghiên cứu: Trường tư thục có ích cho người nghèo: Công trình nghiên cứu về trường tư trong các nước có thu nhập thấp (Viện Cato).   * Bài viết được đăng vào thời điểm năm 2006   Ảnh: James Tooley/ Pauline Dixon    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người thầy      Trong cuộc đời mỗi con người, đã có biết bao lần đi học? bao lần chúng ta học hỏi thầy cô, ghi nhớ những kiến thức vào đời? chúng ta lớn lên, trưởng thành và nhớ gì về họ? Riêng tôi, không bao giờ tôi quên được hai người thầy đã để lại những ấn tượng không thể nào phai…    Người thầy đầu tiên khiến tôi nhớ mãi không phải là một giáo viên dạy môn chính, không phải là một giáo viên chủ nhiệm đầy quyền uy nào, khi tôi lần đầu bước chân vào học chuyên Toán, ông chính là một giáo viên dạy môn… Văn (!). Năm đó tôi lên 9 tuổi, khấp khởi bước vào lớp 4 (hệ cải cách) sau một cuộc thi cam go và bắt đầu háo hức học Toán. Thế nhưng chỉ sau vài buổi học Văn, chính ông – người thầy già, thấp bé và nói năng nhỏ nhẹ – mới là người khiến tôi thích thú nhất. Ông không tuân theo các giáo án cũ kỹ và khuôn phép như lệ thường mà thường dành thời gian đọc thêm cho chúng tôi chép và bình luận cho chúng tôi thấy cái hay, cái đẹp của những bài thơ (thậm chí không có trong chương trình!). Cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ được ít nhất 3 bài thơ trong số đó (mặc dù một phần tư thế kỷ đã trôi qua). Đó là những vần thơ ca ngợi quê hương, Tổ quốc, những vần thơ nói lên cái sự học là vô cùng, với những câu như:  “…làm được bài tính đúng,  con đừng vội hái hoa,  còn nhiều bài tính khác,  đang chờ con đi xa…”  …và đặc biệt, một bài thơ ngắn giản dị của Hai-nơ – nhà thơ Đức – khuyên con người ta hãy mộng mơ, phải có hoài bão, nhưng đồng thời cũng phải biết gắn với thực tế…  Khoảng 8 năm sau đó, tôi gặp được người thầy thứ hai để lại dấu ấn sâu sắc. Lúc đó, đứng trước ngưỡng cửa của kỳ thi vào đại học, tôi được người quen giới thiệu học thêm để luyện thi với một thầy giáo dạy Hóa/Lý rất giỏi. Ông là người rất uyên thâm, là một giảng viên đại học lâu năm, thậm chí từng được mời sang giảng dạy sau đại học ở những trường đại học danh tiếng trong khu vực, nhưng vì những vấn đề “lý lịch” (vốn rất nhạy cảm trong một giai đoạn lịch sử đầy khốn khó của đất nước) ông đã bị người trong nước đối xử bất công và gặp rất nhiều biến cố, thiệt thòi (những điều mà sau này tôi mới biết, khi đã thân với ông và được ông tâm sự khi tới thăm nhà riêng). Khi bước vào học cái lớp luyện “ngoài giờ” mà không phải trả tiền ấy (ông thầy này kiên quyết “chỉ dạy các cháu vì là con nhà quen biết chứ không vì tiền”), tôi thấy mình may mắn vì nhờ những người quen vòng vèo mà được học. Trong lớp toàn là những “cậu ấm, cô chiêu” con nhà được coi là trí thức có tiếng của Việt Nam, trong khi bố mẹ tôi chỉ là những trí thức bình thường, không quyền chức. Thế rồi sự tình cờ (hay là cũng không tình cờ lắm?) tôi dần được ông chú ý trong lớp. Ban đầu là do tôi “cãi” ông. Nói vậy e hơi nặng, thực ra ông giảng rộng và sâu, nhiều khi nói cho chúng tôi biết thêm nhiều về Hóa học, bên ngoài nội dung phổ thông để ôn thi đại học, nhưng một lần tôi đã tranh luận lại rằng hình như ông nhầm. Tôi vẫn nhớ chi tiết xoay quanh nguyên tố Indium, với cái tên như vậy, ông nói rằng người ta tìm ra nó lần đầu ở Ấn Độ, và đó là lý do có cái tên hao hao “India”. Tôi đã phát biểu rằng hình như không phải, theo tôi đọc đâu đó, “Indium” là bắt nguồn từ “indigo” vì có liên quan đến mầu tím trong quang phổ của nguyên tử nguyên tố đó, chứ không liên quan gì tới nước Ấn Độ xa xôi. Sau khi tìm hiểu lại, không bảo thủ như một số giáo viên khác, buổi học tiếp theo ông đã thừa nhận là tôi đúng và cũng từ đó, ông thường dành quan tâm đặc biệt cho tôi. Có những lần, câu hỏi “vượt khung” của tôi khiến ông lại phải khất lần sau trả lời. Và có buổi học ông gọi tôi ở lại cuối giờ, giải thích ôn tồn với đầy vẻ quan tâm và nhấn mạnh nhiều lần rằng “cháu phải rất cẩn thận, không được để xảy ra sai sót, phải làm đúng lời bác nói” (chả là câu hỏi của tôi có liên quan tới Hóa thực nghiệm, tôi muốn tự mình làm, tự khám phá, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với những phản ứng hóa học có thể gây cháy nổ). Sau này, lâu lâu tôi lại đến chơi nhà ông, tâm sự với ông, đôi khi tranh luận với ông cả về Vật lý vũ trụ, và thậm chí có lúc còn hỏi ý kiến ông khi cần quyết định chọn hướng đi vào đời sau khi rời trường đại học. Ông lắng nghe, theo thời gian ông yếu dần, nhưng lần nào ông cũng vẫn rất lắng nghe và cho tôi lời khuyên xác đáng. Rồi ông chia sẻ với tôi những chuyện thế sự ở đời, những đắng cay mà ông chịu đựng. Ông cũng cho tôi biết thêm nhiều điều thú vị về Hóa học và Vật lý, khiến tôi thấy ngỡ ngàng và nhận ra rằng cái sự học là vô bờ, rằng nhiều thứ tưởng như đơn giản như bảng tuần hoàn Menđêlêep hóa ra liên quan tới nhiều qui luật vĩ mô và vi mô của thế giới… Đặc biệt, ông động viên tôi học tiếp, học lên cao (nếu có cơ hội) và mang theo những say mê của mình suốt cuộc đời, đừng đánh mất chúng (dù rằng, về sau tôi chuyển sang say mê nhiều điều khác, không còn cặm cụi với những phản ứng hóa học như thời được ông dìu dắt ban đầu nữa). Sau này, khi đã hoàn thành những bậc học sau đại học, tôi đã tìm đến nhà ông với mong ước chia sẻ với ông thành quả nhỏ đó của mình. Rất tiếc ông đã chuyển đi nơi khác mà không một người hàng xóm nào trong cái khu nhà cổ bé nhỏ đó có thể cho tôi địa chỉ mới. Dường như ông đã cố ý mai danh ẩn tích, hay là biến cố nào đó đã lại xảy ra với ông? Tôi cầu mong không đúng vậy, và thấy mình như mang một món nợ với người thầy xưa…  Năm tháng trôi qua, tôi đã được gặp và học với biết bao nhiêu người thầy ở những trường đại học cả ở trong và ngoài nước. Có những người đã dạy tôi những kiến thức sâu sắc, giúp tôi có một tầm hiểu biết nhất định trong chuyên môn của mình. Có những người rèn cho tôi độc lập suy nghĩ, thậm chí khuyến khích tôi “vượt” họ, tìm hiểu thêm để rồi khi nắm chắc thì quay về “dạy lại” cho họ… Xét về những khía cạnh đó, tôi mang ơn nhiều người đi trước, nhưng thật đặc biệt, tôi cảm giác rằng để sống và làm người cho tử tế, tôi đã học được rất nhiều từ hai người thầy kể trên, dù rằng họ không hề dạy tôi những chuyên môn cụ thể tôi đang làm hàng ngày. Người thầy dạy Văn đó không ồn ào, và chắc ông cũng không quá kỳ vọng vào cái sự yêu văn của học sinh lớp chuyên Toán, nhưng ông đã làm hết sức mình để chúng tôi biết về tình yêu quê hương đất nước, yêu cái đẹp, yêu sự học mãi và vun đắp những hoài bão, ngay từ khi có thể nói là còn rất bé dại. Người thầy dạy Hóa đó đã chỉ cho tôi thấy cuộc đời có thể nhiều trái ngang, nhưng cần học để vươn lên, không chỉ học kiến thức, mà học cả cách sống. Ông động viên tôi và làm tôi sáng tỏ, rằng cái “danh” ở đời nhiều khi là hư ảo, rằng tài năng thực sự đòi hỏi nhiều phẩm chất và rèn luyện, và là để cống hiến. Nhưng điều lớn nhất (và cũng là điểm chung của cả hai người, dù rằng chính họ có lẽ cũng không biết được vai trò của họ đối với tôi) chính là cảm hứng và lòng tận tâm mà họ truyền cho tôi, những điều dường như là khó truyền thụ nhất trong nghề nhà giáo, nhưng họ đã làm được một cách đơn giản. Và tôi mong muốn rồi mình cũng làm được như họ, đối với những học trò của tôi… Khi nghĩ về họ, tôi thấy đúng như có người đã nói:  Người thầy trung bình chỉ biết nói,  Người thầy giỏi biết giải thích,  Người thầy xuất chúng biết minh họa,  Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng.  Chú thích ảnh: Ảnh: Phạm Bá Thịnh  K.L      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người thầy của trường học ngày mai      Không ai đoán định trước được tương lai một cách chắc chắn, người ta chỉ chắc chắn là xã hội sẽ còn thay đổi và thay đổi ngày càng nhanh.  Đứng trước những đặc điểm như vậy, hệ thống giáo dục nói chung và vai trò của người thầy nói riêng nên thế nào?       Học sinh đóng kịch và trải nghiệm lớp học xưa ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: Văn Miếu Quốc Tử Giám.  Đầu thế kỷ 19 ở nhiều nước, các giờ giảng trực tiếp của giáo viên không phổ biến như ngày nay. Các trường học của các linh mục Dòng Tên và sau đó là các trường Napoleon tại pháp đã đề cao việc tự học của học sinh. Trong một ngày học tập tiêu chuẩn ở trường, thời gian học sinh tự học gấp đôi thời gian học sinh tập trung nghe giáo viên giảng trực tiếp. Khi giáo viên phải giảng, thì thường giảng trên những tài liệu mà thầy trò đã làm việc trước. Sự tương tác, hỗ trợ nhau giữa các học sinh với nhau cũng được xem trọng. Các học sinh lớn tuổi hơn, hay giỏi hơn được phân công kèm cặp, giải thích cho các học sinh khác trong trường (Giordan, 2016: 283). Tại Việt Nam trước đây trong giáo dục nho giáo, hình ảnh các thầy đồ với các nhóm học sinh đủ mọi lứa tuổi học chung cũng rất phổ biến trong xã hội.     Chỉ mới đến cuối thế kỷ 19, quá trình công nghiệp hóa phát triển mạnh trên thế giới, các trường học thay đổi, giáo dục đại chúng được đẩy mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội công nghiệp này. Từ đó nhà trường được thể chế hóa, nghề làm thầy cũng được chuyên nghiệp hóa, “chuẩn hóa” và trở nên giống nhau trong nhiều thứ. Các hình thức dạy trực tiếp với các lớp đông học sinh với những giáo án đã được soạn sẵn trước phổ biến. Sách giáo khoa, lời giáo viên nói trên lớp là quan trọng.       Người học là duy biệt với những đặc điểm riêng liên quan đến cách thâu nhận thông tin và đến sự học của anh ta. Vậy nên giảng dạy theo kiểu đồng loạt với cùng một giáo án được thiết kế sẵn và áp dụng cùng một hình thức giảng dạy là không phù hợp với bản tính tự nhiên của người học, của não bộ và của xã hội hôm nay.      Hình thức giáo dục này kéo dài cho đến hôm nay, đặc biệt là tại nước ta. Hình thức giáo dục này có thể đã phù hợp với các xã hội công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực với hình thức sản xuất theo dây chuyền hàng loạt. Thế nhưng xã hội ngày nay và trong tương lai đang và sẽ thay đổi rất nhiều, mặt khác con người ngày càng hiểu biết hơn về chính mình, về não bộ, về sự học, đòi buộc chúng ta cũng phải thay đổi tư duy và cách làm trong giáo dục để phù hợp với tình hình mới.        Đặc điểm của người học và thời cuộc     Các nghiên cứu về não bộ đã cho thấy kiến thức từ bên ngoài vào não bộ không bao giờ đi theo một đường thẳng đơn giản như kiểu một máy ghi âm hoặc ghi hình. Khi các giác quan tiếp nhận một thông tin hay một kiến thức, các cơ quan này sẽ chuyển nó đến các hệ thống nơ ron thần kinh nằm tại các vùng khác nhau trong não bộ, các bộ phận này phối hợp, trao đổi qua lại vô số các thông điệp liên quan và tái tạo lại kiến thức đó một cách khác, mang tính chủ quan của người học. Nói cách khác, kiến thức là kết quả của những tương tác, phối kết hợp giữa nhiều yếu tố: Giữa các nơ ron thần kinh, giữa các các mạng lưới nơron này với hàng triệu thông điệp được trao qua đổi lại; giữa các mạng lưới nơron này và các giác quan; giữa quan điểm, mô thức có sẵn và các thông tin mới mà người học tiếp nhận (Giordan, 2016). Như thế, cho đến nay, các nhà khoa học không tìm thấy một vùng riêng liên quan trực tiếp đến sự học như kiểu trung tâm ngôn ngữ được xác định bởi bác sĩ người Pháp Paul Broca, mà sự học liên quan đến rất nhiều bộ phận khác nhau trong não bộ.     Các bộ phận và thành tố này làm việc, kết hợp với nhau để tạo ra một ý nghĩa cho những điều được thâu nhận. Như vậy, nếu kiến thức bên ngoài là A, thì sẽ được các bộ phận này xử lý, phân tích và phục dựng lại thành A’. A’ này mang tính cá nhân, chịu sự chi phối của quan điểm riêng của người học. Do đó A’ này nơi từng người học là khác nhau về cách hiểu, mức độ hiểu và mức độ chấp nhận hay từ chối liên quan đến kiến thức hay thông tin mới.    Quan điểm (conception) theo ngôn ngữ của Giordan (2016) hay mô thức (paradigm) nói theo cách của Covey (2017) nơi người học đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự học. Quan điểm là bộ lọc của cá nhân, được hình thành, chịu ảnh hưởng từ môi trường vật chất và tinh thần, từ quá trình xã hội hóa diễn ra nơi người học từ nhỏ đến hiện tại. Nó mang trong đó văn hóa riêng của người học cũng như mang những nét văn hóa chung của cộng đồng, xã hội nơi người học đã và đang sống.      Ngày càng có nhiều hình thức giảng dạy mới được đưa vào học đường. Ngay cả các tỉnh thành xa xôi nhất cũng bắt đầu áp dụng hình thức học trực tuyến trong dịch Covid. Ảnh: Giáo viên dạy trực tuyến ở trường THPT Kim Xuyên (Sơn Dương). Nguồn: Báo Tuyên Quang.   Một đặc điểm khác liên quan, ảnh hưởng đến sự học ngày nay là yếu tố thời cuộc. Chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, các công nghệ và tri thức mới liên tục xuất hiện và đưa vào đời sống xã hội, tạo ra sự thay đổi trong tư duy, lối sống và công việc, nên đòi buộc hệ thống giáo dục phải thích ứng để có thể đào tạo nhân lực thích hợp. Trong giáo dục, các hình thức giảng dạy trực tuyến, các tài liệu được số hóa, các thư viện, các tạp chí, các mạng lưới thông tin kết nối với nhau, tạo ra sự luân chuyển tri thức và thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả và phong phú… Không ai đoán định trước được tương lai một cách chắc chắn, người ta chỉ chắc chắn là xã hội sẽ còn thay đổi và thay đổi ngày càng nhanh.     Đứng trước những đặc điểm như vậy, hệ thống giáo dục nói chung và vai trò của người thầy nói riêng nên thế nào?     Vai trò của người thầy     Tư duy, cách nhận thức, và thông qua đó là việc học tập là những điều mang tính cá nhân, gắn liền với bản chất duy biệt của con người1, đây là điều quan trọng mà nền giáo dục nói chung và người thầy nói riêng cần phải xác định để có những phương cách giảng dạy hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của từng học sinh.      Thầy là tác giả của các giờ dạy, nhưng học sinh là tác gia của chính sự hiểu biết của các em. Tất cả các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo chỉ là các công cụ hỗ trợ cho thầy và trò, chứ không phải là các “Kinh Thánh” và cũng không nên mang tính “pháp lệnh”.      Người học là duy biệt với những đặc điểm riêng liên quan đến cách thâu nhận thông tin và đến sự học của anh ta. Vậy nên giảng dạy theo kiểu đồng loạt với cùng một giáo án được thiết kế sẵn và áp dụng cùng một hình thức giảng dạy là không phù hợp với bản tính tự nhiên của người học, của não bộ và của xã hội hôm nay với những đặc điểm như đã nói.      Người thầy trước hết cần nhìn từng học sinh của mình như là một chủ thể duy biệt, là “sản phẩm làm bằng tay của Thượng đế”, chứ không phải là “sản phẩm công nghiệp” được Thượng đế sản xuất hàng loạt, như nhà giáo dục Montessori đã ẩn dụ. Thượng đế đã không sản xuất con người đồng loạt, thì những người làm thầy cũng không nên và không thể “sản xuất” các thế hệ tương lai hàng loạt về mặt tâm hồn và đời sống trí tuệ.     Để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng học sinh, thầy phải có thẩm quyền để soạn nội dung giáo dục, thiết kế các giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác. Người khác không có quyền áp đặt thầy phải chọn theo sách giáo khoa nào, phải áp dụng phương pháp gì, vì người khác không hiểu học sinh trong lớp như bản thân thầy. Vậy nên câu chuyện sách giáo khoa áp dụng đồng loạt và bắt buộc sẽ không bao giờ phù hợp với các tiếp cận giảng dạy này. Thầy là tác giả của các giờ dạy, nhưng học sinh là tác gia của chính sự hiểu biết của các em. Tất cả các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo chỉ là các công cụ hỗ trợ cho thầy và trò, chứ không phải là các “Kinh Thánh” và cũng không nên mang tính “pháp lệnh”.    Để soạn “giáo án”, hay các kế hoạch giáo dục cho từng học sinh, với các kỹ năng quan sát của mình, thầy cần làm việc với từng học sinh, cần bắt đầu từ quan điểm của học sinh với các câu hỏi khác nhau và tạo môi trường thân thiện để học sinh tự bộc bạch. Thầy phải sẵn lòng lắng nghe từng học sinh để biết học trò mình đang ở đâu, đang suy nghĩ và lập luận thế nào, đang có những vấn đề gì, đang chờ đợi gì liên quan đến một chủ đề mà thầy muốn chuyển tải. Tất cả những thông tin này là dữ liệu cần thiết để thầy thiết kế cách thức đưa kiến thức đến với từng học sinh một cách hiệu quả.      Cô Giáo Hà Ánh Phượng (Phú Thọ) đã xây dựng kênh hướng dẫn mô hình “lớp học không biên giới và” được trao giải thưởng Giáo viên toàn cầu năm 2020.   Những học sinh đã có những hiểu biết sẵn, đã có quan điểm đúng với kiến thức chuẩn thì thầy “khỏe”, nhưng những học sinh có khó khăn về mặt nhận thức, có quan điểm sai hay lạc hậu, thì thầy phải đầu tư nhiều hơn, bằng cách cung cấp cho người học những thông tin, yêu cầu người học suy nghĩ, đối chiếu giữa cái cũ và cái mới, để từ đó giúp người học tự tinh chỉnh và dũng cảm cắt bỏ những cái đã lỗi thời để chấp nhận những cái mới, hoặc cập nhật vốn tri thức có sẵn của chính mình.    Không nhất thiết thầy là người cầm nắm tất cả tri thức, thầy có thể cung cấp, giới thiệu các tài liệu, khuyến khích học sinh đi gặp các chuyên gia, đi thư viện, truy cập một trang web, gặp các nhóm, các câu lạc bộ để học sinh có dịp cọ xát quan điểm riêng của mình với quan điểm của những người khác, và chính học sinh là chủ thể tiếp cận với những tri thức mới. Như vậy, cách đưa kiến thức đến với học sinh không nhất thiết phải xảy ra trong giờ dạy chính thức, mà có thể thông qua những lời nói hay cử chỉ của thầy ngoài lớp học, thông qua một cuốn sách, một tài liệu thầy giới thiệu, thông qua hoạt động của một câu lạc bộ, thông qua các tương tác trong môi trường giáo dục mà thầy là tác giả thiết kế nên, vv.    Thầy là đạo diễn dàn dựng ra những tình huống và các điều kiện thích hợp, là người kích hoạt để học trò mình tự đi tìm chân lý, chứ thầy không nên và cũng không thể đi tìm thay cho học trò. Người thầy không phải chỉ là người truyền thụ kiến thức, mà còn phải hơn thế nữa, thầy truyền thụ một tinh thần hiếu tri, là người “truyền lửa”, truyền khát vọng khám phá và thúc đẩy học trò vươn lên.      Người thầy không phải chỉ là người truyền thụ kiến thức, mà còn phải hơn thế nữa, thầy truyền thụ một tinh thần hiếu tri, là người “truyền lửa”, truyền khát vọng khám phá và thúc đẩy học trò vươn lên.      Đó là một công việc khó, là một nghệ thuật đòi hỏi phải luôn kiên trì, nỗ lực và sáng tạo. Thầy là người bắc cầu giữa học sinh và tri thức. Thầy giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn, những thành kiến, thấy giúp phá vỡ những quan điểm, những mô thức cũ hay sai lầm vốn đang che khuất, đang cản trở học trò mình tiếp cận với những tri thức mới. Thầy giúp bắc cầu, nhưng thầy để học sinh tự đi qua và tự tiếp cận với tri thức, thầy cần biết rút lui một cách thích hợp để học sinh mình tiến bước.    Thông qua những câu hỏi, những hành động và các hoạt động của mình, thầy kích thích trí tò mò, sự ngạc nhiên, kích thích suy nghĩ của học trò. Thầy dẫn dắt và làm cho học sinh nhìn thế giới, nhìn các hiện tượng dưới một ánh sáng mới. Thầy là người đánh thức, thầy tôn trọng sự tự do, tạo điều kiện cho học sinh tự tìm ra con đường của mình. Công việc của thầy là quan sát, đảm bảo học sinh có được các giai đoạn để tự truy vấn, tự khám phá, ý thức và tham gia. Thầy cũng là người phải tạo ra được không gian thuận lợi thúc đẩy các tương tác trao đổi, là chuyên gia thiết kế nên những môi trường và những tình huống sư phạm phù hợp để các ý tưởng được cọ xát với nhau. (xem Giordan, 2016: 287).    Hơn thế nữa, giáo dục không chỉ liên quan đến tri thức, đến trí tuệ, mà liên quan đến các khía cạnh khác của một con người như đời sống cảm xúc, sự tự lập, sự phát triển về tâm thể lý, vv. Nên thầy cũng phải sâu sắc về các khía cạnh này, để hỗ trợ học sinh phát triển một cách cân bằng. Vì thầy có ảnh hưởng trên học trò, nên thầy cũng phải lưu ý đến lời ăn tiếng nói, thái độ của thầy phải chuẩn mực trước mặt học trò.     Thầy cũng phải là tác nhân tích cực, đi đầu, là chủ thể của những cải cách trong giáo dục. Tất cả sự đổi mới trong giáo dục sẽ thất bại nếu người ta không tính đến thầy, không đặt thầy lên hàng đầu của mối quan tâm vì thầy là tác nhân chính trong hệ thống giáo dục. Giáo dục Phần Lan đã đổi mới nhiều lần thành công, vì họ không bắt đầu từ chương trình, sách giáo khoa hay điều gì khác, mà bắt đầu từ giáo viên. Trước khi đổi mới giáo dục phổ thông, thì họ đã đổi mới, đầu tư cho các trường và các khoa sư phạm nhiều chục năm trước, tạo ra những thế hệ giáo viên chất lượng và có uy tín. Chính các giáo viên này đề xướng các cuộc cải cách, khuấy động xã hội tham gia và đi đầu trong những đổi mới. Khi người thầy thay đổi tư duy và hành động thì sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cách học của học sinh, đến sự thay đổi trong nội dung giáo dục và những thứ còn lại (Xem Nguyễn Khánh Trung, 2015).     Kết luận     Tóm lại, người giáo viên phải là nhà giáo dục với ba loại khả năng: thầy là người nắm giữ chuyên môn, kiến thức của thầy phải chuẩn mực để hướng học sinh đi đúng trên con đường tìm kiếm tri thức; Thầy là nhà sư phạm để có thể đưa ra những phương cách phù hợp, dàn dựng các bối cảnh, và chuẩn bị các điều kiện để giúp học sinh tiếp cận được với tri thức; Và cuối cùng, thầy cần biết các kỹ năng nghiên cứu, có kiến thức về tâm lý, về giáo dục, hiểu biết về não bộ để có thể hiểu được các cơ chế của nhận thức, quan điểm và nhu cầu của từng học sinh, khơi gợi hứng thú, bơm thêm động lực, giúp học sinh tìm ra con đường phát triển riêng của mình.    “Nghề dạy học không phải là một công việc đơn giản, mà là một công việc phức tạp, đòi hỏi cả khả năng về tâm lý và kỹ thuật, đòi hỏi sự sáng suốt, trực giác nhanh nhạy, có ý tưởng và cả sự nghiêm khắc. Đó là một công việc mệt mỏi đòi phải không ngừng phát triển”. (Giordan, 2016 : 292 – 293).    Thầy phải được tôn trọng, cần có khoảng trống tự do để hành nghề cũng như thầy phải có trách nhiệm và tôn trọng học sinh. Một người thầy đúng nghĩa với những tính chất như đã trình bày ở trên thì khó hơn là những người “phát ngôn viên” của sách giáo khoa một cách đơn giản. Đặc tính của cơ chế nhận thức, của não bộ, bản chất tự nhiên của con người và sự đòi hỏi của xã hội hiện tại và tương lai không cho phép thầy chỉ làm công việc đơn giản như vậy.    Nghề giáo viên là nghề nặng nhọc, nên cần phải có phương cách, những chính sách đặc biệt để thu hút những người tâm huyết và có khả năng thực sự. Cảnh “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” nhìn từ quan điểm này là một “thảm họa” quốc gia. Bởi lẽ chất lượng của một nền giáo dục không bao giờ vượt quá chất lượng của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là người giáo viên trong xã hội ngày nay, những người kiến tạo nên chất lượng của các công dân ngày mai.     Thầy vẫn luôn là người quan trọng, xã hội luôn cần đến thầy và xã hội cần tin tưởng vào thầy.  Vậy nên, không ai hạ thấp được vai trò của thầy.□  —–  1Xin tham khảo thêm bài “Người học là ai?” đăng trên Tia Sáng (số 13, ngày 5/7/2020).    Tài liệu tham khảo  Giordan, A. (2016). Apprendre. Paris: Belin.  Nguyễn Khánh Trung. (2015). Giáo dục Việt Nam và Phần Lan – Một nghiên cứu so sánh điển hình về vai trò các chủ thể tại hai trường tiểu học công lập của hai nước. Hà Nội: NXB. KHXH.  Sahlberg, P. (2015). Bài học Phần Lan 2.0 (Đặng Việt Linh dịch năm 2016)  Stephen Covey. (2017). 7 thói quen hiệu quả. Tp. HCM: NXB Tổng hợp TP. HCM và PACE.    Author                Nguyễn Khánh Trung        
__label__tiasang Người xưa dạy sử Việt ra sao?      Câu hỏi này có lẽ xuất phát từ nhu  cầu của cuộc sống hiện tại, khi học sinh ngày càng chán/ngán môn lịch  sử, coi học lịch sử chỉ là một việc vô bổ, không liên quan gì đến cuộc  đời của họ. Những kiến thức sáo mòn, xơ cứng đang được giảng dạy  trong nhà trường cũng khiến không ít người muốn quay trở lại quá  khứ xem trước nay các nhà giáo dục đã “cư xử” như thế nào với môn lịch sử.  &#160;    Chuyên luận “Nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm” của Tiến sỹ Nguyễn Thị Hường hẳn cũng xuất phát từ những thôi thúc ấy. Và khi “lội ngược dòng quá khứ” để tìm hiểu đáp án cho cuộc sống ngày nay, tác giả đã đưa ra nhiều thông tin và kết luận đáng chú ý.  Thứ nhất: người Việt có truyền thống ít quan tâm đến sử Việt. Người Việt lâu nay vẫn tự hào là một đất nước văn hiến, có mấy ngàn năm lịch sử. Nhưng qua khảo sát của TS Nguyễn Thị Hường, các sách dạy lịch sử Việt Nam mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX (cuốn còn lại có niên đại sớm nhất là 1880). Còn từ đó trở về trước, trong vòng cả ngàn năm, người Việt chỉ thích học sử… Tàu. Các học giả cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khẳng định đó thực là sai lầm lớn của học giới nghìn năm. Sách “Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư” đã phê phán như sau: “coi thường nhà mình mà chú trọng người khác thì chung quy là nô lệ. Cho nên có kiến thức mênh mông, có tài năng thông tuệ mà không biết sử Nam, không rõ việc Nam thì ắt là không thể giúp ích gì cho nước Nam, cũng không thể xứng đáng là người dân của nước Nam. Như vậy, đọc sử Nam là một nghĩa vụ thứ nhất hiện nay.” Các tác giả đã trực tiếp công kích vào cái óc nô lệ vào sử Tàu của người Việt. Trong cả ngàn năm dựng nước, hàng trăm hàng ngàn tiến sĩ trạng nguyên xưa dường như chỉ tụng niệm Bắc sử và những từ chương sáo rỗng của Trung Hoa.              “Nghiên  cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm” do NXB Thế  giới ấn hành, dày 360 trang, gồm ba chương: Chương 1: Sự hình thành và  phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm;  Chương 2: Đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ  Hán và chữ Nôm; Chương 3: Nghiên cứu giá trị của các sách dạy lịch sử  Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.              Sách được xuất bản với sự hỗ trợ của Quỹ Không gian Sáng tạo Trung Nguyên.           Kết luận thứ hai: Qua nghiên cứu các sách giáo khoa lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Thị Hường nhận định, sử Việt là bản sắc và động lực của văn hóa Việt, tinh thần Việt. Sử Việt được coi là “công cụ đúc nên quốc hồn”, là “linh đan bồi bổ quốc não” (chú quốc hồn chi cơ khí, bổ quốc não chi linh đan). Không những thế, việc đem dạy sử Việt trong nhà trường được coi như là phương sách quan trọng để vun bồi tinh thần yêu nước, chấn hưng dân tộc, bảo vệ quốc gia. Sử Việt phải được đem dạy cho con em Việt Nam, như thế đó là một cách để “phát dương quốc túy, điểm xuyết quốc hoa”. Các tác giả đã đặt ra các hệ thống khái niệm mới như quốc gia, quốc dân, quốc ngữ, quốc túy, quốc sử, dân khí… để khơi dậy truyền thống lịch sử và tinh thần dân tộc của người Việt. Trong đó, quốc sử là công cụ để “giáo dục quốc dân”: “tinh thần giáo dục quốc dân không ở đâu đầy đủ hơn trong quốc sử. Phát huy tinh thần giáo dục của quốc dân không gì gấp hơn quốc sử”. Quốc sử được coi là một biểu hiện quan trọng của “chế độ giáo dục thời văn minh”. Các nhà giáo dục kêu gọi việc “cải lương tân sử”. Qua phong trào biên soạn các sách dạy lịch sử Việt Nam, các nhà giáo dục cuối thế kỷ XIX đã lần đầu tiên đưa môn khoa học về lịch sử vào Việt Nam, thay thế lối ghi chép sử biên niên khô cứng và lạc hậu theo truyền thống của Trung Hoa.  Có thể nói, đây là chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về các sách dạy lịch sử Việt Nam từ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Để thực hiện được công trình này, tác giả của chuyên luận đã phải làm việc với hàng trăm tư liệu gốc để từ đó tiến hành xử lý, phân loại, khai thác và phân tích. Điều này được thể hiện rất rõ trong các bảng phụ lục ở cuối sách. Trong số hàng ngàn cuốn thư tịch cổ hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tác giả đã lọc được 211 đầu sách dùng để giảng dạy giáo dục Nho học trong suốt 1.000 năm (phụ lục 2, phụ lục 4), để từ đó đưa ra kết luận: việc biên soạn sách lịch sử Việt Nam mới chỉ được hình thành từ cuối thế kỷ XIX dưới ảnh hưởng của nền khoa học phương Tây, và mới chính thức áp dụng đưa vào hệ thống giáo dục từ năm 1906. Bước tiếp theo, tác giả đã lọc ra 186 văn bản sách dạy lịch sử của 20 cuốn sách dạy lịch sử Việt Nam từ năm 1880 đến năm 1952. Việc giám định niên đại, xác định truyền bản và 20 văn bản nền của các sách này đã được triển khai tỉ mỉ, công phu trong hai chương đầu của cuốn sách. Những khảo sát mang tính thao tác của nghiên cứu cơ bản này có những giá trị quan trọng để triển khai nhiều vấn đề thú vị khác.          TS  Nguyễn Thị Hường, sinh năm 1981, tại Bắc Giang, tốt nghiệp  loại giỏi chuyên ngành Hán Nôm, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học  xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm 2004, chị về công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm sau đợt thi tuyển công  chức với số điểm đứng đầu danh sách các ứng viên tham dự kỳ thi. Năm  2005, chị hoàn thành luận văn Thạc sỹ về Nghiên cứu văn bia chữ Nôm.  Ngày 7 tháng 9 năm 2012, chín ngày trước khi qua đời trong một tai nạn giao thông, chị  đã bảo vệ luận án Tiến sỹ Hán Nôm về đề tài Nghiên cứu sách  dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, tại Học viện Khoa học  xã hội thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, và được Hội đồng khoa học  đánh giá loại xuất sắc.              Lĩnh vực quan tâm: thư tịch học, văn tự học chữ Nôm, sử học, phong tục cổ truyền,…               Công  trình tiêu biểu: Quốc sử di biên (2010, đồng dịch giả), Địa phương chí  tỉnh Bắc Ninh (2009, đồng dịch giả) và một số di cảo (chung riêng) chưa  công bố như Từ điển điển cố văn học Nôm, Tự điển chữ Nôm cổ.v.v.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên lý toàn tỉnh thi học sinh giỏi      Cuối năm trước, tại Thị phủ thành phố Würzburg, tỉnh Unterfranken (1 tỉnh hưởng quy chế tự trị, đông tới 1 triệu rưỡi dân số, bao trùm 3 thanh phố lớn và 9 huyện) thuộc Tiểu bang Bayern, Đức, đã diễn ra giải vô địch toán lớp 4 toàn tỉnh, vòng chung kết.        Giải vô địch này được tỉnh tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008, do hệ thống ngân hàng Volks-& Raiffeisenbanken bảo trợ, được chia làm 3 vòng loại, qua 3 cấp, trường, thành phố, và tỉnh. Khác với ở ta thi học sinh giỏi chỉ dành cho học sinh giỏi sẵn, đứng đầu lớp, giải này, vòng sơ khảo dành cho tất cả các em học sinh lớp 4 toàn tỉnh, không phân biệt kết qủa học tới đâu, tuân theo nguyên lý, bất cứ học sinh nào cũng có cơ hội bình đẳng ngang nhau, giành vô địch. Nhờ đó, giải còn tạo ra một sức hút phấn đấu rầm rộ như ngày  hội, với hơn 7.800 em của 207 trường tiểu học toàn tỉnh tham gia. Em học sinh người Việt, Phạm Thanh Mai, 7 tuổi, trường tiểu học Dalbergschule ở vòng 1 đoạt giải nhất toàn trường, được chọn tham gia vòng loại cấp thành phố.  Thanh Mai sinh ra trong một gia đình thuần Việt, bố qua Đức du học từ năm 1987, hiện là chủ một công ty sản xuất phần mềm ứng dụng cho các trường đại học và hãng chế tạo ô tô Đức. Mẹ tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế, mở văn phòng kế toán, tư vấn thuế, nhằm vào đông đảo doanh nghiệp người Việt. Tài năng Thanh Mai sớm bộc lộ, lên 2 đã biết ghép vần và làm tính số tới 10, ham thích chương trình tự học qua máy tính Vtech dành cho trẻ lên 5. Ở tuổi lên 3, em đã học tiếng Anh trong nhà trẻ. Lên 5 tuổi, Thanh Mai vào tiểu học. Với kết qủa xuất sắc toàn diện, em được Sở Giáo dục đặc cách luôn lên lớp 3. Tuy nhẩy cóc bỏ qua lớp 2, nhưng Thanh Mai năm nào cũng đứng đầu lớp, và đặc biệt được tín nhiệm làm lớp trưởng liên tục từ lớp 1 tới nay. Một cô bé, cả người lẫn tuổi nhỏ nhất lớp, chắc chắn phải có “bảo bối“ uy lực “ghê gớm”, mới có thể “cầm đầu“ tất cả bạn đồng học người Đức lớn hơn tới hai ba tuổi, và cao hơn chừng một cái đầu.  Tại vòng loại cấp thành phố tổ chức tháng tiếp theo, có 80 em tham dự, nửa nam, nửa nữ, đứng đầu 40 trường (ngay chọn học sinh giỏi, họ cũng tính đến bình đẳng nam nữ), với 16 thành viên Ban Giám khảo chấm thi, công bố điểm tại chỗ. Thanh Mai đoạt tiếp giải nhất, được trao bằng thủ khoa và 1 vé xem phim. Đề thi gồm 12 bài toán, dài tới 4 trang, hoàn toàn lấy từ thực tế, từ toán đố đến sắp hình, ghép khối, cắt dán, trò chơi chữ số… Thời gian lại rất hạn chế, chỉ trong 60 phút, nghĩa là đòi hỏi cực nhanh, nghĩ và viết cùng lúc mới kịp, muốn quay cóp cũng khó. Các bậc phụ huynh đưa con em tới thi, ngồi đợi mà ai cũng hồi hộp, căng thẳng hơn cả chúng. Đọc đề thi, nhiều phụ huynh còn “hoảng“ hơn nữa, không thể hình dung chúng lại giải được. Bởi đề toán không hề tương tự dạng nào trong sách giáo khoa và càng không thể học trước kiểu vượt cấp, bồi dưỡng trước như các lớp chuyên toán ở Việt Nam, hay học thêm từ phụ huynh. Chẳng hạn bài số 4: “Có 1 chiếc xe bus chở học sinh.  1/3 số ghế bạn nam ngồi. Bạn nữ ngồi nhiều hơn bạn nam 6 ghế. Ngoài ra còn dư 7 ghế trống. Hỏi xe bus có bao nhiêu ghế ?“.  Dùng phương pháp đại số lập phương trình, thì đây là bài toán giản đơn với đáp số = 39 ghế. Nhưng dùng các công thức, quy tắc số học, thì quả không dễ. Tuy nhiên, học sinh nào có khả năng suy luận logic, và năng lực phát hiện nhạy cảm, thì lời giải lại trở nên dễ dàng: Giả sử số bạn nữ bằng bạn nam, thì chúng ngồi tổng cộng 2/3 tổng số ghế. 1/3 số ghế còn lại trống =  6+7=13. Suy ra tổng số ghế = 13 x 3 = 39. Cách thứ 2, chia tổng số ghế ra 3 phần. Phần thứ nhất do nam ngồi chiếm 1/3. Phần thứ 2 do nữ ngồi chiếm 1/3. Phần thứ 3 cũng chiếm 1/3 do 6 nữ ngồi và 7 ghế trống. Từ phần thứ 3 suy ra tổng số ghế = (6+7) x 3 = 39.  Cách suy luận bài này phần nào tương tự bài toán đố kinh điển tiểu học ở ta: Vừa gà vừa chó / bó lại cho tròn / 36 con / 100 chân chẵn. Hỏi mấy gà, mấy chó? Các bậc phụ huynh có thể dùng bài này thử trí thông minh con em mình ở bậc tiểu học.  Hiệu trưởng trường nơi Thanh Mai theo học đánh giá cuộc thi, “đề bài, nhiều người lớn cũng phải bó tay, bởi để giải được nó đòi hỏi một khả năng tư duy logic đặc biệt, không phải ai cũng có“. Đúng như quan điểm giáo dục của Nữ Giám đốc phòng Giáo dục Aschaffenburg: Các đề toán này được soạn theo chương trình giáo dục, kích thích học sinh tiếp cận đề toán từ thực tế bằng tư duy logic  tổng quát, và sử dụng tổng thể mọi phương pháp toán học để tìm lời giải nhanh nhất. Thi học sinh giỏi ít đề cập đến các công thức, quy tắc toán được học mà chủ yếu là phát minh sáng tạo. Chính vì thế ở Đức không có trường chuyên, hay lớp chọn nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi, kiểu “nuôi gà nòi thi đấu“ như ở ta.  Đoạt giải nhất vòng loại thành phố, Thanh Mai bước vào vòng chung kết tỉnh Unterfranken, đúng lúc em bước sang tuổi lên 8. Tham gia vòng loại này chỉ còn 24 học sinh đứng đầu 12 thành phố và huyện toàn Tỉnh. Thanh Mai nộp bài ở phút thứ 35 so với 60 phút được phép, đạt tổng số điểm 18/20 cao nhất trong tất cả các kỳ thi vô địch toán toàn tỉnh Unterfranken xưa nay, chỉ sai đáp số một bài do lỗi tính toán. Em được  Chủ tịch Tỉnh trao tặng huy chương vàng, danh hiệu vô địch toán toàn tỉnh, kèm một bộ trò chơi bằng gỗ và một chú cáo tinh ranh, to lớn, cũng cao hơn em một cái đầu như bao bạn đồng học (xem ảnh). Còn Chủ tịch tập đoàn ngân hàng Volks- & Raifensenbanken trao tặng em một cuốn sổ tiết kiệm. Trả lời tại chỗ câu hỏi báo chí về tài năng toán học đáng thán phục, em hồn nhiên, thẳng thắn tính cách Đức: “Thực ra bài thi đối với tôi chẳng có gì khó. Bố mẹ tôi người Việt đều là nhà toán học giỏi mà!“. Đọc bài em làm, mới thấy trình độ giải toán thành thục của em, tìm đáp số rất nhẹ nhàng. Chẳng hạn, đề số 4: Cuốn sách Agnes đọc, dày chừng 160-170 trang. Ngày thứ 1, Agnes đọc được mấy trang thì  thấy hay quá, sang ngày thứ 2 đọc nhiều gấp 3 ngày thứ 1, tới ngày thứ 3 đọc ngốn ngấu nhiều gấp 5. Hỏi sách có bao nhiêu trang ? Thanh Mai giải: Tổng số 3 ngày đọc là 9 lần có số trang bằng nhau. Vậy tổng số trang phải chia hết cho 9. Con số chia hết 9, nằm giữa 160 và 170, là 162. Đó chính là số trang sách.  Hay đề số 6: Một gia đình chạy ô tô. Tuổi người lái nhân với số bánh xe và số người ngồi cho kết qủa 444. Hỏi lái xe bao nhiêu tuổi? Thanh Mai giải: Xe có 4 bánh, vậy tuổi của tài xế nhân với số người trong ô tô = 444:4 =111. Xe chỉ chở được hoặc tối đa 4 người, hoặc 3 hoặc 2 hoặc 1. Do con số 111 phải chia hết cho số người, nên suy ra xe chỉ chở được 3 người, và số tuổi người lái xe là: 111:3 =37 tuổi. Bậc phụ huynh nào có con em bậc tiểu học, có thể cho chúng thử giải, để hình dung mức độ giỏi toán thành thục ở cấp vô địch do các nhà giáo Đức ra đề như thế nào ? Và con em mình muốn đạt tới, phải cố gắng phấn đấu tới đâu ?  Thanh Mai được bố mẹ dạy dỗ, hình thành khả năng tự học từ lúc lên 2, bằng cách cho chơi chương trình Toggolino tự học dành cho trẻ em 4-7 tuổi. Thấy con hứng thú ham thích, bố mẹ mua tiếp các điã CD chương trình tự  học nhiều môn học khác nhau, của lớp cao hơn, để chúng tự tìm tòi, khám phá trên máy tính, mải mê như một trò chơi điện tử. Đó chính là phương pháp giáo dục hiện đại, được đề cập nhiều hiện nay, “chơi để học, học để chơi“.  Khi đài truyền hình “Bayern 1“ phỏng vấn “em muốn làm nghề gì trong tương lai?“, Thanh Mai trả lời không chút ngập ngừng: “Em muốn trở thành chuyên gia thuế hoặc luật sư kinh tế“.  Chẳng rõ, mới tuổi lên 8, em đã hiểu gì về thuế, kinh tế, luật, nhưng có thể khách hàng người Việt của mẹ em, không ít người kinh doanh rủi ro, liêu điêu vì nó, gây cho em  ấn tượng mạnh, ý thức phấn đấu, sau này giúp đỡ đồng hương mình, đáp hiếu thế hệ cha mẹ em sang Đức, không ai không khởi đầu sự nghiệp bằng 2 bàn tay trắng, cả đời lặn lội, tha phương, chỉ mỗi kỳ vọng, tương lai chúng phải rạng rỡ nơi xứ người ! – Cũng chính là biểu hiện của nguyên  lý giáo dục trên nền tảng môi trường kinh tế xã hội và gia đình, và chính giáo dục phải quay trở lại đặt đòi hỏi cải cách nền tảng đó, nếu muốn tương lai con em „sánh vai với các cường quốc năm châu !“.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên tắc đào tạo ngành khoa học máy tính ở Mỹ      Nhiều công ty công nghệ máy tính than phiền sinh viên tốt nghiệp đại học chưa được trang bị đủ tri thức để đáp ứng được ngay với yêu cầu của thị trường việc. Đây không phải là vấn đề riêng của các ngành khoa học máy tính (KHMT) hay công nghệ thông tin (CNTT) và càng không phải là vấn đề riêng của Việt Nam.    Các tạp chí chuyên ngành ở Mỹ và các nước khác cũng thỉnh thoảng có bài phàn nàn về việc sinh viên mới ra trường thiếu các mảng kiến thức cần thiết.Trong bài này, tôi xin chia sẻ vài thu thập cá nhân về phương pháp thiết kế chương trình ngành KHMT ở Mỹ, và chỉ giới hạn trong phạm vi chương trình đại học.    Các nguyên tắc chung  Chương trình (CT) đào tạo cử nhân có khả năng thích ứng được với thay đổi vũ bão của công nghệ và khoa học tính toán; khả năng này bao gồm tính độc lập trong tư duy, tính sáng tạo trong ứng dụng, khả năng tự tìm động lực làm việc và học tập cho bản thân…  Tôi đã đọc không ít các bài báo liệt kê một danh sách dài các mảng kiến thức mà sinh viên mới ra trường còn thiếu. Các công ty mạng máy tính thì than phiền rằng sinh viên lập trình C/C++ kém, kiến thức quản trị mạng không có; các công ty làm web thì phàn nàn sinh viên thiếu kiến thức Java, thương mại điện tử… Rõ ràng là không một chương trình nào có thể bao quát hết những thứ có khả năng cần cho tương lai. Một cử nhân với khả năng thích ứng cao sẽ tự học thêm một cách hiệu quả khi công việc hoặc nghiên cứu có yêu cầu mới.  Khi than phiền rằng giáo dục chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, các công ty cũng phải có phần trách nhiệm đào tạo các nhân viên tương lai dưới các hình thức thực tập viên (internship, co-op…) và các chương trình tập huấn khi mới nhận việc. Các chứng chỉ chuyên môn của các công ty lớn (Microsoft, Cisco, Oracle…) ngoài mục tiêu thương mại và quảng cáo thương hiệu, cũng có nhiệm vụ làm cầu nối giữa học đường và công nghiệp. Không ai có thể vừa tốt nghiệp xong “nhảy bừa” vào làm tốt một việc bất kỳ.  Nhân tố quan trọng nhất tạo khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế là chính bản thân sinh viên. Có lẽ không có ngành nào mà sinh viên có lợi thế trên phương diện tài liệu học tập như ngành KHMT. Chỉ cần một chút tiếng Anh chuyên môn là sinh viên đã có thể tìm hiểu trực tuyến hầu hết các tài liệu trên Internet. Với một môi trường học tập và tri thức “mở” như Internet, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho “cơ chế giáo dục” thiếu đổi mới.             Nhân tố quan trọng nhất tạo khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế là chính bản thân sinh viên            Chương trình có các thành phần có thể “cá nhân hóa” cho cả giảng viên lẫn sinh viên: để sinh viên có thể chọn học, nghiên cứu về các đề tài phù hợp với sở thích và khả năng của họ; và để giảng viên có thể chọn lọc dạy những thứ họ cần học/nghiên cứu thêm, giữ được sự say mê trong công việc.  Với sinh viên, CT phải có các lớp tự chọn. Sinh viên nào định học thạc sĩ, tiến sĩ, thì có thể chọn các môn lý thuyết. Ngược lại, sinh viên nào muốn biết thêm các kiến thức ứng dụng ngay được thì có thể tự chọn các lớp như quản trị mạng, thiết kế VLSI, lập trình cho embeded systems, bảo mật…  Phần tự chọn làm CT linh hoạt hơn, cho sinh viên sự độc lập tự chủ trong hướng nghiệp. Mặt khác, phần này cũng khiến người thầy thêm phức tạp. Ở Mỹ, mỗi sinh viên đại học đều có một giáo sư hướng dẫn với vai trò chủ yếu là hướng dẫn sinh viên lựa các lớp tự chọn sao cho phù hợp với khả năng, sở thích của sinh viên cùng với các yêu cầu hiện tại của công nghệ. Vai trò này không giống với vai trò hướng dẫn nghiên cứu sinh, dù rằng chúng có phần tương đồng. Để làm tốt công việc này đòi hỏi người thầy phải “tâm lý”, có cái nhìn thoáng, và nếu có thể – có nhiều quan hệ với các công ty để giới thiệu sinh viên.  Quan trọng hơn, các giảng viên và giáo sư rất cần một chương trình có thể cá nhân hóa được để phục vụ việc cải thiện kiến thức và làm mới sở thích của chính họ. Không có sự làm mới tri thức của người thầy thì CT sẽ là “CT chết”, gây hậu quả lâu dài cho nhiều thế hệ sinh viên. Ở Mỹ thì các giáo sư và giảng viên hàng năm đều có thể đề cử một lớp mới thêm vào chương trình, hoặc thay cho một lớp cũ đã lỗi thời. Đó là chưa kể sự tự do gần như tuyệt đối của người thầy trong quyền chọn lựa dạy cái gì trong một lớp nhất định. Sách giáo khoa cũng không giống nhau. Thầy nào thích sách nào thì dạy sách đó, và chủ yếu có tính chất tham khảo. Ngành máy tính có lợi thế rất lớn so với các ngành khác là cái mới ra đời hàng phút hàng giây. Đại số tuyến tính cơ bản không thay đổi mấy so với năm mươi năm trước, nhưng mạng máy tính năm 2006 khác xa năm 1996.  CT nhằm đào tạo các cử nhân có tính chuyên nghiệp cao: tính chuyên nghiệp bao gồm khả năng làm việc trong nhóm, cảm nhận về sự công bằng trong công tác, phương cách giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, cấp trên cấp dưới, hiểu biết về các quyền lao động, luật sở hữu trí tuệ và bằng phát minh…  CT có các lớp với các dự án làm theo nhóm trong đó các thành viên được đánh giá theo kết quả làm việc của nhóm thay vì của từng cá nhân; hướng sinh viên đến một tinh thần trách nhiệm chung cho toàn nhóm; tránh kèn cựa bất đắc chí “tôi làm nhiều/anh làm ít”, “tôi giỏi/anh kém”; chịu trách nhiệm phác thảo kế hoạch và hoàn tất dự án đúng thời hạn… Đây cũng là một trong các cơ hội cho sinh viên luân phiên nhau đóng vai trò “lãnh đạo”, tổ chức và vận hành nhóm một cách khoa học, hướng tới việc đứng đầu các nhóm làm việc thật sự sau này. Thậm chí, một nhóm xuất sắc sẽ có khả năng kết tinh ý tưởng thành một sản phẩm hữu dụng, kinh doanh được ngay khi còn đang đi học.  Ở Mỹ, trừ vài ngoại lệ, không bao giờ có chuyện khoa giữ sinh viên lại làm giảng viên/giáo sư vì hai lý do chính: (a) sinh viên tốt nghiệp trường X sẽ bổ sung được cho trường Y cả về tư duy lẫn chuyên môn, giữ sinh viên lại thì khả năng làm mới tư duy kém đi; và (b) để giữ tính chuyên nghiệp trong sinh hoạt giữa các đồng nghiệp với nhau; khó khi nào một “sinh viên lên giảng viên” lại có thể đối xử với thầy hướng dẫn của mình như một đồng nghiệp thực thụ.  CT phù hợp với cơ sở hạ tầng về nhân lực vật lực hiện tại, và phù hợp với chiến lược phát triển nhân/vật lực trong tương lai của cơ sở đào tạo.  Không phải trường nào cũng có một khoa khoa học máy tính khổng lồ như của trường CMU. Các trường như Princeton, Yale, có các khoa KHMT nhỏ nhưng chất lượng rất cao, vì họ tập trung phát triển thế mạnh chiều sâu thay vì phát triển tràn lan, ngắn hạn.  Các khoa thường sẽ được chia thành vài nhóm giáo sư/giảng viên, mỗi nhóm chuyên về một phân ngành nào đó. Có 4 nhóm mỗi nhóm 5 người thì tốt hơn là có 20 nhóm mỗi nhóm 1 người. Trường này mạnh về mạng thì trường kia mạnh về thuật toán. Thế mạnh thu hút tài năng và tài năng lại tăng thế mạnh -quả cầu tuyết cứ thế lăn.  Các thế hệ sinh viên cùng một trường sẽ có xu hướng giúp đỡ lẫn nhau, do đó việc có vài sinh viên giỏi, tốt nghiệp xong ở các vị trí quản lý của các công ty xung quanh sẽ có ảnh hưởng rất tích cực đến các thế hệ cử nhân tiếp theo. Vì thế, trong chiến lược phát triển của khoa cần phải có các chương trình học bổng thu hút học sinh giỏi, các chương trình cựu sinh viên để giữ quan hệ tốt với sinh viên cũ, và một ban cố vấn công nghiệp (industrial advisory board – có thể bao gồm sinh viên cũ) để thích ứng CT với tình hình hiện tại và đôi khi xin được tài trợ phát triển khoa.  Vai trò của các tổ chức chuyên môn  Ở Mỹ, từ những năm đầu thập niên 60, bốn tổ chức chuyên ngành là ACM, IEEE-CS, AIS, và AITP đã thành lập các nhóm chuyên gia bàn thảo và viết các hướng dẫn về thiết kế chương trình đào tạo trong các ngành liên quan đến tính toán. Gần đây, họ cộng tác với nhau để viết. Bạn có thể đọc thêm phần lịch sử trong bản nháp báo cáo tổng kết năm 2005 (viết tắt là CC2005) của họ để biết thêm chi tiết. Ngoài ra, còn có các tổ chức phi lợi nhuận và phi chính phủ có chức năng kiểm định chất lượng chương trình giáo dục như ABET. Cần phải nhấn mạnh rằng tính độc lập tự chủ của các trường đại học ở Mỹ rất cao, cho nên các tài liệu này chỉ mang tính tham khảo.        Nguyên tắc 2: Chương trình giảng dạy linh hoạt khiến vai trò người thầy thêm phức tạp        CC2005 “gút” lại 5 CT chính hiện nay: Khoa học máy tính (KHMT – computer science), Kỹ thuật máy tính (KTMT – computer engineering), Hệ thống thông tin (HTTT – information systems technology), Kỹ thuật phần mềm (KTPM – software engineering), và Công nghệ thông tin (CNTT – information technology).  Ý nghĩa của các CT này có thể tóm tắt như sau:  KTMT: ngành này liên quan đến thiết kế và xây dựng máy tính, các hệ thống máy tính, và các thiết bị liên quan. Hiểu nôm na là nó coi trọng phần cứng.  HTTT: ngành này liên quan đến việc thiết kế các hệ thống thông tin cho các cơ quan, tổ chức. Ngành nhấn mạnh vào phần thông tin của CNTT và thường được các khoa kinh doanh (business) dạy. Các chương trình kiểu hệ thống thông tin quản trị (information management systems) là thuộc diện này.  KTPM: ngành này đặt trọng tâm ở việc thiết kế, phát triển, bảo trì phần mềm và các chu trình làm việc liên quan đến phần mềm. Trong một chừng mực nhất định, KTMT tương đương với ngành xây dựng, và KTPM tương đương với ngành kiến trúc.  CNTT: trái với HTTT, ngành CNTT chú trọng vào phần công nghệ. Các doanh nghiệp và các tổ chức tư nhân và nhà nước hiện nay đều cần có một phòng hay  một ban IT, với các nghiệp vụ liên quan đến cài đặt mạng, bảo trì máy, cập nhật phần mềm chống worms, virus, đặt tường lửa… Ngành này đang phát triển mạnh vì nhu cầu rất thực tế này.  KHMT: đây là phân ngành rộng nhất của tính toán. Các chủ đề của ngành này có thể nói là bao quát toàn bộ những thứ liên quan đến tính toán, từ cấu trúc máy tính đến các hệ thống thông minh, người máy, đến thuật toán và lý thuyết tính toán.  Với khối kiến thức khổng lồ như thế, chọn lựa và thiết kết một CT đào tạo hiển nhiên không phải dễ dàng. Cũng chính vì thế, việc các nhiều khoa KHMT và nhiều công ty máy tính có nhiều dị biệt về triết lý và nội dung đào tạo cũng là điều dễ hiểu. Hy vọng rằng các nguyên tắc đã nêu phần nào hữu ích trong quá trình thiết kế CT.    Cái “thần” của KHMT  Các điều đã viết vẫn là phần cơ học của một chương trình đào tạo và các phần tử liên quan. Để trở thành một kỹ sư hay khoa học gia máy tính thực thụ, sinh viên phải nắm bắt được tinh thần của ngành, bao gồm các khía cạnh kỹ thuật, khoa học, xã hội, và lịch sử của KHMT. Đối với sinh viên mới bước vào ngành, ta cần phát triển cho họ các mô hình nhận thức trong não về các khái niệm cơ bản của KHMT. Thay vì định nghĩa cụ thể, ta xét một vài ví dụ về cảm nhận cá nhân với KHMT:  • Khái niệm “tính toán” (computation), một trong những đóng góp sâu sắc nhất của KHMT cho kho tàng tri thức của nhân loại. Tính toán không bị ràng buộc bởi một mô hình cụ thể nào đó (như mô hình máy Turing, mô hình RAM/Bus/CPU…). Không ít các nhà khoa học tin rằng các quá trình sinh học và vật lý là các quá trình tính toán. Tự nhiên có các thuật toán của nó. Không phải ngẫu nhiên mà KHMT đang vươn cánh tay non trẻ của nó sang sinh học, vật lý, kinh tế, toán học, với các phân ngành phát triển cực nhanh những năm gần đây như computational biology, computational physics, quantum computing, computational game theory, computational chemistry, computational neuroscience…           Đánh giá kết quả theo nhóm thay vì cá nhân sẽ hướng sinh viên đến tinh thần trách nhiệm chung cho toàn nhóm.          Giải Nobel Kinh tế 2005 được trao cho các khoa học gia nghiên cứu lý thuyết trò chơi. Tôi tin vài mươi năm nữa sẽ có Nobel kinh tế cho người làm về computational game theory. Nobel Vật lý liên quan đến tính toán lượng tử có lẽ sẽ đến sớm hơn nữa. Chú ý rằng các phân ngành kể trên không đơn thuần là ứng dụng máy tính vào một khoa học khác. Rất nhiều các quá trình của tự nhiên về cơ bản là quá trình tính toán, và chúng ta mới chỉ bắt đầu khám phá các quá trình tính toán trong tự nhiên.  • KHMT không phải là Java, C++, hay lập trình web. Thật đáng buồn khi một sinh viên máy tính nghĩ về ngành máy tính bằng ánh mắt của một lập trình viên. Lập trình có thể là công việc ta phải làm hàng ngày, nhưng mỗi chúng ta cần phải hiểu rằng lập trình chỉ là một phương pháp bổ củi để hiện thực hóa các ý tưởng thiết kế tuyệt đẹp, các thuật toán sâu sắc, hay các hacks thông minh. Bổ củi và khắc gỗ hiển nhiên là khác nhau.  • Cũng thật đáng buồn nếu tầm nhìn của dân máy tính bị gói gọn từ Bill Gates sang Steve Jobs, từ IBM đến Oracle, hay từ search engines đến spreadsheets. Khi nghĩ đến Vật lý ta không chỉ liên tưởng đến CEO của các công ty làm máy tăng tốc hạt, các xưởng sản xuất bom nguyên tử, hay làm vật liệu bán dẫn. KHMT còn rất trẻ so với Vật lý, nhưng KHMT cũng có một câu chuyện cực kỳ truyền cảm để kể. Ảnh hưởng về mặt khái niệm của KHMT đến xã hội và các ngành khoa học khác nhiều không kể xiết.  Sinh viên nào nắm bắt được tinh thần của chuyên môn mình sẽ là sinh viên có nhiều khả năng giỏi chuyên môn và thích ứng tốt nhất.  Ngô Quang Hưng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà đông con và thích con trai ảnh hưởng tới kết quả học tập của trẻ      Gia đình đông con hoặc cố gắng sinh bằng được con trai sẽ làm cho kết quả học tập của trẻ  kém đi.    Đó là phát hiện trong một nghiên cứu* gần đây của TS. Vũ Hoàng Linh và TS. Trần Quang Tuyến trên tạp chí International Journal of Educational Development** thuộc nhà xuất bản Elsevier.    Việc tìm mối quan hệ nhân quả giữa tình trạng gia đình đông con, sinh con trai hay con gái với kết quả học tập của trẻ được quan tâm nhiều nhưng trên thực tế các phát hiện nghiên cứu thường không thống nhất. Ví dụ, tình trạng đẻ đông con làm giảm kết quả học tập ở một số nước, nhưng lại tăng kết quả học tập hoặc không có tác động ở các nước khác. Theo Joshua Angist, nhà Kinh tế đồng đạt giải Nobel năm 2021 thì sự khác biệt này có thể do sự thiếu vắng phương pháp phân tích nhân quả (causal effects).  Trong hoàn cảnh thông thường, việc đẻ thêm con có thể khiến các gia đình phải giảm đầu tư vào giáo dục cho mỗi người con, dẫn tới kết quả giáo dục của trẻ kém hơn. Nhận định về “sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng con cái” được nhà kinh tế được giải thưởng Nobel năm 1992 Gary Becker (1930-2014) lần đầu đưa ra vào năm 1973. Thế nhưng việc đo lường không dễ, vì hành động, tác động này cũng có thể được bù trừ bởi những hành động khác. Ví dụ, có gia đình đông con nhưng vẫn có thể đầu tư cho con học tốt nhờ nỗ lực gia tăng thu nhập hoặc tiết kiệm, cắt giảm khoản chi tiêu khác. Mặt khác, các gia đình đông con cũng có lợi thế quy mô khi trẻ trong cùng một nhà chia sẻ sách vở và đồ dùng học tập, và sự tương tác giữa bọn trẻ trong gia đình như việc trẻ lớn giúp trẻ nhỏ học bài cũng có thể có tác động tích cực tới kết quả học tập.    Gia đình đông con hoặc cố gắng sinh con trai sẽ khiến kết quả học tập của trẻ bị kém đi. Ảnh: Internet  Để tìm hiểu “số trẻ em, thứ tự sinh và cấu trúc giới tính của trẻ có ảnh hưởng tới kết quả học tập hay không?”, TS Trần Quang Tuyến và TS Vũ Hoàng Linh đã phân tích nhân quả, sử dụng dữ liệu từ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Trong nghiên cứu này, kết quả học tập được đo bằng số năm đi học của trẻ và việc đi học của trẻ. Các biến số kiểm soát bao gồm tuổi, giới tính, sắc tộc, giáo dục của mẹ, tuổi của mẹ lúc sinh trẻ, và điều kiện kinh tế của hộ (đo chỉ số tổng hợp về tài sản), đặc điểm vùng miền, thành thị và nông thôn.  Khó khăn trong việc tính toán nằm ở chỗ các biến số “gia đình muốn sinh bao nhiêu con” hoặc “sinh con trai hay con gái” là không ngẫu nhiên mà bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Có thể nhiều gia đình có nhiều con lại chính là các hộ nghèo và do vậy ít có điều kiện đầu tư cho con hơn, làm cho chất lượng học tập của trẻ bị giảm sút. Tương tự, việc sinh con trai hay con gái cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố – thường ở Châu Á và Việt Nam ưa thích có con trai, dẫn tới hệ quả là các gia đình thường đầu tư cho con trai nhiều hơn gái. Những đặc điểm này mang tính cá nhân và cộng đồng và thường không quan sát được từ dữ liệu thu thập nhưng có thể ảnh hưởng tới kết quả học tập của trẻ.  Rõ ràng, việc thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên là phương pháp tin cậy nhất nhưng không thể tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên trong thực tế được. Cũng theo Joshua Angrist, trong bối cảnh này, phương pháp biến công cụ là phù hợp và khả thi nhất. Việc sử dụng phương pháp hồi quy biến công cụ đã cho loại bỏ đang kể các biến nhiễu ảnh hưởng tới “số trẻ” và  “cấu trúc giới tính” để từ đó đảm bảo kết quả nghiên cứu tin cậy.  Kết quả tính toán cho thấy cho thấy, quy mô số trẻ trong gia đình có tác động tiêu cực tới kết quả học tập của trẻ. Cụ thể, có thêm một trẻ giảm số năm đi học là 0.16 năm. Cấu trúc giới tính có tác động tới kết quả học tập của trẻ – có thêm một bé trai làm giảm kết quả học tập cho cả bé trai và gái.  Nghiên cứu cũng cho thấy thứ tự sinh có tác động tiêu cực tới kết quả học tập. Nói cách khác, các bé càng sinh sau càng có kết quả học tập thấp hơn. So với trẻ đầu, trẻ thứ hai có số năm đi học ít hơn là 0.12  năm và thứ ba ít hơn là 0.14 năm.  Đặc biệt, khi một gia đình cố gắng sinh thêm con trai có tác động tiêu cực tới kết quả học tập của trẻ, giảm cả khả năng đi học là 12% và giảm số năm đi học là nửa năm.  Phân tích chi tiết hơn với các nhóm giới tính cho thấy tác động của quy mô trẻ tới giáo dục cho thấy tác động tiêu cực của số trẻ tới cả việc đi học và số năm đi học của các bé gái, nhưng không tác động với các bé trai.  Ngoài ra, nghiên cứu này cũng khẳng định rõ trẻ em nhóm dân tộc thiểu số có kết quả học tập thấp hơn, thể hiện ở cả việc đi học và số năm đi học. Hơn nữa, các trẻ em ở các gia đình chủ hộ là nữ thường có kết quả học tập thấp hơn. Thường ở Việt Nam, các chủ hộ nữ thường là các chủ hộ ly dị hoặc chồng mất, và do vậy hoàn cảnh kinh tế thường khó khăn khiến họ đầu tư ít hơn cho con cái. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy giáo dục của mẹ và điều kiện kinh tế của gia đình là những nhân tố quan trọng quyết định tới kết quả học tập của con.    Nghiên cứu này cung cấp những hàm ý chính sách quan trọng. Thứ nhất, tác động tiêu cực của quy mô trẻ và kết quả học tập cho thấy chính sách kế hoạch hóa dân số vào những năm 1990 và 2000 có thể giúp phát huy hiệu quả của mô hình đánh đổi “số lượng và chất lượng con”, và qua đó đạt được thành tựu giáo dục. Thứ hai, thứ tự sinh và cấu trúc giới tính có tác động tới kết quả học tập của trẻ nên thiết kế chính sách giáo dục cần lưu ý điều này để cơ hội bình đẳng trong học tập cho các trẻ em trong nhóm yếu thế. □  —-  * doi.org/10.1016/j.ijedudev.2021.102461  ** Tạp chí trong danh mục ISI (SSCI) và xếp hạng Q1 theo Scimago.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Nhà giáo khai sáng      Nhà giáo là người đóng vai trò quyết định cho sự thành công của giáo dục. Nhưng nhà giáo là ai, công việc của nhà giáo là gì, và bên cạnh công việc chuyên môn thì nhà giáo còn phải có thêm hiểu biết gì, thì chưa được bàn đến thấu đáo. Bài viết này sẽ tập trung trao đổi những nội dung này nhân dịp 20/11 sắp tới.      Ảnh minh họa. Nguồn: Worldbank Vietnam.  Nhà giáo là ai?  Khi làm công việc giảng dạy với tư cách một nhà giáo, muốn giảng dạy tốt, thì việc đầu tiên và quan trọng nhất đối với nhà giáo là trả lời rốt ráo một câu hỏi rất cơ bản: Nhà giáo là ai?  Đây chính là một triển khai cụ thể của một câu hỏi nhân sinh cơ bản khác: Tôi là ai? Sự triển khai này được tiến hành vào một loại hình công việc cụ thể, với một đối tượng cụ thể, là những người đang giảng dạy.  Chỉ khi nào trả lời được câu hỏi này một cách mạch lạc rõ ràng thì nhà giáo mới thấu hiểu bản thân và công việc của mình, từ đó lãnh đạo được bản thân và làm chủ được công việc của mình, rộng hơn là làm chủ được cuộc sống của mình. Chỉ khi đó, nhà giáo mới có thể giảng dạy một cách hiệu quả, và mới thấy công việc giảng dạy có ý nghĩa.  Chỉ khi đó, nhà giáo mới thực sự trở thành nhà giáo. Còn nếu không, người đó chỉ là một thợ dạy, theo nghĩa thực hiện việc giảng dạy như một công việc để kiếm sống. Điều này tuy không có gì sai, cũng không có gì xấu, nhưng nếu chỉ sống và giảng dạy như một thợ dạy, cũng đồng thời làm cho công việc giảng dạy mất hết ý nghĩa.  Vì sao lại như vậy?  Với câu hỏi “Tôi là ai?”, cuộc sống của một người trên thực tế là sự hiện thực hóa câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” này, trong vô thức hoặc có ý thức. Mà không chỉ cá nhân, cách thức tổ chức và vận hành xã hội cũng chính là sự hiện thực hóa câu trả lời này. Nếu trả lời rằng, tôi là một thần dân, thì xã hội tương ứng sẽ là xã hội phong kiến mà ở đó mỗi người thực sự là một thần dân. Còn nếu trả lời, tôi là một công dân, bình đẳng với mọi công dân khác trước pháp luật, thì xã hội tương ứng sẽ là một xã hội dân chủ pháp quyền.    Khi một người không biết mình là ai, thì cuộc sống của người đó sẽ gặp nhiều bế tắc và mệt mỏi. Chất lượng sống của người đó cũng rất thấp. Tình trạng này còn thảm hại hơn tình trạng của một người lữ hành trên đường xa mệt mỏi mà không biết đích đến ở đâu và đi để làm gì. Hệ quả là người đó sẽ rất dễ rơi vào quẩn quanh bế tắc, mệt mỏi chán đời, và thấy cuộc sống thật vô nghĩa.  Với nhà giáo thì câu chuyện cũng diễn ra tương tự. Toàn bộ công việc và phần lớn đời sống cá nhân của nhà giáo sẽ là sự hiện thực hóa câu trả lời cho câu hỏi “Nhà giáo là ai?” này. Chỉ có điều, đó là câu trả lời tường minh trong ý thức, hay câu trả lời theo quán tính ở trong vô thức. Sự khác biệt giữa nhà giáo và thợ dạy nằm chính ở sự khác nhau trong câu trả lời ở trong ý thức hoặc vô thức này.  Khi không trả lời được câu hỏi “nhà giáo là ai?” thì một người, dù có dạy học mấy chục năm đi chăng nữa, vẫn chỉ là một thợ dạy chứ chưa phải là một nhà giáo đích thực. Vì một lẽ hiển như, người ta không thể là một thứ mà người ta không biết. Người ta cũng không thể làm tốt một việc mà người ta không hiểu. Về mặt hình thức, một thợ dạy có thể vượt qua mọi kiểm tra chuyên môn bởi các thợ dạy khác, nhưng từ trong sâu thẳm, người đó không phải là một nhà giáo đích thực, và chỉ đang thực hiện công việc đó như một công việc để kiếm sống.  Trả lời được câu hỏi “Nhà giáo là ai?”, và sau đó là sống và làm việc như một cách hiện thực hóa tự nhiên và chân thật câu trả lời đó, là chìa khóa và bước chuyển quan trọng nhất để một người chuyển hóa từ một thợ dạy trở thành một nhà giáo đích thực.  Dù có được gọi tên ra hay không thì chất lượng giảng dạy của nhà giáo, và sâu xa hơn là toàn bộ cuộc sống của chính nhà giáo, chính là sự hiện thực hóa câu trả lời này. Sự khác nhau chỉ nằm ở chỗ, sự hiện thực hóa đó được tiến hành có ý thức hay âm thầm diễn ra ở trong vô thức.  Nếu nó diễn ra ở trong ý thức thì bản thân việc giảng dạy, và rộng hơn, bản thân việc trở thành nhà giáo, sẽ được triển khai ra dưới dạng một lựa chọn. Đó là một lựa chọn chân thật, trong tự do và sau khi suy xét. Khi đó, nhà giáo sẽ thực hiện công việc của mình ở trong tỉnh thức, có tự do đối với nó, có trách nhiệm với nó, có khả năng làm chủ nó và hoàn thiện nó, và đặc biệt có thể biến nó trở thành một công việc đầy ý nghĩa.  Ngược lại, nếu nó diễn ra ở trong vô thức, thì bản thân việc giảng dạy, và rộng hơn là cuộc sống của chính nhà giáo, chỉ là một quán tính, một trách nhiệm được ai đó lựa chọn và giao phó. Khi đó, người dạy học chỉ đơn thuần là đang làm một công việc để kiếm sống, chứ không phải là đang sống cuộc sống của một nhà giáo đích thực.  Sự khác biệt giữa việc giảng dạy như một thợ dạy và một nhà giáo đích thực là vô cùng to lớn. Có thể hình dung sự khác biệt này qua ví dụ sau: Một người buôn bán có thể sẽ chỉ là một người buôn để kiếm sống. Khi đó, mối quan tâm của người đó sẽ chỉ đơn thuần là ngày hôm nay mình kiếm được bao nhiêu. Nhưng cũng người đó, và vẫn thực hiện công việc buôn bán đó, nếu thực hiện với tâm thế của một doanh nhân, thì người đó sẽ không chỉ đơn thuần là buôn bán để kiếm sống. Mối quan tâm của người đó sẽ không chỉ đơn thuần là ngày hôm nay mình kiếm được bao nhiêu, mà còn là xây dựng hệ thống, phát triển văn hóa, phát triển khả năng lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản lý, lên kế hoạch, tuân thủ luật pháp, trách nhiệm xã hội, phát triển đội ngũ… Nhìn từ bên ngoài thì rất có thể trong hai trường hợp, công việc vẫn diễn ra tương tự nhau, nhưng về bản chất thì khác nhau hoàn toàn.  Với nhà giáo, trong trường hợp đầu, tức dạy học như một công việc để kiếm sống của một thợ dạy, thì đó chỉ là một công việc lặp đi lặp lại qua ngày, miễn sao có thu nhập để sống. Mối quan tâm của một người như thế sẽ không vượt quá mối quan tâm về thu nhập. Tầm nhìn của một người như thế sẽ không quá những sự vụ mà họ phải thực hiện để có được mức thu nhập đó.  Còn khi nhà giáo thực hiện công việc của mình như công việc của một nhà giáo đích thựcthì khi đó, nhà giáo không chỉ là một người thực hiện công việc giảng dạy như một công việc để kiếm sống như một thợ dạy. Nhà giáo khi đó sẽ thực hiện công việc của mình như một nhà lãnh đạo, một nhà quản lý, một chuyên gia và một hình mẫu. Sở dĩ như vậy là vì với vai trò dẫn dắt thế hệ trẻ, nhà giáo cần thiết phải có các kiến thức và kỹ năng về lãnh đạo và quản lý; với vai trò truyền tải tri thức, nhà giáo phải là một chuyên gia, không chỉ về chuyên môn mình giảng dạy, mà còn về con người và cuộc sống, và cuối cùng, nhà giáo còn phải là một hình mẫu để học sinh noi theo.  Một cách ngắn gọn, chỉ khi nào trả lời được câu hỏi “Nhà giáo là ai?” thì nhà giáo mới nhận thức được đầy đủ về bản thân và bản chất công việc mà mình đang thực hiện, tức biết được mình là ai, công việc mình đang thực hiện là gì, và vì thế mang lại ý nghĩa cho công việc đó. Còn nếu không, người đó sẽ chỉ là một thợ dạy, đang dạy học như một công việc để kiếm sống. Tâm thế và động lực làm việc của hai trường hợp này khác hẳn nhau. Chất lượng công việc và chất lượng sống do đó cũng khác nhau một trời một vực.  Mục tiêu của giáo dục không là gì khác ngoài việc tạo ra những con người tự do có khả năng lãnh đạo bản thân và làm chủ cuộc sống. Vì thế, bên cạnh việc khai sáng về bản thân mình và cuộc sống, với tư cách một nhà giáo dẫn dắt thế hệ trẻ đi qua cuộc sống đầy biến động và thách thức, nhà giáo còn phải có khả năng xây dựng một bộ giá trị cốt lõi, sử dụng làm khung tham chiếu để định hướng cho suy nghĩ và hành vi của mình và học trò, đồng thời làm cơ sở cho đạo đức của nhà giáo. Một khung tham chiếu như thế, tốt nhất là một bộ các giá trị phổ quát đã được kiểm chứng bởi thời gian và địa lý, và một sự tiếp nối của truyền thống, thay vì những phát kiến và nhập khẩu kiến thức nhất thời.  Hành trình tìm kiếm một bộ giá trị như thế đã đưa tôi đến với bộ giá trị phổ quát: Chân – Thiện – Mỹ – Hòa. Nhà giáo chỉ cần nắm vững bốn giá trị phổ quát này, thực hành chúng và trở thành chúng, rồi sử dụng chúng làm những tiêu chuẩn định hướng cho nhận thức và hành vi của cả mình và học trò, thì sẽ trưởng thành vững vàng và không lạc lối trên hành trình sống đầy thử thách và biến động.  Khai sáng là gì?  Theo I. Kant, thì “Khai sáng là sự thoát ly của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra”1. Sự thoát ly ở đây, chúng ta có thể hiểu theo một nghĩa mạnh mẽ hơn, là sự vượt thoát. Vượt thoát khỏi cái gì? Tất nhiên là khỏi tính trạng vị thành niên do chính mình gây ra như câu trả lời của Kant. Nhưng đến đây, để hiểu câu trả lời thoạt nhìn có vẻ đơn giản này, có hai chi tiết cần làm rõ. Đó là: “Tình trạng vị thành niên” và “do chính mình gây ra”.  Tình trạng vị thành niên là tình trạng gì? Dấu mốc nào dùng để phân biệt tình trạng vị thành niên và tình trạng trưởng thành của con người?  Đơn giản nhất, và cũng dễ dãi nhất, là dùng tuổi sinh học. Theo đó, một cách tương đối phổ biến, người ta quy định người dưới 16 tuổi là vị thành niên. Nếu đọc các văn bản pháp luật, chúng ta sẽ thấy, người vị thành niên không phải chịu toàn bộ trách nhiệm cho các hành vi dân sự của mình. Vì thế, những người phạm tội dưới 16 tuổi sẽ không bị xét xử theo khung pháp luật áp dụng đối với người trưởng thành.  Tuy nhiên, tuổi sinh học có thể khác hoàn toàn so với tuổi tuổi trí tuệ. Một người có tuổi sinh học 60 chưa chắc đã có tuổi trí tuệ tương ứng. Người đó thậm chí vẫn còn trong giai đoạn vị thành niên về mặt trí tuệ. Vì thế, tình trạng vị thành niên mà Kant nói đến, ắt hẳn phải là vị thành niên về mặt trí tuệ, chứ không phải là vị thành niên về mặt sinh học, vì vị thành niên sinh học sẽ tự động chấm dứt khi một người bước qua tuổi 16.  Vậy thế nào là vị thành niên về mặt trí tuệ?  Để ý trong các văn bản pháp quy, chúng ta thấy có một chi tiết về người giám hộ đối với trẻ vị thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự. Vì sao với hai đối tượng này thì pháp luật lại quy định phải có người giám hộ? Muốn trả lời câu hỏi này rõ ràng, ta sẽ đi vòng qua một câu hỏi tương đương với nó: Người giám hộ sẽ làm gì trong các trường hợp này?  Quan sát công việc của người giám hộ, và đọc những quy định cụ thể về vai trò của người giám hộ, ta sẽ thấy công việc chủ yếu của người giám hộ là giúp cho người được giám hộ tổ chức và quản lý đời sống cá nhân của mình, bằng cách giúp họ đưa ra các quyết định.  Vì sao vậy? Vì người được giám hộ khi đó không có khả năng tư duy độc lập, nên không thể tự đưa ra các quyết định và chịu trách nhiệm về nó. Các quyết định do người vị thành niên đưa ra cũng nhiều khả năng không hợp lý và hợp pháp. Lý do là do họ chưa trưởng thành về trí tuệ, hoặc không đủ năng lực trí tuệ. Vì thế, họ cần trông cậy vào trí tuệ của người khác. Đó chính là lý do vì sao họ cần người giám hộ.    Cần người giám hộ với trẻ vị thành niên là một yêu cầu phổ biến với tất các các xã hội. Khi con bạn đi du học ở nước ngoài, nếu con bạn vẫn còn ở tuổi vị thành niên, thì luật pháp sở tại thường yêu cầu phải có người giám hộ để giúp con tổ chức đời sống cá nhân và đưa ra các quyết định. Nói nôm na là con bạn vẫn đang ở giai đoạn cần người nghĩ hộ, vì chưa đủ trưởng thành về mặt trí tuệ.  Vì vậy, dấu mốc để phân biệt một người đã thoát khỏi tình trạng vị thành niên hay chưa chính là ở khả năng tư duy độc lập của người ấy. Nếu người đó có khả năng tư duy độc lập, thì đó được coi là người trưởng thành về mặt trí tuệ. Còn nếu không, thì người đó vẫn đang ở trong tình trạng vị thành niên về mặt trí tuệ, dù về mặt hình thể, người đó có thể đã tóc trắng phơ phơ.  Điều oái oăm là tình trạng vị thành niên này không phải do sự chưa trưởng thành về mặt sinh học gây ra, lại cũng không phải do người khác gây ra, mà do tự mình gây ra cho chính mình. Bằng cách nào? Bằng cách sợ. Bằng cách a dua. Bằng cách luôn trông đợi vào câu trả lời của người khác mà không dám tự đi tìm ra câu trả lời cho chính mình.  Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này? Theo trào lưu triết học khai sáng ở phương Tây, thì tình trạng vị thành niên đó là do con người không dám sử dụng đầu óc của mình để tư duy độc lập. Chính vì không dám tư duy độc lập nên phải lệ thuộc vào tư duy của kẻ khác. Đó chính là nguyên nhân làm cho con người cứ mãi ở trong tình trạng vị thành niên về mặt trí tuệ mà không thoát được ra.  Vì thế mà phải vùng thoát ra khỏi tình trạng vị thành niên này. Cũng vì thế, các triết gia thời kỳ khai sáng đã đề cao lý tính và giương cao khẩu hiệu: Hãy dám biết!  Hãy dám biết, bằng cách tư duy độc lập, bằng cách dám sử dụng đầu óc của mình để suy nghĩ, để tự đi tìm ra câu trả lời thay vì trông đợi ở tư duy của kẻ khác, là tinh thần xuyên suốt về khai sáng theo quan niệm của I. Kant và các triết gia khai sáng phương Tây.  Tuy nhiên, với những người sống ở phương Đông, thì khai sáng sẽ không chỉ đơn thuần là câu chuyện của của lý tính, của tư duy độc lập. Với văn hóa phương Đông, khai sáng còn mang trong mình nội hàm về sự giác ngộ. Đó là sự giác ngộ về chính bản thân mình và cuộc sống xung quanh. Đó là đi xuyên qua các giới hạn của ngôn ngữ và lý tính. Đó là một truyền thống văn hóa và một thực hành khai sáng khác hẳn so với phương Tây.  Vì lẽ đó, khai sáng của người phương Đông là một câu chuyện thú vị và phức tạp hơn câu chuyện ở phương Tây rất nhiều. Trải nghiệm khai sáng ở phương Đông cũng chấn động và sâu sắc hơn chuyện hãy dám biết rất nhiều. Vì biết thì còn nằm trong tư duy và lý tính. Còn giác ngộ thì vượt qua các giới hạn của tư duy và lý tính. Đó là một trải nghiệm chủ quan – bản thể chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được, chứ không thể diễn giải bằng ngôn từ cho người khác hiểu. Một người nếu đã đi qua trải nghiệm này sẽ trở thành một con người tự do và tỉnh thức, vượt thoát khỏi các ước định của xã hội, về chính họ và về chính xã hội.  Trong khuôn khổ bài viết này, người viết không có ý định đi sâu vào việc thảo luận về khái niệm khai sáng, mà chỉ nêu ra để lưu ý một điều rằng, với sự tiếp nối của mạch nguồn truyền thống, nếu thấu hiểu và tỉnh thức về chính công việc của mình, thì một nhà giáo đích thực phải là một nhà giáo khai sáng. Đó không chỉ là khai sáng theo quan niệm của Kant, tức trưởng thành về mặt trí tuệ bởi dám tư duy độc lập, mà còn là sự giác ngộ về chính bản thân và cuộc sống của mỗi người, thông qua việc trả lời những câu hỏi nhân sinh cơ bản nhất, như “Tôi là ai?”, “Cuộc sống là gì?”, “Ta đang đi qua cuộc sống này như thế nào?”2…  Chỉ khi đó, nhà giáo mới thoát khỏi thân phận của một thợ dạy để chuyển hóa trở thành một nhà giáo đích thực, nhân văn và khai sáng.  ————-  1 I.Kant, Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?, bản dịch của Thái Kim Lan.  2 Các nội dung này được trình bày chi tiết trong khóa học “Nhà giáo khai sáng” do tác giả dẫn dắt.    Author                Giáp Văn Dương        
__label__tiasang Nhà giáo Lev Tolstoi với tôi      Đọc Tuyển tập tác phẩm giáo dục học của Lev Tolstoi, trong đó có bài Bút ký về ngôi trường Jasnaja Poliana do ông sáng lập và trực tiếp giảng dạy cho con em nông dân trong điền trang của ông, tôi thực sự kinh ngạc về phương pháp lên lớp cấp tiến, có thể nói là hoàn toàn phá cách của nhà giáo Tolstoi.     Lev Tolstoi là một nhà văn vĩ đại ai cũng biết. Nhưng Lev Tolstoi là một nhà tư tưởng sư phạm lớn, thì tôi, dẫu tốt nghiệp Đại học Sư phạm quốc gia Moskva mang tên Lênin, trường đại học đầu ngành của Liên Xô cũ, cũng không biết. Đó là vì thời tôi học (1956 – 1961), nói đến học thuyết Tolstoi – tolstovctvo, tolstovshina (tiếp vĩ từ -shina trong tiếng Nga cấu tạo các từ miệt thị như: matiorshina: tệ văng tục, ugolovshina: nạn/lũ đầu trộm đuôi cướp…; trường hợp này có thể dịch: “tà thuyết tolstoi”) dứt khoát phải thêm cả một đoạn định ngữ thường trực: “phản động”, với nghĩa chính xác và sâu sắc nhất của từ đó.   Maiakovski đã viết:  Tôi với anh chẳng việc gì phải nghĩ  Nếu như các lãnh tụ nghĩ cho ta rồi!  Văn chính luận của Tolstoi, các lãnh tụ đã kết luận đanh thép là “phản động” thì bỏ, “vứt”, sờ đến làm gì, không khéo lại rách việc, “ne-ud” (không đạt, tức điểm 2) như chơi. Cứ tác phẩm văn học của ông mà nhào cho kỹ, nghĩ cho sâu, thế là “otlitshno” (xuất sắc, tức điểm 5) ngon.   Ngót ba chục năm làm công tác giảng dạy, được giao biên soạn các chương trình, giáo trình ngoại ngữ, tôi đọc không ít công trình lý thuyết về tâm lý giáo dục học và giáo học pháp của Nga, của cả Anh, Mỹ, Pháp, nhưng không hề một lần nghĩ đến đọc các tác phẩm giáo dục học của Tolstoi cho đến khi được Hội đồng liên ngành ngoại ngữ của Bộ Giáo dục và Đào tạo giao dự thảo, rồi chấp bút Khung chương trình giai đoạn đào tạo đại cương cho khối ngành ngoại ngữ. Đó là chuỗi sự việc dẫn đến vụ lần đầu tiên kể từ khi tốt nghiệp đại học sư phạm, tôi sực nhớ giáo sư của tôi có nhắc lướt qua những cải cách giáo dục gây chấn động của văn hào-tác giả Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina. Tôi đến thư viện lục lọi, tìm được Tuyển tập tác phẩm giáo dục học của Tolstoi.   Đọc bài Bút ký về ngôi trường Jasnaja Poliana Lev Tolstoi sáng lập và trực tiếp giảng dạy cho con em nông dân trong điền trang của ông, tôi thực sự kinh ngạc về phương pháp lên lớp cấp tiến, có thể nói là hoàn toàn phá cách của nhà giáo Tolstoi. Việc tạo không khí thoải mái, vui vẻ ở trường, thì ở ta cha đẻ của “công nghệ giáo dục” GS Hồ Ngọc Đại đã nêu thành nguyên lý “đi học là hạnh phúc”, “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” và có thực hiện được ở Trường thực nghiệm Giảng Võ, rồi đã triển khai hiệu quả ở 43 tỉnh thành, một thời gian. Nhưng… tạo không khí thoải mái đến mức: muốn đến lớp thì đến, không muốn thì thôi; đến lúc nào tùy ý, ngồi đâu tùy thích: trên ghế, trên bàn, dưới sàn lớp hay trên bậu cửa sổ; cùng ngồi trong một lớp mà học gì tùy chọn: đứa học đánh vần, đứa tập viết, đứa học tính, đứa tập đọc truyện hay hí hoáy vẽ – thì còn gì là nội quy học đường, trật tự giờ lên lớp để mà học với chả hành! Giáo giới chính thống đương thời la lối: “Một cái hội làng!”, “Một bầy Zigan !”. Tuy nhiên, điều lạ lùng là lãnh tụ phái Dân chủ-Cách mạng Nikolai Tshernytsevski lại nhiệt liệt hoan nghênh: “Tuyệt vời! Tuyệt vời! Lạy Chúa sao cho ngày thêm nhiều trường thiết lập được cái sự “mất trật tự” nhân hậu và hữu ích như vậy… Và theo chúng tôi, phải nói đơn giản là “rất trật tự” , bởi lẽ ở đây có thấy sự mất trật tự nào đâu, khi mà tất cả đều học hành chăm chỉ chừng nào chúng còn đủ sức…”. Đáng khâm phục hơn, theo ghi nhận của một người đương thời khác, là sau vài ba tháng những đứa trẻ nông dân mù chữ đã đọc thông viết thạo!   Tôi tự nhủ: phải tìm hiểu kỹ hơn về quan điểm giáo dục của cái ông bá tước, “địa chủ Cơ đốc giáo cuồng tín” này. Tôi nghiền hết Tuyển tập tác phẩm giáo dục học của Tolstoi, đọc đi đọc lại những bài Về giáo dục quốc dân, Về giáo dục và đào tạo (O vospitanii i obrazovanii – tháng 5/1862), Về các phương pháp dạy đánh vần, Sự tiến bộ và định nghĩa giáo dục, Ai học ai cách viết văn: trẻ em nông dân học chúng ta, hay chúng ta học ở chúng, Những chỉ dẫn chung cho giáo viên, Về giáo dục tự do v.v…   Đặc biệt, tôi đọc đi đọc lại hai bài luận chiến lớn của Tolstoi: Về giáo dục quốc dân và Về giáo dục và đào tạo. Hai bài này đã gây nên những tranh luận dữ dội đương thời và suốt thời Xô Viết, tuy được công nhận có không ít phát kiến độc đáo, song về cơ bản vẫn bị phê phán là “những sai lầm sâu sắc” của Tolstoi về giáo dục. Vậy Lev Tolstoi phát biểu những quan điểm “sai lầm sâu sắc”(?) gì trong hai bài luận chiến đó, để ngày nay trên khắp thế giới, cả ở phương Tây, ngay tại những nước có nền giáo dục tiên tiến như Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, lẫn phương Đông như Nhật Bản, và từ sau năm 1991 thì ở cả ở Liên bang Nga, người ta lại cho là tiên tiến, đi trước thời đại ; người ta lập các “trường Tolstoi” (Đức, Thụy Sĩ, Nga) “đại học Tolstoi” (Mỹ, Nhật, Nga) để nghiên cứu và áp dụng?   Để hiểu tư tưởng sư phạm của Tolstoi, phải xem xét nó từ lập trường đạo lý toàn nhân loại chứ không phải từ quyền lợi vị kỷ của một giai tầng nào. Như việc đánh giá Truyện Kiều ở ta vậy. Từ lập trường của phái Duy tân yêu nước, trong điều kiện đương thời còn phải khai Dân trí – chấn Dân khí để cứu nước, thì dưới con mắt của cụ Nghè Ngô Đức Kế, người từng được chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng gọi là chiến sĩ tiên phong có “Á phách, Âu hồn”, Truyện Kiều là “dâm thư”, cô Kiều phải bán mình chuộc cha, rồi trôi dạt vào chốn lầu xanh là “con đĩ”. Nhưng ngày nay, UNESCO từ lập trường nhân đạo của toàn nhân loại, đã đánh giá tiểu thuyết của thi hào Nguyễn Du là tác phẩm nhân văn vĩ đại, cô Kiều là hình mẫu người phụ nữ phương Đông, xinh đẹp và đoan trang ngay cả trong hành vi bán mình của cô, và công nhận Nguyễn Du là Danh nhân Văn hóa thế giới.   Theo sự lĩnh hội của tôi, chung quy học thuyết sư phạm của Lev Tolstoi có hai tư tưởng căn bản là :  1.    Quan niệm về giáo dục từ thời Trung Cổ đến đương đại với ông, cả ở Tây Âu lẫn trong đế chế Nga hoàng, coi giáo dục là quyền của một số người này được tùy tiện nhào nặn một số người khác theo những khuôn mẫu của mình, áp đặt cho họ những điều mình cho là duy nhất đúng, là “thiên kinh địa nghĩa” bất di bất dịch, trong khi cái mình cho là duy nhất đúng ấy không còn đáp ứng những nhu cầu thiết yếu với cuộc sống của quảng đại quần chúng nhân dân – đó là một quan niệm sai lầm, trái với bản tính tự nhiên của con người là biết suy nghĩ và yêu thương (tôi liên hệ với câu “Nhân chi sơ / Tính bản thiện” trong sách Tam tự kinh được đọc từ nhỏ). Tolstoi gọi đó là giáo dục áp chế (nasilstvennoie vospitanie).   Ông chỉ ra những hậu quả tai hại của nền giáo dục ấy là: về mặt đạo đức, đã tập cho học sinh, sinh viên quen những thói dối trá, đạo đức giả, háo danh, học chỉ cốt lấy điểm cao vì thế vô tình tạo cơ hội cho các vị giáo sư lộng hành, chỉ cốt giật cái bằng để kiếm địa vị trong xã hội; về mặt học vấn, thì càng học lên cao càng ít thiết thực cho cuộc sống, lên đến đại học thì toàn là một mớ thông thái vô tích sự; vào đời thì kém xa một nông dân thông minh, một thợ thủ công khéo tay, một người buôn bán tháo vát, vì thế các ông chủ sẵn sàng mời họ làm quản lý và trả cho 300 – 500 rup/tháng, trong khi không thèm trả cho sinh viên tốt nghiệp đại học chỉ 200 rup để làm phòng thí nghiệm hoặc nghiên cứu tự nhiên.  2.    Đối lập với giáo dục áp chế, Tolstoi đề xuất nguyên lý giáo dục tự do (svobodnoie vospitanie). Để lập luận nguyên lý giáo dục này Tolstoi nêu một quan sát cụ thể của ông về hai đứa trẻ cùng sinh ra trong một trang trại: con trai của nhà nông phu và quý tử gia đình ông chủ. Đứa không được học ở trường, lớn lên tự nhiên với việc đồng áng thì khỏe mạnh và lanh lợi, tỏ ra tự tin, biết làm nhiều việc trong môi trường nông dân của mình, biết gì là biết chắc do tự tìm hiểu và tự tay làm; sống chất phác và thành thật. Đứa kia từ nhỏ đã có gia sư, đến trường học đủ loại thầy bà, được nhồi nhét đủ các môn khoa học mà nó chỉ tiếp nhận qua lời giảng, không bao giờ thực hành; lớn lên lại thành ra ẻo lả, lờ đờ và vụng về, mọi thứ chỉ biết lơ mơ, hỏi đến thì trả lời lắp ba lắp bắp như con vẹt; sớm nhiễm thói dối trá: dối cha mẹ để moi tiền ăn chơi, luồn lọt và dối thầy cô để được lên lớp; đạo đức giả: nghĩ một đằng, nói một nẻo và nói một đằng, làm một nẻo. Hai đứa trẻ ấy là kết quả của hai quy trình giáo dục đối lập nhau: tự do và áp chế.   Như vậy có thể hiểu rằng Tolstoi quan niệm giáo dục tự do không theo nghĩa tự do chủ nghĩa mà theo nghĩa phát triển tự nhiên các năng lực trí tuệ và tinh thần của đứa trẻ, theo tinh thần của triết gia và nhà giáo dục học Khai sáng Jean-Jacques Rousseau. Tolstoi cho rằng mục tiêu của giáo dục không phải là bản thân kiến thức, vốn chỉ là phương tiện, cho nên kiến thức không phù hợp phải thay đổi ngay, như ông đã bỏ không dạy tiếp truyện ngắn Chủ hiệu đòn đám ma của Pushkin khi trẻ em chưa thể hiểu nên không thích. Mục tiêu của giáo dục là bằng kiến thức phù hợp thức tỉnh bản tính nhân ái tiềm tàng trong mỗi đứa trẻ, giúp nó phát triển hài hòa các năng lực trí tuệ và tinh thần phục vụ cho cuộc sống thực của nó trong cộng đồng. Để đạt được mực tiêu đó thì nội dung của quy trình giáo dục cũng phải tự do, theo nghĩa học sinh được tự do lựa chọn học những kiến thức và kỹ năng phù hợp với hứng thú nhận thức của chúng; giáo viên được tự do thay đổi nội dung kiến thức khi thấy thứ mình chọn hóa ra không phù hợp với đối tượng. Phương pháp giáo dục tự do có nghĩa là tôn trọng sự khác biệt của học sinh, tạo mọi điều kiện để từng học sinh thấy thoải mái trong hoạt động học tập trên lớp, sử dụng mọi biện pháp để gợi mở cho mỗi học sinh tự tìm hiểu vấn đề, chủ động hỏi, tranh luận, học qua làm.  Tolstoi không hề cố chấp. Cuối đời ông công khai thừa nhận sai lầm khi đối lập cực đoan giáo dục=áp chế và đào tạo=hình thành tự nhiên. Ông từng viết trên tờ báo Jasnaja Poliana của mình là đưa quan điểm ra để mọi người tranh luận, phản bác, miễn là có thiện chí, không miệt thị, xúc phạm nhau. Về phương pháp tư duy, Tolstoi ưa thủ pháp suy luận đến cùng kỳ lý, đẩy vấn đề đến hai thái cực đối lập để lột trần bản chất.   Một điều nhà giáo dục học Tolstoi dứt khoát khẳng định, đó là: “Thực ra con người phải được đào tạo để chuẩn bị cho cuộc sống, cho lao động, mỗi kiểu lao động ngoài kỹ năng cho nó còn đòi hỏi một quy trình, một sự chuẩn xác và điều quan trọng là kỹ năng sống và ứng xử với mọi người” (VTK nhấn mạnh). Ông đã đi trước thời đại một trăm năm: đến những thập niên cuối thế kỷ XX Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc tế của UNESCO Jacques Delors mới đề xuất 4 cột trụ (Four Pillars) nổi tiếng cho nền giáo dục của thế kỷ XXI, là: 1) Học để hiểu biết, 2) Học để làm việc, 3) Học để làm người và 4) Học để biết cách chung sống.   Hà Nội vào đông, 1 – 12 – 2010        (*) Nguyên Trưởng khoa Phiên dịch Nga – Anh – Pháp – Trung ĐH Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên thành viên Hội đồng liên ngành ngoại ngữ kiêm Phó chủ tịch Hội đồng ngành tiếng Nga của Bộ GD-ĐT.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà giáo Phạm Toàn nói chuyện tại FPT EduCamp      Nhà giáo Phạm Toàn sẽ xuất hiện tại hội thảo  mở về giáo dục FPT EduCamp 2014 ngày 30/11 tới đây với vai trò diễn giả  chính cùng bài nói chuyện có tiêu đề đầy thách thức: “Những mệnh đề ngẫu hứng và nghiêm túc: Nền giáo dục của  Lời Khuyên và nền giáo dục của Việc Làm”.     FPT EduCamp 2014 hướng tới tìm kiếm những sáng kiến giáo dục thiết thực, hiệu quả, và dành cho giảng viên ĐH FPT và các giảng viên đào tạo nội bộ của FPT cũng như những người làm việc trong ngành giáo dục hoặc quan tâm đến lĩnh vực giáo dục.   Bên cạnh nhà giáo Phạm Toàn – người dành hơn 50 năm nghiên cứu quá trình học tập của trẻ em, sự kiện này còn còn có sự tham gia của các diễn giả như TS Phan Phương Đạt – Phó Hiệu trưởng ĐH FPT, một trong hai người đầu tiên tham gia hai kỳ liên tiếp và giành giải cao tại Olympic toán Quốc tế; hay thầy Đặng Minh Tuấn – thạc sỹ tốt nghiệp ở Pháp mới đây “trượt” kì thi tuyển viên chức tại trường THPT Amsterdam… Câu chuyện của một tiến sỹ Toán hết lòng với môn học này cùng hành trình trở thành Phó Hiệu trưởng của một trường đại học theo đuổi triết lý giáo dục mới; câu chuyện của một thạc sỹ trẻ tốt nghiệp ở trời Tây, thi trượt kỳ thi tuyển công chức để rồi “rẽ ngang”, đầu quân cho một trường cấp 3 thuộc hệ thống giáo dục FPT chắc chắn hàm chứa nhiều vấn đề về giáo dục.   Trước khi sự kiện diễn ra vào cuối tuần này, nhiều chủ đề đã được người tham dự gửi đến với mong muốn cùng trao đổi như: Phương pháp tạo động lực cho học sinh; Phương pháp giảng dạy hiệu quả cho sinh viên…  Để biết thông tin chi tiết về chương trình và đăng ký tham gia có thể xem tại: http://educamp.fpt.edu.vn/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà giáo Phạm Toàn nói về tâm lý học giáo dục      Cuối tuần qua, nhà giáo Phạm Toàn vừa có buổi trình bày về một  số công trình nghiên cứu tâm lý đã trực tiếp hoặc gián tiếp tạo cơ sở  cho phương pháp giáo dục mà Cánh Buồm theo đuổi: tự học – tự giáo dục.    Sự kiện này nằm trong chuỗi Ngày Sư phạm Cánh Buồm, được tổ chức mỗi tháng một lần từ nay đến cuối năm.  Mở đầu buổi nói chuyện, nhà giáo Phạm Toàn giới thiệu về cách nghiên cứu được đánh giá là “tâm lý học thực nghiệm” của Wilhelm Maximilian Wundt (1832-1920), nhà sinh lý học người Đức. Ông không nghiên cứu tâm lý học. Nhưng ông đã tổ chức cho những sinh viên đang được thực nghiệm hãy cùng tham gia thực nghiệm và mô tả lại trải nghiệm của mình. Từ năm 1879 (năm ông chính thức có phòng thực nghiệm tâm lý học) đến năm 1912 (năm ông có số sinh viên nhiều nhất, 620 người), ông đã hướng dẫn 186 luận án tiến sĩ tâm lý học – nói cách khác, ít nhất đã có gần hai trăm lần chứng minh hiện tượng tâm lý học bằng thực nghiệm. Có thể nói, khoa học về tâm lý đã ra đời trong thực nghiệm.         Tham gia Ngày Sư phạm Cánh Buồm đâu tiên có rất nhiều người tâm huyết với giáo dục nước nhà, đã thường  xuyên theo dõi, góp ý và ủng hộ cho hoạt động của Nhóm Cánh Buồm như Nhà  giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, nhà thơ Dương Tường, GS Ngô Bảo Châu, GS Vũ Hà Văn, TS Trần Văn Khải, TS Giáp Văn Dương…  và gần  100 khách đăng kí. Nhận được thông tin về Ngày Sư phạm Cánh Buồm khi vừa ra đến Hà Nội, ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Chủ tịch tập đoàn Cà phê Trung  Nguyên, đã dành trọn buổi chiều tham dự sự kiện và có nhiều phát biểu sôi nổi.         Sau Wundt, ở Pháp có bác sĩ Alfred Binet (1857 –1911) bắt đầu từ năm 1905 đã xây dựng hẳn một bộ câu hỏi trắc nghiệm nhằm phân loại học sinh trước khi vào học bậc tiểu học. Bộ trắc nghiệm sau đó đã vượt Đại Tây Dương qua Mỹ châu, để được hoàn thiện thêm, trở thành bộ đo nghiệm Binet-Simon, không chỉ nhằm loại ra những trẻ em không đủ điều kiện “cưỡng bức tiểu học” mà sau khi ồ ạt thực nghiệm rất rộng rãi trên động vật, đã cung cấp những cơ sở dữ liệu nghiên cứu quy luật về việc học thể hiện trong “Định luật về hiệu quả học tập”.   William James (1842 –1910), xuất thân bác sĩ y khoa, nhà giáo dục và nhà nghiên cứu triết học, cũng trở thành nhà tâm lý học đầu tiên có giáo trình dạy môn học này ở Hoa Kỳ. Và đến năm 1910, như một “tuyên ngôn” được viết lần đầu bởi Edward Thorndike (1874 – 1949), là bài báo “Đóng góp của tâm lý học cho công cuộc giáo dục”, khẳng định vai trò không thể thiếu của tâm lý học đối với giáo dục.  Cuộc viễn du của tâm lý học qua Đại Tây Dương sau rồi lại quay trở về châu Âu với những công trình của nhà tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget (1896 –1980). Ông Jean Piaget khi bắt đầu nghiên cứu tâm lý học cũng từng đi theo con đường của Mỹ là người đo nghiệm IQ của trẻ em. Khác với những đồng nghiệp, Piaget không chỉ thu thập những câu trả lời “đúng”, mà ông còn chú ý tới những câu trả lời “sai” của con trẻ. Ông cũng mở trường ở Genève cho trẻ em bình thường (khác với đối tượng trẻ em có khiếm khuyết thời Binet, và rất khác với đối tượng thực nghiệm là động vật ở Hoa Kỳ) lấy tên là trường Jean-Jacques Rousseau, cho ba đứa con đẻ của mình theo học ở đó, và cần cù làm thực nghiệm hình thành trí khôn thao tác ở con trẻ.         Cánh Buồm tiếp thu các nhà kinh điển              • Wundt – giã từ tư biện để đi vào việc làm hàm chứa lý thuyết              • Thorndike – Ứng dụng TLH toàn diện vào Giáo dục con người              • Piaget – Kính trọng thế giới trí khôn trẻ em do các em tự hình thành              • Gardner – Tự do và dân chủ trong chương trình và sách        Từ đầu những năm 1930 ở Liên Xô cũ cũng xuất hiện nhiều nghiên cứu tâm lý học quan trọng. Các nước phương Tây cho tới nay vẫn thường vinh danh nhà tâm lý học Lev Vygotski (1896 –1934) với sự nhấn mạnh vào bối cảnh văn hóa của người học. Các nhà tâm lý học khác của Liên Xô cũ cũng có công rất lớn khi củng cố thêm lý thuyết về trí khôn thao tác bằng những thực nghiệm dạy khái niệm khoa học cho trẻ em. Có thể thấy một số thành tựu tâm lý học giáo dục theo hướng Xô-viết đó tại Hà Nội trong công trình “giáo dục thực nghiệm” do GS Hồ Ngọc Đại khởi xướng, và ở đó nhà giáo Phạm Toàn cũng hình thành những thực nghiệm để soạn ra chương trình và sách giáo khoa giáo dục nghệ thuật, giáo dục ngôn ngữ học cho trẻ em tiểu học.   Cuối cùng, các luồng tâm lý học giáo dục đó cũng được bổ sung bằng một đóng góp hoàn toàn mới mẻ, độc đáo, và dân chủ mà tác giả là nhà tâm lý học đương thời Hoa Kỳ Howard Gardner (1943) – lý thuyết về trí khôn nhiều thành phần (Cơ cấu trí khôn, bản dịch của Phạm Toàn, nhà xuất bản Giáo dục, 1997, 1998; nhà xuất bản Tri thức, 2011).   Howard Gardner không hoàn toàn đồng tình với Piaget khi ngả về khuynh hướng rất coi trọng trí khôn toán học ở con người – Gardner nhấn mạnh vào sự đa dạng của trí khôn người. Bảy thành phần trí khôn có thể có ở một con người, và ở một người có khi cũng chỉ có một vài thành phần trí khôn cũng là đủ cho sự phát triển của chính con người ấy. Các thành phần đó là: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn logic-toán, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể ở dạng động, trí khôn âm nhạc, trí khôn cá nhân hướng nội, và trí khôn cá nhân hướng ngoại.   Như vậy, có thể thấy rằng Nhóm Cánh Buồm đã tìm cách thừa kế có chọn lọc các thành tựu tinh hoa trong môn tâm lý học mà loài người đã đạt được để áp dụng vào việc xây dựng chương trình học và các sách giáo khoa của nhóm những năm qua.  Nhà giáo Phạm Toàn cho biết, Nhóm Cánh Buồm đang tổ chức dịch các tác phẩm tâm lý học của Piaget và Gardner. Hiện nay, hai thành viên cao tuổi của Nhóm Cánh Buồm (nhà thơ Hoàng Hưng và nhà văn Nguyễn Xuân Khánh) đã hoàn thành bản dịch hai tác phẩm quan trọng của Piaget, “Sự ra đời trí khôn con trẻ” và “Sự hình thành biểu tượng ở con trẻ”.   Nhà giáo Phạm Toàn cho rằng “Trong công cuộc cải cách giáo dục, cái khó nhất là thay đổi người lớn” và ông hy vọng những buổi sinh hoạt thường kì như thế này, các thành viên Câu lạc bộ Sư phạm Cánh Buồm sẽ là những người thay đổi tích cực nhất để bắt kịp với nhịp độ phát triển của trẻ em, để thực sự tôn trọng trẻ em và có khả năng hướng dẫn các em phương pháp học tập hiện đại.   Đọc thêm  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6524&CategoryID=6      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà giáo Phạm Toàn và TS Giáp Văn Dương nói về triết lý giáo dục      Nhà giáo Phạm Toàn và Tiến sĩ Giáp Văn Dương sẽ có buổi thuyết trình về triết lý giáo dục vào chiều mai, 20/09, tại Hà Nội.    Nhà giáo Phạm Toàn, người sáng lập nhóm Cánh Buồm, quan niệm: Giáo dục phải đào tạo ra những con người tự chủ, trách nhiệm, có tâm hồn phong phú. TS Giáp Văn Dương, người sáng lập cổng giáo dục trực tuyến Giapschool, thì cho rằng: Con người tự do là đích đến của nền giáo dục.   Đi tìm triết lý giáo dục là một vấn đề ám ảnh đối với những người làm giáo dục Việt Nam trong suốt hàng chục năm qua. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sở dĩ giáo dục Việt Nam cải cách nhiều lần mà không thành công là do thiếu một triết lý giáo dục đúng đắn dẫn đường. Buổi thuyết trình vào trao đổi sẽ bàn thảo những câu hỏi như triết lý giáo dục là gì, chúng ta cần triết lý nào và làm sao để áp dụng nó vào thực tiễn Việt Nam.    Thông tin chi tiết:  Thời gian:  15:00 – 17:00, thứ Bảy, ngày 21/09/2013;  Địa điểm:  Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội;        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà trường: Nơi rèn luyện nếp sống dân chủ      John Dewey, trong “Tâm niệm giáo dục của tôi” (1897), đã viết: “Tôi cho rằng nhà trường trước hết là một định chế xã hội, là hình thức đời sống cộng đồng hiệu quả nhất để giúp học sinh thừa hưởng di sản của giống nòi”.   &#160;    Trong xã hội hiện đại, nhà trường, bên  cạnh gia đình và các loại hội đoàn, là nơi thực hiện chức năng xã hội  hóa mẫu mực nhất và quan trọng nhất. (“Xã hội hóa” là tiến trình xây  dựng nhân cách toàn diện, chứ không phải theo cách hiểu quen thuộc của  ta hiện nay là “nhà nước và nhân dân cùng làm”!).   Sau khi biết qua quan niệm của Dewey về  giáo dục nói chung, bây giờ ta tìm hiểu câu trả lời của ông cho hai câu  hỏi tiếp theo: Nhà trường là gì? Nội dung của giáo dục là gì?   Trước hết là “nếp sống dân chủ”  Để thực hiện được trọng trách vừa nêu, nhà trường phải gắn liền với xã hội (cách tiếp cận khác so với Rousseau), tức đặt “cuộc sống” của học sinh vào tâm điểm của lớp học. Ông giải thích: “Nhà trường phải thể hiện chính cuộc sống, đó là cuộc sống sinh động và thiết thân giống như khi học sinh đang ở trong gia đình, xóm giềng và nơi vui chơi”. Nội dung dạy và học cần thoát thai và được cô đúc từ môi trường quen thuộc, từ “đời sống thực” ấy. Nhưng, Dewey tất nhiên biết rằng “đời sống thực” cũng bao hàm vô vàn những oái oăm, ngang trái (lừa đảo, cướp bóc, giết hại…) không phải cái gì và lúc nào cũng có giá trị giáo dục. Vì thế, trong quyển sách trên, ông chỉ đề ra một tiêu chuẩn sư phạm là “giản lược hóa” nhằm phân biệt điều hữu ích và điều có hại. Hai mươi năm sau, trong “Dân chủ và Giáo dục” (1916), ông bổ sung thêm hai tiêu chuẩn nữa. Bên cạnh việc “giản lược hóa” (simplify) , cần “sự tinh lọc” (purify) để học sinh biết lựa chọn thái độ và cách hành xử, và, sau cùng, là “sự cân đối” (balance) để học sinh biết bổ sung những khiếm khuyết trong kinh nghiệm và mở rộng chân trời ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của giới tính, giai cấp, dân tộc và chủng tộc của mình. Trong tinh thần ấy, nhà trường tuy không phải và không thể là chính “cuộc đời”, nhưng là cuộc đời được tinh luyện, được “lý tưởng hóa” vừa với kích thước của học sinh. Nhà trường thể hiện điều mà Dewey gọi là “cuộc sống cộng đồng” (trong tác phẩm trước) hay “xã hội dân chủ ở dạng bào thai” (trong tác phẩm sau).  Trong tác phẩm trước, Dewey chỉ nhắc qua “nền dân chủ”. Trong tác phẩm sau, ông bàn cặn kẽ hơn. Dewey không hiểu dân chủ đơn giản như một thể chế chính trị, xã hội, mà như “nếp sống”, rất gần với nhận xét của Alexis de Tocqueville khi ông du hành và tìm hiểu nếp sống và tập quán “từ con tim” của vùng đất mới Bắc Mỹ (“Nền dân trị Mỹ”, Phạm Toàn dịch, NXB Tri Thức, tái bản nhiều lần). Đặc điểm của “nếp sống dân chủ” trong nhà trường là mời gọi sự thảo luận của càng nhiều người càng tốt trước những câu hỏi và vấn đề gặp phải, cho tới khi tìm được giải pháp mà ai nấy đều thấy có phần mình trong đó. Dân chủ trong nhà trường không nhắm đến việc tìm đa số thông qua lá phiếu mà nhắm đến nền dân chủ của sự tham dự và đồng thuận. Người thầy có “quyền uy” không phải bằng chức vụ hay truyền thống mà bằng tri thức, kinh nghiệm và đức hạnh và chỉ tác động gián tiếp. “Tôi tin rằng – ông viết trong ” Tâm miệm” – nền đạo đức trong nhà trường đến từ cuộc sống của nhà trường xét như một toàn bộ, chứ không trực tiếp đến từ thầy giáo”.  Nội dung giáo dục: Tránh các thái cực  Từ “nhà trường xét như toàn bộ” (hay nói cách khác “cuộc sống cộng đồng nhà trường”), ta dễ đoán biết nội dung ra sao của giáo dục. “Giáo dục đúng đắn chỉ có khi sức lực của học sinh được hoàn cảnh xã hội thách thức”. “Hoàn cảnh xã hội” là phạm trù giáo dục học nền tảng của Dewey trong chiều hướng “thực học”, với nghĩa cụ thể nhất. Thay chỗ cho những môn học “trừu tượng”, xưa nay vốn được đặt lên hàng đầu – như văn chương, lịch sử, khoa học tự nhiên -, Dewey chủ trương đi đường vòng, thông qua những “hoạt động” thiết thực hàng ngày: ví dụ, nấu nướng, may mặc, thủ công, xây cất…, những gì bắt nguồn từ môi trường sống và từ thực tế xã hội của trẻ em. Trong tập luận văn “Nhà trường và Xã hội” (1899), ông biện minh cho học thuyết về “nhà trường-phòng thí nghiệm” của ông như sau:  Những “hoạt động” như vừa nêu, nếu đáp ứng ba điều kiện, sẽ có tác động tích cực lên học sinh:  1. Học sinh tập thói quen nhận diện và xác lập “hoàn cảnh” và “vấn đề cần giải quyết”, thể hiện hơi thở của đời sống thực.  2. Khêu gợi lòng ham thích và quan tâm bền bỉ nơi mọi học sinh, đó là, tha thiết với việc giao lưu xã hội, nghiên cứu khoa học, diễn đạt nghệ thuật và sáng tạo cái mới,  3. Và sau cùng, biết nối kết “đối tượng” và “phương pháp” của các ngành khoa học lại với nhau, – chẳng hạn, nấu nướng đi liền với hóa học và khoa học thực phẩm, may mặc đi liền với lý thuyết về màu sắc, xây cất với cơ học và tĩnh học v.v..   Qua các “hoạt động” ấy, nội dung của các môn học trừu tượng và hình thức trước nay sẽ được dịp quay trở lại với khung cảnh xã hội vốn là cội nguồn của chúng, như vị thần khổng lồ Antée trong thần thoại Hy Lạp luôn tìm cách bám vào lòng đất mẹ để có thêm sinh lực.  Với quan niệm như thế về nội dung giáo dục, Dewey tin rằng sẽ tránh được hai tệ trạng và cũng là hai cực đoan: một bên là “chủ nghĩa hình thức” khô khan, xơ cứng của trường học truyền thống, không xuất phát từ cuộc sống hiện thực của trẻ em, mà chỉ xem trọng tính hệ thống của khoa học và các yêu cầu về nghề nghiệp của “cuộc sống người lớn” trong tương lai. Và bên kia là “chủ nghĩa duy tình” của việc lấy trẻ em làm trung tâm, chìều theo cảm xúc và ham thích của trẻ em để chúng tự ý lựa chọn những gì chúng muốn.  Với ba điều kiện ấy, rõ ràng người thầy được giao phó vai trò mới: “Tôi cho rằng người thầy là thành viên của của cộng đồng giáo dục biết chọn lựa ảnh hưởng nào sẽ tác động lên học sinh và giúp học sinh biết phản ứng thích hợp trước ảnh hưởng ấy”. Thầy giáo không còn là “ông thầy chuyên chế”, một mình quyết định mọi việc, mà là người “trưởng nhóm” biết lôi cuốn học sinh cùng cộng tác. Thầy giáo vẫn hướng dẫn như trước nay, nhưng thay đổi cung cách giáo dục “quyền uy” bằng cung cách “tham dự có thẩm quyền”.   Không ít ngộ nhận đã xảy ra trong quá trình tiếp thu quan niệm “tân giáo dục” này của Dewey. Sau nhiều tranh cãi và phân tích, nhiều người nhận ra rằng Dewey không hề chủ trương một nhà trường không cần có giáo viên, chương trình và sự giảng dạy. Thật ra, Dewey không tin rằng học sinh có thể tự đơn độc tổ chức việc học. Trái lại, vẫn cần có sự trợ giúp của thầy giáo để việc học được tiến hành một cách có “quy củ”, có “hệ thống” và “bền vững”. Ta có thể gọi đó là chương trình giáo dục “mở”: một mặt, đủ mềm dẻo để học sinh có thể nêu ý kiến và đề nghị, mặt khác đủ chặt chẽ để kiến thức và kỷ năng “không ngừng” được củng cố và mở rộng.  Ta sẽ còn đến với Dewey ở hai câu hỏi cuối: bản chất của phương pháp giáo dục và vai trò của nhà trường trong sự tiến bộ của xã hội.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân lực số những năm tới      Suốt năm qua chúng ta đã nói và nghe nhiều về thế nào là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4). Đã đến lúc chúng ta phải nói nhiều hơn về những việc phải làm và làm thế nào. Một trong những việc đó là chuẩn bị nguồn lao động số trong những năm tới.    Mức độ tự động hóa một số ngành nghề  Bản chất của CMCN4 là sản xuất thông minh nhờ vào tiến bộ của công nghệ số trong hai thế giới kết nối với nhau trong đó ta đang và sẽ sống: thế giới các thực thể và thế giới các phiên bản số của các thực thể (thế giới số).  Điều chắc chắn là các công nghệ số sẽ tự động hóa nhiều việc làm trong hầu hết các ngành nghề. Điều chưa chắc chắn là công nghệ số sẽ tự động hóa các ngành nghề được đến mức nào. Có hai mặt của chuyện này: công nghệ số sẽ lấy đi nhiều việc nhưng cũng mở ra cơ hội cho rất nhiều loại việc mới.  Trong một nghiên cứu tại Đại học Oxford vào năm 2013, hai chuyên gia Frey và Osborne đã phân tích dự đoán 702 ngành nghề và xếp chúng theo xác suất về mức độ công nghệ số có thể thay thế con người. Bảng 1 và bảng 2 chỉ ra một số ngành nghề có thể tự động hóa được nhiều nhất và ít nhất.  Những điều trên đưa chúng ta đến câu chuyện về người lao động trong những thập kỷ đang tới. Người lao động cần phải có những kỹ năng mới nào, sẽ học và làm những nghề nào.  Bảng 1. Một số nghề có khả năng tự động hóa được nhiều nhất          Xác suất      Nghề nghiệp          0.99      Nhân viên tiếp thị từ xa (telemarketers)           0.99      Nhân viên kỹ thuật thư viện          0.98      Người định giá bảo hiểm          0.98      Trọng tài thể thao, các viên chức thể thao khác          0.98      Thư ký pháp luật          0.97      Chủ khách sạn, quán ăn, quán cà-phê          0.97      Người môi giới bất động sản          0.97      Nhà thầu lao động nông nghiệp          0.96      Thư ký và trợ lý hành chính ngành luật, ngành y          0.94      Nghề chuyển phát nhanh          Bảng 2. Một số nghề ít khả năng tự động hoá được nhất          Xác suất      Nghề nghiệp          0.0028      Chuyên gia trị liệu          0.0040      Biên đạo múa          0.0042      Bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật          0.0043      Nhà tâm lý          0.0055      Nhà quản lý nguồn nhân lực          0.0065      Nhà phân tích hệ máy tính          0.0077      Nhà nhân chủng học và nhà khảo cổ học          0.0100      Kỹ sư hàng hải và kiến trúc sư hải quân          0.0130      Người quản lý kinh doanh          0.0150      Giám đốc điều hành          Hình 1 trong một báo cáo của Ngân hàng Thế giới vào năm 2016 chỉ ra mối tương quan giữa khả năng dùng được công nghệ số trong các ngành nghề (trục tung với mức trung bình là 0.5) và mức độ hiện đang dùng công nghệ số trongcác ngành nghề (trục hoành với mức trung bình là 4).  Nhiều thứ thấy trên hình 1 dường như không nằm trong suy nghĩ thông thường của ta. Nhiều nghề hiện dùng công nghệ số ở mức khá hoặc trên trung bình như thầy giáo trung học (secondary education teachers) với khoảng 5 điểm hoặc nghề thầy thuốc (medical doctors) với khoảng hơn 6 điểm dù khả năng dùng được công nghệ số trong các nghề này thực ra đều hạn chế, chỉ dưới 0.1. Trong khi đó một số nghề hiện dùng công nghệ số còn ở mức thấp, gần zero như nghề nông (agriculture worker), hoặc gần 1 như nghề lái xe (driver) hay nghề may mặc (garment worker), trong khi khả năng dùng công nghệ số của các nghề này rất cao, đưa cho ta những nhìn nhận mới, cho thấy triển vọng lớn của Việt Nam, khi đất nước định hướng những mũi nhọn kinh tế là công nghệ thông tin, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ… Những lĩnh vực này còn rất mở cho công nghệ số, là những “vùng đất mênh mông” nơi tuổi trẻ và trí tuệ Việt Nam cần và có thể tiến vào khai phá. Đây cũng là những nơi quan trọng để người làm chính sách, làm đào tạo hướng tới.    Kỹ năng người lao động cần có  Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 nhận định những kỹ năng cần thiết cho công ăn việc làm của số đông người lao động trong thời chuyển đổi số (hình 2). Những kỹ năng mới này được chia thành ba khối, về khả năng (khả năng về nhận thức và thể chất), kỹ năng cơ bản (kỹ năng về chuyên môn và xử lý công việc), và kỹ năng đa chiều (kỹ năng về xã hội, hệ thống, kỹ thuật, giải quyết vấn đề phức tạp, và quản lý nguồn lực).  Tầm quan trọng của các kỹ năng cũng thay đổi theo thời gian và sự phát triển xã hội, và khó dự đoán trong quãng thời gian dài. Nhưng có thể thấy 10 kỹ năng hàng đầu xếp theo tầm quan trọng vào các năm 2015 và 2020 trong bảng 3. Từ đây có thể thấy kỹ năng giải quyết những vấn đề phức tạp hay kỹ năng xã hội vào năm 2020 là những kỹ năng hàng đầu. Điều đáng quan tâm là hai kỹ năng “quản lý chất lượng” và “lắng nghe tích cực” của năm 2015 đã không có trong danh sách 10 kỹ năng quan trọng nhất của năm 2020, và được thay bằng hai kỹ năng “quản lý nhân sự” và “trí tuệ cảm xúc”. “Trí tuệ cảm xúc” (emotional intelligence, tức việc nhận thức được phản ứng của người khác và hiểu tại sao họ phản ứng vậy) trở thành một kỹ năng quan trọng trong những năm tới đây khi mọi việc hay dở đều được gắn với truyền thông và lan tỏa rất nhanh. Thêm nữa, thứ tự của các kỹ năng này cũng thay đổi đáng kể. Chẳng hạn “tính sáng tạo” và “tư duy phê phán” được xếp phía trên trong nhóm kỹ năng hàng đầu của năm 2020.    Hình 2. Ba khối kỹ năng cơ bản liên quan đến nghề nghiệp thời chuyển đổi số.    Bảng 3: 10 kỹ năng hàng đầu được thừa nhận rộng rãi thời chuyển đổi số.  Dù các ngành nghề sẽ thay đổi, nhiều nghề giảm đi nhiều nghề tăng lên, có được những kỹ năng kể trên sẽ luôn là việc cần thiết của người lao động trong mọi ngành nghề. Để có thể thích nghi với sự thay đổi, những tri thức cơ bản về toán học và tin học là cần thiết cho mọi người, cho hầu hết mọi ngành nghề. Ở thời chuyển đổi số, với sự phổ biến của các công nghệ số trong những năm tới đây, hầu hết người lao động phải hiểu và quen biết với các con số, với dữ liệu, với sử dụng máy tính và các công cụ phân tích dữ liệu được tạo ra trên máy tính, giống như người nông dân quen với cái cày cái bừa hay người thợ mộc quen với cái cưa cái đục.  Những nhận thức sâu sắc và thay đổi lớn đã được thể hiện trong dự thảo chương trình phổ thông. Toán học ở trường phổ thông trong những năm tới đây được thiết kế để ai cũng có thể hiểu và dùng được, với 21% thời lượng học gắn với ứng dụng toán học, với 12% thời lượng học về hai môn xác suất và thống kê, học từ lớp 2 đến lớp 12, là môn học giúp hiểu và sử dụng được các con số và dữ liệu. Tin học từ một môn học phụ nay sắp trở thành môn học chính như toán, như văn… Chương trình ở các ngành nghề khác ở đại học, ở các trường dạy nghề, chắc chắn cũng cần những thay đổi thích hợp. Việc này đang bắt đầu ở các nước phát triển.  Tháng 5.2017, tại hội nghị Châu Á-Thái Bình Dương về Khai phá Dữ liệu (PAKDD), giáo sư Sang Kyun Cha—Viện trưởng Viện Dữ liệu lớn của Hàn Quốc— trong báo cáo mời đã nêu một nhận định về thành – bại của các quốc gia trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: “Một đe dọa có thật là chỉ một số ít quốc gia sẽ thắng cuộc và thu về tất cả, và mối đe dọa lớn hơn là khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo sẽ càng tăng”.  Có thể nói, về bản chất, quốc gia nào thắng cuộc trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư là quốc gia làm chủ được công nghệ số và các nguồn dữ liệu, đưa chúng vào mọi lĩnh vực của sản xuất và cuộc sống, làm cho sản xuất và cuộc sống thông minh và hiệu quả hơn qua các phương pháp của trí tuệ nhân tạo.  Muốn làm cách mạng phải có lực lượng. Muốn làm cách mạng công nghiệp lần thứ tư phải có nguồn nhân lực số. Cần chuẩn bị và đào tạo ngay nguồn nhân lực số của ta để đông đảo người lao động có thể dùng được công nghệ số trong nghề nghiệp của mình và một bộ phận tinh hoa có thể tạo ra công nghệ số cho những nghề nghiệp đó, nhất là những nghề trong hướng phát triển của đất nước.       Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Nhân tính, Quốc tính và Cá tính      Dù đã có vô số bài viết và không ít diễn đàn bàn luận, nhưng với nhiều người, “triết lý giáo dục”, “đích đến của giáo dục” vẫn là một đề tài không những chưa bao giờ cũ mà còn luôn có tính thời sự.       Học sinh tiểu học tìm hiểu về chủ đề “lớp học xưa” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: Vân Anh.     Theo tôi, đi tìm triết lý giáo dục chính là trả lời ba câu hỏi sau: (1) Thế nào là con người? (2) Chúng ta muốn tạo những con người như thế nào? (3) Làm thế nào để tạo ra những con người như vậy?   Như vậy, nghĩ về triết lý giáo dục hay đích đến của giáo dục thực chất là nỗi trăn trở về câu chuyện: “Chân dung” con người mà chúng ta muốn tạo ra trong nền giáo dục này rốt cuộc sẽ là gì, cụ thể như thế nào?   Mỗi người, mỗi nhà, mỗi trường, mỗi quốc gia đều có thể mô tả “chân dung” ấy theo nhận thức và cách thức của riêng mình.   Sau nhiều năm làm giáo dục, cũng như sau nhiều năm trực tiếp phụ trách giảng dạy chuyên đề “Bàn về Sự học” và chuyên đề “Quản trị Cuộc đời” ở Trường PACE và Viện IRED, tôi nghiệm ra rằng, con người “Tam Tính” (bao gồm “Nhân tính, Quốc tính và Cá tính”) là đích đến của giáo dục.  “Nhân tính”?  Là những đặc trưng văn hóa để phân biệt con người với “con khác”, phân biệt giống người với những giống loài khác; khiến con người trở nên khác với muông thú, cỏ cây và máy móc. Đó phải là nhân quyền, nhân bản, nhân văn; là những giá trị có tính phổ quát và trường tồn, được nhân loại tiến bộ cùng chia sẻ như là “tự do, bình đẳng, bác ái” hay “chân, thiện, mỹ”, chứ không bị giới hạn hay chi phối bởi những góc nhìn của quốc gia, chủng tộc, tôn giáo hay thời đại. Để hình thành nhân tính thì phải có cái “đầu sáng”, trái “tim nóng” và cái “bụng rộng”. “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà…. “Tim nóng” là trái tim có hồn, biết rung cảm trước cái đẹp, nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy mà thôi; biết thổn thức trước nỗi đau của đồng loại; biết phẫn nộ trước cái ác; đầy tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn… “Bụng rộng” là sự bao dung, vị tha; chỉ có “bụng rộng” thì ta mới bớt hẹp hòi, bon chen, đố kỵ; chỉ có bụng rộng thì ta mới có thể chứa được cả sự hẹp hòi của người khác…. Nói cách khác, con người là một sinh vật có nhân tính, và nếu không có nhân tính thì không phải là con người, mà chỉ là con vật mang hình hài của con người.  “Cá tính”?  Là con người độc lập, tự do; là đạo sống, giá trị sống, cách sống và thái độ của mình; là “bề trong” (phẩm giá), “bề trên” (đức tin) và “bề ngoài” (tính cách) của riêng mình; là “chân thắng” và “chân ga” bên trong con người của mình nhằm ngăn chặn mình làm điều ác và thôi thúc mình làm điều đúng; là thứ để phân biệt mình với người khác, khiến mình khác với đồng loại của mình; là cái mà chúng ta muốn đề cập đến khi thốt lên “Tôi muốn được là chính mình!”, “Tôi muốn được sống đúng con người của mình, sống đúng với lòng mình!”. Lâu nay chữ “cá tính” thường được hiểu theo nghĩa là một nét dị biệt khác người, cũng như chữ “tự do” hay được hiểu là “muốn làm gì thì làm”. Nhiều cha mẹ ngày nay sẵn sàng cày cuốc sớm hôm để đáp ứng mọi nhu cầu của con, cho con vào những ngôi trường học phí cao chót vót, nơi con “thoải mái thể hiện cá tính không sợ bị ai la rầy”. Nhưng rồi vẫn có không ít những đứa trẻ lớn lên trong sự nổi loạn, hoang mang đi tìm chính mình. Bởi lẽ, cá tính nếu không được xây dựng trên nền tảng của nhân tính thì sẽ trở thành… “quái tính”, cũng như tự do không có văn hóa sẽ trở thành thứ tự do hoang dã. Bởi lẽ, muốn “được là mình” thì trước hết cần “được là người” cái đã; muốn “khác người” thì trước hết phải “giống người” cái đã, nếu không sẽ rất “kinh người”.  “Quốc tính”?  Được cấu thành bởi “dân tính” và “tộc tính”. “Dân tính” tức là “trách nhiệm công dân”, là “năng lực làm dân”, là dân quyền. Còn “tộc tính” có thể được hiểu là “hồn cốt dân tộc”, căn tính quốc gia; là cảm thức về gốc gác, cội nguồn; là nếp sống của gia tộc, dòng tộc, sắc tộc; là “cái neo văn hóa” của mình trong “chốn năm châu”. Một đứa trẻ có cha mẹ Việt, sinh ra và lớn lên trên đất Việt, nhưng lại không rành tiếng Việt lắm, thường chỉ thích ăn đồ Tây, không quan tâm cội nguồn dân tộc Việt, ít có nét văn hóa Việt nào trong người thì liệu có thể được coi là một “người Việt”? Nghe có vẻ lạ lùng, nhưng trên thực tế đang tồn tại không ít trường hợp như thế, như một số anh chị học viên thường buồn rầu chia sẻ với tôi là “con mình thành con Tây!” (dù vẫn chỉ là “da vàng mũi tẹt”).  Đến đây, một câu hỏi được đặt ra là, trong tính cách của dân tộc nào, bao giờ cũng có cả cái tốt lẫn cái xấu, có cả hủ tục lẫn mỹ tục, vậy thì sẽ lấy cái gì để minh định đâu là “quốc tính” mà ta nên giữ và nên bỏ? Chẳng hạn, đã từng xảy ra tranh cãi về chuyện chém lợn ở làng Ném Thượng. Nghi lễ ấy đã tồn tại hơn 800 năm, lẽ nào không xứng đáng là “quốc tính”? Nhưng liệu “quốc tính” của người Việt có máu me và bạo lực như thế!? Từ ví dụ đó, có thể thấy “quốc tính” trong giáo dục cũng cần được xây dựng dựa trên nền tảng “nhân tính”. Nói cách khác, “nhân tính” sẽ là một màng lọc để loại ra những “quốc tính” trái với nó. Một “quốc tính” (gồm cả “dân tính” và “tộc tính”) cho dù ăn sâu bén rễ lâu và sâu đến đâu nhưng nếu đi ngược lại với “nhân tính” sẽ không bao giờ là điều đáng để giữ gìn.  Nếu như “quốc tính” được sàng lọc bởi “nhân tính” thì “cá tính” sẽ được hình thành trên nền tảng của “nhân tính” và được vun bồi bởi “quốc tính”.  Có đích đến cũng chưa chắc đã có con đường để tới đích, nhưng nếu không có đích đến thì chắc chắn sẽ không có con đường nào cả. Do vậy, mọi cải cách giáo dục sẽ lại rơi vào tình trạng sáo mòn và bế tắc, nếu chúng ta (nhà nước, nhà trường, nhà giáo, thức giả, phụ huynh, học sinh…) không cùng nhau làm rõ được đích đến thực sự của giáo dục là gì, không tập trung giúp người học trên hành trình tự lực khai phóng để trở thành con người tự do, có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc sống và sáng tạo số phận. Khi ấy, nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ tạo ra một thế hệ “điểm số cao” nhưng ít tình người, một thế hệ hoang dã mà thiếu cá tính, một thế hệ người-Việt-mà-không-phải-người-Việt, một thế hệ mang danh “công dân toàn cầu” mà không có “Tổ quốc”.  “Công dân toàn cầu” đúng nghĩa sẽ không chỉ có sức vóc, có chuyên môn, mà còn là những con người rất “nhân loại”, rất “dân tộc”, và cũng rất là “chính mình”. “Công dân toàn cầu” đúng nghĩa sẽ không chỉ học cho ra điểm, học cho ra lớp, học cho ra trường, học cho ra bằng, mà còn học cho “ra người” (nhân tính), học cho “ra mình” (cá tính), học cho “ra dân” (quốc tính) và học cho “ra nghề” (chuyên môn).Thế nên, bất kể sự học hay sự dạy nào cũng cần hướng về đích đến “Nhân tính, Quốc tính và Cá tính”. Bởi lẽ, đó chính là đặc tính của một con người tự do, và cũng là đích đến của một nền giáo dục khai phóng!□      Author                Giản Tư Trung        
__label__tiasang Nhật ký Yale: Ngày nịnh học sinh      Đàn ông ở đâu cũng khổ. Đi làm nịnh sếp, về nhà nịnh bố mẹ. Lớn lên lấy vợ, thì về nhà nịnh thêm vợ, và các ông/bà con.      Lửa thử vàng, các giáo sư được thêm hân hạnh, là đến trường còn phải nịnh học sinh nữa.  Cũng may, cái sự nịnh học sinh, chỉ rơi vào một ngày trong năm.  Cái sự nịnh học sinh này, thật ra chỉ hay có ở các trường lớn. Các trường này có ganh đua được với nhau hay không, phụ thuộc vào chất lượng giáo viên đã đành, nhưng chất lượng học sinh cũng rất quan trọng.  Khoa Toán ở Yale một năm tuyển vào chỉ chừng 5-7 sinh viên mới (sinh viên sau ĐH, làm bằng tiến sĩ), nhưng khi gửi offer đi, thường phải gửi một lúc cỡ độ 20 cái. Lý do dễ hiểu, các sinh viên lọt vào tầm ngắm hay có tới 3,4 offer khác từ các trường mạnh tương đương, nên cứ gửi 3,4 thư thường chỉ có một người đến thôi.  Để quyến rũ được các cô cậu sinh viên sáng giá (ít nhất là trên giấy) này, các trường cạnh tranh nhau bằng mọi hình thức. Một trong những cách thông dụng nhất là mời các sinh viên được tuyển đến thăm trường một vài ngày. Việc này dĩ nhiên khoa phải chịu hết phí tổn, kể cả vé máy bay cho sinh viên đến từ nước ngoài.  Trong một hai ngày này, cả khoa tất bật như nhà có con gái lớn tuổi lại không quá xinh sắp tới ngày ăn hỏi. Các bà thư ký đến sớm về muộn, lo chuyện kê bàn kê ghế, đặt khách sạn, thức ăn. Thường có một buổi buffet để các sinh viên tương lai gặp gỡ các sinh viên hiện tại, đặng cập nhật tình hình thời sự của khoa. Trong hai ngày đó, các giáo sư nhất loạt phải mặc quần áo đẹp (cụ thể là hạn chế quần bò đã sờn gấu và giày đi ba năm không thay). Áo phải dắt trong quần, đầu phải chải và miệng luôn nở nụ cười thân thiện, ra dáng hoạt bát vui tính, mềm mại dễ thương như các cô dâu sắp về nhà chồng.  Điểm nhấn của chương trình là màn trình diễn của các giáo sư. Mỗi năm khoa phân ra chừng 3,4 người, mỗi anh phải biểu diễn một bài gì đó cho sinh viên thấy tuyệt kỹ của bản môn. Bài giảng không được dài, chừng 20 phút (không các sinh viên tương lai sẽ mệt, ngủ mất), không được khó (để các bạn ấy có thể hiểu được) mà lại phải vừa hay vừa sâu. Xem ra còn vất vả hơn thổi cơm thi vừa bắt ếch vừa dỗ con.  Các sinh viên nào thực sự quan tâm sẽ đi thêm bước nữa, là đến nói chuyện trực tiếp với một vài giáo sư mà họ thích. Vì kỹ năng giao tiếp của phần lớn các nhà khoa học và các nhà khoa học tương lai đều ở mức thượng thừa, một cuộc nói chuyện tiêu biểu diễn ra như sau:  – Chào thầy!  – Chào em, mời ngồi.  Ngồi. Hai bên im lặng nhìn nhau trong năm phút. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.  Tình huống một:  – Chào thầy!  – Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.  Tình huống hai, chỉ xảy ra khi giáo sư mau mắn hơn mức bình thường:  – Em thích làm nghiên cứu về lĩnh vực nào ?  – XYZ .  Thầy trò lại im lặng nhìn nhau, phảng phất như Chân Tử Đan và Lý Liên Kiệt trong phim Hero. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.  Tình huống một:  – Chào thầy!  – Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.  Tình huống hai, chỉ xảy ra khi học trò thực sự biết XYZ là gì, là họ sẽ nói chuyện chừng 15 phút về nó, và chia tay một cách lịch sự.  Đoạn kết: Không khí của ngày nịnh học sinh năm nay được cải thiện đáng kể, vì khoa đã mua một bàn bóng tay và tổ chức giải giao lưu giữa các sinh viên và giảng viên, và ta được thấy những nụ cười thật sự. Ý tưởng bàn bóng tay kiệt xuất này đến từ một giáo sư mà danh tính, vì khiêm tốn, chúng tôi sẽ không tiết lộ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật muốn xây trường ĐH ở Khu CNC Hòa Lạc      Tại buổi làm việc  với Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Nghiêm Vũ Khải ngày 18/6 tại Hà  Nội, ông Bunshichi Fujioka,  Giám đốc cao cấp Diễn đàn kinh tế Nhật – Việt, bày tỏ mong muốn triển khai dự án xây một trường đại học đẳng cấp quốc tế, tập trung vào đào tạo sau đại học và nghiên cứu ở Khu CNC Hòa Lạc.    Thay mặt lãnh đạo Bộ KH&CN, Thứ trưởng Nghiêm Vũ Khải bày tỏ sự ủng hộ đối với Dự án bởi theo Thứ trưởng đây cũng là chủ trương phù hợp đối với quan hệ hợp tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản. Thứ trưởng hy vọng các thế hệ nhà khoa học, các bạn trẻ đã và đang có thời gian được đào tạo tại Nhật Bản sẽ có cơ hội tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Việt – Nhật nhằm phát huy hết năng lực để phục vụ cho sự phát triển giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới.  Hai bên đã trao đổi những cơ sở kỹ thuật cần thiết để có thể tiến hành Dự án trong thời gian sớm nhất. Bộ KH&CN cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể trong việc điều chỉnh quy hoạch khuôn viên Trường Đại học Việt – Nhật tại Khu CNC Hòa Lạc sau khi Quyết định của Liên minh nghị sĩ Nhật – Việt sẽ được thông qua vào tháng 9 tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhất thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm giáo dục      Vừa qua, Đại hội XI đặt vấn đề: “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục”, qua đó có thể nói, Đảng đã thấy sự cấp bách và bức xúc của vấn đề này. Nhưng tôi và nhiều nhà giáo, nhà khoa học cho rằng, muốn chuyển biến căn bản và toàn diện thì nhất thiết phải cải cách giáo dục.    Mục tiêu số một của giáo dục –  phát triển nhân cách**  Đổi mới hay cải cách, trong trường hợp này, không đơn thuần là khác biệt về câu chữ. Đổi mới chắp vá, thiếu một tầm nhìn tổng thể, một kế hoạch đồng bộ, như những năm qua và ngay như hiện nay, thì còn xa mới có tính căn bản và toàn diện. Còn cải cách giáo dục, theo đề nghị của các nhà giáo, nhà khoa học, không chỉ nhằm khắc phục những thiếu sót có tính cục bộ mà là chuyển hệ thống giáo dục sang mô hình mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Với quan điểm đó, để góp phần triển khai chủ trương “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục”, tôi xin nêu một số vấn đề có tính cốt lõi trong nhiều vấn đề cần quan tâm.  Sau Đại hội XI, đang có một cuộc thảo luận về triết lý giáo dục. Quan niệm một cách đơn giản, triết lý giáo dục là hệ thống quan điểm chi phối, dẫn dắt, tạo nền cho hoạt động thực tiễn về giáo dục, mà quan trọng trước hết là quan điểm về sứ mạng và mục tiêu giáo dục. Tất nhiên, tùy tình hình và nhiệm vụ của đất nước ở từng giai đoạn, triết lý giáo dục có thể sửa đổi, bổ sung, phát triển.   Trong giai đoạn dân tộc phải tập trung vào nhiệm vụ “giệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” thì sứ mạng và mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người có tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng độc lập – tự do, đương nhiên, đó cũng là người lao động (trí óc và chân tay), phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn đó đã làm tròn sứ mạng và mục tiêu của mình.   Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giữa một thế giới đầy biến động, nhiều cơ hội và nhiều thách thức, mỗi người Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam đang đối mặt với những yêu cầu gay gắt về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh… thì rất cần nghiên cứu, bổ sung để có một xác định cụ thể và đầy đủ về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục. Đối chiếu với thực trạng giáo dục của nước nhà và những yêu cầu mà đất nước và dân tộc kỳ vọng ở hệ thống giáo dục, tôi thấy điều cốt lõi rất cần phải nhấn mạnh lúc này là dạy và học làm người, chứ không thể lấy thi cử và bằng cấp làm cứu cánh, che lấp cả sứ mạng và mục tiêu phát triển nhân cách của nhà trường. Dù mỗi cấp học có mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng mục tiêu số một phải là phát triển nhân cách, cốt lõi của nguồn nhân lực có chất lượng. Bởi vì những phẩm chất như lòng nhân ái, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân, lương tâm nghề nghiệp, thái độ hợp tác trong lao động… chính là những yếu tố hết sức cần thiết ở một con người, bất kể là làm nghề gì, ở vị thế nào trong xã hội. Dĩ nhiên, xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam là nhiệm vụ của toàn xã hội, nhưng nhà trường phải đóng vai trò tiên phong và nền tảng. Đấy là sứ mạng không thể thoái thác của nhà trường.   Ba chân kiềng chưa cân đối   Xem xét cả hệ thống giáo dục, thì vấn đề hết sức cấp thiết là tình trạng mất cân đối giữa ba bộ phận chính: giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Do đó, cần phải rà soát, xác định rõ vị trí và mục tiêu cụ thể cúa từng bộ phận, cũng như từng cấp học, từ đó cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghĩa là điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của mỗi bộ phận và cả hệ thống.  Giáo dục phổ thông là nền tảng của cả hệ thống giáo dục quốc dân và là pha đầu của quá trình học suốt đời. Hiện nay, với chất lượng yếu kém và cách tiến hành phổ cập còn nặng tính hình thức, hai cấp tiểu học và trung học cơ sở chưa bảo đảm cho mọi công dân đạt được một trình độ giáo dục tối thiểu cần thiết để hưởng sự công bằng về cơ hội phát triển. Để giải quyết vấn đề này, đã có nhiều ý kiến đề nghị cấu trúc lại để tiểu học và trung học cơ sở gắn kết thành một tổng thể hoàn chỉnh, có tính chất bắt buộc đối với mọi công dân và không thu học phí. Còn sau giáo dục cơ sở, để thực hiện phân luồng, thì có thể mở ra nhiều loại trường trung học có đào tạo nghề, trong đó trung học phổ thông tập trung chuẩn bị cho việc học tiếp ở cấp sau trung học. Những đề nghị cấu trúc lại giáo dục phổ thông như thế xuất phát từ yêu cầu phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế- xã hội của một nước nghèo lại muốn đi nhanh, đồng thời cân nhắc đến những điều kiện mới: sự phát triển tâm sinh lý, đặc biệt là trí tuệ của trẻ em.   Về giáo dục nghề nghiệp, là bộ phận có nhiệm vụ đào tạo ra những người lao động có tay nghề, trải qua mấy lần thay đổi về tổ chức và cũng được quan tâm đầu tư, nhưng vẫn chưa ra khỏi tình trạng bất cập. Việc nhiều công trình xây dựng phải sử dụng lao động nước ngoài, ngay cả đối với những công việc không đòi hỏi kỹ thuật cao, tất nhiên có khuyết điểm/ sai lầm trong quản lý lao động… song không thể không thấy đó là sự yếu kém trong công tác dạy nghề. Chúng ta nói rất nhiều đến việc phân luồng sau trung học cơ sở và sau trung học phổ thông, nhưng đến nay, hằng năm vẫn có 90% học sinh tốt nghiệp phổ thông chờ chực ở ngưỡng cửa đại học. Rõ ràng, cùng với việc mở mang kinh tế, tạo thêm việc làm, rất cần nâng cấp hệ thống giáo dục nghề nghiệp để đạt chất lượng cao trong đào tạo và có sức thu hút thế hệ trẻ.  Về giáo dục đại học, không thể cắt nghĩa nổi sự gia tăng ồ ạt về số lượng các trường trong mấy năm vừa qua. Chỉ từ 2006 đến 2010, đã có thêm 64 trường đại học và cao đẳng (1), trong khi các trường hiện có vẫn thiếu giảng viên có đủ trình độ để bảo đảm chất lượng. Hơn nữa, không ít giáo sư/phó giáo sư vẫn phải chạy sô, với số giờ dạy vượt xa mức quy định, khiến không thể có thời gian nghiên cứu khoa học, mà nghiên cứu khoa học lại là yêu cầu bắt buộc ở cấp học này. Bước vào thời kỳ đổi mới, đã từng có chủ trương “mở rộng đầu vào, sàng lọc trong quá trình đào tạo, thắt chặt đầu ra” nhưng rồi quy trình này bị rỡ bỏ và các trường đại học, cao đẳng đang thực hiện một quy trình đảo ngược: “thắt chặt đầu vào, đã vào là tốt nghiệp”. Đến năm học này, cả đầu vào cũng phải nới rộng vậy mà các trường đại học vẫn thiếu sinh viên, đến nỗi có trường đang tính chuyện bỏ bớt một số ngành đào tạo.   Bên cạnh những vấn đề nêu trên về ba bộ phận chính của hệ thống giáo dục, với quan điểm “học suốt đời”, “giáo dục cho mọi người” và mong muốn “xây dựng xã hội học tập”, không thể bỏ qua vị trí quan trọng của phương thức giáo dục không chính quy cũng như không thể không giải quyết các vấn đề nổi cộm về xã hội hóa giáo dục. Hiện nay, giáo dục không chính quy vẫn đóng vai trò phần phụ của giáo dục chính quy, cốt tạo cơ hội cho người học lấy văn bằng/chứng chỉ bất chấp yêu cầu chất lượng. Còn về chủ trương xã hội hóa, trong các trường ngoài công lập, phần lớn đều vì lợi nhuận, loại trường không vị lợi vẫn chưa định hình. Chủ trương phổ cập hóa giáo dục đã được triển khai nhưng trẻ em 3 đến 5 tuổi cư trú tại các các khu công nghiệp và thành phố vẫn thiếu chỗ học mẫu giáo.   Rõ ràng nhất thiết phải cơ cấu lại hệ thống giáo dục chứ không thể chỉ chỉnh sửa một vài bộ phận hoặc một vài mặt nào đó trong công tác giáo dục. Tất nhiên, việc cấu trúc lại hệ thống giáo dục theo mô hình nào phải được tính toán kỹ lưỡng trên cơ sở xác định đúng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, xu thế phát triển của giáo dục và khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông.   Rũ bỏ sự áp đặt và loại bỏ kiến thức lạc hậu  Hiện nay, ngành giáo dục đang chuẩn bị xây dựng chương trình giáo dục mới. Đây là công việc hết sức khó khăn. Bởi vì muốn có chương trình mới cần phải đổi mới quan niệm về sứ mạng và mục tiêu giáo dục, về kiến thức và kỹ năng, về cách dạy và cách học, để chọn ra được những nội dung đích thực là phổ thông, đích thực là cơ bản. Những quan niệm mới không chỉ phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu hiện tại mà còn phải phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu trong tương lai, khi chương trình được triển khai. Muốn thế phải có tầm nhìn xa và dự báo được xu thế phát triển.   Trong chương trình giáo dục phổ thông, tất nhiên các môn học và hoạt động đều góp phần phát triển nhân cách cho mỗi cá nhân, phát triển vốn người cho đất nước, song tiếng Việt và lịch sử có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc lưu giữ và làm giàu bản sắc dân tộc ở thế hệ trẻ. Trước kết quả quá kém về môn lịch sử trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm nay (và có lẽ cả về ngữ văn nữa), dư luận lại bức xúc và Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục. Tới đây, khi xây dựng chương trình mới, rất cần có sự thay đổi căn bản về việc dạy và học tiếng Việt, cũng như dạy và học lịch sử, đặc biệt là lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.   Về phương pháp dạy và học, cần phải rũ bỏ mọi hình thức áp đặt, thay vào đó, hết sức coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh. Chỉ có như vậy nhà trường mới đào tạo được những công dân tự tin, tự chủ, tự lập để có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội. Yêu cầu đổi mới phương pháp theo hướng đó không chỉ đặt ra đối với thầy/cô giáo mà phải được thể hiện ngay trong chương trình và sách giáo khoa. Vì có sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các vùng miền (chưa thể thu hẹp trong một thời gian ngắn) và sự đa dạng về văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc anh em (cần bảo tồn và phát triển), cho nên trong cuộc cải cách sắp tới, phải có những phương án xử lý khác nhau đối với chương trình giáo dục phổ thông cũng như cần có nhiều bộ sách giáo khoa.   Về nội dung đào tạo đại học/cao đẳng, rất cần loại bỏ những kiến thức lạc hậu, bảo đảm để chương trình, giáo trình cập nhật với những thành tựu mới trong khoa học (cả tự nhiên và kỹ thuật, cả xã hội và nhân văn). Về phương pháp đào tạo, phải lấy tự học là chính, đồng thời tạo cơ hội để sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu/giải quyết những vấn đề do xã hội đặt ra. “Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo”  (2) cần phải trở thành cốt lõi trong văn hóa ứng xử ở các trường đại học/ cao đẳng. Chỉ có thực sự đổi mới một cách căn bản nội dung và phương pháp đào tạo thì các trường đại học và cao đẳng mới đóng góp có hiệu quả vào việc thực hiện chủ trương “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” và “gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”(3).   Mặc dầu ai cũng biết nhà giáo có vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục song trong những cuộc cải cách trước đây và đổi mới vừa qua, vấn đề làm sao để có được một đội ngũ nhà giáo có chất lượng vẫn chưa giải quyết được. Đến giờ, chẳng những chúng ta phải lo về chất lượng đội ngũ nhà giáo hiện có mà nhìn về tương lai, chỉ một vài năm nữa, rất có thể chất lượng đội ngũ nhà giáo còn thấp hơn nếu như không có giải pháp đúng và thực hiện một cách quyết liệt.   Hiện nay, các trường sư phạm không thể hiện rõ tính chuyên nghiệp của một trường nghề. Tình trạng bất cập trong việc bồi dưỡng/phát triển năng lực giáo dục trẻ em cho giáo sinh sư phạm là do những hạn chế về thời lượng và chất lượng giảng dạy ở các bộ môn tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học, đồng thời gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức kiến tập, thực tập. Còn việc bồi dưỡng giáo viên (bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng đạt chuẩn, bồi dưỡng thay sách v.v…) thì từ lâu đã có ý kiến cho rằng việc tổ chức và quản lý hoạt động này không được chu đáo và chất lượng rất thấp.   Điều gay cấn nhất hiện thời là chuyện thu nhập của thầy/ cô giáo. Trong khi phải làm việc căng thẳng, vất vả (phổ biến là số giờ lao động nhiều hơn quy định cho cán bộ/viên chức) nhưng thu nhập từ lương và phụ cấp theo lương lại rất thấp (4). Tình trạng này dẫn đến một bộ phận không nhỏ nhà giáo phải dạy thêm ở trường tư hoặc kèm cặp học sinh ngoài giờ dạy chính thức (ít nhiều có tính áp đặt) hoặc phải làm công việc khác ngoài nghề nghiệp của mình để có thêm thu nhập. Nếu tiền lương và phụ cấp không bảo đảm nhà giáo và gia đình họ có một mức sống hợp lý thì không thể đòi hỏi thầy/cô giáo toàn tâm toàn ý với nghề. Càng đáng lo ngại hơn, do thu nhập của thầy/cô giáo còn thấp nên trường sư phạm và nghề dạy học đang trở thành kém hấp dẫn trước giới trẻ. Thực tế là, học sinh khá giỏi ngày càng không muốn vào học các trường sư phạm để theo nghề thầy và chính các trường sư phạm thì phải tìm cách mở ngành đào tạo khác để có điều kiện tồn tại.   Rõ ràng, để giải quyết tận gốc vấn đề giáo viên, không có gì khác là phải phải sớm bắt đầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và thay đổi chính sách đãi ngộ để nhà giáo sống được bằng lương và các khoản phụ cấp nghề nghiệp.     Đổi mới quản lý giáo dục – đòi hỏi bức thiết   Chúng ta chủ trương, để đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện thì khâu đột phá là đổi mới quản lý giáo dục. Nên nhớ rằng, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 do Chính phủ ban hành cách đây 10 năm cũng đã từng ghi y như thế, vậy mà không hề có đột phá. Sở dĩ như vậy vì ở trung ương, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo rồi đến các bộ/ngành liên quan, đã không đột phá để địa phương và cơ sở có thể đột phá. Tình trạng thiếu minh bạch trong quản lý, thiếu chuyên nghiệp trong tác nghiệp, không ai chịu trách nhiệm khi có sai sót là phổ biến ở mọi ngành, mọi cấp nhưng riêng trong lĩnh vực giáo dục, nếu muốn đột phá từ khâu quản lý mà không bắt đầu sửa chữa một cách quyết liệt những thiếu sót từ cấp vĩ mô thì khó mà đổi mới căn bản, toàn diện được. Cuộc thử nghiệm “nói không với bệnh thành tích” đã cho một bài học rất có giá trị. Khi thấy cấp trên cũng thích thành tích là cấp dưới lập tức noi gương và làm theo. Đến năm nay, đã có hẳn 11 tỉnh thỏa thuận cùng sửa hướng dẫn chấm thi của Bộ để bảo đảm tỉnh nào cũng đạt thành tích cao trong kỳ thi tốt nghiệp. Cái nguy hại ở đây là, các cấp quản lý trong ngành giáo dục mà báo cáo không đúng sự thật thì các trường học sẽ không tôn trọng sự thật và nếu thế thì làm sao đào tạo được con người trung thực?  Ở cấp cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động ở cơ quan (5), áp dụng cả với các nhà trường, vậy mà trong thực tế đã xẩy ra không ít sự việc chứng tỏ có sự lạm quyền, độc đoán khiến cho các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà giáo không được các cấp quản lý tôn trọng và đến lượt mình, các thầy/cô lại không tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của học sinh/sinh viên. Luật giáo dục cũng đã quy định các trường học (ở tất cả các cấp) phải có hội đồng nhà trường (6) nhằm tạo lập cơ chế chống lạm quyền, độc đoán để nhà trường có điều kiện thực hiện chủ trương dân chủ ở cơ sở, vậy mà điều đó không được triển khai thực hiện và đến nay, trong dự thảo Luật giáo dục đại học không còn quy định này. Muốn thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh/sinh viên thành những công dân của một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh thì không thể không dân chủ hóa giáo dục, dân chủ hóa nhà trường.   Thay đổi căn bản và toàn diện một nền giáo dục là một công trình lớn của quốc gia, không thể một vài năm mà xong. Tình thế rất bức thiết, phải khẩn trương nhưng lại phải căn cơ, bài bản, không thể riêng một mình ngành giáo dục làm nổi. Trước mắt, Trung ương cần bàn và ra nghị quyết, xác định mục tiêu, yêu cầu và những vấn đề trọng tâm cần tập trung để nền giáo dục thực sự đổi mới căn bản và toàn diện. Trong đó, rất quan trọng là quyết định thành lập một tổ chức làm nhiệm vụ xây dựng đề án tổng thể, nêu ra được giải pháp và lộ trình, để trình Trung ương và Quốc hội theo quy định của pháp luật. Tổ chức này, có thể là Ủy ban Cải cách giáo dục, cần bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia trong nước và nước ngoài, am hiểu và có kinh nghiệm về giáo dục và các lĩnh vực liên quan đến giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong hoạt động của Ủy ban nên cần chấn chỉnh, kiện toàn, đổi mới thật sự về năng lực và cung cách quản lý. Với cơ quan tham mưu của Trung ương về công tác giáo dục, cụ thể là bộ phận khoa giáo (hiện đang nằm trong Ban Tuyên Giáo), cần được tăng cường để đủ sức và đủ điều kiện giúp Trung ương.   Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục không chỉ nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người mà kết quả sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc chấn hưng đạo đức và văn hóa xã hội. Một công cuộc đổi mới có tầm vóc to lớn như vậy, chắc chắn có rất nhiều khó khăn. Mà khó khăn lớn nhất lúc này là chưa có sự nhất trí trong nhận thức về vai trò quyết định của giáo dục đối với sự phát triển đất nước và vận mệnh dân tộc, do đó chưa thật sự có quyết tâm tiến hành cải cách để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân. Nếu nhất trí và quyết tâm, chắc chắn sẽ làm được và thành công.  —-  (*) Nguyên Phó Chủ tịch nước  (**) Các tít phụ do Tia Sáng đặt   (1) Theo thống kê của Bộ GDĐT, năm 2006 có 139 trường đại học, 183 trường cao đẳng; năm 2010 có 149 trường đại học, 227 trường cao đẳng.  (2) Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI.  (3) Trích Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020.  (4) Theo kết quả khảo sát năm 2010, thời gian lao động sư phạm của giáo viên (có chừng chục đầu việc ngoài giờ lên lớp) thì ở tiểu học là 62,95 giờ/tuần, ở THCS là 68,82 giờ/tuần, ở THPT là 72,48 giờ/tuần trong khi quy định về số giờ lao động của công chức, viên chức là 40 giờ/tuần. (Báo cáo về thực trạng lao động sư phạm của giáo viên phổ thông hiện nay, PGS.TS Vũ Trọng Rỹ trình bày tại Hội thảo do Quỹ HB và PT Việt Nam tổ chức ngày 10/3/2011).  (5) Nghị định số 71/1998 CP-NĐ ban hành ngày 08 tháng 09 năm 1998  (6) Điều 53 Luật hiện hành    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều ĐH ngoài công lập có nguy cơ đóng cửa      Nhiều trường ĐH ngoài công lập đang đối mặt với nguy cơ phải ngừng hoạt động do tuyển sinh èo uột.    Nhiều ngày qua, trang web của Trường ĐH Phan Châu Trinh (Quảng Nam) đã không còn truy cập được, trong khi trước đó nhà trường liên tục cập nhật thông tin về tuyển sinh năm 2012. Đến chiều 6-11, chúng tôi truy cập vào website http://www.pctu.edu.vn chỉ thấy hiện lên những thông tin báo lỗi “xin vui lòng liên hệ với chủ sở hữu trang web: webmaster@pctu.edu.vn”.  Trả lại hồ sơ cho thí sinh  Ngày 5-11, nguồn tin từ lãnh đạo Trường ĐH Phan Châu Trinh cho biết “đến nay nhà trường đã trả hết toàn bộ hồ sơ cho các thí sinh nhập học vào trường năm 2012. Do có quá ít sinh viên nên trường quyết định thôi, không tuyển nữa”. Đến trước thời điểm trả hồ sơ chỉ có vài chục sinh viên đến nhập học, trong khi năm nay nhà trường tuyển sinh tám ngành bậc ĐH chính quy với 500 chỉ tiêu và bốn ngành bậc CĐ 300 chỉ tiêu. Sau đợt xét tuyển nguyện vọng bổ sung đợt 1 (từ ngày 20-8 đến 20-9), khoảng 60 thí sinh nộp hồ sơ xét tuyển vào trường.  Theo kế hoạch trước đó, nhà trường tiếp tục xét tuyển bổ sung đến ngày 30-11, và đưa ra phương án gom các ngành lại, chỉ đào tạo bốn ngành: kế toán, tài chính ngân hàng, ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Trung. Đồng thời công bố chương trình học bổng Phan Châu Trinh với 100 suất học bổng trị giá 80% học phí, 120 suất trị giá 50% học phí và 150 suất trị giá 30% học phí xét trao cho tân sinh viên. Bộ phận tuyển sinh của trường kỳ vọng với những chính sách học bổng của trường sẽ thu hút được sinh viên. Nhưng đến thời điểm này cho thấy ngay cả biện pháp trên cũng không hấp dẫn được thí sinh.  Chiều 6-11, ông Hoàng Trung Hưng – trưởng phòng tuyển sinh Trường ĐH Phan Châu Trinh – khẳng định không có chuyện trường ngừng tuyển sinh nhưng thừa nhận việc trả hồ sơ cho thí sinh. “Chúng tôi đang rất khó khăn và từng bước giải quyết. Nhà trường chỉ trả lại hồ sơ của thí sinh nộp vào các ngành khối A vì không đủ sĩ số sinh viên để mở lớp, nhưng vẫn giữ lại khoảng 20 sinh viên ngành ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Trung…” – ông Hưng cho biết.  Cũng theo ông Hưng, ông Nguyên Ngọc – chủ tịch hội đồng quản trị nhà trường – mới đây đã tổ chức cuộc họp tất cả cán bộ, giảng viên khẳng định nếu tuyển được một-hai sinh viên cũng dạy.  Bộ GD-ĐT cho hay Bộ chưa nhận được báo cáo cụ thể nào từ Trường ĐH Phan Châu Trinh về những định hướng thay đổi của nhà trường. Trong trường hợp trường có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ… trường sẽ phải báo cáo cả Bộ GD-ĐT và UBND tỉnh Quảng Nam để có ý kiến chỉ đạo cụ thể.    Chưa biết xoay xở ra sao  Trước đó, Trường ĐH Tân Tạo (Long An) cũng công bố kết thúc tuyển sinh năm 2012 với 29 tân sinh viên nhập học. Trong đó ngành kinh doanh quốc tế có số sinh viên nhập học đông nhất là 16, ngành quản trị kinh doanh 6 sinh viên… trong khi năm nay trường thông báo tuyển sinh tám ngành với 500 chỉ tiêu. Trước kỳ tuyển sinh năm nay, nhà trường công bố dành 500 suất học bổng toàn phần (3.000 USD/sinh viên/năm) cho tất cả sinh viên năm 1 nhưng vẫn không hấp dẫn được thí sinh. Tuy nhiên, GS Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng nhà trường, cho biết dù ít sinh viên trường vẫn tổ chức giảng dạy bình thường.  Tại Trường ĐH Phú Xuân (Thừa Thiên – Huế) cũng buồn không kém, chỉ tiêu tuyển sinh của chín ngành ĐH và sáu ngành CĐ là 1.000 nhưng chỉ có 75 hồ sơ đăng ký dự thi nguyện vọng 1 và một thí sinh trúng tuyển. Tính đến nay trường chỉ đón nhận vài trăm sinh viên khóa mới đến nhập học. “Chưa năm nào trường chúng tôi lại gặp khó khăn trong tuyển sinh như năm nay. Thật sự nhà trường chưa biết phải xoay xở ra sao để tổ chức giảng dạy” – một cán bộ phụ trách đào tạo nhà trường lo lắng.  Bên cạnh đó, hiện còn không ít trường ĐH tư thục khác cũng đang vật vã trong khâu tuyển sinh như Trường ĐH Hà Hoa Tiên (Hà Nam), Trường ĐH Lương Thế Vinh (Nam Định), Trường ĐH Thái Bình Dương (Khánh Hòa), Trường ĐH Tây Đô (Cần Thơ)… Tất cả những trường này sau hai, ba đợt xét tuyển bổ sung cũng chỉ có vài chục đến vài trăm sinh viên nhập học.          Không thay đổi cơ cấu ngành nghề, nhiều trường sẽ gặp khó   Trao  đổi với Tuổi Trẻ về tình trạng nhiều trường gặp khó trong tuyển sinh,  Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho rằng một nguyên nhân quan trọng là do  các trường này lâu nay quá tập trung vào ngành quản lý – kinh tế, mà  nay số lượng thí sinh dự thi vào ngành này sụt giảm nên chịu ảnh hưởng  nặng nề. Thứ trưởng Bùi Văn Ga cho hay không chỉ trường ngoài công lập,  mà cả trường công lập có uy tín như Trường ĐH Kinh tế – ĐH Đà Nẵng năm  nay cũng gặp khó khăn, khi đây là năm đầu tiên gọi trúng tuyển NV1 với  điểm chuẩn thấp hơn năm ngoái mà không đủ chỉ tiêu, chỉ đạt khoảng 75%.   “Để  thỏa mãn quy luật cung cầu lao động, các trường cần có chiến lược phát  triển ngành nghề phù hợp. Một ngành năm nay tuyển sinh tốt không có  nghĩa những năm sau ngành ấy cũng tiếp tục tuyển sinh tốt. Nếu các  trường không tạo dựng được uy tín, xây dựng được thương hiệu và không có  chiến lược thay đổi về cơ cấu ngành nghề và chương trình đào tạo, thì  sẽ tiếp tục gặp khó khăn vì thí sinh ngày càng ý thức về lựa chọn ngành  nghề” – Thứ trưởng Bùi Văn Ga khẳng định.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn bằng con mắt trẻ thơ      Trong Ngày sư phạm Cánh Buồm số 2, nhà giáo  Phạm Toàn sẽ trình bày về các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em và  cách thức giáo dục phù hợp với sự phát triển đó.    M. Montessori từng nói, “Chúng ta phải dứt bỏ tư tưởng rằng đứa trẻ là một món đồ để bế lên và mang đi bất cứ nơi nào khi nó còn nhỏ, và khi nó lớn hơn, nó chỉ có việc vâng lời và bắt chước người lớn”. Bởi vậy, nhóm Cánh Buồm đã quyết định chọn chủ đề Nhìn bằng con mắt trẻ thơ cho Ngày Sư phạm số 2 để cùng thảo luận với các chuyên gia giáo dục và các bậc phụ huynh quanh câu hỏi, cách thức giáo dục nào là phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ nhỏ: Hoang dã như Rousseau, bác học như Piaget, hay dân chủ như Howard Gardner đương thời…  Trước đó, Ngày Sư phạm Cánh Buồm số 1 diễn ra vào thứ Bảy, 13/7, đã tập trung vào việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu tâm lý đã trực tiếp hoặc gián tiếp tạo cơ sở cho phương pháp giáo dục tự học – tự giáo dục.  Ngày Sư phạm Cánh Buồm hằng tháng sẽ kéo dài đến hết năm nay, nhằm tạo ra môi trường trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em.  Thông tin về sự kiện:  Thời gian: 15:00-17:00, thứ Bảy, ngày 10/8/2013  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Đăng kí tham dự chương trình tại: https://docs.google.com/a/hiendai.edu.vn/forms/d/1fjUJTnASQWomIF5HZ-ThRpGIGglfNyzf44FnsMX8cJU/viewform  Thời hạn nhận đăng kí: trước 24:00, thứ Sáu, ngày 9/8/2013.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại chủ trương “đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”      Phải chăng nhiều trường ĐH, CĐ đã và đang mạnh dạn phát triển các loại hình đào tạo ngoài chính qui dựa trên chủ trương “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” được hiểu theo nghĩa thực dụng nhất: xã hội và người học cần gì thì đào tạo nấy? Thiết nghĩ, đã đến lúc Bộ GD&amp;ĐT cần làm rõ khái niệm thế nào là “nhu cầu xã hội” đối với giáo dục – đào tạo và đánh giá xem chủ trương này đã mang lại những điều gì tích cực, những biểu hiện gì không bình thường để kịp thời điều chỉnh.    Để chuẩn bị cho công cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (bắt đầu từ năm học 1981-1982), ngày 11/01/1979 Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, theo đó, một trong những định hướng có tính nguyên lý cho giáo dục đã được đưa ra là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội”. Nguyên lý này, cùng với những định hướng khác về phát triển mục tiêu, nội dung và hệ thống giáo dục được nêu trong Nghị quyết, đã trở thành những đòn bẩy quan trọng giúp xây dựng một nền giáo dục Việt Nam mang tính thống nhất trên cả nước và từng bước được phát triển đúng hướng.  Theo thời gian, nguyên lý giáo dục nêu trên cũng đã được nhắc lại đây đó với ít nhiều điều chỉnh, chẳng hạn “Học đi đôi với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”, hay “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010).  Chỉ tiếc rằng, trong khi chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu và những chủ trương nhằm cụ thể hóa nguyên lý giáo dục trên thì gần đây nguyên lý này có vẻ như ít được đề cập đến, và thay vào đó là chủ trương “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”. Chủ trương này, theo tìm hiểu của tác giả, có lẽ bắt nguồn từ Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2007-2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) trong đó Bộ yêu cầu các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) trong cả nước triển khai cuộc vận động (kéo dài trong ba năm): “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”.   Cơ sở cho cuộc vận động này là nhằm khắc phục tình trạng (được nêu trong Chỉ thị):  Sinh viên có bằng tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng song không đạt chuẩn đào tạo, không hành nghề được một cách phù hợp, là một sự lãng phí lớn với xã hội, nhà trường, bản thân người học và gia đình. Hiện tượng chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội đang là thách thức lớn nhất, là điểm yếu nhất và là một trong những sự lãng phí lớn nhất của hệ thống giáo dục đại học.  Chủ trương trên đã được tái khẳng định trong Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (số 296/CT-TTg, ngày 27/2/2010) về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 trong đó có giao nhiệm vụ cho Bộ GD&ĐT:  Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; tổ chức sơ kết, đánh giá 3 năm (2008-2010) việc triển khai thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội và xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu xã hội cấp quốc gia, tại mỗi địa phương và mỗi cơ sở đào tạo.  Nhìn lại thực tiễn giáo dục ĐH trong ba năm trở lại đây trong việc triển khai cuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, bên cạnh những thành tựu ban đầu về những nỗ lực xây dựng hệ thống chuẩn đầu ra của các trường ĐH và CĐ, sự phát triển của hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục, … một hiện tượng đáng lưu ý là sự tăng lên đáng kể số học viên được tuyển vào học các lớp thuộc hệ vừa làm vừa học (tại chức), liên thông, bằng II ở các trường.   Theo một khảo sát gần đây [1], “hiện tại, cứ ba người học ĐH, CĐ thì có một người học hệ tại chức. Thậm chí ở một số trường ĐH, tỉ lệ này là 1/1”; riêng trong “năm 2010, các trường ĐH, CĐ được Bộ GD&ĐT giao tổng chỉ tiêu đào tạo tại chức, văn bằng 2, liên thông với hơn 322.000 chỉ tiêu, tương đương tới 62,9% so với tổng chỉ tiêu đào tạo của hệ chính quy”. Động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình đào tạo này có lẽ xuất phát chủ yếu từ bài toán tài chính: trong khi học phí của hệ chính qui chịu sự ràng buộc của các qui định của Nhà nước và đang thấp hơn đáng kể so với chi phí đào tạo thực tế thì học phí và các khoản thu khác của hệ tại chức được “nới lỏng” hơn rất nhiều. Chính vì thế mà đôi khi chúng ta dùng từ “nồi cơm của các trường ĐH, CĐ” khi đề cập đến các loại hình đào tạo này, mà đã là “nồi cơm” thì không ai nỡ “mạnh tay”!  Chủ trương phát triển các loại hình đào tạo ngoài chính qui (tạm gọi cho các lớp tại chức, văn bằng 2, liên thông) là phù hợp với yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực cho đất nước và xu thế chung của thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của các loại hình này so với sự phát triển nguồn lực (mà quan trọng nhất là đội ngũ giảng viên và hệ thống cơ sở vật chất) của các trường ĐH, CĐ; đồng thời với cơ chế quản lý còn khá nhiều lỏng lẻo từ các bộ chủ quản đã dẫn đến bức tranh chất lượng đào tạo của các loại hình này có vẻ như đang ngày càng ảm đạm!   Theo một đánh giá gần đây của Thanh tra giáo dục (thuộc Bộ GD&ĐT) thì các chương trình liên kết đào tạo tại chức đang có xu hướng đua nhau dễ dãi để thu hút người học, đánh vào tâm lý những người học muốn có được tấm bằng một cách nhẹ nhàng nhất [2]. Còn GS. Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và Phó trưởng Ban Khoa giáo Trung ương, cũng đã đánh giá ngắn gọn về thực trạng đào tào tại chức hiện nay là “xô bồ, lỏng lẽo và tùy tiện” [3].  Như giọt nước đã đến lúc làm tràn ly, sự kiện “UBND TP. Đà Nẵng vừa có văn bản gửi các sở, ban, ngành, quận, huyện chỉ đạo không tiếp nhận mới sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy nhà nước” [4] đã làm dấy lên những tranh luận sôi nổi trên báo chí về quyết định này cũng như về thực trạng các loại hình đào tạo ngoài chính qui.  Phải chăng nhiều trường ĐH, CĐ đã và đang mạnh dạn phát triển các loại hình đào tạo ngoài chính qui dựa trên chủ trương “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” được hiểu theo nghĩa thực dụng nhất: xã hội và người học cần gì thì đào tạo nấy? Thiết nghĩ, đã đến lúc Bộ GD&ĐT cần làm rõ khái niệm thế nào là “nhu cầu xã hội” đối với giáo dục – đào tạo và đánh giá xem chủ trương “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” đã mang lại những điều gì tích cực, những biểu hiện gì không bình thường để kịp thời điều chỉnh.  Chúng ta hãy thử tìm hiểu xem trên thế giới, người ta đã có những quan niệm, chủ trương gì liên quan đến việc trường ĐH, CĐ đáp ứng nhu cầu xã hội. Một trong những tài liệu đáng để tìm hiểu nhất liên quan đến chủ đề đang bàn có lẽ là một báo cáo của Trường ĐH Newcastle (Anh Quốc) trong năm 2009: “Characterising modes of university engagement with wider society: A literature review and survey of best practice” (Mô tả các phương thức gắn kết trường đại học với xã hội theo nghĩa rộng: Tổng quan và khảo sát các thực tiễn tốt nhất) [5]. Phần tổng quan của Báo cáo này cho thấy các hệ thống giáo dục ĐH trên thế giới đã và đang rất quan tâm đến những hoạt động nhằm giúp các trường ĐH, CĐ gắn kết (engage) với xã hội (được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các cộng đồng, kể cả cộng đồng khu vực và quốc tế). Hoạt động gắn kết này được thể hiện trên bốn nhóm hoạt động chủ yếu sau:  –    Kết hợp nghiên cứu (Engaged research): tổ chức hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giữa nhà trường và xã hội  –    Chia sẻ kiến thức (Knowledge sharing): tổ chức cung cấp, trao đổi thông tin hay quan điểm giữa nhà trường và xã hội.  –    Dịch vụ (Service): tổ chức tư vấn, cung cấp các dịch vụ chuyên môn cho xã hội; tạo điều kiện để xã hội tiếp cận các nguồn tài nguyên của nhà trường (ví dụ thư viện, bảo tàng, sân bãi phục vụ thể thao, …); tham gia các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, …  –    Giảng dạy (Teaching): tổ chức giảng dạy, đào tạo theo nhiều hình thức và bậc học nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội về trang bị kiến thức, kỹ năng, nhu cầu học tập suốt đời.  Bên cạnh sự nỗ lực của mỗi quốc gia và nhà trường, hiện trên thế giới có một số tổ chức mang tầm quốc tế được thiết lập để hỗ trợ các trường thành viên nói riêng và hệ thống giáo dục ĐH quốc tế nói chung trong việc chia sẻ thông tin, tư vấn, xây dựng và triển khai các chương trình, dự án nhằm không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động gắn kết giữa nhà trường và xã hội, chẳng hạn:  –    Talloires Network [6]: Đề xướng bởi Trường ĐH Tufts (Hoa Kỳ), hiện bao gồm khoảng 190 trường ĐH và CĐ thành viên trên khắp các châu lục (Việt Nam mới chỉ có Trường ĐH An Giang tham gia).  –    The International Association for Research on Service-Learning and Community Engagement (IARSLCE) [7]: Đề xướng bởi Trường ĐH Tulane (Hoa Kỳ).  –    The Global Alliance on Community-Engaged Research [8]: Đề xướng bởi Trường ĐH Victoria (Canada).  Đối chiếu với nội dung của bốn nhóm hoạt động nói trên, hoạt động “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” chỉ là một phần trong các hoạt động giúp nhà trường gắn kết với xã hội. Và như vậy, chỉ có thực hiện tất cả bốn nhóm hoạt động như trên mới thể hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội (social accountability) của nhà trường.  Nhìn lại các chủ trương của chúng ta ở lĩnh vực này và so sánh với quan niệm của thế giới, mới thấy rằng chủ trương “Nhà trường gắn liền với xã hội” đã nêu trong Nghị quyết số 14-NQ/TW (1979) như đã nói ở phần đầu là mang tính khái quát và tính chiến lược cao. Phải chăng chúng ta nên quay về lại với chủ trương này để giúp các trường ĐH, CĐ thực hiện đầy đủ chức năng của mình đối với xã hội, đồng thời góp phần chấn chỉnh thực trạng chạy theo đào tạo ngoài chính quy dưới ‘chiêu bài’ “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”?  Tài liệu tham khảo  [1] http://tuoitre.vn/Giao-duc/415261/Tha-noi-dao-tao-tai-chuc—Ky-2-Chong-mat-voi-so-luong.html (Truy cập ngày 12/12/2010)  [2] http://tuoitre.vn/Giao-duc/415419/Tha-noi-dao-tao-tai-chuc—Ky-3-Ha-chuan-xen-chuong-trinh.html (Truy cập ngày 12/12/2010)  [3] http://tuoitre.vn/giao-duc/415555/he-tai-chuc-da-bi-bien-tuong.html (Truy cập ngày 13/12/2010)  [4] http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/413992/Khong-nhan-sinh-vien-tot-nghiep-he-tai-chuc-vao-co-quan-nha-nuoc.html (Truy cập ngày 12/12/2010)  [5]http://www.tufts.edu/talloiresnetwork/downloads  /Characterisingmodesofuniversityengagementwithwidersociety.pdf (Truy cập ngày 12/12/2010)  [6] http://www.tufts.edu/talloiresnetwork/  [7] http://www.researchslce.org/  [8] http://communityresearchcanada.ca/?action=alliance    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại lựa chọn công nghệ nano      Ở các bài viết trước, chúng ta đã lần lượt tìm hiểu về công nghệ nano từ góc nhìn của người nghiên cứu, người học, và người làm. Ở bài viết cuối này, chúng ta thử nhìn lại lựa chọn công nghệ nano từ đòi hỏi của một xã hội thông tin hiện đại.      Hình ảnh minh họa cho thuốc công nghệ nano trong tương lai gần, dẫn thuốc đến đúng tế bào cần được điều trị.  Nhất nghệ tinh  Các cụ ta thường có câu “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”, đề cao việc tinh thông một nghề hơn là nghề nào cũng biết nhưng không biết đến nơi đến chốn. Công nghệ nano, như ta biết, là một lĩnh vực đa ngành nghề, vậy nếu theo đuổi đến cùng thì liệu có phải ta đang đi theo “chín nghề” hay không?  Công nghệ nano đúng là một “bùng binh” của nhiều ngành kết hợp lại. Theo đuổi công nghệ nano, người học sẽ được trang bị kiến thức đa ngành, có thể nói nôm na là “chín ngành”, nhưng các kiến thức đa ngành này cuối cùng sẽ được sử dụng cho một mục đích cụ thể.  Ta có thể lấy ví dụ về pin mặt trời. Pin mặt trời hay tấm panel pin mặt trời trên nền phiến silic đơn tinh thể hay đa tinh thể là một vật thể kích thước lớn đến hàng mét vuông. Vật thể này là sản phẩm cuối bán cho người tiêu dùng và nó chắc chắn không phải là đối tượng trực tiếp của công nghệ nano. Tuy nhiên, quá trình chế tạo ra các pin mặt trời từ các phiến silic có rất nhiều bước công nghệ được phát triển hoặc hỗ trợ phát triển bởi công nghệ nano như: (i) tạo nhám bề mặt (texturization) cấu trúc micro hoặc nano nhằm giảm phản xạ ánh sáng1, bước khuếch tán phosphorus với độ sâu khoảng vài trăm nano mét trên bề mặt phiến đã tạo nhám, (ii) phủ màng chống phản xạ SiNx có bề dày khoảng 80 đến 100 nano mét trên bề mặt phiến đã khuếch tán,  (iii) in điện cực chứa các hạt nano bạc hoặc nano nhôm2 lên bề mặt phiến silic và gia nhiệt nhanh tạo tiếp xúc xuyên qua lớp chống phản xạ3. Như vậy rõ ràng theo học công nghệ nano là một lựa chọn thích hợp cho người nào muốn theo đuổi sự nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và chế tạo pin mặt trời. Ngoài pin mặt trời thì việc chế tạo các cảm biến, các loại pin nhiên liệu hay các linh kiện trung gian… cũng tương tự như vậy, lựa chọn học công nghệ nano là bước đầu tiên để theo đuổi và phát triển nghề nghiệp đến mức tinh thông trong mỗi lĩnh vực kể trên.  Như bài viết về cơ hội cho người học công nghệ nano tại Việt Nam ở số báo trước chỉ ra, ngoài lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt phù hợp với công nghệ nano, các cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực chế tạo và sản xuất cũng rất cao, vấn đề là người học nano có thể đóng vai trò hoặc chiếm vị trí nào. Rõ ràng, với các kiến thức và kỹ năng được trang bị, người học nano sẽ vượt quá yêu cầu năng lực đối với vị trí của một công nhân làm công việc lặp đi lặp lại. Người học công nghệ nano sẽ phù hợp với các vị trí thiên về quản lý, hoặc kỹ sư công nghệ chịu trách nhiệm đảm bảo vận hành trơn tru một khâu sản xuất dựa trên các đánh giá phân tích thu được từ thực tế sản xuất; hay cao hơn là kỹ sư công nghệ chịu trách nhiệm căn chỉnh vận hành toàn bộ dây chuyền sản xuất. Người học công nghệ nano cũng đặc biệt phù hợp với các vị trí thiên về nghiên cứu phát triển trong các nhà máy sản xuất trong các lĩnh vực pin mặt trời và các linh kiện bán dẫn, cảm biến, quang điện tử. Tất nhiên, các vị trí này tương đối hiếm do không phải công ty sản xuất nào cũng đầu tư nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.  Liệu người học công nghệ nano sau khi đã phát triển một thứ “biết làm” đến mức tinh thông thì có thể tạo ra sản phẩm cụ thể đáp ứng nhu cầu của thị trường và tổ chức công việc kinh doanh dựa trên sản phẩm này không? Câu trả lời dĩ nhiên là có thể. Một trong những đặc điểm của công nghệ nano là tạo ra tính chất và hiệu ứng mới khi kích thước vật liệu linh kiện nhỏ hơn một kích thước tới hạn. Từ đó sẽ kéo theo các sản phẩm mới đáp ứng các nhu cầu cũ hoặc tạo ra các nhu cầu mới khác hẳn các sản phẩm đang bán trên thị trường. Kinh doanh các sản phẩm mới này chính là đặc điểm của một doanh nghiệp khởi nghiệp. Do đó công nghệ nano về mặt bản chất đặc biệt thích hợp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Cầm trên tay một chiếc điện thoại di động thông minh, nghĩa là ta đang cầm một sản phẩm tích hợp rất nhiều các sản phẩm trung gian mà mỗi sản phẩm trung gian được chế tạo và phát triển bởi một doanh nghiệp khởi nghiệp,ví dụ như gia tốc kế4, từ kế5, con quay6, cảm biến vân tay7 dựa trên công nghệ vi cơ điện tử8 hay đèn LED9, camera10, microphone11 hay bộ khuếch đại tín hiệu sóng vô tuyến12, bộ lọc sóng âm13… Có rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ nano trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì khá ít. Lý do là nếu tập trung vào việc chế tạo các linh kiện cấu trúc nano để đưa vào chuỗi giá trị toàn cầu của một sản phẩm thì ta sẽ phải gia nhập cuộc cạnh tranh khốc liệt. Làm được điều này tại các nước phát triển đã khó thì ở Việt Nam càng khó hơn bởi sự phối hợp giữa các nguồn lực đầu tư cơ bản của nhà nước và nguồn đầu tư thương mại hóa của tư nhân, một yếu tố then chốt thúc đẩy cho sự ra đời của những sản phẩm như vậy, còn hạn chế. Do đó, hướng đi thích hợp hơn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ nói chung là sử dụng và tích hợp các sản phẩm trung gian có hàm lượng công nghệ nano cao.  Công nghệ nano hướng tới một xã hội thông tin hiện đại    Ví dụ về một xã hội thông tin hiện đại được hỗ trợ bởi công nghệ nano. Các ô nền màu xanh thể hiện các công nghệ hoặc hệ thống được phát triển hỗ trợ một phần hoặc toàn phần nhờ công nghệ nano14.  Quá trình phát triển công nghệ nano đã trải qua ba giai đoạn cơ bản. Ở giai đoạn đầu tiên, vi điện tử (microelectronics) và điện tử nano (nanoelectronics) chính là động cơ hỗ trợ cho sự phát triển của công nghệ thông tin, trong đó, việc tiểu hình hóa các chi tiết và linh kiện theo định luật Moore chính là nguồn gốc của tiến bộ công nghệ. Càng tới cuối giai đoạn đầu, việc tiểu hình hóa các linh kiện điện tử càng gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn tới việc sử dụng các linh kiện lượng tử (cùng với sự phát triển của thông tin lượng tử) và các vật liệu cấu trúc nano mới. Sang giai đoạn thứ hai – Việt Nam đang ở giai đoạn này – việc sáp nhập các lĩnh vực khác nhau như khoa học vật liệu, sinh học, hóa học, công nghệ thông tin và truyền thông đóng vai trò quan trọng, hay tính đa ngành nổi lên như là động cơ của sự phát triển, theo đó, các linh kiện kích thước nano ngoài việc thực hiện các công việc tính toán (như hỗ trợ cho công nghệ thông tin) còn được trang bị thêm một chức năng cụ thể, như các chip điện tử có thêm tính năng sinh học có khả năng chẩn đoán, phân tích và điều trị sinh học; hay các hạt nano được phủ thêm một lớp sinh học sử dụng cho mục đích dẫn thuốc đến nơi cần trị bệnh cụ thể ở bệnh nhân. Bước vào giai đoạn thứ ba, các hệ thống nano hay các hệ thống được tăng cường bởi công nghệ nano được trang bị thêm khả năng thông minh nhằm đáp ứng các đòi hỏi cụ thể của con người như ở ví dụ được minh hoạ dưới đây về một xã hội thông tin hiện đại, trong đó hầu như tất cả các hệ thống đều được hỗ trợ hoặc tăng cường bởi công nghệ nano. Thứ nhất, việc thu thập và truyền dữ liệu của tất cả các hệ thống được thực hiện dựa trên mạng các cảm biến (có thể coi đây là IoT). Các dữ liệu thường được ghi nhận ở dạng thô và mang tính đo lường. Thứ hai, các dữ liệu này được lưu trữ, xử lý tại một trung tâm bằng các thuật toán dữ liệu lớn cũng như các hệ trí thông minh nhân tạo. Ở đó, đến lượt mình, các hệ trí thông minh nhân tạo lại tăng cường năng lực thông minh cho các mạng cảm biến. Các hệ thống thông minh được nhắc đến ở trên phục vụ trực tiếp cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta như (i) nhà thông minh, (ii) văn phòng làm việc thông minh, (iii) không gian di chuyển thông minh an toàn và tiện lợi, và (iv) chăm sóc sức khỏe từ xa và y tế thông minh.  Thiết nghĩ, những người theo học công nghệ nano ở các bậc cần nắm được xu thế phát triển đó của ngành để có những lựa chọn phù hợp với sở thích và khả năng của bản thân.  —–  1 Một mặt phẳng phản xạ ánh sáng tốt, do đó việc làm nhám bề mặt phẳng của phiến silic, kéo theo giảm phản xạ, là một công đoạn quan trọng trong quy trình chế tạo pin mặt trời.  2 Để in được điện cực pin mặt trời, quy trình in lưới được áp dụng với mực in là một loại keo bao gồm các hạt nano bạc hoặc nano nhôm và một số dung môi đệm khác.  3 Lớp chống phản xạ SiNx không dẫn điện, nhưng lại nằm trên bề mặt pin mặt trời, do đó việc tạo được điện cực và làm điện cực xuyên qua lớp SiNx một cách đơn giản là điều vô cùng quan trọng. Bằng cách gia nhiệt nhanh, các điện cực được in trên bề mặt có thể đi xuyên qua lớp SiNx và đạt được tiếp xúc trực tiếp trên phiến silic, đồng thời các hạt nano bạc sẽ đóng khối tăng độ dẫn của lưới điện cực.  4 Gia tốc kế – Accelerometer, là linh kiện nhằm xác định gia tốc chuyển động của điện thoại.  5 Từ kế – Mangetometer là linh kiện điện tử nhằm đo từ trường. Các app la bàn trong điện thoại thông minh sử dụng phần lớn tín hiệu từ linh kiện này.  6 Con quay – Gyroscope, là linh kiện nhằm xác định vận tốc quay theo các trục của điện thoại di động.  7 Cảm biến vân tay – Finger print sensor, là linh kiện điện tử dùng để xác định vân tay của người dùng, các thế hệ mới nhất của cảm biến vân tay sử dụng các vật liệu áp điện và sóng siêu âm nhằm đưa vị trí cảm biến tới nơi thuận tiện.  8 Vi cơ điện tử – MEMS/NEMS, là công nghệ tích hợp đặc biệt cho phép một con chip điện tử được tăng cường các tính năng về cơ học ở kích thước micro hoặc nano.  9 LED – Light emitting device, là linh kiện trong đó phần tử phát sáng là một diode có cấu trúc lớp nano dựa trên 2 loại vật liệu bán dẫn dẫn điện khác loại.  10 Camera là một hệ tích hợp bao gồm các thấu kính nhỏ và một chip ảnh chế tạo dựa trên công nghệ CMOS (complementary metal oxide semiconductor).  11 Microphone là linh kiện dùng để thu giọng nói trên điện thoại di động, trong các thế hệ mới nhất microphone là các linh kiện vi cơ điện tử.  12 Bộ khuếch đại tín hiệu vô tuyến – RF power amplifier, bất kỳ điện thoại di động nào cũng cần các linh kiện này để tăng cường tín hiệu sóng vô tuyến thu được.  13 Bộ lọc sóng âm – SAW – BAW filter, là linh kiện có khả năng lọc sóng âm điều biên trong sóng vô tuyến.  14 Dịch và vẽ lại với sự chấp thuận của CRDS-JST dựa trên báo cáo JST-CRDS “Nanotechnology and Materials R&D in Japan (2015): An Overview and Analysis”, Hình 4, trang 15, 2016  http://www.jst.go.jp/crds/pdf/en/CRDS-FY2015-XR-07.pdf       Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Nhóm Cánh Buồm giới thiệu phương pháp học của bậc tiểu học      Nhóm Cánh Buồm sẽ tổ chức Hội thảo “Em biết  cách học” tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội L’Espace thứ Bảy ngày 6/10 nhằm giới thiệu một cách có hệ thống “Phương pháp học  của bậc tiểu học”.    Đây là hoạt động nối tiếp các chương trình hội thảo về giáo dục đã tổ được nhóm chức những năm vừa qua: Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em, ngày 25/11/2009, giới thiệu cơ sở tâm lý học của việc tổ chức hoạt động học cho trẻ  em; Hội thảo Chào Lớp Một, ngày 27/9/2010, giới thiệu bộ sách lớp Một; Hội thảo Tự học – Tự Giáo dục, ngày 3/10/2011, giới thiệu bộ sách Tiểu học; và Hội thảo Một Cánh Buồm – Một nhà trường Hiện đại, ngày 14/4/2012, giới thiệu phương pháp học Văn và Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm.   Với quan điểm sứ mệnh Bậc Tiểu học là “bậc học phương pháp” và dựa trên một bộ sách cụ thể, các Nhóm Cánh Buồm sẽ thảo luận với cử tọa quanh chủ đề “Cách thức để Giáo dục đem hạnh phúc tới từng gia đình” với những câu hỏi cụ thể như: Thế nào là nhà trường hiện đại? Nhiệm vụ của nhà trường hiện đại là gì? Giáo viên và phụ huynh sẽ dùng bộ sách giáo khoa Cánh Buồm như thế nào? Thế nào là biết cách học? Cách thức tổ chức việc học từng môn học đạt hiệu quả cao nhất? Làm gì để mỗi học sinh có thể tự khẳng định: Em học được! Em biết cách học! – để mỗi học sinh thành con người tự chủ, có trách nhiệm và tâm hồn phong phú?   Nhân dịp này, triển lãm “Hình minh họa đen trắng sách giáo khoa Cánh Buồm” của các họa sĩ Hà Dũng Hiệp, Phương Hoa và Thu Thùy cũng được giới thiệu tới người tham dự hội thảo.          Cánh Buồm là một nhóm thiện nguyện chưa  đến mười thành viên, hoạt động từ năm 2009 đến nay với mục tiêu làm ra  một bộ sách để qua đó gợi ý một cách Hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam  theo sự hối thúc của trẻ em và vì trẻ em. Nhóm đã hoàn thành các cuốn  sách, bao gồm:   - Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);   - Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);   – Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);   –  Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);   –  Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).          * Thông tin chi tiết:  Thời gian: 9:00 ~ 11:30, thứ Bảy, ngày 6/10  Địa điểm: Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội L’Espace 24 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội, 24 Tràng Tiền, Hà Nội  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn, ThS Nguyễn Thị Thanh Hải, ThS Đinh Phương Thảo  —  Đọc thêm:  “Em biết cách học”*   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5678&CategoryID=6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm Cánh Buồm giới thiệu phương pháp học Văn và Tiếng Việt mới      Trước khi công bố trọn bộ sách Văn và Tiếng  Việt cho học sinh tiểu học vào tháng 10 tới, nhóm Cánh Buồm sẽ tổ chức  một hội thảo giới thiệu phương pháp học hai môn học khó này theo quan  điểm của mình để trao đổi ý kiến với giới chuyên gia và những người quan  tâm đến sự nghiệp giáo dục.    Quan điểm của nhóm Cánh Buồm đối với môn Văn và Tiếng Việt là:  •    Tổ chức việc Giáo dục nghệ thuật thay cho việc dạy văn chương sáo mòn.  •    Tổ chức học Ngôn ngữ học với tiếng Việt là vật liệu thay cho lối dùng tiếng Việt chuyên chở những “nội dung” phi ngôn ngữ.  Hội thảo diễn ra vào sáng Thứ Bảy 14/4, tại IDECAF, 31 Thái Văn Lung , TP. HCM với các diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn, ThS Nguyễn Thị Thanh Hải, ThS Đinh Phương Thảo. Đây là hoạt động nối tiếp loạt hội thảo của nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm những năm vừa qua: Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em (giới thiệu cơ sở tâm lý học của việc tổ chức hoạt động học cho trẻ  em); Hội thảo Chào Lớp Một (giới thiệu bộ sách lớp Một); và Hội thảo Tự học – Tự Giáo dục (giới thiệu bộ sách Tiểu học).    Tháng 10 tới, nhóm sẽ tiếp tục tổ chức một hội thảo lớn tại Hà Nội nhằm giới thiệu sách tiểu học của nhóm với các môn học: Văn (lớp 1, 2, 3, 4, 5), Tiếng Việt (lớp 1, 2, 3, 4, 5), Lối sống (lớp 1, 2, 3), Tiếng Anh (lớp 1, 2, 3) và Khoa học – Công nghệ (lớp 1, 2).   Nhóm Cánh Buồm hoạt động từ năm 2009 đến nay với mục tiêu làm ra một bộ sách để qua đó gợi ý một cách Hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam theo sự hối thúc của trẻ em và vì trẻ em.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chặng đường thánh giá      Ta thường biết câu danh ngôn: “việc học như  đi thuyền trên dòng nước ngược, không tiến ắt phải lùi”. Hiểu theo nghĩa  “khuyến học” thông thường, việc học và người học ở đây tuy gắn bó mật  thiết, nhưng vẫn là hai, như trong hình ảnh so sánh: dòng nước và chiếc  thuyền.     Trong tư duy giáo dục của Hegel (1770-1831) và John Dewey (1859-1952), cả hai thực ra chỉ là một: người học đồng nhất với việc học, như là kẻ tự “vác lấy thánh giá” của đời mình, với thuận lợi và khó khăn (“nước xuôi” và “nước ngược”), hy vọng và thất vọng, hạnh phúc và khổ đau. Hegel: “giáo dục (Bildung) gắn liền với trải nghiệm về sự bất hạnh”. Dewey: “giáo dục là hành động và chịu đau khổ, chứ phải đơn thuần mở mang kiến thức”. Một sự gặp gỡ lạ thường giữa hai triết thuyết giáo dục mới thoạt nhìn tưởng như giữa nước với lửa!  HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH CỦA “CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI”  “Hạnh phúc” của con người hiện đại là được giải phóng khỏi sự “lệ thuộc ngột ngạt” để có thể “xưng tôi” như một chủ thể hành động tự do với tư cách cá nhân “tự trọng” và “tự tin”. Nhưng, đồng thời, hạnh phúc ấy là bấp bênh, bởi phải đấu tranh hàng ngày, hàng giờ để bảo vệ nó. Con người hiện đại chỉ trải nghiệm được sự tự do khi hoàn cảnh buộc họ phải làm như thế. Con người hiện đại chỉ hình thành trong cuộc đấu tranh đòi được “công nhận” (Hegel), cũng thế, “tính chủ thể” ra đời từ sự đề kháng, chứ không từ sự ban phát. Theo nghĩa đó, trong một thế giới hài hòa và tự mãn, ắt tự do và giáo dục không chỉ không cần thiết mà còn không thể có được! Hay nói ngược lại, điều kiện cần và đủ cho giáo dục chính là sự tăng cường không ngừng ý thức về tự do. Mở rộng ra, không phải ngẫu nhiên khi Hegel là tác giả của lời khẳng định thời danh: “Lịch sử thế giới là sự tiến bộ trong ý thức về tự do”.  Tuy nhiên, đấy không phải là một đại lộ thênh thang, bằng phẳng! Như đã nhắc qua, giáo dục không đồng nghĩa với hạnh phúc (cá nhân), trái lại, đi liền với trải nghiệm về sự bất hạnh. Hơn đâu hết, ý tưởng này được chắt lọc và trình bày có hệ thống trong tác phẩm bất hủ “Hiện tượng học Tinh thần” (1807, bản tiếng Việt, NXB Tri Thức, 2006, 2013). Tác phẩm triết học vĩ đại ấy quả thật còn là một “tiểu thuyết giáo dục” (Bildungsroman), vẽ nên bức tranh toàn cảnh và bi tráng của diễn trình giáo dục nói chung. Mỗi bước nhận thức của con người (gọi là “mỗi hình thái ý thức”) hình thành đầy tự tin và cả tự phụ nữa, nhưng rồi đều tự sụp đổ khi vướng phải mâu thuẫn nội tại, thấm thía sự bất lực của mình khi đối chiếu giữa tham vọng và thực tế. Con người tự mình phải thay đổi thước đo, qua đó nâng mình lên một bước nhận thức mới, rồi lại thất vọng và cứ thế tiếp tục đi suốt những “chặng đường thánh giá” cho đến khi đạt được sự thỏa mãn. Người đọc chúng ta có quyền không… thỏa mãn với sự “thỏa mãn” sau cùng của Hegel, nhưng khó có thể không tán thưởng những phân tích và nhận định sâu sắc của ông: mỗi bước nhận thức, học hỏi – như một trò đùa cay nghiệt – luôn đẩy con người đến chỗ thất vọng, thậm chí “tuyệt vọng”. Và chính sự “tuyệt vọng” sẽ dồn con người vào đường cùng để phải tự tìm thấy sinh lộ và sức sống mới. Hegel gọi toàn bộ diễn trình ấy là “lịch sử kinh nghiệm của ý thức”, và sự hoài nghi liên tục thấy ở đây không xuất phát từ thái độ hay cái nhìn bi quan của người quan sát mà là một “thuyết hoài nghi (được ý thức) tự thực hiện lấy”.  Trong lĩnh vực thực tiễn, sự ra đời của tự do càng minh họa điều này mạnh mẽ hơn nữa. Một trong những chương nổi tiếng nhất của tác phẩm này (“Về làm chủ và làm nô”) cho thấy sự tự do (trong ý thức của người làm nô và với tư cách là Tự-ý thức) phải trải qua nhiều giai đoạn. Thoạt đầu, người làm nô ở thế yếu, chỉ có thể giữ thái độ “khắc kỷ”, hài lòng với sự tự do nội tâm của mình, cam phận phục vụ người làm chủ, nhưng ngày càng nhận thấy người làm chủ phụ thuộc vào mình. Giai đoạn “hoài nghi” bắt đầu khi người làm nô nghi ngờ vai trò của chính mình và nhất là nghi ngờ cả sự ưu việt về quyền lực tinh thần của người làm chủ. Nhưng rồi người làm nô lại rơi vào “ý thức bất hạnh” khi nhận ra rằng bản thân mình vừa là nô mà cũng vừa là chủ, song chưa tìm ra lối thoát. Từ sự tự do đơn thuần trong nội tâm, rồi sự tự do bất an trong sự nghi ngờ đến ý thức bất hạnh vì chưa “hòa giải” được với chính mình, con đường đi tới sự tự do “lý tính” của chủ thể hiện đại là con đường còn xa ngái! Sennett, khi bàn về chương này, đã cảm thán: “Vì tự do, nhân loại còn phải chịu đựng bao nhiêu nỗi dằn vặt, thất vọng và bất hạnh nữa đây?”. Nhưng, ở giác độ triết học giáo dục, Lars Loevlie, nhà triết học giáo dục Na uy, nhận xét: ở đây, giáo dục (Bildung) được quan niệm như là kinh nghiệm chuyển hóa của ý thức trong sự tương tác giữa cá nhân và “văn hóa” (môi trường xã hội). Chủ thể là tác nhân vừa tự trị vừa phụ thuộc, buộc phải tự vướng vào những mâu thuẫn. Các kinh nghiệm này đòi hỏi ta phải có cái nhìn phê phán về chính lập trường cố hữu của mình cũng như tiếp thu các lập trường đối lập. Thật thế, nếu tra hỏi là nguyên tắc của lý trí, thì việc “an nghỉ” nơi câu trả lời đã tìm thấy chỉ là sự an nghỉ tạm thời và là cơ hội cho việc tiếp tục tra hỏi. Giáo dục là tiến trình phá bỏ và đảo lộn giá trị đối với kho tàng kinh nghiệm, như cách nói mạnh mẽ của một nhà giáo dục học khác.  DEWEY: GIÁO DỤC LÀ ĐỔI MỚI KINH NGHIỆM  Trước khi giới thiệu về John Dewey (“triết gia lớn nhất của Mỹ, theo Bertrand Russell) và triết thuyết giáo dục “thực dụng” (mà chúng tôi đề nghị dịch là “hành dụng”) của ông, xin nhắc qua vài ý tưởng cơ bản của Dewey tương đồng với tinh thần của triết thuyết duy tâm Đức.  Giáo dục – độc lập với phương pháp tiến hành -, theo Dewey , bao giờ cũng là “sự không ngừng đổi mới kinh nghiệm”. Theo đó, mục tiêu của giáo dục không phải ở bên ngoài mà nằm ngay trong chính tiến trình giáo dục. Dewey minh họa bằng nghệ thuật bắn cung. Mục tiêu của bắn cung không phải là hồng tâm (tách rời với việc bắn), mà là bắn làm sao để trúng được hồng tâm! Nói cách khác, chính “việc làm” giáo dục chứ không phải bản thân giáo dục là mục tiêu. Tiến trình giáo dục, do đó, bao hàm những tiến trình tự trải nghiệm, “biết bỏ đi những cái cũ và thêm vào những cái mới có ý nghĩa”. Giáo dục là hành động và chịu đau khổ giống như trong cuộc đời, vì thế, cương lĩnh cốt lõi của triết thuyết giáo dục hành dụng của Dewey sẽ là: “nhà trường là xã hội thu nhỏ ở dạng bào thai”.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 30, 23.10.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những “con rùa biển” trở về      Sức hấp dẫn của một Trung Quốc đang tr&#234;n đường trở th&#224;nh cường quốc với những ch&#237;nh s&#225;ch ưu đ&#227;i đ&#227; v&#224; đang thu h&#250;t kh&#244;ng chỉ những Hoa kiều ưu t&#250; trở về m&#224; cả những người phương T&#226;y xuất sắc.     Tình trạng chảy máu chất xám mà Trung Quốc đang phải đối mặt đã bắt đầu từ 30 năm về trước khi nước này thực hiện chính sách cải cách mở cửa do Đặng Tiểu Bình đề xướng. Những nhân tài của đất nước này đổ xô ra nước ngoài và rất ít người trong số họ quay trở lại. Theo số liệu thống kê, trong khoảng thời gian từ năm 1978 tới năm 2004, có khoảng 815.000 người du học nước ngoài và chỉ có khoảng ¼ trong số đó quay về phục vụ đất nước. Ngày nay, cùng với sự lớn mạnh về kinh tế và vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, Trung Quốc trở nên có sức hấp dẫn lớn không chỉ với những Hoa kiều đang sống và làm việc ở nước ngoài, hay nói theo cách của người Trung Quốc: những “con rùa biển” (hai gui) đã bắt đầu tìm cách bơi về nhà mà thậm chí cả những học giả phương Tây đã chuyển đến Trung Quốc sống và làm việc với số lượng không ngừng tăng lên.  Hoàng Minh là một ví dụ điển hình như thế. Sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, năm 1985 chàng trai trẻ lên đường sang Mỹ hoàn thành chương trình sau đại học rồi trở thành công dân Mỹ và được bổ nhiệm làm giáo sư tại Đại học Cornell. Nhưng sau đó hai năm, anh quyết định về nước và hiện đang giảng dạy tại Trường Kinh doanh Trường Giang, Bắc Kinh. Sự khác biệt ở đây rất rõ ràng. “Ở Mỹ, tôi dạy cho các sinh viên 24 tuổi”, anh tâm sự, trong khi đó ở Trung Quốc 2/3 sinh viên theo học chương trình Executive-MBA của anh là đều đã là ông chủ các doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là “Tại đây, chúng tôi có thể tạo ra sự khác biệt tức thì khi quyết định đào tạo ra những người quản lí có thâm niên,” Hoàng cho biết.  Theo Daniel Bell, một nhà chính trị học người Canada, thì sức hấp dẫn lớn nhất đối với anh đó là cơ hội để tiếp cận và tìm hiểu kĩ hơn về cái nhìn của thế hệ trẻ của Trung Quốc. Bell hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Anh cho rằng “Ai cũng đều cần phải có sự yêu thích mạo hiểm”. Và những kinh nghiệm trong vai trò vừa là người trong cuộc, vừa là người ngoài cuộc tại ngôi trường uy tín hàng đầu Trung Quốc đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng giúp anh có thể hoàn thành cuốn sách mới nhất của mình và gây tiếng vang lớn.  Mặc dù nhiều trường đại học phương Tây sẵn sàng chia sẻ đội ngũ cán bộ giảng dạy của mình – cho phép các học giả như Hoàng tiếp tục giữ chức vụ giáo sư trong khi họ về nước làm việc bán thời gian – song việc đến Trung Quốc sống và làm việc vẫn còn tiềm ẩn quá nhiều rủi ro. Bên cạnh vấn đề tiền lương thấp, việc từ bỏ môi trường làm việc kiểu Mỹ sẽ dẫn đến việc giảm thâm niên công tác cũng như làm mất đi tính ổn định của công việc.   Nhưng sức hấp dẫn trong các chính sách ưu đãi của Trung Quốc khiến họ thật khó cưỡng lại, như ngoài việc được bổ nhiệm chức vụ giáo sư, kế hoạch tài trợ nghiên cứu lên tới 2 triệu Nhân dân tệ (tương đương 292.000 USD) đồng thời tạo cho họ cơ hội hướng dẫn một nhóm nghiên cứu. Ở đây phải kể đến một “mánh khóe” của người Trung Quốc – các nhà khoa kể trên phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài của mình để có thể đảm bảo chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ thanh toán đầy đủ các khoản tài chính cần thiết cho các công trình nghiên cứu của họ. Tính từ năm 1994 tới nay, kế hoạch này cũng đã thu hút được gần 1000 người quay trở lại.  Không có một con số thống kê nào mang tầm cỡ quốc gia về số lượng học giả nước ngoài hiện đang giảng dạy tại Trung Quốc song có thể dễ dàng nhận thấy rằng nhiều nhất vẫn là các giáo sư kinh tế và tài chính bởi lẽ lĩnh vực mà họ đảm nhiệm là những lĩnh vực có khả năng sinh lời lớn. Chen Fangrou, người đã lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Wharton, từng làm giáo sư ở Đại học Columbia, hiện đang đào tạo một đội ngũ khoảng 40 cán bộ người nước ngoài cho trường Đại học Kinh tế Giao Thông, Thượng Hải, nơi anh đảm nhiệm công tác chủ nhiệm khoa biệt phái trong vòng 3 năm. Hằng năm, trường này phải chi khoảng 17 triệu USD cho việc trả lương và thu hút những chuyên gia nước ngoài  Trung Quốc cũng là một môi trường nghiên cứu đầy sức hấp dẫn, một phòng thí nghiệm khổng lồ với khoảng 1,3 tỉ đề tài nghiên cứu đang được tiến hành với tốc độ nhanh chóng. “Với những người quan tâm tới các vấn đề lớn về sự biến đổi chính trị – xã hội thì Bắc Kinh thực sự là một điểm đến lý thú”, Bell nói. Kể từ khi nền công nghiệp của đất nước này bùng nổ trong một nền kinh tế mà ở đó mọi quy tắc đều đã bị phá vỡ, nơi đây đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho các giáo sư kinh tế. Sẽ thật tốt nếu có thể tiếp cận được với những nhân vật chủ chốt. “So với ở Mỹ, tại đây, tôi có nhiều cơ hội hơn để trò chuyện với các nhà sản xuất”, Chen cho hay.  Hầu hết các học giả tới Trung Quốc đều không có phàn nàn gì về vấn đề tự do học thuật. Bell, từng có kinh nghiệm giảng dạy tại Singapore, cho biết ở đó, anh bị chi phối bởi các yếu tố chính trị nhiều hơn tại Đại học Thanh Hoa “Tại đây, tôi được tự mình thiết kế các khóa học” – bao gồm kể cả một học thuyết dân chủ – “mà không phải chịu bất cứ sự chi phối nào”, anh nói. Và theo Michael Pettis, giáo sư kinh tế tại trường Đại học Bắc Kinh thì sự thụ động của sinh viên cũng nhanh chóng biến mất khi họ nhận ra rằng điều mà các giảng viên trông đợi ở họ là một tư duy phản biện.  Cũng có không ít học giả lo ngại rằng việc từ bỏ công việc tại những trường đại học uy tín ở Mỹ để tới Trung Quốc sẽ khiến họ trở nên bị cô lập. Mặc dù ngày nay, internet đã làm cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều song “dù sao thì gặp mặt trực tiếp vẫn hơn”, Hoàng tâm sự. Phần lớn các học giả thừa nhận rằng cơ hội cho họ quay lại làm việc ở các nước phương Tây còn tùy thuộc vào việc họ có thể công bố được bao nhiêu bài báo, và cách thức họ truyền đạt bài giảng để sinh viên có thể tiếp thu một cách dễ dàng, đây được coi là những lợi thế lớn do chính bản thân họ tạo ra. Ngay cả sự cô lập về học thuật cũng sẽ trở nên có ích khi có ít người hơn cùng cạnh tranh để có thể giành tiền tài trợ nghiên cứu.   Nguyễn Phạm dịch từ newsweek  Nguồn: http://www.newsweek.com/id/151685?tid=relatedcl    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những cuộc đua phản chức năng      Cách đây mấy tuần, báo giới Mỹ đã đưa tin và  bình luận về một cuộc đua chạy cự ly 3.200m của bang Ohio, trong đó  Meghan Vogel 17 tuổi, đáng lý đã về đích, nhưng khi phát hiện một bạn  đua gần kiệt sức cách đích đến 30m, thay vì vượt lên để giành chiến  thắng, Volgel đã quàng tay qua vai McMath và dắt dìu cô này cùng về  đích.1    Theo luật chơi thì đáng lý Vogel và McMath đều bị loại, nhưng ban tổ chức giải đua đã quyết định cho McMath về thứ 14 và Vogel về thứ 15 để biểu dương tinh thần fair play trong thể thao của Vogel. Báo chí sau đó đã khen ngợi hành động cao đẹp này. Trả lời phỏng vấn, Vogel cho biết là đã choáng với những khen ngợi “quá lời” của báo chí, cô bé chỉ giản dị rằng: “Giúp đỡ bạn ấy đến được đích làm cho tôi thấy thỏa mãn hơn là đoạt được chức vô địch của toàn bang”. Câu chuyện đang tác động tích cực lên xã hội nói chung và lứa tuổi teen nói riêng.    Cũng trong thời gian này, tại Việt Nam cũng diễn ra một cuộc đua khác, đó là thi tốt nghiệp phổ thông. Qua các clip video mà một em học sinh quay được ở Đồi Ngô, người ta thấy người lớn và các cô cậu sĩ tử rất đoàn kết dắt dìu nhau về đích. Câu chuyện này cũng đang gây xôn xao báo giới và xã hội, tạo ra một ảnh hưởng tiêu cực nặng nề, không những làm nhiều người chẳng còn tin tưởng gì vào các con “số đẹp” tỷ lệ tốt nghiệp được công bố sau đó, mà đáng ngại hơn là sự kiện này đang phản ánh hiện tượng dối trá, gian lận đang tồn tại ngay trong môi trường giáo dục.  Cả hai câu chuyện đều rất đặc biệt, đều “phản chức năng”. Vogel trong cuộc đua chạy đáng lý ra là phải tìm mọi cách để vượt lên các đối thủ, để đạt được thành tích, thứ hạng cao, thế mà cô bé tuổi teen này đã làm một chuyện phản chức năng so với bản chất của sự kiện, nhưng đây là một hành động đẹp. Hành động này chắc chắn có sự góp phần của nhà trường, một kênh quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của cô bé, mà hành động dắt dìu đối thủ kiệt sức cùng về đích chỉ là một thể hiện tự động của một nhân cách được giáo dục. Hành động có tính tập thể ở Đồi Ngô cũng rất phản chức năng, bởi đã biến nhà trường, nơi đáng lẽ dạy cho học sinh sự trung thực, nơi có nhiệm vụ tạo ra nhân cách đẹp của thanh thiếu niên, thì đã trở thành một trường đua vốn không phải là chức năng của giáo dục, nơi người ta đã sử dụng những dối trá gian lận để về đích trong cuộc đua thành tích có quy mô quốc gia.  Có lẽ sự gian lận ít nhiều đều tồn tại ở tất cả các xã hội, nhưng có mấy xã hội mà sự gian dối đó lại được tập thể hóa, được tổ chức ngay chính trong môi trường giáo dục như ở xã hội ta?   Một lần khi đang nằm nghỉ trưa, tôi nghe hai chị em con ông chủ mà tôi thuê nhà ở đã chơi trò đóng vai. Cô bé đang học lớp 2, bắt em mình làm học trò, còn mình làm cô giáo. Buổi học tưởng tượng có nội dung là cô giáo bố trí cho học sinh cách thức để đối phó với phái đoàn dự giờ đến từ phòng giáo dục của quận vào ngày hôm sau. Một cách rất giống giọng điệu của cô giáo, cô bé bố trí cho bạn A làm gì, bạn B làm gì…rất tự nhiên. Tôi giật mình và nghĩ, tại sao cô bé không lấy chủ đề khác làm nội dung đóng vai mà lại lấy nội dung gian dối trong trường học như thế? Chẳng lẽ sự gian dối đó đã đi vào nhân cách của bé và trở thành chuyện tự nhiên như vậy rồi sao? Đây là một thể hiện khác của sự gian lận có tổ chức tồn tại bàng bạc trong nhà trường từ lâu mà ai cũng có thể có kinh nghiệm.  Theo các nhà xã hội học, nhà trường là một kênh quan trọng bậc nhất trong quá trình “xã hộ hóa” giới trẻ, là nơi mà quá trình nội tâm hóa các giá trị đạo đức, các chuẩn mực văn hóa xã hội diễn ra trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh. Những điều này không chỉ nhờ vào nội dung các giờ học đạo đức công dân một cách chính thức trên lớp, mà còn thông qua môi trường sư phạm, sự mực thước của các giáo viên, sự tương tác với các bạn học một cách phi chính thức. Nghĩa là một môi trường giáo dục tốt sẽ góp phần đắc lực tạo ra những nhân cách nơi các công dân tương lai của xã hội tốt, ngược lại, một môi trường giáo dục mà học sinh được yêu cầu đóng vai trong những vở kịch gian lận bên cạnh chính các thầy cô giáo của mình, thì tất yếu, những điều như thế sẽ góp phần thiết kế nên nhân cách của học sinh.  Môi trường giáo dục không chỉ là góp phần tạo ra nhân cách của cá nhân một học sinh mà còn tạo ra nhân cách của nhiều thế hệ, tạo ra tập tính cả của một xã hội. Nếu nhân cách của một cá nhân sẽ quyết định vị thế, số phận của cá nhân đó, thì tập tính của một dân tộc sẽ quyết định vị thế và số phận của dân tộc đó.  Nói như thế để biết sự kiện “Đồi Ngô” nguy hiểm cỡ nào, bởi sự kiện này không còn là chuyện cá nhân mà đã trở thành một hiện tượng tập thể, không chỉ là tập thể tại hội đồng thi Đồi Ngô mà có lẽ đã là chuyện của toàn hệ thống giáo dục. Sự nguy hiểm ở đây không phải liên quan đến kết quả của một kỳ thi, nhưng liên quan đến tương lai cả của một dân tộc. Nền giáo dục của một quốc gia mà sự gian dối tiêu cực đã tồn tại một cách có tổ chức, có tính tập thể như thế, thì tương lai của quốc gia đó thế nào?   Mong các vị lãnh đạo hãy nghiêm túc suy ngẫm về câu hỏi này nếu thực lòng muốn “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, chứ không chỉ biết thanh tra hội đồng thi Đồi Ngô, hay tệ hơn nữa là nghĩ đến chuyện kỷ luật em học sinh đã can đảm quay lại các clip video gian lận.   ——————–  1. Xem clip video: http://abclocal.go.com/wabc/story? section=news/lifestyle&id=8690897    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những dấu hiệu của một hệ thống giáo dục tốt      Chúng ta hãy thử cùng nhau điểm xem đâu là những dấu hiệu của một nền giáo dục tốt, để rồi từ đó rút ra các kết luận về việc các nước phải cải cách hệ thống giáo dục theo những hướng nào cho tốt lên.      Giáo dục cần truyền đạt những giá trị tốt đẹp tới học sinh. Ảnh: vietnamnet.vn.  Giáo viên có lương cao và trình độ cao  Nếu như giáo dục đúng là quốc sách thì nhà giáo phải được coi trọng. Sự coi trọng này trước hết thể hiện qua việc các giáo viên có thu nhập cao và trình độ cao. Xin lấy hai ví dụ điển hình là Phần Lan và Hàn Quốc.  Phần Lan thường được coi là nước có nền giáo dục phổ thông tiên tiến nhất thế giới. Thu nhập bình quân của người Phần Lan đứng thứ 16-17 trên thế giới nhưng lương giáo viên của Phần Lan thì đứng thứ 8 trên thế giới, và vào khoảng 42 nghìn USD một năm. Điều đó có nghĩa là, tính cả về tuyệt đối và tương đối, Phần Lan trả lương cho giáo viên cao hơn so với các nước khác 1.  So với Phần Lan thì Hàn Quốc còn ấn tượng hơn nhiều. Nếu cách đây nửa thế kỷ, Hàn Quốc còn lạc hậu ngang với Việt Nam thời đó thì ngày nay Hàn Quốc đã trở thành một nước tiên tiến, thậm chí về nhiều mặt còn hiện đại hơn Pháp.  Ngoài chuyện có thể chế tốt, không bị kìm hãm bởi giáo điều hay tham nhũng như một số nước chậm tiến, điểm đặc biệt khiến cho Hàn Quốc phát triển mạnh chính là sự chú trọng thực sự đến khoa học công nghệ và giáo dục. Điều này thể hiện rất rõ ở mức thu nhập của giáo viên: lương trung bình của giáo viên tại Hàn Quốc đạt 47 nghìn USD một năm, đứng thứ 5 trên thế giới, trong khi thu nhập bình quân của Hàn Quốc vào khoảng 30 nghìn USD một năm, mới chỉ đứng thứ 24 trên thế giới.  Nếu so sánh tương đối, thì ở Hàn Quốc các giáo viên có lương bằng khoảng 1,3 lần lương của những người có trình độ học vấn tương đương, trong khi trên thế giới (và ngay cả ở Phần Lan) tỷ lệ này là dưới 12.  Khi các giáo viên sống được đàng hoàng bằng nghề của mình, không phải lo cái ăn suốt ngày, thì mới có thể tập trung vào chuyên môn, mới có được nhiều thời gian quan tâm đến học sinh, và mới dễ vui vẻ, hạnh phúc, truyền được lại cái hạnh phúc đó cho học sinh.  Minh bạch, không tham nhũng  Không phải vô cớ mà những nước phồn vinh nhất trên thế giới cũng là những nước minh bạch, ít tham nhũng. Đối với giáo dục cũng vậy. Ví dụ, nếu một giáo viên trẻ phải mất 500 triệu VND tiền tham nhũng mới được một chân biên chế với mức lương 30 triệu một năm (bằng cả 17 năm lương!), thì thử hỏi giáo viên đó có còn tiền để sống, để đầu tư vào bản thân, vào việc nâng cấp chuyên môn không, hay là mất nhiều thời gian hơn vào việc bươn chải kiếm sống, hoặc tệ hơn nữa là tìm các cách làm tiền không tử tế.  Như một vòng luẩn quẩn, sự tham nhũng của ngành giáo dục tạo ra xu hướng tham nhũng trong giáo viên, rồi trong từng học sinh, và khi các học sinh này trưởng thành đã quen với thói tham nhũng sẽ tiếp tục giữ xã hội trong trạng thái tham nhũng, khó tiến bộ.  Để xóa tham nhũng trong xã hội, một điểm cần chú trọng làm trước là xóa tham nhũng trong ngành giáo dục, đặc biệt là ở các cấp quản lý, để cho người thầy sống được đàng hoàng chứ không cần tham nhũng, mới truyền đạt được các giá trị tốt đẹp đến học sinh.  Trung thực, không gian dối  Ở các nước tiên tiến, sự trung thực rất được đề cao trong giáo dục. Các hành động gian dối như đạo văn và quay cóp được coi là những tội rất nặng, bị cả xã hội lên án, và có thể dẫn đến đình chỉ học tập ngay lập tức. Các sinh viên có thể cầm bài về nhà làm với lời hứa là sẽ tự làm và họ giữ đúng lời hứa không nhờ ai làm hộ.  Những nền giáo dục trung thực như vậy tạo ra những con người trung thực, đáng tin, có thể tin tưởng nhau trong công việc và ở ngoài xã hội, và đó là biểu hiện của văn minh. Ví dụ như ở Thụy Sĩ, có những quầy bán báo không có người đứng quầy, ai mua thì tự trả tiền vào hộp và tự lấy báo, như thế tiết kiệm được sức lao động, nhưng hệ thống như vậy chỉ hoạt động được khi mọi người đều trung thực.  Ngược lại với trung thực là gian dối, và nhiều khi người gian dối nhất chính là các nhà quản lý và các giáo viên “đầu têu” cho cấp dưới và học trò của mình gian dối nhằm đạt thành tích giả.  Tôi còn nhớ, khi còn bé đi học lớp vẽ ở câu lạc bộ thiếu nhi, vẽ tranh dự thi, được thầy giáo dặn là khai giảm đi một tuổi. Có thể là thầy làm thế với ý tốt, và tất cả những người khác cũng làm như vậy. Việc khai giảm tuổi của những cầu thủ bóng đá nổi tiếng ở Việt Nam chắc cũng chẳng phải do các cầu thủ đó tự nghĩ ra, mà do các ông bầu, bởi luật bất thành văn lâu nay người ta vẫn làm thế. Nhưng nếu xã hội cứ có thói quen “nói vậy mà không phải vậy” ở tất cả mọi chỗ thì về sau thật khó phân biệt thật giả, và hệ quả là đồ giả đánh bại đồ thật.  Căn bệnh hám thành tích giả và căn bệnh gian dối đi liền với nhau. Để giảm gian dối, cần loại bỏ được gốc của các thành tích giả, và áp dụng các công nghệ, quy trình kiểm tra hiện đại khiến cho học sinh có muốn cũng khó gian dối hơn.  Khai phóng, không giáo điều  Đối với nhiều học sinh trên thế giới, môn lịch sử là môn rất thú vị. Bởi học sinh ngoài việc nghe giảng, đọc sách, còn được đi tham quan các hiện vật khảo cổ, được tranh luận tự do. Và các sách học lịch sử, ví dụ như của Pháp, viết tương đối khách quan, có nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều, nhiều quan điểm, có chỉ ra những lỗi lầm của cả chính nước mình.  Ở nơi có quá nhiều khuôn mẫu, giáo điều, học sinh không được phép sáng tạo, không được phép viết theo ý của mình, kể cả khi làm văn. Hệ quả tất yếu là sẽ tạo ra những thế hệ người thụ động, mất khả năng sáng tạo và tự suy nghĩ phải trái cho mình.  Không bỏ rơi con nhà nghèo  Ngày xưa, Nhật Bản cũng là nước nghèo, nhiều gia đình không đủ ăn, và chính phủ đã cấp sữa uống miễn phí ở trường học cho trẻ em, để đứa trẻ nào cũng có điều kiện ăn học. Ngày nay, Nhật Bản đã là một nước tiên tiến phồn vinh, nhưng trẻ em của các gia đình khó khăn vẫn được ăn trưa miễn phí ở trường3.  Khi chính phủ trợ cấp cho học sinh nghèo, tiền đó có thể coi là khoản đầu tư có hiệu quả, tạo ra những con người phát triển tốt hơn, đóng góp được cho xã hội nhiều hơn sau này, thay vì là nếu không được học hành, họ sẽ mãi mãi sống trong nghèo đói và cũng không đem lại được nhiều giá trị cho xã hội.  Tất nhiên các trường tư thì phải thu học phí để có tiền chi tiêu. Nhưng ngay cả các trường tư tốt ở những nước tư bản giàu như Mỹ cũng dành các suất học miễn học phí cho con em các gia đình nghèo mà có chí hướng học tập. Đó là biểu hiện của một nền giáo dục tốt.  Nhưng ở nơi nào mà người ta thương mại hóa các trường công, thu học phí cao khiến cho con nhà nghèo không thể vào học được dù nhà gần và có học lực tốt, thì đó là làm ngược lại với chính sách “không bỏ rơi con nhà nghèo”, và là biểu hiện của một nền giáo dục xuống cấp.  Thi cử đơn giản và hiệu quả  Việc kiểm tra kiến thức, hoặc thi tuyển chọn (khi số suất có ít mà số ứng cử viên lại nhiều) là cần thiết.  Nhưng một hệ thống giáo dục tốt sẽ làm sao cho những việc đó không gây tốn kém quá nhiều về thời gian và tiền của, cho cả học sinh lẫn nhà giáo. Một số ví dụ: Ở cấp tiểu học đã cần gì chấm điểm phức tạp, thay vào đó chỉ nhận xét “đã nắm vững kiến thức”, “đang nắm”, “còn chưa nắm được” là đủ.  – Ngay cả đối với sinh viên đại học, những điểm kiểm tra chính xác tới 0,25 hầu hết cũng không cần thiết, mà chỉ cần biết ở mức “nắm tốt, khá, tạm được, yếu” là đủ. Theo nghĩa này, hệ thống chấm điểm của Nga (chỉ có 4 mức điểm: 2 = trượt, 3 = đỗ trung bình, 4 = khá, 5 = giỏi) là hệ thống hiệu quả.  – Chỉ có ở những kỳ thi học sinh giỏi hoặc tuyển chọn, nơi mà hơn kém nhau chút xíu là đã phân biệt có được giải hay được chọn hay không, mới cần chấm thật chính xác li ti.  Tôn trọng, khích lệ và rèn giũa học sinh  Hiện tượng giáo viên dùng bạo lực, nhục hình với học sinh (đánh, nhốt, v.v.) vẫn còn xảy ra ở một số nơi trên thế giới, và đó là một biểu hiện của sự phản giáo dục, dù cho các giáo viên (hay phụ huynh học sinh) có làm thế với mục đích tốt chứ không có ý xấu. Bởi vì, từ quan điểm hiện đại, học sinh cũng là con người, và mỗi con người đều có phẩm giá thiêng liêng bất khả xâm phạm, cần được tôn trọng.  Có những vị giáo sư thóa mạ sinh viên thậm tệ, ví dụ như viết vào bài kiểm tra làm không tốt những câu bình luận “anh là mối nguy hiểm cho xã hội, chị đi học làm gì cho phí cơm”. Đây cũng là một kiểu bạo lực, bạo lực về tinh thần.  Tôn trọng trẻ em (và sinh viên), không đánh trẻ em, không chì chiết thóa mạ trẻ em, không có nghĩa là bất lực không rèn được trẻ em, mà chỉ có nghĩa là các nhà giáo và các cha mẹ cần động não nhiều hơn, tìm ra các hình thức rèn giũa trẻ em không bạo lực mà hiệu quả hơn.  Không bạo lực không có nghĩa là mềm yếu. Không bạo lực nhưng vẫn có thể kiên quyết, cứng rắn, thể hiện thái độ rõ ràng, rèn học sinh vào kỷ luật, trong khi vẫn tỏ ra tôn trọng và yêu mến học sinh. Trẻ em vừa cần được tôn trọng và khích lệ, và vừa cần được rèn giũa.  Có nhiều lựa chọn cho học sinh  Một hệ thống giáo dục tốt phải có nhiều lựa chọn về chương trình khác nhau cho nhiều loại học sinh khác nhau, chứ không chỉ có mỗi một chương trình chung bắt tất cả phải “gọt chân cho vừa giày”. Ví dụ như việc phân ban ở PTTH là một biểu hiện tốt để học sinh có lựa chọn ban nào phù hợp với mình nhất (và tất nhiên có thể chuyển từ ban này sang ban khác nếu thấy ban khác hợp hơn).  Việc có các chương trình thích ứng với hoàn cảnh của các học sinh ở miền núi, khác với chương trình cho học sinh ở thành thị, cũng là một điều cần thiết đối với một hệ thống giáo dục tốt, trong khi điều kiện ở miền núi quá khác xa so với điều kiện ở thành thị. Và những học sinh có năng khiếu đặc biệt có chương trình đặc biệt để phát triển năng khiếu, cũng là dấu hiệu của một hệ thống giáo dục tốt nên cấm các trường năng khiếu sẽ là chính sách giáo dục tồi.  Ngay đối với sách giáo khoa, việc có nhiều bộ sách khác nhau để học sinh và giáo viên có thể lựa chọn bộ nào thích hợp với mình nhất cũng là biểu hiện của một nền giáo dục tốt. Nếu các sách giáo khoa bị độc quyền, có mỗi một bộ, không có gì để chọn, thì dù cho bộ đó có hay mấy cũng không thể thích hợp với toàn bộ các học sinh, và hơn nữa sự độc quyền thường kéo theo trì trệ, khó có chất lượng cao.  Chú trọng cả tinh thần và thể chất  Một bộ óc dù có thông minh đến mấy nhưng đặt trong một cơ thể ốm yếu dễ mệt mỏi thì cũng khó có sức để làm được nhiều điều hay ho. Bởi vậy, thể chất quan trọng không kém gì tinh thần, và học sinh cần được tạo điều kiện, tạo thói quen rèn luyện sức khỏe từ bé, để lớn lên có cuộc sống khỏe mạnh ít bệnh tật, vui vẻ và hữu ích.  Trẻ em bình thường nói chung là ham hoạt động, và chỉ lười biếng đi khi không được khuyến khích và không có điều kiện để hoạt động, lâu ngày mất dần thói quen. Các trường học trong một hệ thống giáo dục tốt sẽ có sân chơi rộng, phòng tập thể dục thể thao, v.v. Ở Pháp, tất cả các học sinh đều được trường cho học bơi, và đây là một điểm hay của nền giáo dục Pháp.  Nếu như ở trường không có nhiều điều kiện cho các học sinh luyện tập thể thao, thì các gia đình cần tự cho con mình đi tập thể thao ngoài giờ để bù vào.  Kết hợp hài hoà giữa ở trường và ở nhà  Hầu hết các kiến thức học ở trường, với sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy cô và thảo luận cùng bạn bè, là những kiến thức bổ ích mà học ở trường hiệu quả hơn nhiều so với tự học ở nhà không có người hướng dẫn. Nhưng cũng có những kiến thức, kỹ năng quan trọng mà ở trường ít có điều kiện dạy, cần được học ở nhà hay học ngoại khóa ở nơi khác, ví dụ như nấu ăn hay chơi đàn.  Bởi vậy một nền giáo dục tốt sẽ kết hợp hài hòa giữa học ở trường và học ở nhà: trường đảm bảo những cái gì mà học ở trường là hiệu quả nhất, những cái còn lại là học ở nhà hoặc học ngoại khóa.  Cũng chính vì vậy, trẻ em cần nhiều thời gian dành cho những thứ khác so với những thứ học ở trường: các môn nghệ thuật, thể thao ngoại khóa, nấu nướng, tự phục vụ bản thân, v.v. Và như vậy, ở trường không nên giao quá nhiều bài về nhà cho học sinh, và học sinh cũng không nên mất quá nhiều thời gian vào việc đi học thêm (những thứ về nguyên tắc phải được học ở trường), mà nên dành thời gian cho các hoạt động vui chơi và học tập khác mà nếu chỉ học theo chương trình ở trường thôi thì sẽ bị thiếu.  Liên tục đổi mới và nâng cấp chất lượng  Quá trình đổi mới của một hệ thống giáo dục tốt là một quá trình liên tục và hài hòa, thay dần những công nghệ, quy trình, sản phẩm, cách thức cũ bằng những cái mới tốt hơn, chứ không phải là một quá trình giật cục lâu lâu lại “đại cải cách” một lần.  Ví dụ như sách giáo khoa, trong một hệ thống giáo dục tốt thì mỗi năm sách lại được chỉnh sửa cải tiến một chút, cập nhật số liệu và kiến thức, v.v., chứ không phải là cứ đợi 10 năm mới lại có một đợt cải cách thay đổi toàn bộ.  Các công nghệ mới, thành tựu mới của thế giới cũng cần được liên tục đưa vào hệ thống giáo dục. Ví dụ như, việc sử dụng các công cụ máy tính ngày càng phổ biến, và cần được đưa vào dùng trong nhà trường những thứ hiện đại thay vì những thứ cổ lỗ.  Tất nhiên, việc nâng cấp chất lượng liên tục này bao gồm cả việc tăng thu nhập cho giáo viên, và việc nâng cao trình độ giáo viên qua các khóa học.  Cơ chế tốt và người quản lý tử tế  Như chúng ta thấy, có rất nhiều biểu hiện của một nền giáo dục tốt, và các biểu hiện đó có thể được dùng như những cái cột mốc để bám víu vào nhằm đẩy giáo dục đi lên. Nhưng có thực hiện được không, điều này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế và người quản lý tử tế, thực sự có trình độ và tâm huyết, hiểu biết về giáo dục, và cơ chế thích hợp, thì nền giáo dục mới có thể tốt lên được.  ——-  Chú thích:  1. Tham khảo thông tin:  https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_average_wage  https://www.worlddata.info/average-income.php  https://www.theguardian.com/teacher-network/teacher-blog/2014/sep/05/how-the-job-of-a-teacher-compares-around-the-world  2. https://www.brookings.edu/blog/ brown-center-chalkboard/2016/06/20/ teacher-pay-around-the-world/  3. http://www.businessinsider.fr/us/ japans-amazing-school-lunch-program-2017-3/       Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Những điều có thể học từ hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ (Tiếp theo)      Giảng viên đại học ở Mỹ – tuy có được sự tôn trọng tương đối trong xã hội – nhưng nhìn chung vẫn chỉ được coi là một trong các nghề. Họ là người giúp sinh viên suy nghĩ, chứ không phải người áp đặt suy nghĩ; bản thân họ cũng liên tục phải học hỏi, chứ không phải đã vào trường là vĩnh viễn ngồi đó, giảng hết năm này qua năm khác với một giáo trình cũ.    (trong bài viết tôi dùng lẫn hai từ giáo viên và giảng viên. Từ giáo sư tôi cũng dùng để chỉ chung người dạy, chứ không có ý nghĩa chặt chẽ như ở Việt Nam).  Giáo viên là người thày, người bạn, người giúp đỡ.  Mỗi sinh viên được phân một người hướng dẫn (advisor) ngay từ khi vào trường. Giáo sư hướng dẫn có nhiệm vụ giúp sinh viên suy nghĩ và xây dựng lịch học riêng, phù hợp với mong muốn của mình; giới thiệu sinh viên với những giáo sư có chuyên môn trong lĩnh vực mà sinh viên quan tâm; theo dõi quá trình học của sinh viên; giúp tháo gỡ các khó khăn học hành; viết thư giới thiệu khi sinh viên xin học bổng, xin việc… Sinh viên có quyền đổi giáo sư hướng dẫn trong quá trình học, tùy theo nhu cầu ở từng thời điểm. Cá nhân tôi đổi giáo viên hướng dẫn hai lần trước khi tìm được người phù hợp.  Hầu hết các giáo sư trong trường đều rất sẵn lòng gặp mặt, nói chuyện, làm đề tài riêng với sinh viên nếu như lĩnh vực chuyên môn có liên quan. Mỗi lần tôi muốn gặp một giáo sư nào đó để nói chuyện, tôi có thể email hẹn gặp và đến nói chuyện thoải mái. Lấy ví dụ như nếu tôi học về tâm lý trẻ em và có vướng mắc về lịch sử hình thành khái niệm “ấu thơ”, tôi có thể hẹn gặp giáo sư ở khoa sử hoặc khoa nhân chủng học để nói chuyện.  Mỗi giáo sư thường chuyên về một lĩnh vực hẹp nào đó, ngoài việc có kiến thức chung. Vì thế, nhắc đến tên một giáo sư nhất định trong trường là bạn nghĩ chính xác đến lĩnh vực chuyên môn của người đó, ví dụ như bà Tina chuyên về phúc lợi trẻ em, bà Lambert chuyên về chính sách lao động, bà Henly chuyên về cộng đồng, ông Johnson chuyên về HIV/AIDS. Có những sinh viên chuyển từ các bang khác hoặc trường khác tới trường tôi chỉ vì muốn theo học một giáo sư nhất định nào đó. Bên khoa kinh tế của trường tôi chẳng hạn, có một vài giáo sư được giải Nobel vẫn đang giảng dạy và mỗi người chuyên một lĩnh vực nào đó, sinh viên theo họ thành từng trường phái; thậm chí có thể gọi tên và nói X chịu ảnh hưởng của thày Y, A là học trò của giáo sư B.             Kết thúc mỗi học kỳ, sinh viên bao giờ cũng phải có một bản đánh giá kín (không công bố tên sinh viên) với giảng viên mình vừa học trên tất cả các mặt như kiến thức chuyên môn, sự nhiệt tình, việc chuẩn bị bài, việc giảng bài, thái độ với sinh viên, vân vân… Điểm đánh giá của các giảng viên được nhà trường công khai với sinh viên và đầu mỗi học kỳ, khi quyết định chọn học môn nào, các sinh viên thường có thói quen kiểm tra điểm đánh giá của giảng viên đó ở các năm trước. Điều này khiến cho các giảng viên liên tục phải cố gắng về chuyên môn và tận tình với sinh viên.      Việc phong tặng các danh hiệu như Giảng viên xuất sắc, Giảng viên ưu tú hàng năm là do sinh viên đề cử và bầu chọn, chứ không phải do hội đồng giáo viên bầu.          Giảng viên còn là người bạn, là đồng nghiệp với sinh viên và có thể phát triển một quan hệ bền vững cả đời, chứ không chỉ lúc còn trong trường. Ví dụ như lúc tôi học thạc sỹ ở Nebraska, tôi chơi rất thân với một giáo sư người Mỹ; đến mức, tôi thường đến nhà ăn tối, đi chơi xa cùng gia đình bà ấy. Kể cả khi tôi chuyển lên Chicago học tiến sỹ, chúng tôi vẫn email, gọi điện thoại, gửi quà vào các dịp lễ. Tôi cũng vẫn trao đổi về học thuật với các thày giáo cũ trong khoa; vẫn xin thư giới thiệu từ họ và nếu mình có thành công gì, trong khoa các thày cũng vẫn gửi thư chúc mừng. Hầu hết các sinh viên đều xây dựng quan hệ gắn bó với ít nhất một giáo sư nào đó trong trường, nếu là giáo sư hướng dẫn thì là lý tưởng nhất.  Không có chuyện hối lộ, gian lận giữa sinh viên và giáo viên; phần vì giáo viên được thù lao xứng xáng, phần vì họ rất có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Đa phần họ lựa chọn nghiên cứu và giảng dạy làm sự nghiệp cả đời của mình và rất toàn tâm toàn ý với lựa chọn này. Có thể thấy là họ rất hạnh phúc vì môi trường học đường luôn có cái mới, có tri thức mới. Khi tôi ở trong ký túc xá của trường Chicago, tôi có quen một ông cụ đã hơn 70 tuổi nhưng ngày nào cũng ăn mặc chỉnh tề, cắp cặp đến lớp để ngồi nghe giảng hoặc nói chuyện với sinh viên. Tôi hỏi thì được biết cụ trước đây là giáo sư trong trường, giờ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn thích trường học nên ngày nào cũng đến. Nhiều giáo sư trường tôi, nhất là các giáo sư giỏi, đã cao tuổi lắm rồi nhưng vẫn lên lớp, vẫn gặp sinh viên hàng ngày và nhanh nhẹn vô cùng.  Giáo viên lên lớp thường có thể ăn mặc thoải mái, giảng bài theo hướng thảo luận và nói chuyện với sinh viên; chấp nhận chất vấn với sinh viên, cười đùa với sinh viên, nhưng cũng có thể gay gắt tranh luận các vấn đề với sinh viên mà không tư thù. Họ không hách dịch, kẻ cả, lấp liếm khi sai. Quan trọng hơn, họ liên tục nâng cao trình độ và liên tục học thêm (từ đồng nghiệp và từ sinh viên), chứ không trì trệ ở một chỗ hết năm này qua năm khác.  Giảng viên cũng phải chịu sự đánh giá trình độ.  Giảng viên đại học ít nhất phải có bằng thạc sỹ; ở các trường lớn thì hầu hết có bằng tiến sỹ mới có thể làm đơn xin vào trường giảng dạy.  Một người muốn xin vào trường giảng dạy thì phải thông qua các bước nộp hồ sơ, phỏng vấn công khai và thuyết trình về các công trình khoa học một cách công khai tại trường (sinh viên được quyền đến xem và cho ý kiến). Nếu được nhận vào, địa vị của họ cũng chưa chắc chắn mà vẫn chỉ là thử việc trong một số năm nhất định, thường ở vị trí giảng viên cấp 1 (còn gọi là giáo sư trợ lý – assistant professor). Trong khoảng thời gian này, họ phải giảng bài, phải nghiên cứu và có công trình nghiên cứu xuất bản trên các tạp chí khoa học. Đến cuối kỳ thử việc, hồ sơ của họ sẽ được một hội đồng độc lập, gồm cả giáo sư trong trường và một hội đồng độc lập, không được công bố ở ngoài trường xem xét và bỏ phiếu kín để quyết định họ có đủ năng lực làm giảng viên không (hội đồng ở bên ngoài thường là các giáo sư có uy tín trong lĩnh vực của người nộp hồ sơ, và ở một trường khác). Nếu được thông qua, giảng viên mới chính thức vào “biên chế” của trường; nhưng điều đó không có nghĩa là họ yên vị vĩnh viễn.  Trong mỗi năm học, để tăng bầu không khí thân mật, nhà trường hoặc khoa thường tổ chức nhiều buổi tiệc, lễ hội… trong đó giảng viên và sinh viên tham gia thoải mái. Ví dụ như trong khoa tôi có ngày hội Sáng tạo để sinh viên và giảng viên đến thể hiện những tài năng thơ, nhạc, họa… bên ngoài nghiên cứu và những thứ hàn lâm trong trường. Vào những dịp như Lễ Hoá Trang (Halloween), các giáo sư thường đến trường trong trang phục hoá trang rất thoải mái. Trường học cũng được trang trí theo không khí từng dịp lễ hội; ví dụ như treo hình đầu lâu xương chéo vào dịp hội hoá trang, có cây thông vào dịp Giáng Sinh… Khu sảnh chính của khoa tôi học có nhiều bàn ghế để sinh viên tụ tập nói chuyện, ăn trưa; đó cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính của khoa.    Phan Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những giấc mơ giáo dục      Những năm gần đây ở nước ta, cải cách giáo dục trở thành vấn đề thường xuyên được nhắc tới, bàn luận. Điều này là dễ hiểu khi giáo dục giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của một quốc gia. Từ đây, nhiều câu chuyện nổi lên về nhà trường – thiết chế cơ bản nhất của hệ thống giáo dục quốc dân. Những câu chuyện giáo dục tôi sắp kể nảy nở giữa những vang âm của nhiều câu chuyện mà tôi được nghe, đọc và gặp gỡ. Chúng vừa bắt vào những diễn tả phổ biến vừa khơi lên đôi dòng cảm hứng về khả thể cho một thực hành giáo dục đẹp đẽ, hướng tới con người. Giao điểm giữa các câu chuyện là việc “giấc mơ giáo dục” đã luôn thực sự tồn tại.      Giáo dục Phần Lan đạt được xuất sắc tất cả các tiêu chuẩn của PISA mà không đi theo quĩ đạo của Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu và logic kinh tế hóa.  1. Giấc mơ Humboldt  Richard David Precht là triết gia, nhà văn, nhà báo đương đại người Đức. Cuốn sách “Vì sao con tôi không thích đến trường?” ra đời năm 2013, và được xuất bản hồi đầu năm nay ở Việt Nam 1 . Mặc dù Precht tập trung vào vấn đề giáo dục–nhà trường ở Đức nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng sự tràn lan của Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu (Global Education Reform Movement – GERM), ta không khó nhận ra hình ảnh của giáo dục–nhà trường Việt Nam: “nhà trường làm hư hoại óc sáng tạo”. Điều này dẫn đến cuộc tranh luận gay gắt dường như diễn ra ở khắp mọi nơi là “Giáo dục cho chính bản thân” hay “Giáo dục phục vụ nền kinh tế”. Precht không đẩy tiếp vấn đề ở thế kỉ 21 mà ngược về ngày 29 tháng Tư năm 1810, ngày một bộ trưởng phụ trách “lĩnh vực văn hóa và giáo dục” ở Đức đệ đơn từ chức vì không hiện thực hóa được chính sách của mình. Đó là “nhà nhân văn chủ nghĩa rất nhạy cảm” Wilhelm von Humboldt (1767-1835). Dự phóng của Humboldt là “tạo điều kiện cho mọi công dân được học hỏi trau dồi văn hóa”. Với ông, một người chỉ trở thành thợ lành nghề khi được đào tạo không chỉ để làm thợ lành nghề. “Trước khi luyện tay nghề cần phải học văn hóa phổ thông để làm người xong đã”. “Văn hóa phổ thông” biểu hiện ở việc “dám nhận trách nhiệm cho mình và cho người khác, dám dấn thân, góp phần tác động và nâng tầm nhìn cao hơn chân trời giới hạn của mình”. Hệ thống nhà trường Humboldt phác thảo không có chấm điểm, xếp hạng.  Giấc mơ Humboldt để lại ba di sản: thứ nhất là cuộc tranh cãi về vấn đề giáo dục hay huấn nghệ?; thứ hai là nêu lên vấn đề nhiệm vụ chính trị của hệ thống giáo dục khi nó tạo điều kiện cho mọi người được học hỏi trau dồi văn hóa và xây dựng những “công dân thực sự hiểu những quy trình thực hiện dân chủ”; thứ ba là vấn đề vai trò nhà trường trong quá trình phát triển nhân cách học sinh. Với Precht, những di sản này rất quan trọng bởi trước hết nó cho ta thấy, giáo dục-nhà trường không phải tổ chức xã hội tự nhiên đến nghiễm nhiên. Nó do con người tạo ra với những mục đích và thiết kế ta có thể hiểu và can thiệp. Khi đặt giấc mơ Humboldt vào giữa lòng hiện tại của nước Đức thế kỉ 21, ông càng nhận thấy tính đương đại của quá khứ. Một mặt, nó phát lộ thực tế soán trị của “thuật ngữ kinh tế học tư bản chủ nghĩa”, thứ đã thâu tóm cách diễn tả, nhìn nhận về giáo dục, đến nỗi, gần như chỉ tồn tại một kiểu xã hội duy nhất – xã hội khai thác hoa lợi (Verwertungsgesellschaft). Mặt khác, theo quan sát của Precht, giấc mơ Humboldt đã bị xé lẻ và một số đề xuất của nhà nhân văn được trưng dụng để tạo ra một nền giáo dục, trớ trêu thay, đối lập hoàn toàn với theo đuổi, ôm ấp đẹp đẽ ban đầu. Mượn lời nhà xã hội học Heinz Bude, Precht tổng kết ba nhiệm vụ của giáo dục xã hội ngày nay: trước tiên, giáo dục phải cho ra kết quả là một ngành nghề cao cấp mang lại danh vọng và tiền bạc; nhiệm vụ thứ hai của giáo dục là hợp thức hóa địa vị xã hội và biện minh cho những cách biệt về mức thu nhập; nhiệm vụ thứ ba là củng cố địa vị xã hội cho thế hệ con cháu (tr 55). Điều này dấy lên nỗi lo âu thực sự vì nó thủ tiêu ý nghĩa đấu tranh chính trị của giáo dục. Hệ quả, người nghèo vươn lên là truyện cổ tích còn người giàu thành công là định mệnh.  2. Giấc mơ Phần Lan  Hằng năm, trẻ em 6-7 tuổi ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới đến trường, bắt đầu những năm tiểu học. Điều quen thuộc này nghĩ lại mà kì lạ; nó không phải là vĩnh hằng mà được sinh ra từ những điều kiện lịch sử nhất định của thời kì hiện đại. Người ta trông cậy rất nhiều vào hệ thống giáo dục quốc gia, muốn nó trở thành chìa khóa vạn năng để giải quyết các vấn đề xã hội. Trong những thập kỉ gần đây, hệ thống này liên tục bị đặt vào tình trạng khủng hoảng. Đây không phải là chuyện của riêng một nước nào. Có những diễn ngôn chung đang điều phối cải cách giáo dục trên phần lớn thế giới. TS. Phùng Hà Thanh, giảng viên bộ môn Đất nước học, Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa các nước nói tiếng Anh, trường ĐH Quốc gia Hà Nội, đã viết trong Lời giới thiệu cho buổi trao đổi “Cải cách giáo dục: Học gì từ Phần Lan?” do chương trình Reading Circle tổ chức hôm 22/4/2017 tại Hà Nội.  Cùng có những bận tâm về GERM trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay như cây bút người Đức Richard David Precht, Phùng Hà Thanh mang đến buổi trao đổi “Giấc mơ Phần Lan”. Khác với “Giấc mơ Humbodlt” mới chỉ tồn tại trong chương trình nghị sự, “Giấc mơ Phần Lan” đã đạt được thành tựu của một hiện thực đáng kể, can dự vào bức tranh giáo dục toàn cầu. Nếu tác giả của “Vì sao con tôi không thích đến trường?” mô tả thảm họa giáo dục Đức dưới sự tác động của các bài thi đánh giá PISA do khối OECD tiến hành: cải cách chạy theo các chỉ báo dựa trên những con số chuẩn hóa sinh ra từ hoạt động thao túng của đo đạc dẫn tới việc xây dựng chương trình nhồi nhét, song, vấn nạn điểm giả vẫn không suy chuyển; thì giáo dục Phần Lan lại đạt được xuất sắc tất cả các tiêu chuẩn của PISA mà không đi theo quĩ đạo của Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu và logic kinh tế hóa. Nói cách khác, người ta có thể “đạt chuẩn” mà không nhất thiết bị gói gọn vào bộ khung của chuẩn.  Hà Thanh kể về giáo dục Phần Lan khác lối khen người chê ta hoặc xác minh tính ưu việt của một hệ thống, phương pháp còn lâu ta mới mơ mòng với tới. Trong hình dung của tôi, chị đang phác thảo những đường hướng người ta thúc đẩy khi tạo dựng đời sống xã hội. Như chị chia sẻ, bài học Phần Lan có giá trị của thực tiễn chứ không hề viển vông. Đó là một khả thể mọc lên từ giữa lòng Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu nhưng đề kháng chính “nạn dịch” ấy. Kết luận này cần cất lên đôi khi chưa hẳn vì nó mới mẻ mà vì nhu cầu “phân phối lại cảm quan”2 – một cảm quan khác với xu hướng biến Phần Lan thành một nhãn mác cho hoạt động đóng gói công nghệ giáo dục rồi tung ra thị trường, khác với tâm lý yếm thế và cạn kiệt đến mức nhất định không tin sự đẹp đẽ có thể diễn ra với mình, gần mình.  Thực tiễn đầu tiên Hà Thanh trình bày là sự hình thành, phát triển của GERM. Nó mang tính lịch sử chứ không phải tự nhiên và bỗng chốc được “nắn dòng”. Theo đó, Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu hiện nay là sự cực đoan hóa các giá trị của chủ nghĩa hiện đại phương Tây cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Qua cả trăm năm, có thể bản chất giáo dục nhà trường chưa có gì biến chuyển, công cuộc cải cách thành ra để củng cố các đặc tính của một hình thái dai dẳng. Như ở “giấc mơ Humboldt”, Precht đã cho thấy cuộc xung đột nằm trong mục đích của hệ thống giáo dục quốc dân diễn ra từ buổi đầu phôi thai giữa một bên nhằm đáp ứng sản xuất với một bên là lý tưởng bình đẳng (ai cũng có cơ hội đến trường và được phát triển thành những công dân tham gia vào nhà nước dân chủ). Song cách người ta thiết kế sự vận hành của nhà trường với kiến trúc không gian – thời gian kiểu ô ngăn; mô phạm hóa việc học; phân chia vai trò, chức năng; kĩ thuật kiểm tra đánh giá rõ ràng đang làm cho mục đích thứ nhất nổi trội. Cả Precht và Hà Thanh đều khẳng định lối xây dựng giáo dục nhà trường như thế là tái hiện logic của công xưởng, nhà máy: học phải đi theo trình tự nhất định nếu muốn đạt được kết quả tối ưu; học được chia thành các gói để đóng thành phẩm gồm kĩ năng, kiến thức, thái độ.  Bước sang thời kì Cải cách giáo dục toàn cầu gắn với chủ nghĩa tân tự do, các đặc điểm trên của nhà trường hiện đại vẫn chưa được phân phối khác đi, thậm chí còn gia tăng. Thêm vào đó, Hà Thanh nhấn mạnh hệ quả thiết lập sự “đồng thuận” (consensus) trên diện rộng: phạm trù kinh tế thống soát cảm quan (sensible) và ăn sâu vào tư duy trực quan (common sense). Ngày nay, ta chứng kiến việc giáo dục được “mã hóa” bằng hệ phạm trù kinh tế mạnh đến mức nào: đầu ra, đầu vào, sản phẩm giáo dục, thị trường giáo dục, kinh tế tri thức… Bộ khung kinh tế định hình cách con người hiểu và được hiểu. Nó dẫn tới hoạt động “qui đổi” ồ ạt con người thành nhiều gói kĩ năng, năng lực có thể đo đạc và cấp chứng chỉ, tất nhiên, cả sàng lọc, phân loại: “Con người không thiết lập mối quan hệ với chính mình mà với các tiêu chuẩn” (Hà Thanh). Kinh nghiệm và quan hệ giữa người với người trở nên nghèo nàn.  Thực tiễn Phần Lan nổi lên cùng triết lý, mục tiêu, thiết kế đi ngược lại GERM. Chính sách của họ là xây dựng môi trường học tốt cho mọi người. Và để hiện thực hóa chính sách ấy, quá trình cải tổ hệ thống giáo dục diễn ra công phu, nghiêm túc, dân chủ trong nhiều năm liền. “Giấc mơ Phần Lan”3 tạo ra “Nghịch lý Phần Lan”4: Dạy ít hơn, Học nhiều hơn; Kiểm tra ít hơn, Học nhiều hơn; Tăng cường công bằng thông qua thúc đẩy đa dạng. Ở Phần Lan, con em dân nhập cư dường như đạt kết quả học tập tốt hơn đáng kể so với con em dân nhập cư ở các nước khác. Ưu thế Phần Lan là giáo viên được trọng vọng và nâng giữ phẩm giá. Điều người ta học được từ Phần Lan là một nền giáo dục ươm gieo những hạt mầm nhân văn, đẹp đẽ: niềm tin, phẩm giá, bình đẳng. Việc mường tượng về những cách làm giáo dục vô hiệu hóa hoặc tạm dừng lại các kĩ thuật đo đạc, gián cách với cuộc đua xếp hạng và “trân trọng kinh nghiệm sống của con người” trải ra mênh mang trong câu chuyện Phần Lan.  Khi đặt hai thực tiễn GERM và Phần Lan cạnh nhau, ta cũng có dịp mở rộng tầm nhìn, cách nghĩ của chúng ta về những điều đang diễn ra. Rằng, thứ GERM tạo nặn dường như chỉ là vị trí bá quyền của chính nó chứ không liên quan gì đến các vấn đề đời sống bày ra. Nó giống như việc các chất hóa học gây ung thư và thuốc chữa ung thư được điều chế ở cùng một tập đoàn. Nơi phát tán dịch bệnh cũng là nơi bán cho ta thuốc chữa và ngăn ngừa. Nỗi sợ hãi, cảm giác bất an sẽ trở thành cảm quan chủ đạo. Ấy là “những nỗi lo sợ, hoảng loạn và biến chứng khác trong một xã hội lấy năng suất làm tiêu chuẩn, chứ không phải từ một nhận định xuất phát từ tình hình thực tế” (Precht).  3. Thay cho lời kết: Câu chuyện về “người thầy không biết” Jacotot  Khi được hỏi tính khả thi của bài học Phần Lan ở Việt Nam, Hà Thanh trả lời “100% áp dụng được” nếu ta mong muốn và dũng cảm. Tôi nghĩ đây không phải câu trả lời chủ quan, duy ý chí. Hà Thanh hiểu sự áp dụng không phải là bê những mô hình khác nhau áp đặt máy móc vào những nơi khác nhau nhưng chị thấm thía giá trị của việc khi người ta thay đổi cách nghĩ, cách nhìn thì đồng thời các thế giới cũng sinh sôi. Hơn nữa, “Giấc mơ Phần Lan” được tạo dựng dựa trên yếu tố cơ bản phi vị lợi: kiên trì với lí tưởng bình đẳng.  Vậy, thực hiện bình đẳng là điều có thể? Tôi xin khơi gợi bằng câu chuyện về “người thầy không biết” Jacotot trong “The ignorant Schoolmaster”, một tác phẩm quan trọng của Jacques Rancière về giáo dục. Năm 1818, Joseph Jacotot (1770 -1840), giảng viên dạy văn học Pháp ở Đại học Louvain, dấn thân vào cuộc phiêu lưu trí tuệ kinh ngạc. Ông, một người không biết tiếng Hà Lan, có thể dạy tiếng Pháp cho những sinh viên Hà Lan không biết tiếng Pháp bằng việc sử dụng một văn bản ngẫu nhiên, một bản in song ngữ Pháp – Hà Lan vở kịch Télémaque. Ông đặt vào tay các sinh viên cuốn sách và thông qua người phiên dịch nói họ đọc một nửa cuốn sách bằng sự hỗ trợ của bản dịch, lặp đi lặp lại cái họ đã học được. Sau đó, đọc nhanh nửa cuốn còn lại rồi viết bằng tiếng Pháp điều họ suy ngẫm về nó. Jacotot gây ngạc nhiên vì những sinh viên của ông dùng tiếng Pháp để diễn đạt bản thân rất tốt. Ông gây ngạc nhiên vì ông giáo dục họ mà không dạy họ bất cứ cái gì. Rancière hình dung đây là hoạt động giáo dục giải phóng khi nó bẻ gãy nguyên lý căn bản của hệ thống giáo dục trong việc tạo dựng quan hệ trí tuệ giữa người dạy và người học: nguyên lý bất bình đẳng. Bất bình đẳng chỉ có thể được xóa bỏ bằng bình đẳng. Bình đẳng không phải là đích đến của một chu trình nào đó. Bình đẳng là khởi sự và “người thầy không biết” biết điều ấy cũng như liên tục xác minh nó.  Các lý do khiến Phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu (GERM) phổ biến bao gồm tính hợp lý thông thường của nó như tăng cường tập trung vào việc học tập, thúc đẩy khả năng tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người và nhấn mạnh vào việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng thực tế. Nhưng dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu giáo dục theo đường hướng phê phán, GERM là thuật ngữ hàm nghĩa tiêu cực. GERM được hình dung như loại virus phát tán và phá hủy những giá trị nhân văn đẹp đẽ của hệ thống giáo dục quốc dân và thay vào đó là thúc đẩy qui chuẩn hóa, đóng gói con người thành những bộ kĩ năng, bằng cấp, chứng chỉ lưu thông trên thị trường giáo dục rộng lớn. Nó tạo ra một thế giới “đồng thuận” theo logic kinh tế, các khả thể khác trở nên vô cùng khó khăn. “…Cải cách giáo dục ở các nước khác nhau cũng diễn ra theo những cách giống nhau… Nó như một bệnh dịch và lây lan giữa các hệ thống giáo dục thông qua một loại virus. Nó lan truyền đến các học giả, truyền thông, và các chính trị gia. Các hệ thống giáo dục vay mượn chính sách của nhau và bị lây nhiễm. Kết quả là, trường học bị mắc bệnh, các thầy cô không cảm thấy khỏe mạnh, và bọn trẻ học được ít hơn,” Pasi Sahlberg, tác giả “Bài học Phần Lan 2.0”, từng viết trong một bài báo trên Washington Post5.  ——-  1Nhã Nam và NXB Tri thức, 2017.  2 Một thuật ngữ do triết gia đương đại người Pháp Jacques Rancière (1940) đề xuất.  3, 4Lần lượt là các chương sách trong “Bài học Phần Lan 2.0” của Pasi Sahlberg.  5 https://www.washingtonpost.com/ blogs/answer-sheet/post/how-germ-is-infecting-schools-around-the-world/2012/06/29/gJQAVELZAW_blog.html?utm_term=.a89c2c5bccee.          Author                Ngô Thị Thanh        
__label__tiasang Những hồi ức về toán học của một đất nước thời đang bị cấm vận      (Tiếp theo số 6 và hết)    Koblitz: GS có thể tóm tắt ưu khuyết điểm toán học Việt Nam hiện nay, đặc biệt ở Viện Toán học?  GS Hoàng Tụy: Trước tiên, chúng tôi có truyền thống trong giải tích, kể cả giải tích cổ điển, giải tích hàm, phương trình đạo hàm riêng, giải tích lồi và phi tuyến, và tất nhiên là giải tích phức, lĩnh vực của GS Lê Văn Thiêm. Là một cựu học trò của Nevalina, GS Lê Văn Thiêm nổi tiếng về một phương pháp tiên phong giải bài toán ngược trong lý thuyết hàm chỉnh hình và ông đã xây dựng một nhóm nghiên cứu giải tích phức ở Việt Nam.  Nhóm lý thuyết tối ưu là một trong những nhóm mạnh nhất ở viện có những mối quan hệ tốt với nước ngoài và nhiều bài báo trên các tạp chí quốc tế. Công trình của chúng tôi liên quan nhiều đến giải tích phi tuyến. Viện chúng tôi cũng có nhiều nhà nghiên cứu về đại số và hình học đại số, kể cả tô pô đại số và lý thuyết kỳ dị. Trong lý thuyết xác suất chúng tôi có một số chuyên gia giỏi, nhưng họ làm việc cách ly và không làm thành một nhóm mạnh.  Điểm yếu nhất của chúng tôi là toán ứng dụng, đặc biệt trong những lĩnh vực phụ thuộc vào thiết bị, hạ tầng cơ sở và một nền công nghiệp cao, những cái mà chúng tôi không có ở Việt Nam.  Nhưng ông đã chuyển từ giải tích thực sang vận trù học với một niềm tin là nó có thể áp dụng ở Việt Nam. Ông có thất vọng về việc ứng dụng những công trình của ông trong điều kiện Việt Nam?  Từ những ngày đầu chúng tôi đã cố gắng dùng toán để giải các bài toán thực tế. Những năm 1961-1962 bản thân tôi đã nghiên cứu một vấn đề giao thông – quy hoạch lại việc bố trí xe vận tải nhằm làm giảm quãng đường xe đi không tải.  Sau này tôi mới biết rằng chúng tôi đã thử giải bài toán ứng dụng này trước các nhà toán học Xô Viết. Tuy nhiên, một khi họ đã bắt đầu nghiên cứu khoảng 1963, họ đạt được những kết quả tốt hơn rất nhiều so với chúng tôi. Khi chiến tranh xảy ra ở Việt Nam, mọi tiến triển trong việc ứng dụng vận trù học vào thực tế đã dừng lại.  Tôi phải nói rằng khi tôi bắt đầu nghiên cứu vận trù học, trước tiên tôi không vừa lòng với kiểu toán học được sử dụng ở đấy. Cuốn sách quy hoạch tuyến tính đầu tiên tôi đọc không tốt lắm, và chuyên ngành này làm tôi chán nếu so với vẻ đẹp của lý thuyết độ đo mà tính hoàn hảo của nó đã làm tôi hứng thú hơn về mặt thẩm mỹ. Nhưng mà lúc đó tôi còn trẻ và say mê nên tôi có thể chuyển sang hướng mới. Sau khi tôi đến thăm Kantorovich ở Novosibirsk năm 1962, nơi mà tôi đã báo cáo về công trình nghiên cứu bài toán vận tải phi tuyến, tôi tin tưởng hơn lúc nào hết về sự cần thiết phải chuyển hoàn toàn sang ngành mới. Bắt đầu từ năm 1962 tôi không còn nghiên cứu giải tích thực nữa.  Công việc nghiên cứu tối ưu của ông đã tiến triển nhanh như thế nào?  Năm 1964, khi tôi trở lại viện của Kantorovich, tôi đã có thể báo cáo về những kết quả quan trọng hơn rất nhiều về cực tiểu lõm. Đó là công trình đầu tiên của tôi có ảnh hưởng quan trọng đến chuyên ngành và đem lại cho tôi uy tín quốc tế.  Thế nào là cực tiểu lõm và tầm quan trọng của nó ?  Vâng. Trước kia, mọi người nghiên cứu rất nhiều bài toán cực tiểu một hàm lồi trên một tập lồi. Ở đấy chỉ cần sử dụng các điều kiện địa phương và do đó có thể áp dụng các kỹ thuật giải tích thông thường. Việc nghiên cứu bài toán vận tải đã cho tôi thấy tầm quan trọng của bài toán lõm tương tự, nhưng bài toán này khó hơn.  Ta hãy xét một minh họa đơn giản. Sử dụng các phương pháp trước đó về bài toán vận tải, người ta phải giả thiết chi phí là một hàm lồi theo quãng đường, có nghĩa là chi phí trên từng cây số tăng lên cùng với quãng đường đã đi. Điều này thuận tiện về mặt toán học, nhưng không phản ánh thực tế. Trong thực tiễn, có một chi phí cố định và một chi phí phụ giảm theo quãng đường.  Nhưng cực tiểu lõm khó nghiên cứu hơn?  Đúng thế. Ngày nay chúng ta gọi đấy là một bài toán khó NP. Những năm đầu 60 chúng ta chưa có những khái niệm chính xác như vậy. Nhưng Dantzig và những người khác đã thấy đây là một bài toán thực sự khó.  Ông giải quyết bài toán này như thế nào?  Tôi đề xuất một dạng nhát cắt mới. Các nhát cắt được Gomory đưa ra trong quy hoạch nguyên trong những năm 50. Sau đó chúng cũng được sử dụng trong quy hoạch lồi. Năm 1964 tôi đề xuất một dạng cắt mới cho phép ta xây dựng một thuất toán cực tiểu lõm.  Nhưng ông đã nói là ông không tiếp tục được việc nghiên cứu mặt ứng dụng của công trình này?  Vâng, rất tiếc là như vậy. Sau khi tôi đưa ra dạng cắt này và xây dựng một phương pháp giải bài toán cực tiểu lõm, bước tiếp theo là việc thử nghiệm các thuật toán trên máy tính và tìm cách cải tiến chúng. Nhưng chúng tôi không có những khả năng này ở Việt Nam. Ngay sau đấy chúng tôi đi sơ tán, và tôi phải đưa ra khỏi đầu mọi ý tưởng lập trình thuật toán. Như một điều tất yếu, tôi nghiên cứu các khía cạnh trừu tượng hơn, cụ thể là lý thuyết tổng quát. Vì vậy, những kết quả tiếp theo của tôi là về các bất phương trình lồi và định lý Hahn-Banach. Một trong những kết quả này có lúc còn được gọi là “điều kiện không tương thích của Tuy”.  Phải tốn bao nhiêu lâu thì phương Tây mới biết đến công trình của ông ?  Trong những năm đó tôi hầu như không có quan hệ với phương Tây. Mãi đến năm 1972 khi tôi gặp V. Klee lần đầu tiên ở Warssaw, ông ta cho tôi biết rằng nhiều người bên Mỹ quan tâm đên bài báo năm 1964 của tôi.  Rất nhiều năm nhát cắt của tôi được biết đến dưới cái tên “Nhát cắt Tui”. Lý do viết vần sai tên tôi nằm ở chỗ bài báo của tôi công bố bằng tiếng Nga với tên tôi là “Tyu” theo chữ Nga. Nó được dịch sang tiếng Anh theo cách phiên dịch của Hội Toán học Mỹ như thể tôi là một nhà toán học Liên Xô. Người đầu tiên sửa chữa lỗi này là Egon Balas, một người Rumani nhập cư sang Mỹ, hiện đang làm việc ở Đại học Carnegie-Mellon ở Pittsburgh. Trong một bài báo năm 1971 ông ta nói tôi là một nhà toán học Bắc Việt Nam và lần đầu tiên viết đúng tên tôi.  Ông nhắc đến một chuyến thăm Ba Lan. Ông đi nước ngoài được bao nhiêu lần trong những năm chiến tranh ?  Năm 1966 tôi dự Đại hội toán học thế giới ở Moscow. Năm sau đấy tôi đến Liên bang Xô viết một thời gian ngắn với tư cách thành viên một phái đoàn của Ủy ban nhà nước về khoa học và công nghệ. Nhưng dịp đi nước ngoài tiếp theo xảy ra mãi năm 1972, khi J. Los mời tôi đến Ba Lan 3 tháng. Ông ta tổ chức một học kỳ về toán kinh tế giống như những chương trình về các ngành toán học khác được tổ chức sau này ở Trung tâm Banach.  Trong chuyến đi Ba Lan đó lần đầu tiên tôi báo cáo bằng tiếng Anh. Khi đấy tôi có ít kinh nghiệm với ngoại ngữ này. Tôi nhớ rằng sau buổi báo cáo bằng tiếng Anh đầu tiên, một thính giả đến nói với tôi rằng “Qua báo cáo tôi có thể đoán ông nói tiếng Pháp rất tốt”.  Mối quan hệ với các nhà toán học phương Tây phát triển như thế nào? Bao nhiêu người đến thăm Việt Nam?  Trong chiến tranh chúng tôi chỉ có một số ít khách. Ngoài Grothendieck có Davis Chandler từ Canada và Laurent Schwartz, Martineau, Malgrrange, Chenciner từ Pháp. Sau đấy trong những năm 70 và đầu những năm 80 có nhiều nhà toán học đến từ Pháp: Tatar, Puel, Dacunha-Castelle, Amice và những Việt kiều như Frederic Pham, Lê Dũng Tráng và Bùi Trọng Liễu. Nhà thống kê Klaus Krickeberg có mối liên hệ thường xuyên với viện tôi: ông ấy học cả ngôn ngữ chúng tôi và giảng bài bằng tiếng Việt. Pierre Cartier đã đến thăm chúng tôi nhiều lần. Chúng tôi cũng có khách từ những nước khác như J-E. Bjork từ Thụy Điển và K. Saito từ Nhật. Nhưng theo truyền thống trong các nước phương Tây chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ nhất với Pháp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mối quan hệ với Pháp có vẻ giảm đi một chút.  Tại sao?  Một phần có thể vì lý do tài chính. Bên cạnh đó, một vài người ở cả Pháp và Việt Nam cảm thấy toán học bây giờ đang ở trong tình trạng tốt và nên quan tâm hơn đến những ngành khác, đặc biệt là các khoa học ứng dụng. Tôi còn có cảm tưởng rằng chính phủ Pháp đã chuyển mối quan tâm của họ sang các nước châu Phi nhiều hơn.  Nhưng trong một vài năm gần đây, mối quan hệ của chúng tôi với một số nước khác như Tây Đức và Nhật Bản đã tăng lên đáng kể. Chúng tôi cũng thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà toán học ở Mỹ, Thụy Điển, Anh, Italia. Chẳng hạn như chúng tôi thường xuyên trao đổi tạp chí với Hội Toán học Italia.  Có vẻ như có các nhà toán học trẻ Việt Nam đi thăm phương Tây và Nhật nhiều hơn trước đây, điều này có đúng không?  Đúng thế, chúng tôi tự hào về việc nhiều nhà nghiên cứu trẻ của chúng tôi nhận được học bổng nghiên cứu ở nước ngoài. Ví dụ như trong hai năm gần đây có 8-10 người được học bổng Humboldt sang nghiên cứu tại Đức, và Hội đồng hỗ trợ khoa học Nhật đã trao cho chúng tôi nhiều học bổng. Tại Viện Toán học chúng tôi luôn tìm cách tận dụng các cơ hội của những quỹ như vậy. Ở đây không có những thỏa thuận đặc biệt, không có những hiệp định song phương với Việt Nam. Các học bổng đều có tính cạnh tranh cao, và người của chúng tôi phải làm đơn xin như những người khác. Như vậy, đây thực sự là một sự hợp tác hơn là một sự giúp đỡ một chiều. Chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi cũng đóng góp cho cộng đồng toán học quốc tế cùng lúc với sự giúp đỡ của họ.  Tất nhiên là những sự giúp đỡ như vậy sẽ tiếp tục cần thiết trong nhiều năm và chúng tôi luôn luôn chào đón những thoả thuận đặc biệt với các chính phủ và cơ quan khác nhau của các nước phát triển, đặc biệt là từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Nhưng việc tăng cường sử dụng các kênh trao đổi thông thường với phương Tây và Nhật như học bổng tiến sĩ, giáo sư thỉnh giảng là một sự phát triển đáng khích lệ. Tôi rất hài lòng thấy nhiều đồng nghiệp trẻ của tôi đã trở thành những nhà toán học có tên tuổi với những mối quan hệ quốc tế thông thường. Điều này cũng giúp giảm bớt những vấn đề vật chất đang đè nặng lên viện.  Như thế nào?  Chẳng hạn, nếu một thành viên đi nước ngoài, anh ta có lương và có thể tiết kiệm được một khoản tiền tương đối. Cái này giúp giải quyết việc chi tiêu trong gia đình khi trở về và do đó anh ta có thể sống mà không cần đi làm thêm. Ngoài ra, một phần nhỏ tiền tiết kiệm được ở nước ngoài thường được biếu cho viện.  Một loại thuế?  Không phải, đây không giống như thuế nhà nước. Nó không chính thức mà gần như mang tính chất tự nguyện thuần tuý. Tôi có thể hài lòng nói rằng phần lớn các đồng nghiệp ở viện chúng tôi đều sẵn sàng đóng góp. Tất cả chúng tôi hiểu rằng sự hỗ trợ tài chính của nhà nước không đủ để duy trì ngay cả sự hoạt động bình thường của viện, chứ chưa nói đến những nhu cầu ngày càng tăng của chúng tôi. Ví dụ như chúng tôi mới mua hai máy tính cá nhân và một máy photocopy từ Thái Lan (máy copy đầu tiên của chúng tôi do ông Ed Cooperman đã quá cố của Ủy ban Mỹ hợp tác khoa học với Việt Nam tặng), và chúng tôi cần tiếp tục mua mực in, phụ kiện và phụ tùng thay thế. Điều này sẽ không thực hiện được nếu không có sự đóng góp của các cán bộ của viện trở về từ những chuyến đi công tác ở nước ngoài.  Trong mười năm Ủy ban Mỹ hợp tác khoa học với Việt Nam thu xếp cho các nhà khoa học Việt Nam sang thăm Mỹ – có khoảng 200 chuyến đi như vậy – chúng tôi chưa từng có một trường hợp nào mà một nhà khoa học quyết định không quay trở về. Khi tôi kể chuyện này cho người ở các nước đang phát triển khác, họ đều ngạc nhiên, đặc biệt nếu họ để ý đến sự khác biệt khổng lồ về điều kiện vật chất giữa những nhà khoa học Mỹ và Việt Nam. Tại sao không có sự đào ngũ của những người được đi?  Phần lớn các nhà khoa học Việt Nam cho rằng việc đi nước ngoài là cần thiết cho nghiên cứu của họ. Nhưng cái gì chúng tôi có thể làm tốt nhất luôn luôn ở trong nước chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi vui mừng khi có khả năng ở nước ngoài một thời gian dài. Nhưng mặt khác, trong quan hệ con người chúng tôi chỉ thật sự hạnh phúc khi ở Việt Nam.  Về hợp tác quốc tế, mối liên lạc với các nước Đông Nam Á và với Ấn Độ có quy mô như thế nào?  Chúng tôi đang tìm cách phát triển mối quan hệ với Ấn Độ và các nước láng giềng. Ở đây có một tình huống mâu thuẫn. Một mặt tất yếu là nên phát triển sự hợp tác với các nước láng giềng trước tiên. Tuy nhiên, phần lớn các nước này đều rất nghèo và rất khó tìm tài trợ cho các hoạt động chung.  Chúng tôi có một số quan hệ với Singapore. Năm 1978, khi tôi gặp Lê Peng Yee, chúng tôi thống nhất là nên phát triển sự hợp tác. Cách đây vài năm, một nhà toán học trẻ của viện chúng tôi đã sang thăm Singapore. Năm 1979 có một hội nghị của các nhà toán học Đông Nam Á ở Singapore. Nó được tài trợ bởi Hội toán học Đông Nam Á và chính phủ Pháp, và Laurent Schwartz đã thu xếp với Đại sứ quán Pháp tài trợ sự tham dự của Việt Nam.  Nhìn chung, dịp duy nhất chúng tôi gặp các nhà toán học trong vùng là ở các hội nghị quốc tế. Tôi phải nói rằng tôi không lạc quan lắm về việc cải thiện tình hình này trong những năm tới. Ở đây tôi không quan tâm đến khía cạnh chính trị mà về khía cạnh tài chính: không chỉ có chính phủ Việt Nam mà chính phủ các nước láng giềng cũng không sẵn sàng chi tiền cho sự hợp tác này. Ở các nước phát triển tồn tại các điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều: nếu họ mời chúng tôi, họ trả tiền đi lại và mọi chi tiêu. Trong một vài trường hợp – đặc biệt ở Đức, Pháp và Nhật-chính phủ còn hỗ trợ tiền đi lại cho các nhà toán học của họ đến Việt Nam.  Ngay cả đối với Ấn Độ chúng tôi cũng gặp khó khăn. Hai nước chúng tôi có hợp tác trong ứng dụng khoa học-nông nghiệp và y học-nhưng rất ít trong các lĩnh vực lý thuyết. Mới có hai nhà toán học của chúng tôi đến Ấn Độ, nhưng không có nhà toán học Ấn Độ nào đến đây.  Các khó khăn thực tiễn có phải là duy nhất không? Có thể các nhà toán học ở các nước đang phát triển như Việt Nam và Ấn Độ không biết hoặc không quan tâm đến công việc của nhau và coi mối quan hệ với các nước phát triển có thanh thế và giá trị hơn?  Đúng là một nhà toán học ở một nước đang phát triển thường coi trọng việc cộng tác với các nước phát triển. Ví dụ như nếu viện của anh ta có tiền để mời ai đó thì anh ta sẽ thích mời một người phương Tây bởi vì một người khách như vậy có thể giúp mở rộng sự hợp tác với một nước phát triển. Vì vậy, để phát triển mối quan hệ của chúng tôi với những nước như Ấn Độ cần có những nỗ lực đặc biệt. Nếu không có một nguồn tài trợ kinh phí thì quá trình hợp tác sẽ tiến triển rất chậm.  Việt Nam có thể mời chào cái gì cho các nước trong vùng?  Trong nhiều lĩnh vực toán học, ví dụ như trong tối ưu, chúng tôi có một nhóm ở Hà Nội mà theo tôi là mạnh nhất ở châu Á. Chúng tôi có thể đào tạo các ngành này cho nghiên cứu sinh trong vùng. Một khoản tiền tương đối nhỏ, chẳng hạn 200 USD mỗi tháng, đủ cho một sinh viên nước ngoài chi tiêu ở Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng có thể gửi sinh viên đến các nước xung quanh để được đào tạo về các ngành ứng dụng như là thống kê hay lập trình.  Chúng tôi cũng có thể trao đổi giáo sư thỉnh giảng với các nước trong vùng. Tuy nhiên, tôi nghĩ việc trao đổi sinh viên theo quy mô lớn có khả năng thực thi hơn.  Ngô Việt Trung dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hồi ức về toán học của một đất nước thời đang bị cấm vận      (Tiếp theo)    Koblitz: Thưa GS, ông rời trường đại học khi nào?  GS Hoàng Tụy: Vào giữa năm 1968 tôi được mời làm Trưởng ban Toán mới được thành lập ở Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước.  Có phải đó là lúc Viện Toán học được thành lập?  Đúng vậy, ngay sau đó. Viện được quyết định thành lập năm 1969, và bắt đầu hoạt động vào năm 1970 dưới sự lãnh đạo của ông Lê Văn Thiêm. Vào lúc đó viện chỉ có 20 cán bộ và nằm trong tòa nhà của Ủy ban.  Viện Toán cũng đi sơ tán khi bị đánh bom?  Vâng đúng thế, trong khoảng thời gian gần một năm bắt đầu từ giữa năm 1972 chúng tôi bố trí viện ở một chỗ cách Hà Nội khoảng 50-60 km. Nhưng trong thời gian này tôi chỉ ở nơi đó tổng cộng có 1 ngày vì tôi muốn sống ở Hà Nội. Tôi rất lo cho những cuốn sách của tôi. Khi đó căn hộ của tôi bị mối xông nên tôi thấy tôi cần phải lưu tâm bảo vệ sách của tôi.  Vậy là ông vẫn ở Hà Nội ngay cả trong đợt ném bom dịp giáng sinh năm 1972?  Chỉ đến ngày thứ năm. Lúc đầu chỉ có vùng ngoại ô bị đánh bom. Sáng ngày thứ tư thì bom đánh đến trung tâm thành phố: nhà ga xe lửa, bệnh viện Bạch Mai bị trúng bom. Sau đó có lệnh tất cả nhân dân phải rời khỏi thành phố. Thế là tôi đến chỗ vợ tôi đang sơ tán cùng với trường của cô ấy.  Trên đường rời Hà Nội, rất may là tôi nhìn thấy vợ tôi đang đi hướng ngược lại. Cô ấy rất lo lắng về chuyện ném bom và đang về Hà Nội tìm tôi, mặc dù có lệnh đi sơ tán. Vì vậy thật là rất may mắn mà chúng tôi nhìn thấy nhau trên đường đi.  Ngay sau đó tôi nghe đài báo tin ngừng ném bom dịp giáng sinh. Thế là chúng tôi quay về nhà và ở lại đó đêm 25 tháng 12. Sáng sớm ngày 26 chúng tôi rời Hà Nội. Cùng ngày đó phố Khâm thiên bị trúng bom. Rất nhiều người không kịp đi sơ tán đã bị chết. Sau đấy chúng tôi biết tin quán phở mà chúng tôi ăn sáng sớm hôm đó ở đấy đã bị thiêu hủy chỉ vài giờ sau đó.  Có phải mọi người quay trở về Hà Nội ngay sau khi Hiệp định hòa bình được ký kết ngày 27/1/1973 không?  Không, tôi quay về chỉ một vài ngày sau khi ký Hiệp định, nhưng tôi chỉ về một mình. Tôi cần thời gian chuẩn bị cho gia đình trở về sau. Tình cảnh ở Hà Nội rất xấu, và cần có thời gian. Chúng tôi cần một thời kỳ để mọi người quay về dần dần. Hai ba tháng sau Viện Toán mới trở về Hà Nội.  Khi nào thì Viện Toán chuyển đến chỗ hiện nay, trong khuôn viên Viện KH&CN Việt Nam?  Năm 1982. Trước đó, từ 1975-1982 Viện đóng ở một khu chật hẹp trên đường Đội Cấn rất đơn sơ. Đích thân thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thu xếp việc xây dựng một ngôi nhà cho Viện Toán ở Viện KH&CN Việt Nam.  Mối quan tâm cá nhân của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến Viện Toán như thế nào? Lần đầu tiên ông gặp Thủ tướng là khi nào?  Tôi biết sơ qua về Thủ tướng từ những năm 40, khi ông nhiều lần đến thăm trường học của tôi ở Quảng ngãi. Ông là đại diện của chính quyền trung ương Việt Nam ở liên khu năm và liên khu sáu. Sau năm 1960 tôi quen ông hơn. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, ông đến Matxcơva và có đi thăm viện của Kantorovich (ông này đã chuyển từ Novosibia đến Matxcơva).  Kantorovich tặng Thủ tướng Phạm Văn Đồng cuốn sách của mình về các phương pháp tối ưu trong kinh tế. Khi về Hà Nội, Thủ tướng yêu cầu tôi đọc và báo cáo về cuốn sách.  Thời điểm đó rất thuận lợi với tôi. Một số đồng nghiệp Pháp biết tôi nằm trong ban chương trình của một hội nghị được tổ chức ở Budapest vào tháng 8 năm 1976 đã nhân dịp đó mời tôi sang Pháp. Thế nhưng tôi chỉ nhận được giấy mời trước có một tháng, và thời kỳ đó có rất nhiều trở ngại hành chính đối với việc làm thủ tục đi nước ngoài, nhất là sang phương Tây.  Ông có thể cho biết nguyên do tại sao?  Dĩ nhiên là có những khó khăn về tài chính khi sang phương Tây. Ngay cả khi bên mời trả tiền cho tất cả chi phí đi lại và ăn ở thì cũng vẫn cứ khó. Trong chiến tranh và trong những năm  ngay sau khi kết thúc chiến tranh thì phương Tây bị coi như rất xa lạ và nguy hiểm. Quan niệm đó may mắn đã thay đổi và ngày nay chúng tôi không gặp khó khăn gì khi xin phép cho nghiên cứu sinh và các nhà toán học đi sang phương Tây nếu như bên mời chịu các khoản chi phí cho chuyến đi.  Thế Ông thu xếp việc đi Pháp năm 1976 như thế nào?  Đấy là lúc tôi đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng để báo cáo về cuốn sách của Kantorovich. Sau khi báo cáo xong, tôi trình bày với Thủ tướng về lời mời đi Pháp và hỏi tôi có thể đi được không. Ông trả lời “Được, không có vấn đề gì”, và với sự ủng hộ của Thủ tướng tôi đã làm xong mọi thủ tục chỉ trong có một tuần, một thời gian kỷ lục. Chuyến đi Pháp năm 1976 là chuyến đi đầu tiên của tôi sang một nước phương Tây. (Sau đó tôi đi Canada dự hội nghị Montreal về toán quy hoạch năm 1979 và năm 1981 tôi sang Mỹ lần đầu).           GS.Hoàng Tụy và GS.Kantorovich (nhà toán học đoạt giải Nobel kinh tế năm 1975)        Tôi có thể nói rằng trong Chính phủ, ông Phạm Văn Đồng là người có ảnh hưởng và kiên định ủng hộ sự nghiệp phát triển toán học nhất. Năm 1980 ông đến thăm chúng tôi ở phố Đội Cấn. Khi nhìn thấy cơ sở chúng tôi nghèo nàn như thế nào – điều kiện làm việc của tất cả các viện đều xấu, nhưng của chúng tôi còn xấu hơn – Thủ tướng Phạm Văn Đồng hứa sẽ làm một việc gì đó để cải thiện tình hình. Sau này chúng tôi biết rằng ông đã đề nghị Bộ trưởng Bộ Xây dựng xây một cái nhà cho toán học càng sớm càng tốt. Ngôi nhà được xây dựng rất nhanh thời đó – chỉ trong một năm – và bây giờ nó là trụ sở của Viện Toán.  Ông đã từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh?  Hai lần. Năm 1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đại học Hà Nội và dự một số lớp học. Sau khi xem tôi giảng bài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt tay tôi và hỏi một số câu. Lần thứ hai vào tháng 8 năm 1969, chỉ một tháng trước khi Người mất. Khi đó có vấn đề lớn về việc xếp hàng mua bia. Thực ra, nhìn chung ở cửa hàng nào cũng phải xếp hàng dài để mua khẩu phần gạo, quần áo và các thứ hàng khác bởi vì việc sản xuất chúng không đáp ứng được nhu cầu. Nhưng tại việc xếp hàng tại các quầy bia được quan tâm đặc biệt do thường xảy ra tranh chấp, kể cả đánh nhau làm mất trật tự công cộng.  Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần có một cách tiếp cận khoa học nhằm làm giảm việc xếp hàng. Vì vậy Người đề nghị Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước xem xét việc này. Do không thể tăng sản lượng bia, nên vấn đề thuần túy nằm trong khâu tổ chức và do đó là một vấn đề điều khiển tối ưu. Vậy là tôi chủ trì nhóm nghiên cứu vấn đề này.  Lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi với Chính phủ bị lùi lại do Người ốm. Vài ngày sau tôi nhận được điện báo đến Văn phòng Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi không biết tại sao tôi bị triệu tập, và tôi đoán rằng có thể muốn thỏa luận về Viện Toán học mới được thành lập. Tôi nhớ rằng xe của tôi đến nơi chậm, và khi tôi bước vào văn phòng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy nhiều thành viên cao cấp của chính phủ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi “Ồ, tôi thấy anh đến chậm. Nếu đó là cách anh làm vận trù học, thì chương trình này sẽ trở nên vô tích sự”. Tôi xin lỗi và được mời ngồi cạnh Thủ tướng. Chỉ lúc đó tôi mới thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh trong số những người ngồi quanh bàn.  Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó 79 tuổi. Chủ tịch tham dự cuộc thảo luận như thế nào?  Tôi thấy Người rất yếu, nhưng hoàn toàn minh mẫn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhiều câu hỏi và không hài lòng với việc xếp hàng mua bia. Tôi nhớ câu đầu tiên Người hỏi tôi là “Cháu có thể tìm một từ đơn giản hơn vận trù không?  Bản thân bác chưa bao giờ gặp từ này trong tiếng Việt”.  Ông đã nghĩ ra thuật ngữ đó?  Tôi dịch từ tiếng Trung. Anh phải biết rằng vận trù học là một ngành khoa học mới – nó được đưa vào Việt Nam năm 1961. Có một khoảng thời gian dài tôi không thể tìm thấy cho nó một từ hợp nghĩa trong tiếng Việt. Sau đấy tôi quyết định dựa theo từ mà các đồng nghiệp Trung Quốc sử dụng. Điều này hoàn toàn tự nhiên vì tiếng Trung đóng một vai trò quan trọng trong tiếng Việt gần giống như tiếng La Tinh trong tiếng Pháp và tiếng Anh.  Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ rằng thuật ngữ tối nghĩa?  Vâng, Người muốn biết tại sao tôi lại chọn nó. Sau đó, khi tôi đến chào từ biệt, Người hỏi tôi có biết nguồn gốc từ đó không. Tôi không trả lời được, và Chủ tịch Hồ Chí Minh liền kể cho tôi nghe xuất xứ của từ đấy trong văn học Trung Hoa cổ điển. Nó được dùng trong một tác phầm nổi tiếng để mô tả một dạng nghệ thuật phức tạp nào đấy mà nghệ thuật này có lẽ giống với vận trù học. Chủ tịch Hồ Chí Minh thông thạo văn học Trung Hoa – Người còn làm thơ bằng tiếng Trung – và do đó Người có thể giảng cho tôi nguồn gốc từ vận trù mà tôi đem vào tiếng Việt.  Ngẫu nhiên là trong những năm 70 từ vận trù xuất hiện nhiều trong đời thường. Nó trở thành một từ mốt để nói về việc tìm một lời giải tối ưu cho bất kỳ một cái gì.  Ông có thường chịu trách nhiệm nghĩ ra các từ toán học mới trong tiếng Việt không ?  Tôi có tham gia việc này. Trong những năm 1959-1961, là một thành viên của Hội đồng từ ngữ khoa học, tôi đã giúp cho ra đời cuốn từ điển Việt Nam-Anh- Nga đầu tiên về từ ngữ khoa học mà nó có chứa những khái niệm toán học đương đại. Nhưng người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng các từ ngữ khoa học là nhà toán học Hoàng Xuân Hãn, người đã di cư sang Pháp sau khi Pháp chiếm Hà Nội và đã từng là một giáo viên trung học của GS.Lê Văn Thiêm. Ngoài việc là một nhà toán học, GS.Hoàng Xuân Hãn còn là một chuyên gia uyên bác văn học Việt Nam và văn học Trung Hoa. Ở Pháp, ông chuyển mối quan tâm nghiên cứu từ toán sang văn học. Ông ấy bắt đầu xây dựng từ ngữ khoa học từ đầu những năm 1940 cùng với các GS.Nguyễn Xiển và GS.Nguyễn Thúc Hào.  Quay trở lại câu chuyện dùng vận trù học để làm giảm việc xếp hàng mua bia, Hội đồng của ông có làm được điều gì không ?  Có, hai ba tháng sau đấy chúng tôi đề xuất một số kiến nghị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng (Chủ tịch Hồ Chí Minh mất tháng 9 năm 1969). Những kiến nghị của chúng tôi đã được đưa vào thực tiễn và chúng đã góp phần cải thiện tình hình một vài năm sau đó. Nhưng các cuộc ném bom lại tiếp tục đã làm nảy sinh những trở ngại rất lớn về mặt tổ chức, và mọi thứ lại quay trở lại thời kỳ đầu.  Khi ông nói về mối quan hệ của ông với các nhà lãnh đạo và về tầm quan trọng của toán học đối với chính phủ Việt Nam ngay từ thời kỳ Việt Minh, người ta có cảm tưởng rằng toán học có một vị trí đặc biệt trong khoa học ở Việt Nam. Những nhà toán học nào đã đóng góp cho vị trí đó của toán học ở Việt Nam? Họ còn sống không?  Tháng 5 năm 1986 tôi tổ chức một hội nghị ở Hà Nội với sự tham gia của nhiều thế hệ các nhà toán học. Chúng tôi biết GS.Tạ Quang Bửu đang ốm nặng (ông ấy mất ba tháng sau đấy), và đây là dịp để tôn vinh ông và cũng để tập hợp lại lần cuối cùng tất cả các thế hệ toán học ở Việt Nam từ người trẻ nhất đến người già nhất.  Mặc dù GS.Tạ Quang Bửu không có một đóng góp nghiên cứu nào đáng kể trong toán học, ông có mối quan tâm và hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực toán và vật lý. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, và ông là một Bộ trưởng Bộ Đại học xuất sắc. Ông ấy có quan hệ gần gũi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và quan hệ của ông ấy với Laurent Schwartz đã phần nào làm nên mối quan hệ sớm sủa của toán học chúng tôi với Pháp.  Rất nhiều nhân vật quan trọng đối với sự phát triển toán học ở Việt Nam cũng có mặt: GS.Lê Văn Thiêm có một vai trò quyết định và là thần tượng của thế hệ tôi khi chúng tôi còn trẻ. GS.Nguyễn Thúc Hào, người đã dạy tôi khi ở cấp trung học, đã điều hành các lớp học đại học ở Liên khu tư và nhiều người khác nữa.  (Còn nữa)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hồi ức về toán học của một đất nước thời đang bị cấm vận      Bài phỏng vấn GS HOÀNG TỤY được thực hiện năm 1989 bởi GS Neal Koblitz, ĐH Washington ở Seatle, công bố trong Người đưa tin toán học, Số 3, tập 12 năm 1990. Bản dịch của GS. NGÔ VIỆT TRUNG, Viện trưởng Viện Toán.    Koblitz: Khi ra đến đất Bắc, ông có vào học ngay không?  GS Hoàng Tuỵ: Không. Sau chuyến đi đầy khó nhọc, khi đến nơi tôi mới biết rằng trường chỉ mới có những lớp dưới đại học. Do tôi đã học qua những lớp này, thay vì đi học tôi bắt đầu dạy ở trường trung học và tiếp tục tự nghiên cứu. Vào thời gian đó tôi gặp ông Lê Văn Thiêm.    Ông ấy là một trong những lý do chính để ông ra bắc?  Đúng vậy, ông là một thần tượng cho giới trẻ lúc đó, là người Việt Nam đầu tiên trở về nước với học vị tiến sĩ toán học của Pháp. Đầu tiên ông trở về vùng cực Nam miền Nam, năm 1949. Một vài tháng sau đó ông làm một chuyến trường chinh ra bắc để chuẩn bị thành lập trường đại học. Tất nhiên là ông lớn tuổi hơn tôi và là người xuất chúng. Vì vậy chính quyền Việt Minh cho ông một đội bảo vệ và cần vụ.             Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, thầy dạy trung học của GS Hoàng Tuỵ.          Có phải việc đào tạo đại học được tiến hành tất cả ở Bắc miền Bắc không?  Không, như tôi đã nói ở trước, lúc này Nguyến Thúc Hào, một thầy giáo trung học của tôi, đang dạy những lớp nâng cấp ở một vùng giữa Hà Nội và Huế trong Liên khu tư. Ông Nguyễn Xiển cũng dạy các lớp như vậy ở vùng phía tây Hà Nội cho đến năm 1950, khi ông đồng ý tham gia cùng với ông Lê Văn Thiêm. Sau đấy, từ năm 1950 đến 1954 trung tâm chủ yếu của đào tạo đại học là vùng cực Bắc, chỉ cách biên giới Trung Quốc có vài cây số, nơi mà máy bay địch không dám bén mảng vì Pháp sợ dính dáng với họ.    Ông ở lại vùng biên giới suốt thời gian đó?  Không, có ba lần tôi rời nơi đó vì tôi phải dự các hội nghị của Bộ Giáo dục thảo luận về việc nâng cao chất lượng giáo dục trung học trong vùng giải phóng. Vì tôi có tiếng là giáo viên giỏi nên tôi phải viết nhiều báo cáo về vấn đề này. Các hội nghị này ở khá xa, hoặc ở phía Nam tỉnh Hà Tuyên hay ở phía Bắc tỉnh Bắc Thái. Chúng được tổ chức gần trụ sở chính quyền Việt Minh. Nhưng chúng tôi không bao giờ biết được địa điểm chính xác. Chúng tôi chỉ được báo địa chỉ một nơi cần đến, sau đó giao liên dẫn chúng tôi đi một quãng đường lòng vòng để đến Bộ Giáo dục mà nơi này cũng thay đổi thường xuyên. Chúng tôi đi bằng xe đạp đã được bỏ bớt một số bộ phận để đẩy xe lên dốc dễ hơn. Chúng tôi thậm chí còn bỏ cả phanh. Khi xuống dốc, chúng tôi dùng que chèn nan hoa để giảm tốc độ. Bằng cách này, chúng tôi đi được 100-200 km để đến dự hội nghị chỉ trong vòng 2-3 ngày.    Học toán ở phía Bắc liệu có ích lợi gì hơn so với ở quê ông không?  Ồ, có chứ. Ngoài sự hiện diện của ông Lê Văn Thiêm, ở đó còn có nhiều sách tốt hơn. Trước đó tôi chỉ được đọc những cuốn sách Pháp cũ, của Vesiot-Montel, Papellier, Goursat… Giờ tôi có thể mua sách Nga mới hơn ở các cửa hàng sách trong vùng tự do.  Ông biết tiếng Nga trước đó?             GS Lê Văn Thiêm, “một thần tượng cho giới trẻ lúc đó, là người Việt Nam đầu tiên trở về nước với học vị tiến sĩ toán học của Pháp”.          Không, tôi phải tự học. Tôi tìm được một cuốn sách rất cũ tên là Học tiếng Nga trong 3 tháng, chủ yếu dành cho doanh nhân, mà nhờ nó tôi học được các quy tắc ngữ pháp và một ít từ. Rồi tôi bắt tay ngay lập tức vào việc đọc cuốn Lý thuyết hàm thực một biến của I.P. Natanson. Một hai trang đầu tôi hầu như phải tra từng từ một, sau đó tôi tra ít dần, ít dần cho đến khi tôi có thể đọc thành thạo.  Natanson là cuốn sách Nga đầu tiên tôi đọc. Tôi phải nói rằng đó là một cuốn sách tuyệt vời. Tôi say sưa với lý thuyết độ đo, tích phân Lebesgue integration, và nhiều thứ khác. Cuốn sách đã có ảnh hưởng rất lớn tới chuyên ngành toán học ban đầu của tôi.    Ông thu xếp việc học hành thế nào?  Từ năm 1951 đến 1955 tôi theo đúng chương trình toán đại học của Liên Xô, tự đọc hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. Năm 1955, Hà Nội được giải phóng và trường đại học lại mở. Ông Lê Văn Thiêm trở thành Hiệu trưởng. Tháng 9 năm đó tôi bắt đầu giảng dạy tại trường Đại học Hà Nội.  Khi đó tôi nổi tiếng là một trong những giáo viên trung học giỏi nhất ở vùng tự do. Ngoài ra tôi đọc rất nhiều về giáo dục trung học ở các nước, đặc biệt là ở Liên Xô. Vậy nên năm 1955, tôi được chính quyền mới bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban cải cách giáo dục trung học, mặc dù lúc đó tôi mới 27 tuổi và các thành viên khác trong ủy ban lớn tuổi hơn tôi nhiều.  Hai năm sau, vào tháng 9 năm 1957 tôi đến Matxcơva học tiếp.  Ông đi sang Matxcơva như thế nào? Đây là lần đầu tiên ông rời Việt Nam?  Đúng vậy, đấy là chuyến đi đầu tiên của tôi ra nước ngoài. Đi tàu hỏa hai tuần, xuyên qua Trung Quốc.  Khi đó có nhiều sinh viên Việt Nam học ở Matxcơva không?  Không, chỉ có khoảng 100 sinh viên. Tôi là một trong 9 hay 10 nghiên cứu sinh gì đó.  Ông theo học chương trình tiến sĩ hệ chính quy?  Không, lúc đầu tôi được sang một năm để làm thực tập sinh ở Khoa toán cơ Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva. Tôi chọn môn giải tích thực và được phân hai giáo viên hướng dẫn là D.E.Meshov và G.E. Shilov.  Tôi nghĩ rằng khi gặp tôi hai người đều nghi ngờ trình độ của tôi. Hai ông hỏi tôi hàng loạt câu hỏi, một số tôi có thể trả lời ngay, một số thì quá khó. Tôi nhớ một trong những câu hỏi khó như sau: Cho một tập A [1,0] có độ đo Lebesgue dương. Chứng minh rằng tập {x+y| x,y  A} chứa một đoạn thẳng. Shilov cho tôi một tuần để tìm lời giải và tôi may mắn đã làm được. Sau đó tôi mới biết rằng đây là một mệnh đề trong một bài báo mới của ông. Chứng minh của tôi khác của Shilov. Ông rõ ràng có ấn tượng tốt và sau đó tin tưởng khả năng tôi. Năm đó ông mời tôi đến nhà nhân dịp giao thừa, ngày lễ gia đình lớn nhất ở Liên Xô.    Việc học của ông tiến triển thế nào?  Sau một năm tôi viết xong luận văn tiến sĩ về giải tích thực dưới sự hướng dẫn của Menshov. Đáng nhẽ tôi phải quay trở về Việt Nam sau một năm thì tôi lại được phép ở lại thêm một vài tháng để hoàn thành các thủ tục, trước hết là để chuyển từ chương trình thực tập sinh lên chương trình nghiên cứu sinh, rồi sau đó là công bố các kết quả nghiên cứu của mình và bảo vệ luận án. Tôi nhận học vị của mình tháng 4 năm 1959.    Ông thấy Matxcơva như thế nào? Ông có gặp trở ngại gì không khi chuyển sang một thế giới hoàn toàn khác với Hà Nội?  Trong một vài tuần đầu khi mới sang Matxcơva tôi rất phấn khởi. Tôi đã được nghe rất nhiều về Liên Xô, về tên tuổi những nhà toán học như Kolmogorov, Alekxandrov, Pontryagin. Tôi nhớ là mình rất ấn tượng về tòa nhà trung tâm uy nghi của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva trên đồi Lênin.  Nhưng một thời gian sau tôi bắt đầu nhớ ví dụ như món ăn Việt Nam. Hơn thế nữa, khi tôi rời Việt Nam thì vợ tôi đang có mang đứa con đầu lòng, và một tháng sau khi tôi đến Matxcơva thì tôi nhận được điện báo tin sinh con trai. Điều đó làm tôi thực sự nhớ nhà.    Đấy là thời kỳ xa vợ lâu đầu tiên của ông?  Không, chúng tôi gặp nhau khi tôi còn ở miền Nam. Cô ấy đang là học sinh, sắp trở thành giáo viên, còn tôi đã là giáo viên. Năm 1951 chúng tôi mới đính hôn. Lòng thán phục Lê Văn Thiêm lớn đến mức tôi quyết định xa người vợ sắp cưới để đi ra Bắc. Khi đó việc thư từ rất khó khăn – phải mất cả năm để nhận và trả lời thư từ miền Nam. Sau đó năm 1957, sự tôn sùng toán học Liên Xô lớn đến mức một lần nữa tôi lại xa cô ấy thêm 20 tháng.    Sau khi nhận học vị tiến sĩ ở Matxcơva, ông có quay trở về Hà Nội không?  Có, tôi trở thành Chủ nhiệm khoa Toán Đại học tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1959 tôi luôn sống ở Hà Nội, trừ những chuyến đi nước ngoài.    Mối quan tâm đến toán học của ông có thay đổi sau khi trở về Hà Nội không?          Các Giáo sư: Nguyễn Văn Đạo, Lê Văn Thiêm,Hoàng Tụy tại Bảo tàng Tự nhiên New York (Mỹ) năm 1980.            Tôi bắt đầu sự nghiệp của mình trong giải tích thực và đã công bố 5 bài báo về lĩnh vực này trong các tạp chí của Liên Xô. Nhưng rồi tôi nhận ra rằng lĩnh vực đó không thật hữu ích cho đất nước mình. Tất nhiên, đấy là một lý thuyết đẹp nhưng hơi lý thuyết quá và hơi xa thực tế (ít nhất điều này đúng với thời điểm đó nhưng nay dường như đang thay đổi).  Năm 1961 tôi bắt đầu quan tâm nghiên cứu vận trù học. Năm 1962 tôi gửi bài báo đầu tiên về toán quy hoạch cho Kantorovich và ngay năm đó đến thăm ông ấy ở Nôvôsibia một vài tuần.    Đấy là lúc vận trù học được đưa vào Việt Nam lần đầu tiên phải không?  Đúng, năm 1961 tôi nghe nói các nhà toán học Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực này. Ngay cả nhà lý thuyết số, đại số và lý thuyết hàm nổi tiếng Hua Lo keng cũng tích cực quảng bá ngành này. Thế nên khi ông Tạ Quang Bửu, Bộ truởng Bộ Đại học khi đó và cũng là một nhà toán học, đi thăm Trung Quốc, tôi đề nghị ông tìm kiếm thông tin về ứng dụng vận trù học. Khi ông trở về, tôi bắt tay ngay vào làm việc thực sự theo hướng này.  Ông đã đến Trung Quốc chưa?  Chuyến đi Trung Quốc đầu tiên của tôi (không tính những lần quá cảnh bằng tàu hỏa khi đi Matxcơva) là vào năm 1963, khi tôi được mời đi báo cáo một tháng tại Viện Toán học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tại Khoa toán trường Đại học tổng hợp Bắc kinh và nhiều trường đại học khác. Tôi sang lại Trung Quốc năm 1964, ở đó 3 tuần. Trong những chuyến đi đó tôi đã gặp những nhà toán học xuất sắc như Hua Lo keng, Vu Tsin Muo, Cheng Minde, Gu Chaohao, Hu Guoding và một người phụ nữ trẻ tên là Gui Xiang Yun, người sau này đóng một vai trò nổi bật trong ngành vận trù học của Trung Quốc. (Lần đầu tiên tôi gặp Gu Chaohao và Hu Guoding là ở Matxcơva). Thế nhưng tôi đã mất toàn bộ liên lạc với họ trong cuộc cách mạng văn hóa ở Trung Quốc.  Lúc đó, năm 1964, chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang căng thẳng. Điều này ảnh hưởng như thế nào tới đời sống toán học ở Hà Nội?  Tháng 5 năm 1965, để tránh những cuộc ném bom, trường Đại học Tổng hợp được sơ tán lên miền núi cách Hà Nội khoảng 170 km về phía tây bắc, gần thành phố Thái nguyên. Khi đó tôi là Chủ nhiệm khoa Toán Lý. Chúng tôi có khoảng 250 sinh viên toán.  Cuộc sống nơi sơ tán như thế nào? Có đói không, có bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác không?  Không có bệnh sốt rét. Bệnh này đã bị thanh toán ở miền Bắc Việt Nam nhờ các chiến dịch chống sốt rét những năm 1955-1959.  Điều này đáng ngạc nhiên bởi vì bây giờ Việt Nam chắc chắn vẫn được liệt vào những nước có dịch sốt rét.  Đáng tiếc là đúng vậy, dịch lại tái phát. Ở Việt Nam là do sự thống nhất với miền Nam năm 1975. Dòng người đi lại giữa miền Bắc và miền Nam đã làm lan truyền bệnh. Chúng ta biết rằng bệnh sốt rét chưa được diệt trừ ở miền Nam. Năm 1974, Bộ trưởng Y tế của miền Bắc Việt Nam đã đến các vùng tự do ở miền Nam để nghiên cứu bệnh sốt rét ở đó một cách hệ thống. Bản thân ông đã mắc bệnh sau đó và qua đời.  Thế còn các bệnh nhiệt đới khác trong vùng rừng gần Thái Nguyên?  Các bệnh này thông thường không đe dọa cuộc sống như bệnh sốt rét. Mặc dù điều kiện nơi sơ tán thật nghèo nàn nhưng những bệnh này không phổ biến. Dĩ nhiên là chúng tôi phải đề phòng như nấu kỹ thức ăn. Quả thực là rất ít học sinh nghỉ học vì bệnh.  Nơi chúng tôi ở thực phẩm cũng không phải là vấn đề. Thế nhưng cuộc sống rất gian khổ. Gia đình bị ly tán. Vợ tôi phải đi theo trường nơi cô ấy dạy học. Trường này sơ tán cách Hà Nội 30 km về phía đông nam, hướng ngược lại với trường Đại học Tổng hợp của tôi. Tất cả ba đứa con của chúng tôi đều đi theo vợ tôi vì chúng có thể đi học ở vùng đó.  Mối nguy hiểm chính là những cuộc ném bom. Máy bay Mỹ có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào. Các lớp học của chúng tôi được dựng bằng tre ở xa nhau, ẩn dưới những tán cây. Hầm trú ẩn đào ngay bên cạnh bàn học dưới chân chúng tôi để chúng tôi có thể nhảy xuống ngay lập tức.    Trường đại học trong rừng có bị trúng bom không?  Không, nhưng có vài quả bom được ném xuống rất gần. Có lần một phi công Mỹ đã bị bắt ở ngay gần chỗ chúng tôi.    Khoảng thời gian này ông có làm toán được không?  Có, tinh thần chúng tôi rất cao nên chúng tôi tổ chức seminar thường xuyên suốt thời kỳ này. Hội Toán học do ông Lê Văn Thiêm sáng lập năm 1965 (tôi là tổng thư ký) tổ chức các seminar chung về tối ưu, xác suất, giải tích hàm, đại số  giải tích số. Tham gia có người của Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và Đại học Bách khoa (Viện Toán học mãi đến năm 1970 mới thành lập). Do ba trường sơ tán ở ba phía khác nhau của Hà Nội nên chúng tôi tổ chức seminar ở Hà Nội. Chúng tôi gặp nhau hai lần một tháng. Tôi phải nói rằng mọi người rất nhiệt tình tham gia. Nhiều người chúng tôi nhân cơ hội đó về thăm gia đình. Do vợ tôi cùng các con sơ tán ở hướng ngược lại nên rất tiện cho tôi đi thăm họ sau khi dự seminar ở Hà Nội.  Đó là thời điểm nhà toán học Pháp nổi tiếng Alexandre Grothendieck thăm Việt Nam phải không?  Đúng, ông đến thăm vào tháng 11 năm 1967. Trong vài ngày đầu, chúng tôi tổ chức cho ông giảng bài ở Hà Nội. Nhưng có hôm tên lửa bắn vào cách giảng đường chỉ khoảng 100-200 mét. Thế là Bộ trưởng Bộ Đại học Tạ Quang Bửu ra lệnh cho chúng tôi phải sơ tán. Tôi nhớ là Grothendieck vui thích khi biết tin chúng tôi sẽ đi sơ tán và coi tình huống bất bình thường đó như một cuộc phiêu lưu.  Thế rồi Grothendieck tiếp tục giảng bài trong rừng ở Thái Nguyên?  Đúng vậy. Ông giảng một giáo trình ngắn về lý thuyết phạm trù, đại số đồng điều, và hình học đại số với Đoàn Quỳnh là người phiên dịch chính từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Grothendieck giảng 4 tiếng buổi sáng, và sau đó thảo luận toàn bộ buổi chiều. Thế mà ông vẫn kêu là chưa làm việc hết công suất. Ông là người ăn chay nghiêm ngặt và thứ hai nào cũng nhịn ăn.  Trường đại học ở trong rừng bao lâu?  Trường đi sơ tán 4 năm, mở lại ở Hà Nội tháng 9 năm 1969. Sau đấy, vào năm 1972-1973 lại có một đợt sơ tán nữa, lần này ở một địa điểm khác gần Hà Nội hơn. Khi đó tôi không còn làm việc ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nữa.  (Xem tiếp kỳ sau)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hồi ức về toán học của một đất nước thời đang bị cấm vận      LTS. Ngay sau khi trên Tia Sáng và Tuổi trẻ TPHCM có bài viết về GS Hoàng Tụy nhân 80 năm ngày sinh của GS, Tòa soạn đã nhận được rất nhiều thư của bạn đọc gửi đến chúc mừng GS và mong muốn được biết thêm thông tin về ông- một nhà khoa học lớn, nhà giáo dục tâm huyết và uy tín của đất nước.  Tia Sáng xin giới thiệu với bạn đọc bài phỏng vấn GS Hoàng Tụy được thực hiện năm 1989 bởi GS Neal Koblitz, Đại học Washington ở Seattle, và được công bố trong số 3 tập 12 năm 1990 của tạp chí Người đưa tin toán học rất nổi tiếng trong giới toán học quốc tế.  Theo GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán, ông có may mắn làm việc cùng cơ quan với GS Hoàng Tụy ngay từ lúc chập chững làm nghiên cứu và đã học được rất nhiều điều từ nhân cách, nghị lực và phương pháp làm việc của GS. Để tỏ lòng biết ơn GS Hoàng Tụy, ông đã dịch bài trả lời phỏng vấn này.    Koblitz: Thưa GS Hoàng Tụy, xin ông bắt đầu bằng việc kể một chút về nguồn gốc gia đình và những năm thơ ấu.  GS Hoàng Tụy: Tôi sinh năm 1927 tại làng Xuân đài, nay thuộc xã Điện quang, khoảng 20 km về phía nam Đà nẵng. Cha tôi, ông mất lúc tôi mới 4 tuổi, đã đỗ kỳ thi tiếng nho kiểu cổ và là một quan lại nhỏ của triều đình cũ. Những năm 20 chế độ hiện đại của Pháp đang trong quá trình hình thành ở Việt Nam. Mặc dù cha tôi có vị trí xã hội nhưng gia đình tôi nghèo. Nhiều người anh tôi phải đi làm từ lúc rất trẻ.  Gia đình tôi có truyền thống bất hợp tác với chính quyền thực dân. Một trong những tiền bối của tôi là ông Hoàng Diệu, tổng đốc thành Hà Nội vào những năm 1880. Ông đã anh dũng chống quân pháp để bảo vệ thành Hà Nội nhưng thành phố đã thất thủ. Cho rằng mình phải chịu trách nhiệm về việc đó, ông đã tự vẫn để khỏi phải rơi vào tay kẻ thù. Sự kháng cự và tự vẫn của ông được coi là những hành động yêu nước vĩ đại. Năm 1945, khi cách mạng giành lại Hà Nội từ tay quân Pháp, Hà Nội đã được đổi tên là Thành Hoàng Diệu trong một thời gian.  Thế hệ chúng tôi tiếp tục truyền thống kháng chiến đó. Nhưng chúng tôi hầu như không làm được gì trong nhiều năm. Một người anh của tôi bị đuổi khỏi trường mỹ thuật khi đang học để trở thành họa sĩ vì tham gia các cuộc bãi khóa. Anh cả của tôi là giáo viên trung học – một nghề được coi là danh giá trong xã hội Việt Nam khi đó – bị đuổi việc do hoạt động chống chế độ thuộc địa. Gia đình tôi có truyền thống văn hóa và yêu nước được truyền từ đời này sang đời khác.    Ông bắt đầu quan tâm đến toán học như thế nào?  Khi còn là đứa trẻ đi học trường làng tôi đã học giỏi hai môn văn và toán. Sau đấy tôi đến Huế, nơi anh tôi làm giáo viên trung học, và vào học trường licee ở đó, một trong ba trường tốt nhất ở Việt Nam thời kỳ đấy. Nhưng không may là các giáo viên dạy văn của tôi rất dở, còn các giáo viên dạy toán thì rất giỏi.  Đó là những năm chiến tranh thế giới thứ hai. Việc học của ông có bị gián đoạn không?  Có, điểm học của tôi không tốt lắm do tôi bị ốm. Năm 15 tuổi, tôi phải bỏ học một năm vì bị bệnh hô hấp và liệt một phần. Tôi bị liệt mất 3 tháng và sợ không chữa được. Thế nhưng sau đó tôi được chữa khỏi bởi một ông thầy châm cứu lành nghề.           GS Hoàng Tụy và cùng học trò và đồng nghiệp         Đó là năm 1942. Pháp và Nhật đang chiếm đóng đất nước. Máy bay Mỹ ném bom thường xuyên, ngay cả ở làng tôi vì nó nằm giữa hai con sông gần hai chiếc cầu trên tuyến đường sắt xuyên Đông Dương. Gần như ngày nào chúng tôi cũng phải chạy vào hầm trú ẩn.  Sau khi bỏ học một năm, tôi chuyển từ trường licee sang trường tư thục mà ở đó tôi có thể nhảy cóc 2 lớp và tốt nghiệp sớm một năm vào năm 1946. Thế nhưng cũng có chuyện vì cách mạng diễn ra năm 1945.  Cách mạng ảnh hưởng thế nào tới kế hoạch của ông?  Đấy là thời kỳ cách mạng. Sau khi nhận bằng trung học bậc I, tôi trở về làng tham gia cách mạng. Lúc đó tôi 18 tuổi và tôi biết rằng có mối nguy hiểm là tôi không thể tốt nghiệp trung học bậc II.  Để nhận được bằng này phải trải qua hai phần của một kỳ thi khó được tổ chức hai lần một năm vào tháng năm và tháng chín. Sau khi trở lại Huế vào tháng hai năm 1946 tôi chỉ có ba tháng để chuẩn bị cho kỳ thi tháng năm và chỉ mong qua được một phần thi. Nhưng kết quả thi của tôi đứng nhất lớp nên tôi quyết định thi ngay phần hai mặc dù không chuẩn bị gì cho nó. Tôi ngạc nhiên khi biết tôi đạt điểm cao nhất trong cả kỳ thi. Vậy là tôi nhận bằng tốt nghiệp, có thời gian nghỉ ngơi đôi chút rồi đi làm kiếm tiền để ra Hà Nội.  Ông có vào thẳng trường đại học không?  Mùa hè năm 1946 tôi kiếm tiền bằng cách dạy tư để có thể đi. Cuối tháng 9 tôi đi tàu từ Huế ra Hà Nội để vào trường đại học. Lúc đó tôi đã nghe về ông Lê Văn Thiêm, sau này trở thành người sáng lập ra các cơ sở toán học ở Việt Nam, và tôi muốn học với ông Thiêm. Có tin đồn rằng ông sẽ từ châu Âu trở về năm đó để làm hiệu trưởng trường Đại học Hà Nội. Trường theo hệ thống Pháp, và tôi theo chương trình toán của Khoa khoa học cơ bản.  Hai tháng sau đó, vào tháng 12 năm 1946, chiến tranh nổ ra, Hà Nội thất thủ, và trường đại học đóng cửa.  Thế ông làm gì?  Tôi dùng số tiền còn lại mua sách toán để học sau này. Sau đó tôi quay về làng tôi ở phía Nam Đà Nẵng.  Đầu năm 1947 tình hình ở Việt Nam trở nên phức tạp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm đóng miền Bắc (kéo dài đến phía nam Đà Nẵng), còn quân Anh thì chiếm miền Nam. Mục đích của họ là giải giáp quân Nhật, như Pháp đã thỏa thuận để thay thế quân Tưởng và quân Anh. Do đó, quân Pháp đã có mặt ở nhiều thành phố kể cả Đà Nẵng, khi chúng tôi tổ chức bảo vệ nền độc lập. Tình hình quân đội chúng tôi rất không thuận lợi.  Chúng tôi kháng cự lại quân Pháp trong vòng 2- 3 tháng rồi quân đội Việt Nam rút lui. Tôi phải nói rằng chúng tôi rút lui khá lộn xộn bởi vì chúng tôi bị bất ngờ trước quy mô tấn công của quân Pháp. Khi quân đội rút khỏi thành phố thì nhiều người dân cũng đi sơ tán theo, để lại đồng bằng để lên vùng núi. Thật kinh khủng. Chúng tôi đốt sạch để kẻ thù không còn gì để dùng.    Ông đi đâu? Ông có sống cùng gia đình không?  Tôi sống với mẹ và anh em trong miền núi phía tây tỉnh nhà khoảng 2 tuần. Sau đó mọi người chuyển đến một vùng cách  đó 100 km về phía nam, và  tôi đi dạy ở một trường trung học tỉnh Quảng ngãi. Thời đó Quảng ngãi có trường trung học tốt nhất ở vùng tự do của chúng tôi (được gọi là Liên khu năm). Tôi dạy toán ở đó từ năm 1947 đến năm 1951.    Công tác giáo dục có bình thường trong thời kỳ này hay không?  Ở một mức độ nhất định thì bình thường. Vùng tự do khá ổn định, có trình độ tổ chức kinh tế và chính trị với đời sống văn hóa cao.    Chính trong thời kỳ này ông viết sách giáo khoa?  Đúng thế, cuốn sách được nhà xuất bản kháng chiến in năm 1949. Đó chỉ là một cuốn sách hình học sơ cấp cho các  trường trung học, nhưng nó có thể là cuốn sách toán học đầu tiên do chính phủ kháng chiến xuất bản.  Tôi thích thú khi thấy một cuốn truyện nổi tiếng gần đây có nhắc đến cuốn sách hình học của tôi. Anh có biết năm 1954 nước tôi bị chia cắt tại vĩ tuyến thứ 17. Thời kỳ này một số vùng ở Việt Nam đã được giải phóng, nhưng vì hiệp ước Giơ-ne-vơ  nên bộ đội và giáo viên của các vùng giải phóng đã ra miền bắc. Không may là nhiều học sinh không đi cùng được với các giáo viên và họ phải tìm cách tiếp tục tự học. Theo cuốn truyện nổi tiếng này thì có hai cuốn sách được những học sinh khen nhiều nhất là một tập thơ của Tố Hữu, một nhà thơ Việt Nam đương đại, và cuốn sách của tôi.    Ông có thể học toán ở Quảng Ngãi không?  Có, trong khi dạy học tôi vẫn học toán từ những cuốn sách tôi mua ở Hà Nội.  Ông có thăm gia đình thời kỳ này không ?  Có, trong vùng chúng tôi vẫn có thể đi lại bằng tàu hỏa. Cuối tuần tôi thường đi về phía nam để thăm gia đình. Tàu đi ban đêm, không có đèn để tránh quân Pháp phát hiện. Trong hai năm đầu có một đầu tàu chạy bằng hơi nước. Nhưng đầu tàu này bị máy bay phá hỏng năm 1956. Tiếp theo chúng tôi tìm cách kéo một cái xe bởi một động cơ ô tô. Nhưng động cơ bị hỏng và chúng tôi không có cái thay. Sau đấy con tàu nửa ô tô này được đẩy đi bởi 4 người. Nó có tốc độ khoảng 7-8 km/h và tất nhiên là nó chạy nhanh hơn khi xuống dốc. Như vậy chúng tôi có thể rời Quảng Ngãi lúc chập tối và đến phía nam trước khi trời sáng. Tôi cho rằng đây là một phương tiện vận chuyển độc nhất vô nhị vì nó là một cái xe chạy bằng sức người trên đường ray.  Người ta cũng có thể đi lại bằng xe đạp. Tuy nhiên, xe đạp đắt và tôi không có tiền mua. Vì vậy tôi luôn luôn đi tàu.  Mặc dù cuộc sống diễn ra bình thường hầu hết thời gian, đó là một thời kỳ khó khăn. Năm 1948 trường trung học nơi tôi dạy bị thiêu hủy hoàn toàn trong một cuộc bỏ bom nửa tiếng đồng hồ bởi máy bay Pháp. 17 học sinh và một nữ giáo viên bạn tôi bị chết.  Tại sao Pháp lại bỏ bom trường học?  Thời kỳ này quân Pháp rất dã man. Chúng bỏ bom mọi thứ. Ngay cả một người đi đường cũng bị tấn công. Chúng tôi đã nghĩ rằng do ai cũng  biết rõ chúng tôi là một trường trung học nên chúng tôi không cần ngụy trang. Sau trận bom chúng tôi trở nên thận trọng hơn, và chúng tôi chuyển các lớp học sang các làng khác và ngụy trang chúng.  Khi nào ông quyết định rời miền Nam ?  Năm 1949, sau khi Hà Nội bị chiếm đóng và trường đại học đóng cửa, một vài lớp đại học toán được thành lập tại các vùng giải phóng ở miền núi khoảng 200-300 km về phía bắc gần biên giới với Trung Quốc. Thêm vào đó có hai đại học đại cương được thành lập ở các vùng tự do: một bởi GS Nguyễn Thúc Hào ở Chiến khu tư và một bởi GS Nguyễn Xiển ở vùng Đông Bắc.  Trí thức Việt Minh tổ chức một cuộc thi dưới sự quản lý của Bộ giáo dục. Tôi là một trong hai người dự thi đến từ vùng của tôi ở phía nam. Anh phải biết rằng cuộc thi kéo dài và phức tạp vì các đề bài và bài làm của chúng tôi được chuyển đi theo đường mòn trên núi (sau này được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh) bởi các giao liên kháng chiến. Thông thường phải cần đến khoảng 3 tháng để nhận được thư từ miền bắc gửi vào. Nhưng tôi phải nói rằng phương thức này hoàn toàn tin cậy, không có gì bị thất lạc hoặc đưa nhầm. Thật vậy, bưu điện Việt Minh thời đó làm việc hiệu quả hơn rất nhiều bưu điện Việt Nam ngày nay.  Sau khi gửi bài làm đi, tôi phải đợi 8 tháng mới biết kết quả. Đề bài kiểm tra toán đại cương của đại học năm thứ nhất, chủ yếu là giải tích và cơ học. Bất chấp điều kiện thiếu thốn, cuộc thi được thực hiện rất nghiêm ngặt. Hội đồng thi vùng tôi được thành lập trực tiếp bởi Ủy ban Việt Minh liên khu Năm. Do đó cuộc thi có thanh thế cao, và mọi người đã rất hân hoan khi nhận được tin là tôi thi đỗ.  Ông ra bắc ngay sau khi biết tin?  Không, đó là cuối năm 1949. Tôi còn dạy học thêm hai năm nữa. Năm 1951 tôi biết chắc rằng Lê Văn Thiêm đã quay trở về Việt Nam và đang làm việc trong vùng giải phóng ở miền Bắc. Khi đó tôi xin phép được ra miền Bắc và được chấp nhận.  Ông đi ra Bắc như thế nào?  Chỉ có một con đường đi bộ xuyên núi. Thời kỳ này, đường mòn Hồ Chí Minh vẫn là một đường mòn theo đúng nghĩa, một đường mòn cho đi bộ rất hẹp. Nhưng nó được tổ chức rất tốt. Cứ khoảng 30 km có một trạm nghỉ qua đêm và có giao liên đưa chúng tôi đến trạm tiếp theo. Tất nhiên là cũng có những hiểm nguy.  Cái gì là mối nguy hiểm chính?  Có 3 thứ: quân Pháp, bệnh sốt rét và cọp.    Ông đi bộ ra Bắc mất bao lâu?  Chuyến đi kéo dài ba tháng. Đoạn đầu ở vùng gần Đà Nẵng còn tương đối dễ bởi vì chúng tôi đi trên đồng bằng, theo các con đường về ban đêm. Thành phố và làng mạc đều không có người ở  do Pháp bỏ bom, nhưng không bị chiếm đóng.  Tiếp theo về phía bắc thì quân Pháp chiếm đóng tất cả vùng phía dưới và chúng tôi phải đi trên núi. Đây là quãng đường gian khổ nhất của chuyến đi – trên vùng núi của tỉnh Bình Trị Thiên hiện nay.  Tất nhiên chúng tôi làm mọi cách để mang nhẹ. Chúng tôi chỉ mang theo gạo và muối để ăn. Khi tôi ra đi, tôi mang theo những cuốn sách toán bỏ đi bìa và cắt lề để chúng nhẹ hơn cho chuyến đi ra bắc.  Sau đó, khi chúng tôi đến Liên khu tư gần Hà Tĩnh, ngay ở phía Nam thành phố Vinh, chúng tôi có thể an toàn đi trên đồng bằng và do đó đi nhanh hơn.  Nhưng tôi ở lại dạy tư hai tháng tại Liên khu tư nhằm kiếm tiền để tiếp tục đi. Thật thú vị khi nhớ lại trong thời gian chiến tranh vẫn có những trường học hoạt động trong khắp các vùng tự do. Đối với một người có trình độ thì không khó kiếm việc dạy học cho lắm và vẫn có nhu cầu về thầy giáo dạy tư. Tôi dạy học vào kỳ nghỉ hè – từ tháng bảy đến tháng 9 năm 1951 – là thời gian mà học sinh trung học thích học thêm. Các lớp tư học nhỏ này được tổ chức trong những căn phòng có bảng đen, và mỗi học sinh tự đem theo một chiếc ghế nhỏ cho mình.  Sau thời gian gián đoạn dạy học ở khu tư tôi đã hoàn tất chuyến đi chỉ trong vòng một tháng bằng cách đi vòng qua vùng Hà nội bị chiếm đóng rồi cuối cùng đến được trường đại học tự do ở phía Bắc.  (Xem tiếp kỳ sau)  ảnh trên cùng: GS Hoàng Tuỵ, khi được thỉnh giảng tại ĐH Dresden (CHDC Đức) năm 1972. (ảnh tư liệu)      Ngô Việt Trung (dịch)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lá thư bay và triết lý nuôi dạy một con người      Từ những lá thư của một người mẹ viết cho con gái mình, bạn đọc cảm nhận được nhiều điều hơn tình yêu thương vô bờ của người mẹ.      Với cái tên rất giản dị, Thư gửi con*, tập hợp một số những lá thư gửi con được viết trên những chuyến bay – và một số tạp bút, cũng viết riêng cho con, tác giả Thái Kim Lan dường như không có ý định gì hơn ngoài việc gửi gắm vào cuốn sách của mình tình yêu thương vô bờ của người mẹ hướng đến đứa con. Thế nhưng, qua những suy ngẫm về thời cuộc, con người, về đạo về đời, về tình cảm quê hương, những triết lý độc đáo của bản thân về việc nuôi dạy con mà bà bộc lộ rất thật thà trên trang sách, người đọc lại nhận được từ cuốn sách này nhiều hơn thế.  Trước tiên, đó là sự đồng cảm, một sự đồng cảm tuyệt đối đáng ngạc nhiên giữa những người làm cha làm mẹ rất khác nhau, chí ít là về mặt địa lý, không gian sống và hệ lý thuyết, tư tưởng của mỗi người. Người đọc sẽ không cần biết rằng, tác giả Thái kim Lan là một giáo sư triết học giảng dạy về Triết học so sánh ở một trường đại học ở Đức, họ chỉ thấy những băn khoăn lo lắng của bà về việc nuôi dưỡng, dạy dỗ một đứa trẻ cũng hoàn toàn là những băn khoăn của họ bấy nay. Khi đứa con còn là bào thai, manh nha một mầm sống, ngọ nguậy một cách cảm động trong bụng mẹ, người mẹ cần làm gì cho con để truyền được cảm xúc tích cực và những điều tốt đẹp nhất hướng tới tương lai? Và sau khi con ra đời, dạy con thế nào, chọn trường cho con ra sao, hướng nghiệp thế nào, theo lý thuyết nào hay cứ nương vào bản năng làm cha mẹ, với sự yêu thương, mà nuôi con khôn lớn? Có hay không cái gọi là Triết lý giáo dục theo kiểu phương Đông hay phương Tây, quyền uy hay phản quyền uy? Giữa cha mẹ và con cái nên xây dựng một mối quan hệ như thế nào, các phương thức giao tiếp giữa các thế hệ ra sao? Có hay không góc nhìn giáo dục con trẻ theo quan điểm Phật giáo?  Rất nhẹ nhàng, những-lá-thư-bay đã trả lời cho chúng ta những câu hỏi nói trên, với cách đặt vấn đề độc đáo của một bà mẹ sinh con và nuôi con ở xa Tổ quốc mình. Vì xa nên cảm nhận khái niệm “quê” lại mạnh mẽ đến nỗi, bà đã không chọn triết lý phương Đông hay phương Tây, mà chọn “Triết lý quê hương” để mà dạy con – chắt lọc những khía cạnh tinh tuý và tích cực của hồn quê để làm cái nôi bao bọc con khi họ vẫn và mãi ở nước người. Không chỉ là vấn đề ngôn ngữ và văn hoá, cái cảm xúc mạnh mẽ trong triết lý “quê” – cái gốc xa xưa thấm vào con người từ trong tiềm thức, lại trở thành sức mạnh bí ẩn sâu xa để hai thế hệ giao tiếp với nhau, hiểu nhau, yêu thương nhau và có nhau mọi lúc, mọi nơi. Đó là bí quyết nuôi dạy con của riêng người mẹ Thái Kim Lan vậy!  Thái Kim Lan thích nhắc đi nhắc lại một câu trong Quán Kinh: “Khi tâm chúng sinh tưởng nhớ đến Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật”.   Từ đó mà mẹ nói với con: “Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời nào mẹ con cũng gặp nhau.            Mẹ, không chỉ là mẹ, mà còn làm mẹ. Là mẹ và làm mẹ, một thể tính trộn lẫn, tròn đầy là một. Nên không là mẹ nếu không làm mẹ. Mọi nghĩa “là mẹ” thể hiện trong “làm mẹ.” Suốt cuộc sinh và nuôi trọn vẹn. Đừng ngạc nhiên hay phê phán vội nếu không tìm thấy dấu tích gì về yếu tính mẹ này trên những lời thư cho con của Thái Kim Lan. Bởi vì, không những Thái Kim Lan chỉ dành một phần trích của mẹ cho con (phần trích của không cùng tận!) mà khi nói với con, Thái Kim Lan đã hoàn toàn thoát thân RA KHỎI tổng thể mình. Khi ấy, không có và không cần nữa mọi thứ trang sức lỉnh kỉnh trong thân và ngoài thân, nào triết, nào đạo, nào văn học, nào lý luận, phê bình, nghiên cứu… Khi ấy, không cần phải là gì và làm gì cả, với con hay bất kỳ ai, mẹ bốc hơi trong nghĩ tưởng về con, thành khí thể hòa nhập cùng con bất chấp thời gian không gian cách trở.     Nguyễn Thị Hoàng nói về “Thư gửi con” của Thái Kim Lan          Và đây, chính là triết lý giáo dục với tình yêu thương, hoàn toàn giống với tư tưởng của nhà tư tưởng Nga Lev Tolstoy. Từ tình yêu, ta xoá bỏ được mọi áp đặt, mọi ép buộc, mọi mệnh lệnh, và đứa trẻ của ta nhưng lại là một cá thể độc lập đứng ngoài ta, không phải sở hữu của cha mẹ để mà nhào nặng theo ý muốn. Ta chỉ có thể gợi ý, hướng dẫn hoặc đồng hành với chúng trên chặng đường từ đứa trẻ trở thành người lớn. Và một trong những phương pháp giáo dục của Thái Kim Lan đối với con chính là luôn giữ sợi dây liên hệ giữa mẹ và con, một cách hữu hình, là những lá thư! Yêu thương phải được nói ra, dặn dò, chăm sóc từ xa cần được nói ra – những lá thư là sự hiện hữu của người mẹ bên cạnh con khi mẹ ở xa. Đôi khi nó còn có tác dụng dẫn dắt, chăm sóc về mặt tinh thần mạnh mẽ hơn cả khi mẹ luôn ở bên cạnh mà… phê bình, nhắc nhở…  Trong cuốn sách, tôi còn đọc được cả cảm xúc ngưỡng mộ, biết ơn của người mẹ đối với… đứa con của mình. Chỉ khi có con, mẹ mới bắt đầu được trải qua cảm xúc làm mẹ. Và mẹ biết ơn con về điều đó. Khi con khôn lớn, nó vượt qua bóng của mẹ, mẹ vui mừng vì điều đó. Điều này khiến tình mẫu tử trở nên rất đặc biệt, và cả hai người – mẹ và con – đều nhận được những bài học nho nhỏ cảm động từ việc giao tiếp với nhau hàng ngày, từ khi con còn nhỏ đến mãi sau này. Đây có thể nói cũng là một bí quyết không phải ai cũng biết và cũng có được, để có thể ngờ thành một người mẹ hạnh phúc!  Thái Kim Lan còn là một nhà thơ từng nhận giải thưởng Thơ ca sáng tác bằng tiếng Đức. Vì thế, cuốn sách của bà còn tặng cho bạn đọc những áng văn giàu chất thơ. Để kết thúc bài viết nhỏ này, xin giới thiệu với bạn đọc một đoạn văn đẹp của bà – mô tả tâm trạng đầy mâu thuẫn của một người sau mấy mươi năm mới có dịp về quê hương ăn Tết, nhưng trên đường ra sân bay, lại thầm cầu trời để mình lỡ chuyến -:  Đứa con không biết rằng trong một triệu thứ phải “biết” trên đời, một điều chắc chắn mà tôi biết lúc ấy là nếu tôi không ra phi trường để bị trễ tàu, bắt buộc phải quay về không đi nữa, có lẽ tôi sẽ điên, sẽ bệnh vì tiếc nuối chuyến về quê ăn Tết. Phải đi như bản năng của cá hồi, khi ngọn gió thổi về làm sởn ốc làn da, khi con nước chảy xiết dồn máu bừng trong gan đánh thức nỗi nhớ âm ba nguồn cội, khi ánh dương quang trên sóng nước tha phương làm đỏ mắt cá mơ về những sỏi đá thuở sơ sinh, khi hơi thở sủi tăm bỗng nồng nàn hương suối tóc rong rêu nơi hốc đá sinh thành, cá hồi quay quắt ngược dòng, PHẢI trở về nguồn, dù chuyến băng đồng vượt thác về nguồn là cuộc tử sinh mười phần chết bảy. Đối với cá hồi hình như chuyến về gian nan sau mỗi phiêu lưu mang nghĩa sống tột cùng của thân phận cá hồi, không trở về mới là nỗi chết mòn mỏi.  Thế nên con người như tôi cũng PHẢI ĐI, đi một vòng để cảm thấy mình đã có đi – mà con người  thì phức tạp hơn cá hồi với bao thủ thuật tự che đậy mình! Nên đi rồi quay lui, đi như một thứ lễ nghi của phù thủy đồng bóng biến thế giới thực thành ảo, ảo thành thực, để được an lòng. Nếu không ra phi trường thì sự tiếc nuối chuyến đi sẽ vô cùng vô tận và tôi sẽ không tha thứ cho tôi đã ngồi lại không lên đường về với Tết quê hương. Hình như cuộc đi nửa vời này là một sự đánh lừa cái TÔI HUẾ đang quay quắt mong về quê ăn tết, tương tự như tôi xin lỗi cái TÔI HUẾ rằng, tôi lỡ chuyến tàu nên xin hẹn một lần khác.  * “Thư gửi con”, Thái Kim Lan, NXB Hội Nhà văn, 2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những mâu thuẫn của giáo dục đại học Trung Quốc*      Mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên “tốt nhất và sáng chói nhất” cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn.     Kết quả xếp hạng năm 2010 của ĐH Giao thông Thượng Hải được công bố ngày 15/8/2010 cho thấy sự tiến bộ đáng kinh ngạc của giáo dục đại học của Trung Quốc. Chỉ trong vòng hơn nửa thập niên kể từ bảng xếp hạng này ra đời vào năm 2004, số lượng trường đại học Trung Quốc trong danh sách 500 vị trí đầu bảng đã tăng từ 16 lên 34 trường, trong đó có hai trường lần đầu tiên lọt vào danh sách 200 trường tốt nhất thế giới là ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa(1).   Phải chăng giáo dục đại học Trung Quốc đã có thể sánh vai với các trường đại học phương Tây? Trong bài viết ngắn của mình đăng trên tờ Inside Higher Education vào tháng 10 vừa qua, GS Philip Altbach, nhà nghiên cứu giáo dục quốc tế hàng đầu thế giới, đã cho thấy bức tranh giáo dục đại học của nước này không chỉ có những gam màu sáng. Vẫn còn khá nhiều vấn đề đang gây trở ngại sự phát triển nền đại học của Trung Quốc mà Việt Nam có thể học hỏi để tránh trong quá trình phát triển các đại học của mình.   Xin trân trọng giới thiệu bài viết này đến các độc giả.   Số liệu thống kê gần đây liên quan đến việc sinh viên Trung Quốc ồ ạt đi học ở nước ngoài cùng quan điểm của Trung Quốc về vấn đề chuyển dịch dân cư đã đặt ra những câu hỏi thú vị liên quan đến nền giáo dục đại học của Trung Quốc cả hiện tại cũng như tương lai, đặc biệt là ở trình độ ưu tú. Những con số kỷ lục sinh viên Trung Quốc tiếp tục đi học ở nước ngoài – trong đó có đến 270.000 người tự trang trải học phí và (chỉ) có khoảng 25 phần trăm trở về lại Trung Quốc, một điều thật đáng ngạc nhiên trong bối cảnh nền kinh tế của phương Tây đang suy thoái còn kinh tế Trung Quốc thì lại đang phát triển nhanh chóng (số liệu lấy từ báo cáo của Willy Lam thuộc Jamestown Foundation).  Gần 100.000 sinh viên Trung Quốc đang học tập tại Hoa Kỳ. Đồng thời, Trung Quốc cũng thu hút 240.000 sinh viên quốc tế đếm học, một con số tương đương với số sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài. Hầu hết sinh viên quốc tế tại Trung Quốc đến từ châu Á, nhưng ngày càng có nhiều sinh viên đến từ các nước phương Tây, trong đó có 18.000 sinh viên Hoa Kỳ. Hiện không có thông tin về tỷ lệ các sinh viên theo học một chương đại học so với những sinh viên chỉ đến Trung Quốc một học kỳ hoặc một năm hoặc không học. Để khuyến khích thêm sinh viên đến học, Chính phủ Trung Quốc đã thông báo sẽ cung cấp 20.000 suất học bổng cho sinh viên quốc tế. Trung Quốc đang ngày càng trở nên quan trọng không chỉ trong việc gửi sinh viên ra nước ngoài – thực tế là nếu hai đại gia Trung Quốc và Ấn Độ giảm số sinh viên đi học nước ngoài của mình thì bộ phận giáo dục quốc tế tại hầu hết các nước xuất khẩu giáo dục lớn hiện nay hẳn sẽ rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc còn đang trở thành một địa chỉ quan trọng để tiếp nhận sinh viên từ nước ngoài đến học nữa.  Ngoài số sinh viên đi du học, Willy Lam còn lưu ý rằng nhiều doanh nhân và các chuyên gia Trung Quốc cũng muốn theo đuổi sự nghiệp ở nước ngoài; ông khẳng định rằng họ thích môi trường minh bạch và ít yếu tố bất ngờ của môi trường xã hội mà họ tìm thấy bên ngoài Trung Quốc.  Điều này nói lên điều gì về giáo dục đại học của đất nước này? Nó cho thấy rằng mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên “tốt nhất và sáng chói nhất” cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn. Tiền lương thấp, phải nói là mức lương thuộc hàng thấp nhất thế giới, những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thông tin, “giao phối cận huyết” (tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của chính mình), những nghi ngại liên quan đến tự do học thuật ở một số lĩnh vực, và rất nhiều quan hệ cá nhân đang là trở ngại nghiêm trọng trong việc tạo ra một nền văn hóa học thuật thuộc “đẳng cấp thế giới” tương xứng cơ sở hạ tầng học tập đầy ấn tượng của các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc hiện nay. Những báo cáo liên tục về các vụ đạo văn và các hình thức tham nhũng học thuật (tất nhiên điều này không chỉ hạn chế ở Trung Quốc) còn bổ sung thêm vào những thách thức hiện nay.  Mặc dù có những thách thức và trở ngại, Trung Quốc đang nhanh chóng trở thành một siêu cường về học thuật – các nghiên cứu đã ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về số bài báo xuất bản trong các tạp chí khoa học từ các học giả Trung Quốc, việc tăng lên nhanh chóng số các bằng sáng chế cũng như các số đo khác khác về năng suất khoa học. Tuy nhiên như đã ghi nhận ở trên, giáo dục đại học TQ vẫn còn rất nhiều vấn đề quan trọng cần được giải quyết.  Phương Anh chọn dịch và giới thiệu    —  * http://www.insidehighered.com/blogs/the_world_view/chinese_contradictions  (1)   Xem chi tiết tại đây: http://www.arwu.org/ARWU_2010_press_release.jsp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ngôi trường mầm non cổ tích      Những ngôi trường mầm non Steiner nuôi nấng trẻ trong bầu không khí cổ tích để trẻ phát triển tối đa trí tưởng tượng, thu nhận trọn vẹn sự khôn ngoan của tri thức vũ trụ, thay vì nhìn trẻ như người lớn thu nhỏ và cố gắng dạy dỗ sớm nhất các kiến thức về thế giới vật chất xơ cứng và hỗn mang.       Từ sau khi thế giới công nhận học thuyết về phân tâm học Freud, mọi nhà tâm lý giáo dục đều hiểu rằng giai đoạn từ 0 đến 6 (hoặc kéo dài đến 8) là giai đoạn tạo nên cái ngã – cái gốc người bền vững không thay đổi theo thời gian, hay nói cách khác là giai đoạn mọi trải nghiệm cá nhân sẽ để lại dấu ấn trong tiềm thức, là cái luôn có đó và ẩn sâu bên trong con người, có thể được bộc lộ ra một lúc nào đó khi ý thức “cho phép”, dưới nhiều hình thức khác nhau.   Trong bộ ba: cái siêu tôi, cái tôi và cái ấy (Super-ego, Ego, Id) thì cái siêu tôi (phần nhiều thuộc về miền tiềm thức, cái tạo nên “lương tâm” của mỗi cá thể) khó lòng mà thay đổi hay tác động tới được khi chúng đã hình thành. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tác động đến quá trình hình thành nên nó, chính là giai đoạn ấu thơ. Cái ấy (thuộc miền vô thức) là cái thuộc về bản năng (Freud chỉ nhấn mạnh duy nhất đến bản năng tính dục, và vì điều này mà học thuyết của ông bị phản đối), thuộc phần Con trong tính Người nhiều hơn, và là miền chúng ta hoàn toàn không can thiệp được. Cái tôi nằm trọn vẹn trong sự điều khiển của ý thức, hình thành do môi trường, giáo dục và thay đổi liên tục trong suốt quá trình sống của con người. Vậy, xét theo góc nhìn của phân tâm học, và nhiều nhà tâm lý giáo dục học đồng tình với góc nhìn đó, thì giai đoạn ấu thơ có một tầm quan trọng không thể thay thế, không thể sửa chữa trong việc hình thành nhân cách Người, hay con-người-tương-lai của trẻ như cách dùng chữ của nhà giáo dục Montessori. Bà tha thiết yêu cầu giáo viên, đặc biệt là giáo viên mầm non, phải là những người đã được tôi rèn và chuẩn bị từ bên trong, từ chối sự độc tài và kiêu ngạo để tạo ra môi trường giáo dục là môi trường tự nhiên, đầy ắp tính văn hóa được chuẩn bị cho trẻ tự trải nghiệm và tự tìm ra kiến thức, tự làm bừng nở con-người-tương-lai của mình1.   Góc nhìn về nhân cách của người thầy và tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của giai đoạn ấu thơ đến sự hình thành con-người-tương-lai của Montessori và Rudorf Steiner là đồng nhất, mặc dù cách thực hành phương pháp giáo dục mầm non của họ rất khác biệt, thậm chí đi theo hai khuynh hướng trái ngược nhau.         Steiner cho rằng trẻ con có sự  thông thái đặc biệt (nếu chưa bị làm cho hỏng hay mất đi); chúng sẽ tự  phát triển theo cách tốt nhất nếu được yêu thương, được vui đùa trong  thiên nhiên, được tôn trọng và tự do.        R. Steiner sinh cùng thời với Nietzsche, nhưng không chịu nhiều ảnh hưởng từ Nietzsche2 mà như hai nhà tư tưởng lớn gặp nhau (Steiner viết Philosophy of freedom năm 1894 và Friedrich Nietzsche, Fighter for Freedom năm 1895). Hai ông đều quan tâm đến eternal recurrence (vĩnh cửu luân hồi – một khái niệm cho rằng vũ trụ đã được lặp đi lặp lại và sẽ tiếp tục như vậy ở một dạng tương tự với chính nó trong một số lần vô hạn) và đấu tranh cho sự phát triển cao nhất của con người là để đạt tới Con-người-Tự-do: tự do với Thượng đế, với tôn giáo, với các thể chế chính trị, tự do bởi việc làm chủ năng lực và khát vọng của bản thân, tự do với chính sự trở lại vĩnh cửu của vũ trụ. Bởi quan niệm này, Steiner đưa ra quan điểm về giáo dục mầm non (từ 0-7 tuổi) là giai đoạn trẻ còn sự kết nối sâu sắc với các kiến thức tiềm ẩn của vũ trụ, nhiệm vụ của người lớn (bố mẹ, thầy cô, xã hội) là nuôi nấng trẻ trong môi trường đầy ắp tính Thơ, ngập tràn tình Yêu thương và Tự do để trẻ phát triển tối đa trí tưởng tượng, thu nhận trọn vẹn sự khôn ngoan của tri thức vũ trụ; thay vì nhìn trẻ như một người lớn thu nhỏ và cố gắng dạy dỗ sớm nhất các kiến thức về một thế giới vật chất xơ cứng hỗn mang. Ông cho rằng trẻ con có sự thông thái đặc biệt (nếu chưa bị làm cho hỏng hay mất đi), nhận được những kiến thức tiềm ẩn của vũ trụ; chúng sẽ tự phát triển theo cách tốt nhất nếu được yêu thương, được vui đùa trong thiên nhiên, được tôn trọng và tự do; ví như việc tập đi càng dạy sẽ càng làm cho bị hỏng, việc chơi đùa sẽ không còn ý nghĩa nếu được người lớn dạy chơi. Quan điểm này khá lạ lẫm đối với nền giáo dục phổ quát và xã hội ngày nay, khi mà người lớn luôn muốn mọi thứ phải sớm, phải nhanh; chúng ta quen thuộc và dễ dàng chấp nhận ý tưởng cho rằng cần dạy dỗ con em chúng ta càng sớm càng tốt, miễn là sự dạy dỗ đó được ngụy trang bởi chữ chơi, sự dạy dỗ sớm sẽ khiến con chúng ta xuất phát sớm hơn và có cơ hội đến đích nhanh hơn.   Vậy không cần dạy thì có thầy để làm gì? Nếu chỉ là sự vui đùa tự do trong thiên nhiên thì các lớp học mầm non có vai trò gì?    Gieo mầm trí tưởng tượng  Ai cũng biết và có lẽ đồng tình với câu nói nổi tiếng của Albert Einstein “muốn con bạn thông minh, hãy đọc cho chúng nghe truyện cổ tích. Muốn con bạn thông minh hơn nữa, hãy đọc nhiều hơn nữa những truyện cổ tích cho chúng” và “trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức”. Nhưng không phải ai cũng hiểu tầm quan trọng đến vô cùng của việc đọc truyện cổ tích cho trẻ con, tạo dựng một môi trường cổ tích cho trẻ con phát huy tối đa trí tưởng tượng. Điều này, các trường mầm non Steiner đã làm rất tốt, nâng lên một nấc cao hơn mà Einstein nhắc đến, từ đọc truyện sang kể chuyện. Đọc tức là còn phải cần đến sách, là còn chưa sống với câu chuyện. Kể là đã biết sống trong câu chuyện. Đặc biệt hơn, giờ kể chuyện của trường mầm non Steiner là lúc trí tưởng tượng của trẻ tha hồ bay bổng. Không gian lớp học ấm cúng, ánh sáng được làm dịu đi, nến được thắp lên bên cạnh “sân khấu” nhỏ của các nhân vật rối, được các cô sắp đặt và tạo bối cảnh với lụa, hoa, và lá… Cô khe khẽ cầm cây đàn lyre chơi vài nốt ngân nga, trẻ lập tức im ắng, chăm chú đón đợi và bắt đầu tưởng tượng theo từng động tác diễn rối nhịp nhàng, từng câu kể khoan thai. Những giờ kể chuyện sẽ gieo mầm, nuôi nấng trí tưởng tượng của trẻ lớn lên từng ngày, để rồi một lúc nào đó, trẻ sẽ tái hiện lại những trải nghiệm này.         Theo Steiner, chỉ khi tiếp xúc với các vật liệu thực, trẻ  mới phát triển các giác quan thực nhất, tinh tế nhất, mọi sự giả dù đạt  trạng thái tinh xảo hơn thực, đều đem lại sự giả tạo đối với các giác  quan, mà giai đoạn ấu thơ lại là giai đoạn quan trọng nhất để duy trì và  phát triển sự tinh nhạy này.         Một khác biệt nữa với các mô hình giáo dục khác là lớp mầm non Steiner có giờ chơi tự do mỗi ngày, theo nghĩa trẻ là người tổ chức trò chơi, giải quyết các vấn đề nảy sinh khi chơi với bạn, giáo viên chỉ đóng vai trò như người thiết lập môi trường, đảm bảo an toàn và hạn chế tối đa sự can thiệp. Chơi tự do, hay còn gọi là chơi sáng tạo theo lựa chọn của trẻ, là một nhu cầu thiết yếu để trẻ “trải nghiệm lại”, “diễn lại” những gì đã thẩm thấu, để tưởng tượng và sáng tạo ra vô vàn câu chuyện trong mỗi trò chơi. Để việc chơi của trẻ thực sự chất lượng, theo nghĩa nuôi nấng tối đa trí tưởng tượng, đồ chơi ở các lớp mầm non Steiner hoàn toàn mở, không có những loại đồ chơi theo kiểu “one-way-right”, tức là chỉ có duy nhất một cách chơi “đúng” bởi Steiner nhìn giai đoạn từ 0 đến 7 tuổi là giai đoạn vàng để trẻ phát triển trí tưởng tượng, nuôi dưỡng tâm hồn, chưa phải và chưa nên tập trung vào kích thích tư duy logic, là công việc của giai đoạn từ 7 đến 14 tuổi.   Phát triển các giác quan nhờ cái thực  Xây dựng một môi trường cổ tích, thế nhưng, điều đặc biệt là, trong các ngôi trường mầm non Steiner, tính thực lại là yếu tố đầu tiên cần và phải có – đó là cái thực của vật liệu trong lớp học, từ đồ chơi đến rèm cửa, áo quần; mọi vật liệu là tự nhiên, có thật, tuyệt đối không sử dụng vật liệu nhân tạo. Sự đòi hỏi tính thực của vật liệu này xem ra có vẻ nhiêu khê nếu chúng ta không thấu hiểu và trân trọng sự phát triển của trẻ được như Steiner – ông cho rằng, chỉ khi tiếp xúc với các vật liệu thực, trẻ mới phát triển các giác quan thực nhất, tinh tế nhất, mọi sự ngụy tạo dù đạt trạng thái tinh xảo hơn thực đều đem lại sự giả tạo đối với các giác quan, mà giai đoạn ấu thơ lại là giai đoạn quan trọng nhất để duy trì và phát triển sự tinh nhạy này.   Cái thực khó hơn nữa là thực trong từng hành động, cảm xúc của giáo viên; giáo viên làm việc say sưa phải là sự say sưa thực, không phải sự vờ làm; yêu thương cũng phải là yêu thương thực lòng chứ không phải chỉ ở cử chỉ bên ngoài; sự giận dữ nơi giáo viên là yếu tố không được có mặt trong bất cứ tình huống nào; nhưng nếu chưa đạt tới trạng thái này thì việc giáo viên chọn bộc lộ sự giận dữ thực sẽ tốt hơn sự giả tạo yêu thương khi đang giận dữ. Bởi, ông cho rằng trẻ có thể “thấy” được con người bên trong của người lớn, mọi sự giả tạo trong cảm xúc trẻ sẽ thẩm thấu; và đó không phải là con người tự do mà Steiner hướng tới.  Xây dựng năng lực và phẩm hạnh bằng sự tôn trọng   Ngay từ bậc mầm non, trẻ được tôn trọng như một cá thể Người với đầy đủ năng lực và phẩm hạnh; giáo viên tuyệt đối chỉ là người quan sát, quan sát chăm chú và khách quan để giúp trẻ phát triển hài hòa nhất mà không phán xét. Để đạt tới con người tự do, trẻ phải được tự do với mọi sợ hãi, tự do với uy quyền của người lớn, tự do ngay cả với sự ái ngã. Sự trừng phạt làm gia tăng sự sợ hãi với uy quyền. Sự tưởng thưởng làm gia tăng sự ái ngã, sự phụ thuộc vào đám đông, sự công nhận bên ngoài bản thân mình.  Việc không phán xét, không tưởng thưởng hay trừng phạt trong các ngôi trường mầm non Steiner làm nảy nở một cách tự nhiên sự hợp tác và tình yêu thương giữa các cá thể, trẻ con với trẻ con, trẻ con với người lớn. Trẻ con vui đùa bên nhau, trong sự quan sát và đảm bảo an toàn của người lớn, khám phá một cách không cần ý thức các năng lực nội tại, nuôi dưỡng niềm đam mê qua từng việc làm, việc chơi hằng ngày bởi chúng thích và cần làm, chứ không bởi bất cứ sự thưởng phạt nào nơi giáo viên. Thậm chí, thực tế là trong các lớp mầm non Steiner còn không có đến cả câu mệnh lệnh.  Vậy tại sao các lớp mầm non Steiner lại đạt tới trạng thái kỷ luật cao như vậy? Trẻ con đến giờ ăn ngồi ngay ngắn ăn uống, đến giờ ngủ tự đi lấy chăn đệm và nằm ngủ ngoan, giờ kể chuyện ngồi yên ắng chăm chú nuốt từng lời của cô? Nghe có vẻ phi lý khi mà chúng ta quen với việc nuôi nấng trẻ bằng hàng loạt các câu mệnh lệnh và vô số các kỹ xảo thưởng phạt. Tính nhịp điệu trong các giờ sinh hoạt, nhịp điệu của ngày, của mùa, của năm, của các lễ hội, của vũ trụ và sự kiên nhẫn đến vô cùng, sự yêu thương mà rắn rỏi không bi lụy của giáo viên làm nên kỳ tích này.  Nuôi dưỡng lòng biết ơn   Ai đó sẽ e ngại cho rằng trẻ con được “nuông chiều” đến như vậy dễ “sinh hư” lắm. Ấy vậy mà, trong các lớp học mầm non Steiner, trẻ con tự do là thế mà lại vô cùng nhã nhặn và khiêm nhường (sự khiêm nhường này dễ nhìn thấy khi trẻ đã lớn, khoảng độ tuổi tiểu học); có lẽ bởi ngay từ mầm non trẻ được sống trong bầu không khí của lòng biết ơn. Các bài hát, các hoạt động có sự tổ chức, hướng dẫn của thầy cô, các lễ hội, đến cách trang trí lớp học đều thấm nhuần sự biết ơn đối với tạo hóa, thiên nhiên, vũ trụ; không phải sự yếm thế hay sùng kính tôn giáo như nhiều người duy vật cực đoan phản đối nền giáo dục Steiner.  Khi chúng ta có lòng biết ơn, chúng ta sẽ sống vị tha hơn, yêu thương hơn, bình an hơn. Và lòng biết ơn được nuôi dưỡng từ tấm bé sẽ là gốc rễ vững chắc cho ta đứng trước những giông bão của cuộc sống, giữ tâm bình an và mạnh mẽ, bởi từ sâu thẳm ta biết ơn cuộc sống này, với tất cả những hạnh phúc, đắng cay của nó.   Kỳ tới: Giáo dục Steiner ở bậc tiểu học  ——–  1 Bí ẩn tuổi thơ, Montessori, NXB Tri Thức, 2013, Nghiêm Phương Mai dịch.  2 Philosophy of Freedom, R. Steiner; https://en.wikipedia.org/wiki/Rudolf_Steiner.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nguyên tắc đạo đức trong giảng dạy đại học      Những nguy&#234;n tắc đạo đức trong giảng dạy đại học được Society for Teaching and Learning in Higher Education (STLHE) x&#226;y dựng l&#224; một tập hợp những nguy&#234;n tắc đạo đức căn bản x&#225;c định tr&#225;ch nhiệm nghề nghiệp của c&#225;c gi&#225;o sư đại học trong vai tr&#242; giảng vi&#234;n, được x&#226;y dựng dưới dạng những hướng dẫn chung, những ti&#234;u chuẩn l&#253; tưởng, hay những kỳ vọng. Ch&#250;ng cần phải được x&#233;t đến trong khi thiết kế v&#224; ph&#226;n t&#237;ch c&#244;ng việc giảng dạy, c&#249;ng với những điều kiện v&#224; ho&#224;n cảnh li&#234;n quan kh&#225;c; những nguy&#234;n tắc n&#224;y kh&#244;ng phủ nhận quyền tự do học thuật, m&#224; thay v&#224;o đ&#243;, n&#243; m&#244; tả những c&#225;ch kh&#225;c nhau để thực h&#224;nh quyền tự do học thuật một c&#225;ch c&#243; tr&#225;ch nhiệm.    Năng lực về nội dung giảng dạy  Giảng viên đại học phải duy trì vốn hiểu biết về nội dung giảng dạy ở tầm mức cao và bảo đảm nội dung khoá học luôn được cập nhật, chính xác, tiêu biểu, và phù hợp với vị trí của khoá học xét trong toàn bộ chương trình học của sinh viên.  Để đạt được năng lực về nội dung giảng dạy, giảng viên phải chủ động cập nhật các lĩnh vực nội dung liên quan đến những khoá học mà mình giảng dạy; nắm được nội dung của các khoá học mà sinh viên phải học trước khi theo học khoá này cũng như các khoá học sử dụng khoá học hiện tại như là yêu cầu tiên quyết; và phải cung cấp một lượng phù hợp những kiến thức tiêu biểu về các chủ đề và quan điểm quan trọng.   Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc này bao gồm trường hợp giảng viên dạy những môn học mà mình không có đủ nền tảng kiến thức, diễn giải sai các bằng chứng nghiên cứu để ủng hộ một lý thuyết hay một chính sách mà mình tán thành, hay giảng viên chỉ dạy những chủ đề mà mình quan tâm trong khi người đó có trách nhiệm dạy một khoá học làm nền tảng cho những khoá học khác.   Năng lực sư phạm  Giảng viên có năng lực sư phạm là người nắm được các phương pháp hay chiến lược giảng dạy khác nhau khi truyền đạt những mục tiêu của khoá học cho sinh viên, và lựa chọn những phương pháp giảng dạy giúp sinh viên đạt được những mục tiêu của khoá học một cách hiệu quả.   Để duy trì năng lực sư phạm, giảng viên phải tích cực cập nhật các chiến lược giảng dạy nhằm giúp sinh viên học các kiến thức và kỹ năng phù hợp và tạo ra các cơ hội giáo dục bình đẳng cho các nhóm sinh viên khác nhau. Điều này đòi hỏi giảng viên phải đọc nhiều tài liệu giáo dục tổng quan hay chuyên ngành, tham dự hội thảo, hội nghị, và thử nghiệm các phương pháp giảng dạy khác nhau trong một khoá học nhất định hay với một nhóm sinh viên nhất định.   Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc này bao gồm việc sử dụng phương pháp giảng dạy hoặc đánh giá không phù hợp với các mục tiêu đã nêu của khoá học (ví dụ, đề thi chỉ bao gồm những câu hỏi đánh giá khả năng ghi nhớ dữ kiện trong khi mục tiêu chính của khoá học là dạy các kỹ năng giải quyết vấn đề), và không tạo đủ cơ hội cho sinh viên thực hành hay học những kỹ năng nêu trong mục tiêu của khoá học và sẽ được kiểm tra trong kỳ thi cuối khoá.  Xử lý các chủ đề nhạy cảm                Các chủ đề có thể khiến sinh viên cảm thấy khó chịu hoặc nhạy cảm phải được xử lý một cách cởi mở, trung thực, và tích cực.  Nguyên tắc này còn có nghĩa là giảng viên cần nêu rõ cách nhìn nhận của mình về vấn đề và so sánh quan điểm đó với những cách tiếp cận hay cách lý giải khác, từ đó giúp sinh viên hiểu tính phức tạp của vấn đề và những khó khăn trong việc đạt tới một kết luận “khách quan” duy nhất. Cuối cùng, để tạo một môi trường cởi mở và an toàn cho thảo luận trong lớp, giảng viên mời tất cả các sinh viên nêu quan điểm của mình về vấn đề này, nêu ra các quy định nền tảng để thảo luận, tôn trọng các sinh viên thậm chí cả khi cần phải bày tỏ ý kiến bất đồng, và khuyến khích các sinh viên tôn trọng nhau.   Một ví dụ về chủ đề nhạy cảm là trường hợp một bộ phim có chiếu các cảnh lạm dụng trẻ em trong một lớp tâm lý học phát triển mà không báo trước. Nếu một bộ phim như vậy có giá trị sư phạm, thì sự bực bội và khó chịu của sinh viên có thể được giảm đến mức tối thiểu nếu giảng viên nói trước với sinh viên về nội dung của bộ phim, giải thích tại sao bộ phim được đưa vào chương trình học, và tạo cơ hội cho sinh viên trao đổi cảm nghĩ của mình về bộ phim đó.   Sự phát triển của sinh viên  Trách nhiệm bao trùm của giảng viên là góp phần vào sự phát triển trí tuệ của sinh viên, ít nhất là trong lĩnh vực chuyên môn của mình, và tránh những việc như lợi dụng và phân biệt đối xử làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên.   Theo nguyên tắc này, trách nhiệm cơ bản nhất của giảng viên là thiết kế việc giảng dạy làm sao để thúc đẩy việc học và khuyến khích khả năng tự quyết và tư duy độc lập ở sinh viên, đối xử với sinh viên với sự tôn trọng và đề cao phẩm giá, tránh các hành động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên. Việc thiếu trách nhiệm đối với sự phát triển của sinh viên thể hiện trong trường hợp giảng viên lên lớp mà không chuẩn bị đầy đủ, không thiết kế được cách giảng dạy hiệu quả, buộc sinh viên phải chấp nhận một giá trị hay một quan điểm nào đó, hoặc không thảo luận về các cách diễn giải lý thuyết khác nhau (xem thêm Nguyên tắc 1, 2, và 3).  Các ví dụ ít rõ ràng hơn về việc thiếu trách nhiệm đối với sự phát triển của sinh viên có thể gồm những trường hợp giảng viên làm ngơ đối với sự khác biệt về quyền hạn giữa họ với sinh viên và xử sự theo kiểu lợi dụng hay hạ thấp giá trị của sinh viên. Những hành vi này bao gồm phân biệt đối xử theo giới tính hay sắc tộc; nhận xét mỉa mai về sinh viên; nhận mình là tác giả chính hay tác giả duy nhất của một ấn phẩm báo cáo kết quả nghiên cứu do sinh viên nêu ra, thiết kế, và thực hiện; không thừa nhận những điểm vay mượn về mặt học thuật hay trí tuệ từ sinh viên; và giao cho sinh viên các công trình nghiên cứu phục vụ cho những nhu cầu của giảng viên mà không liên quan đến những mục tiêu giáo dục của khoá học.   Trong một số trường hợp, trách nhiệm của giảng viên trong việc đóng góp vào sự phát triển của sinh viên có thể mâu thuẫn với trách nhiệm của giảng viên đối với các tổ chức khác như nhà trường, ngành học, hay xã hội nói chung. Ví dụ, điều này có thể xảy ra khi một sinh viên kém yêu cầu viết thư giới thiệu để theo học ở cấp cao hơn, hay khi một sinh viên có khiếm khuyết về khả năng học tập đề nghị xin được giúp đỡ mà việc này lại đòi hỏi phải điều chỉnh những tiêu chuẩn cho điểm hay điều kiện tốt nghiệp thông thường. Giảng viên lúc đó phải cân nhắc tất cả những trách nhiệm mâu thuẫn nhau, có thể tham khảo ý kiến các cá nhân khác để đưa ra một quyết định hợp lý.   Xử lý mối quan hệ với sinh viên  Để tránh xung đột lợi ích, giảng viên tránh có những mối quan hệ kép (dual-role relationships) với sinh viên vốn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên hoặc dẫn tới việc giảng viên thật sự thiên vị hay bị cho là thiên vị sinh viên.  Nguyên tắc này có nghĩa là trách nhiệm của giảng viên là giữ những mối quan hệ của mình với sinh viên tập trung vào các mục đích sư phạm và yêu cầu về mặt học thuật.   Ví dụ rõ ràng nhất về một mối quan hệ kép có nhiều khả năng ảnh hưởng đến tính khách quan của giảng viên và/hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên là bất kỳ hình thức quan hệ tình cảm hay quan hệ riêng tư mật thiết nào với một người đang là sinh viên của mình. Các mối quan hệ kép có thể gây rắc rối khác bao gồm: chấp nhận vai trò giảng dạy (hay chấm điểm) cho một người trong gia đình gần gũi, bạn thân, khách hàng, bệnh nhân, hay đối tác trong công việc; thân mật thái quá đối với sinh viên hay nhóm sinh viên bên ngoài lớp học; cho sinh viên mượn tiền hay vay tiền từ sinh viên; tặng quà hay nhận quà; và đưa vào khoá học yêu cầu sinh viên tham gia vào một phong trào chính trị mà giảng viên này ủng hộ. Ngay cả khi giảng viên tin rằng mình giữ được sự công tâm trong những tình huống như trên, việc các sinh viên khác cho rằng có sự thiên vị cũng đã tai hại về mặt giáo dục giống như sự thiên vị hoặc thiếu công tâm thực sự. Nếu giảng viên thật sự có mối quan hệ kép với sinh viên, ngay cả khi đã cố gắng không để điều đó xảy ra, thì giảng viên đó phải có trách nhiệm thông báo với người giám sát càng sớm càng tốt để sắp xếp người khác hướng dẫn hoặc đánh giá kết quả học tập cho sinh viên này.  Mặc dù có những lợi ích rõ ràng về mặt sư phạm trong việc thiết lập những mối liên hệ tốt với sinh viên và tiếp xúc với sinh viên cả trong và ngoài lớp học, nhưng có những nguy cơ nghiêm trọng về việc lợi dụng, hạ thấp tiêu chuẩn học thuật, và gây nguy hại tới sự phát triển của sinh viên. Giảng viên có trách nhiệm ngăn không cho những nguy cơ này trở thành những xung đột lợi ích thực sự hoặc khiến người khác nghĩ như vậy.  Bảo mật  Điểm số, phiếu đánh vắng, và các trao đổi cá nhân được xem là những thông tin mật, và chỉ được công bố nếu có sự đồng ý của sinh viên, hoặc vì những mục đích học thuật chính đáng, hay nếu có các cơ sở hợp lý để tin rằng việc công khai những thông tin đó sẽ có ích cho sinh viên hay sẽ ngăn được mối nguy hại đối với người khác.   Nguyên tắc này nghĩa là sinh viên có quyền hưởng mức độ bảo mật trong mối quan hệ với giảng viên ngang với mức bảo mật trong quan hệ luật sư-khách hàng hay bác sĩ-bệnh nhân. Vi phạm nguyên tắc bảo mật trong quan hệ giảng viên-sinh viên có thể làm sinh viên mất lòng tin ở giảng viên và giảm động lực học tập. Bất kỳ quy định hay chích sách nào được áp dụng liên quan đến việc bảo mật các thông tin của sinh viên đều phải được công bố đầy đủ cho sinh viên từ đầu học kỳ.  Nếu không có cơ sở đầy đủ (ví dụ, được sinh viên đồng ý, có mục đích chính đáng, hay có lợi cho sinh viên), thì bất kỳ việc nào sau đây cũng đều bị coi là vi phạm nguyên tắc bảo mật: cung cấp các tài liệu về kết quả học tập của sinh viên cho một người có thể là người tuyển dụng lao động, nghiên cứu viên, bàn bạc về điểm số hay các vấn đề học thuật của sinh viên với một giảng viên khác; và sử dụng các thông tin trao đổi riêng tư với sinh viên làm tài liệu giảng dạy hay nghiên cứu…   Tôn trọng đồng nghiệp  Giảng viên đại học tôn trọng phẩm giá của đồng nghiệp mình và làm việc trong sự cộng tác với đồng nghiệp để thúc đẩy sự phát triển của sinh viên.  Nguyên tắc này có nghĩa rằng trong những tương tác giữa đồng nghiệp với nhau liên quan đến việc giảng dạy, mối quan tâm bao trùm là sự phát triển của sinh viên. Nếu có thể thì những bất đồng giữa đồng nghiệp với nhau liên quan đến việc giảng dạy nên được giải quyết riêng và không để ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên. Nếu giảng viên nghi ngờ đồng nghiệp của mình không đủ năng lực hay vi phạm đạo đức giảng dạy thì người này có trách nhiệm tìm hiểu vấn đề này một cách thấu đáo và tham khảo ý kiến riêng với đồng nghiệp đó trước khi có bất cứ hành động nào khác.   Một biểu hiện cụ thể của việc không tôn trọng đồng nghiệp là khi trong lớp học, giảng viên đưa ra những nhận xét không có lý do xác đáng nhằm hạ thấp năng lực của một giảng viên khác, hoặc giáo sư A nói với sinh viên rằng các thông tin do giáo sư B cung cấp vào năm trước là không có ích gì và sẽ bị thay bởi thông tin của giáo sư A hiện đang dạy khoá học đó…   Đánh giá sinh viên phù hợp  Xét tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong giảng dạy đại học cũng như trong cuộc sống và sự nghiệp của sinh viên, các giảng viên có trách nhiệm thực hiện các bước thích hợp để bảo đảm việc đánh giá sinh viên là đúng đắn, cởi mở, công bằng, và phù hợp với các mục tiêu của khoá học.   Nguyên tắc này có nghĩa là giảng viên ý thức được về những ưu khuyết điểm của các phương pháp đánh giá khác nhau và dựa vào đó để lựa chọn những cách đánh giá cho điểm sinh viên phù hợp với các mục tiêu của khoá học, càng chính xác và càng đáng tin cậy càng tốt.   Thực hiện nguyên tắc này, cách thức đánh giá và các tiêu chuẩn cho điểm phải được thông tin rõ ràng đến sinh viên khi bắt đầu khoá học, và không được làm khác đi so với những điều đã thông báo, trừ những trường hợp đặc biệt. Những bài thi, bài luận, và bài tập của sinh viên được cho điểm cẩn thận và công bằng thông qua một hệ thống chấm điểm hợp lý mà sinh viên có thể hiểu được. Giảng viên cung cấp cho sinh viên nhận xét chính xác và kịp thời về việc học của sinh viên một cách thường xuyên trong suốt khóa học, kèm theo giải thích về cách cho điểm và những gợi ý mang tính xây dựng về việc làm thế nào để sinh viên có thể học tốt hơn. Giảng viên cần giữ sự công tâm và khách quan khi viết thư giới thiệu sinh viên.  Tôn trọng nhà trường  Vì những lợi ích đối với sự phát triển của sinh viên, giảng viên đại học ý thức và tôn trọng các mục tiêu, chính sách, và tiêu chuẩn giáo dục của cơ sở nơi mình giảng dạy.  Nguyên tắc này có nghĩa giảng viên chia sẻ trách nhiệm tập thể, cùng làm việc vì lợi ích của nhà trường nói chung, đề cao những mục tiêu và tiêu chuẩn giáo dục của nhà trường, và tuân thủ những chính sách và quy định của trường liên quan đến việc giáo dục sinh viên.   Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc tôn trọng nhà trường bao gồm việc tham gia quá mức vào các công việc bên ngoài trường đại học mà gây xung đột với những trách nhiệm giảng dạy đại học; và không nhận thức được hoặc không tuân thủ những quy định của nhà trường về việc cung cấp đề cương khoá học, về sắp xếp lịch thi, hay về các hành vi học thuật sai trái.  Tô Diệu Lan  dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà canh tân lạc quan      Câu chuyện về lớp trí thức Canh Tân đầu thế kỷ XX cùng niềm tin của họ vào sự nghiệp “khai dân trí, chấn dân khí, đào tạo nhân tài” và tương lai của dân tộc đã được mở ra qua cuộc trò chuyện cùng TS Nguyễn Phương Ngọc, Phó giáo sư về văn học, ngôn ngữ và văn minh Việt Nam tại ĐH Provence, Pháp.      Vì sao chị quan tâm đến đề tài trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX và chọn đây làm đề tài luận án tiến sĩ?  Đề tài luận án của tôi là về các nhà nhân học Việt Nam đầu tiên, thế hệ nửa đầu thế kỷ XX. Tôi chọn đề tài này là vì trước năm 1945 đã có một nhóm các nhà nghiên cứu người Việt có những công trình nghiên cứu về con người và xã hội Việt Nam rất có giá trị, ngang tầm các học giả quốc tế cùng thời, nhưng lại ít được biết đến ở trong nước. Ngoài ra các nghiên cứu này có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Việt Nam độc lập từ sau 1945.  Đâu là niềm tin của những người trí thức như Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố… khi thành lập những phong trào truyền bá tri thức, thưa chị?   Phần lớn các trí thức của những năm đầu thế kỷ XX đều học trường Pháp nhưng có tâm tư của người dân mất nước, người dân thuộc địa nên rất quan tâm tới văn hóa – văn học Việt Nam, muốn làm một cái gì đó để chứng tỏ dân tộc mình không thua kém người ta.           TS Nguyễn Phương Ngọc               Bảo vệ luận án tiến sĩ xã hội học tại ĐH Provence, Aix-en-Provence, Pháp năm 2004 với đề tài “Tìm về cội nguồn của nhân học ở Việt Nam”. Nghiên cứu về thế hệ các nhà dân tộc học/nhân học người Việt thứ nhất dưới sự hướng dẫn của GS Trịnh Văn Thảo – người đã nhiều năm nghiên cứu về các nhà Nho và trí thức Việt Nam giai đoạn cuối XIX và đầu XX.               Hiện giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam tại ĐH Provence.         Thế hệ trí thức thời kỳ này rất có tinh thần học hỏi những cái mới của phương Tây về truyền thụ lại và sáng tạo nên cái mới cho mình. Theo họ, Việt Nam muốn giành lại được chủ quyền thì phải đi học phương Tây trước. Tạp chí Tri Tân cho rằng, văn hóa Việt Nam bấy giờ như ngôi nhà đổ nát cần phải xây dựng lại, giống như một gia đình lâu nay không biết truyền thống có gì, ngày lễ Tết không biết giỗ lễ ra làm sao, bây giờ phải gây dựng lại. Trong gia đình thì đi tìm lại xem ông bà tổ tiên làm gì, ngày tháng năm sinh năm mất ra sao… Còn với một dân tộc, phải tìm lại lịch sử. Đó cũng là lý do bên cạnh những tác phẩm mới của thời đại, Tri Tân đăng tải những bài sử cổ, văn học cổ.   Trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ II (1939-1945), nhiều trí thức nhận thấy rõ có một cái gì đó sẽ xảy ra, thời thế sẽ thay đổi. Hoàng Xuân Hãn nói rất rõ về giai đoạn này, và làm những việc như truyền bá chữ quốc ngữ, dịch danh từ khoa học, nghiên cứu về văn học cổ, cổ sử cũng với mục đích tìm hiểu về dân tộc mình để có cơ sở xây dựng một đất nước mới.   Cách thức truyền thụ kiến thức khoa học và tinh thần khoa học phương Tây vào xã hội Việt Nam thời thuộc địa như thế nào?   Việc truyền thụ kiến thức khoa học và tinh thần khoa học phương Tây được tiến hành bằng nhiều cách. Hội Trí Tri có những buổi diễn thuyết ở trình độ cao, có tập san để phổ biến rộng rãi hơn, gửi đi chi nhánh của hội Trí Tri ở các nơi. Trong các lớp học của hội, trẻ em được học theo phương pháp mới: dạy chữ Hán không theo kiểu học thuộc lòng ngày xưa mà học mỗi một chữ phải tìm hiểu lịch sử của nó như thế nào.   Qua những cuộc tranh luận trên báo chí, những kiến thức khoa học được truyền bá ra cho mọi người. Những người như cụ Nguyễn Văn Tố cũng rất quan tâm tới điều này khi trả lời thư bạn đọc. Khi được hỏi về một vấn đề, cụ thường viết ở các nước phương Tây họ nghiên cứu như thế nào, có những tài liệu gì về vấn đề này… Cả một thư mục và phương pháp tiếp cận được trình bày.   Theo cụ Nguyễn Văn Tố, không phải người xưa nói thế nào cũng nghe theo, không phải cái gì mình viết ra cũng được cho là đúng. Phải kiểm tra được thì mới là khoa học. Mình viết cho người ta phải trích dẫn nguồn gốc tài liệu rõ ràng để người ta có thể kiểm tra được. Như làm thí nghiệm, phải làm lại được kết quả mới được công nhận; khoa học xã hội và nhân văn cũng vậy.           GS. Đào Duy Anh     Nguyễn Văn Tố            Cụ Nguyễn Văn Tố có một loạt bài tranh luận với nhà văn Ngô Tất Tố về cách thức trích dẫn tên của các tác phẩm cổ trong cuốn sách về văn học cổ của nhà văn. Theo cụ Nguyễn Văn Tố, khi đưa ra một tác phẩm thì phải càng biết nhiều về tác phẩm đó càng tốt sau, tạo thuận lợi cho việc tìm kiếm về sau. Và quả thực Viễn Đông Bác Cổ đã tìm lại được nhiều văn bản cổ nhờ những thông tin chi tiết như thế.   Những học giả của giai đoạn này cũng rất chú trọng tới việc dịch những tác phẩm của các học giả nước ngoài chủ yếu là từ tiếng Pháp. Hoạt động này giúp cập nhật kiến thức mới về các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Chính vì vậy mà khi Việt Nam giành được độc lập, trường đại học đầu tiên (khai giảng ngày 15/11/1945) đã có thể mở Khoa Xã hội học và Nhân chủng học (bây giờ là Nhân học), dạy và học đều bằng tiếng Việt.  Hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở giai đoạn đầu thế kỷ XX có gì đặc biệt?  Nghiên cứu về Việt Nam lúc đó còn rất mới, chủ yếu do các nhà Đông phương học người châu Âu. Nhóm nghiên cứu người Việt tại Viễn Đông Bác Cổ mở ra những hướng nghiên cứu về văn hóa Việt Nam một cách có bài bản và ngang tầm với các học giả phương Tây.   Trước đó, ta mới chỉ có những ghi chép, bình luận của các nhà Nho học. Thấy các học giả phương Tây quan tâm đến những vấn đề của mình mới có những người nghiên cứu về văn hóa và xã hội Việt Nam. Ví dụ, họ xem ca dao tục ngữ là một đối tượng nghiên cứu, còn mình mới chỉ đơn giản dừng lại ở việc sưu tầm. Năm 1928 – 1929 Nguyễn Văn Ngọc xuất bản sách nghiên cứu về ca dao tục ngữ Việt Nam. Cụ Nguyễn Văn Tố mới bình trên tập san Viễn Đông Bác Cổ là bây giờ thì người Việt mới quan tâm nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam.                 Thông qua nghiên cứu về văn hóa, xã hội Việt Nam, các học giả người Việt muốn thử sức mình với các học giả phương Tây. Nguyễn Văn Huyên khi lấy bằng tiến sĩ ở Pháp về có nói với Nguyễn Mạnh Tường rằng công việc tâm huyết của ông là nghiên cứu khoa học để cho thế giới thấy người Việt có thể sánh ngang với các học giả thế giới. Và thực sự ông đã làm được điều đó. Ông không chọn con đường làm quan mà đi dạy học trong vài năm đầu về nước và sau đó chuyển sang làm việc tại Viễn Đông Bác Cổ là Viện nghiên cứu hàng đầu thế giới về châu Á. Ông được bổ nhiệm là thành viên khoa học chính thức của Viện vào năm 1939, đó là lần đầu tiên Viện có một thành viên khoa học không phải là người Pháp. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao chức vụ Tổng giám đốc đại học vụ kiêm Giám đốc Viễn Đông Bác Cổ, có nghĩa là người tổ chức việc đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là người tổ chức việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên toàn nước.   Cũng cần phải nhắc đến Viện Nghiên cứu Đông Dương về con người được thành lập năm 1938 sau một quá trình cùng bàn bạc của một nhóm học giả người Pháp và người Việt. Điều này chứng tỏ người Pháp đã bắt đầu chính thức công nhận khả năng của người Việt trong nghiên cứu xã hội nhân văn.   Có thể nhắc đến sự kiện năm 1942 Đào Duy Anh, với tư cách là Chủ tịch ban Việt Học của Hội Quảng Tri ở Huế, viết bức thư cho Giám đốc Viễn Đông Bác Cổ đề nghị hai bên cùng hợp tác nghiên cứu một cách rất bình đẳng. Lý do là Đào Duy Anh lúc đó có thư viện cá nhân rất quý, cụ đã dày công sưu tầm từ các thư viện của các gia đình ở Huế.   Những tạp chí như Tri Tân, Thanh Nghị… đóng vai trò gì trong hoạt động tinh thần của tầng lớp trí thức hồi đầu thế kỷ XX?   Những năm 40 trong thời điểm chiến tranh, tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị vẫn ra đều đặn các số với nội dung phong phú, những bài viết có giá trị thì những người chủ bút phải có tâm và có niềm tin rất lớn mới làm được như vậy. Tạp chí Tri Tân thường đăng tiểu thuyết lịch sử, kịch thơ lịch sử. Tạp chí Thanh Nghị của một nhóm của các cử nhân Luật trẻ tuổi, có tâm huyết với xã hội duy trì, tự nuôi sống bằng tiền bán báo và các nguồn thu nhập khác của cá nhân. Tạp chí có nhiều bài viết sâu sắc về các vấn đề thời sự, kinh tế, luật, giáo dục…  Tôi không rõ các tạp chí này tác động tới xã hội nói chung như thế nào. Nhưng chắc chắn là có tác dụng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp vì những người tham gia viết cho các tạp chí này đều là những học giả có uy tín trong xã hội ví dụ như cụ Nguyễn Văn Tố – trưởng hội Trí Tri và Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ. Thông qua hoạt động của hội cũng như của các tạp chí, những tư tưởng của các trí thức thời đó được truyền bá rộng. Cách mạng Tháng Tám và phong trào xóa nạn mù chữ thành công là vì trước đó đã có một giai đoạn chuẩn bị của rất nhiều người dưới nhiều hình thức khác nhau hướng tới thời điểm dân tộc được độc lập.   Từ kinh nghiệm của chị, việc làm luận án về một đề tài Việt Nam ở Pháp có những thuận lợi hơn so với ở Việt Nam?  Theo tôi, làm một luận án khoa học cần có phương pháp và có tài liệu. Giải quyết được hai vấn đề đó thì làm ở Việt Nam hay ở Pháp cũng đều có giá trị như nhau. Thuận lợi và bất lợi thì còn phải phụ thuộc vào từng đề tài, từng nghiên cứu sinh và thầy hướng dẫn, cũng như địa điểm của trường. Ví dụ nếu làm luận án về lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc nếu làm ở Aix-en-Provence thì có thuận lợi là có kho Lưu trữ hải ngoại ở ngay cạnh trường, nhưng cũng phải đi đọc tài liệu ở các kho lưu trữ và các thư viện khác. Vấn đề quan trọng là một luận án phải đưa ra được những cái mới (về phương pháp, tài liệu, kết luận), có nghĩa là tự mình phải tự lực nhiều, chứ không thể chỉ đọc các sách đã xuất bản và “thu hoạch” là xong. Chúng ta còn cần phải học thái độ, tinh thần và phương pháp khoa học của các cụ trước 1945 nhiều!  Cảm ơn chị.              Ngọc Tú    thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà toán học đỉnh cao phải chăng là những cựu học sinh chuyên Toán ?      Đó là câu hỏi đặt trước cho tôi khi tôi vinh dự được Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm năm năm “Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học” và thành lập “Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán” mời tham gia tọa đàm “Chuyên Toán đi đâu, về đâu?” ngày 20/12/2015.       Để tránh những cãi vã vô hồi có thể nổ ra quanh chữ “đỉnh cao”, tôi xin chỉnh lại câu hỏi một chút, thế này: “Những nhà toán học hàng đầu của nước ta, họ là ai? Phải chăng họ là những cựu học sinh chuyên Toán?”  Phải nói ngay rằng những bàn luận sau đây của tôi chỉ nhằm cố gắng đưa ra một cái nhìn phản biện đa chiều, và không nhằm mục đích phê phán ai.   Tôi tập trung sự chú ý vào chừng 20-30 nhà toán học người Việt được xem là thành đạt nhất hiện nay, ở trong cũng như ngoài nước. Phải thừa nhận rằng ở độ tuổi sinh từ 1950 trở lại đây, (tức là độ tuổi vào học cấp 3 khi đã có hệ Phổ thông Chuyên Toán, lúc đầu ở miền Bắc, sau 1975 được lập trong cả nước), rất khó tìm được một nhà toán học thành đạt người Việt lại không phải là cựu học sinh chuyên toán.   Từ quan sát đó, nếu kết luận ngay rằng hệ Phổ thông Chuyên Toán đã thành công, thậm chí không thay thế được, trong việc đào tạo cả một thế hệ làm Toán thành đạt, thì tôi e hơi vội vàng và khiên cưỡng.  Vì sao? Một quan sát khác cho thấy tất cả những đồng nghiệp nước ngoài trong chuyên ngành Tôpô Đại số mà tôi từng gặp trên toàn thế giới đều chưa từng học lớp chuyên toán. Không có con số thống kê, nhưng bằng quan sát trực tiếp, tôi thấy phần lớn các nhà toán học thành đạt trên thế giới đều chưa từng học lớp chuyên toán. Họ là các công dân các quốc gia có nền khoa học phát triển: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật…, nơi thậm chí các lớp chuyên toán không tồn tại.   Vậy phải chăng ta nên nhận định một cách khiêm nhường hơn: Ở nước ta, hệ Phổ thông Chuyên Toán đã thành công trong việc đào tạo một thế hệ làm Toán?         Tôi có một ước mơ, mong sao hệ  chuyên Toán của nước ta không chỉ thành công ở cấp độ phổ thông, mà còn  thành công ngay cả ở cấp độ đại học, khiến cho chúng ta có thể cạnh  tranh được với những đại học hàng đầu thế giới.        Ngay cả kết luận như thế, tôi e rằng vẫn vội vàng. Vì sao vậy? Bởi vì, các lớp chuyên Toán ở ta khi tuyển sinh đã gần như vét sạch những học sinh tỏ ra có năng khiếu về toán từ nhỏ; Những người này, vốn là những tinh hoa của đất nước, dù học hay không học chuyên Toán, nhiều người trong số họ cũng có thể trở thành các nhà toán học. Nếu như không trở thành các nhà toán học, họ cũng có thể trở thành các nhà khoa học trong những lĩnh vực khác, hay trở thành các nhà văn, các nhà nghiên cứu Văn học, hoặc các nhà hoạt động nghệ thuật.   Vậy phải chăng ta nên kết luận: Ở nước ta, hệ Phổ thông Chuyên Toán đã phát hiện và bồi dưỡng những mầm non Toán học, giúp cho việc hình thành sớm hơn và rực rỡ hơn các nhà toán học hàng đầu? Tôi cho rằng kết luận như vậy vẫn vội vàng.  Chẳng cứ trong Toán, hãy nhìn sang môn Cờ Vua. Chúng ta có thể nhất thế giới ở độ tuổi U10, thứ nhì thế giới độ tuổi U12, thứ ba thế giới độ tuổi U14… Nhưng đến U18 thì không thấy chúng ta đâu nữa. Nếu thi đấu mọi lứa tuổi, rất ít thấy các kỳ thủ Việt Nam ở đẳng cấp quốc tế. Có lẽ, chúng ta luyện cho các em sớm quá, nhưng không đủ sức đưa các em đi xa.   Thế giới có trường chuyên lớp chọn hay không? Thưa rằng họ có các trường phổ thông đặc biệt. Vậy họ khác chúng ta ở chỗ nào? Thưa rằng, trừ ra tại các nước XHCN cũ, các trường phổ thông đặc biệt tốt của họ, thường có học phí rất cao, không có lớp dạy học trò chuyên về một môn nào như ta cả.  Còn các đại học hàng đầu thế giới, như Princeton, MIT, Harvard…của Mỹ, École Normale Supérieure của Pháp, Cambridge, Oxford của Anh, Bonn, Göttingen của Đức, Tokyo, Kyoto của Nhật đương nhiên chính là các trường chuyên. Nhưng đó là các trường đại học. Ở cấp độ đại học, việc nên hay không nên “luyện gà chọi” tự nó trở nên vô nghĩa.  Ở bậc đại học, chúng ta đã cố gắng tổ chức các trường chuyên, cụ thể là các lớp Cử nhân Khoa học tài năng (CNKHTN). Nhưng chúng ta, cũng giống như trong môn Cờ vua, đã hụt hơi trong công việc này. Trong 18 năm nay, các lớp CNKHTN ở Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQG HN) không thể nói là thành công. Những sinh viên giỏi nhất trong các lớp này, thường chỉ học 1-2 năm trong nước, rồi đi học nước ngoài, và nói chung họ không về nữa. Tôi xin không bàn đến việc sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài, họ nên hay không nên về Việt Nam. Theo tôi,về chuyện này ta nên thuận theo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những sinh viên mà chúng tôi giữ lại trường từ hệ CNKHTN thường là thuộc loại hai. Nhưng họ cũng chỉ ở lại làm trợ giảng 1-2 năm, rồi xin đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, và nói chung họ cũng không về nước nữa. Sau 10 năm (1997-2007), hệ CNKHTN không còn được nhận kinh phí từ ĐHQGHN nữa, chỉ còn kinh phí ít hơn nhiều của trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (ĐHKHTN HN). Đó là một bức tranh nhiều màu xám.   Để kết thúc câu trả lời phỏng vấn này tôi có một ước mơ, mong sao hệ Chuyên Toán của nước ta không chỉ thành công ở cấp độ phổ thông, mà còn thành công ngay cả ở cấp độ đại học, khiến cho chúng ta có thể cạnh tranh được với những đại học hàng đầu thế giới, đào tạo được ngay trong nước những nhà toán học ở đẳng cấp quốc tế, và khiến cho chuyện chảy máu chất xám không còn nữa.  Có lẽ, mong ước ấy của tôi cũng chính là một trong những mục tiêu chính của “Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học” và “Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán” mà hôm nay chúng ta mừng năm năm tuổi đời.   Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán, hạt nhân của Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học, đã tạo điều kiện nghiên cứu tốt, đặc biệt là nghiên cứu theo nhóm, cho các nhà toán học hàng đầu hoặc có nhiều triển vọng của nước ta; đã mời được một số nhà toán học uy tín quốc tế cao đến giảng bài và hợp tác nghiên cứu với các nhà toán học Việt Nam. Mới đây, Viện đã được phép mở Chương trình đào tạo Tiến sĩ Toán học xuất sắc. Đó là những bước đầu hứa hẹn.  Dù sao, năm năm là một quãng thời gian quá ngắn để có thể tổng kết về bất kỳ sự phát triển nào.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhược điểm của giáo dục tinh hoa Mỹ (Kỳ I)      Những trường đại học hàng đầu của Mỹ đã quên mất rằng lí do chúng tồn tại là để tạo ra trí tuệ chứ không phải công ăn việc làm.      Tôi đã không nhận ra những lỗ hổng trong giáo dục của mình cho tới khi 35 tuổi. Đó là khi hệ thống đường ống của căn nhà tôi mới mua cần được sửa chữa, và người thợ nước đang đứng trong căn bếp. Anh ấy ở đó, một người thấp đậm với chòm râu dê, đội mũ thể thao Red Sox, giọng nói đậm đặc thổ âm vùng Boston. Tôi chợt nhận ra mình chẳng biết nói gì với một người như vậy. Kinh nghiệm của anh ta xa lạ với tôi, những giá trị của anh tôi chẳng thể đoán định, còn giọng nói tiếng địa phương kia thật bí ẩn, đến nỗi tôi không biết làm sao để chuyện trò xã giao vài phút trước khi anh bắt tay vào việc. Mười bốn năm giáo dục bậc cao và một mớ bằng cấp Ivy League1, và tôi đứng đó, người cứng đơ và đần thộn. “Thiểu năng Ivy”, một người bạn tôi gọi triệu chứng này như vậy. Tôi có thể trò chuyện với mọi người từ các nước khác, bằng những ngôn ngữ khác, nhưng lại không thể nói chuyện với người đàn ông đang đứng trong chính căn nhà mình.   Chẳng hề ngạc nhiên khi tôi phải mất nhiều năm tháng mới nhận ra được mức độ khiếm khuyết trong giáo dục của mình, bởi giáo dục tinh hoa chẳng khi nào dạy cho bạn về sự khiếm khuyết của nó. Hai mươi tư năm ở Yale và Columbia đã cho tôi thấy, đại học tinh hoa không ngừng khuyến khích sinh viên tự mãn vì đã được tuyển vào trường và hân hoan vì những triển vọng tốt đẹp sau khi tốt nghiệp. Quả thực, những lợi thế của giáo dục tinh hoa là không thể phủ nhận. Bạn học cách tư duy, ít nhất theo một số cách nhất định, và bạn tạo được các mối quan hệ cần thiết để lập bệ phóng vào đời với nhiều phần thưởng được xã hội tôn vinh. Với những thuận lợi như vậy, thật khó để nhận ra rằng giáo dục tinh hoa tuy tạo ra một vài cơ hội nhưng đồng thời hủy đi những cơ hội khác, phát triển một số kỹ năng nhưng đồng thời cũng làm què cụt những kỹ năng khác.   Tự mãn và tự cô lập  Nhược điểm đầu tiên của giáo dục tinh hoa, như tôi nhận ra trong căn bếp ngày ấy, là nó khiến bạn bất lực trong việc nói chuyện với những người không giống mình. Các trường tinh hoa tự hào về sự đa dạng thành phần người học, thế nhưng sự đa dạng đó hầu như chỉ là vấn đề chủng tộc/sắc tộc. Những trường này phần lớn là ngày càng đồng nhất đơn điệu về tầng lớp. Hãy đến các khu sân bãi trong trường và bạn sẽ hứng thú vì thấy con cái của những doanh nhân và giới chuyên gia da trắng học tập và vui chơi bên cạnh con em của những doanh nhân và giới chuyên gia da đen, gốc Á, hay Latin. Mặt khác, những trường này có xu hướng nuôi dưỡng tư tưởng tự do, chúng khiến sinh viên rơi vào thế kẹt, khi mà một mặt chúng đề cao chủ trương đứng về phía tầng lớp lao động, mặt khác lại khiến người ta không thể đồng cảm để có một cuộc nói chuyện đơn giản với những người thuộc tầng lớp này. Hãy xem hai ứng viên Tổng thống gần đây nhất của Đảng Dân chủ, Al Gore và John Kerry: một từ Harvard và một từ Yale, những người nghiêm túc, lịch thiệp, trí tuệ, và cả hai đều không thể giao tiếp với phần đông cử tri thuộc tầng lớp lao động.   Nhưng vấn đề không chỉ là tầng lớp. Nền giáo dục mà tôi trải qua còn dạy tôi tin rằng những người không học ở Ivy hoặc một trường cùng đẳng cấp thì không đáng nói chuyện cùng, dù cho họ thuộc tầng lớp nào. Tôi được trao một thông điệp hiển nhiên rằng những người đó kém cỏi hơn mình, rằng chúng tôi là những người “giỏi nhất và thông minh nhất”, như cách nói phổ biến ở các trường Ivy, và những người khác thì không giỏi bằng, ít thông minh hơn. Tôi học gật đầu một cách thông cảm và hiểu biết “à” khi mọi người nói với tôi rằng họ theo học ở một trường ít danh giá hơn. Tôi chưa bao giờ được học rằng có những người khôn ngoan không theo học đại học tinh hoa, mà lí do chính là vì họ thuộc giai cấp khác. Tôi chưa bao giờ được học rằng có những người khôn ngoan mà không hề học đại học.        Thật khó để nhận ra rằng giáo dục tinh hoa tuy tạo ra một vài cơ hội nhưng đồng thời hủy đi những cơ hội khác, phát triển một số kỹ năng nhưng đồng thời cũng làm què cụt những kỹ năng khác.              ——–              Những cơ sở giáo dục tinh hoa được cho là cung cấp một nền giáo dục nhân văn, nhưng nhược điểm cơ bản của nền giáo dục tinh hoa là nó đã cô lập, tách bạn xa khỏi số đông con người trong xã hội.        Tôi cũng chưa bao giờ học được rằng có những người khôn ngoan nhưng lại chẳng “khôn ngoan” [theo những tiêu chí đánh giá của các trường Ivy]. Trí thông minh mang tính xã hội, trí tuệ cảm xúc, và khả năng sáng tạo, hẵng tạm lấy 3 ví dụ như vậy, là những phẩm chất không được ưu tiên đúng mức trong việc đào tạo ở các đại học tinh hoa. Vậy nên ngày nay, dù các đại học tinh hoa mong muốn tuyển thêm vào trong lứa sinh viên mới một vài người có triển vọng làm diễn viên hay nghệ sĩ violin, thì trong thực tế họ chỉ chọn lựa và phát triển một kiểu tiềm năng trí tuệ duy nhất: kỹ năng phân tích. Tuy đặc thù này cũng khá phổ biến ở tất cả các đại học khác, nhưng ở các trường tinh hoa sinh viên (cũng như hội đồng giảng dạy và giám hiệu) sở hữu kiểu thông minh này ở một mức cao hơn, và có xu hướng phớt lờ giá trị của những dạng trí tuệ khác.   Tôi có người bạn đã học ở một trường Ivy sau khi tốt nghiệp một trường trung học công vô cùng bình thường. Cô nói rằng một trong những giá trị của việc tới học một trường như vậy là nó dạy bạn tương tác và kết nối với những người yếu kém. Những cơ sở giáo dục tinh hoa được cho là cung cấp một nền giáo dục nhân văn, nhưng nhược điểm cơ bản của nền giáo dục tinh hoa là nó đã cô lập, tách bạn xa khỏi số đông con người trong xã hội.  Sự tầm thường đặc quyền  Nhược điểm thứ hai, hàm ẩn trong những gì tôi đã nói, là giáo dục tinh hoa nhồi nhét một ý thức sai lệch về giá trị cái tôi. Nhập học đại học tinh hoa, học tập tại đại học tinh hoa, và tốt nghiệp từ đại học tinh hoa, tất cả đều liên quan tới xếp hạng thứ tự các điểm thi SAT, GPA, GRE. Bạn học cách nghĩ về bản thân trong mối quan hệ với các con số này. Chúng không chỉ như thể định đoạt số phận bạn, mà còn như thể xác định danh tính và giá trị của bạn. Vấn đề là ở chỗ dường như người ta khuyến khích các sinh viên quên đi sự thật rằng những gì bài kiểm tra đánh giá chỉ là khả năng làm bài kiểm tra, tạo thành cách hiểu là sự vượt trội trong học thuật trở thành sự vượt trội theo nghĩa tuyệt đối, khi mà “giỏi hơn trong lĩnh vực X” bỗng đơn giản trở thành “giỏi hơn” theo nghĩa rộng.  Tự hào về trí tuệ và kiến thức của mình không có gì là sai. Nhưng cái sai khởi đầu từ sự tự mãn thiển cận và lời văn hoa chúc mừng trong những lá thư thông báo trúng tuyển mà những trường tinh hoa gửi tới bạn. Từ buổi ban đầu định hướng cho tới khi tốt nghiệp, thông điệp được ẩn chứa trong ngữ điệu và những cái nghiêng đầu, trong các hoạt động truyền thống của những ngôi trường cổ, trong bài viết đầu năm của sinh viên trên tờ báo trường, trong mọi bài diễn văn của lãnh đạo nhà trường. Thông điệp là: Chào mừng bạn tới câu lạc bộ. Và kết luận cũng rành rành: Bạn xứng đáng với mọi thứ mà bạn sẽ được hưởng nhờ hiện diện ở đây. Khi mọi người nói sinh viên tại các trường tinh hoa có ý thức mạnh mẽ về quyền lợi, ý họ là những sinh viên đó nghĩ rằng mình xứng đáng hưởng nhiều hơn những người khác bởi vì điểm SAT của họ cao hơn.  Một trong những sai lầm lớn nhất của giáo dục tinh hoa là nó dạy bạn nghĩ rằng các chỉ số đo sự thông minh và thành tích học thuật cũng là thước đo giá trị theo nghĩa đạo đức và siêu hình. Nhưng đâu phải vậy. Sinh viên tốt nghiệp các trường tinh hoa không đáng giá hơn những người trì độn, hay bất tài, hoặc thậm chí là những kẻ lười biếng. Những đau đớn của họ không nhức nhối hơn ở những người khác. Tâm hồn họ cũng không có trọng lượng hơn. Nếu theo đạo, hẳn tôi sẽ nói Chúa không yêu họ hơn. John Ruskin đã nói với một người thuộc giới tinh hoa, khi cố gắng chiếm đoạt những gì bạn có thể chiếm được, dẫu bằng sức mạnh của trí não hay sức mạnh của nắm đấm, thì kiểu gì cũng tệ như nhau.                   Hệ quả không chỉ có vậy. Nền giáo dục tinh hoa không chỉ soi đường dẫn bạn vào tầng lớp thượng lưu, nó còn tập dượt bạn cho lối sống chung với đặc quyền. Tại những nơi như Yale, người ta có những quy định về hạn nộp bài vở và yêu cầu tham dự đầy đủ các buổi học, nhưng chẳng ai nghiêm túc trong việc chấp hành chúng. Luôn có khả năng gia hạn thời gian nếu như bạn yêu cầu, và nguy cơ mất tín chỉ vì cúp cua là hãn hữu. Nói cách khác, sinh viên ở những đại học như Yale có vô số cơ hội lần hai. Nhưng việc này không xảy ra ở những đại học bình thường, như Cleveland State, nơi một người bạn tôi học. Cô ta một lần bị điểm D ở một lớp mà trước đó cô luôn đạt điểm A, lý do chỉ vì nộp bài muộn giờ do vướng làm một ca phục vụ bàn.  Đó có thể là một ví dụ cực đoan, nhưng nó không đời nào xảy ra tại một trường tinh hoa. Sinh viên tại những trường như Cleveland State, không giống những nơi như Yale, không có một trung đội những người tư vấn, trợ giảng, trưởng khoa để trình bày lí do nộp bài muộn, giúp họ khi cần, nâng đỡ họ khi vấp ngã. Họ được nhận một nền giáo dục theo kiểu bán sỉ, từ một bộ máy quan liêu thản nhiên;  nó không được thiết kế cho phù hợp với từng đặc thù cá nhân, và cũng không đi kèm với một đội ngũ những nhân viên giáo vụ niềm nở. Ở nơi này có rất ít cơ hội cho những sự tiếp xúc mà tôi thấy sinh viên của mình [ở các trường tinh hoa] nhận được hằng ngày – các lớp học thỉnh giảng với những người môi giới quyền lực, các bữa tối với những nhân vật quyền cao chức trọng. Cũng có rất ít những quĩ đặc biệt mà tại những nơi như Yale thì luôn thừa mứa: công tác phí, tài trợ nghiên cứu, thưởng hoàn thành nhiệm vụ. Mỗi năm, khoa của tôi tại Yale trao hàng tá các giải thưởng tiền mặt cho tất cả mọi thứ từ bài luận của sinh viên năm nhất tới dự án của sinh viên năm cuối. Năm nay, chỉ tính riêng một khoa, con số này là hơn 90,000USD.  Sinh viên tại những trường như Cleveland State không thể đạt điểm A- nếu chỉ đơn thuần làm đầy đủ bài vở. Thời gian gần đây có khá nhiều lo ngại xung quanh chuyện lạm phát điểm chác. GPA (điểm trung bình môn) trung bình ở các trường công là 3.0, tương ứng điểm B; tại trường tư là 3.3, gần với B+. Còn tại phần lớn các trường thuộc hệ thống Ivy League, con số này là gần 3.4, trong khi luôn có những sinh viên không làm bài tập, hoặc những người tham gia những lớp khác xa chuyên ngành của họ (chỉ cho vui hoặc để đáp ứng yêu cầu phụ nào đó), hoặc chưa đạt chuẩn (vận động viên). Ở những trường như Yale, sinh viên tới lớp và học tập chăm chỉ kì vọng điểm từ A- trở lên. Và đa phần là họ đạt được điều này.        Sinh viên tại những trường như Cleveland State, không giống những nơi như Yale, không có một trung đội những người tư vấn, trợ giảng, trưởng khoa để trình bày lí do nộp bài muộn, giúp họ khi cần, nâng đỡ họ khi vấp ngã.         Tóm lại, cách thức sinh viên được đối xử tại các trường đại học là một sự chuẩn bị sẵn cho vị trí xã hội họ sẽ nắm giữ sau khi ra trường. Ở những trường như Cleveland State, họ được đào tạo cho những vị trí đâu đó thuộc hệ thống tầng lớp trung lưu, nằm thấp sâu trong bộ máy quản lý [của các doanh nghiệp hay các cơ quan, tổ chức]. Họ bị bó buộc trong một cuộc sống có rất ít các cơ hội lần hai, không có sự gia hạn, rất ít hỗ trợ, cơ hội hạn hẹp – đó là cuộc sống hạng hai của những người bị giám sát và kiểm soát, cuộc sống của những hạn chót về thời gian hoàn thành công việc. Còn tại những trường như Yale, thực tế đương nhiên là điều ngược lại. Giới tinh hoa thích nghĩ rằng họ thuộc giới hiền tài, nhưng điều này chỉ đúng ở một chừng mực nhất định. Bước qua cánh cổng đại học là rất khó khăn, nhưng một khi đã vào trót lọt thì gần như chẳng có gì bạn làm khiến bạn có thể bị loại ra ngoài. Dù kém thảm hại về bài vở, hay hành động đạo văn tày trời, hay thậm chí đe dọa bắt nạt sinh viên khác… thì sẽ chẳng khiến bạn bị loại khỏi trường. Điều này thật kì khôi và không công bằng – nói cách khác, nó là cơ chế tự bảo vệ của một mạng lưới hệ thống mang tính truyền thống. Các trường tinh hoa nuôi dưỡng sự ưu tú, nhưng họ cũng nuôi dưỡng điều mà những cựu sinh viên Yale gọi là “sự tầm thường đặc quyền”. Điểm A đánh dấu sự ưu tú, còn A- là sự tầm thường đặc quyền. Điều này có nghĩa là, đừng lo, chúng tôi sẽ chăm sóc bạn. Dù có thể bạn không giỏi lắm, nhưng bạn đủ tốt ở mức chấp nhận được.  Ở đây, những gì xảy ra trong các trường đại học phản ánh cách thức vận hành của thế giới bên ngoài. Với giới tinh hoa, luôn có sự gia hạn – sự giải cứu, sự miễn tội, điều trị cải tạo – luôn có vô số kênh đối tác và các khoản thu nhập đặc biệt – những câu lạc bộ cao cấp, những hội thảo, thưởng cuối năm, lợi tức. Nếu Al Gore và John Kerry là đại diện cho sản phẩm đặc thù của nền giáo dục tinh hoa, George W.Bush lại đại diện cho một khía cạnh khác. Không phải ngẫu nhiên mà vị Tổng thống này của chúng ta, đỉnh cao của sự tầm thường đặc quyền, từng học Yale. Thật vậy, sự tầm thường đặc quyền là một nguyên tắc vận hành bộ máy chính quyền của ngài, nhưng như vụ Enron và WorldCom cùng những vụ bê bối khác của sự sụp đổ bong bóng kinh doanh trên Internet cho thấy, đây cũng đồng thời là nguyên tắc đặc thù trong hoạt động của nền doanh nghiệp Mỹ. Khoản lương hậu hĩ trả cho các CEO kém cỏi là phiên bản của điểm A-. Những ai còn nhớ sự cao đạo mà Kenneth Lay thể hiện trước ý kiến cho rằng ông phải có trách nhiệm giải trình về những hành động của mình thì sẽ hiểu cơ chế tâm lý này – niềm tin rằng một khi bạn đã có chân trong câu lạc bộ, bạn sẽ được Chúa trao quyền để ở đó mãi.   Đóng cửa cơ hội khác  Ngoài cám dỗ hướng tới sự tầm thường, một trong những nhược điểm khác của giáo dục tinh hoa là cám dỗ ngả về sự an toàn ổn định. Khi giải thích tại sao phải làm lụng vất vả để dành cho con em mình sự giáo dục tốt nhất có thể, các bậc phụ huynh lúc nào cũng nói bởi vì nó mở ra các cơ hội. Thế còn các cơ hội đã bị đóng sập thì sao? Một nền giáo dục tinh hoa cho bạn cơ hội trở nên giàu có, nhưng đồng thời cũng tước bỏ cơ hội được không giàu. Vậy mà không giàu thực ra lại là một trong những cơ hội lớn nhất mà thanh niên Mỹ ngày nay may mắn được hưởng. Chúng ta sống trong một xã hội giàu có đến mức nó có thể cung cấp một mức sống tương đối ổn cho mọi tầng lớp mà ở những nước khác đang mấp mé ngưỡng nghèo, hoặc ít ra là bần cùng. Còn ở Mỹ, bạn có thể sống thoải mái khi làm một giáo viên, một người tổ chức cộng đồng, một luật sư dân sự, hoặc một nghệ sĩ – theo tất cả mọi nghĩa của từ thoải mái. Khi lựa chọn những công việc như vậy, đời sống của bạn không thể xa hoa, nhưng bạn vẫn có cơ hội được làm những điều mà bạn tin vào, những điều phù hợp với bạn, và điều mà bạn yêu thích được làm mỗi ngày.  Nhưng đó lại chính là những gì mà nền giáo dục tinh hoa tước mất. Làm sao tôi có thể là một giáo viên – đó chẳng phải sự phung phí cho nền giáo dục đắt đỏ mà tôi được hưởng ư? Có phải tôi đang quẳng đi những cơ hội mà cha mẹ tôi phải vất vả làm lụng để dành cho mình? Các bạn tôi sẽ nghĩ gì? Làm sao tôi có thể gặp các bạn cùng lớp tại buổi lễ kỉ niệm 20 năm, khi họ đều là những luật sư giàu có hay nhân vật quan trọng ở New York? Và câu hỏi đằng sau tất cả những điều trên là: Không phải tôi cao giá hơn thế sao? Vậy là tất cả các khả năng bị đóng lại, và bạn lỡ mất tiếng gọi thực sự từ trái tim.   (Xem tiếp kỳ sau)                                                                                                                            Thanh Hiền lược dịch   ———-  1 Ivy League: hệ thống tám viện đại học tư ở Đông Bắc Mỹ, bao gồm: ĐH Brown, ĐH Columbia, ĐH Cornell, ĐH Dartmouth, ĐH Harvard, ĐH Princeton, ĐH Pennysilvia, ĐH Yale. Những trường này thường gắn với sự vượt trội về học thuật, sàng lọc kĩ càng trong quá trình tuyển sinh và tầng lớp tinh hoa xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhược điểm của giáo dục tinh hoa Mỹ (Kỳ II)      Các sinh viên theo học các đại học tinh hoa hàng đầu của Mỹ ít khi theo đuổi những ngành học có tính mạo hiểm hay ít sinh lợi, và nếu có theo đuổi thì cũng dễ bỏ cuộc nhanh hơn những người khác, mặc dù họ thường xuất thân từ tầng lớp khá giả, khi tốt nghiệp không phải chịu nhiều gánh nặng nợ nần, và có khả năng dựa dẫm vào chu cấp từ gia đình trong một khoảng thời gian.&#160;     Thiếu mạo hiểm và sự đam mê tri thức  Tôi đã không ý thức được hiện tượng này cho tới khi nghe về nó từ một cặp sinh viên trong khoa, một từ Yale, một từ Harvard. Họ nói về việc cố gắng làm thơ, về việc bạn bè họ từ bỏ hoàn toàn công việc sáng tạo này sau 1,2 năm trong khi những người từ các trường ít danh giá hơn vẫn còn gắn bó với nó. Tại sao lại như vậy? Bởi vì sinh viên từ các trường tinh hoa kì vọng thành công, và muốn gặt hái kết quả ngay tức khắc. Họ chưa bao giờ trải nghiệm điều gì khác, và ý thức về cái tôi của họ được xây dựng xung quanh khả năng thành công. Ý nghĩ về việc không thành công khiến họ kinh hãi, làm chệnh hướng họ, đánh bại họ. Cả cuộc đời họ được thúc đẩy tiến lên bởi nỗi sợ thất bại, và thường là bởi nỗi sợ thất bại từ chính cha mẹ họ. Lần đầu tiên làm hỏng bài kiểm tra, tôi bước ra khỏi phòng thi cảm thấy dường như không còn biết mình là ai. Lần thứ hai, dễ dàng hơn; tôi bắt đầu học được rằng thất bại không phải là tận cùng thế giới.  Nhưng nếu bại lo sợ thất bại, bạn sẽ ngại mạo hiểm, điều này giải thích bất lợi cuối cùng và tệ hại nhất của giáo dục tinh hoa: nó hết sức phản tri thức. Dường như điều này trái với trực giác thông thường. Không phải sinh viên của các trường tinh hoa là sáng dạ nhất sao, ít nhất là theo ý nghĩa học thuật? Không phải họ làm việc chăm chỉ hơn những người khác, và thực tế là, hơn những thế hệ trước ư? Đúng vậy. Nhưng làm một trí thức không giống với làm một người sáng dạ. Để làm một người trí thức cần nhiều hơn việc chỉ làm bài tập về nhà.          Họ là sản phẩm của một hệ thống hiếm khi đòi hỏi phải nghĩ về điều gì khác ngoài bài tập tiếp theo.         Không ngạc nhiên khi ít có sinh viên nào hiểu được vấn đề này. Họ là sản phẩm của một hệ thống hiếm khi đòi hỏi phải nghĩ về điều gì khác ngoài bài tập tiếp theo. Hệ thống này đã quên dạy họ trong quá trình tuyển sinh uy tín và những công việc sinh lời, rằng thành quả quan trọng nhất là không thể xác định bằng một lá thư [chúc mừng trúng tuyển], một con số hay một cái tên. Họ đã quên rằng mục đích thật sự của giáo dục là tạo ra trí tuệ, chứ không phải công ăn việc làm.  Làm một trí thức, trước hết, là đam mê các ý tưởng – và không phải chỉ trong một kì, để khiến giáo viên hài lòng, hoặc để đạt điểm tốt. Một người bạn tôi giảng dạy ở Đại học Connecticut than phiền rằng sinh viên của anh không nghĩ cho bản thân họ. Còn tôi thì cho biết, sinh viên Yale nghĩ cho mình, nhưng chỉ bởi vì họ biết chúng tôi muốn họ như vậy. Tôi có rất nhiều những sinh viên tuyệt vời ở Yale và Columbia, sáng dạ, chín chắn, sáng tạo, những người thật dễ chịu khi nói chuyện cùng hay học hỏi từ họ. Nhưng phần lớn số đó có vẻ hài lòng với sự giáo dục họ nhận được đã đủ khiến mình trở nên nổi bật. Chỉ thiểu số cho rằng nền giáo dục đó chỉ là một đoạn đường trên hành trình tri thức, tiếp cận công việc trí óc với tâm hồn của người hành hương. Những người này có khuynh hướng bị coi như kẻ lập dị, không chỉ bởi họ nhận được rất ít sự tài trợ từ phía trường. Một người trong số họ đã chia sẻ với tôi rằng những nơi như Yale thì không thuận lợi đối với những người thực sự tìm kiếm tri thức.    Dấn sâu vào đào tạo nghề với những câu hỏi nhỏ  Những nơi như Yale đơn giản được thành lập không phải để giúp sinh viên trả lời những câu hỏi lớn. Tôi không nghĩ đã từng có một thời hoàng kim của chủ nghĩa tri thức ở đại học Mỹ, nhưng thế kỉ 19 các sinh viên ít nhất có thể có cơ hội được nghe những câu hỏi như vậy đặt ra ở các hội nhóm văn học và các câu lạc bộ luận đàm nhan nhản trong khuôn viên trường. Phần lớn thế kỉ 20, với sự lớn mạnh của lý tưởng nhân văn trong các trường học Mỹ, sinh viên có lẽ phải đối mặt với những câu hỏi lớn trong lớp học của những giáo sư có ý thức cao về sứ mệnh của sư phạm. Những giáo viên như vậy vẫn hiện diện trên khắp đất nước, nhưng tình hình ngày càng trầm trọng của việc chuyên nghiệp hóa học thuật đã khiến họ gần như biến mất khỏi các trường tinh hoa. Giáo sư ở những viện nghiên cứu hàng đầu chỉ được tôn vinh qua chất lượng của những công trình học thuật; hệ quả là họ không chuyên tâm dành thời gian cho giảng dạy.           Không phải vô cớ mà các trường tinh hoa chỉ  nói về việc đào tạo ra những nhà lãnh đạo mà không phải là những nhà tư  tưởng – những người nắm giữ quyền lực mà không phải những nhà phê bình.        Khi các đại học tinh hoa vênh vang rằng họ dạy sinh viên cách nghĩ, hàm ý là họ dạy các kĩ năng phân tích và hùng biện để thành công trong lĩnh vực luật, dược, khoa học, hay kinh doanh. Nhưng một nền giáo dục nhân văn cần nhiều hơn thế, như các trường đại học vẫn mơ hồ cảm nhận. Do vậy khi sinh viên mới bước chân vào đại học, họ được nghe một tràng những bài thuyết trình yêu cầu đặt ra những câu hỏi lớn. Nhưng sau đó, họ dành bốn năm tham gia các lớp chuyên đào tạo để đặt những câu hỏi nhỏ – những khóa chuyên biệt, dạy bởi những giáo sư chuyên sâu, nhằm chuyên môn hóa sinh viên. Mặc dù ý niệm về độ mở là hàm ẩn trong khái niệm về nền giáo dục khai phóng (liberal art education) , qui trình tuyển sinh ngày càng có xu hướng lựa chọn những ai đã tự lên kế hoạch cho mình với một chuyên môn cụ thể: một nhà báo tuổi xanh, nhà thiên văn học đang lên, thần đồng ngôn ngữ. Chúng ta, ngay cả những trường tinh hoa, đang dấn sâu vào một hình thức đào tạo nghề.  Thật vậy, đây chính xác là những gì các trường đó muốn. Không phải vô cớ mà các trường tinh hoa chỉ nói về việc đào tạo ra những nhà lãnh đạo mà không phải là những nhà tư tưởng – những người nắm giữ quyền lực mà không phải những nhà phê bình. Một trí óc độc lập thì độc lập với tất cả các hình thái trung thành, trong khi các trường tinh hoa, mà phần lớn đóng góp trong ngân sách là từ các cựu sinh viên, thì lại được đầu tư mạnh để nuôi dưỡng sự trung thành mang tính có tổ chức. Một người bạn nữa của tôi, sinh viên Yale thế hệ thứ ba, nói rằng mục đích của trường là để sản xuất hàng loạt cựu sinh viên Yale. Đương nhiên, những cựu sinh viên này cần tiền cho hệ thống vận hành. Tại Yale, việc các sinh viên từ bỏ các ngành học nhân văn và khoa hoa cơ bản để chuyển sang các ngành mang tính thực tiễn hơn như khoa học máy tính hay kinh tế được tiếp tay bởi sự thờ ơ mang tính hành chính. Văn phòng hướng nghiệp của trường đại học hầu như chẳng có gì nhiều để nói với những sinh viên không hứng thú với luật, dược, kinh doanh, và các đại học tinh hoa không dự định làm gì để ngăn cản phần lớn sinh viên của họ mang bằng cấp tới Wall Street. Thực tế là, các trường này còn chỉ dẫn đường cho họ. Những trường đại học khai phóng thì đang trở thành những đại học doanh nghiệp, trọng tâm của nó đang dịch chuyển sang những lĩnh vực kĩ thuật nơi sự tinh thông học thuật có thể biến thành những cơ  hội sinh lời màu mỡ.  Chẳng ngạc nhiên khi số ít sinh viên, những người đam mê ý tưởng, thấy mình lạc lõng và bối rối. Năm ngoái, một người trong số họ đã nói chuyện với tôi về sự hứng thú của anh này với bilddung, sự trau dồi tâm hồn, một khái niệm ra đời trong thời kì Lãng mạn. Nhưng anh ta, lúc đó là sinh viên năm cuối, nói rằng thật khó khăn để kiến tạo tâm hồn khi những người xung quanh đang rao bán nó.    “Những con cừu ưu tú”  Tuy nhiên, có một khía cạnh của đời sống tri thức còn cao hơn cả niềm đam mê các ý tưởng, mặc dù nền văn hóa của chúng ta đã gạt sạch nó đến nỗi chẳng ngạc nhiên khi thậm chí những sinh viên tỉnh táo nhất của tôi cũng không ý thức được điều này. Ý tưởng về giới trí thức khởi nguồn từ thế kỉ 18, và cốt lõi của nó là sự cam kết làm chuyển đổi xã hội. Làm một người trí thức nghĩa là hướng suy nghĩ của bạn tới viễn cảnh một xã hội tốt đẹp và cố gắng hiện thực hóa điều này bằng cách cất tiếng nói lên sự thật với giới cầm quyền. Điều này có nghĩa là dám chấp nhận một sự lưu đày về tinh thần. Nghĩa một sự tự do trong cô đơn, dừng các cam kết về các bổn phận đối với Chúa, với đất nước và với Yale. Nó đòi hỏi không chỉ tri thức, nó còn đòi hỏi trí tưởng tượng và sự can đảm. “Tôi không sợ phạm sai lầm” như Stephen Dedalus đã nói , “ngay cả sai lầm lớn, sai lầm cả cuộc đời, và sai lầm vĩnh viễn cũng vậy”.            Áp lực để tỏ ra bình thường hẳn rất nặng nề đối với cuộc sống của họ.        Làm một người trí thức bắt đầu từ việc nghĩ theo cách của mình bên ngoài những giả định và hệ thống bao bọc chúng. Nhưng sinh viên ở trường tinh hoa chính xác là những người học tập giỏi nhất để làm việc trong hệ thống đó, do vậy gần như bất khả để họ có cái nhìn vượt thoát ra ngoài. Trước khi vào đại học, họ đã biến mình thành những chuyên gia về thi cử và luôn biết cách làm hài lòng giáo viên. Họ đạt điểm A trong mọi lớp học dù giáo viên có nhàm chán và chủ đề có vô bổ thế nào chăng nữa, tham gia hùng hục 8 đến 10 hoạt động ngoại khóa mà chẳng quan tâm xem thực sự họ có muốn làm gì khác với thời gian của mình. Nghịch lý thay, tình cảnh trên có thể khả dĩ hơn ở những trường hạng hai và đặc biệt, ở những đại học khai phóng hơn là tại các trường đại học danh giá nhất. Một số sinh viên vào học các trường hạng hai mặc dù họ cũng giống hệt những sinh viên ở Harvard hoặc Yale, chỉ có điều kém tài năng và ít động lực hơn. Nhưng một số những sinh viên khác vào các trường hạng hai bởi vì họ có một tinh thần độc lập hơn. Họ không đạt điểm A liên tục bởi vì học không muốn phải cố gắng tối đa ở mọi lớp học. Họ tập trung vào những lớp có ý nghĩa nhất với mình hoặc vào một đam mê ngoại khóa duy nhất, hay vào các dự án chẳng có liên hệ gì với trường, thậm chí chẳng hề giúp tô điểm thêm cho hồ sơ đăng ký đại học. Có thể họ chỉ ngồi đọc sách trong phòng hay viết nhật trình. Có những dạng sinh viên  một khi đã vào trường đại học, trở nên hứng thú với đời sống tinh thần nhân loại hơn là tinh thần trường lớp, và nghĩ đến việc khi tốt nghiệp sẽ mang theo những câu hỏi này thay vì một bản sơ yếu lí lịch.  Tôi đã khá choáng váng khi thấy mọi người giống nhau thế nào trong thời gian học tại Yale. Bạn gần như không thấy bất cứ những dạng thanh niên theo kiểu dân hippi, punk, hay dạng sinh viên từ các trường nghệ thuật. Và tại ngôi trường được biết đến trong thập niên 80 với tên gọi Gay Ivy, hiếm thấy công khai những người đồng tính. Những kẻ lập dị nhìn chẳng lập dị lắm, những kẻ chạy theo thời trang thì thích thú với vẻ thanh nhã giản đơn. Bao nhiêu hương vị nhưng thực ra chỉ cùng một loại. Những trường tinh hoa nhất trở thành chốn tầm thường chật hẹp và ngột ngạt. Mọi người đều cảm thấy sức ép của việc duy trì vẻ ngoài thành đạt. Từ kinh nghiệm thực tế làm cố vấn, tôi biết không phải sinh viên Yale nào cũng chỉn chu và thích nghi tốt với hoàn cảnh, và chính điều này khiến tôi lo ngại tại sao quá nhiều người tự che giấu mình bằng vẻ bề ngoài. Áp lực để tỏ ra bình thường hẳn rất nặng nề đối với cuộc sống của họ. Hậu quả là những sinh viên không theo được chương trình (thường là những người đến từ hoàn cảnh nghèo khó hơn) thường phân cực theo hướng đối lập, lao vào trạng thái cực đoan bất mãn và tự hủy hoại bản thân. Nhưng còn một hậu quả nữa liên quan đến đa số sinh viên, những người bắt kịp chương trình.  Tôi đã dạy một lớp văn chương về tình bạn vài năm trước. Một hôm chúng tôi thảo luận về tiểu thuyết The Waves của Virginia Woolf, mô tả một nhóm bạn từ thời thơ ấu cho tới trung niên. Trong đó, vào thời trung học, một nam sinh yêu một nam sinh khác. Cậu ta nghĩ: “tôi có thể bày tỏ nỗi niềm thôi thúc của mình được với ai?… Chẳng có ai – nơi đây giữa những cổng vòm màu xám, tiếng gù của lũ chim bồ câu, giữa những trò chơi, những truyền thống, các cuộc ganh đua náo nhiệt, tất cả đều được tổ chức một cách khéo léo để ngăn ngừa cảm giác cô độc.” Đây là sự mô tả khá chính xác cho đời sống trong các trường tinh hoa, bao gồm cả việc không bao giờ chấp nhận việc cảm thấy cô đơn. Tôi đã hỏi các sinh viên của tôi nghĩ về điều này thế nào? Việc tới trường nơi bạn không phải chịu cảnh cô độc ảnh hưởng tới bạn thế nào? Một trong số sinh viên của tôi nói cậu cảm thấy không thoải mái khi ngồi một mình trong phòng. Thậm chí ngay cả khi làm bài viết, cậu cũng phải tới chỗ bạn. Cũng hôm đó, một sinh viên trình bày bài luận của Emerson về tình bạn. Cậu trích lời Emerson rằng một trong những mục đích của tình bạn là để trang bị cho bạn sẵn sàng đương đầu với trạng thái cô độc. Khi tôi hỏi các sinh viên họ nghĩ gì về điều này thì một cậu ngắt lời tại sao lại cần cô độc cơ chứ? Bạn có thể làm được những gì khi một mình mà không thể làm được với bạn bè?  Vấn đề là đây: một thanh niên đã đánh mất khả năng cô đơn và một người khác thì không thể thấy ý nghĩa của điều này. Gần đây người ta nói nhiều về sự riêng tư đang bị mất đi, nhưng hệ quả của nó cũng tai hại không kém, đó là sự cô đơn cũng đang mất đi. Trong quá khứ, bạn không thể lúc nào cũng ở cạnh bạn bè ngay cả khi muốn thế. Giờ đây sinh viên thông qua sự liên lạc điện tử không ngớt, lúc nào cũng có thể tìm đến nhau. Nhưng dường như khả năng hòa đồng khiên cưỡng đó không khiến họ có thể phát triển được một tình bạn sâu sắc. “Tôi có thể bày tỏ nỗi niềm thôi thúc của mình được với ai?”: sinh viên của tôi đang ngồi trong căn phòng của bạn mình viết luận, chứ không phải đang có cuộc trao đổi tâm tình. Có lẽ cô không có thời gian; thực tế, sinh viên của tôi nói rằng họ thấy bạn bè mình quá bận rộn cho sự thân thiết.   Điều gì sẽ xảy ra khi sự bận rộn và những sự vụ xã giao khiến không còn chỗ cho sự cô đơn? Ngày hôm đó, tôi nói với các sinh viên của mình rằng, khả năng tự xem xét nội tâm là tiền đề thiết yếu cho cuộc sống trí thức, và tiền đề thiết yếu cho sự tự xem xét nội tâm là cô đơn. Các sinh viên của tôi sau khi thu nạp điều đó, một trong số họ nói với sự tỉnh thức, “Có phải ý thầy là tất cả chúng em giống như những con cừu ưu tú không?”. Tôi không biết. Nhưng tôi biết rằng đời sống của trí óc tồn tại một cách độc lập, với những đặc tính cô đơn, hoài nghi, bền bỉ độc lập.                                                                               Thanh Hiền lược dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những quan niệm về chất lượng giáo dục ĐH      Trong bối cảnh xã hội đang tiến lên nền kinh tế tri thức những năm gần đây, không có gì ngạc nhiên khi vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở nước ta bỗng trở thành tâm điểm của ngành giáo dục. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng giáo dục đại học hết sức phức tạp vì ý nghĩa của hai từ ‘chất lượng’ có thể được hiểu theo nhiều góc độ và tùy vào lập trường của mỗi cá nhân (Ehsan, 2004).       Trên thực tế, Harvey và Green đã tiến hành một nghiên cứu quy mô ở Anh để tìm câu trả lời cho vấn đề này vào những năm 90. Tuy nhiên, cuối cùng họ kết luận rằng chất lượng ở giáo dục đại học nằm trong mối quan hệ với người sử dụng nó (stakeholder) và vì thế chúng ta nên thiên về trường phái chủ quan khi tiếp cận vấn đề ‘chất lượng’ ở đại học (Ehsan, 2004). Ta có thể bắt gặp những quan điểm sau đây về chất lượng giáo dục đại học:  Chất lượng là sự vượt trội (quality as exceptional). Quan điểm này bao hàm nhiều quan điểm con như chất lượng là sự ưu việt, sự xuất sắc; chất lượng là kết quả của việc vượt qua một loạt những chuẩn mực cao; ‘chất lượng’ là phẩm chất của một sản phẩm hay dịch vụ đã qua quá trình kiểm nghiệm sát sao. Nhìn chung, ‘chất lượng’ được xem như điều tạo nên sự đặc biệt của một truờng nào đó. Những quan điểm con khác nhau ở chỗ chúng chỉ ra cái gì làm nên sự khác biệt ấy.   Quan niệm cho rằng chất lượng là sự ưu việt, sự xuất sắc thường gắn liền với hai ví dụ về sự nổi trội của hai trường Cambridge và Oxford. Trong trường hợp này, ‘chất lượng’ được xem là hiển nhiên và không thể chối bỏ, hay thậm chí được xem là mặc nhiên không cần phải kiểm tra đánh giá (Parri 2006; Horsburgh 1998).   Quan niệm chất lượng là kết quả của việc vượt qua một loạt những chuẩn mực cao coi trọng chất lượng đầu vào (input) như chất lượng sinh viên vào trường, chất lượng đội ngũ sẽ tham gia giảng dạy những sinh viên này, cũng như cơ sở vật chất cần thiết cho công tác đào tạo. Vì thế, ở một mức độ nào đó, quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng việc học của người học và xem nhẹ vai trò của trường đại học trong việc làm tăng thêm giá trị của đầu vào.  Quan điểm cho rằng chất lượng là phẩm chất của một sản phẩm hay dịch vụ đã qua quá trình kiểm nghiệm sát sao đồng nghĩa với việc thỏa mãn những chuẩn mực do bên ngoài áp đặt. Quan điểm này có vấn đề vì nó được xây dựng trên giả định tất cả những chuẩn mực bên ngoài đều khách quan nhưng trên thực tế, những cái chuẩn này có thể không chuẩn tí nào, chưa kể việc sử dụng một khung chuẩn như nhau để đánh giá các trường khác nhau ở các thời điểm khác nhau. Hơn nữa, nếu đi theo quan điểm này, các trường đại học sẽ đánh mất quyền tự chủ, tự quyết của mình – hai nhân tố quan trọng tạo nên thuộc tính riêng biệt của các trường đại học – mà chỉ luôn phụ thuộc vào cơ quan kiểm định hoặc những đối tượng có ảnh hưởng bên ngoài trường đại học.   Như vậy, quan niệm ‘chất lượng là sự vượt trội’ không phải là một quan niệm trọn vẹn về vấn đề chất lượng ở đại học, nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc tạo ra những trường đại học danh tiếng như Cambridge hay Oxford.  Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as perfection). Quan điểm này xem chất lượng tương đương với việc tạo ra những sản phẩm không ‘tì vết’ (Parri 2006; Horsburgh 1998). Nó khác với quan điểm ‘chất lượng là sự vượt trội’ ở chỗ chất lượng đầu ra được xem là kết quả của tiến trình đào tạo. Vì thế, để duy trì chất lượng, người ta cố gắng không để cho bất kỳ sai sót nào xảy ra, hay phải đạt tất cả những chuẩn mực do bên ngoài yêu cầu (Eshan, 2004).           OECD (2008) đã xác định rõ 4 vai trò của giáo dục học đại học trong thời đại của chúng ta: (1) xây dựng nguồn nhân lực, (2) sản sinh tri thức mới, (3) chuyển giao và ứng dụng tri thức, (4) duy trì, bảo tồn vốn kiến thức của nhân loại. Nhìn chung cả bốn vai trò này đều nhắm vào chức năng học thuật của giáo dục đại học.        Tôi cho rằng quan điểm này hơi thiên về quản lý công nghiệp. Nó có thể áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp với máy móc và quy trình chứ khó lòng áp dụng ở các trường đại học nơi con người là đối tượng chính trong khâu ‘sản xuất’. Hơn nữa, chúng ta không thể có một bảng tiêu chí mô tả một sinh viên ra trường ‘không tì vết’ là như thế nào. Và việc sản sinh ra hàng loạt sinh viên có cùng quan điểm sống, tính cách, năng lực, cách giải quyết vấn đề… không phải là mong muốn của bản thân sinh viên, hay gia đình họ nói riêng và mục tiêu của nền giáo dục [chân chính] nói chung (Parri, 2006).  Chất lượng là phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for/ of purpose). Đây là một quan niệm mang tính thực tế, xem xét chất lượng trong mối tương quan với mục tiêu của một trường đại học. Chất lượng vì thế được xem là một thuộc tính của chức năng hoạt động (Eshan, 2004). Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại có thể xem chức năng của truờng đại học ở các góc độ khác nhau, vì thế vấn đề ‘chất lượng’ lại trở nên mang tính tương đối và gây tranh cãi.   Ở đây xuất hiện một vấn đề nan giải: một trường có đáng được xem là có chất lượng hay không nếu nó đặt ra những mục tiêu ít tham vọng để có thể đạt được dễ dàng hay đưa ra những mục tiêu không tương thích với kỳ vọng của khách hàng [nếu xem trường đại học là một dịch vụ] (van Damme 2003)?   Chất lượng là đáng giá tiền đầu tư (quality as value for money). Quan niệm này khá gần với quan niệm ‘chất lượng là phù hợp với mục tiêu’ đã nói ở trên (van Damme, 2003). Nó xem xét chất lượng trên lập trường hiệu quả kinh tế và sự tự chịu trách nhiệm. Nó nhấn mạnh hoạt động mang tính thị trường của một trường đại học bằng giả định cho rằng trong môi trường cạnh tranh có ít tài nguyên, chính thị trường sẽ chọn lọc và nuôi dưỡng những ngôi trường xuất sắc nhất. Sự gia tăng cạnh tranh giữa các trường để thu hút sinh viên và nguồn tài chính được xem là chìa khóa trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính (Harvey & Green, 1993).   Như cái tên đã nói rõ, quan điểm này có thể khiến nhiều trường và sinh viên của họ lâm vào tình trạng tiền nào của nấy. Chất lượng giáo dục đại học ở đây chỉ thật sự hiệu quả khi vai trò của việc đảm bảo chất lượng được thực thi một cách triệt để (Parri, 2006); và lợi ích của khách hàng tại các trường theo quan điểm chất lượng giáo dục này chỉ được đảm bảo khi mối quan hệ giữa chất lượng và giá thành hạ được giám sát chặt chẽ.  Chất lượng là vượt qua ngưỡng (quality as threshold). Theo quan điểm này, một trường phải vượt qua một ngưỡng đặt ra với những mức chuẩn cụ thể. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tính hiệu quả của quan điểm này phụ thuộc vào tính khách quan và khả thi của những chuẩn mực. Hơn nữa, đôi khi những cái ngưỡng được đặt ra có thể bị lạc hậu theo thời gian trước khi một trường đại học đạt tới chúng do môi trường và hoàn cảnh thay đổi nhanh hơn so với chuẩn đặt ra (Parri 2006). Cũng như ba quan điểm trên, quan điểm này tiếp tục đề cao sự quản lý trong quá trình tiến đến ngưỡng đặt ra.  Chất lượng là sự biến đổi (quality as transformation) hình thành trên nền tảng cho rằng giáo dục mang lại những thay đổi quan trọng cho người học. Harvey và Green (1993) cho rằng quan điểm ‘chất lượng là sự biến đổi’ mang lại lợi ích cho người học thông qua hai kênh đặt tên là enhancing và empowering (tạm dịch là nâng cao giá trị và nâng cao năng lực). Nâng cao giá trị bản thân thông qua việc học nghĩa là trong quá trình đào tạo, người học có cơ hội dung nạp những kiến thức, kỹ năng chưa có để hoàn thiện mình hơn. Nâng cao năng lực người học thể hiện ở khía cạnh người học được trang bị những khả năng giúp điều chỉnh quá trình biến đổi của chính mình như tự quyết định, tự chủ trong môi trường học, tăng khả năng phân tích chỉ trích vấn đề và tăng sự mẫn cảm đối với các vấn đề xung quanh (Ehsan 2004; Horsburgh 1998).   Tuy nhiên, một trường đại học sẽ không biết đích xác sinh viên mình biến đổi ra sao từ việc học ở ngôi trường của họ để từ đó điều chỉnh các dịch vụ trong trường, quá trình đào tạo hay những yếu tố khác trong trường hợp cần điều chỉnh. Dĩ nhiên, nhà trường có thể thực hiện khảo sát trên sinh viên nhưng tôi cho rằng sinh viên sẽ thiên về việc mô tả chất lượng các dịch vụ của trường, công tác học thuật hơn là mô tả họ đã thay đổi như thế nào trong thông qua việc học tại ngôi trường họ vừa đi qua.   Tôi không dám xem thường khả năng của các nhà nghiên cứu trong việc lấy dữ liệu nghiên cứu nhưng vấn đề này vẫn rất phức tạp do ‘con người ‘nổi tiếng’ là không theo chuẩn mực, không đồng nhất, và họ mang vào trường học đủ loại kinh nghiệm, cảm xúc, chính kiến làm nền tảng cho việc học của họ’ (Sallis, 2008). Nhưng dù sao đi nữa, quan điểm chất lượng giáo dục này cũng đã có sự tập trung xem xét đến chức năng học thuật của trường đại học, điều mà ít quan điểm khác làm được thấu đáo.  Chọn ‘chất lượng’ nào?  Tóm lại, quan điểm về chất lượng ‘khác nhau do người đánh giá và tiêu chí được sử dụng để đánh giá’ (Barnett, 2003). Hơn nữa, quan điểm về chất lượng cũng không ngừng thay đổi. Từ việc xem chất lượng là sự vượt trội, sự ưu tú của những năm 80, nó đã chuyển sang việc tìm cách sửa sai để đảm bảo phù hợp với mục tiêu của chất lượng ở những năm 90 – quan điểm thiên về việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở đại học. Biết đâu chúng ta lại sắp trải qua giai đoạn chất lượng nhắm vào sự vượt trội lần nữa do ảnh hưởng của việc xếp hạng đại học đang thu hút đông đảo các trường tham gia (van Damme, 2003). Cần phải nhấn mạnh thêm rằng, các quan điểm về chất lượng này không loại trừ lẫn nhau vì thế các trường có thể chọn một quan điểm có ý nghĩa nhất và phù hợp với hoàn cảnh của trường của mình. Riêng đối với đa số học giả đứng trên lập trường là người làm công tác học thuật ở các trường giảng dạy, kể cả tôi, quan điểm ‘chất lượng là sự biến đổi’ thật sự đáng trân trọng vì những lý do sau:  •    Đã tập trung vào giải quyết mấu chốt trong các chức năng của trường đại học: chức năng học thuật. Nếu xét về chức năng của trường đại học, một trường sẽ không phải là trường đại học nữa nếu không làm thay đổi cuộc sống của một sinh viên, ít nhất là về mặt kiến thức vì trường đại học cần thay đổi nhân sinh quan và thế giới quan của người học, cung cấp cho họ những kỹ năng cần thiết để tồn tại và phát triển trong một thế giới đầy biến động (Barnett, 1992; Biggs 1989).  •    Đây là siêu quan điểm (meta-concept) về chất lượng bởi nó đã bao hàm các quan niệm về chất lượng khác như chất lượng là phù hợp với mục tiêu hay chất lượng là sự hoàn hảo bên trên (Harvey & Knight 1996; Horsburgh 1998). Như thế, nó không triệt tiêu vai trò của quản lý mà xem quản lý là cần thiết để thúc đẩy chức năng học thuật.  Vì thế, chất lượng giáo dục đại học phải nằm trong một tiến trình làm biến đổi người học trong đó việc học của sinh viên phải được quan tâm sâu sát và trợ giúp từ các khâu giảng dạy, đánh giá cũng như tất cả những yếu tố khác trong trường (cơ sở vật chất, môi truờng, tác phong làm việc đối với sinh viên, …). Việc giảng dạy phải làm sao thật sự kích thích khả năng ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo để làm thỏa mãn bản thân sinh viên về những điều chưa biết. Cách đánh giá không phải để kết thúc môn học hay chỉ để quyết định sinh viên đậu rớt một môn học mà nên là một kênh nhận xét để sinh viên hiểu năng lực và kiến thức của mình ở môn đó đã đạt đến mức nào, có nên tiếp tục các khóa học có liên quan không hay nên học lại và nếu học lại thì cần bổ sung nhưng khoảng trống tri thức nào. Tương tự các yếu tố khác trong trường tạo tiền đề để việc học tập của sinh viên được diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất.     Tài liệu tham khảo  Barnett, R 1992, Improving Higher Education: Total Quality Care, The Society for Research into Higher Education and Open University Press, Buckingham.  Barnett, R 2003, Beyond All Reason: Living with ideology in the university, SRHE and Open University Press, Buckingham.  Biggs, J 1989, ‘Approaches to the enhancement of tertiary teaching’, Higher Education Research and Development, vol. 8, no.1, pp. 7-26.  Doherty, G 1994, ‘Can we have a unified theory of quality?’, Higher Education Quarterly, vol. 48, no. 4, pp. 240-255.  Ehsan, M 2004, ‘Quality in higher education: Theoretical overview’, Asian Affairs, vol. 26, no. 3, pp. 61-72.  Harvey, L & Green, D 1993, ‘Defining Quality’, Assessment and Evaluation in HE, vol.18, no.1, pp. 9-14.  Harvey, L & Knight, PT 1996, Transforming Higher Education, SRHE and The Open University Press, Buckingham.  Horsburgh, M 1998, ‘Quality Monitoring in Two Institutions: a Comparison’, Quality in Higher Education, vol. 4, no. 2, pp.115-135.  Jarvis, P 2005, ‘Towards a philosophy of human learning: An existentialist perspective’, in P Jarvis & S Parker, Human Learning: An Holistic Approach, Routledge , Oxon, pp. 1 – 15.  Newby, P 1999, ‘Culture and Quality in Higher Education’, Higher Education Policy, vol. 12, pp. 261- 275.  OECD 2008, Tertiary education for the Knowledge Society: OECD Thematic Review of Tertiary Education: Synthesis Report. OECD Publication online, viewed 15 April 2008, <www.oecd.org/dataoecd/20/4/40345176.pdf>.  Parri, J 2006, ‘Quality in HE’, VADYBA Management, no. 2, pp.107-111.  Sallis E 2008, Total Quality Management, 3rd edn, Taylor & Francis.  van Damme, D 2003, Standards and Indicators in Institutional and Programme Accreditation in HE, UNESCO CEPES.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thuộc tính nổi trội *      Bài này chủ yếu cung cấp cho độc giả Việt Nam thêm một góc nhìn về một nền giáo dục tư thục của Mỹ từ lâu đã được thế giới công nhận là nổi trội về mặt quy mô và uy tín chất lượng. Từ góc nhìn này, các nhà hoạch định chính sách giáo dục, các nhà quản trị giáo dục và công chúng Việt Nam, nhất là các doanh nhân và những người làm giáo dục, làm từ thiện xã hội có thể hiểu căn cơ hơn về các vấn đề mà đại học tư thục Việt Nam đang gặp phải, từ đó có thể tự tìm ra giải pháp thiết thực nhất và hiệu quả nhất, phù hợp với bối cảnh đặc thù của Việt Nam.      Mô hình giáo dục đại học tư thục, không vì lợi nhuận (ĐHTT KVLN) của Mỹ đến nay đã tồn tại gần bốn thế kỷ, kể từ khi ngôi trường đại học tư thục đầu tiên – Đại học Harvard – ra đời năm 1636. Hiện nay, trong số hơn 4.000 cơ sở đào tạo bậc cao đẳng và đại học thì số lượng các trường tư thục chiếm hơn một nửa. Số sinh viên theo học các trường tư thục chiếm khoảng 20-25% tổng số sinh viên cả nước. Nếu xếp theo loại hình, thì số trường tư thục không vì lợi nhuận (not-for-profit) chiếm 90% trong tổng số các trường tư thục trên cả nước2.   Trong khuôn khổ của bài này, tác giả chọn trường Đại học Boston (Boston College), sau đây gọi là BC nằm ở bờ Đông nước Mỹ để tìm hiểu sâu vì đây là khu vực tập trung nhiều trường đại học tư thục danh tiếng. BC do các cha Dòng Tên sáng lập năm 1863, các đời hiệu trưởng cho đến nay đều là các linh mục. Các ngành đào tạo tập trung trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Nội dung chương trình đào tạo không hề lồng ghép nội dung liên quan đến tôn giáo, ngoại trừ khoa Thần học (School of Theology and Ministry). Các lãnh đạo từ cấp cao, ngoại trừ hiệu trưởng, đến cấp thấp, nhân viên và sinh viên của trường không nhất thiết là người theo đạo Công giáo. Quy mô sinh viên bậc đại học và sau đại học là 14.700. Sinh viên quốc tế chiếm chỉ 5%. Sinh viên thuộc dân tộc thiểu số chiếm 32%. Sinh viên nữ chiếm 54%. Tỉ lệ tuyển sinh 34%. Đội ngũ giảng viên có 800 người (93% có học vị tiến sĩ).  Vị trí, vai trò các thành viên Hội đồng tín thác và Hiệu trưởng  Về mặt pháp lý, Hội đồng tín thác (Board of Trustees), sau đây gọi là “Hội đồng”, tại các trường ĐHTT KVLN ở Mỹ là pháp nhân sở hữu nhà trường, có thẩm quyền tối cao, quyết định các vấn đề lớn thuộc về nhân sự cấp cao, chính sách, chiến lược phát triển trường. Hội đồng của BC có 50 thành viên. Hội đồng của trường bao gồm các cựu sinh viên (đa số hiện nay là các doanh nhân thành đạt), các nhà tài trợ, các nhân vật có uy tín, có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực giáo dục và xã hội nói chung. Họ không nhất thiết phải có tiền đóng góp cho nhà trường và nếu có đóng góp thì họ cũng không trông đợi vào nguồn lợi ích tài chính từ phần đóng góp của họ. Quyền bỏ phiếu của các thành viên Hội đồng là ngang nhau cho dù họ có đóng góp nhiều hay ít. Nói tóm lại, các thành viên Hội đồng không nhận bất cứ một khoản lợi ích tài chính nào từ trường. Họ hoàn toàn tự nguyện đóng góp tiền bạc, uy tín cá nhân và thời gian cho trường.  Về chế độ làm việc, các thành viên của Hội đồng hoạt động theo nhiệm kỳ. Ví dụ, các thành viên của Hội đồng tại BC có thể được bổ nhiệm tối đa hai nhiệm kỳ liên tiếp. Mỗi nhiệm kỳ kéo dài ba năm. Nếu một thành viên muốn tiếp tục tham gia Hội đồng sau khi đã mãn nhiệm hai nhiệm kỳ liên tiếp thì bắt buộc phải nghỉ một năm, sau đó mới có thể được xem xét bổ nhiệm lại. Trong một năm “nghỉ ngơi” này, thành viên có thể tham dự các cuộc họp của các ủy ban trực thuộc nhưng không có quyền bỏ phiếu. Ủy ban thường trực của Hội đồng có thẩm quyền xem xét và quyết định bổ nhiệm nhân sự của Hội đồng. Hội đồng có chức năng giám sát các hoạt động của nhà trường và quyết định các vấn đề quan trọng thông qua hoạt động của các hội đồng trực thuộc (committee) hay còn gọi là các tiểu hội đồng như tiểu hội đồng tài chính, ngân sách, xây dựng,  học thuật, đầu tư, sinh viên,..  Về mặt nhân sự cấp cao vận hành trường, Hội đồng quyết định tuyển dụng Hiệu trưởng theo cơ chế sau: khi trường có nhu cầu tuyển dụng Hiệu trưởng, một ủy ban tìm kiếm (search committee) trực thuộc Hội đồng được thành lập. Thành viên của ủy ban này bao gồm một số thành viên Hội đồng, lãnh đạo cấp trung, đại diện các khoa. Ủy ban này có thể thuê một công ty chuyên tư vấn và “săn” đầu người giới thiệu một danh sách các ứng viên Hiệu trưởng. Danh sách này có thể lên đến 200 ứng viên, trong đó 70% là các ứng viên đến từ bên ngoài trường. Từ danh sách này, bốn ứng viên năng lực nhất sẽ được chọn để phỏng vấn tuyển chọn. Sau cùng, ủy ban tìm kiếm sẽ giới thiệu hai ứng viên cho Hội đồng để xem xét, tuyển chọn một và bổ nhiệm chức danh Hiệu trưởng. Tùy theo quy định và truyền thống của từng trường, Hiệu trưởng có thể được mời làm thành viên Hội đồng.  Hiệu quả lãnh đạo và điều hành của Hiệu trưởng sẽ quyết định thời gian được tuyển dụng, bổ nhiệm và mức lương được hưởng. Hiệu trưởng thực thi thẩm quyền cao nhất đối với mọi hoạt động thường xuyên và thường nhật của nhà trường từ nhân sự, tài chính, hoạt động sinh viên, cựu sinh viên đến học thuật nói chung. Điều đáng lưu ý là các vấn đề liên quan đến chương trình và nội dung đào tạo, kể cả các hoạt động liên quan đến học thuật khác thuộc toàn quyền quyết định của các giáo sư và các khoa chuyên môn.  Hội đồng và Hiệu trưởng hoàn toàn không can thiệp vào các vấn đề học thuật của các khoa, ngoại trừ khi có xảy ra các vụ tranh cãi hay khiếu nại mà không thể giải quyết ở cấp khoa. Trong quá trình vận hành trường, nếu có khiếu nại hay phản ánh của các giáo sư, giảng viên về Hiệu trưởng thì Hội đồng và các tiểu hội đồng có liên quan sẽ họp bàn và đưa ra quyết định giải quyết sau cùng, đảm bảo tính minh bạch, công minh và tôn trọng đối với các bên. Nếu không thể giải quyết được trong phạm vi Hội đồng, tức khi giữa các bên xảy ra kiện tụng thì sự vụ sẽ được xem xét, giải quyết theo đúng quy trình tố tụng của pháp luật.  Trong lịch sử phát triển các trường ĐHTT KVLN tại Mỹ hầu như hiếm xảy ra căng thẳng trong mối quan hệ giữa các thành viên Hội đồng và Hiệu trưởng. Thiết nghĩ chính cơ cấu tổ chức và chức năng giữa các bên được xác lập một cách rạch ròi, hợp lý, hoàn toàn không có sự chồng chéo lên nhau. Đó là về nguyên tắc. Còn về mặt cá nhân, thì sự tin tưởng và tôn trọng của Hội đồng đối với Hiệu trưởng là tuyệt đối. Ngược lại, tinh thần trách nhiệm của Hiệu trưởng trước Hội đồng cũng tuyệt đối tương tự. Một yếu tố quan trọng không kém khác là giữa họ hoàn toàn không có lợi ích kinh tế xen vào và cũng không có nhóm lợi ích kinh tế chi phối quá trình ra quyết định, vận hành trường. Thành viên Hội đồng không nhận bất cứ lợi ích tài chính nào cho dù họ có đóng góp cho trường hàng triệu dollars. Đây có thể được xem là thuộc tính điển hình, quan trọng trong tổ chức bộ máy cấp cao và hành xử của từng cá nhân lãnh đạo cấp cao trong mô hình trường ĐHTT KVLN của Mỹ. Bù lại, các khoản đóng góp của họ sẽ được chính phủ miễn hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân và danh tính của họ sẽ được trân trọng, tôn vinh và lưu truyền xuyên suốt lịch sử nhà trường thông qua việc tên các khoa, các tòa nhà, các trung tâm, các tổ chức trực thuộc trường được đặt tên theo danh tính của họ.  Các Hiệu trưởng có đóng góp nổi trội cho trường cũng được tôn vinh tương tự. Một hình thức phổ biến là danh tính của họ trở thành danh hàm giáo sư phong cho các giảng viên uy tín thuộc hàng bậc nhất nhì hiện tại của Trường. Thí dụ, J. Donald Monan, SJ, Hiệu trưởng thứ 24 của ĐH Boston, giữ chức vụ Hiệu trưởng lâu đời nhất trong lịch sử của BC (1972-1996), tên ông được vinh dự trở thành danh hàm của các hàm giáo sư. Tiến sĩ Philip Altbach trong thời gian công tác tại trường (1995-2013), là giám đốc sáng lập và điều hành Trung tâm Giáo dục đại học quốc tế (Center for International Higher Education – CIHE) tại BC được phong hàm giáo sư với danh hàm cụ thể như sau: “Philip G. Altbach, J. Donald Monan, SJ University Professor at Boston College”.  Đặc điểm và cơ chế vận hành tài chính  Nguồn thu của các trường ĐHTT KVLN tại Mỹ nói chung chủ yếu đến từ: học phí và phí (tuition and fees), thu nhập từ các khoản hiến tặng3 (income of endowments), tài trợ cho nghiên cứu của giảng viên (grants for research), hỗ trợ học phí (finanaical aids) từ nguồn của chính phủ và của trường; và học bổng (scholarships/fellowships) cho sinh viên và các nguồn vận động hằng năm khác (annually raised funds). Chẳng hạn như ngân sách hoạt động của BC hằng năm khoảng 1 tỉ USD, trong đó nguồn ngân sách đến từ học phí và phí chiếm 70%, từ thu nhập của các khoản hiến tặng (lũy kế đến năm 2014 là 2,2 tỉ USD) chiếm 10%, tài trợ của chính phủ và các doanh nghiệp cho nghiên cứu chiếm 10% và các nguồn vận động hằng năm chiếm 10%. Về chi tiêu, BC sử dụng khoản 15-30% để chi cho lương; tài trợ cho sinh viên đại học và sau đại học chiếm một phần rất nhỏ (150.000 USD), còn lại chi cho các hoạt động thường xuyên, bảo trì, bảo dưỡng trang thiết bị, cơ sở vật chất và tái đầu tư cơ sở vật chất.  Bộ phận tài chính của trường được ví như một công ty tài chính. Họ tư vấn chiến lược và phương thức vận hành tài chính để “tiền đẻ ra tiền”, tức sử dụng các nguồn thu sao cho có thể tạo ra thêm thu nhập cho trường một cách hiệu quả và hợp pháp. Ngoài ra, họ còn có đội ngũ vận động gây quỹ chuyên nghiệp thông qua hoạt động của các hội cựu sinh viên, mối quan hệ với các doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Điều quan trọng không kém là đội ngũ các giáo sư và nhà nghiên cứu có uy tín của trường cũng đã góp phần mang lại nguồn thu lớn cho nhà trường thông qua các đề án nghiên cứu được chính phủ và các tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tài trợ.  Cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước đối với các trường ĐHTT KVLN  Cơ chế quản lý của nhà nước  Tại Mỹ, về nguyên tắc, không có cơ quan nhà nước cụ thể nào của chính phủ được phân công quản lý các trường cao đẳng, đại học công lập và tư thục mặc dù chính quyền liên bang và tiểu bang đều có các chương trình hỗ trợ tài chính cho các trường thông qua nhiều kênh khác nhau. Tuy nhiên, các trường buộc phải tuân thủ nghiêm luật lệ và quy định của cấp liên bang và tiểu bang. Thí dụ, các quy định về phòng, chống phân biệt chủng tộc, lạm dụng/quấy rối tình dục, quy định về thuế, về tạo thu nhập, quản lý tài sản, về xử lý chất độc hại,… nhằm để đảm bảo an toàn, an ninh, và quyền lợi của các thành viên trong trường. Đôi khi những quy định này được xem là “quá tải” đối với trường. Tính đến năm 2012, đã có đến 270 quy định được ban hành và cập nhật bổ sung của chính phủ liên bang chi phối hoạt động của các trường trên toàn quốc4.  Chính sách của Nhà nước  Ở Mỹ, các cơ sở đào tạo công lập và tư thục đều có cơ hội ngang nhau trong tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính từ chính quyền liên bang. Cụ thể như sau:  Các nguồn hỗ trợ sinh viên (Financial aids)  Nguồn lớn nhất là các khoản vay ưu đãi trực tiếp cho sinh viên căn cứ vào nhu cầu của bản thân các sinh viên. Khi được hỗ trợ các khoản vay này, sinh viên có thể nộp hồ sơ xin nhập học ở bất cứ cơ sở đào tạo nào mà họ muốn. Theo thống kê, hằng năm chính phủ liên bang đã chi khoảng 150 tỉ USD cho chương trình này.   Các nguồn tài trợ cho nghiên cứu (research grants)  Chương trình tài trợ nghiên cứu được xem xét cấp cho các trường đại học trên cơ sở cạnh tranh công bằng, không phân biệt trường công hay tư. Cơ chế này đã tồn tại trong nhiều thập niên. Cụ thể, trong năm tài khóa 1974 (năm học 1973-1974), chính phủ liên bang đã tài trợ tổng cộng 4,46 tỉ USD cho các cơ sở đào tạo để hỗ trợ sinh viên, giảng viên… Tài trợ cho các trường công chiếm 60,8% và trường tư chiếm 39,2%. Gần phân nửa số tiền này tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển; các cơ sở tư thục chiếm 42% tổng nguồn tài trợ và công lập chiếm 52%. Kể từ năm học 1973-1974, số sinh viên được tuyển vào các trường tư thục chiếm 25% tổng số sinh viên cả nước và số trường tư thục chiếm 56% trong tổng số các trường cao đẳng, đại học của cả nước. Điều này chứng tỏ các nguồn hỗ trợ của chính phủ liên bang có phần ưu ái cho các trường tư thục hơn nếu xét trên quy mô sinh viên và cho các trường công hơn nếu xét trên quy mô số lượng trường5.  Chính sách ưu đãi thuế (tax incentives)  Chính phủ cấp liên bang từ nhiều thập niên qua đã áp dụng chính sách miễn và giảm thuế thu nhập cá nhân cho các nhà tài trợ và đóng góp tài chính cho các trường, bất kể là trường công hay tư. Với chính sách này dù chính phủ bị thất thu thuế, nhưng đã mang một giá trị xã hội to lớn. Đó là kích thích và tạo điều kiện thiết lập một truyền thống, một nét văn hóa hiến tặng của các thành phần xã hội có nguồn lực tài chính mạnh cho giáo dục.Vào những thập niên 1970, chính phủ liên bang đã thất thu hằng năm khoảng 780 triệu USD từ việc miễn giảm thuế thu nhập cho các cá nhân, tổ chức đóng góp cho các cơ sở giáo dục không vì lợi nhuận. Trong giai đoạn này, sinh viên các trường đại học tư thục chỉ chiếm ¼ tổng số sinh viên cả nước, nhưng họ lại nhận đến ¾ tổng số tiền hiến, tặng của xã hội dành cho giáo dục6.  Nhìn chung, cơ chế quản lý và chính sách của Chính phủ Mỹ đối với các cơ sở đào tạo đại học nói chung, trong đó có đại học tư thục đã tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, giống nguyên tắc thị trường (competitive and market-like mechanisms­), không phân biệt giữa trường công lập và tư thục, ngay cả chính sách hỗ trợ tài chính cho sinh viên và giảng viên. Đồng thời, mang tính hiệu quả cao về mặt xã hội lẫn kinh tế mặc dù gần đây nhiều nghiên cứu đã lên tiếng về khả năng tiếp cận đại học của giới trẻ Mỹ gặp nhiều khó khăn do hậu quả của suy thoái kinh tế. Chính sách quản lý của chính phủ đã thể hiện sự tin tưởng vào năng lực và tôn trọng quyền tự trị của các trường, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến học thuật.   ***  Lời kết  Như vậy, qua nghiên cứu điển hình hai trường ĐHTT KVLN của Mỹ và các tài liệu quan trọng có liên quan, cho thấy ba thuộc tính nổi bật nhất về mặt tổ chức và tài chính của hai cơ sở đào tạo đại học này là: (1) tính vô vị lợi trong thực thi vai trò lãnh đạo của đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong các trường; (2) tính đa dạng trong nguồn thu và (3) tính chuyên nghiệp trong quản lý, vận hành tài chính của các trường. Vai trò quản lý và chính sách của nhà nước cũng thể hiện ba thuộc tính đặc trưng nhất – công bằng, hiệu quả, tin tưởng- tôn trọng quyền tự quyết của các trường trong mọi lĩnh vực hoạt động, đặc biệt trong tổ chức nội bộ và hoạt động học thuật.   Thiết nghĩ những thuộc tính vừa nêu đối với góc độ từng trường và góc độ nhà nước là không thể tách rời nhau, tức không thể có cái này mà không có cái kia nếu một quốc gia muốn nền giáo dục ĐHTT KVLN tồn tại và phát triển một cách bền vững, có đủ năng lực tạo ra nguồn nhân lực thực sự có chất lượng cao cho xã hội.   Từ đó, thiết nghĩ để Việt Nam giải quyết những vấn đề liên quan đến giáo dục đại học tư thục thực tế đang diễn ra ngày càng căng thẳng trong những năm gần đây thì quan điểm của cả hệ thống chính trị đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phải thay đổi theo hướng giải phóng cho các trường khỏi những thiết chế cứng nhắc, rập khuôn mà vô hình trung đã can thiệp thô bạo vào quyền tự trị cần có của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Sự thay đổi quan điểm phải được thể hiện trước tiên thông qua việc cải đổi hành lang pháp lý và chính sách của nhà nước. Hành lang pháp lý và chính sách của nhà nước ít nhất cần đảm bảo hàm chứa bên trong ba thuộc tính sau: (1) công bằng đối với lĩnh vực công và tư; (2) hiệu quả, thiết thực trong từng khoản hỗ trợ; và (2) tin tưởng – tôn trọng năng lực, tính độc lập của các trường, nhất là trong các vấn đề liên quan đến tổ chức và học thuật; từ đó mới mong gầy dựng được nền quản trị đại học chuyên nghiệp và một nền tự do học thuật thực sự, mở đường cho tư duy độc lập và phát huy tối đa năng lực trí tuệ, sáng tạo của thế hệ trẻ và đội ngũ tri thức tại các trường.  Và cũng thiết nghĩ một khi hành lang pháp lý và chính sách nhà nước đã hàm chứa ba thuộc tính nêu trên thì vấn đề tổ chức nội bộ và cơ chế vận hành tài chính của các trường ắt sẽ thay đổi theo chiều hướng không vì lợi nhuận đúng nghĩa (không bị méo mó, lai tạp như hiện nay) và mang tính chuyên nghiệp cao.   ———-  Tài liệu tham khảo  Breneman, D. W., & Finn, J. C. (1978). Public Policy and Private Higher Education [Chính sách công và giáo dục đại học tư thục]. Washington D.C: The Brooklines Institution.  Chronicle of Higher Education, Almanac of Higher Education 2014-2015. (Đăng ngày 22/8/2014). LX, No.45. Truy cập ngày 10/5/2015, từ http://chronicle.texterity.com/almanac/201415almanac/?sub_id=BcumDZFZ9Q1Kj#pg3  Dữ liệu gỡ băng các cuộc phỏng vấn các nhà quản trị và chuyên gia giáo dục đại học tại BC và Upenn từ ngày 20/4-07/5/2015.  Gravel, J., & Sherlocks, M. (2013). Tax Issues Relating to Charitable Contributions and Organizations [Các vấn đề thuế liên quan đến các khoản đóng góp và các tổ chức từ thiện]. Congressional Research Service. Truy cập ngày 10/5/ 2015, từ http://www.pgdc.com/pgdc/crs-reports-tax-issues-relating-charitable-contributions-and-organizations.  The National Center for Education Statistics [Trung tâm thống kê giáo dục quốc gia], Institute of Education Sciences [Viện khoa học giáo dục], U.S. Department of Education [Bộ Giáo dục Mỹ]. (2014). Grants and loan aid to undergraduate students [Các nguồn tài trợ và vay ưu đãi cho sinh viên bậc đại học].  Zumeta, W. (2011). State Policies and Private Higher Education in the U.S.A: Understanding the Variation Comparative Perspective [Chính sách tiểu bang và giáo dục đại học tư thục tại Mỹ: tìm hiểu mức độ dao động trên cơ sở so sánh]. Journal of Comparative Policy Analysis: Research and Practice, 13(4), 425-442.  10 Universities that Receive The Most Government Money [10 trường đại học nhận nhiều tiền của chính phủ nhất]: 24/7 Wall St. (29/4/2013). Truy cập ngày 15/5/2015, từ http://www.huffingtonpost.com/2013/04/27/universities-government-money_n_3165186.html?  ——  *Nội dung bài này chỉ là một phần trong đề tài nghiên cứu về các vấn đề nổi cộm của đại học tư thục tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Mỹ, được thực hiện tại Việt Nam và Mỹ năm 2015 dưới sự hỗ trợ của Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (IRED), Trường Đại học Temple (Mỹ) và Quỹ LUCE Foundation. Nội dung bài không phản ánh quan điểm của các bên hỗ trợ mà chỉ nêu bật kết quả thu thập được trong quá trình nghiên cứu của cá nhân tác giả.  2Breneman, D. W., & Finn, J. C. (1978). Public Policy and Private Higher Education [Chính sách công và giáo dục đại học tư thục]. Washington D.C: The Brooklines Institution; và Chronicle of Higher Education, Almanac of Higher Education 2014-2015. (Đăng ngày 22/8/2014). LX, No.45. Truy cập ngày 10/5/2015, từ http://chronicle.texterity.com/almanac/201415almanac/?sub_id=BcumDZFZ9Q1Kj#pg3  3 Thu nhập của các nguồn hiến tặng có thể bao gồm các khoản sau: tiển lãi gửi tiết kiệm ngân hàng, lãi từ việc đầu tư cổ phiếu, đầu tư tài chính,…  4 Dữ liệu từ cuộc phỏng vấn một học giả ở Upenn, đồng thời là thành viên của Hội đồng các Thành viên tín thác và Cựu Sinh viên Mỹ (American Council of Trustees and Alumni)  5Breneman, D. W., & Finn, J. C. (1978). Public Policy and Private Higher Education. Washington D.C: The Brooklines Institution  6Breneman, D. W., & Finn, J. C. (1978). Public Policy and Private Higher Education [Chính sách công và giáo dục đại học tư thục]. Washington D.C: The Brooklines Institution    Author                Nguyễn Thị Hồng Đào        
__label__tiasang Những ưu thế bất ngờ khi làm việc bằng ngoại ngữ      Tiếng Anh ngày càng trở thành ngôn ngữ làm việc phổ biến. Các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế đang tích cực sử dụng thứ ngôn ngữ mặc định này của thế giới. Liệu đây có phải là lợi thế riêng của người Anh bản ngữ?      Sử dụng ngoại ngữ khi làm việc hiển nhiên là vô cùng khó khăn. Vốn từ hạn chế, các vấn đề về ngữ pháp, cấu trúc câu, cách phát âm không chuẩn… tất cả đều có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng giao tiếp, truyền đạt thông tin của bạn trong môi trường làm việc quốc tế. Ở phía đối diện, những người bản ngữ trông thật thoải mái, đôi khi họ có thể thuyết phục được cả một hội đồng chỉ nhờ lối diễn đạt tự tin, trôi chảy.   Nhưng trên thực tế, ở phần chìm của tảng băng, những người làm việc bằng ngoại ngữ cũng có những  lợi thế “ngầm” rất lớn. Người không phải bản ngữ có thể gặp nhiều khó khăn khi thể hiện năng lực bản thân, khiến thực lực của họ bị đánh giá thấp hơn so với thực tế – và chính điều này có thể sẽ là yếu tố gây bất ngờ trong một cuộc đàm phán. Ngoài ra, việc xuất thân từ một nền văn hóa khác – chứ không chỉ là từ một ngôn ngữ khác – sẽ giúp người ngoại quốc nhận ra những cản trở và những lối mòn tư duy của người bản xứ, từ đó có thể dẫn dắt cuộc nói chuyện theo một hướng khác, đi vòng qua những chướng ngại đó; và trong trường hợp này, người ngoại quốc có thể khéo léo lèo lái cuộc nói chuyện với vẻ “ngây thơ” dễ chấp nhận: “Tôi không biết ở đây thì thế nào, nhưng tôi đang nghĩ là…”   Ngoại ngữ không thông thạo cũng có thể trở thành một công cụ hiệu quả giúp bạn “câu giờ” hoặc làm phân tâm đối phương. Nói chậm giúp bạn có điều kiện chọn từ ngữ thích hợp, dễ kiềm chế cảm xúc của mình. Hơn nữa, chẳng phải cổ nhân đã dạy chúng ta phải biết “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” hay sao?   Thú vị hơn, có thể còn tồn tại một lỗ hổng phản hồi từ lời nói dội ngược về tư duy. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đôi khi việc ra quyết định bằng ngoại ngữ lại tốt và hiệu quả hơn. Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu của trường Đại học Chicago cho người tham gia làm một bài trắc nghiệm trong đó họ đưa vào những phương án thoạt nhìn có vẻ đúng nhưng trên thực tế lại sai. Họ quan sát thấy những người làm bài kiểm tra bằng ngoại ngữ có xu hướng tránh được “chiếc bẫy” kia hơn và thường chọn đúng đáp án hơn. Nói cách khác, ngôn ngữ trôi chảy cũng có mặt nhược điểm và sự cẩn trọng từ tốn cũng có mặt ưu điểm của nó. Nhóm nghiên cứu trên còn phát hiện ra rằng ngay cả trong những quyết định thiên về mặt đạo đức – chẳng hạn như giết một người để cứu mạng nhiều người là có chấp nhận được không – con người cũng tư duy theo hướng thực tế và ít bị cảm xúc chi phối hơn khi sử dụng ngoại ngữ. Một người Mỹ làm việc tại Đan Mạch cho biết khi đàm phán lương, anh luôn yêu cầu sử dụng tiếng Đan Mạch, bởi anh cảm thấy rất không thoải mái khi đề xuất tăng lương bằng tiếng Anh.   Một quan chức Hà Lan thuộc Ủy ban châu Âu chia sẻ kinh nghiệm rằng, khi “nhảy cóc” liên tục từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, bạn sẽ luôn luôn ý thức được về sự khác biệt trong cách nhìn nhận vấn đề giữa mình với người khác. (Theo một nghiên cứu, trẻ em sử dụng song ngữ có khả năng phán đoán suy nghĩ của người khác tốt hơn, nguyên nhân có lẽ do các em luôn quan sát xem ai đang sử dụng ngôn ngữ gì).   Chật vật sử dụng ngoại ngữ quả là một việc đáng nản, nhưng những người chỉ biết một ngôn ngữ chẳng cũng thiệt thòi lắm sao?  Chi Nhân dịch theo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm tin trong học Toán      Niềm tin trong học Toán thể hiện ở sự tin tưởng của học sinh vào ý nghĩa của việc học tập môn Toán, nó cũng thể hiện ở sự tự tin của học sinh khi học tập môn toán. Từ tin tưởng và tự tin sẽ dẫn đến ham mê, rồi say mê từ đó tác động tích cực tới kết quả học tập môn Toán.       Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) xác định yêu cầu đầu ra là hình thành và phát triển năng lực toán học cho người học, như vậy năng lực của người học là trung tâm. Với cách tiếp cận theo định hướng năng lực, chương trình cần được thiết kế sao cho những kiến thức được giảng dạy phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh tại thời điểm giảng dạy. Nội dung kiến thức phù hợp hay không phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh là yếu tố then chốt khiến cho việc học tập trở nên nặng nhọc hay nhẹ nhàng, hiệu quả hay không hiệu quả.  Hãy tạo sự tự tin  Toán luôn được coi là một môn học khó. Tuy nhiên vì được coi là quan trọng, là môn bắt buộc, tất cả các học sinh dù thích hay không cũng phải đầu tư rất nhiều thời gian cho môn học này. Tuy nhiên, trên thực tế, trong chương trình giáo dục phổ thông không có môn học nào khó hơn môn học nào, độ khó dễ là do yêu cầu của chương trình trên tương quan với năng lực tiếp thu của học sinh.  Lấy ví dụ đơn giản nhất là việc làm quen với các chữ số. Nhìn lại lịch sử phát triển của nhân loại, việc tách được số 1 ra khỏi các khái niệm “một quả táo” là một bước tiến vĩ đại trong lịch sử tư duy. Một đứa trẻ năm, sáu tuổi dễ dàng hiểu mệnh đề “một quả táo thêm một quả táo là hai quả táo” nhưng không phải đứa trẻ nào cũng hiểu được ngay “1 cộng 1 bằng 2” tại lứa tuổi đó. Có những cháu sáng dạ sẽ hiểu sớm hơn những bạn khác. Các học sinh học Toán không chỉ trong nhà trường mà còn qua những tiếp xúc xã hội hằng ngày. Nếu các phép tính số học trừu tượng như “1 cộng 1 bằng 2” được dạy khi các cháu bé đã nhuần nhuyễn việc thực hiện các tính toán cụ thể kiểu “một quả táo thêm một quả táo là hai quả táo” thì quá trình tiếp thu sẽ dễ dàng hơn, các cháu sẽ cảm thấy tự tin hơn khi học.  Nếu một cháu bé nào không hiểu được “1 cộng 1 bằng 2” thì có nghĩa là năng lực tư duy của cháu chưa chín như các bạn cùng lứa chứ không phải các cháu không hiểu được, sớm muộn cháu cũng sẽ hiểu. Việc truyền thụ kiến thức phù hợp với năng lực tiếp thu của mỗi cá nhân là một nguyên tắc hiện không được giáo dục Việt Nam tuân thủ khiến việc học trở nên nặng nề.  Sự tự tin trong việc học tập cùng với sự say mê và kết quả học tập môn toán liên hệ mật thiết và chi phối nhau, đặc biệt đối với học sinh tiểu học, lứa tuổi mà chơi và học vẫn chưa thực sự tách rời. Chủ trương không đánh giá học tập đối với học sinh tiểu học, nhất là ở hai năm đầu, là hoàn toàn đúng đắn. Ngoài ra cần học tập một nguyên tắc nguyên tắc bí mật thông tin cá nhân, không công bố chung điểm số của các học sinh trong lớp. Nhìn chung, quan điểm dùng điểm số để khuyến khích thi đua, trên cái nền lớn hơn là bệnh thành tích của giáo dục Việt Nam, đã trở nên lạc hậu khi chúng ta hướng tới một nền giáo dục đại chúng. Vì mục tiêu khuyến khích việc học tập của một số ít học sinh giỏi chúng ta làm suy giảm sự tự tin của phần lớn các học sinh còn lại. Tại hại hơn nữa, do bệnh thành tích nhiều học sinh học chưa tốt những vẫn được/phải lên lớp. Có lẽ chúng ta có quá nhiều học sinh ngồi nhầm chỗ, nhìn từ quan điểm của sự tự tin trong học tập, khi mà đa số các em đều cho rằng Toán là khó.  Toán học phải dễ và có ích  Toán học vốn được hiểu là một nội dung khoa học cao siêu, thậm chí cao siêu nhất, độ trừu tượng chỉ thua Triết học. Nhưng tại nhà trường phổ thông, Toán học phải dễ và có ích, thì mới đáng được giảng dạy. Nói cụ thể hơn, trong giáo dục đại trà môn toán, chỉ những kiến thức dễ và thực sự có ích mới nên giảng dạy.  Cùng với sự trưởng thành của học sinh, niềm tin về sự có ích của Toán học đối với cuộc sống sau này cần phải được giáo dục và củng cố trong mỗi em học sinh. Đây mới là động lực chính của việc học tập môn Toán. Học sinh cần thấy được rằng học tập là để có kiến thức, có năng lực đáp ứng cho tương lai của bản thân mình, rồi gia đình mình, để đóng góp cho đất nước, chứ học tập không chỉ để có thành tích, để đáp ứng các kỳ thi: đó mới chính là thực học.  Yêu cầu cao nhất của việc giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực là đào tạo ra những cá nhân có năng lực để tồn tại trong xã hội, để có thể tự mưu cầu hạnh phúc. Toán học cũng cần được giảng dạy với mục đích này. Mặc dù việc học Toán làm chúng ta thông minh hơn, tư duy logic hơn, nhưng đó không phải là tất cả những gì giáo dục toán học có thể và cần phải mang tới. Giáo dục toán học phải mang tới nhiều thứ thiết thực hơn, cho nhiều người hơn. Vì thế không thể coi trọng quá mức các yếu tố tư duy trong toán học.  Trước tiên việc học toán cần giúp học sinh hình thành và phát triển các đức tính kỷ luật, kiên trì. Chẳng hạn, học sinh sẽ không thể tính nhẩm tốt nếu không thuần thục bảng cửu chương và không có cách nào để học bảng cửu chương “thông minh” hơn cách học thuộc lòng. Ngay cả đối với những kiến thức cao hơn, trừu tượng hơn nhiều, thì việc luyện tập, làm đi làm lại cho nhuần nhuyễn các bài tập minh họa là cách duy nhất để học sinh (hay sinh viên, nghiên cứu sinh,…) hiểu được các khái niệm toán học. Quá trình hiểu trong Toán học bao gồm cả việc thuộc lòng.  Học sinh, ở mức độ đại trà, cần được giáo dục một cách cẩn thận và kỹ càng những kiến thức căn bản nhất của Toán học, những kiến thức cần thiết và có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Việc dạy thêm các nội dung nâng cao cần phải được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng với những đối tượng có chọn lọc. Cần coi trọng việc rèn luyện ở lớp thông qua các bài tập đơn giản, đồng thời tránh việc nhồi nhét quá nhiều bài tập khó. Đặc biệt, việc nhồi bài tập ở lớp trên xuống lớp dưới, là cách hiệu quả nhất để giết chết vẻ đẹp toán học trong mắt học sinh, khiến toán học trở nên vô giá trị, làm mất đi niềm tin với Toán học của học sinh, khiến các em học sinh cũng như phụ huynh coi việc học Toán là hành động khổ ải để đạt tới thành công chứ không thấy kiến thức toán học là hành trang cần thiết cho cuộc đời.  Để có thể thuyết phục người học, nội dung giảng dạy toán học cần phải đơn giản, trực quan và khả dụng. Chẳng hạn, học sinh với những kiến thức cơ bản về tổ hợp cần phải thấy được xác suất có giải thưởng lớn khi chơi xổ số là vô cùng bé. Ở mức cao hơn, các em cần hiểu tốc độ tăng trưởng “theo hàm số mũ” của phương thức gửi tiết kiệm với lãi suất kép và ngược lại, sự nguy hiểm của việc nợ “cả gốc lẫn lãi”… Vì thế đối với các nội dung năng lực cần đạt của môn Toán, ngoài năng lực tư duy cần đặc biệt chú trọng tới các năng lực mang tính thực tiễn cao như năng lực giao tiếp toán học, năng lực mô hình hóa toán học.  Mô hình hóa toán học, có thể hiểu là quá trình đơn giản hóa các bài toán thực tế để có thể giải quyết bằng các phương pháp toán học sẵn có, là bước quan trọng giúp Toán học gắn với thực tiễn. Trong lịch sử phát triển của mình, đã có nhiều kiến thức toán học sơ cấp được ứng dụng hiệu quả vào thực tế, có thể nhắc tới phép tam giác đạc, vẫn được sử dụng cho tới ngày nay; ứng dụng của các đường, mặt bậc hai trong quang học, vô tuyến điện, thiên văn; hay gần đây hơn là những ứng dụng không ngờ của số học vào công nghệ thông tin và mật mã… Giảng dạy về mô hình hóa toán học là một cách thuyết phục hiệu quả học sinh về vai trò của toán học trong cuộc sống, đồng thời giúp trang bị cho các em một số kỹ năng toán học cần thiết trong cuộc sống như kỹ năng xấp xỉ, ước lượng, đánh giá sai số… Đặc biệt, cần thiết kế càng nhiều càng tốt các dạng bài tập theo định hướng mô hình hóa toán học, giúp học sinh từng bước làm quen với việc đặt vấn đề và giải quyết vấn đề đối với các bài toán thực tiễn. Thực hiện được điều này cũng sẽ giúp cho việc thi cử, đánh giá năng lực học sinh có hiệu quả và có ý nghĩa hơn.       Author                Phùng Hồ Hải        
__label__tiasang Nỗ lực của Ấn Độ nhằm hội nhập giáo dục đại học thế kỷ 21      Ch&#237;nh phủ Ấn Độ sẽ tạo ra 12 trường đại học Trung ương mới, th&#234;m v&#224;o 18 trường đang hiện hữu. Đ&#226;y l&#224; một c&#244;ng việc lớn lao- khoảng 73 triệu USD tiền từ ng&#226;n s&#225;ch Nh&#224; nước&nbsp;đ&#227; được cấp để thực hiện c&#244;ng việc ấy. Đầu năm nay Ấn Độ đ&#227; tuy&#234;n bố rằng họ sẽ tạo ra 30 trường đại học &#8220;đẳng cấp quốc tế&#8221;, 8 Viện Khoa học C&#244;ng nghệ mới, v&#224; 7 Viện Khoa học Quản l&#253; trong v&#242;ng năm năm tới.Theo đề nghị của Ủy ban Khoa học Quốc gia, Nh&#224; nước Trung ương đang c&#243; kế hoạch đầu tư lớn để n&#226;ng cấp v&#224; mở rộng gi&#225;o dục đại học. Những kế hoạch kh&#225;c l&#224; tăng lương cho giới giảng vi&#234;n đại học- lương c&#243; thể tăng đến 70%.     Viễn cảnh này đại diện cho những tin vui vì kết quả xếp hạng quốc tế cho thấy Ấn Độ không có trường nào được coi là đại học đẳng cấp quốc tế và giới giảng viên Ấn Độ được trả lương khá thấp khi so sánh với các nước khác. Sinh viên cũng phải chịu đựng tình cảnh thiếu chỗ học trong những trường hàng đầu của Ấn và cả trong hệ thống giáo dục đại học. Ấn Độ ngày nay đang đào tạo chỉ một nửa số người trong độ tuổi học đại học so với Trung Quốc và xếp hạng thua xa châu Mỹ Latinh cũng như những nước thu nhập trung bình khác.  Ấn Độ phơi bày những trục trặc đặc biệt là ở trên đỉnh của hệ thống giáo dục đại học. Với ngoại lệ là các viện khoa học công nghệ và khoa học quản lý và một số ít những viện nghiên cứu và đào tạo không phải là các trường đại học chẳng hạn như các trường Y khoa, những trường xuất sắc ở mức đỉnh cao là rất hiếm. Thực ra, không một trường nào trong số 348 trường đại học của Ấn Độ được xếp hạng trong top 100 của thế giới. Nói chung, khi Ấn Độ muốn cải cách giáo dục đại học, họ đã bỏ qua các trường đại học hiện có và khởi sự những trường hoàn toàn mới như các Viện Khoa học Công nghệ.   Tuy nhiên, khi Ấn Độ đầu tư những số tiền lớn và nguồn nhân lực mạnh cho việc nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo mà không có những chiến lược nhằm bảo đảm kết quả của những đầu tư ấy, các nguồn lực sẽ bị lãng phí và thất bại là điều cầm chắc. Cho dù đã có một cuộc thảo luận về việc tổ chức một vài trường đại học theo mô hình Mỹ, cho đến nay vẫn chưa có một ý tưởng hay nguồn tài chính nào đủ lớn để thực hiện. Thế mà một tờ báo đã tường thuật phát ngôn của một quan chức: “Quan điểm cho rằng không nên có sự phân biệt tôn ti thứ bậc hay cách biệt trong tiêu chuẩn giữa các trường đại học, cũng như những cải cách thay đổi đối với các trường đại học đẳng cấp quốc tế, cần được áp dụng cho tất cả các trường đại học”. Thái độ này cho thấy một sự hiểu lầm hoàn toàn vì hệ thống các trường Hoa Kỳ có sự phân biệt tôn ti thứ bậc rất rõ giữa các trường công.   Chỉ đơn giản bơm thêm tiền và nguồn lực cho một hệ thống đại học đã đổ vỡ là một điều sai lầm. Xây dựng những trường đại học mới, nhất là những trường có dự định đổi mới, là một việc đòi hỏi lên kế hoạch thận trọng và hiểu biết rõ về những chỗ yếu của hệ thống hiện tại. Chúng ta hãy nêu khái quát một số vấn đề cần giải quyết trước khi cung cấp thêm nguồn lực cho các trường.      Cách làm việc quan liêu nhưng không có trách nhiệm giải trình   Ấn Độ nổi tiếng thế giới về chế độ quan liêu cứng nhắc, và giáo dục đại học Ấn vừa khớp với cái khuôn ấy. Rất ít quyết định được đưa ra mà không có sự cho phép của cấp trên, và bánh xe của quá trình ra quyết định thì quay rất chậm. Nỗi khiếp sợ sụp đổ hoặc mất quyền kiểm soát đã giúp tệ quan liêu cố thủ. Giảng viên và các nhà quản lý ở các trường đại học Ấn có ít động lực khích lệ để cải cách giáo dục đại học, thậm chí thực tế lại còn trái ngược. Hoàn toàn không thể xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế trong một bối cảnh quan liêu như vậy. Nếu những trường mới thành lập phải chịu đựng trách nhiệm với cả chính quyền Trung ương và chính quyền tiểu bang sở tại, gánh nặng quan liêu sẽ trở thành quá sức chịu đựng.     Vị trí  Những trường đại học lớn cần được đặt trên một vùng đất thân thiện. Nói chung, những trường đại học tốt nhất thế giới nằm trong hay ít nhất là ở gần những trung tâm đô thị lớn, hoặc những nơi có sức mạnh và truyền thống học thuật lâu đời. Hoàn toàn có thể có những trường tốt ở mỗi tiểu bang của Ấn Độ, nhưng ý tưởng có một trường đại học đẳng cấp quốc tế thực sự (một trường có thể cạnh tranh được với những trường tốt nhất trên thế giới) ở những vùng như Guwahati hay Bhubaneshwar thì rõ ràng là phi thực tế. Thật vô cùng khó lôi cuốn được các giáo sư hàng đầu, thậm chí cả các sinh viên giỏi nhất khi hạ tầng “mềm” như những tiện nghi văn hóa cũng không có. Công nghệ kỹ thuật cao cũng không có mặt ở những vùng này và vì vậy thật khó cám dỗ người ta đến đó. Dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng bảo đảm có thể xây dựng được những trường đẳng cấp quốc tế ở những nơi như thế.     Vấn đề nghề giảng viên  Giới học thuật Ấn Độ xứng đáng với đồng lương cao, và phong trào gần đây đòi nhanh chóng cải thiện đồng lương là một bước đi tích cực. Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu chỉ đơn thuần tăng lương cho các giảng viên mà không đồng thời kèm theo những cải cách cơ bản về cơ chế và thực tiễn của nghề giảng viên. Giới học thuật Ấn được ban thưởng nhờ thâm niên chứ không phải nhờ kết quả công việc, và nhờ sự tuân phục hơn là nhờ những nỗ lực cải cách. Những giảng viên làm việc hiệu quả nhất không thể được ban thưởng cho những việc làm tốt của họ, và gần như không có cách nào trả lương theo “giá thị trường” để giữ chân những người tài giỏi nhất, sáng láng nhất cho trường đại học. Trường đại học đẳng cấp quốc tế đòi hỏi một cơ chế trả lương theo hiệu quả công việc.      Cơ chế quản trị và văn hóa học thuật  Các trường đại học Ấn bị mắc kẹt trong văn hóa bình thường hóa sự tầm thường, nói cách khác, có rất ít cạnh tranh giữa các trường hay giữa các giảng viên. Các trường phụ thuộc nhiều vào những ý nghĩ nhất thời của các chính trị gia và không thể tự lên kế hoạch cho tương lai của mình. Giới giảng viên ít khi nắm quyền quản lý và lãnh đạo nhà trường. Tệ quan liêu cai trị mọi thứ và kéo lùi mọi cải tiến. Không có những thay đổi cốt yếu và sâu sắc về cơ chế quản trị và văn hóa của nhà trường thì có rất ít khả năng nâng cao chất lượng. Một thách thức khác là một số trường đẳng cấp quốc tế đang được tạo ra bằng cách nâng cấp những trường hiện hữu. Điều này là cực kỳ khó, vì những trường này, với rất ít ngoại lệ, sa lầy trong tệ quan liêu và văn hóa bằng lòng với những gì xoàng xĩnh, khó lòng theo được những đổi thay và cải tiến, ngay cả với “củ cà rốt” nguồn lực bổ sung.   Tham nhũng tồn tại ở mọi cấp của hệ thống giáo dục đại học, từ chủ nghĩa thiên vị trong chính sách tuyển sinh và bổ nhiệm các chức vụ giảng viên, cho đến gian dối trong thi cử, hệ thống luyện thi đáng ngờ, và nhiều thứ khác nữa. Gây thiệt hại ở mọi cấp độ, tham nhũng phá hủy văn hóa nghiên cứu và khiến mục tiêu đại học đẳng cấp quốc tế trở thành bất khả thi.      Chế độ dùng người tài ở mọi cấp   Các trường đại học đẳng cấp quốc tế là những tổ chức mang tính chất hoạt động theo chế độ nhân tài một cách sâu sắc nhất. Họ tuyển dụng những giáo sư giỏi nhất, nhận những sinh viên thông minh nhất, khen thưởng những giảng viên sáng láng nhất, và tất cả mọi quyết định đều được đưa ra trên cơ sở cân nhắc về chất lượng. Họ từ chối – và trừng phạt – thói đạo văn, chủ nghĩa thiên vị trong bổ nhiệm, và bất kỳ hình thức tham nhũng nào. Nhiều giảng viên Ấn, tiếc thay, không phản ánh những giá trị này. Có những vấn đề trở ngại có tính chất cơ chế. Thực tiễn của việc tuyển sinh và bổ nhiệm giảng viên dựa trên những chỉ tiêu cứng nhắc dành cho những nhóm dân số cụ thể – đến 49%- tuy có ý tốt hay có lý do, vô hình chung đã ngăn cản chế độ nhân tài. Ăn sâu vào xã hội và nền chính trị Ấn, hệ thống dành chỗ trước này có thể giải thích được, nhưng để thành công trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, thì chế độ nhân tài phải là một nguyên tắc thúc đẩy cơ bản.          Vai trò của nghiên cứu   Các trường đại học đẳng cấp quốc tế là những trường nghiên cứu rất mạnh. Tất cả những trường được xếp hạng cao trên thế giới đều phô bày đặc điểm này. Ấn Độ đối mặt với hàng loạt trở ngại trong việc xây dựng văn hóa nghiên cứu. Thẳng thắn mà nói, hiện nay không có một trường đại học nào ở Ấn, là đại học nghiên cứu. Các trường đại học Ấn có thể quả quyết rằng họ có một vài khoa có trình độ cao trong nghiên cứu và nhiều giáo sư có những thành tích đáng kể đang làm việc trong hệ thống đại học Ấn. Một vài trường, như các Viện Khoa học Công nghệ, và các cơ quan không phải là trường đại học chẳng hạn như Viện Nghiên cứu Khoa học Cơ bản Tata và tất cả các Viện Nghiên cứu Y khoa ở Ấn đã tạo ra những kết quả nghiên cứu đầy ấn tượng và được quốc tế kính trọng. Tạo ra một trường đại học nghiên cứu mạnh là điều bắt buộc để đạt đến cương vị đẳng cấp quốc tế.      Nguồn lực  Hơn 32 triệu rupi cho 12 trường đại học quốc gia1, cộng với một con số ấn tượng được thông báo cho những dự án liên quan, nghe có vẻ như là một số tiền lớn. Thực ra nó chẳng có nghĩa lý gì. Tạo ra một trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế có khả năng chiếm một vị trí trong nhóm các trường tinh hoa là một việc tốn kém rất nhiều tiền mới có thể xây dựng và duy trì. Ví dụ, một trường nghiên cứu mạnh mới thành lập ở Trung Quốc tốn khoảng 700 triệu USD tiền xây dựng và ngân sách hoạt động hàng năm là gần 400 triệu USD.      Kết luận  Những thử thách trong việc tạo ra một trường đại học đẳng cấp quốc tế có thể làm nhụt chí nhiều người. Thực ra, nếu Ấn độ muốn đạt đến thành công như một sức mạnh công nghệ trong nền kinh tế tri thức, thì cần phải có những trường đại học đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên, bước đi đầu tiên phải là nghiên cứu những trở ngại và tìm kiếm những giải pháp thực tế. Tiêu một số tiền lớn theo kiểu rải đều sẽ không mang lại kết quả. Sao chép những mô hình đào tạo thành công của Hoa Kỳ cũng sẽ không có kết quả.   Phạm Thị Ly dịch  Nguồn: “India’s Effort to Join 21st-Century Higher Education”, Philip G. Altbach and N. Jayaram. International Higher Education, Number 54, Winter 2009. Bản tiếng Anh có thể đọc tại http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number54/p17_Altbach&Jayaram.htm  ————  * Philip G. Altbach là Giám đốc Trung tâm Giáo dục Đại học, Trường Đại học Boston, Hoa Kỳ. N. Jayaram là giáo sư, hiệu trưởng Trường Khoa học Xã hội, thuộc Viện Khoa học Xã hội Tata, Mumbai, India.   1 Khoảng 652 800 USD (Chú thích của người dịch).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗ lực trở thành trung tâm ĐH của Đông Á      Các nhà lãnh đạo kỹ trị có hoài bão lớn của Hàn Quốc đã làm đựơc kì tích biến một quốc gia nghèo nhất châu Á trở thành nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới chỉ trong vòng hai thế hệ. Giờ đây, họ đang muốn biến Hàn Quốc thành trung tâm giáo dục ĐH của toàn Đông Á và có khả năng cạnh tranh với các cơ sở giáo dục hàng đầu ở Singapore, Nhật, Trung Quốc và thậm chí, cả Hoa kỳ.    Hướng ra bên ngoài  Nếu cho rằng hoài bão này là viển vông thì bạn hãy nhìn vào kế hoạch của chính phủ Hàn Quốc xây dựng Khu Kinh tế tự chủ Incheon, một trung tâm kinh tế rộng 52.000 mẫu Anh (1 acre = 0.4ha) và theo như kế hoạch đề ra trong năm 2007, sẽ thu hút loạt các cơ sở đào tạo và trung tâm nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Đại học New York và North Carolina đã ký thỏa thuận mở các dự án nghiên cứu và các chương trình đào tạo cấp bằng ở đây. Một vài cơ sở giáo dục khác của Mỹ như ĐH Southern California, ĐH học George Maso và Đại học George Washington đang trong quá trình thảo luận ký kết các thỏa thuận tương tự.  Ông Hee Yhon Song, thành viên sáng lập Khu kinh tế tự chủ, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á thuộc thành phố Incheon cho biết mục tiêu của Icheon là “tạo ra một trung tâm toàn cầu trao đổi văn hóa và tri thức” và dự đoán Incheon sẽ thu hút được hơn 40 cơ sở nghiên cứu và ít nhất là 7 ĐH từ bên ngoài. Ông cùng nhiều người khác tin rằng Hàn Quốc rốt cuộc cũng có thể trở thành trung tâm của khu vực Đông Bắc Á giống như Thủ đô Brussel của Bỉ là trái tim của Châu Âu.  Incheon là dấu hiệu nổi bật nhất của công cuộc cải cách mạnh mẽ để đón đầu cái mà ông Song gọi là thế giới toàn cầu hóa giao tiếp bằng tiếng Anh đang diễn ra trong các trường ĐH của Hàn Quốc vốn có truyền thống hướng nội. Chính quyền ở các đặc khu kinh tế khác như thành phố cảng Pyeongtaek đang phát triển rất nhanh, nằm ở phía tây nam cách Seoul 90 phút đi xe cũng đã đầu tư nhiều triệu USD cho các dự án liên doanh về giáo dục.  Các trường ĐH hàng đầu của Hàn Quốc đã tiếp thu các chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ mới đầy tham vọng. KAIST (ĐH KH&CN),  ĐH hàng đầu của Hàn Quốc, đang trong quá trình cải tổ sâu rộng nhất trong vòng 37 năm trở lại đây để trở thành một trường “thực sự mang đẳng cấp quốc tế”. Còn Yonsei, ĐH tư hàng đầu của Hàn Quốc, đã  mở chuyên ngành nghệ thuật có tên là Underwood International College đào tạo toàn bằng tiếng Anh, dự định sẽ thu hút cả sinh viên Hàn Quốc và sinh viên quốc tế.  Sức ép cạnh tranh  Liệu Hàn Quốc có đủ khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh trong khu vực để trở thành trung tâm giáo dục đẳng cấp quốc tế không?  Nước này có lợi thế địa chính trị nằm ở trung tâm Đông Bắc Á – Seoul chỉ mất hai giờ bay từ Bắc Kinh hoặc Tokyo – cộng với quy mô và mức độ phát triển cao của nền kinh tế, có tầng lớp ưu tú được đào tạo ở Phương Tây, và điều này tạo ra những lợi thế mà ít nước nào trong khu vực sánh được. Thế nhưng theo thống kê của Bộ giáo dục thì chỉ có 22.600 sinh viên nước ngoài học tại Hàn Quốc năm 2006, so với hơn 100.000 sinh viên học ở Nhật Bản. Và sự thực là rất nhiều trường ĐH nước ngoài đã gặp khó khăn để xác lập chỗ đứng ở các nước gần Hàn Quốc. Một ví dụ: ĐH New South Wales của Úc gần đây đã phải rút ra khỏi Singapore chưa đầy một năm sau khi mở cửa, do có quá ít sinh viên đăng ký.  Nhật cũng từng cố gắng quốc tế hóa ĐH từ hồi thập kỷ 80 và 90 và thu hút được vài chục ĐH Mỹ mở chi nhánh đào tạo. Nỗ lực này thất bại, bởi sinh viên Nhật chẳng thấy hứng thú học ở các trường mà rất nhiều người cho rằng chỉ là chi nhánh phụ của trường mẹ. Các sinh viên có cùng suy nghĩ rằng: hoặc là Mỹ xịn hoặc là không. Đến nay chỉ còn duy nhất trường ĐH Temple là còn đứng chân được ở đây.   “Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn để tuyển được các sinh viên quốc tế. Không hiểu các trường mới ở đây sẽ làm thế nào? – ông Jongryn Mo, hiệu trưởng Trường Quốc tế Underwood, nói”. Ông này tin rằng chương trình thử nghiệm của trường Incheon cuối cùng rồi sẽ thất bại. “Thậm chí ngay cả khi Harvard tới Hàn Quốc, họ cũng không phát huy được tác dụng bởi chẳng bao giờ tìm đủ đội ngũ nhân viên đạt chuẩn ở đây.”  Hiệu trưởng Mo cũng tin rằng nếu có hy vọng để trở thành trung tâm giáo dục ĐH của khu vực thì hy vọng đó sẽ nằm ở các trường ĐH đã có uy tín của Hàn Quốc là KAIST, Đại học quốc gia Seoul và Đại học Yonsei.  Các chuyên gia nghiên cứu về các trung tâm giáo dục mới này nói rằng Hàn Quốc phải giải quyết được một số thách thức khi tiến tới quốc tế hóa giáo dục ĐH của mình.   Điều quan trọng nhất là Hàn Quốc phải cạnh tranh với các nước cũng đang phát triển rất nhanh là Trung Quốc, Malaysia và thậm chí cả Thái Lan. Ông Don Olcott, người phụ trách Viện giáo dục ĐH không biên giới ở Luân Đôn, nói: “Tất cả các quốc gia này đều muốn có một hệ thống giáo dục bền vững”  Sinh viên sẽ chỉ chọn học ở nơi nào sau khi tính đến chi phí và tiềm năng xin việc sau khi tốt nghiệp.  Ông Christopher Ziguras, Phó giáo sư khoa nghiên cứu quốc tế tại Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne của Úc, cho rằng “sinh viên quốc tế thường mong muốn ở lại và làm việc ở nước mà họ học tập trước khi hồi hương”. Những kỳ tích về công nghiệp của Hàn Quốc như xe ô-tô, điện tử và công nghiệp trò chơi… có thể là lợi thế thu hút các sinh viên nước ngoài.      THÀNH HUY (Theo Chronicle of Higher Education)    Mặc dù đã chi 2.6% GDP cho giáo dục ĐH, chỉ kém Hoa Kỳ và nhiều hơn gấp 2 lần mức trung bình của hầu hết các nước Châu Âu, nhưng năm ngoái,  Hàn Quốc có 218.000 sinh viên du học. Cách đây hơn 10 năm, con số này thậm chí còn gấp đôi. Khoảng 30% số này đi Mỹ khiến cho số học sinh du học của Hàn Quốc ở Mỹ trở thành nhóm sinh viên lớn thứ ba trong số sinh viên quốc tế đang du học ở Hoa Kỳ.  Hàn Quốc ước tính hàng năm thất thoát khoản chi phí giáo dục dành cho du học khoảng 3-4 tỷ đô-la.  Bộ Giáo dục Hàn Quốc thừa nhận “chảy máu chất xám sinh viên” đã trở thành một cuộc khủng hoảng và việc thuyết phục sinh viên học tập ở trong nước là một ưu tiên cao hiện nay. Chính phủ đang trợ cấp cho các trường ĐH dạy bằng tiếng Anh và hỗ trợ các nỗ lực thu hút nhiều hơn các giáo sư nước ngoài. Thành tích thu hút giáo sư tài năng từ nước ngoài của Hàn Quốc khá tệ. Năm 2007, báo cáo của Bộ giáo dục cho thấy 23 trường Đại học trên cả nước chỉ thu hút được 22 giáo sư nước ngoài về giảng dạy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel dành cho tuổi teen      Tuổi teen l&#224; lứa tuổi t&#224;i năng bắt đầu nh&#250; mầm v&#224; h&#236;nh th&#224;nh định hướng tương lai một người. Bởi vậy, t&#236;m kiếm c&#225;c t&#224;i năng tuổi teen v&#224; tạo điều kiện gi&#250;p họ ph&#225;t triển l&#224; việc l&#224;m thiết thực trong đ&#224;o tạo nh&#226;n t&#224;i cho đất nước. Kh&#244;ng &#237;t đo&#224;n thể x&#227; hội v&#224; doanh nghiệp Mỹ đ&#227; tổ chức nhiều hoạt động t&#236;m kiếm nh&#226;n t&#224;i khoa học (Science Talent Search, viết tắt STS) trong thanh thiếu ni&#234;n v&#224; thu được kết quả hết sức khả quan. Dưới đ&#226;y xin giới thiệu một hoạt động STS nổi tiếng, uy t&#237;n v&#224; l&#226;u đời nhất ở Mỹ. Đ&#243; l&#224; chương tr&#236;nh T&#236;m kiếm nh&#226;n t&#224;i khoa học Westinghouse (Westinghouse STS), từ 1998 trở đi đổi t&#234;n l&#224; T&#236;m kiếm nh&#226;n t&#224;i khoa học Intel (Intel STS).    Hoạt động này còn được gọi là giải Nobel dành cho thanh thiếu niên (Baby Nobels), do một tổ chức phi lợi nhuận chuyên phổ biến KHKT có tên là Phục vụ khoa học (Science Service), nay là Hội Khoa học và Công chúng (Society for Science and the Public) khởi xướng năm 1941 và được hãng điện khí Westinghouse (từ 1998 là Intel) tài trợ kinh phí. Mục đích của Westinghouse STS là phát hiện và giúp đỡ các thanh thiếu niên có tiềm lực sáng tạo KHKT, khuyến khích giới trẻ hăng say học tập nghiên cứu KHKT, đồng thời giúp nâng cao nhận thức của công chúng về vai trò quan trọng của KHKT trong thế giới hiện đại.    Hằng năm, Science Service tổ chức một cuộc thi tuyển chọn các công trình nghiên cứu KHKT xuất sắc nhất của học sinh lớp cuối trung học phổ thông khắp nước Mỹ. Trong ngót 7 thập niên qua, cuộc thi nói trên đã được đông đảo thanh thiếu niên Mỹ hăng hái tham gia. Theo thông lệ, các thí sinh dự thi phải nộp ban tổ chức một bản báo cáo công trình nghiên cứu của bản thân (không quá 1000 từ), một bản tự khai (theo mẫu in sẵn) khả năng sáng tạo và hứng thú KHKT của mình, kèm một hồ sơ về quá trình học tập do nhà trường thí sinh lập. Trung bình hằng năm có 1500 thí sinh tham gia, từ đây ban tổ chức chọn ra 300 thí sinh dự vòng bán kết (semifinalist), sau đó lại chọn ra 40 em khá nhất đưa vào chung kết.              3 em đoạt giải nhất nhì ba tại Intel STS 2009 (Eric Larson, William Sun, Philip Streich)        Thí sinh lọt vào chung kết (finalist) được tập trung về Washington D.C. trong thời gian một tuần, toàn bộ chi phí đi lại và ăn ở đều do ban tổ chức đài thọ. Tại đây các em được dự nhiều hoạt động bổ ích như gặp gỡ các nhà lãnh đạo Chính phủ, nghị sĩ, nhà khoa học, trình bày công trình nghiên cứu của mình tại Viện Khoa học Nhà nước, được tham quan thủ đô… 40 em này còn được ban Giám khảo phỏng vấn lần cuối cùng và chọn ra 10 em trúng giải cao. Ban Giám khảo gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng, trong đó có các chủ nhân giải Nobel. Hoạt động cuối cùng của các finalist là một dạ tiệc lớn với sự có mặt của nhiều quan khách. Tên các em trúng giải cao được đặt cho các tiểu hành tinh hoặc sao chổi trong vũ trụ.   Top ten trong Tìm kiếm nhân tài khoa học Intel 2009  Trong cuộc thi Tìm kiếm nhân tài khoa học Intel 2009, đã có hơn 1600 học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học khóa 2008 đăng ký dự thi. Ngoài học sinh Mỹ, năm nay còn có cả một số học sinh ở Ấn Độ và Hàn Quốc tham gia. Các nghiên cứu của thí sinh bao gồm nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, kể cả sinh hóa, hóa học, vật lý, toán học, công trình, khoa học hành vi, y học và sức khỏe. Danh sách thí sinh lọt vào bán kết được công bố ngày 14/1 năm nay. Hai tuần sau, ban tổ chức lại công bố danh sách 40 thí sinh lọt vào vòng chung kết. Đầu tháng 3 vừa qua, 40 thí sinh này được tập trung một tuần tại Washington, D.C. để dự cuộc sát hạch cuối cùng, nhằm chọn ra 10 người xuất sắc nhất chia nhau các giải thưởng và học bổng trị giá tổng cộng hơn 500.000 USD.   Danh sách 10 chủ nhân giải Baby Nobel năm nay được công bố ngày 10/3 gồm:  Eric Larson, 17 tuổi, đến từ Eugene bang Oregon giành giải nhất với một học bổng trị giá 100.000 USD. Eric đã thực hiện công trình nghiên cứu phân loại các đối tượng toán học gọi là phạm trù liên kết (fusion categories) – một dạng mới phát hiện của cấu trúc đại số có ứng dụng trong lý thuyết dây, lý thuyết nút (knot) và trong tính toán lượng tử. Eric thực sự là một tài năng toán học: Năm 2007 em từng thay mặt thiếu niên Mỹ dự Olympiad Toán quốc tế (IMO) và giành huy chương bạc; ngoài ra em còn lọt vào chung kết cuộc thi STS Siemens 2008-2009.          Tara Adiseshan      Năm nay, lần thứ hai liên tiếp, các gương mặt đoạt giải cao nhất trong hội thi khoa học và kỹ thuật thế giới của Intel (Intel ISEF) lại là ba gương mặt nữ. Đó là Tara Adiseshan, 14 tuổi; Li Boynton, 17 tuổi và Olivia Schwob, 16 tuổi. Mỗi người nhận được học bổng 50.000 USD từ Quỹ Intel.        Giải nhì là một suất học bổng 75.000 USD được trao cho William Sun, 17 tuổi, đến từ Chesterfield bang Missouri, người đã hoàn thành công trình nghiên cứu một phân tử mới khám phá gần đây, được gọi là Golgicide A (GCA), có thể điều chỉnh sự vận chuyển nội bộ của tế bào trong nhiều bệnh khác nhau. Công trình của em có thể đem lại một phương pháp mới điều trị các lây nhiễm vi khuẩn hoặc phòng ngừa các bệnh rối loạn thoái hóa thần kinh như Alzheimer.  Philip Streich, 18 tuổi quê ở Platteville bang Wisconsin nhận giải ba (50.000 USD) với việc hoàn tất dự án nghiên cứu ống nano carbon có thể dùng vào việc chế tạo vật liệu siêu bền và điện tử-nano siêu nhanh. Công trình này từng được trình bày trong 5 bản mô tả sáng chế phát minh. Mọi người đều biết ống nano đặc biệt cứng và dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, nhưng chúng không hòa tan và do đó khó có ứng dụng thực tiễn. Streich đã sử dụng lý thuyết phát tán quang và dung môi hóa chất để làm thí nghiệm, qua đó cung cấp bằng chứng định lượng đầu tiên chứng minh ống nano hòa tan được trong môi trường nhiệt động.  Narendra Tallapragada, 17 tuổi đến từ Burke bang Virginia nhận giải tư (25.000 USD) do đã nghiên cứu tìm ra cách đơn giản hóa các mô hình toán học phức tạp, nhờ đó máy tính mini có thể tương tác ở mức độ phân tử; ứng dụng kết quả nghiên cứu này có thể chế tạo được loại quần áo thông minh có bộ phận tự động điều chỉnh nhiệt độ.  Giải năm (25.000 USD) tặng cho Chelsea Jurman, 17 tuổi người Roslyn bang New York với công trình nghiên cứu hành vi uống rượu của trẻ vị thành niên, mối quan hệ giữa việc đó với nhận thức của thanh thiếu niên về thói rượu chè của cha mẹ và việc dạy con của phụ huynh.  Noah Arbesfeld, 17 tuổi đến từ Lexington bang Massachusetts, nhận giải sáu trị giá 25.000 USD với công trình nghiên cứu tìm hiểu một cấu trúc cơ bản của tất cả các công cụ đại số có khả năng tác động tới lý thuyết dây.  Alexander Kim, 17 tuổi ở Fairfax bang Virginia nhận giải bảy (20.000 USD) cho công trình phân tích di truyền và hình thái học sinh vật của loài tôm hùm khổng lồ sống trong các con sông ở Mỹ, qua đó làm phong phú thêm kiến thức về sự tiến hóa của các loài sinh vật và chiến lược tiềm tàng nhằm giữ gìn cân bằng sinh thái.  Giải tám trị giá 20.000 USD tặng cho Preya Shah, 17 tuổi, đến từ Setauket, New York, người đã thiết kế và tổng hợp được một loại thuốc điều trị u bướu, từ đây có thể đưa ra phương pháp hóa trị mới và điều trị khối u kháng thuốc mà không gây tác dụng phụ.  Nilesh Tripuraneni, 18 tuổi ở Fresno bang California được tặng giải chín (20.000 USD), vì đã thiết lập một bộ phương trình khí động học để điều tra plasma vi lượng gluon (quark-gluon plasma); công trình này có thể giúp cho việc nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ và phát triển thuyết lượng tử của lực hấp dẫn.  Giải mười (20.000 USD) trao cho Gabriela Farfan, 18 tuổi đến từ Madison bang Wisconsin, cô nữ sinh này đã nghiên cứu đá Mặt trời – kết tinh Oregon, loại đá có màu đỏ khi nhìn từ một góc này và màu lục từ một góc khác; em đã phát hiện màu sắc khác nhau là do các vi hạt bên trong xếp thành hàng. Khám phá của em có thể ứng dụng vào khoa học vật liệu   30 thí sinh còn lại của vòng chung kết mỗi em được tặng một học bổng 5.000 USD và một laptop mới có lắp bộ xử lý Intel® Core™2 Duo.  Thành tích ấn tượng  Theo thống kê đến năm 1997 tổng cộng đã có hơn 114.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học Mỹ đăng ký công trình nghiên cứu dự thi chương trình Tìm kiếm nhân tài khoa học Westinghouse, kết quả có 16.800 em lọt vào bán kết và 2.240 em lọt vào chung kết. Tổng số học bổng đã tặng cho thí sinh chung kết là 3,7 triệu USD. Nhờ có sự tài trợ đó mà các em này được vào học các trường ĐH hàng đầu, thực hiện mơ ước trở thành nhà khoa học.   Trong 67 năm qua, nhiều thí sinh từng trúng giải STS về sau đã nhận được nhiều (tổng số hơn 100) danh hiệu khoa học cao quý. Tổng cộng có 7 người được tặng giải Nobel Khoa học, 2 người được tặng giải Fields (tương đương giải Nobel Toán học). Ngoài ra còn 3 người được tặng giải thưởng Khoa học Nhà nước; 9 người được tặng giải thưởng của Quỹ MacArthur (MacArthur Fellowship, mỗi giải nửa triệu USD); 2 người được tặng giải nghiên cứu Y học Albert Lasker (Albert Lasker Basic Medical Research Award); 30 người trở thành Viện sĩ Viện Khoa học Nhà nước Mỹ; 3 người là Viện sĩ Viện Công trình Nhà nước Mỹ (National Academy of Engineering); 56 người nhận giải thưởng Sloan Fellows…   Số liệu nói trên cho thấy chương trình Tìm kiếm nhân tài khoa học Westinghouse (từ 1998 là Intel) đã thành công mỹ mãn, thực sự tìm và đào tạo được nhân tài khoa học cho nước Mỹ. Gần đây nhất người ta thường nhắc tới Roger Tsien, chủ nhân giải Nobel Sinh học 2008, ông này năm 16 tuổi từng đoạt giải nhất cuộc thi STS với công trình nghiên cứu tương tác giữa kim loại với muối sunfua; Khoản học bổng được tặng đã giúp Tsien vào học ĐH Harvard và trở thành nhà khoa học chuyên nghiệp suốt đời nghiên cứu sinh học.  Những nhà tài trợ hảo tâm  Nước Mỹ có rất nhiều nhà hảo tâm sẵn sàng tài trợ cho các hoạt động tìm nhân tài nói trên, nhất là các doanh nghiệp mà hãng điện tử Intel là một thí dụ. Kể từ năm 1998 bắt đầu thay thế hãng Westinghouse đảm nhận việc tài trợ cho chương trình Tìm nhân tài khoa học, Intel đã tăng tiền tài trợ tổng số giải thưởng và học bổng từ 207 nghìn USD lên tới 1,25 triệu USD.   Tháng 10/2008, Intel lại cam kết chi 120 triệu USD trong 10 năm tới để tiếp tục tài trợ cho chương trình STS này và cho Hội thi Quốc tế Khoa học và Kỹ thuật Intel (Intel International Science and Engineering Fair, ISEF). Ra đời từ năm 1950, ISEF hiện nay là cuộc thi KHKT lớn nhất thế giới dành cho học sinh khối lớp 9 – 12 PTTH khắp năm châu, được tổ chức tại hơn 40 quốc gia và vùng, sau đó chọn ra đại biểu dự chung kết. Tổng giải thưởng của ISEF lên tới 4 triệu USD. ISEF có tiếng vang rất lớn trên thế giới, vì thế nó thu hút được sự tài trợ của nhiều nhà hảo tâm khác, như các công ty Lucent Technologies, Ricoh Corp., Shel Oil, Science News Magazine, Los Alamos National Laboratories …  Tháng 1/2009, Intel và Hội vì Khoa học và Công chúng (SSP) lại khởi sự hai chương trình mới: Tìm kiếm trong cả nước những người trước đây từng trúng giải STS để lập mối liên hệ giữa họ với các thí sinh hiện dự thi STS, và chương trình Fellows để tài trợ và đào tạo nhằm lựa chọn giáo viên toán và khoa học (Fellows Program).  Tuổi teen Việt Nam trong Hội thi Quốc tế Khoa học và Kỹ thuật Intel              Hai em Trâm và Quốc tại ISEF 2009 ở Neveda        Hội thi Quốc tế Khoa học và Kỹ thuật Intel (Intel ISEF) năm nay được tổ chức vào tháng 5/2009 tại Reno bang Nevada, Mỹ với 1650 thí sinh từ 50 nước và vùng tham gia, trong đó có 10 thí sinh người Mỹ gốc Việt. Tất cả các thí sinh đều phải vượt qua kỳ thi cấp cơ sở (trường, địa phương, quốc gia). Ban Giám khảo gồm 1200 chuyên gia có học vị tiến sĩ hoặc tương đương cùng ít nhất 6 năm kinh nghiệm. Tổng giá trị các giải thưởng lên tới gần 4 triệu USD chia cho hơn 600 giải, trong đó có ba giải nhất, mỗi giải là một học bổng 50.000 USD, ngoài ra còn nhiều giải khác thuộc 18 lĩnh vực.  Năm nay là lần đầu tiên Việt Nam cử đoàn tham gia giải này với kinh phí do Intel Việt Nam đài thọ toàn bộ. Đoàn gồm ba thí sinh của tỉnh Lâm Đồng là Phan Nhật Trâm, Ngô Văn Quốc, học sinh lớp 12 chuyên Sinh trường THPT chuyên Thăng Long và Phan Ngọc Thảo học sinh lớp 11 trường THPT Đức Trọng (Đà Lạt). Trong đó em Trâm từng là học sinh giỏi quốc gia môn Sinh hai năm liền, đoạt Huy chương vàng Olympic quốc gia môn Sinh năm lớp 11…  Đoàn Việt Nam mang đến ISEF hai công trình nghiên cứu là Nhân giống, vận chuyển và phân phối giống cây trồng bằng kỹ thuật vi thủy canh (Trâm và Quốc cùng thực hiện) và Ảnh hưởng của game online đến nhân cách học sinh THPT (Thảo thực hiện). Sau khi vượt qua 28 đề tài khác trong cuộc thi cấp cơ sở ở Lâm Đồng, hai công trình nghiên cứu nói trên đã xuất sắc nhận giải A của Hội thi Intel ISEF lần thứ nhất cho học sinh thuộc khối THCS, THPT và các trường dân tộc nội trú tỉnh Lâm Đồng.   Đáng tiếc là do lần đầu tiên dự thi nên đoàn Việt Nam còn nhiều lúng túng. Chẳng hạn trong cả nước chỉ có tỉnh Lâm Đồng kịp thời làm xong thủ tục dự thi đúng hạn, các tỉnh và thành phố khác đều lỡ mất dịp dự kỳ thi này. Ngoài ra chất lượng công trình nghiên cứu chưa cao, thí sinh chưa được chuẩn bị tốt. Dù sao đây là một cố gắng lớn của Lâm Đồng. Hy vọng rằng, trong thời gian tới, các học sinh PTTH Việt Nam sẽ hăng hái nghiên cứu khoa học và có nhiều công trình tham dự các cuộc thi tài năng trẻ quốc tế.                                                                               Author                Quản trị        
__label__tiasang …, nói “có” với cái gì?      Chủ ý của bài viết này là nêu câu hỏi, ngoài việc nói không với tiêu cực trong Giáo dục, thì còn phải nói “CÓ” với cái duy nhất, xuyên suốt, và hoành tráng của một nền Giáo dục, ấy là CHẤT LƯỢNG và nói “CÓ” như thế nào?    1. Trong nền sản xuất hàng hóa vật chất, có lúc con người tạm bằng lòng với hàng hóa chất lượng loàng xoàng, cốt có nhiều hàng hóa và hàng hóa giá rẻ. Đó từng là cách làm của ông Henry Ford nước Mỹ khi hồi đầu thế kỷ trước ông đã đặt mục tiêu sản xuất thật nhiều xe hơi rẻ tiền cho người Mỹ dùng. Nhanh nhiều và rẻ từng là động cơ lao động của những người yêu nước như Henry Ford. Tương tự như vậy, việc tạo ra nhiều thực phẩm thịt bằng những lứa con lai đã thỏa mãn phần nào chuyện dinh dưỡng của con người. Nhưng về chất lượng thì đành phải thỏa mãn và phải chịu đựng một trình độ đã là “lợn lai kinh tế” thì rất “lợn dai kinh thế”? Lũ lợn lai kinh tế ấy làm sao “sành điệu” được bằng lũ lợn lửng, lợn đồi, lợn xách tay?  Trong giáo dục thì khác. Nhà giáo dục không thể thỏa mãn với các sản phẩm mang cái thứ chất lượng tàm tạm. Thế nhưng, đến đây liền có ngay câu hỏi hồ đồ, tưởng như là rất đúng: vậy thì có thừa nhận thành tựu của Einstein “cao” hơn thành tựu của Newton? có thừa nhận thành tựu di truyền học thời  Mendel “cao” hơn thành tựu sinh học chọn lọc tự nhiên thời Darwin? Nghĩ một tí thì trả lời được: thành tựu sau có thể “cao” hơn thành tựu trước, ở chỗ chúng gần hơn với chân lý khoa học và ứng dụng được nhiều hơn và dễ hơn vào cuộc sống thực của con người. Nhưng nếu chú ý tới một phương diện bên trong tâm lý của thành tựu kia, ta sẽ thấy là trước sau những con người có những thành tựu để đời cho loài người thảy đều có chỗ giống nhau trong phẩm chất tư duy. Nhìn theo chiều dọc lịch sử, đã thấy sự giống nhau về tư duy của những tác giả của những thành tựu “cao hơn” so với cái có trước, mà nhìn ngang theo chiều địa hạt, cũng thấy hiện tượng đó. Nhà tâm lý học Mỹ đương thời Howard Gardner, khi nghiên cứu những cung cách tư duy của những “bộ óc” khác nhau trong những địa hạt hoàn toàn khác nhau, Freud, Einstein, Picasso, Stracinsky, Eliot, Graham và Gandhi, ngoài việc chứng minh tiếp lý thuyết trí khôn nhiều thành phần đã tìm ra một mẫu số chung trong tính sáng tạo.                  Thừa nhận với nhau điều đó, ta sẽ bị buộc phải thừa nhận rằng CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ở một cá thể học sinh nhất thiết phải bao gồm hai yếu tố: một là, những kỹ năng chiếm lĩnh và sở hữu trí tuệ người, và hai là một năng lực tư duy được tạo ra từ những kỹ năng đó, nói một cách giản đơn, tay làm đầu nghĩ.  Nếu chỉ có tay làm bằng học lỏm thì đôi khi cũng có thể có một “chất lượng” kiểu đánh lừa. Cái làm nên sự khác biệt giữa chất lượng thật và chất lượng ảo, ấy là phẩm chất tư duy của người học. Đã tạo ra được cho học sinh một kỹ năng nào đó, thì cũng phải tạo cho các em một tư duy tương ứng với kỹ năng đó, là công cụ để các em tiếp tục tự học cả đời.  Cái chất lượng giáo dục nói trên ở từng cá thể học sinh còn phải được kiểm chứng bởi đơn đặt hàng xã hội. Sự chấp nhận của thị trường lao động xã hội sẽ trả lời và phân biệt những chất lượng khác nhau do các “lò đào tạo” khác nhau. Nói thế là giả định một ngày nào đó hệ thống trường học sẽ được tự chủ, sẽ xã hội hóa cao, sẽ có sự thi đua thực sự về chất lượng giữa các trường học.  2. Thi đua giữa các trường học, cũng có nghĩa là thi đua giữa các cung cách tạo ra chất lượng giáo dục, mà nơi thể hiện đầu tiên là những bộ sách giáo khoa.  Trong một bộ sách giáo khoa được nghiên cứu công phu và thực nghiệm nghiêm túc, chắc chắn sẽ lộ rõ phương pháp học thay cho “phương pháp” nhồi nhét. Sẽ lộ rõ một chỗ lấy người học làm trung tâm, và một nơi lấy bục giảng làm trung tâm. Nhìn vào hai bộ sách giáo khoa đối lập nhau, sẽ thấy rõ ở đâu chú trọng một cái đầu đầy và ở đâu chú trọng một cái đầu có tổ chức.  Thật vô lý khi bắt mọi người cùng xếp hàng “nói không” đồng loạt như nhau đối với những tiêu cực trong nền giáo dục đương thời. Trách nhiệm phải khác nhau giữa các cương vị khác nhau. Những em học sinh “ngồi nhầm lớp” chẳng nhẽ nào lại phải cùng nói “không” với những vị soạn sách giáo khoa “mới” mà cũ rích vì hoàn toàn không thể hiện được nội dung huấn luyện cách học cho các em, đua nhau tung ra những sách tham khảo hoàn toàn vô bổ chỉ có tác dụng hù doạ, những bộ đồ dùng dạy học ngô nghê thô thiển…  Trách nhiệm nói “không” (hoặc nói “có”) phải bắt đầu từ tầng chóp của ngành giáo dục, chứ không ở đám đông học sinh quay cóp khi đi thi. Và xin nhắc lại, phương thức nói “không” tốt nhất là nói “CÓ” với cái lõi của sự nghiệp giáo dục: CHẤT LƯỢNG giáo dục.  Phạm Toàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nội dung của văn hóa đại học      Trong phần II bài viết, GS Dương Phúc Gia nhấn mạnh, văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, theo đuổi sự thật, tôn thờ tự do học thuật, và có tinh thần phê phán quyết liệt.  &#160;      1. Thế nào là văn hoá đại học?  Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v… Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.   Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.  Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.  Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.   Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.   Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.  Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”  Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.  Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.   2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.    2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật   Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.  Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.   Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.   Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.  Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.   Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v…   Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.  Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.      3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật  Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.   Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.   Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.  4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế  Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm” (Mind and Hand).  Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.  5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức  Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.  Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.  Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]  Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.   Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”  Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).    6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước  Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.  Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.  Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”…  “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”  Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.   Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.   Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.  Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.   Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.  Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.  Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.   Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”  Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]  Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.       (Còn nữa)  Huy Đường lược dịch    Ghi chú của người dịch:  [1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.  [2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.   [3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.  [4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).  [5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi sợ COVID và sự suy kiệt học tập ở học sinh      Ngay thời điểm bùng phát đại dịch ở Việt Nam, trẻ em đã học online tại nhà. Những tưởng sự tách biệt khỏi “thế giới bên ngoài” đó sẽ giúp các em vượt khỏi “phạm vi ảnh hưởng” của COVID-19, nhưng đại dịch này vẫn phủ bóng đen lên việc học tập của các em. Điều đó thể hiện ở nỗi sợ và sự lo lắng của học sinh về nguy cơ lây nhiễm COVID-19 – yếu tố dẫn đến sự suy kiệt trong học tập của họ.      Ảnh: https://www.wvi.org/  UNICEF cho rằng COVID-19 là khủng hoảng lớn nhất đối với trẻ em trên toàn cầu trong lịch sử 75 năm của tổ chức này. Trong đó, đại dịch đã làm trầm trọng thêm sức khỏe tâm thần của trẻ em. Một báo cáo về sức khỏe tâm thần của trẻ em thế giới của UNICEF cho thấy, năm nay, cứ bảy em ở lứa tuổi 10-19 thì có một em được chẩn đoán là bị rối loạn tâm lý. Tổ chức này nói rằng, họ chưa biết tác động thực sự của COVID-19 lên sức khỏe tâm thần của trẻ em trong nhiều năm tới sẽ như thế nào.   Trẻ em Việt Nam cũng được phát hiện là chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch này. Một nghiên cứu của chúng tôi được công bố vào đầu năm nay cho thấy, nỗi sợ về COVID-19 (COVID-19 anxiety) có liên quan chặt chẽ đến sự suy kiệt học tập của các em.   Càng lo, càng chán học  Khái niệm sự suy kiệt (burnout) ban đầu được nghiên cứu trong bối cảnh liên quan đến hoạt động lao động sản xuất. Đây là một hội chứng tâm lý có thể phát sinh như là một sự phản ứng của cơ thể với các tác nhân gây căng thẳng mãn tính của cá nhân với công việc. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc học tập của học sinh cũng được coi như là một dạng lao động, nhưng hoạt động lao động này được thực hiện trong bối cảnh học đường. Học sinh với tư cách là “người lao động” cũng có thể bị suy kiệt trong quá trình “lao động” đó.   Cụ thể là, sự suy kiệt học tập của học sinh được xem là có những đặc trưng riêng gắn với bối cảnh học đường. Một số dạng suy kiệt có thể kể đến như (1) sự kiệt sức hay sự mệt mỏi cực độ cả về thể chất và tâm lý trong học tập (Exhaustion), (2) sự suy giảm một cách đáng kể động lực học tập, ví dụ hoài nghi về hiệu quả của việc học tập và muốn tránh xa việc học tập (Cynism), (3) sự mất tự tin vào hiệu quả học tập (Reduced Efficacy).   Các dấu hiệu cụ thể của mệt mỏi, kiệt sức trong học tập có thể kể đến như sự trải nghiệm về (1) các triệu chứng suy sụp thể chất nói chung như như ngủ kém, chán ăn, mất tập trung, đau đầu, gặp các vấn đề về tiêu hóa, các rối loạn tâm thần v.v…; (2) các triệu chứng suy sụp tinh thần, cảm xúc như thấy quá tải với việc học tập, thấy việc học tập như là một gánh nặng, thờ ơ với việc học tập, hay quên, sầu muộn, không có động lực về bất cứ thứ gì mà vốn trước đây học sinh đã từng hứng thú, luôn cảm thấy buồn chán, không có khả năng tập trung vào việc học tập ở trường cũng như ở nhà v.v…; (3) các rối loạn nhân cách hóa (depersonalization) như thờ ơ với bạn bè, mâu thuẫn trong nội tâm, giao tiếp kém với bạn bè và người xung quanh v.v…  Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên 652 học sinh với tỉ lệ số học sinh nam và nữ khá tương đương nhau, ở độ tuổi từ 10 – 16. Để đánh giá mối quan hệ giữa nỗi lo bị nhiễm COVID-19 và sự suy kiệt trong học tập của các em, chúng tôi sử dụng hai mô hình riêng biệt để đo lường sự tương quan giữa nỗi lo về COVID-19 cũng như một số yếu tố cá nhân khác, bao gồm sự trầm cảm, giới tính, lớp học với hai dạng suy kiệt học tập. Dạng suy kiệt thứ nhất là sự kiệt sức học tập (Exhausion) và dạng còn lại là sự suy giảm động lực học tập (Cynism).   Ở mô hình một, chúng tôi không thấy sự tương quan giữa sự lo lắng về COVID-19 với sự kiệt sức trong học tập. Tuy nhiên, giới tính, mức độ trầm cảm và lớp học có sự liên hệ với sự kiệt sức trong học tập. Cụ thể là, mức độ trầm cảm càng lớn, là nam, và lớp học càng cao thì càng dễ có khả năng bị kiệt sức. Điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu về cùng chủ đề được thực hiện ở học sinh tại nhiều nước trên thế giới.   Mô hình hai cho kết quả tương đối khác biệt với mô hình một. Trong đó, nỗi lo về COVID-19 có mối tương quan chặt chẽ tới sự mất động lực học tập. Sự tương quan này thậm chí mạnh hơn nhiều so với các yếu tố cá nhân khác, bao gồm cả sự trầm cảm ở học sinh. Điều đó có nghĩa là, học sinh càng lo lắng về việc bị nhiễm COVID-19 thì các em càng cảm thấy ít hứng thú với việc học hành và nghi ngờ ý nghĩa của hoạt động đó. Nói cách khác, nỗi lo COVID-19 là một yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tiến bộ trong học tập của học sinh.   Giọt nước tràn ly  Tuy nhiên, không phải đến khi đại dịch COVID-19 xảy ra, trẻ em mới phải chịu đựng những yếu tố dẫn đến suy kiệt học tập. Có những tổn thương tâm lý đã tồn tại trong một thời gian dài từ trước đến nay và phổ biến hơn chúng ta tưởng. Chẳng hạn như về yếu tố trầm cảm, trong một nghiên cứu trên hơn 1.000 học sinh ở Cần Thơ vào năm 2013, người ta đã thấy rằng có tới hơn 40% em có những triệu chứng của hiện tượng rối loạn tâm lý này. Hơn nữa, ngoài yếu tố cá nhân như đã đề cập trong nghiên cứu của chúng tôi, nhiều yếu tố về gia đình và nhà trường đã được chứng minh trên học sinh ở nhiều nơi trên thế giới là cũng góp phần làm suy kiệt học tập ở trẻ em. Chẳng hạn như sự hà khắc hay sự thờ ơ của bố mẹ với việc học tập của con cái, mối quan hệ không tốt giữa bố mẹ và con cái, lịch học ngoại khóa dày đặc, áp lực thi cử, áp lực học trường năng khiếu, sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ đối với kết quả học tập của con cái…   Đại dịch COVID-19 còn là một “điều kiện” để khuếch đại và tô đậm những yếu tố đó. Trẻ em phần lớn bị “nhốt” trong nhà, biệt lập với các không gian vận động, không được chơi đùa – một niềm vui thời thơ ấu của các em. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy giãn cách xã hội làm gia tăng thêm tình trạng trầm cảm ở học sinh. Hay tình trạng bạo lực gia đình gia tăng khi các thành viên “giáp mặt nhau” hằng ngày, hàng giờ trong bốn bức tường và bố mẹ bị giảm thu nhập hoặc mất việc.   Nỗi lo COVID-19 là yếu tố mới xuất hiện, “cộng dồn” với các yếu tố khác, như giọt nước làm tràn ly. Những em nào vốn đã phải vật lộn với những khó khăn về tâm lý trước đại dịch sẽ càng gặp khủng hoảng, càng dễ suy kiệt học tập trong thời kì này. Gần đây, một học sinh được báo cáo là đã nhảy lầu tự tử từ một toà nhà cao tầng ở Hà Nội vì “bài thi bị điểm kém”. Hành động đau lòng này có lẽ là một cách thức giải thoát của em đó trong khỏi sự lo lắng về kết quả học tập của mình.   Lối thoát nào cho sự suy kiệt học tập trong thời kỳ đại dịch?  Đại dịch COVID-19 có thể vẫn còn kéo dài. Sự suy kiệt học tập ở học sinh sẽ làm tăng nguy cơ học hành sa sút và tệ hơn nữa là bỏ học, gây ra những hậu quả tiêu cực cho tương lai của các em. Ngoài sự nỗ lực tự chăm sóc bản thân từ phía cá nhân học sinh, gia đình trong thời kì này càng phải cẩn trọng quan tâm đến tâm lý các em, lắng nghe và giúp đỡ kịp thời các em trước những khó khăn trong học tập, đảm bảo cho các em một chế độ dinh dưỡng và thời gian biểu hợp lí.   Sẽ hữu ích khi nhà trường chú trọng việc nâng cao hiểu biết về cơ chế lây nhiễm của COVID-19 cũng như rèn luyện kĩ năng kiểm soát, quản lý căng thẳng của học sinh để hạn chế nỗi lo về COVID-19 của các em. Tuy nhiên quan trọng hơn, đây chính là thời điểm mà nhà nước cần tăng cường hơn sự đầu tư vào hoạt động tư vấn tâm lý ở các trường phổ thông, thông qua sự bồi dưỡng liên tục để phát triển mạnh mẽ hơn kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ hỗ trợ hoạt động học tập của học sinh. Điều đó giúp cho các chuyên viên tâm lý, cố vấn học tập (người lắng nghe và đưa ra hỗ trợ mỗi khi học sinh gặp khúc mắc trong quá trình học tập) thực hiện hiệu quả hơn việc phát hiện sớm, ngăn ngừa và thiết kế can thiệp, phối hợp với phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm nhằm giảm nhẹ tác động của đại dịch lên tình trạng suy kiệt học tập ở học sinh ở cả hiện tại và trong tương lai.□  ——  * Khoa Tâm lý Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Việt Nam) và Phòng thí nghiệm Learn2trust, KU Leuven (Vương quốc Bỉ).    Author                Vũ Bá Tuấn*        
__label__tiasang Nước Anh – Chất xám chảy ngược      Khi c&#225;c đại học tại c&#225;c nước đang ph&#225;t triển c&#242;n đang đau đầu với vấn đề &#8220;chảy m&#225;u chất x&#225;m&#8221; sang c&#225;c doanh nghiệp th&#236; tại Anh Quốc, c&#225;c chuy&#234;n gia trong lĩnh vực Sinh học v&#224; Y học lại đang bắt đầu th&#224;nh c&#244;ng trong việc thu h&#250;t chất x&#225;m ngược từ c&#225;c doanh nghiệp về c&#225;c trường đại học.    Khi một nhà nghiên cứu quyết định rời trường đại học để ra ngoài làm cho các doanh nghiệp, thường thì ít khi anh ta quay lại trường đại học. Đây chính là nguyên nhân chính của thực trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực khoa học tại các đại học và viện nghiên cứu tại Anh Quốc.   Mới đây, Chính phủ nước này quyết định khởi động một dự án nhằm cải thiện vấn đề này. Đây còn là một phần trong nỗ lực ổn định cơn khủng hoảng tài chính hiện tại và tổ chức lại nền công nghiệp dược phẩm, nơi có nhiều nhà khoa học tài năng không được trọng dụng.   Hội đồng Nghiên cứu Anh đã chi tổng cộng 5 triệu Bảng cho chương trình trên. Số tiền này sẽ giúp các trường đại học tiếp tục tiến hành nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ, đồng thời  đẩy mạnh tìm kiếm người cho các vị trí lãnh đạo thích hợp, một việc trước đây được coi là rất khó thực hiện.  “Nhiều nhà khoa học hàng đầu hiện đang đầu quân cho các doanh nghiệp,” Lord Drayson, Bộ trưởng Bộ Khoa học Anh, phát biểu trong buổi khai mạc chương trình.  “Nhưng trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện tại, dù có chuyên môn cao, người ta vẫn có thể phải đối mặt với những bất ổn tương lai. Vì thế, chúng ta cần tạo điều kiện cho họ có thể tiếp tục công việc nghiên cứu bằng cách trở lại các trường đại học.” – Bộ trưởng Drayson cho biết.  Hội đồng nghiên cứu Y khoa (Medical Research Council – MRC), Hội đồng nghiên cứu Sinh học và Công nghệ Sinh học (Biotechnology and Biological Sciences Research Council – BBSRC) được chỉ định là các cơ quan trực tiếp điều hành chương trình này.                  Các trường đại học được chờ đợi sẽ tự bổ nhiệm và trả lương cho các giáo sư. Còn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu của họ, sẽ là trách nhiệm của Ban chỉ đạo chương trình này; dự tính hằng năm, mỗi giáo sư thuộc chương trình sẽ được tài trợ khoảng 250.000 Bảng Anh.  Ông Tony Peatfield, trưởng Ban hợp tác của MRC cho biết: “Mặc dù chương trình không thật lớn, nhưng hy vọng chúng tôi sẽ gây được hiệu ứng tốt trong việc bước đầu thu hút các nhà khoa học rời doanh nghiệp để trở về các đại học.”  Vấn đề là liệu các đại học có chấp nhận các nhà khoa học từ lâu đã xa rời với các nghiên cứu cơ bản?  “Họ thực sự là các chuyên gia, những kiến thức trong các phòng thí nghiệm tại các doanh nghiệp thực sự cũng rất hữu ích đối với các đại học” – ông Peatfield nhận định.  Ông Peatfield cũng cho biết là trong thực tế kể từ năm 1999, MRC đã áp dụng một chương trình tương tự nhằm giúp các đại học trong việc thu hút được 30 nhà khoa học hàng đầu nước ngoài.  Ngân sách sẽ sẵn sàng giúp cho các đại học nhằm thu hút người đến từ bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào, nhưng có một điều kiện bắt buộc là họ phải là các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học, y sinh, hóa học, lâm sàng học, thống kê học hay công nghệ thông tin.  Ông Peatfield cũng cho biết mặc dù đã có khá nhiều ứng viên xuất sắc nộp đơn, nhưng chương trình có chính sách ưu tiên các chuyên gia trẻ, còn nhiều thời gian để phát triển và cống hiến.  Danh sách các ứng viên trúng tuyển sẽ được công bố vào khoảng tháng tư năm 2009, và người ta hy vọng sẽ có thể chọn được từ 10 đến 15 nhà khoa học làm việc trong khoảng 2 đến 3 năm tiếp theo.  Một chương trình tương tự nhưng dài hạn hơn cũng sẽ được bắt đầu trong mùa xuân này. Chương trình này cũng nhằm mục đích khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học quay về các đại học làm việc.  “Nếu các công ty có ý định sa thải các nghiên cứu viên của mình, thì thay vì phải trả một khoản lớn tiền đền bù thiệt hại, họ có thể trả một phần hoặc toàn bộ lương của anh ta trong một năm đầu tại trường đại học.” Ông Peatfield cho biết.  Ông Rod Coombs, phó hiệu trưởng phụ trách sáng tạo và phát triển kinh tế, đại học Manchester, tỏ ra rất hoan nghênh kế hoạch này, ông cho rằng: “Những người có nhiều kinh nghiệm trong các doanh nghiệp chắc chắn sẽ hoàn thành rất tốt nhiệm vụ của mình tại trường đại học.”  “Một khi đã quen với không khí của giảng đường và các phòng thí nghiệm đại học, lại được trợ cấp thì chắc chắn công việc nghiên cứu sẽ trở nên thoải mái và tự nhiên hơn, và họ sẽ lại tiếp tục làm nghiên cứu giống như khi còn trong môi trường công nghiệp. Họ cũng sẽ không mất quá nhiều thời gian vào việc này bởi chính họ cũng xuất thân từ các đại học” Ông Coombs nhận định.  Ông Peatfied cho biết, chương trình sẽ chỉ nhận hồ sơ từ các trường đại học. Điều này có nghĩa là các nhà khoa học đang làm việc tại các doanh nghiệp sẽ buộc phải có tìm được một ghế trong trường đại học trước khi có thể nộp đơn tới chương trình này.  Phạm Hiệp dịch (Phụ San Thời báo Giáo dục Đại học (THES).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước nhỏ mà không nhỏ      Thụy Sĩ là một đất nước nhỏ nằm bên cạnh dãy núi Alps với diện tích 41.290 km2 (chỉ bằng 1/8 diện tích Việt Nam), chỉ có 10% đất canh tác còn lại là rừng, núi có nhiều suối nước nóng và hồ nước.    Dân Thụy Sĩ gồm 65% dân tộc Đức, 18% Pháp, 10% Itali, 7% các dân tộc khác. Ba dân tộc chính sống chung với nhau có những nét văn hoá đặc thù và luôn bảo vệ những độc đáo đó của mỗi dân tộc gốc, nhưng khi đến quyền lợi quốc gia thì họ luôn đặt quốc gia lên trên hết, dẹp quyền lợi dân tộc gốc qua một bên. Năm 2007 tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của 7,6 triệu dân Thụy Sĩ đạt 264 tỉ USD, lớn hơn GDP của 85,5 triệu dân Việt Nam. Thu nhập bình quân mỗi người Thụy Sĩ đạt 35.300 USD so với 3.100 USD của mỗi người Việt Nam. Sang Thụy Sĩ thỉnh giảng tại Đại học Genève lần này, tôi dành thì giờ đi thăm nhiều tỉnh thấy rõ những người chủ của đất nước nhỏ bé rất nghèo tài nguyên này toàn là những người giàu và mạnh. Một đất nước không hề có chiến tranh, và hầu như tất cả các tổ chức quốc tế đều đặt trụ sở ở đây. Đàm đạo với nhiều giáo sư ở đây và cùng với nhiều chuyên gia người Việt đang sinh sống ở đây nhiều năm tôi nhận ra chính hệ thống giáo dục độc đáo của họ đã ươm mầm nhân tài ở mọi tầng lớp người dân, tạo ra những lãnh đạo tài giỏi cho đất nước Thụy Sĩ với chiến lược phát triển kinh tế độc đáo, chiếm vị trí cao trong nền kinh tế và chính trị thế giới.                  Tài nguyên con người của Thụy Sĩ được đào tạo ngay từ tấm bé để lớn lên nắm vững kiến thức khoa học sâu rộng để có thể quyết định chính xác những hướng phát triển kinh tế, phát huy sở trường của mỗi dân tộc sản xuất ra những sản phẩm công nghiệp độc đáo (tính chính xác tỉ mỉ đưa đến những công nghiệp sản xuất đồng hồ, các máy móc tinh vi; tính thích hoà bình cùng mọi dân tộc khác tạo môi trường hoà bình ổn định đưa đến sở trường tài chính, mở những ngân hàng lớn), đặc thù thiên nhiên (núi cao tuyết phủ đưa đến công nghệ trượt tuyết; sườn núi đá sạn đưa đến nghề trồng nho làm rượu vang; suối nước nóng tạo nên những khu du lịch, nghỉ dưỡng độc đáo; vùng thung lũng nhỏ đưa đến nghề trồng cỏ nuôi bò sữa và bò thịt – sản xuất các sản phẩm từ sữa như pho mát đặc biệt hương vị Thụy Sĩ).  Chính phủ Thụy Sĩ chú ý đặc biệt nhất đến cái nền của giáo dục: đó là giáo dục phổ thông (GDPT). Thụy Sĩ không có Bộ Giáo dục, mà chính sách giáo dục là do mỗi tỉnh, huyện và cộng đồng cùng quyết định tuỳ thuộc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái đặc thù ở mỗi địa phương. Một hội đồng giáo dục liên bang được chính phủ thành lập để nắm được các hoạt động giáo dục trên toàn quốc. Sau giai đoạn mẫu giáo, GDPT có tất cả 13 năm. Bắt đầu lên lớp 3 các cháu phải học thêm một ngôn ngữ dân tộc ngoài tiếng mẹ đẻ (thí dụ ở trường vùng nói tiếng Pháp thì học thêm tiếng Đức hoặc Ý; trường vùng Đức thì học thêm tiếng Pháp hoặc Ý). Lên lớp 5 thì học thêm ngôn ngữ dân tộc thứ hai. Lên trung học đệ nhất cấp tiếp tục học hai ngôn ngữ dân tộc và học thêm một ngoại ngữ, thường là tiếng Anh. Sang trung học đệ nhị cấp học sinh tiếp tục học các ngôn ngữ dân tộc và ngoại ngữ như đã học ở đệ nhất cấp. Chương trình học ở các cấp là do địa phương thiết kế (chứ không phải theo một khuôn duy nhất do Bộ GD&ĐT bắt buộc như ở ta). Chương trình chủ yếu dạy học sinh biết cách sống trong xã hội, trong thiên nhiên nơi mình cư trú, vì thế học sinh bắt đầu mới vào lớp 1 mà đã được cho đi dã ngoại nơi gần nhà nhất; lên lớp 3 đi lên vùng trượt tuyết… Đây là cách giảng dạy cách sống cho những công dân tương lai, mà giáo dục phổ thông của Việt Nam không dám nghĩ tới, chỉ tập trung thời gian cho học sinh học vẹt. Các môn lịch sử, địa lý, khoa học được dạy với nội dung nhẹ nhàng, chứ không phải dạy nhồi nhét để cho mỗi học sinh đều phải trở nên thần đồng toán, thần đồng lý, thần đồng hóa, văn sĩ có tài cao… như chương trình GDPT nhồi nhét rất nặng của ta. Từ trung học đệ nhị cấp học sinh nào không thích học hàn lâm thì có thể theo học tại chương trình hướng nghiệp, khi tốt nghiệp trung học là có thể đi làm việc ở các doanh nghiệp ngay, hoặc có thể liên thông học tiếp nghề đó tại một trường cao đẳng nghề gần nhà. Cũng như học sinh ở các nước châu Âu láng giềng như Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Bỉ…, khuynh hướng học sinh đi theo hướng nghiệp nhiều hơn vào đại học vì có tay nghề làm việc ngay, lương có thể bằng hoặc lớn hơn lương của đại học. GDPT của Thụy Sĩ bắt buộc ở mẫu giáo, tiểu học, và trung học đệ nhất cấp nên học sinh hoàn toàn được miễn phí. Trung học đệ nhị cấp không bắt buộc, nhưng cũng miễn phí. Phụ huynh học sinh chỉ phải trả tiền tàu xe cho con em mình khi các cháu đi dã ngoại.           • Năm 2006-2007 có 6063 sv Việt Nam du học ở Mỹ.   • Số visa sinh viên du học đã được sứ quán Hoa kỳ cấp đã tăng 80% trong năm 2007.   • Việt Nam là thị trường sinh viên ngoại quốc tăng nhanh thứ hai trong nước Mỹ.   • Việt Nam có nhiều sinh viên nhất trong khu vực Đông Á hướng sang Hoa kỳ.   • Sinh viên Việt Nam ở Mỹ thuộc nhóm trẻ tuổi đứng hàng thứ nhì Á châu.  Theo Phòng Thương Mại,Tổng lãnh sự Mỹ tại TPHCM        Được Nhà nước trang bị cho mình kiến thức phổ thông cơ bản rất sát thực tế như thế, mỗi người dân Thụy Sĩ biết tư duy, tìm hướng đi của mình sao cho gắn kết với phát triển kinh tế của đất nước. Từ đó, họ chọn đúng nghề để học, chớ không phải chọn theo “tỉ lệ chọi” các ngành học dễ thi đậu nhất dù không thích ngành đó.  Tài nguyên thiên nhiên của Thụy Sĩ thua xa của Việt Nam. Họ chỉ có rừng (tiềm năng khai thác gỗ), thác nước, và nước muối khoáng. Tiền nhân người Thụy Sĩ không nghĩ đến việc khai phá rừng để sản xuất lương thực như ta, mà chỉ khai phá những đường băng lên các đỉnh núi cao phục vụ môn thể thao trượt tuyết. Vào mùa đông, không những dân Thụy Sĩ đi trượt tuyết mà dân ở các nước khác cũng kéo nhau về Thụy Sĩ du lịch sông hồ, tắm suối khoáng nước nóng và trượt tuyết. Hằng trăm ngành công nghiệp và dịch vụ đã được sinh ra để phục vụ cho công nghệ du lịch và trượt tuyết này. Đất đồng bằng nhỏ bé ở các thung lũng là của những hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trồng rau cải và đồng cỏ của các HTX nuôi bò thịt và bò sữa. Dọc các vách đá theo triền núi vùng tỉnh Valais (tương tự như vùng đá lổm chổm của Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang) là những vườn nho bạt ngàn của khoảng 5.000 nông dân xã viên của HTX rượu vang Valais. Tuyệt nhiên không ai chọn trồng cây lương thực trên núi làm chi cho lâm vào cảnh khốn cùng!                  Chuyện Thụy Sĩ là thế, họ đi lên giàu mạnh nhờ mỗi người dân đều bắt buộc phải có căn bản giáo dục ở cấp phổ thông để tự mình nhận định cần được đào tạo thêm nghề gì nữa ở bậc đại học hoặc cao đẳng nghề để tham gia đắc lực trong cộng đồng dân tộc. Trở về nước ta thấy dân nhà giàu của mình đang “di tản giáo dục” sang các nước khác nhất là đi Hoa Kỳ mới tội nghiệp cho hàng chục triệu dân thường của ta phải chịu tiếp nhận một hệ thống giáo dục phổ thông quá lạc hậu, không chuẩn bị được cho thanh niên ra đời với kiến thức và kỹ năng có thể tham gia vào đội ngũ lao động đắc lực của nước ta. Hệ thống Nhà nước của chúng ta khi đề cập đến vấn đề giáo dục là chỉ chú trọng đến đại học, trong khi đó cái ưu tiên số một cần được cải tiến là giáo dục phổ thông thì không được quan tâm bao nhiêu.  Với trình độ lực lượng lao động được giáo dục căn bản và đào tạo tay nghề như hiện nay, liệu chúng ta có thể tiến lên thành quốc gia công nghiệp từ năm 2020?  Võ Tòng Xuân      Author                Quản trị        
__label__tiasang OECD, PISA và câu chuyện giáo dục của chúng ta      Những ngày gần đây, nhiều tờ báo trong nước loan tin Việt  Nam đứng thứ 12 trong “bảng xếp hạng chất lượng trường học toàn cầu”  của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Phản ứng của dư luận  tương đối trái chiều, người thì hoan hỉ vui mừng, người thì hoài nghi  phê phán, người thì chừng mực cẩn trọng. Song, có một câu hỏi cần đặt  ra: OECD có thực hiện một bảng xếp hạng, tiếng Anh thường gọi là ranking  hay league table, như vậy hay không?      PISA có phải là bảng xếp hạng?  Theo quan sát, cách gọi tên “bảng xếp hạng” có vẻ như xuất phát từ bài báo “Asia tops biggest global school rankings”1 của Sean Coughlan đăng trên BBC News ngày 13/05/2015 (và có thể vài tờ báo khác). Trong đoạn video kèm theo bài báo, BBC đã dùng biểu tượng có tên gọi Global Education Rankings (Bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu) như Hình 1. Đồng thời, tác giả thường xuyên dùng từ school rankings hay league table, tạo cho người đọc ấn tượng rằng đây là một “bảng xếp hạng” tương tự như Times Higher Education, QS, hay Đại học Giao thông Thượng Hải đã thực hiện ở bậc đại học. Bài báo có lẽ được viết dựa vào bài thuyết trình của ông Andreas Schleicher, Giám đốc Ban Giáo dục và Kĩ năng của OECD, trình bày tại Luân Đôn ngày 11/05/2015. Bài thuyết trình này lại là phần tóm tắt những nội dung quan trọng nhất trong tập báo cáo “Universal Basic Skills: What Countries Stand to Gain”2 của hai tác giả Eric A. Hanushek và Ludger Woessmann, do OECD công bố chính thức sau đó hai ngày.  Điều đáng nói là, trong cả bản thuyết trình lẫn toàn văn tập báo cáo kể trên, OECD không hề dùng tên gọi Global Education Rankings hay khái niệm league table để nói đến các kết quả khảo cứu của mình. Chỉ có hai khái niệm ranking (xếp hạng hoặc thứ hạng) và school leaders (các nước dẫn đầu về chất lượng trường học) xuất hiện vài lần trong toàn văn báo cáo, nhưng hoàn toàn không có nghĩa hay mục đích xác định rằng đây là một “bảng xếp hạng” như đã nói ở trên. Ranking xuất hiện cả thảy 12 lần trong toàn bộ 110 trang văn bản, chỉ nhằm nói đến việc sắp xếp kết quả đánh giá theo thứ tự cao-thấp để giải thích các vấn đề liên quan. School leaders xuất hiện tổng cộng sáu lần, chỉ để nói đến các nước có kết quả kiểm tra của học sinh cao nhất nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm tốt. Cả hai khái niệm này hoàn toàn không xuất hiện trong bất cứ một cấp đề mục nào của tập báo cáo, từ tên chương đến các mục và tiểu mục, tức “bảng xếp hạng” không phải là mục đích dù chỉ là một phần việc nhỏ nhất của cuộc khảo cứu này.  Có người viện dẫn, cũng theo một ý trong bản tin BBC, rằng “bảng xếp hạng” này chỉ được OECD công bố chính thức ở World Education Forum (WEF – Diễn đàn Giáo dục Toàn cầu) tại Hàn Quốc từ 19 đến 22/05/2015. Điều nghịch lí là, trong một cuộc thi dù chỉ cho vui, không ai lại đi tiết lộ công khai tên những người thắng cuộc từ trước khi công bố chính thức kết quả; với một tổ chức lớn như OECD, điều đó lại càng khó tin! Nhưng quan trọng hơn, bản giới thiệu tóm tắt nội dung trình bày của OECD tại WEF  cũng hoàn toàn không đề cập gì đến câu chuyện “bảng xếp hạng”.   PISA được dùng vào việc gì?  Vậy, nếu OECD không lập “bảng xếp hạng”, thì các kết quả khảo sát, đánh giá, phân tích, tổng hợp nói trên dùng để làm gì? Nếu chỉ xét riêng tập báo cáo về “kĩ năng cơ bản phổ quát” kể trên, OECD mong muốn sử dụng kết quả của hai chương trình kiểm tra năng lực toán và khoa học của học sinh ở phạm vi quốc tế, gồm nhiều nước tham gia qua nhiều đợt, để phân tích và so sánh các mối tương quan có thể có giữa kết quả kiểm tra với các yếu tố kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia.  Đó là Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế (PISA)4 của OECD và chương trình Nghiên cứu Xu hướng Toán học và Khoa học Quốc tế (TIMSS)5  của Hiệp hội Đánh giá Thành tựu Giáo dục Quốc tế (IEA). PISA là chương trình đánh giá năng lực toán, khoa học và đọc hiểu của học sinh 15 tuổi (cuối lớp 9, đầu lớp 10), diễn ra ba năm một lần; đợt 2012 có 34 quốc gia thành viên OECD và 31 quốc gia hay vùng kinh tế đối tác của PISA tham gia. TIMSS là chương trình đánh giá năng lực toán và khoa học của học sinh tương đương lớp 4 và lớp 8, diễn ra bốn năm một lần; đợt 2011 có 63 quốc gia tham gia, trong đó có 16 quốc gia không tham gia PISA, và 28 quốc gia tham gia cả hai chương trình.     Bằng những lập luận và phân tích của mình, hai tác giả Hanushek và Woessmann đã lập ra một bảng so sánh “Năng lực bình quân qua các bài kiểm tra thành tích học sinh quốc tế” (Hình 2). Trong bảng này, năm vị trí đầu thuộc về các nước châu Á, riêng Việt Nam đứng thứ 12. Có lẽ đây là cơ sở để BBC đặt ra tên gọi Global Education Rankings hay global school league table rồi nhiều tờ báo trong nước dịch lại là “Bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu” hay “Bảng xếp hạng trường học toàn cầu”. Với OECD, đây quả thật là một “nỗi oan Thị Kính”!    Hình 2: Năng lực bình quân qua các bài kiểm tra thành tích học sinh quốc tế  Đến đây, cần phải xác quyết rằng, không hề tồn tại một cái gọi là “bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu” do OECD đưa ra. Vì tựu trung, mọi phép phân tích và phối hợp kết quả từ hai chương trình đánh giá nêu trên, dù về mặt học thuật còn rất nhiều điều để bàn luận, đều dùng để phục vụ những luận điểm chính mà các chuyên gia của OECD trình bày bao gồm: 1. Năng lực giáo dục thấp dẫn đến chi phí cao; 2. Chất lượng giáo dục không mặc nhiên thuận chiều với lượng tài nguyên (dầu hoả); 3. Thu nhập cao không miễn trừ được chất lượng giáo dục thấp; 4. Lĩnh hội kĩ năng cơ bản có thể giúp tăng trưởng toàn diện hơn; 5. Chất lượng cao và công bằng là những mục tiêu tương hợp được trong chính sách giáo dục hậu 2015… Với một niềm tin rằng, mỗi quốc gia cần phải đảm bảo cho mọi công dân có được một nền tảng vững chắc về kiến thức trong các lĩnh vực chuyên môn then chốt, giúp phát triển các kĩ năng cơ bản và phổ quát như tư duy sáng tạo, óc phê phán, làm việc phối hợp, làm cơ sở để rèn luyện tính cách cá nhân, tình yêu thương, lòng hiếu học, tinh thần dũng cảm và vượt khó. Nhằm một mục tiêu tối thượng mà bất cứ quốc gia nào cũng muốn theo đuổi: liên tục đổi mới, vượt qua khủng hoảng, phát triển bền vững.  Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm rằng, chính các tác giả tập báo cáo trên và OECD/PISA không hề cho rằng chất lượng giáo dục hay nền kinh tế chỉ phụ thuộc vào hai yếu tố năng lực toán và khoa học, dù rằng dữ liệu họ dùng để phân tích là lấy từ kết quả kiểm tra hai môn này. Cụ thể, ở trang 12, ông Schleicher đã khẳng định rằng “báo cáo này chỉ tự giới hạn ở mức xem xét tác động kinh tế của kiến thức và kĩ năng toán và khoa học, đơn giản vì đây là những yếu tố có thể đo lường được với độ tin cậy và ổn định cao xuyên suốt nhiều quốc gia và nền văn hoá. Những kĩ năng quan trọng khác được bỏ qua và do vậy có thể nói rằng tác động kinh tế của kĩ năng [học sinh] trong báo cáo này được đánh giá thấp hơn thực tế. Điều đó cũng cho thấy thế giới hậu 2030 sẽ cần phải mở rộng hơn nữa phạm vi lượng giá kĩ năng [học sinh], bao gồm cả các phương diện nhận thức, xã hội và xúc cảm thích hợp với tương lai của mọi cá nhân và xã hội loài người. Đó chính là một mối ưu tiên hàng đầu của PISA.”    Việt Nam nên khai thác nguồn dữ liệu PISA như thế nào?    Do Việt Nam không tham gia TIMSS nên thực ra trong câu chuyện này chúng ta chỉ nên quan tâm đến kết quả PISA 2012, đã công bố từ khá lâu6. Như đã nói, có nhiều ý kiến trái chiều về phương pháp khoa học của PISA, nhưng không thể phủ nhận rằng đây là một nguồn dữ liệu thuộc loại phong phú nhất, được xây dựng một cách chặt chẽ, có hệ thống và đồng bộ rộng khắp thế giới. Điều đó có thể giúp các nhà chức trách ở mỗi quốc gia có cái nhìn cụ thể về một số phương diện căn bản trong giáo dục ở nước mình, làm cơ sở hoạch định những chính sách phát triển phù hợp cho tương lai. Điều đáng quan tâm trong kết quả PISA không phải là thứ hạng ở từng môn, mà là kết quả từng chỉ số của mỗi nước so với trung bình của cả khối OECD là thế nào, diễn biến kết quả đánh giá theo thời gian ra sao, điều đó có quan hệ gì với các yếu tố kinh tế, xã hội liên đới hay không (như nguồn lực đầu tư cho giáo dục, môi trường tổ chức lớp học, vai trò của giáo viên, động lực học tập, điều kiện kinh tế gia đình, giới tính của học sinh, v.v.)    Đối với câu chuyện giáo dục của chúng ta, hãy bỏ qua ngay niềm phấn khích của một trò chơi xếp thứ hạng, điều có thể xem là bất khả trong giới học thuật, vì giáo dục là một quá trình nhiều mặt, phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp, không thể quy giản vào một chiều kích duy nhất nào đó để rồi phân cao thấp một cách tuyệt đối. Ngược lại, cũng không nên quá đỗi tự ti, thu mình lại, nghi ngờ, phán xét, chê bai… khi chưa thấu rõ cách thức triển khai, thu thập và phân tích kết quả của “thiên hạ”. Điều chúng ta cần làm, đó là hãy tỉnh táo, tìm hiểu kĩ lưỡng các kết quả và những phân tích, lập luận nêu ra trong các báo cáo của OECD/PISA, để hiểu mình và hiểu người. Biết mình đứng thực sự ở đâu trên thế giới này thì mới mong biết được cách hành động cho sáng suốt và thích hợp.    Đơn cử, xét kết quả kiểm tra ba môn toán, khoa học và đọc hiểu, phổ điểm trung bình của khối OECD phân phối tương đối đồng đều theo đường cong chuẩn, trong khi đó, phổ điểm của Việt Nam lại có chân hẹp và đỉnh cao hơn. Phần lớn học sinh Việt Nam tham gia kiểm tra PISA 2012 rơi vào các nhóm có trình độ trung bình và khá. Nhìn vào các biểu đồ ở Hình 3 (dữ liệu trích từ kết quả PISA 2012), ta có thể thấy rằng tỉ lệ học sinh đạt trình độ cao (các bậc 5, 6) của Việt Nam chỉ ở mức tương đương (toán và khoa học) hoặc thấp hơn (đọc hiểu) so với trung bình toàn khối OECD. Hoặc một ví dụ khác: năng lực toán của học sinh Việt Nam không thay đổi nhiều theo điều kiện kinh tế xã hội và ngang với mức trung bình khối OECD, trong khi năng lực khoa học và đọc hiểu thì thấp hơn thấy rõ. Ngược lại, tỉ lệ học sinh vượt khó, tức những em có hoàn cảnh khó khăn nhưng đạt kết quả tốt trong học tập, lại cao gần gấp đôi so với toàn khối OECD.    Hình 3: Năng lực học sinh Việt Nam so với trung bình chung toàn khối OECD  Với bộ dữ liệu đồ sộ cũng như vai trò tự thân của mình, OECD/PISA chỉ có thể tập trung vào những vấn đề vĩ mô, toàn cầu. Còn với những điểm liên quan đến Việt Nam, các chuyên gia quốc tế chỉ đủ sức gợi ra vấn đề rồi để ngỏ chứ không thể đi sâu hơn đến một kết luận chân xác. Một mặt, chúng ta đã có bao giờ xây dựng được một chương trình nghiên cứu chặt chẽ, triển khai đồng bộ, phân tích bài bản, với một lượng dữ liệu khổng lồ đang được cung cấp công khai và hoàn toàn miễn phí như PISA chưa? Mặt khác, trong các công trình nghiên cứu kể trên có những điểm có thể còn chưa hợp lí, chưa chặt chẽ trong phương pháp, cách tiếp cận, triển khai, thu thập hay phân tích dữ liệu, rất cần những cuộc nghiên cứu khác ngay từ thực địa để phản biện, bổ sung cho hoàn thiện. Liệu có ai khác tốt hơn là chính chúng ta phải làm việc đó, thay vì rộn ràng với những con số thứ hạng cao thấp sai lệch bản chất vấn đề, hay ngược lại thờ ơ như không phải câu chuyện của mình?  ——————————————————————————————————————————-  1 Tạm dịch: “Châu Á đứng đầu bảng xếp hạng trường học toàn cầu lớn nhất”, truy cập tại: http://www.bbc.com/news/business-32608772  2 Tạm dịch: “Kĩ năng cơ bản phổ quát: Hành trang cho quốc gia vững bước”, truy cập tại: http://www.oecd.org/edu/universal-basic-skills-9789264234833-en.htm  3 Ngày làm việc thứ ba, phiên song song thứ 10, truy cập tại: http://en.unesco.org/world-education-forum-2015/day-3  4 http://www.oecd.org/pisa/  5 http://www.timss.org/  6 http://www.oecd.org/pisa/keyfindings/pisa-2012-results.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Olimpic Toán quốc tế 2006, Slovenia: HÀ NỘI – LJUBLJANA, đi một ngày đàng…      Mê cung-Toán học  Hình vẽ trên đây là biểu tượng (lôgô) của Kỳ thi Olimpic Toán học quốc tế lần thứ 47, tổ chức tại Ljubljana (Slovenia) từ ngày 4 đến 18/7/2006. Chắc các bạn đều nhận ra đó là hình vẽ một Mê cung (Labyrinth).    Mê Cung có lịch sử hơn 3500 năm, nhưng ngày nay người ta vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của nó. Mê Cung xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác nhau, vào nhiều thời kỳ và địa điểm khác nhau, như Peru, Arizona, Iceland, Crete, Egypt, Ấn Độ và Sumatra. Huyền thoại kể rằng, để xâm nhập được đến tận cùng của mê cung Knossos, sai khiến được con quỷ Minotaur và lại lần ra được khỏi mê cung, chàng Theseus phải cầm trong tay cuộn chỉ Adriadne.             Nhận cờ Olimpic        Giải một bài toán khó cũng giống như tìm một con đường trong mê cung. Một lối đi sai, hoặc dẫn đến ngõ cụt, sẽ làm bạn chậm đến được mục đích. Nhưng một khi bạn tìm được đến đó, tức là bạn đã có cuộn chỉ Adriadne trong đầu, và nó sẽ giúp bạn tìm trở lại được con đường của bạn, giúp bạn đi được đến những miền đất kì bí mới. Đó cũng chính là sự quyến rũ của Toán học.  Tại sao trong lịch sử loài người, Mê cung xuất hiện sớm đến vậy, từ hơn 3500 năm trước? Có lẽ vì ngay từ buổi đầu hình thành, con người đã luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn, tưởng chừng không có cách giải quyết. Và con đường quanh co, khúc khuỷu, khi tiến, khi lui để đến được mục tiêu, nếu vẽ lại sẽ cho ta hình ảnh một mê cung! Phải chăng vì thế mà mê cung xuất hiện ở khắp nơi, trong nhiều nền văn hoá khác nhau, như một nỗi ám ảnh của con người. Toán học, và rộng hơn là khoa học nói chung, luôn có khát vọng trang bị cho con người cuộn chỉ Adriadne mỗi khi họ đứng trước một mê cung. Vì lẽ đó, lấy mê cung làm lôgô cho một kỳ thi Olimpic Toán học thật là một ý tưởng hay.     Olimpic Toán học – Một cuộc đua thể thao?   Đúng vậy, và không phải ngẫu nhiên mà người ta dùng từ “Olimpic” (Olimpiade) để gọi tên các cuộc thi học sinh giỏi Toán quốc tế. Đó là một cuộc đua thể thao, môn thể thao của trí tuệ. Vì đó là cuộc đua thể thao, nên người ta cần giành chiến thắng tại chính nơi đó, chính thời điểm đó. Cũng như trong thể thao, một đối thủ mạnh có thể thua một đối thủ bị xem là yếu hơn, nhưng nói chung, đối thủ mạnh thường giành chiến thắng. Và cũng như trong các Thế vận hội Olimpic, mọi vận động viên tham gia một cách trung thực cuộc chơi đều là người chiến thắng. Trong kỳ Olimpic Toán học quốc tế cũng vậy, có người được nhận huy chương vàng, huy chương bạc, huy chương đồng, nhưng nhiều người khác không có huy chương. Quan trọng hơn cả là họ đã tham gia kỳ thi, đã có dịp được giao lưu, tiếp xúc với bạn bè khắp năm châu, và cái còn lại trong cuộc đời họ là vẻ đẹp của thiên nhiên và văn hóa, là lòng mến khách của những đất nước mà họ được đặt chân đến, là tình bạn giữa những con người ở các nước khác nhau, là tình yêu toán học.              Đoàn Việt Nam        Trong mỗi kỳ Olimpic Toán học, các “vận động viên” phải tranh tài qua 6 bài toán, mà Hội đồng thi lựa chọn theo tiêu chí: 2 bài “dễ’, 2 bài “trung bình”, và 2 bài “khó”. Thực ra rất khó đánh giá một bài toán nào đó là thuộc loại nào trong ba loại nêu trên. Thường thì điều này phụ thuộc kinh nghiệm của hội đồng, và không phải khi nào cũng đúng. Hơn nữa, một bài là dễ với đội tuyển nước này, lại có thể là khó với một đội tuyển nước khác, tùy thuộc thế mạnh, yếu của từng nước. Chẳng hạn, trong kì thi Olimpic 2006 ở Slovenia vừa qua, 2 bài dễ được chọn thuộc lĩnh vực Số học và Hình học, hai bài khó thì một bài thuộc lĩnh vực Đại số, bài kia là Toán tổ hợp. Khi Hội đồng chọn xong, tôi đã hơi “lo” cho đoàn Việt Nam, vì thế mạnh của chúng ta là Số học và Hình học, nay hai lĩnh vực đó đều được chọn bài dễ (mà dễ thật!), nên thế mạnh đó không còn phát huy tác dụng. Cũng còn may là một trong hai bài “khó” là đại số, nên có thể học sinh Việt Nam sẽ làm bài đó tốt hơn các nước khác. Kết quả đúng như vậy, nếu kể số điểm có được từ bài “khó” đại số, thì đoàn Việt Nam xếp thứ 3, trong khi một bài “trung bình” thuộc dạng tổ hợp thì đoàn ta chỉ có số điểm 6/42, đứng khoảng thứ 60! Vì thế nên “thứ tự xếp hạng” của các đoàn cũng chỉ là một tham số tương đối, không phải luôn luôn phản ánh đúng hoàn toàn thực  lực. Hơn nữa, Olimpic Toán học quốc tế được xem là kì thi giữa các cá nhân, nên “bảng xếp hạng” của các đoàn luôn được ghi là “không chính thức”. Bảng xếp hạng các đoàn dựa trên tổng điểm của các thành viên trong đoàn, mà theo quy định, mỗi đoàn có không  quá 6 học sinh (và rất ít nước gửi ít hơn 6). Tất nhiên là bảng xếp hạng “không chính thức” đó cũng rất được quan tâm!             Ban cố vấn IMO            Trong kì thi Olimpic vừa qua tại Slovenia, đoàn học sinh Việt Nam đạt thành tích khá cao: 2 huy chương vàng, 2 huy chương bạc, 2 huy chương đồng. Trong tổng số 90 nước tham gia, có 6 đoàn hơn chúng ta về số huy chương, và 12 đoàn hơn về tổng điểm (trong số đó có 4 đoàn chỉ hơn đoàn chúng ta 1-5 điểm, trên tổng điểm tối đa là 252). Ông John Webb, Thư ký của Ủy ban Olimpic Toán quốc tế khi chuyện trò với tôi có kể rằng: nhiều người hỏi ông xem các đoàn thường thuộc “top ten” của Olimpic là những đoàn nào, và tất nhiên là ông nhắc đến Trung Quốc, Nga, Mỹ, nhưng khi nhắc đến Việt Nam thì người nghe giật nảy mình hỏi lại! Họ muốn biết xem tại sao một nước nghèo như Việt Nam mà lại thường đứng trong “top ten” của Olimpic, John Webb trả lời rằng, ông cũng không hiểu, và đang định tìm hiểu bí mật của điều đó khi đến Việt Nam tham dự Olimpic 2007 tại Hà Nội.     Olimpic 2007-Hà Nội: vui và lo  Được Ủy ban Olimpic Toán quốc tế và Chính phủ nước ta đồng ý, năm sau chúng ta sẽ đăng cai kỳ thi Olimpic lần thứ 48, diễn ra tại Hà Nội từ 19-31/7/2007. Đây thực sự là một niềm vui lớn, vì không mấy khi chúng ta được đón tiếp bạn bè đến từ khoảng gần 100 nước trên thế giới. Hơn nữa, đó lại là khoảng 600 bạn trẻ giỏi toán của khắp năm châu, cùng với khoảng 300 thầy giáo đi cùng. Nhưng nỗi lo còn lớn hơn, nhất là sau khi được chứng kiến sự tổ chức rất tuyệt vời của bạn. Chỉ cần kể một khâu rất nhỏ thôi, việc chấm thi, để có thể hình dung được những khó khăn của khâu tổ chức.  Học sinh sẽ thi trong hai ngày, mỗi ngày làm 3 bài toán trong 4 giờ 30 phút. Việc chấm thi và xét giải phải hoàn thành trong 2 ngày. Mỗi học sinh nhận đề thi và làm bài bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Nước chủ nhà phải cử người chấm thi cùng với trưởng đoàn các nước, và chấm theo sự phiên dịch của họ (trưởng đoàn có thể yêu cầu dùng một trong 4 thứ tiếng chính thức là Anh, Nga, Pháp và Tây Ban Nha). Để có thể làm được điều đó, ngay buổi tối sau khi học sinh thi xong, các cán bộ chấm thi của nước chủ nhà và các trưởng đoàn phải có trong tay đầy đủ bài làm (kể cả giấy nháp) của từng học sinh để nghiên cứu trước. Như kì thi vừa qua, mỗi ngày bạn cần làm copy khoảng 10.000 trang có nội dung khác nhau thành nhiều bản, sau đó bỏ vào các phong bì theo từng bài toán, từng học sinh, tức là khoảng 1500 phong bì nhỏ, 500 phong bì to. Tất cả đều phải tuyệt đối chính xác, không được phép nhầm lẫn. Đồng thời, phải scan tất cả các trang đó thành dạng file pdf, rồi chuyển qua mạng LAN đến Hội đồng thi (cách chỗ thí sinh làm bài 150 km, vì lý do bảo mật), tại đó người ta ghi thông tin nhận được vào các đĩa CD, đã tách riêng từng thí sinh. Tất cả các công việc đó, bạn chỉ làm trong hơn 2 giờ đồng hồ (và thời gian cho phép cũng chỉ có vậy). Việc không hề đơn giản, và đòi hỏi phải được tổ chức rất khoa học, nhân viên phải là những người chuyên nghiệp và có kỷ luật cao.  Kỳ thi Olimpic là một dịp tuyệt vời để giới thiệu với bạn bè quốc tế về đất nước, con người Việt Nam. Vì thế việc tổ chức tham quan, du lịch, hoạt động ngoại khóa cho học sinh cũng quan trọng không kém việc ra đề, chấm thi. Ở Slovenia, học sinh, thầy giáo được tổ chức tham quan những thắng cảnh, di tích lịch sử của đất nước họ. Tên gọi  thủ đô Ljubljana, theo tiếng Slovenia, là “Cô gái đáng yêu”. Thật khó chọn cái tên nào hay hơn để nói về đất nước Slovenia, với những con người cởi mở, vui tươi và mến khách, với  những khu rừng chiếm 65% diện tích đất nước, với hang động Postojna nổi tiếng nhất Châu Âu dài hơn 20 km trong lòng núi (rất giống với Phong Nha), với Hồ Bled trong vắt và tĩnh lặng như gương giữa một vùng núi non kỳ vỹ. Điều gây ấn tượng mạnh với những người đến từ Việt Nam như chúng tôi là, mặc dù Bled là khu nghỉ mát nổi tiếng của Châu Âu, không có một ngôi nhà nghỉ nào nằm bên bờ hồ. Tất cả đều ở trong phố. Chính điều đó đã giữ cho hồ ở trạng thái nguyên sơ và vẻ quyến rũ của nó, không phụ thuộc thời gian. Ước gì những thắng cảnh của chúng ta cũng được nâng niu, gìn giữ như vậy.           Đi thăm quan Hồ Bled        Trong buổi bế mạc Olimpic 2006 ở Slovenia, ông Chủ tịch Ủy ban Olimpic toán học quốc tế nhận xét rằng, đây là một trong những kỳ Olimpic được tổ chức tuyệt vời nhất. Trong buổi lễ đó, bạn cũng giao lại cho Đoàn chúng ta lá cờ Olimpic. Chúng tôi nhận lá cờ đó mà lòng nặng trĩu lo âu. Thời gian còn quá ít. Theo bạn, họ đã bắt đầu công tác tổ chức từ 3 năm trước, trong khi chúng ta vừa mới khởi động được một tháng nay! Nước chủ nhà của Olimpic 2008 là Tây Ban Nha thì ngay từ bây giờ có vẻ đã vượt xa chúng ta trong khâu chuẩn bị rồi! Có thể nói, tổ chức Olimpic toán học ví như một hệ thống có khoảng một ngàn việc, mà việc nào xem ra cũng dễ, “trong tầm mắt, tầm tay” của chúng ta cả. Bởi thế, nhiều người thấy là không có việc gì khó! Có điều, tìm cho được “ngàn mắt, ngàn tay” đã khó, mà phối hợp chúng một cách hài hòa còn khó hơn! Ở ta, thường hơi nhiều “đầu, miệng”, mà quá ít mắt, ít tay! Nhiều người chỉ huy, nhiều người “phán”, nhưng thiếu “lính” nên tổ chức thường khó hơn bạn. Họ chỉ có một cái đầu thôi, để suy nghĩ và điều khiển một đội ngũ có tính chuyên nghiệp và kỷ luật nên hệ thống chạy rất trơn tru. Đó là chưa kể người tổ chức của chúng ta sẽ “vướng” các quy chế tài chính nào đó nên khó có thể ra được những quyết định chính xác và kịp thời, trong khi ở một kỳ thi Olimpic, mọi chuyện cần phải được hoàn thành rất nhanh, đúng thời gian biểu. Lo thì lo, nhưng ngẫm cho cùng, những khó khăn đó ở ta là khó khăn phổ biến, làm gì, ở đâu cũng gặp! Vậy thì chắc Olimpic Hà Nội 2007 rồi cũng sẽ “thành công tốt đẹp” chăng?     Từ Olimpic Toán học, nghĩ về “người tài”  Trong thời gian Olimpic Toán học quốc tế lần thứ 47 diễn ra ở Slovenia, thì tại Hà Nội có buổi lễ “Vinh danh những học sinh giỏi quốc tế thời kỳ đổi mới”, và sau đó là cuộc bàn luận khá sôi nổi về người tài và việc sử dụng người tài. Vậy thì, những học sinh giỏi quốc tế có thể xem là “người tài” không và cần bồi dưỡng, sử dụng họ thế nào?  Nhìn vào Ủy ban danh dự các kỳ thi Olimpic Toán học quốc tế, có thể thấy là tất cả các nước đều rất coi trọng kỳ thi này. Trong thành phần Ủy ban, thường có sự tham gia của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch quốc hội, và tất nhiên là Bộ trưởng giáo dục. Nhiều Hoàng tử, Công chúa đã tham gia các buổi trao giải. Khi Olimpic được tổ chức ở Mỹ, Tổng thống Bush không đến dự trực tiếp được nhưng đã đọc lời chào mừng từ xa qua màn hình. Bởi vậy, không thể nói như một số người là chỉ ở nước ta, người ta mới quá quan tâm đến kỳ thi Olimpic.  Nói cho cùng, sự quan tâm của xã hội đối với các kỳ thi Olimpic Toán quốc tế là hoàn toàn có cơ sở. Rất nhiều nhà toán học, vật lý nổi tiếng của thế giới đã trưởng thành từ “phong trào Olimpic”. Nếu nhìn lại nền toán học Việt Nam hiện nay thì điều đó càng rõ ràng hơn: có thể nói tuyệt đại đa số các nhà toán học giỏi của nước ta đều đã từng được giải ở các kỳ thi Olimpic quốc gia và quốc tế (tất nhiên trừ những người mà vào thời họ chưa có các kỳ thi này). Riêng việc lọt được vào đội tuyển 6 người của một đất nước 80 triệu dân như nước Việt Nam, thì việc gọi họ là “người tài” cũng không có gì quá đáng. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại thì thấy những người trong số đó mà về sau trở thành những tài năng thực sự trong khoa học thì thường là do được đào tạo lâu dài ở nước ngoài (đại học và sau đại học). Khi chúng ta chọn một đội tuyển 6 người, thì không thể nói những người còn lại là kém hơn hẳn. Đây là một cuộc thi đấu “thể thao”, và có thể khẳng định ngoài 6 người đó ra, còn không ít người khác nữa cũng xứng đáng được gọi là “người tài”. Những những “người còn lại” đó sẽ khó có được cơ hội tốt để phát triển tài năng như các bạn may mắn của mình. Nguyên nhân là ở đâu?  Thành tích của học sinh phổ thông nước ta tại các kỳ thi Olimpic quốc tế cho thấy rất rõ rằng, chúng ta có thể đào tạo được những học sinh phổ thông đạt trình độ đỉnh cao quốc tế ở hầu hết các môn học. Đó là một thành tích rất đáng tự hào. Nhưng nếu có cuộc thi “sinh viên giỏi quốc tế”, tôi chắc thành tích của sinh viên ta sẽ không thể cao như vậy, và sẽ còn thấp hơn nếu có cuộc thi “cao học quốc tế”, “nghiên cứu sinh quốc tế”, và đặc biệt kết quả sẽ rất thấp nếu thi “giáo sư quốc tế”! Dĩ nhiên không có các kỳ thi giả tưởng đó, vì không cần thi, người ta đã biết ai thắng, ai thua: chỉ cần nhìn vào sự phát triển của nền khoa học công nghệ mỗi nước là biết ngay. Vậy thì tại sao chúng ta càng ngày càng đuối sức trong cuộc chạy maratông đến mục tiêu cuối cùng là phát triển khoa học, kinh tế và xã hội? Nói cho cùng, tất cả đều do sự đầu tư công sức, tiền bạc của xã hội cho từng giai đoạn.  Thành tích cao của học sinh phổ thông của chúng ta phần nhiều do hệ thống trường chuyên mang lại. Các trường chuyên được sự quan tâm lớn của Nhà nước, và đặc biệt là các gia đình học sinh. Như vậy, sự đầu tư của xã hội cho một bộ phận học sinh giỏi của chúng ta ở bậc phổ thông có lẽ cũng không thua kém các nước khác. Tuy nhiên, sang đến bậc đại học và cao hơn nữa thì rất khác. Chúng ta chưa đầu tư đúng mức đến việc xây dựng những trường đại học có thể ngang tầm quốc tế. Vậy mà đối với xã hội thì lớp người tốt nghiệp đại học mới thực sự là hạt nhân của sự phát triển, chứ đâu phải là học sinh tốt nghiệp phổ thông. Xem ra, người ta biết đầu tư đúng chỗ hơn ta. Bởi thế nên càng lên, họ càng vượt hẳn chúng ta. Trong khi mỗi tỉnh thành của chúng ta đều có một trường chuyên, không kể 4 trường chuyên phổ thông đặt ở các đại học (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM), thì chúng ta chưa có lấy một cơ sở đào tạo sau đại học nào được đầu tư lớn để có thể hy vọng ngang tầm quốc tế1. Cũng như vậy, không nhiều giáo sư của chúng ta có được điều kiện làm việc “ngang tầm quốc tế”, nên cũng khó hy vọng trong một thời gian gần, nền khoa học chúng ta có thể đạt được tầm cao mong muốn. Nói cho cùng, cần xem lại chính sách đầu tư trong giáo dục, và cần mạnh dạn có những đột phá trong đầu tư vào đào tạo đại học và sau đại học, như chúng ta từng đột phá trong việc xây dựng các lớp chuyên phổ thông để có kết quả như ngày hôm nay.  Trên đây chỉ là đôi điều suy nghĩ tản mạn về đào tạo nhân tài, nhân nói về một kỳ thi Olimpic. Vấn đề quá lớn, nên chắc còn phải trở lại đầy đủ hơn. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhắc một vài quan niệm khác nhau vẫn tồn tại quanh vấn đề này. Có người cho rằng, có quan trọng gì đâu cái huy chương vàng Olimpic toán học, vì thực ra nó nào có liên quan thiết thực gì đến kinh tế, xã hội. Nếu nói vậy thì chắc cũng chẳng nên thi chạy 100 mét, 5000 mét, thi đi bộ làm gì, khi mà có thể dùng ôtô, máy bay! Nói cho cùng, các cuộc thi đó đều chứng tỏ khát khao của con người trong việc nâng cao khả năng của mình, cả về cơ bắp lẫn đầu óc. Và thắng lợi trong những cuộc thi đó không thể nói là không có ý nghĩa! Lại cũng có người đánh giá quá cao các tấm huy chương đã đạt được, và cho rằng nếu những “nhân tài” đó chưa được phát huy, trọng dụng thì có nghĩa là xã hội đã có lỗi. Tôi nghĩ rằng, trong cuộc chạy maratông đến đỉnh cao của khoa học, những tấm huy chương vàng Ôlimpic mới là sự ghi nhận thành công của một kilômét đầu tiên. Chỉ những người quyết tâm cao, kiên trì suốt cả chặng đường mới có thể đến đích trước. Vì thế, tôi vẫn thường khuyên một số học sinh của mình sau khi các em được huy chương vàng: hãy quên ngay thành tích đó, và nếu có nhớ thì cũng chỉ nên nhớ về nó như một kỷ niệm đẹp của thời học sinh, chứ không phải như một thành công trong cuộc đời.  ——-  [1] Viện Toán học đang đề nghị xây dựng một cơ sở như vậy, nhưng xem ra còn lâu mới trở thành hiện thực.    Hà Huy Khoái       Author                Quản trị        
__label__tiasang Olympic các môn khoa học trẻ quốc tế: Cả sáu học sinh Việt Nam đều giành huy chương      Cả sáu học sinh của Việt Nam tham dự Olympic  các môn khoa học trẻ quốc tế tại Ấn Độ từ ngày 30/11 đến ngày 15/12 đều  giành huy chương, trong đó có một huy chương vàng, 5 huy chương bạc.    Đây là thông tin vừa được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, đơn vị được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thành lập đội tuyển vừa cho biết sáng nay, ngày 12/12/2013.  Theo đó, học sinh giành huy chương vàng là em Lê Mạnh Tuấn, trường trung học phổ thông chuyên Hà Nội-Amsterdam.  Các thành viên còn lại của đội tuyển giành huy chương bạc là em Đào Vũ Quang, Trần Nhật Quang, Phạm Quang Hiếu (trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội-Amsterdam), em Khuất Duy Hồng (trường Trung học phổ thông chuyên Sơn Tây), em Lê Bá Trường Giang (trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Huệ.)  Cuộc thi Olympic các môn khoa học trẻ quốc tế là kỳ thi được tổ chức hằng năm dành cho học sinh lớp 10, học tiếng Anh và là học sinh giỏi môn dự thi. Bốn năm gần đây, Hà Nội được Bộ Giáo dục và Đào tạo giáo trách nhiệm lựa chọn, thành lập đội tuyển tham gia và đều đạt kết quả cao.  Năm nay, để chọn được 6 gương mặt dự thi quốc tế, Hà Nội đã tổ chức hai vòng thi loại với sự tham gia của hơn 100 em học sinh giỏi đến từ các trường trung học phổ thông.  Nguồn:  http://www.vietnamplus.vn/viet-nam-doat-huy-chuong-vang-khoa-hoc-tre-quoc-te/234712.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Olympic toán học sinh viên toàn quốc: Khơi dậy tình yêu Toán      Olympic toán học sinh viên là một hoạt động  thường niên của Hội Toán học Việt Nam. Kỳ thi nhận được sự hưởng ứng  của rất nhiều trường đại học, cao đẳng cũng như các học viện trong toàn  quốc. Tại kỳ thi lần thứ XXIII tổ chức tại Huế, tháng Tư năm 2015, đã có  88 trường gửi đoàn tham gia với 665 sinh viên.    Olympic toán học sinh viên được tổ chức theo mô hình của Olympic toán học quốc tế dành cho học sinh trung học (IMO). Việc tổ chức được phối hợp giữa một trường đại học và Hội Toán học Việt Nam. Thông thường, Olympic được tổ chức tại miền Trung, từ Quảng Bình tới Phú Yên. Có nhiều lý do cho quyết định này: giảm chi phí đi lại cho các đơn vị tham gia; mục tiêu động viên phong trào học tập trong sinh viên miền Trung; khung cảnh hữu tình của các thành phố miền Trung; và hơn hết là sự mến khách của con người miền Trung nói chung và các thày cô giáo trong các trường đại học ở đó nói riêng.   Mỗi trường đại học, cao đẳng hoặc học viện cử một đoàn tham dự bao gồm trưởng phó đoàn và không quá 10 sinh viên, dự thi một trong hai (hoặc cả hai) môn Đại số và Giải tích. Đề thi do Ban tổ chức lựa chọn dựa trên cơ sở đề xuất từ các đoàn cũng như từ các chuyên gia do Ban tổ chức mời. Kỳ thi được tổ chức trong hai buổi. Ban chấm thi bao gồm các thày cô giáo dẫn đoàn. Không quá một nửa số thí sinh được trao giải, tỷ lệ giải nhất-nhì-ba là 1-2-3.  Tuy nhiên kỳ thi có một nét khác biệt cơ bản so với các kỳ thi học sinh giỏi toán khác. Đó là những học sinh ở đây phần lớn không phải là học sinh giỏi toán mà là những học sinh yêu toán. Chỉ có khoảng 1/3 số trường tham dự Olympic có khoa toán tại trường mình, tỷ lệ sinh viên dự thi là sinh viên chuyên ngành toán còn thấp hơn. Và điều đặc biệt, không chỉ những sinh viên theo ngành toán mới là những người đạt giải cao nhất tại kỳ thi. Năm 2015 trong số 6 sinh viên đạt giải đặc biệt có 2 sinh viên không học theo chuyên ngành toán hoặc toán-tin, năm 2014 tỷ lệ này là 3/11.  Mục tiêu của kỳ thi là động viên phong trào học toán trong các trường đại học và cao đẳng. Olympic không chỉ là cuộc thi tìm ra người giỏi nhất, mà quan trọng hơn là nơi tạo ra cơ hội cho mỗi người dự thi được thực hiện khát vọng “nhanh hơn, cao hơn, xa hơn”, so tài với các bạn để trước hết vượt lên chính mình. Các bạn sinh viên tham gia kỳ thi vì niềm say mê với môn toán. Mong muốn của những người tổ chức là làm sao các bạn sinh viên có thể chuyển niềm say mê đó thành những kiến thức. Những kiến thức toán học, phương pháp tư duy toán học chắc chắn sẽ là những hành trang có ích đối với sinh viên khi ra trường.   Kỳ thi còn là cơ hội để các sinh viên trong toàn quốc gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm. Cũng là cơ hội để họ tìm hiểu thêm về một miền đất mới. Sau hai buổi thi căng thẳng là nhiều hoạt động chung, tham quan, du lịch. Đối với đa số sinh viên, miền Trung luôn là mảnh đất mới lạ, có nhiều điều để khám phá. Vì thế, được tham dự Olympic toán học sinh viên luôn là mong muốn của nhiều sinh viên. Tại kỳ thi vừa qua ở Huế, một sinh viên trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, khoe với tôi “em tham dự lần này là lần thứ tư, và cũng là lần cuối, hè này em tốt nghiệp rồi”.  Tuy vậy, để kỳ thi có thể tồn tại và phát triển cho tới ngày hôm nay cũng có nhiều khó khăn phải vượt qua. Đóng góp to lớn nhất tới sự thành công của kỳ thi là của các thày cô giáo từ các trường. Nhiều thày cô giáo đã tham dự các kỳ thi từ lần đầu tiên cho tới nay. Họ thực sự là hạt nhân của phong trào học toán tại trường mình và có đóng góp mang tính quyết định cho sự tồn tại của Olympic toán học sinh viên toàn quốc.   Nhiều khi thuyết phục được ban giám hiệu nhà trường gửi đoàn dự thi không phải là chuyện dễ dàng. Có những trường, khi một thày hay cô giáo nghỉ hưu, nhà trường không cử đoàn tham dự Olympic toán học sinh viên nữa. Nhiều thày cô giáo chia sẻ với chúng tôi “thi một hai năm mà không có giải nhà trường không cho đi nữa”. Tâm lý chạy theo thành tích vẫn còn rất phổ biến trong đội ngũ quản lý giáo dục. Họ chưa hiểu, và chưa muốn hiểu rằng chất lượng đầu ra của sinh viên trường mình mới là giá trị có ý nghĩa nhất cho nhà trường, mang lại “thương hiệu” cho nhà trường. Ý nghĩa của việc cử đoàn tham dự Olympic trước tiên là để động viên các sinh viên tại trường mình tìm hiểu sâu hơn về toán học, qua đó nâng cao trình độ của các em.   Nhìn từ góc độ chuyên môn, Ban tổ chức Olympic hiểu rằng các khâu ra đề và chấm thi đóng vai trò hết sức quan trọng. Chỉ có việc đảm bảo sự minh bạch, công bằng của kỳ thi mới mang lại uy tín cho kỳ thi, cho mỗi giải thưởng được trao tại kỳ thi. Tuy nhiên quan trọng hơn hết là nội dung đề thi. Bởi thi thế nào thì học thế ấy. Làm sao để việc học tập chuẩn bị cho kỳ thi là có ích nhất cho mỗi sinh viên là suy nghĩ, trăn trở lớn nhất của những người tổ chức. Đó cũng là những định hướng chính cho các kỳ thi Olympic toán học sinh viên toàn quốc trong những năm tới.  ———————————————————-  * Tổng thư ký Hội Toán học Việt Nam, trưởng ban tổ chức Olympic toán học sinh viên toàn quốc năm 2015       Author                Quản trị        
__label__tiasang Paris, thành phố được sinh viên thế giới ưa chuộng nhất      Nước Pháp, điểm đến được ưa chuộng nhất cho  các sinh viên? Chắc chắn rồi, theo một nghiên cứu của Cơ quan quốc tế  Quacquarelli Symonds (QS). Trong số 50 thành phố hàng đầu được ưa chuộng  của sinh viên thế giới, Paris, Lyon và Toulouse đứng ở hàng đầu!    Ôi, Paris! Sorbonne, các trường kĩ sư tinh hoa, sự sôi động văn hóa, và tầm vóc tuyệt vời của nó… Các thanh niên trên khắp thế giới đã bầu nó là thành phố xứng đáng nhất để đi học của mình. Sự quyến rũ của nước Pháp không bị giới hạn bởi thủ đô của nó, đứng đầu trong “« QS Best Student Cities 2012 »”( “Những thành phố sinh viên xuất sắc nhất năm 2012 – QS”). Nghiên cứu này, dựa trên một cuộc điều tra công cộng, có tính đến dân số, số lượng của các tổ chức giảng dạy bậc đại học và chất lượng của chúng, còn mang lại hai thành phố khác của Pháp trong top 50: Lyon thứ 14, và Toulouse thứ 46.  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Wauquiez hoan nghênh sự đa dạng của các đào tạo chất lượng tại Pháp, cái đã thu hút và tạo điều kiện cho “tính đa dạng quốc tế.” Hơn nữa, nhiều sáng kiến nổi lên trong những năm gần đây trong các trường đại học Pháp, để thúc đẩy các trao đổi quốc tế, cũng như các bình đẳng về cơ hội. Cũng vì vậy, chiến dịch Campus đã được hình thành để “cải thiện điều kiện tiếp nhận (sinh viên) và chất lượng trang thiết bị.”  17% sinh viên nước ngoài ở Paris  Tại sao Paris thu hút mạnh giới trẻ đến thế? Có lẽ cũng do cả chi phí thấp cho học hành và hệ thống giúp đỡ (về ăn ở… ND) quan trọng. Học phí tại các trường đại học công cộng ở Pháp thực sự là rất thấp, với trung bình 177 euro cho một năm học ở Licence (năm thứ ba đại học – ND) và 245 euro cho một năm học Master (Cử nhân – ND)… nghĩa là mười lần rẻ hơn so với ở Mỹ, ở Anh hoặc ở Úc! Thủ đô hiện có 40.900 sinh viên nước ngoài, tức 17% số sinh viên của mình. Một con số thật đẹp cho một thành phố vừa sang trọng mà lại vừa khiêm nhường, một thành phố làm mọi nỗ lực để mở mình ra quốc tế. Các trường học ở Paris được nhắm nhất vẫn là ENS (Ecole normale supérieure), Ecole Polytechnique, Université Pierre et Marie Curie, và Sciences Po Paris-Sorbonne (tránh “dịch” tên các trường này, chúng đã là thương hiệu – ND).  Bảng xếp hạng 50 thành phố trên toàn thế giới được yêu chuộng nhất của sinh viên  1 – Paris, Pháp  2 – Luân Đôn, Vương quốc Anh  3 – Boston, Hoa Kỳ  4 – Melbourne Australia  5 – Vienna, Áo  6 – Sydney, Australia  7 – Zurich, Thụy Sĩ  8 – Berlin, Đức  8 – Dublin, Ireland  10 – Montreal, Canada  11 – Barcelona, Tây Ban Nha  12 – Singapore, Singapore  13 – Munich, Đức  14 – Lyon, Pháp  15 – Chicago, USA  16 – Madrid, Tây Ban Nha  17 – San Francisco, Hoa Kỳ  18 – New York, USA  19 – Tokyo, Nhật Bản  19 – Hong Kong, Hong Kong  21 – Milan, Italy  22 – Brisbane, Australia  23 – Seoul, Hàn Quốc  24 – Buenos Aires, Argentina  25 – Perth, Australia  26 – Toronto, Canada  27 – Stockholm, Thụy Điển  28 – Bắc Kinh, Trung Quốc  29 – Adelaide, Australia  30 – Washington DC, USA  31 – Vancouver, Canada  32 – Mexico City, Mexico  33 – Helsinki, Phần Lan  34 – Đài Bắc, Đài Loan  35 – Manchester, Vương quốc Anh  36 – Amsterdam, Hà Lan  37 – Moscow, Nga  38 – Brussels, Bỉ  39 – Thượng Hải, Trung Quốc  40 – Copenhagen, Đan Mạch  41 – Santiago, Chile  42 – Philadelphia, Hoa Kỳ  43 – Kyoto, Nhật Bản  44 – Kuala Lumpur, Malaysia  45 – Sao Paulo, Brazil  46 – Toulouse, Pháp  47 – Birmingham, Vương quốc Anh  48 – Cairo, Ai Cập  49 – Bangkok, Thái Lan  50 – Glasgow, Vương quốc Anh                                                                                                    HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải có gió, buồm mới ra khơi được      Tại hội thảo giới thiệu bộ sách giáo khoa tiểu học môn văn,  tiếng Việt và môn lối sống do nhóm Cánh Buồm biên soạn, có  những góp ý thiện cảm dành cho nhóm biên soạn nhưng cũng còn nhiều băn khoăn về cách bộ  sách này sẽ đi vào trường học, đi vào cuộc sống như thế nào.    Hội thảo nhằm giới thiệu nội dung và xin ý kiến trong việc biên soạn sách giáo khoa tiểu học môn văn, tiếng Việt và môn lối sống do nhóm Cánh Buồm biên soạn. Đã có những góp ý thiện cảm dành cho nhóm biên soạn: “Cánh Buồm là một tập thể những người có tấm lòng với nền giáo dục, có trí tuệ và sự dấn thân”. Tuy nhiên, nội dung cũng như cách bộ sách này sẽ đi vào trường học, đi vào cuộc sống như thế nào vẫn là băn khoăn của nhiều người.    Không lẫn lộn giữa ngữ và văn  Theo quan điểm nhóm Cánh Buồm, cần phải tổ chức lại việc học văn và tiếng Việt theo tinh thần giáo viên không phải giảng bài mà chỉ cần làm công việc tổ chức cho học sinh đến với bản chất của môn học. Đồng thời cũng cần tổ chức việc học môn lối sống theo tinh thần đồng thuận thay thế cho lối dạy đạo đức sáo mòn, xơ cứng.  ThS Nguyễn Thị Thanh Hải, thành viên nhóm Cánh Buồm, cho biết trên tinh thần cải cách, bộ sách sẽ không lẫn lộn giữa ngữ và văn. Sẽ có sách riêng cho hai môn tiếng Việt và văn. Trong đó ở môn văn, sách sẽ tạo cho học sinh một tình cảm nghệ thuật trên cơ sở am tường và thành thạo bộ phận cấu thành của ngữ pháp nghệ thuật. Ở lớp 1, học sinh sẽ học các bài học tạo sự đồng cảm; lớp 2 sẽ học tưởng tượng; lớp 3 học liên tưởng; lớp 4 học cấu trúc, bố cục và ở lớp 5 học sinh sẽ vận dụng hiểu biết các lớp dưới vào các loại hình nghệ thuật.  Ở bộ sách tiếng Việt, ThS Đinh Phương Thảo – một thành viên khác của nhóm – cho giới thiệu chương trình được phân chia nội dung rõ ràng: lớp 1 dạy ngữ âm, học sinh sẽ học ba thao tác phân tích ngữ âm tiếng Việt để tự ghi được tiếng Việt và từ đó đọc thành thạo tiếng Việt. Lớp 2 dạy về từ vựng, sự biến hóa của từ vựng tiếng Việt. Lớp 3 dạy về câu, phân tích logic và cú pháp của câu. Lớp 4 dạy về văn bản tiếng Việt, cách viết đoạn văn đến bài văn hoàn chỉnh và sang lớp 5 sẽ là những buổi thảo luận theo chủ đề, nâng cao trình độ dùng tiếng Việt.  Ở môn lối sống, nhà giáo Phạm Toàn cho rằng môn học này sẽ thay thế các môn luân lý, đạo đức và giáo dục công dân trước đây. Theo đó, ở tiểu học, học sinh lớp 1 sẽ học làm chủ bản thân, sống với cộng đồng, với gia đình, với Tổ quốc và với nhân loại.  Trao đổi, tranh luận tiếp  Góp ý cho nội dung bộ sách, TS Nguyễn Thị Từ Huy, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, cho rằng: “Bộ sách văn đặt vấn đề hay. Tuy nhiên, toàn bộ chương trình lớp 1 học về sự đồng cảm, lớp 2 chỉ học tưởng tượng thôi liệu có nhàm chán không? Bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được đưa vào chương trình lớp 4 để dạy học sinh hiểu về thơ đường luật. Bạn bè tôi dạy THCS cho biết bài thơ này hiện đã quá khó khi dạy cho học sinh lớp 7. Nay mang vào chương trình lớp 4, liệu học sinh có thể hiểu được không? Sao không chọn bài khác hồn nhiên hơn, trẻ thơ hơn, vui vẻ hơn? Và tại sao phải là thơ đường luật?”.  Cùng quan tâm vấn đề này, TS Bùi Trân Phượng, hiệu trưởng Trường đại học Hoa Sen, nói: “Tôi yêu quý và ngưỡng mộ nhóm Cánh Buồm đã dành tâm huyết cho giáo dục tiểu học với tinh thần muốn người học tự do, dạy học trò tinh thần tự lập. Tuy nhiên, chúng ta cần bình tĩnh: việc dạy tự lập vốn là chuyện hết sức bình thường ở mọi quốc gia. Chúng ta vui mừng hi vọng mình sẽ trở lại bình thường. Chính vì sự ngưỡng mộ mà tôi phải nói với Cánh Buồm: chúng ta nên lắng nghe hơn nữa. Ngay từ những giả định ban đầu khi biên soạn bộ sách cũng cần trao đổi, tranh luận tiếp”.  Trao đổi với Tuổi Trẻ bên lề hội thảo, hiệu trưởng một trường tiểu học tại TP.HCM cho rằng: “Chúng tôi học từ sách của Cánh Buồm phương pháp cho bài giảng. Tuy nhiên, việc áp dụng bộ sách vào chương trình, tôi chưa dám nghĩ tới. Đi kèm với một bộ sách giáo khoa phải là phân phối chương trình, số tiết từng môn học so với tổng số tiết học hằng tuần của học sinh. Ngoài ra, còn phải tính đến chuyện liên thông kiến thức với các bậc học khác nữa. Đây là nội dung sách tiểu học, còn bậc THCS và THPT thế nào? Nếu muốn đưa sách này vào nhà trường còn phải tính đến các điều kiện khác nữa”.  TS Hồ Thiệu Hùng,  người quan tâm đến cách làm sách của nhóm Cánh Buồm từ đầu, chia sẻ: “Tôi đã xem sách. Sách hay nhưng chưa phải là hay nhất. Tôi rất nể cách làm của Cánh Buồm. Tuy nhiên phải có gió, buồm mới ra khơi được”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phẩm chất mới của các lãnh đạo trường học      Change Leadership: A Practical Guide to Transforming Our Schools1 bàn về cách “nâng cao chất lượng giảng dạy bằng cách trở thành một nhà lãnh đạo giảng dạy hiệu quả”, nhưng nó “không đưa ra công thức cải tổ trường học. Nó là bộ khung với rất nhiều câu hỏi gai góc cho các nhóm lãnh đạo giáo dục tự suy ngẫm về công việc của mình“.(8)    Cuốn sách là kết quả của một chương trình nghiên cứu  kéo dài trong 5 năm, được thực hiện bởi nhóm Lãnh đạo Thay đổi (Change  Leadership Group) của trường Đại học giáo dục thuộc Đại học Harvard.    Sự đồng thuận của tất cả mọi người về việc cần phải thay đổi  Các tác giả của nhóm Change Leadership Group (CLG) hiểu rằng muốn cho sự thay đổi diễn ra cần được tất cả mọi người đồng thuận về việc cần phải thay đổi. Nghĩa là họ phải giúp toàn bộ cộng đồng ý thức về sự cần thiết phải thay đổi bằng cách trả lời câu hỏi: “Vì sao phải thay đổi?”  Công trình này khởi đi từ việc xác định vấn đề thực sự của nền giáo dục Mỹ. Các tác giả cho rằng việc không nhìn thấy được vấn đề thực sự sẽ đưa tới việc không lựa chọn được những chiến lược giải quyết phù hợp. Và theo xác định của họ, vấn đề của xã hội Mỹ là: “cơn thủy triều của những thay đổi sâu sắc về kinh tế xã hội” (35) Những thay đổi này đến từ sự hình thành của một nền kinh tế tri thức, và nền kinh tế tri thức đòi hỏi những kỹ năng mới mà nền giáo dục Hoa Kỳ chưa tạo lập được cho học sinh. “Nền kinh tế ngày nay không chỉ đòi hỏi một hệ thống kỹ năng mới mà còn bắt buộc các học sinh phải sử dụng chúng thành thạo” (39).  Các tác giả công trình muốn những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là những người lãnh đạo, nhận thức điều đó, và đối diện với những thách thức mới. Đấy là cơ sở đầu tiên nếu muốn thay đổi.  Từ nhận thức về vấn đề như vậy, câu hỏi đặt ra là “cải cách” hay “cải tổ”? Và nhóm các nhà nghiên cứu này cho rằng phải cải tổ, tức là phải định nghĩa lại nền giáo dục, chứ không chỉ là đơn thuần là cải cách (reform).     Các nhà lãnh đạo trở thành hình mẫu của sự thay đổi  Nhóm nghiên cứu CLG, với các kết quả của chương trình, khẳng định rằng, để có thể nâng cao kết quả học tập của học sinh, các nhà lãnh đạo phải là hình mẫu của sự thay đổi, tức là bản thân họ phải thay đổi. Nghệ thuật lãnh đạo giờ đây biểu hiện ở nỗ lực thay đổi niềm tin và hành vi cá nhân của chính người lãnh đạo, biểu hiện ở nỗ lực không ngừng học hỏi của người lãnh đạo. Có như vậy người lãnh đạo mới có thể biến đơn vị của mình thành một “tổ chức liên tục học hỏi”. Hẳn nhiên, nếu người thầy không tự học suốt đời thì làm sao có thể dạy cho học sinh khả năng tự học suốt đời? Đây là phát biểu của Micheal Ward, người từng làm tổng giám quản tại Khu học chánh trường công West Clermont tại Ohion, nói: “Chúng tôi đề ra trách nhiệm xây dựng các ngôi trường của mình và phát hiện ra rằng, nếu muốn thật sự thành công, bản thân chúng tôi phải thay đổi” (54).  Và để có thể thay đổi, cần phải bắt đầu từ việc thừa nhận một sự thực là người lãnh đạo không có tất cả các câu trả lời cho những câu hỏi về việc nâng cao chất lượng dạy học. Vì vậy mà cần phải tập hợp ý kiến của tất cả mọi người. Quan niệm này dẫn tới một phương thức lãnh đạo mới: liên kết làm việc giữa các hiệu trưởng, hình thành nhóm lãnh đạo; đồng thời phá vỡ sự cách biệt với giáo viên, tăng cường gặp gỡ, thảo luận và tham vấn ý kiến của giáo viên về các vấn đề của trường học.  Vấn đề mà nhóm các nhà nghiên cứu thuộc “Nhóm Lãnh đạo thay đổi” đặt ra không chỉ là sự cải cách giáo dục mà là cải cách liên tục. Do vậy người lãnh đạo phải liên tục thay đổi. Thay đổi trở thành một phẩm chất cần thiết của nghệ thuật lãnh đạo. Điều này hết sức sáng rõ đối với những ai hiểu rằng thay đổi là điều kiện thiết yếu nếu muốn phát triển và hoàn thiện.   Cuốn sách đưa ra những hướng dẫn mang tính chất thực hành, những bài tập, những câu hỏi, những gợi ý, những cảnh báo về khó khăn hoặc về sự phức tạp, thậm chí cả sự thiếu đồng thuận có thể xảy ra đối với người thực hành, hay đối với người đọc. Tôi sẽ không trình bày chi tiết trong một bài viết ngắn chỉ nhằm giới thiệu cuốn sách này cho những ai đang làm việc ở lĩnh vực giáo dục. Không ai thay thế được mỗi chúng ta trong việc trực tiếp đọc và trực tiếp chiếm lĩnh những kinh nghiệm quý giá đã giúp người khác thành công.  Trong nhận thức của các nhà nghiên cứu giáo dục ở Đại học Harvard, “lạc hậu và cải tổ” là bản chất của những thách thức mà nền giáo dục Mỹ cần đối diện. Nếu nhìn vào khủng hoảng của giáo dục Việt Nam hiện nay thì bản chất của vấn đề là gì? Để trả lời câu hỏi này, cần có những nghiên cứu sâu và rộng, thực hiện trong khoảng thời gian ít nhất cũng bằng số năm mà nhóm CLG đã bỏ ra để hoàn thành công trình này, nếu muốn nhận diện những vấn đề thực sự của nền giáo dục nước nhà để có thể đi tới những thay đổi và phát triển.  —————  1. Bản tiếng Việt Lãnh đạo sự thay đổi: cẩm nang cải tổ trường học do Trần Thị Ngân Tuyến dịch, NXB Trẻ/DT Books, 2011. Các trích dẫn từ cuốn sách này sẽ có chú thích về số trang đặt trong ngoặc đơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục (2)      Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại có những  vấn đề “nổi cộm” mà GS HNĐ muốn giải quyết bằng cách cải cách theo  hướng “công nghệ giáo dục” của ông. Tuy nhiên, tôi e rằng một số luận  điểm chính trong “công nghệ giáo dục” của ông, mà tôi xin được phân tích  qua dưới đây, đã mắc phải đúng cái bẫy cực đoan.    “Công nghệ giáo dục” có rơi vào “bẫy” cực đoan” ?  Trong nhiều câu nói nổi tiếng của Martin Luther King Jr, có một câu sau mà tôi rất tâm đắc: “All progress is precarious, and the solution of one problem brings us face to face with another problem.” Tạm dịch thoát nghĩa của nó là: các cải cách hay cách mạng trong xã hội nhằm giải quyết vấn đề cũ thì lại gây nên vấn đề mới, và do vậy sự tiến bộ của xã hội là rất gian truân. Một trong các lý do dẫn đến sự gian truân đó cỏ thể được đặt tên là “cái bẫy cực đoan”: một mặt xấu của xã hội có thể coi là một cựu đoan, nhưng cải cách hay cách mạng nhằm xóa cái “nguyên nhân” gây ra mặt xấu đó thì lại có nguy cơ đẩy xã hội đến cực đoan khác, tuy là đối ngược với cực đoan trước nhưng cũng xấu cho xã hội. Ví dụ, “tư bản hoang dã” là một cực đoan dẫn đến sự bóc lột trong xã hội. Nhưng cách mạng nhằm xóa sự bóc lột bằng cách xóa bỏ tư hữu và xóa bỏ cơ chế thị trường lại dẫn đến cực đoan khác, đó là một nền kinh tế quan liêu cứng nhắc trì trệ và cha chung không ai khóc.  Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại có những vấn đề “nổi cộm” mà GS HNĐ muốn giải quyết bằng cách cải cách theo hướng “công nghệ giáo dục” của ông. Tuy nhiên, tôi e rằng một số luận điểm chính trong “công nghệ giáo dục” của ông, mà tôi xin được phân tích qua dưới đây, đã mắc phải đúng cái bẫy cực đoan.  Học mà không cần bắt chước ?!  Theo GS NHĐ nói thì “công nghệ giáo dục” của ông dạy học theo kiểu “thầy thiết kế – trò thi công” chứ không “học theo kiểu bắt chước”. Tôi thấy cụm từ “thầy thiết kế – trò thi công” (cũng như nhiều cụm từ ngữ khác mà GS HNĐ dùng) khá là khó hiểu, nhưng chuyện đó ta bàn sau. Ở đây tôi muốn nói đến cái vấn đề thái cực mà GS HNĐ muốn giải quyết, đó là vấn đề “dạy vẹt học vẹt”, nhồi một đống thông tin rời rạc vào trong đầu mà không hiểu để làm gì và không dùng được làm gì, ngoài việc để trả bài thi cho được điểm cao cần viết nguyên si như cô giáo dặn. Cách giải quyết của GS HNĐ là thôi không học theo kiểu bắt chước nữa.  Theo tôi, nếu như “học chỉ có toàn bắt chước” là một thái cực nguy hiểm, thì “học mà không bắt chước” cũng là một thái cực nguy hiểm. Bởi vì quá trình học gồm nhiều công đoạn, và một trong các công đoạn dó chính là sự bắt chước. Tùy theo môn học, và mục đích trình độ cần đạt được, mà lượng bắt chước trong quá trình học cần nhiều hay ít ra sao, nhưng nó hầu như luôn là một phần quan trọng. Thậm chí có thể nói ai không còn biết bắt chước tức là không học được nữa.  Lấy ví dụ trẻ em học nói: chúng học nói tiếng mẹ đẻ một cách rất tự nhiên và nhanh chóng mà không cần có người chủ động dạy, chính bằng cách bắt chước nói theo mẹ và những người xung quanh. Chúng bắt chước luôn cả giọng điệu, và cách phát âm (nên có hiện tượng trẻ em được “ô sin” chăm sóc là chính nói giọng giống “ô sin” chứ không giống bố mẹ) . Tất nhiên, trong quá trình học này, trẻ em vừa bắt chước vừa suy luận một cách tự nhiên, để gắn các từ chúng nghe quen vào các đồ vật, hiện tượng chúng nhìn thấy hay cảm thấy. Người lớn tuy não đã phát triển nhiều hơn trẻ em, nhưng học tiếng nước ngoài nhiều khi vất vả hơn trẻ em nhiều, học cả hơn chục năm vẫn không nói được bằng đứa trẻ nhỏ, chính vì ít có điều kiện bắt chước hay ít chịu bắt chước như trẻ nhỏ. Cách học tiếng Pháp bằng bắt chước cũng chính là cách học của bản thân người viết bài này: tôi chưa hề bao giờ được đi học một lớp tiếng Pháp nào, mà chỉ toàn tự học qua đọc sách, nghe đĩa, xem phim, nói chuyện với người Pháp và bắt chước lại cách nói cách viết của người ta.  Một ví dụ khác: có những người dạy lái xe ô tô than phiền rằng: dạy lái xe cho các tiến sĩ rất mệt, vì họ không làm được đúng động tác yêu cầu mà cứ suốt ngày thắc mắc “sao lại làm thế” , trong khi đó dạy lái xe cho công nhân dễ hơn vì cứ bảo gì họ làm y thế là lái được đúng. Hay có một chuyện ngụ ngôn về con dết (nước ngoài hay gọi là con 100 chân) như sau: có con vật khác hỏi dết sao có 100 chân mà vẫn đi được nhịp nhàng, dếp bèn khoe phải giơ chân thế này này, thế này này, khoe được ba bước thì các chân dếp đá vào nhau và dếp ngã lăn quay. Tôi lấy mấy ví dụ này để nói lên rằng, khi mà mục đích là phải học được cái gì đó đến mức thấm vào người thành phản xạ tự nhiên, có thể làm mà không cần mất thời giờ nghĩ (như là nói, viết, lái xe, v.v., phải xử lý nhanh một cách nhuần nhuyễn  chứ có thời gian đâu để mà nghĩ), thì việc bắt chước và luyện đi luyện lại là vô cùng quan trọng.  Tất nhiên, càng học lên cao, đặc biệt là khi trở thành nhà nghiên cứu,  thì tỷ lệ thời gian phải bỏ ra để đào sâu suy nghĩ và sáng tạo càng nhiều lên so với thời gian luyện tập bắt chước cái đã có. Nhưng nếu “chỉ lo sáng tạo” mà không chịu học hỏi bắt chước cái đã có, thì có nguy cơ “sáng chế lại ra cái xe đạp”, “ếch ngồi đáy giếng” không biết mình kém.  Như là có người Việt Nam tự hào sáng chế được máy bay trực thăng, mà không hiểu rằng làm được một cái bay thẳng lên được một khúc là “trò chơi trẻ con”, nhưng làm cho nó ổn định, điều khiển được, bay lên đáp xuống chở hành khách được một cách an toàn hiệu quả là một vấn đề công nghệ khác hẳn.  Nhân nói về “sáng chế lại cái xe đạp”, nếu đánh giá một cách khách quan, thì trình độ về giáo dục (không phải trình độ của học sinh, mà là của bản thân hệ thống giáo dục, triết lý và tổ chức giáo dục) của Việt Nam vẫn còn thấp so với thế giới, có nhiều cái thế giới đã bàn luận từ lâu, đã hiểu, đã áp dụng, còn ở Việt Nam vẫn chưa biết đến hoặc đang mò mẫn. Nếu chúng ta trình độ mới đang là ở “lớp 1″ thì đầu tiên phải bắt chước học hỏi được thấm nhuần được những điều cơ bản sao cho “lên được lớp 2″ đã, chứ không cần “nhảu cóc lên đại học” vội. Trong giáo dục, cái chúng ta thiếu nhất có lẽ không phải là thiếu “công nghệ” cao siêu gì, mà là thiếu những điều cơ bản.  Nhóm “Cánh Buồm” của ông Phạm Toàn, khi viết bộ sách “Chào Lớp 1″ dựa trên các ý tưởng “công nghệ giáo dục” của HNĐ, đã mắc phải không ít sai lầm cơ bản. Ví dụ, môn tiếng Anh không còn là “dạy nói tiếng Anh” mà biến thành “dạy về tiếng Anh”. Năm kia tôi đã có viết một bài có tính hài hước “Giải Ếch Vàng …”1 để chỉ ra một số lỗi cơ bản của nhóm Cánh Buồm.  (Vì phần trên đã quá dài, nên sẽ bàn về các cực đoan khác trong bài tiếp theo)  Một số tài liệu tham khảo về GS HNĐ liên quan phần này:  * Trường thực nghiệm: học không thi cử, không chấm điểm (VTC News, 14/05/2012)  http://vtc.vn/538-333103/giao-duc/truong-thuc-nghiem-hoc-khong-thi-cu-khong-cham-diem.htm  * Hồ Ngọc Đại: Đề cương nghiên cứu khoa học về nền giáo dục toàn dân (Vietscience, 07/01/2009): http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/nghiencuunengdtoandan.htm  trong loạt bài về giáo dục trên vietscience: http://vietscience.free.fr/design/cht_giaoduc.htm  * Hồ Ngọc Đại: Tôi nghĩ và làm như thế (diễn từ nhận giải Phan Châu Trinh, 2009)  * TS Nguyễn Văn Vịnh: Hủy bỏ “triết lý đọc-chép” bằng công nghệ giáo dục? (20/09/2009)  —  1. http://zung.zetamu.net/tag/%E1%BA%BFch-vang/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục (3)      Tư tưởng “không thi cử, không chấm điểm”  trong giáo dục của GS HNĐ cũng không tưởng tương tự như là chủ trương  dẹp đồng tiền đi vậy.   &#160;    Không thi cử ?!  Một hệ thống thi cử tồi sẽ đem lại rất nhiều hệ quả xấu, như là quá nhiều công sức tiền của đổ vào việc học để thi thay vì học để hiểu biết, thói gian lận,  tâm lý căng thẳng chán học, v.v. Điều này đúng không chỉ ở VN, mà trên toàn thế giới. Trưởng hồi đồng tư vấn khoa học cho thủ tướng Ấn Độ năm 2011 có nói một câu nổi tiếng là “India has an examination system but not an education system”1 (“Ấn Độ có hệ thống thi cử chứ không phải hệ thống giáo dục”) để chỉ trích hệ thống thi cử quá nặng nề của Ấn Độ.  Tuy nhiên, tư tưởng “không thi cử, không chấm điểm”2 trong giáo dục của GS HNĐ cũng không tưởng tương tự như là chủ trương dẹp đồng tiền đi vậy. Đồng tiền thật là dơ bẩn, con người ta trở nên xấu xa vì tiền. Thế nhưng nếu dẹp tiền đi, phá hết các nhà băng, thì sao? Thì có lẽ xã hội trở về thời kỳ nguyên thủy, chắc ít ai muốn vậy. Bản thân đồng tiền, hay kiểm tra thi cử, chỉ là những công cụ đảm nhiệm một số chức năng quan trọng cho xã hội. Xã hội cần có được công cụ đó để có thể hoạt động bình thường. Bản thân chúng không có gì xấu, chỉ có sự lạm dụng chúng mới là xấu.  Nói về chức năng của việc kiểm tra, đánh giá, thi cử (gọi chung lại thành thi cử), nó có 4 chức năng chính sau3:  1) Nhằm phát hiện các điểm mạnh điểm yếu của từng người, qua đó điều chỉnh việc học tập / giảng dạy cho thích hợp.  2) Nhằm đánh giá phân loại và đảm bảo chất lượng đầu ra hay đầu vào của các chương trình giáo dục.  3) Nhằm đảm bảo công bằng và hợp lý trong các cuộc tuyển chọn.  4) Nhằm tạo ra sự thi đua phấn đấu.  Cả 4 chức năng đó đều cần thiết, và nếu không có “thi cử” thì vẫn phải “có cái gì đó” đảm bảo 4 chức năng đó, và “cái gì đó” thay thế cho “thi cử” thì dù tên gọi thế nào nhưng thực chất vẫn sẽ là “thi cử”, ở dạng này hay dạng khác.  Bản thân trường thực nghiệm của GS HNĐ cũng không thực hiện được “lý tưởng không thi cử” của ông. (Có thể GS HNĐ không cực đoan trong thực tế ở mức như trong lý thuyết của ông). Các học sinh cấp 1 ở đó vẫn được chấm điểm theo một hệ thống điểm đơn giản chỉ gồm 4 mức điểm. Thực ra, hệ thống chấm điểm đơn giản đó không có gì mới, đã được nhiều nơi trên thế giới dùng từ lâu, và theo tôi là một hệ thống khá tốt. Tiểu học ở Pháp cũng chủ yếu chấm điểm theo kiểu chỉ có 3 điểm “đã nắm tốt, đang nắm, chưa nắm được”. Còn ở Nga, kể cả đại học cũng chấm điểm theo kiểu đơn giản với 4 mức điểm: giỏi (5), khá (4), trung bình (3), và trượt (2).  Nói theo kiểu toán học, muốn có lời giải tốt cho vấn đề nào đó thì bản thân vấn đề phải được đặt tốt (well-posed problem). Nói về thi cử, vấn đề “đặt tốt” không phải là “làm sao xóa bỏ thi cử”, mà là “làm sao có một hệ thống thi cử tốt”. Trong một bài viết về Thế nào là một hệ thống thi cử tốt4, tôi đã có nêu lên 10 tính chất của một hệ thống thi cử tốt (đúng mục đích, ảnh hưởng tốt đến cung cách dạy và học, công bằng, trung thực, minh bạch, khách quan, ít sai phạm, có hiệu suất chi phí cao, hiệu quả, và linh hoạt), và các giải pháp được đưa ra (trên thế giới) để tiến tới đạt được 10 tính chất đó.  Không thi đua?!  Có lẽ GS HNĐ sẽ phản đối tôi về tác dụng của chức năng thứ 4 phía trên của thi cử, vì triết lý giáo dục của ông là “không thi đua”. Chẳng hạn, trong bài báo “Đừng sỉ nhục trẻ con bằng cách ví von nó với đứa trẻ khác …”(08/04/2012)5 GS HNĐ có nói:  Giáo dục trẻ con trong xã hội hiện đại là không có thi đua, không có khen, chê. Chúng ta gắn trẻ con vào thi đua, vào khen chê trong giáo dục. Chúng ta đã vô hình chung sỉ nhục trẻ con bằng việc khen trẻ con quá mức, chê trẻ con thậm tệ hay so sánh đứa trẻ này với đứa trẻ khác. Giáo dục theo kiểu noi gương, thi đua là chuyện tào lao góp phần làm hỏng trẻ em.  Tất nhiên, khen quá mức hay chê thậm tệ, đến mức sỉ nhục học sinh, là những điều xấu. Tôi đã từng chứng kiến có đồng nghiệp sỉ nhục học sinh làm bài kiểm tra kém bằng những câu kiểu như: “chị đi học làm gì cho tốn tiền nhà nước”, “anh là một mối nguy hiểm cho xã hội”. Những câu xúc phạm đó không giải quyết được cái gì, mà chỉ làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý của học sinh, và cũng làm giảm sự tôn trọng giáo viên trong con mắt học sinh. Bản thân những giáo viên như vậy cần được chấn chỉnh về thái độ. Tôi hoàn toàn đồng ý với GS HNĐ rằng tôn trọng học sinh là một nguyên tắc cơ bản của giáo dục. Học sinh có thể kém về mặt nay hay mặt khác, nhưng vẫn là con người, và mọi người đều có sự thiêng liêng, cần được tôn trọng. Có một truyện cười có thật: trong lần thi toán quốc tế (IMO) tổ chức ở VN năm 2007, có một đoàn đến kiện giám khảo, không phải là vì giám khảo cho điểm 0 cho bài giải, mà là vì viết gạch dưới số 0 (theo thói quen của nhiều người gạch dưới các điểm). Họ nói đại loại “anh đã cho điểm 0 rồi còn gạch đít nhấn mạnh nó thêm để sỉ nhục tôi”.  Nếu như thái cực “sỉ nhục học sinh” là rất xấu, thì cực đoan ngược lại “không khen chê, không thi đua” của GS HNĐ theo tôi cũng không phải là tốt. Bởi vì việc thi đua và khen chê đúng chừng mực rất quan trọng trong việc giúp cho học sinh phấn đấu học tốt hơn.  Con người ta muốn vươn lên thì phải phấn đấu (một cách có ý thức hay vô ý thức), chứ sự tiến bộ không “từ trên trời rơi xuống”. Phấn đấu không có nghĩa là phải “khổ sở”, mà ngược lại người ta có thể rất sung sướng hạnh phúc vì được phấn đấu, vì có cơ hội để mà phấn đấu. Lấy ví dụ các môn thể thao, như là đá bóng. Không có thi đua phấn đấu, thì lấy đâu ra thể thao. Ai không thích thì không đá bóng, nhưng đã thích đá, là phấn đấu khi đá, kể cả nếu bị thua. “Thua” vẫn là kết quả tốt nếu “thua trong danh dự”. Khi người ta tập thể dục, thích tập theo nhóm, ra phòng gym chung để tập thay vì tập ở nhà một mình, vì tập cũng những người khác thì mới nhìn nhau mà thi đua phấn đấu dễ hơn là tập một mình.  Hiếu thắng là môt bản năng sinh tồn của con người. “Thắng” ở đây không nhất thiết hiểu theo nghĩa tuyệt đối và không nhất thiết phải là thắng người khác, mà cũng có thể là “thắng cái máy tính”, “thắng một vấn đề khó”. “Thắng” tức là làm được gì đó đem lại sự thỏa mãn về tinh thần. Phương pháp giáo dục tốt phải tận dụng được  tính hiếu thắng của học sinh để làm cho học sinh cố gắng phấn đấu hoc tốt lên qua các biện pháp thi đua hợp lý, chứ không vùi dập tính hiếu thắng này, coi nó như không có. Nhiều “phong trào thi đua” không có hiệu quả, thậm chí phản tác dụng, vì nó không đi vào thực chất. Nhưng đó là lỗi về mặt tổ chức, chứ không phải là tội của bản thân khái niệm thi đua.  Tuy GS HNĐ nói “không thi đua”, nhưng bản thân trường thực nghiệm của ông cũng không bỏ được nó: trên trang web của trường vẫn có một danh sách liệt kê các thành tích, như là thành tích thi học sinh giỏi, đỗ vào trường chuyên, v.v. Trong xã hội, “thi đua” hay được gọi là “cạnh tranh”. Cạnh tranh là động lực phát triển xã hội, thúc đẩy con người ta phấn đấu làm mọi thứ tốt hơn. Ở Nga thế kỷ 20, vì ít cạnh tranh, nên có cái bàn là giá 7 rúp mà dân ta hay mua mang về VN, mấy chục năm nó vẫn thế không có cải tiến gì cả. Nếu không có cạnh tranh, thì có khi bây giờ tôi cũng không có máy tính cá nhân để mà ngồi viết phản biện GS HNĐ. Hai vế “hợp tác” và “cạnh tranh” đều cần cho xã hội, không thể bỏ đi vế nào. Nói theo như GS HNĐ thì học sinh cần được học để “sống bình thường”. Trong “cuộc sống bình thường” có cả hợp tác lẫn cạnh tranh, thì thiết tưởng học sinh cũng cần được làm quen với cả hai mặt đó.  Kể cả khi đã thành GS, tôi vẫn phải lấy những nhà khoa học lớn làm tấm gương cho mình. Họ làm được thì mình cũng phải làm được, không bằng họ thì ít ra cũng phải bằng được một phần của họ, đó chính là động lực phấn đấu. Các tấm gương tốt chính là các “cột mốc” để mà người khác lấy làm điểm tham chiếu cho việc phấn đấu. GS HNĐ phủ nhận giá trị của các tấm gương, và chủ trương “không cần tấm gương, không so sánh với người khác”, nhưng như vậy thì lấy gì làm “cột mốc” để mà bám víu vào trong quá trình phấn đấu. “Tự mình so với mình, cố gắng ngày hôm sau làm tốt hơn ngày hôm trước” theo chủ trương của GS HNĐ tất nhiên là tốt. Nhưng nếu chỉ tự mình so với mình thôi, mà không cần biết đến bên ngoài ra sao, thì có nguy cơ mắc vào một cái bẫy gọi là “ếch ngồi đáy giếng”.  Ở nước ngoài, người ta đã bàn nhiều về vấn đề làm sao để vẫn có đánh giá so sánh cho học sinh, mà không “sỉ nhục” học sinh. Một cách giải quyết là: không cần công bố điểm của từng học sinh trước lớp, nhưng mỗi học sinh vẫn được quyền biết điểm của mình, và những thông tin khác như là điểm cao nhất, thấp nhất, trung bình của lớp. Việt Nam cũng có thể học tập các cách như vậy, thay vì chuyển thành cực đoan “không chấm điểm, không so sánh”.  —  1. http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-04-14/india/29417206_1_entrance-exams-exam-system-national-exam  2. http://vtc.vn/538-333103/giao-duc/truong-thuc-nghiem-hoc-khong-thi-cu-khong-cham-diem.htm  3. http://zung.zetamu.net/2012/06/cac-ch%E1%BB%A9c-nang-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-thi-c%E1%BB%AD/  4. http://zung.zetamu.net/2012/07/th%E1%BA%BF-nao-la-m%E1%BB%99t-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-thi-c%E1%BB%AD-t%E1%BB%91t/  5. http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Chuyen-gia-GD/Dung-si-nhuc-tre-con-bang-cach-vi-von-no-voi-dua-tre-khac/141725.gd    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục (4)      Ở Phần 4 này, tôi muốn nói đến một chuyện  khác, hơi lạc đề, nhưng để đề cập một câu hỏi quan trọng: sự đi lên  của giáo dục là quá trình tiến bộ liên tục từng bước (theo quan điểm của  tôi), hay là cần một cú “đại nhảy vọt” từ “lối cổ điển” sang lối “công  nghệ giáo dục” theo như GS Hồ Ngọc Đại?    Theo tôi, điểm quan trọng nhất của giáo dục, và cũng là điểm mạnh nhất của GS HNĐ, chính là sự thương yêu dành cho trẻ em: trẻ em hoc được tình yêu thương chủ yếu không phải bằng các bài học trong sách vở về đạo đức, mà qua sự cảm nhận cách đối xử của cha mẹ, thầy cô và những người khác với chúng. Khó ai vượt được thầy Đại ở điểm này. Còn việc GS HNĐ đưa vào chương trình cấp 1 “toán cao cấp” và những thứ “trừu tượng chủ nghĩa” khác (mà ở nước ngoài người ta cũng từng dùng rồi bỏ) có lẽ là do ông bị ảnh hưởng của trào lưu này một thời thịnh hành đúng vào lúc ông làm NCS ở Nga. Như GS HNĐ có nói, nền giáo dục VN đang khủng hoảng. Nhưng muốn “chữa được bệnh” thì phải “bốc đúng thuốc”. Điều làm tôi e ngại là thang thuốc của GS HNĐ nửa đúng nửa sai, có nhiều điểm cực đoan.  Một số nhà khoa học và giáo dục có uy tín của VN  khi trao đổi với tôi cũng bày tỏ sự lo ngại tương tự.  Các luận điểm chính của “công nghệ giáo dục” của GS HNĐ có được TS Nguyễn Văn Vịnh giới thiệu trong  bài báo “Hủy bỏ “triết lý đọc-chép” bằng công nghệ giáo dục?”1 năm 2009, với 6 cụm luận điểm chính (xem phụ lục phía cuối bài này – trong 3 phần trước của loại bài này tôi đã phản biện một số trong các luận điểm này). Ngay sau đó, đại tá TS Đỗ Kiên Cường (một chuyên gia về vật lý sinh vật học) đã viết một bài dài rất đáng tham khảo,  gồm hai phần “Giáo dục hơn là một công nghệ!”2 và “Giáo dục còn là một nghệ thuật”3,  đưa ra nhiều lý lẽ xác đáng phản biện lại các luận điểm chính của “CNGD”. Ở Phần 4 này, tôi muốn nói đến một chuyện khác, hơi lạc đề, nhưng để đề cập đến một câu hỏi quan trọng: sự đi lên của giáo dục là quá trình tiến bộ liên tục từng bước (theo quan điểm của tôi), hay là cần một cú “đại nhảy vọt” từ “lối cổ điển” sang lối “công nghệ giáo dục” theo như GS Hồ Ngọc Đại ?    Chuyện cái xe đạp  Sự phát minh ra xe đạp hay được GS HNĐ dùng như là ví dụ về một cách mạng về tư duy, hàm ý so sánh với “tính cách mạng” của ” công nghệ giáo dục” của ông. Chẳng hạn, một bài viết nhan đề “Nguyên Lý” của ông năm 2000 (NXB Lao Động) mở đầu bằng đoạn:  Cho đến cuối thế kỷ trước, 1888, nghĩa là sau hàng triệu năm, cái sự đi bộ hai chân mới bị nghi ngờ. Câu chuyện như sau: có một anh chàng ngông nào đó, dám ngờ rằng cỗ xe 4 bánh đã thừa một nửa, thừa cả 4 cái chân bò kèm theo. Thực ra so với cái ngông của con khỉ không cần đến 4 chân để đi, chỉ hai chân là đủ, thì đã ăn thua gì cái ngông lần này! Nhưng lần này, anh chàng người nọ bị thách thức nhiều hơn vì loài người có ngôn ngữ và ý thức, có các phương tiện truyền thông và có tổ chức… để chế diễu, bêu rếu, thậm chí lên án, mạt sát … Tôi hình dung hoàn cảnh tội nghiệp của anh chàng nọ tìm cách minh oan bằng thực tiễn: thử làm ra chiếc xe hai bánh. Chắc không ít người cười ồ lên, khi thấy anh ta chập choạng trên xe hai bánh, rồi ngã kềnh, trầy da, chảy máu. Biết đâu còn có kẻ ác mồm: đáng kiếp cái thói ngông, kiêu ngạo! May sao, anh chàng nọ không tự ái vặt, không chấp sự trả thù của thói quen, cứ lo làm cho được chiếc xe đạp.  Trong một bài giảng nhan đề “Triết học và lịch sử”4 của ông cho học viên trường viết văn Nguyễn Du gần đây, chiếc xe đạp cũng được mang ra:  Con khỉ đầu tiên đi bằng hai chân, thể nào cũng bị đồng loại phê bình, họp kiểm điểm mạnh lắm. Cũng như cái anh đầu tiên nghĩ tới việc đi xe đạp, khác hẳn việc cưỡi ngựa hoặc đi xe ngựa (vẫn là dùng sức bộ), chắc chắn sẽ bị hàng xóm cười: “Thể nào nó chẳng ngã?”. Nhưng có xe đạp, loài người mới được giải phóng tư duy, rồi mới có ô tô, máy bay, đỡ sức.  Những đoạn như trên kích thích sự tò mò của tôi, vì theo trực giác chủ quan của tôi, thì một thứ như là chiếc xe đạp là tổng hợp của rất nhiều tiến bộ công nghệ, sáng chế, trong một quá trình lịch sử dài, và thời điểm nó xuất hiện và được chấp nhận phải ứng với hoản cảnh bên ngoài thuận lợi (đường xá đủ phẳng, công nghệ vật liệu khiến có thể làm xe đủ nhẹ đủ bền và đi đủ nhanh, v.v.), chứ không phải là do “cách mạng về tư duy” tạo thành. Vì tò mò nên tôi đi tìm đọc về lịch sử xe đạp, và kết quả như sau:  Xe đạp 2 bánh thực ra không phải đến năm 1888 mới xuất hiện, mà là xuất hiện từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Năm 1888 là năm Dunlop sáng chế ra lốp cho xe đạp như ta dùng ngày nay, và có lẽ GS HNĐ nhầm lẫn về thới điểm sáng chế ra lốp với thời điểm phát minh ra xe đạp. (Dunlop hiện vẫn là một thương hiệu lốp lớn trên thế giới). Bản thân phát minh của Dunlop dựa vào phát minh năm 1844 đó của Goodyear (mà ngày nay cũng là một thương hiệu lốp lớn) về làm nóng cao su cho dẻo ra.  Nói đến công nghệ xe đạp, không thể bỏ qua bánh xe. Theo nhiều tài liệu, bánh xe hình tròn có trục ở giữa đã có từ ít ra 3.500 năm trước công nguyên. Khó hình dung làm sao thời La Mã người ta vận chuyến được các tảng đá nặng hàng tấn để xây các công trình đồ sộ bằng đá nếu không có bánh xe. Công nghệ bánh xe dần thay đổi từ bánh xe bằng đá, bằng gỗ đặc, đến bánh xe bằng các vật liệu khác và “rỗng” (có vành trong vành ngoài và có các thanh nối hai vành) nhẹ hơn trước, rồi có lốp (đi được nhanh hơn hẳn vì ít bị cọ sát mặt đường hơn), là một quá trình phát triển dài. Một công nghệ quan trọng khác xuất hiện trong xe đạp và trong nhiều loại xe cộ máy móc khác là cái xích để truyền lực (roller chains). Xích bằng kim loại có từ trước công nguyên. Từ thế kỷ 17, họa sĩ và nhà sáng chế thiên tài Leonardo de Vinci có vẽ phác thảo các xích truyền lực, và đến năm 1880 thì xích xe đạp được một người tên là Renold sáng chế. Những chiếc xe đạp đầu tiên thì không có xích (lấy chân đạp đất, hoặc có đạp vào bàn đạp nhưng bàn đạp gắn liền bánh xe).  Ngoài ra còn có thể kể đến rất nhiều yếu tố khác của chiếc xe đạp, được sáng chế vào các thời điểm khác nhau. Ví dụ như là bộ phận chuyển tốc độ, bộ phận trợ lực, v.v. Cho đến ngày nay, cái xe đạp vẫn tiếp tục được cải tiến, hoàn thiện theo nhiều hướng khác nhau, và vẫn là một công cụ đi lại rất thuận tiện trong nhiều tình huống. Một trong các cải tiến thú vị, nhưng rất tiếc là ít phổ biến, là loại xe đạp ngả lưng (tiếng Pháp: vélo couché). Loại xe này cho phép vừa đạp nhanh hơn, vừa có vị trí ngồi thoải mái hơn, là loại xe thông dụng. Loại xe này khi đem ra đua xe đã thắng đứt đuôi loại xe đạp “bình thường”, nhưng các nhà sản xuất xe bình thường bèn lobby để cấm không dùng loại xe này trong các cuộc đua xe truyền thống, và điều đó làm cản trở sự phát triển loại xe này, khiến nó trở nên ít được dùng.  Nếu như trước thế kỷ 19, người ta không dùng các loại xe “dễ đổ” như là xe đạp 2 bánh, thì không phải là do người ta không thể nghĩ đến, mà là do điều kiện công nghệ chưa cho phép. Mà xe ngựa chạy nhanh hơn xe đạp nhiều, kể cả thời nay, nên tôi không thể đồng ý với quan điểm của GS HNĐ là “xe đạp mới giải phóng tư duy con người, rồi sau mới có ô tô, máy bay đỡ sức”.  Khi điều kiện công nghệ cho phép, thì không những người ta nghĩ ra xe đạp 2 bánh, mà còn nghĩ ra cả xe 1 bánh. Những xe một bánh đầu tiên xuất hiện từ những năm 1860. Xe 1 bánh chủ yếu làm dụng cụ tiêu khiển chứ không thể phổ biến như xe 2 bánh (trong đó 1 bánh dùng để đẩy xe còn 1 bánh để chỉnh hướng xe), một phần vì việc điều khiển hướng đi khó hơn là xe 2 bánh. Nói đến xe đạp, cũng có thể nhắc đến các xe 3 bánh. Chiếc xe 3 bánh đầu tiên được một người Đức tên là Faffler sáng chế từ năm 1680, và do ông này bị liệt chân, nên thay vì đạp chân, xe của ông ta dùng quay tay (crank) và các răng cưa (gears). Vào cuối thế kỷ 18, có loại xe đạp 3 bánh do hai nhà sáng chế của Pháp là Blanchard and Maguire nghĩ ra và trở nên thông dụng đến mức người ta đặt tên “bicycle” và “tricycle” vào thời đó để phân biệt xe 2 bánh với xe 3 bánh.  Xe 3 bánh hay 4 bánh không có gì là “lạc hậu” hơn xe 2 bánh về mặt tư duy: mỗi loại xe thích hợp với một loại hoàn cảnh môi trường và công nghệ khác nhau, và có các mặt yếu mặt mạnh khác nhau. Sau khi người ta làm xe máy 2 bánh chán đi, thì mốt mới ngày nay lại là loại xe máy 3 bánh với khoảng cách giữa 2 bánh ở đầu khá hẹp. Xe này gọn nhẹ tương tự xe 2 bánh, mà lại an toàn ổn định tương tự như xe 3-4 bánh. Chiếc xe đạp cũng chỉ là một phần trong sự tiến bộ của loài người về giao thông vận tải nhằm “giải phóng con người” (nói theo GS HNĐ). Còn phải kể đến các thứ khác, ví dụ như là tàu thủy: ở châu Âu trong những thế kỷ trước, người ta đào kênh làm đường cho tàu thủy đi, và đây là cách vận tải có chi phí năng lượng thấp nhất.  Một thứ “tương đối đơn giản” như là cái xe đạp mà còn là tổng hợp của một quá trình tiến bộ về công nghệ rất dài chứ không phải là kết quả của một bước “đại nhảy vọt” nào, thì một thứ phức tạp hơn nhiều lần như là hệ thống giáo dục càng đòi hỏi một quá trình đi lên rất dài, với tổng hợp sự tiến bộ từ nhiều lĩnh vực khác nhau (công nghệ thông tin, thần kinh học, các khoa về xã hội, về tổ chức quản lý, v.v.), chứ không thể có phép màu nào khiến nó “nhảy cóc từ lớp 1 lên đại học” như là viễn tưởng “công nghệ giáo dục” được.          Các luận điểm chính của CNGD của Hồ Ngọc Đại  (theo bài viết  “Hủy bỏ “triết lý đọc-chép” bằng công nghệ giáo dục?”5  của Nguyễn Văn Vịnh):   1. Giáo viên thiết kế, học sinh thi công,   thầy tổ chức trò hoạt động thay cho giáo viên giảng giải học sinh nhắc   lại. Nguyên lý vận hành được tóm gọn trong công thức A → a. Thành phần A   gồm ba dạng khoa học, nghệ thuật và niềm tin. Mũi tên là quy trình tổ   chức để học sinh có thể tự chiếm lĩnh A và có được cái A riêng trong   tinh thần của từng em.   2. Phương pháp giáo dục không phải là cách   giảng dạy mà là phương pháp để trẻ em chiếm lĩnh thực tại, chiếm lĩnh   đối tượng khoa học, đi lại con đường nhà bác học đã đi, đi lại con đường   người nghệ sĩ đã đi, không buộc trẻ tiếp nhận chân lý có sẵn. Điểm cốt   yếu của phương pháp tiếp cận vấn đề là tìm ra nguyên lý, chứ không nên   hiểu theo nghĩa đen là tìm về cách mà các nhà khoa học ngày xưa đã  thật  sự đi qua để khám phá ra lời giải.   3. Nguyên lý của phát triển bài học là đi từ   trừu tượng đến cụ thể, nâng nấc thang trừu tượng kế tiếp nhau để đi  đến  trình độ cụ thể ngày càng cao hơn. Từ phát triển hiện thực vật chất  đến  phát triển tư duy trong tâm lý và khái niệm. Rồi từ phát triển  trong  hợp tác với thầy giáo đến phát triển độc lập, từ trong giáo dục  nhà  trường đến ngoài khuôn khổ nhà trường.   4. Quá trình hình thành bài học là hành động   phân tích tìm ra logic của khái niệm, hành động diễn đạt logic và phát   hiện dưới các mô hình khác nhau và cuối cùng là hành động “chuyển vào   trong”, tức là hiểu và có thể hành động.   5. Thiết kế là xác định mục đích (thí dụ đọc   được chữ, làm được toán cộng với con số từ 1 tới 10), thao tác cần làm   và phương tiện cần thiết để học sinh tự hành động chiếm lĩnh tri thức,   và đánh giá kết quả học tập.   6. Giáo án là kế hoạch tổ chức cho học sinh   làm, là bản thiết kế làm việc, rành rọt cái gì làm trước cái gì làm  sau,  thầy làm gì, trò làm gì, tức là phù hợp với từng học sinh. Giáo án   không phải là cái thầy đọc cho học sinh chép. Sách giáo khoa chỉ là  biên  bản quá trình làm và kết quả làm việc giữa thầy và trò.          1/ http://www.vietnamplus.vn/Home/Huy-bo-triet-ly-docchep-bang-cong-nghe-giao-duc/20099/17866.vnplus  2/ http://thethaovanhoa.vn/132N20091012052054711T0/giao-duc-hon-la-mot-cong-nghe!-bai-1-chi-nghe-si-moi-co-nhu-cau-lap-lai-thao-tac-cua-mozart.htm  3/ http://tintuc.xalo.vn/00517334982  /Giao_duc_la_mot_cong_nghe_Bai_2_Giao_duc_con_la_mot_nghe_thuat.html  4/ http://dayvahoc.blogspot.fr/2009/05/triet-hoc-va-lich-su-ho-ngoc-ai.html  5/ http://www.vietnamplus.vn/Home/Huy-bo-triet-ly-docchep-bang-cong-nghe-giao-duc/20099/17866.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục (5)      Trong phần này, tôi muốn phân tích một cách  độc lập câu hỏi: chương trình phổ thông nên gồm bao nhiêu năm, và phân  cấp như thế nào, là hợp lý nhất? Đồng thời tôi sẽ phản biện luận  điểm cải cách số năm học của GS HNĐ.    Chương trình giáo dục phổ thông ở miền Bắc VN ngày trước là theo hệ 11 năm (1 năm vỡ lòng + từ lớp 1 đến lớp 10, không tính mẫu giáo). Sau đó có cải cách thống nhất chương trình trên hai miền thành 12 năm. Trong “Giải pháp căn bản và toàn diện cho nền giáo dục hiện đại”1 do GS HNĐ nêu ra gần đây lại đề nghị rút ngắn lại thành 10 hay 11 năm, gồm 5 năm trung học và 5 hay 6 năm tiểu học. Các lý do mà ông nêu ra trong văn bản trên cho đề nghị cải cách này của ông là:  1) Không nên kéo dài 12 năm giáo dục phổ thông : lãng phí thời gian và làm mất hứng thú học.  2) Về việc phân làm 2 bậc tiểu học và trung học (thay vì 3 bậc như hiện tại): thời tiểu học (cho đến 11/12 tuổi) là thời “hình thành nhân cách”, còn trung học (5 năm sau đó) là  “vượt ra khỏi vòng tay gia đình theo hướng hội nhập ngày càng sâu vào xã hội bên ngoài”.  Trong phần này, tôi muốn phân tích một cách độc lập  câu hỏi: chương trình phổ thông nên gồm bao nhiêu năm, và phân cấp như thế nào, là hợp lý nhất ? Đồng thời tôi sẽ phản biện lại luận điểm cải cách số năm học của GS HNĐ.    Chương trình giáo dục phổ thông mấy năm là hợp lý?  Trước hết, thế nào nghĩa là “hợp lý”? Theo tôi, hợp lý có nghĩa là có được một số tính chất sau:  1) Đúng mục đích của giáo dục phổ thông  2) Đạt tối ưu trong bài toán tối ưu hai chiều “chi phí / hiệu quả”  3) Cân đối hài hòa với các mặt hoạt động khác của xã hội  4) Tiện lợi cho việc hòa nhập thế giới  Con người càng sống lâu, càng trẻ lâu, càng giàu có, thì càng có thời gian và điều kiện vật chất để mà có thể học dài hơn. Ngày xưa, trong chuyện Romeo và Juliet, mẹ của Juliet lúc đó chưa đầy 30 tuổi đã được gọi là “bà già”, thì “học đến tận năm 18 tuổi” quả là xa xỉ. Nhưng trong thế giới hiện đại giàu có hơn, tuổi thọ đã tăng lên nhiều, thì học đến 18 tuổi không còn là xa xỉ. Câu trả lời “chương trình phổ thông đến năm bao nhiêu tuổi là hợp lý nhất” có lời giải không phải là một hằng số, mà thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào hoàn cảnh điều kiện ở các nơi trên thế giới.  Nói về mục đích giáo dục phổ thông, mục đích cơ bản nhất là gì ? Theo tôi, từ quan điểm xã hội, đó là chuẩn bị cho mỗi đứa trẻ thành một công dân của xã hội, thành những con người trưởng thành, sẽ tham gia vào các hoạt động của “người lớn” trong xã hội. Trong xã hội có qui định độ tuổi trưởng thành, và đứng từ quan điểm học phổ thông cho đến khi trưởng thành, thì lúc kết thúc phổ thông trùng với đúng độ tuổi trường thành là hợp lý nhất.  Từ quan điểm hội nhập thế giới, nếu có cùng hệ thống học như các nước thì dễ hội nhập hơn, là một mình một phách. Bởi vậy, khi phần lớn thế giới đi theo một hệ thống nào đó, thì ta cũng nên đi theo nó, trừ khi có những lý do rất đặc biệt để đi đường riêng.  Nhìn từ góc độ kinh tế, trẻ em chưa trưởng thành mà đã bắt đi lao động tự nuôi thân thì là “bóc lột trẻ em”, không nên (trừ khi nhà quá nghèo không thể nuôi cho con học được đến lúc trưởng thành). Hơn nữa, người chưa trưởng thành mà “tung ra” thị trường lao động thì cũng chỉ làm được các công việc chân tay đơn giản với công suất lao động thấp thôi, không phải là hướng đi của nền kinh tế hiện đại, và lại có nguy cơ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp nếu làm tranh việc của người lớn. Nếu như trong giai đoạn chưa trưởng thành, mà không lao động mà cũng không học thì sẽ “nhàn cư vi bất thiện”, và bởi vậy càng nên cho trẻ em học cho đến tuổi trưởng thành. Kể cả khi đã đến tuổi trưởng thành, vẫn nên được học tiếp nếu có điều kiện trước khi ra thị trường lao động ngay, và đây là hướng đi của các nước tiên tiến (đa số thanh niên được học tiếp sau phổ thông ở các trường kỹ thuật hay đại học chứ không đi làm ngay).  Nhìn từ tất cả các khía cạnh trên, thì độ tuổi hợp lý nhất để học hết phổ thông hiện tại là 18 tuổi. Đây chính là độ tuổi trưởng thành theo pháp luật, và cũng là độ tuổi hết phổ thông ở phần lớn các nơi trên thế giới. Nếu như ta tính là trẻ em chính thức vào học phổ thông từ năm 6 tuổi (tuổi đi học bắt buộc, trước đó có thể ở nhà hoặc đi mẫu giáo tùy ý), thì tức là 12 (= 18 – 6) năm học phổ thông.  Hai lý do chính mà GS HNĐ đưa ra trong đề nghị giảm chương trình phổ thông từ 12 năm (học cho đến năm 18 tuổi) xuống còn 10-11 năm (theo tôi hiểu, thì có nghĩa là chỉ học đến 16-17 tuổi thôi) là:  1) Lãng phí thời gian  2)  Làm mất hứng thú học  Về khoản “mất hứng thú học”, tôi không hiểu tại sao lại “mất hứng thú học”. Một mặt thì GS HNĐ công nhận rằng cả người lớn cũng cần được học (nói theo Lenin là “học, học nữa, học mãi”), một mặt lại lý luận “học lâu thì mất hứng thú”. Tôi đã là trung niên rồi, nhưng vẫn thích học đủ thứ, chưa bao giờ mất hứng thú, và tôi tin đa số mọi người đều có hứng thú như tôi khi có cơ hội học được những điều mới thú vị và có ích. Hứng thú hay không không phụ thuộc vào học nhiều hay ít, mà phục thuộc vào bản thân môn học có thú vị không, giáo viên dạy có hay không. Nếu học sinh mất hứng thú, thì đấy không phải lỗi của số năm học, mà là lỗi của chương trình và cách dạy học.  Về khoản “lãng phí thời gian”, tôi không hiểu GS HNĐ định cho học sinh “tiết kiệm thời gian” để làm gì khi 16 tuổi thôi không học nữa. Cho đi chơi ngoài đường? Hay là cho đi học nghề ? Nếu là học nghề khi chưa thành niên, thì vẫn nên kết hợp với học thêm một số kiến thức chung để thành công dân, và vẫn có thể gọi là trường phổ thông (như là hệ thống lycée theo hướng học nghề ở Pháp), nhưng đâu phải trẻ em nào cũng muốn đi học nghề sớm vậy. Hay GS HNĐ định nói đến lãng phí thời gian của xã hội (của giáo viên) ? Nếu thế thì lại phải quay về bài toán “chi phí / hiệu quả”. Về điểm này, chúng ta cần phân tích về giá trị kinh tế của giáo dục, coi giáo dục cũng là có đóng góp trực tiếp cho tổng sản lượng kinh tế quốc dân (nếu các dịch vụ như cắt tóc, tẩm quất có tính vào GDP thì giáo dục cũng phải được tính, mà phải được tính một cách đàng hoàng). Nếu tính đàng hoàng về công suất lao động của giáo viên và giảng viên, thì sẽ thấy giá trị của việc dạy học, và trả lương được đàng hoàng cho ngành giáo dục và đại học. (Trước đây, tôi đã làm một phân tích cho thấy giảng viên đại học công ở VN trung bình lãng phí 2/3 tiềm năng công suất lao động của họ, và ngay cả với công suất lao động hiện tại thì thu nhập của họ cũng chỉ xứng đáng tương đương với 1/3 công suất của họ, tức là lương của họ phải được tăng 3 lần thì mới hợp lý).  Nói tóm lại, cả hai lý do mà GS HNĐ nêu lên để đề nghị giảm số năm học phổ thông đều không hề có tính thuyết phục, và hơn nữa ông không hề tính đến các lý do chính đáng để đi theo hệ 12 năm như thế giới.  Cùng ý tưởng với GS HNĐ có GS nhà giáo nhân dân Nguyễn Ngọc Lanh cũng muốn giảm hệ phổ thông xuống còn 10 năm. Tôi đã có viết 1 bài bình luận về ý tưởng hệ 10 năm của GS Lanh ở đây2.  Nên chia chương trình phổ thông thành mấy cấp?  Trong các tài liệu trên thế giới, hệ thống giáo dục thường được chia làm 3 bậc:  – Đại học (gồm có cả cao đẳng, dạy nghề sau phổ thông) và sau đại học  – Trung học  – Tiểu học  Giáo dục phổ thông gồm tiểu học và trung học. Cách chia này có tính qui ước, và trung học thường được chia thêm thành 2 mức. Ở VN hai mức đó gọi là THCS và THPT (ngày xưa thì gọi là cấp 2 và cấp 3), còn ở Pháp thì gọi là “collège” và “lycée”, ở Mỹ thì gọi là “middle school” và “high school”. Điều tôi muốn bàn đây là : tại sao lại cần thêm  cấp 3 (lycée) trong khi theo quan điểm của GS HNĐ chỉ cần cấp 1 và cấp 2?  Việc phân chia cấp này có phần mang tính qui ước, và gắn liền với lịch sử phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông. Ngày xưa, khi điều kiện về giáo dục còn khó khăn, mục tiêu giáo dục đại trà của các nước chỉ ở mức “ai cũng được học hết cấp 1″ (có trình độ tiểu học), còn chỉ có một phần dân số lên đến cấp 2. Khi điều kiện tốt lên, thì mục tiêu được nâng lên thành “ai cũng học được hết cấp 2″, và học cấp 2 trở thành bắt buộc ở nhiều nước, và chỉ một phần dân số học lên cấp 3.Hiện tại, học cấp 3 không là bắt buộc, nhưng mục tiêu chung là để làm sao cho phần lớn trẻ em được học hết cấp 3. Một trong các lý do để có 3 cấp (thay vì chỉ có 2) là sự phát triển từng bước về mục tiêu giáo dục tạo thành vậy. Tại sao lại 3 mà không phải là 4 hay 5 cấp ? Điều này tôi không “giải thích chặt chẽ” được, nhưng có lẽ có thể qui nó về nguyên tắc “tự tổ chức” trong “hệ động lực”: cách chia thành 3 cấp là một trong các cách chia “hợp lý, ổn định, dễ dùng” nhất trong các cách chia nên cuối cùng được đa số tán thành.  Một lý do tồn tại quan trọng cho cấp 3 (tức là tách trung học thành 2 cấp, thay vì gộp chung lại hoàn toàn) là vấn đề hướng nghiệp:  nếu như ở cấp hai có “chương trình cơ bản” chung cho toàn bộ học sinh (và ngoài ra học sinh có thể học thêm một số môn lựa chọn hay nâng cao), thì cấp 3 về ý tưởng có sự phân chia ban ngành, hướng nghiệp rõ rệt hơn, và các môn học ở các ban khác nhau có thể khác nhau khá nhiều, tùy theo thiên hướng của học sinh: có những học sinh sẽ học thiên về máy móc để hướng thành công nhân kỹ thuật, có học sinh học thiên về các môn xã hội, có học sinh thiên về tự nhiên, v.v, tạo ra nhiều lựa chọn thích ứng cho học sinh. Ở VN hiện tại vẫn chưa đạt được mức phân ban cấp 3 như vậy, nhưng đây là hướng mà nền giáo dục VN nên đi theo, để tiến tới học sinh nào cũng được học cấp 3 theo thiên hướng của mình và tìm được chỗ đứng của mình.  —  1/ http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=5212&CategoryID=6  2/ http://zung.zetamu.net/2011/10/gi%E1%BA%A3m-h%E1%BB%87-ph%E1%BB%95-thong-con-10-nam/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục      GS Hồ Ngọc Đại (viết tắt là HNĐ) là một  người cả đời nghiên cứu về giáo dục, nên ắt hẳn phải thâm hiểu hơn tôi  nhiều về triết lý giáo dục. Tuy nhiên, có một số tư tưởng của ông liên  quan đến những vấn đề cơ bản của giáo dục làm tôi rất băn khoăn, nên  muốn đem ra đây bàn cãi.      Từ trừu tượng đến cụ thể hay là từ cụ thể đến trừu tượng?  Một trong các phương châm của GS HNĐ  là “từ trừu tượng đến cụ thể”.  (Phương châm này thể hiện khá rõ trong chương trình lớp 1 “công nghệ giáo dục” về toán và tiếng Việt của HNĐ, mà tôi sẽ bàn phía dưới). Ví dụ, trong bài “Giải pháp phát triển giáo dục: từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm”1 có đoạn:  Một. Nguyên tắc phát triển. Môn học thiết kế theo lôgích nội tại của Hệ thống khái niệm khoa học, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của Đối tượng, không có sự cưỡng bức từ ngoài. Sự phát triển này sẽ là tối ưu, nếu quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ đơn giản đến phức tạp…    “Từ đơn giản đến phức tạp” thì đúng quá rồi, vì phải có các yếu tố đơn giản mới hợp lại thành phức tạp được. Nhưng tại sao lại “từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng” ?! Theo tôi thì  ngược lại mới đúng, tức là phải đi từ riêng đến chung, đi từ cụ thể đến trừu tượng, mới là quá trình học tự nhiên. Nhiều khi “khái niệm trừu tượng” chỉ là cái vỏ, có hay không không quan trọng bằng cái ruột bên trong ra sao. Khi có “ruột” rồi mới cần “vỏ” để “đóng gói” lại cho “ngăn nắp” chứ toàn vỏ không mà rỗng ruột thì chẳng để làm gì. Khi tôi nói chuyện với các SV ngành toán, có nhận thấy rằng nhiều bạn thông minh nhưng hổng kiến thức cơ bản, chính vì học một cách quá trừu tượng mà thiếu ví dụ cụ thể. Ví dụ như học giải tích hàm với các không gian rất trừu tượng, nhưng không viết được công thức Parceval cho chuỗi Fourier. Không phải vô cớ mà Albert Einstein từng nói: Dạy học bằng ví dụ không phải là “một cách dạy học” mà là “cách duy nhất để dạy học”.  Chắc GS HNĐ sẽ đồng ý rằng các kiến thức về thần kinh học (neuroscience) giúp ích rất lớn cho các ngành khác như tâm lý học và giáo dục học. Theo hiểu biết hạn chế của tôi, thì hệ thần kinh gồm có các tế bào thần kinh được nối với nhau bởi các “dây nối” chằng chịt thành một mạng (hình dung tương tự như mạng internet), và thông tin chứa đựng trong một cụm tế bào thần kinh càng dễ được kích hoạt nếu cụm tế bào đó càng có nhiều dây nối đến các tế bào khác. Khi con người học một khái niệm hay bất cứ một cái gì đó mới, thì hệ thần kinh ghi nhớ lại khái niệm đó vào trong một cụm tế bào thần kinh, và tạo cầu nối từ cụm tế bào đó đến các tế bào khác. Để tạo được các cầu nối tức là phải nhận ra được các sự liên quan. Một  khái niệm trừu tượng khi vào não phải có được những cái gì đó đã có trong não để “bám víu” vào qua các cầu nối thì mới giữ lại được và dùng được chứ không thì dễ bị quên đi hoặc tốn chỗ vô ích. Những ví dụ cụ thể dễ hiểu và những khái niệm đã quen thuộc chính là những thứ để khái niệm trừu tượng mới bám vào.    Có cần dạy “toán cao cấp” cho học sinh cấp 1?  GS HNĐ tự hào về việc dạy “toán hiện đại, cao cấp” cho học sinh cấp 1 ở trường thực nghiệm. Ví dụ, bài báo “Nhiều phụ huynh chẳng hiểu gì về trường thực nghiệm”2 có đoạn:  Trẻ con lớp 1 ở trường Thực nghiệm được học tiếng Việt, toán hiện đại, cao cấp. Hiện đại không có nghĩa là nửa vời mà là tư duy hiện đại, tư duy theo cách làm việc và cũng cần xác định tư duy cái gì, làm việc cái gì là tốt và xứng đáng nhất với trẻ con.  Các từ “hiện đại, cao cấp” ở đây có thể gây cho một số người hiểu nhầm là trẻ em cấp 1 có thể học được toán cao cấp thật. (Có là thần đồng toán học thời nay như Terrence Tao cũng không giỏi đến mức vậy). Nói một cách chính xác hơn, thì “toán hiện đại, cao cấp” của GS HNĐ chủ yếu là đưa một  ngôn ngữ toán học trừu tượng vào cho học sinh cấp 1 học, chứ thực ra không có kiến thức “cao cấp” ở đó. Nếu chúng ta bỏ một cái xe đạp 3 bánh cho trẻ con vào 1 cái vỏ thùng xe máy, thì không vì thế mà xe đạp 3 bánh biến thành xe máy. Một “kiện hàng” mà “vỏ” quá nặng thì “ruột” bị nhẹ đi. Tôi e là khi học sinh lớp 1 mất quá nhiều thời gian vào việc “tiêu hóa” ngôn ngữ toán học hình thức, thì thời gian dành cho việc học những khái niệm cơ bản nhất của toán học lại bị giảm đi, dẫn đến hổng kiến thức cơ bản. Và kết quả môn toán của các học sinh học chương trình thực nghiệm của GS HNĐ cũng không lấy gì làm khả quan lắm, như bài báo “Trường thực nghiệm: hóa ra là …”3 phản ảnh.  GS Ngô Bảo Châu hay được lấy làm ví dụ về sự thành công của trường thực nghiệm, nhưng có một chi tiết mà báo chí bỏ qua: đó là GS Châu được gia đình cho ra học trường khác sau một thời gian thấy học ở trường thực nghiệm không đạt kết quả tốt về môn toán.  Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, luôn cần làm 4 phép tính cộng trừ nhân chia, chứ mấy khi sử dụng các thuật ngữ trừu tượng như “phần bù của tập hợp A trong tập hợp B”.Trẻ em không dùng ngôn ngữ trừu tượng như là “phần bù của tập hợp A trong tập hợp B” thì không có nghĩa là không biết làm phép toán đó, mà chỉ có nghĩa là nó suy luận một cách cụ thể hơn, trực tiếp hơn, không cần phải qua cái “vỏ” trừu tượng hình thức hóa đó. Ngôn ngữ trừu tượng hình thức trong toán học là cần thiết ở những mức độ nào đó, nhưng lạm dụng nó thì chỉ làm cho mọi thức trở nên rối rắm phức tạp mà không đi vào bản chất vấn đề.  Ông V.I. Arnold có viết mô tả những người bị “mắc bệnh hình thức” trong toán học đại loại như sau: thay vì nói “Vova rửa tay” thì người ta nói “có một tập hợp các trạng thái tay của Vova gồm có các phần tử là …, có một thời điểm T mà trước thời điểm đó tay Vova ở trạng thái bẩn, sau thời điểm đó trở thành trạng thái sạch, v.v.”  (Nghe nói  ông Kolmogorov thời thế kỷ 20 cũng mắc sai lầm đưa lý thuyết hình thức về tập hợp vào dạy đại trà cho trẻ nhỏ ở Nga nhưng rồi phải bỏ sau khi bị la ó phản đối?)  Tất nhiên, khi xã hội thay đổi, hiện đại lên, thì việc dạy các môn học cũng cần hiện đại lên theo. Nhưng “hiện đại” và “hình thức” là hai thứ hoàn toàn khác biệt. Trong thế giới hiện đại, học sinh có thể được trang bị một cái “cặp điện tử” chỉ nặng có 1kg mà vừa viết, vừa vẽ, vừa đọc, v.v. được trên đó thay vì một cái cặp với đống sách vở giấy bút nặng chình chịch, nhưng khi học vẫn cần phải đi lên từ những cái cụ thể, quen thuộc rồi mới hiểu được các thứ hình thức trừu tượng.  (Còn tiếp: Chuyện tiếng Việt công nghệ, nhân tài, v.v.)  1. http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=2203&CategoryID=6  2. http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/GSHo-Ngoc-Dai-Nhieu-phu-huynh-chang-hieu-gi-ve-truong-Thuc-nghiem/163711.gd  3. http://dantri.com.vn/c25/s25-595100/truong-thuc-nghiem-hoa-ra-la.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục (6)      Các phản biện của tôi có thể gây hiểu lầm là  tôi thấy tư tưởng giáo dục nào của GS HNĐ cũng sai. Thực ra,&#160; tôi thấy  ông có nhiều cái đúng.    Ví dụ như phương pháp dạy ý thức trách nhiệm cho học sinh bằng cách cho học sinh luân phiên nhau làm lớp trưởng, ai cũng có lúc phải làm lớp trưởng. Cách này là một trong những phương thức của thể chế dân chủ từ thời Hy Lạp cổ, mọi công dân đều phải có lúc có trách nhiệm tham gia các vấn đề chung của xã hội  Nhận xét của tôi về GS HNĐ là, ông có nhiều điểm đúng, nhưng cũng có nhiều điểm cực đoan hay có thể nói là sai lệch, và có vẻ quá tự tin. Một số từ ngữ câu văn ông dùng trong giáo dục rất khó hiểu, ví dụ như “thiết kế tiếng Việt” (tiếng Việt đã có như nó đã có, cần gì ai phải “thiết kế” ?), “trẻ em là một thực thể tự nhiên” (chẳng nhẽ người ta nghĩ nó là phi tự nhiên à ?), “giáo dục hiện đại là nền giáo dục trong phạm trù cá nhân theo logic nội tạng”1 [nội tại ?], v.v. (Tôi mà phải học nhiều câu như thế này có khi sẽ bị tẩu hỏa nhập ma). Theo tôi, câu cú càng khó hiểu, thì càng ít người hiểu mình muốn nói gì, và bản thân các ý của mình càng dễ rơi vào cái bẫy “vô nghĩa hoặc sai lệch” mà khó nhận ra.  Lớp nào quan trọng nhất ?  Người thì nói “đại học” vì đại học đào tạo ra “đầu tầu” để kéo nền kinh tế và giáo dục nước nhà đi lên, muốn đi lên được cần có đầu tầu tốt. GS HNĐ nói “lớp 1″ vì những năm đầu tiên là năm quan trọng nhất hình thành nhân cách, ảnh hưởng cả cuộc đời. Ai cũng có lý. Theo tôi thì quá trình giáo dục có thể ví như một cái dây xích, và độ chắc của một dây xích thể hiện ở cái mắt xích yếu nhất của nó (châm ngôn tiếng Anh: “a chain is only as strong as its weakest link”). Hàng năm tôi có trồng cà chua trong vườn, và thấy bất kỳ tuần nào mà mình không quan tâm đến nó thì đều có nguy cơ nó bị thời tiết không thuận lợi làm cho thui chột cả (mà quái lạ là thường cứ đúng tuần mình đi vắng thì xảy ra thời tiết khắc nghiệt với cà chua !). Giáo dục cũng vậy, không thể “lơi là” lớp nào.  Câu hỏi “lớp nào quan trọng nhất” có thể là câu hỏi bị chệch vấn đề. Vấn đề thực sự là: đâu là những điểm yếu nhất hiện tại của nền giáo dục, cần được “sửa chữa tu bổ” nhất? Những điểm yếu nhất không nằm ở “lớp nào”, mà nằm ở hệ thống ảnh hưởng đến toàn bộ các lớp.  Giáo dục và nhân tài  GS HNĐ phản đối vế “bồi dưỡng nhân tài” của phương châm giáo dục “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, vì theo ông, “nhân tài là sản phẩm cá nhân của người có tài”, chứ giáo dục không tạo ra được nhân tài.  Bản thân câu “nhân tài là sản phẩm cá nhân của người có tài” của GS HNĐ có vẻ lủng củng về cấu trúc, vì “nhân tài” chính là “người có tài”, và sản phẩm của một người đối với xã hội không phải là bản thân người đó, mà là những cái người đó mang lại cho xã hội. Nhưng ta hãy bỏ qua chuyện đó, mà đi vào vấn đề: nhân tài có cần được giáo dục bồi dưỡng không ?  Theo tôi hiểu, các thiên tài nổi tiếng, làm được những điều lớn lao, đều là một sự tập hợp của nhiều yếu tố rất thuận lợi mà thành, trong đó tư chất cá nhân chỉ là một yếu tố. Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố bên ngoài như, gia đình có nuôi nấng tốt khi bé không, nền tảng văn hóa giáo dục ra sao, môi trường xã hội có thuận lợi hay không, thời điểm có thuận lợi hay không,  v.v. Hãy thử hình dung thế này: cứ 100 người có 1 người có tư chất năng khiếu bẩm sinh đặc biệt có thể thành thiên tài. Nhưng 100 người mới có 1 người có gia đình có đủ khả năng chăm sóc thật tốt cho năng khiếu đó. 100 người mới lại có 1 người khi đi học học gặp được đúng thầy bà hướng dẫn và điều kiện thật thuận lợi cho năng khiếu của mình. 100 người mới lại có một người khi làm việc gặp được đúng các điều kiện hoàn cảnh thuận lợi để phát huy tối đa năng khiếu của mình, và phải hội tụ được cả 4 yếu tố đó mới thành thiên tài. Như vậy thì tuy lúc sinh ra, cứ 100 người có 1 người có tiềm năng tư chất để thành thiên tài, nhưng trên thực tế cả trăm triệu người mới có được 1 người hội tụ được đủ các điều kiện để thành thiên tài. Hay là “nhân tài” ở mức khiêm tốn, thì tuy cứ vài người sinh ra có 1 người có tư chất nhân tài, nhưng cũng phải hàng trăm  người mới có một nhân tài. Tuy giáo dục không phải là “yếu tố duy nhất” hình thành nhân tài, nhưng cũng là một trong các yếu tố quyết định, và một nền giáo dục tốt, tạo điều kiện tốt cho những người có năng khiếu có thể làm nhân số nhân tài lên nhiều lần so với một nền giáo dục tồi. Đấy chính là ý nghĩa của câu “bồi dưỡng nhân tài” mà tôi thấy rất dễ hiểu, không hiểu tại sao GS HNĐ lại phản đối.  GS HNĐ  phủ nhận sự cần thiết của các lớp chuyên trong các phát biểu của mình, và nói đại ý là các lớp đó có đào tao được nhân tài nào đâu. Tuy nhiên, theo tôi hiểu, đại đa số các nhà khoa học VN thế hệ mới là từ các lớp chuyên mà ra. Phủ nhận giá trị các lớp chuyên cũng bằng phủ nhận giá trị của toàn bộ nền khoa học VN và nhiều thứ khác nữa. Nếu như nền khoa học VN còn yếu, thì tội không nằm tại các lớp chuyên, mà tại không có điều kiện làm việc tử tế cho các nhà khoa học (mất hẳn một trong các điều kiện tạo thành nhân tài). Không hiểu sao, một mặt GS HNĐ nói là giáo dục “không được cào bằng” mà phải linh hoạt sao cho thích hợp với từng học sinh, một mặt khác lại phủ nhận vai trò của trường chuyên, là một trong những biểu hiện của sự linh hoạt tạo các mức học khác nhau cho các học sinh với trình độ khác nhau.  Khác nhau do gen hay do tinh thần ?  Trong bài báo “Đừng sỉ nhục trẻ con ..“1  của GS HNĐ có đoạn sau:  … Trẻ em của thế kỷ 20 khác trẻ em của thế kỷ 21. Đầu năm 2001, Mỹ công bố bản đồ gen cho thấy trẻ em sinh ra có 99,94 % số gen giống nhau. Số gen khác nhau chưa đến 1/100 nhưng lại không có đứa trẻ nào giống đứa trẻ nào. Trẻ em khác nhau không phải do gen quyết định mà do tinh thần quyết định …  Chuyện gen người giống nhau trên 99% rất dễ thấy: con người giống nhau đến mức người này có thể hiến máu, thậm chí hiến thận cho người khác. Thậm chí khỉ cũng giống người đến 96% về gen cơ mà. Chính cái phần khác nhau nhỏ bé còn lại GS HNĐ “coi như không đáng kể”  là cái phần phân biệt người này với người khác, nên mới có chuyện kiểm tra ADN trong hình sự hay trong quan hệ họ hàng. “Khác nhau” về gen không có nghĩa người này “đẳng cấp cao hơn” người khác, mà chỉ nói lên sự phong phú của tự nhiên, và tất nhiên có người có thiên hướng hơn về mặt này, có người có thiên hướng hơn về mặt khác, do gen tạo ra vậy.  Quá trình tiến hóa của người cũng đồng thời là quá trình tiến hóa của gen. Đây là khoa học không phủ nhận được,  dù GS HNĐ có nói ngược lại.  Tất nhiên, ngoài gen, còn có các yếu tố khác tạo nên thể chất và tư cách con người. Nhưng câu nói “khác nhau là do tinh thần quyết định” theo tôi hơi tối nghĩa.  “Tinh thần khác nhau” không phải là “quyết định” sự khác nhau, mà bản thân nó đã chính là sự khác nhau giữa mọi người. Câu hỏi đặt ra là “cái gì tạo nên tinh thần khác nhau” ? Bản thân tinh thần của mỗi người là sản phẩm hợp thành của môi trường bên ngoài trong toàn bộ quá trình sống, và tất cả những gì người đó có khi sinh ra (trong đó bao gồm cả gen, cả thể tạng lúc được mẹ sinh ra, và cả “dấu ấn trời đất” của lúc đó nữa nếu nói một cách “mê tín”) , ngoài ra còn yếu tố nào nữa không ?  —  1/ http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Chuyen-gia-GD/Dung-si-nhuc-tre-con-bang-cach-vi-von-no-voi-dua-tre-khac/141725.gd  (Hết)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản biện nhà phản biện xã hội      Gần đây Giáo sư Nguyễn xuân Hãn – người vừa được một số nhà báo phong danh hiệu “người phản biện” ngành Giáo dục- đã có nhiều bài viết, bài trả lời phỏng vấn trên báo chí và trên vô tuyến truyền hình về các vấn đề giáo dục. Và trong một bài báo về “người phản biện” nói trên, người thực hiện phỏng vấn đã viết: “kể cả những người lãnh đạo ngành giáo dục, có thể khó chịu nhưng họ phải thừa nhận những căn cứ khoa học thuyết phục mà ông đưa ra”.  Là một thầy giáo bình thường của ngành giáo dục, tôi cảm thấy những căn cứ gọi là khoa học của GS Hãn đưa ra không hoàn toàn thuyết phục (thậm chí hoàn toàn không thuyết phục). Bởi vậy tôi viết bài này để mong góp thêm ý kiến, gọi là để phản biện “người phản biện” ngành giáo dục.    Trên chương trình truyền hình gần đây, ông Hãn nói rằng cuốn sách Hình học của Euclid giống như sách Kinh thánh rồi, chỉ việc mang ra mà dạy cho học sinh phổ thông. Chỉ cần một giáo sư và mấy người giúp việc là có thể chuyển tác phẩm của Euclid thành sách giáo khoa (SGK). Thế mà, ông nói tiếp, người ta phải tốn bao nhiêu tiền nhà nước và nhân dân để phân chia Hình học của Euclid thành 40 phần khác nhau(?), chia cho mỗi nhóm tác giả viết một phần…  Có lẽ là ông Hãn đang định nói về tập “Cơ bản” của Euclid  đã viết cách đây hơn 2000 năm, gồm 13 cuốn, chủ yếu nói về hình học. Tôi nói thế bởi vì ta không biết Euclid đã viết bao nhiêu cuốn sách, nhưng còn lưu lại đến nay chỉ có tập “Cơ bản” mà thôi, chứ không có cuốn Hình học nào của  Euclid như ông Hãn nói.  Một người bình thường nhất cũng phải biết rằng một cuốn sách viết cách đây 2000 năm, dầu có hay đến mấy, cũng không thể bê nguyên xi để làm thành SGK được, bởi vì “hay” cũng là “hay cho thời ấy” mà thôi. Các sinh viên Khoa toán các trường ĐHSP tuy không được đọc trực tiếp cuốn Cơ bản, nhưng trong nhiều giáo trình khác (như lịch sử toán học chẳng hạn), họ được giới thiệu rất kỹ càng về nội dung của nó, và tôi cam đoan rằng không một giáo viên Toán nào ở nước ta và trên thế giới lại cho rằng nên dùng cuốn “Cơ bản” của Euclid làm SGK cho học sinh. ý kiến của ông rõ ràng không mấy thuyết phục.  Ông cho rằng viết SGK mới để thay SGK cũ là một sự lãng phí, thậm chí nhằm mục đích kiếm tiền cho ngành giáo dục từ túi của cha mẹ học sinh. Ông nói rằng những cuốn SGK của ta viết cách đây 35 hay 40 năm vẫn còn dùng được tốt. Căn cứ rất “thuyết phục” là chính ông đã học những cuốn sách ấy và ông đã thành tài. Để thêm phần thuyết phục ông đưa ra mấy cuốn SGK của ta (nước Việt Nam) về Hóa học và Vật lý viết cách đây 35 năm và các cuốn SGK của Mỹ, Nga đang hiện hành (năm 2006) và tuyên bố rằng về cơ bản là giống nhau. Nếu đúng như ông nói thì SGK chúng ta đã đi trước Mỹ, Nga đến 35 năm, và chưa biết chừng mấy ông tác giả người Mỹ người Nga ấy đã “đạo” SGK của ta 35 năm trước để làm sách bây giờ cho học sinh họ cũng nên! Tôi thật sự hoài nghi cái thông tin mà GS Hãn vừa nêu ra nên có đi hỏi một số thầy giáo môn Hóa và Lý vẫn thường xuyên tiếp xúc với SGK nước ngoài. Họ cười và nói: làm gì có chuyện như thế! Về môn Toán thì không thấy ông đưa ra cuốn sách nào của nước ngoài để so sánh mà chỉ nói rằng bộ SGK toán của ta cách đây 50 năm vẫn dùng được. Gần đây tôi có đọc bài của GS Hoàng Tụy (tác giả bộ SGK Toán 50 năm trước) thì thấy ông nói về bộ sách của mình: “Tất nhiên bộ sách giáo khoa ấy bây giờ không dùng được nữa vì tình hình đã khác” (An ninh thế giới- tháng 10-2006).  Ông Hãn tỏ ra rất bức xúc vì một số thay đổi trong chương trình. Ông đặt vấn đề tại sao phải đưa “vectơ” vào Hình học 10 và cả Vật lý 10 nữa. Ông bảo lên ĐH mới cần vectơ, nhưng cũng hạn chế vì không cần vectơ đôi khi lại giải thích các hiện tượng Vật lý một cách dễ hiểu hơn. Ông còn nói ở đơn vị nghiên cứu của ông, người ta cũng ít khi dùng vectơ.  Tôi thực sự ngạc nhiên khi ông nói như thế trên chương trình truyền hình. Xin mạn phép hỏi giáo sư: Ông sẽ biểu thị các lực tác động vào một vật như thế nào, nếu không dùng vectơ? Chẳng lẽ ông nói đại loại như: ta kéo vật đó theo phương nằm ngang với một lực có cường độ 5N và đồng thời kéo nó lên phía trên bởi một lực có cường độ 7N! ừ thì cứ cho rằng nói như thế là dễ hiểu, nhưng ông sẽ trả lời như thế nào với câu hỏi: Khi đó tổng hợp của hai lực nói trên sẽ có hướng như thế nào và có cường độ bao nhiêu? Học sinh lớp 10 dễ dàng trả lời câu hỏi trên vì họ biết rằng hợp của hai lực chính là tổng hai vectơ biểu thị cho hai lực đó, và tổng của hai vectơ được xác lập theo quy tắc hình bình hành. Lại xin hỏi thêm: Ông biểu thị các đại lượng có hướng như vận tốc, gia tốc… bằng cách gì nếu không phải bằng vectơ?  Tôi xin nói đôi lời về việc biên soạn SGK, mà tôi không may lại là người  trong cuộc. Thực ra tôi không xin để được viết SGK, cũng không tự ứng cử để được làm tác giả. Vì lí do nào đó người ta mời tôi viết, và thậm chí còn mời làm chủ biên (của bộ sách Hình học nâng cao các lớp 10, 11, 12). Cố nhiên tôi có quyền từ chối, nhưng tôi lại không từ chối vì tôi nghĩ rằng mình vẫn còn có hai khả năng cần thiết: một là biết nghe phản biện, hai là biết không nghe phản biện.  Tôi rất khó hiểu khi GS Hãn nói rằng các tác giả SGK của ta không được cung cấp và không hề đọc chương trình và SGK của nước ngoài, vì thế họ không cập nhật được trình độ của thế giới. Tôi khó hiểu vì ông Hãn lấy được ở đâu cái thông tin sai sự thật như thế, hay là chính ông bịa đặt ra? Như vậy là không khoa học và không trung thực. Sự thật là chúng tôi dễ dàng tham khảo chương trình và SGK của nhiều nước, hoặc là do chúng tôi có, hoặc là mượn của Viện Chiến lược Giáo dục.     Cần nói rằng biên soạn SGK là một nghề, nhưng ở nước ta không hề có trường lớp nào đào tạo ra những người làm nghề đó. ở nhiều nước, trường Giáo dục (Colege of Education) không chỉ đào tạo giáo viên mà còn đào tạo các loại cán bộ làm công tác giáo dục như người soạn chương trình, người viết SGK, người ra đề thi, người quản lý giáo dục… Bởi vậy hầu như tất cả các tác giả SGK của ta đều phải vừa tự làm vừa tự nghiên cứu, và cố nhiên việc tham khảo và học tập nước ngoài cũng là điều quan trọng.  Người viết phải viết đúng chương trình quy định, phải lựa chọn sẽ trình bày những kiến thức gì, sâu nông ra sao, sắp xếp chúng như thế nào… và đó là những chuyện không dễ dàng. Phải tra cứu sách vở, phải tham khảo ý kiến đồng nghiệp, nếu cần lại phải dạy thử xem học sinh tiếp thụ như thế nào. Phải nhìn đằng sau (năm ngoái học sinh đã biết gì), nhìn đằng trước (sang năm học sinh còn được học gì), nhìn sang bên phải, bên trái (các môn học khác đã dạy cái gì)…, chứ không phải cứ đóng cửa lại mà viết.  Bản thảo xong rồi lại phải qua bao nhiêu người đọc góp ý, nhà khoa học có, nhà sư phạm có, các thầy giáo đứng lớp có. Rồi phải qua Hội đồng thẩm định lần 1, rồi sửa chữa theo ý kiến của Hội đồng, rồi thẩm định lần 2, rồi sửa chữa…  Cuối cùng, sau khi đã được một Hội đồng thẩm định xét duyệt và thông qua, bản thảo mới được đưa vào in ấn. Giai đoạn từ đây đến khi cuốn sách được sản xuất, các tác giả còn phải vật lộn vất vả với các biên tập viên của Nhà Xuất bản, với “bông” một , “bông” hai…, với bản “can”, bản sửa… Nhưng đó chưa phải là sách dùng cho đại trà, mà chỉ mới là sách thí điểm. Sau khi thí điểm, lại phải rất nhiều công việc mới có cuốn sách đại trà dùng cho toàn quốc…  Tôi hơi dài dòng một chút để nói rằng việc làm SGK không thể nhanh được, có thể vì trình độ các tác giả còn thấp, hoặc vì quy trình biên soạn quá lôi thôi. Gần đây GS Hãn đã phê phán kế hoạch thay sách theo kiểu cuốn chiếu (ông gọi là cách làm kiểu nông dân), tức là mỗi năm chỉ thay sách một lớp. Ông cho rằng cần thay sách một lúc từ lớp 1 đến lớp 12. Trả lời phỏng vấn, ông đã khẳng định rằng dứt khoát rằng: “Việc chuẩn bị và biên soạn lại Chương trình, SGK từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ được hoàn tất và có thể triển khai ngay trong năm học tới”. (ý muốn nói rằng nếu ông làm thì sẽ như thế!). Cách đây không lâu ông nói với một nhà lãnh đạo cấp cao rằng cho ông ba tháng, ông có thể viết xong các cuốn SGK về các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa… của cấp PTTH. Ông bảo rằng không có gì khó khăn rắc rối vì Toán học thì chỉ có định lý mà thôi, Vật lý thì chỉ có định luật mà thôi… Tôi có cảm giác rằng hoặc là ông đã nói đùa không đúng chỗ, hoặc là ông không biết gì về việc biên soạn SGK.  Thưa GS Hãn, tôi xin nói một cách thẳng thắn: nếu tôi làm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì tôi không mời ông viết SGK, còn nếu ông làm Bộ trưởng thì ngay lập tức tôi không viết SGK nữa.     Cuối cùng xin bàn đôi câu về tiền nong, lỗ, lãi… của nhà Xuất bản Giáo dục (NXBGD), bởi vì ngay cả các phép tính sơ cấp, ông cũng nhầm lẫn, do đó không có sức thuyết phục. Đối với vấn đề này tôi là người ngoài cuộc, nhưng thấy ông tính nhầm thì phản biện cho vui. Tôi không bênh gì NXBGD, vì họ độc quyền và trả nhuận bút cho tôi quá ít!  Ông viết: theo số liệu thống kê, có thể khẳng định rằng mỗi đầu sách khi thay mới, NXBGD có thể lãi cả triệu USD. Ông nêu ví dụ về việc in một cuốn sách lớp 1. Ông lấy số luợng học sinh lớp 1 (1,7 triệu) nhân với giá bìa cuốn sách là 9.000đ thì NXBGD thu được 15,3 tỉ đồng. Ông cho là tiền chi phí mất khoảng 1,3 tỉ đồng, vậy tiền lời là 14 tỉ đồng và thời giá lúc ấy là 1 triệu USD. Nếu quả như ông tính toán thì làm nghề xuất bản SGK lời to thật: không phải một vốn bốn lời, mà là một vốn mười một lời. Riêng cái tỉ lệ lời lỗ ấy đã khó tin, khó thuyết phục. Khi tổng hợp và thống kê ông quên mất một thứ chi phí là tiền phát hành sách: Các đơn vị nhận phát hành được hưởng từ 20 đến 25% giá in trên bìa sách, vậy thì NXB đã phải trả gần 4 tỉ cho việc phát hành, lấy đâu mà còn 14 tỉ.  Ông đưa tiếp các số liệu: năm 2001 NXBGD đã phát hành 200 triệu bản, kể từ đó đến nay mỗi năm tăng lên 10%. Dựa trên các số liệu ấy ta có thể tính toán tiếp mà không mấy khó khăn. Lượng phát hành năm 2006 sẽ là   triệu bản. Theo trên cứ 1,7 triệu bản thì lời được 1 triệu USD. Như vậy ta có thể tính được số tiền lãi của năm 2006 là: 322,1:1,7=189,5 triệu USD (với giả thiết một cuốn sách lớp 12 cũng có giá bán chỉ bằng cuốn sách lớp1).  Trước đó ông viết rằng theo thống kê của Cục xuất bản thì doanh số của NXBGD mỗi năm là 100 triệu USD.      Như vậy là: doanh thu mỗi năm là 100 triệu USD, mà tiền lời mỗi năm là 190 triệu USD. Ông có thấy đó có phải là một nghịch lý không? Và nếu đó đúng là nghịch lý thật thì ông sẽ giải thích như thế nào về các thống kê và tính toán của ông?    Tôi đang viết dở bài này thì được đọc một bài của GS Nguyễn khắc Phi trên báo Giáo dục và thời đại, cũng nói về những nghịch lý trong lập luận của Tiến sĩ Hãn. Do đó tôi phải duyệt lại bài viết của mình để lược bỏ những phần mà GS Phi đã đề cập đến… Vậy xin được phép dừng tại đây.     Văn như Cương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân bổ ngân sách NCKH tại các trường đại học Na Uy: Công bằng và minh bạch      Na Uy đã xây dựng mô hình phân bổ tài trợ nghiên cứu công của các trường đại học rất hiệu quả dựa trên đánh giá số lượng và chất lượng công bố , đảm bảo công bằng với tất cả các lĩnh vực và được hỗ trợ bởi hệ thống dữ liệu công khai và đầy đủ.      Hoạt động NCKH ở các trường ĐH danh tiếng đã tăng đáng kể. Ảnh: Phòng thực hành nha khoa ĐH Olso. Nguồn: enkus-heinz.com.  Hiện nay một số quốc gia trên thế giới đã chuyển sang mô hình phân bổ ngân sách NCKH cho các trường đại học dựa vào đánh giá hiệu quả (Performance-based research Funding System – PRFS) đầu ra thay vì quy mô (đầu vào) – vốn có các hạn chế là số lượng sinh viên trong trường không có mối tương quan với nỗ lực nghiên cứu của giảng viên, ít khuyến khích nâng cao hiệu suất nghiên cứu tạo ra xu hướng nghiên cứu “tháp ngà” hay tiêu cực – chạy chọt để nhận được nhiều kinh phí hơn. PRFS xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1986 tại Anh và tới nay đã có 14 quốc gia/vùng lãnh thổ áp dụng.  Là nước đến năm 2006 mới thực hiện mô hình này nhưng PRFS tại Na Uy lại rất hiệu quả và đã truyền cảm hứng cho nhiều nước như Đan Mạch, Phần Lan,… học hỏi. Vì Na Uy đã khắc phục được các khuyết điểm chính của các mô hình đi trước bằng việc xây dựng phương pháp định lượng mới đơn giản, dễ hiểu và mang tính phổ quát cho tất cả các lĩnh vực. Kết quả là sau khi áp dụng, số lượng và chất lượng các công bố khoa học của Na Uy đã tăng đáng kể, từ khoảng 9.000 bài (2006) lên mức hơn 15.000 bài (2012); đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các trường đại học trong nước khi ngày càng nhiều các trường ít nổi tiếng công bố nhiều hơn.  Công bằng với tất cả các lĩnh vực  PRFS mà Anh áp dụng từ 1986 đến nay chủ yếu dựa vào bình duyệt – không đủ khách quan do bị ảnh hưởng bởi tính cách, quan điểm và thành kiến của người đánh giá. Một mô hình khác cũng được nhiều nước áp dụng (Thụy Điển, Ba Lan, Slovakia) là mô hình dựa vào số trích dẫn, nhưng có hạn chế là số lượng trích dẫn giữa ngành tự nhiên và xã hội rất chênh lệch.  Mô hình PRFS mà Na Uy lựa chọn là dựa trên công bố, trong đó điểm công bố chiếm trọng số 30% còn lại là chỉ số về NCS Tiến sĩ đã tốt nghiệp (30%), tài trợ từ Hội đồng Nghiên cứu Na Uy (20%) và từ Khuôn khổ Chương trình Nghiên cứu EU (20%). Mô hình này dựa trên phương pháp thống kê tổng số lượng các công bố (có điều chỉnh độ dài và chất lượng) của trường đại học làm cơ sở tính điểm công bố.      Sau khi áp dụng PRFS, số lượng và chất lượng các công bố khoa học của Na Uy đã tăng đáng kể, từ khoảng 9.000 bài (2006) lên mức hơn 15.000 bài (2012); đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các trường đại học trong nước khi ngày càng nhiều các trường ít nổi tiếng công bố nhiều hơn.        Mô hình Na Uy bảo đảm hạn chế rủi ro chủ quan từ người bình duyệt, đồng thời công bằng hơn với tất cả các lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là đã tăng cường khả năng hiện diện của khoa học nhân văn và xã hội hơn so với cách tiếp cận trích dẫn.  Chú trọng cả số lượng và chất lượng công bố  Úc cũng từng là quốc gia áp dụng PRFS dựa vào công bố, trong đó tính số lượng các công bố là một trong bốn chỉ số giám sát. Vấn đề là mô hình của Úc chỉ tính số lượng và đánh đồng chất lượng các công bố, từ đó đã dẫn đến vấn nạn các nhà khoa học đua nhau công bố ở các tạp chí khoa học kém uy tín, lượng bài tăng nhưng chất lượng lại giảm. Chưa kể bởi vì tính theo số lượng, các tác giả thường lựa chọn công bố các nghiên cứu khoa học ngắn hạn.  Tại Na Uy, điểm công bố được điều chỉnh theo tỷ trọng thể loại, cấp độ và tỷ phần đóng góp của tác giả. Theo thể loại, PRFS Na Uy chia các công bố thành ba loại: Bài trong tạp chí hoặc loạt bài viết, bài trong sách và chuyên khảo. Theo cấp độ, PRFS Na Uy phân loại công bố thành Cấp 1 – Các kênh công bố đủ tiêu chuẩn thông thường và Cấp 2 – chiếm tối đa 20% tổng số bài công bố của một trường, gồm các bài trên các kênh công bố danh tiếng hàng đầu. Ví dụ như bài báo đăng tạp chí ở Cấp 1 chỉ nhận được 1 điểm nhưng Cấp 2 sẽ nhận 3 điểm, bài chuyên khảo cấp 1 nhận 5 điểm nhưng cấp 2 nhận 8 điểm, và bài trong sách cấp 1 nhận 0,7 điểm còn cấp 2 là 1 điểm. Cách tính điểm này khuyến khích các nhà nghiên cứu viết các công trình dài hơn, chất lượng hơn chứ không đơn thuần là chạy theo số lượng.  Để phân loại các kênh công bố, các tổ chức và cá nhân sẽ đề cử các kênh sau đó các đề xuất này được thảo luận và phê duyệt (hoặc từ chối) ở Ủy ban thiết kế chỉ số công bố quốc gia – gồm các nhà nghiên cứu nổi bật trong các lĩnh vực, đại diện cho các khoa, trường.  Ngoài ra, điểm xuất bản còn phân chia theo số tác giả, ví dụ như một bài nghiên cứu với bốn tác giả, đăng tạp chí Cấp 1 nhận được 1 điểm, từng tác giả nhận được 0,25 điểm. Điều này hạn chế tình trạng các nhà khoa học không thực hiện nghiên cứu nhưng vẫn đứng tên trên công trình. Số lượng các nhà nghiên cứu thuộc bốn trường đại học chính (ĐH Oslo, ĐH Bergen, ĐH Tromsø, ĐH Khoa học và Công nghệ Na Uy) có một công bố đã tăng thêm 116% từ năm 2004 đến 2012, so sánh với số lượng nhân viên R&D chỉ tăng 5% từ năm 2003 đến 2012. Như vậy, chính sách này không chỉ khuyến khích các nhà nghiên cứu đã có nhiều công bố tăng năng suất, còn thúc đẩy các nhà khoa học mới tham gia vào cuộc đua công bố.  Hệ dữ liệu quốc gia đầy đủ và công khai  Xuất phát từ yêu cầu của mô hình là phải đại diện cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu một cách đầy đủ và có thể so sánh được, trong khi thời điểm đó trên thế giới chưa có một nguồn dữ liệu toàn cầu nào như vậy, Na Uy đã thiết kế Hệ thống Thông tin Nghiên cứu Hiện hành (Current Research Information System – CRIS). CRIS lưu trữ tất cả các xuất bản phẩm được dùng để tính điểm công bố, ở cả lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội.  Tuy nhiên để các công bố được đưa vào CRIS là không dễ dàng, nó đòi hỏi phải cung cấp cái nhìn mới, trình bày theo định dạng học thuật, viết bằng ngôn ngữ đảm bảo công bố có thể tiếp cận các độc giả và nhà nghiên cứu liên quan, đồng thời phải được bình duyệt độc lập. Những yêu cầu này sàng lọc các nghiên cứu kém chất lượng – không theo mẫu, không tìm ra cái mới, hay sự xuất hiện của các tạp chí địa phương, tạp chí dởm – nơi không thể trông đợi các bình duyệt độc lập đáng tin cậy.  Dữ liệu trên CRIS được thiết kế theo dạng thư mục, có liên kết tới cá nhân và viện nghiên cứu. Các dữ liệu được cấu trúc tốt đủ để so sánh và đo lường, đồng thời có thể so sánh, đối chiếu tính chính xác với các nguồn dữ liệu bên ngoài CRIS (ví dụ kiểm tra sự tồn tại của tạp chí tại thư viện trường) và xác nhận được. Hệ thống CRIS của Na Uy hoàn toàn phi thương mại và chia sẻ tự do với các tổ chức nghiên cứu công. Mọi tổ chức có thể xem và kiểm tra dữ liệu của các tổ chức khác, điều này đảm bảo tính minh bạch giữa các tổ chức và tăng cường chất lượng dữ liệu.  Những tồn tại  Bản thân PRFS của Na Uy cũng chỉ có ý nghĩa là một đánh giá tổng quát, việc xuất hiện trên các kênh công bố uy tín cũng không thể nói hết về chất lượng của công bố – đôi lúc các công bố chất lượng cao lại đăng trên các tạp chí ít tên tuổi. Những người thiết kế Mô hình Na Uy cũng nhận thức rõ rằng kênh công bố không thể dùng để kết luận về bản thân bài công bố cũng như cá nhân tác giả, đấy không phải mục đích của hệ thống điểm công bố.  Một trong những hạn chế khác là PRFS Na Uy tập trung hoàn toàn vào công bố và nơi công bố mà quên đi các tác động của số trích dẫn. Mặc dù ở góc độ tổng quát, chất lượng kênh xuất bản sẽ tương quan với số trích dẫn và bản thân việc đánh giá dựa vào trích dẫn cũng còn gây tranh cãi, thì không thể phủ nhận rằng nhiều khi các công bố ở tạp chí danh tiếng có ít ảnh hưởng – trích dẫn hơn ở tạp chí bình thường. Việc chỉ dựa hoàn toàn vào độ dài và kênh công bố sẽ dẫn tới việc đánh giá không đầy đủ về chất lượng của công bố.  Mô hình của Na Uy đã tạo ra những thay đổi tích cực trong môi trường học thuật nhưng không thể trở thành một cú hích thay đổi hoàn toàn bộ mặt giáo dục như Sáng kiến Xuất sắc của Đức đã làm. Bởi so sánh với các mô hình PRFS tại các quốc gia khác, tỷ lệ tái phân bổ 2% tổng kinh phí cho các trường đại học của Na Uy là quá nhỏ, hiện nay phân bổ trợ cấp dựa trên hiệu quả của Úc chiếm 10,5%; tại New Zealand là 60% và tại Anh là khoảng 25 – 36%.  ***  Mặc dù còn tồn tại một số thiếu sót nhưng nỗ lực xây dựng một hệ thống đánh giá toàn diện, minh bạch và đơn giản của Chính phủ Na Uy vẫn xứng đáng để Việt Nam tham khảo bởi đã giải quyết được một số vấn đề còn tồn tại hiện nay – các nhà nghiên cứu ít công bố quốc tế và cơ chế phân bổ ngân sách còn nặng xin – cho, kém hiệu quả. Cùng với đó, mô hình được thiết kế khá tốt để phòng ngừa các tiêu cực có thể xảy ra khi các nhà nghiên cứu chạy theo số công bố không thực chất.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn: Gunnar Sivertsen (2016), Publication-based Funding: The Norwegian Model, Research Assessment in the Humanities, p.79 -90  K.Aagaard, C.Bloch and J.W.Schneider (2015), Impacts of performance-based research funding systems: The case of the Norwegian Publication Indicator, Research Evaluation Vol 24, p.106 – 117       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần Lan: với PISA      Ngày 4/12/2007, sau khi kết quả điều tra được chính thức công bố, một lần nữa – và cũng là lần thứ ba liên tiếp – học sinh Phần Lan lại vượt lên các quốc gia công nghiệp phát triển (57 quốc gia) để đứng đầu trong cuộc điều tra giáo dục PISA.  Mặc dù đã khá quen với tính cách điềm đạm của người Phần Lan nhưng tôi vẫn cứ thấy lạ trước cái cách người dân và báo chí Phần Lan đón nhận sự kiện đáng phải được xem là “kỳ tích” này. Thực sự là bình thản và lặng lẽ. Nếu không tính tới cuộc họp báo nội bộ của Bộ giáo dục tổ chức công bố chính thức thành tích này thì chỉ tìm được 3 đoạn tin ngắn được đưa lên tờ báo Helsingin Sanomat, tờ báo quốc gia có số phát hành lớn nhất Phần Lan, kể cả 2 mẩu tin đưa lại thông tin rò rỉ trên báo Tây Ban Nha và Đức mấy ngày trước đó.  Tôi cứ băn khuăn: phải chăng Phần Lan đã quá quen với việc “đứng đầu” và sự kiện ấy chẳng có gì đáng để “ăn mừng”? Hay bản thân điều tra về giáo dục PISA chẳng có nhiều ý nghĩa?  Sự thật không hẳn là vậy.    Phần Lan tham gia PISA    Năm 2006 số lượng học sinh và số trường tham gia Pisa ít hơn lần trước. Nếu như năm 2003, Phần Lan có 5796 học sinh từ 198 trường tham gia thì năm 2006 chỉ có 5265 học sinh từ 155 trường, trong đó 144 trường dạy tiếng Phần Lan và 11 trường dạy tiếng Thụy Điển. Có 4714 học sinh (4413 học sinh học tiếng Phần Lan và 301 học sinh học tiếng Thụy Điển) trả lời phiếu điều tra, chiếm 90% tổng số học sinh tự nguyện.  Theo như kết quả cuối cùng được công bố tại cuộc họp báo thì kiến thức của học sinh Phần Lan là tuyệt vời và đồng đều ở tất cả các môn điều tra. Học sinh Phần Lan đạt điểm cao nhất, vượt trên các nước OECD về môn điều tra trọng tâm là khoa học và cao thứ hai về toán và đọc hiểu. Tỷ lệ học sinh yếu là rất nhỏ và học sinh xuất sắc là rất cao. Chênh lệch trình độ giữa các trường, các vùng là không đáng kể.  Về khoa học, kết quả của Phần Lan là vượt trội hơn hẳn bất cứ nước nào tham gia PISA 2006 và điểm số đạt được là cao nhất trong tất cả các cuộc điều tra PISA từ trước tới nay. Học sinh Phần Lan có mức độ hiểu biết cao trên tất cả các tiêu chí điều tra về khoa học. Cũng theo kết quả điều tra thì học sinh Phần Lan yêu thích khoa học bởi nhận thức rõ tiến bộ trong khoa học công nghệ cải thiện điều kiện sống con người và giúp chúng ta hiểu thế giới xung quanh. Học sinh Phần Lan có thái độ tích cực về khoa học hơn mức độ trung bình các học sinh OECD.  Về đọc hiểu và toán, kỹ năng đọc hiểu của học sinh Phần Lan vẫn nằm trong tốp đầu (đứng thứ hai chỉ sau Hàn Quốc). Học sinh nữ có kỹ năng đọc hiểu vượt trội hơn học sinh nam. Chênh lệnh ở môn này giữa nam và nữ còn lớn, lớn thứ hai trong số các nước OECD. Kỹ năng về toán cũng nằm trong tốp đầu thế giới (đứng thứ hai sau Đài Loan). Điểm trung bình về toán đã tăng hơn năm 2003. Học sinh nam có thành tích tốt hơn nữ. Chênh lệch trình độ ở môn này tăng hơn so với lần điều tra trước. (2)  Bình luận về thành tích Phần Lan, Bộ trưởng giáo dục, Bà Sari Sarkomaa nói rằng: “Chúng tôi vui mừng thấy rằng việc kiên định đầu tư cho nền giáo dục đã một lần nữa đưa Phần Lan dẫn đầu trong bảng xếp hạng PISA. Trong thế giới toàn cầu hóa kinh tế này, giáo dục là chìa khóa để Phần Lan giữ được lợi thế cạnh tranh. Phần Lan sẽ tiếp tục chú trọng trang bị kiến thức sao cho học sinh có thể hội nhập đầy đủ vào xã hội cả trong lẫn ngoài nhà trường.”  Có lẽ lời phát biểu khiêm nhường “rất Phần Lan” ấy không nói hết được ý nghĩa của PISA khi biết rằng học sinh Phần Lan đã vượt lên để đứng đầu hơn 400,000 học sinh và 57 quốc gia (30 nước OECD và 27 nước ngoài OECD) tham gia đợt điều tra này mà nếu tính tỷ trọng kinh tế thì 57 quốc gia tham gia chiếm xấp xỉ 90% giá trị kinh tế toàn cầu.  Cũng xin lưu ý rằng điều tra chỉ giới hạn đối với học sinh 15 tuổi, là tuổi trong giáo dục bắt buộc mà Phần Lan gọi là giáo dục toàn diện (comprehensive schooling). Đây là mô hình được xây dựng từ những thập kỷ 70s khi Phần Lan và Đức đồng thời tiến hành cải cách giáo dục. Phần Lan phát triển mô hình giáo dục toàn diện. Nước Đức theo đuổi mô hình giáo dục song song (sàng lọc học sinh sớm). Sau hơn 30 năm, nước Đức chính thức thừa nhận mô hình của Phần Lan là đúng đắn và hiện đang cải cách mạnh mẽ giáo dục cơ sở theo hướng giáo dục toàn diện của Phần Lan. Mô hình này cũng đã và đang trở thành hình mẫu cho nhiều quốc giá khác trên toàn thế giới.  Thế nhưng dường như Phần Lan luôn luôn cảnh giác trước sự tự mãn. Tại buổi họp báo, Bộ trưởng giáo dục Phần Lan Sari Sarkomaa đã phát biểu rằng: “Lẽ đương nhiên, Phần Lan cũng kỳ vọng đạt thành tích cao trong điều tra song không phải kết quả như thế là thỏa mãn. Chúng tôi phải chú trọng cho giáo dục cơ sở và giáo dục đặc biệt sao cho trường học là nơi tốt nhất ươm trồng những hạt giống cho thế hệ tương lai”  Tâm thức khiêm nhường như thế cũng đáng được xem là một tài sản của một quốc gia.  Cũng chính cái đức khiêm tốn ấy sinh ra những tầm nhìn rất xa về giáo dục để chuẩn bị cho lợi ích trăm năm… Và ngày nay, có thể nói rằng sự thực là giáo dục Phần Lan không chỉ bằng các nước phát triển mà giáo dục Phần Lan đứng đầu các nước phát triển. Giáo dục Phần Lan không chỉ đứng đầu các nước phát triển mà giáo dục Phần Lan liên tiếp đứng đầu các nước phát triển. Chỉ nhìn vào con số các nước tham gia PISA hàng năm cũng có thể thấy được thực chất thành tích đứng đầu của Phần Lan là khó khăn tới nhường nào. Nếu như năm 2000, có 30 quốc gia, năm 2003 có 35 quốc gia thì năm 2006 đã có 57 quốc gia và sự thực là việc Phần Lan liên tiếp đứng đầu không hề là điều “đơn giản”.  Có lẽ cũng nên điểm lại thành tích những lần điều tra trước vào năm 2000 và 2003 để có cái nhìn toàn diện hơn:  • Phần Lan đặc biệt xuất sắc về đọc hiểu: đứng đầu trong cả hai lần điều tra.  • Về toán, Phần Lan đứng thứ 4 (2000) và thứ hai (2003)  • Về khoa học, đứng thứ ba (2000) và cùng đứng thứ nhất (2003)  • Về giải quyết tình huống: cùng đứng thứ hai (2003), lần đầu (2000) không điều tra kỹ năng này.  Các nước đứng đầu về khoa học từ 2000 – 2006                   * Những quốc gia tham gia lần đầu  Các nước đứng đầu về đọc hiểu từ 2000 – 2006                   Các nước đứng đầu về toán từ năm 2000 – 2006                   * Những quốc gia tham gia lần đầu  Đặc biệt trong tất cả các lần điều tra, ngoài thành tích xếp hạng, Phần Lan đạt được những tiêu chí rất khó vượt qua trong đó sự đồng đều trình độ là điểm đặc biệt mạnh của Phần Lan. Khoảng cách giữa thành tích cao nhất và thấp nhất của học sinh Phần Lan là thấp nhất. Chênh lệch thành tích giữa các trường, giữa các vùng cũng không đáng kể. Chênh lệch trình độ giữa các nhóm ngôn ngữ rất thấp và điều kiện xã hội, kinh tế của gia đình ảnh hưởng tới kết quả học tập của học sinh thấp hơn nhiều so với các nước khác. Và điều đặc biệt là thành tích học sinh vẫn rất cao trong khi mức chênh lệch trình độ giữa các học sinh lại rất thấp. Điều này còn có ý nghĩa hơn khi trên thực tế học sinh Phần Lan học ít giờ hơn trong tuần so với các nước OECD khác và chi phí cho giáo dục lại chỉ ở mức trung bình so với các nước này. Chính vì vậy, chi phí và giờ học không phải là những nguyên nhân quyết định thành công giáo dục của Phần Lan.    Vậy đâu là lý do đằng sau kỳ tích ấy?  Đã có nhiều diễn đàn mổ xẻ nguyên nhân đằng sau những kỳ tích giáo dục của Phần Lan. Sau hai lần đứng đầu vào năm 2000 và 2003, Truyền thông BBC của Anh ra hàng loạt phóng sự về hiện tượng Phần Lan. Chuyên gia giáo dục Phần Lan được mời đi hầu hết các nước OECD và ngoài OECD để thuyết trình về mô hình giáo dục của mình. Hàng trăm đoàn quan chức và chuyên gia giáo dục từ các nước OECD, đặc biệt là Đức và Anh, đổ về Helsinki để khám phá triết lý của một nền giáo dục vốn xa lạ với thế giới. Bộ giáo dục Phần Lan “quá tải” trước những đề nghị “trao đổi kinh nghiệm giáo dục” từ các nước. Để thỏa mãn tất cả những yêu cầu của các nước, một năm sau khi kết quả điều tra lần thứ hai được công bố vào cuối năm 2004, Phần Lan liên tiếp tổ chức ba cuộc hội thảo quốc tế về giáo dục trong năm 2005. Hội thảo đầu tiên tổ chức vào tháng 3/2005 chủ đề là bí quyết thành công giáo dục Phần Lan (có 300 quan chức và chuyên gia giáo dục tới từ 30 nước). Hội thảo thứ 2 tổ chức 10/2005 tập trung vào chủ đề các nhân tố quyết định kết quả PISA của Phần Lan (có 130 quan chức và chuyên gia giáo dục tới từ 30 nước),  Hội thảo thứ 3 tổ chức vào tháng 12/05 thu hút gần 500 quan chức và chuyên gia giáo dục từ 35 nước tập trung vào chủ đề những chính sách hỗ trợ học tập và phúc lợi trong giáo dục toàn diện. Ngoài các cuộc thảo luận chung, thảo luận nhóm, Phần Lan tổ chức cho tất cả các đại biểu, chia ra làm nhiều nhóm, tham quan và dự giờ học ở các trường trong hệ thống trường học toàn diện ở Phần Lan. Nội dung của các hội thảo này được công khai trên Internet.  Cũng chính vì ngưỡng mộ những thành tích PISA của Phần Lan mà phóng viên kỳ cựu của Washington Post, Robert G. Kaiser và phóng viên ảnh Lucien Perkins đã thực hiện nhiều chuyến viếng thăm viết bài, lần dài nhất là 3 tuần, về những thành tích kỳ diệu của Phần Lan do giáo dục mang lại. Hai phóng viên này đã viết một loạt 24 phóng sự và công bố vài trăm bức ảnh; tất cả đều được công bố trên Blogs của tờ Washington Post từ 23/5/2005 cho tới 10/6/2005. Sáu trong số 24 phóng sự này được đăng trên báo giấy. Chỉ trong vòng 3 tuần, 366 ngàn lượt người đã đọc blog này và 3499 người viết bình luận. Những phóng sự in trên báo giấy đã tới tay của vài trăm ngàn người khác.  Kaiser viết: “Phần Lan rất có thể là đất nước lý thú nhất trên hành tinh này mà người Mỹ ít biết tới nhất”. “Đó là đất nước có hệ thống trường học tốt nhất thế giới, những người phụ nữ tự do nhất (tổng thống là một phụ nữ); có tỷ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất thế giới nếu tính theo bình quân đầu người, là quê hương của một trong số các công ty công nghệ tiên tiến nhất (NOKIA), sở hữu nhiều công nghệ thông tin hiện đại, là đất nước giàu âm nhạc từ rock, jazz cho tới nhạc cổ điển. Người Phần Lan tự hào là đất nước phúc lợi phổ thông trong đó người dân được hưởng, ngoài các thứ khác,  hệ thống y tế miễn phí, giáo dục miễn phí ở tất cả mọi cấp”.  Còn có nhiều, nhiều và rất nhiều những nỗ lực để khám phá những điều kỳ diệu và triết lý đằng sau những thành công của hệ thống giáo dục toàn diện của Phần Lan và cũng nhiều cách lý giải về những thành công ấy nhưng nếu có thể gói gọn lại thì:  * Đó chính là cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người dân. Hệ thống giáo dục của Phần Lan bảo đảm mọi người dân có cơ hội bình đẳng trước giáo dục không phân biệt nơi sinh sống, giới tính, điều kiện kinh tế gia đình; không phân biệt giữa các nhóm dân có gốc văn hóa và ngôn ngữ khác với Phần Lan. Hệ thống trường học được trải đều giữa các vùng, không có các trường học dành riêng cho từng nhóm ngôn ngữ văn hóa. Giáo dục hoàn toàn miễn phí, kể cả học tập, sách vở giấy bút, ăn trưa, chăm sóc y tế (kể cả răng miệng), đi lại của học sinh, dạy phụ đạo cho học sinh yếu và giáo dục cho trẻ em thiểu năng trí tuệ. Giáo dục ở đất nước này chính là một dịch vụ phúc lợi được tổ chức khoa học và văn minh nhất.  * Đó chính là triết lý giáo dục toàn diện. Giáo dục cơ bản kéo dài 9 năm, miễn phí cho mọi trẻ em trong độ tuổi từ 7-16 tuổi. Các trường không chọn học sinh nhưng mọi học sinh được bảo đảm học tại trường ở vùng mình sinh sống. Học sinh không chuyển sang trường khác trong suốt thời gian học và không bị sàng lọc, xếp hạng, không có lớp chuyên, lớp chọn. Mọi học sinh bình đẳng với nhau và nhận được dịch vụ giáo dục tốt nhất. Triết lý giáo dục toàn diện khác cơ bản với giáo dục song song.  * Đó chính là đội ngũ giáo viên có tâm và có tầm. Ở mọi cấp học, giáo viên có trình độ cao và có tâm. Từ lớp 1 trở đi, giáo viên tối thiểu phải có bằng Thạc sĩ và kỹ năng sư phạm là kỹ năng đặc biệt được chú trọng ở mọi cấp. Trách nhiệm đào tạo giáo viên được chuyển sang cho các trường Đại học (không đào tạo trong trường Sư phạm) và do nghề giáo viên là nghề được xã hội coi trọng bậc nhất ở Phần Lan nên các trường đại học có thể lựa chọn được những sinh viên có tài và có tâm nhất. Giáo viên hoàn toàn độc lập về chuyên môn và có quyền tự chủ lớn hơn nhiều so với các nước OECD khác.  * Đó chính là đội ngũ giáo viên tư vấn và giáo viên đặc biệt. Giáo dục Phần Lan xây dựng đội ngũ giáo viên tư vấn và giáo viên đặc biệt để đáp ứng cho việc học tập và phúc lợi tới từng học sinh. Giáo viên tư vấn xây dựng kế hoạch học tập cho từng học sinh. Giáo viên tư vấn có trách nhiệm đưa ra phương pháp học tập tốt nhất cho từng học sinh và giúp học sinh lựa chọn ngành học tiếp theo sau khi học hết phổ thông. Giáo viên đặc biệt phụ đạo tại trường cho các học sinh học yếu (bẩm sinh hay do hoàn cảnh) để bắt kịp với học sinh thường. Tất cả những điều này được quy định trong Tài liệu chuẩn giáo dục quốc gia (National Core Curriculum).  * Đó chính là cách thức đánh giá thành tích học tập rất văn minh. Việc đánh giá kết quả học tập của các trường và của học sinh chỉ mang tính khuyến khích và về bản chất là để nâng đỡ. Mục đích của đánh giá là đưa ra thông tin của trường và của từng học sinh, giúp cho trường và học sinh nhận thức thực trạng để làm tốt hơn. Tuyệt nhiên không có kỳ thi tốt nghiệp toàn quốc, không có xếp hạng các trường và không tồn tại khái niệm thanh tra giáo dục.  * Đó chính là nhận thức rất cao về ý nghĩa của giáo dục trong toàn xã hội. Toàn xã hội có nhận thức rất cao về tầm quan trọng của giáo dục và trình độ toàn dân được giáo dục cao hơn nhiều tiêu chuẩn chung của toàn thế giới. Giáo dục được trân trọng và chính sách giáo dục nhận được sự đồng thuận chính trị rộng rãi của mọi người dân.  * Đó chính là một hệ thống giáo dục linh hoạt dựa trên sự phân quyền. Hệ thống giáo dục của Phần Lan rất linh hoạt và việc quản lý chú trọng vào phân quyền và hỗ trợ từ trung ương. Định hướng giáo dục được quy định thông qua luật, nghị định và chuẩn giáo dục quốc gia. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm tổ chức giáo dục và thực hiện theo luật, nghị định và chuẩn giáo dục. Trường và giáo viên tự chủ về nội dung và cách thức đào tạo.  * Đó chính là sự hợp tác và phối hợp hiệu quả của toàn xã hội liên quan tới giáo dục. Phối hợp và việc xây dựng quan hệ đối tác diễn ra ở tất cả các cấp độ hoạt động liên quan tới giáo dục.  Hợp tác diễn ra giữa các cấp độ quản lý để bảo đảm các trường hoạt động hiệu quả. Các trường hợp tác chặt chẽ với các tổ chức xã hội như phúc lợi, bảo hiểm, giao thông, bệnh viện, thư viện… Cơ quan quản lý giáo dục có quan hệ gần gũi với các hiệp hội giáo viên, hiệp hội giáo viên chuyên ngành và các tổ chức lãnh đạo trường học. Hợp tác giữa các trường cũng được chú trọng. Tất cả những điều này hỗ trợ tốt cho các hoạt động phát triển giáo dục.  * Cuối cùng, đó chính là triết lý tất cả vì học sinh. Phần Lan xây dựng thành công một quan niệm học tập tích cực cho toàn xã hội. Việc tổ chức công tác giáo dục và học tập dựa trên quan niệm giáo dục vì học sinh và chú trọng tới việc xây dựng kỹ năng và môi trường học tập suốt đời.  Thế giới từ lâu đã “thức tỉnh” trước hiện tượng Phần Lan, vậy còn Việt Nam thì sao? Tôi tin rằng triệu triệu người dân Việt Nam đang chờ đợi câu trả lời ấy.    PISA là gì?  PISA, viết tắt của The Programme for International Student Assessment, là Chương trình đánh giá học sinh quốc tế do các quốc gia công nghiệp phát triển (OECD) và một số quốc gia khác tiến hành ba năm một lần.  Ý tưởng bắt đầu từ năm 1997 nhưng cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành vào năm 2000 (phải mất 3 năm để xây dựng và thống nhất các tiêu chí và cách thức điều tra). Và kể từ đó đến nay đã có ba cuộc điều tra, lần cuối vào năm 2006.  Cứ phải sau một năm kể từ ngày điều tra, vào ngày 10h sáng giờ Paris ngày 4.12 hàng năm, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới. Họp báo sẽ diễn ra ở một số nước thuộc các châu lục khác nhau.  Sự thực rằng phải mất 365 ngày để hội đồng các chuyên gia giáo dục phân tích và đưa ra được kết quả điều tra. Điều đó ít nhêều cho thấy sự nghiêm túc của cuộc điều tra này.  Điều tra là để đánh giá trình độ học sinh 15 tuổi của các nước tham gia trong bốn lĩnh vực là toán, khoa học, đọc hiểu và xử lý tình huống. Lần đầu tiên năm 2000, điều tra đặt trọng tâm vào môn đọc hiểu; lần thứ hai năm 2003 đặt trọng tâm vào môn toán và lần gần đây nhất năm 2006 là vào khoa học. Học sinh, ngoài làm bài thi, phải trả lời phiếu điều tra về hoàn cảnh gia đình, môi trường và động lực học tập và cách quản lý quỹ thời gian….  Điều tra PISA đối với các học sinh ở độ tuổi 15 là để đánh giá khả năng ứng dụng kiến thức và kỹ năng học được vào các tình huống thực tiễn của cuộc sống. PISA không phải và không hề là một cuộc sát hạch khả năng học thuộc lòng lượng kiến thức trong sách vở. Cái tư duy hình thức ấy từ lâu đã xa vời với các quốc gia được xem là “quốc gia phát triển”. Bình luận về kết quả điều tra PISA Tổng thư ký của OECD, Angel Gurria, phát biểu rằng: “PISA là một công cụ hỗ trợ các chính phủ đưa ra các lựa chọn chính sách giáo dục. Và trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt như ngày nay, một nền giáo dục có chất lượng là tài sản có giá nhất cho cả xã hội và từng cá  nhân trong xã hội đó.”  Và cũng không phải và không hề ngẫu nhiên khi hội đồng PISA chọn đọc hiểu, toán học, khoa học và xử lý tình huống làm các môn điều tra. Theo như lý giải của hội đồng PISA, những kiến thức và kỹ năng ấy là tối cần thiết cho một học sinh bước vào cuộc sống trưởng thành. Và đó cũng là những kỹ năng và kiến thức nền tảng không thể thiếu cho quá trình học tập suốt đời.  Ông Tổng thư ký của OECD, nói thêm rằng “điều tra PISA không chỉ để xếp hạng. Quan trọng là nó chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống giáo dục của các quốc gia, đồng thời chỉ ra hướng đi cải cách hệ thống giáo dục ấy”.  Nguyễn Thành Huy từ Phần Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp: Coi trọng giảng dạy khoa học ở các bậc phổ thông      Sau khi giới thiệu chuyên đề Ngày hội Khoa học Pháp ở số báo trước (số 22 ra ngày 20/11), Tia Sáng nhận được bài viết của TS Nguyễn Tiến Dũng, giáo sư toán học ĐH Toulouse, mang lại một hình dung chung về việc khoa học được giảng dạy ở các bậc phổ thông của Pháp như thế nào để có thể khuyến khích lòng ham hiểu biết ở học sinh, đồng thời trang bị cho các em kiến thức tối thiểu cần thiết cho cuộc sống.      Khoa học, hiểu theo nghĩa khoa học tự nhiên và công nghệ, luôn đóng vai trò quan trọng trong suốt 12 năm học chính thức ở phổ thông. Theo trang mạng của Bộ Giáo dục Pháp (http://www.education.gouv.fr/cid54197/l-enseignement-des-sciences.html), giáo dục khoa học ở phổ thông được phân chia và qui định về mục đích như sau:    Nhẹ mà phong phú  Ở bậc tiểu học, khoa học được chia thành hai môn chính: môn toán học, và môn khoa học thực nghiệm và công nghệ. Thời gian học toán trên lớp là 180 giờ một năm, hay mỗi tuần 5 giờ. Mục tiêu đề ra cho lứa tuổi này là nắm bắt thành thạo các con số và các phép tính số học, phát triển khả năng suy luận logic,trí tưởng tượng và trừu tượng hóa, giải các bài toán đơn giản. Môn khoa học thực nghiệm và công nghệ được đưa vào dạy từ lớp 3, với thời gian dạy trên lớp là 78 giờ mỗi năm. Mục tiêu chủ yếu của môn này là để làm quen với thế giới và với những thứ do con người tạo ra, nhận biết được các tính chất của chúng.  Ở bậc trung học cơ sở, khoa học được chia thành bốn môn: a) toán học, b) vật lý và hóa học, c) sinh vật (gọi tên đầy đủ là khoa học về sự sống và trái đất), d) công nghệ. Ở một số trường thực nghiệm, ba môn lý-hóa, sinh vật và công nghệ được trộn vào nhau thành một môn hỗn hợp kiểu “khoa học và công nghệ”. Từ bậc học này, cách tiếp cận môn toán và các môn khoa học khác đã bắt đầu mang tính nghiên cứu: đặt vấn đề, suy luận, đặt các giả thuyết, làm thí nghiệm trên các ví dụ, viết ra phương trình thích hợp, tính toán tìm lời giải, kiểm tra lời giải, trình bầy và thông báo kết quả, v.v. Ở môn lý-hóa, học sinh được tìm hiểu về vật chất, ánh sáng, điện, lực hấp dẫn, v.v. Ở môn sinh vật, học sinh được tìm hiểu về cấu trúc hoạt động của cơ thể người và của các sinh vật khác, cũng như môi trường trên trái đất. Một trong những mục đích của môn sinh vật là tạo ra tinh thần trách nhiệm của học sinh đối với môi trường, và sự tôn trọng đối với những con người và sinh vật khác. Ở môn công nghệ, học sinh được học các phương pháp và kiến thức để hiểu và sử dụng được một số máy móc phổ biến do con người tạo ra nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau.  Bậc trung học phổ thông được phân ra làm nhiều ban khác nhau, mỗi ban dạy thiên về một mảng kiến thức nào đó: ngôn ngữ và văn học, kinh tế và xã hội, khoa học quả đất, toán và tin học, hay máy móc kỹ thuật, v.v. Chương trình khoa học do đó giữa các ban khác nhau có phần khác nhau khá nhiều, nhưng về cơ bản đều có các môn toán, lý-hóa, sinh vật, và các môn về công nghệ và kỹ thuật. Về mặt toán học, từ năm lớp 10, ngoài hình học và đại số, học sinh còn được học về xác suất thống kê, và một số khái niệm của giải tích toán học. Môn sinh vật và trái đất ngoài dạy về cơ thể con người và sức khỏe còn dạy cả về địa chất, về sự tiến hóa của trái đất, các vấn đề lớn của trái đất, v.v. Môn lý hóa dạy cả về vũ trụ, và về các ứng dụng của lý-hóa đến thể thao, sức khỏe, và y tế.  So với Việt Nam, có thể nói chương trình phổ thông của Pháp không nặng hơn về số giờ học, nhưng phong phú hơn, chú trọng nhiều đến thực hành và ứng dụng hơn, và đến khả năng quan sát và phán xét và tư duy độc lập của học sinh hơn, học sinh có nhiều điều kiện để làm thí nghiệm và tiếp cận với các máy móc hơn. Ví dụ, trong môn lý-hóa (mà ở Việt Nam tách riêng làm hai môn), học sinh được học không chỉ các công thức vật lý và hóa học, mà còn được học ứng dụng của chúng đến sức khỏe của con người ra sao, trường điện từ hay áp suất hay các nguyên tố ảnh hưởng đến con người thế nào, v.v. Học sinh được thực nghiệm trên lớp, làm những dụng cụ như là radio hay vi mạch điều khiển tự động ở mức đơn giản. Các học sinh phổ thông theo hướng học nghề của Pháp thì được tiếp cận với máy móc công nghiệp hiện đại, ví dụ như các máy để chế tạo và sửa chữa ô tô.  Đề cao ngoại khóa  Ngoài chương trình chính thức trên lớp, ở Pháp còn có nhiều hoạt động ngoại khóa có tính tự nguyện, không bắt buộc, nhằm nâng cao và đáp ứng sự tò mò khám phá khoa học của trẻ em. Trong đó có thể kể đến các chương trình TV về khoa học, các sách báo cho trẻ em về khoa học, các cuộc thi olympiad về các môn khoa học (trong đó có cả toán, lý, hóa, địa chất, công nghệ), các khu thí nghiệm khoa học cho trẻ em (tiếng Pháp gọi là AST, “ateliers scientifiques et tecniques”), các trung tâm triển lãm khoa học (ví dụ như ở Toulouse có trung tâm triển lãm vũ trụ gọi là “Cité de l’Espace”), các “ngày mở cửa” ở các đại học, các cuộc tập sự của trẻ em ở các trung tâm nghiên cứu khoa học (ví dụ như Viện Toán Toulouse cũng thường xuyên đón tiếp nhiều học sinh phổ thông đến tập sự tìm hiểu các vấn đề toán học rồi trưng các kết quả khám phá của mình lên trên tường cho các bạn và các giáo sư nhận xét), chương trình “Science à l’école” (trang web: http://www.sciencesalecole.org/) của Bộ Giáo dục nhằm tổ chức các hoạt động khoa học và cho mượn các dụng cụ khoa học, v.v. Nói chung, hầu như bất kỳ học sinh nào yêu khoa học đều có nhiều điều kiện (miễn phí hoặc với chi phí thấp) để tiếp cận với các lý thuyết và thí nghiệm khoa học.  Dù rằng điều kiện tiếp xúc với khoa học của học sinh ngày càng tăng lên, nhưng có một xu hướng khá rõ rệt và đáng lo ngại xảy ra ở Pháp (và có lẽ ở nhiều nước khác), là sự đam mê khoa học ở học sinh có vẻ giảm đi nhiều trong vòng một-hai thập kỷ qua, đặc biệt là đối với các khoa học cơ bản. Điều này thể hiện rõ ở việc lượng sinh viên theo học các ngành khoa học cơ bản giảm đi nhiều (thậm chí có những chương trình ở trường đại học tồn tại được là nhờ có sinh viên nước ngoài đến từ các nước còn nghèo, chứ quá ít sinh viên bản địa theo học). Một trong các hậu quả trực tiếp là thiếu người giỏi làm trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, và thiếu cả giáo viên dạy phổ thông. Chẳng hạn, các chương trình thi lấy chứng chỉ giáo viên ngành toán gần đây (gọi là thi CAPES, và ở mức cao hơn là thi agrégation) ở Pháp thừa nhiều chỉ tiêu mà thiếu người đủ trình độ. Thậm chí, có những trường phổ thông trung học ở những nơi hơi xa thiếu giáo viên dạy toán đăng quảng cáo mãi cũng không ai đến xin việc, và giáo viên ở các nơi thường phải dạy quá chỉ tiêu.  Vấn đề giảm sút sự quan tâm đối với khoa học này là một vấn đề đau đầu, không chỉ cho ngành giáo dục, mà cho xã hội nói chung. Nó dẫn tới những hiện tượng “kỳ quái” như chương trình toán ở phổ thông phải giảm nhẹ đi, học sinh khi vào đến đại học kiến thức chuẩn bị về toán ngày càng yếu đi (trong khi đó khoa học càng ngày càng hiện đại phức tạp và đòi hỏi chuẩn bị về toán ngày càng tốt). Có thể đổ lỗi hiện tượng này cho một số nguyên nhân như: Cách mạng công nghệ thông tin như là con dao hai lưỡi: nó đem lại rất nhiều tiện lợi, tăng hiệu quả của rất nhiều thứ, nhưng cũng khiến con người ta dễ mất tập trung hơn, dễ bị “rác thông tin” làm ảnh hưởng hơn. Một hiện tượng khá phổ biến ngày nay, là có những học sinh sinh viên vào những lúc cần tập trung để có thể hiểu một kiến thức tế nhị nào đó, luyện tập một cái gì đó hay giải quyết một vấn đề hay ho nào đó, thì lại đi nghe nhạc, nhắn tin, chơi game, đọc những thứ nhảm nhí, v.v. Xu hướng “ăn xổi” của “xã hội tiêu thụ” khiến con người ta, nếu không được rèn luyện hợp lý, sẽ chỉ hướng tới những cái dễ dàng, kiếm tiền nhanh, hưởng thụ ngay, v.v., trong khi khoa học thì không như vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển đại học ngoài công lập ở Việt Nam ?      Trong Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 ban hành năm 2007 (Quyết định 121/2007/QĐ-TTg), chúng ta đặt mục tiêu đến năm 2020, sẽ có khoảng 30-40% sinh viên đại học học tại khu vực tư thục. Để đạt được mục tiêu đó cơ cấu và vài trò của đại học tư phi lợi nhuận và vị lợi nhuận nên là như thế nào?      Các loại hình giáo dục đại học tư thục   Giới nghiên cứu về giáo dục đại học phân loại giáo dục đại học tư theo hai cách1: thứ nhất là theo đối tượng đào tạo; thứ hai là theo loại hình sở hữu.  Về đối tượng đào tạo, những đại học tư hiện đại đầu tiên ra đời ở Mỹ nhắm vào đối tượng tinh hoa (elite). Điều này cũng phù hợp với triết lý giáo dục đại học thời bấy giờ (thế kỷ 17-19) là đại học chỉ dành cho số ít. Và vì hướng tới mục tiêu elite, nên các đại học thuộc nhóm này thường tập trung vào đào tạo sau đại học và nghiên cứu. Quy mô cũng tương đối vừa phải (khoảng từ 20.000 – 40.000 sinh viên các hệ) để đảm bảo suất đầu tư trên đầu sinh viên đủ lớn để duy trì chất lượng cao. Các trường tư này (ví dụ Harvard, Princeton, Stanford) vẫn duy trì mục tiêu đó cho đến tận ngày nay.  Bắt đầu từ những năm 1960- 1970 cùng với sự bùng nổ của dân số, giáo dục đại học bắt đầu chuyển từ mô hình đào tạo tinh hoa (cho số ít) sang đại chúng (cho số đông). Nhiều trường đại học tư ra đời ở thời điểm này, nhất là tại châu Á với sứ mệnh thoả mãn nhu cầu học đại học của phần đông dân chúng. Ta gọi đây là các trường “hấp thu theo nhu cầu” (demand-absorbing). Cùng lúc bên bờ kia của Thái Bình Dương, tại Mỹ cũng xuất hiện nhiều đại học tư hướng vào số đông dân chúng, đặc biệt là tầng lớp quân nhân trở về sau chiến tranh. Vì là chạy theo nhu cầu, các trường thuộc nhóm này chủ yếu đào tạo ngành nghề theo yêu cầu thị trường (quản trị, kế toán, tài chính, y tá, điều dưỡng, công nghệ thông tin…) với mục tiêu chính là ra trường nhanh, dễ kiếm được việc. Một trong những đại học ở Mỹ theo mô hình “demand-absorbing” nổi tiếng nhất ra đời thời kỳ này là Đại học Phoenix, thành lập năm 1976, chủ yếu đào tạo bằng hình thức online, với tổng số sinh viên hiện nay khoảng 300.000.   Ở giữa mô hình đại học tư elite và đại học tư“demand-absorbing” là mô hình đại học tư “semi-elite” (bán tinh hoa). “Semi-elite” có thể hiểu theo hai nghĩa: một là nó hướng đến đối tượng sinh viên có chất lượng khá (sau sinh viên elite) hoặc các ngành nghề có xu hướng thị trường ở mức độ vừa phải; hai là nó bao gồm cả các chương trình dành cho sinh viên elite lẫn chương trình cho sinh viên có trình độ đầu vào thấp.   Về loại hình chủ sở hữu: thế giới chia làm hai loại trường đại học tư phi lợi nhuận (không có cổ đông/không có chủ sở hữu) và đại học tư vị lợi nhuận (có cổ đông, có chủ sở hữu). Các đại học tư thành lập tại Mỹ từ thời kỳ đầu chủ yếu là phi lợi nhuận, không có sở hữu; mọi lợi nhuận nếu có sẽ tái đầu tư cho nhà trường. Đây chủ yếu cũng là các trường elite, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và nặng về đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa học. Các đại học tư vị lợi nhuận có chia lãi cho cổ đông và thường hướng đến mô hình đào tạo cho số đông (“demand-absorbing”). Các trường thuộc nhóm semi-elite có thể là phi lợi nhuận hay vị lợi nhuận tuỳ từng trường hợp cụ thể.  Vai trò của Chính phủ  Vì vốn thuộc nhóm hàng hoá công với sự quản lý toàn diện của chính phủ, giáo dục đại học tư phát triển ra sao phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của các chính phủ.  Đức có truyền thống đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục đại học và truyền thống này vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Vì vậy, nước này không có giáo dục đại học tư.  Tương tự Đức là Pháp hay Úc, có tồn tại giáo dục đại học tư nhưng chiếm số nhỏ.  So với các nước kể trên, giáo dục đại học tư tại các nước phát triển ở châu Á như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan phát triển hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do dân số ở các nước này bùng nổ rất nhanh trong khoảng những năm 1970-1990 (tăng nhanh hơn tại châu Âu hay Úc). Các chính phủ nước này, vì vậy buộc phải trông chờ vào sự tham gia của khu vực tư nhân nhằm chia lửa cho đại học công. Vì là các nước phát triển và có chính sách hỗ trợ tương đối tốt (ví dụ cấp kinh phí nghiên cứu khoa học như cấp cho trường công hoặc cấp học bổng/tín dụng cho sinh viên), nên các trường đại học tư thuộc các nước này chủ yếu định hướng elite, semi-elite và phi lợi nhuận. Một số đại học tư tiêu biểu tại các nước này có thể kể đến là Đại học Waseda (Nhật), Đại học Công nghệ Pohang (Hàn Quốc) hay Đại học Văn hóa Trung Hoa (Đài Loan).  Giáo dục đại học tư tại các nước đang phát triển ở châu Á như Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Thái Lan cũng bùng nổ như tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan trong mấy chục năm qua. Điểm khác biệt là ở chỗ, vì nguồn lực chính phủ hạn chế, các đại học tư ở các nước đang phát triển này phần nhiều có mục tiêu “demand-absorbing” và vị lợi nhuận.   Nói tóm lại, hình hài và quy mô của giáo dục đại học tư ra sao phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của chính sách nhà nước. Nếu nhà nước đủ nguồn lực thì không cần giáo dục đại học tư; nếu nhà nước “đuối sức nhiều ” thì giáo dục đại học tư sẽ phát triển theo quy luật cung – cầu của thị trường với chủ yếu là các đại học theo mô hình “demand-absorbing” và vị lợi nhuận; nếu nhà nước “đuối sức” ở mức độ vừa phải và vẫn có thể can thiệp và hỗ trợ phù hợp thì đại học tư theo mô hình elite hoặc semi-elite, phi lợi nhuận có điều kiện phát triển.    Giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam   Lịch sử phát triển của đại học tư thục ở Việt Nam tương đối phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn. Cụ thể, từ năm 1993 cho đến trước khi Quyết định 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/01/2005 về ban hành quy chế và tổ chức đại học tư thục được ban hành, các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam đều là các trường dân lập – mô hình có điểm gần giống với đại học phi lợi nhuận ở Mỹ ở chỗ: không có chủ sở hữu và lợi nhuận thì không chia cho cổ đông (điểm khác biệt là nguồn thu của các đại học dân lập ở Việt Nam vẫn là học phí là chủ yếu, không đa dạng như đại học tư phi lợi nhuận ở Mỹ).   Với việc ban hành Quyết định 14/2005/QĐ-TTg và sau đó là Quyết định 122/2006/QĐ-TTg ngày 29/5/2006 về việc chuyển loại hình dân lập sang tư thục của toàn bộ trường đại học dân lập, mô hình đại học phi lợi nhuận (dân lập) ở Việt Nam được thay thế bằng mô hình đại học tư thục vị lợi nhuận. Cho đến năm 2014, với việc ban hành Quyết định 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014, chính phủ nước ta lại khai sinh ra một mô hình đại học tư mới với tên gọi đại học tư không vì lợi nhuận, có chủ sở hữu nhưng lợi nhuận được phép chia cho cổ đông nhưng không vượt quá mức lãi trái phiếu của chính phủ cùng kỳ. Như vậy cho đến nay, bên cạnh khu vực đại học “tư trong công”, Việt Nam đang tồn tại ba loại hình đại học ngoài công lập: đại học tư vì lợi nhuận, đại học tư không vì lợi nhuận, đại học dân lập (một trường vẫn chưa chuyển đổi mô hình hoạt động thành đại học tư theo Quyết định 122/2006/QĐ-TTg).     Quay trở lại với câu hỏi: “Khu vực giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam nên phát triển như thế nào?” Trước khi đưa ra câu trả lời cá nhân, xin điểm qua hai trường hợp đại học ngoài công lập gây khá nhiều chú ý trong năm qua:    Thứ nhất là trường hợp Đại học Hoa Sen – một trong những đại học dương cao ngọn cờ “không vì lợi nhuận” hay “phi lợi nhuận” trong cả nước mấy năm vừa qua. Nhưng trong mấy diễn biến gần đây xung quanh đến tranh chấp giữa các thành viên trong Ban Giám hiệu và một số cổ đông của trường này, các văn bản trả lời của Bộ GD&ĐT hay UBND thành phố Hồ Chí Minh đều cho thấy về mặt pháp lý, đây vẫn chưa phải là đại học “không vì lợi nhuận” hay “phi lợi nhuận”. Đơn giản là bởi, khung pháp lý cho đại học “phi lợi nhuận” theo đúng nghĩa phương Tây (không có chủ sở hữu, chính sách ưu đãi thuế cho các hoạt động giáo dục phi lợi nhuận …) ở Việt Nam vẫn chưa có hoặc chưa hoàn thiện. Khi chưa có khung pháp lý, thì không thể tồn tại đại học “phi lợi nhuận” theo đúng nghĩa của nó được.  Thứ hai là trường hợp dự án Đại học Fulbright, một đại học với sự hỗ trợ của Quốc hội Mỹ đang rất muốn trở thành đại học “phi lợi nhuận” như các đại học ở Mỹ. Tuy vậy, cũng vì đang vướng khung pháp lý như đã nói ở trên, dự án này cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc định hướng triển khai các bước tiếp theo.           Trong vòng 10-20 năm tới, chắc  chúng ta sẽ chưa thể có ngay nhiều trường đại học tư phi lợi nhuận đủ  mạnh để có thể trở thành một lực lượng đối trọng và chia lửa với các đại  học công hàng đầu đã có (như hai Đại học Quốc gia, ĐH Bách khoa Hà Nội  …) trong việc hướng tới mục tiêu đào tạo elite và nghiên cứu khoa học  đỉnh cao. Nếu có môi trường chính sách thuận lợi, với yêu cầu ngày càng  khắt khe hơn từ phía người học và xã hội, tin rằng các đại học tư vị lợi  nhuận sẽ đủ năng động để đổi mới và gánh bớt cho nhà nước phần đáng kể  trong việc đào tạo sinh viên chất lượng semi-elite và elite các ngành  “demand absorbing”.          Ở nước ta, trong những năm gần đây, đã có rất nhiều nhà giáo dục ủng hộ sự ra đời của đại học tư phi lợi nhuận. Nhưng xét bối cảnh Việt Nam, có thể thấy, sẽ không thể có đại học tư phi lợi nhuận nếu như khung pháp lý rõ ràng, rành mạch dành cho nó chưa được ra đời.   Đối với đại học tư vị lợi nhuận, vốn đang rất phổ biến ở nước ta thì dường như, đánh giá chung của xã hội là không tin mô hình đại học này, thậm chí coi đó là một vấn đề nhức nhối ở nước ta hiện nay. Đánh giá như vậy là có phần oan uổng cho mô hình vị lợi nhuận. Chúng ta đều biết, vị lợi nhuận cũng chính là động lực lớn nhất để tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; và chắc chắn, giáo dục cũng sẽ không nằm ngoài quy luật đó. Trong những năm qua, mặt bằng chung các trường tư vị lợi nhuận có thể có chất lượng chưa cao một phần là bởi mức cầu trong lĩnh vực này vẫn quá cao so với cung. Tuy vậy, tín hiệu từ một số trường hợp tại đại học tư vị lợi nhuận đã hướng tới mục tiêu semi-elite gần đây lại cho chúng ta có quyền hy vọng sẽ nhiều hơn vào mô hình đại học này.    ——-  Tài liệu trích dẫn  [1] UNESCO (2009). A new dynamic: private higher education. Paris.   [2] Bộ GD&ĐT (2013).Thống kê giáo dục năm 2013. Hà Nội.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển tài nguyên giáo dục mở      Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, giáo dục Việt Nam đã được xác định phát triển theo hướng là hệ thống mở. Tuy nhiên Việt Nam cần xác định hệ thống giáo dục mở đó gồm những thành phần nào, thành phần nền tảng của nó là gì để có thể tập trung các nguồn lực rất khiêm tốn của mình vào đâu để phát triển có hiệu quả nhất hệ thống đó.      Ngày hội STEM 2019. Ảnh: Ngô Hà.  Các tài liệu quan trọng mang tính định hướng gần đây ở Việt Nam như Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hay Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 đều khẳng định hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam là hệ thống giáo dục mở và “phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”. Về cơ bản, nó tương tự với mục tiêu phát triển bền vững 4 – SDG 4 (Sustainable Development Goal 4) của Liên Hiệp Quốc tới năm 2030 về giáo dục, nhằm “đảm bảo giáo dục chất lượng bao hàm toàn diện và công bằng và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”.     Xác định thành phần nền tảng để có tác động hiệu quả      Định nghĩa tài nguyên giáo dục mở gần đây nhất trong tài liệu Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở của UNESCO cuối năm 2019 gồm 2 mục sau:    – Tài nguyên giáo dục mở là các tư liệu dạy, học và nghiên cứu ở bất kỳ định dạng và phương tiện nào mà nằm trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền đã được phát hành theo một giấy phép mở, cho phép những người khác không mất chi phí để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại.    – Giấy phép mở tham chiếu tới giấy phép tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyền và đưa ra sự cho phép trao cho công chúng các quyền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại các tư liệu giáo dục.    Các cuộc hội thảo gần đây về giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở được tổ chức ở Việt Nam đã cho thấy khái niệm hệ thống giáo dục mở được hiểu theo nghĩa rộng với nhiều khía cạnh của “mở” như: mở cho mọi đối tượng học; mở về thời gian học; mở về không gian học; mở về phương pháp giảng dạy – đào tạo; mở về quan hệ đào tạo xuyên quốc gia; mở về các loại hình học tập; mở rộng các công nghệ học tập và công nghệ thông tin; bên cạnh tài nguyên giáo dục mở. Tương tự, khái niệm “giáo dục mở” có thể được gắn với văn hóa phát triển trong bối cảnh tự chủ giáo dục, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.    Để hòa chung vào dòng chảy của thế giới và hướng tới hoàn thành SDG 4, phát triển tài nguyên giáo dục mở phải nằm trong chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030.    Thông tin từ các hội thảo đó cho thấy, khái niệm giáo dục mở được thế giới thừa nhận rộng rãi nhất cho tới nay là trong Tuyên ngôn Giáo dục Mở Cape Town năm 2007 với tài nguyên giáo dục mở là thành phần nền tảng của giáo dục mở, tương tự như với định nghĩa giáo dục mở của Liên minh Xuất bản học thuật và Tài nguyên hàn lâm (Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition – SPARC).     Mục tiêu trong Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở của UNESCO     Dù được thừa nhận rộng rãi rằng giáo dục mở không chỉ giới hạn trong tài nguyên giáo dục mở nhưng giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở luôn đi liền với nhau và nhận thức tài nguyên giáo dục mở là nền tảng của giáo dục mở được chứng minh qua các cột mốc lịch sử phát triển của hai khái niệm đó trong chương trình nghị sự quốc tế, từ Tuyên ngôn Giáo dục Mở Cape Town năm 2007 cho tới các hội nghị tài nguyên giáo dục mở thế giới năm 2012, năm 2017, gần đây nhất là ngày 25/11/2019, tại hội nghị Toàn thể UNESCO lần thứ 40 ở Paris, nước Pháp, nơi 193 quốc gia đã phê chuẩn Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở, nó khuyến cáo các quốc gia thành viên UNESCO áp dụng các điều khoản của Khuyến cáo nhằm phát triển tài nguyên giáo dục mở và hướng tới việc hoàn thành các SDG của Liên hiệp quốc tới năm 2030, đặc biệt là SDG 4 về giáo dục như được nêu ở trên ở từng quốc gia theo năm khía cạnh mục tiêu, gồm:    Xây dựng năng lực: phát triển năng lực của tất cả các bên tham gia đóng góp chính cho giáo dục để tạo lập, truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi, và phân phối lại TNGDM, cũng như để sử dụng và áp dụng các giấy phép mở theo cách thức ổn định với pháp luật bản quyền quốc gia và các bổn phận quốc tế;    Phát triển chính sách hỗ trợ: khuyến khích các chính phủ, các nhà chức trách và các cơ sở giáo dục áp dụng thường xuyên khung công việc hỗ trợ cho việc cấp phép mở cho các tư liệu giáo dục và nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, phát triển các chiến lược để xúc tác cho sử dụng và tùy biến thích nghi tài nguyên giáo dục mở để hỗ trợ cho giáo dục chất lượng cao, bao hàm toàn diện và học tập suốt đời cho tất cả mọi người, được nghiêu cứu thích hợp trong lĩnh vực này hỗ trợ;    Truy cập hiệu quả, bao hàm toàn diện và công bằng tới tài n guyên giáo dục mở chất lượng: hỗ trợ áp dụng các chiến lược và chương trình, bao gồm qua các giải pháp công nghệ thích hợp để đảm bảo tài nguyên giáo dục mở trong bất kỳ phương tiện nào được chia sẻ ở các định dạng và các tiêu chuẩn mở để tối đa hóa truy cập công bằng, đồng sáng tạo, giám tuyển, và khả năng tìm thấy được, bao gồm cho những người từ các nhóm bị tổn thương và những người khuyết tật;    Nuôi dưỡng sự sáng tạo các mô hình bền vững cho tài nguyên giáo dục mở: hỗ trợ và khuyến khích sáng tạo các mô hình bền vững cho tài nguyên giáo dục mở ở các mức quốc gia, khu vực và cơ sở, và lên kế hoạch và kiểm thử thí điểm các dạng thức bền vững mới của giáo dục và học tập;      Hình 1. Các thành phần của ICT CFT v3 của UNESCO năm 2018[9]  Khai thác và tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế: hỗ trợ hợp tác quốc tế giữa các bên tham gia đóng góp để tối thiểu hóa đúp bản không cần thiết trong các đầu tư phát triển tài nguyên giáo dục mở và để phát triển kho toàn cầu các tư liệu giáo dục đa dạng, phù hợp với địa phương, nhạy cảm với giới tính, truy cập được trong nhiều ngôn ngữ và định dạng.    Hướng dẫn các hoạt động liên quan tới Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở của UNESCO     Mục tiêu Xây dựng năng lực của UNESCO liên quan tới phát triển năng lực của tất cả các bên tham gia đóng góp cho giáo dục để tạo lập, truy cập, tái sử dụng, tái thiết lập mục đích, tùy biến và phân phối lại tài nguyên giáo dục mở, cũng như để sử dụng và áp dụng các giấy phép mở theo pháp luật bản quyền quốc gia, quốc tế và với sự trợ giúp không thể thiếu của các công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT). Với tầm quan trọng này, UNESCO đặc biệt quan tâm tới năng lực CNTT-TT của các giảng viên, những người trước hết cần có các năng lực và kỹ năng tài nguyên giáo dục mở để có thể chiếm lĩnh được tri thức dễ dàng nhất mà không phải đối mặt với các rào cản cả về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, để rồi từ đó đào sâu tri thức và sáng tạo tri thức. Không là ngẫu nhiên UNESCO đã xuất bản tài liệu ‘Khung năng lực CNTT-TT cho các giảng viên’ phiên bản 3 năm 2018 với mục tiêu biến các giảng viên thành những người sáng tạo với cấu trúc Khung gồm 3 mức độ sử dụng sư phạm CNTT-TT, 6 khía cạnh thực hành nghề giảng viên, kỹ năng về năng lực CNTT-TT của các giảng viên, như được minh họa trên Hình 1.  Tới nay, khoảng 20 quốc gia, tổ chức/cơ sở giáo dục trên thế giới đã và đang phát triển khung năng lực này. Điều quan trọng là tất cả các tài nguyên được sử dụng để xây dựng các khung năng lực đó đều được cấp phép mở và đều là tài nguyên giáo dục mở, cho phép bất kỳ ai tùy biến thích nghi/sửa đổi chúng cho phù hợp với ngữ cảnh của bất kỳ quốc gia và/hoặc cơ sở nào khác muốn phát triển khung năng lực tương tự cho mình 10. Điều này có nghĩa là nếu chính phủ hay bất kỳ tổ chức/cơ sở giáo dục nào của Việt Nam muốn xây dựng cho mình khung năng lực CNTT-TT đều không phải làm từ đầu, từ không có gì cả, mà sẽ xây dựng trên cơ sở ‘đứng trên vai những người khổng lồ’.    UNESCO và Khối thịnh vượng chung về học tập (Commonwealth of Learning – COL) đã trình bày khía cạnh ‘phát triển chính sách hỗ trợ’ trong tài liệu Các hướng dẫn phát triển chính sách tài nguyên giáo dục mở xuất bản năm 2019. Phát triển chính sách tài nguyên giáo dục mở là một quy trình với tầm nhìn dài hạn gồm 7 pha được triển khai tuần tự như trên hình 2, gồm: Hiểu tiềm năng của tài nguyên giáo dục mở; Xác định tầm nhìn chính sách tài nguyên giáo dục mở; Lên khung chính sách tài nguyên giáo dục mở; Tiến hành phân tích khoảng cách; Thiết kế kế hoạch tổng thể; Lập kế hoạch điều hành và triển khai; và Khởi xướng chính sách tài nguyên giáo dục mở. Từng trong số 7 pha đó đều được chi tiết hóa để bất kỳ ai cũng có thể dựa vào và tùy biến thích nghi chúng theo ngữ cảnh cụ thể của quốc gia/cơ sở giáo dục khi phát triển chính sách tài nguyên giáo dục mở cho mình.    Ví dụ, pha thứ 5 trong tổng số 7 pha là thiết kế kế hoạch tổng thể với 8 bước: Áp dụng khung cấp phép mở; Tích hợp tài nguyên giáo dục mở vào chương trình giảng dạy; Đảm bảo phát triển, lưu trữ và khả năng truy cập tài nguyên giáo dục mở; Điều chỉnh phù hợp các thủ tục đảm bảo chất lượng; Hỗ trợ xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về tài nguyên giáo dục mở; Khuyến khích các mô hình kinh doanh bền vững và khởi xướng các chiến lược cấp vốn; Thúc đẩy nghiên cứu dựa vào bằng chứng về tác động của tài nguyên giáo dục mở; và Có cơ chế điều hành cho chính sách tài nguyên giáo dục mở. Mỗi bước thành phần đều được chi tiết hóa theo các nội dung cụ thể bằng các câu hỏi như: Mục tiêu là gì? Các hoạt động là gì? Ai làm? Đo đếm thành quả các hoạt động như thế nào? Bạn hoàn toàn có thể bổ sung các tiêu chí để so sánh hiện trạng của quốc gia/cơ sở của bạn với các ví dụ/trường hợp điển hình trên thế giới như các ví dụ điển hình trên thế giới; và hiện trạng ở Việt Nam.    Các hướng dẫn và khuyến cáo ở trên cho thấy tính khả thi để Việt Nam lên kế hoạch triển khai các hoạt động xây dựng năng lực và phát triển chính sách hỗ trợ cho tài nguyên giáo dục mở.     Một vài gợi ý cho Việt Nam     Phát triển tài nguyên giáo dục mở là một vấn đề lớn, quan trọng, liên quan tới nhiều đối tượng trong xã hội và cần có tầm nhìn dài hạn, ngày càng có sự quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam, dù với các mức độ khác nhau đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và chỉ mới bắt đầu trong thời gian rất gần đây.    Các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT như Công văn số 4301/BGDĐT-GDTX ngày 20/9/2019 về việc xây dựng và phát triển tài nguyên giáo dục mở của Bộ Giáo dục và Đào tạo rõ ràng là cột mốc tích cực để phát triển tài nguyên giáo dục mở ở Việt Nam, dù chúng chưa nằm trong quy trình bài bản với 7 pha như được khuyến cáo, ví dụ như, để có thể hạn chế các xung đột với các luật và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành khi phát triển chính sách tài nguyên giáo dục mở.    Ngay trong năm 2019, đã có thể kể tới vài sự kiện/hoạt động điển hình có liên quan tới phát triển tài nguyên giáo dục mở, như các hội thảo ‘Vai trò của trường đại học với việc xây dựng tài nguyên giáo dục mở, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người lớn’ (tháng 8/2019) do Bộ GD&ĐT, Hội Khuyến học Việt Nam và Trường Đại học Tôn Đức Thắng phối hợp tổ chức; công văn số 4301/BGDĐT-GDTX của Bộ GD&ĐT về việc xây dựng và phát triển tài nguyên giáo dục mở, “đề nghị Thủ trưởng các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng sư phạm (gọi chung là nhà trường) triển khai các nội dung” liên quan tới tài nguyên giáo dục mở; ‘Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở tại Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội (tháng 10/2019) do Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (AVU&C) cùng với Hội Thư viện Việt Nam (VLA), Hội Tin học Việt Nam (VAIP) và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn Mở Việt Nam (VFOSSA), Câu lạc bộ các Khoa – Viện – Trường CNTT-TT Việt Nam (FISU), và Khoa Thông tin – Thư viện của ĐHKHXH-ĐHQGHN đồng tổ chức hội thảo; đề tài ‘Xây dựng nền giáo dục theo hướng mở ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo’ do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì là một trong số ít các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan tới GDM và tài nguyên giáo dục mở ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại…      Hình 2: Quy trình xây dựng chính sách OER với 7 pha[11]  Tuy hữu ích và thiết thực nhưng so với những gì có trong Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở của UNESCO và các hạng mục chi tiết của 5 khía cạnh mục tiêu của nó thì các hoạt động đó còn rất khiêm tốn, cả về cường độ, mức độ, quy mô và thành phần các bên tham gia đóng góp cho tài nguyên giáo dục mở.    So sánh với các tài liệu gần đây của UNESCO có liên quan tới tài nguyên giáo dục mở như được nêu ở phần trên đã chỉ ra cho chúng ta thấy các hoạt động về tài nguyên giáo dục mở ở Việt Nam mới đang ở giai đoạn khởi đầu và rất nhiều công việc cần phải làm với sự tham gia của rất nhiều đối tượng trong xã hội để có thể thay đổi từ văn hóa đóng/khép kín sang văn hóa chia sẻ mở tri thức còn rất yếu hiện nay, kể cả trong các giảng viên/các nhà giáo dục và giới hàn lâm học thuật nói chung.    Và cuối cùng, không chỉ là giáo dục mở và tài nguyên giáo dục mở, mà còn là khoa học mở như những gì UNESCO đang chuẩn bị cho ‘Khuyến cáo Khoa học Mở’dự kiến sẽ được các quốc gia thành viên UNESCO đề xuất phê chuẩn vào năm 2021 và sẽ nằm trong khuyến cáo mới của UNESCO về tài nguyên giáo dục mở. Việt Nam có bắt kịp xu thế khoa học mở của thế giới hay không trong tương lai, có lẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở của Việt Nam ngay từ bây giờ và càng sớm càng tốt.    Để hòa chung vào dòng chảy của thế giới và hướng tới hoàn thành SDG 4, phát triển tài nguyên giáo dục mở phải nằm trong chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030. □  Bên cạnh các hoạt động nâng cao nhận thức, OEDAB đã phối hợp cùng với các đơn vị trong AVU&C triển khai suốt trong năm 2019 tổng cộng 26 khóa tập huấn thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở ở dạng huấn luyện các huấn luyện viên cho hơn 500 cán bộ thư viện, cán bộ/nhân viên CNTT và giảng viên các bộ môn/khoa/phòng/trung tâm của hơn 70 trường đại học, cao đẳng và dạy nghề khắp cả nước 16.    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Phát triển và nuôi dưỡng tố chất lãnh đạo      Tiềm năng của Việt Nam, của cả nước v&#224; trong từng con người l&#224; rất lớn; thế nhưng n&#243; dường như đang thiếu một yếu tố then chốt để bật dậy v&#224; ph&#225;t huy mạnh mẽ. Cả nước cũng như rất nhiều c&#225; nh&#226;n đang ph&#225;t triển thấp xa so vơi tiềm năng hiện c&#243; của m&#236;nh.  Ch&#236;a kh&#243;a để khắc phục hiện trạng n&#224;y l&#224; bồi dưỡng v&#224; ph&#225;t triển &#8220;tố chất l&#227;nh đạo&#8221; trong mỗi con người Việt Nam v&#224; đ&#226;y cần được coi l&#224; một nội dung trọng yếu của Cải c&#225;ch Gi&#225;o dục(CCGD) n&#243;i chung v&#224; Cải c&#225;ch Gi&#225;o dục Đại học(CCGDĐH) n&#243;i ri&#234;ng.    Tố chất lãnh đạo là gì?  Mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức, cộng đồng, và dân tộc tại mỗi thời điểm có những tiềm năng nhất định cho phát triển của mình. Tiềm năng này được đặc trưng bởi các định tố về thể chất, trí tuệ, văn hóa, trải nghiệm, nguồn lực vật chất, quan hệ xã hội, và các cơ may hay vận hội.   Tố chất lãnh đạo là khả năng và phẩm chất giúp con người trong nỗ lực tạo nên giá trị mới cho xã hội, thông qua khai thác và phát triển tiềm năng của chính bản thân mình và của tổ chức mà họ lãnh đạo. Tố chất lãnh đạo cũng giúp mỗi cá nhân có tác động tích cực đến các cá nhân khác thông qua các quan hệ tương tác.   Thiếu tố chất lãnh đạo sẽ làm cho cá nhân không chỉ không phát huy hết tiềm năng của bản thân và của tổ chức mà mình lãnh đạo mà còn làm nó thui chột theo thời gian. Một con người, một gia đình, một tổ chức, hay một quốc gia, qua thời gian sẽ chỉ có tiến lên hoặc đi xuống. Các đối tượng này sẽ đi lên hay đi xuống?; nếu đi lên thì đi lên được bao xa? Nếu đi xuống, thì đi xuống đến mức nào? Tất cả những điều này tùy thuộc một phần quyết định vào tố chất lãnh đạo trong từng cá nhân, từng gia đình, từng tổ chức, và cả xã hội.  Tố chất lãnh đạo có thể coi là sự tổng hòa của ba yếu tố nền tảng Lòng khát khao học hỏi, Tư duy, và Tầm vóc.   + Lòng khát khao học hỏi hàm chứa khả năng và tính cầu thị trong học hỏi cái mới của tri thức khoa học, cái tinh hoa của nhân loại. Phẩm chất này thể hiện khả năng và nỗ lực vươn lên của cá nhân. Người Việt Nam ta có thế mạnh tiềm tang về yếu tố này.  + Tư duy bao hàm khả năng nhận thức thấu đáo cơ hội, thách thức, và qui luật phát triển; ý thức học hỏi và kiểm nghiệm chân lý từ thực tiễn cuộc sống; và khả năng nhận ra cái hay, cái tốt đẹp của đồng đội và đối tác. Người Việt Nam ta còn nhiều hạn chế về yếu tố này. Dân tộc Việt Nam ta với lịch sử lâu dài bị chà đạp và áp bức để rồi phải vùng lên giành độc lập với sự hy sinh vô bờ bến nên có tính xúc cảm rất cao; do đó ảnh hưởng đến tính sáng suốt của nhận thức, và tính chiến lược trong quyết định, và tính thực tiễn trong hành động. Có khi chúng ta bước ra thế giới thấy được một điều gì hay quá là nước mắt tuôn trào vì xúc động và mê mẩn mang về áp dụng mà không biết đến hậu họa khôn lường của nó.  + Tầm vóc thể hiện ở khả năng học hỏi và lớn lên từ mỗi thất bại hay thách thức mà chính mình gặp phải. Người ta chỉ có thể lớn lên nếu thấy mình còn quá nhiều khiếm khuyết và trăn trở vì sinh ra trên đời mà chưa đóng góp gì được cho cộng đồng. Người Việt Nam ta còn rất yếu về điểm này. Bị đọa đày nhiều bởi ách ngoại xâm, chúng ta thường thiên về đổ lỗi cho khách quan, hơn là xem lại lỗi của chính mình một cách sâu sắc khi gặp phải một thất bại hay thách thức. Đã từng làm nên nhiều chiến thắng oanh liệt nhờ khát vọng độc lập vô song của cả dân tộc, chúng ta vô hình trung ngộ nhận về mình và có nguy cơ trở thành những người hiếu thắng, sợ thất bại. Vì đã chịu nhiều đau thương trong chiến tranh, cộng với vị trí địa lý lý tưởng, nên chúng ta đang được ưu ái rất nhiều bởi cộng đồng thế giới, từ viện trợ ODA đến đầu tư FDI. Vì vậy chúng ta hiện đang thiên về “nhận” và “trách móc” nhiều hơn là “đóng góp” và “trăn trở” cho sự phát triển của nhân loại.  Bởi những lẽ trên, khơi dậy và phát triển yếu tố lãnh đạo cần được coi là định hướng chiến lược, là nội dung trọng tâm, và là khâu đột phá cho toàn bộ nỗ lực cải cách của CCGD, đặc biệt là CCGDĐH ở Việt Nam.               3 chức năng chủ yếu của giáo dục đại học(GDĐH)              1-Tạo giá trị gia tăng: GDĐH phải tạo nên giá trị gia tăng cho sinh viên trên cả bốn lĩnh vực, tư duy chiến lược, phẩm chất làm việc đặc biệt là tính chuyên nghiệp, kiến thức, và kỹ năng. Tránh tình trạng là chỉ chú trọng vào một mớ kiến thức và kỹ năng hiện đại, trong khi để não trạng bị trây lỳ trong lối tư duy cũ và nhân cách bị sa sút do tình trạng quay cóp, chạy chọt lan tràn.               2-Sáng tạo và phản biện: GDĐH, chủ yếu là đội ngũ giảng viên, thông qua các nghiên cứu của mình, đưa ra ý tưởng và công trình sáng tạo; đồng thời làm chức năng phân tích, định hướng, và phản biện các vấn đề quan trọng của xã hội. GDĐH tiếp nhận thông tin toàn cầu và đơn đặt hàng nghiên cứu từ mọi nguồn, đặc biệt từ Chính phủ và các doanh nghiệp trong nước, để tạo ra sản phẩm và công trình có giá trị sáng tạo mới; đồng thời đưa ra các đề xuất, phân tích, và phản biện các vấn đề quan trọng của xã hội. Việc xuất bản bài viết trên các tạp chí quốc tế là rất quan trọng. Thế nhưng, việc đánh giá các nghiên cứu đóng góp nên chú trọng đặc biệt về tác động (outcome) và ảnh hưởng (impact) hơn là chỉ đơn thuần đếm số lượng (output).              3-Giúp xã hội phát hiện, đoán nhận, và phân bổ nguồn lực lao động có tri thức: GDĐH giúp các xã hội phân loại, đánh giá, và tiếp thị lực lượng lao động có trình độ, trên cơ sở đó tăng hiệu quả xã hội trong phân bổ nguồn nhân lực có tri thức. GDĐH cần hết sức chú trọng công tác tuyển dụng đầu vào, lựa chọn và hướng dẫn sinh viên cho phù hợp nhất với ngành nghề mà họ có thế mạnh nhất, đánh giá chính xác chất lượng học sinh và giúp tiếp thị họ đến các nhà tuyển dụng.               Một công cuộc cải cách GDĐH thành công phải đặt được nền móng vững bền và tiến bộ vượt bậc cho cả ba chức năng chủ yếu nói trên của GDĐH như nêu ở trên.          Cơ chế nội sinh để nuôi dưỡng và rèn luyện tố chất lãnh đạo  Trong một sự khái quát có tính tương đối, mô hình Maslow về nhu cầu của con người cho thấy rằng, nhu cầu của mỗi con người ta phát triển theo năm thứ bậc chính. Thang bậc thấp nhất là Nhu cầu Vật chất để sinh tồn (như ăn, ở); thang bậc thứ hai là Nhu cầu An sinh (an ninh, lo lúc ốm đau, già yếu); thang bậc thứ ba là Nhu cầu Thấu cảm (tình bè bạn, cộng đồng); thang bậc thứ tư là Nhu cầu Huân dự (được sự trân trọng, ghi nhận bởi cộng đồng, Nhà nước, và xã hội), và thang bậc thứ năm, cao nhất, đó là Nhu cầu Lý tưởng, thường chỉ đạt được khi làm được một sứ mệnh cao cả (theo đuổi khát vọng, sáng tạo, chân lý, hay hiến dâng cho cộng đồng).   Theo mô hình này, với đại đa số, trong điều kiện thông thường, con người ta sẽ bước lên nhu cầu ở thang bậc cao hơn khi và chỉ khi các nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được thỏa mãn. Vì thế thỏa mãn nhu cầu ở mỗi mức tạo động lực đẩy nhu cầu của con người cao lên.  Một mặt khác, nếu con người ta được dung dưỡng trong một môi trường phát triển lành mạnh, có khát vọng lớn lao, khích lệ lòng cao thượng và trân trọng phẩm chất hiến dâng, nhu cầu của con người sẽ chuyển từ bậc thấp đến bậc cao hơn hanh thông hơn vì họ có cơ hội được thỏa mãn nhiều hơn ở nhu cầu cao hơn; đặc biệt là các nhu cầu thấu cảm, huân dự, và sứ mệnh cao cả. Vĩ vậy, tạo ra một môi trường phát triển phấn khích trong khát vọng chung tạo nên động lực kéo rất mạnh mẽ để cả xã hội phấn chấn và ngày càng hạnh phúc trên con đường đi đến phồn vinh.  Thế nhưng, trong thực trạng nước ta hiện nay, tính quan liêu và vô cảm của bộ máy Nhà nước làm nhu cầu thấu cảm của người dân bị tổn thương. Tình trạng mua bán huân dự phổ biến làm nhu cầu huân dự bị bôi nhọ. Đất nước thiếu tầm nhìn và khát vọng phát triển làm nhu cầu hiến dâng bị tê liệt. Vì vậy, cả xã hội bị luẩn quẩn trong xoay sở thỏa mãn các nhu cầu vật chất và an sinh, với sự biến dạng ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh nay, tố chất lãnh đạo trong người Việt Nam đang bị bào mòn và có nguy cơ bị thui chột. Buôn lậu, dối trá, vi phạm luật pháp, thiếu lòng vị tha và phẩm chất hiến dâng đang ngày càng trở lên phổ biến trong xã hội.  CCGD, đặc biệt là CCGD ĐH cần hình thành và gia cường cơ chế nội sinh để phát triển và rèn luyện tố chất lãnh đạo theo mô hình 5-R sau đây:  1.Respect: Đó là sự trân trọng mọi người dù họ có trái ý kiến với mình hoặc thua kém mình rất nhiều. Tố chất lãnh đạo giúp mọi người thấu hiểu sâu sắc rằng họ cần phải và có thể học được rất nhiều điều giá trị từ người phản đối mình và từ người thua kém mình.   2.Research: Đó là sự nghiên cứu thấu đáo mỗi vấn đề mà mình bàn luận, đánh giá, hoặc đưa ra quyết định. Rèn luyện phẩm chất này giúp mỗi người sâu sắc trong suy xét, thông tuệ hơn trong khai thác túi khôn tri thức của nhân loại, và quyết định tối ưu hơn về cả tính hiệu quả và tầm chiến lược cho bản thân và tổ chức mà mình lãnh đạo.    3. Review: Đó là phẩm chất tự xem lại mình, đặc biệt trước mỗi khó khăn hay thất bại. Phẩm chất này loại bỏ tính đổ cho khách quan, kiêu căng tự mãn, thích nghe phỉnh nịnh.  4. Resiliance: Đây là tính kiên cường và quyết chí theo đuổi mục tiêu, dù phải vượt qua những thách thức và thất bại ghê gớm.  5. Reform: Đây là khả năng tạo nên những đổi thay căn bản trong cục diện phát triển của cá nhân và tổ chức mình lãnh đạo trên cơ sở dũng cảm nhận thức lại căn bản tính đúng đắn của chặng đường đã qua, những thách thức và cơ hội đang và sẽ đến, với tầm nhìn và trách nhiệm sâu sắc với tương lai.            5 điều kiện cần để GDĐH thành công              1. Cả xã hội phải bước vào một thời kỳ cải cách sống động, với tầm nhìn sáng rõ về tương lai và công cuộc phát triển được thực hiện trên nền tảng của tri thức khoa học và lòng nhân bản. Nếu xã hội còn mơ hồ về tầm nhìn, hạn hẹp về tư duy, và nhầy nhụa trong tham nhũng và tệ nạn thì cải cách giáo dục GDĐH chắc chắn sẽ gặp phải những trở ngại khó vượt qua.              2.Cải cách giáo dục cần được tiến hành đồng bộ và mạnh mẽ ở cấp phổ thông để đảm bảo cho GDĐH nguồn đầu vào phong phú, chất lượng, và được đánh giá chính xác.              3. Các cơ quan tuyển dụng, đặc biệt là khu vực Nhà nước, thực sự phải cạnh tranh trong tìm kiếm,  sử dụng hiệu quả, và nuôi dưỡng phát triển nguồn nhân lực có giá trị cao trên cả bốn mặt, phẩm chất, tư duy, kiến thức, và kỹ năng. Nếu bộ máy công quyền, thông qua thực tế tuyển dụng, truyền đi những thông điệp rằng tài năng không thể thay thế cho chạy chọt, phẩm chất là thứ yếu so với quyền lực và vị thế gia đình thì cải cách GDĐH sẽ bị yếu đi rất nhiều vì về lâu dài, sự tinh tế và lành mạnh của nhu cầu luôn là yếu tố quyết định đến chất lượng cung.              4.Nhà nước và các doanh nghiệp có nhu cầu gia tăng thực sự hàm lượng trí tuệ trong các quyết định quan trọng của mình.               5.Môi trường tự do sáng tạo và dân chủ chân chính được kiến tạo, dung dưỡng, và trân trọng, trước hết ở các trường đại học, và từng bước mở rộng ra toàn xã hội. Thông tin cung cấp cho xa hội và các nhà nghiên cứu minh bạch, khách quan, và ngày càng phong phú.             
__label__tiasang Phiếu đánh giá của sinh viên có lợi ích gì?      Giống như nhiều hoạt động trong thế giới kết nối toàn cầu ngày nay, các phiếu đánh giá của sinh viên – những bản đánh giá giấu tên của sinh viên khi kết thúc mỗi khóa học để làm căn cứ thẩm định chất lượng giảng dạy của các giáo viên – vốn xuất xứ từ Mỹ, nay đã phổ biến ở nhiều trường đại học trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chúng có những ưu điểm nhất định nhưng cũng không ít nhược điểm.      Phiếu đánh giá của sinh viên là gì? Câu hỏi này không thể trả lời chính xác, vì người ta không thống nhất một khuôn mẫu chung cho bản đánh giá, và càng không thống nhất về cách thức đánh giá. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi không có một chuẩn mực chung cho phiếu đánh giá của sinh viên. Thay vào đó, các trường, khoa, tự tạo ra mẫu phiếu đánh giá riêng và yêu cầu các giảng viên phân phát cho sinh viên trước khi kết thúc mỗi khóa học.   Tuy nhiên, các phiếu đánh giá tại các trường ở Mỹ có những đặc thù chung dễ thấy, với hai cấu phần căn bản. Thứ nhất, một phiếu chấm điểm trong đó sinh viên được đề nghị chấm điểm chất lượng cho lớp học và giảng viên một cách định lượng. Cách thức tiến hành thường đơn giản chỉ là đánh dấu các ô trống. Thứ hai, một phần để trống dành cho nhận xét của sinh viên, nơi sinh viên có thể đánh giá lại, qua một tới hai khổ ngắn, về kinh nghiệm của mình đối với lớp học. Ngoại trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, sinh viên thường không phải ký tên, và người ta cố gắng giữ danh tính người đánh giá được bí mật.   Vì sao lại có những đặc điểm chung này? Câu trả lời thường không rõ ràng. Trong thực tế, người ta có thể nói những điều đại khái như “chúng ta luôn làm như vậy”, hay là “như thế giúp cung cấp kết quả chính xác nhất”. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, không phải ngẫu nhiên mà các phiếu đánh giá của sinh viên trên khắp nước Mỹ có sự tương đồng. Nguyên nhân là, một cách vô thức, các đại học đã áp dụng các kỹ thuật người ta vẫn dùng cho việc nghiên cứu thị trường, và các kỹ thuật phân tích quan điểm công chúng.  Đây chính là điều cần lưu tâm dù người ta thường không để ý. Các nghiên cứu về thị trường và nghiên cứu về thái độ, hành vi khách hàng đóng một vai trò rất mạnh trong việc hình thành các quyết định và chính sách ở Mỹ. Thật vậy, chẳng có quyết định nghiêm túc trong bất kỳ lĩnh vực nào – từ kem đánh răng cho tới chính sách chính trị – được đưa ra mà không dựa vào những nghiên cứu kỹ lưỡng về quan điểm của thị trường, cùng vô vàn những phân tích thống kê các dữ liệu thu thập được. Tuy thực tế này thường không được lưu tâm, nhưng các phiếu đánh giá của sinh viên được dùng thường xuyên bởi các trường đại học có thể coi như một hình thức nghiên cứu thị trường. Như vậy, trong nhiều thập kỷ, và theo nhiều cách khác nhau, các cơ sở giáo dục của Mỹ đã cố gắng tìm hiểu các “khách hàng” của mình cảm nhận thế nào về “sản phẩm” mà họ đã dùng, và bản đánh giá của sinh viên chính là một công cụ thăm dò được sử dụng lâu dài nhất.  Điều này không chỉ xảy ra ở Mỹ. Các phiếu đánh giá của sinh viên ngày nay phổ biến ở nhiều quốc gia, cũng như hoạt động nghiên cứu thị trường ngày nay được thực hiện trên toàn cầu. Trong bối cảnh ấy, có một hiện tượng đáng quan tâm. Khi các nghiên cứu về quan điểm khách hàng và công chúng bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, chúng thường gắn với lợi ích của những nhóm thượng lưu nào đó, ví dụ như một nhóm chuyên gia học thuật và các nhà quản lý cùng thu thập, phân tích các dữ liệu chỉ dành cho riêng họ được sử dụng. Điều này được duy trì cho tới khi Internet xuất hiện. Internet có thể giúp thu thập và truyền thông tin nhanh chóng, thuận tiện hơn bất kỳ công cụ truyền thông nào khác trong lịch sử. Kết quả là, quan điểm của công chúng về bất kỳ điều gì, bao gồm cả đội ngũ giảng dạy ở một trường đại học nào đó, ngày nay có thể được đăng tải dễ dàng trên Internet.  Việt Nam cũng tất yếu là một phần trong tiến trình này. Ngày nay, các hoạt động nghiên cứu về thị trường và quan điểm công chúng ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng đối với các nhà quản lý Nhà nước và doanh nghiệp. Trong đời sống thường nhật, người Việt Nam ngày càng đưa lên Internet nhiều những ý kiến và kinh nghiệm của họ. Trong bối cảnh ấy, chúng ta càng cần đặt ra câu hỏi, rằng việc phân phát những phiếu đánh giá của sinh viên ở các trường đại học sẽ mang lại ích lợi gì, đâu là ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng loại hoạt động này?  Hãy bắt đầu tư các nhược điểm. Trên khắp thế giới, bạn có thể tìm thấy những thành ngữ phê phán những thứ không được định hình rõ ràng, chẳng ra thứ này, cũng chẳng thành thứ kia (trong tiếng Anh có câu: “chẳng phải cá cũng chẳng phải chim”). Đây chính là nhược điểm cơ bản ở các phiếu đánh giá của sinh viên. Chúng không phải là những bản đánh giá ngẫu nhiên, tình cờ, như những dạng đánh giá đăng trên các trang Internet như TripAdvisor. Chúng được tiến hành trong môi trường đúng ra cần có tính kiểm soát, sắp đặt cao, bởi vì kết quả của chúng là căn cứ quan trọng để lãnh đạo trường học đưa ra các quyết định về bổ nhiệm, nâng bậc, hay thậm chí sa thải một giáo viên. Nhưng thực tế thì rất khó kiểm soát mức độ chính xác của chúng.  Sau đây là một số lý do khiến bạn không thể thực sự tin tưởng vào các phiếu đánh giá của sinh viên:  Không thể biết chắc chắn những phiếu này đánh giá điều gì. Khi các sinh viên phản ánh quan điểm của họ về một lớp học và giảng viên, họ có thể khách quan và cũng có thể chủ quan. Họ có thể rất thích môn học nhưng giảng viên đã dạy quá tồi. Nhưng cũng có thể họ chẳng hề thích môn học, và giảng viên kiểu gì cũng đành phải bó tay. Và đôi khi, cảm nhận của sinh viên ở đây chẳng liên quan gì tới vấn đề giáo dục, có thể đơn giản là họ thích một giảng viên vì kiểu tóc chẳng hạn. Ở đây tôi không phê phán sinh viên, mà muốn nói rằng chẳng có gì ngăn sinh viên đánh giá các câu hỏi theo động cơ riêng, và bởi vì những động cơ này chẳng bao giờ được bộc lộ rõ ràng, nên chúng ta chẳng bao giờ biết được chính xác những phiếu đánh giá của sinh viên phản ánh điều gì.  Phiếu đánh giá của sinh viên phản ánh khá rõ những vấn đề sư phạm đơn giản. Ví dụ như khi một giảng viên thường xuyên đến muộn, hay giảng bài quá nhanh. Tuy nhiên, với các vấn đề nghiêm túc thì đa số thường phức tạp hơn nhiều, và gần như không thể có một sự đồng thuận về cách đánh giá những dữ liệu không rõ ràng. Ví dụ, nếu sinh viên nói rằng họ thích một giảng viên, nhưng không thích các bài tập giao về nhà, thì liệu chúng ta có thể kết luận rằng giảng viên có khiếm khuyết trong việc giao bài tập về nhà. Ở đây, dữ liệu không nói lên điều gì chắc chắn, và khi không có ý thức về thực tế này, đa số mọi người khi đọc các phiếu đánh giá của sinh viên sẽ tự mình dùng một hệ quy chiếu đánh giá riêng. Thường thì đây không phải là vấn đề lớn, nhưng nó có thể dẫn tới sự không công bằng, khi mà người ta thường dùng những hệ quy chiếu hà khắc hơn đối với những ai mà cá nhân họ không thích.  Các phiếu đánh giá có một nhược điểm cố hữu. Nếu người ta không coi chúng là những căn cứ nghiêm túc, thì chúng trở thành một trò đùa, và sinh viên và giảng viên sẽ không còn coi trọng chúng nữa. Ngược lại, nếu người ta tin tưởng nhiều ở các phiếu đánh giá này, ví dụ như khi họ dùng chúng như một căn cứ quan trọng để quyết định xem sẽ nhận hay không nhận một giảng viên, thì các hành vi của con người sẽ bị thiên lệch, theo hướng tìm cách tạo ra phiếu đánh giá tốt thay vì giảng dạy tốt. Khi ấy, các giảng viên có thể sẽ thay đổi giáo trình của họ để thỏa mãn ý thích của sinh viên, cho dù như vậy có thể làm giảm chất lượng giáo dục. Hoặc là họ có thể “đút lót” cho sinh viên những điểm số cao hơn thực lực. Về phía sinh viên, nếu họ biết rằng những bản đánh giá này có tác động lớn tới các chính sách và quyền lợi giáo viên trong trường, thì họ có thể tìm cách tác động tới giảng viên để đáp ứng lợi ích cá nhân của mình, dù lợi ích đó có thể không tốt cho lợi ích của toàn thể trường lớp. Có lẽ câu trả lời ở đây là nên tìm một giải pháp trung dung, nghĩa là những bản đánh giá này không nên bị phớt lờ, và cũng không nên được coi trọng quá. Tuy nhiên, không phải dễ để xác định ra mức độ trung dung này.   Nhược điểm cuối cùng là, các thủ thuật thống kê không giúp được nhiều trong việc điều chỉnh những thiên lệch nói trên. Ở một số nơi người ta nghĩ rằng các phương pháp thống kê có thể giúp đạt được những kết quả đánh giá khách quan trên những dữ liệu thu được từ các phiếu đánh giá của sinh viên. Và đúng là khi xem xét các xu hướng thì tốt hơn là nhìn nhận trên số liệu thống kê thay vì những cảm nhận định tính trong ký ức và nhận thức của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, có nhiều hạn chế trong việc áp dụng các thủ thuật thống kê đối với các phiếu đánh giá của sinh viên. Thứ nhất, để có thể dùng cho công tác thống kê, cần xác định rõ đơn vị đo lường của dữ liệu. Nhưng với các phiếu đánh giá, chúng ta chỉ có thể làm được điều này đối với những số liệu ít quan trọng hơn, ví dụ như số lượng người đánh dấu vào ô trả lời câu hỏi “giáo viên của bạn có thường đến muộn?”. Với những vấn đề quan trọng hơn, ví dụ như “tài liệu giảng dạy mà giáo viên của bạn dùng có chất lượng cao hay thấp?”, con số không phản ánh được gì nhiều, và khó lòng gán cho nó một đơn vị đo lường. Đây chính là mấu chốt vấn đề: các con số thống kê chỉ có ý nghĩa rõ ràng trong những trường hợp khi thực tế đã quá hiển nhiên. Còn khi thực tế không rõ ràng, các con số chỉ có giá trị tham khảo hạn chế. Ví dụ, nếu sinh viên đánh giá một giáo viên thấp điểm hơn những người khác ở mức 9,7%, hay 13,8%, thì liệu phải chăng đó thật sự là một giáo viên tồi? Những kết quả không rõ ràng như vậy không mấy hữu ích cho chúng ta, và ngành thống kê khó có thể làm gì để cải thiện điều này.   Từ những nhược điểm trên đây, người ta dễ đi đến kết luận là không nên mất công làm các phiếu đánh giá của sinh viên. Nhưng kết luận như vậy là sai. Dù có những nhược điểm nhưng có hai lý do khiến tất cả các bên liên quan, từ sinh viên, nhà trường, tới các giảng viên, đều được hưởng lợi từ các phiếu đánh giá của sinh viên. Tuy nhiên, lưu ý rằng cả hai lý do đều đến từ những thực tế về bản tính con người, hơn là từ những căn cứ dựa trên số liệu.   Thực tế thứ nhất về bản tính con người là người ta thường khó có thể tự thay đổi những suy nghĩ cố hữu của bản thân mình. Hơn nữa, họ thường nghĩ về bản thân với những suy nghĩ tốt đẹp, và không để ý tới những yếu tố có thể ảnh hưởng tới thói quen suy nghĩ của họ. Khoa học gọi quá trình này là “thiên lệch mang tính chọn lọc”, khiếm khuyết mà đa số chúng ta ít nhiều đều có. Điều khác biệt ở mỗi người chỉ là mức độ cố gắng điều chỉnh nó theo cách mang tính xây dựng. Các phiếu đánh giá của sinh viên hữu ích ở chỗ chúng là công cụ để các giáo viên nhận diện những “thiên lệch mang tính chọn lọc” của mình. Cho dù các dữ liệu trong những phiếu đánh giá không phải khi nào cũng rõ ràng, nhưng mỗi giáo viên đều có thể tự hỏi “vì sao sinh viên của mình nhìn nhận theo cách của họ?” Suy nghĩ về câu hỏi này luôn là điều hữu ích.  Thực tế thứ hai về bản tính con người là họ chỉ nhớ về những điều mà họ muốn nhớ. Hậu quả là họ thường quên mất cuộc sống đã thay đổi như thế nào. Một chức năng hữu ích của các phiếu đánh giá của sinh viên là chúng cung cấp một hồ sơ của những quan điểm trong quá khứ. Điều này cho phép các nhà quản lý nhìn nhận được các xu hướng thay đổi, và nhìn ra cái gì đáng phải quan tâm hoặc điều chỉnh. Dù sự đánh giá các xu hướng này không tránh khỏi chủ quan, nhưng dù sao vẫn ít chủ quan hơn là nhìn nhận mọi việc theo trí nhớ thông thường. Như vậy, hồ sơ các phiếu đánh giá của sinh viên, nếu được dùng một cách nghiêm túc, có thể coi là một công cụ khách quan hơn để nhìn nhận quá khứ.   Nói một cách ngắn gọn, các phiếu đánh giá của sinh viên có cả hai mặt, xấu và tốt. Vậy phải so sánh tương quan hai mặt như thế nào? Mấu chốt ở đây là những điều chúng ta đã đề cập từ đầu. Các phiếu đánh giá của sinh viên là một dạng phiếu điều tra quan điểm công chúng, được xây dựng một cách không hoàn hảo và không được kiểm soát một cách khoa học. Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn về mức độ chính xác của những kết luận mà chúng phản ánh. Nhưng nếu bỏ qua quan điểm công chúng thì hậu quả còn tai hại hơn. Trong thế kỷ 21, quan điểm của công chúng sẽ luôn được chia sẻ theo cách nào hay cách khác, và tốt nhất là nên nhận biết rõ cách thức chúng được biểu đạt. Vì vậy, tôi cho rằng các trường đại học của Việt Nam nên áp dụng các phiếu đánh giá của sinh viên. Nhưng đừng quên rằng cái được phản ánh ở đây thuần túy là những cảm nhận của con người, không hơn và không kém.  ——  * Trường ưu tú Barrett, thuộc Đại học Bang Arizona    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phó Thủ tướng “tham luận” về tự chủ đại học      Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng đổi mới giáo dục ĐH nói chung, trong đó có tự chủ ĐH, là vấn đề phức tạp liên quan đến con người, trong giới trí thức vì vậy cần  sự nhận thức sâu sắc, thấu triệt, trách nhiệm và quyết tâm cao.        Ngày 30/9, Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam tổ chức hội thảo về tự chủ ĐH với sự tham dự của gần 300 đại biểu đến từ 170 trường ĐH cả nước. Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận và có sự đồng thuận cao về các vấn đề tự chủ ĐH. Trong đó, khẳng định tự chủ ĐH là xu thế phát triển tất yếu của các cơ sở giáo dục ĐH trên thế giới. Mục đích của chính sách này là để các trường đại học sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của mình, phản ứng tốt trước tác động của thị trường luôn thay đổi và với những yêu cầu mới của xã hội.  Nhiều tham luận đã tập trung làm rõ những vướng mắc hạn chế cũng như kinh nghiệm trong quá trình thực hiện tự chủ tại một số trường ĐH của Việt Nam thời gian qua.  Đáng chú ý, trong phần phát biểu của mình, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã phân tích, đánh giá toàn diện, sâu sắc về vấn đề tự chủ ĐH ở Việt Nam thời gian qua.          Nhiều chỉ số giáo dục ĐH có vấn đề  Phó Thủ tướng nhận xét hiện nay có rất nhiều chỉ số cho thấy giáo dục ĐH của Việt Nam “có vấn đề”. Điển hình là số lượng cử nhân, thạc sĩ ra trường không có việc làm, bên cạnh nguyên nhân về tình hình kinh tế xã hội, còn có  nguyên nhân chất lượng đào tạo của giáo dục ĐH không đáp ứng được yêu cầu của DN.  Trong khi nếu Việt Nam có thật nhiều cử nhân ra cử nhân, thạc sĩ ra thạc sĩ, tiến sĩ ra tiến sĩ thì đó là nguồn lực thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn.  Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường ĐH, Phó Thủ tướng nêu một ví dụ buồn là trong số khoảng 10.000 tạp chí ISI; 20.000 tạp chí Scorpus thì không có một tạp chí nào thuộc một trường ĐH của Việt Nam. Cùng với đó mô hình sáng tạo quốc gia hiện nay khiến các trường ĐH đứng ngoài các chương trình nghiên cứu khoa học.  “Đây là hai trong nhiều chỉ số, hai trong nhiều góc nhìn cho thấy chúng ta cần đổi mới giáo dục ĐH toàn diện, mạnh mẽ bởi tiếp cận đầu ra của thị trường lao động thì ĐH gần hơn”, Phó Thủ tướng nói và nhấn mạnh nguyên tắc phù hợp với xu thế tất yếu của thế giới  Không chỉ là tài chính  Theo Phó Thủ tướng, đổi mới giáo dục ĐH ở Việt Nam không thể sao chép kinh nghiệm của bên ngoài bởi phải tính đến đặc thù nhưng cũng không thể lấy đặc thù để át đi, che đi xu thế tất yếu của thế giới, của thời đại. Giáo dục ĐH trên thế giới, ở những nước có nền giáo dục tiên tiến, thì dễ thấy nhất là xu thế tự chủ.  Bởi môi trường ĐH đòi hỏi sự khai phóng, sáng tạo và những người tham gia quản trị ĐH là người có trình độ, có hiểu biết, mặt bằng hiểu biết tương đối cao và đồng nhất. Đặc biệt, tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình xã hội.  Nhìn lại quá trình thực hiện tự chủ ĐH ở Việt Nam, Phó Thủ tướng cho biết quá trình này bắt đầu từ năm 1996 với một số quyền tự chủ được trao cho 2 ĐH quốc gia Hà Nội và TPHCM, tiếp đó là đề án thí điểm thực hiện tự chủ ĐH cách đây 10 năm. Tuy nhiên, khi triển khai cách hiểu về tự chủ ĐH “lệch” quá nhiều về tài chính mà ít chú ý đến vấn đề chuyên môn, học thuật, bộ máy tổ chức, nhân sự.  Về tự chủ chuyên môn, dạy học và nghiên cứu khoa học, thời gian qua Bộ GD&ĐT đã tháo gỡ rất nhiều vướng mắc như đánh giá của Phó Thủ tướng “so với quyền của các ĐH quốc gia, ĐH vùng lúc mới thành lập thì những trường ĐH tự chủ gần đây thậm chí được nhiều quyền hơn”.  Liên quan đến bộ máy tổ chức, nhân sự, Phó Thủ tướng cho biết về nguyên tắc Bộ Nội vụ hoàn toàn đồng tình đối với các ĐH tự chủ được toàn quyền quyết định về nhân sự, “tuyển ai, như thế nào không cần phải làm đề án, mô tả vị trí việc làm như Luật Viên chức”; tự quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong.  “Vừa rồi tôi vào thăm ĐH Đà Nẵng, các đồng chí có kiến nghị thành lập thêm 3 trường ĐH thành viên. Tinh thần nếu ĐH Đà Nẵng đăng ký tự chủ thì trường tự quyết định tổ chức bên trong. Hay trước đây còn quy định những người có học hàm, học vị được kéo dài thời gian công tác sau khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chỉ làm chuyên môn  thì đối với các trường ĐH tự chủ chúng ta không nên can thiệp nếu những giáo sư đó vẫn đầy đủ uy tín và được tín nhiệm ở vị trí quản lý”, Phó Thủ tướng bày tỏ.  Đề cập đến lo ngại của nhiều trường ĐH khi tự chủ sẽ không được ngân sách Nhà nước đầu tư, Phó Thủ tướng nêu thực tế ở những quốc gia như Đức, Pháp trường ĐH tự chủ rất nhiều nhưng ngân sách nhà nước vẫn cấp kinh phí.  Nói về quy định cho phép các trường ĐH tự chủ được quy định mức học phí cao sẽ ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận giáo dục của con em nông dân, người nghèo, Phó Thủ tướng cho rằng “mối quan tâm đấy là hoàn toàn chính đáng”.  Tuy nhiên, có thực tế cần tính đến là với mức học phí hiện quá thấp trong khi ngân sách nhà nước không đáp ứng đủ yêu cầu đầu tư thì không thể nâng cao chất lượng ĐH đầu ra. Cùng với đó, hàng năm có rất nhiều sinh viên, học sinh phổ thông ra nước ngoài học hoặc “du học tại chỗ” với mức học phí cao gấp hàng trăm lần học phí trong nước.  Vì vậy, việc nâng học phí để nâng chất lượng đào tạo ĐH nhằm thu hút người học có khả năng chi trả và kết hợp với ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho sinh viên nghèo, con em nông dân, đối tượng chính sách… không làm ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận giáo dục ĐH của các em.  Phó Thủ tướng nêu ví dụ: Trường ĐH A trước khi tự chủ thống kê thấy trong số 1.000 sinh viên có khoảng 300 em thuộc đối tượng khó khăn, gia đình chính sách. Vậy khi trường nâng học phí phải kèm theo quy định có 300 học bổng hỗ trợ cho những sinh viên như vậy. Cùng với đó, phần ngân sách của Nhà nước trước đây cấp cho chi thường xuyên, đầu tư sẽ chuyển thành hình thức hỗ trợ trực tiếp cho sinh viên, “đặt hàng” nghiên cứu khoa học đối với các trường ĐH.  “Tóm lại ngân sách Nhà nước không cắt tiền đầu tư cho giáo dục ĐH nhưng cần thay đổi cách thức để tăng cường tính tự chủ, trách nhiệm của nhà trường. Tự chủ không phải là Nhà nước không tiếp tục đầu tư cho giáo dục ĐH chỉ có điều là thay đổi cách đầu tư”, Phó Thủ tướng khẳng định.  Cốt lõi là mô hình quản trị  Trao đổi với các đại biểu, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ GD&ĐT cũng như các bộ ngành cần tháo gỡ từng bước tiến tới bỏ toàn bộ các quy định quản lý Nhà nước không cần thiết đối với các trường ĐH, đối với một nền giáo dục tiên tiến.  Vấn đề vướng mắc rất lớn đối với tự chủ ĐH, theo Phó Thủ tướng là mô hình quản trị ĐH, “rất cần bàn thảo sâu và nếu không có đột phá điểm này thì rất khó thực hiện tự chủ ĐH”.  Phó Thủ tướng cho rằng mô hình hội đồng trường là nhằm tăng quyền tự chủ của trường ĐH, chuyển từ mô hình quản trị hành chính một thủ trưởng sang mô hình quản trị cá nhân kết hợp với tập thể khi các cơ quan hành chính chủ quản không còn can thiệp vào hoạt động của trường. Nhưng thực tế thời gian qua, hội đồng trường trong các trường công lập chưa phát huy được vai trò đúng nghĩa, quyền lực vẫn tập trung vào hiệu trưởng.  Phó Thủ tướng cho biết, dự thảo nghị định của Chính phủ về tự chủ của các đơn vị sự nghiệp đối với khối ĐH sẽ đặt hội đồng trường là cơ quan quản lý cao nhất, toàn quyền lựa chọn Hiệu trưởng, Hiệu phó, cơ quan lãnh đạo trong trường.  Kết thúc phần tham luận, Phó Thủ tướng chia sẻ: Đổi mới ĐH phức tạp vì liên quan đến con người, trong giới trí thức, chúng ta cần nhận thức sâu sắc, thấu triệt, trách nhiệm và quyết tâm thực hiện ở mức cao hơn.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Giao-duc/Pho-Thu-tuong-tham-luan-ve-tu-chu-DH/287908.vgp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phụ huynh 4.0      Thế giới đã mới, thế kỷ 21 lại còn mới hơn. Hai thứ đó cộng lại, nghĩa là cùng một lúc cả phụ huynh và thế hệ con em bị quăng vào một cơn giông có đến hai tâm bão, tâm bão toàn cầu hoá khi ta phải học hỏi mọi thứ về thế giới, và tâm bão 4.0 khi mọi trật tự và nguyên tắc truyền thống đều có thể lật nhào… Hai bà mẹ, đều là tiến sĩ ở những trường danh tiếng hạng nhất thế giới, đều “đi mây về gió”, vẫn loay hoay tìm cách làm “phụ huynh 4.0”.       Các em học sinh thích thú khi trò chuyện với robot NAO. Ảnh: USTH.   Dạy con làm người giữa thế hệ máy   Tiến sĩ Nguyễn Phi Vân, chủ tịch công ty Retail and Franchise Asia đang họp, nhìn đồng hồ, ra ngoài gọi điện cho cô con gái 15 tuổi của mình. Nghe giọng chị ngọt ngào và trìu mến hẳn so với một nữ tướng trong phiên thảo luận đang diễn ra. Xong thấy chị lụi cụi mở máy, đặt một phần bánh-cuốn-không-hành-phi giao về cho con… Tiến sĩ Trần Phương Ngọc Thảo, chủ tịch công ty trí tuệ nhân tạo AInovation, tranh thủ nghỉ được một buổi sáng, lặng lẽ vô trường tiểu học của con, cần mẫn làm tình nguyện viên bao tập vở cho học sinh, chỉ để được sống trong môi trường mà con mình đang học tập, để có thể hiểu mọi chuyện đang diễn ra mà nói chuyện cùng con…  Hỏi: “Các chị chắc làm mẹ khoa học lắm nhỉ?”. Câu trả lời của hai phụ nữ rất khác nhau này, lại giống nhau: “Không. Làm mẹ là làm bằng chính trải nghiệm, chính con người và chính bằng tình thương yêu của mình. Đâu có thể nào dùng khoa học để áp vô thay cho cái kết nối đặc biệt thiêng liêng này được…”. Chị Phi Vân bảo: “Dù đời thêm vài con AI – trí tuệ nhân tạo, thế hệ mấy chấm không, tình thương mẹ dành cho con chẳng thể đo bằng mấy lần download – tải dữ liệu… Con gái tôi, năm nay 15 tuổi, là đại diện của Gen Z = thế hệ Z. Đội chúng tôi, cũng thôi rồi là kịch tính. May là tôi được rèn trong môi trường bôn ba quốc tế, cập nhật tin tức thế giới cũng tàm tạm, nên tính tôi hết sức open – dễ tiếp nhận. Bất cứ chuyện gì, cũng mang ra bàn bạc, brainstorm – não công – với con. Có khi, mình nói có lý thì cô ấy nghe. Có khi, bạn ấy đưa ra ý kiến và giải pháp mà tôi nghĩ là make sense – phù hợp – hơn tôi nữa. Khi đã lập đội, và cùng giải quyết một vấn đề, hai đứa bình đẳng ngang nhau. Không bao giờ là phải thế này thế kia. Không bao giờ là đừng thế này thế nọ. Mọi thứ, đều có sự dẫn dắt, có câu chuyện, có sự phản biện của riêng nó. Tôi quan tâm lắng nghe quan điểm của bạn, nên cô gái trẻ vì vậy cũng thoải mái tìm hiểu quan điểm cá nhân tôi. Hai bản thể, hai cá nhân, mỗi người một cách tư duy và tiếp cận riêng. Chúng tôi tôn trọng nhau, tin tưởng nhau, và hợp tác cùng sáng tạo ra giải pháp. Vậy, đâu phải lúc nào cũng sóng bằng thuyền lặng? Hai nền tảng thế hệ cách xa nhau dĩ nhiên là cũng có lúc choảng nhau”.   Chị Ngọc Thảo thẳng thắn hơn: “Tôi nghĩ với trẻ em việc được dạy dỗ bởi những trái tim yêu thương là vô cùng quan trọng. Đối với tôi việc dạy con pha trộn giữa yếu tố khoa học, luân lý, niềm tin của bản thân và chắc chắn phải lồng vào đó tấm lòng của cha mẹ nữa. Tôi nghĩ đó là một hành trình thú vị mình cùng đi với con, cùng khám phá, cùng thay đổi và trưởng thành hơn mỗi ngày”.  Thảo kể: “Những trụ cột của việc phát triển con người như nhân cách, tư duy, tính nhân bản,… thì vẫn tốt nhất là “người dạy người” chứ máy không dạy được. Hồi tôi 12 tuổi từng sáng tác một truyện ngắn được đăng báo về một ông thầy robot gia sư cho một cậu bé, lúc đầu thì cậu bé rất khoái vì thầy không la mắng gì và cái gì cũng biết, nhưng sau đó thì cậu buồn vì thầy khô khan quá, một hôm cậu nghịch moi quả tim thầy ra xem và phát hiện ra quả tim bằng sắt, cậu ngồi khóc ước gì thầy là một con người…”.     Dù thời đại nào, công nghệ  nào, dạy cho trẻ về lòng nhân ái, tình yêu thương vẫn là điều quan trọng nhất đối với trẻ.      Thảo tin rằng, những lý thuyết, khoa học về dạy con thì nhiều, nhưng không bằng thực hành, mà khi thực hành thì nó phụ thuộc vào tính cách, điều kiện cụ thể, năng lực cụ thể của ba mẹ nữa. “Tôi tự đánh giá mình cũng mắc nhiều sai lầm lúc này hay lúc khác, nhiều lúc cũng xuống tinh thần một tí. Nhưng tôi động viên mình là mình luôn mong muốn điều tốt nhất cho con, và ai cũng sai lầm, sai đâu sửa đó. Tôi gọi đó là “dạy con nguyên bản” (authentic parenting), giống với khái niệm “lãnh đạo nguyên bản” (authentic leadership). Niềm tin của mình thế nào, mình sống thế nào thì dạy con như thế. Mình muốn dạy con được tốt thì tự mình phải sống tốt cái đã”.  Và với chị Phi Vân, chị tin rằng thứ mà con chị sẽ nhớ nhất khi nghĩ về mẹ, là những lần mẹ ngồi hong tóc cho con, kể con nghe những câu chuyện xa xưa về dòng sông Tiền, nơi chị lớn lên…    Công thức của “bà mẹ thức tỉnh”  “Con tôi bắt đầu hỏi câu “Mẹ muốn con mai mốt làm nghề gì” rồi, nhiều lúc hỏi đi hỏi lại buộc tôi trả lời. Tôi luôn cố gắng tránh đưa ra một ngành nghề cụ thể. Tôi chỉ nói mẹ động viên và sẽ tạo điều kiện cho con theo đuổi những gì con thích. Nhưng con phải chuẩn bị tinh thần là có nhiều yếu tố ảnh hưởng. Bây giờ con thích A, tập trung vào A nhưng cũng có thể con chưa đủ năng lực để làm điều đó thì cũng cần phải linh hoạt để thay đổi và chấp nhận. Chưa kể là sở thích của mình cũng sẽ thay đổi nữa. Thực tế là từ sau đợt World Cup vừa rồi, con tôi rất mê đá banh, cháu theo dõi các giải đấu lớn, các cầu thủ nổi tiếng trên thế giới rất kỹ lưỡng, và cũng đặt mục tiêu làm cầu thủ chuyên nghiệp, chơi cho CLB lớn. Tôi nghĩ mình nên giúp cháu quản lý sự kỳ vọng của mình. Hồi tôi học Tiểu học, tôi nghĩ lớn lên mình sẽ làm kỹ sư Tin học, kết quả tôi lại chuyển hướng sang nghiên cứu Kinh tế học, rồi lại chuyển hướng tiếp sang quản trị kinh doanh, nên tôi rất thấm thía tại sao quản lý sự kỳ vọng và chấp nhận thay đổi là cần thiết…” – Ngọc Thảo chia sẻ bí quyết “làm bạn với con”.  Chị Phi Vân cười: “Có khi, tôi nhận được inbox của phụ huynh, hỏi chị ơi, muốn dạy con cho nó thành công dân toàn cầu, cho nó hội nhập thì em phải làm sao bây giờ hả chị. Chúng ta, những phụ huynh 4.0 chưa tìm được lối đi cho chính bản thân mình, lại mang vào người trách nhiệm phải dẫn dắt các em. Dẫn đắt thế nào, đến đâu? Một con đường mờ mịt phủ dầy sương. Ta quờ quạng, lần bước về vô định. Mệt lắm! Tôi biết hành trình này không dễ, khi trận hơn thua thế kỷ cùng lúc đương đầu nhiều chiến tuyến khác nhau. Cứ thập diện mai phục như kia, sơ suất chút là tan đàn sẻ nghé. Nhưng nghĩ lại ta có cần mang vác, hết cả gùi áp lực lên mình?  What if – Sẽ thế nào – nếu ta vận dụng kỹ năng thế kỷ, rồi tư duy, brainstorm, và sáng tạo cùng các em thì sao? Nếu ta lập một đội “già trẻ đều teen” để collaborate – hợp tác giải quyết vấn đề phức tạp thì sao? Nếu ta sử dụng ngôn ngữ của các em, kênh giao tiếp của các em để trao đổi bàn bạc lựa chọn thì sao? Nếu đứa nào trong gia đình cũng muốn trở thành công dân toàn cầu, sao không cùng học, cùng trải nghiệm, và cùng nhau ra thế giới? Nếu phải hội nhập vào thế kỷ số, sao không áp dụng flipped classroom – lớp học ngược, khi các em là người đứng lớp dạy cho ba má của mình? Thôi, đừng có mày mặt làm gì. Về cái khoản này, tụi nhỏ hơn mình vạn dặm. Khi chính ta, phụ huynh 4.0 ôm chầm tư duy mở (growth mindset), khi ta vận dụng tư duy thiết kế để giải quyết vấn đề, khi ta biết học là chuyện của cả đời, các em và ta trở thành những kẻ đồng hành cùng đi vào tương lai bất định. Đó, đối diện với thế kỷ toàn cầu và thế kỷ 4.0, tụi mình với tụi nó chỉ là bạn đồng hành. Ta chẳng dạy gì. Chúng chẳng học gì. Đội hình 4.0, cả đám trẻ già đều lăn ra cùng học…”.  Thảo thì bảo: “Tôi có một ước mơ là huấn luyện con tôi thành người đa ngôn ngữ – đa văn hóa. Một phần trong đó là cho con sống ở nhiều môi trường văn hóa khác nhau, nên nếu có điều kiện tôi sẽ lại “tha” con đi một nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một chiếc nôi quan trọng, tôi nghĩ con tôi sẽ có nhiều thời gian ở Việt Nam…”.  Và tâm sự của hai đứa con…  Các bà mẹ là thế. Còn con họ – một thế hệ con cái 4.0 – thì phản ứng như nào, yêu cầu ra sao với các phụ huynh của mình, khi mà họ lướt ipad, xài ứng dụng và trò chuyện với những con robot chắc chắn là rành rẽ hơn cha mẹ của mình?   Jessie – cô con gái vừa chạm tuổi teen – 13 tuổi – của chị Phi Vân viết bằng thứ tiếng Việt chuẩn không cần chỉnh, mặc dù vẻ bề ngoài của cô gái này thì lại rất Tây: “Đừng bao giờ ép con làm gì. Cha mẹ cần lắng nghe tại sao con đưa ra đề nghị như vậy. Có khi, con nói đúng thì sao? Với lại, cha mẹ lúc nào cũng nên supportive – có tinh thần hỗ trợ con mình. Có nhiều cái cha mẹ đâu có hiểu. Vậy thì phải tìm hiểu đã trước khi cấm cản con. Nếu không đồng ý cũng nên giải thích cho con tại sao không đồng ý. Con hiểu tại sao thì con sẽ nghe lời thôi. Con nghĩ là, mỗi người có một con đường khác nhau. Có người thích đi con đường người khác chọn cho mình. Riêng con, mà nhiều bạn của con nữa, thì thích con đường do mình tự chọn. Con đường đó, có khi là con đường do cha mẹ chỉ ra cho con, và con thấy là phù hợp với mình. Nhưng con đường đó, cũng có khi không phải là con đường do cha mẹ chọn, mà là con đường con tự tìm ra. Nếu thế, con rất mong cha mẹ ủng hộ con, chia sẻ kiến thức và trải nghiệm với con, chỉ con, giúp con, nâng con lên trên hành trình con đã chọn”.  Chị Phi Vân vừa ngạc nhiên, vừa hạnh phúc khi biết con gái mình đã… khác đứa con bé bỏng mà mỗi ngày mình vẫn lo lắng nhiều lắm. Phải rồi, dù có là siêu nhân đi nữa, thì con cái cũng vẫn mãi trẻ thơ với những người mẹ cơ mà…   Bạn Tom, chàng trai 7 tuổi của Ngọc Thảo thì chưa có sự chững chạc như Jessie. Nhưng anh chàng đã kịp biết rằng, ba mẹ cần tôn trọng sở thích và để bạn thử nghiệm những điều mình muốn. “Cuối cùng cuộc đời này là của con mà, ba mẹ cần ủng hộ những quyết định của con chứ, đúng không?”.   Quả vậy, con cái, thời xưa cũng như thời nay, không bao giờ nên là “cục thịt dư” của cha mẹ, dùng để hoàn tất những ước mơ không thành của phụ huynh. Nhưng dù tiến bộ đến mấy, như Tom chẳng hạn, suốt ngày nói chuyện với siri (trợ lý ảo trong các thiết bị của Apple) hay Google để tìm hiểu những thông tin mình quan tâm, nhưng đồng thời thì vẫn có thể hỏi đi hỏi lại hàng chục lần những câu hỏi như “Ba mẹ có yêu con không?” “Ba mẹ có thấy con dễ thương không?” “Ba mẹ thấy con giỏi không?” để tìm sự xác nhận về việc bản thân mình là quan trọng trong lòng ba mẹ. Và Tom vẫn thích những cử chỉ âu yếm yêu thương của mẹ, vẫn muốn thể hiện sự nũng nịu như một em bé. Với thế hệ 4.0 thì các con vẫn cần nhất việc ba mẹ là chỗ dựa yêu thương cho mình, cho mình cảm giác an toàn và ấm áp. Đây thuộc dạng mong muốn phải “read between the line” (thành ngữ – đọc giữa những dòng chữ – nghĩa là phải tự hiểu ra từ những thông điệp khác nhau điều quan trọng nhất) chứ các con sẽ không tự phát biểu lên thành một nhu cầu của mình…   Đến lá thư chưa được gửi  Xin kết lại bằng một đoạn trích trong lá thư mà chị Phi Vân viết cho con gái, để cô nàng có thể nhận được vào năm 2050, thay cho tâm sự của một bà mẹ 4.0: “Con yêu của mẹ. Mẹ lập trình rồi, sáng mùng một Tết 2050 là con nhận được thư. Cũng không biết, khi thư tới mẹ có còn ở đây uống ly trà với con ngày Tết. Mẹ và con, chúng ta cũng chỉ là những sinh linh bị thời gian đẩy vào dòng chảy, và hành trình sẽ có đến có đi. Thư trên tay, nếu mẹ ở chốn này, mẹ mong con tạm dừng, đừng vội vã, mình cùng ngắm hoa mai con nhé. Thế giới vùn vụt mỗi ngày qua trước mắt, ta vô tình chẳng bắt kịp thời gian.    Con gái ơi, đời lao theo những đại lộ thông tin không không một một vô hồn, ta bối rối mình là người hay máy. Nếu có lúc con giật mình thảng thốt, hãy tìm về nắm nhẹ một bàn tay. Khi con sinh ra, mẹ đã nắm ngón này. Mong con lớn ấm êm đời hạnh phúc. Chỉ vậy thôi, mẹ chẳng mong gì khác. Chẳng xe bay, chẳng tiền ảo, chẳng nhà in đâu đó một hành tinh. Loài người tiến lên, bỏ lại chính mình. Trái tim máy yêu sao thân xác thịt? 2050 rồi, thế kỷ của những điều huyễn hoặc. Mẹ vẫn ngồi đây, lá một chiếc đầu xuân. Vẫn yêu con quắt quay như những đêm thức trắng bần thần, khi con sốt trở mình trong đêm lạnh. Vẫn chờ con chén cơm lùa câu chuyện, ngả nghiêng cười từng vạt gió mùa Âu. Thế giới đa chiều, mờ mịt lòng xuân. Mong con đến, một nụ cười ánh sáng. Mặt trời rồi có còn, hay đổi thành hành tinh khác. Trăng cuối đường, mẹ vẫn lặng chờ con.  Nếu Tết nay, mẹ đã chẳng còn. Ánh nắng đầu ngày con hãy ngồi hong tóc. Nghe trong gió câu à ơi mẹ hát. Nghe đỏ tươi dòng máu chảy về tim. Ta đến, ta đi, giữa những muộn phiền. Đời khép lại, máy chẳng còn giá trị. Mẹ đi rồi, cây mai trước ngõ xuân này đừng tuốt lá. Để nhớ một mùa vắng mẹ chẳng trổ hoa. Con gái ơi, hiện tại là tương lai của quá khứ mà. Hãy sống trọn từng phút giây con nhé. Ừa, thì đời cứ vạn ngàn phát minh sao lãng, nhưng cuối đời, con chắc chỉ nhớ ngày mẹ gội tóc cho con…”.    Author                Trần Nguyên        
__label__tiasang Phương pháp giáo dục “ngoài lề”      Giáo dục STEM là một phương pháp giảng dạy đã được hàng chục nghìn học sinh tại các trường phổ thông đón nhận ở Việt Nam nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc dạy ngoại khóa.      Trong buổi tọa đàm giới thiệu Ngày hội STEM lần thứ ba, anh Nguyễn Kiêm Tuấn, giáo viên trường THCS Trưng Vương đã hỏi ban tổ chức: “Ngày hội đã thắp lửa đam mê khoa học – công nghệ cho các em học sinh, nhưng làm sao để duy trì ngọn lửa này?”. Anh kể anh đã gặp không ít khó khăn trong việc tổ chức CLB Khoa học vì nhiều phụ huynh coi đây chỉ là một hoạt động ngoại khóa. Do vậy, có học sinh của anh phải chờ đến 11h đêm, khi cả gia đình đi ngủ hết mới dám làm các thí nghiệm vì bố mẹ cho rằng: “Muốn giỏi thì không thể học những thứ vớ vẩn này”. Đó không phải là khó khăn riêng của CLB Khoa học của trường Trưng Vương mà của đa số các đơn vị đang triển khai giáo dục STEM ở Việt Nam.     Giáo dục STEM được đưa vào Việt Nam bởi những người hoạt động trong lĩnh vực KH&CN trong đó, phần lớn là những người từng học tập và làm việc lâu năm tại nước ngoài. Họ muốn đưa vào phương pháp “học qua hành”, “học theo dự án” mà học sinh sẽ sử dụng kiến thức tổng hợp của bốn môn khoa học – công nghệ – kỹ thuật và toán để giải quyết những vấn đề của cuộc sống. Từ đó, các em sẽ hình thành những kĩ năng và tư duy quan trọng để làm việc và hội nhập sau này như kĩ năng giao tiếp, cộng tác, tư duy phản biện và làm dự án. “Chúng tôi mong muốn giáo dục STEM như một luồng nước đẩy ngược từ dưới lên tác động và làm thay đổi quan điểm, chính sách giáo dục từ trên xuống” – Chị Nguyễn Thu Hương, đồng sáng lập Học viện Sáng tạo S3, cho biết.   Đầu tư lớn và bài bản  Công ty DTT là một trong số đơn vị đầu tư lớn, bài bản và dài hơi vào giáo dục STEM. Cùng với đối tác là tập đoàn giáo dục Eduspec (Malaysia) họ mua bản quyền chương trình giáo dục STEM Robotics của Đại học Carnegie Mellon cho tám nước Đông Nam Á với giá hơn 20 triệu USD. Bên cạnh đó, họ cũng đầu tư vài nghìn bộ robot Lego Mindstorms đi kèm với chương trình học, mỗi bộ khoảng 600-800 USD. Các em sẽ được tiếp cận với phương pháp giáo dục STEM thông qua việc lắp ráp và lập trình robot thực hiện các nhiệm vụ. Sau một khóa học, các em sẽ được cấp chứng chỉ có giá trị quốc tế của Đại học Carnegie Mellon. Họ cũng gửi hai giáo viên được cấp chứng chỉ Master Trainers của Đại học Carnegie Mellon. Các Master Trainers có thể đào tạo và huấn luyện và cấp chứng chỉ giảng dạy STEM cho các giáo viên khác. “Tức là rất tiêu chuẩn, nếu mình đã làm thì mình phải làm đàng hoàng. Mình đã đủ trưởng thành ở trong môi trường này, mình biết là làm gì cũng phải đến nơi đến chốn” – Anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc DTT, chia sẻ với Tia Sáng mặc dù hiện nay “dạy [chương trình này] ở các trường học chắc chắn là lỗ”. Cũng như DTT, Học viện Khám phá, đồng tổ chức Ngày hội STEM lần thứ hai tại Tp. Hồ Chí Minh và lần thứ ba tại Hà Nội mua bản quyền của High Touch High Tech (ht2) – một đơn vị của Mỹ xây dựng các bài giảng và chương trình để học sinh tự thực hiện các dự án khoa học và hiện đã có chi nhánh ở tám nước trên thế giới. Để áp dụng chương trình của ht2 một cách hiệu quả vào điều kiện và năng lực của học sinh Việt Nam, Học viện Khám phá xây dựng hai đội ngũ gồm Đội ngũ nghiên cứu và phát triển (gồm các nhà khoa học được đào tạo ở Mỹ và châu Âu) phát triển bài giảng và Đội ngũ nghiên cứu phương pháp giảng dạy (gồm các nhà nghiên cứu giáo dục).     Mặc dù không lựa chọn việc mua bản quyền từ các chương trình nước ngoài, những người sáng lập Học viện Sáng tạo S3 chứng thực chương trình của mình bằng trải nghiệm của mình với tư cách là các nhà khoa học và giáo viên giảng dạy nhiều cấp học phổ thông. Dựa trên các bộ sách giáo khoa trong và ngoài nước, họ tự xây dựng một khung chương trình bao gồm các dự án khoa học lí giải các câu hỏi gần gũi với cuộc sống. Lấy ví dụ, để trả lời câu hỏi “Tại sao thức ăn bị thiu?”, các em học sinh sẽ tiến hành một loạt các thí nghiệm, đặt cơm vào các lọ trong một loạt các môi trường khác nhau: trong nước, trong sáng, trong một nửa sáng nửa tối…, quan sát, ghi chép kết quả. Quá trình từ khi đặt vấn đề cho đến khi giải quyết nó tương tự như quá trình nghiên cứu của một nhà khoa học. Và đặc biệt là, “giáo viên hướng dẫn cũng sẽ không có câu trả lời cho hầu hết kết quả của các thí nghiệm” – Anh Đặng Văn Sơn, đồng sáng lập Học viện Sáng tạo S3 nói.   Nhưng khó lan rộng  Hầu hết các đơn vị giáo dục STEM tại Việt Nam hiện nay đang triển khai phương pháp này chủ yếu ở bậc Tiểu học, chỉ có một số ít ở THCS và chưa đến bậc THPT. Việc đưa giáo dục STEM vào lứa tuổi Tiểu học hiện nay tương đối đơn giản vì học sinh có thể dành nhiều thời gian cho hoạt động ngoại khóa mà không chịu nhiều áp lực thi cử. Đến THCS, bắt đầu trở nên khó khăn: “Với cấp học THCS, tầm nhận thức cũng như cái tôi của học sinh cao hơn nhiều so với học sinh (HS) tiểu học. Chương trình đào tạo cho HS THCS không chỉ cần đáp ứng về mặt kiến thức mà còn phải tạo sự hứng thú cho học sinh thì mới đạt hiệu quả. Biết đâu đó cũng là nguyên nhân mà các đơn vị giáo dục STEM hiện nay ở Việt Nam chưa tập trung vào độ tuổi này.” – Anh Thế Trung lí giải. Anh Đặng Văn Sơn cũng đồng tình với ý kiến này, anh cho rằng, cái khó của việc đưa giáo dục STEM vào cấp THCS nằm ở chỗ, khi đã không làm quen với giáo dục STEM ở tiểu học thì cấp hai sẽ khó thích thú với nó. Hơn nữa, đến lớp 8-9, các em bắt đầu lo thi cử vào cấp ba và chịu nhiều sức ép từ kỳ vọng của gia đình: “Bố mẹ thấy con không chịu làm bài tập mà cứ mày mò cái gì đấy là đã có vấn đề rồi”. Và đến THPT, việc đưa giáo dục STEM còn thách thức hơn nữa vì các em lại tập trung cho thi cử vào đại học.     Tuy vậy, việc triển khai giáo dục STEM lên các cấp học cao hơn là điều cần thiết vì “Chương trình cấp một “nồng độ” chơi cao, nhưng không thể chơi mãi được. Tiểu học là lúc hình thành nhân cách. THCS là lúc hình thành tính cách. THPT là lúc hình thành kĩ năng. Nếu sáng tạo trở thành thói quen ở THCS thì lớn lên các em cũng vẫn sáng tạo” – Anh Thế Trung nói.     Hiện nay, DTT đã đón khoảng 30 nghìn lượt học sinh và Học viện Khám phá nhận khoảng 40 nghìn lượt học sinh tham gia các khóa học của mình. Tuy nhiên, con số đó chỉ như “muối bỏ biển” đối với hơn 20 triệu học sinh trên cả nước. Bản thân các đơn vị, dù rất muốn cũng không đủ tiền và nguồn lực để triển khai đại trà. Để tất cả học sinh ở Việt Nam được tiếp cận giáo dục STEM, cần phải có chủ trương, chính sách bắt buộc đưa giáo dục STEM trong chương trình chính khóa.    Nếu không bắt buộc như vậy thì xã hội hóa giáo dục STEM gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đưa vào học chính khóa ở các trường công lập. THCS Trưng Vương là một ví dụ, mặc dù được ban giám hiệu ủng hộ, giáo dục STEM vẫn là hoạt động “ngoài lề”. “Nếu thanh tra kiểm tra thấy giáo án khác đi một chút là không được!” – anh Nguyễn Kiêm Tuấn nói. Hơn nữa, trường cũng không hỗ trợ kinh phí cho các thầy cô khi triển khai một phương pháp giáo dục mới. Cô Nguyễn Thị Thanh Thảo, Hiệu trưởng nhà trường cũng chia sẻ với phóng viên Tia Sáng rất thành thật rằng, thậm chí, các thầy cô giáo sẽ không có thời gian dạy thêm kiếm sống khi theo đuổi giáo dục STEM như vậy.  Chương trình quốc gia về giáo dục STEM  TS. Chu Cẩm Thơ, Phó trưởng bộ môn phương pháp dạy khoa toán – tin, Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện đang nghiên cứu về phương pháp giáo dục STEM, đã đưa ra một số ưu thế của giáo dục STEM. Thứ nhất, STEM thể hiện được xu hướng phát triển của thế giới: những vấn đề khoa học và đời sống cần kiến thức của nhiều môn học ngày càng có khuynh hướng gắn kết lẫn nhau cả ở mặt phương pháp luận và kỹ thuật thực hiện. Thứ hai, sự phát triển của các nghiên cứu về thần kinh học, tâm lý học đã chỉ ra những điểm mới về cách giáo dục đối với từng cá nhân, từng giai đoạn và xã hội cũng đòi hỏi con người những mục tiêu khác nên phương pháp giáo dục STEM chiếm ưu thế vì học qua trải nghiệm, tăng cường tính làm chủ, tính hợp tác, óc tưởng tượng và sáng tạo.     Chị không đồng tình việc giáo dục STEM chiếm toàn bộ trong chương trình học vì phụ thuộc vào giai đoạn và năng khiếu của từng học sinh nhưng chị cho rằng: “STEM cần được phát triển sâu và nhân rộng ở Việt Nam vì nó sẽ là một điển hình cho sự tích hợp (mang tính tư tưởng, phương pháp) và nó có ích cho cả những lĩnh vực khác. Đồng thời, nó khắc phục được cách học thụ động và không có thực tiễn đã thành “bệnh” ở Việt Nam. Khi STEM được dạy một cách hệ thống, chắc chắn sẽ thay đổi được chất lượng giáo dục.”  Mark Windale, chuyên gia giáo dục STEM ở trường Đại học Sheffield Hallam (Anh) trong một buổi tọa đàm về giáo dục STEM do Hội đồng Anh tổ chức cho biết, nếu muốn triển khai giáo dục STEM trên toàn quốc, cần xây dựng một chương trình quốc gia với mục tiêu rõ ràng và nghiên cứu cụ thể về thực trạng giáo dục, những khó khăn thách thức sẽ gặp phải, nhu cầu và khả năng đóng góp của các bên liên quan (các công ty, các trường đại học, các trung tâm dạy STEM) và từ đó đưa ra kế hoạch triển khai cụ thể.        Phải mất ba năm (2011-2014) để có  được sự đồng ý của Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh và thuyết phục các  trường, DTT mới đưa được chương trình giáo dục STEM của họ vào trong  khoảng 20 trường tiểu học trên cả nước dưới dạng các câu lạc bộ (CLB)  Robotics. Sau đó, Học viện Khám phá hay Học viện Sáng tạo nhanh hơn, họ  mất khoảng hơn một năm để triển khai các CLB ở các trường. Nhưng CLB  giáo dục STEM như vậy chỉ diễn ra 1-2 buổi/tuần, tương đương với các CLB  mang tính chất năng khiếu như khiêu vũ, võ, mỹ thuật…Với thời gian ít  ỏi và mang tính ngắn hạn, nội dung dạy trong các CLB sẽ chỉ ở mức độ  nhập môn, cơ bản và kết quả đầu ra rất khiêm tốn.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp học nào hiệu quả nhất ?      Người đi học thường chỉ quan tâm đến nội dung cần học nhưng việc lựa chọn phương pháp học phù hợp cũng rất quan trọng. Một nhóm nghiên cứu của Mỹ đã tập hợp các căn cứ thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của 10 phương pháp học phổ biến nhất lâu nay.     Nhóm nghiên cứu gồm các nhà tâm lý học John Dunlosky và Katherine A. Rawson (ĐH Kent), Elizabeth J. Marsh (ĐH Duke), Mitchell J. Nathan (ĐH Wisconsin-Madison) và Daniel T. Willingham (ĐH Virginia) đã xem xét hơn 700 bài báo khoa học về 10 phương pháp học tập phổ biến nhất nhằm xác định các phương pháp có hiệu quả nổi bật nhất dựa trên bốn tiêu chí:   – Hữu ích trong nhiều điều kiện học tập khác nhau, ví dụ khi người học tự học một mình hay khi học theo nhóm;   – Giúp ích cho người học ở nhiều độ tuổi, khả năng và trình độ khác nhau;   – Giúp người học làm chủ kiến thức trong nhiều môn học, và thành tích học tập của họ sẽ được cải thiện theo mọi tiêu chuẩn đánh giá;   – Đem lại tác dụng lâu dài trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cho người học.  Kết quả của nhóm nghiên cứu cho thấy có hai phương pháp đem lại hiệu quả cao nhất, còn được gọi là hai phương pháp vàng.    Hai phương pháp vàng    Tự kiểm tra:   Tự kiểm tra là việc người học tự thực hành để kiểm tra chính mình ngoài thời gian trên lớp. Theo phương pháp này người học có thể dùng các tấm bìa ghi những từ khóa quan trọng hoặc trả lời câu hỏi cuối bài trong sách giáo khoa. Mặc dù đa số người học đều không thích các bài kiểm tra nhưng hàng trăm thí nghiệm cho thấy, tự kiểm tra giúp cải thiện việc học và giúp ghi nhớ được lâu.   Trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học được yêu cầu ghi nhớ các cặp từ, một nửa trong số đó sau đó được tham gia một bài kiểm tra trí nhớ tức thời với các cặp từ này. Một tuần sau, các sinh viên này nhớ được 35% các cặp từ trong bài kiểm tra, so với chỉ có 4% đối với những sinh viên không tham gia kiểm tra. Trong một thí nghiệm khác, các sinh viên đại học được tiếp xúc với một bản dịch từ tiếng Swahili sang tiếng Anh. Tiếp theo, họ dùng phương pháp tự kiểm tra đối với một phần văn bản, phần văn bản còn lại chỉ được họ đọc lại. Kết quả là các sinh viên nhớ lại được 80% trong phần mà họ đã học bằng cách tự kiểm tra nhiều lần, so với chỉ có 36% cho phần mà họ chỉ đọc lại. Giả thuyết của nhóm nghiên cứu là việc tự kiểm tra sẽ giúp thúc đẩy quá trình tìm kiếm trong não bộ phần ký ức bền giúp kích hoạt các thông tin liên quan, qua đó hình thành nhiều lối mòn ghi nhớ giúp truy cập thông tin dễ dàng hơn.  Theo nhóm nghiên cứu, bất cứ ai từ trẻ mẫu giáo đến sinh viên y khoa năm thứ tư và những người ở độ tuổi trung niên đều được lợi khi sử dụng phương pháp tự kiểm tra. Nó có thể áp dụng được cho tất cả các loại thông tin cần ghi nhớ, như từ vựng ngoại ngữ, kỹ năng đánh vần, hay thành phần cấu trúc trong các loại hoa. Thậm chí nó còn giúp cải thiện khả năng trí nhớ cho những người bị bệnh Alzheimer.   Nhóm nghiên cứu đánh giá phương pháp tự kiểm tra một cách thường xuyên đem lại hiệu quả cao nhất cho việc học, đặc biệt là khi người học được người chấm xác nhận tức thời các câu trả lời đúng của họ.  Phương pháp tự kiểm tra cũng phát huy hiệu quả ngay cả khi thể thức của các bài kiểm tra khi tự thực hành khác với các bài kiểm tra chính thức. Thông tin lưu giữ trong trí nhớ nhờ phương pháp này có thể được duy trì từ nhiều tháng cho đến nhiều năm.  Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh, phương pháp này chỉ cần một lượng thời gian khiêm tốn và người học chỉ cần được giới thiệu sơ qua hoặc thậm chí không cần. Để tự kiểm tra, người học có thể dùng những tấm thẻ ghi từ khóa, hoặc áp dụng phương pháp Cornell, đó là khi ghi chép bài trên lớp, người học tạo một cột ở lề trang giấy để ghi lại các từ khóa hoặc những câu hỏi quan trọng. Sau đó, người học có thể tự kiểm tra bằng cách che đi phần ghi chép trên lớp và tự trả lời các câu hỏi (hoặc lý giải các từ khóa) trên phần lề này.  Ôn tập giãn cách:  Học sinh thường tập trung học nhồi ngay trước khi có bài thi hoặc kiểm tra. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy việc giãn cách thời gian ôn tập sẽ giúp đạt hiệu quả cao hơn nhiều. Trong một thí nghiệm kinh điển, học sinh học các từ tiếng Anh được dịch ra từ các từ trong tiếng Tây Ban Nha, sau đó ôn lại trong sáu phiên. Một nhóm ôn trong các phiên liên tiếp nhau, một nhóm ôn các phiên cách ngày và số còn lại ôn các phiên cách nhau 30 ngày. Thực tế cho thấy các học sinh trong nhóm cuối nhớ bản dịch tốt nhất. Một phân tích trên 254 nghiên cứu được thực hiện với 14.000 người tham gia, kết quả cho thấy những sinh viên ôn tập cách quãng nhớ được khoảng 47% nội dung học, trong khi những người học dồn chỉ nhớ được 37%.  Phương pháp này được nhóm nghiên cứu đánh giá có hiệu quả đối với từ trẻ ba tuổi tới sinh viên đại học và cả những người lớn tuổi hơn. Việc phân phối thời gian học cách quãng có hiệu quả cao cho việc học ngữ vựng, học định nghĩa của từ, và thậm chí cả những kỹ năng như toán học, âm nhạc, hay phẫu thuật.   Phương pháp này cũng không khó để thực hiện. Mặc dù sách giáo khoa thường gộp các bài tập lại với nhau theo chủ đề, nhưng người học có thể từ ngắt quãng chúng ra theo cách của mình. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi người học phải lên kế hoạch trước, và phải vượt qua trở ngại chung là thói quen trì hoãn việc ôn bài.  Hiệu quả học bài dường như tăng lên, tỷ lệ thuận với khoảng thời gian giãn cách giữa các lần ôn tập. Một nghiên cứu cho thấy khoảng cách ôn bài giãn cách 30 ngày đem lại hiệu quả cao hơn nhiều hơn so với ôn bài cách ngày. Trong một nghiên cứu dựa trên một khóa học thông dụng trên Internet, kết quả cao nhất người học đạt được khi các phiên ôn bài cách nhau khoảng từ 10 đến 20% của khoảng thời gian mà người học cần lưu giữ kiến thức trong đầu. Như vậy, để nhớ một điều gì đó trong một tuần, các phiên học ôn nên cách nhau từ 12 đến 24 giờ đồng hồ. Để nhớ một điều gì đó trong năm năm, các phiên học nên cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Thực tế cho thấy sau những khoảng thời gian dài cách quãng, người học có thể học lại một cách nhanh chóng những gì họ đã quên, và đây là cách lý tưởng để ghi nhớ các khái niệm cơ bản làm cơ sở cho kiến thức chuyên sâu hơn.    Ba phương pháp hạng nhì  Đây là những phương pháp học tập được nhóm nghiên cứu cho là còn thiếu căn cứ thực tế để hoàn toàn chứng minh tính hiệu quả. Ví dụ phương pháp hỏi đáp vào chi tiết, hay phương pháp tự lý giải, đến nay vẫn chưa được đánh giá trong các tình huống giáo dục thực tế, hay phương pháp xen kẽ nội dung thực hành chỉ gần đây mới được bước đầu nghiên cứu có hệ thống. Tuy nhiên, chúng vẫn được coi là có hiệu quả đủ tốt để nhóm nghiên cứu khuyến khích sử dụng trong một số tình huống nhất định.    Hỏi đáp vào chi tiết:   Tò mò vốn là bản năng tự nhiên khiến con người luôn tìm kiếm những kiến giải về thế giới xung quanh mình, và có nhiều căn cứ cho thấy việc kích thích người học trả lời các câu hỏi “tại sao?” sẽ giúp việc học tập trở nên dễ dàng hơn.  Trong một thí nghiệm, học sinh được đọc câu “người đàn ông đói bụng đã ngồi vào xe”. Các thành viên của nhóm hỏi đáp chi tiết được yêu cầu giải thích lý do tại sao, trong khi nhóm thứ hai được cung cấp sẵn lời giải thích, chẳng hạn như “người đàn ông đói bụng đã lên xe để đi đến nhà hàng”, và nhóm thứ ba chỉ thuần túy học theo cách đọc lần lượt từng câu trong bài. Khi được yêu cầu nhớ lại ai đã làm gì (ví dụ đặt câu hỏi “ai đã lên xe?”), trong nhóm hỏi đáp chi tiết có khoảng 72% học sinh trả lời đúng, còn hai nhóm kia chỉ có khoảng 37% học sinh trả lời đúng.  Tác dụng của phương pháp hỏi đáp vào chi tiết có vẻ ổn định theo tuổi tác, từ học sinh lớp bốn cho đến sinh viên đại học. Tuy nhiên, mặc dù phương pháp này giúp cải thiện rõ ràng việc ghi nhớ các sự kiện, nhưng vẫn chưa chắc chắn để nói rằng nó làm tăng mức độ hiểu sâu nội dung học, và chưa đủ cơ sở để kết luận kiến thức sẽ được ghi nhớ trong bao lâu.  Thời gian cần cho việc áp dụng phương pháp này không hề quá nhiều. Trong một nghiên cứu, một nhóm hỏi đáp chi tiết cần 32 phút để kết thúc bài học, trong khi nhóm chỉ thuần túy đọc hiểu thì cần 28 phút. Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, phương pháp này áp dụng được cho khá nhiều môn học khác nhau, nhưng có thể không hữu ích lắm đối với các đề tài trừu tượng. Đối với người học một nội dung hoàn toàn mới mẻ thì lợi ích của phương pháp này khá hạn chế.   Tự lý giải:  Đây là phương pháp đòi hỏi người học phải đưa ra lời giải thích cho những gì họ học, xem xét quá trình tư duy đối với những câu hỏi kiểu như “Câu văn này cung cấp thông tin mới gì cho bạn?”, “Nó có liên quan như thế nào đến những gì bạn đã biết?” Tương tự như phương pháp hỏi đáp vào chi tiết, phương pháp tự giải thích có thể giúp kết nối một cách hiệu quả những thông tin mới học được với kiến thức người học đã có sẵn.  Người học từ bậc mẫu giáo cho đến sinh viên đại học đều có thể sử dụng phương pháp này bởi nó giúp ích cho việc học các chuyện kể, giải toán cũng như giải các câu đố cần suy luận logic. Ở trẻ em, phương pháp tự lý giải có thể giúp ích trong việc học những khái niệm căn bản như việc học các con số hoặc hình mẫu. Tác dụng của phương pháp này khá đa dạng, có thể giúp cải thiện trí nhớ, giúp hiểu sâu và giải quyết các vấn đề. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chỉ đo các tác dụng trong vòng vài phút, và ta không biết đối với những người kiến thức cao hơn hay thấp hơn thì hiệu quả sẽ kéo dài hơn hay ngắn hơn.  Đồng thời, nhóm nghiên cứu cho rằng còn chưa rõ để khẳng định phương pháp này có dễ áp dụng hay không. Một số nghiên cứu cho thấy hầu hết người học chỉ cần được hướng dẫn ở mức tối thiểu và không cần thực hành nhiều, hoặc hoàn toàn không cần thực hành trước. Nhưng một thí nghiệm trên một bài kiểm tra của học sinh lớp chín cho thấy những học sinh không được huấn luyện phương pháp này có xu hướng chỉ diễn giải lại điều được học chứ không phải là đưa ra lời giải thích thật sự. Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu cho thấy phương pháp này tiêu tốn khá nhiều thời gian, tăng nhu cầu thời gian từ 30 đến 100% so với các phương pháp khác.    Xen kẽ nội dung thực hành:   Theo trực quan thông thường, người học có xu hướng chia nội dung học thành từng phần kiến thức, học xong một chủ đề hoặc một dạng bài tập trước khi chuyển sang phần nội dung tiếp theo. Nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra lợi ích của phương pháp xen kẽ nội dung thực hành, theo đó người học sẽ học xen kẽ các chủ đề hay các dạng bài toán khác nhau. Ví dụ trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học được yêu cầu học cách tính thể tích của bốn dạng vật thể khác nhau. Nếu làm theo phương pháp chia nội dung thành từng phần kiến thức, họ phải hoàn thành tất cả các bài tập đối với một dạng vật thể trước khi chuyển sang dạng vật thể tiếp theo. Nhưng với phương pháp xen kẽ nội dung thực hành, cả bốn dạng bài toán sẽ được trộn xen kẽ cạnh nhau.   Trong bài kiểm tra thực hiện một tuần sau đó, nhóm sử dụng phương pháp trộn xen kẽ nội dung thực hành đã làm chính xác hơn 43% so với nhóm học theo phương pháp chia phần kiến thức. Nghiên cứu cho thấy việc học xen kẽ các kiến thức giúp người học có được kĩ năng lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp và khuyến khích họ so sánh các dạng bài tập khác nhau.  Nhóm nghiên cứu khuyến nghị, nên sử dụng phương pháp này khi các dạng bài tập tương tự nhau vì đưa chúng lại gần nhau sẽ giúp người học dễ nhận thấy sự khác biệt giữa chúng hơn. Trong khi đó, phương pháp chia nội dung học theo từng phần kiến thức – tức là cố gắng giải một lượt tất cả các bài toán trong cùng một dạng – có thể hiệu quả hơn khi các dạng bài toán có nhiều sự khác biệt, vì cách này giúp làm nổi bật những điểm chung giữa chúng.   Phương pháp xen kẽ nội dung thực hành có thể chỉ phát huy hiệu quả ở những người học đã nắm bắt nội dung học tới một độ sâu nhất định. Ngoài ra, tác dụng của phương pháp này cũng không nhất quán trên nhiều loại nội dung học tập khác nhau. Nó giúp cải thiện kết quả học tập đối với các bài toán đại số, và có hiệu quả đối với một nghiên cứu về đào tạo cho sinh viên y khoa năng lực diễn giải kết quả chẩn đoán chứng rối loạn tim mạch. Nhưng với hai nghiên cứu về việc học từ vựng ngoại ngữ cho thấy phương pháp này không phát huy hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên, với những khó khăn mà nhiều học sinh gặp phải ở môn toán, phương pháp xen kẽ nội dung thực hành vẫn có thể là một cách học đáng tham khảo.  Với những người có động cơ học tập, họ có thể dễ dàng áp dụng phương pháp xen kẽ nội dụng thực hành mà không cần bất kỳ hướng dẫn nào. Giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp này trong lớp học: Sau khi đưa ra một dạng bài tập (hoặc chủ đề), bước đầu tiên là tập trung vào dạng bài đó. Ngay khi đưa ra dạng tiếp theo, cần trộn lẫn bài tập dạng này với bài tập của dạng trước. Mặc dù gây tốn nhiều thời gian hơn một chút so với phương pháp chia kiến thức thành từng phần nhưng phương pháp xen kẽ nội dung vẫn có giá trị vì nó giúp nâng cao thành tích học tập.    Kết luận  Mặc dù những phương pháp học tập trên đây không phải phương thuốc chữa bá bệnh, thường chỉ đem lại lợi ích cho những người học có động lực và có khả năng áp dụng chúng, nhưng giáo viên vẫn nên tiến hành một số thử nghiệm để người học thực hành, chẳng hạn như:   – Khi chuyển đến phần kiến thức mới, giáo viên có thể yêu cầu người học làm một bài kiểm tra thực hành về trí nhớ với những khái niệm quan trọng ở phần trước, sau đó phản hồi kết quả chấm bài ngay cho người học.   – Yêu cầu người học xen kẽ những bài toán mới với các bài toán có liên quan ở trong các phần trước đó.   – Khai thác phương pháp ôn tập giãn cách bằng cách thỉnh thoảng nêu lại khái niệm chính từ các bài trước.   – Giúp người học sử dụng phương pháp hỏi đáp vào chi tiết bằng cách gợi cho người học trả lời cho những câu hỏi “tại sao?” xoay quanh nội dung bài giảng.  Nhóm nghiên cứu tin rằng những phương pháp này khi được áp dụng sẽ giúp nhiều người học không chỉ nâng cao thành tích học tập, mà có thể còn đem lại những lợi ích lâu dài cho họ trong cuộc sống.        Năm phương pháp có hiệu quả thấp và không rõ ràng              Năm  phương pháp sau không được nhóm nghiên cứu khuyến nghị sử dụng, hoặc  được cho là chỉ hữu ích trong một số trường hợp hạn chế, hoặc chưa đủ  căn cứ để được đánh giá cao hơn:              – Đánh dấu hoặc gạch chân nội dung trong sách và tài liệu học;              – Đọc đi đọc lại;              – Tóm tắt bài giảng;              – Học thuộc lòng ý nghĩa các từ khóa;              – Sử dụng hình ảnh để trợ giúp ghi nhớ.              Kết  luận về năm phương pháp này có phần gây ngạc nhiên, đặc biệt là với hai  phương pháp lâu nay vẫn được áp dụng phổ biến là đọc đi đọc lại và đánh  dấu/gạch chân nội dung học.              Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng hai  phương pháp này không mang lại kết quả có tính ổn định cao. Đối với các  phương pháp tóm tắt bài giảng và sử dụng hình ảnh trợ giúp ghi nhớ, nhóm  nghiên cứu chỉ ghi nhận hiệu quả cho một số trường hợp hạn chế trong  điều kiện đặc thù nhất định, và cho rằng cần thêm nhiều nghiên cứu trong  tương lai để xem xét đầy đủ tác dụng của chúng. Cuối cùng, phương pháp  học thuộc lòng ý nghĩa từ khóa được cho là khó nhận định hiệu quả trong  một số trường hợp, và dường như chỉ hữu ích đối với một số loại nội dung  tài liệu và chỉ giúp người học ghi nhớ thông tin trong một thời gian  ngắn.                  An Khương tóm lược  Nguồn:http://www.scientificamerican.com/article.cfm?id=psychologists-identify-best-ways-to-study    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp học Văn của Cánh Buồm: Tự tìm ra cái đẹp      Phương pháp học văn mà Cánh Buồm chủ trương không nhằm tạo ra những học sinh giỏi văn, mà nhằm tạo ra những con người dùng cái lõi ngữ pháp nghệ thuật đó để am tường về hoạt động nghệ thuật của con người – dĩ nhiên là ở mức độ phổ thông – những con người biết tự mình tạo ra Cái Đẹp.    Các tác phẩm văn chương là những vật liệu nghệ thuật chứa đựng toàn bộ phương pháp nghệ thuật cần trao vào tay trẻ em ngay từ khi học lớp Một ở trường phổ thông. Các “vật liệu” văn chương đó rất nhẹ và không mất tiền mua: đó chỉ là lời nói của con người.   Khi nhà sư phạm nhìn kỹ vào các tác phẩm văn chương, sẽ thấy trong đó những yếu tố quan trọng về phương pháp tạo ra một tác phẩm nghệ thuật như sau:  Một cảm hứng nghệ thuật thúc đẩy người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm;  Một năng lực tưởng tượng khiến người nghệ sĩ tạo ra được một hình tượng nghệ thuật sinh động “y như thật”;  Một năng lực liên tưởng khiến cho cái hình tượng nghệ thuật kia mang một ý nghĩa nhất định;   Một năng lực sắp xếp khiến cho có thể nhào nặn cái hình tượng nghệ thuật kia sao cho nó mang một tư tưởng nhất định;   Theo đó mà hướng dẫn học sinh “đi lại con đường mà người nghệ sĩ đã đi” để đến cuối giáo dục phổ thông các em sẽ có năng lực văn như sau:  Nhân lõi tinh thần là một lòng đồng cảm với thân phận con người.  Xương cốt vật chất là một ngữ pháp nghệ thuật với 3 thành phần là thao tác tưởng tượng (gửi trong một hình tượng), thao tác liên tưởng (gửi trong một ý, hoặc một “nghĩa bóng”) và thao tác bố cục tác phẩm (gửi trong một chủ đề).  Thịt da kiến thức là sự am tường các bộ môn nghệ thuật suy ra được từ cái MẪU dùng trong nhà trường phổ thông là thơ, văn xuôi và kịch.  Trong thực tiễn giáo dục diễn ra tuyến tính, công việc học sẽ như sau qua năm tháng:  Ngay từ lớp Một: Huấn luyện thành tố hạt nhân của năng lực nghệ thuật: sự ĐỒNG CẢM.  Ở ba lớp tiếp theo: Huấn luyện ba thành tố của Ngữ pháp Nghệ thuật là năng lực TƯỞNG TƯỢNG để tạo ra những hình tượng nghệ thuật; năng lực LIÊN TƯỞNG để tạo ra những ý nghĩa gửi trong các hình tượng; và năng lực BỐ CỤC (sắp xếp) để từ một ĐỀ TÀI có thể biết tạo ra những CHỦ ĐỀ một cách có ý thức.  Ở các lớp tiếp theo: Vận dụng ngữ pháp nghệ thuật vào những loại hình nghệ thuật của con người như nghệ thuật dùng ngôn từ, nghệ thuật dùng ánh sáng và màu sắc, nghệ thuật dùng âm thanh, nghệ thuật dùng ngôn ngữ cơ thể, nghệ thuật sắp đặt–tạo dựng…  Cách thực hiện cụ thể ở từng lớp       Lớp Một, công việc được tiến hành thông qua các trò chơi đóng vai để tạo ra ở trẻ em một tinh thần đồng cảm với những thân phận con người – công việc “lặp lại” chính cái lòng đồng cảm đã từng khiến người nghệ sĩ khóc cười với thân phận con người để có được cái cảm hứng tạo ra những nhân vật mang đậm tâm tình của người sáng tạo tác phẩm.   Trong sách Văn 1, có những “vở kịch” ngắn, thậm chí rất ngắn, chỉ vài ba câu đối thoại để học sinh đóng vai. Từ những “vở diễn” được gợi ra trong sách giáo khoa đó, giáo viên gợi tiếp cho học sinh tưởng tượng ra những cảnh ngộ mới, rồi chính các em tìm ra những “đối thoại kịch” để cùng diễn với nhau. Đó chính là hình thái sách giáo khoa thầy và trò cùng tạo ra trong tiết học.      Kết thúc một tiết học, giáo viên không rút ra bài học đạo lý nào hết mà để cái cảm xúc nhân bản từ những trò chơi đóng vai ngấm dần vào các em. Cũng không có chuyện “ghi vở” hoặc “bài tập về nhà” nào cả. Nhà trường khuyến khích các em về nhà kể lại chuyện đã học những gì với gia đình. Nhà trường cũng khuyến khích các em cùng người thân diễn lại các trò chơi đóng vai đó trong gia đình.   Lớp Hai các em học thao tác làm ra hình tượng– đó là tưởng tượng, thao tác căn bản nhất để tạo ra tác phẩm nghệ thuật.  Các em học sinh lớp Hai sẽ học thao tác đó theo cách gì? Ngay tiết học Văn đầu tiên các em sẽ cùng cô giáo thực hiện công việc đi hái hoa mang về trang trì lớp học. Các em sẽ làm thầm trong đầu công việc “hái hoa” đó  – và sản phẩm (bó hoa) cũng nằm trong đầu các em. Xin lưu ý: công việc làm đó (đi hái hoa trong tưởng tượng) chính là để định nghĩa thao tác tưởng tượng – định nghĩa không bằng lời giảng giải mà bằng việc làm, bằng chính hoạt động của người học.  Tiếp theo định nghĩa đó, học sinh đi sâu vào thao tác tưởng tượng:  Tìm nguyên nhân đơn giản đầu tiên của thao tác tưởng tượng: những trải nghiệm đã được hằn lại trong ký ức nhờ nhìn thấy (trải nghiệm thị giác), nhờ nghe được (trải nghiệm thính giác), và những trải nhiệm khác đã được ghi lại trong cảm giác.  Từ những tưởng tượng “đơn giản”, học sinh bước sang những tưởng tượng khác, hoang đường và bay bổng, thậm chí tưởng tượng quái dị …    Sau khi được biết về các thao tác, người học được củng cố bằng những văn bản thơ, văn, kịch chọn lọc. Người dạy (giáo viên ở lớp hoặc phụ huynh ở gia đình) dùng các vật liệu văn, thơ, kịch này để củng cố thao tác tưởng tượng của người học.  Một hình tượng bao giờ cũng mang một ý nghĩa nào đó. Vì vậy cần tổ chức cho học sinh tự tạo cho mình năng lực tiến hành thao tác liên tưởng sao cho hình tượng đó thoát khỏi trạng thái “thô” ban đầu và để được mang một phẩm tính nghệ thuật. Ví dụ:  Một hình ảnh hòn đá có dáng đứng như người mẹ bồng con và một ý nghĩa cũng gửi trong hòn đá đó nay đã mang tên gọi thí dụ như “Người chờ chồng hóa đá” – (“Hòn vọng phu”).   Một hình ảnh mẹ con cùng chiếc bóng trên vách “cha của Đản đó…” và tiếng oan khiến toàn bộ hình tượng được mang ý nghĩa một nỗi hy sinh thầm lặng chỉ cái chết mới giải oan nổi – (“Thiếu phụ Nam Xương”).  Một hình ảnh Ban nhạc thương binh ngày 27 tháng 7 và khi học sinh cùng nhau diễn xuất thì đã khiến cho toàn bộ hình tượng đó mang một ý nghĩa khác, thương binh tàn nhưng không phế –  (bài tập trong sách này).  Lớp Ba, học sinh học liên tưởng. Giống như khi học thao tác tưởng tượng, cách học khái niệm liên tưởng cũng không thông qua giảng giải, mà thông qua việc làm để học sinh nhận ra điều cần học.   Nguyên tắc chung của việc học thao tác liên tưởng là thay vật liệu. Thay từ vật liệu dễ nhất, để tìm ý nghĩa của tục ngữ chẳng hạn:  – Ăn quả nhớ kẻ trồng cây à thay “ăn quả” bằng ăn cơm…? qua sông…? học giỏi…? … thì “nhớ” ai, “nhớ” cái gì?  Thay đến vật liệu khó hơn, thí dụ như để tìm ý nghĩa của bài ca dao:  – Thùng thùng trống đánh ngũ liên … Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa à thay “nước mắt” người lính thú bằng lời nói của người đó với vợ, với người yêu, với mẹ già, với cha, với bạn học …   Thay cả một hình tượng, thí dụ để tìm ý nghĩa của tượng Hòn vọng phu à huy động trí tưởng tượng để thay toàn bộ hình tượng đó bằng hình tượng khác, xúc động hơn, mãnh liệt hơn.  Kết quả của một năm học Văn với chủ đề thao tác liên tưởng là học sinh sẽ biết cách tự tìm lấy một ý nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật, không cần đợi giáo viên bày cho những “cảm thụ” rồi đồng loạt nhắc lại y nguyên các “xúc cảm nghệ thuật” hệt như nhau.  Lớp Bốn – thao tác sắp xếp tác phẩm (hoặc bố cục).  Tại sao gọi bằng “sắp xếp” mà không gọi bằng học về “bố cục” tác phẩm ? Khi nói đến “bố cục”, ta thường nghĩ đến một tác phẩm đã được làm xong và người thưởng thức nhìn và xem xét cái bố cục từ bên ngoài. Một tác phẩm có một hình thù bề ngoài ví như như một ngôi nhà – chúng ta có thể đứng bên ngoài xem xét cái bố cục của nó. Còn theo cách dạy học tuân thủ lý thuyết hoạt động của nhóm Cánh Buồm, cần tổ chức cho học sinh được tự mình bắt tay vào việc xây dựng ngôi nhà đó, nên chúng ta dùng cách gọi tên công việc là sắp xếp. Sách Văn 4 nói đến thao tác sắp xếp để nhấn mạnh công việc làm của người nghệ sĩ khi đang tạo ra một bố cục.   Giáo viên ở lớp học hoặc phụ huynh ở gia đình không giảng giải và bắt trẻ em nhại lại việc “cảm thụ” những “vẻ đẹp nghệ thuật” từ bên ngoài – phương cách sư phạm của chúng ta nằm trong việc tổ chức cho trẻ em tự làm ra tác phẩm bằng những thao tác xác định (tưởng tượng, liên tưởng, sắp xếp) cấu thành bộ ngữ pháp nghệ thuật.  Lớp Năm, các em dùng cái ngữ pháp nghệ thuật đã chiếm lĩnh được để tự tạo ra những cách biểu đạt nghệ thuật khác nhau – mà những cách biểu đạt chủ chốt là âm nhạc, múa, hội họa, thơ, văn xuôi, kịch.  Nên nhớ, học sinh phổ thông chỉ cần chiếm lĩnh những thao tác phổ thông của mỗi cách biểu đạt (hoặc mỗi loại hình nghệ thuật). Tinh thần chung, xuyên suốt những cách biểu đạt nghệ thuật đó là con đường đi từ lối biểu đạt thô kệch sang lối biểu đạt tinh tế. Sách Văn 5 có cấu tạo như sau:  Bài mở đầu – Ôn tập về ngữ pháp nghệ thuật.   Với vật liệu là những nét vẽ trừu tượng, học sinh cùng nhau tạo ra những câu chuyện (cũng là những hình tượng)– một công việc hoàn toàn dễ thực hiện huy động các thao tác các em đã quen tiến hành từ những lớp dưới.   Bài một – Cách biểu hiện tình cảm bằng âm nhạc.  Bài này cho học sinh làm lại hai cách biểu đạt của con người trước những hoàn cảnh vui buồn khác nhau. Một cách biểu đạt thô kệch, ồn ào, và một cách biểu đạt hài hòa của ba yếu tố cần chiếm lĩnh: nhịp điệu, giai điệu và hòa âm.   Bài hai – Cách biểu hiện tình cảm bằng nhảy múa.  Bài này cho học sinh làm lại con đường biểu đạt tình cảm từ hỗn tạp sang hài hòa qua những yếu tố vũ đạo phổ thông trên nền âm nhạc đã học ở bài một: bước nhảy cá nhân, bước nhảy đôi, và bước nhảy tập thể.  Bài ba – Cách biểu hiện tình cảm bằng nghệ thuật tạo hình.  Bài này cho học sinh làm lại con đường biểu đạt tình cảm từ hỗn tạp sang hài hòa qua những yếu tố tạo hình: nặn tượng, vẽ tranh, sắp đặt.   Bài bốn, bài năm, bài sáu – Cách biểu hiện tình cảm bằng nghệ thuật tự sự, trữ tình và kịch – những loại hình xưa nay vẫn được thực hiện như thói quen “học văn chương”, không đặt văn chương trong viễn cảnh giáo dục nghệ thuật.   ***  Nếu cuộc đời đi học là tìm cách chiếm lĩnh một phương pháp học thì đối với môn Văn cái phương pháp đó nằm trong một ngữ pháp nghệ thuật. Tổ chức chiếm lĩnh ngữ pháp nghệ thuật xoay quanh cái lõi tình cảm nghệ thuật sẽ giúp cho việc học Văn ở nhà trường dễ dàng thực hiện qua các hành động tự học của học sinh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp Steiner ngày càng lan tỏa      Khắp thế giới hiện có khoảng hơn 2.000 trường mầm  non, hơn 1.000 trường học các cấp, 700 trung tâm chăm sóc trẻ em, vô  vàn các bố mẹ và chương trình homeschooling (giáo dục tại nhà) đi theo  phương pháp của Steiner.    Năm 1919, Steiner thành lập trường Waldorf đầu tiên ở Stuttgart, Đức, và trực tiếp đào tạo giáo viên, thực hành các triết lý giáo dục của mình tại đây. Sau giai đoạn Thế chiến I, Adolf Hilter cấm việc mở trường Waldorf bởi ông ta nhìn thấy và lo sợ nguy cơ về những con người cá nhân tự do, có đam mê và lý tưởng sống mà trường Waldorf có thể đào tạo ra. Giai đoạn này, một số các nhà giáo dục tiên phong đã di cư trường Waldorf sang Mỹ. Trường đầu tiên tại Mỹ, Rudolf Steiner School, thành lập năm 1928 ở New York và hoạt động cho đến nay. Hiện trên khắp thế giới có khoảng hơn 2.000 trường mầm non, hơn 1.000 trường học các cấp, 700 trung tâm chăm sóc trẻ em, vô vàn các bố mẹ và chương trình homeschooling (giáo dục tại nhà) đi theo phương pháp của Steiner.    Rudolf Steiner (1861-1925) là nhà giáo dục, triết gia người Áo. Sau thời kì dài biên tập để xuất bản các công trình của Johann Wolfgang von Goethe (từ 1882 đến 1886), Steiner xuất bản cuốn “Lý thuyết về kiến thức tiềm ẩn trong quan niệm về thế giới của Goethe” (The Theory of Knowledge Implicit in Goethe’s World-Conception). Cùng với ảnh hưởng của Goethe, ông chịu ảnh hưởng của Arthur Schopenhauer trong quan niệm về Ý chí (tạm dịch của chữ “the Will”), đặc biệt qua tác phẩm “Thế giới như là Ý chí và Biểu tượng” (The World as Will and Representation). Năm 1897, Steiner viết cuốn “Giáo dục dưới ánh sáng của khoa học tâm linh” (Education in the Light of Spiritual Science), là cơ sở triết lý cho việc ông xây trường, đào tạo giáo viên, và giảng dạy,…    Khác với các nền giáo dục ngày nay tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, nền giáo dục Steiner nhấn mạnh và đặt tầm quan trọng vào ba yếu tố cơ bản của con người: Suy nghĩ, Cảm xúc, và Ý chí.     Đặc biệt khác với nền giáo dục phổ quát, với ảnh hưởng từ quan niệm thế giới là sự biểu đạt của ý chí, kiến thức nhân loại không chỉ là những kiến thức thu nhận bằng tư duy logic thông thường của Goethe và Schopenhauer, Steiner đưa ra chi tiết các phương pháp thực hành trong giảng dạy để phát triển ý chí của trẻ, ngay từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành. Ông quan niệm đứa trẻ sinh ra vốn có một ý chí sống mãnh liệt, đó cũng là nguồn năng lượng để nuôi dưỡng đam mê, để đứa trẻ luôn có ý muốn, khát vọng và quyết tâm làm và làm cho được điều gì đó có ích, nhiệm vụ của giáo viên là nuôi dưỡng và phát triển cái chí này cho trẻ. Trong nền giáo dục Steiner, giáo viên được chỉ dẫn các phương pháp thực hành để phát triển ý chí cho trẻ qua các hoạt động học tập bằng trải nghiệm – các hoạt động chân tay ở tuổi mầm non và tiểu học, các dự án khoa học và nghệ thuật kéo dài nhiều tuần ở các lớp lớn hơn.   Mỗi đứa trẻ một cá thể không sợ hãi và hạnh phúc  Nền giáo dục phổ quát hiện tại dùng phương tiện cạnh tranh, thi đua, tưởng thưởng và trừng phạt để đạt được một vài kết quả kì vọng nào đó; theo đuổi cứu cánh là những gì nằm bên ngoài con người của chính đứa trẻ, những gì được người khác công nhận: sự thành công về một nghề nghiệp, sự thành danh về địa vị xã hội, đạt được uy quyền chính trị hay kinh tế.     Nếu ta tạm gọi nền giáo dục phổ quát là giáo dục theo chủ nghĩa duy vật thì nền giáo dục Steiner là nền giáo dục theo chủ nghĩa lý tưởng. Cứu cánh của trường phái giáo dục theo chủ nghĩa lý tưởng, như Krishnamurti viết: “Mục đích của giáo dục không chỉ là đào tạo những học giả, những kỹ thuật gia, những kẻ săn việc, mà còn là những nam nữ công dân vẹn toàn. Họ tự do với sợ hãi, bởi vì chỉ có giữa những con người như vậy mới có thể có một nền hòa bình vĩnh cửu.”1            Steiner nhìn đứa trẻ vượt ra ngoài chủ nghĩa  quốc gia hay dân tộc, là cái sinh ra do và vì các thể chế hơn là vì  chính sự tiến bộ của nhân loại. Ông nhìn mỗi đứa trẻ như một cá thể  Người của nhân loại hơn là một công dân sẽ gia nhập vào lực lượng lao  động của một quốc gia, một nền kinh tế.         Cũng như vậy, Steiner nhìn đứa trẻ vượt ra ngoài chủ nghĩa quốc gia hay dân tộc, là cái sinh ra do và vì các thể chế hơn là vì chính sự tiến bộ của nhân loại. Ông nhìn mỗi đứa trẻ như một cá thể Người của nhân loại hơn là một công dân sẽ gia nhập vào lực lượng lao động của một quốc gia, một nền kinh tế. Đứa trẻ ấy sinh ra với gốc gác dân tộc và thấm nhuần văn hóa dân tộc để lớn lên là cá thể không sợ hãi và hạnh phúc, một cá thể của nhân loại với nền hòa bình vĩnh cửu, như Krishnamurti mô tả.     Để thoát khỏi và vượt xa nỗi sợ hãi, uy quyền hay các hủ tục truyền thống, cá nhân phải đạt tới trạng thái thấu hiểu bản ngã của mình, nhận biết đam mê, năng lực, mọi hành vi của mình. Điều này được hiện thực hóa bằng phương pháp giảng dạy trong những ngôi trường Waldorf/Steiner, nơi các nhà giáo từ chối uy quyền đối với học trò ngay từ khi đứa trẻ còn chập chững bước đi. Giáo viên chỉ đóng vai trò người dẫn đường để mỗi học sinh học tập bằng sự vui thích, khám phá phong phú các môn học khác nhau, từ thủ công, hội họa, điêu khắc, kịch nghệ… đến ngôn ngữ, toán học, khoa học,… và từ đó tìm ra thế mạnh, niềm đam mê của chính mình. Nhân cách của người thầy, khoảng không mà thầy chủ động tạo ra để đứa trẻ được tự do bộc lộ, tự do lựa chọn, sự tôn trọng thực tâm mà thầy giáo dành cho mỗi cá nhân học sinh, là những phương thức thực hành hữu hiệu để mỗi ngày xây thêm một viên gạch vào việc hình thành những cá nhân không sợ hãi và hạnh phúc.  Không cạnh tranh, không tưởng thưởng, không trừng phạt  Điều đặc biệt là trong những ngôi trường này không có sách giáo khoa, cũng hoàn toàn vắng mặt sự cạnh tranh, thi đua, không tưởng thưởng không trừng phạt – những việc làm mà theo Krishnamurti sẽ làm gia tăng sự sợ hãi, hay sự ái ngã. Với tư tưởng giáo dục đi vào bên trong cá thể để tìm ra con người cá nhân, tìm kiếm sự mạnh mẽ nội tâm, xây dựng động lực từ bên trong mỗi học sinh, từ đam mê của cá nhân thay vì để đứa trẻ tìm kiếm và phụ thuộc vào động lực từ bên ngoài, nền giáo dục Steiner xây dựng những ngôi trường với những giáo viên hoàn toàn không phán xét, không so sánh, không thi đua từ bậc mầm non đến hết phổ thông.     Sự vắng bóng uy quyền, tưởng thưởng hay trừng phạt dễ dẫn đến tình trạng vô kỷ luật, vậy tại sao học sinh trong trường Waldorf/Steiner luôn có kỷ luật rất cao? Câu trả lời là tình yêu thương tạo ra kỷ luật từ bên trong mỗi học sinh. Điều nhỏ nhưng không nhỏ, các ngôi trường Waldorf/Steiner luôn đầy ắp tình yêu thương, ấm áp từ cách thiết kế lớp học đến cách giao tiếp giữa thầy trò, và rộng ra là tới từng phụ huynh, từng thành viên làm việc trong trường.    Bởi tất cả sự khác biệt này, như vốn dĩ một nền giáo dục đích thực hay một nền giáo dục theo chủ nghĩa lý tưởng đòi hỏi, những ngôi trường Waldorf/Steiner không thể là những ngôi trường với hàng nghìn học sinh, mà mỗi lớp học chỉ chừng hơn hai mươi học sinh và mỗi người thầy theo học trò ít nhất vài năm học (hết bậc mầm non, hết bậc tiểu học) để thấu hiểu, để tạo mối quan hệ bền vững, yêu thương và giúp từng cá nhân học sinh phát triển.    Trong khi nền giáo dục phổ thông của Việt Nam, và thậm chí nhiều nước phát triển hay đang phát triển khác, gặp phải vấn đề học sinh lớp 12 tốt nghiệp không biết mình muốn gì, không biết chọn trường nào thì nền giáo dục Steiner có được những kết quả ngoạn mục: Học sinh tốt nghiệp phổ thông Steiner chọn ngành nghề không vì bất cứ lí do nào khác ngoài đam mê cá nhân. Danh sách các học sinh cũ của các trường Waldorf/Steiner bao gồm nhiều người với nhiều thành quả, cống hiến quan trọng trong những ngành nghề đòi hỏi tính sáng tạo cao như: thiết kế, kiến trúc, làm phim, nhạc sỹ, họa sỹ, kĩ sư nghiên cứu không gian vũ trụ2… Một công trình nghiên cứu và so sánh tính sáng tạo (Torrance Test of Creative Thinking Ability) của học sinh Steiner và học sinh các trường công (mẫu dựa trên 1.165 học sinh các nước Anh, Scotland, Đức) đưa ra kết quả: chỉ số sáng tạo của học sinh Steiner cao hơn học sinh nền giáo dục công tại các nước được nghiên cứu3.  Bắt đầu từ xóa bỏ ý thức phán xét, nuôi nấng trí tưởng tượng   Ở các trường Waldorf/Steiner, việc dạy và học không bao giờ chỉ tập trung vào kiến thức mà họ có mọi hoạt động và phương thức để nuôi dưỡng ý chí, nuôi dưỡng năng lực và mong muốn làm việc của đứa trẻ qua từng giai đoạn.     Giai đoạn mầm non: Trẻ được sống trong môi trường cổ tích, kìm giữ và xóa bỏ ý thức phán xét, nuôi nấng trí tưởng tượng, là ngọn nguồn của sự sáng tạo. Trẻ được sống trong môi trường đầy tính thơ, đầy ắp tình thương, chưa cần biết đến và va chạm với thế giới thực hỗn mang, tránh xa mọi tưởng thưởng hay trừng phạt, thi đua hay cạnh tranh. Trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường đại đồng của nhân loại, với những câu chuyện thần thoại, cổ tích của loài người. Và tất nhiên, để cái cây có thể xòe tán rộng nhất thì rễ của nó phải bám sâu vào đất, tại mỗi dân tộc, đứa trẻ được tắm mình trong những câu chuyện dân gian của dân tộc mình, bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Toàn bộ tuổi thơ được vui chơi, trải nghiệm trong thiên nhiên, hoàn toàn vắng bóng các “giờ học” theo cách chúng ta đang làm ở tất cả các trường mầm non hiện tại, với vô số chủ đề mà đứa trẻ cần phải học để đến nỗi chúng không còn thời gian vui chơi tự do với bạn bè khi đến lớp.            Đứa trẻ được dung dưỡng cảm xúc trong từng môn học, để thích học và học bằng toàn bộ con người chứ không chỉ bằng tư duy logic, tư duy trừu tượng.        Giai đoạn tiểu học: Đứa trẻ được dung dưỡng cảm xúc trong từng môn học, để thích học và học bằng toàn bộ con người chứ không chỉ bằng tư duy logic, tư duy trừu tượng. Giai đoạn 7-12 tuổi, như các nghiên cứu của Jean Piaget về sự phát triển tư duy của trẻ đã chỉ ra: trẻ tiếp thu kiến thức và tư duy bằng hình ảnh, đây chưa phải là giai đoạn của tư duy trừu tượng. Các môn học trong trường tiểu học Waldorf/Steiner không tập trung vào tư duy trừu tượng, trẻ học qua trải nghiệm thực, tiếp xúc thực, ngay cả đến phép toán cộng trừ cũng được học bằng toàn bộ cơ thể, được gắn với cái đẹp. Tại sao lại đề cao tính đẹp trong mọi môn học? Steiner cho rằng cái đẹp gây xúc cảm nơi tâm trí, từ đó đánh thức tư duy, nuôi dưỡng ý chí.     Đặc biệt, nhìn sự phát triển tư duy của trẻ như một quá trình lặp lại và rút ngắn con đường phát triển của loài người, từ giai đoạn người-chế tác đến người hiện đại. Điều này đặc biệt thấy rõ qua môn lịch sử: trẻ bắt đầu học huyền thoại, truyền thuyết, đến sự phát triển của đế chế Hy Lạp – La Mã, giai đoạn Phục hưng, và sau cùng mới là lịch sử hiện đại của dân tộc mình; hay ở môn khoa học, trẻ bắt đầu tiếp cận với thế giới thực vật, động vật, khoáng vật, rồi mới đến con người.    Giai đoạn trung học: Trẻ học bằng tư duy logic, tư duy trừu tượng, các vấn đề khoa học được đào sâu bằng tư duy phản biện. Đặc biệt, học sinh không học khoa học mà làm khoa học, trong các phòng thí nghiệm, các nhà xưởng không kém gì tại các trường đại học lớn, theo đuổi các dự án khoa học kéo dài nhiều tháng. Các môn học nghệ thuật, đến thời điểm này, đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp, các tác phẩm nghệ thuật của học sinh đã đạt trình độ như một họa sỹ, một nhà điêu khắc, một nhạc công trong dàn nhạc giao hưởng.  Kỳ tới: Giáo dục Steiner ở bậc mầm non    ——————    1 Krishnamurti, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống (NXB Thời Đại).    2 http://thewaldorfs.waldorf.net/famousparents.html    3 Báo cáo nghiên cứu “So sánh chỉ số sáng tạo học sinh Waldorf và học sinh trường công”, Ogletree & Earl J, 12/1996 (nghiên cứu tại Anh, Scotland, Đức).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ xã hội giúp trẻ năng vận động hơn      Một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng, yếu tố  ảnh hưởng nhất đến mức độ hoạt động thể chất của trẻ là thói quen tập  luyện với các bạn bè thân thiết.     Áp lực từ bạn bè đồng trang lứa có thể trở thành động lực mạnh mẽ và đôi khi là tích cực. Chẳng hạn, chơi với những bạn bè ưa hoạt động có thể hướng trẻ đến việc tập thể dục nhiều hơn, tạo ra cho trẻ một mạng lưới xã hội có khả năng thúc đẩy các thói quen lành mạnh và giảm béo phì.   Đây là những kết luận của một nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Sabina Gesell – một trợ lý giáo sư tại Khoa Nhi, ĐH Y Vanderbilt, công bố trên tạp chí Pediatrics. Các nhà khoa học này đã nghiên cứu các mạng lưới bạn bè trong một chương trình sau giờ học bao gồm các học sinh trong độ tuổi từ 5 – 12. Sử dụng một thiết bị tương tự máy đếm bước chân để ghi lại chuyển động của cơ bắp trong một phút, các nhà nghiên cứu đã theo dõi được mức độ hoạt động thể chất của trẻ trong 12 tuần.   Khi bắt đầu chương trình, không đứa trẻ nào biết nhiều về các thành viên khác, vì thế các nhà nghiên cứu có thể theo dõi quá trình trẻ kết bạn và bỏ bạn, cũng như hiệu ứng từ sự thay đổi mối quan hệ này đối với mức độ hoạt động thể chất của chúng.   Hóa ra, đó là một sự thay đổi lớn: trong thời gian tham gia chương trình, yếu tố ảnh hưởng nhất để việc trẻ dành bao nhiêu thời gian cho các hoạt động thể chất là mức độ hoạt động của 4 – 6 người bạn thân nhất của trẻ. Trên thực tế, trẻ thay đổi tới 10% mức độ hoạt động để hòa hợp hơn với những người trong nhóm; những đứa trẻ chơi với bạn bè ưu thích hoạt động hơn sẽ gia tăng mức độ hoạt động hơn và ngược lại.   “Chúng tôi thấy bằng chứng thể hiện rằng trẻ em bắt chước, mô phỏng hoặc điều chỉnh bản thân để giống với bạn bè của chúng hơn”, Gesell nói. “Và điều đó thật thú vị vì chúng tôi thấy sự thay đổi có ý nghĩa về mức độ hoạt động trong 12 tuần”.   Kết quả này rất đáng khích lệ vì họ cho rằng đây là một cách tiết kiệm và hiệu quả để thay đổi hành vi, ứng xử của trẻ. Thay vì chỉ dựa vào việc tổ chức các chương trình thể dục, hoặc nhắc đi nhắc lại những lời yêu cầu trẻ vận động, có lẽ biện pháp khéo léo hơn để kéo bọn trẻ khỏi những chiếc ghế sofa là giới thiệu những đứa trẻ ít vận động chơi với những trẻ năng vận động hơn. Trên quan điểm y tế công cộng, điều này có nghĩa là nên đưa những trẻ em ưa vận động vào các chương trình sinh hoạt nhóm sau giờ học hoặc các nhóm cộng đồng, và bằng cách kích thích tinh thần cạnh tranh của những trẻ em ưa vận động này, những đứa trẻ chơi cùng khác cũng sẽ trở nên hoạt bát hơn.   Nghiên cứu này cũng có thể giúp ích cho trẻ em trong các nhà trẻ: một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng trẻ em chỉ năng vận động trong khoảng 2 – 3% của chúng trong các nhà trẻ. Gesell nói rằng kết quả nghiên cứu mới có thể giúp cung cấp các công cụ rất cần thiết cho việc đối phó với bệnh béo phì.   Gesell muốn triển khai giai đoạn nghiên cứu tiếp theo, trong đó xác định chính xác một đứa trẻ năng hoạt động đến mức nào thì có thể tác động đến các bạn bè cùng lớp vốn ít vận động hơn. Đây không phải lần đầu tiên có một nghiên cứu phân tích hiệu ứng “lan tỏa” của các mạng lưới xã hội. Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận việc làm thế nào mạng lưới xã hội của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến mọi thói quen của anh ta, từ khả năng giảm cân hay bỏ thuốc đến mức độ cô đơn và hạnh phúc. Tuy nhiên, Gesell là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này ở trẻ em. “Đây là cách thức mới để chống bệnh béo phì” – cô nói. “Hiện nay không có cách nào để chống lại bệnh này một cách thực sự hiệu quả và chúng ta cần một cách tiếp cận mới. Môi trường xã hội mang đến nhiều ảnh hưởng hơn so với kỳ vọng của chúng ta, vì thế chúng ta nên chủ động tận dụng”.   Do trẻ em ngày càng có khả năng kết nối với nhau hơn, thông qua tương tác trực tiếp hoặc tương tác ảo, các mạng lưới xã hội của chúng có thể ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều khía cạnh hành vi và trạng thái. Chơi với các hội bạn bè từ thời ấu thơ này để khuyến khích trẻ tập thể dục – và có thể bao gồm cả những hành vi tích cực khác – có thể đem lại lợi ích cho trẻ trong một thời gian dài, giúp chúng sau này trở thành những người lớn khỏe mạnh.   Hữu Long dịch theo   http://healthland.time.com/2012/05/28/the-upside-of-peer-pressure-social-networks-help-kids-exercise-more/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Qui chế 43 về đào tạo theo tín chỉ: đôi điều cần được nghiên cứu thêm      Gi&#225;o dục đại học Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn bị khẩn trương cho một bước ngoặt quan trọng trong năm 2010: chuyển đổi ho&#224;n to&#224;n hoạt động đ&#224;o tạo theo hệ thống t&#237;n chỉ! Để tạo h&#224;nh lang ph&#225;p l&#253; v&#224; đồng thời thống nhất một số đặc điểm quan trọng về đ&#224;o tạo theo t&#237;n chỉ trong to&#224;n hệ thống đại học, Bộ GD&amp;ĐT đ&#227; ban h&#224;nh &#8220;Qui chế đ&#224;o tạo đại học v&#224; cao đẳng hệ ch&#237;nh quy theo hệ thống t&#237;n chỉ&#8221; k&#232;m theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ng&#224;y 15 th&#225;ng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&amp;ĐT (thường được gọi tắt l&#224; Quy chế 43). Tuy nhi&#234;n, kết quả vận dụng ban đầu ở một v&#224;i trường đại học đối với Qui chế n&#224;y đ&#227; nảy sinh một số bất cập (chẳng hạn như “sự cố” trong năm 2008 ở Trường ĐH B&#225;ch Khoa thuộc ĐH Đ&#224; Nẵng). Tr&#234;n cơ sở tiếp cận c&#225;c qui định về đ&#224;o tạo theo t&#237;n chỉ ở một số quốc gia c&#243; nền gi&#225;o dục đại học ti&#234;n tiến, nhất l&#224; của Hoa Kỳ, t&#225;c giả ph&#226;n t&#237;ch một số nội dung của Qui chế 43 v&#224; đề xuất v&#224;i &#253; kiến với mong muốn Bộ GD&amp;ĐT c&#243; th&#234;m những nghi&#234;n cứu nhằm l&#224;m ho&#224;n thiện hơn qui chế quan trọng n&#224;y. Những đề xuất trong b&#224;i viết n&#224;y cũng c&#243; thể được c&#225;c trường đại học vận dụng khi x&#226;y dựng c&#225;c qui định của nh&#224; trường về đ&#224;o tạo theo t&#237;n chỉ.        1.      Về cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần, điểm trung bình chung (Điều 22 & 23)  Theo Qui chế 43, việc cho điểm học phần được tiến hành theo trình tự: Giảng viên (GV) chấm theo thang điểm 10, điểm này sau đó được chuyển sang thang điểm chữ: A (8.5 – 10), B (7.0 – 8.4), C (5.5 – 6.9), D (4.0 – 5.4), F (dưới 4). Điểm chữ này sau đó lại được chuyển đổi sang thang điểm 4 để tính điểm trung bình chung (ĐTBC): A=4, B=3, C=2, D=1, F=0.   Việc sử dụng thang điểm chữ giúp cho sự giao lưu/trao đổi học vấn với các nước trên thế giới được thuận lợi hơn, nhưng sự chuyển đổi qua nhiều bước như trên cùng với tính không liên tục của các thang đo đã làm cho sai số của kết quả cuối cùng tăng lên đáng kể. Thử xem một ví dụ:   Ví dụ 1: So sánh ĐTBC của hai sinh viên (SV) sau năm thứ nhất theo hai thang điểm 10 và 4, với giả định cả hai đều tích lũy được 30 tín chỉ ứng với 10 học phần, mỗi học phần 3 tín chỉ:  –    SV 1: 10 học phần đều đạt 5đ/10  ĐTBC (thang 10): A = 5x3x10/30 = 5đ  ĐTBC (thang 4): A = 1x3x10/30 = 1đ   –    SV 2: 5 học phần đạt 5đ/10, 5 học phần đạt 5.5đ/10  ĐTBC (thang 10): A = (5x3x5 + 5.5x3x5)/30 = 5.25đ  ĐTBC (thang 4): A = (1x3x5 + 2x3x5)/30 = 1.5đ   Kết quả trên cho thấy nếu theo thang điểm 10 thì ĐTBC của SV 2 chỉ cao hơn ĐTBC của SV 1 là 5%, trong khi sự chênh lệch theo thang điểm 4 lên đến 50%!  Để hạn chế sự chênh lệch quá lớn như trên, nhiều nơi áp dụng hệ tín chỉ cho phép GV chấm điểm trực tiếp theo thang điểm chữ và sau đó điểm này được qui đổi sang thang điểm số với thang đo chi tiết hơn. Một vài ví dụ đặc trưng:  –     Washington State University, Hoa Kỳ: A=4.0, A–=3.7, B+=3.3, B=3.0, B–=2.7, C+=2.3, C=2.0, C–=1.7, D+=1.3, D=1.0, F=0.0 (thang điểm được dùng ở nhiều trường đại học Hoa Kỳ)  –     Simon Fraser University, Canada: A+=4.33, A=4.00, A–=3.67, B+=3.33, B=3.00, B–=2.67, C+=2.33, C=2.00, C–=1.67, D=1.00, F=0.00  –     National University of Singapore: A+=A=5, A–=4.5, B+=4.0, B=3.5, B–=3.0, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0  –     Chulalongkorn University, Thái Lan: A=4.0, B+=3.5, B=3, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0  Mặc dù Qui chế 43 cho phép các trường có thể sử dụng (hay không) thang điểm chữ có nhiều mức, thiết nghĩ đây là điều nên bắt buộc để tránh sự thiệt thòi cho SV và tạo sự thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi kết quả học phần giữa các trường một khi có sự liên thông. Việc Qui chế 43 yêu cầu GV chấm theo thang điểm 10 (với một số lẻ) là phù hợp với thói quen lâu nay, tuy nhiên để tăng độ chính xác khi chuyển sang thang điểm chữ thì thang chuyển đổi cần được chi tiết hơn. Xem ví dụ ở Bảng 1 (do tác giả đề xuất, tương ứng với thang chuyển đổi của nhiều trường đại học Hoa Kỳ và khá phù hợp với Qui chế 43):  Bảng 1: Bảng chuyển đổi các thang điểm đề xuất          Thang điểm 10      Thang điểm chữ      Thang điểm 4          9.1 – 10      A      4.0          8.5 – 9.0      A–      3.7          8.0 – 8.4      B+      3.3          7.5 – 7.9      B      3.0          7.0 – 7.4      B–      2.7          6.4 – 6.9      C+      2.3          5.8 – 6.3      C      2.0          5.2 – 5.7      C–      1.7          4.6 – 5.1      D+      1.3          4.0 – 4.5      D      1.0          0 – 3.9      F      0.0          Nếu áp dụng bảng chuyển đổi này cho Ví dụ 1 thì ĐTBC của hai SV 1 và 2 theo thang điểm 4 lần lượt là 1.3đ và 1.5đ. Sự chênh lệch bây giờ chỉ còn khoảng 15%.  2.      Về các qui định cho phép tiếp tục học và tốt nghiệp (Điều 16 & 27)  Trước khi xem xét các qui định về cho phép tiếp tục học và tốt nghiệp của Qui chế 43 có so sánh với các qui định của các trường đại học Hoa Kỳ (mà có lẽ Bộ GD&ĐT tham khảo chính khi xây dựng Qui chế 43), có một yếu tố rất quan trọng cần được quan tâm là quan niệm và thực tế đánh giá của GV Việt Nam tương đối khác nhiều so với các GV của Hoa Kỳ. Trong khi phần đông GV Việt Nam cho điểm tương đối “chặt chẽ” thì phần nhiều GV Hoa Kỳ có vẻ “rộng rãi” hơn. Ở Việt Nam chưa có mấy nghiên cứu về vấn đề này nhưng ở Hoa Kỳ, hiện tượng “lạm phát điểm” (grade inflation) ở bậc đại học đã được nhiều cơ quan/nhà nghiên cứu giáo dục báo động trong suốt hơn 15 năm qua, chẳng hạn qua những bài viết của The Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching hoặc The Chronical of Higher Education. Một trang web (http://www.gradeinflation.com/) chuyên thống kê hiện tượng lạm phát điểm ở các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ cho biết ĐTBC bình quân của các trường đã tăng đều từ 2.94 (theo thang điểm 4) trong năm học 1991-92 lên 3.00 trong năm học 1996-97, rồi đến 3.09 trong năm học 2001-02 mặc dù điểm thi đầu vào SAT của các trường đại học Hoa Kỳ nhìn chung giảm trong suốt 30 năm qua (dựa theo bài viết nói trên của Carnegie Foundation).  Ngoài ra, trong khi ở Việt Nam lâu nay xem điểm 5/10 là điểm đạt yêu cầu (và khó có lý gì để bác bỏ) thì Qui chế 43 lại xếp vào mức D (Trung bình yếu) để rồi sau đó qui đổi thành điểm 1 theo thang điểm 4! Trong khi đó ở Hoa Kỳ, các GV thường cho mức C (tương đương 2đ theo thang điểm 4) đối với các bài thi thuộc loại “đạt yêu cầu”, chứ còn mức D thường chỉ dành cho những bài thi thuộc loại “dưới trung bình” hoặc “kém” và rất ít khi phải dùng đến (xem Bảng 2).  Bảng 2: Định nghĩa điễm chữ của một số trường đại học Hoa Kỳ          Trường      A      B      C      D      F          Miami   University      Excellent      Good      Satisfactory      Poor      Failure             Stanford   University      Excellent      Good      Satisfactory      Minimal Pass      (Không dùng)          Boston University      Excellent      Good      Satisfactory      Low      Fail          University of Maryland      Excellent      Good      Acceptable      Borderline      Failure          Yale   University      Excellent      Good      Satisfactory      Passing      Fail          Georgia   State University      Excellent      Good      Average      Poor      Failure          University of   Arizona      Excellent      Good      Satisfactory      Poor      Failure          Cornell   University      Excellent/ Very Good      Good      Satisfactory      Marginal      Failing             University   of Buffalo      High Distinction      Superior      Average      Minimum Passing      Failure          Với những phân tích trên, có thể thấy rằng việc nhiều trường đại học của Hoa Kỳ yêu cầu SV phải có ĐTBC tối thiểu là 2 (theo thang điểm 4) mới được phép tiếp tục học sau mỗi năm hoặc để có thể được xét tốt nghiệp (xem ví dụ của WSU) thì không phải là yêu cầu cao. Theo Qui chế 43, SV bị buộc thôi học nếu “Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1.20 đối với SV năm thứ nhất; dưới 1.40 đối với SV năm thứ hai; dưới 1.60 đối với SV năm thứ ba hoặc dưới 1.80 đối với SV các năm tiếp theo và cuối khóa”, và phải có “điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2.00 trở lên” để có thể được xét tốt nghiệp. Nhìn qua thì có vẻ như các qui định này của Việt Nam là tương đối thấp so với mặt bằng chung của thế giới, nhưng thật ra không dễ chút nào đối với các SV có sức học trung bình nếu theo cách chuyển đổi điểm của Qui chế 43:  Ví dụ 2:  –    SV 3 có điểm 5/10 đối với tất cả các học phần của năm thứ nhất. ĐTBC (thang 4) của SV này là 1đ: bị buộc thôi học  –    SV 4 đến hết năm thứ 4 tích lũy được 120 tín chỉ từ 40 học phần (giả định mỗi học phần có 3 tín chỉ), với 10 học phần có điểm 5/10 và 30 học phần có điểm 6/10. ĐTBC (thang 4) của SV này là: A = (1x3x10 + 2x3x30)/120 = 1.75đ: bị buộc thôi học hoặc không đủ điều kiện để được xét tốt nghiệp  Nếu thử áp dụng bảng chuyển đổi được đề xuất (Bảng 1) cho hai SV 3 và 4 thì ĐTBC của họ lần lượt là 1.3đ và 1.82đ. Như vậy nếu áp dụng bảng chuyển đổi này thì hai SV trên đủ điều kiện để được tiếp tục học theo Qui chế 43, tuy SV 4 không được xét tốt nghiệp nếu vẫn yêu cầu ĐTBC tích lũy tối thiểu là 2.00đ.  Cũng cần lưu ý là nếu xét theo Qui chế 25 đang dùng, hai SV 3 và 4 trên đây đều đủ điều kiện về điểm để được tiếp tục học hoặc xét tốt nghiệp (SV 4). Tất nhiên một qui chế mới cũng nên hướng đến việc nâng cao yêu cầu về chất lượng đào tạo, nhưng không vì vậy mà tạo ra những “đột phá” quá lớn để có thể dẫn đến nguy cơ “lạm phát buộc thôi học”!  3.      Về cách chuyển đổi giữa đơn vị học trình và tín chỉ (Điều 3)  Thực hiện theo Qui chế 25, các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã xây dựng các môn học dưới dạng học phần bao gồm một số đơn vị học trình (ĐVHT). Theo Qui chế 43, các ĐVHT phải được đổi thành tín chỉ (TC) theo công thức: “1.5 ĐVHT được qui đổi thành 1 TC”. Đây là một cách qui đổi hoàn toàn mang tính cơ học vì chỉ dựa vào những định nghĩa mang tính ước lệ của hai khái niệm ĐVHT và TC: một ĐVHT (có thể) có 15 tiết lý thuyết và 15 giờ chuẩn bị cá nhân, còn một TC (có thể) có 15 tiết lý thuyết và 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Với cách qui đổi như vậy, thực tế triển khai Qui chế 43 ở các trường có thể rơi vào những cách làm không đúng sau:  –    Giữ nguyên hệ thống các học phần đã xây dựng, chỉ áp dụng qui đổi theo công thức để làm “giảm tải” chương trình (ví dụ một chương trình đào tạo cử nhân 210 ĐVHT thì nay chỉ còn tương đương 140 TC)  –    Cắt giảm bớt thời lượng dành cho các học phần hiện hữu để làm tăng quỹ thời gian chuẩn bị cá nhân của SV  Theo ý kiến của người viết, không cần đưa vào Qui chế 43 một công thức qui đổi nào giữa ĐVHT và TC (vì chỉ làm thêm rối rắm!) mà chỉ cần qui định thêm khoảng TC cho phép đối với các chương trình đào tạo, các bậc đào tạo khác nhau (như cách làm của Malaysia) để tránh tình trạng có những trường bắt SV phải học quá nhiều.  4.      Về học phần tự chọn (Điều 3)  Một trong những khó khăn của SV khi chọn lựa các học phần tự chọn để theo học là không biết rõ vai trò của mỗi học phần tự chọn đối với chuyên ngành của mình. Để góp phần làm giảm bớt khó khăn này, Qui chế 43 nên thống nhất (hoặc các trường tự qui định) các loại học phần tự chọn khác nhau, chẳng hạn như ví dụ sau đây (được dùng ở nhiều trường đại học Hoa Kỳ):  –    Học phần tự chọn chính (major elective subject): là các học phần cần thiết cho kiến thức tổng quát hoặc rất gần với chuyên ngành.  –    Học phần tự chọn tự do/mở rộng (free elective subject): là các học phần giúp SV mở rộng kiến thức sang những lĩnh vực ngoài chuyên ngành học.  –    Học phần dự thính/nhiệm ý (audit subject): là bất cứ học phần nào SV muốn học một cách tự nguyện nhằm mở rộng kiến thức. Kết quả các học phần này không tính vào ĐTBC của khóa học.  5.      Về văn bằng tốt nghiệp (Điều 28)  Qui chế 43 có phân loại “hạng tốt nghiệp” dựa trên ĐTBC tích lũy toàn khóa học của mỗi SV. Theo cách làm ‘truyền thống’ lâu nay của Việt Nam, hạng tốt nghiệp được ghi thẳng lên bằng đại học hoặc cao đẳng của SV.  Đối với nhiều quốc gia, việc ghi hạng tốt nghiệp lên bằng cấp của người học là điều không cho phép bởi nó vi phạm quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân của người học. Ở Hoa Kỳ, quyền này được xác định dựa theo bộ luật Family Educational Rights and Privacy Act (FERPA) bắt đầu có hiệu lực từ năm 1974. Hạng tốt nghiệp, nếu có, chỉ có thể ghi vào hồ sơ học tập hoặc bảng điểm cá nhân chứ không được công khai dưới bất cứ hình thức nào (ví dụ qui định của Ball State University hoặc của University of Southern Mississippi).   Ở nhiều nước, cá nhân hoạt động trong một số lĩnh vực (chẳng hạn y, dược, luật, …) thường muốn (hoặc được yêu cầu) công khai bằng cấp tại nơi làm việc. Thử tưởng tượng: mấy ai dám bước vào phòng mạch của một bác sĩ nếu nhìn thấy trước cửa một bằng tốt nghiệp y khoa với hạng “Trung bình”! Với tinh thần hội nhập quốc tế về giáo dục, có lẽ đã đến lúc chúng ta không cho phép việc ghi hạng tốt nghiệp trên các văn bằng được cấp. Điều này cũng phù hợp với việc khuyến khích tinh thần “học tập suốt đời” mà nền giáo dục Việt Nam đang hướng tới.      (Bài viết này được thực hiện với sự tài trợ của Quỹ Giáo dục Việt Nam – VEF. Những ý kiến nêu ra trong bài viết chỉ phản ảnh quan điểm của tác giả, không nhất thiết là của VEF. Địa chỉ email trao đổi với tác giả: haolv@cb.ntu.edu.vn)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc tế hóa chương trình đào tạo: Đâu là trọng tâm?      Thời gian gần đây, mối quan tâm đối với việc  quốc tế hóa chương trình đào tạo cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế ngày  càng trở nên mạnh mẽ. Các phát biểu về chính sách của các trường đại học  thường đưa ra một cách trực tiếp hay gián tiếp hình ảnh các sinh viên  tốt nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, liên văn hóa và toàn cầu. Tuy  nhiên, điều vẫn chưa được làm rõ là làm sao để những chính sách này kết  nối được với việc học của sinh viên thông qua việc quốc tế hóa chương  trình đào tạo.     Chẳng hạn, ở một số trường, trọng tâm của việc quốc tế hóa chương trình đào tạo chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đưa sinh viên tham gia chương trao đổi ở nước ngoài – những chương trình mà vì các lý do thực tế sẽ chỉ có một số nhỏ sinh viên tham gia. Một vài trường khác đặt trọng tâm vào việc giảng dạy bằng tiếng Anh nhưng chỉ áp dụng cho một vài chương trình, chưa kể mối liên hệ giữa việc dạy bằng tiếng Anh và việc đạt mục tiêu phát triển năng lực quốc tế hóa và liên văn hóa là không rõ ràng. Trong khi đó, lại có những trường tăng các học phần tự chọn được chuyên biệt hóa để thêm tính quốc tế; và đôi khi là gia tăng sự có mặt của sinh viên quốc tế trong lớp học và trong nhà trường mà không quan tâm đến việc làm sao điều này có thể gia tăng tính quốc tế trong việc học tập của các sinh viên. Những cách tiếp cận này, xét theo từng biện pháp riêng biệt cũng như xét chung lại, đều không có hiệu quả.    Nói vắn tắt, việc quốc tế hóa chương trình đào tạo hiện nay, xét về mặt chính sách cũng như thực tiễn, thường tập trung quá mức vào đầu vào mà không chú trọng đến kết quả. Trong khi đó, việc quốc tế hóa khung chương trình đào tạo cần được gắn kết trực tiếp hơn nữa với quá trình học tập của mọi sinh viên.   Quốc tế hóa chương trình đào tạo là gì?    Hiện đang có nhiều nhầm lẫn về ý nghĩa thực sự của thuật ngữ “quốc tế hóa chương trình đào tạo” và những tác động của nó lên việc học tập của sinh viên. Năm 2009, trong một bài viết đăng trên tờ Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế, tôi đã định nghĩa một chương trình đào tạo được quốc tế hóa là một chương trình “giúp sinh viên tham gia vào quá trình học hỏi mang tính quốc tế với sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, và phát triển một cách có chủ đích các góc nhìn mang tính quốc tế và liên văn hóa của sinh viên với tư cách vừa là chuyên gia vừa là công dân toàn cầu.”    Định nghĩa này nhấn mạnh sự chủ động tham gia (gắn kết) của sinh viên trong quá trình học và thông qua đó là sự phát triển có hệ thống (có chủ đích) các kỹ năng quốc tế hóa và liên văn hóa.     Định nghĩa sau đây về quá trình quốc tế hóa chương trình đào tạo cũng trích từ bài viết nêu trên, là sự chú trọng vào quá trình giảng dạy, học tập, và đánh giá chứ không chỉ là nội dung giảng dạy: “quốc tế hóa chương trình đào tạo là sự kết hợp các yếu tố quốc tế và liên văn hóa vào nội dung của chương trình cũng như các kế hoạch giảng dạy, học tập, đánh giá và cả các hoạt động hỗ trợ của một chương trình đào tạo.”  Quốc tế hóa chương trình đào tạo như thế nào?    Một chương trình đào tạo được quốc tế hóa và chú trọng việc học của sinh viên cần có hai tính chất cơ bản. Đầu tiên, chương trình này cần được xây dựng trong bối cảnh của các nền văn hóa khác nhau và đòi hỏi phải rèn luyện nhận thức, thực hành, và ứng nghiệm trong từng ngành học. Thứ hai, những giảng viên không có kinh nghiệm, kĩ năng hoặc kiến thức cần thiết để quốc tế hóa khung chương trình phải được các chuyên gia hỗ trợ trong quá trình xác định các kết quả đầu ra dự kiến và hỗ trợ sinh viên đạt được các kết quả này.     Mỗi ngành học đều có những nét văn hóa và giá trị riêng và vì vậy thường có những yêu cầu khác nhau về quá trình quốc tế hóa chương trình đào tạo. Các giảng viên phải hiểu rõ tại sao việc quốc tế hóa lại quan trọng đối với chương trình học của họ. Các thành viên của một khoa/bộ môn nơi cung cấp chương trình đào tạo, với tư cách những cộng đồng chuyên môn riêng biệt, sẽ phải tham gia vào những cuộc bàn thảo và tranh luận về các kỹ năng quốc tế và liên văn hóa mà những cử nhân của họ cần có để trở thành những chuyên gia và công dân có hiệu quả trong một thế giới toàn cầu. Nếu muốn  các sinh viên đạt được các chuẩn đầu ra học tập như dự kiến, các khoa/bộ môn sẽ phải phát triển một kế hoạch có hệ thống và tường tận để hỗ trợ cho việc học của sinh viên.     Các hoạt động học tập trong từng học phần/môn học/khóa học khác nhau trong tất cả các năm học của chương trình sẽ cần được thiết kế sao cho có thể tăng cường phát triển góc nhìn mang tính quốc tế và những kỹ năng liên văn hóa của sinh viên. Sinh viên sẽ cần những phản hồi cả chính thức lẫn không chính thức về quá trình học tập quốc tế và liên văn hóa của họ và những lời khuyên để họ có thể phát huy năng lực ở những cấp bậc khác nhau của chương trình.    Việc tạo điều kiện và hỗ trợ cho giảng viên là quan trọng vì những giảng viên thiếu sự chuẩn bị thường có tầm nhìn hạn hẹp. Điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho chiến lược quốc tế hóa của trường cũng như việc học tập của sinh viên. Những người hỗ trợ có thể đến từ bên ngoài chuyên ngành hoặc ngoài trường đại học, bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực giảng dạy và học tập hoặc lĩnh vực quốc tế hóa, có thể cung cấp sự chỉ dẫn và lời khuyên cũng như sự trợ giúp trên thực tế. Cần nhấn mạnh khả năng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chương trình trong tương lai bằng cách chỉ ra những vấn đề trọng điểm và những câu hỏi then chốt gắn liền với việc quốc tế hóa chương trình đào tạo cho mọi ngành học và trong toàn bộ nhà trường theo một kế hoạch thời gian nhất định. Bằng cách này, việc quốc tế hóa chương trình đào tạo trở thành một quá trình liên tục, không ngừng tập trung vào việc học tập của sinh viên, với sự tham dự sâu sắc của các giảng viên.    Những cách tiếp cận và lý giải về thế nào là quốc tế hóa chương trình đào tạo sẽ không tránh khỏi có sự khác biệt giữa các ngành học. Điều quan trọng là cho dù ở bất kỳ ngành học nào, trọng tâm của quá trình quốc tế hóa chương trình đào tạo đều tập trung vào việc học của sinh viên. Điều này sẽ khiến các giảng viên và các ngành học trở thành trung tâm của quá trình quốc tế hóa chương trình đào tạo.     Phương Anh lược dịch  Nguồn: http://ejournals.bc.edu/ojs/ index.php/ihe/article/view/5798    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc tế hóa Giáo dục Đại học ở Ấn Độ: Coi chừng con ngựa thành Trojan*      Quốc hội Ấn Độ thường bị người ta kết &#225;n l&#224; hoạt động thiếu t&#237;ch cực hoặc lu&#244;n lu&#244;n phản ứng chậm trễ. Trường hợp Dự thảo Luật về Gi&#225;o dục Nước ngo&#224;i bị ng&#226;m tới hai năm do những bất đồng về việc li&#234;n minh cai trị với nh&#224; nước, c&#243; thể l&#224; một trường hợp m&#224; sự chậm trễ lại l&#224; điều tốt. Ch&#237;nh s&#225;ch gi&#225;o dục đại học Ấn Độ c&#243; tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia đồng thời c&#243; một &#253; nghĩa quan yếu đối với những trường đại học nước ngo&#224;i muốn hoạt động tại Ấn. B&#225;o ch&#237; Ấn cho biết đ&#227; c&#243; 40 trường đại học nước ngo&#224;i t&#236;m đất th&#244;ng qua ch&#237;nh quyền v&#249;ng Maharashtra ở the Mumbai-Pune-Nashik để x&#226;y dựng trường sở. Phong tr&#224;o n&#224;y mới chỉ cho thấy một biểu hiện của sự quan t&#226;m to lớn của c&#225;c nh&#224; đầu tư nước ngo&#224;i đối với thị trường gi&#225;o dục m&#234;nh m&#244;ng v&#224; hứa hẹn nhiều lợi nhuận của Ấn. Một số trường đại học nước ngo&#224;i đ&#227; v&#224; đang hoạt động tại Ấn, &nbsp;chủ yếu l&#224; hợp t&#225;c với c&#225;c đối t&#225;c Ấn Độ.     Ấn Độ có lẽ là thị trường có một không hai lớn nhất cho các trường đại học nước ngoài. Đất nước này có một nhu cầu vô cùng to lớn về học đại học còn chưa được đáp ứng—hiện nay mới chỉ 10% dân số trong độ tuổi học đại học—một nửa của Trung quốc và thua xa so với những nước có thu nhập trung bình và những nước đang phát triển nhanh nhất. Hơn nữa, Ấn Độ có một nhu cầu khổng lồ về giáo dục đại học chất lượng cao chưa được đáp ứng. Khả năng tiếp nhận sinh viên của một số rất ít các trường tốt nhất ở Ấn- Viện Khoa học Công nghệ Ấn Độ, Học viện Quản lý Ấn Độ và những trường tương tự – hết sức hạn chế so với nhu cầu của xã hội. Bởi vậy, các trường nước ngoài thấy ngay một cơ hội sinh lợi khổng lồ  trong thị trường Ấn Độ.     Những lý do cần cảnh giác  Một số người xem giáo dục đại học đơn giản là một món hàng để mua và bán trên thị trường quốc tế thì thiên về ủng hộ việc mở cửa không hạn chế cho mọi loại sản phẩm liên quan đến giáo dục. Các công ty giáo dục vì lợi nhuận, nhiều trường tư, các công ty khảo thí quốc tế, và ngày càng nhiều các trường đại học và cơ quan nhà nước của những nước xuất khẩu giáo dục như vương quốc Anh và Hoa Kỳ có quan điểm như thế. Những người tin rằng giáo dục đại học không chỉ là một thứ hàng hóa thì lo ngại nhiều về việc vội vã tiến tới xuất nhập khẩu các trường đại học, các chương trình đào tạo, bởi vì những ý tưởng về đào tạo tư cách công dân, đào tạo tư duy phản biện, và những mục tiêu mang lại “lợi ích công” tương tự thường bị các nhà xuất nhập khẩu giáo dục bỏ qua. Các nhà kinh doanh quan tâm đến việc bán những sản phẩm đáp ứng nhu cầu trước mắt và không quan tâm đến việc nâng đỡ các trường đại học nghiên cứu, hay hỗ trợ việc tạo điều kiện cho những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tăng cường bình đẳng trong tiếp cận đại học và những thứ đại loại như thế.   Tại sao những trường đại học nước ngoài và các công ty giáo dục như công ty Laureate Education Inc. muốn thâm nhập thị trường Ấn Độ? Động cơ của họ khá phức tạp nhưng tìm hiểu điều này có ý nghĩa rất quan trọng. Một mục tiêu rất rõ ràng- ai bước vào thị trường Ấn Độ cũng muốn bòn rút lợi nhuận- chủ yếu là bằng cách đưa ra những chương trình đào tạo đang ăn khách. Với rất ít ngoại lệ, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài  không quan tâm đến cơ sở hạ tầng khoa học đắt tiền như những phòng thí nghiệm hay thiết bị nghiên cứu khoa học. Họ muốn đầu tư ít nhất và lợi nhuận cao nhất, giống như những tập đoàn kinh doanh khác. Một số nước trong đó có Vương quốc Anh và Úc, có chính sách quốc gia để thu lợi nhuận từ xuất khẩu giáo dục đại học. Bởi vậy Hội đồng Anh và những tổ chức tương tự trợ giúp các trường đại học Anh tăng cường tối đa tiềm năng xuất khẩu. Hội đồng Anh nay không còn chủ yếu là một cơ quan thông tin nữa mà tập trung vào đẩy mạnh xuất khẩu giáo dục.   Hoa Kỳ có khác ít nhiều nhưng về bản chất cũng theo mô hình Anh và Úc. Hoa Kỳ không có chính sách giáo dục đại học quốc gia. Giáo dục đại học chủ yếu là trách nhiệm của 50 tiểu bang, và không có tiểu bang nào tuyên bố rằng giáo dục đại học là ưu tiên xuất khẩu. Không như Anh và Úc, Hoa Kỳ có một thành phần giáo dục đại học tư rất phát triển, và các trường đại học tư là những trường xông xáo nhất trong việc xuất khẩu dịch vụ giáo dục ra nước ngoài. Gần như chắc chắn nhiều nhất trong những trường đang tìm cách thâm nhập thị trường Ấn Độ là những trường tư chất lượng thấp đang tìm kiếm lợi nhuận ở nước ngoài.   Các tổ chức giáo dục vì lợi nhuận cũng mạnh nhất ở Hoa Kỳ so với bất kỳ nơi nào khác. Hai tổ chức lớn nhất là Công ty Laureate Education Inc. Và Tập đoàn Apollo Group (chủ sở hữu của University of Phoenix và nhiều trường khác). Chiến lược của Laureate là mua những trường đại học đang hiện hữu bên ngoài nước Mỹ (họ đang làm chủ 29 trường đại học và cơ sở đào tạo sau trung học ở ba lục địa), hoặc là xây dựng những trường mới. Laureate đã bắt đầu một trường đại học ở Andhra Pradesh, một tiểu bang khá thân thiện với các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục của nước ngoài, nhưng rồi lại rút ra khi thấy việc điều chỉnh môi trường quá phức tạp.   Những trường đại học công và tư hàng đầu của nước Mỹ- khoảng chừng 20% trong tổng số hơn 3000 trường cao đẳng và đại học- có những động cơ khá phức tạp khi thâm nhập thị trường Ấn Độ. Phần lớn là họ thành thật quan tâm đến việc quốc tế hóa nhà trường và xem Ấn Độ như một đối tượng quan trọng, cả về mặt kinh tế và về mặt giáo dục trong thế kỷ 21. Họ quan tâm tới hình ảnh thương hiệu của mình và muốn mở rộng thương hiệu ấy trong một thị trường giáo dục lớn của thế giới. Họ có thể dùng những ‘tiền đồn’ Ấn Độ của mình để tuyển chọn những sinh viên và giảng viên Ấn Độ thông minh sáng láng nhất để đi học tại Mỹ. Những chi nhánh Ấn Độ của họ sẽ cung cấp một chỗ cho sinh viên và giảng viên của họ học tập và nghiên cứu. Và tất nhiên là trong phần lớn trường hợp các trường sẽ tìm kiếm lợi nhuận từ những chương trình họ đưa ra tại Ấn.   Vấn đề đối với Ấn Độ là ở chỗ vô số trường ở hàng chót trong thứ bậc của hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ, cả những trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, đang tập trung thâm nhập thị trường Ấn Độ với một lý do thực chất là kiếm tiền. Trong lúc nhiều trường trong số đó đưa ra những chương trình đào tạo đúng đắn thì cũng có trường cắt xén bớt nội dung. Xem xét điều chỉnh những trường như thế là một việc không hề dễ dàng.  Hệ thống kiểm định chất lượng rất được tôn trọng của Hoa Kỳ không giúp được gì. Một trường đại học chỉ cần được kiểm định (tiêu chuẩn kiểm định Hoa Kỳ không đòi hỏi chất lượng cao mà là những tiêu chuẩn tối thiểu) ngoài ra không có nguyên tắc chỉ đạo chính thức nào về chất lượng nhà trường cả.  Những trường này sẽ đưa ra  các chương trình đào tạo ăn khách tại Ấn hơn là gắn bó với việc duy trì chất lượng cao hoặc tồn tại lâu dài tại Ấn.      Những câu hỏi cốt yếu về vấn đề cơ sở đào tạo tại nước ngoài của các trường đại học   Khi Ấn Độ xem xét một cách thận trọng chính sách của họ về việc cho phép các trường nước ngoài hoạt động tại Ấn, họ sẽ thấy nhiều vấn đề trọng tâm cần phải được giải quyết. Động cơ của những trường nước ngoài này là gì? Mọi chi tiết về việc mở chi nhánh này liệu có minh bạch và công khai? Trường này có địa vị như thế nào trong nước của họ?  Liệu họ có khả năng đào tạo tại Ấn với cùng chất lượng như tại nước họ, và chất lượng ấy có được công nhận là chất lượng cao ở nước họ hay không? Các trường nước ngoài có khả năng thực hiện chương trình đào tạo của họ tại Ấn với đội ngũ giảng viên của chính nhà trường hay không, liệu họ có những cơ sở hạ tầng tương ứng như thư viện, thiết bị học tập điện tử, phòng thí nghiệm để thực hiện chương trình đào tạo mà họ đưa ra? Họ có khả năng duy trì việc đào tạo của họ lâu dài tại Ấn hay không?   Cho phép các trường nước ngoài mở “cửa hàng” của họ tại Ần không phải là con đường để quốc tế hóa giáo dục đại học Ấn. Những chương trình đôi, liên kết cấp bằng, trao đổi giáo sư và sinh viên, chia sẻ nội dung chương trình và những mối quan hệ khác là những khả năng chắc chắn hơn để bảo đảm duy trì sự kiểm soát cốt yếu của Ấn đối với giáo dục đại học Ấn Độ.  Cho đến nay, đóng góp chính của Ấn Độ cho giáo dục đại học thế giới là xuất khẩu sinh viên, rất nhiều người trong số đó không trở về cố hương. Ấn Độ cần gắn bó hơn với phần còn lại của thế giới, nhưng không phải với cái giá đánh mất chủ quyền về đào tạo và học thuật. Giáo dục đại học cuối cùng không phải chỉ thuần túy là một món hàng để mua và bán trên thị trường quốc tế.  Giáo dục đại học tiêu biểu cho một bộ phận thiết yếu của di sản quốc gia và là chìa khóa mở cánh cửa bước vào tương lai thịnh vượng.      TS. Phạm Thị Ly dịch  Nguồn: International Education Number 53, Fall 2008. Có thể đọc tại    http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number53/p18_Altbach.htm   ———-  * Thành Trojan là một thành phố cổ vùng Tiểu Á. Xem giải thích thành ngữ “con ngựa thành Trojan’ tại http://vi.wikipedia.org/wiki/Con_ng%E1%BB%B1a_th%C3%A0nh_Troia (chú thích của người dịch)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quốc tế hóa giáo dục ở Việt Nam: Còn lúng túng và ở ‘thế yếu’      Ở Việt Nam, trong suốt hơn hai thập kỷ qua, các hoạt động quốc tế hóa (QTH) trong GD (GD) diễn ra ráo riết, ngày càng gia tăng về quy mô, đa dạng cả về hình thức, mục đích, nội dung và đối tượng nhưng tiếc rằng những nỗ lực QTH GD Việt Nam còn nhiều lộn xộn, chưa hẳn xuất phát vì chất lượng đào tạo, và cũng chưa đem lại những kết quả đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả GD.    Quốc tế hóa trong giáo dục trên thế giới     QTH trong GD là sự dịch chuyển xuyên biên giới hai chiều về nhiều khía cạnh, trong đó có cả chính sách và thực hành trong GD, người học, chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo. Trong quá trình ấy, các hệ thống có nền GD đại học (GDĐH) phát triển là người dẫn dắt cuộc chơi và gây ảnh hưởng tới các nước kém phát triển theo nhiều cách. Có thể coi đây là quá trình xuất nhập khẩu, tương tự như trong thương mại quốc tế, cán cân xuất nhập khẩu GD giữa các nước thường không cân bằng. Chiều ‘xuất’ chủ yếu từ các nước phát triển, trong khi chiều ‘nhập’ chủ yếu từ các nước có thu nhập thấp và trung bình ở châu Á và Mỹ Latin.     Với các trường đại học, QTH được triển khai dưới nhiều hình thức như mở cơ sở đào tạo ở nước ngoài, mở chương trình quốc tế giảng dạy bằng tiếng Anh, chuyển giao chương trình và thương hiệu cấp bằng, hợp tác đào tạo và cấp bằng với các trường ở nước sở tại. QTH diễn ra ở cả cấp độ vi mô (như trong thực hành của giảng viên, trong phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, quản lý, quản trị, và đảm bảo chất lượng của nhà trường), và ở cấp vĩ mô (trong xây dựng mô hình và chính sách GD).     QTH GDĐH mang bộ mặt và màu sắc khác nhau ở mỗi nước. Ở Mỹ, trong nhiều thập kỷ qua, các trường đại học đã mở các chương trình đào tạo quốc tế nhằm đem đến trải nghiệm liên văn hoá cho người học và cải tiến chương trình thông qua nhiều hình thức như gửi sinh viên ra nước ngoài và nhận sinh viên quốc tế đến cơ sở của mình. Ở châu Âu, trong khuôn khổ Tiến trình Bologna, suốt gần bốn thập niên qua, các nước châu Âu phát triển các chương trình đào tạo quốc tế chủ yếu dành cho sinh viên châu Âu theo hệ thống tiêu chuẩn khung chung nhằm thúc đẩy sự công nhận lẫn nhau và tăng cường trao đổi sinh viên nội khối. Do vậy những hoạt động QTH mà khu vực này đã triển khai mang nhiều tính kỹ thuật như thống nhất cấu trúc chương trình đào tạo, hệ tín chỉ chung, và công nhận bằng cấp tương đương (Altbach and Knight 2007).     Những nước hàng đầu về GDĐH như Anh, Mỹ, Úc và Canada còn xuất khẩu GD tại chỗ vì mục đích lợi nhuận thông qua thu hút sinh viên quốc tế với học phí rất cao. Hơn nữa, sinh viên sau đại học lại là nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học với chi phí thấp. Đối với các nước đang phát triển, việc thu hút sinh viên quốc tế lại chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và môi trường văn hoá cho người học. Quá trình này đồng thời gia tăng uy tín cũng như nguồn thu cho nhà trường. Điển hình trong số các nước này phải kể đến Ấn Độ thu hút sinh viên ngành công nghệ thông tin chủ yếu từ các nước đang phát triển khác. Trung Quốc, Đài Loan cũng thực hiện chiến lược và chính sách thu hút sinh viên quốc tế và xuất khẩu GDĐH.     Động cơ của các trường trong các hoạt động QTH cũng rất đa dạng. Một mặt, QTH để cải tiến chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực đầu ra của người học, trong đó có năng lực ngôn ngữ, nhằm đáp ứng các yêu cầu nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hoá thông qua cải tiến chương trình đào tạo. Mặt khác, QTH cũng là cách thức để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển tri thức. Quan trọng không kém là việc nâng cao hình ảnh, uy tín của nhà trường thông qua xếp hạng đại học thế giới. Ngoài ra còn có động cơ về tài chính. Xu hướng cắt giảm ngân sách nhà nước cho đại học diễn ra ở nhiều nước khiến cho các trường đại học vươn ra ngoài biên giới, thu hút sinh viên quốc tế để giải quyết bài toán tài chính.      Học sinh trường Olympia giao lưu học tập tại ĐH Quốc tế RMIT. Ảnh: theolympiaschools     Bức tranh quốc tế hóa giáo dục Việt Nam     Ở Việt Nam, trong suốt hơn hai thập kỷ qua, các hoạt động QTH trong GD diễn ra ráo riết, ngày càng gia tăng về quy mô, đa dạng cả về hình thức, mục đích, nội dung và đối tượng. Theo báo cáo của UNESCO (2017), năm 2016 có khoảng 120.000 du học sinh Việt Nam ở nước ngoài trong khi con số sinh viên quốc tế ở Việt Nam ước tính chỉ vài ngàn, khiêm tốn hơn rất nhiều.  Các hoạt động QTH ở bậc đại học phức tạp hơn nhiều so với ở bậc phổ thông. Ngoài sự có mặt của các cơ sở đại học quốc tế thu hút nhiều sinh viên như RMIT và British University Vietnam (BUV), còn có các trường được thành lập theo thoả thuận hợp tác cấp chính phủ như các đại học Việt Đức, Việt Nhật, Việt Pháp. Tổng số sinh viên đang theo học các trường này cũng lên tới con số chục ngàn. Ngay trong các trường đại học trong nước, có tới 485 chương trình liên kết đào tạo giữa các cơ sở GDĐH Việt Nam và nước ngoài. Các chương trình này thường được giảng dạy bằng hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.  Ngoài những nỗ lực hợp tác cấp trường, Bộ GD và Đào tạo đã triển khai đề án chương trình tiên tiến (Quyết định số 1505/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ) trong đó chương trình đào tạo là các chương trình quốc tế uy tín có kiểm định chất lượng được nhập khẩu về Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các loại hình chương trình khác như chương trình chất lượng cao, chương trình cử nhân tài năng do các trường tổ chức đào tạo cũng mang hàm lượng QTH khác nhau, hoặc được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh hoặc chương trình môn học được thiết kế tương tự một môn học ở một trường đại học nước ngoài.     Ở cấp vi mô, nhiều giảng viên sau khi được đào tạo tiến sỹ ở nước ngoài trở về trường đại học trong nước đã nỗ lực đổi mới chương trình đào tạo và chương trình môn học bằng nhiều cách như giới thiệu những nội dung mới, thay đổi cấu trúc môn học và chương trình, áp dụng cách thức tổ chức giảng dạy mới. Cũng chính những giảng viên này đã đưa các tiêu chuẩn học thuật quốc tế vào môi trường học thuật trong nước. Các chỉ số như số lượng bài báo ISI/SCOPUS, số lượng trích dẫn, hay chỉ số H dùng để đo đếm chất lượng và mức độ ảnh hưởng của các xuất bản và công trình nghiên cứu khoa học đều là những tiêu chuẩn phương Tây được ‘nhập khẩu’ vào Việt Nam thông qua cộng đồng các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học. Nỗ lực đổi mới, cải cách trong GDĐH trên quy mô quốc gia do và trong quá trình QTH có thể kể đến việc chuyển đổi hệ niên chế sang tín chỉ, và các hoạt động Kiểm định chất lượng trong phạm vi AUN-QA.     Ở bậc phổ thông, các trường quốc tế đã hoạt động trong thị trường GD trong nước từ lâu. Hệ thống các trường quốc tế như UNIS, trường Pháp Lycée français Alexandre Yersin, trường quốc tế Nhật bản JIS, hệ thống trường Anh BIS và BVIS đều đưa vào giảng dạy các chương trình phổ thông nước ngoài, và sử dụng ngôn ngữ giảng dạy gồm tiếng Việt và một ngoại ngữ như Anh, Nhật, Pháp. Trong khi đó, để thu hút các phụ huynh có nhu cầu cho con theo học các chương trình quốc tế, nhiều trường dân lập ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đều đã đưa chương trình quốc tế Cambridge vào giảng dạy song song với chương trình phổ thông của Bộ GD và Đào tạo. Năm 2017, chương trình Cambridge và hình thức đào tạo song bằng đã được Sở GD Hà Nội đưa vào hệ thống trường công lập thông qua thí điểm tại trường THPT Chu Văn An và Hà Nội Amsterdam. Như vậy, những học sinh theo học chương trình song bằng này sẽ cùng lúc lấy bằng tốt nghiệp THPT của Việt Nam và chứng chỉ A-level của Anh quốc. Ở cấp quốc gia, gần đây có một điển hình của hoạt động QTH là việc triển khai mô hình nhà trường mới VNEN vào gần 4400 trường học trên cả nước.      Chủ yếu hoạt động QTH GD của Việt Nam là theo chiều nhập khẩu những mô hình, chính sách, cách tiếp cận và những thực hành cụ thể vào bối cảnh GD trong nước và tính hiệu quả của chúng luôn là câu hỏi lớn, gây nhiều lúng túng cho các nhà lãnh đạo, quản lý, và giảng viên.      Khá lúng túng trong quản lý     Các hoạt động QTH diễn ra tại Việt Nam có nhiều lý do và mục đích. Người học đi du học ngày càng nhiều, phụ huynh có xu hướng lựa chọn các trường, chương trình có yếu tố quốc tế ở trong nước rõ ràng là do thiếu niềm tin vào chất lượng GD nội địa ở mọi cấp bậc và sự sính ngoại, ưa chuộng GD quốc tế. Từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách, việc đi tìm giải pháp từ các mô hình, chính sách ở bên ngoài biên giới phần nào cho thấy sự lúng túng trong việc tìm đường đi cho cải cách và đổi mới. Đối với các nhà quản lý GD cấp cơ sở và các nhà đầu tư, kinh doanh GD, việc gắn mác ‘quốc tế’ chủ yếu nhằm đánh vào mối quan tâm và thị hiếu của phụ huynh và người học.     Điều không thể phủ nhận là các hoạt động QTH đã đem đến nhiều thay đổi, trong một chừng mực nào đó đã góp phần đem lại diện mạo mới cho nền GD Việt Nam. Nhưng song song với đó là rất nhiều vấn đề về quản lý chất lượng và triển khai chúng ta phải đối mặt.     Một trong những vấn đề lớn là việc triển khai các hình thức GD du nhập. Hệ tín chỉ được đưa vào các trường đại học từ hơn hai chục năm nay nhưng số trường đại học và cao đẳng triển khai chuẩn xác, đầy đủ và thành công hình thức tổ chức đào tạo này không nhiều. Ngoài việc thiếu nền tảng công nghệ thông tin để hỗ trợ quá trình tổ chức tín chỉ, dẫn tới sự kém hiệu quả, cách sử dụng giờ giảng phân bổ cho các hoạt động,     Thứ hai, bên cạnh các trường hợp liên kết có thực chất và chất lượng quốc tế, có vô số các trường hợp liên kết kém chất lượng, thậm chí có yếu tố gian lận. Một trong những ồn ào đã xảy ra trong quá trình hội nhập GD là việc mua bán bằng cấp quốc tế từ các lò cung cấp bằng giả (degree mills) hay việc tổ chức liên kết đào tạo với trường ‘ma’ ở nước ngoài. GDĐH từng dậy sóng với những tấm bằng tiến sỹ được cấp bởi những đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University), đại học Nam California, những chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài giữa Đại học Quốc tế Châu Á vốn không tồn tại với một đại học công lập có uy tín1, giữa trường Quốc tế Mỹ Việt (AVIS) với Trường International University – INU (Mỹ) hay đại học North-West của Mỹ (ĐQS Mỹ tại Việt Nam xác nhận không có đại học này).     Sau rất nhiều vụ việc liên kết đào tạo kém chất lượng, hiện tại việc liên kết đào tạo quốc tế ở bậc đại học đã được kiểm soát chặt chẽ hơn. Tuy vậy, ở bậc phổ thông, việc kiểm soát liên kết kém chất lượng dường như còn chưa được hỗ trợ nhiều và có sự tham gia tích cực của cơ quan quản lý nhà nước. Một trường hợp đang được xã hội quan tâm là vụ việc trường quốc tế George Washington International School (GWIS) đang liên kết đào tạo với nhiều trường phổ thông dân lập ở khắp nhiều tỉnh thành, trong đó có trường Newton Grammar School, một trường dân lập ở Hà Nội. Trường GWIS có trụ sở tại Mỹ này có đủ các đặc điểm của một trường “ma”: website sơ sài, không có hình ảnh chứng tỏ có hoạt động giảng dạy ở Mỹ; không có cơ sở ở Mỹ theo địa chỉ đã công bố; không có bằng chứng đã được kiểm định chất lượng2. Sau một thời gian cộng đồng GD và phụ huynh lo lắng về việc này, đến ngày 12/4/ đại diện Sở GD&ĐT mới có thông báo rằng Đại sứ quán Mỹ xác nhận tính hợp pháp của GWIS. Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa GWIS đã được kiểm định chất lượng. Nếu GWIS vẫn tiếp tục được triển khai hợp tác đào tạo và tuyển sinh ở Việt Nam, thì có nghĩa là một trường hay chương trình quốc tế không được kiểm định chất lượng vẫn được cơ quản lý nhà nước chấp nhận cho liên kết. Rõ ràng đối tượng chịu thiệt thòi là người học và phụ huynh.     Thứ ba, việc du nhập và áp dụng các chương trình GD nước ngoài một cách vội vã, không tính toán kỹ lưỡng các điều kiện triển khai có thể khiến chương trình bị thất bại. Ví dụ khác, VNEN là trường hợp điển hình nhất của việc du nhập mô hình GD vào Việt Nam ở quy mô toàn quốc. Đây là mô hình sao chép từ mô hình EN, trường học mới của Colombia. Trước khi được đưa vào Việt Nam qua một đề án GD của Ngân hàng Thế giới, mô hình này đã thành công ở một số nước, chủ yếu ở châu Mỹ La tinh. Trong thời gian được triển khai thí điểm rồi nhân rộng ở Việt Nam, chương trình này trở thành vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong hệ thống với rất nhiều khen chê đối lập. Ở một số tỉnh thành, phản ứng với chương trình quyết liệt từ cả giáo viên và phụ huynh đến mức Sở GD&ĐT tỉnh phải dừng VNEN. Điều này là rất bất ngờ vì thông thường các trường công lập trong hệ thống có xu hướng tuân thủ các chính sách, chương trình từ Bộ GD&ĐT. Lý do có nhiều, trong đó có sự thiếu chuẩn bị, thiếu điều kiện triển khai.  Nhìn chung, vay mượn mô hình từ nước ngoài là hiện tượng diễn ra từ lâu và phổ biến trên thế giới đã được nghiên cứu ở nhiều hệ thống. Có điều, chúng ta khá bị động và chưa tiếp thu được các bài học kinh nghiệm từ các nước để có thể chuyển giao mô hình thành công.       Một tiết học của học sinh trường TH quốc tế Gateway ở Hà Nội. Ảnh: gatewayhanoi     Vay mượn mô hình: thế yếu của ‘chiều nhập’     Là nước đang phát triển, Việt Nam chịu phần thiệt thòi trong quá trình QTH xét về cán cân ‘chiều xuất’ và ‘chiều nhập’ dịch vụ, sản phẩm GD. Tức là chủ yếu hoạt động QTH GD của Việt Nam là theo chiều nhập khẩu. Trong quá trình này, câu chuyện của những mô hình, chính sách, cách tiếp cận và những thực hành cụ thể được du nhập từ nước ngoài (được gọi tắt là vay mượn mô hình) khi áp dụng vào bối cảnh GD trong nước và tính hiệu quả của chúng luôn là câu hỏi lớn, gây nhiều lúng túng cho các nhà lãnh đạo, quản lý, và giảng viên.  Việc vay mượn mô hình được ví như việc bứng một cái cây ở xứ lạnh mang về trồng trong khu vườn xứ nhiệt đới. Câu hỏi bất cứ ai cũng sẽ đặt ra là liệu cái cây này có sống được trên đất mới? Ở đây là câu chuyện của sự tương thích giữa hai môi trường, trong đó đặc điểm đặc thù của chính sản phẩm được vay mượn và điều kiện “thổ nhưỡng” của nơi sản phẩm vay mượn sẽ được gieo trồng đóng vai trò quan trọng. Vấn đề này xảy ra trong việc vay mượn mô hình, chính sách ở tất cả mọi lĩnh vực, không chỉ GD.  Dolowitz và Marsh (1996) đã tóm tắt những yếu tố ảnh hưởng tới tính tương thích và khả năng chuyển giao thành công các mô hình vay mượn theo bốn nhóm: (1) tính phức tạp của mô hình, chính sách được chuyển giao; (2) những mô hình, chính sách đã có; (3) bối cảnh văn hoá, chính trị và (4) điều kiện nguồn lực ở quốc gia nhận chuyển giao.  Như vậy, khi ứng dụng vào lĩnh vực GD, khi vay mượn mô hình cần phải nghiên cứu và cân nhắc các vấn đề sau:  i) Đặc điểm, tính chất, sự phức tạp của mô hình, chính sách dự định vay mượn thể hiện qua mục đích, mục tiêu, tương quan giữa vấn đề được giải quyết với giải pháp, tác dụng không mong muốn, hệ quả, các vấn đề chuyên môn, kỹ thuật, các điều kiện triển khai ở quốc gia sản sinh mô hình, vv;  ii) Các chính sách, mô hình hiện hành để đánh giá chính xác cần vay mượn cái gì, ở mức độ nào, và xác định mục tiêu vay mượn rõ ràng;  iii) Hiện trạng hệ thống GD trong nước, bối cảnh văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam: hệ tư tưởng, triết lý và nền tảng GD, đặc trưng, hệ giá trị, tập tục văn hoá, thói quen…  iv) Các điều kiện, nguồn lực để triển khai mô hình, chính sách vay mượn: nhân lực, tài chính, số liệu, công cụ và trang thiết bị, công nghệ…  Việc nghiên cứu khả năng chuyển giao cần được thực hiện trước khi du nhập mô hình hay chính sách, sẽ giúp đánh giá tính phù hợp của đối tượng vay mượn, đồng thời giúp các nhà quản lý lường trước được những vấn đề họ có thể gặp phải và chuẩn bị các giải pháp xử lý phù hợp. Quá trình này là tốn kém, nhưng sẽ giúp chúng ta lựa chọn được sản phẩm phù hợp để nhập khẩu, giảm thiểu cái giá có thể phải trả của việc nhập khẩu nhầm sản phẩm không phù hợp. Khi ấy chúng ta sẽ biết rõ vì sao lại áp dụng một mô hình của Anh, hay Mỹ, hay Phần Lan, thay vì đi khảo sát Phần Lan thì nhập khẩu GD Phần Lan, đi Nhật Bản, du nhập mô hình Nhật Bản.     Cuối cùng, mặc dù đã đạt được một số lợi ích nhất định, rất đáng tiếc rằng những nỗ lực QTH GD Việt Nam còn nhiều lộn xộn, chưa hẳn xuất phát vì chất lượng đào tạo, và cũng chưa đem lại những kết quả đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả GD.  Cần luôn lưu ý rằng QTH, vay mượn mô hình, chính sách là phương tiện để đạt được các mục tiêu chất lượng, chứ các hoạt động này không phải là để chứng tỏ chúng ta đã QTH nền GD.     Tham khảo  Altbach, P. G., & Knight, J. (2007). The Internationalization of Higher Education: Motivations and Realities. Journal of Studies in International Education, 11(3), 290-305.  Dolowitz, D. P., & Marsh, D. (1996). Who Learns What from Whom: a Review of the Policy Transfer Literature. Political studies, 44(2), 343-357.     Chú thích:  1 https://thanhnien.vn/giao-duc/be-boi-chuong-trinh-lien-ket-nuoc-ngoai-881378.html  2 Trang web của GWIS cho biết trường này được kiểm định bởi Florida Board of Education thuộc Bộ GD bang Florida, tuy nhiên không có chức năng kiểm định chất lượng. Trên trang web của một trường liên kết, GWIS còn cung cấp chứng nhận kiểm định chất lượng giả.    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Quốc tế hóa nền giáo dục Việt Nam      B&#224;i viết n&#234;u l&#234;n những nội dung ch&#237;nh của qu&#225; tr&#236;nh quốc tế h&#243;a nền gi&#225;o dục Đại học Việt nam bao gồm: lộ tr&#236;nh x&#226;y dựng một trường đại học đẳng cấp Quốc tế như tuyển chọn nh&#226;n t&#224;i, quốc tế h&#243;a c&#244;ng t&#225;c Nghi&#234;n cứu Khoa học. Tr&#234;n cơ sở những li&#234;n kết đ&#224;o tạo với nước ng&#242;ai hiện nay, b&#224;i b&#225;o cũng đề nghị bổ xung th&#234;m c&#225;c giải ph&#225;p để đa dạng h&#243;a c&#244;ng t&#225;c li&#234;n kết đ&#224;o tạo quốc tế. Đồng thời b&#224;i b&#225;o cũng nhấn mạnh c&#244;ng t&#225;c chuẩn bị cho giảng vi&#234;n-sinh vi&#234;n cũng như c&#225;n bộ quản l&#253; c&#225;c trường bao gồm cả một số chiến lược quản l&#253; nh&#224; nước,cũng như chiến lược vi m&#244; của từng trường kể cả x&#226;y dựng chiến lược xuất khẩu Gi&#225;o dục đại học nhằm đồng bộ h&#243;a qu&#225; tr&#236;nh quốc tế h&#243;a nền GD Đại học VN.      Như 2 lần hội thảo trước đây chúng ta đã thảo luận nhiều về tầm quan trọng của GD SS ở VN, về sự cần thiết phải QT hóa nền GDĐH VN. Tiếp theo chủ đề trên, lần này chúng tôi muốn phân tích sâu hơn và cụ thể hơn về trình tự của quá trình QT hóa nền GD ĐH VN, những giải pháp cụ thể của quá trình này..     TRÌNH TỰ QUỐC TẾ HÓA  Nền GD ĐH VN nói chung  còn thua kém nhiều nước trên thế giới. Chúng ta đã từng phân tích khỏang cách giữa các trường đại học VN và quốc tế trong những lần hội thảo trước[1]. Muốn QT hóa nền GD ĐH VN trong một vài thập kỷ tới, chúng ta cũng cần có lộ trình. Có thể nêu lên vài điểm chính như sau:  1. Kiểm tra đánh giá lại chất lượng GD đào tạo của từng trường.  2. Tìm hiểu tình hình và chất lượng của các trường đẳng cấp QT, so sánh để thấy rõ mặt mạnh, mặt yếu của trường ĐH VN, tìm cách phát huy hay khắc phục.  3. Đặt lộ trình quốc tế hóa cho ĐH VN bao gồm một số việc cụ thể như: xây dựng trường ĐH đẳng cấp QT, đa dạng hóa liên kết đào tạo QT, chuẩn bị cho SV- GS sẵn sàng hội nhập QT.  Trong nội dung của một bài viết ngắn, chúng tôi xin đi sâu vào nội dung thứ 3, đó cũng là nội dung chính của quá trình quốc tế hóa nền GD ĐH VN.  XÂY DỰNG  TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ  Theo chiến lược phát triển GD VN 2010-2020, nhà nước ta có kế họach xây dựng 4 trường ĐH đẳng cấp Quốc tế (QT). Đây là một tín hiệu mừng với hy vọng đó sẽ là những đầu tầu kéo cả đòan tầu GD ĐH Việt Nam vươn lên. Tuy nhiên “đẳng cấp QT” không là cái mà trường ĐH tự phong cho mình được mà phải dựa trên sự công nhận của QT. Chúng ta có thể tham khảo bảng phân lọai thứ tự các trường ĐH trên thế giới năm vừa qua sau đó phân tích các yếu tố hình thành nên đẳng cấp QT của một trường ĐH để rút kinh nghiệm cho các trường ĐH VN.       Bảng 1: 20 trường Đại học hàng đầu thế giới, năm 2008              TT      Theo bảng phân lọai THES      TT      Theo bảng phân lọai SJTU          1      ĐH Harvard      1      ĐH Harvard          2      ĐH Yale      2      ĐH Stanford          3      ĐH Cambridge      3      ĐH Berkeley          4      ĐH Oxford      4      ĐH Cambridge          5      Viện công nghệ California      5      Viện công nghệ Massachusetts-MIT          6      ĐH hòang gia London      6      Viện công nghệ California          7      ĐH London      7      ĐH Columbia          8      ĐH Chicago      8      ĐH Princeton          9      Viện công nghệ Massachusetts-MIT      9      ĐH Chicago          10      ĐH Columbia      10      ĐH Oxford          11      ĐH Pennsylvania      11      ĐH Yale          12      ĐH Princeton      12      ĐH Cornell          13      ĐH Duke      13      ĐH California, LosAngeles          14      ĐH Johns Hopkins      14      ĐH California, San Diego          15      ĐH Cornell      15      ĐH Pennsylvania          16      ĐH quốc gia Australia      16      ĐH Washington, Settle          17      ĐH Stanford      17      ĐH Wisconsin, Madison          18      ĐH Michigan      18      ĐH California, Sanfrancisco          19      ĐH Tokyo      19      ĐH Tokyo          20      ĐH McGill      20      ĐH Johns Hopkins             THES ( Times Higher Education Suplement: Phụ trương Thời báo Giáo Dục Đại Học)  SJTU (Shanghai Jiao Tong University: ĐH Giao thông Thượng Hải)     Bảng xếp hạng THES được xây dựng từ năm 2004 với tiêu chí chủ yếu dựa trên danh tiếng của nhà trường qua thăm dò các nhà khoa học QT, kết hợp với các dữ liêu về số lượng GS và SV quốc tế, chất lượng SV, thành tích nghiên cứu được trích dẫn. Bảng xếp lọai SJTU xuất hiện vào năm 2003 thì lại nhấn mạnh vào đội ngũ cán bộ khoa học nổi tiếng (những người đã nhận các giải thưởng QT như Nobel, Fields…), số bài báo QT, số lần được trích dẫn. Ngòai 2 cách xếp hạng trên, còn một tổ chức có uy tín thứ 3 là Webometrics thuộc hội đồng nghiên cứu quốc gia Tây Ban Nha.   Các cách xếp hạng có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên qua nghiên cứu những trường được xếp trong các bảng, người ta có thể nhận xét chung về các yếu tố hình thành nên những trường ĐH đẳng cấp QT hàng đầu như sau:  -Tập trung cao độ nhân tài (sinh viên, giáo viên và cán bộ quản lý xuất sắc)  -Thành tích học tập-giảng dạy và nghiên cứu khoa học cao(chương trình tiên tiến, cơ sở vật chất thí nghiệm hiện đại, nhiều giải thưởng QT, bài báo QT)  -Vai trò quan tâm của chính phủ tới các trường ĐH: tầm nhìn chiến lược, cơ chế quản lý mềm dẻo và khuyến khích tự do học thuật, chính sách động viên và định hướng cho giáo viên, SV theo hướng QT hóa…     Tuyển Chọn Nhân Tài  Ở đây yếu tố đầu tiên phải là quy tụ nhân tài, đặc biệt là giáo viên và sinh viên. Tranh giành nhân tài dường như đã trở thành một cuộc chiến tranh ở các nước phát triển nhất là tại các trường ĐH hàng đầu..   Trường ĐH Oxford (Anh) vốn xưa nay có truyền thống chỉ dùng những người tốt nghiệp trường mình làm lãnh đạo nhưng trong cuộc chiến tranh giành giật nhân tài này, trường đã bỏ ra 1,25 tỷ Pound ( khỏang 2,5 tỷ USD) cho một chiến dịch thu hút nhân tài thế giới. Năm nay trường sẵn sàng mời Giáo sư Andrew Hamilton, hiệu trưởng trường ĐH Yale nổi tiếng của Mỹ về làm phó chủ tịch nhà trường. Chủ tịch hội đồng quản trị trường Oxford, GS. Lord Patten đã giới thiệu với hội đồng trường rằng GS. Hamilton đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo khoa học và GD tuyệt vời của mình ( trường Yale do ông lãnh đạo xếp thứ 2 trên thế giới theo bảng phân lọai của THES), rằng “ông là một sự lựa chọn tuyệt vời để dẫn dắt chúng ta bước vào thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21”[8].  Ngay trong nội bộ một quốc gia như Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh nhân tài giữa các trường cũng khá là khốc liệt. Ví dụ một trường ĐH khá nổi tiếng, ĐH Wisconsin thuộc  Madison nhưng  với tiền lương thấp trường đã mất đi nhiều giáo sư xuất sắc. Niên khóa 2006-2007 trường đã rơi từ hạng 34 xuống thứ 38 trong bảng xếp hạng các trường ĐH Hoa Kỳ. Nhiều người dân ở Madison lo ngại rằng, với làn sóng ‘chảy máu chất xám” trong làng GS ĐH ở Madison, trường sẽ mất dần danh tiếng. Trong thời gian bốn năm trước đây có khỏang 400 GS ở đây đã ra đi. Gần đây số lượng còn tăng lên nhiều hơn nữa. Hai năm trước trường chỉ giữ được 80% GS, năm ngóai đây chỉ còn 63%. Năm nay Madison dự định bỏ ra 1,2 triệu USD chi cho việc mời mỗi một GS mới với hy vọng sau 8 năm trường sẽ thu hồi vốn từ các công trình nghiên cứu của GS đó. Ho cũng tính rằng nếu một GS giỏi ở Madison 25 năm sau  khi thu hồi vốn thì trường sẽ lãi trung bình 13 triệu USD tiền nghiên cứu từ công trình của các GS này [8].  Các trường ĐH đẳng cấp QT cũng hết sức chú ý thu hút các SV tài năng. Ở Trung Quốc, nhà nước cho phép 2 trường ĐH hàng đầu là Bắc Kinh và Thanh Hoa tổ chức tuyển chọn những học sinh xuất sắc nhất trong cả nước (trước kỳ tuyển sinh đại học chung).  Trường ĐH Bắc Kinh mỗi năm thu hút 50 SV giỏi nhất từ mỗi tỉnh trong tòan quốc. Trường ĐH Thanh Hoa tuyên bố sẽ tăng số lượng học bổng và sẵn sàng cấp học bổng đến 5700 USD ( tăng gấp đôi so với năm ngóai) cho những SV là thủ khoa các tỉnh, các ngành trong kỳ thi đại học hoặc SV giành giải thưởng trong các kỳ thi quốc tế. Các trường ĐH hàng đầu ở Mỹ như Harvard, Yale, MIT,Stanford… cũng nổi tiếng về việc kén chọn SV. Số lượng SV của họ không nhiều. Thường thì tỷ lệ SV cao học và tiến sĩ nhiều hơn SV đại học. Những trường tốp đầu thường đã được xây dựng từ một vài trăm năm nhưng số SV đại học cũng không vượt quá 10 000. Ví dụ Viện công nghệ Massachusetts (MIT) có 4000 SV đại học và 6000 trên ĐH, Harvard có 7000 SV ĐH và 10 000 trên ĐH. Trong khi tiến hành xếp hạng các ĐH, một số tác giả cũng cho là đáng tiếc cho một số trường ĐH khá nổi tiếng, có những bộ môn xuất sắc và những nhà khoa học trình độ cao nhưng không được xếp ở thứ bậc nào trong khi xét, ví dụ như ĐH quốc gia Mexico có tới 190 418 SV, trường ĐH Argentina có 279 306 SV. Ngay cả trường ĐH hàng đầu của Trung Quốc, được sự đầu tư và tài trợ rất lớn của nhà nước như ĐH Bắc Kinh cũng bị coi là quá tải với hơn 30 000 SV [6].  Việc thu hút nhân tài không chỉ dừng lại với SV trong nước mà còn rất được đánh giá cao nếu trường ĐH có nhiều SV quốc tế. Ví dụ ĐH Columbia có 23% SV QT, Harvard có 19%, Stanfor có 21%, Cambridge 18%. Nếu kể cả giáo viên và cán bộ-nhân viên trong trường thì thành phần QT ở ĐH Harvard là 30%, Cambridge33%, Oxford 36%. Ở nước ta, việc thu hút SV QT còn nhiều khó khăn do trình độ khoa học kỹ thuật của chúng ta còn hạn chế. Với tiêu chí này nếu trường ĐH đẳng cấp QT hiện bắt đầu xây dựng tại Viện Khoa Học VN (Hànội) chỉ với những ngành nghề sẵn có của Viện sẽ khó lòng thu hút được SV QT. Tuy nhiên, để khắc phục điều này chúng tôi cho rằng các trường dự kiến đẳng cấp QT của ta có thể mở thêm những ngành mang bản sắc độc đáo VN, có khả năng thu hút SV QT như Việtnam học, Môi trường nhiệt đới, Văn hóa Đông phương…      Nghiên cứu khoa học  Giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là 2 nhiệm vụ khăng khít của một trường ĐH, đặc biệt với các ĐH bậc cao. Không thể có một đại học “đẳng cấp” QT mà các giáo sư chẳng có công trình khoa học nào hoặc chỉ có những lý thuyết sáo mòn mà thiếu các minh chứng thực tiễn khoa học. Theo những tiêu chuẩn đánh giá của nhiều tổ chức QT thì VN chưa có trường nào được xếp vào top 200 , thậm chí 500 QT.   Ở nước ngòai, nhiều nhà khoa học chỉ đánh giá nền khoa học VN qua các bài báo được công bố trên các tạp chí QT và họ kết luận rằng về NCKH các trường ĐHVN kém hơn hầu hết các nước trong khu vực. Tổng số công bố quốc tế của Việt Nam hiện nay chưa bằng một trường đại học Thái Lan, như Chulalongkorn hay Mahidol[ 6]. Quả thật đội ngũ giảng viên ĐH hiện nay còn quá thiếu thốn. Số giảng viên có tăng cũng chẳng thấm tháp gì với việc số trường ĐH được tăng một cách chóng mặt như hiện nay. Lo cho việc giảng dạy và “chạy sô” để tăng thu nhập đã gần như choán hết thời gian và sức lực của giảng viên, còn bao nhiêu thì giờ để làm nghiên cứu. Ở một số trường ĐH, công tác NCKH dường như được thực hiện cũng chỉ để lấy thành tích mà thôi vì sau đó it khi được ứng dụng. Tên đề tài cũng thường trùng lặp ở nhiều trường đại học  khác nhau nhất là các đề tài cấp trường) vì toàn ngành chưa có một mạng lưới thông tin và quản lý chung các đề tài khoa học. Nhiều đề tài khoa học còn thiếu nghiên cứu tổng quan hay nói cách khác là các giảng viên VN chưa hòa nhập với trào lưu nghiên cứu chung của tòan thế giới. Do trình độ Anh ngữ hạn chế nên giáo viên cũng chưa nghiên cứu đầy đủ các thông tin trên Internet. Thêm nữa lại ít tham dự các hội nghị, hội thảo QT.  Giáo viên chưa được tạo điền kiện để tham quan học tập các trường nước ngòai. Các chương trình hợp tác nghiên cứu QT còn rất hạn chế. Các tiêu chuẩn xếp lọai quốc tế ít được công khai công bố để các trường VN lấy đó làm chuẩn mà phấn đấu. Trừ các môn khoa học cơ bản như tóan, lý còn các ngành khác việc viết báo QT ít được quan tâm. Nói chung giáo viên ta còn rất thiếu thông tin và các nhà quản lý cũng chưa thực sự chú ý đến điều này.  Nói chung để VN có thể xây dựng được 4 trường Đẳng cấp QT trong khỏang trên 10 năm theo kế họach thì thu hút nhân tài cần đặt thành một chiến lược hàng đầu mang tầm cỡ quốc gia và cũng là mục tiêu chiến lược của từng trường. Kết hợp cùng các yếu tố khác như tập trung xây dựng cơ sở vật chất tốt ( kết hợp với viện nghiên cứu và khu công nghệ cao), chọn chương trình tiên tiến, chính sách thông thóang và quan tâm của chính phủ, chắc rằng mục tiêu xây dựng trường đẳng cấp QT, trước hết là trong khu vực, không đến nỗi quá xa vời.      CÁC DẠNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO QUỐC TẾ   Tuy nhà nước đã có kế họach xây dựng các trường đẳng cấp QT, nhưng trong cơ chế thị trường, tất cả các trường ĐH cùng cạnh tranh để vươn lên thì không ai biết được 10 năm nữa trường nào mới thực sự được đánh giá đạt đẳng cấp QT. Liên kết đào tạo là một cách làm cần thiết và sáng tạo giúp ước mơ đẳng cấp QT của nhiều trường có thể thành hiện thực theo những con đường ngắn nhất.  Dựa trên một số chương trình liên kết quốc tế đã thực hiện ở VN, dựa vào kinh nghiệm của một số nền GD Đông Nam Á, chúng tôi xin đề nghị các dạng liên kết mà các trường ĐH VN có thể tham khảo để hợp tác với nước ngòai như sau  1. Chương trình đôi: là những chương trình mà một phần thời gian SV học ở VN theo chương trình của trường liên kết, phần khác thời gian học ở trường nước ngòai và lấy bằng nước ngòai. Tùy theo hợp đồng liên kết, có thể theo phương án 1+1 cho cao học, 2+1 cho cử nhân theo chương trình các nước hệ Anh như khối liên hiệp Anh, Malaysia, Ấn độ..Hoặc 2+2 cho chương trình cử nhân ở nhiều nước. Chương trình này như một cách du học nước ngòai nhưng giá rẻ hơn. Hiện nay đã có một số trường tiên tiến nước ngòai đồng ý hợp tác với VN theo phương án này.  2. Chương trình liên kết: Là chương trình do VN và nước ngòai cùng thiết kế, biên sọan và thực hiện. Bằng cấp do 2 bên cùng ký.  3.Chuyển đổi tín chỉ: Nếu trường ĐH VN đủ năng lực và uy tín thì trường nước ngòai có thể đồng ý công nhận các tín chỉ mà SV đã học và tích lũy ở VN. Sau đó sang nước ngòai SV chỉ cần học thêm một thời gian ngắn nữa để hòan tất chương trình và nhận bằng nước ngòai.  4. Đại lý nước ngòai: trường hòan tòan do nước ngòai chủ trì về chương trình và giảng dạy. Phía VN có thể cho thuê cơ sở vật chất và làm đại lý cho trường nước ngòai. Những trường này có thể do nhà nước hoặc các tư nhân làm đại lý, nhưng tốt nhất là các tập đòan kinh tế hoặc các tổng công ty lớn thì cơ sở vật chất mới bảo đảm chất lượng và đáp ứng nhu cầu các trường có uy tín của nước ngòai.  5. Gia nhập các tập đòan ĐH QT: là biện pháp hội nhập nhanh và hiệu quả nhất, tiếc rằng hiện nay VN chưa có một trường ĐH nào nằm trong các tập đòan GD QT. Học tập  Singapor, Malaysia ..chúng ta cần đẩy mạnh giao lưu QT và nâng cao trình độ để có thể nhanh chóng gia nhập các tập đòan này.  6. Đào tạo từ xa: SV ghi tên học trực tiếp với các trường nước ngòai. Bằng cấp do nước ngòai cấp.Đối tác VN chuẩn bị cơ sở vật chất như máy tính, TV, băng, đĩa, in ấn tài liệu. Đồng thời chúng ta cũng nên chuẩn bị một đội ngũ giảng viên VN có trình độ ngọai ngữ và vi tính để phụ đạo cho SV quen dần với lối học qua máy tính.  Các chương trình này có thể thực hiện theo từng trường, có thể  từng khoa, hoặc  thậm chí từng bộ môn. Có thể thực hiện theo một dạng liên kết trên hoặc có thể kết hợp nhiều dạng với nhau sao cho chất lượng tốt nhất và có lợi nhất.       CHUẨN BỊ CHO SV,GV HỘI NHẬP QT  Để vươn lên tầm quốc tế cho GD ĐH VN, những người thực hiện trước hết phải là SV,GV. Do đó họ cần được giúp đỡ để tăng cường nhận thức phát triển các giá trị tòan cầu,  nâng cao kỹ năng ngọai ngữ hoặc có khả năng  đào tạo ra các chuyên gia tòan cầu. Một vài kiến nghị có thể như sau:   1)Giáo dục nhận thức về  tòan cầu hóa. Nâng cao kiến thức chung về lịch sử, địa lý thế giới. Tăng cường hiểu biết cơ bản về các mối quan tâm chung tòan cầu như hòa bình, sức khỏe, môi trường, kinh tế, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Các kiến thức này có thể nằm trong một môn chung cho tất cả các SV ĐH, có thể gọi là phần GD công dân tòan cầu trong môn GD Công Dân. Mặt khác, kiến thức này cũng có thể được tăng cường thông qua các buổi hội thảo quốc tế, các đợt giao lưu giữa SV VN với nước ngòai. Việc tổ chức các họat động này một cách thường xuyên là rất cần thiết.  2)Nâng cao kiến thức ngọai ngữ: cần đề ra yêu cầu cụ thể cho SV tốt nghiệp ĐH có thể đọc được sách chuyên môn nước ngòai, có thể giao tiếp với người nước ngòai. Muốn thể cần cải tiến phương pháp dạy và thi ngọai ngữ: chú ý cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có thi viết như hiện nay.   3) Phát triển giáo trình tiên tiến, nâng cấp cơ sở vật chất giảng dạy, tạo cơ hội cho giáo viên tham quan các cơ sở GD nước ngòai. Một số trường có thể bước đầu xây dựng những chương trình đào tạo nhân lực xuất khẩu. Hiện nay có thể thực hiện một số ngành như công nghệ thông tin, cử nhân điều dưỡng, cử nhân du lịch, nhà hàng, khách sạn.  4) Tiến hành các NCKH để tìm ra cách làm cụ thể tốt nhất cho GD VN trong điều kiện tòan cầu hóa.  5)Tìm hiểu thị trường GD QT để nhập khẩu GD đạt chất lượng tốt. Hình thành chiến lược marketing, quảng bá thương hiệu và chuẩn bị  xuất khẩu GD VN trên một số thị trường thế giới.  Con đường hội nhập QT của nền GD ĐH VN đang rộng mở thênh thang, nhiều thời cơ nhưng cũng đầy thách thức. Trên đây chỉ là một vài ý kiến trong vô vàn giải pháp mà chúng ta có thể thực hiện. Nếu quyết tâm, nền GDĐH VN với truyền thống và tinh thần ham học, không có lý do gì để không trở thành một nền GD mạnh trong khu vực. Tuy nhiên việc chuyển biến đầu tiên chắc chắn rằng phải từ những người làm chính sách và các nhà lãnh đạo, quản lý các trường ĐH-CĐ Việt Nam.     TÀI LIỆU THAM KHẢO  1.  Ciecer, 2008, Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh tòan cầu hóa, kỷ yếu hội thảo  2.   Bộ GDĐT, chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020 ( dự thảo lần 14)  3.  Phạm Lan Hương, 2006, Giáo dục quốc tế- một vài tư liệu và so sánh, NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM  4.  Phạm Lan Hương, 2006, Hệ thống Giáo dục đại học Malaysia: phát triển và quốc tế hóa, tạp chí Giáo dục số 139  5.   Phạm thị Ly và Vũ thị Phương Anh, 2009,Con đường xây dựng các đại học đẳng cấp quốc tế của Trung Quốc, báo Tia Sáng ngày 17/3/2009  6. Phạm Phụ, 2008, Giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu?,  Tuổi Trẻ .  7. Phạm Duy Hiển, 2008, Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây,  Tia Sáng ngày 10/11/2008  8. Jamil Salmi, 2009, the Challenge of Establishing world- class universities, WB  9. Philip Altbach, 2006, The Dilemmas of Ranking, International Higher Education number 42.  10. Fernado M. Reimers, 2008, Preparing Students for the Flat World, Education Week, October 3, 2008  11. Các websites: Vnn.vn ngày 7-4-2008,   http://moet.gov.vn ngày 20/3/2009       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền lực mềm của  các bảng xếp hạng đại học      Các bảng xếp hạng đại học toàn cầu đang “tiêm” vào đầu những nhà quản lý công lối tư duy “thứ bậc” và “điều chỉnh” phản ứng chính sách của các quốc gia, đồng thời khơi mào một cuộc chiến xếp hạng.      Các bảng xếp hạng đại học xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ (1983) với bảng xếp hạng thường niên các trường đại học của U.S.News and World Report. Thế nhưng chỉ đến khi Trung Quốc “nổ phát súng” với xếp hạng ở quy mô toàn cầu – ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải (2003), “cơn sốt” các bảng xếp hạng toàn cầu mới bắt đầu bùng nổ với những bảng tiếp theo của Times Higher Education (THE Rankings – 2004), Quacquarelli Symonds (QS Ranking – 2004), Leiden (2007), … Các bảng này đã tạo ra nhận thức về “thứ bậc” giữa các trường, các quốc gia và kéo tất cả bước vào “cuộc chạy đua vũ trang” nhằm cải thiện vị trí trên bảng xếp hạng. Không chỉ hệ thống giáo dục mà các chính sách khác của chính phủ các nước cũng đang chịu ảnh hưởng đáng kể từ tư duy “thứ bậc” này.  Sáp nhập và tái cấu trúc  Bảng xếp hạng đại học đem đến niềm tự hào quốc gia và khẳng định vị thế về giáo dục trên đấu trường quốc tế. Chính những thất vọng về vị trí trên bảng xếp hạng đã thôi thúc các quốc gia tái cấu trúc lại hệ thống giáo dục, sáp nhập các cơ sở nhằm tăng quy mô, giúp các trường có được kết quả tốt hơn trên các bảng xếp hạng toàn cầu, đặc biệt là các bảng như ARWU đánh giá thông qua số lượng thay vì bình quân.Kết quả trên bảng xếp hạng năm 2005 của ARWU cho thấy chỉ có 4 trường của Pháp lọt vào top 100 và không có trường nào trong top 50 [so sánh với Anh có 11 và Mỹ có 53 trong top 100] đã gây ra một cú sốc với giới chức Pháp, buộc chính phủ nước này ra quyết định tái sáp nhập một số trường đại học, tổ chức nghiên cứu và grandes écoles (các trung tâm đào tạo kỹ thuật, chính trị, quân sự ưu tú) để thành lập các trung tâm vùng xuất sắc. Động thái này đã đảo ngược tiến trình chia tách các trường đại học lớn mà Pháp thực hiện trước đó, bởi kể từ sau khi tách ĐH Paris thành 13 ĐH tự trị vào năm 1970, Pháp còn rất ít trường đủ khả năng lọt vào top 100. Xu hướng sáp nhập các cơ sở giáo dục đang ngày càng phổ biến khắp châu Âu, kể từ năm 2005 đến nay. Tại Đan Mạch, số lượng các trường giảm từ 12 xuống còn 8. Tại Estonia, số trường đại học trong nước giảm từ 41 xuống 29.Xu hướng thứ hai cũng đang lan rộng ở châu Âu là phân tầng hệ thống giáo dục thành các đại học xuất sắc và các trường đại chúng. Ví dụ như ở Pháp, nền giáo dục nước này vốn có truyền thống không chia cấp bậc nhưng Chính phủ Pháp hiện nay đã quyết định rằng sẽ không phân phối đồng đều mà ưu tiên cho các trường lớn, tập trung vào sự xuất sắc và quản trị hiện đại. Tổng thống lúc bấy giờ là Nicolas Sarkozy phát biểu: “Chúng ta có bao nhiêu trường đại học? 83 trường? Chúng ta sẽ không chia tiền cho cả 83 trường.” Pháp đã xóa bỏ di sản bình đẳng vốn đã tạo nên chất lượng của nền giáo dục Pháp ngày nay, và Đức cũng đang thế.  Sự trỗi dậy của “đại học tinh hoa”  Đại học tinh hoa là kết quả phái sinh từ sự phân tầng hệ thống giáo dục, tuy nhiên trong thế kỷ 20, phong trào đại chúng hóa giáo dục đại học đã thu hẹp số lượng các đại học tinh hoa lại, tập trung chủ yếu ở Anh và Mỹ như Oxford, Harvard, Cambridge,… Thế nhưng tình hình đang thay đổi bởi chính phủ các nước nhận ra rằng việc có các trường nằm trong top đầu thế giới mới là lời khẳng định tốt nhất về chất lượng giáo dục xuất chúng.  Kết quả xếp hạng của ARWU, THE và QS cho thấy không trường nào của Đức lọt top 20 hay 50, đã thách thức niềm tin rằng Đức có những trường tốt nhất thế giới. Chính phủ Đức đã nhanh chóng khởi động chương trình Sáng kiến Xuất sắc, nhằm tạo ra Ivy League phiên bản Đức, tập trung vào công bố/hoạt động nghiên cứu để giành lại vị trí dẫn đầu của Đức trong nghiên cứu. Tại Pháp, năm 2009 chính phủ đã tài trợ 7,7 tỷ Euro cho Sáng kiến Xuất sắc nhằm tạo ra 5 đến 10 cụm nghiên cứu và giáo dục bậc cao đẳng cấp toàn cầu, đồng thời tuyên bố kế hoạch dành 4,4 tỷ Euro để xây siêu đại học Paris-Saclay – nhắm đến Top 10 thế giới. Liên bang Nga cũng lựa chọn “đại tu” lại khu vực giáo dục của mình, bằng cách kiểm toán độc lập các trường đại học và chọn ra 15 trường sẽ nhận được các khoản trợ cấp để cải thiện khả năng đáp ứng các tiêu chí xếp hạng.  Không chỉ những nước châu Âu nóng lòng tìm lại “hào quang quá khứ” của mình, các nước châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Malaysia cũng đang là những “chiến binh” tích cực bậc nhất trên đường đua xếp hạng này. Chiến lược chung là thiết lập “Chương trình Xuất sắc” để hỗ trợ và tăng kinh phí cho nghiên cứu khoa học và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế. Nhật Bản, sau hàng thập kỷ đầu tư “khủng” cho giáo dục đại học nhưng thành công lại “hạn chế” – chỉ có 2 trường lọt top quốc tế, đã khởi động nhiều lượt chính sách như Chương trình Trung tâm Xuất sắc cho Thế kỷ 21, Chương trình Trung tâm Xuất sắc Toàn cầu,… nhằm hiện thực hóa mong muốn “10 đại học lọt top 100” của Thủ tướng Shinzo Abe.  Chính sách nhập cư và hợp tác quốc tế  Các bảng xếp hạng đại học đã tạo ra nhận thức xã hội rằng một số trường xuất sắc hơn đại đa số các trường khác, và những cá nhân tốt nghiệp từ những trường xếp hạng cao cũng sẽ ưu tú hơn, xứng đáng nhận được đãi ngộ tốt hơn. Lối tư duy này đã ảnh hưởng đến tiêu chí lựa chọn người nhập cư ở một số nước như Hà Lan. Năm 2008 chính phủ nước này đã ra quy định rằng để đạt tiêu chuẩn “Người nhập cư có tay nghề cao”, người nộp đơn phải có bằng thạc sĩ/tiến sĩ từ một cơ sở giáo dục của Hà Lan đã được chứng nhận hoặc từ cơ sở giáo dục không thuộc Hà Lan nhưng được xếp trong Top 200 trường thuộc bảng xếp hạng của THE, ARWU hay QS. Ở Đan Mạch, để được nhận thẻ xanh sẽ phụ thuộc vào xếp hạng – trong tổng số 100 điểm dành cho trình độ giáo dục mà ứng viên có thể nhận được, có đến 15 điểm sẽ được trao theo vị trí xếp hạng của trường đại học mà ứng viên tốt nghiệp  Các chính sách hợp tác quốc tế cũng chịu tác động tương tự. Năm 2012, Ủy ban Tài trợ Đại học của Ấn Độ đã tuyên bố chỉ những trường ngoại quốc nằm trong top 500 của bảng xếp hạng THE, ARWU mới đủ điều kiện tham gia chương trình liên kết đào tạo song bằng, điều này đồng nghĩa là nhiều cơ sở giáo dục tốt sẽ không đủ năng lực trở thành đối tác chỉ bởi họ định hướng giảng dạy hay tập trung vào nghệ thuật và nhân văn.  Nga lại đi một bước tiến lớn hơn khi quyết định công nhận bằng cấp từ các trường đại học ngoại quốc nằm trong top 300 của ARWU, QS hay THE. Với những trường còn lại, quy trình công nhận rất cồng kềnh, trừ khi các trường ở các nước có thỏa thuận thừa nhận song phương với Nga. Ở Nga, Hong Kong hay Brazil còn có chính sách tài trợ cho sinh viên đi học thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài nhưng yêu cầu điểm đến phải ở trong top 300 thế giới (Nga) và ở top 100 bảng xếp hạng quốc tế hoặc top 30 các trường đại học khai phóng của USNWR (Hong Kong).  ***  Các bảng xếp hạng đại học toàn cầu đang thể hiện một thứ quyền lực mềm có khả năng “thao túng” các quyết sách chính phủ thông qua hình thành nhận thức “trường tốt – trường kém” trong xã hội. Đã có những làn sóng tẩy chay từ chính các trường đại học và từ cả Chính phủ (Mỹ), thế nhưng chừng nào các quốc gia còn coi các bảng xếp hạng là nơi khẳng định vị thế địa chính trị thì không thể dừng cuộc đua này lại, bởi kể cả những nước dường như “đứng ngoài” như Anh (nhờ thành tích tốt được tích lũy trong quá khứ) cũng đang phải thay đổi trước sức ép bị các nước châu Á và Âu khác đuổi kịp.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn: Andrejs Rauhvargers (2013), Global University Ranking and Their Impact – Report II, EUA Report on Ranking 2013.  Ellen Hazelkorn (2013), The Impact of University Rankings on Higher Education Policy in Europe: a Challenge to Perceived Wisdom and a Stimulus for Change       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền tự chủ Đại học và trách nhiệm Xã hội      LTS. Ngày 10 – 11/5, ngành Giáo Dục Đại Học (GDĐH) đã có cuộc họp để bàn về đổi mới GDĐH cho 15 năm đến, trong đó có một chủ đề được nhiều người quan tâm nhất là tăng quyền tự chủ cho các trường ĐH. Thế nhưng, triển khai việc tăng quyền tự chủ này như thế nào trong bối cảnh của Việt Nam thì hình như vẫn còn khá nhiều lúng túng. “TIA SÁNG” đã có cuộc trao đổi khá thẳng thắn về chủ đề này với GS Phạm Phụ.    Thưa GS, tăng quyền tự chủ cho các trường ĐH là một xu thế chung của GDĐH trên thế giới?  Câu chuyện này liên quan đến 2 chủ đề lớn là: “Tự chủ ĐH” và “Quản trị ĐH”. Tự chủ ĐH là nói đến quan hệ giữa Chính phủ và ĐH. Chính phủ có thẩm quyền pháp lý đến đâu và nên can thiệp đến mức độ nào vào những vấn đề khác nhau của trường ĐH. Về phía trường ĐH, họ có khả năng đến đâu trong việc hành động theo các lựa chọn riêng để thực hiện sứ mệnh của mình. Còn Quản trị ĐH là nói đến cung cách quản trị để trường ĐH có thể đạt được các mục tiêu đặt ra một cách có “trách nhiệm xã hội”, minh bạch và hiệu quả. Trong cải cách GDĐH trên thế giới, đúng là đã có một xu thế chung: Tăng quyền tự chủ cho các trường ĐH. Mục đích của chính sách này là để các cơ sở ĐH sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của mình và phản ứng tốt hơn với những tín hiệu của thị trường, với những yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, xin lưu ý: “Quyền tự chủ lớn hơn phải được “đánh đổi” (track-off) bằng “trách nhiệm xã hội” (accountability) nhiều hơn”. Nghĩa là, “tự chủ ĐH” phải đi kèm với “Quản trị ĐH” và phải có đủ 2 vế, vế thứ nhất là quyền lợi, còn vế thứ hai là nghĩa vụ.  Được biết, GDĐH VN cũng đã định hướng xu thế này 4 – 5 năm nay, nhưng hình như chưa thấy có những bước chuyển động đáng kể?  Chúng ta cũng đã có một vài bước, chung cho các “đơn vị sự nghiệp” dịch vụ công: giáo dục, y tế, văn hóa… như Nghị định 10 trước đây và Nghị định 43 ngày 25/4/2006 vừa qua của Chính phủ về tự chủ tài chính. Hoặc cũng đã giao quyền cấp bằng ĐH cho các trường ĐH. Tuy nhiên, Tự chủ ĐH và Quản trị ĐH là hai chủ đề rất rộng, rất phức tạp của riêng GDĐH. Vì vậy, nếu đối chiếu với những nội dung của nó thì cũng có thể nói, chưa có được những bước chuyển động thực sự căn bản.  Vậy đâu là nguyên nhân, thưa GS?  Có thể có 3 nguyên nhân sau đây. Thứ nhất là do tình trạng lý luận về quản lý GDĐH nói chung và về các chủ đề này nói riêng ở VN đang rất “có vấn đề”. Thứ hai, có thể hình dung thế này: tổng quyền lực được xem như là một hằng số, tăng quyền lực ở cấp trường ĐH thì phải giảm bớt quyền lực ở cấp Bộ quản lý, mà giảm bớt quyền lực thì bao giờ cũng khó khăn. Hơn nữa, nó còn “làm giảm giá trị truyền thống về mối quan hệ giữa Nhà nước và trường ĐH”. Thứ ba, cơ chế quản trị ở các trường ĐH của VN hiện nay, đặc biệt là cơ chế đảm bảo “trách nhiệm xã hội”, có thể nói là còn chưa có để có thể hy vọng đạt được các mục đích của chính sách phân quyền như vừa nói ở trên.  GS có thể nói rõ hơn về “trách nhiệm xã hội” của các trường ĐH?                Tăng quyền lực ở cấp trường ĐH thì phải giảm bớt quyền lực ở cấp Bộ quản lý        “Trách nhiệm xã hội” là trách nhiệm của nhà trường đối với sinh  viên (SV), cha mẹ SV, người sử dụng lao động, công chúng nói chung và Nhà nước. Trách nhiệm này bao gồm: Việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thông tin minh bạch và trách nhiệm báo cáo giải trình công khai với công chúng, đem lại sự thỏa mãn cho SV và cộng đồng… Để thực hiện được nghĩa vụ này, phải có 2 điều kiện. Thứ nhất, về phía Bộ quản lý, phải xây dựng cho được một số “Chỉ số hoàn thành nhiệm vụ” của trường ĐH, tổ chức kiểm định chất lượng và kiểm toán tài chính độc lập, đưa ra được những quy định về báo cáo giải trình công khai… Thứ hai, về phía trường ĐH, phải có một “Hội đồng trường” (HĐT) để những quyết định đưa ra là vì lợi ích của cộng đồng chứ không phải chỉ là lợi ích của riêng nhà trường hoặc một thế lực nào đó. Nói riêng về HĐT, đây là một HĐ quyền lực và là đại diện cho “Chủ sở hữu cộng đồng”, bao gồm cả SV và có nhiều đại diện bên ngoài nhà trường chứ không chỉ là những đại diện của tập thể bên trong nhà trường. Một khảo sát thực tế ở 28 trường ĐH của Úc năm 2000 cho thấy, tính trung bình, thành phần bên ngoài trường chiếm đến khoảng 50-60% trong tổng số 19 thành viên của HĐT. Còn thành phần SV trong HĐT, “quá trình Bologna” về GDĐH ở Châu Âu vào tháng 6/2003 cũng đã tổ chức một hội thảo chuyên đề và đa số cho rằng, tỷ lệ SV trong HĐT nên chiếm khoảng 10-30%. Ở Việt Nam, SV hình như chưa có vai trò gì trong các quyết sách của nhà trường ĐH.  Có một số  đề nghị: xóa bỏ việc giao chỉ tiêu, xóa bỏ việc quy định trần học phí, để các trường tự quyết định nội dung chương trình… GS có ý kiến gì đối với những đề nghị này?  Tôi không dám bình luận, chỉ xin cung cấp thêm một số thông tin như sau. Trong một nghiên cứu khảo sát gần đây về “Tự chủ ĐH” ở 20 nước trên thế giới, đã có được một số kết luận như sau: a) Thứ nhất, về thẩm quyền và thực tế, mức độ can thiệp của Nhà nước nhìn chung có thể chia thành 3 nhóm: Nhiều nhất là ở các nước Châu Á, (trừ một số trường hợp riêng ở Singapore và Malaysia gần đây), trung bình là ở các nước Châu Âu và ít nhất là ở các nước Anh-Mỹ. Nghĩa là, các trường ĐH Anh – Mỹ có quyền tự chủ nhiều nhất. b) Thứ hai, hai mặt mà các chuyên gia cho rằng Nhà nước cần có sự can thiệp là: Hành chính – tài chính và “Các chuẩn mực học thuật”. Mặt thứ nhất bao gồm: Số lượng SV, đóng cửa hoặc sáp nhập các cơ sở ĐH, kiểm toán tài chính, mức học phí và tài trợ cho SV; mặt thứ hai bao gồm: kiểm định chất lượng, công nhận các chương trình và trường ĐH. Và c) Thứ ba, vẫn tồn tại một “phổ” về mức độ tự chủ, kéo dài từ mức Nhà nước chỉ giám sát (State supervising), nghĩa là trường ĐH có mức độ tự chủ rất cao, đến mức Nhà nước kiểm soát (State control). Ở Mỹ, quyền tự chủ cao nhất là ở các ĐH định hướng nghiên cứu, thấp nhất là ở các trường Cao đẳng cộng đồng. Cũng ở Mỹ, nhiều bang vẫn đưa ra trần học phí. Ở Hàn Quốc, “cung” GDĐH như đã vượt “cầu”, nhưng Nhà nước vẫn có quota cho các trường ĐH. Ở VN, “cung” mới chỉ khoảng 25-30% của “cầu”, nghĩa là vẫn còn có tính chất “độc quyền”. Ai đã có một ít quan tâm về kinh tế, ắt hẳn sẽ hiểu Nhà nước phải kiểm soát như thế nào đối với loại hàng hóa còn độc quyền, đặc biệt lại là dịch vụ GD.  Thưa GS, tự chủ ĐH là một chủ đề rất được quan tâm ở Hội nghị triển khai NQ14 về Đề án đổi mới GDĐH vừa qua?  Trước hết, đúng là một chủ đề rất đáng quan tâm. Nhưng xin lưu ý, chủ đề này có đến 2 vế , nghĩa vụ và quyền lợi, như đã nêu ở trên. Sau nữa, NQ14 có nói: “Xây dựng các Đề án chi tiết để triển khai thực hiện…” nhưng hiện nay thì chưa xây dựng. Hơn nữa, theo tôi, sắp đến mới là giai đoạn lựa chọn chiến lược, lựa chọn ưu tiên và thiết kế chính sách. NQ 14 về cơ bản mới là “ra đầu bài” cho Đề án chứ chưa là Đề án.  Nghĩa là, chưa đến giai đoạn triển khai Đề án đổi mới GDĐH?  Thiết nghĩ, trên tổng thể là như vậy. UNESCO vẫn thường nhắc: “Cải cách vội vã là bóp chết cải cách”. Và, không phải mọi cuộc cải cách GDĐH trên thế giới đều thành công. Chúng ta thường chỉ nói đến: phải làm cái gì, nhưng cái khó khăn nhất lại là: phải làm như thế nào? nguồn lực ở đâu?…      P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt sách “Hiện tượng con người”* của Pierre Teilhard de Chardin      Xuất bản lần đầu năm 1955, tác phẩm của  Pierre Teilhard de Chardin đưa ra một quan điểm độc đáo về sự tiến hóa  của vũ trụ, đã gây tiếng vang và tầm ảnh hưởng lớn. Tác phẩm sắp ra mắt  độc giả Việt Nam qua bản dịch của Đặng Xuân Thảo, do NXB Tri Thức ấn  hành.       Pierre Teilhard de Chardin là một học giả rất đặc biệt, vì ngoài việc là một nhà cổ sinh vật học nổi tiếng với sự tham gia vào khám phá ra người vượn Bắc Kinh năm 1929, ông cũng là một nhà nghiên cứu triết học, thần học và còn là một linh mục Dòng Tên.   Chính những lĩnh vực đa dạng này đã ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của Teilhard de Chardin về phương pháp nghiên cứu loài người trong vũ trụ để từ đó đi đến một quan điểm độc đáo, trình bày trong cuốn sách này. Quan điểm này mở rộng thuyết tiến hóa đến lĩnh vực tinh thần và được coi là bước tiến quan trọng trong sự hòa giải giữa khoa học hiện đại và tôn giáo. Nghiên cứu trong cuốn sách khởi đầu từ một nghịch lý con người: trong khi khoảng cách hình thái học giữa con người và khỉ giống người là không đáng kể, con người lại khác những động vật đó biết bao.   Để giải thích nghịch lý này, tác giả lần theo qui trình tiến hóa trong quá khứ và nhận ra sự cần thiết của việc đưa vào qui trình đó một biến số mới – đó là mặt nội tại của sự vật, hay chính là tâm thần. Một hệ quả quan trọng của đề xuất này là sự tiến hóa hướng đến sự thống nhất ngày càng cao; và còn hơn thế nữa, con người chính là mũi tên chỉ hướng của sự tiến hóa. Dù thế giới vật chất có phân rã đến những trạng thái thấp nhất, thì những hi vọng cho tương lai của vũ trụ, nằm trong chính con người chúng ta, tức là trong nỗ lực của con người cùng đồng lòng xây dựng tinh thần của trái đất.  Giới thiệu về “Hiện tượng con người”, nhà giáo Phạm Toàn nhận định tác phẩm có nội dung quy mô, đồ sộ và một giọng văn hết sức nhã nhặn mà thuyết phục. Teilhard de Chardin đã vừa soi sáng, vừa giúp thống nhất cách nhìn thực tại của chúng ta, buộc những người có tinh thần tôn giáo không thể quay lưng lại với khoa học và thế giới tự nhiên, và những người có tinh thần duy vật không thể chối bỏ tầm quan trọng của cảm thức tôn giáo và thế giới tinh thần.         Chiều nay, 20/6, vào hồi 14h-16h, tại Hội trường L’espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội, NXB Tri Thức, nhóm Cánh Buồm và Trung tâm Văn hóa Pháp tổ chức buổi tọa đàm giới thiệu “Hiện tượng con người” của Pierre Teilhard de Chardin với sự góp mặt của diễn giả Phạm Toàn.          —  * 564 trang, Giá bìa 140.000đ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt trường học đặc biệt nhất Việt Nam      Sau một thời gian chuẩn bị, cổng giáo dục  trực tuyến mở GiapSchool chính thức ra mắt vào ngày 31/8/2013 tại địa  chỉ: www.giapschool.org. Có thể coi đây là một tín hiệu không nhỏ với  giáo dục Việt Nam.      Sự phát triển của công nghệ đã và đang làm thay đổi các mô hình đào tạo và ảnh hưởng đến chiến lược của các tổ chức giáo dục. Bùng nổ trong năm 2012, các khóa học đại trà trực tuyến mở (Massive Open Online Course – MOOC) chính là một hình thức phát triển của loại hình đào tạo đại học từ xa. Sự phát triển nhanh chóng của MOOC trong những năm gần đây đã khiến cho việc học trở nên dễ dàng cho mọi người, ở mọi nơi và miễn phí.  Về nguyên tắc, GiapSchool là một cổng MOOCs, tổ chức học tập tương tự như các cổng coursera, edx (có đăng ký khóa học, thảo luận, theo dõi tiến trình, đánh giá…), nhưng các bài giảng được xây dựng như của KhanAcademy.  Diễn ra vào chiều Thứ Bảy, ngày 31/8, buổi thuyết trình thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà giáo, sinh viên.  Ít giáo viên, không bằng cấp  Buổi giới thiệu GiapSchool nằm trong khuôn khổ thuyết trình “Giáo dục trực tuyến mở: Cơ hội và thách thức” của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán.  Tại đây đã giới thiệu bài giảng về trào lưu giáo dục trực tuyến mở của ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, GS Dương Nguyên Vũ – Trung tâm xuất sắc John von Neumann và TS Giáp Văn Dương – “cha đẻ” của GiapSchool.  Cuộc thảo luận bắt đầu với chia sẻ về sự lo ngại về sự phản đối của giáo viên cũng như các chủ nhiệm khoa, bộ môn vì sợ bị “ném đá”, ảnh hưởng tới việc “giữ ghế”…    TS Giáp Văn Dương khẳng định lo ngại của các thầy cô là có thật. “Tuy nhiên, người quyết định là sinh viên, là đại chúng, nên chúng ta vẫn làm thôi”.  GS Ngô Bảo Châu đồng tình: “Sự phản ứng của thầy cô giáo với MOOC là có thật, và là một chuyện khá “thú vị”, tôi đã theo dõi từ vài tháng nay. Một ví dụ là ở trường ĐH California đã từng xảy ra biểu tình khi nhà trường muốn áp dụng giảng dạy trực tuyến với một khóa học. Giảng viên của khoa đã phản đối vì lo ngại trường sẽ cắt giảm giáo viên.  Mâu thuẫn giữa MOOC và giáng viên hiện mới manh nha, chưa dữ dội, nhưng kết cục như thế nào thì chưa rõ”.  Trước câu hỏi có cơ quan hay tổ chức nào thẩm định chất lượng bài giảng không? Và vấn đề bản quyền cho những người muốn đưa lên mạng bài giảng của mình?  TS Giáp Văn Dương giải đáp: “Theo tôi biết không có cơ quan nào đứng ra thẩm định chất lượng bài giảng. Bài giảng được khen hay bị chê, đó là do người học. Không cơ quan nào được quyền ngăn cản các thầy công bố bài giảng của mình. Và người sản xuất bài giảng đương nhiên giữ bản quyền”.  Tiếp sau ý kiến này, khán giả của buổi giảng bài đã liên tiếp đặt các câu hỏi như các bài giảng trên mạng trước đây đã phải là MOOC chưa? Giáp School có cấp chứng chỉ cho các khóa học của mình?…  TS Giáp Văn Dương khẳng định: Ở Việt Nam đã có khá nhiều đơn vị đào tạo trực tuyến nhưng chưa phải là MOOC mà chỉ là e – learning, chủ yếu là luyện thi đại học, học tiếng Anh trực tuyến… không phải là tính chất mở và miễn phí của MOOC. TS Dương cũng nhắc lại MOOC không có chứng chỉ, bằng cấp, nên chỉ dành cho những người yêu mên tri thức, kiến thức.  Tuy nhiên, sau câu trả lời này của TS Giáp Văn Dương, GS Ngô Bảo Châu lại cho rằng “Chứng chỉ sẽ là vấn đề sớm muộn phải đặt ra. Đó cũng là cái để nuôi MOOC. Về bằng cấp, những trường đại học lớn ở Mỹ phần lớn thuộc sở hữu tư nhân, sẽ “bám” bằng được vào tấm bằng, sẽ không bao giờ trao bằng qua hình thức dạy học miễn phí vì nguồn nuôi sống nhà trường chính là học phí của sinh viên, lên tới 40 – 50 nghìn USD/ năm. Điều tôi nghĩ đến là những đơn vị thực hiện MOOC sẽ tự tạo chứng chỉ của mình”.  GS Ngô Bảo Châu còn đưa ra một “gợi ý” rằng, MOOC cần phải học… các game online về việc gây ấn tượng (tạo hứng thú) với học viên. “Phải thêm đai, thêm màu, thậm chí thêm sự đối kháng”.    Miễn phí mọi kiến thức  Cuộc thảo luận thực sự nóng khi TS Lê Thống Nhất – người “bỏ luyện thi từ 5 năm nay để làm giáo dục trực tuyến” – ôn lại lịch sử phát triển của giáo dục trực tuyến ở Việt Nam và đặt câu hỏi “Không biết Giáp Văn Dương đã nghiên cứu chưa?”.  Theo ông Nhất, xét các đơn vị tham gia làm giáo dục trực tuyến từ trước đến nay chỉ có hai đơn vị kiếm được tiền. Thứ nhất là một đơn vị đào tạo tiếng Anh, cấp chứng chỉ A, B, C. Đơn vị này không cần truyền thông nhưng vẫn có hàng nghìn người theo học. Lý do là những học viên này không cần kiến thức, chỉ cần bằng cấp. Do đó, nếu đứng về mặt tài chính mà nói, thì đơn vị này thành công.  Một đơn vị thứ hai là tổ chức đào tạo cấp bằng 2 hệ đại học. Họ học trực tuyến là chính, nhưng quan trọng là họ cấp bằng.  Còn lại hầu hết không kiếm được tiền, chỉ sống lay lắt.  Ông Nhất cũng nhấn mạnh, trước hết phải tạo ra thói quen học trên internet đã, còn thói quen trả tiền để học trên internet khó hơn nhiều. Thói quen phải bắt đầu từ phụ huynh – những người hiện nay vừa muốn có một người thầy giỏi dạy dỗ, đồng thời còn phải biết “an ủi vỗ về” con mình.  Với các bài học khi lăn lộn trên “mặt trận” giáo dục trực tuyến, ông Nhất kết luận: “Muốn lấy được tiền của người dân phải đưa chương trình vào máy tính bảng, phương thức mua thẻ thanh toán là thất bại. Còn miễn phí là chuyện khác. Nhưng có thể lấy từ ví dụ của chính tôi: Khi mời tôi về làm chương trình thi giải toán trên mạng, lãnh đạo FPT có nói anh cứ về dây làm vô tư. Nhưng một năm sau hỏi tôi làm sao kiếm được tiền từ chương trình đó? Tôi về chỗ khác cũng vậy. Nên tôi muốn chia sẻ với Dương rằng, có những người có thể bỏ tiền ra cho mình làm khoảng hai năm, nhưng hơn nữa thì hơi khó”.  “Tất cả kiến thức trên GiapSchool là miễn phí” – TS Giáp Văn Dương lập tức nhấn mạnh. “Đã xác định như thế thì mình sẽ không “đau khổ” quá về mặt tiền nong”.  Nhưng vẫn băn khoăn về sự lâu dài, ông Nguyễn Thành Nam (thành viên Hội đồng quản trị FPT) lại khuyên người xây dựng GiapSchool “Phải “tầm thường hóa” vấn đề đi. Chứ trầm trọng quá không làm được đâu. Phải xác định hàng đưa lên có phải là cái xã hội đang cần không? Xã hội đó là ai? Đại học, phổ thông hay mẫu giáo? Không thể cái gì cũng có, sẽ không thành công đâu”. Ông Nam cũng cho rằng GiapSchool cần phải tính, “Không thể miễn phí mãi được”.  Trước cảnh báo của ông Nam, TS Giáp Văn Dương thẳng thắn: “Nếu định nghĩa thành công là kiếm được nhiều tiền thì tôi thất bại. Nhưng nếu đó là việc mang lại tri thức cho nhiều người, trong một thời gian dài sau này, thì tôi thành công”.  Ông Thành Nam ngay lập tức phản hồi: “Thành công là tồn tại. Nếu như một năm sau GiapSchool giải tán là thất bại. Không thể nói “tôi chỉ lóe lên cho mọi người biết” là xong việc”.  Trong khi những bậc đàn anh lo lắng, thì những người đồng niên với TS Giáp Văn Dương có những cái nhìn lạc quan hơn nhiều. TS Đàm Quang Minh, GĐ Trung tâm FPT Polytechnic Việt Nam khẳng định: “Chúng ta đang có cơ hội. Không có ngành nào trong nền kinh tế Việt Nam lại chậm hơn thế giới chỉ một năm đâu. Đây là tín hiệu khiến ta tự tin rằng mình “có cửa””.  Còn ông Nguyễn Quang Thạch – đang thực hiện dự án Sách hóa nông thôn – nhìn nhận từ góc độ người làm công tác xã hội. “Từ lượng cầu của xã hội, nếu ta làm tốt sẽ phát triển được. Tôi khẳng định không phải lo lắng về giáo viên và học trò nông thôn. Thầy cô sẽ là người hướng dẫn, và học trò sẽ hào hứng với mô hình này.  Về góc độ dân sự, hiện nay tôi thấy nhiều người chỉ nói mà không làm. Tôi cực kỳ ủng hộ anh Dương đã bỏ việc ở nước ngoài về Việt Nam làm dự án này. Tôi cam đoan sẽ kiếm tiền cho trang web tồn tại, kể cả phải đi đánh giày hay quét rác.  Việc anh Dương làm sẽ tạo áp lực để hệ thống giáo dục chính thống điều chỉnh theo hướng tích cực hơn”.          GS Dương Nguyên Vũ, Trung tâm xuất sắc John von Neumann:Giapschool là bước khởi đầu thú vị.              Đó là giấc mơ, là mong muốn đưa tri thức tới được càng nhiều người càng  tốt. GiapSchool cần đặt ra vấn đề: Thứ nhất là chất lượng bài giảng. Và  thứ hai là làm sao gợi lên được sự đam mê, cảm hứng cho người học.              Điều khó nhất khi học qua mạng là phải kiên trì. Những bài giảng đầu  tiên của GiapSchool nên đơn giản, gần gũi, chứ không nên bắt đầu từ  những gì cao siêu.              Phải làm thế nào để người ta mê học, rồi hãy đưa các bài giảng lên các tầm cao khác.                  Những cộng tác viên đầu tiên   TS Giáp Văn Dương: Cộng tác viên đầu tiên của tôi là cô con gái Daisy, 4  tuổi. Cô bé đọc những bài thơ dành cho các bé mẫu giáo. Một cộng tác  viên giúp đỡ rất nhiều nữa là TS Ngô Anh Viên, ĐH Stuttgart (Đức).   Họa sĩ Lý Trực Sơn – người xung phong dạy về lịch sử Mỹ thuật trên  GiapSchool: Tôi tham gia với anh Dương vì từ lâu đã thấy rằng chúng ta  thiếu thốn rất lớn về nghệ thuật. Nhà văn có thể dốt toán, ca sĩ có thể  không biết gì về vật lý, nhưng không thể chấp nhận được một nhà tóan  học, nhà vật lý chẳng biết tí nào về nghệ thuật. Đây là nội dung mà  chúng ta cần phải trang bị ngay, và cho càng nhiều người càng tốt. Khi  đó, ta sẽ được“du hành” đến những miền xa hơn, trở thành người toàn diện  hơn.   Ông Đỗ Hoàng Sơn – Cổ phần văn hóa giáo dục Long Minh: Công ty chúng tôi  hiện có rất nhiều sách khoa học và sách thiếu nhi đã mua bản quyền. Tôi  được phép chia sẻ miễn phí 15% dữ liệu. Và tôi mong muốn chia sẻ với  GiapSchool.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Rầm rộ tình yêu      Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy, chắc là ít nơi trên thế gian này người ta đón cái ngày nhà giáo tựa một cái tết nho nhỏ như ở thủ đô nước ta. Yêu thầy nào là những hoa, những inh ỏi trống kèn mít tinh kỷ niệm, những bữa tiệc, những cuộc viếng thăm và… quà. Phong tục xưa có nguy cơ nhoà dần trong ồn ào những trơ trẽn của thời đại vật chất. Biết ơn là một phẩm hạnh cao quý, song bày tỏ lòng tri ân ấy ra sao chắc cũng nên bàn.        Nhìn những đứa trẻ quê tung tăng đi tết thầy tôi thầm mong chúng còn nhiều ngây thơ hơn con nhà thành phố. Hy vọng là thế, bởi trước đó hàng tuần cô bé lớp trưởng đã nhắc cả lớp đóng tiền mua quà thăm thầy cô, cái việc xin tiền cha mẹ và cùng nhau chọn quà cho thầy cô có thể sẽ đọng lại trong đầu con trẻ lâu hơn là những tình cảm biết ơn. Người thành phố thường ít con hơn, muốn con hay chữ ai chẳng mong có dịp thăm thầy. Các trường đại học dịp lễ thầy cô tưng bừng quà cáp, chắc là vẫn còn nhiều tình, song tôi không thoát khỏi những suy tưởng rằng tình yêu thầy cô ấy sao mà rầm rộ.  Nước ta có thật nhiều trường, song lớp lớp người học ra trường chẳng thể hình thành nên một vài trường phái. Trò học được chữ, có được bằng, song trò ít cảm được cái chí của thầy và nuôi dưỡng thêm cái chí ấy, làm cho tư tưởng sống dần thành trường phái, thành những nếp văn hoá riêng biệt lan toả dần từ những mái trường.Muốn biết yêu cha, yêu mẹ, yêu thầy chắc rằng những người trẻ tuổi trước hết phải học yêu lấy chính mình, mạnh mẽ phát ra điều mình mơ ước và học dấn thân cho những điều mình cho là tốt đẹp. Muốn đạt được điều ấy, ngoài dạy chữ, người thầy hình như còn phải giúp học trò nhen lên những cảm xúc biết yêu điều tử tế, biết khám phá bản ngã chính mình và nuôi dưỡng những giá trị ấy qua nhiều thế hệ. Ngày qua ngày, những người thầy ấy trở thành trí nhớ chở gánh tình nối qua các thế hệ.  Thời đại trôi như những dòng thác lớn, thói quen của hàng triệu con người hình như cũng tạo nên những nếp sống khó có thể thay đổi, tựa như mỗi dịp ồn ào cờ hoa tri ân nhân ngày thầy giáo. Song tôi không thật tin lắm khi người ta bảo rằng nét văn hoá ấy là văn minh. Ồn ào thì ít khi sâu lắng, rợp cờ phướn thì cũng mau xơ xác chợ chiều. Tôi chợt thấy ngổn ngang trên báo chí nào những đi thầy, chạy lớp, những tống tình, tạt a-xít và đuổi đánh thầy giáo, nào những chiến dịch hai không, bốn không, nói không với đủ loại tiêu cực trong học đường.  Chiều se lạnh, chợt văng vẳng “bụi phấn vương trên tóc thầy..” những ca từ giản dị từ một bài hát quen. Tình yêu thầy thời @, rầm rộ quá, tôi chỉ mong còn chút thật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robocon châu Á – Thái Bình Dương 2013 được tổ chức tại Đà Nẵng      UBND TP Đà Nẵng vừa có văn bản đồng ý phối hợp với Đài Truyền hình Việt  Nam đăng cai tổ chức cuộc thi Robocon châu Á – Thái Bình Dương lần thứ  12 vào năm 2013.    Cuộc thi sẽ diễn ra từ ngày 14 – 18/8/2013 tại cung thể  thao Tiên Sơn – TP Đà Nẵng.  Khác với các cuộc thi trước đều khai thác đặc trưng văn hóa của nước đăng cai làm chủ đề, cuộc thi Robocon châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 12 khai thác vấn đề toàn cầu với chủ đề hướng đến tương lai: “Hành tinh xanh”. Các đội thi sẽ được ví như những người ươm hạt mầm để sức sống lan tỏa khắp hành tinh.  Sâu thi đấu được thiết kế với diện tích 13x13m, trung tâm là trái đất có đường kính 8,5m. Hai robot tự động sẽ di chuyển theo hình vòng cung, với nhiệm vụ trồng cây vào 7 điểm trên trái đất, sau đó là gieo hạt mầm lên mặt trăng (cột độ cao 1,5m, đường kính 50cm) bằng động tác ném với cự ly trên 3m.  Đây là năm thứ hai Việt Nam đăng cai sân chơi Robocon do Hiệp hội Phát thanh – truyền hình châu Á – Thái Bình Dương (ABU) tổ chức. Tại Cuộc thi sáng tạo Robocon quốc tế châu Á – Thái Bình Dương năm 2012, đội tuyển Việt Nam đã vượt qua 17 đội đến từ 16 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực để giành giải Nhì.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rousseau: Copernicus trong giáo dục      “Không có sự thay đổi nào giàu tính cách  mạng hơn thế. Giống như Copernicus đã phá hủy vũ trụ học Trung cổ,  Rousseau đã đặt dấu chấm hết cho các quan niệm cổ truyền về trẻ em, bằng  cách cho thấy rằng trẻ em là một tạo vật của thiên nhiên, hoạt động và  lớn mạnh hòa điệu với quy luật của thiên nhiên”.     Đó là nhận định của Frederick Eby (Sự phát triển của giáo dục hiện đại/The Development of Modern Education, 1964) về triết thuyết giáo dục của Rousseau. Thật thế, suốt bao thế kỷ, lý thuyết và thực hành giáo dục được xác lập từ thế đứng và lợi ích của xã hội người lớn. Không ai có thể nghĩ từ một quan điểm nào khác!   LẤY TRẺ EM LÀM TRUNG TÂM  Trong bài giới thiệu kiệt tác “Émile hay về giáo dục” của Rousseau qua bản dịch tuyệt vời của hai dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương (NXB Tri Thức 2008, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2009), chúng tôi có viết: “Bước ngoặt trong tư duy giáo dục được thể hiện dày đặc trong từng trang sách khiến người đọc dường như luôn cảm thấy muốn dừng lại, dùng bút để gạch dưới hay tô đậm hàng loạt những câu đặc sắc! Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng như Rousseau là người sống đồng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu và bất bình của những người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một nền giáo dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp sư phạm với mọi hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái. Ta hãy thử nghe ông nói: “chúng ta xót thương cho số phận của tuổi thơ, thế nhưng chính số phận chúng ta mới cần xót thương! Những nỗi đau lớn nhất của chúng ta là do chúng ta mà ra”. Vì đâu nên nỗi? Vì “người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng sai lầm của ta về tuổi thơ thì càng đi càng lạc lối (…) Họ luôn tìm kiếm người lớn trong đứa trẻ mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn”. Nói cách khác, đó là nền giáo dục không hề “nhìn rõ chủ thể mà trên đó ta cần thao tác. Vậy xin các vị hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ hơn các học trò của mình”. Và cũng vì không hiểu rõ “chủ thể” của giáo dục là người học nên người lớn tha hồ sử dụng phương pháp áp đặt: “thay vì giúp ta tìm ra các chứng minh, người ta đọc cho ta viết các chứng minh ấy; thay vì dạy ta lập luận, ông thầy lập luận hộ ta và chỉ rèn luyện trí nhớ của ta thôi”. Trong khi đó, đúng ra “vấn đề không phải là dạy các môn khoa học, mà là đem lại hứng thú để yêu khoa học và đem lại phương pháp để học những môn đó, khi hứng thú này phát triển hơn lên. Chắc chắn đó là nguyên lý cơ bản của bất kỳ nền giáo dục tốt nào”.  Thiếu các nguyên lý đúng đắn dẫn đạo, ta chỉ tạo ra những con người “được gia công”, vừa được nuông chiều quá đáng trong vòng tay cha mẹ, vừa bị kiềm tỏa dưới mái nhà trường: “Những ý tưởng đầu tiên của trẻ là những ý tưởng về quyền lực và khuất phục! Nó hạ lệnh trước khi biết nói, nó vâng theo trước khi có thể hành động, và đôi khi người ta trừng phạt nó trước khi nó có thể biết lỗi, hay nói đúng hơn là có thể phạm lỗi. Như vậy là người ta sớm rót vào trái tim non nớt của nó những đam mê mà sau đó người ta quy tội cho tự nhiên, và  sau khi đã nhọc công làm cho nó thành tai ác, người ta lại phàn nàn vì thấy nó tai ác!”. Sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục áp đặt như thế thật đáng sợ: … “vừa là nô lệ vừa là bạo chúa, đầy kiến thức và thiếu lương tri, yếu đuối bạc nhược về thể chất cũng như tâm hồn, và bị quẳng vào xã hội”…  Đóng góp lớn của Rousseau là vạch rõ sự sai lầm của quan niệm xem đứa trẻ là “người lớn thu nhỏ”, và tiến trình giáo dục không gì khác hơn là “gia tăng” kích thước của thể xác và trữ lượng của kiến thức! Người ta kỳ vọng trẻ em hiểu những chủ đề và quan tâm những ý tưởng giống hệt như người lớn. Chúng bị buộc phải tập tành những quy củ của đời sống xã hội và những chuẩn mực đạo đức của người lớn. Vì thế, theo ông, phải làm ngược lại! Nếu trẻ em phải trở thành trung tâm của giáo dục, thì giảng dạy không còn là nhồi nhét kiến thức mà là cung cấp những cơ hội để “vận hành” những hoạt động mang tính tự nhiên đối với từng lứa tuổi và từng giai đoạn.  Vấn đề khác của quan niệm cổ truyền là thói quen đặt lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Đứa trẻ được huấn luyện để thích hợp với xã hội hiện tồn. Cá nhân bị hy sinh cho yêu cầu của xã hội. Rousseau rất phẫn nộ trước điều này, vì, theo ông, tính thiện và hạnh phúc của cá nhân là thiết yếu hơn nhiều so với việc phát triển tài năng nhằm phục vụ cho xã hội! Đặt nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân lên trên xã hội có tổ chức, Rousseau đã đảo lộn trật tự cố hữu. Trái tim của triết thuyết giáo dục Rousseau là tìm hiểu bản tính tự nhiên của trẻ em Nguyên tắc của triết thuyết ấy là phải hiểu những gì bản thân tự nhiên phát triển trong đứa trẻ.  MỤC ĐÍCH TỐI HẬU CỦA GIÁO DỤC  Mục tiêu tối hậu của Rousseau là bảo tồn cái thiên chân và những đức tính tốt đẹp của con tim và của xã hội hài hòa với những đức tính ấy. Trong thiên nhiên, Rousseau thấy trật tự, hài hòa và vẻ đẹp. Trong đời sống con người, ngược lại, đầy rẫy những xấu xa, đê tiện, xung đột và nghèo đói. Chính sự tương phản giữa hai thế giới này dẫn đến những tệ trạng cho xã hội và cho nền giáo dục. “Cứu cánh tối cao phải đạt được là một xã hội trong đó những đức tính cao thượng cơ bản như dũng cảm, kiên trì, điều độ, bình đẳng, bác ái, giản dị và tự do… phải được thực hiện”.  Thật ra, Rousseau không hề chống lại đời sống xã hội, trái lại, như đã thấy, ông tha thiết mong mỏi cá nhân có thể toàn tâm toàn ý đi vào cuộc sống chung trong tình nhân loại đích thực.  Vì thế, trước thực trạng khắc nghiệt, ông thấy cần thiết phải phác họa hai hệ thống giáo dục khác biệt triệt để với nhau: một hệ thống giáo dục chủ động dành cho một xã hội tốt đẹp, hợp tự nhiên; và một hệ thống giáo dục phòng vệ dành cho xã hội “văn minh” đang thịnh hành.  “Émile hay về giáo dục” sẽ làm công việc ấy. Một việc làm vừa mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít nghịch lý, cực đoan như bản thân cuộc đời và toàn bộ học thuyết của ông. Nó là một “thử nghiệm tư duy” kiệt xuất, “khiêu khích” và buộc ta phải suy nghĩ hơn là quá “trơn tru” như một “đề án” được cắt gọt để dễ được thông qua và mọi người nhắm mắt làm theo!   (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 16, 02.01.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rousseau: Giáo dục “tự nhiên” là gì?      Con người, theo Rousseau, đi vào xã hội,  nhưng đó phải là một xã hội được “hiệu chỉnh” sao cho phù hợp với những  đức tính và năng lực tự nhiên của con người, chứ không phải để trở thành  công cụ phục vụ.     Vì thế, ông hình dung hai hệ thống giáo dục khác nhau về hình thức do điều kiện xã hội không giống nhau, nhưng cùng chung mục đích. Hệ thống thứ nhất dành cho xã hội đã được tổ chức phù hợp với bản tính tự nhiên: nhỏ, gọn, dành cho những con người tự do, dạy cho trẻ em vui chơi trong tinh thần tập thể, huynh đệ và đoàn kết. Hệ thống thứ hai dành cho xã hội “văn minh và đồi trụy” hiện tồn. Trước khi cho đi vào xã hội, cần vun bồi tinh thần độc lập, lương thiện, và trui rèn cho trẻ em năng lực đề kháng trước ảnh hưởng xấu của xã hội. Cái trước gọi là hệ thống giáo dục chủ động, cái sau là hệ thống giáo dục phòng vệ. Trong thực tế, hai hệ thống kết hợp và bổ sung cho nhau, vì cùng chung một mục tiêu.  TÍNH CÁ NHÂN: TIÊU ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC  Ta biết rằng việc nhìn nhận và giải phóng cá nhân trong thế giới hiện đại diễn ra khá muộn. Dấu hiệu đầu tiên là vào thời Phục Hưng (thế kỷ 15-16). Nhưng thật ra cũng chỉ mới thu hẹp trong tầng lớp quý tộc, thượng lưu, và bộc lộ chủ yếu ở phong cách tư tưởng, văn học, nghệ thuật mà thôi. Tiếp theo đó, phong trào Cải cách (tôn giáo) đầu thế kỷ 16 mang tinh thần phản kháng và phong cách cá nhân luận vào cả đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.  Nhưng đồng thời, sự nhìn nhận cá nhân lại có bước tiến vượt bực trong lĩnh vực pháp luật và chính trị. Hobbes, Pufendorf và Locke phát triển cơ sở “tự nhiên luận” về nhân quyền và dân quyền của cá nhân. Nhưng, vẫn cần chờ có một người kết hợp thật nhuần nhuyễn quyền hạn của cá nhân trong lĩnh vực xã hội, triết học với lĩnh vực dân sự và tôn giáo. Người ấy không ai khác hơn là J. J. Rousseau. Từ kinh nghiệm trong đời sống và trải nghiệm nội tâm, Rousseau là người thích hợp hơn ai hết để khai triển và bảo vệ tính cá nhân, một cống hiến có ý nghĩa lịch sử vô song.  DẠY “LÀM NGƯỜI” TRƯỚC KHI CHUYÊN MÔN HÓA  Từ rất sớm, giáo dục nhằm mục đích tạo ra những kẻ “có học” để phục vụ nhà nước và nhà thờ (ở phương Tây). Vì thế, giáo dục cần sớm chuyên môn hóa để biết phục tùng và phục vụ đắc lực cho người khác. Rousseau nhìn thấy đây là mối đe dọa trực tiếp cho sự “lương thiện” của con người. Vấn đề là phải lựa chọn giữa con người “tự nhiên” và con người bị uốn nắn thành công cụ. Vì thế, chống lại mục tiêu giáo dục trong quá khứ, Rousseau đề xướng việc đào tạo mang tính khai phóng để phát huy hết năng lực thiên phú của đứa trẻ. Đứa trẻ cần được phát triển toàn diện, trước khi bị nhào nặn trong khuôn khổ chật hẹp và cứng nhắc của tiến trình chuyên môn hóa. Đứa trẻ sau này có thể trở thành một nhà chuyên môn (quan chức, thương nhân, nhà khoa học, nhà binh, tu sĩ…), nhưng không hình ảnh nào trong số đó được phép trở thành mục tiêu chính đáng của giáo dục cả. Nói một cách mạnh mẽ, theo Rousseau, con người chỉ có một “nghề” duy nhất được phép học: LÀM NGƯỜI: “Trong trật tự tự nhiên, nơi con người đều bình đẳng, thì làm người là nghề nghiệp chung của họ. Và hễ ai đã được giáo dục để làm người, ắt không thể thất bại trong việc hoàn thành mọi nhiệm vụ đặt ra cho mình (…) Sống, chính là nghề nghiệp mà tôi muốn dạy cho học trò mình. Ra khỏi vòng tay của tôi – và tôi tán thành -, học trò tôi sẽ không phải là quan chức, không phải là người lính, không phải là tu sĩ; nó trước hết sẽ thành người“.  Thật thế, theo ông, ta không thể biết hết về tương lai và về xã hội tương lai sẽ ra sao, nên ta không tài nào có thể giáo dục đúng nghĩa về tương lai được cả. Đứa trẻ, vì thế, không thể là vật thí nghiệm cho một tương lai bất định, mà cho hiện tại. Hiện tại không phải là lợi ích trước mắt, trái lại, là hoàn cảnh sống thật của đứa bé vốn không thể biết hết những gì chờ đợi nó trong tương lai. Vậy, nó phải được rèn tập để có thể sử dụng những năng lực tự nhiên của mình trong mọi cảnh huống của cuộc sống tương lai, được chuẩn bị tốt về thể lực, trí lực và tâm lực nhằm sẵn sàng chủ động ứng phó (và đương đầu) thành công trước mọi thử thách sẽ đến. Một quan niệm “dĩ bất biến ứng vạn biến” rất thâm thúy và cao minh trong triết lý giáo dục!  GIÁO DỤC THEO TỰ NHIÊN  Émile hay về giáo dục sẽ thể hiện mọi quan tâm và chủ trương của Rousseau về nền giáo dục giảm thiểu tác hại của “xã hội văn minh” và mang con người trở về lại với những phẩm tính tự nhiên tốt đẹp vốn có. Giống như Khế ước xã hội và các bài Luận Văn nhằm phản kháng lại hoàn cảnh áp bức về chính tri, xã hội, Emile hay về giáo dục có tham vọng thay thế cho lối giáo dục khuôn thức cổ truyền đương thời bằng nền giáo dục tự nhiên và tự khởi:  “Dưới ancien regime (“chế độ cũ”), bé trai thì đầu đội tóc giả, lưng mang kiếm, tay cắp mũ, vai khoác áo bào; bé gái thì xúng xính xiêm y kiểu mệnh phụ, khệnh khạng như đóng kịch để sớm trở thành người lớn. Về học vấn thì gạo văn phạm La tinh và những quyển sách dày cộp. Rousseau cực lực phản đối và yêu cầu áp dụng những nguyên tắc “duy nhiên” qua việc giáo dục một cậu bé giả tưởng tên là Émile từ khi mới sinh cho đến trưởng thành mà không cần sự trợ giúp nào khác ngoài bản thân mình” (Graves, Frank, Các nhà đại giáo dục trong ba thế kỷ).  Cậu bé Émile rời cha mẹ và nhà trường, cô lập với xã hội, trao vào tay một người thầy để được sống hồn nhiên giữa thiên nhiên muôn màu. Trước khi làm quen với “kịch bản” giả tưởng lạ lùng và đầy khiêu khích này, thiết tưởng nên làm rõ ba ý nghĩa của từ “tự nhiên” khá mơ hồ nơi Rousseau và quyển Emile:  – nghĩa xã hội: là nghĩa cơ bản nhất. Giáo dục không dựa trên quy ước cố hữu của xã hội vốn ngoảnh mặt lại với tuổi thơ mà nhận thức sâu sắc bản tính đích thực của con người. Cũng như trong xã hội (Khế ước xã hội), giáo dục cũng tuân theo cùng những quy luật về bản tính tự nhiên cần được khảo cứu và phát hiện một cách có hệ thống.  – nghĩa tâm lý học: Phán đoán, xúc cảm, bản năng tự nhiên là cơ sở đáng tin cậy hơn cho hành động so với suy nghĩ hay kinh nghiệm với người khác. Thói quen duy nhất đáng học là “không có thói quen nào hết”!  – nghĩa thể chất: Giáo dục “nhân tạo” từ con người như trước nay cần được cân đối lại bằng sự tiếp xúc, gần gũi, thân mật, không sợ hãi với muôn loài động vật, thực vật, cũng như với những mãnh lực và những kỳ quan thiên nhiên phong phú. Không sợ là bước đầu của yêu và quý!  Rousseau là người có tình yêu thiên nhiên vô hạn, và, qua quan niệm giáo dục của ông, khởi đầu cả một trào lưu yêu thích và gắn bó với thiên nhiên trong nhiều cung bậc của đời sống, nhất là trong văn chương, nghệ thuật Tây phương từ thế kỷ 18.  Tiếng vọng nào từ Rousseau cho thế kỷ 21 trước thảm họa sinh thái toàn cầu?  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 17, 16.01.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rousseau và “tuổi của lý trí”      Giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi là giai đoạn duy nhất trong đời người mà sức lực lớn hơn nhu cầu và đòi hỏi của bản thân!    Vào tuổi 12 hay 13, trẻ em phát triển sức lực nhanh hơn nhu cầu. Đam mê tính dục – đam mê mạnh nhất và “kinh khủng” nhất – chưa được đánh thức. Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt không “ăn thua” gì với cậu. Sức trai đang lớn thay cho áo quần. Ăn gì cũng thấy ngon, nằm đâu cũng ngáy khò khò. Cậu chưa bị những giấc mơ quấy nhiễu. Người lớn nghĩ sao cũng mặc… Vấn đề bây giờ không phải là “dạy dỗ” cậu về khoa học, mà khêu gợi để cậu ham thích khoa học, giúp cho cậu biết phương pháp để tiếp thu khoa học khi lòng ham thích này phát triển hơn lên. Nói ngắn, đây là giai đoạn duy nhất trong đời người mà sức lực lớn hơn nhu cầu và đòi hỏi của bản thân!  BÌNH MINH CỦA LÝ TRÍ  Trước đây, một trong những lý do chính yếu khiến Rousseau “đoạn tuyệt” với các triết gia “khai minh” đương thời là vì ông xem họ quá thổi phồng vai trò của lý trí. Bây giờ, ông có phần xét lại quan điểm ấy, xem trọng lý trí hơn, nhưng vẫn cho nó vai trò thứ yếu. Theo đó, lý trí không ra đời từ cảm giác như chủ trương của các nhà duy nghiệm, cũng không phải là quan năng bẩm sinh và nguyên thủy như nơi các nhà duy lý. Theo Rousseau, nó là quan năng tự nhiên, có nguồn gốc từ đời sống cảm xúc. Vì thế, khi xuất hiện như một đặc điểm mới, nó được mang danh là “tuổi của lý trí” (l’âge de raison).  Tự bảo tồn là yêu cầu cơ bản của sự sống, là sự thể hiện tự phát của tính sinh vật. Những động lực đầu tiên của chúng ta, tất nhiên, phải là quy ngã để sống còn. Đời sống tinh thần, do đó, không đến từ bên ngoài thông qua những kinh nghiệm giác quan, cảm tính, mà đến từ bên trong. Chính nó tạo nên những hành vi và điều khiển đà phát triển.  Nói cách khác, sự ra đời của tự-ý thức có chiều sâu hơn hẳn việc đơn thuần gia tăng kinh nghiệm cảm tính. Nó là nguyên tắc cao hơn của sự sống, mang lại sự thống nhất và liên tục cho mọi vận động và kinh nghiệm của tâm trí. Nó chia tay với xúc cảm đơn thuần sinh vật, tiến tới những tình cảm cao cấp của tâm hồn. Chính những tình cảm cao cấp này là bệ đỡ cho mọi hoạt động của con người trưởng thành. Một lần nữa, ta thấy Rousseau chọn đi con đường thứ ba giữa thuyết duy nghiệm và thuyết duy lý.  Vậy điều gì đã làm nảy sinh phán đoán thuần lý ở giai đoạn này? Giải thích của Rousseau là một trong những thành tựu sâu sắc nhất của ông về lý thuyết phát triển. Đời sống nội tâm của đứa bé, như đã biết, được quy định bởi mối quan hệ giữa nhu cầu và sức lực để thỏa mãn nhu cầu. Ở tuổi ấu thơ, nhu cầu ít và đơn giản, đồng thời sức lực cũng yếu ớt. Bây giờ, ở tuổi 12-15, nhu cầu vẫn còn đơn giản, trong khi sức lực thì thừa thải. Chính sự thừa thải này là nguyên nhân ra đời của hoạt động lý trí!  LÝ TRÍ: QUAN NĂNG BỔ TRỢ VÀ ĐIỀU CHỈNH  “Nhu cầu và ham muốn là nguyên nhân căn nguyên của hoạt động. Rồi đến lượt nó, hoạt động tạo ra trí tuệ để hướng dẫn và điều khiển sức mạnh và đam mê, bởi lý trí làm chức năng kiểm soát và cân bằng”.  Như thế, hoạt động phải phát triển ở cấp độ cao trước khi lý trí xuất hiện. “Tuổi thơ là giấc ngủ vùi của lý trí”. “Trong mọi quan năng của con người, lý trí là bước phát triển khó khăn nhất và muộn nhất”.  Thời kỳ đột biến này lại rất nhanh và gọn: từ tuổi 12, khi tỉ lệ giữa sức lực và nhu cầu mất cân đối trầm trọng, lý trí xuất hiện để điều chỉnh và khôi phục sự cân đối ấy.  GIÁO DỤC TRONG “TUỔI CỦA LÝ TRÍ”  Lý trí, nơi Rousseau, không phải là thực thể thần linh, mà chỉ là quan năng bổ trợ. Và đây là giai đoạn mà giáo dục chính thức bắt đầu. Cho tới nay, đứa bé phát triển theo định luật tự nhiên mà nhà giáo dục không nên can thiệp vào. Nhưng từ nay đánh dấu giai đoạn mới: dạy và học.  Rousseau nêu ba “sai lầm” trong quan niệm cổ truyền do không hiểu bản tính của lý trí:  – Dạy trẻ em bằng lý trí. Đó là đặt cày trước trâu! Sai lầm chung là giả định rằng trẻ em biết lý lẽ từ lúc mới sinh và nói chuyện với chúng như với người lớn. Quên rằng tự nhiên đi ngược lại: thân thể trước, đầu óc sau!  – Dùng quyền uy thay cho nỗ lực tinh thần của chính đứa trẻ.  – Dành cho lý trí quyền năng mà nó không có. Lý trí đến sau cảm xúc và bổ sung cho cảm xúc. “Chỉ có tiếng gọi thiêng liêng của lòng mẹ và của lương tâm mới là kẻ hướng đạo sáng suốt và mang lại hạnh phúc”. Một thách thức đối với tư duy triết học đương thời!  ĐỘNG LỰC CỦA GIÁO DỤC  Nếu xúc cảm và nhu cầu tạo nên hoạt động của thân thể thì sự tò mò tạo nên hoạt động của tinh thần. Trẻ em tò mò vì sự việc hay hoàn cảnh nào đó có ý nghĩa cho sự sinh tồn của nó. Vì thế, sự tò mò liên quan đến những gì phục vụ thực sự cho đứa trẻ. Sự hữu ích là nguyên tắc cốt lõi cho giai đoạn giáo dục này. Rousseau đồng ý với F. Bacon và J. Locke ở phương diện này, và đi xa đến chỗ khá cực đoan khi xem nhẹ óc tưởng tượng. Với ông, nó chỉ tạo ra những nhu cầu giả tạo, không cần thiết, bắt nguồn từ sự cạnh tranh trong xã hội với mọi thói hư tật xấu. Không ngạc nhiên khi ông bác bỏ mọi hình thức ô nhiễm từ xã hội vào học đường: giải thưởng, tôn vinh cá nhân, ganh đua, ghen tị, xu nịnh v.v…  CHƯƠNG TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY  Ở lứa tuổi này, không nên có chương trình “cứng”. Ưu tiên cho những môn học thiết thực với cuộc sống. Địa lý, thiên văn trước đã, và học trực tiếp từ thiên nhiên. Sau đó mới đến các môn vật lý, dẫn đến kỹ năng nông nghiệp và thủ công. Khi đã cứng cáp mới ngồi vào lớp, học các thứ khác. Ba mối quan tâm lớn trong giai đoạn này:  – Khêu gợi lòng yêu thích tri thức. Không có lòng yêu thích sẽ không biết giá trị của tri thức và không kiên tâm bền chí theo đuổi nó.  – Tư duy thật rõ ràng. Chỉ có những tư tưởng rành mạch và rõ ràng mới ăn sâu vào tâm trí được.  –  Cần có phương pháp đúng: không gì bền vững bằng tự học, tự tìm tòi. Ngược lại, chữ nghĩa sẽ trả hết cho thầy!  Cậu Émile được đặt vào những tình thế phải tự dùng sức của mình, suy nghĩ bằng cái đầu của mình và tự mình rút ra kết luận.  Một trong những phương pháp hiệu quả trong tinh thần ấy là tự làm những dụng cụ học tập của mình. Sau khi quan sát, tự mình ghi biên bản, lập hồ sơ, vẽ bản đồ v.v…  Cậu học trò lý tưởng của Rousseau vào năm cuối cùng của  lứa tuổi thiếu niên phải là chàng trai chăm chỉ, hiền hòa, kiên nhẫn, khỏe mạnh, đầy dũng cảm và nghị lực. “Mắt tin cậy và tóc vừa dưỡng rẽ” (Huy Cận/Tựu trường), chàng không còn là trẻ con nữa và bắt đầu lắng nghe những “xôn xao thầm lặng” đang đợi chàng phía trước. Tuổi thanh niên sẽ sáng bừng với nhiều ánh lửa.                      (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 8, 13.03.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rủ nhau học tiến sĩ Mỹ “ngoài luồng”      Không chỉ giảng viên các trường CĐ, ĐH địa phương, ngay cả nhiều giảng viên của các trường ĐH lớn cũng tham gia học tiến sĩ “chui”…    Theo thống kê chưa đầy đủ, có hơn 150 người theo học tiến sĩ (chương trình liên kết với ĐH Quốc tế Mỹ) và trên 200 người học thạc sĩ (chương trình liên kết với ĐH quốc tế Adam) do Viện Kế toán và quản trị doanh nghiệp (Q.10, TP.HCM) tổ chức nhiều năm nay.   Đây là chương trình liên kết không phép và nội dung cũng chưa được các cơ quan có thẩm quyền của Mỹ công nhận. Ngoài một số cá nhân công tác tại các doanh nghiệp, đa số học viên những lớp này đều là giảng viên và cả cán bộ quản lý của các trường ĐH, CĐ. Mỗi khóa học thạc sĩ, tiến sĩ có học phí 4.800-5.800 USD.  Rủ nhau học tiến sĩ “chui”  Theo danh sách các khóa học mà chúng tôi có được (tiến sĩ từ khóa 1 đến khóa 5 và thạc sĩ từ khóa 2 đến khóa 6), Trường CĐ Công thương TP.HCM có số lượng người theo học nhiều nhất với khoảng 20 người theo học tiến sĩ và thạc sĩ. Người đầu tiên của trường này theo học chương trình tiến sĩ là hiệu trưởng Lê Thanh Bình.   Từ đó, hàng loạt giảng viên của trường đã đăng ký học chương trình này ở các khóa tiếp theo. Trong đó, nhiều nhất là khóa 4 với năm giảng viên. Không dừng lại ở đó, đến khóa 5, có đến hai người hiện đang là phó hiệu trưởng, một số cán bộ quản lý của trường này theo học tiến sĩ.   Ông Lê Thanh Bình – học khóa I chương trình tiến sĩ – xác nhận đã hoàn thành khóa học và nhận bằng tiến sĩ. Cũng theo ông Bình, nhiều giảng viên và cán bộ quản lý muốn nâng cao trình độ nên lần lượt đăng ký học các khóa học sau mà không có thông tin đầy đủ về tính pháp lý của chương trình. Sau khi Tuổi Trẻ phản ánh (tháng 8-2010 – PV) về việc liên kết không phép của chương trình này, các thành viên ban giám hiệu và nhiều giảng viên đã không theo học nữa.  Thông tin tuyển sinh của chương trình đào tạo này không được thông báo rộng rãi nên chủ yếu được thông tin đến người học bằng cách truyền miệng, người trước giới thiệu cho người sau. Anh K. – một học viên tiến sĩ khóa 5 – cho biết đang theo học song song hai chương trình tiến sĩ của Trường ĐH Kinh tế TP.HCM và ĐH Quốc tế Mỹ.  Một học viên chương trình thạc sĩ cho biết đầu vào của chương trình khá dễ, không yêu cầu về tiếng Anh. Khóa học có thời gian 14 tháng, mỗi tháng học tập trung hai ngày, thời gian còn lại là tự học. Giảng viên đến từ Mỹ và Malaysia, trong lớp có giáo viên chuyển ngữ sang tiếng Việt.  Theo tìm hiểu của chúng tôi, hàng loạt giảng viên từ các trường đã rỉ tai nhau và đăng ký học chương trình này. Những khóa càng về sau, số học viên là giảng viên các trường có số lượng ngày càng đông.  Công nhận hay không?  Trả lời Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Xuân Vang – Cục trưởng Cục Đào tạo với nước ngoài Bộ GD-ĐT – khẳng định bộ sẽ không công nhận bằng cấp của các chương trình liên kết đào tạo không phép tại VN. Tuy nhiên trao đổi với lãnh đạo một số trường cho thấy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về giá trị bằng cấp của các chương trình này.  Ông Lâm Thành Hiển – phó hiệu trưởng Trường ĐH Lạc Hồng – cho biết trường có năm giảng viên theo học chương trình tiến sĩ trên. Tuy nhiên, sau khi Tuổi Trẻ phản ánh về chương trình này, trường đã làm việc với các giảng viên trên và khẳng định trường sẽ không công nhận bằng cấp của chương trình này nên các giảng viên đã ngưng không theo học nữa.   Tương tự, PGS.TS Huỳnh Thanh Hùng – phó hiệu trưởng Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – cũng khẳng định một số giảng viên của trường theo học tiến sĩ chương trình trên, nhưng đến thời điểm này chưa có ai nộp bằng tiến sĩ về trường.   Ông Hùng cũng cho biết quan điểm của trường về bằng cấp luôn rõ ràng: bằng cấp nộp về trường luôn được kiểm tra rất kỹ và chỉ chấp nhận các chương trình có phép. Ngay cả ứng viên đề án du học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, trường cũng phải duyệt trường cho ứng viên chứ không phải họ muốn chọn trường nào cũng được.  Trong khi đó, ông Lê Thanh Bình cho rằng một số khóa đầu do chưa có thông tin nên nhiều giảng viên đăng ký học. Sau khi báo chí đăng về chương trình liên kết không phép, hầu hết giảng viên đã ngưng không theo học nữa. Riêng một số giảng viên đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, trường không công nhận những bằng này và để đó làm… kỷ niệm, khi nào được Bộ GD-ĐT công nhận sẽ tính!   Ông Bình cho biết thêm: giảng viên tự bỏ kinh phí để học bổ sung chuyên môn, tuy bằng cấp không được công nhận nhưng dù sao như thế cũng nâng cao kiến thức của mình. Trường không khuyến khích giảng viên học các chương trình vớ vẩn!  Trong khi đó, một thành viên ban giám hiệu Trường CĐ Kinh tế TP.HCM cho rằng công nhận hay không cần phải có văn bản chính thức của Bộ GD-ĐT. Thực tế thời điểm các giảng viên của trường theo học là các khóa đầu tiên, thông tin về chương trình chưa có chứ không phải sau khi báo chí thông tin chương trình không hợp pháp mà vẫn theo học. Giảng viên tự bỏ kinh phí để nâng cao trình độ cũng là một việc tốt.   Còn ThS Lâm Tường Thoại – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh tế – luật (ĐHQG TP.HCM) – khẳng định trường sẽ công nhận học vị tiến sĩ này và phân công giảng dạy phù hợp. Cũng theo ông Thoại, một số giảng viên của ĐH Kinh tế – luật, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG TP.HCM) là giảng viên của khoa ngoại ngữ (tiếng Anh).   Với lợi thế về ngoại ngữ, những giảng viên này đã theo học khóa tiến sĩ quản trị kinh doanh và với học vị tiến sĩ quản trị kinh doanh, họ có thể được bố trí giảng dạy ở ngành tiếng Anh thương mại hoặc quản trị kinh doanh.        Thống kê sơ bộ cho thấy Trường CĐ Kinh tế TP.HCM có chín người học thạc sĩ, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM có sáu người học tiến sĩ, ĐHQG TP.HCM có bảy người – hầu hết là giảng viên Trường ĐH Kinh tế – luật. Các trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Lạc Hồng, Ngoại thương (cơ sở TP.HCM) có từ 4-6 người/trường theo học. Một số trường ĐH khác như Kinh tế TP.HCM, Ngân hàng TP.HCM, Hoa Sen, Marketing, Sài Gòn, Cửu Long, Yersin, Hồng Bàng có từ 1-2 giảng viên mỗi trường tham gia các khóa học tiến sĩ.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách giáo khoa – một thực thể với nhiều hình thái tồn tại      Dựa trên lý thuyết hoạt động, nhóm Cánh Buồm quan niệm rằng sách giáo khoa là một thực thể với nhiều hình thái tồn tại, thay vì quan niệm cho rằng sách giáo khoa là nơi cất giữ kiến thức.     Ngày 27/9 vừa qua tại Hà Nội đã diễn ra một sự kiện quan trọng liên quan đến giáo dục. Hội thảo “Chào Lớp Một!” đã được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace, 24 Tràng Tiền. Đây là buổi ra mắt chính thức bộ sách giáo khoa lớp Một của một nhóm nghiên cứu giáo dục độc lập mang tên Cánh Buồm do nhà nghiên cứu sư phạm Phạm Toàn khởi xướng.   Ngài Giám đốc của L’Espace – công dân của đất nước sản sinh ra nhà giáo dục lỗi lạc Jean-Jacques Rousseau – quả là có con mắt tinh đời. Theo chỗ tôi biết, đây là lần thứ hai trung tâm L’Espace tổ chức hội thảo về chủ đề giáo dục (tháng 11-2009 hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em). Mới thấy đôi khi người ngoài lại tỉnh táo hơn người nhà!  Vậy, công việc của Nhóm Cánh Buồm có gì mới? Hay nói chính xác hơn, bộ sách lớp Một của Nhóm Cánh Buồm có những điểm gì khác so với bộ sách giáo khoa lớp Một hiện đang được sử dụng trong nhà trường phổ thông?  Cái mới và điểm khác biệt căn bản của Nhóm Cánh Buồm chính là nằm ở bộ sách giáo khoa. Nói đi nói lại, nói xa nói gần thì mọi cải cách rút cục đều phải đưa ra một chương trình học được cụ thể hóa bằng một bộ sách giáo khoa nào đó. Nhà trường của nước Mỹ không có khái niệm “sách giáo khoa chính thức” không có nghĩa là họ không cần có sách giáo khoa. Điểm khác biệt chỉ nằm ở chỗ họ thay đổi quan niệm về thế nào là “sách giáo khoa” mà thôi.   Về căn bản, giáo dục bao gồm ba chủ thể: học sinh – thầy giáo – vật liệu học (trong đó sách giáo khoa là cái cốt lõi). Không thể cải cách học sinh, điều này là đương nhiên. Chỉ có thể cải cách những quan niệm giáo dục của ông thầy và cải cách quan niệm về sách giáo khoa. Nếu không, mọi cải cách giáo dục thực chất chỉ là những lần thay sách giáo khoa, những lần tái bản có sửa đổi cuốn sách giáo khoa!  Quan niệm về sách giáo khoa theo Nhóm Cánh Buồm đã thay thế tư duy kinh nghiệm, giáo điều coi sách giáo khoa là nơi cất giữ kiến thức.   Dựa trên lý thuyết hoạt động, Nhóm Cánh Buồm đã quan niệm rằng sách giáo khoa là một thực thể với nhiều hình thái tồn tại, trong đó ba hình thái tồn tại chính là:  Hình thái tồn tại thứ nhất và hình thái cơ bản của sách giáo khoa là những việc làm của học sinh do giáo viên tổ chức trong từng tiết học. Ở môn Tiếng Việt lớp Một, chẳng hạn, thì những việc làm đó bao gồm thao tác phát âm, thao tác phân tích âm, thao tác ghi lại và đem dùng. Học sinh phải tự làm lấy những việc này, không ai làm hộ, giống như trước tuổi đến trường thì các em phải tự lẫy, tự bò, tự trườn, tự đi v.v. không ai làm hộ được. Và sách giáo khoa là những gì mà học sinh “tìm ra” trong quá trình tự làm nói trên.   Ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp Một đang được dùng trong nhà trường hiện nay thì ngay từ tiết thứ nhất học sinh được dạy chữ “e” bằng cách thầy giáo đọc “chữ e”rồi cả lớp đọc theo, sau đó các em được yêu cầu tập viết chữ “e”. Cái tính chất “áp đặt” của cuốn sách giáo khoa kiểu này chính là nằm ở chỗ đó.  Hình thái tồn tại thứ hai của sách giáo khoa là những gì đọng lại trong đầu của học sinh sau mỗi tiết học. Trước khi kết thúc mỗi tiết học giáo viên dành một chút thời gian để yêu cầu học sinh nói lại xem các em đã làm những việc gì trong tiết vừa rồi. Thậm chí các em có quyền ghi theo cách riêng của mình những điều mới học! Ở lớp học thầy giảng giải – trò ghi nhớ, học sinh hầu như không thể kể lại nổi các em đã làm những gì! Nghiên cứu cho thấy chỉ có 30% học sinh ghi nhớ được 70% những gì chúng nghe bằng tai trong một tiết học bình thường.   Hình thái tồn tại thứ ba của sách giáo khoa là những gì giáo viên dự kiến sẽ dạy cho học sinh. Đây chính là lúc đòi hỏi nghiệp vụ sư phạm của giáo viên hoặc nói đúng hơn đây chính là lúc đòi hỏi nghiệp vụ biên soạn sách giáo khoa. Tức là, (1) sách giáo khoa phải cung cấp các việc làm để học sinh thực hiện và qua đó chiếm lĩnh kiến thức. Nhà sư phạm sẽ quyết định kiến thức nào học sinh sẽ học, và; (2) các việc làm của học sinh phải diễn ra theo “chuỗi” lô-gich tuần tự. Chẳng hạn, sách dạy Tiếng Anh lớp Một của Nhóm Cánh Buồm bắt đầu dạy các “âm” rồi sau đó mới dạy “danh từ” v.v. Sách dạy tiếng Anh lớp Một hiện đang được dùng trong nhà trường thì bắt đầu dạy ngay vào câu để đạt mục tiêu “giao tiếp”. Học sinh thực chất phải ghi nhớ thụ động các câu dùng vào “giao tiếp” đó.  Ngoài những vấn đề liên quan đến nghiệp vụ sư phạm, sự kiện ra đời bộ sách giáo khoa của Nhóm Cánh Buồm có thể còn cung cấp những gợi ý khác liên quan đến những vấn đề vĩ mô chẳng hạn như chương trình học thống nhất toàn quốc, rồi hệ thống tổ chức nhà trường v.v.   Giải quyết thấu đáo những vấn đề trên tức là có thể giải tỏa nỗi nghi ngại có thể nảy sinh ở các bậc phụ huynh khi họ được giới thiệu những bộ sách “thực nghiệm”, bởi cái chữ này thường được liên hệ với cái gì không chính thống, chính thức. Khác hẳn với việc lựa chọn sữa bột để nuôi con trưởng thành về mặt cơ thể, các bậc phụ huynh lại không có sự lựa chọn nào khác khi giao phó việc học tập của con cái mình cho nhà trường. Độc quyền sách giáo khoa là con dao hai lưỡi. Nếu sách giáo khoa độc quyền là đúng thì đó quả là điều may mắn lớn cho trẻ em. Nhưng nếu sách giáo khoa đó sai thì thảm họa thật khủng khiếp.   Riêng việc hiện nay mỗi năm hơn nửa triệu học sinh có tương lai cuộc đời bị chặn đứng trước cánh cửa trường đại học đã là một sự thất bại hiển nhiên của sách giáo khoa đang sử dụng. Sự áp đặt trong giáo dục là nguyên nhân số một của chán học, của không thể học được (vì nghe giảng giải mà không hiểu), của bỏ học, của nạn học thêm, chạy điểm v.v. Chỉ riêng trong vấn đề này cách làm của Nhóm Cánh Buồm đã khác hẳn. Nhóm kiến nghị trong đề án cải cách giáo dục của họ về một bậc Phổ thông Cơ sở (cách họ gọi bậc Tiểu học) kéo dài trong 8 năm. Không có thi đầu ra, đầu vào. Sau khi kết thúc bậc Phổ thông Cơ sở, học sinh sẽ chọn (kết hợp với được phỏng vấn để xác định thiên hướng) hoặc trường Phổ thông Hướng nghiệp (để vào trường dạy nghề) hoặc trường Phổ thông Chuyên khoa cơ bản (để tập nghiên cứu, chuẩn bị cho bậc đại học). Sách giáo khoa đúng cộng với cách tổ chức đúng (với nhiều luồng) sẽ tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em. Chí ít điều đó cũng loại bỏ được hiện tượng mỗi năm hàng trăm nghìn người trẻ tuổi trượt đại học tủi thân ngồi nhà ao ước số phận may mắn của nhân tài đất nước thành danh ở nước ngoài!  Mặt khác, làm rõ những vấn đề nói trên cũng giải tỏa tâm lý lúng túng rất dễ xảy ra ở những người làm luật. Họ sẽ bình tĩnh hơn và công bằng hơn trước sự xuất hiện những bộ sách giáo khoa thi đua nhau, tại vì ngay sau khi bộ sách lớp Một của Nhóm Cánh Buồm ra mắt thì lập tức đã có tiếng nói cầm đèn chạy trước… luật, rằng sách giáo khoa của các nhóm nghiên cứu chỉ có giá trị ở khía cạnh nghiên cứu, không được phép đưa vào chương trình chính khóa của Bộ Giáo dục và Đào tạo, và rằng nếu muốn áp dụng thì phải sửa luật!  Thử hỏi trên đời này có luật nào cao hơn luật đi từ những đòi hỏi không thể cưỡng nổi của cuộc sống hiện đại ngày hôm nay, tức là kỳ cùng đó là những đòi hỏi của trẻ em của ngay ngày hôm nay – trẻ em là những thực thể còn nguyên vẹn, còn mang trong mình những tiềm năng ẩn số, chúng là những gì Tự nhiên nhất. Và Ăng-ghen từng nói rằng kẻ nào dám chống lại Tự nhiên, kẻ đó nhất định sẽ bị trừng phạt!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách giáo khoa: Nguồn tài nguyên duy nhất?      Trong bối cảnh các cuộc thảo luận về sách giáo khoa (SGK) đang trở nên ngày càng gay gắt, tôi cho rằng trước tiên cần phải quay lại định vị vai trò của SGK trong quá trình giáo dục và mục tiêu giáo dục mà chương trình đó đặt ra.      Người giáo viên cần có năng lực lựa chọn những cách thiết kế, tổ chức hoạt động phù hợp với mục đích giảng dạy của mình. Ảnh: Cô trò Trường Tiểu học Liên Bảo (TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) trong một giờ học nhóm. Nguồn: vietnamnet  Cũng giống như người thầy, người học, tấm bảng, viên phấn, bàn, ghế, trường, lớp… SGK chỉ là một thành tố trong toàn bộ quá trình giáo dục. Vai trò của SGK trong toàn bộ quá trình ấy phụ thuộc vào hai yếu tố: triết lý giáo dục và sự phát triển của bối cảnh giáo dục.  Đầu tiên, vai trò của SGK phụ thuộc vào sự phát triển của bối cảnh. Trước đây, người thầy lên lớp một tay cầm phấn, một tay cầm sách, học trò đi học cũng một tay cầm sách, một tay cầm bút. Không gian giáo dục và bối cảnh giáo dục chỉ gói gọn trong từng đấy vật dụng. Chính vì vậy, lúc bấy giờ SGK như kinh thánh, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục. Giờ đây, bối cảnh xã hội thay đổi, đặc biệt là trong khoảng 20-30 năm trở lại đây khi chúng ta đang bước vào kỷ nguyên công nghệ số, không gian giáo dục đã hoàn toàn đổi khác. Từ những thứ hữu hình như máy tính, điện thoại, máy tính bảng cho đến những thứ vô hình như Internet – những thứ chúng ta không thể cầm nắm hay nhìn thấy, nhưng lại có thể tác động rất nhiều đến suy nghĩ, vốn kiến thức và cách tư duy của chúng ta. Trong bối cảnh như thế, SGK không còn quá quan trọng, hay thậm chí, vai trò của SGK đang ngày càng giảm dần.  Bên cạnh sự phát triển của bối cảnh giáo dục, triết lý giáo dục cũng quyết định khá lớn đến việc SGK sẽ đóng vai trò gì trong chương trình. Triết lý giáo dục quyết định nền tảng lý thuyết giáo dục và sư phạm mà chương trình giáo dục đó đặt ra, do người chịu trách nhiệm về hệ thống giáo dục đó lựa chọn. Cho đến cách đây hơn nửa thế kỷ, lý thuyết giáo dục phổ biến trên thế giới là thuyết giáo huấn (instructivism), theo đó, kiến thức được hình thành và xây dựng thông qua truyền thụ. Như vậy, vai trò của người thầy cực kỳ quan trọng, là nguồn cung cấp kiến thức cho người học, và vai trò của người học là thụ động tiếp nhận kiến thức được chuyển đến từ người thầy. Tuy nhiên, đến thời điểm này, sau nửa thế kỷ phát triển, thuyết học tập kiến tạo (constructivism) đã thay thế và chiếm lĩnh các hệ thống giáo dục, trở thành lý thuyết phổ biến nhất. Lý thuyết học tập kiến tạo có hai đặc điểm chính: Thứ nhất là người học chủ động kiến tạo kiến thức cho mình, mỗi cá nhân sẽ có cách thức kiến tạo, phát triển kiến thức, vốn hiểu biết khác nhau; thứ hai, tương tác xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình kiến tạo kiến thức, ở đây là tương tác giữa người học với nhau, giữa người học với người thầy, và rộng hơn là giữa người học với gia đình, bố mẹ, người thân và cộng đồng.  Như vậy, SGK trở thành một nguồn học liệu như các loại sách tham khảo, các nguồn tham khảo khác nhau từ các cơ sở dữ liệu khác nhau. Nói cách khác, SGK sẽ không phải là ‘nguồn tài nguyên’ độc nhất mà người giáo viên có thể khai thác, nó chỉ là một trong số những nguồn sẵn có với kiến thức chuẩn chỉnh để giáo viên tham khảo về nội dung và hoạt động giáo dục.  Dù vậy, không thể đánh đồng SGK với sách khoa học thông thường. Sách khoa học thông thường chứa đựng kiến thức, tri thức của nhân loại trong khi SGK ngoài những kiến thức đó còn có các nguồn tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy (teaching resources) để người giáo viên tham khảo và cân nhắc sử dụng. Nó bao gồm các hoạt động, trò chơi đã được thiết kế, xây dựng; các tình huống thực tế hoặc giả định đã soạn sẵn, các loại flashcards chẳng hạn.  Điều đó không có nghĩa là SGK nào cũng giống nhau. Chúng ta không thể phát biểu khác đi về định lý Pitagore, nhưng các SGK toán khác nhau khi dạy về định lý Pitagore thì sẽ có nguồn tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy khác nhau – nghĩa là có cách dẫn dắt bài học, thiết kế bài tập, các hoạt động học tập khác nhau. Nói tóm lại, phần kiến thức giữa các SGK cùng một môn học có thể như nhau, nhưng phần tài liệu giảng dạy thì phải khác nhau, tuỳ theo quan điểm và lý thuyết sư phạm của chủ biên. Người giáo viên cần có năng lực lựa chọn những cách thiết kế, tổ chức hoạt động phù hợp với mục đích giảng dạy của mình.  Nhưng trước khi bàn đến năng lực lựa chọn, cần phải trao cho họ cơ hội được lựa chọn. Và đó là lý do chúng ta cần có nhiều bộ SGK, thay vì chỉ một như trước kia.  Tiêu chí của SGK phải phù hợp với triết lý giáo dục  Không phải vì SGK ngày càng đa dạng hay bớt quan trọng mà chúng ta có thể nới lỏng những tiêu chí mà một bộ SGK cần đạt được. Nếu chúng ta đã xác định chương trình giáo dục của mình lấy thuyết kiến tạo làm nền tảng, thì các bộ SGK sẽ phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định nhằm phục vụ hiệu quả cho các phương pháp sư phạm dựa trên lý thuyết đó.  Để đáp ứng các yêu cầu của lý thuyết nền, SGK sẽ phải thỏa mãn một số tiêu chí tối thiểu như sau:  Thứ nhất, về mặt nội dung: thông tin và cách trình bày, diễn đạt thông tin, kiến thức trong sách phải chính xác và gần gũi, dễ hiểu để người học có thể chủ động tiếp nhận, không đòi hỏi bắt buộc người học phải nhờ đến sự giảng dạy trực tiếp từ giáo viên. Bên cạnh đó, nội dung sách phải có độ khó phù hợp với đối tượng hướng đến – sách dành cho học sinh năng khiếu, sách dành cho học sinh đặc biệt…; giáo viên và nhà trường chính là những người quyết định bộ sách nào phù hợp với năng lực tiếp thu của học sinh của mình. Ngoài ra, sách cũng cần có gợi ý về những tài liệu tham khảo để học sinh có điều kiện tự củng cố và định hướng học tập cho mình.  Thứ hai, về tính sư phạm: Cuốn sách phải thiết kế, lồng ghép các hoạt động học tập cần thiết, đa dạng để học sinh đạt được mục tiêu học tập. Bên cạnh đó, phải tạo điều kiện để học sinh có thể tích hợp, thực hành, hoặc áp dụng các kiến thức mới; chúng ta cần trao cho các em cơ hội để vận dụng những gì mình lĩnh hội được vào thực tế. Đặc biệt, SGK cần đóng vai trò tạo động lực học tập cho học sinh, kích thích các em tìm tòi và sáng tạo.  Ngoài phục vụ giảng dạy, sách còn phải phục vụ hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá, cụ thể là cần đáp ứng các nhu cầu các loại đánh giá với các mục đích khác nhau (đánh giá kết quả học tập; đánh giá để cải tiến giảng dạy; và đánh giá là một phần hoạt động học tập), tức là cần có các đề bài, bộ câu hỏi kiểm tra, và các mẫu phiếu đánh giá trong sách giáo viên hoặc sách tài liệu (resource book).  Thứ ba, về cấu trúc: Bên cạnh các phần như mục lục, tổng quan, tóm tắt, giải thích thuật ngữ…, SGK phải có phần hướng dẫn sử dụng sách cho cả học sinh và giáo viên, hướng dẫn cách học cho học sinh. Một bộ sách giáo khoa cần phải có đủ sách dành cho học sinh, sách dành cho giáo viên, và sách tài liệu.  Thứ tư, về mặt ngôn ngữ: Ngôn ngữ phải chính xác và gần gũi. Trong trường hợp không có giáo viên hướng dẫn, học sinh vẫn có thể tự đọc và tạo nghĩa dựa trên trải nghiệm cá nhân.  Nhìn chung, nhiều hệ thống giáo dục trên thế giới đang áp dụng lý thuyết học tập kiến tạo, vì vậy những tiêu chí này về cơ bản đều xuất hiện ở các bộ tiêu chuẩn dành cho SGK. Có thể mỗi bộ quy chuẩn sẽ có cách diễn giải khác nhau và có một số yêu cầu riêng, nhưng nhìn chung đều sẽ hướng đến thúc đẩy sự chủ động và tính tích cực của người học trong quá trình học tập.  Người giáo viên cần có năng lực lựa chọn SGK  Như tôi đã bàn ở trên, triết lý giáo dục và lý thuyết sư phạm là nền tảng xuyên suốt để biên soạn SGK. Một khi chương trình giáo dục Việt Nam đã chọn lý thuyết kiến tạo làm xương sống, chúng ta cũng cần hiểu rằng vai trò của người thầy và người học đã thay đổi. Lúc bấy giờ, giáo viên được giải phóng khỏi đôi vai mình trọng trách mang chân lý đến cho học sinh, họ cần linh hoạt và chủ động lựa chọn những kỹ thuật dạy học phù hợp với năng lực của học sinh.  Đối với những giáo viên giỏi và có nhiều kinh nghiệm, họ có thể tự nghĩ ra bài tập, hoạt động dạy học mà không cần SGK nào hỗ trợ. Trong trường hợp ngược lại, người giáo viên vẫn cần một công cụ, nguồn tài liệu để tham khảo cho hoạt động dạy học. Muốn làm được điều đấy, họ cần phải có nhiều SGK để lựa chọn, đồng thời phải có đủ năng lực để lựa chọn SGK.  Một người giáo viên có khả năng lựa chọn SGK trước tiên phải là người có đầy đủ kiến thức và năng lực tư duy trong môn học đó, như vậy họ mới có thể nhận ra được nội dung trong SGK có chuẩn xác và phù hợp hay không. Trước tiên các trường sư phạm cần phải tuyển được đầu vào là những học sinh giỏi. Trong quá trình đào tạo, sinh viên sư phạm cần cung cấp đầy đủ và chính xác về lý thuyết dạy học và cách vận dụng, thực hành sư phạm.  Tôi tin rằng nếu người giáo viên được lựa chọn từ những sinh viên giỏi nhất và đào tạo bài bản, chắc chắn họ sẽ có đủ năng lực để lựa chọn SGK. Chúng ta phải thay đổi hệ thống đào tạo và phương thức đào tạo giáo viên, để bằng cách này hay cách khác, cái đích cuối cùng đó là người giáo viên có đủ năng lực và tự tin lựa chọn những kỹ thuật và nguồn học liệu phù hợp với mục đích dạy học của mình, và nhận ra rằng có rất nhiều con đường có thể dẫn đến thành Rome thay vì chỉ chăm chăm bám víu vào hướng dẫn của một cuốn SGK bất kỳ.  Theo khoahocphattrien.vn  (https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/sach-giao-khoa-nguon-tai-nguyen-duy-nhat/20201224101553533p1c785.htm)    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Sách hóa nông thôn: Thành công từ sự bài bản      Nhờ nghiên cứu bài bản và hoạch định truyền thông chiến lược, chương trình Sách hóa nông thôn đang chứng minh rằng đây không là một một phong trào hô hào nhất thời mà thực sự sẽ góp phần thay đổi nhận thức của xã hội về việc đọc sách một cách bền bỉ.      Học sinh đọc sách ở lớp 1A1, Tiểu học Đô thị Việt Hưng. Nguồn: Đỗ Tiến Thành.   Khởi đầu từ một tủ sách ở xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, cho đến nay, chương trình Sách hóa nông thôn đã có hơn 20.000 tủ sách trên khắp cả nước. Người sáng lập chương trình – anh Nguyễn Quang Thạch, đã dành 10 năm để nghiên cứu các mô hình thư viện cũng như xây dựng chiến lược truyền thông, nhằm đảm bảo rằng các mô hình tủ sách của anh sẽ “sống” trong dân chúng và thật sự thay đổi nhận thức xã hội về việc đọc sách.  Một nghiên cứu bài bản  Trước khi diễn ra buổi họp phụ huynh đầu năm của lớp 1A1, Tiểu học Đô thị Việt Hưng, anh Đỗ Tiến Thành đã đi khảo sát một số phụ huynh trong khu vực về việc xây dựng tủ sách trong lớp học, và đã bị phản đối với lý do: “Sách ở nhà đầy mà cháu có đọc đâu, lập tủ sách ở lớp làm gì?”.  Câu chuyện sẽ kết thúc ở đây nếu như anh Đỗ Tiến Thành – vị phụ huynh kể trên, không quyết định rằng hàng ngày sẽ đến trường cùng con và dành 15 phút đầu giờ để đọc sách cho các bạn học sinh trong lớp nghe. Ban đầu chỉ có một, hai bạn nhưng lâu dần, rất nhiều bạn nhỏ thích thú, nhiều phụ huynh ngạc nhiên và đăng hình ảnh “chú thành đọc sách cùng các con lên facebook”. Câu chuyện này đã làm cảm động nhiều phụ huynh trong lớp và mọi người quyết định rằng sang đầu học kỳ 2 sẽ trang bị tủ sách cho các con. Cuối cùng, “trái ngọt” đã đến – trong buổi họp phụ huynh đầu năm, khi anh Thành đề xuất làm tủ sách trong lớp thì được giáo viên và các phụ huynh đã hết sức ủng hộ. Ngay sau đó, lớp 1A1 đã xuất hiện một tủ sách khang trang với hơn 200 đầu sách, tất cả đều do các phụ huynh góp tiền ủng hộ, còn các bạn học sinh thì hào hứng tự mang thêm sách đến đóng góp.    Ý tưởng đọc sách cho các bạn nhỏ được anh Thành đưa ra dựa trên kết luận từ nghiên cứu hành vi nằm trong khuôn khổ Sách hóa nông thôn – chương trình anh Thành đang tham gia tích cực. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc đọc của trẻ em được kích thích khi các bạn xung quanh cũng cùng đọc sách, bởi hình ảnh về sách lặp đi lặp lại trước mắt bạn trẻ. Đây chỉ là một trong nhiều nghiên cứu được tiến hành bài bản do Nguyễn Quang Thạch và các cộng sự thực hiện, nhằm tìm hiểu hành vi đọc sách của nhóm đối tượng là những người sinh ra và lớn lên ở nông thôn, được thực hiện từ năm 1997 và tới năm 2007 thì số lượng được khảo sát lên tới gần 10.000 người.  Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu dưới dạng phỏng vấn, bắt đầu từ những sinh viên học trường ĐH Vinh, sau đó mở rộng ra nhiều tầng lớp và ngành nghề khác như học sinh, nông dân, công nhân,… trải từ Bắc vào Nam, từ vùng thành thị như Hà Nội, Vinh cho đến miền núi Con Cuông (Nghệ An), Yên Bái. Thậm chí, anh Nguyễn Quang Thạch còn xin vào làm công nhân ở nhà máy giày Tramashoco (Vũng Tàu) hay phỏng vấn cả những cô gái “bán hoa” miền Tây ra Vinh hành nghề để tìm hiểu thói quen đọc sách của họ.  Các kết quả rút ra từ các nghiên cứu đó có có tác động rất lớn tới cách xây dựng các mô hình tủ sách sau này. Ví dụ như kết quả nghiên cứu cho thấy tần suất tiếp xúc mắt của con trẻ với sách càng cao sẽ kích thích việc đọc càng lớn được ứng dụng vào mô hình tủ sách lớp em – đặt tủ sách trong lớp thay vì thư viện, để trẻ em được tiếp xúc với sách nhiều hơn, nhờ đó đã tăng số đầu sách bình quân đọc hàng năm từ 0,5 cuốn lên mức 10 cuốn/trẻ [Số liệu năm 2017 của tỉnh Thái Bình]. Hay việc lựa chọn nhân rộng mô hình nào đều dựa vào đánh giá tính khả thi sau nghiên cứu và thí điểm. Ví dụ như ý tưởng tủ sách do Hội Phụ nữ xây dựng đã dừng lại sau khi kết quả phỏng vấn chứng minh là không khả thi, chiến lược này đã giúp chương trình tránh khỏi lãng phí nguồn lực vào các mô hình chắc chắn thất bại.  Việc nghiên cứu và rút kinh nghiệm của các sáng kiến tủ sách ở nông thôn trước đó như tủ sách điểm bưu điện văn hóa xã, tủ sách ở nhà văn hóa thôn đã giúp Sách hóa nông thôn thoát khỏi cảnh “chết lâm sàng”. Những tủ sách này thất bại vì một cá nhân/một nhóm phải gồng gánh quá nhiều trách nhiệm, như bưu điện văn hóa xã phải làm chức năng “bưu điện” hay ông trưởng thôn đã phải làm rất nhiều việc hành chính cấp thôn thì lấy thời gian đâu để quản lý tủ sách?      Việc nghiên cứu và rút kinh nghiệm của các sáng kiến tủ sách ở nông thôn trước đó như tủ sách điểm bưu điện văn hóa xã, tủ sách ở nhà văn hóa thôn đã giúp Sách hóa nông thôn thoát khỏi cảnh “chết lâm sàng”.      Ngoài ra, khía cạnh tài chính cũng đã được Sách hóa nông thôn nghiên cứu kỹ lưỡng. Rút kinh nghiệm từ nhiều dự án xã hội khác, dù đã quyên góp được số tiền tương đối “khủng” nhưng không thúc đẩy được người dân tự giác tham gia và cuối cùng rơi vào cảnh “bỏ dở giữa chừng” nên Sách hóa nông thôn đã giới hạn mức đóng góp cho những người muốn ủng hộ chương trình là 240.000 đồng/năm – khoản tiền tương đối vừa phải, phù hợp với những người bình dân trong xã hội để mọi người có thể đóng góp thường niên, tránh việc mọi người chỉ góp một lần rồi thôi. Có thể thấy rằng những dự án xã hội đến nay vẫn đang chứng minh được sự “dài hơi” của mình đều có chung một tầm nhìn: nguồn lực của nó không đến từ riêng cá nhân hay tổ chức nào, mà dựa vào vốn xã hội, nghĩa là xã hội tự đóng góp cho chính xã hội. Như nghệ sĩ Trang Trịnh – sáng lập dự án Dàn Hợp xướng và Giao hưởng Kỳ diệu, từng chia sẻ trên Tia Sáng: “dự án không muốn hợp tác với các “đại gia”, họ có thể cho rất nhiều tiền nhưng thường không lâu dài. Tôi muốn đó là dự án của cộng đồng… Một dự án thiện nguyện không đi từ cộng đồng thì nó không thực sự tồn tại được.” Đây hẳn cũng là tôn chỉ của những người làm Sách hóa nông thôn.  Tính toán chiến lược truyền thông  Sách hóa nông thôn giới thiệu cho công chúng nhiều mô hình đa dạng như tủ sách dòng họ, phụ huynh, giáo xứ, hậu phương chiến sĩ,… Nhưng ít ai biết được rằng lộ trình ra mắt các loại tủ sách cũng đã được thiết kế kỹ càng, đảm bảo rằng sự xuất hiện của tủ sách này sẽ rải thảm cho tủ sách kế tiếp.  Tủ sách dòng họ được thực hiện đầu tiên bởi đây là mô hình khả thi nhất và dễ thành công nhất vào thời điểm năm 2007. Lúc đó, anh Nguyễn Quang Thạch đã phỏng vấn và tiếp xúc với nhiều giáo viên, quản lý ngành giáo dục và nhận ra sự trì trệ, thủ cựu đang hiện hữu sẽ là rào cản lớn cho việc “xâm thực” của tủ sách [nhiều lãnh đạo ở phòng giáo dục địa phương thờ ơ với khuyến đọc và các trường hầu hết đã có tủ sách nhưng học sinh không được mượn vì giáo viên lo sách mất, rách]. Trong khi đó, nhiều dòng họ, đặc biệt ở miền Bắc, có sự tương tác giữa những người cùng tộc mạnh mẽ, thậm chí có cả quỹ khuyến học, đây là các yếu tố quan trọng để nuôi dưỡng tủ sách dòng họ. Đặc biệt, mô hình này có khả năng tự nhân rộng, khi một dòng họ này có tủ sách thì những người của dòng họ sẽ khác biết đến và cũng muốn đóng góp tương tự cho dòng họ của mình để không bị “kém cạnh”.  Hiệu quả từ tủ sách dòng họ sẽ được truyền thông thông qua báo chí, từ đó tạo ra nhận thức xã hội của người dân cả nước về việc đọc sách. Thậm chí, việc chọn Thái Bình trở thành địa điểm truyền thông quen thuộc của Sách hóa nông thôn cũng nằm trong tính toán chiến lược của anh Nguyễn Quang Thạch, bởi vị trí gần Hà Nội, tạo thuận lợi cho báo chí thường xuyên lui tới tác nghiệp. Sau tủ sách của dòng họ Đỗ Xuân và có bài đăng trên báo Tiền Phong, kể từ đó đến nay đã có khoảng 100 tủ sách dòng họ thuộc Sách hóa nông thôn trên cả nước, riêng xã An Dục (Thái Bình) có 11 tủ.  Đột phá của Sách hóa nông thôn đến vào năm 2010, khi Nguyễn Quang Thạch tổ chức đi xe máy xuyên Việt ngay ngày mùng Một Tết và lên sóng truyền hình Việt Nam kêu gọi mọi người đưa sách về dòng họ. Sự kiện này đã tạo ra hiệu ứng truyền thông rất lớn. Sau đó đã có khoảng 300 bài báo đã viết về sự kiện này và lần đi bộ xuyên Việt kế tiếp vào năm 2015, điều đó không chỉ tác động tới nhận thức của người dân về việc đọc sách mà còn đánh thức trách nhiệm của các nhà quản lý. Năm 2015, Bộ Giáo dục đã ra Công văn 6841 gửi các sở GD khuyến khích nhân rộng tủ sách đến các lớp học.  Nhờ những nỗ lực truyền thông bền bỉ, mang tính chiến lược, Sách hóa nông thôn đã dần hình thành được một mạng lưới những người không chỉ góp tiền ủng hộ mà còn tích cực đi xây dựng tủ sách ở các địa phương. Trong đó phải kể đến chị Vũ Thị Thu Hà – thành viên tích cực của chương trình. Ban đầu chỉ là hưởng ứng lời kêu gọi cựu học sinh tặng sách cho trường cũ, tuy nhiên chị nhận ra rằng: “Khi đi tặng sách mới thấy có quá nhiều việc phải làm chứ không chỉ đưa sách tặng cho trường cũ là xong…”, và tiếp tục vận động nhiều người khác cùng tham gia xây dựng tủ sách ở nhiều địa phương như Nam Định, Lý Sơn (Quảng Ngãi), Đăk Lăk ,… Chị còn thực hiện chương trình “Bán trái cây – Xây tủ sách”, kinh doanh và trích 5.000 đồng mỗi cân trái cân bán được để xây tủ sách ở Tây Nguyên.  Quan trọng hơn, chính những người hưởng lợi từ tủ sách – nông dân, trẻ em đã tự nuôi dưỡng thói quen đọc sách và góp tiền xây dựng tủ sách cho bản thân. Thậm chí, trẻ em ở huyện Thái Thụy (Thái Bình) đã dùng tiền mừng tuổi để mua cho mình hơn 70.000 đầu sách trong năm 2017 – 2018 và khoảng 300.000 người Việt trong và ngoài nước đã tham gia vào tiến trình xây dựng các tủ sách. Những số liệu như vậy củng cố lòng tin là dù người nhóm lửa Nguyễn Quang Thạch không thể tiếp tục thì chương trình vẫn “sống”.  Cần tiếp tục đánh giá định tính  Hiện nay, khoảng 1.000.000 người ở nông thôn và đô thị có cơ hội hưởng từ tủ sách. Số lượng sách được mượn tăng từ 0.4-2 đầu sách/năm lên 10-30 đầu sách/năm tại các vùng mục tiêu điển hình. Đây là một vài đánh giá định lượng về các kết quả đạt được của chương trình. Ngay từ khi lên kế hoạch xây dựng, Sách hóa nông thôn đã được xác định rằng nó không phải một phong trào nhất thời mà sẽ “đi lâu, đi dài”, vì thế cần thường xuyên được đánh giá, đo lường, để khắc phục và tự cải thiện hiệu quả của mình. Việc thống nhất cách ghi sổ quản lý đối với các tủ sách cùng loại ở mọi nơi là điều bắt buộc để tạo thuận lợi cho công tác thống kê sau này. Ngoài ra, nhìn vào danh mục mượn có thể biết được xu thế đọc của các độc giả, làm cơ sở để bổ sung thêm sau hợp thị hiếu sau này.  Tuy nhiên bên cạnh đánh giá định lượng, đội ngũ thực hiện Sách hóa nông thôn mong muốn có thêm những đánh giá định tính từ bên thứ ba nhằm khách quan hơn và cũng vì nguồn lực (cả năng lực và vật lực) của chương trình không đủ để thực hiện. Kế hoạch trước mắt là mời đơn vị nghiên cứu giáo dục độc lập tham gia thực hiện đánh giá định tính hiệu quả của chương trình sau 10 năm phát động.  Ngoài ra, hiện nay các đầu sách mới chỉ được phân loại theo các nhóm như sách văn chương, khuyến nông, lịch sử,… và căn cứ vào đối tượng của tủ sách để đưa ra các loại thích hợp, trong dó chú trọng tính nhân văn, tinh thần thực học thực làm. Nhóm cũng giới thiệu cho những người quản lý tủ sách ở địa phương các nhà sách uy tín đang hợp tác với chương trình. Tuy nhiên bản thân nhóm làm Sách hóa nông thôn phải thừa nhận rằng chưa thể nghiên cứu bài bản về những loại sách phù hợp cho từng đối tượng. Vì vậy, chương trình kiến nghị các chuyên gia giáo dục và thư viện nên ngồi lại với nhau, thảo luận và đưa ra danh mục sách khuyến nghị phù hợp với từng độ tuổi, để việc đọc sách thực sự có tác động tới tri thức và tâm hồn.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Sách ngôn ngữ Dân tộc thiểu số:  Những lưu ý khi xây dựng chương trình và biên soạn      Năm học mới đã gần kề, trong khi các môn học lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới đều đã có đủ sách giáo khoa, nhưng riêng chương trình tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) (là môn học tự chọn từ lớp 1 đến lớp 12) vẫn chưa thể khởi động. Biên soạn sách giáo khoa tiếng DTTS là việc khó do nhiều biến thể ngôn ngữ, chữ viết nên chúng tôi đưa ra một vài lưu ý khi biên soạn.      Học sinh Khơ Me học chữ. Ảnh: Congthuong.vn  Những lưu ý này đặc biệt tập trung thảo luận vấn đề lựa chọn các biến thể phương ngữ, chữ viết của 8 dân tộc mà Bộ GD&ĐT đã lựa chọn để biên soạn sách giai đoạn đầu (gồm: Thái, Hmông, Ba Na, Mơ Nông, Gia Rai, Êđê, Chăm, Khơ Me).     Nhiều biến thể ngôn ngữ     Việt Nam là quốc gia đa dạng ngôn ngữ, phương ngữ và chữ viết dân tộc thiểu số. Về dân tộc học, mỗi tộc người của 53 dân tộc thiểu số bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau. Về ngôn ngữ, ở một số dân tộc, cư dân thuộc các nhóm địa phương nói các thứ tiếng khác nhau, gọi là các biến thể ngôn ngữ. Hiện nay, chưa có câu trả lời thống nhất về tiêu chí xác định thế nào là ngôn ngữ và thế nào là phương ngữ, nên chưa ai đưa ra con số cuối cùng về số lượng ngôn ngữ ở Việt Nam; tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, số lượng ngôn ngữ chắc chắn lớn hơn con số 54 dân tộc. Số lượng các phương ngữ còn lớn hơn nhiều lần. Một dân tộc có thể sử dụng các bộ chữ viết khác nhau – biến thể chữ viết.    Nhìn vào các dân tộc được lựa chọn để biên soạn sách trong giai đoạn đầu, có thể thấy khó khăn đầu tiên là một dân tộc có thể có rất nhiều biến thể ngôn ngữ, biến thể chữ viết:    Ví dụ: Chỉ riêng dân tộc Hmông đã gồm các nhóm địa phương Hmông Lềnh, Hmông Đơ, Hmông Đu,  Hmông Si, Hmông Sua và Na Miểu Sla. Về ngôn ngữ, sự khác biệt giữa tiếng Na Miểu Sla với các tiếng thuộc Hmông là sự khác biệt giữa hai  ngôn ngữ (cư dân không thể giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ của mình). Còn giữa các tiếng Hmông như  Hmông Lềnh,  Hmông Đơ, Hmông Đu,  Hmông Si, Hmông Sua là khác biệt giữa các phương ngữ của một ngôn ngũ (khác biệt chủ yếu về ngữ âm, một phần từ vựng).    Trong tiếng Khơ me Nam Bộ cũng có sự khác biệt giữa phương ngữ Trà Vinh và tiếng địa phương khác.    Dân tộc Chăm gồm các nhóm địa phương: Chăm Ninh Thuận- Bình Thuận, Chăm Nam Bộ, Chăm Hroi. Tiếng nói ở mối nhóm địa phương cũng khác nhau.  Tương tự, mỗi dân tộc Ba Na,  Thái, Gia Rai, Ê Đê đều gồm rất nhiều nhóm địa phương.     Nhiều biến thể chữ viết     Trong cả 8 dân tộc nói trên, một dân tộc có các biến thể chữ viết khác nhau. Các biến thể này có thể phản ánh đặc điểm phương ngữ khác nhau, được chế tác (hoặc cải tiến) ở thời kì khác nhau.    Phân tích hai trường hợp người Hmông và người Thái dưới đây cho thấy rõ điều này.    Người Hmông ở nước ta sử dụng 2 bộ chữ viết: 1- bộ chữ Hmông (trước đây gọi là chữ Mèo) do Nhà nước Việt Nam ban hành năm1961 và 2- bộ chữ viết Hmông (thường được gọi là chữ Hmông quốc tế, hay chữ Hmông Mỹ) phổ biến ở nước ngoài, mới vào nước ta trong vài thập kỉ gần đây. Chữ Hmông Việt Nam lấy tiếng Hmông Lềnh vùng Sa Pa là cơ sở; chữ Hmông quốc tế, dựa chủ yếu vào tiếng Hmông Đơ ở Thái Lan. Cả 2 bộ chữ dùng các kí tự mẫu tự La tinh để ghi phụ âm, nguyên âm và thanh điệu. Chữ Hmông Việt Nam có nhiều hạn chế: phức tạp (ghi cả các biến thể ngữ âm), không hệ thống (khó học, khó nhớ). Chữ Hmông quốc tế tránh được những hạn chế này: đơn giản, mang tính hệ thống, nên dễ học dễ nhớ hơn.      Người biên soạn không chỉ cần am hiểu ngôn ngữ DTTS mà còn phải có các kiến thức ngôn ngữ học về ngôn ngữ DTTS và tiếng Việt, về phương pháp giáo dục ngôn ngữ. Hiện nay, đòi hỏi này có thể quá khó đối với việc biên soạn sách dạy, học ngôn ngữ DTTS (nhất là sách các lớp bậc cao).      Chữ Thái ở Việt Nam, tương tự chữ Thái Lan, Lào là chữ viết ghi âm-âm tiết, dựa trên hệ mẫu tự Sanscrít (Ân độ cổ). Có nhiều biến thể chữ Thái, khác nhau về một số kí tự, cách viết, mức độ hoàn thiện và phổ biến: chữ Thái Đen, chữ Thái Trắng Mường Lay, chữ Thái Trắng Phong Thổ, chữ Thái Trắng Phù Yên, chữ Thái Trắng Mộc Châu, Mai Châu, Đà Bắc, chữ Thái Thanh, chữ Thái Quỳ Châu (Nghệ An), chữ Thái Lai Pao (Tương Dương, Nghệ An). Trong giai đoạn 1954 – 1969, chữ Thái khu tự trị Tây Bắc cũ đã được cải tiến, thống nhất và mang tên Chữ Thái Việt Nam thống nhất. Từ tháng 5/2008 chữ Thái cải tiến mới được chính thức được đưa vào sử dụng, được gọi là chữ Thái Việt Nam. Bộ chữ này đã được mã hóa, có thể sử dụng trên máy tính.  Tiêu chí lựa chọn phương ngữ, biến thể chữ viết để dạy phổ thông     Vấn đề lựa chọn phương ngữ và biến thể chữ viết đặt ra không chỉ trong công tác dạy/ học ngôn ngữ DTTS mà cả trong các lĩnh vực khác như xây dựng chữ viết, truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS. Giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể tiếp thu những kinh nghiệm, bài học thành công và cả thất bại từ các nước như Liên Xô (trước đây), Nga, Trung Quốc. Ở các nước như Trung Quốc, Liên Xô trước đây, các nhà ngôn ngữ học xuất phát từ quan niệm cho rằng, mỗi dân tộc chỉ có một ngôn ngữ, ngôn ngữ này cần được phát triển thành ngôn ngữ văn học, chuẩn mực hóa trên cơ sở một phương ngữ được coi là cơ sở, chuẩn mực. Cách phát âm phương ngữ này được lấy làm cơ sở để xây dựng chữ viết và đem chữ viết này làm chuẩn mực phát âm (chính âm), cách viết (chính tả) trong giáo dục, truyền thông cho các phương ngữ khác.    Tuy nhiên, thực tế các nước đã cho thấy sự sai lầm của quan niệm và cách làm này, bởi vì trong quốc gia đa ngôn ngữ, đa dân tộc, các ngôn ngữ phân công nhau thực hiện các chức năng xã hội (ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ giao tiếp khu vực, ngôn ngữ giao tiếp trong nội bộ tộc người), không nhất thiết mọi ngôn ngữ DTTS đều phát triển thành ngôn ngữ văn học có vị thế ngôn ngữ chính thức hay ngôn ngữ giao tiếp liên dân tộc. Dưới sự tác động của xu hướng toàn cầu hóa, đa số ngôn ngữ DTTS có nguy cơ bị mai một, thậm chí tiêu vong. Trong bối cảnh trên, vấn đề bảo tồn các di sản ngôn ngữ, chữ viết truyền thống của DTTS là ưu tiên trước tiên so với việc xây dựng phát triển ngôn ngữ DTTS thành ngôn ngữ văn học, chuẩn mực, thống nhất. Mặt khác, với tâm lí đề cao sự trung tín đối với tiếng mẹ đẻ, người nói các phương ngữ không dễ chấp nhận coi phương ngữ khác là chuẩn mực và nói (phát âm), viết theo phương ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của mình.    Vì vậy, việc xây dựng chữ viết, dạy/ học ngôn ngữ DTTS theo cách trên đã gặp thất bại ở Trung Quốc. Ở nước ta, việc chế tác chữ viết và chương trình dạy, học tiếng Tày- Nùng, tiếng Hmông (Mèo) giai đoạn 1960-1975 lặp lại sai lầm trên và không đi đến những kết quả như mong đợi.  Do vậy, với tư cách người nghiên cứu ngôn ngữ DTTS, về việc lựa chọn phương ngữ, chữ viết để dạy ngôn ngữ DTTS trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, chúng tôi khuyến nghị:    1. Khi hướng đến mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số, cần chú ý đến tất cả các biến thể phương ngữ, chữ viết của DTTS.    2. Khi biên soạn sách dạy học ngôn ngữ DTTS, nên chọn mỗi ngôn ngữ một phương ngữ, bộ chữ viết làm đại diện nếu: a- có số người sử dụng tương đối đông; b- có tính phổ biến cao hơn. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, phương ngữ đại diện được hiểu chỉ là đại diện để biên soạn sách dạy, học, chứ không phải là phương ngữ cơ sở, chuẩn mực, áp đặt cho các phương ngữ khác.    3. Chọn một bộ chữ viết làm đại diện để biên soạn sách dạy, học ngôn ngữ DTTS, nếu: a- có cơ sở pháp lí (cơ quan cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh công nhận);  b- có tính hoàn thiện cao; c- có thể sử dụng trong công nghệ thông tin.    4. Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn sách dạy, học ngôn ngữ DTTS trên cơ sở phương ngữ, bộ chữ viết được chọn là đại diện. Sở giáo dục các tỉnh có DTTS có thể tổ chức biên dịch từ bộ sách do Bộ GD&ĐT biên soạn, thích ứng với phương ngữ và chữ viết ở địa phương, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của phụ huynh và học sinh DTTS sở tại.      Bộ sách dạy tiếng Ê đê. Ảnh: VOV.    Lựa chọn mô hình dạy, học ngôn ngữ DTTS     Việc dạy, học ngôn ngữ DTTS trong giáo dục phổ thông có thể lựa chọn một trong 2 mô hình: a- giáo dục song ngữ và b- giáo dục đơn ngữ.    Giáo dục song ngữ     Giáo dục song ngữ là việc sử dụng đồng thời hai ngôn ngữ trong dạy/ học (tất cả các môn, không chỉ môn ngôn ngữ). Giáo dục song ngữ hướng tới phát triển đồng thời cả hai ngôn ngữ ở học sinh. Đối với học sinh DTTS, học theo chương trình giáo dục song ngữ là việc sử dụng đồng thời tiếng DTTS (L1) và tiếng Việt (L2-ngôn ngữ quốc gia) trong dạy và học các môn. Giáo dục song ngữ cho học sinh DTTS có nhiều điểm ưu việt: 1- giúp phát triển nhận thức, tư duy của học sinh, giúp các em  dễ dàng tiếp thu các kiến thức, nhất là kiến thức về ngôn ngữ thứ hai (ngôn ngữ chính thức- tiếng Việt). 2- Góp phần giáo dục, phát triển cảm xúc cho học sinh DTTS (gắn bó với gia đình, tộc người, bạn bè người đồng tộc và dân tộc đa số). 3- Từ lợi thế (1) và (2), Giáo dục song ngữ giúp học sinh DTTS sớm đạt kết quả trong học tập ngay từ các lớp đầu cấp và củng cố, tăng cường kết quả trong các lớp tiếp theo. Điều này kích thích học sinh DTTS ham muốn học tập, không bỏ học giữa chừng, tăng tính hiệu quả và tiết kiệm chi phí trong giáo dục. 4- Giáo dục song ngữ cho phép đạt hai mục tiêu đồng thời: bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết DTTS; đồng thời, phát triển các kĩ năng, kiến thức về ngôn ngữ thứ hai – ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức (tiếng Việt).    Theo mô hình Giáo dục song ngữ, cần có chương trình và bộ sách giáo khoa được thiết kế và biên soạn khoa học, trong đó tính toán thời lượng dạy, học L1 và L2 (cân nhắc dạy bằng L1 đến lớp mấy?) cũng như kết hợp L1 và L2 trong việc dạy/học từng môn học, bậc học như thế nào.    Ở nước ta, việc áp dụng mô hình giáo dục song ngữ ở vùng DTTS có những khó khăn riêng. Trước hết là tình trạng cư trú phân tán và đan xen của các dân tộc: nhiều dân tộc, nhóm địa phương cùng cư trú trong một bản, một xã; do vậy, trong  một lớp  học, học sinh nói các thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau. Theo khuyến cáo của UNESCO, UNICEF, nhiều nước ở châu Á, châu Phi đã áp dụng mô hình Giáo dục song ngữ trong giáo dục vùng DTTS. Chúng ta có thể tiếp thu cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tế Giáo dục song ngữ từ các nước như Trung Quốc, Nga, các nước khu vực Đông Nam Á. Riêng nước ta cũng đã triển khai thực tế các dự án thí điểm Giáo dục song ngữ đối với học sinh dân tộc Hmông (Bắc Hà, Lào Cai), dân tộc Gia rai (tỉnh Gia Lai), dân tộc Khơ me (Trà Vinh) từ năm 2005 đến 2014 và có thể đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm.             Công tác đào tạo giáo viên dạy ngôn ngữ DTTS ở nước ta chưa được chú ý dẫn đến những khó khăn trong việc tìm giáo viên có thể dạy môn ngôn ngữ DTTS ở các trường phổ thông, nhất là các lớp bậc cao.      Giáo dục đơn ngữ    Trong Chương trình Giáo dục phổ thông mới, môn tiếng Dân tộc thiểu số (DTTS) là môn học tự chọn từ lớp 1 đến lớp 12. Như vậy, việc dạy, học môn ngôn ngữ DTTS  không theo mô hình giáo dục song ngữ, mà theo mô hình giáo dục đơn ngữ. Theo mô hình này, ngôn ngữ DTTS được dạy như một môn học độc lập, tách rời với các môn học khác. Tiếng Việt là phương tiện trong giảng dạy, tiếng DTTS là đối tượng giảng dạy.    Theo mô hình giáo dục đơn ngữ, cần xây dựng, thiết kế chương trình dạy/học ngôn ngữ DTTS một cách khoa học, hợp lí: bám sát mục tiêu, từ đó xác định toàn bộ nội dung dạy / học (học đến bậc học nào?) nội dung dạy/học từng bậc học, lớp học? Căn cứ vào chương trình, tổ chức biên soạn các sách giáo khoa dạy/học ngôn ngữ DTTS ở mỗi bậc học, lớp học. Chúng tôi cho rằng, điều này nên cân nhắc thêm:    Nếu mục tiêu của việc dạy/học môn tiếng DTTS hướng đến “giữ gìn và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số”, chứ không phải nhằm góp phần phát triển ngôn ngữ DTTS thành một ngôn ngữ văn học, thống nhất, phát triển, có vị thế cao, thì việc dạy môn ngôn ngữ DTTS từ lớp 1 đến lớp 12 vị tất là cần thiết và phù hợp;    Môn ngôn ngữ DTTS được dạy/ học như môn học tự chọn, hướng đến mục tiêu nói trên. Nhưng liệu cha mẹ và học sinh DTTS có lựa chọn học môn học này đến tận lớp 12, trong khi nhu cầu nâng cao kiến thức, kĩ năng sử dụng tiếng Việt và các ngoại ngữ để hòa nhập và tìm kiếm các cơ hội thành đạt cũng cấp thiết, nhất là ở bậc trung học phổ thông.       Ngoài ra, việc dạy học ngôn ngữ DTTS được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ gặp hàng loạt khó khăn trong việc biên soạn sách dạy/học (nội dung dạy/ học, nguồn ngữ liệu), đội ngũ biên soạn sách, đội ngũ giáo viên (nhất là giáo viên dạy các lớp bậc học cao).    1- Do sự hạn chế về chức năng xã hội, ngôn ngữ DTTS thường hạn chế về cấu trúc: vốn từ, phương thức cấu tạo từ, cú pháp, ngữ dụng, phong cách chức năng.    2- Hầu hết ngôn ngữ DTTS ở nước ta còn ít được nghiên cứu; về các ngôn ngữ này, chủ yếu dừng lại ở những kiến thức sơ bộ về ngữ âm, vốn từ, ngữ pháp.    Từ (1) và (2)  đặt ra vấn đề: nội dung dạy, học về ngôn ngữ DTTS từ lớp 1 đến lớp 12 (nhất là ở các lớp bậc cao): dạy, học cái gì?    3- Hầu hết ngôn ngữ DTTS (trừ tiếng Khơ me Nam Bộ) chưa phát triển như một ngôn ngữ văn học, chuẩn mực với nhiều tác phẩm văn học; người biên soạn sách dạy, học ngôn ngữ DTTS gặp khó khăn, khi tìm nguồn ngữ liệu để miêu tả, minh họa các hiện tượng ngôn ngữ.    (1), (2) và (3) đòi hỏi người biên soạn không chỉ am hiểu ngôn ngữ DTTS đối tượng (như L1), mà còn phải có các kiến thức ngôn ngữ học về ngôn ngữ DTTS và tiếng Việt, về phương pháp giáo dục ngôn ngữ. Hiện nay, đòi hỏi này có thể quá khó đối với việc biên soạn sách dạy, học ngôn ngữ DTTS (nhất là sách các lớp bậc cao).    4- Công tác đào tạo giáo viên dạy ngôn ngữ DTTS ở nước ta chưa được chú ý; điều này dẫn đến những khó khăn trong việc tìm giáo viên có thể dạy môn ngôn ngữ DTTS ở các trường phổ thông, nhất là các lớp bậc cao.    Nói tóm lại, hiệu quả của việc dạy, học ngôn ngữ DTTS, dù theo mô hình giáo dục song ngữ hay đơn ngữ đều phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng, thiết kế chương trình, phương pháp và việc biên soạn sách giáo khoa. Khi tiến hành những công việc này, cần cân nhắc theo các tiêu chí: a-Chức năng, vị thế xã hội từng ngôn ngữ; b- Sự phát triển cấu trúc, chức năng… và các kiến thức đã có về chúng ở từng ngôn ngữ; c- Thái độ, nguyện vọng của người DTTS về dạy, học ngôn ngữ đó; d- Đội ngũ  cán bộ có thể biên soạn sách. e- sự chuẩn bị đội ngũ giáo viên các lớp, cấp dạy môn ngôn ngữ DTTS.    Chúng ta đã có những bài học không đạt được kết quả như mong muốn trong việc dạy/ học ngôn ngữ, chữ viết Tày-Nùng, Hmông trong những năm 1960-1975 ở miền Bắc khi không cân nhắc đầy đủ các yếu tố này.     Dạy ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong không gian số     Không gian số (Cyber Space) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy ngôn ngữ DTTS nói chung và trong công tác giáo dục ngôn ngữ DTTS nói riêng. Sự phát triển công nghệ số hóa tạo môi trường sinh thái để đẩy mạnh giáo dục, truyền thông, giao tiếp trong nội bộ dân tộc và liên dân tộc, liên quốc gia bằng ngôn ngữ DTTS. Để có được điều kiện trên, chữ viết DTTS cần được mã hóa theo chuẩn quốc tế, trong sự hợp tác giữa các chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ DTTS, công nghệ thông tin và các trí thức người DTTS.       Mặt khác giáo dục ngôn ngữ DTTS trong chương trình giáo dục phổ thông mới liên quan đến nhiều lĩnh vực: tâm lí giáo dục (chương trình, phương pháp GD), tổ chức giáo dục, ngôn ngữ học (nghiên cứu ngôn ngữ chữ viết DTTS), công nghệ thông tin…Để đạt được kết quả, cần huy động sự đóng góp của các chuyên gia các lĩnh vực trên. □    Author                Nguyễn Văn Lợi        
__label__tiasang Sách tham khảo của Nhóm Cánh Buồm đã có đến lớp 4      Sau khi ra mắt bộ SGK lớp 1 thử nghiệm gồm sáu cuốn cách đây đúng một năm, Nhóm Cánh Buồm tiếp tục cho ra mắt 10 cuốn trong bộ sách này, từ lớp 2 đến lớp 4, tại hội thảo “Tự học – Tự giáo dục” ở L’Espace, Hà Nội vào ngày 3/10.    Hội thảo sẽ tập trung trả lời cho những vấn đề như vì sao cải cách giáo dục cần phải đi thẳng vào hiện đại hóa; vì  sao giáo dục hiện đại không phải là những thiết bị và chi phí đắt tiền, mà là khả năng tổ chức được các hành động học của trẻ em; ý nghĩa của tự học – tự giáo dục.  Bộ sách của Nhóm Cánh Buồm sẽ được làm mẫu để thảo luận về hướng đi và cách tiến hành hiện đại hóa giáo dục.   Tham dự hội thảo có Nhóm Cánh Buồm, TS Chu Hảo – Giám đốc NXB Tri thức, và GS người Pháp Alain Fenet.  Đặc biệt, cuối hội thảo, học sinh trường Nguyễn Văn Huyên cùng đạo diễn Trần Quốc Trọng sẽ trình diễn kịch Chuyện Dế Mèn do tác giả Phạm Toàn chuyển thể từ truyện Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài.  Nhóm Cánh Buồm, được hình thành cách đây ba năm, gồm những chuyên gia giáo dục trẻ làm việc trên tinh thần tình nguyện.          16 cuốn sách đã được Nhóm Cánh Buồm biên soạn hoàn chỉnh: môn Tiếng Việt và môn Văn (từ lớp 1 đến lớp 4), môn Lối sống, Khoa học-Công nghệ, Tiếng Anh (từ lớp 1 đến lớp 2).        Nhóm Cánh Buồm đánh giá tình hình giáo dục nước nhà đang trong tình trạng khủng hoảng, trẻ em quanh năm suốt tháng chạy theo việc học nhàm chán và lãng phí. Thế nhưng, đi vào sửa chữa tình trạng khủng hoảng giáo dục, xã hội vẫn chưa nhất trí. Theo Nhóm Cánh Buồm, đang có ít nhất ba xu hướng đối với thực trạng giáo dục:  •    Đòi thay đổi ngay và thay đổi triệt để thực trạng giáo dục. Dư luận xã hội vừa đồng tình vừa hoang mang trước những ý kiến thuộc xu hướng này.    •    Tự ru ngủ về “thành tích”, thực chất là nói dối xã hội. Xu hướng này đang tìm lối thoát bằng chủ trương giảm tải và chờ đợi những đề án sắp có và sẽ có.   •    Chạy theo kinh doanh giáo dục dưới mọi hình thức, cốt mình có lợi là đủ, nhưng lại lớn tiếng tự xưng là hiện đại, khiến xã hội lúng túng trước cái đúng cái sai, cái thật cái giả.   Với bộ SGK mới có tính chất tham khảo, Nhóm Cánh Buồm có tham vọng trình bày một cách cụ thể, sinh động những vấn đề khó hiểu nhất của công cuộc Cải cách Giáo dục.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục cần cho ai?      Dư luận đã dấy lên những cuộc tranh cãi sau thông tin Sách công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại bị Hội đồng thẩm định quốc gia đánh giá không đạt. Một số ủng hộ cách đánh giá của Hội đồng thẩm định, một số khác phản đối khi cho rằng tại sao lại gạt bỏ một bộ sách đã được áp dụng 40 năm, ở nhiều địa phương, thể hiện nhiều ưu việt; thậm chí có ý kiến còn đòi thẩm định lại trình độ, tư cách của Hội đồng thẩm định.         Sách Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều.  Từ góc nhìn của người có hơn 50 năm nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, chúng tôi xin được bàn góp về vấn đề trên.  Nước ta là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Trên lãnh thổ Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, nói gần 100 thứ tiếng khác nhau. Tiếng Việt được xác định là ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức, ngôn ngữ phổ thông đối với mọi công dân thuộc thành phần dân tộc khác nhau. Học, trau dồi tiếng Việt là quyền lợi và trách nhiệm của mọi công dân thuộc dân tộc khác nhau. Tiếng Việt có vị trí quan trọng đối với đồng bào dân tộc thiểu số nhưng hiện nay, trình độ sử dụng tiếng Việt trong dân tộc thiểu số không cao. Theo tài liệu Điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015, chỉ có 79 % người dân tộc thiểu số biết đọc, biết viết tiếng Việt. Tỷ lệ này ở một số dân tộc sống ở vùng xa vùng sâu chỉ dưới 50 %: Ví dụ La Hủ 34,4%, Hmông 46,6 %, Brâu 48,2 % Cơ Lao 49,8% Hà Nhì 50,5%.  Xét về mặt tâm lí sư phạm, việc học đọc, học viết tiếng Việt đối với học sinh người Kinh, khác đối với học sinh người dân tộc thiểu số. Đối với học sinh người Kinh, học đọc – viết tiếng Việt là học đọc – viết tiếng mẹ đẻ. Đối với học sinh dân tộc thiểu số học đọc – viết tiếng Việt là học đọc – viết ngôn ngữ thứ hai. Khi học sinh người Kinh, 6 tuổi, học lớp 1, thì năng lực tiếng Việt đã khá tốt: có khả năng thụ cảm (nghe-hiểu) và tạo sản (phát âm) các âm vị tiếng Việt, có thể hiểu nghĩa cơ bản và cách dùng hàng nghìn từ, nắm được các quy tắc ngữ pháp cơ bản và vận dụng chúng trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau (ngữ dụng). Việc dạy các em học đọc – viết là việc chỉ dạy cho các em mối liên hệ của âm (âm vị, tiếng (âm tiết) đã có trong tâm thức các em và các kí tự (biểu hiện hình chữ, tiếp nhận bằng mắt của âm vị) và quy tắc kết hợp các kí tự thành âm tiết (tiếng), từ (về mặt chữ viết). Đối với trẻ em người Kinh không nhất thiết phải day cách phát âm âm vị, âm tiết. Việc dạy đọc-viết tiếng mẹ đẻ không cần thiết phải xuất phát và đi sâu vào các khái niệm ngữ âm học. Càng không nên dạy cách đọc cách viết các tiếng “chân không nghĩa”. Cần dạy các em đọc – viết các tiếng có nghĩa, vốn là bối cảnh tồn tại và khu biệt các âm vị; nhờ vậy, các em học và nhớ được cách đọc – viết các âm vị trong các bối cảnh ngữ âm – âm tiết (tiếng) khác nhau. Đồng thời, đây là cách để củng cố và phát triển vốn từ vựng của học sinh. Theo cách này, dần dần dạy các em quy tắc đọc – viết các đơn vị ở bậc cao hơn là từ, ngữ, câu. Cũng như không cần thiết dạy đọc – viết thông qua các hình khối có màu sắc, tròn méo khác nhau, vốn là cách dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ và ngôn ngữ. Học tiếng mẹ đẻ là học từ cha mẹ các thói quen và rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Do vậy, trong sách dạy đọc – viết tiếng mẹ đẻ, thay cho việc dạy các tri thức ngữ âm học, cần tăng cường rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.  Tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số không phải là tiếng mẹ đẻ, mà là ngôn ngữ thứ hai. Các em học tiếng Việt khi trong tâm thức các em, hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp ngôn ngữ mẹ đẻ đã hình thành và tiếp tục được bổ sung, phát triển. Tiếng Việt và ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam có một số đặc điểm đồng nhất, nhưng có nhiều nét khác biệt. Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ Mường, Tày, Thái, Hmông, Dao là ngôn ngữ đơn tiết, có thanh điệu, trong khi các ngôn ngữ như Chăm, Khmer, Ê Đê, Gia rai, Kơ ho, Ba na, Xơ Đăng… là những ngôn ngữ tựa song tiết, không có thanh điệu. Theo các nhà tâm lí ngôn ngữ, đặc điểm của quá trình học ngôn ngữ thứ hai là, khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, trong đầu người học, một cách vô thức, luôn xảy ra sự đối chiếu so sánh giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai, làm nảy sinh các hiện tượng giao thoa, chuyển di tích cực và tiêu cực. Do vậy, phương pháp dạy-học ngôn ngữ thứ hai khác với dạy học tiếng mẹ đẻ.      Sách tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục dạy sâu về ngữ âm học có thể không thích hợp đối với học sinh người Kinh nhưng có thể phát huy tác dụng với học sinh dân tộc thiểu số. Sách đã được thực tế thẩm định, vậy nên tiếp tục trao quyền ấy cho ‘cuộc sống’ thay vì một mệnh lệnh hành chính.      Đối với học sinh lớp một người dân tộc thiểu số, bắt đầu học đọc – viết tiếng Việt, khi trong tâm thức trẻ chưa có hệ thống ngữ âm – âm vị học tiếng Việt. Chương trình và sách giáo khoa tiếng Việt có nhiệm vụ không chỉ giúp các em nắm được mối tương quan giữa các âm vị và kí tự tiếng Việt, mà còn hướng dẫn các em cách phát âm đúng các âm vị và kết hợp các âm vị thành âm tiết có nghĩa – tiếng. Đối với học sinh người Hmông, việc phát âm đúng các âm tiết có âm cuối tắc vô thanh rất khó khăn. Còn đối với học sinh người Khmer, Ba Na, Chăm, Ê Đê, Raglai…, việc phát âm đúng 6 thanh điệu tiếng Việt là thách thức lớn.    Các em học sinh dân tộc thiểu số tại Gia Lai. Ảnh: Báo Gia Lai.  Do vậy, việc cung cấp cho học sinh lớp 1 người dân tộc thiểu số, những hiểu biết chi tiết, ngọn ngành về ngữ âm tiếng Việt là cần thiết. Ngoài ra, có thể cung cấp cho các em các tri thức tương đối sâu về ngữ âm học (khái niệm âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối), tạo cơ sở cho qua trình đối chiếu so sánh, dù là vô thức giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong tư duy học sinh dân tộc thiểu số.  Như vậy, việc sách tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục dạy sâu về ngữ âm học có thể không thích hợp đối với học sinh người Kinh, lại có thể phát huy tác dụng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Cũng như vậy, việc dạy các em đọc – viết thông qua các khối hình tròn, méo (vốn là phương pháp các nhà sư phạm Xô-viết dùng để dạy trẻ em chậm phát triển tư duy, ngôn ngữ), có thể không cần thiết khi dạy học sinh có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, phát triển tâm thần kinh bình thường, lại hữu dụng khi dạy đọc – viết tiếng Việt cho đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số. Bởi vì, xét về phương diện tâm lí sư phạm, có thể xem trẻ em dân tộc thiểu số cũng gặp khó khăn như trẻ chậm phát triển các kĩ năng nghe – nhận (hiểu) – nói (đọc) – viết tiếng Việt.  Những điều chúng tôi phân tích ở trên mang tính lí thuyết, dường như đã được kiểm nghiệm qua thực tế. Theo báo Thanh Niên, “một lãnh đạo phụ trách tiểu học của Sở GD-ĐT Lào Cai, cho hay, với học sinh dân tộc thiểu số thì việc học tiếng Việt gần như là học ngôn ngữ thứ hai. Thực tế này khiến cho việc dạy tiếng Việt rất vất vả nếu dạy theo cách đại trà. Trong khi đó, khi thí điểm áp dụng Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục thì các em nắm rất chắc về ngữ âm, học đến đâu chắc đến đó, rất hiếm khi học sính sai lỗi chính tả. Lào Cai áp dụng Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục với gần như 100% vì thực tế cho thấy đó là phương pháp phù hợp với học sinh của mình. Tuy nhiên, những thành phố lớn như Hà Nội thì không sử dụng phương pháp này vì thấy việc thực hiện SGK tiếng Việt đại trà học sinh được luyện nhiều kỹ năng hơn…”. Do đó, dù Hội đồng thẩm định đánh giá ‘không đạt’ nhưng nhiều ý kiến cho rằng, sách công nghệ của GS Hồ Ngọc Đại, đặc biệt là cuốn Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục, đã được thực tế thẩm định, vậy nên tiếp tục trao quyền ấy cho ‘cuộc sống’ thay vì một mệnh lệnh hành chính.  Với tư cách là người có nhiều năm nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tôi ủng hộ đề xuất trên. Trong bối cảnh có nhiều sách giáo khoa, phù hợp với học sinh từng vùng, miền thì dù đang trong chủ trương thống nhất một chương trình, chúng ta nên dùng bộ sách này cho các địa phương vùng sâu vùng xa, nơi có học sinh là người dân tộc thiểu số là hợp lý, tuy nhiên sách nên được thảo luận và nhận góp ý từ các nhà chuyên môn ngôn ngữ và giáo dục.    Author                Nguyễn Văn Lợi        
__label__tiasang Sao lại là một Cánh Buồm?      Đối thoại giữa Tia Sáng với nhà giáo Phạm Toàn, đại diện nhóm Cánh Buồm.     Tia Sáng: Chúng tôi muốn tổ chức một Hội thảo khoa học giới thiệu tư tưởng và công việc có phần khác lạ của nhóm Cánh Buồm… Vậy xin được cho biết: sao lại là Cánh Buồm?    Nhà giáo Phạm Toàn: Sao lại là Cánh Buồm? Chính chúng tôi lắm khi cũng tự hỏi như vậy… Nhưng có lẽ đó là một liên tưởng đến từ nhà thơ Nga Lermontov … Cánh buồm trong bão tố, Sóng gió chốn bình yên…  Nghĩ rằng âm chủ trong nhóm Cánh Buồm có lẽ là sự lãng mạn chăng?   Liệu sự lãng mạn có còn chỗ đứng vào thời nay?   Không riêng gì Tia Sáng … Nhiều ý tưởng cất lên trong bóng tối cũng “thắc mắc” với Cánh Buồm hệt như thế! Thật lạ! Chính thời nay mới là thời của sự lãng mạn chứ nhỉ? Thời nay, sự lãng mạn tích cực đi kèm với năng lực thực thi điều này ở vào thời đại khác chỉ là mơ mộng hão.   “Sự lãng mạn tích cực?”  Mơ mộng cũng lãng mạn và có nhiều lúc cũng cung cấp cho xã hội nhiều ý kiến. Nhưng, trong cuộc sống, chúng ta cần phân biệt giữa ý kiến và tri thức. Nhà báo hãy để ý coi: mỗi ngày bây giờ xuất hiện cả trăm ý kiến về “cải cách” giáo dục. Nhưng thử hỏi có bao nhiêu ý kiến mang tính chất những tri thức về giáo dục? Để hiểu cho đúng, xin nói thêm: chỗ khác nhau giữa ý kiến và tri thức là ở chỗ chỉ tri thức mới may ra thành được hiện thực, còn ý kiến thì … ngồi đâu chả có ý kiến được!  Xin hỏi lại, vậy có thước đo gì cho sự “lãng mạn tích cực” ấy?   Thước đo là: (a) có một ý tưởng và ý tưởng đó phải được bảo lãnh bằng giải pháp thực thi; (b) có một giải pháp thực thi và giải pháp đó phải được chứng minh là đã có cọ sát trong thực tiễn; (c) có một sự cọ xát trong thực tiễn và sự cọ xát đó phải dẫn tới những thay đổi năng động– ngay những biện pháp tiên tiến nhất cũng cần thay đổi để được tốt hơn lên mãi mãi… Chính vì thế nhóm Cánh Buồm nói mình góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại hóa chứ không nói như đinh đóng cột, chẳng hạn đến ngày nào năm nào thì “xây dựng xong”…    Vậy thế nào là hiện đại hóa theo ý Cánh Buồm?   Đất nước hiện đại hóa sẽ thông qua công nghiệp hóa. Nền công nghiệp được xây dựng sẽ tạo ra ba loại sản phẩm xã hội cho hiện đại hóa, một là những sản phẩm công nghiệp cho người dân sung túc, hai là cách sản xuất theo dây chuyền và theo thiết kế, và ba là tính kỷ luật công nghiệp – một thứ kỷ luật hoàn toàn kết hợp được tính chất tự nhiên và tính chất có ý thức của con người.   Giáo dục cũng thế. Không thể nói như đinh đóng cột ngày nào năm nào nước ta sẽ có nền giáo dục hiện đại! Nước ta thừa hưởng di sản giáo dục lối giảng giải khuyên bảo đã quen rồi. Chữa được cái tật đó thì mới bắt đầu hiện đại hóa. Vì giáo dục hiện đại không phải là cho con em đào tẩu ra học ở nước ngoài càng sớm càng tốt, cũng không phải là sắm thiết bị dạy học đắt tiền cầu kỳ. Nền giáo dục hiện đại có cơ sở là năng lực tự học và tự giáo dục của chính người học.   Tại sao Cánh Buồm tập trung sức vào bậc tiểu học?   Đó là bậc học khó nhất, vì đó là bậc giáo dục trẻ em phương pháp học. Chúng ta chưa thấy nhà giáo dục nào của nước nhà nói năng cho mạch lạc về bậc tiểu học cả. Ý tưởng chưa rõ, nên sản phẩm lộn xộn, lung tung… khi người ta nói bóng bẩy tới cái cặp đi học nặng trĩu trên lưng thì đem cân cái cặp sách lên để thanh minh. Cái “nặng” người ta kêu là ở cách học, lại nghĩ là ở khối lượng kiến thức, nên hấp tấp kêu gọi “giảm tải”!  Theo Cánh Buồm, phương pháp là gì?  Câu trả lời của Cánh Buồm rất ngắn gọn: phương pháp nằm trong cách làm ra sản phẩm. Vậy là, việc đầu tiên là phải thay đổi cách hiểu: điều cần lo đầu tiên không phải là phương pháp giảng dạy mà là cách làm mà học – cách làm thì học, chúng tôi hiểu và dịch khái niệm learning by doing như vậy. Tiếp đó, phải xem các sản phẩm ở bậc tiểu học là gì. Sản phẩm quan trọng nhất là cái phần tư duy bên trong mỗi em bé học sinh. Sản phẩm trong đầu các em ở cuối bậc tiểu học là một cách tư duy mới, cách tư duy khoa học, cách tư duy trừu tượng. Tư duy ấy không thể nhồi nhét nhờ những lời khuyên và nhờ những ve vuốt dạng con ơi muốn nên thân người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru … Nếu chỉ dùng lời nói mà có tư duy mới thì quá ngon lành! Tạo ra một tư duy mới khó hơn thế nhiều!  Giải pháp của Cánh Buồm?  Giải pháp nằm trong bộ sách chúng tôi đưa ra làm mẫu cho cả xã hội nghiên cứu và dùng thử. Qua môn Văn thì tạo ra tư duy nghệ thuật nhờ một bộ ngữ pháp nghệ thuật. Qua môn Tiếng Việt thì tạo ra tư duy ngôn ngữ học nhờ một hệ thống việc làm giáo viên dắt dẫn các em tự đi tìm ngữ âm học, từ vựng học, cú pháp và văn bản học… Qua môn Lối sống tạo ra tư duy đồng thuận nhờ một chuỗi việc cùng làm để tổ chức cuộc sống ngay ngày hôm nay của chính các em. Qua môn Tiếng Anh tạo ra tư duy của người tìm đường thâm nhập một nền văn hóa xa lạ nhờ một hệ thống việc làm mô phỏng lại cách nói năng, cách phát âm, cách dùng từ, cách thông tin, cách thể hiện tư tưởng và tình cảm của chính người bản địa. Qua môn Khoa học-Công nghệ tạo ra tư duy thực chứng bằng một hệ thống việc làm thực nghiệm …   Không thấy Cánh Buồm giới thiệu môn Toán?  Cánh Buồm có ít người, nên chỉ tập trung làm những việc nào khó làm nhất. Phải đi vào chỗ khó nhất… Nói thêm: sau khi xong sách tiểu học chúng tôi tập trung làm công việc sư phạm hóa các tài liệu đó… ngoài ra trọng tâm là soạn tài liệu giáo khoa dạy Khoa học lịch sử… Và một số thành viên già mới gia nhập nhóm Cánh Buồm của chúng tôi sẽ dịch những tài liệu tâm lý học cơ bản mà bảy chục năm nay các nhà tâm lý học chẳng chịu làm.     Tóm lại là …?  Một nhóm người chúng tôi sẽ làm mẫu không trên ý nghĩa là làm gương mà trên ý nghĩa gợi ý, kích hoạt … Xã hội sẽ vượt chúng tôi. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn những gì chúng tôi đang mơ ước.     PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sắp ra mắt Tủ sách Góc nhìn Sử Việt      Bảy cuốn sách đầu tiên trong Tủ sách Góc nhìn Sử Việt của AlphaBooks sẽ ra mắt trong tháng Năm và tháng Sáu tới.    Đó là các cuốn:   Nữ tướng thời Trưng Vương của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương (1922), con trai trưởng của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.   Trần Hưng Đạo và  Quang Trung của Hoàng Thúc Trâm (1902-1977), hay Hoa Bằng, người từ những năm 1920 đã có tác phẩm xuất hiện trên các báo như Nước Nam, Thế giới, Tân văn, Tiểu Thuyết thứ Bảy, Tri tân, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Thanh Nghị,… (ở Hà Nội), Tân văn, Thế giới (ở Sài Gòn).   Phan Đình Phùng và  Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 của Đào Trinh Nhất (1900-1951), người được giới cầm bút đánh giá là có “cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam”.  Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống (1904-1949) – nhà văn, nhà báo, dịch giả và nhà cách mạng.   Việt Pháp bang giao sử lược của Phan Khoang (1906-1971) – nhà sử học, nhà giáo và nhà báo, người từng làm chủ bút các báo Bình Minh, Trách Nhiệm, Vì Dân ở Huế.  Góc nhìn Sử Việt là một dự án của AlphaBooks nhằm tái bản những tài liệu, thư tịch cổ của những tác giả vang bóng một thời, và hơn hết xây dựng một nguồn tài liệu đa dạng và chất lượng dành cho những người yêu thích nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử, văn hóa của dân tộc.   Dự kiến dự án gồm ba giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu (2 năm) sẽ tái bản những cuốn sách kiến thức phổ thông với độ dài khoảng 300 trang, phù hợp với phần lớn bạn đọc; giai đoạn 2 (2 năm) sẽ tái bản những bộ sách đồ sộ, có giá trị nghiên cứu cao, đặc biệt là nguồn tài liệu tham khảo nghiên cứu cho chuyên gia, sinh viên và bạn đọc muốn tìm hiểu sâu hơn về lịch sử văn hóa dân tộc; còn giai đoạn 3 sẽ tái bản, dịch những thư tịch cổ Hán- Nôm.       Author                Quản trị        
__label__tiasang SAT có công bằng không?      Được xem là kỳ kiểm tra đánh giá chất lượng sinh viên đầu vào lớn nhất ở Mỹ, nhưng ngày nay, tính khách quan của SAT đang gây ra nhiều tranh cãi.    Lịch sử hơn 100 năm…  SAT được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1901, khi phương pháp và chương trình giảng dạy ở các trường trung học giữa các bang và ngay trong một bang của Mỹ cũng có thể  rất khác nhau, đòi hỏi phải có một kỳ kiểm tra chuẩn hóa việc đánh giá sinh viên đầu vào cho các trường đại học. SAT do Tổ chức Kiểm định Giáo dục (Educational Testing Service- ETS) chịu trách nhiệm các khâu xây dựng nội dung, in ấn đề thi, và chấm điểm. Việc chiêu sinh được giao cho một công ty tư nhân khác là College Board. ETS là tổ chức kiểm định giáo dục phi lợi nhuận lớn nhất thế giới, với ngân sách hoạt động hằng năm khoảng 900 triệu USD, phần lớn nhờ vào việc tổ chức các kỳ thi như SAT, TOEFL, GMAT…  Mặc dù tên viết tắt của kỳ thi từ ngày ra đời đến nay vẫn là SAT, nhưng tên gọi đầy đủ của nó trên thực tế đã thay đổi đến ba lần. SAT ban đầu được hiểu là Scholastic Achievement Test, hàm ý đánh giá trình độ của sinh viên đầu vào. Khi đó, chủ yếu chỉ có các trường đại học ở phía đông bắc nước Mỹ sử dụng kết quả thi SAT để xét tuyển sinh viên. Năm 1941, sau những bước phát triển đáng kể, College Board quyết định đổi tên kỳ thi thành Scholastic Aptitude Test- đề cao việc đánh giá năng lực, thiên hướng của thí sinh. Đây cũng là tên gọi được sử dụng lâu nhất của SAT. Những năm 1950 và 1960, SAT bắt đầu trở nên phổ biến ở khắp nước Mỹ và được biết đến cả ở nước ngoài.  Thành công của một số tổ chức luyện thi SAT như Kaplan và Princeton Review buộc College Board phải một lần nữa thay đổi tên gọi của kỳ thi: Năm 1990, kỳ thi chính thức mang tên Scholastic Assessment Test như một lời thừa nhận rằng, đây chỉ là kỳ thi đánh giá kết quả học tập mà thí sinh hoàn toàn có thể giành điểm cao nhờ luyện thi tốt, chứ không còn là thước đo năng lực, thiên hướng như ý nghĩa ban đầu. Điều này bị xem là một bước lùi về mặt lý thuyết của SAT.  Tuy nhiên, mọi chuyện vẫn chưa dừng lại ở đó. Nhiều người cho rằng, khái niệm “assessment test” là quá rườm rà, và cuối cùng, tên gọi của kỳ thi chỉ còn là SAT một cách hoàn toàn trung tính, sau lời tuyên bố của College Board vào năm 1996: “Xin lưu ý mọi người rằng, SAT không phải là từ viết tắt, đằng sau nó không là cụm từ nào cả.”  Việc đăng ký dự thi SAT, không chỉ với thí sinh Mỹ mà cả với thí sinh nước ngoài đều rất dễ dàng và thuận lợi. Thí sinh chỉ cần đăng ký trước ngày thi ba tuần- qua mạng, bằng đường bưu điện hoặc gọi điện thoại. Ngày thi, địa điểm thi và môn thi đều có thể thay đổi hoặc hoãn, tất nhiên thí sinh sẽ phải trả phí cho những phát sinh này, chẳng hạn: thay đổi ngày thi, địa điểm thi, môn thi: 20 USD, hoãn thi: 36 USD. Một số thí sinh cho rằng, phí thi SAT khá cao, nhưng cũng nên biết, những thí sinh chứng minh được rằng mình đang gặp khó khăn về tài chính, hoàn toàn có thể được dự thi miễn phí.  Thông thường, College Boarf tổ chức thi SAT vào tháng 10, 11, 12, 1, 3 (hoặc 4), 5 hằng năm, trong đó một số kỳ được ấn định vào ngày thứ bảy đầu tiên trong tháng. Tuy nhiên, những thí sinh vì lý do tôn giáo (như trường hợp người Do Thái với lễ Sabbath- ngày thứ bảy trong tuần khi mà họ chỉ làm những việc tín ngưỡng và nghỉ ngơi, không được làm bất kỳ việc gì có tính vụ lợi), có thể đăng ký để xin lùi ngày thi sang ngày chủ nhật sau đó. Khoảng hai tuần rưỡi sau khi thi, thí sinh có thể xem kết quả bài thi trên mạng mà qua đó, họ không chỉ biết cụ thể số điểm nhận được từ các câu trả lời đúng, số điểm bị trừ đi từ các câu trả lời sai mà còn được thông báo có bao nhiêu người đạt điểm thấp hơn mình.    Những lời chỉ trích  Như đã nói ở trên, do sự khác biệt về giáo dục giữa các bang của nước Mỹ, và do chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế của từng bang- ở những bang giàu có, điều kiện học tập cũng tốt hơn – cho nên ngay từ khi ra đời, SAT đã đặt mục tiêu là tạo cơ hội học tập bình đẳng cho các nhóm dân cư qua bài kiểm tra mang tính khách quan. Thế nhưng, ngày nay, nhiều ý kiến cho rằng, SAT đang thiên vị phái nam và người da trắng. Người ta từng đưa ra nhiều bảng biểu để chứng minh cho lời chỉ trích này.  Một thí dụ nổi tiếng thường được viện dẫn để minh họa là trường hợp của câu hỏi loại suy (suy luận từ những sự việc, sự vật giống nhau) sau đây: Hãy tìm cặp từ có mối quan hệ gần nhất với mối quan hệ giữa runner-marathon (vận động viên chạy đua-cuộc thi marathon). Trong phần trả lời, đáp án oarsman-regatta (người chèo thuyền-cuộc đua thuyền) đã bị nhiều thí sinh bỏ qua. Theo một thống kê, trong khi có 53% thí sinh da trắng trả lời đúng thì chỉ có 22% thí sinh da đen trả lời đúng. Câu hỏi này bị chỉ trích vì người ta cho rằng đáp án đúng của nó liên quan đến một môn thể thao chỉ phổ biến trong giới những người có thu nhập tương đối cao.  Không chỉ các câu hỏi loại suy (analogy), mà một số câu hỏi dạng chọn đáp đúng trong số các đáp án cho sẵn (multiple choice) cũng bị chỉ trích là mập mờ, nước đôi, dễ gây hiểu nhầm.  Năm 2001, trong một bài phát biểu trước Hội đồng Giáo dục Mỹ, Richard C. Atkinson, Chủ tịch của ĐH California, đã kêu gọi chấm dứt việc coi kết quả thi SAT I (Reasoning Test) như một yếu tố xét tuyển sinh viên: “Bất kỳ ai ở trong ngành giáo dục cũng nên tìm hiểu xem, việc quá nhấn mạnh kỳ thi SAT đang gây ra hậu quả học lệch như thế nào, bao nhiêu người cho rằng SAT là không công bằng, và nó đồng thời đang tác động xấu đến khả năng tự đánh giá cũng như động cơ học tập của học sinh ra sao. Ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng, việc quá đề cao kỳ thi SAT có thể làm hỏng nền giáo dục Mỹ.” và “Năm 1996, College Board tuyên bố ‘SAT’ là ‘SAT’, và các chữ cái không còn là chữ viết tắt nữa. Cái trò tu từ này chẳng những không giải quyết được vấn đề mà còn làm cho mục đích của bài thi SAT càng trở nên bí hiểm”.  Trong một bài báo trên tờ The New York Times, Giáo sư Les Perelman của Học viện Kỹ thuật Massachusettes (MIT) viết, ông thậm chí còn có thể vẽ biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa độ dài và điểm số của các bài luận trong SAT. Mối tương quan này rõ ràng tới mức, như ông cho biết, không cần đọc mà chỉ cần nhìn qua độ dài của bài luận, ông cũng có thể đoán chính xác số điểm thí sinh sẽ nhận được. Và xác suất đoán trúng của ông lên tới 90%!  Đáp lại những lời chỉ trích, College Board thông báo sẽ thay đổi cơ cấu bài thi của SAT. Bắt đầu từ tháng 3/2005, trong đề thi SAT, một số loại câu hỏi đã được hạn chế, riêng câu hỏi loại suy thì hoàn toàn biến mất. SAT cũng được bổ sung thêm một phần thi viết luận kéo dài 25 phút nhưng không tính điểm mà chỉ coi đó như phần tham khảo thêm của người chấm điểm. Theo kết quả điều tra tại 374 trường cao đẳng và đại học do Công ty Kaplan tiến hành, 58% số trường được hỏi cho biết họ sẽ sử dụng bài luận này để đánh giá việc các sinh viên có nhận được sự giúp đỡ nào từ bên ngoài trong các bài luận gửi kèm hồ sơ xin học hay không, trong trường hợp họ thấy có dấu hiệu thiếu nhất quán về trình độ viết của học sinh; 13% cho biết họ sẽ so sánh các bài luận của tất cả những người xin học.  … và ACT – một đối thủ cạnh tranh  Hiện nay, hơn 700 trường đại học ở Mỹ không xem SAT I như một điều kiện bắt buộc, và ngày càng quan tâm hơn đến các yếu tố khác có thể giúp họ đánh giá năng lực của sinh viên đầu vào. Một số trường đại học còn khuyến khích sinh viên đăng ký nhập học thi ACT (American College Test). Giống như SAT, ACT cũng là kỳ thi đánh giá chất lượng sinh viên đầu vào, bắt đầu nổi lên như một đối thủ cạnh tranh của SAT từ năm 1959. Nhưng khác với SAT, ACT không trừ điểm của những câu trả lời sai, vì vậy khuyến khích thí sinh trả lời tất cả các câu hỏi. Theo đánh giá của Kaplan và Princeton Review, đề thi của ACT gần với kiến thức cơ bản của học sinh hơn, và các câu hỏi cũng rõ ràng hơn, hay nói cách khác, ít gây hiểu nhầm hơn. Số thí sinh dự thi ACT đang có chiều hướng ngày càng tăng, và hiện cũng gần bằng số thí sinh thi SAT (khoảng hơn ba triệu lượt mỗi năm). Phần lớn các trường đại học ở Mỹ xem kết quả thi SAT và ACT có giá trị như nhau. Thậm chí trước kia, một số trường ở khu vực giữa miền tây chỉ nhận xét điểm thi ACT. Trong khi đó, phần lớn các trường đại học ở miền duyên hải vẫn đề cao kết quả thi SAT hơn.  T.T      Nguồn tin: www.wikipedia.org và một số tài liệu khác    Author                Quản trị        
__label__tiasang SAT- cuộc tuyển chọn sinh viên toàn cầu      Có một kỳ thi kiểm tra chất lượng đầu vào đại học mà thí sinh ở mọi nơi trên thế giới đều có thể tham gia với số lần không hạn chế. Đó là kỳ thi SAT (School Attitude Test) của Mỹ, cũng đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam (VN).    “Cửa khẩu” đầu tiên  Ở Mỹ không có kỳ tuyển sinh vào đại học như ở VN. Thay vào đó, một trong những tiêu chí để các trường quyết định nhận học sinh vào học là điểm thi SAT. Kỳ thi do Tổ chức Kiểm định giáo dục (Educational Testing Service- ETS), một tổ chức độc lập, đứng ra chịu trách nhiệm.  SAT được tổ chức mỗi năm 7 lần ở Mỹ và Puerto Rico, 6 lần ở nhiều nước trên thế giới, với nội dung và ngày thi như nhau. Vì vậy, học sinh có thể đăng ký dự thi vào những thời điểm thuận lợi nhất cho mình, đồng thời có thể thi nhiều lần để lấy điểm cao. Thường thường, các học sinh đăng ký dự thi SAT vào những năm cuối bậc THPT để có sẵn điểm chuẩn bị cho việc nộp đơn vào đại học.  Những người (từ 13 tuổi trở lên) muốn tham gia thi SAT có thể đăng ký trên mạng www.collegeboard.com (trừ 8 nước Kenya, Nigeria, Benin, Togo, Ghana, Cameroon, Ấn Độ, và Pakistan bắt buộc phải đăng ký dự thi qua đường bưu điện). Lệ phí thi- khoảng hơn 40 USD đối với thí sinh Mỹ và 60USD đối với học sinh nước ngoài mỗi kỳ, có thể thanh toán qua thẻ tín dụng hoặc trả bằng séc.  Ngoài điểm thi SAT, học sinh quốc tế muốn đến học đại học ở Mỹ còn phải có điểm xác định trình độ tiếng Anh qua kỳ thi TOEFL. Điểm sàn TOEFL do mỗi trường tự quy định, thường từ 550/677 trở lên.  Khi một điểm thi SAT được mở ra, dù chỉ có một thí sinh đăng ký dự thi thì cứ ngày giờ đã định, cuộc thi vẫn được tổ chức. Kết quả thi SAT được bảo lưu 5 năm, và ngày nay, nhiều trường đại học ở Australia, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Singapore, Thailand… sử dụng nó như một công cụ đánh giá chất lượng sinh viên.  So với kỳ thi đại học ở VN vẫn gây ra cho bản thân thí sinh và gia đình các em bao nhiêu căng thẳng thì SAT có lẽ là một hình ảnh trái ngược. Nếu kỳ thi đại học ở VN khiến các thí sinh dễ liên tưởng đến một cuộc đấu mà phần lớn người tham gia sẽ bị loại không thương tiếc thì với SAT, các thí sinh không bao giờ thấy mình mất hết cơ hội, còn nhà tổ chức đàng hoàng thu về một khoản tiền không nhỏ từ lệ phí thi.  Viện Giáo dục quốc tế (IIE) là nơi đầu tiên thay mặt ETS tổ chức thi SAT ở VN vào cuối năm 1999. Trước đó, người VN muốn thi SAT đều phải sang Thailand.  Chị Hoàng Thanh Lê, cán bộ chương trình thi thuộc IIE cho biết, nếu không có tham vọng xin học bổng thì học sinh chỉ cần thi SAT I (Reasoning Test), gồm các nội dung: đọc chuyên sâu, viết luận, và toán (trong đó có cả số học, đại số, hình học và xác suất thống kê). Tuy nhiên, nếu muốn giành học bổng, học sinh gần như bắt buộc phải tham gia thêm kỳ thi SAT II (Subject Test) với tất cả 18 môn học khác nhau như văn học, lịch sử (bao gồm lịch sử Mỹ và lịch sử thế giới), toán (bao gồm Toán I và Toán II), lý, hoá, sinh, ngoại ngữ (bao gồm tiếng Trung, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hebrew hiện đại, Ý, Latin, Nhật, Hàn) để lựa chọn, thường là tuỳ theo yêu cầu của trường mà thí sinh nộp hồ sơ. Mỗi kỳ, thí sinh có thể đăng ký tham gia thi tối đa là 3 môn.  Chị Lê cho biết, năm đầu tiên IIE tổ chức thi SAT ở VN, chỉ có khoảng 45-50 thí sinh tham gia, thi tại một điểm duy nhất ở Hà Nội. Nhưng đến năm 2005, đã có khoảng 180-200 thí sinh tham gia các kỳ thi SAT do IIE tổ chức; cộng với số thí sinh dự thi tại ba điểm thi khác của Trường quốc tế UNIS (Hà Nội), Trường quốc tế Sài Gòn, và Trường quốc tế Nam Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh), số thí sinh thi SAT ở VN đã lên đến 550-600 người.  Chưa phải “cửa khẩu” cuối cùng  SAT là “cửa khẩu” đầu tiên để đến trường đại học ở Mỹ nhưng chưa phải là “cửa khẩu” cuối cùng. Thực tế cho thấy, kết quả thi SAT không quyết định 100% việc học sinh được nhận vào đại học, nhất là với những trường có tiếng. Ngoài việc xét điểm thi SAT, các trường đại học ở Mỹ còn tính đến nhiều yếu tố khác như thành tích học tập, hoạt động ngoại khóa, thư giới thiệu.  Lưu Hiên, một cựu sinh viên trường Harvard đã kể lại rất sinh động việc xét tuyển hồ sơ vào đại học trong cuốn “Nhân sinh phiêu bạt” như sau: “Xét chọn vào đại học! Trời ơi! Cũng là cơn ác mộng! Một chồng hồ sơ dày, trong đó có cả giấy khen hồi cấp một, ảnh chụp tại lớp học bơi hồi cấp hai, một bài báo nhỏ được tờ báo của tiểu khu đăng, băng ghi âm buổi biểu diễn ca nhạc năm ngoái, chứng nhận làm việc công ích của viện dưỡng lão… Ngoài ra, phải trả lời đủ mọi loại câu hỏi quái dị của các trường đại học. Ví dụ như trường hợp của tôi:  Trường Harvard: ” Liệt kê những cuốn sách bạn đọc trong một năm gần đây, bạn mới đọc cuốn tạp chí nào”?  Đại học Pennsylvania:  A. Nếu được ăn tối với một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử hay truyền thuyết, còn sống hay đã chết, thì bạn chọn ai? Vì sao?  B. Bạn vừa viết xong cuốn tự truyện ba trăm trang, xin gửi cho chúng tôi trang 27!  Đại học Princeton:  A. Trả lời ngắn gọn những câu hỏi dưới đây (Đừng căng thẳng đến mất ngủ). Cuốn sách yêu thích nhất? Bản nhạc yêu thích nhất? Hoạt động yêu thích nhất? Bộ phim yêu thích nhất? Câu nói yêu thích nhất? Loài vật đáng yêu nhất? Giờ nào trong ngày tốt nhất? Môn học yêu thích nhất? Danh ngôn yêu thích nhất? Hay nghe tin tức nào nhất?  B. Khi bạn thích ai, bạn chú ý đến đặc điểm nào của người đó?  Đại học New York: “Có người nói trong tương lai, ai cũng có năm phút để nổi tiếng. Bạn mong muốn năm phút đó sẽ như thế nào”?  Nghe nói có trường còn gửi cho học sinh một tờ giấy trắng, trên đó đề: “Bạn thích viết gì cũng được!” hay “Hành động dũng cảm nhất bạn từng làm!”…    Chuyện về một thí sinh SAT  Năm nay, riêng trường Hà Nội- Amsterdam đã có 13 học sinh được các trường đại học ở Mỹ cấp học bổng toàn phần cho năm học tới. Tất nhiên, các em này đều đã xuất sắc vượt qua kỳ thi SAT. Một trong số đó là em Ngô Phương Thơ, học sinh lớp 12 chuyên Anh- Trung, người được Trường đại học Mount Holyoke (Massachusette) trao học bổng toàn phần năm học 2006- 2007 trị giá gần 46.000 USD.  Thơ cho biết, để giành được học bổng giá trị của ngôi trường nằm trong top 50 của đại học Mỹ này, trước đó, ngay từ đầu năm lớp 12, em đã tham gia đầy đủ hai kỳ thi SAT, thậm chí còn thi SAT II (với ba môn tự chọn là Toán I, Toán II, và Hóa) đến hai lần để đạt được kết quả như ý.  So sánh giữa việc chuẩn bị cho thi SAT và thi đại học ở VN, Thơ cho rằng, có một điểm khác biệt rõ nhất là với SAT, học sinh bắt buộc phải có khả năng tự học. Hiện nay, do số học sinh VN có ý định thi SAT còn khá ít cho nên dịch vụ luyện thi gần như chưa phát triển. Ngay cả các trung tâm ngoại ngữ lớn ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh vẫn còn cân nhắc khá nhiều việc có nên mở lớp luyện thi SAT hay không vì sợ lỗ. Bởi vậy, học sinh VN muốn tham gia thi SAT chỉ còn cách tự tìm sách vở (hiện đã khá sẵn sách luyện thi SAT do các nhà xuất bản trong nước in ấn) và tự học. Ngoài học thêm Anh văn, Thơ cho biết, cô bé không phải học thêm bất kỳ môn gì để phục vụ cho kỳ thi SAT.  Ở Mỹ có khoảng 5.000 trường đại học, bởi vậy việc nộp hồ sơ vào trường nào không hề là sự lựa chọn dễ dàng đối với những người không có khả năng tự quyết. Thơ kể, đầu năm nay, em gửi hồ sơ đến 6 trường đại học và đúng như cựu sinh viên Harvard Lưu Hiên mô tả ở trên, phần viết bài luận để trả lời câu hỏi của các trường “ngốn” thời gian của em nhiều nhất… “Các câu hỏi đều ít nhiều làm em bối rối: “Nếu được mang theo một vật đến trường thì bạn sẽ mang gì?”, “Trường của chúng tôi nổi tiếng bởi sự khác biệt, vậy bạn đã làm gì để tạo ra sự khác biệt trong cộng đồng của mình?”, “Thế giới ngày càng thay đổi nhanh chóng, vậy theo bạn, điều gì ở bạn là không thay đổi?”… Bộ hồ sơ của em có khi nặng tới 200 gr” – Thơ kể.  Thơ cũng cho rằng, việc em tích cực tham gia hoạt động ngoại khoá đã tác động không nhỏ đến quyết định trao học bổng cho em của nhà trường. Biết bơi, biết nhảy, biết võ, biết cả… đi xin tài trợ để làm dạ hội ở trường…- Thơ hoàn toàn có lý do để nghĩ như vậy. Cùng thi SAT năm nay với Thơ có 6 bạn cùng lớp nhưng chỉ có bốn bạn được các trường đại học ở Mỹ nhận, đáng lưu ý là hai bạn còn lại đều có điểm thi SAT cao hơn Thơ.  Cách đây mấy năm, Thơ đã đến hội thảo “Chuyền đuốc” (Passing of the Torch) để được các lưu học sinh trong nhóm VietAbroader hướng dẫn kỹ năng xin học bổng vào các trường đại học của Mỹ. Còn hè này, một mùa hè không vướng bận chuyện thi cử, em sẽ dành nhiều thời gian để tham gia chuẩn bị hội thảo “Truyền đuốc 2006” với tư cách là thành viên ban tổ chức, truyền kinh nghiệm lại cho những bạn có cùng nguyện vọng du học như em.  Đỗ Lập Em      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ mãi chỉ là lời kêu gọi      Ng&#224;y hiến chương c&#225;c nh&#224; gi&#225;o.  Ng&#224;y vui của thầy v&#224; tr&#242; một thời. Chuyện thật. Trăm phần trăm l&#224; thật.     Trong kí ức của tôi, đêm 20. 11 luôn là một đêm mùa thu nhiều gió. Một lũ lau nhau góp mỗi đứa vài hào mua hoa tặng thầy cô. Có mỗi bó hoa, làm gì được gói được bọc trong giấy trang kim sành điệu như bây giờ, thế mà cũng cãi nhau tưng bừng. Ðứa bảo hoa cúc vàng mới là hoa mùa thu, hợp với cô chủ nhiệm đã có tuổi, đứa lại khăng khăng cô giáo sinh mới về thì phải tặng hồng nhung. Lại có đứa phát huy năng lực sáng tạo đòi mua cho cô hoa hồng thạch cao trắng để cô treo tường hay cái thuyền buồm kết bằng phim cũ. Chả có gì, mà thầy và trò phấn khởi. Cô giáo già nhắc con trai bê ra nải chuối, cái thằng học sinh cá biệt ở lớp đến thăm cô 20.11 ra chiều bẽn lẽn, bỏ hết mọi trò nghịch ngầm, rất hồn nhiên bẻ chuối ăn. Rất nhiều năm sau, thầy trò gặp lại, nhắc những ngày vui mà trào nước mắt.  Trong kí ức của tôi có đêm 20.11 năm tốt nghiệp phổ thông, mấy đứa vừa nhận giấy gọi vào đại học kéo đến thăm thầy cũ. Tôi đoan chắc mấy đứa bạn không hiểu vì sao đêm đó đường về tôi im lặng. Thật ra, với tôi, vào sư phạm có phần nào là nghề chọn người chứ không phải người chọn nghề. Giá kể bộ Giáo dục năm đó không có quyết định cho học sinh giỏi toàn quốc vào thẳng đại học, và quan trọng hơn, giá như mẹ tôi lúc đó còn sống để tôi yên tâm mà phiêu lưu, giá như tôi không sợ nỗi bố già thêm khổ thì có lẽ lúc này tôi đã là một nhà báo, nhà ăn hay nhà nghèo gì đó, chứ nhất định không phải là một cô giáo dở (dang) như thế này. Nhưng ngày đó, bốn năm lận đận của cả nước sau một cuộc chiến tranh dài, chăm chăm theo ý thích của mình trong hoàn cảnh gia đình tôi thì quá là ích kỉ. Ðêm 20.11 năm đó, lần đầu tiên tôi thôi thất vọng vì quyết định chọn nghề không phải vì bản thân của mình.  Trong kí ức của tôi có kì họp hội đồng trước ngày 20.11 ở một ngôi trường suốt hai mươi mấy năm qua được coi là xịn nhất thủ đô. Ông giáo già, vâng, lúc đó ông đồng nghiệp của tôi đã sắp hưu rồi tập tễnh đứng lên đề nghị nhà trường yêu cầu ban phụ huynh học sinh đừng đến thăm giáo viên như năm trước. Năm trước đó là năm 1985, với những người từng sống qua thời bao cấp thì đó là một cái mốc không thể nào quên do chính sách giá lương tiền. Ban phụ huynh học sinh trường nào cũng phát huy sáng kiến nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam viện trợ cho các thầy cô. Ông làm cơ quan Lương thực thì liên kết mua hộ trường bánh quy gẫy để liên hoan. Bà làm bên Bách hóa thì xung phong mua hộ vài ba trăm mét vải, cái thứ vải may quần lót cho đàn ông thì mỏng cho đàn bà thì dày. Tóm lại là cha mẹ học trò rất có lòng, còn lòng dạ người thầy thì nhàu nát. Cho đến giờ tôi không quên được cái im lặng sững sờ của cả hội đồng nhà trường khi tiếng ông thầy già, (nhà giáo ưu tú, giáo viên chuyên cực kì nổi tiếng) nghẹn tắc. Hai dòng nước mắt chảy trên má người đồng nghiệp già, người trong thâm tâm tôi kính như thầy. Lúc đó tôi đã có hai năm vào nghề. Hai năm vào nghề, đã trải nhiều vui sướng, vui sướng nhất là được đứng trên bục giảng ngôi trường này, cùng với những thầy cô giáo mà từ hồi đi học tôi đã biết tiếng là rất giỏi, vui sướng vì học trò của trường này cũng được tiếng giỏi nhất Hà Nội. Thế mà tôi đã ớn lạnh khi nghe tiếng nghẹn ngào, khi nhìn thấy giọt nước mắt trên má người thầy già đã qua ba mươi năm dạy học. Cảm giác sợ hãi này chỉ tan đi khi chính trong đêm 20.11 năm đó, từ nhà thầy giáo cũ về, tôi gặp lố nhố trong bóng đêm mất điện chính đám học trò mình mười bảy mười tám, hồn nhiên gọi ông bán bánh mì rong vào mua ăn qua cơn đói và nhất quyết chờ cô.            Ý kiến cải cách giáo dục bắt đầu từ đại học. Không còn gì đúng hơn, vì giáo dục đại học là đầu ra của nguồn nhân lực có tri thức mà các nhà đầu tư nước ngoài kì vọng khi hướng tới Việt Nam. Nhưng đầu ra có thể tốt được không, khi đầu vào là những đứa trẻ mụ mị vì không được chơi theo đúng nghĩa, vì bị nhồi sọ kiến thức, mụ mị vì được chăm lo và không có khả năng chịu trách nhiệm đúng yêu cầu lứa tuổi.          Từ bấy đến nay, chẵn hai mươi năm. Hai mươi năm, ngành giáo dục chẳng khác gì một con bệnh, chẩn đâu cũng thấy chứng tật và về lí thuyết thì bệnh gì cũng chữa ngon lành. Có điều, con bệnh đó chẳng biết bao giờ mới khỏi. Phương thuốc nào cải cách ngành giáo dục dường như cũng rất khả thi, nếu đứng ở từng góc độ mà bàn. Nhưng, cho đến giờ, vẫn chỉ là  nên chăng, cần phải, đề nghị, xem xét…». Trên mặt báo hàng ngày, có thể đọc thấy rất nhiều điều không bao giờ sai. Ví như giáo dục cần chiến lược 20 năm. Nhưng chẳng lẽ chúng ta hi sinh vài ba thế hệ luôn hai mươi năm cho đến ngày đủ điều kiện gây dựng mới. Hay ý kiến cải cách giáo dục bắt đầu từ đại học. Không còn gì đúng hơn, vì giáo dục đại học là đầu ra của nguồn nhân lực có tri thức mà các nhà đầu tư nước ngoài kì vọng khi hướng tới Việt Nam. Nhưng đầu ra có thể tốt được không, khi đầu vào là những đứa trẻ mụ mị vì không được chơi theo đúng nghĩa, vì bị nhồi sọ kiến thức, mụ mị vì được chăm lo và không có khả năng chịu trách nhiệm đúng yêu cầu lứa tuổi.  Nguyên Phó chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng giáo dục Việt Nam Nguyễn Thị Bình vừa nhắc rằng nói tới kinh tế tri thức mà không đề cập tới đạo đức con người là thiếu. Thật ra vấn đề cần phải đảo ngược, đạo đức con người phải được hiểu như điều kiện cần và đủ để xây dựng nền kinh tế tri thức. Mà đạo đức, là biểu hiện chất lượng của toàn bộ những ứng xử xã hội mà đứa trẻ phải được dạy từng ngày, chứ không bóp vào trong khuôn trật tự, vâng lời, gọi dạ bảo vâng… thì, hãy nghiêm túc hỏi nhau: thầy cô ở trường, bố mẹ ở nhà có quan niệm như thế không? Tôi từng có kinh nghiệm khi đi dạy: có học sinh rất giỏi, rất cá tính, chỉ vì ba lần bị ghi sổ đầu bài vì những lí do ấm ớ, thế mà bị hạ hạnh kiểm từ tốt xuống khá một học kì trong sáu học kì ở phổ thông trung học. Và chỉ vì thế thôi, cậu học trò đó đã bị gạt khỏi danh sách đi nước ngoài mặc dù điểm thi cao ngất trời. Thử đặt mình vào vị thế của cậu học trò mười bảy tuổi, tôi hiểu rằng nếu cậu không tin vào con người, có thể còn ác với người thì cũng là bình thường. Phải, làm sao cậu có thể sống và nghĩ một cách bình thường khi bị tước đoạt cơ hội sống khi còn rất trẻ vì những lí do không thể coi là tội lỗi.   Nhưng có trách được những người thầy không. Quả bây giờ có vẻ khó tìm những ông thầy bà thầy nhất mực giữ danh giá người thầy bất chấp vòng đời điên đảo như ông đồng nghiệp một thời của tôi. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta đòi thầy cô giáo tập nói chữ Không với đủ thứ tiêu cực. Nhưng nghĩ cho kĩ, chính người thầy hôm nay là sản phẩm giáo dục của ngày hôm qua. Và đời sống, với đủ tấm gương mờ trước mắt nhưng lại hứa hẹn sự khá giả cho cả một gia đình, nói gì thì nói qủa khó bắt người thầy quay lưng. Một nhà giáo, giáo sư bệnh lí học Nguyễn Ngọc Lanh của đại học Y Hà Nội chẩn rằng chuyện sa ngã của người thầy trong quan hệ với trò và gia đình trò là triệu chứng của căn bệnh sa đọa về đạo đức của ngành giáo dục nói riêng và xã hội nói chung. Nghe thấy sợ. Nhưng mà đúng.  Ngăn chặn ư ? Người ta đã cấm giáo viên dạy thêm không phải một lần. Những biện pháp đi kèm lệnh cấm nghe ra chẳng khác gì phát hiện và tố cáo tội phạm. Liệu người thầy có còn uy trước học trò không khi giới thầy bị hành xử như thế? Và liệu có ngăn được không hay lại là chuyên bắt cóc bỏ đĩa? Bộ GD&ĐT đang có hướng cải cách thế nào để tới năm … 2010 thì nhà giáo sẽ sống được bằng lương ? Ngày đó liệu có tới hay không? Hãy đợi đấy! Vậy thì các nhà giáo cứ dạy thêm mà sống để chờ, và hãy chuẩn bị tinh thần mà ăn kỉ luật nếu lệnh cấm được thực thi thật.  Nhiều đồng nghiệp cũ của tôi giờ rất giàu nhờ dạy thêm. Dạy thật chứ không phải ép học trò của mình nhiều giờ vàng ngọc nữa ngoài giờ chính thức. Nói cho cùng, họ giàu nhưng phải làm việc cật lực, mà cũng là trên cơ sở cung cầu thôi. Thầy hết đường dạy nếu chương trình học hợp lí, học trò không phải đối đầu với những kì thi đoán tủ. Nhưng có bao nhiêu người thầy sống được bằng việc bán chữ này? Tôi tin là rất ít.   Vậy là phải chờ tới 2010 người thầy sẽ sống được bằng lương. Nói thật, khi điều đó còn trong kế hoạch thì lời kêu gọi thầy trò trung thực và sáng tạo của Bộ trưởng giáo dục sẽ mãi chỉ là lời kêu gọi, bộc lộ bản chất bất thường của ngành giáo dục Nước nhà. Nó bất thường cũng hệt như chuyện nghề giáo hàng chục năm qua bị coi là cuối bảng xếp hạng trí thức thì bây giờ vọt lên đầu bảng đối với sĩ tử, mặc dù lương thực tế chả bao nhiêu. Ở chính ngôi trường xưa tôi từng dạy, có tin đồn (kiểm chứng rồi), để xin vào đó dạy học người ta bỏ ra vài ba trăm triệu. Có cần phải hỏi vì sao và để làm gì hay không?  Ðảm bảo cuộc sống của người thầy là đảm bảo tương lai của học trò. Ðây không phải là phát lương cho hương sư tùy theo thu nhập gia chủ. Ðây là trách nhiệm hành xử của một xã hội, vì sự tồn tại và phát triển của chính nó. Nếu giáo dục Việt Nam cứ tiếp tục vận hành với những kiến nghị và kêu gọi, với, cứ tạm coi là cái tình của thầy trò và bố mẹ học trò như thế này, nó sẽ tạo ra cái gì ?  Nước Ðức nơi tôi ở mấy năm vừa qua cũng cải cách giáo dục liên miên để vươn trở lại mấy nước dẫn đầu thế giới về chất lượng lao động. Có điều, người ta không nói là sẽ làm, mà họ làm luôn, từng việc, từ việc hạ tuổi nhập học, rút ngắn thời gian học, tới việc sửa đổi chính tả.  Sự chống đối từ phía xã hội với những cải cách này có những lúc thật là mãnh liệt và những người nắm quyền từng lúc phải thỏa thuận với nhân dân. Chính từ những thỏa thuận trở thành pháp lệnh, đất nước này đi tới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ phân tầng chất lượng bằng đại học      Việc các trường ngoài công lập đưa ra một số đề xuất ưu ái hơn trong tuyển sinh và việc tỉnh Nam Định “nói không” với người tốt nghiệp đại học dân lập, tư thục trong kỳ tuyển công chức nhà nước, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga chia sẻ:    – Nếu nói cách làm của tỉnh Nam Định là trái luật khi thể hiện sự phân biệt đối xử giữa trường công lập và ngoài công lập thì các trường ngoài công lập không nên đề xuất một hướng tuyển sinh khác với quy định chung cho tất cả các trường ĐH, CĐ, yêu cầu mình phải được hưởng những ngoại lệ so với trường công, hạ thấp hơn điều kiện tuyển sinh. Bởi càng làm như vậy càng khó thuyết phục xã hội về sự bình đẳng chất lượng với trường công lập.  Về phía Bộ GD-ĐT, chúng tôi sẽ kiên quyết không chấp nhận có ngoại lệ trong tuyển sinh đối với các trường ngoài công lập. Điều này thể hiện quan điểm của Bộ GD-ĐT không nhân nhượng cho việc hạ chất lượng đào tạo. Các trường ngoài công lập muốn xóa được sự phân biệt đối xử của xã hội thì cần phải đảm bảo ngưỡng tối thiểu được đặt ra chung cho tất cả các trường. Nếu chúng tôi cho phép các trường ngoài công lập được tuyển sinh với tiêu chí thấp hơn trường công, liệu chúng tôi có thể lên tiếng bảo vệ quyền lợi của người tốt nghiệp từ các trường ngoài công lập trong những tình huống như ở Nam Định không?    * Nhưng nhiều người cho rằng không thể coi tuyển sinh là yếu tố quyết định chất lượng của “sản phẩm” đầu ra. Các trường ĐH cần sớm được mở rộng đầu vào nhưng siết chặt đầu ra, thực hiện cơ chế đào thải trong quá trình đào tạo để đảm bảo chất lượng. Ý kiến ông thế nào?   – Vấn đề ở chỗ các trường ngoài công lập không dám thực hiện việc mạnh tay đào thải trong quá trình đào tạo. Hoặc ít nhất cũng chưa dám làm việc đó vào thời điểm này. Khi yêu cầu một cơ chế tuyển sinh đặc thù, có ngoại lệ cho mình, phần lớn trường vẫn tập trung vào việc phải tuyển được đủ chỉ tiêu, tức là tuyển được nhiều sinh viên hơn để tồn tại. Như vậy phần lớn trường vẫn đang đứng trước áp lực và tập trung quan tâm đến số lượng tuyển sinh hơn là chất lượng đào tạo.           “Dù bộ có đồng ý việc này, một số trường vẫn không thể thay đổi được tình thế. Vì hiện nay người học đang có nhiều sự lựa chọn và bắt đầu tìm kiếm những nơi học có chất lượng”  Ông Bùi Văn Ga        Chưa có trường ĐH ngoài công lập nào công bố được tỉ lệ đào thải, sàng lọc SV qua từng năm. Nếu không có tiêu chí khống chế ngưỡng chất lượng tối thiểu đầu vào tuyển sinh, các trường ngoài công lập có dám thực hiện sàng lọc mỗi năm 30-50% SV đã tuyển không? Tôi dám chắc là không. Nếu đã không nghiêm túc sàng lọc thì không thể nói với chất lượng đào tạo của các trường ngoài công lập hiện nay có thể thoải mái đầu vào mà chất lượng đầu ra vẫn tương đương các trường ĐH công lập.  Với những trường ngoài công lập đã tuyển ở mức bằng điểm sàn, giờ đang đề xuất tuyển dưới điểm sàn, sau một năm học nếu các trường không loại được 50% số SV thì xã hội khó tin tưởng vào chất lượng. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đào thải trong quá trình đào tạo, các trường vẫn phải đảm bảo “ngưỡng tối thiểu” trong tuyển sinh đầu vào, phải đảm bảo các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nghiên cứu… mới có thể nói chuyện về chất lượng.  Mặt khác, chúng tôi thừa nhận hiện nay còn có một lý do phải siết chặt điều kiện tuyển sinh đầu vào vì chúng ta chưa hoàn thiện được cơ chế kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo. Việc kiểm tra, giám sát xem từng trường có thực hiện đúng cam kết về cơ chế đào thải cũng chưa thực hiện tốt được.  * Có không ít ý kiến cho rằng một trong những lý do ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo là do có quá nhiều trường ĐH được thành lập tràn lan trong thời gian qua?  – Khi một trường ĐH được thành lập mới hay mở ngành đào tạo đã phải đảm bảo theo một quy trình phê duyệt với các quy định chặt chẽ. Nhưng đó chỉ là xuất phát điểm. Để tạo nên uy tín, thanh thế tên tuổi của trường cần có một quá trình mà tôi khẳng định là không thể ngắn hạn được. Một khóa đào tạo có “sản phẩm” ra phục vụ xã hội đã phải mất bốn năm. Để xã hội đánh giá và ghi nhận còn phải cần thời gian dài hơn.   Trên thực tế trường ĐH có vài chục năm xây dựng và phát triển vẫn còn phải liên tục nỗ lực, vất vả với việc xây dựng uy tín, tên tuổi. Vì vậy với những trường ĐH mới thành lập một vài năm không thể đã nóng ruột, càng không thể muốn thu hồi được vốn đầu tư, có lợi nhuận. Việc nóng vội chỉ nhìn thấy những mục tiêu trước mắt, muốn ngay lập tức tuyển sinh được càng nhiều SV để có nguồn thu mà không có chiến lược để duy trì, phát triển chất lượng thì các trường sẽ không thể tồn tại lâu dài.  Hiện nay, Bộ GD-ĐT đã có các đoàn thanh tra đi kiểm tra việc tuyển sinh và việc đảm bảo chất lượng đào tạo ở các trường ĐH-CĐ. Đây chỉ là giải pháp trước mắt để ngăn sự tụt lùi chất lượng đào tạo. Về lâu dài, bộ đang nghiên cứu hướng đổi mới tuyển sinh và đề xuất các giải pháp để kiểm soát, đánh giá chất lượng đào tạo của các trường chuẩn xác hơn. Đồng thời xây dựng nhiều quy định mới tăng quyền tự chủ của các trường ĐH trong tuyển sinh, đào tạo, tự in và cấp bằng tốt nghiệp để tự chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm đào tạo của mình…  * Điều đó sẽ khiến các trường ĐH thật sự có sự phân tầng chất lượng và tạo ra sự khác biệt trong chất lượng của những tấm bằng tốt nghiệp ĐH, thưa ông?  – Trong tương lai sẽ phải có sự phân tầng các trường ĐH rõ rệt hơn. Và cho dù luật quy định bằng tốt nghiệp ĐH chính quy của trường công và tư đều có giá trị pháp lý tương đương nhau nhưng sẽ có sự khác biệt rất rõ ràng. Đó là sự khác biệt về chất lượng gắn với tên tuổi mỗi trường, không phải sự khác biệt của bằng tốt nghiệp trường công với trường tư, mà của những trường có chất lượng với các trường kém chất lượng hơn. Và quyền đánh giá, thừa nhận chất lượng của mỗi trường thuộc về xã hội, người học và người sử dụng lao động…         Trên cơ sở các quy định về đào tạo, bằng cấp, đánh giá chất lượng, Bộ GD-ĐT sẽ đề xuất với Chính phủ, các bộ ngành khác có những quy định mới hoặc điều chỉnh các quy định về tuyển dụng, sử dụng cho phù hợp; tạo cơ chế phù hợp để các cơ quan tuyển dụng có thể tùy thuộc vào đặc thù của từng lĩnh vực, yêu cầu đối với từng vị trí công việc để tuyển dụng trên cơ sở ngành nghề và chất lượng đào tạo của mỗi trường. Họ có thể đặt ra những quy định chỉ tuyển người tốt nghiệp những trường A hay B với lý do chất lượng đào tạo tốt, đáp ứng yêu cầu công việc.            Author                Quản trị        
__label__tiasang SGK Cánh Buồm tái bản lần thứ ba: Cao hơn, xa hơn,… và dễ tự học hơn      Tại buổi họp báo chiều 8/10 tại Hà Nội, nhóm Cánh Buồm  cho biết bộ sách tiểu học môn Văn và Tiếng Việt do nhóm biên soạn vừa  được tái bản lần thứ ba với một số chỉnh sửa nhằm giúp học sinh dễ tự  học hơn.    Theo nhà giáo Phạm Toàn, người đứng đầu nhóm Cánh Buồm, đây là lần chỉnh sửa quan trọng nhất từ trước đến nay đối với bộ sách, và ông tự tin rằng nếu có gì cần chỉnh sửa tiếp thì cũng phải 10-15 năm nữa. Ông cho biết, bộ sách mới này có nhiều bài tập được soạn cụ thể hơn, cách bố trí và sắp đặt tiết học cũng rõ ràng hơn nhằm giúp học sinh dễ tự học hơn và người dạy dễ áp dụng hơn.   “Trưởng lão” của nhóm Cánh Buồm nhấn mạnh, mục đích của bộ sách là giúp các em nắm được tiếng Việt như một bộ môn tín hiệu học, như một hệ thống, và hiểu được cách từ ngữ sinh ra, biến đổi và phát triển như thế nào. Đặc biệt, đến lớp Năm, các em sẽ được học về tính chất, sắc thái của một số dạng ngôn ngữ chính như ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, ngôn ngữ xã giao, và ngôn ngữ nghệ thuật.   Nhà giáo Phạm Toàn cũng cho biết, bộ sách của Cánh Buồm “không có chế độ giảng giải” mà hướng tới chế độ tự học; không đưa ra kiến thức mà đưa ra các hoạt động, việc làm cho học sinh thực hành. Việc đánh giá cũng do học sinh tự đảm nhiệm – các em sẽ tự nhận xét để biết mình đạt mức “sắp đúng”, “đúng”, hoặc “hay” (chứ không có “sai”).      Ở mỗi quyển sách, khoảng một phần năm nội dung là ôn tập lại những gì đã học ở lớp trước nhưng với vật liệu mới mẻ, cho học sinh cơ hội rèn luyện những thao tác cũ nhưng ở trình độ cao hơn.   Nhiều ý kiến hoài nghi khả năng đưa bộ sách giáo khoa của Cánh Buồm vào thực tế giảng dạy trong bối cảnh quy định của Bộ Giáo dục vẫn là một bộ sách. Tuy vậy, nhà giáo Phạm Toàn cho biết, điều đó không làm giảm tinh thần “chỉ cần làm một việc cho đúng hơn, đẹp hơn” của nhóm.  Tại buổi họp báo, nhà giáo Phạm Toàn cũng chia sẻ, nhóm Cánh Buồm đã lên đề cương cho môn Văn và Tiếng Việt bậc trung học cơ sở. “Bài học đầu tiên của môn Văn ở cấp hai sẽ là tại sao con người lại viết văn và đọc văn. Các em sẽ chia nhóm và tự nghiên cứu chuyên đề này trong hai tháng rưỡi để giải đáp câu hỏi nêu trên.”  Nhóm Cánh Buồm bắt đầu hoạt động hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện từ năm 2009 với mục tiêu làm ra một bộ sách góp phần “hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam”. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết, đến nay, các nhà hảo tâm tặng đã tặng cho nhóm khoảng 300 triệu đồng và số tiền này chỉ được dùng để in sách, còn các thành viên của nhóm làm việc mà không hề nhận chút thù lao nào.        Tiếp sau buổi họp báo, Hội thảo Cao hơn, xa hơn, … và dễ tự học hơn  giới thiệu bộ sách sẽ diễn ra vào lúc 18:00, thứ Tư ngày 15/10/2014 tại  Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội L’Espace, 24 Tràng Tiền (vào cửa tự do).              Author                Quản trị        
__label__tiasang SGK Cánh Buồm: Tường trình bước đầu về cuộc thử nghiệm trong cải cách giáo dục (Kỳ 1)      Tiếp theo bài viết về sách Văn và Tiếng Việt  lớp Sáu mới ra mắt của Nhóm Cánh Buồm, nhà giáo Phạm Toàn có bài viết  điểm lại vài điều mà nhóm coi là vô cùng quan trọng liên quan đến việc  soạn SGK, thực chất là những thử nghiệm trong Cải cách Giáo dục của  nhóm.       Ra mắt năm 2009 tại cuộc hội thảo Hiểu Trẻ em – Dạy Trẻ em, đến cuộc Hội thảo Em biết cách học năm 2014, nhóm Cánh Buồm đã trình xã hội trọn vẹn một bộ sách Tiểu học gồm năm cuốn Tiếng Việt và năm cuốn Văn đã được chỉnh sửa lần thứ ba, coi như bản chính thức tạm dùng lâu dài.    Những kết quả thực hành với học sinh tiểu học trường phổ thông liên cấp Olympia (Hà Nội) cho thấy giáo viên và học sinh vui vẻ đón nhận cách tổ chức học Tiếng Việt và Văn Cánh Buồm, giáo viên làm việc đỡ căng thẳng nhưng hiệu quả cao, học sinh học giỏi Văn và Tiếng Việt khiến phụ huynh yên lòng thấy con mình giỏi tiếng Anh mà không mất gốc1.  Những trải nghiệm khác tại Câu lạc bộ Ô Xinh cũng cho những kết quả tương tự2.     Như đã nói nhiều lần, công việc của nhóm Cánh Buồm chỉ là “làm mẫu”, hiểu theo nghĩa là đưa ra sản phẩm cụ thể cho xã hội có chỗ vịn mà thảo luận những vấn đề lý thuyết khó hiểu, và “làm mẫu” cũng có nghĩa là kích thích3 sáng tạo chung. Năm nay, 2015, nhóm Cánh Buồm đã làm xong các cuốn sách Tiếng Việt lớp Sáu và Văn lớp Sáu kèm theo hai cuốn Tự học Tiếng Việt và Tự học Văn (cho người học trên 10 tuổi, hàm ý những bạn chưa được chuẩn bị cách học của Cánh Buồm)4.    Bài viết này sẽ điểm lại vài điều nhóm Cánh Buồm coi là vô cùng quan trọng liên quan đến việc soạn SGK, thực chất là những thử nghiệm trong Cải cách Giáo dục của chúng tôi, trình ra đây để xã hội cùng thảo luận.     1.    Thử nghiệm một – Cải cách và Bản sắc dân tộc    Một cuộc Cải cách Giáo dục sâu rộng liên quan đến một lý tưởng đào tạo và việc tổ chức công trình đào tạo lý tưởng đó có tên gọi là nội dung học và cách học. Lý tưởng đào tạo của chúng ta chắc chắn không thể là những người “có học” bằng bất kỳ giá nào, nhất thiết đó phải là những người Việt Nam tử tế.    Một người Việt Nam tử tế chắc chắn không thể là người nói ngọng tiếng mẹ đẻ. Định lý đảo: công cuộc Giáo dục phải dùng công cụ mang bản sắc dân tộc – tiếng Việt – để rèn đúc những người Việt Nam nói năng, tư duy, viết lách, cư xử bằng tinh hoa tiếng mẹ đẻ. Định lý kéo theo: nhà sư phạm, và nhà sư phạm Việt Nam, phải chịu trách nhiệm tìm cho ra quy trình tạo năng lực tiếng Việt từ tuổi thấp nhất có thể5.    Không khó gì để thuyết phục mọi người rằng tiếng Việt chính là cái xe chở bản sắc dân tộc Việt Nam trong nội dung và cách học để đạt tới lý tưởng đào tạo. Về vấn đề này, nhóm Cánh Buồm muốn hóa giải toàn bộ sự lúng túng xưa nay và nhấn mạnh điều đầu tiên và căn bản này: học tiếng Việt không khó, thậm chí rất dễ, trừ một khu vực rất khó học, vô cùng khó học, ấy là từ ngữ Việt.    Về ngữ âm, ngay với cách ghi nhớ máy móc và lối đánh vần lủng củng thời xưa, người học dù là trẻ em hoặc người lớn, vẫn có thể hoàn thành việc đọc và viết tiếng Việt trong một thời hạn rất ngắn, chừng vài ba tháng6.    Chỉ cần học các thao tác ghi tiếng Việt bằng bộ luật chung nhất: luật ghi theo ngữ âm (nghe thế nào, phát ra thế nào, ghi đúng như vậy) và áp dụng thêm ba luật chính tả (luật e, ê, i, luật c, k, q, luật ghi nguyên âm đôi bằng ia hoặc iê, ua hoặc uô, ưa hoặc ươ) là đủ để đọc thông viết thạo với ý thức ngữ âm học. Dĩ nhiên, người học sẽ còn phải học cách xử lý để không phạm những lỗi chính tả liên quan đến từ ngữ (da thịt, gia đình, dây thừng, giây phút, ý chí, trí tuệ, trí trá, trì trệ, chì chiết, v.v…).    Về cú pháp, do tiếng Việt không biến hóa hình thái, nên câu tiếng Việt trở thành loại câu hoàn toàn dễ nói đúng (và viết đúng). Giống như với ngữ âm tiếng Việt, cứ phát âm đúng thì ghi đúng, hiện tượng câu tiếng Việt cũng thế, cứ nói đúng ý mình thì sẽ ghi đúng.    Những thuận lợi về ngữ âm và cú pháp đó hoàn toàn không thể bắt gặp ở các ngôn ngữ có biến hóa hình thái. Trẻ em nói những ngôn ngữ có biến hóa hình thái cần một thời gian dài hơn rất nhiều, phải nắm vững cả ngữ âm và cú pháp để có thể viết đúng chính tả.    Cái hiện tượng từng được gọi bằng “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” là thứ bão táp gây ra bởi chính các nhà ngữ học muốn mô tả tiếng Việt theo cách người Tây mô tả tiếng Tây. Rất nhiều khi những mô tả ngôn ngữ học cho đối tượng tiếng Việt dù rất đúng, rất kỹ, song lại như chuyện chẻ sợi tóc làm tư, và không biết cách chuyển tải những am tường thành cách học cho người học tiếng Việt7.     Đi song song với xu thế mô tả tiếng Việt ngày càng phức tạp hóa là xu thế đáng buồn, “cải cách hời hợt” mà biểu hiện rõ nhất là sự giống nhau như đúc về nguyên lý cấu tạo giữa sách Quốc văn giáo khoa thư thời xưa và bộ sách Ngữ Văn tồn tại dăm chục năm thời nay8.    Nói ra những điều này thực lòng chẳng muốn trách ai. Cũng có thể trách Lịch sử đã không tạo ra những điều kiện cho những cuộc cải cách thực sự cho dù nhà cải cách nào cũng rất thực lòng. Nhắc lại ở đây chỉ cốt nói điều này: Cải cách Giáo dục phải bắt đầu từ cái hồn cốt dân tộc – môn Tiếng Việt, và gần với tiếng Việt là môn Văn. Đó là phần việc rất khó mặc dù nhìn bề ngoài tưởng như rất dễ – dễ đến độ ai cũng nghĩ mình nói được tiếng Việt thì mình cũng dạy được tiếng Việt – và dạy được cả Văn nữa.   —  1Nhóm Cánh Buồm bày tỏ lòng biết ơn về sự hợp tác hữu hiệu của cô giáo Phạm Hải Hà và các cô giáo Thu Ngọc, Phương Anh, Minh Hạnh, Khánh Hòa, sự hợp tác về tổ chức của cô giáo Hồng Duyên, cảm ơn các phụ huynh đã theo dõi việc học Văn và Tiếng Việt, đặc biệt phụ huynh lớp 5A1 đã cùng con em thi dịch thơ tiếng Anh sang tiếng Việt dạng thơ Haiku. Một số tư liệu đã được lưu giữ ở đây: “Trải nghiệm dạy ngôn ngữ và văn”, http://canhbuom.edu.vn/index.php/su-pham/524-trai-nghiem-day-ngon-ngu-va-van;“… Học trò nhỏ tập làm thơ” http://canhbuom.edu.vn/index.php/blog/522-day-hoc-ngu-van-trong-nha-truong-10-hoc-tro-nho-tap-lam-tho;   2Cảm ơn bạn Lê Thị Thanh Thủy trong bốn năm qua đã giúp nhóm Cánh Buồm một địa chỉ đào tạo giáo viên đáng tin cậy.  3Tường trình của Nhóm Cánh Buồm tại Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh-Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội CHXHCN Việt Nam ngày 16/7/2014, http://canhbuom.edu.vn/index.php/cung-ban-dung-sach/488-canhbuom-bao-cao-quoc-hoi  4Học sinh THCS trường Đào Duy Từ (Hà Nội) đã có dịp trải nghiệm sách này vào mùa hè năm 2015. Cảm ơn cô hiệu trưởng Hồng Thu và cô giáo dạy mẫu Nguyễn Thị Hồng.    5Nhà sư phạm nói ở đây ngoài tác giả và người thực hiện quy trình sư phạm (các giáo viên), còn bao gồm cả các nhà tổ chức công việc Giáo dục quốc dân và không thể thiếu những bậc phụ huynh. Một nhà tổ chức với đầu óc thiếu cởi mở thì cũng nguy hại như một phụ huynh quá cởi mở thích cư xử về ngôn ngữ chẳng hạn như sau: “Con bai bai ông bà rồi chúng ta ra về…”  6Học trò lớp Đồng ấu thời xưa sau khi học thuộc mặt chữ cái đã đánh vần kiểu như thế này, thí dụ chữ nguyệt: en-dê-u-ngu-y cờ lét-i-nguy-ê-nguê-tê-nguyết-nặng-nguyệt – thế mà rồi vẫn đọc viết được! Trăn trở với việc học bằng tiếng Việt sau khi chắc chắn sẽ có nền độc lập cho Việt Nam, Hoàng Xuân Hãn vừa lo chuyện Danh từ khoa học và vừa gợi ý cách học tiếng Việt lối Ngữ âm học. Tiếc rằng vì quá hời hợt nên nhiều nhà sư phạm chỉ thấy cách học của Hội Truyền bá Quốc ngữ là “lối i tờ” và không biết triển khai thành cách học mang tính ngữ âm học.  7Những giáo viên đã dùng sách Cánh Buồm đều nhận ra tính chất “thân tình”, cố ý không gây khó khăn cho người học.  8Người không có nghề sẽ thấy sách Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT) năm 1920 của nhóm Trần Trọng Kim – Nguyễn Văn Ngọc khác với sách Ngữ Văn thời nay. Thực ra, chúng chỉ khác nhau ở vật liệu: QVGKT mới có nhân vật cỡ thằng Mực (nó học thuộc lòng như thế nào), bây giờ có những nhân vật khác (làm nhiều việc khác), do đó mà số “chủ điểm” cũng nhiều hơn. Thế nhưng nguyên tắc tổ chức việc học vẫn như nhau: không thực sự học tiếng Việt như một ngôn ngữ. Với môn Văn cũng thế, cả sách Ngữ-Văn lẫn QVGKT đều không thực sự học Văn như một đối tượng nghệ thuật, mà chỉ học Văn như một công cụ chuyên chở.         Author                Quản trị        
__label__tiasang SGK Cánh Buồm: Tường trình bước đầu về cuộc thử nghiệm trong cải cách giáo dục (Kỳ 2)      Bộ SGK Cánh Buồm chọn định hướng tổ chức  cách học cho con em. Trong suốt bậc Tiểu học đã phải tìm ra những thao  tác tự học và tự đánh giá cho con em quen dần, để rồi từ lớp Sáu trở đi,  việc học sẽ được thực hiện theo phương thức tự học.    2.    Thử nghiệm hai – huấn luyện cách tự học    Làm SGK khác với viết và công bố một tác phẩm nghệ thuật. Một tác phẩm nghệ thuật là một tiếng nói ẩn dụ cất lên lạc lõng giữa Chợ Giời hoặc giữa Hoang Mạc. Còn SGK là sự cụ thể hóa một ý đồ tổ chức sự phát triển của con em cả một dân tộc. Sứ mệnh của nó là phải đến được với con em, để con em có những sở hữu riêng và mới mẻ trong tư duy và kỹ năng chứ không chỉ sở hữu những cuốn sách trên giá sách ở góc học tập.    Vì thế, bộ SGK Cánh Buồm chọn định hướng tổ chức cách học cho con em. Trong suốt bậc Tiểu học đã phải tìm ra những thao tác tự học và tự đánh giá cho con em quen dần, để rồi từ lớp Sáu trở đi, việc học sẽ được thực hiện theo phương thức tự học.    Tự học, không phải là một ước vọng viển vông hoặc một mệnh lệnh duy ý chí của người lớn đối với con em. Tự học, đó phải là cả một chuỗi kỹ thuật học được nghiên cứu và truyền tay sang người học. Tự học, đó phải là một lối-sống-người, và là người-hiện-đại, như một “món quà hai tay dâng tặng trẻ em”9. Được xác định tại Hội thảo năm 2011 Tự học – Tự giáo dục10, nhóm Cánh Buồm luôn luôn cố gắng không xa rời con đường vương giả ấy.    Hành vi tự học nằm trong cái gốc – nằm trong định nghĩa đối với khái niệm Giáo dục.     Cho tới nay, khái niệm Giáo dục bao giờ cũng mang tính áp đặt – dù mang động cơ tốt đẹp, thì cũng là dội từ “bên trên” ban xuống bên dưới, tác động vào người học.     Định nghĩa lại khái niệm xuất phát từ người học, ta sẽ thấy Giáo dục là một quá trình con người tự học thông qua những thích nghi và điều tiết. Đó là định nghĩa khái niệm Giáo dục tổng quát nhất,chắt lọc từ những nghiên cứu của nhà tâm lý học Jean Piaget. Định nghĩa này coi Giáo dục như là quá trình diễn ra những hành động của chủ thể giáo dục – bắt đầu từ tự học cách bú mút nghe nhìn sờ nắm cầm… rồi tiến lên các hành động và hành vi “sang trọng” khác.     Con người lọt lòng bắt đầu từ bỏ “quá khứ” môi trường sống trong dạ con của mẹ, tối om, đầy nước, không ăn uống hít thở, vì được nối với mẹ bằng cuống nhau. Liền đó, đứa nhỏ có lai lịch một phút tuổi đời bắt đầu phải tự thích nghi với môi trường sống bên ngoài dạ con. Con người bé bỏng ấy tự học ngay từ phút đầu tiên chào đời – tự ăn, tự thở, tự sống bên ngoài dạ con. Những cô cậu học trò đó thích nghi với môi trường sống và đạt đến những điều học được (Piaget gọi là những “acquis”) và những điều học được sẽ từng bước được điều tiết cho phù hợp với những điều mới học được thêm. Con đường phát triển đó được nghiên cứu bởi Tâm lý học phát triển11.     Hệ quả của định nghĩa này đặc biệt nghiêm trọng đối với tư duy và hành động của nhà sư phạm. Tại vì nhà sư phạm là người tổ chức quá trình thích nghi và điều tiết đó.     Nó lại càng vô cùng nghiêm trọng xét theo chủ thể người học, với đặc tính chung là tính dễ dát mỏng (malleable) – trong cuộc sống thực, đó là “đức tính” dễ bảo và dễ sai khiến. Về mặt sinh học cũng như xã hội học, chủ thể càng malleable thì càng dễ sống. Gặp môi trường nào chủ thể cũng thích nghi và điều tiết theo được.     Rất dễ để trở thành những kẻ nô lệ hoàn hảo. Và khó khăn đau đớn vô cùng để cưỡng lại sự dát mỏng, để trở thành những con người tự do đầy trách nhiệm, để không trở thành những công cụ “nên người” ngay cả khi các ông chủ khéo mồm tránh dùng chữ “công cụ” mà thay bằng “nguồn lực xã hội”.   —  9Tường trình của Nhóm Cánh Buồm tại Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội CHXHCN Việt Nam ngày 16/7/2014, http://canhbuom.edu.vn/index.php/cung-ban-dung-sach/488-canhbuom-bao-cao-quoc-hoi      10Nhóm Cánh Buồm, Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại – Kỷ yếu hội thảo Tự học – Tự giáo dục, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2011, sách dày 232 trang.   11Sẽ hiểu vì sao cùng với chương trình và sách giáo khoa, nhóm Cánh Buồm cũng tìm mọi cách để cho ra đời Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm với hai bản dịch đầu tiên – (1) Jean Piaget, Sự ra đời trí khôn ở trẻ nhỏ (Hoàng Hưng dịch); (2) Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn (Phạm Toàn dịch). Một cuốn tiếp theo của Jean Piaget cũng sắp ra mắt: Sự hình thành biểu trưng ở trẻ nhỏ (Nguyễn Xuân Khánh dịch).      Author                Quản trị        
__label__tiasang SGK Cánh Buồm: Tường trình bước đầu về cuộc thử nghiệm trong cải cách giáo dục (Kỳ cuối)      Khi xây dựng bộ sách tiểu học, rồi tiếp nối  sang sách lớp Sáu, nhóm Cánh Buồm xác định khái niệm chương trình như  sau: đó là một hệ thống việc làm dẫn tới một lý tưởng đào tạo. Nhà sư  phạm tầm cỡ nào thì có lý tưởng đào tạo cỡ ấy – và họ sẽ tìm ra cách tổ  chức cho người học của họ đi đến lý tưởng ấy.    Thử nghiệm ba – làm sách Cánh Buồm    Khái niệm Giáo dục như được định nghĩa lại đã dắt dẫn nhóm Cánh Buồm trong việc làm sách, từ sách Tiểu học qua sách lớp Sáu – và ơn Giời đất ơn Tổ tiên phù hộ, nhóm sẽ cố tổ chức hoàn thành sớm nhất sách lớp Bảy, lớp Tám và lớp Chín – một bộ sách được làm ra không vì mục đích làm sách, mà như cái mẫu xác định những việc làm của một nhà trường như một môi trường tổ chức sự phát triển tốt đẹp nhất cho con em.     Khi xây dựng bộ sách tiểu học, rồi tiếp nối sang sách lớp Sáu, nhóm Cánh Buồm xác định khái niệm chương trình như sau: đó là một hệ thống việc làm dẫn tới một lý tưởng đào tạo. Nhà sư phạm tầm cỡ nào thì có lý tưởng đào tạo cỡ ấy – và họ sẽ tìm ra cách tổ chức cho người học của họ đi đến lý tưởng ấy.    Đầu óc sư phạm nào, chương trình ấy. Chương trình nào, SGK ấy. SGK không chỉ có duy nhất một hình thái tồn tại là dạng bản in và bày bán ở các cửa hàng sách. Đó mới chỉ là một hình thái của SGK, mà nếu có chất lượng cao thì đó vẫn chỉ là những “biên bản cho trước” để học sinh tham khảo.     Một hình thái tồn tại khác của SGK là những việc làm được giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện trong mỗi tiết học. Những việc làm đó nằm chờ trong SGK hình thái một, để giáo viên và học sinh đem ra dùng trong tiết học. Theo quan điểm này, xin các nhà duyệt sách trong xã hội soi xét để thấy đâu là bộ SGK đúng nghĩa.     Tiếp theo là hình thái tồn tại thứ ba của SGK trong tâm lý người học, mà nhà trường, gia đình và xã hội có thể kiểm soát hoặc chứng kiến chúng thể hiện trên những ghi chép, những bài viết, những hành vi, hành động, hoạt động của những “con người lý tưởng” của mình.     Ba hình thái tồn tại này tạo thành một định nghĩa khác cho khái niệm SGK.     Xin giới thiệu qua vài nội dung cốt lõi sách lớp Sáu mới của nhóm Cánh Buồm.    Về Tiếng Việt, ở lớp Một học sinh đến với Ngữ âm học thực hành qua vật liệu là tiếng Việt để đến kết quả thực tiễn là một trình độ đọc và viết tiếng Việt mang ý thức ngữ âm học (biết rõ vì sao mình đúng hoặc mình sai khi đọc và khi viết). Lên lớp Sáu, học sinh trở về với Ngữ âm học ở bình diện lịch sử ghi âm tiếng Việt. Các em sẽ nghiên cứu cách ghi tiếng Việt bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm và nhận rõ những bất cập của các hình thức ghi âm đó. Các em sẽ học tiếp sang cách ghi âm bằng bộ chữ cái latin. Các em sẽ học để biết cao trào dùng chữ quốc ngữ với Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Kinh nghĩa thục.13 Các em sẽ học để thấy những dân tộc thuộc vành đai Hán ngữ (Nhật Bản và Triều Tiên) đã xây dựng bộ chữ quốc ngữ của họ ra sao. Các em sẽ nghiên cứu những luận điểm ủng họ và cưỡng lại việc phổ biến chữ quốc ngữ latin hóa ở nước ta. Các em sẽ đánh giá công việc của tiền nhân… Cũng về ngữ âm học tiếng Việt, các em sẽ học về những khác biệt ngữ âm giữa các địa phương, về cách ghi âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, và về vẻ đẹp của vần tiếng Việt trong tiếng nói dân gian… tất cả để chuẩn bị cho các em vào đời…    Về Văn, ở lớp Một, học sinh tự tạo cho mình Lòng đồng cảm qua các trò chơi đóng vai để hiểu tình cảm của người nghệ sĩ chân chính. Lên lớp Sáu, các em trở lại và nâng cao giá trị tinh thần đó của người nghệ sĩ trong một hành động sáng tạo có cùng nguồn gốc: cảm hứng sáng tác. Trong sách Văn lớp Sáu các em sẽ học để biết vì sao người ta làm nghệ thuật, vì sao viết văn xuôi, vì sao làm thơ, vì sao vẽ tranh?… Về văn xuôi, sau bài nghiên cứu mẫu là truyện ngắn Nhà văn của Anton Tchekhov, các em tự làm bài tập với vật liệu là các tác phẩm của Nguyên Hồng, Duy Khán, Maxim Gorky, Lev Tolstoy, Anatole France… Về thơ, sau khi học bài tổng quan, các em tự làm bài tập đi tìm lý do làm thơ với vật liệu thơ của Hoàng Cấm, Maya Angelou, Jacques Prévert, Hoàng Hưng, Tagore, Vương Duy, Basho, Rumi, Lermontov, Robert Frost… Về hội họa, các em học bài tổng quan, sau đó tự học về họa sư Nam Sơn, người có công đầu mở trường Mỹ thuật Đông Dương.14      Sau mỗi bài học (cả hai môn) kéo dài trên dưới một tháng, học sinh sẽ viết tiểu luận đọc tại hội thảo. Ngoài ra, đến cuối năm học Văn lớp Sáu, các em sẽ tham gia cuộc liên hoan dịch thơ John Donne với bản dịch “mồi” của dịch giả nhà giáo Trần Ngọc Cư. Những hoạt động sư phạm đó tạo thành công việc tự kiểm tra, tự đánh giá của học sinh.   Lời thưa… kết thúc câu chuyện    Mẫu người học lý tưởng và cách tổ chức tự học cho những chủ thể của Giáo dục đó sẽ được triển khai tiếp cho tới hết lớp Chín như thế nào, đó sẽ là nội dung khác.    Có cần nói thêm chăng, rằng bản thân những người trong cuộc, cùng nhau khai sinh bộ sách Văn và Tiếng Việt lớp Sáu mang thương hiệu Cánh Buồm, nhiều người cũng thấy ngỡ ngàng khi cầm trên tay sản phẩm của chính mình. Ngỡ ngàng trước những sản phẩm mình chưa từng thấy, chưa từng được học khi mình là học trò lớp Sáu. Một sự ngỡ ngàng lặp lại cảm xúc của nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn khi đọc bộ sách ở dạng bản thảo:     “Tôi chưa bao giờ dám tưởng tượng rằng vào lớp Sáu, mình lại được học Văn và tiếng Việt một cách thâm thúy và mới mẻ tuyệt vời như thế! Có lúc tôi giật mình: lớp Sáu mà được học thế này thì lên các lớp cao hơn, cho đến khi thi Tú tài, mình còn được học đến đâu nữa? Hết mấy “bồ chữ trong thiên hạ” chứ chẳng chơi! Nếu qua kết quả thực nghiệm từ lớp Một đến lớp Năm, Quý Anh Chị có căn cứ để tin chắc rằng học sinh lớp Sáu có thể lĩnh hội được nội dung các bài giảng trong hai tập sách, tôi thật sự quá vui mừng trước tương lai tươi sáng của nền giáo dục nước nhà!” (Trích).    Bùi Văn Nam Sơn đã dè dặt nhắc nhóm Cánh Buồm “Nếu qua kết quả thực nghiệm từ lớp Một đến lớp Năm…”     Xin thưa, chuẩn mực đạo lý buộc tất cả chúng ta theo sát cuộc sống thực, nhằm tìm cách nâng cái thực tại ngổn ngang và tẻ nhạt lên tầm đòi hỏi của lý thuyết. Trong công việc này, sức vóc sư phạm của mỗi nhóm tới đâu, xin cứ dâng nộp hết cho cuộc sống. Trong khuôn khổ lần ra mắt xã hội năm 2015 này, nhóm Cánh Buồm xin trình duyệt mấy cuốn sách mới cùng với ba điều thuộc những thử nghiệm trong cải cách giáo dục.     Xin nhắc lại: những thử nghiệm trong cải cách giáo dục, không phải toàn bộ cuộc Cải cách Giáo dục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang SGK lớp Sáu Cánh Buồm: Huy động trí tuệ cộng đồng      Ngày 12/8 tới đây, nhóm Cánh Buồm sẽ trình công chúng sách Văn và Tiếng Việt lớp Sáu. Đây là bước đi tiếp theo để hiện thực hóa một chương trình học lý tưởng mà nhóm Cánh Buồm đã tâm huyết theo đuổi. Nhân dịp này, nhà giáo Phạm Toàn, người khởi xướng, điều hành nhóm Cánh Buồm, có một số chia sẻ về nội dung và cách thức tổ chức biên soạn hai cuốn sách sắp ra mắt này.     Có thể coi bộ sách lớp Sáu lần này là một trong những cuộc cất cánh, xuất phát từ mục đích mà bộ sách Tiểu học của nhóm Cánh Buồm đã đặt nền tảng, đó là cụ thể hóa việc tổ chức cho trẻ em học phương pháp học.     Điều thừa kế quan trọng nhất của quan điểm dạy và học này là hệ thống việc làm giao cho học sinh thực hiện để các em làm mà học – làm thì học (learning by doing). Hệ thống việc làm đó thay thế cho lời giảng của giáo viên. Và như vậy, ngay từ bậc tiểu học đã hình thành dần phương pháp và thói quen tự học. Điều đó khiến cho từ lớp Sáu trở đi, sách của Cánh Buồm sẽ triệt để mang tính tự học.    Cách học của học sinh từ lớp Sáu sẽ diễn ra như sau: (a) sau một giới thiệu ngắn của giáo viên, từng học sinh tự đọc những bài viết, tự tìm hiểu những nội dung phải đi sâu hoặc mở rộng; (b) các em sẽ suy ngẫm rồi trao đổi trong nhóm những thu hoạch riêng xoay quanh những chủ đề được gợi ý; (c) việc học mỗi bài của từng em sẽ kết thúc bằng bài tiểu luận mỗi em chuẩn bị cho cuộc hội thảo khoa học gói từng bài học lại. Dĩ nhiên, sau hội thảo khoa học của lớp, tự học sinh cũng biên tập các tiểu luận và tự in thành Kỷ yếu, để tặng nhà trường, để các bạn khóa sau tham khảo, và cũng để tặng phụ huynh làm kỷ niệm.   Sách mới có gì khác?    Nội dung bộ SGK lớp Sáu là sự tiếp nối bộ sách Văn và Tiếng Việt bậc Tiểu học của nhóm Cánh Buồm.    Bậc tiểu học thì học phương pháp, và phương pháp này nằm trong phương thức tồn tại của đối tượng môn học. Sự khác nhau giữa nội dung ở bậc Tiểu học và bậc Trung học cơ sở là ở mức độ khám phá vào đối tượng môn học. Có thể xem nội dung lớp Một và lớp Sáu để hiểu rõ điều này.    Ở lớp Một, các em học Ngữ âm tiếng Việt để tự mình biết ghi đúng và do đó biết đọc đúng tiếng Việt. Lên lớp Sáu, các em trở lại chủ đề ngữ âm nhưng ở cấp độ những vấn đề ngữ âm học khi ghi âm tiếng Việt. Học ngữ âm học tiếng Việt lúc này không còn là để “đọc thông viết thạo” tiếng mẹ đẻ. Ở lớp Sáu, các em sẽ học lịch sử ghi âm tiếng Việt. Các em cũng sẽ mở rộng tầm nhìn sang các ngôn ngữ có cùng hoàn cảnh, cùng “vành đai Hán ngữ”.     Còn sự khác nhau giữa nội dung học Văn lớp Một và lớp Sáu là: Ở lớp Một, học sinh học về lòng đồng cảm, cái tình cảm gốc của bất kỳ nghệ sĩ chân chính nào, cái nguồn gốc đạo đức của tình cảm nghệ thuật. Môn Văn lớp Sáu “lặp lại” nội dung lớp Một nhưng ở trình độ khác: tìm hiểu tại sao con người hoạt động sáng tạo nghệ thuật? Cảm hứng nghệ thuật là gì và từ đâu mà có?   Chung tay làm sách     Khi nhóm Cánh Buồm thống nhất với nhau về việc làm sách lớp Sáu (tháng 11/2014), Ban tổ chức biên soạn được thành lập gồm: tôi, Nguyễn Thị Thanh Hải, Hoàng Hưng, Vũ Thế Khôi và Dương Tường. Tôi được phân công viết bản đề cương, trong đó ngoài ý tưởng còn có cả kế hoạch dự kiến mời các đồng soạn giả. Có ba cuộc tiếp xúc trực tiếp ở Hà Nội, Đà Lạt, và Sài Gòn – gặp riêng, gặp chung, rồi lại gặp riêng… Các đồng soạn giả ở nước ngoài (Canada, Hoa Kỳ, Pháp) thì liên hệ qua mạng Internet. Chẳng cứ gì những người ở xa, về sau, liên hệ chính giữa chúng tôi vẫn là qua mạng Internet…             “Điều hài lòng nhất của tôi là đã tìm thêm được nhiều người bạn đồng hành cùng Cánh Buồm trong công cuộc biên soạn một bộ sách mới.”   Phạm Toàn        Có tác giả không chỉ nhận lời tham gia soạn sách mà còn giới thiệu thêm người, như anh Nguyễn Đức Tùng (tác giả Thơ đến từ đâu) ở Canada giới thiệu thầy học của mình đang sống ở Hoa Kỳ là anh Trần Kiêm Đoàn, rồi sau này là anh Trần Ngọc Cư. Hoặc như họa sĩ Phan Cẩm Thượng giới thiệu cho tôi bạn Phạm Thị Thu Giang bên ĐH Quốc gia Hà Nội viết về “chữ quốc ngữ” của người Nhật. Thế rồi bạn Thu Giang lại giới thiệu tiếp sang bạn Minh Chung, giảng viên cùng trường, viết nội dung người Hàn Quốc tự tạo “chữ quốc ngữ” như thế nào…    Tổng cộng hơn hai chục người tất cả, trong đó hơn chục con người được huy động ở ngoài nhóm Cánh Buồm đã tham gia biên soạn hai cuốn Văn và Tiếng Việt lớp Sáu. Những người được mời đều nhiệt tình nhận lời và tất cả đều làm việc không công. Duy nhất một soạn giả ở Sài Gòn rất nghèo được nhóm Cánh Buồm tặng đôi chút “tiêu Tết”, chỉ vài triệu thôi! Tôi tin chắc là sách lớp Bảy, Tám, Chín sẽ còn huy động được nhiều đồng soạn giả hơn nữa!     Trong vòng vài bốn tháng, các cộng tác viên lần lượt gửi bài về, chúng tôi biên tập và mời thêm người biên tập giúp. Xong xuôi đâu đó, chúng tôi vừa gửi cho các soạn giả xem lại, đồng thời nhờ một ban hỗ trợ đọc bản thảo sáu người (tôi gọi đùa là các vị lãnh đạo Ban Tu thư) gồm các anh Bùi Văn Nam Sơn, Phạm Khiêm Ích, Đặng Tiến, cùng với các anh Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến, Mạc Văn Trang. Nhân đây, tôi xin bộc lộ một tâm sự này: một tháng trời chờ ý kiến Ban Tu thư là những ngày tôi vẫn vui cười nhưng thực ra ăn không ngon ngủ không yên. Chỉ lo các ông ấy sổ toẹt thôi! Thế rồi, ngoài những ý kiến khác, bức thư của anh Bùi Văn Nam Sơn đã khiến tôi thở phào.   Bức thư của Bùi Văn Nam Sơn có đoạn viết:    “Thưa Quý Anh Chị trong Ban biên soạn,     “Tôi rất hận hạnh được Quý Anh Chị giao nhiệm vụ đọc lại bản thảo cùng với nhiều vị khác. Xin chân thành cảm ơn sự tin cậy của Ban biên soạn. Tận dụng… “thế mạnh” của một người không có chuyên môn sâu về văn học và thiếu kinh nghiệm sư phạm, tôi đặt mình vào vị trí một cậu học sinh bước vào lớp sáu để đọc. Với đôi mắt hồn nhiên ấy, tôi có mấy nhận xét chân thành sau đây:    – Tôi chưa bao giờ dám tưởng tượng rằng vào lớp Sáu, mình lại được học văn và tiếng Việt một cách thâm thúy và mới mẻ tuyệt vời như thế! Có lúc tôi giật mình: lớp Sáu mà được học thế này thì lên các lớp cao hơn, cho đến khi thi Tú tài, mình còn được học đến đâu nữa? Hết mấy “bồ chữ trong thiên hạ” chứ chẳng chơi! Nếu qua kết quả thực nghiệm từ lớp 1 đến lớp 5, Quý Anh Chị có căn cứ để tin chắc rằng học sinh lớp Sáu có thể lĩnh hội được nội dung các bài giảng trong hai tập sách, tôi thật sự quá vui mừng trước tương lai tươi sáng của nền giáo dục nước nhà!     – Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm phục đặc biệt đối với các vị phụ trách biên soạn, không chỉ về kiến thức uyên thâm mà đặc biệt về tài năng diễn đạt và truyền đạt những kiến thức ấy một cách sinh động cho học sinh. Tôi hoàn toàn tán đồng cách dàn dựng và cách sắp xếp nội dung bài giảng. Chỉ xin mạo muội có một vài ý kiến cá nhân để Quý Anh Chị tham khảo…”    “Vài ý kiến cá nhân” của Bùi Văn Nam Sơn không những không nhỏ, ngoài những ý lớn, vẫn rất chi tiết, chữ “ngự chế” chúng tôi nhầm thành “ngữ chế”, bé lít nhít, mà ông ấy vẫn moi ra!  Sách Cánh Buồm lớp Sáu có quá khó đối với học sinh?    Câu hỏi này tôi vẫn nghe nhiều người hỏi khi tiếp xúc và thấy nội dung sách Cánh Buồm không giống với kinh nghiệm của các vị đó. Thế nhưng, bản thân các vị có khi nào tự vấn, rằng kinh nghiệm ấy thừa thiếu tới đâu và phù hợp đến đâu với nhu cầu và trải nghiệm của “trẻ con” nước ta vào thời đại này?    Ở đây, muốn đi xa, muốn đạt tới ước mơ Cao hơn Xa hơn và Dễ tự học hơn, chúng ta không nên chỉ vịn tay vào kinh nghiệm, mà phải chống những cây gậy khác.    Trước hết là cây gậy thực tiễn: phải có cơ sở thực tiễn dạy và học ở trường lớp để cảm nhận được sự đón nhận của người học. Và nếu trẻ em không đón nhận nội dung định đem “dạy dỗ” chúng, thì đừng đổ lỗi tại… tính hàn lâm. Ở trường thực hành của chúng tôi, giáo viên dùng sách tiểu học rất nhàn nhã, không mắc vào những cuộc vắt óc tìm “sáng kiến kinh nghiệm”. Những việc làm giao cho học sinh đã được soạn khá đầy đủ. Giáo viên dùng sách của Cánh Buồm chỉ sau hai – ba tháng là bắt đầu có tay nghề. Sau một năm học là dạy vững vàng. Nhóm Cánh Buồm đã mời khách tới dự giờ – có khách nhận xét về các bài tiểu luận viết ở lớp Bốn, lớp Năm rằng “Tôi không viết được như thế”.    Tại sao sách Cánh Buồm đến được với giáo viên và học sinh? Vì biết dựa vào cây gậy nữa: một lý thuyết đủ sức tổ chức thực tiễn. Cho phép tôi nói chỉ một điều này thôi: lý thuyết nào để định nghĩa khái niệm Giáo dục? Xưa nay, khái niệm Giáo dục thường được định nghĩa dưới góc độ công việc của người lớn, của nhà cầm quyền. Những ông lớn, bà lớn bệ vệ đòi phải dạy trẻ em sao cho chúng nên người. Nên người kiểu gì? “Nên” đến bao nhiêu thì thành “người”? Mấy tấm bằng, mấy kỳ thi, mấy lần đau khổ, thì nên người? Thế rồi, “dân chủ” hơn, “thời đại” hơn, “cải cách” hơn, vài người đã định nghĩa Giáo dục như một sự chuẩn bị “lực lượng tham gia sản xuất” cho xã hội. Tất cả đều nhầm ở một điều: các vị không định nghĩa khái niệm Giáo dục dưới góc độ người học – nói nôm na, chưa định nghĩa theo hướng Tôi đã làm gì để tôi sống được – và tiếp theo là, tôi đã làm gì để trở nên con người như tôi muốn trở thành. Nói cách khác, định nghĩa Giáo dục dưới góc độ chủ thể của Giáo dục – con người đã học như thế nào, học theo cách gì kể từ khi lọt lòng?     Jean Piaget giúp người lớn chúng ta khiêm nhường hơn khi xem xét khái niệm Giáo dục. Nhà tâm lý học mẫu mực đó coi Giáo dục là một quá trình con người tự học thông qua những thích nghi và điều tiết. Thích nghi là để có những những điều học được để có thể sống thân thiện với môi trường. Điều tiết là để thích nghi những gì đã học được với những gì sắp học được. Hiểu theo nghĩa đó, công việc của nhà sư phạm là tổ chức quá trình thích nghi và điều tiết đó cho những nhóm người tự học các loại ở những giai đoạn khác nhau.         Nội dung sách Tiếng Việt lớp Sáu của Cánh Buồm:   Bài mở đầu – Cách học ngôn ngữ ở lớp Sáu   Bài 1 – Cách ghi tiếng Việt bằng chữ Hán và chữ Nôm – những nhược điểm của lối ghi này   Bài 2 – Cách ghi tiếng Việt bằng “chữ quốc ngữ” (dùng mẫu tự latin abc…) – những nhược điểm của lối ghi âm này.   Bài 3 – Âm địa phương, những khác biệt và cách xử lý  Các bài đọc thêm đi kèm:               – Nguyễn Văn Vĩnh và chữ quốc ngữ               – “Chữ quốc ngữ” của người Hàn Quốc (và Triều Tiên)              – “Chữ quốc ngữ” của người Nhật Bản   Bài 4 – Cách phiên âm tiếng nước ngoài của người Việt   Bài 5 – Vẻ đẹp của vần tiếng Việt trong ngôn ngữ dân gian    Nội dung sách Văn lớp Sáu của Cánh Buồm:    Bài mở đầu: Phân biệt giữa Tín hiệu tường minh (ngôn ngữ tự nhiên) và Tín hiệu ẩn dụ (ngôn ngữ nghệ thuật).    Bài một – Vì sao viết văn tự sự – nghiên cứu trường hợp Tchekhov và truyện ngắn “Nhà văn”  Các bài đọc thêm, bài tập đi kèm:              – “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng              – “Thời thơ ấu” của Maxim Gorky              – “Tuổi thơ im lặng” của Duy Khán              – “Thời thơ ấu” của Lev Tolstoy;               – “Cuốn sách của bạn tôi” của Anatole France   Bài hai – Vì sao làm thơ  Các bài đọc thêm, bài tập đi kèm:              – “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm               – “Ngày đầu tiên”, Jacques Prévert               – “Trò nhảy ô Harlem”, Maya Angelou               – “Mưa rào và trẻ nhỏ”, Hoàng Hưng              – Thơ Phương Đông              – Thơ các nhà thơ dấn thân Nga và “Cánh Buồm” của Lermontov.               – Ba bài thơ Robert Frost   Bài ba – Vì sao người ta vẽ  Bài đọc thêm: “Họa sư Nam Sơn”   Bài bốn – Vì sao người ta chơi kịch (có trong chương trình, nhưng chưa soạn xong, chưa in kỳ này)   Bài năm – Vì sao người ta viết văn phóng sự   Bài sáu – Cộng hưởng của người đọc nghệ thuật (có trong chương trình, nhưng chưa soạn xong, chưa in kỳ này)   Bài cuối năm học – Cùng nhau dịch thơ (John Donne)               Author                Quản trị        
__label__tiasang Siết chặt đào tạo liên thông      Sau hơn 10 năm triển khai “thí điểm” rồi  “đại trà”, hình thức đào tạo liên thông đã bị một số trường “lợi dụng”. Để siết chặt quản lý mảng hoạt động này,  Bộ GDĐT đã đưa ra những chủ trương mới, chính thức có hiệu lực từ  7/1.     Ba điểm mới  Văn bản này quy định về đào tạo liên thông trình độ CĐ, ĐH có ba điểm mới để siết chặt việc đào tạo liên thông. Theo đó, chỉ những trường đào tạo liên thông chính quy đào tạo tín chỉ mới được thực hiện đào tạo liên thông; những trường đào tạo niên chế không được thực hiện liên thông.  Các học sinh chưa quá 36 tháng từ khi cấp bằng đến khi thi liên thông phải thi tuyển sinh vào ĐH, CĐ bình thường với kỳ thi “ba chung” vào đại học.  Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga giải thích: Trước đây không quy định như vậy nên liên thông cứ “ào ạt” tiến lên CĐ, ĐH. Nay, học sinh phải thi tuyển sinh bình thường. Những trường hợp đã quá 36 tháng kể từ khi tốt nghiệp thì trường ĐH sẽ quyết định thi. Những quy định này là để hạn chế liên thông đi đường vòng vào ĐH như hiện nay, ông Ga nói.  Ông Ga nhấn mạnh là, thí sinh vào chỉ học chương trình nào thì học theo chương trình đó. Theo ông, thí sinh học tại chức sẽ học theo chương trình tại chức và chỉ được cấp bằng tại chức. Học sinh học hệ chính quy CĐ sẽ được học cùng chương trình ĐH chính quy và được cấp đầy đủ bảng điểm và bằng như sinh viên chính quy.  Ông Ga nhấn mạnh, đây là điểm có lợi cho người học và ông nhận định: Việc siết chặt cả đầu vào lẫn đầu ra như trên sẽ có thể có ít người thi vào học liên thông trong thời gian tới nhưng đó là việc quan trọng cần được chấp nhận để được chất lượng cao hơn.    Muộn còn hơn không bao giờ…  Đó là ý kiến của không chỉ người trong ngành, mà còn là của đông đảo sinh viên, người theo học. Đại diện cho “phe” ủng hộ chủ trương siết chặt quản lý của bộ đưa ra “đầy đủ lý lẽ”, như anh Nguyễn Văn Đại (Hà Nội) chia sẻ trên facebook: “Thực tế hiện nay cho thấy, khi thí sinh thi trượt ĐH thì rất nhiều trường ngoài công lập “mời” đi học để lấy tiền. Trong quá trình học, từ nhà trường đến sinh viên đều thiếu nghiêm túc. Mỗi lần thi cử là đều mất tiền đi thầy, đi cô. Ngay cả việc thi liên thông, cũng có rất nhiều trường hợp chạy tiền. Vậy công bằng ở đâu ra so với những thí sinh đã đỗ vào các trường ĐH và phải học tập bằng chính kết quả thực sự và sự tài năng của họ?”. Anh Nguyễn Bắc Bình cũng khẳng định: “Tôi ủng hộ. Vì sao ư? Vì tôi thấy kiểu học của liên thông và tại chức thường học vào cuối tuần. Tuần 2 ngày lên lớp, tính ra học được mấy ngày? Trong khi những người học ĐH chính quy thì bò ra học 4 – 5 năm mà điểm có khi còn không bằng…”. “Nâng cao chất lượng đầu vào là đúng khi mà thừa thầy thiếu thợ đang xảy ra khắp nơi” anh Đại kết luận.  Hay khi đề cập đến vấn đề này, ThS Trần Đình Lý – Trưởng phòng Đào tạo ĐH Nông – Lâm TPHCM – đã đưa ra quan điểm trung dung khi lý giải: “Đọc những dòng tít của các báo, đài về đào tạo liên thông theo quy định mới của Bộ GDĐT như: “Chặt gốc” liên thông, “dư luận dậy sóng”, “sinh viên choáng váng…” “cửa hẹp” vào liên thông, “lo ngại chất lượng liên thông”… Chừng đó cũng đủ thấy sự “quan tâm sâu sắc” của dư luận xã hội. Theo tôi, chắc Bộ GDĐT cũng đã có sự cân nhắc “thiệt – hơn” để ra quyết định khó khăn này”. Và một trong những nguyên nhân không thể không nhắc tới đó chính là muốn “nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo”. Tuy nhiên, ThS Trần Đình Lý cũng lưu ý: Tôi cho rằng “cách siết” sẽ rất quan trọng. Giá như quy định này có lộ trình để ít nhất người học cũng như những ai liên quan hoặc quan tâm đến vấn đề này sẽ biết trước một thời gian, để họ có thể định hướng được cho tương lai của mình thì sẽ hay hơn. Với cách siết của bộ hiện nay sẽ khiến không ít người băn khoăn: Tại sao sau mấy năm học CĐ đã được trang bị lượng kiến thức chuyên môn, chuyên ngành rồi chứ không còn là toán, lý, hóa nữa…, vậy sao khi “liên thông” cao hơn không thực hiện thi tuyển bằng kiến thức chuyên môn chứ sao lại trở lại với những môn học kiến thức cơ bản? Ai cũng có lý cả. Và, suy cho cùng, việc tăng – nâng chất lượng đào tạo vẫn có nhiều cách khác. Hơn nữa, thực tế cho thấy có lẽ do một số trường chưa đủ tầm để bảo đảm chất lượng đào tạo nên đã ảnh hưởng chung đến “toàn cảnh”. Thiết nghĩ, nếu có các cuộc khảo sát đủ lớn, đủ kích cỡ mẫu trước khi ra chủ trương “siết chặt” thì chắc chắn quyết định của Bộ GDĐT sẽ thuyết phục được số đông dư luận… – vị trưởng phòng này kết luận chính kiến của mình.    “Khai tử” liên thông    PGS-TS Lê Trọng Thắng – Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Mỏ – Địa chất – nhận xét: Nếu thực hiện quy định mới này thì gần như khép lại hình thức đào tạo liên thông, không khả thi. Đặc biệt, nếu tổ chức thi theo ĐH-CĐ như học sinh phổ thông thì với những ngành kinh tế còn có thể đông thí sinh dự thi, chứ với ngành kỹ thuật sẽ rất ít thí sinh. Quy định người học phải có 3 năm kinh nghiệm mới được dự thi, tôi cho rằng cũng không ổn, quá nặng về hình thức.  Bộ nên có chế tài giám sát việc tổ chức tuyển sinh, đánh giá đào tạo liên thông chứ không nên chặn cửa vào của các em như vậy.  GS Đặng Ứng Vận – Hiệu trưởng Trường ĐH Hòa Bình – cho rằng: “Điều kiện yêu cầu 3 năm kinh nghiệm mới được thi hay thi cùng với học sinh phổ thông như vậy quá khó, đánh đố thí sinh. Bên cạnh đó, nếu tổ chức thi liên thông theo hình thức quốc gia sẽ rất phức tạp vì sẽ phải tổ chức nhiều hội đồng thi vào nhiều chuyên ngành khác nhau, e rằng nhiều trường khó làm được, hiệu quả không cao. Theo tôi, nên tổ chức lại hình thức thi giai đoạn chuyển tiếp, vượt rào như thi ĐH trước đây. Nên mở rộng hình thức đầu vào, thắt chặt đầu ra”. Đồng quan điểm trên, một lãnh đạo cấp phòng của Trường Công nghệ Thông tin TPHCM đưa ra ý kiến: Siết chặt quản lý để nâng cao chất lượng đầu vào là hợp lý. Tuy nhiên, với “chủ trương” siết chặt đầu vào bằng cách phải thi chung với kỳ tuyển sinh ĐH thì chính là hành động… khai tử hệ đào tạo liên thông. Điều này đồng nghĩa với việc “đẩy” không ít các trường trung cấp, cao đẳng… chết theo.  Còn với vị trí là “người trong cuộc”, Vũ Doanh – hiện đang là sinh viên CĐ năm 3 Trường ĐH Bách khoa Hà Nội – chia sẻ những điều mà SV này cho là “vô lý”: Sau khi tốt nghiệp (CĐ với bằng khá giỏi) phải thi với học sinh phổ thông lấy đầu vào các trường ĐH. Vậy 3 năm học chương trình chuyên nghiệp của sinh viên có vai trò gì khi theo hình thức thi như vậy? Với quy định mới không chỉ nâng thêm thời gian học của sinh viên lên 7-8 năm (đi ngược lại với mục đích đào tạo tín chỉ gần đây, đó là nhanh cho sinh viên đi làm tự chủ cuộc sống bản thân, giảm bớt gánh nặng cho gia đình) mà còn thực sự dẫn tới nhiều tiêu cực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên – bạn là ai?      Để viết bài này, tôi suy nghĩ như một sinh viên, chứ không phải như một giáo viên – cái vai trò mà giờ đây tôi không còn đảm nhiệm nữa.  Tôi tự hỏi, nếu tôi là một sinh viên, trong môi trường giáo dục như thế này, tôi phải làm gì ? Cũng may là tôi vừa mới kết thúc đời sinh viên cách đây chưa lâu. Nói là sinh viên thì không hẳn đúng, nghiên cứu sinh dù sao cũng có những điểm khác biệt với sinh viên. Nhưng tôi đã sống một cuộc sống sinh viên trong giai đoạn làm nghiên cứu sinh của mình. Và làm sinh viên ở một môi trường khác, nên có thêm những kinh nghiệm khác, để từ đó mà tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này.  Dưới đây là một vài ý nghĩ tản mạn, không lý luận, không hệ thống và chưa phải đã đi tận cùng mọi phương diện.      Trong một môi trường giáo dục thiếu an toàn như hiện nay, sinh viên sẽ phải học cách tự bảo vệ mình. Nhưng để có thể có khả năng đó, sinh viên phải làm được một số điều. Sau đây là một vài điều trong số đó.  Trước hết là tránh trở thành nô lệ cho điểm và cho giáo viên (về phương diện tinh thần, lối sống, cách thức tư duy hay hành động, dĩ nhiên). Hai chuyện này khác nhau, nhưng, ở những phương diện nào đó, có liên quan đến nhau. Một khi bị nô lệ cho điểm thì sinh viên rất dễ trở thành nô lệ cho giảng viên. Vì muốn điểm cao, và vì biết rằng để được điểm cao thì phải trung thành với quan điểm của giảng viên, trung thành với giới hạn của giảng viên, nên rốt cuộc sinh viên sẽ nhắc lại đúng những gì giảng viên muốn, lựa chọn đúng những gì giảng viên muốn.        Nếu đa số từ chối nô lệ cho điểm và từ chối nô lệ cho giảng viên, nếu đa số chấp nhận điểm thấp, thì lúc đó điểm sẽ không còn là vấn đề nữa, hoặc vấn đề sẽ được đặt ra theo  một cách khác, theo một cách có ý nghĩa hơn cho việc đánh giá thực chất nền giáo dục này; rồi biết đâu, điều đó cũng sẽ làm thay đổi quan niệm của các nhà tuyển dụng và các nhà quản lý, sẽ làm thay đổi quan niệm của chính thầy cô của các bạn.        Rủi ro là: khi từ chối trở thành nô lệ cho điểm và nô lệ cho thầy, sinh viên sẽ có nguy cơ bị điểm kém, và điều đó sẽ ảnh hưởng tới cơ hội việc làm sau khi ra trường. Đôi khi người ta dẫn các trường hợp Bill Gates hay Steve Job để chứng minh rằng có thể thành công mà không cần đến cái bằng và sự đào tạo của trường đại học. Nhưng sinh viên có thể lập luận rằng: những nhân vật như vậy, cả thế giới chỉ có một vài người thôi. Tuy nhiên sinh viên cũng có thể hình dung đến trường hợp: nếu đa số từ chối nô lệ cho điểm và từ chối nô lệ cho giảng viên, nếu đa số chấp nhận điểm thấp, thì lúc đó điểm sẽ không còn là vấn đề nữa, hoặc vấn đề sẽ được đặt ra theo một cách khác, theo một cách có ý nghĩa hơn cho việc đánh giá thực chất nền giáo dục này; rồi biết đâu, điều đó cũng sẽ làm thay đổi quan niệm của các nhà tuyển dụng và các nhà quản lý, sẽ làm thay đổi quan niệm của chính thầy cô của các bạn.  Và một điều mà sinh viên cũng chưa nghĩ đến là giảng viên có thể cho cả lớp điểm thấp trong một học kỳ để đe dọa và trừng phạt các bạn vì không tuân theo quan điểm của họ, hay không đưa phong bì cho họ, nhưng họ sẽ không thể kéo dài biện pháp đó, vì lúc ấy chính cách cho điểm của họ sẽ gây chú ý.        Nếu ngay từ bây giờ bạn đã đánh mất cảm giác xấu hổ, đánh mất lòng tự trọng, đã bình thản đưa phong bì để nhận những con điểm không phải của bạn, đã coi điểm cao hơn và quan trọng hơn nhân phẩm và giá trị của con người bạn, thì sau này rất có thể bạn sẽ đi đến chỗ phá hoại nhà cửa người khác, đẩy người khác vào cảnh bần cùng mà vẫn cảm thấy đó là chiến công đẹp.         Hơn nữa sinh viên luôn có thể tự bảo vệ mình. Có những quyền mà hiện tại các bạn hầu như chưa dùng đến: quyền công khai hóa và đưa ra công luận những gì bất công và bất hợp pháp. Chúng ta vẫn còn nhiều nhà giáo, nhiều nhà báo và nhiều luật sư tiến bộ. Họ sẽ ủng hộ và hỗ trợ các bạn. Khi các bạn sử dụng đến các quyền đó, có lẽ các bạn sẽ tự thấy thật là kém cỏi vì đã chấp nhận những điều vô lý, chấp nhận cái xấu và cái tồi tệ, trong khi mà mình có đủ khả năng để giải quyết vấn đề.  Nguy cơ mà có thể bạn chưa nhìn thấy, đó là, nếu hôm nay bạn nô lệ cho điểm, thì ngày mai bạn có thể nô lệ cho những thứ có bản chất giống điểm. Bạn có thể có đất đai nhà cửa khắp nơi mà vẫn là nô lệ. Bạn có thể đứng đầu một tổ chức, đứng đầu một xã, một huyện, một tỉnh… mà vẫn cứ là nô lệ như thường, nô lệ cho chính những thứ bạn có. Nếu ngay từ bây giờ bạn đã đánh mất cảm giác xấu hổ, đánh mất lòng tự trọng, đã bình thản đưa phong bì để nhận những con điểm không phải của bạn, đã coi điểm cao hơn và quan trọng hơn nhân phẩm và giá trị của con người bạn, thì sau này rất có thể bạn sẽ đi đến chỗ phá hoại nhà cửa người khác, đẩy người khác vào cảnh bần cùng mà vẫn cảm thấy đó là chiến công đẹp. Chẳng cần đợi đến sau này. Bạn chỉ cần gõ cái từ khủng khiếp này “sinh viên giết người” (cái tội ác mà ta khó hình dung ở tầng lớp sinh viên) thì trên google sẽ hiện ra số lượng kết quả khiến bạn kinh hoàng, và các hình thức và đối tượng của sự phạm tội sẽ khiến bạn cảm thấy vô cùng đau lòng.  Trước đây, thân phận của người nô lệ được xem là hiển nhiên; trong một thời gian rất dài nhân loại đã chấp nhận rằng có những người sinh ra để làm nô lệ. Vậy mà trong hoàn cảnh đó có những người nô lệ đã không cam chịu. Và có cả những người thuộc về tầng lớp được cho rằng có quyền cai trị người khác cũng không chấp nhận việc có tồn tại những người nô lệ trong xã hội loài người. Để cho xã hội thực sự có tính chất người thì tình trạng nô lệ không được phép tồn tại. Những người đó đã thúc đẩy quá trình dẫn tới sự kết thúc chế độ nô lệ, kết thúc tâm lý bắt người khác phải nô lệ, kết thúc tâm lý làm nô lệ cho người khác, và cuối cùng là kết thúc cái tâm lý làm nô lệ cho chính mình (bạn hãy đọc các tác giả hậu hiện đại thế giới để hiểu rõ hơn điều này). Kết quả của quá trình đó chính là chế độ dân chủ, nơi mà mỗi người đều có sự bình đẳng và tự do thực hiện quyền làm người của mình trên các phương diện: đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tự do tư tưởng, tự do phát ngôn, tự do lập nghiệp, tự do kiến tạo nhân cách riêng của mình… Các quyền làm người đó được đảm bảo bởi một hệ thống luật pháp của con người, được xây dựng và thực thi trên nguyên tắc vì con người.  Ngày nay, bạn sinh ra không là nô lệ, bạn không thể đổ lỗi cho người khác rằng họ muốn biến bạn thành nô lệ. Họ chỉ có thể làm điều đó khi bạn tình nguyện mà thôi.  Làm thế nào để có thể không trở thành nô lệ cho giảng viên?  Trường hợp thứ nhất, bạn may mắn gặp được một người thầy đích thực. Người thầy thực sự sẽ hướng dẫn bạn tự mình tìm lấy con đường đi tới sự thật (sự thật của tác phẩm, của sự kiện, của công thức, của định lý…) chứ không áp đặt cho bạn con đường của họ. Và khi bạn đề xuất một con đường riêng, người thầy thực sự sẽ chỉ cho bạn rằng con đường đó rất có thể dẫn bạn tới ngõ cụt, tới sai lầm, để bạn có thể lựa chọn lại… nhưng không phủ nhận cố gắng của bạn; không tìm cách bắt bạn thừa nhận chỉ có duy nhất con đường, duy nhất cách thức, phương pháp của thầy là đúng. Người thầy thực sự, dù không thích đối tượng nghiên cứu mà bạn lựa chọn, dù sợ khi phải đối diện với đối tượng đó, cũng không ngăn cản bạn; mà trái lại khuyến khích bạn tìm hiểu, nếu đối tượng đó chinh phục trái tim bạn. Hy vọng rằng bạn cũng sẽ may mắn như tôi, sẽ gặp được những người thầy như vậy.  Bạn sẽ cảm thấy gì khi thầy giáo nói với bạn rằng: “bài này của em chỉ đáng được điểm trung bình/điểm kém”, khi thầy hướng dẫn luận văn của bạn nói rằng: “Tôi sẽ không bao giờ cho anh/chị điểm tối đa”? Tôi đã gặp những người thầy nói với tôi như thế, ở phổ thông và ở đại học; và do một sự rụt rè nào đó, cho đến lúc này tôi vẫn chưa nói cho các thầy biết rằng tôi chịu ơn các thầy sâu sắc vì những câu nói đó.  Trường hợp thứ hai, bạn gặp một người thầy chỉ muốn bạn nhắc lại những gì ông ấy nói, như một con vẹt, vì ông ấy nghĩ rằng ông ấy là đại diện cho chân lý, và những gì ông ấy nói ra là chân lý, sinh viên chỉ có thể tuân theo chứ không được phép nghi ngờ. Cũng có thể không hẳn là ông ấy đã tin rằng những điều mình giảng là chân lý, nhưng ông ấy buộc phải tin vì một nỗi sợ hãi nào đó, và rồi đến lượt mình, ông ấy lại bắt bạn lặp lại cũng chính nỗi sợ hãi ấy và sự ràng buộc ấy. Có thể ông ấy không hình dung được rằng chỉ khoảng vài chục năm nữa thôi, hoặc sớm hơn, lịch sử sẽ đánh giá ông ấy như là kẻ đao phủ tinh thần đối với bạn. Điều tốt nhất cho bạn, điều tốt nhất để giúp trí óc bạn không bị tê liệt dưới lưỡi rìu của vị đao phủ tinh thần ấy, đó là đọc thật nhiều tài liệu về cùng một vấn đề mà ông ấy đang giảng, những tài liệu càng có quan điểm đa dạng càng tốt. Chính cách lập luận và minh chứng được đưa ra trong các tài liệu ấy sẽ giúp bạn phát triển khả năng lập luận cũng như giúp bạn tự xây dựng quan điểm riêng của mình.        Sinh viên luôn có quyền lựa chọn cho mình những người thầy thực sự, hoặc ít nhất cũng có quyền đưa ra ánh sáng những người không đáng được gọi là thầy và từ chối làm học trò của những người đó. Trong trường hợp bạn không làm được như vậy, hãy tự xem lại xem mình có đúng thực sự là sinh viên không, hay mình chỉ là một đứa trẻ con chưa trưởng thành, có thể bị thầy cô điều khiển và chấp nhận bị điều khiển như thế nào cũng được.         Và điều này nữa, bạn hãy tự hỏi chính mình xem có cần phải kính trọng một người chỉ bán chữ cho bạn nhưng trong hành động lại chà đạp lên các giá trị nhân phẩm và đạo đức? Bạn có cần phải tự lừa dối mình rằng tất cả những người lên lớp cho mình đều là thầy của mình? Với những người chỉ bán kiến thức để lấy tiền, những người quan niệm và hành xử như thể giáo dục là một dịch vụ, kiến thức là hàng hóa và sinh viên là khách hàng, những người không thực hiện chức năng giáo dục mà chỉ sử dụng bạn như một phương tiện để kiếm tiền của bố mẹ bạn, bạn có nên coi họ như là những người bán hàng ? Bạn có cần phải biết ghê sợ những người đứng trên bục giảng nhưng lại vi phạm pháp luật? Nếu bạn coi những người đó là thầy thì bạn sẽ học cách hành động giống họ, bạn cũng sẽ chà đạp lên các giá trị nhân phẩm và đạo đức, bạn cũng sẽ vi phạm pháp luật. Việc để cho những người như vậy đứng trên bục giảng thuộc về trách nhiệm của những người quản lý và tuyển dụng, việc không trừng phạt họ thuộc về trách nhiệm của luật pháp, nhưng việc chấp nhận những người đó là thầy lại thuộc về trách nhiệm của sinh viên. Ngày nay khi mà bằng cấp và chức danh có thể mua được (bằng hình thức này hay hình thức khác), sinh viên cũng cần hiểu rằng điều khiến cho họ tôn kính người thầy là những giá trị của lao động nghề nghiệp và những giá trị tinh thần mà ông ấy mang lại, chứ không phải là học vị hay học hàm mà ông ấy có. Sinh viên luôn có quyền lựa chọn cho mình những người thầy thực sự, hoặc ít nhất cũng có quyền đưa ra ánh sáng những người không đáng được gọi là thầy và từ chối làm học trò của những người đó. Trong trường hợp bạn không làm được như vậy, hãy tự xem lại xem mình có đúng thực sự là sinh viên không, hay mình chỉ là một đứa trẻ con chưa trưởng thành, có thể bị thầy cô điều khiển và chấp nhận bị điều khiển như thế nào cũng được. Nếu bạn không còn là một đứa trẻ, nếu bạn là sinh viên thì ít nhất bạn cũng có khả năng tự bảo vệ, và  khá hơn, tự lựa chọn và tự quyết định. Sinh viên có thể gặp phải những giáo viên tồi tệ, nhưng nếu bạn trở thành tồi tệ giống thầy, thì không chỉ có ông thầy phải chịu trách nhiệm, mà chính bạn cũng phải chịu trách nhiệm, và phải chịu trách nhiệm phần lớn. Nếu chẳng may bạn gặp phải ông thầy nào đó cố chối bỏ hết mọi trách nhiệm đối với bạn, thì bạn lại càng phải học cách tự chịu trách nhiệm về chính mình. Điều này có thể khiến bạn trưởng thành nhanh hơn.   Làm sinh viên ở thời điểm này, bạn phải biết rằng bạn đang sống ở một giai đoạn mà bạn không còn có thể đổ lỗi hoàn toàn cho giáo viên trong việc quyết định mình trở thành ai. Vì đã qua rồi thời đại chỉ có thông tin một chiều. Ngày nay, dù cho ở trường học, một số (hay phần lớn, tùy vào từng đơn vị cụ thể) các thầy cô cố tình buộc bạn chỉ được học một số tác giả, chỉ được đọc một số sách, chỉ được chép nguyên văn bài giảng của họ, thì thị trường sách vở rộng lớn bên ngoài và thế giới Internet vô tận có thể giúp bạn tìm thấy gần như tất cả những gì bạn cần. Bạn dùng nó để chơi game hay để học hỏi, đó là do chính bạn quyết định, bạn không thể tùy tiện đổ  toàn bộ lỗi cho thầy, cũng như không thể tùy tiện xem tất cả những người đứng trên bục giảng là thầy mình. Tri thức bạn học được là để giúp bạn trở nên mạnh mẽ và có khả năng sử dụng trí tuệ của mình, để đến lượt mình, bạn có thể tạo ra tri thức hoặc tạo ra sản phẩm cho xã hội. Đấy là lý do khiến bạn phải mất thời gian đến trường và bố mẹ bạn phải trả tiền cho bạn đến trường. Nếu một ông thầy, qua bài giảng của mình, muốn biến bạn thành nô lệ và bằng cách đó triệt tiêu sức mạnh của bạn, triệt tiêu khả năng sáng tạo của bạn, người đó nhất định không phải là thầy của bạn.  Chỉ cần bạn bỏ ra một chút thời gian lướt mạng để tìm hiểu, bạn sẽ thấy rằng các bạn bè của bạn trên thế giới, nhất là ở những nước phát triển, có môi trường học tập thuận lợi hơn bạn nhiều. Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên tự hỏi tại sao bây giờ bạn vẫn bị quản lý như một đứa trẻ với cả một hệ thống thiết chế, từ ban cán sự lớp, chủ nhiệm lớp, chi đoàn, liên chi đoàn… Còn bao nhiêu nước trên thế giới này quản lý sinh viên theo cái cách mà bạn đang phải chịu đựng? Toàn bộ hệ thống quản lý ấy không chịu thừa nhận sự trưởng thành của bạn, muốn rằng bạn phải chịu thân phận của một đứa trẻ. Tại sao các trường đại học ở các nước khác không có chế độ phân lớp, không có chế độ quản lý bằng cán sự lớp, không có lớp trưởng, không có chủ nhiệm lớp, bí thư chi đoàn, liên chi đoàn? Không có gì giống như thế mà chất lượng học tập của họ cao hơn bạn, năng lực của họ được phát triển hơn bạn nhiều, và ý thức kỷ luật của họ cũng tốt hơn bạn? Tại sao? Bởi vì họ được tôn trọng. Bởi vì từ 18 tuổi, sinh viên là một công dân đã trưởng thành, đã đủ năng lực tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về hành động và lựa chọn của mình. Không ai có thể ép buộc sinh viên tham gia một tổ chức nào, trừ phi các bạn tự nguyện. Sinh viên Việt Nam cần hiểu rằng, với các hình thức quản lý hiện tại, các bạn tiếp tục bị đối xử như những đứa trẻ, các bạn bị coi là chưa trưởng thành. Thế nhưng, với tầng tầng lớp lớp thiết chế quản lý như vậy thì sinh viên ở Việt Nam phạm tội càng ngày càng nhiều. Báo chí đã báo động tình trạng sinh viên phạm tội từ nhiều năm nay, và càng ngày càng tăng lên cùng với thời gian. Vậy các bạn phải làm gì? Chấp nhận rằng các bạn chỉ là trẻ con? Phản ứng lại bằng cách phạm tội? Và nếu bây giờ các bạn là trẻ con thì các bạn sẽ phải làm trẻ con cho đến tận bao giờ? Và nếu bây giờ các bạn đã là tội phạm thì rồi các bạn sẽ đưa xã hội này đi về đâu? Vậy đó, bạn cần phải tự đặt cho mình câu hỏi: bạn có muốn làm người trưởng thành hay không, bạn có muốn làm người lương thiện hay không?  Là sinh viên, bạn không thể chỉ biết đến kiến thức trong sách vở. Kiến thức trong sách vở chỉ có ý nghĩa khi chúng được dùng để phục vụ cho cuộc sống của bạn hiện tại và sau khi rời khỏi trường đại học. Vậy bạn phải biết những gì đang diễn ra xung quanh bạn, phải biết cuộc sống nào đang chờ đón bạn. Có như vậy bạn mới có thể đến với nó một cách chủ động. Và chính ở điểm này, bạn sẽ phải đứng trước hai lựa chọn: khi bạn hiểu những gì đang chờ đón bạn thì hoặc là bạn chấp nhận để cái thực tế kia nuốt chửng và đè bẹp bạn, chấp nhận quay cùng một cái vòng quay đang cuốn gần như tất cả mọi người theo nó, hoặc bạn chọn cách tự xác lập cho mình một con đường, một lối sống hợp với ý hướng và quan niệm của bạn; thường thì con đường này rất khó khăn.  Bạn thấy đấy, làm sinh viên trong một nền giáo dục như thế này quả là chẳng dễ dàng gì. Không chỉ là khó khăn vì bữa cơm hằng ngày không đủ dinh dưỡng cho cơ thể bạn, mà còn vì bài học hàng ngày cũng có thể không đủ dinh dưỡng cho trí não bạn. Còn nhiều khó khăn khác chưa được nêu ra trong bài viết ngắn này. Nhưng nếu bạn không học cách vượt qua khó khăn ngay từ bây giờ, thì sau khi kết thúc quãng đời sinh viên, nhiều khả năng là bạn chỉ còn cách để cho hoàn cảnh khuất phục bạn. Điều nguy hiểm (và nực cười) là đôi khi bạn bị hoàn cảnh khuất phục mà lại vẫn tưởng rằng bạn đang làm chủ hoàn cảnh.  Làm sinh viên trong một nền giáo dục như thế này quả là khó khăn. Nhưng bạn có lý do để tin rằng bạn có thể vượt qua khó khăn đó. Lý do căn gốc, sâu xa nhất: bạn là con người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên Harvard vẫn là người ưu tú      Steven Pinker phản biện bài viết của William Deresiewicz cho rằng các sinh viên ở những trường ưu tú  có vẻ thông minh năng động, nhưng thực tế, bên trong họ lại có những biểu hiện của sự lo lắng, sợ hãi, thậm  chí trầm cảm, trống rỗng và mất định hướng trong cuộc sống.    Bài viết của Giáo sư Steven Pinker – nhà ngôn ngữ học, tâm lý học thực nghiệm, và là tác giả của nhiều sách khoa học phổ thông được nhiều người đón nhận ở Mỹ và trên thế giới đăng trên tạp chí New Republic, một tạp chí tuần uy tín với những bài viết về chính trị và nghệ thuật ra đời cách đây tròn một thế kỷ, đã phản biện một bài viết, cũng được đăng trên New Republic của William Deresiewicz, tác giả của cuốn sách “Chú cừu xuất sắc: Sự giáo dục sai lầm của tầng lớp ưu tú Mỹ và cách để có một cuộc sống có ý nghĩa” (Excellent Sheep: The Miseducation of the American Elite and The Way to a Meaningful Life).   William Deresiewicz:   Sự què quặt của giáo dục Harvard  Trong bài viết của mình mang tựa đề “Đừng gửi con bạn đến các trường Ivy League” với dòng phụ đề “Các trường hàng đầu quốc gia đang biến con cái chúng ta thành những xác chết biết đi”, William Deresiewicz đã chỉ ra rằng mặc dù các sinh viên trong hệ thống đào tạo ưu tú của những trường này có vẻ thông minh năng động, nhưng trong thực tế, sự cân bằng tâm lý của họ lại đang đi xuống ở mức báo động: nhiều sinh viên tỏ ra rất ganh đua và có phần kiêu hãnh với những gì mình đã làm được và về vị trí của họ trong các tầng lớp ưu tú hàng đầu của Mỹ, nhưng bên trong thì họ lại có những biểu hiện của sự lo lắng, sợ hãi, thậm chí trầm cảm, trống rỗng và mất định hướng trong cuộc sống. Ông lý giải điều nay do không chỉ vì các trường ưu tú của Mỹ có định hướng giáo dục quá tập trung đến các kỹ năng phân tích vấn đề và ăn nói thuyết phục người khác để khi sinh viên ra trường đáp ứng ngay được nhu cầu của những ngành lợi nhuận cao trong nền kinh tế như tài chính, mà còn do quá trình lớn lên của các sinh viên này là một sự chuẩn bị đặc biệt của gia đình để khi đến tuổi họ cũng có đủ điều kiện được nhận ngay vào các trường ưu tú như Harvard, Stanford, Williams, khiến họ có ít trải nghiệm về thất bại và rất sợ rủi ro.   Ngoài ảnh hưởng lên các sinh viên, William Deresiewicz còn cho rằng cách lựa chọn đầu vào và hệ thống giáo dục trong các trường này khiến chỉ con cái những gia đình giàu có và quyền lực mới được hưởng những tinh hoa ưu đãi của xã hội, và tầng lớp này sẽ càng lúc càng xa rời phần còn lại của xã hội nói chung, đặc biệt là tầng lớp thấp hơn của xã hội nói riêng vốn bao gồm những người cần nhiều sự giúp đỡ nữa. Harvard vốn nổi tiếng là môi trường đào tạo những lãnh đạo không chỉ của Mỹ mà cho toàn thế giới, thì sự tách rời này cũng sẽ khiến cho những người lãnh đạo tương lai này không thể hiểu và cảm nhận được thực tế cuộc sống của những người mà họ có thể sẽ làm việc cùng sau này.   Kết luận bài viết, Deresiewicz chỉ ra rằng những yếu tố trên đều tác động tiêu cực lên xã hội và bản thân những sinh viên ưu tú trong hệ thống Ivy League. Có chăng nó chỉ làm lợi cho các trường khi mà đơn xin học vẫn nườm nượp và học phí vẫn tăng đều đặn. Ông khuyên các sinh viên tương lai tìm đến một hệ thống giáo dục “cởi mở” nơi họ có thể tìm hiểu và xây dựng chính mình, và trở thành một con người đúng nghĩa. Với hệ thống giáo dục Mỹ nói chung, Deresiewicz cho rằng các cải cách cần được thực hiện để tạo cơ hội ai cũng được tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao. Hệ thống giáo dục mang tính quý tộc (aristocracy) hay mang tính “trọng dụng nhân tài” (meritocracy) một cách chung chung như hiện nay sẽ không đem lại lợi ích lâu dài cho các sinh viên, xã hội hay nước Mỹ như một quốc gia.     Steven Pinker:   Tấm bằng ở Ivy League vẫn là bằng chứng cho sự thông minh và kỷ luật   Và khi Steven Pinker phản bác những lập luận của William Deresiewicz để bảo vệ Harvard – nơi mình đang giảng dạy, ông chỉ ra rằng bài viết của Deresiewicz mang đầy những kết luận áp đặt và thiếu phân tích khách quan, tập trung quá vào tính tương đối của “giá trị cuộc sống”, mà bỏ qua sự phát triển khả năng trí tuệ nói riêng và sự thành công trong cuộc sống nói chung. Ông so sánh bài viết của Deresiewicz như một phát súng săn tung tóe trúng đủ thứ nhưng lại trượt mất mục tiêu quan trọng nhất của mình.  Deresiewicz đã không chỉ ra được luận chứng nào thuyết phục người đọc rằng các sinh viên Ivy League thời nay thiếu trưởng thành, xa rời thực tế hơn thế hệ trước của họ, khi so với các sinh viên ngoài hệ thống Ivy League hay trong toàn nước Mỹ nói chung. Hơn thế, ông còn “buộc tội” các sinh viên muốn học tốt, đạt kết quả cao nhất chỉ nhằm mục tiêu tạo nền tảng để đạt được sự thành công về tiền bạc, về địa vị và danh vọng. “Vậy thì sinh viên nên làm gì đây, thử ma túy và chơi điện tử suốt ngày ư ?” Steven Pinker hỏi.   Mặc dù có thể là ở nhiều các trường “hạng nhì” lượng sinh viên tài năng cũng sánh ngang với các trường ưu tú và một số ngành học ở các trường này lại còn vượt hẳn so với các trường Ivy League thì vẫn không có lý do để tin là sinh viên các trường đó ham học hỏi, cởi mở, ít ganh đua và khiêm tốn hơn so với các sinh viên Ivy League, như Deresiewicz khẳng định. Ngược lại, chính các trường “hạng nhì” cũng nổi tiếng với các cộng đồng sinh viên mải chơi, lười học, chểnh mảng thi cử và chỉ học cho qua. Do vậy, kết luận rằng việc sinh viên nên đăng ký vào các trường tốp dưới vì các trường này cho họ một nền giáo dục toàn diện hơn chỉ là kết luận thiếu căn cứ của Deresiewicz.  Kết quả nghiên cứu của nhà kinh tế học Caroline Hoxby cho thấy các trường ưu tú nhất bỏ ra chi phí cho cơ sở vật chất và hệ thống đào tạo của mình về trung bình gấp 20 lần so với các trường kém hơn. Đó là một phần nguyên nhân dẫn đến việc các sinh viên Ivy League có khả năng ra trường đúng hạn cao hơn, chọn được bạn đời như ý hơn và tạo được thu nhập cao hơn 20% so với những người bạn cùng lứa từ các trường bình thường.   Về mục đích của giáo dục đại học, Deresiewicz cho rằng “điều đầu tiên sinh viên cần được học từ đại học là khả năng suy nghĩ”, nhưng ông lại phủ nhận kỹ năng phân tích và ăn nói thuyết phục vốn rất quan trọng cho sự nghiệp của sinh viên sau khi ra trường là cần thiết. Sự coi nhẹ thực tiễn này là phi lý.  Ngoài ra, ông còn bác lại quan điểm của Deresiewicz cho rằng giáo dục đại học còn là để cho sinh viên có cơ hội “xây dựng bản thân như một cá thể độc lập”. Theo Pinker, sinh viên cần được trang bị kiến thức toàn diện về văn hóa lịch sử cũng như chính trị xã hội hay nghệ thuật để có thể biết thưởng thức cái đẹp và có một cái nhìn sâu sắc về thế giới nói chung. Nếu sinh viên muốn “xây dựng bản thân như một cá thể độc lập” thì họ có thể tự làm ngoài lớp học chính quy của mình.  Trong số ít những luận điểm của Deresiewicz mà Pinker đồng tình, ví dụ như giáo dục đại học chất lượng cao nên được phổ thông hóa (dân chủ hóa) để mọi công dân có thể tiếp cận, cách nhìn của Pinker cũng có nhiều khác biệt. Ông cho rằng khả năng và nhu cầu của các thí sinh khi nộp đơn vào các trường đại học không đồng nhất, và sự đa dạng hóa của các trường đã phản ánh rất trung thực sự thật này. Nhưng điều này không phải là bất biến. Pinker chứng minh cho quan điểm của mình qua lịch sử của chính Harvard, nơi trước những năm 1960 chỉ dành cho giới thượng lưu của xã hội. Rồi vào những năm 1960, dưới sức ép chiến tranh Lạnh với sự cạnh tranh giữa Xô – Mỹ mà tiêu điểm là tàu Sputnik bay vào vũ trụ thành công, cùng với những phong trào quốc gia chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thái độ bài Do Thái, Harvard đã phải thay đổi chính mình, tập trung vào chính sách “trọng dụng người tài”, mang lại một loạt kết quả trong các lĩnh vực kinh tế khoa học công nghệ của nước Mỹ. Một thực tế nhiều người biết là hiện nay Harvard chỉ dành tối đa 10% (thậm chí có thể thấp đến mức 5%) chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm của mình dựa vào kết quả học tập, còn lại là dựa vào sự phát triển toàn diện của các cá nhân như khả năng thể thao hay nghệ thuật. Vậy, một hệ thống tuyển sinh như thế làm sao có thể chỉ để sản sinh ra những “cái xác biết đi”, hay những “chú cừu” như nhận định của Deresiewicz.  Pinker kể mặc dù ông là một trong những giáo sư được sinh viên yêu thích và các bài giảng của ông có nội dung quan trọng sẽ có trong đề thi cuối kỳ nhưng có những hôm hội trường chỉ có một nửa số sinh viên đi học. Rõ ràng không phải họ lười, mà là các sinh viên Harvard “bận kinh khủng” với các lịch ngoại khóa từ thể thao đến nhạc họa. Qua chính những hoạt động “chơi” này mà sinh viên được cảm nhận sự gắn bó đồng đội và đạt được những thành tích từ chính nỗ lực của họ, một phần không thể thiếu trong “trải nghiệm toàn diện ở Harvard”.  Vậy tại sao khi sinh viên Harvard “ham chơi hơn học” này ra trường, các công ty tư vấn hay tài chính đầu tư hàng đầu lại vội vàng vơ lấy họ, và trả họ lương 20% cao hơn lương của những sinh viên mới tốt nghiệp khác? Một là do tấm bằng cử nhân một trường ưu tú Ivy League là bằng chứng cho trí thông minh và kỷ luật, những yếu tố quan trọng hơn kiến thức cụ thể vì khi có những yếu tố này thì sự tiếp thu kiến thức chỉ là vấn đề thời gian. Hai là có những kỹ năng mà kể cả người thông minh nếu không có cũng khó mà thành công được, thì hầu hết các sinh viên từ các trường ưu tú đều được trang bị, như khả năng suy nghĩ logic và một tư duy phản biện rõ ràng. Một yếu tố nữa là một nhân viên có bằng cử nhân từ Harvard ít có khả năng “làm sai” và cũng làm đẹp đội hình của công ty rất nhiều.   Thế thì rõ ràng là rất có lý khi các gia đình có điều kiện đầu tư cho con cái từ nhỏ để khi đến tuổi thì chúng có đủ điều kiện để được xem xét nhận vào các trường hàng đầu ưu tú rồi.     Nguồn:  http://www.newrepublic.com/article/119321/harvard-ivy-league-should-judge-students-standardized-tests  http://www.newrepublic.com/article/118747/ivy-league-schools-are-overrated-send-your-kids-elsewhere    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên Mỹ, bạn là ai?      V&#224;o th&#225;ng Gi&#234;ng năm 2009 vừa qua, Viện Nghi&#234;n cứu Gi&#225;o dục Đại học (HERI &#8211; Higher Education Research Institute) của trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA &#8211; University of California, Los Angeles) đ&#227; cho c&#244;ng bố một bản ph&#250;c tr&#236;nh, tạm dịch l&#224; &#8220;Những điểm ti&#234;u biểu về người sinh vi&#234;n năm thứ nhất của đại học Mỹ cho học kỳ m&#249;a Thu năm 2008&#8221; (The American Freshman: National Norms for Fall 2008).      Đây là kết quả cuộc khảo sát do Phân khoa Giáo dục của Đại học UCLA thực hiện với gần 250.000 sinh viên năm thứ nhất hiện đang học toàn thời gian trong chương trình Cử nhân của 340 đại học khắp nước Mỹ. Những kết quả trong bản phúc trình đã được điều chỉnh bằng phương pháp thống kê để phản ánh con số 1.400.000 sinh viên năm thứ nhất trên toàn nước Mỹ nhập học vào mùa Thu năm 2008. (Tưởng cũng nên biết đây là một bản phúc trình hằng năm được bắt đầu thực hiện kể từ năm 1966. Trong 4 thập niên vừa qua, tổng cộng hơn 13 triệu sinh viên năm thứ nhất từ 1.700 đại học trên toàn nước Mỹ đã lần lượt tham dự vào các cuộc khảo sát để đúc kết nên những bản phúc trình này).     Dưới đây là bài lược dịch và tóm tắt một số trong rất nhiều thông tin tiêu biểu trong bản phúc trình này nhằm giới thiệu với những nhà giáo dục và đặc biệt là các bạn sinh viên Việt Nam một cái nhìn về những người sinh viên đồng tuổi với các bạn tại Mỹ, một trong những quốc gia có nền đại học rất tiên tiến vừa trong ngành khoa học tự nhiên và công nghệ vừa trong ngành khoa học nhân văn và nghệ thuật.   Dĩ nhiên, nền đại học Mỹ có nhiều ưu điểm nhưng cũng không ít khuyết điểm như mọi nền đại học khác trên thế giới và câu trả lời của các sinh viên này chỉ phản ánh những hiện tượng và truyền thống trong giới hạn của chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa đặc thù của xã hội Mỹ mà thôi.    Về tuổi tác thì khoảng 70% sinh viên năm thứ nhất ở các đại học Mỹ ở vào lứa tuổi 18. Một số rất trẻ, dưới 17 tuổi, chiếm 1,6% trong khi các bạn 25 tuổi hay “già” hơn chiếm 0,1%. Còn về giới tính thì một cuộc khảo sát năm 2003 cho thấy tỷ lệ nữ sinh viên trong chương trình Cử nhân đã tăng từ 42% (1970) đến 56% (2001).  Dù là một xứ hợp chủng, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số sinh viên (91,2%). Đối với số sinh viên còn lại (8,8%) thì Anh ngữ lại chỉ là một ngoại ngữ. Bản khảo sát cũng kê khai hơn 9 sắc dân với thành phần như sau:                   SẮC DÂN      % SINH VIÊN          Người da trắng      71,9          Người da đen, gốc Phi châu      11,3          Người gốc Á châu Thái Bình Dương      8,8          Người gốc Mexico      5,7          Người thuộc Quần đảo Puerto Rico      1,4          Người gốc châu Mỹ La-tinh      4,2          Người gốc thổ dân Mỹ      2,6          Người có gốc Hawaii      1,3          Các gốc gác khác      4,0             Về tôn giáo thì tuy lịch sử nước Mỹ rất gắn liền với đạo Tin lành và mãi cho đến năm 1960 mới có vị Tổng thống đầu tiên theo Công giáo La Mã, thành phần tôn giáo của sinh viên Mỹ cũng rất phức tạp. Một điều đặc biệt là tuy mục này kê khai thành phần tôn giáo nhưng lại đưa ra một thông tin đáng chú ý là trong xứ Mỹ rất ngoan đạo này, cứ 5 sinh viên lại có một bạn (21,1%) không theo tôn giáo nào cả và tổng cộng là 24,2% không theo đạo Chúa.                   TÔN GIÁO      %  SINH VIÊN          12 hệ phái Tin lành phổ quát nhất      34,5          Công giáo La Mã      25,4          Những hệ phái Cơ Đốc giáo khác      12,9          Phật giáo      1,3          Hồi giáo      0,9          Ấn giáo      0,8          Không theo tôn giáo nào cả      21,2               Cha mẹ của người sinh viên  Về trình độ học vấn của cha mẹ người sinh viên Mỹ thì đa số đều có học vấn cao hơn cấp Tú tài, và trong nhóm đó mẹ có trình độ này (53,5%) nhiều hơn cha (45,7%). Nhưng cũng có nhiều sinh viên mà cha mẹ đều có học vấn cao hơn cấp Cử nhân, và trong nhóm đó cha có trình độ này (25,4%) nhiều hơn mẹ (21%). Tuy nhiên con số các sinh viên mà cha mẹ chỉ có bằng Tú tài hay thấp hơn không phải là ít (cha gồm 28,9% và mẹ gồm 25,5%).  Về tình trạng gia đình thì phần lớn sinh viên (70,3%) đến từ những gia đình có đầy đủ cha và mẹ. Tuy nhiên, khoảng một phần tư (25,9%) lại phải chịu cảnh cha mẹ ly dị hay không sống với nhau nữa. Số còn lại có cha mẹ đã qua đời.  Có lẽ cũng như sinh viên ở mọi quốc gia trên thế giới, về thu nhập thì sinh viên Mỹ thuộc đủ diện, từ rất nghèo đến trung bình, và từ khá giả đến giàu có. Thu nhập của cha mẹ sinh viên Mỹ được tóm tắt như sau:               DIỆN KINH TẾ/ THU NHẬP HẰNG NĂM (USD)      %  SINH VIÊN          Rất nghèo (từ dưới 10.000 đến 24.999)      12,4          Nghèo (từ 25.000 đến 74.999)      36,2          Trung bình (từ 75.000 đến 149.999)      31,8          Khá giả (từ 150.000 đến 249.999)      12,1          Giàu có (từ 250.000 trở lên)      7,4               Sinh viên Mỹ lựa chọn đại học và ngành học như thế nào  Ngoài các yếu tố khoảng cách địa lý từ nhà đến trường và phương tiện di chuyển, một số tiêu chuẩn chính mà sinh viên Mỹ cho là quan trọng nhất trong việc lựa chọn đại học được tóm tắt ở bảng dưới đây: (Một điều đáng chú ý là tỷ lệ các bạn nữ sinh viên quan tâm đến những tiêu chuẩn này luôn luôn cao hơn các bạn nam sinh viên)               TIÊU CHUẨN ĐỂ CHỌN ĐẠI HỌC      %  NAM      %  NŨ      %  TẤT CẢ          Đại học có tiếng tăm      59,5      68,9      64,7          Sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm tốt      50,5      57,3      54,2          Sinh viên được trợ giúp tài chính trong khi học      38,1      47,0      43,0          Sinh viên đã đến tham quan trường      35,7      46,1      41,4          Học phí không cao quá      35,8      43,3      39,9          Đại học nổi tiếng nhờ những hoạt động xã hội      36,2      40,2      38,4               Cũng như sinh viên ở các quốc gia khác, sau khi tốt nghiệp trung học, sinh viên Mỹ thường nộp đơn vào nhiều đại học. Kết quả là 60,7% được nhận vào đại học mà các bạn sinh viên ấy mong muốn nhất trong khi 26,1% và 8,6% phải vào các trường mà những sinh viên ấy xếp vào hạng 2 và hạng 3. Ngược lại, bản phúc trình cũng cho biết, dù đã được nhận vào trường mà các sinh viên muốn nhất, nhiều bạn đã phải chọn trường hạng 2 hay hạng 3 chỉ vì thiếu hụt tài chính.  Nói về những lo âu có đủ tiền hay thiếu hụt tài chính để hoàn tất học trình đại học thì tỷ lệ của nữ sinh viên lo âu vẫn nhiều hơn nam sinh viên như được trình bày trong bảng tóm tắt dưới đây:                ƯU TƯ VỀ HỌC PHÍ      %  NAM      %  NỮ      %  TẤT CẢ          Rất lo âu không đủ tiền cho đến khi học xong      8,4      12,9      10,9          Lo âu vừa phải, hy vọng trả được học phí      48,7      56,9      53,2          Không lo âu lắm      42,8      30,2      35,9               Ngành học ở Mỹ rất đa dạng và hầu hết chương trình Cử nhân ở các đại học Mỹ đều không nhiều thì ít có đủ loại ngành học cho sinh viên lựa chọn theo nhu cầu và sở thích. Bản phúc trình cho thấy một số những ngành học được sinh viên chọn lựa nhiều nhất là:                NGÀNH HỌC      %  SINH VIÊN          Kinh doanh (Business)       16,7          Chuyên môn (Professional), như Dự bị Y khoa      13,8          Nghệ thuật và Nhân văn (Arts & Humanities)      13,5          Khoa học Xã hội (Social Sciences)      11,5          Kỹ sư và Kỹ thuật (Engineering & Technical Sciences)      10,3          Sinh vật học (Biological Sciences)      9,3          Giáo dục (Education)      8,3          Khoa học Tự nhiên (Physical Sciences)      3,2          Những ngành học khác      7,0          Không biết chọn ngành nào      6,2               Tuy chọn lựa ngành học như vậy nhưng trong học trình 4 đến 5 năm của chương trình Cử nhân, sinh viên Mỹ thay đổi ngành học trung bình từ 4 đến 5 lần. Cũng cần lưu ý là bản phúc trình cho thấy cứ 100 sinh viên đang học năm thứ nhất thì có đến 6 bạn không hay chưa quyết định được là sẽ chọn ngành học nào.     Sinh viên Mỹ và những yếu tố thành công trong việc học  Các chuyên viên giáo dục ở Mỹ đã đúc kết những phương pháp mà họ cho rằng sẽ giúp người sinh viên thành công trong việc học. Bản phúc trình đưa ra kết quả cuộc khảo sát cho thấy sinh viên Mỹ đã tự đánh giá chính mình trong việc thực hiện một số những phương pháp đưa đến thành công như được tóm tắt trong bảng dưới đây:               PHƯƠNG PHÁP ĐƯA ĐẾN THÀNH CÔNG      %  TẤT CẢ      %  NAM      %  NỮ          Luôn ghi chép bài trong lớp      65,8      51,0      78,0          Dùng luận cứ hợp lý để hỗ trợ ý kiến của mình      57,9      60,7      55,6          Luôn đặt câu hỏi cho thầy cô trong lớp      53,9      49,9      57,2          Tìm lời giải đáp rồi giải thích lại cho bạn hiểu      51,7      50,9      52,3          Coi lầm lỗi như một phần của tiến trình học hỏi      51,6      50,3      52,7          Tìm những phản hồi trong việc học      47,7      41,1      53,2          Tập viết nhiều lần để cải thiện các bài luận văn      46,6      36,9      54,7          Tìm nhiều giải pháp khác nhau cho cùng một vấn đề      44,3      45,7      43,1          Luôn đánh giá chất lượng hay mức độ đáng tin cậy của bất cứ thông tin nào nhận được (chứ không chấp nhận ngay)      37,0      36,9      37,1          Tự khám phá thêm dù thầy cô không bắt buộc      31,4      34,8      28,5          Tự kiếm thêm các bài khảo cứu khoa học và các nguồn thông tin khác      22,1      24,0      20,6               Sinh viên Mỹ nghĩ về chính mình  Ngoài những phương pháp đưa đến thành công trong việc học, cuộc khảo sát cũng nhằm tìm hiểu người sinh viên nghĩ như thế nào về những thuộc tính xa hơn và sâu hơn về vai trò của một sinh viên muốn thành công trong đại học, những thuộc tính bao quát bản chất của một con người. Dưới đây là bản tóm tắt một số thuộc tính chính mà sinh viên Mỹ năm thứ nhất tự cho là mình có khả năng hoặc có ý muốn mạnh nhất:                %  SINH VIÊN      …cho là mình có KHẢ NĂNG RẤT CAO  hay Ý MUỐN RẤT MẠNH về…           75,2      Sự thôi thúc để đạt mục tiêu của mình          73,7      Hợp tác hay liên hệ với người khác          69,5      Học giỏi          67,2      Thông cảm với người chung quanh          61,8      Lãnh đạo          60,7      Khả năng trí thức của chính mình          56,8      Sáng tạo          55,8      Sức khỏe thể chất          54,5      Quân bằng về tình cảm          52,5      Sự tự tin khi liên hệ với người khác          47,5      Luận văn          44,9      Toán          39,9      Các vấn đề tâm linh          38,4      Sử dụng máy tính          37,7      Sự hùng biện trước công chúng          30,6      Nghệ thuật                 Riêng về khuynh hướng chính trị thì cuộc khảo sát năm nay cho thấy có tới 35,6% sinh viên Mỹ năm thứ nhất cho biết họ thường tham dự những cuộc thảo luận chính trị. Đây là tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay, hơn cả con số kỷ lục (33,6%) vào năm 1968. Khuynh hướng chính trị của sinh viên Mỹ (năm thứ nhất) được tóm tắt trong bảng dưới đây:               KHUYNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ      %  SINH VIÊN          Cực Tả (Far Left)      3,2          Tự do, phóng khoáng, cấp tiến (Liberal)      31,0          Không Hữu mà cũng không Tả (Middle)      43,3          Bảo thủ (Conservative)      20,7          Cực Hữu (Far Right)      1,8               Sinh viên và một số vấn đề xã hội tại Mỹ  Cuối cùng, bản phúc trình đưa ra những kết quả của cuộc khảo sát về suy nghĩ của người sinh viên lớn lên trong xã hội Mỹ với những truyền thống, giá trị, và lịch sử cũng như phản ứng của người sinh viên trước những vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội đó. Bảng dưới đây tóm tắt một vài suy nghĩ và phản ứng tiêu biểu của người sinh viên Mỹ.             SINH VIÊN                 79,0%      Không tin là Chính phủ Mỹ đã kiểm soát đầy đủ vấn nạn ô nhiễm môi trường          66,2%      Cho rằng những người đồng tính luyến ái có quyền lập gia đình với nhau          62,2%      Tin tưởng sự bất đồng ý kiến là tối cần thiết trong sinh hoạt chính trị          60,4%      Cho là những người giàu có phải đóng thuế nhiều hơn nữa          58,2%      Chấp nhận ý kiến nên hợp pháp hóa chuyện phá thai          57,4%      Tin là quyền lợi của kẻ phạm pháp đã được chú ý tới quá nhiều [so với quyền lợi của nạn nhân]          41,3%      Cho rằng nên hợp pháp hóa cần sa          34,9%      Nghĩ  rằng cần phải bãi bỏ luật tử hình          28,0%      Tin là cần phải gia tăng ngân sách quốc phòng [Đây là tỷ lệ thấp nhất kể từ sau biến cố nước Mỹ bị tấn công ngày 11/9/2001]          20,1%       Cho rằng kỳ thị chủng tộc không còn là vấn đề chính yếu trong xã hội Mỹ          78,6%      Chấp nhận ý kiến rằng ai cũng có thể thành công trong xã hội Mỹ nếu cố gắng làm việc             Trong thế giới thu nhỏ do xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, hy vọng bài lược dịch ngắn ngủi này sẽ đóng góp phần nào cho việc mở rộng kiến thức của các bạn sinh viên Việt Nam về những người sinh viên và, một cách gián tiếp, về một khía cạnh nào đó của nền đại học Mỹ. Và nếu bài lược dịch này giúp cho các bạn sinh viên Việt Nam so sánh được những hoàn cảnh, suy tư, và thái độ sống với những sinh viên cùng tuổi ở bên trời Âu Mỹ để từ đó, hoặc nhìn nhận và sửa đổi những khuyết điểm của mình cho tốt đẹp hơn, hoặc xác định lại và nhấn mạnh thêm những ưu điểm của mình, tiếp tục mạnh dạn tham dự một cách tích cực hơn nữa vào những cải tổ cần thiết của nền giáo dục đại học của quê hương thì đó đã vượt quá mong muốn của người viết.     * Irvine Valley College  California 2/2009      Cá nhân của người sinh viên Mỹ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên nông thôn Trung Quốc bị bỏ lại phía sau      Cho đến nay, người Trung Quốc có vẻ sẵn sàng chấp nhận sự bất công bằng trong thu nhập, coi đó là cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế. Nhưng người dân sẽ khó chấp nhận hơn trước những bất công bằng trong giáo dục, bởi giáo dục được coi là cánh cửa hướng tới tương lai của đa số thanh niên nghèo.       Đây là nguy cơ có thể châm ngòi cho bất ổn xã hội cần được Trung Quốc phải tập trung giải quyết.   Từ nhiều thế kỷ, người Trung Quốc tin rằng “tri thức có thể thay đổi số phận”, và coi giáo dục là nấc thang để bước tới vị thế kinh tế và xã hội cao hơn. Nhưng rất nhiều người trong số 9,4 triệu thiếu niên Trung Quốc tốt nghiệp trung học năm nay sẽ không đạt được kỳ vọng này, khi mà tồn tại một hố ngăn cách lớn do chênh lệch thành tích học tập giữa học sinh đến từ các vùng thành thị và nông thôn. Điều này sẽ gây bất công, hạn chế cơ hội và ngăn cản những tài năng có triển vọng đi theo con đường khoa học.   Năm 2010, khoảng 2/3 học sinh dự thi tốt nghiệp trung học ở Trung Quốc đến từ nông thôn, nhưng tỉ lệ tân sinh viên đến từ nông thôn của Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh – một trong những đại học danh giá của Trung Quốc – thấp dưới 1/5. Tỷ lệ sinh viên nông thôn tại Đại học Bắc Kinh, một đại học hàng đầu khác, cũng giảm từ khoảng 30% xuống còn 10% trong một thập kỷ qua. Hầu hết sinh viên đến từ nông thôn dồn vào các trường chất lượng thấp hơn. Ví dụ, số sinh viên đến từ nông thôn chiếm 82% tại các trường cao đẳng dạy nghề xếp hạng trung vào năm 2012.           Hầu hết sinh viên đến từ nông thôn dồn vào các trường chất lượng thấp hơn.        Nếu tiếp tục duy trì tình trạng các trường đại học nghiên cứu hàng đầu đều bị độc chiếm bởi dân thành thị, nền khoa học Trung Quốc sẽ không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Giống như vấn đề về thành kiến giới trong các ngành nghề khoa học và kỹ thuật, con đường nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học đối với các sinh viên nông thôn càng lên cao càng hẹp lại, giống như sự khuếch đại theo “hiệu ứng Matthew”- hiện tượng xã hội khi người giàu cứ tiếp tục giàu lên và người nghèo lại nghèo đi. Thực tế cho thấy điều này đã và đang diễn ra, khi một số giáo sư tại các trường đại học Trung Quốc nhận xét rằng các nghiên cứu sinh đến từ nông thôn thường thiếu tính sáng tạo và không giỏi ngoại ngữ bằng các đối thủ đến từ thành thị có điểm thi tương đương. Hệ quả trực tiếp là cơ hội cho các sinh viên nông thôn theo đuổi nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học đang giảm sút, cùng với lượng thành quả cấp quốc gia các nhà nghiên cứu xuất thân nông thôn.  Nếu xu hướng này trong thập kỷ vừa qua vẫn tiếp tục thì giáo dục sẽ đánh mất vai trò của mình là tác nhân giúp cân bằng xã hội, và không còn là chiếc van an toàn để thoát cảnh nghèo đói cho những thanh niên tài năng. Đây cũng là thảm họa cho một đất nước thường vẫn tự hào về truyền thống cổ vũ cho việc học hành để vươn lên vị thế cao hơn trong xã hội.   Có một câu thành ngữ Trung Quốc miêu tả sinh động quá trình thay đổi số phận nhờ sự cần cù học tập, đó là: “cá chép vượt long môn” (theo truyền thuyết Trung Quốc, long môn nằm trên đỉnh ngọn thác chảy xuống từ một ngọn núi thiêng. Rất nhiều cá chép bơi ngược dòng nước mạnh để lên được đỉnh thác, nhưng chỉ một số con đủ mạnh và dũng cảm mới có thể nhảy cú nhảy quyết định, để vượt qua long môn để rồi hóa thành rồng). Việc chuẩn bị cho “cú nhảy” vượt qua kỳ thi đại học quyết định cuộc sống của rất nhiều người trẻ ở Trung Quốc, đặc biệt là ở những vùng nông thôn.  Trong thập kỷ vừa qua, rất ít học sinh nông thôn thực hiện thành công cú nhảy đó, mà nguyên nhân chính là sự phân phối không đồng đều những tài nguyên giáo dục cho thành thị và nông thôn, bắt đầu ngay từ cấp mẫu giáo. Trẻ em thành phố bắt đầu được học ngoại ngữ (một trong ba môn thi đại học bắt buộc) từ mẫu giáo, trong khi ở nông thôn việc tìm được giáo viên tiếng Anh dạy cho trẻ em tiểu học là rất khó khăn.          Từ năm 607 trước Công Nguyên, Trung Quốc đã sử dụng kết quả các kỳ thi chính thức để tuyển chọn quan lại mà không quan tâm đến xuất thân và vị thế tài chính của gia đình họ. Kỳ thi khoa cử (keju) tạo một cơ hội mở và công bằng cho người dân Trung Quốc để thăng tiến, cải thiện đời sống của mình và gia đình. Việc này đã có ảnh hưởng sâu đậm đến thái độ của người Trung Quốc xung quanh vấn đề giáo dục và phần nào giải thích vì sao người Trung Quốc coi trọng việc học đến thế.               Chế độ thi khoa cử không còn tồn tại nữa, nhưng tinh thần của nó vẫn còn được lưu lại trong kỳ thi tuyển đại học quốc gia (gaokao), bắt đầu từ năm 1952. Kỳ thi này được giám sát hết sức nghiêm ngặt, và quá trình chấm thi hoàn toàn theo phương pháp dọc phách. Theo truyền thống, các trường đại học Trung Quốc chỉ sử dụng kết quả kỳ thi tuyển này để tuyển chọn sinh viên.         Đầu tư của xã hội vào giáo dục ở nông thôn thấp hơn rất nhiều so với ở thành thị. Ví dụ, năm 2011, các trường tiểu học thành thị nhận nhiều tài trợ công hơn tiểu học nông thôn 700 nhân dân tệ (112 đô-la Mỹ) trên mỗi đầu học sinh, và lên tới cấp trung học cơ sở thì khoảng cách giữa thành thị và nông thôn là 900 nhân dân tệ trên mỗi đầu học sinh. Tệ hơn nữa, các trường đại học hàng đầu Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng những chính sách để nhận nhiều sinh viên từ chính thành phố của mình hơn, dưới danh nghĩa là để ủng hộ việc phát triển địa phương, mặc dù hầu hết ngân sách của họ là do chính phủ Trung ương cấp và lẽ ra nhiệm vụ của họ là phải phục vụ tất cả công dân trên mọi miền đất nước.   Để khắc phục tình trạng trên đây, Trung Quốc sẽ cần hành động ở ba phạm vi. Thứ nhất, cần thừa nhận rằng chính sách đối đãi khác nhau giữa nông thôn và thành thị chính là vấn đề, vì vậy ngành giáo dục phải đưa ra chính sách có tính thống nhất công bằng. Ví dụ, những quy trình chính thức cho việc đánh giá các trường học và tuyển chọn giáo viên cần được chuẩn hóa. Hai là, cần phân phối lại những tài nguyên giáo dục. Chính phủ cần cấp nhiều quỹ công hơn nữa cho giáo dục nông thôn và cho phép học sinh nông thôn tham gia kỳ thi tuyển đại học tại các khu vực thành thị. Cuối cùng, các tổ chức từ thiện và phi chính phủ có thể giúp bằng cách khuyến khích những người tốt nghiệp từ các trường đại học danh giá ở Trung Quốc và phương Tây về giảng dạy ở những vùng nông thôn. Hầu hết những vùng này, đặc biệt là ở miền tây Trung Quốc, không chỉ riêng môn tiếng Anh mà nhiều môn khác đang thiếu trầm trọng giáo viên.     Đọc thêm:    Cuộc cách mạng giáo dục ở Trung Quốc  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=7733&CategoryID=6  Khánh Minh lược dịch từ bài viết của Qiang Wang, giáo sư Viện Sinh thái và Địa lý ở Urumqi, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc   http://www.nature.com/news/rural-students-are-being-left-behind-in-china-1.15448      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên quốc tế – ngành công nghiệp tỷ đô      Năm 2012, sinh viên quốc tế đóng góp  cho nước Úc 9.8 tỷ USD tiền học phí. Về thương mại, giáo dục (mà chủ yếu  là giáo dục đại học) đã trở thành lĩnh vực xuất khẩu thứ tư của nước  này. Tuy vậy,  xét trên bình diện quốc tế, Úc vẫn chưa phải là nước kinh doanh giáo dục  tốt nhất, bởi họ vẫn phải xếp sau hai cường quốc khác là Anh và Mỹ. Thời  gian gần đây, bên cạnh các đối thủ truyền thống này, Úc bắt đầu gặp  phải cạnh tranh từ các cường quốc mới nổi về xuất khẩu giáo dục khác đến  từ Châu Á.     Động lực xuất khẩu giáo dục đại học  Cũng như mọi ngành, lĩnh vực kinh doanh khác, động lực lớn nhất đối với những nhà xuất khẩu giáo dục đại học chính là vì mục tiêu lợi nhuận. Nắm bắt được nhu cầu ngày càng tăng của sinh viên trên toàn thế giới về việc thụ hưởng dịch vụ giáo dục sau trung học chất lượng cao, các nước có truyền thống về giáo dục đại học như Anh, Mỹ, Úc, Canada, New Zealand đã đi đầu trong việc biến giáo dục đại học – vốn vẫn được xem như một loại hàng hoá công trở thành sản phẩm thương mại có giá trị lợi nhuận lớn.   Kết quả, trong khoảng thời gian 20 năm từ 1990 đến 2010, số lượng sinh viên quốc tế trên phạm vi toàn cầu đã tăng trưởng “chóng mặt” từ 1,3 lên 4,1 triệu sinh viên. Trong đó, riêng năm 2010, năm nước Anh, Mỹ, Úc, Canada và New Zealand (thường được giới chuyên môn gọi là MESDCs – Major English Speaking Destination Countries) đã có tới gần 1,7  triệu chiếm hơn 40 % thị phần toàn sinh viên quốc tế trên thế giới.  Trong bối cảnh nhiều chính phủ, nhất là tại các nước MESDCs có xu hướng cắt dần viện trợ cho giáo dục đại học, động lực kể trên lại càng trở nên cấp bách với nhiều trường đại học.  Ở nhiều nơi, việc học phí cho sinh viên quốc tế gấp đôi, gấp ba sinh viên nội địa đã trở thành hiện tượng phổ biến.  Trong năm 2012, học phí của sinh viên quốc tế đóng góp tới 16% tổng kinh phí hoạt động của các trường đại học tại Úc.  Đối với một số trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể lên tới 25-30%, thậm chí 40%. Với những trường này, thu hút được sinh viên quốc tế hay không ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chính họ.  Động lực thứ hai, sau tài chính định hướng tới mục tiêu dài hơi hơn: cung cấp nguồn nhân lực tại các ngành mũi nhọn cho tương lai.  Thực vậy, tại nhiều nước phát triển như Mỹ, Úc, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số ngành, lĩnh vực đặc thù liên quan đến kỹ thuật như công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, công nghệ hóa học hay vật liệu là vấn đề lớn kéo dài trong nhiều năm nay.        “Việc thu hút thành công sinh viên quốc tế về số lượng  thôi chưa đủ, mà cần phải thu hút đủ sinh viên theo học những ngành đặc  thù mà sinh viên bản địa ít hứng thú.”        Ví dụ, theo báo cáo của Quỹ Khoa học quốc gia NSF, trong năm 2014, cứ 4 kỹ sư trình độ cao hoặc nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ làm việc tại nước Mỹ, lại có 1 người là người nước ngoài.   Khoảng 2/3 trong số họ ở lại làm việc sau khi đã tốt nghiệp thạc sỹ hoặc tiến sỹ tại nước này. Chính vì vậy, việc thu hút thành công sinh viên quốc tế về số lượng thôi chưa đủ, mà cần phải thu hút đủ sinh viên theo học những ngành đặc thù mà sinh viên bản địa ít hứng thú.  Động lực lớn cuối cùng là nhằm duy trì ảnh hưởng chính trị, văn hoá, kinh tế của nước cung cấp (bên nhận sinh viên du học) lên nước nhận dịch vụ (bên có sinh viên du học).  Trong thực tế, đây chính là động lực truyền thống và lâu đời nhất đối với giáo dục đại học quốc tế. Trong các chương trình du học nhằm mục đích này, bên cung cấp dịch vụ thường cho học bổng để sinh viên các nước khác đến học tại nước mình.  Một số chương trình học bổng tiêu biểu nhàm hướng tới mục đích này là Colombo của Anh (dành cho sinh viên các nước thuộc Khối thịnh vượng chung), AUF của Pháp (dành cho sinh viên các nước Pháp ngữ) hay Fulbright của Mỹ (nhằm cho sinh viên trên toàn thế giới).  Những mô hình xuất khẩu giáo dục mới  Khoảng hơn 10 năm gần đây, bên cạnh mô hình xuất khẩu giáo dục truyền thống (sinh viên chuyển tới một nước khác sinh sống và học tập), một mô hình xuất khẩu giáo dục khác (mô hình “du học tại chỗ”) cũng phát triển và ngày càng trở nên phổ biến.  Theo đó, sinh viên thay vì phải di chuyển tới một nước khác có thể theo học tại một chương trình liên kết giữa một đại học trong nước và một đại học nước ngoài hoặc tại một trường đại học nước ngoài có chi nhánh đặt tại nước ngoài.  Đối sánh với mô hình kinh doanh quốc tế nói chung (mô hình Uppsala), có thể xem du học truyền thống thuộc vào loại hình “xuất khẩu trực tiếp”, du học tại chỗ theo chương trình liên kết quốc tế thuộc vào loại hình cấp phép (licensing) hoặc nhượng quyền (franchising); còn du học tại chỗ tại một chi nhánh của đại học nước ngoài thì có thể thuộc loại hình liên  doanh (joint-venture) – (Ví dụ Đại học Giao Thông Tây An Liverpool là một liên doanh giữa Đại học Giao Thông Tây An Trung Quốc với Đại học Liverpool, Anh Quốc có trụ sở đặt tại Thành phố Tô Châu) hoặc 100% vốn nước ngoài (wholly owned) – (ví dụ ĐH RMIT tại Việt Nam).  Theo thống kê, tổng số chi nhánh đại học trên toàn thế giới, tính đến 2010 là 162 cơ sở, trong đó có tới 76 trường đặt trụ sở tại một trong bốn nước Châu Á là UAE, Trung Quốc, Singapore và Qatar – chiếm 50%.    Những cường quốc mới  Trải qua hơn 20 năm phát triển, thị trường sinh viên quốc tế đang ở trong đoạn giữa của thời kỳ tăng trưởng và dự báo sẽ còn tăng nhanh trong thời gian tới. Theo nghiên cứu của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, ước tính, đến năm 2025, trên toàn thế giới sẽ có khoảng 8 triệu du học sinh.  Và cũng như quy luật phát triển của mọi ngành kinh doanh khác, ở giai đoạn tăng tốc, bao giờ cũng xuất hiện nhiều đối thủ mới cạnh tranh với những nhà cung cấp truyền thống.   Với giáo dục đại học quốc tế, những đối thủ mới này chủ yếu đến từ Châu Á, trong đó, có thể kể đến một số trường hợp tiêu biểu như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, UAE hay Malaysia.        Theo ước tính, một năm các gia đình Việt Nam chi trả  khoảng 1,7 tỷ USD cho việc du học của con cái của mình – số tiền, theo  ước tính của các nhà kinh tế, đủ để xây dựng một đại học chất lượng quốc  tế ở Việt Nam.          Với Trung Quốc, chiến lược thu hút sinh viên quốc tế đi kèm với chiến lược xây dựng Đại học đẳng cấp quốc tế của Chính phủ nước này (chương trình 985).  Với Đài Loan, đất nước vốn có nền giáo dục đại học rất phát triển nhưng lại ít được thế giới biết đến, chiến lược tham gia vào cuộc chơi giáo dục đại học quốc tế phần nhiều gắn với khâu quảng bá, xây dựng hình ảnh, song hành với việc nâng cấp các điều kiện hỗ trợ sinh viên quốc tế nói chung như cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính….  Chiến lược chung của Singapore, UAE và Malaysia là liên kết với các đại học thuộc Top 100 đến từ Anh, Mỹ, Pháp, xây dựng các trường đại học phương Tây tại Châu Á nhằm biến những nước này trở thành các trung tâm (hub) giáo dục đại học tầm cỡ quốc tế tại khu vực.    Vị trí của Việt Nam trong thị trường sinh viên quốc tế  Số lượng sinh viên người Việt hiện đang du học trên toàn thế giới cỡ khoảng 70,000 người. Tính đến cuối năm 2014, trong cả nước có khoảng 250 chương trình liên kết quốc tế và 2 trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài.  Theo ước tính, một năm các gia đình Việt Nam chi trả khoảng 1,7 tỷ USD cho việc du học của con cái của mình – số tiền, theo ước tính của các nhà kinh tế, đủ để xây dựng một đại học chất lượng quốc tế ở Việt Nam.  Ở chiều ngược lại, về cơ bản, sinh viên ngoại quốc vẫn còn là điều khá xa lạ đối với giáo dục đại học Việt Nam mặc dù cách đây vài năm chúng ta đã có hẳn 1 thông tư do Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đó có một số điều khoản ưu tiên đối với sinh viên quốc tế trong việc tuyển sinh.  Tuy vậy, một số thành công gần đây của Trường Đại học Hà Nội và Trường Đại học FPT trong việc thu hút sinh viên quốc tế (tự phí 100%) cho thấy đây không phải là nhiệm vụ khó đến mức bất khả thi.  Tất nhiên, thành công của 2 đại học này cũng mới chỉ dừng lại ở mức khởi đầu; và để có thể lan rộng, chắc chắn không thể không có một quyết sách đúng đắn mang tầm chiến lược của các nhà làm chính sách ở tầm vĩ mô.                                                                                                 Theo giaoducvietnam.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang So sánh các hệ thống xếp hạng đại học quốc tế phổ biến      Trong một vài năm gần đây, xếp hạng đại học quốc tế – bao gồm cả xếp hạng toàn cầu lẫn xếp hạng theo từng khu vực địa lý – đã trở thành một chủ đề thu hút mối quan tâm của mọi thành phần xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Riêng đối với các nhà lãnh đạo và quản lý đại học, kết quả xếp hạng là một căn cứ khách quan để đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu của trường, và cũng chính kết quả này sẽ là chứng cứ cho thấy mức độ đạt được các chỉ tiêu đã đặt ra [1].        Tại Việt Nam, xếp hạng đại học thậm chí đã xuất hiện trong các văn bản hành pháp ở cấp cao nhất, khi chính phủ xây dựng chiến lược phát triển giáo dục quốc gia. Theo Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020, một trong những chỉ tiêu cần đạt là đến năm 2020 có 1 trường đại học được xếp hạng trong số 200 trường đại học hàng đầu thế giới.  Vấn đề là từ lúc chính phủ đưa ra chỉ tiêu nói trên cho đến nay thì số lượng các hệ thống xếp hạng quốc tế đã liên tục tăng lên, ban đầu chỉ có một vài hệ thống nhưng đến nay đã tồn tại hàng chục hệ thống khác nhau. Điều này khiến cho người sử dụng khá khó khăn vì không biết phải tin vào hệ thống nào.  Bài viết này nhằm giới thiệu 5 hệ thống xếp hạng phổ biến, và đưa ra những nhận định về mức độ phù hợp của từng hệ thống đối với giáo dục Việt Nam.  Các hệ thống xếp hạng quốc tế phổ biến   Tính đến thời điểm viết bài này (tháng 4/2011), đã có đến 15 hệ thống xếp hạng quốc tế được nêu trên trang Wikipedia [2], chưa kể các hệ thống xếp hạng quốc gia. Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu 5 hệ thống được xem là phổ biến và có ý nghĩa nhất đối với Việt Nam, đó là:    ARWU, còn được biết dưới tên gọi Bảng xếp hạng Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc), ra đời năm 2003;  QS World, trước đây thường được gọi là THES hoặc THE-QS, ra đời năm 2004 tại Anh Quốc;  Webometrics, chuyên xếp hạng trang web của các trường đại học, ra đời năm 2004 tại Tây Ban Nha;  QS Asia, dành riêng cho khu vực châu Á dựa trên hệ thống xếp hạng toàn cầu của QS, ra đời năm 2009;  THE, tách ra từ nhóm THE-QS và kết hợp với Thomson Reuters thành một hệ thống riêng, mới ra đời năm 2010 tại Anh Quốc.    So sánh các các hệ thống xếp hạng  1. ARWU   ARWU là hệ thống xếp hạng đại học được đánh giá là khách quan, minh bạch, đáng tin cậy và cho kết quả ổn định  nhất hiện nay. Cách xếp hạng của ARWU chủ yếu xem xét thành tích khoa học của các trường, sử dụng số liệu từ các nguồn thông tin sẵn có của bên thứ ba, không sử dụng số liệu do các trường cung cấp.  Bảng dưới đây nêu tóm tắt các tiêu chí, chỉ báo, và trọng số sử dụng trong phương pháp xếp hạng trường đại học của ARWU [3].          Tiêu chí  (Criteria)      Chỉ báo  (Indicators)      Mã  (Code)      Trọng số  (Weightings)          Chất lượng giáo dục  (Quality of Education)      Cựu sinh viên của trường đoạt giải Nobel hoặc giải Fields      Alumni      10%          Chất lượng giảng viên  (Quality of Faculty)      – Giảng viên của trường đoạt giải Nobel hoặc giải Fields  – Giảng viên của trường có tên trong danh sách những nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất trong 21 lãnh vực tổng quát      – Award     – HiCi       20%         20%          Thành tích khoa học   (Research Output)      – Số bài báo đăng trên hai tạp chí khoa học Nature và Science   – Số bài báo được chỉ dẫn trong cơ sở dữ liệu các tạp chí của SCIE và SSCI      – N&S     – PUB      20%     20%          Hiệu suất bình quân của giảng viên  (Per Capita Performance)      Hiệu suất khoa học bình quân tính trên đầu giảng viên      PCP      10%          Tổng                                                                                                                         100%          Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng ARWU không phù hợp với các trường đại học của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Những tiêu chí khắt khe về thành tích khoa học khiến cho ARWU chỉ phù hợp với những trường đại học nghiên cứu của các nước phát triển – chủ yếu là hệ thống Anh-Mỹ và Châu Âu. ARWU hoàn toàn không quan tâm đến việc cung cấp thông tin so sánh về các trường đại học của các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam hoặc những khu vực khác trên thế giới.  2. THE-QS (nay là QS World)  Hệ thống xếp hạng của THE-QS là sự hợp tác giữa Tạp chí THE (Times Higher Education) và QS. Hệ thống này tồn tại từ năm 2004 đến năm 2009 dưới tên gọi đầu tiên là THES, sau đó đổi thành THE-QS. Đến năm 2009, THE không hài lòng về phương pháp xếp hạng đang gây nhiều tranh cãi của THE-QS vào lúc ấy, nên sự hợp tác giữa hai bên chấm dứt. QS tiếp tục sử dụng bảng xếp hạng này, đổi thành QS World và bổ sung vào các sản phẩm của mình các bảng xếp hạng khu vực như Bảng xếp hạng Châu Á của QS (QS Asia), sẽ được đề cập đến ở mục 4.    THE-QS hay QS World là hệ thống xếp hạng bị phê phán nhiều nhất, trước hết là vì quá đặt nặng việc khảo sát ý kiến các bên có liên quan (đồng nghiệp và nhà tuyển dụng), dẫn đến các số liệu thiếu ổn định và độ tin cậy thấp. Ngoài ra, QS World cũng sử dụng các số liệu do chính các trường cung cấp để xếp hạng (tỷ số giảng viên trên sinh viên), nên không bảo đảm các số liệu tự cấp kia là hoàn toàn chính xác.  Bảng dưới đây tóm tắt các tiêu chí, chỉ báo và trọng số sử dụng trong phương pháp xếp hạng trường đại học của QS World [4].          Tiêu chí              (Criteria)      Chỉ báo  (Indicators)      Trọng số  (Weightings)          Chất lượng nghiên cứu (Research quality)      Khảo sát ý kiến đồng nghiệp (Academic peer review)      40%          Trích dẫn bình quân trên đầu giảng viên   (Citations per faculty)      0%                   Chất lượng giảng dạy (Teaching Quality)      Khảo sát ý kiến nhà tuyển dụng toàn cầu  (Global employer review)      10%          Tỷ số giảng viên trên sinh viên  (Faculty student ratio)      20%          Mức độ quốc tế hóa  (Internationalisation)      Tỷ lệ sinh viên quốc tế   (International student ratio)      5%          Tỷ lệ giảng  viên quốc tế   (International faculty  ratio)      5%          Tổng                                                                                                 100%                       Các tiêu chí của QS World không chỉ liên quan đến thành tích khoa học, mà còn bao gồm cả yếu tố nguồn lực dành cho giảng dạy (đo bằng tỷ số giảng viên trên sinh viên), mức độ quốc tế hóa của một trường (đo bằng tỷ lệ giảng viên và sinh viên quốc tế). Việc lấy ý kiến các bên liên quan, dù có tính chủ quan và vì thế thường bị các nhà nghiên cứu phê phán vì thiếu tính khoa học, nhưng cũng có thể cho thấy được phần nào danh tiếng của một trường, dựa trên những thành tựu có thực trong quá khứ của trường đó.  Hiện nay đã có khá nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á tham gia vào hệ thống xếp hạng này và đã lọt được vào 500 đầu tiên (thậm chí trong top 200-300) như Mã Lai, Thái Lan, Indonesia, vv. Vì vậy, khả năng Việt Nam có thể lọt vào danh sách này trong tương lai không phải là điều hoàn toàn bất khả.  3. Webometrics  Webometrics không phải là một hệ thống xếp hạng trường đại học, mà chỉ xếp hạng trang web của các trường mà thôi. Tuy nhiên, do độ bao phủ rộng (Webometrics đưa ra một danh sách đến 12000 vị trí), đồng thời do độ tương quan cao của những vị trí đầu bảng giữa Webometrics và các kết quả xếp hạng khác, nên Webometrics thu hút được khá nhiều sự chú ý của công chúng trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam.  Dưới đây là bảng tóm tắt các tiêu chí và trọng số sử dụng trong phương pháp xếp hạng trường đại học của Webometrics [5].          Tiêu chí  (Criteria)      Trọng số  (Weightings)          Kích thước trang web  (Size)      20%          Khả năng nhận diện   (Visibility)      50%                Số lượng các “file giàu”  (Rich files)      15%          Thư tịch khoa học theo Scholar   (Scholar)      15%          Tổng                                                                100%          Kết quả xếp hạng trên Webometrics dù chỉ dựa trên trang web nhưng vẫn phản ánh được phần nào thực lực của các trường, trong đó thành tựu về nghiên cứu khoa học (số lượng bài báo, chỉ số trích dẫn, vv) vẫn là một yêu cầu quan trọng. Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều trường được lọt vào danh sách 12,000 trường đại học của Webometrics, và việc theo dõi thứ hạng hàng năm của các trường đại học Việt Nam so với các trường khác trong khu vực cũng có thể cung cấp cho ta một số thông tin hữu ích về “danh tiếng” (reputation) của các trường đại học Việt Nam đối với độc giả quốc tế, để có kế hoạch lựa chọn những trường cần đầu tư để cải thiện vị trí.  4. QS Asia  Hệ thống xếp hạng đại học Châu Á của QS ra đời 2009 và là sự cải biên hệ thống xếp hạng toàn cầu của QS. Đây là một sáng kiến hữu ích nó cho phép các trường vốn ít có cơ hội xuất hiện trong các danh sách xếp hạng toàn cầu có thể lọt vào danh sách các trường hàng đầu của một khu vực để có thể so sánh với nhau.  Dưới đây là bảng so sánh tóm tắt các tiêu chí, chỉ báo và trọng số sử dụng trong phương pháp xếp hạng trường đại học của QS World và QS Asia [6].          Tiêu chí              (Criteria)      Chỉ báo (Indicators)  QS World      Chỉ báo (Indicators)  QS Asia          Chất lượng nghiên cứu (Research quality)      Khảo sát ý kiến đồng nghiệp quốc tế (40%)      Khảo sát ý kiến đồng nghiệp Châu Á (30%)          Trích dẫn bình quân trên giảng viên (20%)      – Tỷ số bài báo trên giảng viên (15%)  – Trích dẫn bình quân trên giảng viên (15%)          Chất lượng giảng dạy (Teaching Quality)      Khảo sát ý kiến nhà tuyển dụng toàn cầu (10%)      Khảo sát ý kiến nhà tuyển dụng Châu Á (10%)          Tỷ số giảng viên trên sinh viên (20%)      Tỷ số giảng viên trên sinh viên (20%)          Mức độ quốc tế hóa  (Internationalisation)      – Tỷ lệ sinh viên quốc tế (5%)  – Tỷ lệ giảng viên quốc tế (5%)      – Tỷ lệ sinh viên quốc tế (2.5%)  – Tỷ lệ giảng viên quốc tế (2.5%)  – Tiếp nhận sinh viên trao đổi (2.5%)  – Gửi sinh viên ra nước ngoài trao đổi (2.5%)          Tổng                                                                                                 100%                       Có thể thấy QS Asia là bảng xếp hạng phù hợp nhất đối với đa số các trường đại học Châu Á. Các chỉ báo liên quan đến quốc tế hóa là điều mà bất kỳ trường đại học Châu Á nào cũng có thể cải thiện được nếu có quyết tâm. Việc trao đổi và tiếp nhận sinh viên và giảng viên quốc tế chắc chắn sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của các trường thông qua việc học hỏi từ các đồng nghiệp quốc tế.  Tỷ số giảng viên trên sinh viên cũng không khó để cải thiện, vì chỉ cần các trường bỏ thêm tiền đầu tư và thu hút thêm nhiều giảng viên. Các chỉ báo thuộc tiêu chí “chất lượng nghiên cứu” cũng không quá khó, vì QS Asia không chỉ tính đến các bài báo có chỉ số trích dẫn cao, mà còn xem xét cả chỉ số bình quân bài báo trên giảng viên. Yêu cầu còn lại là tạo danh tiếng để có ấn tượng tốt đối với những người được kháo sát ý kiến (trọng số khá cao, tổng cộng đến 50%).  5. THE (hệ thống xếp hạng mới, tách ra từ THE-QS)  THE ra đời năm 2010 sau khi sự hợp tác giữa Tạp chí THE (Times Higher Education) và QS để tạo ra bảng xếp hạng THE-QS chấm dứt vào năm 2009 sau khi hoạt động được 6 năm, do THE không hài lòng về phương pháp xếp hạng thiếu ổn định và có thời gian gây nhiều tai tiếng của THE-QS.  Do đã từng là đối tác của QS trong một thời gian dài nên THE có những điểm tương đồng với QS về các tiêu chí xếp hạng. Tuy nhiên, vì cho rằng phương pháp của QS không đáng tin  cậy nên các phương pháp thực hiện xếp hạng của THE rất khác với QS.  Dưới đây là bảng so sánh tóm tắt các tiêu chí, chỉ báo và trọng số sử dụng trong hai bảng xếp hạng của QS World và THE [7].          Tiêu chí              (Criteria)      Chỉ báo (Indicators)  QS World      Chỉ báo (Indicators)  THE          Chất lượng nghiên cứu (Research quality)      Khảo sát ý kiến đồng nghiệp quốc tế (40%)  Trích dẫn bình quân trên giảng viên (20%)                                         TỔNG CỘNG: 60%      – Khảo sát ý kiến đồng nghiệp quốc tế (19.5%)  – Thu từ các đề tài nghiên cứu (5.25%)  – Tỷ số bài báo trên giảng viên (4.5%)  – Tỷ lệ thu từ khu vực công dành cho nghiên cứu trên tổng thu từ nghiên cứu (0.75%)  Tổng1: 30%  – Trích dẫn bình quân trên giảng viên 32.5%  – Tỷ lệ thu từ chuyển giao công nghiệp 2.5%  Tổng2: 35%     TỔNG CỘNG (1+2): 65%          Chất lượng giảng dạy (Teaching Quality)      Khảo sát ý kiến nhà tuyển dụng toàn cầu (10%)  Tỷ số giảng viên trên sinh viên (20%)                             TỔNG CỘNG: 30%      – Khảo sát ý kiến đồng nghiệp quốc tế (15%)  – Tỷ số bằng tiến sĩ trên tổng giảng viên (6%)  – Tỷ số sinh viên tuyển mới  trên giảng viên (4.5%)  – Bình quân thu nhập giảng viên (2.25%)  – Tỷ số bằng tiến sĩ trên bằng cử nhân được cấp  (2.25%)     TỔNG CỘNG: 30%          Mức độ quốc tế hóa  (Internationalisation)      – Tỷ lệ sinh viên quốc tế (5%)  – Tỷ lệ giảng viên quốc tế (5%)     TỔNG CỘNG: 10%      – Tỷ lệ giảng viên quốc tế (3%)  – Tỷ lệ sinh viên quốc tế (2%)  TỔNG CỘNG: 5%          Tổng                                                                                 100%                                        100%                       So sánh hai bảng xếp hạng của QS World và THE, ta thấy THE cố gắng giảm bớt tính chủ quan của việc lấy ý kiến khảo sát vốn có trọng số rất cao trong bảng xếp hạng QS bằng các chỉ báo định lượng khác khách quan hơn, và thiên về các chỉ báo về thành tích khoa học, theo cách làm của ARWU. Số lượng chỉ báo trong mỗi tiêu chí trong THE cũng nhiều hơn so với QS, không ngoài mục đích làm cho việc xếp hạng khách quan, có giá trị và công bằng hơn. Vì vậy, THE cũng có vẻ phù hợp hơn với các trường đại học thiên về nghiên cứu thuộc các nước phát triển, đặc biệt là khu vực nói tiếng Anh.  Hệ thống xếp hạng nào cho Việt Nam?   Năm hệ thống xếp hạng đại học quốc tế phổ biến vừa được giới thiệu trong bài viết cho thấy tính hai mặt của việc xếp hạng quốc tế, đó là (1) không có hệ thống nào hoàn toàn phù hợp với tất cả mọi trường đại học vì chúng rất đa dạng về sứ mạng và điều kiện hoạt động; đó là lý do tại sao cần có nhiều bảng xếp hạng khác nhau; (2) dù có những khiếm khuyết và bất cập, các hệ thống xếp hạng vẫn ít nhiều có ích vì chúng cung cấp những thông tin khá hữu ích cho các bên có liên quan – người học và gia đình, nhà tuyển dụng, các nhà chính sách, và toàn xã hội.  Riêng đối với Việt Nam, sự quan tâm đến các bảng xếp hạng quốc tế là cần thiết để có thể xác định được vị trí của giáo dục đại học Việt Nam so với thế giới. Tuy nhiên, để sự so sánh này thực sự có ý nghĩa, chúng ta cần hiểu rõ về các tiêu chí và phương pháp xếp hạng của từng hệ thống. Sự hiểu biết này cho phép ta lựa chọn một bảng xếp hạng phù hợp để giúp ta biết vị trí của mình, đồng thời ta xác định được những đối tác quốc tế có điều kiện tương tự với Việt Nam nhưng có được vị trí tốt hơn để có thể học hỏi và cải thiện.  Trong thời điểm từ nay đến 2020, rõ ràng chúng ta chưa thể nhắm đến những vị trí trong top 200 thế giới khi đa số những điều kiện cần thiết để có thể tham gia xếp hạng chúng ta vẫn còn chưa có. Theo chúng tôi, bảng xếp hạng thực sự khả thi và hữu ích đối với Việt Nam là QS Asia, một bảng xếp hạng mà một số trường thuộc các nước Đông Nam Á có điều kiện tương tự như Việt Nam cũng đã chiếm được nhiều vị  trí trong khoảng top 500. Chúng ta cần học hỏi cách làm của những trường này và đầu tư vào việc cải thiện chính mình để cũng có thể lọt được vào danh sách top 500 đại học hàng đầu Châu Á.  Vì chỉ khi nào các trường của Việt Nam dành được những vị trí trong top 500 đại học hàng đầu Châu Á, thì mới có thể nghĩ đến việc tiếp tục tham gia những bảng xếp hạng khác có đòi hỏi khắt khe hơn.  ——————–  Tài liệu tham khảo    http://china.globaltimes.cn/society/2011-02/623719.html.  “College and university rankings”; http://en.wikipedia.org/wiki/College_and_university_rankings.  “Methodology of ARWU 2020”; http://www.arwu.org/ARWUMethodology2010.jsp.  “Understanding QS World rankings”.  http://www.topuniversities.com/world-university-rankings/understanding-qs-world-university-rankings%C2%AE-methodology.  “Methodology”; http://www.webometrics.info/methodology.html.  “Comparing QS Asian University Rankings with QS World University Rankings”; http://www.qsworldclass.com/showcase/specialfeature4.php.  “Robust, transparent and sophisticated”, http://www.timeshighereducation.co.uk/world-university-rankings/2010-2011/analysis-methodology.html.      Author                Quản trị        
__label__tiasang So sánh ở Việt Nam và Nhật Bản      Nhìn ở vẻ bề ngoài, những cải cách đang và sẽ được tiến hành với môn Lịch sử ở Việt Nam trong “Đề án cải cách giáo dục” toàn diện và triệt để hiện nay tương đối giống với những nội dung trong cải cách giáo dục lịch sử mà Nhật Bản đã thực hiện sau 1945. Tuy nhiên, khi nhìn sâu vào tình hình thực tế sẽ thấy có những khác biệt quan trọng.    Một tiết học Lịch sử trực quan ở Bảo tàng.  Ở Nhật sau năm 1945, môn “Nghiên cứu xã hội” (Xã hội), môn học tổng hợp các môn học vốn tồn tại trước đó (Lịch sử, Địa lý, Công dân) được thiết lập. Ở Việt Nam cũng có sự xuất hiện của các môn học “tích hợp” trong “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ Giáo dục và Đào tạo như: môn “Tìm hiểu xã hội” (tiểu học), “Khoa học xã hội” (trung học cơ sở, trung học phổ thông), “Công dân với Tổ quốc” (trung học phổ thông)… Thú vị hơn nữa là ở cả Việt Nam và Nhật Bản đều diễn ra cuộc tranh luận gay gắt về mối quan hệ giữa môn Lịch sử với vai trò là môn học độc lập và các môn học tích hợp (tổng hợp) bao hàm nội dung lịch sử.    Đồng thời, sau 1945, Nhật thực hiện chế độ “kiểm định sách giáo khoa”, với các bộ sách giáo khoa do các nhà xuất bản tư nhân xuất bản và các trường, các địa phương được quyền tự do lựa chọn các bộ sách đã được Bộ Giáo dục thẩm định. Sách giáo khoa các môn xã hội vốn được nhà nước bảo hộ và kiểm soát ngặt nghèo trước đó cũng trở thành sách giáo khoa kiểm định. Cơ chế “một chương trình – nhiều sách giáo khoa” vừa được chính thức công nhận gần đây ở Việt Nam thực ra là một cách diễn đạt khác của cơ chế “sách giáo khoa kiểm định”. Nhưng khi so sánh những động thái cải cách trong giáo dục lịch sử ở Việt Nam và so sánh với Nhật Bản, nơi cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến đã diễn ra hơn 70 năm sẽ thấy có rất nhiều điểm khác biệt:   Thứ nhất, trong khi môn Nghiên cứu xã hội ở Nhật Bản ra đời và đảm nhận vai trò trung tâm của cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến với một thông điệp rất rõ ràng: giáo dục nên những người công dân có tri thức, phẩm chất, năng lực, thái độ phù hợp với xã hội “hòa bình”, “dân chủ và “tôn trọng con người”, thì thông điệp mà các môn học “tích hợp” lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam trong “Dự thảo chương trình phổ thông tổng thể” không rõ ràng và đầy… trừu tượng. Những cụm từ như “phẩm chất, năng lực người học”, thậm chí “phẩm chất, năng lực công dân” không nói rõ và không đủ nội hàm cần thiết về triết lý giáo dục mà nền giáo dục mới cần phải đưa ra.    Sự biểu đạt không rõ ràng về “dạy học tích hợp” đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt giữa giới Sử học với Bộ Giáo dục xoay quanh về vị trí độc lập của môn Lịch sử trong nhà trường. Trong cuộc tranh luận này, cả hai bên đều dựa trên những lý luận rất cũ để bảo vệ chủ trương của mình và không làm rõ thêm được những vấn đề rất quan trọng như “thế nào là dạy học tích hợp?”, “giữa dạy học tích hợp và dạy học lịch sử có mâu thuẫn gì không?”. Kết cục là cuộc tranh luận diễn tiến thành chuyện một bên muốn môn Lịch sử trở thành môn tự chọn và một bên muốn môn học này thành môn bắt buộc ở THPT. Trong khi đó ở Nhật Bản, nhờ cuộc tranh luận về môn “Nghiên cứu xã hội’’ mà các học giả đã làm rõ được hai kiểu giáo dục lịch sử với vai trò, chức năng riêng là: “giáo dục lịch sử trong môn Lịch sử” (chủ yếu là thông sử) và “giáo dục lịch sử trong môn Nghiên cứu xã hội” (thông sử, lịch sử theo chủ đề, lịch sử lội ngược dòng).    Thứ hai, khi du nhập môn Nghiên cứu xã hội vào trường học và đổi mới giáo dục lịch sử, người Nhật coi trọng các trải nghiệm đời sống của học sinh và lấy nó làm xuất phát điểm để xây dựng các chủ đề học tập gần gũi với mối quan tâm, hứng thú của học sinh. Với tư duy này, lịch sử xã hội địa phương và lịch sử xã hội được quan tâm đầy đủ khiến cho việc học lịch sử trở nên gần gũi và hữu ích. Trong khi đó, lịch sử xã hội và các vấn đề trong đời sống xã hội của học sinh trở thành những “điểm mù” trong chương trình giáo dục lịch sử. Điều này có liên quan đến quan điểm giáo dục lịch sử – thường nhấn mạnh đến vai trò “giáo dục lòng yêu nước”, “giáo dục tinh thần dân tộc”, “giáo dục truyền thống dân tộc”… đối với học sinh. Hệ quả là giáo viên sẽ chú trọng đến việc truyền đạt các sự kiện tiêu biểu được đánh giá là có ý nghĩa lớn đối với dân tộc và các nhân vật anh hùng, các nhà lãnh đạo, cũng như làm cho học sinh nhớ và hiểu được các giải thích, đánh giá nhân vật, sự kiện đi kèm vốn đã được quy ước sẵn.    Thứ ba là sự khác biệt trong quan niệm về mối quan hệ giữa sử học và giáo dục lịch sử. Ở Việt Nam, quan niệm phổ biến của giới sử học và giáo dục lịch sử cho rằng giáo dục lịch sử phải dựa trên nền tảng của sử học và phải truyền đạt, cập nhật được những thành tựu của sử học. Trong quan niệm này, mối quan hệ giữa sử học và giáo dục lịch sử là quan hệ một chiều (từ sử học tới giáo dục lịch sử). Theo đó, nhiệm vụ của giáo viên ở trường phổ thông sẽ là truyền tải tới học sinh những thành tựu (bao gồm cả những thành tựu mới nhất) của sử học. Lối tư duy này có quan hệ mật thiết với lối dạy truyền đạt và minh họa vốn tồn tại phổ biến trong các giờ dạy lịch sử ở Việt Nam.    Ở Nhật Bản, giới sử học và giáo dục lịch sử một mặt khẳng định giáo dục lịch sử cần phải dựa trên sử học và sử dụng các thành quả của sử học, mặt khác họ cũng nhấn mạnh rằng bản thân giáo dục lịch sử phải sử dụng cả các phương pháp nghiên cứu của sử học để huấn luyện học sinh. Như vậy trong tư duy này, người giáo viên không phải là người truyền đạt các tri thức lịch sử vốn là thành tựu của sử học tới học sinh và làm cho học sinh ghi nhớ, hiểu chúng mà họ phải tái cơ cấu các tri thức lịch sử đó thành nội dung học tập, sử dụng các tư liệu cần thiết làm “chìa khóa” để học sinh đóng vai trò là “nhà sử học tí hon” tái khám phá chúng bằng các phương pháp của sử học và tư duy của nhà sử học. Trải qua quá trình học tập đó, dần dần, tư duy và phương pháp của học sinh được mài sắc, giúp cho học sinh có thể nghiên cứu và giải mã được các hiện tượng xã hội ở xung quanh bản thân mình dưới góc độ sử học. Đấy là tiền đề để giáo dục nên những người công dân ưu tú có tinh thần phê phán và cải tạo xã hội ngày một tốt đẹp hơn.   Sự giống và khác của giáo dục và giáo dục lịch sử ở Việt Nam so với Nhật Bản ở trên làm cho tôi không khỏi suy ngẫm rằng: cái khó trong cải cách giáo dục Việt Nam không phải nằm ở chỗ chúng ta không tìm ra giải pháp mà khó khăn nằm ở chỗ, liệu rằng những giải pháp ấy có được thừa nhận và thực thi trong môi trường thuận lợi hay không mà thôi. Đương nhiên, độ khó của vấn đề này sẽ tăng hay giảm phụ thuộc phần lớn vào ý chí và năng lực của những người quan tâm đến giáo dục nước nhà, trong đó, trước hết là những người làm giáo dục.   ——— * Nghiên cứu sinh giáo dục Lịch sử trường Đại học Kanazawa, Nhật Bản; Giảng viên Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.        Author                Nguyễn Quốc Vương        
__label__tiasang Sớm triển khai Đại học Việt – Nhật      Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Nguyễn Quân tại Hà Nội chiều 13/9, ông Takebe Tsutomo, cố vấn đặc biệt của Liên minh nghị sĩ hữu nghị Nhật-Việt, cho biết, Đề án Đại học Việt-Nhật đang trong giai đoạn khảo sát, thu thập và đánh giá thông tin.    Với mục tiêu thành lập trường đại học đa ngành, đào tạo đại học và sau đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặt tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, ông Takebe bày tỏ mong muốn Bộ KH&CN ủng hộ, quan tâm đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, hướng tới xây dựng Đại học Việt-Nhật trở thành biểu tượng cho quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài giữa hai nước.  Bộ trưởng đánh giá cao ý tưởng của ông Takebe Tsutomo về việc xây dựng trường Đại học Việt-Nhật theo mô hình Harvard châu Á. Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng chia sẻ những khó khăn gặp phải khi xây dựng trường như: đội ngũ giảng viên Việt Nam chưa đảm đương được việc dạy hai thứ tiếng Nhật, Anh trong thời gian đầu, diện tích đất bố trí cho trường, dịch vụ tại Khu CNC Hòa Lạc còn yếu,…  Bộ trưởng khẳng định, nếu được Chính phủ giao nhiệm vụ, Bộ KH&CN sẽ hỗ trợ hết mình để trường Đại học Việt Nhật sớm đi vào hoạt động, tin tưởng sự nỗ lực của hai bên sẽ vượt qua khó khăn để hoàn thành dự án đáp ứng mong muốn của hai nước.  Đại học Việt – Nhật được xây dựng, vận hành về cơ bản bằng vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản, ban đầu sẽ được đặt tại Khu CNC Hòa Lạc. Diện tích của trường và trường đào tạo sau đại học khoảng 100 ha. Sau 10 năm, dự kiến đào tạo được 6.000 sinh viên, trong đó sinh viên cao học khoảng 2.400 người, ở các ngành: khoa học và kỹ thuật; y tế, y tá, điều dưỡng; nông nghiệp; tiếng Nhật; Luật và kinh tế, quản trị kinh doanh.  Định hướng của đại học Việt – Nhật là gáo dục đào tạo chất lượng cao như các trường đại học hàng đầu tại Nhật; Đào tạo nguồn nhân lực chủ chốt cho sự phát triển của Việt Nam và thúc đẩy tình hữu nghị giữa hai quốc gia; Đào tạo gắn với thực tiễn dựa trên nền tảng công nghệ và kinh nghiệm của Nhật Bản; Là nơi hội tụ sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai quốc gia; Dựa trên sự hợp tác vốn có giữa các trường đại học của hai nước; Thực hiện việc giảng dạy và đào tạo bằng tiếng Nhật và có kết hợp với các nội dung bằng tiếng Anh,…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sốt “giáo dục kiểu Ấn” ở Nhật      Giáo dục kiểu Ấn Độ đang bùng nổ ở Nhật, phản ánh sự thiếu niềm tin của nhiều người Nhật vào trường học đất nước mình, nơi từng đào tạo biết bao học sinh luôn giữ vững thứ hạng đầu trong các kỳ thi quốc tế.  Các hiệu sách ở Nhật đang bày bán nhiều loại sách của Ấn Độ với các tiêu đề như “những bài luyện tập toán cao cấp của Ấn Độ” và “Những bí mật chưa được biết của người Ấn Độ”. Các tờ báo Nhật thường đưa tin về trẻ em ở Ấn Độ học giỏi. Và một số trường quốc tế của Ấn Độ tại Nhật đã nhận được rất nhiều đơn xin học từ những gia đình Nhật.    Trường dạy tiếng Anh cho trẻ em và Trường Mẫu giáo Quốc tế ở Nhật (Little Angels English Academy & International Kindergarden) đang sử dụng sách giáo khoa của Ấn Độ. Hầu hết giáo viên tại đây là người Nam Á. Hình ảnh minh họa những con vật dùng trong lớp học được lấy từ truyện cổ tích Ấn Độ như voi đang khiêu vũ với những chiếc mũ có lông vũ trên đầu. Học sinh thậm chí còn tô màu bản đồ của Ấn Độ bằng màu xanh lá cây và quốc kỳ nước này bằng màu vàng nghệ. Little Angels nằm ở Mikata thuộc vùng ngoại ô Tokyo. Ở đây chỉ có 1 trong số 45 học sinh là người Ấn Độ, còn lại là người Nhật.  Theo các chuyên gia giáo dục và các nhà sử học, nhiều năm trước đây Nhật không hề coi các quốc gia khác trên thế giới như một hình mẫu trong giáo dục cũng như trong các lĩnh vực khác. Từ lâu Nhật vẫn tự hào vì mình là quốc gia có nền kinh tế phát triển tiên tiến nhất khu vực. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, kinh tế Nhật tăng trưởng không ổn định. Điều này khiến nhiều người Nhật lo ngại hình ảnh của đất nước sẽ bị lu mờ trước sự vươn lên và phát triển nhanh của Ấn Độ và Trung Quốc. Chính phủ Nhật  đang cố gắng bảo vệ vị trí hàng đầu về công nghệ kỹ thuật và củng cố sức mạnh quân sự.           Trường mẫu giáo Quốc tế ở Nhật        Ông Yoshinori Murai, giáo sư chuyên nghiên cứu các nền văn hóa châu Á thuộc trường Đại Học Sophia ở Tokyo, nói: “Trong con mắt của người Nhật, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn là những nước nghèo nàn, lạc hậu. Nhưng vì Nhật đang mất dần sự tự tin vào chính bản thân mình cho nên thái độ đối với các quốc gia châu Á đã thay đổi. Người Nhật bắt đầu coi Ấn Độ và Trung Quốc như những tấm gương đáng học hỏi”.  Về giáo dục, sự tôn trọng của người Nhật cũng tăng lên khi so sánh tương quan trực tiếp với các đối thủ khác ở châu Á trong các cuộc tranh tài học sinh cấp quốc tế, khi Nhật  bị thua kém. Theo một cuộc khảo sát quy mô toàn thế giới của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) công bố hồi tháng 12/2007, Nhật đã tụt xuống vị trí thứ 10 từ vị trí thứ nhất năm 2000, xếp sau Đài Loan, Hồng Kông và Hàn Quốc. Tương tự, đối với môn khoa học, Nhật cũng đã tụt hạng, xuống vị trí thứ 6 từ ngôi vị á quân năm 2000. Trong khi đó, Ấn Độ đã thành công trong phát triển công nghiệp phần mềm, kinh doanh Internet và các ngành dựa vào tri thức. Đây là những lĩnh vực mà Nhật đã thất bại khi thâm nhập vào. Vì thế Ấn Độ cũng khiến người Nhật hơi ghen tị. Điều đáng ngạc nhiên nhất đối với nhiều người Nhật là những gì của nền giáo dục Ấn Độ đang được họ ca ngợi lại tương tự như những điều họ từng làm. Đó là đạo đức trong lao động và kỷ luật: học tập nhiều hơn khi còn nhỏ, phụ thuộc nhiều hơn vào lối học thuộc lòng và ghi nhớ, chú trọng hơn đến các môn cơ bản đặc biệt là toán và khoa học.  Giáo sư Okamoto chuyên về các chính sách giáo dục thuộc Viện Nghiên cứu các Chính sách tại Tokyo, nói: “Mối quan tâm học hỏi ở nền giáo dục Ấn Độ của Nhật gần giống với cách người Mỹ đã học tập nền giáo dục Nhật”.  Như đối với những điều mới mẻ ở Nhật, mối quan tâm đến nền giáo dục mang phong cách Ấn Độ đã trở thành hiện tượng xã hội, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Theo ông Jun Takai, một quan chức Phòng Quan hệ quốc tế Bộ Giáo dục Nhật, thì bộ này, vốn nổi tiếng bảo thủ, nay cũng bắt đầu thảo luận các phương pháp giảng dạy của Ấn Độ. Các bậc phụ huynh thì háo hức, gửi con em mình vào các trường học Ấn Độ ở Nhật, với hy vọng chúng sẽ có khởi đầu thuận lợi, trong viễn cảnh kỳ thi vào đại học đầy khó khăn sau này. Hai trường học lớn nhất của Ấn Độ ở Tokyo đào tạo học sinh từ cấp mẫu giáo đến trung học cơ sở, trước nay chủ yếu nhận con em những gia đình Ấn Độ sống ở Nhật. Nhưng từ đầu năm 2007, tự dưng lại nhận được một số lượng tăng đột biến đơn xin học của người Nhật. Ông Nirmal Jain, hiệu trưởng trường quốc tế Ấn Độ tại Nhật, nói: “Chúng tôi cảm nhận được mối quan tâm rất lớn của các bậc phụ huynh Nhật”. Sự bùng nổ này còn có tác dụng khác là làm cho nhiều người Nhật trở nên khoan dung, rộng lượng hơn đôi chút đối với người dân ở các quốc gia châu Á khác.  Bà Jeevarani Angelina, người sáng lập nên trường mẫu giáo Little Angels, trước đây là một cán bộ điều hành một công ty dầu khí ở Chennai, Ấn Độ. Bà đã cùng chồng sang Nhật năm 1990. Bà kể rằng ban đầu bà gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuyết phục chủ nhà cho một phụ nữ Ấn Độ thuê chỗ để mở trường. Nhưng nay thì khác, việc trong trường có 3 trong số 4 giáo viên chính thức không phải là người Nhật lại trở thành điểm quan trọng thu hút học sinh. Bà Jeevarani kể: “Khi tôi mở trường học ở Nhật, đó là trường đầu tiên ở đây dạy tiếng Anh cho học sinh với giáo viên là người Châu Á chứ không phải là người da trắng phương Tây. Trước đó, chỉ có các trường quốc tế của Mỹ và châu Âu là các cơ sở hiện diện đã lâu đời tại đây. Bà Jeevarani, năm nay 50 tuổi, lấy tên là Rani Sanku vì dễ đánh vần hơn đối với người Nhật, bày tỏ: “Tôi thật sự may mắn vì tôi mở trường đúng lúc nền giáo dục Ấn Độ đang phát triển bùng nổ”.                     Bà đã điều chỉnh chương trình giảng dạy để thích nghi với chương trình học của Nhật, bằng cách đưa thêm nhiều hoạt động tập thể, giảm lượng học thuộc lòng và bỏ môn lịch sử Ấn Độ. Sau thành công của trường Little Angels, bà đã có kế hoạch mở thêm một trường nữa theo phong cách giáo dục của Ấn Độ trong năm nay. Các bậc cha mẹ thường rất thích các tiêu chuẩn khắt khe của trường. Bà Eiko Kikutake, có con trai 5 tuổi, đang theo học tại trường Little Angels, nói: “Trình độ của con trai tôi cao hơn hẳn so với những đứa trẻ Nhật khác cùng lứa tuổi. Nền giáo dục Ấn Độ thực sự tuyệt vời!”.    Ngọc Trung (theo New York Times)  ————————————-  Trong những năm gần đây, Ấn Độ gặt hái nhiều thành công trong phát triển công nghiệp phần mềm, trong khi Nhật Bản chưa đạt được điều đó    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự cần thiết xem xét lại kế hoạch      Ở thời điểm chỉ còn sáu năm nữa là  đến kỳ hạn 2020, có lẽ đã đến lúc các nhà quản lý giáo dục ở nước ta  thẳng thắn và tỉnh táo xem xét lại các kế hoạch đã đặt ra cũng như các  định hướng, chỉ tiêu trong tương lai, trong đó kể cả việc xem xét lùi  lại mục tiêu 2020 hoặc nới lỏng mục tiêu Top 200.    Đại học đẳng cấp quốc tế không phải là một “kỳ thi đạt chuẩn” như kiểu kiểm định chất lượng mà cứ đại học nào đạt các tiêu chuẩn theo yêu cầu thì sẽ được nhận danh xưng này; “đại học đẳng cấp quốc tế” cũng không giống kỳ thi PISA hay Olympic quốc tế mà có thể ôn luyện để đạt thứ hạng cao, “đại học đẳng cấp quốc tế” là một cuộc marathon tiếp sức đường dài, một “cuộc chơi có tổng không đổi” (zero-sum game) mà bất kỳ đại học nào muốn chen chân vào top đầu, tức là sẽ có một đại học khác bị “bật bãi” để nhường chỗ. Nói cách khác, nếu Việt Nam muốn có “đại học đẳng cấp quốc tế”, chúng ta phải đầu tư mạnh hơn, thu hút được nhiều nhân lực trình độ cao hơn và có bộ máy quản trị hiệu quả hơn chính những đại học đang nằm trong các Top 100, 200 hay 500 tại các bảng xếp hạng trên thế giới hiện nay. Vậy thì phải chăng giấc mơ “đẳng cấp quốc tế” là quá xa vời? Hay chúng ta có nên chấp nhận thua cuộc và dừng cuộc chơi?  GS. Simon Marginson từ Viện Giáo dục, Anh Quốc có lẽ là một trong những chuyên gia quốc tế đầu tiên cho Việt Nam một lời khuyên hữu ích nhất để trả lời những câu hỏi kể trên. Trong một bài phỏng vấn nhân dịp tham dự một hội thảo về xếp hạng đại học tổ chức tại Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2008, GS. Simon Marginson đã từng nhận định việc có một “đại học đẳng cấp quốc tế” vào năm 2060 hoặc muộn hơn có lẽ là mục tiêu khả thi hơn đối với thực tế ở Việt Nam.  Việc xây dựng thành công “đại học đẳng cấp quốc tế” đóng vai trò đầu tàu cho cả hệ thống giáo dục đại học và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác ở Việt Nam nói riêng cũng như ở các nước đang phát triển nói chung là yêu cầu sống còn để có thể bắt kịp với các nước phát triển trong nền kinh tế tri thức. Tuy vậy, ở thời điểm chỉ còn 6 năm nữa là đến kỳ hạn 2020, có lẽ đã đến lúc các nhà quản lý giáo dục ở nước ta thẳng thắn và tỉnh táo xem xét lại các kế hoạch đã đặt ra cũng như các định hướng, chỉ tiêu trong tương lai, trong đó kể cả việc xem xét lùi lại mục tiêu 2020 hoặc nới lỏng mục tiêu Top 200.  Trước Việt Nam, rất nhiều nước khác cũng đã từng thất bại với các chương trình tương tự. Ví dụ như tại Hàn Quốc, sau khi thất bại với chương trình BK21 trong những năm 1990, nước này đã có những điều chỉnh nhất định và qua đó, thu được nhiều kết quả khả quan hơn với chương trình WCU từ đầu những năm 2000. Sẽ không có gì đáng xấu hổ nếu chúng ta thất bại với những nỗ lực đầu tiên trong việc xây dựng “đại học đẳng cấp quốc tế”; thậm chí, ở một chừng mực nào đó, thất bại ở cuộc đua này lại chính là thành công ở một cuộc đua khác, lớn hơn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng máy tính trong dạy và học Toán      Conrad Wolfram là nhà toán học, chuyên gia  công nghệ thông tin Anh Quốc. Ông là ủy viên Hội đồng Khoa học máy tính  tại Đại học Hoàng gia Anh. Năm 2012, The Observer xếp ông ở vị trí thứ  11 trong danh sách 50 người cấp tiến mới xứ Britain1.     Nhiều năm nay ông theo đuổi ý tưởng đổi mới cơ bản chương trình dạy học môn toán. Ông thuyết trình ý tưởng này trên diễn đàn TED với đầu đề “Teaching kids real math with computers”2 và “Stop teaching caculating, start teaching math”3 với hàng triệu lượt truy cập. Đề nghị ông nêu ra thoạt nghe qua thì không mới: đưa máy tính vào việc dạy học môn toán, nhưng những ý kiến về đổi mới của ông quyết liệt hơn nhiều. Vậy nên ông thường bắt đầu bài nói của mình bằng câu nói hài hước, rằng ông đang đề xuất “cải cách việc dạy học môn toán theo một cách thức dễ gây tranh cãi nhất. Nếu bạn có sẵn trứng thối để ném thì đây là  một cơ hội tốt cho bạn đấy”. Và kết thúc bài nói bằng câu hỏi: “Tôi không chắc rằng môn học mà chúng ta đang nói hôm nay có được gọi là toán học nữa không. Cái tên gọi như vậy có sai không?”. Wolfram rất nghiêm trang khi ông quả quyết: “bất kể tên gọi là gì, chúng ta vẫn vững tâm: nó là một môn học chính của tương lai”.  1. Hiện trạng môn Toán   Theo Conrad Wolfram, hiện nay chúng ta đang có vấn đề thực sự trong việc dạy học toán, đặc biệt là ở các trường phổ thông. “Nói một cách đơn giản, không ai hạnh phúc cả. Đa số người học nghĩ rằng môn toán thật chán và không thích hợp. Các nhà tuyển dụng nghĩ rằng dạy toán như vậy là chưa đủ. Các chính phủ hiểu rõ môn toán có vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế nhưng không biết tổ chức ra sao. Nhiều giáo viên thất vọng”. Ai cũng biết rằng hơn bao giờ hết, toán học quan trọng với cuộc sống. Vậy nhưng, một mặt chúng ta ít quan tâm đến việc dạy học môn toán, mặt khác thế giới lại cần đến tính toán và toán học hơn bao giờ hết.    Vậy, điều sai lầm ở đây là gì và làm sao hàn gắn được sự cách biệt lớn này? Conrad đưa ra giải pháp: hãy sử dụng máy tính trong dạy học môn toán.    Mọi người đều đồng ý rằng toán học là đại chúng, mọi ngành nghề đều cần đến toán. Tuy vậy, môn toán trong học đường thì có vẻ khác hẳn4– nhiều sự tính toán, thông thường là tính tay, thỉnh thoảng với máy tính bỏ túi, nhiều bài toán bị đơn giản hóa.    2. Toán học là gì?   Wolfram đưa ra bốn bước để làm toán. Bước đầu tiên là việc đặt ra một câu hỏi đúng. Tiếp theo là từ cuộc sống thực, mô hình hóa về công thức toán học hay một dạng toán có thể sử dụng được. Bước 3, xử lý các công thức, tính toán các số liệu để tìm ra kết quả. Và cuối cùng, bước 4, ta biến đổi kết quả từ dạng toán học đến câu trả lời trong cuộc sống thực và kiểm tra lại.     Ở đây có một điều vô lý. Chúng ta nhất quyết rằng hầu hết học trò đều học cách thực hiện bước 3 bằng tay. Khoảng 80% việc giải toán ở trường phổ thông là thực hiện bước 3 bằng tay và phần lớn không thực hiện bước 1, 2 và 4. Mà bước 3 thì máy tính có thể giải quyết tốt hơn con người rất nhiều. Wolfram nói: “thật là kỳ quái cái cách chúng ta đang thực hiện”.    Điểm quan trọng ở đây: toán học không bình đẳng với việc tính toán. Toán học là môn học rộng lớn hơn nhiều. Một thời gian dài trong lịch sử, hai môn này hoàn toàn xoắn xuýt với nhau. Cho đến trước lúc máy tính ra đời, bước chán ngán nhất trong việc giải toán là bước tính toán bằng tay và không còn cách làm nào khác. Bây giờ điều đó không còn là trở ngại nữa. Toán học đã được giải phóng khỏi sự tính toán.  Tất nhiên, không phải lúc nào cũng phải dùng đến máy tính. Wolfram nói: “Tôi không nghĩ toàn bộ việc dạy học sinh tính tay là sai. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải thấy rõ ràng khi điều đó cần thiết. Một ví dụ cho trường hợp này: tôi thường xuyên ước lượng bằng cách tính nhẩm. Tôi vẫn nghĩ đó là điều hữu ích có thể làm được, vậy mà chúng ta không thực sự rèn luyện nhiều cho học sinh điều này”.   3. Một số ý kiến phản biện   Nhiều chuyên gia giáo dục e ngại việc máy tính tham gia sâu vào quá trình dạy học môn toán. Wolfram chọn ba ý kiến nổi bật và đưa ra những kiến giải về từng ý kiến một.    Hiểu kiến thức cơ bản trước đã   Các chuyên gia giáo dục nói rằng “bạn phải có kiến thức cơ bản trước đã. Bạn không thể làm được điều gì mà không có kiến thức cơ bản”. Với ý kiến này họ muốn ngụ ý rằng cần học bằng tay trước khi sử dụng máy tính.    Vấn đề đặt ra: “Thế nào là kiến thức cơ bản? Chính xác thì cơ bản của cái gì?”. Wolfram hỏi lại: “Kiến thức cơ bản của việc lái xe là học cách bảo dưỡng chăng? Hay là thiết kế nó? Phải chăng kiến thức cơ bản của việc học viết là học cách mài nhọn một cái bút lông ngỗng?”. Ai cũng nhận ra điều đó là không thể.   Điều chủ yếu là cần phân biệt “điều chúng ta đang cố gắng làm” với “nó được làm như thế nào”. Một trăm năm trước, với những chiếc ô tô, chắc chắn rằng các thợ máy ô tô có mối liên hệ gần gũi với việc lái xe. Không có sự tự động hóa, để lái xe, bạn hầu như là một thợ cơ khí. Nhưng đó là điều xảy ra đã lâu và bây giờ môn học lái xe khác hoàn toàn môn cơ khí ô tô. Chúng hoàn toàn tách rời nhau. Nếu bạn muốn lái một chiếc xe ô tô, thì tốt nhất là trải nghiệm việc lái nó. Điều đó thực sự khác với sự trải nghiệm trong việc bảo dưỡng xe.    Wolfram nhấn mạnh: “điều bạn cần trong dạy học là khiến cho người học trải nghiệm những gì họ thực sự đang cố gắng tìm hiểu”.   Máy tính làm đơn giản hóa môn Toán   Người ta lo sợ: khi dùng máy tính thì bạn đã đơn giản hóa môn toán, rằng bản chất của việc sử dụng máy tính là việc bấm nút không suy nghĩ, về mặt trí tuệ thì mọi thứ đều đơn giản hóa. Còn khi bạn tính toán bằng tay, nó sẽ rèn luyện đầu óc và trí tuệ.   Không phải mọi học sinh đang giải toán đều nghĩ rằng toán là một môn học không chấp nhận việc không suy nghĩ? Bởi vì nhiều học sinh đang thực hiện các thủ tục tính toán mà chúng hoàn toàn không hiểu với những định lý chúng không thể nào nắm bắt được.  Wolfram khẳng định: “Chẳng những không trách cứ máy tính làm đơn giản toán học, tôi thực sự cho rằng, áp dụng một cách đúng đắn, máy tính có thể làm điều hoàn toàn ngược lại. Tôi nghĩ rằng máy tính là công cụ tốt nhất để hiểu toán một cách trừu tượng. Như tôi đã nói, máy tính giải phóng bạn khỏi việc tính toán để suy nghĩ ở mức độ cao hơn”.   Nhưng cũng giống như mọi công cụ, có thể được sử dụng một cách không suy nghĩ- chẳng hạn việc thực hiện các trình chiếu một cách liên tục. Wolfram kể: “Một lần, tôi được xem một trình chiếu với mục đích là dùng máy tính để chỉ cho học sinh cách giải một phương trình bằng cách tính tay- mọi bước bạn cần thực hiện đều bằng tay”.  Theo Wolfram thì: “Có thể điều đó là tốt nếu bạn thích thú việc học nó, nhưng với tôi, đó hoàn toàn là sự thụt lùi đối với toán học chính thống. Vì sao chúng ta buộc học sinh học cách giải một phương trình bằng tay với một chiếc máy tính, khi mà dù sao thì máy tính cũng cần để giải nó? Con người cần đặt ra các bài toán để máy tính giải và làm việc với các kết quả mà máy tính đưa ra”.   Sử dụng máy tính theo phương thức mở là đề xuất của Wolfram. Theo ông, sử dụng máy tính như là một công cụ mở càng nhiều càng tốt để người học đang thử sức với những bài toán khó hơn nhiều. Tất nhiên, chúng ta đã biết, với một máy tính bạn có thể từ một bài toán đơn giản như tìm nghiệm phương trình bậc hai: 5x2+2x+1=7, bạn có thể giải một bài toán khó hơn, chẳng hạn tìm nghiệm của 5x4+2x+1=7. Nguyên tắc giải của bài toán này vẫn cũng vậy.    Nếu nhìn ra cuộc sống bên ngoài, ai sẽ tin rằng khoa học, công nghệ và mọi ngành khác phụ thuộc vào toán học theo cách này hay cách khác đang trở nên đơn giản hơn về mức trừu tượng từ lúc máy tính xuất hiện? Hoàn toàn không. Máy tính cho phép các ngành đó tiến xa hơn nhiều về phía trước, cho phép các ngành trở nên trừu tượng hơn bởi vì con người có thể giải thoát khỏi bước tính toán và máy tính đảm nhận việc này.   Dạy các thủ tục tính toán bằng tay học sinh dễ hiểu hơn   Một số chuyên gia cho rằng các thủ tục tính tay khiến học sinh hiểu bài dễ dàng. Khi học giải phương trình, người thầy dạy các thuật toán, rèn luyện các ý tưởng về thủ tục hóa các vấn đề.   Wolfram cho rằng có cách tốt hơn nhiều để học về các thủ tục. Đó là việc lập trình, là cách mỗi người ghi ra những điều được thủ tục hóa trong một thế giới hiện đại. Thật tuyệt vời vì khi bạn lập trình, đặc biệt bằng ngôn ngữ cấp cao, bạn có thể kiểm tra sự hiểu biết của mình. Bạn không thể lập trình được trừ khi bạn thực sự hiểu vấn đề. Hơn nữa, các kết quả bạn nhận được sẽ gây hứng thú hơn nhiều trong quá trình học tập.   4. Toán học dựa vào máy tính:  cuộc cải cách then chốt   Wolfram khẳng định: “điều chủ chốt mà tôi muốn nói ở đây là chúng ta có một cơ hội để cải cách việc dạy học toán để vừa thiết thực hơn lại vừa trừu tượng hơn. Chúng ta cải thiện đồng thời tính hướng nghiệp và tính hàn lâm. Tôi nghĩ điều này khá độc đáo. Tôi không thể nghĩ rằng có một môn học nào khác lại có được cơ hội như vậy”.   “Nếu tôi muốn dẫn ra một lợi thế quan trọng nhất của môn toán dựa vào máy tính, tôi muốn nói-  sự trải nghiệm và trực giác phát triển mau chóng”, ông nói. Trong thời gian bạn có thể làm một phép toán tay, bạn có thể làm được 20-30 phép toán trên máy tính. Các phép tính này có thể khó hơn. Con người có thể trải nghiệm nhanh hơn nhiều. Họ có thể cảm xúc về môn toán theo cách mà họ không có trước kia. Đó là điều mà chúng ta muốn đạt đến.   Điều chủ chốt khác, với máy tính, chúng ta có thể thay đổi thứ tự chương trình học dựa trên sự trừu tượng hơn là dựa trên sự phức tạp của việc tính toán bằng máy tính. Ví dụ, môn giải tích, được dạy ở cuối bậc THPT. Giải tích phân bằng tay là rất khó, nhưng khái niệm của việc tìm diện tích các hình không đặc biệt khó. Không có lý do gì mà chúng ta không thực hiện chương trình theo một thứ tự hoàn toàn khác khi máy tính làm công việc tính toán. Một ví dụ hết sức đơn giản nhưng nó dường như cho ta sự trực giác về một điều thường không nhìn thấy trong môn Toán ở trường phổ thông hiện nay.   Khi bạn tăng số cạnh các đa giác đều (cùng nội tiếp một đường tròn), ta dần dần nhận được đường tròn đó. Các em bé bốn tuổi cũng có thể đoán được điều đó.      Vậy là không có lý do gì mà không dạy những điều như thế cho bọn trẻ ngay từ lúc nhỏ và điều này thật quan trọng.   Wolfram đưa ra nhận định rằng, cuộc cải cách chương trình môn toán là “phần quyết định của biện pháp đưa nền kinh tế tiến lên phía trước. Nó dẫn dắt chúng ta từ nền kinh tế tri thức đến cái mà tôi gọi là nền kinh tế tri thức máy tính, nơi mà sự suy nghĩ logic ở mức độ cao là phổ biến… Đất nước nào thực hiện điều này đầu tiên sẽ qua mặt thiên hạ. Có một cơ hội chung cho các quốc gia đang phát triển cũng như các quốc gia phát triển: cơ sở hạ tầng của giáo dục môn toán ít phát triển thì dễ cải cách hơn, và cải cách nhanh hơn”.    5. Vài liên hệ với việc dạy học toán ở Việt nam   Có quá nhiều ý kiến về chương trình học và nội dung thi cử của môn Toán ở Việt Nam trong thời gian qua. Đặc điểm nổi bật là chương trình học và thi cử quá nặng về kỹ năng tính toán, những mẹo mực chi li, không cần thiết. Ở đây xin dẫn ra một số ví dụ.   Một bài kiểm tra môn toán 1tiết (45 phút), lớp 6, chỉ thuần túy đòi hỏi những kỹ năng tính toán.     Thầy giáo Trần Nam Dũng (Giảng viên dạy các lớp chuyên toán ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh), có một bài báo nói về những đề toán gắn liền với thực tế cuộc sống của các bài kiểm tra ở Mỹ5. Phần kết của bài viết là những lời tâm huyết và ngậm ngùi: “Tôi mơ ước học sinh của mình được học những bài toán như vậy. Tôi mơ ước được dạy toán như vậy. Còn bây giờ, học sinh của tôi vẫn phải làm những bài toán như thế này. Và tôi cũng vẫn phải ra những đề như thế này đây”.     Hầu hết các sách về xác suất thống kê trong các trường cao đẳng và đại học Việt Nam đều trình bày cách tính các tính toán cồng kềnh và chi li với nhiều công thức và bảng biểu. Trong thực tế, với các máy tính bỏ túi, có thể dễ dàng tính các kết quả trong bảng dưới. Ngoài ra, chương trình Excel, cho tiện nghi với hàng chục hàm về thống kê để tính toán6. Chỉ vài giáo trình trong số hàng chục giáo trình về xác suất thống kê mà chúng tôi có, các tác giả trình bày các hàm Excell một cách chiếu lệ.     Những đề xuất của Conrad Wolfram mang tầm chiến lược, từ ý tưởng đến những thay đổi cụ thể của chương trình và phương pháp dạy học là một chặng đường dài ngay cả với các nước tiên tiến. Năng lượng để giáo viên và người học hằng ngày đổ công vào việc tính toán những phép toán rối rắm thật uổng phí. Ngành giáo dục cần có chiến lược xây dựng chương trình dạy học môn Toán một cách khoa học và quyết liệt, đưa năng lượng của thầy và trò vào các bước còn lại của quá trình dạy học toán, theo quan điểm của Conrad Wolfram.    ——————————————————————–   * Thạc sĩ, Khoa Tự nhiên, Trường CĐSP Nha Trang   Chú thích:  1 http://en.wikipedia.org/wiki/Conrad_Wolfram#cite_note-14   2 http://www.ted.com/talks/conrad_wolfram_teaching_kids_real_math_ with_computers   3.http://www.computerbasedmath.org/resources/reforming-math curriculum-with-computers.html   4. https://www.youtube.com/watch?v=60OVlfAUPJg phút 1:40   5.http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/225516/khi-nao-chung-ta-moi-co-nhung-de-toan-nhu-the-.html 6 https://support.office.com/vi-vn/article/C%C3%A1c-h%C3%A0m-Excel-theo-th%E1%BB%83-lo%E1%BA%A1i-5f91f4e9-7b42-46d2-9bd1-63f26a86c0eb?ui=vi-VN&rs=vi-VN&ad=V.  6.https://support.office.com/vi-vn/article/C%C3%A1c-h%C3%A0m-Excel-theo-th%E1%BB%83-lo%E1%BA%A1i-5f91f4e9-7b42-46d2-9bd1-63f26a86c0eb?ui=vi-VN&rs=vi-VN&ad=VN  Tài liệu tham khảo   [1] https://www.computerbasedmath.org/resources/Education_ talk_transcript.pdf   [2] http://www.ted.com/talks/conrad_wolfram_teaching_kids_real_math_ with_computers       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em” – quyển sách không thể không đọc      Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nêu cảm nghĩ của một người viết văn khi dịch cuốn “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em” của Piaget.    1. Tôi là một người viết tiểu thuyết, do vậy có thể nói tôi là kẻ ngoại đạo khi được phân công dịch sách về Piaget. Tuy nhiên, nghề viết văn và Tâm lý học lại rất quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhà văn nào khi đi sâu vào nghề đều phải học Tâm lý học. Riêng khối sách về Tâm lý học trên thế giới cũng rất phong phú và đồ sộ. Sách cần phải đọc rất nhiều: tâm lý dân tộc, tâm lý người nguyên thủy, tâm lý đám đông, tâm lý đàn ông, đàn bà, ứng xử luận, phân tâm học… Trong đó, tâm lý trẻ em, tâm lý giáo dục rất cần cho người viết văn. Mà Piaget là người lừng danh thế giới về tâm lý trẻ thơ. Khi nhận dịch, tôi phải cố gắng tìm hiểu về tri thức học sinh-triển (épistémologie génétique). Ở Việt Nam hầu như không có nhà tâm lý học nào chuyên nghiên cứu về Piaget, thành thử việc hiểu cho đúng để dịch cho đúng quả thật rất khó khăn.  Thế hệ chúng tôi là thế hệ được đào tạo giáo dục theo kiểu cũ. Nghĩa là học tập theo kiểu nhồi nhét, là học gạo, là thầy thao thao trên bục giảng, trò thụ động chấp nhận. Gần đây, ở Việt Nam người ta mới chú ý đến Piaget. Khi đọc Piaget, tôi mới hiểu ra một điều rất cơ bản: con người trong quá trình khám phá thế giới, nó đã tự mình tạo nên kiến thức, nó đã tự mình tạo nên thế giới của mình. Còn giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, để con người tự khai sáng cho mình.  Tri thức học sinh-triển của Piaget là luận thuyết về tri thức của con người được hình thành ra sao và biến đổi thế nào. Con người, theo quan điểm đó, phải tự tiếp xúc với thực tiễn, tự trải nghiệm thực tiễn, qua đó mới nhận thức được thực tiễn để tự tạo ra trí khôn, tự tạo ra tư duy của mình.  Cuốn “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em” là một trong nhiều cuốn sách của ông để chứng minh quan điểm đó. Trẻ nhỏ bằng sự bắt chước, bằng trò chơi các loại, đã đi từ những trải nghiệm cảm giác-vận động đến những hư cấu mang tính biểu trưng. Biểu trưng theo nghĩa rộng tức chính là tư duy.  Trong cuốn sách, tác giả chia ra nhiều giai đoạn từ cảm giác-vận động đến tượng trưng, từ những bắt chước có tính hành động đến bắt chước tượng trưng, trò chơi tượng trưng. Nói chung ở giai đoạn nào, trẻ cũng phải tự trải nghiệm, tự học để khám phá thế giới để cuối cùng đến được cái biểu trưng, tư duy.  Luận điểm con người tự khai sáng cho mình, con người tự làm ra chính mình đã được Piaget chứng minh rất khoa học cho suốt cuộc trưởng thành của trẻ từ lúc sơ sinh cho đến khi lớn lên thành một thiếu niên. Điều này khi chưa có luận thuyết của Piaget, con người vẫn đã tiến hành như thế, có nghĩa đó đã là quy luật. Từ thời sơ khai con người đã tự học. Khi có chữ, con người vẫn tự học. Có tự học thì cái học mới sâu sắc. Thấy cần gì nhất thì học cái ấy. Tìm mọi cách để mà tìm hiểu. Nhu cầu tự nhiên do ta tự do chọn lựa sẽ cho ta một động cơ để ta lấp đầy những chỗ ta thiếu để ta tự do tự tạo ra chính bản thân ta.  Đó là điểm thứ nhất tôi cảm nhận được khi tìm hiểu và dịch Piaget.  2. Tôi là một người viết văn, lẽ dĩ nhiên khi đọc “Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em”, tôi rất chú ý tới phần Trò chơi và nhất là trò chơi biểu tượng, bởi vì như ông nói, trò chơi có họ hàng với nghệ thuật. Người nghệ sĩ luôn muốn có con mắt trẻ thơ để nhìn cuộc đời. Với con mắt trẻ thơ, cuộc đời luôn được bộc lộ ra dưới những góc nhìn mới mẻ lạ lùng độc đáo. Carl Gustav Jung thì bảo: Phép tượng trưng được coi như là tư duy và ngôn ngữ nguyên thủy. Piaget cũng đồng ý với quan điểm ấy.  Khi tôi đọc đến đoạn trò chơi tượng trưng của những bé từ hai đến bốn tuổi, ví dụ như đoạn chơi trò chơi con “Aseau”, một con vật vừa là chim vừa là chó, con “oiseau” được các bé em nói ngọng thành con “aseau”. Khi chơi, bé đã tưởng tượng hư cấu, liên kết, thêm bớt cả những chuyện thực và những chuyện bịa để tạo thành một trò chơi, một câu chuyện. Tôi ngạc nhiên kêu lên: “Sao mà giống lối viết tiểu thuyết đến thế!”  Khoảng từ bốn tuổi trở đi, trò chơi tượng trưng giảm dần – nguyên lý thực tiễn dần thay thế. Trò chơi dần biến mất. Chỉ còn sót lại một số trò chơi có quy tắc. Và cũng còn sót lại một vài bé chơi những “trò chơi cao cấp” về khoa học và nghệ thuật. Nó là tính tự phát của trò chơi. Nó đối lập với những bó buộc của lao động và bó buộc với sự thích nghi với thực tế. Nó nghiêng nhiều về nguyên lý khoái lạc hơn là nguyên lý thực tế (là nguyên lý của Freud). Nhiều nhà thơ, họa sĩ, nhà văn rất ngu ngơ trước thực tiễn cuộc đời, và đắm chìm trong thế giới hư ảo tưởng tượng là vì lý do ấy. Họ mãi mãi là một đứa trẻ dù đã lớn tuổi. Họ dừng lại ở tư duy và ngôn ngữ nguyên thủy.  3. Một điểm thứ ba tôi cảm nhận được từ Piaget khi dịch cuốn sách này, đó là ấn tượng về cách làm việc của tác giả. Theo những khám phá của Piaget, khi nhìn thấy con người tự tạo ra nhận thức của bản thân mình, khi nhận thức đãn hình thành như những cấu trúc tư duy ở một giai đoạn trước được biến đổi và tan hòa trong giai đoạn sau, thì đó chihs là việc con người tự tạo ra chính mình, đó chính là con người sáng tạo. Sáng tạo không nhất thiết chỉ là ở những con người xuất chúng như, mà sáng tạo là công việc tự nhiên trong tiến trình phát triển nhận thức của mọi con người bình thường.   Piaget là một con người sáng tạo ở cấp xuất sắc. Einstein đã nhận ra và đánh giá Piaget là “giản dị như một thiên tài”. Lý thuyết tâm lý giáo dục của ông được diễn đạt chặt chẽ, đã ảnh hưởng sâu rộng đến toàn thể các nền giáo dục trên thế giới. Cái phẩm tính sáng tạo một cách giản dị, xuất chúng ở Piaget được thấy rất rõ trong cuốn sách tôi nhận dịch với nhóm Cánh Buồm.  Thứ nhất là sự làm việc khoa học và tỉ mỉ. Sáng tạo khoa học không phải là cái gì to lớn cao xa. Có khi đó chỉ là việc quan sát có hệ thống, có phương pháp một cách tỉ mỉ kiên nhẫn hằng ngày. Trong sách này ta thấy tác giả đã ghi chép quan sát ba đứa con của mình từ ngày trẻ mới ra đời, nụ cười của nó, cái nắm tay của nó, khi nào nó khóc,…, để rồi trên cơ sở những dữ liệu vặt vãnh ấy đúc kết nên một lý thuyết có ảnh hưởng lớn. Phải nói ông có một trực giác nhạy bén và một bộ óc khái quát phi thường. Ông không bao giờ bằng lòng với cái bề ngoài của thực tại, và luôn đào sâu tìm cái ý nghĩa có thể ẩn giấu đằng sau thực tại ấy.  Thứ hai, ông là người tự học vĩ đại (những người sáng tạo đều thế cả). Ông hầu như đã đọc hết những sách quan trọng của thời đại ông sống. Trong sách của ông, ta thấy trích dẫn những tên tuổi như Groos, Wundt, Claparède, Binet, Wallon, Buytendijk, Freud, Siberer, Adler, Jung, v.v. cùng nhiều người khác. Không những ông chỉ đọc mà ông còn đối thoại để tán thành để phản biện. Đối với ông chân lý là tối thượng. Dù một tác giả có uy tín đến thế nào, nếu thấy không đúng cũng phải phản biện. Ông đã dành rất nhiều trang sách để đối thoại với Groos, với Freud, với Jung… Chỉ với tinh thần khoa học, dân chủ, không giáo điều ấy, ông mới có thể sáng tạo.  Tôi không phải là một nhà giáo dục thành thử không thể nói sâu về những vấn đề không phải là lĩnh vực của tôi.  Tuy nhiên tất cả chúng ta đều có con cháu cho nên mọi người đều phải quan tâm tới giáo dục. Sách của Piaget có ích cho tất cả mọi người. Đặc biệt là, với những ai quan tâm tới giáo dục, tới trí tuệ, tới lĩnh vực sáng tạo, chắc chắn cuốn sách này là quyển sách không thể không đọc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự khủng hoảng của khối C: Tự cứu hay chờ trời cứu?      Một số nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của khối C hầu như chưa được đề  cập đến, đó là: nội dung chương trình, cách tổ chức giảng dạy, và cách  giảng dạy và học tập của khối ngành nhân văn.    Sự xuống dốc của khối ngành nhân văn ở Việt Nam đã kéo dài nhiều năm trong đó có nguyên nhân khách quan là những sinh viên tốt nghiệp ngành này khó kiếm việc làm; nếu may mắn có việc cũng thường được trả lương khá thấp so với nhiều ngành khác. Với nhiều người, đây là lỗi của nhà tuyển dụng vì chỉ chăm chăm tuyển người để dùng ngay nên không đánh giá cao những người tốt nghiệp các ngành nhân văn; hoặc là lỗi của thí sinh và gia đình vì chỉ thích chọn những ngành giúp họ có thu nhập cao, một biểu hiện của lối sống thực dụng đang lên ngôi (!) như ai đó đã từng nói, còn có một số nguyên nhân hầu như chưa mấy được đề cập đến đó là: nội dung chương trình, cách tổ chức giảng dạy, và cách giảng dạy và học tập của khối ngành nhân văn đã dẫn đến sự “tẩy chay” của người học và của toàn xã hội?  Một trong những tiêu chí khách quan của nhà tuyển dụng đối với mọi sinh viên tốt nghiệp khi bắt đầu bước vào thị trường lao động là trình độ ngoại ngữ, cụ thể là trình độ tiếng Anh trong thời đại hiện nay. Khả năng ngoại ngữ vốn phải là một thế mạnh của những người hoạt động trong khối ngành nhân văn, vì hơn ai hết, họ cần có một ngoại ngữ phổ biến làm công cụ giúp họ hiểu biết về những gì đang diễn ra trên thế giới, trao đổi và tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp và các nhà tư tưởng lớn, hay tự mình đi sâu vào kho tàng giá trị tinh thần đã được tích lũy từ nhiều đời trước và truyền lại cho đời sau. Thông thạo ngoại ngữ, thậm chí không chỉ một ngoại ngữ mà là nhiều ngoại ngữ, đó cũng là một dấu ấn riêng biệt và đậm nét của những người hoạt động trong lĩnh vực xã hội và nhân văn của một vài thế hệ trước ở Việt Nam.   Nhưng ngày nay thì điều này không còn đúng. Dù có những ngoại lệ, nhưng nhìn chung những người tốt nghiệp đại học ở một ngành nhân văn thường có trình độ ngoại ngữ kém nhất. Kém ngoại ngữ trong một thời đại tri thức và hội nhập toàn cầu, khi mọi thay đổi đang diễn ra thần tốc hằng ngày, khi tri thức của nhân loại chỉ sau vài năm lại tăng lên gấp đôi; liệu những người với năng lực như vậy có khả năng tự học, khả năng học tập suốt đời để đáp ứng nhu cầu cập nhật của chính bản thân, và đóng góp vào sự phát triển của xã hội?  Một năng lực quan trọng khác của thị trường lao động ngày nay là năng lực về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin-truyền thông nhằm phục vụ hữu hiệu nhất cho nghề nghiệp của mình. Hiện nay ở Việt Nam, không kể những ngoại lệ hiếm có, những người tốt nghiệp đại học các ngành thuộc khối C thường được xem là những người có trình độ sử dụng công nghệ kém nhất.  Trong khi đó trên thế giới, khối ngành nhân văn đang là một lĩnh vực ứng dụng quan trọng để tiếp nhận các thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin-truyền thông, cả phần mềm lẫn phần cứng. Bất kỳ một nhà sử học, nhà khảo cổ học hoặc nhà nghiên cứu văn học/văn hóa nào khi tiếp cận với một văn bản cũng có thể cần sử dụng các kho ngữ liệu trực tuyến (online corpora) hoặc các phần mềm phức tạp để tìm hiểu các ẩn ý của từ ngữ trong văn bản, so sánh các dị bản khác nhau để tìm ra bản gốc, hoặc xác định văn phong xem nó có khả năng là một tác phẩm chưa công bố của một tác giả quá cố nào đó. Nhà báo khi tác nghiệp có thể cần sử dụng bút thông minh (smartpen) để vừa ghi chép vừa ghi âm và sau đó chia sẻ pencast cho đồng nghiệp; cần sử dụng các công cụ trực tuyến như trang Evernote để lưu lại và tổng hợp mọi ghi chép, tài liệu bằng hình, video, email, web links mọi lúc, mọi nơi; cần tham gia các mạng xã hội để tạo quan hệ và nắm thông tin; cần tương tác với độc giả trên từng bài viết; cần có blog cá nhân để nối dài những ý tưởng cho mục mà mình phụ trách trên tờ báo giấy, vốn luôn có phiên bản trực tuyến kèm theo. Danh sách trên mới chỉ là một số ví dụ gần gũi mà ai cũng biết.  Trong một thế giới nơi công nghệ có vai trò then chốt như vậy, ngành nhân văn của Việt Nam đang trang bị gì cho người học?   Nội dung của tài liệu và sách giáo khoa của các ngành nhân văn, vốn đa số rất cũ kỹ, thiếu cập nhật. Các tài liệu này thường chỉ chấp nhận quan điểm được xem là chính thống, rất hiếm thấy cái nhìn đa chiều, không được nêu những vấn đề gây tranh luận, và hoàn toàn không xuất hiện những quan điểm trái chiều. Về hình thức, các tài liệu đa số được trình bày khô khan dày đặc chữ, ít chú trọng đến khía cạnh thẩm mỹ, rất ít hình ảnh và màu sắc. Hầu như tất cả các tài liệu và sách giáo khoa ấy không bao giờ có các đĩa CD-ROM hoặc trang web hỗ trợ kèm theo, mặc dù đó là chuẩn mực xuất bản của sách giáo khoa trên thế giới. Nhìn tài liệu học tập của các ngành nhân văn ở Việt Nam ta nghĩ đến những sản phẩm của cách đây vài chục năm khi thế giới chưa từng biết đến cuộc cách mạng số.  Về giảng dạy, nhìn chung các lớp học tại Việt Nam vẫn đang được giảng dạy theo phương pháp hoàn toàn truyền thống, vẫn sách giáo khoa hoặc tài liệu chính thức của nhà trường in sẵn trên giấy (mà có khi được người học cũng chẳng đụng đến), vẫn thầy đọc trò chép hoặc khá hơn là thầy nói-chiếu (powerpoint) còn trò thì vẫn chép, vẫn phương thức duy nhất là gặp mặt trực tiếp trên giảng đường, nơi tương tác thầy trò chủ yếu một chiều (từ thầy đến trò), nơi sự tranh luận giữa các học viên trong cùng một lớp về những vấn đề chuyên môn là vô cùng hãn hữu, và đừng nói đến việc giao lưu với bạn bè cùng ngành trong cả nước hoặc trên thế giới.   Có thể nói, sự lạc hậu về nội dung và phương pháp giảng dạy của các ngành nhân văn còn do chúng ta luôn cho rằng đối tượng nghiên cứu là những vấn đề đặc thù của Việt Nam; vì thế những cải cách theo trào lưu của thế giới thường được cho là không cần thiết.  Trong tình trạng như vậy, thử hỏi ngay cả khi có chính sách hỗ trợ người học, như miễn học phí, cấp học bổng tương tự như khối ngành sư phạm hiện nay, và bố trí việc làm sau khi  tốt nghiệp, chúng ta có chắc rằng khối ngành nhân văn sẽ có đủ sức hấp dẫn để thu hút người học bỏ ra 4 năm trời để theo học hay không?  Và ai có thể nói được với cách giảng dạy như thế thì sau 4 năm, người học sẽ được trang bị những gì để tham gia một cách hiệu quả vào đời sống hiện đại, đa cực và đầy biến động hiện nay?  Cần có những biện pháp để khôi phục các ngành nhân văn tại Việt Nam là một việc làm cần thiết, thậm chí khẩn cấp, để bảo đảm sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và sự phát triển cân bằng, bền vững của toàn xã hội. Nhưng những giải pháp hỗ trợ từ bên ngoài chỉ có thể có tác dụng khi chính khối ngành nhân văn có khả năng tự cải thiện. Bằng không thì mọi giải pháp, mọi chính sách hỗ trợ từ bên ngoài cũng chỉ có tác dụng nhất thời, chắp vá. Để rồi mỗi năm, cứ vào mùa tuyển sinh, chúng ta lại tiếp tục được nghe điệp khúc than vãn về sự quay lưng của người học đối với khối C.     Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sứ mạng của giáo dục      Vấn đề cơ bản cần làm sáng tỏ trong triết lý giáo dục Việt Nam của chúng ta hiện nay là làm rõ các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và phương pháp giáo dục dân chủ, khêu gợi tự do tư tưởng đối với người học cùng với phạm vi tự do tư tưởng đối với người thầy trong khi đứng trên bục giảng dạy và khi làm công tác nghiên cứu khoa học.    Nói đến sứ mạng là nói đến nhiệm vụ lớn nhất, cơ bản nhất, tổng quát nhất, tức là một loại nhiệm vụ bao trùm và chi phối tất cả các nhiệm vụ cụ thể khác. Sứ mạng của giáo dục là nhiệm vụ của  giáo dục đối với người học và đối với xã hội. Hai loại nhiệm vụ đó có liên quan mật thiết với nhau, có khi thống nhất với nhau nhưng cũng có khi mâu thuẫn với nhau. Vì thế một câu hỏi quan trọng phải đặt ra là: giữa sứ mạng của giáo dục đối với xã hội và sứ mạng đối với người học, sứ mạng nào là cao hơn, sứ mạng nào chi phối sứ mạng nào?  Chúng ta đều biết, trong lịch sử giáo dục, từ khi xuất hiện giáo dục (với tư cách là một tổ chức của xã hội để rèn luyện thế hệ trẻ) cho đến cuối thế kỷ 19, tất cả các triết lý giáo dục được các nhà nước tổ chức thực hiện đều coi sứ mạng của giáo dục đối với xã hội quyết định sứ mạng của giáo dục đối với người học. Điều đó có nghĩa là giáo dục phải chuẩn bị cho người học gia nhập vào một xã hội nhất định nào đó (tức là tiếp thụ và bảo vệ những giá trị mà xã hội đó coi là tích cực đồng thời phê phán và chống đối những tư tưởng và hành vi mà xã hội đó coi là tiêu cực), để duy trì xã hội đó và phát triển nó trong khuôn khổ của chế độ ấy.  Nhìn lại với sự xuất hiện của chế độ tư bản chủ nghĩa ở châu Âu, nói cụ thể là trong trào lưu tư tưởng chủ nghĩa nhân văn thời kỳ Phục hưng (thế kỷ 14 -17), xuất hiện lý thuyết giáo dục muốn coi sứ mạng giáo dục đối với người học là cao hơn sứ mạng đối với xã hội, ý muốn này là nằm trong xu hướng đòi hỏi giải phóng con người cá nhân của lý tưởng chủ nghĩa tư bản ở những giai đoạn nó đang đi lên. Ý muốn này đã được biến thành hiện thực trong triết lý giáo dục của các nhà nước Âu Mỹ từ cuối thế kỷ 20 đến nay. Thí dụ xem văn kiện “Bốn cột trụ của giáo dục “do Unesco công bố (1972) được coi như cương lĩnh của nền giáo dục hiện đại, trong đó cột trụ thứ nhất là giáo dục để thành người mà phẩm chất được nêu cao nhất là con người có tư duy phê phán, có óc độc lập và sáng tạo; cột trụ thứ hai là học để biết; cột trụ thứ ba là học để làm; cột trụ thứ tư là học để chung sống với người khác; cả 4 cột trụ đều tập trung vào sứ mạng của giáo dục đối với người học. Nhưng xem xét kỹ lưỡng hơn, chúng ta thấy rằng tuy các triết lý giáo dục của các nước Âu Mỹ đặt sứ mạng giáo dục đối với người học ở vị trí thứ nhất nhưng thực ra con người lý tưởng mà nền giáo dục đó muốn đào tạo lại chính là con người mà chế độ tư bản hiện đại cần: trong các tài liệu của Unesco giải thích về 4 cột trụ, có đoạn nói rõ không nên hiểu việc nêu cao yêu cầu phải đào tạo những con người có tư duy phê phán, có óc độc lập và sáng tạo là những đòi hỏi của chủ nghĩa cá nhân mà phải thấy rằng đó là những phẩm chất cần thiết để làm cho xã hội công nghiệp hiện đại phát triển. Như vậy chung quy trong triết lý giáo dục đó, sứ mạng giáo dục đối với xã hội (ở đây là xã hội tư bản chủ nghĩa) vẫn là cái quyết định cuối cùng. Điều này cũng phù hợp với thực chất của trào lưu đòi giải phóng con người cá nhân của chủ nghĩa nhân văn thời kỳ Phục hưng đã nhắc đến ở trên: thực chất đó, như các nhà nghiên cứu lịch sử đã chỉ rõ, là sự đòi hỏi mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.                       Còn nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thì xác định rõ ràng và dứt khoát sứ mạng giáo dục đối với xã hội quyết định sứ mạng giáo dục đối với người học, tức là giáo dục phải chuẩn bị cho người học không những có thể thích nghi với xã hội mới đang hình thành mà còn phải tham gia tích cực vào việc hình thành ra xã hội mới đó, tức là ở đây có tác động biện chứng qua lại giữa con người xã hội chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa.   Truyền thụ các giá trị tốt đẹp nhất  Để hoàn thành được sứ mạng đó, giáo dục phải truyền thụ cho người học những giá trị mà xã hội coi là tốt đẹp nhất và phù hợp nhất với chế độ mình, đồng thời phê phán những giá trị coi là tiêu cực, có hại cho chế độ đó. Từ thời cận đại đến nay, có những giá trị mà bất cứ xã hội nào cũng đều coi và phải coi là tích cực, là có lợi và cần thiết cho chế độ mình: đó là những giá trị của khoa học, bao gồm những quy luật và ứng dụng của khoa học, nhất là phương pháp và tinh thần khoa học, tức là tinh thần tôn trọng và phương pháp tìm ra sự thật (chân lý) mà tiêu chuẩn duy nhất là lý trí (logic) và thực tiễn (thực nghiệm).  Ở đây, ta có thể thấy sự truyền thụ các giá trị về tinh thần và phương pháp khoa học này được các triết lý giáo dục Âu Mỹ hiện đại nêu lên thành các giá trị là tư duy độc lập, óc phê phán và sáng tạo mà việc truyền thụ cho người học trở thành sứ mạng cao cả và quyết định nhất trong các triết lý đó. Sự đồng nhất giữa hai loại giá trị đó là đúng đắn nếu nhớ rằng óc phê phán và tư duy độc lập, sáng tạo là để tìm ra chân lý và phải phục tùng lý trí và thực tiễn; còn nếu thoát ly mục đích và điều kiện nói trên để đề cao tư duy độc lập, óc phê phán và sáng tạo thành một giá trị tự bản thân của nó thì sẽ sai lầm vì dễ dàng biến thành một thứ chủ nghĩa vô chính phủ về tư tưởng, khi ấy nó không có và không cần bất cứ một chuẩn mực hay nguyên tắc nào cả, sản phẩm giáo dục này chắc chắn không một xã hội nào mong đợi.  Ngoài các giá trị của khoa học hiện nay đã trở thành những tài sản chung của cả loài người văn minh, mỗi một triết lý giáo dục lại còn chủ trương phải truyền thụ cho người học những giá trị có tính chất ý thức hệ (chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo v.v.) chính thống và đặc trưng của xã hội (dân tộc, quốc gia hay một vùng văn hóa rộng hơn) mà nền giáo dục đó phục vụ. Hai loại giá trị -khoa học và ý thức hệ – làm thành toàn bộ nội dung của các nền giáo dục hiện đại.   Phương pháp giáo dục  Giữa 2 loại giá trị khoa học và ý thức hệ, hay cụ thể hơn giữa các giá trị ý thức hệ và giá trị tư duy độc lập phê phán, có thể có khi mâu thuẫn với nhau. Các triết lý giáo dục hiện đại giải quyết mâu thuẫn này không phải bằng cách hy sinh một trong 2 loại giá trị đó mà bằng phương pháp giáo dục khêu gợi tự do tư tưởng của người học, không áp đặt, không bắt buộc người học phải chấp nhận mà hướng dẫn để người học tự giác đi đến tiếp thụ nội dung giáo dục, qua việc khuyến khích người học nêu ra những chỗ mình chưa hiểu, thậm chí không đồng ý (với những lý lẽ tại sao). Tất nhiên để áp dụng phương pháp giáo dục này, người thầy phải có trình độ cần thiết tức là phải được đào tạo và tuyển chọn có bài bản. Nhiệm vụ của người thầy, dù ở bậc học nào, là phải truyền thụ cho người học nội dung giáo dục đúng theo như đã quy định, nhưng khi làm nghiên cứu khoa học (đối với thầy ở bậc đại học) thì được tự do đặt và giải quyết vấn đề theo cách hiểu của mình, miễn là tuân thủ những quy tắc của phương pháp luận khoa học.  Như vậy xét đến cùng, trong bất cứ triết lý giáo dục nào, sứ mạng của giáo dục đối với người học là phải chuẩn bị cho người học gia nhập và có tác dụng tích cực đối với một xã hội nhất định nào đó, hoặc là một xã hội chưa có nhưng đang hình thành như đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, hoặc là một xã hội đang có và đang trong quá trình phát triển nhiều hay ít, nhanh hay chậm, trên đà hưng thịnh hay suy thoái như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa hiện tại cũng như trước đó.     Lê Văn Giạng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự mê hoặc của xếp hạng đại học thế giới (2011-2012)*      Kết quả xếp hạng đại học thế giới năm 2011-2012 của tổ chức THE vừa được công bố trong tuần trước đã gây nhiều tranh luận, khi Harvard đã phải nhường vị trí hàng đầu của nó cho một trường đại học Mỹ khác là Caltech.    Đây không phải là lần đầu tiên Harvard mất vị trí hàng đầu thế giới. Năm 2010, Harvard cũng phải chịu vị trí số 2 trong bảng xếp hạng đại học thế giới của tổ chức QS, đứng sau ĐH Cambridge của Anh – lần đầu tiên sau 6 năm liên tiếp giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng này.  Phải chăng đây là những dấu hiệu cho một sự xuống dốc của người khổng lồ Harvard? Hay nó cho ta thấy sự đỏng đảnh, thất thường của các bảng xếp hạng quốc tế? Vì chỉ mới cách đây 2 tháng thôi, Harvard đã kiêu hãnh xuất hiện ở vị trí đứng đầu của một bảng xếp hạng đại học được đánh giá là số một về sự tin cậy và khoa học  – bảng xếp hạng ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải.   Với cách làm thiếu minh bạch của các tổ chức xếp hạng như hiện nay, chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giá trị thật của việc xếp hạng.“Công nghiệp xếp hạng đại học” rõ ràng là cần phải được “cấu hình” lại và giám sát cẩn thận hơn.   Đó là thông điệp của các tác giả Kris Olds và Susan Robertson trong bài viết vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education cách đây một tuần. Kris Olds cũng là tác giả của bài viết có tựa là “Đo lường thư mục, xếp hạng đại học và sự minh bạch” đã được chúng tôi dịch và giới thiệu đến các độc giả của Tia Sáng vào năm trước.  Xin giới thiệu bài viết mới của Kris Olds và đồng sự đến tất cả các bạn.   Phương Anh dịch và giới thiệu  Mùa xếp hạng lại đến rồi; kết quả của Bảng xếp hạng đại học thế giới (WUR) năm học 2011-2012 của tờ Times Higher Education (THE) hợp tác với Thomson Reuters mới vừa được công bố.   Sau khi được điều chỉnh cho chính xác hơn vì sự cố rớt hạng của một số trường đại học lớn trong bảng xếp hạng năm 2010, phương pháp xếp hạng của THE năm nay hẳn sẽ đưa ra kết quả tốt hơn, sáng chói và hợp lý hơn. Nhưng liệu có đúng như vậy không?  Như tất cả những ai đang hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học, chúng tôi rất quan tâm đến kết quả xếp hạng, dù phải nói thật là những kết quả này thường năm nào cũng giống năm nào.   Nhưng lần này, chúng tôi muốn các bạn thử suy nghĩ về “cấu hình” của hoạt động xếp hạng. Những yếu tố cấu hình cần xem xét gồm có:   Kết quả xếp hạng: Trường của bạn đạt thứ hạng nào, hoặc các trường đại học của các quốc gia X, Y, X có vị trí so sánh như thế nào với những trường khác/ quốc gia khác; so với những trường/ quốc gia tương tự; so với năm trước; hoặc so với thứ hạng trên một bảng xếp hạng khác?  Phương pháp: Phương pháp luận được sử dụng có phù hợp và hiệu quả không? Phương pháp ấy đã được thay đổi như thế nào? Tại sao lại thay đổi?  Phản ứng: Các vị lãnh đạo của các trường, hoặc các bộ ngành (và tương đương) phản ứng ra sao với kết quả xếp hạng?  Chu kỳ xếp hạng: Tại sao lại công bố kết quả xếp hạng hàng năm trong khi chu kỳ 4 hoặc 5 năm có lẽ sẽ phù hợp hơn (vì đó chính là nhịp độ hoạt động tạo ra sự thay đổi của các trường)? Việc chuẩn hóa số liệu theo cái chu kỳ hằng năm này được thực hiện như thế nào?  Quyền lực và chính trị: Ai là người thực hiện xếp hạng, và họ được lợi gì trong việc này? Các tổ chức xếp hạng có minh bạch trong các hoạt động, các mối quan hệ (kể cả những đối tác cộng tác với họ), các thiên kiến, và năng lực của họ hay không?  Sáng tạo tri thức: Hiện đang tồn tại một sự mất cân xứng khó mà tin được trong việc sáng tạo tri thức, bao gồm ngôn ngữ công bố khoa học và ngành công nghiệp xuất bản. Như vậy, các bảng xếp hạng đại học thế giới (vốn rất xem trọng các số liệu đo lường thư mục) phản ánh tình trạng mất cân xứng này ra sao?  Vấn đề quản trị: Ai quản lý ai? Ai là người chịu trách nhiệm nếu có, và chịu trách nhiệm như thế nào, thường xuyên ra sao? Các trường được xếp hạng có những quyền gì ngoài công việc cung cấp thông tin (miễn phí) cho các tổ chức xếp hạng? Liệu có cần một cơ chế hiệu quả để quản lý các tổ chức xếp hạng cũng như hoạt động xếp hạng vốn đang trở thành một ngành công nghiệp hay không? Lãnh đạo các trường đại học có chút khả năng nào (cho tới nay thì chưa thấy gì) để hợp tác về những vấn đề quản trị của việc xếp hạng hay chăng?  Bối cảnh: Các bảng xếp hạng khác nhau như WUR của tổ chức THE, ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải, và bảng xếp hạng đại học thế giới của QS, chúng có liên hệ như thế nào với những nỗ lực bao quát hơn, đó là đối sánh các hệ thống giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục, và các kết quả đầu ra của việc nghiên cứu và giảng dạy?   Chúng tôi muốn nhắc mọi người về dự án xếp hạng mới U-Multirank của EU, và nhiều sáng kiến của OECD (ví dụ như công cụ đo lường năng lực đầu ra của sinh viên AHELO) để đánh giá kết quả việc học ở bậc đại học trên khắp toàn cầu, và cũng muốn nhắc đến cuộc tranh luận về đối sánh nữa. Nói vắn tắt, các bảng xếp hạng như THE vừa công bố liệu có “phù hợp với mục tiêu” như mong đợi của mọi người, đó là làm rõ chất lượng, sự đáp ứng, và hiệu quả của giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay, hay không?  Danh sách 400 trường hàng đầu sẽ còn được người tranh luận (kết quả này quả thực cũng đáng tranh cãi), và mọi người sẽ tò mò muốn biết vị trí tương đối của trường mình trong danh sách xếp hạng, cũng như muốn thấy những cải thiện trong phương pháp xếp hạng của THE/Thomson Reuters. Nhưng xin các bạn đừng để bị cuốn đi và chỉ quan tâm đến một số vấn đề như kết quả, phương pháp, và các phản ứng.  Thay vào đó, chúng ta cần phải đặt ra những câu hỏi khó hơn, như các vấn đề quyền lực, quản trị, và bối cảnh, hoặc lợi ích, và sự hủy hoại  tiềm năng mà việc xếp hạng có thể gây ra cho các trường đại học (khi kết quả xếp hạng này được công bố và được báo chí tại các quốc gia đưa tin, rồi sau đó thì nằm trên bàn làm việc của các vị Bộ trưởng). Rõ ràng việc xếp hạng đại học là một vấn đề kinh tế chính trị, và các bảng xếp hạng (tất cả các bảng, chứ không phải chỉ riêng bảng xếp hạng của THE) đều có quyền lực tiềm ẩn cũng như khả năng gây ra tác động đáng kể; dù những tác động này có thể không được các tổ chức xếp hạng biết đến (ví dụ như việc phân bổ lại nguồn lực ở các trường).  Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ bao quát và phản biện nhiều hơn về những vấn đề quan trọng liên quan đến sự mê hoặc kỳ lạ của phong trào xếp hạng đại học hiện nay?   ————–  * http://globalhighered.wordpress. com/2011/10/05/seduced-world-university-rankings/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sứ mệnh cao quý và đầy thử thách của thế hệ trẻ      Bài phát biểu của GS. Pierre Darriulat nhân dịp buổi lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh 2016      Giải thưởng tôi vinh dự được nhận hôm nay quá uy tín so với đóng góp khiêm nhường của tôi cho sự phát triển khoa học cơ bản của đất nước. Tôi hiểu rằng giải thưởng này thể hiện thiện chí hơn là sự tôn vinh cho những thành tựu mà thực ra tôi còn chưa đạt được; đúng hơn đây là sự ghi nhận những nỗ lực tôi đã cống hiến, trong 16 năm qua, vì sự phát triển khoa học và những đổi mới trong văn hóa, cung cách làm việc để đáp ứng cho sự phát triển ấy. Phát triển văn hóa và giáo dục là điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ của đất nước. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, phát triển văn hoá và giáo dục sẽ kéo theo sự phát triển ở những lĩnh vực khác. Phan Châu Trinh và những đồng chí của mình trong nhóm Ngũ Long cách đây một thế kỷ đã đấu tranh cho giải phóng văn hóa và giáo dục cho người Việt và coi đó là con đường tốt nhất hướng đến độc lập và tự do. Cho đến hôm nay tinh thần đó vẫn còn nguyên giá trị.  Đại học của chúng ta dựa trên mô hình những đại học ở các nước phát triển cách đây 50 năm. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn là một đất nước phải vật lộn để phát triển sau nhiều thập kỷ chiến tranh và đói kém với những vết thương còn chưa lành. Chúng ta phải xem xét lại cần loại đại học nào để phục vụ tốt nhất cho lợi ích quốc gia. Chúng ta phải chú trọng hơn nữa đến hướng nghiệp. Chúng ta cần phải làm rõ, để phát triển phải cần bao nhiêu công nhân, kỹ thuật viên và kỹ sư; và cần phân bổ tỉ lệ giữa các ngành nghề như thế nào: cần bao nhiêu bác sĩ, bao nhiêu y tá, bao nhiêu kiến ​​trúc sư, bao nhiêu giáo viên và bao nhiêu nông dân. Ngày nay, rất nhiều sinh viên đại học phải lãng phí 4 đến 5 năm quý giá nhất cuộc đời mình để nghe những bài giảng mà chất lượng của nó cách xa hàng dặm so với những gì mà họ đáng được học. Trong nhiều lớp vật lý hạt nhân, những kiến thức lạc hậu mà tôi đã học cách đây 60 năm khi còn là sinh viên vẫn đang được giảng dạy. Trong hơn hai mươi năm qua, chúng ta vẫn chưa thể đào tạo ra được một nhóm các kỹ sư, nhà khoa học những người có thể làm chủ được việc xây dựng, vận hành, khai thác và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân mà chúng ta sẽ xây dựng trong tương lai.  Ngày nay, chúng ta đang đào tạo quá nhiều sinh viên cho các ngành dịch vụ như tiếp thị, ngân hàng, quản lý, những cái tên mỹ miều thường giấu đi sự thật rằng chúng là nguồn lao động giá rẻ của những nước đang phát triển phục vụ tiến trình toàn cầu hóa theo cơ chế kinh tế thị trường. Trước khi dạy tiếp thị, chúng ta nên dạy cách tạo ra những sản phẩm có thể cần tiếp thị; trước khi dạy quản lý, chúng ta nên dạy những kỹ năng mà sau này sẽ là đối tượng cho sự quản lý. Nếu không, chúng ta sẽ chỉ tạo ra toàn là các nhà quản lý, và họ chẳng có đối tượng nào khác để quản lý ngoài chính bản thân mình.  Chúng ta đang tiêu tốn nhiều tiền của gửi con em mình đi học ở nước ngoài để kiếm những tấm bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Nhưng chúng ta lại rất hời hợt trong việc xác định những kỹ năng nào là cần thiết. Chúng ta chưa nỗ lực đủ mạnh trong việc khai thác, phát huy những du học sinh sau khi họ trở về nước, vì vậy nhiều đầu tư của nhà nước cho công tác đào tạo ở nước ngoài chỉ đơn giản là bị lãng phí. Tệ hơn nữa, nó làm gia tăng nạn chảy máu chất xám tai hại cho đất nước. Không có lý do gì để ta tiếp tục lãng phí nhiều tiền của như vậy vào việc gửi người ra nước ngoài và duy trì mức chảy máu chất xám quá cao. Nên dành số tiền này để hỗ trợ cho những người ở trong nước có quyết tâm cống hiến mang lại những giá trị tốt đẹp hơn. Tất nhiên, điều đó hàm ý một sự thay đổi trong cung cách làm việc: chúng ta nên chọn nhân sự một cách nghiêm túc hơn dựa trên cơ sở duy nhất là tài năng và năng lực; chúng ta nên tạo điều kiện, cả về tiền lương và môi trường làm việc, để thu hút họ. Chúng ta phải có một chính sách phát triển dài hạn, được quảng bá rõ ràng, để cho họ cảm thấy những hành động của mình nằm trong đó, tạo cho họ niềm tin vào sự hỗ trợ dài hạn, cho họ cơ sở để tự hào về những thành tựu đạt được, đem lại cho họ cảm giác được phụng sự một đất nước nơi ghi nhận những đóng góp của họ.  ***  Thế giới quanh ta đang liên tục thay đổi, với tốc độ ngày nay nhanh hơn nhiều so với trước đây. Chúng ta cần phải đào tạo nên những công dân trẻ có trách nhiệm, những người nhìn ra thế giới với đôi mắt mở rộng, những người có chính kiến, có thể thích ứng nhanh với môi trường mới; những người có khả năng bác bỏ những học thuyết giáo điều, chiến đấu chống lại sự trì trệ, quan liêu và bảo thủ, những người biết nổi giận khi chứng kiến những điều trái ngược với lương tâm; những người có thể thay đổi những luật lệ điều hành xã hội để phù hợp với những thay đổi khách quan của thực tiễn, thay vì chỉ thuần túy mù quáng áp dụng những quy tắc lỗi thời là nguyên nhân của sự xơ cứng và tê liệt trong xã hội.  Việc thay đổi cung cách để tiến bộ đòi hỏi chúng ta, những học giả, nhà khoa học, trí thức có trách nhiệm nuôi dưỡng, phục hồi sự nghiêm ngặt đạo đức, tri thức và sự chuyên nghiệp trong các thói quen và cung cách làm việc. Chúng ta cần phải phục hồi sự tôn trọng tri thức, liêm chính và vì lợi ích cộng đồng hơn lợi ích cá nhân. Thất bại trong việc khôi phục những giá trị này đồng nghĩa với việc không thể đưa đất nước tới sự tiến bộ.  Văn hóa không có nghĩa là bảo thủ, cũng không có nghĩa là loại trừ. Ngược lại, nó có nghĩa là tiến bộ và khoan dung. Sự tôn trọng mà chúng ta có nghĩa vụ dành cho tổ tiên, những người đã tạo nên chúng ta hôm nay, tôn trọng với đất nước, với truyền thống không có nghĩa là không tôn trọng những nền văn hóa và các truyền thống của những người anh em khác trên thế giới. Ngược lại, chúng ta nên tò mò tìm hiểu về những nền văn hoá đó. Chúng ta nên có tham vọng học hỏi từ những nền văn hóa khác cũng nhiều như cách chúng ta quảng bá văn hoá của mình ra thế giới. Thái độ tò mò, nghiêm túc, và khoan dung và tầm nhìn dài hạn như vậy là những thuộc tính cố hữu, đặc biệt của văn hóa khoa học mà chúng ta, các nhà khoa học phải có trách nhiệm gìn giữ và phổ biến. Chúng ta phải cảm thấy có trách nhiệm đấu tranh cho sự phục hồi những giá trị tri thức và đạo đức nhằm góp phần đề cao phẩm giá con người; và nỗ lực thúc đẩy một nền khoa học không biên giới.  Để thành công, chúng ta cần phải tin tưởng vào thế hệ trẻ nhiều hơn so với hiện nay. Chúng ta cần phải dựa vào sự nhiệt tình, năng lượng, tài năng, sự hào phóng, niềm tin của họ vào tương lai mà ở đó họ là những nhân vật chính. Chúng ta cần phải trao cho họ cơ hội để mang lại cho đất nước nguồn không khí trong lành mà chúng ta rất cần để thở sâu hơn. Chúng ta cần phải trao cho họ cơ hội để thay đổi mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, động viên họ chủ động đóng góp cho sự tiến bộ và phát triển của dân tộc. Tương lai đất nước nằm trong tay họ, những bàn tay của thế hệ Đổi Mới. Họ đã không phải chịu đựng những cuộc chiến tranh, đói khổ, những nỗi đau buồn, sự áp bức mà cha mẹ và ông bà họ đã phải trải qua. Họ được thừa hưởng từ ông bà cha mẹ độc lập và tự do. Mục tiêu của họ không còn là chiến thắng trong những cuộc chiến tranh mà là chiến thắng trong hòa bình. Sự nghiệp đó cũng cao quý như sự nghiệp mà các bậc cha mẹ và ông bà của họ đã từng chiến đấu. Điều đó cao quý nhưng cũng không kém phần thử thách. Chúng ta phải làm tất cả những gì cần thiết để ủng hộ và động viên họ hoàn thành sứ mệnh của mình; trang bị những công cụ giúp họ vượt qua những khó khăn phải đối diện.  Cách tôi nói nghe có vẻ kiêu ngạo. Tôi là ai mà nghĩ rằng mình biết chúng ta cần phải làm gì? Có lý tưởng riêng là một chuyện, nhưng tự cho rằng mình đúng đắn lại là chuyện khác. Tôi chia sẻ suy nghĩ của mình với cách nói tự do như trên đây chỉ vì điều đó không phải cho tôi, một người già, mà cho những đồng nghiệp trẻ mà tôi đang tiếp xúc hằng ngày. Động lực duy nhất của tôi là được chứng kiến đất nước này trao cho họ những cơ hội mà tài năng và sự hào phóng của họ xứng đáng có được. Những gì tôi nói không phải là mới, đơn giản đó là những nhận thức bình thường khi ta can cảm thẳng thắn đối diện với sự thật.  Trước khi kết thúc, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người đã làm cho khoảng thời gian 16 năm qua của tôi ở Việt Nam trôi qua một cách hạnh phúc, đó là: vợ tôi, dĩ nhiên, không có bà thì tôi đã không đến Việt Nam; các đồng nghiệp trẻ của tôi, những người đứng đằng sau những nỗ lực của tôi; những người bạn Việt Phương, Hoàng Tụy, Phạm Duy Hiển, những người tôi chia sẻ niềm tin và là những người tôi hết sức tôn trọng và ngưỡng mộ. Cuối cùng, cho phép tôi cảm ơn bà Nguyễn Thị Bình, nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Chu Hảo, những người đã đặt niềm tin trao cho tôi giải thưởng này, tôi nhắc lại, sự đóng góp khiêm nhường của tôi thật không xứng đáng. Tôi sẽ nỗ lực hết sức để xứng đáng với niềm tin của họ và xứng đáng với những người có uy tín đã từng nhận giải thưởng này.   Phạm Ngọc Diệp dịch  (Ban biên tập Tia Sáng hiệu đính)      Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Sứ mệnh của trường đại học      Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm.  Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.       Bài này gồm 5 phần: – Sứ mệnh của trường ĐH; – Nội hàm văn hóa ĐH; – Gợi ý từ ĐH hàng đầu; – ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; – Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.  I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC  1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?  ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v… đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).   Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.   ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton …). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v…. Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.   Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.  Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.  ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.  Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..  Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.   Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.  Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!  2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.  Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”  Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.   Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.   Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).  Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.  3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng  ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).   Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.  Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?  Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.  Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những  đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn  Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông:  Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó  có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào  tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của  mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai,  vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm  thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở  Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân  tệ?          Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt   nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện  Khoa  học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội  KHKT  Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên  tử  Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).    Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.    Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.    Từ 1998 được mời làm GS danh dự  ĐH  Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến  sĩ  Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH   Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu   trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu   trưởng các trường đại học trên thế giới.    Từ năm 2001 ông được mời làm  Hiệu trưởng ĐH  Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung  Quốc đầu tiên nhậm  chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc.           (Còn tiếp)  Huy Đường lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ  trước tuổi đến trường (Kỳ 1)      Loạt bài của nhà nghiên cứu Phạm Văn Lam sẽ cung cấp một số điểm quy chiếu về tốc độ phát triển ngôn ngữ của trẻ ở một giai đoạn hết sức quan trọng, đó là giai đoạn tiền học đường từ 0-6 tuổi.      Giai đoạn 0 – 6 tuổi là giai đoạn quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ.  Giai đoạn 0 – 6 tuổi là giai đoạn quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ. Bởi lẽ, trong giai đoạn này, nếu trẻ không được tiếp xúc với môi trường ngôn ngữ tự nhiên thì về sau chúng không thể hoặc rất khó có năng lực ngôn ngữ như bình thường. Sự phát triển ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp của trẻ trong giai đoạn này quan trọng đối với cả việc phát triển các tế bào thần kinh lẫn việc hình thành các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh – cái cơ sở vật chất quyết định lượng và chất ngôn ngữ và tri thức của trẻ sau này. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn trẻ tương tác ở trong môi trường gia đình nhiều nhất (trong giai đoạn này, gia đình trẻ nói bao nhiêu ngôn ngữ và nói loại ngôn ngữ nào thì trẻ có khả năng nói/ thụ đắc ngần ấy ngôn ngữ và loại ngôn ngữ một cách tự nhiên, nhanh chóng, hiệu quả và dễ dàng nhất); trẻ chuẩn bị nhiều nhất cho việc đến trường; và các bệnh liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ và một số bệnh khác (như tự kỉ, rối loạn cảm xúc, hành vi) được bộc lộ chủ yếu ở giai đoạn này.  Số lượng và phẩm chất, cách thức vận hành ngôn ngữ của trẻ trong những năm đầu đời là một chỉ số vô cùng quan trọng, rất có giá trị đối với việc tiên lượng sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là sự phát triển về mặt trí tuệ và năng lực học hỏi, biểu đạt của trẻ về sau này. Trẻ có năng lực ngôn ngữ tốt thì khả năng bộc lộ biểu đạt ý tưởng, cảm xúc, lập luận và và xử lí vấn đề mới tốt. Năng lực ngôn ngữ tốt thì năng lực tư duy, thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội, năng lực phát hiện, đối mặt và giải quyết vấn đề,… cũng theo đó mà được củng cố phát triển, dẫu rằng không có sự tương ứng và song hành một – một. Hơn nữa, năng lực ngôn ngữ còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc tương tác bằng hữu và học tập ở trường, bởi nó quyết định cả khả năng đọc hiểu, nghe hiểu và sản sinh lời nói cả dạng viết và nói về những tri thức được truyền thụ trong nhà trường.  Hiểu được như vậy nên việc tác động vào cơ chế phát triển, thụ đắc ngôn ngữ tự nhiên của trẻ là việc làm vô cùng quan trọng. Vì thế, bài viết này sẽ trình bày một cách khái quát theo tinh thần định tính về các giai đoạn hay mốc phát triển ngôn ngữ quan trọng của trẻ ở tuổi tiền học đường (0 – 6 tuổi). Những miêu tả ngôn ngữ ở đây là những miêu tả của sự phát triển ngôn ngữ vốn được xem là bình thường của những đứa trẻ phát triển bình thường, và chúng ta có thể coi đó là điểm quy chiếu để xem xem con mình phát triển ngôn ngữ nhanh hay chậm, phát triển bình thường hay không bình thường, có khuyết tật về trí tuệ hay không,…  Giai đoạn nằm trong bụng mẹ  Bộ não của trẻ đã được kích hoạt ngay từ những ngày cuối thai kì để làm quen với âm thanh ngôn ngữ mà trực tiếp nhất là tiếng của mẹ mình. Trong giai đoạn này, thai nhi tiếp xúc và làm quen với nhiều loại âm thanh, chẳng hạn như tiếng tim đập, tiếng chuyển động của bản thân mình, tiếng nhạc mà mẹ cho nghe, tiếng trò chuyện cưng nựng của bố,… Những âm thanh có độ cao cao, loại âm thanh đặc trưng của phụ nữ, thường là những âm thanh mà trẻ yêu thích và dễ nhận biết. Điều này giải thích tại sao ngay khi trẻ ra đời, nếu để ý kĩ, chúng ta có thể thấy trẻ có xu hướng bộc lộ những hành vi và xúc cảm dễ chịu khi được nghe tiếng của mẹ (bởi lẽ âm thanh của mẹ là âm thanh có cao độ cao hơn so với âm thanh của bố một cách tự nhiên). Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rõ rằng ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, trẻ đã có những hoạt động có tính chất ngôn ngữ đầu tiên. Khi ở vào tuần tuổi 24 – 27, thai nhi đã học được những đặc trưng âm thanh cơ bản của ngôn ngữ mẹ đẻ như là nhịp điệu, độ cao, độ dài của âm thanh. Và cho đến khi được sinh ra, trẻ đã có thể nhận biết một vài âm mà chúng đã được tiếp xúc thường xuyên, liên tục ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Chính vì thế, cho trẻ nghe nhạc hay trò chuyện với trẻ ngay từ lúc chưa sinh ra trong giai đoạn cuối thai kì là một việc mà bất kì bậc cha mẹ nào cũng nên làm.      Cho trẻ nghe nhạc hay việc trò chuyện với trẻ ngay từ lúc chưa sinh ra trong giai đoạn cuối thai kì là một việc mà bất kì bậc cha mẹ nào cũng nên làm.      Giai đoạn 0-3 tháng tuổi  Ngay từ lúc sinh ra, trẻ đã có thể phát ra những âm thanh nho nhỏ, mặc dù năng lực thính giác chưa có biểu hiện rõ ràng. Đến tháng thứ hai, trẻ đã có thể bắt đầu phát ra những tiếng ọ ẹ, hay tạo ra những tiếng kêu khe khẽ thích thú. Tuy nhiên, những âm thanh này, khác với tiếng khóc, có tính ngẫu nhiên cao, không có sự liên hệ một đối một giữa âm thanh và ý định cần truyền đạt. Cũng ở tháng thứ hai, trẻ đã có thể hướng đầu tới phía nguồn phát ra âm thanh, bắt đầu chú ý đến những âm thanh quen thuộc, bắt đầu biết lắng nghe tiếng trò chuyện quanh mình, và cũng biết phản ứng lại các âm thanh to và lạ bằng cách giật mình. Sự tập trung chú ý về mặt thính giác của trẻ ở giai đoạn này dường như chủ yếu dành cho việc tiếp nhận tín hiệu âm thanh nói chung. Ở tháng thứ hai, thứ ba trẻ đã có thể bắt đầu cười ra tiếng khi tiếp xúc với cha mẹ và người thân. Tiếng cười, tiếng cưng nựng vỗ về của mẹ là những âm thanh mà trẻ thấy dễ chịu nhất. Trẻ cũng sẽ đáp lại những âm thanh này bằng những những nụ cười ra tiếng hay chỉ là một sự nhoẻn miệng nhẹ nhàng.  Những âm thanh có độ cao cao, người nói có giọng cao (chúng ta hay gọi là những tiếng hay những âm thanh the thé, chói tai như tiếng mâm bát, tiếng kẹt cửa) sẽ là những âm thanh dễ khiến trẻ chú ý và giật mình. Ở thời kì này, dường như trẻ nhạy cảm với cao độ hơn là cường độ và trường độ của âm thanh. Trẻ dễ dàng phản ứng lại các âm thanh bằng cách yên lặng lắng nghe hay quay đầu theo dõi (với những âm thanh quen thuộc và dễ chịu), giật mình khóc thét (với những âm thanh to, gây sự khó chịu).  Cũng ở giai đoạn này trẻ đã có thể bắt đầu tiến hành các hoạt động tương tác có tính chất xã hội đầu tiên với gia đình của mình với mục đích để đáp ứng các nhu cầu có tính chất sinh học như ăn, ngủ, sự khó chịu hay thỏa mãn. Trẻ tiến hành giao tiếp bằng các phương tiện tiền ngôn ngữ vừa tự nhiên vừa ngẫu nhiên. Có thể xem tiếng khóc là hình thức giao tiếp đầu tiên của trẻ trong giai đoạn này. Người Việt đã rất có lí khi định danh thời điểm hay sự kiện ra đời của một em bé bằng cụm từ cất tiếng khóc chào đời. Khóc oe oe để được cho bú. Khóc oe oe để báo hiệu sự khó chịu hay đau đớn,… Khóc oe oe khi được mẹ lấy dử mũi,… Và cũng có thể khóc oe oe khi ngủ dậy. Các kiểu khóc có âm sắc khác nhau cho ta biết các thông tin khác nhau.  Ngay ở cuối giai đoạn này, trẻ đã có thể phân biệt một số tương tác bề ngoài tốt hay xấu với trẻ. Ví dụ bẹo má nhẹ kèm lời mắng yêu có thể làm cho trẻ khóc thét, do trẻ chưa hiểu được ý nghĩa của các hành vi đó. Nhưng dần dà về sau, trẻ đã có thể nhận ra các âm thanh có mục đích và đã có thể dần có những hành vi đơn giản để đáp ứng lại, ví dụ như trẻ có thể đái khi được xi, trẻ dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn khi nghe tiếng ru,… Ở cuối giai đoạn, trẻ đã có thể phân biệt được giọng nói của mẹ và giọng nói của người khác. Đặc biệt, với một số trẻ phát triển sớm, hỏi bố đâu, mẹ đâu là trẻ đã có thể quay người để đi tìm và có thể tìm đúng, dù không phải lần hỏi nào cũng có thể đáp ứng được.  Ở giai đoạn này, nếu như trẻ không có phản ứng với những âm thanh có cao độ cao, cường độ lớn, cha mẹ nên cho con đi khám để có thể nhận được những lời khuyên hay tư vấn hợp lí.  Giai đoạn 3-6 tháng tuổi  Bước sang tháng thứ tư, nhìn chung trẻ đã có thể tạo ra nhiều âm ê a khác nhau, biết nâng cao giọng ê a của mình một cách tự nhiên. Trẻ bắt đầu biết tập trung chú ý, quan sát tỉ mỉ cử động và hình dáng miệng của người lớn khi người lớn nói chuyện với trẻ. Ở tháng thứ năm, trẻ đã tự mình phát ra được một số âm, chủ yếu là nguyên âm, khi tiếp xúc với người hoặc vật, hoặc trong lúc chơi một mình. Bước sang tháng thứ sáu, nói chung trẻ đã biết quay đầu hướng sang phía người gọi tên mình và đã có thể phát ra và lặp đi lặp lại những âm tiết (chưa có nghĩa) đầu tiên. Nếu ở giai đoạn 0 – 3 tháng tuổi, dường như trẻ đầu tư năng lực ngôn ngữ (phát âm và nghe) của mình cho những âm, những tiếng động có tính tự nhiên thì ở giai đoạn 3 – 6 tháng tuổi, trẻ lại đầu tư năng lực nghe và phát âm các âm thanh có tính ngôn ngữ.  Đáng chú ý là tiếng khóc của trẻ ở giai đoạn này đã khác về chất so với giai đoạn trước. Nếu tiếng khóc ở giai đoạn trước gắn liền với nhu cầu sinh học, có tính bị động và ít có tính tương tác, thì tiếng khóc ở giai đoạn này đã gắn với các tương tác xã hội nhiều hơn, chủ động hơn. Trẻ có thể khóc khi không với được đồ chơi. Khóc khi không cho ăn kịp hay nhìn thấy bình sữa lúc đói. Khóc khi buồn ngủ trong lúc được bế đi chơi,… Khóc khi nhìn hay nhận ra người lạ. Đặc biệt, ở giai đoạn này khi đang khóc nếu nghe âm thanh hay tiếng động lớn trẻ có thể ngừng khóc.  Tính chủ động trong việc tạo ra các âm thanh trong giai đoạn này đã thực sự tăng lên. Tính chủ động trong việc phát ra các âm thanh của trẻ thể hiện ở hai khía cạnh là tự phát ra một vài âm riêng rẽ và đã có thể bắt chước và lặp lại theo người lớn một số âm dễ. Trẻ đã có thể chủ động tạo ra các âm thanh (như các âm được phát âm bằng gốc lưỡi, các âm họng: ừ, ừng,…) xác định khi người lớn nói chuyện cùng. Trẻ có thể tự hét lên khi chơi một mình (phát ra các âm gần đầu lưỡi, thấp, nghe như e, é,…), hoặc cũng có thể tự tạo ra tiếng ừ, ừ, ê a,… dễ chịu khi nằm chơi một mình. Những tiếng ọ ẹ hay ê a của trẻ cũng tăng lên. Khi có cha mẹ nô đùa cùng, trẻ dễ dàng tạo ra những âm thanh ríu rít để đáp lại và để thể hiện sự vui thích. Trong một lần hít thở, trẻ đã có thể tạo ra vài ba tiếng ọ ẹ, ê a, ừ ừ riêng rẽ. Trẻ có thể cười thành tiếng, lặng im để lắng nghe, hóng chuyện người lớn. Trẻ cũng có thể biểu đạt được yêu cầu và mong muốn của mình bằng cách sử dụng âm thanh và cử chỉ hay dễ dàng chủ động tạo ra những tiếng ồn to (khóc, kêu) để thu hút sự chú ý, kêu gọi cha mẹ khi có những nhu cầu và sự khó chịu. Trẻ cũng dễ dàng phát ra âm thanh để thể hiện sự thích thú hơn. Trẻ tự kêu lên khi chơi, khi tâm trạng thoải mái, đã có thể chủ động phát ra tiếng kêu như thể đang nói.  Về mặt ngôn ngữ học, các âm thanh mà trẻ phát ra trong nửa đầu giai đoạn này dường như là đồng chất trong cấu tạo, dù rằng có một số phụ âm xuất hiện kèm nguyên âm ở vị trí cuối (như ừm, ừng,…). Các âm đó chủ yếu là các nguyên âm có cấu tạo gần với cách há miệng và nhâng lưỡi một cách tự nhiên để thở và kêu khóc. Một số phụ âm gốc lưỡi hay môi như m, ng, thanh điệu/ dấu huyền xuất hiện ở giai đoạn này ở các âm như trong ừm, ừng,… có tính chất tự nhiên nhiều hơn, chứ tính chất chủ động trong việc tạo ra các âm hay thanh điệu này là hầu như không có. Thanh huyền xuất hiện cũng gần như là hệ quả của việc hạ thấp cao độ và kết thúc giọng nói một cách tự nhiên do hơi của trẻ còn yếu và ngắn. Thanh điệu và ngữ điệu xuất hiện trong giai đoạn này nhưng chúng không thực sự là những đơn vị mang nghĩa, chúng không được xem là những bộ phận của từ thực sự, cũng giống như tổng thể các âm đó khó có thể được xem là những từ thực sự trong ngôn ngữ mẹ đẻ mà trẻ đang trải nghiệm. Ở cuối giai đoạn này, về cơ bản, hầu hết các trẻ đã có thể nhận biết được các âm thanh cơ sở trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trên đại thể, trẻ đã phát ra được các âm mà chu trình phát âm đòi hỏi sự chuyển động của các cơ quan cấu âm. Biểu hiện của sự việc này là ở chỗ trẻ đã có thể phát ra những âm tiết (dù chưa có nghĩa và chưa phải là âm thanh trong ngôn ngữ mẹ đẻ của trẻ) đã có các phụ âm đầu, ví dụ như ma ma, đa đa, pa pa,… Do trẻ bắt đầu “dồn lực” cho việc nghe và nói ra các âm có tính ngôn ngữ, vì vậy, không nên nhầm việc trẻ chưa thể nói được những âm đầu tiên trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình mà nghĩ rằng trẻ chưa thực sự bắt đầu học hay chiếm lĩnh ngôn ngữ để rồi lơ là việc rèn luyên kĩ năng ngôn ngữ mà cụ thể là kĩ năng nghe của trẻ.  Cuối giai đoạn này, một số trẻ đã biết chủ động nằm im để nghe lời ru và lời hát dễ chịu của bà và mẹ. Khi được gọi tên, trẻ đã có thể phản ứng bằng cách mỉm cười, im lặng lắng nghe hay nhìn ngó chung quanh. Trẻ đã bắt đầu tìm kiếm, lắng nghe các âm thanh mới lạ về nhịp điệu tiết tấu, cao độ. Trẻ đã có thể định hướng được các âm thanh hay tiếng động không nằm trong tầm mắt của mình. Cuối giai đoạn, dường như trẻ đã phân biệt được những lời nói vốn có thể kích thích sự hứng thú của trẻ (rủ đi chơi, muốn bế, cho ăn) với những âm thanh khác, đặc biệt là các âm thanh gây sự khó chịu. Trẻ đã có những âm thanh và đáp ứng riêng cho việc này. Các bé cũng đã có thể chủ động quay và hướng người sang với các âm thanh tương tác với mình, nhất là âm thanh của mẹ, của bà. Chúng đã có thể chủ động lắc đầu, ngoảnh mặt, quay đi khi nghe tiếng gọi của người lạ, khi không muốn người khác bế. Khi được hỏi bố đâu, mẹ đâu, hầu hết trẻ đã có thể dễ dàng đáp ứng câu hỏi bằng cách xoay đầu đi tìm hoặc quay đầu sang chỗ bố hay mẹ, dù không có một mối liên hệ hỏi đáp 1- 1 tất yếu và ổn định.  Ở giai đoạn này, nếu như cha mẹ không thấy trẻ phản ứng lại các tiếng động lớn, không cười khi nghe tiếng mẹ hay không cười với những người xung quanh, không nói ọ ẹ, ê a được một vài âm, không bắt chước được một số âm thanh của người lớn (đặc biệt là âm thanh của mẹ) thì cần cho con đi khám.  (Còn tiếp)  Tác giả Phạm Văn Lam đã có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ học (ngữ nghĩa học, giáo dục ngôn ngữ, thụ đắc ngôn ngữ, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, trí nhớ ngữ nghĩa, mạng từ,…). Anh đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em, phát triển ngôn ngữ cho trẻ em,…, và đã có nhiều ấn phẩm về vấn đề này, trong đó mới nhất là bộ sách Phát triển năng lực tư duy – ngôn ngữ (dành cho học sinh tiểu học) do Nxb Giáo dục ấn hành.  ———  * Tác giả là Thạc sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.          Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi đến trường (Kỳ 2)      Nếu ở giai đoạn 6-12 tháng tuổi, năng lực bắt chước ngôn ngữ của trẻ chính thức được hình thành thì ở giai đoạn 12-24 tháng tuổi, quá trình học ngôn ngữ của trẻ bước sang một giai đoạn mới – trẻ đã có thể sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để tiến hành giao tiếp.      Ở giai đoạn 6-12 tháng tuổi, số từ mà trẻ có thể hiểu có thể lên tới con số hàng trăm.  Giai đoạn 6-12 tháng tuổi  Bước vào giai đoạn này, những thành tựu ngôn ngữ mà trẻ có được ở giai đoạn trước phát huy mạnh mẽ. Năng lực nghe và phát âm của trẻ tiến bộ rõ rệt. Ngay từ đầu giai đoạn, trẻ đã chủ động tiến hành các hoạt động lời nói hơn trước. Tháng thứ chín và mười là những tháng đánh dấu sự thay đổi đáng kể sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.  Ở tháng thứ bảy, trẻ liên tục bập bẹ các âm như ba ba, pa pa, ma ma, da da,… nhưng những âm này vẫn chưa phải là những âm thanh của ngôn ngữ mẹ đẻ được dùng để gọi tên ba mẹ. Sang tháng thứ tám, trẻ liên tục bập bẹ bắt chước máy móc âm thanh của người lớn. Vào tháng thứ chín, ngôn ngữ cử chỉ (đi kèm những tiếng bập bẹ) của trẻ được xác lập và tăng cường một cách hữu thức; trẻ đã có thể biết vẫy tay tạm biệt, đập tay vào nhau để hoan hô,… Đến tháng thứ mười, trẻ đã có thể nhận ra những âm thanh ngôn ngữ mà bấy lâu nay trẻ tập trung nghe và bập bẹ theo là có nghĩa; trẻ dường như ý thức được chuyện này và liên tục bắt chước, tập phát âm theo người lớn một cách hữu thức. Đến tháng thứ 11, trẻ vẫn bập bẹ bắt chước nhưng có vẻ đã đầu tư sự chú ý của mình vào việc rèn luyện một số âm riêng rẽ. Cho đến tháng 12, trẻ bắt đầu nói chuyện một cách có ý thức; những từ ngữ có nghĩa đầu tiên mà trẻ dùng để nói chuyện (thường dùng để gọi với mục đích phục vụ cho các nhu cầu ăn uống, vui chơi của trẻ) là những từ mẹ, mạ, bà, ba, bố.  Ở giai đoạn này, trẻ thực sự cảm nhận và phản ứng tích cực với việc mình được gọi tên. Số từ mà trẻ có thể hiểu có thể lên tới con số hàng trăm, trong đó trẻ dễ phản ứng theo những từ như bà, mẹ, bố, hôn, thơm, tạm biệt, há miệng, bế, đi chơi, về, đi làm, bú, ti,… Đồng thời, trẻ cũng đã nhận biết và có phản ứng phù hợp và rõ ràng với những lời nói tích cực (âu yếm, cưng nựng, cười đùa), những lời nói tiêu cực (tiếng quát mắng, cáu giận) hay lời nói “không” của cha mẹ. Trẻ cũng đáp ứng được một số mệnh lệnh đơn giản của cha mẹ, như biết há miệng khi mẹ nói há miệng trong lúc cho ăn, biết chu môi ra để thơm má mẹ, đưa tay cho mẹ thơm, hay vòng tay ôm choàng mấy cổ mẹ,… Bên cạnh đó, trẻ có thể phản ứng và hưởng ứng một cách đều đặn các trò chơi quen thuộc của người lớn dành cho trẻ (như trò ú òa, thọc lét,…), hiểu được hành động bẹo má nhẹ kèm lời mắng yêu mà không khóc. Trẻ đã thực sự có thể vẫy tay chào tạm biệt khi được yêu cầu.      Dù trẻ có nói giỏi đến đâu, các lỗi ngữ âm vẫn tồn tại và có thể xem chúng như là một chỉ dấu cho sự phát triển ngôn ngữ thực sự của trẻ. Trẻ nói từ càng khó thì càng dễ phát âm sai. Trẻ nói ra ý định càng phức tạp thì càng dễ nói sai.      Trẻ cũng đã định hướng được một cách rõ ràng nguồn phát ra âm thanh, bị hấp dẫn bởi các âm thanh lạ, sôi động và có thể có phản ứng với tiếng chuông điện thoại hay tiếng gõ cửa. Thêm vào đó, trẻ đã có thể sử dụng âm thanh của mình phát ra để bộc lộ sự vui mừng hay cáu gắt, khó chịu như cười hoặc kêu lên khi được người lớn rủ đi chơi, khóc thét lên ngay lập tức khi bị quát mắng. Khả năng bắt chước âm thanh của trẻ tăng lên rõ rệt – trẻ đã có thể bắt chước tiếng chặc lưỡi của cha mẹ hay một số âm thanh đơn giản gồm hai âm tiết như ba ba, pa pa, a pu, a chạ,… Giai đoạn này được coi là giai đoạn mà năng lực bắt chước ngôn ngữ của trẻ chính thức được hình thành.  Trong nửa đầu giai đoạn 6-12 tháng tuổi, cách phát âm của trẻ có sự tiến bộ rõ rệt. Trẻ đã có thể phát ra được một số phụ âm môi, mặt lưỡi, gốc lưỡi và họng như b, p, ch, g, h,… và bập bẹ một số âm thanh gồm hai âm tiết như ba ba, bha bha, dha dha, cha cha, ma ma, ây ây… Những âm thanh này có thể được trẻ phát ra với những ngữ điệu khác nhau trong các thời điểm khác nhau. Trong một lần hít thở, trẻ có thể nói ra được khoảng 4 – 5 tiếng mà trẻ bắt chước theo người lớn hoặc tự nói ra trong lúc chơi một mình. Những âm thanh này sẽ được trẻ lặp đi lặp lại một mình vô điều kiện. Có thể coi đây là những âm thanh phổ quát mà trẻ nói ngôn ngữ nào cũng nói nhưng lại chưa phải là những âm thanh của ngôn ngữ mẹ đẻ đích thực vì chúng chưa gắn với những nội dung hay ý định cần biểu đạt mà chỉ thuần túy tự phát.  Cần chú ý rằng, bất kì hành động dù bằng âm thanh hay bằng cử chỉ nào của trẻ (như kêu chạ chạ, ta ta, đa đa, bha bha,…, lắc đầu, vẫy tay, há miệng,…) để phản ứng lại người lớn không thể hình thành ngay từ lần trẻ tiếp nhận đầu tiên mệnh lệnh hay kích thích từ phía người lớn, mà đó là kết quả của sự thực hiện mệnh lệnh hay kích thích một cách liên tục, đều đặn và thống nhất đối với trẻ. Ở giai đoạn này, năng lực chủ động tạo ra các âm thanh có nghĩa đơn giản của trẻ phải được đánh giá đúng. Trẻ có thể biết hoặc không biết nghĩa của những từ thực sự đầu tiên này nhưng chúng sẽ nhanh chóng nắm được sức mạnh hành động mà những từ ngữ này đem lại khi nói ra để từ đó có thể chủ động tăng cường các hoạt động ngôn ngữ đầu tiên, và phản ứng lại những hành động ngôn ngữ có chứa chính những từ đầu tiên này.  Cuối giai đoạn 6-12 tháng tuổi, thanh quản của trẻ tụt sâu xuống dưới để tạo ra một khoang cộng hưởng đủ lớn, giúp trẻ phát ra các âm thanh ngôn ngữ chân chính. Trẻ có thể bập bẹ những âm thanh đầu tiên của ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Những từ đó thường là những từ bà, mẹ/ mạ, ba, nhăm, măm,… Khi nói ra được những từ như vậy thì trẻ cũng đã bắt đầu biết kết hợp giữa cử chỉ và ngôn ngữ của mình để thực hiện các yêu cầu đơn giản, chẳng hạn như trẻ có thể kêu mẹ hay bà (thậm chí là khóc) và đồng thời trỏ tay vào những gì mà chúng muốn. Ở một khía cạnh nào đó, có thể xem đây là thời điểm đánh dấu chính thức quá trình biết nói và học nói của trẻ. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng ở cuối giai đoạn này, sự quy gán nghĩa cho các từ ngữ mà trẻ phát ra và sự gán nghĩa cho những từ mà trẻ tiếp thu, nhắc lại được không thực sự thường xuyên, liên tục và ổn định.  Ở giai đoạn này, nếu trẻ có các biểu hiện như không phản ứng với tiếng động chung quanh, không quay đầu tìm chỗ tiếng động phát ra, khi khóc không thể dỗ được, không cười đáp ứng hành động của người lớn, không tự phát ra các âm thanh the thé, không tự bập bẹ lặp đi lặp lại các âm như pa pa, ma ma,…; không biết chơi các trò chơi bằng âm thanh ngôn ngữ (như trò ú òa) với người lớn;… thì cha mẹ nên đưa trẻ đi khám.  Giai đoạn 12-18 tháng tuổi  Đa số trẻ có thể nói ra những từ đầu tiên của ngôn ngữ mẹ đẻ khi tròn một tuổi. Bắt đầu từ đây, quá trình học ngôn ngữ của trẻ bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn mà trẻ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách chính thức để tiến hành giao tiếp. Đến 18 tháng tuổi, trẻ đã phát hiện ra rằng mỗi sự vật, hiện tượng, hành động đều có tên gọi riêng của mình. Đây chính là điểm xuất phát khiến trẻ có thể bước vào giai đoạn bùng phát ngôn ngữ ở thời kì tiếp theo.  Trẻ đã có thể nghe hiểu và đáp ứng các hành vi định danh và mệnh lệnh thân thuộc. Các mệnh lệnh đơn giản của người lớn đối với trẻ chung quanh chuyện ăn, uống, ngủ, đi vệ sinh, chơi trò chơi,… đã được trẻ hiểu và đáp ứng đầy đủ. Sự kết hợp thường xuyên, liên tục và ổn định giữa ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ cử chỉ (dùng để hỗ trợ ngôn ngữ lời nói) của trẻ ở giai đoạn này được thể hiện rõ hơn. Trẻ đã có thể biết và sử dụng tên gọi cho khoảng 10 – 20 đồ vật. Trẻ thường gọi tên đồ vật, hành động gần gũi với mình bằng các từ tượng thanh, tượng hình. (Thực chất, ở giai đoạn này, người lớn chúng ta cũng ưa thích sử dụng những từ tượng thanh, tượng hình để giao tiếp với trẻ, giúp cho trẻ dễ hiểu). Những người thân trong gia đình, những bộ phận của cơ thể người, những đồ chơi của trẻ sẽ được trẻ gọi tên và được đáp ứng về mặt từ ngữ khi có người khác hỏi đến. Trẻ đã biết gọi tên cha mẹ mình, biết tập trung chú ý đến các cuộc nói chuyện của người lớn trong một vài phút. Trẻ thường tự chơi và tự lẩm bẩm một mình nhiều hơn và trong những lúc đó, trẻ có thể tự nghĩ tự nói ra khá nhiều từ ngữ mới mẻ theo cách riêng của mình. Những tiếng nói bi bô của trẻ trong giai đoạn này đã có ngữ điệu và biểu hiện xúc cảm nhất định. Những câu cảm thán (A! Ah!! Ồ!) được trẻ sử dụng thường xuyên hơn. Trẻ đã bắt chước được từ vựng của người khác tại các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Chính vì thế mà các bước tiến về mặt từ vựng của trẻ liên tục được xác lập. Những từ ngữ mà chúng ta nghe tưởng chừng như rời rạc ấy đều là những phát ngôn hoàn chỉnh của trẻ, được trẻ sử dụng để biểu đạt nhiều ý định giao tiếp khác nhau. Cùng là câu nói Mẹ! Mẹ! nhưng câu nói ấy có n ý định giao tiếp khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Đó có thể là một lời mách mẹ vì bố đang trêu chòng mình, cũng có thể là đòi mẹ cho bú, nhờ mẹ lấy giúp đồ chơi, hay đòi mẹ cho đi chơi,… Những từ ngữ và câu nói mà trẻ nói ra trong giai đoạn này chưa thực sự tròn vành rõ chữ và dường như chỉ có cha mẹ hay những người chăm sóc gần gũi trẻ mới có thể lí giải và hiểu được chính xác các ý định giao tiếp của trẻ.  Ở cuối giai đoạn này, khi hỏi trẻ những câu hỏi như ở đâu, cái gì, chúng ta sẽ nhận được những câu trả lời thường xuyên và ổn định hơn trước nhiều, do chỗ trẻ đã biết gọi tên một số vật quen thuộc với mình, đã biết sử dụng ngón trỏ đi kèm lời nói. Có thể nói sức mạnh ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này được tăng cường đáng kể nhờ vào năng lực sử dụng ngón trỏ – phương tiện hữu hiệu để trẻ thể hiện các yêu cầu của mình và để đáp ứng yêu cầu của người khác khi ngôn ngữ nói không có khả năng đáp ứng hoặc đáp ứng không tốt.  Tuy nhiên, dù trẻ có nói giỏi đến đâu, các lỗi ngữ âm vẫn tồn tại và chúng ta có thể xem chúng như là một chỉ dấu cho sự phát triển ngôn ngữ thực sự của trẻ. Trẻ nói từ càng khó thì càng dễ phát âm sai. Trẻ nói ra ý định càng phức tạp thì càng dễ nói sai. Đặc biệt, trong giai đoạn này, những lỗi ngữ pháp trong cách kết hợp từ được bộc lộ rõ ràng nhất. Lỗi ngữ pháp mà trẻ thường mắc là lỗi nói sai trật tự từ (nói bế bà thay cho bà bế,…), nói thiếu từ (thường là thiếu chủ ngữ và bổ ngữ). Những lỗi ngữ pháp này, đối với trẻ, thực chất là thành quả bước đầu của sự tổ chức kết hợp các đơn vị ngôn ngữ lại với nhau để biểu đạt các ý định giao tiếp. Cũng giống như lỗi ngữ âm (lỗi ngữ âm có thể kéo dài hơn, nhất là đối với trẻ ngọng), lỗi ngữ pháp sẽ nhanh chóng lần lượt được trẻ tự sửa chữa và thay thế một cách tự nhiên trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.  Từ giai đoạn này trở đi, cha mẹ cần luôn ý thức được mấy việc quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Thứ nhất, số lượng, tần suất, chất lượng tương tác ngôn ngữ của người lớn đối với trẻ có thể tác động trực tiếp tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Cho nên, cha mẹ cần chủ động và tích cực nói nhiều, nói chuẩn và phải nói sao cho vừa sức hiểu của trẻ. Thứ hai, bắt đầu từ đây trở đi cho đến khi trẻ chính thức bước chân vào lớp Một, giữa ngôn ngữ nói thành lời của trẻ và ngôn ngữ tồn tại bên trong trẻ, giữa ngôn ngữ mà trẻ nói ra với ngôn ngữ mà trẻ có thể nghe hiểu, giữa ngôn ngữ mà trẻ học được và ngôn ngữ mà trẻ được học,… không hề đồng nhất với nhau. Ngôn ngữ mà trẻ nói ra thành lời có thể không chuẩn, nhưng không vì thế mà chúng ta đánh giá sai sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Việc trẻ nói sai âm, sai ngữ pháp, sử dụng từ sai hoàn cảnh là điều bình thường và tất yếu đối với quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ, những lỗi này sẽ tự mất đi theo thời gian và theo sự trưởng thành về mặt ngôn ngữ của trẻ. Ngôn ngữ mà trẻ có thể nói ra luôn nhỏ hơn ngôn ngữ mà trẻ có thể nghe hiểu. Ngôn ngữ mà trẻ học được và hiểu được nhưng có thể không nói ra được một cách tự nhiên luôn lớn hơn cái ngôn ngữ mà trẻ nói ra rành rọt một cách tự nhiên. Ngôn ngữ mà người lớn có ý định dạy dỗ trẻ có thể lớn hơn ngôn ngữ mà trẻ học được thực sự. v.v. Thứ ba, bất kì uốn nắn ngôn ngữ đột xuất, không liên tục và bền bỉ nào cũng không đem lại kết quả như ý muốn. Chỉ có những sự uốn nắn ngôn ngữ kiên trì, bền bỉ mới giúp trẻ phát triển ngôn ngữ bình thường, tự nhiên và nhanh chóng. Nắm được điều này thì chúng ta mới có thể liên tục tạo ra những tương tác ngôn ngữ phù hợp và có lợi đối với trẻ (như kể chuyện cho trẻ nghe, dạy hát cho trẻ,…), tác động đúng vào vùng phát triển gần nhất của trẻ để trẻ có thể tối ưu hóa kết quả của những tiếp xúc ngôn ngữ với môi trường chung quanh.  Ở giai đoạn 12-18 tháng tuổi, nếu như trẻ vẫn chưa biết bi bô những từ ngữ như ba ba, ma ma, cha cha,…, không biết sử dụng ngón trỏ kết hợp hay hỗ trợ lời nói,…, không hiểu hay không đáp ứng các mệnh lệnh thân thuộc,…, thì cha mẹ cần đưa trẻ đi thăm khám để nắm được tình hình.  (Còn tiếp)       Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ  trước tuổi đến trường (Kỳ cuối)      Ngôn ngữ ở trẻ em phát triển tuần tự, từ thấp đến cao, giai đoạn phát triển sau chỉ có thể đến được và được xác lập khi trẻ đã trải qua giai đoạn phát triển trước đó.      Ở giai đoạn 18-24 tháng tuổi, sự tiến bộ trong ngôn ngữ và lời nói của trẻ gái và trẻ trai thể hiện rõ sự khác biệt: bé gái nói rõ hơn và nói được nhiều từ hơn bé trai; tuy nhiên, không có sự khác nhau đáng kể nào về độ dài và chất lượng câu nói giữa bé gái và bé trai.   Giai đoạn 18-24 tháng tuổi  Đến giai đoạn này, trẻ đã nhận biết và sử dụng được tên gọi của người quen, đồ vật quen thuộc trong nhà, các bộ phận cơ thể. Trẻ biết lắng nghe những câu chuyện ngắn, tập trung quan sát cuộc nói chuyện của người lớn, dễ dàng lặp lại những từ nghe lỏm được, và biết nghe theo các chỉ dẫn, hiệu lệnh đơn giản mà không cần có cử chỉ hay hành động đi kèm. Cuối giai đoạn, trẻ có thể tự đặt những câu hỏi như cái gì? đi đâu?… Những từ ngữ mà trẻ nói được tuy không đúng về mặt phát âm nhưng trong đầu trẻ cái hình ảnh âm thanh đó được hình dung, nhận biết một cách rõ ràng. Vốn từ vựng của trẻ, trong đó có những từ biểu hiện cảm xúc (yêu, thích,…), tăng lên rõ rệt. Ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu thích được kể chuyện cho nghe. Mỗi tháng trẻ học được hàng chục từ; cho đến lúc bước sang tuổi thứ hai, trẻ có thể nắm và sử dụng được khoảng 200 từ.  Bên cạnh sự phát triển số lượng từ vựng một cách vượt bậc, trẻ bắt đầu quá trình tự chiếm lĩnh và chủ ý kiểm soát các quy tắc của cấu trúc ngôn ngữ, đặc biệt là các quy tắc ngữ pháp tuyến tính. Câu mà trẻ nói ra thường có kích thước hai từ (hay hai đơn vị thông tin, hai thành phần), ví dụ như ăn cơm, mẹ đi, đá bóng,… Thi thoảng trẻ có thể nói được câu ba thành phần (bé uống sữa). Qua những câu nói kiểu này, trẻ đã bắt đầu xác lập các mối quan hệ mình – người, mình – vật, mình – hành động, người – hành động, hành động – đối tượng,… trong việc quy chiếu và biểu đạt ý định giao tiếp. Trẻ đã biết sử dụng các hành động ngôn ngữ tường minh để thể hiện yêu cầu của mình, ví dụ như uống sữa, ăn cơm, thêm sữa, không ăn,… Trẻ cũng đã nắm và sử dụng được các nghi thức hay mô hình giao tiếp đơn giản như gọi – dạ, xin – cho, hỏi – trả lời,…; bắt đầu học hỏi, làm quen với các mô hình ngôn ngữ (cũng như các mô hình tương tác xã hội nói chung) phức tạp như mắc lỗi – xin lỗi- sửa lỗi… Trẻ có thể thực hiện cuộc đối thoại ngắn với người lớn. Lời nói của trẻ thường chỉ gồm những từ chính thể hiện thông tin cần truyền đạt, chứ chưa đầy đủ các bộ phận như lời nói của người lớn. Tuy nhiên, trẻ thường là phía người trả lời, ít khi thể hiện ở phía người hỏi thông tin. Trẻ đã biết nhận ra lỗi ngôn ngữ và tự sửa chúng (cũng giống như dần biết và sửa các lỗi ứng xử khác). Ý thức sở hữu đã manh nha thể hiện qua ngôn ngữ (của anh, của Tôm, của con,…). Ngôn ngữ cái tôi của trẻ bắt đầu được bộc lộ, không chỉ thể hiện ở các đại từ, tên riêng mà còn ở các quá trình, hoạt động lời nói như thích hay không thích, yêu hay không yêu, đẹp hay không đẹp. Trong giao tiếp, để hỗ trợ hay đáp ứng các nhu cầu của mình, trẻ đã biết sử dụng ngón trỏ thường xuyên hơn. Khi trẻ phát âm, cấu trúc âm tiết được hoàn thiện. Các âm đầu, âm cuối, kể cả thanh điệu trong ngôn ngữ mẹ đẻ về cơ bản đã được trẻ nhận biết và phát âm, mặc dù có thể không đúng. Ở giai đoạn này, sự tiến bộ trong ngôn ngữ và lời nói của trẻ gái và trẻ trai thể hiện rõ sự khác biệt: bé gái nói rõ hơn và nói được nhiều từ hơn bé trai. Tuy nhiên, độ dài và chất lượng câu nói (đúng ngữ nghĩa và trật tự ngữ pháp) không thể hiện sự khác nhau đáng kể nào giữa bé trai và bé gái. Những lỗi ngữ pháp (về trật tự từ, về kết hợp thành phần câu) và ngữ nghĩa (sử dụng quá khái quát hoặc không chính xác) bắt đầu được bộc lộ.      Trẻ chưa phát ra được những tiếng vô nghĩa thì cũng không thể tự nói ra được những từ có nghĩa, trẻ không phát âm được các từ rõ ràng thì cũng không thể nói được một câu trơn tru, trẻ không nắm được ý nghĩa của các từ thì cũng không thể nói ra được những câu có ý nghĩa, trẻ không nói ra được những câu ngắn và sai thì cũng không thể nói ra được những câu dài và đúng v.v.      Nếu thấy trẻ 18-24 tháng có những biểu hiện như vẫn chưa nói được khoảng chục từ quen thuộc, chưa nói được những câu có hai từ (ăn cơm, bà bế,…), không biết bắt chước lời nói, không thể làm theo các mệnh lệnh đơn giản, thì cha mẹ nên đưa trẻ đi gặp bác sĩ để có biện pháp tác động kịp thời.     Giai đoạn 24-36 tháng tuổi  Bước sang tuổi thứ hai, trẻ bước sang giai đoạn bùng phát về mặt ngôn ngữ trên cả phương diện từ vựng lẫn phương diện tổ chức ngôn ngữ. (Cũng bắt đầu từ đây, cá tính của trẻ đã được bộc lộ). Ở giai đoạn này, trẻ học từ mới rất nhanh. Năng lực sử dụng từ ngữ cũng được cải thiện đáng kể, có thể gây ngạc nhiên cho người lớn. Trẻ không chỉ học cách gọi tên sự vật, hiện tượng, mà còn học cả những từ chỉ quan hệ ngữ pháp (cái, của, rồi, chưa, à,…). Trẻ thường xuyên nói chuyện một mình, nói chuyện với đồ chơi, quan sát và bắt chước lời nói của người lớn (cũng như bắt chước làm theo việc người lớn làm). Đến ba tuổi, trẻ có thể có 1.000 từ. Câu nói của trẻ dài năm – sáu âm tiết, thậm chí chín – mười âm tiết. Năng lực và nhu cầu thực hiện các hành động ngôn ngữ tăng lên đáng kể – các nhu cầu, mong muốn của trẻ đều có thể được thể hiện trực tiếp bằng các hành động ngôn ngữ (Con muốn uống. Đái tè…). Trẻ có thể hiểu, nhớ và làm theo một số mệnh lệnh đơn giản liên tiếp (đi ra ngoài, đóng cửa; bê ghế, ngồi vào bàn,…). Ngữ điệu lời nói của trẻ được thể hiện rõ với các mục đích giao tiếp khác nhau. Trẻ đã biết nhận lỗi, biết reo vui, biết chào miễn cưỡng và biết chào tự nguyện,… Về mặt hình thức, trẻ hầu như hiểu hết những gì mà cha mẹ trao đổi với mình. Trẻ đã manh nha phân biệt và thể hiện được phạm trù số lượng và phạm trù chất lượng đối với các vật xung quanh, ví dụ như trẻ biết ít kẹo hay nhiều kẹo, ngon hay không ngon. Trẻ cũng có thể đếm khi được dạy dù rằng chưa hiểu hết và áp dụng được vào việc đếm thực sự. Trẻ đã biết họ tên đầy đủ của mình, biết mình là con trai hay con gái. Ý thức về cái tôi, nhu cầu về sự độc lập tăng lên và thể hiện rõ trong ngôn ngữ hằng ngày (nói về sự sở hữu, nói về các trạng thái của mình,…) Trẻ đã sử dụng tương đối chính xác các đại từ, từ chỉ thân tộc (con, cháu, cô, bác, chủ,…); nói được và thường xuyên sử dụng câu phủ định một cách tường minh; phân biệt các màu cơ bản như trắng, đen, xanh, đỏ; sử dụng tương đối thành thạo các câu hỏi đơn giản (cái gì, đâu,…); hát được những bài hát ngắn có vần điệu đơn giản dù không hiểu lời. Khi vui chơi, trẻ đã biết dùng lời nói để điều tiết, phân vai các hoạt động (làm bố, làm mẹ, làm hàng xóm, làm khách hàng, làm ông chủ,…). Lời nói của trẻ đã tương đối rõ, người lạ cũng có thể hiểu được.  Đến cuối giai đoạn này, trẻ đã có thể nghe hiểu hàng chục nghìn nghĩa từ mà người lớn nói với trẻ. Hầu hết các kĩ năng giao tiếp cần thiết đã được trẻ nắm bắt và sử dụng. Năng lực tưởng tượng và sử dụng ngôn ngữ để thể hiện sự tưởng tượng ấy bắt đầu xuất hiện. Trẻ có thể nghe và kể lại chuyện đã nghe. Quan hệ tương phản và quan hệ nhân quả trong lời nói của trẻ được xác lập rõ ràng qua cách sử dụng những từ ngữ pháp (như để, để cho, nhưng, nhưng mà,…). Hệ thống lập luận bằng ngôn ngữ được kích hoạt. Sự gắn kết các hành động và lời nói của trẻ được thể hiện tường minh, chẳng hạn như trẻ biết đặt các câu hỏi Thế còn con? Vậy ai ở nhà? Các cặp thoại trao đáp của trẻ đã được thể hiện gần như người lớn (hỏi – trả lời, mắc lỗi- xin lỗi, chào – chào,…).  Cần lưu ý rằng giai đoạn trước ba tuổi là cực kì quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Trong giai đoạn này, não trẻ có khả năng hấp thụ mọi ngôn ngữ (bao gồm thể chất, cấu trúc, và các hành vi ngôn ngữ). Khả năng học hỏi ngôn ngữ sẽ kém đi hoặc không còn hiệu quả như mong muốn nữa nếu như giai đoạn này trôi qua mà trẻ không được trải nghiệm hay làm quen với ngôn ngữ mà mình định sử dụng suốt cả cuộc đời.  Đến cuối giai đoạn này, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ sẽ là không bình thường nếu như vốn từ của trẻ vẫn quá nghèo nàn, trẻ chưa biết cách phối hợp từ để thể hiện nhu cầu và sự hiểu biết của mình, nói ra câu nói với ngữ điệu không đúng, nói ra câu mà người lạ cố gắng cũng không hiểu, không biết tham gia các trò chơi ngôn ngữ cần sự phối hợp, không hiểu các mệnh lệnh đơn giản,… Trong các trường hợp này, cha mẹ cần cho trẻ đi kiểm tra ở bệnh viện để có thể nắm bắt được tình hình phát triển ngôn ngữ thực sự của trẻ.  Giai đoạn 3 – 6 tuổi  Đây là giai đoạn mà chúng ta sẽ chứng kiến sự phát triển vượt bậc về chất và lượng trong ngôn ngữ trẻ. Ở giai đoạn này, các lỗi cơ bản về cách phát âm, ngữ pháp, cách sử dụng từ ngữ đã được trẻ tự khắc phục, loại bỏ dần dần. Trẻ dễ dàng nói được các câu có năm-sáu từ. Đến năm tuổi, trẻ có thể đã có khoảng 5.000 từ. Trẻ nói đã rõ ràng, với một đứa trẻ nói ngọng, người lạ cũng có thể hiểu đến 75% những gì chúng nói. Trẻ gần như có thể hiểu hết những gì nghe được hay chủ động tiếp xúc. Trẻ có thể bắt chước lời nói của người lớn một cách chính xác. Trẻ cũng có thể phát âm chính xác các chữ cái hay các âm riêng rẽ khi chúng ta dạy trẻ, kể cả những chữ cái hay âm không có trong ngôn ngữ mẹ đẻ. Các kĩ năng giao tiếp được phát triển rất nhanh. Trẻ biết chủ động gây sự chú ý hay thiết lập quan hệ bằng lời nói (như rủ bạn chơi). Trẻ dễ dàng kể lại một câu chuyện đã nghe, cũng dễ dàng tưởng tượng ra các câu chuyện, tình huống chuyện chưa bao giờ gặp để kể lại cho người khác (về siêu nhân, về ông tiên, về kho báu, về công chúa ngủ trong rừng,…). Ở giai đoạn này, lời nói dối của trẻ xuất hiện nhiều. Bên cạnh đó, trẻ rất thích những bài hát, bài vè có vần có điệu, ngay cả khi chúng không có nghĩa gì cả. Trong cách nói của trẻ, các phạm trù về thời gian (như trình tự sự kiện), không gian (như trật tự, khoảng cách sự vật), số lượng,… đã được trẻ thể hiện chính xác. Trẻ hiểu được mình bao nhiêu tuổi, cầm tinh con gì, sinh tháng năm nào, đang ở đâu, có bố mẹ làm nghề gì,… Trẻ hiểu được phạm trù giống nhau và khác nhau. Lời nói của trẻ đã có những từ nối (và, rồi,…). Trẻ thường xuyên sử dụng câu hỏi để giao tiếp với người thân (như làm gì, ở đâu, cái gì, vì sao, để làm gì, như thế nào,…). Trong vốn ngôn ngữ của trẻ, bên cạnh các từ đơn, câu đơn, đã có cả những từ ghép và câu ghép. Chính vì thế mà trẻ có thể miêu tả, giải thích một sự vật hay sự việc nào đó dù là hiện diện hay vắng mặt trước trẻ, và bản thân trẻ cũng rất thích nghe người khác miêu tả, giải thích về một cái gì đó. Trẻ đã chủ động tham gia nói chuyện với người khác. Các nhu cầu, trạng thái của bản thân đều có thể được trẻ nói ra một cách rõ ràng và trực tiếp. Trẻ đã biết đưa ra những lời hướng dẫn tường minh cho người khác làm, cũng như biết sử dụng ngôn ngữ để tranh luận để bảo vệ mình. Khi vui chơi, trẻ tự biết dùng ngôn ngữ để điều tiết trò chơi (xử lí mâu thuẫn, đưa ra quy tắc chơi, quy tắc thưởng, quy tắc phạt,…). Ngôn ngữ và nhận thức cá nhân cái tôi của trẻ được thể hiện rất rõ, trẻ luôn coi mình là trung tâm. Trẻ cũng rất thích khám phá, trải nghiệm,… vì thế mà trẻ thường hay sử dụng những từ như đi, chơi, làm, làm được, có, có được, được,… Ở giai đoạn này, những hoạt động lời nói phức tạp tưởng chừng như chỉ có ở người lớn cũng đã xuất hiện trong lời nói của trẻ (ví dụ như cách lập luận: nếu bạn A chơi thì tớ không chơi nữa, cách ra điều kiện cho một trò chơi: tớ cho bạn cái này thì bạn cho tớ mượn cái kia,…).  Bắt đầu từ bốn tuổi trở đi, trẻ đã khá thành thục với ngôn ngữ mẹ đẻ. Trẻ hiểu được vai trò và sức mạnh của ngôn ngữ trong giao tiếp, biết sử dụng ngôn ngữ vào trong tất cả các hoạt động tương tác, tiếp xúc hằng ngày. Trẻ cũng hiểu rằng ngôn ngữ có thể tồn tại dưới cả dạng nói và dạng viết, có thể lưu truyền dưới nhiều hình thức khác nhau. Và cho đến trước khi bước chân vào lớp Một, nhìn chung trẻ đã có thể khắc phục triệt để lỗi phát âm, chiếm lĩnh được toàn bộ vốn ngữ pháp và ngữ dụng trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trẻ cũng đã có đủ số lượng từ vựng cần thiết để đáp ứng tất cả các nhu giao tiếp xã hội của mình.  Trong giai đoạn này, nếu như trẻ vẫn chưa biết kiểm soát lời nói, chưa biết sử dụng lời nói để thể hiện trạng thái, cảm xúc, nhu cầu, chưa sử dụng lời nói đúng ngữ điệu, chưa nói được câu đủ ba thành phần, chưa sử dụng đúng các đại từ, chưa thể tập viết được dù là nguệch ngoạc,…, thì có thể xem như trẻ có sự phát triển ngôn ngữ không bình thường, cha mẹ cần đưa trẻ đi khám để tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.  Ngôn ngữ ở trẻ em phát triển tuần tự  Những giai đoạn phát triển ngôn ngữ trình bày ở trên được coi là những giai đoạn mà đứa trẻ nào cũng trải qua trong quá trình tự sản sinh và phát triển ngôn ngữ của mình. Tuy vậy, nói như thế cũng không có nghĩa là đứa trẻ nào cũng có các mốc thời gian phát triển ngôn ngữ bất biến như nhau. Mỗi đứa trẻ, tùy vào mức độ hoàn thiện của hệ thống thần kinh, cơ quan cấu âm của mình; tùy vào điều kiện, môi trường sinh sống và giáo dục; tùy vào thiên hướng phát triển, trạng thái trể lực sẵn có,… sẽ tự lựa chọn và tự thiết lập cho mình một biểu đồ phát triển ngôn ngữ riêng.  Đối với trẻ em, sự phát triển nói chung cũng như sự phát triển ngôn ngữ nói riêng là sự phát triển tuần tự, từ thấp đến cao, giai đoạn phát triển sau chỉ có thể đến được và được xác lập khi trẻ đã trải qua giai đoạn phát triển trước đó. Có thể hiểu một cách đơn giản như thế này: trẻ chưa phát ra được những tiếng vô nghĩa thì cũng không thể tự nói ra được những từ có nghĩa, trẻ không phát âm được các từ rõ ràng thì cũng không thể nói được một câu trơn tru, trẻ không nắm được ý nghĩa của các từ thì cũng không thể nói ra được những câu có ý nghĩa, trẻ không nói ra được những câu ngắn và sai thì cũng không thể nói ra được những câu dài và đúng v.v. Hiểu được điều này thì chúng ta mới có thể tác động đúng, phù hợp, nhanh chóng và hiệu quả đến quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường, tự nhiên của trẻ.    Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Sự thất bại của Harvard      ĐH Harvard luôn ở vị trí dẫn đầu trong bảng  xếp hạng. Nhưng ngày nay, ngôi trường danh giá nhất thế giới này đang  dần bị mất khách khi các sinh viên kỹ thuật đổ xô về những trung tâm học  thuật như Viện Công nghệ Massachussets (MIT), ĐH Stanford…    Mất khách  Vào một ngày tháng 11, những sinh viên chăm chỉ của ĐH Harvard ào ra con đường trước Thư viện Lamont. Đám sinh viên tay giơ cao các loại điện thoại thông minh và máy quay, mắt hướng về phía Mark Zuckerberg – một cựu sinh viên của trường. Họ đã bất ngờ khi biết rằng, giống như Bill Gates, người sáng lập Facebook đã dừng việc học tại Harvard ngay trước khi nhận được tấm bằng tốt nghiệp.   Sáu tháng sau, một ngày trước khi Facebook tiến hành đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), Harvard đã không đòi một phần nào trong khoản tiền lời 16 tỷ đô từ đợt IPO của Facebook vì Zuckerberg và những người đồng sáng lập Facebook đã xây dựng trang web này khi còn đang học, làm việc trong ký túc xá và sử dụng mạng máy tính của Harvard.   Thực tế, Harvard sẽ có thể bổ sung vào nguồn tài chính vốn đã rất lớn của mình bằng việc đòi phần chia trong khoản lợi nhuận mà Facebook thu được. Trong khi đó, ĐH Stanford đã bán số cổ phiếu sở hữu trong Google và thu được một khoản tiền “khủng” 335 triệu USD.   Lý do khiến Harvard không làm như vậy có thể là do phần đóng góp kỹ thuật của trường là khá nhỏ. Theo Brian Love, một nghiên cứu sinh ngành luật tại ĐH Stanford, “Trên thực tế, các sinh viên hoàn toàn có thể viết code trong các phòng ký túc của mình. Và họ là những người đi tiên phong trong thế giới công nghệ cao. Như vậy, một số sinh viên có thể nhóm lại và tạo ra một thứ gì đó có giá trị mà không cần có sự bảo trợ của khoa, không cần tài trợ kinh phí, ít nhất là kinh phí trực tiếp, từ trường đại học.”  Tuy nhiên, nếu xét đến hàng triệu USD mà những sinh viên tốt nghiệp dám nghĩ dám làm ở ĐH Stanford, ĐH Pennsylvania và các cơ sở đào tạo đại học khác đã kiếm được, và xét bảng thành tích thất thường trong lĩnh vực kinh doanh công nghệ đang phát triển của Harvard, có thể dễ hiểu khi những người sắp trở thành sinh viên thấy băn khoăn không biết việc học tại Harvard có còn là con đường tốt nhất dẫn đến thành công trong thời đại kỹ thuật số hay không.  Harvard không đặc biệt nổi tiếng với số lượng kỹ thuật viên và doanh nhân. Vài tháng trước, trong một lần đến thăm trường, tờ Người quan sát đã gặp Tuấn Hồ khi anh đang làm việc trong I-lab. Tuấn Hồ tốt nghiệp năm 2009 và giờ là người đồng sáng lập của Tivli, một công ty truyền hình kỹ thuật số hướng đến mục tiêu đập tan việc kinh doanh truyền hình cáp. Tuấn Hồ giải thích, khi anh còn là sinh viên, Mark Zuckerberg “giống như một người khởi nghiệp mà không cần có Harvard”.   Harvard vẫn “ngồi” thoải mái ở tốp trên trong bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới, và mỗi năm có khoảng 1.600 sinh viên tốt nghiệp về đầu quân tại các trường đại học chuyên nghiệp, đảm nhiệm các công việc quan trọng tại các ngân hàng và các công ty tư vấn. Những người học các chuyên ngành nghiên cứu văn học dân gian và thần thoại học có thể xin làm phóng viên cho tờ Người quan sát New York. Nhiều nhận định cho rằng, những công việc này không còn như trước nữa. Các luật sư mới ra trường đang thực sự lo lắng với viễn cảnh nghề nghiệp khó khăn. Với sự phá sản của những hãng luật có tiếng như Dewey & Leboeuf thì ngay cả một tấm bằng tốt nghiệp từ một trường luật xếp thứ hạng cao cũng không đảm bảo có một mức lương cao. Phải rất lâu nữa thì các giáo sư đại học tài năng mới có thể dễ dàng được nhận vào biên chế.   Những đặc điểm được xem là quan trọng nhất để thành công khi khởi nghiệp lại cũng chính là những điểm mà trong hàng thế kỷ Harvard đã xem như “chiếc hôn của thần chết” cho những người háo hức muốn khởi nghiệp.   Trào lưu công nghệ  Trang web Quora đặt câu hỏi “Làm sao để một tài năng công nghệ có thể chọn lựa giữa MIT, Caltech, Stanford hay Harvard?” Và câu trả lời là: “Harvard nổi tiếng với các hoạt động vận động xã hội và với một môi trường mà ở đó chỉ có những mối quan hệ nghề nghiệp.”  Trong khi đó, MIT đã thu hút những sinh viên giỏi. Những sinh viên này đang phát triển mô hình công ty đầy triển vọng có tên là Dropbox. Hay tại New York, hai “pháo đài” đang tận dụng những nỗ lực của Bloomberg khi hãng truyền thông này muốn mở rộng hoạt động chứng khoán đối với các công ty công nghệ cao. Đại học Cornell hợp tác với Viện công nghệ Technion của Israel để xây dựng tại Đảo Roosevelt một trường khoa học ứng dụng với một thiết kế đặc biệt, trong khi trường Đại học New York (NYU) đang chuyển đổi các trụ sở cũ của Cơ quan Giao thông Đô Thị (MTA) tại Brooklyn thành khu thành phố công nghệ thứ hai.   Mặt khác, Đại học Stanford, được ví như “Harvard ở phía Tây”, mới đây được tờ Người New York khen ngợi về vai trò của trường trong việc cung cấp tài năng cho Thung lũng Silicon khi đã sản sinh ra cả Yahoo và Google. Những chuyên gia công nghệ tương lai có thể tụ họp tại BASES – Hiệp hội kinh doanh của sinh viên khởi nghiệp tại Stanford, nơi hàng tuần họ có thể tham gia các buổi nói chuyện của các cựu sinh viên là những người thành danh hay những ông trùm công nghệ. Đại học Pennsylvania cũng có một mạng lưới cựu sinh viên rất mạnh trong bối cảnh công nghệ đang bắt đầu phát triển ở New York, trong đó có Ben Lerer – CEO của Thrilist, Nihal Mehta – CEO của Local Response, và toàn bộ nhóm sáng lập Warby Parker. Ngay cả Trường đại học Washington cũng đang vào cuộc khi mới đây đã bắc “một đường ống hướng tây bắc tới Thung lũng Silicon”.  Theo GS. Vivek Wadhwa, “Chi phí cơ hội để họ trở thành doanh nhân lớn hơn nhiều so với những sinh viên tốt nghiệp ở các trường thông thường”. Mặt khác, MIT “có một lợi thế lớn khi là một trường kỹ thuật – vì thế những sinh viên tốt nghiệp ra trường sẽ sở hữu những kiến thức kỹ thuật tốt và được sự giúp đỡ của những người cố vấn giỏi. Khả năng có thể thành công của họ cao hơn và chi phí cơ hội thấp hơn”.  Hơn nữa, con đường kinh doanh cần sự vững vàng về mặt cảm xúc và sự cởi mở đối với những điều tiếng của dư luận. Thế giới giờ đã rất khác, ở đó, sinh viên có thể chọn cách tự tạo công việc cho mình thay vì chạy theo một vị trí trong một công ty hàng tỉ đô. Việc này đòi hỏi một bộ kỹ năng khác, và những đại học tìm được cách chuẩn bị cho sinh viên của mình bộ kỹ năng biệt đó thì sẽ có lợi thế rất lớn trong các thập kỷ tới.   Đức Phường dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc      Công việc nghiên cứu lịch sử trước  sau vẫn đòi hỏi tính trung thực, vì thế với tầm nhìn xa về lợi ích lâu dài, ngay cả khi cần  viện dẫn đến quyền lợi dân tộc, cách viết lịch sử nói chung chỉ cần  trình bày đúng các sự kiện như chúng đã diễn ra mà không nhất thiết phải chêm  thêm vào những lời bình luận chủ quan theo hướng tuyên truyền.  &#160;    Năm 2007, trong khi tình hình quan hệ Việt-Trung vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, được biết có một quyển sách do NXB Lao Động tập hợp những bài viết của một tác giả chuyên khảo về sử địa-văn hóa Việt Nam và khu vực Đông Á-Đông Nam Á vừa ấn hành xong thì có lệnh thu hồi chỉ vì có một bài viết liên quan đến cuộc đăng quang năm 2000 của Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Trần Thủy Biển vốn bị Trung Quốc công kích kịch liệt vì chủ trương “Đài Loan độc lập” của ông này. Việc thu hồi quyển sách như vậy đã được thực hiện vội vã bởi một lý do khá mong manh, có lẽ xuất phát từ những chuyện nhạy cảm về ngoại giao giữa hai bên tranh chấp.       Trước đó một năm, khi chủ biên-hiệu đính quyển Từ điển Lịch sử Trung Hoa (NXB Thanh Niên, 2006) vốn được biên soạn căn cứ chủ yếu vào một sách chữ Hán có đề tài tương tự do Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã ấn hành năm 1996, đến mục từ “Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979”, chúng tôi đã tự động bỏ bớt trước khi qua khâu biên tập chính thức của NXB, vì biết đây thuộc vấn đề nhạy cảm, tuy có thể viết lại mục từ này theo một cách trình bày khác, trung thực hơn.       Thật ra, chúng tôi đơn giản chỉ biên dịch thôi chứ chưa hẳn viết sử, nhưng trong một quyển lịch sử Trung Quốc mà bỏ qua giai đoạn chiến tranh biên giới Việt-Trung (các năm 1979, 1988…) thì rõ ràng là thiếu, và những người biên soạn như vậy coi như cũng không làm tròn trách nhiệm đối với độc giả.      Nhắc lại vài câu chuyện nho nhỏ trên đây để bây giờ chúng ta cũng có phần nào thông cảm với những người biên soạn sách giáo khoa về môn Lịch sử, khi họ, vì những lý do tế nhị tương tự, cũng đã bỏ qua một nội dung quan trọng khiến cho thế hệ trẻ ngày nay, hầu như không ai biết gì về cuộc chiến tranh đó cả, hoặc chỉ biết một cách rất lờ mờ khi có ai tò mò tìm đọc những bài viết không chính thức trên mạng Internet.      Thời gian mấy tháng gần đây, do tình hình diễn biến ngày một khác đi trong mối bang giao Trung-Việt cuộc chiến tranh Việt-Trung khởi từ tháng 2. 1979 mới được khơi lại một cách công khai trên một số phương tiện truyền thông, đi cùng với việc một số bậc thức giả đặt vấn đề cần phải đưa đầy đủ vào sử sách những nội dung liên quan đến cuộc chiến đấu dũng cảm bảo vệ biên giới năm 1979 của nhân dân Việt Nam.      Ở đây có một vấn đề chung hết sức phức tạp đối với mọi người làm sử trong bối cảnh lịch sử cụ thể hiện tại, đó là mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc. Nếu việc nói lên sự thật như một đòi hỏi tất yếu của khoa học lịch sử mà có phương hại cụ thể đến quyền lợi quốc gia, trong điều kiện mối quan hệ đặc thù giữa hai nước như trong trường hợp Trung Quốc với Việt Nam thì người viết sử có thể làm được những gì?      Nói chung, về cơ bản cũng phải tôn trọng sự thật lịch sử.               Cho tới nay, sách giáo khoa môn Lịch sử của Việt Nam chỉ có không đến 10 dòng viết về cuộc chiến tranh biên giới, mà theo GS Vũ Dương Ninh (người tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa lịch sử hiện hành) thì cách nay 7-8 năm, “đưa được chừng ấy dòng vào sách giáo khoa cũng là một sự quyết tâm của các tác giả” (xem Tuổi Trẻ, 20.2.2013).        Các sử gia Trung Quốc, vì những lý do thuộc về chính trị, có lẽ họ cũng vấp phải những trục trặc ngoài ý muốn khi bắt buộc phải xuyên tạc lịch sử theo ý đồ chính trị. Vài quyển lịch sử Việt Nam do người Trung Quốc gần đây viết bằng chữ Hán, như Việt Nam thông sử của Quách Chấn Đạc-Trương Tiếu Mai xuất bản năm 2001 đã cố ý giải thích sai một số sự kiện lịch sử, như cho Việt Nam đã trở thành đất đai của các vương triều Trung Quốc dưới thời Bắc thuộc, nên những cuộc nổi dậy của Trưng Trắc, Lý Bí, Khúc Thừa Dụ… đều bất hợp pháp, là hành động phản loạn nhằm thiết lập chính quyền phong kiến cát cứ, tách khỏi đại gia đình đa dân tộc thống nhất Hoa Hạ (xem bài viết của Trần Nghĩa, Tạp chí Hán Nôm, 2(63), 2004, tr. 64). Riêng trong cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, các sách giáo khoa môn Sử cũng như các phương tiện thông tin tuyên truyền khác đều dạy cho học sinh và mọi người Trung Quốc rằng “đường lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc, còn Việt Nam là nước chủ động xâm lăng Trung Quốc nên Trung Quốc cần phải tự vệ và “dạy cho chúng bài học”…      Ở đây, rõ ràng, vì quyền lợi dân tộc hẹp hòi mà đã cố ý bóp méo sự thật lịch sử, bất chấp việc làm như thế sẽ có tác hại lâu dài, là dần dần làm biến dạng những đức tính tốt đẹp cố hữu của nhân dân Trung Quốc, thứ vốn xã hội cần thiết để dân tộc Trung Quốc có thể xây dựng tương lai cho mình một cách bền vững mà vẫn không cần xâm hại đến những dân tộc khác.       Phải thành thật nhận rằng, trong quá khứ, khi hai nước còn thân thiện với nhau, đường lối chính trị hóa triệt để học đường theo kiểu Trung Quốc cũng có ảnh hưởng nhất định tới cách hành xử của Việt Nam trong một số vấn đề thuộc phạm vi giáo dục. Nhớ lại hồi năm 1979, sau cuộc đụng độ ở biên giới Việt-Trung, Bộ Giáo dục Việt Nam đã có văn bản chỉ thị xóa bỏ trong sách giáo khoa văn học tất cả những bài học liên quan đến văn học, văn hóa, đời sống Trung Quốc, như bài “Vịt Bắc Kinh” ở bậc tiểu học, các bài về Kinh Thi, Tây du ký… ở bậc trung học. Đến sau, khi hòa hoãn trở lại, những bài học này mới được phục hồi. Việc làm có vẻ ấu trĩ của một thời người ta hầu như không phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa văn hóa-giáo dục với chính trị, và giữa những giá trị phổ biến nhân loại với những lợi ích dân tộc nhất thời.       Công việc nghiên cứu lịch sử vì vậy trước sau vẫn đòi hỏi tính trung thực, để giáo dục công dân trong nước trước hết sự lương thiện rồi mới đến những phẩm chất khác như yêu nước, yêu lao động… Vì thế với tầm nhìn xa về lợi ích lâu dài, ngay cả khi cần viện dẫn đến quyền lợi dân tộc, cách viết lịch sử nói chung chỉ cần trình bày đúng các sự kiện như chúng đã diễn ra trong quá khứ rồi kết nối lại thành một trình tự dễ theo dõi mà không nhất thiết phải chêm thêm vào những lời bình luận chủ quan theo hướng tuyên truyền.      Năm ngoái, Hội Sử học Việt Nam có đặt vấn đề lập kế hoạch biên soạn lại một bộ thông sử Việt Nam theo hướng trung thực hơn, vượt ra ngoài những giới hạn của vấn đề ý thức hệ. Thiết tưởng đây là chiều hướng tích cực đáng được thúc đẩy, và có thể nhân cơ hội soạn lại này, chỉnh sửa ngay một số những sự kiện lịch sử sai lạc (như nói Mai Thúc Loan khởi nghĩa năm 722 vì uất ức trong chuyện phải tham gia đoàn người gánh trái vải nộp cống cho nhà Đường…, nói trong Lịch sử lớp 6, tr. 64; hay một số nhận định chưa chính xác về triều Nguyễn, về Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh…), đồng thời đưa thêm những nội dung mới lâu nay kiêng kỵ vì những lý do chính trị này khác, như cuộc hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung những năm 1979, 1988…      Nếu đã có chính nghĩa đàng hoàng, thì sự thật lịch sử và quyền lợi dân tộc, xét theo hướng lợi ích lâu dài, chẳng những không hề trái nghịch mà còn thống nhất, dung hợp được với nhau một cách hài hòa, biện chứng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sửa đổi SGK ở Trung Quốc: TRUYỀN BÁ HÌNH ẢNH TRUNG QUỐC HÀI HÒA HƠN      Đầu năm học mới này, khi mở sách giáo khoa lịch sử ra, học sinh trung học ở Thượng Hải hẳn phải ngạc nhiên: sách mới đã lược nhiều cuộc chiến tranh, nhiều triều đại và các cuộc khởi nghĩa mà tập trung nêu những kiến thức sinh động về kinh tế, kĩ thuật, phong tục và toàn cầu hóa. Nhóm biên soạn cho biết, sự thay đổi này đã được cấp cao phê duyệt. Đây là một phần của những nỗ lực quảng bá cách nhìn về một lịch sử Trung Quốc ổn định, ít bạo lực hơn.    Sự thay đổi này mới bắt đầu một cách hạn chế ở Thượng Hải, sau một thời gian thử nghiệm để sửa đổi cả khóa trình và nội dung cho phù hợp, sách giáo khoa cả nước sẽ áp dụng theo.  Tuy nhiên bộ sách giáo khoa lịch sử mới lại dấy lên một cuộc tranh cãi mới. Nhiều  ý kiến cho rằng sách giáo khoa lịch sử mới này chỉ là “bình mới rượu cũ”. Sách không chú trọng việc “soạn lại” bằng việc cắt xén. Khóa trình lịch sử Trung Quốc và thế giới được giảm từ ba xuống hai năm, trong khi chỉ có một năm của cấp ba có giờ lịch sử mà trọng tâm là văn hóa, tư tưởng và văn minh. “Lịch sử trong sách giáo khoa cấp hai bị cắt xén, còn trong sách cấp ba bị loại bỏ hoàn toàn” – một giáo viên lịch sử phát biểu trên diễn đàn trực tuyến. Một giáo viên khác thì mỉa mai: “Bạn muốn học sinh nhớ kiểu cách bộ áo xưa hay là việc nhà Tần thống nhất Trung Quốc năm 221 trước Công nguyên?”  Bộ giáo khoa mới lược bỏ một số mốc quan trọng trong lịch sử Trung Quốc. Học sinh không những không phải học về những cuộc khởi nghĩa nổi tiếng làm lung lay hay lật đổ các triều Chu, Tùy, Đường và Minh mà còn bỏ qua luôn Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Quốc. Sách cũng không nói tới sự kháng cự của người Hán chống lại cuộc xâm lược của Thành Cát Tư Hãn. Ngay cả vị tể tướng Văn Thiên Tường, một biểu tượng của lòng yêu nước của người Hán cũng không được sách nhắc đến. Vẫn có tiết về Chủ tịch Mao Trạch Đông, song sách chỉ đề cập đó là người sáng lập ra nước Trung Quốc mới mà ít nhắc tới ảnh hưởng chính trị của ông. Trong chương trình cấp ba, Mao Trạch Đông chỉ được nhắc làm ví dụ trong bài về nghi lễ treo cờ rủ. Đặng Tiểu Bình, người cải cách Trung Quốc theo hướng kinh tế thị trường được giảng cả ở cấp hai và ba, với sự nhấn mạnh về tầm nhìn kinh tế của ông.  Bộ sách mới mới còn dùng nhiều từ phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng: “Tăng trưởng kinh tế”, “đổi mới”, “ngoại thương”, “ổn định chính trị”, “trân trọng văn hóa đa dạng” và “hài hòa xã hội”. J.P Morgan, Bill Gates, thị trường chứng khoán New York, tàu con thoi Mỹ và tàu cao tốc Nhật Bản được nêu bật.  Còn có hẳn cả bài nói về chiếc caravat đã phổ biến như thế nào. Cách mạng Pháp và Cách mạng tháng Mười vốn được xem là những bước ngoặt trong lịch sử thế giới, nay không đề cập quá sâu.  Một trong những chủ biên của bộ giáo khoa lịch sử mới, giáo sư Đại học Sư phạm Thượng Hải Chu Xuân Sinh nói mục đích của ông là thay đổi cách nhìn truyền thống về lịch sử là nhấn mạnh tới các nhà lãnh đạo, các cuộc chiến tranh, thay bằng cách nhìn lịch sử lấy nhân dân và xã hội làm trọng tâm: “Lịch sử không thuộc vua chúa hay tướng lĩnh. Lịch sử thuộc về nhân dân. Cũng cần một quá trình để người ta chấp nhận nó. Ở Châu Âu và Mỹ cũng vậy”.  Ông Chu cho biết, sách giáo khoa lịch sử mới được soạn theo ý tưởng của nhà sử học Pháp Fermand Braudel. Braudel đã gộp văn hóa, tôn giáo, phong tục xã hội, kinh tế và hệ tư tưởng vào một “lịch sử tổng thể”. Cách tiếp cận này đã phổ biến ở nhiều nước phương Tây trong hơn nửa thế kỉ qua. Braudel đặt lịch sử lên trên hệ tưởng, điều này cũng phản ảnh trong bộ sách giáo khoa mới khi nhấn mạnh nhiều hơn tầm quan trọng của cách mạng công nghệ và cách mạng thông tin và giảm đi với cách mạng xã hội.  Phó giáo sư Gerald Postiglione của Đại học Hongkong nhận xét: “Các nhà biên soạn sách giáo khoa Đại lục đang tìm cách khiến cho giáo trình trở nên gần gũi cuộc sống hơn… Rõ ràng người ta phải tự hỏi liệu nói mãi về nỗi nhục của Trung Quốc dưới ách thuộc địa thì có đào tạo nên những người giàu năng lực?”  Sự thay đổi này khiến người ta nhớ đến việc nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc Viên Vĩ Thời đòi sửa  sách giáo khoa lịch sử đầu năm ngoái. Khi đó ông đã viết một bài luận chỉ trích sách giáo khoa “tẩy trắng” phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, phong trào mà theo ông đã có những hành động tàn bạo, châm ngòi cho sự can thiệp sâu của Phương Tây vào Trung Quốc. Kết quả, tờ “Điểm Đông” đăng bài của Viên Vĩ Thời đã tạm bị đình bản, biên tập viên bị đuổi việc. Khi hoạt động trở lại, “Điểm Đông” liền đăng bài phản bác lại Viên Vĩ Thời và cảnh báo rằng, có nhiều đề tài lịch sử nhạy cảm không nên bàn trên báo chí.  Một số suy đoán, sự thay đổi trong sách giáo khoa lịch sử ở Thượng Hải phản ánh sự thay đổi suy nghĩ trong các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Bộ sách giáo khoa này  không nhấn mạnh tới sự thay đổi triều đại, các cuộc khởi nghĩa nông dân… Bởi lãnh đạo muốn nhấn mạnh tới “ổn định”. Ông Chu thì nói rằng việc bộ sách giáo khoa lịch sử mới  truyền bá hình ảnh Trung Quốc hài hòa hơn trong quá khứ “không xuất phát từ chính trị”,  mà xuất phát từ sự suy nghĩ cần cung cấp những gì học sinh cần. “Chính quyền rất ủng hộ bộ sách giáo khoa này” – ông Chu nói – “nhưng mục đích của họ không phải là chính trị, mà là khiến học sinh hứng thú hơn với lịch sử và có kiến thức chuẩn bị cho một kỷ nguyên mới”.    Theo New York Times      VIỆT ANH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sức mạnh của khoảng trống      Có một câu chuyện kể có một người cha mua cho con trai mình một trái bóng bay đẹp . Cậu con trai vui sướng cầm trái bóng đi bên cha nhưng chẳng may lỡ tay tuột mất sợi dây khiến trái bóng bay vụt đi. Thấy con tiếc nuối, đau khổ nhìn theo trái bóng bay xa dần, người cha an ủi : “Đừng buồn con ạ, cha sẽ mua cho con một trái bóng khác”. Lát sau, cậu bé vui vẻ vơi trái bóng mới, không còn nghĩ ngợi gì tới trái bóng đã mất nữa. Câu chuyện kết thúc với lời bàn rằng, đó là một người cha giàu có, nhưng đứa con của ông rồi sẽ nghèo túng về tinh thần.    Trong ánh mắt của đứa trẻ nhìn theo trái bóng bay xa dần có một bầu trời phóng nhiệm. Đó là khi đứa trẻ có thể bắt đầu có những cảm nhận mơ hồ nhưng rất trực quan về sự rộng lớn của thế giới, từ đó nhận ra sự hữu hạn của bản thân mình. Thế nhưng, người cha của cậu bé đã vô tình phá vỡ không gian phóng nhiệm này.     Can thiệp một cách vô thức và có hệ thống  Người cha ấy cũng như đa số người lớn chúng ta thường sợ hãi trước sự trống trải trong tâm tưởng và gán cho nó ý nghĩa tiêu cực. Chúng ta xua đuổi nó bằng cách tự làm bận rộn bản thân mình với những suy nghĩ tính toán lấp đầy trong tâm trí. Tương tự như vậy, chúng ta tìm cách xua đuổi sự trống trải khỏi đầu óc con trẻ, lấp đầy tâm trí của chúng bằng những món đồ chơi. Mà nếu để ý ta thấy rằng hầu hết các món đồ chơi – từ búp bê bé xinh tới chiếc ô tô bằng nhựa nho nhỏ – đều chỉ nhằm thu nhỏ không gian trong tâm trí đứa trẻ, tạo cho nó cảm giác mình đang xâm chiếm và làm chủ không gian riêng một cách tuyệt đối.   Tạo hóa đã ban cho con người bản năng thiên tính là cảm giác nhàm chán, nhằm giúp ta vượt thoát ra khỏi những không gian giả tạm chật hẹp. Bởi vậy, dù món đồ chơi có tinh xảo đến đâu thì đứa trẻ sớm muộn sẽ cảm thấy nhàm chán và không còn thỏa mãn với không gian hẹp mà món đồ chơi xinh xắn mang lại. Sự trống trải xâm nhập tâm trí nó, ngầm nhắc nhở rằng ở ngoài kia là một không gian rộng lớn hơn, thật hơn, tự nhiên hơn, mà sớm muộn nó phải đối diện và tìm cách thích nghi. Thế nhưng, người lớn không cho con trẻ cơ hội được thích nghi với không gian rộng lớn xa lạ ấy. Họ xua đi nỗi nhàm chán và nỗi trống trải trong đứa trẻ bằng cách tiếp tục mua về những món đồ chơi mới, cái sau cuốn hút hơn cái trước.   Cứ như vậy, đứa trẻ trở nên nghiện cảm giác lấp đầy tâm trí. Tới một ngày kia nó chủ động tự làm bận rộn tâm trí của mình với những cám dỗ từ trò chơi điện tử, phim hoạt hình, sách comic và manga, v.v. Mặc dù các ông bố bà mẹ vẫn có thể tạo cơ hội để trẻ tìm thấy những khoảng trống (hay khoảng lặng) cần thiết, được khơi gợi trong những cuốn sách văn học phù hợp với lứa tuổi của mình. Nhưng sách văn học vốn khó cuốn hút trẻ như những thứ cám dỗ khác, và không phải ông bố bà mẹ nào cũng có thói quen chọn lọc sách đọc cho con hoặc đọc sách cùng con.  Ở góc nhìn tổng quát hơn, có thể thấy việc người lớn can thiệp vào khoảng trống trong tinh thần trẻ em là một quá trình vô thức và mang tính hệ thống. Ngay từ khi đứa trẻ chớm hình thành nhận thức, người lớn luôn tìm cách đáp ứng mọi đòi hỏi của trẻ một cách nhanh chóng nhất. Mỗi khi đứa trẻ gặp phải áp lực từ một khoảng trống trong tâm tưởng, nó sẽ đưa ra một đòi hỏi nào đó mà thường thì đơn thuần chỉ nhằm giành được sự quan tâm từ người lớn để xua đi khoảng trống mà nó đang phải đối diện.   Thế nhưng một đứa trẻ luôn được đáp ứng các đòi hỏi sẽ dễ nhàm chán với những gì mình đang có, và giải pháp để nó đối phó với sự nhàm chán ấy là tiếp tục cầu viện những sự trợ giúp từ bên ngoài. Tâm trí của đứa trẻ bị bế tắc trong những chuỗi đòi hỏi liên tục và mất đi khả năng vượt qua khoảng trống một cách tự thân. Đứa trẻ sẽ dễ trở nên chán nản, dẫn tới bỏ cuộc trước các vướng mắc, bế tắc trong cuộc sống. Nó cũng sẽ không đủ lòng kiên nhẫn để trải nghiệm các sự vật một cách thấu đáo, và điều này làm hạn chế năng lực thấu hiểu, đồng cảm với con người và các sự vật xung quanh.   Kiến tạo không gian để vượt qua khoảng trống  Tự thân vượt qua khoảng trống chính là một phần trong quá trình phát triển tự nhiên của mỗi con người. Nó là sự tự định vị bản thân mình nhằm vượt qua sự bối rối và hẫng hụt ban đầu khi phải đối diện với khoảng trống. Vào khoảnh khắc trái bóng của cậu bé trong câu chuyện bay vút lên không trung, hay khi một đứa trẻ nào khác đánh mất món đồ chơi yêu thích, hoặc đơn giản khi nào chúng gặp điều gì đó không vừa ý – một cú ngã khi đang chơi đùa chẳng hạn – đó là khi chúng đối diện với một thực tế mới mà chúng chưa quen trải nghiệm, một không gian xa lạ với đầy những biến hóa nằm ngoài những gì đã quen biết. Ngay trong khoảnh khắc bối rối ấy, bản năng tự nhiên của con người trỗi dậy thúc đẩy đứa trẻ tự định vị bản thân, đối diện với không gian xa lạ trước mặt, và tìm cách tương tác với nó nhằm đạt được một vị thế hài hòa cân bằng.  Song hành với việc tự định vị bản thân là tiến trình tự lấp đầy khoảng trống bằng cách xây dựng cho mình một không gian nội tâm phong phú riêng. Khi đứa trẻ lắng nghe câu chuyện cổ tích, hay khi chơi cùng những món đồ chơi, đó là khi chúng đang hình thành trong tâm trí những không gian nội tâm, với các sự vật giả tưởng và xúc cảm cá nhân gắn với những sự vật ấy. Đây là một quá trình vừa tự xây, vừa tự khám phá, và liên tục được bồi bổ từ những thông tin thu nhận được trong thực tế đời sống, mà ẩn trong quá trình đó là hình dung của đứa trẻ về bản thân nó trong thế giới.   Một thế giới nội tâm khỏe khoắn lành mạnh đòi hỏi hai yếu tố. Một là nó đủ độ phong phú để giúp đứa trẻ vượt qua áp lực từ khoảng trống mà không cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt là những can thiệp quá độ từ người lớn. Hai là nó không quá méo mó xa rời thực tế, mà phản ánh được những quy luật căn bản của đời sống, bao hàm những giá trị cần thiết như lòng yêu cái thiện, sự trung thực, lòng dũng cảm, v.v. Trong thế giới nội tâm ấy, khoảng trống không nhất thiết bị loại trừ, thậm chí cần có những khoảng trống không bao giờ nên vượt qua. Chúng chính là yếu tố giúp nuôi dưỡng ý thức cầu tiến vươn lên, những khát vọng hoài bão chinh phục các mục tiêu chưa đạt tới.  Khả năng tự tạo lập không gian một cách phong phú trong nội tâm để tự định vị mình trước những hoàn cảnh mới là chìa khóa để trẻ vững bước vào đời. Đồng thời, nó cũng là cơ sở để trẻ thấu hiểu và đồng cảm với thế giới.  Cây cầu bắc tới sự đồng cảm  Khác với quan điểm của nhà giáo dục Phạm Toàn cho rằng cần tạo ra năng lực đồng cảm ở trẻ em trước khi hướng dẫn chúng tưởng tượng về các sự vật1, người viết bài này cho rằng năng lực đồng cảm là hệ quả của năng lực hình dung ra các không gian. Nếu chúng ta không hình dung ra những không gian liên quan tới một đối tượng, thì không thể có sự đồng cảm thực sự với đối tượng đó.   Cảm xúc của chúng ta về một cá nhân nào đấy không thể được khơi dậy đơn thuần từ những thông tin về tuổi tác, nguyên quán, nghề nghiệp, v.v, mà phải từ thân phận của người ấy, hay nói cách khác là vị thế của người đó trong không gian2, bao gồm các không gian vây bọc bên ngoài đối tượng (địa điểm, thời gian, bối cảnh, v.v) và không gian nội tâm bên trong nhân vật. Và để có những xúc cảm thấm thía hơn, chúng ta phải xâm nhập được vào khoảng trống trong tâm can họ, để biết được họ đã nỗ lực vượt qua áp lực từ khoảng trống ấy như thế nào. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều các tác phẩm văn học hay điện ảnh thường tạo ra mối đồng cảm gắn kết giữa công chúng độc giả với nhân vật bằng cách đẩy nhân vật vào giữa những khoảng trống đầy bất trắc và phải tìm mọi cách, mọi nỗ lực để vượt qua khoảng trống ấy nhằm tìm ra chỗ đứng của mình trong thế giới.   Bởi vậy, yếu tố làm toát lên thần thái của những cậu bé đánh giày, bà lão nhặt phế liệu, và cũng là điều khơi dậy xúc cảm thấm thía trong chúng ta, không hẳn là ở những mô tả về sự vất vả nhọc nhằn hay những lo toan thường nhật của nhân vật, mà đôi khi lại chính là niềm vui, niềm hi vọng nhỏ bé đơn sơ của họ lóe lên sau những nỗ lực bền bỉ dồn nén. Hay yếu tố làm toát lên thần thái một người mẹ chưa chắc nằm ở những nỗ lực kiên trì chăm lo cho con cái mỗi ngày, mà đôi khi lại gói trọn trong một nét cười thoáng qua trên khóe mắt chớm có nếp nhăn.   Thời khắc con người đối diện với khoảng trống của số phận và chớm vượt qua nó bằng sức mạnh tinh thần cũng chính là lúc phẩm chất người được toát lên mạnh mẽ nhất, và khiến chúng ta đồng cảm hơn hết. Đó cũng là lý do khiến những bản nhạc không lời, tuyệt chẳng có câu từ nào, chỉ đơn thuần gợi lên ấn tượng mơ hồ về vị thế của chủ thể trong các dạng không gian, thời gian, nhưng vẫn có thể để lại trong lòng người nghe sự lắng đọng da diết.   Trả lại khoảng trống cho các em   Bạn đọc có thể hỏi làm sao trẻ em có thể cảm nhận được những sắc thái tinh tế nói trên? Câu trả lời là, năng lực cảm nhận của trẻ em tinh tế hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Chẳng thế mà trong vô số những lữ khách đi qua ga tàu điện ngầm ở New York, người dành sự quan tâm đáng kể đầu tiên tới bài biểu diễn của nghệ sỹ violon tài danh Joshua Bell là một em bé 3 tuổi3.  Để tạo điều kiện giúp trẻ em phát huy và phát triển năng lực cảm nhận, hãy trả lại cho các em những khoảng trống để các em tự định vị mình và thích nghi với các môi trường khác nhau. Khi trẻ đối diện với áp lực từ khoảng trống trong tâm tưởng và đưa ra các đòi hỏi, không nên đáp ứng những đòi hỏi này ngay tức khắc. Sự bao bọc dỗ dành này của người lớn nhằm giúp trẻ đi đường tắt quay về trạng thái an toàn ban đầu sẽ chỉ khiến đứa trẻ trở nên bị động và nảy sinh tâm lý phòng thủ, tự tạo ra rào cản cho mình trong cuộc sống. Có chăng, người lớn chỉ nên cùng trò chuyện, thúc đẩy trẻ vượt qua cảm giác hẫng hụt tạm thời bằng cách tiếp tục khám phá, tìm kiếm, nhận biết những điều tích cực trong một không gian rộng mở hơn.   Chẳng hạn, thay vì hứa hẹn mua bóng mới cho con, người cha trong câu chuyện có thể trò chuyện với con về những sự vật xung quanh trái bóng, những tán cây xanh, nóc nhà rêu mốc, những ô cửa sổ bí ẩn, về một em bé vô danh nào đó trong tưởng tượng nhặt được trái bóng sẽ trân trọng và trở thành bạn thân của trái bóng ra sao, v.v. Mục đích chính của những lời trò chuyện ấy từ người cha không nhằm an ủi em bé, mà chủ yếu kích thích trí tưởng tượng của con trẻ, tạo ra thói quen kiến tạo không gian trong tâm tưởng ở mọi tình huống, điều sẽ giúp em tự lực vượt qua khoảng trống trong những lần tiếp theo.   Khi mà những món đồ chơi đã mất đi ánh hào quang long lanh ban đầu và trở nên nhàm chán, người lớn không nên tìm cách lấp đầy khoảng trống trong trẻ bằng cách mua tiếp những món đồ chơi mới, mà hãy cùng trẻ chơi với những món đồ chơi cũ, trò chuyện và gợi mở để trẻ xây dựng một không gian mới trong tâm tưởng, trong đó các đồ vật tưởng chừng như cũ kỹ nhàm chán được trẻ phân công cho những vai diễn mới, qua đó tạo ra một hệ thống những xúc cảm mới từ những đồ chơi cũ.  Đọc sách cùng con trẻ là biện pháp tuyệt vời để giúp trẻ thoát ra ngoài cái tôi cố hữu, tự hình dung bản thân trong những không gian bên ngoài mình, sống trong những cuộc đời khác, tâm thế khác, giúp hình thành trong các em cái nhìn sâu và rộng hơn trước mọi sự vật. Bên cạnh đó, hãy thường xuyên đặt thật nhiều câu hỏi về không gian, thời gian của các đối tượng mà các em có thể quan sát trong đời thực, hình dung suy nghĩ, xúc cảm của các nhân vật và yêu cầu các em biểu đạt những xúc cảm này. Việc biểu đạt không nhất thiết bằng ngôn từ mà có thể bằng ngôn ngữ tạo hình, ví dụ có thể yêu cầu các em nói về ấn tượng sâu đậm nhất đối với một sự vật nào đó, và yêu cầu vẽ lại đúng theo ấn tượng mà các em hình dung. Không gì kích thích trí tưởng tượng và năng lực tự định vị bản thân ở trẻ em hơn việc diễn đạt bằng hình vẽ, màu sắc trên trang giấy trắng.   Cuối cùng là dạy trẻ gắn kết bản thân mình với thế giới. Khi đứa trẻ trong trạng thái buồn chán, hoặc tỏ thái độ cố thủ trong thế giới riêng của mình và không muốn giao lưu, kết nối với bên ngoài, thì hãy tìm cách mở rộng thế giới của các em. Hướng dẫn các em tập thể dục, chăm sóc người thân, hoặc làm những việc nhà trong gia đình. Đây đều là những cách thức hiệu quả giúp tăng cường năng lực tự định vị bản thân, sự nhận biết cuộc sống một cách khách quan hơn. Dạy trẻ cảm nhận những tín hiệu trong lành của đời sống, như hơi thở của chính mình, hơi thở của người thân, để giúp các em sống trong tâm thế tự chủ, cảm thấy rõ hơn sự hiện hữu của bản thân mình và mối gắn kết với không gian xung quanh.   Chúng ta thực hiện điều này và lắng nghe mỗi ngày. Khi trong từng lời nói, câu chào, những hành vi sinh hoạt thông thường nhất, có những chuyển biến tích cực về sắc thái biểu cảm; khi những tương tác hằng ngày trở nên tự nhiên hơn, giảm đi những ràng buộc ước lệ; khi những thay đổi trong đời sống được thích nghi bằng tinh thần đối diện và khám phá thay vì lảng tránh, cố thủ, thì đó là căn cứ rõ ràng cho thấy các em đã gắn kết và thích nghi tốt hơn với thế giới xung quanh mình.   —  1 http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News =5462&CategoryID=6  2 Tham khảo thêm phần Cội nguồn cảm xúc của người trong Phần 1 bài Vị thế và Không gian  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4530&CategoryID=41  3 http://urbanlegends.about.com/od/music/a/violinist_metro.htm    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Suy nghĩ từ hình thức đào tạo tín chỉ      Từ năm 2001, Bộ GD&amp;ĐT đã quyết định tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy cho sinh viên theo học chế tín chỉ. Và Bộ cũng đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, đến năm 2010 hoàn thiện chương trình đào tạo mới này để thay thế cho hình thức đào tạo theo niên chế hiện nay. Tuy nhiên, tính đến năm học 2006 – 2007, trong cả nước có khoảng 6 trường đại học áp dụng theo hình thức tín chỉ này (ở Hà Nội có 2 trường là ĐH Xây dựng, ĐH Dân lập Thăng Long, 4 trường còn lại của thành phố Hồ Chí Minh là ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Đà Lạt, ĐH Khoa học tự nhiên- ĐHQG, ĐH Bách Khoa). Bởi thế cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi người dân và một phần sinh viên đến thời điểm này vẫn còn bỡ ngỡ, chưa hiểu (thậm chí xa lạ) với hình thức đào tạo mới này. Vậy tín chỉ là gì? Nền giáo dục nước ta sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn nào khi thực hiện công cuộc chuyển đổi này?    Tín chỉ (credit), theo Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo của ĐHQG Hà Nội, là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm:  (1). Thời gian học tập trên lớp  (2). Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học  (3). Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.                     Như vậy, căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ đào tạo của từng khoa, từng trường, mỗi sinh viên phải hoàn thành ít nhất từ 120 – 140 tín chỉ. Ở trường ĐH Tokyo Nhật Bản, sinh viên ngành khoa học nhân văn phải hoàn thành 136 tín chỉ, với sinh viên khoa học tự nhiên là 144 tín chỉ. Một tín chỉ tương đương với 15 tiết học lý thuyết, 30 tiết thảo luận và làm bài tập, thí nghiệm, 45 – 60 tiết thực tập (như khung đào tạo của ĐH Xây dựng). Lượng kiến thức dành cho sinh viên gồm 2 khối cơ bản: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên môn. Mỗi khối kiến thức ấy cụ thể chia thành 2 nhóm học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn. Học phần bắt buộc là khối kiến thức tiên quyết bắt buộc sinh viên phải học và thi đạt mới được học tiếp sang học phần khác. Và học phần tự chọn là những kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được chọn theo hướng dẫn của nhà trường.  Hiện nay, học chế tín chỉ là hình thức đào tạo được xem là tiên tiến trên thế giới vì mục đích đào tạo của nó là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trình dạy – học. Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian (chủ động lựa chọn môn học, giáo viên, giờ học…), nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Đồng thời đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ hạn chế được tình trạng dạy và học theo lối kinh viện (điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học, đẩy nhanh quá trình hội nhập thế giới). Đây là một phương thức đào tạo đem lại hiệu quả giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hơn nữa cũng tạo được hiệu quả cao về quản lý và giảm được giá thành đào tạo.  Tuy nhiên, đứng trước công cuộc cách mạng giáo dục này, chúng ta không thể không có những băn khoăn, trăn trở xung quanh việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ. Bài viết xin xin đề cập một số giả định:                   Thứ nhất, đào tạo tín chỉ có phải là hình thức đào tạo duy nhất và tân tiến nhất hiện nay hay không? Xin trả lời ngay, ít nhất, duy nhất thì không. Bởi trên thực tế toàn bộ nền giáo dục của châu Âu vẫn đào tạo theo kiểu niên chế. Trung Quốc và Nga cũng vậy. Còn ưu việt nhất? Không phủ nhận là Mỹ và Nhật rất thành công. Nhưng cũng không thể phủ nhận được là giáo dục đại học của những nước không tín chỉ là không thành công. Vậy có thể khẳng định: tín chỉ không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công của giáo dục đại học. Từ những lập luận ấy dẫn đến chuyện chúng ta phải lựa chọn. Nếu chỉ có một thành tố mà cái đó thành công thì tất yếu không phải chọn. Còn nếu có hai thành tố mà cả hai đều thành công thì bắt buộc phải có sự cân nhắc, chọn lựa. Và nguyên tắc là chọn cái nào hợp với mình.  Thứ hai, về nguyên tắc lựa chọn, có mấy tiêu chí:  (1). Hình thức nào thành công hơn?  (2). Hình thức nào phù hợp với mình hơn?  (3). Hình thức nào mình có thể làm được?  – Ở tiêu chí thứ nhất, không thể nói là giáo dục của Pháp thì tốt hơn của Mỹ hay ngược lại. Chỉ có điều khi chúng ta quyết định từ bỏ cái cũ để chuyển sang cái mới thì chúng ta phải trả lời được câu hỏi: Tại sao phải có sự thay đổi đó? Không thể trả lời một cách chung chung bằng những câu như “để đuổi kịp thế giới” vì hiện nay trên thế giới có những nước không đào tạo theo hình thức học chế tín chỉ (như trên đã nói). Và hơn nữa đuổi kịp đâu đơn giản chỉ là đuổi phương thức đào tạo mà quan trọng hơn cả là phải đuổi chất lượng đào tạo. Cũng không thể trả lời rằng “để nâng chất lượng giáo dục”. Một câu hỏi đặt ra là chất lượng kém thực chất ở đâu? Cần thẳng thắn nhìn nhận sự thực là trước hết ở chính  giáo viên. Một giáo viên cả quãng đời dạy học không viết, không tham gia một báo cáo khoa học nào thì tín chỉ hay không tín chỉ chất lượng cũng vẫn dẫm chân tại chỗ, không thể thay đổi được. Nói rộng ra, một trường đào tạo khoa học cơ bản, muốn nâng chất lượng thì mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu là đào tạo phải đi đôi với nghiên cứu. Nghiên cứu kém thì đào tạo cái gì. Gốc của vấn đề là ở đấy chứ không phải ở việc đào tạo theo hình thức nào, tín chỉ hay không tín chỉ. Đuổi theo tín chỉ để mong chất lượng nâng lên là một sự lừa dối, là “đuổi mồi bắt bóng”, là làm ngược vì lẽ ra phải nâng đội ngũ cán bộ, chuẩn hóa trước để khi đã “có bột” rồi thì “gột hồ” gì chả được và chả tốt.  – Ở tiêu chí thứ hai, về chuyện có hợp với mình hay không thì phải đặt giáo dục đại học trong quan hệ với tổng thể nền giáo dục và tổng thể xã hội. Cả nền giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 có đào tạo con người chủ động không mà lại yêu cầu lên đại học sinh viên phải chủ động? Đào tạo tín chỉ chỉ thực sự đem lại kết quả tối ưu khi nó phù hợp với những nước mà nền giáo dục gắn chặt với thị trường lao động và tính thực chất của học vấn (học thật, thi thật, điểm thật, kiến thức thật). Ở một nước như Việt Nam (học để lấy bằng) thì e rằng khó có thể nghĩ đến chuyện thành công. Nếu áp dụng phương pháp này, khi đó kết cục tất yếu là đào tạo tín chỉ sẽ phát huy cái tiêu cực. Phần lớn sinh viên sẽ chọn môn nào dễ, thầy nào dễ để học, để có một kết quả cao, một tấm bằng “đẹp” khi đi xin việc chứ không chọn môn có hàm lượng khoa học cao và thầy giỏi để học.  – Ở tiêu chí thứ ba, đào tạo tín chỉ đòi hỏi phải có những yêu cầu về vật chất và nguồn nhân lực thỏa mãn cho nó. Như quy định về giờ tín chỉ, giờ học lý thuyết chỉ chiếm 1/3, còn lại là giờ thực hành, tự học của sinh viên. Bởi vậy nhà trường phải có hệ thống hỗ trợ sinh viên tự học rất mạnh như thư viện, phòng vi tính, phòng học và phòng tự học…, những điều kiện về cơ sở vật chất ấy chúng ta đã có đủ chưa? Bên cạnh đó là phải có hệ thống quản lý, chúng ta đã có chưa? (Thực ra yêu cầu này không khó, các trường có thể khắc phục được). Và một điều nhức nhối nữa cần nhìn nhận lại là các cơ quan có thẩm quyền đã trả lương cho giáo viên thích đáng chưa? Nếu nói rằng mỗi giáo viên dạy một môn học phải soạn giáo trình, xây dựng đề cương môn học, lên lớp, kiểm tra, phải chấm rất nhiều bài để đánh giá kết quả học tập của sinh viên… song họ lại chỉ được trả một đồng lương rẻ mạt (15000đ/ tiết, không bằng cấp III) thì ai sẽ làm tốt từng ấy công việc?  Nhắc đến lựa chọn thì chúng ta phải biết đầy đủ về cái hay cũng như cái dở của cả 2 hình thức đào tạo: tín chỉ và niên chế. Khi quyết định chuyển đổi, dường như không một báo cáo nào nói đến cái dở của hình thức mới. Phải chăng nó không có cái dở? Hay là chúng ta không dám nhìn thẳng vào cái dở, trốn tránh cái dở? Và nếu thế thì sự lựa chọn trong điều kiện thiếu thông tin có công bằng, hợp lí hay không, có dẫn đến thành công hay không?  Thứ ba, một hệ thống đem ra thí nghiệm thì phải có một lộ trình bao gồm: làm thử – rút kinh nghiệm – làm thật. Chúng ta đã làm đúng lộ trình ấy chưa? Không thể nói là người khác làm thành công nên chúng ta có thể yên tâm. Một sự thật hiển nhiên là người khác có thể thành nhưng chúng ta vẫn có thể thất bại. Đấy là tư duy biện chứng. Trên thế giới, các nước đều mất khoảng gần 10 năm để chuyển đổi nhưng ở nước ta thì sao? Như ĐHQG Hà Nội, từ khi tổ chức tập huấn về chuyển đổi, hoàn chỉnh các chương trình, thẩm định và đến khi áp dụng chỉ vẻn vẹn có 2 – 3 năm. Hay như một chương trình phân ban cũng còn phải làm thí điểm vậy tại sao đào tạo tín chỉ không qua bước thí điểm, rút kinh nghiệm mà làm thật luôn? Đấy có phải là một cách làm khoa học? Và nếu nó thất bại thì sao? Câu hỏi này đã được đặt ra trong rất nhiều cuộc họp triển khai chuyển đổi hình thức đào tạo song không hiểu sao các nhà lãnh đạo có trách nhiệm vẫn im hơi lặng tiếng (nếu không muốn nói thẳng là họ đã lấp liếm đi). Từ trước đến nay, ở các trường đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Cả nền giáo dục đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Và cuối cùng thì thế nào? Không nói cũng đủ biết.  Trước thực tế đặt ra như vậy, vấn đề có nên áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ hay không, cho đến nay, vẫn là một bài toán khó mà các nhà quản lý giáo dục chưa tìm được đáp án.      Hạnh Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy nghĩ về hệ thống chuyên Toán      Trong bài viết này tôi sẽ tập trung vào một số câu hỏi mà mình coi là then chốt về hệ thống chuyên Toán.      Có nên tồn tại hệ thống chuyên Toán?  Câu trả lời là rất nên có một hệ thống chuyên Toán. Hệ thống chuyên Toán ở đây được hiểu là một hệ thống các lớp đặc biệt, mỗi lớp gồm một số ít học sinh có năng khiếu về tư duy và được học môn Toán một cách chuyên sâu với một phương pháp đặc biệt. Hệ chuyên Toán do nhà nước tổ chức, và được hưởng một quy chế riêng.   Để hiểu thấu đáo vấn đề này, chúng ta nên xác định rõ mục đích và sự cần thiết của hệ chuyên Toán. Sau khi trả lời các câu hỏi đó, ta sẽ phân tích về việc nên thực hiện hệ chuyên Toán như thế nào?  Mục đích của việc đào tạo theo hệ chuyên Toán?  Giáo dục ở bậc phổ thông không chỉ để cung cấp các kiến thức cho học sinh mà quan trọng là phát triển khả năng tư duy và khả năng cảm nhận của các em.  Trong bậc học phổ thông, cách hiệu quả nhất để phát triển tư duy tốt là thông qua việc phát triển năng lực học Toán.  Như vậy, mục đích của hệ chuyên Toán không chỉ để đào tạo các thế hệ những người làm Toán cho tương lai mà là khuyến khích, phát huy và tạo đà phát triển tư duy cho những học sinh từ bé đã bộc lộ năng khiếu; từ đó góp phần đào tạo nên những người có khả năng tư duy sâu sắc và độc lập, biết cách lập luận logic chặt chẽ, có đầu óc phản biện và hoài nghi, những người sẽ có những đóng góp cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học và cho sự phát triển của xã hội.  Sự cần thiết của hệ đào tạo chuyên Toán?   Cần phải nhìn nhận rằng có những học sinh có năng khiếu tư duy bẩm sinh. Và trong môi trường học tập của bậc tiểu học và trung học cơ sở thì khả năng này thường được bộc lộ qua việc học tập môn Toán.   Những năng khiếu đó thể hiện qua việc học sinh có được những cảm nhận trực quan về một vấn đề, việc chạm vào được bản chất của vấn đề lấp sau những câu hỏi hóc búa, việc có thể tổng quát hoá những vấn đề cụ thể, và khả năng tưởng tượng được những khái niệm trừu tượng, mơ hồ như khái niệm mâu thuẫn, khái niệm quy nạp, khái niệm vô cùng, v v.  Những học sinh có năng khiếu như vậy nếu học ở các lớp đại trà có thể sẽ cảm thấy nhàm chán với những bài toán đơn giản, các em không có những thử thách để phải đào sâu tìm hiểu kiến thức hay tập trung suy nghĩ trong một thời gian dài.   Nếu nhìn rộng ra trên thế giới, không chỉ ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa cũ, mà ở các nước phát triển khoa học như Mỹ, Pháp, vv, vẫn luôn có các trường học, các lớp học tập trung các học sinh có năng khiếu, và không ít những người tiên phong trong khoa học đã từng học tại những trường đặc biệt như vậy. Có thể hình thức tuyển chọn hoặc tên gọi của họ không như trường chuyên, lớp chuyên của ta; nhưng thực tế là vẫn cần có môi trường, chương trình học, và giáo viên đặc biệt để phát huy khả năng của những học sinh có năng khiếu.  Nếu được học trong một môi trường với nhiều hứng thú và thử thách, những năng khiếu của các học sinh sẽ được bộc lộ và phát huy, làm tăng niềm say mê, và đồng thời lại càng làm phát triển khả năng của các em.  Nên giảng dạy ở các lớp chuyên Toán như thế nào ?  Sự khác nhau của hệ chuyên Toán và hệ không chuyên không phải ở việc cung cấp khối lượng kiến thức rộng hơn, mà ở việc phát triển tư duy sâu hơn.  Người thầy giáo không chỉ đưa ra lời giải cho học sinh hay chứng minh tính đúng đắn của định lý; mà người thầy còn chỉ ra được nguyên nhân, con đường dẫn đến lời giải đó. Cao hơn nữa, người thầy gợi mở và dẫn dắt để học sinh tự mình tìm ra lời giải.  Để thực hiện được điều đó, người thầy phải biết nhìn nhận từng ý tưởng, từng nhận xét của học sinh. Thậm chí ngay trong những cách giải sai của các em, người thầy vẫn có thể nhìn ra một cảm nhận đúng nhưng chưa trọn vẹn, và từ đó khuyến khích các em phát triển thành những lời giải đúng. Người thầy cần phải hiểu được những cảm nhận trực quan của các em, định hướng cho các em để cụ thể hóa những cảm nhận mơ hồ đó và diễn đạt được chúng thành lời; qua đó cho các em hiểu rằng chính trong việc diễn đạt ý tưởng một cách chân phương và chuẩn xác nhất, các em đã hình thành một quá trình tư duy sâu sắc và tinh tế.  Toàn bộ quá trình này sẽ mang đến những hứng thú, sự tự tin và những giây phút tỏa sáng cho học sinh, đó cũng là những giây phút rất hạnh phúc và ngọt ngào với người thầy.   Để tạo ra một không gian học như vậy, cần có những lớp học đặc biệt: chỉ có ít học sinh và thầy giáo có nhiều thời gian cho các em. Không chỉ cần nhiều thời gian trên lớp, mà thầy giáo cần có nhiều thời gian chuẩn bị bài để có thể hiểu sâu sắc vấn đề, suy nghĩ về các ngóc ngách có thể có, phát triển tổng quát và tìm hiểu cội nguồn sâu xa của vấn đề.   Thực hiện hệ đào tạo chuyên Toán như thế nào ?  Cấp học đầu tiên của chuyên Toán: Nên bắt đầu từ trung học cơ sở vì khi đó tư duy của học sinh đã hình thành và đang trong giai đoạn phát triển.  Thi tuyển: Nên tổ chức các kỳ thi để có thể phát hiện được những học sinh  có năng khiếu tư duy. Vì vậy, cần phải có những bài thi có thời gian đủ dài. Có thể là trong hai tiếng (với học sinh dưới 10 tuổi) và ba tiếng (với học sinh trên 10 tuổi). Mỗi bài thi chỉ nên có từ ba đến năm bài toán để học sinh có thời gian suy nghĩ sâu về một bài toán và có thể trình bày các lập luận một cách chặt chẽ. Không nên thi theo kiểu trắc nghiệm.  Tổ chức: Các lớp học chỉ nên có từ 20 đến 30 học sinh, nên tăng thời lượng của môn toán lên (hiện nay học sinh có một số tiết tự học, có thể sử dụng các tiết học này để giảng dạy môn chuyên).  Giáo viên: Giáo viên chuyên toán phải được đào tạo theo chương trình đặc biệt, hoặc phải theo học những lớp bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao năng lực.   Thi học sinh giỏi: Hiện nay nhiều học sinh tham gia các kỳ thi học sinh giỏi, ở trong nước và nhiều kỳ thi của nước ngoài. Đó là quyền tự do của học sinh và gia đình. Vấn đề là chúng ta nên nhìn nhận và đánh giá đúng các kỳ thi này. Không nên nâng cao tầm quan trọng lên quá mức thực chất. Việc lấy kết quả của các kỳ thi này làm tiêu chí xét đầu vào các trường chuyên nên cân nhắc và thận trọng để tránh sự bất công với các học sinh.   Nên tổ chức một kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia giống như một kỳ thi Olympic để học sinh có nhiều cố gắng và hứng thú.  Với suy nghĩ rộng hơn, có thể nhận thấy từ bậc trung học phổ thông, có những môn khoa học khác như Vật lý, Hóa học, vv, cung cấp nhiều kiến thức cơ bản và khá sâu sắc cho học sinh. Việc tổ chức hệ chuyên về các môn học này, hay việc tổ chức các lớp chuyên về khoa học, ở đó học sinh có thể nhận thấy mối liên quan và sự ứng dụng giữa các môn khoa học – là những vấn đề đáng được quan tâm.  Điều cốt yếu nhất của hệ thống chuyên vẫn là để phát triển tư duy sâu sắc, tạo nên lòng say mê ham hiểu biết, niềm tin vào chân lý và tình yêu cái Đẹp của học sinh.   ———————————  * PGS.TS Viện Toán học – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Suy nghĩ về một trường sư phạm quốc gia      Lâu nay, bàn về định hướng phát triển các trường đại học ở Việt Nam, người ta thường tranh luận về liệu nên chú trọng khoa học cơ bản hay ứng dụng, hay liệu có nên hướng theo mô hình các đại học nghiên cứu hay không? Đối với Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN), dù theo bất kỳ quan điểm nào thì rõ ràng đây phải là trường dẫn đầu về khoa học giáo dục.    Khoa học giáo dục rõ ràng không chỉ mang lại những ứng dụng cụ thể mà còn có vai trò như một khoa học cơ bản, giúp đề ra những tư tưởng, triết lý nền tảng trong giáo dục. Ở Việt Nam, phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục cũng như việc tổ chức dạy học, luôn xuất hiện ở mọi loại hình đào tạo, song những công việc đó dường như mới chỉ dừng lại ở đúc rút kinh nghiệm và thực hành. Phải chăng đất nước đang gặp nhiều khó khăn trong cải tổ giáo dục, rồi ngay cả triết lý giáo dục cũng chưa thực sự thuyết phục và mạch lạc, đó là vì khoa học giáo dục còn nhiều hạn chế. Có người đã khắt khe đặt câu hỏi: Chúng ta đã thực sự có khoa học giáo dục hay chưa?  Để khắc phục tình trạng yếu kém về tư tưởng và lý luận giáo dục, trước hết các trường đại học sư phạm nói chung đều cần phải hướng tới trở thành những trường đại học nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục là mũi nhọn, mà sản phẩm tạo ra là những phương pháp dạy học và phương pháp giáo dục có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các khoa học chuyên ngành và khoa học giáo dục, cùng với thực tiễn phát triển xã hội! Rằng quyết không thể dùng chủ nghĩa kinh nghiệm, thay cho khoa học.  Việc đặt vị trí tương xứng cho ĐHSPHN, với tư cách là Trường  ĐHSP Quốc gia, “cỗ máy cái” của cả hệ thống sư phạm quốc gia, là một việc hết sức nghiêm túc. Rõ ràng nó không thể chỉ là một trường thực hành, đào tạo nghề, mà nó phải là một đại học nghiên cứu, mạnh về khoa học cơ bản, trong đó đặc biệt mạnh về khoa học giáo dục!  Sơ bộ có thể thấy khoảng 250 tạp chí trong hệ thống ISI về nghiên cứu giáo dục-một sân chơi rộng mở. Rõ ràng những người làm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục, với tư cách như một khoa học cơ bản, không có lý do gì mà không thể hội nhập, công bố rộng rãi các kết quả nghiên cứu của mình một cách công khai, bình đẳng trên sân chơi quốc tế.  Cũng cần nói thêm rằng, nền học thuật của chúng ta chưa bao giờ đạt tới “hàn lâm”, cũng như khoa học giáo dục chưa thực sự phát triển, vì thế mà khuynh hướng thực dụng trong giáo dục luôn dễ có cơ hội nảy nở. Điều này thật nguy hại như  Einstein  đã từng cảnh báo: “Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở  thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có được một cảm thức sống động về cái gì là đáng để phấn đấu trong cuộc đời.  Anh ta phải được dạy để có được một ý thức sống động về cái gì là đẹp và cái gì là thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và những nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình cũng như với cộng đồng” (A. Einstein, Thế giới như  tôi thấy, NXB Tri thúc 2007, trang 48).  Bài viết được lược lại từ bài gốc đăng trên Văn hóa Nghệ An:  http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/van-hoa-hoc-duong40/suy-nghi-ve-mot-truong-dai-hocsu-pham-quoc-gia       Author                Dương Quốc Việt        
__label__tiasang Suy nghĩ về vị thế của người thầy và sự tôn nghiêm của nghề giáo*      Vừa qua, dư luận xã hội bàn nhiều về bức tâm thư của tân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT gửi các nhà giáo toàn quốc. Bức thư đã thể hiện những mong muốn và khát vọng, tâm huyết với nghề giáo, với nhà giáo, trong đó đáng lưu ý là ông nhận định, người thầy có vai trò quan trọng trong việc củng cố, giữ gìn vị thế của người thầy và sự tôn nghiêm của nghề giáo.  Nhưng có lẽ mong mỏi chính đáng ấy cũng chỉ là mong mỏi, ít nhất là trong giai đoạn hiện nay; người thầy, dù nỗ lực đến đâu, thì cũng chỉ là một thành tố chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, vì suy cho cùng, xã hội thế nào thì người thầy thế ấy.      Điều quan trọng và mang tính quyết định hơn là xây dựng được một xã hội, một môi trường giáo dục, ở đó những điều cao đẹp và các giá trị nhân bản được tôn trọng, đề cao và vinh danh, được sinh sôi và nảy nở; những điều xấu xa, bị lên án, bị triệt tiêu. Ảnh minh họa: Zing.   Lịch sử phát triển nhân loại thời hiện đại cho thấy, giáo dục luôn giữ vai trò quyết định đối với sự hưng thịnh của mỗi quốc gia; và các trường đại học được coi là biểu tượng tri thức của một đất nước, là niềm tự hào của một dân tộc; vì giáo dục góp phần tạo nên phẩm cách con người, ‘nếp nhà’ của một gia đình, và giáo dục cũng làm nên tầm vóc của một dân tộc.   Nghề nào cũng cao quý và đáng trân trọng, nhưng nghề giáo là một trong số rất ít nghề được cho là cao quí và đáng trân trọng nhất; vì thế, nghề này đòi hỏi sự nghiêm cẩn, trong sáng và mô phạm hơn bất cứ nghề nào khác; điều đó làm nên sự tôn nghiêm của nghề. Các trường học thường được coi là biểu tượng tri thức và văn hóa của một đất nước và là niềm tự hào của một cộng đồng.   Thế nhưng, vì sao nên nỗi “vị thế của nhà giáo chúng ta cần phải được củng cố, sự tôn nghiêm của nghề cần phải được giữ gìn” như vị đứng đầu ngành đã phải nhắc nhở, đã phải cảnh tỉnh, đã phải kêu gọi?  Thiển nghĩ, một khi thầy không ra thầy trò không ra trò, một khi lâu đài về trí tuệ, lâu đài về đạo đức bị xâm hại, bị tổn thương, thì lỗi không phải chỉ là do thầy và trò, không chỉ là lỗi của ngành GD&ĐT, mà lỗi từ rất nhiều phía. Người thầy góp phần tạo nên những sa sút đạo đức nhưng cũng là nạn nhân của tất cả những mất mát và xói mòn ấy.   Chế độ lương      “Hơn ai hết, chúng ta mong mỏi vị thế của nhà giáo chúng ta cần phải được củng cố, sự tôn nghiêm của nghề cần phải được giữ gìn. Điều này cần nhiều phía và liên quan nhiều yếu tố, nhưng trước hết và quan trọng nhất là do chính nhà giáo chúng ta”. Hình như tôi đã được nghe các câu nói đại loại như thế này không chỉ một lần, ở đâu đó, năm nào đó. Nhưng liệu có đúng là những phiền lòng và lo âu về giáo dục, về sự tôn nghiêm của nghề giáo, về vị thế cao cả của nhà giáo trong thời đại ngày nay phụ thuộc chủ yếu và trước hết vào chính các nhà giáo? Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển, và muốn xem xét nó thì phải đặt nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác, theo đó quan điểm coi việc giữ được vị thế của nhà giáo và sự tôn nghiêm của nghề giáo – “trước hết và quan trọng nhất là do chính nhà giáo chúng ta” chưa hẳn đã là ‘hợp thời’.      Người thầy góp phần tạo nên những sa sút đạo đức nhưng cũng là nạn nhân của tất cả những mất mát và xói mòn ấy.      Khó khăn lớn nhất trong việc được sống xứng đáng như một người Thầy của các nhà giáo hiện nay là chế độ lương. Tổ tiên người Việt cũng dạy “dĩ thực vi tiên”, ăn là số một, rồi sau đó mới là ở, mặc, đi lại, rồi mới đến đạo đức, văn hóa, trí tuệ và những điều cao xa khác. Người Việt lại nói, “đói ăn vụng túng làm liều”, nên khi lương người thầy không đủ để lo những nhu cầu sống và làm việc thiết yếu nhất, khiến họ vẫn phải chật vật xoay xở vì miếng cơm manh áo, thì người ta dễ sinh tật, dễ đánh mất mình. Có nhiều ý kiến cho rằng, hầu như tất cả các tệ nạn xã hội, sự xuống cấp đạo đức, sự xói mòn phẩm chất của không ít người có lẽ là đã được thúc đẩy và tiếp sức vì chế độ lương bổng ‘không giống ai’ của chúng ta với đội ngũ công chức, viên chức nói chung, với đội ngũ giáo viên nói riêng. Nhiều người trong số họ ban đầu buộc phải nhắm mắt đưa chân vào việc dạy thêm như cần câu cơm, như một sinh kế, rồi có người không giữ được phẩm hạnh. Thu nhập không đủ sống là kẽ hở cho những toan tính ít lương thiện len vào, khiến người thầy góp phần tạo nên sự sa sút về đạo đức xã hội và làm tha hóa đạo đức chính mình. Ông giáo có cố đến mấy cũng chỉ giữ được đến một mức nào đó.   Tất nhiên không phải ông giáo nào cũng bị cám dỗ vật chất làm cho tha hóa, hầu hết không người thầy nào muốn lo ‘nồi cơm’ gia đình mình bằng tiền dạy thêm, bằng quà biếu, bằng ăn chặn, bằng tham nhũng. Nhưng rồi số người ‘đầu hàng hoàn cảnh’ cũng đủ lớn, đủ làm cho xã hội thấy mối quan hệ giữa người học và người thầy là mối quan hệ sòng phẳng: người thầy là nhà cung cấp dịch vụ, người học là người trả tiền dịch vụ; chẳng ơn huệ, chẳng nợ nần gì nhau.   Tâm lý xem mối quan hệ thầy – trò là quan hệ mua bán sòng phẳng theo qui luật cung cầu, qui luật giá trị là rất đáng lo ngại ở xã hội ta, bởi chính ở các nước nơi là cái ‘nôi’ của nền kinh tế thị trường cũng không có cách nhìn nhận như thế đối với giáo dục; ở đó, không tồn tại thị trường trong giáo dục mà người ta áp dụng mô hình quản trị đại học linh hoạt như (chứ không phải là) một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn mang đậm hương vị ‘cận thị trường’ (quasi market) nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước, nên người thầy rất được tôn trọng. Ngay cả ở Mỹ, nơi có hệ số lương trả cho nhà giáo khá thấp so với các ngành nghề khác, vị thế xã hội của nhà giáo cũng rất đàng hoàng. Điều đó chứng tỏ, thang bậc giá trị của xã hội ở các nước đó không căn cứ vào thu nhập của cá nhân.    Đại học được coi là biểu tượng tri thức của một đất nước, là niềm tự hào của một dân tộc. Trong ảnh: Bức tranh tái hiện thầy Chu Văn An dạy học trò, hiện treo tại đình Nội, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Nguồn: QNND.  Người thầy chỉ là một thành tố trong nền giáo dục   Muốn lấy lại vị thế của người thầy, ở đó sự liêm chính của thầy và trò được thượng tôn, chỉ cần làm đúng những lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng dạy: thầy ra thầy thì tự khắc trò sẽ ra trò, trường đã ra trường, tự nhiên lớp sẽ ra lớp, tự khắc ở đó sẽ có sự tôn nghiêm của nghề giáo, sẽ có vị thế cao cả, được kính trọng và ngưỡng mộ của nhà giáo.   Nhưng để thầy đúng là thầy thì trước hết cần thay đổi cách dạy, cách học, cách kiểm tra, đánh giá người thầy, người trò nói riêng, đánh giá và sử dụng, trọng dụng con người, nhất là người tài nói chung. Điều đó cũng lại phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố có mối quan hệ dây chuyền, tương quan với nhau. Trước hết là mục tiêu giáo dục: nền giáo dục ấy nhằm đào tạo ra các công dân hay các thần dân trong tương lai? Từ mục tiêu, chương trình đào tạo được thiết kế vì người học, vì con trẻ hay là vì ‘người lớn’; nếu vì con trẻ, chương trình đào tạo sẽ không còn bị áp đặt từ bên trên, từ bên ngoài nhà trường; nhờ thế, sẽ không còn các chương trình đào tạo được thiết kế quá tải về kiến thức, trong đó có nhiều thứ không thiết thực, người học không cần, không muốn học, nhưng họ buộc phải học đối phó, học để thi, để có mảnh bằng, để được yên thân; nên học thiếu thực chất, thiếu thực lực, thiếu thực học, nên cũng thiếu thực tài. Chương trình đào tạo được thiết kế vì người học sẽ không còn chỗ cho lối giáo dục nặng về điểm số, nặng về thi cử, nặng về thành tích, không quan tâm đến sự hứng thú của người học và tính thực tiễn của các kiến thức.   Muốn làm sạch cầu thang thì phải quét dọn từ trên xuống. Nên trước hết là các lãnh đạo, nhà quản lý của ngành GD&ĐT phải thực tâm và thành tâm coi trọng người thầy, coi trọng người trò; coi người học chứ không phải những thứ khác là trung tâm đã, rồi mới nói và làm đến các việc khác. Chợt nhớ bài văn sách thi Đình đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ năm 1442 của Nguyễn Trực (1417-1474), đầu bài của vua Lê Thái Tông (1423-1442) nói về việc tìm người tài ra giúp dân và phép trị nước; Nguyễn Trực viết “Vua có nhân, không ai không có nhân; Vua có nghĩa, không ai không có nghĩa; Vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, vua chân chính rồi thì cả nước sẽ bình yên”!  Nền giáo dục ấy phải thiết kế làm sao để cho quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo là chính, quá trình rèn luyện mang tính áp đặt từ bên ngoài thành quá trình tự tu dưỡng, đảm bảo sự tu dưỡng từ bên trong của mỗi một con người là chủ yếu. Nền giáo dục ấy coi trọng và đề cao trên thực tế và trong thực tiễn các giá trị nhân văn, các quyền tự do cá nhân cơ bản của con người; mỗi con người là một bản thể độc lập nhưng gắn bó máu thịt và biện chứng với cộng đồng, vui với niềm vui của đồng bào mình, buồn lo, yêu thương, căm phẫn cùng với đồng bào mình.  Việc thiết kế một nền giáo dục tiến bộ như vậy vốn không xa lạ với chúng ta, có thể đơn giản được bắt đầu từ việc coi trọng việc truyền thụ và rèn luyện tính trung thực, liêm chính, tự trọng của mỗi con người theo 5 điều Bác Hồ dạy, nhất là về các đức tính Khiêm tốn, Thật thà, Dũng cảm, các đức tính cốt lõi để làm nên phẩm hạnh và tầm vóc một con người. Làm thế nào để chúng ta có những thế hệ học trò sống không gian dối, sống ngay thẳng và cương trực (Thật thà), đủ dũng khí đấu tranh và loại trừ cái xấu, cái ác, bảo vệ cái tốt đẹp, cái thiện lương, điều tử tế, loại bỏ thói háo danh và hãnh tiến, xây dựng một xã hội thích đi vào bản chất sự việc và sự vật hơn là thích đi vào các hình thức sáo rỗng khoe mẽ bề ngoài, những ‘cờ đèn kèn trống’ xủng xoẻng vô hồn (Dũng cảm); những con người Thật thà, Dũng cảm này không công thần, không đặt mình đứng trên thiên hạ, không coi mình là ‘rốn của vũ trụ’, chỉ có từ đúng trở lên, cho mình cái quyền đi dạy bảo, giáo huấn người khác. Những công dân này là nguồn cảm hứng cho đồng nghiệp, cho đồng chí mình để cùng khởi tạo nên các giá trị mới, các nền tảng mới cho xã hội, khiêm nhường và liêm chính trong công vụ (Khiêm tốn). Khi đó, chúng ta sẽ có những công dân luôn luôn trẻ trung, năng động, có tư duy độc lập và sáng tạo, đủ dũng khí và sức mạnh để phá vỡ mọi trở ngại trên con đường dựng xây và bảo vệ Tổ quốc, họ biết khôn khéo và mềm mỏng khác xa với hèn mọn và sợ hãi, dám tự tin và kiên cường vượt qua các rào cản một cách kiêu hãnh để đi đến thành công của bản thân, của cộng đồng; họ có trái tim bao dung, ấm áp, nhân ái, nhìn nhận thế giới bằng con mắt thiện lương, hòa đồng, và một trí tuệ mang tầm thời đại. Những công dân thông tuệ và có phẩm hạnh như thế, chắc chắn sẽ cùng nhau xây dựng một đất nước hùng cường và hạnh phúc, tươi đẹp và thịnh vượng.   Áp lực từ môi trường xã hội lên người thầy  Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cho nên nhân cách, phẩm giá, vị thế người thầy phụ thuộc rất lớn vào tồn tại xã hội. Theo lẽ biện chứng tự nhiên, thời đại nào có nền giáo dục của thời đại ấy, nền giáo dục nào có con người của nền giáo dục ấy. Nghĩa là, xã hội thế nào thì con người và giáo dục thế ấy; bởi lẽ, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, con người là chân dung của xã hội, chân dung của thời đại.   Nếu như xã hội đề cao đồng tiền và quyền lực, thì đồng tiền và quyền lực tất yếu sẽ có vai trò thống trị, giữ vai trò định hướng sự phát triển của xã hội; ở đó mọi người sẽ ganh đua nhau để làm chính trị, làm quan; vì một khi đã được làm quan là gần như có đủ thứ ‘vinh thân phì gia’. Nếp nhà không tử tế, xã hội không tử tế, thì sẽ sinh ra những con người thiếu bản lĩnh, dễ bị lụy quyền thế, lụy vật chất. Những xã hội như thế không thể đề cao trên thực tế và về thực chất đối với lẽ phải và các giá trị nhân bản của nhân loại, của thời đại, của dân tộc, trong đó có vị thế người thầy.   Bởi vậy, nếu như mọi nguồn cơn của nền giáo dục đều “trước hết và quan trọng nhất là do chính nhà giáo”, thì nền giáo dục của chúng ta đã không ở những thang bậc như hiện nay trong lòng dân, trong nhận thức xã hội. Do đó, đòi hỏi “trước hết” người thầy phải cố gắng mới lấy lại được vị thế người thầy trong một xã hội còn đang thiếu tôn trọng người thầy là đúng nhưng chưa đủ. Vậy giấc mơ “chỉ có thể bằng sự cố gắng, gương mẫu, bằng trí tuệ và tấm lòng yêu nghề, yêu trò, yêu tri thức và lẽ phải, bằng sự tự trọng và tự tôn, chúng ta mới dần làm cho nghề giáo của chúng ta tôn nghiêm thêm”, có thể trở thành hiện thực trên cuộc đời này được không?   Chúng ta đều nhớ phong trào “hai không” rầm rộ và hồ hởi ngày nào, được khởi xướng vào một ngày hè oi nồng của năm 2006; người ‘lính tiên phong’ Đỗ Việt Khoa nay ở đâu? Có mấy ai còn nhớ đến thầy, mấy ai còn quan tâm và biết đến thân phận của thầy? Đã có mấy ai đứng ra bảo vệ “người hùng” và đồng hành cùng thầy và các nhà giáo chân chính khác trên con đường gian khó để cùng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự trong sáng và nghiêm cẩn của nghề giáo, vị thế cao cả của nhà giáo? Thì ra, vẫn còn có những thứ mạnh hơn nhiều thân phận, đức độ, phẩm cách một người Thầy, với chữ Thầy được viết hoa.   ***  Để giành lại vị thế người thầy, trước hết Nhà giáo phải có ý thức tự tôn, phải biết tự trang bị cho mình bản lĩnh, độ dày tầng văn hóa để có thể ngẩng cao đầu trong xã hội còn có những điều nhiễu nhương, ngang trái; tất nhiên là như thế! Nhưng quan trọng và mang tính quyết định hơn là xây dựng được một xã hội, một môi trường giáo dục, ở đó những điều cao đẹp và các giá trị nhân bản được tôn trọng, đề cao và vinh danh, được sinh sôi và nảy nở; những điều xấu xa, bị lên án, bị triệt tiêu.   Sự sa sút về phẩm hạnh người Thầy sẽ kéo theo một hệ quả lớn, là nó có thể làm sụp đổ toàn bộ quá trình giảng dạy đạo đức hay nhân cách cho học sinh, khi chính những người thầy ở vị trí có tính biểu tượng truyền thống về đạo đức và đang giảng dạy về đạo đức lại làm những việc trái với những điều họ răn dạy về đạo đức, về luôn thường đạo lý cho học trò. Một đất nước, một thời đại mà vị thế của nhà giáo bị ‘mất giá’, lề bậc “quân sư phụ” từng là chân lý một thời, bị sụp đổ, thì khó có thể sản sinh ra được những nhà trí thức, nhà cải cách, nhà văn hóa lớn như Newton, Lomonoxov, Betthoven, van Gogh, Watson & Crick, Adam Smith, Meiji-tennō hay Fukuzawa Yukichi.  Những ngày gần đây, trên các diễn đàn, các mạng xã hội, dư luận xã hội đang bàn nhiều về bức tâm thư của tân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT gửi các nhà giáo toàn quốc. Bức thư đã thể hiện những mong muốn và khát vọng của ông, những lời tâm huyết rất đáng trân quý với nghề giáo, với nhà giáo, với ngành của ông. Chắc chắn là toàn xã hội, các bậc phụ huynh và hàng triệu học sinh, sinh viên vẫn đang trông chờ vào các quyết sách mới, trong đó có các quyết sách mang tính đột phá, mang tính mở đường dẫn lối, để giáo dục Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới. Ai cũng tin và mong ông luôn chân cứng đá mềm để biến khó khăn thành cơ hội, biến thách thức thành thời cơ trên cương vị cao cả của mình, vì tương lai của nền giáo dục Việt Nam.□  ——  *Bài viết của tác giả nhân đọc bức thư của tân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT gửi nhà giáo trên toàn quốc.       Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Suy nghĩ về việc tổ chức thi trắc nghiệm Toán trong kỳ thi tốt nghiệp THPT      Giảng dạy Toán học phổ thông có mục tiêu chính là rèn luyện tư duy và lập luận, vì vậy việc tổ chức thi trắc nghiệm môn Toán trong kỳ thi tốt nghiệp THPT (và xét tuyển đại học) là không thực sự phù hợp.      Môn Toán ở bậc phổ thông không chỉ là một môn học giới hạn trong ngành của mình, mà là một môn học cơ bản, để từ đó áp dụng vào các môn khoa học tự nhiên khác. Ảnh: Đào Ngọc Thạnh, Thanh Niên.  Tầm quan trọng của giáo dục Toán học ở bậc phổ thông  Cần nhấn mạnh rằng chúng ta đang nói đến việc dạy và học môn Toán ở cấp phổ thông, chứ không phải môn Toán chuyên ngành từ đại học trở lên. Toán là một trong hai môn học (cùng với Ngữ văn) mà học sinh được học xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12, chiếm nhiều thời lượng học nhất trong các môn. Như vậy Toán là môn học quan trọng nhất trong bậc học phổ thông.  Môn Toán ở bậc phổ thông không chỉ là một môn học giới hạn trong ngành của mình, mà là một môn học cơ bản, để từ đó áp dụng vào các môn khoa học tự nhiên khác.  Khác với các môn khoa học xã hội, môn Toán là một môn học phổ quát, và chương trình môn Toán ở các nước trên thế giới khá tương đồng với nhau. Vì vậy, nếu một học sinh được học tốt môn Toán ở bậc phổ thông thì khi hội nhập với các nước khác ở bậc đại học hoặc cao hơn sẽ dễ dàng thích nghi và phát triển hơn. Đây cũng là một thực tế của nhiều học sinh Việt Nam khi du học ở nước ngoài, Toán là một trong các thế mạnh của các học sinh nước ta.  Mục tiêu của giáo dục Toán học ở bậc phổ thông  Trước khi xây dựng chương trình học, chương trình thi cho môn học, cần xác định rõ mục tiêu đào tạo của môn học đó là gì.  Mục tiêu chính của việc dạy Toán là rèn luyện tư duy và lập luận, đó là tư tưởng chung trên toàn thế giới.  Chúng ta có thể tham khảo các tài liệu về giáo dục của các nước trên thế giới, ở đây chúng tôi đơn cử hai ví dụ sau.  Theo Bộ Giáo dục Pháp1: việc học Toán ở THPT để rèn luyện các khả năng: tìm kiếm (phân tích vấn đề), mô hình hoá (đưa các bài toán thực tế về ngôn ngữ toán học), biểu diễn (chọn một hình thức tính toán để diễn đạt bài toán), tính toán (thực hiện các phép tính, các thuật toán đơn giản để giải), lập luận (sử dụng các kiến thức logic cơ bản để lập luận), trao đổi (thực hiện việc biến đổi giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ hình thức, phát triển các lập luận toán học đúng đắn, phản biện các bước giải hoặc các lời giải, trình bày rõ ràng và chính xác lời giải).  Theo Hiệp hội các giáo viên toán của Mỹ (NCTM)2: Toán học phổ thông có mục tiêu là tìm hiểu các vấn đề, các khái niệm dựa trên các hiểu biết và kinh nghiệm sẵn có, từ đó dựa trên các lập luận logic để đưa ra lời giải. Việc giải các bài toán dựa trên các bài có trước là không đủ, mà còn phải suy luận để có thể sử dụng Toán học một cách có ý nghĩa. Học sinh cần phải phát triển khả năng lập luận và phản biện.      Chúng ta có thể thấy rằng gần như không ở nước nào, việc thi trắc nghiệm môn Toán được sử dụng trong một kỳ thi duy nhất và quan trọng để xét tốt nghiệp THPT.      Như vậy, học Toán không chỉ để giải các bài toán, mà quan trọng là học để biết cách tìm hiểu vấn đề và tìm ra cách giải quyết các vấn đề. Học Toán để rèn luyện tư duy khoa học. Mặt khác, việc trình bày một lời giải cũng rất quan trọng. Qua việc trình bày lời giải, học sinh học cách lập luận chặt chẽ, trình bày rõ ràng ý tưởng của mình. Có nhiều bài toán mà học sinh ngộ nhận tưởng rằng đúng, nếu không trình bày lời giải rõ ràng, thì không thể phát hiện ra được, và như vậy sẽ dẫn đến việc không hiểu bản chất vấn đề.  Qua các phân tích trên, chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc giảng dạy môn Toán ở bậc phổ thông và việc thi môn toán trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.     Vai trò và mục đích của kỳ thi tốt nghiệp THPH  Trong hai năm 2015 và 2016, Bộ GD&ĐT đã thực hiện đổi mới phương thức tổ chức kỳ thi. Hiện nay chỉ còn một đợt thi duy nhất vừa để xét tốt nghiệp THPT vừa làm căn cứ tuyển sinh ĐH, CĐ. Về cơ bản mục đích của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2017 cũng như vậy.  Cho đến nay, hầu hết các trường đại học đều chưa công bố phương án tuyển sinh riêng, và theo kinh nghiệm các năm trước (năm 2015 và 2016 tuyệt đại đa số các trường đại học đều xét tuyển sinh dựa trên kết quả thi tốt nghiệp THPT), có thể dự đoán rằng hầu hết tất cả các trường đại học đều sẽ căn cứ theo kết quả kỳ thi này để xét tuyển.  Vậy có thể nhận định rằng đây là một kỳ thi quan trọng nhất trong bậc học phổ thông, không chỉ để xét tốt nghiệp THPT mà còn là căn cứ (quan trọng nhất) để xét tuyển đại học.  Ảnh hưởng của việc thi trắc nghiệm môn Toán  Chúng tôi xin nêu một số ý kiến quan trọng ủng hộ việc thi trắc nghiệm môn Toán và phản biện các ý kiến này.  1. “Việc thi trắc nghiệm đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và đã rất thành công.”  Chúng ta cần xác định rõ, kỳ thi trắc nghiệm của các nước được áp dụng trong khuôn khổ nào, có quan trọng như kỳ thi tốt nghiệp THPT của chúng ta không? Trong các bài viết trên Tia Sáng cũng như nhiều bài viết khác, chúng ta đã nhận thấy sự giới hạn của kỳ thi SAT ở Mỹ (kết quả của SAT chỉ được sử dụng như một trong các tiêu chí để xét tuyển), kỳ thi trắc nghiệm ở Nhật (ngoài kỳ thi trắc nghiệm còn có các kì thi xét tuyển tiếp theo để vào đại học, và việc thi trắc nghiệm này đang gây tranh cãi và có thể bị thay thế), kỳ thi trắc nghiệm ở Úc (các kỳ thi quan trọng cuối bậc phổ thông có phần thi tự luận). Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng ở hầu hết các nước khác, kỳ thi tốt nghiệp THPT môn Toán không chỉ thi riêng trắc nghiệm.  Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng gần như không ở nước nào, việc thi trắc nghiệm môn Toán được sử dụng trong một kỳ thi duy nhất và quan trọng để xét tốt nghiệp THPT (và xét tuyển đại học).  2. “Việc thi toán bằng hình thức trắc nghiệm sẽ tiết kiệm được thời gian thi cho các học sinh, tiết kiệm được công sức và chi phí cho việc chấm thi.”  Kỳ thi tốt nghiệp THPT là kỳ thi quan trọng nhất như đã phân tích ở trên. Việc học sinh phải tập trung thi và Bộ GD&ĐT phải tổ chức thi, chấm thi là một việc cần làm, để có thể đánh giá đúng năng lực và khuyến khích việc học tập của học sinh, trong suốt 12 năm phổ thông. Một bài kiểm tra học kỳ có thể kéo dài mấy tiếng thì vì sao kỳ thi cuối cấp quan trọng nhất lại phải rút gọn từ 180 phút xuống 90 phút ? Như vậy tiêu chí thi nhanh, chấm nhanh không thể coi là một tiêu chí quan trọng trong việc tổ chức kỳ thi.  3. “Kỳ thi trắc nghiệm sẽ đánh giá được đúng năng lực của học sinh.”  Chúng ta cần chỉ rõ, kỳ thi trắc nghiệm môn Toán đánh giá được năng lực nào của học sinh.     Những đề thi được tham khảo hiện nay có một phần không nhỏ là các câu hỏi giải được bằng việc sử dụng máy tính. Điều này rất không phù hợp với việc giáo dục Toán học phổ thông. Học sinh cần biết cách giải, chứ không phải cần làm tính toán nhanh, bấm máy nhanh. Một học sinh có tư duy toán học tốt không chắc là một học sinh bấm máy nhanh. Nên những câu hỏi này không đánh giá đúng năng lực học Toán của học sinh. Trong các câu hỏi khác, có những câu hỏi học sinh có thể trả lời đúng nếu ước lượng được câu trả lời, và tìm ra lời giải bằng phương pháp tính gần đúng hay loại trừ. Đây có thể là một kỹ năng trong việc học Toán, nhưng nó không thể hiện bản chất tư duy của Toán học. Một học sinh học Toán là để có các khả năng tìm hiểu bài toán, tìm ra phương pháp giải đúng, chặt chẽ, chính xác.  Bản chất của việc giải một bài toán là đi tìm câu trả lời cho một bài toán, chứ không phải lựa chọn câu trả lời. Phương pháp tìm lời giải đó rất quan trọng. Nếu một học sinh có phương pháp giải đúng, mà có một nhầm lẫn nhỏ về tính toán, thì điều đó sẽ được thể hiện trong bài thi tự luận, và học sinh vẫn có điểm; trong khi nếu thi trắc nghiệm thì học sinh sẽ không được điểm nào cho việc tìm ra phương pháp giải.  Như vậy có thể thấy rằng kết quả thi trắc nghiệm sẽ không phản ánh được chính xác năng lực phân tích, lập luận của học sinh.  ***  Kể từ trung tuần tháng Chín đến nay, rất nhiều trường trung học phổ thông đã có chương trình cấp tốc thay đổi cách dạy và cách học để chuẩn bị cho việc thi trắc nghiệm môn Toán. Có thể nói việc thi như thế nào đã quyết định việc học như thế nào, điều này không phải là nên hay không nên, mà nó là thực trạng tất yếu ở nước ta.  Học sinh tốt nghiệp phổ thông của nước ta có thế mạnh khi hội nhập với thế giới ở môn Toán, điều đó đã được minh chứng qua rất nhiều thế hệ học sinh du học ở nước ngoài. Những thay đổi về cách thi dẫn đến cách học sẽ dần dần làm thay đổi trình độ Toán học và khả năng tư duy của học sinh. Vì vậy rất nên thận trọng cân nhắc trước mỗi quyết định thay đổi để có thể giữ vững và phát triển việc học Toán ở bậc phổ thông, không chỉ cho các lớp học sinh hiện tại mà còn lâu dài cho các thế hệ học sinh trong tương lai.  ——-  1Xem Les compétences mathématiques au lycée http://eduscol.education.fr/cid45766/mathematiques-au-lycee.html  2Xem Focus in High School Mathematics và Principles and Standards for School Mathematics của NCTM   http://www.nctm.org/    Author                Phan Thị Hà Dương        
__label__tiasang Tái cơ cấu giáo dục: Nhiều chương trình – nhiều bộ sách!      Nếu đúng là việc gọi tên “Trận đánh lớn” của ông Bộ trưởng Phạm Vũ Luận không nhằm nói cốt để lấy lòng dư luận xã hội, thì lần này chính là sự nghiệp giáo dục bước vào một cuộc tái cơ cấu!     Cuộc tái cơ cấu này đụng chạm tới tất cả các  mặt của sự nghiệp giáo dục, nhưng nhân lõi của vấn đề vẫn chỉ tập trung  vào phương thức nhà trường muôn thuở chỉ xoay quanh ba chuyện (1) Học  gì? (2) Học như thế nào? và (3) Đánh giá như thế nào? Đó chính là vấn đề  chương trình và sách.   Tái cơ cấu Giáo dục     Trước khi giáo dục bước vào cuộc tái cơ cấu, cũng cần nhắc lại chuyện Chương trình năm 2000 hiện hành (CT-2000), và việc nhắc lại đây quyết không thể coi là thừa.   Theo kinh nghiệm vụ sách CT-2000, dự kiến năm 2000 đem dùng như cái tên đã nói lên đủ, nhưng mãi đến 2004 mới cuốn chiếu xong và chính thức dùng. Vừa công bố xong, trong mấy năm liền, các nhà quản lý và các tác giả cãi nhau hơn là mổ bò xem công cuộc đó là cải cách hay chỉ là cuộc thay sách hay là cuộc thay cả sách và thay cả chương trình nhưng không phải là cải cách.   Thế rồi vụt cái đến năm 2008 thì báo Tuổi trẻ lần đầu tiên đã phát biểu bằng một từ ngắn gọn quá tải. Rồi các quan chức giáo dục bắt đầu dùng từ giảm tải, có lúc còn dùng từ giảm tải sâu. Các tác giả mới đầu huy động tư duy cụ thể để nhờ người cân cặp sách của học sinh, và ngây thơ công bố chiếc cặp nặng vì các em mang theo nhiều thứ không phải là sách giáo khoa. Kịp đến khi được dư luận xã hội nhắc nhở rát quá, bà con liền được nghe lời thanh minh về nguyên nhân của quá tải là “tính hàn lâm”!    Có gì bảo đảm sách cải cách cuốn chiếu bắt đầu từ năm 2015 hoặc 2017 gì đó sẽ không rơi vào vết xe cũ của CT-2000?   Có điều tình hình đã thay đổi, ít nhất cũng bảo đảm cho cuộc cải cách giáo dục không còn ở thế một mình một khoảnh vừa đá bóng vừa thanh minh rằng huấn luyện viên thì không cần giỏi đưa bóng vào lưới. Vào những ngày xưa không xa ấy, bộ CT-2000 còn được chống lưng bởi Luật Giáo dục, với “pháp lệnh” Một chương trình – Một bộ sách. Nay cái lệnh đó đã bị cuộc sống làm cho hết thiêng, và bây giờ ở đâu cũng nói rào rào đòi Một chương trình – Nhiều bộ sách… trong khi riêng người viết bài này và nhóm Cánh Buồm thì từ vài năm nay đã thực sự tạo ra tiền lệ cho vấn đề Nhiều chương trình – Nhiều bộ sách, coi đây là chuyện cốt lõi của Tái cơ cấu giáo dục.  “Cuốn chiếu”  Xã hội vẫn đang hy vọng, thì vào ngày 8 tháng 3 năm 2014, bỗng hoang mang vì một gáo nước lạnh. Tại cuộc “đại hội thảo” nghe các thông báo của Bộ GD&ĐT, nếu căn cứ theo tường thuật của các báo, thì toàn dân được hứa đến năm 2020 mới “cuốn chiếu” xong để có đủ chương trình và sách mới – dĩ nhiên là cho bậc giáo dục phổ thông, vì bậc sau và trên phổ thông thì muôn đời chỉ xoay quanh một chữ: tự chủ. Có điều là, cũng theo các báo, thì giáo sư Văn Như Cương tính toán và cho biết muốn xong chuyện “cuốn chiếu”, phải chờ đến 2024 …1    Điều rất đáng chú ý là câu trả lời của ông Thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Vinh Hiển mà báo chí viết: “Đáp lại đề xuất rút ngắn thời gian viết sách của ông Cương, ông Hiển cho hay: “Thay đổi SGK theo kiểu “cuốn chiếu” từng cấp học hay cùng một lúc chỉ trong một năm mà thay sách cho cả 12 lớp, cá nhân tôi chưa hình dung ra được phương án này”.   Ông Hiển là người rất thực thà. Ông đã nói to lên một điều ông không biết, hoặc ông biết đấy mà không thể nói ra, hoặc giả ông cho rằng có nói ra thì cũng chẳng giải quyết được. Cái điều cả nước đang ấp úng đó chính là cái tử huyệt này: Bộ GD&ĐT không tìm ra được một tác giả hoặc một nhóm tác giả đủ tầm tư tưởng và nghiệp vụ đề ra cách soạn sách giáo khoa đổi mới thật nhanh – trong vòng 2-3 năm là cùng. Các vị mới chỉ có thói quen và năng lực “cuốn chiếu”!  Điều kiện của việc làm và cách làm ngay tức thời này (mà “cá nhân tôi – lời ông Hiển – chưa hình dung ra được) đòi hỏi một tầm tư duy hệ thống để tổ chức việc làm của cả hệ thống, chứ không đòi hỏi tầm giỏi hoặc rất giỏi về một mảnh của hệ thống.   Nếu có người chỉ huy với tư duy hệ thống thì có thể chỉ đạo cùng một lúc soạn sách cho tất cả các lớp, kể cả nội dung “gối đầu” cho những lớp chuyển đột ngột từ chương trình và sách cũ sang chương trình và sách mới.   Có một tư duy hệ thống là tốt nhưng hoàn toàn chưa đủ – trong cuộc đời thiếu gì người có “tư tưởng” – nhưng năng lực thể hiện tư tưởng lại là chuyện khác. Năng lực này thể hiện rất cụ thể trong việc cấu tạo chương trình và biên soạn sách giáo khoa – chưa kể đến một “siêu năng lực” khác là cái DUYÊN của kẻ cầm bút kiêm nhà giáo.  Yêu cầu này trước hết dính dáng đến quan niệm HỌC và về các MÔN HỌC.  Học và Môn học   Xưa nay, suốt lịch sử phát triển công việc Giáo dục không chỉ tiêng ở Việt Nam, việc học của con trẻ luôn luôn diễn ra “dưới ánh sáng” của công việc thu gom kiến thức.   Cứ nhìn vào bộ sách Ngữ Văn bậc tiểu học của CT-2000 là đủ thấy “sứ mệnh” thu gom đó cùng với phương pháp thu gom ù lì gần trăm năm vẫn không chịu thay đổi ra sao. Loại sách “Vần quốc ngữ”, “Học vần”, “Ngữ văn” (hoặc thay tên mới, “Tiếng Việt”) có chung một cách biên soạn có từ đầu thế kỷ trước theo kiểu “Phổ thông độc bản”, “Quốc văn giáo khoa thư” và sách dạy tiếng Pháp mấy năm cuối bậc tiểu học có tên là “Le livre unique de français” với cấu trúc hệt như sách Chương trình năm 2000 đang dùng: học theo chủ điểm, dùng một “bài khóa” để “tập đọc”, sau đó trích ra giải nghĩa vài ba từ, luyện chính tả, luyện câu, và vào thời hiện đại thì có thêm vài ba mẹo bài tập “hấp dẫn” khác nhau.   Các giáo viên đứng lớp thực thi sách này thường kêu là bị “tra tấn” – dĩ nhiên đang nói về sách CT-2000 đương thời. Tuy vậy, những giáo viên có kinh nghiệm nhất và rất yêu nghề vẫn tự ý chữa lại các sách đó khi dùng ở lớp mình dạy.  Có điều là, ít có người trong rất đông các giáo viên giỏi đó đã chịu rút ra bài học sư phạm tổng quát nhất: muốn có học sinh giỏi thì phải tạo ra ở chúng những người LÀM ra trí tuệ của chính mình. Nguyên lý làm mà học – làm thì học ấy chính là khẩu hiệu learning by doing phổ cập hiện thời.  Ta sẽ nói cho dễ nhớ và dễ hiểu: trẻ em là nhà sản xuất chứ không phải là những người tiêu thụ. Sứ mệnh nhà giáo – từ đó, sứ mệnh công cuộc tái cơ cấu nền giáo dục – không là “bán cháo phổi”, hoặc nhẹ nhàng hơn và dùng các slide của công cụ powerpoint để rao bán hấp dẫn hơn những mặt hàng giả định là trẻ em rất cần. Sứ mệnh nhà giáo dục hiện đại là tổ chức cho trẻ em tự tạo ra những sản phẩm tinh thần trụ đỡ bền vững cho những năng lực người ở trong từng em.  Mỗi môn học có nhiệm vụ như một lộ trình tổ chức việc sản xuất những sản phẩm tinh thần đó. Theo định nghĩa, và người Tây họ định nghĩa ngay ở cái tên, chữ discipline vừa có nghĩa là kỷ luật lại vừa có nghĩa là môn học hiểu theo nghĩa là kỷ luật, là bắt buộc phải học, là không học thì không sống được ở cõi đời…   Vậy có những “kỷ luật” gì bắt phải theo nếu muốn sống được trên đời này? Theo tinh thần chúng ta đang bàn, những “kỷ luật” ấy sẽ không được rao bán cho học sinh như những món hàng tiêu dùng, mà phải coi đó là những con đường bắt buộc phải tổ chức cho trẻ em đi để sản xuất ra những sản phẩm tinh thần trong sự sống không ở thì tương lai mà ngay ở đây và ngay bây giờ của chính mình.    Vậy là, chúng ta nên nghĩ đến những MÔN HỌC theo cách tư duy khác. Môn học và cách tổ chức việc học phải là kỷ luật bắt buộc để học sinh với năng lực gốc là NĂNG LỰC TỰ HỌC – TỰ GIÁO DỤC, sẽ có:  Năng lực tư duy lô gich (qua môn Toán học, Tin học);  Năng lực tư duy ngôn ngữ (qua môn tiếng Việt và tiếng nước ngoài –  với những thao tác ngôn ngữ học có cả phần lô gich và cả phần võ đoán của ngôn ngữ);  Năng lực tư duy nghệ thuật (qua môn Văn– với cái lõi cảm xúc và những thao tác tạo ra cái Đẹp nghệ thuật trong Âm nhạc, Múa, Tạo hình, Văn xuôi, Thơ trữ tình, Kịch);  Năng lực tư duy đồng thuận (để từng cá nhân đều có ý thức và năng lực sống với cộng đồng lớn nhỏ, trường lớp, gia đình, làng xóm, và xa hơn là Tổ quốc và nhân loại);   Năng lực sống thân thiện với môi trường.   Vậy là, quanh đi quẩn lại, ở bậc tiểu học chẳng hạn, cũng chỉ cần đến NĂM môn học mang tính chất “kỷ luật” thôi. Không nhiều về số lượng, nhưng chất lượng do quan điểm tái cơ cấu đó tạo ra sẽ hoàn toàn khác với phẩm tính “hàn lâm” trong chương trình học hiện thời.   Tạm kết luận  Trận đánh lớn Giáo dục cần mở màn bằng nhiều trận đánh trong cái đầu những nhà tổ chức. Trận đánh lớn không lệ thuộc vào cách “cuốn chiếu” hoặc cách “làm nhanh” …  nếu cả hai cách đều sai.   Trận đánh lớn, hoặc cuộc tái cơ cấu nền giáo dục Việt Nam cần tập trung vào thay đổi cách tạo năng lực người cho học sinh, bắt đầu với việc đưa ra một CÁCH LÀM KHÁC với cách làm theo thói quen và kinh nghiệm cũ.   Trong khi chờ đợi xuất hiện một nhạc trưởng nên chăng cái lò ấp nhạc trưởng tiềm tàng ở đâu đó hãy cắn răng chấp nhận những thay đổi mang tính thi đua ái quốc của những nhóm tác giả công dân trong xã hội dân sự.   Từng nhóm sẽ trình ra cho xã hội những bộ chương trình mang quan điểm giáo dục của mình cùng những bộ sách giáo khoa mang giải pháp nghiệp vụ sư phạm tổ chức trẻ em tự làm ra – sản xuất ra năng lực người của chính các em.  Cả nước có thể làm công việc tái cơ cấu này mà không tiêu tốn nhiều tiền bạc. Hãy mở ngay một diễn đàn trên mạng Internet để các nhóm tác giả công bố quan điểm giáo dục, chương trình giáo dục, cùng bộ sách giáo khoa của họ.   Trên diễn đàn mạng này, sẽ có những nhà thẩm định đủ kiểu, chứ không chỉ có những thành viên xuất thân từ cái cũ, không làm ra nổi một mảnh của cái mới, nhưng lại được quyền đứng ra thẩm định cái mới.  Xã hội sẽ có dịp mổ xẻ vì sao một chương trình học nào đó luôn luôn tạo ra nhiều học sinh cuối cấp vào đại học nhưng lại chỉ tạo ra Zero phần trăm người có thiên hướng yêu quý các môn khoa học xã hội và nhân văn.    —-  1   VNN – Nhà nghèo mà thay đổi SGK liên tục sẽ lãng phí http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/164686/nuoc- ngheo-ma-thay-doi-sgk-lien-tuc-se-lang-phi.html   NLĐ online – Nên rút ngắn thời hạn viết sách giáo khoa  http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/nen-rut-ngan-thoi-gian-viet-sach-giao-khoa-20140308230146594.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tài nguyên giáo dục mở: Một phần của chuyển đổi số trong giáo dục      LTS: Tại phiên họp thứ ba của Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Tiểu ban Giáo dục Thường xuyên và Học tập suốt đời “Phát triển giáo dục thường xuyên theo hướng tiếp cận với Cách mạng công nghiệp 4.0” ngày 16/10/2020, chuyên gia Lê Trung Nghĩa (Ban Tư vấn Phát triển Giáo dục Mở, Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam) đề xuất việc ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở để phát triển giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời theo hướng tiếp cận với CMCN4 và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững 4 về giáo dục của Liên Hiệp Quốc tới năm 2030.  Tia Sáng giới thiệu với bạn đọc một phần tham luận của chuyên gia Lê Trung Nghĩa.      Cần phát triển giáo dục theo hướng tiếp cận với CMCN4. Nguồn: vov  Trong công cuộc chuyển đổi số lớn hơn của xã hội, tài nguyên giáo dục mở sẽ là một phần không thể thiếu của nó. Nếu không nghĩ đến tài nguyên giáo dục mở, chúng ta khó có thể chuẩn bị tốt cho CMCN4 và khó có thể đào tạo nguồn nhân lực tương lai đáp ứng các yêu cầu của CMCN4.   Cách mạng công nghiệp 4 (CMCN4) sẽ tạo ra một nền công nghiệp mới, nơi máy móc trở thành một thực thể độc lập có khả năng thu thập, phân tích dữ liệu và đưa ra những tư vấn dựa trên dữ liệu. Các công nghệ tham gia vào quá trình sản xuất hàng loạt hầu hết đều nằm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), và dữ liệu chính là nguyên liệu thô quan trọng không thể thiếu cho các công nghệ đó với dữ liệu mở của ngành giáo dục là một phần trong đó. Cũng cần nhấn mạnh là từ góc độ của cấp phép mở, dữ liệu mở (của ngành giáo dục) là một tập con của tài nguyên giáo dục mở.  Qua đó có thể thấy, một nền công nghiệp mới sẽ đòi hỏi tập hợp mới các kỹ năng. Trong bối cảnh đó, giáo dục và đào tạo sẽ có hình hài mới đủ khả năng cung cấp cho một nền công nghiệp mới một nguồn lao động với đầy đủ các kỹ năng cần thiết. Khi việc sản xuất hàng loạt chủ yếu dựa vào các công nghệ trong lĩnh vực CNTT-TT, dễ thấy lao động có kỹ năng CNTT-TT là quan trọng và không thể thiếu, dù chúng không là duy nhất.  Trong tài liệu “Khung năng lực CNTT-TT cho các giảng viên” phiên bản 3 (ICT CFT V3) vào năm 2018, UNESCO nêu năng lực tài nguyên giáo dục mở được tích hợp ở cả ba mức độ sử dụng sư phạm CNTT-TT và ở 4 trong số 18 kỹ năng CNTT-TT của khung đó. Tới nay, khoảng 20 quốc gia, tổ chức/cơ sở giáo dục trên thế giới đã và đang phát triển khung năng lực này. Điều quan trọng là tất cả các tài nguyên được sử dụng để xây dựng các khung năng lực của các quốc gia và/hoặc cơ sở giáo dục đó đều được cấp phép mở đều là các tài nguyên giáo dục mở, cho phép bất kỳ ai cũng có thể tự do không mất tiền để tùy biến thích nghi/sửa đổi chúng cho phù hợp với ngữ cảnh của bất kỳ quốc gia và/hoặc cơ sở nào khác muốn phát triển khung năng lực tương tự cho mình. Nếu chính phủ hay bất kỳ tổ chức/cơ sở giáo dục nào của Việt Nam muốn xây dựng cho mình khung năng lực CNTT-TT đều không phải làm từ đầu, từ không có gì cả, mà vẫn có thể xây dựng trên cơ sở ‘đứng trên vai những người khổng lồ’.    Từ góc độ của cấp phép mở, dữ liệu mở là tập con của tài nguyên giáo dục mở.  Với ICT CFT V3, tài nguyên giáo dục mở có khả năng giúp cho các giảng viên trước hết có thể có được tri thức dễ dàng nhất mà không phải đối mặt với các rào cản cả về tài chính, pháp lý và kỹ thuật, để rồi từ đó đào sâu tri thức và sau đó sáng tạo tri thức. Bằng cách này các giảng viên còn có khả năng để trở thành các nhà đổi mới sáng tạo, điều quan trọng bậc nhất để tiếp cận CMCN4.  Vài gợi ý cho giáo dục Việt Nam   Việc đào tạo nhân lực đáp ứng đầy đủ yêu cầu của CMCN4 sẽ là một quá trình dài, do đó theo tôi, để đạt được hiệu quả như mong muốn thì chúng ta nên tính đến những phần công việc có thể thực hiện trong ngắn hạn và dài dạn, trên cơ sở tính tới tính khả thi về thời gian để xây dựng và triển khai các gợi ý đó.   Về ngắn hạn, có các công việc có thể thực hiện được sớm:  1. Đưa môn học “Cơ bản về tài nguyên giáo dục mở” với nội dung cấp phép mở như là một môn học bắt buộc và có tín chỉ. Tài nguyên giáo dục mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới. Mặt khác, sự xuất hiện ngày một nhiều các trang đa ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt như Merlot, CK-12 hoặc PHET cho phép các học sinh, sinh viên Việt Nam bây giờ có thể ngồi ở Việt Nam, học các khóa học và/hoặc tài nguyên giáo dục mở của nước ngoài bằng tiếng Việt. Điều này vừa là cơ hội vừa là thách thức cho giáo dục Việt Nam.  Bên cạnh hàng loạt các lợi ích mà tài nguyên giáo dục mở có thể đem lại cả cho các giảng viên, sinh viên và cơ sở giáo dục, Việt Nam có thể gặp những thách thức không nhỏ, khi các vấn đề của MỞ hầu như chưa/không hiện diện trong hầu hết các cơ sở giáo dục ở mọi cấp học, bao gồm cả vấn đề cơ bản nhất và nằm trong bản thân định nghĩa tài nguyên giáo dục mở là cấp phép mở cho các tài nguyên để chúng có khả năng mở cho bất kỳ ai cũng có thể tự do không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy biến thích nghi và phân phối lại chúng; trong khi, theo Luật Sở hữu trí tuệ, bất kỳ tài nguyên hay tác phẩm mới nào được sáng tạo ra cũng đều được luật đó bảo hộ, bất kể tác giả có đăng ký nó hay không.  Ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở là con đường hướng tới phát triển giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời theo hướng tiếp cận với CMCN4, cụ thể phù hợp với: xu thế phát triển tài nguyên giáo dục mở và Giáo dục Mở của thế giới; sự phát triển các công nghệ cốt lõi của CMCN4 như AI, IoT hoặc Dữ liệu Lớn cũng như các công nghệ được vạch ra trong Khung năng lực CNTT-TT cho các giảng viên phiên bản 3 của UNESCO…  Nói cách khác, tài nguyên không được cấp phép mở sẽ không là tài nguyên giáo dục mở, vì vậy, cấp phép mở cần phải là nội dung không thể thiếu trong bất kỳ cơ sở giáo dục ở bất kỳ cấp học nào, đặc biệt là trong hệ thống các cơ sở giáo dục sư phạm và giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời.  2. Xây dựng chương trình ‘Lồng tiếng Việt cho các video tiếng nước ngoài’ là các tài nguyên giáo dục mở được cấp phép mở, sẵn có trên Internet. Một thị trường rộng lớn với khoảng 90% dân số Việt Nam từ độ tuổi 15 tuổi trở lên tới hết đời là những người không học đại học và họ cần có một nghề để sống và làm việc. Chương trình này sẽ giúp cho nhiều người có khả năng có được một nghề nào đó một cách nhanh chóng nhất có thể, tiết kiệm nhất có thể, và ở phạm vi rộng nhất có thể. Nếu được xây dựng, nó nên làm theo thứ tự ưu tiên từ các ngành nghề có nhu cầu cao nhất trong xã hội trở xuống.  3. Triển khai các khóa huấn luyện huấn luyện viên về khai thác tài nguyên giáo dục mở cho hệ thống các cơ sở giáo dục sư phạm và giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời cấp trung ương và tỉnh thành. Hiện nay, Ban Tư vấn Phát triển Giáo dục Mở (OEDAB) của Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã và đang cung cấp các khóa thực hành khai thác tai nguyên giáo dục mở nhằm giải quyết bài toán này theo phương thức huấn luyện huấn luyện viên, cả trực tuyến và phi trực tuyến, cả lý thuyết và thực hành bằng việc sử dụng bộ các công cụ CNTT-TT là các phần mềm tự do nguồn mở, được cấp phép mở, đảm bảo không có các rào cản về tài chính, pháp lý và kỹ thuật mà không mất chi phí mua giấy phép sử dụng bộ các phần mềm đó bằng, không vi phạm bản quyền. OEDAB sẵn sàng triển khai và/hoặc hợp tác với các cơ quan, đơn vị có liên quan để triển khai các khóa huấn luyện như vậy cho hệ thống các trường sư phạm, cũng như trong toàn bộ mạng lưới cơ sở giáo dục từ xa và học tập suốt đời cấp trung ương và tỉnh – thành. Hiện tại, các khóa thực hành này có nội dung ở 2 mức: cơ bản và nâng cao- mức này tập trung vào giải pháp sử dụng phần mềm nguồn mở hướng tới việc lồng tiếng Việt cho các video tiếng Anh.    Mô hình đào tạo qua một phòng học ảo tới vài phòng học vật lý đã triển khai trong thực tế.   4. Tận dụng mô hình đào tạo trực tuyến để triển khai nhanh hơn các khóa huấn luyện thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở. Việc triển khai các khóa huấn luyện về thực hành khai thác tài nguyên giáo dục mở thời gian qua ở các trường đại học và cao đẳng khắp cả nước cho thấy không phải cơ sở giáo dục nào cũng có được các phòng máy, hệ thống âm thanh và kết nối Internet đáp ứng được nhu cầu của khóa huấn luyện. Trong khi đó, cũng có các cơ sở có đủ các điều kiện để cùng một lúc triển khai khóa huấn luyện trên trực tuyến, thường qua một phòng học ảo với một phần mềm hội nghị trực tuyến qua video tới 2 – 3 phòng học vật lý ở các địa điểm khác nhau, như đã được triển khai trong thực tế thời gian qua.  Điều này gợi ý về khả năng triển khai nhanh hơn và rộng hơn các khóa huấn luyện khai thác tài nguyên giáo dục mở nếu có sự chuẩn bị thích hợp. Bên cạnh đó cũng có lựa chọn triển khai phổ cập các khóa huấn luyện đó thông qua việc ghi lại toàn bộ khóa huấn luyện thành video và/hoặc video phát trực tiếp (live streaming video).  Các công việc có thể chuẩn bị để triển khai trong dài hạn  1. Phát triển chính sách hỗ trợ cho tài nguyên giáo dục mở. Do đây chỉ là một tập con của tài nguyên truy cập mở nên để việc triển khai các hoạt động về tai nguyên giáo dục mở được thuận lợi, không có hoặc ít có xung đột về lợi ích giữa các bên, chúng ta nên phát triển chính sách truy cập mở trước hoặc đồng thời với chính sách tài nguyên giáo dục mở. Điểm khởi đầu tốt có thể là chính sách truy cập mở tới các xuất bản phẩm và dữ liệu là kết quả nghiên cứu của các giảng viên và/hoặc cấp phép mở cho các tài liệu nội sinh trong các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng được chọn làm thí điểm để mở rộng sau đó.  2. Cân nhắc lại quy định về kiểm định giáo dục đối với các tư liệu trong thư viện. Khi triển khai các khóa huấn luyện ở các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng thời gian vừa qua, chúng tôi đã nhận được một vài phản hồi của các cán bộ, giảng viên và nhân viên thư viện xung quanh các quy định về kiểm định giáo dục hiện hành không/chưa công nhận các tư liệu giáo dục trong các thư viện, dù chúng là các tài nguyên giáo dục mở chất lượng, nằm trong các kho nổi tiếng với hàng ngàn trường đại học và cao đẳng khắp trên thế giới sử dụng chúng.   Điều này có lẽ là chưa phù hợp với công văn số 2516/BGDĐT – GDĐH ngày 18/06/2018 của Bộ GD&ĐT về phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao và các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, trong đó mục 7 nêu: Tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin, tài liệu học tập dùng chung cũng như sử dụng các nguồn tài nguyên mở (OER – Open Education Resources; OCW – Open Course Ware) của các trường đại học uy tín trên thế giới nhằm giúp sinh viên, giảng viên được tiếp cận, cập nhật thông tin, tri thức toàn cầu.  3. Triển khai thí điểm việc đánh dấu khóa học mở và chấp nhận được. Từ năm 2015, việc này đã được tiến hành tại nhiều trường đại học và cao đẳng, bao gồm các trường cao đẳng cộng đồng và kỹ thuật ở Mỹ và Canada. Bên cạnh việc tiết kiệm chi phí mua sách giáo khoa và các vật tư được yêu cầu cho các khóa học của các sinh viên, công việc này bản thân nó được coi như là giai đoạn đầu của việc đánh dấu khóa học mở và tài nguyên giáo dục mở, bởi cụm từ “chấp nhận được” ở đây thường đi với các chi phí thấp và/hoặc không mất chi phí đối với các tư liệu khóa học, bao gồm cả các tư liệu sở hữu độc quyền (không mở). Sinh viên thường sẽ mất khả năng truy cập sau khi tốt nghiệp, dù họ có thể rất cần truy cập tới chúng kể cả sau khi tốt nghiệp và đi làm. Trong khi với tài nguyên giáo dục mở là các tài nguyên hoặc nằm trong phạm vi công cộng, hoặc được cấp phép mở tuân thủ các quyền sở hữu trí tuệ của người nắm giữ bản quyền, sẽ trao quyền hợp pháp cho các sinh viên để lưu giữ các bản sao tư liệu khóa học vĩnh viễn.  4. Hướng tới phát triển chính sách hỗ trợ cho Khoa học Mở và các thành phần. Khuyến cáo Giáo dục Mở dự kiến sẽ được phê chuẩn vào tháng 11/2021 nhân Hội nghị toàn thể lần thứ 41 của UNESCO. Ý tưởng đằng sau Khoa học Mở là để cho phép thông tin, dữ liệu và các kết quả đầu ra của khoa học truy cập được rộng rãi hơn (Truy cập Mở) và khai thác được tin cậy hơn (Dữ liệu Mở) với sự tham gia tích cực của tất cả các bên tham gia đóng góp (Mở cho Xã hội – Open to Society). Rõ ràng, tài nguyên giáo dục mở và nhiều khái niệm MỞ khác, đều nằm dưới cái ô Khoa học Mở, vì vậy Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO sắp tới sẽ có liên quan tới Khuyến cáo tài nguyên giáo dục mở. Điều này càng khẳng định tính cấp bách cho giáo dục Việt Nam dịch chuyển sang Giáo dục Mở với nền tảng cơ bản tài nguyên giáo dục mở để tiếp cận nhanh tới Khoa học Mở.  Tại châu Âu từ vài năm trở lại đây đã có các cơ sở đào tạo chuyên cung cấp các khóa đào tạo các kỹ năng cho Khoa học Mở, bao gồm các kỹ năng của nhiều thành phần của Khoa học Mở như tài nguyên giáo dục mở, truy cập mở, dữ liệu mở hay cấp phép mở v.v. cho nhiều đối tượng là các bên tham gia đóng góp cho tài nguyên giáo dục mở. Bên cạnh đó, họ cũng đưa ra ma trận đánh giá sự nghiệp của các nhà nghiên cứu theo Khoa học Mở – OSCAM (Open Science Career Assessment Matrix) với 23 tiêu chí chia thành 6 nhóm khác nhau, tất cả đều liên quan tới các kỹ năng MỞ của các thành phần của Khoa học Mở, điều có lẽ chưa từng có trong bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở Việt Nam. Đây là thách thức lớn cho đội ngũ các giảng viên, đặc biệt là giảng viên đại học bởi trước hết họ đều là các nhà nghiên cứu khoa học.  Định hướng Giáo dục Mở trong Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hay Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 khẳng định hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam là hệ thống giáo dục mở và “Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”, công văn số 4301/BGDĐT-GDTX ngày 20/09/2019 của Bộ GD&ĐT về việc xây dựng và phát triển tài nguyên giáo dục mở.  Quyết định 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 03/06/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”[39], trong đó chuyển đổi số trong giáo dục là lĩnh vực đứng hàng thứ hai trong tám lĩnh vực ưu tiên, với nội dung cụ thể như: “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến.  Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa”, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/04/2020 của Chính phủ về “quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước”, trong đó có mục dành riêng và nhiều mục có nội dung liên quan tới dữ liệu mở của cơ quan nhà nước.  Kết luận  Chuyển đổi số sẽ tạo ra dữ liệu dạng số và dữ liệu mở chính là dữ liệu dạng số mở. Dữ liệu, bao gồm cả dữ liệu mở, là nguyên liệu cho các công nghệ đương thời như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet của Vạn vật (IoT) hay dữ liệu lớn (Big Data),v.v., đều là các công nghệ chủ đạo trong CMCN4. Ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở là phần công việc quan trọng của chuyển đổi số trong giáo dục, trong đó có chuyển đổi số trong giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời vì từ góc độ của cấp phép mở, với dữ liệu mở trong giáo dục là tập con của tài nguyên giáo dục mở. Mặt khác, tương tự như giải thích ở đoạn trên, dữ liệu mở trong giáo dục cũng còn là tập con của dữ liệu giáo dục – là kết quả của việc chuyển đổi số trong giáo dục.   Dù phát triển TNGDM phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, đường lối phát triển của chính phủ Việt Nam, bao gồm sự phát triển giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời theo hướng tiếp cận với CMCN4, nhưng rất nhiều công việc cần phải làm còn đang ở phía trước và chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn, thậm chí có rủi ro xung đột với các luật, quy định hiện hành ở mọi cấp có liên quan tới giáo dục cũng như có liên quan tới các bộ ngành khác trong Chính phủ cần phải được điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, đó là việc chúng ta cần làm bởi rủi ro lớn nhất sẽ là không làm gì cả! □    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Tại sao học sinh không thích tới trường      Theo chuyên gia tâm lý học nhận thức người Mỹ tên là Daniel T. Willingham, học sinh không thích đi học bởi giáo viên không có hiểu biết đầy đủ về các quy luật nhận thức, do đó không biết cách trình bày kiến thức theo cách thức kích thích bộ não của người học. Tuy nhiên cũng còn những cách lý giải khác.      Gần đây tôi đọc một cuốn sách viết bằng tiếng Anh, có tên “Why don’t students like school”, tạm dịch là “Tại sao học sinh không thích đến trường” của chuyên gia tâm lý học nhận thức người Mỹ tên là Daniel T. Willingham. Cuốn sách này nhận được khá nhiều bình luận, chủ yếu là khen ngợi của những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Chỉ cẩn vào Google, đánh tên cuốn sách và tên tác giả bạn sẽ thấy điều đó.  Bốn quy luật nhận thức  Theo Daniel, học sinh không thích đi học bởi giáo viên không có hiểu biết đầy đủ về các quy luật nhận thức, do đó không biết cách trình bày kiến thức theo cách thức kích thích bộ não của người học. Ví dụ, nội dung dạy học quá khó hoặc quá dễ hoặc không dựa trên kiến thức, hiểu biết trước đó của người học. Nhằm giúp giáo viên làm tốt công việc của mình hơn, Daniel đưa ra một số quy luật về nhận thức. Trong đó, bốn quy luật đáng chú ý là:  Quy luật 1. Con người thường tò mò, song về bản chất không có phương pháp tư duy tốt; nếu không có điều kiện nhận thức phù hợp, chúng ta sẽ lảng tránh hoạt động tư duy.  Quy luật 2. Xử lý những vấn đề có độ khó vừa phải mang lại cảm giác hưng phấn nhưng xử lý những vấn đề quá dễ hoặc quá khó mang đến sự khó chịu.  Quy luật 3. Trí nhớ không phải là sản phẩm của cái bạn muốn nhớ hay cái bạn cố gắng nhớ; nó là sản phẩm của cái bạn nghĩ đến.  Quy luật 4. Học đi học lại có thể ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến động lực học tập. Nếu học đi học lại quá nhiều lần, động lực sẽ sụt giảm, người học không còn cố gắng, và như vậy không có sự học đúng nghĩa nào xảy ra.  Theo tác giả, nếu giáo viên nhận thức được những quy luật trên, áp dụng các tri thức mới nhất của khoa học nhận thức về cách thức não người làm việc vào việc thiết kế bài giảng, tổ chức lớp học, học sinh của họ sẽ yêu trường lớp.  Cũng như hầu hết độc giả trao đổi ý kiến trên mạng, sau khi đọc xong, tôi đánh giá cao cuốn sách bởi nó đã phần nào trả lời được một câu hỏi hết sức cơ bản trong lĩnh vực giáo dục bằng những ví dụ cụ thể, những giải thích gần gũi mà độc giả ngoài ngành cũng có thể hiểu được.  Tuy nhiên, thói quen về tư duy thôi thúc tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu xem nội dung cuốn sách đã trả lời đầy đủ câu hỏi nó đặt ra ngay ở tiêu đề chưa; có quan điểm nào đáng xem xét thêm không? Thật may mắn, tôi tình cờ đọc được bài báo của Tiến sĩ Peter Gray, phản bác các luận điểm của Willingham trong cuốn sách nói trên, với thông điệp chính ngay ở phần tiêu đề là:  “Trẻ con không thích đi học bởi chúng yêu tự do.”  Theo Peter Gray, Daniel đã cố tình lảng tránh không nói ra một sự thực mà hầu hết mọi người có thể đã biết, đó là: Khi đến trường, học sinh không được tự do, và chính điều đó làm các em không thích đi học. Theo ông, trường học chẳng khác mấy so với nhà tù bởi học sinh phải mặc đồng phục, có nơi cả tuần, từ bỏ những hứng thú cá nhân để làm chính xác những điều giáo viên và nhà trường yêu cầu, bị phạt khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao… Như vậy, làm sao trẻ em thích trường được kể cả khi phương pháp giáo dục phù hợp với nhu cầu nhận thức, khả năng nhận thức của chúng. Từ những phân tích trên, Peter đề xuất cung cấp cho trẻ em công cụ để nhận thức và để các em sử dụng chúng một cách tự do.  Năm việc có thể làm ngay  Cá nhân tôi cho rằng, cả Daniel và Peter đều có những điểm đúng và những luận điểm họ đưa ra rất đáng tham khảo trong công cuộc cải cách giáo dục phổ thông nước nhà. Trên cơ sở những ý kiến của Daniel và Peter và kinh nghiệm, hiểu biết về giáo dục của mình, tôi xin đề xuất một số việc có thể làm ngay để cải thiện chất lượng dạy và học:  Thứ nhất, cần thực hiện một cách triệt để quy định về dạy thêm – học thêm do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đặc biệt là ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở. Bản thân tôi do trước đây từng làm quản lý giáo dục nên thường xuyên được nghe người thân, đồng nghiệp chia sẻ về sự học của con em họ. Có những em học sinh Tiểu học, ngoài 10 buổi học/tuần tại trường, phải học thêm từ 4 – 6 buổi tại nhà riêng của giáo viên các môn: Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Học nhiều như vậy, các em lấy đâu ra thời gian để tư duy, ôn tập và chắc gì các em đã nhớ được nhiều hơn so với học ít nhưng nội dung học tập là những thứ thiết thực, gắn với nhu cầu của các em. Quan trọng hơn như Daniel nhận định, học đi học lại như vậy, nhất là khi học thêm không xuất phát từ nhu cầu thực của người học, sẽ khiến trẻ em giảm động lực học tập; nhiều em không muốn đi học là tất yếu.  Thứ hai, về phương pháp tổ chức các hoạt động nhận thức, thay vì giao tất cả học sinh trong một lớp thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ giống hệt nhau khiến những em giỏi không tư duy cũng giải quyết được vấn đề, những em yếu cảm thấy quá sức, dễ bỏ cuộc, giáo viên cần tổ chức học sinh theo nhóm trên cơ sở phân loại năng lực. Để làm được điều này quy mô lớp học phải hợp lý; nếu lớp đông phải có giáo viên trợ giảng; đồng thời việc tổ chức dạy học theo nhóm cần bàn tròn, ghế ngồi riêng thay cho bàn ghế 4-5 chỗ ngồi, xếp hàng ngang hiện nay ở đa số trường phổ thông.  Thứ ba, để nhà trường thực sự thân thiện như mục tiêu giáo dục nước ta đang hướng tới, chúng ta cần làm cho học sinh cảm thấy thoải mái hơn khi ở trường, thấy nhà trường gần gũi với gia đình và xã hội hơn. Thí dụ, thay vì yêu cầu học sinh sử dụng đồng phục hoặc quần sẫm, áo trắng tất cả các ngày trong tuần như ở một số trường, chúng ta nên cho phép các em sử dụng những bộ quần áo màu sắc khác, phù hợp với thuần phong mỹ tục, theo sở thích cá nhân hay đơn giản hơn để các em được ngồi trả lời câu hỏi của thầy, của bạn thay vì đứng lên thưa gửi, làm mất đi sự tự tin và hồn nhiên.  Thứ tư, tạo điều kiện cho học sinh đóng vai trò “trung tâm” trong lớp học. Thay vì mệnh lệnh uy quyền, tạo khoảng cách lớn giữa người dạy và người học, chúng ta cần tạo cơ hội cho các em được bày tỏ chính kiến của mình, nhất là những vấn đề về chính trị, xã hội để các em phát triển các loại tư duy bậc cao, có giá trị cải tiến xã hội như tư duy phản biện, tư duy sáng tạo. Để làm được điều này đòi hỏi sự thay đổi nhận thức về vị trí, vai trò của người thầy. Như nhiều nước phương Tây quan niệm, ngày nay, giáo viên sắm vai người tổ chức các hoạt động nhận thức chứ không phải là người dạy, người cung cấp tri thức như trước đây. Làm như vậy, học sinh sẽ cảm thấy tự tin, thoải mái hơn, đặc biệt là khi tranh biện, nêu ý kiến cá nhân của mình.  Cuối cùng, liên quan đến nội dung dạy học, như nhiều nhà biên soạn chương trình dạy học phương Tây đề xuất, thay vì đưa quá nhiều những nội dung được coi là quan trọng, cần chú trọng đến những nội dung có tính chất kích thích tranh biện, phát triển tư duy bởi giá trị của tri thức có thể thay đổi hoặc bị người học quên lãng còn phương pháp tư duy sẽ là công cụ giúp họ học tập, lao động suốt đời. Làm cách này sẽ giúp tránh được căn bệnh kinh niên trong giáo dục – quá tải nội dung sách giáo khoa.  Mỗi nền giáo dục có những mục tiêu cụ thể khác nhau song chắc chắn rằng giáo dục sẽ không thể được coi là tiến bộ, nhân văn nếu học sinh không cảm thấy vui khi đến trường. Đây có lẽ sẽ là một trong những định hướng để chúng ta tiến hành cải cách giáo dục nước nhà.    Author                Nguyễn Dư        
__label__tiasang Tại sao phải học tiếng Việt?      Ngày Sư phạm Cánh Buồm số 4 sẽ tập trung  trao đổi về phương pháp học Tiếng Việt do nhóm Cánh Buồm khởi xướng:  không giảng giải, áp đặt mà hướng dẫn phương pháp để học sinh tự trau  dồi tiếng Việt.     Diễn giả chính của sự kiện này là Thạc sỹ Đinh Phương Thảo, người phụ trách môn Văn của Nhóm Cánh Buồm.   Nhà thơ Hoàng Hưng là khách mời đặc biệt của chương trình, mà để đón được ông tới dự, Ngày Cánh Buồm số 4 đã phải dời từ chiều thứ Bảy của tuần thứ hai theo thông lệ sang chiều thứ Bảy của tuần thứ ba.  Ngày Sư phạm Cánh Buồm hằng tháng sẽ kéo dài đến hết năm nay, nhằm tạo ra môi trường trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em.    Thông tin chi tiết  Thời gian: Từ 15:00 đến 17:00, thứ Bảy, ngày 19/10/2013    Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, số 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội      Đăng kí tham dự chương trình tại: http://goo.gl/kxP9lX      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao tôi sẽ không bao giờ khen con mình thông minh      Qua những nghiên cứu tỉ mẩn về cách nghĩ đối với việc học (learning mindsets) cũng như kinh nghiệm với con trai mình, tôi tin tưởng hơn bao giờ hết rằng thái độ về việc học quan trọng hơn bất cứ thứ gì ta dạy.    Đứa con trai năm tuổi của tôi mới biết đọc. Mỗi tối, hai bố con cùng nằm trên giường và tôi nghe con đọc một cuốn truyện ngắn. Dĩ nhiên là cu cậu sẽ gặp phải những từ khó: tối qua là từ “đầy biết ơn” (gratefully). Sau một phút chật vật, thằng bé đã đọc được từ đó. Rồi cháu bảo: “Bố à, bố có vui vì con đã đánh vật với từ ấy không? Con thấy não mình đang lớn lên đấy!” Tôi mỉm cười – con trai tôi đã diễn tả thành lời những biểu hiện của một “lối suy nghĩ phát triển”. Nhưng đây không phải là chuyện ngẫu nhiên. Gần đây, tôi đã áp dụng vào thực tế một nghiên cứu tôi đọc được trong vài năm trở lại: tôi quyết định không khen con khi cháu hoàn thành những việc mình vốn đã thạo, mà khen ngợi khi cháu kiên trì làm những việc khó. Tôi nhấn mạnh với cháu rằng, nhờ vật lộn mà não mình phát triển.   Các nhà nghiên cứu từ lâu đã biết rằng não bộ cũng giống như cơ bắp vậy; càng sử dụng, càng phát triển. Họ đã phát hiện ra rằng những kết nối thần kinh hình thành và được gia cố ở mức cao nhất khi ta mắc lỗi trong việc khó, chứ không phải khi lặp đi lặp lại thành công trong những việc dễ.  Điều này có nghĩa là trí tuệ của ta không cố định, và cách tốt nhất để phát triển trí tuệ là nắm lấy cơ hội làm những việc có thể khiến ta phải vật lộn và thất bại.  Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thấy điều này.Tiến sĩ Carol Dweck tại Đại học Stanford nghiên cứu cách suy nghĩ về học tập đến nay đã mấy chục năm. Bà thấy rằng đa số mọi người khư khư một trong hai cách nghĩ: cố định hoặc phát triển. Lối nghĩ cố định nhầm tưởng rằng trên đời, con người ta chỉ có thông minh hoặc không thông minh, và trí tuệ đã được định đoạt bởi gene. Những người có lối suy nghĩ phát triển sáng suốt nhận ra rằng năng lực và trí tuệ có thể phát triển nhờ nỗ lực, vật lộn và thất bại. Tiến sĩ Dweck nhận thấy những người với lối suy nghĩ cố định có xu hướng chỉ tập trung nỗ lực vào những việc mình có cơ hội thành công và lẩn tránh những việc có thể khiến mình phải vật lộn. Điều này giới hạn việc học hỏi của họ. Trái lại, những người có lối suy nghĩ phát triển thích ôm vào những thách thức và hiểu rằng sự ngoan cường cũng như nỗ lực có thể thay đổi kết quả học tập của mình.                                  Nếu cả xã hội bắt đầu biết thích vật lộn trong học hỏi, thì những tiềm năng cho nhân loại toàn cầu sẽ là vô tận!                   Tin vui là cách nghĩ có thể được dạy và uốn nắn. Điều rất thú vị là Tiến sĩ Dweck và các cộng sự đã phát triển những kỹ thuật mà họ gọi là “những can thiệp cho lối suy nghĩ phát triển”. Những kỹ thuật này đã cho thấy là thậm chí những thay đổi nho nhỏ trong giao tiếp hay những lời bình luận tưởng chừng như vô thưởng vô phạt cũng có thể mang đến những hệ quả lâu dài đối với cách nghĩ của con người. Ví dụ, khen ngợi tiến trình của một người (“Tôi rất thích cách em vật lộn với bài học”) thay vì khen một tính trạng vốn có hay một năng khiếu (“Em thông minh thật!”) là một cách gia cố lối suy nghĩ phát triển trong một người. Sự khen ngợi nỗ lực sẽ trân trọng và khuyến khích những cố gắng; còn sự khen ngợi năng khiếu sẽ củng cố quan niệm cho rằng người ta thành công hay không là bởi một đặc tính cố định. Chúng ta đã chứng kiến điều này ở Khan Academy: các học viên dành nhiều thời gian với chúng tôi hơn sau khi nhận được những tin nhắn khen ngợi nỗ lực dẻo dai và bền bỉ của họ cũng như nhấn mạnh rằng não bộ cũng giống như cơ bắp vậy.  Internet là một giấc mơ đối với người có lối suy nghĩ phát triển. Với Khan Academy, MOOCs và những mạng giáo dục khác, các bạn sở hữu cơ hội tiếp cận chưa từng có với nguồn học liệu vô tận giúp mình phát triển trí óc. Tuy nhiên, xã hội sẽ chẳng biết tận dụng điều này nếu lối suy nghĩ phát triển không thắng thế. Vậy, nếu chúng ta chủ động thay đổi hiện trạng này thì sao? Hình dung xem sẽ thế nào nếu chúng ta bắt đầu sử dụng bất cứ phương tiện nào mình có để kích thích lối suy nghĩ phát triển cho tất cả những người mình quan tâm? Điều này không chỉ bó hẹp trong Khan Academy hay môn đại số – nó được áp dụng vào cách bạn giao tiếp với con cái, cách quản lý nhân viên nơi làm việc, cách học một ngôn ngữ hay một nhạc cụ mới. Nếu cả xã hội bắt đầu biết thích vật lộn trong học hỏi, thì những tiềm năng cho nhân loại toàn cầu sẽ là vô tận!  Và đây là một bất ngờ dành cho các bạn. Đọc bài viết này, bạn đã bắt đầu trải nghiệm nửa thứ nhất của quá trình kích thích lối suy nghĩ phát triển. Nghiên cứu của Tiến sĩ Dweck cho thấy, đơn thuần việc được tiếp cận với bản thân nghiên cứu này đã có thể thay đổi lối suy nghĩ của một người. Nửa còn lại của quá trình can thiệp là trao đổi nghiên cứu này với những người khác. Chúng tôi đã làm một video tán dương những vật lộn trong học tập để giúp các bạn làm điều này. Rốt lại vì lẽ đó, nếu con trai tôi hay bất cứ ai, hỏi về chuyện học thì tôi chỉ mong họ biết một điều: miễn là bền bỉ, kiên trì vật lộn và vấp váp, cái gì rồi họ cũng có thể học được hết!                 Salman Khan, 37 tuổi, là một nhà giáo dục nổi tiếng người Mỹ gốc Bangladesh. Tốt nghiệp Đại học MIT ngành Toán học, Kỹ thuật và Khoa học Máy tính, sau đó nhận bằng MBA tại Harvard, anh nguyên là nhà phân tích tài chính – một công việc mơ ước của bao người. Tuy nhiên, vì đam mê giáo dục, anh đã từ bỏ tất cả để chuyên tâm xây dựng và điều hành Khan Academy, trang giáo dục trực tuyến đi lên từ những video đơn giản, do tự Khan làm, trên mạng Youtube. Khan Academy ngày nay là trang giáo dục phi lợi nhuận, hoạt động với sứ mệnh: mang các bài giảng thú vị, dễ hiểu, theo tiêu chuẩn thế giới đến cho người học. Khan làm công việc này với niềm tin là ai cũng được và nên học, và có thể học bất cứ cái gì. Những bài viết của anh rất truyền cảm, có khả năng thay đổi cách nghĩ thông thường của con người về dạy và học, từ đó gặt hái được nhiều thành công hơn trong cuộc              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tài trợ có điều kiện – giải pháp cho đầu vào cao học      Chỉ bằng cách tài trợ có điều kiện mới có thể thu hút đầu vào chất lượng cho đào tạo cao học.&#160;     Gắn kết đào tạo với nghiên cứu là câu chuyện đương nhiên ở các nước tiên tiến. Sau nhiều cuộc thảo luận trên những diễn đàn khác nhau, tầm quan trọng của vấn đề này ngày càng được thừa nhận ở Việt Nam. Đó là một bước tiến không nhỏ trong nhận thức của đội ngũ trí thức và dư luận của nước ta. Tuy nhiên làm thế nào để biến chủ trương này thành hiện thực thì lại là vấn đề hoàn toàn khác. Nó rất nan giải, đòi hỏi nhiều điều kiện và giải quyết nhiều vấn đề. Nếu nóng vội, duy ý chí sẽ dẫn đến ngộ nhận về nghiên cứu khoa học, mà biểu hiện thường thấy nhất là tầm thường hóa nghiên cứu, chẳng hạn đồng hóa nó với việc giải vài ba bài tập (có thể khó) hoặc lặp lại một vài thí nghiệm (có thể phức tạp). Và như vậy vô hình trung vẫn không tăng cường được sự nghiên cứu trong công tác đào tạo.  Có thể dễ dàng kể ra đây hàng loạt điều kiện. Đó là:   –    Có đội ngũ giảng viên đồng thời là những nhà nghiên cứu giỏi;  –    Có chương trình đào tạo tiên tiến;  –    Có nhiều sinh viên/học viên có khả năng;  –    Có đầy đủ tài liệu, thông tin, phòng thí nghiệm;  –    Có phương tiện làm việc hiện đại;  –    ….  Không thể đề cập tất cả các điều nêu trên trong một bài viết, bởi vậy ở đây tôi chỉ muốn đi sâu vào phân tích một yếu tố – đó là làm thế nào để nâng cao chất lượng đầu vào của đội ngũ sinh viên/học viên. Không kể một vài trường hợp ngoại lệ “lấy cần cù bù khả năng”, thì rõ ràng không thể có hy vọng đào tạo học viên cao học đầu vào thấp thành những nhà nghiên cứu được.  Cái khó của đầu vào  Để có căn cứ cụ thể minh chứng cho những suy nghĩ nêu trong bài này, tôi sẽ dựa vào quan sát đào tạo cao học ngành Toán. Rất đáng tiếc chất lượng đầu vào của học viên cao học Toán tại các trường đại học cũng như tại Viện Toán học rơi vào tình trạng không mấy phấn khởi. Gần 15 năm đào tạo cao học (từ 1996) với 17 khóa đã tuyển tại Viện Toán học đã nói rõ điều đó. Những khóa đầu mới tuyển, số học viên đăng kí nhiều, nhưng lại có tuổi trung bình khá cao. Yêu cầu chuẩn hóa bằng cấp đã bắt buộc nhiều người phải đào tạo tiếp, bất kể điều đó có thực sự cần thiết cho ngành nghề của mình hay không. Đây được coi là lý do lớn nhất của chuẩn đầu vào thấp khi đó – mặc dù tỷ lệ thi trượt khá lớn, thường là trên 50%.   Tuy nhiên, sau khoảng chừng chục khóa đào tạo thì số học viên cần chuẩn hóa bằng cấp hết dần. Hệ lụy là số học viên vào học tại Viện Toán cũng giảm đi rõ rệt, nhưng độ tuổi trung bình thì giảm đi đáng kể. Bây giờ phần lớn học viên cao học tại Viện Toán học là những sinh viên mới tốt nghiệp, hoặc tốt nghiệp 1-3 năm trở lại đây. Ấy thế mà chất lượng đầu vào vẫn không nâng lên được là bao.   Lý do tại sao? Chưa có một nghiên cứu kĩ càng cho vấn đề này, nhưng theo quan sát của tôi thì thấy nổi lên một hiện tượng: ngay sau khi tốt nghiệp đại học, thường chỉ những người không xin được việc làm mới đăng kí học cao học luôn. Hiện tượng này không phải là đơn lẻ ở Viện Toán học, mà có thể dễ quan sát thấy ở mọi nơi. Bởi vậy nhiều người nói đùa: “đại học là cấp 4” và “cao học là cấp 5”.   Nghĩ kĩ cũng có cái lí của nó. Rất ít trường hợp, sau khi được tuyển dụng, sinh viên được cử đi đào tạo tiếp luôn. Những sinh viên này thường là loại giỏi nhất. Như vậy, phần lớn sinh viên đăng kí học cao học tiếp không nằm trong tốp đầu của những người mới tốt nghiệp. Với chất lượng đào tạo đại học ở nước ta còn phải bàn nhiều như hiện nay, thì hiện tượng này tất yếu dẫn đến chất lượng đầu vào thấp.   Sự khác biệt  Ở các nước tiên tiến, tình hình hoàn toàn ngược lại. Sinh viên tốt nghiệp đại học ở tốp đầu tiếp tục học cao học và nghiên cứu sinh chiếm tỷ trọng rất cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chương trình đào tạo cao học nghiên cứu – tức là phần lớn những người thạc sĩ tốt nghiệp theo chương trình này sẽ đủ khả năng làm tiếp nghiên cứu sinh. Tại sao lại có nghịch lý này, trong khi học phí bên đó cao, thậm chí rất cao? Tìm hiểu kĩ cơ chế tài trợ học viên ở các nước tiên tiến sẽ giúp chúng ta phần nào giải thích được nghịch lý trên.   Học phí rất cao dĩ nhiên không thể trả được nếu không có học bổng hoặc không có thu nhập. Muốn có học bổng thì phải có các quỹ. Ở các nước, rất nhiều quỹ do các tổ chức, cá nhân sáng lập. Dĩ nhiên, chỉ những học viên xuất sắc mới được nhận học bổng. Mức học bổng của họ đủ lớn, không chỉ đủ chi trả hoàn toàn học phí, mà còn đủ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của học viên. Học viên có thể yên tâm theo đuổi ngành nghề mà mình yêu thích. Không kể các nước giàu và có truyền thống lâu đời trong việc trao học bổng như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật… mà các nước mới nổi cũng đang noi theo. Chương trình Brain Korea 21 (BK21) – tạm dịch là Trí tuệ Hàn Quốc Thế kỉ 21 – do Chính phủ Hàn Quốc lập ra từ năm 2000 đã dành một khoản kinh phí khổng lồ để trao học bổng hoặc tài trợ các nhà nghiên cứu trẻ (từ học viên cao học trở lên).   Ở nước ta, học bổng trao cho học viên cao học trong nước hầu như không có, ngoại trừ việc cử thẳng đi đào tạo ở nước ngoài (Đề án 322 và các đề án khác), hoặc những chương trình liên kết với nước ngoài như đề án “Đào tạo thạc sĩ Toán học trình độ quốc tế phối hợp với các trường đại học ngoài nước” tại Viện Toán học và ĐHSP Hà Nội, thực hiện từ năm học 2007-2008.  Còn muốn có thu nhập thì phải đi làm. Ở nước ta là vậy và ở các nước khác càng phải vậy. Chỉ có rất ít người độ tuổi hơn 23-24 vẫn còn được gia đình nuôi cho ăn học. Nhưng nếu đã dành hết thời gian cho đi làm, thì làm sao còn đủ thời gian và trí tuệ để học, nghiên cứu? Các nước tiên tiến đã tìm ra một giải pháp đơn giản: họ đặt ra những tài trợ mà người nhận vừa được học, lại vừa phải làm việc bán thời gian với tư cách là phụ giảng hoặc trợ lí thí nghiệm cho các nhóm nghiên cứu. Nói cách khác, đó là một hình thức làm việc tạm thời có điều kiện, vì vậy tôi dùng chữ tài trợ thay cho học bổng. Người được nhận tài trợ dĩ nhiên không phải đóng học phí đào tạo (vì đã trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy – nghiên cứu của trường), vừa có thêm thu nhập để đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống để theo học – nghiên cứu tiếp. Trong khi đó bản thân cách trao tài trợ này đã hàm chứa sự kết hợp nghiên cứu với giảng dạy: người nhận tài trợ phải dùng một phần chất xám của mình cho hoạt động nghiên cứu – giảng dạy, mà trường đại học lại có thêm nhân lực là những trợ lí nghiên cứu giảng dạy xuất sắc! Qua đó trường bớt được chi phí trực tiếp cho đào tạo, và do đó mới có nguồn kinh phí để tài trợ!   Phá vòng luẩn quẩn  Nhiều sinh viên Việt Nam ta hiện nay tự mày mò tìm hiểu, dự tuyển và được theo học – nghiên cứu ở nước ngoài dưới hình thức này! Trong một chuyến thăm Học viện cao cấp về Khoa học và Công nghệ của Hàn Quốc (KAIST) gần đây, khi được một giáo sư Hàn Quốc về Công nghệ sinh học mời ăn tối và chứng kiến nhóm ông ta đang có hơn 10 học viên cao học Việt Nam, tôi thấy ghen tỵ với ông và xót xa cho đồng nghiệp Việt Nam.  Cho dù mức học bổng hay tài trợ không cao, nhưng nếu cộng thêm với khoản học phí hiển nhiên không phải đóng, số tiền được trao không phải là ít. Vì vậy sự cạnh tranh để giành được những học bổng/tài trợ rất cao, và chỉ có những sinh viên xuất sắc nhất mới được trao. Nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các trường, viện hàng đầu tuyển chọn được sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở các trường thứ hạng thấp hơn, tức là mở rộng được nguồn tuyển mà không sợ bị mất nhân tài “còn ẩn náu”. Ngược lại, sinh viên tốt nghiệp ở các trường hàng đầu cho dù có lợi thế, nhưng vẫn phải tham gia cạnh tranh khốc liệt. Điều này cũng bắt buộc họ nỗ lực học tập – nghiên cứu trong suốt thời gian học đại học, chứ không thể yên trí mình là sinh viên trường hàng đầu.   Lẽ dĩ nhiên nguồn học viên cao học của họ không chỉ thuần túy từ các nguồn học bổng – tài trợ. Vẫn có nhiều học viên truyền thống, tức là đến học và đóng học phí! Thế nhưng rõ ràng học viên từ các nguồn học bổng – tài trợ là chỗ dựa chắc chắn để thực thi một chương trình đào tạo chất lượng cao, gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ.  Như vậy, ngoài việc cấp học bổng đi học nước ngoài hoặc một phần ở nước ngoài (như Chương trình 322), thì hình thức trao tài trợ nêu trên chưa tồn tại trên danh nghĩa ở Việt Nam. Nói một cách chính xác thì thực chất vẫn có một vài trường hợp. Đó chính là những học viên vừa được nhận vào làm việc đã được cơ quan cử đi học cao học ngay. Tuy nhiên hình thức này chỉ là một vài trường hợp đơn lẻ, không thường xuyên. Đó là chưa kể so với việc cấp tài trợ để vừa học – vừa làm như các nước tiên tiến, hình thức này có hai nhược điểm căn bản. Một là, học viên không cần thật sự cố gắng vì dù sao họ đã có việc làm. Hai là: qui trình tuyển cán bộ bị đảo ngược: đáng lẽ nên chờ đến khi học viên có trình độ thạc sĩ mới tuyển thì sẽ đánh giá được chính xác hơn khả năng ứng viên, nhưng họ đành phải tuyển trước – phải gặt lúa non – vì nếu chờ thì sẽ mất hết nguồn sinh viên khá, giỏi.  Như vậy đối với phần lớn sinh viên tốt nghiệp đại học, cho dù có nguyện vọng được đào tạo tiếp, việc ưu tiên xin đi làm vẫn là lẽ đương nhiên. Đã xin đi làm thì xin vào nơi có lương càng cao càng tốt. Mà muốn được lương cao ắt phải giỏi. Nơi đã trả lương cao, tất nhiên không dại gì cử họ đi đào tạo tiếp. Hệ quả tất yếu là hầu hết sinh viên ưu tú nhất không theo học cao học, ngoại trừ số xin được học bổng – tài trợ ở nước ngoài. Cái vòng luẩn quẩn này nếu không giải quyết được thì không thể tạo ra điều kiện quan trọng nhất để thực thi một chương trình đào tạo cao học kết hợp với nghiên cứu.    Qua những phân tích tuy còn mang tính chất sơ bộ nêu trên, có thể rút ra một kết luận là: Các cơ sở đào tạo phải tìm cách tạo ra một hình thức tài trợ như trên. Điều này phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan chủ quản. Nếu cứ chờ Nhà nước ban hành một chính sách chung, thì không biết bao giờ mới tạo ra một hệ thống tài trợ như vậy. Vì vậy phải có những cơ quan đi đầu, tạo ra thí điểm để dựa vào đó Nhà nước có kinh nghiệm thực tiễn mở rộng mô hình, đưa ra chính sách – tựa như vai trò của Vĩnh Phúc, Hải Phòng trong Khoán 10, Khoán 100 mở đường cho đổi mới chính sách sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung.   Hoàn toàn khả thi  Các viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo đại học hàng đầu có đội ngũ nghiên cứu mạnh về chất lượng và số lượng, có đầy đủ điều kiện để trở thành đơn vị tiên phong trong việc triển khai một biện pháp như vậy. Đó là: tạo ra nguồn kinh phí dành riêng để kí kết hợp đồng nghiên cứu hoặc trợ giảng thời hạn 2 năm. Người làm hợp đồng được nhận lương và các chế độ như cán bộ cơ hữu khác, nhưng phải là những người thi đỗ cao học của cơ sở đào tạo đó với mức điểm cao, và trong quá trình học cao học phải thực thi một số nhiệm vụ hỗ trợ nghiên cứu hoặc trợ giảng như tham gia làm thí nghiệm, chữa bài tập… Số lượng hợp đồng mỗi khóa phải đủ nhiều để làm nòng cốt cho lớp học (chọn lọc), chẳng hạn chiếm 30-40% số học viên của lớp. Ý tưởng này hoàn toàn khả thi vì những lý do sau đây:  –    Thứ nhất, học viên được nhận hợp đồng trên danh nghĩa đã là nhân viên của cơ quan, được hưởng mọi quyền lợi của người lao động, trong đó có chế độ đóng bảo hiểm và thâm niên công tác. Thế nhưng trên thực chất nhiệm vụ chính của họ là học cao học, không phải lo làm thêm (tất nhiên nếu chịu khó chi tiêu dè sẻn), ngoại trừ thực hiện những nhiệm vụ trợ lí nghiên cứu, hoặc trợ giảng mà cơ quan yêu cầu. Những công việc như vậy không làm mất thời gian của học viên. Ngược lại, đó là một cách định hướng sự học tập của họ vào đề tài nghiên cứu của một nhóm cụ thể. Với những lí do đó, chắc chắn sẽ có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi có mong muốn được tuyển chọn.  –    Thứ hai, mỗi khóa học, cơ sở có được một lực lượng học viên nòng cốt để thực thi một chương trình đào tạo chất lượng cao, gắn đào tạo với các vấn đề nghiên cứu và ứng dụng của cơ sở đó. Sau hai năm đào tạo, chắc chắn sẽ có một số học viên xuất sắc, có thể tuyển vào làm nghiên cứu sinh tiếp và/hoặc tuyển vào hợp đồng dài hạn (biên chế). Qua đó tạo tiền đề bổ sung đội ngũ cán bộ của cơ sở dào tạo ra họ. Số học viên sau khi tốt nghiệp đi làm ở cơ quan khác (do không có nguyện vọng hoặc không được tuyển ở lại) cũng đã có mối liên hệ sâu với các cán bộ của cơ sở đào tạo, và do đó sẽ là cầu nối quan trọng giữa các cơ quan khác nhau.  –    Thứ ba, nguồn cán bộ trẻ có năng lực nói trên rất cần cho các viện nghiên cứu hoặc các trường đại học.  –    Thứ tư, hình thức nhận hợp đồng có mục đích trên không mâu thuẫn với các qui định tuyển cán bộ, mà mức kinh phí đòi hỏi cũng không quá lớn. Do vậy biện pháp này có thể thực hiện được ngay.  –      Với bốn lí do vừa nêu và những phân tích ban đầu, tôi cho rằng đây là một biện pháp cần được xem xét nghiêm túc để triển khai càng sớm càng tốt. Có thể đó chưa phải là một giải pháp đột phá, nhưng chắc chắn có thể nâng cao đáng kể chất lượng đầu vào của đào tạo cao học. Cũng chẳng phải phát kiến gì to tát, mà chỉ là áp dụng một cách làm phổ biến của các nước tiên tiến vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tám biện pháp cải thiện đại học Mỹ      Giáo dục đại học Mỹ luôn được cả thế giới nhắc đến như một mô hình đại học lý tưởng, là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập. Nhưng cũng chính nền đại học này gần đây đang phải chịu nhiều búa rìu của dư luận về nhiều vấn đề như học phí quá cao và tăng liên tục, tỷ lệ tốt nghiệp có sự chênh lệch rất lớn giữa các nhóm xã hội khác nhau, và gần đây nhất là câu hỏi không mấy dễ chịu của dư luận, đó là: liệu sinh viên tốt nghiệp có thực sự học được điều gì có ích hay chăng? Nói cách khác, nền đại học Mỹ đang cần có những cải cách nếu không muốn bị mất vị trí hàng đầu mà nó đang có.  &#160;Nhưng cải cách giáo dục đại học Mỹ như thế nào đây? Trong bài viết đăng trên tờ Washington Post ngày 20/2/2011 có tựa đề là “Eight ways to get higher education into shape”, Daniel de Vise đã đưa ra tám biện pháp để giải quyết các vấn đề đang tồn tại trong giáo dục đại học của Mỹ hiện nay, đó là:      1. Đo lường việc học của sinh viên  Các trường đại học Mỹ vốn nổi tiếng về mức độ tự chủ cao; đồng thời sinh viên đại học cũng có rất nhiều quyền lựa chọn trong việc học của mình. Điều này rất tốt, nhưng không phải không có mặt trái của nó. Theo Daniel de Vise, cách đây chỉ khoảng một thập niên trở về trước, rất ít trường đại học và cao đẳng của Mỹ có được những phương pháp khách quan để đo lường việc học của sinh viên, và vì vậy hầu như không nắm được các sinh viên đã học tập được gì từ khi vào trường đến khi tốt nghiệp.   Mãi đến thời gian gần đây, trước những áp lực của cả Nhà nước lẫn công chúng thì giới đại học Mỹ mới nghiên cứu và đưa ra những bài trắc nghiệm đo lường thành quả của việc học của sinh viên đã tốt nghiệp (nói theo ngôn ngữ quản lý giáo dục của Việt Nam thì đây chính là “đánh giá chuẩn đầu ra”, tức đo năng lực đạt được của sinh viên sau khi học). Một nghiên cứu được thực hiện gần đây sử dụng bài trắc nghiệm CLA (Collegiate Learning Assessment, tạm dịch Bài trắc nghiệm học tập bậc đại học) nhằm đo lường năng lực tư duy của sinh viên tốt nghiệp đã đưa ra kết quả thực sự đáng báo động: Sinh viên tốt nghiệp đại học hầu như không có gì khác hơn so với sinh viên mới vào trường, hay nói cách khác, việc học tại trường hầu như không mang lại một chút giá trị gia tăng nào cho người học  Đây chính là lý do Daniel de Vise trong bài viết của mình đã đưa ra biện pháp cần phải đo lường việc học của sinh viên. Chỉ khi nào nhà trường đo đạc được chính xác kết quả của việc học tập của sinh viên sau từng môn học và có những hành động kịp thời để thúc đẩy việc học, thì lúc ấy việc học ở đại học mới đem lại cho người học những giá trị gia tăng cần có.  2. Ngưng cấp học bổng “tài năng”  Biện pháp này có vẻ rất vô lý, vì đây là một trong những điểm “hấp dẫn” của đại học Mỹ và là một chiêu tiếp thị quan trọng của tất cả các trường đại học Mỹ nhằm thu hút tài năng đến học ở trường mình. Nhưng theo lập luận của Daniel de Vise thì việc trợ cấp này thực ra chỉ giúp con nhà giàu chứ chẳng giúp gì cho con nhà nghèo cả. Con nhà nghèo thông thường sẽ có điểm học bạ ở phổ thông và điểm thi SAT/ACT thấp hơn (không có đủ điều kiện bằng con nhà giàu).   Nếu vẫn tiếp tục cách làm hiện nay, thì những người không thuộc diện được xét cấp học bổng “tài năng” không những phải đóng học phí để trả chi phí học tập của mình, mà còn phải gánh phần chi phí rất nặng của những người được cấp học bổng nữa. Kết quả là học phí ngày càng cao ngất ngưởng, khiến cho nhiều người cần học để cải thiện thu nhập nhưng không thể nào trả nổi học phí và phải nghỉ học. Khoảng cách giàu nghèo vì thế ngày càng tăng, và công bằng xã hội bị ảnh hưởng. (Việc cấp học bổng tài năng ở Mỹ nghe rất giống các chương trình cử nhân tài năng, và mở rộng hơn nữa là hệ thống các trường chuyên ở bậc trung học tại Việt Nam. Phải chăng giáo dục của chúng ta cũng đang xuất hiện mầm mống căn bệnh “lấy của người nghèo chia cho người giàu” chứ không phải là ngược lại).   3. Cấp bằng đại học sau 3 năm  Ba năm là thời gian đào tạo đại học chuẩn của châu Âu theo Tiến trình Bologna (hệ thống 3-5-8 tức 3 năm xong đại học, thêm 2 năm tức sau 5 năm xong thạc sĩ, thêm 3 năm tức sau 8 năm xong tiến sĩ). Tuy nhiên, ở Mỹ thì thời gian chuẩn để hoàn tất chương trình đại học là 4 năm, không kể những người học tăng số môn mỗi năm để rút ngắn thời gian.   Theo Daniel de Vise, tác giả bài viết, thực ra trước đây Mỹ cũng đã từng đào tạo đại học trong 3 năm, cho đến khi trường Đại học Harvard đưa ra yêu cầu phải kéo dài thành 4 năm (việc này xảy ra năm 1652). Hiện nay, một số đại học của Mỹ đang thử nghiệm áp dụng chương trình đại học trong 3 năm, và kết quả rất khả quan. Vì vậy, chẳng có lý do gì mà không trở lại chương trình 3 năm để tiết kiệm thời gian và chi phí.  Việc kéo dài thời gian học ra thành 4 năm, theo những người ủng hộ việc làm này, là nhằm có thời gian để sinh viên học những môn học “khai phóng” (liberal arts trong tiếng Anh, tạm dịch “khai phóng” trong khi chờ đợi một cách dịch hay hơn). Nhưng trong khi chi phí học tập ngày càng tăng, mà lợi ích của việc học chưa đo được rõ ràng, thì việc đòi hỏi giảm thời gian để giảm chi phí xem ra cũng rất hợp lý.  4. Cải cách chương trình cốt lõi  Một điểm tự hào khác của nền giáo dục Mỹ là chương trình đào tạo dựa trên một nền kiến thức rộng (mà ở trên ta đã đề cập đến dưới tên gọi là giáo dục khai phóng). Tất cả sinh viên Mỹ dù học ngành nào đều có chung một nền tảng kiến thức kinh điển tương tự nhau: Plato, Shakespeare, Darwin, tiếng La tinh hoặc tiếng Hy Lạp, vv. Những người ủng hộ cách xây dựng chương trình như trên đã đưa ra lập luận rằng một trong những sứ mạng quan trọng của trường đại học là truyền lại cho thế hệ sau những di sản tinh thần của nhân loại.   Những người ủng hộ cải cách lại cho rằng điều quan trọng không phải là cung cấp cho sinh viên những kiến thức kinh điển vốn ít đóng góp trực tiếp vào nhu cầu sử dụng hằng ngày và lại đầy ra trong sách vở, tài liệu, mạng Internet, mà là cung cấp cho họ những kỹ năng thiết yếu trong cuộc sống, ví dụ như kỹ năng tư duy phê phán chẳng hạn. Vì nếu không cải cách theo hướng này thì các trường đại học sẽ tạo ra những con người có thể biết rất nhiều nhưng chẳng làm được điều gì ra hồn cả.  5. Tăng cường giao bài tập về nhà   Nếu so với thời gian cách đây nửa thế kỷ thì thời gian học tập tại nhà của sinh viên đại học Mỹ đã giảm đi một cách đáng kể, từ 25 giờ một tuần xuống còn khoảng 15 giờ một tuần, Daniel de Vise đã ghi nhận như trên trong bài viết của mình. Tuy vậy, trong khi thời gian học tập giảm đi thì sinh viên ngày nay lại đạt điểm số trung bình cao hơn các “cụ” sinh viên cách đây 50 năm, (từ mức 2.5/4 tức mức trung bình khá lên thành mức 3.0/4 tức mức khá).   Những số liệu này phải chăng cho thấy sinh viên Mỹ ngày nay thông minh hơn và học hành có hiệu quả hơn cách đây nửa thế kỷ? Hay ngược lại, nó cho thấy các trường đại học Mỹ đang trở nên dễ dãi hơn rất nhiều đối với các sinh viên của mình? Các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ thiên về cách diễn giải thứ hai. Xin nhắc lại kết quả của cuộc khảo sát sử dụng bài trắc nghiệm CLA đã đề cập ở trên. Cuộc khảo sát này cho thấy có đến 36% sinh viên tốt nghiệp hầu như không học được thêm một chút gì trong suốt thời gian học đại học. Nếu kết nối thông tin này với những số liệu đã nêu đoạn trên thì có thể thấy ngay sự dễ dãi của các trường đại học là nguyên nhân chính làm giảm sút chất lượng học tập của sinh viên Mỹ.                   Tại sao các trường đại học Mỹ ngày nay lại trở nên dễ dãi đối với sinh viên hơn trước đây? Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng tựu trung có hai nguyên nhân nổi bật. Trước hết là quan niệm xem sinh viên là những khách hàng và nhà trường cần chiều chuộng hơn là cần được kèm cặp, hướng dẫn, rèn luyện để giáo dục họ trở thành những con người theo những mục tiêu giáo dục đã định. Với tư cách là “thượng đế” trong trường đại học, sinh viên được quyền đưa ý kiến về mức độ hài lòng của mình sau mỗi môn học, và những ý kiến này được sử dụng để đánh giá giảng viên. Trong tình hình đó, các giảng viên sẽ trở nên dễ dãi với sinh viên, tránh đưa ra những yêu cầu quá cao hoặc những đòi hỏi khắt khe trong việc chuẩn bị bài vở ở nhà, vì điều này chỉ làm cho các thượng đế kém hài lòng về mình mà thôi.   Một nguyên nhân khác là chính sách quá nhấn mạnh thành tích nghiên cứu mà xem nhẹ chất lượng và hiệu quả của việc giảng dạy trong đánh giá giảng viên. Bài báo của Daniel de Vise trích lời một giảng viên giải thích tại sao ông ít giao các bài tập về nhà. Rất đơn giản: nếu giao nhiều bài tập cho sinh viên thì sẽ phải mất nhiều thời gian để chấm. Trong khi đó, cuộc chạy đua giành thành tích nghiên cứu để khẳng định vị trí trong các trường đại học thật nghiệt ngã. Như vậy, lựa chọn của giảng viên sẽ nghiêng về đâu là điều mà ai cũng có thể đoán được. Và hậu quả của điều này ra sao thì đã rõ. (Phải chăng xu hướng dễ dãi với sinh viên cũng đang tồn tại rất rõ nét tại Việt Nam, dù có thể do những nguyên nhân không giống với các nguyên nhân vừa nêu trong giáo dục của Mỹ?)  6. Gắn việc cấp kinh phí với tỷ lệ tốt nghiệp  Một loạt các kết quả nghiên cứu gần đây đã cho thấy giáo dục đại học Mỹ trên một số khía cạnh đã bộc lộ những nhược điểm khá trầm trọng và đang bị một số đối thủ tiềm năng vượt khá xa.  Một trong những nhược điểm ấy là tỷ lệ tốt nghiệp đại học của dân Mỹ chưa cao so với những nước công nghiệp phát triển khác. Một nghiên cứu của tổ chức College Board năm 2010 cho thấy nước Mỹ chỉ đứng hạng thứ 12 trên tổng số 36 quốc gia công nghiệp phát triển được khảo sát, với tỷ lệ là 40% thanh niên có một bằng cấp sau trung học (tối thiểu là bằng cao đẳng cộng đồng 2 năm), so với tỷ lệ 56% của Canada. Đáng lo ngại hơn nữa là sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn (tức không quá 6 năm kể từ ngày bắt đầu học) khi so sánh giữa các nhóm xã hội khác nhau tại Mỹ. Tỷ lệ này ở người da trắng là 60%, người gốc Mỹ Latinh là 49%, còn người da đen chỉ được 40%. Tỷ lệ bình quân quốc gia cũng chỉ đạt 57%, có nghĩa là cứ hai sinh viên theo học đại học tại Mỹ thì gần như có người không hoàn tất đúng hạn.        “Tám biện pháp cải thiện nền giáo dục Mỹ” tất nhiên cũng là ý kiến của chỉ một tác giả, và bài viết này sau khi ra đời đã gây ra những tranh cãi nảy lửa trên báo chí Mỹ, với những lời phản bác nặng nề. Nhưng bài viết của Daniel de Vise về những vấn nạn và giải pháp đối với nền đại học của Mỹ vẫn rất có giá trị vì những nhận định sắc bén và mới mẻ của nó. Và thật thú vị, nếu nền đại học Việt Nam rất khó học hỏi từ những thành tựu của mô hình đại học Mỹ, thì những bất cập và thất bại của nó dường như lại có thể là những bài học lớn mà các nhà lãnh đạo ngành giáo dục của Việt Nam có thể rút ra để cải thiện giáo dục của chính mình.        Việc sinh viên tham gia vào quá trình đào tạo trong một trường đại học nhưng cuối cùng bỏ dở không tốt nghiệp đáng lo ngại vì hai lẽ. Trước hết, đây rõ ràng là một sự lãng phí rất cao cho cả hai phía nhà trường và người học, khi công sức, chi phí và thời gian bỏ ra trong quá trình đào tạo cuối cùng không đem lại kết quả gì hết; hơn nữa, điều này cho thấy việc đào tạo của các trường đại học có một khâu nào đó trục trặc; trên nguyên tắc, sinh viên khi đã được xét tuyển vào một chương trình đại học phải có đủ tiềm năng để hoàn tất chương trình này, và nhà trường phải có một chương trình đào tạo thích hợp, một kế hoạch hướng dẫn tỉ mỉ cũng như những điều kiện hỗ trợ cần thiết để sinh viên hoàn tất chương trình. Một khi số sinh viên đã được nhận vào nhưng sau đó lại không đủ năng lực để hoàn tất thì chỉ có thể hoặc do khâu tuyển sinh quá lỏng lẻo, hoặc do quá trình đào tạo của các trường không hiệu quả.  7. Cắt giảm hỗ trợ thể dục thể thao   Hoạt động thể thao sôi nổi của các trường đại học cũng là một trong những nét đặc thù tạo nên sự “hấp dẫn” của nền đại học Mỹ. Tuy nhiên, theo Daniel de Vise thì hoạt động này ngày càng được tổ chức giống hoạt động thể thao nhà nghề có tính thương mại, chủ yếu nhằm mục đích quảng cáo và xây dựng thương hiệu đối với công chúng, hơn là nhằm mục đích rèn luyện thân thể và tinh thần thượng võ cho các sinh viên, điều mà các trường đại học lẽ ra phải làm.  Chi phí cho các hoạt động thể thao nhà nghề là rất tốn kém, và nguồn kinh phí để tổ chức các hoạt động này đương nhiên được rút từ nguồn kinh phí chung của trường. Nói cách khác, mặc dù các huấn luyện viên và vận động viên đội tuyển của các trường đại học được trả lương cao ngất ngưởng như trong thể thao nhà nghề, thì chi phí cho các hoạt động này lại không phải tự trang trải (ví dụ, thông qua bán vé) mà được nhà trường bao cấp, hỗ trợ từ nguồn ngân sách được cấp và/hoặc từ học phí của người học. Chẳng trách học phí đại học của Mỹ cứ liên tục tăng trong suốt một thời gian dài và dường như chưa có ý định dừng lại. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay của Mỹ, rõ ràng là không thể tiếp tục mức độ hỗ trợ cho thể thao tại các trường đại học như hiện nay.  8. Xem xét lại việc tổ chức phụ đạo ở các trường cao đẳng cộng đồng  Cao đẳng cộng đồng là một đặc trưng nổi bật khác mà nền giáo dục Mỹ rất tự hào và được nhiều quốc gia trên thế giới học tập, trong đó có Việt Nam. Cùng với chính sách tuyển sinh mở (gần như ai cũng có thể vào học mà không phải trải qua một cuộc tuyển lựa khắt khe), các trường cao đẳng cộng đồng luôn cung cấp những chương trình giúp củng cố những kiến thức và kỹ năng cơ bản cho những sinh viên yếu (dưới chuẩn) để giúp họ có thể theo kịp chương trình học ở trình độ sau trung học.  Tất cả nghe qua thì rất hay và rõ ràng đáng được duy trì, nhưng những con số sau đây chắc chắn sẽ làm cho bất cứ ai ủng hộ mô hình cao đẳng cộng đồng cũng phải giật mình. Cứ 5 sinh viên đăng ký vào học ở một trường cao đẳng cộng đồng thì có đến 3 người phải theo học những chương trình phụ đạo những kiến thức và kỹ năng của trung học. Đáng giật mình hơn là cứ mười sinh viên phải học phụ đạo khi vào cao đẳng cộng đồng thì chỉ có hơn hai người hoàn tất và tốt nghiệp với tấm bằng cao đẳng hai năm với thời gian học tổng cộng là … tám năm!   Những số liệu nêu trên bộc lộ một bất cập rất lớn trong mô hình cao đẳng cộng đồng hiện nay, mà điểm mấu chốt cũng là ở khâu tiếp nhận sinh viên. Bài viết của Daniel de Vise trích lời của Robert Templin, Hiệu trưởng trường Cao đẳng cộng đồng Bắc Virginia, cho rằng các lớp học phụ đạo như hiện nay là không hữu ích và làm lãng phí thời gian của sinh viên vì phải học lại khá nhiều điều họ đã biết hoặc những điều không thực sự cần thiết cho việc học ở bậc cao đẳng và nghề nghiệp của họ sau này. Vì vậy, thay vì yêu cầu các sinh viên còn yếu kiến thức cơ bản (việc xác định sinh viên yếu được thực hiện dựa trên điểm số của một bài kiểm tra) phải theo học các lớp phụ đạo trước khi họ có thể bắt đầu chương trình chính khóa, một số trường vào thẳng chương trình chính và tự chọn tham gia các khóa học phụ đạo bất cứ khi nào họ thấy cần củng cố kiến thức để có thể học lên tiếp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạm dừng mở mới khối ngành khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên      Bộ GD&amp;ĐT vừa có văn bản gửi các cơ sở  giáo dục ĐH về việc tạm dừng xem xét hồ sơ đăng ký mở ngành đào tạo mới  thuộc khối ngành khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên ở các trình độ  CĐ, ĐH.    Công văn ghi rõ: Triển khai thực hiện Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm đến năm 2020, Bộ GD&ĐT chủ trương rà soát, thống kê và quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo sư phạm trong cả nước.  Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, trong thời gian trước mắt, Bộ GD&ĐT sẽ tạm dừng xem xét những hồ sơ đăng ký mở ngành đào tạo mới thuộc khối ngành khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên ở các trình độ CĐ, ĐH.  Trên cơ sở kết quả rà soát, quy hoạch mạng lưới và những điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, quy hoạch phát triển nhân lực sư phạm ở từng địa phương và của các vùng, miền ở từng giai đoạn, Bộ GD&ĐT sẽ ban hành những chính sách cụ thể để cân đối giữa cung và cầu nhân lực sư phạm, tập trung nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạm dừng mở một số ngành đào tạo dư thừa ‘đầu ra’      Từ năm 2013, sẽ tạm dừng mở các ngành đào tạo đang thừa “đầu ra” như tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, kế toán.    Thông tin trên được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận cho biết tại cuộc họp về công tác thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực và đào tạo theo nhu cầu xã hội diễn ra chiều 18-12 dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.  Cho tới nay, các Bộ, ngành đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại nguồn nhân lực phù hợp hơn với ngành mình. Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho biết Bộ sẽ có khuyến cáo về những ngành nghề mà xã hội đang có nhu cầu lớn.  Đồng thời, từ năm 2013, sẽ tạm dừng mở các ngành đào tạo đang thừa “đầu ra” như tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, kế toán, đồng thời kiến nghị Thủ tướng Chính phủ không cho phép mở các trường đại học đào tạo các ngành này.  Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, qua rà soát nhu cầu nhân lực cả nước, Bộ đã xác định được trong giai đoạn 2011-2015, mỗi năm cần phải bổ sung khoảng 1,86 triệu lao động đã qua đào tạo nghề; giai đoạn 2016-2020 bổ sung khoảng 2,18 triệu lao động.  Bộ sẽ ban hành khung trình độ đào tạo nghề quốc gia nhằm cải thiện chất lượng và và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề; đảm bảo việc so sánh và công nhận quốc tế về văn bằng, chứng chỉ nghề, công nhận kỹ năng nghề của người lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (kỳ 1)      Mới đây, hai trường Đại học Việt-Đức(VGU) và Việt-Pháp (Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH) lần lượt kỷ niệm 10 năm thành lập. Đây là một dịp để nhìn lại những gì đã đạt được, và quan trọng hơn, để tự đánh giá xem chúng ta đã tận dụng được tối đa những quan hệ hợp tác ấy hay chưa.      Sinh viên và giảng viên đại học Việt – Đức. Ảnh: ĐH Việt – Đức.  Nghị quyết 14 về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam     Hai trường VGU và USTH được thành lập trong giai đoạn Việt Nam thực hiện Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới toàn diện và cơ bản giáo dục đại học Việt Nam 2006-2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 14). Tôi đọc lại văn bản quan trọng đó trước khi viết bài này và, như thường lệ, có ấn tượng sâu sắc với sự sáng suốt và tầm nhìn của những người soạn ra nó. Nghị quyết 14 đã kêu gọi một sự thay đổi phong cách thực sự, tách khỏi cách tiếp cận từng bước truyền thống và dè dặt.    Tuy nhiên, thực tế triển khai Nghị quyết 14 mang lại những kết quả không như kỳ vọng, thể hiện trong đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) qua các năm 2010 và 2018. Tôi xin không đi vào chi tiết, chỉ tóm tắt lại một số nhận định:    i. Mặc dù học sinh 15 tuổi ở Việt Nam có kiến thức và kỹ năng tương đương hoặc cao hơn so với các nước phát triển, nhưng các em không có nhiều lựa chọn giàu chất lượng và phù hợp đối với giáo dục sau phổ thông.     ii. Dù mở rộng nhanh chóng, khả năng tiếp cận giáo dục đại học ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực. Số sinh viên đại học được tuyển tăng mạnh từ 0,13 triệu năm 1987 lên 1,77 triệu năm 2017. Thế nhưng, tỷ lệ tuyển sinh 28% của giáo dục sau phổ thông của năm 2016 vẫn là một trong những tỷ lệ thấp nhất trong khu vực Đông Á. Khối công lập chiếm phần lớn (85%) giáo dục đại học. Năm 2017, có 235 trường đại học, trong đó có 170 trường công lập và 65 trường ngoài công lập.    Mười hai năm trước, tôi có vinh hạnh được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người rất quan tâm đến giáo dục đại học. Ông nhấn mạnh thông điệp: “Các trường đại học Việt Nam cần có một cuộc cách mạng, phải tiếp tục đấu tranh!”.    iii. Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam vận hành không tốt nếu xét về chất lượng và tính phù hợp của sinh viên tốt nghiệp và sản phẩm nghiên cứu. Hệ thống không cung cấp các kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng máy tính và kỹ năng chung (giải quyết vấn đề, giao tiếp, làm việc nhóm) cần thiết cho sự tăng trưởng của các ngành xuất khẩu có hàm lượng tri thức cao, các ngành dịch vụ, và tự động hóa. Các trường đại học có quá ít kết quả nghiên cứu, và những kết quả ít ỏi có được phần lớn không đủ chất lượng và không phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế. Chất lượng nghiên cứu thấp gắn liền với sự quản lý manh mún của các chương trình nghiên cứu và phát triển, các quỹ nghiên cứu hầu hết được cấp cho các viện nghiên cứu riêng lẻ thay vì cho các trường đại học, sự đãi ngộ chưa thỏa đáng cho các nhà khoa học; các trường đại học công bị cản trở bởi thiếu sự tự chủ và thiếu tài chính.    iv. Đầu tư công của Việt Nam vào giáo dục đại học chưa thỏa đáng và chưa hiệu quả. Năm 2015, Việt Nam chỉ dành 5% chi tiêu giáo dục của chính phủ cho giáo dục đại học, tương đương với chỉ 0,25% GDP và 0,8% tổng chi tiêu của chính phủ. Đây là một trong những mức thấp nhất so với các nước cùng trình độ phát triển và là rất thấp đối với một nước có mục tiêu trở thành một nền kinh tế tri thức trong tương lai gần. Các trường đại học công lập của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào học phí, mà học phí lại là một thách thức cho nhiều sinh viên vì học bổng và hệ thống vay cho sinh viên chưa đủ phát triển. Việt Nam vẫn cấp ngân sách mang tính định kỳ thay vì những cơ chế khách quan và minh bạch hơn ngày càng phổ biến trên thế giới như dựa theo công thức hoặc dựa theo thành tích.    v. Theo xu hướng toàn cầu về đại học tự chủ, Việt Nam đã bắt đầu cải cách tự chủ đại học, dù mới ở quy mô hạn chế. Từ năm 2005, và đặc biệt là sau khi Luật Giáo dục đại học được thông qua vào năm 2012, Việt Nam bắt đầu hướng đến trao cho các trường đại học công nhiều quyền tự chủ hơn. Tuy nhiên, các trường đại học không có quyền tự chủ giống nhau, và đến nay chỉ có 23 trong 235 trường đại học công (chiếm chưa đến 7% số sinh viên) được trao quyền tự chủ.    vi. Chính phủ đã bắt đầu thúc đẩy những điều kiện mạnh hơn về chất lượng giảng dạy, tính liêm chính trong quản lý và trách nhiệm tài chính, đặc biệt với Luật giáo dục đại học 2012. Đến nay, 75% các trường đại học đã thành lập bộ phận quản lý chất lượng riêng. Tuy nhiên, mục tiêu về thực hiện đánh giá độc lập vẫn chưa đạt được bởi các vấn đề năng lực và thiếu tuân thủ.     vii. Chính phủ đang giải quyết những thách thức trên bằng nhiều cách: đang sửa đổi Luật Giáo dục đại học; chuẩn bị một chiến lược dài hạn cho giáo dục đại học giai đoạn 2021-2030; và thực hiện những cải cách cấp thiết về tăng cường chất lượng, nghiên cứu xuất sắc, cải thiện quản lý ở cấp cơ sở và trên toàn hệ thống, và sự bền vững về tài chính. Một trong những ưu tiên là phát triển một số trường đại học thành những trung tâm xuất sắc.    Có thể thấy, khoảng cách giữa nội dung Nghị quyết 14 và việc thực hiện trên thực tế là đáng thất vọng. Phải chăng vì Nghị quyết 14 đặt ra kỳ vọng quá nhiều và vượt khả năng thực hiện trong thực tế? Hay vì những người có trách nhiệm thực hiện chúng không đủ năng lực và không đủ táo bạo? Tôi cho là cả hai, mỗi thứ một chút. Giáo dục đại học đến nay vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong nguồn lực của chính phủ, những giải pháp cho hầu hết các vấn đề cấp bách chỉ mang tính ngắn hạn, dường như vẫn đang thiếu một tầm nhìn dài hạn để chèo lái đúng hướng.  Để Nghị quyết 14 được thực hiện hiệu quả, cần có một người phụ trách và chịu trách nhiệm cuối cùng; nhưng đáng tiếc là trách nhiệm thực hiện Nghị quyết 14 lại được phân chia cho nhiều bộ và cơ quan, trong đó có Đại học Quốc gia (VNU) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST)…, mà kết quả là sự rời rạc và kém hiệu quả.       Trong phòng thí nghiệm của Đại học Việt – Pháp. Ảnh: ĐH Việt – Pháp.  Bên cạnh đó, các học giả cần được tham gia ý kiến rộng rãi trên các diễn đàn, chẳng hạn trong các hội chuyên ngành như Hội Vật lý Việt Nam, và hình thành các nhóm nghiên cứu để vạch ra các giải pháp thiết thực nhất để triển khai Nghị quyết 14. Nhưng đáng tiếc, những sáng kiến như vậy không được thúc đẩy ở Việt Nam. Tất nhiên là có những phân tích bởi các tác giả Việt Nam hoặc bởi những hội thảo có nhiều người Việt Nam tham dự, hoặc thậm chí bởi các cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng không một ai trong số họ có đủ vai trò để vạch ra một lộ trình rõ ràng.     VGU và USTH: Những chậm trễ trong triển khai đại học kiểu mới     Quyết định 69 của Thủ tướng Chính phủ hồi tháng 1 năm 2019 đã vạch ra một kế hoạch với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn 2019-2025. Những diễn giải của nó vẫn nằm trong định hướng chung của Nghị quyết 14 trước đây. Mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của hệ thống giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực; góp phần nâng cao chất lượng và năng suất lao động, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Đây là những mục tiêu đầy tham vọng, nhưng điều cần lưu ý là trong đó không đề cập đến cả đại học xuất sắc lẫn đại học kiểu mới.      Trước khi nhận dạng những trường đại học xuất sắc, cần phải nhận dạng những cá nhân và những nhóm nghiên cứu xuất sắc; chỉ bằng cách khiến cho họ làm việc cùng nhau, chúng ta mới có thể hy vọng xây dựng những trường đại học xuất sắc.      Trong khi đó, Đại học kiểu mới là một giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết 14, theo khuyến nghị của WB trong báo cáo năm 2010: Dự án Đại học kiểu mới (ở đây liên quan đến VGU) là một phần không thể thiếu trong sự hỗ trợ liên tục của WB cho giáo dục đại học và là một ưu tiên chính của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy những cải cách tiếp theo. Nó không chỉ tạo ra một trường đại học khoa học và công nghệ mới đào tạo được những sinh viên ra trường có trình độ cao mà thị trường lao động đòi hỏi; nó cũng sẽ kiểm nghiệm những cải cách đang diễn ra trong giáo dục đại học và đưa ra những bài học và chỉ dẫn cho các trường đại học khác khi chúng có nhiều tự chủ hơn trong các lĩnh vực quản trị, tài chính, và chất lượng. Dự án cũng cần được nhìn trong bối cảnh yêu cầu của chính phủ về việc thành lập, với sự hợp tác chặt chẽ với các đối tác quốc tế, những trường đại học công lập mới, mỗi trường sẽ thí điểm và phát triển một kiểu mô hình khác nhau, tùy theo đối tác cụ thể, nhưng tất cả được đặc trưng và liên kết bởi một mức độ tự chủ lớn hơn so với các trường đại học Việt Nam điển hình hiện nay.    Có thể nói cả VGU và USTH đều lấy cảm hứng từ những hướng dẫn của Nghị quyết 14, nuôi dưỡng tư duy kinh doanh, và quyết tâm đem đến cho giáo dục đại học Việt Nam những giá trị nó còn thiếu – VGU đưa ra những tiêu chí cụ thể: tự do và toàn vẹn học thuật, tính trung thực và minh bạch, cam kết chất lượng, trách nhiệm với người khác và với các thế hệ tương lai, hợp tác quốc tế và tôn trọng lẫn nhau. Họ coi trường và giáo viên là người hướng dẫn chứ không phải người giám sát quá trình học tập của sinh viên; họ cho rằng tinh thần ham hiểu biết và các cơ hội hợp tác học tập dựa trên nghiên cứu tạo ra một môi trường học tập hứng thú.    Cả hai trường đều dạy bằng tiếng Anh và có hệ thống quản lý tương tự nhau. Các Hội đồng trường gồm 20 người, đại diện cho các bộ, các trường đại học, các viện nghiên cứu và các công ty của Việt Nam (10 người) và Đức hoặc Pháp (10 người). Họ thường họp mỗi năm một lần để quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến sự phát triển chiến lược của trường. Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với VGU và chủ tịch VAST đối với USTH, cả hai đều là Ủy viên Trung ương Đảng. Để minh họa cho vai trò của họ, Hội đồng trường USTH họp lần gần nhất vào tháng 4/2019 để bổ nhiệm hiệu trưởng mới, ký một thỏa thuận khung giữa USTH và USTH Consortium [liên minh gồm hơn 40 trường đại học và viện nghiên cứu của Pháp – ND] và thông báo về việc gia hạn 5 năm dự án xây dựng khuôn viên mới ở Hòa Lạc, khi đó đã chậm tiến độ và được dự kiến khởi công vào tháng 3/2020.       Mô hình giáo dục Bologna rất phổ biến và hiệu quả ở châu Âu. Nguồn ảnh minh họa: bmbf.de  Đứng đầu mỗi trường là một nhà khoa học của nước đối tác, Đức và Pháp, được hỗ trợ bởi một phó hiệu trưởng người Việt Nam. Vị trí này ở VGU được gọi là chủ tịch, còn với USTH là hiệu trưởng. Cả hai trường đại học đều được hỗ trợ bởi một liên minh gồm nhiều trường đại học và viện nghiên cứu của nước đối tác, các đơn vị này tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo và phụ trách các vấn đề liên quan đến hợp tác giữa trường đại học và các đối tác ở Đức và ở Pháp.    Một khác biệt lớn giữa VGU và USTH là số năm của chương trình học. Ở VGU, chương trình cử nhân kéo dài 4 năm, chương trình thạc sỹ từ 2 đến 2,5 năm, và tiến sỹ từ 3 đến 5 năm. Trong khi đó, USTH áp dụng quy trình Bologna “3 + 2 + 3”, tức là tổng cộng 8 năm thay vì từ 9 đến 11,5 năm như VGU. Để so sánh, chương trình cử nhân của các trường đại học lớn của Việt Nam kéo dài 4 năm (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) hoặc 5 năm (Đại học Bách khoa Hà Nội). Tôi không hiểu logic của những sự chênh lệch này. Theo USTH, quy trình Bologna được áp dụng gần như thống nhất ở châu Âu, trong khi VGU khẳng định rằng chương trình của mình theo sát chương trình của các trường đại học ở Đức (mặc dù Đức cũng là một nước châu Âu thực hiện theo quy trình Bologna?). Độ dài chương trình học đại học là một tham số rất quan trọng; tôi ngạc nhiên vì nó không được xem xét một cách nghiêm túc hơn.      Chúng ta không được phép quản lý giáo dục đại học như dự án đường sắt đô thị Hà Nội; ở đây chúng ta không chỉ xử lý hàng trăm triệu USD, mà quan trọng hơn, còn tác động tới tương lai của trẻ em cả nước, tài sản lớn nhất của quốc gia.      VGU gồm hai khoa, khoa Kỹ thuật và khoa Kinh tế và Quản lý. USTH được tổ chức thành chín khoa: khoa Đào tạo đại cương, khoa Khoa học sự sống, khoa Công nghệ thông tin và truyền thông, khoa Năng lượng, khoa Hàng không, khoa Khoa học cơ bản ứng dụng, khoa Vật liệu tiên tiến và công nghệ nano, khoa Nước – môi trường – hải dương học, và khoa Vũ trụ và ứng dụng.    Năm học 2016-2017, VGU có 1200 sinh viên và đặt mục tiêu 5000 sinh viên vào năm 2020. Tuy nhiên, trường vẫn chỉ có khoảng 1300 sinh viên. Năm học 2019-2020, USTH có 750 sinh viên hệ cử nhân và chỉ 35 học viên thạc sỹ năm thứ nhất so với 78 học viên năm học 2016-2017. Cả hai trường đều gặp khó khăn lớn trong tuyển sinh.    Sự phát triển của cả VGU lẫn USTH đều chậm hơn dự kiến, đặc biệt là việc xây dựng các khuôn viên mới. Hệ quả là tháng 8/2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định hoãn mở thêm đại học hợp tác với quốc tế, ít nhất đến 2020. Trong trường hợp của VGU, dự án được khởi công vào tháng 10/2016, với tổng đầu tư hơn 200 triệu USD, trong đó 180 triệu là các khoản vay lãi suất thấp từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) và 20 triệu là từ Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, tiến độ bị chậm do các vấn đề trong quản lý dự án. Dưới sức ép của WB, ngày 12/12/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyên bố quyết tâm xây dựng trên đà đang có của dự án hoàn thành cuối tháng 11/2020 và đạt đến mục tiêu biến VGU thành một trường đại học nghiên cứu tự chủ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cam kết cấp đủ vốn đối ứng và vốn IDA để tạo điều kiện cho các hoạt động của dự án được hoàn thành đúng hạn, và đồng ý với WB về mười tám hành động có thời hạn.    Trong trường hợp của USTH, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) soạn một báo cáo sơ bộ vào năm 2010, sau đó là một báo cáo chi tiết vào năm 2012, trong đó mô tả dự án cùng với các mục tiêu và điều kiện thực hiện. Tháng 11/2018, Việt Nam và Pháp ký một thỏa thuận liên chính phủ về việc phát triển USTH trong giai đoạn 5 năm 2019-2023, theo đó Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp khẳng định lại quyết tâm và cam kết phát triển USTH thành một đại học xuất sắc và một trong những đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Một hội thảo chiến lược về việc phát triển USTH diễn ra ở Hà Nội vào tháng 12/2019 với mục đích rút ra các bài học từ mười năm vừa qua và đổi mới với những mô hình và quan hệ đối tác mới. Tháng 11/2019, ADB đưa ra dự án cập nhật, trong đó việc xây dựng khuôn viên mới được dự kiến hoàn thành năm 2023.  ***  Nếu VGU và USTH thất bại, đó trước hết sẽ là thất bại của Việt Nam chứ không phải thất bại của các nước đối tác. Giúp hai trường thành công là vì lợi ích của Việt Nam hơn là lợi ích của các nước đối tác. Quả bóng đang ở trong chân chúng ta. Các nước đối tác đã dành nhiều thời gian và công sức cho sự phát triển của VGU và USTH, chúng ta thì chưa. Có thể họ đi chệch đường vì thiếu một nhận thức chính xác về tình hình Việt Nam, chúng ta có trách nhiệm giúp họ quay lại con đường đúng. Chúng ta phải thực hiện trách nhiệm của mình. Thiếu chỉ đạo từ trên xuống không phải lý do để cứ mãi thụ động. Những khởi xướng từ dưới lên sẽ giúp thúc đẩy tiến bộ và cần được khuyến khích. Chúng ta không được phép quản lý giáo dục đại học như dự án đường sắt đô thị Hà Nội; ở đây chúng ta không chỉ xử lý hàng trăm triệu USD, mà quan trọng hơn, còn tác động tới tương lai của trẻ em cả nước, tài sản lớn nhất của quốc gia.□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  (Còn tiếp)    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam (kỳ 2)      Tôi đã có nhiều cơ hội để bàn về chủ đề đổi mới giáo dục đại học trên Tia Sáng và cả ở những nơi khác1, đến nỗi những gì tôi sẽ nói chỉ là nhắc lại những gì đã từng nói trước đó. Tôi không đặc biệt thông thái, không có chuyên môn đặc biệt, không có tầm nhìn đặc biệt, không có tài năng đặt biệt; tôi chỉ viết ra những điều hợp lẽ thường; nhiều đồng nghiệp Việt Nam có tư cách hơn tôi để dẫn dắt chúng ta trên con đường cách mạng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kêu gọi khoảng mười hai năm trước, với thông điệp cơ bản là một cuộc cách mạng đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ về phong cách, để biến các trường đại học thành những ngôi đền của sự nghiêm khắc về tri thức và đạo đức. Chúng ta dường như không sẵn sàng hoặc không muốn thúc ép nó. Nhưng không có nó, chúng ta sẽ chắc chắn thất bại.      Sinh viên Việt Nam và Pháp đi thực tập khảo sát mô hình xử lý nước thải tại Gia Lâm. Ảnh: Tăng Thị Chính.  Những vấn đề đang đặt ra     Việc thực hiện những hướng dẫn của Nghị quyết 14 đòi hỏi một tầm nhìn tổng quan bao quát được không chỉ các trường đại học mà toàn bộ giáo dục sau phổ thông, bao gồm cả các trường dạy nghề, có tính đến tình hình quốc tế, xét cả ngắn hạn và dài hạn, và lưu ý đến những ràng buộc của thực tế. Điều này bị cản trở bởi sự thiếu vắng một người lãnh đạo và sự phân tán trách nhiệm giữa các nhân tố liên quan đến cải cách. Trước khi đề xuất cách vượt qua trở ngại chính đó, tôi xin có vài nhận xét sơ bộ.    Câu hỏi đầu tiên là: vì sao các trường đại học kiểu mới sẽ thành công trong khi các trường khác thất bại? Câu trả lời, theo tôi, là mô hình kiểu mới đem đến điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn cho giảng viên của các trường đó. Điều này dẫn đến câu hỏi tiếp theo: làm sao để đảm bảo là họ xứng đáng với những điều kiện tốt hơn đó? Cách duy nhất tôi có thể nghĩ ra là thực hiện một quá trình tuyển chọn khắt khe đối với cả sinh viên lẫn giảng viên, về cả giảng dạy lẫn nghiên cứu. Những điều trên là hiển nhiên, nhưng chúng gợi ra nhiều bình luận. Nếu chúng ta muốn mô hình đại học kiểu mới được các nhân tố của giáo dục đại học chấp nhận, chúng ta phải chỉ ra được những đặc quyền của nó là chính đáng. Không thể đơn giản đưa từ trên xuống một quyết định rằng trường đại học này hay trường đại học kia là trường đại học xuất sắc; đó là những danh hiệu vô nghĩa. Trước khi nhận dạng những trường đại học xuất sắc, cần phải nhận dạng những cá nhân và những nhóm nghiên cứu xuất sắc; chỉ bằng cách khiến cho họ làm việc cùng nhau, chúng ta mới có thể hy vọng xây dựng được những trường đại học xuất sắc. Sự xuất sắc được áp dụng cho cả sinh viên lẫn giảng viên. Sự tuyển chọn kéo theo tính nghiêm túc và tính chính trực. Đối với sinh viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong kỳ thi tuyển, cũng như trong việc theo dõi sự tiến bộ và việc cấp bằng. Đối với giảng viên, đó là sự nghiêm túc và chính trực trong tuyển dụng và thăng tiến, với ban tuyển dụng đánh giá dựa trên những tiêu chí khách quan: kinh nghiệm và trình độ giảng dạy, số lượng và chất lượng các bài báo khoa học, năng lực lãnh đạo nghiên cứu, kinh nghiệm đào tạo thạc sỹ và/hoặc tiến sỹ, uy tín quốc tế, năng lực phát triển hợp tác, v.v.    Sinh thời GS. Hoàng Tụy thường nói rằng ưu tiên hàng đầu để phát triển các trường đại học Việt Nam là tăng lương đến một mức khá cho giảng viên và nghiên cứu viên. Việc này chỉ có thể được thực hiện cùng với việc đưa ra một hệ thống đánh giá chất lượng công bằng và khách quan. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể bàn về một tác động tài chính ở một quy mô đủ lớn. Chúng ta không thể nói, như một lý do để không hoạt động, rằng thiếu nguồn tài chính, khi mà bao nhiêu tiền bị lãng phí do quản lý yếu kém, chưa kể đến tham nhũng. Hàng triệu USD bị lãng phí vì đầu tư vào các thiết bị không được dùng đến. Trái lại, những quy định mới về tự chủ và cấp ngân sách cho nghiên cứu khoa học đang cản trở sự phát triển và đe dọa sự sống còn của những nhóm nghiên cứu xuất sắc trong cả nước. Sau đây là một thí dụ minh họa cho hỗ trợ eo hẹp dành cho nghiên cứu cơ bản và điều kiện làm việc khó khăn của chúng tôi. Năm ngoái, chúng tôi phải cử một thành viên đi tham gia vận hành Kính thiên văn James Clerk Maxwell trên núi Mauna Kea ở Hawaii; Đài thiên văn Đông Á (East Asian Observatory) đã hào phóng hỗ trợ tiền ăn ở trong thời gian ở đó, nhưng chúng tôi phải bỏ tiền túi để mua vé máy bay cho anh ấy.    Hơn ba thập kỷ từ khi Đổi mới, chúng ta vẫn chưa thể làm giảm thảm họa chảy máu chất xám của nước nhà. Trong việc này, chúng ta không thể trông chờ các đối tác nước ngoài giúp đỡ. Tôi sống ở Việt Nam, và tôi đấu tranh để tài năng của các đồng nghiệp trẻ người Việt được thừa nhận ở Việt Nam. Nếu tôi sống ở Pháp và chào đón những sinh viên Việt Nam gia nhập các đồng nghiệp trẻ của mình, tôi sẽ đấu tranh để tài năng của họ được thừa nhận ở Pháp; tôi sẽ chẳng quan tâm đến nạn chảy máu chất xám ở Việt Nam, tôi thậm chí sẽ góp phần làm cho nó nặng hơn. Ý thức được rằng Việt Nam không thể cho họ điều kiện làm việc thích hợp và không tôn trọng hiểu biết và kỹ năng của họ, tôi sẽ cố hết sức để giữ họ lại Pháp hoặc đâu đó ở châu Âu. Chúng ta sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng hỗ trợ quốc tế đơn giản là cho sinh viên Việt Nam cơ hội du học và cho giảng viên nước ngoài cơ hội đến Việt Nam một hai tuần để giảng lại những gì họ đã giảng ở nước họ. VGU và USTH sẽ trở thành nơi môi giới du lịch cho giảng viên nước ngoài và phương tiện chảy máu chất xám cho sinh viên Việt Nam nếu chúng ta cứ tiếp tục bỏ quên trách nhiệm của mình. Cụ thể, chúng ta cần: nhận dạng những nhóm nghiên cứu Việt Nam có khả năng tận dụng ưu thế hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài để phát triển về chất lượng và quy mô; hỗ trợ các nhóm đó một cách thiết thực; ngược lại, mỗi sinh viên Việt Nam du học bằng hỗ trợ tài chính của nhà nước phải kèm theo điều kiện được một nhóm hướng dẫn trong nước liên hệ sát sao và theo dõi quá trình học tập.    Không phải mọi trường đại học nước ngoài đều tốt. Ở Mỹ có Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Harvard, nhưng cũng có Đại học Trump và Đại học Pacific Western, nơi người ta có thể mua bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ với vài nghìn đô-la. Có đủ mọi cấp độ giữa hai thái cực đó. Sẽ rất sai lầm khi cho rằng chỉ cần sao chép lại chương trình học của họ là có thể thành công. Chúng ta cần phải học từ cả thành công và thất bại của họ và chuyển sang bối cảnh Việt Nam. Các nước khác nhau có những mỗi ưu tiên khác nhau. Một trường đại học ở Thụy Điển có thể tự hào về việc giảng dạy về biến đổi khí hậu và cắt giảm phát thải CO2. Việt Nam, nơi lượng phát thải CO2 theo đầu người thấp hơn nhiều so với một số nước phát triển, nơi lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long tăng nhanh hơn nhiều so với sự dâng của mực nước biển, và nơi ô nhiễm nước và không khí ở các thành phố lớn đạt mức báo động, có những ưu tiên khác về môi trường. Nếu không tìm hiểu kỹ để xác định rõ các yêu cầu của Việt Nam, chúng ta sẽ thất bại trong sứ mệnh đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.    Một thí dụ quen thuộc đối với tôi liên quan đến khoa Vũ trụ và ứng dụng của USTH. Việt Nam cần phải cho USTH biết rõ đất nước có những ưu tiên gì, cụ thể là giữa sản xuất vệ tinh và khai thác vệ tinh, để USTH điều chỉnh việc giảng dạy cho phù hợp với các nhu cầu của chương trình vũ trụ. Một thí dụ khác, vẫn với USTH nhưng ở thời điểm thành lập trường, trước khi chương trình điện hạt nhân thất bại, là nỗ lực tận dụng trình độ của Pháp trong xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân để tạo ra một khoa điện hạt nhân trong trường. Chúng tôi không tìm được những người đối thoại Việt Nam suy nghĩ trên lợi ích quốc gia và đủ quan tâm để đưa ra những đề xuất mang tính xây dựng. Việc quốc tế hóa giáo dục đại học Việt Nam là một khái niệm mơ hồ, được mỗi người hiểu theo một cách khác nhau2. Định nghĩa nó một cách cụ thể là việc của chúng ta.  Còn nhiều điều đáng bàn nữa3, nhưng tôi xin phép không đi sâu tiếp do khuôn khổ của bài viết.     Giải pháp với VGU và USTH     VGU và USTH phát triển chậm hơn kỳ vọng và đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về tuyển sinh. Như đã đề cập trong kỳ trước, nếu hai trường thất bại, đó trước hết sẽ là thất bại của Việt Nam chứ không phải thất bại của các nước đối tác. Giúp hai trường thành công là vì lợi ích của Việt Nam; quả bóng đang ở trong chân chúng ta.      Ngành Nhật Bản học là một trong những ngành có nhiều hợp tác quốc tế với các trường đại học ở Nhật Bản. Nguồn ảnh: Đại học Kinh tế TP HCM.   Tôi xin gợi ý rằng VGU và USTH có thể bắt đầu những nỗ lực thành lập những nhóm làm việc nhỏ với nhiệm vụ nghiên cứu một cách nghiêm túc tình hình và đưa ra những đề xuất để cải thiện nó. Một số nhóm cần nghiên cứu nhu cầu của Việt Nam về giáo dục đại học để phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. Chẳng hạn, đối với khoa Vũ trụ và ứng dụng của USTH, một nhóm làm việc nhỏ có thể nghiên cứu thực trạng của chương trình vũ trụ của Việt Nam, sự chia sẻ trách nhiệm giữa các cơ quan và tổ chức thuộc các bộ khác nhau, sự thống nhất và phối hợp nếu có giữa các hoạt động của họ, tầm quan trọng của việc khai thác hình ảnh vệ tinh, triển vọng có được những vệ tinh dành riêng cho những quan trắc trên lãnh thổ Việt Nam, nhu cầu xây dựng thêm các trạm mặt đất, triển vọng dài hạn hơn về khả năng tự chế tạo hoặc thậm chí tự phóng vệ tinh, v.v.    Những nhóm làm việc như vậy sẽ không thuộc về riêng nước nào, mà vận hành trong sự hợp tác giữa Việt Nam và nước đối tác. Phần lớn công việc cần được làm trong nước bởi người Việt Nam, nhưng sự tham gia của các nhà khoa học của nước đối tác cũng là cần thiết, đặc biệt là các nhà khoa học hiện diện ở Việt Nam, chẳng hạn các thành viên của Viện Nghiên cứu và Phát triển (IRD) của Pháp. Thành phần chủ yếu của các nhóm làm việc cần phải là các nhà khoa học chứ không phải các nhà quản lý hay các chính trị gia: giảng viên, nghiên cứu viên, và cả sinh viên – tôi chắc chắn một số sinh viên sẽ tự nguyện đóng góp thời gian vào các nghiên cứu đó nếu được trao cơ hội, và những gì họ sẽ học được là vô giá. Các nhóm làm việc cần thực hiện các báo cáo, gửi cho chủ tịch hay hiệu trưởng của trường đại học, tóm tắt kết quả công việc, phân tích và đề xuất những hành động nhằm giúp trường đại học tiến bộ và phát triển theo đúng hướng. Họ có thể học hỏi Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc thực hiện những báo cáo chất lượng về những vấn đề chính liên quan đến sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.    Bên cạnh những nhóm làm việc gắn với các khu vực cụ thể liên quan đến chương trình giảng dạy của trường đại học, cần có một số nhóm giải quyết các câu hỏi chung hơn, chẳng hạn độ dài của chương trình và logic đằng sau nó, hay tiền lương của các nhà khoa học ở đại học công, đại học tư và các viện nghiên cứu, hay nghiên cứu sự tiến triển của nạn chảy máu chất xám và nguyên nhân của nó.    Kết quả của việc đó sẽ vô cùng giá trị. Các báo cáo sẽ tạo thành một nguồn tư liệu quý giá để các hội đồng trường, các liên minh các trường đại học và các ban quản lý [dựa vào đó để] khởi xướng các bước giúp cho sự tiến bộ và phát triển của trường đại học. Quan trọng hơn, chúng sẽ khiến cộng đồng khoa học và sinh viên Việt Nam nhận thức tốt hơn trách nhiệm của mình; chúng sẽ trở thành hình mẫu để các tổ chức, chẳng hạn các hội chuyên ngành, chủ động tham gia vào sự tiến bộ và phát triển của giáo dục đại học Việt Nam, vào việc làm giảm và tiến đến ngăn chặn hoàn toàn nạn chảy máu chất xám.    Cỏ đồng bên bao giờ cũng xanh hơn. VGU và USTH  có thể giúp sinh viên nhảy qua hàng rào sang bên đó, như sinh viên Việt Nam vẫn làm từ hàng thập kỷ. Họ cũng có thể giúp sinh viên tưới nước cho cỏ ở bên này. Quyết định lựa chọn và hành động ở bên nào là của chúng ta.  ***  Qua nhiều phân tích minh họa cho cách quốc tế nhìn nhận về giáo dục đại học Việt Nam; tôi luôn bị ấn tượng bởi mối quan tâm lớn mà các học giả nước ngoài dành cho giáo dục đại học Việt Nam, tương phản với thái độ của nhiều học giả trong nước. Tôi nhớ vài năm trước, có lần tôi tiếp cận với hiệu phó của một trường đại học Việt Nam và nói với ông ấy về những khiếm khuyết trong việc cấp bằng tiến sỹ ở Việt Nam; ông ấy trả lời rằng đó không phải việc của mình, và rằng tôi nên tìm đến Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bất cứ ai yêu tri thức và khoa học và muốn thấy đất nước phát triển đều sẽ quan tâm và coi đó là việc của mình, không phải thế sao? Một thí dụ minh họa nữa là một hội thảo chiến lược mới đây của USTH mà tôi có tham dự. Số học giả người Pháp tham dự lớn hơn hẳn số học giả người Việt Nam, mặc dù hội thảo diễn ra ở Hà Nội.    Sẽ là sai lầm nếu cho rằng hỗ trợ quốc tế về giáo dục đại học có thể giúp chúng ta không cần đầu tư thời gian và công sức cho nó, giúp chúng ta thoát khỏi gánh nặng đối mặt với các thách thức, khuyến khích sự vô trách nhiệm và cho phép chúng ta nói rằng mình không quan tâm và đó không phải việc của mình. Trái lại, chúng ta cần được tổ chức một cách hiệu quả để tận dụng tối đa sự hỗ trợ đó. □     Mô hình đồng hướng dẫn  Trong kỳ trước, bài viết đã đề cập mô hình hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học qua việc triển khai mô hình đại học kiểu mới ở hai trường VGU và USTH. Trong kỳ này, tôi xin nêu tiếp một thí dụ về mô hình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sỹ mà các trường đại học kiểu mới nên tận dụng.  Một luận án cotutelle có những đặc điểm sau: một thỏa thuận được ký, thường ở cấp cao, giữa hai đơn vị đào tạo tiến sỹ của Pháp và của Việt Nam; thỏa thuận đề cập đến các nguồn hỗ trợ tài chính (đi lại và thù lao) và nêu rõ:  i. Nghiên cứu sinh sẽ chia sẻ thời gian làm việc giữa hai nước, gồm ba đợt làm việc ở Pháp xen kẽ với ba đợt làm việc có thời gian tương đương ở Việt Nam, mỗi năm một đợt;  ii. Luận văn được viết bằng tiếng Anh và có các phần tóm tắt bằng tiếng Pháp và tiếng Việt;  iii.Hai người đồng hướng dẫn có trách nhiệm ngang nhau trong đảm bảo việc nghiên cứu vận hành suôn sẻ;  iv.Luận án sẽ được bảo vệ ở một trong hai nước (với chúng tôi, ban đầu các buổi bảo vệ được tổ chức ở Pháp, nhưng ba buổi bảo vệ mới nhất được chuyển về Việt Nam);  v.Hội đồng bảo vệ gồm các thành viên từ cả hai nước (có thể có cả thành viên từ nước khác) với số lượng bằng nhau, có hai đồng chủ tịch là một nhà khoa học Việt Nam và một nhà khoa học Pháp;  vi.Nghiên cứu sinh sẽ đóng học phí ở nước nào (nhưng họ được đăng ký ở cả hai trường ở hai nước);  vii.Sau khi bảo vệ thành công, nghiên cứu sinh sẽ được nhận cả bằng Pháp và bằng Việt Nam.  Các luận án cotutelle là những hoạt động hai bên cùng có lợi, đặc biệt phù hợp với sự hợp tác giữa một nước đang phát triển và một nước phát triển; chúng nên trở thành một công cụ lý tưởng cho sự phát triển của USTH trong những năm tới. Chúng cho Việt Nam lợi thế duy trì được liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu sinh trong suốt thời gian nghiên cứu; chúng gieo hạt giống cho những hợp tác trong tương lai; chúng cho Pháp cơ hội hiểu rõ hơn tình hình giáo dục đại học và nghiên cứu ở Việt Nam; chúng cho cả nhóm nghiên cứu ở Việt Nam cơ hội tìm hiểu chủ đề mà nghiên cứu sinh đang nghiên cứu.  Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi, nghiên cứu sinh phải chờ từ một đến hai năm sau khi bảo vệ thành công để được nhận bằng tiến sỹ Việt Nam. Họ phải trải qua một cuộc chạy vượt chướng ngại vật thật sự, làm thêm một khối lượng công việc đáng kể và bảo vệ lại luận án trước một hội đồng thuần Việt Nam. Điều này tạo cho Việt Nam một hình ảnh không đẹp, khi không tôn trọng những điều khoản thỏa thuận và tỏ ra coi thường hội đồng bảo vệ quốc tế cũng như nhóm hướng dẫn của Pháp. Sáu năm trước, chúng tôi có dịp thảo luận vấn đề này với GS. Bùi Văn Ga, khi đó là thứ trưởng phụ trách các trường đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ông Bùi Văn Ga hoàn toàn đồng ý với những điểm chúng tôi đưa ra, và nói rằng Bộ sẽ đơn giản hóa quy định của Việt Nam trong trường hợp cotutelle. Nhưng đến nay vẫn chưa có gì thay đổi.  Tôi tin rằng việc sử dụng cotutelle hiệu quả hơn sẽ rất có lợi cho cả Việt Nam và Pháp, và USTH nói riêng. Sau hội thảo chiến lược USTH, tôi viết về hiệu ứng này và gửi cho những nhà chức trách Việt Nam và Pháp có liên quan. Phía Pháp đã lập tức trả lời, thể hiện sự ủng hộ, nhưng phía Việt Nam không trả lời.     Nguyễn Hoàng Thạch   (Viện Toán học) dịch  —-  1Tôi lưu một số bài viết liên quan tại địa chỉ https://drive.google.com/open?id=11WaVrgi5 MkmbScuKyPM17va8A4vgdvW7  2 https://www.britishcouncil.ph/sites/default/files/06_le_ahn_vinh_vietnam.pdf ; Le AnhVinh, Internationalisation in Vietnamese Higher Education Policies and Practices, 2018.  http://www.vnseameo.org/InternationalConference2018/wp-content/uploads/2018/08/NTMNgoc_Fullpaper.pdf ; Nguyen Thi My Ngoc, Apipa Prachyapruit, Varaporn Bovornsiri, A Quest for International Curriculum Innovation and Change in Vietnam Higher Education Institutions.  https://pdfs.semanticscholar.org/d33c/c4aff98153bc46983951515fd1 f93272e971.pdf; Nguyen Thi Phuong Thu, The internationalisation of higher education in Vietnamese universities, 2018.  3 Tôi liệt kê dưới đây một số tài liệu liên quan:  https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0738059317302584 ; Le Huu Nghia Tran, Game of blames: Higher education stakeholders’ perceptions of causes of Vietnamese graduates’ skills gap, International Journal of Educational Development, Volume 62, September 2018, Pages 302-312.  https://www.mironline.ca/corruption-vietnamese-education-major-issues/ ; Thinh Ho, Corruption in Vietnamese Education: Major Issues, The McGill International Review, November 22, 2017.  https://doi.org/10.6017/ihe.2018.0.10546; Do Minh Ngoc, Competitive Strategies of Vietnamese Higher Educational Institutions.  https://doi.org/10.1177/1523422318803086 ; Tam T. Phuong, Dae Seok Chai, Talent Development for Faculty: The Case of Vietnam, 3/10/2018.  https://mospace.umsystem.edu/xmlui/bitstream/handle/10355/69969/NguyenThiKieu.pdf?sequence=1 ; Thi Kieu Van Nguyen, Vietnamese educational leaders as border crossers: Vietnam and academic and career guidance and counselling activities, May 2019.  https://doi.org/10.3390/su11236818 ; Thuan Van Pham,Thanh Thi Nghiem, Loc My Thi Nguyen, Thanh Xuan Mai and Trung Tran, Exploring Key Competencies of Mid-Level Academic Managers in Higher Education in Vietnam, Sustainability 2019, 11(23), 6818.  Vo Van Tuan, Phan Quoc Lam, Development of private universities in Vietnam, International research journal, 3/81, March 2019;  https://minerva-access.unimelb.edu.au/bitstream/handle/11343/219372/Lily_Thesis_Dec2018.pdf?sequence=1&isAllowed=y ; Lily Thi Ha Nguyen, Becoming professional researchers: An exploration of the experiences of Vietnamese doctoral students in Australia, September 2018.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn đầu xuân về… con Chuột, và nỗi khổ “A Còng”      Tôi không nói về nỗi khổ của “thế hệ @”, mà về nỗi khổ chung của chúng ta, những người đang còng lưng dưới gánh nặng thông tin của thời đại “A Còng”. Và với xã hội, với cả một thế hệ, thì việc ngăn chặn sức tàn phá thói quen suy nghĩ của thời đại @ có lẽ đặt chủ yếu lên vai của ngành giáo dục.    Trong khoảng hàng ngàn năm, và cũng mới cách đây không xa thôi, muốn trở thành nhà thông thái, người ta phải lên núi ở ẩn ít nhất là 3 năm! Lên núi, để có thể suy nghĩ sâu hơn, nhiều hơn. Lên núi, để tạm thời lánh khỏi cái thế giới bộn bề thông tin, mà phần lớn là vô ích, dù thời đó xã hội chưa nhiều thông tin như ngày nay. Bây giờ lên núi khó quá: không mấy người có “trang trại ” trên núi để lên, mà có lên núi đi nữa, cũng trốn đâu cho thoát thông tin, khi Internet đã về đến khắp bản rừng. Đành ngồi giữa phố, giữa ồn ã, bộn bề, lộn xộn thông tin mà suy nghĩ vậy. Không nhiều người làm được điều đó. Càng hiếm hơn trong “thế hệ A Còng”. Lâu rồi, liệu có mất dần thói quen suy nghĩ?           Cuộc cách mạng Internet có lẽ đã tàn phá đi ở một số đông, rất đông người, thói quen suy nghĩ. Và điều đáng lo ngại hơn: phần lớn nạn nhân của nó lại là thế hệ trẻ, “thế hệ A Còng”.        Internet ngày nay có cái gì đó giống như đòn bẩy ngày xưa của ông già Acsimét. Có cái đòn bẩy trong tay, người yếu cũng có thể bẩy được vật nặng chẳng kém gì người khỏe. Đòn bẩy, và nhiều công cụ lao động khác góp phần làm cho xã hội bình đẳng hơn: bình đẳng giữa người yếu và người khỏe (về thể chất). Internet làm được hơn thế: người ít học có thể biết nhiều điều mà “nhà thông thái” không biết, chỉ với một động tác “nhấp chuột”. Đặc biệt là đối với các thông tin thường thấy trong các cuộc thi trên tivi, kiểu như “bài hát này trong phim nào”, hoặc trong mục “Văn hóa” của Vnexpress: “hôm qua cô nàng (ngôi sao) X nào đó bắt đầu cặp bồ với anh Y…”. Có cảm giác như ngày nay, không cần học nhiều, mà chỉ cần nhấp chuột thật thạo. Với con chuột trong tay, con người có vẻ trở nên bình đẳng hơn: sự bình đẳng trong hiểu biết thông tin. Nhiều khi tưởng như con Chuột đã xóa nhòa ranh giới trong xã hội con Người: ranh giới giữa người thông minh và người không thông minh, người học nhiều và người ít học.                   Đúng là Internet đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự, làm thay đổi cả xã hội, từ khoa học kỹ  thuật đến kinh tế, văn hóa, thay đổi cả tính cách con người. Nhưng cuộc cách mạng nào cũng có sức tàn phá của nó. Cuộc cách mạng Internet có lẽ đã tàn phá đi ở một số đông, rất đông người, thói quen suy nghĩ. Và điều đáng lo ngại hơn: phần lớn nạn nhân của nó lại là thế hệ trẻ, “thế hệ A Còng”. Người ta tự cảm thấy hài lòng vì mình “biết nhiều”, thậm chí cái gì cũng biết. Nỗi khát khao hiểu biết nhiều khi được thỏa mãn bởi việc”lướt nét”. Chỉ “lướt” là chủ yếu, chứ hầu như chẳng học gì. Người ta không còn thời gian để đọc một cuốn sách nghiêm chỉnh. Có cảm giác như để thời gian đó mà “lướt nét” sẽ biết được nhiều hơn? Không còn thời gian nghiền ngẫm, các thông tin cứ chảy qua bộ não người ta như một dòng sông chảy không ngừng. Trong dòng sông đó, khi thì cá tôm, khi thì rác rưởi. Đã trở thành “Ngày xưa”, cái thời mà trên giá sách của các bậc túc Nho có thể chỉ có mấy chục cuốn sách Thánh Hiền. Các cụ đọc cả đời, đọc đi, đọc lại, nghiền ngẫm, và trở thành thông thái. Lại càng xa, thời mà Khổng Tử có thể “mặc nhi thức chi”, ngồi lặng yên suy nghĩ mà hiểu được việc thiên hạ.  Không thể, và không nên quay lại “ngày xưa”, nhưng nên quay lại với thói quen suy nghĩ của thời chữ a chưa bị còng lưng dưới gánh nặng của đủ loại thông tin, thời chú Chuột chưa đánh lừa người ham hiểu biết.   Thực ra, ngăn cản bớt, đúng hơn là chọn lọc thông tin, từ lâu đã là một cơ chế của tự nhiên nhằm bảo vệ con người. Chẳng thế mà khi về già, người ta trở nên “chân chậm, mắt mờ, tai nghễnh ngãng, răng rụng,…” Tất cả chỉ để hạn chế bớt thông tin: nhìn ít hơn, nghe ít hơn, đi ít hơn, ăn ít hơn, tóm lại là mọi ngả đường, mọi thứ thông tin có thể vào người đều phải được chặn bớt. Có như vậy, người ta mới thích ứng được, khi khả năng xử lý thông tin không còn như trước nữa. Đến mái tóc, tưởng như không thu nhận thông tin gì, cũng phải bạc dần. Nếu không thế, đôi khi bạn quên mình đã già. Và nguy hại hơn, có thể những người khác giới cũng lầm tưởng bạn còn trẻ, và không chừng các quan hệ mới có thể làm bạn phải xử lý một khối lượng thông tin khổng lồ!        Không thể, và không nên quay lại “ngày xưa”, nhưng nên quay lại với thói quen suy nghĩ của thời chữ a chưa bị còng lưng dưới gánh nặng của đủ loại thông tin, thời chú Chuột chưa đánh lừa người ham hiểu biết.         Với xã hội, với cả một thế hệ, thì việc ngăn chặn sức tàn phá thói quen suy nghĩ của thời đại @ có lẽ đặt chủ yếu lên vai của ngành giáo dục. Làm thế nào để trẻ em từ nhỏ đã vui với niềm vui sáng tạo. Vui vì tự làm được con trâu lá đa hơn là được bố mẹ mua cho cái đồ chơi hiện đại. Muốn sáng tạo, người ta phải suy nghĩ, dù là sáng tạo nhỏ nhặt nhất. Vậy nên khi “giảm tải” chương trình, có lẽ cần giảm tải thông tin, hơn là giảm tải các phương pháp giúp sáng tạo nên thông tin. Chẳng hạn, một định lý (là một thông tin) mà không kèm theo chứng minh thì có nên đưa vào chương trình không? Sợ rằng, khi đó, học theo một cuốn sách giáo khoa sẽ không khác nhiều lắm với việc tìm thông tin trên Internet. Và như vậy, vô tình trẻ em từ nhỏ đã lầm tưởng rằng “ngồi lặng yên nhấp chuột (không suy nghĩ) mà vẫn hiểu được việc thiên hạ”, và khi lớn lên sẽ chỉ là các khách hàng của món “mỳ ăn liền” trong tư duy.  Đôi điều suy nghĩ tản mạn giữa hai lần “nhấp chuột”, dù chưa thấu đáo thì Đầu Xuân cũng xin chữ “đại xá”.  Hà Huy Khoái      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn đầu xuân về lý tưởng của những con Gà nhép      Xin giới thiệu luôn để khỏi hiểu nhầm: năm 2011, một nhà báo già tuy về hưu nhưng vẫn còn sắc sảo, đã mô tả nhóm Cánh Buồm là một con gà trống già theo sau là mấy con gà nhép.  Tôi sẽ kể hầu các bạn vài điều về chuyện những con Gà nhép Cánh Buồm đã tự tạo cho mình một lý tưởng xây dựng nền Giáo dục mới hiện nay và thực thi nó từng bước ở đây như thế nào.  Thôi thì tẻ vui cùng được ngần này, để chúng ta cùng đón xuân.Hy vọng nó không quá nhạt nhẽo, để các bạn bị rông.    Bắt đầu từ chuyện yêu   Thứ Sáu, ngày 6/1/2017, tôi dự một tiết dạy Văn theo sách Cánh Buồm tại lớp 3A, lớp của cô giáo Lương Thị Mơ. Trước đó tôi cũng dự một tiết dạy Văn cũng theo sách Cánh Buồm tại lớp 3B, lớp của cô giáo Đinh Phương Thảo.  Cả hai lớp đều của trường Gateway Hà Nội.  Hoàn toàn không thấy và không hề có dấu vết của tiết học biểu diễn, được chuẩn bị sẵn mọi mặt để “đón Đoàn”.  Những thao tác học Văn nhập vai, tưởng tượng, liên tưởng, các em đã học từ lớp Một đến lớp Bagiúp các em tự làm việc khi gặp bất cứ văn bản nghệ thuật nào.  Những tiết học Văn trước đó, tôi đã thấy các em đóng vai Bà Trưng quát Tô Định “Ta không thù oán gì, sao mi giết chồng ta?”, đã xem các em đóng vai Trưng Trắc run rẩy bám lấy người chị, “Chị ơi, bên ta thua à…nước sông có lạnh lắm không?  Tôi cũng đã xem các em đóng vai sứ giả Giang Văn Minh “Đằng giang tự cổ duyết do hồng” dõng dạc và lịch sự đáp lạicái vẻ cười nhăn nhở nhạo báng của vua nhà Minh khi ra vế đối “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”…  Ở tiết học hôm thứ sáu tại trường Gateway, tôi lại được mải mê theo dõi các em thực hiện các thao tác tự học bài văn Một con chó hiền và đóng vai cô bé Faucheuse vuốt ve con chó nhỏ.  Bài văn này nằm trong loạt bài tôi chọn và dịch từ đầu những năm 1980 để dạy ở trường Thực nghiệm của giáo sư Hồ Ngọc Đại. Mấy chục năm rồi, dự giờ mãi các tiết học Văn đó, thế mà tôi vẫn không thấy chán. Chỉ vì tôi được chứng kiến trẻ em tham gia vào việc học không chút mệt mỏi.Vì các em không phải nghe giảng và trả lời đúng ý giáo viên để được điểm cao. Ở đây, các em được sống thực một tình cảm người để sau đó diễn đạt lại bằng lời của riêng mình thể hiện cách cảm nhận tác phẩm của riêng mình.  Dự giờ hôm thứ Sáu ở lớp 3A, có một chuyện làm tôi ngạc nhiên. Đó là đoạn cô bé Faucheuse ôm con chó nhỏ vỗ về nó và nói với nó “Đây rồi, đây đúng là sinh vật duy nhất thực lòng yêu ta”.  Tất cả các cặp lên diễn đều được vỗ tay trong thái độ im lặng có phần cảm động.Riêng đoạn một em trai làm con chó để một em gái vỗ về và nói câu tâm sự đó, thì lại được cả lớp vỗ tay và cười nghiêng ngả.  Cô giáo Thanh Hải, hiệu phó phụ trách triển khai sách Cánh Buồm, nói khẽ vào tai tôi:  – Thầy biết vì sao chúng nó vui thế không?  – Ở lớp nào bọn con trai cũng thích đóng con vật, cứ gì lớp này?  – Không! Thằng cu ấy mê con bé này đấy.  – Thật à? Ờ, cô nàng cũng xinh thật!  – Thế mà bây giờ cô bé lại nói “đây đúng là sinh vật duy nhất thực lòng yêu ta”…   Nếu không ở trong lớp, chắc chắn mình phải phá lên cười hết cỡ.  Tình yêu trẻ con, thích lắm.  Hồi ở trường Thực nghiệm Giảng Võ, GS Hồ Ngọc Đại đã mở hội thảo bàn về chuyện này. Tôi vẫn nhớ như in kết luận của anh Đại bữa đó: “Chúng nó yêu nhau, có tồi tệ nhất thì cũng hơn cái gọi là trong sáng của người lớn”.  Nay nghĩ lại lời của anh Đại, bỗng nhớ việc cũng ở trường đó, một em học sinh, sau này trưởng thành, có chồng con, là một cô giáo chững chạc, cũng khoe với tôi “hồi lớp Sáu em yêu thầy đấy!”Thật hú vía! Hồi cô giáo ấy đang học lớp Sáu, mình đã quá “người lớn” rồi!  Ở một nhà trường không có ganh đua và nịnh bợ vì điểm số, chỉ có học và học hết mình, tình cảm con người mới có thể chân thành và trong sáng.  Cô giáo Thảo được phụ huynh chia sẻ việc bà xem sách vở của con, và con bà nói với mẹ: “Những gì con viết, chỉ cô Thảo mới hiểu hết, mẹ chưa hiểu được đâu!” Cũng cô Thảo, một lần giả vờ ra oai tịch thu “Sổ tay viết văn” của các em lớp 3B, đã được các em phản ứng rất dễ thương như thế này (Xin coi hình).      (Cô Thảo tịch thu sổ tay.  Cô Thảo tịch thu tận cả mấy ngày.  Em thấy buồn khi không được viết.  Cô Thảo có biết là cóngười buồn không?  Cô Thảo,  Em muốn cô biết  Là thiếu sổ tay chúng em buồn lắm.  Bảo Anh)    Một đời đi dạy học, tôi tin rằng mỗi giáo viên đều mong được học trò nũng nịu với mình như thế.  Gà nhép Cánh Buồm xây dựng lý tưởng   Cuối năm 2009, nhóm Cánh Buồm ra đời.Khi đó mới chỉ có “thê đội” 1 gồm những bạn trẻ.Cả nhóm Cánh Buồm bắt buộc phải qua một giai đoạn “tẩy não”. Một nửa quân số đã ra đi vì thấy mình ảo tưởng, và cũng vì công việc không hề nhàn nhã, chưa kể là chẳng đem lại thu nhập gì.  Giai đoạn “đào tạo lại” này gồm có bàn bạc lại với nhau về lý thuyết; thực hành biên soạn bộ sách lớp Một đầu tiên; tổ chức cho các nhà biên soạn tự taydạy thực nghiệm bộ sách đó. Kết quả là có cuộc hội thảo cuối năm 2010 Chào Lớp Một ra mắt xã hộithăm dò Sáu cuốn sách đầu tiên Tiếng Việt, Văn, Lối sống, Khoa học-Công nghệ, Tin học, và Tiếng Anh.   Từ năm 2011 trở đi, mỗi năm làm thêm một khối lượng việc mới lại thêm một bước đánh dấu một nấc trưởng thành về lý tưởng Giáo dục của đàn Gà nhóm Cánh Buồm.  Năm 2011, hoàn thành sách Tiếng Việt và sách Văn hết lớp Bốn cũng là lúc cả nhóm Cánh Buồm hiểu rõ hơn về Giáo dục Hiện đại. Tính chất hiện đại của Giáo dục không thể hiện ở những thay đổi bề ngoài của nhà trường qua những thiết bị đắt tiền.Nhà trường hiện đại thể hiện ở cách học và ở quá trình tổ chức cho trẻ em biết tự học – tự giáo dục.  Phải cảm ơn ông giám đốc Trung tâm văn hóa Pháp ở Hà Nội Patrick Michel người trong hai nhiệm kỳ bốn năm đã hết lòng kích thích Cánh Buồm.Cuối năm 2011, Patrrick Michel đã giúp nhóm Cánh Buồm thăm dò ý tưởng và công trình của mình bằng gợi ý đi tìm phản biện ở xa hơn. Ông giám đốc đã chi tiền mời một giáo sư Pháp sang tìm hiểu và phản biện.  GS Cao Huy Thuần đã giúp tìm được GS Alain Fenet của Đại học Nantes sang thăm và làm việc với nhóm. Anh Thuần hóm hỉnh viết thưcho nhóm: có hai giáo sư giỏi như nhau, một bà phải ở khách sạn năm sao và một ông có thể ngồi đầu hè ăn bún đạu phụ với các bạn, chọn ai?  Công việc bận rộn, nhưng nhóm Cánh Buồm đã dịch gần hết các tài liệu gốc của mình sang tiếng Pháp hoặc tiếng Anh cho “bạn” Alain đọc. Alain Fenet đã có bài viết từ trang 170-183 trong một tài liệuin năm 2011[1].  Cuối năm, lại là anh Cao Huy Thuần gọi điện sang Hà Nội: “Ngay khi Alain về Pháp, ông ấy gọi điện ngay cho tôi, ba lần nói chữ merveilleux và rất nhớ “cái nhóm nhà giáo dục nho nhỏ be bé” ở Hà Nội. Cánh Buồm làm gì mà bị ông ấy “mê” đến thế?”  Việc học nghề là nhân lõi của công việc được nhóm Cánh Buồm gọi tên là cuộc cải cách nhà cải cách và đã thành tiêu đề cho bài báo đăng ngày 1/1/2017 trên báo mạng Giáo dục (Giaoduc.net.vn)[2].  Nhưng những hỗ trợ khác về tinh thần cũng rất quan trọng.  Trong sự hỗ trợ này, cần phải đặc biệt cảm ơn bà Nguyễn Thị Bình, và tiếp đó là nhiều cơ quan, tổ chức,đã củng cố lý tưởng đổi mới Giáo dục cho những con Gà nhép nhóm Cánh Buồm.  Bà Nguyễn Thị Bình thuộc tên các “nhà hoạt động văn hóa” của nhóm.Rất thiết thực, bà chỉ đường đi xin viện trợ của tổ chức NGO (nhưng nhóm Cánh Buồm không thực hiện được việc này vì không chấp nhận nhiều ràng buộc vô ích, nhóm trưởng bị bà trách là “bảo thủ”, không “uyển chuyển”).  Chính bà Nguyễn Thị Bình đã giúp tổ chức cuộc gặp gỡ báo cáo giữa nhóm Cánh Buồm với Vụ Tiểu học của Bộ Giáo dục vào ngày 3/2/2012.(Mặc dù báo cáo xong thì cả hai phía đều coi như chưa có chuyện gì xảy ra).  Cần cảm ơn ông Vũ Ngọc Hoàngđã mời nhóm báo cáo về tư tưởng và hoạt độngcủa Cánh Buồm tại Ban Tuyên Giáo Trung ương vào tháng 3/2010.Sau này, vào năm 2013, Ban còn “bảo lãnh” cho “nhóm lao động tiên tiến” này lên kế hoạch triển khai thử nghiệm sách tiểu học ở ba trường của Hội An. Ông giám đốc Sở Giáo dục tỉnh Quảng Nam đã ra tận trụ sở Ban Tuyên giáo gặp nhóm Cánh Buồm.  Sau hơn nửa năm chuẩn bị và chờ, nhóm được chính bà Nguyễn Thị Bình báo tin là “nó hứa mà nó không làm, các em à”. Và nhóm được bà “an ủi”20 triệu đồng là tiền nhuận bút của bà – tiền này thì nhóm nhận, như nhận của người chị lớn chờ đợi trên bờ trước khi đoàn ngư phủ giong buồm ra khơi.  Và không chỉ một đoàn ngư phủ con con dăm bảy con Gà nhép như thuở ban đầu thành lập.  Đến năm 2015 và 2016, đã khó trả lời nhanh cho câu hỏi “nhóm Cánh Buồm có bao nhiêu người?” Bây giờ đã phải lẩm nhẩm đếm: nhóm Gà nhép ban đầu, nhóm các cụ già dịch và làm bộ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm, nhóm các giáo viên thực hành, và gần nhất là nhóm các soạn giả bộ sách mới ra mắt: tám tập sách Tiếng Việt và sách Văn từ lớp Sáu đến lớp Chín.  Những thành viên già mới tham gia vào nhóm Cánh Buồm đã củng cố lý tưởng giáo dục hiện đại cho những con Gà nhép nay đã lên tuổi trên ba mươi. Tuổi ba mươi… Không một chút buồn như Quang Dũng ngày trước, “Lòng người trai ba mươi/ Vui như trẻ lên mười/ Yêu như tuổi mười bảy/ Buồn như sắp năm mươi”…  Gốc của sự vui  Nếu bây giờ có ai hỏi “điều gì bạn thích nhất ở nhóm Cánh Buồm?” mình sẽ không ngập ngừng nói ngay: cái không khí sống vui.   Môt tổ chức cũng như một con người.Muốn con người hoặc tổ chức sống cho ra sống, trước hết nó cần có một linh hồn.  Linh hồn của một tổ chức là tư tưởng của nó.Cái tư tưởng khiến nghìn người như một.  Linh hồn của một con người là tâm hồn của nó.Tâm hồn của một con người trong một tổ chức là lý tưởng của nó, là lẽ sống vì cái tư tưởng của tổ chức con người nằm trong đó.  Một tư tưởng không bao giờ là một tư tưởng suông, giáo điều, thô thiển. May mắn là nhóm Cánh Buồm ngay từ khi “rủ nhau chào đời” thì cũng rủ nhau ngẫm nghĩ về cái lẽ sống của từng người trong nhóm.  Lẽ sống của nhóm Cánh Buồm là xây dựng một nền Giáo dục hiện đại.Cả nhóm đã giáo dục nhau tìm những giải pháp xây dựng nền giáo dục trong mơ ước ấy.Giải pháp gốc là tìm ra cách học sẽ phải trở thành cách tự học của con em.  Cách tư duy đó dẫn tới những sản phẩm cụ thể, sờ mó được, bóc tách ra được.Để làm cho các sản phẩm của mình từ thô đến tinh đến độ tương đối hoàn thiện.Lý tưởng dắt dẫn việc làm – và càng làm càng củng cố lý tưởng.  Nhóm Cánh Buồm tu ở giữa chợ, chứ không tu trong “thiền viện” được cung cấp rau sạch, thịt sạch, nước sạch, cả lửa sạch và cả kinh phí sạch nữa.  Vật lộn xây dựng Giáo dục hiện đại trong đời sống thực xô bồ mà có thực những học sinh giỏi thì mới quý.  Nhân ngày xuân, cho phép tôi giới thiệu mấy bài thơ dịch của học sinh lớp 4 trường Olympia, Hà Nội, học trò của cô giáo Phạm Hải Hà. Trong một số Tia Sáng trước đây[3], nay chọn tiếp cũng trường hợp ấy để thấy những học sinh lớp 4 đủ khả năng cảm nhận bài thơ tiếng Anh và dịch thành bài thơ tiếng Việt làm rung động tâm hồn người đọc – hiện tượng lặp lại đó chứng tỏ “thành công” năm ngoái không phải là chuyện may rủi.  Xin nhắc lại, “đề thi” 1 vẫn là bài thơ cũ được nhà thơ Hoàng Hưng thách dịch:  Night in the garden  Moonlight drops softly  From small flowers. Night wind sings  Like a lost lover  Gele Mehlam, lớp 11 (Ohio)  Còn đây là những bài thơ các học trò cô Hải Hà dịch năm 2016:  Ánh trăng rỏ xuống nhè nhẹ  Từ bông hoa bé nhỏ, gió đêm hát lên  Như là mất một người ta đã yêu…  (Quang Duy dịch)  *  Ánh trăng tỏa xuống mềm mại  Trên những bông hoa nhỏ, gió vi vu  Như người thất tình…  (Đăng Phan dịch)  *  Ánh trăng rơi rất nhẹ nhàng  Từ các bông hoa bé bỏng. Cơn gió đêm hát  Như tìm người yêu mất tích…  (Quang Minh dịch)  *  Ánh trăng rơi dịu dàng từ bông hoa nhỏ  Gió đi ngang qua đêm và đang hát  Như mất đi người mình yêu  (Thuận An dịch)  Nhà thơ Hoàng Hưng còn thách dịch thêm mấy bài nữa, nhưng nhân tiện đang bước vào xuân, và cũng tôn trọng khuôn khổ trang báo, xin tặng bạn đọc thêm một bài dịch nữa:  Spring  Spring’s once every year  It comes in like lion, roar  Out like a lamb, baal  Shannon, lớp 6 (Michgan)  Hằng năm xuân đều thế  Đến như sư tử gầm vang  Đi như chú cừu bẽn lẽn  (Minh Trí dịch)  Nhóm Cánh Buồm tiến hành xây dựng “mẫu” Giáo dục hiện đại. Công cuộc giáo dục phổ thông đó không có sứ mệnh đào tạo nhà thơ, hoặc nhân tài. Sản phẩm về Văn và Tiếng Việt của giáo dục phổ thông chỉ là những con người nhạy cảm, có đủ vốn tiếng mẹ đẻ đủ phong phú để thể hiện tâm hồn mình.  Để làm gì?Để có bạn, dể không buồn như nhà thơ Quang Dũng chẳng hạn, để sống sống sống.  Ham sống, và biết sống cuộc đời đáng sống.          [1]Alain Fenet, “Ý kiến phản biện về công trình của nhóm Cánh Buồm qua bản báo cáo Cánh Buồm – một ước vọng giáo dục hiện đại (hai bản tiếng Việt và tiếng Pháp); trong Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại – kỷ yếu hội thảo TỰ HỌC – TỰ GIÁO DỤC, Tri thức xuất bản, 2011. Bài của giáo sư Alain Fenet từ trang 170-183.        [2]http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Tro-chuyen-cung-nhom-Canh-Buom-Cai-cach-nha-cai-cach–uu-tien-cua-moi-uu-tien-post173559.gd      [3]Phạm Toàn: Nhà Trường Mới như chúng tôi đã có, Tia Sáng số 17, ra ngày 05/09/2016.        Author                Phạm Toàn        
__label__tiasang Tản mạn về lều chõng      Người học ngày nay vẫn nơm nớp với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tạo. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ; cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng.     Thú thực, xem xong bộ phim Lều chõng của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân (Hãng phim TFS sản xuất) dễ đến cả tuần lễ sau tôi vẫn bị ám ảnh. Bộ phim dựa trên một truyện dài cùng tên của nhà văn Ngô Tất Tố xoay quanh câu chuyện về anh học trò tài năng Đoàn Vân Hạc bị hỏng thi hết lần này lần khác vì nhiều lí do khác nhau. Có điều, tất cả những lần thi hỏng ấy đều từ những lí do khách quan như ốm đau, hay quy phạm ngặt nghèo của trường thi mà tài năng kiệt xuất ấy đã không được trân trọng và lựa chọn. Không chấp nhận những rủi ro liên tiếp như định mệnh, Đoàn Vân Hạc vẫn bản lĩnh vượt qua tất cả trong lần dự thi cuối cùng. Tưởng như đã chạm được một tay vào danh vị thủ khoa năm ấy thì bỗng dưng anh biến thành kẻ trắng tay trong phút chốc. Giấc mộng công danh biến mất, màn ảnh nhỏ khép lại, người xem thấy tiếc cho một tài năng, thấy bức bối với quy định nghiệt ngã của xã hội cũ và có thêm một suy cảm mới mẻ: Nhìn lại chuyện bút nghiên ngày nay, vẫn còn quá nhiều rào cản và thử thách không đáng có ngăn trở bước tiến của những tài năng trong cuộc sống hiện đại.       Trong suốt gần một ngàn năm tồn tại, các kì thi này đã tuyển chọn, cất nhắc được nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng mà không câu nệ vào tuổi tác như trạng Nguyễn Hiền 13 tuổi hay tướng mạo xấu xí, quái dị như Mạc Đĩnh Chi. Tuy nhiên, ở giai đoạn thoái trào của các tập đoàn phong kiến, đã xuất hiện những quy định phiền hà, oái oăm đánh trượt nhiều tài năng. Trước sự vận động của thời cuộc, đòi hỏi tìm kiếm những người có tài năng, cá tính mạnh mẽ. Có tư duy linh hoạt bứt phá thì những chuẩn mực lạc lõng kia thực sự là những rào cản nghiệt ngã. Sự tồn tại của nó xuất phát từ quan niệm ấu trĩ về cách đánh giá và lựa chọn hiền tài dựa trên những tiêu chí máy móc. Nó buộc người ta phải vượt qua những may rủi của con đường thiên lý đến những sự tránh né, kiêng kị trong câu cú, gò mình trong khẩu khí.   Chuyện lều chõng tưởng cũng đã xưa. Vậy mà bất giác lại khiến tôi nghĩ đến một kỷ niệm. Nhớ lại cái ngày còn bé, gia đình tôi còn ở một bản miền núi. Tôi hiểu vào đời lập nghiệp thiêng liêng thế nào khi chứng kiến anh trai mình dậy từ gà gáy khăn gói về Hà Nội thi đại học. Hai giờ sáng xe chạy, mất gần hai ngày rong ruổi đủ cả ngủ trọ, cơm nắm, cơm đùm, qua bao đèo dốc quanh co… Đêm trước ngày thi, Hà Nội lại có cơn giông lớn, cây đổ gây ách tắc nhiều ngả đường, phố xá ngập lụt. Đường đến cổng trường đại học của những thí sinh năm đó lại đằng đẵng thêm một quãng nữa. Có phải số anh tôi vất vả hay cái nghiệp thi cử thời nào cũng gian nan thế ư? Sau này lớn lên tôi hiểu, điều ấy được đổi lại bằng sự công tâm của những kì thi mà nếu đưa về các địa phương hay lồng ghép “2 trong 1” thì thật là khó…  Vài năm sau gia đình tôi chuyển về gần Hà Nội. So với anh cả, tôi và các em tôi được làm “người phố xá” nên thấy cái gì cũng lợi, cũng tiện, hơn hẳn những học trò vùng xa xôi. Quá khứ thi cử nhọc nhằn của anh giờ chỉ còn là chuyện kể vui tai trong bữa cơm của đại gia đình. Có lẽ, những con đường mòn lầy lội kia đã vĩnh viễn nằm dưới lớp bê tông, chiếc xe khách cà tàng ba ngày chạy về Hà Nội một chuyến đã vào một bãi sắt vụn nào đó. Nhưng hoá ra không phải, những phương tiện hiện đại đã giúp người học bớt đi một phần sức lực nhưng vẫn còn đó quá nhiều những rào cản không đáng có bởi những quan niệm cũ kĩ.   Thời phổ thông, học trò căng sức với các môn thi đại học. Kiến thức đa phần nằm trong quyển vở ghi lời lẽ của thầy. Thế mà vào đại học chúng tôi cứ vấp hết thứ này đến thứ khác. Những thứ khó vì lạ chứ không phải vì đòi hỏi trình độ tư duy. Nào là: cách đọc sách, cách lập dàn ý, cách viết tiểu luận, làm việc theo nhóm, seminar… mà lần đầu tiên đã là lần đánh giá trình độ.   Có phải vì đã là sinh viên (được coi là có học) là phải biết rồi chứ! Phải sẵn từ trước đó. Người phương Tây cho rằng, để chuẩn bị cho toàn cầu hoá nền giáo dục, họ sẽ bắt đầu xây dựng từ cấp phổ thông. Bởi lẽ, họ muốn trang bị cho học trò những kĩ năng trước khi vào cuộc đua tri nhận kiến thức và tư duy ở các cấp học cao hơn. Nói cách khác, mọi học sinh đều ngang tầm nhau về trang bị và hồ hởi đua sức. Khi đó việc đánh giá, phân loại sẽ dễ dàng và chính xác biết bao. Thế mà học trò của ta lắm khi cứ bị “bé đi”, bị “trầy xước” bởi việc làm quen với những thao tác kia trước khi nhập cuộc đua tri thức.  Ngẫm lại mới thấy sự ám ảnh với chiếc lều chõng là có lí thật. Dẫu rằng, ngót trăm năm qua những thứ gianh tre kia đã mục nát lâu rồi. Đó là một gánh nặng khác. Gánh nặng của những quy tắc đã lỗi thời mà ở những nền giáo dục tiên tiến không còn tồn tại. Đó là người học vẫn nơp nớm với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tao. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ, cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng. Như thể ta mãi chú ý cái tầm cao của tên lửa mà quên nhìn lại cái mấp mô, lổn nhổn của từng bệ phóng cho tri thức.   Cũng như muôn vàn bình diện khác của cuộc sống, giáo dục đang tự làm mới mình bằng những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Công bằng mà nói chuyện thi cử của chúng ta ngày nay cũng rất nghiêm túc. Nhưng cớ sao chuyện tìm kiếm và đào tạo nhân tài vẫn còn nhiều điều bất cập. Có lẽ chỉ khi nào chúng ta dũng cảm từ bỏ được những quan niệm cũ thì nỗi ám ảnh ấy không còn nữa. Như thế con đường lập nghiệp bằng chữ nghĩa mới thật sự rộng mở với mọi người.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về sách giáo khoa (Tranh luận với…chính mình)      Sang năm mới, cái “mới” đầu tiên nổi lên là học sinh lớp một bắt đầu dùng sách giáo khoa theo Chương trình giáo dục phổ thông “mới”. Lớp Một là lớp quan trọng nhất. Những gì được vẽ nên trong bộ óc còn trong sáng sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời.  Bởi thế nên không ai không quan tâm đến sách giáo khoa mới, kể cả những người không có con cháu vào Lớp Một. Ai cũng bàn, cũng góp ý về sách giáo khoa, nhất là sách giáo khoa Lớp Một. Trong những cuộc tranh luận nhiều khi rất “nẩy lửa”, ít thấy hai người nào hoàn toàn đồng ý với nhau! Bài viết này ghi lại vài ý kiến trong cuộc tranh luận của tôi với…chính mình! Cũng chưa thấy  phân định thắng thua, và chắc cũng còn lâu “hai bên” mới đi đến hồi kết.      Chúng ta vẫn cần các cuốn giáo khoa dành cho “đại trà”. Ảnh: Học sinh trường tiểu học Trần Phú, Kon Tum. Nguồn: trường tiểu học Trần Phú, Kon Tum.  1. Viết cho ai?  Một cuốn giáo khoa thật sự tốt là cuốn giáo khoa chỉ dành cho… MỘT NGƯỜI.  Không tìm thấy hai người nào giống nhau. Vì thế sách dành cho họ cũng phải khác nhau, nếu muốn được gọi là “tốt”. Tuy nhiên, chỉ có các Thái tử ngày xưa mới được hưởng cái quyền đó: có cả một đội ngũ các quan Thái phó chuyên dạy cho họ.   Trong khi chờ đến cái ngày mà AI (trí tuệ nhân tạo) cung cấp cho mỗi người cuốn sách giáo khoa thích hợp với riêng họ, ta vẫn cần các cuốn giáo khoa dành cho “đại trà”. Viết cho đại trà, mà được “đại trà” công nhận là “tốt”, thật khó lắm thay! Cái mà nơi này thấy hay, thì nơi kia thấy khó. Có hình ảnh miền xuôi, không thể thiếu miền ngược. Có nông thôn, phải có thành thị. Trẻ em “chậm hiểu” vẫn qua sách mà nắm được đầy đủ “yêu cầu cần đạt” của Chương trình giáo dục phổ thông quốc gia, trong khi những em “thông minh” không thấy là quá dễ, vẫn còn đất để mà đào sâu suy nghĩ.  Khó, nhưng người viết sách giáo khoa phải xác định ngay từ đầu: sách dành cho ai? cho học sinh tất cả các vùng miền, hay chỉ một số đối tượng nào đó?  2. Viết cái gì?  Trở lại câu hỏi đầu tiên: thế nào là một sách giáo khoa tốt? Khi khen chê sách giáo khoa, một câu rất thường nghe thấy: “hồi tôi đi học,…” Tức là mỗi người thường đánh giá sách giáo khoa theo kinh nghiệm của họ. Mà “kinh nghiệm” chính là quá khứ. Sách giáo khoa lại là cái dành cho tương lai. Đem “quá khứ”,  thậm chí là “hiện tại” để đánh giá tương lai, tất không thể tránh khỏi khiên cưỡng. Nếu ta nghĩ chỉ cho học sinh học những thứ mà ta thấy cần, thì khi lớn lên chắc con em chúng ta khó mà vượt qua được chính chúng ta! Biết tương lai cần cái gì là điều không dễ. Vậy nên đừng nghĩ mọi thứ học sinh được học mà ta “chưa biết dùng để làm gì” đều là những thứ “viển vông”. Ngày xưa ta ăn rau ăn cháo, học sách giáo khoa “lạc hậu” mà vẫn lớn lên khỏe mạnh, nên người. Đành là vậy, nhưng vẫn cần cho thế hệ này của tương lai ăn “thịt, cá” nhiều hơn, và những cuốn sách giáo khoa khác với “ngày xưa”.      Nếu chỉ chăm chú luyện bài tập khó, luyện”mẹo” mà ít rèn luyện kiến thức cơ bản nâng cao, chúng ta dễ làm các học sinh giỏi của mình đạt thành tích sớm, và cũng “còi” sớm về trí tuệ.      Cuộc sống bây giờ thay đổi quá nhanh. Đến nỗi người như Bill Clinton cũng phải nhận xét: “Khi tôi bắt đầu nhiệm kỳ Tổng thống, thế giới mới có 50 trang web. Vậy mà 5 năm sau, con số đó đã là…2 tỷ”! Điều này đặt ra những khó khăn lớn cho những người viết sách giáo khoa. Nếu “xã hội cần gì, phải dạy cái đó” thì rất có thể học sinh ra đời sẽ thiếu thực tiễn! Dạy họ làm cái ô tô chạy xăng thì khi ra đời, mọi ô tô có thể đã chạy bằng pin mặt trời! “Thực tế” thay đổi rất nhanh, nhất là trong thời đại công nghệ cao của hôm nay. Nhưng có một “thực tế” không bao giờ thay đổi: để có thể thích ứng với mọi công nghệ mới, mọi lý thuyết mới, mọi thay đổi của xã hội, con người cần một kiến thức cơ bản thật vững chắc. Về cả tự nhiên và xã hội. Nhiều công ty, cơ quan phàn nàn về việc sinh viên ra trường chưa làm việc được ngay, mà phải “đào tạo lại”. Nguyên nhân hoàn toàn không phải vì nhà trường không dạy những cái công ty đang cần (và hiển nhiên cũng không thể dạy tất cả những gì mà các công ty khác nhau đang cần), mà chính vì đã dạy chưa cơ bản. Nếu sinh viên ra trường có kiến thức cơ bản vững chắc thì việc thích ứng với mọi công ty không phải là điều khó khăn quá.  Trang bị những kiến thức cơ bản chính là nhiệm vụ của các nhà trường. “Kiến thức” ở đây không phải là những gì mà ta có thể tìm thấy trên ‘google” với một cái nhấp chuột. Đã qua cái thời con người cần nhớ thuộc lòng mọi thứ. Học sinh bây giờ cần những cái mà họ không thể “gúc” mà có được. Đó chính là phương pháp tư duy, khả năng tìm tòi những cái mới, khả năng thể hiện tường minh những ý nghĩ mơ hồ và bất chợt, khả năng làm việc và tìm tòi tập thể.       Sách giáo khoa là bài hát phải viết sao cho thích hợp với “chất giọng” của…một triệu giáo viên, như bài hát viết cho một triệu ca sĩ! Vì thế, yêu cầu đầu tiên phải là “dễ hát”, không được có nốt quá cao, quá trầm. Dễ, mà vẫn phải hay, đấy mới là điều khó!      Nếu so sánh sách giáo khoa Việt Nam với các nước thì có thể thấy kiến thức của ta cũng không có gì “quá tải”. Ở đây, khi nói về “kiến thức”, ta nói về những khái niệm, phương pháp chung mà học sinh cần nắm được. Còn nếu so sánh các “mẹo mực”, các câu hỏi lắt léo thì có thể học sinh của ta bị quá tải hơn bạn cùng lứa nước ngoài. Nếu chỉ chăm chú luyện bài tập khó, luyện “mẹo” mà ít rèn luyện kiến thức cơ bản nâng cao, chúng ta dễ làm các học sinh giỏi của mình đạt thành tích sớm, và cũng “còi” sớm về trí tuệ.  3. Viết thế nào?  Khi nhạc sĩ viết xong một bài hát, một bản nhạc, bài hát đó, bản nhạc đó bắt đầu có cuộc đời riêng của nó, nhiều khi khá độc lập với người đã sinh ra nó. Cũng có nhạc sĩ tự hát bài mình sáng tác, nhưng phần lớn nhạc sĩ hát không hay! Muốn đến được với đời, bài hát phải nhờ ca sĩ, bản nhạc phải nhờ dàn nhạc. Thông thường công chúng chỉ còn nhớ đến ca sĩ đã hát thành công bài hát, mà không biết tác giả của nó là ai. Các nhạc sĩ cũng không lấy thế làm buồn: điều họ mong ước là bài hát của mình được công chúng đón nhận.    Sách giáo khoa cũng vậy. Những người viết sách không thể đi dạy, và có dạy cũng thường dạy dở! Chỉ có các thầy, cô giáo mới đưa được những điều trong sách giáo khoa đến với học sinh. Nói cho cùng, người viết sách giáo khoa có phần khó hơn nhạc sĩ! Khi Trịnh Công Sơn viết “Hạ trắng”, ông đã hình dung ra chất giọng Khánh Ly, và nhiều bài hát của ông dường như chỉ viết dành cho Khánh Ly. Sách giáo khoa là bài hát phải viết sao cho thích hợp với “chất giọng” của…một triệu giáo viên, như bài hát viết cho một triệu ca sĩ! Vì thế, yêu cầu đầu tiên phải là “dễ hát”, không được có nốt quá cao, quá trầm. Dễ, mà vẫn phải hay, đấy mới là điều khó!  Người làm sách giáo khoa có thể góp phần giúp cho giáo viên dễ dạy, đấy là khi những kiến thức trong sách tạo được niềm vui học tập cho học sinh, các bài học dành cho giáo viên ít nhiều khoảng không để sáng tạo, phù hợp với khả năng và sở thích của họ. Và một điều không kém quan trọng: người viết và người dạy cần hiểu nhau, có thể thông qua các hình thức “tập huấn”. □    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Tăng cường hợp tác giáo dục đại học Việt Nam-Pháp      Sáng 25/6, tại trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp ở Paris, đã diễn ra Hội nghị trực tuyến lần thứ nhất Hội đồng trường (Conseil d’université) – Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) nối Paris-Hà Nội-Trà Vinh, dưới sự chủ trì của GS Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng trường USTH.        Hội nghị được tổ chức trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Pháp của đoàn Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, do Bộ trưởng Phạm Vũ Luận dẫn đầu từ ngày 22-27/6.      Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho rằng đây là cuộc họp “có ý nghĩa rất quan trọng” đối với sự phát triển của USTH, một dự án “tiêu biểu” cho sự hợp tác chặt chẽ trong giáo dục và đào tạo của hai chính phủ hai nước và là một “sự kiện có ý nghĩa” đối với việc kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Pháp.      Bộ trưởng đánh giá cao sự hợp tác và liên kết giữa USTH với các trường đại học liên kết thuộc Liên minh đào tạo và nghiên cứu Pháp, đồng thời không quên nhắc đến việc phía Pháp cử hàng trăm các giáo sư, các nhà nghiên cứu có trình độ tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của trường, cũng như việc tài trợ rất nhiều các trang thiết bị phục vụ các hoạt động này.      Hiện nay USTH có khoảng gần 500 sinh viên và học sinh đang theo học tại 3 hệ đào tạo cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ.      Về phía Pháp, bà Hélène Conway-Mouret, Bộ trưởng đặc trách người Pháp ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao Pháp, tỏ niềm tự hào của Pháp luôn “cùng đồng hành với sự phát triển” của ngành giáo dục và đạo tạo đại học của Việt Nam.      Bà Conway-Mouret đánh giá trường USTH là “thành quả tốt đẹp” của sự hợp tác Pháp-Việt và của sự cam kết liên tục trong 20 năm qua của Pháp luôn cùng đồng hành với sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Bà cho rằng USTH hiện là một “dự án tiêu biểu” về hợp tác đại học và nghiên cứu khoa học Pháp-Việt.      Hợp tác giáo dục đại học của Pháp đã góp phần đáp ứng nhu cầu của rất nhiều thanh niên Việt Nam được tiếp tục đào tạo tại các trường đại học ở nước ngoài cũng như việc nâng cao chất lượng đào tạo tại chỗ ở Việt Nam. Pháp là một trong những nước châu Âu đầu tiên đón các sinh viên Việt Nam sang học tập và nghiên cứu.      Năm 2012 có hơn 6.000 sinh viên học sinh Việt Nam được đào tạo đại học, thạc sỹ, tiến sỹ tại Pháp. Đến nay, đã có khoảng 3.500 sinh viên Việt Nam được nhận bằng kỹ sư theo chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại các trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, được thiết lập từ năm 2007.      Đặc biệt, bà Geneviève Fioraso, Bộ trưởng bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu, đồng Phó Chủ tich Hội đồng trường USTH, cho rằng mô hình trường USTH được coi là một trong những dự án “đối tác tham vọng và sáng tạo” Pháp-Việt mang tính khác biệt so với các dự án giáo dục khác trong khu vực về đào tạo, nghiên cứu và liên kết với các ngành công nghiệp.      Bà Fioraso cho biết theo thỏa thuận hợp tác đạt được ngày 28/12/2012 giữa hai chính phủ, Pháp cam kết trong vòng 10 năm sẽ dành 100 triệu euro cho sự hình thành và phát triển USTH, với mục tiêu sẽ đón 3.000 sinh viên Việt Nam từ nay đến năm 2020 và 6.000 sinh viên đến măn 2026.      Đồng thời, bà Fioraso bày tỏ sự “ủng hộ hoàn toàn” của mình đối với phương hướng đào tạo và phát triển của USTH và đánh giá USTH là một “hình mẫu độc đáo” phục vụ được cả ba mục tiêu: phát triển kinh tế, xã hội và con người trên cả ba bình diện “được đào tạo, nghiên cứu và sáng tạo.”      Tuy mới khai giảng tháng 10/2010, USTH là một trong hai Đại học hoạt động “xuất sắc” nhất của Hà Nội và là hai đại học quốc tế sử dụng ba ngôn ngữ trong giảng dạy (Anh, Pháp và Việt).  Nguồn:http://www.vietnamplus.vn/Home/Tang-cuong-hop-tac-giao-duc-dai-hoc-Viet-NamPhap/20136/203850.vnplus        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng cường ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy-học      Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở trung ương và các địa phương.      Học sinh học ngoại ngữ tốt hơn với sự hỗ trợ của máy tính. Ảnh: Trung tâm tin học, Đại học KHTN, ĐHQGTPHCM  Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.  Theo đó, đến năm 2020, phấn đấu 100% các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục và đào tạo thực hiện quản lý hành chính xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 70% cuộc họp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở giáo dục và đào tạo được áp dụng hình thức trực tuyến.  70% lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được thực hiện qua mạng theo phương thức học tập kết hợp (blended learning); 50% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến tối thiểu mức độ 3, trong đó 30% được xử lý trực tuyến ở mức độ 4.  Triển khai hệ thống thông tin quản lý toàn ngành   Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Đề án là triển khai hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu. Cụ thể, triển khai hệ thống thông tin quản lý toàn ngành giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu kết nối, liên thông tích hợp, chia sẻ thông tin đối với các hệ thống thông tin từ trung ương đến địa phương.  Bên cạnh đó, triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử và liên thông toàn ngành; hệ thống họp, hội thảo, tập huấn chuyên môn qua mạng; bổ sung, cập nhật các dịch vụ công trực tuyến tối thiểu mức độ 3, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tuyển sinh đầu cấp học.  Đồng thời, quản lý học sinh, quản lý giáo viên, quản lý thi, xếp thời khóa biểu, sổ quản lý điện tử; tích hợp với trang tin điện tử của nhà trường trên môi trường mạng ở tất cả các cấp học mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên.  Ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy – học  Đề án cũng sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới nội dung, phương pháp dạy – học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học. Cụ thể, tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật kho học liệu số dùng chung phục vụ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trong toàn ngành, gồm: Bài giảng điện tử, học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác.  Tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến của các môn học và phần mềm kiểm tra, đánh giá tập trung qua mạng phục vụ học sinh, giáo viên giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; ứng dụng dạy – học thông minh ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, địa phương có đủ điều kiện trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả.  Ngoài ra, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cổng thư viện số (giáo trình, bài giảng, học liệu số) liên thông, chia sẻ học liệu với các cơ sở đào tạo đại học nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo trong giáo dục đại học; triển khai hệ thống học tập trực tuyến tại các cơ sở đào tạo đại học; lựa chọn, sử dụng các bài giảng trực tuyến của nước ngoài phù hợp với điều kiện trong nước; hình thành một số cơ sở đào tạo đại học trực tuyến trên cơ sở các trường hiện có bằng nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Tang-cuong-ung-dung-CNTT-trong-hoat-dong-dayhoc/297818.vgp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng học phí đại học dựa trên mức tăng GDP/người hằng năm      Trong bối cảnh ng&#226;n s&#225;ch của c&#225;c trường ĐH v&#224; CĐ c&#244;ng lập từ kinh ph&#237; của Nh&#224; nước&nbsp; v&#224; học ph&#237; của sinh vi&#234;n c&#242;n rất hạn hẹp so với nhu cầu thiết yếu của c&#225;c hoạt động dạy &#8211; học, ảnh hưởng kh&#244;ng nhỏ đến chất lượng đ&#224;o tạo, việc chủ trương tăng học ph&#237; đại học l&#224; cần thiết. Vấn đề l&#224; việc tăng học ph&#237; phải bảo đảm cơ hội tiếp cận gi&#225;o dục đại học cho những người c&#243; thu nhập thấp v&#224; tăng chất lượng đại học.       Vì sao phải điều chỉnh theo hướng tăng sự đóng góp của người học?  Được biết, ở Hoa Kỳ, cơ cấu thu của một đại học công, phần đóng góp từ học phí chiếm dưới 20 % nhỏ hơn ½ nguồn kinh phí cấp từ Nhà nước (chính quyền địa phương, bang và liên bang); phần thu từ nghiên cứu khoa học, từ sự đóng góp của các mạnh thường quân, cựu sinh viên, từ cộng đồng khoảng 20 – 30% tổng nguồn thu của một đại học. Ở Việt Nam, một số đại học công có nguồn thu lớn và tương đối ổn định đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định 10 từ năm 2004 và từ năm 2007 đến nay theo Nghị định 43. Theo số liệu mà chúng tôi có được, phần đóng góp từ học phí, nếu chỉ tính trong hệ đào tạo chính qui thì chỉ chiếm khoảng 15 – 30% tùy trường đại học (ở các trường công lập do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lí, các trường được giao tự chủ tài chính theo Nghị định 43 có thể ở mức trên hoặc cao hơn; ở những trường không được giao tự chủ tài chính, mức thu học phí chiếm thấp hơn 20% tổng thu của một trường); kinh phí thu từ hoạt động khoa học và chuyển giao công nghệ rất nhỏ, kinh phí từ các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, từ cựu sinh viên và từ cộng đồng chiếm một tỉ lệ rất thấp; kinh phí cấp từ ngân sách Nhà nước vẫn chiếm từ 60 – 70% đến 80 – 90% hoặc cao hơn.  Mức thu học phí của ta từ năm 1998 đến nay vẫn không thay đổi với các trường công lập trong khi cũng trong thời gian này, GDP tính theo đầu người của Việt Nam đã không ngừng tăng từ 364 USD/người/năm 1998 lên 643 USD/người/2008.  Không ít quốc gia trên thế giới lấy sự tăng trưởng GDP/người làm một trong những tiêu chí xem xét mức đóng góp của người học. Do vậy, theo tôi, ở nước ta vào thời điểm hiện nay có thể lấy thu nhập bình quân đầu người làm một trong những tiêu chí để xem xét lại mức học phí đại học trong trường công lập. Đứng trên góc độ này, việc điều chỉnh học phí trong các trường đại học và cao đẳng công lập vào thời điểm hiện nay là cần thiết. Và trong thời gian tới, hãy áp dụng việc điều chỉnh học phí dựa trên mức tăng GDP/người hằng năm để điều chỉnh học phí đại học và cao đẳng công lập (có thể bằng ½ mức tăng GDP/người chẳng hạn), mức tăng này sẽ dừng khi đạt đến mức qui định của Chính phủ về tỉ lệ học phí trong phần thu của một đại học. Mức đóng góp của người học trong cơ cấu nguồn thu đại học theo chúng tôi cũng nên ở khoảng 35 – 40% như ở các nước phát triển. Về phía các đại học sẽ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tạo nguồn thu (trong đó có khung học phí cho từng ngành đào tạo) và kế hoạch sử dụng nguồn thu để Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Các trường đại học phải chịu sự kiểm tra và kiểm soát của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của người học. Các đại học công ở Hoa Kỳ đều có báo cáo tài chính hằng năm với đầy đủ những số liệu về sinh viên, nguồn thu từ học phí, kinh phí cấp từ Chính phủ, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và nguồn thu từ các mạnh thường quân, từ cựu sinh viên, doanh nghiệp và cộng đồng. Báo cáo tài chính hằng năm của các đại học công Hoa Kỳ cũng nêu rõ những khoản mà nhà trường đã chi cho lương giảng viên, lương đội ngũ công chức; chi phí cho các hoạt động thực hành thí nghiệm, sửa chữa, mua sắm thiết bị, cơ sở vật chất và quĩ phát triền trường… Chế độ làm việc, lương – thưởng và các phụ cấp làm thêm của giảng viên, công chức cũng được công khai. Về phía sinh viên, các đại học cũng công khai học phí mà sinh viên phải đóng góp, những điều kiện phục vụ học tập mà sinh viên được hưởng…  Từ năm 1998 đến nay, mức lương tối thiểu của công chức trong khu vực Nhà nước đã tăng từ 210.000 đồng lên 650.000/hệ số – tăng gần 3,1 lần. Chi phí mà Nhà nước đầu tư vào đại học và cao đẳng công lập cũng đã tăng nhiều lần nhưng phần lớn chỉ đủ bù vào đảm bảo mức tăng của hệ số lương cán bộ công chức. Hiện tại, các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng công lập gặp không ít khó khăn khi phải dành dụm phần kinh phí Nhà nước và học phí cho các hoạt động dạy – học, nhiều chi phí cần thiết cho các hoạt động này đã phải giảm bớt, gây khó khăn không ít cho việc đào tạo và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Vì vậy việc chủ trương tăng học phí đại học là cần thiết. Vấn đề là việc tăng học phí phải bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho những người có thu nhập thấp và tăng chất lượng đại học.   Tăng học phí có làm “giảm cơ hội tiếp cận với giáo dục ĐH”?  Câu trả lời là không. Vì, như trên đã phân tích, thu nhập quốc dân đầu người ở nước ta lúc này đã có đủ điều kiện để người học có thể chi trả học phí với mức đề án học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Quốc hội xem xét và quyết định. Tất nhiên, thu nhập bình quân đầu người không phải là thu nhập thực của mỗi cá nhân, người dân trong các khu ổ chuột ở đô thị, người dân nông thôn và miền núi, hải đảo có thu nhập thấp hơn nhiều lần mức bình quân theo đầu người. Để giải quyết chính sách với người nghèo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo có cơ hội tiếp cận giáo dục đại học như chính sách miễn giảm học phí, chính sách tín dụng cho học sinh sinh viên vay (mức vay hiện nay là 800.000 đồng/tháng – cao gấp hơn 4 lần mức học phí hiện nay), chính sách miễn trừ vốn và lãi vay đối với sinh viên ngành sư phạm… Những chính sách đó và những qui định cần phải có đối với sinh viên nghèo, sinh viên diện chính sách cũng đã được đưa vào phần giải pháp. Những chính sách như vậy sẽ giúp người nghèo có cơ hội tiếp cận giáo dục đại học như nhiều tầng lớp giàu có khác.  Tăng học phí – có thể kiểm soát và có tăng chất lượng đào tạo?   Câu hỏi này được nhiều người đặt ra và nó thực sự có ý nghĩa nếu như tăng học phí đáp ứng được yêu cầu tăng chất lượng đào tạo cũng như tăng học phí đi kèm với việc Nhà nước và cộng đồng tham gia vào quá trình kiểm soát, giám sát đại học nói chung và sử dụng nguồn học phí nói riêng. Tăng học phí phải đi đôi với tăng chất lượng đào tạo – đó là đòi hỏi chính đáng của người học và cộng đồng. Cho đến hiện nay, vẫn chưa có những nghiên cứu nào cho thấy có một tương quan giữa tăng học phí và tăng chất lượng đào tạo. Việc tăng học phí, gián tiếp tăng chất lượng đào tạo thông qua việc các cơ sở đào tạo có khả năng tăng cường cơ sở vật chất (phòng học, thiết bị dạy – học, phòng thí nghiệm, lương và thu nhập khác của giảng viên và đội ngũ công chức…). Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cố gắng trong quản lí các cơ sở giáo dục đại học như ban hành những qui định về kiểm định đại học, kiểm định ngành, ban hành chuẩn đầu ra cho từng chuyên ngành đào tạo… Bộ cũng đã yêu cầu các đại học công lập phải công khai các hoạt động của mình từ việc cam kết bảo đảm chất lượng đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra trong đào tạo, công khai đội ngũ giảng viên; công khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, những hỗ trợ cho người học; công khai học phí và báo cáo tài chính…. Tất cả những việc trên thể hiện tinh thần trách nhiệm về quản lí Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo đồng thời cũng tạo điều kiện cho người học và xã hội giám sát các hoạt động của một trường đại học – đó cũng là những chính sách quản lí nhằm từng bước nâng cao chất lượng đại học, đáp ứng mong mỏi của người học, của cộng đồng.  Nguồn kinh phí hoạt động của các đại học như đã nói ở trên bao gồm phần kinh phí từ ngân sách Nhà nước, từ học phí của người học và từ sự đóng góp của cộng đồng (doanh nghiệp, nhà tài trợ, cựu sinh viên…) và từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đảm bảo chất lượng giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, trách nhiệm trước tiên thuộc về các đại học nhưng cũng không thể thiếu sự chăm lo của Nhà nước, người học và cộng đồng. Hãy cùng nhau làm thay đổi nhận thức và hành động của toàn xã hội vì sự phát triển của đại học Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo năng lực đồng cảm cho học sinh lớp 1      Trẻ em khi đến trường học Văn không phải là để nhại lại cảm xúc của người lớn như lâu nay người ta vẫn đánh giá cao những bài văn các em viết theo mẫu mà trẻ em đến trường là để trang bị cho mình năng lực Văn – năng lực Nghệ thuật, thứ năng lực các em cần phải có ngay từ những ngày đầu đi học và sẽ đi theo các em suốt cả cuộc đời.    Vậy nhà sư phạm có thể làm gì để giúp các em có được thứ năng lực ấy? Công việc ấy sẽ bắt đầu từ đâu và thực hiện như thế nào ? Đó cũng là những nội dung chính sẽ được thảo luận trong Ngày Sư phạm Cánh Buồm tháng 4/2014 với chủ đề “Tạo năng lực Văn cho học sinh lớp 1”.  Trong chuỗi Ngày Sư phạm Cánh Buồm năm 2013, Nhóm Cánh Buồm đã trình bày những quan điểm tổng quát xây dựng nền Giáo dục Hiện đại, trong đó có xác định phương pháp học Văn nói chung cho học sinh ở bậc Tiểu học, làm sao cho trẻ không sợ môn Văn, biết cách học Văn và học có hiệu quả. Năm 2014, Nhóm Cánh Buồm sẽ đi sâu vào những công việc “bếp núc” của người giáo viên tiểu học, theo đó, để tổ chức việc học Văn cần chuẩn bị như thế nào về lí luận, phương pháp và cách thức tiến hành cho từng bài học, từng tiết học, từng thao tác học.  * Thông tin chi tiết:  Thời gian: 15:00-17:00, thứ Bảy, ngày 19/4/2014  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Diễn giả: 	Nhà giáo Phạm Toàn – Người sáng lập Nhóm Cánh Buồm; Cô giáo Thanh Hải – Trưởng nhóm Cánh Buồm  Đăng kí tham dự tại: http://goo.gl/muThlg    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo năng lực dùng từ tiếng Việt      Ngày Sư phạm Cánh Buồm tháng 5/2014 sẽ thảo  luận phương pháp hướng dẫn học sinh ngay từ năm 7-8 tuổi làm ra các khái  niệm: tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, từ thuần Việt, từ ghép, từ láy, từ  Hán Việt…    Môn Tiếng Việt, theo đề án của Nhóm Cánh Buồm, là một môn khoa học – trẻ em dùng vật liệu tiếng Việt để đến với những khái niệm ngôn ngữ học, để phát triển năng lực ngôn ngữ trên cơ sở những khái niệm khoa học (ngôn ngữ học).   Ở lớp 1, học sinh đã học ngữ âm học tiếng Việt: các em dùng ba thao tác cơ bản (phát âm, phân tích, ghi lại – đọc lại) để tìm hiểu về cấu tạo ngữ âm của tiếng Việt, từ đó mà tự mình ghi đúng và đọc đúng tiếng Việt.      Lên lớp 2, ở môn Tiếng Việt Cánh Buồm, học sinh sẽ học về từ vựng học. Các em không học theo cách cóp nhặt từng từ “năng nhặt chặt bị”, mà được tổ chức hoạt động theo sự phát triển của tín hiệu ngôn ngữ tiếng Việt trong lịch sử để có ý thức về:   (a) Từ vựng sinh ra trong quá trình tổ chức đời sống, xã hội mà lời nói là một dạng tín hiệu;   (b) Từ lời nói ở dạng tổng quát đó, học sinh học từ thuần Việt là những phát âm chỉ có một âm tiết. Từ đó, học sinh học từ ghép (gồm có từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân nghĩa) và từ láy. Sau khi đã nắm vững từ thuần Việt thì học sang từ Hán Việt như một sản phẩm văn hóa do lịch sử đã tạo ra. Từ mượn phương Tây là phần học cuối cùng của Từ Vựng học lớp 2.   Những nội dung trên có khó với học sinh 7-8 tuổi không? Cách làm sẽ được Nhóm Cánh Buồm trình bày trong chương trình cùng với một clip minh họa ngắn.  Thông tin chi tiết:  Thời gian: 15:00 – 17:00 thứ Bảy, ngày 17/5/2014  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội  Diễn giả: Nhà giáo Phạm Toàn & cô giáo Đinh Phương Thảo   Đăng kí tham dự tại: http://goo.gl/6JC1yy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo tinh thần dấn thân cho người học môn Khoa học lịch sử      Về thái độ với lịch sử và khoa học lịch sử, nhóm Cánh Buồm quan niệm như sau: đối với lịch sử thì trung thực, đối với khoa học lịch sử phải dấn thân. Dựa trên quan niệm này, nhóm Cánh Buồm đã có một số triển khai sư phạm đối với học sinh tiểu học và thu được kết quả tích cực.    Trước hết, có một thực tế phải thừa nhận là chúng ta không thể giải thích cho học sinh về lịch sử một cách rõ ràng như những gì chúng nhìn thấy. Lịch sử là những gì đã qua, làm sao có thể xác định chính xác những gì đã diễn ra hàng triệu năm về trước? Khi có những người làm công việc ghi chép sử, ta bắt đầu có được thông tin rõ ràng hơn nhưng lại rơi vào một mê cung khác là “tính cá nhân” của những tài liệu sử. Mỗi người viết sử có những ràng buộc riêng đối với xã hội người đó sống nên không thể khẳng định những gì họ viết ra trăm phần trăm là khách quan và hồn nhiên. Trẻ em, đứng trước những đúng sai, tốt xấu, nên và không nên đó của lịch sử sẽ vô cùng hoang mang. Vậy phải dạy những gì? “Dấn thân” là như thế nào? Việc học lịch sử nên bắt đầu và kết thúc ở độ tuổi nào? Làm cách nào để chúng ham thích chứ không phải thái độ học cho xong, học để lấy điểm, học để thi tốt nghiệp? Nhóm Cánh Buồm có câu trả lời cho những câu hỏi này như sau.  Học sinh cần được học lịch sử ngay từ những năm đầu tiên em đến trường nhưng không phải là học sự kiện lịch sử với các thông số: diễn ra năm này, mang ý nghĩa này. Khi ở bậc tiểu học, các em sẽ được đến với những điều kì diệu, lung linh nhất của lịch sử thông qua các câu chuyện truyền thuyết, các giai thoại lịch sử, có thể có thật hoặc không có thật. Ở đó, em được trở thành những nhân vật lịch sử, nói lời nói của những anh hùng, trở nên lớn lao phi thường như những nhân vật đó. Em sẽ hóa thân thành Hai Bà Trưng cao giọng quát thái thú Tô Định “Nước ta, sao mày cướp ? Chồng ta, sao mày giết?”, em sẽ thành tướng Giang Văn Minh khảng khái nhắc lại bài học thua trận của người phương Bắc trên khúc sông Bạch Đằng “Đằng giang tự cổ huyết do hồng”, hay sẽ trở thành chàng Thánh Gióng dũng cảm của dân làng Phù Đổng “Cho tôi xin một nong cơm làng ta! Cho tôi xin một vại cà làng ta! Cho tôi làm một chàng kỵ sĩ!”.   Nhóm Cánh Buồm đã đưa vào sách học Văn và sách học Tiếng Việt những câu chuyện lịch sử hào hùng như thế dưới dạng những vở kịch ngắn, để ngay từ lớp 1 các em có thể học lịch sử. Thật cảm động khi một phụ huynh sử dụng sách và chia sẻ nội dung câu chuyện chị cho con cháu mình đóng vai nhân vật Trần Bình Trọng. Đầu tiên, chị kể cho cháu nghe câu chuyện về nhân vật này, rồi cho cháu đọc đoạn kịch ngắn trong sách học Văn lớp 2:  Tướng giặc: Nhà ngươi bị bắt rồi! Nhà ngươi sẽ bị giết!  Trần Bình Trọng: Ta không sợ!   Tướng giặc: Nhà ngươi đầu hàng đi thì sẽ được quyền cao chức trọng!   Trần Bình Trọng: Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không them làm vương đất Bắc!    Sau đó, vở kịch của cháu nhỏ đã được biến đổi và trở nên linh hoạt:   Tướng giặc: Nói mau! Vua Trần đâu?   Trần Bình Trọng: Ta không nói!   Tướng giặc: Nhà ngươi muốn chết à?   Trần Bình Trọng: Ta không sợ!   Như vậy, Trần Bình Trọng đã được tái sinh thành người anh hùng nhỏ tuổi, và biết đâu sau này, người anh hùng nhỏ tuổi đó sẽ nói những lời hào sảng hơn, tự tôn hơn trên khắp nẻo đường cậu bé sẽ đi. Ngoài những vở kịch ngắn, các em sẽ được học những bài hát, xem những bộ phim, xem triển lãm tranh, đi thăm bảo tàng, thậm chí em có thể tự sáng tác đồng dao, tự vẽ tranh về những nhân vật lịch sử mình yêu thích rồi tổ chức những triển lãm của chính các em. Tất cả những hoạt động đó đều hướng đến nội dung tạo ra một tình cảm lịch sử trong những năm học này, đó chính là tình yêu với lịch sử, ham thích môn học lịch sử, là cơ sở cho em học môn khoa học lịch sử ở những bậc học trên.   Với cách học như trên, kết thúc bậc tiểu học, đọng lại trong tâm trí các em sẽ là hình tượng những người anh hùng với hào quang lung linh, là lòng tự hào và ngưỡng mộ thật hồn nhiên, trong sáng về những người anh hùng đó.   Lên bậc Trung học, nhiệm vụ của các em sẽ là tự mình tìm hiểu để giải mã những lung linh huyền hoặc trong các câu chuyện truyền thuyết hay thần thoại dân gian mà em đã được học từ thời tiểu học. Em sẽ được làm việc như một nhà sử học, “dấn thân” vào công việc này, đi lại con đường nhà sử học đã đi dưới sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo. Nếu như trước đây em được đóng vai nhân vật Hai Bà Trưng và thái thú Tô Định thì nay em được giáo viên giao đề tài Những người phụ nữ nào đã có công đánh giặc? Giáo viên chỉ làm nhiệm vụ giao đề tài và hướng dẫn cách tìm tư liệu, còn cách trình bày vấn đề là do các em hoàn toàn chủ động quyết định. Em có thể thuyết trình một bức tranh, đọc một bài thơ, dựng một đoạn phim, trình bày một bài viết hoặc thậm chí tổ chức một phiên tòa xét xử kẻ đã đến cướp, đã gieo rắc đau thương trên đất nước của các em. Khi em tự mình làm việc chính là em đã dấn thân vào việc học lịch sử một cách khoa học.  Lên bậc đại học, em có những nghiên cứu riêng, phát hiện và tìm tòi riêng. Đây là thời gian cho các em trả lời những câu hỏi tại sao trong lịch sử. Tại có người đến cướp nước? Tại sao phụ nữ có thể đánh đuổi giặc? Tại sao cùng một sự kiện có người ủng hộ có người phản đối? Với những câu hỏi tại sao như thế này, có lẽ môn sử ở bậc đại học sẽ chỉ dành cho những sinh viên thực sự yêu thích môn khoa học lịch sử. Họ sẽ có cơ hội để góp phần giải mã những bí ẩn của lịch sử để định hướng cho tương lai của cả một dân tộc.   * * *  Thực tế học lịch sử trong nhà trường hiện nay cho thấy, bên cạnh những con số thống kê đáng buồn vẫn có những học sinh giỏi sử, yêu sử. Đó là những trường hợp cá biệt mà vô tình các em đi đúng vào con đường dấn thân đối với môn khoa học này. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào tất cả các trẻ em đến trường đều đi được đúng con đường dấn thân một cách chủ động và có sự hướng dẫn của thầy giáo cô giáo? Câu trả lời nằm trong cách hướng dẫn sư phạm hiện đại và cách tổ chức những cuốn sách giáo khoa hiện đại mà nhóm Cánh Buồm đang đeo đuổi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tập thể dục nhiều, học tập tốt hơn      Một bản đánh giá tổng hợp của các nhà khoa  học Hà Lan từ các nghiên cứu trong quá khứ cho thấy kết quả học tập của  trẻ ở trường có liên quan tới mức độ hoạt động thể chất của chúng.    Đăng trên Tạp chí Y học nhi khoa và vị thành niên (Archives of Pediatrics & Adolescent Medicine), các nhà nghiên cứu cho rằng họ đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục về mối liên quan giữa việc tập thể dục và thành tích học tập.  Bản tổng hợp này đã xem xét 14 nghiên cứu được theo dõi ở hơn 12.000 trẻ và kết luận rằng tập thể dục có thể mang lại hiệu quả bằng cách làm tăng lưu thông khí huyết cho não.  Tuy nhiên, các tác giả của nghiên cứu tới từ Trung tâm Y tế Đại học VU, Amsterdam cho biết cần những công cụ đo lường chính xác và tin cậy hơn để xem xét mối liên quan này một cách chi tiết hơn.   Tiến sĩ Amika Singh và các đồng nghiệp đã được yêu cầu xem xét mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và thành tích học tập do những lo ngại rằng áp lực cải thiện điểm số của trẻ có thể đồng nghĩa với việc chúng phải dành nhiều thời gian hơn trong lớp học và ít thời gian hơn cho các hoạt động thể chất.  Vì thế, các tác giả đã chọn ra 10 nghiên cứu quan sát và 4 nghiên cứu can thiệp cho bản tổng hợp này.  12 nghiên cứu trong số đó được tiến hành ở Mỹ, 1 ở Canada và 1 ở Nam Phi.  Quy mô mẫu của nghiên cứu dao động từ 53 tới 12.000 trẻ tham gia ở độ tuổi 6 tới 18.  Thời gian theo dõi trong các nghiên cứu dao động từ 8 tuần tới hơn 5 năm.  2 nghiên cứu được đánh giá là có chất lượng cao.    Lưu lượng máu  Các nhà nghiên cứu cho biết họ đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục về “mối quan hệ rất tích cực” giữa hoạt động thể chất và thành tích học tập căn cứ trên cơ sở 2 nghiên cứu này.  Nghiên cứu cho biết mối quan hệ này có thể là do tập thể dục giúp tăng nhận thức bằng cách tăng lưu lượng máu và oxy cho não.  Hoạt động thể chất cũng có thể làm giảm căng thẳng và cải thiện tâm trạng, khiến trẻ có xu hướng ngoan ngoãn hơn trong lớp.  Tiến sĩ Singh nói: “Những đứa trẻ học cách chơi thể thao cũng sẽ học được cách tuân theo các quy định. Điều này có thể đồng nghĩa với việc trẻ kỉ luật hơn và có khả năng tập trung tốt hơn vào bài giảng”.  Các nhà nghiên cứu cho rằng cần nhiều nghiên cứu hơn để kiểm tra mối quan hệ chính xác giữa hoạt động thể chất và thành tích học tập.  “Người ta luôn hỏi ‘Tôi cần tập thể dục nhiều đến mức nào để đạt điểm A?’ Chúng tôi không biết câu trả lời, nhưng chúng tôi muốn tìm hiểu” – Tiến sĩ Singh chia sẻ.  “Trẻ nên hoạt động ít nhất một giờ mỗi ngày vì lý do sức khỏe. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xem xét đến những yếu tố khác, như loại hoạt động mà trẻ nên tham gia, khi nào trẻ nên thực hiện và thực hiện trong bao lâu”.  Nghiên cứu cũng cho rằng cần có những công cụ đo lường hiệu quả và đáng tin cậy để đánh giá mối quan hệ này một cách chính xác.  Trong số các nghiên cứu được xem xét trong bản đánh giá tổng hợp mang tính hệ thống, không có nghiên cứu nào sử dụng công cụ đo lường khách quan các hoạt động thể chất. Nhiều nghiên cứu yêu phụ huynh hoặc trẻ em tự ghi ra khối lượng tập thể dục của chúng.  Nguyễn Thảo dịch từ  http://www.bbc.co.uk/news/health-16363467      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tất cả nhờ giáo dục      Thái độ ứng xử của dân chúng Nhật Bản trước đại thảm họa thiên tai cộng nhân họa động đất, sóng thần và rò rỉ phóng xạ hạt nhân Fukushima đã chứng tỏ cho toàn thế giới thấy người Nhật là một dân tộc được giáo dục tốt nhất, nhờ thế xã hội họ được tổ chức tốt nhất.    Sau thảm họa sóng thần và động đất khủng khiếp, cả thế giới đều tin rằng người Nhật sẽ xây dựng lại đất nước mình  đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, như họ từng làm sau thảm bại trong Thế chiến  II.  Vì sao người Nhật được giáo dục tốt nhất?   Vì họ thực sự coi trọng giáo dục, trước hết là giáo dục làm người. Không phải bây giờ mới thế, mà từ ngàn đời trước. Ý thức ấy thấm nhuần trong suy nghĩ và hành động của từng người dân thường, trong mỗi ông bố bà mẹ, và trong mỗi người lãnh đạo từ thấp tới cao nhất.   Hiếm có quốc gia nào giáo dục được đặt đúng vị trí và nở hoa thơm trái ngọt như nước Nhật.   Truyền thống trọng giáo dục được thể chế hóa. Ngay từ sau chiến tranh Giáp Ngọ (1894-1895), khi được Trung Quốc bồi thường 200 triệu lạng bạc, vua Nhật là Minh Trị ra lệnh dùng toàn bộ số tiền này để xây trường học, bảo đảm không một vùng hẻo lánh nào không có trường học cho trẻ em. Hiến pháp Nhật 1946 quy định nghĩa vụ lớn đầu tiên của công dân là phải tiếp nhận giáo dục bắt buộc (nghĩa vụ thứ nhì là lao động, thứ ba là đóng thuế). Bất cứ ai, kể cả bố mẹ, ngăn cản con trẻ đi học đều là phạm pháp. Gia đình nào có trẻ đến tuổi học mà chưa tới trường, cảnh sát khu vực lập tức đến tận nhà nhắc nhở. Tại nước Nhật, tòa nhà đẹp nhất, to nhất, kiên cố nhất trong làng ắt phải là trường học; mỗi khi có động đất, dân chúng đều tới lánh nạn tại trường học (so sánh: trong trận động đất Tứ Xuyên 2008, hầu hết trường học đều sập, vùi chết không biết bao nghìn trẻ của các gia đình chỉ được sinh một con). Thủ đô Tokyo có giá đất đắt nhất thế giới nhưng không trường học nào không khang trang rộng rãi. Năm 1947, lạm phát nặng nhất, chính phủ Nhật vẫn nâng giáo dục nghĩa vụ từ 6 năm lên 9 năm và hoàn toàn miễn phí. Nghề dạy học là một trong những nghề danh giá và hấp dẫn nhất, nhưng cũng là nghề không dễ: cứ năm thí sinh thi vào ngành sư phạm chỉ lấy một, giáo viên có chứng chỉ của nhà nước mới được lên bục giảng…   Đặc biệt, người Nhật vô cùng coi trọng giáo dục gia đình. Phụ nữ đóng vai trò quan trọng nhất trong sự nghiệp này. Điều đầu tiên họ dạy con là phải biết xấu hổ và không bao giờ được làm những việc đáng hổ thẹn, mất nhân cách. Phải biết trọng danh dự và khí tiết, vì nó là bộ phận bất hủ trên con người mà thiếu nó thì con người chẳng khác gì con vật. [1]  Đây là đạo đức căn bản nhất của con người, vì Cảm giác xấu hổ là mảnh đất gieo trồng của mọi thứ đạo đức, mọi cách ứng xử tốt và mọi tinh thần tốt đẹp (Thomas Carlyle). Biết hổ thẹn với cái ác [trong Hán ngữ, ác còn có nghĩa là xấu xa] tức là sự mở đầu của việc Nghĩa vậy (Mạnh Tử: Tu ác chi tâm, nghĩa chi đoan dã).[1]  Sau quá trình khảo sát vùng Viễn Đông, Sir Henry Norman (1858-1939) từng nhận xét: Nhật Bản khác các nền chuyên chế phương Đông còn lại ở chỗ nước này có một hệ thống luân lý danh dự con người từng nghĩ ra, nghiêm ngặt nhất, cao cả nhất và chi tiết tỉ mỉ nhất, có ảnh hưởng thống trị trong toàn dân. [1]  Chính là nhờ được gia đình dạy dỗ như vậy mà người Nhật từ bé đã biết giữ tự tôn tự trọng cho mình, cho gia đình và tổ quốc. Làm bất cứ việc gì họ đều nghĩ đến danh dự của bản thân, của quốc gia, dân tộc. Vì thế xã hội Nhật được tự tổ chức cao độ, mọi người dân đều tự giác giữ trật tự kỷ luật công cộng, thượng tôn luật pháp, biết lo cho mình (tự cứu) và cho cộng đồng; khi xảy ra thiên tai nhân họa, họ điềm tĩnh chịu đựng và tìm cách đối phó, tận tình giúp nhau vượt khó khăn, không trông chờ chính quyền, không cầu Trời khấn Phật. Có thể nói từ xa xưa nước Nhật đã thực sự là một xã hội công dân, cho dù khái niệm ấy do phương Tây đưa ra.        Ngay từ sau chiến tranh Giáp Ngọ (1894-1895), khi được Trung Quốc bồi  thường 200 triệu lạng bạc, vua Nhật là Minh Trị ra lệnh dùng toàn bộ số  tiền này để xây trường học, bảo đảm không một vùng hẻo lánh nào không có  trường học cho trẻ em. Tòa nhà đẹp nhất, to nhất, kiên cố nhất trong  làng ắt phải là trường học; mỗi khi có động đất, dân chúng đều tới lánh  nạn tại trường học. Thủ đô Tokyo có giá đất đắt nhất thế giới nhưng  không trường học nào không khang trang rộng rãi.        Trong bài Vì sao nước Nhật không bao giờ rối loạn?, một nhà báo kỳ cựu của Singapore viết: Trước tai họa, người Nhật vẫn có thể giữ được trật tự kỷ luật, điềm tĩnh ứng phó, chủ yếu vì họ đã được rèn luyện đào tạo, mà điều đó có liên quan tới giáo dục quốc dân và tố chất quốc dân. Do được giáo dục, họ đều có khả năng tìm ra lời giải khoa học các hiện tượng thiên nhiên như gió bão, động đất, sóng thần. Họ cầu nguyện cho mọi người bình yên nhưng không ai có ý định dùng cách hối lộ thần linh để cầu cứu thần linh giúp con người tránh thiên tai.  Trong bảng xếp hạng các quốc gia thành công và thất bại công bố hàng năm trên tạp chí Foreign Policy [2], Nhật luôn luôn là quốc gia thành công nhất châu Á.   Dù cho nước Nhật đất chật người đông, đã rất nghèo tài nguyên lại luôn luôn bị thiên tai ác liệt đe dọa, động đất như cơm bữa, nhưng hầu như không người Nhật nào bỏ ra nước ngoài sống. Tỷ lệ học sinh Nhật đi học ở phương Tây về nước làm việc cao nhất trong các nước châu Á.  Không cần một chủ nghĩa nào dẫn dắt và chưa từng làm một cuộc cách mạng nào, thế mà người Nhật tạo dựng được một nhà nước bảo đảm cho toàn dân có cuộc sống tự do bình đẳng, sung túc, ổn định vào hàng nhất thế giới…   Đất nước này quả là rất đáng để chúng ta tìm hiểu và học tập.  Nhờ đâu họ làm được như vậy?   Tất cả nhờ giáo dục, trước hết là giáo dục cách làm người.  Không người Việt Nam nào không tự hỏi: tại sao thế hệ ông cha ta, những người sinh vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lại tài giỏi phi thường và có cống hiến cho dân tộc hơn hẳn thế hệ chúng ta rất nhiều, mặc dù chúng ta hiện nay có đội ngũ cán bộ, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ đông gấp hàng trăm lần các cụ.   Gần đây anh Dương Trung Quốc đã giải đáp một phần câu hỏi đó. [3]  Anh gọi thế hệ các cụ là Thế hệ vàng và giải thích thế hệ ấy xuất chúng là do được hưởng một nền Quốc học rất căn bản với quan niệm về dạy học là dạy làm người, đồng thời lại được tiếp nhận giá trị đích thực của văn minh phương Tây, là khoa học và dân chủ.  Thế hệ chúng ta kém xa thế hệ vàng vì chúng ta mất gốc hoàn toàn; có tiếp cận phương Tây thì chỉ là tiếp cận văn minh bề ngoài, phương tiện sống, kiến thức; còn thế hệ vàng thì tiếp thu được cả một nền văn hóa. Thời kỳ đổi mới sau này, dòng chảy từ thời thế hệ vàng không chảy tiếp vì tư tưởng ấu trĩ của một số nhà lãnh đạo, nhận thức đã hạn hẹp lại bị chi phối bởi lợi ích cho nên không tiếp cận được những chân giá trị của văn hoá Đông và Tây.   Ngày xưa các cụ có triết lý rất đơn giản: thực học và thực nghiệp, cho nên không bị hư hỏng. Chúng ta đang khủng hoảng vì tiếp nhận quá nhiều giá trị ảo.  Xin mạn phép bàn thêm: các cụ ngày xưa nói thế nào thì làm thế ấy, còn chúng ta nói một đằng làm một nẻo, giả dối, hình thức, cho nên nói chẳng ai tin, mà đã mất niềm tin tức là mất tất cả.  Cốt lõi của giáo dục cần phải quan tâm đến, nhất là trong bối cảnh hiện nay, là vẫn phải giáo dục con người. Kiến thức làm người là quan trọng nhất, sau đó mới đến kỹ năng và tri thức khác.   Xin mượn lời anh Dương Trung Quốc làm lời kết bài này.  —  1. Võ Sĩ Đạo, linh hồn Nhật Bản. NXB Công an nhân dân, 2006  2. http://www.foreignpolicy.com/articles/2010/06/21/the_failed_states_index_2010  3. http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/8407/the-he-vang-vu-dinh-hoe-khong-lap-lai.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tem phiếu giáo dục: Giải pháp cho bất bình đẳng đại học công – tư      Việc đổi mới để tạo ra được một cơ chế tài chính hiệu quả hơn, công bằng hơn giữa đại học công và tư nhằm thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục đại học là vấn đề quan trọng không kém so với việc đổi mới quản trị đại học hay cải cách tuyển sinh, vốn được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây.    Sau hơn 20 năm phát triển, khu vực đại học ngoài công lập chưa thực sự phát triển như mong đợi cả về chất và lượng.   Về số lượng, các trường đại học và cao đẳng ngoài công lập hiện nay mới có chỉ có khả năng “gánh được” hơn 14% sinh viên trong cả nước (số liệu 2013); con số này quá nhỏ khi so với các nước láng giềng (tỷ lệ tương ứng ở Malaysia năm 2010 là 44%; ở Phillipines năm 2005 là hơn 65%). Về chất lượng, rất ít trường tư có chất lượng đào tạo so sánh được với các trường công hàng đầu, đồng thời cũng không có thành tựu đáng kể trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tri thức – hai chức năng quan trọng khác của đại học tiên tiến.   Các nhà hoạch định chính sách hiện nay không mấy lạc quan về triển vọng phát triển của khu vực đại học tư nhân. Bằng chứng là trong bản điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đến năm 2020 (Quyết định 37/2013/QĐ-TTg), chỉ tiêu 30-40% sinh viên trong cả nước học tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục được quy định tại quy hoạch cũ (Quyết định 121/2007/QĐ-TTg) đã được gỡ bỏ.   Thiên vị công – tư và hệ lụy   Chính sách thiên vị công-tư đã và đang gây ra nhiều hệ lụy, không chỉ cho bản thân các trường tư mà cả sinh viên tốt nghiệp của họ. Việc một số tỉnh như Nam Định hay Đà Nẵng từ chối sinh viên tốt nghiệp trường tư dự tuyển công chức gần đây là ví dụ điển hình. Để khắc phục tình trạng bất bình đẳng này, nhiều giải pháp đã được bàn thảo tại Hội nghị, trong đó việc điều chỉnh quy định liên quan đến tài chính được coi là giải pháp quan trọng nhất.           “Cần tạo sân chơi bình đẳng giữa trường công và tư”.              Phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội nghị tổng kết 20 năm phát triển các trường               ĐH, CĐ ngoài công lập (VTC, ảnh: Phạm Thịnh)        Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam gần đây cho thấy những chính sách liên quan đến tài chính (tài trợ nhà nước, học phí, học bổng,  vay vốn sinh viên) đang gây ra hai hậu quả ngoài mong muốn của các nhà làm chính sách:  Thứ nhất, việc duy trì cơ chế trợ cấp cho trường công khoảng 7 triệu/sinh viên như hiện nay, thoạt nhìn có vẻ như nhắm đến mục tiêu tạo bình đẳng cho sinh viên không có điều kiện kinh tế có khả năng tiếp cận với giáo dục đại học, nhưng thực tế, lại tạo ra tác dụng phân bổ ngược – regressive redistribution (người giàu hơn lại được hưởng lợi nhiều hơn từ trợ cấp nhà nước – cũng chính là tiền thuế của toàn dân bao gồm cả phần đóng góp từ thành phần nghèo hơn). Nguyên nhân do học sinh ở khu vực thành phố và xuất thân từ gia đình có điều kiện sẽ có nhiều cơ hội đỗ đại học công cao hơn, bởi khả năng đỗ đại học của học sinh phổ thông đã được chứng minh là tỷ lệ thuận với khả năng tài chính của bố mẹ đầu tư cho học thêm cũng như chất lượng đào tạo (ở bậc học phổ thông), đặc biệt trong bối cảnh các trường công ở Việt Nam hiện nay chỉ đủ chỗ cho chưa đến 20% những người ở độ tuổi đi học đại học. Hiện tượng phân bổ ngược đã được kiểm chứng ở nhiều nước, trong đó có cả ở Việt Nam: điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam cho thấy gần 65% sinh viên Việt Nam vào năm 2004 xuất thân từ nhóm ‘giàu’ và ‘cận giàu’; số liệu tương ứng đối với nhóm ‘nghèo’ và ‘cận nghèo’ chỉ khoảng 22%.   Thứ hai, cơ chế hiện nay vô hình trung làm mất đi động lực đổi mới ở các trường khu vực công, đồng thời làm giảm động lực học tập ở sinh viên. Dù hoạt động tốt hay dở, nguồn thu của trường công cũng không tăng lên hay giảm đi (trợ cấp nhà nước rót thẳng về thông qua quota sinh viên được duyệt; còn học phí thì bị khóa mức trần). Về phía sinh viên, sau khi bước vào cổng trường công nghiễm nhiên chỉ phải đóng học phí thấp và nhận trợ giúp gián tiếp từ nhà nước trong vòng 4 năm mà không cần phải cố gắng nhiều. Điều này là trái ngược hoàn toàn với khu vực tư, nơi các trường phải vật lộn để đảm bảo nguồn thu, còn sinh viên trong suốt 4 năm đại học dù phấn đấu bao nhiêu cũng hoàn toàn không có cơ hội được hưởng trợ cấp từ nhà nước.   Giải pháp tem phiếu giáo dục     Xét một cách công bằng, những bất cập trên đây phần nhiều là do nguyên nhân lịch sử mà đa số các nước đang khi chuyển đổi từ mô hình giáo dục tinh hoa (cho số ít) sang đại chúng (cho số đông) đều mắc phải. Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng đã có một số nỗ lực nhất định nhằm đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại học và giảm dần tình trạng phân biệt đối xử trường công – trường tư, ví dụ Chương trình vay tín dụng sinh viên 157 được triển khai rộng rãi trong cả nước mà mọi sinh viên, không phân biệt công – tư đều được vay vốn như nhau. Tuy vậy, thực tiễn trong những năm gần đây cho thấy mức cho vay còn quá thấp so với nhu cầu chi tiêu của sinh viên, tuy có tăng theo từng năm nhưng vẫn chậm hơn tốc độ lạm phát của thị trường.   Để giải quyết vấn đề kể trên, Việt Nam có thể áp dụng mô hình tem phiếu giáo dục (education voucher) mà một số nước phát triển đang thực hiện. Điểm mấu chốt của mô hình này là thay vì rót kinh phí hỗ trợ sinh viên vào tài khoản (của trường công), nhà nước có thể chuyển kinh phí đó tới thẳng sinh viên (ở Việt Nam có thể thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội). Sinh viên có thể dùng tiền tài trợ này vừa để trang trải một phần cuộc sống, vừa để đóng học phí tại trường công hoặc trường tư tùy theo nguyện vọng (nếu là trường công thì mức học phí đã được nới lỏng mức trần). Mức độ hỗ trợ và hình thức hỗ trợ (là khoản vay hay học bổng hoặc nửa học bổng, nửa cho vay, v.v.) chủ yếu dựa trên kết quả học tập của sinh viên trong suốt 4 năm, ngoài ra có thể xét đến các yếu tố khác, bao gồm các tiêu chí dành cho đối tượng chính sách vẫn đang được áp dụng hiện nay.  Cơ chế tem phiếu giáo dục sẽ giúp tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các trường (cả công và tư), những trường thực sự có chất lượng tốt hơn sẽ thu hút được nhiều sinh viên hơn, nhờ vậy có nhiều nguồn thu hơn. Động lực học tập của sinh viên cũng sẽ được cải thiện, vì những người xuất sắc và nỗ lực nhiều hơn sẽ có cơ hội chuyển mức hỗ trợ thành học bổng thay vì phải trả nợ sau khi tốt nghiệp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang “Thâm cung bí sử” biên soạn SGK ngữ văn      Tại hội thảo quốc gia về dạy học văn trong trường phổ thông do Bộ GD-ĐT tổ chức trong hai ngày 5 và 6.1 ở TP.Huế, các đại biểu thừa nhận đa số học sinh chối bỏ môn văn. Thế nên thay đổi mạnh mẽ dạy và học, chương trình – sách giáo khoa của môn này là việc cấp thiết.    Môn số 1 nhưng học sinh xem nhẹ  Phát  biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, khẳng  định: “Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí và tầm quan trọng số  một trong nhà trường phổ thông. Ngoài chức năng công cụ, môn học này  còn góp phần rất lớn nhằm hình thành và phát triển các năng lực chung  cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp  của người học”.    Trong khi đó, PGS Đỗ Ngọc Thống, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, chuyên trách về đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông sau năm 2015 thông tin: “Trong những năm gần đây, số lượng học sinh đăng ký học, thi ban xã hội và nhân văn ngày càng ít. Không những thế, chất lượng cũng ngày càng giảm. Các số liệu thống kê cho thấy, môn ngữ văn đang bị tuyệt đại đa số học sinh phổ thông chối bỏ. Năm 2009, chỉ có 1,82% học sinh trung học ban xã hội – nhân văn. Như vậy, gần 100% học sinh THPT chỉ cần học văn để thi đỗ tốt nghiệp”.  Quy trình ngược          Chương trình không quy định  chi tiết đến từng tác phẩm văn học cụ thể phải được dạy và học. Nên dành  một tỷ lệ nhất định các tác phẩm văn học do chính học sinh lựa chọn  trong số những tác phẩm do giáo viên hay tổ bộ môn giới thiệu                    PGS Bùi Mạnh Hùng              Trường ĐH Sư phạm TP. HCM        Tại hội thảo này, lần đầu tiên những chuyện “thâm cung bí sử” trong quá trình biên soạn chương trình, SGK ngữ văn hiện hành được các tác giả viết sách chủ động chia sẻ và coi đó như bài học kinh nghiệm sâu sắc cho lần đổi mới chương trình, SGK sau 2015.  Quá trình ngược này dường như đang bị ngược. Lẽ ra phải xây dựng một chương trình học trước, căn cứ vào đó mới viết SGK phù hợp, nhưng thực tế theo hướng ngược lại. Vì thế nên thường xuyên có sự bất đồng quan điểm giữa tác giả viết sách với tác giả chương trình. GS Nguyễn Khắc Phi, nguyên Phó giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo dục, chia sẻ: “Có những điểm tác giả SGK không đồng tình với tác giả chương trình và đề nghị tác giả chương trình sửa chữa, tuy nhiên không phải bao giờ cũng có thể thực hiện được như vậy. Có lúc tác giả chương trình bảo lưu ý kiến, có khi đồng ý nhưng không sửa kịp hoặc rất khó sửa vì sợ… rút dây động rừng”.  GS Phan Trọng Luận, Tổng chủ biên SGK môn ngữ văn cơ bản cấp THPT, nêu rõ: “Khi bắt tay viết sách, có nhiều vấn đề chương trình chưa thống nhất. Ví dụ, có quan điểm cho rằng ở phổ thông chỉ dạy văn bản mà thôi. Trái lại nhiều người cho rằng phải dạy tác giả. Tranh luận mấy buổi cuối cùng nhất trí là có dạy nhưng chọn những tác giả nào? Có người nói chỉ chọn ba người, trao đổi thấy không ổn. Rồi chọn tác phẩm cũng không đơn giản, trao đổi mãi mới đưa vào chương trình chính thức…”. Chính vì sự thật này mới có tình trạng như hiện nay nội dung SGK có nhiều vấn đề khập khiễng, phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần. “Biên soạn SGK trong tình huống như vậy không thể tái diễn ở lần tới”, ông Luận thẳng thắn.  Chọn tác giả viết SGK cũng là một vấn đề. Một giáo sư chuyên về văn học Việt Nam viết bài khái quát văn học Việt Nam cho học sinh đã kéo dài đến hơn 30 trang. “Thế đấy, không phải là giỏi văn chương, giỏi phê bình văn học hoặc là giáo viên giỏi hay giáo sư chuyên sâu đều có thể viết SGK được”, ông Luận nhận định.  Học sinh được quyền lựa chọn học cái gì  Để môn văn thực sự gần gũi với học sinh, PGS Bùi Mạnh Hùng, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, đề nghị: “Chương trình phải rất mở, có thể làm cơ sở cho việc biên soạn nhiều bộ SGK khác nhau”. Ông đề xuất: “Chương trình không quy định chi tiết đến từng tác phẩm văn học cụ thể phải được dạy và học. Quyền lựa chọn tác phẩm thuộc về tác giả SGK. Ngoài ra, nên dành một tỷ lệ nhất định các tác phẩm văn học do chính học sinh lựa chọn trong số những tác phẩm do giáo viên hay tổ bộ môn giới thiệu”.          Chủ yếu vẫn là đọc chép              Nghiên  cứu ở 3 nhóm trường phổ thông với những điều kiện khác nhau của nhóm  nghiên cứu Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Kim Dung (Bộ GD-ĐT) cho kết quả  như sau: 93% học sinh cho biết phải thường xuyên nghe giảng và ghi chép  (trong khi chỉ có 28,6% giáo viên đánh giá thường xuyên sử dụng phương  pháp dạy học này). 36,5% học sinh cho biết thường xuyên học thông qua  thực hành gắn với tình huống giao tiếp cụ thể. Như vậy, kiểu dạy học  truyền thụ một chiều giảng giải, minh họa, “thầy đọc, trò chép” vẫn  chiếm ưu thế.        Ý kiến của nhiều đại biểu cũng chỉ ra rằng do chương trình từ trước đến nay quy định quá chi tiết các tác giả và tác phẩm cần học, nên các kỳ thi ngữ văn thường xoay quanh những tác giả và tác phẩm quen thuộc. Đó là mảnh đất màu mỡ cho nạn học vẹt, học tủ, thiếu khả năng sáng tạo và vỗ béo các lò luyện thi.  Ở góc độ bàn về kỹ năng, GS Lê A, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, bày tỏ quan điểm: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của dạy học văn là làm sao học sinh trau dồi được năng lực tạo lập các văn bản cần thiết cho cuộc sống. Trong cuộc sống, chúng ta cần giao tiếp cả dạng viết lẫn nói, tương ứng với 2 dạng đó là năng lực tạo lập văn bản viết và nói. Thế nhưng, tổng cộng cả 3 lớp cấp THPT chỉ có 5/94 tiết học có cả nội dung viết và nói. Xem ra, chúng ta đã quá xem nhẹ việc trang bị cho các em năng lực nói trong hoạt động giao tiếp”. Đồng quan điểm, PGS Bùi Mạnh Hùng cho rằng: “Dạy văn phải tạo môi trường để học sinh cảm thấy tự tin và có hứng thú “mở miệng” trong lớp, để các em không chỉ phát biểu với thầy cô mà còn tranh luận với nhau. Có như vậy, môn ngữ văn mới giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, sự tự tin, tính tự lập và tinh thần cộng đồng”.        Cần coi trọng tính thẩm mỹ              GS  Phan Trọng Luận băn khoăn cho rằng hiện đang có khuynh hướng giảng dạy  xã hội học dung tục, chủ nghĩa thực dụng làm tổn thương đến hiệu quả  giáo dục nhân văn, thẩm mỹ cho học sinh. Ông Luận khẳng định dạy văn  không phải đào tạo ra những người viết văn mà là những công dân có văn  hóa, có kỹ năng đời sống. Về cơ bản, dạy văn vẫn phải là dạy văn, nếu  coi nhẹ đặc trưng nghệ thuật thẩm mỹ thì sẽ hạn chế sức mạnh riêng của  môn học này.              Bà Nguyễn Kim Anh, giáo viên Trường THPT Phan Huy  Chú, Q.Đống Đa, Hà Nội, phát biểu: “Nếu việc học, kiểm tra đánh giá xa  rời cuộc sống thì không cần phải hỏi làm sao học trò chưa thực sự yêu  văn. Làm sao vẫn có tình trạng cách dạy rất phản văn lại đang có điểm  tốt?”. Vì vậy, bà Kim Anh đề nghị đề văn cần “nóng hổi hơi thở đời  sống”.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thân phận người thầy      Người thầy ngày xưa sống với nghề, được xã hội trọng vọng, có quyền hành và có tự do trong việc tổ chức giảng dạy và đánh giá học sinh của mình. Còn người thầy ngày nay trong xã hội ta thì sao?    Chân dung người thầy hiện nay  Người thầy ngày nay nhất là đối với giáo viên phổ thông thực sự là một người “thợ dạy” nghèo về vật chất, vất vả áp lực trong công việc, thiếu tự do và quyền hạn trong chuyên môn, và do đó, cũng chẳng phong phú gì về mặt tinh thần.  Trước hết là chuyện cơm áo gạo tiền. Theo kết quả đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước, làm chủ nhiệm cho thấy: “Thu nhập bình quân từ lương và các phụ cấp theo lương trong khoảng từ 3 đến 3,5 triệu đồng/tháng. Tính theo năm công tác thì lương giáo viên sau 13 năm từ 3 đến 3,5 triệu đồng/tháng, sau 25 năm từ 4,1 đến 4,7 triệu đồng/tháng. GV mới ra trường ở cả 3 cấp học nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/ tháng. Với số lượng GV như hiện nay, theo tính toán của đề tài, chỉ khoảng 50% GV các cấp có thâm niên dạy học từ 13 năm trở lên và được hưởng mức lương bình quân, 50% còn lại được hưởng dưới mức lương bình quân”1.  Lương của giáo viên như thế, trong khi vật giá đắt đỏ, các thầy cô cứ phải sống tằn tiện qua ngày. Nếu hai vợ chồng cùng là giáo viên, nuôi hai đứa con ăn học, thì kể là đói. Có thực mới vực được đạo, bụng mà còn đói thì khó có thể nói chuyện lý tưởng “trồng người”, tiêu cực dạy thêm học thêm, mua bán, trao đổi điểm chác cũng từ đây mà ra, làm nền giáo dục đi xuống, làm hình ảnh người thầy nhếch nhác trong mắt học trò và xã hội.          Cả hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay tựa như một trường đua mà đích đến là đủ thứ danh hiệu gắn liền với cá nhân với tập thể.        Về thời gian, trước đây tuy vẫn thiếu thốn, nhưng người giáo viên còn thong dong về mặt thời gian vì họ chỉ dạy một buổi, nay đa số trường dạy hai buổi một ngày, nên họ phải có mặt ở trường từ sáng sớm đến chiều, về tới nhà lại còn phải lo chuyện gia đình, con cái, rồi bao nhiêu chuyện không tên như soạn giáo án, làm sổ sách, vv. Ngày này qua ngày khác làm họ mệt mỏi, những người có lý tưởng khi mới vào nghề vì vậy cũng phai nhạt dần.  Chuyện thiếu thời gian, thu nhập ở trên đã là vấn đề, thì chuyện áp lực trong nghề nghiệp là vấn đề trầm trọng, thường trực đối với người thầy hiện nay. Nhiều giáo viên nói với tôi là họ bị căng thẳng thường trực vì luôn chịu áp lực. Căng thẳng vì phải luôn lo đối phó với các đoàn thanh tra, kiểm tra từ Bộ, từ sở, từ phòng và từ ban giám hiệu trường. Có những đợt thanh tra, dự giờ có báo trước, nhưng cũng có nhiều lúc không báo trước. Để đối phó với các đoàn thanh tra, giáo viên nhiều lúc phải bố trí cho học sinh đóng kịch, tạo ra các giờ học “chất lượng” giả tạo, không phản ánh đúng chất lượng thật, không tốt gì cho học sinh và cho cả xã hội.           Người thầy bị giao phó đủ thứ nhưng lại chẳng có quyền hành gì trong công việc. Các đề thi các kỳ kiểm tra trong năm đều do phòng và sở giáo dục ra. Nghĩa là giáo viên cứ dạy theo những gì có sẵn, nhưng ai đó bên trên họ lại là người giữ quyền đánh giá học sinh của họ.        Người thầy còn chịu áp lực vì bệnh thành tích, hệ quả của cách quản lý giáo dục kiểu “thi đua khen thưởng”. Cả hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay tựa như một trường đua mà đích đến là đủ thứ danh hiệu gắn liền với cá nhân với tập thể. Người ta nhắc lên đặt xuống các cán bộ quản lý, các giáo viên và cả học sinh đều dựa chủ yếu trên các thành tích thi đua khen thưởng này. Sự hơn thua trong các cuộc đua được đánh giá thông qua các thành tích điểm số bên ngoài. Vì phải đua, nhà trường khoán cho giáo viên làm sao đó để cuối kỳ, cuối năm, phải đạt bao nhiêu học sinh khá, giỏi, xuất sắc nhằm có được những con số đẹp trong các báo cáo. Ngoài chuyện này, hệ thống còn tổ chức vô số các cuộc đua khác, một người bạn giáo viên tiểu học viết thư cho tôi kể: “bọn mình dạy tiểu học đến trường ngày 2 buổi cho đến hết tuần. Tối về lại bao nhiêu việc không tên khác như làm báo cáo, soạn bài, làm các chuyên đề để lên lớp và ôn luyện cho các cuộc thi: Thi quản lí giỏi, giáo viên dạy giỏi các cấp, thi khảo sát chất lượng quản lí và giáo viên, hội thi hát dân ca, thi đàn piano, thi luật an toàn giao thông….Tháng 1 này (2013) chúng mình đếm có đến 6 cuộc thi quan trọng. Nghe thầy Hiệu trưởng công bố chúng mình hồn vía lên mây xanh cả, cảm thấy áp lực vô cùng”.   Người thầy bị giao phó đủ thứ nhưng lại chẳng có quyền hành gì trong công việc. Các đề thi các kỳ kiểm tra trong năm đều do phòng và sở giáo dục ra. Nghĩa là giáo viên cứ dạy theo những gì có sẵn, nhưng ai đó bên trên họ lại là người giữ quyền đánh giá học sinh của họ. Không có quyền gì, nhưng họ lại là người phải chịu trách nhiệm nếu như học sinh mình không đỗ đạt cao. Kiểu tổ chức thi cử đánh giá này thể hiện sự không tin tưởng và tôn trọng người thầy, đặt cả thầy và trò vào thế bị động, buộc họ phải đối phó một cách căng thẳng và tiêu cực. Với cách làm này, chúng ta hoàn toàn dễ hiểu tại sao giáo viên sẵn sàng dạy “văn mẫu” cho học sinh, vì chỉ làm như vậy mới có thể đối phó với các đề thi áp đặt từ trên xuống.     Người Thầy trong xã hội Phần Lan  Tôi xin lấy mô hình giáo dục Phần Lan, một nền giáo dục đang thu hút cả thế giới vì sự thành công kỳ diệu của nó trong những thập niên gần đây, để làm mốc quy chiếu nhằm từ đó biết chúng ta đang ở đâu trên thế giới này.   Cũng như Việt Nam, người Phần Lan xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa của sự tăng trưởng và cạnh tranh quốc tế. Tại xứ Bắc Âu này, người thầy được cả xã hội tin tưởng và quý mến. Do đó, cửa vào ngành sư phạm là rất hẹp, giới trẻ xem nghề giáo là một nghề lý tưởng, ai cũng muốn trở thành “kỹ sư tâm hồn”, nên ngành sư phạm tha hồ chọn người tài. Cô Paula, một giáo viên trong ngôi trường mà chúng tôi đã chọn quan sát ở Phần Lan kể về con đường trở thành giáo viên tiểu học của cô: “khóa thi vào khoa sư phạm của tôi năm đó chỉ có 1/5 ứng sinh trúng vào vòng hai, trong số này, sau nhiều vòng phỏng vấn, người ta chỉ chọn ra một người mà thôi” 2. Và để trở thành giáo viên chính thức của trường này, chị đã phải vượt qua 36 hồ sơ khác cùng nộp đơn dự tuyển. Con đường trở thành giáo viên ở bất kỳ cấp học nào tại xứ này cũng thực sự gian truân nhưng cũng đầy vinh dự.           Giáo viên Phần Lan không hề phải chịu bất kỳ áp lực gì, chẳng ai thanh tra rình rập họ. Hiệu trưởng thỉnh thoảng có thể góp ý, nhưng không có quyền nói với họ là họ phải làm thế này thế khác. Giáo viên chẳng cần phải thi đua với ai, so bì với ai, chẳng có các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua cấp này cấp kia. Hệ thống giáo dục Phần Lan hoàn toàn vắng bóng hình thức thi đua khen thưởng như ở ta.        Người thầy trong xã hội Phần Lan là một chuyên gia giáo dục, ai cũng phải có bằng thạc sĩ trở lên. Họ là một nhà sư phạm trong việc chuyển tải tri thức, một người biết làm nghiên cứu về giáo dục, một kỹ sư tâm hồn đúng nghĩa. Họ là chủ thể tham gia vào hoạch định mục tiêu chương trình giảng dạy, họ tự do trong việc tổ chức giảng dạy, lựa chọn phương pháp sư phạm và đánh giá học sinh. Về đời sống vật chất, lương bổng cho phép họ sống đàng hoàng để toàn tâm toàn ý dấn thân cho nghề nghiệp. Theo báo cáo của Hội đồng châu Âu, lương trung bình trước thuế của giáo viên phổ thông Phần Lan trong năm học 2011 – 2012 là 2 598 euro/ tháng3, tương đương với 72.479.364 vnđ, trong khi tôi thấy vật giá giữa Việt Nam và Phần Lan không chênh lệch nhau là mấy.  Giáo viên Phần Lan không hề phải chịu bất kỳ áp lực gì, chẳng ai thanh tra rình rập họ. Hiệu trưởng thỉnh thoảng có thể góp ý, nhưng không có quyền nói với họ là họ phải làm thế này thế khác. Giáo viên chẳng cần phải thi đua với ai, so bì với ai, chẳng có các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua cấp này cấp kia. Hệ thống giáo dục Phần Lan hoàn toàn vắng bóng hình thức thi đua khen thưởng như ở ta.  Người Phần Lan quan niệm đơn giản về triết lý giáo dục, đó là nhiệm vụ của nhà trường là làm cho trẻ em hạnh phúc, bởi một đứa trẻ hạnh phúc thì cũng là đứa trẻ phát triển toàn diện, có đầy đủ khả năng để lãnh hội bất kỳ thứ gì. Mọi hình thức cạnh tranh, kiểm tra, kiểm soát chỉ gây ra căng thẳng cho cả thầy và trò, khi bị căng thẳng sẽ không thể có môi trường thoải mái thực sự để có thể sáng tạo. Hơn nữa phương cách này chẳng giúp cải thiện chất lượng giảng dạy, nó chỉ tạo ra sự giả dối mà thôi. Một cán bộ quản lý giáo dục cấp địa phương nói với chúng tôi trong đợt chúng tôi khảo sát ngôi trường nằm trong vùng ông quản lý: “Ngày nay chúng tôi không có bất kì loại thanh tra nào cả. Về môn Lịch sử thì tôi nhớ cách đây 20 hay 40 năm gì đó người ta có thanh tra, nhưng giờ thì hoàn toàn không. Tôi nghĩ, thanh tra cũng không mang lại gì. Vì nếu như bạn biết có thanh tra, thì bạn sẽ làm tốt hơn để đối phó, và như vậy là không thật, và cũng không thật đối với học sinh nữa. Là giáo viên thì bạn phải dạy tốt mỗi ngày, không phải để đối phó với thanh tra nhưng mà dạy tốt cho học sinh”.  Có lẽ vì người thầy trong xã hội Việt Nam như vậy mà người trẻ ngày nay quay lưng lại với nghề giáo, trường sư phạm thiếu vắng đầu vào có chất lượng. Phản ánh về thực trạng này, Bà Trần Thị Tâm Đan- nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội trong Hội thảo “Khoa học sư phạm trong chiến lược đào tạo giáo viên – yếu tố căn bản của đổi mới giáo dục Việt Nam” ngày 28-12-2011 đã mô tả: “Giáo viên cũ chuyển ngành, thế hệ trẻ thì quay lưng lại với nghề giáo. Một xã hội mà người thầy không ai muốn làm thì sẽ đi đến đâu?”. Một câu hỏi nhức nhối đáng cho mọi người suy nghĩ, vì nó liên quan đến hiện tại và tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta, liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc.     —-    1 http://tuoitre.vn/Tuyensinh/Tuyen-sinh/492748/ Nhieu- nganh-tiep-tuc-%e2%80%9ce%e2%80%9d.html  2 Kết quả phỏng vấn trong khuôn khổ một đề án nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (viện IRED) tổ chức.  3 http://eacea.ec.europa.eu/education/eurydice/documents/facts_and_figures/salaries.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tích học tập ở Châu Á: Cái giá phải trả      Trong bài viết đăng ngày 4/2/2011 trên blog “Reality Check” (tạm dịch: Kiểm tra hiện trạng giáo dục”), Walt Gardner đã đưa ra một phân tích khác về sự thành công của mô hình giáo dục châu Á. Bài viết là một lời cảnh báo đối với Chính phủ Hoa Kỳ về những rủi ro tiềm ẩn của mô hình giáo dục châu Á, cho dù nó cũng đã giúp cho một số các quốc gia châu Á đạt được những thành tựu to lớn.    Dư luận Hoa Kỳ gần đây như sôi sục lên vì sự trỗi dậy của giáo dục Trung Quốc, thông qua hai sự kiện nổi bật thu hút rất nhiều giấy mực của giới truyền thông Mỹ. Đầu tiên là vị trí quán quân của học sinh Thượng Hải trong kỳ thi PISA, rồi liền sau đó cuốn sách nổi tiếng của Amy Chua, nữ giáo sư Đại học Yale người Mỹ gốc Hoa với nhận định rằng chính cách dạy con khắt khe của người Hoa đã tạo ra những học sinh có thành tích học tập xuất sắc.   Trước những sự kiện trên, cả nước Mỹ hiện đang lo lắng rằng vị trí hàng đầu thế giới của họ dường như đang bị đe dọa nặng nề bởi một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh. Phải chăng nước Mỹ cần xem xét lại phương pháp giáo dục của mình, và nên bắt chước cách làm của Trung Quốc? Nhiều nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ dường như đang có suy nghĩ như vậy, trong đó có cả Tổng thống Obama, như ta có thể nhận thấy qua bài diễn thuyết hàng năm vừa qua của Tổng thống trước Quốc hội Mỹ.  Trong bài viết đăng ngày 4/2/2011 trên blog “Reality Check” (tạm dịch: Kiểm tra hiện trạng giáo dục”, một trang blog nổi tiếng về các vấn đề giáo dục của tờ Tuần Giáo dục (Education Week) của Hoa Kỳ, Walt Gardner đã đưa ra một phân tích khác về sự thành công của mô hình giáo dục châu Á. Bài viết là một lời cảnh báo đối với Chính phủ Hoa Kỳ về những rủi ro tiềm ẩn của mô hình giáo dục châu Á, cho dù nó cũng đã giúp cho một số các quốc gia châu Á đạt được những thành tựu to lớn.                 Phương Anh   dịch và giới thiệu   —  Nếu như có ai không nhớ điều này, thì xin nhắc rằng châu Á luôn đứng ở đầu bảng hoặc ít ra là những vị trí đầu tiên trong mọi bảng xếp hạng thành tích học tập. Hai sự kiện gần đây đủ chứng tỏ điều này: (1) học sinh thành phố Thượng Hải chiếm vị trí số 1 trong kỳ thi học sinh quốc tế có tên là PISA (Program for International Student Assessment), và (2) bài viết có tựa đề “Chiến ca của bà mẹ hổ”1 của Amy Chua trên tờ Wall Street Journal nó khiến cho số lượng truy cập trên trang web nhiều hơn bất kỳ chủ đề nào khác trong suốt lịch sử tồn tại của nó.   Nhưng khi nói đến những thành tựu rực rỡ của giáo dục các nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, người ta thường quên không nhắc đến cái giá rất đắt mà học sinh các nước này phải trả. Có thể nhận ra điều này qua hai cách khác nhau.  Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Trung Quốc có tỷ lệ phụ nữ tự tử cao nhất thế giới. Hàn Quốc thì có tỷ lệ tự tử cao nhất trong các nước công nghiệp, còn Nhật Bản cũng không xa mấy ở phía sau. Sẽ có những người lập luận rằng mối tương quan đó không phải là nhân quả. Họ cho rằng không thể dùng mối tương quan này để chứng minh rằng áp lực phải thành công trong học tập đã gây ra những thảm kịch vừa nêu. Họ nói thế có lẽ cũng đúng.   Tuy nhiên, hoàn toàn có thể chứng minh rằng một hiện tượng đáng lo ngại tương tự đang diễn ra ở Mỹ. Một cuộc khảo sát trên 200.000 sinh viên toàn thời gian tại các trường đại học cho thấy sức khỏe cảm xúc của tân sinh viên đang ở mức thấp nhất kể từ khi số liệu về vấn đề này bắt đầu được thu thập cách đây một phần tư thế kỷ trước, như bài viết đã đăng trên tờ New York Times ngày 26/1 vừa qua cho biết.   Cuộc điều tra có tên “Sinh viên Mỹ năm thứ nhất: các mức chuẩn quốc gia mùa thu năm 2010” được đánh giá cao do kích thước mẫu lớn và độ dài của thời gian thu thập dữ liệu. Kết quả của cuộc điều tra chỉ ra rằng sinh viên năm thứ nhất hiện nay đã rất căng thẳng và chán nản, có lẽ vì họ bị áp lực quá lớn do món nợ vay để học đại học trong khi triển vọng việc làm thì ảm đạm. Tôi không nói rằng những yếu tố này cuối cùng sẽ làm họ phải tự tử, nhưng rõ ràng đây là những dấu hiệu cảnh báo rằng không thể bỏ qua.   Các bằng chứng vừa nêu từ châu Á và từ Mỹ dẫn đến một câu hỏi lớn hơn, là phải chăng nước Mỹ chúng ta nên bắt chước tính cạnh tranh cao độ của châu Á? Bài phát biểu vào tháng 1/2011 của Tổng thống Obama nêu rõ rằng cạnh tranh là điều cần thiết nếu Hoa Kỳ muốn tiếp tục duy trì địa vị là một cường quốc kinh tế. Nhưng tôi tự hỏi không biết Tổng thống có nhận ra mối nguy hiểm tiềm ẩn trong lời phát biểu của mình khi áp dụng tính cạnh tranh đó vào trong lãnh vực giáo dục hay chăng? Liệu có giải thưởng nào có giá trị lớn lao hơn cái nỗi đau mất con mà các bậc phụ huynh phải gánh chịu nếu chẳng may con mình tự tử vì không chịu nổi áp lực? Liệu có thành tích nào có thể giúp các bậc phụ huynh nguôi bớt nỗi buồn đó chăng? Thật đau buồn khi con cái phải chịu tang cha mẹ, nhưng nỗi đau đó sẽ trở thành không chịu đựng nổi nếu cha mẹ phải để tang con. Rõ ràng những kết quả đạt được về mặt trí tuệ là quan trọng. Nhưng còn những kết quả đạt được về mặt cảm xúc thì sao? Chẳng lẽ chúng không quan trọng chút nào ư?  Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Mặc dù học sinh Nhật học rất tốt các môn toán và khoa học, nhưng đa số các em cho biết đã hoàn toàn mất hết hứng thú đối với các môn này. Một cuộc khảo sát về hứng thú học tập do Hiệp hội đánh giá thành tích học tập quốc tế thực hiện cho thấy Nhật Bản xếp hạng thứ 36 trong số 37 quốc gia đối với môn toán và xếp hạng thứ 22 trong số 23 quốc gia đối với môn khoa học. Theo tôi, điều này cho thấy thành tích của học sinh Nhật chẳng qua chỉ là những thắng lợi vô nghĩa mà thôi. Liệu chúng ta đạt được điều gì khi tạo ra những học sinh đạt được điểm cao trong các bài trắc nghiệm nhưng lại bị chấm điểm thấp về thái độ tích cực học tập?   Ngày hôm nay, chúng ta ngưỡng mộ Trung Quốc vì những thành tích giáo dục mà họ đạt được. Biết đâu ngày mai chúng ta lại chửi rủa họ vì những thiệt hại mà họ đã gây ra cho cả một thế hệ trẻ em. Tôi hy vọng Hoa Kỳ sẽ nhận ra những rủi ro tiềm ẩn trước khi quyết định sẽ học tập từ mô hình châu Á. Vì chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của chính mình – Caveat Emptor!   ————-  (1) Xem thêm bài viết “Mẹ Hổ người Hoa làm rung chuyển nước Mỹ” trên Tia Sáng online ngày 25/2/2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tháo gỡ rào cản cho mô hình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh      Chưa có những cải tiến về quy chế và thủ tục giấy tờ của Bộ GD&ĐT, mô hình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh với sự tham gia của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài vẫn chưa thể nhân rộng. Vì vậy cần sự chủ động nhập cuộc của các trường đại học để góp phần tháo gỡ khó khăn trong quá trình áp dụng mô hình này.      PGS. TS. Trần Xuân Tú hướng dẫn các nhà nghiên cứu trẻ tại ĐH Công nghệ, ĐHQGHN.  Ở Việt Nam, thông thường có hai cách làm phổ biến trong đào tạo nghiên cứu sinh: hoặc là nghiên cứu sinh được đào tạo trong nước dưới sự hướng dẫn của các nhà nghiên cứu Việt Nam hoặc được cử đi đào tạo ở nước ngoài, dưới sự hướng dẫn của các nhà nghiên cứu quốc tế. Chừng 10 năm trở lại đây, ở một số trường đại học bắt đầu xuất hiện một cách làm mới: nghiên cứu sinh sẽ được hướng dẫn bởi hai nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Việc áp dụng mô hình đồng hướng dẫn này kết hợp được hài hòa ưu điểm của hai cách làm cũ: giữ được các nghiên cứu sinh giỏi ở lại làm việc trong một nhóm nghiên cứu trong nước nhưng vẫn điều kiện cho họ học hỏi trong môi trường học thuật quốc tế.  Tuy có ưu điểm như vậy nhưng việc áp dụng mô hình đồng hướng dẫn lại gặp phải khá nhiều khó khăn. Bằng chứng là một số nghiên cứu sinh do GS Pierre Darriulat và đồng nghiệp hướng dẫn đã phải trải qua rất nhiều khó khăn về mặt thủ tục giấy tờ, quy trình bảo vệ luận án… như phải bảo vệ luận án hai lần trước hai hội đồng của Việt Nam và quốc tế (ngay trong quá trình bảo vệ trước hội đồng Việt Nam cũng phải thực hiện đúng năm bước, trong đó ba bước trình bày trước các hội đồng về chuyên đề liên quan đến dự án, hội đồng cấp cơ sở, hội đồng quốc gia, gửi 50 bản tóm tắt luận án tới các chuyên gia để nhận được ít nhất 15 nhận xét tích cực 1) và phải chờ hơn một năm kể từ khi nhận bằng từ nước ngoài mới được nhận bằng từ cơ sở đào tạo trong nước. Đây cũng là vấn đề được giáo sư Pierre Darriulat đề cập tới nhiều lần trong các bài viết trên Tia Sáng. Thậm chí, ông còn gửi thư ngỏ Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và tới gặp trực tiếp Thứ trưởng Bộ GD&ĐT để trình bày “nhưng cho đến nay vẫn chưa có vấn đề gì được thay đổi” 2.  Vào ngày 4/4 vừa qua, thông tư 08/2017/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sỹ do Bộ GD&ĐT có một số điểm tiến bộ so với quy định cũ khi quy định khá chặt chẽ về tiêu chuẩn đầu vào, đầu ra của nghiên cứu sinh, giảm thiểu các thủ tục hành chính, hồ sơ giấy tờ… nhưng chỉ áp dụng đối với các trường hợp đào tạo tại các trường viện trong nước mà “bỏ rơi” các trường hợp thuộc chương trình liên kết giữa cơ sở đào tạo Việt Nam và quốc tế 3. Như vậy nút thắt của mô hình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh vẫn chưa được tháo gỡ.  Không áp dụng vì nhiều rào cản  Những tồn tại của quy định đó khiến nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam ngần ngại nghĩ đến chuyện áp dụng mô hình đồng hướng dẫn, dù họ có đủ năng lực nghiên cứu và có khả năng mời những đồng nghiệp có uy tín ở các trường đại học hay viện nghiên cứu nước ngoài cùng tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh với mình. GS. TS Phan Thanh Sơn Nam (Khoa Kỹ thuật hóa học, ĐH Bách khoa TPHCM), PGS. TS Lê Thị Lý, PGS. TS Nguyễn Phương Thảo (Khoa Công nghệ sinh học, ĐH Quốc tế, ĐHQG TPHCM)…, những nhà nghiên cứu trẻ từng có nhiều năm học tập và nghiên cứu ở nước ngoài, cho biết, sau nhiều lần “vò đầu bứt tóc” tìm cách giải quyết không thành, họ đành phải chọn một trong hai phương án quen thuộc là tự hướng dẫn hoặc “gửi thẳng” học viên ra nước ngoài.  Trên thực tế, việc áp dụng mô hình đồng hướng dẫn còn gặp phải một trở ngại khác, đó là tâm lý coi trọng “bằng ngoại” hơn bằng trong nước của chính các nghiên cứu sinh. GS. TS Phạm Hùng Việt, Giám đốc PTNTĐ Công nghệ phân tích kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) cho biết, phần đông các nghiên cứu sinh vẫn muốn theo học tại các trường viện nước ngoài, cho dù trong một số lĩnh vực khoa học cơ bản của Việt Nam, nhiều thầy hướng dẫn có trình độ chuyên môn không kém gì đồng nghiệp nước ngoài và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu cũng khá hiện đại và cập nhật quốc tế. Bằng chứng là các giáo sư Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), Nguyễn Văn Hiếu (Viện ITIMS, ĐH Bách khoa HN), Võ Văn Hoàng (ĐH Bách khoa TPHCM), Phan Thanh Sơn Nam… từng nhận được không ít đề xuất theo học chương trình tiến sỹ, thậm chí postdoc, của nhiều học viên quốc tế.  Giữa những rào cản của cơ chế, thủ tục hành chính và cả tâm lý của người trong cuộc, mô hình đồng hướng dẫn không có nhiều đất phát triển, dù ở đâu đó, nhiều nhà nghiên cứu âm thầm tìm cách giải quyết vấn đề bằng những nỗ lực đơn lẻ, ví dụ như đồng hướng dẫn với giáo sư nước ngoài nhưng bằng tiến sỹ do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp để “nghiên cứu sinh khỏi phải trải qua thủ tục bằng kép lôi thôi kéo dài cả năm” theo cách áp dụng của GS. Việt.  Mô hình Trung tâm hợp tác của ĐH Công nghệ  Khi còn chờ một văn bản với những quy định cởi mở hơn từ Bộ GD&ĐT để tháo gỡ nút thắt của mô hình đồng hướng dẫn thì một hình thức đào tạo mới đã được hình thành ở trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN. Vào cuối tháng ba vừa qua, Trung tâm hợp tác nghiên cứu, đổi mới và phát triển công nghệ (JTIRC) đã được khai trương và bắt đầu đi vào hoạt động tại khuôn viên trường ĐH Công nghệ. Nằm trong chương trình hợp tác lâu dài giữa ĐHQGHN và ĐH Công nghệ Sydney, JTIRC được đặt kỳ vọng sẽ trở thành một trung tâm xuất sắc (Centre of Excellence) về đào tạo, nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, công nghệ môi trường và có thể mở rộng cả lĩnh vực khoa học cơ bản, chủ yếu về vật liệu tiên tiến.  Đây không chỉ là kỳ vọng của các nhà nghiên cứu ĐHQGHN mà còn của ĐH Công nghệ Sydney, trường thuộc tốp 200 các trường đại học hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Times Higher Education năm 2016. Nhìn thấy tiềm năng phát triển công nghệ ở Việt Nam, nơi vẫn được coi là chuyên “làm thuê” cho nhiều công ty công nghệ thông tin của nước ngoài4, ĐH Công nghệ Sydney đã cất công sang tận Việt Nam tìm hiểu rất nhiều trường đại học trong Nam, ngoài Bắc và cuối cùng lựa chọn ĐH Công nghệ.    Vậy JTIRC khác biệt gì trong đào tạo so với các trung tâm hợp tác quốc tế đã tồn tại từ rất lâu ở các trường, viện Việt Nam? PGS. TS Trần Xuân Tú, thành viên Hội đồng điều hành JTIRC, cho biết, JTIRC có ba điểm khác biệt: áp dụng mô hình đồng hướng dẫn với sự tham gia của các nhà khoa học ĐH Công nghệ, ĐH Công nghệ Sydney; nghiên cứu sinh được trả lương trong quá trình làm nghiên cứu sinh tại trung tâm (kinh phí ban đầu từ ĐH Công nghệ Sydney và các dự án hợp tác với công nghiệp), được cấp học bổng khi triển khai nghiên cứu tại Úc; gắn kết hoạt động đào tạo nghiên cứu với nhu cầu phát triển công nghệ của khối công nghiệp.  Vì vậy, ngay khi đi vào vận hành, hai nghiên cứu sinh đầu tiên của JTIRC đã được phân công thầy hướng dẫn: nghiên cứu sinh Kiều Thanh Bình với hướng nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ tự nhiên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Bảo Sơn, PGS.TS Phan Xuân Hiếu, và GS.TS. Massimo Piccardi (UTS); nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Tân với hướng nghiên cứu về mạng viễn thông 5G do PGS.TS. Nguyễn Quốc Tuấn, TS. Nguyễn Nam Hoàng, GS. Eryk Dutkiewicz, TS. Điệp Nguyễn đồng hướng dẫn. Khi bảo vệ thành công luận án, nghiên cứu sinh sẽ nhận bằng tiến sỹ do ĐH Công nghệ và ĐH Công nghệ Sydney cấp.  PGS. TS Trần Xuân Tú cho biết, các nghiên cứu sinh sẽ có thời gian nghiên cứu tại hai nơi, trong đó hai năm tại Hà Nội với học bổng 10 triệu đồng/tháng, 1 đến 1,5 năm ở Sydney với học bổng khoảng 4.500 đô Úc/tháng (học phí 35.000 đô la Úc/năm, tiền hỗ trợ 26.000 đô la Úc, vé máy bay đi về, bảo hiểm y tế, máy tính xách tay…). Trung tâm sẽ còn hỗ kinh phí xuất bản công trình trên các tạp chí quốc tế và kinh phí tham dự hội nghị quốc tế.  Khi thông tư 08/2017/TT-BGDĐT vẫn còn chưa tháo gỡ được những rào cản trong việc áp dụng mô hình đồng hướng dẫn thì JTIRC sẽ phải làm những gì để giải quyết vấn đề tồn tại? PGS. Tú cho rằng, ĐHQGHN đã chủ động tìm biện pháp tháo gỡ, một trong những biện pháp đó là ĐHQGHN xây dựng một đề án thí điểm về chương trình đào tạo chất lượng cao theo chuẩn mực quốc tế, trong đó sẽ có nội dung về đào tạo tiến sỹ với những điểm mới như thành lập một hội đồng phản biện gồm các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài. “Tôi nghĩ, sau khi có được một hội đồng phản biện nghiêm túc và giỏi về chuyên môn thì không cần đến hai hội đồng, một ở Việt Nam và một ở nước ngoài. Công nhận một hội đồng như vậy không chỉ làm giảm thủ tục mà còn ‘mở đường’ cho việc công nhận bằng kép”, PGS. Tú tin tưởng.  Một trong những vấn đề đặt ra là Hội đồng điều hành của Trung tâm sẽ thực hiện những gì để đảm bảo chất lượng đào tạo tiến sỹ theo chuẩn quốc tế? Từ góc độ một nhà khoa học giàu kinh nghiệm đã thực hiện nhiều dự án hợp tác quốc tế, GS. Việt nhận xét, cần có hai yếu tố cốt lõi cho mô hình đồng hướng dẫn: sự đồng đều về năng lực của các thầy hướng dẫn trong nước và quốc tế; hình thành nhóm nghiên cứu chung với sự tham gia của các thành viên hai bên. Trước ý kiến này, PGS. Trần Xuân Tú cho biết, Hội đồng điều hành đã tính rất kỹ đến những biện pháp đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó có việc giữ được sự cân bằng giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế, “riêng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Việt Nam đã hội nhập rất sâu với quốc tếvà các nhà nghiên cứu của ĐH Công nghệ chủ yếu được đào tạo bài bản ở các nước tiên tiến, tỷ lệ công bố đạt trung bình 2,3 bài báo/người/năm, nghĩa là sẽ không đến mức lép vế trước các đồng nghiệp nước ngoài”.  Với JTIRC, việc đào tạo nghiên cứu sinh sẽ góp phần hình thành các cặp đồng hướng dẫn có lĩnh vực chuyên môn hẹp tương đối giống nhau và những chủ đề nghiên cứu chung. Trên cơ sở đó, Trung tâm sẽ tìm kiếm các đề tài, dự án nghiên cứu phù hợp với kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ hai trường hoặc từ doanh nghiệp Việt Nam, quốc tế…, để các nhà nghiên cứu thực hiện. Về lâu dài, “Trung tâm sẽ là một môi trường nghiên cứu năng động ở tầm quốc tế cho những người cùng lĩnh vực, không kể trong nước hay quốc tế”, PGS. Tú nói thêm.     Việc đảm bảo chất lượng đào tạo cũng sẽ được JTIRC thực hiện chặt chẽ từ khâu tuyển chọn ứng viên với những điều kiện khá cao như đạt điểm trung bình 3.0/4.0 trở lên, tiếng Anh tối thiểu với mức điểm IELTS đạt 5.5 (nghiên cứu sinh được hỗ trợ nâng cao trình độ tiếng Anh sau khi được chấp nhận), có bài báo chất lượng tốt…  —————————  Chú thích:  1.http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20140908/dao-tao-tien-si-phai-bo-ngay-nhung-thu-tuc-ngo-ngan/642805.html  2.http://tiasang.com.vn/-giao-duc/thu-tuc-ruom-ra-khong-phai-la-cach-de-chong-tieu-cuc-trong-dao-tao-tien-si-7773  http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Hay-giu-nguoi-tai-o-lai—10569  3.http://thuvienphapluat.vn/van-ban/giao-duc/Thong-tu-08-2017-TT-BGDDT-Quy-che-tuyen-sinh-dao-tao-trinh-do-tien-si-338487.aspx  4.http://www.dw.com/en/tech-startups-are-finding-fertile-ground-in-vietnams-silicon-valley/a-38341348  “Nếu các cơ sở đào tạo tại Việt Nam và nước ngoài đi trước một bước, tạo hành lang pháp lý tốt cho việc cấp bằng tiến sĩ kép để các nghiên cứu sinh chỉ cần bảo vệ luận án một lần (tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài) thì chắc chắn sẽ có rất nhiều người chọn mô hình đồng hướng dẫn thay vì phấn đấu tìm học bổng làm tiến sĩ ở nước ngoài. Khi làm được bằng kép, mô hình này sẽ đảm bảo chất lượng luận án, vẫn giữ được người giỏi ở lại trong nước, chi phí đào tạo ít đi so với gửi ra nước ngoài toàn thời gian, đồng thời giảm được sự phức tạp trong thủ tục bảo vệ luận án tiến sĩ”. (TS. Nguyễn Trần Thuật – Trung tâm Nano và năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN).    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang … “Thật đáng buồn cho cách dạy của chúng ta…”      B&#224;i &#8220;C&#225;c em thật giỏi qu&#225;&#8221; để lại trong t&#244;i một ấn tượng mạnh hơn bất cứ lời b&#236;nh n&#224;o về nền gi&#225;o dục của nước Mỹ.  Người thầy gi&#225;o trong b&#224;i b&#225;o ấy chẳng kh&#225;c một thi&#234;n thần. &#212;ng đem lại cho lũ trẻ l&#242;ng c&#244;ng bằng, t&#236;nh y&#234;u thương, tinh thần đo&#224;n kết gi&#250;p đỡ lẫn nhau, tư duy l&#253; t&#237;nh, &#253; nghĩa của cuộc đời &#8230; Với c&#225;ch gi&#225;o dục như thế, sao m&#224; lũ trẻ kh&#244;ng c&#243; t&#236;nh thương, sao m&#224; ch&#250;ng c&#242;n chịu sự r&#224;ng buộc v&#224; hạn chế của những điều n&#224;y khoản nọ n&#224;o đấy ?     Tôi bỗng nhớ lại hồi học trung học, thầy giáo có tổ chức cho chúng tôi học tập tấm gương Lại Ninh.  Chuyện Lại Ninh như sau: Ngày 13 tháng 3 năm 1988, thiếu niên Lại Ninh 14 tuổi bỗng phát hiện thấy có đám cháy trong rừng, anh liền tức tốc chạy tới chỗ cháy và cầm lấy một cành cây hăng hái quên mình dập lửa. Tuy các đội viên đội chữa cháy từng khuyên mọi người chớ chạy đến gần đám lửa, nhưng vì không đành lòng nhìn thấy tài sản của Nhà nước bị thiệt hại, Lại Ninh vẫn tiếp tục dập lửa. Sau cùng đám cháy rừng bị dập tắt, hơn 3500 mẫu rừng được cứu thoát, trạm vệ tinh chuyển tiếp truyền hình trong rừng và nhà kho của công ty dầu lửa cũng bình yên vô sự. Sáng hôm 14, người ta tìm thấy xác Lại Ninh trong đống tro rừng. Tay phải anh vẫn còn nắm chặt cành cây, mặt hướng lên đồi, cặp kính cận thị văng đâu mất, tay trái bám lấy mặt đất, chân phải ở tư thế leo lên đồi. Lại Ninh đã vĩnh biệt chúng ta nhưng tinh thần của anh mãi mãi còn sống với chúng ta. Anh là tấm gương để chúng ta học tập noi theo! Anh mãi mãi là niềm kiêu hãnh của chúng ta!  Lại Ninh là một thiếu niên tốt và có tinh thần quý trọng của công rất cao. Thế nhưng tại sao chúng ta không dạy dỗ trẻ em cách phòng tránh khi có cháy rừng mà lại khuyến khích các em chạy tới đám cháy? Có “tài sản Nhà nước” nào quý hơn tính mạng con người chăng ? Những người thân của Lại Ninh sẽ phải chịu đựng nỗi đau như thế nào vì chuyện ấy ? Còn có cách giáo dục nào thiếu đạo đức hơn lối dạy trẻ em như thế không ? Nhất là ngày nay, trong khi một lũ quan tham ra sức chiếm đoạt “tài sản Nhà nước” thì ta vẫn tiếp tục dạy dỗ các em hy sinh thân mình để bảo vệ một loại tài sản nào đó, thử hỏi đạo trời ở đâu?  Tại nước Mỹ, khi xảy ra nguy hiểm, các thầy cô giáo bao giờ cũng khuyên răn học trò rời xa ngay nơi đó và hướng dẫn chúng rất tường tận cách tránh né. Họ hiểu rằng tính mạng giữ được thì lại có thể làm ra tài sản… Cách giáo dục của chúng ta thì có thể đưa bao nhiêu thanh thiếu niên ưu tú đi tới chỗ chết!   Thế nhưng trước đây tôi đâu có biết đạo lý ấy. Tôi từng mong muốn mình cũng được như Lại Ninh liều thân chữa cháy, dẫu có hy sinh trong đám lửa thì cũng không quản ngại. Cho tới năm học lớp 12, tôi được một thầy giáo trẻ dạy môn sử có lương tri bảo ban cho dần dần hiểu rõ thực chất của nhiều vấn đề, từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ sâu sắc. Sau khi trở thành nhà báo, đi nhiều thấy nhiều, tôi dần dần hiểu ra rằng tính mạng con người, tình thương yêu, lòng khoan dung và niềm tin mới là thứ đáng quý nhất.  Kiểu giáo dục khuyên bảo lũ trẻ con ấu trĩ xông vào cứu cái gọi là “tài sản Nhà nước” ấy thật đáng trách, ngay cả loài cầm thú cũng chẳng làm thế. Tất cả mọi thứ vật chất đều có thể làm lại, riêng sinh mạng thì không thể.   Cách giáo dục ấy hủy hoại lũ trẻ từ nhỏ, xóa bỏ thiên tính của chúng, ươm trồng hạt giống tính nô lệ. Ngay từ ở nhà trẻ, có cô giáo đã quyết định thái độ đối xử với từng cháu tùy theo bố mẹ cháu chức vụ cao hay thấp, giàu hay nghèo; ngay từ tuổi ấy chúng đã dần dần học được cách lấy lòng cô giáo. “Nô tính” ấy thâm căn cố đế tới mức sau này có người leo lên địa vị lãnh đạo rồi mà vẫn còn giữ thói cũ, thậm chí còn nặng hơn. Thấy khách nước ngoài thì cung kính vâng vâng dạ dạ; thấy quần chúng bình thường thì nạt nộ ra oai … Thật là đáng buồn làm sao !  Chế độ giáo dục xóa bỏ lương tri, tính người, hủy hoại tình thương yêu, trau dồi nô tính và tính phục tùng, gạt người nghèo ra khỏi ghế nhà trường chẳng những chỉ đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo mà còn hủy hoại tiền đồ của một dân tộc. Nếu không thấy rõ sự khác biệt giữa chúng ta với người Mỹ ngay từ cách giáo dục trẻ em, nếu không cải tổ nền giáo dục mà cứ phát triển theo kiểu giết gà lấy trứng như thế này thì chúng ta sẽ mãi mãi chẳng đuổi kịp người Mỹ và con cháu chúng ta sau này sẽ phải trả giá đau khổ cho cách tăng trưởng kinh tế này.   Huy Đường  (Lược dịch theo báo Trung Quốc)    Author                Quản trị        
__label__tiasang THẦY      Dù thầy không bao giờ đòi hỏi sinh viên phải biết ơn thầy, chúng tôi vẫn hiểu rằng, thể hiện lòng biết ơn thầy một cách đúng đắn nhất chính là ở chỗ phải tiếp nối được tinh thần của thầy và truyền lại tinh thần đó cho các thế hệ mai sau.    Tôi nhớ thầy đã từ chối, khi lần đầu tiên tôi gặp thầy để nhờ thầy hướng dẫn luận văn cao học. Thầy không ngại nói thẳng rằng, chương trình văn học phương tây mà tôi tiếp thu ở bậc đại học không đủ làm cơ sở để tôi có thể triển khai những đề tài mà thầy muốn hướng dẫn. Tôi thấy thầy hoàn toàn đúng. Tôi đến từ tỉnh lẻ, những thiếu hụt trong kiến thức là điều hiển nhiên.         Ta báo đền ơn thầy mình một cách tệ hại nếu ta cứ mãi mãi làm học trò (1).        Rồi khi tôi thi đỗ cao học khóa ấy, khóa 1997, thầy đã nhận hướng dẫn tôi. Và thật bất ngờ, thầy đề nghị tôi làm việc về Alain Robbe-Grillet, hồi đó tôi chưa có một ý niệm nào về tác gia này. Vậy mà thầy đã giao cho tôi tác gia nổi tiếng là khó này của phong trào Tiểu Thuyết Mới. Tôi vẫn không hiểu tại sao thầy có thể tin rằng tôi sẽ xử lý được một tác phẩm như tiểu thuyết Ghen ở thời điểm đó (2). Với tôi, niềm tin ấy của thầy là khởi đầu cho tất cả mọi sự. Và không chỉ có mình tôi, tôi nghĩ rằng tất cả các sinh viên của thầy đều nhận được sự tin tưởng này. Tôi nhớ Nam Cao từng viết trong truyện Tư cách mõ: «Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm […] làm nhục người là một cách rất diệu để khiến người sinh đê tiện…» Tôi muốn mượn cách diễn đạt của Nam Cao để nói rằng: tin tưởng ở con người là một cách kỳ diệu để giúp họ phát triển tận độ khả năng của mình. Thầy đã cho chúng tôi, những sinh viên của thầy, niềm tin đó.  Không chỉ có sự tin tưởng. Thầy không để cho sinh viên của thầy có cảm giác họ là học trò. Thầy luôn đối xử với sinh viên như một đồng nghiệp, với một sự tôn trọng và bình đẳng tuyệt đối. Thầy không bao giờ áp đặt họ, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Và điều quan trọng hơn, thầy lắng nghe các ý tưởng của sinh viên, kể cả khi các ý tưởng đó trái ngược với ý tưởng của thầy. Cách đây không lâu, khi kể với tôi về các sinh viên mà thầy đang hướng dẫn, thầy nói: «có những điều tôi học lại từ sinh viên của mình». Thầy không dạy cho chúng tôi làm học trò. Thầy dạy cho chúng tôi cách làm việc độc lập. Thầy dạy cho chúng tôi tin tưởng ở chính bản thân mình. Tinh thần đó rất gần gũi với tinh thần của Nietzsche mà tôi đọc được trong cuốn Zarathoustra đã nói như thế: người thầy không dạy cho học trò phải làm học trò suốt đời, mà dạy cho họ cách giành được vòng nguyệt quế trên vương miện của chính thầy. Đó là một thái độ tôn trọng sâu sắc đối với con người.   Dù thầy không bao giờ đòi hỏi sinh viên phải biết ơn thầy, chúng tôi vẫn hiểu rằng, thể hiện lòng biết ơn thầy một cách đúng đắn nhất chính là ở chỗ phải tiếp nối được tinh thần của thầy và truyền lại tinh thần đó cho các thế hệ mai sau.  Thầy là GS.  Phùng Văn Tửu.  17/11/2010  —  (1) Nietzsche, Zarathoustra đã nói như thế, Trần Xuân Kiêm dịch, NXB An Tiêm, Sài Gòn, 1971, tr.153.  (2) 7 năm sau, vào cuối 2004, một giáo sư  Pháp ở đại học Paris 7, Françis Marmande, khi biết tôi chọn Robbe-Grillet làm đề tài cho luận án tiến sĩ, đã khuyên tôi, trước cả lớp học, rằng hãy đổi đề tài và chọn một tác giả khác. Trong mắt ông ta, người phụ nữ Việt Nam là tôi quá bé nhỏ so với một nhà văn như Robbe-Grillet. Ông ta không tin rằng tôi có thể hoàn thành luận án với đề tài như vậy. Tuy nhiên,  trái ngược với thái độ đó, giáo sư hướng dẫn của tôi, Evelyne Grossman, đã khuyến khích tôi, cho dù Robbe-Grillet không phải là tác giả yêu thích của bà.  Câu chuyện này có một ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi kinh nghiệm cá nhân, nó cho thấy sự tồn tại của những khuynh hướng khác nhau trong việc đánh giá người khác, và liên quan đến cái mà Nam Cao gọi là “lòng khinh trọng” đối với con người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi quan niệm về mối quan hệ tương tác giữa nhà nước và trường đại học: Trường hợp Israel từ 1948 đến 2008      Lịch sử mối quan hệ giữa Nh&#224; nước v&#224; trường đại học bao giờ cũng chứa đựng nhiều nh&#226;n tố phức tạp, v&#224; đ&#227; từng c&#243; những thời đại trong đ&#243; mối quan hệ ấy c&#243; t&#237;nh chất hợp t&#225;c h&#224;i h&#242;a cũng như c&#243; những thời kỳ mối quan hệ ấy chứa đựng đầy khả năng bất đồng v&#224; xung đột (Perkin, 1984, 1991). Tuy vậy, những bước ph&#225;t triển trong mấy thập kỷ gần đ&#226;y kể từ những năm 50 đ&#227; khiến c&#225;c trường đại học phải đương đầu với những vấn đề lớn lao v&#224; trọng đại chưa từng c&#243;, những vấn đề đang th&#225;ch thức cả những kh&#225;i niệm hết sức cơ bản về trường đại học như quyền tự chủ của nh&#224; trường (institutional autonomy), tự do học thuật (academic freedom), sự ch&#237;nh trị h&#243;a nh&#224; trường v&#224; vai tr&#242; của Nh&#224; nước trong gi&#225;o dục đại học. &nbsp;    Nhà nước ngày càng quan tâm chú ý nhiều hơn đến các trường đại học là do những nhân tố như:   1.   tình hình khó khăn về tài chính,  2.   nhu cầu về giáo dục đại học ngày càng tăng,   3.  mong muốn liên thông giáo dục đại học với các bậc học khác (chẳng hạn với giáo dục đại cương và sau trung học),  4.  nhu cầu về lực lượng lao động,   5.  những thay đổi về nhân khẩu học (chẳng hạn về tuổi lao động, nhập cư và di cư…),   6.  sự thay đổi chính sách về phúc lợi nhà nước dẫn tới đòi hỏi ngày càng tăng của những nhóm thiểu số hoặc những nhóm người chưa được chú ý đúng mức (Van Vught, 1989; Meek at al., 1991; Neave and Van Vught, 1991).     Thực ra sự thay đổi của giáo dục đại học từ chỗ “tinh hoa” đến “đại chúng” rồi “phổ cập” (Trow, 1974; 2000) đã dẫn đến sự liên đới với công chúng và sự can thiệp có tính chất chính trị ngày càng tăng. Áp lực tài chính đặt lên vai các Chính phủ trong việc cung cấp ngân sách hoạt động cho các trường đại học có vẻ như đã dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học đến chỗ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, tạo ra những sản phẩm mới, tận dụng những nguồn tài nguyên mới, và đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng (i.e. MBA/EMBA/IMBA).  Trong một công trình nghiên cứu so sánh về cơ cấu quyền lực hay sự phân chia quyền lực giữa nhà nước và nhà trường tiến hành ở 7 quốc gia (Đức, Ý, Pháp, Thụy Sĩ, Anh,  Hoa Kỳ, và Nhật Bản), Van de Graaf, Clark, Furth, Goldschmidt, và Wheeler (1978) đã tóm tắt những nhân tố đã tạo ra áp lực thay đổi đối với cơ cấu trường đại học truyền thống ở những quốc gia này là:    1.  Sự mở rộng số lượng sinh viên và giảng viên tạo ra nhiều vấn đề về chất lượng.  2.   Nhu cầu của thị trường lao động và áp lực đối với giáo dục đại học trong việc đào tạo nhiều sinh viên đa dạng về kỹ năng và ngành nghề;  3.Chủ nghĩa bình quân, vốn chú trọng không chỉ vấn đề cơ hội tiếp cận giáo dục mà còn là điều chỉnh nội dung và cơ cấu những ngành đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc cần được ưu tiên (phụ nữ, người dân tộc thiểu số, những nhóm người chưa được chú ý đúng mức).  4. Sự bùng nổ tri thức và vai trò trung tâm của nhà trường trong việc phát triển khoa học theo hướng tăng cường sự khác biệt và chuyên môn hóa (cả trong phạm vi từng ngành lẫn liên ngành), nhằm làm cho tri thức trở thành gắn bó hơn với những lĩnh vực mới và với nhu cầu của xã hội;  5. Chi phí tăng cao, kết quả của sự mở rộng số lượng sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lý, mở rộng sự đa dạng về chuyên ngành, khiến chi phí công dành cho giáo dục đại học tăng nhanh hơn so với chi phí dành cho giáo dục nói chung, so với tổng ngân sách và tổng sản lượng quốc gia. Xu hướng này đưa đến kết quả là áp lực chính trị đối với các trường đại học tăng lên nhằm gia tăng sản phẩm và đòi hỏi của các chính phủ trong việc giải trình trách nhiệm của trường đại học cũng trở nên mạnh mẽ hơn, và điều này thường được trả giá bằng việc giảm bớt quyền tự chủ của nhà trường. (Sheldrake and Linke, 1979);  6.Chính trị hóa, theo nghĩa hẹp, là hợp pháp hóa sự liên đới của các đảng phái chính trị, các viên chức Chính phủ, các nhóm lợi ích trong và ngoài trường trong quá trình xây dựng chính sách của nhà trường. Theo nghĩa rộng hơn, là sự công nhận rằng giáo dục đại học phải kết hợp với đòi hỏi của quốc gia và nhu cầu của xã hội. Sự công nhận này ngụ ý rằng hệ thống giáo dục đại học cần đa dạng về cơ cấu, cũng như cần khuyến khích những hình thức mới của giáo dục đại học hay nâng cấp những trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp hiện tại (như các trường cao đẳng sư phạm hay trung cấp đào tạo y sĩ, y tá…) thành những cơ quan học thuật (academic institutions).       Những nhân tố chính trên đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân chia thẩm quyền giữa trường đại học và giới chức nhà nước.    Mục đích của bản báo cáo này là trình bày một bức tranh tổng quan về những thay đổi trong mối quan hệ giữa nhà nước và trường đai học ở Israel trong sáu thập kỷ qua, có nhấn mạnh vào hai thập kỷ cuối, và phân tích ảnh hưởng của những thay đổi này. Việc phân tích sẽ được giới hạn trong những thay đổi về chính sách trong phạm vi mà Becher và Kogan (1980) gọi là “mức thẩm quyền trung ương” và “mức độ nhà trường” chứ không phải ở mức “đơn vị cơ bản” hay như cái mà Clark (1983) gọi bằng thuật ngữ “cơ cấu thượng tầng” (“superstructure”) (những cơ cấu điều tiết của nhà nước và những hệ thống khác nhằm liên kết các tổ chức lại với nhau) và những cơ cấu ở giữa hoặc cơ cấu của một tổ chức (các tổ chức riêng lẻ trong tính toàn vẹn của nó), chứ không phải những cơ cấu bên dưới (như các khoa, các tổ bộ môn hay giảng viên).   Nhà nước Iarael, xã hội Israel và giáo dục đại học Israel được thấm nhuần sâu sắc trong văn hóa khoa học- kỹ thuật hiện đại. Israel là nơi ý thức hệ của chủ nghĩa phục quốc rất nổi bật  trong khoa học, kỹ thuật và học vấn nói chung, cũng như có vai trò quan trọng trong đổi mới xã hội và xây dựng quốc gia.   Từ thời lập quốc, Nhà nước Israel đã coi khoa học, kỹ thuật và học vấn như những công cụ quan trọng trong quá trình xây dựng một đất nước mới. Từ đó đến nay, sự tồn tại của Israel như một Nhà nước và một nền văn hóa luôn phụ thuộc vào sự ưu tú về khoa học và kỹ thuật, điều đảm bảo cho sự thịnh vương về kinh tế, hệ thống phúc lợi xã hội và sự khai sáng về văn hóa.  Thực ra sự ủng hộ của nhà nước và xã hội đối với giới học thuật Israel đã đưa Israel đến vị trí hàng đầu của các xã hội phát triển. Trong số tất cả các nước giành được đậc lập sau Thế chiến thứ hai, Israel là nước duy nhất đạt đến trình độ của các nước phương Tây và thậm chí vượt qua cả một vài nước trong số ấy về mặt khoa học, kỹ thuật và kinh tế.   Tuy là một nước nhỏ (20,700 km2 và 7  triệu dân năm  2008), Israel đứng đầu nhiều lĩnh vực nghiên cứu trong nông nghiệp, công nghệ sinh học, di truyền học, y khoa, toán học, khoa học máy tính, khoa học không gian, khoa học nguyên tử, v.v. và các nhà khoa học Israel giữ những vị trí nổi bật trong nhiều trường đại học danh tiếng.    Người ta tin rằng đàng sau Thung lũng Silicon và hành lang Công nghệ cao gần Boston, Israel có mức độ tập trung cao nhất thế giới đối với  những công ty công nghệ cao. Có thể ước lượng rằng 1/3 công nghệ truyền thông đã được xây dựng ở Israel.     Tuy nhiên, giáo dục đại học ở Israel trong những năm gần đây đang trải qua một cuộc khủng hoảng về ý thức hệ – khái niệm,  về quản lý – điều hành và kinh tế – tài chính. Những điều này phản ánh sự cân nhắc thận trọng về ảnh hưởng lẫn nhau giữa giới học thuật, giới doanh nghiệp và Nhà nước đối với chỗ đứng tương lai của khoa học và của các trường đại học trong xã hội Israel.   Nhiều đạo luật nhà nước, các báo cáo và hoạt động của các ủy ban do nhà nước thành lập đã dẫn đến những thay đổi về cấu trúc của hệ thống giáo dục đại học từ thập kỷ 50.    I.  1948-1951, ba trường đại học độc lập được thành lập với tổng số 1635 sinh viên năm 1948 và 3022 trong năm 1951.  II.  1955-1964, bốn trường đại học mới được thành lập (Bar-Ilan, Tel-Aviv, Haifa và Ben- Gurion), số lượng sinh viên đã tăng đến 18,368. Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đại học đã tăng 45.5% so với trước đó. Năm 1958 Nhà nước thành lập Hội đồng Giáo dục Đại học (Council for Higher Education -CHE) phục vụ như một tổ chức nhà nước giải quyết mọi vấn đề liên quan đến giáo dục đại học trong nước.   III.  1965 -1974 Giai đoạn mở rộng và điều chỉnh – Số sinh viên tăng lên đến 35,374 trong năm 1969/70. Ngân sách dành cho giáo dục đại học đã tăng đến 80% của ngân sách thông thường cho giáo dục. Nhà nước và Hội đồng Đại học đã thành lập Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách nhằm điều hành ngân sách dành cho giáo dục đại học. Mặc dù số sinh viên lên đến 54,480 trong năm học 1979/80 ngân sách dành cho dịch vụ xã hội trong đó có giáo dục đã giảm sút nghiêm trọng.   IV.  1975 -1985 Việc cắt giảm ngân sách cho dịch vụ giáo dục trong đó có giáo dục đã làm gia tăng sự can thiệp của nhà nước thông qua Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách, cơ quan này nay đã trở thành lực lượng tập trung hóa trong mọi vấn đề về cấp phát ngân sách, xây dựng kế hoạch, chính sách và đánh giá, từ chỗ là một cái “thiết bị giảm xóc” giữa nhà nước và nhà trường trở thành cái “bánh lái” của hệ thống giáo dục đại học.   V.  1990 – đến nay: Giai đoạn Đa dạng hóa: Nhà nước phải đương đầu với nhu cầu về đào tạo đại học tăng cao bằng cách mở thêm nhiều trường mới. Kết quả là trong 228,695 học sinh tốt nghiệp phổ thông năm 2003/04, đã có 48,320 người vào các trường đại học công cũng như tư. Tiếp theo là hiện tượng nhập cư hàng loạt trong thập kỷ 90 từ Liên bang Xô viết cũ đã tạo ra nhu cầu cao về đào tạo đại học và tạo áp lực mở rộng hệ thống thông qua việc mở thêm nhiều trường và tăng thêm ngân sách hoạt động. Việc cắt giảm ngân sách trong thập kỷ 90 đã gây kết quả khủng hoảng trong giáo dục đại học và để lại những ý nghĩa lâu dài. Phần ngân sách được Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách phân bổ trong năm 2003 chiếm khoảng 65% ngân sách của các trường đại học và 45% các trường cao đẳng tổng hợp cấp khu vực.      Thực ra, kể từ thập kỷ 90, giáo dục đại học Israel đang trải qua những thay đổi rất cơ bản. Những khái niệm cơ bản như quyền tự chủ của nhà trường và những nguyên lý được yêu mến tôn trọng từ lâu đời như tự do học thuật và chủ nghĩa tinh hoa đang được xem xét lại và đang thay đổi.  Quyền tự chủ của cả hệ thống giáo dục đại học như một tổng thể và của từng trường đã giảm đi rất đáng kể. Đòi hỏi cao về sự giải trình trách nhiệm để đáp ứng một hệ thống đào tạo hiệu quả hơn, với những chương trình có định hướng nghề nghiệp rõ ràng hơn, những tiêu chí về “năng suất” đối với các khoa và các trường cũng được áp dụng để xác định việc phân bổ ngân sách cũng như thanh tra định kỳ, nội bộ và từ bên ngoài, từng bộ môn và từng ngành học trong từng trường và trong cả hệ thống.  Các trường đại học tiếp tục bị đặt trong tình trạng báo động do áp lực từ sự can thiệp của nhà nước trong những vấn đề chính sách như tiêu chuẩn tuyển sinh, học phí, cắt giảm ngân sách, sự hình thành của Hội đồng Đại học với số đại diện của các trường đang giảm đi, và cơ cấu quản trị của từng trường. Sự can thiệp của nhà nước trong những vấn đề này bị các trường xem là xâm phạm quyền tự chủ của nhà trường, vốn được coi là điều kiện tiên quyết và cốt yếu cho tiêu chuẩn cao về học thuật của giới khoa học Israel (Ba’Shaar, 2004; Neaman Institute, 2004).  Chúng tôi có thể kết luận rằng hệ thống giáo dục đại học của Israel đang ở ngã tư đường. Để vượt qua khủng hoảng, các trường đại học, Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách, Hội đồng Đại học và Bộ Tài chính sẽ phải tìm cách cân bằng giữa xây dựng kế hoạch một cách hiệu quả, với tài chính và chính sách ở từng trường cũng như ở cấp quốc gia, xem xét lợi ích quốc gia và lợi ích công chúng, tự do học thuật và quyền tự chủ của nhà trường.  Một cách tổng quát, cần nhiều khéo léo hơn ở tất cả các bên nhằm đáp ứng những thử thách và tình trạng khẩn cấp mà Israel ngày nay đang phải đương đầu.   Nhữrng ý nghĩa của kinh nghiệm Israel đối với các hệ thống giáo dục đại học khác cũng sẽ được thảo luận trong bài viết này.  TS. Phạm Thị Ly dịch  ———  * Chủ tịch Ủy ban Giáo dục vì Hòa bình, sự Khoan dung và Giá trị con người của UNESCO Bar Ilan University, Israel    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thấy gì từ trường Đông kinh Nghĩa Thục      Hy vọng những cái Thấy từ trường Đông kinh Nghĩa Thục sẽ gợi mở cho chúng ta những vấn đề bàn cãi về giáo dục từ nhiều năm nay, nhất là trong năm 2007.    1. Thấy một cách đặt tên trường học rất có ý nghĩa cho dù có mô phỏng trường Khánh ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) của Nhật Bản do Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa YuKichi: 1835-1901) thành lập từ năm 1858. Đây là một sự mô phỏng có nâng cao. Bởi với tên trường Khánh ứng Nghĩa Thục thì “Khánh ứng” là để ghi nhớ triều đại trước chính thể Minh Trị duy tân (1865). Còn với Đông Kinh Nghĩa Thục thì “Đông Kinh” vốn là Thăng Long, Đông Đô ngày trước, Hà Nội về sau: kinh đô, thủ đô lâu đời nhất (hẳn còn là tương lai vĩnh viễn), đất ngàn năm văn vật tiêu biểu nhất của Tổ quốc Việt Nam. Như thế là ở đây, nhà trường muốn tìm điểm tựa vững bền ở Tổ quốc, ở dân tộc, chứ không ở một vương triều. Rồi nữa, với hai chữ “nghĩa thục” thì đúng là mô phỏng hoàn toàn nhưng lại phù hợp với điều cốt lõi nhất trong đạo lý Việt Nam là chữ “Nghĩa”. Nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận: ở Việt Nam ta chữ “nghĩa” “là cao nhất – cao hơn chữ “trung”, chữ “hiếu”. Cách đặt tên trường Đông Kinh Nghĩa Thục là theo truyền thống “ngôn chí” mà ngôn chí với một nội dung cao cả như thế.   2. Thấy một mục tiêu giáo dục cao cả, tối ưu so với yêu cầu của thời đại.  Với trường Đông Kinh Nghĩa Thục, mục tiêu giáo dục là nâng cao dân trí, mở mang thực nghiệp, đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhưng cũng phải nói thêm: mục tiêu cuối cùng về giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục chính là cứu nước, giành độc lập dân tộc và xây dựng cho đất nước một nhân sinh quan mới, một nền văn hóa mới, đưa đất nước lên cõi văn minh cùng thế giới. Từ mục tiêu giáo dục của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, có thể nói rằng: đã có sự tương xứng giữa mục tiêu giáo dục của trường Đông kinh Nghĩa Thục với yêu cầu của lịch sử. Nói thế, chính là muốn kiến nghị với các nhà lãnh đạo đất nước, các vị trực tiếp điều hành sự nghiệp giáo dục nước nhà hãy nhận thức, quan tâm sâu sắc hơn nữa đến mục tiêu của nền giáo dục hiện thời.  3. Thấy một nền tảng tư tưởng – văn hóa vững chãi và tiên tiến của giáo dục Đông Kinh Nghĩa Thục. Với giáo dục của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa yêu nước đã chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trù dân chủ tư sản đã đành, mà còn một trào lưu tư tưởng có ý nghĩa cách mạng chưa từng có trong lịch sử tư tưởng của dân tộc. Trong trào lưu tư tưởng này, nhờ có sự đón nhận những luồng tư tưởng tiến bộ, mới mẻ của thế giới, mà từ đó có sự ly khai khá rõ ý thức hệ phong kiến. ở đây, đã diễn ra một cuộc hôn phối rất đẹp giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam với tư tưởng dân chủ tư sản có độ tinh khiết, có giá trị vĩnh hằng trong thời kỳ giai cấp tư sản phương Tây  còn có vai trò cách mạng chân chính. Chuyện này của trường Đông Kinh Nghĩa Thục cách đây 100 năm thật là lý thú, giàu ý nghĩa cho những ai có trách nhiệm với nền giáo dục hiện thời của đất nước.  4. Thấy một mô hình trường học có sức mạnh tổng hợp cao độ không dễ gì có. ở đây, dưới sự lãnh đạo của vị thục trưởng, có 4 ban: giáo vụ, tài chính, tu thư và cổ động. Hai ban trên là chuyện thông thường. Hai ban sau là chuyện đặc biệt. Bởi dưới thời đại phong kiến trước đó, các trường học, kể cả trường Quốc Tử Giám là trường học sáng giá nhất, làm gì có Ban tu thư, một khi tài liệu giảng dạy và học tập là các sách kinh điển của Nho gia được truyền đời. Riêng về ban cổ động mà trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã có thì quả là xưa nay chưa có trường học nào có, kể cả các trường đại học. Công việc cổ động của trường Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ bó hẹp vào việc mở trường mà còn liên quan đến việc thành lập các thương quán, thương điểm ở các địa phương. Chính từ kết quả cổ động này mà trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã trở thành phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục có ảnh hưởng lan rộng hầu khắp cả nước không chỉ trong thời gian nó tồn tại (từ tháng 3 đến tháng 12/1907) mà cả sau khi nó bị giải tán. Riêng từ góc nhìn giáo dục thì quả thật ở đây đã có một bài học vô cùng lớn lao về việc gắn nhà trường với cuộc sống ở đủ phương diện: chính trị, văn hóa, xã hội, kể cả kinh tế.  5. Thấy một tập thể giảng viên có phẩm giá vô tiền khoáng hậu trong phạm vi nhà giáo Việt Nam. Tiêu biểu cho tập thể giảng viên của Đông Kinh Nghĩa Thục là vị Thục trưởng Lương Văn Can (1854-1924), thứ đến là vị giám học Nguyễn Quyền (1869-1941). Còn đội ngũ thì gồm: Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Phan Lãng, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Cầu, Bùi Liêm, Nguyễn Quang Đoan (con Nguyễn Quang Bích), Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn… Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế tuy không là thành viên trực tiếp nhưng cũng từng lui tới giảng bài, đặc biệt là Phan Châu Trinh. Tập thể ấy đã có mặt với lịch sử dân tộc không chỉ với tư cách những nhà giáo mà cao hơn còn là những nhà tư tưởng, những nhà văn hóa, những nhà cách mạng hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cứu nước. Có thể nói: tập thể giảng viên của trường Đông Kinh Nghĩa Thục là một hiện tượng có phẩm giá vô tiền kháng hậu trong lịch sử giáo dục Việt Nam xưa nay, không phải là điều quá đáng.  Nguyễn Đình Chú      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thày giáo Tôn Thất Thân      Hễ nói đến những nhà toán học lừng danh của đất Việt, ai cũng phải nghĩ đến một trong những người thày giáo đã tham gia đúc kết nên họ từ rất sớm, thày giáo Tôn Thất Thân.     Điều vinh quang đó như hòn đảo nổi lên giữa đại dương cuộc đời. Và đôi khi chính hòn đảo đó làm người ta quên luôn đi cả cái hòn núi nền tảng đội hòn đảo này tít từ tận dưới đáy đại dương.  Có rất nhiều góc độ để chiêm ngưỡng hòn núi nền tảng này. Ở đây là sự chiêm ngưỡng của một người học trò cũ, người không liên quan gì đến… toán học!  Đẹp trai là lượt  Mấy chục năm trước đây nếu đã có các cuộc thi sắc đẹp “Mister ngành giáo dục”, rất nhiều khả năng thày phải đoạt giải này.  Có người sẽ bảo “đẹp trai, thì là chuyện trời cho, có gì phải biểu dương?”.  Thế này.  Có những người “ăn ảnh”, nhưng không “ăn phim”.  Bởi vì “ăn phim” đòi hỏi vẻ đẹp sống động, trong hành động, hiển lộ tinh thần, chứ không chỉ “đẹp khoảnh khắc” như “ăn ảnh”.   Thày đẹp “ăn phim“, đó là một nhẽ.  Thày lại ăn mặc bao giờ cũng chỉn chu, cao ráo, nhã nhặn, kể cả vào những thời đói kém nhất. Nên tôi phải dùng đến khái niệm “đẹp trai là lượt“ là thế. Sau này càng quan sát các nhà toán học, tôi càng thất vọng tràn trề về khả năng ăn mặc của họ. Ngay cả học trò vĩ đại nhất của thày, nhà toán học Ngô Bảo Châu, xem ra cũng vẫn chưa khéo ăn mặc chỉn chu bằng thày. May quá, tôi không phải là nhà toán học! 😉  Phải mất rất nhiều thời gian xã hội mới hiểu ra giá trị của sự chỉn chu. Sự chỉn chu của một nhà giáo của lũ trẻ tuổi teen vượt ra ngoài câu chuyện mỹ cảm cá nhân: riêng điều đó thôi đã là một hành động giáo dục bền bỉ, thuyết phục, sống động, xác tín, cho nhiều thế hệ học trò, và cả cho xã hội.  Tôi nghe nói cho đến tận những năm 90 của thế kỉ trước thì ông thủ tướng Võ Văn Kiệt mới cấm được các đại nghị sĩ xứ Việt đi họp Quốc hội bằng dép lê.  Tất nhiên điều đó cũng có hệ quả phụ. Nhiều cô giáo trẻ thời đó say mê thày, còn mấy cô học trò bé tí thì hằng ngày họp báo đưa tin nhau tỉ mỉ về một “hình như là người yêu của thày.” Chuyện này kiểm chứng được, đơn giản thôi.  Nhà giáo logic học  Với đám học sinh mươi, mười một tuổi thời ấy, những bài học đầu tiên thày thích dạy không phải là tính toán, mà là các phép tính logic, các trò chơi logic, các nghịch lý logic. Thật là cách mạng! Hơi tiếc là những tiết dạy đó không được đẩy luôn lên thành một bộ môn cho học sinh.  Bọn trẻ thật hào hứng đón nhận những kiến thức và những gợi mở đó.  Nhà giáo thẩm mỹ văn thơ  Có những giờ học thày tranh thủ chuyển hẳn sang văn thơ.  Không chỉ xúc cảm văn thơ chung chung, thày giãi bày luôn cả các sáng tác riêng của mình. Để ý thì lúc đó thày còn rất trẻ, và khi đọc thơ của mình, đôi má thày ửng đỏ.  Cả một sự hưng cảm, sáng tạo được thắp lên trong lớp học. Thày nói đến vẻ đẹp trong tâm hồn mình, mấy cậu trẻ lại ánh vẻ đẹp đó sang tâm hồn của cô bạn “của mình” trong góc lớp.  Nhà triết học  Tùy theo cảm nhận của đám trẻ, riêng tôi luôn nhận ra những xúc cảm và suy nghĩ đầy triết lý của thày qua các giờ học và qua các giao tiếp, ngay từ khi đó (chắc ai đó bảo tác giả bốc phét, chịu thôi, đó là bản quyền của người đọc).  Nói triết học, triết lý, vì sự trao đổi, truyền thụ kiến thức ở thày luôn nằm dưới dạng gợi mở, mang một sức đẩy bên trong, chứ không tự đóng bao khâu kín với chỉ những nội dung đó.  Con người  Sau hết, cái học được ở thày nhiều nhất, là con người thày.  Hoàn cảnh thời trẻ của thày mang nhiều yếu tố của nghịch cảnh.  Gia đình thày chịu những mất mát nặng nề riêng.  Có những cái nhìn bất lợi của xã hội cho thày về lý lịch.  Những cánh cửa cho sự phát triển các năng lực đặc biệt của thày bị đóng khép lâu ngày.  Vân vân. Và vân vân.  Nhưng thày đặt triết lý cuộc sống lên cao hơn nghịch cảnh!  Thày tự gọi tắt mình là thày “Tôn Thân”, để sang một bên những rắc rối về dòng dõi Tôn Thất của mình.  Thày dồn năng lượng, tình yêu của mình cho dạy học, cho học trò, và tất nhiên, rất nhiều cho người yêu của mình.   Thày bền bỉ tiến lên, mở rộng các hợp tác, mở rộng các nghiên cứu, rồi thành công các công trình giáo dục có ý nghĩa rộng lớn ở tầm quốc gia.  Thày dung dị, lạc quan, yêu đời, và cuộc đời yêu lại thày.  —  Sau này, tôi có dịp gặp lại thày cùng bạn bè.  Thày vẫn vui hoạt như thế, như tự mấy chục năm về trước. Tiếng cười của thày giòn giã, vô tư. Và người yêu của thày thuở xưa vẫn bên thày, quyến luyến, tinh tế, trẻ trung nữa là đằng khác.  Thày bảo “anh có điều gì tiếc với tôi không?”  – “Thày ạ, thày Tôn Thất Thân, các anh học trò của thày đều tiếc rằng con gái thày xinh đến như thế, mà lại lấy chồng mất rồi ạ!”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang THẦY MÃI LÀ THẦY… (Nhân ngày sinh lần thứ 95 của GS Nguyễn Thúc Hào)      Năm 1954, ngay sau chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, chúng tôi cũng vừa tốt nghiệp bậc phổ thông ở Nghệ An. Sau ngày quân ta tiếp quản Thủ đô, chúng tôi hăm hở “tiến về Hà nội” mong “đánh chiếm” một chỗ ngồi trong giảng đường trường đại học của đất nước vừa được giải phóng một nửa.    Tôi thi đậu vào trường Đại học Sư phạm và buổi học đầu tiên tôi hồi hộp, háo hức chờ nghe bài giảng về môn toán cao cấp… Đúng giờ vào lớp, một thầy giáo có vóc người nhỏ nhắn bước lên bục giảng, nhẹ nhàng chào và mời chúng tôi ngồi. Ông chỉ khoảng trên dưới 40 tuổi, ăn mặc giản dị nhưng nghiêm chỉnh, nói năng chậm rãi nhẹ nhàng với chất giọng có gốc gác miền Trung. Ông mở đầu rất ngắn gọn và đi ngay vào bài giảng. Ngay lập tức bài giảng đã cuốn hút tôi vì nhiều lẽ: cách đặt vấn đề rõ ràng và mang tính gợi mở, cách giải quyết vấn đề rất minh bạch và mạch lạc, các phép tính toán luôn luôn ngắn gọn, không vụn vặt, thường là dùng phương pháp rút gọn thông minh, cách diễn đạt sinh động dễ hiểu với ngôn ngữ chuẩn xác, phong phú nhưng không cầu kì…, và cuối cùng là cách trình bày bảng rõ ràng và đẹp đẽ…  Cuối buổi học tôi mới biết ông là ai. Thì ra đó là người thầy giáo mà tôi đã nghe tiếng từ khi còn học phổ thông ở Nghệ An, nhưng chưa biết mặt: GS Nguyễn Thúc Hào.  Thầy Hào là người Nghệ, sinh tại làng Xuân Liễu, huyện Nam Đàn, trong một gia đình nho học, thân phụ là cụ phó bảng Nguyễn Thúc Dinh. Ở bậc trung học, thầy học tại các trường Quốc học Huế, rồi chuyển ra trường Albert Sarraut Hà Nội, các năm cuối cùng học ở trường Lycée Mignet ở Aix-en-Provence nước Pháp. Sau khi đỗ tú tài Pháp, thầy học tại trường Đại học Khoa học Marseille, lớp toán đặc biệt. Từ năm 1931 dến năm 1935 thầy lấy 6 chứng chỉ: Toán học đại cương, Giải tích toán học, Vật lý đại cương, Cơ học thuần lý, Cơ học chất lỏng, Thiên văn học, đồng thời viết xong luận án cao học về Hình học và Cơ học.  Trở về nước thầy dạy toán ở trường Quốc học Huế. Sau Cách mạng Tháng 8, năm 1946 thầy ra Hà Nội làm quyền Giám đốc Trường ĐH Khoa học Hà Nội, nhưng không lâu thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thầy lại cùng gia đình trở về Nam Đàn quê hương, và tại đây thầy đã mở lớp Toán học đại cương kéo dài trong bốn khóa, mỗi khóa học kéo dài một năm… Từ năm 1951 đến năm 1954 thầy tham gia Ban giám đốc trường Dự bị ĐH rồi trường Sư phạm cao cấp ở vùng tự do liên khu Bốn.  Hòa bình lập lại, năm 1954 thầy trở về dạy học ở trường ĐH khoa học, rồi trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Thầy Lê Văn Thiêm và thầy Nguyễn Thúc Hào là hai người đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Giáo sư.  Tôi là người may mắn được học với GS Nguyễn Thúc Hào từ khi trường ĐH SP mới thành lập, và sau đó tôi lại có dịp làm việc với thầy trong một khoảng thời gian khá dài. Tốt nghiệp ĐH, tôi được giữ lại trường làm công tác giảng dạy và được phân công về tổ bộ môn Hình học do thầy làm tổ trưởng, lúc ấy Chủ nhiệm khoa Toán là thầy Lê Văn Thiêm. Sau đó thầy được cử làm phó Hiệu trưởng trường ĐH SP Hà Nội, kiêm Chủ nhiệm khoa Toán. Năm 1959 khi trường ĐH SP Vinh được thành lập, GS Nguyễn Thúc Hào lại trở về quê hương nghĩa nặng tình sâu với chức vụ Hiệu trưởng của một trường ĐH non trẻ và là trường ĐH đầu tiên không đặt ở thủ đô Hà Nội. Là người Nghệ An, tôi lại cùng thầy về trường Vinh, và 15 năm làm việc tại đây là 15 năm tôi được học tập ở thầy rất nhiều điều bổ ích…           Cùng với một số ít nhà toán học khác như Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Xiển…, GS Nguyễn Thúc Hào đã góp phần đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền Đại học ở nước ta, và thầy đã đào tạo ra nhiều thế hệ học trò có khả năng giảng dạy và nghiên cứu toán học.  Thầy còn là một nhà hoạt động xã hội nhiều mặt, như đại biểu Quốc hội ba khóa liên tiếp, Phó chủ tịch  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An, Ủy viên ban chấp hành hội Hữu nghị Việt –Pháp, Phó chủ tịch hội Toán học Việt Nam…  Và trong 15 năm đứng đầu trường ĐHSP Vinh, thầy đã chứng tỏ khả năng quản lý của nhà toán học, đưa nhà trường vượt qua bao nhiêu thử thách cam go, chống lại cuộc khủng bố giã man của không lực Hoa Kỳ… Thầy đã để lại trong tập thể cán bộ và sinh viên trường Vinh một ấn tượng rất cao đẹp về một người Hiệu trưởng công minh, chính trực, chí công vô tư, yêu người yêu nghề, có tầm nhìn xa trông rộng, biết lắng nghe và biết quyết đoán…  Trong những ngày gian khổ của trường ĐH SP Vinh, sống gần thầy tôi đã nhận thấy một nhân cách lớn lao trong một con người nhỏ nhắn. Thầy toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp lớn mà không hề nghĩ gì đến chính mình. Có chăng chỉ là một cốc cà phê buổi sáng do vợ rang trong ống bơ và tự mình tán nhỏ trong cối giã, hoặc là mươi phút thư giãn trong đêm khuya nghe nhạc cổ điển từ một chiếc máy thu thanh nhỏ bé và cổ lỗ… Khi mới về Vinh, thầy cùng sống với cán bộ chúng tôi trong khu vực “nhà dòng” chật hẹp, và sau này khi trường mở rộng sang khu vực mới, thầy cũng ở trong một phòng của dãy nhà “tranh tre nứa mét” mà nguy cơ cháy luôn luôn thường trực. Tỉnh ủy Nghệ An định tìm cho thầy một căn phòng “tử tế” hơn, nhưng thầy bảo: anh em ở như thế nào thì tôi ở như thế. Về hưu, chẳng có tài sản gì giá trị, ngoài một chiếc giường và chiếc tủ áo do trường Vinh tặng, thầy chuyển ra Hà Nội, ở nhờ nhà nghỉ của trường Vinh. Sau đó thầy được Bộ cho một căn nhà tạm bợ, vốn là của nước Thụy Điển cứu trợ cho những gia đình bị đổ nhà trong vùng bão lụt. Căn nhà đó đã hỏng từ lâu, may mà miếng đất nhỏ bé thì vẫn còn, nên con cháu đã làm cho ông bà một căn hộ nho nhỏ, phòng khách chỉ vừa chỗ cho 5 người ngồi sát cánh…  Tôi nhớ lại một chuyện vui vui: thầy về hưu, được chuyển hộ khẩu về Hà Nội, nhưng cô (vợ thầy) thì không, vì hồi ấy nhập vào Hà Nội cần có tiêu chuẩn cao… Không có hộ khẩu thì có thể tạm trú, nhưng không có phiếu gạo và các thứ tem phiếu khác thì thật là gay go. Biết rằng việc nhập hộ khẩu vào Hà Nội là rất khó, tôi đề nghị thầy viết thư cho các vị cấp cao may ra có thể giải quyết được… Thầy vốn là bạn học của tướng Võ Nguyên Giáp (hai người cùng thi vào Quốc học Huế, tướng Giáp đậu nhất, thầy đậu nhì), cùng là bạn học của Bộ trưởng Giáo dục Tạ Quang Bửu, lại là thầy học của Tố Hữu…, cho nên tôi nghĩ rằng nên nói cho các vị ấy biết chuyện “trái khoáy” của thầy. Nhưng rồi thầy bảo: “Đừng làm thế, nên để cho các anh ấy lo toan những công việc trọng đại của đất nước, không bận lòng đến việc nhỏ nhặt…”. Tôi đành chịu nghe nhưng vẫn ấm ức thay cho thầy và cô. Cuối cùng tôi nghĩ ra diệu kế: “Thưa thầy, thầy và cô nên viết đơn ra Tòa xin… ly dị” . Thấy thầy rất ngạc nhiên, tôi giải thích tiếp: “Mục tiêu của hôn nhân là được sống với nhau, lúc trẻ đã thế, về già lại càng thế… Nay vì vấn đề hộ khẩu, mục tiêu hôn nhân không đạt được thì phải ly dị thôi. Thử xem Tòa giải quyết như thế nào…”. Thầy cười và bảo: “Anh chỉ được cái lắm chuyện…”.       Những thầy giáo và sinh viên trường Vinh mỗi khi có dịp ngồi lại với nhau, nói chuyện nhiều thứ, nhưng cuối cùng bao giờ vẫn quay lại những kỉ niệm của trường Vinh mà nổi bật là người Hiệu trưởng đáng kính: GS Nguyễn Thúc Hào. Nhiều người nói: giá bây giờ mà có nhiều Hiệu trưởng kiểu như thầy…!  Nhân dịp thầy lên thọ 95, tôi có bài đường luật tặng Thầy, xin chép  ra đây để kết thúc bài viết này:                    MỪNG THẦY NGUYỄN THÚC HÀO 95 TUỔI THỌ                                                                Học trò Văn như Cương.                               Thầy mãi là thầy của chúng con,                        Tấm gương soi sáng mọi tâm hồn.                        Cuộc đời gieo hạt trong như ngọc,                        Sự nghiệp trồng người đỏ tựa son.                        Hiệu trưởng quang minh danh sáng mãi,                        Giáo sư thanh bạch tiếng thơm còn.                        Chín mươi lăm tuổi bài thơ đẹp,                        Đức trọng đạo cao sánh núi non.                     Văn Như Cương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thầy – Trò      Khi nói rằng máu mình không quý bằng máu của Harry, khi nói rằng bản thân mình không quý giá bằng Harry, thầy phù thủy Dumbledore có tự hạ giá mình không? Không. Trái lại, ông ấy tự nâng cao giá trị của mình lên, vì không những ông biết nhận ra giá trị của Harry, mà ông còn biết bảo vệ các giá trị đó.     “- Máu của trò quý giá hơn máu của ta nhiều”.   Đấy là lời của một thầy giáo nói với một học sinh, lời của Hiệu trưởng trường Hogwarts nói với Harry Potter, ở tập 6 của bộ phim dài tập nổi tiếng Harry Potter, tập này có nhan đề là “Harry Potter và hoàng tử lai”. Vị phù thủy già Dumbledore tự cắt tay lấy máu của mình mở lối đi, để bảo vệ dòng máu của cậu học trò Harry Potter.  Và đến khi phải uống chất độc tự làm suy yếu bản thân để có thể lấy được Trường Sinh Linh Giá, Dumbledore cũng giành lấy cái quyền uống, tức là nhận nguy hiểm về mình. Đáp lại câu hỏi của Harry: “Sao không để con uống ?”, ông nói: “Vì ta già hơn, tinh khôn hơn và không quý giá bằng con”.  Khi nói rằng máu mình không quý bằng máu của Harry, khi nói rằng bản thân mình không quý giá bằng Harry, ông thầy phù thủy vĩ đại nhất của mọi thời đại có tự hạ giá mình không ? Không. Trái lại, ông ấy tự nâng cao giá trị của mình lên, vì không những ông biết nhận ra giá trị của Harry, mà ông còn biết bảo vệ các giá trị đó. Harry là một kẻ mạnh trong số những phù thủy tốt. Harry là kẻ được chọn để đối đầu và tiêu diệt thủ lĩnh hắc ám. Harry cần được bảo vệ. Cách ứng xử của các nhân vật ở đây hoàn toàn tương ứng với triết lý của Nietzsche, người kêu gọi: “phải luôn luôn bảo vệ kẻ mạnh…” Phải bảo vệ kẻ mạnh là Harry thì giới phù thủy mới có cơ may tiêu diệt cái ác. Những người tốt phải mạnh thì thế giới mới có thể được xây dựng theo nguyên tắc của cái thiện, cái đẹp. Nếu người tốt suy yếu, nếu trong mỗi người, phần tốt yếu hơn phần xấu thì cái xấu cái ác sẽ thắng và thế giới sẽ được thiết lập theo nguyên tắc của cái xấu và cái ác.   Vì thế mà phải bảo vệ kẻ mạnh, vì thế mà mỗi người phải bảo tồn phần mạnh mẽ trong chính mình để chống lại sự trỗi dậy của cái xấu và cái ác.   Harry, khi được thầy mình nói cho rằng mình quý giá hơn ông ấy, liệu có trở nên kiêu ngạo không? Không! Bởi vì nếu ông thầy hiểu được giá trị của trò, thì trò cũng sẽ hiểu được giá trị của thầy, hiểu được tầm lớn lao, vĩ đại của “sự hiểu biết”. Ở đây, hành động của Dumbledore không phải là biểu hiện của đức tính khiêm nhường, mà chính là sự thấu hiểu, là khả năng đánh giá được giá trị và năng lực của người khác, cũng tức là tự đánh giá được giá trị và năng lực của mình. Dumbledore biết mình có thể làm gì và không thể làm gì, biết rằng dù được thừa nhận là phù thủy vĩ đại, ông không thể đánh bại Voldemort, điều mà Harry có thể làm được. Vì thế mà ông hy sinh để bảo vệ Harry, bảo vệ kẻ mạnh nhất của cộng đồng phù thủy tốt, cũng tức là bảo vệ tương lai của cái thiện, bảo vệ thế giới khỏi bị chiếm lĩnh bởi cái ác.  Chính ở ví dụ này ta thấy được tinh thần của thầy và trò trong quan niệm của người phương Tây, ta hiểu sức mạnh của người phương Tây được tạo ra từ đâu. Từ cái ý thức bảo vệ kẻ mạnh của họ, từ ý thức sử dụng kẻ mạnh của họ. Trong truyện Harry Potter, không chỉ có ông hiệu trưởng trường Hogwarts mà những người khác cũng hành xử theo tinh thần ấy. Hai người bạn thân nhất của Harry, Hermione Granger và Ron Weasley, trong một tình huống, đã chấp nhận chết để cho Harry có thể đi đến đích, tức là tìm gặp Chúa tể hắc ám. Hermione và Ron cũng hiểu rằng chỉ  Harry mới đủ mạnh để tiêu diệt nó. Dù sao thì tác giả đã không để những người bạn tốt ấy chết.  Tinh thần này được khẳng định khắp nơi. Có thể chọn ngẫu nhiên bài phát biểu của Bill Gates tại lễ tốt nghiệp của Ðại học Harvard năm 20071. Trong bài đó Bill Gates đưa ra yêu cầu này: “Hãy cho tôi có một yêu cầu cho các Trưởng khoa và các vị giáo sư – các nhà lãnh đạo trí tuệ ở đây, tại Đại học Harvard: Khi vị tuyển chọn  giảng viên mới, bổ nhiệm chức vụ, xem xét lại chương trình giảng dạy, và xác định các yêu cầu của bằng cấp, xin hãy tự hỏi chính mình: Nên chăng những bộ óc tuyệt vời nhất của chúng ta được dành để giải quyết các vấn đề lớn nhất của chúng ta?”   Ông ta yêu cầu rằng những bộ óc mạnh nhất, những bộ óc tuyệt vời nhất phải được dùng để giải quyết các vấn đề lớn nhất. Yêu cầu đó không nằm ngoài cái nguyên lý phải bảo vệ kẻ mạnh, phải sử dụng kẻ mạnh. (Kẻ mạnh hiểu theo nghĩa của Nietzsche: là kẻ có khả năng sáng tạo, có các giá trị để dâng hiến, chứ không phải là kẻ dẫm đạp lên người khác, buộc người khác khuất phục quyền uy của mình).  Trong thực tế, nhiều bộ óc mạnh, nhiều trí tuệ mạnh đã chỉ được sử dụng để giải quyết những việc rất nhỏ nhặt, đôi khi buộc phải dùng chỉ để giải quyết vấn đề mưu sinh cá nhân mà thôi. Lúc ấy không những sức mạnh của những bộ óc đó suy giảm, mà sự suy thoái sức mạnh của các bộ óc đó sẽ kéo theo sự suy thoái sức mạnh của cả cộng đồng. Phải hiểu một cách đầy đủ về điều này: cần bảo vệ kẻ mạnh, cần tạo điều kiện cho kẻ mạnh phát triển sức mạnh của mình. Ở nhiều nơi trên trái đất này, kẻ mạnh – kẻ mang thiên hướng thiện – vẫn đang bị hủy hoại; sức mạnh đang bị hủy hoại, từng giờ từng ngày, mà người ta không ý thức được, không thấy xót xa và tiếc nuối.  Trở lại với thầy trò nhà Harry Potter để thấy mối quan hệ thầy trò có thể được thiết lập theo phương thức: Thầy không chỉ truyền dạy cho trò, mà còn đánh giá được các giá trị của trò. Khi cần thầy sẵn sàng thừa nhận sự vượt trội của trò, giúp trò ý thức được vai trò và các năng lực của mình. Và có những lúc thầy phải hy sinh để bảo vệ trò, nếu điều đó là cần thiết cho tương lai chung của cả cộng đồng.   —  (1) Có thể tham khảo bản dịch tiếng Việt tại websirte của Khoa VHNN, ĐHKHXHNVTPHCM:  http://khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2515%3Anhng-mong-i-ln-lao&catid=115%3Agiao-dc&Itemid=189&lang=en    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới của những nữ sinh      Người ta đã chứng minh rằng không có việc gì  cần làm hơn là giáo dục các bé gái. Các công trình nghiên cứu của giới  khoa bảng và những dự án khảo sát đã khẳng định rằng lương tri có thể đã  từng mách bảo chúng ta: giáo dục một đứa con trai là giáo dục một con  người, nhưng giáo dục một đứa con gái là giáo dục một gia đình và làm  lợi cho cả cộng đồng.    Một trong những câu hỏi khó nhất mà tôi gặp khi còn làm Phó tổng thư kí Liên hiệp quốc, nhất là khi nói chuyện với thính giả bình thường, là: “Muốn cải thiện thế giới thì việc quan trọng nhất có thể làm là gì?”  Đây là một dạng câu hỏi có xu hướng biến quan chức thành một người đối thoại trực tiếp nhất, khi người ta cảm thấy có trách nhiệm giải thích sự phức tạp của những thách thức mà nhân loại đang đối mặt: làm sao để cho không mục tiêu nào cao hơn mục tiêu nào; làm sao để cuộc đấu tranh cho hòa bình, cuộc chiến chống đói nghèo và cuộc chiến nhằm xóa bỏ bệnh tật phải được tiến hành cùng một lúc..v.v.. – thật là nhạt nhèo và vô vị.  Lúc đó tôi biết bỏ sự thận trọng và tìm được câu trả lời cho câu hỏi cực kì quá đáng này. Nếu chúng ta phải lựa ra một việc mà chúng ta phải làm trước hết, thì tôi xin đưa ra câu thần chú gồm bốn từ như sau: Giáo dục con gái.   Thật là đơn giản. Người ta đã chứng minh rằng không có việc gì cần làm hơn là giáo dục các bé gái. Các công trình nghiên cứu của giới khoa bảng và những dự án khảo sát đã khẳng định rằng lương tri có thể đã từng mách bảo chúng ta: giáo dục một đứa con trai là giáo dục một con người, nhưng giáo dục một đứa con gái là giáo dục một gia đình và làm lợi cho cả cộng đồng.          Shashi Tharoor sinh ngày 9 tháng 3 năm 1956 ở  London. Ông từng là đại diện chính thức của Ấn Độ tranh chức Tổng thư  kí Liên hiệp quốc thay ông Kofi Anan vào năm 2006. Ông từng là phó Tổng  thư kí Liên hiệp quốc, phụ trách lĩnh vực truyền công và thông tin công  cộng từ năm 2002 đến năm 2007. Shashi Tharoor hiện là Bộ trường về phát  triển nguồn lực con người. Tác phẩm mới nhất của ông Pax Indica: India  and the World of the 21st Century.        Bằng chứng thật là ấn tượng. Thời gian đến tường gia tăng của các bà mẹ có ảnh hưởng đáng kể đối với sức khỏe, học hành và năng suất lao động khi trưởng thành của con cái họ. Con của những bà mẹ có học luôn luôn học hành giỏi giang hơn con của những ông bố có học và mẹ mù chữ. Biết rằng, nói chung trẻ em thường ở bên cạnh mẹ, cho nên kết quả này không phải là điều đáng ngạc nhiên.  Những cô gái được học trên 6 năm biết cách tìm và sử dụng những chỉ dẫn về y tế tốt hơn, biết chủng ngừa cho con và nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh, từ dùng nước sôi cho đến việc rửa tay. Một nghiên cứa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã khẳng định rằng “ở châu Phi, con của những bà mẹ được học 5 năm có sắc suất sống qua tuổi lên 5 cao hơn 40% so với con của những bà không đi học”.  Hơn nữa, một nghiên cứu của đại học Yale (Yale University) cho thấy rằng con sơ sinh của những bà mẹ đã học tiểu học đều cao hơn và nặng hơn là con của những bà mẹ thất học. Một dự án nghiên cứu của UNESCO cho thấy rằng “mỗi một năm đi học của các bà mẹ lại làm giảm sắc suất tử vong của trẻ sơ sinh từ 5% đến 10%”.  Ưu điểm của học vấn đối với sức khỏe còn đi xa hơn là việc sinh nở và sức khỏe của trẻ em. Một nghiên cứu ở Zambia cho thấy tốc độ lan truyền AIDS ở những cô gái thất học nhanh gấp đôi so với những cô gái từng đến trường. Con gái có học lấy chồng muộn hơn, và thường ít bị đàn ông lớn tuổi lạm dụng hơn. Phụ nữ có học thường có ít con hơn và đẻ thưa hơn, để có thời gian chăm sóc con tốt hơn; theo một công trình nghiên cứu, so với những người thất học, phụ nữ học hết lớp 7 thường có ít hơn từ 2 đến 3 con.  Ngân hàng thế giới, vốn chính xác về mặt toán học, đánh giá rằng cứ bốn năm đi học thì lại giảm được một lần sinh. Bang Kerala của Ấn Độ có mức sinh là 1,7 trên một cặp vợ chồng, trong khi bang Bihar là 4, là vì phụ nữ ở Karala là những người có học, trong khi một nửa phụ nữ ở Bihar thất học. Ngân hàng này còn nói thêm rằng càng nhiều thiếu nữ học trung học thì thu nhập trên đầu người của đất nước càng tăng.  Hơn nữa, phụ nữ lại học lẫn nhau, cho nên những người phụ nữ thất học thường ganh đua với thành công của những phụ nữ có học. Phụ nữ lại còn dành nhiều thu nhập hơn cho gia đình, đàn ông chưa chắc đã làm như thế (các cửa hàng rượu ở vùng nông thôn Ấn Độ phát đạt là nhờ thói quen chi tiêu cho những lạc thú của đàn ông). Và khi các cô gái có học làm việc ngoài đồng – nhiều người trong các nước đang phát triển phải làm như thế – kiến thức của họ làm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp và giảm suy dinh dưỡng. Giáo dục thiếu nữ là bạn làm lợi cho cả công đồng.  Tôi học được những chi tiết này từ người đồng nghiệp cũ là bà Catherine Bertini, do những hoạt động không mệt mỏi và đầy hiệu quả mà năm 2004 Chương trình Lương thực của Liên hiệp quốc đã trao cho bà giải thưởng Lương thực thế giới. Như bà nói trong diễn từ: “Nếu có người nói với bạn rằng chỉ cần trong vòng 12 năm, mỗi năm đầu tư 1 tỉ dollar, là bạn có thể tăng được tốc độ phát triển kinh tế, giảm được tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tăng được sản lượng nông nghiệp, cải thiện được sức khỏe các bà mẹ, cải thiện được sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, tăng được số trẻ em – cả con gái lẫn con trai – đến trường, giảm được tốc độ gia tăng dân số, tăng được số người – cả đàn ông và đàn bà – biết đọc biết viết, giảm được tốc độ lan truyền bệnh AIDS, và đưa được những người mới vào lực lượng lao động, và những người này có thể cải thiện được tiền lương của họ mà không cần làm cho người khác thất nghiệp, thì bạn sẽ nói gì? Thật là tuyệt vời! Cái gì vậy? Làm sao tôi có thể kí đăng đây?”  Đáng buồn là, thế giới chưa lao vào “đăng ký” với những thách thức của việc giáo dục trẻ em gái; trong các nước đang phát triển, trẻ em gái luôn tụt hậu so với bọn con trai trong việc tiếp cận với việc học tập. Có người đánh giá rằng 65 triệu cô gái trên khắp thế giới không bao giờ được vào lớp học. Nhưng để chúng thất học, thế giới còn phải trả giá nhiều hơn là chi phí cho việc học tập của chúng.  Chắc chắn, không có câu trả lời tốt hơn. Cựu Tổng thư ký LHQ, ông Kofi Annan, nói một cách đơn giản như sau: “Không có chính sách nào khác có khả năng nâng cao năng suất kinh tế, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và thai phụ, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe, trong đó có công tác phòng chống HIV/AIDS, và tăng cơ hội học tập cho thế hệ sau. Xin hãy đầu tư cho phụ nữ và các bé gái. “  Phạm Nguyên Trường dịch  —-  Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/the-impact-of-educating-girls-on-economic-growth-in-developing-countries-by-shashi-tharoor    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới năm 2021: Dự báo xu hướng giáo dục      Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, năm 2021 và những năm tới đây, giáo dục toàn cầu phải đối mặt với những hệ quả và thách thức nào? Các hệ thống giáo dục quốc gia sẽ phải chuẩn bị những chính sách và biện pháp ra sao?    Đảo lộn toàn cầu  Đây là hai hiện tượng nổi bật nhất xảy ra đồng loạt tại các hệ thống giáo dục quốc gia trong năm 2020, năm đầu tiên của đại dịch Covid-19, mà chỉ cần theo dõi truyền thông thì độc giả có thể dễ dàng nhận thấy: đóng cửa trường để dạy và học tại gia, công cụ và phương tiện dạy – học thông qua các nền tảng trực tuyến. Chính phủ các quốc gia, đặc biệt thuộc khối OECD, áp dụng những biện pháp ngắn hạn sau nhằm trợ giúp hệ thống giáo dục : trang bị thiết bị học trực tuyến, thiết kế nội dung chương trình và thời lượng học, trang bị thiết bị bảo hiểm và vệ sinh, và trợ giúp tài chính cho nhà trường và học sinh. Điểm nổi bật tích cực nhất là khả năng thích ứng và cải tiến phương pháp sư phạm và công nghệ dạy học nhanh đến bất ngờ và trên diện rộng. Tuy nhiên, ẩn dưới bề mặt này là thực trạng bất bình đẳng, học sinh thuộc nhóm xã hội bình dân hay nghèo túng thì không được trang bị công cụ trực tuyến (máy tính hay đường truyền tốt) cũng không được phụ huynh chăm chút, động viên nên bị gạt bên lề và dẫn đến kết quả học tập suy kém. Vấn đề nổi cộm thứ hai liên quan đến sức khỏe tinh thần. Thời gian cấm túc dài mười mấy tuần khiến cả học sinh lẫn giáo viên phải đối mặt với khả năng tập trung, tự chủ trong việc học và những biểu hiện bất ổn về tinh thần (tuy nặng nhẹ khác nhau). Nhiều quốc gia như Pháp, Ý, Anh, Mỹ đã trải qua hai lần cấm túc nhưng vẫn bị dự báo là có thể thêm lần cấm túc thứ ba vào đầu năm 2021.                   Số học sinh bị ảnh hưởng bởi Covid-19      % / tổng số học sinh      Số quốc gia đóng cửa trường học          28/05/2020      997,684,919      57%      129          28/12/2020      158,486,270      9.1%      12            Chất lượng giáo dục giảm, tăng trưởng kinh tế giảm   Theo đánh giá của các chuyên gia của OECD, việc học hành bị gián đoạn ảnh hưởng xấu đến chất lượng, kết quả học tập, từ đó làm giảm kỹ năng của người đi học mà yếu tố này lại gắn với hiệu suất làm việc. Hệ quả trực tiếp là tổng sản phẩm nội địa (GDP) có thể giảm xuống dưới 1,5% trong những thập niên tới1. Kinh tế nội địa và thương mại liên quốc gia giảm tốc nên những lĩnh vực như giáo dục sẽ bị “soi xét” lại trong mức độ ưu tiên về đầu tư tại mỗi quốc gia. Chi tiêu công cho giáo dục trong trung và dài hạn chắc chắn bị cắt giảm, điều này đã bắt đầu thể hiện ở ngay năm 2020. Theo báo cáo của ba tổ chức quốc tế UNESCO, UNICEF và World Bank, 64% các quốc gia khẳng định đã giảm ngân sách công cho giáo dục trong năm 2020 và tiếp tục cắt vào năm 2021 nhắm vào quỹ lương, việc này đồng nghĩa không tuyển dụng thêm giáo viên trong những năm tới. Nguồn đầu tư tài chính đến từ khối tư nhân cho giáo dục cũng hiếm hơn vì kinh tế yếu và thất nghiệp tăng. Như vậy, tác động của khủng hoảng lên đầu tư giáo dục thể hiện ở hai cấp độ. Thứ nhất là giảm chi tiêu công kèm với đó là giá thành chi tiêu tăng trong suốt cơn dịch. Thứ nhì là các nguồn tài chính vốn có dành cho giáo dục sẽ giảm đáng kể. Các chuyên gia của International Institute for Educational Planning (thuộc UNESCO) dự đoán đòn gánh đầu tư cho giáo dục sẽ nghiêng nhiều về phía hộ gia đình vì nhà nước – đầu kia của đòn gánh, không còn đủ sức nâng đỡ. Nguy cơ về bất bình đẳng, vì thế, càng nhãn tiền hơn, gia đình khá giả thì con cái tiếp tục được đầu tư học hành và ngược lại. “Trên toàn thế giới, những bất bình đẳng tiếp cận giáo dục sẽ còn là cái hố được đào sâu hơn và cơn khủng hoảng về giáo dục toàn cầu sẽ gay gắt hơn”1. Điều này sẽ kìm hãm mục tiêu quan trọng nhất của phát triển bền vững do UNESCO đề ra: mọi trẻ em đều được tiếp nhận một nền giáo dục chất lượng.  Trước thực trạng này, giáo dục với tư cách là phương tiện tạo nên bình đẳng giới có nguy cơ thất bại vì học sinh nữ sẽ chịu thiệt thòi nhất (không được đến trường, ép tảo hôn, lao động tại gia…) khi giáo dục không được đầu tư đúng mức, đặc biệt tại những nước nghèo hoặc đang phát triển.  Tiếp tục thích ứng và biết xử thế đúng bối cảnh là hai điều kiện cần thiết để đáp ứng được những đòi hỏi của từng địa phương và đảm bảo các nhu cầu học tập, sức khỏe và an toàn của mỗi học sinh. (UNICEF-UNESCO-World Bank).  Bài toán đau đầu giữa nhu cầu tăng đầu tư cho giáo dục trong khi tăng trưởng kinh tế chật vật ở giai đoạn hậu đại dịch, giáo dục sẽ nằm ở đâu trong nấc thang ưu tiên của nhà nước so với những lĩnh vực khác như y tế, kinh tế, thương mại?  Tiếp đà cải cách sư phạm  Từ quan điểm thuần túy sư phạm hay giáo học pháp, việc dạy – học từ xa vốn chỉ nhận được sự nghi ngại, thậm chí phản đối, từ các phía giáo viên, gia đình và nhà quản lý giáo dục từ nhiều năm nay ngay cả khi các nền tảng trực tuyến đã nở rộ. Thực ra, việc đưa công nghệ và công nghệ số thành công cụ giảng dạy có cả một chu trình lịch sử của nó, từ thiết bị nghe nhìn, video, bảng điện tử hay gần đây nhất là máy tính, tablet… Nhưng chỉ trong vòng 3-6 tháng, chúng ta chứng kiến một hiện tượng chưa từng xảy ra trong lịch sử giáo dục của nhân loại: các loại màn hình (máy tính, smartphone) trở thành giao diện sư phạm chính thức. Khủng hoảng thường là thời điểm tạo nên khả năng đổi mới sáng tạo để cải tiến những thiếu sót bất cập chứ không đơn thuần chỉ là trở về với “trạng thái bình thường” của quá khứ.  Các hệ thống giáo dục nên tiếp tục hoàn thiện và cải cách công cụ, phương tiện, phương pháp, dịch vụ học trực tuyến (online platforms, broadcast media (TV/radio), paper-based take-home packages…), và cũng nên đánh giá, so sánh hai phương pháp trực diện (offline) và trực tuyến (online) đến chất lượng giảng dạy và kết quả học tập cũng như sự tương tác giữa thầy và trò. Việc này sẽ giúp nâng cao trình độ sử dụng công nghệ và khả năng học tự lập của học sinh, giúp các thế hệ học sinh tiếp thu được các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống và công việc tương lai như tương tác, hợp tác, tương thuộc, tương hỗ…  Để công cuộc này thành công thì vai trò và sứ mệnh của giáo viên chiếm phần quan trọng. Giáo viên phải là tác nhân và tác giả của những đổi thay không chỉ trong việc áp dụng công nghệ mà còn trong tư duy và sáng tạo sư phạm. Các nhà hoạch định và quản lý giáo dục phải rất chú trọng đến sự kết nối giữa giáo viên và phụ huynh để tạo nên mối liên hệ tin cậy trong việc đồng hành và theo dõi học sinh. Để tạo sức bật, tiếp tục đổi mới và tăng cường khả năng ứng phó, hơn bao giờ hết các hệ thống giáo dục phải tăng cường năng lực quản lý trong những thay đổi. Có thể chính trong cơn biến này, chúng ta sẽ biết nắm bắt để làm cho chương trình, môi trường, phương tiện dạy và học thích ứng hơn nữa với nhu cầu của những thập niên tới.  Các chính phủ phải nhìn nhận sự canh tân đổi mới như một chính sách chiến lược dựa vào nền tảng nghiên cứu được đầu tư tài chính đúng mức và vững chắc về phương pháp luận. Trên thực tế, đổi mới và nghiên cứu cho giáo dục hiện đang là mảng yếu và thiếu. Đơn cử, ngân sách nghiên cứu cho y tế công của các quốc gia thuộc khối OECD cao gấp 17 lần so với ngân sách nghiên cứu cho giáo dục. Cột mốc đại dịch này là lời kêu gọi các chính phủ phải thay đổi chính sách vì không có đổi mới sẽ không có cải thiện, vì không có chất lượng giáo dục tốt sẽ không có nguồn nhân công chất lượng cao, và hệ quả trực tiếp là nền kinh tế quốc dân sẽ luôn ở tầm trung, không bứt phá nổi.     Sau Tết Nguyên đán 2021, học sinh hơn 20 tỉnh thành đã phải học trực tuyến nhưng việc học trực tuyến cũng khiến nhiều gia đình ở các vùng nông thôn, gia đình không có điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn khi không thể trang bị riêng cho con phương tiện học tập hoặc không thể kèm con học.   Điều hòa và cân đối trong thách thức   Trường học bị đảo lộn, vậy thì chúng ta phải tư duy lại về trường học trên phương diện chính sách và quản lý để sao cho các hệ thống giáo dục quốc gia tiếp tục thích ứng và kịp thay đổi trước thời cuộc. Điều hòa và cân đối vừa là một tâm thế quản trị vừa là kỹ năng kiểm soát của những nhà hoạch địch và quản lý các nền giáo dục.  Trước hết, chúng ta phải cân bằng những câu thúc giữa thời lượng chương trình vốn có với đổi mới chương trình. Có hai xu hướng trên thế giới: nhóm quốc gia đặt trọng chương trình cơ bản vì nó là nền tảng cho sự tiếp nhận kiến thức và thi cử của học sinh, nhóm quốc gia kia ưu tiên phát triển các kỹ năng nhận thức, xã hội, cảm xúc và sức khỏe tinh thần (well-being) của học sinh. Tuy nhiên, theo khảo sát của OECD2, có một độ chênh giữa quan điểm của đại diện chính phủ với quan điểm của giáo viên: chính phủ tập trung vào việc dạy-học căn bản, còn giáo viên nhấn mạnh đến việc tăng khả năng tự lập của học sinh. Để thỏa hiệp được hai điều này thì chúng ta cần phải tính toán sao cho việc xây dựng, cải cách và áp dung chương trình mới sẽ không làm quá tải cho cả học sinh và giáo viên tùy theo mức độ vùng miền, loại trường, điều kiện vật chất… Ngoài ra, giáo viên đáng nhận được ủng hộ và hỗ trợ vì nghề đi dạy ngày nay không giới hạn ở việc truyền đạt kiến thức mà họ còn phải quan tâm đến sức khỏe tinh thần của học sinh. Những phương pháp đổi mới nâng cao năng lực giáo viên như phát triển bản thân, khai vấn, cố vấn (personal development, coaching, mentorat) quả thực là cấp thiết.      Để công cuộc này thành công thì vai trò và sứ mệnh của giáo viên chiếm phần quan trọng. Giáo viên phải là tác nhân và tác giả của những đổi thay không chỉ trong việc áp dụng công nghệ mà còn trong tư duy và sáng tạo sư phạm.      Một trong những điểm then chốt ngay trong năm học mới là đánh giá kết quả học tập của học sinh và trong những năm sau, tiếp tục theo dõi lộ trình học tập của các lứa học sinh. Phương thức tiến hành đánh giá – kiểm tra – theo dõi và trách nhiệm của các bên giữa nhà trường, học sinh và phụ huynh phải được phối hợp chặt chẽ. Cuộc khủng hoảng này giúp chúng ta nhận ra rằng tập thể (giáo viên, ban giám hiệu, phụ huynh, cộng đồng) cùng đồng tình và đồng lòng là quan trọng biết chừng nào. Một quy chế mới chỉ có thể được thi hành đúng và đạt mục đích khi các nhà trường áp dụng một cách tích cực, thậm chí sáng tạo. Cấp lãnh đạo nên đề cao và khích lệ khả năng tự chủ, sáng kiến vượt qua khó khăn của mỗi cơ sở giáo dục. Vì nếu áp đặt cứng nhắc từ cấp cao sẽ dễ gây nên lộn xộn, lúng túng trong áp dụng và cảm giác “không tuân phục” của cấp dưới.  Mỗi quốc gia phải tự đưa ra danh sách những ưu tiên trong các biện pháp trước mắt và các chính sách trung và dài hạn về đầu tư và quản lý cho hệ thống giáo dục của mình. Trong bối cảnh này, tài năng quản lý và điều phối của các nhà lãnh đạo phải được thể hiện qua việc cân đối giữa nhu cầu và khả năng, giữa kiên định và linh hoạt.   Vaccine đã được tìm ra không có nghĩa là hạn dịch đã chấm dứt. Những gì đang chờ đợi chúng ta trước mắt vẫn là thử thách và bất định. Một lần nữa, trong chiều dài lịch sử nhân loại, thời khắc đại dịch này là lời kêu gọi cho sự thích ứng mới để đổi mới sáng tạo và dấn thân vì những mục tiêu phát triển bền vững. Xây dựng một xã hội có sức bền và sức bật tốt hơn chính là trách nhiệm của thế hệ chúng ta để tạo thành di sản cho con cháu trong những thập niên tới!□  Tài liệu tham khảo  – Andreas Schleicher, The impact of COVID-19 on education – Insights from Education at a Glance 2020, OECD  – What have we learnt ? Overview of findings from a survey of ministries of education on national responses to COVID-19, UNESCO, World Bank & UNICEF  – Anticipated impact of COVID-19 on public expenditures on education and implication for UNESCO work, 2020  – Fernando M. Reimers, Andreas Schleicher, Schooling disrupted, schooling rethought. How the Covid-19 pandemic is changing education, OECD’s report, 2020  – Education and COVID-19: Focusing on the long-term impact of school closures, OECD’s report, 2020  Chú thích:   1 Andreas Schleicher, The impact of COVID-19 on education – Insights from Education at a Glance 2020, OECD  2 Fernando M. Reimers, Andreas Schleicher, Schooling disrupted, schooling rethought. How the Covid-19 pandemic is changing education, OECD’s report, 2020    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Thế nào là một phổ điểm đẹp?      Kết thúc kỳ thi “2 trong 1”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện một việc rất đáng hoan nghênh, đó là công bố phổ điểm các môn thi. Đây là việc đáng ra Bộ phải làm từ lâu, nhưng không hiểu sao, trong suốt nhiều năm tổ chức thi ba chung, Bộ chưa bao giờ thực hiện được điều này. Tuy vậy, sau khi đã công bố, thì một câu hỏi lại được đặt ra cho giới chuyên môn, các phổ điểm đó nói lên điều gì?    Liệu chúng ta có thể rút kinh nghiệm được gì từ các phổ điểm đó? Hay một cách khái quát, thế nào là một phổ điểm đạt yêu cầu, một phổ điểm đẹp? Bài viết này cố gắng đưa ra lời giải cho những thắc mắc trên.  Trước khi có thể trả lời đích xác, một phổ điểm có được gọi là đẹp hay không, chúng ta cần biết câu trả lời cho câu hỏi: bài thi (mà kết quả là phổ điểm đó) có mục tiêu như thế nào?   Về mặt lý thuyết, bất kỳ bài thi nào cũng chỉ có một trong hai mục tiêu: (1) để phân loại trình độ/năng lực giữa các thí sinh với nhau hoặc (2) để kiểm tra, đánh giá thí sinh theo một chuẩn đã được định sẵn. Bài thi cho mục đích (1) là bài thi đánh giá tương đối (norm referenced test – NRT) và bài thi phục vụ mục đích (2) là bài thi đánh giá theo chuẩn (criterion referenced test – CRT). Những khái niệm này được TS Robert Glaser (1921-2012) giới thiệu và phát triển, và lịch sử của nó gắn với việc thực thi Đạo luật No Child Left Behind (Không bỏ rơi một trẻ em nào) của Mỹ– đạo luật hướng tới việc đảm bảo mọi trẻ em đều được đi học trong những năm 1980.   Bài thi đánh giá tương đối (NRT)  NRT là hình thức thi cổ điển, đã xuất hiện cùng với lịch sử thi cử của loài người từ hàng nghìn năm nay. Mục tiêu cao nhất của NRT là so sánh trình độ/năng lực của các thí sinh với nhau. Kết quả của nó được dùng làm căn cứ đầu vào cho một hoạt động giáo dục tiếp theo như: xét đỗ/trượt, trao giải/không trao giải… Khi nói đến NRT thì ngoài điểm tuyệt đối, chúng ta còn có thể quan tâm đến các nội dung khác như thứ hạng của thí sinh (ví dụ xếp hạng thủ khoa hay á khoa) hoặc tỷ lệ % của kết quả thi (ví dụ thí sinh A đạt kết quả nằm trong nhóm 2% thí sinh có kết quả thi tốt nhất). Về mặt nội dung, vì NRT chú trọng việc phân loại trình độ giữa các thí sinh nên độ khó của câu hỏi thi có thể trải dài từ dễ đến khó. Mỗi nội dung kiểm tra năng lực/kỹ năng thường được thể hiện qua một số ít câu hỏi (tối đa là bốn) để dành “đất” cho việc kiểm tra các năng lực/kỹ năng khác.  Phổ điểm lý tưởng của bài thi theo hình thức NRT là hình “quả chuông” (bell curve), hay theo phân phối chuẩn (normal distribution) như ngôn ngữ của thống kê học (xem Hình 1) vì đồ thị hình quả chuông thể hiện sự phân loại rõ ràng các nhóm trình độ (rất kém – kém – trung bình – khá – giỏi – rất giỏi). Phổ điểm có thể theo hình một quả chuông có độ dốc vừa phải (đường màu đỏ) hay dốc (màu xanh lơ) hay thoải (màu lá cây) hay có tâm dịch sang trái (màu tím) tùy thuộc vào mục tiêu, mục đích của kỳ thi. Những người ra đề có kinh nghiệm sẽ kiểm soát và dự tính được độ dốc của quả chuông trước khi kỳ thi bắt đầu.        Hình 1: Phổ điểm lý tưởng của bài thi theo hình thức đánh giá tương đối NRT      Bài thi nổi tiếng nhất theo hình thức NRT trên thế giới hiện nay có lẽ là bài thi SAT (Scholastic Assessment Test) do tổ chức College Board phát triển từ năm 1926 và được hàng nghìn trường đại học, cao đẳng tại Mỹ lựa chọn để làm căn cứ tuyển sinh hằng năm.   Đề thi đại học của Việt Nam theo hình thức ba chung năm ngoái trở về trước về cơ bản được thực hiện theo hình thức NRT. Tuy vậy, điểm khác biệt giữa hai bài thi là ở chỗ trong khi SAT là kỳ thi “tiêu chuẩn” (standardized) thì ba chung lại không. “Tiêu chuẩn” hay “không tiêu chuẩn” ở đây là một hình thức phân loại khác của thi cử. Một cách đơn giản, kỳ thi “tiêu chuẩn” được hiểu là có thể tổ chức nhiều lần nhưng vẫn đảm bảo với mức độ tin cậy để chắc chắn hai thí sinh (giả thiết có trình độ như nhau) thi ở hai lần khác nhau thì đều đạt kết quả thi tương tự. Với thi ba chung trước kia, một thí sinh làm đề khối A của đề thi năm 2009 được 25 điểm; nhưng có khi ngay sau đó cho làm đề thi của năm 2011 lại có thể chỉ được 20 điểm. Đó là dấu hiệu cho thấy “ba chung” không phải là một kỳ thi “tiêu chuẩn”. Trong kỳ thi đại học năm nay, kỳ thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội và của ĐH FPT có thể xem là các kỳ thi vừa là NRT, vừa là tiêu chuẩn (phổ điểm thi hình chuông và kết quả thi ở các lần khác nhau đều được tính có giá trị tương đương – ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hai kỳ, ĐH FPT tổ chức ba kỳ thi năng lực trong mùa thi năm nay, các thí sinh có điểm giống nhau sẽ được hưởng chính sách tuyển sinh như nhau, dù tham gia thi vào các thời điểm khác nhau).   Bài thi đánh giá theo tiêu chuẩn (CRT)  Khác với NRT, CRT không có mục đích so sánh giữa các thí sinh với nhau (và tất nhiên là sẽ không có thứ hạng, tỷ lệ % của thí sinh đó) mà nhằm so sánh trình độ, năng lực của thí sinh với một chuẩn đã định sẵn. Chuẩn này cần được xác định trước đó bởi một hội đồng chuyên môn trong ngành, lĩnh vực, trong đó nhiệm vụ là phải xác định và lượng hóa được chi tiết từng yếu tố về năng lực, kỹ năng của ứng viên. Về mặt nội dung, CRT tập trung vào kiểm chứng từng năng lực, kỹ năng so với tiêu chuẩn của thí sinh và vì vậy, mỗi nội dung đánh giá năng lực/kỹ năng thường được thể hiện qua tối thiểu bốn câu hỏi với độ khó tương tự nhau để kiểm tra sự nhất quán của thí sinh trong việc trả lời câu hỏi liên quan đến năng lực/kỹ năng đó.   CRT có lịch sử gắn với các bài thi nhằm cấp chứng chỉ hành nghề như lái xe, phiên dịch, kiểm soát viên… Tuy vậy, trong những năm gần đây, CRT đang có xu hướng thâm nhập vào giáo dục chính thống (phổ thông, đại học) để trở thành cách đánh giá chủ đạo trong nhà trường. Cũng như phần nhiều cuộc cải cách giáo dục khác diễn ra trên thế giới, Mỹ cũng lại là nước đi đầu trong việc này với công cuộc cải cách giáo dục từ những năm 1980.  Phổ điểm lý tưởng của CRT là hình chữ J với một số ít thí sinh trượt, còn phần lớn thí sinh đều vượt qua ngưỡng tiêu chuẩn định trước (xem Hình 2: ví dụ về phổ điểm của một bài thi theo CRT, trong đó ngưỡng tiêu chuẩn là 9/10 điểm).        Hình 2: Phổ điểm lý tưởng cho bài thi theo hình thức đánh giá theo tiêu chuẩn CRT    Phổ điểm của “2 trong 1” như thế nào là đẹp?  Quay trở lại với kỳ thi THPT năm nay, chúng ta hẳn còn nhớ cả một thời gian dài trước khi phương án cuối cùng được chốt, báo chí đã tốn rất nhiều giấy mực để tranh luận, phân tích xem giữa hai lựa chọn, bỏ thi THPT và bỏ thi đại học thì nên bỏ kỳ thi nào. Phương án cuối cùng được chọn có vẻ như là một giải pháp trung gian với 60% câu hỏi cho mỗi bài thi được dành cho mục đích thi THPT, 40% câu hỏi còn lại được dành cho mục đích thi đại học1.   Nếu xem mục tiêu thi THPT nhằm mục đích đánh giá học sinh theo tiêu chuẩn đầu ra đã được định sẵn; còn thi đại học nhằm mục tiêu phân loại trình độ học sinh thì phổ điểm lý tưởng của phần “60% thi THPT” sẽ có dạng hình chữ J (bài thi CRT) và phần “40% thi đại học” sẽ có dạng hình quả chuông (bài thi NRT) như trình bày ở trên. Ghép hai phần phổ điểm này, chúng ta sẽ được phổ điểm hình quả chuông với “đỉnh chuông” nằm ở điểm 7-8, trong đó 5-6/6 điểm cho phần thi THPT và 2/4 điểm cho phần thi đại học (xem Hình 3).     Hình 3: Phổ điểm lý tưởng của kỳ thi “2 trong 1” năm 2015      Đối chiếu phổ điểm lý tưởng này với kết quả phổ điểm mà Bộ công bố, có thể thấy, phổ điểm môn Hóa là có hình dạng gần nhất với phổ điểm lý tưởng (phổ điểm hình chuông trong đó đỉnh chuông tại điểm 6,5); các môn Ngữ văn, Vật lý, Địa lý có phổ điểm đạt yêu cầu (phổ điểm hình chuông trong đó đỉnh chuông tại khoảng 5-6 điểm); các môn Sinh học và Lịch sử có phổ điểm chấp nhận được (phổ điểm hình quả chuông trong đó đỉnh chuông tại khoảng 4-5 điểm).  Các môn còn lại, môn Toán có phổ điểm hình yên ngựa, môn tiếng Anh hình quả chuông lệch với đỉnh chuông tại điểm 2,5 có thể xem như không đạt yêu cầu về mặt ra đề2.  Lựa chọn cho năm tới  Như vậy, nhìn chung mặc dù một số môn có phổ điểm không thật đẹp nhưng vẫn có thể thấy kỳ thi “2 trong 1” năm nay tương đối thành công (nhất là khi chúng ta xét đến các yếu tố khác ngoài vấn đề phổ điểm như giảm căng thẳng, tiết kiệm nguồn lực, phát huy vai trò tự chủ của các trường…).   Câu hỏi bây giờ có lẽ nên là, về mặt đề thi, chúng ta có thể cải thiện thế nào cho kỳ thi năm sau? Chúng ta sẽ tiếp tục giữ giải pháp “trung gian” như năm nay hay quay trở lại với lựa chọn đã được thảo luận rất nhiều trước kia: bỏ thi tốt nghiệp THPT, giữ thi đại học hoặc ngược lại?   Thực ra, nếu nhìn vào bản chất của NRT và CRT như đã phân tích ở trên, thì lựa chọn trung gian: 60% mục đích tốt nghiệp THPT và 40% mục đích thi đại học sẽ vẫn dẫn đến kết quả là một kỳ thi theo NRT (hay một kỳ thi với mục đích là thi đại học). Điều này cũng tương tự như việc nhân một số (-) với một số (+) thì sẽ không ra một số nửa (-), nửa (+) mà kết quả phải là số (-). Thực vậy, một kỳ thi thiết kế theo cách nửa tốt nghiệp (CRT), nửa thi đại học (NRT) thì kết quả vẫn là một kỳ thi đại học (NRT), có phổ điểm dạng hình chuông; chỉ có điểm khác là hình chuông đó sẽ dịch chuyển về phía bên phải một chút (như Hình 3) hoặc như kết quả phổ điểm môn Hóa năm nay.   Vậy thì, câu hỏi lại quay lại điểm ban đầu, giống như đúng một năm trước đây: kỳ thi năm 2016 sẽ là thi THPT hay thi đại học?   Hai cách, suy cho cùng, đều có ưu – nhược điểm của nó. Nhưng nếu phải chọn, thì người viết bài này thiên về cách chọn: bỏ thi đại học, tổ chức thi THPT (theo CRT). Bởi với cách dạy, học, thi theo chương trình phổ thông hiện tại, chúng ta không thể tin tưởng kết quả đầu ra của học sinh sau 12 năm học sẽ là theo một chuẩn như nhau trên khắp 64 tỉnh thành trên cả nước. Một kỳ thi đánh giá theo một chuẩn chung nhằm đảm bảo điều này là vô cùng cần thiết.   Cách ngược lại cũng có thể áp dụng, nhưng phải là trong nhiều năm tới, một khi Chương trình giáo dục tổng quát (mới được Bộ ban hành Dự thảo) đưa vào áp dụng và chứng minh thành công.    ——–  1http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/tuyen-sinh/thu-truong-giao-duc-de-thi-thpt-quoc-gia-co-60-cau-hoi-co-ban-3241101.html  2 Trong bài này chúng ta không xét phổ điểm các môn ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Nga… vì số lượng thí sinh quá ít. Vấn đề phổ điểm giật cục (một số điểm có tần suất đột nhiên cao lên) cũng không xét đến vì nguyên nhân chuyển thang điểm (ví dụ từ 50 xuống 10 điểm) đã được một chuyên gia khác giải thích rất rõ tại đây: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/TSLe-Truong-Tung-Kieu-lam-tron-diem-cua-Bo-hai-den-quyen-loi-thi-sinh-post160444.gd    Author                Phạm Hiệp        
__label__tiasang Thi cử trung học ở Úc      Trong khi học sinh của ta thi hết kì thi này đến kì thi khác hao tổn trí lực và có khi cũng chẳng cần thiết, thì học trò ở Úc học thật là thoải mái, thi cử ít nhưng phản ảnh đúng trình độ học vấn. Chẳng hạn, học sinh xong tiểu học thì lên trung học (nếu em nào khá thì thi vào trường tuyển), và họ chỉ thi một kì thi duy nhất gọi là HSC – higher school certificate (tùy tiểu bang mà họ có tên gọi khác), tương đương với tú tài II hồi xưa và tốt nghiệp lớp 12 bây giờ.     Xong kì thi HSC, mỗi học sinh có một điểm tốt nghiệp từ 0 đến 100. Trường đại học căn cứ vào nhu cầu họ công bố điểm vào (chắc là như “điểm sàn” gì đó ở trong nước) để tuyển học sinh, chứ họ không có thi tuyển. Chẳng hạn như muốn vào học ngành thương mại của trường UNSW thì thí sinh phải có ít nhất là 95 điểm, còn trường mickey mouse nào đó cũng ngành thương mại nhưng chỉ đòi hỏi 80 điểm. Quyết định ghi danh trường nào là quyết định của thí sinh. Thí sinh có quyền ghi danh 5 trường khác nhau, và trường nào tuyển thì họ thông báo. Tôi thấy cách tuyển sinh này rất nhẹ nhàng, công bằng, và minh bạch.   Cấu trúc đề thi HSC cũng đáng để nói lắm. Khi theo học 2 năm cuối chương trình trung học (lớp 11 và 12), mỗi học sinh phải chọn các môn học phù hợp với khả năng của mình. Các môn học này nhiều lắm (hàng trăm môn), nhưng chủ yếu vẫn là toán, vật lí, hóa học, sinh học, Anh ngữ, và một ngoại ngữ. Mỗi môn học có bậc tính theo units. Môn lí, hóa, sinh, và Anh ngữ chỉ có 2 bậc, riêng môn toán có 4 bậc. Ví dụ như môn toán có 4 bậc như sau:   * Toán phổ thông: dành cho các thí sinh không có khiếu làm toán, khi đi thi họ được phép dùng máy tính;   Toán 2 unit: dành cho các em khá hơn, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba, ứng dụng toán trong thực tế;   * Toán 3 unit: dành cho các em có trình độ toán trên trung bình, và chương trình học đi sâu vào lượng giác, đạo hàm, tích phân…  * Toán 4 unit: dành cho các em giỏi toán, chương học học khá nặng nề như số phức (complex number), hình học không gian, tích phân và ứng dụng tích phân, v.v…   Theo tiêu chuẩn HSC, thí sinh phải thi đủ 12 units (tín chỉ). Chẳng hạn như nếu tôi không giỏi về toán, nhưng giỏi về sinh học, thì tôi sẽ chọn sinh 3 units + hóa 2 units + lí 2 units + toán 2 units + Anh văn 2 units + linh tinh 1 unit = 12. Học sinh phải chọn sao cho có đủ 12 units.  Một khi đã chọn thì thí sinh chỉ thi HSC mấy môn ở bậc mình chọn. Chẳng hạn như nếu tôi chọn toán 2 units thì tôi không thi toán 3 units và 4 units. Tuy nhiên, nếu tôi chọn toán 3 units thì tôi phải thi hai bậc toán (2 units và 3 units); hay nếu tôi chọn toán 4 units thì tôi bắt buộc phải thi 2 bậc toán (3 units và 4 units). Cách thi này nhằm đảm bảo thí sinh thật sự giỏi chứ không phải chỉ tập trung toán bậc cao mà không biết gì bậc thấp.   Tính trung bình, mỗi môn thi đều có khoảng 40 câu hỏi, từ dễ nhất đến khó nhất. Chẳng hạn như thi môn toán 2 units thí sinh có thể gặp những câu hỏi dễ như… cách tính phân số! Người ta lí giải rằng cách ra đề thi như thế công bằng hơn là tập trung vào 5, 6 câu khó như ở Việt Nam hay làm. Thật ra, tôi nghĩ các đề thi ở Việt Nam là đánh đố, chứ không phải nhằm kiểm tra trình độ của học sinh. Các bạn có thể xem qua các đề thi năm 2007 ở trang web của Cục giáo dục bang NSW. Còn ai muốn xem đề thi toán của họ ra sao thì xem ở đây: môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, Anh ngữ, và môn… tiếng Việt.  Không biết ở Việt Nam thì sao, nhưng ở bên này mỗi thí sinh được 3 người chấm điểm một cách độc lập. Nếu có khác biệt (hiếm, nhưng có) thì phải có người đứng ra dàn xếp. Do đó, điểm từng môn của thí sinh có thể nói là chính xác và công bằng.   Nhưng điểm tổng số HSC không chỉ đơn thuần là điểm thi, mà là tổng số 3 điểm:   (A) Điểm thi HSC.   (B) Điểm lúc theo học 2 năm cuối trung học, tức là điểm trong các kì test mỗi kì học trong năm;   (C) Điểm trong kì thi thử. Ở Úc, trước khi thi HSC thật, thí sinh phải qua một kì thi thử (gọi là trial examination) mà theo đó thí sinh thi như thật, nhưng chỉ thi tại trường, với đề thi do một nhóm thầy cô độc lập ra đề.   Ba điểm thi này có trọng số khác nhau. Hình như (tôi không nhớ, vì trọng số thay đổi theo thời gian) điểm A chiếm 50%, điểm B 25%, và điểm C 25%.   Ba điểm trên phải qua một mô hình phân tích thống kê để tính điểm tổng số. Điểm tổng số này rất phức tạp vì mô hình còn xem xét trường mà thí sinh xuất thân. Chẳng hạn như thí sinh có thể có điểm B tốt nhưng vì điểm trung bình của trường mà em theo học thấp thì hệ số sẽ bị giảm xuống thấp hơn so với thí sinh có điểm B tốt và điểm trung bình của trường cũng tốt. Nói tóm lại, điểm của thí sinh còn phải phân tích với điểm trung bình của trường mà họ theo học để đánh giá thực tài của thí sinh.   Nói tóm lại, tôi thấy Việt Nam chúng ta cần phải cải cách chương trình thi cử trung học cho thật tốt, để tránh không phải thi tuyển đại học. Nhưng cải cách phải bắt đầu từ việc phân chia môn học từ dễ đến khó để đáp ứng khả năng của học sinh. Chẳng hạn như tôi dở về toán, nhưng tôi khá về sinh học, thì chương trình học phải cho tôi cơ hội phát huy khả năng về sinh học của tôi. Nói đến đây tôi nhớ đến ngày xưa người ta xem trọng môn toán đến nỗi ai không giỏi môn này bị mang tiếng là “đồ dốt”, “ngu như heo”, “ngu như bò”… Bây giờ già chút tôi thấy cái lối cho nhãn hiệu như thế thật là bậy bạ và… ấu trĩ. Một xã hội mà dồn ép học sinh chỉ lo học toán thì xã hội đó không khá nổi. Tôi vẫn không hiểu tại sao có người nói phân môn học cao thấp như thế là không khả thi ở Việt Nam.   Ngoài ra, tôi nghĩ còn phải cải cách về cách thức ra đề thi, cách tính điểm, cách đánh giá thành tích học hành… Nhưng tất cả cải cách này đòi hỏi nghiên cứu, phân tích dữ liệu, và suy nghĩ. Tất nhiên, nói mấy thứ này ra thì các vị “nghiên cứu giáo dục” sẽ nói họ đều làm cả rồi, biết hết rồi, không có gì mới … nhưng tôi dám cam đoan là họ chưa làm, chưa biết, và họ cũng không biết cái mới. Thành ra, muốn cải cách thì có lẽ phải bắt đầu với con người mới, tư duy mới, và quan trọng nhất là có thực tài. Nước ta không cần những công chức với đủ thứ học vị hoa lá cành mà ngồi ì và không làm được việc.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi để làm gì?      Thi cử động chạm đến những vấn đề cốt tủy của giáo dục. Nó là một trong số những câu hỏi quan trọng nhất mà các nhà quản lý cần phải trả lời khi thiết kế và vận hành hệ thống giáo dục của mình. Nhưng tiếc rằng, cho đến nay, câu trả lời cho câu hỏi quan trọng này vẫn còn bỏ ngỏ. Hoặc giả, câu trả lời cũng chưa đủ rành mạch cho tất cả những người có hoạt động liên quan đến giáo dục.    Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2014 vừa kết thúc với kết quả đỗ tốt nghiệp lên đến hơn 99%. Một lần nữa, cuộc tranh luận xem có nên bỏ, hay tiếp tục duy trì, một cuộc thi tốn kém mà tất cả đều đỗ như vậy, lại bùng nổ. Chủ đề này càng nóng hơn khi đây là năm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tiến hành cải cách thi cử như một bước đi chính thức của cuộc cải cách căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.   Và sâu sa hơn, câu hỏi “Thi để làm gì?” lại được đặt ra để thảo luận, vì nếu không trả lời rốt ráo câu hỏi này, thì mọi cải cách trong thi cử đều không có kết quả.  Nút bấm rúng động  Trong chương trình giao lưu trực tuyến do cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức chiều ngày 4/12/2013, Thứ trưởng Bộ GG&ĐT Nguyễn Vinh Hiển, cho rằng: đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá học sinh là khâu đột phá trong đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Ông coi đây là nút bấm, để bấm một cái cả hệ thống GD-ĐT sẽ rúng động.   Rúng động vì sao?  Vì cách học ngày nay có mục đích duy nhất là học để thi. Nhận định này đã được nhiều nhà giáo phát biểu, và cũng được xác nhận trong các khảo sát trực tiếp với học sinh bậc THCS và THPT mà tôi đã tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 6-8/2013 tại Hà Nội.           Nhận định về vai trò của thi cử mỗi người  mỗi phách, không thể thống nhất. Chính vì thế mà thi cử luôn gây ra  tranh cãi suốt hàng chục năm nay, điển hình là những tranh luận xung  quanh kỳ thi tốt nghiệp PTTH và đại học: gộp hay không gộp, thi riêng  hay thi chung, “ba chung” liệu có phù hợp…?        Ngoài ra, học để thi cũng là một văn hóa điển hình của giáo dục Việt Nam, là sự tiếp nối của truyền thống giáo dục Nho giáo kéo dài cả nghìn năm trong thời phong kiến, đến mức lều chõng đi thi để trở thành ông cử ông nghè, rồi sau đó vinh qui bái tổ đã trở thành hình ảnh điển hình, đến mức ám ảnh, của bất cứ anh học trò xưa nào.  Nói vậy để thấy, cho rằng thi cử là cái nút bấm của hệ thống giáo dục hiện tại là có cơ sở. Lựa chọn tác động vào thi cử là một lựa chọn thông minh và vừa sức. Nhưng đây lại cũng chỉ mới là giải pháp mang tính chiến thuật, chứ không thể coi là giải pháp chiến lược của giáo dục.  Nó có thể làm cả hệ thống giáo dục rúng động, nhưng không chắc đã chuyển động để thoát khỏi tình trạng dậm chân tại chỗ bấy lâu nay.  Vậy làm sao để khi bấm cái nút thi cử này, giáo dục thực sự chuyển động? Trước hết chúng ta phải trả lời câu hỏi đơn giản nhưng cơ bản: Thi để làm gì?  Vòng luẩn quẩn: học để thi – thi để đánh giá sự học  Mỗi người, tùy vị trí đứng trong giáo dục mà có cách trả lời khác nhau cho câu hỏi thi để làm gì. Với học sinh, có lẽ thi để lấy điểm, thi để lên lớp, để vào trường tốt… sẽ là cách trả lời phổ biến nhất. Còn với các thầy cô thì khó hơn nhiều. Với các thầy cô, có lẽ không ít người coi đây là một thao tác thủ thực hiện theo chương trình định trước: Thi vì đến lịch phải thi, theo kế hoạch từ trên dội xuống, còn để làm gì thì đó là việc của “trển”, cấp dưới chỉ việc thi hành.  Một số thầy cô khác sẽ đưa ra câu trả lời mang tính sách vở: Thi để đánh giá việc dạy và học. Nhưng liệu cái logic học để thi, rồi thi lại để đánh giá việc học, liệu có rơi vào vòng luẩn quẩn? Trên thực tế, ở Việt Nam đúng là phần nào đang duy trì vòng luẩn quẩn này, bởi nếu không thi thì học sinh sẽ không học, hệ quả tất yếu của tình trạng học để thi hiện giờ.   Đồng thời, căn bệnh thành tích trầm trọng đã biến một sản phẩm phụ là chức năng lấy chứng chỉ, bằng cấp, trở thành mục đích chính của việc thi cử. Như vậy, thay vì tổ chức thi cử để rồi hơn 99% đều đỗ, vì sao người ta không cấp luôn chứng chỉ là xong, vừa đỡ tốn kém, vừa đáp ứng ngay lập tức nhu cầu lấy chứng chỉ của người tham gia thi cử?     Mục đích thực sự của thi cử: một phản tư của giáo dục  Thực tế cho thấy phản tư là tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn tới hầu hết các tiến bộ mà con người đạt được. Thông qua quá trình phản tư mà con người hiểu biết thêm về tự nhiên, về xã hội và về chính mình (con người sống tốt hơn, người hơn bằng cách tự hỏi: Người là gì?) Phản tư chính là nguồn gốc của sự phát triển.           Thông qua thi cử và đánh giá, chúng ta có  thể đo lường sự tiến bộ của người học và khiếm khuyết của người dạy, qua  đó hiểu hơn về lý luận và thực tiễn giáo dục để từ đó tiếp tục cải  thiện và phát triển giáo dục.           Trong giáo dục, về mặt triết học thi cử chính là một quá trình phản tư. Thông qua thi cử và đánh giá, chúng ta có thể đo lường sự tiến bộ của người học và khiếm khuyết của người dạy, qua đó hiểu hơn về lý luận và thực tiễn giáo dục để từ đó tiếp tục cải thiện và phát triển giáo dục. Thi cử do đó không thể bỏ và không thể tách rời khỏi giáo dục. Chừng nào còn tham gia giáo dục, với bất cứ tư cách nào, dù là giáo viên hay học viên, thì còn phải tham gia thi cử.  Năng lực và chất lượng của một hệ thống giáo dục được biểu hiện trực tiếp qua năng lực tổ chức và chất lượng thi cử. Điều này cũng giống như năng lực của một cá nhân được biểu hiện thông qua năng lực phản tư của chính anh ta, và sự tiến bộ của anh ta được đo thông qua việc phản tư mà anh ta thực hiện.   Chỉ có ý nghĩa khi được tiến hành một cách độc lập và trung thực  Cũng giống như sự phản tư của con người, thi cử cần được tách ra khỏi chủ thể để nhìn nhận lại chủ thể. Như thế, thi cử hay đánh giá trong giáo dục, lý tưởng nhất là được tiến hành bởi một cơ quan độc lập. Trong trường hợp không thể thực hiện bởi cơ quan độc lập, thì thi cử phải được tổ chức khách quan nhất có thể để ngăn chặn những can thiệp của chủ thể bị đánh giá, bao gồm cả người dạy và người học, làm lệch lạc kết quả thi cử. Việc tổ chức các hội đồng coi thi và chấm thi chéo, việc rọc phách các bài thi, chính là sự cụ thể hóa quan điểm này. Xa hơn, việc chấm thi bằng máy tính, dù còn nhiều hạn chế, cũng đã được coi là một trong số các giải pháp được nhiều nơi thực hiện để đảm bảo tính khách quan của thi cử.  Tuy nhiên, một sự phản tư chỉ có ý nghĩa nếu đó là một sự phản tư nghiêm túc, theo nghĩa có một mục đích rõ ràng và được thực hiện bởi một quy trình khả tín và có tính hệ thống. Đặc biệt quan trọng là sự phản tư đó phải trung thực, vì nếu không trung thực, mọi sự phản tư, nếu được thực hiện thì cũng chỉ là tự lừa dối hoặc tự huyễn hoặc mình.  Trở lại với kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học, nếu hiểu thi cử như một sự phản tư của giáo dục thì kỳ thi này nên được tổ chức các cơ quan khảo thí độc lập và có thể được tiến hành nhiều lần trong một năm. Khi đó sự phản tư mới có thể tránh rơi vào bẫy bao biện hoặc tự huyễn hoặc, và bệnh thành tích cũng vì thế mà ngăn chặn được.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí điểm sử dụng sách giáo khoa điện tử      Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã ra mắt sản  phẩm sách giáo khoa điện tử Classbook từ lớp 1 đến lớp 12 vào ngày  26-6, hướng đến đối tượng khách hàng gần 15 triệu học sinh phổ thông tại  Việt Nam.    Đây là lần đầu tiên sách giáo khoa điện tử được ra mắt tại Việt Nam, mặc dù loại sách này đã được sử dụng nhiều ở các quốc gia như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore hay Thái Lan…  Ông Ngô Trần Ái, Tổng giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, cho biết, đầu năm nay, Bộ Giáo dục đã yêu cầu Nhà xuất bản Giáo dục nghiên cứu và phát triển đề án sách giáo khoa điện tử. Trong giai đoạn thí điểm, sản phẩm Classbook được giới thiệu tại gần 400 trường phổ thông ở Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng và Đà Nẵng.  Từ năm 2009, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã kết hợp với đối tác Hàn Quốc để triển khai những thử nghiệm đầu tiên về sách giáo khoa điện tử. Năm 2012, nhà xuất bản đã thành lập Công ty cổ phần sách điện tử Giáo dục để phát triển sách giáo khoa điện tử.  Classbook được phát triển trên thiết bị máy tính bảng có màn hình 8 inch, sử dụng công nghệ chống lóa mắt cho phép góc nhìn 178 độ, có thời lượng pin từ 8-10 giờ.  Classbook cài đặt sẵn trọn bộ sách giáo khoa và sách bổ trợ theo chương trình phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, theo yêu cầu về khung chương trình chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong suốt thời gian sử dụng thiết bị, người dùng có thể cập nhật miễn phí mọi tái bản các cuốn sách này. Ngoài ra trên Classbook còn có hơn 20 ứng dụng bổ trợ cho nhiều môn học, thích ứng với các độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên Classbook cũng có cơ chế kiểm soát kết nối Internet và các ứng dụng cài đặt giúp nhà trường và phụ huynh học sinh yên tâm hơn về việc con em mình sử dụng thiết bị này.  Sách giáo khoa điện tử Classbook còn hỗ trợ việc biên tập và gắn kết với những nội dung đa phương tiện mở rộng cho bài học và cung cấp những chức năng cho phép học sinh có thể tương tác với nội dung bài học. Classbook giúp học sinh có thể tự đánh giá mức độ hiểu bài hoặc tự sát hạch trình độ với các môn học nhờ cơ chế kiểm tra trắc nghiệm với khả năng chấm điểm và tính giờ tự động. Kết quả sẽ được ghi lại để phụ huynh có thể theo dõi.  Classbook còn có thể kết nối tới kho sách trực tuyến và ứng dụng Classbook Store (http://classbook.vn/ – địa chỉ cung cấp một thư viện sách giáo dục điện tử gồm sách giáo khoa, sách bổ trợ, sách giáo viên, sách tham khảo, sách dạy kỹ năng mềm… các ứng dụng học tập và nguồn tư liệu mở rộng cho các môn học…). Nội dung trên Classbook Store sẽ do các nhà xuất bản, các nhà cung cấp nội dung hay dịch vụ trực tuyến cho giáo dục và do cộng đồng giáo viên xây dựng và chia sẻ.  Ngoài phiên bản dành cho học sinh, sách giáo khoa điện tử còn có phiên bản dành cho giáo viên. Classbook cho phép người dùng sử dụng thêm các tài liệu tham khảo, sách, bài giảng khác thông qua thẻ nhớ để phục vụ quá trình giảng dạy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thị hiếu của sinh viên Việt Nam đối với du học cao học tại Hàn Quốc, Australia, Singapore: Nghiên cứu so sánh*        T&#243;m tắtViệt Nam l&#224; một nước đang ph&#225;t triển với d&#226;n số hơn 84 triệu d&#226;n. Thị trường dịch vụ gi&#225;o dục kh&#225; lớn nhưng c&#225;c trường đại học trong nước vẫn c&#242;n thiếu về số lượng v&#224; hạn chế về chất lượng. V&#236; vậy rất nhiều sinh vi&#234;n Việt Nam quyết định đi du học, đặc biệt l&#224; học cao học. Trong những năm gần đ&#226;y, nhiều người t&#236;m kiếm cơ hội du học tại c&#225;c nước ch&#226;u &#193; như Singapore, Th&#225;i Lan v&#224; H&#224;n Quốc. Rất dễ để nhận ra rằng, nguồn nh&#226;n lực được đ&#224;o tạo tốt ch&#237;nh l&#224; nh&#226;n tố h&#224;ng đầu của sự tăng trưởng kinh tế vượt bực của H&#224;n Quốc trong ba thập kỷ gần đ&#226;y. Th&#234;m v&#224;o đ&#243;, H&#224;n Quốc cũng c&#243; những đặc điểm tương tự về văn h&#243;a với Việt Nam. Tuy nhi&#234;n, H&#224;n Quốc chỉ thu h&#250;t số lượng nhỏ sinh vi&#234;n Việt Nam, ước t&#237;nh khoảng 2242 sinh vi&#234;n 1, chiếm khoảng 3% sinh vi&#234;n quốc tế tại H&#224;n Quốc v&#224; 6% sinh vi&#234;n Việt Nam tại nước ngo&#224;i. Mục đ&#237;ch của b&#224;i nghi&#234;n cứu n&#224;y l&#224; ph&#226;n t&#237;ch thị hiếu của sinh vi&#234;n đối với việc học cao học tại H&#224;n Quốc. B&#224;i nghi&#234;n cứu n&#224;y sẽ tiếp cận nền gi&#225;o dục của H&#224;n Quốc so với Australia v&#224; Singapore, hai điểm đến ch&#237;nh của du học sinh Việt Nam          1. Tổng quan về hệ thống giáo dục của Hàn Quốc              Hàn Quốc nằm ở Đông Bắc Á, là một trong những nước công nghiệp mới (NICs) với các sản phẩm nổi tiếng như thép, ô tô… Theo Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực2, lợi thế của nền giáo dục của Hàn Quốc là vẻ đẹp tự nhiên, học phí và chi phí sinh hoạt rẻ, môi trường giáo dục chất lượng cao, sự nhiệt tình trong giáo dục, truyền thống và văn hóa, cái nôi của lịch sử, sự thân thiện và an ninh xã hội.Lĩnh vực giáo dục của Hàn Quốc cũng nhận được sự chú ý và hỗ trợ của chính phủ. Sự gia tăng số lượng giáo sư và sinh viên nước ngoài tại các trường cao đẳng và đại học Hàn Quốc là một phần trong những nỗ lực để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của họ. Thủ tướng Hàn Quốc đã nói rằng “Thu hút sinh viên nước ngoài là điều rất quan trọng đối với các trường đại học công lập để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Vì thế chính phủ sẽ đánh giá và công bố xếp hạng các trường đại học”3 Để bắt kịp với xu hướng quốc tế nhằm lôi kéo sinh viên nước ngoài như một ngành công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu dự án “Học tại Hàn Quốc” từ năm 2004 với mục tiêu thu hút hơn 50.000 sinh viên nước ngoài học tại Hàn Quốc.Theo Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực của Hàn Quốc, kết quả của dự án kể trên là đã có 12.000 sinh viên nước ngoài đến Hàn Quốc vào năm 2003 và dự tính con số này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2005 với tổng số lên đến 22.000 sinh viên4Biểu đồ 1: Số lượng sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc5           Sinh viên từ các nước Châu Á chiếm hơn 80% tổng số sinh viên nước ngoài học tại Hàn Quốc. Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước có số lượng sinh viên đến Hàn Quốc du học cao nhất. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á dường như mới là thị trường tiềm năng cho sự phát triển của lĩnh vực giáo dục của Hàn Quốc do sự gần gũi về khoảng cách địa lý và văn hóa và sự chú trọng của chính phủ các nước này. Theo ý kiến của chính phủ Hàn Quốc, thu hút sinh viên nước ngoài được coi là yếu tố quan trọng của toàn cầu hóa và đào tạo các nguồn nhân lực nước ngoài hơn cả lợi ích kinh tế của nước chủ nhà.Biểu đồ 2: Sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc theo các nước6 (số liệu năm 2003)                 2. Tổng quan về học viên du học của Việt NamNgày nay, khi mức sống của người Việt Nam được cải thiện, ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam muốn đi du học. Không chỉ số lượng sinh viên tăng lên mà các lĩnh vực giáo dục và các nước được lựa chọn cũng đa dạng hơn. Có một xu hướng mới là tìm kiếm cơ hội du học ở độ tuổi trẻ hơn. Dường như có một vài gia đình đang cố gắng gửi con cái họ đi sang những nước nói tiếng Anh để học phổ thông thông qua các chương trình trao đổi sinh viên giữa các chính phủ hoặc chương trình “home stay”.Thêm vào đó, các nguồn tài chính cũng đã khác so với những thập niên trước đây. Trong thế kỷ 20, người Việt Nam chủ yếu đi du học nếu học nhận được học bổng của chính phủ, nếu không họ sẽ không có đủ khả năng để chi trả tiền học phí, chi phí đi lại và tiền nhà. Trong những năm gần đây, sinh viên sẵn sàng tìm kiếm học bổng không chỉ từ phía chính phủ nước ngoài mà còn cả từ một vài tổ chức, hiệp hội, các tổ chức quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, các trường đại học….. hoặc thậm chí từ một vài giáo sư. Thêm vào đó, một vài trong số họ là du học tự túc hoặc vay mượn từ ngân hàng và các tập đoàn.Riêng đối với Hàn Quốc, hiện tại với số sinh viên là 2.242 sinh viên cả sinh viên học đại học và học viên cao học, Việt Nam là nước đứng thứ ba về số lượng sinh viên nước ngoài, sau Trung Quốc (36.620 sinh viên) và Nhật Bản. Sinh viên Việt Nam chủ yếu học về lĩnh vực khoa học công nghệ và kinh tế. Nhìn vào bảng 1 chúng ta sẽ thấy rõ số lượng sinh viên Việt Nam đã tăng lên đáng kể từ năm này qua năm khác.     Bảng 1: Số lượng sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc giai đoạn 2003- 2007                     2003      2004      2005      2006      2007          Sinh viên Việt Nam      267      457      705      1,179      2,242             Nguồn: Đại sự quán Hàn Quốc tại Việt Nam               Tuy nhiên, số lượng sinh viên Việt Nam được nhận học bổng từ Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Hàng năm, chỉ có khoảng 4 đến 5 học bổng cho sinh viên đại học và cao học. Theo Đại sự quán Hàn Quốc tại Việt Nam, năm 2008 con số này sẽ tăng lên 27 cho cả bậc đại học và cao học. Con số này là quá nhỏ so với các học bổng của chính phủ khác ví dụ như AUSAID với tổng số học bổng hàng năm lên đến 160 học bổng.Để thúc đẩy sinh viên Việt Nam tới học tại Hàn Quốc, Hàn Quốc đã tổ chức triển lãm giáo dục thường niên tại Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh. Những triển lãm giáo dục này ngày càng thu hút nhìều sinh viên, những người mong muốn có thêm thông tin về hệ thống giáo dục và cơ hội học bổng của Hàn Quốc. Triển lãm lần thứ 5 tổ chức tại Hà Nội đã thu hút 29 trường đại học Hàn Quốc và tất cả những trường này đều coi Việt Nam là thị trường tiềm năng.Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Australia và Singapore cũng đang nổi lên như những nước xuất khẩu giáo dục. Cả hai nước này đều đang nỗ lực rất nhiều để phát triển lĩnh vực giáo dục của mình nhằm thu hút sinh viên nước ngoài. Theo chính phủ Australia, lợi thế của nước này là làm tốt trong mọi lĩnh vực về giáo dục và đào tạo, đảm bảo chất lượng, xã hội đa văn hoá, giá trị của đồng tiền (về mặt chi phí sinh hoạt và học phí), môi trường nói tiếng Anh, văn bằng được công nhận, dịch vụ hỗ trợ sinh viên.7 Vì thế Hàn Quốc và Australia có rất nhiều lợi thế chung so với các nước phương Tây, ví dụ như chi phí sinh hoạt không đắt, sự thân thiện và môi trường đa văn hoá…. Nhưng nếu đặt Hàn Quốc đối lập với Australia và Singapore thì dường như một số lợi thế vừa được đề cập đến ở trên không còn giá trị. Ví dụ, chi phí sinh hoạt ở Hàn Quốc không thể thấp hơn ở Australia và Singapore.        3. Thị hiếu đi du học của sinh viên Việt NamNghiên cứu này được tiến hành với sinh viên năm thứ tư, những người sẽ đi du học để học cao học. Tổng số phiếu điều tra nhận được là 873 phiếu. Cấu trúc mẫu theo giới tính và theo loại hình trường đại học như sau:      Bảng 2: Cấu trúc của mẫu hồi đáp                       Mẫu      Dân số          Tổng (hợp lệ)       873      100.0%      1,173,147      100.0%          Nữ      434      51.0%      645,101      55.0%          Nam      417      49.0%      528,046      45.0%          Tổng (hợp lệ)      872      100.0%      1,173,147      100.0%          Trường đại học công lập      811      93.0%      1,015,977      86.6%          Trường đại học ngoài công lập      61      7.0%      157,170      13.4%                   Chúng ta có thể nhận thấy rằng mẫu phân bố đều giữa nam sinh và nữ sinh nhưng tập trung nhiều hơn vào các trường đại học công lập (93%). Tuy nhiên, cấu trúc này phù hợp với dân số cũng như hệ thống các trường đại học của Việt Nam. Điều này giúp đảm bảo chắc chắn sự đại diện của bản điều tra.Kết quả điều tra khẳng định thị hiếu mạnh về việc học cao học tại nước ngoài của sinh viên Việt Nam. Trong số 873 phiếu trả lời hồi đáp, có tới 430 người có kế hoạch đi du học (Bảng 3)     Bảng 3: Kế hoạch du học                    Tần số xuất hiện      Phần trăm      Phần trăm hợp lệ      Phần trăm tích lũy          Hợp lệ      Không      443      50.7      50.7      50.7                 Có      430      49.3      49.3      100.0                 Tổng      873      100.0      100.0                    Bằng cách chia nhỏ mẫu theo giới tính chúng ta có thể thấy thị hiếu của nam sinh cao hơn. Trong khi giá trị trung bình của nhóm nữ giới chỉ là 0.42, thì con số này lên đến 0.57 của nhóm nam giới (bảng 4). Kiểm định thống kê về sự bằng nhau của kỳ vọng cũng xác nhận thị hiếu cao hơn của nam giới. Lý do đằng sau việc này có thể là do phụ nữ trẻ thường có xu hướng hướng về gia đình trong khi nam sinh muốn học cao hơn để có cơ hội nghề nghiệp.     Bảng 4: Kế hoạch du học theo giới tính                    Giới tính      Số lượng      Giá trị trung bình      Độ lệch chuẩn      Sai số          Kế hoạch du học      Nữ      434      .42      .495      .024                 Nam      417      .57      .495      .024                                           Dưới góc độ loại hình trường đại học, sinh viên của các trường ngoài công lập được mọi coi là có khả năng tài chính tốt hơn, điều này dẫn tới thị hiếu cao hơn. Tuy nhiên, điều tra này lại chỉ ra rằng không có sự khác biệt nào giữa du học sinh của các trường công lập và trường ngoài công lập.Dưới góc độ lý do của việc nghiên cứu, có 7 lý do được đề cập đến trong bảng câu hỏi này:1.  Cơ hội được nhận bằng cấp tiêu chuẩn quốc tế (cơ hội)2.  Là bước đệm để làm việc và sống tại nước ngoài (sự an cư)3.  Có nhiều kiến thức và phương pháp làm việc hơn (kiến thức)4. Môi trường học tập tại nước ngoài tốt (môi trường)5. Các chuyên ngành học không có ở quê nhà (chương trình giảng dạy)6. Nghề nghiệp tốt hơn trong tương lai (nghề nghiệp)7.  Cải thiện ngoại ngữ (ngôn ngữ)Chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa các lý do đi du học của sinh viên Việt Nam. Họ theo đuổi cơ hội này để có kiến thức, bằng cấp được quốc tế công nhận và vì cả ngoại ngữ. Trong khi hệ thống giáo dục ở các nước phát triển không có nhiều sự khác biệt về chất lượng (kiến thức và bằng cấp), lý do thứ ba ngụ ý về lợi thế của các nước nói tiếng Anh vì sự phổ biến của ngôn ngữ này trên toàn thế giới. Một vài cuộc phỏng vấn chỉ ra rằng mọi người sẽ học ở một đất nước cụ thể trong trường hợp họ đang lên kế hoạch để kinh doanh với đất nước đó. Trong tình huống này, càng có nhiều mối quan hệ song phương về kinh tế được phát triển thì càng có nhiều sinh viên sẽ đi học tại nước đó.Biểu đồ 3: Lý do đi du học           Mặc dù chúng ta thường nghĩ rằng nam sinh sẽ coi kiến thức quan trong hơn nữ sinh và ngược lại đối với môi trường học tập. Tuy nhiên, khi chia nhỏ các lý do theo nhóm giới tính, các kiểm định thống kê không xác nhận sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới.Thị hiếu này cũng được phân tích bằng cách yêu cầu những người hồi đáp chỉ ra các lý do mà họ sẽ không đi du học. Biểu đồ 4 chỉ ra trở ngại khó khăn nhất chính là nguồn tài chính: Sinh viên Việt Nam sẽ không đi học cao học vì họ không có tiền. Điều này ngụ ý thước đo hiệu quả của việc gia tăng dòng sinh viên đi du học bằng cách nhận học bổng hoặc các khoản vay học tập. Lý do thứ hai được đưa ra là “workaholic” (những người tham công tiếc việc), có nghĩa là những sinh viên muốn đi làm và có kinh nghiệm trước khi đi học cao học. Các lý do khác ít hơn và dường như kém quan trọng hơn.Biểu đồ 4: Lý do không đi du học                                Sau khi có ý tưởng đi du học, có rất nhiều yếu tố (con người hoặc sự kiện) ảnh hưởng đến quyết định chọn nước đi du học của sinh viên. Dưới đây là các lý do được đề cập đến trong phiếu câu hỏi:1. Rất nhiều bạn bè đã đi hoặc dự định đi du học (bạn bè)2.  Các trung tâm tư vấn du học thuyết phục sinh viên về lợi thế của việc du học (trung tâm)3. Đi ra nước ngoài là điều hứng thú của sinh viên (hứng thú)4. Họ hàng của sinh viên có ảnh hưởng đến thị hiếu của họ (họ hàng)5. Tham dự các buổi hội thảo giáo dục dẫn đến thị hiếu của việc đi ra nước ngoài (hội thảo)6.  Lướt web làm gia tăng thị hiếu của sinh viên (website)7. Tổ chức xúc tiến giáo dục tạo ra thị hiếu của sinh viên (tổ chức)           Từ biểu đồ 5, chúng ta có thế thấy yếu tố quan trọng nhất là sự hứng thú của sinh viên. Họ đi du học vì họ thích. Tất cả các lý do khác đều có tầm quan trọng tương tự như nhau và thấp hơn nhiều so với lý do vì sự hứng thú. Vì vậy, thật khó để cải tiến thị hiếu của sinh viên thông qua website và hội thảo giáo dục. Cách hiệu quả nhất để nâng có thể nâng cao gián tiếp thị hiếu đi du học của sinh viên là bằng cách giới thiệu về các nền văn hóa và xã hội nước ngoài.Biểu đồ 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu đi du học        Phân tích các yếu tố theo loại hình các trường đại học và các nhóm giới tính không chỉ ra bất kỳ sự khác biệt thống kê nào. Nam và nữ, sinh viên trường đại học công lập và tư thục đều phản hồi tương tự với tất cả các yếu tố.           4. Thị hiếu của sinh viên Việt Nam đi du học tại Hàn QuốcThị hiếu về địa điểm du học được thể hiện ở biểu đồ 6. Chúng ta có thể thấy Hàn Quốc đứng ở giữa sự ưu tiên của sinh viên. Thị hiếu học tập ở Hàn Quốc thấp hơn nhiều so với Singapore, Australia, và cả Nhật Bản. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Hàn Quốc và Nhật Bản không quá cao. Ở đây cũng không có sự khác biệt nào giữa các nhóm giới tính và loại hình trường đại học. Biểu đồ 6: Thị hiếu về địa điểm du học                    Một phân tích chi tiết được tiến hành bằng cách hỏi sinh viên về các điều kiện mà họ sẽ đi du học tại mỗi nước. Bốn tình huống được đưa ra bằng cách gia tăng thị hiếu.0: Không bao giờ, cho dù có điều kiện là gì đi chăng nữa (thị hiếu tiêu cực hoàn toàn)1: Có, trong trường hợp nhận được học bổng toàn phần, bao gồm cả học phí và sinh hoạt phí (thị hiếu thấp)2: Có, trong trường hợp được miễn học phí (thị hiếu bình thường)3: Có, thậm chí là phải tự túc về mặt tài chính (thị hiếu rất cao)     Một lần nữa, biểu đồ 6 chứng minh thị hiếu của sinh viên Việt Nam với việc du học tại Hàn Quốc thấp hơn nhiều so với Singapore và Australia. Số liệu thống kê chi tiết về thị hiếu của những nước này được cung cấp trong biểu đồ 7. Chúng ta có thể thấy sự khác biệt chính giữa 3 đất nước này nằm ở khu vực thị hiếu “không bao giờ”. Có đến 40% phiếu hồi đáp nói rằng họ sẽ không đi Hàn Quốc trong mọi trường hợp trong khi tỷ lệ này đối với Australia và Singapore chỉ là 18,6% và 31,7%. Tuy nhiên, trong trường hợp được cấp học bổng toàn phần, tỷ lệ những hồi đáp tích cực cho cả ba nước là tương tự như nhau (42% cho Hàn Quốc, 49,9% cho Australia và 47,6% cho Singapore). Biểu đồ 7: Chi tiết về thị hiếu của việc du học Hàn Quốc Australia và Singapore                                      Mặc dù có giá trị thấp nhưng kiểm định thống kê vẫn chứng minh thị hiếu tích cực với Hàn Quốc. Với mức tin cậy 95%, thị hiếu đi du học tại Hàn Quốc nằm trong khoảng từ 0,50 đến 0,80. Điều này ngụ ý rằng vẫn còn rất nhiều cơ hội để khuyến khích sinh viên Việt Nam đi du học tại Hàn Quốc.Đi vào chi tiết, sinh viên, những nguời chưa từng đi du học được yêu cầu so sánh những đặc điểm sau về môi trường giáo dục tại Hàn Quốc, Australia và Singapore:1.  Các chuyên ngành đa dạng (Chương trình giảng dạy)2.  Bằng cấp theo tiêu chuẩn quốc tế (Bằng cấp)3.  Chi phí tài chính hợp lý (Tài chính)4.  Môi trường văn hoá và xã hội thân thiện (Xã hội)5.  Cơ hội cho kiến thức về văn hoá và ngôn ngữ (Ngôn ngữ)6.  Chi phí đi lại từ Việt Nam rẻ (Đi lại)7.  Học bổng sẵn có (Học bổng)8. Dễ dàng kiếm việc làm thêm (Việc làm)                                Biểu đồ 8 chỉ ra rằng giữa 8 tiêu chí thì có đến 5 tiêu chí mà Hàn Quốc đứng ở vị trí thấp nhất trong ba nước, đó là:·    Chương trình giảng dạy: Hàn Quốc mạnh về công nghệ thông tin và viễn thông trong khi hầu hết sinh viên Việt Nam lại thích những lĩnh vực liên quan đến kinh doanh.·   Bằng cấp: Theo quan điểm của sinh viên Việt Nam, bằng cấp của các trường đại học của Australia và Singapore được quốc tế công nhận rộng rãi hơn của Hàn Quốc. Xếp hạng các trường đại học của Australia và của Singapore cũng dễ tiếp cận hơn ở Việt Nam.·  Ngôn ngữ: Hàn Quốc không phải là nước nói tiếng Anh, đây cũng là một điểm yếu so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng khoảng cách giữa Hàn Quốc và Singapore về khía cạnh ngôn ngữ là không nhiều (lần lượt là 2,19 và 2,06)·   Học bổng: Ở Việt Nam, thông tin học bổng về việc học tại Hàn Quốc còn hạn chế. Đây cũng là lý do tại sao tỷ lệ của Hàn Quốc lại thấp hơn hai nước còn lại.·   Việc làm: Tương tự như vậy, sinh viên Việt Nam hầu như không có thông tin về khả năng xin được việc làm bán thời gian ở Hàn Quốc trong khi rất nhiều người có thể nghe nói về vấn đề này tại Australia và Singapore.Với ba tiêu chí còn lại, chúng ta có thể thấy rằng Hàn Quốc được xếp hạng cao hơn Australia và chỉ thấp hơn Singapore một chút. Những tiêu chí này có thể được dùng để khuyến khích thị hiếu đi du học tại Hàn Quốc.Bảng 8: So sánh môi trường giáo dục của Hàn Quốc, Australia và SingaporeGhi chú: Các hồi đáp được xếp theo các tiêu chí trong khoảng từ 1-3 với 1 = hấp dẫn nhất, có nghĩa là mức xếp hạng càng thấp tiêu chí đó càng hấp dẫn.                          Các điểm yếu của hệ thống giáo dục Hàn Quốc cũng được phân tích bằng cách đề cập đến 7 điểm:·     Hàn Quốc là một nước không nói tiếng Anh·    Chi phí học tập ở Hàn Quốc cao·    Rất khó để tìm việc làm bán thời gian ở Hàn Quốc·    Không có nhiều người đã từng học ở Hàn Quốc nên hiệu ứng lan toả yếu.·   Thông tin về hệ thống giáo dục tại Hàn Quốc còn hạn chế·    Hoạt động marketing của chính phủ và các trường của Hàn Quốc ở Việt Nam không hiệu quả.·    Bằng cấp của Hàn Quốc không tốt bằng bằng cấp của Australia và Singapore.        Biểu đồ 8 chỉ ra những điểm yếu phổ biến nhất là nước không nói tiếng Anh và các hoạt động marketing. 74,2% phiếu hồi đáp đồng ý rằng điểm yếu của Hàn Quốc nằm ở ngôn ngữ trong khi 64,8% đánh giá các hoạt động marketing để thúc đẩy giáo dục của Hàn Quốc thấp hơn Australia và Singapore.Biểu đồ 9: Các điểm yếu của giáo dục Hàn Quốc        Phân tích mối quan hệ giữa thị hiếu của sinh viên với sự hiểu biết của họ về việc tốt nghiệp tại mỗi nước, mọi người thường coi mối quan hệ này như một kênh marketing hiệu quả. Mọi người, cho đến khi tốt nghiệp tại nước ngoài, thường quảng cáo về đất nước này như một địa điểm lý tưởng cho việc học tập. Mối quan hệ tích cực này được chứng minh bằng sự tương quan tích cực của các con số 0,13; 0,253; và 0,054 tương ứng cho Hàn Quốc, Australia và Singapore. Tuy nhiên, mức độ tương quan khác nhau có thể là kết quả của các hoạt động của hội cựu sinh viên. Về mặt này, Hàn Quốc thấp hơn Australia nhưng lại cao hơn Singapore.                                      5. Kết luận và gợi ýSinh viên đại học Việt Nam có thị hiếu cao trong việc du học. Thị hiếu của họ dường như ổn định giữa các nhóm giới tính và loại hình trường đại học. Họ thích đi du học không chỉ vì kiến thức, bằng cấp tiêu chuẩn quốc tế mà còn là để nâng cao trình độ ngôn ngữ (tiếng Anh).Australia và Singapore là hai địa điểm được ưa thích nhất của sinh viên Việt Nam. Hàn Quốc chỉ đứng thứ ba. Trong khi Hàn Quốc được xếp hạng cao hơn về chương trình giảng dạy, thì bất lợi của nước này so với Australia và Singapore lại là ngôn ngữ và cơ hội nhận học bổng.Thêm vào đó, họ có thông tin rất hạn chế về hệ thống giáo dục của Hàn Quốc ví dụ như cơ hội kiếm được việc làm bán thời gian, những khoá học dạy tiếng Anh.Để thúc đẩy dòng sinh viên Việt Nam sang học tại Hàn Quốc, chúng tôi xin đưa ra một vài gợi ý sau:·  Phát triển các chương trình giảng dạy tiếng Anh ở Hàn Quốc để thu hút ngày càng nhiều sinh viên nước ngoài nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng.·   Mở rộng việc dạy tiếng Hàn tại các trường đại học Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế và kinh doanh.·    Cấp nhiều học bổng hơn cho sinh viên Việt Nam đi du học tại Hàn Quốc.·    Nâng cao sự ghi nhận Hàn Quốc như một điểm đến để học cao học.·   Quảng cáo về hệ thống giáo dục của Hàn Quốc tại Việt Nam, trong đó tập trung vào những đặc điểm tuơng tự về văn hoá giữa hai nước.———Chúng tôi rất biết ơn sự hỗ trợ tài chính của Quỹ POSCO TJ Park để tiến hành nghiên cứu và điều tra về sinh viên Việt Nam. Bài nghiên cứu này đã được chỉnh sửa sau khi thuyết trình tại hội thảo “Khám phá những giá trị mới của Châu Á” (Seoul, Hàn Quốc, ngày 21 tháng 5 năm 2008)                                ** TS. Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam*** (Nghiên cứu sinh) – Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam* Từ đây về sau, thuật ngữ “học viên” sẽ có nghĩa là học viên cao học.1 Số liệu này được Đại sứ quán Hàn Quốc tại Hà Nội ước tính vào năm 2007. Những nguồn thông tin khác có thể cung cấp một con số khác.2 http://www.studyingkorea.go.kr/ ENGLISH/E100/E100_Co.jsp3 http://www.hanquocngaynay.com/news_detail.php?id_g_new=5&id_new=14684 www.hanquocngaynay.com5 http://yoohak.ied.go.kr/study/foreign.html6 http://yoohak.ied.go.kr/study/foreign.html7 www.studyinastralia.gov.au      6. Tài liệu tham khảo                 Đào Ngọc Tiến và Phạm Thu Hương, 2008, Thị hiếu và sự hài lòng của sinh viên Việt Nam với việc học cao học tại Hàn Quốc: so với các nước Asian khác, nghiên cứu đã đệ trình lên tổ chức POSCO TJ Park.Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực (Cộng hoà Hàn Quốc), 2007, Giáo dục ở Hàn Quốc 2008- 2009.IECD – Đơn vị Hợp tác Giáo dục Quốc tế (Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc), 2006, GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA CỘNG HOÀ HÀN QUỐC, trong phản hồi cho một bản điều tra của Văn phòng Phê chuẩn và Hợp tác của Nghiên cứu tại Trường National Autonomous University của Mexico Juan Gillespine, Larry A. Brascamp và David C.Brascamp, Đánh giá và du học: các tiêu chí và thực hành đánh giá phát triển để xúc tiến hiệu quả, Frontier: The Interdisciplinary Journal of Study AbroadPhilip Kotler & Gary Armstrong, 1996, Nguyên lý Marketing    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí sinh tăng, vi phạm giảm      Tại buổi họp báo tổng kết kỳ thi tốt nghiệp  THPT chiều 4/6, lãnh đạo Bộ GD&amp;ĐT cho biết kỳ thi đã diễn ra bình  thường, an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế. Tỷ lệ thí sinh đến dự thi  đạt 99,71% nhưng số thí sinh vi phạm quy chế bị đình chỉ thi là 34,  giảm 25% so với năm ngoái.    Cả nước có 2.307 Hội đồng coi thi với tổng số 40.620 phòng thi, huy động 124.153 cán bộ, giáo viên tham gia coi thi. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 963.474 (trong đó, có 856.097 thí sinh giáo dục THPT và 107.377 thí sinh giáo dục thường xuyên). Tỷ lệ thí sinh đến dự thi đạt 99,71%, so với năm 2011 là 99,64%.   Theo đánh giá của Bộ, đề thi các môn có nội dung chính xác, khoa học, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình THPT, phù hợp với thời gian làm bài, vừa sức học sinh, đảm bảo kiểm tra được kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức đồng thời phân hóa được trình độ thí sinh. Đề thi các môn Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý được dư luận đánh giá cao việc ra đề theo hướng mở, gắn với thực tiễn đời sống chính trị xã hội và yêu cầu kiến thức liên bộ môn.  Điểm mới của Quy chế thi tốt nghiệp THPT năm nay là Giám đốc các sở GD&ĐT và Cục trưởng Cục Nhà trường – Bộ Quốc phòng được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức thi phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị và phải đảm bảo tính nghiêm minh của kỳ thi. Và để đảm bảo quyền lợi cho các thí sinh, tất cả các thí sinh đều có quyền xin phúc khảo, không tính đến điều kiện chênh lệch điểm của bài thi với điểm trung bình môn học lớp 12 như trước đây.  Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ cũng thừa nhận một số hạn chế trong quá trình tổ chức thi. Cả nước có 34 thí sinh vi phạm quy chế bị xử lý kỷ luật đình chỉ thi (giảm 11 trường hợp so với kỳ thi năm 2011), 8 giám thị bị đình chỉ làm công tác thi. Bên cạnh đó, một số cán bộ, giáo có biểu hiện thiếu sâu sát, để thí sinh mang tài liệu trái quy định vào phòng thi. Tại một số hội đồng thi, sau buổi thi có một số thí sinh vứt bỏ tài liệu không được mang vào phòng thi ở sân trường gây ảnh hưởng xấu tới môi trường giáo dục.  Trước phản ánh của phóng viên về tình trạng có dấu hiệu cho thấy giám thị vi phạm quy chế, Chánh Thanh tra Bộ GD&ĐT Nguyễn Huy Bằng cho biết Bộ quan tâm tới tất cả các hiện tượng có dấu hiệu vi phạm nhưng phải có chứng cứ cụ thể.   Đối với người tố cáo, Bộ chủ trương đảm bảo quyền lợi của người tố cáo những trường hợp sai phạm nhưng không khuyến khích mang máy quay phim, máy ảnh vào phòng thi vì như vậy là vi phạm quy chế thi, thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi tốt nghiệp THPT 2 môn, bỏ thi đại học “ba chung”      Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ chỉ  còn hai môn. Kỳ thi đại học như hiện nay sẽ được xóa bỏ, các trường đại  học có thể tùy chọn tổ chức thi hoặc xét tuyển… Đó là những điểm quan  trọng trong dự kiến đổi mới thi và kiểm tra đánh giá chất lượng của Bộ  Giáo dục và Đào tạo sau năm 2015.      Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển, việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá, thi cử này được coi là giải pháp đột phá trong việc thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam.  Xóa bỏ kỳ thi lạc hậu  Chương trình giáo dục sau năm 2015 sẽ có sự thay đổi căn bản theo hướng chuyển từ dạy chữ sang dạy người, từ nặng kiến thức hàn lâm khoa bảng hiện nay sang hình thành năng lực, phẩm chất, kỹ năng người học.  Ông Đỗ Ngọc Thống, Thường trực ban soạn thảo đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm 2015, cho biết khi chuyển sang dạy học theo chương trình mới kéo theo việc đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, đảm bảo trung thực khách quan theo năng lực người học.  Theo ông Thống, các kỳ thi của Việt Nam đã có nhiều cải tiến nhưng nhìn chung còn lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lý, sử dụng kết quả, coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra.  Đề thi coi trọng ghi nhớ kiến thức, ít chú ý đến đánh giá năng lực vận dụng, dẫn đến tình trạng dạy học theo lối đọc-chép, mở lò luyện thi, học tập đối phó.  Khắc phục những yếu điểm trên, ban soạn thảo đề xuất đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng không chỉ tập trung vào việc đánh giá học sinh biết cái gì mà quan trọng hơn là đánh giá học sinh làm được gì từ những điều đã biết. Định hướng này buộc đề thi không thể chỉ kiểm tra trí nhớ mà phải yêu cầu vận dụng tổng hợp, thực hành, kiểm tra năng lực sáng tạo… của học sinh.  Việc đổi mới được nhấn mạnh vào hai kỳ thi đang gây bức xúc nhất trong dư luận là thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng.  Theo đó, sau năm 2015, công nhận tốt nghiệp tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng giảm số môn thi tốt nghiệp và trao quyền tự chủ tuyển sinh cho trường đại học.  Cụ thể, với bậc phổ thông, học xong môn nào thì đánh giá luôn kết quả đạt chuẩn đầu ra môn đó. Kỳ thi cuối cùng (thi tốt nghiệp) đề thi sẽ yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều lĩnh vực, môn học để giải quyết một vấn đề chung theo hai lĩnh vực lớn là khoa học xã hội-nhân văn và khoa học tự nhiên hoặc cũng có thể chỉ thi hai môn toán và ngữ văn.  Về tuyển sinh đại học, cao đẳng, các trường tự tổ chức tuyển sinh theo hướng dựa vào kết quả công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, có thể kiếm tra thêm một vài môn hoặc chuyên đề theo yêu cầu đào tạo của mỗi ngành, mỗi trường.  Sẽ giảm áp lực cho xã hội  Hướng đổi mới này của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận được khá nhiều sự đồng thuận của các chuyên gia cũng như người dân.  Là người vừa  vất vả thi tốt nghiệp trung học phổ thông rồi thi đại học năm 2013, em Nguyễn Thị Hạnh, sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chia sẻ nếu thực hiện như đề án đưa ra thì học sinh sẽ nhàn hơn rất nhiều.  “Ôn thi tốt nghiệp 6 môn, sau đó một tháng tiếp tục thi đại học là quá căng thẳng với người học. Chúng em phải học ngày, học đêm, có khi muốn ngủ cũng không ngủ nổi vì lo lắng, áp lực,” Hạnh cho biết.  Đồng cảm với những tâm sự của người học, giáo sư Hoàng Tụy cho rằng hàng năm đến mùa thi, không  chỉ có học sinh, phụ huynh đi thi mà toàn xã hội đi thi. Hai kỳ thi liên tiếp tiêu tốn rất nhiều công sức và tiền bạc. Vì thế, theo giáo sư Tụy, với việc đơn giản hóa thi tốt nghiệp và xóa bỏ kỳ thi đại học “ba chung” hiện nay sẽ giảm gánh nặng lớn cho xã hội.  Đồng quan điểm này, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nhận định hướng đánh giá học sinh với nhiều hình thức, xét cả quá trình học và thi cử như đề xuất trên là khá đúng đắn.  “Dự kiến thi tốt nghiệp hai môn văn toán là hai môn công cụ tiêu biểu cho khối chuyên môn tự nhiên và xã hội đồng thời môn khác được kiểm tra trong suốt qua trình học sinh học tôi thấy được. Tôi cho rằng với định hướng này băn khoăn của xã hội được giải toả, học trò học tốt hơn,” giáo sư Thuyết nhận định.  Cũng theo giáo sư Thuyết, việc trao lại quyền tự chủ về tuyển sinh cho các trường đại học, cao đẳng là hợp lý, các trường có thể xét tuyển, có thể thi. Điều này sẽ giúp cho các trường tuyển được người học phù hợp với đặc thù đào tạo của mình đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, giải trình trước xã hội về chất lượng đó.  Thống nhất việc trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học nhưng theo giáo sư Trần Xuân Nhĩ, Phó chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, việc mở rộng đầu vào cần phải đi đôi với vấn đề kiểm định chất lượng và thắt chặt đầu ra, nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo.  Nhìn vấn đề một cách tổng thể, giáo sư Nguyễn Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục cho rằng, việc đổi mới thi cử có ý nghĩa quyết định với việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. “Thi thế nào sẽ quyết định việc học. Muốn thực hiện triết lý giáo dục hướng tới năng lực người học thì việc thi cử cũng phải đáp ứng được yêu cầu này,” giáo sư Hạc chia sẻ.  Đây cũng là băn khoăn của ông Nguyễn Văn Khôi, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Theo ông Khôi, việc thực hiện phân ban ở bậc trung học phổ thông thời gian qua thất bại có nguyên nhân do không có đổi mới trong thi cử.  Chia sẻ vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cũng thừa nhận những thất bại trong các yếu tố đổi mới giáo dục trước đây như đổi mới nội dung, đổi mới phương pháp dạy và học… chưa đạt hiệu quả mong muốn do thiếu sự đổi mới đồng bộ, cách dạy và học mới nhưng thi cử, kiểm tra đánh giá không mới nên cuối cùng lại quay về lối cũ.  Theo ông Hiển, lần này sẽ tiến hành đổi mới đồng bộ. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xác định hàng loạt khó khăn phía trước khi thực hiện như khoa học đánh giá còn lạc hậu, trình độ tổ chức đánh giá và quản lý, sử dụng kết quả còn thấp, thói quen và tâm lý học ứng thí, trọng bằng cấp còn nặng nề… Do đó, cần phải có quyết tâm và các giải pháp phù hợp của các cấp quản lí, các cơ sở giáo dục và của giáo viên thì việc đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá theo định hướng trên mới có hiệu quả.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/Home/Thi-tot-nghiep-THPT-2-mon-bo-thi-dai-hoc-ba-chung/201310/222587.vnplus        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi Tốt nghiệp THPT 2013: Số thí sinh vi phạm kỷ luật tăng      Chiều ngày 4/6, tại buổi họp  báo về kỳ thi tốt nghiệp THPT và bổ túc THPT 2013 ở Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào  tạo cho biết trong ba ngày thi, có 49 thí sinh vi phạm kỷ luật bị xử lý  đình chỉ thi, tăng 15 trường hợp so với năm 2012.    Về phía giám khảo, chỉ có hai giám thị bị đình chỉ công tác phục vụ thi do mang điện thoại di động vào khu vực thi, giảm rõ rệt so với tám trường hợp của năm 2012.  Nhìn chung kỳ thi được nhận định là “trật tự, an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế”.  Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 946.064 (trong đó có 854.355 thí sinh giáo dục THPT và 91.709 thí sinh giáo dục thường xuyên). Số thí sinh đến dự thi ngày thi cuối cùng của kỳ thi là 942.549 đạt 99,63%; trong đó, giáo dục THPT là 852.007 đạt 99,73%; giáo dục thường xuyên là 90.542 đạt 98,72%.  Ban chỉ đạo thi của Bộ GD&ĐT đã tổ chức các đoàn kiểm tra đột xuất, không báo trước tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và kiểm tra thực tế tại một số Hội đồng coi thi, kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong công tác chỉ đạo thi và coi thi.  Sau các tổng kết về công tác coi thi, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cùng một số thành viên của Ban chỉ đạo kỳ thi tốt nghiệp THPT 2012 – 2013 đã giải đáp một số câu hỏi của các phóng viên về vấn đề phao bị vứt tràn lan quanh khu vực thi và vấn đề chấm thẩm định bài thi.  Việc phao thi bị vứt quanh khu vực thi, theo Bộ, là do cán bộ coi thi chưa quan tâm nhắc nhở thí sinh. Theo quy chế, khi thí sinh đã làm bài xong, chưa ra khỏi phòng thi mà vứt phao thi, bị phát hiện vẫn có thể bị đình chỉ thi. Bộ sẽ yêu cầu các Sở kiểm điểm lại để tránh tình trạng này ở các kỳ thi sau.  Về việc chấm thẩm định bài thi, Bộ GD&ĐT sẽ thực hiện chấm hậu kiểm tại những địa phương có dấu hiệu bất thường và công khai dư luận. Nếu địa phương không chấp nhận kết luận của Bộ thì sẽ tiếp tục thẩm định lại.  Khi được hỏi về điểm nóng Đồi Ngô năm 2012, ông Hiển cho biết: “Năm nay Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang đã chia thí sinh trường Đồi Ngô ra thi chung với các Hội đồng khác. Không thấy có báo cáo về thí sinh trường này vi phạm quy chế thi”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi tốt nghiệp THPT năm 2014: Nhiều câu hỏi bỏ ngỏ      Sau kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014, công chúng nêu hàng loạt thắc mắc, nghi ngờ xung quanh chất lượng và tính thiết thực của kỳ thi mà chỉ những dữ liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nắm trong tay mới có thể đem lại lời giải đáp thỏa đáng.    Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014, năm đầu tiên triển khai chủ trương đổi mới thi cử của Bộ với rất nhiều thay đổi mang tính đột phá, vừa kết thúc với tỷ lệ đậu gần 100%. Những phát biểu trên báo chí của các vị lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) và Cục Khảo thí (nơi trực tiếp chịu trách nhiệm về kỳ thi) cho thấy Bộ khá hài lòng về kết quả này. Theo nhận định của Bộ, kỳ thi năm nay phản ánh khá đúng chất lượng của nền giáo dục, và những điều chỉnh, đổi mới của kỳ thi bước đầu đã có tác dụng tốt1. Có thể nói, kỳ thi năm nay là một tiền đề để tiếp tục đổi mới thi cử, hướng tới một kỳ thi duy nhất với kết quả được sử dụng vừa để xét tốt nghiệp THPT vừa là một căn cứ quan trọng trong quy trình tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng2.  Quan điểm lạc quan ấy của Bộ, tiếc thay, lại không được công chúng chia sẻ. Tỷ lệ đậu quá cao – cao nhất từ trước đến nay, và cao hơn nhiều so với năm 2007 là năm được xem là cột mốc quan trọng của nỗ lực “học thật, thi thật” – đã tạo ra những dư luận không tốt về kỳ thi. Đa số công chúng cho rằng với kết quả này, kỳ thi năm nay chỉ hoàn toàn là hình thức, là biểu hiện của căn bệnh thành tích trong giáo dục ở mức cao nhất, và là sự lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc rất lớn của toàn xã hội. Một kỳ thi huy động toàn lực lượng ngành giáo dục và ảnh hưởng đến cả triệu thí sinh cùng gia đình mà chỉ làm được mỗi một việc là loại ra khoảng xấp xỉ 1% thí sinh chưa đạt yêu cầu thì có thực sự cần phải tổ chức hay không3?   Tỷ lệ đậu càng cao, chất lượng thi càng thấp?  Đề nghị bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT không phải là một điều mới có trong năm 2014 này, mà đã được liên tục nhắc đến từ vài năm nay, thậm chí cũng đã được vài vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tỏ sự đồng tình. Nhưng câu trả lời của Bộ lâu nay vẫn là một lời khẳng định chắc nịch rằng không thể bỏ kỳ thi tốt nghiệp; thi cử là để kiểm tra chứ không phải là để đánh rớt thí sinh. Vậy ai sai, ai đúng?  Lập luận của những người đề nghị bỏ thi tốt nghiệp được xây dựng trên một suy nghĩ rất phổ biến, đó là: đã thi thì phải có đậu có rớt, và kỳ thi có tỷ lệ đậu càng thấp thì chất lượng của nó càng cao. Nhưng dưới cái nhìn chuyên môn, điều này không hoàn toàn đúng. Tỷ lệ đậu rớt tự nó chẳng có ý nghĩa gì cả; quan trọng là phải xem xét tỷ lệ này theo mục đích của kỳ thi. Một kỳ thi tuyển chọn tài năng sẽ không thể có tỷ lệ đậu gần 100%. Nhưng kỳ thi tốt nghiệp THPT không nhằm tuyển chọn tài năng, mà chỉ nhằm xác định xem thí sinh đã đạt được những năng lực tối thiểu cần có của một người đã hoàn tất chương trình giáo dục phổ thông hay chưa. Trong trường hợp này, tỷ lệ đậu cao phải là một điều đáng mừng, vì nó cho thấy có nhiều người đã đạt được mức năng lực tối thiểu cần đạt. Tất nhiên, cả hai trường hợp trên chỉ đúng trên cơ sở giả định rằng toàn bộ quy trình làm đề thi và tổ chức kỳ thi đều được đảm bảo là không có lỗi.  Như vậy, lập luận không cần tổ chức kỳ thi tốt nghiệp vì tỷ lệ đậu quá cao là không đứng vững. Nhu cầu kiểm tra năng lực tối thiểu của học sinh ở thời điểm kết thúc giai đoạn 12 năm học ở trường phổ thông luôn là cần thiết để có được thông tin về chất lượng và hiệu quả của cả một nền giáo dục. Điều này cũng giống như việc các cơ quan tổ chức kiểm tra sức khỏe cho nhân viên hằng năm để nắm được tình hình chung về sức khỏe của mọi người. Không thể nói rằng do tỷ lệ nhân viên đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc lúc nào cũng đạt gần 100% nên không cần tổ chức khám sức khỏe nữa. Cũng với những lập luận tương tự, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí, khi trả lời phỏng vấn trên tờ Vietnamnet ngày 18/6/2014 đã tiếp tục khẳng định rằng sẽ vẫn cần thi tốt nghiệp.  Dù thế nào thì con số gần 100% thí sinh tốt nghiệp trong một kỳ thi được cho là nghiêm túc và có chất lượng tốt vẫn không làm cho mọi người yên tâm. Khi bị chất vấn tại cuộc họp báo về kết quả tốt nghiệp rằng phải chăng tỷ lệ đậu cao là do đề thi được đặt ở chuẩn chất lượng thấp, Bộ GD&ĐT đã đưa ra những số liệu từ bên ngoài – kết quả của các kỳ thi Olympic quốc tế, kết quả của kỳ thi PISA mới đây – để khẳng định nhận định lạc quan của mình là có cơ sở. Nhưng những lập luận và chứng cứ có vẻ khách quan và khó lòng tranh cãi mà Bộ đưa ra vẫn không thuyết phục được báo giới. Sau cuộc họp báo, những bài viết bày tỏ sự băn khoăn, nghi ngờ về kỳ thi và kêu gọi bỏ thi vẫn tiếp tục ngập tràn trên các phương tiện truyền thông đại chúng.   Tại sao?    Nhiều câu hỏi lớn   Có một sự thực mà không ai có thể chối cãi: Từ nhiều năm nay, những câu hỏi về những điểm chưa rõ, những điều mâu thuẫn hoặc những việc bất thường liên quan đến các số liệu của các kỳ thi và chất lượng giáo dục Việt Nam vẫn thường được Bộ né tránh.  Có rất nhiều ví dụ. Trong nhiều năm qua, báo chí đã báo động tình trạng học sinh phổ thông chán ghét môn Sử. Hẳn chưa ai quên những “chuyện khó quên” liên quan đến môn học này trong vài năm gần đây: Hàng ngàn điểm 0 môn Sử trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2011. Đề cương môn Sử bị xé và thả trắng sân trường trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2013 khi học sinh biết môn này sẽ không thi. Số thí sinh chọn thi môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay chỉ chiếm hơn 11%, đứng chót trong số các môn tự chọn, trong khi các môn Lý, Hóa có khoảng 50% thí sinh4.   Vậy mà thật bất ngờ, kết quả thi môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp năm nay lại khá cao. Điều này cần được diễn giải ra sao? Phải chăng đây là một dấu hiệu đáng mừng, vì vẫn có một tỷ lệ nhỏ học sinh yêu thích và học giỏi môn Sử, báo hiệu khả năng phục hồi của môn Sử nếu chúng ta chăm chút đầu tư cho nó? Hay ngược lại, điểm này là do các thầy cô ra đề và chấm bài môn Sử đã nhẹ tay để khuyến khích các em đã (dám) chọn thi môn Sử?    Một ví dụ khác. Trong kỳ thi lần này có tình trạng những thí sinh có số báo danh gần nhau đạt điểm thi na ná như nhau trong những môn thi trắc nghiệm, mặc dù điểm trong lớp của các em ở những môn học này khá chênh lệch. Có hay không có sự gian lận, tiêu cực ở đây? Câu hỏi được các nhà báo nêu ra, và Bộ hứa sẽ kiểm tra lại5. Nhưng Bộ sẽ kiểm tra như thế nào được khi kỳ thi đã xong, thi trắc nghiệm chỉ khoanh A, B, C, D thì không thể dựa vào bài làm để suy luận xem ai chép của ai. Mà giả sử có cách để kiểm tra thì liệu Bộ có sẵn lòng công bố kết quả rộng rãi hay không?   Còn nữa. Đề thi môn Văn năm nay được đánh giá là hay, có tính mở và khuyến khích sáng tạo. Trong khi đó, việc dạy Văn trong nhà trường nhiều năm nay bị phê phán là “biến học sinh thành con vẹt”, chỉ chăm chăm vào văn mẫu, giết chết sự sáng tạo của các em. Việc so sánh kết quả thi môn Văn so với điểm học trong lớp vì vậy chắc chắn sẽ đem lại những phát hiện thú vị và có ý nghĩa, nhưng chưa thấy Bộ nói gì về điều này. Liệu Bộ có ý định thực hiện sự so sánh và công bố kết quả cho mọi người cùng biết hay không? Bởi, công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục của Việt Nam đang rất cần những thông tin như vậy để tạo ra những tác động tích cực trong việc dạy học mà việc đổi mới thi cử đang nhắm đến.  Phải chăng quá khó để trả lời?  Những câu hỏi trên đều không quá khó trả lời nếu có trong tay những số liệu gốc của kỳ thi làm cơ sở.   Tại các nước tiên tiến, số liệu thi cử của các kỳ thi quốc gia luôn được công bố công khai cùng những phân tích số liệu để chỉ ra những khuynh hướng đáng lưu ý và/hoặc đưa ra những nhận định về hiện trạng của nền giáo dục. Ở Việt Nam, những việc này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện, và cũng không thấy Bộ GD&ĐT nhắc đến trong chủ trương đổi mới thi cử hiện nay. Có lẽ Bộ không đủ nhân sự để thực hiện vì còn bận nhiều việc khác, cho dù hiện nay cả nước đã có một hệ thống các phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng thuộc các Sở Giáo dục, có quan hệ hàng dọc với Cục Khảo thí thuộc Bộ. Cũng có thể Bộ không đủ kinh phí, vì Việt Nam là một nước nghèo, dù tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục của ta đã thuộc vào hàng cao nhất thế giới6.   Không sao, đã có sẵn một giải pháp vô cùng đơn giản. Chỉ cần Bộ công bố trên mạng toàn bộ số liệu thi cử mà hiện nay vẫn nằm im trong các cơ sở dữ liệu chưa được khai thác. Khi ấy, chắc chắn không cần Bộ kêu gọi cũng sẽ có rất nhiều người – các học viên cao học về quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý các trường THPT, các nhà báo… tự nguyện thực hiện phân tích số liệu để tìm câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi nói trên. Và cả cho nhiều câu hỏi khác nữa về chất lượng giáo dục Việt Nam vốn gây tranh cãi bất tận, chỉ vì không có số liệu đầy đủ.  Tất cả những gì đã nêu trong bài viết này không nhằm mục đích chứng minh rằng kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 là kém chất lượng – đơn giản vì bản thân tác giả bài viết cũng không có số liệu để đi đến kết luận đó. Nhưng nếu chính Bộ GD&ĐT là người nắm toàn bộ số liệu thi cử trong tay mà cũng không đưa ra được số liệu rõ ràng để xóa bỏ những thắc mắc và nghi ngờ của công chúng, thì hỏi sao họ không tiếp tục đặt câu hỏi: “Thi mà như thế thì có cần thi không?”   Đối với các nhà quản lý giáo dục, ý nghĩa của các kỳ thi chỉ thực sự bắt đầu khi kỳ thi đã hoàn tất vì chỉ đến lúc đó nhà quản lý mới có số liệu để thực hiện các phân tích, biện giải, so sánh và đưa ra kết luận về hiện trạng của nền giáo dục. Cách làm này có lẽ Bộ GD&ĐT cũng đã thấy qua việc lần đầu tham gia PISA: Sau khi có kết quả kỳ thi, PISA không chỉ thông báo cho các quốc gia biết thứ hạng của mình (là điều có lẽ quan trọng nhất đối với mỗi “thí sinh”), mà còn thực hiện một loạt các phân tích và báo cáo, đồng thời công khai toàn bộ số liệu để mọi người đều có thể kiểm tra và thực hiện những phân tích độc lập.  Theo cách đó, thay vì tiếp tục dùng lời lẽ khẳng định sự thành công của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014, Bộ GD&ĐT chỉ cần thực hiện các phân tích dựa trên số liệu để có chứng cứ thuyết phục trước khi đưa ra bất kỳ nhận định gì, đồng thời công bố rộng rãi các số liệu này đến công chúng. Nếu làm được như thế thì chắc chắn kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 sẽ trở thành tiền đề vững chắc cho việc tiếp tục đổi mới thi cử trong những năm tới, để đến lượt mình thi cử sẽ tác động tích cực vào nền giáo dục Việt Nam như Bộ từng mong muốn.     —————  1 http://dantri.com.vn/su-kien/ty-le-do-tot-nghiep-ca-nuoc-la-hon-99-889017.htm  2 http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/181711/-ti-le-tot-nghiep-phan-anh-sat-chat-luong-day-va-hoc-.html   3 http://baoquangninh.com.vn/xa-hoi/201406/nguyen-thu-truong-gd-dt-bat-benh-ty-le-do-tot-nghiep-thpt-toi-100-2233139/   4 http://svvn.vn/index.php/thi-tot-nghiep-thpt-nam-2014-ngoai-ngu-lich-su-dung-cuoi-bang/   5 http://hocthenao.vn/2014/06/19/ket-qua-thi-tot-nghiep-thpt-va-mot-so-van-de-ve-ky-thi-chung-quy-hien-tue-nguyen/   6 http://www.tinmoi.vn/Viet-Nam-thuoc-nhom-nuoc-co-ty-le-chi-cho-giao-duc-cao-nhat-the-gioi-01154100.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi tốt nghiệp và OTK hàng xuất xưởng      Thực tế của kỳ thi tốt nghiệp THPT vừa qua – một kỳ thi được coi là bản lề trước khi có một bước đổi mới cực kỳ quan trọng vào năm 2009: tổ chức thi tuyển “2 trong 1”- khiến nhiều người thực sự không mấy tin tưởng kỳ thi như vậy có thể cùng một lúc làm tốt nhiệm vụ xét tốt nghiệp và tuyển đại học, Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với GS Hồ Ngọc Đại – người có quan điểm về thi cử khác với các nhà quản lý giáo dục hiện nay.    Quan điểm của GS về tính khả thi của đề án “2 trong 1”?  Tôi xin lấy một ví dụ để trả lời cho câu hỏi này.  Ông chủ B. bước vào phòng mới, đã dọn sạch, thế mà chềnh ềnh ra hai bình lưng lửng nước trong veo, chướng mắt, với trí khôn và quyền lực của mình, B. nghĩ bụng, sao mà ngốc thế, rồi B. quát: đổ vào một bình, chỉ cần một thôi, bỏ đi một bình.  Bà lao công quét dọn không dám ho he, bà biết, dù trông bề ngoài giống hệt nhau, nhưng bình này là nước lọc, bình kia là xăng, nếu là nhà khoa học, bà sẽ nói chữ là hai khái niệm khác nhau.  Nghĩ nói chữ là tư duy. Tư duy là lao động trí óc. Lao động văn minh thì phải dùng phương tiện và công cụ. Người lớn thất học thì dùng kinh nghiệm, tư duy bằng các khái niệm kinh nghiệm chủ nghĩa. Người làm khoa học thì tư duy bằng khái niệm khoa học. Hai kỳ thi là hai khái niệm khác nhau.             Về bản chất, các cách thi cử hiện nay (thi viết, thi vấn đáp, thi trắc nghiệm…) đều cùng dòng huyết thống trực hệ với cách thi cử ngàn đời nay. Trước đây, chỉ có 5% dân cư đi học thì việc thi cử là việc riêng của đám sĩ tử 5% ấy, may rủi, đỗ trượt… cũng chỉ vẻn vẹn có một nhúm 5% ấy. Họ cứ việc ngong ngóng chờ “xâu mũi” dắt đến trường thi. Số còn lại, 95% dân cư, suốt đời ai ở đâu vẫn đấy, cặm cụi làm ăn để nuôi mình và nuôi không số 5% kia.        Ngày nay, thế kỷ XXI, cả 100% dân cư đều đến trường, ai ai cũng được học. Việc học trở nên bình thường, tự nhiên như việc ăn, việc uống, hít thở không khí… việc nào cũng “thi” ngay lập tức, “thi” ngay tại chỗ, chẳng có gì ly kỳ, thế mà rất nghiêm. Ấy là sự nghiêm vì cuộc sống thực, sự nghiêm này nghiêm hơn triệu lần cái sự nghiêm hình thức dễ làm giả của các kỳ thi định kỳ có giám thị coi. Phải tỉnh táo lắm thì mới dám thừa nhận rằng tuềnh toàng chiếc xà lỏn trong phòng ngủ lại “nghiêm” hơn triệu lần diện com lê, thắt ca vát, đi giày da, trèo lên giường.          Nếu ví dụ xăng dầu/nước lọc chưa đủ sức thuyết phục sự khác nhau về khái niệm giữa hai kỳ thi, thì xin dùng thêm ví dụ về thể dục thể thao. Học sinh phổ thông chỉ cần phải nhảy qua 1,1m. Ai nhảy qua 1,1m là đạt (đỗ). Có lần thi đấu quốc tế, người đã nhảy qua 2,44m mà bị loại (trượt), vì có người nhảy qua 2,45m.    Còn việc tổ chức thi trắc nghiệm hiện nay của ta?  Từ ngày T.V mở nhiều trò chơi có thưởng, cậu sinh viên đói ăn nọ sau mươi phút trở thành triệu phú. Cách thi của T.V gợi cho ba em học sinh lớp Một xin cùng thi tốt nghiệp với các anh chị lớp Mười hai. Kết quả, cả ba em đạt điểm tuyệt đối 100. Bí mật thành công hết sức đơn giản. Trò chơi trắc nghiệm đưa ra 3 phương án, có một phương án đúng. Biết thì nói chắc, không biết thì nói hú họa, nói liều. Các em chia nhau, mỗi em trả lời đúng chỉ cho một phương án ở cả 100 câu hỏi thi: Tèo – phương án A, Tý – B. Cún – C.  Giáo dục không phải là Trò chơi may rủi, giáo dục là máu thịt của mỗi cá nhân trẻ em. Giáo dục làm nên trí tuệ của em, làm nên niềm tin đạo đức của em, làm nên giá trị đích thực của cá nhân em, để em tự phân biệt mình với tất cả các cá nhân còn lại trên đời. Lẽ sống và Sức sống của em, sao lại đem ra làm trò chơi đánh đố may rủi như thế?  Có thể nói việc tổ chức thi trắc nghiệm hiện nay của ta là do các nhà quản lý giáo dục không thấy sự khác nhau về khái niệm giữa Thi tốt nghiệp và OTK hàng xuất xưởng.  Vậy sự khác nhau của hai khái niệm này thế nào, thưa GS?  Một hàng hoá không đạt chuẩn cần phải loại bỏ, vì lợi ích của khách hàng, kẻ xa lạ với nhà máy. Học sinh đi học trước hết và sau cùng luôn luôn gắn với sự sống của mình vì lợi ích của chính mình, lợi ích trải ra ngày ngày, trải ra tháng tháng, trải ra năm năm, ở ngay tại mỗi thời điểm sống, sao lại phải chờ đến phút cuối cùng, sau 12 năm học mới OTK, đỗ hay trượt.  Sự khác nhau giữa thi tốt nghiệp và OTK hàng xuất xưởng giống như sự khác nhau về khái niệm giữa mùa thi và vụ gặt. Vụ gặt có thể được mùa hay thất bát, vì nhà nông chỉ có trong tay cái công thức rất chung chung “nước – phân – cần – giống” nhưng lại chịu những tác động rất cụ thể của đất đai, lụt lội, hạn hán… đành phải cầu may, lạy trời mưa xuống…  Mùa thi đâu phải là vụ gặt, vì suốt quá trình học sinh đều yên lành trong “4 bức tường” kín mít, nghe lời thầy giảng đều đều, ngày ngày đều đều, tháng tháng đều đều, năm năm đều đều… thế mà mùa thi thì lại không đỗ đều đều! Trước đây, chỉ có 5 % dân cư đi học, thi đỗ hay trượt là việc riêng của 5% ấy, chẳng may tất cả 5% ấy đều trượt tuốt, thì 95% dân cư còn lại vẫn yên lành, vẫn có thể được mùa!  Ngày nay, cả 100% dân cư đều đi học. Mỗi học sinh hiện đại là một cá nhân duy nhất, có một không hai trên hành tinh này. Cùng em vào lớp Một, rồi cùng em thi tốt nghiệp lớp 12, ví dụ, cả thảy có 100 học sinh, nếu B. biết về giáo dục, mà là giáo dục hiện đại và nếu B. biết tư duy bằng khái niệm khoa học, thì trong số 100 em ấy, em nào cũng toàn vẹn cả 100%, chứ không phải chỉ là 1%, cho nên, dù 95 em, tức là 95% thi đỗ thì đừng vội coi là “thành tích lớn”, mà nên nghĩ sâu hơn, Vì sao 100 em được học mà chỉ có 95 em học được? Vì sao? Có phải khẩu hiệu 100% dân cư được học là chuyện hão huyền? Hay khẩu hiệu ấy đã bị vô hiệu hóa?  Nhưng nhiều nhà quản lý giáo dục của chúng ta nói việc thi trắc nghiệm như của ta hiện nay giống như ở nhiều nước có nền giáo dục hiện đại?  Thi trắc nghiệm chỉ cần đến kết quả cuối cùng và để có kết quả ấy chỉ cần nhớ lại, nhớ ra, nhận ra, tức là cái trình độ thấp nhất của Việc học hiện đại.  Trong giáo dục, quan trọng đã đành là kết quả cuối cùng, nhưng còn quan trọng hơn nhiều, hơn rất nhiều, hơn nhiều hơn rất nhiều là cách làm ra kết quả ấy, làm như thế nào để có kết quả ấy. Có một thực nghiệm này với học sinh lớp Một: Hãy tính 6 + 4 = ? Không được dùng que tính. Hai em đứng tại chỗ tính.  Em trai: 6 + 4 = 11  Em gái: 6 + 4 = 10  Thi trắc nghiệm thì em gái đúng, em trai sai. Hãy tìm hiểu cách làm sẽ thấy cả hai cùng một cách làm như nhau, đều dùng que tính dưới hình thức các ngón tay, đều cho tay vào hai túi quần.  Thi trắc nghiệm cũng có ích trong một số trường hợp, vì lợi ích của người chấm thi, kẻ ngoài cuộc.  Thi trắc nghiệm cũng có ích phần nào cho học sinh, nó gợi lại quá trình (cách làm) trước đó và các điều kiện để có lời giải đó.  Thi trắc nghiệm về bản chất là dựa vào trí nhớ, dựa vào cái đã có, thẩm định trí nhớ, không có ích mấy cho tư duy: Tư duy, cách làm việc trí óc, nói chặt chẽ hơn, tư duy khoa học, cách làm việc trí óc bằng các khái niệm khoa học, mới là cốt lõi của quá trình giáo dục hiện đại.  Tôi mong các nhà quản lý giáo dục hãy đặt Lẽ sống và Sức sống của giáo dục lên mọi “mẹo”, mọi thứ đố, mọi thứ cầu may, mọi cái cớ chỉ có lợi cho người chấm thi… Đừng mở rộng tràn lan Thi trắc nghiệm sang các môn học.  Xin cảm ơn ông.   P.V thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thi trắc nghiệm gây nhiều tranh cãi ở Mỹ      Một hạn chế của các đề thi trắc nghiệm là nó thất bại trong việc chuẩn bị cho học sinh đối diện với phương thức giải quyết vấn đề mà họ sẽ bắt gặp trong các lớp toán, khoa học và trong những nghề nghiệp tương lai.      Biểu tình phản đối thi trắc nghiệm ở phổ thông để đánh giá chất lượng giáo viên và  các trường học. Có một em học sinh giơ tấm biển: “Em không chỉ là điểm số”.  Gần đây có nhiều cuộc thảo luận ở Việt Nam về việc làm thế nào để đánh giá năng lực toán học của học sinh và có rất nhiều tranh cãi về ý tưởng sử dụng các đề thi trắc nghiệm. Hội Toán học Việt Nam đã cảnh báo việc sử dụng những đề thi như thế này sẽ khiến học sinh nhớ các tiểu xảo hơn là phát triển một hiểu biết logic về môn học này. Tôi muốn bình luận về vấn đề trên dựa vào kinh nghiệm của chúng tôi ở Mỹ.  Thi trắc nghiệm từ bậc phổ thông “là một thất bại”  Tại Mỹ, ở cấp tiểu học và trung học, học sinh cũng làm các bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan định kỳ. Lý do là bởi vì việc chấm điểm và các so sánh tương quan có thể dễ dàng được thực hiện bằng máy tính. Tuy nhiên, việc sử dụng kết quả những bài kiểm tra này là để đánh giá giáo viên và các trường học thay vì học sinh. Một trường học hoặc giáo viên có nhiều học sinh học kém hơn mức trung bình và không tăng điểm qua từng năm sẽ bị “phạt” bằng nhiều cách và trong một số trường hợp, trường học có thể bị đóng cửa.  Việc sử dụng những bài thi trắc nghiệm gây ra rất nhiều tranh cãi ở Mỹ và bị phản ứng mạnh mẽ bởi hiệp hội giáo viên và các chuyên gia giáo dục. Ở những trường hàng đầu, phụ huynh và giáo viên tin rằng họ có thể là những người đánh giá tốt việc học của học sinh và không cần phải nhờ sự trợ giúp của các bài kiểm tra trắc nghiệm. Kết quả là, họ từ chối triển khai những kì thi trắc nghiệm này.  Chính sách đánh giá giáo viên và trường học dựa trên kết quả của học sinh làm các đề kiểm tra trắc nghiệm bắt đầu từ 15 năm trước trong suốt nhiệm kỳ của Tổng thống Bush và kéo dài suốt nhiệm kỳ của Tổng thống Obama. Chính sách này đã tạo ra một áp lực rất lớn lên các giáo viên trong việc “dạy để thi” và ngăn cản việc dạy sâu, dạy theo bối cảnh. Trong nhiều trường hợp, nó còn dẫn đến những hành vi sai trái và gian lận (giáo viên và ban giám hiệu sửa đáp án của học sinh nhằm tăng điểm cho các em). Hầu hết các nhà khoa học và giáo dục tin rằng chính sách này là một thất bại và chất lượng các trường phổ thông của Mỹ không những không cải thiện mà thậm chí còn giảm sút trong suốt thời kì này. Trong một cuốn sách bán chạy được xuất bản vào năm 2010, chuyên gia giáo dục Diane Ravitch, một cán bộ giáo dục hàng đầu trong thời kỳ đương nhiệm của Tổng thống Bush và từng ủng hộ các kỳ thi trắc nghiệm, đã thay đổi quan điểm của mình. Bây giờ bà là một người dẫn đầu nhóm phản đối việc sử dụng các kỳ thi trắc nghiệm ngày một phổ biến.  Không chỉ dựa trên kết quả thi trắc nghiệm để tuyển sinh đại học  Ở Mỹ, bài kiểm tra đánh giá năng lực (Scholastic Aptitude Test – SAT1) được sử dụng như một phần của quá trình tuyển sinh đại học. Ban đầu SAT hoàn toàn là một bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan. Nhưng cách đây khoảng 7-10 năm, nhiều trường ngưng sử dụng kết quả SAT cho việc tuyển sinh của mình vì họ cảm thấy thi trắc nghiệm không phải là một cách hữu ích để lựa chọn sinh viên. Từ đó, công ty ra đề SAT, Công ty dịch vụ kiểm tra đánh giá giáo dục ETS (Educational Testing Service) đã đưa phần viết luận vào đề thi để hầu hết các trường có thể tiếp tục sử dụng SAT.  Một điều rất quan trọng cần nhấn mạnh, đó là các trường đại học của Mỹ không bao giờ chỉ dựa trên kết quả thi cử để tuyển sinh. Các cán bộ tuyển sinh ở trường đại học tin rằng thông qua việc sử dụng nhiều công cụ, họ có thể có một cách đánh giá các ứng viên tốt hơn là chỉ dựa vào kết quả của kỳ thi đầu vào.  Có thể nói, rất khó để thiết kế được một bài thi trắc nghiệm công bằng và hữu ích. Bản thân ETS cũng đầu tư một số tiền lớn mỗi năm để thiết kế các đề thi trắc nghiệm. Khi một bài thi trắc nghiệm được thiết kế tốt, nó có hai lợi thế (1) nó tốn rất ít kinh phí để chữa và chấm điểm vì nó có thể được thực hiện bằng máy, và (2) nó có thể được sử dụng để loại trừ những học sinh có năng lực rất yếu. Có nghĩa là, một học sinh có kết quả rất tệ trong bài thi trắc nghiệm khó có thể là ứng cử viên cho những trường đại học hàng đầu. Tuy nhiên, những kỳ thi trắc nghiệm không thể lựa chọn được những sinh viên xuất sắc.  Một hạn chế của các đề thi trắc nghiệm là nó thất bại trong việc chuẩn bị cho học sinh đối diện với phương thức giải quyết vấn đề mà họ sẽ bắt gặp trong các lớp toán, khoa học và trong những nghề nghiệp tương lai. Trên thực tế, các nhà toán học và các nhà khoa học không giải quyết các vấn đề bằng một đáp án ngắn. Ngược lại, các vấn đề đòi hỏi một đáp án dài, cần nhiều bước giải quyết, trong đó các sinh viên phải đưa ra lời giải đầy đủ của họ là một sự chuẩn bị tốt cho những nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.  Ở các cấp học càng cao trong hệ thống giáo dục, các bài thi trắc nghiệm càng ít được sử dụng. Một đại học tốt không bao giờ chỉ dựa vào các đề thi trắc nghiệm để quyết định tuyển sinh. Tuy nhiên, các đề thi trắc nghiệm thi thoảng vẫn có ích ở trình độ cao, ví dụ đề thi sau đại học GRE (Graduate Record Exam) trong Toán học – để xác định và loại ra những sinh viên có học lực rất yếu.  Bởi vậy, nếu Chính phủ Việt Nam cần phải giảm thiểu chi phí chấm điểm các bài thi đầu vào đại học thì có một cách hợp lý để làm điều đó, một sự thỏa hiệp sẽ không ảnh hưởng xấu đến quá trình tuyển chọn. Đề thi tuyển sinh có thể có hai phần: một phần trắc nghiệm và một phần tự luận. Những học sinh có kết quả thấp hơn mức điểm sàn ở phần thi thứ nhất sẽ không đỗ và sẽ không cần chấm phần thi thứ hai của họ nữa. Điều đó có nghĩa là, phần thi đầu tiên sẽ xác định được những học sinh yếu nhất và phần thứ hai là để xác định những học sinh xuất sắc. Điều này sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí mà không phải đánh đổi chất lượng của quá trình tuyển sinh.  Con người là chính, máy móc chỉ là thứ yếu  Trường đại học có đề thi đầu vào môn toán tốt nhất mà tôi từng biết là Đại học Cambridge (Anh), được biết đến là một trong những trường hàng đầu thế giới. Bài thi là bước cuối cùng trong quá trình tuyển chọn các học sinh muốn học toán tại Cambridge. Các giáo sư Toán sẽ đưa cho các thí sinh dự tuyển một loạt các bài toán khó và nói với các em rằng họ không yêu cầu các em phải giải được tất cả chúng một cách đầy đủ. Sau khoảng một – hai tiếng, giám khảo sẽ thu lại câu trả lời đầy đủ hoặc một phần câu trả lời của các thí sinh và phỏng vấn các em về quá trình tư duy để đi đến lời giải của họ và đặc biệt là về những điểm mà họ vướng mắc. Một thí sinh có năng lực giải quyết vấn đề và có hiểu biết sâu sắc, tạo ấn tượng tốt với các giám khảo sẽ được tuyển chọn vào Cambridge.  Tôi dạy các em sinh viên năm thứ nhất đại học. Trong khóa học về giải tích, chúng tôi nhấn mạnh phần ứng dụng của Toán học. Bài kiểm tra cuối kỳ của chúng tôi kéo dài trong ba tiếng đồng hồ và có tám câu hỏi, trong đó, một nửa số câu hỏi liên quan đến những vấn đề trong thực tế. Các sinh viên được yêu cầu đưa ra lời giải một cách chi tiết chứ không chỉ đáp án cuối cùng. Ở cấp đại học, các đồng nghiệp và tôi không sử dụng các bài kiểm tra trắc nghiệm để đánh giá học sinh.  Trong giáo dục, yếu tố con người là chính và công nghệ chỉ là thứ yếu. Dĩ nhiên, việc một máy tính có thể chấm hàng triệu bài kiểm tra trắc nghiệm nhanh chóng thì rất tiện lợi. Nhưng chỉ con người mới có thể đưa ra những đánh giá tin cậy về tiềm năng và trí tuệ của ai đó.  Hảo Linh dịch  ———  1 SAT là kỳ thi dùng để đánh giá năng lực học tập của học sinh, bao gồm ba phần: đọc hiểu (critical reading), toán và viết luận. Trong đó hai phần đầu là thi trắc nghiệm khách quan.  Neal Koblitz hiện là giáo sư Toán học tại Đại học Washington và là giáo sư danh dự tại Viện nghiên cứu Mật mã Ứng dụng tại Đại học Waterloo. Neal Koblitz là cha đẻ của mật mã đường cong elliptic và siêu elliptic – hai đóng góp quan trọng trong ngành mật mã hiện đại. Năm 1985, ông và vợ mình, Ann Hibner Koblitz sáng lập ra giải thưởng Kovalevskaia để tôn vinh những nhà khoa học nữ ở các nước phát triển. Ông từng tới Việt Nam giảng dạy nhiều lần tại các trường đại học và các viện nghiên cứu Toán học.       Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Thiên nhiên, người thầy ưu việt (kỳ 1)      Trong bối cảnh các chính phủ trên thế giới đang thúc đẩy các chương trình giáo dục mang tính chất dạy trẻ em sớm biết đọc, sớm tiếp cận các phần mềm ứng dụng giáo dục trên máy tính bảng, điện thoại di động, v.v, có những quan điểm khác cho rằng trẻ em vẫn cần những sân chơi ngoài trời, nơi các em tự do thỏa thích nô đùa, khám phá thế giới xung quanh một cách trực tiếp.       Mối nguy của kiểu học “mắt-não-ngón tay”  Mối quan hệ giữa trẻ nhỏ với thế giới vật chất là sự tương tác bùng nổ giữa những tiềm năng sẵn có trong đứa trẻ với những tiềm năng mới mẻ bên ngoài. Nhà thần kinh học phát triển Alison Gopnik mô tả nhận thức ngây thơ của trẻ em đối với thế giới giống như ngọn đèn sáng. Bộ não trẻ nhỏ phát triển cực nhanh, tạo ra 700 kết nối thần kinh trong mỗi giây. Đến ba tuổi, đứa trẻ có 1.000 nghìn tỷ khớp thần kinh, gấp bốn lần bộ não người lớn; nhưng các khớp thần kinh này về sau bị loại bỏ dần.  Trong quá trình phát triển thần kinh, trẻ sẽ khám phá thế giới một cách toàn diện bằng tay, chân và cơ thể, bằng mắt, tai, mũi và miệng. Học bằng vận động cảm giác và sự tiếp xúc trực tiếp với thế giới vật chất là nền tảng cho sự tiến hóa của con người và giúp hình thành bộ não người như ngày nay. Trong cuốn The Ascent of Men xuất bản năm 1973 (Little, Brown), nhà toán học và sinh vật học Jacob Bronowski viết: “Bàn tay là công cụ tiên phong của tâm trí”. Điều mà mọi đứa trẻ khao khát khám phá thực nghiệm đầu tiên chính là con người, sự vật, cây cỏ, các thành viên thân thiết trong gia đình.   Việc trẻ nhỏ tìm hiểu sự vận động của thế giới vật chất và con người một cách hữu hình – dần dần nắm bắt mọi thứ theo nghĩa đen – đi ngược lại quan niệm rằng trẻ em cần sớm tiếp cận với môi trường học tập chỉn chu ngay từ khi dưới sáu tuổi để sau này trở thành các nhà sinh học tổng hợp hay kỹ sư năng lượng mặt trời. Điều đó, như nhà nhận thức học Guy Claxton lập luận, sẽ giản lược việc học các kỹ năng nghe và đọc, nói và viết.   Lối học tập thông qua các phương tiện điện tử phong phú thường được coi là sự bổ sung cần thiết để sửa sai cho quan điểm giản lược như trên. Nhưng ngày nay, khi quá nhiều trẻ em thường xuyên tiếp xúc với thế giới ảo – và thậm chí một số nhà trẻ còn gắn cả bảng trắng điện tử cỡ lớn – các thiết bị điện tử lại thành chủ đề tranh luận nóng đối với giáo dục mầm non. Dù kết luận cuối cùng ra sao thì rõ ràng là trẻ em không thể phát triển một cách toàn diện nếu chỉ dựa vào các trải nghiệm thực tại ảo: thời gian ngồi trước màn hình đã giới hạn trẻ em trong cái mà Claxton gọi là kiểu học “mắt-não-ngón tay”. Cách học này còn có thể ảnh hưởng đến việc học thông qua gặp mặt trực tiếp cũng như những trải nghiệm học tập ngôn ngữ và giao tiếp xã hội, vốn là trọng tâm trong giáo dục mầm non. (Được biết, những chuyên gia công nghệ hàng đầu, như nhà sáng lập Twitter Evan Williams, cũng rất hạn chế con cái họ dùng thiết bị điện tử.)   Các phát hiện mới đây về tầm quan trọng của thể lực và giao tiếp xã hội đối với trẻ nhỏ đang cho thấy sự đúng đắn của những quan điểm cải cách giáo dục hồi đầu thế kỷ 20. Một trong những nhà vật lý nữ đầu tiên của Italy, Maria Montessori (1870-1952) – khi quan sát và nhận ra rằng nhận thức có quan hệ mật thiết với vận động và học tập có quan hệ mật thiết với sự tự chủ – đã nhấn mạnh phương pháp giáo dục dựa trên sự vui chơi và tiếp xúc với thế giới vật chất. Các lớp học kiểu Montessori được ví như phòng thí nghiệm ở các trường đại học. Ở đó, trẻ em tự lựa chọn việc mình làm và tốc độ thực hiện, với những “cộng sự” cũng do chúng tự chọn, còn tài liệu thì được thiết kế cho các thí nghiệm đa chiều. Ví dụ, trẻ ba tuổi có thể chơi và sắp xếp các trụ gỗ kích thước khác nhau, và qua đó học được cách cầm nắm đồ vật một cách tinh tế và hiệu quả, cũng như các kỹ năng khác như suy đoán và so sánh, và cả kiến thức toán cơ bản nữa.  Một triết lý tương tự cũng lan truyền trong các hệ thống giáo dục khác để cải thiện kỹ năng ngôn ngữ, phản xạ cũng như khả năng tự kiểm soát của trẻ. Chương trình giáo dục cho trẻ em đến bảy tuổi của Phần Lan tập trung vào thể dục dựa trên chơi đùa và giao tiếp – và học sinh 15 tuổi của nước này đứng đầu châu Âu về các môn khoa học và đọc hiểu trong cuộc điều tra của Chương trình Đánh giá học sinh Quốc tế, thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).  Cấp tiến hơn là mô hình trường rừng, bắt nguồn từ mô hình “nhà trẻ ngoài trời” của nhà cải cách giáo dục Margaret McMillan (1860-1931) cùng nhiều người khác. Mô hình này được du nhập từ Anh sang Mỹ và các nước Scandinavia giữa những năm 1910 đến 1990. “Phòng học” có thể là một bãi đất rừng; “bài học” là nhóm lửa hay nhận dạng côn trùng; phương pháp là chấp nhận rủi ro có giám sát và quan sát tỉ mỉ.   Giáo dục ngoài trời từng là nguồn cảm hứng cho các nhà sinh học, từ Charles Darwin đến E.O. Wilson, và mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho cuộc sống cũng như công việc của chúng trong tương lai. Một nghiên cứu về các trường rừng ở Anh, do Ủy ban Lâm nghiệp đặt hàng Cơ quan Nghiên cứu Rừng [thuộc Ủy ban này] và Quỹ Kinh tế mới [một tổ chức tư vấn chính sách nhằm thúc đẩy công bằng xã hội, kinh tế, và môi trường], đã nhận thấy những tiến bộ trong sự tự tin, khả năng tập trung, kiểm soát vận động, kỹ năng làm việc nhóm ở trẻ em. Trường rừng cũng cung cấp những minh họa trực quan cho các hiện tượng trừu tượng như chu kỳ sự sống, chuỗi thức ăn và tính trạng vật chất (chẳng hạn như tại sao gỗ bị xém đen trong lửa).  Thiên nhiên là môi trường giảng dạy ưu việt, như nhận định của nhà sinh thái học xã hội Stephen Kellert. Đồng cỏ hay bờ biển là một trải nghiệm nhập vai hấp dẫn và thử thách trẻ em về mọi mặt, từ thể chất, xã hội, nhận thức đến cảm xúc. Phức tạp và bất ngờ, một khung cảnh mưa, gió, chim bay, bùn lầy và lá rơi… giúp thổi bùng trí tò mò, chưa kể mang lại một sân chơi miễn phí với vô vàn chi tiết nhỏ và những chân trời rộng mở.   Nhưng trong thời đại mà thiên nhiên hoang dã phải nhường chỗ cho đường nhựa với giao thông tấp nập, những nơi an toàn để chơi đùa (và học ngoài trời) càng trở nên quan trọng trong vai trò làm chỗ nghỉ ngơi và khám phá thử thách cho trẻ em. Vui chơi “có chất lượng” cần rèn luyện được các giác quan, trí tuệ, giao tiếp xã hội, thể lực và các kỹ năng vận động của trẻ, cả về lượng và chất. Việc đó đòi hỏi phải có không gian được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu và hành vi của trẻ, như nhận xét của Günter Beltzig, nhà thiết kế không gian vui chơi.   Tuy các nhà lý luận giáo dục, giáo viên, các nhà quản lý giáo dục và các bậc phụ huynh tranh luận không ngừng về sự cần thiết của việc đọc, làm tính và thi cử ở trẻ em dưới tám tuổi, đôi lúc chúng ta lại quên mất rằng thiên nhiên cũng là một môi trường nuôi dưỡng con người quan trọng. Chúng ta phát triển với tư cách là một giống loài nhờ có trí tò mò mạnh mẽ – là động lực trong mọi phát kiến của nhà khoa học trong mỗi thế kỷ qua – trong quá trình chơi đùa, khám phá thế giới. Những thực tại vật chất nguyên sơ đến nay vẫn còn rất nhiều điều để dạy chúng ta theo cách này hay cách khác.   (Còn tiếp)  Hoàng Minh dịch  Nguồn: http://www.nature.com/nature/journal/v523/n7560/full/523286a.html            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên nhiên, người thầy ưu việt (Kỳ 2)      Hiện nay vẫn chưa có lý thuyết hàn lâm nào  làm nền tảng cho thiết kế sân chơi, trong khi người ta đã có lý thuyết  thiết kế nghĩa trang.         Học để chơi, chơi để học    Ngày nay, bất kỳ một không gian đô thị nào được trang bị cầu trượt và xích đu đều được gọi là sân chơi. Phần lớn những không gian như thế do các kiến trúc sư cảnh quan thiết kế. Hiện nay vẫn chưa có lý thuyết hàn lâm nào làm nền tảng cho thiết kế sân chơi, trong khi người ta đã có lý thuyết thiết kế nghĩa trang. Các kiến thức về hành vi của trẻ em do các nhà giáo dục, tâm lý học và thần kinh học tổng kết lại không có nội dung thiết kế sân chơi, vì vậy phần lớn các không gian này không khuấy động được trẻ em hứng thú chơi đùa và cũng không giúp trẻ em phát triển về mặt thể chất, tình cảm, xã hội và tâm lý như mục đích đặt ra cho chúng.            Sáu nguyên tắc cho không gian vui chơi                * Hãy chắc chắn rằng đó là nơi hấp dẫn mà trẻ muốn ở lại chứ không phải một sân tập luyện hay một khu trưng bày những cấu trúc chỉ dành cho khẩu vị của người lớn.              * Để cho mọi thứ chỉ phơi bày với những ai tìm kiếm chúng, ví dụ một hốc tường rào.              * Tạo cơ hội để trẻ em thử thách sự tự chủ, trước những rủi ro rõ ràng có thể kiểm soát được, chẳng hạn như việc rèn luyện kỹ năng leo trèo ở các cấp độ khác nhau.              * Giúp các nhóm trẻ khác nhau tìm được những địa điểm phù hợp với cảm xúc, mối quan tâm hay nhu cầu riêng.              * Có nơi kín đáo để tránh gió, tiếng ồn và tránh bị người lạ quan sát.              * Tránh việc cấm đoán bừa bãi.           Nhà thiết kế được đào tạo về sáng tạo và giải quyết các vấn đề, về khoa học vật liệu và khoa học sản xuất. Nhưng để tạo ra một môi trường cho trẻ em, bạn cần phải hành xử như một nhà nhân chủng học, tôn trọng “sự khác biệt” của mỗi đứa trẻ. Bạn học làm việc đó bằng cách quan sát và đối chiếu để khám phá nhu cầu, khả năng và mục đích của trẻ. (xem “Sáu nguyên tắc cho không gian vui chơi”)    Là trẻ con nghĩa là thay đổi liên tục, không ngừng nghỉ. Những gì một đứa trẻ làm được ngày hôm nay không giống với những gì nó có thể làm ngày hôm qua, và cũng không giống những gì nó có thể làm vào ngày mai. Quá trình làm mới và thay đổi tâm lý một cách liên tục này đến thành từng đợt như những lớp sóng, và không có nhịp điệu nhất định. Một số thay đổi đến sớm, số khác thì đến muộn.    Sự thay đổi liên tục của cơ thể và tâm trí dẫn đến một kiểu diễn giải liên tục tùy theo khả năng của đứa trẻ. Chơi đùa thực sự nghĩa là tự chiêm nghiệm để tìm ra những khả năng ấy, để sử dụng trí tưởng tượng, óc sáng tạo và tính tò một cách ngẫu nhiên không thiên lệch. Đó là nguồn gốc của việc học, không phải chỉ bằng trí não mà còn là kết hợp với trực giác và cảm xúc, với cả cơ thể: học tập với tất cả bản thể trọn vẹn. Đó là sự khám phá không cần mục tiêu thông qua trải nghiệm, trong một thế giới nơi đứa trẻ là người ra quyết định chứ không phải nhờ người khác quyết định hộ. Với kiểu học này, đứa trẻ cần thời gian, sự tự do chọn lựa và không gian. Và đối với các cộng đồng ngày càng bị đô thị hóa thì không gian ấy là sân chơi.     Các đặc tính của cộng đồng sẽ quyết định việc thiết kế sân chơi ở một mức độ nào đó. Các khu dân cư khác nhau về kinh tế xã hội và nhân khẩu học cũng như về địa hình, cơ sở hạ tầng và mức độ đô thị hóa. Bên trong không gian vui chơi, cách bố trí và bản chất của các công năng sẽ xác định hành vi của trẻ em, và do đó đòi hỏi thiết kế phải đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của các em, cá nhân cũng như tập thể.    Các công cụ để leo trèo và cân bằng – như thang, dây thừng và cầu treo – sẽ tạo điều kiện cho việc lập kế hoạch, giải quyết vấn đề, phối hợp thể chất, kiểm soát cơ thể, quản lý rủi ro và là cơ hội để rèn luyện thời gian phản ứng, cũng như sự hiểu biết về điểm mạnh yếu của trẻ em. Thiết bị leo trèo phải luôn là một phần của chỉnh thể thống nhất lớn hơn và gắn với mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như tạo ra một lối tắt hoặc một cách leo lên một điểm cao. Nếu các công cụ này bị tách rời riêng lẻ, chúng sẽ dễ trở thành đối tượng bị tranh giành giữa bọn trẻ.     Tháp và nhà cao tầng cho trẻ em trải nghiệm được nhìn thấy thế giới một cách khác từ trên cao. Trải nghiệm cảm giác thay đổi này luôn dễ thu hút trẻ, vì vậy mà các công trình cao là rất phổ biến và cần có nhiều cách để trèo lên và xuống cùng lúc. Đồng thời, các công trình như thế phải có kết cấu vững chắc.    Những không gian tập thể để trẻ cùng chơi với nhau giúp phát triển tính quyết đoán và trí thông minh xã hội, nhưng trẻ cũng cần những không gian yên tĩnh để mơ mộng và thư giãn, đem đến cơ hội để chiêm nghiệm, suy nghĩ, hoặc thả lỏng tâm trí. Nhà gỗ nhỏ, hốc trong bụi cây hay những túp lều thấp để chơi các trò chơi nhẹ nhàng nên được đặt cách xa các khu vực có trò chơi tập thể đông người.    Hố cát nên bắt chước những hốc tự nhiên, được xây dưới mặt đất để tránh mất cát. Chúng sẽ khuyến khích trẻ em tìm hiểu các loại vật liệu và khi được kết hợp với các thiết bị như máy xúc và xe goòng dùng để đào và vận chuyển cát, tạo cơ hội cho trẻ rèn luyện thể chất, học hỏi về kỹ thuật và làm việc theo nhóm.    Diện mạo sân chơi không nên quá chú trọng vào tính trang trí, bởi trẻ em không nhất thiết có cùng gu thẩm mỹ của người lớn. Quan trọng hơn, trẻ em quan tâm đến các hình thù đơn giản, có tính cách điệu gợi mở thay vì mô phỏng chính xác các sự vật cụ thể. Những loại đồ chơi như vậy có thể được dùng cho các trò chơi sáng tạo: khúc gỗ có thể thành con ngựa hay xe máy, thùng rác thành tàu vũ trụ.    Không gian chơi hòa nhập cho trẻ em khuyết tật cần được thiết kế riêng. Trẻ em khiếm thính sẽ chỉ dùng được thị giác, vì vậy các thành phần chuyển động phải được thiết kế dễ phân biệt, chẳng hạn như khác màu nhau. Trẻ em khiếm thị cần khu vực an toàn, có rào chắn bao bọc, hoặc bề mặt sân chơi đặc biệt. Sân chơi cho người sử dụng xe lăn đòi hỏi phải lưu tâm đến bề mặt và kích thước, và vị trí của một số thành phần, chẳng hạn như bốt điện thoại ở vị trí thuận tiện trên lối đi lại.    Không có sân chơi nào là hoàn hảo. Khi xem trẻ em chơi trong một sân chơi do tôi thiết kế, tôi thấy các em sử dụng nó theo những cách tôi chưa từng nghĩ đến. Để trẻ em có thể thử nghiệm thoải mái và thỏa mãn trí tò mò khi chơi, các chuyên gia tâm lý và nhà thiết kế sân chơi phải tìm được tiếng nói chung. Thế giới đang trong tiến trình đô thị hóa của chúng ta về cơ bản không phù hợp với trẻ em, vì vậy việc tạo ra các không gian vui chơi phù hợp với nhu cầu của trẻ em và tôn trọng sở thích của các em là hết sức cần thiết.  Hoàng Minh dịch theo nature.com  Đọc thêm:  Thiên nhiên, người thầy ưu việt (Kỳ 1)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=8903      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên nhiên, người thầy ưu việt (Kỳ cuối)      Ngày càng có nhiều bằng chứng từ các nghiên  cứu ở Mỹ, châu Âu và Úc – được Stephen Moss tổng kết trong tài liệu  Natural Childhood do Hội Bảo tồn Di tích lịch sử Vương quốc Anh xuất bản  năm 2012 – cho thấy việc dành thời gian quá nhiều ở trong nhà gây ra  thiếu hụt về thể chất, tình cảm và trí tuệ trong quá trình học tập và  phát triển của trẻ.     Đưa thiên nhiên vào giáo dục     Thông thường mỗi đứa trẻ Mỹ hiện nay dành 90% thời gian trong nhà. Trẻ em Mỹ ở độ tuổi từ hai đến năm theo dõi truyền thông điện tử trung bình hơn 30 giờ mỗi tuần; ở nhóm 8-18 tuổi, con số này là 52 giờ. Hầu hết trẻ em chỉ dành 30 phút mỗi ngày để chơi tự do ngoài trời; trong khi cách đây một thế hệ, thời gian chơi là hơn bốn giờ. Nhiều bậc cha mẹ sợ để cho con cái họ chơi một mình bên ngoài, và xem việc học là một quá trình thuần túy trong nhà.    Ngày càng có nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu ở Mỹ, châu Âu và Úc – được Stephen Moss tổng kết trong tài liệu Natural Childhood do Hội Bảo tồn Di tích lịch sử Vương quốc Anh xuất bản năm 2012 – cho thấy việc dành thời gian quá nhiều ở trong nhà gây ra thiếu hụt về thể chất, tình cảm và trí tuệ trong quá trình học tập và phát triển của trẻ. Chơi đùa tự do trong một lùm cây hay bụi cây trong vườn đem lại trải nghiệm phong phú về động học, thính giác, thị giác và xúc giác cho trẻ em. Những trải nghiệm này thúc đẩy một loạt các phản ứng thích nghi để gợi trí tò mò, óc quan sát, sự suy xét, thăm dò, giải quyết vấn đề và tính sáng tạo. Ví dụ, một đứa trẻ xây một cái đập hoặc đào một cái hang trong cát sẽ thu được kiến thức về độ dốc, lực, chất liệu, tác động của nước, gỗ và môi trường xung quanh.     Thiên nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự học tập ở trẻ bởi nguyên nhân mấu chốt xuất phát từ nguồn gốc loài người. Trong hơn 99% lịch sử tiến hóa của chúng ta, con người chủ yếu phải tìm cách thích nghi với các thế lực tự nhiên. Chúng ta dần dần có xu hướng liên kết với thiên nhiên, xu hướng này được gọi biophilia. Để phát triển được thì biophilia đòi hỏi kinh nghiệm và sự dưỡng dục cả về thể chất lẫn tinh thần.     Tuy nhiên, ngoài một nhận thức mơ hồ rằng “ngoài trời” là tốt cho trẻ em, chúng ta chỉ mới bắt đầu khám phá vai trò của thiên nhiên trong học tập và phát triển. Các bằng chứng khoa học còn hạn chế nhưng những phát hiện về y tế, giáo dục, công việc, giải trí và cộng đồng chỉ ra rằng tiếp xúc với thiên nhiên vẫn là điều quan trọng không thể thay thế đối với sự phát triển của trẻ. Ví dụ, một nghiên cứu về trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 12 với sự tham gia của 90 trường học ở Úc phát hiện ra rằng sinh hoạt ngoài trời giúp trẻ em tự tin, tăng khả năng làm việc với người khác, cải thiện sự quan tâm, mối quan hệ và sự tương tác với người lớn (C. Maller and M. Townsend Int. J. Learn. 12, 359-372; 2006).    Việc được chìm đắm trong sự giàu có về cảm xúc và thông tin cũng như vẻ sống động của cánh rừng, bờ biển, đồng cỏ… sẽ thúc đẩy những phản ứng học tập cơ bản như xác định, phân biệt, phân tích và đánh giá. Trẻ em phân biệt cây lớn với cây nhỏ, cây trong nhà với cây ngoài vườn, dây leo với dương xỉ, kiến với ruồi, vịt với chim sẻ, sinh vật thật với những con thú tưởng tượng. Trẻ phát triển các kỹ năng định lượng bằng cách đếm côn trùng và hoa; thu thập kiến thức về vật chất khi chơi trong cỏ và bùn; tìm hiểu vật lý khi nhìn nước suối chảy qua chướng ngại và khe hở. Khi nhận biết đồi, thung lũng, hồ, sông, núi, trẻ em học về các dạng địa chất. Khi tương tác với các sinh vật khác, từ cây cối đến động vật, trẻ em tiếp xúc với nguồn cảm hứng vô tận, nảy sinh sự gắn bó về cảm xúc và động lực để học tập. Quá trình thích ứng với thế giới tự nhiên thay đổi không ngừng, và thường không thể dự báo, sẽ giúp trẻ em học cách thích nghi và giải quyết vấn đề.     Cuốn sách kinh điển của Alan Ewert mang tên Outdoor Adventure Pursuits (Gorsuch Scarisbrick) xuất bản năm 1989 đã tổng kết các nghiên cứu về các chương trình đưa trẻ em tiếp xúc với thiên nhiên và phát hiện ra rằng những em đó hỏi nhiều hơn và giải quyết vấn đề tốt hơn các em khác. Một nghiên cứu với 262 trẻ từ 3 đến 12 tuổi ở các khu phố nghèo của Chicago, bang Illinois, đã chứng minh rằng vui chơi sáng tạo là kết quả của việc tiếp xúc với thiên nhiên. (A. Faber Taylor et al. Environ. Behav. 30, 3-27; 1998).    Thật không may, xã hội hiện đại đã dựng lên ngày càng nhiều rào cản ngăn trẻ em tiếp xúc với thiên nhiên. Ví dụ, môi trường sống, giáo dục và giải trí cho trẻ em thường quá nhân tạo và thiếu cảm xúc. Vì vậy, cần có một mô hình mới: thiết kế biophilic. Cách tiếp cận này trong xây dựng và thiết kế cảnh quan khuyến khích sự tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp với thiên nhiên, và là một trải nghiệm về nơi chốn thúc đẩy sự gắn kết ở trẻ đối với thế giới tự nhiên.    Chúng ta có thể tạo ra những thiết kế cho phép trải nghiệm trực tiếp thiên nhiên – ánh sáng, không khí, thực vật, động vật, nước, cảnh quan – chẳng hạn bằng cách sử dụng thực vật trong nhà và ngoài trời một cách phong phú; điều khiển luồng không khí lưu chuyển, nhiệt độ và áp suất, và hướng nhìn ra bên ngoài một cách tinh tế. Tác phẩm nghệ thuật lấy cảm hứng từ thiên nhiên, sử dụng các vật liệu như gỗ và len, cách và kiểu dáng bắt chước hình dạng tự nhiên có thể đem đến một trải nghiệm gián tiếp về thế giới tự nhiên. Không gian trong nhà cũng có thể mang lại hiệu quả tương tự nếu có góc nhìn rộng và liên kết trực quan với bên ngoài, với những khu vực tràn đầy sự hiện diện của thiên nhiên, đồng thời vừa ngăn nắp vừa minh giản.     Thiết kế theo phong cách biophilia có tiềm năng biến đổi trường học và sân chơi trẻ em. Một ví dụ gần đây là trường tiểu học Sandy Hook mới ở Newtown, bang Connecticut, được xây dựng ngay ở nơi xảy ra vụ xả súng làm chết 12 trẻ em năm 2012. Ngôi trường cũ khi đó bị nhiều người coi là một kiến trúc khô khan. Còn ngôi trường mới, do tôi tư vấn thiết kế, có rất nhiều ánh sáng và chất liệu tự nhiên, nhiều góc nhìn ra bên ngoài, trồng nhiều cây, có sân và vườn rộng. Những tính năng được thiết kế theo phong cách biophilia như vậy, khuyến khích học tập và cũng quan trọng không kém, nhấn mạnh sức sống hiện hữu tại nơi chứng kiến những mất mát không thể tưởng tượng này.    Thế giới tự nhiên không chỉ là một phông nền trang trí hay một tiện nghi không thiết yếu. Trải nghiệm thiên nhiên là hành động xuất phát từ một ý thức sâu sắc, sự phòng vệ trước một tương lai u ám đối với sức khỏe dài hạn của giống loài chúng ta, một vấn đề cũng không kém phần đáng quan ngại so với những nguy cơ rõ rệt hơn như đói nghèo và bệnh tật.      Hoàng Minh dịch theo nature.com    Đọc thêm:    Thiên nhiên, người thầy ưu việt (Kỳ 2)  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=8909    Thiên nhiên, người thầy ưu việt (Kỳ 1)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=8903    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế hệ thống quản trị đại học ở Việt Nam: Mô hình nào cho tự chủ ?      Theo nhận định của các nhà nghiên cứu thì con đường tự chủ của các đại học Việt Nam còn gập ghềnh bởi một số nguyên nhân. Nhưng có lẽ trở ngại lớn nhất nằm ở thiết kế của mô hình: những thiết chế đặt ra không đủ để tạo không gian cho hội đồng trường (HĐT) có thể hoạt động. Nói cách khác, mô hình hình thành theo Luật Giáo dục đại học (GDĐH) không phản ánh thực tế cơ chế, cách thức vận hành trong cơ sở giáo dục (CSGD).      Học viện nông nghiệp là một trong những trường đầu tiên thí điểm tự chủ đại học. Nguồn ảnh: tainguyenmoitruong.  Khi nói về mô hình quản trị1 là nói đến các đối tượng tham gia vào hệ thống, chức năng, cơ cấu và mối quan hệ giữa các đối tượng này, cơ chế cũng như cách thức các bên tương tác với nhau đảm bảo các nguyên tắc đã định. Toàn bộ thiết kế đòi hỏi tính chặt chẽ, sự liên kết cao mới có thể vận hành suôn sẻ và hiệu quả. Nếu một mô hình mà thiết kế khuyết thiếu, sự ràng buộc giữa các bên lỏng lẻo, hoặc các nguyên tắc đề ra mang tính cưỡng ép, nó sẽ không thể hoạt động, không đem lại kết quả kỳ vọng, hoặc biến tướng trở nên méo mó.     Mô hình quản trị đại học cấp hệ thống ở phương Tây     Trước khi phân tích cụ thể về quản trị đại học của Việt Nam, xin điểm qua về nhiệm vụ của mô hình quản trị đại học phổ quát và nhiệm vụ của HĐT của các trường đại học phương Tây – mô hình mà chúng ta đang cố gắng học hỏi.    Một cách khái quát, mô hình quản trị đại học ở các nước có hệ thống giáo dục đại học phát triển (châu Âu, Mỹ, Úc) có cấu trúc như sau:    – Cơ cấu tổ chức nội bộ nhà trường: có ba tổ chức chính gồm Ban giám hiệu (BGH), Hội đồng Khoa học (HĐKH) và HĐT (xem Hình 1). Ngoài ra, còn có các ủy ban tư vấn, các tổ chức đoàn, hội. Ban giám hiệu có chức năng điều hành, quản lý, và vận hành toàn bộ hoạt động của trường đại học, bao gồm giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các mảng dịch vụ khác. BGH chịu trách nhiệm về mọi hoạt động hằng ngày trong trường đại học, đồng thời hiện thực hóa sứ mệnh, mục tiêu chiến lược do HĐT đặt ra. Trong quá trình này, BGH được hỗ trợ, tư vấn về các vấn đề học thuật bởi Hội đồng Khoa học, và các ủy ban tư vấn về các vấn đề khác nhau. Toàn bộ hoạt động của BGH được giám sát bởi tổ chức quản trị là HĐT. HĐT về cơ bản có nhiệm vụ ra quyết sách và quyết định phê chuẩn sứ mạng, mục tiêu và tầm nhìn chiến lược, kế hoạch dài hạn và kế hoạch hoạt động năm, ngân sách, giám sát hệ thống đảm bảo chất lượng (ĐBCL), và bổ nhiệm hiệu trưởng (Huisman, 2006), gây quỹ, giám sát kết quả, hiệu quả và hiệu suất hoạt động của trường.      Hình 1: Mô hình hệ thống quản trị đại học ở phương Tây.  – Ngoài phạm vi nhà trường, cơ sở giáo dục đại học phải báo cáo với nhà nước, cụ thể HĐT có trách nhiệm giải trình với cơ quan quản lý nhà nước được giao phụ trách, quản lý GDĐH. Tuy nhiên thông thường cơ chế kiểm soát chất lượng và trách nhiệm giải trình được thực hiện qua một tổ chức đệm, thường là cơ quan đảm bảo chất lượng và/hoặc đơn vị kiểm định chất lượng (Hình 1).    Sở dĩ mô hình quản trị được thiết kế nhiều tầng lớp với sự tham gia của nhiều tổ chức trong và ngoài nhà trường như vậy là để tạo cơ chế cho phép sự giám sát lẫn nhau giữa các bên.     Hiện trạng mô hình quản trị trong giáo dục ĐH Việt Nam     Mặc dù không có tài liệu nào nêu rõ mô hình quản trị đại học của Việt Nam, tuy nhiên từ các quy định, điều khoản trong Luật GDĐH sửa đổi 2018 và Luật GDĐH 2012 có thể phác họa như sau:    Trong phạm vi cơ sở giáo dục, các trường đại học của Việt Nam có đủ các yếu tố, cấu trúc tương tự như mô hình quản trị cấp trường của nước ngoài với ba tổ chức quản lý, quản trị: Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học, và Hội đồng Trường. Luật quy định chi tiết nhiệm vụ của HĐT, thành phần cơ cấu, việc bầu và vai trò của chủ tịch HĐT, cũng như nguyên tắc làm việc của HĐT ở các trường đại học công lập ở Việt Nam khá tương đồng với tổ chức này ở các trường đại học nước ngoài. Theo Luật, đây cũng là tổ chức đại diện cho trường đại học thực hiện trách nhiệm giải trình với cơ quan quản lý nhà nước và xã hội. Có thể thấy mô hình này đầy đủ để vận hành trơn tru một cơ sở giáo dục đại học mà không cần một tổ chức nào khác nữa. Tuy nhiên trên thực tế nó dường như không hoạt động như kỳ vọng, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực điều chỉnh các quy định liên quan từ Luật Giáo dục 2005, tới Luật GDĐH 2012 và Luật sửa đổi 2018.    Các quy định về HĐT bắt đầu xuất hiện trong Luật từ Luật Giáo dục 2005, tuy nhiên việc thành lập HĐT là chưa bắt buộc. Đến Luật GDĐH 2012, HĐT là một tổ chức cấu thành trường đại học với các quy định chung chung, khá sơ sài, chủ yếu nhấn mạnh vai trò quyết định của HĐT đối với cơ cấu tổ chức và chiến lược phát triển của nhà trường, tuy nhiên quyền quyết định đối với tài chính và tài sản bị rút lại so với Luật 2005. Kể từ sau Luật 2012, phần lớn các trường vẫn chưa thành lập HĐT bởi đều lúng túng với mô hình mới.    Phải tới Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 mới có bước tiến lớn nhằm trao quyền tự chủ cho đại học, theo đó các quy định về nhiệm vụ của HĐT mở rộng và cụ thể hơn rất nhiều với 10 đầu mục, gấp đôi so với Luật 2012. Việc quy định rõ ràng hơn về cả nhiệm vụ, thành phần hội đồng, việc bố trí nhân sự cho vị trí chủ tịch HĐT được cho là nhằm để giúp tổ chức này thực sự có thể hoạt động. Đến nay nhiều trường đại học top đầu đã xây dựng đề án thành lập HĐT và thành lập tổ chức này để thực thi Luật.    Như phân tích ở trên, theo luật, so với mô hình ở đại học phương Tây, HĐT có đầy đủ mô tả chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của một tổ chức lãnh đạo có quyền lực và trách nhiệm cao nhất. Điều khác biệt là ở Việt Nam, đây không phải là tổ chức lãnh đạo trong nhà trường. Theo Luật Giáo dục 2019, “tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Theo Luật GDĐH 2012, “tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong cơ sở giáo dục đại học được thành lập và hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật” như là một trong những tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội trong cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH). Tuy vậy, toàn bộ Chương 2 Mục 1 (Luật GDĐH 2012) về cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục và Luật sửa đổi 2018 không có một nội dung nào liên quan đến tổ chức Đảng trong nhà trường, vì vậy không phản ánh vai trò của tổ chức này tham gia vào quá trình vận hành, điều hành, quản lý, quản trị nhà trường. Trên thực tế tổ chức Đảng lãnh đạo toàn diện, giữ vai trò quyết định trong tất cả các quyết sách về nhân sự chủ chốt  phê chuẩn định hướng phát triển chiến lược về đào tạo, nghiên cứu tài chính và tài sản giám sát hoạt động của BGH và các đảng viên. Do phần lớn các vị trí lãnh đạo và quản lý cấp trung trở lên đều là đảng viên, thực chất tổ chức Đảng giám sát toàn bộ hoạt động quản lý, vận hành của nhà trường không khác một tổ chức quản trị. Đến đây chúng ta có thể thấy hai tổ chức HĐT và tổ chức Đảng mang bóng dáng của nhau trong trường đại học, dẫn tới những lúng túng khi triển khai, thực thi luật, làm bế tắc tiến trình tự chủ. Đây có thể là kẽ hở cho những thực hành không lành mạnh đối với tự chủ đại học, chẳng hạn cơ quan chủ quản của một đại học dựa vào cơ chế và tổ chức chính trị để kiềm chế quyền tự chủ của CSGDĐH. Nếu không giải quyết được vấn đề này, việc tồn tại của HĐT mãi chỉ là hình thức, không đem lại hiệu quả kỳ vọng.    Để HĐT có thể hoạt động và thực sự tạo cơ chế cho tự chủ, cần phải làm rõ sự phân vai phân nhiệm, mối quan hệ giữa ba tổ chức quản trị (HĐT), quản lý (Ban giám hiệu – BGH) và tổ chức chính trị (Đảng ủy), và trong mô hình hệ thống quản trị đại học cấp trường khẳng định rõ tổ chức Đảng nằm ở đâu, có những lựa chọn nào sao cho phù hợp với tiến trình tự chủ của trường đại học. Và bất kể sử dụng mô hình nào, điều tối quan trọng là luật hóa để đảm bảo ‘khoảng không’ thỏa đáng dành cho tự chủ và bảo vệ những người dám tự chủ.     Lựa chọn nào: “Đơn viện” hay “lưỡng viện”?     1. Mô hình ‘đơn viện’    Với lựa chọn này, quản trị trong CSGDĐH sẽ có ba cấp, trong đó BGH là tổ chức quản lý, vận hành nhà trường và phải báo cáo với HĐT. HĐT có trách nhiệm giám sát BGH và báo cáo Đảng ủy. Với mô hình như vậy, phạm vi quản lý, quản trị của các tổ chức này không phân chia theo mảng, lĩnh vực mà mỗi cấp đều quản lý, quản trị, lãnh đạo toàn diện (Hình 2). Theo mô hình này, Đảng ủy giám sát HĐT, và HĐT giám sát BGH, và như vậy, Đảng ủy là tổ chức chịu trách nhiệm cao nhất về trách nhiệm giải trình. Đây là một dấu hỏi lớn bởi nó hàm ý rằng Đảng ủy sẽ phải có trách nhiệm giải trình với các cơ quan chức năng và xã hội.      Hình 2: Mô hình quản trị ‘đơn viện’     2. Mô hình ‘lưỡng viện’     Mô hình này duy trì song song hai tổ chức quản trị – lãnh đạo đồng thời cùng giám sát BGH, chia sẻ trách nhiệm giải trình đối với các cơ quan quản lý cấp trên và với xã hội. Mô hình này đòi hỏi việc phân công, phân vai rành mạch giữa HĐT và Đảng ủy theo đặc thù bản chất của hai tổ chức này. Một lựa chọn có thể là:  với tư cách tổ chức chính trị, Đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo, ra quyết nghị về đường lối phát triển, hệ tư tưởng, sứ mệnh của trường đại học; với đặc thù của một tổ chức cấu thành từ nhiều bên liên quan bao gồm sinh viên và doanh nhân, HĐT chịu trách nhiệm về chất lượng chuyên môn, hiệu quả và hiệu suất hoạt động. Để thực hiện nhiệm vụ, HĐT cần được trao quyền quyết định về nhân sự, tài chính, chủ trương đầu tư, phát triển nghiên cứu khoa học và đào tạo, qua đó chịu trách nhiệm với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT) thông qua cơ chế kiểm định, đồng thời giám sát BGH về những mặt này.    Việc quản lý, giám sát, xử lý của hai tổ chức này sẽ được phân luồng, theo đó nếu hiệu trưởng có sai phạm trong phạm vi giám sát của HĐT như nhân sự, tài chính, đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng tới hiệu quả và hiệu suất hoạt động của nhà trường, thì việc xử lý là của HĐT mà Đảng ủy không được can thiệp. Tương tự, nếu là sai phạm về tư tưởng, đường lối, chủ trương chính trị thì BGH sẽ chịu xử lý của Đảng ủy.      Hình 3: Mô hình quản trị ‘lưỡng viện’  Để có thể thực hiện giám sát hiệu quả đòi hỏi các vị trí lãnh đạo, quản lý cao nhất của ba tổ chức này phải tách biệt về nhân sự. Việc kiêm nhiệm hai hoặc cả ba vị trí có thể giúp tập trung quyền lực tối đa, nhưng sẽ dẫn đến rủi ro không chỉ của nhà trường mà của chính cá nhân nhân sự lãnh đạo.    Một cách máy móc thì có hai phương án như trên. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta có thể có phương án thứ ba: HĐT là tổ chức mang tính biểu tượng. Sở dĩ HĐT có thể chỉ mang ý nghĩa biểu tượng vì không có thực quyền nhưng lại là tổ chức được quy định chịu trách nhiệm giải trình. Lựa chọn này về bản chất giống với mô hình ‘đơn viện’, ngoại trừ việc không có tổ chức nắm thực quyền đồng thời chịu trách nhiệm giải trình với xã hội, do vậy là sự thất bại của thiết chế quản trị cấp hệ thống.    Thực quyền sẽ nằm trong tay Đảng ủy và BGH. Nếu Bí thư kiêm hiệu trưởng thì tập trung quyền lực và vô hiệu hóa cơ chế giám sát nội bộ, nhưng tự chủ lại có thể được đẩy lên mức rất cao. Đây chính là lỗi thiết kế nghiêm trọng nhất: ‘tự chủ cao thiếu giám sát’. Lỗ hổng này vừa rủi ro cho nhân sự kiêm nhiệm cả hai vị trí vì nó có thể bị lợi dụng trước những sức ép từ bên ngoài nhà trường hoặc từ cơ quan chủ quản, vừa rủi ro cho những bên thụ hưởng trực tiếp như người học, phụ huynh, các đối tác của cơ sở giáo dục, và xã hội, vừa rủi ro cho chính cơ chế tự chủ vì nó có thể bị can thiệp bất cứ lúc nào. Còn nếu hiệu trưởng không kiêm nhiệm Bí thư thì tự chủ là trong khuôn khổ chính trị, tổ chức đảng cho phép đến đâu, hiệu trưởng được tự chủ đến đó.    Có thể nói đây là lỗi thiết kế nghiêm trọng của những sắp xếp hiện tại.     Đến đây, cần phải quay trở lại xem xét cơ sở và bối cảnh của việc đưa HĐT vào cơ cấu tổ chức của nhà trường. Câu chuyện tự chủ đại học bắt đầu được đặt ra và thảo luận từ cuối những năm 1990 như một trong những giải pháp cởi trói để thúc đẩy giáo dục đại học phát triển.    Tiền đề của nó là nhận định rằng mô hình tổ chức của hệ thống GDĐH cũ đã không đem lại tự chủ cho các CSGD. HĐT được xem là giải pháp về cơ chế để tạo ra tự chủ. Xin lưu ý rằng HĐT được thiết kế là tổ chức quản trị ở các nước phương Tây, nơi không có tổ chức chính trị giữ vai trò lãnh đạo và giám sát. Vốn dĩ các trường đại học là các ‘tháp ngà’, chính phủ không giám sát được nên sử dụng cơ chế HĐT để yêu cầu trách nhiệm giải trình từ các trường đại học. Bối cảnh của chúng ta hoàn toàn không giống như vậy. Chúng ta quản lý tập trung, kiểm soát chặt chẽ, bởi cả Chính phủ lẫn tổ chức Đảng. Thực chất, vai trò của tổ chức Đảng khá giống với HĐT ở phương Tây. Như nhận định của UNESCO về mô hình tương tự ở Trung Quốc, đây chính là tổ chức quản trị của trường đại học công lập ở Trung Quốc.     Thay lời kết     Chuyển đổi từ kiểm soát tập trung sang phân cấp, phân quyền, vấn đề cốt lõi là sự sẵn sàng ‘thả lỏng, nới lỏng’ chứ không hoàn toàn chỉ là vấn đề về mô hình và cơ chế. Tự chủ cho đại học, dù có định nghĩa như thế nào và quy định ở đâu, thành công hay không cũng không nằm ở mô hình hay cơ chế, mà cốt ở việc chúng ta có thực sự muốn nó tồn tại và sẵn sàng để ‘nhả’. Bản chất của tự chủ là quyền ra quyết định của BGH đối với các hoạt động của nhà trường, chỉ là ai sẽ cho họ cái quyền này, ở mảng nào, đến mức độ nào, và ai có thể đảm bảo cho họ một hành lang an toàn để tự chủ. Tất cả cần phải văn bản hóa, dưới dạng này hay dạng khác. Việc các văn bản pháp quy khiên cưỡng, không phản ánh đầy đủ vai trò thực chất của tất cả các tổ chức tham gia vào quá trình quản trị trên thực tiễn đều sẽ khiến mô hình méo mó. Cần phải tạo hành lang pháp lý để các trường, các hiệu trưởng dám tự chủ và có thể ngẩng cao đầu tự chủ theo pháp luật, được pháp luật bảo vệ, chứ không phải ‘vừa tự chủ, vừa cúi đầu’ trước các áp lực vô hình như cơ quan chủ quản hay ‘tự chủ ràng buộc’ với các hình thức, cơ chế chủ quản. □  ———  Chú thích:   1 Nghiên cứu về quản trị đại học thường chia thành hai cấp: cấp trường và cấp hệ thống. Nếu như mô hình quản trị đại học cấp trường bàn về mối quan hệ giữa các tổ chức, đơn vị quản lý điều hành trong nội bộ một cơ sở giáo dục đại học thì mô hình quản trị cấp hệ thống lại bàn về tổ chức và mối quan hệ giữa chính phủ và các trường đại học. Trong phạm vi bài viết này, người viết chủ yếu thảo luận thiết kế hệ thống quản trị quản trị đại học tổng thể, bao hàm cả cấp hệ thống và cấp cơ sở. Những thực hành quản trị đại học cụ thể không được bàn trong bài viết này.    Tài liệu tham khảo  Huisman, J. (2006). Conduct of governing bodies. Paper presented at the Governing bodies of higher education institutions: Roles and responsibilities, Paris.  Sabapathy, P. (2006). Different Models – Same Problems. Paper presented at the Governing bodies of higher education institutions: Roles and responsibilities, Paris.  Walters, C. (2006). Governing bodies of higher education institutions: Roles and responsibilities http://www.oecd.org/edu/imhe/37378292.pdf  Unesco, “Governance reforms in higher education: a study of China” của UNESCO, năm 2014. Nguồn: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000231858    Author                Uyên Nguyên        
__label__tiasang Thời đại kỹ thuật số: Khoa học xã hội sẽ trao cho học sinh những cơ hội gì?      Thời đại kỹ thuật số đã mở ra những cơ hội – và cả thách thức mới – cho nền giáo dục và các ngành khoa học xã hội. Giờ đây, chúng ta có thể truy cập nhanh chóng vào các nguồn thông tin đa dạng, cũng như các công cụ thiết lập và phân tích thông tin một cách dễ dàng. Đồng thời, vì thao tác quá dễ dàng như vậy, việc hướng dẫn học sinh cách chọn lọc nguồn thông tin càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trong khi đó, quá trình toàn cầu hóa không chỉ dừng lại ở văn hóa, kinh tế, mà còn cả bệnh tật, đã khiến việc quản lý xã hội càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, đằng sau những phương tiện truyền thông, những công cụ tương tác mới mẻ này, là một mối quan tâm kinh điển: Tầm quan trọng của công bằng và hòa hợp; sự cần thiết phải đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng; và nhu cầu thấu hiểu giữa người với người.      Một tiết địa lý ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án của Trường THPT Trần Khai Nguyên (Tp.HCM). Các em sẽ chia thành các nhóm Quỹ dân số Liên hiệp quốc, Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Ủy ban văn hóa giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng,… để thảo luận về chủ đề  “Dân số và phát triển bền vững”. Ảnh: Trường THPT Trần Khai Nguyên.  Thời đại mới, vấn đề cũ      Rõ ràng, thời đại kỹ thuật số đã mang đến cho nền giáo dục một diện mạo mới, một lượng lớn thông tin luôn có sẵn trong mọi lúc, học sinh và giáo viên có thể sử dụng công cụ trực tuyến để phân tích thông tin và thảo luận với nhau dễ dàng. Nhiều nhà giáo dục đã lưu ý, điều này có nghĩa là một số quan điểm truyền thống về giáo dục không còn phù hợp với ngày nay: người thầy và cuốn sách giáo khoa không còn là chân lý, ghi nhớ kiến thức không còn là phương pháp hiệu quả, và những bài luận không thể đánh giá toàn diện khả năng của học sinh.       Quá trình toàn cầu hóa còn ảnh hưởng đến giáo dục. Học sinh là một phần của mạng xã hội và mạng lưới kinh tế, các em không còn bị giới hạn trong cộng đồng địa phương và quốc gia nơi mình sinh sống. Điều này mở ra cho các em những triển vọng học tập và phương thức tương tác mới. Học sinh có thể giao tiếp dễ dàng với những cá nhân có bối cảnh, kinh nghiệm và niềm tin khác với họ, và như thế trường học không phải lúc nào cũng có thể bảo vệ các em trước những luồng quan điểm nhập nhằng và đối nghịch, những niềm tin và hành vi mù quáng. Cùng với đó, khi quá trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta, nhà trường cần trang bị cho các em các kỹ năng và tri thức cần thiết, vượt ra khỏi các hoạt động và lối sống địa phương.      Tuy nhiên, bất chấp toàn cầu hóa và sự xuất hiện của công nghệ mới, nhiều khía cạnh cơ bản nhất của giáo dục vẫn phải giữ nguyên, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội. Các vấn đề xã hội mà con người đang phải đối mặt ngày nay có thể đã và đang diễn ra dưới một hình thức mới, nhưng suy cho cùng, chúng chẳng khác gì các cuộc đấu tranh của loài người trong suốt lịch sử: Một nhóm người hoặc quốc gia bóc lột một nhóm người hoặc quốc gia khác, và những người bị áp bức thường nổi dậy đấu tranh, có thể thành công hoặc thất bại. Người dân, các nhóm và các quốc gia tranh chấp nguồn tài nguyên và quyền lực, họ thường kéo dân chúng vào những cuộc xung đột này, đôi khi kết quả thật tàn khốc. Loài người còn khai thác môi trường để phục vụ cho mục đích của mình, biến đổi nó – theo cách tiêu cực và ngoài ý muốn. Vì xung đột, nghèo đói, hoặc môi trường thay đổi, người dân phải di cư đến những vùng đất, và ở đó họ phải đối mặt với những thách thức. Ngoài ra, nhiều người bị tước đoạt quyền con người, như an ninh, giáo dục, quyền tự do ngôn luận, hoặc một cuộc sống ấm no, trong khi những người khác đấu tranh để giải quyết những thiếu sót này – với tư cách cá nhân, nhóm hay tổ chức chính trị, và nhiều người khác ngăn cản họ trên con đường đấu tranh ấy. Những hiện tượng xã hội này sẽ không biến mất, chúng chỉ khoác lên mình một lớp áo mới mà thôi.        Lòng trắc ẩn và lòng nhân từ nảy mầm khi một người thực sự quan tâm đến hoàn cảnh của người khác – đồng cảm với nỗi đau và vui mừng cho thành công của mọi người, chứ không phải là một sản phẩm mà các nhà giáo dục cần phải tạo ra.      Bất kể bây giờ, và trong tương lai, học sinh sẽ nắm trong tay những nền tảng công nghệ mới gì và bất kể họ sẽ là một phần của một thế giới to lớn như thế nào, họ vẫn phải đối mặt với các vấn đề xã hội tương tự như trên, đồng thời bị đặt trong tình thế bắt buộc phải đưa ra một quyết định phù hợp. Làm thế nào để hợp tác cùng mọi người nhằm xây dựng một xã hội tốt hơn? Làm thế nào để khai thác môi trường theo hướng bền vững? Làm thế nào để bảo đảm quyền lợi của người dân, và đấu tranh vì chính họ? Đây không đơn giản là những câu hỏi riêng lẻ về việc hòa hợp với mọi người, mà chúng là những vấn đề xã hội. Học sinh cần hiểu cơ chế hoạt động của pháp luật, chính sách và thể chế trong hỗ trợ hoặc ngăn cản mục tiêu xã hội, các em cũng cần biết rõ mình có thể làm gì để tác động đến những thứ đó. Đây là nhiệm vụ của khoa học xã hội: Giúp học sinh phản ứng thông minh trước “câu hỏi về quyền công dân trong thời đại của chúng ta” – theo nhà giáo dục xã hội Hoa Kỳ Walter Parker. Đó là câu hỏi: Làm thế nào để xây dựng một xã hội công bằng? Dù cho đây là câu hỏi cốt lõi của môn giáo dục công dân, nhưng những môn khoa học xã hội khác cũng góp phần giải đáp câu hỏi đó.  Lòng trắc ẩn     Để đáp ứng được những yếu tố cần thiết trong quá trình xây dựng một xã hội công bằng, học sinh sẽ phải phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ phù hợp. Trước tiên, đó là lòng nhân từ xuất phát từ một trái tim trắc ẩn. Việc đối xử công bằng với mọi người – hoặc hỗ trợ các chính sách công hướng đến thực thi công lý – đòi hỏi phải đặt lợi ích riêng của bản thân sang một bên để lắng nghe nhu cầu của người khác, cũng như hành động dựa trên những nhu cầu này; đây là cốt lõi của lòng nhân từ.     Lòng trắc ẩn và lòng nhân từ nảy mầm khi một người thực sự quan tâm đến hoàn cảnh của người khác – đồng cảm với nỗi đau và vui mừng cho thành công của mọi người, chứ không phải là một sản phẩm mà các nhà giáo dục cần phải tạo ra. Dường như chúng là bản năng, vì các nhà triết học đã nhận ra từ lâu và các nghiên cứu gần đây đã xác nhận quan điểm này là chính xác. Đây là điều mà nhà Nho, nhà tư tưởng Mạnh Tử gọi là một “trái tim biết thương xót” hay một “trái tim không nỡ làm hại người” (不忍人之心 – bất nhẫn nhân chi tâm). Nhưng các nhà triết học còn chỉ ra rằng những cảm xúc này nảy sinh rất tự nhiên trong chúng ta, dành cho tất cả mọi người, trong mọi tình huống. Sự quan tâm càng sâu sắc hơn khi đối tượng là những người gần gũi với ta, và do đó, cảm xúc bản năng của chúng ta đơn giản là “hạt mầm” của lòng nhân từ, theo Mạnh Tử. Để hoàn thiện bản thân, chúng ta cần mở rộng cánh cửa trái tim mình đến nhiều người hơn nữa.     Và nhiệm vụ đầu tiên của giáo dục, đó là giúp học sinh mở rộng lòng nhân ái và sự trắc ẩn trong tim mình đến những người dù không cùng thời hay cách xa ta về địa lý. Để làm được điều đó, cần hiểu rõ về hoàn cảnh sống, cách chiến tranh, biến đổi khí hậu, làn sóng di cư… tác động đến đời sống của họ. Đây chính là điểm mà công nghệ kỹ thuật số có thể hỗ trợ cho các nhà giáo dục. Công nghệ trao cho học sinh phương tiện để các em không chỉ đọc, mà còn nhìn thấy và lắng nghe những câu chuyện và trải nghiệm của mọi người ở các địa điểm xa xôi, thường là dưới những hình thức sinh động, đầy hấp dẫn.      Học sinh trường Olympia đến thăm các trẻ em mồ côi tại chùa Đức Sơn (Huế) và xây dựng công trình phụ cho trường tiểu học Xuân Lộc tại tỉnh này. Hoạt động nhằm khơi gợi trong các em sự sẻ chia, từ đó đề xuất những phương án giải quyết vấn đề. Ảnh: theolympiaschools.    Thấu hiểu các quan điểm khác nhau     Tuy nhiên, nếu chỉ biết dang rộng vòng tay trước những câu chuyện ấy thôi là chưa đủ, bởi hiện nay có rất nhiều tài khoản cung cấp thông tin sai lệch. Một người ngoài có thể tạo tài khoản và đưa tin về cuộc sống của người khác, và dù cho các tài khoản này có tạo được thiện cảm đến đâu, thông tin cũng đã đi qua lăng kính quan điểm riêng và kinh nghiệm của họ. Chính vì vậy, học sinh còn phải lắng nghe thêm các luồng quan điểm khác nhau về vấn đề xã hội. Các em không chỉ nên xem ảnh hưởng của các vấn đề này đến người dân, mà còn lắng nghe phương án họ đưa ra để giải quyết vấn đề này. Việc lắng nghe mang lại hai lợi ích quan trọng: Nó cho phép học sinh vượt ra khỏi các định kiến gắn liền với văn hóa của bản thân, và nó cho thấy tiếng nói của những người sẽ bị ảnh hưởng bởi chính quyết định về sau của các em.      Khoa học xã hội sẽ góp phần giải quyết điều này; trên thực tế, một trong những lợi thế quan trọng của lịch sử, địa lý và các môn khoa học xã hội khác chính là khả năng giúp học sinh hình dung đời sống của loài người ở những địa điểm và thời gian khác nhau. Và một lần nữa, nỗ lực này càng trở nên khả thi hơn với sự phát triển của công nghệ số hiện nay: học sinh thực sự có thể lắng nghe quan điểm của mọi người về những vấn đề ảnh hưởng đến họ, giải pháp nào theo họ là phù hợp nhất. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở việc thấu hiểu những người xa lạ; mà việc lắng nghe quan điểm của người dân nơi các em sinh sống cũng có thể hình thành trong các em ý tưởng giải quyết các vấn đề ở địa phương, trong khu vực, và những vùng đất khác. Suy cho cùng, học sinh phải hiểu được tầm quan trọng của việc lắng nghe – đó như là một bản hướng dẫn hành động. Trong tiếng Hán, chữ hiền nhân (聖 – thánh) bao gồm bộ khẩu (miệng) và bộ nhĩ (tai), hàm ý rằng người khôn ngoan hoặc người trị vì đừng chỉ nói mà còn phải biết lắng nghe.      Khoa học xã hội phải trang bị cho học sinh những kỹ năng và kiến thức cần thiết, để các em có thể cùng nhau chịu trách nhiệm về tương lai của chính mình.      “Sự khôn ngoan thực tiễn”     Yếu tố cần lưu ý thứ ba khi trang bị cho học sinh cách ứng phó trước các vấn đề xã hội chính là “sự khôn ngoan thực tiễn” (practical wisdom), thuật ngữ mà các nhà tư tưởng phương Đông và phương Tây từ lâu vẫn dùng. Đó là khả năng đưa ra quyết định và hành động thích hợp trong một tình huống cụ thể. Điều này đòi hỏi phải tìm hiểu cặn kẽ nguồn cơn của vấn đề xã hội, hậu quả của những biện pháp nhằm giải quyết vấn đề, cả trong hiện tại và quá khứ. Theo một nghĩa nào đó, đây cũng chính là điều mà các môn học xã hội vẫn thường hướng đến: nguồn gốc của các vấn đề xã hội và tác động của con người lên chúng. Chẳng hạn, một cam kết về phát triển bền vững là không đủ để đưa môi trường trở về như trước đây; hay thậm chí việc thay đổi mô hình kinh tế và môi trường dựa trên chia sẻ của những người bị ảnh hưởng cũng không giải quyết triệt để vấn đề. Học sinh cũng phải tìm hiểu động cơ của những mô hình đó, nếu không, các em sẽ hiểu sai về các biện pháp này.     Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của cá nhân và chính phủ trước các vấn đề này được thực hiện, góp phần nâng cao khả năng đánh giá của học sinh về những biện pháp trong tương lai. Các quốc gia đã phản ứng như thế nào trước làn sóng di cư, biến đổi khí hậu, nội chiến, v.v.. và những phản ứng này đã mang lại điều gì? Những thông tin kiểu như vậy đầy rẫy trên Internet, và việc sử dụng những thông tin này đúng cách đòi hỏi học sinh không chỉ có khả năng đặt nghi vấn mà còn biết tìm kiếm câu trả lời, đánh giá độ tin cậy và hữu ích của những dữ liệu họ tìm được, từ đó rút ra kết luận hỗ trợ nguồn thông tin đã có trong tay.     Quan trọng là học sinh phải nhận ra rằng lòng nhân từ, sự lắng nghe và sự khôn ngoan thực tiễn đều phụ thuộc vào kiến thức có được. Tuy nhiên, các nhà giáo dục cũng phải nhận ra rằng kiến ​​thức không phải là hàng hóa để thu gom; cái thời mà học sinh phải nhồi nhét một lượng thông tin khổng lồ đã qua. Giờ đây, kiến ​​thức là nguồn nguyên liệu thô mà học sinh phải sử dụng để xử lý các vấn đề xã hội; họ phải tương tác với nó để khơi dậy lòng nhân từ, lắng nghe người khác và phát triển sự khôn ngoan thực tiễn. Tương tác và ghi nhớ là hai quá trình rất khác nhau, và theo một cách nào đó có vẻ như là trái ngược nhau. Trong các hình thức giáo dục cũ hơn, học sinh ​​sẽ ghi nhớ một khối kiến ​​thức, để một lúc nào đó trong tương lai họ sẽ rút ra sử dụng trong trường hợp cần thiết. Trong khi đó, với hướng tập trung vào các vấn đề xã hội, việc sử dụng kiến ​​thức được đặt lên hàng đầu và nội dung chương trình giảng dạy được chọn lọc để học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức của mình hòng giải quyết các vấn đề đó. Phương pháp này vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội, vừa phù hợp với cách học của học sinh ngày nay.     Những nỗ lực này phải có trọng tâm cụ thể. Rất khó để định hướng học sinh mở rộng lòng nhân từ một cách chung chung, đối với tất cả vấn đề. Rốt cuộc, chúng ta đều biết rằng việc tử tế với tất cả mọi người là bất khả thi. Thay vào đó, chương trình giảng dạy phải giúp hình thành trong học sinh lòng nhân từ trước những chủ đề cụ thể, hơn là mong đợi rằng một khi các em trở nên nhân từ đối với một vấn đề xã hội, các em cũng sẽ có phản ứng tương tự đối với những vấn đề khác. Tương tự như vậy, chúng ta đừng hi vọng có thể giúp học sinh lắng nghe nhiều quan điểm một cách chung chung, hoặc có thể đánh giá thông tin một cách chính xác trong mọi vấn đề, mặc dù điều này có vẻ là một phương pháp giáo dục hấp dẫn. Một lần nữa, tất cả chúng ta đều biết không phải lúc nào các em cũng có khả năng tiếp nhận những quan điểm khác nhau, hoặc suy luận một cách logic trong mọi chủ đề. Chương trình học cần giúp học sinh tiếp cận với những quan điểm và thông tin khác nhau trong các chủ đề cụ thể, cũng như vận dụng kiến thức của mình về các vấn đề đó.      Thế giới đang thay đổi, và các trường học cũng không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên một số khía cạnh của giáo dục vẫn sẽ khởi nguồn từ những ý tưởng đã cũ, ít nhất là từ thời Khổng Tử hoặc Aristotle. Mặc dù các nhà giáo dục dự kiến ​​sẽ triển khai các công nghệ mới và cập nhật xu hướng mới, nhưng họ không nên bị phân tâm bởi vì đây chỉ là những phương tiện mới và bối cảnh mới, trong cuộc chiến giải quyết những vấn đề vốn vẫn tồn tại trong lịch sử từ xưa đến nay. Khoa học xã hội phải trang bị cho học sinh những kỹ năng và kiến thức cần thiết, để các em có thể cùng nhau chịu trách nhiệm về tương lai của chính mình. □     Đinh Hà dịch  Mạng lưới Giáo dục (EduNet) trực thuộc Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE-Global) khởi xướng chương trình hành động 2019 – 2030 vì “Trường học ngày mai – Công dân tương lai” nhằm đóng góp vào cuộc thảo luận cải cách và đổi mới tư duy giáo dục ở Việt Nam thông qua một cách tiếp cận có cơ sở khoa học và đồng thuận của nhiều tác nhân (người ra chính sách giáo dục, chuyên gia, giáo viên, học sinh và phụ huynh). Trong khuôn khổ đó, năm nay EduNet) cùng phối hợp với Đại học Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức Diễn đàn Giáo dục Việt Nam 2020 (diễn ra ngày 9/6) với chủ đề “Trường học ngày mai, Công dân tương lai” để cùng xác định lại phương châm và mục tiêu giáo dục, hiện đại hóa phương pháp sư phạm, tái định nghĩa vai trò của các tác nhân, hướng tới những thay đổi tích cực và bền vững cho giáo dục Việt Nam.  Diễn đàn 2020 nêu ra các chủ đề lớn:  1. Định nghĩa lại những mục tiêu của giáo dục cho thế kỷ 21  2. Hợp tác trong giáo dục, phát triển các ngành khoa học xã hội, gây dựng xã hội học tập  3. Dạy và học, đào tạo giáo viên, vai trò của trường học trong thời đại số hóa.  EduNet hân hạnh được cộng tác với Tia Sáng để gửi đến bạn đọc những tham luận của các diễn giả khách mời, các giáo sư đại học và các chuyên gia giáo dục. Độc giả có thể theo dõi nội dung và đăng ký tham dự trực tuyến tại đây: https://ves.sciencesconf.org/  —  *Giáo sư Keith C. Barton là giảng viên Đại học Indiana (Hoa Kỳ)  Phó Giáo sư Li-Ching Ho là giảng viên Đại học Wisconsin-Madison (Hoa Kỳ).     Nguồn tham khảo:  Barton, K. C., & Ho, L.-C. (in press). Cultivating sprouts of benevolence: A foundational principle for curriculum in civic and multicultural education. Multicultural Education Review.   Parker, W. C. (2003). Teaching democracy: Unity and diversity in public life. Teachers College Press.  Sen, A. (2009). The idea of justice. Cambridge, MA: Harvard University Press.   Tu, W. M. (1985). Confucian thought: Selfhood as creative transformation. Albany, N.Y.: SUNY Press.  Van Norden, B. W. (2009). The essential Mengzi: Selected passages with traditional commentary. Indianapolis, IN: Hackett Publishing.     Author                Keith C. Barton - Li-Ching Ho        
__label__tiasang Thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc      Ngày nay, khi hỏi bất kỳ người Việt Nam nào về thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, hầu như câu trả lời chắc chắn sẽ là năm 938. Dấu chấm hết cho một giai đoạn lệ thuộc là chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán. Tuy nhiên, ít người để ý đến việc vì sao các sử gia, các nhà nghiên cứu lịch sử lại CHỌN thời điểm đó, tiêu chí để xác định là gì, và họ chọn thời điểm đó với mục đích gì. Ngoài ra, còn có những thời điểm nào khác đã được đề xuất, với tiêu chí khác, và dĩ nhiên với những mục đích khác? Bài viết này sẽ giới thiệu CÁC mốc thời gian đã từng được đề xuất cũng như thảo luận về những vấn đề có liên quan như đã nêu.      Mô phỏng chiến thắng Bạch Đằng năm 938    Giả thuyết 1: năm 938  Đề xuất này có từ khá sớm, ít nhất là từ thế kỷ XV qua cách phân kỳ lịch sử của Ngô Sĩ Liên. Tuy nhiên, Ngô Sĩ Liên chọn năm 939 làm thời điểm đầu tiên của kỷ nguyên độc lập tự chủ, còn năm 938 được chọn làm thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc. Có hai tiêu chí được sử dụng ở đây. Trong đó, CHIẾN THẮNG trước quân đội phương Bắc được dùng để chọn thời điểm kết thúc; xây dựng triều đại được dùng để xác định thời điểm mở đầu1.  Cách phân kỳ của Ngô Sĩ Liên hẳn đã có ảnh hưởng lớn đến phần lớn các sử gia trong nhiều thế kỷ sau. Sách “Lịch sử Việt Nam” (1971) ghi: “Chiến thắng oanh liệt của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng cuối năm 938 kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn nghìn năm. Dân tộc ta đã giành lại được quyền làm chủ đất nước. Một thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc bắt đầu.”2 Giáo trình “Tiến trình lịch sử Việt Nam” (2010) ghi: “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là cái mốc bản lề của lịch sử Việt Nam. Nó chấm dứt vĩnh viễn nền thống trị hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập thực sự và lâu dài của dân tộc.”3 “Dấu chấm cuối cùng là để ở năm 938: bút là giáo gươm, mực là sông Bạch Đằng, theo tôi hợp lý hơn và đẹp hơn.”4 Cách bình luận của GS Trần Quốc Vượng cho thấy ông đang phải lựa chọn giữa các mốc thời điểm khác nhau. Mốc 938 được chọn phải chăng vì nó gắn với một chiến thắng rực rỡ, oanh liệt, có tầm về nghệ thuật quân sự: một trận thủy chiến với sự thông hiểu con triều. Rồi sau đó, cách đánh này còn được dùng lại thời Lê Hoàn chống Tống và Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông: “trận Bạch Đằng lịch sử, vừa xóa sổ cả đạo thủy quân Nam Hán xâm lược, vừa giết chết cả chủ tướng: Thái tử Hoằng Thao”5. Hơn nữa, có thể thấy, từ góc độ rộng lớn hơn, Ngô Quyền đã “trấn diệt thù trong, tiêu diệt giặc ngoài”6. Cách dùng chữ như vậy, hẳn có đối chiếu với lịch sử Việt Nam quãng những năm sáu bảy mươi của thế kỷ XX. Ở đây, chúng ta đã thấy việc nghiên cứu của các nhà sử học đã ít nhiều có sự điều chỉnh của bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện đại.  “Nhưng dù sao, với thời điểm năm 938, chúng ta có thể thấy, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, các sử gia và các nhà nghiên cứu lịch sử đã dùng chung một tiêu chí để xác định thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc, ấy là một CHIẾN THẮNG.  Nhưng điểm đáng bàn đến ở đây, chiến thắng Bạch Đằng không phải là chiến thắng đầu tiên của thế kỷ X. Chính vì thế, trước nay đã có một số đề xuất khác, như sẽ trình bày dưới đây.  Giả thuyết 2: năm 931  Ý kiến này được đưa ra bởi hai nhà sử học Nguyễn Diên Niên và Phan Bảo trong bài viết “Dương Đình Nghệ với ba nghìn người giả tử của ngài (Hay ai là người khai sinh nền độc lập dân tộc lần thứ nhất?)”7 Khởi đầu bài viết, các tác giả đã dẫn một đoạn sử liệu như sau:  “Dương Đình Nghệ người Ái Châu, nuôi ba nghìn giả tử, mưu đồ khôi phục Giao Châu. Viên tướng cai quản Giao Châu người Hán là Lí Tiến đã biết, nhưng ăn hối lộ của Nghệ nên làm như không nghe thấy. Năm này (tức năm Tân Mão 931), Đình Nghệ dấy quân bao vây Giao Châu, vua Hán sai Thừa chỉ Trình Bảo sang cứu, chưa đến nơi thành đã nguy ngập. Tiến bỏ trốn về bị vua Hán giết chết. Bảo vây Giao Châu, Đình Nghệ ra đánh, Bảo phải thua và tử trận.”8 Dương Đình Nghệ tự xưng làm Tiết độ sứ, vua Nam Hán “biết chẳng thể tranh với ngài được nữa, đành bái tướng Tiết độ sứ châu Giao”9.  Trong đó, các tác giả đã đưa ra những lý lẽ như sau:  (1) Dương Đình Nghệ đã gây dựng “một tổ chức chính trị bí mật” (ba ngàn giả tử) với mục tiêu khôi phục lại Giao Châu;  (2) Đánh đuổi Thứ sử Lý Tiến về nước, và đánh bại quân tiếp viện Trần Bảo;  (3) Tiếp tục việc tự trị, “trông coi việc ở châu”, “khước từ mọi sự can thiệp từ bên ngoài”.  Có thể thấy, các tác giả vẫn lấy tiêu chí “chiến thắng quân sự” để xác định lại thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc. Điều quan trọng nhất mà các tác giả đưa ra ở đây chính là sự kiện chiến thắng Trần Bảo xảy ra trước chiến thắng Bạch Đằng bảy năm10.  Giả thuyết 3: năm 905  Đây là một thời điểm mà cũng không ít người nghĩ đến, như trăn trở của GS Trần Quốc Vượng11. Suy nghĩ này dựa trên sử liệu trong sách Tư trị thông giám: “năm Ất Sửu, tặng Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ Khúc Thừa Dụ chức Đồng Bình chương sự. [Trước đó] Khúc Thừa Dụ nhân loạn mà chiếm cứ An Nam”12.  Năm 1996, A.B. Poliacop trong cuốn “Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV” đã lần đầu đề xuất thời điểm năm 905 một cách chính thức. Ông đánh giá Khúc Thừa Dụ là người mở ra một thời đại mới. Ông xác định năm 905 “là bước khởi đầu của các triều đại độc lập thực sự đầu tiên”13. Tác giả cho rằng, với sự truyền thừa qua ba đời (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ)14 và với việc xây dựng hệ thống hành chính và luật lệ mới, họ Khúc thực sự đã chứng tỏ “tinh thần độc lập tự chủ”15, “chấm dứt thời kỳ mất nước”16.  Đến năm 2010, cách phân kỳ này chính thức được nhóm Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đưa vào giáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam. Giáo trình này đã dành riêng một chương để viết về “Thế kỷ X: xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập, tự chủ và thống nhất thời Khúc – Ngô – Đinh – Tiền Lê” (Chương V) thuộc “thời đại phong kiến dân tộc”17. Các tác giả đã viết như sau: “từ năm 905, dù những người đứng đầu đất nước chưa thành lập vương triều và theo xu hướng chung của thời điểm đó, nhận chức Tiết độ sứ, “kỷ nội thuộc Tùy – Đường” như cách nói của người xưa hay đầy đủ hơn là thời Bắc thuộc nói chung đã chấm dứt vĩnh viễn… Nói cách khác, từ năm 905, đất nước ta chuyển sang một thời đại mới, thời đại độc lập, tự chủ dưới chế độ phong kiến”18.  ***  Có thể thấy, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX-XXI, tiêu chí quan trọng nhất được dùng để xác định thời điểm chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc chính là CHIẾN THẮNG trước giặc ngoại xâm. Đây là tiêu chí được đưa ra bởi những học giả theo các giả thuyết 931 và 938. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 được chọn có thể dựa trên những lý do: (1) Đây là một chiến thắng lớn, một chiến thắng đẹp về lịch sử quân sự; (2) Ngô Quyền đã xưng vương ngay sau đó. Lý do để họ bác bỏ thời điểm năm 931 là vì Dương Đình Nghệ thì lại xin “sách phong”19 Tĩnh hải quân Tiết độ sứ từ phương Bắc. Đến thế kỷ XX, tiêu chí CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ tiếp tục được đề cao trong bối cảnh Việt Nam đã/ đang phải tiến hành các cuộc chiến tranh trước các thế lực của Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Có thể thấy rõ điều này qua bài viết của Văn Lang. Tác giả cho rằng trong thế kỷ X, yếu tố tiên quyết của nền độc lập chính là BẠO LỰC QUÂN SỰ, bạo sự quân sự là “động lực”, là “người đỡ đẻ” của độc lập tự chủ20.  Trong khí đó, Poliacop lưu ý rằng, các “nhà nghiên cứu Việt Nam hiện đại đánh giá quá cao ý nghĩa của chiến thắng trên sông Bạch Đằng trong bối cảnh giành lại nền độc lập”21. Ông khẳng định Dương Đình Nghệ cũng đã làm được một chiến thắng trước đó bảy năm (931). Và như những gì mà nhà nghiên cứu này đưa ra trong giả thuyết 905, dường như ông đã từ chối tiêu chí chiến thắng. Ông viết: năm 905, nhà Đường suy vi, viên Tiết độ sứ Trung Quốc cuối cùng là Độc Cô Tôn bị triệu khỏi Giao Châu, Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ chiếm đóng phủ Tống Bình. Nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ như một việc đã rồi. Năm 907, nhà Đường cũng mất, nhà Hậu Lương lên thay cũng đã công nhận chính quyền của họ Khúc22.  Đến đây, chúng tôi muốn tổng kết lại các tiêu chí mà các nhà nghiên cứu trước đây đã sử dụng.  Có thể thấy, tiêu chí quan trọng nhất nên được dùng ở đây là sự TỰ TRỊ và HỆ THỐNG HÀNH CHÍNH do NGƯỜI BẢN ĐỊA hoặc những người đã bản địa hóa điều hành. Việc giành được chính quyền năm 905 của Khúc Thừa Dụ dường như đã bị quên lãng chỉ vì phương thức khá “hòa bình”23 của Khúc Thừa Dụ và sự thất bại của Khúc Thừa Mỹ vào năm 930. Đây chính là lý do khiến các sử gia có tinh thần quốc gia dân tộc đã không lấy ba đời họ Khúc làm triều đại mở đầu, thay vào đó họ dùng các uyển ngữ “người đặt cơ cở cho nền độc lập”, hoặc đặt vào kỷ “Nam Bắc phân tranh”. Nhiều học giả đã tuyệt đối hóa tiêu chí thắng – bại để ra kết luận cuối cùng. Thế nhưng, ngay cả khi dùng tiêu chí chiến thắng, họ dường như cũng cố gắng bỏ qua sự kiện năm 931 của Dương Đình Nghệ; lý do đưa ra là Dương Đình Nghệ đã nhận sách phong của phương Bắc. Song qua bảng trên, ta thấy việc sách phong của Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Ngô Quyền cũng đã bị bỏ qua. Thực chất, người ta đã không biết rằng: việc sách phong này luôn được thực hiện như một đối sách ngoại giao mềm mỏng của tất cả các triều đại trong lịch sử.  Tóm lại, với quan niệm nền độc lập phải được xác quyết bằng một chiến thắng trước giặc ngoại xâm, phần lớn các sử gia Việt Nam từ thế kỷ XV đến nay đã ấn định năm 938 như là dấu chấm hết cho giai đoạn Bắc thuộc. Tiêu chí chiến thắng bằng bạo lực quân sự dường như là một công cụ thường hằng của các sử gia nhằm phục vụ cho bối cảnh chính trị của Việt Nam – nơi luôn trải qua các cuộc xâm lăng của ngoại quốc.  Nhìn từ một góc độ thuần túy sử học như Poliacop thì nền độc lập đã được hình thành do áp lực quân sự của người bản địa trong bối cảnh đế chế Đại Đường đang ở chặng cuối của sự tan rã. Xu thế phân mảnh của một đế quốc và ý thức tự trị (cát cứ24) của các nhóm thế lực là hai nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự hình thành mười quốc gia thời Ngũ Đại và sự độc lập của mảnh đất phương Nam.  ———————-     1 Tuy nhiên, bài này sẽ chỉ tập trung khảo sát, thảo luận về thời điểm kết thúc. Còn thời điểm khởi đầu xin được trình bày trong một dịp khác.  2 Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. 1971. Lịch sử Việt Nam. (Tập 1). NXB Khoa học Xã hội. H. Tr.141.  3 Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Vũ Minh Giang, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến, Phạm Xanh. (2010). Tiến trình lịch sử Việt Nam (tb. Lần 10). NXB Giáo dục Việt Nam. HN.  4 Trần Quốc Vương. 1984. Việt Nam thế kỷ X – văn hóa – văn minh. Trong “Thế kỷ X: những vấn đề lịch sử”. NXB KHXH. H. Tr.222.  5 Văn Lang. 1984. Thế kỷ X – một đặc điểm quân sự và quân sự học. Trong “Thế kỷ X: những vấn đề lịch sử”. NXB KHXH. H. Tr. 189. Hoằng Thao: thực ra là “Hồng Tháo”.  6 Như trên  7 http://vanhoanghean.com.vn (Thứ hai, 21/11/2011 10:12)  8 Tư Mã Quang. 1084. Tư trị thông giám. quyển 277.  9 Âu Dương Tu. 1053.  Tân Ngũ đại sử, quyển 60.  10 Mặt khác, nhiều học giả đã khẳng định tầm ảnh hưởng của họ Dương trong suốt thế kỷ X. Thời đại của Dương Đình Nghệ tồn tại trong sáu năm, cho đến khi ông bị Kiều Công Tiễn sát hại. Nhưng nhìn từ tổng thể, họ Dương đã để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử thế kỷ X. Con rể ông – Ngô Quyền ngay sau đó đã đem quân từ châu Ái ra diệt Kiều Công Tiễn và làm nên chiến thắng Bạch Đằng. Những con rể khác của họ Ngô như Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn ít nhiều nắm được quyền tối cao đều phải dựa vào mối quan hệ hôn nhân này.  11 Trần Quốc Vượng. 1984. bđd. Tr.222.  12 Nguồn sử liệu này không thấy đề cập trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng đã được Việt sử thông giám cương mục đề cập.  13 A.B. Pôliacốp. 1996. Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X- XIV. Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân dịch; Lê Đình Sỹ, Nguyễn Xuân Mạnh, Hán Văn Tâm hiệu đính. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia. H. Tr.22.  14 Quãng thời gian tồn tại hiện có hai giả thuyết: (1) 18 năm (905-923) theo Toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục; (2) 26 năm (905-930) theo Việt sử lược, An Nam chí lược [xem thêm Đỗ Danh Huấn. 2012. Lại bàn đến sử liệu viết về họ Khúc. Trong “Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa”. NXB Thế giới. H. 485- 506].  15 A.B. Pôliacốp. 1996. sđd. Tr. 23.  16 A.B. Pôliacốp. 1996. sđd. Tr.29.  17Đây là một cách phân loại rất khác so với các sử gia truyền thống (như Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy), qua các thuật ngữ “Nội kỷ”, “Ngoại kỷ”, xem Phan Huy Lê. 1998. Đại Việt sử ký toàn thư: Tác giả- văn bản – tác phẩm. Trong “Đại Việt sử ký toàn thư”. NXB KHXH. H. Tr.25.  18 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh. (2010). Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1). NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội. tr.102  19 Sách phong: là chế độ ngoại giao mà các triều đại Trung Hoa công nhận quan hệ với các nước lân bang mà họ coi là phiên quốc bằng cách phong tước cho những người đứng đầu của các nước này. Ví dụ một số tước phong:  An Nam đô hộ phủ, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ hoặc An Nam quốc vương.  20 Văn Lang. 1984. bđd. Tr.192.  21 A.B. Pôliacốp. 1996. sđd. Tr. 28.  22 A.B. Pôliacốp. 1996. sđd. Tr.21-22.  23 Keith Weller Taylor. 1983. The Birth of Vietnam. University of California Press. Berkeley. tr.259.  24 Keith Weller Taylor. 1983. sđd. tr.261.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Thông điệp của Obama và sự chú trọng của Mỹ với nguồn nhân lực các ngành STEM      Ngày 23/5, trong buổi họp báo với Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Tổng thống Barack Obama đã nói về việc Mỹ hỗ trợ Việt Nam trong việc phát triển các ngành STEM: “Những cơ sở học thuật và công nghệ hàng đầu như Intel, Oracle, Đại học Arizona State và những đơn vị khác sẽ giúp các trường Đại học Việt Nam nâng cao việc đào tạo trong các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.”    Tổng thống Barack Obama trong ngày hội khoa học tại Nhà Trắng 2015  Thông điệp trên của Obama – vị Tổng thống hết sức tâm huyết và ủng hộ các chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát triển giáo dục STEM – cho thấy việc hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực các ngành STEM là một trong những nội dung quan trọng được phía Mỹ quan tâm. Lâu nay, giáo dục STEM là một yêu cầu cốt lõi trong chiến lược phát triển của Mỹ, bởi họ cho rằng đây là cách đầu tư tốt vào nguồn lực con người nhằm thúc đẩy nền kinh tế tri thức và phát triển bền vững, giải quyết những vấn đề nóng của bản thân nước Mỹ cũng như thế giới. Trong chiến lược giáo dục STEM trên website của Nhà Trắng có đoạn: “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò trung tâm trong chính sách ngoại giao của Mỹ thế kỉ 21 và thiết yếu đối với nỗ lực của chính phủ trong việc xây dựng và duy trì một thế giới dân chủ, an toàn, khỏe mạnh và thịnh vượng”.  Trong bài phát biểu ngày 24/5, Tổng thông Obama cũng chia sẻ: “Trong những nền kinh tế tri thức, việc làm đến từ những nơi mà con người có tự do theo đuổi những điều mình muốn, trao đổi ý tưởng và để đổi mới sáng tạo. Và những hợp tác kinh tế thực sự không phải là chỉ quốc gia này lấy nguồn lực từ quốc gia khác. Đó là đầu tư vào những nguồn lực tốt nhất của chúng ta, chính là con người của chúng ta, những kĩ năng và tài năng của họ, dù cho họ sống ở thành phố lớn hay nông thôn. Và đó là cách hợp tác mà Mỹ đưa ra”.  Ở Việt Nam, giáo dục STEM vẫn còn là khái niệm tương đối xa lạ với đại chúng. Các học sinh Việt Nam lâu nay được cho là học khá các môn tự nhiên, nhưng trên thực tế tư duy học tập chưa mang tính gắn kết chặt chẽ giữa học và hành, chưa tích hợp ngành này và ngành khác để tạo ra các sản phẩm thiết thực cụ thể như giáo dục STEM luôn hướng tới. Chính vì vậy, các môn khoa học chưa tạo niềm đam mê cho học sinh, các em ít có động lực hướng tới các ngành STEM, đồng thời nguồn nhân lực khoa học – kỹ thuật được đào tạo qua các bậc học chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đời sống.  Tuy nhiên, trong vòng 5 năm qua, trong cộng đồng xã hội đã bắt đầu có sự quan tâm đến giáo dục STEM, xuất phát từ các tổ chức tư nhân dưới hình thức tổ chức các CLB Khoa học trong các trường tiểu học và một số ít các trường THCS với mục đích để các em sử dụng kiến thức từ các môn khoa học nhằm giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống. Quá trình này không chỉ khơi gợi niềm đam mê khoa học, định hướng nghề nghiệp cho các em sau này mà còn hình thành những kĩ năng quan trọng trong công việc sau này như kĩ năng tự học, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình…   Về phía Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam hiện đang thay đổi chương trình học hướng đến giáo dục tích hợp và giáo dục định hướng năng lực. Khi đó, giáo dục STEM sẽ được áp dụng rộng rãi hơn và có thể phổ cập trên cả nước. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang kết hợp với Hội Đồng Anh để thí điểm GD STEM trong 9 trường THCS và THPT ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng thể hiện quan điểm hết sức ủng hộ giáo dục STEM, qua việc bảo trợ cả ba ngày hội STEM được tổ chức  liên tiếp trong khoảng 1 năm nay tại Hà Nội và TP HCM, thu hút sự quan tâm tham gia của hàng nghìn trẻ em, phụ huynh, cùng rất nhiều trường tiểu học, trung học – trong đó có không ít các trường đến từ các vùng nông thôn.   Trong bối cảnh đó, chúng ta hi vọng rằng việc hỗ trợ đào tạo các ngành STEM của Mỹ đối với các trường Đại học Việt Nam sẽ là một tín hiệu góp phần quan trọng thu hút sự quan tâm và nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ cũng như các bậc phụ huynh đối với giáo dục STEM, đồng thời sự hỗ trợ đó sẽ giúp hình thành đội ngũ những người có đủ năng lực để tổ chức, tư vấn, đào tạo giáo viên cho các hoạt động STEM ở các trường học, đáp ứng nhu cầu của đất nước về nhân lực STEM dự kiến sẽ bùng nổ trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất: Những thắc mắc thường gặp      Biết nói là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong quá trình phát triển của bất kì đứa trẻ nào, bởi lẽ, biết nói tức là trẻ đã chiếm lĩnh được một cách chính thức một công cụ tư duy và biểu đạt tường minh và vẹn toàn nhất của con người. Do vậy mà bậc cha mẹ nào cũng dành nhiều thời gian nhất để quan tâm, theo dõi và uốn nắn,… quá trình học và phát triển ngôn ngữ của con em mình (Trẻ lên ba cả nhà học nói). Các nhà khoa học thường gọi quá trình này là thụ đắc ngôn ngữ.  Có phải mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc như nhau?      Mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc ngôn ngữ như nhau  Xét ở những bước, giai đoạn cơ bản và quan trọng nhất thì có thể nói rằng mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc ngôn ngữ như nhau, bất luận là chúng nói ngôn ngữ nào hoặc nói được ít hay nhiều ngôn ngữ. Việc thụ đắc ngôn ngữ cũng giống như việc học cách chơi một trò chơi. Nếu xem ngôn ngữ là một trò chơi thì trẻ em cũng phải học cách chơi trò chơi này. Các quy tắc của trò chơi ngôn ngữ mà một đứa trẻ phải học là các quy tắc về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng (cách sử dụng ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể). Ví dụ như, trẻ phải học cách phát âm các từ, cách lên giọng hay xuống giọng trong câu nói, cách đặt các từ cùng nhau, cách sử dụng khác nhau của những từ đồng nghĩa, cách sử dụng các từ nối, cách đặt câu hỏi, cách nói lịch sự, cách từ chối lời mời, cách chấp nhận lời đề nghị, cách bác bỏ một yêu cầu,…      Trẻ có học và sử dụng ngôn ngữ như người lớn?  Trẻ không học và sử dụng ngôn ngữ như người lớn thường làm. Lời giải thích hết sức đơn giản và nghe có vẻ “hơi cùn” cho điều này là  “Trẻ em là trẻ em! Người lớn là người lớn!”. Việc thụ đắc ngôn ngữ của trẻ là một quá trình lâu dài, tuần tự và đầy rẫy những lỗi có lí do rất chính đáng và rất thuyết phục. Những lỗi này, về bản chất, rất khác những lỗi học và sử dụng ngôn ngữ của người lớn. Lỗi học và sử dụng ngôn ngữ của trẻ là một cái gì đó có tính tất yếu, không thể không trải qua, để từ đó trẻ có thể phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ của mình. Những lỗi này dù có được người lớn sửa ngay tức thì hay không thì cũng chẳng hề quan trọng hay ảnh hưởng gì nhiều đến quá trình phát triển ngôn ngữ của đứa trẻ, vì những lỗi này theo thời gian sẽ mất đi một cách tự nhiên. Ví dụ, khi mới học nói trẻ có thể nói  mồm của cái phích, cây chảy máu, con vịt đang nói và cười,… Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi trẻ mắc những lỗi nói liên quan đến ứng xử, đạo đức, các bậc cha mẹ vẫn cứ bỏ mặc mà không uốn nắn chúng.      Trẻ học loại ngôn ngữ nào và học như thế nào?  Ngôn ngữ mà trẻ sẽ học chính là ngôn ngữ mà đứa trẻ được tiếp xúc một cách trực tiếp, liên tục ngay từ đầu. Ngôn ngữ, phương ngữ nào đang được sử dụng chung quanh đứa trẻ, thì chính ngôn ngữ, phương ngữ đó sẽ được đứa trẻ học lấy một cách tự nhiên, vô thức. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên cả khi một đứa trẻ có cha mẹ nói giọng Bắc nhưng chính đứa trẻ ấy hoàn toàn lại có thể nói giọng Nam khi chúng sinh ra và lớn lên ở môi trường mà những người nói chuyện với chúng hằng ngày hằng giờ nói giọng Nam. Khi bắt đầu bập bẹ, trẻ sẽ nói theo cách nói của cha mẹ hay người chăm sóc chúng, khi mà chúng chơi đùa cùng những đứa trẻ khác (nhất là khi trẻ được khoảng 3 tuổi) trẻ sẽ nói cái ngôn ngữ như những đứa trẻ cùng trang lứa. Chính lúc này, cha mẹ rất khó có thể kiểm soát được cách nói năng của trẻ. Chúng sẽ có giọng nói riêng, chúng sẽ học những từ ngữ mà chúng cần, những cách nói mà chúng thấy hấp dẫn,… Giả dụ rằng các bậc cha mẹ hay những người chăm sóc trẻ “nói ngọng” (như không phân biệt được  l (lờ cao) hay n (nờ thấp), không phân biệt được dấu hỏi (?) và  dấu ngã (~), phát âm  nói chuyện thành nói chiện,…), gọi con tôm là  con tép, gọi cái chảo là  cái sanh, nói  thái thịt thành  sái thịt,… thì chúng ta chỉ có hai giải pháp hay lựa chọn mà thôi: một là chấp nhận những lỗi ấy; hai là không chấp nhận những lỗi ấy bằng cách tự mình phải nói chuẩn, hay phải chuyển môi trường sống, hay phải thay người giúp việc,… Cũng tương tự như thế, nếu cha mẹ không phân biệt được giữa cách nói l và  n, hỏi và  ngã,…. nhưng lại sống ở vùng không mắc những lỗi này thì các bậc cha mẹ cũng yên tâm rằng con mình sẽ mặc nhiên cũng không mắc lỗi vì bản thân cha mẹ cũng chỉ là một thiểu số trong đa số thành viên của cộng đồng nơi con cái mình đang sống.  Trẻ học những gì diễn ra quanh chúng, ví dụ như cách mặc quần áo, cách sắp bàn ăn, các cử chỉ,… qua những gì cha mẹ hay người giúp việc nói và làm, sau đó là qua hàng xóm, nhà trường, xã hội,… Điều này cũng có nghĩa là trẻ đang học cách thực hiện và tuân thủ các chuẩn mực về lời nói và việc làm có tính xã hội. Chúng ta nói và dạy trẻ biết thế giới xung quanh của chúng ta và trẻ học qua những gì chúng ta nói và dạy trẻ. Trẻ cũng học ngôn ngữ của chúng ta, học cách thức chúng ta sử dụng ngôn ngữ nói chuyện và dạy dỗ chúng. Điều này cũng có nghĩa là ngôn ngữ mà trẻ đang học chính là cái ngôn ngữ đang được sử dụng quanh chúng.     Trẻ cần gì để loại những lỗi ngôn ngữ đó?  Những lỗi cơ bản như ta đã nói ở trên hoàn toàn có thể được trẻ loại bỏ một cách tự nhiên theo thời gian. Điều này cũng có nghĩa là: Trẻ cần thời gian thực sự để học nói một cách tự nhiên và cũng cần thời gian thực sự để loại bỏ một cách tự nhiên những lỗi trong quá trình học nói. Hai chữ  “tự nhiên” ở đây có một vai trò quan trọng. Tự nhiên đó là sự tự nhiên và bình thường về mặt tâm lí. Sức ép về mặt tâm lí khi đứa trẻ học nói và bị mắc lỗi khi học nói là điều cần tránh. Trẻ cần một môi trường tâm lí hoàn toàn thoải mái, tự nhiên để học ngôn ngữ và loại bỏ lỗi ngôn ngữ mắc phải trong quá trình học ngôn ngữ. Các bậc cha mẹ cần biết và quan tâm đến điều này. Nếu các cha mẹ muốn tác động đến quá trình sửa và loại bỏ lỗi này thì làm thế nào? Cách tốt nhất là cha mẹ phải vui vẻ nói chuẩn và vui vẻ lặp lại một cách tự nhiên cách nói chuẩn đó để trẻ có thể nghe và tự điều chỉnh dần dần một cách đương nhiên.      Trẻ có bắt chước ngôn ngữ của người lớn một cách y hệt hay không?  Trẻ không hề lặp lại một cách đơn giản những gì mà chúng được nghe, được thấy. Cái mà trẻ được nghe, được thấy, được học không hề đồng nhất và có cùng “hình dạng biểu hiện” với cái mà trẻ nghe được, thấy được và học được. Bởi lẽ, chúng là những sinh thể đang phát triển, đang tự hoàn thiện về thể chất, trí tuệ và tâm lí, đang phát triển và hoàn thiện sự nhận thức và năng lực nhận thức của mình. Chúng là những sinh thể đang tự sản sinh ra mình và đang từ từ tự hoàn thiện mình trong môi trường với sự tương tác và hướng dẫn của người lớn. Không phải ngay từ đầu là đứa trẻ đã có thể sử dụng được ngay các bộ phận cấu âm của mình để biểu đạt một cái gì đó chính xác như người lớn. Chúng cần phải học hỏi cách để tri giác, cảm nhận và nhận thức xung quanh. Chúng thực hiện điều này bằng sự điều chỉnh liên tục những kết quả nhận thức của chúng sao cho phù hợp với năng lực ngôn ngữ và nhận thức của chúng. Chúng sẽ tự động loại bỏ những gì là quá phức tạp mà chúng không thể hiểu nổi khỏi hệ thống tri giác và nhận thức của mình. Sự khác biệt giữa năng lực sinh học và năng lực nhận thức của trẻ chính là một vấn đề đối với quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ.        Ngôn ngữ và lời nói của trẻ có đồng nhất với nhau hay không?  Ngôn ngữ học phân biệt rất rõ ràng hai khái niệm ngôn ngữ và lời nói. Ngôn ngữ là cái trừu tượng chung của xã hội và được thể hiện ra bằng lời nói dưới dạng âm thanh cụ thể của từng cá nhân. Lời nói và ngôn ngữ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Lời nói gắn với năng lực thể chất, trong khi đó ngôn ngữ gắn với năng lực trí tuệ. Ví dụ, trẻ hiểu từ thịt, nhưng ta hỏi trẻ ăn thịt hay ăn sịt, trẻ sẽ nói là  ăn sịt chứ không thể nói ăn thịt với ý định là  ăn thịt. Trẻ nhận ra rằng phát âm ăn sịt là không được bình thường, nhưng trẻ không thể nào phát âm được như là  ăn thịt như người lớn. Ở đây ngôn ngữ của trẻ là  thịt nhưng lời nói của trẻ lại là  sịt. Nếu ta chọc giận trẻ với từ sịt, rất có thể trẻ sẽ bực mình với những lời nói này. Hay một ví dụ tương tự và phổ biến khác là, trong tiếng Việt, khi học nói, hầu hết các từ có dấu ngã đều có xu hướng được trẻ phát âm giống như dấu hỏi hoặc nặng. Ở ví dụ này, cái ngôn ngữ trong đầu đứa trẻ chính là  dấu ngã, nhưng biểu hiện lời nói bên ngoài lại thường là  dấu hỏi hay dấu nặng, vì cách phát âm của dấu hỏi và  dấu nặng dễ và tốn ít năng lượng hơn cách phát âm của dấu ngã.  Năng lực lời nói và ngôn ngữ là hai năng lực gần như là độc lập với nhau. Cái ngôn ngữ đang xuất hiện trong trẻ không hề phản ánh cái lời nói trong trẻ và ngược lại. Nói rộng hơn, cái mà trẻ hiểu được không hề phản ánh hết những gì mà trẻ học được, nói ra được và ngược lại. Nói chung, cái được học của trẻ thường lớn hơn cái học được. Có thể hiểu điều này qua những lời nói lắp, nói nhịu hay nói ngọng. Lẽ dĩ nhiên, khi trẻ mắc những lỗi này – những lỗi có dấu hiệu bệnh lí hay tâm lí – thì chúng ta cần thiết phải sửa lỗi cho trẻ. Để trẻ có thể rèn luyện, phát triển lời nói và năng lực lời nói của mình song hành cùng ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ thì những câu nói khó, những câu có cách kết hợp âm vần đặc biệt, những bài vè hay đồng dao kiểu như Nồi đồng nấu ốc nối đất nấu ếch, Buổi trưa ăn bưởi chua,…Con lươn nó luồn qua luờn; Lúc nào lên núi lấy nứa về làm lán nên lưu ý nước lũ; Con cá mòi béo để gốc quéo cho mèo đói ăn; Chị nhặt rau rồi luộc em nhặt rau luộc rồi; Anh Thanh ăn sắn, anh Hạnh ăn hành; Đầu làng Bông, băm măng, bát mắm; Cuối làng Bông bát mắm,băm măng; Lúa nếp là lúa nếp làng, Lúa lên lớp lớp, lòng nàng lâng lâng; Luộc hột vịt lộn, luộc lộn hột vịt lạc, ăn lộn hột vịt lạc, luộc lại hột vịt lộn lại lộn hột vịt lạc ,… lại là những trò chơi bổ ích đối với trẻ.  Liên quan đến vấn đề này, có một điều chúng ta cần chú ý là việc viết chữ. Những đứa trẻ nói giọng Bắc thường hay viết sai hay lẫn lộn giữa ch – tr, x – s, r – d/ gi, hay những đứa trẻ không phân biệt được l với n, dấu ngã với dấu hỏi, âm cuối n với t, ng  với c, nh  với ch,… không có nghĩa là cái ngôn ngữ trừu tượng trong đầu chúng không thể phân biệt được. Ngôn ngữ viết trong trường hợp này chẳng qua chỉ là một sự phản ánh của sự không phân biệt cái thói quen về mặt lời nói thành chữ viết mà thôi. Trẻ viết con trâu, cá sấu thành con châu, cá xấu không có nghĩa là trẻ không biết đến các từ (và một cách tương ứng là các thực thể được gọi tên bằng chính các từ)  con trâu, cá sấu trừu tượng ở trong trí não thực sự.   Sự phát triển cả về phương diện ngôn ngữ và lời nói đều phải cần có thời gian và đều phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Ví dụ về lời nói, cần có thời gian để phát âm được các âm khó. Về ngôn ngữ, cần có thời gian để phân biệt được các cách nói khó kiểu như của anh, của mình, của bạn,…Về chữ viết (như vấn đề chính tả), cũng cần có thời gian để chuyển cái ngôn ngữ nói vô thức thành ngôn ngữ viết hữu thức.  Thụ đắc ngôn ngữ là gì? Thụ đắc ngôn ngữ là một thuật ngữ của tâm lí học và ngôn ngữ học. Thụ đắc ngôn ngữ hiểu nôm na là quá trình mà đứa trẻ chiếm lĩnh, nắm bắt ngôn ngữ để giao tiếp. Đó chính là quá trình hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Diễn giải đơn giản hơn thì có thể hiểu thụ đắc ngôn ngữ là quá trình học ngôn ngữ một cách tự nhiên. Thu đắc ngôn ngữ cũng có thể được xem là một đặc trưng riêng vốn có của loài người. Khi một đứa trẻ học, chiếm lĩnh ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất; khi đứa trẻ chiếm lĩnh, học các ngôn ngữ khác ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.            Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất: Những thắc mắc thường gặp (kỳ 2)      Cái mà một đứa trẻ cần học chính là những gì đang tồn tại trong chính chúng, những nhu cầu phát triển thường trực do chúng đặt ra, những nhiệm vụ mà chúng phải làm, những thắc mắc cụ thể mà chúng thường gặp. Người lớn cần phải dành thời gian cho mình để hiểu …      Cái mà một đứa trẻ cần học chính là những gì đang tồn tại trong chính chúng, những nhu cầu phát triển thường trực do chúng đặt ra, những nhiệm vụ mà chúng phải làm, những thắc mắc cụ thể mà chúng thường gặp. Người lớn cần phải dành thời gian cho mình để hiểu điều này, cũng như phải cho trẻ có thời gian để hiểu và học những cái mà tuổi của chúng cần.   Việc thụ đắc ngôn ngữ cần bao nhiều thời gian?  Việc thụ đắc ngôn ngữ là việc diễn ra trong một thời gian dài, cần nhiều thời gian. Đây không thể là việc cứ muốn mà được, nóng vội mà được ngay. Việc học nào cũng cần thời gian để tiêu hoá và trải nghiệm. Người lớn có thể muốn nhìn thấy kết quả của việc học nói, học ngôn ngữ ngay, nhưng rất có thể sau đó lại lo lắng vì chẳng nhìn thấy có cái gì đó như mong đợi xảy ra cả. Ở điểm này, các bậc cha mẹ cũng cần học sự kiên nhẫn chờ đợi như đứa trẻ “kiên nhẫn” học ngôn ngữ. Trẻ học ngôn ngữ thông qua các tiếp xúc, tương tác tự nhiên và mặc nhiên với người lớn trong môi trường bình thường. Ở đây có một quy tắc là tương tác, tiếp xúc nhiều thì kết quả sẽ nhiều, tương tác, tiếp xúc chuẩn và thích hợp thì kết quả tương tác, tiếp xúc cũng sẽ chuẩn và thích hợp. Các bậc cha mẹ hãy đa dạng hoá một cách chuẩn mực và phù hợp các hoạt động, các chủ đề, các môi trường tiếp xúc và học hỏi ngôn ngữ của trẻ.  Tương tác nhiều với trẻ nhưng người lớn cũng cần cho trẻ nhiều thời gian để “tự nói với mình cái gì thì nói, làm cái gì với mình thì làm” ở trong tầm kiểm soát của người lớn. Trẻ có thể thích một mình quan sát và nói chuyện với bông hoa, có thể thích vầy bùn đất lấm lem, có thể một mình tức giận với con cún con không chịu mặc quần áo, có thể nổi cơn tam bành với con mèo kêu meo meo đã làm em bé búp bê thức giấc, có thể bực mình với mẹ khi mẹ mắng bạn thú nhún không chịu đi ngủ,… Cha mẹ nên để trẻ tự do với vốn ngôn ngữ của mình khi tương tác, tiếp xúc trong những tình huống như vậy. Đó là cách tự khám phá tốt nhất của trẻ. Đó là cách tự bộc lộ, đánh giá và rèn luyện ngôn ngữ tốt nhất của trẻ. Người lớn cần biết rằng trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ khi trẻ càng nắm và sử dụng được càng nhiều ngôn ngữ thì sự tiến bộ mà chúng ta nhìn thấy càng kém rõ rệt. (Điều này cũng đúng với quá trình học ngôn ngữ của người lớn). Chỉ đến một lúc nào đó hay trong một tình huống hoặc nhiệm vụ bất ngờ nào đó chúng ta mới chợt nhận ra được sự tiến bộ này. Chẳng hạn, các bậc cha mẹ sẽ rất ngạc nhiên nếu quan sát thấy rằng con mình nói ra và sử dụng rất đúng các cách nói gần gũi nhau như làm nổi, làm được, làm cho được,…, dù rằng trên thực tế chúng ta khó hoặc không thể, hoặc cũng có thể không bao giờ có thể đưa ra được lời giảng dạy hay hướng dẫn sử dụng những cách nói này một cách chính xác và dễ dàng.  Mọi trẻ đều có tốc độ học ngôn ngữ như nhau hay không?  Việc thụ đắc ngôn ngữ cũng như sự phát triển nói chung của trẻ không phải là sự hoạt động của các cỗ máy khác nhau cho cùng một nhiệm vụ. Quá trình này cũng không phải là quá trình ganh đua có chủ đích giữa những đứa trẻ giống như chúng chạy thi hay ăn thi. Trẻ không hề tự đặt được ra cho mình một mốc hay biểu đồ phát triển, hay phải vượt qua một trình độ ngôn ngữ nào đó mà cha mẹ đặt ra cho chúng. Chúng tự thi đua với chính chúng theo tốc độ và ngưỡng đạt được của chính mình. Một đứa trẻ biết nói sớm hay sử dụng ngôn ngữ giỏi ở một thời điểm nào đó không tất yếu nói lên rằng đến khi 18 tuổi chúng sẽ có ngôn ngữ hay năng lực giao tiếp giỏi hơn, hay có một sự lựa chọn nghề nghiệp thông minh hơn một đứa trẻ chậm biết nói. Năng lực ngôn ngữ chỉ là một phần trong số những thứ mà đứa trẻ phải học tuần tự, tự nhiên. Một đứa trẻ chậm nói hoàn toàn có thể có một năng lực nào đó tốt hơn một đứa trẻ nói giỏi. Vấn đề là ở chỗ một đứa trẻ chậm nói rất có thể đã “đầu tư” năng lực của mình vào một nhiệm vụ nào đó khác nhiệm vụ ngôn ngữ nên chúng có thể không giỏi ngôn ngữ. Trường hợp những đứa trẻ giỏi toán, hay giỏi vẽ, hay giỏi vận động nhưng lại kém giỏi ngôn ngữ có thể giúp chúng ta hình dung điều này.  Học ngôn ngữ là một quá trình tự nhiên. Mọi cái mà trẻ có ý định học đều phải cần có những điều kiện hay nền tảng tất yếu nào đó. Trẻ chỉ học cái gì đó khi bản thân chúng đã sẵn sàng có hứng thú. Chúng có thể nói như vẹt những gì mà người lớn cố gắng dạy chúng, nhưng câu chuyện chúng có hiểu và tháo gỡ những kết cấu ngôn ngữ đó ra để sử dụng hay không lại là một chuyện khác. Tuy nhiên, chúng ta cần tận dụng điều này để giúp trẻ phát triển lời nói ở phương diện ngữ âm thuần tuý, tức là phát triển khả năng nói tròn vành rõ chữ. Điều này giải thích tại sao đôi khi chúng ta chỉ chú ý đến việc dạy trẻ học hát hay học thuộc một vài câu đồng dao thuần tuý, mà không hề quan tâm hay ý thức được rằng ở tầm tuổi phát triển đó, trẻ không thể hiểu nổi và tháo gỡ các kết cấu ngôn ngữ ở đó ra để sử dụng lại bình thường như chúng ta hằng nghĩ và trông đợi.   Một con vẹt học nói chỉ để nói. Một đứa trẻ học nói là để hoạt động, nhận thức, phát triển, để trang bị cho mình nhận thức và tư tưởng, để hình thành thế giới quan và nhân sinh quan của riêng mình,… Cái mà một đứa trẻ cần học không phải là những gì ở trong sách vở, không phải là những gì quá sức nhưng lại rất tốt đẹp mà các bậc cha mẹ muốn dành cho con mình, không phải là một mẫu hình người lớn nào đó ngoài trẻ, mà đó chính là những gì đang tồn tại trong chính chúng, những nhu cầu phát triển thường trực do chúng đặt ra, những nhiệm vụ mà chúng phải làm, những thắc mắc cụ thể mà chúng thường gặp. Người lớn cần phải dành thời gian cho mình để hiểu điều này, cũng như phải cho trẻ có thời gian để hiểu và học những cái mà tuổi của chúng cần.      Trẻ kiểm soát quá trình thụ đắc ngôn ngữ như thế nào?  Người lớn hiểu trẻ có nghĩa là người lớn đã tôn trọng hay biết tôn trọng trẻ, và ngược lại. Trẻ con không phải là người lớn. Trẻ con sẽ tự đặt ra chiến lược và tự tạo ra cơ chế phát triển ngôn ngữ của chính mình đối với việc học những thứ mà chúng cảm thấy quan trọng đối với chúng. Cái chúng cần học là những cái mới, dù rằng những cái mới này luôn là cái cũ hay không cần thiết đối với người lớn. Chiến lược và cơ chế phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng vậy. Thực ra thì trong quá trình phát triển, trẻ là những nhân vật hết sức sáng tạo, năng động, giàu nghị lực và năng lượng học hỏi hơn người lớn, và hơn những gì chúng ta tưởng, thậm chỉ là lầm tưởng về trẻ. Năng lực học hỏi nói chung và năng lực học ngôn ngữ nói riêng của trẻ là cái mà người lớn chúng ta không bao giờ có được và rèn luyện nên được.  Trẻ không hề có trong mình một ý niệm lo lắng về sự phát triển ngôn ngữ của mình như các bậc cha mẹ thường có về chúng. Ngôn ngữ chỉ là một công cụ để thực hiện một cái gì đó mà thôi. Khi một quả bóng lăn ra ngoài tầm tay trẻ, trẻ có thể khóc thét lên, nhưng việc khóc thét lên này không phải là vì sự khóc thét mà vì một nhu cầu đại loại là “muốn bố nhặt cho quả bóng ở ngoài sân”, hay “muốn mẹ kều quả bóng từ gầm giường ra”, hay “muốn anh với quả bóng mắc ở trên cây xuống”, hay “muốn chị vớt quả bóng ở dưới giếng lên”, vân vân và vân vân. Cha mẹ hãy để con cái mình trải nghiệm ngôn ngữ của chúng theo cách của chính chúng, dẫu rằng với con mắt người lớn những cách nói đó có thể là những cách áp dụng chưa hợp, cần phải chỉnh sửa. Tự bản thân trẻ sẽ dần tìm ra được một ngôn ngữ thích hợp để biểu đạt điều này. Chẳng có gì là lo lắng khi một đứa trẻ không phát âm được như người lớn, hay như những đưa trẻ hàng xóm, hoặc như một thần đồng ngôn ngữ ở trên ti vi. Cha mẹ chỉ nên và phải lo lắng khi con mình không thể phát âm được âm như chính chúng có thể nói mà thôi. Ở mỗi một gia đình, không ai có thể hiểu điều này hơn chính cha mẹ hay người chăm sóc của chúng cả. Vì rằng những người này là những người nắm vững biểu đồ diễn tiến ngôn ngữ của trẻ một cách rõ rệt và trung thực nhất.  Trẻ cũng không có suy nghĩ rằng có cái gì đó đang trông đợi chúng ở phía trước. Các bậc cha mẹ có thể đang tìm kiếm những cái có hoặc không có thể có trong ngôn ngữ của trẻ. Chúng ta nhiều khi không nhìn ra những cái mà trẻ đang có mà chúng ta lại có xu hướng nhìn ra những cái mà trẻ không có. Nhiều người cho rằng chỉ có một ngôn ngữ đúng ngữ pháp với một số lượng từ lớn và hệ thống quy tắc phức tạp thì mới là ngôn ngữ. Suy nghĩ như vậy rất có thể là suy nghĩ sai. Ngôn ngữ kì thực phức tạp hơn vậy. Trẻ có thể thích ngữ điệu biểu cảm của cô giáo dạy mầm non hàng xóm, có thể thích sử dụng ngôn ngữ cử chỉ của mấy anh choai choai ở trường để thay vào đó, thay vào những chỗ mà theo như người lớn đáng ra là phải thế này hay thế kia. Trên thực thực tế, rất có thể là trẻ đã từng gặp một cách biểu đạt nào đó ở đâu đấy mà cha mẹ không biết, trong khi ấy cha mẹ chỉ muốn trẻ biểu đạt theo cách của mình hình dung hay của mình có, mình biết. Trẻ có thể chỉ không biết rằng mô hình ngôn ngữ mà chúng đã sử dụng hay đang sử dụng đó có thực sự là thích hợp hay không thích hợp, đúng hay sai hay không mà thôi. Chúng luôn học cách sử dụng ngôn ngữ thực tế bằng một phép thử, một phép loại suy từ chỗ sử dụng này sang chỗ sử dụng khác.   Trẻ sử dụng chiến lược gì trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ?  Trong quá trình vận động phát triển từ tuổi ấu thơ, tất cả chúng ta đều học một cái gì đó theo một trong hai cách sau: Học bằng tiếp xúc hay làm trực tiếp theo kiểu vật lí (ví dụ như đi, bò, trườn). Học bằng tiếp xúc trí tuệ thông qua sự khái quát hoá hay loại suy những trải nghiệm đã có. Cách học thứ hai là cách học ngôn ngữ thường trực của trẻ. Cách học này diễn ra theo chiều tuần tự từ cái dễ lên cái khó, từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái mơ hồ đến cái xác thực, từ cụ thể đến trừu tượng,…Điều này giải thích tất cả những gì mà trẻ có được về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, và ngữ dụng.   Lấy ví dụ. Ngôn ngữ của chúng ta có những âm dễ và có những âm khó phát âm. Trẻ sẽ học các âm dễ phát âm trước các âm khó. Trẻ bắt đầu lời nói của mình từ những tiếng bập bẹ. Những âm mà chúng bập bẹ là những âm dễ phát âm, không tốn nhiều năng lượng. Những âm này là những âm mà trẻ sẽ dùng để nói những lời đầu tiên trong đời mình. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, các âm phát âm bằng đầu lưỡi là i, ê, e  luôn là những âm khó phát âm hơn các âm giữa lưỡi hay gốc lưỡi như a, ơ, ư. Trẻ sẽ nói được các âm a, ơ, ư trước các âm i, ê, e. Tương tự như vậy, trẻ sẽ nói được các từ có dấu nặng, dấu sắc trước các từ có dấu ngã, hỏi. Trẻ sẽ nói được các âm m, p, b trước các âm n, t, đ, v.v. Trẻ sẽ “ưa thích” cách nói ăm mơm hơn là ăn cơm. Trẻ sẽ “ưu tiên” sử dụng những cách nói ngắn hơn cách nói dài, v.v.  Dù trẻ học âm dễ trước âm khó, nhưng thực tế âm nào là dễ hay khó với các đứa trẻ khác nhau sẽ rất khác nhau. Mỗi đứa trẻ sẽ có chiến lược học ngôn ngữ của riêng mình. Điều quan trọng là có sự tiến bộ hay không trong kết quả của chiến lược học ngôn ngữ đó mà thôi.  Liên quan đến việc học phát âm của trẻ, cha mẹ cần biết rằng các bộ phận được sử dụng vào việc phát âm ngay từ đầu có chức năng khác đó là chức năng sinh học: phổi dùng để thở; môi để che chắn khoang miệng, phần ngạc mềm (khu vực vòm bên trên ở phía trong miệng) dùng để ngăn giữa khoang miệng và khoang mũi; lưỡi dùng để đảo, nếm thức ăn; răng dùng để nghiền, cắt thức ăn,… Cho nên cần phải ý thức được rằng ngôn ngữ nói của trẻ được hình thành và phát triển, hoàn thiện cùng quá trình hình thành, phát triển hoàn thiện chính các bộ phận này. Một đứa trẻ hở môi, hở hàm ếch, lưỡi ngắn,… đương nhiên ảnh hưởng một cách trực tiếp và nghiêm trọng đến sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ.   Tương tự như vậy, trẻ sẽ học được ngữ nghĩa và cách diễn đạt của từ ăn, trước các từ xơi, dùng, đánh chén,…, ngữ nghĩa và các sử dụng của từ chết trước từ mất, hi sinh, từ trần, băng hà, ngoẻo,… Trẻ sẽ học được cách nói chim hót trước chim hót híu lo, chim hót líu lo  trước chim hót líu lo trên cành, chim hót líu lo trên cành cây xà cừ trồng trước sân trường,… Trẻ sẽ học và nói được từ chim trước chim sẻ, chim bồ câu, chim chào mào. Trẻ sẽ học được từ gọi tên những con chim quen thuộc và điển hình trước những từ như chim đà điểu, chim cánh cụt,… Trẻ sẽ hiểu được rằng đã là chim thì phải “có cánh, biết bay” trước khi hiểu được rằng có những loài chim “không biết bay, không có cánh dài” như chim cánh cụt. Trẻ hiểu được rằng đã là quả thì phải “ăn được, có vỏ, có hạt nằm bên trong, và có hình tròn” trước khi hiểu được rằng có một số loài quả không như vậy. V.v.    Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất: Những thắc mắc thường gặp (Kỳ 3)      Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có những thời kì then chốt, nhạy cảm, có tác dụng quyết định chất và lượng của vốn và kĩ năng ngôn ngữ sau này.   Thời kì then chốt trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là thời kì nào?         Mùa xuân thì con người gieo hạt, mùa đông thì cây khô lá vàng, việc gì cũng có thời điểm của nó. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng phải thuận theo quy luật, phải trải qua những giai đoạn phát triển kế tiếp nhau nhất định. Song không vì thế mà mọi giai đoạn phát triển lại có vai trò như nhau. Từ các quan sát và nghiên cứu thực tế, tâm lí học phát triển và sinh học phát triển đã phát hiện ra rằng có những loài động vật mà hệ thần kinh của chúng ở những giai đoạn hay thời điểm xác định nào đó rất nhạy cảm với các kích thích từ môi trường bên ngoài. Vì một lí do nào đó mà những loài động vật này trong thời kì nhạy cảm lại không nhận hoặc cảm nhận được các kích thích đầy đủ và phù hợp từ môi trường bên ngoài để học một số kĩ năng (như nghe, nhìn, vận động) hay hình thành các đặc điểm, tập tính xác định thì chúng rất khó có thể hay không thể hình thành và phát triển thành công được một số chức năng sinh học hoặc xã hội xác định trong suốt quãng đời còn lại. Chẳng hạn, những chú vịt con lúc mới đẻ dễ dàng có thể thiết lập được mối quan hệ thân tình đặc biệt với những con vật mà chúng được tiếp xúc từ đầu, khả năng thiết lập mối quan hệ thân tình này sẽ mất đi trong quãng vài ba ngày sau khi nở.   Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng vậy, cũng có những thời kì then chốt, nhạy cảm, có tác dụng quyết định chất và lượng của vốn và kĩ năng ngôn ngữ sau này. Trong giai đoạn then chốt này, nếu trẻ không được tiếp xúc với môi trường ngôn ngữ tự nhiên thì về sau này chúng không thể hoặc rất khó có thể có được một năng lực ngôn ngữ bình thường. Câu chuyện về những em bé lớn lên trong môi trường hoang dã hay bị tước bỏ môi trường giao tiếp ngôn ngữ thông thường là những ví dụ tự nhiên nhất để minh chứng cho điều này. Thời kì then chốt đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có thể dài ngắn khác nhau ít nhiều đối với những đứa trẻ khác nhau, nhưng nói chung không vượt quá thời điểm bắt đầu bước vào tuổi dậy thì.   Thời kì then chốt hay thời kì nhạy cảm là một khái niệm quan trọng trong việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tự nhiên của trẻ. Câu chuyện năng lực ngôn ngữ hay ngôn ngữ có di truyền hoặc có tính bẩm sinh hay không là một câu chuyện khá phức tạp và còn gây nhiều tranh cãi, nhưng câu chuyện trẻ có năng lực học ngôn ngữ một cách bẩm sinh là câu chuyện, cố nhiên, không nhất thiết phải bàn cãi nhiều: đứa trẻ nào cũng có năng lực học ngôn ngữ một cách bẩm sinh trong những năm đầu đời từ lúc sinh ra cho đến khi kết thúc tiểu học hoặc bắt đầu dậy thì (quãng 11 hay 12 tuổi) đặc biệt là giai đoạn trước tuổi bước chân vào lớp Một (0 – sáu tuổi). Điều này không chỉ đúng với việc học ngôn ngữ tự nhiên mà còn đúng với cả việc học ngôn ngữ kí hiệu. Nếu một đứa trẻ không có hay có năng lực thính giác kém mà không được tiếp xúc hay dạy dỗ ngôn ngữ kí hiệu từ sớm thì về sau này cũng rất khó có thể sử dụng ngôn ngữ kí hiệu một cách thành thạo. Cũng cần biết thêm rằng, về mặt cơ sở sinh học, ở vào thời điểm cuối của giai đoạn phát triển ngôn ngữ then chốt, bộ não của trẻ, về cơ bản, đã như bộ não người lớn. Thời kì bộ não phát triển và hoàn thiện nhanh nhất (0 đến sáu tuổi) cũng là thời kì mà ngôn ngữ của trẻ phát triển và hoàn thiện nhanh nhất. Sự phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn này góp phần vào việc phát triển bộ não (việc hình thành các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh), theo đó, là sự phát triển năng lực nhận thức.   Quãng thời gian then chốt đối với sự phát triển ngôn ngữ tự nhiên của trẻ có thể được tiếp tục chia nhỏ thành những giai đoạn khác nhau với tầm quan trọng khác nhau. Trước giai đoạn trẻ bập bẹ nói (quãng bảy đến mười tháng), trẻ đầu tư “vốn liếng nghe” của mình vào việc cảm nhận và phân định các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ tự nhiên, mà trước hết là ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trước một tuổi, đây là thời kì then chốt cho việc rèn luyện năng lực nghe ngôn ngữ tự nhiên của trẻ. Từ một tuổi đến hai tuổi là giai đoạn trẻ tập trung vào việc kết nối các vỏ âm thanh đã được phân định ở thời kì trước với các ý nghĩa (vật, hành động,…) để tạo từ, và bắt đầu kết nối các khối âm – nghĩa ấy với nhau để tạo câu. Hai tuổi là mốc thời gian đánh dấu sự bùng nổ về mặt từ vựng của trẻ. Ba tuổi đánh dấu sự tiến bộ rõ rệt về ngữ pháp. Quãng hai, ba tuổi đến sáu tuổi là thời kì quan trọng để trẻ phát triển vốn từ vựng và các kĩ năng ngữ pháp. Cuối giai đoạn này, về cơ bản, trẻ đã chiếm lĩnh được toàn bộ cơ cấu ngữ pháp của ngôn ngữ và hệ thống từ vựng tích cực của ngôn ngữ. Và từ đây trở đi cho đến 11, 12 tuổi, sự tiến bộ về mặt ngữ dụng của trẻ trên vốn từ vựng, ngữ pháp đã có từ giai đoạn trước được nhìn thấy rõ. Thời điểm 11, 12 tuổi là cái mốc đánh dấu quá trình phát triển ngôn ngữ vô thức một cách mạnh mẽ của thời kì then chốt chấm dứt để chuyển sang thời kì phát triển ngôn ngữ phụ thuộc chủ yếu vào quá trình học hữu thức một cách chậm chạp. Điều này cũng góp phần giải thích tại sao người lớn chúng ta, hoặc chính xác hơn là khi chúng ta đã trên quãng 12 tuổi, gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học một ngoại ngữ dẫu rằng cái nỗ lực hữu thức của chúng ta và kinh nghiệm sống của chúng ta là rất lớn so với trẻ, dẫu rằng sự hấp dẫn về mặt lợi ích khi học ngoại ngữ của người lớn là vô cùng lớn so với trẻ, dẫu rằng sự vận hành các cơ quan cấu âm và kinh nghiệm phán đoán các giá trị âm thanh hay các âm thanh có nghĩa của người lớn tốt hơn trẻ,… Hiểu đúng được vị trí và vai trò quan trọng của thời kì then chốt này thì chúng ta mới có thể tác động đúng, nhanh chóng và thực sự “năng suất” đến tiến trình và kết quả của tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ. Sự tác động không đúng cách của cha mẹ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ giống như những người thợ rèn vụng về không biết điều chỉnh ngọn lửa và theo đó là nhiệt độ của chiếc lò cho phù hợp, rất khó có thể đem lại kết quả như sự mong muốn rất chính đáng của chúng ta.   Tại sao lúc bắt đầu học nói trẻ lại lặp đi lặp lại một âm thanh nào đó?   Ngôn ngữ là một món quà vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Vì thế mà trong quá trình phát triển ngôn ngữ tự nhiên của trẻ có những thời điểm xác định trẻ vô cùng thích thú lặp đi lặp lại một âm thanh nào đó cho đến khi chán thì thôi. Có hai thời điểm mà trẻ thích lặp lại các âm thanh xác định. Thứ nhất, đó là lúc trẻ tự phát và rất ngẫu nhiên phát ra các âm đơn giản như ma ma, pa pa, mạ mạ, chạ chạ,… trong giai đoạn tiền ngôn ngữ; những âm thanh này thực chất chưa có nghĩa vì chưa được kết nối với một hành vi chủ đích nào cả. Những âm thanh như thế này thường được trẻ phát ra trong những lúc vui vẻ, tự chơi một mình và như nhau đối với cả các ngôn ngữ khác nhau. Thứ hai, đó là lúc mà vào một ngày nào đó các bậc cha mẹ chợt nhận ra rằng trẻ dường như đang cố tình thử nghiệm một âm có nghĩa nào đó. Âm thanh mà trẻ đang cố tính thử nghiệm này là một thứ âm thanh được phát ra một cách tự giác, do trẻ bất ngờ nhận ra được rằng cái âm thanh đó mang lại cho mình một kết quả tích cực, thú vị. Điều này cũng có nghĩa là trẻ đã tự mình kết nối được cái âm thanh mà trẻ phát ra với một sự vật, sự việc xác định. Chẳng hạn, trẻ chợt nhận ra được rằng khi trẻ kêu lên mẹ, mẹ hay bà, bà, thì mẹ của trẻ quay ra cho trẻ uống sữa, mẹ giơ tay đón trẻ, mẹ với tay lấy giúp trẻ món đồ chơi ở trước mắt mà trẻ đang cần, mẹ mắng yêu chú gấu bông do làm trẻ vấp ngã, bà giơ tay bế lấy trẻ để cưng nựng, bà giúp trẻ gắng sức bước lên các bậc cầu thang,… Thời điểm mà trẻ bắt đầu bi bô nói là thời điểm trẻ hay lặp đi lặp lại loại âm thanh thứ hai này. Loại âm thanh này là âm thanh riêng, vốn có của từng ngôn ngữ. Thời điểm này, xét về mặt sinh học, cũng chính là thời điểm mà thanh quản của trẻ bắt đầu tụt xuống để có thể tạo ra một khoang cộng hưởng đủ lớn giúp trẻ có thể phát ra các âm thanh ngôn ngữ chân chính. Thời điểm này là thời điểm trẻ chuyển từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ. Việc trẻ tự lặp lại những âm thanh như thế này, về bản chất, cũng giống như trẻ tự bắt chước ngôn ngữ người lớn: đó là một cơ chế học hỏi và rèn luyện, khám phá vả hoàn thiện ngôn ngữ quan trọng nhất của trẻ.  Tại sao trẻ lại thích lẩm bẩm hay nói chuyện một mình?   Ngôn ngữ là một quyền năng đặc biệt. Ngôn ngữ giúp người ta thiết lập, duy trì hay huỷ bỏ các quan hệ xã hội, giúp người ta bày tỏ xúc cảm, truyền đạt ý chí, khai thác thông tin, kiến trúc những thiết chế tinh thần,… Khi trẻ thực hiện một hành vi ngôn ngữ nhất định nào đó với người lớn thì trẻ đạt được một lợi ích hay được thoả mãn một nhu cầu nào đó. Trẻ vô cùng sung sướng về điều này. Trẻ sẽ loại suy việc làm này đối với các đồ vật khi tự chơi với chúng. Một bé gái sẽ lẩm bẩm một mình với cô bé búp bê dễ thương trong lúc chơi trò chơi bán hàng mà mẹ đã dạy. Một bé trai sẽ nói lên những lời thể hiện sự cáu giận trong lúc đập phá chiếc ô tô,… Thời điểm trẻ hay lẩm bẩm một mình là thời điểm trẻ đang hình thành ngôn ngữ cái tôi của mình và đang hình thành ý thức sở hữu của mình (quãng ba đến bốn tuổi). Ở vào giai đoạn phát triển này, nói chung, trẻ đã có được một vốn từ vựng và quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa tương đối để có thể cho trẻ một cái cớ để ra sức tự luyện tập. Vì thế mà trẻ sẽ yêu thích thể hiện ngôn ngữ cái tôi của mình đó để đòi hỏi, khám phá (qua việc trẻ trẻ rất hay hỏi của ai, để làm gì,…), biểu hiện những kết quả khám phá về các thực thể, quá trình hay thuộc tính quanh mình. Có lẽ trong suốt đời người, đây là thời điểm mà chúng ta nói nhiều nhất, không ngừng nói và nói không biết mệt mỏi. Người Việt rất có lí khi đã nhận định rất chính xác điều này qua câu tục ngữ Trẻ lên ba cả nhà học nói.    Mọi sự vật, sự việc, quá trình hay tính chất mà trẻ tiếp xúc đều có thể trở thành đề tài của việc tự nói của trẻ. Ở một chiều hướng khác, trẻ cũng luôn đòi hỏi người lớn phải cấp cho trẻ những chủ đề hấp dẫn khác nhau về thế giới xung quanh qua các truyện thần thoại, cổ tích. Cho nên, cũng sẽ dễ hiểu khi mà trước khi đi ngủ trẻ thích trò chuyện hay đòi hỏi mẹ hoặc bà kể chuyện cho nghe.    Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất: Những thắc mắc thường gặp (Kỳ cuối)      Vai trò của người mẹ đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là như thế nào?   Ngay trước thời điểm trẻ chào đời, giọng nói thân thuộc nhất mà trẻ có thể cảm nhận và nhận biết được là giọng của mẹ mình. Rồi sau khi chào đời, loại âm thanh mà trẻ yêu thích một cách đặc biệt là loại âm thanh có tần số cao, là loại âm thanh nhấn nhá lên giọng xuống giọng giàu sức biểu cảm.      Đây chính là loại âm thanh tự nhiên của người mẹ nói riêng và của phụ nữ nói chung. (Ở phụ nữ, do dây thanh – vật tạo ra âm thanh nằm trong hầu/ thanh quản/ phần nhô ra trên cổ mà chúng ta thường gọi là quả táo ađam hay trái khế – mỏng và ngắn so với đàn ông, cho nên, giọng của phụ nữ luôn cao hơn (nhưng không to hơn) đàn ông).   Sự gắn kết tự nhiên giữa mẹ và trẻ là một sự gắn kết vừa có giá trị sinh học vừa có giá trị xã hội. Đó là một nhu cầu thường trực, tất yếu và tự nhiên giữa mẹ và con. Sự gắn kết này cho ta biết rằng trong mỗi gia đình sự tiếp xúc mẹ – con là sự tiếp xúc thường xuyên, liên tục và nhiều nhất. Chính sự tiếp xúc đặc biệt này đã xác lập được vị trí thứ nhất và theo đó là vai trò thứ nhất của người mẹ đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Bởi thế mà không khó hiểu lắm khi chúng ta biết rằng ngôn ngữ tự nhiên của chúng ta thường được gọi là ngôn ngữ mẹ đẻ, tiếng mẹ đẻ, khi các cặp vợ chồng trẻ ở phố cần sự giúp đỡ từ phía phụ huynh để trông trẻ thì thường chỉ mời bà lên trông (chứ hiếm khi mời ông lên trông), khi những người làm nghề trông trẻ thường chỉ là phụ nữ, khi trẻ phạm lỗi thì các “đức ông” thường đổ vấy một cách thiếu căn cứ rằng con hư tại mẹ, cháu hư tại bà, và rằng phúc đức tại mẫu,….  Những việc làm mà các bậc cha mẹ cần tránh là gì?   Cần phải nhắc lại là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một sự phát triển tự nhiên. Tự nhiên theo nhu cầu và năng lực, tâm lí sẵn có của trẻ. Tự nhiên theo môi trường tiếp xúc, sinh hoạt… Ở trẻ không hề và không thể có một sự cưỡng bức học hỏi và rèn luyện nào đó từ phía bên ngoài vào để tạo ra sự phát triển ngôn ngữ như trông đợi cả. Chính vì hai chữ tự nhiên này cho nên các bậc cha mẹ cần tránh những việc làm cũng rất tự nhiên và bề ngoài thì nghe có vẻ “thích hợp và đầy tính thuyết phục, hay cảnh báo, hay động viên về mặt giáo dục” nhưng bên trong thì đem lại những hệ quả tiêu cực. Lấy vài ví dụ. Việc so sánh con anh nói giỏi còn con tôi nói kém là một việc làm vô bổ, đôi khi tạo ra những áp lực rất không cần thiết để tiêu diệt trạng thái tâm lí tự nhiên trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Việc nói tục, chửi bậy trước mặt trẻ cũng chính là việc tạo ra những cơ hội bắt chước “quý giá” để phát triển thứ ngôn ngữ thô tục y như việc vui đùa, nói chuyện tích cực cùng trẻ. Việc lấy cớ trẻ làm phiền mà không chịu giải toả nỗi bực tức hay trả lời những thắc mắc, hay trò chuyện một cách bình thường cùng trẻ lúc trẻ có nhu cầu cũng là một việc vô hình trung đã tước đi một cơ hội để trẻ tự phát hoặc tự giác bộc lộ ngôn ngữ và học hỏi ngôn ngữ. Ở một khía cạnh nào đó, người lớn chúng ta cần ý thức rõ ràng thêm rằng những lời nói thiếu gương mẫu là những lời nói đầy giá trị xúc cảm, đầy ngữ điệu cao thấp, đầy cường độ to nhỏ, đầy tốc độ nhanh chậm. Những thuộc tính lời nói thiếu gương mẫu này, rất không may, lại là những thuộc tính đi kèm ngôn ngữ mà dễ gây ấn tượng với trẻ, khiến cho trẻ rất dễ hấp thụ chúng. Cho nên, việc không ít bậc phụ huynh than phiền rằng có ai dạy trẻ những lời như thế đâu mà trẻ tự nói được, rằng trẻ tự nghĩ ra những lời không nên nói chứ chẳng hề có ai dạy cả,… đã nói lên một sự thực mà ít người nhận thấy là trẻ chỉ có thể nói ra được những lời mà chẳng ai muốn như vậy khi chính người lớn cung cấp chất liệu ngôn ngữ, môi trường giao tiếp ngôn ngữ cho chúng.   Trẻ con là trẻ con. Trẻ con thì có thể sai hoặc đúng. Nhưng cái sai hoặc đúng này của trẻ về bản chất khác cái sai hoặc đúng của người lớn. Cái sai hoặc đúng này của trẻ là cái thuộc tính của quá trình “tự diễn biến” tâm lí, nhận thức, ngôn ngữ của trẻ dưới sự tương tác hay hướng dẫn của người lớn. Trẻ con thì phải học ngôn ngữ. Việc tiêu hóa hay trải nghiệm, bộc lộ, thi thố kết quả của việc học thì phải có sai có đúng. Cho nên, cần thiết phải nhìn nhận rằng việc phát âm sai, việc dùng từ sai nghĩa, việc nói câu sai ngữ pháp, việc nói lời không đúng ngữ cảnh,… trong môi trường tương tác ngôn ngữ tự nhiên của trẻ là việc một việc nhẹ nhàng, bình thường, không thể tránh khỏi. Có ai nên khôn mà không một đôi lần trót dại? Vì thế, việc nhại lại cái sai của trẻ với mục đích trêu chòng hoặc chiều chuộng trẻ là việc làm không nên. Việc nhại lại cái sai đó, thực chất, hoặc đã tạo ra một mẫu sai mới mà trẻ nhất thời dễ lầm tưởng đó là sự thật nên noi theo, hoặc là khiến cho trẻ bực tức để không còn chú tâm đến việc sửa sai nữa. Chẳng hạn, khi trẻ nói uống sứa thay cho uống sữa, oản tù tì thay cho oẳn tù tì,… thì người lớn chúng ta không nên nhại lại cái sai đó, mà cần phải tình nguyện nói lại đúng chuẩn những từ ngữ đó một cách tự nhiên nhất để cho trẻ tự nghe, tự điều chỉnh dần và bắt chước lại. Thêm vào đó, một việc mà chúng ta cũng không nên thực hiện đó là việc thường xuyên chủ ý phát âm không đúng những từ ngữ (chẳng hạn nói đi tơi thay cho đi chơi, ăn tơm thay cho ăn tơm, cường điệu hóa từ con bằng việc phát âm gốc lưỡi sâu xuống và thụt vào trong – một việc mà các cô nuôi dạy trẻ rất hay làm,…) với mục đích nhấn mạnh hay gây sự chú ý, tạo tình cảm đối với trẻ. Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, thế giới công nghệ hiện đại có thể giúp chúng ta được nhiều việc trong đó có việc tạo ra một môi trường kích thích sự phát triển thị giác, thính giác,… Những chương trình quảng cáo, hoạt hình, trò chơi điện tử,… là những thứ có thể giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ trong chừng mực nào đó, nhưng việc tiếp xúc thường xuyên và liên tục với chúng đến mức quá liều lượng, thiếu kiểm soát là một việc không nên, dẫu rằng những thứ đó luôn là những thứ dễ dàng kích thích sự tò mò, tạo sự cuốn hút đối với trẻ.   Những việc mà cha mẹ nên làm là gì?   Mỗi một giai đoạn và một tình huống ngôn ngữ của trẻ đương nhiên sẽ có danh sách những việc nên hay không nên rất khác nhau.    Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình tuần tự, liên tục, được bắt đầu từ rất sớm. Như đã nói, ngay trong những tháng cuối của thai kì, thai nhi đã có thể cảm nhận được âm thanh từ bên ngoài đem lại. Vì thế, công việc thai giáo bằng những bản nhạc trữ tình, bằng những lời nói âu yếm của cha mẹ là một việc nên được thực hiện sớm. Công việc này vẫn nên tiếp tục được duy trì khi em bé chào đời. Đặc biệt, những lời trò chuyện tương tác thực của cha mẹ đối với trẻ, ngay cả khi trẻ chưa biết nói là vô cùng quan trọng. Hãy kiên trì trò chuyện cùng trẻ, đa dạng hóa các bối cảnh sinh hoạt và tiếp xúc ngôn ngữ với trẻ, với một điều kiện duy nhất là trong các tương tác và môi trường ngôn ngữ đó, tất cả các hành vi ngôn ngữ đều phải chuẩn mực, thích hợp. Môi trường tiếp xúc ngôn ngữ càng đa dạng, mực thước bao nhiều thì trẻ càng có vốn liếng, kĩ năng ngôn ngữ phong phú, chuẩn mực bấy nhiêu. Điều này cũng giải thích tại sao, những trẻ em ở phố sẽ có vốn từ vựng gọi tên những thứ ở phố phong phú (ví dụ như đèn xanh, vượt đèn đỏ, cầu thang máy, siêu thị, …), còn những đứa trẻ ở quê cũng sẽ có vốn từ vựng giàu có để gọi tên những sự việc, hiện tượng gắn với quê (ví dụ như luỹ tre, chọi gà, hàng rào, chợ,…). Việc đa dạng hoá môi trường tiếp xúc nên chú ý tới tính giáo dục và tính giải trí, vì hai yếu tố này là hai yếu tố dễ dàng tạo ra được động cơ cho trẻ khám phá môi trường chung quanh và qua đó là phát triển ngôn ngữ, khả năng nhận thức một cách hiệu quả. Chẳng hạn, việc đa dạng hóa môi trường bằng cách đi chơi ở vườn thú, hay đi thả diều ở những triền đê đầy hoa cỏ, đi thăm bạn bè của ông bà bố mẹ, cho trẻ chơi cùng các anh chị lớn hơn và các em nhỏ hơn chút ít,… là những việc nên được thực hiện, phát huy. Thậm chí, một cuộc điện thoại chóng vánh của cha hoặc mẹ với trẻ khi đi công tác xa cũng có thể đem lại những tác động tốt đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, bởi rằng đây chính là một tình huống tự nhiên để trẻ “thao diễn” ngôn ngữ của mình với một động lực rất cao nhằm đáp ứng những nhu cầu về tâm lí, tình cảm với cha mẹ. Thêm vào đó, cha mẹ cũng nên tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với những không gian ngôn ngữ của cổ tích, thần thoại, đồng dao,… Ở những không gian này, bên cạnh việc có được vốn từ vựng – ngữ nghĩa giàu có, kĩ năng ngữ pháp phong phú, khả năng ngữ dụng linh hoạt, trẻ còn phát triển được cả trí tưởng tượng, óc sáng tạo,… Cũng cần biết rằng lúc trẻ vui chơi là những lúc trẻ đang “đầu tư nguồn vốn” trí tuệ, sự chú ý,… một cách hiệu quả nhất, năng lực ngôn ngữ lúc này cũng có cơ hội để được tự trau dồi, bồi đắp, phát triển nhiều nhất. Những lúc trẻ có thắc mắc, tâm sự suy nghĩ, giãi bày tâm trạng,.. là những lúc mà cha mẹ cần phải dành thời gian để lắng nghe, trò chuyện. Vốn và kĩ năng ngôn ngữ của trẻ chỉ có thể giàu có khi trẻ được cung cấp một cách giàu có các môi trường ngôn ngữ và hành động ngôn ngữ từ phía người lớn một cách tích cực, chủ động và mẫu mực. Cuối cùng và quan trọng nhất là mọi sự giúp đỡ hay hướng dẫn từ phía người lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phải tuân theo nguyên tắc vừa sức và kế cận đối đối với trẻ. Ví dụ, với một đứa trẻ chưa phân biệt và gọi tên được đúng các màu đen, trắng, xanh, đỏ mà chúng ta lại có ý định nhồi cho trẻ học cho bằng được từ đen nhẻm, trắng ởn, trắng muốt, xanh xao, đỏ chót,…thì đây là điều không thể xảy ra được, bởi lẽ trong trường hợp này cả nguyên tắc vừa sức và kế cận đều bị vi phạm do nhận thức của trẻ chưa thể hiểu được rằng đen nhẻm là một trạng thái đen chỉ dành cho da, xanh xao cũng chỉ dành cho da nhưng đó là nước da người ốm, trắng ởn chỉ được dùng để miêu tả thuộc tính trắng của răng một cách tiêu cực, còn trắng muốt dùng để chỉ màu trắng của răng nhưng với một ý nghĩa, sự đánh giá tích cực,…                Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Thư ngỏ gửi trẻ em tới trường      Nhân ngày khai trường năm học 2007-2008, xin gửi tới bạn đọc của Tia Sáng Thư ngỏ gửi trẻ em tới trường (1991) của TS. Rosa-María Torres – Cố vấn cao cấp về Giáo dục và Biên tập viên tờ Tin tức Giáo dục của UNICEF, 1991-1996- như một món quà đặc biệt dành cho các em học sinh, thầy cô giáo, phụ huynh học sinh, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách giáo dục.  Nguyễn Bích Hà* (dịch và giới thiệu)    Các em học sinh thân mến,  Các em cần biết nhiều điều, và trong bức thư này tôi sẽ viết về những điều đó, để các em biết cần phải làm gì khi tới trường, cần trông đợi những gì ở thầy cô và bạn bè. Có lẽ các em đã được chỉ bảo cần phải làm gì, tức là, nghĩa vụ của các em là gì: phải cư xử đúng mực, tôn trọng thầy cô và bạn học, làm bài tập ở nhà, giữ gìn sách vở và ghi chép đầy đủ, phải vệ sinh sạch sẽ khi tới trường, và phải ngoan ngoãn và dễ thương với tất cả mọi người. Nhưng trong bức thư này, chúng ta sẽ không bàn về những nghĩa vụ của các em, những điều các em đã rõ, mà là về những gì người khác cần phải làm cho các em. Chúng ta sẽ bàn về những quyền của các em.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM LÀ TRẺ CON. Không ai được kéo tai, đánh hoặc làm đau em. Không ai được biến em thành trò cười, làm cho em tủi thân, xấu hổ trước mọi người, bắt em đứng quay mặt vào tường, hoặc nói năng thô bạo với em. Trẻ em cần được đối xử tử tế, cần phải được yêu thương và tôn trọng. Lúc nào em tới trường cũng phải vui vẻ và không sợ hãi. Những người quan trọng nhất ở trường học chính là trẻ em, chứ không phải người lớn.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM NGHÈO. Nghèo không phải là tội lỗi. Có lẽ chính thầy cô giáo của em cũng nghèo. Khắp nơi trên thế giới, hầu hết trẻ em đều nghèo, và hầu hết người nghèo là trẻ em. Nghèo đói không phải là lỗi của em. Nếu như có quá nhiều người nghèo, đó là vì có sự bất công. Xã hội của chúng ta có vấn đề, chứ không phải các em có vấn đề.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM THUỘC CHỦNG TỘC (dân tộc) KHÁC. Mọi người đều khác nhau. Mọi người khác nhau về dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Không có một dân tộc nào tốt hơn một dân tộc nào. Không ai được làm cho em thấy khổ sở vì em là người da đen, là người Anh-điêng, hoặc người châu Á. Tất cả chúng ta đều xứng đáng nhận được sự tôn trọng như nhau.                     KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM LÀ CON GÁI. Con trai và con gái, đàn ông và đàn bà, đều bình đẳng và có khả năng như nhau. Đừng để ai không quan tâm đến và bỏ rơi em, dồn ép em phải chấp nhận phần thua thiệt nhất, chỉ cho em những điều kiện hạn chế, kìm hãm không cho em phát triển hết mọi tiềm năng của mình chỉ vì em là con gái. Đừng để ai làm cho em tin rằng đàn bà thấp kém hơn đàn ông, bởi vì điều đó không đúng.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM CÓ KHIẾM KHUYẾT CƠ THỂ. Khuyết tật cơ thể không phải là một điều đáng ghê sợ, và đó không phải là lỗi của em khi em bị khuyết tật. Điều đó không làm cho em trở thành một đứa trẻ bất bình thường. Ngay cả những trẻ mù, điếc, câm, hoặc có bệnh nặng, vẫn có thể học nếu như trẻ đó được yêu thương và chăm sóc. Những trẻ em có vấn đề, và chính bởi các em có vấn đề, cần phải được đối xử một cách đặc biệt quan tâm.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM TỪ NƠI KHÁC TỚI. Không ai được làm cho em khổ sở vì em đến từ miền quê, thành phố, hoặc một thị trấn khác. Có thể em hơi khác với các bạn xung quanh vì em nói tiếng khác hoặc có giọng nói khác, hoặc bởi vì em có những ý nghĩ, phong tục, và sở thích khác. Nhưng khác biệt không phải là vấn đề. Tất cả chúng ta đều phải học cách để hiểu và tôn trọng những gì khác với chúng ta và với những gì ta có.  KHÔNG AI ĐƯỢC NGƯỢC ĐÃI EM VÌ EM HỌC KHÔNG NHANH. Mỗi một trẻ đều khác nhau và mỗi em đều có cách học riêng của mình. Một số trẻ học chậm hơn các bạn. Một số em học giỏi vài môn này, nhưng các bạn khác lại giỏi những môn khác. Nếu em học không nhanh, có thể em chẳng có lỗi gì, mà có lẽ chính là do những người dạy các em và cách mà họ dạy em. Không ai có thể học được nếu không hiểu mình học cái gì, hoặc thấy điều mình học không hay hoặc không có ích, hoặc thường xuyên bị đe dọa và trừng phạt. Đừng để ai gọi em là dốt, đần, hay ngốc. Nếu em không hiểu điều gì, hãy hỏi. Em có quyền được đặt câu hỏi và yêu cầu thầy cô giáo giải thích cho em và dạy sao cho em hiểu. Chính vì vậy mới cần có trường học. Và đó là lý do tại sao cần có thầy cô giáo.  Các em thân mến: trường học được tạo ra để cho trẻ em gặp gỡ, cùng chơi, cùng học, và được hạnh phúc. Nếu em thấy buồn tủi hoặc khổ sở, chắc chắn trường học của em, chứ không phải bản thân em, có vấn đề.  Các em thân mến: đừng để cho mọi người chỉ nhắc nhở em về những nghĩa vụ của em. Hãy đứng lên vì quyền của mình. Hãy bắt đầu học cách đòi quyền của mình, với tư cách một đứa trẻ, để khi lớn lên, em sẽ có thể bảo vệ được các quyền đó một cách mạnh mẽ hơn.  Ngày 2 tháng 6 năm 1991  ————-  Nguồn: http://fcis.oise.utoronto.ca/~daniel_sc/assignment1/1991openletter.html (truy cập ngày 24 tháng 7). Bản dịch tiếng Việt do Trường Dân lập Nguyễn Văn Huyên (Hà Nội) cung cấp.  Thư ngỏ gửi trẻ em tới trường được đăng lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 6 năm 1991 trên tờ El Comercio (Quito, Ecuador). Bức thư ngắn và vô cùng truyền cảm này ngay lập tức nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ trên toàn thế giới. Ngay sau đó, bức thư được công bố trên nhiều tạp chí, bản tin, và được dịch sang nhiều ngôn ngữ, gồm tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Anh và tiếng Pháp. Năm 1992, bức thư ngỏ này được đăng trên tạp chí Reflexiones sobre Pedagogia (Papeles del CEAAL, No. 2, Santiago de Chile). Năm 1993, bức thư được đưa vào tuyển tập “Góc đọc” của Bộ giáo dục Mexico và được phân phát đến tất cả các trường học ở nông thôn, cùng năm đó, bức thư được in lên một mặt tờ bìa của sách giáo khoa ở Bolivia. Năm 1995, bức thư ngỏ được đăng bằng tiếng Anh trên Bản tin giáo dục của UNICEF (số 11).  Rosa-María Torres       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tục rườm rà không phải là cách để chống tiêu cực trong đào tạo tiến sĩ      Lá thư ngỏ gần đây của GS. Pierre Darriulat gửi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo1  là lời kêu gọi một sự thay đổi và đơn giản hóa các quy định hành chính  quan liệu đang gây ra những khó khăn, bất cập cho những người thầy hướng  dẫn và nghiên cứu sinh trong quá trình bảo vệ luận án của họ.  &#160;    Ông đưa ra ví dụ về việc một số nghiên cứu sinh Việt Nam thực hiện luận án theo hình thức đồng hướng dẫn giữa các cơ sở giáo dục/khoa học của Việt Nam và Pháp. Ba người trong số các nghiên cứu sinh này đã tiến hành bảo vệ luận án thành công tại Pháp và nhận được bằng tiến sĩ từ những trường đại học uy tín của Pháp như Orsay và Paris 6 – Jussieu từ vài năm trước. Tuy nhiên, phía Việt Nam “không theo những điều khoản đã được ký kết và viết rất rõ trong thỏa thuận ở cấp cao của các cơ sở tham gia đào tạo”, đến nay vẫn chưa hề cấp bằng tiến sĩ cho ba người này.   Ngoài ba nghiên cứu sinh kể trên, hai nghiên cứu sinh khác cũng thực hiện luận án theo hình thức đồng hướng dẫn nhưng được GS. Darriulat cho tiến hành bảo vệ tại Việt Nam với hi vọng mọi chuyện sẽ suôn sẻ hơn, nhưng họ cũng vấp phải những trở ngại phi lý trong quy trình bảo vệ được quy định từ phía Việt Nam. Đơn cử như quy định nghiên cứu sinh phải nhận được ít nhất 15 nhận xét tích cực từ các chuyên gia2, mà với những ngành có số lượng chuyên gia vô cùng ít ỏi như thiên văn vô tuyến (theo GS. Darriulat, cả nước chỉ có hai chuyên gia trong ngành này) thì điều này là hoàn toàn bất khả thi.   Là người từng nhiều năm làm việc tại những cơ sở khoa học uy tín của châu Âu và Mỹ, với “nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn và đánh giá luận án tiến sĩ” ở các quốc gia này, GS. Darriulat khẳng định chưa từng ở đâu sử dụng một quy trình với những quy định vừa phức tạp vừa không phù hợp với thực tế như của Việt Nam. Điều đó không chỉ cho thấy những người làm quy chế trong nước đã không dựa trên thông lệ khoa học quốc tế, không am hiểu sự bất cập khi áp dụng một quy định cứng nhắc chung cho nhiều ngành khoa học đặc thù, mà còn phản ánh một tâm lý đã tồn tại phổ biến từ lâu nay ở Việt Nam, đó là sự thiếu tin tưởng ở những người thầy hướng dẫn, cả về tư cách đạo đức lẫn trình độ chuyên môn. Hẳn do tâm lý đó mà người ta phải dùng số lượng thật đông các chuyên gia nhằm tăng uy tín và chất lượng thẩm định, chống gian dối tiêu cực (ví dụ, các trường, viện của Việt Nam phải dùng tới hai vòng hội đồng bảy người, trong khi các đại học thế giới chỉ dùng một vòng như vậy, chưa kể phải có tới 15 nhận xét tích cực từ các chuyên gia bên ngoài.)   Thực tế cho thấy, chính quy trình càng rắc rối, rườm rà bao nhiêu, thì lại càng làm tăng động lực để người ta luồn lách, và càng khiến gian dối, tiêu cực nảy sinh nhiều hơn. Đồng thời, càng tăng thêm số lượng các ý kiến chuyên gia thẩm định thì càng làm nhẹ đi trách nhiệm của từng cá nhân chuyên gia, khiến tâm lý ỷ lại, dựa dẫm vào ý kiến người khác càng trầm trọng.   Đã đến lúc chúng ta cần đưa ra những quy định mới, đơn giản hóa nhưng có tính thực chất, phù hợp hơn với thực tiễn đời sống trong đào tạo tiến sĩ nói riêng và trong giáo dục – khoa học nói chung, đồng thời thực hiện chúng một cách nghiêm túc thực sự, bởi đúng như GS. Darriulat đã nói, “cách để chống lại gian dối là phạt thật nặng những tác giả của nó, chứ không phải làm cho cuộc sống của những người trung thực trở nên khốn khổ”.                  TIA SÁNG  ———————-  1 http://www.inst.gov.vn/Vatly/Open_letter_Pierre_Darriulat.htm  2 Khoản 18 Điều 1, Thông tư số 05/2012/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 02, 2012 của Bộ Giáo dục Đào tạo (nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều trong Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 05, 2009 về quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ) quy định: Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện chỉ họp sau khi nhận được ít nhất 15 bản nhận xét của các nhà khoa học thuộc ngành, lĩnh vực nghiên cứu có trong danh sách gửi tóm tắt luận án và nhận xét của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thư viện làng      Tình huống này xảy ra ở một làng hẻo lánh bên xứ Phi Châu nên có thể hơi hơi giống miệt Chắc Cà Đao ở xứ mình: Dưới mái trường lợp lá tả tơi, một thầy một cô cùng lũ trẻ mặt mũi lem nhem áo quần xốc xếch hè nhau đọc to các bài đọc từ những cuốn sách giáo khoa cũ mèm.     Những quyển sách giáo khoa ấy chẳng những long bìa quăn góc mà nội dung còn có nhiều vấn đề gây tranh cãi. Dù vậy, đó là những quyển sách duy nhứt trong làng. Và có cũng gọi là may. Có nơi, thầy phải chép lên bảng bài đọc từ một quyển sách duy nhứt, trò phải lụi hụi chép lại vào vở, học trò đến trường khỏi cần đeo cặp xách xệ vai, chỉ cần một que viết chì và một quyển vở.   Phòng hờ có người vặn vẹo tôi là làm gì có nơi nào tệ dữ vậy, tôi phải nêu chính xác tên làng là Nkhanga ở phía đông nước Zambia. Và nhân chứng là giáo sư Mwizenge Tempo. Ông là một trong những đứa học trò đó, vào thập niên 1960. Phải học hết trường làng, trường huyện, trường tỉnh, rồi vào đại học quốc gia Zambia, Tempo mới có cơ hội đọc sách trong một thư viện đàng hoàng. Chàng trai làng hiếu học tìm được cơ hội du học ở trường Đại học tiểu bang Michigan, Mỹ, lấy bằng tiến sĩ năm 1987, trở thành giáo sư khoa xã hội học của một trường đại học tư, Bridgewater, ở tiểu bang Virginia. Vào năm 2006, Tempo “áo gấm về làng”. Sau khi dạo khắp làng, ông giáo sư “Zambia kiều” phát hiện rằng làng mình vẫn như xưa, nửa thế kỷ trôi qua ở đâu đâu, chứ những đứa trẻ thuộc thế hệ cháu nội ông vẫn chỉ có mấy cuốn sách giáo khoa cũ mèm để tập đọc, như ông 50 năm về trước.   Không rõ gia đình giáo sư Tempo có vai vế như thế nào trong làng, cũng không rõ trong lĩnh vực chuyên môn ông có được giải thưởng quốc tế nào không. Nhưng sau cú sốc, Tempo bình tâm lại và thấy rằng muốn có sự thay đổi thì phải có ai đó làm điều gì đó. Một điều gì đó, đơn giản, chẳng hạn đem về làng những cuốn sách khác hơn sách giáo khoa để cho dân làng đọc miễn phí. (Ở đâu sách cũng mắc mỏ, luôn phải nhường ưu tiên cho gạo, củi, mắm, muối). Tức là lập một thư viện công cộng cho ngôi làng đã sản sinh ra ông tiến sĩ giáo sư Mỹ.   Sau khi bàn bạc với các vị tiên chỉ làng để ý tưởng được tán thành và được cam đoan ủng hộ (suông), Tempo về Mỹ. Bridgewater là một cộng đồng dân trung lưu trí thức Mỹ khoảng 5.200 người, phần lớn là sinh viên và giáo sư, cán bộ, công nhân viên của trường đại học. Tempo đem câu chuyện làng mình kể cho sinh viên và đồng nghiệp nghe, để xin họ những quyển sách mà họ không muốn giữ chật văn phòng. Gì chứ sách thì người Mỹ rất sẵn lòng cho không, biếu không. Nhứt là các giáo sư, họ thường nhận được sách biếu của các nhà xuất bản để điểm sách, nhiều cuốn để cả năm trên bàn chưa xé lớp nhựa bọc. Trong hành lang gần văn phòng các khoa thường có những thùng giấy đựng sách các giáo sư và sinh viên thải ra, dán miếng giấy thông báo “Free”. Tempo chịu khó lục lọi, lượm lại những quyển ông cho là đáng gởi về cho trẻ em làng mình đọc.   Vấn đề tất yếu nảy sinh là làm sao gởi sách về quê? Rồi ở quê nhà kiếm đâu ra tiền xây cái nhà chứa mấy ngàn quyển sách đó? Phải nói rõ đó là những quyển sách có giá trị, một kho tàng tri thức được chọn lọc, trong đó có trọn bộ 100 tác phẩm văn học bất hủ của nhân loại do một vị giáo sư Anh văn đồng nghiệp của Tempo tặng. Một chiến dịch quyên góp mở ra, người góp 20 đô, người góp 50 đô. Sinh viên còn bày ra những buổi hòa nhạc, những cuộc đấu giá để quyên góp trong cộng đồng dân cư ngoài trường Bridgewater. Được bao nhiêu chuyển về làng Nkhanga bấy nhiêu.   Tôi chưa từng tới xứ Zambia, nhưng nhắm tình hình văn hóa giáo dục thì suy ra trình độ xây dựng có lẽ tường đương xứ Chắc Cà Đao của tôi, nơi ba năm mới xây xong cái cầu bắc qua con kênh mà con nít bơi qua bơi lại cái một. Cái thư viện làng Nkhanga (được tài trợ từ cộng đồng Bridgewater) xây xong nền móng năm 2007, dựng các bức tường năm 2008, lợp xong mái năm 2009. May là cuối cùng cũng xong! Và làng Nkhanga có lẽ là làng “trí thức” nhứt châu Phi vì có một thư viện công cộng với mấy ngàn cuốn sách trình độ (đa số) từ đại học trở lên. Đừng hỏi tôi ai trong làng (trừ tiến sĩ Tempo thỉnh thoảng vinh qui bái tổ) vào thư viện làng đọc những cuốn sách đó và đọc để làm gì.   Cũng đừng hỏi tôi kể câu chuyện này để làm gì? Chẳng qua tôi chợt nhớ một ngôi làng ở tuốt vùng U Minh Hạ. Cách đây vài năm tôi đi qua đó, trường làng chỏng chơ mấy chiếc bàn ghế vẹo vọ. Trên lý thuyết trường có thư viện, nhưng vì mái dột, sách bị ẩm ướt, mối mọt ăn hết. Cả làng chẳng ai đọc sách báo gì cả. Mà làng ấy từng sinh ra một nhà văn và một nhà thơ xuất sắc của văn học miền Nam Việt Nam. Có người gợi ý với những người từng ngưỡng mộ nhà văn quê xứ ấy vừa qua đời rằng: lập một thư viện ở làng của ông, mang tên ông để kỷ niệm càng tốt, ít nhứt thì cũng chưng lên mấy cuốn sách ông viết về quê hương mình. Ai cũng bảo: Ý kiến hay, tiền bạc không hiếm, sách cũng thừa. Tới nay chưa có gì xảy ra cả.   Nhưng, xứ mình khác với xứ người ta chứ bộ!        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực hành có chủ đích      Nhà tâm lý học Ander Ericsson và cộng sự đã dành thời gian nghiên cứu hàng loạt những “tài năng xuất chúng” và đề xướng khái niệm thực hành có chủ đích cùng quan điểm về nhân tài được nuôi dưỡng trong thời gian đủ lớn chứ không được “sinh ra” đột ngột, và rằng cái “thiên bẩm” không đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành nên những tài năng như bấy lâu nay người ta hồn nhiên gán ghép.       Một hoạt động thực hành có chủ đích là một hoạt động thực hành có cấu trúc, hướng tới mục tiêu nâng cao thành tích. Muốn chơi piano thành thục, người học sẽ phải tập đi tập lại qua nhiều bài tập cơ bản trước khi có thể chơi được các bản nhạc phức tạp hơn. Muốn có kĩ thuật đá bóng điêu luyện và khéo léo trên sân cỏ, các cầu thủ giỏi Brazil đã trải qua hàng tá các bài tập trong sân futsal và sân nhỏ. Luyện tập với chất lượng cao để nâng cao thành tích là cách gọi nôm na cho những hiện tượng này. Khi số giờ luyện tập như vậy đủ lớn, người học sẽ dần dần bứt phá ra khỏi trạng thái sơ khai, trở nên tinh thông trong kĩ năng. Theo Ericsson, một cô gái tập đàn theo lối luyện tập có chủ đích đạt mức 3.500 giờ thì có thể trở thành một nghệ sĩ amateur đủ để biểu diễn giải trí, khi đã tích lũy đủ 5.000 giờ thì cô gái có thể đã là một nghệ sĩ chuyên nghiệp, và đạt 10.000 giờ thì đã là xuất chúng. Có thể nói Ericsson đã phát minh ra công thức tài tình: Tài năng = thực hành có chủ đích trong 10.000 giờ. Kết luận của Ericsson đã được Malcom Gladwell nhắc lại trong “Những kẻ xuất chúng”, cuốn sách nổi tiếng đã mang kết quả của Ericsson đến với đại chúng: “Kết quả của những nghiên cứu đã chứng minh: 10.000 giờ luyện tập là đòi hỏi bắt buộc để đạt được cấp độ tinh thông và trở thành một chuyên gia đẳng cấp thế giới – trong bất cứ lĩnh vực nào”. Không kể là Bill Gates của lập trình máy tính, The Beatles của nhạc rock hay Howard Gardner của khoa học tâm lí, tất cả đều phải tích cho đủ số giờ luyện tập. Đều phải 10.000 giờ. Công thức của tài năng rất đơn giản vậy thôi.     Xét về phương diện vật chất, việc hình thành kĩ năng tinh thông liên quan đến một thứ vật chất trong não bộ có màu trắng vốn bị coi thường với tên myelin. Chất trắng được biết đến từ giữa thế kỉ 19 này vốn không mảy may có liên hệ gì với “trí tuệ”, như phần lớn chúng ta vẫn thường nghĩ. Chẳng phải dân gian vẫn gọi trí tuệ dưới một cái tên là “chất xám” đấy thôi? Nhưng gần đây thì người ta đã có cái nhìn khác về thứ vật chất này. Vào khoảng những năm 30-40 thế kỉ XX, các nhà khoa học bắt đầu khám phá ra rằng myelin giúp cho quá trình truyền tín hiệu giữa các tế bào thần kinh được duy trì. Khoảng 40 năm sau đó, các nhà khoa học phát hiện thêm rằng quá trình truyền đạt thông tin sẽ chậm đi hoặc mất mát khi myelin bị tổn thương.     Đây là một phát hiện đáng chú ý, bởi nó giúp chúng ta nhìn nhận lại vai trò của thứ chất trắng luôn bị cho là “vô nghĩa” này. Nếu không có chất trắng myelin, sẽ không có kĩ năng thành thục. Vì kĩ năng thành thục thực chất là một bộ phản xạ của cả trí não và cơ thể với sự chính xác và tốc độ cao, được gây dựng qua thời gian luyện tập lâu dài. Quá trình đó đồng bộ với quá trình myelin bao bọc lấy các kết nối thần kinh. Myelin được “trả lại vai trò” như vốn có trong một cuốn sách nổi tiếng của Daniel Coyle có tên “Mật mã tài năng”. Dẫn lại ý tưởng của Ericsson, tác giả cuốn sách cho rằng sự vĩ đại không tự nhiên sinh ra, mà nó được ươm trồng. Và sự ươm trồng đó gắn chặt với sự nuôi dưỡng các myelin, thứ mà ông gọi là “tế bào luyện tập sâu”. Khái niệm “luyện tập sâu” Coyle đề xuất có nội hàm tương tự như “luyện tập có chủ đích” mà Ericsson từng dùng. Đó là loại luyện tập hướng tới một mục tiêu cụ thể, lặp đi lặp lại, có sự điều chỉnh và cải tiến liên tục qua thời gian, có sự trợ giúp của một huấn luyện viên bậc thầy. Chính trong quá trình luyện tập đi tập lại với mục tiêu cải tiến kĩ năng này, các myelin bắt đầu dày dần lên, làm cho băng thông truyền tải thông tin đi qua các khớp nối thần kinh được nhanh hơn. Trong não bộ, khi myelin dày lên, cũng là lúc kĩ năng của chúng ta trở nên thành thục.  ***   Não bộ của chúng ta liên tục thay đổi khi học tập và rèn luyện kĩ năng mới. Điều này có phần ngược lại với suy nghĩ truyền thống rằng não bộ tương đối cố định, từ những năm đầu đời. Những nghiên cứu mới đây thậm chí còn cho thấy, não cá ngựa (hippocamus, một bộ phận nhỏ hình con cá ngựa đảm nhiệm về cảm xúc, bộ nhớ, và sản sinh các tế bào thần kinh mới) vẫn có thể tiếp tục sản sinh các tế bào thần kinh mới cho não bộ khi chúng ta đã trưởng thành. Mặc dù theo độ tuổi, tốc độ sản sinh thấp hơn tốc độ chết đi của các tế bào, nhưng khi có sự học hỏi và luyện tập thì số lượng các kết nối giữa các tế bào, cùng với sự bao bọc của myelin luôn luôn thay đổi. Xét về chất, não của chúng ta vẫn phát triển từng ngày, nhất là khi nó được hoạt động liên tục.     Không xuất phát từ quan điểm vật chất của khoa học thần kinh, nhà tâm lí học Carol Dweck ở Đại học Stanford lại có những nhận định hết sức tương đồng về sự trưởng thành của con người. Nhưng bà lại đứng từ góc độ của người nghiên cứu về thái độ. Theo Dweck, thái độ là cái quyết định tới sự thành công trong giáo dục hoặc kinh doanh. Những nghiên cứu của bà về mô thức phát triển (growth mindset) và mô thức đông cứng (fixed mindset) đang được cộng đồng giáo dục và kinh doanh hết sức lưu tâm do nó có thể giúp họ nhận biết mẫu hình để nảy nở sự thành công và các tài năng, từ đó có cách tiếp cận đúng đắn trong việc nuôi dưỡng các mầm non trong nhà trường, hoặc chăm nom cho sự phát triển của nhân viên trong những tổ chức. Những người có mô thức phát triển tin vào việc có thể phát triển được trí khôn của mình thay vì tin rằng nó là “giời cho”. Họ khát khao được học hỏi thay vì chỉ muốn mình thật sáng láng. Họ thích đối đầu với thử thách và cảm giác được vượt qua hơn là lảng tránh chúng. Họ coi nỗ lực là điều hiển nhiên để phát triển bản thân chứ không coi nỗ lực là một “chi phí”. Họ tiếp nhận các chỉ trích để sửa mình và học hỏi thay vì phản ứng lại hoặc bỏ qua điều trái tai nhưng đúng đắn. Họ luôn tìm thấy cơ hội học hỏi trong tấm gương thành công thay vì ghen tị. Dưới con mắt của Dweck, mô thức phát triển không gì hơn là một thái độ tích cực đối với sự phát triển của bản thân và thế giới. Mặc dù thoát li khỏi phần “vật chất”, nhưng chúng ta thấy những nhận định của Dweck thật gần gũi với những hiểu biết về não bộ và sự trưởng thành của kĩ năng mà các nhà thần kinh học đã chỉ ra từ trước.     Cả Dweck, Ericsson, Gladwell hay Coyle đều chung nhau một ý: họ khuyến khích quá trình học tập tích cực, tự thân, bền bỉ và có ý thức. Họ đều nhấn mạnh một điều quan trọng là sự phát triển năng lực ở mỗi người là tiệm tiến, tốn thì giờ, có thể phải trải qua thất bại nhiều lần, và vai trò của người giáo viên/dẫn dắt là rất quan trọng. Bên cạnh đó, họ cũng không quên nhấn mạnh tới sự tác động từ các yếu tố bên ngoài tới sự phát triển năng lực của một con người: từ di sản văn hóa và môi trường, như cách Gladwell đã nêu; hay từ huấn luyện viên bậc thầy như đề xuất của Coyle để trợ giúp việc luyện tập sâu; hay sự cần thiết của khuyến khích và động viên từ giáo viên đối với nỗ lực và thất bại của học trò như khuyến nghị của Dweck.     Câu chuyện về myelin cho thấy rằng chúng ta cần phải hết sức coi chừng với các hình thức thụ động của việc học tập. Những hoạt động xem phim thụ động từ tấm bé, kể cả khi phim đó được gắn mác “Baby Einstein giúp trẻ thông minh” hay những hoạt động nghe giảng một chiều thực ra không giúp ích gì mấy cho sự phát triển của trẻ cả. Thái độ tích cực và chủ động, luyện tập sâu là điều tiên quyết. Sự tăng trưởng từ từ của myelin giúp chúng ta với vai trò là các bậc cha mẹ hoặc nhà giáo bớt “sốt ruột” với sự phát triển của con trẻ hoặc chính bản thân mình. Theo đó, chúng ta sẽ phải lưu tâm nhiều hơn tới những cải tiến nhỏ, cụ thể, có chủ đích và liên tục trong cách ta làm việc. Như dân gian có câu, “muốn nhanh, cứ phải từ từ”, hóa ra cũng hiệu nghiệm trong việc phát triển năng lực con người.  Con đường đến với thành công, luôn phải có mặt sự “siêng năng” và bền chí. Cần tránh xa các “giấc mơ Phù Đổng” vốn nằm sâu trong tiềm thức của nhiều người trong chúng ta.     Cuối cùng, vì myelin được bồi đắp cùng với sự “vun trồng tài năng”, chúng ta luôn cần phải xây dựng những môi trường tốt, với những cơ hội phát triển tốt và những người hướng dẫn giỏi để giúp cho các mầm tài năng luôn có được thái độ đúng đắn, có điều kiện được phát triển hết mình.           Nghĩ về Mozart, chúng ta thường hay tưởng tượng ra  một thiên tài có khuôn mặt trẻ thơ được trời phú năng lực chơi đàn  piano đỉnh cao từ tấm bé. Tuy nhiên nhà tâm lý học Anders Ericsson ở Đại  học bang Florida lại quan sát thấy một sự thật khác: vào lúc 6 tuổi khi  Mozart có thể chơi piano thành thục, cậu bé đã tích lũy không ít hơn  3.500 giờ thực hành không ngừng nghỉ với sự kèm cặp của thầy giáo chính  là người cha của mình. Ericsson chính là người dõng dạc tuyên bố: không  có nhân tài tự nhiên sinh ra, họ đều được hình thành nên qua một quá  trình luyện tập chuyên tâm với thời gian được tính bằng con số 10 nghìn  giờ; điều đó đúng cho cả Mozart và những người được coi là thiên tài  khác.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để      Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm, thì không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục Việt Nam so với các nước xung quanh, và so với yêu cầu phát triển của xã hội. Trước thực trạng đó chỉ có một lối ra tiết kiệm và nhanh chóng là thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.    1. Khủng hoảng hay thành tựu?  Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu về mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều  trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được xem là sự khủng hoảng toàn diện.  Nhìn lại hệ thống giáo dục VN, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và ngày càng đậm nét.  Từ chỗ trước đây dù sao cũng là sự nghiệp toàn dân, là “bông hoa của chế độ”, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì. Trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục có nguy cơ sút giảm để dần dần nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan, phủ nhận giáo dục với tư cách lợi ích công hòng biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo  cung cầu của một thứ thị trường vô tâm. Giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện tồn tại khoảng cách ngày càng gia tăng, có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang muốn hướng tới.        Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục, trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40%  tổng chi phí giáo dục.        Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa trường tư, trường công, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v… tất cả làm thành một hệ thống tạp nham, rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, nhiều hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng (gần đây nhất, giữa lúc người dân đang khốn đốn trong cơn bão giá thì ngành giáo dục tăng giá sách giáo khoa 10%).  Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ (sau nhiều lần bàn cãi cũng chỉ mới giảm được thời lượng bắt buộc), lại quá thực dụng thiển cận, thiên về triết lý mì ăn liền mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi người như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ. Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng, là những đức tính thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết. Bằng cách đặt nặng quá mức bằng cấp và thi cử, nhà trường đã vô tình tuôn ra xã hội mọi thứ rác rưởi độc hại: bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v.  Chất lượng giáo dục sa sút một thời gian dài, nhất là ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả ngành nghề, chất lượng và số lượng, do đó đang trở thành nhân tố kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển kinh tế. Dân trí thấp – hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém – tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, và hàng loạt vấn nạn khác. Sau cùng, chất lượng giáo dục quá thấp là nguyên nhân quan trọng gây ra nạn chảy máu chất xám đang làm xã hội mất đi những nguồn lực trí tuệ quý giá.  Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục, trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40%  tổng chi phí giáo dục.  Bấy nhiêu vấn nạn kéo dài hàng chục năm mặc cho mọi cố gắng khắc phục, chứng tỏ đây chủ yếu là sự khủng hoảng từ bên trong hệ thống giáo dục.    Tuy nhiên, còn may là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa đó vẫn có những điểm sáng nhất định (lác đác trong từng cấp học đều có những đơn vị khá thành công), chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục ở đất nước này còn nhiều. Hai năm gần đây đã có  một số chuyển biến tích cực nhưng vì chưa động tới các vấn đề cốt lõi – nơi sức ỳ đã bám rễ trong nhiều năm – nên chưa tạo đủ xung lực cho một cuộc lột xác của giáo dục hiện đang là đòi hỏi cấp bách của xã hội.  2.  Nguyên nhân khủng hoảng        Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát hằng năm vô cùng lớn.  Nguyên nhân khủng hoảng giáo dục phải thẳng thắn nhìn nhận là do quản lý, lãnh đạo dưới tầm.        Điều gì đã khiến nền giáo dục của một đất nước vốn có truyền thống hiếu học lâu đời rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng thời điểm mà lẽ ra nó phải là bệ phóng cho kinh tế cất cánh ?  Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát hằng năm vô cùng lớn.  Nguyên nhân khủng hoảng phải thẳng thắn nhìn nhận là do quản lý, lãnh đạo dưới tầm. Từ quan niệm, tư duy cơ bản (triết lý giáo dục, theo cách nói gần đây) cho đến thiết kế hệ thống và quản lý, điều hành, mọi khâu đều có những bất cập, sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống.    Cái gốc của phần lớn sai lầm ấy là quan niệm, tư duy xơ cứng về giáo dục, quá cũ kỹ mà qua hai thập kỷ hầu như không thay đổi. Vẫn cách suy nghĩ thiển cận, vẫn những quan điểm giáo điều thời bao cấp, được biến tấu ít nhiều để thích nghi với những xu hướng phiêu lưu du nhập từ bên ngoài  phù hợp với từng nhóm lợi ích chi phối các hoạt động giáo dục.  Mọi người đều biết thời nào, chế độ nào thì một nền giáo dục chân chính cũng có sứ mạng cao cả giống nhau về giáo dục con người hướng tới chân, thiện, mỹ. Đồng thời trên cái nền chung đó mỗi thời, mỗi xã hội đặt những nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể khác nhau cho giáo dục. Không thấy hai mặt đó mà chỉ thiên một mặt này hay mặt kia, thậm chí để hai mặt đó xung đột, sẽ dẫn đến một nền giáo dục hoặc thoát ly thực tế hoặc thực dụng thiển cận, hoặc vừa có cả hai tính chất đó. Chẳng hạn, thời nào thì con người sống trong xã hội lành mạnh cũng cần trung thực, và muốn đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng phải ít nhiều có đầu óc sáng tạo, nhưng chưa bao giờ hai đức tính đó thiết yếu như bây giờ trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Điều đó tiếc thay đã không được chú ý trong suốt quá trình xây dựng giáo dục ở VN. Trong khi xã hội và môi trường quốc tế đã biến đổi cực kỳ sâu sắc mà từ mẫu giáo đến đại học, nhà trường vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội để rèn luyện nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, thì với sự vênh đó giữa lý thuyết và đời sống, cộng thêm sự xuống cấp nhanh đạo đức xã hội, làm sao có thể giáo dục trung thực và sáng tạo có hiệu quả? Đó là nguyên nhân sâu xa khiến sự giả dối và nạn giáo điều lan tràn, từ tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, bệnh thi đua hình thức, cho đến nạn sao chép, dạy mẫu, học thuộc lòng, cứ tồn tại dai dẳng bất chấp sự lên án của dư luận xã hội.  Gần đây, những cuộc tranh cãi xung quanh đề án tăng học phí, nạn học sinh bỏ học, ngồi nhầm lớp, v.v. cho thấy rõ một nguyên nhân căn bản của nhiều vấn nạn ấy là do nhận thức về công bằng, dân chủ trong giáo dục còn quá hời hợt và thô sơ. Chỉ mới chú ý yêu cầu sơ đẳng bảo đảm quyền học tập (nói chính xác là quyền bình đẳng về cơ hội học tập), mà ngay việc này cũng chưa được hiểu đúng và làm tốt. Trong khi đó, với chế độ học tập như hiện nay, buộc học sinh phải học thêm ngoài giờ rất nhiều (kể cả làm bài tập ở nhà và học thêm ngoài giờ có trả học phí), thì con em các gia đình nghèo làm sao có được cơ hội học tập thành công bình đẳng với con em các gia đình khá giả. Cho nên được đi học mới chỉ là bình đẳng một phần. Bình đẳng về cơ hội học tập không thôi chưa đủ mà phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công. Không phải không có lý do mà ở nhiều nước, để bảo đảm công bằng về cơ hội thành công trong học tập, để giúp con em nhà nghèo không bỏ học giữa chừng, học sinh tiểu hoc và trung học không phải làm bài tập ở nhà mà đều làm hết ở trường, trong những giờ tự học có thầy giám sát. Ở các nước ấy cũng không có chuyện phải học thêm ngoài giờ ở lớp và không có học sinh phải bỏ học chỉ vì chương trình nặng, học không nổi hay sách giáo khoa quá đắt, không có tiền mua. Vì vậy hiện tượng học sinh bỏ học nhiều cần được nhìn nhận là dấu hiệu đáng lo ngại của một nền giáo dục thiếu công bằng.        Được đi học mới chỉ là bình đẳng một phần. Bình đẳng về cơ hội học tập không thôi chưa đủ mà phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công.        Vào những năm 80 thế kỷ trước, khi kinh tế bế tắc, hệ thống giáo dục cũ gần như tan rã. Sai lầm cơ bản khi ấy là  đã không xuất phát từ gốc để cải tạo hệ thống giáo dục mà chỉ cải sửa tùy tiện từng phần của nó trong khi vẫn khư khư giữ nền móng tư duy lạc hậu cũ. Rốt cuộc đã đẻ ra một hệ thống giáo dục dị dạng, đầu Ngô mình Sở, thường xuyên gặp khó khăn, đòi hỏi phải liên tục cải sửa, song càng sửa càng rối, càng bất cập.  Khủng hoảng giáo dục chủ yếu là từ bên trong, tức là do hậu quả của hàng loạt sai hệ thống. Trong đó đáng nêu nhất có một số sai căn bản như sau.  Chính sách đối với người thầy, là xuất phát từ quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho thầy quyền uy tuyệt đối theo quan niệm “không thầy đố mày làm nên”, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của thầy đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực giáo dục hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương. Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy trên 30 giờ/tuần). Rốt cuộc phần thu nhập thêm đó cũng từ ngân sách hoặc tiền đóng góp của dân mà ra, nhưng cái giá phải trả cho cái nghịch lý lương/thu nhập đó là chất lượng giáo dục bị hy sinh, đạo lý xuống cấp, cần kiệm liêm chính mất dần, gây ra tình trạng hỗn loạn rất khó đảo ngược để lập lại trật tự, dân chủ, văn minh trong giáo dục.  Chú trọng thi hơn học, quá nhiều kỳ thi “quốc gia”, mà thi theo cách học thuộc lòng, sao chép bài mẫu, lại thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục VN, tái diễn cảnh lều chõng xa xưa ngay giữa thời toàn cầu hóa và kinh tế tri thức (với tâm lý rớt thi đặc trưng “đau quá đòn ghen, rát hơn lửa bỏng, hổ bút hổ nghiên, hổ lều hổ chõng”). Có thể nói không ngoa, muốn hiểu thực chất việc học ở VN như thế nào chỉ cần quan sát xã hội VN trong mùa thi. Thực học hay hư học, học để biết, để làm, để sống cuộc sống hữu ích, hay học để làm gì, tất cả đều phơi bày ra hết ở mùa thi. Trên thì Bộ GD & ĐT có cả một bộ máy đồ sộ để nghiên cứu nghĩ ra cách tổ chức thi, ra đề thi, chấm thi, thanh tra, giám sát thi, mỗi năm một kiểu, dưới thì các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy sao chụp đua nhau hoạt động phục vụ học sinh đi thi. Suốt mấy năm trời hết ba chung rồi hai chung, hết tự luận rồi trắc nghiệm, thảo luận không dứt, nhưng không hề băn khoăn: có cần thiết bấy nhiêu kỳ thi và thi căng thẳng như vậy không? Mặc dù đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ bớt các kỳ thi và thay đổi cách thi, nhưng với sức ỳ cố hữu của cơ quan quản lý, phải mất tám năm mới bỏ được cách thi kỳ quặc dựa theo bộ đề thi có sẵn, sau đó nhiều năm mới bỏ được thi tiểu học, thi THCS. Còn lại hai kỳ thi căng thẳng tốn kém nhất là thi THPT và thi tuyển sinh đại học, dự kiến sẽ kết hợp lại làm một, cũng là một tiến bộ dù chỉ mới nửa vời. Ở đại học, do đào tạo theo niên chế nên “thi tốt nghiệp” một cách nặng nề, hình thức mà ít hiệu quả. Từ cách thi nhiêu khê đẻ ra lắm dịch vụ ăn theo kỳ lạ ở mọi cấp: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn thi kiểu này, còn học chỉ để thi, thì hư học còn phát triển, gây lãng phí lớn cho Nhà nước và cả xã hội. Nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì tốn kém lên tới con số khủng khiếp khó có thể chấp nhận.  Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với giáo dục các nước trong khu vực. Điều này rõ nhất, nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và cao học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ). Thật ra, từ giữa thế kỷ XX mâu thuẫn gay gắt giữa số lượng và chất lượng đã xuất hiện phổ biến trong phát triển giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới. VN càng không phải là ngoại lệ, nhưng VN đi sau, có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước để tránh sai lầm. Tiếc rằng nhiều kinh nghiệm tốt ở các nước đã không được áp dụng, hoặc áp dụng không thành công, chủ yếu vì thiếu nghiên cứu cho thấu đáo và không có cách nhìn hệ thống (đào tạo nghề, đại học đại cương là những ví dụ). Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường xây dựng một đại học về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển chọn, đánh giá GS, PGS,  tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá các đại  học v.v. phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung. Với cách quản lý xô bồ đó, số phế phẩm tuôn ra xã hội ngày càng đông, tài năng làng nhàng chiếm ưu thế, rồi phế phẩm thế hệ 1 sản xuất ra phế phẩm thế hệ 2, cứ thế thành cái vòng xoáy trôn ốc nhấn chìm giáo dục trong một mớ bòng bong, không gỡ ra được (tình hình lộn xộn về các bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và các chức danh GS, PGS hay các danh vị khác đã khiến các sản phẩm giáo dục VN mất giá thảm hại trên quốc tế).  Năng lực yếu kém của bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành. Có thể là nguyên nhân quan trọng nhất, tuy khó khắc phục nhất. Xây dựng giáo dục để hội nhập thành công trong thời toàn cầu hoá và kinh tế tri thức đòi hỏi một trình độ chuyên nghiệp cao và một tinh thần trách nhiệm lớn. Đó là khâu đầu tiên phải giải quyết đúng, phải “thắng”, thì mới bảo đảm thành công. Cho nên khi giáo dục lâm vào khủng hoảng toàn diện thì nguyên nhân thất bại đầu tiên phải tìm ngay trong khâu mấu chốt đó. Không thể đổ cho thiếu tiền, vì tuy một số lĩnh vực như đại học cần thật sự được tăng đầu tư, nhưng nhìn chung, quản lý tài chính trong toàn ngành yếu kém, thiếu minh bạch, không tạo được niềm tin tăng đầu tư cho giáo dục sẽ tăng chất lượng tương ứng. Một ví dụ: một đề án 6 năm để phát triển giáo dục đại học được đầu tư 115 triệu USD (trong đó vay của WB 85 triệu), mới thực hiện được vài năm đã bị WB dọa đình chỉ vì quản lý quá kém, thế nhưng sau đề án đó lại tiếp tục một đề án khác 70,5 triệu USD trong đó khoảng gần 5 triệu USD chỉ để … nâng cao năng lực quản lý của Bộ GD & ĐT. Chỉ một thông tin như thế đủ cho thấy trình độ chuyên nghiệp của bộ máy quản lý yếu kém đến mức nào. Mà đó chỉ là một đề án. Xung quanh Bộ GD & ĐT có nhiều vụ, viện với biên chế rất lớn, từng có thời gian dài có bộ phận biên chế đến 500 người mà năng suất rất thấp, mặc dù đã tốn hàng nghìn chuyến đi nước ngoài với danh nghĩa học tập kinh nghiệm… viết sách giáo khoa. Hằng năm khoản chi để “bồi dưỡng năng lực quản lý” theo kiểu đó đã ngốn một phần công quỹ lớn thì còn đâu ngân sách trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo! Ở TƯ đã vậy thì ở các địa phương cũng lặp lại mô hình đó, sự thiếu chuyên nghiệp, cộng với thiếu công tâm, là đặc trưng nổi bật của bộ máy quản lý, đẻ ra một kiểu quản lý tập trung quan liêu, thiếu trách nhiệm và kém hiệu quả.  Bên cạnh Bộ GD & ĐT thiếu chuyên nghiệp mà rất cồng kềnh, còn có một Hội đồng Quốc gia Giáo dục với nhiệm vụ giúp sự chỉ đạo của Chính phủ và một Hội đồng Chức danh GS, PGS lo việc xem xét công nhận các chức danh này. Thành phần chủ chốt của cả hai hội đồng đều có nhiều người chỉ hiểu biết hời hợt về giáo dục hiện đại, nhất là đại học, cho nên có thể nói ảnh hưởng khá tiêu cực đối với sự phát triển giáo dục. Tình trạng sa sút của giáo dục đại học vừa qua có một phần trách nhiệm rất quan trọng của chính hai hội đồng này. Với một bộ máy quản lý vừa thiếu chuyên nghiệp vừa quan liêu như thế, không lạ gì chủ trương coi giáo dục cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu đã gần như bị vô hiệu hóa hoàn toàn, và hơn mười năm sau khi đề ra chủ trương đó nhiệm vụ chấn hưng giáo dục và khoa học đặt ra càng gay gắt hơn bao giờ hết.        3. Lối ra nào?         Tốt nhất Chính Phủ nên thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD & ĐT, chịu trách nhiệm xây dựng trong thời hạn 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một lộ trình thực hiện đề án đó sau khi được Chính Phủ đồng ý để trình Quốc Hội thông qua.        Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, năm 2004 đã có một bản kiến nghị của 24 tri thức, chuyên gia trong nước và Việt kiều kêu gọi cải cách giáo dục toàn diện và mạnh mẽ. Cách đây gần một năm, trong một bài viết đầy tâm huyết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc lại và nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện những biến đổi có tính cách mạng để chấn hưng giáo dục. Rồi cách đây vài tháng, một nhóm 11 chuyên gia Việt kiều và trong nước cũng đã có một đề án mới về cải cách giáo dục. Gần đây nhất nhóm nghiên cứu về giáo dục do nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình chủ trì lại đưa ra một kiến nghị nữa về cải cách giáo dục. Đủ thấy tình hình thật sự nước sôi lửa bỏng trên mặt trận giáo dục. Chưa bao giờ xã hội có mối quan tâm lo lắng nhiều như hiện nay đối với việc học của con em.  Thật ra không phải chỉ mấy năm qua khủng hoảng giáo dục mới được nhận dạng, mà ngay từ năm 1995, trong một hội nghị lớn do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này. Nhiều nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong hội nghị đó và một loạt hội thảo tiếp theo đã được tiếp thu và ghi nhận trong nghị quyết TƯ II khóa 8, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nhận thức và tư duy lãnh đạo đối với giáo dục. Nhưng từ đó đến nay giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền miên. Thật đáng buồn khi giở ra xem lại báo chí thời đó, hóa ra những nhận định và đánh giá 15 năm trước bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự. Thế mà trong 15 năm ấy thế giới đã đổi thay biết bao, ngày càng phẳng và trí tuệ hơn, có biết bao cơ hội mới đã mở ra, đồng thời biết bao thách thức lớn ở phía trước! Điều gì sẽ xảy ra cho đất nước 15 năm nữa nếu vẫn sức ỳ này chi phối giáo dục?  Trong thực tế, dù bảo thủ đến đâu, Bộ GD & ĐT cũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đã và đang làm đau đầu cả xã hội. Chỉ có điều, để khắc phục các vấn nạn ấy, ngành giáo dục thực hiện những sửa đổi vụn vặt, chắp vá, chậm chạp, thiếu nhất quán, nên tác dụng và hiệu quả thấp, dẫn đến tình trạng các vấn nạn kéo dài triền miên hết năm này qua năm khác, ngày càng trở nên phức tạp vượt quá tầm kiểm soát.  Sức ỳ và tinh thần ngại thay đổi, cộng với tính thiếu chuyên nghiệp biểu hiện rõ nhất trong vấn đề thi cử và phân ban. Suốt hơn hai chục năm trời, những cải cách về thi cử chỉ đạt được kết quả là bỏ thi theo bộ đề thi (mất 8 năm), bỏ thi tiểu học, thi THCS (mới cách đây vài năm), kết hợp thi THPT với thi tuyển sinh đại học làm một (giải pháp nửa vời chưa tốt lắm), nhưng chưa bỏ được mà còn tăng cường thi tốt nghiệp ở đại học. Về việc chương trình THPT có nên phân ban hay không, và phân ban như thế nào, thì loay hoay mãi 15 năm trời, thí điểm đi thí điểm lại các phương án phân ban kiểu cũ (theo hướng chuyên môn hóa dứt điểm từ lớp 10 hay 11), sau thất bại nhiều lần đến năm 2006 mới bắt đầu sửa theo kinh nghiệm các nước tiên tiến, nhưng cũng chỉ sửa nửa vời vì vẫn tiếc rẻ chương trình, sách giáo khoa đã trót soạn và in theo tinh thần phân ban cũ từ mấy năm trước. Trong cả hai chuyện (thi cử và phân ban) , sở dĩ mò mẫm mãi và cải cách chỉ đến nửa vời là vì xuất phát từ tư duy giáo dục cũ kỹ : không thấy tầm quan trọng của văn hóa phổ quát, muốn chuyên môn hóa dứt điểm rất sớm, do đó phổ thông thì phân ban, đại học thì học theo niên chế (đào tạo theo chuyên môn hẹp), cả phổ thông và đại học đều phải thi tốt nghiệp. Trong khi đó nếu xuất phát từ quan điểm coi học chứ không phải thi là chính, trọng văn hóa phổ quát, không chuyên môn hóa dứt điểm quá sớm, nhằm tạo điều kiện cho người học có khả năng hợp tác liên ngành và khả năng thích nghi với môi trường ngành nghề thường xuyên biến động trong thời kinh tế tri thức, do đó học theo chế độ tín chỉ, thi theo từng học phần dứt điểm, không có thi tốt nghiệp mà cứ hội đủ số tín chỉ theo yêu cầu thì tốt nghiệp. Như vậy, thích hợp hơn với các điều kiện làm việc thực tế hiện đại, không bị áp lực thi cử quá nặng nề, giảm bớt stress học tập cho giới trẻ (không ai biết stress này ảnh hưởng bao nhiêu đến tình trạng bạo lực gia tăng trong xã hội) .  Hai vấn đề lớn khác là chế độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, và chế độ xét duyệt, công nhận chức danh GS, PGS. Đây là hai lĩnh vực công tác có nhiều sai lầm nghiêm trọng tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhưng trong suốt ba mươi năm vẫn được duy trì hầu như không thay đổi. Nhiều kiến nghị liên tục của chuyên gia  trong nước và Việt kiều kêu gọi chấn chỉnh hai công tác này đều bị xếp xó. Mãi đến mấy năm gần đây, một số kiến nghị ấy mới bắt đầu được nghiên cứu và chấp nhận một phần, nhưng khi thực hiện lại cũng trì hoãn thêm một số năm nữa, không ai hiểu vì lý do gì. Sự ngập ngừng, tiến vài bước rồi lại lùi, có khi quay ngược 180 độ, biểu hiện tư duy lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng đổi mới, ngay cả khi sự cấp thiết phải thay đổi đã quá rõ và đã được chính thức thừa nhận.  Bấy nhiêu kinh nghiệm thất bại là những bài học cho thấy không thể chấn hưng giáo dục bằng những cải cách nửa vời, chậm chạp, tùy tiện, như ngành giáo dục đã làm hơn hai mươi năm qua. Ngay những biện pháp tích cực hai năm gần đây, tuy rất cần thiết và đáng hoan ngênh, cũng chỉ mới có tác dụng sửa sang bề ngoài bộ mặt nhà trường cho dễ coi, chứ thật sự chưa động tới cốt lõi. Chẳng hạn, chống tiêu cực trong thi cử chỉ mới làm cho quang cảnh thi cử sạch sẽ hơn chứ chưa động tới cái gốc của hội chứng thi; chống hành vi xâm phạm nhân phẩm học sinh của một bộ phận thầy giáo chỉ mới cải thiện chút ít hình ảnh người thầy chứ chưa động tới các nguyên tắc giáo dục trong nhà trường hiện đại (thầy chẳng những không được đánh đập, mà cũng không được quở mắng, làm nhục học sinh trước lớp, dù chỉ với ý tốt để răn dạy các em). Quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm tràn lan, giải quyết vấn nạn bỏ học, ngồi nhầm lớp chưa hề động tới nguyên tắc công bằng trong giáo dục; kế hoạch đào tạo hai vạn tiến sĩ chưa động tới cốt lõi vấn đề tuyển chọn, sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đại học.  Trong khi những đề nghị cải cách nhằm tới một nền giáo dục hiện đại, công bằng, dân chủ, văn minh, đều rất khó được tiếp thu thì ngược lại nhiều ý tưởng về tự do hóa và thị trường hoá giáo dục lại được hưởng ứng với một nhiệt tình mù quáng, tưởng như đó là chiếc đũa thần để chữa mọi căn bệnh trầm kha của giáo dục VN. Đặc biệt, chưa nghiên cứu kỹ để hiểu đúng tinh thần cuộc cải cách quản lý đại học gần đây ở các nước phát triển đã vội vã đề ra chủ trương phiêu lưu cổ phần hóa đại học công và phát triển đại học tư vì lợi nhuận mạnh hơn cả ở các nước ấy, gây lo lắng cho nhiều tầng lớp xã hội trước sự buông lơi trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục.    Như chúng tôi đã phát biểu trong bản kiến nghị năm 2004, trước tình hình khủng hoảng kéo dài của giáo dục, chỉ có một lối ra tiết kiệm và nhanh chóng là thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.  Đây thật sự là mệnh lệnh cuộc sống, nếu chúng ta không muốn bị đẩy ra ngoài lề thế giới văn minh ngày nay. Tốt nhất Chính phủ nên thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD & ĐT, chịu trách nhiệm xây dựng trong thời hạn 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một lộ trình thực hiện đề án đó sau khi được Chính phủ đồng ý để trình Quốc hội thông qua. Tổ đặc nhiệm này cần có một nòng cốt gồm một số không nhiều (dưới 5) những chuyên gia thật sự có năng lực và thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian, và bên cạnh đó một hội đồng rộng hơn, làm việc bán thời gian, gồm có đại diện Bộ GD & ĐT, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân.  Trong thời gian chuẩn bị đề án cải cách căn cơ, nên gác lại việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020 (rút kinh nghiệm việc xây dựng không thành công chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010 trước đây). Đồng thời, để tạo cơ sở và mở đường chuyển sang cải cách toàn diện cần tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách liên quan những lỗi hệ thống trầm trọng đã nêu ở trên:  1. Giải tỏa nghịch lý lương/thu nhập, bằng biện pháp chấn chỉnh quản lý tài chính của  ngành giáo dục,  rà soát lại mọi khoản chi công quỹ và tiền đóng góp của dân, trên cơ sở đó tăng lương  cho giáo chức, bảo đảm lương là thu nhập chính của mỗi người. Chống tham nhũng, lãng phí trong giáo dục;  2. Chỉnh sửa phân ban THPT, không chia ban mà cho phép học sinh được nhiều tự do lựa chọn học theo chương trình bình thường hay nâng cao, trên cơ sở đó bỏ thi tốt nghiệp THPT. Không kết hợp thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH làm một mà chỉ tổ chức một kỳ thi sơ tuyển vào đại học giống như SAT của Mỹ, sau đó từng đại học tự tổ chức xét tuyển trên cơ sở kết quả sơ tuyển và học bạ THPT;  3. Chấn chỉnh việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Rà soát lại danh sách các trường, viện được quyền đào tạo, đồng thời  rà soat lại các quy  điịnh về toàn bộ quy trình từ tuyển chọn học viên, đến việc bảo vệ luận văn,  nhằm bảo đảm phù hợp chuẩn mực và thông lệ quốc tế.  4. Cải tổ bộ máy quản lý của Bộ GD & ĐT, thực hiện quyền tự chủ cho các đại học, trả việc tuyển chọn và bổ nhiệm GS, PGS về các đại học và viện nghiên cứu (sau khi được cấp trên có thẩm quyền chuẩn y). Cải tổ Hội đồng Chức danh GS, PGS, để HĐ này chỉ xét công nhận trình độ khoa học tối thiểu cần thiết cho các chức danh này,  dựa theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Cải tổ Hội đồng QG GD thành một tổ chức tư vấn có năng lực và trình độ chuyên nghiệp tương xứng với nhiệm vụ.  5. Tạm dừng mọi kế hoạch cổ phần hoá đại học công. Xoá bỏ những rào cản hành chính về mở trường tư. Trường tư vì lợi nhuận cần được đối xử như doanh nghiệp tư nhân về mọi phương diện. Nhà Nước chỉ nên hỗ trợ đất đai hay tài chính cho các trường tư  vô vị lợi.  Trên thực tế, từ hai năm nay Bộ GD & ĐT đã có nhiều cố gắng để kéo cỗ xe giáo dục ra khỏi sa lầy, vực giáo dục lên nhằm đáp ứng các yêu cầu bức thiết hội nhập và phát triển kinh tế và nguyện vọng chính đáng của người dân được hưởng một nền giáo dục công bằng, dân chủ, hiện đại. Giờ đây cả nước, từng gia đình, không ai không thấm thía những hậu quả khủng hoảng giáo dục. Mong rằng trong họa này cũng có cái may, và đây chính là cơ hội lịch sử để ngành giáo dục tự ý thức đầy đủ sự yếu kém của minh, tìm thấy trở lại động lực mạnh mẽ phát huy tiềm năng và vươn lên hoàn thành sứ mạng cao cả trong giai đoạn đầy trách nhiệm đối với tương lai đất nước.  Hoàng Tụy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực tập tại các công ty của Đức thách thức và cơ hội      Tại Đức, để có được vị trí thực tập trong các công ty, nhà máy, các sinh viên phải lên kế hoạch tìm kiếm trước một thời gian. Đây cũng là một trong những đặc tính cơ bản mà giáo dục Đức rèn luyện cho sinh viên. Đó là tác phong chủ động lên kế hoạch trong mọi công việc: học tập và thi cử, cụ thể ở đây là tìm nơi thực tập.    Quá trình thực tập trong trường đại học của Đức thường được chia làm hai giai đoạn: Thực tập cơ bản: Sinh viên sẽ làm quen với các công việc cơ bản nhất liên quan đến ngành mình sẽ theo học (quá trình này kéo dài khoảng từ 4 đến 8 tuần) và thực tập chuyên ngành (chuyên sâu): Đây là giai đoạn thực tập quan trọng nhất, sinh viên sẽ nhận được những công việc cụ thể và hoàn thành trong một thời gian từ 4 đến 6 tháng.  Quá trình tìm kiếm vị trí thực tập   Tại Đức, để có được vị trí thực tập trong các công ty, nhà máy, các sinh viên phải lên kế hoạch tìm kiếm trước một thời gian. Sinh viên có thể thực tập ở thành phố khác nơi học nên cần có thời gian để tìm nhà trọ và giải quyết các công việc khác như tìm người thuê lại nhà… Đây cũng là một trong những đặc tính cơ bản mà giáo dục Đức rèn luyện cho sinh viên. Đó là tác phong chủ động lên kế hoạch trong mọi công việc: học tập và thi cử, cụ thể ở đây là tìm nơi thực tập. Một điều khá đặc biệt là đa số sinh viên Đức không sống cùng gia đình mà sống tự lập trong ký túc xá hoặc tự thuê nhà riêng (cũng là một cách rèn luyện tính tự lập khi đã đủ tuổi trưởng thành).  Thông thường đối với thực tập chuyên sâu sinh viên cần tìm trước tối thiểu 4 tháng, thực tập cơ bản thì có thể ngắn hơn. Quá trình tìm nơi thực tập cũng hết sức đa dạng, song có 2 phương pháp tìm nơi thực tập phổ biến là: tìm trên internet và ở các viện nghiên cứu.  + Tìm trên internet: đây có thể nói là phương pháp tìm kiếm phổ biến nhất. Sinh viên vào trong các trang web của các công ty muốn thực tập, sau đó tìm đến các bộ phận thực tập mong muốn của mình. Đối với các đề tài có sẵn thì có thể nhanh chóng nộp hồ sơ đến thẳng cán bộ phụ trách nhân sự. Việc chuyển hồ sơ có thể gửi trực tiếp hoặc qua internet. Nếu chưa có các đề tài phù hợp, sinh viên có thể đề xuất nguyện vọng của mình. Dữ liệu của sinh viên sẽ được lưu trong cơ sở dữ liệu của công ty. Khi công ty có các đề tài tương ứng sẽ liên hệ lại với các sinh viên.        Ở Đức khi đi thực tập hầu hết sinh viên sẽ được trả tiền. Tuy số tiền đó không nhiều song cũng đủ trang trải cuộc sống. Đồng thời nó cũng tạo cho sinh viên có cảm giác như đang đi làm thực sự và có cảm giác hứng thú, trách nhiệm hơn trong công việc.         + Tìm ở các viện nghiên cứu: Các viện nghiên cứu thường có những mối quan hệ rất mật thiết với các công ty. Vì thế, để nhanh chóng tìm được  các sinh viên thực tập, làm việc cho các đề tài của mình, các công ty gửi thông báo cho các viện nghiên cứu. Một lý do nữa là, một số cán bộ trước đây từng công tác trong các viện của các trường sau đó chuyển ra làm việc tại các công ty nên họ cũng có mối quan hệ mật thiết cũng như sự đánh giá khá sát chất lượng đào tạo và khả năng làm việc của các sinh viên. Việc gửi hồ sơ cũng tương tự như phương pháp tìm kiếm trên internet.  Sau khi hồ sơ được xét duyệt, sinh viên sẽ được mời đến phỏng vấn trực tiếp tại công ty. Trong quá trình phỏng vấn, sinh viên cần thể hiện được sự tự tin, những điểm mạnh và sự quan tâm của mình tới công ty cũng như với lĩnh vực sẽ được giao.  Thực tập  Trong giai đoạn này, sinh viên sẽ nhận được những bài toán, vấn đề cụ thể để tự nghiên cứu và giải quyết (các sinh viên cũng nhận được sự hỗ trợ của các cán bộ, song không nhiều). Đối với các sinh viên Đức thì việc tìm một vị trí thực tập không khó, còn với sinh viên nước ngoài nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng thì việc xin thực tập khó hơn một chút do nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề ngoại ngữ.  Nguyễn Anh Đức, hiện đang thực tập tại công ty Festo, có trụ sở tại Esslingen cho biết: “Công việc thực tập ở đây thực sự bổ ích. Bạn sẽ không thể nhận ra bạn cần phải hiểu sâu vấn đề lý thuyết đến đâu nếu như bạn không đụng chạm vào công việc thực tế. Quá trình thực tập sẽ tạo cơ hội cho bạn hiểu ra những kiến thức mình đã học, đáp ứng được  nhu cầu công việc tới đâu, từ đó điều chỉnh bản thân để chuẩn bị tốt cho nghề nghiệp trong tương lai. Trong khi thực tập, bạn phải hết sức nỗ lực. Khi vào công việc, ai cũng bận cả, các cán bộ hướng dẫn chỉ giới thiệu tài liệu và yêu cầu, mình phải tự nghiên cứu và làm hết… Sau dần dần mình sẽ học được ở họ nhiều điều, không chỉ là cách nghiên cứu, giải quyết vấn đề mà còn là tác phong làm việc. Khi thực tập, tôi cảm nhận được niềm vui của một sinh viên khi được tiếp xúc với thực tế và hiểu rằng việc làm chủ kiến thức của mình quan trọng đến thế nào”. Đức cho biết, anh muốn phát triển đề tài thực tập này và viết đề tài thạc sỹ của mình tại công ty.  Một sinh viên khác- Nguyễn Đăng Hải- hiện đang viết luận văn thạc sỹ tại công ty Baker Hughes INTEQ (Celle Technology Centre). Trong quá trình thực tập, Hải đã nỗ lực cùng các đồng nghiệp nghiên cứu và hiện đang đăng ký cấp bằng sáng chế với đề tài: “Xử lý tín hiệu chống nhiễu của hệ thống giàn khoan”. Anh đã nhận được lời đề nghị tiếp tục làm việc để phát triển tiếp hướng nghiên cứu đó sau khi tốt nghiệp.         Ở Đức khi đi thực tập hầu hết sinh viên sẽ được trả tiền. Tuy số tiền đó không nhiều song cũng đủ trang trải cuộc sống. Đồng thời nó cũng tạo cho sinh viên có cảm giác như đang đi làm thực sự và có cảm giác hứng thú, trách nhiệm hơn trong công việc.           Không được suôn sẻ như các bạn khác, Hà Minh Phượng làm thực tập tại công ty ôtô VW. Công việc của Phượng là nghiên cứu máy CNC thế hệ mới. Vì đề tài này khá mới mẻ nên cả Phượng và các đồng nghiệp đều bỡ ngỡ, khiến công việc thực tập gặp không ít khó khăn về tiến độ. Phượng cho biết, hàng ngày anh đều phải nán lại cơ quan để đọc tài liệu, cuối tuần cũng cố gắng tranh thủ nghiên cứu thêm. Hiện nay, Phượng đã nắm khá tốt các quy trình công nghệ mới.  Kết thúc giai đoạn thực tập, sinh viên sẽ phải viết báo cáo về các công việc đã làm. Sinh viên có thể viết luận văn tốt nghiệp tại trường đại học hoặc trong các công ty. Vì thế, sau khi thực tập sinh viên có thể phát triển đề tài đã làm để viết luận văn tốt nghiệp.  Ở Đức khi đi thực tập hầu hết sinh viên sẽ được trả tiền. Tuy số tiền đó không nhiều song cũng đủ trang trải cuộc sống, đồng thời nó cũng tạo cho sinh viên có cảm giác hứng thú như đang đi làm thực sự.  Cách tổ chức thực tập ở Đức giúp sinh viên có một cái nhìn sâu sắc hơn về những vấn đề đã được học, được rèn luyện tác phong nghiên cứu và làm việc. Quá trình này, sinh viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thực tế và chuyên sâu lĩnh vực mà mình mong muốn, là bước chuẩn bị rất tốt cho quá trình công tác sau này. Nhiều trường đại học và các nhà tuyển dụng đánh giá cao giai đoạn thực tập- được coi như thước đo đánh giá khả năng tìm kiếm và giải quyết công việc của sinh viên, một nền tảng quan trọng cho công việc trong tương lai.    Nghĩ về việc thực tập ở Việt Nam  Nhìn về thực tế trong nước, quá trình thực tập vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng thực tập hết sức hình thức khiến cho sinh viên cảm thấy bị động và thiếu hứng thú với công việc. Hiện tượng sinh viên thực tập sáng đến quét nhà, pha trà, đọc và ghi chép số liệu chớp nhoáng, chiều về sớm là chuyện khá phổ biến. Sinh viên tiếp cận ít với thực tế cả trong quá trình học tập và thực tập khiến hầu hết các nhà tuyển dụng phải đào tạo lại khi tiếp nhận.   Thiết nghĩ, các nhà quản lý giáo dục Việt Nam cần nâng cao ý thức cho sinh viên về quá trình thực tập cũng như tăng cường sự phối, kết hợp giữa nhà trường, sinh viên và các công ty, nhà máy. Nhiều công ty ở Việt Nam đã có trang web song phần lớn cũng chưa có những thông tin gắn kết với sinh viên. Có như vậy, khi các sinh viên ra trường họ sẽ có sự định hướng, tự tin và có chất lượng hơn, góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước.  ———-  * Sinh viên hệ Thạc sỹ Cơ Điện tử- Đại học Tổng hợp Hannover)      Vũ Anh Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ (Về một số ý kiến của ông Văn Như Cương trên tạp chí Tia Sáng)      Mới đây tác giả Văn Như Cương có bài “Phản biện nhà phản biện giáo dục” đăng trên mạng Tạp chí Tia Sáng ngày 5/12/2006 xoay quanh việc biên soạn và xuất bản sách giáo khoa. Dù không bất ngờ về những vấn đề ông Văn Như Cương nêu ra, nhưng thấy cần phải có đôi lời đáp lại để góp phần khỏi làm nhiễu thông tin, với mục đích chung là làm sao cho sớm có chương trình và SGK chuẩn, ổn định được hoạt động giáo dục.    Thưa ông Văn Như Cương  1. Quyển sách hình học Euclid mà tôi đã nói đến đúng là bộ “Cơ sở” (Elements) như ông hiểu. Nó là bộ sách kinh điển, có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực khoa học giáo dục và sản xuất. Abraham Lincoln đã viết “Cuốn sách dạy tôi làm tổng thống là cuốn hình học Euclid” trong lời giới thiệu khi nó được xuất bản ở Mỹ. Nó được các nhà khoa học coi là kinh thánh và là tài sản trí tuệ chung của nhân loại. Nó vẫn được sử dụng làm tài liệu gốc để giảng dạy suốt 2.300 năm nay, khắp các nước trên thế giới. Với bộ sách này chỉ cần một GS giỏi và một vài cộng sự biên soạn lại trong vài tháng là được một bộ sách giáo khoa chuẩn. Tôi nói thế chẳng lẽ ông Cương không thấy đúng hay sao? Đằng này ông gán bừa là tôi đã nói: “nên bê nguyên bộ đó cho học sinh học”, rồi từ đó tranh biện như kiểu một học giả lão luyện nói chuyện với một anh mới bước vào nghề. Tôi biết ông cũng hiểu, bộ Cơ sở có giá trị là ở chỗ, nó đã tìm đúng được những “yếu tố cơ bản” của hình học, sắp xếp chúng theo một “trình tự logic và chặt chẽ”. Ai chẳng biết là hơn hai ngàn năm, trí tuệ của nhân loại đã phát triển hơn thời Euclid rất nhiều, nhưng chúng ta chỉ nên thêm vào và chắt lọc chứ không phải là đánh tráo thứ tự, thay đổi phần cốt lõi, bỏ bớt hoặc hạ thấp tính cơ bản của những gì đã có. Đằng này, làm ngược với tư duy thông thường, từ năm 1981 đến nay, nội dung cuốn sách đã bị chia nhỏ thành nhiều phần cho nhiều người biên soạn lại, và  nhóm nọ không biết nhóm kia. Kết quả, giá trị cơ bản bị hạ thấp, như định lý Talét bị đưa xuống phần Bài tập (Văn Như Cương-chủ biên, Trần Đức Huy, Nguyễn Mộng Hy; Hình lớp 11, NXBGD năm 2000, trang 37 bài tập 6), thứ tự bị xáo trộn, có khi làm phần nọ vênh với phần kia đến 2 lớp, như định lý Pitago được đưa vào SGK lớp 7 nhưng phép khai căn và số vô tỷ lại ở SGK lớp 9, mặc dù hai phần này có “mối quan hệ hữu cơ” trong nhận thức để  dạy và học. [Phan Đức Chính (Tổng chủ biên) Tôn Thân (Chủ biên), Vũ Hữu Bình, Phạm Gia Đức, Trần Luận, Toán 7, Định lý Pitago trang 129.  NXBGD (2006); Phan Đức Chính (Tổng chủ biên) Tôn Thân (Chủ biên), Vũ Hữu Bình –Trần Phương Dung– Ngô Hữu Dũng, Lê Văn Hồng –Nguyễn Hữu Thảo, tập 1, Toán 9, Căn bậc hai, trang 4, NXBGD, 2005]. Vô tình, sản phẩm trí tuệ của nhân loại bị đảo lộn. Việc cắt khúc chương trình và cuốn chiếu khi triển khai là nguyên nhân sâu xa, mà 25 năm qua CT-SGK chuẩn chưa hề có. Lãng phí tiền bạc còn có thể tính được, nhưng kiến thức không chuẩn của các thế hệ học sinh, thưa ông Cương cái giá phải trả là không hề nhỏ. Nước láng giềng, được di huấn lại, sai trong giáo dục là có tội với lịch sử và hỏng một việc lớn của Quốc gia.  Cũng phải nói thêm rằng, đến cuối thế kỷ 19, “Cơ sở” của Euclid đã có 15 quyển, chứ không phải là 13 quyển, như ông tuyên bố một cách quá tự tin ấy đâu.  2. Ông Cương quá chủ quan, khi ông khoe “không xin để viết SGK, cũng không tự ứng cử để được làm tác giả” và rồi sau ông nhấn mạnh, “nếu tôi làm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì tôi không mời ông Hãn  viết SGK, còn nếu ông Hãn  làm Bộ trưởng thì ngay lập tức tôi không viết SGK nữa” cũng là một kiểu suy diễn ở trên trời, để phỉ báng người khác! Xin nhắc lại để ông Cương nhớ rằng, cuốn hình  học lớp 7 do ông biên soạn, đã gây ra sự cố vào đầu năm học 1987: Sách của ông đã không dùng được phải bỏ đi. Để chữa cháy Bộ Giáo dục phải lấy một bản thảo khác, Hình học lớp 7 của ông Phạm Gia Cốc, mặc dù  lúc đó đang làm chuyên gia ở nước ngoài, in ngay sử dụng để thay thế vào cuốn sách  của ông? Cuốn hình học lớp 11 năm 2000 đã kể ở trên, tôi ngờ là cộng sự của ông Cương làm, tuy ông là chủ biên, nhưng không chịu đọc kỹ, vì thế mới xảy ra sai sót nghiêm trọng mà bất cứ một SV đại học bình thường nào cũng không thể lẫn lộn được, là mang Định lý Talét cho xuống phần bài tập! Còn việc ông kể lể về quá trình kỹ thuật để có được bản in, như sửa “bông” một, “bông” hai,…, với bản “can”, bản sửa…, chúng tôi đã từng làm khi còn là SV. Và thưa ông Cương, khi các ông nêu tiền nhuận bút còn chia cho mấy người làm, thì quả thật tôi không hiểu tại sao, việc biên soạn cuốn sách vài ba trăm trang lại cần đông người đến thế?  3. Việc thẩm định CT-SGK có nhiều cách, nhưng cách đơn giản và hiệu quả nhất là so sánh và đối chiếu. Trong giáo dục trên thế giới tồn tại một mặt bằng chung kiến thức, để HS từ nước này có thể chuyển sang nước khác học vì chương trình giáo dục về cơ bản là giống nhau (sự khác nhau nếu có cũng nhanh chóng được khắc phục). Ủy ban VH-GD-TTN-NĐ của Quốc hội, đã yêu cầu Lãnh đạo Bộ GD-ĐT mang CT-SGK của các nước tiên tiến Anh, Đức, Nga, Mỹ, Pháp để so sánh và đối chiếu với CT-SGK của ta đang sử dụng hiện nay, nhưng hàng năm nay vẫn chưa thấy Bộ GD-ĐT mang sang. Xin lưu ý, tôi cũng đã từng đến thư viện của Viện chiến lược Giáo dục kiểm tra trước khi phát biểu chính thức trên công luận. Sự thật là như vậy, mà ông Cương nói là các tác giả có đủ sách tham khảo, và chụp cho tôi cái tội: “Tôi khó hiểu vì ông Hãn lấy ở đâu cái thông tin sai sự thật  như  thế? hay là chính ông bịa ra đặt ra? Như vậy không khoa học và không trung thực”. Kiểm chứng việc này chẳng khó khăn gì, các cơ quan chức năng đều cụ thể ai cũng có thể gặp! Nhân đây cũng nhờ ông Cương cùng lãnh đạo Bộ GD- ĐT, chuyển CT-SGK chuẩn của nước kể trên, cho các nhà khoa học, nhà giáo sẽ giúp Nhà nước đánh giá CT-SGK hiện nay theo cách so sánh đối chiếu, trong một tháng sẽ có kết luận chuẩn xác. Theo số liệu của Bộ, việc thẩm định CT-SGK hiện nay, đã huy động ba cơ quan Trung ương, một trường đại học khoảng 500 cán bộ TƯ, 2883 cán bộ các cấp quản lý của 14 tỉnh thành, 6630 phụ huynh, học sinh và các chuyên gia nước ngoài hàng trăm cuộc họp từ địa phương đến TƯ trong vài năm nay, mà  vẫn chưa xong!                      4. Qua cách trình bày, tôi thấy ông tỏ ra khá thông hiểu cách tính toán tiền lãi thay sách mà tôi đã phát biểu nhiều lần. Không rõ ông Cương không hiểu hay cố tình không hiểu, vì sao doanh thu năm đó là 100 triệu, mà tiền lãi cho việc thay sách môn tiếng Việt, NXBGD có  thể thu là 1 triệu USD (con số lãi NXBGD là 190 triệu USD, do ông suy diễn không chuẩn!). Đó không phải là nghịch lý đâu, ông Cương sẽ hiểu được điều này nếu ông hiểu được tính chất của hàm delta do Dirac đưa ra 80 năm về trước. Một tổng vẫn có thể là hữu hạn cho dù trong khoảng đó vẫn tồn tại một giá trị cực lớn, thậm chí vô cùng lớn? Trong số trên 200 triệu bản sách của NXBGD phát hành, lãi thay sách cho một môn học có thể  đạt 1 triệu USD, được xem như là một ví dụ hợp lý dựa trên cơ sở khoa học. Để hình dung ra bản chất, tôi có thể lấy một ví dụ dễ hiểu hơn: Nếu ta lấy một cái kim đặt lên trên tờ giấy, chỉ cần ấn nhẹ vào cái kim, nó đã dễ dàng xuyên thủng tờ giấy đó. Rõ ràng, so với các điểm xung quanh, tại điểm của mũi kim giá trị xung lực rất lớn. Nếu biểu diễn bằng đồ thị, tại đó sẽ là một cái đỉnh rất cao nhưng mảnh về bề rộng. Tổng áp lực vào tờ giấy là nhỏ và hữu hạn, chỉ bằng lực ấn nhẹ của tay ta.  5. Căn cứ vào kinh nghiệm các thế hệ đi trước, các bộ CT-SGK sẵn có trong ngoài nước, một lần nữa xin khẳng định rằng: chương trình và SGK chuẩn sẽ được hoàn thành trong vài tháng để sang năm thay đồng loạt từ lớp 1 đến lớp 12. Giải pháp này tôi đã được trình bày hai lần tại Hội đồng Quốc gia Giáo dục do Thủ tướng làm Chủ tịch. Lần thứ nhất vào ngày 29/12/1999, cả Hội đồng chăm chú ngồi nghe, lần thứ hai ngày 28/3/2003, đại bộ phận thành viên ủng hộ, không ai phản đối, nhưng rất tiếc không ai quyết việc này. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Cách làm tập trung, triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống trong giải pháp của chúng tôi, đã được thực tiễn khẳng định thành công ba lần vào các năm 1945, 1955 và 1975 ở nước ta.  ——–  * ĐHQG Hà Nội       Nguyễn Xuân Hãn*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thức tỉnh trước sức mạnh vô danh      Để tự do không chỉ là phản ứng tùy hứng và  tùy tiện, nó phải bám rễ sâu vào một sự “thức tỉnh” hay đúng hơn, là kết  quả của quá trình thức tỉnh từ sự mê muôi, buông xuôi theo thói quen  trong hoàn cảnh sống thực tế của con người.       Giữa lòng Paris bị chiếm đóng, J. P. Sartre cho công diễn vở kịch Ruồi năm 1943, khẳng định quyền tự do lựa chọn và hành động của con người, mượn ẩn dụ từ một câu chuyện cổ đại về chàng Oreste. Egiste và Clytemnstre hạ sát vua Agamemnon (chồng của Clytemnstre) rồi cùng cai trị. Oreste trở thành kẻ bí mật báo thù cho cha. Vị thần tối cao Jupiter muốn cảnh báo âm mưu này cho Egiste. Hãy nghe lời “tâm sự” của thần Jupiter với ông vua soán ngôi: “Bí mật đau đớn của thần linh và vua chúa là: con người là tự do. Họ tự do, Egiste ạ! (…) Một khi sự tự do bùng cháy trong tâm hồn con người thì không thần linh nào còn có thể chống lại họ!”.    Oreste lấy quyết định, rồi hành động để thể hiện sự tự do của mình, trước sự bất lực của mọi thế lực, dù siêu nhiên hay trần thế.  Nhưng, để tự do không chỉ là phản ứng tùy hứng và tùy tiện, nó phải bám rễ sâu vào một sự “thức tỉnh” hay đúng hơn, là kết quả của quá trình thức tỉnh từ sự mê muôi, buông xuôi theo thói quen trong hoàn cảnh sống thực tế của con người. Người có công đầu trong việc này là Martin Heidegger (1889-1976), đại triết gia Đức, người đã có ảnh hưởng quyết định lên Sartre trong những luận điểm then chốt. Nếu chức năng chủ yếu của giáo dục là “thức tỉnh”, là đánh thức con người khỏi giấc ngủ vùi, thì có thể nói, tác phẩm lừng danh của Heidegger Tồn Tại và Thời Gian (1927), bên cạnh những nội dung triết học thâm sâu khác, trước hết là một tác phẩm về triết học giáo dục. “Câu hỏi về giáo dục” (Bildungsfrage) cũng xuyên suốt các tác phẩm về sau của Heidegger. Ta sẽ tìm hiểu sơ lược tư tưởng giáo dục của Heidegger qua cả hai giai đoạn: trong tác phẩm Tồn Tại và Thời Gian (1927) về sức mạnh vô danh của “đám đông”, và trong các tác phẩm từ sau 1945 với khẩu hiệu độc đáo: “hãy để yên cho người học biết học!”.   Dưới sức mạnh vô danh  Không ai có thể sống một mình theo nghĩa tuyệt đối cả. Tôi đi trên cánh đồng vắng, không thấy một ai nhưng không phải mọi người khác đều vắng mặt. Con đường mòn, ranh giới các thửa ruộng nói lên sự hiện diện của người khác. Khi viết bài báo này, tôi mặc nhiên nghĩ đến và cần có những người sẽ đọc tôi, dù tôi không muốn có ai đó đứng sau lưng để quấy rầy! Những người khác (nói chữ là “tha nhân”!) không phải “vật có-đó” vô tri như gỗ đá, cũng không phải “vật cho tôi-sử dụng” như chiếc búa, đôi giày. Họ cũng là tôi và tôi cần họ. Thật vô lý và kỳ quặc khi đề xướng một thuyết cá nhân cô độc tuyệt đối. Nhưng, trong đời sống hàng ngày, tôi lại có nguy cơ “sa ngã” vào một cái “người ta” vô danh, tuân phục lề thói quen thuộc hàng ngày. “‘Người ta’ không ai làm như thế cả!”, “Người ta ai cũng bảo thế!” là những “mệnh lệnh” ta nghe đầy tai hàng ngày. Ta làm hoặc không làm, ta chọn hoặc không chọn, phần lớn là theo sự chỉ bảo của cái “người ta” vô danh nhưng đầy quyền lực này: phải tặng hoa ngày phụ nữ, ngày nhà giáo, không được hút thuốc, không ồn ào ở chỗ trang nghiêm, phải vui tươi hay buồn bả đúng lúc đúng nơi… Trong cái “người ta”, thì ta, cũng như mọi người khác, là sản phẩm của các tiến trình xã hội hóa, nói theo ngôn ngữ xã hội học. Ta hành xử phù hợp với sự chờ đợi của xã hội, và người khác cũng hành xử như ta chờ đợi họ. Ta chào và được chào lại, và, nói chung, làm tròn các vai trò xã hội từ khi còn bé, khi trưởng thành, trong gia đình, nhà trường và nơi làm việc. Càng ngày ta càng “nhập tâm”, và ta được đền đáp, tưởng thưởng nhờ đóng “tròn vai”. Không chỉ nhu cầu chủ quan của ta được thỏa mãn, mà còn thật sự có được sự an toàn trong cuộc sống.  Rồi nhất định sẽ có những tình huống hay biến cố đột ngột kéo ta ra khỏi nhịp điệu đều đặn thường ngày, chẳng hạn một sự thất bại nặng nề hay tin buồn về sự qua đời của một người thân. Nhưng, ngay trong tình huống ấy, cái “người ta” lại có sẵn những “giải pháp”: viết vài giòng chia buồn, đặt một vòng hoa, đến viếng tang… Có lẽ chỉ có ý nghĩ về cái chết của chính mình mới thật khó trốn chạy trước nỗi sợ hãi và khó ẩn nấp vào trong cái “người ta”. Nhưng rồi vẫn có lối thoát. Tốt nhất là đừng nghĩ đến nó, đánh lạc hướng nó đi bằng cách quay về với sự bận rộn túi bụi thường ngày! Nói ngắn, ta tự nguyện và vô tình tuân phục sự “chuyên chính” của cái “người ta”, bởi nó vô danh, êm ái, không bạo lực: “Cái “người ta” âm thầm thi thố quyền lực chuyên chế của nó. Ta hưởng thụ như mọi người hưởng thụ, ta đọc, ta phê bình văn chương, nghệ thuật như “người ta” đọc và phê bình(…), ta phẫn nộ những gì “người ta” phẫn nộ…”.  Trong cuộc sống “không đích thực” ấy (thuật ngữ đặc thù của Heidegger), sự Tồn Tại chân thật của ta bị lãng quên và sự Tồn Tại ấy cũng rời bỏ, xa lìa ta. Ta bị bao bọc bởi những vật thể, những những cái có-đó, những ý kiến, quan điểm cố hữu (những “tư kiến”/doxa như Platon từng gọi): “Cái “người ta” thuộc về những người khác và củng cố sức mạnh của nó (…). Cái “ai đó” không phải là người này hay người kia, không phải là bản thân tôi, không phải là một nhóm người hay tất cả mọi người. Cái “ai đó” là cái gì trung tính, là cái “người ta””.  Thêm nữa, cái “người ta” vô danh ấy giải phóng từng cá nhân ta khỏi mọi trách nhiệm và thực tiễn hành động: “Cái “người ta” hiện diện khắp nơi nhưng lẫn tránh rất nhanh khi con người buộc phải lấy quyết định. Nhưng vì cái “người ta” làm chủ mọi phán đoán và quyết định, nên nó gánh hết trách nhiệm cho từng cá nhân!”.  Những hoàn cảnh ranh giới    Như thế, ta đã đánh mất cái tôi trong cái “người ta”. Đâu là lối thoát? Thưa rằng: chỉ có các hoàn cảnh ranh giới mới có thể “đánh thức” sự “tồn tại đích thực”, không còn sống say chết mộng. Đó là hai nỗi sợ: nỗi sợ trước toàn bộ sự sống (sống sao cho đúng là mình) và nỗi sợ trước cái chết (tức không còn tồn tại nữa). Các nỗi sợ này thường được tránh né, tảng lờ, nhưng nếu không đối diện với chúng, con người không thực sự “hiện hữu”. Ta vẫn sống, nhưng không có ý thức về sự hiện hữu, và vì thế, cũng không có hay đánh mất khả thể thực hành sự tự do. Thay vì trốn chạy, “con người hiện hữu” chấp nhận nỗi sợ này, và nhờ đó nắm bắt tương lai như là tương lai đang mở ngỏ và do ta kiến tạo lấy.  Lo sợ trước cuộc sống và trước cái chết, dù sao, vẫn là hai “hoàn cảnh ranh giới” quá cực đoan. Hình thức tưởng như tiêu cực trong đời thường nhưng vẫn có tác động thức tỉnh mạnh mẽ, đó là nhịp điệu đều đều khiến ta phát chán! Chính sự chán ngán khiến ta hồi tưởng đến thời gian và cuộc sống: vũ trụ biến thành một chiều chủ nhật (buồn, trên căn gác đìu hiu!), đó là định nghĩa về sự buồn chán, vì lúc ấy, thời gian gõ mạnh từng nhịp trong lòng. Lại nhớ đến Maxine Green, nhà nữ giáo dục hiện sinh Mỹ: “Sự nhàm chán là cách thức mà sự đe dọa của hư vô đang thức dậy trong ý thức”. Nó làm mình thấy “có lỗi”: “Có lỗi là khi cảm nhận rằng ta ăn không ngồi rồi, không tận dụng các khả thể, không tự mình vun đắp tương lai!”.  Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 37, 21.05.2015          Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực trạng quá tải hệ thống giáo dục mầm non      Dù đã có nhiều nỗ lực cải thiện hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng nhưng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực vẫn chưa theo kịp nhu cầu học tập. Đặc biệt, các tỉnh, thành phố lớn đều đang quá tải trầm trọng, với tỉ lệ số trường/ 10.000 dân thấp và số học sinh/ giáo viên cao hơn nhiều so với mô hình chung trên thế giới.       Trường mầm mon Hoàng Liệt, nơi phải tổ chức bốc thăm để các phụ huynh có cơ hội nhận một suất học cho con. Ảnh: Đất Việt  Dân số Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các thành phố lớn do làn sóng di cư và tỷ lệ sinh của Việt Nam duy trì ở mức tương đối cao trong xuyên suốt hai thập kỷ vừa qua. Trong đó, tốc độ tăng dân số của các thành phố lớn như Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (2,4%/năm) cao gấp hơn 2 lần so với bình quân cả nước (khoảng 1%/năm) dẫn đến áp lực cho hệ thống giáo dục, đặc biệt giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông đặc biệt cao tại các thành phố này (Niên giám thống kê [GSO], 2022). Thậm chí một số tỉnh/thành tại Việt Nam có tình trạng phụ huynh phải bốc thăm để con được nhập học mầm non công lập. Điều này đòi hỏi có một cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng quá tải của hệ thống giáo dục mầm mon ở Việt Nam nói chung và các đô thị lớn nói riêng.  Nhìn chung, Việt Nam đã có nỗ lực xây dựng cơ sở vật chất, giúp tăng trưởng hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non tương đối đáng kể. Năm 2005, bình quân trong cả nước cứ 10.000 dân thì có 31,76 trường mầm non, con số này đã tăng lên hơn 2,6 lần sau 15 năm (năm 2019) với khoảng 83,91 trường mầm non/10.000 dân. Tương tự, số lớp học mầm non và số giảng viên trên mỗi trường cũng có sự cải thiện đáng kể trong 15 năm qua (bảng 1).    Bảng 1. Số liệu về trường mầm non các năm 2005 – 2019. Nguồn: Tác giả tính toán theo niên giám thống kê 2002-2019.  Khi đánh giá theo từng tỉnh/thành giai đoạn 2008-2019, chúng ta cũng nhìn thấy sự cải thiện về số lượng trường lớp. Trong hơn 15 năm phát triển của đất nước vừa qua, đã có nhiều nỗ lực xây dựng hệ thống giáo dục, rõ ràng tăng trưởng kinh tế đã phần nào giảm tải sức ép cho hệ thống giáo dục. Thứ nhất, cải thiện hiệu quả kinh tế đồng nghĩa với các dịch vụ giáo dục được hỗ trợ thông qua nhiều cách thức khác nhau như tiếp cận các thiết bị học tập hiện đại, phát triển các dịch vụ và trung tâm học tập, và nâng cao cơ sở trường/lớp. Cụ thể, biểu đồ 1 cho thấy xu hướng tương quan dương giữa (i) quy mô kinh tế và (ii) số giáo viên trên mỗi trường, đồng thời quy mô kinh tế gia tăng cũng đi cùng với sự suy giảm tỷ lệ học sinh/giáo viên. Thứ hai, xu hướng phát triển và hội nhập cũng làm giảm tải các áp lực cho hệ thống giáo dục công, mở thêm cơ sở giáo dục ngoài công lập, mở thêm các cơ hội học tập nước ngoài, tích hợp các công nghệ giảng dạy mới. Biểu đồ cũng ghi nhận tỷ lệ học sinh /giáo viên đã giảm nhanh chóng kể từ 2004 đến nay.    Biểu đồ 1: Quy mô kinh tế, xu hướng thời gian và trình trạng quá tải giáo dục trước đại học. Nguồn: tác giả tính toán.  Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn, mức độ tăng trưởng số lượng trường lớp mầm mon ở các tỉnh, thành vẫn còn khác xa nhau, và điều đáng nói là không phải các tỉnh thành có mức độ phát triển kinh tế xã hội cao nhất thì có đủ cơ sở vật chất theo kịp nhu cầu học. Có thể tạm chia mức độ tăng trưởng về số lượng trường mầm non của các tỉnh/thành phân thành ba nhóm chính:  Nhóm 1 là nhóm các tỉnh có quy mô kinh tế hạn chế (một số tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long), gặp nhiều rào cản trong việc gia tăng số lượng trường lớp, giáo viên và cải thiện chất lượng giáo dục do thiếu phần lớn các nguồn lực tài chính. Số liệu từ niên giám thống kê cho thấy khu vực này có tỷ lệ trường mầm non/10.000 dân và tỷ lệ trường tiểu học, THCS, THPT/10.000 dân trung bình trong năm 2019 là khoảng 50 trường và 7,4 trường tương ứng, với quy mô GRDP bình quân khoảng 26,2 nghìn tỷ VNĐ so với 81,5 nghìn tỷ VNĐ bình quân các tỉnh/thành cả nước. Hơn nữa, đây cũng là khu vực có tỷ lệ nghèo đa chiều cao hơn gấp 2 lần so với trung bình cả nước (Tran, Nguyen, Hoang, & Van Nguyen, 2022; Van Le, Tran, & Doan, 2022).  Nhóm 2 là nhóm các tỉnh/thành phố đang trên đà tăng trưởng kinh tế-xã hội tương đối nhanh chóng (ví dụ tiêu biểu như Hải phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Bình Dương), đã mở rộng nhanh chóng cả về số lượng các trường học, giáo viên và lớp học. Cụ thể, số lượng trường mầm non/10.000 dân và số lớp học/10.000 của một số tỉnh thành như Bắc Ninh và Quảng Ninh đã tăng nhanh chóng từ 38,8 trường/10.000 dân và 1406 lớp/10.000 dân tương ứng năm 2010 đã tăng gần gấp đôi với con số là 62,6 trường/10.000 dân và 2188 lớp/10.000 dân.  Nhóm 3 là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh và năng động nhưng áp lực về dân số (cả di cư và tăng trưởng tự nhiên) đã tạo ra sức ép quá lớn với hệ thống giáo dục. Số trường mầm non của hai thành phố này trong năm 2019 chỉ đạt khoảng 47 trường/10.000 dân, tức là chỉ bằng khoảng một nửa so với mức trung bình gần 84 trường/10.000 dân trong cả nước.  Tỉ lệ trường mầm non trên một vạn dân của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 chỉ bằng khoảng một nửa so với mức trung bình trong cả nước.    Hình 1. Số trường mầm non trên một vạn dân ở 63 tỉnh/thành phố, 2008-2019  Vấn đề quá tải càng trầm trọng hơn khi sự gia tăng và tập trung dân cư lớn ở một số khu vực (ví dụ: trung tâm thành phố hoặc một số khu vực đông dân khác như quận Hoàng Mai, Hà Nội) khiến cho tỷ lệ số trường mầm non trên 10.000 dân giảm dưới 20. Như vậy, tình trạng quá tải hệ thống giáo dục, đặc biệt tại cấp mầm non có sự khác biệt giữa các tỉnh/thành; trong đó, ở một số khu vực của hai thành phố lớn (Hà Nội và Hồ Chí Minh) thì vấn đề quá tải đang diễn ra trầm trọng.  Việc quá tải hệ thống trường mầm non còn được thể hiện qua tỷ lệ học sinh trên giáo viên cao. Theo các mô hình giáo dục trên thế giới, tỷ lệ học sinh trên giáo viên lý tưởng là không vượt quá 18/1, nếu vượt ngưỡng 40 học sinh/1 giáo viên thì hiệu quả học tập suy giảm đáng kể (Public School Review [PSR], 2022). Tại Việt Nam, mặc dù đã có nỗ lực cải thiện đáng kể nhưng xuyên suốt giai đoạn từ 2008 đến 2019, tỷ lệ này chưa được đảm bảo (hình 2). Cụ thể, tỷ lệ học sinh/giáo viên trung bình cả nước tính đến năm 2019 vẫn ở mức trên 62/1 mặc dù đã nỗ lực giảm so với mức 94/1 năm 2004; Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ này duy trì ở mức 50/1.    Hình 2: Tỉ lệ học sinh mầm non/ giáo viên. Nguồn: tác giả tính toán  Ngoài ra, số trường Tiểu học, Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT)/10.000 dân trong xuyên suốt giai đoạn từ 2008-2019 không gia tăng, thậm chí có xu hướng suy giảm (hình 3). Cơ sở vật chất không tăng, kết hợp với xu hướng đi học phổ thông ngày càng tăng dẫn đến tình trạng quá tải với hệ thống giáo dục trung học cơ sơ/phổ thông theo thời gian. Cùng với đó là xu hướng gia tăng bất bình đẳng về cơ hội giáo dục giữa các tỉnh/thành phát triển với khu vực miền núi nơi, giữa nhóm dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh (Le Thuc & Nguyen Thi Thu, 2016; Tran et al., 2022; Trieu & Jayakody, 2019).    Hình 3. Tỷ lệ trường tiểu học, THCS và THPT/10.000 dân, 2008-2019  Việt Nam có nguồn lực hạn chế, đang trong quá trình theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội. Do đó, xây dựng chiến lực và hành động ưu tiên để phát triển nguồn lực con người là hết sức quan trọng. Để có vốn con người cho phát triển đất nước, việc đầu tư phát triển hệ thống giáo dục trước đại học (mầm non, tiểu học, THCS, THPT) được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần vai trò chủ đạo, nguồn lực đầu tư của nhà nước. Việc quá tải hệ thống giáo dục có thể tạo ra các hệ lụy nghiêm trọng, khó lường trước trong dài hạn (xin lưu ý: những con số ở trên mới chỉ là thống kê chung, chưa có số liệu thống kê riêng về tình trạng quá tải của giáo dục trong khu vực công lập mà nhiều năm nay báo chí phản ánh là quá tải trầm trọng hơn mức chung của ngành giáo dục).    Rõ ràng, việc đạt được đa mục tiêu trong bối cảnh nguồn lực đất nước còn nhiều hạn chế là hết sức khó khăn. Do đó, cần đánh giá hiện trạng quá tải hệ thống giáo dục tại Việt Nam và đưa ra giải pháp ưu tiên. Cụ thể, hệ thống các trường mầm non chịu sức ép ở các mức độ khác nhau mà nặng nề nhất, quá tải nhất đang tập trung ở các khu vực đông dân cư của các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh. Các sức ép này kết hợp với (i) tỷ lệ tăng dân số nhanh chóng và (ii) tình trạng kém linh hoạt trong tìm kiếm các trường thay thế (một phần do hiện tượng ùn tắc giao thông) sẽ tiếp tục làm trầm trọng hơn tình trạng quá tải của hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học, THCS và THPT trong tương lai.    Đối với hệ thống các trường THCS và THPT, một tương lai quá tải là điều không thể tránh khỏi, nếu không có các nguồn lực đầu từ đúng mức nhằm nâng cao số lượng trường học trên 10.000 dân và số lượng giáo viên tại mỗi trường. Việc đầu tư thêm vào các tỉnh/thành có mức tăng trưởng thấp cũng là hết sức cần thiết nhằm cải thiện tình trạng bất bình đẳng và tạo ra các khuyến khích phù hợp để hội nhập toàn cầu. Muốn vậy, chính phủ cần tạo các khuyến khích phù hợp về ngân sách và cơ chế để cải thiện tình trạng phát triển kinh tế địa phương song song với đầu tư cho vốn con người. Đây là điều cần thiết để giúp Việt Nam phát triển hài hòa và đạt được các mục tiêu trong giai đoạn phát triển tới.  —  * TS Trần Quang Tuyến, Ths. Lê Văn Đạo, Trường Quốc tế, ĐHQG Hà Nội.    Tài liệu tham khảo  Le Thuc, D., & Nguyen Thi Thu, H. (2016). Inequality in educational opportunities and outcomes: Evidence from Young Lives data in Vietnam. Oxford University, UK  Niên giám thống kê [GSO]. (2022). Niên giám thống kê cấp tỉnh, 2002-2020,Hanoi, Vietnam  Public School Review [PSR]. (2022). How Important is the Student-Teacher Ratio for Students?  Retrieved 17th September, 2022 https://www.publicschoolreview.com/blog/how-important-is-the-student-teacher-ratio-for-students  Tran, T. Q., Nguyen, H. T. T., Hoang, Q. N., & Van Nguyen, D. (2022). The influence of contextual and household factors on multidimensional poverty in rural Vietnam: A multilevel regression analysis. International Review of Economics & Finance, 78, 390-403. Elsevier  Trieu, Q., & Jayakody, R. (2019). Ethnic minority educational success: Understanding accomplishments in challenging settings. Social Indicators Research, 145(2), 663-701. Springer  Van Le, D., Tran, T. Q., & Doan, T. (2022). The private sector and multidimensional poverty reduction in Vietnam: A cross‐province panel data analysis. International Journal of Social Welfare, 31(3), 291-309. Wiley.    Author                Trần Quang Tuyến, Lê Văn Đạo        
__label__tiasang Thương mại hóa giáo dục: Thương mại hóa cái gì?      Trong số các vấn đề về giáo dục mà cả thực tiễn lẫn lý thuyết phải đương đầu là vấn đề có nên thương mại hóa giáo dục hay không? Đây không chỉ là câu hỏi cho giáo dục Việt Nam, mà còn là câu hỏi chung cho nên giáo dục của tất cả nền giáo dục khác.     Đây cũng không phải là câu hỏi đến bây giờ  mới được đặt ra, mà đã đươc đặt ra từ lâu trên thế giới. Nhưng câu trả  lời của nó vẫn chưa rõ ràng, cả trên thực tế lẫn lý thuyết. Do vậy, bài viết này không có tham vọng trả  lời câu hỏi có nên thương mại hóa giáo dục hay không, mà định hướng đến  một câu hỏi nhỏ hơn: Nếu có thể thương mại hóa giáo dục, thì thương mại  hóa cái gì? Và để trả lời câu hỏi này, cần có một hình dung tổng thể về  giáo dục, để xem cấu trúc của nó ra sao, gồm những thành phần nào, và  trong số các thành phần đó, cái nào có thể thương mại hóa được.    Một hình dung về giáo dục  Về đại thể, nếu coi giáo dục như một ngôi nhà, thì ngôi nhà đó sẽ có nền móng, các trụ cột chính, và mái như mô tả trong hình bên dưới:  Trong đó, nền móng của giáo dục gồm hai tầng. Tầng sâu nhất là tầng văn hóa đại chúng, tức văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc, là sản phẩm hình thành từ các điều kiện lịch sử cụ thể về địa lý, kinh tế, tôn giáo… Tầng này thường chìm khuất, nhưng có ảnh hưởng âm thầm và bền bỉ đến mọi hoạt động của giáo dục, gián tiếp định hình nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, mục tiêu cần đạt, của hệ thống giáo dục. Chẳng hạn, với một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, thì văn hóa đại chúng là văn hóa tiểu nông. Vì thế, các hoạt động của việc dạy và học dừng ở mức độ tương tự, và về cơ bản cũng phù hợp với phông văn hóa chung này. Đó là lý do tại sao trong suốt hàng nghìn năm phong kiến phương Đông, nền giáo dục về cơ bản là giậm chân tại chỗ và nặng về thơ phú văn chương. Khi đó, văn hóa đại chúng không thay đổi gì đáng kể, hình thái kinh tế cũng không có phát triển gì đột phá, nên giáo dục không có nhu cầu phải đổi mới. Nhưng với các nước công nghiệp, sản xuất đại quy mô, thì văn hóa công nghiệp và dịch vụ của một lối sống nhanh, nặng về tiêu thụ vật chất, trở thành chủ đạo. Khi đó, về đại thể thì toàn bộ nội dung, phương thức và mục tiêu giáo dục cũng phù hợp, và đáp ứng đòi hỏi của loại hình văn hóa này một cách tự nhiên. Sự ra đời của các trường khoa học, kỹ nghệ, quản trị…, tức các loại hình đào tạo hoàn toàn khác với giáo dục truyền thống ở phương Đông, là một đáp ứng tự nhiên sự đòi hỏi của nền văn hóa công nghiệp này.   Tầng nền thứ hai là hệ tư tưởng chủ đạo đang thịnh hành trong xã hội. Đây là tầng có ảnh hưởng rõ nét và quyết định đến mọi hoạt động dạy và học. Nếu trong các xã hội phong kiến, hệ tư tưởng chủ đạo là Khổng giáo, nên mọi hoạt động giáo dục đều được tổ chức dưới sự chỉ đạo của hệ tư tưởng này. Đến lượt nó, các hoạt động giáo dục cũng có vai trò củng cố mạnh thêm hệ tư tưởng chủ đạo này.  Ở một số nước Trung Á, hệ tư tưởng chủ đạo là đạo Hồi. Điều này đã ảnh hưởng quyết định đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục, mà rõ nét nhất là việc ai được quyền tham gia giáo dục, tham gia ở mức độ nào, và nhà trường sẽ dạy những gì, dạy như thế nào để phù hợp với giáo lý của Hồi giáo, v.v.   Còn tầng nền nổi trên nhất thì có thể nhìn nắm, sờ mó được. Đó chính là hệ thống cơ sở vật chất của giáo dục, như trường sở, thư viện, thiết bị dạy và học, tài liệu tham khảo, thiết bị nghiên cứu v.v. Nếu hệ thống cơ sở vật chất này càng đầy đủ, hiện đại, thì các hoạt động giáo dục sẽ càng phong phú, hiệu quả. Đây là tầng có thể đo đạc định lượng và so sánh được.   Phía trên nền móng là bốn trụ cột của giáo dục. Đó là bốn thành tố liên quan mật thiết với nhau trong mọi hoạt động của giáo dục: Dạy – Chương trình – Học – Nghiên cứu. Trong đó, Dạy là hoạt động chính của đội ngũ giáo viên/giảng viên; Học là hoạt động chính của học viên (học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh…); Chương trình là nội dung giảng dạy và đào tạo được người dạy sử dụng để truyền đạt tri thức, huấn luyện kỹ năng cho người học; Nghiên cứu là hoạt động tìm kiếm, khai phá tri thức, thường gắn liền với các hoạt động giáo dục ở đại học, nhằm không chỉ làm giàu thêm kho tàng tri thức, mà còn thông qua đó, giúp hoạt động đào tạo được hiệu quả và thực chất hơn.  Trên cùng, tức nóc của tòa nhà là tầm nhìn về giáo dục được xác lập cho cả hệ thống, hoặc cho từng cơ sở giáo dục, hay cá nhân cụ thể, tùy vào từng trường hợp cụ thể. Nhưng nếu xét tổng quát thì tầm nhìn này trước hết là của nhà nước – chủ thể của các quyết sách lớn về giáo dục, sau đó mới đến tầm nhìn của các cơ sở giáo dục và các cá nhân. Thông thường, tầm nhìn của các cơ sở giáo dục về đại thể là phù hợp với tầm nhìn đã được xác lập chung cho cả hệ thống bởi nhà nước, nhưng có thể khác nhau về tiểu tiết hoặc cách thức tiếp cận. Còn với cá nhân, tầm nhìn giáo dục có thể tự do hơn, nhưng vẫn bị ràng buộc và chi phối bởi tầm nhìn giáo dục của cơ sở giáo dục mà anh ta tham gia, và rộng hơn là cả hệ thống giáo dục mà anh ta thuộc về.   Với các cơ sở giáo dục, tầm nhìn riêng của họ sẽ có tác dụng tạo ra bản sắc hoặc sự xuất sắc riêng biệt. Nhưng nói chung, tầm nhìn của các cơ sở thường khó vượt quá xa so với tầm nhìn chung, đặc biệt là ở các xã hội mà giáo dục được quản lý chặt chẽ và tự do chưa được coi là tự nhiên như hơi thở của các công dân.   Với mỗi người tham gia vào hệ thống giáo dục, dù là dạy hay học hay nghiên cứu, thì tầm nhìn ở quy mô cá nhân cũng tham gia vào việc đưa ra các lựa chọn trong một số khâu cụ thể, như: dạy cái gì và như thế nào, học cái gì và học để làm gì, nhưng về đại thể, luôn bị khống chế bởi tầm nhìn của nhà nước và của cơ sở giáo dục mà anh ta tham dự vào. Trong đó, quan trọng nhất là tầm nhìn của Bộ Giáo dục, cơ quan chịu trách nhiệm chính về giáo dục. Tầm nhìn này lại phụ thuộc cụ thể hơn nữa vào tầm nhìn và sự hiểu biết về giáo dục của các lãnh đạo ngành, những người làm chính sách giáo dục đặc biệt là của người đứng đầu, tức Bộ trưởng Bộ Giáo dục.   Đó là mô tả sơ bộ về các thành phần của giáo dục, khi được sắp xếp theo cấu trúc của một ngôi nhà.   Thương mại hóa cái gì?  Dù với bất cứ cách hiểu nào thì tiền, hay lợi nhuận, vẫn nằm ở trung tâm của mọi quá trình  thương mại. Do đó, ở mức thô sơ nhất, thương mại hóa giáo dục có thể hiểu là hoạt động kinh doanh giáo dục để thu lợi.   Với sự thống nhất sơ bộ đó, chúng ta sẽ đi vào từng cấu phần cụ thể của ngôi nhà giáo dục, xem phần nào có thể mang ra để kinh doanh thu lợi được.   Phần nền móng của giáo dục, bao gồm: Văn hóa đại chúng, Hệ tư tưởng chủ đạo, Cơ sở vật chất. Trong số ba yếu tố này thì rõ ràng là về lý thuyết: Văn hóa đại chúng chỉ là phần chìm có tác động điều phối ngầm các hoạt động giáo dục, chứ không phải là dịch vụ có thể trao đổi để thương mại hóa. Việc thương mại hóa văn hóa và các hoạt động văn hóa đại chúng là việc của các công ty văn hóa, chứ không phải việc của các cơ sở giáo dục. Hệ tư tưởng chủ đạo không thể thương mại hóa, vì đó là nhận thức chung, có được do tự nguyện hay áp đặt, và không thể định lượng và không đáp ứng nhu cầu giáo dục trực tiếp nào để có thể thương mại hóa được. Cơ sở vật chất thì chỉ có thể đầu tư để phục vụ việc giảng dạy và nghiên cứu chứ không thể mua bán trao đổi để sinh lợi được. Nếu có, thì đó chỉ có thể là cho thuê mướn mặt bằng, thuê mướn máy móc thiết bị để thu lợi riêng, một biến thái phạm pháp chứ không phải là một hoạt động thuộc về giáo dục.  Phần bốn trụ cột của ngôi nhà giáo dục, đó là: Dạy – Chương trình – Học – Nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, chỉ có một thành phần có thể thương mại hóa một phần, đó là nghiên cứu. Còn ba thành phần còn lại, đó là Dạy, Học và Chương trình thì không thể, hoặc nếu cố tình thì cũng rất khiên cưỡng và hạn chế. Lý do: Dạy là hoạt động được trả lương của giáo viên và giảng viên. Việc này nên được coi là lao động theo hợp đồng như các loại hình lao động khác, chứ không thể là sự mua bán trao đổi như trong các hoạt động thương mại, vì với người giáo viên, anh ta không có quyền bán các sản phẩm mình làm ra, như bài giảng, hay điểm số, một cách trực tiếp để thu tiền.   Tương tự như vậy, Học cũng là thành phần không thể thương mại hóa, vì người đi học không nhằm mục đích thương mại để thu lợi trực tiếp, mà chỉ coi đó như một hoạt động đầu tư, tuy tốn kém nhưng thu lợi gián tiếp qua việc học hỏi kỹ năng và bổ sung tri thức cho cuộc sống và công việc sau này.   Chương trình, nếu cố tình thì chỉ có thể thương mại hóa rất hạn chế và khiên cưỡng, và về nguyên tắc, phải được cung cấp miễn phí cho người học, hoặc được người học trả phí với một mức rất hạn chế, chủ yếu là cho phần vật chất của chương trình, như tài liệu, sách vở tham khảo v.v. Còn chương trình như một tổng thể chung là một thứ rất khó mang ra mua bán riêng lẻ, vì nó chỉ có tác dụng khi được triển khai đồng bộ trong toàn bộ chuỗi các hoạt động giáo dục.   Tuy nhiên, trên thực tế, đây lại là phần bị thương mại hóa mạnh nhất, chứ không phải là hạn chế và khiên cưỡng. Một bộ phận rất nhỏ của chương trình, đó là hệ thống văn bằng chứng chỉ, hệ thống đánh giá kết quả học tập, đã bị lạm dụng để đưa ra mua bán, trao đổi thu lợi. Nạn bằng giả tràn lan, hay “đổi tình lấy điểm”, là một trong những hệ quả của hiện tượng này. Nhưng, đây có phải là thương mại hóa giáo dục hay không? Câu trả lời dứt khoát là không. Thực tế, đây là một hành động phạm pháp, nếu phát hiện sẽ bị truy tố trước tòa.   Nghiên cứu, chủ yếu là ở các trường đại học, là có thể thương mại hóa một phần. Nói một phần, vì nghiên cứu được chia ra thành hai loại: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Trong đó, nghiên cứu cơ bản nhằm giải quyết, hoặc tìm kiếm, những vấn đề mang tính nền tảng của tri thức. Động cơ của nghiên cứu cơ bản là sự tò mò vô vụ lợi của trí tuệ. Khi tiến hành các nghiên cứu cơ bản, không ai đặt ra câu hỏi “để làm gì?; sẽ bán được bao nhiêu tiền?”, vì nếu có đặt ra thì cũng không ai có thể trả lời được câu hỏi này. Trên thực tế, có những nghiên cứu cơ bản chỉ tìm thấy ứng dụng của mình sau đó hàng trăm năm. Do đó, nghiên cứu cơ bản không thể thương mại hóa ngay được. Nói cách khác, việc thương mại hóa không đặt ra với các nghiên cứu cơ bản. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thường được coi như một dạng hàng hóa công, nên đầu tư cho cơ bản được coi là đầu tư công, cần thiết cho sự phát triển và phồn vinh lâu dài của xã hội.  Ngược lại, nghiên cứu ứng dụng có mục đích nhắm đến một vấn đề công nghệ cụ thể, thường là một giải pháp công nghệ hay một sản phẩm ứng dụng thực tế. Hình dung về tiềm năng ứng dụng của các nghiên cứu này đã được chỉ rõ trong đề cương nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể được thương mại hóa và mang lại lợi nhuận cho nhà nghiên cứu hoặc chủ đầu tư. Do đó, kết quả của nghiên cứu ứng dụng, trong nhiều trường hợp chỉ được báo cáo nội bộ, hoặc đăng ký bản quyền để được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu đến lợi nhuận là một chuỗi nhiều hoạt động tổ chức và kinh doanh phức tạp. Do đó, khi một giải pháp công nghệ hay sản phẩm ứng dụng nào đó có thể thương mại hóa, thì chủ sở hữu sẽ lập một công ty riêng để thương mại hóa nó và tách nó ra khỏi môi trường gốc để đi vào thị trường. Đó là mô hình các công ty spin-off rất phổ biến trong các đại học Anh, Mỹ.   Điều đáng lưu ý là sau khi các nghiên cứu ứng dụng, một phần của hoạt động giáo dục đại học, được chuyển sang thương mại hóa bởi các công ty spin-off, thì các công ty này cũng gần như tách rời hoàn toàn giáo dục để trở thành các công ty chuyên nghiệp, hoạt động theo luật pháp chung các doanh nghiệp, chứ không còn dính dáng nhiều đến hệ thống giáo dục nữa. Lý do không chỉ để đảm bảo sự chuyên nghiệp trong hoạt động, mà còn để tránh phải chia sẻ lợi nhuận do sự thương mại hóa các sản phẩm hoặc giải pháp công nghệ – thường đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ – mang lại.   Tầm nhìn về giáo dục. Rõ ràng, tầm nhìn giáo dục là nhận thức chung về vai trò và mục tiêu mà nền giáo dục hướng tới. Đó thường là các ý niệm, triết lý, lý tưởng… chứ không phải là một loại hàng hóa để có thể thương mại hóa được.   Như vậy, trong tám yếu tố chính của ngôi nhà giáo dục, trải dài từ nền móng đến nóc tòa nhà, thì chỉ một phần rất nhỏ nằm trong Nghiên cứu, tức phần nghiên cứu ứng dụng trong các đại học, là có thể thương mại hóa một cách hạn chế. Nhưng khi được thực hiện, hoạt động này sẽ tách ra khỏi giáo dục để nhập vào dòng chảy của thị trường dưới dạng hoạt động của các công ty chuyên nghiệp.   Với các thành phần còn lại, nếu cố tình thương mại hóa thì chỉ có thể biến báo một phần rất nhỏ ở Cơ sở vật chất, dưới dạng cho thuê mướn mặt bằng hoặc trang thiết bị nghiên cứu, đào tạo; và một phần cũng rất nhỏ khác ở Chương trình, đó là hệ thống văn bằng chứng chỉ và đánh giá kết quả học tập để thương mại hóa theo đúng nghĩa đen của từ này. Tiếc thay, sự thương mại hóa này lại là một sự tha hóa của giáo dục, và trên thực tế, là một hành vi phạm pháp.   Đến đây, bạn đọc có thể cho rằng, tuy từng bộ phận của giáo dục không thể, hoặc nếu có thì rất hạn chế và rất rủi ro để có thể thương mại hóa, nhưng xét trong tổng thể thì giáo dục vẫn là một loại hàng hóa hay dịch vụ đặc biệt, nên vẫn có người sẵn sàng trả giá. Vì thế vẫn có thể thương mại hóa giáo dục được. Đây là một lập luận có tính thực tế, vậy xin trả lời trong các bài sau.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyết hiện sinh: “Tiến lên để sống”      Triết hiện sinh chia tay với triết học “trừu  tượng”. Nó quan tâm đến tính chủ thể cụ thể của con người, chứ không  phải khái niệm trừu tượng về “chủ thể”. Đó là lý do nhiều triết gia hiện  sinh (như Sartre, Camus…) chọn hình thức văn nghệ (tiểu thuyết,  kịch…) để đến gần hơn với đời sống thực, nói lên những băn khoăn, thao  thức, đau khổ và lựa chọn trong “thân phận” làm người.    Trong thời gian nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, một sinh viên đứng trước sự lựa chọn khó khăn: trốn sang Anh để tham gia cuộc kháng chiến hoặc ở lại để chăm sóc người mẹ già yếu, cô độc mà anh là chỗ dựa duy nhất. Tham gia kháng chiến vì “đại nghĩa”, nhưng chưa chắc đóng góp được gì nhiều. Ở lại vì đạo hiếu riêng tư, nhưng vắng anh, người mẹ chắc không thể sống sót. Anh có thể xin lời khuyên từ các vị linh mục, nếu anh là tín đồ. Nhưng, có linh mục cộng tác với địch, có linh mục kháng chiến và có cả linh mục trùm chăn. Chọn hỏi người nào cũng tức là mặc nhiên đã chọn trước câu trả lời! Nếu chọn hỏi Jean-Paul Sartre, người thầy giáo chủ trương thuyết hiện sinh, chắc hẳn Thầy Sartre sẽ trả lời: “Anh tự do. Anh hãy suy nghĩ, chọn lựa và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình!”. Nói cách khác, chẳng có một nguyên tắc, một đạo lý có sẵn nào (triết học gọi là “tiên thiên”/a priori) quyết định hộ cho anh được cả. J. P. Sartre, trong luận văn nổi tiếng “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (1946, bản tiếng Việt của Đinh Hồng Phúc, sắp xuất bản) nêu trường hợp éo le ấy như một điển hình cho vô vàn tình huống nan giải của đời người, chẳng hạn: có nên bắn hạ một máy bay chở khách khi bị bọn khủng bố chiếm giữ và sắp lao vào chỗ đông người? Có nên ngăn cản sự tiến bộ của khoa học trong nghiên cứu tế bào gốc và nhân bản người? v.v.. và v.v..   Đặt con người trước những “hoàn cảnh ranh giới” của sự sợ hãi, lo âu, xấu hổ, ghê tởm, tội lỗi, bệnh tật, cô đơn, khủng hoảng để cảm nhận sự tự do vừa như gánh nặng vừa như nghĩa vụ, là tạo cơ hội cho con người đối diện với chính mình, tra hỏi về khả thể của tự do và phẩm giá ngay cả trong những cảnh huống ngặt nghèo nhất. Triết thuyết hiện sinh ít bàn trực tiếp về giáo dục (“rao giảng”, “dạy dỗ” là những gì thật xa lạ với tinh thần thuyết hiện sinh!), nhưng, đúng như nhà giáo dục học R. Reichenbach nhận xét, “bất kỳ nhà giáo “giỏi” nào cũng đều là một nhà theo thuyết hiện sinh! Điều này người ta thường quên hay không hề biết đến. Nhưng thật đáng nhắc lại và không bao giờ là muộn! Tất nhiên, không có nghĩa là một nền sư phạm “hiện sinh chủ nghĩa” là hoàn toàn đầy đủ. Không, không ai bảo thế cả!”  “Lùi lại để hiểu, tiến lên để sống!”  Câu nói trên đây của S. Kierkegaard, một trong những triết gia tiền phong của thuyết hiện sinh, tóm gọn tinh thần của triết thuyết. “Lỗi lầm” là động lực thường trực để con người biết ngoái nhìn lại quá khứ, thấu hiểu và cảm thông. Còn “tiến lên để sống” là dũng cảm đề ra những dư phóng cho tương lai, với ý thức đầy đủ về hoàn cảnh giới hạn về nhiều mặt của chính mình cùng với trách nhiệm phải gánh vác trước tha nhân và cộng đồng, tức, thật sự sống “hiện sinh”, hoặc buông xuôi, mê muội, vô ý thức. Trong trường hợp trước, ta quan tâm đến câu hỏi: làm sao thực hiện sự tự do hay, ta tự định hình mình như thế nào? Khác với “chủ nghĩa hư vô”, thái độ “hiện sinh” không bao giờ là bi quan, yếm thế, dù không muốn tự gọi là “lạc quan”. Tự do, trong triết hiện sinh, là tự do tích cực, chủ động, là tự do “để làm gì”, chứ không chỉ là tự do thoát “khỏi cái gì”. Khi không hài lòng với trực trạng, thì, theo nghĩa “hiện sinh”, ta phải hành động để thay đổi nó đi. Cho dù khó có thể hình dung một dự phóng cho toàn bộ lịch sử và xã hội, tín niệm của thuyết hiện sinh vẫn là tự mình hãy “tạo nên” ý nghĩa cho nó. Ý nghĩa và giá trị chỉ hình thành qua hành động, dù trong nghịch cảnh, nếu không muốn kéo lê đời mình trong sự nhàm chán: rút cục, ta có thể kết luận rằng hành động của ta là vô nghĩa, phi lý, hoặc ta tìm thấy ý nghĩa trong hành động cụ thể (chứ không ở đâu khác được!).  Triết hiện sinh chia tay với triết học “trừu tượng”. Nó quan tâm đến tính chủ thể cụ thể của con người, chứ không phải khái niệm trừu tượng về “chủ thể”. Đó là lý do nhiều triết gia hiện sinh (như Sartre, Camus…) chọn hình thức văn nghệ (tiểu thuyết, kịch…) để đến gần hơn với đời sống thực, nói lên những băn khoăn, thao thức, đau khổ và lựa chọn trong “thân phận” làm người.  Khẩu hiệu có lẽ trứ danh nhất của thuyết hiện sinh Pháp (Sartre) rằng hiện hữu có trước bản chất muốn nói rằng ta không hề hay biết một “bản tính” hay “bản chất” có sẵn nào đó của con người để, chẳng hạn, dùng làm định hướng hay đường lối bất biến cho giáo dục, luân lý và sự phát triển xã hội, hoặc để từ đó, xác định chỗ đứng của con người trong vũ trụ. Đúng hơn, ta “bị ném vào cuộc đời” và không có bản tính định sẵn nào cả. Mặt tích cực của quan niệm này là: khi dự phóng, quyết định, hành động, ta “tự tạo ra chính mình”. Thuyết hiện sinh, theo cách hiểu ấy, đã ảnh hưởng rộng rãi ra khỏi Tây Âu vốn là cái nôi của nó. Một trong những nhà triết học giáo dục quan trọng nhất của nước Mỹ là Maxine Greene (1917-2014) phát triển tư tưởng hiện sinh, xoay quanh chủ đề: Tự do như là Thực tiễn. “Tự do”, theo bà, không phải là nhờ sống trong một “nước tự do”, mà vì ta sống theo một cách thế tự do. Theo Greene, vấn đề cốt lõi là làm sao thực hành tự do bên ngoài vai trò và chức năng định sẵn (trong trường hợp của bà là: người Mỹ, phụ nữ, da trắng, trí thức..)? Lý tưởng (cao) của giáo dục là ở chỗ làm cho con người có năng lực “siêu việt” lên khỏi vị trí hầu như đã được an bài và khó tránh khỏi ấy. Vậy, chính “con người cụ thể”, chứ không phải bản tính nhất định nào, vẫy gọi con người hãy tự sáng tạo chính mình. Trong diễn trình ấy, những vấn đề chỉ được đặt ra cho từng con người cá nhân cụ thể để giải đáp và tiếp tục tìm tòi, vươn tới.  Triết hiện sinh, như thế, không phải là triết học trường ốc với sách vở mốc meo, mà là hoạt động: triết học là làm triết lý. Ý nghĩa của hoạt động này, nói như Karl Jaspers, là góp phần “soi sáng” hiện hữu của con người trong một hoàn cảnh nhất định. Chức năng của nó là cho ta thấy rằng cá nhân mình là duy nhất, là tự do, là có thể chọn lựa, dù ở trong bất kỳ tình huống nào.  Theo một nghĩa rộng nào đó, hầu như không triết gia hay nhà giáo dục nào không là “nhà hiện sinh”! Socrates cũng thế, John Dewey cũng thế. Tuy nhiên, triết thuyết (giáo dục) hiện sinh, theo nghĩa chặt chẽ, là sản phẩm độc đáo và sâu sắc của thế kỷ 20, một “thế kỷ ngắn” đầy những cực đoan, nói như Eric Hobsbawm hay “thời đen tối” dưới con mắt của Annah Arendt, sẽ được tiếp tục tìm hiểu qua vài nét thật đặc sắc của nó.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyết trình về sự khác biệt giữa môn Văn và môn Tiếng Việt      Buổi thuyết trình “Cơ chế của việc học văn và học ngôn ngữ ở trường phổ thông” sẽ được tổ chức vào ngày 9/8 tới tại Hà Nội với sự tham gia của diễn giả Phạm Toàn.    Buổi thuyết trình tập trung giải đáp các câu hỏi như tại sao học sinh phổ thông phải học Văn và Tiếng Việt; sự khác biệt giữa môn Văn và môn Tiếng Việt là gì; cơ sở tâm lý học của việc nhận thức hai môn học này giống nhau hay khác nhau; đâu là hướng đi đúng đắn cho việc tổ chức hoạt động học Văn và học Tiếng Việt của học sinh phổ thông, đặc biệt là ở bậc tiểu học.  Diễn giả Phạm Toàn thay mặt nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm trình bày các ý tưởng gửi trong bộ sách của Nhóm, đặc biệt là sách Văn và sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5.   Được biết, các cuốn sách mới của Cánh Buồm sẽ chính thức ra mắt tại hội thảo “Em biết cách học”, ngày 6/10/2012, cũng tại Hà Nội.     Thông tin chi tiết:   Thời gian: 18 giờ, ngày 9/8/2012   Địa điểm: Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội L’Espace,  24 Tràng Tiền    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tích hợp hay không tích hợp môn lịch sử: Cuộc thảo luận chệch hướng      GS Hoàng Tụy cho rằng những tranh luận chung  quanh việc có nên tích hợp hay không môn lịch sử vào môn học khác đang  “lu lấp” vấn đề bản chất hơn của việc dạy và học môn lịch sử.      Chọn dễ, bỏ khó    Dự định tích hợp môn lịch sử vào môn Công dân với Tổ quốc theo Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mà Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đưa ra để lấy ý kiến rộng rãi, theo tôi, là có ý tốt, muốn giảm tải vì trong môn Công dân với Tổ quốc, học sinh cũng học về lịch sử, chứ hoàn toàn không hàm ý coi nhẹ môn lịch sử.     Đó là nói về việc dạy lịch sử ở bậc THCS. Còn ở bậc THPT thì theo phương án đã được Nhà nước thông qua, tức là THPT thì phải chuyên, phải chú ý đến sở thích riêng của học sinh. THCS là bậc bảo đảm giáo dục phổ thông, tối thiểu cần thiết cho mọi công dân. Học sinh sau THCS thì hoặc là vào trường trung học nghề, hoặc là vào THPT, mà THPT thì đã xác định dứt khoát là để chuẩn bị cho ĐH, CĐ – bậc học này bắt buộc phải chú ý đến sở thích của học sinh, mỗi học sinh phải chuyên một lĩnh vực nào đấy, chứ không phải là dạy chung chung. Ở bậc THPT chỉ có hai môn chính bắt buộc là văn và toán, nhưng văn và toán mỗi người cũng ở mức độ khác nhau tùy theo, còn lịch sử không vào loại bắt buộc mà có tính chất tự nguyện, nhưng phải hiểu là tự nguyện chuyên, chứ còn những học sinh không chọn lịch sử làm môn chuyên thì vẫn phải học lịch sử ở mức tối thiểu.     Như vậy có thể thảo luận chuyện tích hợp môn lịch sử vào các môn khác ở bậc THCS là nên hay không nên. Một số anh em bên sử học như Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc lên tiếng phản đối việc tích hợp, theo tôi hiểu là các anh ấy có lý do để làm như vậy, nhưng tiếc là lại có người này người kia muốn dựa vào những ý kiến đó để nâng vấn đề lên thành lập trường, cáo buộc Bộ Giáo dục và Đào tạo coi nhẹ lịch sử. Thật ra thảo luận như vậy là chệch hướng.     Sở dĩ câu chuyện môn lịch sử ồn ào là bởi vì cách dạy lịch sử ở trường trung học của chúng ta chưa ổn, dạy thế nào mà học sinh chán, không thích học. Vấn đề là ở chỗ đó. Lẽ ra phải thảo luận đến nơi đến chốn việc tại sao học sinh chán học môn lịch sử, tại sao dạy môn lịch sử không có kết quả.    Nhìn kỹ lại thì một trong những nguyên nhân quan trọng là như thế này: trường học chỉ tập trung dạy về giai đoạn lịch sử sau năm 1930, còn trước năm 1930 thì dạy phớt, đến nỗi có người nói rằng coi như cả lịch sử đất nước chỉ có từ năm 1930. Trong các kỳ thi THPT, các câu hỏi bao giờ cũng về giai đoạn ấy, rất ít khi rơi vào những giai đoạn trước.  Và dạy về giai đoạn từ năm 1930 đến nay nhưng chỉ dạy theo quan điểm một chiều, không nói hết sự thật, cho nên học sinh chán bởi chúng đâu phải không biết gì, hay chỉ biết bảo sao nghe vậy.    Cái thứ nữa là trước năm 1930, sử dân tộc mình cũng biết bao nhiêu chuyện vẻ vang, dân tộc mình thì mình phải biết kỹ, trong khi cách dạy lịch sử hiện nay có vẻ không coi trọng nhiều lắm đến điều đó.    Một điều quan trọng là môn lịch sử muốn hấp dẫn học sinh thì phải có nhiều câu chuyện nhưng sách vở lịch sử của ta rất thiếu, phim lịch sử cũng thiếu, cho nên ngoài SGK, ngoài lời thầy dạy, học sinh không tìm ra được chỗ nào để biết thêm.    Đáng lẽ ra phải phân tích kỹ chỗ đó, còn chuyện tích hợp hay không là chuyện kỹ thuật. Có thể là không nên tích hợp mà phải dạy riêng môn lịch sử, nhưng việc đó dễ giải quyết. Còn cái việc khó hơn, chính yếu hơn làm thế nào cho môn sử hấp dẫn và học sinh thích học thì lại chưa được thảo luận rốt ráo.     Đáng lý cứ để công chúng thảo luận thì Quốc hội lại ra quyết định ngay là môn sử phải dạy riêng thành một môn. Tôi thấy Quốc hội không cần thiết phải quyết định như thế, điều đó có nghĩa là môn lịch sử sẽ tiếp tục được dạy riêng nhưng điều đáng nói hơn là hơn cách dạy sử như lâu nay sẽ không thay đổi bao nhiêu. Trong lúc đó rõ ràng vấn đề là phải thay đổi cách dạy sử thì câu chuyện đó lại bị cuộc tranh luận tích hợp hay không tích hợp lu lấp hết cả.    Không nên phủ nhận mọi nỗ lực cải cách của ngành giáo dục  Một thời gian rất dài, nền giáo dục Việt Nam có thể nói là trì trệ và một trong những lý do là những người lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo không chịu nghe, rất bảo thủ. Tôi từng có bài trên Tia Sáng “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng”.    Nhưng đó là tình hình trước đây, còn độ bốn – năm năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có tinh thần lắng nghe và có tinh thần muốn thay đổi thật sự. Bộ đã ra được nghị quyết về đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện, trong khi trước đó chỉ dám nói thay đổi từ từ. Trong những cố gắng đổi mới đó, dĩ nhiên có những cái làm được, có những cái chưa làm được, và có những cái cũ vẫn còn phát tác, tức là nói về tiêu cực trong giáo dục thì vẫn còn nhiều nhưng mà phải thấy ngành giáo dục đương cố gắng vươn lên, những gì ngành làm được thì phải ủng hộ.    Tôi lấy thí dụ việc thi cử. Từ rất lâu rồi tôi đã nói thi cử ở Việt Nam rất lạc hậu. Hằng năm đến kỳ thi, gia đình nào có con đi thi cũng rất khổ sở. Năm vừa rồi, Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới thi cử, không thi kiểu thi ba chung như trước mà thi rất nhẹ nhàng, được nhiều người ủng hộ. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều người vẫn giữ thành kiến bấy lâu nay về Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho nên họ cứ phê bình lung tung.    Tôi nghĩ rằng nếu một cơ quan, một ngành sau khi bị phê phán mà tự nó thấy được cái sai và đương trên quá trình sửa – quá trình sửa thì không phải một hôm hai hôm mà xong – thì phải ủng hộ những cái tốt của nó chứ còn hễ cái gì nó đưa ra cũng bị phê phán thì không bao giờ nó đổi mới được.   PV ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến bộ là một đường thẳng?      Tiến bộ, theo cách hiểu cổ điển, là con  đường đi lên theo “bề dọc”. Xác định theo “bề dọc” là việc rất khó, bởi  nó có thể dẫn lên đỉnh cao mà cũng có thể kéo dẫn xuống vực sâu! Vì thế,  thay cho cách nói ấy, ngày nay người ta, khiêm tốn hơn, chuộng nói theo  “bề ngang”.    Khai minh là điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ trong nhiều lĩnh vực: khoa học, giáo dục, đạo đức, xã hội. Tiến bộ thường được quan niệm như là sự phát triển ngày càng cao hơn. Theo lòng tin này, không chỉ cá nhân mà cả cộng đồng, rồi cả nhân loại, về nguyên tắc, đều có năng lực phát triển ngày càng không ngừng cao hơn. Chính lòng tin mãnh liệt này vào sự tiến bộ, vào khả năng giáo dục con người và loài người nói chung, là cội nguồn của nhiều triết thuyết giáo dục và sư phạm thực hành từ “thời đại khai minh” (thế kỷ 18) cho đến ngày nay. Đó là lòng tin lớn lao vào hiệu quả giáo dục (còn gọi là “thuyết lạc quan sư phạm”), tức lòng tin vào sự biến đổi có mục đích của não trạng, nhân sinh quan, thái độ sống v.v… nhằm vượt qua những khủng hoảng xã hội. “Chủ nghĩa lạc quan” ấy có cơ sở không và đã trải qua những biến chuyển nào?   NGHỊCH LÝ CỦA “TIẾN BỘ”  “Khai minh” – dù biểu thị một thời đại theo nghĩa hẹp hay một tư thế sống, theo nghĩa rộng – dựa vào ẩn dụ về “ánh sáng”. Khai minh là rời bỏ hang tối của mê lầm và định kiến, để tự kiểm tra để xem sự việc có đúng hay không và điều gì nên làm hay không nên làm. Khai minh, trong quan niệm của Kant, bao hàm cả hai khía cạnh: kiểm tra sự hiểu biết của ta về thế giới, đồng thời và kiểm tra về chính khả năng có thể nhận thức của ta. Như thế, khai minh là không còn phục tùng mù quáng những gì ta tin và ta vâng lời, mà không tự hỏi phải chăng chúng chỉ là sản phẩm của “sự lười biếng và hèn nhát” của chính bản thân ta. Trong quan niệm như thế về “khai minh” rõ ràng đã chứa đựng sẵn tiềm năng tự phê phán về chính mình, kể cả phê phán về quan niệm “lạc quan về tiến bộ”.  Và, trong thực tế, đã không thiếu những luận cứ vạch ra những chỗ mâu thuẫn, nghịch lý của một quan niệm “dễ dãi” về sự tiến bộ:  1.   Nói đến tiến bộ là nói đến một ẩn dụ có tính định hướng, theo đó, “cao hơn” bao giờ cũng có nghĩa là “tốt hơn”; “ở trên” bao giờ cũng hơn “ở dưới”, nói khác đi, một sự “tăng cường” như thế giả định rằng lịch sử có một mục tiêu, một cứu cánh tối hậu. Một thứ “cứu cánh luận về lịch sử” như thế là vô bằng cớ, bởi không ai có thể nhận diện một “siêu tác nhân” hoạt động như “bàn tay vô hình” (Adam Smith) hay “lý tính ranh mãnh” ở hậu trường (Hegel), hiểu như là ý nghĩa hay quy luật lịch sử.  2.   Một “cứu cánh luận” như thế không khéo sẽ phá hủy nền tảng đạo đức. Nếu lịch sử đàng nào cũng sẽ “tiến bộ đi lên”, việc gì tôi phải nỗ lực góp phần? Trầm trọng hơn, quan niệm đạo đức về sự tiến bộ của “nhân loại” rõ ràng mâu thuẫn với quan niệm của chính Kant về con người như “cứu cánh tự thân” chứ không phải chỉ là phương tiện, công cụ, dù là cho “lịch sử nhân loại”!  3.    Hệ luận của điều trên là đối xử “bất công” với những thế hệ đi trước. Thật thế, nếu đời sống của từng cá nhân quá ngắn ngủi, không kịp “phát triển hết mọi tố chất và khả thể”, thì cần có nên cần sự kế tục của nhiều thế hệ. Thế nhưng, các thế hệ tiền nhân phải chăng chỉ là “chất liệu” đơn thuần cho sự tiến bộ vô danh, hay, như Hannah Arendt nhận xét: “sự tiến bộ của giống loài chẳng mang lại ích lợi gì cho từng cá nhân hết cả!” Một câu hỏi trầm trọng cho triết học giáo dục!  4.   Sự tiến bộ của giống loài hóa ra là một sự “vô tận giả mạo”, tức một sự tăng tiến bất tận với sự “bất mãn” bất tận?  5.   Sự tiến bộ phải chăng sẽ dẫn đến một sự “đồng dạng hóa”? Việc loại bỏ dần những giá trị, những phong cách sống cổ truyền không làm cho thế giới nghèo nàn đi?  6.   Và, sau cùng, phải chăng ý niệm về sự tiến bộ không gì khác hơn là một thứ tôn giáo được “thế tục hóa” mà thôi?  TƯƠNG LAI “MỞ”   Tiến bộ, theo cách hiểu cổ điển, là con đường đi lên theo “bề dọc”. Xác định theo “bề dọc” là việc rất khó, bởi nó có thể dẫn lên đỉnh cao mà cũng có thể kéo dẫn xuống vực sâu! Vì thế, thay cho cách nói ấy, ngày nay người ta, khiêm tốn hơn, chuộng nói theo “bề ngang”: chẳng hạn, tiếp tục phát triển, tiếp tục học tập, đào tạo v.v… Một khi quan niệm tiến bộ hướng theo bề dọc mất dần sức thuyết phục, thì quan niệm về “tương lai mở” ngày càng được chấp nhận, bởi không ai dám đoan chắc rằng cuộc hành trình của chúng ta (về giáo dục, đạo đức, chính trị…) sẽ dẫn đến đâu và “nên” dẫn đến đâu. Khi tương lai “mở” ra trước chúng ta, câu hỏi sẽ là: tương lai “đến với” chúng ta hay ta “đi tới” tương lai? Ẩn dụ về “tiến bộ” hiểu tương lai theo cách sau: ta tin rằng mình nắm chắc tương lai, nên có thể dùng ý chí để thiết kế nó, cải tiến nó theo hình dung của mình. Ngược lại, nếu hiểu tương lai như là “sự biến” sẽ xảy ra cho ta, thì buộc ta phải thường xuyên đổi mới chính mình, phải lo “tự trang bị” để đương đầu với nó dù ta muốn hay không. Bám giữ cái cũ sẽ đón nhận thất bại. Tự thay đổi và không ngừng cải cách, đổi mới là con đường sống. Tự thay đổi để thích hợp với hoàn cảnh và tình thế, chứ không phải đòi ngược lại: biến đổi tương lai cho phù hợp với hình dung và sở nguyện của mình.   Sáng kiến, sáng tạo, do đó, đang là tiêu ngữ của thời đại bấp bênh và nhiều nguy cơ ngày nay, hơn là cách nói “duy ý chí” quen thuộc của nào là “quyết tâm”, “phấn đấu”… của một thời!  TRỞ LẠI VỚI KANT  Kant thường được xem là đại biểu của quan niệm về sự tiến bộ. Nhưng, đọc kỹ, ta thấy Kant không hề là một nhà lạc quan dễ dãi. Ông không che dấu cái nhìn khá “bi quan” về thân phận mỗi cá nhân: “Hoàn cảnh hiện thời của mỗi cá nhân bao giờ cũng tồi tệ so với hoàn cảnh tương lai mà họ hăng hái bước vào. Hình dung về một sự tiến bộ không ngừng hướng đến cứu cánh tối hậu không khỏi đồng thời là viễn cảnh về chuỗi dài những điều tồi tệ, không để cho con người có sự hài lòng, thỏa mãn nào cả”. Lòng tin “thế tục hóa” luôn xung đột với sự “bất tất, mong manh” của kiếp người. Vì thế, việc giáo dục hướng đến tự do cần phải từ bỏ quan niệm “cố định”, “chết cứng” về con người và cả về mẫu người “lý tưởng” nào đó. Theo Kant, không có những chân lý vĩnh cửu để chỉ đơn thuần được “vận dụng” trong thực hành giáo dục, giống như không có quy tắc nào của hội họa giúp tạo ra những nhà họa sĩ đích thực cả. Mỗi người tự quyết về số phận của mình, không theo một cương lĩnh giáo dục tối hậu nào hết. Cũng như nghệ thuật, giáo dục, theo Kant, là sự tìm tòi thường trực những sáng kiến để phù hợp với những yêu cầu của sự tự định hướng cho chính mình. “Giáo dục là một nghệ thuật” (Kant) (tức người dạy và người học đều là những “nghệ sĩ”), một quan niệm vượt lên chủ trương duy lợi và duy công cụ, mở đường cho triết thuyết giáo dục của thuyết Duy tâm Đức sau Kant, một trong những thời kỳ sâu sắc nhất của tư duy giáo dục, như ta sẽ tìm hiểu tiếp theo đây.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 26, 24.07.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếng Pháp trong giáo dục Việt Nam      Là một trong những ngôn ngữ được nhiều người nói nhất trên thế giới, được nhiều người ngợi ca là ngôn ngữ của văn hóa, tiếng Pháp đang có nguy cơ biến mất trong các chương trình đào tạo ở phổ thông cũng như ở các trường đại học. Đó là một thực tế đáng buồn và gần như không thể cưỡng lại trước sự thống trị gần như tuyệt đối của tiếng Anh. Thực tế này phản ánh phần nào sự khủng hoảng của văn hóa, của các bộ môn xã hội – nhân văn, và suy cho cùng, đó cũng là sự khủng hoảng của cả hệ thống giáo dục.      Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của Pháp ngữ trong việc làm giàu tiếng Việt và văn hóa Việt. Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ đã mang lại cho tiếng Việt một sự rõ ràng, chính xác và logic nhất định. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định điều này, trong đó có Phạm Quỳnh, Phan Ngọc. Năm 1937, Phạm Quỳnh viết: “Cách đây khoảng chừng mười lăm năm, ngôn ngữ của chúng ta còn diễn đạt suy nghĩ trừu tượng một cách vụng về. Bây giờ tiếng Việt đã trở nên uyển chuyển hơn. Tôi không tự mãn đến mức tin rằng được như thế là nhờ công của riêng tôi, nhưng tôi đã đóng góp rất nhiều và điều này nhờ vào hiểu biết của tôi về ngôn ngữ và văn học Pháp.”i Còn giáo sư Phan Ngọc thì nhận định: “Con đường tiếng Việt đã trải qua là sao phỏng ngữ pháp châu Âu, mà trước hết là sao phỏng ngữ pháp của Pháp.”i Ngày nay, học tiếng Pháp cũng là một cách để hiểu tiếng Việt, để học tiếng Việt. Ngoài ra, tiếng Pháp là ngôn ngữ nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội nhân văn. “Tiếng Pháp là ngôn ngữ nhân văn”, Rivarol viết. Pháp vẫn được đánh giá là một trong những nước phát triển nhất trong nghiên cứu nhân học, xã hội học, triết học, ngôn ngữ học, dân tộc học… Để hiểu Bourdieu, Foucault, Lévi-Strauss…, các nhà nghiên cứu nên có khả năng đọc các tài liệu trong nguyên bản tiếng Pháp. Hầu hết các tri thức lớn của Việt Nam đều biết tiếng Pháp. Chúng ta có thể kể đến Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn An Ninh, Trần Đức Thảo, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khắc Viện, Phan Ngọc v.v… Ngoài ra, trong  khoa học tự nhiên, chúng ta không thể không kể đến những gương mặt như Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kontum, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu v.v…  Mặc dù thế, ở nhiều trường phổ thông, cao đẳng và đại học ở nước ta, tiếng Pháp gần như vắng bóng và tình trạng này càng ngày càng tồi tệ bởi thí sinh thi đại học ngày càng “kén” tiếng Pháp. Và khi vào đại học, hoặc lên học sau đại học, tiếng Anh vẫn luôn là một lựa chọn hàng đầu, nhiều khi mặc định. Theo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020, sinh viên chuyên ngữ được đào tạo tiếng Anh chiếm tỉ lệ 85%. Sinh viên tiếng Pháp chỉ chiếm 5,6%! Có nhiều người giải thích sở dĩ như vậy là do cơ hội việc làm mà ngôn ngữ này mang lại là không nhiều. Nhưng theo thiển ý của tôi, đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, còn có những lý do khác sâu xa hơn. Thứ nhất, nền giáo dục chúng ta chưa thực sự chú trọng đến sự đa dạng văn hóa và ngôn ngữ trong các chương trình đào tạo. Thậm chí trong đề án 60 tỷ nói trên, khái niệm “đa dạng ngôn ngữ” hay đại loại như thế không hề được nhắc tới. Có nhiều người, thậm chí nhiều nhà quản lý đánh đồng ngoại ngữ với tiếng Anh, cứ nói đến ngoại ngữ là chỉ nghĩ đến tiếng Anh. Thứ hai, chúng ta chưa làm chưa tốt khâu định hướng cho học sinh và sinh viên. Có nhiều học sinh chọn tiếng Anh theo phong trào chứ chưa xuất phát từ nhu cầu phát triển của chính mình và định hướng nghề nghiệp. Sinh viên chọn học ngoại ngữ cũng thế. Chúng ta biết là số lượng tài liệu lịch sử Việt Nam giai đoạn Pháp thuộc bằng tiếng Pháp là rất nhiều, hiện đang được lưu trữ ở CAOM (Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại) của Pháp và các trung tâm lưu trữ, thư viện ở Việt Nam. Thế nhưng sinh viên khoa sử chỉ chọn ngoại ngữ là tiếng Anh. Còn sinh viên học văn học phương Tây lại đọc sai cả những cái tên của Rimbaud, Verlaine, Hugo, Balzac! Thứ ba, điều này cũng do sự lâm nguy của các khoa học nhân văn ở Việt Nam, vấn đề mà gần đây báo chí đã tốn rất nhiều giấy mực. Lối sống thực dụng, lối học thực dụng, lối nghĩ thực dụng đã đưa đẩy các bạn trẻ đi đến chọn học tiếng Anh mà bỏ quên các thứ tiếng khác cũng không kém phần quan trọng là tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức v.v… Cuối cùng, có thể kể đến sự thiếu nhất quán trong (các) chính sách ngôn ngữ, ngoại ngữ của chúng ta: thời thì quá chú trọng tiếng Nga, thời thì quá chú trọng tiếng Pháp, thời thì quá chú trọng tiếng Anh… Sự thiếu triết lý giáo dục đã thực sự kéo theo sự thiếu triết lý ngôn ngữ: sự phát triển không đều của các chuyên ngành đào tạo đã kéo theo sự mất cân bằng giữa các ngoại ngữ. Trong khi ở Pháp, các trường đại học lớn hầu hết có giảng dạy tiếng Việt thì ở Việt Nam, có nhiều trường đại học lớn không giảng dạy tiếng Pháp. Ở Trường Đại học Nantes của Pháp, có một dự án đang được triển khai tên là “MoDiMes” (Nhập môn các ngôn ngữ ít người nói và ít được giảng dạy). Dự án do Hội đồng vùng Pays de la Loire tài trợ này nhằm giảng dạy miễn phí các ngôn ngữ ít được người biết đến cho cán bộ và sinh viên trường. Trong số 6 ngôn ngữ được chọn có …. tiếng Việt của chúng ta. Nếu như trường đại học nào ở Việt Nam cũng có một dự án tương tự thì sinh viên tiếng Pháp chuyên ngữ không sợ thất nghiệp, các giảng viên tiếng Pháp không phải “bẻ tay lái”. Đó là chưa kể có bao nhiêu cơ hội việc làm có sử dụng tiếng Pháp mà chúng ta chưa biết tạo ra trong các lĩnh vực nghiên cứu, báo chí, xuất bản v.v…  Chủ trương của chúng ta về hội nhập, về đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế chỉ được cụ thể hóa, giáo dục đại học Việt Nam chỉ có thể phát triển nếu như các nhà quản lý quan tâm đúng mức đến sự đa dạng văn hóa và ngôn ngữ mà chúng tôi đã nhắc ở trên. Anatole France có viết: “Ngôn ngữ Pháp là một người phụ nữ. Người phụ nữ này đẹp, kiêu kỳ, khiêm nhường, mạnh bạo, gợi cảm, quyến rũ, trong trắng, cao sang, thân thiện, điên rồ, khôn ngoan đến nỗi ai cũng yêu nàng với tất cả tâm hồn và không ai có ý đồ không chung thủy với nàng.”ii Nhìn lại những đóng góp của tiếng Pháp cho văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam, chúng tôi thấy việc người Việt Nam quay lưng với tiếng Pháp như một sự không chung thủy, không chung thủy với tiếng Pháp và không chung thủy với chính mình. Rivarol viết: “Tất cả những gì không rõ ràng thì không phải tiếng Pháp.”i Chúng tôi xin viết lại: Tất cả những chương trình đào tạo đại học không tiếng Pháp là không rõ ràng.  ———-  i Phạm Quỳnh, Essais franco-annamites, NXB Bùi Huy Tín, Huế, 1937. Tr. 203.   i Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn học,  Hà Nội, 2002. Tr. 483  ii Les Matinées de la Villa Saïd, Bernard Grasset, 1921.  Tr. 174.  i “Discours de  l’universalité de la langue française”, Oeuvres, Paris, Didier, 1852. Tr. 111.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp nhận công nghệ đào tạo, bồi dưỡng tài năng của Mỹ vào Việt Nam      Áp dụng mô hình giáo dục đại học và chương  trình đại học Mỹ, các quốc gia châu Á đi sau đã mau chóng tạo ra nguồn  nhân lực có kỹ năng, làm chủ công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, phát  triển các ngành công nghiệp chủ lực, và thu hút nguồn vốn đầu tư nước  ngoài chất lượng cao. Vậy Việt Nam nên áp dụng mô hình đó như thế nào?    Hiện đang có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo nhân tài. Một số người cho rằng tài năng không thể đào tạo được, và đã có không ít những thí dụ minh chứng cho kết luận nêu trên. T. Edison là một trường hợp rất thú vị, ông không có điều kiện học tập chính quy, suốt cả cuộc đời là một quá trình tìm tòi, tự học. Tuy nhiên, những phát minh của ông lại có đóng góp rất to lớn cho nền công nghiệp của Mỹ và thế giới. G. Eiffel, thi trượt đại học Bách khoa (Politechnique), sau đó học một trường đào tạo kỹ sư tại Paris, nhưng ông là một tài năng. Bởi vì ông là tổng công trình sư xây dựng tháp Eiffel và thiết kế ra cấu trúc dàn cho tượng nữ thần tự do ở thành phố New York. A. Kastler được giải thưởng Nobel vật lý, L. Schwartz được nhận giải thưởng Filds toán học đều thi trượt đại học bách khoa Paris, và không phải là những sinh viên xuất sắc của đại học Paris. Như vậy không thể có người tai năng từ đầu, mà chỉ do cách đào tạo nghiêm túc, khi ra trường họ may mắn làm việc trong môi trường có những điều kiện tốt, họ có thể phát huy hết khả năng của mình và trở thành tài năng.   Thiên tài và tài năng thiên bẩm là rất hiếm hoi. Sự khác biệt giữa quan niệm về tài năng của Mỹ với các quốc gia khác ở chỗ: tài năng theo quan điểm của Mỹ là số đông được đào tạo và bồi dưỡng trong các trường đại học có uy tín có bằng cấp cao. Thực chất quá trình đào tạo tài năng ở Mỹ phụ thuộc vào khả năng và sự lựa chọn của người học. Do đó các khóa học và chương trình đào tạo được xây dựng tùy thuộc vào trình độ, có nhiều chủ đề khác nhau và chính quá trình đào tạo bồi dưỡng đó tự nó vừa tuyển chọn người có năng khiếu và đào tạo ra tài năng cho từng ngành, lĩnh vực.   Mô hình giáo dục đại học của Mỹ  Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế thừa nhận Mỹ có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất thế giới. Giáo dục đại học Mỹ có một số đặc điểm nổi trội: Chất lượng đào tạo đạt trình độ cao, khuyến khích sáng tạo, chương trình đào tạo theo sát yêu cầu thực tế và luôn thay đổi, sử dụng công nghệ hiện đại trong đào tạo, nghiên cứu và đào tạo gắn chặt với nhau.   Điều tạo nên tính độc nhất vô nhị của hệ thống giáo dục đại học Mỹ chính là tính chất đa dạng về chất lượng. Nó bao gồm từ những trường trung học được nâng cấp lên thành đại học cho đến những trường tốt nhất thế giới. Không ai kiểm soát nó theo cách quản lý mà các bộ giáo dục của các quốc gia khác đang tiến hành. Tính chất đa dạng dường như là vô hạn, cái gì cũng có thể dạy được. Một học sinh trung học không được xếp loại khá ở bậc phổ thông vẫn có thể bước vào một trường đại học danh giá nhất nước Mỹ, nếu anh ta có chỉ số IQ cao. Thành tích kém cỏi trong quá khứ không phải là tiêu chuẩn để xem xét, lỗi có thể do nhà trường trung học chứ không phải là học sinh. Một hệ thống giáo dục tôn trọng các giá trị cá nhân trong quá trình phát triển. Với quan niệm đó đại học Mỹ đã lựa chọn được đông đảo những sinh viên có năng khiếu, để đào tạo họ thành người tài năng.           Tài năng theo quan điểm của Mỹ là số đông  được đào tạo và bồi dưỡng trong các trường đại học có uy tín có bằng cấp  cao. Chính quá tình đào tạo bồi dưỡng đó tự nó vừa tuyển chọn người có  năng khiếu và đào tạo ra tài năng cho từng ngành, lĩnh vực.         Hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều áp dụng mô hình giáo dục đại học và chương trình đào tạo bậc đại học của Mỹ. Ở châu Á, một số trường có chất lượng cao như Nan yang, Đại học quốc gia của Singapore, Chulalongkorn của Thái Lan, đại học quốc gia Seoul, Đại học Korea, đại học Yonsei của Hàn Quốc, đại học Thanh Hoa cua Trung Quốc đều sử dụng các chương trình của đại học Mỹ để giảng dạy. Giáo trình các trường đại học châu Á nêu trên đang sử dụng là các giáo trình của Harvard, MIT, Stanford, Beckely ở Califonia. . . Để tiếp thu một cách chính xác, trung thực nội dung của các giáo trình đại học Mỹ, các giáo sư đại học sử dụng nguyên bản tiếng Anh, không chú ý tới việc biên soạn giáo trình. Nếu cần sử dụng làm tài liệu tham khảo cho số đông sinh viên, các trường đại học sẽ tiến hành biên dịch. Việc biên dịch các tài liệu từ tiếng Anh ra ngôn ngữ bản địa thực tế không được các trường đại học này khuyến khích, bởi vì hầu hết sinh viên ở các trường đại học nêu trên đều sử dụng tiếng Anh thành thạo. Chính nhờ áp dụng mô hình giáo dục đại học và chương trình đại học Mỹ, các quốc gia châu Á đi sau đã mau chóng tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng, làm chủ công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, và thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Quan trọng hơn là rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa trong thời kỳ trước đây và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời đại ngày nay.   Áp dụng các chương trình đào tạo nguồn nhân lực tài năng của Mỹ vào Việt Nam theo cách thức nào?  Các chương trình đào tạo tài năng toán học và Khoa học công nghệ (BEST) kinh doanh (HP và EP), đào tạo lãnh đạo ở Mỹ có thể áp dụng vào Việt Nam theo trình tự sau:  1. Tổ chức chọn lựa sinh viên có năng khiếu của Việt Nam học các chương trình đào tạo tài năng theo quy trình chặt chẽ. Ở Mỹ việc chọn các sinh viên có năng khiếu thông qua những bài thi và dựa vào các đánh giá chỉ số IQ (chỉ số thông minh), EQ (chỉ số cảm xúc), CQ (chỉ số sáng tạo). Mức độ cạnh tranh vào học tại các trường đại học danh tiếng với chương trình đào tạo tài năng rất gay gắt. Bởi vì sau khi kết thúc khóa học, các sinh viên đó mau chóng có việc làm, có thu nhập cao tại những công ty lớn. Cách chọn học sinh có năng khiếu của Việt Nam hiện tại để đào tạo chưa ổn do đó Việt Nam có thể tham khảo cách thi tuyển của một số trường đại học Mỹ, sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá của ETS (Công ty phát hiện và tuyển chọn tài năng của Mỹ), để chọn ra các ứng viên có năng khiếu tham gia các khóa đào tạo tài năng.   2. Lựa chọn một số chương trình có khả năng thực hiện tại Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á đã áp dụng thành công. Thí dụ các chương trình của Harvard, MIT, Chicago và Stanford. Riêng về chương trình đào tạo tài năng kinh doanh và quản lý nên áp dụng chương trình của Harvard (xem cụ thể chương trình đào tạo của Harvard Business School, Kennedy School qua (www. hbs. edu/about/case. html). Còn đào tạo tài năng toán học và khoa học công nghệ có thể nghiên cứu các ý tưởng và mục tiêu của BEST qua (www. best workforce. org).   3. Tập trung cao độ cho việc đào tạo giáo viên. Có thể khẳng định rằng số người có thể giảng dạy được các chương trình đó tại Việt Nam rất ít. Do yếu kém ở cả ba khâu, tri thức, tiếng Anh và phương pháp giảng dạy. Có hai cách tiếp cận và chuyển giao các chương trình đó vào Việt Nam. Một là, lúc đầu mời một số giáo sư của đại học Mỹ sang Việt Nam giảng dạy. Hai là, cử một số giáo viên trẻ có năng lực sang Mỹ để tiếp thu, thực hiện đào tạo thí điểm tại đại học Quốc gia Hà Nội, có đánh giá kết quả, sau đó nhân rộng diện đào tạo nguồn nhân lực tài năng ở một số trường đại học trọng điểm của Việt Nam. Để cho sinh viên có tài liệu tham khảo, Bộ Giáo dục đào tạo cần phải hỗ trợ kinh phí để dịch các tài liệu cần thiết ra tiếng Việt. Chắc chắn số tiền dịch và xuất bản các tài liệu đó không nhiều so với việc thuê các tác giả Việt Nam biên soạn giáo trình. Lợi thứ nhất là nhà nước, ngành giáo dục tiết kiệm được nguồn tài chính. Lợi thứ hai, sinh viên tiếp thu một cách chính xác tư tưởng và nội dung khoa học. Bởi vì, nhiều giáo trình đại học do tác giả Việt Nam biên soạn quá đơn giản, những nội dung cần thiết cho việc phát triển tư duy thường bị cắt bỏ, thậm chí một số vấn đề trình bày không đúng, theo ý chủ quan của tác giả.   4. Đổi mới phương pháp giảng dạy. Phương pháp giảng dạy là bộ phận chủ yếu cấu thành nên công nghệ giáo dục. Trong đó, việc phát hiện, hướng dẫn, khuyến khích ý tưởng mới, trao đổi và tranh luận thẳng thắn được xem là những khâu quan trọng. Ngoài ra để áp dụng công nghệ giáo dục hiện đại, các trường đại học cần phải đầu tư thiết bị hiện đại, liên kết giữa giáo dục đào tạo với các cơ sở nghiên cứu, các tổ chức công nghiệp, để thực hiện những đề tài khoa học có giá trị thực tế.   5. Tăng đầu tư cơ sở vật chất cho các trường đại học. Muốn cho chất lượng đào tạo được nâng cao, đào tạo gắn kết với nghiên cứu khoa học và ứng dụng, nhà nước cần phải ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại cho các trường đại học trọng điểm. Mau chóng chuyển các trường đại học thành trung tâm nghiên cứu lớn của quốc gia theo mô hình của các nước tiên tiến trên thế giới. Không có một nhà khoa học nào được giải thưởng Nobel mà lại không tham gia các dự án lớn, bên cạnh mình không có các phòng thí nghiệm và không có các thiết bị hiện đại hỗ trợ nghiên cứu. Tự do học thuật và khoan dung là hai điều kiện cơ bản cho sáng tạo và đổi mới.   6. Mở rộng liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp. Hiện nay, chương trình đào tạo của các trường đại học xa rời các yêu cầu kỹ năng của các doanh nghiệp. Do đó cần phải mở rộng lien kêt giữa các trường đại học và doanh nghiệp. Một mặt đào tạo ra lực lượng nhân lực có trình độ cao phục vụ cho quá trình phát triển, mặt khác các trường đại học có thể nhận nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp. Vốn tài trợ đó có thể giúp đổi mới chương trình đào tạo hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và giúp cho các sản phẩm nghiên cứu được thương mại hoá. Tại Hàn Quốc, Trung Quốc Nhật Bản liên kết giũa các truong đại học và cac cơ sở sản xuât công nghiệp la rât chặt chẽ. Đặc biệt một số trường đại học đã chuyển sang mô hình đại học doanh nghiêp như MITcủa Mỹ, NUS của Singapo. Ngoài ra để mở rộng không gian hoạt động tường đại học phải có quyền tự chủ cao.   ***  Đào tạo nguồn nhân lực tài năng trong quá trình CNH đất nước là yêu cầu cấp thiết. Hiện nay không chỉ có đại học quốc gia Hà Nội mà một số trường đại học khác cũng triển khai đào tạo cử nhân tài năng, cử nhân chất lượng cao. Tài năng là hiếm hoi, nhưng khi mở rộng diện đào tạo tài năng thành phong trào chắc chắn chất lượng đào tạo sẽ giảm sút. Thực tế, Việt Nam đã trải qua nhiều hoạt động có tính phong trào; rốt cuộc phong trào thành công thì ít mà thất bại thì nhiều. Do đó, các cơ quan quản lý giáo dục cần có đánh giá rút kinh nghiệm trước khi triển khai trên diện rộng. Theo tôi, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tài năng phải xuất phát từ phía nhu cầu: nhu cầu của người học và nhu cầu của người sử dụng. Xuất phát từ phía cung như hiện nay là việc làm phản khoa học. Chỉ khi nào nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tài năng ăn nhịp với nhu cầu thực tế của tiến trình phát triển kinh tế – xã hội về kỹ năng nghề nghiệp thì việc đào tạo và sử dụng mới mang lại hiệu quả.   —  * PGS. TS, Viện NC Châu Phi vàTrung Đông    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp tục hành trình không vì lợi nhuận      Trong chương trình gặp gỡ Hoa Sen 2015 của Đại học Hoa Sen (TP. HCM) vào ngày 14/3 vừa qua với chủ đề “Hoa Sen tri ân cộng đồng”, các chuyên gia, các nhà đầu tư, các giảng viên, sinh viên… đã có những góp ý thẳng thắn cho ĐHHS tiếp tục hành trình không vì lợi nhuận.    Bước đi của một mô hình không vì lợi nhuận    Ông Trần Văn Tạo, Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) Đại học Hoa Sen (ĐHHS) cho biết, ĐHHS là một trong số ít trường tại Việt Nam đã minh định cơ chế hoạt động không vì lợi nhuận ngay từ những ngày đầu thành lập (1991). Đến năm 2007, khi chuyển sang tư thục và nâng cấp thành ĐHHS thì nguyên tắc lợi nhuận có được phải phục vụ trước tiên cho lợi ích của cộng đồng, lợi ích của sinh viên rồi mới đến tập thể giảng viên, nhân viên và thành viên góp vốn. Tinh thần này đã được thể hiện rõ trong nghị quyết 02 năm 2007 của HĐQT được ghi rõ trong quy chế tổ chức hoạt động của trường.    Theo ông Tạo, một trường đại học đúng nghĩa phải là một trường độc lập với quyền lực, độc lập với tiền bạc và hoàn toàn tự do trong học thuật. Nếu bị thao túng, lèo lái bởi thế lực đồng tiền sẽ khó hoàn thành sứ mệnh đối với cộng đồng, khó có thể đem lại những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng, khó có thể sản sinh ra những con người trí thức, đích thực cho xã hội.  HĐQT trường ĐHHS đã tổ chức đại hội toàn trường đầu tiên vào ngày 31.1.2015 để góp ý dự thảo quy chế, tổ chức hoạt động của trường và dự thảo quy chế tài chính nội bộ. Việc tổ chức thành công đại hội toàn trường đã chứng minh việc thực hiện hoạt động không vì lợi nhuận của trường ĐH HS là một tiến trình không thể đảo ngược. Sau đó, ĐHHS đã chuẩn bị hồ sơ để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND TP.HCM đề nghị xem xét cho trường ĐHHS thực hiện theo đúng các quy định về trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận của điều lệ trường đại học.   TS Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng trường ĐHHS cho biết, ba nhiệm vụ chính của trường là đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng theo mô hình các trường đại học ở châu Âu. Trong suốt năm qua, các hợp tác mang tính học thuật và liên quan đến cộng đồng giữa ĐHHS với các đối tác không sút giảm hay nguội đi. “ĐHHS tổ chức hiệu quả những sự kiện như: Tuần lễ sáng tạo Thụy Điển, hoạt động với ĐH Bách khoa Hong Kong, hoạt động tình nguyện và thiện nguyện ở thành phố và vùng sâu, vùng xa”, TS Phượng cho biết.            Để Đại học Hoa Sen đủ sức đào tạo thế hệ trẻ xây dựng tương lai cho chính mình và đóng góp vào sự hình thành một xã hội bền vững và nhân bản, chúng tôi, những người làm giáo dục phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ cộng đồng rộng lớn hơn, đó là toàn xã hội.   Chúng tôi cần tìm đến và xây dựng và gìn giữ những nguồn lực trí tuệ, kinh nghiệm, tri thức lớn hiện diện ở bên ngoài: đó là các nhà giáo dục, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đã, đang và sẽ là thân hữu, cộng tác viên của ĐHHS. Họ giúp chúng tôi về mặt chiến lược quản trị, chiến lược nghiên cứu và giảng dạy, tầm nhìn dài hạn, kế hoạch vĩ mô, triết lý hoạt động. Họ cũng sẵn sàng đến với chúng tôi, hoặc chúng tôi mạnh dạn tìm đến họ để cùng nhau giải quyết những vấn đề đột xuất, những “bài toán khó” xuất hiện trong thường ngày và trong hoạt động ngắn hạn.   Chúng tôi có các kênh truyền thống để đón nhận sự đóng góp đó: chúng nằm sâu và lan tỏa đến các khoa, phòng, trung tâm của trường. Cũng quan trọng không kém là các kênh tự hình thành giữa những cá nhân trong trường và những trí tuệ, tài năng bên ngoài trường. Giữa hai loại hình đó là sự kiện Gặp gỡ Hoa Sen hằng năm, một kênh chính thức mở ra như một nhắc nhớ ĐHHS phải tự lay chuyển mình, không được ngủ quên trong thành công tạm thời, hoặc mệt mỏi trong khó khăn của một bước đường trắc trở. Gặp gỡ Hoa Sen cũng là nơi cánh cửa bất ngờ mở ra những không gian mới cho suy tư, cho hành động. Từ một ý tưởng, một gợi ý, thậm chí một va chạm. Gặp gỡ Hoa Sen là nơi gặp gỡ giữa những người bạn lớn và những con người năng động, khiêm tốn, ham học hỏi của ĐHHS.   Tôi phải nhấn mạnh rằng sự hỗ trợ vô giá mà chúng tôi có được trong năm qua thật ra vẫn thường xuyên được xã hội ưu ái ban cho chúng tôi ngay từ ngày thành lập. Do đó đã đến lúc chúng tôi cần thể hiện một cách có hệ thống hơn sự tri ân đối với cộng đồng và phải nâng tầm mục tiêu đóng góp cho cộng đồng trong chiến lược nhà trường. Đó là đào tạo những người trẻ, nguồn tài nguyên dồi dào quý giá của Việt Nam để họ không chỉ thành đạt mà còn đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng một xã hội bền vững và nhân bản.          TS Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng ĐH Hoa Sen            Để mô hình không vì lợi nhuận “sống khỏe”    Ông Nguyễn Đăng Hưng, một giảng viên (giảng dạy 40 năm tại Bỉ, từng đào tạo Thạc sĩ tại ĐH Bách khoa TP.HCM) và là thành viên đầu tư của ĐHHS nêu vấn đề, để giúp cộng đồng, giúp đất nước phát triển cần phải đầu tư, huy động vốn hơn nữa nhằm xây dựng những ngành công nghiệp, kỹ thuật. Theo ông Hưng, “đầu tư cho một kỹ sư có hiệu quả gấp năm lần sinh viên trong quản trị kinh doanh”.  Đồng tình với quan điểm của ông Hưng, PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, chuyên gia giáo dục cho rằng: Xu hướng thế giới bây giờ là đào tạo bằng đôi, mở thêm ngành khoa học kỹ thuật là một hướng đi phù hợp. “Có những người học quản trị kinh doanh và hiểu biết về kỹ thuật thì rất dễ kiếm việc”, PGS.TS Tống nói.   Bên cạnh đó, PGS.TS Tống cũng cho rằng, phi lợi nhuận cần có sự can thiệp từ nhà nước bởi luật “không có chỗ” cho “phi lợi nhuận, không vì lợi nhuận”. Chính vì vậy, khi gần đây có những quy định chuyển các trường đại học ngoài công lập thành trường đại học dân lập, các đại học phi lợi nhuận cũng bị “dính vào”, rất lộn xộn.  Dưới góc nhìn một cơ quan chức năng của thành phố, ông Huỳnh Văn Sáu, Trưởng Ban Cán sự giáo dục Liên đoàn lao động TP.HCM đưa ra mâu thuẫn: Trường đại học do vốn góp của mỗi người, nếu phi lợi nhuận hết thì người góp vốn sống bằng gì? Mặt khác, cũng theo ông Sáu, các nhà đầu tư chỉ bỏ tiền vào đến một thời gian nhất định chứ không thể mãi được. Từ đây nảy sinh vấn đề thoái vốn bằng cách nào, ra sao. Đây chính là mâu thuẫn giữa người góp vốn và người điều hành.  Ở một góc nhìn khác, T.S Nguyễn Hội Nghĩa, phó giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM nêu quan điểm: Trên thế giới có nhiều trường phi lợi nhuận hoạt động hàng thế kỷ nhưng ở Việt Nam, nhiều người nghĩ làm gì cũng phải có lợi nhuận. Vì thế, nhà đầu tư vào đại học phi lợi nhuận phải phân biệt được sân chơi, nếu nghĩ, đây là nơi làm ăn lời lỗ thì đi chỗ khác, làm việc khác, “không thể chơi quần vợt mà lại nhảy sang chơi đá bóng là không được vì luật lệ rất khác nhau”; hoạt động phi lợi nhuận phải có cơ chế minh bạch với cộng đồng, như hội nghị thường niên để công khai mọi chuyện giống như những công ty có báo cáo công khai về tài chính; thành lập sớm và củng cố HĐQT, nên có thêm một đơn vị nữa là đơn vị phụ trách cộng đồng. Trên thế giới, trong hội đồng quản trị các trường phi lợi nhuận có cả sinh viên đang học để đảm bảo tiếng nói của các bên liên quan, TS Nghĩa cho biết.   Trong khi đó, PGS-TS Nguyễn Ngọc Điện, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế – Luật – ĐHQG TP.HCM cho biết, sở dĩ Hoa Sen có những cuộc tranh cãi, mâu thuẫn vì nhà đầu tư ngồi ngay trong hội nghị của trường. “Bây giờ làm sao tạo được vách ngăn nào đó để tách nhà đầu tư ra, nếu không làm được điều này trong thời gian tới xung đột sẽ lại tái diễn” – ông bày tỏ.   Cũng theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Điện, tại Việt Nam, HĐQT của các trường cũng có thể lập ra quỹ có tư cách pháp nhân để đầu tư vào trường giống như Đại học Harvard, Mỹ. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ không đầu tư trực tiếp vào trường mà thông qua quỹ, tức là họ đặt ra một vách ngăn để không làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các bên.              Cách đây hơn 20 năm, ngôi trường này đã được ra đời từ những ý tưởng và sự đóng góp hoàn toàn vô vị lợi của các cá nhân, tổ chức, trong đó có sự hỗ trợ của UBND TP. Trường đã được thai nghén và sinh ra từ cộng đồng nói chung và UBND TP.HCM nói riêng. Hơn bao giờ hết, trước những mưu toan thủ lợi từ những thế lực không vì giáo dục, đây là lúc Trường cần thể hiện chức năng nhiệm vụ đã được minh định là: phục vụ cho cộng đồng với tinh thần vô vị lợi. Chính lý tưởng tốt đẹp này đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển vững mạnh của trường Đại học Hoa Sen – một trong những niềm tự hào của giáo dục và đào tạo thành phố.  Trần Văn Tạo, Chủ tịch HĐQT Đại học Hoa Sen                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu chí về nền giáo dục đại học      Để phát triển bền vững trong khung cảnh toàn cầu hóa mà sự cạnh tranh luôn luôn hiện diện, Giáo dục Đào tạo (GDĐT) đóng một vai trò rất quan trọng. Những điều này đã được luận bàn nhiều, trong bài này tôi chỉ xin đề cập đến: thế nào là một nền GDĐT “lành mạnh” để đóng một vai trò cho phát triển bền vững?    Nói tóm tắt, một nền GDĐT “lành mạnh” là: một nền GDĐT có sứ mạng rõ rệt, mang mục tiêu khả thi, mang tính khoa học, trung thực, rạch ròi, bảo đảm được hiệu quả ích lợi cho xã hội cho đất nước, bảo đảm được sự công bằng cho mọi công dân, vv.  Trong giới hạn của bài viết, chỉ xin nêu vài điểm với thí dụ minh họa tập trung vào GDĐT đại học:    Sứ mạng của nền đại học. Nói vắn tắt: sứ mạng của nó là mở rộng biên thùy của sự hiểu biết, mang sự hiểu biết (đã, đang và sẽ có được) vào cuộc sống; do đó từ nghiên cứu cơ bản, tìm cách chuyển sang nghiên cứu áp dụng, rồi đưa vào sử dụng đại trà (thí dụ như khâu công nghệ của một số ngành, có liên kết với các doanh nghiệp), song song với sự chuyển giao hiểu biết. Từ sứ mạng đó, mới định ra mục tiêu, qui chế, mới phân biệt phần kiến thức cơ bản và phần đào tạo nghề nghiệp, mới đưa những phương tiện tài chính và vật chất vào để thực hiện, mới tính toán sao cho cân đối ngành nghề hợp với nhu cầu, mới phân chia vai trò của công lập và tư lập, vv. Sức mạnh của một siêu cường và của các nước phát triển cao hiện nay chính nhờ ở quan niệm đại học như vậy, chứng tỏ một niềm tin lành mạnh vào khoa học. Nó khác xa với một quan niệm về một nền đại học nào đó (lại thêm cụm từ “sau đại học” nữa!) tồn tại trong một số người Việt Nam, kiểu: đại học là nơi tụ tập một số “danh nhân” được “phong hàm (hay chức danh) giáo sư cao quí (!)”, với những phương tiện đồ sộ, rồi để tồn tại, phải tiếp tục có công trình nghiên cứu để chứng minh sự cần thiết của mình, và để chuyển giao sự hiểu biết về những phát minh có thể là vô bổ của mình cho những sinh viên chen đua vào học để có bằng cấp cần thiết cho một địa vị xã hội, và rồi cứ quay vòng như vậy… Một quan niệm sai lạc như vậy không thể tạo ra những con người “biết việc” và những “tay nghề có giá trị” cần thiết cho sự phát triển.    Mang tính trung thực. Một nền GDĐT mà bằng cấp đánh giá đúng được trình độ hiểu biết, danh hiệu phù hợp với chức vụ, với nhiệm vụ. Nền GDĐT đó không chạy theo thành tích với bất cứ giá nào. Có những con số thống kê mà người ta đem ra để đánh giá trình độ của một đại học. Phải hiểu đó là một phần những tiêu chí để đo một thực trạng, chứ không phải là “điều kiện đủ” để đạt trình độ. Lại càng nguy hiểm hơn nữa khi những con số đó được nêu ra như những mục tiêu, với sự khù khờ hay ẩn ý bên trong: Cần đạt tỉ số “bao nhiêu sinh viên/1 vạn dân”? Cứ mở vung vãi nhiều “đại học”, tuyển sinh cho nhiều dù có phải giảm điểm sàn, thì cũng đạt được. Cần đạt tỉ số “bao nhiêu sinh viên/1 nhà giáo”? Cứ tuyển bừa nhà giáo có trình độ hay không, thì cũng đạt được. Cần “bao nhiêu tiến sĩ, thạc sĩ ” cho những năm tới? Nếu coi bằng cấp chỉ là những mảnh giấy có đóng dấu, thì giấy tờ và con dấu rất dễ tạo. Nhưng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, không đơn giản như vậy.  Mang tính khả thi. Một nền GDĐT mà mục tiêu phù hợp với khả năng thực hiện, chứ không phải là với một mục tiêu “hoành tráng” nêu ra – dù không chủ ý để tự dối mình và dối người – xa rời thực tế của nước mình. Một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học mang tính khả thi ở nước ta hiện nay, không mơ tưởng đến những lĩnh vực “khoa học bự” (tôi dịch chữ “big science”: kiểu dự án ITER, trung tâm CERN, thám hiểm vũ trụ…) mà tập trung vào những lĩnh vực không cần đầu tư tốn kém lắm và chỉ cần những công nghệ trong tầm tay của ta, với một đội ngũ chuyên gia có đủ hiểu biết: thí dụ như những lĩnh vực về năng lượng tái tạo, vv… để nâng mức sống, mà không gây ra tai họa.            Khuôn viên Trường Quản trị kinh doanh thuộc  Harvard        Các hệ công lập và tư lập được phân biệt rạch ròi. Tư nhân mở trường là một sự lựa chọn cá nhân,  kể cả trong mục tiêu thiện chí. Nhà nước mở trường, là một bổn phận bảo đảm được cho GDĐT vai trò “lò nung đúc trí tuệ của dân tộc” trong sự liên tục và có thừa kế, bảo đảm công bằng xã hội cho mọi công dân trong việc học tập, bảo đảm được hướng đi lên, đại trà và/hoặc tinh hoa, bảo đảm chất lượng cũng như số lượng người có trình độ hiểu biết, có nghiệp vụ cao vv. Ngay trong khung cảnh giả thuyết tư và công đều vô vị lợi, tư nhân mở trường phải tính toán để tồn tại, cho nên trường tư có thể chọn những ngành đầu tư ít mà chóng có hiệu quả; còn Nhà nước, nơi “cầm trịch”, có bổn phận phải (ít hay nhiều) đảm nhiệm mọi ngành, đặc biệt là các ngành cần đầu tư lớn, dài hạn, hoặc mang tính chất chiến lược – ở đây, đừng lẫn lộn với chuyện bao cấp vô tội vạ – liên quan đến cả vấn đề độc lập tự chủ và thống nhất của đất nước. Vì vậy, khẳng định rằng “công lập” và “tư lập” cũng như nhau, là một khẳng định khiên cưỡng. Lại có vấn đề tham gia của doanh nghiệp vào GDĐT. Có ý cho rằng doanh nhân sử dụng nhân công đã được đào tạo, vậy thì họ phải chịu hoàn toàn gánh mảng đào tạo nghề nghiệp kỹ thuật. Ý này có phần đúng mà cũng có phần không đúng, bởi vì doanh nghiệp phát triển thì doanh nhân, dù có lợi riêng, cũng góp phần làm giàu cho đất nước; họ được hưởng, nhưng cũng có phần đóng góp. Nhưng cũng như đã nói trên, họ không có “vai trò chủ trì” như nhà nước, cho nên sự tham gia của doanh nghiệp tuy là cần thiết (về mặt nội dung đào tạo cũng như về mặt tài chính – ở một số nước có thứ thuế  mà doanh nghiệp phải đóng đặc biệt cho quĩ đào tạo nghề nghiệp), nhưng không thể hoàn toàn giao phó hẳn một mảng đào tạo cho doanh nhân.    Mang tính khoa học. Theo nghĩa rộng, dù về nội dung hay về cách tổ chức. Vài thí dụ:  a) Trong một nền GDĐT mang tính khoa học, không có chỗ cho những tình trạng phi lý, dẫn tới sự tồn tại những công trình nghiên cứu mà kết quả được khẳng định lại không có chứng minh, thí dụ bón lúa bằng mắt nhìn.   b) Trong một nền GDĐT mang tính khoa học, không có những qui định kỳ lạ để đánh giá công trình khoa học theo kiểu hành chính cứng nhắc, dùng số lượng để đánh giá chất lượng, thí dụ như muốn thành giáo sư (GS) thì phải có bao nhiêu ấn phẩm, dài, ngắn thế nào vv. Ai đã từng thực sự hành nghề khoa học đều biết là giá trị phụ thuộc vào nội dung công trình. Có những giải thưởng lớn được trao mà nội dung công trình chỉ chứa đựng trong một vài ấn phẩm. Thời gian phát minh cũng không cứ là phải dài, trong khi có những ấn phẩm được rặn ra cả mớ, mà không mang lại được ích lợi gì. Trong một nền GDĐT mang tính khoa học, cũng không thể có chỗ cho một qui định loại: muốn là GS thì phải thạo tiếng Mỹ và chỉ tiếng Mỹ thôi – tại sao một chuyên gia về văn hóa Tây Ban Nha, hay văn hóa Pháp, hoặc văn hóa Chăm lại phải chịu tiêu chuẩn đó? Không nên lẫn lộn “nên” và “phải”. Thiết tưởng những nhà quản lý chỉ nên có những qui định về cơ cấu – thí dụ như có hay không có “Hội đồng nhà nước công nhận tư cách ứng viên GS”, “Hội đồng khoa học tuyển chọn GS của từng đại học” –  còn về nội dung đánh giá thì cứ để cho các nhà khoa học thành viên các hội đồng đó quyết định với nhau, như ở các nước đã phát triển vẫn làm.  c) Trong một nền GDĐT mang tính khoa học, tất nhiên cũng không có chỗ cho sự nhập nhằng, lẫn lộn về khái niệm về “chức vụ” và “hàm-chức danh” cho nhà giáo, giải thích, bàn cãi cả mấy năm vẫn chưa tỏ.  Không bắt chước một cách dập khuôn. Xin  nêu một thí dụ, dù rằng chúng thuộc khía cạnh thứ yếu:  Vấn đề “khuôn viên” (campus) đại học “điển hình” nào đó: khang trang, hội tụ đầy đủ những phương tiện vật chất, tập trung được mọi ngành, nơi mà nhà giáo và sinh viên có những điều kiện học tập và sinh hoạt tối ưu. Nhưng hình như một số khuôn viên đại học điển hình như vậy được xây dựng đã lâu đời, ngay từ thuở thành phố được qui hoạch, cho nên nằm ngay trong nội thành; đó là chưa kể đến những phương tiện di chuyển tương đối dễ dàng. Cách đây vài chục năm ở Châu Âu, đặc biệt là ở Pháp, người ta cũng xây cất một số “khuôn viên” đại học mới, nhưng lại ở ngoại thành, (vì lý do dễ hiểu: đất rẻ); đến chiều và đến cuối tuần thì “vắng như chùa bà Đanh”. Ngược lại, tôi đã từng hành nghề mấy chục năm ở đại học không có khuôn viên tập trung, nhưng giữa lòng thủ đô Paris; tuy có những nhiêu khê, nhưng cũng có những thuận lợi, thí dụ có thể tổ chức những lớp giảng vào những giờ muộn chiều tối, mà cả những người đang đi làm kiếm sống cũng có thể tham dự. Đó là chưa kể đến vấn đề sinh viên cư trú trong gia đình, đỡ tốn kém, vì chỗ ở cho sinh viên ký túc xá không phải là vô hạn vv. Cho nên cũng cần có sự cân nhắc, liệu cơm mà gắp mắm.      Bùi Trọng Liễu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học      Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành 10 tiêu chuẩn “đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” (sẽ gọi tắt là “tiêu chuẩn giáo dục đại học”). Tuy nhiên, đây là những tiêu chuẩn về quản lí giáo dục hơn là những tiêu chuẩn về đào tạo cấp đại học. Ngoài ra, dù nói là tiêu chuẩn, nhưng tất cả đều quá chung chung, không có gì cụ thể, và do đó, rất mà khó ứng dụng cho việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học. Trong bài viết này, tôi đề nghị 43 tiêu chuẩn giáo dục đại học liên quan đến đầu vào (input), qui trình đào tạo (process), và đầu ra (output) và một số nghiên cứu cần thiết để triển khai việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học.    Tiêu chuẩn thiếu tính cụ thể khó thực hiện!   Trong một xã hội hiện đại, giáo dục bậc đại học có bốn chức năng chính:  một là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân về tri thức, để họ có thể tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội; hai là cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự tăng trưởng và giàu mạnh của một nền kinh tế hiện đại; ba là khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, góp ý về đường lối và chính sách của nhà nước; và bốn là thu thập hay sáng tạo ra kiến thức qua nghiên cứu và chuyển giao những kiến thức này đến xã hội.    Do đó, hệ thống giáo dục cấp đại học và cao đẳng thường được ví von như là một cỗ máy điều khiển nền kinh tế của một quốc gia.  Tuy nhiên, nhìn qua sự phát triển kinh tế của các nước trong vùng và trên thế giới, câu nói trên không còn là một ví von nữa, nhưng đã thành hiện thực.  Thật vậy, sự phát triển kinh tế ở các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Mã Lai, v.v… mẫu số chung là họ chú trọng vào giáo dục và đào tạo.  Ở nước ta, giáo dục đại học cũng rất được quan tâm, với sự đầu tư lớn từ Nhà nước và người dân.  Theo phân tích của tác giả Vũ Quang Việt, chi tiêu cho giáo dục ở nước ta chiến 8,3% GDP (ở Mĩ tỉ lệ này là 7,2%), và đáng quan tâm hơn, trong số này có đến 40% là dân đóng góp [1].    Với một sự đầu tư lớn như thế, một số câu hỏi cần đặt ra: các chương trình đào tạo cấp đại học ở nước ta so sánh ra sao với các nước trong vùng, các đại học của Nhà nước sử dụng nhân lực, cơ sở vật chất hữu hiệu hay lãng phí, sinh viên tốt nghiệp đại học có chỗ đứng gì trong xã hội và nền kinh tế thị trường, kiến thức và kĩ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học ra sao, hệ thống giáo dục đại học đã góp phần gì cho phát triển kinh tế, v.v… Rất tiếc là các câu hỏi này vẫn chưa được trả lời thoả đáng một cách định lượng.     Các câu hỏi trên liên quan đến một khía cạnh mà xã hội đang rất quan tâm hiện nay: chất lượng giáo dục đại học.  Vì thế, việc kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo cần và đã được đặt ra. Bộ GDĐT vừa ban hành 10 tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học (xem Bảng 1) [2].  Nhưng các tiêu chuẩn này liên quan đến quản lí hơn là chất lượng.  Chẳng hạn như tiêu chuẩn về sứ mệnh chẳng có liên quan gì đến chất lượng đào tạo, vì thực sự, đây là những phát biểu mang tính quản lí.  Thật vậy, những “tiêu chuẩn” như “sứ mệnh và mục tiêu của trường đại học”, “tổ chức và quản lí”, hay “Tài chính và quản lý tài chính” không thể xem là chất lượng giáo dục đào tạo được, mà là những khía cạnh của quản lí đại học hay của bất cứ một doanh nghiệp nào. Bất cứ trường đại học nào cũng có thể viết thành một phát biểu mang tính sứ mệnh (statement of mission) rất dễ dàng, nhưng viết ra được câu đó, cố nhiên, không có nghĩa là trường đại học đó có “chất lượng.”    Ngoài ra, các tiêu chuẩn còn quá chung chung.  Quả thật, không có một tiêu chuẩn nào trong 10 tiêu chuẩn ban hành có thể xem là cụ thể cả.  Chẳng hạn như trong tiêu chuẩn về “Chương trình giáo dục”, có đoạn viết “Chương trình giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên được thiết kế theo quy định, đảm bảo chất lượng đào tạo”.  Đây quả là một phát biểu khá … quanh co.  Đáng lẽ qui định nói về tiêu chuẩn chất lượng, nhưng lại không đề ra tiêu chuẩn cụ thể mà yêu cầu phải đảm bảo … chất lượng !  Một hiệu trưởng đại học có trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn chắc chắn phải đặt câu hỏi: thế nào là đảm bảo chất lượng đào tạo ?  Hay như tiêu chuẩn “Thư viện của trường đại học có đầy đủ sách, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và người học” cũng rất chung chung và không thể nào so sánh giữa các đại học được.  Nếu một đại học với 10.000 sinh viên và có 20.000 đầu sách, và một đại học với 30.000 sinh viên và có 35.000 đầu sách, thì làm thế nào để so sánh theo tiêu chuẩn trên ?             Bảng 1. Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học 65/2007/QĐ-BGDĐT)  1. Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học   2. Tổ chức và quản lí   3. Chương trình giáo dục   4. Hoạt động đào tạo   5. Đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên   6. Người học   7. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ   8. Hoạt động hợp tác quốc tế   9. Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác   10. Tài chính và quản lý tài chính         Vì thiếu cụ thể, nên tôi e rằng khó có thể triển khai 10 tiêu chuẩn trong thực tế. Thật ra, như đề cập trên, đây không phải là các tiêu chuẩn phản ảnh chất lượng mà tôi thường thấy ở các đại học nước ngoài, cho nên không thể áp dụng cho việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học.    Chất lượng giáo dục đại học là gì ?    Chất lượng giáo dục đại học là một phạm trù rất khó định nghĩa và đo lường, bởi vì không/chưa có một định nghĩa nhất quán [3].  Thật ra, ngay cả danh từ “chất lượng” (hay quality theo tiếng Anh) trong bối cảnh giáo dục đại học cũng đã mù mờ [4].  Theo các chuyên gia đầu ngành về chất lượng giáo dục, chất lượng có thể được nhìn nhận qua 5 khía cạnh [5]:        * chất lượng được ngầm hiểu là chuẩn mực cao (high standard) ;      * chất lượng đề cập đến sự nhất quán trong thực thi một công tác không có sai sót ;      * chất lượng là hoàn thành những mục tiêu đề ra trong kế hoạch của trường ;      * chất lượng là những đo lường phản ảnh những thành quả xứng đáng với đầu tư (hay nói nói nôm là xứng đáng với ” đồng tiền bát gạo “) ;      * chất lượng một qui trình liên tục cho phép “khách hàng” (tức sinh viên) đánh giá sự hài lòng của họ khi theo học.     Qua những cách hiểu về chất lượng như trên, chúng ta thấy kiểm định chất lượng bằng những đo lường cụ thể không phải là một việc làm đơn giản.  Chẳng hạn như thế nào là một tiêu chuẩn cao, hay thế nào là hoàn thành những mục tiêu?  Làm sao đo lường những khía cạnh trên?  Hàng loạt vấn đề mang tính phương pháp học được đặt ra.    Nhưng trong môi trường cạnh tranh giữa các đại học, mỗi đại học phải tự mình đánh giá chất lượng.  Nếu không, sẽ có người khác đánh giá.  Năm 1983, tờ báo US News and World Report (Mĩ) lần đầu tiên trình bày một danh sách các đại học Mĩ xếp thứ tự theo chất lượng từ cao đến thấp (America’s Best Colleges).  Ngay sau đó, các nhóm truyền thông khác trên thế giới tạp chí Times Higher Education Supplement (THES ở Anh), The Guardian University Guide (Anh), tạp chí Maclean với Maclean’s University Ranking (Canada), v.v… cũng bắt đầu phát triển những chi tiêu để đánh giá các đại học ở địa phương và so sánh với các đại học quốc tế.  Đặc biệt mấy năm gần đây trường Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc) cũng tham gia vào việc đánh giá và xếp hạng các đại học trên thế giới.               Bảng 2.  Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá và xếp hạng đại học do các nhóm truyền thông thực hiện        Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc) [6]            o Số cựu sinh viên tốt nghiệp đoạt giải Nobel và Field : trọng số 10%            o Số giáo sư đoạt giải Nobel và Field : trọng lượng 20%            o Số bài báo khoa học được trích dẫn nhiều lần : trọng số 20%            o Số bài báo khoa học trên tập san Nature và Science : trọng số 20%            o Số bài báo khoa học trên tập san trong danh bạ SCIE, SSCI : trọng số 20%            o Thành tựu của giáo sư và đội ngũ khoa bảng : trọng số 10%                   US News and World Report [7]            o Xuất sắc khoa bảng (academic excellence) qua thăm dò ý kiến của hiệu trường, khoa trưởng : trọng số 25%            o Tỉ lệ sinh viên bỏ học và tỉ lệ tốt nghiệp : trọng số 20%            o Cơ sở vật chất (qui mô lớp học, lương bổng giáo sư, trình độ giáo sư, tỉ lệ giáo sư toàn thời gian (fulltime) : trọng số 20%            o Điểm tuyển chọn sinh viên :  trọng số 15%            o Chi tiêu của nhà trường tính trên mỗi sinh viên : trọng số 10%            o Tỉ lệ cựu sinh viên đóng góp vào ngân quĩ nhà trường : trọng số 5%            o Tỉ lệ tốt nghiệp sau khi điều chỉnh cho chi tiêu và điểm tuyển nhận : trọng số 5%                  Times Higher Education Supplement (THES) [8]            o Đánh giá của giới khoa bảng từ các trường khác : trọng lượng 40%            o Số sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các công ti toàn cầu : trọng lượng 10%            o Phần trăm giáo sư là người nước ngoài : trọng lượng 5%            o Phần trăm sinh viên là người nước ngoài : trọng lượng 5%            o Tỉ số sinh viên / giáo sư : trọng lượng 20%            o Số lần trích dẫn tính trên đầu mỗi giáo sư : trọng lượng 20%                  Maclean University Ranking [9]            o Thành tựu khoa bảng của sinh viên : trọng số 23%            o Qui mô lớp học và liên lạc giữa giáo sư và sinh viên : trọng số 17%            o Trình độ và danh tiếng của đội ngũ giảng viên và giáo sư : trọng số 17%            o Tài chính : trọng số 12%            o Thư viện : trọng số 12%            o Danh tiếng của cựu sinh viên : trọng số 19%                  The Guardian University guide [10]            o Thành phần giảng viên và giáo sư (phần trăm với học vị tiến sĩ, phần trăm tham gia nghiên cứu khoa học) : trọng số 15%            o Điểm chuẩn để tuyển chọn sinh viên : trọng số 20%            o Chi tiêu toàn trường tính trung bình trên mỗi sinh viên : trọng số 10%            o Tỉ số sinh viên / giáo sư : trọng số 20%            o Tỉ lệ sinh viên xuất thân từ thành phần kinh tế khó khăn, nghèo: trọng số 12%               Ngoài ra, có thể tham khảo cách xếp hạng của nhóm Webometrics (Ý) [11] và tạp chí Newsweek [12].           Tuy các danh sách này gây tiếng vang hàng năm, nhưng trong giới khoa học ít ai để ý hay quan tâm đến các danh sách hay cách xếp hạng này.  Lí do đơn giản là các nhóm truyền thông và Đại học Giao thông Thượng Hải dựa vào khoảng 6 chỉ tiêu rất đơn giản, và mỗi chỉ tiêu họ cho một trọng số (weight) sao cho tổng trọng lượng của 6 chỉ tiêu bằng 100, rồi dựa vào tổng trọng lượng để xếp hạng các đại học trên thế giới (xem Bảng 2).  Ngay cả cách cho trọng lượng cho từng chỉ tiêu cũng khá tùy tiện.  Không có lí do gì và chưa có cơ sở khoa học nào để cho con số tròn trĩnh 10% hay 20% cho một chỉ tiêu.  Chẳng hạn như THES cho trọng lượng liên quan đến đội ngũ giáo sư lên đến 40%, trong khi đó Maclean đánh giá chỉ tiêu này chỉ 17%.  Theo tôi, trong tất cả các danh sách hiện hành, có lẽ danh sách của tạp chí Mclean là có cơ sở khoa học nhất vì họ đã tiến hành những nghiên cứu qui mô để đánh giá tính hợp lí nội tại (internal validity) và hợp lí ngoại tại (external validity) của các chỉ tiêu.  Bất cứ chỉ tiêu về chất lượng nào mà chưa qua đánh giá tính hợp lí nội tại và ngoại tại đều không có ý nghĩa khoa học.   Một số chỉ tiêu không thực tế và thiếu tính khách quan.  Chẳng hạn như Đại học Giao thông Thượng Hải dựa vào con số cựu sinh viên và giáo sư đoạt giải Nobel hay Field, tức là nghiêng hẳn về các trường có thế mạnh về khoa học, và các đại học nhân văn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội trong bảng !  Thật ra, con số người chiếm giải Nobel hay Field cũng rất nhỏ, và phần lớn những người này ở Mĩ, nên không ngạc nhiên khi các đại học Mĩ lúc nào cũng đứng đầu danh sách.  Ngoài ra, việc đặt nặng trọng lượng vào giải Nobel và Field cũng không hợp lí, vì trong thực tế còn có một số giải cũng có trọng lượng tương tự, thậm chí hơn (tính theo số tiền thưởng), nhưng lại không được đánh giá !   Có thể nói rằng các chỉ tiêu mà các nhóm truyền thông quốc tế và Đại học Giao thông Thượng Hải làm chỉ phản ảnh danh tiếng và cơ sở vật chất của trường, những khía cạnh có mối tương quan thấp nhất với — và không phản ảnh — sự tác động của đại học đến sinh viên [13].      Tiêu chuẩn chất lượng đại học: đầu vào, qui trình, và đầu ra    Cần phải phân biệt các tiêu chuẩn đơn giản và bán tài tử như trên (mà giới truyền thông đã và đang làm) với các tiêu chuẩn nghiêm chỉnh đánh giá chất lượng của một trường đại học.  Các tiêu chuẩn mà giới truyền thông sử dụng, tuy mang tính cụ thể, phản ảnh rất chung chung chất lượng của một đại học, chứ không phản ảnh toàn bộ qui trình đào tạo của đại học.  Có thể nói rằng các chỉ tiêu đó giống như cái nhìn của những “cưỡi ngựa xem hoa”, chỉ thấy bề mặt, mà không thấy chiều sâu của một vấn đề.    Theo tôi, giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập.  Có thể xem ba khía cạnh đó của giáo dục đại học là một hệ thống đặc trưng bởi ba khía cạnh trên.  Vì là hệ thống nên phải có đầu vào (input), qui trình (process), và đầu ra (output).  Do đó, chất lượng giáo dục đại học là tập hợp một số nguyên tố liên quan đến đầu vào, qui trình đào tạo, và đầu ra [14-17].    Đầu vào là những tiêu chuẩn liên quan đến sinh viên được nhận vào học tại trường đại học.  Một số nghiên cứu cho thấy số điểm trung bình của thí sinh được nhận vào đại học có tương quan đến số điểm tốt nghiệp: sinh viên với số điểm cao lúc nhập học đại học thường là những sinh viên có xác suất tốt nghiệp đại học cao.  Nếu xem điểm thi tốt nghiệp hay điểm tuyển sinh đại học phản ảnh trình độ của học sinh, thì trường có nhiều học sinh giỏi cũng có nghĩa là môi trường học tập được nâng cao, và qua đó tác động tích cực đến chất lượng giáo dục của trường.  Tuy nhiên, cũng có lí giải cho rằng chẳng có mối tương quan nào giữa điểm tuyển sinh và điểm tốt nghiệp [16]; do đó, một số trường đại học không xem các điểm này là một yếu tố hay tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục đại học.     Qui trình ở đây bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến người thầy, giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, nghiên cứu khoa học, và cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ dành cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  Giáo dục đại học bao gồm giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  Có thể nói chung rằng “sức khỏe tài chính” của một trường được phản ảnh qua sự tài trợ hay thu hút tài trợ từ Nhà nước và các nguồn tư nhân.  Nhưng sử dụng tài chính vì lợi ích của sinh viên cần được quan tâm đặc biệt; vì thế, các tiêu chuẩn như chi tiêu, dịch vụ, cơ vật chất, v.v… tính trên đầu sinh viên là những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng phục vụ của trường đại học.    Ở bậc đại học, người thầy (hay cô) không chỉ đơn giản là một người giảng bài, mà còn là một chuyên gia về một lĩnh vực chuyên môn (khác với bậc trung học, người thầy không phải là một chuyên gia).  Để truyền đạt hữu hiệu đến sinh viên, ngoài những kĩ năng sư phạm, người thầy cần phải có kiến thức về chuyên ngành để có thể khai triển những lí thuyết và ý tưởng từ nội dung của giáo trình.  Những kiến thức này có thể tiếp thu qua nghiên cứu khoa học.  Nhưng “hộ chiếu” để làm nghiên cứu khoa học là học vị tiến sĩ.  Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các trường đại học Tây phương xem văn bằng tiến sĩ như là một tiêu chuẩn tối thiểu để được bổ nhiệm làm giảng viên hay giáo sư đại học.  Một phần lớn các chỉ tiêu về chất lượng giáo dục đại học xoay quanh trình độ của người thầy và nghiên cứu khoa học.   Ở đại học, nghiên cứu khoa học thường do các nghiên cứu sinh cấp thạc sĩ và tiến sĩ thực hiện dưới sự chỉ đạo của các giảng viên và giáo sư.  Để đủ tư cách hướng dẫn luận án cấp thạc sĩ và tiến sĩ, giảng viên hay giáo sư phải hội đủ một số điều kiện như có chương trình nghiên cứu tầm cỡ, có cơ sở vật chất sẵn có, và quan trọng hơn là có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học tầm quốc tế.  Vì thế, một tiêu chuẩn quan trọng cần được đặt ra là phần trăm giảng viên và giáo sư có khả năng hướng dẫn luận án cấp thạc sĩ và tiến sĩ.     Sản phẩm chính của nghiên cứu khoa học là những bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế.  Những bài bào hay công trình có chất lượng cao thường được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor) cao, hoặc có số lần trích dẫn (citations) cao.  Do đó, một tiêu chuẩn được đa số chuyên gia chấp nhận là chuẩn mực để đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học là số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế tính trên mỗi GV/GS và số lần trích dẫn các bài báo khoa học từ trường trong vòng 2 năm qua tính trên mỗi GV/GS.  Ngoài ra, một số tiêu chuẩn khác cũng phản ảnh uy tín của trường là số bằng sáng chế (patent) đã được công nhận và đăng kí với một cơ quan bản quyền quốc tế, số giáo sư và sinh viên nước ngoài theo học tại trường, và số bằng khen hay số lần các giáo sư được mời làm chủ tọa các hội nghị quốc tế.    Nhưng nghiên cứu khoa học đòi hỏi cơ sở vật chất, và đặc biệt là thông tin (thư viện) và các thiết bị để sử dụng, kể cả công nghệ thông tin.  Một đại học có chất lượng tối thiểu cũng phải có đủ không gian (kể cả bàn, ghế) cho giảng dạy, có phòng labo với thiết bị đầy đủ cho thí nghiệm và thực tập, có hệ thống hỗ trợ bằng công nghệ thông tin để giảng viên và học sinh có thể truy cập internet miễn phí, và nhất là hệ thống thư viện.  Có thể nói không ngoa rằng thư viện và công nghệ thông tin là bộ mặt của một trường đại học.  Cho dù một đại học có 100% giảng viên với trình độ tiến sĩ, mà không có thư viện tốt hay thiết bị công nghệ thông tin dồi dào thì cũng trường đại học không thể nào làm nghiên cứu khoa học tốt, không thể nào giảng dạy tốt được.  Đề cập đến chất lượng giáo dục đại học nhất định phải đề cập đến các chỉ tiêu quan trọng về đầu tư cho thư viện và công nghệ thông tin.   Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy một mối tương quan tuyến tính giữa điểm của sinh viên và số lần trao đổi giữa sinh viên và GS/GV [13].  Do đó, mối tương tác giữa giảng viên / giáo sư (GS/GV) và sinh viên và tỉ số sinh viên trên mỗi  GS/GV từng được xem là hai tiêu chuẩn phản ảnh chất lượng giáo dục của một đại học.   Đầu ra là những tiêu chuẩn phản ảnh tình trạng của sinh viên sau khi tốt nghiệp [17].  Giáo dục bậc cao có bốn chức năng chính:  một là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân về tri thức, để họ có thể tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội; hai là cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự tăng trưởng và giàu mạnh của một nền kinh tế hiện đại; ba là khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, góp ý về đường lối và chính sách của nhà nước; và bốn là thu thập hay sáng tạo ra kiến thức qua nghiên cứu và chuyển giao những kiến thức này đến xã hội.  vì thế, “sản phẩm” chính của giáo dục đại học là sinh viên tốt nghiệp với trình độ chuyên môn cao.  Đây cũng là những tiêu chuẩn khó định lượng chính xác, vì các chuyên gia vẫn chưa nhất trí cách đánh giá.  Tuy nhiên, người ta ghi nhận rằng danh tiếng (phản ảnh gián tiếp chất lượng giáo dục) của một trường đại học thường gắn liền sự sự thành đạt của sinh viết nghiệp từ trường đó.  Các đại học như Harvard, Yale, Princeton, v.v… sở dĩ có tiếng trên thế giới là vì những sinh viên tốt nghiệp từ các trường này thường giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy kinh tế hay Nhà nước. Do đó, các tiêu chuẩn trong phần “đầu ra” cụ thể là tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp, có việc làm, sự hài lòng của doanh nghiệp hay cơ quan tuyển dụng, sinh viên quay lại theo học tiếp cấp thạc sĩ hay tiến sĩ, v.v…    Dựa vào các chuẩn mực trên, tôi đã lập một danh sách các tiêu chuẩn cụ thể để thẩm định chất lượng giáo dục đại học (Bảng 3).  Các tiêu chuẩn này được tổng hợp từ các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng giáo dục đại học ở các nước Mĩ, Anh, Úc và Canada.  Tuy nhiên, một số tiêu chuẩn này mang tính đặc thù cho tình hình ở nước ta (và không có trong danh sách tiêu chuẩn của các nước khác).  Chẳng hạn như tỉ lệ GS/GV thạo tiếng Anh đựợc đưa thành một tiêu chuẩn vì đây là vấn đề được Bộ GDĐT nêu lên trong Hội nghị về chất lượng đại học vừa qua.  Tính chung, có 43 tiêu chuẩn được xếp theo 5 tiêu chí: thành phần sinh viên, cơ sở vật chất cho học tập, giảng viên / giáo sư, nghiên cứu khoa học, và sinh viên tốt nghiệp theo cách tiếp cận đầu vào – qui trình – đầu ra.     Cần nghiên cứu khoa học   Ngày nay, nước ta có nhiều (có lẽ quá nhiều) đại học, và con số vẫn còn tăng hàng năm.  Nhưng chưa ai biết chính xác chất lượng của các trường đại học Việt Nam như thế nào, thậm chí các trường này có xứng đáng hay hội đủ điều kiện của một đại học hay không.  Công chúng ngưỡng mộ đại học, nhưng thường không hiểu sự vận hành phức tạp của đại học ra sao.     Trong khi đó, có nhiều tín hiệu trái ngược nhau từ các giới chức về chất lượng: có quan chức giáo dục cho rằng chất lượng giáo dục nước ta chẳng thua kém ai, và lấy các thành tựu trong những kì thi như thi toán quốc tế để minh chứng; nhưng cũng có người nhận định rằng chất lượng giáo dục đại học ở nước ta còn quá thấp.  Có ý kiến cho rằng trong số giáo sư và phó giáo sư ở nước ta hiện nay, chỉ có 15-20% có trình độ thật sự tương xứng với chức vụ, và trình độ của sinh viên tốt nghiệp đại học hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của đại học nước ngoài), cao học bằng đại học, và tiến sĩ chỉ bằng cao học.    Không một trường đại học nào của Việt Nam có trong danh sách xếp hạng đại học trên thế giới của THES, Guardian, Maclean, hay Đại học Giao thông Thượng Hải.  Còn theo cách xếp hạng của Webometrics, chỉ có 7 trường đại học của Việt Nam nhưng ở vị trí thấp nhất trong bảng: ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM xếp hạng 1.920, ĐH Công nghệ TP.HCM hạng 2.190; ĐH Cần Thơ hạng 2.532; ĐH Quốc gia Hà Nội: hạng 2.850; ĐH Bách khoa Hà Nội hạng 3.156; ĐH Công nghệ hạng 4.217; và ĐH Quốc gia TP.HCM hạng 4.462.  Tuy cách xếp hạng, như đề cập trong phần trên, không đáng tin cậy, nhưng các hạng của đại học ta cung cấp một tín hiệu về chất lượng không cao.    Do đó, vấn đề kiểm định chất lượng cần được đặt ra nghiêm túc.  Nếu chúng ta không làm, sẽ có người khác làm cho chúng ta (và điều đó khó chấp nhận được).  Chẳng hạn như một đại học nhỏ ở Trung Quốc thực hiện xếp hạng các đại học ở … Nga.  Do đó, nỗ lực của Bộ GDĐT trong việc kiểm định chất lượng rất đáng hoan nghênh.     Theo Bộ GDĐT có 7 nguyên nhân cho việc “hạn chế” chất lượng giáo dục đại học ở nước ta.  Một trong những nguyên nhân đó, theo phân tích của Thứ trưởng Bành Tiến Long, là “tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học chưa cụ thể và không rõ ràng”.  Nhưng tiếc thay, 10 tiêu chuẩn mà Bộ GDĐT vừa ban hành cũng thiếu tính cụ thể và không rõ ràng. Tôi có cảm giác 10 tiêu chuẩn mà Bộ GDĐT trình bày còn quá đơn giản.  Theo tôi, không nên đưa các tiêu chuẩn đó cho các đại học thực hiện, vì chưa có tiêu chuẩn nào cụ thể và hình như cũng chưa có những nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh để hợp lí hóa các tiêu chuẩn đó.    Trong bài viết này tôi đã trình bày nguyên lí đằng sau những tiêu chuẩn chất lượng và một danh sách gồm 43 tiêu chuẩn được tuyển chọn từ các đại học ở Mĩ, Anh, Canada và Úc.  Tôi tin rằng so với các bảng tiêu chuẩn khác trên thế giới, bảng tiêu chuẩn cụ thể trong Bảng 3 thể hiện đầy đủ nhất.     Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phải thống nhất trong định nghĩa từng tiêu chuẩn.  Chẳng hạn như cần phải thống nhất thế nào là một giảng viên hay giáo sư hội đủ điều kiện để hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ, hay sử dụng thang điểm nào để đánh giá trình độ tiếng Anh (hay một ngoại ngữ), hay các chi tiết về “bỏ học”, v.v… Đây là những vấn đề kĩ thuật cần phải thống nhất trước khi ứng dụng.    Hai yêu cầu cơ bản của bất cứ một đo lường nào là độ tin cậy (reliability) và độ chính xác (accuracy).  Độ tin cậy phản ảnh tính nhất quán của biến đo lường khi được ứng dụng nhiều lần trong một điều kiện.  Độ chính xác của một đo lường cung cấp cho chúng ta biết đo lường thật sự phản ảnh được bao nhiêu bản chất của vấn đề chúng ta cần biết.  Chỉ khi nào các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng hai yêu cầu này thì mới có thể áp dụng rộng rãi.  Để biết độ tin cậy và chính xác của các tiêu chuẩn chất lượng, cần phải có nghiên cứu.  Do đó, ưu tiên trước mắt có lẽ là tiến hành một nghiên cứu sơ bộ để xác định độ tin cậy và chính xác của các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.    Những tiêu chuẩn trong Bảng 3 mang tính đơn lẻ. Chúng ta vẫn cần một biến số tổng hợp các tiêu chuẩn để so sánh khách quan giữa các đại học.  Có vài phương pháp thống kê để tổng hợp các tiêu chuẩn.  Phương pháp đơn giản nhất là cộng các tiêu chuẩn thành một điểm.  Nhưng phương pháp này có nhược điểm là xem tất cả các tiêu chuẩn có cùng trọng lượng (rất có thể không hợp lí trong thực tế), và do đó, kết quả có thể thiếu tính khách quan. Một phương pháp thứ hai là tìm những trọng lượng cho 5 tiêu chí qua nghiên cứu thực tế.  Việc này có thể thực hiện qua lần kiểm định chất lượng lần thứ nhất.  Có thể sử dụng mô hình phân tích yếu tố (factor analysis) để tìm các trọng lượng, và sử dụng cho các lần kiểm định chất lượng sau.  Một phương pháp tương đối phức tạp hơn là sử dụng mô hình phân tích tuyến tính theo trường phái Bayes [18-19] mà các nhà nghiên cứu giáo dục Anh đã ứng dụng trong việc xếp hạng đại học ở Anh. Nói cách khác, các tiêu chuẩn tôi trình bày trong bài này chỉ là cái khung, vẫn cần phải tiến hành các nghiên cứu để thu thập các thông số cho mô hình tính toán và hoàn chỉnh một số vấn đề kĩ thuật trước khi ứng dụng xếp hạng cho các trường đại học.   Tăng cường vai trò của hiệp hội chuyên môn và doanh nghiệp   Bởi vì “đầu ra” của giáo dục đại học là những chuyên gia làm việc trong các chuyên ngành.  Ở các nước tiên tiến và các nước trong vùng, các hiệp hội chuyên ngành (ngoài chính phủ) đóng một vai trò quan trọng trong việc thẩm định trình độ thực hành và kiểm định chất lượng đào tạo.  Chẳng hạn như ở Mĩ, Úc, Canada, Singapore, hay ngay cả ở Thái Lan, có những hiệp hội y khoa chuyên ngành mà trong đó các thành viên đều phải trải qua những cuộc thi tuyển do các hiệp hội đứng ra tổ chức và kiểm tra.  Ngay cả các course học ở đại học cũng đều có sự tham vấn và phê chuẩn của các hiệp hội này.     Nhưng rất tiếc là ở nước ta, các hiệp hội chuyên môn vẫn chưa (hay chưa được giao vai trò) đảm trách các chức năng trên.  Có lẽ chính vì lí do này mà có không ít môn học được giảng dạy trong các đại học thiếu tính thực tế hay không đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp.  Đã có nhiều thống kê nói lên tình trạng này.  Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở trong nước, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng ; trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp.  Ngay cả những sinh viên đã tìm được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại, nhất là ở các công ti ngoại quốc.  Theo nghiên cứu của bà Maureen Chao thuộc Trường Đại học Seattle (Mĩ), trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp !    Ở Mĩ, một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục đại học là đánh giá của các hiệp hội chuyên môn về các môn học của đại học.  Ở nước ta, chỉ tiêu này chưa thể ứng dụng được vì vai trò của các hiệp hội chuyên môn vẫn còn khá lu mờ trong các lĩnh vực liên quan đến huấn luyện và đào tạo.  Tuy nhiên, một cách đánh giá khác là qua thăm dò ý kiến của các doanh nghiệp tư nhân và cơ quan Nhà nước về khả năng của sinh viên tốt nghiệp đang công tác trong các cơ sở này.     ***   Để tạm kết bài này, xin nhắc lại một câu chuyện bên lề : trong một bài báo về Việt Nam đăng trên tờ New York Times cách đây không lâu, phóng viên Seth Mydans nhận xét rằng Việt Nam là một nước có một nguồn nội lực rất lớn chưa được khai thác: đó là con người Việt Nam.  Nếu được khai thác, nhà báo viết tiếp, Việt Nam sẽ làm cho các nước Á châu khác phải tủi thẹn.  Ở nước ngoài, những thành công của giới khoa học và giới trẻ gốc Việt đã từng làm cho nhiều chính khách như Lý Quang Diệu của Singapore phải ngưỡng phục.  Nhiều người ở trong nước xưa kia chỉ là những học sinh trung bình, thậm chí kém, nhưng khi ra nước ngoài, đã đạt được nhiều thành tích ngoạn mục trong các đại học hàng đầu ở Mĩ và các nước Tây phương khác.  Điều này cho thấy học sinh Việt Nam ta có tiềm năng rất lớn, và nếu có cơ hội và môi trường thuận tiện, họ sẽ trở thành một đội ngũ chuyên viên có thể đóng góp quan trọng cho đất nước. Một cách “khai thác” tiềm năng của thanh niên là phải có sẵn những đại học có chất lượng cao, hay ít ra là tương đương với các nước tiên tiến trong vùng.  Hi vọng rằng các tiêu chuẩn và đề nghị trong bài này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở nước lên một tầm cao hơn, để ước mơ các đại học nước ta sánh vai cùng các đại học quốc tế không còn mãi mãi là một mơ ước.       Chú thích và tài liệu tham khảo:    [1]  Xem bài Chi tiêu cho giáo dục: Những con số “giật mình”!  Vietnamnet 13/2/06.    [2] Xem Qui định đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” (sẽ gọi tắt là “tiêu chuẩn giáo dục đại học tại trang nhà của Bộ GDĐT.    [3] Cheng YC, Tam WM.  Multimodels of quality of education.  Quality Assurance in Education 1997; 5:22-31.    [4] Pounder J. Institutional performance in higher education: is quality a relevant concept?  Quality Assurance in Education 1999; 7:156-63.    [5] Harvey L, Knight PT.  Transforming higher education.  Buckingham: SRHE and Open University Press 1996.     [6]  Liu NC, Cheng, Y. Academic Ranking of World Universities – Methodologies and Problems. Higher Education in Europe 2005; 30(2), 14.   [7] Stella A, Woodhouse D. Ranking of Higher Education Institutions (Vol. AUQA Occasional Publications Number 6): Australian Universities Quality Agency 2006.   [8] Marginson S. Global university comparisons: the second stage, International Trends in University Rankings and Classifications – Griffith University/ IRU Symposiumi 2007.    [9] Macleans.ca. (2006, November 2006). Universities by the Number. Macleans.ca.    [10] The Guardian University Guide : http://education.guardian.co.uk/universityguide.     [11] Websometrics Ranking of World University www.webometrics.info   [12] Newsweek International Edition (2006). The Complete List: The Top 100 Global Universities. Web: http://www.msnbc.msn.com/id/14321230/site/newsweek.   [13] Dill DD, Soo M. Is There a Global Definition of Academic Quality?: A Cross-National Analysis of University Ranking Systems. Paper presented at the Public Policy for Academic Quality Research Program 2004.   [14] Usher A, Savino M. A World of Difference: A Global Survey of University League Tables. Toronto: Educational Policy Institute 2006.   [15] Turner D. Benchmarking in universities: league tables revisited. Oxford Review of Education 2005;31(3), 353-371.   [16] van Dyke N. Twenty Years of University Report Cards. Higher Education in Europe, 2005;30(2), 103-125.   [17] Dill DD, Soo M. Academic Quality, League Tables, and Public Policy: A Cross-National Analysis of University Ranking Systems. Higher Education 2005;49:495-533.   [18] Goldstein H, Spiegelhalter DJ. League tables and their limitations: statistical issues in comparisons of institutional performance (with Discussion). Journal of the Royal Statistical Society series A 1996; 159:385-443.   [19] Draper D, Gittoes M. Statistical analysis of performance indicators in UK higher education. Journal of the Royal Statistical Society series A 2004; 167:449-474.           Bảng 3.  Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học (đề nghị)      Tiêu chí  Tiêu chuẩn      Thành phần sinh viên      1. Điểm trung bình của thí sinh ghi danh theo học tại đại học;     2. Điểm trung bình của thí sinh được tuyển vào đại học;     3. Phần trăm sinh viên nhận học bổng, sinh viên tài năng, từng chiếm giải quốc gia và quốc tế;     4. Phần trăm sinh viên từ tỉnh lẻ hay nông thôn, người dân tộc, hay xuất thân từ các gia đình khó khăn về kinh tế      Cơ sở vật chất cho học tập       1. Phần trăm GV/GS toàn thời gian;     2. Phần trăm GV/GS có văn phòng riêng;      Các chỉ tiêu sau đây tính trên đầu người sinh viên:            1. Ngân sách được tài trợ từ Nhà nước;     2. Tổng chi tiêu hàng năm;     3. Tổng chi tiêu về dịch vụ (service);     4. Tổng chi tiêu về thư viện;     5. Số lượng bàn ghế;     6. Số lượng sách và tập chí khoa học;     7. Số lượng nhân viên dịch vụ và phụ trợ;     8. Số lượng máy tính;     9. Điểm truy cập internet.      Giảng viên / giáo sư (GV/GS)          1. Phần trăm GV/GS có học vị tiến sĩ;     2. Phần trăm GV/GS có khả năng hướng dẫn luận án thạc sĩ và tiến sĩ;     3. Phân trăm GV/GS có khả năng giảng bằng tiếng Anh;     4. Tỉ số sinh viên trên mỗi GV/GS;     5. Số course dạy tính trung bình trên mỗi GV/GS;     6. Lương bổng trung bình cho GV/GS;     7. Số lần liên lạc giữa GV/GS và sinh viên trong vòng một niên khóa;      Nghiên cứu khoa học        1. Phần trăm ngân sách nhà trường dành cho nghiên cứu khoa học;     2. Tài trợ được cấp cho các dự án nghiên cứu khoa học tính trên đầu người GV/GS;     3. Tỉ lệ thành công trong việc xin tài trợ cho các đề cương nghiên cứu;     4. Số lượng GV/GS tham gia nghiên cứu khoa học và có công trình công bố;     5. Số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế tính trên mỗi GV/GS;     6. Số lần trích dẫn các bài báo khoa học từ trường trong vòng 2 năm qua tính trên mỗi GV/GS;     7. Số bằng sáng chế được cấp;     8. Số bằng khen cho GV/GS cấp quốc gia và quốc tế;     9. Số GV/GS được mời làm chủ tọa các hội nghị quốc gia và   quốc tế;    10. Số lượng GV/GS có hợp tác nghiên cứu với đồng nghiệp nước ngoài;    11. Số nghiên cứu sinh nước ngoài theo học hay nghiên cứu tại trường;            Sinh viên tốt nghiệp          1. Tỉ lệ sinh viên bỏ lớp hay rời trường;     2. Tỉ lệ tốt nghiệp so với lúc ghi danh;     3. Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm (hay tự lập doanh nghiệp) trong vòng 1 năm sau tốt nghiệp;     4. Phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm trong các công ti nước ngoài;     5. Phần trăm sinh viên có bằng ngoại ngữ hay tiếng Anh;     6. Phần trăm sinh viên có bằng vi tính và thông thạo sử dụng máy tính;     7. Lương hay thu nhập trung bình sau khi tốt nghiệp 1 năm;     8. Sự hài lòng của các doanh nghiệp tuyển dụng;     9. Phần trăm sinh viên tốt nghiệp quay lại trường tiếp tục theo học thạc sĩ hay tiến sĩ;    10. Phần trăm sinh viên tốt nghiệp tiếp tục theo học sau đại học tại các trường khác.                GS.Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu chuẩn của trường đại học đẳng cấp quốc tế      Chẳng riêng gì nước ta, hầu như nước nào cũng mong muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng ít ai bàn cụ thể một đại học như thế đòi hỏi những gì và phải vận hành ra sao.  Theo tôi một trường đại học đẳng cấp quốc tế phải đạt được những tiêu chuẩn hay điều kiện sau đây:    * Giáo sư đẳng cấp quốc tế. Đây là những giáo sư có uy tín cao, có “tên tuổi” trong chuyên ngành, có lượng ấn phẩm khoa học lớn với chất lượng tốt (có nhiều cách để đánh giá), có ảnh hưởng trong chuyên ngành… Có nhiều người hiểu lầm rằng hễ người nào đang giữ chức giáo sư bên Mĩ hay Âu châu là “đẳng cấp quốc tế”. Không phải như thế. Chỉ có một số (có lẽ 10-20%) các giáo sư Âu Mĩ xứng đáng với tầm cỡ quốc tế mà thôi, phần còn lại thì chỉ tầm trung bình. Rất nhiều giáo sư ở Âu Mĩ chỉ là những công tư chức khoa bảng, chứ chẳng có nghiên cứu gì đáng kể; vì thế, không nên nhầm lẫn giữa giáo sư đẳng cấp quốc tế và giáo sư đại học tại các nước Âu Mĩ.  * Nơi nuôi dưỡng những tài năng đẳng cấp quốc tế tương lai. Những ai từng quen thuộc với cơ chế tuyển dụng của các trường đại học lớn ở Mĩ đều biết rằng các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp thấp thường được nâng đỡ trong vòng 3 đến 5 năm để họ tự chứng minh khả năng của mình, sau đó họ phải trải qua một quá trình bình duyệt từ bên ngoài, và chỉ có những người xuất sắc với những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế mới được giữ lại làm việc.          Mục tiêu xây dựng một cơ sở nghiên cứu và đào tạo khoa học có uy tín quốc tế là chuyện hệ trọng.  Theo ý kiến của tôi, chất lượng nghiên cứu và giảng dạy phải đặt lên hàng đầu, chứ không phải số lượng. Sinh viên cần được chọn lọc gắt gao, nhưng cũng cần tạo cho họ những điều kiện học tập tốt nhất có thể. Qui chế tuyển chọn giáo sư dài hạn hay ngắn hạn cũng là việc tối quan trọng. Làm thế nào tuyển được người xứng đáng, trả lương cho xứng đáng, và tạo điều kiện làm việc đàng hoàng. Ngoài cơ sở hạ tầng không thể thiếu, cần có qui chế để có thể mời khách nước ngoài một cách đều đặn. Việc mời được các giáo sư đầu ngành sang giảng dạy, và tiếp theo gửi học sinh theo học họ là  điều kiện  bắt buộc để từng bước xây dựng một nền khoa học Việt Nam hòa nhập với luồng chính của khoa học thế giới.    (GS. Ngô Bảo Châu-Đại học Paris Sud)        * Một môi trường nghiên cứu với những cơ sở vật chất nghiên cứu đầy đủ. Một đại học ngày nay, cho dù là đại học không phải đẳng cấp quốc tế, khó mà vận hành một cách hữu hiệu nếu không có một hệ thống thư viện và Internet hoàn chỉnh. Do đó, nhu cầu cho một thư viện đẳng cấp quốc tế với hàng triệu sách tham khảo và tạp chí khoa học là một điều kiện hàng đầu.  * Ngân sách nghiên cứu dồi dào. Một đại học đẳng cấp quốc tế mà không có nghiên cứu khoa học thì không xứng đáng với danh xưng đó. Đại học Mahidol của Thái Lan được xem là có đẳng cấp, vì trên 50% các bài báo khoa học từ Thái Lan xuất phát từ trường này. Nghiên cứu phải là những nghiên cứu mang tính khám phá, bởi vì phần lớn những tiến bộ khoa học gần đây đều xuất phát từ những công trình nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là công nghệ sinh học. Một công trình nghiên cứu khoa học khám phá trung bình có thể tốn đến một triệu USD trong một năm. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy ngân sách dành cho nghiên cứu tại các trường đại học lớn của Mĩ có khi lên đến con số một tỉ USD. Tại nhiều trường đại học phương Tây ngày nay, trường đại học chỉ cung ứng cho nghiên cứu và trả lương giáo sư trong vòng 3 hay 5 năm, sau thời gian này giáo sư phải tự tìm lấy nguồn tài trợ cho nghiên cứu. Thành ra, dù rằng một phần ngân sách nghiên cứu (có thể là 60%) do nhà nghiên cứu tìm được từ nước ngoài, nhưng trường đại học vẫn phải sẵn sàng cung ứng khi nguồn tài trợ từ nước ngoài gặp khó khăn.  * Lương bổng cho giáo sư.  Không thể kì vọng một giáo sư đẳng cấp quốc tế với hàng trăm công trình khoa học và đang hưởng lương hàng trăm ngàn USD hàng năm lại chịu làm việc tại một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam với số lương 50 ngàn USD.  Còn nhớ khi Hồng Kông được Anh trao trả về Trung Quốc, rất nhiều giáo sư ngoại quốc rời bỏ các đại học Hồng Kông vì họ không thể sống với lương bổng mới và cách quản lí mới.  Phải cần đến 5 năm các đại học Hồng Kông mới mời các giáo sư này quay lại làm việc.          Yêu cầu các viện, trường, cơ quan nghiên cứu khoa học khi muốn có sự hỗ trợ kinh tế của nhà nước  phải có báo cáo thường niên về hoạt động NCKH cho Bộ KH&CN. Báo cáo này phải online ở mức độ nào đó, ghi rõ số bài báo ở các tạp chí thế giới, bằng sáng chế đạt được, và tính hữu ích kinh tế của các đề tài NCKH.  Một danh mục tên các đề tài cùng nguồn kinh phí đã được cấp không phải là thành tích khoa học của một cá nhân hay một cơ quan hoạt động KH nào đó.      Tách việc quản lý của ban chủ nhiệm khoa, ban giám hiệu ra khỏi phạm vi hoạt động của một GS, vì để khuyến khích GS làm việc chuyên môn hơn là tham gia vào quản lý.      Làm được như vậy một mặt sẽ tận dụng được ngay cơ sở vật chất sẵn có ở các Trường, Viện, mặt khác sẽ thành lập được vô số các nhóm nghiên cứu mạnh thông qua cơ chế tự cạnh tranh giữa các GS.    Hải Nam (ĐH Bách khoa HN)        * Cần thời gian. Cần phải nhận thức rằng không phải một sớm một chiều chúng ta sẽ xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế, một đại học mà nói đến tên, người ta có thể đánh giá ngang cỡ với các đại học danh tiếng khác ở phương Tây. Các đại học danh tiếng như Harvard, Yale, Stanford, Oxford, Cambridge… phải trải qua hàng trăm năm để đạt được vị thế như ngày nay. Ngay cả các đại học mới và danh tiếng “khiêm tốn” hơn như University of Tokyo, Australian National University, National Singapore University… cũng phải phấn đấu qua nhiều thập niên để được xếp hạng trong danh sách các đại học đẳng cấp quốc tế.  Trước những yêu cầu không phải dễ đạt được này, có lẽ nhiều bạn đọc sẽ hỏi trong điều kiện còn nhiều khó khăn hiện nay liệu bao giờ chúng ta mới có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vào cuối thế kỉ 19 ở Mĩ, cũng có người đặt câu hỏi đó. John D. Rockefeller từng hỏi Charles W. Eliot (lúc đó là hiệu trưởng Đại học Harvard suốt 40 năm liền) nếu muốn thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế cần những điều kiện gì. Eliot trả lời rằng cần 50 triệu USD và 200 năm! Nhưng Eliot đã sai lầm to. Trường Đại học Chicago được thành lập vào đầu thế kỉ 20, với trên 50 USD (do chính Rockefeller trao tặng) nhưng chỉ sau 20 năm hoạt động, đã trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế.  Hiện nay, Chính phủ đã khẳng định đến thăm 2020 Việt Nam sẽ có một trường đại học thuộc top 200 của quốc tế. Chúng ta cần quyết tâm để biến mục tiêu đó thành hiện thực.       Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm sức sống cho môn lịch sử      Ngày nay, tri thức lịch sử mà con em chúng ta học được ở trường lớp bị than phiền là nhàm chán, khô cứng, và phần lớn nhanh chóng rơi vào quên lãng sau mỗi lần thi cử. Nguyên nhân chính là vì thứ tri thức ấy quá lỏng lẻo, rời rạc, vừa không toát lên một cách sống động những số phận con người và cộng đồng, vừa thiếu công bằng và khách quan, không giúp người học bắt nhịp và gắn kết được với thực tế đời sống phong phú mà họ đối diện hằng ngày.    Khi người học hóa thân vào lịch sử  Một bức tranh lịch sử chỉ sinh động khi nó dựng lại được đầy đủ các yếu tố phong phú đặc thù của các bối cảnh, khiến người học dễ dàng hóa thân trong không gian của những bối cảnh ấy, từ đó đồng cảm được với con người của quá khứ.   Tính nhân văn ấy vừa là giá trị cốt lõi của lịch sử – một bộ môn nhân văn – vừa là sức sống giúp lịch sử tồn tại bền vững qua thời gian. Ngày nay, đa số chúng ta không thể nhớ chính xác từng sự kiện dẫn dắt tới chiến thắng quân Nguyên Mông của dân tộc, nhưng hầu như không ai có thể quên sự kiện Hội nghị Diên Hồng. Bởi vì tất cả chúng ta đều ít nhất một lần hóa thân mình vào sự kiện ấy, lồng ghép xúc cảm riêng của mình vào trong sự kiện, thậm chí đặt ra câu hỏi mình sẽ nói gì, làm gì nếu trong tương lai lại diễn ra một sự kiện tương tự thứ hai như thế.  Khi đặt ra yêu cầu lịch sử phải toát lên thân phận con người và cho phép người học dễ dàng hóa thân vào bối cảnh sự kiện, chúng ta mới thấy rằng con em mình đang quá thiệt thòi vì không được hấp thụ những tinh hoa của nhân loại và dân tộc. Các em có thể được học về Galileo, nhưng có lẽ hiếm có thầy cô nào dạy cho các em hình dung sống động về số phận của ông, để từ đó cảm nhận– và từ đó khơi dậy – lòng quả cảm đi tìm chân lý. Cũng không có ai giảng cho các em về sức mạnh của lòng nhân ái và khoan dung của Gandhi, điều đã giúp một con người nhỏ bé và một dân tộc lạc hậu giành chiến thắng phi bao lực trước đế quốc Anh hùng mạnh, và sẽ còn tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ mai sau. Đối với lịch sử trong nước, không ai dạy cho các em về lòng khao khát đi tìm cái đẹp của danh họa Nguyễn Gia Trí, hay niềm mong mỏi khai sáng văn hóa của Phạm Quỳnh, và nhiều tấm gương sáng đáng tự hào khác.          Mọi sự cải cách trong nội dung giảng dạy  lịch sử đều cần phải hướng tới cải thiện độ chân thực và giá trị nhân  văn nếu muốn thực sự đi vào lòng người.        Sự học thông qua trạng thái đồng cảm với những tấm gương cá nhân là phương pháp hiệu quả để rèn luyện phẩm cách, bởi khả năng hóa thân là bản năng ít nhiều đều sẵn có trong mỗi con người, và chỉ thông qua hóa thân chúng ta mới thực sự cảm nhận được động lực thôi thúc các vị tiền bối nỗ lực vượt qua những nghịch cảnh để đạt được những kết quả tiến bộ cho bản thân và đồng loại. Và có cảm nhận được những nỗ lực khó khăn như vậy của đồng loại, chúng ta mới thực sự định vị được bản thân mình trong thế giới và trân trọng những giá trị của cuộc sống.   Trong khi đó, những tri thức lịch sử hiện có trên ghế nhà trường của chúng ta quá ít chân dung, và có chăng chỉ tồn tại trong diện hẹp ở một vài lĩnh vực. Đây là điều bất cập, không phản ánh đúng toàn cảnh thực tế phong phú của đời sống, trong khi chúng ta cần khích lệ, khơi dậy những niềm mơ ước và những phẩm cách tốt đẹp trong con em mình trên tất cả mọi lĩnh vực, và mỗi lĩnh vực đều xứng đáng là một chân trời để các em vươn đến.  Trung thực và công bằng khách quan  Sự thật lịch sử hiếm khi là lời kể của một cá nhân, một góc nhìn duy nhất, mà thường là quan điểm của nhiều sử gia khác nhau và khác biệt giữa những quan điểm này là điều thường xảy ra. Công việc của giới sử gia là dựa trên những căn cứ các bên thu thập được để phân định ra đâu là dòng quan điểm chủ lưu. Nhưng khi những quan điểm và cách lý giải khác biệt với dòng chủ lưu có những cơ sở tối thiểu nhất định thì những quan điểm và cách lý giải này cần phải được tôn trọng và đưa vào sách giáo khoa lịch sử.  Người học có thể sẽ phân vân trước hai cách lý giải khác nhau như vậy về một sự vật lịch sử, nhưng giá trị vô giá mà người học thu được là tư duy khoa học đa chiều, và thái độ nghiêm túc, công tâm, không chủ quan và áp đặt cứng nhắc khi tiếp cận các vấn đề trong thực tiễn đời sống. Sau này, người học có thể quên đi những thông tin cụ thể, nhưng ý thức về tư duy và thái độ cẩn trọng khách quan sẽ đi theo suốt chặng đường đời.           Sự học thông qua trạng thái đồng cảm với những tấm gương cá nhân là phương pháp hiệu quả để rèn luyện phẩm cách.        Trái lại, nếu chúng ta tiếp cận lịch sử bằng cái nhìn mang tính đơn tuyến một chiều thì chẳng những người học chỉ thu nhận được một phần chân tướng sự vật, mà kéo theo đó là nhiều hệ lụy tai hại. Phổ biến là tình trạng người học sử bị giới hạn trong phần sự thật được phơi bày, không có ý thức tìm hiểu một cách khách quan phần bị khuất, thậm chí xem thường những giá trị tiềm ẩn trong phần bị khuất. Không ít người đã từng không trân trọng đúng mức công lao của các vua Gia Long và Minh Mạng trong việc xác định cương thổ và thiết lập bộ máy quản lý nhà nước trên toàn đất nước. Hay chẳng nói đâu xa, gần đây những ý kiến quy chụp rằng di tích Đàn Xã Tắc là tàn tích phong kiến không đáng phải bảo tồn, hẳn xuất phát từ cái nhìn đơn tuyến của một thời kỳ chúng ta cực lực phê phán chế độ phong kiến, thậm chí phá hủy đi một số di sản đình, chùa, mà không lưu tâm tới thực tế khách quan hiển nhiên là với bất kỳ một thể chế nào tồn tại qua nhiều thế kỷ thì bên cạnh các nhược điểm đều có một số ưu điểm nhất định (ít ra là so với thể chế và mô hình xã hội tồn tại trước nó), và đều đạt được những thành tựu văn hóa đáng trân trọng. Chúng là những di sản minh chứng cho những ước mơ, hay phẩm cách cao đẹp của cộng đồng trong một thời kỳ. Nhưng khi chúng ta không thừa nhận đúng mức những giá trị này, tức là chúng ta không khách quan công bằng với lịch sử, và cái giá phải trả chính là sự đứt đoạn, vùi lấp của những tinh hoa không được kế thừa.  Vấn đề hội nhập và bản sắc văn hóa dân tộc  Trước thực trạng nhiều học sinh phổ thông ngày nay không ham thích học lịch sử, đã có nhiều người lên tiếng đề nghị thay đổi nội dung sách giáo khoa môn sử theo xu hướng giản lược, thậm chí nên giảm bớt phần nội dung lịch sử thế giới, coi lịch sử thế giới chỉ là bối cảnh để hiểu lịch sử dân tộc.           Người học có  thể sẽ phân vân trước hai cách lý giải khác nhau như vậy về một sự vật  lịch sử, nhưng giá trị vô giá mà người học thu được là tư duy khoa học  đa chiều, và thái độ nghiêm túc, công tâm, không chủ quan và áp đặt cứng  nhắc khi tiếp cận các vấn đề trong thực tiễn đời sống.        Tuy nhiên, những giải pháp như vậy chỉ thuần túy mang tính giải quyết vấn đề trên bề nổi, đó là cốt sao giảm bớt lượng thông tin để giúp người học dễ nhớ hơn, trong khi chẳng mấy giúp ích nếu không muốn nói là làm thất bại mục đích cơ bản đầu tiên của việc giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng: cung cấp cho người học những tri thức giúp xây dựng sự am hiểu và cảm nhận toàn diện và thấu đáo nhất về con người, và làm điểm tựa đáng tin cậy để tiếp tục khám phá trong quá trình tương tác với thực tiễn đời sống.  Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, làm sao con em của chúng ta tự tin bước ra trước thế giới nếu không am hiểu về nó? Với lối giáo dục lịch sử hiện nay ở Việt Nam, con em chúng ta sẽ bước ra cuộc sống với mớ thông tin học thuộc lòng về các cuộc chiến tranh, các trận đánh. Các em sẽ tự hào rằng dân tộc ta kiên cường bất khuất, nhưng khi va đập với thế giới hội nhập vốn cần đến những phẩm chất quan trọng khác như óc sáng tạo để phát triển thương mại và công nghệ, hay tinh thần kỷ luật trong lao động, v.v, không ít em nản chí trước khó khăn thách thức, rơi vào trạng thái tự ti gắn với những thiên kiến dễ dãi, rằng dân tộc chúng ta mang bản chất cố hữu là nhược tiểu, tiểu nông, tản mạn v.v. Cứ lướt một vòng trên các mạng xã hội, chúng ta sẽ thấy những thiên kiến ấy phổ biến nhường nào, và cái thiên kiến trong tư tưởng ấy nhanh chóng biến thành những hạn chế trong thực tế, khi mà người ta tự đặt ra phía trước mình một rào cản vô hình không thể vượt qua.   Chúng ta cần phải thổi vào tri thức lịch sử trên ghế nhà trường niềm tin vào bản thân và dân tộc mình. Muốn vậy chúng ta phải công bằng và khách quan với lịch sử. Cần tôn vinh những tấm gương anh hùng không chỉ trong thời chiến, mà cả trong thời bình. Trong đó không chỉ có người Việt Nam mà cần có cả những vĩ nhân của thế giới, thậm chí rất nhiều vĩ nhân trong suốt bề dày lịch sử hùng vĩ của nhân loại. Bởi vì càng cung cấp nhiều cơ hội tiếp cận với những tinh hoa, chúng ta càng đánh động những phẩm cách tốt đẹp trong con người con em mình. Chúng phải được hóa thân để rồi am hiểu và trân trọng các giá trị, lấy đó làm động lực vươn lên. Khi được khơi dậy những phẩm cách tốt đẹp và trải qua quá trình rèn luyện để thấu hiểu những giá trị trong cuộc sống, các em sẽ không cảm thấy mình nhỏ bé trước thế giới bên ngoài, luôn tìm thấy điểm chung để kết nối bản thân với đồng loại từ mọi quốc gia, mọi nền văn hóa.  Làm sao để không nhồi nhét quá tải?  Cách trình bày lịch sử mang tính đa chiều – có dòng chủ lưu và các quan điểm thiểu số – đồng thời đi sâu vào lột tả thân phận con người, cùng với rất nhiều chân dung lịch sử trên các lĩnh vực đa dạng, tất yếu đem lại một lượng tri thức rất lớn. đòi hỏi sự tham gia của không chỉ một vài cá nhân, mà là nhiều tác giả cùng kết hợp biên soạn sách giáo khoa. Đó là công việc không dành cho những chuyên gia soạn sách giáo khoa thông thường, mà phải là các nhà văn hóa lớn, những người đủ tầm vóc đảm đương nhiệm vụ thiết lập nền tảng văn hóa cơ bản cho hơn một thế hệ trong tương lai. Họ phải có năng lực cảm nhận sâu sắc các tri thức tinh hoa của nhân loại để biết cái gì là ưu tiên, nhằm tổ chức thông tin sao cho đơn giản và mạch lạc tối đa, đồng thời phải có sự nhạy cảm về tâm lý để trình bày các nội dung theo cách không gây nhàm chán.           Cần tôn vinh không chỉ có người Việt Nam mà  cần có cả những vĩ nhân trong suốt bề dày lịch sử hùng vĩ của nhân loại.  Bởi vì càng cung cấp nhiều cơ hội tiếp cận với những tinh hoa, chúng ta  càng đánh động những phẩm cách tốt đẹp trong con người con em mình.        Tuy nhiên, dù khéo tổ chức trình bày đến đâu thì nội dung được chuyển tải theo yêu cầu đặt ra trên đây vẫn rất lớn về dung lượng. Ưu điểm là nó sẽ thỏa mãn đáp ứng nhu cầu của những học sinh có xu hướng tìm tòi sâu rộng và yêu thích lịch sử, không làm kìm hãm tiềm năng phát triển con người ở những học sinh này, nhưng nhược điểm là sẽ quá tải nếu bắt buộc đối với những em khác. Làm thế nào để dung hòa khi mỗi học sinh có một cá tính riêng, sở trường riêng?  Có hai phương thức có thể tiến hành song song. Một là cứ để những em có nhu cầu tự hoàn thiện bản thân qua khám phá lịch sử được thoải mái tiếp cận với nguồn thông tin phong phú trong sách giáo khoa, trong khi nội dung các bài kiểm tra và bài thi được soạn theo quy chuẩn chung cho tất cả mọi học sinh chỉ yêu cầu những kiến thức cơ bản là đủ ngưỡng khá giỏi (điểm tuyệt đối dành cho những học sinh am hiểu thêm cả những kiến thức chuyên sâu). Nội dung các bài thi cũng nên chú trọng vào khía cạnh tư duy, như kiểm tra khả năng suy luận khách quan và trình bày mạch lạc tiến trình các sự kiện, thay vì kiểm tra trí nhớ chính xác từng ngày, tháng, năm.    Hai là chúng ta nên nghiên cứu áp dụng mô hình đào tạo theo tín chỉ đối với các cấp giáo dục trung học, điều phổ biến ở các nước có nền giáo dục phát triển. Theo đó, các bộ môn được phân thành các cấp độ khác nhau. Mỗi học sinh ngoài phần nội dung cơ bản của tất cả các bộ môn, chỉ phải học chuyên sâu một số tổ hợp các môn tùy chọn, miễn là đủ tổng số lượng tín chỉ theo quy định để tốt nghiệp. Với cách làm này, việc học tập các bộ môn sẽ không miễn cưỡng áp đặt về cường độ khối lượng mà tùy theo sở trường và nhu cầu học tập của mỗi người. Ngoài ra, trong từng bộ môn khi đi vào chuyên sâu cũng có thể phân nhỏ thành các chuyên đề khác nhau để người học tùy chọn theo sở thích riêng của mình.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin thêm về trường  đặc cách ở Mỹ *      Ngày 5-4 mới đây, Trung tâm Cải cách giáo dục (Center for Education Reform, CER) đã công bố Báo cáo điều tra tình hình các trường đặc cách ở Mỹ. Tài liệu này cho thấy hiện nước Mỹ cần lập thêm khoảng 5.000 trường đặc cách nữa mới đáp ứng nhu cầu của học sinh.      Được ưa chuộng vì không quan liêu, phiền toái   Bản báo cáo cho biết: do ngày càng có nhiều phụ huynh các sắc tộc ít người và tầng lớp nghèo muốn chuyển con em họ đi khỏi các trường công truyền thống lâu nay hoạt động không tốt, danh sách học sinh xin vào học trường đặc cách đã tăng lên một cách đầy ấn tượng; bình quân mỗi trường đặc cách ở Mỹ đang đứng trước yêu cầu tiếp nhận thêm 239 học sinh (trong khi bình quân một trường đặc cách hiện nay có 372 học sinh), tức trong năm 2009 nhu cầu cho con em học trường đặc cách của các phụ huynh đã tăng 21%. Hơn 54% học sinh các trường đặc cách thuộc diện nhà nghèo; học sinh da màu chiếm 52% sĩ số.   Hiện nay luật pháp hầu hết các bang đều hạn chế số học sinh có thể vào học ở trường đặc cách, cấm lập thêm trường đặc cách hoặc hạn chế số lượng trường đặc cách. Vì vậy cầu đã vượt cung: nhu cầu về trường đặc cách đã vượt quá khả năng hiện có. Một số trường đặc cách đứng trước yêu cầu số học sinh xin học nhiều gấp ba quy mô hiện có của trường.   Theo bà Jeanne Allen, Giám đốc CER, “Trường đặc cách và sự lựa chọn trường thể hiện những gì đang diễn ra trong hệ thống giáo dục Mỹ. Khi được cung cấp sự lựa chọn tốt thì các phụ huynh sẽ chọn được trường tốt nhất cho con em họ. Các nhà làm luật nên lắng nghe ý kiến cử tri của mình và nới rộng khả năng cho học sinh đến với các trường đặc cách bằng cách cho phép lập thêm loại trường này, bảo đảm sự công bằng trong sử dụng ngân sách Nhà nước, cho phép các trường vận hành với nhiều quyền tự chủ hơn và huỷ bỏ sự hạn chế về số trường đặc cách được phép mở.”  Điều đáng ngạc nhiên là các trường đặc cách được dân chúng ưa chuộng không phải vì họ có ngân quỹ lớn để chi tiêu hào phóng (kinh phí mỗi trường đặc cách nhận được từ ngân quỹ của bang và liên bang thấp hơn 3.468 USD so với trường công truyền thống) mà là do họ đưa ra các chương trình, dịch vụ, phương thức giảng dạy thích hợp nhu cầu của các phụ huynh, là những thứ không thể thấy ở các trường công truyền thống.  “Các trường đặc cách tốt không có nạn quan liêu và những thủ tục phiền toái, nhờ vậy phục vụ học sinh, giáo viên và cộng đồng xã hội hiệu quả hơn,” Kevin P. Chavous, một thành viên CER, nói.  Bản báo cáo điều tra nói trên dựa trên phân tích toàn diện các ý kiến phản hồi từ gần 1.000 trong số 5.000 trường đặc cách hiện có ở Mỹ.   Ngay từ tháng 3/2009 Tổng thống Obama đã nói có 365 nghìn học sinh đang chờ đợi được vào học các trường đặc cách, vì thế ông kêu gọi các nghị sĩ nên huỷ bỏ sự hạn chế về số lượng trường đặc cách.  The Equity Project và mức lương giáo viên trong mơ  Năm 2009 Zeke M.Vanderhoek, 31 tuổi, từng tốt nghiệp ĐH Yale, nguyên giáo viên trung học, được phép mở một trường đặc cách có tên là The Equity Project (TEP, Dự án Công bằng) tại Upper Manhattan thuộc thành phố New York mà ông vừa là người sáng lập vừa là hiệu trưởng đầu tiên.   Nhằm thu hút giáo viên giỏi đến làm việc, nhà trường hứa sẽ trả lương cho giáo viên ở mức 125.000 USD/năm (tức 10.417 USD/tháng), chưa kể tiền thưởng khoảng 25.000 USD/năm. Mức lương này cao gấp 2,5 lần mức lương trung bình của giáo viên trung học tại các trường công ở Mỹ.  Để so sánh, xin nêu mức lương năm 2006 của một số chức danh khác: nhân viên công tác phúc lợi xã hội – 39.000 USD, giáo viên trung học – 49.470 USD, nhân viên thư viện – 50.860 USD, kiến trúc sư – 59.760 USD, kỹ sư máy tính – 91.280 USD, luật sư – 113.660 USD, bác sĩ gia đình – 149.850 USD, nha sĩ – 176.900 USD.  Mới đầu trường TEP có bảy giáo viên và 120 học sinh, hầu hết là người Tây Ban Nha nghèo. Về sau trường có 28 giáo viên và 480 học sinh, không có hiệu phó, chỉ có 1-2 người làm công tác xã hội (social workers). Hiệu trưởng hưởng mức lương 90.000 USD/năm, thấp hơn lương giáo viên.  Thành phố của trường đặc cách   Tháng 10/2005 khi tranh cử thị trưởng thành phố New York nhiệm kỳ 2, ông Michel Bloomberg đã hứa sẽ tăng gấp đôi số lượng trường đặc cách của thành phố, lúc đó mới là 50, vào cuối nhiệm kỳ. Luật pháp của bang New York chỉ cho phép toàn bang được lập 100 trường loại này. Tháng 4/2007 luật nói trên đã được sửa đổi, cho phép lập thêm 100 trường đặc cách. Đến mùa thu 2009, thành phố New York đã có cả thảy 100 trường đặc cách, đúng như lời hứa của thị trưởng Bloomberg. Ngoài ra, ông Bloomberg còn cùng Giám mục Nicholas DiMarzio xem xét việc chuyển bốn trường của Giáo hội thành trường đặc cách. Nhờ thành tích ấy, ông Bloomberg được Liên minh toàn quốc vì trường đặc cách (National Alliance for Public Charter Schools) tặng giải thưởng Champion for Charters.   Năm 2008, học sinh các trường đặc cách ở thành phố New York có thành tích học tập tốt hơn các trường công trong thành phố. Hơn 84% học sinh trường đặc cách đạt hoặc vượt điểm chuẩn ở môn toán, trong khi chỉ có 74% học sinh các trường công đạt được như vậy. Ở môn tiếng Anh, 67% học sinh trường đặc cách đạt hoặc vượt điểm chuẩn, con số này ở các trường công là 58%.   Trường đặc cách là trường công điều hành bởi một nhóm thành viên phi lợi nhuận được ủy quyền. Trường có thể bị đóng cửa nếu học sinh không đạt được thành tích học tập tốt hoặc nhà trương không đạt được mục tiêu đã đề ra. Trường đặc cách thu nhận học sinh trong khu vực đặt trường.   —————-        * Đọc thêm bài Charter School, một thử nghiệm “thị trường hóa” giáo dục phổ thông ở Mỹ trên Tia Sáng số 10, ra ngày 20-05-2010.  ————————  Nguồn tham khảo chính:  1)http://www.edreform.com/Issues/Charter_Connection/?Annual_Survey_of_Americas_Charter_Schools_2010  2) http://www.nytimes.com/2008/  03/ 07/nyregion/07charter.html,   3) www.tepcharter.org  4) http://gothamschools.org/2009/ 02/10/mayor-beats-his-own-deadline-to-open-100-charter-schools/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính quốc tế là nguyên lý đào tạo nghệ thuật hiện đại      Hợp t&#225;c quốc tế trong đ&#224;o tạo nghệ thuật c&#243; lẽ l&#224; điều bắt buộc trong thời đại ng&#224;y nay v&#224; trong t&#236;nh h&#236;nh hiện thời, v&#236; t&#237;nh chất mở v&#224; t&#237;nh quốc tế l&#224; nguy&#234;n l&#253; đ&#224;o tạo nghệ thuật hiện đại, khi nghệ thuật h&#242;a nhập với x&#227; hội v&#224; quốc tế.     Nhìn lại thế kỷ 20 ta có thể thấy tới 60 – 70% thành công, thành tựu văn học nghệ thuật Việt Nam là sản phẩm của giao thoa hội nhập mà bước đầu tiên nền tảng là “có yếu tố quốc tế” trong đào tạo đại học. Các “cây đa cây đề” văn nghệ hiện nay thường có những điểm sáng trong Bio-CV của mình là những năm học đại học, thực tập, nghiên cứu ở nước ngoài, làm việc với các nghệ sĩ tên tuổi, các bậc thầy quốc tế. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi học thầy Nga, trường phái Stanislavsky. Đạo diễn Nguyễn Đình Quang học Đức trường phái “lạ hóa” của BB (Bertolt Brecht), ngay đạo diễn Chèo TM cũng nói gặt hái rất nhiều từ chuyến thực tập tham quan trường phái này ở Đức mà ông cho rằng rất gần gũi vì chính Brecht cũng đã học rất nhiều ở sân khấu phương Đông mới sinh ra được cái nguyên lý “lạ hóa – verfremdung” tuyệt diệu của mình. Khỏi nói tới nhạc cổ điển mà các NSND, ƯT… đều là sản phẩm của hợp tác quốc tế trong đào tạo. Việc hiện đại hóa nghệ thuật biểu diễn truyền thống sẽ không xảy ra nếu không có “đào tạo mang yếu tố ngoại”. Điện ảnh cũng cùng một con đường như kịch nói và nhạc cổ điển và ca khúc Việt vv và vv. Mỹ thuật thì rõ ràng hơn: Trường Mỹ thuật (MT) Đông Dương do các thầy Pháp dạy là chính mà các học trò xuất sắc lại trở thành các bậc thầy làm nên bản sắc dân tộc và đỉnh cao nghệ thuật hội họa Việt Nam. Trường MT Việt Nam thời hiện thực XHCN có các thầy Liên Xô dạy nên điêu khắc hiện đại mới nhúc nhích đôi chút và các tác phẩm cuối cùng của trường phái hiện thực XHCN vẫn có chỗ đứng đáng trân trọng trong nghệ thuật Cách mạng. Trường MT Công nghiệp nhờ sự tham gia giảng dạy và làm chương trình đào tạo Design của Đức mà có được uy tín trong lĩnh vực đào tạo nghề hot nhất đương thời này. Nghiên cứu, lý luận văn nghệ thường cũng là sản phẩm của đào tạo quốc tế bởi Việt Nam không có truyền thống nghiên cứu, lý luận và khá yếu về phương pháp luận. vv và vv               “Mẹ cả” – Đặng Xuân Hòa.        Riêng về đào tạo mỹ thuật ở Việt Nam (mà tôi đoán rằng đào tạo các môn nghệ thuật khác cũng vậy) có thể nói tình trạng là lạc hậu và bảo thủ. Tư duy chủ đạo vẫn còn là truyền nghề nên việc rèn luyện kỹ năng chiếm tỷ lệ thời gian tuyệt đối của khóa học. Các kỹ năng này lại phiến diện theo cách dạy của phương Tây đã quá cũ kỹ. Hình ảnh người sinh viên tốt nghiệp Đại học MT ở Việt Nam là hình ảnh một thợ thủ công pha trộn với chút “nghệ sĩ lãng tử, nổi loạn” kiểu châu Âu cuối thế kỷ 19! Cử nhân mỹ thuật không đủ tư thế một người trí thức sáng tạo trên một lĩnh vực đặc biệt. Trong khi đó quan niệm đào tạo nghệ thuật hiện đại là nhà trường phải là nơi gợi cảm hứng sáng tạo, là môi trường sáng tạo cho sinh viên – những người nghệ sĩ trẻ (chứ không phải chỉ là các thợ học việc lo tích lũy kĩ năng thụ động). Sinh viên ta và nghệ sĩ trẻ ta thường thiếu tự tin, lúng túng trong hoạt động cộng đồng sáng tạo và thường mất một thời gian dài “mò mẫm” bắt chước các trường phái, các loại hình hiện đại và đương đại mà họ không được tiếp xúc trong nhà trường.Điều tiếp theo làm cho hợp tác quốc tế trở nên quan trọng vì đào tạo MT ở ta hiện quá khép kín, quá “đóng” trong cả chương trình lẫn phương thức dạy và học. Đây thực chất là tình trạng “cơm chấm cơm” ở  các trường MT. Thực tế là các nghệ sĩ thành công ít tham gia giảng dạy ở các trường. Giảng viên các trường có thể truyền dạy kĩ năng nhưng sinh viên thường không tìm thấy các tấm gương sáng tạo, sự gợi ý sáng tạo hay các khuynh hướng nghệ thuật hấp dẫn họ nơi các giảng viên trong trường. Các trường cũng có mời thỉnh giảng nhưng chỉ là để lấp các chỗ trống trong chương trình chứ không phải để sinh viên được học hỏi, tiếp cận các nghệ sĩ tài năng, học giả uyên bác. Sinh viên, cử nhân MT ở các trường thường sáng tác giống nhau và ở tầm “sàn sàn” như nhau là vì vậy. Tình trạng “cha truyền con nối” hay có người gọi đùa là “gia đình trị” khá thịnh hành dù nó thường được khoác áo “truyền thống cả nhà làm nghệ thuật”. Nếu quan niệm nhà trường MT là nơi nuôi mầm cảm hứng sáng tạo. là môi trường sáng tạo thì tình trạng khép kín, “cơm chấm cơm” là cản trở lớn đáng buồn. Sinh viên các trường MT quốc tế thường vào Việt Nam (và đi các nước khác) thực tập. Giao lưu quốc tế là một phần chương trình đào tạo của họ. Trong khi sinh viên ta bị ngăn cản tiếp xúc quốc tế vì nhà trường không có đủ tầm cỡ để giao lưu và vì sợ sinh viên “chưa đủ lông đủ cánh” dễ bị ảnh hưởng, lai căng! “Còn yếu chưa nên ra gió!” là quan niệm đào tạo thế thủ, lạc hậu. Mấy năm gần đây các trường MT ta có các triển lãm giao lưu với các trường MT Thái Lan là điều mới đáng hoan nghênh.                Sắp đặt “Đêm” – Đặng Thị Khuê.        Tựu trung lại tôi cho rằng hợp tác quốc tế trong đào tạo nghệ thuật có lẽ là điều bắt buộc trong thời đại ngày nay và trong tình hình hiện thời, vì tính chất mở và tính quốc tế là nguyên lý đào tạo nghệ thuật hiện đại, khi nghệ thuật hòa nhập với xã hội và quốc tế. Mở và hợp tác quốc tế cần thể hiện ngay trong chương trình, giáo trình (tham khảo chương trình giáo trình các trường tốt ở nước ngoài để hiện đại hóa chương trình giáo trình ở các trường của ta ) và thực tế giảng dạy (mời thầy nước ngoài, nhất là trong đào tạo sau ĐH bởi tình trạng đào tạo tràn lan sau ĐH kiểu “cơm chấm cơm” ở các trường cho đạt chỉ tiêu Master và TS trong giảng viên thực đã hạ thấp chất lượng đào tạo, di hại lâu dài. Tốt nhất là nên bắt buộc hợp tác với trường nước ngoài để đào tạo lớp giảng viên “đạt chuẩn” này).Việc tham gia hoạt động xã hội cộng đồng và giao lưu quốc tế của sinh viên trong quá trình đào tạo cũng cần được đưa vào chương trình bắt buộc.Mới đây tôi có gặp một GS họa sĩ khá nổi tiếng Malaysia gốc Hoa. Ông mới được mời về làm việc cho một Đại học Mỹ thuật lớn ở Trung Hoa đại lục để phụ trách phần Hợp tác quốc tế của trường.Tuy gần đây ở các trường MT thí dụ như ở Hà Nội và Huế đã có các giảng viên nước ngoài, có giao lưu quốc tế nhưng đa phần vẫn là thụ động do một số nghệ sĩ nước ngoài sống ở Việt Nam đề xuất và các cơ quan văn hoá nước ngoài hỗ trợ. Ta chưa chủ động tìm chương trình hay, thầy giỏi cho sinh viên và chưa có hợp tác quốc tế thực thụ trong đào tạo. Tôi đoán rằng điều này là do triết lý, tư duy đào tạo chưa thay đổi vẫn là “đóng cửa” thế thủ, bảo thủ và lạc hậu, chưa lấy sinh viên làm trung tâm . Dù các Đại học Mỹ thuật ta đang xây các tòa nhà mới khá nguy nga nhưng cuộc cải cách đào tạo nghệ thuật còn lâu nữa chưa xuất hiện ở Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh thần đại học      Những suy nghĩ trong bài viết này tập trung xung quanh một vấn đề: thế nào là tinh thần đại học. Những gì được nói ra ở đây cũng không phải là mới mẻ, tuy thế dường như đã bị lãng quên hay chưa được ý thức đầy đủ. Những suy nghĩ này cũng không có tham vọng bao quát hết mọi phương diện, mà chỉ dừng lại ở những phương diện đã không còn gây tranh cãi khi các nhà giáo dục thế giới đề cập đến giáo dục đại học.      Tinh thần đại học là tinh thần tư duy, không phải là tinh thần học thuộc lòng. Điều này hiển nhiên đúng với đối tượng những sinh viên có khuynh hướng trở thành người nghiên cứu. Điều này cũng đúng đối với đối tượng đại trà, đại đa số những sinh viên học để chuẩn bị một nghề cho tương lai. Nếu như họ phải học và nắm bắt các kiến thức là để chuẩn bị cho cuộc sống của họ sau khi ra trường, để chuẩn bị đối diện và giải quyết các vấn đề mà thực tế sẽ đặt ra cho họ. Hơn thế để suy nghĩ và tìm cách xây dựng một cuộc sống thực sự xứng đáng với mong muốn của họ. Do vậy mà (điều này đã được nhắc lại đến phát nhàm nhưng vẫn chưa bao giờ cũ) giáo dục đại học không phải là cung cấp kiến thức mà là cung cấp phương pháp và dạy cách tư duy. Dạy tư duy khác với dạy kiến thức như thế nào? Điều này sẽ được đề cập tới ở một dịp khác.  Ở đây, vấn đề đặt ra là: làm sao dạy cho sinh viên cách tư duy thực sự nếu như không cho phép họ đi tới tận cùng các giới hạn có thể của tư duy, nếu như không cho phép họ suy nghĩ về các vấn đề của chính họ, về hiện tại của họ, và về tương lai của họ? Và sinh viên làm sao có thể suy nghĩ về các vấn đề của họ, các vấn đề liên quan đến đời sống hiện tại của họ và tương lai của họ, nếu như không cung cấp thông tin cho họ? Tất cả các sự việc đang diễn ra trong đời sống cộng đồng ở tất cả mọi phương diện (kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, quân sự…) đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi cá nhân, nếu họ không được cung cấp thông tin làm sao họ có thể suy nghĩ? Và làm sao họ có thể suy nghĩ thực sự về các vấn đề ấy nếu như họ không được quyền thảo luận, không được quyền bàn bạc, không được quyền đề cập đến chúng, nếu như họ không được dạy cách thảo luận, không được dạy cách bàn bạc và tư duy về các vấn đề ấy?           John Stuart Mill        Nếu không đối diện và tìm cách giải đáp những câu hỏi này1 sẽ không bao giờ có thể tạo lập được một nền giáo dục đại học thực sự. Và mọi khẩu hiệu về việc xây dựng các trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế có thể sẽ chỉ là khẩu hiệu suông. Bởi vì một đại học đạt đẳng cấp quốc tế không chỉ đào tạo ra, chẳng hạn, những người biết giải toán, mà người biết giải toán đó còn phải có khả năng viết được một kiến nghị liên quan đến một vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước, phải hiểu mình đang sống trong hiện tại nào, hiểu được điều gì đang đe dọa tương lai của mình và của cộng đồng, phải có khả năng từ chối quyền lợi, khi cần, để khẳng định nhân phẩm của mình, và phải có khả năng đánh giá được các chương trình hành động và nghiên cứu của mình sẽ có tác dụng và tác hại như thế nào đối với đời sống cộng đồng. Những khả năng này không phải là khả năng của một thiên tài, mà là khả năng của một con người theo đúng nghĩa của nó. Còn tài năng nằm ở phương diện khác, ở chỗ có thể giải quyết được những vấn đề nan giải như bổ đề Langlands…  Tinh thần đại học là tinh thần khái quát hóa. Đây là một ý tưởng được Whitehead trình bày trong cuốn Những mục tiêu của giáo dục. Ông cho rằng ở đại học, người sinh viên không nên cắm cúi nhìn xuống bàn để thu lượm các kiến thức cụ thể như hồi học sinh nữa. Họ cần phải đứng lên để nhìn rộng ra xung quanh, để có một tầm nhìn bao quát. Cách dạy ở đại học cần đi từ những ý tưởng phổ biến, phải xem xét các khía cạnh, các sự kiện cụ thể trong tầm vóc của các ý tưởng phổ quát. Vì thế, “một giáo trình đại học được tổ chức tốt là một sự nghiên cứu về tầm rộng của tính phổ quát”2.  Tinh thần đại học còn là tinh thần tự do. Đại học tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển các tài năng. “Tạo điều kiện” thôi, bởi vì đương nhiên ai cũng biết tài năng là rất hiếm và đại học không đẻ ra được các tài năng. Đấy là điều kiện gì? Và đây là câu trả lời của John Stuart Mill: “Những cá nhân thiên tài là một thiểu số nhỏ bé và chuyện này có lẽ bao giờ cũng vậy; nhưng để có được họ thì phải chăm lo đất trồng để các thiên tài từ đất ấy lớn lên tươi tốt. Thiên tài chỉ có thể hít thở trong một bầu không khí của tự do. […] Tôi đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của thiên tài và sự cần thiết phải cho phép họ được tự do bộc lộ bản thân mình, cả về phương diện tư tưởng lẫn thực hành”3. Không có gì rõ ràng hơn thế: đại học muốn góp phần đào tạo các thiên tài, thì nhất thiết phải để cho họ tự do thể hiện bản thân họ, tự do thể hiện tài năng của họ. Nếu thiếu đi điều kiện này thì rất có thể đại học sẽ trở thành nơi bóp nghẹt các thiên tài ngay từ khi họ chưa kịp bộc lộ, ngay từ trong trứng nước. Vậy nên thực tế có thể xảy ra trường hợp: tài năng mà một trường đại học thiếu tự do tưởng là đào tạo được đôi khi chỉ là hình ảnh lộn ngược của tài năng.  Tuy nhiên tự do không chỉ là điều kiện cho các thiên tài phát triển mà còn là điều kiện cho tất cả các sinh viên bồi đắp các năng lực của họ, có thể đó là những năng lực không thuộc dạng đặc biệt, nhưng cần thiết cho cuộc sống và cần thiết để họ tự khẳng định mình như những cá nhân độc lập và độc đáo. Thực ra cần phải hiểu rằng mong muốn có nhiều Ngô Bảo Châu sẽ chỉ là một mong muốn mang tính chất ảo tưởng4, nếu không tạo được điều kiện và môi trường cần thiết cho sự xuất hiện và sự khẳng định của những người hiếm hoi như Ngô Bảo Châu. Các nhà giáo dục trên thế giới đều thống nhất rằng điều kiện và môi trường cần thiết ấy chính là tự do. Tự do để khai phóng mọi năng lượng, khai phóng mọi khả thể, khai mở mọi khả năng sáng tạo, để cho tất cả mọi người đều có thể phát triển trí tuệ tới một mức độ nhất định, chính trên nền tảng trí tuệ cao đó mới có thể hình thành nên các cá nhân xuất sắc.  ————————————-  1 Bên cạnh những câu hỏi này là hàng loạt những vấn đề khác. Đơn cử một chuyện: các loại hình thức luyện thi trong đó có luyện thi vào đại học là cách thức lý tưởng và hữu hiệu để giết chết khả năng tư duy của học sinh, và không chỉ khả năng tư duy mà còn cả sự hứng thú và ham thích hiểu biết của họ. Đương nhiên, không vì thế mà ta đánh giá thấp học sinh, vì kể cả khi họ chấp nhận học luyện thi vì mục đích trước mắt là vào đại học, thì có thể một phần mạnh mẽ trong con người họ vẫn chống lại phương pháp của cơ chế luyện thi.  2 Alfred North Whitehead, Những mục tiêu của giáo dục, Hoàng Phú Phương dịch, NXB Thời đại & Đại học Hoa Sen, 2010, tr.102.  3 John Stuart Mill, Bàn về tự do, Nguyễn Văn Trọng dịch, NXB Tri Thức, 2005, tr.148-149.  4 Điều này cũng tương tự như cái mong ước về một nhà văn lớn của chúng ta, đó là một mong ước mang tính ảo tưởng dù rất chính đáng. Điều kiện về mặt văn hóa xã hội và tư tưởng hiện tại chưa cho phép, ít ra là trong tương lai gần, sự xuất hiện một nhà văn như mơ ước của một vài tầng lớp độc giả Việt Nam hiện nay, những người đã tiếp xúc với những tác giả tầm cỡ của thế giới. Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản các nhà văn làm công việc của họ để tạo điều kiện cho sự ra đời của những tài năng tương lai. Và các nhà văn của chúng ta cũng cần tìm hiểu xem các nhà văn lớn được đào luyện và tự đào luyện như thế nào, tài năng của họ được nuôi bằng nguồn dinh dưỡng nào.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh thần khai phóng      Bài viết này chia sẻ một vài suy nghĩ về một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị khai phóng- các điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng cho các thành viên trong xã hội.      Một nền giáo dục khai phóng  Muốn cho các thành viên trong xã hội có được tinh thần khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền giáo dục khai phóng.  Thời gian gần đây khái niệm “giáo dục khai phóng” được sử dụng nhiều. Có lẽ những người đầu tiên dùng nó đã mượn hoặc dịch từ khái niệm của Paulo Freire: “éducation libératrice”. Đây là một giả định, bởi muốn khẳng định phải có các khảo cứu cần thiết mà người viết bài này hiện tại chưa thực hiện được.  Khái niệm “éducation libératrice” được Freire tường giải trong cuốn Pédagogie des opprimés (tôi dựa vào bản tiếng Pháp, vì không có khả năng đọc bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha). Ở đây tôi chỉ tập trung vào một vài điểm của cuốn sách.         “Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới” – Paulo Freire. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ – tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại – phương thức để thực hiện sự giải phóng con người.               Nhan đề cuốn sách có nghĩa là: giáo dục học của những kẻ bị áp bức. Đó là loại giáo dục học dành cho những người không chấp nhận chịu áp bức, “những người dấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng chính họ”. Chữ “opprimé” của Freire phải được hiểu theo nghĩa đó, những kẻ bị áp bức có sứ mệnh giải phóng cho chính mình và cho cả những kẻ đi áp bức. Bởi vì, những kẻ áp bức, dù có đủ quyền lực và bạo lực, không thể tìm thấy sức mạnh để giải phóng cho chính họ và giải phóng cho những kẻ bị áp bức. Sức mạnh giải phóng thuộc về những kẻ bị áp bức, và sức mạnh đó đủ để khai phóng cho cả kẻ bị áp bức lẫn kẻ áp bức. Và khai phóng ở đây là khai phóng cho các tiềm năng của con người, khai phóng cho các năng lực tiềm tàng của con người. Quan niệm này dẫn tới sự hình thành ý tưởng về một nền giáo dục khai phóng trong đó vai trò của các thành phần tham gia quá trình giáo dục thay đổi một cách căn bản: giáo viên không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là nhà giáo dục, học sinh không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là người được giáo dục; mà trong quá trình giáo dục vai trò của hai bên có thể được hoán đổi cho nhau, giáo viên và học sinh cùng giáo dục lẫn nhau. Tinh thần này thể hiện trong mệnh đề nổi tiếng của Freire: “Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới”. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ – tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại. Đối thoại chính là phương thức để thực hiện sự giải phóng con người. Hoạt động dạy học trở thành hoạt động đối thoại. Chỉ với đối thoại học sinh mới có thể ngừng là đối tượng để trở thành chủ thể, trở thành trung tâm của quá trình giáo dục. Từ quan điểm này ta sẽ thấy, dù chúng ta có tuyên bố hàng nghìn lần trên đủ mọi phương tiện truyền thông rằng chúng ta đang thực hiện một nền giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, nhưng nếu chúng ta không cho phép học sinh, sinh viên trình bày suy nghĩ riêng của họ, kể cả những suy nghĩ đó có thể đối lập với bài giảng của giáo viên, thì lúc đó vẫn chưa thể có chuyện học sinh là trung tâm. Khi quá trình giảng dạy còn chưa phải là một quá trình đối thoại, và giáo viên chưa phải là người tổ chức đối thoại và chưa trở thành đối tượng đối thoại với học sinh, sinh viên, thì vẫn chưa thể nói tới giáo dục khai phóng.  Và lúc đó, chúng ta lấy cơ sở nào để hy vọng rằng có tinh thần khai phóng ở giới trẻ ?        Theo tôi, chữ “khai phóng” là chữ rất hay. Tất cả chúng ta nợ người đầu tiên sử dụng khái niệm này để chuyển dịch hay để nghiên cứu. Từ “libérateur/libératrice” trong tiếng Pháp dùng để gọi người giải phóng, khi là tính từ nó dùng để chỉ hành động giải phóng: éducation libératrice có nghĩa là nền giáo dục giải phóng cho con người. Từ “khai phóng” trong tiếng Việt có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn. Tôi chiết tự từ “khai phóng” để hiểu từ này như là một kết hợp của hai nghĩa: khai minh và giải phóng. Dĩ nhiên đây chỉ là cách hiểu của cá nhân tôi. (Cũng có thể hiểu yếu tố “khai” là “khai mở”, “giải tỏa”, và theo nghĩa này thì nó có nét nghĩa chung với yếu tố “phóng”).        Muốn đạt tới việc tự giải phóng cho bản thân mình và giải phóng cho người khác, trước hết con người phải được khai minh. Và khai minh ở đây được hiểu theo nghĩa của Kant: có khả năng sử dụng trí tuệ của mình một cách độc lập. Và muốn có thể độc lập sử dụng trí tuệ của mình thì phải có hai điều: tri thức và sự dũng cảm. Sau Kant, càng ngày nhân loại càng hiểu rõ vai trò của tri thức. John Dewey, nhà giáo dục học nổi tiếng của Mỹ, có trách cứ khiếm khuyết trong chương trình lịch sử phổ thông (dĩ nhiên, nhận xét của ông nhằm vào sách giáo khoa thời đại ông): “Trong lịch sử phổ thông có lẽ lịch sử tri thức là ngành lịch sử bị bỏ quên nhiều nhất. Chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu ra rằng các anh hùng vĩ đại đem lại sự tiến bộ cho số phận của nhân loại KHÔNG PHẢI LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH) các chính trị gia, các vị tướng, các nhà ngoại giao, MÀ HỌ LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH)  các nhà phát minh và sáng chế khoa học, những người đã đặt vào tay con người những phương tiện của một kinh nghiệm đang phát triển và được kiểm soát, và các nghệ sĩ và thi nhân, những người đã ngợi ca những cuộc tranh đấu, những chiến thắng, và thất bại của nhân loại bằng thứ ngôn ngữ nào đó, dù là ngôn ngữ hình ảnh, tạo hình hoặc chữ viết, khiến tất cả những người khác đều có thể cùng sử dụng được ý nghĩa của chúng”1 Một trong những vai trò của tri thức, mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là nó tạo điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng. Và giáo dục khai phóng không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tri thức, mà, như trên đã nói, nó còn có sứ mệnh chuẩn bị cho học sinh khả năng tạo ra tri thức.  Một nền chính trị khai phóng  Muốn có được một nền giáo dục khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền chính trị khai phóng.   Dĩ nhiên ở đây tôi không có một khái niệm nào (chẳng hạn như “politique libératrice”) để dựa vào. Bằng cụm từ “nền chính trị khai phóng” này tôi muốn nói tới một hình thức chính trị, một hình thức tổ chức, điều hành xã hội cho phép các cá nhân giải phóng và phát triển các năng lực của họ, tôi muốn nói tới một nền chính trị không kìm hãm con người và không kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trong tất cả các hình thái chính trị mà nhân loại đã biết cho tới hiện nay, ta thấy một nền chính trị dân chủ và tiến bộ có khả năng đảm bảo sự khai phóng cho con người trên diện rộng, tức là sự khai phóng ở cấp độ cả cộng đồng. Tôi không phải là nhà tiên tri, nên không biết trong tương lai liệu loài người có thể đạt tới hình thái nào khác tối ưu hơn hình thái dân chủ để điều hành xã hội một cách có hiệu quả và đảm bảo tính nhân bản, đảm bảo cho tự do của con người. Tôi dẫn ra đây nhận định của John Dewey: “Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục.”2        “Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục”.                          John Deway        Như vậy, tự do trí tuệ và tự do phát triển các năng lực cá nhân là điều kiện cho sự tăng trưởng của toàn xã hội. Tự do trí tuệ là điều kiện cho sự tiếp thu và sáng tạo tri thức; tiếp thu và sáng tạo tri thức chính là hoạt động khai phóng. Nếu chúng ta không hiểu được điều này, không biến sự hiểu biết này thành các chính sách, các chương trình hành động cụ thể, thì khó mà có thể nói đến sự tăng trưởng hay sự phát triển của xã hội. Nếu không có một nền chính trị cho phép tồn tại và phát triển nền giáo dục khai phóng, cho phép tự do trí tuệ, tự do chiếm lĩnh và sáng tạo tri thức, thì các điều kiện cho sự phát triển bền vững sẽ không hình thành được. Vì các điều kiện đó hình thành trên nguồn lực con người. Một nền chính trị thiếu dân chủ sẽ thủ tiêu các năng lực, các tiềm năng sáng tạo của con người.  Đó là căn nguyên sâu xa nhất của mọi sự trì trệ, lạc hậu, kém phát triển, yếu kém, lệ thuộc.  Trong một nền chính trị thiếu dân chủ, khi nhà trường trở thành công cụ tuyên truyền cho các đường lối mang tính áp đặt, thì dĩ nhiên phương thức đối thoại ít có cơ may được sử dụng, hoặc đối thoại chỉ mang tính hình thức, vì rốt cuộc các trao đổi, nếu có, cũng chỉ dẫn tới việc sinh viên buộc phải chấp nhận các kết luận mang tính áp đặt của giáo viên. Một nền giáo dục mang tính áp đặt, khó mà có thể phát triển tư duy cho học sinh, cùng lắm chỉ có thể giúp phát triển các năng lực nhớ trong não bộ của học sinh. Trong lúc đó, từ lâu, từ thế kỷ XIX, với John Dewey, học đã không còn là học thuộc lòng, không còn là tích lũy kiến thức, mà “học tức là học tư duy”. Mục đích của giáo dục là hình thành các năng lực tư duy. Mục đích đó chỉ đạt được khi đối tượng của tư duy là thực tại, là những gì gắn với đời sống của người tư duy. John Dewey viết: “Nếu tư duy chẳng liên quan gì đến điều kiện có thực và nếu nó không xuất hiện một cách hợp lo-gich từ những điều kiện này để đi tới sự suy tưởng về mục đích phải đạt được, khi ấy con người sẽ không bao giờ phát minh, hoặc không bao giờ lên kế hoạch, hoặc không bao giờ biết cách nào để thoát khỏi bất kỳ sự rắc rối hay khó khăn nào. Như chúng ta đã lưu ý, nhờ những yếu tố cố hữu lẫn sức ép của hoàn cảnh mà tư duy có những đặc tính lo-gich hoặc đặc tính của tư duy đích thực”.3   Như vậy, rõ ràng đặc tính của tư duy đích thực chỉ hình thành khi tư duy cọ xát với các vấn đề của thực tại, mà John Dewey gọi là “điều kiện có thực”. Nếu một nền chính trị, thông qua trường học, không cho phép học sinh sinh viên đối chiếu kiến thức sách vở với thực tế của họ, không cho phép  họ dùng các kiến thức sách vở để suy nghĩ về các vấn đề có thực của đời sống, thì học sinh sinh viên sẽ không thể phát triển tư duy. Hệ quả là dù có trải qua bao nhiêu năm trên ghế nhà trường đi nữa, dù có các bằng cấp cao đến mấy đi nữa, thì những con người bị đào tạo bởi một nền giáo dục áp chế, trong một nền chính trị áp chế, sẽ không thể có phát minh, như Dewey nhận xét, sẽ không có khả năng giải quyết các khó khăn, không có khả năng giải quyết các vấn đề do thực tại đặt ra. Chúng ta có thể kiểm chứng kết luận này, mà John Dewey đã nêu ra cách đây cả thế kỷ, bằng hiện thực của chúng ta ngày hôm nay, cái hiện thực về sự lúng túng của toàn bộ cộng đồng chúng ta trong việc giải quyết các vấn nạn của xã hội. Sự lúng túng này là dấu hiệu bộc lộ sự yếu kém chung của chúng ta, là dấu hiệu chứng tỏ các năng lực người của chúng ta bị cạn kiệt, chứng tỏ năng lực tư duy của chúng ta suy yếu. Chúng ta rất đông về dân số, nhưng so với một cộng đồng ít ỏi như Singapore, chúng ta quả thật là kém họ trên rất nhiều phương diện. Các năng lực tiềm tàng của chúng ta không thua kém họ, tôi tin là như vậy. Nhưng các năng lực đó đã không được khai phóng để tạo thành sức mạnh. Chúng ta nên làm cái thao tác kiểm chứng này để hiểu tại sao cần một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị dân chủ, không phải cho ai khác, mà cho chính mỗi chúng ta, cho con cháu chúng ta và cho tương lai của cả xứ sở này. Chúng ta cần phải nhìn vào tương lai để điều chỉnh những cách vận hành của hiện tại, bởi nếu chúng ta không điều chỉnh hiện tại này thì có nguy cơ sẽ đánh mất tương lai. Tôi dẫn lại ở đây ý kiến của Dewey: “Con người không dùng hiện tại để kiểm soát tương lai. Con người dùng sự nhìn thấy trước tương lai để điều chỉnh và mở rộng hoạt động hiện tại. Sử dụng sự ham muốn, sự suy nghĩ và lựa chọn theo cách này, tự do được hiện thực hóa”.4   Trên đây là các điều kiện (dĩ nhiên chưa đầy đủ), theo tôi, để hình thành tinh thần khai phóng cho các thế hệ, trên phạm vi rộng. Thiếu các điều kiện đó thì hậu quả là cộng đồng sẽ không được khai phóng. Tuy nhiên, đối với các cá nhân thì không hẳn. Trong một môi trường không có cả giáo dục khai phóng lẫn chính trị khai phóng ta thấy vẫn có các cá nhân được khai phóng. Nhưng chúng tôi sẽ không đề cập đến vấn đề này trong phạm vi bài viết này, ngoại trừ một điều: môi trường càng thiếu vắng các điều kiện cho sự khai phóng cộng đồng, thì lại càng cần có các cá nhân có tinh thần khai phóng.   ——–  1 John Dewey, Dân chủ và giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri Thức, 2008, tr. 257.  2 Dân chủ và giáo dục, sđd, tr. 361.  3 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 343.  4 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 156    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính tự chủ sư phạm      Trong số nhiều nguyên nhân đã được mổ xẻ trên các diễn đàn về chất lượng giáo dục ngày càng sa sút, bài viết này đề cập tới một vấn đề sâu xa nhưng ít được phân tích một cách đầy đủ, đó là tình trạng nhà giáo hiện nay không còn có quyền tự chủ sư phạm. Đây là một hiện tượng mang tính hệ thống và chỉ có thể giải quyết khi đặt lại vấn đề về triết lý giáo dục và tư duy quản lý giáo dục    Các nhà quản lý giáo dục luôn nhấn mạnh rằng phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, nhưng trong thực tế, phần lớn những điều qui định cụ thể đối với giáo viên (GV) đều hầu như đi ngược lại mục tiêu ấy và mặc nhiên trói tay người thầy lại.  Những gì đang trói tay người thầy ?  Sau đây là một số điểm mà chúng tôi cho là đang hạn chế nặng nề tính chủ động và tự quản của người thầy trong lớp học. Trước hết là những qui định về giáo án. Chuẩn bị bài giảng là chuyện bình thường của GV trước khi lên lớp. Nhưng buộc soạn bài theo một khuôn mẫu máy móc khiến GV bị gò bó và áp đặt (ngoại trừ trường hợp GV mới ra trường thì còn có thể hiểu được). Thực tế là phần lớn chỉ làm cho có để “đối phó” với kiểm tra, nhiều người chép lại hoặc phôtô lại giáo án của nhau hoặc của năm trước… (Giáo dục và Thời đại, 18-10-2003). Một GV viết : “Có mấy ai soạn giáo án, rồi lại dạy giống như trong giáo án hay không? (…) Việc kiểm tra chi tiết, chặt chẽ giáo án làm cho GV mất nhiều thời gian đầu tư cho nó thay vì đầu tư, suy nghĩ cho bài dạy thật sự…” (Edunet của Bộ GD-ĐT, 12-9-2005).  Ngoài việc làm giáo án, còn có bản phân phối chương trình do bộ ban hành để qui định chi tiết nội dung từng tiết dạy: cứ đến tiết nào là phải dạy đúng bài tương ứng với tiết đó, không được phép làm khác. Đây cũng là một biện pháp áp đặt “phản sư phạm”, theo lời một GV, bởi lẽ các nhà trường ở các vùng khác nhau không thể có cùng đặc điểm như nhau, trình độ tiếp thu của học sinh cũng không bao giờ đồng đều, nên không thể ép phải dạy và phải học cùng một nội dung kiến thức trên cùng một đơn vị thời gian. Điều này làm cho GV luôn bị động vì phải lo chạy cho kịp thời gian và không còn giờ để chú tâm xem học sinh đã tiếp thu được gì (xem thêm bài phỏng vấn Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Đặng Huỳnh Mai, “Chúng tôi có lỗi vì phân phối chương trình học quá chi tiết”, Pháp luật TPHCM, 21-3-2005).  Điểm thứ ba đang hạn chế tính chủ động của GV là sách giáo khoa. Từ những sai sót của những bộ giáo khoa cứ chỉnh lý liên tục mà báo chí phản ánh, cho tới căn bệnh “béo phì” (tức là quá tải về nội dung, dẫn đến nạn dạy thêm, học thêm) hay tính “nhồi sọ đáng sợ”.  Các nhà quản lý hay đổ lỗi cho GV, nhưng suy cho cùng GV thực ra cũng chỉ là “nạn nhân” của bộ máy. “Bộ bảo sao thì các thầy cô phải làm như vậy bởi vì qui chế đã thế, không thể làm khác hơn được. Bộ chỉ xuất bản một sách giáo khoa, những kiến thức trong sách giáo khoa được xem là “pháp lệnh”, không được tùy tiện sửa đổi, mặc dù việc sửa đổi có thể giúp cho việc giảng dạy được hay hơn, hiệu quả hơn. Đến khi thi thì Bộ vẫn dựa vào sách giáo khoa để ra đáp án và sẵn sàng thẳng tay loại bỏ các cách giải khác nằm ngoài chương trình sách giáo khoa mặc dù đó là cách giải hợp với thực tế hơn. Thử hỏi như thế thì thầy cô nào dám dạy một cách sáng tạo, giúp cho học sinh tư duy độc lập được nữa ?” (Huỳnh Duy, Tuổi trẻ Online, 3-8-2005).  Ngoài lớp học, GV còn phải làm vô số công việc khác như làm đủ loại sổ sách, rồi họp hành, và kể cả chuyện thu tiền học sinh mà lý ra nhà trường phải làm… Đó là chưa kể tới căn bệnh chạy theo thành tích (với đủ loại chỉ tiêu) và kèm theo nó là bệnh hình thức. Người thầy vừa bị bó tay vừa chịu quá nhiều áp lực. Có thể nói mà không sợ cường điệu rằng lớp học bây giờ không còn là của nhà giáo nữa, mà là của Bộ GD-ĐT! Do đầu tắt mặt tối, nhiều GV đâm ra mất hết sinh khí, đành cam phận lên lớp một cách máy móc, chiếu lệ, và mệt mỏi với một đồng lương quá thấp. Tình trạng lao động tha hóa này (xét theo nghĩa triết học) hẳn nhiên không thể nào giúp GV làm tròn được nhiệm vụ mà xã hội mong mỏi và cũng không thể không để lại dấu ấn tiêu cực trên thế hệ học trò!  Cần trả  lại quyền tự chủ sư phạm cho nhà giáo  Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay cần đặt ra là làm thế nào để trả lại quyền tự chủ sư phạm cho nhà giáo. Không làm được điều này thì khó lòng nói tới chuyện chấn hưng giáo dục.              Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo. Nhưng phần lớn những điều qui định cụ thể đối với GV ở Việt Nam đều đi ngược lại mục tiêu đó và mặc nhiên trói tay thầy cô giáo.    Anh: TTOL          Lẽ tất nhiên, khác với môi trường đại học vốn là nơi mà tính tự trị thường được đề cao nhằm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức và nghiên cứu, lĩnh vực giáo dục phổ thông (bao gồm tiểu học và trung học) là lĩnh vực mà phần lớn các nước đều coi như những bậc học căn bản cần thiết cho mọi công dân và vì thế cần được quản lý một cách thống nhất trên qui mô quốc gia. Tuy nhiên, “quản lý thống nhất” không có nghĩa là quản lý tất cả mọi thứ ở tất cả các trường!  Và lại càng không phải là Bộ phải cầm tay chỉ việc và kiểm soát hàng ngày hàng giờ đối với từng GV, hoặc “ôm” luôn việc tuyển sinh vào đại học và thậm chí cả việc ra đề thi và tổ chức thi cuối học kỳ ở các lớp cấp I và cấp II.  Phải chăng việc quản lý hoạt động giảng dạy hiện nay cũng là một biểu hiện của lối tư duy hành chính và tập trung quan liêu mà có thời chúng ta đã phê phán và giã từ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, nhưng chưa nhận diện để “cởi trói” trong lĩnh vực quản lý giáo dục? Theo thiển ý chúng tôi, sở dĩ ngành giáo dục Việt Nam hiện nay chưa có một quan niệm đúng đắn về quyền tự chủ sư phạm của nhà giáo là do hai nguyên nhân sâu xa. Thứ nhất, nguyên nhân về mặt phương pháp tổ chức và quản lý : đó là xu hướng “hành chính hóa” bộ máy giáo dục (hay cũng có thể gọi là “nhà nước hóa” hay “quan liêu hóa”), thể hiện qua cách tổ chức bộ máy và cách chỉ đạo nặng phần hình thức và định lượng (các chỉ tiêu…) chứ không quan tâm tới mục tiêu chất lượng và nội dung, chỉ chú tâm vào những biện pháp hành chính (áp đặt từ trên xuống) chứ không coi trọng những biện pháp mang tính sư phạm (gợi mở, hướng dẫn)…  Và thứ hai, nguyên nhân về mặt triết lý giáo dục: đó là xu hướng áp đặt về tư duy và không dám chấp nhận những ý kiến khác (việc dạy và học chủ yếu diễn ra theo kiểu “nhồi nhét”, thầy đọc trò chép, học “vẹt”, buộc học thuộc lòng các bài văn “mẫu”, làm y như đáp án mẫu, thầy phải dạy y như trong sách giáo khoa và sách hướng dẫn GV, không được quyền nói khác…). Điều này cũng là hệ luận của lối tư duy quan liêu bao cấp, hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc và mục tiêu mà Luật giáo dục đã nêu, và mặc nhiên triệt tiêu lối tư duy định hướng sáng tạo vốn cực kỳ trọng yếu trong thời đại đang thay đổi nhanh chóng như ngày nay. Hệ quả là “đào tạo những mẫu người chỉ biết ngoan ngoãn chấp hành, quen được dẫn dắt, bao cấp cả về tư duy và hành động hơn là biết suy nghĩ độc lập và tự chịu trách nhiệm”; do đó, cần “giảm, bỏ hoặc thay đổi hẳn nội dung và phương pháp dạy những điều có tính chất kinh kệ để tăng các kiến thức thiết thực hoặc đòi hỏi vận dụng tư duy nhiều hơn” (trích từ bản kiến nghị của GS Hoàng Tụy và một số nhà giáo, nhà khoa học).  Trong nhà trường, suy cho cùng quan hệ giữa người thầy và người trò là mối quan hệ mang tính chất quyết định đối với hiệu quả của toàn bộ quá trình giáo dục (chứ không phải là mối quan hệ giữa GV với hiệu trưởng hay với cấp trên!). Lao động giảng dạy hoàn toàn khác so với lao động nông nghiệp hay lao động công nghiệp chẳng hạn. Do vậy người ta mới nói giáo dục là sáng tạo, là một nghệ thuật. Đứng trước học trò, chính người thầy chứ không ai khác phải tự mình điều hành toàn bộ các hoạt động diễn ra trong lớp học. Vì thế, để tôn trọng và vun trồng được mối quan hệ sư phạm cốt lõi ấy (quan hệ thầy-trò) thì không gì khác hơn là phải tôn trọng tính tự chủ của người thầy.  Cần hiểu tính tự chủ sư phạm như thế nào? Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, GV dĩ nhiên phải đảm bảo giảng dạy theo chương trình quốc gia và tôn trọng các nguyên tắc sư phạm căn bản mà Bộ GD-ĐT đã đề ra. Nhưng GV cũng phải có quyền chủ động về phương pháp giảng dạy cũng như trong việc tổ chức công việc giảng dạy của mình: chẳng hạn tự mình chuẩn bị bài giảng theo cách thức của mình (chứ không lệ thuộc vào những qui định máy móc), được quyền phân phối giờ giấc một cách uyển chuyển theo khuôn khổ chung và chọn lựa phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ và đặc điểm của học sinh, tránh bị can thiệp quá nhiều vào lớp học, chủ động trong các mối quan hệ tương tác với học sinh, có thể phối hợp với lớp khác trong một số giờ thực tập, hay kể cả quyền chọn lựa sách giáo khoa (điều này ở miền Nam trước giải phóng các nhà giáo đã làm từ lâu)…             Những qui định về giáo án hiện cũng “khá bất thường”. TTOL        Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng khái niệm “quyền tự chủ sư phạm” (autonomie pédagogique) cần được hiểu và được thực thi trong khuôn khổ tập thể sư phạm, nghĩa là không phải tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của từng cá nhân GV, mà là thông qua việc thảo luận và phối hợp thực hiện giữa các GV dạy cùng một lớp, một khối lớp, hay cùng một bộ môn (thông qua hội đồng sư phạm, tổ bộ môn…). Nhìn sang Phần Lan hay Châu Âu nói chung, quyền độc lập trong hoạt động giảng dạy của người GV cũng là những kinh nghiệm bổ ích mà chúng ta có thể tham khảo và học tập (xem Tuổi trẻ chủ nhật, 11-9-2005).  Việc giảng dạy của GV hiện nay đang chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Bộ GD-ĐT chủ yếu trong ba khâu: chương trình, phân phối chương trình, và sách giáo khoa. Theo thiển ý chúng tôi, bộ chỉ cần quản lý khâu mấu chốt, đó là chương trình – giống như phần lớn các nước đang làm. Còn khâu phân phối chương trình và sách giáo khoa cần trao lại cho nhà trường và nhà giáo, tất nhiên với điều kiện là trong năm học, GV phải hoàn thành được nội dung chương trình của Bộ. Trong tinh thần tôn trọng quyền tự chủ sư phạm, cũng nhất thiết cần thay đổi nội dung chương trình sao cho khối lượng kiến thức phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý từng lứa tuổi, thay đổi cách thi cử, thay đổi hẳn cách đánh giá GV… Trên cơ sở thay đổi nội dung chương trình, cần quan niệm lại thế nào là sách giáo khoa, và từ đó làm sao “cởi trói” để những GV giỏi có thể tự do tham gia biên soạn và tự do xuất bản sách giáo khoa, và quyền lựa chọn dạy theo sách giáo khoa nào cuối cùng thuộc về nhà trường và nhà giáo, chứ không phải thuộc về Bộ GD-ĐT.  Đặt vấn đề về tính tự chủ sư phạm cũng là đặt lại vấn đề về vị thế của nhà giáo trong hệ thống giáo dục. Trả lại quyền tự chủ trong lớp học cho nhà giáo thực chất cũng có nghĩa là trao trả lại thẩm quyền và trách nhiệm cho nhà giáo để họ có thể chu toàn được thiên chức của mình, tất nhiên với điều kiện, như chúng tôi đã nói lúc đầu, cần đặt lại vấn đề về triết lý giáo dục.  Trần Hữu Quang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tọa đàm về vai trò của giáo dục tiểu học đối với sự trưởng thành của con người      Nhà giáo Phạm Toàn và TS Giáp Văn Dương sẽ  có buổi đối thoại về vai trò của giáo dục bậc tiểu học đối với sự trưởng thành của  con người tại Không gian Sáng tạo Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà  Nội, vào ngày 20/11 tới.     Giáo dục tiểu học có ổn định và đảm bảo chất lượng thì toàn bộ nền giáo dục mới được ổn định, từng gia đình ổn định, xã hội cùng ổn định. Đây là quan điểm xuyên suốt của nhóm Cánh Buồm đối với giáo dục bậc tiểu học.  Quan điểm này đã được nhóm Cánh Buồm cụ thể hóa trong các bộ sách giáo khoa tiểu học của mình, với tâm niệm giúp trẻ em được sống và trưởng thành như những con người tinh tế biết cách sống có trách nhiệm với đời. Quan điểm đó được nhóm Cánh Buồm chủ động “quy trình hóa” trong bộ sách giáo khoa Văn và Tiếng Việt CAO và XA nhưng DỄ thực thi một cách phổ cập cho giáo viên và phụ huynh đương thời.   Để làm rõ hơn quan điểm và cách thực thi của nhóm Cánh Buồm, đồng thời gợi ý cách nhìn nhận lại vai trò của giáo dục bậc tiểu học đối với sự trưởng thành của con người, một buổi tọa đàm với chủ đề giáo dục tiểu học sẽ được tổ chức nhân dịp 20/11 tới với sự tham gia của người đứng đầu nhóm Cánh Buồm là nhà giáo Phạm Toàn.  Nhà văn, nhà giáo Phạm Toàn đã dành hơn 50 năm làm việc trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là nghiên cứu, tìm cách phát triển quá trình học tập của trẻ em. Ông tham gia hàng loạt dự án nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn sách cho học sinh đồng bào dân tốc thiểu số và học sinh trường Thực nghiệm (một trong số đó đã mang lại cho ông Huy hiệu Lao động sáng tạo của nhà nước và giải thưởng của UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương). Với nền tảng đó, ông thành lập nhóm Cánh Buồm với ước mơ cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam.  Thông tin chi tiết:  •    Khách mời: Nhà giáo Phạm Toàn  •    Dẫn chương trình: Giáp Văn Dương  •    Thời gian: 3 giờ chiều, ngày 20/11/2014.  •    Địa điểm: Không gian sáng tạo Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.  •    Vào cửa tự do    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học ở các trường đại học      Ở tuyệt đại đa số trường đại học đa ng&#224;nh tr&#234;n thế giới đều c&#243; một hoặc nhiều khoa To&#225;n (To&#225;n l&#253; thuyết, To&#225;n ứng dụng, To&#225;n X&#225;c suất v&#224; Thống k&#234; To&#225;n học, Khoa học m&#225;y t&#237;nh,&#8230;) v&#224; giảng dạy to&#225;n học gắn liền với nghi&#234;n cứu to&#225;n học đ&#227; trở th&#224;nh chuẩn mực ở c&#225;c nước ti&#234;n tiến. V&#236; vậy ti&#234;u chuẩn bắt buộc để trở th&#224;nh giảng vi&#234;n To&#225;n ở c&#225;c trường đại học c&#225;c nước ti&#234;n tiến l&#224; phải c&#243; học vị tiến sĩ. Chẳng hạn ở Đức, người ta c&#242;n chuẩn h&#243;a ti&#234;u chuẩn n&#224;y bằng c&#225;ch bắt buộc ứng vi&#234;n phải c&#243; bằng Habilitation, m&#224; ta tạm dịch l&#224; Tiến sĩ khoa học, về to&#225;n th&#236; mới được xin ghế gi&#225;o sư. Bảng thống k&#234; 1 cho ta một h&#236;nh dung về tiềm lực nh&#226;n sự ở một v&#224;i trường đại học tr&#234;n thế giới.    Tại hầu hết các trường đại học công và những đại học tư nổi tiếng của các nước tiên tiến, việc nghiên cứu toán học (cũng như các ngành khoa học khác) là một nhiệm vụ bắt buộc của người giảng viên đại học. Không những thế, giáo sư thường được đồng nghĩa với lãnh đạo nhóm nghiên cứu có cấu trúc như sau: đứng đầu là một giáo sư, một số tiến sĩ là giảng viên hoặc trợ lí giáo sư, một số tiến sĩ làm nghiên cứu sau tiến sĩ (postdoctoral), nghiên cứu sinh và học viên cao học.                  Hình 1: Số giảng viên Toán tại một số ĐH năm 2008  Hình 2: Số công trình Toán công bố theo các năm          Với mô hình này, một người muốn làm toán có thể tiếp xúc với giáo sư của mình rất sớm (từ những năm đầu của đại học), sau đó làm việc với giáo sư của mình và nhóm nghiên cứu của ông suốt một thời gian dài: sinh viên, nghiên cứu sinh, rồi sau tiến sĩ, và kể cả sau khi đã thành giảng viên! Hình thức học hỏi phong phú: thông qua giảng bài, seminar, trao đổi trực tiếp. Khi chuyển đi nơi khác thì lại nhập vào nhóm nghiên cứu khác. Rõ ràng thời gian luyện nghề của họ vừa dài, vừa liên tục, lại luôn luôn trong môi trường chuyên gia. Cho nên tại các trường lớn, luôn xuất hiện người tài!               Đào tạo đại học là đào tạo nghề cho các chuyên gia cấp cao, cho nên người học cần tiếp thu tất cả các thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật và khoa học quản lí. Tay nghề cao là phải đi đôi với thực thi công việc giỏi. Vì vai trò to lớn của Toán học đối với các ngành khoa học khác, nên việc Toán học đóng vai trò thiết yếu ở giáo dục đại học là điều không cần phải bàn cãi. Điều cần nhấn mạnh thêm ở đây chỉ là ngoài việc cung cấp những kiến thức cần thiết cho việc học và nghiên cứu các ngành khoa học khác, thì Toán học còn giúp cho sinh viên tăng cường khả năng tư duy. Việc trình bày kiến thức của các ngành khoa học khác dưới ngôn ngữ Toán học cũng nâng cao tính chặt chẽ và sự rõ ràng cho các môn học khác. Ngoài những môn truyền thống gắn liền với Toán như Vật lý, Cơ học…, thì điều này còn thể hiện ở các lĩnh vực khác như Kinh tế học        Ngược lại, mỗi giáo sư toán lại có điều kiện không chỉ để truyền nghề, mà luôn tìm được những nhân lực mới để trao đổi những ý tưởng của mình. Qua đó có nhiều trường hợp đã giải quyết được những bài toán ấp ủ nhiều năm trời. Đây cũng là lí do tại sao mỗi khoa toán ở các trường đại học tại các nước tiên tiến lại có một số hướng nổi trội, đặc trưng cho khoa đó. Sự đổi hướng chỉ diễn ra rất ít và sau một thời gian tương đối dài. Thông thường khi người hiệu trưởng hoặc trưởng khoa muốn mở một hướng mới, họ đặt ra một ghế giáo sư mới với mức lương và các ưu đãi đặc biệt để tuyển chọn một nhà toán học đầu đàn từ nơi khác đến. Khi đã tuyển được rồi, vị giáo sư đó sẽ xây dựng nhóm nghiên cứu mới, trong đó hiển nhiên học trò của ông hoặc của các đồng nghiệp của ông sẽ có nhiều cơ hội được nhận việc làm. Đó cũng là lý do vì sao khi xin việc, các tiến sĩ trẻ phải xem xét kĩ các hướng nghiên cứu của các giáo sư ở cơ sở mình định xin!  Với cách tổ chức chặt chẽ như trên, hiệu quả nghiên cứu toán đã nâng lên rõ rệt ở  tất cả các nước tiên tiến. (hình 2)   Đánh giá hay xếp hạng khoa toán hàng năm hay nhiều năm của một trường đại học, người ta dựa vào nhiều tiêu chí, nhưng chắc chắn trong đó có các tiêu chí sau đây: Số lượng công bố, số tiến sĩ đào tạo được, số người được nhận ghế giáo sư, phó giáo sư, giải thưởng khoa học các loại trước đó đã học, nghiên cứu hoặc làm việc tại khoa. Tất cả những tiêu chí đó có cái gốc rễ là thành tích nghiên cứu.  Việc nghiên cứu toán được tiến hành chủ yếu ở các trường đại học không chỉ nâng cao công tác đào tạo (kể cả sinh viên), mà còn tạo điều kiện thuận lợi hợp tác nghiên cứu giữa toán học với các ngành khoa học khác. Một trong những lí do chính yếu là mỗi trường đại học là một trường đa ngành. Bởi vậy các thầy của các khoa có dịp tiếp xúc nhau và trao đổi khoa học với nhau. Sinh viên cũng vậy. Không những thế, với chế độ tín chỉ, họ có thể học một số môn ở khoa khác. Điều này không những được khuyến khích, mà thậm chí trong một số trường hợp là bắt buộc. Sự hợp tác chặt chẽ này cũng đã nâng cao đáng kể khả năng ứng dụng của toán học vào các ngành khoa học khác, và qua đó ứng dụng vào các ngành kinh tế, kĩ thuật, quốc phòng.   Mô hình kết hợp giảng dạy với nghiên cứu rõ ràng là mô hình thích hợp và hiệu quả nhất mà chúng ta phải hướng tới.   Trong điều kiện số người làm toán ở Việt Nam còn rất ít, chúng ta không nên dàn trải, mà phải tập trung xây dựng một số ít khoa toán thật mạnh  trong một số trường đại học hoa tiêu mà thôi. Những khoa này kết hợp với các viện nghiên cứu sẽ là những máy cái sản sinh ra những nhà toán học trong tương lai của đất nước. Không có chính sách kịp thời để tái cấu trúc lại đội ngũ giảng viên và toán học hiện nay của ta, thì 5-10 năm nữa, khi những nhà toán học đầu đàn đã về hưu hết, chúng ta có muốn cũng khó mà xây dựng được những khoa toán như vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học trong trường phổ thông      Việc giảng dạy to&#225;n học l&#224; một phần kh&#244;ng thể thiếu. Học sinh sẽ kh&#244;ng thể học bất cứ ng&#224;nh g&#236; nếu kh&#244;ng học to&#225;n. Người thầy sẽ kh&#244;ng thể dạy tốt nếu kh&#244;ng c&#243; tư duy to&#225;n học. Bởi vậy từ l&#226;u v&#224; cả sau n&#224;y nữa, to&#225;n học vẫn l&#224; m&#244;n cơ sở cho gi&#225;o dục phổ th&#244;ng. C&#249;ng với m&#244;n văn, đ&#226;y l&#224; m&#244;n được học suốt từ lớp 1 đến lớp cuối c&#249;ng ở bậc phổ th&#244;ng ở tất cả c&#225;c nước. Kh&#244;ng những thế n&#243; cũng l&#224; một trong &#237;t m&#244;n lu&#244;n chiếm lượng thời gian nhiều nhất.     Nước Mỹ là nước có nền giáo dục đại học không chỉ hiện đại nhất thế giới, mà còn vượt xa các nước xếp ngay dưới. Thế nhưng vì sự đa dạng của các trường phổ thông mà nhiều trường phổ thông ở đó có chất lượng không tốt. Đặc điểm quan trọng nhất mà các nhà giáo dục và hoạch định chiến lược của Mỹ dựa vào để đưa ra nhận xét, đó chính là kiến thức toán học của học sinh phổ thông Mỹ. Đây là một điều không lạ, và cũng không làm phiền lòng người Mỹ, vì người ta chẳng thấy hề hấn gì khi mà nền đại học vẫn mạnh. Song, những phân tích gần đây về sự tiến bộ nhanh của các nền đại học khác, làm cho người Mỹ phải nhìn nhận lại vấn đề giáo dục nói riêng và giáo dục Toán ở bậc phổ thông.           Giải pháp cơ bản để đào tạo nhân tài toán học là phải có một nền giáo dục phổ thông tốt. Vì vậy chúng ta cần:               • Hoàn thiện lại hệ thống các lớp chuyên toán với khoảng 50 học sinh mỗi lớp.               • Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho những trường (khối) chuyên toán trọng điểm quốc gia sao cho học sinh có điều kiện học gần như các trường phổ thông tiên tiến trên thế giới.              • Khôi phục lại hệ thống thi học sinh giỏi toán toàn quốc ở các lớp cuối cấp trên cơ sở thay đổi sao cho nó thực sự kích thích sự ham mê học toán của học sinh.               • Khôi phục lại hệ thống học bổng hấp dẫn cho học sinh chuyên toán, sao cho những học sinh giỏi con nhà nghèo vẫn theo học được.              • Cho phép những học sinh xuất sắc được đặc cách học vượt lớp, vào thẳng đại học để học toán. Những học sinh đoạt giải toán quốc tế cần được gửi đi học ở các trường đại học hàng đầu ngay sau khi đạt giải.              • Nâng cấp đội ngũ giáo viên giỏi dạy toán thông qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ định kì.         Năm 2002, Quốc hội Mỹ thông qua luật đảm bảo thực hiện các chương trình nâng cao giáo dục của Mỹ. Trong thông điệp Liên bang năm 2007, Tổng thống Mỹ G. Bush đã sơ kết:  ”Cách đây 5 năm, chúng ta đã vượt qua được sự bất đồng đảng phái để thông qua Luật “Không một trẻ em nào bị bỏ lại đằng sau”… Và chúng ta đã hành động, các học sinh (Mỹ) đang có thành tích tốt hơn về toán học và các học sinh thiểu số đang lấp dần khoảng cách về thành tích”. ”Giờ nhiệm vụ của chúng ta là tiếp tục phát huy thành công này… Chúng ta phải tăng tiền trợ giúp cho các học sinh nghèo và đảm bảo những học sinh này có được sự giúp đỡ đặc biệt mà họ cần. Chúng ta phải chắc chắn rằng con em chúng ta được chuẩn bị cho các công việc của tương lai và đất nước chúng ta cạnh tranh hơn bằng cách tăng cường các kỹ năng toán học và khoa học”.  Tổng thống mới đắc cử của Mỹ, ông Obama, cũng đồng quan điểm này. Ông Obama muốn giáo dục toán học và khoa học trở thành một ưu tiên quốc gia, lưu ý rằng 80% nghề nghiệp đang phát triển nhanh nhất hiện nay phụ thuộc vào kiến thức về khoa học và toán học, song các nghiên cứu lại cho thấy học sinh sinh viên Mỹ thường tốt nghiệp mà không có những kỹ năng cần thiết về những lĩnh vực này. Vì vậy, ông chủ trương sẽ tuyển mộ những người tốt nghiệp đại học về toán học và khoa học vào ngành dạy học. Ông sẽ ủng hộ các nỗ lực nhằm giúp giáo viên học hỏi các chuyên gia trong lĩnh vực này.   Ở Việt Nam ta, toán học cũng luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong giáo dục phổ thông. Không những thế, cùng với việc học nhiều toán ở các giờ học thêm, tỷ trọng học toán của học sinh ta thường cao hơn nhiều so với nước ngoài. Nhờ vậy một số học sinh khá, giỏi khi có điều kiện du học ở nước ngoài thường khá về toán. Điều này dẫn đến một số ý kiến cho rằng ở Việt Nam đã dạy toán quá nhiều, hoặc học toán không có gì quan trọng. Đây là những suy nghĩ hời hợt, đi ngược lại với xu thế thời đại.   Theo Dự thảo CTTĐQGPT TH đến năm 2020    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học Việt Nam tụt hạng là đáng lo ngại      Đội tuyển Việt Nam dự thi Olympic toán quốc tế (IMO) 2011 với sáu thành viên chỉ đoạt huy chương đồng, xếp hạng 31, là thành tích kém nhất trong 35 năm dự giải. Đánh giá sự kiện này, GS Ngô Bảo Châu nói:    “Thật ra tình trạng tụt hạng của toán học VN anh em làm toán chúng tôi đã nhìn thấy vài năm nay nên không quá bất ngờ với kết quả thi IMO. Cách đây 4-5 năm, Hội Toán học VN đã trình Nhà nước chương trình quốc gia về toán học, như là một cái phao để toán học VN không bị chìm. Vào thời điểm đó, những người làm toán chúng tôi đã không nhìn thấy lực lượng kế cận của toán học VN. Còn bây giờ nhiều người đã nhìn thấy rõ điều này.  Thực tế 5-6 năm nay rất ít em thi toán quốc tế đeo đuổi theo ngành toán. Điểm thi ĐH vào khoa toán ở các trường tốt nhất cũng rất thấp, chứng tỏ rất ít học sinh theo ngành toán nói riêng và khoa học cơ bản nói chung. Đó là điều rất đáng lo ngại.  Nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản, không phải là con đường dễ đi, trong khi có quá nhiều con đường đảm bảo cho cuộc sống cá nhân và gia đình của một bạn trẻ. Tôi nghĩ đây là nguyên nhân chính khiến nhiều bạn trẻ không đi theo khoa học toán. Do vậy cần khuyến khích những em yêu toán, đam mê khoa học lựa chọn con đường nghiên cứu khoa học thay vì ai ai cũng ào ào thi vào kinh tế, tài chính.  Để toán học VN không tụt hậu thêm, chúng ta cần thôi nghĩ rằng VN là một nước nhỏ. Một đất nước có hơn 80 triệu dân, là một trong số các quốc gia đông dân nhất thế giới thì không thể là một nước nhỏ được. Và như vậy ngoài phát triển kinh tế là điều vô cùng cần thiết, cần phải có tham vọng xây dựng một nền giáo dục từ phổ thông đến đại học và nền khoa học tương xứng với vị thế của đất nước. Cái đó ai cũng đồng ý nhưng ít người đồng ý với những giải pháp cụ thể.  Xét riêng ngành toán, tôi thấy có hai mảng cần tập trung sức lực. Một là nâng cao chất lượng nghiên cứu toán học ở các trường ĐH. Việc này Viện Nghiên cứu cao cấp về toán có thể làm được một phần bằng việc tổ chức những nhóm nghiên cứu mới, triển khai những đề tài mới, qua đó tiếp sức cho những giảng viên đương chức tại các trường ĐH. Song viện có thể giúp nhưng không có khả năng làm thay cho các trường ĐH trong việc thu hút những nhà khoa học trẻ tài năng. Mảng thứ hai là tiếp sức về chuyên môn và bằng vật chất cho các thầy cô giáo dạy toán giỏi ở bậc phổ thông, đặc biệt là những người dạy chuyên toán.  Ở các nước phát triển, các nhà khoa học được tạo điều kiện tối đa để tập trung vào công việc nghiên cứu chuyên môn. Tôi nghĩ không thể ngày một ngày hai VN có được điều kiện như vậy, nhưng chúng ta phải làm từng bước, từng bước để đạt được điều đó.  Song tôi cho rằng VN có thể làm được điều này: tổ chức những nhóm làm việc về những đề án nghiên cứu lớn, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học VN cũng như các nhà khoa học trẻ người VN ở nước ngoài để họ thấy ở VN họ cũng có cơ hội và có thể làm được khoa học, sống được bằng khoa học”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tóc bạc – Lòng son      Vài năm trước đây, tôi có viết một bài về Thầy Hoàng Tuỵ, cũng đăng trên Tia Sáng. Nay chỉ xin được góp đôi dòng, cùng với mọi người chúc mừng Thầy tròn tuổi Tám Mươi.    Mỗi khi đến phòng làm việc của mình, tôi thường đi qua phòng Thầy Tụy. Thầy thường đến sớm nhất Viện, nên nhìn vào lúc nào cũng thấy mái đầu bạc của Thầy cặm cụi trên trang sách. Không hiểu sao, gần đến dịp kỷ niệm Thầy 80 tuổi, tôi lại thường liên tưởng đến Nguyễn Du. Tôi chưa từng thấy ai vẽ chân dung Nguyễn Du bao giờ, nhưng ấn tượng trong tôi về ông là mái đầu bạc sớm ở tuổi 30:  Sinh vị thành danh thân dĩ suy  Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy1  hoặc là:  Tam thập hành canh lục xích thân  …  Xuân thu đại tự bạch đầu tân2  Cũng như Nguyễn Du, mái đầu Thầy Tụy bạc sớm ngay từ tuổi ba mươi. Phải chăng những ai luôn đau đáu trong lòng về nhân tình thế thái thì đầu sớm bạc? Mái đầu bạc, nhưng tấm lòng Thầy thật trẻ. Tôi nhớ lại năm tôi về Viện Toán học, Thầy Tụy 40 tuổi. Tôi khi đó vừa ra trường, 21 tuổi. Thấy Thầy suốt ngày làm việc, tôi nghĩ: “Chắc khi người ta đã già, không còn nhiều ham muốn nữa thì ai cũng có thể chăm như vậy”! Đến khi tôi tròn 40 (đã “già”), thì tôi mới hiểu ra: chăm chỉ hay không đâu có phụ thuộc vào già hay trẻ. Nay tôi đã 61 tuổi, Thầy 80, tôi lại giật mình vì thấy mình đã già hơn Thầy nhiều! Tôi già hơn, vì đôi lúc đã thấy muốn “vui thú điền viên”, trong khi Thầy vẫn miệt mài với công việc như mấy chục năm về trước. Tôi già hơn, vì lắm khi thấy những điều đáng nói, đáng viết mà vẫn “lười”, vẫn “ngại”. Thầy không thế, Thầy viết nhiều, viết gay gắt, sâu sắc về những vấn đề của giáo dục, của cuộc sống. Tóc Thầy đã bạc từ mấy chục năm nay, nhưng Thầy vẫn trẻ trung như mấy mươi năm về trước. Mải mê với công việc, với cuộc đời, Thầy không còn thời gian để già đi! Trong khoa học, không nhiều người vẫn làm việc tích cực ở tuổi 80. Trong cuộc đời, lại càng hiếm những người 80 tuổi nhưng lúc nào cũng là hiện thân của những tư tưởng mới. Thầy Tụy là người như thế. Không hoài cổ, không chịu bó hẹp trong cái thế giới quen thuộc suốt 80 năm của mình. Những ý tưởng của Thầy lúc nào cũng mới, cũng cách mạng.   Lại nói như Nguyễn Du: “Trung thọ chỉ bát thập”3, kính chúc Thầy Đại Thọ để trẻ mãi cùng Toán học, cùng khoa học và Giáo dục Việt Nam!  —-  1.  Nguyễn Du: Tự thán I. Sống chửa nên danh đã yếu gầy/ Phơ phơ tóc bạc gió chiều bay (Dịch: Nguyễn Quang Tuân)  2 . Nguyễn Du: Tự thán II. Tấm thân sáu thước tuổi ba mươi/ …Lần lữa xuân thu tóc bạc rồi (Dịch: Trần Thanh Mại).  3 Nguyễn Du: Nhị thủ.  Hà Huy Khoái      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi có một niềm tin      Một nhà báo của Tia Sáng “ra đề” cho tôi về niềm tin cho số báo đầu năm. Tốt nhất là tôi nói đến niềm tin của mình. Làm sao khác được? Làm cách gì tôi với được tới niềm tin của người khác?&#160; Thật là khó! Đành chọn nói về niềm tin của mình. Như một “ca” nghiên cứu thực địa. Cái thực địa này lại là một người duy cảm, nên niềm tin của tôi chắc cũng nhiều phần… duy cảm.    Vô thức?  Ý thức?     Nói về niềm tin, khó ơi là khó. Mà có lẽ chỗ khó khăn nhất ở niềm tin, ấy là ta không biết chắc, ta luôn luôn không có câu trả lời dứt khoát niềm tin là một hành vi mang tính vô thức hay là một hành vi có ý thức? Hoặc hỏi cách khác, ta bắt đầu biết là mình có niềm tin tự khi nào, và trong hoàn cảnh nào?  Có một chuyện vui với riêng tôi để minh họa trường hợp này. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, tôi được một vị cha đạo đứng đợi ở cổng trường và hỏi han tôi nhiều chuyện trước khi hỏi tôi có muốn đi học trường dòng không. Năm đó bố tôi mới chết, mẹ tôi không cho tôi đi đâu cả (nếu đi, sẽ học trong nước bốn năm rồi ra nước ngoài học sáu năm, như lời vị cha đạo).   Không đi xa tận đâu đâu, song tôi vẫn phải xa gia đình, vì mẹ tôi không nuôi nổi cả sáu bảy chị em chúng tôi. Một người cô họ đã đem tôi về nuôi cho ăn học và trông nom cái cửa hàng khắc dấu và khắc các mộc bản ở số 85 phố Hàng Gai. Đêm Mười Chín tháng Mười Hai năm 1946, khi cửa hàng chỉ có một mình tôi, thợ đã tản cư cả rồi, đèn tắt phụt và súng nổ, anh Trần Thư (khi đó có bí danh là Cung) đến gọi tôi. “Cậu có biết khắc không?” “Có, tôi biết khắc”. “Có cái tên báo thế này, cậu khắc được chứ?” Anh đưa tôi cái tên báo vẽ sẵn Quyết tử – Báo của khu Hoàn Kiếm. Rồi anh Cung bảo tôi lấy quần áo, lấy đồ lề khắc gỗ, và theo anh về “đơn vị”… Tôi bắt đầu tham gia cuộc kháng chiến một cách tình cờ như vậy.   Về sau, khi khai lý lịch, khi phải điền mấy con số ngày 19 tháng 12 năm 1946 vào mục “Ngày tham gia cách mạng” tôi đều cảm thấy thèn thẹn. Chỉ có chuyện xách quần áo và con dao khắc làm bằng lưỡi cưa cùng tấm gỗ lòng mực đi theo “đơn vị”, rồi sau đó làm đủ thứ việc trừ việc tiếp tục khắc gỗ, có vậy mà là “tham gia cách mạng” sao?   Và một câu hỏi nữa cũng thường hay xuất hiện: nếu tôi theo cha đạo đi học trường dòng, rồi mình cũng thành cha đạo, liệu rồi tôi sẽ có niềm tin nào?    Và câu hỏi nữa kéo theo, liệu có khi nào thì tôi mất niềm tin  – trong cả hai trường hợp, đều là mất niềm tin vào một tín ngưỡng nào đó?   Tôi chưa bao giờ tự trả lời được chắc chắn những điều như thế.  Nhận thức    Mấy chục năm sau cái thời điểm có thể xác định bên trên, nói cho rõ hơn chút chút, đó là vào quãng năm 1975 sau khi thống nhất nước nhà, tôi đi công tác vào Sài Gòn, và khi về lại Hà Nội, tôi có hai thùng sách nặng. Có một cuốn sách trong đống tài sản vô vị ấy làm tôi thích thú. Gần nửa thế kỷ đã qua, sách đã bị thó, tên sách tôi không nhớ, nhưng một chi tiết trong nội dung thì tôi nhớ rất rõ. Cuốn sách nói về những thanh niên trí thức Mỹ tự học với nhau. Họ gặp nhau hằng tuần, thảo luận về đủ loại vấn đề. Và chi tiết tôi nhớ ở họ chính là cái không khí trí tuệ đã dẫn họ tới chỗ khám phá ra định nghĩa về trực giác. Tôi như luôn luôn được sống trong cuộc sinh hoạt trí tuệ trẻ trung đó, tôi như cảm nhận được Charles Sanders Peirce đưa ra định nghĩa, được bạn bè tung hô, và họ chạy tưng tưng như con trẻ, trực giác là hành động trước rồi giải thích sau về hành động ấy.    Hơn chục năm sau năm 1975, tôi hoàn toàn được cuốn hút vào công cuộc dạy học cho trẻ em dựa trên việc làm giao cho các em thực hiện để tự tìm ra tri thức. Tôi bắt đầu thấy lối định nghĩa khái niệm kiểu Mỹ thực sự hấp dẫn mình, không chỉ vì định nghĩa hết sức ngắn gọn, mà vì nó dẫn tới tổ chức hoạt động, thậm chí tổ chức đến từng việc làm và từng thao tác cho từng học sinh. Tự tay tôi biết tìm ra lối định nghĩa theo cung cách tương tự.    Dạy Văn chẳng hạn, thì phải bắt đầu không ở chỗ giảng giải lâm ly và bắt trẻ em học thuộc các bài văn mẫu, mà phải tổ chức cho trẻ em làm ra các sản phẩm nghệ thuật. Sản phẩm nghệ thuật gì và như thế nào? Bắt đầu bằng việc làm ra một lòng đồng cảm với thân phận con người. Cái lòng đồng cảm đó sẽ được tạo ra nhờ trò chơi đóng vai. Và chính những trò chơi đóng vai đó sẽ tạo ra cho trẻ em cái cảm hứng sáng tạo nghệ thuật từng có ở những người nghệ sĩ. Rồi sao nữa? Rồi phải sở hữu một bộ ngữ pháp nghệ thuật. Trong bộ ngữ pháp này, ngôn ngữ nghệ thuật được “nói” trước hết bằng tưởng tượng mà tôi đã định nghĩa thao tác nghệ thuật đó theo lối định nghĩa kiểu Peirce, đó là  làm việc thầm trong đầu để tạo ra những sản phẩm cũng nằm thầm trong đầu. Đó chỉ là vài thí dụ.  Giờ đây, sau cả vài chục năm hành động theo hướng hành dụng như thế, tôi tự rút cho mình một bài học – hè hè, hành động trước giải thích sau đấy – bài học về niềm tin: tôi nghĩ mỉnh chỉ có thể có niềm tin nhờ mình đã làm, làm và làm chứ không hề có niềm tin nhờ tụng niệm.   Với học sinh và với ai ai cũng thế, không phải là tụng niệm vẻ đẹp nghệ thuật thì sẽ có nghệ thuật. Trái lại, phải tự làm ra cái Đẹp nghệ thuật, dù là cái “đẹp” bằng phần triệu cái đẹp Picasso, thì cũng là cái đẹp tự tay mình làm ra. Tư duy nghệ thuật sẽ đến ở đoạn cuối đường làm ra cái đẹp nghệ thuật mà không cần những bài văn mẫu.  Trẻ em sẽ đến với cái đẹp đã, rồi các em sẽ giải thích sau về con đường học Văn, học Nghệ thuật của chúng.  Thay lời kết     Sau khi “khoe” bộ sách của nhóm Cánh Buồm mà nói liền tới Charles Darwin, tác giả Nguồn gốc muôn loài bằng chọn lọc tự nhiên, xin bạn hiểu cho tôi hoàn toàn không dám ví mình với nhà bác học vĩ đại của nhân loại ấy.   Nhưng nói chuyện Darwin ở đây chỉ vì nó có mối quan hệ thú vị tới niềm tin. Darwin đã phát hiện ra nguồn gốc các loài hoàn toàn mang tính vô thần trong khi ông lại vẫn còn niềm tin tôn giáo. Một bộ phim truyện phỏng theo Darwin đã mô tả một nhà sinh vật học hốc hác đau khổ khi con gái yêu của mình chết quá sớm, và con người có niềm tin vô thần đó hết sức hoang mang không biết đứa con yêu dấu sẽ đi về đâu sau khi chết.   Thế rồi trong đời thường, Darwin còn bị đả kích – như trên trang nhất tờ báo hí hước Vầng trăng bé xíu số tháng 8 năm 1878 minh họa ở đây – một Darwin mang hình hài loài khỉ được họa sĩ André Gill vẽ thật khéo!   Trong Giáo hội Công giáo, năm 1860 Hội đồng giám mục tỉnh Cologne đã ra tuyên bố chống quan điểm của Darwin: “Cha ông tổ tiên chúng ta do Chúa trực tiếp sinh ra. Vì vậy chúng tôi tuyên bố hoàn toàn chống lại những điều trái với Thánh kinh và niềm tin cùng công luận do những kẻ viết ra mà không biết hổ thẹn rằng con người là kết quả của sự thay đổi tự nhiên của một loài không hoàn thiện sang những loài càng ngày càng hoàn thiện cho tới khi đạt tới trình độ con người như bây giờ”.  Giữa Darwin và tôi là một trời một vực. Thế mà tôi cứ nghĩ mình hoàn toàn có thể hiểu được tâm trạng Darwin khi lung lay niềm tin, khi đã bén duyên niềm tin khác mà vẫn thương hại cho số phận mình trước cái niềm tin cũ đã trở thành hết duyên. Hết duyên mà chưa hết nợ. Sự đời là vậy lắm khi…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi đứng đây*      Tại buổi lễ tốt nghiệp của trường trung học Coxsackie-Athens, New York, Mỹ ngày 25/6/2010, Erica Goldson, nữ sinh xuất sắc được chọn đọc bài diễn thuyết chia tay, đã làm toàn thể thầy cô và bạn bè bất ngờ khi cô mạnh mẽ chỉ trích hệ thống giáo dục công được dựng lên không phải để khai sáng mà để nhào nặn ra những bộ não giống hệt nhau.    Dưới đây là nội dung bài diễn thuyết đã được lan truyền với tốc độ chóng mặt trên mạng ngay sau đó.  Có câu chuyện về một người thiếu niên tu hành Thiền đạo, còn trẻ nhưng rất chăm chỉ, ham mê. Anh ta đến vấn an thầy mình, và hỏi vị đại sư: “Nếu con siêng năng, chăm chỉ tu luyện, con sẽ mất bao lâu để đắc đạo?” Vị đại sư ngẫm nghĩ, rồi trả lời: “Mười năm.” Người thiếu niên tiếp tục hỏi: “Nhưng nếu con dốc lòng để tu luyện thật nhanh thì sẽ mất bao lâu?” Vị đại sư trả lời: “Nếu vậy, hai mươi năm.” “Nhưng, nếu con chăm chỉ hơn, thành tâm hơn nữa, thì sao ạ?” “Sẽ là ba mươi năm,” vị đại sư đưa ra câu trả lời. “Nhưng, thưa thầy, con không hiểu,” chàng thiếu niên thất vọng thốt lên. “Mỗi lần con nói con sẽ dốc lòng cố gắng hơn nữa, thầy lại nói con sẽ tốn nhiều thời gian hơn. Tại sao lại có thể như vậy?” Vị đại sư từ tốn trả lời: “Vì khi con dành một mắt để nhìn về đích đến phía trước, con sẽ chỉ còn một mắt để thực sự nhìn xuống con đường con đang đi để tới đích của mình.”  Đây chính là nan đề tôi đã phải đối mặt, nan đề trong hệ thống giáo dục của đất nước chúng ta. Chúng ta quá tập trung vào một đích đến – có thể là vượt qua thành công một kỳ thi, hay tốt nghiệp với thành tích xuất sắc nhất trong cả khóa học. Nhưng thực chất, như thế, chúng ta không phải đang đến đây để học. Chúng ta chỉ đang làm tất cả những gì cần thiết để đạt mục đích ban đầu của chúng ta mà thôi.  Ai đó trong số các bạn có thể sẽ nghĩ: “Ừm, nếu bạn thi đỗ và vượt qua một kỳ thi, hay trở thành một valedictorian1 – học sinh xuất sắc nhất của cả khóa học, thì chẳng phải bạn đã học được cái gì đó rồi hay sao?” Vâng, đúng vậy, bạn đã học được đôi thứ gì đó, nhưng không phải là tất cả những gì đúng ra bạn đã có thể học. Có lẽ, thứ duy nhất bạn đã học được chỉ là khả năng ghi nhớ những cái tên và địa danh, những mốc ngày tháng và công thức, rồi sau đó lại xóa trắng gần như tất cả để dẹp chỗ trong bộ nhớ, chờ nạp kiến thức mới cho một bài kiểm tra khác tiếp theo. Trường học không phải chỉ có thế. Nhưng ngay bây giờ, nó là nơi ai cũng quả quyết khẳng định rằng, mục tiêu của họ là phải ra khỏi trường học càng sớm càng tốt.  Tôi giờ đây cuối cùng đã đạt mục tiêu đó. Tôi đã tốt nghiệp. Tôi nên coi đây là một trải nghiệm thật tuyệt vời, nhất là khi tôi tốt nghiệp với tư cách học sinh xuất sắc nhất khóa của mình. Nhưng lúc này, nhìn lại, tôi không thể nói rằng tôi có chút gì thông minh hơn các bạn cùng khóa hết. Tôi chỉ có thể tuyên bố rằng tôi là kẻ giỏi nhất trong việc làm đúng những gì người khác đã bảo tôi làm mà thôi. Vậy nhưng, tôi đứng đây, có nghĩa vụ phải cảm thấy tự hào khi đã hoàn thành xuất sắc giai đoạn nhồi sọ cưỡng ép này. Tôi sẽ rời khỏi đây vào mùa thu để bước vào giai đoạn kế tiếp đang được chờ đợi của cuộc đời, để sau vài năm có thể nhận lấy một mảnh bằng công nhận tôi đủ khả năng làm việc. Nhưng tôi phản đối nó, tôi là một con người, một kẻ biết suy nghĩ, một nhà thám hiểm – không phải một worker, một kẻ sống chỉ để biết đi làm. Worker là kẻ bị mắc kẹt trong sự lặp lại vô hạn – một tên nô lệ của thứ hệ thống đã được sinh ra trước hắn ta. Nhưng giờ đây, tôi đã thực sự thành công trong việc tuyên bố với cả thế giới rằng tôi chính là tên nô lệ giỏi nhất. Tôi đã làm tốt đến cùng cực tất cả những gì người ta bảo tôi phải làm. Khi những người khác ngồi trong lớp vẽ những nét nguệch ngoạc ra sách vở, để rồi trở thành những họa sĩ xuất sắc, tôi ngồi trong lớp ghi kín những trang viết, và trở thành kẻ-làm-bài-kiểm-tra xuất sắc. Khi những người khác đến lớp với bài tập chưa làm đủ, vì họ dành thời gian đọc về những thứ làm họ say mê, tôi đến lớp chưa bao giờ bỏ lỡ dù chỉ một bài tập nhỏ. Khi những người khác sáng tác nhạc và viết lời cho các giai điệu của họ, tôi quyết định đăng ký thêm tín chỉ các môn học, mặc dù tôi chẳng bao giờ cần đến chúng.  Vậy nên, tôi tự hỏi, tại sao ngay từ đầu tôi thậm chí lại muốn cái vị trí này cơ chứ? Tất nhiên, tôi đã giành được nó một cách xứng đáng, nhưng sau đấy thì sao? Khi tôi bước chân ra khỏi hệ thống giáo dục này, liệu tôi có thành công không, hay sẽ mãi mãi lạc lối? Tôi không có lấy một manh mối nhỏ nào về việc tôi muốn làm gì cho cuộc đời của mình; tôi không có sở thích nào đặc biệt bởi tôi nhìn mọi môn học đều như những mục tiêu để vượt qua, và tôi vượt trội ở mọi môn học chỉ vì mục đích để vượt trội, chẳng phải để học thêm cái gì mới. Và, nói thẳng ra là, thực sự tôi thấy sợ.   John Taylor Gatto, một giáo viên đã nghỉ hưu, và là một trong những người phản đối hệ thống giáo dục bắt buộc tích cực nhất, khẳng định: “Chúng ta hoàn toàn có thể khuyến khích những phẩm chất tuyệt vời nhất ở những người trẻ tuổi – trí tò mò, lòng ưa thích phiêu lưu, sức hồi phục mau lẹ, và hơn cả là dung lượng đáng kinh ngạc của những khám phá và phát kiến mới lạ – tất cả chỉ đơn giản bằng cách linh động hơn một chút về thời gian học, về nội dung bài học, và về những bài kiểm tra; bằng cách giới thiệu các em với những người lớn đầy đủ khả năng để hướng dẫn các em; và bằng cách trao cho mỗi học sinh quyền tự do mà các em cần để, chỉ thỉnh thoảng thôi cũng được, biết mạo hiểm lấy một lần. Nhưng chúng ta không hề làm được những điều ấy.” Giữa những bức tường gạch này, tất cả chúng ta được kỳ vọng phải giống hệt nhau. Chúng ta được huấn luyện để có thể vượt qua xuất sắc mọi bài kiểm tra tiêu chuẩn; và những người dám nghĩ và làm khác biệt, những người nhìn cuộc sống qua một lăng kính khác, sẽ là vô dụng trong mưu đồ của nền giáo dục công, và do đó luôn phải chịu những cái nhìn khinh miệt.  H. L. Mencken đã viết trong cuốn “The American Mercury for April 1924” rằng mục đích của giáo dục công không phải là  để trao cho những người trẻ của giống loài tri thức, và để đánh thức trí thông minh ở họ… Không điều gì có thể đi xa khỏi sự thật đến thế. Mục đích thực sự (của trường học) … chỉ đơn giản là để giảm thiểu, tới nhiều nhất có thể, những cá thể khác biệt; để đưa tất cả về một hệ số chung nhỏ nhất an toàn; để tạo ra và nuôi dạy một thế hệ các công dân được tiêu chuẩn hóa; để dập tắt các ý kiến khác biệt và sự độc đáo của mỗi cá nhân. Đó chính là mục đích, là mục tiêu tối thượng hướng đến của nước Mỹ này.   Để làm rõ hơn về ý kiến trên: có bao giờ điều này làm bạn khó chịu chưa, khi phải học về định nghĩa của “tư duy suy xét” (“critical thinking”)? Chẳng lẽ thực sự còn có thứ gọi là “tư duy không suy xét” (“uncritically thinking”) nữa hay sao? Tư duy tức là đánh giá và xử lý thông tin, để từ đó tạo nên ý kiến của riêng mình. Nhưng nếu chúng ta không hề suy xét khi xử lý thông tin, liệu có thực sự là chúng ta đang tự mình tư duy không? Hay phải chăng tất cả những gì chúng ta đang làm chỉ là mù quáng chấp nhận ý kiến của người khác, và coi nó là chân lý?  Điều đó đã xảy đến với tôi, và nếu không phải nhờ may mắn tôi gặp được một giáo viên Anh ngữ thật cấp tiến, cô Donna Bryan, người giúp tôi khai mở tư duy và dạy tôi biết tự đặt câu hỏi trước khi mặc nhiên chấp nhận những tư tưởng áp đặt của sách giáo khoa; chắc chắn tôi cũng đã hỏng hoàn toàn rồi. Tôi giờ đây đã được khai sáng, nhưng tôi vẫn thấy tâm trí mình như đang bị tật nguyền. Tôi phải học cách học lại tất cả, và luôn luôn tự nhắc mình rằng cái nơi có vẻ hoàn toàn không điên rồ chút nào này, nó thực sự điên rồ đến thế nào.  Và giờ thì tôi ở đây, trong một thế giới bị dẫn lối bởi sự sợ hãi; một thế giới luôn cố gắng đè nén phần cá thể độc đáo ẩn giấu trong mỗi cá thể; một thế giới nơi chúng ta chỉ có thể hoặc ngoan ngoãn chấp nhận thứ ngớ ngẩn phi nghĩa lý, phi nhân tính của chủ nghĩa nghiệp đoàn và chủ nghĩa vật chất; hoặc phải quyết tâm để thay đổi tất cả. Chúng ta hoàn toàn không có chút hứng thú nào với thứ hệ thống giáo dục được bí mật dựng lên chỉ để chuẩn bị nhân sự cho những công việc đúng ra có thể được tự động hóa, cho những tác vụ đúng ra không cần thiết phải làm, cho một sự nô dịch không có bất cứ sự chân thành hay một thành tựu có ý nghĩa nào. Chúng ta không có lựa chọn nào trong cuộc đời khi kim tiền trở thành động lực sống duy nhất của chúng ta. Động lực sống thúc đẩy để chúng ta làm việc đáng ra phải là đam mê, nhưng đây là thứ đã biến mất từ khoảnh khắc chúng ta đặt chân bước vào một thứ hệ thống được thiết kế ra để huấn luyện, chứ không phải để khơi truyền cảm hứng ở chúng ta.  Chúng ta có nhiều hơn thế. Chúng ta không phải chỉ là những giá sách biết đi, được lập trình để nhả ra những chân lý chúng ta đã học ở trường. Tất cả chúng ta đều vô cùng đặc biệt, từng con người trên hành tinh này đều rất đặc biệt; vậy chẳng phải chúng ta xứng đáng với thứ gì đó tốt hơn ư, xứng đáng dùng trí tuệ của chúng ta để phát kiến điều mới lạ, chứ không phải đơn giản để ghi nhớ; để sáng tạo, chứ không phải để làm những hoạt động vô nghĩa; để nghiền ngẫm tư duy về vấn đề, chứ không phải để mục ruỗng trong đình trệ và tù hãm? Chúng ta ở đây không phải chỉ để học và lấy một tấm bằng, để rồi có một công việc, để rồi có thể ngày ngày tiêu thụ những sản phẩm xoa dịu tinh thần do những nghiệp đoàn công nghiệp làm ra. Chúng ta có nhiều, và chúng ta còn nhiều hơn thế nữa.  Điều đáng buồn nhất ở đây là số đông các bạn học sinh không có cơ hội để nhận ra điều tôi đã nhận ra. Số đông các bạn đều được đưa qua một hệ thống các kỹ thuật tẩy não giống nhau, nhằm tạo nên một lực lượng lao động đúng theo ý thích của các đại tập đoàn và những chính phủ thích che đậy; và tệ hơn tất cả là, các bạn hoàn toàn không có một chút nhận thức nào về điều kinh khủng đó hết. Tôi sẽ không bao giờ có thể vặn dây cót và quay ngược lại 18 năm đã qua của cuộc đời tôi. Tôi không thể chạy trốn đến một quốc gia khác với một hệ thống giáo dục lập ra để khai sáng chứ không phải để huấn luyện. Phần đời đó của tôi giờ đã qua rồi, và giờ tôi muốn đảm bảo chắc chắn rằng sẽ không một đứa trẻ nào phải để tiềm năng của mình bị đè nén bởi những sức mạnh chỉ nhằm để khai thác và điều khiển các em. Chúng ta là những con người. Chúng ta là những kẻ tư duy, kẻ mơ mộng, nhà thám hiểm, nghệ sĩ, nhà văn, kỹ sư. Chúng ta là bất cứ thứ gì chúng ta muốn – nhưng chỉ khi chúng ta có một hệ thống giáo dục hỗ trợ chúng ta, chứ không phải kéo chúng ta xuống. Một cái cây có thể mọc lên thật cao, nhưng chỉ khi những nhánh rễ của nó được bám vào một nền tảng thật màu mỡ mà thôi.  Cho những ai ngoài kia vẫn đang tiếp tục ngồi trên những giảng đường, và đầu hàng trước những đức tin mà các giáo viên buộc bạn phải tuân theo, xin hãy đừng nản chí. Các bạn vẫn có quyền đứng lên, đặt câu hỏi, có quyền suy xét, có quyền tạo ra và có thái độ và quan điểm của riêng các bạn. Hãy lên tiếng yêu cầu phải có một môi trường cung cấp cho bạn đủ năng lực trí tuệ và giúp bạn mở rộng tư duy, chứ không phải định hướng nó. Hãy yêu cầu họ phải khiến bạn thấy vui thích trong mỗi giờ học. Hãy lớn tiếng nói rõ rằng cái cớ: “Các em phải học cái này, vì nó sẽ có trong bài kiểm tra” là chưa đủ với các bạn. Giáo dục là một công cụ tuyệt vời, nếu được sử dụng đúng cách, nhưng hãy tập trung nhiều hơn vào việc học tập thực sự, thay vì chỉ chú tâm vào tìm cách để đạt điểm cao.  Với các thầy, các cô và các vị đang làm việc cho thứ hệ thống em đang chỉ trích, em không hề muốn xúc phạm, em chỉ muốn thúc đẩy các vị. Các vị có tất cả sức mạnh cần thiết để thay đổi sự kém cỏi của cái hệ thống này. Em biết các vị không trở thành các giáo viên hay các nhà lãnh đạo chỉ để nhìn các học sinh buồn chán ngáp dài trên giảng đường. Các vị không thể chấp nhận thứ quyền lực lãnh đạo ra lệnh cho các vị phải dạy cái gì, phải dạy như thế nào, và đe dọa sẽ trừng phạt nếu các vị không làm thế. Tiềm năng của chúng em đang bị đe dọa ở đây.  Với các bạn đang cùng tôi bước ra khỏi nơi này, xin được nói, đừng bao giờ quên điều gì đã diễn ra bên trong những phòng học kia. Đừng bỏ rơi những thế hệ học sinh sẽ nối tiếp các bạn. Chúng ta là một tương lai mới, và chúng ta sẽ không để cho thứ truyền thống kia tồn tại. Chúng ta sẽ phá đổ những bức tường của sự mục nát, và để cho những khu vườn của tri thức mọc lên trên khắp đất Mỹ. Một khi đã được giáo dục bài bản, chúng ta sẽ có sức mạnh để làm bất cứ thứ gì, và tuyệt hơn tất cả, chúng ta sẽ chỉ dùng nó cho những việc tốt, bởi chúng ta sẽ là những người có giáo dục và thông thái. Chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ thứ gì chỉ bằng vào bề ngoài của nó mà không hề suy xét. Chúng ta sẽ đặt những câu hỏi, và chúng ta sẽ đòi bằng được sự thật.  Vậy nên, giờ tôi đứng đây. Tôi không đứng đây để làm valedictorian một mình. Tôi đã được nhào nặn nên bởi môi trường xung quanh tôi, bởi tất cả những bạn học đang ngồi đây trước mặt tôi lúc này. Tôi sẽ không thể đạt điều này nếu không nhờ tất cả các bạn. Chính nhờ tất cả các bạn mà tôi trở thành con người như tôi đang là hôm nay. Các bạn luôn cạnh tranh với tôi, nhưng các bạn cũng chính là xương sống giúp tôi đứng vững. Theo cách đó, tất cả chúng ta đều là các valedictorian.  Giờ đây tôi sẽ phải nói lời chia tay với ngôi trường này, với những người đã và sẽ duy trì nó, và những người đứng cạnh tôi và sau tôi. Nhưng tôi mong lời chia tay sẽ giống một lời hẹn hơn: “Hẹn gặp lại” khi tất cả chúng ta cùng nhau tạo nên một chuyển động trong giáo dục. Nhưng trước hết, hãy đi lấy những mảnh bằng công nhận rằng chúng ta đủ thông thái để làm được điều đó!  Nguyễn Tiến Đạt dịch  —  1 Học sinh đại diện đọc diễn văn từ biệt (trong lễ tốt nghiệp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang “… Tôi phải lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh lo lắng và bất an…”      B&#224; Drew Faust -&nbsp; Nh&#224; nghi&#234;n cứu Lịch sử đồng thời l&#224; Chủ tịch Đại học Harvard trả lời phỏng vấn Tạp ch&#237; &#8220;Tấm Gương&#8221; của Đức&nbsp; về t&#236;nh trạng t&#224;i ch&#237;nh suy giảm của trường Đại học Harvard, về việc quản l&#253; tiền quỹ của c&#225;c nh&#224; t&#224;i trợ v&#224; về vai tr&#242; l&#227;nh đạo của m&#236;nh, một người phụ nữ, tại một trường đại học h&#224;ng đầu thế giới.    Spiegel: Thưa bà Faust, ông Barack Obama từng tốt nghiệp Đại học Harvard, hiện ông ấy đang phải hết sức nỗ lực để cứu vãn tất cả các lĩnh vực khỏi tình trạng chìm xuồng. Bà có gặp ông ấy và xin Nhà nước cứu trợ?   Faust: Không. Rất tiếc là thời gian qua tôi không có hân hạnh được tiếp kiến Tổng thống.  Nhưng bà không phủ nhận trường đại học của bà đang đứng trước khó khăn tài chính hết sức lớn lao?   Giá trị  tài sản của chúng tôi trong năm tài chính này bị sụt giảm khoảng 30%, nghĩa là chúng tôi mất 11 tỷ USD. Cũng như Tổng thống Obama, tôi cũng phải lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh đầy lo lắng và bất an.   Nhiều người trong đó có cả những người của trường bà cũng cho rằng, nguyên nhân chính khiến Harvard lâm vào tình trạng này là do Công ty quản lý Harvard (Harvard Management Company – HMC) đã tiến hành kinh doanh Derivat đầy mạo hiểm. Tạp chí  “Forbes” từng mô tả  HMC là một  “Hedgefonds khổng lồ”.   Chiến lược quản lý tài sản của chúng tôi rất giống với với các trường đại học khác, thí dụ như với Yale. Và kết quả thì có thể nói là tuyệt vời: 15 năm liền lợi nhuận bình quân đạt 15,7 %. Vấn đề là ở chỗ các điều kiện kinh tế thay đổi quá nhanh và đột ngột.   Ngay trong những năm làm ăn phát đạt nhất cũng có những ý kiến cho rằng: Các nhà quản lý HMC có đáng được hưởng tới 35 triệu USD mỗi năm – cao hơn nhiều so với mức mà bản thân bà có thể chấp nhận trả cho các vị giáo sư tài ba nhất. Vậy giờ đây bà có định hạn chế khoản tiền lương trả cho các nhà quản lý của trường hay không?   Tất nhiên hiện nay mọi vấn đề tài chính đều phải xem xét lại. Ví dụ, mức học phí cao nhất là bao nhiêu? Kinh phí dành cho nghiên cứu do Nhà nước cấp sẽ là bao nhiêu? Và nhất là tiền ủng hộ, tài trợ của các “Mạnh Thường Quân” sẽ như thế nào?  Điều gì sẽ xảy ra khi bản thân những người bạn và các nhà tài trợ của Harvard cũng đang bị áp lực về tài chính?   Thế câu trả lời của bà là gì?   Chúng tôi phải giảm chi phí và phải tìm cách dựa nhiều hơn vào các nguồn thu khác.   Thưa bà, bà sẽ dựa vào những nguồn thu nào? Sẽ tiếp tục tăng học phí? Nếu tính cả tiền ăn, ở thì chi phí cho một năm học ở Harvard giờ đây đã lên đến khoảng 50.000 USD – khoản tiền này tương đương với thu nhập bình quân của một hộ gia đình loại trung bình ở nước Mỹ…   … Vì thế nên chúng tôi đã cam kết giữ nguyên sự hỗ trợ của mình cho các em sinh viên thuộc diện các gia đình có thu nhập thấp. Chúng tôi nghĩ rằng, một nhiệm vụ quan trọng đối với Harvard là bảo đảm để các sinh viên có tài năng được tiếp cận với sự đào tạo tốt nhất.   Dù sao Harvard vẫn thuộc diện trường đại học giàu có bậc nhất thế giới với nguồn tài sản lên tới 26 tỷ USD. Vậy thì bà có thể yên tâm lắm chứ?   Hiện nay chúng tôi buộc phải lấy một số tiền từ khối tài sản của mình để trang trải các khoản chi thường xuyên. Nhưng đây không phải là khoản tiền để dành mà bà Chủ tịch muốn lấy ra bao nhiêu cũng được. Đấy là vốn liếng để chi cho các dự án, các công trình, các phòng ban và cho những đề xuất của chúng. Vả lại chúng tôi đâu có quyền tự do quyết định về việc sử dụng nguồn tài sản của mình.   Thưa bà, tại sao lại như vậy?   Tài sản của Harvard không chỉ đơn giản là một bọc tiền lớn. Nó gồm hơn 11.000 khoản riêng lẻ và  trên 70 % nguồn tài sản đó là để phục vụ cho những mục đích đã được xác định. Thí dụ nhà tài trợ bảo, chúng tôi muốn chi cho bộ môn tiếng Pháp, thì luật không cho phép chúng tôi sử dụng khoản tài trợ hoặc hoa lợi từ khoản này cho lĩnh vực sinh học hoặc để tu bổ ký túc xá sinh viên.   Nói khác đi, bà buộc phải dè xẻn, tiết kiệm ở những lĩnh vực nào?   Sáng hôm nay tôi có mặt tại một cuộc gặp gỡ, trên bàn bày một số đồ ăn nguội như Sandwiches và Bagels. Tôi thực sự không còn tin vào mắt mình nữa. Có lẽ nhầm lẫn gì chăng vì từ tháng 11 chúng tôi đã có quyết định trong tất cả các cuộc gặp gỡ trong trường sẽ không có khoản ăn uống. Chúng tôi muốn tiết kiệm các khoản chi không cần thiết, không phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu.                   Tôi không phải là Chủ tịch nữ của Harvard. Mà đơn giản tôi là Chủ tịch Harvard. Tôi cũng phải đáp ứng mọi yêu cầu như những người khác; tôi phải tốt, phải làm được những gì to lớn, tuyệt vời. Nhưng tôi đã sớm nhận ra rằng, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với thế giới, khi một người phụ nữ ở cương vị này. Tôi đã nhận được những bức thư của các cô gái Trung Quốc, các em viết: Giờ thì cháu hiểu rằng, cháu cũng có thể trở thành một nhà khoa học. Có những ông bố đã nói với tôi: Giờ thì tôi tin rằng đứa con gái bé bỏng của  tôi  cũng có thể đạt được tất cả. Một cụ bà 97 tuổi, tốt nghiệp trường Đại học Radcliffe – từng là trường đại học dành cho phụ nữ, và là một bộ phận của  Harvard  – đã viết, bà ấy chưa bao giờ cảm thấy được đối xử bình đẳng trong thế giới  Harvard: “Nhưng giờ thì tôi đã hiểu, vì sao tôi lại sống lâu đến thế này.”          Cán bộ nhân viên của bà đâu có quan tâm đến vài ba cái bánh mì. Họ lo lắng vì các nhà nghiên cứu trẻ, kế cận không được tuyển để làm việc lâu dài và nhà trường sẽ không thể tuyển thêm người mới.   Chúng tôi không có chủ trương đình chỉ việc tuyển người. Nhưng chúng tôi cân nhắc rất kĩ về từng trường hợp một, chúng tôi phải xem xét kĩ, liệu vị trí đang bị trống này có nhất thiết phải có người thay thế hay không.    Harvard luôn là vị chủ nhà rất hào phóng, rộng rãi đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới. Thí dụ  nhà khoa học nào được trình bày một báo cáo tại nhà trường thì được ở ba ngày trong một khách sạn sang trọng ở Boston. Thưa bà, sự xa xỉ đó giờ đây chắc không còn nữa?   Vị khách đó sẽ vẫn có thể trình bày bản báo cáo lý thú của mình nếu chấp nhận chỉ ở một ngày trong một khách sạn sang trọng.   Những năm qua khoảng 40% học viên tốt nghiệp ở Harvard thường làm việc tại các công ty tư vấn và trong lĩnh vực tài chính. Trong một cuộc nói chuyện trước sinh viên hồi năm ngoái, bà đã tỏ thái độ không đồng tình với thực trạng này. Bà nói: “Các em hãy tìm những công việc mà mình yêu thích”. Liệu trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay người ta có chịu làm như vậy không?   Phần lớn những em sinh viên tốt nghiệp năm nay đằng nào cũng buộc phải tìm những công việc khác vì ngành tài chính đã teo lại đáng kể. Một số em nói với tôi cuộc khủng hoảng tài chính làm cho họ có điều kiện để chấp nhận làm những việc mà bình thường họ không hề nghĩ tới.     Thưa bà, có phải những người tốt nghiệp Harvard là những người tham lam?   Không phải thế. Nhưng ở trường chúng tôi, cứ mùa thu đến là lại rộ lên chiến dịch tuyển mộ rất rầm rộ: Các hãng tài chính đến đây và chèo kéo sinh viên với những hứa hẹn đầy hấp dẫn, và khó có thể từ chối những công việc được trả lương cực kỳ hậu hĩnh. Xin các vị cũng đừng quên, đây còn là vấn đề thể diện nữa, cho dù hiện giờ vấn đề này phần nào có bị giảm sút.   Trong quá trình diễn ra cuộc khủng hoảng hiện nay bà có thấy sự quan niệm về giá trị trong sinh viên của trường đang có sự thay đổi ?   Có đấy. Chưa năm nào số lượng sinh viên tốt nghiệp lại đăng ký tham gia “Teach for America” đông đúc như năm nay, các em đó tình nguyện tham gia dạy học hai năm liền tại các trường quốc lập. Có lẽ một phần cũng vì Tân Tổng thống Barack Obama, người thực sự muốn cải thiện thế giới này.  James Watson người được giải thưởng Nobel và là đồng tác giả phát hiện cấu trúc – DNA đã cảnh báo, ngày nay những sinh viên Mỹ tài ba nhất không còn muốn theo học các ngành khoa học tự nhiên. Họ thích kiếm được nhiều tiền hơn trên thị trường chứng khoán. Số nghiên cứu sinh làm việc tại nhiều phòng thí nghiệm ở Harvard hay  Massachusetts Institute of Technology phần lớn đều đến từ châu Âu và châu Á.   Các bạn nói đúng. Người Mỹ chúng tôi cần phải suy nghĩ lại một cách toàn diện xem có thể hỗ trợ như thế nào đối với ngành khoa học tự nhiên.   Với tư cách là Chủ tịch Harvard, bà có trách nhiệm đặc biệt gì để không chỉ động viên khích lệ sinh viên Trung Quốc hoặc sinh viên Đức mà cả giới trẻ Mỹ say mê với các môn vật lý hoặc sinh học?   Chúng tôi muốn tiếp tục thu hút những người tài ba nhất trên khắp thế giới đến đây. Mặc dù vậy chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai sẽ có nhiều nghiên cứu sinh là người Mỹ đến với Harvard.   Harvard từng có kế hoạch xây dựng một cơ sở dành cho khoa học tự nhiên lớn nhất Hoa Kỳ ở Boston. Công trình xây dựng đầu tiên trị giá khoảng 1 tỷ USD, và  Viện Nghiên cứu về Tế bào gốc sẽ đặt tại đây. Nhưng hiện bà đã đình chỉ dự án này, vì sao?   Khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát, chúng tôi đã xem xét kỹ lưỡng một lần nữa về dự án đầu tư hết sức to lớn đó. Chúng tôi tự hỏi, liệu thực sự có kham nổi hay không ? Trước mắt chúng tôi thấy phải ưu tiên đầu tư cho con người và cho các chương trình, chứ chưa đầu tư cho các dự án hạ tầng.     Harvard phải mất 370 năm để có một phụ nữ ở vị trí lãnh đạo cao nhất. Thưa bà, trước đây các cụ nhà muốn bà sẽ trở thành một người như thế nào?   Bố mẹ tôi muốn tôi trở thành vợ của một người chồng giàu có.   Và cuối cùng bà lại trở thành người kế nhiệm ông Larry Summers – người đã bị thay thế vì những lời lẽ gây nhiều tranh cãi như: Đối với các môn khoa học tự nhiên, phụ nữ không thể có tài năng như nam giới… Như vậy là cho đến nay bà đã ở cương vị Chủ tịch được hai năm. Nhưng Harvard vẫn còn là một thế giới của đàn ông?   Tôi không tin như vậy. Tôi muốn rằng, nó sẽ là thế giới của bất kỳ ai – không lệ thuộc vào giới tính, chủng tộc hay khuynh hướng tình dục nào.                             HOÀI TRANG  Spiegel 12.6.09    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi thật sự ấn tượng về ông      Cách đây hơn 5 năm, GS Taketomo Mitsui (ĐH Nagoya, Nhật Bản) có bài viết về GS Hoàng Tụy với đầy sự khâm phục, kính trọng trên tạp chí The Optimization Research Bridge (số 7, tháng 9/2002).    Lần đầu tiên tôi được nghe tên GS  Hoàng Tụy, có thể là do Kyoji Saito, người đồng nghiệp thân thiết của tôi ở Kyoto nói với tôi về những thành quả nghiên cứu của ông từ hồi đầu thập niên 80. Đến khi bắt đầu bước vào nghiên cứu lĩnh vực toán ứng dụng, Saito đưa tôi một tập công bố nghiên cứu của GS Tụy, nhờ đó mà tôi biết rõ hơn những thành tựu lớn lao của ông trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu-lĩnh vực có mối liên hệ gần gũi với lĩnh vực giải tích số tôi đang nghiên cứu. Vì vậy, tôi mong mỏi có ngày được gặp mặt ông.  May mắn là giữa năm 1987, tôi nhận được thư mời có chính chữ ký của GS Tụy. GS thân tình mời tôi đến Hội nghị quốc tế  (ICOMIDC – Hội nghị về Toán học trong Máy tính) tổ chức tại TP Hồ Chí Minh tháng 4/1988. Tất nhiên là tôi lập tức nhận lời.  Trưa 24/4/1988, tôi đã được gặp GS Tụy trong một khách sạn ở TP Hồ Chí Minh. GS Tụy nhỏ nhắn, lộ rõ vẻ thông minh. Với tư cách là người dẫn đầu cộng đồng Toán học Việt Nam, GS Tụy rất bận bịu với việc khuyến khích, khuyên bảo những người tổ chức hội nghị. Dầu vậy ông vẫn quan tâm tới tôi bằng việc chỉ định một đồng nghiệp trẻ lo hướng dẫn cho tôi. Thêm nữa, sau khi kết thúc hội nghị, GS Tụy và tôi lại cùng chuyến bay ra Hà Nội. Ở đây, GS Tụy đã bố trí cho tôi tới thăm Viện Toán, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội. Đó là dịp tôi được gặp gỡ những đồng nghiệp Việt Nam ở rất nhiều lĩnh vực. Và cũng với sự quan tâm của GS Tụy, tôi và R. Gorenflo – một GS ở Berlin – được đi thăm Hạ Long, một kỳ quan thiên nhiên.  Tháng 9 năm đó, sau khi kết thúc Hội nghị quốc tế lần thứ 13 về Quy hoạch Toán học (Mathematical Programming) ở Tokyo, GS Tụy đến Nagoya và nghỉ ở nhà tôi gần nửa tháng. Trong quãng thời gian đó, tôi với ông thảo luận với nhau rất lâu về nhiều vấn đề. Tôi cũng giới thiệu với ông đồng nghiệp của tôi, những người rất gần với lĩnh vực tối ưu. Đó là lần đầu tiên GS Tụy đến Nhật, điều đó có nghĩa là tôi cũng có chút công sức trong việc phát triển mối liên hệ của ông với các đồng nghiệp Nhật Bản. Từ đó, GS Tụy đã vài lần tới thăm Nhật, và lần nào tôi cũng vui mừng được gặp ông, để nghe ông nói và thảo luận về nhiều vấn đề, từ nghiên cứu học thuật, hệ thống giáo dục đến cộng đồng toán ứng dụng… Qua những thảo luận đó, tôi nhận thấy GS Tụy không chỉ là nhà Toán học đầy kinh nghiệm mà còn là một nhà khoa học với tầm nhìn quốc tế.  Tôi muốn nói đến vài mẩu chuyện thú vị về GS Tụy. Năm 1990, chiếc máy xử lý văn bản (word-processor) của Viện Toán mà GS Tụy mang về từ Tokyo bị trục trặc (một bảng mạch điện tử nào đó bị hỏng). Ông hỏi tôi liệu tôi có thể tìm được đồ thay thế ở Nhật không. Tôi cố tìm đúng loại ông cần và gửi đi Hà Nội. Không may, loại bảng mạch mà tôi xác định đó không đúng. Tôi biết điều đó qua Email từ Graz (thành  phố lớn thứ 2 của Áo – ND): “Một chuyên gia điện tử mà tôi nhờ giúp, sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, nói với tôi rằng phần đầu của bảng mạch cao hơn cái cũ một chút nên không lắp vừa với máy”. Mẩu chuyện cho thấy GS Tụy rất nhiệt tình học hỏi công nghệ hiện đại, cho dù chỉ với chiếc máy xử lý văn bản.  Lần gặp ông gần đây nhất ở Hà Nội là khi tôi dự một hội nghị quốc tế (DEAA 2001). Ở hành lang khách sạn tôi ở, ông xuất hiện với nụ cười và vẻ điềm tĩnh như thường lệ. Tôi biết ông đã ngoài 70, nhưng ông vẫn hoạt bát và nói với tôi chi tiết về kế hoạch tương lai. Tôi thực sự ấn tượng về ông- người có uy tín lớn trong cộng đồng toán học Việt Nam, châu Á và thế giới bằng tài năng xuất chúng cũng như nhân cách cao đẹp của mình. Tôi cầu mong cho ông sức khỏe và trường thọ.  VIỆT ANH dịch  ——–  CHÚ THÍCH ẢNH”: GS Hoàng Tụy, TS Phạm Thiên Thạch và GS Taketomo Mitsui ở Hà Nội, 2001    GS Taketomo Mitsui      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tối ưu trong khoa học kỹ thuật kinh tế và đời sống      LTS. Bài viết này của GS Hoàng Tụy trên Tia Sáng cách đây 8 năm (1999), trong đó GS đã phát biểu trong nỗi niềm trăn trở trước sự tụt hậu ngày càng xa về một số lĩnh vực trong khoa học, giáo dục… của nước ta trong xu thế toàn cầu hóa, đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.Tia Sáng đăng lại bài viết này cùng với lời bàn thêm năm 2007 của tác giả.      Năm 1969, hơn một tháng trước khi Hồ Chủ tịch qua đời, tôi được vinh dự và may mắn gặp Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau buổi làm việc bàn về các biện pháp cải tiến một số dịch vụ trong thành phố lúc bấy giờ, khi bắt tay ra về, Chủ tịch căn dặn chúng tôi hãy cố gắng áp dụng vận trù học. Suốt 40 năm qua, tôi không bao giờ quên được hình ảnh vị Chủ tịch nước cho đến những ngày cuối cùng trong đời vẫn còn quan tâm thiết tha tới việc ứng dụng các phương pháp khoa học vào những vấn đề cụ thể phục vụ đời sống của dân. Tuy vậy, đến hôm nay tôi vẫn chưa hết day dứt vì sự thể câu chuyện sau đó đã không có sự tiếp tục xứng đáng. Nếu trước đây hơn 30 năm, trong hoàn cảnh chiến tranh, nước ta vẫn đi đầu ở Đông Nam Á về giáo dục, y tế và một số lĩnh vực khoa học (trong đó có vận trù học và lý thuyết tối ưu) thì ngày nay chúng ta không còn giữ được vị trí đó, thậm chí có mặt đã tụt hậu so với họ và có xu hướng ngày càng tụt hậu xa hơn. Đã đến lúc không còn chỗ để thụt lùi thêm nữa. Tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt đang đặt ra cho chúng ta một sự lựa chọn khắc nghiệt: hiệu quả, tối ưu hoặc là sa sút và lụn bại. Những ý kiến dưới đây xin được phát biểu trong nỗi niềm trăn trở đó.  Lý thuyết tối ưu là một ngành toán học đang phát triển mạnh, và ngày càng có nhiều ứng dụng quan trọng trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và quản lý hiện đại. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có để ứng dụng tối ưu hóa một cách rộng rãi và thiết thực. Ngược lại nó cũng nêu lên nhiều vấn đề mới, quan trọng, về khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý, không thể xử lý tốt nếu không sử dụng công cụ và tư tưởng tối ưu hóa.           Phải ghi nhận rằng những nghiên cứu về hệ thống và tối ưu từ những năm 1960 đã có đóng góp tích cực vào việc xây dựng một cách nhìn thực tế và một tiếp cận khoa học đối với các vấn đề kinh tế xã hội nhằm đưa đất nước vượt qua các khó khăn, ra khỏi cuộc khủng hoảng.        Việt Nam là một trong số các nước nghèo nhưng đã ứng dụng vận trù học (chủ yếu là các phương pháp tối ưu) sớm nhất. Những năm 60 đã có thời ngành khoa học này được phổ biến khá rộng rãi ở Miền Bắc, khiến các từ vận trù, tối ưu, hệ thống, đã đi vào ngôn ngữ hằng ngày của người dân lúc bấy giờ. Sau đó, những năm 70, vượt qua nhiều khó khăn trở ngại, các phương pháp tối ưu bắt đầu được nghiên cứu vận dụng vào kế hoạch hóa và quản lý kinh tế vĩ mô. Song, rất tiếc vì những nguyên nhân không thuộc quyền chủ động của anh em khoa học, công việc chưa thu được kết quả cụ thể thì đã không thể tiếp tục duy trì mà ngày càng sút kém qua cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội của đất nước rồi gần như tan rã khi chuyển sang kinh tế thị trường. Tuy vậy, cũng phải ghi nhận rằng những nghiên cứu về hệ thống và tối ưu thời kỳ đó đã có đóng góp tích cực vào việc xây dựng một cách nhìn thực tế và một tiếp cận khoa học đối với các vấn đề kinh tế xã hội nhằm đưa đất nước vượt qua các khó khăn, ra khỏi cuộc khủng hoảng. Bây giờ nhìn lại có thể thấy rõ những ý kiến phân tích và các kiến nghị về cải cách quản lý kinh tế của giới toán học thời kỳ đó (như những ý kiến đóng góp ở Đồ Sơn trước Nghị quyết VI (1979), hay những ý kiến đóng góp về chiến lược kinh tế xã hội những năm (1985 – 1989)) là rất đúng đắn và có tác dụng tích cực.           Bài toán “quy hoạch lõm” mà tôi bắt đầu nghiên cứu năm 1964, xuất phát từ sự suy ngẫm trên các vấn đề giao thông vận tải hồi ấy ở một đất nước kinh tế lạc hậu lại đang có chiến tranh, không ngờ đã có ứng dụng trong nhiều vấn đề kinh tế, kỹ thuật hiện đại. 12 năm sau, trong Hội thảo quốc tế lần thứ IX về quy hoạch toán học ở Budapest năm 1976, mấy bạn đồng nghiệp Nhật ở hãng NEC đã thông báo cho biết họ đã gặp bài toán ấy trong ngành công nghiệp của họ và đã dựa vào các ý tưởng trong bài nghiên cứu của tôi để xử lý. Ngày nay quy hoạch lõm có nhiều ứng dụng và đã trở thành bài toán cơ bản của lý thuyết tối ưu toàn cục tất định. Song song với nó và ít nhiều nhờ sự kích thích của nó, nhiều phương pháp tối ưu toàn cục phi tất định cũng đã ra đời, như phương pháp phỏng tôi (simulated annealing), phương pháp di truyền (genetic algorithm), phương pháp tabu (tabu search).        Hơn hai thập kỷ qua, ngành khoa học về các phương pháp tối ưu đã có những bước tiến lớn. Thông qua các phần mềm ứng dụng, quy hoạch tuyến tính đã trở thành công cụ cơ bản của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý, thiết kế kỹ thuật, cung cấp dịch vụ nhất là từ khi máy vi tính được phổ biến rộng rãi và có tính năng ngày càng mạnh. Nhờ các thành tựu đột phá của Khachian (1978) và Karmarkar (1983), ngày nay người ta đã có những phương pháp điểm trong (interior point methods), hữu hiệu hơn “phương pháp đơn hình” cổ điển, để giải những bài toán cực lớn trong khoa học, kỹ thuật và quân sự hiện đại (chẳng hạn một bài toán 150.000 biến với 12.000 ràng buộc giải bằng phương pháp điểm trong chỉ mất 1 giờ trong khi một bài toán tương tự với 36000 biến và 10000 ràng buộc giải theo phương pháp đơn hình mất 4 giờ).  Mặt khác thế giới chúng ta đầy rẫy những hiện tượng phi tuyến và những quan hệ qua lại phức tạp. Trước đây do tầm nhìn hạn hẹp về cả không gian lẫn thời gian nên mọi cái xung quanh ta đều được coi như bằng phẳng, biến thiên tỉ lệ, quan hệ giản đơn một chiều nhưng khi mở rộng tầm mắt và đi sâu hơn vào bản chất sự vật thì ở đâu cũng gặp những quan hệ chằng chịt phức tạp, và các hiện tượng phi tuyến, toàn cục. Càng đi sâu vào tố chức của xã hội, thiên nhiên, vũ trụ,  càng phân tích hoạt động của máy tính, bộ não, càng thấy sự phổ biến của cấu trúc tổ hợp, rời rạc, cấu trúc mạng phân cấp, liên kết, và phát hiện khả năng biểu diễn mọi hình ảnh âm thanh bằng số. Chính trên nền tảng đó mà cuộc cách mạng số hóa đã bùng nổ và đang làm đảo lộn toàn bộ công nghệ hiện đại đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và liên tục suốt 20 năm qua của các ngành tối ưu phi tuyến , tối ưu rời rạc (tổ hợp), và gần đây nữa là tối ưu toàn cục. Nếu giữa những năm 60 các bài toán phi tuyến khoảng mười biến còn được coi là cỡ quá lớn, rất khó giải, thì nay nhiều bài toán hàng trăm, hàng nghìn biến có thể được xử lý dễ dàng. Cách đây ba mươi năm bài toán “người du lịch” còn được xem như chỉ có tính chất thuần túy lý thuyết, vì chỉ với 50 điểm bài toán đã vượt quá khả năng tính toán thực tế lúc bấy giờ. Thế mà đến giữa những năm 80 đã trở thành bài toán thường ngày trong công nghệ sản xuất vi mạch, với số điểm phải đi qua lên tới mấy vạn hay mấy chục vạn thậm chí cả triệu. Còn nhiều bài toán tối ưu khác, vốn có vẻ viển vông xa thực tế đã có ứng dụng rất thiết thực trong công nghiệp sản xuất vi mạch, rô bốt, viễn thông và nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác.             Các thành tựu kinh tế của ta mười năm qua tuy rất đáng khích lệ nhưng thật ra chưa dựa vào những nhân tố bảo đảm sự tăng trưởng bền vững mà còn chủ yếu dựa vào những nhân tố không tự nhiên và có xu hướng cạn kiệt dần. Nếu ta không nhận thức được điều đó để nhanh chóng cải tiến quản lý, phát huy nội lực bằng cách khai thác tối ưu các tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ mà đặc điểm là càng khai thác càng phát triển, thì sự tụt hậu khó tránh khỏi.          Bài toán “quy hoạch lõm” mà tôi bắt đầu nghiên cứu năm 1964, xuất phát từ sự suy ngẫm trên các vấn đề giao thông vận tải hồi ấy ở một đất nước kinh tế lạc hậu lại đang có chiến tranh, không ngờ đã có ứng dụng trong nhiều vấn đề kinh tế, kỹ thuật hiện đại. 12 năm sau, trong Hội thảo quốc tế lần thứ IX về quy hoạch toán học ở Budapest năm 1976, mấy bạn đồng nghiệp Nhật ở hãng NEC đã thông báo cho biết họ đã gặp bài toán ấy trong ngành công nghiệp của họ và đã dựa vào các ý tưởng trong bài nghiên cứu của tôi để xử lý. Ngày nay quy hoạch lõm có nhiều ứng dụng và đã trở thành bài toán cơ bản của lý thuyết tối ưu toàn cục tất định. Song song với nó và ít nhiều nhờ sự kích thích của nó, nhiều phương pháp tối ưu toàn cục phi tất định cũng đã ra đời, như phương pháp phỏng tôi (simulated annealing), phương pháp di truyền (genetic algorithm), phương pháp tabu (tabu search).  Như chúng ta đều biết, bài toán tối ưu đặt ra trong bất cứ hoạt động nào mà ở đó việc thực hiện mục tiêu phải tuân thủ những điều kiện ràng buộc nhất định và phải hao tốn phương tiện, cho nên cần tìm ra phương án hoạt động sao cho thực hiện được mục tiêu với hiệu quả cao nhất, với những hao tốn phương tiện thấp nhất. Những tình huống như thế rất phổ biến trong các hoạt động kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, quản lý. Song ít người biết rằng các phương pháp tối ưu còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nữa, mà thoạt nhìn tưởng chẳng có quan hệ gì đến tối ưu.             Trong toán học đã có một kinh nghiệm nối tiếng, thường được nhắc đến như một bài học lớn : ngay từ những năm 20 – 30 các nhà toán học Anh, Mỹ đã có nhiều thành tựu thống kê lý thuyết rất quan trọng (phân tích thống kê, đặc biệt là giải tích dãy) nhưng phải đợi đến những năm 50 người Nhật mới nghĩ ra được việc áp dụng các thành tựu đó vào kiểm tra chất lượng. Kết quả là người Nhật đã đem lại những bước tiến nhảy vọt về chất lượng sản phẩm, khiến chỉ một thời gian ngắn công nghiệp của họ đã cạnh tranh ngang ngửa và đánh bại nhiều đối thủ quan trọng mà trước đó không ai ngờ họ có thể qua mặt được.         Chẳng hạn, trong y học, sau khi thu thập các dữ liệu quan sát về những trường hợp ung thư ở một số bệnh nhân, để phân tích mớ dữ liệu ấy và tìm ra quy luật giúp cho sự chẩn đoán bệnh chính xác nhanh chóng, mà ít phải dùng đến những phương pháp kiểm tra vật lý nặng nề tốn kém mà có khi đau đớn cho bệnh nhân, người ta biểu diễn mỗi trường hợp bằng một điểm trong không gian các thông số cơ bản, rồi dùng phương pháp chia cụm (clustering) để phân tích, rút ra kết luận giúp chẩn đoán trường hợp nào chắc chắn ung thư, trường hợp nào chỉ là u lành. Đó là một bài toán cụ thể về khai thác dữ liệu mà về hình thức toán học là đồng nhất với bài toán định vị (optimal location -lựa chọn vị trí tối ưu), tức cũng là một bài toán tối ưu toàn cục nằm trong đề tài nghiên cứu mươi năm nay của các chuyên gia tối ưu. Một lần, năm 1994 tôi có dịp trình bày tiếp cận mới đối với bài toán này trong xêmina tại Học viện Công nghệ Tokyo thì chỉ sau đó vài hôm nhận được thư của hãng Toshiba mời đến giảng lại vấn đề đó cho nhóm nghiên cứu của họ, chứng tỏ bài toán đó đang trong tầm theo dõi của các nhà công nghệ điện tử.              GS Hoàng Tụy tại Hội thảo: Đổi mới cơ chế quản lý KH do Tia Sáng tổ chức             Một vấn đề khác liên quan kỹ thuật cao hiện đại dẫn tới tối ưu toàn cục là bài toán cấu hình phân tử (molecular conformation) hay cũng gọi là bài toán cuộn protein (protein folding). Số là muốn tổng hợp những hóa chất mới, dược phẩm mới, vật liệu mới, hay protein mới, nhiều khi người ta phải tìm cực tiểu của một hàm thế năng phi tuyến phức tạp, mà phải là cực tiểu toàn cục mới ra được chất mong muốn, còn cực tiểu địa phương sẽ ra chất khác hẳn hoặc không đạt mục tiêu.  Đấy là một bài toán tối ưu toàn cục cực kỳ khó, nếu không có phương pháp nào tốt thì đành phải tính hết các điểm tối ưu địa phương rồi so sánh chọn ra tối ưu toàn cục. Nhưng tìm được một cực tiểu địa phương đã khó, mà số cực tiểu địa phương của các hàm thế năng này lại là con số khổng lồ, cho nên theo cách đó người ta phải dùng máy siêu tính Cray-2 chạy liên tục hằng tháng trời mới giải nổi bài toán trong một trường hợp tương đối đơn giản. Vì bài toán này cũng là mấu chốt giải quyết vấn đề cuộn protein (một đề tài khoa học được xem như giai đoạn hai của việc giải mã di truyền), cho nên thực tế đây là một trong các vấn đề thời sự hóc búa nhất của một loạt ngành khoa học cơ bản: hóa học, sinh học, vật lý, toán học, có lẽ phải chờ vài thập kỷ nữa mới có được phương pháp xử lý thỏa đáng.  Sự xuất hiện những bài toán thực tế như thế cộng với nhiều ứng dụng khác trong công nghệ và quản lý, là lý do thúc đẩy tối ưu toàn cục phát triển mạnh ở các nước công nghiệp. Nhân đây cũng xin kể thêm một việc để thấy tính thời sự của vấn đề. Tháng ba năm ngoái tôi được mời tham gia một số hội thảo và làm một số xêmina ở Đại học Gainesville và Học viện Công nghệ Atlanta (Mỹ). Tại các hội thảo và xêmina đó tôi đã trình bày lý thuyết mới về tối ưu đơn điệu mà những ý tưởng đầu tiên đã nảy sinh qua một chuyến đi hợp tác và trao đổi ở Úc năm 1998. Các bạn đồng nghiệp Mỹ đã đặc biệt chú ý các kết quả này, họ liền đề nghị và chỉ sau hai tháng được NSF chấp nhận tài trợ một đề tài nghiên cứu ứng dụng tối ưu đơn điệu vào một số vấn đề khoa học kỹ thuật thời sự trong đó có bài toán cấu hình phân tử và tính toán ổn định trong kỹ thuật chế tạo tuốcbin máy bay phản lực. (NSF là cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học của Mỹ thường rất chặt chẽ trong việc xét duyệt các đề tài).              Với hai nhà toán học nổi tiếng Trung Quốc Hoa La Canh và Ngô Tấn Mưu (1964)             Qua vài việc cụ thể như trên đủ thấy sự nhạy cảm của giới công nghệ trên thế giới đối với từng thành tựu nhỏ của các phương pháp tối ưu, và vai trò ngày càng tăng của các phương pháp ấy trong thời đại kỹ thuật cao hiện nay.  Ở nước ta dễ thấy rất nhiều lĩnh vực rõ ràng rất lãng phí, hiệu quả hoạt động thấp, khiến nền kinh tế vận hành khá xa trạng thái tối ưu.  Quá trình đi lên của các nước công nghiệp bao giờ cũng là quá trình liên tục hạ chi phí và nâng cao chất lượng so với mức trung bình của thế giới. Nhưng ở ta thì thế nào? Chỉ lấy ví dụ tiêu biểu là ngành điện thì tổn thất điện năng hiện nay của ta gấp 1,8 lần Thái Lan, năng suất lao động trong ngành điện của ta chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, trước đây 10 năm chỉ tiêu điện năng tính theo đầu người của Thái Lan gấp 5,1 lần của ta, nay gấp 5,3 lần. Vậy làm sao ta đuổi kịp được các nước? Mà Thái Lan đâu phải là nước tiên tiến gì ghê gớm. Nhiều cơ quan quốc tế đánh giá đại bộ phận khoa học của ta chỉ mới ở mức của Thái Lan cách đây 30 năm, không phải chỉ vì ta thiếu điều kiện phát triển, mà chủ yếu vì ta chưa biết khai thác hết tiềm năng. Một cách thẳng thắn họ muốn nói rằng ta chưa sử dụng thông minh các điều kiện nhân tài, vật lực của đất nước.        Tiếc rằng mặc dù ngành tối ưu của Việt Nam đã chiếm được một vị trí đáng nể trong khoa học thế giới nhưng mấy năm qua không tiến lên được về ứng dụng do thiếu những điều kiện tối thiểu về nhân lực và phương tiện. Điều đáng buồn là những điều kiện này cũng chẳng phải khó khăn gì, chẳng qua do thiếu sự quan tâm cần thiết của các cơ quan hữu trách.        Từ nhiều năm nay các Công ty trên thế giới đã quen áp dụng quản lý chất lượng toàn diện đi đôi với hạ thấp chi phí, còn ở ta đã làm gì? Tôi thường được nghe giới chuyên gia kinh tế ở các nước nhận định rằng trong nền kinh tế hiện đại, lĩnh vực đòi hỏi nhiều trí tuệ quản lý nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ (cứ xem sự thăng trầm của kinh tế Nhật Bản, Hồng Kông và các nước ASEAN vừa qua đủ rõ). Đã có cả một ngành gọi là công nghệ tài chính ra đời phục vụ cho quản lý tài chính, đòi hỏi vận dụng khá nhiều tính toán tối ưu. Nhưng ở nước ta đây lại là lĩnh vực rất lạc hậu so với các nước, và không nghi ngờ gì, những khó khăn lớn nhất của chúng ta đã xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý nguồn tiền. Không ở đâu trên thế giới lương chính thức chỉ đủ trang trải 1/5 nhu cầu sinh hoạt mà chế độ tài chính lại cho phép rút tiền ngân sách vô tội vạ bằng trăm nghìn cách khác nhau, cả gián tiếp và trực tiếp, hợp pháp và phi pháp, để rồi tuy không ai sống nổi bằng tiền lương mà vẫn có không ít người sống quá ung dung, đồng thời tham nhũng, buôn lậu và bạn đồng hành của chúng là tệ nạn xã hội thì phát triển vượt tầm kiểm soát hữu hiệu của xã hội.  Do đó vận dụng các quan điểm và phương pháp khoa học, bao gồm cả tư duy logic, hiệu quả tối ưu trong quản lý kinh tế, là việc có quan hệ trực tiếp và quyết định đến sự phồn vinh của đất nước.                    Thông thường có hai loại vấn đề, nói đúng hơn hai hình thức ứng dụng, tối ưu:  Một là những vấn đề riêng lẻ, độc lập, không lặp đi lặp lại ở một tổ chức hay đơn vị nào đó. Chẳng hạn, vấn đề chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long và Miền Trung, vấn đề chiến lược phát triển năng lượng… Những vấn đề ấy đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu và thường có tính cách liên ngành chặt chẽ nên phải dùng tiếp cận hệ thống. Hà Lan đã có kinh nghiệm xử lý bằng phân tích hệ thống vấn đề lũ tương tự như ở ĐBSCL của ta (năm 1952 , Hà Lan bị một trận bão ở Bắc Hải gây lũ lớn, làm chết hàng nghìn người, ngập 13 vạn ha, sau đó phải lập cả một tập thể khoa học để nghiên cứu trong nhiều năm mới đề ra được cách xử lý và phòng chống). Đặc điểm các vấn đề này là thường có những hiệu ứng phụ (side effect), gọi là phụ nhưng rất quan trọng, nếu không phân tích và tính toán cẩn thận theo quan điểm hệ thống thì khó dự đoán được và có thể bị những bất ngờ tai hại. Điều đáng nói là ở các nước chậm phát triển, chúng ta hầu như chẳng bao giờ quan tâm các hiệu ứng phụ, hơn nữa, nếu có biết thì cái tư duy sống ngày nào lo ngày ấy (theo phương châm “sau đời ta là hồng thủy”!) cũng cản trở, không cho phép các phương pháp khoa học được có tiếng nói ở những nơi và lúc quyết định.  Hai là loại vấn đề có tính chất tác nghiệp, lặp đi lặp lại thường xuyên trong hoạt động của cùng một tổ chức hay đơn vị. Từ khi công nghệ vi tính ra đời và phát triển mạnh, cách xử lý đối với các vấn đề này là xây dựng phần mềm ứng dụng để giải nó theo những thông số đầu vào thay đổi tùy tình hình. Còn nhớ những năm 60, khi chúng tôi giúp các xí nghiệp áp dụng vận trù thì phải tính toán bằng tay từng phương án cụ thể, cho nên hễ cán bộ khoa học rút đi thì xí nghiệp không tự tiếp tục áp dụng được. Ngày nay điều kiện thuận lợi hơn nhiều, và để ứng dụng thành công chỉ cần xây dựng phần mềm giải quyết từng loại vấn đề đó trên máy vi tính. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển, nhiều Công ty phần mềm ở các nước đã ra đời không chỉ sản xuất phần mềm ngày càng hiệu quả về các công cụ tổng quát như quy hoạch tuyến tính, phi tuyến, tổ hợp… mà cả những phần mềm ứng dụng từng loại vấn đề thường gặp trong quản lý xí nghiệp và những môđun phần mềm làm sẵn để có thể vận dụng vào từng loại vấn đề đó khiến cho việc áp dụng ngày càng dễ dàng và có hiệu quả. Điều đó mở ra triển vọng rộng lớn đưa các phương pháp vận trù và tối ưu, nói rộng ra là các phương pháp khoa học, vào mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống.  Cũng như mọi hoạt động khoa học, ứng dụng toán học cần phải có đầu óc tìm tòi, phân tích, nhất là nhiều trí tưởng tượng sáng tạo. Khi máy sao chụp (photocopy) Xerox mới được phát minh, người ta chỉ nghĩ đến công dụng của nó thay thế giấy cácbon, đến nỗi ngay cả Hãng IBM có tiếng là nhìn xa trông rộng mà cũng đánh giá thấp tác dụng của máy Xerox nên đã từ chối không mua phát minh của họ. Về sau, đầu óc tưởng tượng của người kinh doanh đã nghĩ ra biết bao nhiêu ứng dụng lúc đầu chẳng ai ngờ. Nhờ đó Xerox phát triển mạnh đến mức ngày nay nó đã đi vào đời sống thường ngày của mọi xã hội. Nghèo đến như Việt Nam mà gần đến ngày thi đại học, các máy sao chụp trên mọi miền đất nước đều được huy động hết công suất để phục vụ nhu cầu quay cóp. Đủ biết, khi một phát minh ra đời, dần dần sẽ xuất hiện nhiều cách sử dụng nó mà trước đó đố ai có thể nghĩ đến. Rồi máy vi tính, Internet, cũng theo con đường như vậy: ai có đầu óc tưởng tượng để nghĩ ra những ứng dụng mà người khác không nghĩ đến, kẻ đó cũng có công với khoa học như những nhà phát minh lớn. Và lại chính những ứng dụng mới sẽ kích thích những phát minh mới. Không có những nhân vật như Bill Gates thì làm gì máy vi tính phát triển như ngày nay. Cho nên, cứ làm đi, cứ phát triển tưởng tượng để nghĩ ra những ứng dụng rồi tìm cách thực thi kỳ được, đó là con đường hầu như bắt buộc phải trải qua để đưa các thành tựu khoa học vào thực tế một cách sáng tạo.  Không lạ gì tối ưu toàn cục, khi xuất phát chỉ bó hẹp trong vài vấn đề kinh tế, nay đã mở rộng phạm vi ứng dụng vào nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật mới: cuộn protein, NMR (cộng hưởng từ hạt nhân), khai thác dữ liệu (data mining) viễn thông… Tiếc rằng mặc dù ngành tối ưu của Việt Nam đã chiếm được một vị trí đáng nể trong khoa học thế giới nhưng mấy năm qua không tiến lên được về ứng dụng do thiếu những điều kiện tối thiểu về nhân lực và phương tiện. Điều đáng buồn là những điều kiện này cũng chẳng phải khó khăn gì, chẳng qua do thiếu sự quan tâm cần thiết của các cơ quan hữu trách.  Ngoài các ứng dụng vào từng việc cụ thể, các khoa học về tối ưu, hệ thống, và các phương pháp toán học nói chung, còn có tác dụng rèn luyện và bồi dưỡng tư duy khoa học rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Nhiều việc, dù không có kiến thức cụ thể và không biết tính toán chính xác chặt chẽ, song nếu có tư duy logic, có khái niệm về hệ thống, tối ưu, hiệu quả, có khái niệm về mô hình, về thống kê… thì sẽ có cách suy nghĩ đúng đắn hơn để tiếp cận hàng loạt vấn đề thực tế hằng ngày, chẳng hạn như cân nhắc lợi hại, tính toán rủi ro, dự trữ, làm các kế hoạch dự phòng trong các môi trường nhiều yếu tố bất định… Chỉ đơn cử vài ví dụ. Từ lâu trong khoa học người ta đã biết cái gọi là “nghịch lý Braess” : mở thêm đường trong một mạng giao thông không nhất thiết bao giờ cũng làm giảm ách tắc, tăng hiệu quả, làm cho xe cộ đi lại thông suốt hơn, mà có khi có tác dụng ngược lại! Kinh nghiệm thành phố Stuttgart ở CHLB Đức cách đây vài chục năm cho thấy khi người ta mở thêm nhiều đường mới với hy vọng giảm bớt ách tắc giao thông thì trái lại đã làm cho giao thông ách tắc thêm, và chỉ sau khi đóng bớt một đường mới mở thì giao thông mới thật sự được cải thiện. Chúng ta không biết nghịch lý đó nên khi mở thêm đường Chùa Bộc ở Hà Nội cũng tưởng giảm bớt, không ngờ đã làm tăng thêm ách tắc giao thông, và mãi sau khi tích cực giải quyết một số nút chai thì mới giải tỏa được. Trong kinh tế xã hội có những hiện tượng không hoặc rất khó đảo ngược, nhà quản lý phải hết sức tránh và nếu đã lỡ để xảy ra một hiện tượng xấu thuộc loại đó thì ít khi có thể giải quyết bằng cách cố quay về trạng thái cũ. Các tệ nạn tham nhũng trong bộ máy Nhà nước, việc dạy thêm học thêm tràn lan, gian trá trong học đường, … đều thuộc loại hiện tượng đó. Khi đã thành tật thì như một bản tính mới (seconde nature, nói theo người Pháp), không dễ gì thay đổi nếu không kiên quyết.              Với nhà toán học, kinh tế học Liên Xô Leonid Vitaliyevich Kantorovich (Nobel Kinh tế 1975)             ĐỂ ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG TOÁN HỌC NÓI CHUNG VÀ TỐI ƯU NÓI RIÊNG:  1. Cần có một cơ chế quản lý tốt (trước hết về tài chính, tiền tệ) để tạo một môi trường kinh tế xã hội lành mạnh, thuận lợi cho các hoạt động khoa học chân chính, khuyến khích áp dụng khoa học, từ việc nhỏ trở đi (nhiều việc tưởng nhỏ mà thật ra vô cùng quan trọng như có những điểm chi tiết trong cơ chế quản lý hiện nay đủ sức vô hiệu hóa các chủ trương lớn) .  2. Cần nâng cao nhận thức trong các cấp lãnh đạo đối với khoa học, phù hợp với yêu cầu thời đại công nghệ. Làm sao để sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với khoa học ít ra cũng ngang như thời kỳ những năm 60. Không có gì quan trọng hơn chất lượng và hiệu quả, mà hai thứ đó chỉ đạt được nhờ phát triển khoa học.  3. Cần đẩy mạnh đào tạo cán bộ. Phải có những người trẻ đủ kiến thức, tài năng và nhiệt huyết. Đội ngũ khoa học của ta nhiều người tuổi đã cao, khó xông xáo, và ít nhạy cảm với những cái mới, dễ có xu hướng làm theo lối mòn, do lỗi của chúng ta trong nhiều năm đã buộc họ phải vất vả kiếm sống bằng nghề phụ và nhiều việc làm phụ có khi chẳng liên quan gì đến nghề nghiệp. Do đó phải giúp họ quay lại với chuyên môn, đồng thời cần có những hình thức đào tạo mới, mạnh dạn thoát ra khỏi các khuôn khổ hiện tại để có thể nhanh chóng xây dựng được một đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực, đáp ứng được nhu cầu phát triển.  4. Giáo dục là căn bản. Không chấn hưng giáo dục bằng những biện pháp kiên quyết để thật sự nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài theo những yêu cầu của thời đại kinh tế tri thức, thì không thể có sáng tạo gì trong khoa học công nghệ, mà ngay cả những điều đã thành thông thường sơ đẳng ở các nước, ta cũng khó ứng dụng có hiệu quả. Singapore đang có kế hoạch cải cách giáo dục để biến đảo quốc này thành một đất nước học thức, lẽ nào truyền thống nghìn năm văn hiến của ta đến thế hệ này là chấm dứt?  ***  Thật đáng mừng mà vừa cũng đáng lo là chưa bao giờ toán học cần cho sự phát triển của các quốc gia như bây giờ. Không phải vô cớ mà UNESCO đã bảo trợ tuyên bố của Hội Toán học Quốc tế lấy năm 2000 làm năm toán học của thế giới. Trong các hành trang để bước sang thế kỷ XXI, toán học nói chung và khoa học tối ưu nói riêng không thể thiếu được. Chúng ta không thể bỏ lỡ cơ hội phát triển trí tuệ của dân tộc vào thời buổi mà đâu đâu trên thế giới trí tuệ cũng được huy động tối đa để đạt hiệu quả, chất lượng, và tăng sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu như phi tuyến, nhảy vọt, là đặc trưng của nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, trong thế kỷ tới thì tại sao ta không có quyền hy vọng điều đó cho đất nước ?  Lời bàn thêm năm 2007  Gần một thập kỷ đã qua kể từ lúc tôi viết bài trên đây. Trong thời gian đó, cùng với các ngành khoa học khác, lý thuyết tôi ưu đã có nhiều bước phát triển mới. Thế kỷ 21 đã mở màn với một thành tựu khoa học tuyệt vời: giải mã bộ gen người. Thành tựu này là kết quả hợp tác nghiên cứu của hơn 1000 nhà khoa học trên khắp thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau,  trong đó các công cụ toán học nói chung và các thuật toán tối ưu nói riêng, đã có phần đóng góp quan trọng. Dần dần đã hình thành rõ nét một khoa học liên ngành mới – khoa học tính toán (computational science) – mà các chiến lược gia khoa học đánh giá sẽ là một trụ cột của khoa học thế kỷ 21 quyết định năng lực cạnh tranh của các quôc gia  trong thời đại toàn cầu hóa.   Trong khi cả thế giới đang sôi nổi lao vào cuộc chinh phục những biên giới tri thức mới thì giải đất chữ S này xem ra vẫn hết sức im ắng. Ở đây, từ vài thập kỷ nay, khoa học hình như chỉ là một thứ xa xỉ phẩm, bỏ thì thương, vương thì tội. Chẳng lẽ thời nay mà không nhắc đến khoa học và giáo dục hay sao; hơn nữa, nghị quyết đã ghi rõ việc phát triển hai lĩnh vực này phải là quốc sách hàng đầu. Nhưng cái gốc có lẽ vì chúng ta chưa thật sự tin tưởng ở đường lối đó, nên thực hiện không nghiêm chỉnh, khiến cho đến nay, tuy đã đầu tư không ít, song tiền đầu tư không rõ đi đâu mà khoa học vẫn còi cọc không gượng dậy nổi. Thậm chí tình hình tồi tệ thảm hại khi bước vào sân chơi quốc tế. Ngành tối ưu tuy thuộc loại thiết thực lại có tiềm lực, nhưng những tiếng kêu liên tiếp của chúng tôi từ hai chục năm nay (mà bài viết trên đây chỉ là một) cũng chỉ rơi vào thinh không, dù có lúc đã kêu thấu đến cấp lãnh đạo cao nhất.  Thông thường khi tham nhũng hoành hành hàng mấy chục năm mà chưa có cách nào kìm hãm nổi, đồng thời có quá nhiều chuyện gây bất an trong cuộc sống thường ngày của dân, như tai nạn giao thông tăng liên tục, môi trường ô nhiễm nặng, thực phẩm kém an toàn vệ sinh, lũ lụt, dịch bệnh liên miên, hành vi gian dối lừa đảo tràn lan, thì chỉ cần có chút tư duy hệ thống cũng đủ nhận ra đằng sau bấy nhiêu sự cố ấy ắt phải có một nguyên nhân sâu xa bao trùm. Không thể chỉ là trục trặc vận hành, trục trặc có tính cục bộ, tạm thời, mà là  trục trặc hệ thống, trục trặc ngay trong cấu trúc, trong cơ chế. Những trục trặc đó chỉ có thể khắc phục bằng biện pháp sửa chữa căn cơ đi vào gốc của sự vật. It ra đó là cách nhìn theo tư duy hệ thống hiện là chỗ yếu kém nhất trong văn hóa quản lý của chúng ta. Vì tầm mắt hạn hẹp, cò con, chỉ nhìn thấy lợi ích cục bộ, trước mắt, không nhìn thấy lợi ích cơ bản, toàn cục, lâu dài, không tính đến các hiệu ứng phụ, không nhìn rõ những mối liên quan chằng chịt của sự vật, nên mới sinh ra bao nhiêu khó khăn phức tạp không đáng có, rồi cứ đổ cho đó là những khó khăn không tránh khỏi. Trong chiến tranh, chúng ta đã chăm lo cho khoa học, giáo dục bao nhiêu, thì ngày nay, trong hòa bình,  chúng ta lơ là bấy nhiêu, để mặc cho  khoa học, giáo dục tụt hậu, sa sút.  Mười năm về trước, với mong muốn khôi phục những hoạt động ứng dụng tối ưu đã có thời sôi nổi trong những năm 60 thế kỷ trước nhờ được sự quan tâm, khuyến khích của các nhà lãnh đạo khi ấy, chúng tôi đã kiến nghị mở một trung tâm đào tạo tiến sĩ về toán ứng dụng theo trình độ quốc tế thật sự, làm cơ sở cho việc đào tạo nhân lực trình độ cao đáp ứng các nhu cầu ngày càng bức thiết về nghiên cứu và ứng dụng toán học trong khoa học, kỹ thuật, kinh tế và đời sống hiện đại. Giá như đề nghị ấy được chấp thuận, dù chỉ để tỏ lòng thành kính đối với vị Chủ Tịch đã từng lo nghĩ đến khoa học ngay trong những ngày cuối đời, thì tôi tin chắc nếu không làm được gì nhiều ít ra cũng gầy đựng được một trung tâm khoa học chất lượng cao, làm bàn đạp tiến xa hơn nữa, đồng thời khêu gợi trong xã hội một tâm lý, một nếp nghĩ, một tư duy hệ thống, hiệu quả, may ra tránh được hay giảm thiểu nhiều khó khăn gặp phải hiện nay mà chắc chắn một phần lớn chỉ do quản lý kém cỏi chứ không phải khách quan gây ra.     Hoàng Tụy        Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Tôn trọng sự khác biệt bẩm sinh      Qua hàng chục cuộc phỏng vấn xoay quanh chủ đề về giáo dục gia đình, quan niệm và phương cách giáo dục, một điều nổi bật, một điểm chung mà chúng tôi có thể rút ra đó là các bà mẹ nhận thức và mô tả sự khác biệt nơi từng đứa trẻ một cách sống động, đầy sự cuốn hút. Từ nhận thức này, đa số họ cho rằng, giáo dục không nên là sự áp đặt một khuôn mẫu nào đó lên tất cả trẻ nhỏ.  &#160;    Tôi nhớ ở đâu đó trong tác phẩm Emile hay là giáo dục, Rousseau đã khen các mẹ là như những nhà giáo dục vĩ đại. Quả thật, họ đã đưa ra những đúc kết như những nhà lý luận và thực hành giáo dục chuyên nghiệp mặc dù đa số trong họ chẳng học hành, bằng cấp gì nhiều. Những đúc kết của họ bình dị nhưng có sức thuyết phục, đánh đổ nhiều lý thuyết nghiên cứu trong xã hội học và giáo dục học theo trường phái quyết định luận, kiểu cho rằng bối cảnh xung quanh, sự giáo dục của người lớn là những yếu tố quyết định nhân cách của trẻ nhỏ. Những kết luận của họ, các bà mẹ Pháp và Việt cũng tố cáo sự sai trái của những quốc gia có nền giáo dục tập quyền, những nơi lùa tất cả trẻ nhỏ vào chung một cái khung và cố tình đúc chúng trở nên giống nhau như những con người robot.    Sự khác biệt có tính thiên bẩm nơi trẻ nhỏ  Các bà mẹ Pháp và Việt Nam mà chúng tôi nói chuyện thường có 2 con trở lên, có bà mẹ có đến 6 con. Họ là người gần gũi và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục con cái. Chúng tôi trích ngay vài đoạn điển hình liên quan đến sự khác biệt nơi trẻ nhỏ. Một bà mẹ Pháp có 4 người con nhìn nhận:  Hoàn toàn khác biệt, mỗi cháu mỗi vẻ. Cháu đầu nhà tôi là con gái nhưng lại có máu nghệ sĩ, luôn sống trên mây. Nó lộn xộn, bừa bãi, và nó thích sống như thế. Còn người em kế lại ngược hẳn, thích quan sát, thích toán học, thích sự chính xác và rõ ràng. Nó cũng thích đọc, tôi nói với anh, nó có thể ở trong phòng đọc sách cả buổi mà chẳng sao. Còn cậu thứ ba thì lại chẳng giống ai trong nhà này, cháu thích thể thao mặc dầu tôi và chồng tôi đâu có ai có khiếu thể thao. Cái gì cũng cơ bắp, hùng hục… Chuyện học hành với cậu ta là chuyện thứ yếu, cũng đến trường, cũng sách vở như ai, nhưng hình như không thú vị cho lắm ! (cười). Còn cháu út thì chỉ mới 4 tuổi, thích ba mẹ vuốt ve, vì quá nhỏ nên cháu chưa bộc lộ rõ lắm, nhưng có lẽ là mẫu số chung của tất cả các anh chi nó…   Một bà mẹ Việt Nam có hai con trai mô tả một cách giản dị:  Có, mỗi đứa mỗi tính. Ví dụ như bận áo quần thì thằng kia thì bận màu nhạt, thằng này thì khoái bận màu đậm. Hai anh em hai tính kỳ lắm. Ăn uống cũng vậy, đứa ăn rau đứa không ăn rau.  Còn rất nhiều những minh hoạ tương tự mô tả sự khác biệt nơi con nhỏ.           Những kết luận của họ, các bà mẹ Pháp và Việt cũng tố cáo sự sai trái của những quốc gia có nền giáo dục tập quyền, những nơi lùa tất cả trẻ nhỏ vào chung một cái khung và cố tình đúc chúng trở nên giống nhau như những con người robot.            Các bà mẹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa đứa trẻ này và đứa trẻ khác, giữa trẻ nam và trẻ nữ, là những khác biệt có tính thiên bẩm trước khi tiếp xúc với giáo dục của người lớn. Và một điều thú vị khác mà chúng tôi khâm phục các bà mẹ hơn nhiều các quan chức giáo dục cấp cao là, vì nhận thức sự khác biệt nơi con cái có tính bẩm sinh như thế, nên không ai nỡ áp đặt lên tất cả các con cùng một mục tiêu và cùng một khuôn mẫu giáo dục.  Họ ước mơ ước một tương lại tốt đẹp cho con, họ cố gắng hướng dẫn, dạy dỗ (về khoản này thì có sự khác biệt rất rõ giữa các bà mẹ Pháp và Việt Nam mà chúng tôi chưa có điều kiện trình bày ở đây), nhưng phải tuỳ vào từng người con, chứ không thể áp dụng với tất cả các con cùng một cách thức và mục tiêu. Một bà mẹ Việt có một trai một gái chia sẻ:   Không, mỗi đứa một cách em ơi, do tính cách với lại nam khác, nữ khác mà cùng áp dụng cùng một cái là không được… không phải là giáo dục là cùng một khuôn mẫu cho hai ba đứa thì không có, nhưng mà tuỳ, tuỳ cơ ứng biến để xử lý thôi.  Các bà mẹ Pháp lại càng tỏ ra dân chủ hơn khi luôn đặt con họ làm trung tâm trong giáo dục. Họ có những nguyên tắc chung, những chờ đợi chung dành cho tất cả các con như là những nguyên tắc căn bản cần chuyển tải đến con để giúp con hội nhập vào xã hội, như những phép lịch sự, sự tôn trong người khác, tôn trọng sự khác biệt, tính tự lập… Nhưng để đạt được những điều này thì phải tuỳ từng người con để hướng dẫn, để nói chuyện, để có những đối sách. Bà mẹ Pháp có 6 người con đưa ra một hình ảnh:  Giáo dục con cái cũng như chăm một cái cây, phải tuỳ theo từng đứa để tưới nước, bón phân cho phù hợp thì mới giúp con tự lớn lên được. Có cháu thì cần nhẹ nhàng khuyên răn, cũng có cháu thì cần đến các hình phạt. Nhưng ngay cả chuyện này cũng tuỳ. Chẳng hạn, nếu phạt cái đứa mà nó thích đọc, có đời sống hướng nội bằng cách nhốt nó trong phòng có đầy sách thì nó hạnh phúc quá (cười), còn nếu áp dụng hình phạt đó với cái đứa thích đi, thích hoạt động thì mới là hình phạt…     Ngoài sự khác biệt, đứa trẻ còn là những actor chủ động trong quá trình hình thành nhân cách, chứ không phải là những thực thể thụ động chịu sự đúc nặn của người lớn. Tất cả các bà mẹ đều thấy mà chúng tôi cũng thấy rất rõ, là đứa trẻ ngay từ lọt lòng vốn là những cá thể chủ động, đứa trẻ chịu sự giáo dục của người lớn nhưng trẻ cũng không ngồi yên để người lớn muốn làm gì thì làm. Chẳng hạn chuyện một đứa trẻ khóc khi chưa biết nói, và người lớn đến bồng nó, cho ăn, ru ngủ… là một hành động chủ động của trẻ tương tác với người lớn nhằm đạt được ý muốn của mình. Với thời gian, con cái chúng ta đủ sự thông minh để thực hiện những ý đồ theo sở thích riêng hay ít nữa là tìm được tiếng nói trong những điều mà các trẻ buộc phải thi hành. Đây cũng là một điểm quan trọng khác cần lưu ý trong giáo dục.  Vài suy nghĩ về giáo dục nhà trường tại Việt Nam  Từ những bài học của các bà mẹ, làm chúng ta liên hệ và suy nghĩ nhiều điều trong giáo dục phổ thông hiện nay. Tại sao các bà mẹ, vốn chẳng được đào tạo gì trong các trường sư phạm, mà nhìn ra những chuyện mà Rousseau, Piaget đã nhìn ra, còn những người có trách nhiệm với hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay có lẽ ít nhiều được đào tạo lại không nhìn ra, hay nhìn ra nhưng vẫn áp đặt một mô hình giáo dục trái tự nhiên, tức là đi ngược lại với sự khác biệt bẩm sinh, quên mất vai trò chủ động nơi con trẻ đến thế.   Qua chuyện này, tôi muốn đặt ra những câu hỏi để suy nghĩ.          Với thời gian, con cái chúng ta đủ sự thông minh để thực hiện những ý đồ theo sở thích riêng hay ít nữa là tìm được tiếng nói trong những điều mà các trẻ buộc phải thi hành. Đây cũng là một điểm quan trọng khác cần lưu ý trong giáo dục.        Mục tiêu giáo dục quốc gia? Hai đứa con trong một gia đình đã là khác nhau do đó ít cha mẹ nào cùng đặt ra chung một mục tiêu cho hai con là phải trở thành ông này bà nọ cụ thể nào đó trong tương lai. Do vậy, theo tôi, chúng ta chỉ nên đặt mục tiêu của giáo dục là chăm sóc và tạo điều kiện tối đa cho từng học sinh phát triển tối đa về trí tuệ, tinh thần, thể lực theo cách của mình. Giáo dục không phải là hành động bỏ chung tất cả con em vào cùng một cái khung, dẫu cho cái khung đó có tốt lành thế nào, huống hồ đây lại là một cái khung mà ngay cả người lớn cũng không biết có đúng hay không. Làm như thế là cản trở sự phát triển của con trẻ, đi ngược lại những khác biệt vốn có, quên mất vai trò chủ động nơi từng trẻ, và dĩ nhiên là chẳng tốt lành gì cho tương lai của cả đất nước.  Phương thức tổ chức và thực hành giáo dục? Tại sao chúng ta áp dụng cùng một loại hình trường lớp, chương trình nội dung và cách thức giáo dục cho chung tất cả học sinh ?           Giáo dục không phải là hành động bỏ chung tất cả con em vào cùng một cái khung, dẫu cho cái khung đó có tốt lành thế nào, huống hồ đây lại là một cái khung mà ngay cả người lớn cũng không biết có đúng hay không.        Sự đặc biệt nơi giáo dục phổ thông Việt Nam mà không mấy nước có, đó là sự đồng loạt, tập thể, thi đua khen thưởng trong giáo dục. Các em học cùng chương trình và sách giáo khoa đồng loạt, thầy đọc trò chép đồng loạt, các phong trào thi đua khen thưởng được tổ chức đồng loạt, bây giờ thì thực hiện đổi mới cũng đồng loạt… Sự đồng loạt này san bằng mọi khác biệt vốn có của trẻ thơ. Sự thành công của giáo dục Phần Lan mà chúng tôi đã có dịp quan sát, là nhà trường, các giáo viên của nước này đã học bài học của các bà mẹ mà chúng tôi đã nói đến ở trên. Họ nhận thức sâu sắc sự khác biệt nơi từng học sinh, và xem mỗi học sinh là mỗi actor chủ động. Và vì vậy họ đã áp dụng sự khác biệt trong phương cách giáo dục và mời gọi sự tham gia từ phía học sinh. Tuỳ theo thể trạng, tâm lý, khuynh hướng, năng khiếu của từng học sinh, các giáo viên có trách nhiệm xây dựng từng kế hoạch riêng có sự tham của ba bên: học sinh, phụ huynh và giáo viên trong thiết  kế và thực hiện. Giáo dục đặt học sinh làm trung tâm là như thế.  Trong chương trình đổi mới của Bộ Giáo dục Việt Nam cũng đang theo hướng này, tôi mong là không phải vì bế tắc quá mà làm theo thiên hạ một cách máy móc, mà chỉ mong những người có trách nhiệm nhận thức được như những người mẹ mà tôi đã trình bày ở trên và với cái tâm, để thực hiện thành công sự đổi mới theo hướng tôn trọng vai trò chủ động của học sinh, tôn trọng sự khác biệt có tính bẩm sinh của từng con trẻ.   ———————  (Tư liệu cho bài viết này được lấy từ các cuộc phỏng vấn trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu Phát triển giáo dục IRED)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng kết nghiên cứu về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam (Kỳ I)      Từ những chuyên đề khác nhau trong một dự án  cải cách toàn diện nền giáo dục đại học mà nhóm Đối thoại giáo dục bắt  đầu nghiên cứu, trao đổi từ năm 2013, mới đây nhóm đã thực hiện một tổng  kết về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam. Tia Sáng xin trân  trọng giới thiệu bản tổng kết này đến độc giả.    Nhóm Đối thoại giáo dục tập hợp một số nhà khoa học có chuyên môn ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng cùng chia sẻ các nguyên tắc nghiên cứu khoa học và ước vọng về một nền đại học Việt Nam lành mạnh và tiến bộ. Nhóm đã tập trung làm việc từ năm 2013 theo những chuyên đề khác nhau trong một dự án cải cách toàn diện nền giáo dục đại học và đã tổ chức một Hội thảo trong hè 2014 để chia sẻ những suy nghĩ của mình và thảo luận với nhiều giảng viên, nhà khoa học cũng như những người làm công tác quản lý giáo dục. Từ đó đến nay, nhóm tiếp tục nghiên cứu những chuyên đề chưa được đề cập đến trong Hội thảo và để hoàn thành bản tổng kết này. Một số bài viết của nhóm đã được công bố, một số khác đã được gửi trực tiếp đến lãnh đạo có thẩm quyền. Mục đích của bài viết này là tổng kết công việc của nhóm.  Để viết bài này, ngoài những tài liệu tự biên soạn, chúng tôi có sử dụng những đóng góp của nhiều người khác, đặc biệt là những đóng góp quý báu trong Hội thảo hè VED 2014. Khi sử dụng tài liệu của những người khác, chúng tôi sẽ cố gắng trích dẫn đầy đủ, tuy nhiên những ý kiến phát biểu trong bài này là ý kiến của nhóm Đối thoại giáo dục, có thể nhưng không nhất thiết nhất trí với ý kiến của những người được trích dẫn.  Tài liệu này được soạn theo cấu trúc sau đây. Phần A bao gồm một số nhận định chung và phương pháp luận. Phần B liệt kê những phương hướng, đề mục cải cách mà chúng tôi coi là mấu chốt. Mỗi đề mục được chia thành ba phần: phân tích hiện trạng, khuyến nghị và lộ trình. Phần C bao gồm danh sách những thành viên của nhóm Đối thoại giáo dục tham gia làm bản tổng kết này.  A. Nhận thức và phương pháp luận  Sự cần thiết của cải cách hệ thống giáo dục đại học xuất phát từ nhận thức chung của xã hội (đặc biệt của những cá nhân và tổ chức giữ vai trò lãnh đạo xã hội và những người trực tiếp tham gia giảng dạy và quản lý đại học) về sự yếu kém của giáo dục đại học và nguy cơ (hoặc thực trạng) của sự tụt hậu so với thế giới hoặc thậm chí so với khu vực.   Tuy có nhận thức chung về sự cần thiết của cải cách giáo dục đại học, thực tế cho thấy còn tồn tại rất nhiều bất đồng về phương hướng và mức độ cải cách.   Quan điểm chung của nhóm Đối thoại giáo dục là:  ●    Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần được cải cách cơ bản và sâu sắc ngay từ nguyên lý và quy tắc tổ chức; không thể chỉ thay đổi một vài chi tiết.   ●    Cải cách cơ bản và sâu sắc là một quá trình lâu dài và liên tục, không phải là một đơn thuốc có tính công phạt. Trước hết cần tạo ra những vận động tích cực của xã hội, phát huy triệt để các động lực tích cực của xã hội để khởi động, để rồi dựa vào những vận động, động lực đó mà tiếp tục cải cách sâu sắc hơn.   ●    Mô hình dài hạn cần hướng tới là mô hình của các nước đã phát triển, nhưng cũng cần lưu ý tới những đặc thù của đại học Việt Nam để xây dựng một lộ trình cải cách hiệu quả.  ●    Tự chủ đại học là một động lực rất lớn của quá trình cải cách. Vấn đề cần suy nghĩ là hình thành khung pháp lý, thiết kế qui tắc quản lý nhà nước và quản trị nội bộ, những thành tố làm nên nội dung của khái niệm “tự chủ đại học”.  B. Đề mục cải cách đại học Việt Nam    1. Cải cách mô hình quản trị đại học  Để nền đại học Việt Nam có sức sống và sức phát triển, cần cải cách mô hình quản trị đại học.   Phân tích hiện trạng  Các trường đại học công lập thuộc sở hữu toàn dân, được nhà nước đại diện làm chủ sở hữu. Cần phân biệt trách nhiệm điều tiết ở tầm quốc gia với trách nhiệm làm “chủ” từng trường đại học. Định chế được ủy thác trách nhiệm làm chủ một đại học phải hoạt động toàn tâm toàn ý vì sự phát triển, vì lợi ích riêng của trường mình, trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự phát triển chung. Theo một nghĩa nào đó, hơn 330 trường đại học và cao đẳng công lập ở Việt Nam chưa có “chủ” thực sự.  Tuy tin rằng các trường đại học Việt Nam sẽ cần có những người “chủ” thực sự, chúng tôi thấy cần dè dặt khi sử dụng thuật ngữ này vì nó có thể bị hiểu nhầm thành chủ sở hữu đất đai và cơ sở vật chất. Cần nhấn mạnh hai thuộc tính cơ bản của sở hữu đại học: một là sở hữu đại học không sinh ra cổ tức, không trực tiếp sinh ra lợi nhuận; hai là sở hữu đại học không có tính kế thừa theo huyết thống. Những người được ủy thác làm “chủ” hay quản trị một đại học phải làm việc đó vì lợi ích của xã hội, hoặc vì lợi ích của địa phương, của ngành nghề mà mình đại diện. (Xin lưu ý: các lập luận này của chúng tôi không bao gồm các đại học vị lợi nhuận hoạt động theo nguyên lý chung của thị trường).  Hiện tại, một số đại học Việt Nam đã có hội đồng trường, nhưng số lượng ít và những hội đồng đang tồn tại chủ yếu chỉ có chức năng tham vấn. Theo một điều tra được nhắc đến trong bài phát biểu của GS. Nguyễn Minh Thuyết, các hội đồng trường hiện tại không có quyền lực thực chất. Vào thời điểm năm 2010, trong 440 trường đại học và cao đẳng được khảo sát, có chưa tới 10 trường có hội đồng trường, và trên thực tế, các hội đồng này gần như không hoạt động, các thành viên ngoài trường hầu như không dự phiên họp nào, không có bất cứ hoạt động gì, trừ sự hiện diện tại phiên họp công bố quyết định thành lập hội đồng (Báo cáo Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội năm 2010). Trên thực tế, ít người biết đến sự tồn tại của các hội đồng trường.  Khuyến nghị    Chúng tôi cho rằng thay cho các hội đồng trường có vai trò tham vấn, các trường đại học cần có hội đồng ủy thác (hay còn gọi hội đồng tín thác – board of trustees) với quyền lực tương tự như hội đồng quản trị của các doanh nghiệp. Địa phương và các bộ ngành liên quan thực hiện quyền và trách nhiệm làm “chủ” của mình thông qua hội đồng ủy thác. Mọi quyết định quan trọng trong đó có việc chỉ định ban giám hiệu trường và đề ra những phương hướng chính sách lớn liên quan đến quyền lợi và sự phát triển của trường phải được thực hiện trong các cuộc họp của hội đồng ủy thác.   Việc thành lập hội đồng ủy thác và thiết lập cơ cấu của nó gắn liền với việc nhà nước phân quyền làm “chủ” đại học cho địa phương và các bộ, ngành liên quan. Chúng tôi tin rằng chỉ những định chế có lợi ích gắn chặt với định mệnh của một trường đại học mới thực hiện tốt vai trò làm “chủ”.  Việc phân quyền làm “chủ” đại học cho địa phương có các thuận lợi sau đây:  –    Tăng thêm tính lành mạnh trong cạnh tranh giữa các tỉnh thành phố; cũng như gia tăng tính thận trọng trong cân nhắc nhu cầu thực, tính khả thi của việc xây dựng đại học của địa phương mình. Cần nhận thấy xu thế chung là có một đại học mạnh có tiếng tăm là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của địa phương hoặc vùng. Chỉ có sự cạnh tranh xuất phát từ nhu cầu thực mới đem lại nguồn lực thực sự cho đại học.   –    Địa phương là nơi có khả năng tốt nhất để vận động được sự ủng hộ xã hội lớn nhất cho trường. Nhiều doanh nghiệp, cá nhân sẽ sẵn lòng hơn trong việc đóng góp tiền của xây dựng đại học, nếu đại học đó là của quê hương, hay địa phương mà họ gắn bó. Để huy động có hiệu quả nguồn lực xã hội, thuộc tính phi lợi nhuận của trường đại học cần được thể chế hoá trong mô hình quản trị mới.   –    Để quá trình phân cấp không dẫn đến sự phát triển ào ạt và sự suy giảm chất lượng của các trường đại học, các trường đại học mới phải đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo; tất cả các trường đại học cần được kiểm định chất lượng định kỳ và nếu cần thiết phải bị đóng cửa nếu không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng.  Lộ trình   Việc giao đại học về địa phương có thể bắt đầu từ các tỉnh thành phố có khả năng tự chủ ngân sách. Có thể xem xét việc cho phép địa phương trích lập quỹ hỗ trợ giáo dục đại học từ khoản ngân sách địa phương phải chuyển về trung ương nếu địa phương cam kết bảo trợ tài chính cho đại học mình làm chủ. Khi ấy, trách nhiệm đảm bảo tài chính cho việc vận hành trường của nhà nước sẽ giảm bớt một cách tương ứng.  Với việc cải cách quản trị đại học như ở trên, vai trò của các Bộ chủ quản sẽ được tập trung vào trách nhiệm điều phối, điều tiết ở tầm quốc gia.   2. Cải cách tài chính trong giáo dục đại học Việt Nam    Một nền giáo dục đại học dù được thiết kế tốt đến đâu nhưng nếu không đủ nguồn lực tài chính hoặc nguồn lực không được phân bổ và sử dụng một cách hiệu quả thì sẽ không thể hoàn thành được những mục tiêu mà xã hội mong đợi. Hiện trạng tài chính của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang đối mặt với ba vấn đề lớn: thiếu kinh phí, bất bình đẳng và thiếu tự chủ tài chính. Trong phần này chúng tôi sẽ phân tích ba vấn đề nói trên, và đề xuất một mô hình dài hạn cùng với lộ trình thực hiện phù hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam.    Phân tích hiện trạng  Ba thách thức tài chính lớn trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là:  ●    Các trường đại học thiếu kinh phí một cách trầm trọng  Thứ nhất, mức đầu tư của nhà nước cho các trường công còn rất thấp. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2010, đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam chiếm 14% đầu tư của ngân sách nhà nước cho giáo dục. So với GDP thì tỷ lệ đầu tư công cho giáo dục đại học là 0,9%. Trong khi đó mức trung bình đầu tư công cho GDĐH của các nước OECD là là 1% GDP (cộng với 0,5% từ khu vực tư nhân thành 1,5%). Ở châu Âu mức chi của nhà nước cho ĐH trung bình là 1,1% GDP, cộng với 0,2% từ khu vực tư nhân). Mỹ thì đang chi 2% GDP cho đại học (1% từ nhà nước). Tính theo số tuyệt đối (khoảng 5-6 triệu/sinh viên/năm tại phần lớn các chương trình chính, không tính chương trình tài năng, chất lượng cao, tiên tiến), đầu tư của nhà nước cho GDĐH ở Việt Nam thấp hơn rất nhiều vì GDP Việt Nam còn thấp.  Thứ hai, mức học phí cho các trường công cũng rất thấp. Phần lớn các trường đại học công ở Việt Nam (trừ một số trường tự chủ tài chính) đang đặt mức học phí theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP trong đó học phí bị chặn trần ở mức quá thấp (từ 5,5 triệu – 8 triệu/sinh viên/năm cho năm học 2014-2015). Nếu chiếu theo mức học phí trung bình của các trường đại học thuộc nhóm xếp hạng khá ở Mỹ xấp xỉ bằng GDP đầu người thì học phí ở Việt Nam sẽ cần tăng lên từ hai đến ba lần so với mức hiện nay. Tương tự như vậy, nếu chiếu theo mức học phí của Đại học Bắc Kinh – một trường đại học hàng đầu Trung Quốc – là 26-30.000 NDT/năm, tương đương 60-70% GDP đầu người của Trung Quốc thì học phí của đại học Việt Nam cũng cần tăng lên khoảng 25-30 triệu VND/năm theo thời giá hiện tại.  Thứ ba, các nguồn thu khác như nguồn thu từ dịch vụ, nguồn thu từ dịch vụ khoa học, công nghệ, từ viện trợ, tài trợ, hiến tặng cũng quá thấp, trung bình chỉ khoảng 3% tổng nguồn thu hiện nay của các trường đại học Việt Nam.  Bên cạnh đó, tình hình tài chính với các đại học tư cũng không khả quan hơn đại học công. Trừ một số các trường tư có tầm nhìn và nguồn lực cho phép, phần lớn các trường tư ở Việt Nam hiện nay cũng chỉ dựa vào nguồn thu từ học phí và mức học phí mặc dù cao hơn so với mức trung bình của đại học công nhưng về cơ bản cũng tương đối thấp (trung bình 8 – 12 triệu VND/năm).  Hệ quả của các vấn đề nêu trên là chất lượng đào tạo suy giảm, cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu và xuống cấp, các trường phải tăng số lượng sinh viên và mở rộng các hệ đào tạo phi chính quy làm giảng viên quá tải, không còn đủ thời gian dành cho nghiên cứu khoa học.  ●    Bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục đại học giữa người giàu và người nghèo  Cách tiếp cận của Việt Nam hiện nay là giữ học phí thấp để người nghèo có thể tiếp cận. Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận này là sai lầm và nó có thể dẫn đến bất bình đẳng hơn vì hai lý do sau. Thứ nhất, học phí thấp làm cho các trường không có đủ nguồn thu để cấp học bổng cho sinh viên nghèo. Thứ hai, học phí thấp dẫn đến đa số nguồn lực của trường phải dựa vào ngân sách nhà nước. Vì hai lý do này, chỉ sinh viên từ gia đình khá giả mới đi học đại học được, và chi phí đào tạo các sinh viên này lại được nhà nước bao cấp là chủ yếu.  Một giải pháp cho vấn đề này là chương trình học bổng và tín dụng cho sinh viên nghèo. Hiện nay, học bổng cho sinh viên nghèo ở nước ta đã có nhưng không đáng kể. Về tín dụng, từ năm 2007 Nhà nước đã ban hành chương trình tín dụng sinh viên theo Quyết định 157/2007/QĐ-TTg và giảm được một phần gánh nặng cho một số sinh viên nghèo. Tuy vậy, nhược điểm của chương trình này là mức cho vay thấp, chỉ đủ chi trả một phần chi phí sinh hoạt, học phí của sinh viên. Mặt khác, vì đối tượng cho vay dàn trải, và vì chưa áp dụng hình thức điều chỉnh mức cho vay theo khả năng tài chính và năng lực học tập của sinh viên, cho nên Chương trình 157 chưa thực sự hỗ trợ được sinh viên nghèo, có học lực, có đủ khả năng chi trả cho việc đi học đại học.  ●    Cơ chế tự chủ và trách nhiệm giải trình về mặt tài chính còn nhiều bất cập  Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV và mới đây là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP bước đầu trao nhiều quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học, nhưng vẫn chưa đủ mạnh và linh động để giúp các trường có khả năng chủ động tự điều chỉnh chính sách của mình nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển và sự biến động nhanh chóng của thực tiễn quản lý. Ngay những trường được thí điểm có tự chủ về phần “thu” như Đại học Ngoại thương, Đại học Hà Nội vẫn bị hạn chế rất nhiều về phần “chi”, ví dụ như quyền quyết định lương bổng cho giảng viên, cán bộ, quyền quyết định chi các hoạt động tái đầu tư, liên doanh, hợp tác, mua sắm tài sản, trang thiết bị ….  Về phía các trường, vẫn còn nhiều thói quen ỷ lại, chờ bao cấp từ phía nhà nước. Về phía các nhà quản lý nhà nước thì còn e ngại, chưa dứt khoát trao quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường đại học, một phần là do vẫn thiếu những cơ chế quy định trách nhiệm giải trình mà các đại học tiên tiến trên thế giới đang áp dụng như cơ chế quản trị chia sẻ (shared governance) được thể hiện qua quy định về chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng trường hoặc Hội đồng khoa học, hoặc cơ chế đánh giá hiệu quả thực sự hoạt động của trường đại học như sự hài lòng của sinh viên và các nhà tuyển dụng.  Khuyến nghị    Theo chúng tôi, cải cách tài chính cho hệ thống các trường đại học Việt Nam cần tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên sau: i) Tăng đầu tư toàn xã hội vào hệ thống đại học, bao gồm cả tài trợ từ ngân sách lẫn đóng góp của xã hội; ii) Tự chủ tài chính cho các đại học; iii) Thay đổi cách phân bổ ngân sách cho từng trường và chia thành ba kênh như trong mô hình nêu dưới đây.  Cần lưu ý rằng tăng tự chủ không có nghĩa là Nhà nước giảm hỗ trợ cho giáo dục đại học. Ngược lại, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này, nhất là ưu tiên đầu tư về nghiên cứu khoa học, vì đây là đối tượng đầu tư quan trọng trong sự phát triển lâu dài của Việt Nam. Tăng tự chủ là một phương thức giúp nhà nước phân bổ ngân sách hỗ trợ cho đại học một cách hiệu quả hơn thay vì cào bằng, hay theo những chỉ tiêu có thể bàn cãi.  Cơ chế thị trường cần được coi là động lực mạnh mẽ nhất để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, huy động nguồn thu và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Dùng thị trường làm động lực có nghĩa là tăng tự chủ, tạo điều kiện cho các trường (công và tư) cạnh tranh với nhau về chất lượng giáo dục, mức học phí, và số lượng tuyển sinh, và qua đó, phục vụ xã hội tốt hơn.  Song song, Chính phủ cần can thiệp để giảm thiểu các khiếm khuyết chính sau của thị trường: i) Bất công bằng trong giáo dục: chỉ người giàu mới đủ tiền đi học; ii) Thiếu thông tin về chất lượng của các trường để người đi học lựa chọn đúng đắn; iii) Các trường chỉ tập trung đào tạo theo nhu cầu của thị trường, và xem nhẹ những ngành có lợi ích lâu dài cho xã hội.  Chúng tôi đề xuất một mô hình dài hạn:  Các trường được toàn quyền quyết định các vấn đề như số lượng tuyển sinh, mức học phí, chương trình và chất lượng đào tạo, chi tiêu từ lương đến các khoản chi và đầu tư khác ở mức thị trường, tiền hỗ trợ từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ.  –    Có cơ chế giám sát nội bộ và từ bên ngoài để chống các lạm dụng quyền tự chủ này   –    Có cơ chế cung cấp thông tin cho người dân lựa chọn trường.  –    Quy định từng trường phải trích một phần nhất định từ doanh thu làm học bổng cho sinh nghèo và giỏi: Chính phủ có thể chọn một mức phù hợp cho Việt Nam trong thời điểm trước mắt và điều chỉnh dần cho hợp lý. (Ví dụ ở nước ngoài: ĐH Duke của Mỹ dành khoảng 24% chi phí hoạt động của niên khoá 2012-2013 cho các dạng trợ giúp tài chính cho sinh viên. Ở Việt Nam, hiện tại Đại học Khoa Học và Công Nghệ Hà Nội cũng trích 20% tiền thu được từ học phí cho các quĩ học bổng.)  Hỗ trợ của Nhà nước cần được chia theo ba kênh chính:  1. Hỗ trợ trực tiếp cho từng trường: Hỗ trợ của Chính phủ cho từng trường cần được tính một cách minh bạch và ổn định dựa trên các tham số sau: tổng số sinh viên, số đầu sinh viên trong từng ngành mà Chính phủ ưu tiên và thị trường không tự đáp ứng, vùng miền và các địa phương khó khăn (xem ví dụ Phụ lục 2 về mức đầu tư trên đầu sinh viên và học phí của Chính phủ Australia cho sinh viên bản địa). Tiền hỗ trợ của chính phủ hằng năm nếu không được sử dụng hết có thể được chuyển vào endowment fund chứ không phải trả về ngân sách.  Phụ lục 2:    Chi phí đơn vị, tỷ lệ đóng góp giữa học phí và đầu tư nhà nước cho sinh viên bản địa tại Australia năm học 2014-2015            Nhóm ngành      Học phí      Trợ cấp nhà nước      Tỷ lệ trợ cấp nhà nước/học phí      Chi phí đơn vị (trợ cấp nhà nước + học phí)          Luật, kế toán, quản trị, kinh tế, thương mại      10266      1961      0.19      12227          Nhân văn      6152      5447      0.89      11599          Toán, thống kê, máy tính, môi trường và các ngành về sức khoẻ      8768      9637      1.10      18405          Khoa học hành vi, khoa học xã hội,      6152      9637      1.57      15789          Giáo dục       6152      10026      1.63      16178          Tâm lý lâm sàng, ngoại ngữ, nghệ thuật hình ảnh và trình diễn      6152      11852      1.93      18004          Khoa học về sức khoẻ      8768      11852      1.35      20620          Điều dưỡng      6152      13232      2.15      19384          Khoa học, kỹ thuật và đo đạc      8768      16850      1.92      25618          Nha, dược và thú y      10266      21385      2.08      31651          Nông nghiệp      8768      21385      2.44      30153            Đơn vị: Australian dollar     2. Hỗ trợ thông qua học bổng và tín dụng sinh viên: Chính phủ hỗ trợ cho giáo dục đại học thông qua học bổng và tín dụng sinh viên do Chính phủ thực hiện. Riêng với tín dụng sinh viên, xây dựng chương trình tín dụng mới hiệu quả hơn thay thế cho chương trình tín dụng 157 hiện nay, trong đó: (i) Quy định nhiều định mức cho vay tương ứng với từng loại sinh viên thay vì một định mức chung như hiện nay; trong đó có thể cho vay đủ để trang trải cả tiền học phí và sinh hoạt phí; (ii) Căn cứ định mức cho vay dựa trên đánh giá năng lực tài chính của sinh viên (means-tested) và kết quả học tập; (iii) Có thể áp dụng hình thức trả nợ theo mô hình tín dụng tùy theo thu nhập (income contingent loan): chỉ bắt đầu trả nợ khi sinh viên tốt nghiệp đi làm có mức lương trên ngưỡng tối thiểu; mức trả nợ tỷ lệ với thu nhập hằng tháng; (iv) Có thể áp dụng quy định chỉ cho sinh viên học tại các chương trình đã được kiểm định đăng ký vay học phí nhằm khuyến khích các trường tham gia kiểm định chất lượng  3. Hỗ trợ thông qua tài trợ nghiên cứu khoa học: Vấn đề này chúng tôi sẽ phân tích trong một bài riêng về chủ đề nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở các trường đại học. Ngoài ra, nhà nước có thể hỗ trợ qua một số kênh khác như chính sách ưu đãi thuế, quyền sử dụng đất, tạo điều kiện cho các trường tiến hành liên doanh, liên kết với các đại học và tổ chức nước ngoài để có thêm nguồn lực đầu tư cho đại học, và khuyến khích chính quyền các địa phương đầu tư thêm cho các đại học trong địa bàn của mình. Hỗ trợ từ nhà nước tuân thủ theo nguyên tắc là tổng số hỗ trợ cho giáo dục đại học cả nước (chứ không phải từng trường) không được giảm, đảm bảo bù trượt giá, và cần tăng lên trong điều kiện có thể bằng hoặc cao hơn mặt bằng quốc tế tính theo GDP đầu người hoặc phần trăm GDP chi cho đại học.  Lộ trình   Để tránh những thay đổi quá đột ngột, trong thời gian đầu, Chính phủ có thể vẫn khống chế mức học phí trần (ví dụ mỗi năm học phí được tăng tối đa 25%), đồng thời cho phép mức trần này tăng dần theo từng năm. Để điều tiết linh hoạt và phù hợp với tình hình kinh tế, mức trần ngắn hạn có thể gắn với GDP đầu người.   Đối với các chính sách khác, cần áp dụng ngay mô hình dài hạn và điều chỉnh theo từng năm căn cứ trên tình hình thực tế. Trong ba kênh hỗ trợ chính của nhà nước, cần chuyển dần từ kênh thứ nhất (hỗ trợ trực tiếp cho các trường) sang hai kênh kia (học bổng, tín dụng sinh viên và tài trợ nghiên cứu khoa học).  Lộ trình tăng học phí nhất thiết phải được song hành với yêu cầu tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của các trường đại học vì chỉ như vậy thì nhà nước, sinh viên, và xã hội mới có điều kiện giám sát và đảm bảo nguồn tài chính tăng thêm được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.         Nhóm Đối thoại giáo dục                1.    Trần Ngọc Anh (Đại học Indiana, Hoa Kỳ)              2.    Đỗ Quốc Anh (Học viện Nghiên cứu Chính trị Sciences Po, Paris, Pháp)              3.    Vũ Thành Tự Anh (Đại học Princeton, Hoa Kỳ và Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Việt Nam)              4.    Ngô Bảo Châu (Đại học Chicago, Hoa Kỳ và Viện nghiên cứu cao cấp về toán, Việt Nam)              5.    Lê Hồng Giang (Brisbane, Úc)              6.    Phạm Hùng Hiệp (Đại học Văn Hoá Trung Hoa, Đài Loan)               7.    Ngô Quang Hưng (Đại học bang New York ở Buffalo, Hoa Kỳ)              8.    Phạm Ngọc Thắng (Hà Nội)              9.    Phạm Hữu Tiệp (Đại học Arizona, Hoa Kỳ)              10.     Trịnh Hữu Tuệ (Đại học Wisconsin tại Milwaukee, Hoa Kỳ)               11.     Vũ Hà Văn (Đại học Yale, Hoa Kỳ)              12.     Nguyễn Phương Văn (TPHCM)        (Còn tiếp)              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng kết nghiên cứu về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam (Kỳ II)      Kinh nghiệm và thực tiễn thế giới cho thấy,  có bốn công cụ chính đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: (1) Kiểm định  chất lượng, (2) công khai thông tin chất lượng, (3) xếp hạng và (4) đối  sánh. Tuy nhiên, theo quan điểm của Nhóm Đối thoại giáo dục, trong điều  kiện nguồn lực hữu hạn, Việt Nam nên tập trung hơn vào hai công cụ kiểm  định chất lượng và công khai thông tin chất lượng vì tính khả thi và  tính phổ dụng cao hơn.      3. Đảm bảo chất lượng  Phân tích hiện trạng  Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học là khái niệm mới xuất hiện ở nước ta trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Việc hình thành hệ thống đảm bảo chất lượng là bước đi hợp lý, phù hợp với xu thế chung của thế giới sau giai đoạn bùng nổ về số lượng. Kinh nghiệm và thực tiễn thế giới cho thấy, có bốn công cụ đảm bảo chất lượng chính như sau: (1) Kiểm định chất lượng (quality accreditation), (2) công khai thông tin chất lượng (quality information disclosure), (3) xếp hạng (ranking) và (4) đối sánh (benchmarking). Đối chiếu với hệ thống đảm bảo chất lượng ở nước ta hiện nay, có thể thấy mặc dù cả bốn công cụ trên đều đã được triển khai, vẫn còn tồn tại một số vấn đề như sau:  ●    Kiểm định chất lượng     Trong bốn công cụ đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng có lẽ là công cụ được biết đến rộng rãi và được sự quan tâm lớn nhất từ phía nhà nước. Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục được ra đời từ năm 2004 là cơ quan quản lý của nhà nước chuyên trách về kiểm định chất lượng. Quy định về kiểm định chất lượng cũng được hình thành và chỉnh sửa nhiều lần, trên cơ sở tham khảo quy định về kiểm định chất lượng thế giới. Trên cơ sở quy định về kiểm định chất lượng, hầu hết các trường đại học, cao đẳng trên cả nước đã thành lập đơn vị chuyên trách về kiểm định chất lượng bên trong (mặc dù trong thực tế, các đơn vị này thường vẫn phải kiêm nhiệm các nhiệm vụ như khảo thí/thanh tra). Một số chương trình đã bắt đầu được đánh giá kiểm định theo quy định của Bộ GD&ĐT và ba trung tâm kiểm định độc lập đã được thành lập tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Có thể thấy cả ba trung tâm này chưa hoàn toàn có tính độc lập vì hoạt động dưới sự bảo trợ chuyên môn của hai ĐH Quốc gia và ĐH Đà Nẵng. Tại các nước khác, các trung tâm kiểm định chất lượng thường tách rời, không trực thuộc các trường đại học và Bộ GD&ĐT.  Từ phía cơ sở, một số trường đã nhận ra ích lợi của kiểm định chất lượng giáo dục và có một số nỗ lực đáng ghi nhận trong việc tham gia vào chương trình kiểm định của các tổ chức quốc tế như AUN, ABET.      ●     Công khai thông tin chất lượng     Công khai thông tin chất lượng là công cụ được rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, Anh, Hàn Quốc áp dụng và phát huy hiệu quả trong việc tạo sức ép buộc các trường đại học phải vận động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Thông tin chất lượng bao gồm các bộ chỉ số (indicator set) về đào tạo và nghiên cứu khoa học như: tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 12 tháng, mức thu nhập bình quân của sinh viên tốt nghiệp, mức độ hài lòng của sinh viên, tỷ lệ công bố khoa học/giảng viên… Thông thường việc tiến hành thu thập các thông tin chất lượng sẽ do một tổ chức độc lập thực hiện, các trường có nghĩa vụ phối hợp để việc thu thập được tiến hành thuận lợi, ví dụ như trong việc cung cấp thông tin sinh viên, cựu sinh viên, các đối tác… Tại Việt Nam, công khai thông tin chất lượng đã được “nhen nhóm” triển khai từ năm 2009 với Chương trình ba công khai trong đó các trường đại học được yêu cầu phải công khai thông tin của trường mình trên trang mạng về các mảng đào tạo, cơ sở vật chất và tài chính. Tuy vậy, chất lượng của công khai thông tin ở Việt Nam vẫn chưa đạt được độ tin cậy khả dĩ bởi vì các trường tự đo và tự công bố báo cáo của mình, việc mà đúng ra cần được giao cho một tổ chức độc lập.      ●    Xếp hạng và đối sánh     Xếp hạng và đối sánh là hai công cụ đảm bảo chất lượng còn ít được phổ biến ở Việt Nam, mặc dù đã có những nỗ lực đơn lẻ của một vài trường đại học có tầm nhìn và ước muốn hội nhập quốc tế. Trong năm 2014, Bộ GD&ĐT có ban hành một quy định tạm thời về việc phân tầng và xếp hạng đại học; nhưng cho đến nay, văn bản chính thức vẫn chưa được ban hành.   Khuyến nghị     Theo quan điểm của chúng tôi, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, áp dụng đồng bộ cả bốn công cụ của đảm bảo chất lượng kể trên là một điều cần làm. Tuy vậy, trong điều kiện nguồn lực hữu hạn, nhà nước nên tập trung vào hai công cụ kiểm định chất lượng và công khai thông tin chất lượng hơn vì tính khả thi, và tính phổ dụng (có thể cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học) cao hơn.  ●    Kiểm định chất lượng     – Tiếp tục hoàn thiện, cải tiến hệ thống, tiêu chí kiểm định chất lượng hiện tại trên cơ sở tham khảo hoặc tham gia các hệ thống, tiêu chí kiểm định chất lượng của thế giới; áp dụng nhiều bộ tiêu chí kiểm định chất lượng khác nhau cho các bậc học khác nhau (cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ) và cho các hình thức học khác nhau (chính quy, liên kết quốc tế, e-learning).  – Tổ chức lại các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục thành các trung tâm kiểm định độc lập, nằm ngoài Bộ GD&ĐT. Ban hành các quy định nhằm đảm bảo việc đánh giá kiểm định thực sự khách quan và công bằng.    – Khuyến khích sự hiện diện của các tổ chức kiểm định quốc tế ở Việt Nam và có chính sách hỗ trợ các trường đại học tham gia đánh giá kiểm định tại các tổ chức này.     ●    Công khai thông tin chất lượng  – Giao cho một tổ chức độc lập tiến hành việc thu thập thông tin chất lượng giáo dục đại học và công bố hàng năm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các trường đại học, cao đẳng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức nói trên trong quá trình thu thập dữ liệu.  – Có thể tham khảo từ các nước đã áp dụng trước đó như Mỹ, Anh, Hàn Quốc để thiết lập bộ chỉ số thông tin chất lượng. Bộ thông tin chỉ số có thể bao gồm: mức độ hài lòng của sinh viên sau tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm 12 tháng sau tốt nghiệp, thu nhập trung bình của sinh viên sau tốt nghiệp…     ●    Xếp hạng và đối sánh  – Khuyến khích và có chính sách hỗ trợ các trường đại học Việt Nam tham gia vào các bảng xếp hạng và đối sánh quốc tế.   Mô hình dài hạn    Về dài hạn, kiểm định chất lượng và công khai thông tin chất lượng cần được xem là hoạt động bắt buộc và định kỳ đối với tất cả các trường, chương trình đại học và cao đẳng trong cả nước. Kết quả kiểm định chất lượng độc lập cần được xem như tiêu chí trong việc phân bổ ngân sách, quyết định mở, đóng hay tạm ngừng các chương trình đào tạo, bổ nhiệm/tái bổ nhiệm các nhân sự cấp cao trong trường đại học.     4. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở đại học  Sứ mệnh của đại học là truyền đạt và mở rộng tri thức. Những cố gắng cải cách mô hình quản trị và tài chính của đại học cũng chỉ hướng đến mục tiêu chính là nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy.  Phân tích hiện trạng   Chúng tôi cho rằng vấn đề nổi cộm nhất trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở đại học Việt Nam là sự ưu tiên dành cho số lượng thay cho chất lượng. Vấn đề này thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau:  ●    Khả năng nghiên cứu khoa học  Khả năng nghiên cứu khoa học yếu kém của giảng viên đại học ở Việt Nam là một vấn đề lớn. Dưới đây là một số nguyên nhân:  –    Quá trình nâng cấp gần đây của nhiều trường từ trung cấp, cao đẳng lên đại học có thể đã quá vội vàng.   –    Trong việc tuyển dụng giảng viên đại học, khả năng nghiên cứu khoa học chưa được coi là ưu tiên hàng đầu.  –    Trong quá trình làm việc, giảng viên thiếu điều kiện và động cơ để nghiên cứu khoa học.  Bên cạnh những thách thức nêu trên, cần ghi nhận Việt Nam có một đội ngũ nhỏ các nhà khoa học có trình độ đã được khẳng định, và một đội ngũ khá đông nhà khoa học trẻ, đã tu nghiệp và tiếp cận với nghiên cứu khoa học ở những đại học tiên tiến. Tuy vậy, vẫn còn thiếu những người có khả năng làm đầu tầu.  ●    Tài trợ nghiên cứu khoa học của nhà nước  Nafosted, quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản, đã có hiệu ứng rất tích cực, đặc biệt trên số lượng công bố quốc tế. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng tài trợ nghiên cứu khoa học chung của nhà nước còn dàn trải. Trong việc xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học, đôi khi còn quá ưu tiên “mục đích luận” so với khả năng và chất lượng nghiên cứu khoa học. Trong một số mẫu tính điểm hồ sơ đề tài khoa học ứng dụng, tính “cấp bách” có trọng số cao hơn so với thành tích khoa học của chủ đề tài, nói cách khác là tính khả thi.    ●    Môi trường trao đổi và hợp tác   Môi trường khoa học để trao đổi tương tác giữa các trường đại học khác nhau, giữa đại học và công nghiệp, còn rất thiếu. Hầu hết các trường tuyển dụng sinh viên cũ của mình làm giảng viên, thay vì tích cực đi tìm tài năng từ những nguồn khác. Quan hệ giữa các trường đại học bị chi phối bởi những cạnh tranh mang tính chất lịch sử, đôi khi là mâu thuẫn cá nhân, thay vì hợp tác và cạnh tranh lành mạnh hướng tới nâng cao chất lượng nghiên cứu.   Liên hệ của đại học với công nghiệp nếu có thông thường chỉ dừng ở mức độ quan hệ cá nhân chứ ít khi được thể chế hoá. Sự thiếu tin tưởng và hợp tác giữa đại học và công nghiệp là một trong những nguyên nhân chính cho sự non yếu của nghiên cứu triển khai ở Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng.  Phương thức hiệu quả và thực chất nhất để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học là hợp tác quốc tế. Các trường đại học hầu như không có cơ chế tài chính để đón tiếp khách quốc tế. Trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước có thể bỏ khoản tiền rất lớn để thuê tư vấn quốc tế, các trường đại học Việt Nam không thể thanh toán vé máy bay và sinh hoạt phí cho các giáo sư nước ngoài vì không có cơ chế và ngân sách.   ●    Số môn học và số giờ lên lớp   Về số lượng, học trình ở đại học Việt Nam nặng hơn nhiều so với đại học ở các nước tiên tiến. Để lấy ví dụ, số môn học toán ở ĐH Quốc gia TP.HCM nhiều gấp hai số môn học toán ở Đại học Chicago. Tại ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, sinh viên phải hoàn thành 60 môn học trong bảy học kỳ, trong khi trung bình sinh viên ở đại học Mỹ trung bình học bốn môn một học kỳ. Nhìn chung, sinh viên Việt Nam học nhiều môn hơn, nhưng vì ít làm đề án, bài tập nên mức độ hiểu biết không sâu, kỹ năng tự học và nghiên cứu còn rất yếu so với sinh viên ở các nước phát triển.   Vì số lượng môn học quá nhiều (và một phần vì lý do thu nhập), số lượng giờ đứng lớp của giảng viên hiện tại là quá lớn. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng công tác nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên tìm tòi khám phá.  Khuyến nghị     Từ phân tích hiện trạng chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy như trên, chúng tôi đi đến một số khuyến nghị như sau:  ●    Giảng dạy   –    Giảm số môn bắt buộc, giảm số giờ lên lớp.  –    Tăng số giờ thực tập, thực hành, làm đề tài và làm bài tập.  –    Khuyến khích việc sử dụng trực tiếp học liệu do các trường đại học tiên tiến cung cấp để giảng viên giảm giờ dạy, tăng giờ hướng dẫn thực hành và làm bài tập.   ●    Nghiên cứu khoa học    –    Lấy trình độ nghiên cứu khoa học làm ưu tiên hàng đầu cho việc tuyển chọn giảng viên.    –    Thiết lập một số vị trí với điều kiện làm việc và đãi ngộ đặc biệt để tạo ra những đầu tầu trong nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng.  –    Thiết lập cơ chế tài chính để hỗ trợ chi phí cho các nhà khoa học nước ngoài sang Việt Nam làm việc.     ●    Tài trợ nghiên cứu khoa học của nhà nước  –    Tập trung tài trợ nghiên cứu khoa học của nhà nước về các quỹ hoạt động theo mô hình Nafosted.  –    Lấy thành tích khoa học và mức độ công nhận quốc tế làm chỉ tiêu hàng đầu trong việc xét duyệt đề tài.  –    Tăng cường sự tham vấn của các nhà khoa học quốc tế trong việc xét duyệt đề tài.  ●    Môi trường trao đổi và hợp tác  –    Làm thông thoáng thị trường lao động khoa học, khuyến khích việc luân chuyển từ trường này sang trường khác, từ đại học sang công nghiệp và ngược lại.  –    Hỗ trợ cho những đề tài có khả năng làm tiền đề cho việc hình thành các mạng lưới trong nghiên cứu khoa học.  –    Thể chế hóa sự liên kết giữa đại học và công nghiệp thông qua một số việc như sau: (i) đại diện của công nghiệp tham gia hội đồng ủy thác của trường, hội đồng khoa học của các khoa, (ii) đại diện của công nghiệp tham gia vào việc thiết kế học trình, nội dung môn học và hướng dẫn sinh viên thực tập, (iii) thiết lập các vị trí giáo sư đặc biệt do công nghiệp tài trợ.  Lộ trình  Chúng tôi cho rằng sẽ rất khó có thể cải tổ về cơ bản chế độ tuyển dụng nhân lực khoa học, đặc biệt trong việc thiết lập các vị trí giáo sư đặc biệt, nếu không có cải tổ về quản trị và tài chính đại học như đã nêu ở các mục trên.   5. Dân chủ nội bộ và tự do học thuật  Uy tín của các trường đại học trong xã hội không chỉ phụ thuộc vào tiềm năng tài chính và chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy mà còn phụ thuộc vào các định chế dân chủ nội bộ, cũng như khả năng duy trì đạo đức và tự do trong học thuật. Bản thân chất lượng nghiên cứu khoa học và giảng dạy cũng bị chi phối bởi khả năng duy trì đạo đức và tự do trong học thuật. Môi trường học tập và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học có lành mạnh hay không phụ thuộc vào tính minh bạch của các định chế dân chủ nội bộ.  Phân tích hiện trạng   Các định chế dân chủ nội bộ trong các trường đại học Việt Nam còn thiếu hoặc nếu có thì còn khá sơ sài. Có thể nhận thấy qua các biểu hiện sau đây:  –    Giảng viên đại học, thậm chí giáo sư, cảm thấy vị trí của mình thấp hơn các bộ phận quản lý vì tiếng nói của họ không được lãnh đạo nhà trường lắng nghe.  –    Sinh viên thiếu kênh chính thức để phát biểu nguyện vọng của mình về học trình, phương pháp giảng dạy của giáo viên, cũng như đời sống sinh viên.  –    Còn thiếu định chế dân chủ nội bộ để giải quyết qua đối thoại minh bạch những xung đột nội bộ.   –    Những vi phạm đạo đức khoa học đáng ra phải được phân xử ở các định chế dân chủ của đại học trước, thì nhiều khi lại phải mượn tới báo chí và công luận, làm mất uy tín của trường.  –    Các trường đại học chưa có tự do học thuật thực sự vì còn nhiều môn học bắt buộc.  Khuyến nghị  –    Thiết lập nghị trường giảng viên (Faculty Senate) với vai trò tham vấn mọi vấn đề liên quan đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong trường. Nghị trường giảng viên có thể đưa ra tiếng nói chung của giảng viên đối với các hiện tượng vi phạm đạo đức khoa học hoặc tự do học thuật. Nghị trường giảng viên bầu ra đại diện để tham vấn ban giám hiệu nhà trường.  –    Thiết lập nghị trường sinh viên (Student Senate) với vai trò tham vấn mọi vấn đề liên quan đến học tập và đời sống sinh viên. Nghị trường sinh viên bầu đại diện của mình để tham vấn ban giám hiệu nhà trường.  –    Thiết lập các ủy ban thông qua đó giảng viên có thể tham vấn trực tiếp cho Ban giám hiệu. Trong số những ủy ban như thế có thể kể đến: ủy ban kế hoạch, ủy ban tuyển dụng, ủy ban đề bạt, ủy ban đánh giá thường niên… Ban giám hiệu giao cho các ủy ban nhiệm vụ tham vấn về những vấn đề cụ thể.   –    Mỗi trường đại học có quy chế nội bộ để điều tiết quan hệ giữa hội đồng ủy thác, ban giám hiệu, nghị trường giảng viên, nghị trường sinh viên và các ủy ban, phù hợp với quy chế chung của nhà nước.   –    Các trường đại học được tự chủ trong việc thiết lập ưu tiên trong nghiên cứu khoa học và học trình giảng dạy.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Obama khuyến khích học sinh biết hoài nghi, chất vấn và khám phá      Theo thông lệ từ ba năm nay, vào đầu năm học mới, Tổng thống Mỹ Barack Obama đều đến thăm một trường học và có bài diễn văn chào mừng học sinh trở lại trường. Trong bài diễn văn năm nay tại Trường Benjamin Banneker, Washington D.C, Tổng thống khuyến khích các bạn trẻ phải biết hoài nghi, biết chất vấn và dám khám phá, mặc dù như vậy có lúc phải phá vỡ những nguyên tắc.        Dưới đây là một phần của bài diễn văn:  Thật vinh dự khi có mặt tại trường Benjamin Banneker, một trong những trường phổ thông trung học tốt nhất không chỉ của riêng Washington D.C mà còn trên phạm vi toàn quốc. Chúng ta có những học sinh đến từ mọi miền của đất nước. Và tôi muốn gửi lời chào năm học mới tới tất cả các bạn mặc dù tôi biết rằng nhiều người trong các bạn đã nhập học được một thời gian rồi. Tôi biết ở Banneker, các bạn quay trở lại trường học của học kì mùa thu. Bởi vậy mọi thứ đều đang được tiến hành, giống như tất cả các bạn học sinh trên mọi miền đất nước. Mùa thể thao của học kì mùa thu đang được chuẩn bị. Tôi tin rằng những hoạt động biểu diễn âm nhạc và diễu hành cũng đang bắt đầu được hình thành. Những bài kiểm tra quan trọng và những đồ án đầu tiên trong năm học mới của các bạn cũng sắp diễn ra.   Tôi biết rằng các bạn cũng có nhiều hoạt động ở bên ngoài trường học. Phạm vi bạn bè của các bạn hẳn đã thay đổi ít nhiều. Những vấn đề đã từng bị hạn chế trong những sảnh đường hoặc phòng thay đồ tập hiện đang tìm đường vào Facebook và Twitter của các bạn. Một vài người thân của các bạn chắc cũng cảm thấy sự căng thẳng của nền kinh tế. Như các bạn đã biết, chúng ta đang phải trải qua một trong những thời điểm kinh tế khó khăn nhất trong cuộc đời của chúng ta – trong cuộc đời của tôi. Các bạn đang còn trẻ. Và vì vậy, tất yếu, bạn sẽ phải lựa chọn một công việc sau giờ tan lớp để giúp đỡ gia đình, hoặc bạn có thể phải trông đứa em nhỏ của bạn khi bố hoặc mẹ bạn đi làm thêm.   Điều đó có nghĩa là các bạn có rất nhiều việc phải làm. Các bạn ngày một trưởng thành nhanh hơn và tương tác với một thế giới rộng mở hơn theo cách thức mà thế hệ của một ông già như tôi, thành thật mà nói, đã không phải làm. Bởi vậy, ngày hôm nay, tôi không muốn sắm vai một người trưởng thành, đứng lên và rao giảng như thể các bạn chỉ là những đứa trẻ – bởi vì các bạn không phải là những đứa trẻ. Các bạn là tương lai của đất nước này. Các bạn là những nhà lãnh đạo trẻ. Và việc đất nước của chúng ta thụt lùi hay tiến lên phụ thuộc một phần lớn vào các bạn, nên tôi muốn nói với các bạn một chút về trách nhiệm đó.  Trách nhiệm đó, hiển nhiên, bắt đầu bằng việc trở thành học sinh tốt nhất mà bạn có thể. Hiện tại điều đó không có nghĩa là bạn phải luôn luôn giành được điểm số hoàn hảo trong mọi bài tập – dù đó không hề là một múc đích tồi. Mà đúng hơn, điều đó có nghĩa là bạn phải luôn luôn cố gắng với trách nhiệm đó. Bạn phải luôn cố gắng và bạn phải kiên trì. Điều đó có nghĩa là bạn phải làm việc chăm chỉ như thể bạn biết phải làm việc như thế nào. Và điều đó có nghĩa là sẽ có một lúc nào đó, bạn phải đối mặt với một số rủi ro. Bạn không nên né tránh lớp học mà bạn thấy khó khăn vì lo lắng bản thân không thể giành được điểm số tốt nếu đó là môn học mà bạn nghĩ sẽ cần thiết đối với việc chuẩn bị cho tương lai của bạn. Bạn phải hoài nghi. Phải biết chất vấn. Bạn phải dám khám phá. Và mỗi lần như vậy, bạn sẽ có lúc phải phá vỡ những nguyên tắc.   Đó là những điều trường học cần làm: khám phá ra những đam mê mới, học được những kĩ năng mới, sử dụng khoảng thời gian quý giá vô ngần này để chuẩn bị cho bản thân và rèn luyện những kĩ năng mà bạn cần để theo đuổi sự nghiệp bạn mong muốn. Và đó là lí do tại sao, khi bạn còn là một học sinh, bạn có thể khám phá ra một phạm vi lớn các tiềm năng. Trong một giờ, bạn có thể trở thành một họa sĩ; giờ sau, bạn là một nhà văn; giờ sau nữa, là một nhà khoa học, hoặc một sử gia, hay một người thợ mộc. Đây là khoảng thời gian mà có thể tìm kiếm những niềm yêu thích mới mẻ và thể nghiệm những ý tưởng mới. Và bạn thể nghiệm càng nhiều, bạn càng sớm tìm ra điều gì khiến bạn trở nên sống động, điều gì khiến bạn bận tâm, khiến bạn phấn khích – từ đó xác định được sự nghiệp mà bạn muốn theo đuổi.   Bây giờ, nếu các bạn hứa không tiết lộ cho bất kì ai khác, tôi sẽ nói cho bạn một bí mật: không phải lúc nào tôi cũng trở thành một học sinh giỏi nhất mà tôi có thể khi còn học phổ thông, cung như khi tôi học trung học. Không phải tôi đã trải nghiệm những điều khiến tôi yêu thích ở mọi lớp học. Không phải lúc nào tôi cũng chú tâm vào học hành như đáng ra tôi nên làm. Tôi nhớ khi tôi học lớp tám, tôi phải học môn đạo đức. Đạo đức là về những điều đúng sai, nhưng nếu bạn hỏi tôi, môn học yêu thích năm tôi học lớp 8 là gì, tôi sẽ trả lời là bóng rổ. Tôi không nghĩ môn học đạo đức sẽ được xếp trong danh sách các môn học mà tôi yêu thích.  Nhưng đây mới là điều thú vị. Tôi vẫn nhớ về môn học Đạo đức trong nhiều năm sau này. Tôi vẫn nhớ cách mà nó khiến tôi phải suy nghĩ. Tôi vẫn nhớ mình đã từng bị hỏi những câu như: Vấn đề gì trong cuộc đời là quan trọng? Hoặc như thế nào là trân trọng nhân phẩm và tôn trọng người khác? Như thế nào là sống trong một quốc gia đa sắc tộc, nơi không phải ai cũng làm giống bạn, suy nghĩ giống bạn hoặc sống cùng một khu phố với bạn? Làm sao chúng ta có thể sống hòa đồng cùng với mọi người?   Mỗi một câu hỏi này lại dẫn tới những câu hỏi mới. Và tôi đã không phải lúc nào cũng biết những câu trả lời chính xác, nhưng những cuộc thảo luận đó và quá trình khám phá đó – là những gì còn mãi đọng lại. Những điều đó hiện vẫn còn đồng hành với tôi cho tới hôm nay. Mỗi ngày, tôi nghĩ về những vấn đề đó đó khi tôi cố gắng lãnh đạo đất nước này. Tôi đang băn khoăn về những câu hỏi tương tự về việc chúng ta, một quốc gia đa sắc tộc, phải chung sống với nhau như thế nào để đạt được những điều chúng ta cần đạt được? Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng mỗi một cá nhân đều được đối xử bằng sự trân trọng nhân phẩm và tôn trọng? Chúng ta phải có những trách nhiệm gì đối với những người kém may mắn hơn chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo được rằng mọi người đều thuộc về đại gia đình này của nước Mĩ?   Đó là tất cả những câu hỏi bắt nguồn từ môn học hồi lớp tám đó của tôi. Và ở đây, có một điều là: ngay cả tới bây giờ không phải lúc nào tôi cũng biết được những câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này. Tuy nhiên, nếu ngày trước, tôi thay đổi lớp học vì môn học đó nghe có vẻ nhàm chán, tôi chắc hẳn đã bỏ lỡ một điều gì đó, điều không chỉ đã tạo nên niềm yêu thích trong tôi mà còn đem lại cho tôi rất nhiều lợi ích trong phần còn lại của cuộc đời mình.   Vì vậy, một phần lớn trách nhiệm của bạn là phải thử nghiệm nhiều điều. Chấp nhận rủi ro. Thử nghiệm những điều mới mẻ. Làm việc chăm chỉ. Đừng thất vọng nếu bạn không giỏi một thứ ngay lập tức. Bạn không thể giỏi mọi thứ ngay lập tức. Đó chính là lí do tại sao bạn ở trường học. Tuy nhiên, vấn đề là bạn cần tiếp tục mở rộng những chân trời và cảm nhận về tiềm năng của mình. Bây giờ chính là thời gian để bạn làm điều đó. Và hơn nữa, những điều đó cũng chính là những điều khiến trường học thêm thú vị.   Trong tương lai, những điều đó sẽ trở thành những phẩm chất giúp bạn thành công, và đồng thời, cũng là những phẩm chất sẽ đưa bạn tới việc phát minh ra một thiết bị kỳ diệu tới mức khiến cái Ipad trở nên tầm thường như một phiến đá. Hoặc điều đó sẽ giúp bạn tìm ra cách thức sử dụng mặt trời và gió để cung cấp năng lượng cho một thành phố và đem đến cho chúng ta những nguồn năng lượng mới ít ô nhiễm hơn. Hoặc bạn có thể viết cuốn tiểu thuyết vĩ đại tiếp theo của nước Mĩ.   Bây giờ, để làm hầu hết những điều đó, bạn không chỉ cần một tấm bằng tốt nghiệp phổ thông – và tôi biết tôi chỉ đang đứng ở trong góc “amen”  với hiệu trưởng Berger ở đây – bạn không chỉ phải tốt nghiệp phổ thông mà còn phải tiếp tục theo học lên cao nữa sau khi rời khỏi ngôi trường này. Bạn không chỉ tốt nghiệp, mà bạn phải tiếp tục sau khi bạn tốt nghiệp.    Và với nhiều người trong số các bạn, điều đó có nghĩa là theo học bốn năm đại học nữa. Tôi vừa nói chuyện với Donae, và cô ấy muốn trở thành một kiến trúc sư. Hiện tại, cô đang thực tập tại một công ty kiến trúc, và cô đã định hướng được cho mình trường đại học mà mình sẽ theo học. Đối với một vài người khác, đó có thể là một trường cao đẳng cộng đồng, một chứng chỉ nghề hoặc một khóa đào tạo. Nhưng thực tế của vấn đề này là gì? Đó là có hơn 60 % công việc trong thập kỉ tới đòi hỏi phải có nhiều hơn là một chứng chỉ tốt nghiệp phổ thông – hơn 60 %. Đó chính là thế giới mà các bạn sẽ bước vào.   Vì vậy, tôi muốn tất cả các bạn sẽ đặt ra một mục tiêu tiếp tục nền giáo dục của các bạn sau khi ra trường. Và nều điều đó có nghĩa là trường đại học đối với các bạn, thì việc nhập học đại học thôi cũng vẫn chưa đủ. Bước chân vào một trường đại học là không đủ. Bạn còn phải tốt nghiệp. Một trong những thử thách lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt ngay bây giờ là có quá nhiều bạn trẻ ghi danh vào các trường đại học nhưng cuối cùng lại không tốt nghiệp được và hệ quả là – đất nước của chúng ta, đất nước đã từng có tỉ lệ những người có bằng đại học cao nhất thế giới, hiện tại đang tụt xuống vị trí thứ 16. Tôi không thích đứng ở vị trí số 16. Tôi thích được đứng đầu. Và điều đó là chưa đủ. Chúng ta phải làm sao để đảm bảo thế hệ của các bạn sẽ đưa đất nước này trở lại vị trí đứng đầu về số lượng những người tốt nghiệp đại học tính theo tương quan với tổng dân số, cao hơn bất cứ một quốc gia nào trên thế giới.   Nếu chúng ta làm được điều đó, chúng ta sẽ có một tương lai tươi sáng hơn. Và nước Mĩ cũng vậy. Chúng ta có thể chắc chắn rằng những phát minh mới nhất và những đột phá mới nhất sẽ diễn ra ngay bây giờ, ở nước Mĩ. Đó cũng đồng nghĩa với những công việc tốt hơn, những cuộc sống đầy đủ hơn và những cơ hội lớn hơn không chỉ cho các bạn, mà cho con cháu của các bạn.   Bởi vậy tôi không muốn bất kì ai đang lắng nghe ở đây ngày hôm nay nghĩ rằng các bạn đã hoàn thành trách nhiệm khi tốt nghiệp phổ thông. Các bạn vẫn chưa hoàn thành việc học tập. Trên thực tế, những điều đang xảy ra trong nền kinh tế ngày hôm nay – đòi hỏi chúng ta phải học tập suốt đời. Bạn phải tiếp tục nâng cao những kĩ năng của bạn và tìm ra những cách thức mới để thực hiện những điều đó. Kể cả khi trường đại học không dành cho bạn, kể cả khi một trường đại học 4 năm không mở cửa cho bạn, bạn vẫn sẽ phải nỗ lực học tập khi rời khỏi trường phổ thông. Bạn sẽ phải bắt đầu mong đợi những điều lớn lao từ chính bản thân các bạn ngay bây giờ, ngay lúc này.   Tôi biết rằng điều này nghe có vẻ có chút đáng sợ. Và một vài người trong số các bạn băn khoăn làm sao các bạn có thể trả nổi tiền học phí đại học, hoặc bạn vẫn chưa biết bạn muốn làm gì với chính cuộc đời của bạn. Và chuyện đó là bình thường. Không ai có thể vạch ra toàn bộ tương lai ngay tại thời điểm này. Và chúng tôi không hi vọng bạn phải đưa ra quyết định đó một mình. Trước hết, các bạn có những ông bố bà mẹ tuyệt vời, những người yêu thương bạn vô cùng và muốn bạn có nhiều cơ hội hơn họ – nhân tiện, điều đó có nghĩa là đừng khiến họ phiền lòng khi họ yêu cầu bạn ngừng chơi game, tắt tivi và làm bài tập về nhà. Các bạn cần phải lắng nghe họ. Tôi nói điều này từ trải nghiệm của chính tôi, bởi vì đó cũng chính là những điều tôi nói với Malia và Sasha, hai cô con gái của tôi. Đừng nổi cáu vì điều đó, bởi vì tất cả những ông bố bà mẹ như chúng tôi đều đang suy nghĩ về tương lai của các bạn.   Các bạn có sự hỗ trợ từ tất cả mọi người trên đất nước này – bao gồm cả tôi và Arne, cũng như mọi người ở mọi cấp của chính phủ – những người đang làm việc vì các bạn. Chúng tôi đang tiến hành từng bước để có thể đảm bảo rằng các bạn được thụ hưởng một hệ thống giáo dục xứng đáng với tiềm năng của các bạn. Chúng tôi đang làm việc để chắc chắn rằng các bạn đang có những trường đại học hiện đại nhất với những phương tiện giáo dục tiên tiến nhất. Chúng tôi chắc chắn rằng những trường cao đẳng và đại học của quốc gia này là để các bạn có thể theo học. Chúng tôi đang làm việc để có được những môn học – giáo viên tốt nhất cho các lớp học, để họ có thể giúp bạn chuẩn bị cho việc học ở đại học và một sự nghiệp tương lai.   Nhân đây, tôi cũng muốn nói vài điều về giáo viên. Ngày nay, giáo viên là những người phải lao động vất vả hơn bất kì ai. Dù bạn đi đến một trường học lớn hay nhỏ, dù bạn theo học một trường công hay trường tư– giáo viên của các bạn đều phải từ bỏ những ngày nghỉ cuối tuần của họ; họ sẽ phải dậy từ sáng sớm; họ kín lịch trong ngày với các lớp học và các hoạt động ngoại khóa. Và sau đó, họ trở về nhà, ăn tối, rồi tiếp tục làm việc cho tới khuya, chấm bài cho các bạn, chữa bài ngữ pháp cho các bạn và kiểm tra xem bạn đã tìm ra công thức đại số chính xác hay chưa.   Và họ không làm việc đó vì một văn phòng đẹp đẽ. Họ không, chắc chắn họ không làm việc đó vì một mức lương hậu hĩnh. Họ làm điều đó là cho các bạn. Họ làm điều đó bởi vì không gì khiến họ cảm thấy hài lòng hơn là việc nhìn thấy các bạn học tập. Họ sống vì những khoảnh khắc các bạn thành công; khi bạn làm họ kinh ngạc bằng trí tuệ của bạn, hoặc bằng vốn từ vựng của bạn, hoặc họ nhìn thấy được ở nơi bạn kiểu mẫu nhân cách mà bạn sẽ trở thành . Và họ tự hào vì bạn. Và họ nói, tôi phải làm gì đó để người trẻ tuổi tuyệt vời này có được thành công. Họ đặt niềm tin nơi bạn, họ tin rằng các bạn sẽ trở thành những công dân, những nhà lãnh đạo sẽ dẫn dắt đất nước này đi tới tương lai. Họ hiểu các bạn chính là tương lai của tất cả chúng ta. Bởi vậy, những giáo viên của các bạn đang rót mọi thứ họ có vào bạn, và họ không hề đơn độc.    Tuy nhiên, tôi cũng nhấn mạnh điều này: Với tất cả những thách thức mà đất nước chúng ta đang phải đối mặt giờ này, chúng tôi không chỉ cần các bạn cho tương lai; chúng tôi thực sự cần các bạn ngay lúc này. Nước Mĩ cần đam mê và sáng kiến của những người trẻ tuổi. Chúng tôi cần sức mạnh của các bạn ngay bây giờ. Tôi biết bạn xứng đáng với những kỳ vọng bởi tôi đã nhìn thấy tiềm năng của các bạn. Không có gì khơi gợi cảm hứng cho tôi hơn là việc biết rằng những người trẻ tuổi trên khắp đất nước này đang tạo ra dấu ấn riêng của họ. Họ không chờ đợi. Ngay bây giờ, họ đang tạo ra một sự thay đổi.   Đó là những học sinh như Will Kim ở Fremont, California, người đã phát động một tổ chức phi lợi nhuận để cung cấp những khoản vay cho sinh viên từ những trường có thu nhập thấp, những người muốn bắt đầu công việc kinh doanh của mình. Hãy cùng suy nghĩ về điều này. Cậu ấy đã cho những học sinh khác vay. Cậu ấy đã xây dựng một tổ chức phi lợi nhuận. Cậu ấy gây quỹ để làm công việc mà câu ấy yêu thích – thông qua những giải đấu bóng ném (dodgeball) và trò chơi cắm cờ. Will Kim rất sáng tạo. Cậu ấy đã có một sáng kiến. Và giờ, cậu ấy giúp đỡ những người trẻ tuổi khác có thể theo học những gì họ cần.   Một bạn trẻ khác là Jake Bernstein, một thanh niên 17 tuổi, xuất thân trong một gia đình quân nhân ở St. Louis, đã cùng với chị gái tạo ra một trang web dành cho những người trẻ tuổi có cơ hội phục vụ cộng đồng. Và họ đã tổ chức những hội chợ tình nguyện viên và thiết lập một sơ sở dữ liệu trực tuyến, giúp đỡ hàng ngàn gia đình tìm kiếm những cơ hội làm tình nguyện viên từ việc sửa sang bảo trì những con đường mòn tự nhiên cho tới việc phục vụ tại những bệnh viện địa phương.  Và năm trước, tôi đã gặp một cô gái trẻ tên là Amy Chyao đến từ Richardson, Texas. Cô ấy 16 tuổi, tầm tuổi của các bạn ở đây. Trong suốt mùa hè, tôi nghĩ hẳn có ai trong gia đình cô ấy đã mắc bệnh nên cô đã quyết định sẽ quan tâm tới việc nghiên cứu về bệnh ung thư. Tuy nhiên, Amy Chyao chưa hề học về hóa học nên cô ấy đã tự học môn này trong suốt mùa hè. Sau đó, áp dụng những gì cô ấy đã học được và khám phá ra một quá trình mang tính đột phá là việc sử dụng ánh sáng để tiêu diệt các tế bào ung thư. Mười sáu tuổi. Điều đó thật kinh ngạc. Và Chyao đã gặp gỡ nhiều bác sĩ và nhà nghiên cứu, những người rất muốn được làm việc cùng với cô ấy để giúp Chyao vận dụng khám phá này.   Điều này cho thấy bạn không cần phải chờ đợi để tạo ra một điều khác biệt. Nghĩa vụ đầu tiên của bạn là làm tốt mọi thứ ở trường. Nghĩa vụ đầu tiên của bạn là phải chắc chắn rằng bạn đang chuẩn bị cho đại học và nghề nghiệp của chính bạn. Nhưng bạn có thể bắt đầu tạo ra dấu ấn của mình ngay bây giờ. Nhiều lần, những người trẻ tuổi đã đưa ra những ý tưởng tốt hơn chúng tôi, những người đã già. Chúng tôi cần những ý tưởng được bộc lộ, trong và ngoài lớp học.   Khi tôi gặp gỡ những người trẻ tuổi như các bạn, khi tôi ngồi xuống và nói chuyện với Donae, tôi không nghi ngờ gì về việc những ngày tốt đẹp nhất của nước Mĩ vẫn đang ở phía trước, bởi tôi biết khả năng nằm mỗi người trong số các bạn. Nhanh chóng, các bạn sẽ trở thành những người đứng đầu những công việc kinh doanh của chúng ta và lãnh đạo chính quyền của chúng ta. Các bạn sẽ trở thành những người đảm bảo rằng thế hệ tiếp theo sẽ nhận được những điều họ cần để thành công. Các bạn sẽ trở thành những người vẽ lên những trang lịch sử chưa được viết ra của nước Mĩ. Và tất cả những điều đó bắt đầu ngay từ bây giờ – bắt đầu từ năm nay.   Cho nên tôi muốn tất cả các bạn, những người đang lắng nghe, cũng như tất cả mọi người đang ở Banneker, tôi muốn các bạn tiến được xa nhất có thể trong năm học mới. Tôi muốn các bạn nghĩ về thời gian này như là khoảng thời gian mà trong đó bạn tiếp nhận thông tin, làm giàu những kĩ năng, các bạn thử nghiệm những điều mới mẻ, các bạn thực hành, và các bạn trau dồi, rèn luyện – tất cả những điều mà các bạn cần là làm nên những điều vĩ đại khi các bạn tốt nghiệp.  Đất nước của các bạn phụ thuộc vào chính các bạn. Vì vậy, hãy đặt mục tiêu thật cao. Chúc các bạn có một năm học tuyệt vời. Chúng ta hay cùng nhau cố gắng.  Xin cảm ơn các bạn. Chúa phù hộ cho các bạn và phù hộ cho nước Mĩ.                                                                                                          Hà Nguyễn dịch            Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm giải trình của đại học      Lâu nay, chúng ta vẫn bàn nhiều về quyền tự chủ (autonomy) của các trường đại học nhưng ít khi chúng ta thảo luận đến vế còn lại của vấn đề này, đó là: “trách nhiệm giải trình” (accountability). Câu chuyện “lò tiến sĩ” tại Học viện Khoa học Xã hội ầm ĩ mấy tuần qua chính là một cơ hội tốt để chúng ta xem xét đến những khía cạnh của vấn đề này.       Khái niệm “trách nhiệm giải trình”   Theo nhà nghiên cứu giáo dục, TS. Phạm Thị Ly [1], trách nhiệm giải trình được hiểu “là sự thừa nhận về trách nhiệm đối với mọi hành động, mọi sản phẩm, mọi quyết định hay chính sách mà chúng ta đưa ra trong việc lãnh đạo, quản lý, và thực hiện công việc. Khả năng giải trình trách nhiệm được hiểu như năng lực thực hiện nghĩa vụ thông tin đầy đủ, năng lực biện minh cho hành động của mình trong quá khứ hoặc tương lai, và chịu sự trừng phạt nếu như hành động ấy vi phạm các quy tắc đạo đức và pháp lý”.   Trong thực tế, trách nhiệm giải trình đã là một vấn đề được giới chuyên môn trên thế giới mổ xẻ khá nhiều trong khoảng 50 năm trở lại đây. Trách nhiệm giải trình có thể là trách nhiệm gắn với tổ chức hoặc cá nhân trong bất kỳ một lĩnh vực nào.   Với tầng tổ chức, vấn đề trách nhiệm giải trình hay gắn liền với cơ quan tại khu vực công; điều này dễ hiểu bởi khu vực này hoạt động bằng tiền thuế của dân, vì vậy họ phải có trách nhiệm giải trình cao nhất trước dân – những người đóng tiền nuôi họ.   Riêng với các trường đại học, đặc biệt là đại học công thì trách nhiệm giải trình cũng rất quan trọng; điều này xuất phát từ đặc thù về chức năng đặc biệt của loại hình tổ chức này.   Về chức năng, đại học có sứ mệnh truyền bá (đào tạo) và sáng tạo (nghiên cứu) ra tri thức. Vì vậy, nếu trường đại học dạy sai hoặc tiến hành nghiên cứu không theo các chuẩn mực đạo đức và khoa học được thừa nhận thì ảnh hưởng tiêu cực của nó tác động lên không chỉ người thụ hưởng (người học hoặc người tiếp nhận tri thức) mà còn ra cả toàn xã hội.   Như vậy, trường đại học cần phải có trách nhiệm giải trình, không chỉ bởi họ nhận tiền ngân sách từ tiền thuế của dân mà còn vì chức năng và sứ mệnh họ gánh trên vai.   Quay trở lại sự kiện đào tạo tại Học viện Khoa học xã hội; như đã nói ở trên, đây là một trong ví dụ rất tốt giúp chúng ta nhìn nhận về vấn đề “trách nhiệm giải trình” của đại học một cách cụ thể, lại ngay trong bối cảnh Việt Nam.   Như chúng ta đều biết, nguồn cơn dẫn đến việc lãnh đạo Học viện Khoa học Xã hội phải tổ chức cuộc họp báo sáng ngày 22/4 vừa qua đến từ “làn sóng” nghi ngờ của công chúng về chất lượng đào tạo tại cơ sở này lan truyền rất nhanh trên mạng xã hội trong khoảng 1-2 tuần trước đó. Cụ thể, trước họp báo, dư luận quan tâm đến hai vấn đề chính:  Một là, vấn đề năng suất hơn một ngày cho ra “lò” một tiến sĩ, như ước tính của một facebooker nổi tiếng trước đó, cụ thể thực hư là như thế nào? Học viện liệu có đủ nhân lực để đào tạo nghiên cứu sinh với năng suất như vậy?   Hai là, những chủ đề có vẻ “ngô nghê” và “tức cười” như “hành vi nịnh”, “đặc điểm giao tiếp của chủ tịch xã” có xứng đáng là đề tài cho luận án tiến sĩ hay không? Phải chăng chất lượng của đội ngũ hướng dẫn nghiên cứu sinh tại Học viện có vấn đề?   Đáp lại những nghi ngờ này, Học viện Khoa học Xã hội đã “giải trình” như thế nào? Người viết bài này thử liệt kê một số điểm giải trình được và chưa được của Học viện.   Ba điểm giải trình “được”    Học viện đã tổ chức họp báo khá kịp thời với sự tham gia của lãnh đạo Học viện và đầy đủ các bên liên quan bao gồm: đơn vị chủ quản (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN) và các nhà khoa học có các đề tài (luận án của nghiên cứu sinh) bị dư luận “nghi vấn” ngay khi khủng hoảng về việc này leo thang đến đỉnh điểm. Xét một cách công bằng, đây là một điểm “được” cho Học viện. Điều này đặc biệt được đánh giá cao nếu chúng ta đem so nó với phản ứng của nhiều cơ quan chức năng khác trong thời gian gần đây khi đối mặt với nghi vấn từ phía dư luận.   Một điểm “được” khác dành cho Học viện là việc “giải trình” thoả đáng năng suất hơn một ngày/một tiến sĩ của Học viện từ đầu năm đến giờ. Bởi trong thực tế, cần phải hiểu đây là năng suất đào tạo tiến sĩ của toàn đơn vị chủ quản của Học viện là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN. Mô hình đào tạo của Học viện, về bản chất là đặc biệt và tương đối khác với mô hình của các trường đại học khác; và nếu tính quy mô của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN thì năng suất này là dễ hiểu.   Một vấn đề khác mà Học viện cũng đã giải trình tương đối thành công là liệu những chủ đề nghe có vẻ “tức cười” như “hành vi nịnh” hay “đặc điểm giao tiếp của chủ tịch xã” có phải là các nội dung nghiên cứu phù hợp hay không? Với việc đưa ra các so sánh (với các đề tài tương tự ở các nước khác) và số liệu cụ thể (số lượng xã trên cả nước); về cơ bản, Học viện đã chứng minh được các chủ đề này đúng là các nội dung có thể trở thành đối tượng nghiên cứu. Đây có thể xem là điểm “giải trình” được thứ ba của Học viện.  Hai điểm giải trình “chưa được”  Phần giải trình “chưa được” thứ nhất liên quan đến phần giải trình “được” thứ ba. Ở đây, chúng ta có thể đồng ý “hành vi nịnh” và “đặc điểm giao tiếp của chủ tịch xã” có thể là các đề tài nghiên cứu nhưng điều gì đảm bảo đây là các đề tài nghiên cứu đạt chất lượng. Ở điểm này, nếu Học viện giải thích và trình bày cụ thể hơn về nội dung các luận văn tương ứng, các sản phẩm liên quan từ luận văn này (bài báo, báo cáo hội nghị) hoặc khung lý thuyết, các tài liệu viện dẫn của luận văn thì sẽ có tính thuyết phục cao hơn với công chúng; nhất là đối với những người có chuyên môn về khoa học xã hội.   Một phần giải trình “chưa được” liên quan đến câu hỏi của phóng viên ở gần cuối buổi họp báo liên quan đến số lượng công bố quốc tế của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN: đã có sự chênh lệch rất lớn giữa thông tin mà  nhà báo có được (ba công bố trong năm 2015) với thông tin từ lãnh đạo Học viện (400 công bố trong giai đoạn 2011-2015). Cũng cần lưu ý, đây không phải lần đầu, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN và Học viện Khoa học Xã hội gặp phải vấn đề “vênh thông tin” này. Còn nhớ vài năm trước, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN cũng không đồng tình với thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ về số lượng công bố khoa học của Viện. Như vậy, sẽ là thoả đáng hơn, nếu Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN và Học viện Khoa học Xã hội công bố công khai danh mục các ấn phẩm khoa học quốc tế của mình.   Hai điểm giải trình “được” mà “chưa được”  Trong phần trả lời tại họp báo, có hai chính sách được lãnh đạo Học viên chia sẻ: một là, Học viện dự kiến sẽ nâng cấp thư viện để nghiên cứu sinh không phải vất vả di chuyển tới Thư viện Quốc gia để tra cứu tài liệu; hai là, Học viện dự kiến sẽ mua phần mềm nhằm phát hiện đạo văn của nghiên cứu sinh. Hai luận cứ này, thoạt nhìn có vẻ là hai điểm “được” thể hiện chất lượng đào tạo của Học viện; tuy vậy, khi xem xét kỹ thì lại thấy có lẽ lại là “chưa được”, cụ thể:  Hai điểm này mới chỉ dừng ở mức dự kiến của Học viện; tức là toàn bộ các luận án trước đây vẫn chưa được hưởng lợi từ hai chính sách này.   Đối sánh với thực tiễn đào tạo trên thế giới, có thể nói, hai điểm này đáng lý phải là hai điều kiện tiên quyết, điều kiện đảm bảo chất lượng của bất kỳ cơ sở giáo dục nào; thậm chí ở nhiều nước tiên tiến, nếu hai điểm này chưa được thực hiện thì đừng nói đến chuyện tổ chức đào tạo. Như vậy, vô hình trung, chia sẻ của lãnh đạo Học viện lại cho chúng ta thấy một khoảng cách tương đối của đào tạo tiến sĩ tại Học viện so với trình độ quốc tế, ít nhất là ở khía cạnh “điều kiện đảm bảo chất lượng”, trong đó bao gồm yếu tố thư viện và chống đạo văn.   Lời kết   Tự chủ và trách nhiệm giải trình là hai vế song hành không thể thiếu khi nói về bản chất của đại học. Ở nước ta trong khoảng 10 năm trở lại, khái niệm tự chủ được thảo luận tương đối kỹ; tuy vậy vế còn lại – trách nhiệm giải trình – dường như ít được thảo luận rốt ráo. Trường hợp “giải trình” của Học viện Khoa học Xã hội mới đây là một cơ hội tốt để chúng ta nhìn nhận vấn đề này trong đúng bối cảnh Việt Nam. Và nói gì thì nói, phản ứng nhanh của lãnh đạo Học viện tại cuộc họp báo ngày 22/4 vừa qua cho thấy Học viện đã ý thức tương đối tốt về trách nhiệm giải trình trước chất vấn từ xã hội. Bên cạnh đó, những điểm mà Học viện chưa “giải trình” chưa thoả đáng sẽ cần được làm sáng tỏ trong thời gian trước mắt.   —————————  [1] Phạm Thị Ly (2012). Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: quan hệ giữa nhà nước, nhà trường và xã hội. Tạp chí Phát triển Khoa học – Công nghệ, tập 15, Q1-2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trách nhiệm không chỉ của nền giáo dục      Cuộc khảo sát “Liêm chính trong thanh niên Việt Nam” do Tổ chức Hướng tới minh bạch và trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng công bố mới đây&#160; đã bộc lộ những dấu hiệu rõ ràng của một “dịch bệnh” trong xã hội chúng ta, bệnh sẵn sàng đặt tiền bạc lên trên liêm chính.     Cuộc khảo sát được tiến hành với 1.022 thanh niên từ 15 – 30 tuổi và 524 người lớn ở 11 tỉnh thành. Dù về nhận thức, 95% thanh niên cho rằng, tính liêm chính quan trọng hơn giàu có, nhưng về hành động có đến 40% thanh niên được hỏi nói sẵn sàng tham nhũng, hối lộ, nếu mang lại lợi ích cho bản thân; 38% số thanh niên cho rằng họ sẵn sàng vi phạm nguyên tắc liêm chính để được nhận vào một công ty tốt; tỉ lệ này ứng với những người lớn được hỏi là 43%. Rất nhiều người cho rằng việc tố cáo tham nhũng không có tác dụng, hoặc cho rằng “đó không phải là việc của tôi”.   Tại sao chúng ta kêu gọi chống tham nhũng, khuyến khích tố cáo tham nhũng mà thế hệ trẻ lại có một tỷ lệ đông đảo như vậy sẵn sàng thỏa hiệp, thậm chí tiếp tay với tham nhũng như vậy?   Căn bệnh tham nhũng này còn đang “di căn” vào cả lứa tuổi tiểu học trong trắng. Có một bà mẹ trẻ đang là cô giáo đã kể câu chuyện như sau về đứa con gái 8 tuổi đang học lớp 3. Một hôm về cháu xin tiền của mẹ để mua quà ăn vặt trong giờ ra chơi vì “bạn nào cũng có tiền mua quà mà con thì không, con thèm quá hà”. Người mẹ giải thích về hậu quả của ăn quà trôi nổi và quyết định không chiều theo ý con. Từ đó không thấy con đòi tiền ăn quà nữa. Qua một thời gian, mẹ xét cặp của con thì giật mình thấy có mấy trăm ngàn đồng. Được mẹ hỏi mãi tiền đâu mà nhiều vậy, đứa bé mới khai là: “con làm lớp trưởng, cô giáo biểu ghi vào sổ cô đưa tên bạn nào phá phách, vi phạm nội quy. Bạn nào làm sai mà không muốn bị con ghi tên vô sổ phải… nộp cho con 10.000 đồng, vậy là con dư tiền mua quà vặt, chứ con đâu có ăn cắp của ai đâu!”   Câu chuyện nhỏ của những đứa trẻ mới 8 tuổi này khiến người lớn nào nghe cũng thấy vừa ngỡ ngàng, đau xót, vừa gợi ra những câu hỏi nhức nhối. Những đứa trẻ rất ngây thơ mới 8 tuổi mà biết kiểu ứng xử như vậy thì sau này thành người lớn sẽ như thế nào đây? Các cháu học từ ai vậy? Ai, tổ chức nào có lỗi? Bởi chỉ cần “một bộ phận nhỏ” – vài phần trăm – công chức hành xử kiểu này thì lòng tin của dân vào chính quyền sẽ thấp đến mức nào, xã hội Việt Nam mình sẽ trôi về đâu? Sự xuống cấp về đạo đức, về văn hóa này xuất phát từ đâu? Ta hãy lần lượt xem xét từng nguyên nhân.   Trước hết nguyên nhân từ giáo dục. Từ hàng chục năm nay, giáo dục mải mê lo dạy chữ, chạy theo các chỉ tiêu lên lớp, thi tốt nghiệp, phổ cập giáo dục, đậu vào đại học mà coi nhẹ, thậm chí quên luôn việc dạy làm người, làm công dân. Kết quả là học sinh lớp 12 có thể thành thạo cách giải bài toán về tích phân nhưng lại không hề biết cách ứng xử văn minh giữa người với người trong khi gặp tình huống xung đột; học sinh lớp 3 có thể được điểm 10 khi trả bài “đoàn kết với thiếu nhi quốc tế” trong giờ đạo đức nhưng lại sẵn sàng đánh nhau với bạn trong lớp để giành đọc một truyện tranh. Đã xa rồi thời kỳ đẹp đẽ mà mỗi giáo viên chủ nhiệm đều thực hiện mệnh lệnh từ trái tim là đến nhà học sinh cá biệt để tìm hiểu gia đình, hoàn cảnh sống nhằm phối hợp ba môi trường để giáo dục em đó. Nay chỉ thấy dạy tăng tiết, tăng tiết và tăng tiết, bắt học sinh học thuộc bài, thuộc chiêu để làm bài kiểm tra, thi đạt điểm cao. Tại một trường phổ thông trung học có tiếng dạy tốt học tốt ở thành phố, cô giáo tuyên bố thẳng với học sinh lớp chọn: “Các em vô đây rồi là không còn thể thao văn nghệ, không hoạt động xã hội đoàn thể gì nữa hết, chỉ có học và học thêm để thi đậu đại học. Chỉ một mục tiêu đó mà thôi”. Nhà trường chúng ta hình như quên mất rằng mục tiêu đào tạo của giáo dục là con người biết “hỷ, nộ, ái, ố” và biết cách chế ngự các tình cảm đó, chứ không phải là cái máy nhớ, máy “trả” bài. Học sinh sau này ra đời nhớ đến thầy cô, nhắc đến thầy cô chủ yếu qua những câu chuyện mà thầy cô dạy các em nên người chứ không phải dạy viết câu văn sao cho hay hoặc cân bằng một phương trình hóa học sao cho đúng. Lý do đơn giản: bài học về kiến thức bộ môn nào đó chúng có thể quên vì không gắn với nghề nghiệp đang làm nhưng bài học về làm người thì ai cũng phải ôn và luyện hàng ngày và suốt đời.  Tuy nhiên trút hết tội lỗi lên giáo dục là sai lầm. Quy luật 25/75 về học tập cho biết rằng con người học ở ngoài nhà trường nhiều khoảng gấp ba lần so với trong trường. Nghĩa là những điều đứa trẻ thấy ba mẹ chúng làm gì ở nhà, người lớn làm gì ngoài đường, công chức làm gì ở công đường, chúng đều học hết đấy. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Có sách giáo khoa nào lại đi ca ngợi sự giả dối, có thầy cô nào, cha mẹ nào lại khuyến khích con mình thiếu trung thực? Vậy mà theo TS Đặng Cảnh Khanh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thanh niên, điều đáng buồn và đáng báo động hiện nay là nhiều người cho rằng sự trung thực gắn liền với sự thiệt thòi, người trung thực bị coi là “kẻ ngốc”. Ông Khanh cho rằng thanh niên không có lỗi khi suy nghĩ như vậy mà trách nhiệm thuộc về xã hội, thuộc về các cơ chế tạo ra sự giả dối và “giáo dục thanh niên rất quan trọng trong nhà trường, trên phương tiện truyền thông,… nhưng bản thân xã hội, đặc biệt là người lớn phải ngăn chặn tính gian dối. Không thể kêu gọi thanh niên trung thực khi xã hội đầy rẫy sự gian dối, tham ô, tham nhũng”.   Không thừa nhận thực tế đau lòng này mà lại chỉ nhìn vào thành tích của các tổ chức và cá nhân, nhất là thành tích một thời nào đó để khen nhau là hay, tâng bốc nhau là giỏi bằng các loại danh hiệu, huân chương, ta sẽ thành con đà điểu rúc đầu trong cát để tránh hiểm nguy. Phải biết nghe dư luận trong dân, trong gia đình, ý thức tính nguy cấp của vấn đề. Vấn nạn xuống cấp về đạo đức, về văn hóa trong xã hội, trong gia đình đã di căn vào nhà trường, vào thế hệ học sinh. Do vậy mà không thể giải quyết bằng các biện pháp của ngành giáo dục, cho dù giáo dục có đổi mới căn bản và toàn diện, cho dù phổ cập được đại học trong dân cư. Vấn nạn này đã không còn là của riêng của giáo dục nữa rồi. Phải có một giải pháp tổng thể thủ tiêu cái cơ chế đẻ ra vấn nạn đó.  —-  (1) Được công bố trên vietnamnet 8/2011       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tránh tình trạng “sửa đâu sai đấy”      Chương trình (CT) và Sách giáo khoa (SGK) là những vấn đề xã hội rất quan tâm, vì nó đụng chạm đến hàng chục triệu trẻ em đang cắp sách đến trường. Trên các phương tiện truyền thông có rất nhiều ý kiến khác nhau về CT và SGK, thậm chí rất trái ngược nhau. Vừa qua Bộ GD&amp;ĐT đã tổ chức một hội nghị để tổng kết các ý kiến đánh giá về CT và SGK. Nhân dịp này, Tia Sáng đã có cuộc trò chuyện với GS Văn Như Cương, một trong các tác giả viết SGK môn Toán.    PV. Được biết Ông là tác giả nhiều sách giáo khoa ở bậc Đại học và bậc Phổ thông, xin Ông vui lòng cho biết  về một số vấn đề liên quan đến SGK phổ thông hiện nay.  GS Văn Như Cương. Rất vui lòng. Về SGK hầu như ai cũng có thể có ý kiến: học sinh (người phải học  SGK), cha mẹ học sinh (người phải bỏ tiền mua SGK), các thầy cô giáo (người đang phải dạy theo SGK), các nhà khoa học (chuyên môn của họ được viết thành SGK), các nhà báo (người phản ánh ý kiến của nhân dân về SGK), các đại biểu Quốc hội (người thay mặt cử tri để nói về SGK). Vậy thì tôi, một trong những người viết SGK, cố nhiên cũng có ý kiến riêng của mình. Tôi xin sẵn sàng biết gì nói nấy, nghĩ gì nói thế.  Ông có thể cho biết ông đang viết những cuốn SGK nào, và những người cùng cộng tác với ông là do ai cử? Có người phê phán chính sách “mặt trận” trong việc lựa chọn tác giả SGK, ông thấy thế nào?  Tôi được Bộ GD&ĐT mời làm chủ biên bộ sách Hình học nâng cao của lớp 10, 11, 12. Các tác giả cùng cộng tác với tôi là do tôi lựa chọn và đề nghị, không hề có chính sách “mặt trận” hay “cơ cấu” gì cả. Tôi biết rõ năng lực của những người cộng tác với tôi, tôi muốn làm việc với họ, và họ cũng muốn làm việc với tôi. Cố nhiên không phải chúng tôi là nhóm người duy nhất có thể viết bộ sách “Hình học nâng cao”, mà phải có đến hàng trăm người có thể viết được. Nhưng vì có chủ trương “một bộ SGK” nên chỉ có một nhóm tác giả mà thôi.  Cũng cần nói thêm rằng không phải chúng tôi đã “chạy” để được chọn làm tác giả, vì một lẽ đơn giản là công việc viết SGK rất nặng nề, tốn rất nhiều thì giờ, thường bị phê phán rất gắt gao, trong khi tiền nhuận bút lại khá… “bèo”.              Ông Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có nói đại ý rằng 80% tác giả SGK chưa từng dạy phổ thông, hoặc hiện nay không còn dạy ở bậc phổ thông, nên có thể sách họ viết ra chưa phù hợp với trình độ của học sinh phổ thông! Theo ông, có nên chọn những người như vậy để viết SGK bậc phổ thông hay không?  Tôi có nghe Ông Bộ trưởng nói như vậy ở một kì họp Quốc hội. Về con số 80% nói chung ấy chắc là đáng tin cậy, vì được các cơ quan chức năng của Bộ tổng hợp và báo cáo. Riêng đối với bộ sách mà tôi là chủ biên, thì tôi có thể nói rằng 100% tác giả của nó đều đang dạy ở bậc phổ thông. Chúng tôi viết SGK, và chúng tôi trực tiếp dạy những bài chúng tôi đã viết và đang viết, và qua đó chúng tôi chỉnh lí, sửa chữa những điều đã viết cho phù hợp với trình độ học sinh…  Đối với các bộ môn khác thì theo tôi nhận biết, phần lớn các tác giả là những người đang giảng dạy ở các trường ĐH Sư Phạm. Có thể họ không trực tiếp giảng dạy ở trường PT, nhưng họ đang “huấn luyện” cho những người sau này sẽ dạy ở trường PT. Tôi không nghĩ rằng họ là những người xa rời thực tế phổ thông!  Một nhà khoa học lớn, cỡ quốc gia hay quốc tế, viết một cuốn SGK thì chắc chắn là có tính khoa học cao, nhưng có thể tính sư phạm lại thấp. Ngược lại một giáo viên dạy giỏi có thể viết một cuốn SGK thì chắc chắn là có tính sư phạm cao, nhưng có thể tính khoa học lại thấp. Còn nếu một nhà khoa học lớn và một giáo viên dạy giỏi cộng tác với nhau  để viết SGK thì rất có thể là cả tính khoa học và tính sư phạm đều thấp! Chuyện như vậy là bình thường và đã từng xảy ra.  Có người cho rằng những người viết SGK ở nước ta là người “tay ngang”, ý nói là không có hiểu biết gì nhiều về công việc của mình, chẳng hạn không hiểu gì về tâm lí học, về giáo dục học, về công nghệ giáo dục. Thật đáng tiếc là nước ta chưa có trường dạy nghề viết SGK, cho nên số người “tay dọc” còn quá ít .    Có nhiều ý kiến phê phán rất gay gắt chương trình và SGK phổ thông hiện nay, thậm chí có người còn cho rằng phải viết lại toàn bộ! Ông suy nghĩ thế nào?  Là người trong cuộc, tôi rất chú ý đọc và nghe những điều phê phán đó. Nhiều ý kiến rất xác đáng, đặc biệt là của các thầy cô giáo đang đứng lớp. Qua những góp ý cụ thể và chi tiết của họ, chúng tôi đã có những điều chỉnh cần thiết để làm cho bản thảo tốt hơn. Nhưng quả thật cũng có nhiều ý kiến làm cho chúng tôi hết sức ngỡ ngàng và khó hiểu.  Chẳng hạn có người nói cách làm SGK của nước ta chẳng giống ai, vì nó làm ngược: đáng lí phải có chương trình rồi mới viết SGK, trong lúc ở ta thì lại viết sách trước khi có chương trình. Riêng tôi, tôi chỉ biết rằng khi người ta “thuê” tôi viết một cuốn sách nào đó thì người ta phải đưa cho tôi cái “chương trình” và tôi phải viết đúng theo chương trình đó Nếu không như thế thì làm sao tôi dám nhận viết? Khi viết xong lại có một Hội đồng thẩm định đọc bản thảo của tôi xem tôi có viết đúng theo chương trình hay không! Nếu không có chương trình thì cái Hội đồng ấy căn cứ vào đâu để thẩm định, để nghiệm thu, để duyệt hay không duyệt?                     Lại có người nói rằng các tác giả SGK chỉ biết chúi mũi viết trên trời dưới đất, mà không chịu tham khảo CT, SGK của các nước khác xem người ta viết như thế nào! Thật ra thì không phải như thế. Hội đồng làm chương trình có đầy đủ nhiều chương trình khác nhau của nhiều nước trên thế giới, và tất nhiên họ phải tham khảo rất kĩ càng những chương trình đó. Còn tác giả SGK cũng có nhiều SGK của các nước để tham khảo so sánh Viện Chiến lược Giáo dục có một thư viện về SGK khá đầy đủ để có thể truy cứu, ngoài ra mỗi cá nhân tác giả SGK cũng có nhiều tài liệu tham khảo.  Có người phê phán rằng một cuốn SGK có quá nhiều người viết, mỗi người viết một khúc, rồi ghép lại, nên chẳng ăn nhập gì với nhau, cả về văn phong lẫn kiến thức. Thực tế ở cuốn SGK mà tôi chủ biên thì không phải như vậy (mà có lẽ ở các cuốn sách khác cũng thế thôi). Sau khi bàn thảo rất chi tiết từng chương, từng mục, từng bài chúng tôi mới phân công người chấp bút. Tất cả bài viết ra đều phải được thảo luận, thông qua tập thể nhóm tác giả. Nhiều cuộc bàn cãi, tranh luận rất cụ thể và chi tiết thậm chí cho từng câu chữ. Nếu sách chúng tôi có gì sai, không hay, không hợp lí, thì ta cứ tranh luận cho ra nhẽ, nhưng không nên nói rằng chúng tôi làm ăn cẩu thả, chắp vá, tùy tiện…  Tôi cũng có nghe ý kiến là nên phá bỏ CT và SGK hiện nay đi để làm lại hoàn toàn. Và còn nói thêm rằng chỉ dăm sáu tháng là có thể làm xong CT và SGK mới, từ lớp 1 đến lớp 12. Thật tình, tôi không dám hình dung điều gì sẽ xảy ra khi một kế hoạch như thế được thực hiện. Từ lâu, ngành giáo dục nước ta đã mắc cái tiếng xấu là “thay đổi xoành xoạch”. Đôi khi chỉ là thay đổi, sửa chữa rất nhỏ và không thường xuyên nhưng vẫn cứ là “xoành xoạch”. Nếu bây giờ chưa thay sách được một vòng (năm 2009 mới xong) mà phá đi làm lại thì chắc chắn là được nâng cấp lên là “siêu xoành xoạch” vậy!  Một trong những đánh giá về CT và SGK hầu như được thống nhất trong dư luận là quá tải, quá nặng. Theo Ông thì điều đó có đúng không?  Tôi chỉ dám nói về môn Toán mà thôi, các môn học khác tôi không thể có ý kiến.  Theo tôi, CT và SGK môn Toán không nặng, không cao, không khó nếu so với các nước khác, kể cả so với CT và SGK cũ của chúng ta. Đó cũng là ý kiến của đa số các thầy cô giáo dạy môn Toán. Vì thế không nên làm cho nó nhẹ hơn, thấp hơn và dễ hơn.  Nếu chúng ta “giảm tải” CT và SGK môn Toán nhiều hơn nữa thì thật là đáng buồn, vì trí tuệ, năng lực của con em chúng ta đâu có kém cỏi đến mức phải học một CT thấp đến như vậy!  Thế nhưng tại sao học sinh, cha mẹ học sinh và nhiều người khác lại kêu là nặng quá?  Tôi cho rằng nếu dạy và học đúng theo yêu cầu, mức độ mà CT và SGK đòi hỏi thì không nặng đối với học sinh. Nhưng vấn đề là chỉ học như thế thì không hy vọng vào đại học được, vì trong 100 em thì chỉ có 15 em lọt qua cổng trường ĐH mà thôi. Vậy thì phải học sâu hơn, kĩ hơn, làm bài tập nhiều hơn, khó hơn so với yêu cầu. Học trò đòi hỏi như vậy, phụ huynh đòi hỏi như vậy, và thầy giáo cũng phải làm như vậy. Nhiều trường hợp phụ huynh học sinh kiến nghị với ông Hiệu trưởng để thay thầy Toán vì thầy dạy “không cao hơn SGK”! Đúng ra, nếu thầy dạy cao hơn SGK thì mới bị ông Hiệu trưởng phê bình!  Tôi đang có các cháu học lớp bốn và lớp năm. Tôi bị các cháu hỏi nhiều bài toán mà tôi cho rằng quá khó đối với chúng. Tôi mở SGK ra xem thì mới biết rằng đó là các cô giáo cho thêm, để được tiếng là dạy “cao hơn SGK”!  Một nguyên nhân khác: vì cả nước dùng chung một cuốn SGK nên nếu đối với học sinh ở nơi này, vùng này là vừa sức, thì tất nhiên cũng có nơi khác, vùng khác quá sức. Không thể có một cỡ giày nào vừa chân cho tất cả mọi người. Bởi vậy, tuy cùng một CT nhưng phải có nhiều bộ SGK khác nhau cho các vùng, miền khác nhau.  Theo Ông, nếu “không phá đi làm lại” CT và SGK hiện nay thì có nên tiến hành chỉnh sửa gì không ?  Việc chỉnh sửa là cần thiết, không phải chỉ đối với CT và SGK. Quốc hội thông qua các luật rồi, nhưng có thể một vài năm sau lại phải ra luật sửa đổi một số điều của luật này, luật nọ. Đó là việc làm cần thiết, không nên xem là “thay đổi xoành xoạch”. Qua cuộc hội thảo đánh giá CT và SGK vừa rồi, mọi người cũng đã nhận ra một số điều cần chỉnh sửa. Cố nhiên việc chỉnh sửa cũng cần phải nghiên cứu và tiến hành một cách thận trọng, tránh tình trạng “sửa đâu sai đấy”.  Xin cám ơn Ông.      PV thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em đeo râu hay đeo râu cho trẻ em ?      Giữa tháng 12 năm 2015, Nhóm Cánh Buồm có tham dự Hội thảo quốc tế về đề tài DẠY TRIẾT HỌC CHO TRẺ EM tổ chức tại Manila. Ta có thể&#160; xem xét vấn đề thú vị này thông qua việc khảo sát nhanh bộ sách Thú vui Tư duy (Chouette Penser!) dành cho các em nhỏ từ 11 tuổi trở lên của Pháp, do nhà xuất bản Tri thức xuất bản. Và qua một số điểm sách còn sơ sài, ta thấy ở đây chẳng có chuyện bắt trẻ em đeo râu hoặc cư xử với trẻ em như những ông bà cụ non.        Bộ sách Thú vui tư duy có những chương mục thật đa dạng và hấp dẫn: Con người là gì? Tự do là gì? Tại sao con người gây ra chiến tranh? Sao lại cười? Hòa trộn con trai con gái? Đủ lý do để mà tàn ác? Sao con người cứ tranh cãi hoài về Chúa? Sách đều do các nhà nghiên cứu triết học và cũng là những nhà giáo có nghề soạn ra với trình độ chuyên nghiệp thật cao. Ở từng cuốn sách, cặp đôi với người viết văn bản là một họa sĩ có nét vẽ vô cùng phóng khoáng, tinh nghịch, gợi cảm. Không nói ra, nhưng cả văn bản viết và hình minh họa như thể cùng chung một tuyên ngôn thầm kín: đem lại món ăn tinh thần ý vị nhất cho thiếu niên.  Xin nói luôn, món ăn tinh thần đó không phải là những tài liệu tuyên truyền sống sượng. Mà đó là những gợi ý để người đọc suy nghĩ. Đúng như tôn chỉ của Bộ sách: Thú vui Tư duy.   Ta thử phân tích một cuốn: Con người là gì? Đó là một câu chuyện nhẹ nhàng về một nhà triết học sống cô đơn giữa sách vở và bụi bặm thư viện để viết một tài liệu giải thích con người là gì?  Dĩ nhiên câu chuyện dẫn bạn đọc tới khúc nhà triết học đó bí văn, cũng như nhà văn bí cả văn lẫn triết học, thế mới sinh chuyện!   Thế rồi, do lơ đễnh, lơ đễnh vì bí văn, và bí văn nên càng lơ đễnh, nhà triết học để ngỏ cửa, và một con chó đòi được vào nhà. Thấy con chó biết nói tiếng người, nhà triết học tò mò cho nó vào. Và sau khi vào được trong nhà, con chó nhảy tót lên ngồi trên sofa và bắt đầu trò chuyện bằng vai phải lứa với nhà văn-triết gia như hai nhà triết học không cùng quan điểm vậy.  Đôi bên bắt đầu tranh luận từng điều, và điều thứ nhất là: con người có phải là  động vật xã hội hay không? Con chó hóm hỉnh nói to lên những nhận xét để thấy rằng vị triết gia hoàn toàn xa lánh mọi người, chỉ chúi mũi vào công việc, chẳng có gì là “xã hội” hết! Và đây là lập luận “phản biện” của con chó để định làm cho triết gia thua hoàn toàn:  Con người sinh ra để sống thành xã hội ư? Thật là quá quắt! Con người kẻ nọ sợ kẻ kia thì có! Con người vẫn chẳng nuôi một con chó để canh cổng nhà mình đấy ư? Chó có bao giờ khóa cửa ngõ kỹ lưỡng trước khi đi dạo không?  Chó thì chẳng có gì để mà bị mất cắp hết.  Vậy tại sao bác lại sợ bị đánh cắp? Nếu con người là một động vật xã hội, nó sẽ không lấy trộm của kẻ khác. Ấy thế mà, con người anh nào cũng dựng hàng rào quanh nhà. Hãy nhìn mà xem. Con người ghen tị với hàng xóm vì họ có căn nhà đẹp hơn, có mảnh đất lớn hơn, có chiếc xe khỏe hơn xe của mình. Và nếu không sợ bị trừng phạt, chắc là anh này sẽ cắt cổ anh kia để chiếm lấy tài sản của hắn…   Nhà văn-triết gia tiếp tục cùng con chó còn tranh luận về những vấn đề khác nữa, đều là những luận điểm thuộc phạm trù người: lao động của con người, nó có thích lao động không, lao động của nó có khác gì không so với lao động của con kiến, … rồi bàn sang ngôn ngữ của con người, bàn sang tư duy của con người … và đụng tới đâu con chó cũng có ý kiến ngược lại hết! Thậm chí là cách nói hóm hỉnh để bác bẻ triết gia – chẳng hạn về vấn đề lao động:  “Cứ như thể bác định làm cho em tin rằng sáng sáng bác thực bụng dậy sớm để đến trường dạy học ấy! Có chắc là bác thấy hài lòng và hạnh phúc khi bác bước đi trong giá rét để đến trường giảng bài, khi bác cứ như thể đánh vật để cố giảng giải những tư tưởng hết sức phức tạp cho lũ học sinh chỉ để một nửa tâm trí nghe bác nói thôi? Bác muốn em tin rằng con người sống để lao động ư: em thì em nói là họ lao động để sống, và họ sẽ còn sung sướng hơn nữa nếu được nghỉ lao động và làm những điều họ thích. Hạnh phúc, đó là sự lười biếng, con người cũng thế mà loài chó cũng thế!  Dĩ nhiên, tác giả không đứng ra làm trọng tài phán xử con chó cãi bây ra sao. Việc đó dành cho các bạn đọc thiếu niên tự suy nghĩ. Nhưng tác giả cũng đóng khung lại những ý tưởng cần được chốt lại. Chẳng hạn, đây là ý tưởng về chuyện “con người – động vật xã hội”: Kẻ nào không thể là thành viên một cộng đồng hoặc không cần đến cộng đồng vì thấy bản thân mình là đủ, kẻ đó không nằm trong một cộng đồng chính trị, dù kẻ đó là con vật hay là chúa trời. (Aristote)  Hoặc như ý tưởng về chuyện “ngôn ngữ của con người”: Chẳng có cách gì tìm cho ra một con vật hoàn hảo đến độ nó có thể dùng vài tín hiệu để làm cho đồng loại nhận thức được điều gì không liên quan đến những đam mê (có tính bản năng) của nó; và cũng không thể tìm thấy một con người dù là không hoàn thiện mà lại không dùng được tín hiệu như thế; đến độ là ngay cả những người câm và điếc cũng tạo ra được những tín hiệu riêng dùng để biểu đạt suy nghĩ của họ. (Descartes)   Phạm vi một chương điểm sách không cho phép đi xa hơn nữa – và cũng không cần “đọc sách giúp” bạn đọc nhiều hơn mức cần thiết. Nhưng mấy đặc điểm này thì lại cần nhấn mạnh thêm, cho dù bài giới thiệu đã khá dài:  Đặc điểm một: Trong các cuốn sách thuộc bộ sách “Triết học cho thiếu niên”, ta sẽ không bắt gặp những tín điều nhồi sọ; mặt khác, những luận điểm khoa học đều đã được giới bác học đương thời chấp nhận, không có những “quan điểm” gây hoang mang vô ích (phi sư phạm) cho bạn đọc trẻ tuổi.  Đặc điểm hai: Những phản biện đưa ra đều mang tính lập luận với những cứ liệu chứ không “bác bẻ” hồ đồ võ đoán – thêm vào đó còn có tính hấp dẫn của hành văn – đủ sức dùng các lập luận đó mà huấn luyện tính nhạy bén cho những đầu óc thiếu niên.  Đặc điểm ba: Các tác giả soạn sách đã tỏ ra rất tôn trọng khả năng tổ chức tự học của các bạn đọc trẻ tuổi. Cách viết các cuốn sách này đều gợi ra những cuộc tranh luận có tổ chức của bạn đọc – và đó chính là cách học ở nhà trường nơi học sinh không bao giờ bị “truyền đạt” một chiều từ trên xuống.  Kết luận  Đọc các cuốn sách thuộc bộ “Triết học cho thiếu niên” này, ta hình dung ra một cách học khác ở nhà trường – sao cho chính những độc giả trẻ tuổi của bộ sách này sẽ thúc đẩy cải cách giáo dục, chính các em sẽ góp phần xua đuổi cái sức ỳ của một nền giáo dục hết sức thiếu tôn trọng trẻ em. Chí ít là, một khi trẻ em đọc những cuốn sách này, thì người dạy các em cũng phải chạy đua đọc sách để khỏi lạc hậu so với các em. Còn những “người lớn” khác chắc là cũng không nỡ tiếp tục in những loại sách, ra những loại báo chỉ cốt bắt các em mua, không cần đến khía cạnh giáo dục, nhất là không quan tâm gì hết đến giáo dục triết học cho các em.  “Một năm bắt đầu bằng mùa xuân”, người ta quen nói thế. Tương lai một dân tộc bắt đầu với “mùa trẻ em” và với việc học từ tấm bé của mùa trẻ em. Nhìn nhà trường cho mùa trẻ em hôm nay thì biết tương lai một dân tộc sẽ ra sao trong vụ gặp sau đó mươi lăm năm.   Theo chủ đề ta đang bàn, nhìn chất lượng triết học qua những gì các thiếu niên tự đọc và tự hấp thụ hôm nay, thì sẽ biết chắc tư duy của cả dân tộc trong tương lai sẽ như thế nào. Vụ gặt của cả dân tộc phụ thuộc vào cái nền tư duy đó.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em và phụ huynh cần được tiếp cận STEM nhiều hơn qua những ngày hội như thế này      Say mê, sôi động, và lôi cuốn là những cảm xúc của hàng nghìn em học sinh tham dự Ngày hội STEM TP HCM 2016, diễn ra trong hai ngày 16, 17 tháng 1 năm 2016, qua gần 90 tiết học do cộng đồng giáo dục STEM ở cả TP HCM và Hà Nội tổ  chức, với những chủ đề phong phú đa dạng trên nhiều lĩnh vực, từ khoa  học sự sống, khoa học vật liệu, công nghệ thông tin, chế tạo robot, toán  logic…    Mỗi tiết học là cơ hội để trí tò mò của các em nhỏ được kích thích bằng những câu hỏi khoa học hấp dẫn do các thày cô đưa ra, đồng thời bản thân các em cũng tự đặt ra những câu hỏi thú vị, như “vì sao các hành tinh lại lơ lửng trong vũ trụ”, hay “vì sao tã giấy hút nước”… Ngoài việc được giải đáp những câu hỏi khoa học bổ ích, các em còn được trực tiếp thực hành với những thí nghiệm lập trình robot lego, tạo ra nguồn điện bằng trái cây, thiết kế chiếc thuyền giấy bạc sao cho chịu được trọng lượng lớn nhất…  Mô hình giáo dục STEM đã được nhiều nước phát triển áp dụng triển khai do những ưu điểm vượt trội so với phương thức giáo dục khoa học truyền thống thiên về kinh viện khô khan. Ở Việt Nam, giáo dục STEM đã bắt đầu được một số doanh nghiệp, tổ chức triển khai ở Hà Nội, TP HCM, cùng một vài địa phương khác trong vài năm qua. Thách thức chung mà những đơn vị này gặp phải là giáo dục STEM đòi hỏi những thày cô hết sức tâm huyết, có năng lực chuyên môn cao. Giảng viên Dương Minh Tới của Titan Education, một trong những đơn vị cùng tham dự Ngày hội STEM TP HCM lần này, để có khả năng đứng lớp, cho biết mỗi giảng viên trẻ sau khi tốt nghiệp đại học thường phải được đơn vị đào tạo tiếp 1-2 năm. Bên cạnh đó, các lớp học STEM thường không thể quá đông mà chỉ có thể tổ chức thành nhóm nhỏ, đảm bảo sự tương tác sâu giữa giảng viên và học sinh.   Ngoài những khó khăn trên, trở ngại lấn nhất hiện nay là ở Việt Nam mới chỉ có một số ít người biết đến giáo dục STEM. Chính vì vậy, những ngày hội STEM được tổ chức trước hết với kỳ vọng sẽ giúp nâng cao nhận thức xã hội về giáo dục STEM. Ông Vũ Tuấn Anh, Tổng thư ký của Hội Tin học TP HCM, Trưởng ban Tổ chức Ngày hội STEM TP HCM chia sẻ hi vọng rằng tới đây ngày hội STEM sẽ tiếp tục lan tỏa tới các địa phương khác, để trẻ em cùng phụ huynh ở những vùng sâu, vùng xa vốn đang rất thiếu thông tin, cũng sẽ có cơ hội được tiếp cận giáo dục STEM.    Bên cạnh đó, một ý nghĩa quan trọng khác của ngày hội STEM là tạo cơ hội cho các học sinh và phụ huynh được trải nghiệm những mô hình giáo dục STEM do các đơn vị trong nước đang triển khai. Như vậy, tới đây nếu các bậc phụ huynh quan tâm tới giáo dục STEM thì họ hoàn toàn có thể đưa con em mình đến những địa chỉ cụ thể đáng tin cậy.   Với ý nghĩa như vậy, chuỗi ngày hội STEM đã được triển khai từ năm ngoái, bắt đầu bằng Ngày hội STEM lần thứ nhất tại Hà Nội. Sự kiện được sự bảo trợ của Bộ KH&CN, đã thu hút sự tham dự của hơn 3000 học sinh cùng các bậc phụ huynh. Kế thừa thành công của sự kiện trên, Ngày hội  STEM TP HCM 2016 được phát động, với sự phối hợp tổ chức của Hội Tin học TP HCM, Trung tâm Khoa học Công nghệ trẻ Thành đoàn TP HCM, và Tạp chí Tia Sáng. Cũng giống như ngày hội STEM lần đầu tại Hà Nội, sự kiện tại TP HCM lần này có sự bảo trợ của Bộ KH&CN, nhưng hoàn toàn dựa trên nguồn lực xã hội hóa.   Phát biểu tại lễ khai mạc Ngày hội STEM TP HCM 2016, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân đánh giá cao ý nghĩa của sự kiện trong việc khơi dậy niềm đam mê khoa học ở trẻ em, tác nhân quan trọng đem lại nguồn nhân lực cùng những sản phẩm KH&CN đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước trong tương lai. Bộ trưởng cũng khẳng định cam kết của Bộ KH&CN trong việc tiếp tục bảo trợ cho những ngày hội STEM tiếp theo ở Việt Nam trong thời gian tới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thông minh internet      Gần như tất cả trong số 800 sinh viên có mặt tại cuộc gặp gỡ giữa CLB Doanh nghiệp Dẫn đầu LBC và Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội hồi đầu tháng đều gật đầu khi được ông Văn Đức Mười – TGĐ Vissan hỏi: “Các bạn có thấy mình đang sống dựa dẫm quá nhiều vào Google không?”      Cái gật đầu này, cùng với hàng loạt cảnh báo khác mà nhiều chuyên gia đã đưa ra, tạo thành một mức báo động mới của một thế hệ sống bằng “trí thông minh internet”: cái gì cũng có thể biết rất nhanh nhờ tra cứu trên mạng, nhưng không làm chủ những kiến thức này và dần dần bị suy giảm khả năng tư duy và phương pháp hệ thống hóa các tri thức để suy luận nhằm đưa ra những kết luận cho riêng mình.     Ít có nơi nào trên thế giới, internet và các thiết bị di động thông minh lại phổ biến như ở Việt Nam. Internet 3G, dù cho mới rục rịch tăng giá, vẫn thoải mái phục vụ mọi người với mức phí “rẻ không tưởng tượng được” như một chuyên gia Đức thốt lên: vài mươi nghìn đồng là trực tuyến 24/24. Bởi vậy, rất nhiều người đã tập được một phản xạ “nếu mà không biết thì tra Google” như một thói quen hiển nhiên. Hỏi gì cũng biết, tra gì cũng ra, mọi thứ tiện dụng đến mức ra sân bay, người ta cũng có thể hỏi được mật khẩu wifi của phòng khách thương gia từ rất nhiều diễn đàn trao đổi. Và theo một lý lẽ thông thường, sao ta phải xoắn não để suy nghĩ, sao phải mệt mỏi để tra cứu sách vở, tài liệu khi mà mọi thứ đều nằm trong lòng bàn tay… Một khi có câu trả lời cho mọi thứ, người ta sẽ lười biếng suy nghĩ, lười phân tích và cũng chán việc phải chui vào thư viện đọc sách…  Chẳng lẽ Google là tội đồ làm cho nhiều người trẻ trong chúng ta trở nên kém khôn ngoan?     Lẽ dĩ nhiên, chuyện không đến nỗi quá nghiêm trọng như thế, như cách mà ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch LBC lập luận: “Google là một công cụ tuyệt vời, nhưng chúng ta phải đứng trên nó, sử dụng nó một cách hợp lý chứ không được dựa vào nó”. Như cách mà giáo sư Ngô Bảo Châu chia sẻ trong cuộc nói chuyện chủ đề “Học như thế nào?”: “Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn phí rất nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng. Một số trường đại học có tên tuổi như MIT, Stanford còn tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư liệu học tập. Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến đó học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được nhận vào học, bạn có thể truy cập miễn phí các tư liệu học tập, theo dõi các bài giảng video. Vậy có đúng là bạn cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học như sinh viên ở MIT hay ở Stanford hay không”. Câu trả lời là gì, có lẽ không cần phải phân tích thêm.     Gần đây, nhiều người lo ngại khi xuất hiện tình trạng “bác sĩ Google” nói về những tai biến khi người bệnh tự tra cứu thông tin trên internet thông qua công cụ tìm kiếm để tự chữa bệnh, mua thuốc theo những tài liệu, chia sẻ đọc được. Nó cũng như hàng loạt các trường hợp dở khóc dở cười khác với những người “răm rắp” nghe lời khuyên từ internet mà chưa bao giờ tự hỏi giữa biển thông tin mênh mông kia, đâu là chỗ nước xoáy, thậm chí còn có cá mập rình rập?     Hãy tạm thời thôi online và sống cuộc sống thực tế đang cuồn cuộn chảy xung quanh ta. Hãy đọc sách và suy nghĩ tìm câu trả lời thay cho internet. Đã và đang có rất nhiều cuộc vận động tại nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, có lần một nhà văn nổi tiếng đã kể câu chuyện về “bà mẹ internet” nói về việc cô con gái không cần nhờ đến mẹ ruột mà nhất nhất từ chăm con, nấu ăn, kho cá… đều tin tưởng vào internet. Để đến một lúc, cô hốt hoảng nhận ra mình đang bỏ mất một kho tàng quý giá được lưu giữ đời đời qua kinh nghiệm, qua vốn sống và qua tình yêu thương của người mẹ.      Internet là nơi cung cấp dữ liệu, là công cụ, chứ không thể là mục đích, là điểm đến của mọi vấn đề trong cuộc sống. Bạn có đồng ý vậy không?       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tri thức là sức mạnh”      Vào buổi bình minh của khoa học – kỹ thuật hiện đại, Francis Bacon (1561  – 1626) nêu công thức ngắn gọn và cấp tiến: “tri thức là sức mạnh”.    Mục tiêu của khoa học và kỹ thuật là “regnum hominis”, sự thống trị của  con người, khôi phục lại vườn địa đàng đã mất, khi con người đầu tiên  (Adam và Eva) đặt tên cho muôn loài và khẳng định quyền lực của mình một  cách dễ dàng.    Một “không tưởng” về kỹ thuật ra đời, lôi cuốn phương Tây, và rồi cả nhân loại, đi vào cuộc đại trường chinh mới mẻ.  Regnum hominis  Một thế hệ sau Bacon, René Descartes (1596 – 1650), ông tổ đích thực của tư tưởng cận đại, đề ra yêu cầu: nhờ vào sự trợ giúp của khoa học và kỹ thuật, con người phải và có thể trở thành “chủ nhân và chủ sở hữu của thiên nhiên”. Ngày nay, khẩu hiệu lừng danh của Bacon và yêu cầu mãnh liệt trên đây của Descartes thường bị phê phán như là mầm mống của hình thức thống trị thiên nhiên một cách bạo lực và đầy dục vọng, chỉ nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách thiển cận, bất chấp mọi hậu quả.  Thật ra, Bacon và Descartes, về căn bản, chỉ xác định bản chất của hoạt động khoa học và hành động kỹ thuật. Mục tiêu bản chất của kỹ thuật tất yếu hướng đến sự thống trị: cần phải buộc thiên nhiên (và tất nhiên cả con người) chấp nhận tuân theo những quá trình không tự nguyện.  Việc thống trị thiên nhiên bằng khoa học – kỹ thuật bao gồm ba thành tố hay ba cấp độ: khách quan hoá thiên nhiên thành đối tượng của sự quan sát và lý thuyết; giải thích những hiện tượng của nó dựa vào nguyên tắc nhân quả; làm chủ tiến trình vận động của chúng bằng sự can thiệp kỹ thuật có mục đích. Việc khách quan hoá đòi hỏi phải thay thế những cách tiếp cận theo kiểu xúc cảm, đồng nhất hoá hay mô phỏng bằng lối khác: lý tính, sự thông báo rành mạch cho mọi người cùng hiểu và khả năng kiểm tra, lặp lại của người khác. Việc giải thích nhân quả đòi hỏi phải lược bỏ tính cá biệt cụ thể của những đối tượng tự nhiên để có thể quy chúng về những nguyên tắc tác động phổ biến. Sau cùng, sự làm chủ về kỹ thuật không chỉ biến thiên nhiên thành đối tượng mà còn thành những sự vật. Sự vật thì được công cụ hoá và – ít ra trong quá trình can thiệp kỹ thuật – trở thành phương tiện đơn thuần.        Đã từng là người thầy của con người trong  hàng vạn năm, thiên nhiên, từ mấy thế kỷ nay, thực tế trở thành người  học trò để bị tra hỏi về quy luật và bị uốn nắn theo mục đích của con  người.        Không đợi đến ngày nay, khi thảm hoạ môi sinh toàn cầu đang cận kề mới có nhiều tiếng nói phê phán cách tiếp cận ấy. Ở cả ba cấp độ vừa nói, dường như con người đã “phạm tội”: tước bỏ của thiên nhiên một cái gì đó, làm cho thiên nhiên nghèo nàn hơn và quy giản thiên nhiên thành vật liệu cho sự sử dụng tuỳ tiện.  Có thể có một cái nhìn tỉnh táo và công bằng hơn không? Trước hết, về việc làm nghèo nàn thiên nhiên, ta biết rằng cách tiếp cận khoa học – kỹ thuật chỉ là một trong nhiều cách tiếp cận của con người hiện đại đối với thiên nhiên, nghĩa là không hề loại trừ cách tiếp cận xúc cảm và thẩm mỹ. Nếu cái nhìn vật linh về thiên nhiên (thiên nhiên là linh thiêng, bất khả xâm phạm) không còn phổ biến nữa, thì không ai ngăn cấm con người cảm thấy gắn bó, thân thiết và quý trọng đối với đoá hoa, cánh chim, ngôi vườn nhà và cảnh quan xứ sở. Việc tôi biết rõ cái cây bên hiên nhà thuộc loại gỗ gì, có tính năng ra sao không làm cho cái cây nghèo nàn đi mà trái lại! Khái niệm “thế giới bị giải ảo” của Max Weber không còn đúng nữa, khi “ảo thuật” của thiên nhiên không chủ yếu có nghĩa ma thuật – thần bí cho bằng có tính thẩm mỹ – biểu trưng (Dieter Birnbacher).  Việc biến tri thức khoa học thành sự can thiệp kỹ thuật tự nó cũng không mang tính bạo lực hay phá hoại. Phá huỷ thiên nhiên không thuộc về bản chất của kỹ thuật, bởi vấn đề không nằm ở chỗ có can thiệp vào tự nhiên hay không mà ở chỗ can thiệp như thế nào. Mô hình đối lập với sự đơn điệu của kỹ thuật không phải là sự hoang dã của thiên nhiên nguyên sơ mà là sự can thiệp tinh tế của một thứ kỹ thuật được “khai minh” mà những “ngôi vườn kiểu Anh” là hình ảnh tiêu biểu khi biết để cho thiên nhiên dường như tự thiết kế và sinh trưởng một cách “tự nhiên”. Ngăn cấm mọi sự can thiệp vào tự nhiên không khác gì đòi kết liễu cơ sở sinh tồn của con người. Ta hàng ngày hàng giờ vẫn đang “sử dụng” thiên nhiên và cả người khác nữa như phương tiện cho những mục đích của mình. Mệnh lệnh luân lý chỉ không cho phép ta sử dụng thiên nhiên và người khác như một phương tiện “đơn thuần” (Kant) kiểu bọn cai thầu chiến tranh, bọn lâm tặc, sa tặc, khoáng tặc v.v.  Một mô hình đối lập khác nữa là mong muốn biến thiên nhiên thành “đối tác”, thành “đồng minh” (Ernst Bloch, 1875 – 1977). Một mô hình thoạt nhìn khá hấp dẫn, nhưng thật ra, chỉ có thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ mà thôi, bởi quan hệ “đối tác” ấy không hề cân xứng. Quan hệ đối tác khó có thể hình thành với một thiên nhiên câm nín, trong khi con người đến với thiên nhiên một cách có hệ thống và có kế hoạch. Con người có lừa dối “đối tác” thiên nhiên không, khi phát minh ra thuốc mê để tránh sự đau đớn do tự nhiên gây ra cho con người, khi làm mọi cách để ngăn ngừa thảm hoạ tự nhiên? Thiên nhiên chỉ trở thành chủ thể khi nó được chủ thể – người chiếm lĩnh và cải biến, thành môi trường cho sự tự khách thể hoá của con người. Đã từng là người thầy của con người trong hàng vạn năm, thiên nhiên, từ mấy thế kỷ nay, thực tế trở thành người học trò để bị tra hỏi về quy luật và bị uốn nắn theo mục đích của con người.  “Ngôi nhà Salomon”  Trong chuyện kể giả tưởng Nova Atlantis, Bacon phác hoạ hình dung về “ngôi nhà Salomon”, tức một cộng đồng những nhà bác học muốn biết rõ mọi bí mật của thiên nhiên “để mở rộng tối đa sự thống trị của con người”. Danh mục các đề án phát minh kỹ thuật đi từ việc lọc nước biển thành nước ngọt, làm kính viễn vọng cho đến chế tạo chất dẻo, hương thơm nhân tạo và cải tạo các giống loài (kỹ thuật gen?) Danh mục tưởng như không tưởng ấy đã được hoàn thành vượt kế hoạch!  Dưới mắt Bacon, kỹ thuật mang tầm vóc triết học lịch sử. Giống như tôn giáo, kỹ thuật có mục tiêu rút lại việc con người bị trục xuất ra khỏi vườn địa đàng! Bacon tách biệt hệ quả luân lý với hệ quả hiện thực của việc “phạm tội”. Tội lỗi luân lý thì đành chịu, nhưng không có gì buộc con người phải vĩnh viễn cam chịu “đổ mồ hôi trán để có miếng ăn” (Kinh Thánh). “Con người hãy thống trị thiên nhiên như lời dạy của Thượng đế, còn chuyện sử dụng đúng đắn sự thống trị ấy thì lý trí lành mạnh và tôn giáo sẽ lo liệu!”  Kỹ thuật trở thành một hệ thống tự điều khiển và tự điều tiết. Bacon đã dự đoán một tâm thức “kỹ trị”: tiến bộ kỹ thuật là không gì ngăn cản được và nó cũng sẽ khắc phục mọi sự “kiềm hãm lực lượng sản xuất” (Marx) bằng chính những phương tiện kỹ thuật!  Kỹ thuật đối diện với vấn đề “tha hoá” khỏi tự nhiên như thế nào và tiến bộ kỹ thuật phải chăng là một sự tiến bộ?  (còn tiếp)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức Việt Nam ở nước ngoài và đại học Việt Nam      Ngoài những “trách nhiệm” mà người Việt Nam ở nước ngoài có thể cảm thấy đối với nền đại học trong nước, còn một sự thật này: không gì đem lại hạnh phúc hơn khi thấy việc mình làm có ảnh hưởng đến người khác, nhất là lớp trẻ.  &#160;      Khó biết chính xác tổng số người gốc Việt Nam đã hoặc đang giảng dạy tại các trường đại học, hoặc làm việc ở các viện nghiên cứu, ở nước ngoài là bao nhiêu, nhưng có thể ước đoán rằng con số này có thể gần bằng con số các đồng nghiệp của họ ở các trường đại học, các viện nghiên cứu trong nước.(1) Tất nhiên, thành phần trí thức người Việt ở nước ngoài này cũng rất đa dạng. Có người đã về hưu, con cháu đã trưởng thành, và hầu như không còn nhớ tiếng Việt. Có người vừa tốt nghiệp tiến sĩ, có liên hệ thường xuyên với quê nhà, và nói, viết tiếng Việt không thua gì người trong nước.   Có thể khẳng định rằng, dù ít dù nhiều, ai mang dòng máu Việt Nam đều muốn nền giáo dục ở quê cha đất tổ, đặc biệt là giáo dục đại học, sáng sủa hơn. Những người sống trong môi trường đại học các nước tiên tiến, hầu như mỗi ngày khi đọc tin tức từ trong nước về thực trạng giáo dục Việt Nam, thường phải chép miệng thở dài… Sự trăn trở này không chỉ xuất phát từ tình yêu với quê hương (hay, rộng hơn, từ sự bức xúc trước những chênh lệch giữa các xã hội tiền tiến và hậu tiến) mà, gần gũi hơn, còn từ ký ức về thời trẻ, nhớ lại sự ham muốn học hỏi trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn của chính mình. Rồi, so sánh với ngày hôm nay, khi đã “công thành danh toại” thì chính người trí thức ấy lại phục vụ cho nền giáo dục của nước người, cho những sinh viên ngoại quốc! Đó chẳng là, phần nào, một sự bội phản hay sao?   1    Nhưng, dù có nóng lòng vì lương tâm, vì sở nguyện, chúng ta phải nhận rằng việc “vực dậy” nền đại học Việt Nam khó xảy ra trong dăm ba năm nữa. Đó là một công trình cần kế hoạch, quyết tâm, và kiên trì, không thể thực hiện bằng những khẩu hiệu êm tai, những chỉ tiêu không thực tế. Cải cách giáo dục, ở bất cứ quốc gia nào, bao giờ cũng đòi hỏi những nỗ lực trường kỳ, không ngừng nghỉ. Ở nước ta hiện nay thì những suy kém về giáo dục – nhất là ở cấp đại học – quá đỗi trầm trọng, thể chế lại quá cứng nhắc, ù lì, và chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự ù lì này sẽ giảm đi trong thời gian trước mắt. Về phần họ, hầu hết trí thức Việt Nam ở hải ngoại đều đang đầu tắt mặt tối lo cho sự nghiệp của mình, hoặc đã vào khoảng đời mà năng lực sức khoẻ của họ không còn nhiều nữa. Như vậy, gác qua một bên những vấn đề to tát như “vai trò trí thức trong thời kỳ toàn cầu hoá”, v.v. (mà người viết bài này đã đề cập trong nhiều bài khác (2)), câu hỏi thực tế cho những người trí thức gốc Việt ở hải ngoại ưu tư đến tiền đồ dân tộc là làm thế nào để kết hợp công việc cá nhân, đời sống thực tế của họ, với cố gắng, trong chừng mực có thể, phát triển nền đại học của quê hương mình, cho con em mình.   Vì sự đa dạng của ngành nghề, về cường độ của ước muốn, tầm mức của khả năng, không thể lập ra một hình mẫu nào cho sự đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài vào sự phát triển của đại học trong nước. Tuy nhiên, có một bộ phận của tập thể trí thức này, gồm những người đã hoặc đang giảng dạy ở các trường đại học, làm việc cho các viện nghiên cứu ở nước ngoài, mà kỳ vọng vào sự đóng góp của họ đối với Việt Nam là cao nhất và khả năng của họ cũng là thiết thực nhất. Bài này sẽ tập trung vào những người ấy.  2      Hãy lấy trường hợp điển hình của một giáo sư mà nhiệm vụ chính là giảng dạy (khác những người mà nhiệm vụ chính là quản lý hay nghiên cứu) ở Mỹ làm ví dụ. Trong các trường đại học Mỹ, mỗi giáo sư như vậy thường được đánh giá định kỳ (để tăng lương, thăng thưởng hoặc chỉ để quyết định có lưu dụng hay không) qua ba tiêu chuẩn: giảng dạy, dịch vụ, và nghiên cứu (hệ số của mỗi tiêu chuẩn là tùy phân khoa, tùy học vị, đôi khi có thể thương lượng giữa giáo sư và trưởng khoa). Trong mỗi phương diện đó, tôi nghĩ người trí thức Việt Nam ở nước ngoài (tiếp tục lấy ví dụ ở Mỹ) đều có thể lập một chương trình làm việc vừa thuận lợi cho sự nghiệp cá nhân, vừa đóng góp cho nền giáo dục đại học Việt Nam.  Trước nhất, về mặt giảng dạy, tức là phần vụ liên hệ trực tiếp đến sinh viên, thì tất nhiên người Việt Nam ở hải ngoại không thể thường xuyên “đứng lớp” ở Việt Nam như các đồng nghiệp trong nước. Nhiều người đã thu xếp để thỉnh thoảng hồi hương làm việc ấy, nhưng số này cũng là ít. Đa số (nhất là các giáo sư trẻ, chưa vào biên chế) đều bận rộn suốt năm với việc giảng dạy ở nước ngoài. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của người viết bài này thì sinh viên Việt Nam ngày nay rất tinh thông Internet, và không ít em đã gửi email đến các giáo sư người Việt ở nước ngoài để xin hướng dẫn đề tài luận văn, giới thiệu sách báo chuyên ngành (ngay cả sách báo xuất bản trong nước!) mà các em cần đọc. Các giáo sư người Việt ở nước ngoài nên có những “trang nhà” bằng tiếng Việt trên mạng Internet và khuyến khích sinh viên trong nước liên hệ với họ. Rồi mỗi khi về nước, nên bớt chút thời giờ giao lưu với các em, tổ chức những buổi thuyết trình, trả lời phỏng vấn của các báo… Vẫn biết rằng đa số trí thức chân chính đều rất ngại “tự phô trương”, nhưng đến một chừng mực nào đó, và với một sự khiêm cung chân thật, nên “mở rộng cửa” đón tiếp các bạn trẻ Việt Nam trong không gian Internet. Đó cũng là một cách đóng góp cho giáo dục đại học Việt Nam.   Thứ hai, về “dịch vụ”, mà trong quy chế các đại học Mỹ thường gồm những hoạt động như là làm thành viên của các hội đồng, các uỷ ban trong trường, cũng như các hoạt động ngoài trường như là thành viên của các hiệp hội nghề nghiệp quốc gia hoặc quốc tế (nếu là trong ban chấp hành các hội đoàn, các tổ chức này thì lại càng được “đánh giá cao”). Như vậy, trong lĩnh vực “dịch vụ”, các giáo sư người Việt có thể liệt kê những hoạt động của mình ở Việt Nam, hoặc với những tổ chức trong nước (gồm cả việc tổ chức những cuộc trao đổi giữa đại học của họ và một đại học Việt Nam) trong “thành tích” cá nhân của họ đối với đại học của họ ở nước ngoài.  Thứ ba là về “nghiên cứu”, cụ thể là những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành, các quyển sách, các báo cáo cho các hội nghị, và “tốt” hơn nữa là những đề tài được tài trợ từ những nguồn ngoài trường. Đối với những giáo sư trẻ thì phần “nghiên cứu” là quan trọng nhất vì nó sẽ là “lý lịch” của họ khi họ muốn đổi trường. Chẳng những cần có bài trên các tạp chí quốc tế, mà các tạp chí này cũng phải ở hạng cao: bài được đăng trong các báo đã có lịch sử lâu đời, “top ten” trong ngành thì tất nhiên là “được giá” hơn bài trong các tạp chí tầm tầm, hoặc mới xuất hiện, ít người biết. Tiếc thay, hiện nay chưa có một tạp chí nào ở Việt Nam (tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài) có đủ uy tín quốc tế để các nhà khoa học Việt Nam ở hải ngoại đăng trên đó để “kiếm điểm” với cấp trên (Để so sánh, ở Trung Quốc có hơn 200 tạp chí chuyên ngành bằng tiếng Anh, và ở hầu hết các quốc gia láng giềng khá phát triển như Hàn Quốc, Nhật, Ấn Độ, thậm chí Singapore, Malaysia… đều có những tạp chí quốc tế mà các nhà nghiên cứu ở những quốc gia khác rất hãnh diện nếu có bài được đăng trên đó). Bởi thế, trừ phi được sự thông cảm đặc biệt của trưởng khoa, những bài họ viết cho các tạp chí Việt Nam (nhất là nếu họ viết bằng tiếng Việt, chính nó cũng là một khó khăn rất lớn cho những người đã được đào tạo ở nước ngoài) đều là những bài “cúng chùa”, không giúp ích gì cho sự nghiệp của họ ở nước ngoài. Ngược lại, nếu họ đánh giá “phần thưởng tinh thần” cho họ là cao, thì chính những bài ấy (nhất là những bài viết dễ hiểu cho sinh viên Việt Nam) lại có ảnh hưởng rất lớn!   Đó là chưa nói đến vấn đề ngôn ngữ. Dù có muốn viết cho các tạp chí khoa học trong nước, cái khó khăn cho người Việt ở nước ngoài, nhất là những người đã được đào tạo nhiều năm ở hải ngoại là vấn đề ngôn ngữ. Chính vì vấn đề ngôn ngữ nên những người này, dù có thiện chí hi sinh thời gian để viết báo hoặc biên soạn giáo trình cho độc giả (sinh viên) trong nước thì cũng thấy đó và một việc hết sức khó khăn, mất quá nhiều thời giờ.   Tuy nhiên, có một thành phần đặc biệt hữu ích cho đại học Việt Nam là những trí thức Việt Nam đã có kinh nghiệm quản lý và lãnh đạo ở các đại học, các viện nghiên cứu, ở nước ngoài.(3) Tuy số người này trong tập thể trí thức người Việt ở hải ngoại còn tương đối ít, họ sẽ mang những kinh nghiệm vô cùng quý báu về tổ chức đại học, về tuyển mộ giáo sư, về chương trình học, mà một giáo sư bình thường ít khi có được.   3      Ngoài những “trách nhiệm” mà người Việt Nam ở nước ngoài có thể cảm thấy đối với nền đại học trong nước, còn một sự thật này: không gì đem lại hạnh phúc hơn khi thấy việc mình làm có ảnh hưởng đến người khác, nhất là lớp trẻ. Đó chính là phần thưởng cao quý nhất mà người trí thức Việt Nam ở nước ngoài sẽ nhận được khi đóng góp vào sự phát triển của đại học Việt Nam. Hơn thế nữa, ưu thế độc đáo của người trí thức Việt Nam ở nước ngoài là trong cương vị cầu nối sinh hoạt trí thức ở Việt Nam (và về Việt Nam) với sinh hoạt trí thức thế giới. Không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của sự tích hợp này.   Nhìn chung, tầm mức, hiệu quả, và lĩnh vực mà trí thức người Việt hải ngoại có thể đóng góp vào sự lớn mạnh của nền đại học Việt Nam là tùy phần lớn vào bốn yếu tố: môi trường vật chất, tư duy, cơ chế, và xã hội.  Thứ nhất, về môi trường vật chất để làm việc. Dù có thiện chí đến đâu, không giáo sư nào (trong nước cũng như từ nước ngoài về) có thể hoạt động hết năng suất của mình nếu không được một văn phòng riêng, tĩnh lặng, để làm việc. Số sinh viên mỗi lớp chỉ ở mức vừa phải. Số giờ đứng lớp cũng không hơn ở các đại học tiền tiến (trung bình khoảng 9 giờ mỗi tuần).  Thứ hai, về tư duy. Hiệu quả của sự đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài tuỳ vào “tư duy” của chính quyền, nhất là của cấp lãnh đạo giáo dục. Dùng chữ “tư duy” ở đây để nhấn mạnh rằng nó không chỉ là những biện pháp hành chính, những ưu đãi vật chất (những tấm “thảm đỏ”!) mà là sự cần có một môi trường thích hợp cho tự do học thuật, nghiên cứu, và truyền bá kiến thức. Đối với trí thức quen sống ở các quốc gia tiền tiến thì môi trường ấy phải là một bầu không khí “phi chính trị” trong khuôn viên đại học (theo nghĩa rộng). Ngược lại, người trí thức hải ngoại cũng cần thông cảm với những khả năng và hạn chế trong nước. Phải tìm hiểu thực trạng trong nước trước khi có những quyết định “đổi đời”. Không nên có ảo tưởng để rồi não nề thất vọng.  Thứ ba, về cơ chế. Mọi đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài, dù là từ những cá nhân đơn lẻ hay những nhóm nhỏ, cũng đều như hạt cát bỏ biển, chừng nào mà cơ chế trong nước còn không thích hợp, thậm chí có những cơ chế mà trên thực tế đã “đẩy lùi”, làm “vô hiệu hoá” những đóng góp đó như nhiều người chua chát nhận xét. Nghịch lý là: Đóng góp của người trí thức Việt Nam ở hải ngoại chỉ thực sự có hiệu quả khi môi trường đại học Việt Nam “thông thoáng” hơn (về cơ chế cũng như tư duy), nhưng chính sự “thông thoáng” ấy sẽ gia tăng khi có sự đóng góp của trí thức người Việt ở nước ngoài. Góp phần xây dựng cơ chế đại học Việt Nam là một khả năng chưa được tận dụng của trí thức người Việt ở nước ngoài. Như đã nói ở trên, một thành phần trí thức quan trọng là những người đã có kinh nghiệm quản trị hay lãnh đạo đại học. Đó là những nguời đã làm khoa trưởng, chủ nhiệm bộ môn, hoặc điều hành một ủy ban nào đó trong đại học. Hãy đặc biệt lắng nghe ý kiến của những người này trong việc cải tổ cơ chế.   Thứ tư là về mặt xã hội. Hiệu quả đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài vào sự phát triển của đại học Việt Nam không chỉ tùy thuộc vào tâm và tầm của trí thức ấy, vào chính sách và biện pháp cụ thể của nhà nước đối với họ, nhưng, và điều này khá nhạy cảm nên ít được nói đến, còn tùy vào đồng nghiệp của họ ở trong nước. Sự “làm việc chung” giữa trí thức trong nước và trí thức hải ngoại tất nhiên sẽ nảy sinh những vấn đề tế nhị trong giao tiếp, trong sự khác biệt giữa cách ứng xử, trong triết lý sư phạm, trong tư duy cá nhân, và cụ thể nhất là trong những điều kiện thăng thưởng, tiến thân, trong nước so với nước ngoài. Mọi người đều cần một sự cởi mở, một tinh thần thông cảm, cùng phục vụ đất nước, học thuật và thế hệ trẻ. Điều đáng lạc quan là, qua kinh nghiệm ở nhiều nước, những “va chạm” này sẽ ngày càng giảm đi.  Cuối cùng, cần nói đến một bộ phận (không nhỏ) trí thức ở hải ngoại mà, vì lý do này hoặc lý do khác, không có liên hệ gì (thậm chí thờ ơ!) đến đại học Việt Nam. Thiết nghĩ, họ vẫn có ảnh hưởng đến các bạn trẻ trong nước trong vai trò những tấm gương trí thức trong sự đam mê công việc, trong những thành đạt, trong sự chính trực của họ. Có lẽ họ không nghĩ đến điều này nhưng khi đọc tên (có vẻ như) của một người Việt Nam, người Việt Nam khắp nơi đều hãnh diện.   Tương lai Việt Nam là tùy thuộc vào nỗ lực của mọi người. Người trí thức ở hải ngoại có nhiệm vụ đóng góp vào nỗ lực này. Tất nhiên những người đã công thành danh toại thì có thể đóng góp nhiều hơn, song thế hệ trẻ vừa tốt nghiệp đại học ở nước ngoài cũng phải đóng góp vào sự nghiệp ấy, dù phải thông cảm là họ còn trong giai đoạn bận rộn tạo dựng sự nghiệp cá nhân. Một trong những thất vọng của người viết bài này là không ít các tiến sĩ trẻ đã quyết định không hồi hương. Hi vọng là sau ít năm các bạn ấy sẽ về, song những bạn lập gia đình với người nước ngoài thì triển vọng về nước chắc sẽ là rất thấp. Như đã viết trong một bài khác,(4) trên quan điểm cá nhân thì những người này không có gì đáng trách (vì há chẳng phải chính những trí thức Việt Nam ở hải ngoại hiện nay, trong đó có người viết bài này, không là những người đã có lần “hoãn” việc hồi hương đó sao?). Có nhiều lý do để thông cảm sự không về nước của họ, và ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc cho mình. Tuy nhiên, nếu những thành phần ưu tú nhất của quốc gia ra đi mà “không hẹn ngày trở lại” thì đại học Việt Nam sẽ ra sao? Cụ thể hơn, phải nhận rằng tình trạng này đã làm nản lòng không ít giáo sư người Việt ở các trường đại học nước ngoài, nhất là những người đã vận động để tìm học bổng cho những sinh viên này du học với kỳ vọng là khi thành tài về nước, họ sẽ là những hạt giống cho sự phát triển của đại học Việt Nam.  Nền đại học Việt Nam chỉ trở thành niềm hãnh diện của chúng ta nếu mọi người, trong cũng như ngoài nước, mọi thế hệ, hi sinh chút ít lợi ích cá nhân để cùng nhau xây đắp nền đại học ấy. Có nhiều việc người trí thức Việt Nam ở hải ngoại có thể làm để giúp ích đại học Việt Nam, không cứ phải về nước giảng dạy, hoặc tìm học bổng cho sinh viên du học. Cần nhất là quyết tâm giúp ích, rồi tìm những việc mình có thể làm được, trong khả năng, và vâng, có thể có lợi cho sự nghiệp cá nhân của mỗi người nữa!                                                                    Wright State University Dayton, Ohio 45435 USA  * Trích từ “Đại học Humboldt 200 năm (1810 – 2011): kinh nghiệm thế giới và Việt Nam”, NXB Tri Thức  ** Giáo sư Kinh tế học giảng dạy tại Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ.     (1) Chính xác, đây là nói về những người có bằng tiến sĩ.   (2) Xem, chẳng hạn, Trần Hữu Dũng, 2006, “Trí thức Việt Nam thời “toàn cầu hóa” – Tư duy, kỳ vọng, và trách nhiệm”, trong Trong Ngần Bóng Gương (Kỷ yếu mừng Gs. Ts. Đặng Đình Áng thượng thọ 80 tuổi).  (3) Tương tự, theo một báo cáo gần đây của Liên Hiệp Quốc, hậu quả trầm trọng nhất của nạn chảy máu chất xám là sự ra đi của những người có kinh nghiệm quản lý các bệnh viện, các hệ thống y tế.  (4) Trần Hữu Dũng, “Hiện đại hoá, toàn cầu hoá, và vấn đề chảy máu chất xám”. Tia Sáng, tháng 10/2004.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học giáo dục (Kỳ 1): Thuật ngữ và khái niệm      Nhiều cuộc bàn thảo về triết lý giáo dục và triết học giáo dục mấy năm gần đây, đã để lại nhiều băn khoăn suy nghĩ. Trước nhất là việc sử dụng khá tuỳ tiện thuật ngữ “triết lý giáo dục”, dùng nó để thay thế cho “triết học giáo dục” như một bộ môn, một chuyên ngành của triết học đương đại; chưa kể cái gọi là “triết lý giáo dục Việt Nam”, “triết học giáo dục Việt Nam” khá lạc lõng trong thời kỳ hiện đại hoá và hội nhập quốc tế này.     Trong mấy năm gần đây trên sách báo nước ta có nhiều cuộc bàn thảo về triết lý giáo dục và triết học giáo dục. Cuộc bàn thảo đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn giáo dục. Nhiều ý kiến tâm huyết của các bậc cao niên muốn tìm lối ra cho nền giáo dục nước nhà bằng cuộc cải cách giáo dục sâu rộng và triệt để, trên cơ sở một triết học giáo dục và tư duy giáo dục mới.  Tuy nhiên, những cuộc thảo luận cũng đã để lại nhiều băn khoăn suy nghĩ. Trước nhất là việc sử dụng khá tuỳ tiện thuật ngữ “triết lý giáo dục”, dùng nó để thay thế cho “triết học giáo dục” như một bộ môn, một chuyên ngành của triết học đương đại; chưa kể cái gọi là “triết lý giáo dục Việt Nam”, “triết học giáo dục Việt Nam” khá lạc lõng trong thời kỳ hiện đại hoá và hội nhập quốc tế này. Tôi rất hoan nghênh và cảm phục ý kiến thẳng thắn của một bạn nghiên cứu trẻ – thạc sĩ Nguyễn Hồng Hà nói rằng không làm rõ và hiểu một cách thống nhất về thuật ngữ “triết học giáo dục” và “triết lý giáo dục” thì khó mà nghiên cứu và thảo luận về chủ đề này một cách nghiêm túc được(1).  Để tránh tình trạng tranh cãi vô bổ theo kiểu “cào cào châu chấu” (con nào bằng đầu, con nào nhọn đầu) cần đi vào thực chất của vấn đề, làm rõ sự khác biệt và mối liên hệ giữa triết học giáo dục như một bộ môn nghiên cứu, với triết lý giáo dục như những niềm tin, những ứng xử của các cá nhân, hoặc các nhóm xã hội trong hoạt động giáo dục.  Đây không phải chỉ là cách dịch khác nhau chữ “philosophy of education”, mà là cần phân biệt hai nghĩa khác nhau, có quan hệ mật thiết với nhau của chữ này.  Mọi người đều biết chữ “philosophy” có nhiều nghĩa. Nghĩa thứ nhất là “triết học”. Từ xưa đến nay triết học vẫn được hiểu như là lòng yêu mến sự khôn ngoan, sự thông thái (wisdom). Nhiệm vụ của nhà triết học là truy tầm sự khôn ngoan. Muốn vậy phải suy tư, phải nghiên cứu một cách đặc biệt, được gọi là “nghiên cứu để thấu hiểu về các giá trị và thực tại, chủ yếu bằng tư biện hơn là bằng quan sát” (2). Đây là chỗ khác nhau giữa nghiên cứu triết học với nghiên cứu khoa học.  Cùng với nghĩa số một, nghĩa chính trên đây, “philosophy” còn có nhiều nghĩa khác, trong đó có nghĩa “triết lý” để chỉ “những tín niệm chung nhất, những quan niệm và những thái độ của một cá nhân, hoặc một nhóm” (2).  TS. Nguyễn Đình Hòa trong cuốn Từ điển Việt – Anh có phân biệt triết học là philosophy (the study – nghiên cứu) với triết lý là philosophy (of a man or religion – của một người hoặc một tôn giáo). Triết lý còn được dùng như một động từ – to philosophize (3).  Làm rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa triết học với triết lý, GS.TS Phạm Xuân Nam viết  “Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học… nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học. bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó tin theo” (4)  Theo GS.Timothy Reagan “Philosophy of education tồn tại vừa với tư cách một chuyên ngành của triết học phương Tây…, vừa với tư cách những tín niệm của một cá nhân, hoặc một tổ chức xã hội về những chủ đề giáo dục” (5)  Trường hợp thứ nhất cần dịch là “triết học giáo dục”. trường hợp thứ hai cần dịch là “triết lý giáo dục”.  Gần đây, năm 2007 UNESCO cho công bố công trình Philosphy:   A School of Freedom (Triết học: một trường học về Tự do) có phụ đề rất hay, phân biệt triết học với triết lý: “Teaching philosophy and learning to philosophize” (Dạy triết học và học triết lý).  Trong bài này, tôi trình bày về triết học giáo dục như một bộ môn (discipline) “nghiên cứu về bản chất và mục tiêu của giáo dục theo các nhãn quan triết học”, như định nghĩa vắn tắt của GS. Timothy Reagan (5). Việc thấu hiểu bản chất và mục tiêu của giáo dục trong xã hội hiện đại đầy biến động là rất khó khăn, cần có sự kết hợp giữa suy tư triết học với phân tích khoa học, cần nghiên cứu phức hợp, liên ngành về giáo dục.  Là một hệ thống phức hợp cao độ, nền giáo dục hiện đại được định nghĩa như là “một quá trình, hoặc kết quả của một quá trình, trong đó mỗi cá nhân thâu thái được tri thức, kỹ năng, thái độ và tầm nhìn sâu rộng” (6). Như vậy giáo dục không thể được hiểu như sự truyền đạt một chiều thụ động và đơn giản hóa đến mức thô thiển theo kiểu “tiên học lễ, hậu học văn”. Giáo dục cũng không chỉ bao gồm giáo dục chính quy (formal education) mà còn cả giáo dục phi chính quy (non – formal education –  ngoài nhà trường), hoặc không chính thức (informal education – rất linh hoạt, cần gì học nấy). Trong xã hội hiện đại, quá trình học tập phi chính quy tăng lên không ngừng qua sách báo, phát thanh, truyền hình và mạng internet… Đó chính là học suốt đời (lifelong learning hoặc learning throughout life) trong xã hội học tập, nơi hình thành những con người biết suy nghĩ độc lập, sáng tạo, đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện đại. Quan niệm về học suốt đời – theo Jacques Delors – “nổi lên như một trong những chìa khoá mở cửa đi vào thế kỷ XXI”. (7)  Quan niệm trên đây về triết học giáo dục, về bản chất và mục tiêu của giáo dục ở thế kỷ XXI còn chưa được các nhà triết học và khoa học giáo dục quan phương ở nước ta chia sẻ. Bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam – một công trình học thuật được xem là tiêu biểu, huy động hàng ngàn nhà khoa học soạn thảo trong hơn một thập kỷ (1995 – 2005) không có một chữ nào về “triết học giáo dục”, hay “triết lý giáo dục”. Thế nhưng nếu ai nói rằng ở nước ta chưa có triết học giáo dục thì lập tức bị phản đối quyết liệt. Đầu thế kỷ XXI rồi mà bản thân triết học vẫn còn được hiểu quá cũ kỹ theo đúng như là các nhà triết học Liên Xô đã dạy từ nửa thế kỷ trước: “Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội”, “cuộc đấu tranh giữa hai phái duy vật và duy tâm thể hiện tính đảng của triết học… phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp về mặt tư tưởng và chính trị”. (8)  Liệu chúng ta có thể xây dựng được một nền giáo dục hiện đại, góp phần hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế với một hành trang lý luận tư tưởng cũ kỹ như vậy không? Rõ ràng cuộc sống đang đòi hỏi phải thay đổi cơ bản về tư duy giáo dục và triết học giáo dục. Điều đó ảnh hưởng sâu rộng đến triết lý giáo dục của mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội trong đời sống. Để góp phần vào sự biến đổi ấy cần đẩy mạnh việc nghiên cứu và thông tin về triết học giáo dục.  —-      (1) Xem: Th.S. Nguyễn Hồng Hà. Tìm hiểu sơ bộ về triết học giáo dục và triết lý giáo dục trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học. Triết lý giáo dục Việt Nam. Hà Nội – 9/2007, tr.120.  (2) Webster’s New Collegiate Dictionary. Massachusetts 1974, p.861  (3) Vietnamse- English Student Dictionary (Revised and Enlarged Edition) by Dr. Nguyễn Đình Hòa, Saigon 1967, tr 610.  (4) Phạm Xuân Nam (chủ biên). Triết lý phát triển ở Việt Nam. Mấy vấn đề cốt yếu. H.: Khoa học xã hội, 2005, tr. 23-24.  (5) Timothy Reagan. Philosophy of education // The Encyclopedia Americana International Edition, 2001, Vol.9, p.666.  (6) Richard J.Zanini. Education// The Encyclopedia Americana, Vol.9, p.643  (7) Jacques Delors. Learning: The Treasure Within (Học tập: Một kho báu tiềm ẩn) UNESCO Publishing, 1996, p. 20  (8) Từ điển Bách Khoa Việt Nam. Tập 4, 2005, tr. 585, xem thêm các tr.586-588.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học giáo dục (Kỳ 2): Tổng quan      Theo hai nhà triết học giáo dục Nga A.P. Ogurcov và V.V Platonov, lịch sử triết học giáo dục có thể phân thành ba kỳ: Thời kỳ tiền sử; thời kỳ sơ khởi; và thời kỳ bộ môn triết học giáo dục đã hình thành”.      1.    Sự hình thành triết học giáo dục trong thế kỷ XX  Chúng ta còn rất thiếu thông tin về lĩnh vực này. Vì thế mới có nhiều ngộ nhận tai hại. Chẳng hạn người ta cho rằng triết học giáo dục có từ thời xa xưa. “Lịch sử triết học giáo dục song hành cùng lịch sử triết học và lịch sử giáo dục” (9).  Thật ra triết học giáo dục có một lịch sử rất ngắn và một tiền sử rất dài. Trong một công trình lớn “Sách hướng dẫn Blackwell về Triết học giáo dục” (2003) do một nhóm các chuyên gia quốc tế viết, dưới sự đồng chủ biên của Nigel Blake, Paul Smeyers, Richard Smith và Paul Standish, có một nhận định quan trọng: “Đôi khi triết học giáo dục bị chê trách khá xác đáng là chỉ có quá khứ lịch sử rất mỏng, thậm chí không có. Quả thật, triết học giáo dục với tính cách bộ môn chuyên ngành riêng biệt, cùng với thư tịch, truyền thống và hệ đề tài riêng của mình, thì mãi đến thế kỷ XIX vẫn chưa phát triển… Bằng chứng hiển nhiên là thông qua các ấn phẩm, hội thảo, vị thế hàn lâm cho thấy bộ môn này chỉ xác lập chậm chạp sự hiện diện của mình vào nửa đầu thế kỷ XX” (10).   Đây là một quan niệm mới về lịch sử triết học giáo dục, cũng như về bản thân triết học giáo dục, khác với quan niệm cho rằng triết học giáo dục có từ thời cổ đại, thời Khổng Tử ở phương Đông, Aristote ở phương Tây.  Từ đầu những năm 90 thế kỷ trước, các nhà triết học giáo dục Hoa Kỳ đã công bố nhiều công trình nghiên cứu sâu về quá trình hình thành triết học giáo dục. Tiêu biểu là cuốn A New History of Educational Philosophy (Lịch sử mới của triết học giáo dục) của James S. Kaminsky 1993; cuốn Philosophy of Education: An Encyclopedia (Bách khoa thư về triết học giáo dục) do J.J Chambliss chủ biên, xuất bản ở New York & London 1996 (bài “History of Philosophy of Education” của J.J. Chambliss); hai số đặc biệt Tạp chí Educational Theory của Hội Triết học giáo dục Hoa Kỳ, kỷ niệm 50 năm (Educational Theory, 1991, vol.41, No3) và 60 năm phát triển triết học giáo dục (2000, vol 50, No 3).  Theo James S. Kaminsky, cần phải có “quan niệm phi truyền thống” về triết học giáo dục, tách lịch sử triết học giáo dục ra khỏi lịch sử triết học nói chung. Ông cũng nêu ra khái niệm “Proto-philosophy of education” (tạm dịch là thời kỳ “triết học giáo dục sơ khởi”) để chỉ thời kỳ hình thành (period of genesis) của triết học giáo dục (11).  Từ những nghiên cứu trên đây, hai nhà triết học giáo dục Nga A.P. Ogurcov và V.V Platonov nêu lên “Sơ đồ chung về phân kỳ lịch sử triết học giáo dục: Thời kỳ tiền sử của triết học giáo dục; thời kỳ triết học giáo dục sơ khởi; thời kỳ bộ môn triết học giáo dục đã hình thành” (12).  Thời kỳ tiền sử của triết học giáo dục là thời kỳ trước khi triết học giáo dục được tách thành bộ môn nghiên cứu riêng. “Thời kỳ tiền sử” nói ở đây không hề có nghĩa xấu, càng không phủ nhận vai trò của tư tưởng triết học đối với giáo dục.  Từ ngàn xưa triết học và giáo dục vốn có mối liên hệ chặt chẽ. Nhiều nhà triết học lớn đồng thời cũng là nhà giáo dục lớn. Khổng Tử được tôn vinh là “Người thầy của muôn đời” (“Vạn thế sư biểu”). Tuy nhiên theo V.V. Platonov không nên đồng nhất “tư tưởng triết học trong lĩnh vực giáo dục” ở thời kỳ tiền sử này với bản thân triết học giáo dục.  Hai nhà triết học giáo dục Hoa Kỳ James M.Giarelly và J.J. Chambliss cũng cho rằng để đặt cơ sở cho triết học giáo dục nhất thiết phải nghiên cứu những tiền đề của nó trong “lịch sử tư duy triết học về giáo dục” – làm rõ những tư tưởng giáo dục trong các tác phẩm của các nhà triết học kinh điển từ cổ đại đến ngày nay. Tuy nhiên, với tất cả tầm quan trọng như thế, những tư tưởng ấy vẫn chưa đủ để xây dựng nên triết học giáo dục được chuyên môn hoá. Chỉ đến thế kỷ XX bản thân giáo dục mới bắt đầu được nghiên cứu dưới dạng một bộ môn riêng, và bộ môn triết học giáo dục mới ra đời trong sự tiến triển này. Giáo dục trở thành đối tượng nghiên cứu của bộ môn riêng, chừng nào nó bắt đầu xuất hiện với tư cách một lĩnh vực tự trị của xã hội dân sự.  Thời kỳ triết học giáo dục sơ khởi (Proto-philosophy of education) từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Theo James S.Kaminsky thời kỳ này ở Hoa Kỳ bắt đầu từ Phong trào cải cách xã hội năm 1890. Những năm đầu của thế kỷ XX thuật ngữ “philosophy of education” đã xuất hiện. John Dewey (1859 – 1952) có vai trò đặc biệt trong thời kỳ này và trở thành nhà triết học giáo dục lỗi lạc của thế kỷ XX. Trong tác phẩm Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education) xuất bản năm 1916 (13) ông nêu lên quan niệm mới về giáo dục trong xã hội dân chủ, đặc biệt đã dành một chương riêng – chương 24 bàn về “triết học giáo dục”, cắm một cột mốc trên con đường hình thành bộ môn này. Ông viết: “Triết học giáo dục không phải là sự áp dụng các tư tưởng có sẵn từ bên ngoài vào một hệ thống thực hành có nguồn gốc và mục đích khác biệt về cơ bản”. Triết học giáo dục hình thành gắn liền với sự tổ chức lại (reconstruction) hệ thống triết học cùng với tổ chức lại nền giáo dục và tổ chức lại các lý tưởng xã hội, cũng như các phương pháp để đáp ứng những đòi hỏi của đời sống. Nếu như sự đòi hỏi đó khiến cho việc xem xét lại những quan niệm cơ bản của các hệ thống triết học truyền thống là điều cấp thiết, thì đó là bởi vì đời sống xã hội đã có những đổi thay triệt để xảy ra đồng thời với tiến bộ của khoa học, của cuộc cách mạng công nghiệp, và sự phát triển của dân chủ. Những thay đổi thực tiễn như vậy không thể xảy ra mà không đòi hỏi một sự cải cách nền giáo dục để đáp ứng các thay đổi, mà không dẫn dắt con người tới chỗ đặt câu hỏi đâu là những quan niệm và lý tưởng nằm trong những thay đổi xã hội đó, và cần thiết phải thay đổi những quan niệm và lý tưởng nào được thừa hưởng từ các nền văn hoá khác trong quá khứ.  Những lời trên đây của John Dewey chứng tỏ rằng sự ra đời của triết học giáo dục là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của triết học, giáo dục và đời sống xã hội.  Thời kỳ hình thành triết học giáo dục kết thúc cùng với việc thiết chế hoá xã hội của nó, tiêu biểu là việc thành lập Hội Triết học giáo dục Hoa Kỳ (PES) tại ĐH Columbia tháng Hai năm 1941, xuất bản tạp chí Educational Theory của Hội năm 1951, thành lập Hội Triết học giáo dục Anh Quốc (PESGB) năm 1964, xuất bản tờ Joural of Philosophy of Education năm 1965… Một số công trình chuyên ngành bắt đầu xuất hiện, đáng chú ý là quyển The Language of Education (Ngôn ngữ của giáo dục) (1960) của Israel Scheffler ở Hoa Kỳ; Ethics and Education (Đạo đức học với giáo dục) (1966) của Richard Peters ở Anh Quốc; tiếp sau là công trình của Paul H.Hirst và Robert Dearden cùng các đồng nghiệp tại Viện giáo dục ở London. Các học giả này và các môn đệ của họ truyền bá ảnh hưởng triết học giáo dục tại khoa giáo dục các trường đại học và tổ chức đại học khắp mọi quốc gia nói tiếng Anh.   Đánh giá bước phát triển này, GS. Paul H.Hirst, Giáo sư công huân về giáo dục học tại ĐH Cambridge (Anh Quốc) nói rằng “một kỷ nguyên mới trong suy tư triết học bộ môn về mục tiêu và quá trình giáo dục đã mở ra”. Sự tiếp cận triết học mới này về giáo dục đã tạo được ý nghĩa rộng lớn ở nhiều nơi trên thế giới. Môn triết học giáo dục mang ý nghĩa mới hẳn đã xuất hiện. Như vậy, bản thân triết học giáo dục đã chín muồi thành một lĩnh vực năng động, cống hiến dồi dào hơn bao giờ hết cho việc thấu triệt của chúng ta về những vấn đề cơ bản nhất của lý luận và thực tiễn giáo dục.  Từ khi ra đời, bộ môn triết học giáo dục chỉ được phát triển ở các nước phương Tây. Bộ môn này mới được hình thành và phát triển ở Nga từ sau khi Liên Xô sụp đổ. Theo A.P. Ogurcov và V.V.Platonov thuật ngữ “Filosofija obrazovanija” (Triết học giáo dục) chỉ được sử dụng đầu tiên ở Nga vào tháng 11-1995 trong “Hội nghị bàn tròn” về “Triết học giáo dục: Hiện trạng, vấn đề và triển vọng” do Tạp chí Voprosy filosofii tổ chức. Đến Đại hội Triết học toàn Nga lần thứ III năm 2002 triết học giáo dục mới được thảo luận rộng rãi tại Tiểu ban “Triết học giáo dục” của Đại hội. Có thể nói rằng đến đây quá trình hình thành triết học giáo dục ở Nga mới kết thúc, cùng với việc thiết chế hoá xã hội của nó (14). Từ đó đến nay triết học giáo dục phát triển rất mạnh. Viện Triết học giáo dục ra đời. Tạp chí Triết học giáo dục được xuất bản. Nhiều công trình chuyên khảo, sách tra cứu ra mắt bạn đọc. Tiêu biểu nhất là bộ Bách Khoa thư triết học mới gồm 4 tập, xuất bản ở Mockva năm 2001, trong đó có mục từ “triết học giáo dục” do hai nhà triết học giáo dục A.P Ogurcov và V.V Platonov viết, đưa lại cho bạn đọc những tri thức xác thực. Triết học giáo dục được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học, cùng với việc xuất bản nhiều giáo trình và sách giáo khoa. Đây là một hiện tượng hoàn toàn mới mà bao nhiêu năm dưới thời Xô Viết không có được.  2. Định nghĩa, nội dung      Có rất nhiều quan niệm khác nhau, định nghĩa khác nhau về triết học giáo dục. Nhưng không một định nghĩa nào lại có thể không nói đến mục tiêu và cứu cánh (finalité) của giáo dục, con người mà nền giáo dục tạo ra phải như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống. Chính ở đây cần có sự suy tư triết học.      Bởi vì “mọi sự suy tư về giáo dục, được nuôi dưỡng và làm phong phú bởi những kết quả của khoa học sẽ trở thành mù quáng nếu thiếu sự phân tích sâu sắc những cứu cánh và những giá trị của giáo dục”. Sự khẳng định này là của hai nhà khoa học Pháp: ông Éric Plaisance nhà xã hội học, giáo sư trường ĐH Descartes – Paris V và ông Gérard Vergnaud nhà tâm lý học, Giám đốc nghiên cứu tại CNRS.      Dựa vào những cứ liệu khoa học, hai tác giả định nghĩa triết học giáo dục là “sự suy tư về những cứu cánh của giáo dục và trước hết là nghiên cứu những nguyên tắc nền tảng của giáo dục… trong số những nguyên tắc đó phải khẳng định trước hết nguyên tắc tự do của chủ thể và do đó người thầy phải tôn trọng nguyên tắc tự do này. Nếu không có quan điểm cơ bản ấy thì mọi hoạt động giáo dục sẽ chỉ còn là con số không” (15).      Nhà triết học nổi tiếng Edgar Morin giải thích: “triết học không phải là một bộ môn theo nghĩa chuyên môn hóa và đóng kín của thuật ngữ này, mà chính là thể hiện sư suy tư (réflextion) về mọi vấn đề của kinh nghiệm thực tiễn và tri thức con người… Các nhà triết học vừa phải mở đường tiến vào các thành quả của khoa học, vừa giúp cho các nhà khoa học có thể sáng tạo được phương thức suy tư cần thiết.”      Suy tư giáo dục cần phải tập trung chủ yếu vào mục tiêu, vào cứu cánh của nó.      Trong cuốn Bộ óc được rèn luyện tốt và cuốn Liên kết tri thức, Edgar Morin quan niệm về cứu cánh của giáo dục: 1. Hình thành “bộ óc được rèn luyện tốt” (La tête bien faite), đào tạo những con người có năng lực sáng tạo, năng lực tổ chức các tri thức, chứ không phải tích lũy các hiểu biết theo kiểu chất đầy vào kho; 2. Giáo dục về hoàn cảnh con người, làm cho mỗi người có ý thức sâu sắc thế nào là một con người; 3. Học cách sống, chuẩn bị cho thế hệ trẻ biết đối mặt với những khó khăn, bất trắc và những vấn đề của tồn tại con người; 4. Thực tập tư cách công dân, hình thành và phát huy ở mỗi người tư cách công dân của đất nước và của Trái Đất.       Nền giáo dục hiện đại phải dạy cho con người biết học cách học, học cách làm, học cách tổ chức tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình (16).      Để hiểu nội dung của triết học giáo dục, cần làm quen với ba bộ sách tiêu biểu:   a/ Thứ nhất là cuốn “Nhập môn triết học giáo dục” (An Introduction to Philosophy of Education) của Robin Barrow (giảng viên trường ĐH Simon Fraser) và Ronadd Woods (giảng viên trường ĐH Leicester Vương quốc Anh) do NXB “Routledge” xuất bản lần thứ IV năm 2006. Đây là sách giáo khoa được giảng dạy hơn 30 năm qua ở Anh và Canada. Cuốn sách trình bày ngắn gọn những tri thức thiết yếu cho sinh viên mới làm quen với môn triết học giáo dục qua 14 chương:  1. Tư duy về giáo dục  2. Thế nào là con người ?  3. Quan niệm về giáo dục  4. Tri thức và chương trình  5. Lý luận về chương trình  6. Sự truyền thụ  7. Tính duy lý  8. Sự tự quyết  9. Sự thách thức hậu hiện đại  10. Nhu cầu, lợi ích và kinh nghiệm  11. Sáng tạo  12. Văn hóa  13. Nghiên cứu phục vụ giảng dạy  14. Kết luận: lý luận và thực tiễn  b/ Thứ hai là bộ “Tuyển tập triết học giáo dục” (Philosophy of Education. An Anthology) của Randall Curren, Giáo sư giáo dục học trường ĐH Rochester (New York) xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2006 và tại Australia năm 2007. Sách gồm 60 chủ đề, chia làm 5 phần:   Phần I: Bản chất và mục tiêu của giáo dục  Giáo dục là gì ?  Giáo dục tự do và quan hệ giữa giáo dục với lao động  Tự chủ với quyền thoát ly  Phần II: Quyền hạn giáo dục   Ranh giới của quyền hạn giáo dục   Thương mại hóa học đường  Phần III: Chức trách giáo dục   Tính thỏa đáng và bình đẳng giáo dục   Tính đa dạng và không kỳ thị    Phần IV: Giảng dạy và học tập  Giảng dạy  Kỷ luật và chăm sóc  Điều tra, hiểu rõ và kiến tạo  Tư duy và suy lý có phê phán  Phần V: Chương trình và nội dung học đường  Giáo dục đạo đức  Những bất đồng về chương trình học  Giáo dục giới tính  Chương trình giáo dục mỹ học – nghệ thuật  c/ Thứ ba là bộ sách lớn: “Sách hướng dẫn Blackwell về Triết học giáo dục” (The Blackwell Guide to the Philosophy of Education. Blackwell Publishing 2003) do Nigel Blake, Paul Smeyers, Richard Smith và Paul Standish đồng chủ biên.  Sách gồm Lời nói đầu, Dẫn luận và 20 chương, chia làm 5 phần:     Phần I. CÁC LÝ THUYẾT XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA  Chương 1. Thực dụng luận với giáo dục  Chương 2. Lý thuyết phê phán với sư phạm phê phán  Chương 3. Thuyết hậu hiện đại/ Thuyết hậu cấu trúc  Chương 4. Nữ quyền, triết học và giáo dục   Phần II. CHÍNH TRỊ VỚI GIÁO DỤC   Chương 5. Thuyết tự do và thuyết cộng đồng  Chương 6. Tư cách công dân dân chủ  Chương 7. Giáo dục với thị trường  Chương 8. Giáo dục đa văn hóa  Phần III. TRIẾT HỌC VỚI TÁC DỤNG GIÁO DỤC   Chương 9. Hoạt động của triết học với thực hành giáo dục  Chương 10. Tư duy phê phán  Chương 11. Lý trí thực hành    Phần IV. GIẢNG DẠY VÀ CHƯƠNG TRÌNH  Chương 12. Giáo dục đại học và trường đại học  Chương 13. Công nghệ thông tin và truyền thông  Chương 14. Tri thức luận với chương trình  Chương 15. Giáo dục hướng nghiệp và đào tạo  Chương 16. Tiến bộ luận  Phần V. ĐẠO ĐỨC HỌC VỚI VIỆC NUÔI DƯỠNG  Chương 17. Người lớn với trẻ em  Chương 18. Tính tự chủ và tính chính thức trong giáo dục  Chương 19. Những ý niệm đang thay đổi về đạo đức và giáo dục đạo đức  Chương 20. Giáo dục trong tôn giáo và tâm linh  Bộ sách trên đây cho ta một bức tranh toàn cảnh về triết học giáo dục đương đại. Trong lời nói đầu cuốn sách này, giáo sư Paul H. Hirst – giáo sư công huân về giáo dục học ĐH Cambridge (Anh quốc) viết: “Sách đã tập hợp được một nhóm những chuyên gia đương đại xuất sắc bậc nhất trong môn triết học giáo dục. Là những người được quốc tế công nhận là chuyên gia đang hoạt động trong những vấn đề nêu trong sách, các vị đã đưa ra những ý kiến hướng dẫn phù hợp với tư duy đương đại về những vấn đề cốt lõi hiện được xem là trung tâm của bộ môn. Như vậy, bộ sách này đã tôn vinh vị thế mà triết học giáo dục vươn tới và thành tựu đạt được. Hơn nữa, nó lại được xây dựng với phong cách làm nổi bật tầm quan trọng sâu xa của công trình triết học, nếu ta vẫn thật sự muốn nhận thức giáo dục là tất cả những gì, và tìm hiểu cách nào, để hiểu biết nó tốt nhất trong thực hành. Không nghi ngờ rằng đây là bộ sách ghi dấu mốc, bộ sách mà ta rất cần để nắm được thông tin về những cuộc tranh cãi hiện tại, bộ sách rất cần đối với tất cả những ai muốn đi tìm giải pháp cho những điều tiến thoái lưỡng nan rất cấp bách của nền giáo dục mà các xã hội hiện tại đang phải đối mặt”.  3. Triết học giáo dục cho thế kỷ XXI  Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI khi nền văn mình nhân loại bước vào giai đoạn phát triển mới, vấn đề giáo dục và triết học giáo dục trở thành cấp bách, được cả cộng đồng nhân loại quan tâm sâu sắc.  Năm 1993 tổ chức UNESCO thành lập Ủy ban quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI (The International Commission on Education for the Twenty- first Century) do ông Jacques Delors làm Chủ tịch. Năm 1996 Ủy ban này công bố bản báo cáo nổi tiếng Learning: The Treasure Within (Học tập: Một kho báu tiềm ẩn) nêu ra bốn trụ cột của giáo dục ở thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống” gần đây đổi thành “Học để biết cách học (learning to learn, thay cho learning to know), học để làm (learning to do), học để sáng tạo (learning to create, thay cho learning to be) và học để cùng chung sống (learning to live together).  Năm 1998 Hội nghị Thế giới về Giáo dục Đại học do UNESCO triệu tập đã ra “Bản tuyên ngôn Thế giới về Giáo dục Đại học cho thế kỷ XXI: Tầm nhìn và hành động” (World Declaration on Higher Education for the Twenty-first Century: Vision and Action). UNESCO cũng công bố nhiều công trình quan trọng khác về nền giáo dục tương lai, như Education for the Twenty-First Century: Issues and Prospects (Giáo dục cho thế kỷ XXI: Vấn đề và triển vọng) do Jacques Delors chủ biên (1998); Les sept savoirs nécessaires à l’éducation du futur (Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai) của Edgar Morin (1999).  Đặc biệt Liên Hợp Quốc phát động Thập kỷ Liên Hợp Quốc về Giáo dục vì Phát triển bền vững (United Nations Decade of Education for Sustainable Development 2005-2014) do UNESCO điều phối.  Đại hội Triết học Thế giới (World Congress of Philosophy – WCP) lần thứ XX họp tại Boston (Hoa Kỳ) tháng 8 năm 1998 đã có bốn phiên họp toàn thể và năm cuộc hội thảo đề cập đến triết học giáo dục. Đây là lần đầu tiên trong gần 100 năm lịch sử các Đại hội Triết học thế giới (Đại hội lần thứ I tại Paris năm 1900), triết học giáo dục được đặt thành một chủ đề lớn, một hướng nghiên cứu mới. Xu hướng này tiếp tục phát triển tại Đại hội lần thứ XXI ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) tháng 8 năm 2003 và nhất là tại Đại hội lần thứ XXII ở Seoul (Hàn Quốc) từ ngày 30-7 đến 5-8-2008 vừa qua.  Đại hội Triết học thế giới lần thứ XXII với chủ để Rethinking Philosophy Today (Tư duy lại triết học ngày nay) là Đại hội đầu tiên hợp ở châu Á. Trong số 47 bản báo cáo gửi đến tiểu bản “Triết học giáo dục” có tới 15 bản của các nhà triết học ở các nước châu Á (Hàn Quốc 6 bản, Ấn Độ 2 bản, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Kazakhstan, Kyrgyzstan mỗi nước một bản) 16 bản của Nga, còn 16 bản là của Mỹ, Đức. Thụy Sĩ, Australia, Nam Phi, Peru và các nước khác trên thế giới. Điều đó chứng tỏ rằng triết học giáo dục hiện đang được quan tâm của các nhà triết học ở khắp các châu lục, đặc biệt ở các nước châu Á và Liên bang Nga.  Dù là từ châu Á hay châu Âu, từ Nga hay Mỹ, từ Thái Lan, Trung Quốc gần gũi hay Peru, Nam Phi xa xôi, các nhà triết học giáo dục đến Đại hội này đều cùng nhau hợp tác, cống hiến trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng nền giáo dục mới trong nền văn minh trí tuệ ở thế kỷ XXI. Triết học giáo dục đã trở thành xu hướng nghiên cứu và hợp tác quốc tế đầy triển vọng.  —-  (9) Xem TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến. Triết lý giáo dục Việt nam và một số vấn đề cần tư duy lại về giáo dục, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học. Triết lý giáo dục Việt Nam. Hà Nội – 9/2007, tr.71.  (10) The Blackwell Guide to the Philosophy of Education (Sách hướng dẫn Blackwell về Triết học giáo dục). Edited by Nigel Blake, Paul Smeyers, Richard Smith, and Paul Standish. Blackwell Publishing, 2003, p.1-2.  (11) Xem Kaminsky James S. A New History of Educational Philosophy (Lịch sử mới của triết học giáo dục) London : Greenwood Press, 1993, p. XI, XII.  (12) Xem Ogurcov A.P, Platonov V.V. Obrazy obrazovanija. Zapadnaja filosofija obrazovanija. XX vek (Hình ảnh giáo dục. Triết học giáo dục phương Tây thế kỷ XX) St. Peterburg, 2004,  tr.48-49.  (13) Xem John Dewey. Dân chủ và giáo dục. Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri Thức, H., 2008.   (14) Xem Ogurcov A.P, Platonov V.V sách trên, tr.26  (15) Plaisance É., Vergnaud G.  Les sciences de l’éducation (Các khoa học giáo dục). Paris : Découverte, 1999, p.38, 40.  (16) Để hiểu rõ hơn quan niệm của Edgar Morin về triết học giáo dục xin xem bài Edgar Morin và triết học giáo dục  của Phạm Khiêm Ích trong Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 8 năm 2008; bài “Cải cách giáo dục trước  thách đố của thế kỷ XXI của Phạm Khiêm Ích giới thiệu sách Liên kết tri thức do Edgar Morin chủ biên, XNB Đại học Quốc gia Hà Nội 2005.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học phân tích về giáo dục: Thịnh và suy      Từ khi các kỹ thuật phân tích chiếm ưu thế và có thời gian giữ vai trò thống lĩnh trong tư duy triết học Tây phương với danh xưng đầy kiêu hãnh là “triết học phân tích” từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, thì chúng cũng thống trị luôn cả triết học về giáo dục.     Phân tích khái niệm, xem xét cẩn trọng các luận cứ, xóa bỏ sự hàm hồ, vạch rõ các ranh giới phân biệt, như ta đã thấy, vốn là những hoạt động cơ bản và cố hữu từ xưa đến nay của triết học. Từ buổi bình minh của triết học, thao tác “phân tích” luôn song hành với các thao tác khác trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, trong danh tác Cộng Hòa của Platon, khi thì ông tiến hành phân tích khái niệm rất tinh vi, lúc thì ông khẳng định những luận điểm theo kiểu qui phạm, lúc khác lại bay bổng với những tư biện siêu hình học cao xa. Chỉ từ khi các kỹ thuật phân tích chiếm ưu thế và có thời gian giữ vai trò thống lĩnh trong tư duy triết học Tây phương với danh xưng đầy kiêu hãnh là “triết học phân tích” từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, thì chúng cũng thống trị luôn cả triết học về giáo dục. Tạm gác bối cảnh và các chi tiết quá chuyên sâu về triết học vượt khỏi khuôn khổ bài báo, ta thử xem vài ví dụ trong nỗ lực phân tích ngôn ngữ.    Tương tự, nhưng đến đâu?  Công trình tiên phong trong thời kỳ đầu thuộc trường phái phân tích Cambridge (với Moore, Broad và Wittgenstein sơ kỳ) tiến hành phân tích các phát biểu điển hình trong lý thuyết giáo dục để xem sự bất đồng giữa các triết gia thực sự là bất đồng về nội dung vấn đề hay chỉ liên quan đến việc sử dụng từ ngữ một cách thiếu chính xác và thiếu phê phán, từ đó nảy sinh sự bất đồng thuần túy cảm tính. Đối tượng đầu tiên được phân tích cặn kẽ là về quan niệm: “cần giáo dục trẻ em thuận theo Tự nhiên” (trong Chân lý và sai lầm trong Lý thuyết giáo dục, 1941/62 của C.D.Hardie). Đây thực chất là nỗ lực phê phán các quan niệm nổi tiếng của John Dewey. Quan niệm dạy dỗ trẻ em thuận theo tự nhiên có thể được minh họa bằng hình ảnh người làm vườn trồng trọt và chăm bón cây cối thế nào để chúng lớn mạnh một cách tự nhiên và tránh không làm điều gì “trái tự nhiên”. Hardie lập tức đặt câu hỏi: giáo dục và trồng trọt giống nhau đến mức độ nào? Không thể phủ nhận có sự tương tự nào đó giữa các định luật tự nhiên chi phối sự phát triển thể chất của đứa trẻ và các định luật chi phối sự phát triển của cây cối, trong chừng mực đó, có thể biện minh phần nào cho việc áp dụng quan niệm này vào cho sự giáo dục thể chất. Nhưng, giáo dục tinh thần và tình cảm thì như thế nào? Một số những quy luật chi phối sự thay đổi tinh thần và tâm lý diễn ra nơi đứa bé là các quy luật của việc học. Những quy luật này khó mà có sự tương tự nào với các quy luật chi phối sự tương tác giữa hạt giống và môi trường xung quanh, trừ khi muốn dùng một cách nói ẩn dụ rất xa xôi. Một sự phân tích-phê phán như thế về ngôn ngữ quả có tác dụng thức tỉnh và gợi mở những cuộc tranh luận bổ ích.  Một hai thập kỷ sau khi kết thúc Thế chiến 2, trào lưu phân tích ngôn ngữ ngày càng mạnh và sôi nổi với hàng loạt công trình trong khu vực Anh Mỹ (tiêu biểu ở Anh là R.S.Peters và ở Mỹ là Israel Scheffler). Ngay từ “lý thuyết” cũng được mang ra phân tích để cho thấy rằng việc dùng từ “lý thuyết” trong lĩnh vực giáo dục chỉ là một cách tu từ, bởi các lý thuyết giáo dục không có gì chung với từ “lý thuyết” trong các khoa học tự nhiên cả! Triết học phân tích ngôn ngữ tiếp tục tung hoành trên hàng loạt chủ đề vốn là mảnh đất màu mỡ cho cách tiếp cận này: giáo dục như một diễn trình khai tâm, giáo dục khai phóng, bản tính của nhận thức, các loại hình giảng dạy, giáo dục trái với nhồi sọ và tuyên truyền v.v..  Bản thân khái niệm “giáo dục” được mang ra phân tích. Giáo dục thông thường được hiểu như là: (i) ngày càng tốt hơn; (ii) việc tốt hơn này là nhờ sở đắc kiến thức và kỹ năng, cùng với sự phát triển đầu óc; và (iii) người được giáo dục cam kết và gắn bó với lĩnh vực chuyên môn được đào tạo. Vậy, thử hỏi quan niệm như thế có tương tự với khái niệm “cải tạo” hay không? Một tội phạm hình sự được cải tạo cũng “ngày càng tốt hơn”, cũng cam kết, gắn bó với lối sống mới. Nếu thiếu các điều kiện ấy, ta thường bảo người phạm tội chưa được “cải tạo”. Nhưng, sự tương tự giữa giáo dục và cải tạo (và cả với sự nhồi sọ, tuyên truyền) không còn nữa ở điều kiện thứ hai: mở mang kiến thức và đầu óc. Từ sự phân tích có tính loại trừ ấy, Peters mới từng bước đi đến khái niệm chặt chẽ hơn và sâu sắc hơn về giáo dục: “giáo dục là sự khai tâm, khai phóng (initiation)”.  Cái giá của sự cực đoan  Bertrand Russell (1872-1969) đề ra phiên bản quá ngặt nghèo về triết học phân tích. Ông mang lại đinh nghĩa mới cho từ này. Ông cho rằng vật chất và tinh thần là hai sự vật khác nhau, nhưng cả thực thể vật chất lẫn sản phẩm tinh thần (ngôn ngữ và toán học) đều có thể được phân tích, tức được tháo rời thành những thành tố và những quan hệ cơ bản. Nhiệm vụ của nhà triết học phân tích là phân tích ngôn ngữ và toán học, cho thấy những thành tố ấy quy chiếu đến cái gì đó trong thế giới vật chất hoặc trong ngôn ngữ và toán học. Những gì không thể phân tích được (chẳng hạn những giá trị) thì không phải là công việc của triết học! Đặc điểm khác nữa của triết học phân tích là đề xướng tinh thần trung lập, khách quan. Ludwid Wittgenstein sơ kỳ – bạn đồng hành và cũng là đối thủ sớm nhất của Russell – tuyên bố rằng triết học “để yên mọi việc y như cũ”. Nghĩa là, triết học không biến đổi thế giới , mà chỉ làm cho thế giới “rõ ràng hơn”!  Ngày nay, nhiều triết gia vẫn tự nhận mình là thuộc truyền thống phân tích hay bày tỏ thiện cảm với công việc phân tích khái niệm. Tuy nhiên, phần lớn không còn tin vào cách tiếp cận “trung lập” (họ có lý khi nghi ngờ rằng bản thân các nhà triết học phân tích vẫn thiên vị, không chịu mang những lý thuyết được mình ưa chuộng ra phân tích, phê phán!). Quan trọng hơn, hiếm có ai còn đi theo cách hiểu cực đoan của Russell về phân tích, để sa vào những “phân tích” vụn vặt, nhất là bỏ qua những vấn đề liên quan đến cuộc sống thực hành và những giá trị khó vốn có thể phân tích và đo lường. Chẳng hạn, khi phân tích khái niệm “giảng dạy”, phải chăng ta chỉ quan tâm đến “các thao tác thuần túy trí tuệ” như là những thành tố “có thể phân tích được”, còn bỏ qua các yếu tố giá trị, đạo đức, xúc cảm?   Cách tiếp cận hậu-phân tích – thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của việc làm triết học với một phương pháp duy nhất và với học thuyết tự cho là trung lập, khách quan của triết học phân tích “truyền thống” – là bước phát triển tất yếu.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 42, 29.10.2015)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết lý của nhóm Cánh Buồm: Trồng người hiện đại      Lâu nay thỉnh thoảng lại nghe nói về “dạy chữ” và “dạy người” – hai điều được nêu ra coi như chưa ăn ý với nhau trong nền giáo dục phổ thông hiện thời. Để cho ngắn gọn, bài này đi thẳng vào cách hiểu và cách làm của nhóm Cánh Buồm với đề tài “trồng người” ở góc độ tổ chức cho con em tự học làm người. Như vậy để tránh sa đà vào những cuộc tranh luận nhiều thiện chí và cũng lắm ngẫu hứng rất khó tìm thấy lối ra.       1. Con người hiện đại  Con người mà nhóm Cánh Buồm mong muồn góp phần đào tạo cho xã hội, cho dân tộc là con người hiện đại không theo hệ Khổng-Nho, kể cả dạng Khổng-Nho đã “Việt Nam hóa”. Nói thế hoàn toàn không có nghĩa là Cánh Buồm chống lại những giá trị Khổng-Nho chân chính. Con người Nhân và Nghĩa, con người Trí và Dũng, con người trọng Lễ và trọng chữ Tín… con người nhập cuộc tu thân, tề gia, trị quốc … đó là những hình mẫu người đẹp, thời nào cũng phải kính nể. Chỗ khác nhau khi đặt mục tiêu đào tạo con người hiện đại thay cho con người Khổng-Nho không chỉ vì tính thời đại, mà còn vì phương cách tạo ra kiểu người chúng ta trông đợi – cách nào mù mờ khó thực hiện, cách nào tường minh dễ thực hiện.  Chúng tôi không coi chuyện trồng người như một nhánh riêng mang phẩm chất “giáo dục đạo đức”, nằm bên cạnh và được ghép vào với nội dung “hàn lâm”. Nhóm Cánh Buồm hiểu công việc đó theo cách khác: ngay trong cách học, ngay khi người học tự chiếm lĩnh các nội dung giáo khoa Cánh Buồm, mỗi bước tiến lên hàm chứa những thành tố thuộc cách tư duy và cách sống của con người hiện đại – học sách Cánh Buồm là học cách triển diễn, hiện đại hóa mình thành con người hiện đại.  Lấy thí dụ thứ nhất về việc học môn Văn. Cốt lõi giáo dục tư duy và tình cảm nghệ thuật qua môn Văn là tạo ra những con người biết đồng cảm với “nỗi đau nhân tình”, là biết thao tác với những cách tạo ra và nhào nặn hình tượng nghệ thuật, là biết cách biểu đạt tình cảm mình một cách tinh tế cả bằng “lời văn” lẫn không bằng lời văn. Đó chính là cách “trồng người” để con người có năng lực văn (do đó, có năng lực nghệ thuật). Trồng người-Văn-Nghệ thuật theo cung cách đó chính là đỡ đẻ cho ra đời con người hiện đại. Dĩ nhiên, con người hiện đại này càng khác xa con người tầm chương trích cú của lò giáo dục Khổng-Nho, mà hệ quả đương thời tệ hại nhất là nạn học giả và tôn sùng bằng cấp giả.  Lấy thí dụ thứ hai về việc học môn Ngôn ngữ. Cốt lõi của việc học tiếng mẹ đẻ ngay từ bậc tiểu học không phải là nhại lại những hành vi ngôn ngữ trẻ em đã khá thành thạo suốt sáu năm đời trước khi vào lớp Một. Con người đang hiện đại hóa chính mình từ khi vào lớp Một – đó là dùng khoa học ngôn ngữ để soi tỏ vào hiện tượng ngôn ngữ mẹ đẻ các em đã dùng từ khi lọt lòng mẹ và cảm nhận được ngay từ trước khi lọt lòng mẹ. Trồng người-ngôn-ngữ-học lúc này là tổ chức cho trẻ em làm lại những thao tác nghiên cứu ngữ âm học, từ vựng học, cú pháp học, văn bản học sao cho các em biết dùng tiếng mẹ đẻ với ý thức ngôn ngữ học rõ ràng. Thật xa lạ với con người hiện đại khi học ngôn ngữ học tiếng Việt: nó không học theo lối nhặt nhạnh, năng nhặt chặt bị, như cách học đã có từ bao đời.  Và đây là thí dụ thứ ba về việc Giáo dục Lối sống ngay từ lớp Một cho con người đang trở thành hiện đại của nền giáo dục. Con người đó không thể là con người gian dối nói một đằng làm một nẻo. Vì thế, môn học Đạo đức cũng như môn Công dân Giáo dục đều là những tấm áo không vừa kích cỡ nó. Chưa kể, môn Đạo đức dẫu sao vẫn có hơi hướm Khổng-Nho với những lời khuyên vàng ngọc tuyệt vời của thầy giáo. Không chọn đào tạo con người Khổng-Nho, không chọn con đường giáo dục những công dân “quá độc lập”, nhóm Cánh Buồm chọn một nguyên lý cao hơn thế, cái nguyên lý chi phối cuộc sống cộng đồng mà từ tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tới một em bé sáu tuổi bắt đầu học lớp Một đều cần phải trau dồi: tinh thần và năng lực sống đồng thuận.   2. Tự làm ra chính mình  Theo Khổng-Nho, người ta nói đến nhân bất học bất tri lý, nhưng điều này hàm ý phải được người thầy dạy dỗ tử tế thì mới “nên thân người”. Người ta không ngần ngại công bố nhất tự vi sư bán tự vi sư từ đó mà có sự tôn sư trọng đạo, vì đơn giản là không thầy đố mày làm nên.   Ngày nay không thể như vậy! Nhóm Cánh Buồm có ý thức tạo ra một chương trình và một bộ sách giáo khoa tiểu học mang tên Em biết cách học thể hiện được tinh thần và phương pháp tự học – tự giáo dục. Dĩ nhiên, người thầy giáo sẽ phải là nhà tổ chức sự “tự vun trồng” theo hướng tự học – tự giáo dục. Vẫn “không thầy đố mày làm nên”, nhưng “thầy giáo” đây không còn là những cá nhân dạy học giỏi, mà là một nguyên lý tổ chức sư phạm để tổ chức việc “trồng người” theo những chỉ dẫn tâm lý học được thử thách.   3. Làm cách gì cho trẻ tự học được?   Hoạt động học – động cơ và ý thức   Dựa trên sự phân giải của nhà tâm lý học Nga Leontiev, điều cần tạo ra đầu tiên ở trẻ em bắt đầu đi học là một động cơ cho hoạt động học.  Xưa nay, những người yêu trẻ, những nhà văn yêu tuổi thơ học đường đã có biết bao áng văn thơ ca ngợi cái thuở ban đầu cắp sách đến trường. Anatole France nhớ “năm nào cũng như năm nào, khi lá ngoài đường rụng nhiều, khi những bữa ăn chiều đã phải lên đèn …” thì lại nhờ nhiều đến cậu bé tung tăng đến trường. Nhà thơ Thanh Tịnh cũng “Nhớ buổi dầu đi học” nhút nhát nép mình, kính nể nhìn các anh chị học trò cũ…   Bạn nghĩ gì về những em bé học trò lần đầu đến trường như thế? Thật đáng yêu, và cũng thật đáng tiếc ở một điều này: các em này chẳng có ý thức gì hết về sự bắt đầu chuyển hướng hoạt động của đời mình – em bắt đầu đi học. Các em vẫn đi học như một thói quen vào dịp “Ngày đưa con tới trường” hằng năm theo cha mẹ ông bà anh chị và bè bạn đến trường, các em chưa đi học như dấn thân vào một hoạt động mới cần nhận thức rõ trong ý thức của mình.      Ta đừng chờ trẻ em có ngay từ đầu một ý thức và một động cơ tham gia vào hoạt động học mới mẻ của đời mình. Lại phải chờ những hành động học và thao tác học cụ thể sau này sẽ đẫn các em đến những thành tựu được các em trông đợi. Khi đó, hy vọng là động cơ học sẽ dần dần được củng cố rõ.   Và “trồng người” lúc này chính là tạo ra ở người học một ý thức về hoạt động học của đời học trò bắt đầu từ tiết học đầu tiên lớp Một trường phổ thông.   Hành động học rõ ràng và thao tác học mạch lạc   Ngay từ khi bắt đầu đi học trẻ em phải bắt đầu học lấy cái ý thức mình làm gì và làm để đạt mục đích gì và sau đó, đạt mục đích bằng phương pháp gì, thậm chí có khi còn học bằng kỹ thuật gì. Do vậy ngay từ trên bìa sách giáo khoa Cánh Buồm cho đến nội dung bên trong đã cho ghi rõ những điều thuộc về học gì, học bằng cách nào, học đến đâu là đạt yêu cầu theo quan điểm đó. Ví dụ với môn Văn, các vật liệu văn chương không dùng để tán tụng nhại lại, mà để học lấy tư duy và tình cảm nghệ thuật – với định nghĩa nghệ thuật là hành động tự mình tạo ra cái Đẹp. Vì thế kỹ thuật trồng người có năng lực Văn-Nghệ thuật là học lòng đồng cảm, rồi học các thao tác nghệ thuật như tưởng tượng, liên tưởng, sắp xếp, rồi ứng dụng được các thao tác nghệ thuật đó vào các thể loại nghệ thuật (âm nhạc, nhảy múa, tạo hình, văn xuôi, thơ trữ tình, kịch).   Con người “nên người” tự tạo ra năng lực Văn-Nghệ thuật theo cách này sẽ khác hẳn con người nghe giảng về văn chương. Thật vậy, chỉ nghe giảng về thơ với lối nhấn nhá thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc thì học sinh không tưởng tượng nổi thế nào là “hội họa trong thơ” và “âm nhạc trong thơ”. Nhưng một khi đến với âm nhạc mà không chỉ dừng lại ở các nốt nhạc do re mi và bình luận về các đại tác gia âm nhạc mà thực sự sống trong các thao tác nghệ thuật với Nhạc rừng, với Làng tôi, với Lên đàng… ; một khi đến với hội họa bằng bàn tay mình khi bôi màu và cả khi nhào nặn những hình khối, mà không dừng lại ở những am hiểu “uyên bác” về các đại danh họa… khi đó ta sẽ có con người nên thân người hiện đại.  Với môn Tiếng Việt, sứ mệnh dạy con người hiện đại hóa đi theo cách dùng vật liệu tiếng Việt để học lấy những khái niệm cơ bản của Ngôn ngữ học, nhờ đó học sinh sẽ có năng lực ngôn ngữ ngày càng nảy nở nhờ dùng các thao tác nghiên cứu ngôn ngữ như đã được các nhà ngôn ngữ học thực hiện.  Năng lực ngôn ngữ của con người hiện đại sẽ không dừng lại ở cách học năng nhặt chặt bị kéo dài đã bao nhiêu đời! Năng lực ngôn ngữ sẽ biến hóa nhờ chế ngự Ngữ âm học, Từ vựng học, Cú pháp học, Văn bản học, và sự ứng dụng vào Các dạng hoạt động ngôn ngữ, ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ của đời sống hằng ngày.   Với môn Giáo dục Lối sống, sự “nên người” được hình thành dần qua việc nhà trường và gia đình chung tay tổ chức cuộc sống hằng ngày của trẻ theo định hướng có ý thức về sự thực thi tinh thần đồng thuận.  Ngay từ lớp Một, đã phải học cách đi tìm sự đồng thuận giữa ba khối người trong tổ chức giáo dục mang hình thù ngôi trường – Giáo viên, Học sinh, Phụ huynh – thuyết phục ba khối người đó chấp thuận cho học sinh được sống tự chủ. Môn Lối tiếp tục cho học sinh “nên người” nhờ đi tìm sự đồng thuận trong cách sống của một cộng đồng ở dạng tổng quát nhất, theo định nghĩa: một cộng đồng cùng lao động bảo đảm cuộc sống, cùng hòa hợp về văn hóa bảo đảm đời sống tinh thần, và cùng biết cách tháo ngòi xung đột. Lối sống đó được học tiếp khi đi tìm sự đồng thuận trong cách sống của một cộng đồng ở hình thái một gia đình – cũng đòi hỏi lao động, văn hóa tinh thần, và tháo ngòi xung đột và nhận rõ sự phân biệt giữa đạo lý và pháp lý trong cuộc sống gia đình. Từ gia đình lên cộng đồng quốc gia sang cộng đồng loài người ta hoàn toàn hình dung được cách học đạo đức hoàn toàn mới khi con người hiện đại tự hình thành chính mình, tự tạo ra chính mình.   Phân biệt rõ Chơi và Học  Trong sách giáo khoa Cánh Buồm, nhiều trường hợp việc học diễn ra như là chơi trò chơi. Đó chỉ là những tình huống giả như trò chơi, còn thực chất vẫn phải là những tiết học dẫn con người đến nhận thức. Điển hình là hình thức trò chơi hết sức đắc địa các màn kịch nhỏ dùng được cho các môn học, Văn, Ngôn ngữ học, Lối sống, Lịch sử…   Khi chơi trò chơi, học sinh nhập thân vào cuộc sống thực, cho dù cuộc sống đó rất nhiều khi mang tính sách vở – con người phải nên thân người bằng sách, là nơi cô đúc kinh nghiệm sống của loài người, nhưng con người phải biến sách đó thành tài sản riêng, và chơi kịch chính là nhằm mục đích đó.   ***  Quan điểm “nên người” là thành con người hiện đại, con người làm mà học – làm thì học (learning by doing), con người tự làm ra chính phẩm chất hiện đại của mình và điều quan trọng hơn cả, con người đã có một quy trình tự học – tự giáo dục triển khai qua những môn học do nhóm Cánh Buồm đề xuất với những cách tiến hành hoàn toàn dễ thực hiện.  Cách làm đó của Cánh Buồm cũng là cách làm hiện đại của nhà sư phạm hiện đại, nhà sư phạm biết cách tổ chức việc làm cho học sinh để chính các em nên người – con người hiện đại. Mới nghe có vẻ đao to búa lớn, nhưng hiện đại của nhóm Cánh Buồm chỉ khiêm tốn đơn giản chuẩn bị cho con em bậc tiểu học có chừng này thôi: các em học như thế nào thì các em nên người theo cung bậc ấy.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết lý giáo dục đại học và vấn đề tự chủ đại học      Bài viết dưới đây đề cập mối liên hệ giữa  triết lý về giáo dục đại học (GDĐH) và mức độ tự chủ cho các cơ sở GDĐH, từ đó nhận xét về  những bất cập trong cách tư duy về GDĐH tại Việt Nam hiện nay và góp ý  xây dựng cho Dự thảo Luật GDĐH.     Dự án Luật GDĐH Việt Nam đang thu hút sự quan tâm và bàn luận sôi nổi trong toàn xã hội. Nhiều ý kiến cho rằng luật còn chung chung, chưa làm rõ những nguyên tắc chủ đạo và đột phá trong quản lý và giám sát cơ sở GDĐH. Những vấn đề đang được tranh luận chính là những vấn đề mới, nảy sinh trong quá trình nền GDĐH nước nhà chuyển sang giai đoạn đại chúng.  Thực ra, để bàn về những vấn đề cụ thể như tự chủ đại học, phân tầng, cơ chế tài chính cho GDĐH, trước tiên phải xác định được GDĐH là gì, mục tiêu của GDĐH là gì, nhiệm vụ cơ sở GDĐH là gì. Hay nói cách khác là tư duy GDĐH trong giai đoạn hiện nay là gì? Đây cũng là những câu hỏi mà hầu hết các hệ thống GDĐH đang tiến hành đổi mới cũng đang xem xét và định nghĩa lại.   Nội hàm của tự chủ đại học xuất phát từ triết lý về GDĐH tại mỗi quốc gia   Tự chủ có nghĩa là không bị kiểm soát từ bên ngoài. Tự chủ đại học (ĐH) là khái niệm phát sinh cùng với sự ra đời của trường ĐH (universities). Trong lịch sử, trường ĐH đã phải đấu tranh không ngừng để thoát khỏi sự can thiệp của giáo hội và nhà nước. Ngày nay tự chủ ĐH (university autonomy) thể hiện mối quan hệ giữa trường ĐH và nhà nước, là sự độc lập của trường ĐH đối với sự kiểm soát của nhà nước trong việc vận hành hoạt động của nó. Tự chủ ĐH không có nghĩa là trường ĐH có sự tự do hoàn toàn, mà tự chủ ĐH luôn được giới hạn trong khuôn khổ được giới hạn bởi luật pháp và các thỏa thuận giữa nhà nước với khu vực GDĐH và từng trường ĐH. Chính khuôn khổ xác định mức độ tự chủ ĐH là cái cốt lõi hình thành nên thực chất của cụm từ “tự chủ ĐH”.           Ở Việt Nam, cụm từ “trường ĐH” chưa có được  nghĩa tương tự như từ university – để mô tả loại hình tổ chức hoạt động  học tập bậc cao (higher learning), ở đó vừa tiến hành nghiên cứu và  giảng dạy – vì ngay cả trường ĐH trọng điểm và ĐH quốc gia thì hoạt động  chính và nguồn thu chính của trường ĐH vẫn là từ đào tạo.         Một điều đáng lưu ý là, các nghiên cứu về quản trị ĐH thường chọn đối tượng nghiên cứu là các ĐH lớn, có uy tín. Đây là các trường ĐH định hướng nghiên cứu, có đội ngũ học giả uyên bác, theo đuổi các mục tiêu học thuật dài hạn. Vì vậy các nghiên cứu này thường cổ vũ cho tự chủ ĐH. Thực ra, ngoài khu vực trường ĐH, GDĐH hay còn gọi là giáo dục sau trung học (higher education hay post-secondary education) còn bao gồm một khu vực khác là các trường đào tạo lao động chuyên nghiệp bậc cao, đào tạo phục vụ nhu cầu của địa phương. Trong khi khu vực trường ĐH thường nhấn mạnh nhiệm vụ sản sinh ra tri thức, đào tạo năng lực nghiên cứu, và phương pháp tư duy, thì khu vực không thuộc trường ĐH thường nhấn mạnh nhiệm vụ đào tạo nghề với chương trình học tập trung cung cấp kĩ năng thực hành. Khu vực GDĐH không phải trường ĐH này thường phải chịu sự chi phối của các cơ quan quản lý trung ương và của chính quyền địa phương.   Ở Việt Nam, cụm từ “trường ĐH” chưa có được nghĩa tương tự như từ university – để mô tả loại hình tổ chức hoạt động học tập bậc cao (higher learning), ở đó vừa tiến hành nghiên cứu và giảng dạy – vì ngay cả trường ĐH trọng điểm và ĐH quốc gia thì hoạt động chính và nguồn thu chính của trường ĐH vẫn là từ đào tạo. Có lẽ vì vậy một số nghiên cứu của tác giả nước người về GDĐH Việt Nam đã sử dụng cụm từ post-secondary education hoặc tertiary education. Tuy nhiên về mặt hình thức, hệ thống GDĐH Việt Nam cũng bao gồm hai khu vực: khu vực trường ĐH và khu vực không phải trường ĐH là các trường cao đẳng.   Có thể nói rằng hai mô hình tổ chức ĐH chính chi phối cách quản lý GDĐH trên thế giới là mô hình của các nước Anglo-Saxon và của các nước châu Âu lục địa. Mô hình ĐH của các nước Anglo-Saxon bắt nguồn từ Anh và du nhập sang các nước Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, và Canada. Mô hình truyền thống của Anh là: trường ĐH không phải là một bộ phận trong tổ chức bộ máy của nhà nước, hoạt động theo điều lệ riêng, và không chịu sự chỉ đạo từ bất cứ cơ quan nhà nước nào. Vậy ai giám sát hoạt động của trường ĐH? Đó chính là các hội đồng trường mà thành phần gồm đa số các thành viên ngoài trường và hội đồng giảng viên bao gồm những giáo sư uy tín trong trường. Tóm lại, tự chủ của hệ thống trường ĐH học trong nhóm nước Anglo-Saxon là giao quyền quyết định cao cho trường ĐH, trường ĐH chịu sự giám sát của xã hội thông qua hội đồng trường và sự tự quản của đội ngũ học giả của trường ĐH.          Hiện tượng đổi mới quản trị GDĐH trên toàn  cầu hiện nay có xu hướng chung là thử nghiệm và hoàn thiện mô hình  trường ĐH hoạt động theo tư cách pháp nhân độc lập hoàn toàn và áp dụng  các kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp vào trường ĐH. Cụm từ thường dùng  để mô tả mô hình quản trị trường ĐH mới là “ĐH doanh nghiệp”  (entrepreneurial universities).         Trường ĐH tại các nước châu Âu lục địa được xây dựng trên khái niệm tự do học thuật. Tự chủ của trường ĐH về các vấn đề học thuật được coi là một giá trị thiêng liêng và đặt ở mức ưu tiên cao nhất. Trường ĐH được coi là một thể chế của nhà nước nên vai trò của nhà nước trong việc quản lý trường ĐH được coi là tất yếu. Tại các nước này, nhà nước thường quy định khung chương trình quốc gia và các tiêu chuẩn chung về đào tạo (Amaral, Jones và Karseth 2003). Các quyết định của trường ĐH được hướng dẫn bởi các luật và các quy định khá chi tiết. Trường ĐH vận hành dựa vào các khung pháp lý và sự tự quản của đội ngũ học giả của trường ĐH.  Hơn hai thập kỉ qua, hai mô hình tổ chức ĐH phổ biến này đều trải qua cải cách về quản trị ĐH. Mô hình quản trị ĐH của các nước Anglo-Saxon dịch chuyển theo hướng tăng cường sự giám sát của nhà nước thông qua các cơ quan trung gian cấp tài trợ và giám sát chất lượng. Mô hình quản trị ĐH của các nước châu Âu lục địa dịch chuyển theo hướng xóa bỏ quản lí trực tiếp của nhà nước bằng giám sát từ xa qua các cơ chế giải trình và giao nhiều quyền tự chủ hơn cho các trường ĐH. Hiện tượng đổi mới quản trị GDĐH trên toàn cầu hiện nay có xu hướng chung là thử nghiệm và hoàn thiện mô hình trường ĐH hoạt động theo tư cách pháp nhân độc lập hoàn toàn và áp dụng các kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp vào trường ĐH. Cụm từ thường dùng để mô tả mô hình quản trị trường ĐH mới là “ĐH doanh nghiệp” (entrepreneurial universities).   Cùng với sự thành lập của hai ĐH quốc gia vào giữa thập niên 1990, khái niệm tự chủ ĐH đã xuất hiện và thu hút được sự quan tâm và tranh luận tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm áp dụng, có hẳn một nghị định về quyền tự chủ cho cơ quan nhà nước trong đó có các cơ sở GDĐH, các trường ĐH Việt Nam vẫn được coi là không có tự chủ. Vấn đề tự chủ ĐH trong dự thảo luật GDĐH vẫn đang là một vấn đề nóng hổi và gặp nhiều tranh luận gay gắt. Cuộc đấu tranh giành tự chủ của các trường ĐH Việt Nam có lẽ đang ở trong một thời điểm thật gay cấn. Trường ĐH muốn có nhiều quyền quyết định hơn và ít chịu sự kiểm soát của nhà nước hơn, trong khi nhà nước chưa đủ tin tưởng để giao thêm một số quyền cho các trường ĐH. Để có cơ sở về việc trao tự chủ đến mức độ nào cho trường ĐH, có lẽ ba câu hỏi quan trọng nhất cần phải được trả lời là: Tự chủ về cái gì? Giao tự chủ cho cơ sở GDĐH nào và giao đến đâu? Làm sao có thể giám sát được việc thực hiện cam kết của trường ĐH khi nhận tự chủ? Hai câu hỏi đầu liên quan mật thiết với nhau vì nó cùng được xác định bởi câu hỏi  về triết lý GDĐH, tức là GDĐH là gì. Câu hỏi thứ ba liên quan đến kỹ thuật và công cụ quản lý nhà nước về GDĐH. Sau đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi trên.  Tự chủ về cái gì? Giao tự chủ cho cơ sở GDĐH nào và giao đến đâu?  Bởi các yếu tố bản địa và các quan điểm về GDĐH khác nhau nên mô hình cơ sở GDĐH Anglo-Saxon và châu Âu lục địa cũng khác nhau. Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của mô hình GDĐH Liên Xô cũ mà biểu hiện rõ nhất của nó là sự thống trị của nếp quản lý qua chỉ đạo và mệnh lệnh từ trên giao xuống. Nếu chỉ bàn đến trao tự chủ cho các trường ĐH là mới chỉ bàn đến cái ngọn mà quên mất liệu rằng cái gốc và cái thân cũ kỹ có mang nổi cái ngọn đầy cách tân. Thay đổi trong tư duy về GDĐH hay xác định lại khái niệm GDĐH sẽ giúp cho việc xác định được đặc điểm của các loại hình cơ sở GDĐH, nhiệm vụ và mức độ tự chủ cho từng loại hình cơ sở đó.           Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của mô  hình GDĐH Liên Xô cũ mà biểu hiện rõ nhất của nó là sự thống trị của nếp  quản lý qua chỉ đạo và mệnh lệnh từ trên giao xuống. Nếu chỉ bàn đến  trao tự chủ cho các trường ĐH là mới chỉ bàn đến cái ngọn mà quên mất  liệu rằng cái gốc và cái thân cũ kỹ có mang nổi cái ngọn đầy cách tân.         Một cách phân loại tự chủ ĐH đơn giản nhưng vẫn diễn tả được nội hàm của nó là cách phân loại của Robert Berdahl (1990), chia tự chủ ĐH ra làm 2 loại: tự chủ thực chất (substantive autonomy) là tự chủ của cơ sở GDĐH trong xác định mục tiêu học thuật và chương trình đạo tạo; và tự chủ thủ tục (procedural autonomy) là sự tự chủ trong việc xác định các phương tiện để thực hiện mục tiêu học thuật đề ra.     Tự chủ trong mục tiêu hoạt động   Nếu quan niệm GDĐH là để tạo ra tri thức, để bảo tồn và chuyển giao văn hóa và giá trị của quốc gia, để dẫn dắt và định hướng xã hội thì GDĐH phải hoàn toàn thoát khỏi mọi sự dẫn dắt và định hướng của bất cứ mục tiêu cụ thể nào. GDĐH chỉ cần có một mục tiêu rộng lớn, duy nhất và cuối cùng là tạo ra những điều tốt đẹp cho xã hội. Mục tiêu như vậy nên giao cho các ĐH định hướng nghiên cứu. Ban đầu, nhà nước cần bao cấp cho các ĐH này. Liệu các ĐH này có đạt được đến mục tiêu sáng tạo cái mới và dẫn dắt xã hội hay không thì cần có thời gian vì hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu và GD thường chỉ thể hiện hết trong dài hạn. Nhóm trường ĐH định hướng nghiên cứu này nếu xây dựng được một môi trường học thuật có tương tác với quốc tế thì dần dần sẽ hình thành được ĐH đẳng cấp quốc tế.  Theo điều 39 Luật GD Việt Nam năm 2005, “Mục tiêu của giáo dục ĐH là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Như vậy có nghĩa là mục tiêu tối thượng của GDĐH Việt Nam hiện nay là phục vụ cho sự phát triển của quốc gia. Sự phát triển của quốc gia được định ra bằng các kế hoạch chiến lược cụ thể, GDĐH phải đạt được các mục tiêu phát triển của chính nó và liên đới phục vụ việc đạt đến một số mục tiêu khác. Quan niệm GDĐH là một công cụ của nhà nước và chịu sự can thiệp của nhà nước cũng có những cơ sở hợp lý và quan niệm này vẫn tồn tại ở phần lớn các nước châu Âu lục địa và ở hầu hết các nước châu Á. Quy mô và cơ cấu GDĐH sẽ phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu của các ngành kinh tế. Khu vực GDĐH đào tạo lao động chuyên nghiệp sẽ đảm nhận nhiệm vụ này. Với lao động thuộc ngành nghề nhà nước cần mà không thu hút người học thì nhà nước sẽ đặt hàng và cấp kinh phí. Với các ngành nghề đào tạo mà thị trường lao động và người học đều có nhu cầu thì nhà nước để thị trường điều chỉnh cơ cấu và chương trình đào tạo. Ở khu vực này, nhà nước phải cân nhắc cấp kinh phí cho ngành nghề nào, mức độ bao cấp ra sao, can thiệp vào nội dung chương trình tới mức độ nào.  Bị giới hạn bởi luật GD, cuộc tranh luận tự chủ ĐH của Việt Nam hiếm khi bàn tới vấn đề tự chủ theo đuổi mục tiêu học thuật. Có thể thấy trong các giới thiệu về trường ĐH, như trên website của các trường chẳng hạn, hầu như tất cả các trường đều đặt mục tiêu đào tạo theo đúng mục tiêu của Luật GD đề ra.     Tự chủ trong vận hành hoạt động   Hai vấn đề chính mà các trường ĐH hiện nay muốn có tự chủ là: quy định mức học phí và mở ngành đào tạo có nhu cầu xã hội cao. Với các ngành không có nhu cầu từ xã hội cao thì trường có được khuyến khích mở họ cũng không nhiệt tình. Hai vấn đề tự chủ này liên quan đến bù đắp chi phí đào tạo tức là phương tiện để thực hiện mục tiêu và thuộc về vấn đề tự chủ về hình thức hoạt động.           Bị giới hạn bởi luật GD, cuộc tranh luận tự  chủ ĐH của Việt Nam hiếm khi bàn tới vấn đề tự chủ theo đuổi mục tiêu  học thuật. Có thể thấy trong các giới thiệu về trường ĐH, như trên  website của các trường chẳng hạn, hầu như tất cả các trường đều đặt mục  tiêu đào tạo theo đúng mục tiêu của Luật GD đề ra.         Trường ĐH là một tổ chức với những đặc tính riêng như: mục tiêu học thuật đa dạng khó xác định, công nghệ giáo dục không rõ ràng, sự tham gia của các đơn vị và thành viên cá nhân không ổn định, các đơn vị thành viên liên kết lỏng lẻo, đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn cao, bởi vậy nó cần có một mô hình tổ chức và quản lý riêng. Khi cơ sở có tự chủ, có cơ chế quản lý linh động thì sẽ phát huy được sáng kiến và có nhiều đổi mới. Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý, bất cứ một hoạt động công việc nào cũng cần phải có giám sát để đảm bảo rằng hoạt động đó đạt được mục tiêu đã cam kết. Ở Việt Nam, trong xu hướng thương mại hóa GD như hiện nay, xã hội dường như đã mất lòng tin vào khu vực GDĐH với vai trò tự quản. Với số lượng các trường ĐH đông đảo như hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) sẽ không bao giờ có đủ lực lượng nhân sự để đi giám sát từng cơ sở GDĐH. Năng lực giám sát của xã hội đối với trường ĐH cũng còn rất hạn chế. Không nhiều sinh viên và phụ huynh đã đọc những văn bản cam kết ba công khai của trường ĐH. Quyết định học một trường ĐH của sinh viên và phụ huynh phần lớn bởi vì họ cần một tấm bằng ĐH như một sự đầu tư cho tương lai. Khi mà cầu về GDĐH còn lớn cung, thông tin về chất lượng dịch vụ GDĐH không đầy đủ và thực chất thì có nghĩa là thị trường GDĐH chưa hoàn chỉnh và cần phải được điều tiết bởi nhà nước. Nói một cách khác, hoạt động của các trường ĐH Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, do đó sự  giám sát của nhà nước đối với GDĐH là cần thiết. Điều cần cải thiện hiện nay là quản lý nhà nước cần giảm bớt tính mệnh lệnh và các quy định chi tiết, chuyển sang hoàn thiện khung pháp lý và ký kết thỏa thuận giữa Bộ GD&ĐT với cơ sở GDĐH. Phần tiếp theo của bài viết sẽ thảo luận về cơ chế giám sát tự chủ ĐH.    Làm sao có thể giám sát được việc thực hiện cam kết của trường ĐH khi nhận tự chủ?  Vai trò của nhà nước trong việc xây dựng và điều tiết thị trường là định ra nguyên tắc hoạt động thị trường lành mạnh và chế tài. Chính vì vậy, xây dựng cơ chế giám sát khu vực GDĐH thông qua công khai thông tin, giải trình và kiểm định chất lượng cũng là những vấn đề thiết yếu và đang được bàn luận sôi nổi. Tuy nhiên, hiện nay những công cụ quản lý chất lượng GDĐH của Bộ còn rất hình thức và chưa phát huy tác dụng. Các trường ĐH vẫn chưa hài lòng với cách làm kiểm toán chất lượng cơ sở GDĐH của Bộ. Sự phân hóa về mục tiêu học thuật và chất lượng giáo dục giữa các cơ sở GDĐH đã hình thành khá rõ nét. Vì thế, vừa để chống xuống cấp chất lượng GDĐH vừa để khuyến khích cải thiện chất lượng, đánh giá chất lượng GDĐH theo một chuẩn chung cho cả hệ thống GDĐH là không hợp lý. Hình thành được một hệ thống đánh giá chất lượng GDĐH có hiệu quả tại Việt Nam sẽ còn cần rất nhiều thời gian.   Trong khi còn đang tìm kiếm một cơ chế hợp lý để giám sát hoạt động cơ sở GDĐH dựa vào đánh giá mức độ hiệu quả đầu ra, trước mắt, có thể phân hóa mức độ giám sát của nhà nước đối với cơ sở GDĐH theo nhiệm vụ học thuật của mỗi cơ sở GDĐH. Bộ GD&ĐT nên bổ sung thêm điều lệ hoạt động cho các loại hình cơ sở GDĐH mới phát sinh. Xây dựng điều lệ mô hình hoạt động cho ĐH hoạt động theo điều lệ doanh nghiệp (bao gồm cả ĐH tư thục), ĐH hoạt động theo điều lệ cơ quan nhà nước, và ĐH định hướng nghiên cứu. Nếu chưa hình thành được ĐH định hướng nghiên cứu thì xây dựng điều lệ hoạt động nghiên cứu có tầm bao quát rộng hơn Quy định về quản lý đề tài nghiên cứu khoa học hiện nay. Các trường ĐH được lựa chọn loại hình hoạt động cho mình và làm dự án giải trình lựa chọn điều lệ hoạt động. ĐH định hướng nghiên cứu và các hoạt động nghiên cứu thuần túy khoa học cần được trao quyền tự chủ như Viện Toán cao cấp vừa mới được thành lập. Thái Lan và Malaysia đang đang cải cách quản trị ĐH theo hướng mở rộng mô hình ĐH hoạt động theo điều lệ doanh nghiệp. Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm các nước này. Phần đông số trường ĐH Việt Nam sẽ vẫn hoạt động theo hình thức phổ biến hiện nay tức là hoạt động theo điều lệ cơ quan nhà nước. Các trường ĐH này sẽ tuân thủ theo điều lệ trường ĐH ban hành năm 2010 (hoặc sửa đổi nếu có xung đột với các văn bản phát luật mới).   Đổi mới giao tự chủ cho trường ĐH hoạt động theo điều lệ cơ quan nhà nước có thể thực hiện theo từng trường hợp dựa trên mức độ thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Cách làm đã và đang thực hiện của Bộ GD&ĐT là giao nhiều quyền tự chủ hơn các ĐH quốc gia, ĐH vùng và các trường ĐH trọng điểm là theo nguyên tắc trường hợp này. Bởi vì các ĐH quốc gia, ĐH vùng và một số trường ĐH trọng điểm đã xây được hệ thống đảm bảo chất lượng tại cơ sở khá hoàn thiện nên sẽ nhận được sự tin tưởng hơn.  Trên đây là những đóng góp và gợi ý của người viết cho việc xây dựng Luật GDĐH. Khi mà Luật GDĐH chưa bao gồm những triết lý GDĐH mới, chưa thể hiện thay đổi trong tư duy GDĐH, chưa thiết kế được các điều lệ hoạt động cho các hình thức GDĐH mới ở Việt Nam thì việc ban hành Luật GDĐH mà quốc hội dự kiến sẽ thông qua vào kì họp tháng 5 năm 2012 là vội vàng và sẽ không tạo ra được những bước đổi mới trong quản lý GDĐH như mong muốn.     Tài liệu tham khảo  Berdahl, R. (1990). Academic Freedom, Autonomy, and Accountability in British Universities. Studies in Higher Education, 19(2), 151–164.  Amaral, A., Jones,A.J., & Karseth, B. (2002). Governing Higher Education: Comparing National Perspectives, in Governing Higher Education: National Perspectives on Institutional Governance, Amaral, A., Jones, A.J., & Karseth, B. (eds.). Dortrecht, the Netherlands: 279-298.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò chuyện về “Nghệ thuật và Vật lý”      TS Giáp Văn Dương, họa sĩ Lý Trực Sơn và  nghệ sĩ thị giác Phạm Diệu Hương sẽ có buổi trò chuyện về cuốn sách  “Nghệ thuật và Vật lý”* của Leonard Shlain tại Hà Nội vào chiều thứ Hai  tới, 28/10.    Tác giả Leonard Shlain là bác sĩ, tức một người không chuyên về cả nghệ thuật và vật lý, nhưng ông đã dành nhiều thời gian và công sức để khảo cứu mối liên hệ giữa hai lĩnh vực này, dường như để chứng minh một luận điểm, dù vẫn còn rất mơ hồ, rằng: Nghệ thuật chính là cái trực quan dẫn dắt sự khám phá thế giới của vật lý. Điều này không được trình bày một cách tường minh ở trong sách, nhưng cách sắp xếp và lập luận của Leonard Shlain cho người ta một hình dung như vậy.  Vậy liệu có một mối liên hệ thực sự giữa Nghệ thuật và Vật lý? Và nếu có, thì cái nào dẫn dắt, chi phối cái nào? Hay chỉ đơn giản là Nghệ thuật và Vật lý cùng nương tựa vào nhau để phát triển; sự ảnh hưởng qua lại của chúng chỉ là tất nhiên của tâm thức thời đại? Những câu hỏi này sẽ được thảo luận trong buổi tọa đàm do Reading Circle tổ chức.  Reading Circle là một dự án giáo dục phi lợi nhuận với các cuộc trò chuyện được tổ chức hằng tháng nhằm chia sẻ tri thức xung quanh các cuốn sách giá trị, với các diễn giả khách mời có uy tín. Reading Circle do Vietnam New Media Group (VNMG) và The Integrity Network in Vietnam (TIN Vietnam) khởi xướng và phát triển, trong đó VNMG là một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận, còn TIN Vietnam là mạng lưới những thành viên trẻ hoạt động trong các tổ chức phi chính phủ với mong muốn đóng góp cho sự phát triển bền vững và thịnh vượng của Việt Nam.  Thông tin chi tiết:  Thời gian: 17h30 Thứ Hai, 28//2013  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội  Vào cửa tự do  —  * Tác giả: Leonard Shlain; Người dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều; NXB Tri Thức ấn hành năm 2009.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Trở lại” mô hình phi lợi nhuận      Mới đây, Đại học Phan Châu Trinh (TP Hội An) đã tổ chức công bố mô hình đại học phi lợi nhuận và lộ trình thực hiện. Nhân dịp này, nhà văn Nguyên Ngọc, Chủ tịch Hội đồng quản trị của trường, trả lời phỏng vấn tạp chí Tia Sáng cho biết vì sao mặc dù trường muốn đi con đường bất vụ lợi ngay từ đầu nhưng phải đến bây giờ mới có thể “trở lại” với mô hình đó.     Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, được biết sau một thời gian hoạt động, Đại học Phan Châu Trinh đang có xu hướng chuyển sang mô hình hoạt động phi vụ lợi. Xin ông cho biết lý do của sự chuyển đổi này?     Công việc chuẩn bị cho sự ra đời của một trường đại học ở Quảng Nam đã bắt đầu từ năm 2004 (đến cuối năm 2007 mới có giấy phép chính thức của Chính phủ). Ngay từ đầu, những người sáng lập đã xác định: 1/ Trường sẽ mang tên Phan Châu Trinh, mong muốn góp phần tiếp tục sự nghiệp khai dân trí còn bị dở dang của nhà duy tân vĩ đại, đào tạo con người tự do và tự chủ cho xã hội mới (Phan Châu Trinh gọi là “tự trị” (autonomie); 2/ Sẽ là một trường đại học tư; 3/ Mô hình cơ bản là hướng đến xây dựng một trường đại học phi vụ lợi.      Như vậy ý tưởng bất vụ lợi đã có từ đầu, là “xu hướng” từ đầu, nếu bạn muốn dùng từ ấy. Lý do thì cũng dễ hiểu: chúng tôi nghĩ đấy là mô hình duy nhất phù hợp với lý tưởng giáo dục mà trường muốn đeo đuổi. Thật khó đồng nhất một trường đại học được coi và được vận hành như một hội buôn với một lý tưởng giáo dục cao quý mà chúng ta thiết tha đeo đuổi.     Như vậy có thể nói không phải chúng tôi “chuyển sang” mô hình bất vụ lợi mà là “trở lại” với mô hình được xác định từ đầu.       Vậy tại sao việc chuyển đổi bây giờ mới được đặt ra?     Muốn đi con đường bất vụ lợi, nhưng ngay từ đầu chúng tôi, đúng ra là tất cả chúng ta, vấp ngay vào một mô hình tổ chức giáo dục hoàn toàn ngược với tư tưởng cơ bản đó. Quyết định 61 về Quy chế đại học tư thục coi trường đại học tư thục hoàn toàn là một công ty cổ phần, hoạt động hoàn toàn theo luật doanh nghiệp. Nói gọn là ở đấy người giàu góp vốn nhiều nhất toàn quyền chỉ huy và quyết định tất cả. Và hầu như chắc chắn họ sẽ dắt dẫn trường theo mục đích tối cao là sinh lợi tối đa và tối nhanh, mặc xác giáo dục. Cho phép tôi nói rằng, theo tôi, chính tư duy đó, chủ trương đó, cách làm đó đã và đang xé nát các trường đại học tư thục, ngay đến cả một trường hàng đầu nổi tiếng như Đại học Hoa Sen. Trong khi tất cả các chủ trương nghiêm trang và hùng hồn của Đảng và Nhà nước đều coi mảng giáo dục đại học ngoài công lập là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đảm trách đến 40% đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Thôi thì cứ phải nói cho thật, cho rõ: quyết định nói trên là sai lầm, và sai lầm lớn. Nhất thiết phải thay đổi. Chúng tôi cũng đã từng chịu đau khổ triền miên vì quyết định này gần chục năm nay, và đã đến lúc chúng tôi quyết thay đổi. Chúng tôi đang khẩn trương xây dựng mô hình chuyển đổi. Trong khi chờ đợi luật được thay đổi, chúng tôi muốn đề nghị cho chúng tôi làm thí điểm, mong có thể góp phần mở đầu cho một sự thay đổi đã đến lúc cấp bách.       Đại học Phan Châu Trinh vốn rất kém ở đầu vào, thất bại này có liên quan gì đến mô hình đại học tư thục trước đây không và sẽ được khắc phục bởi mô hình mới như thế nào?     Mới hôm qua tôi có đọc một bài báo nói rằng chất lượng giáo dục của chúng ta thấp không phải vì không kiểm soát chặt đầu vào, mà trái lại vì hầu như hoàn toàn thả rông đầu ra. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định đó.     Thú thật tôi không sợ một đầu vào được coi là “kém”. Thế nào là kém? Có lần tôi đã nói tôi không tin có sinh viên kém, trừ một số rất ít trường hợp cá biệt, có tính chất bệnh lý bẩm sinh. Theo tôi, giáo dục cần bắt đầu từ niềm tin rằng mỗi con người đều giỏi, mỗi người đều giỏi về một cái gì đó, trong mỗi người đều có những khả năng tiềm ẩn nhất định. Sở dĩ ta thấy họ dở, dốt, là vì ta đòi hỏi mọi người đều phải giỏi đúng cái mà ta muốn, chỉ cái ấy thôi, trong khi cuộc sống và xã hội thì có muôn vàn nhu cầu khác nhau, vô cùng phong phú. Thứ hai nữa, chính ta dở, người thầy dở, không phát hiện ra được và đánh thức được cái hay, cái giỏi ở mỗi người học. Nói theo một cách nào đó, giáo dục là đánh thức (chứ không phải nhét đầy, nhồi sọ, áp đặt). Chính đó là ý nghĩa nhân văn sâu xa của giáo dục, cũng là hạnh phúc của giáo dục, của người làm giáo dục. Giáo dục là giải phóng, và luôn luôn mới, vì con người là đa dạng đến bất tận, tài năng tiềm ẩn trong từng con người, trong mọi con người là bất tận.      Mô hình này có được bảo đảm lâu dài bởi các chính sách hiện hành hay không?     Đúng là các chính sách hiện hành chưa bảo đảm cho một mô hình đại học phi vụ lợi. Cần một hành lang pháp lý mới cho mô hình tốt đẹp này. Trong đó cần có một loạt chính sách thuận lợi cho những cống hiến vô tư vì sự nghiệp cao quý là giáo dục. Các nước đều đã có những chính sách như thế, như miễn thuế cho những phần hiến tặng, đóng góp cho các tổ chức phi vụ lợi, ưu đãi về đất đai v.v.  Cần thiết nhất hiện nay là cho phép và tạo điều kiện cho một số thí điểm đi đầu.  Vạn sự khởi đầu nan. Hãy cho phép và tạo điều kiện, mạnh mẽ ủng hộ những cố gắng khai phá, soi đường. Từ chính thực tế của các thí điểm đi đầu này mà hình thành các cơ chế, chính sách phù hợp cho mô hình mới.     Người đi thì mới thành đường. Chúng tôi đang lên đường.      Xin trân trọng cảm ơn ông.       Trần Trọng Dương thực hiện  Đọc thêm:  Chính sách nào cho đại học tư phi lợi nhuận? (Diệp Trần)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7740    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò lừa đảo của TRI-VALLEY      “Trường đại học” Tri-Valley với sức chứa khoảng… 30 sinh viên đã tuyển  hơn 1.500 sinh viên Ấn Độ và hỗ trợ làm thủ tục visa cho họ vào Mỹ, với  những mục đích&#160; hoàn toàn không liên quan gì đến việc học hành.  &#160;    Theo tin của tờ Asia Sentinel ngày 7/2/2011, “trường đại học” không được  kiểm định có tên Tri-Valley với sức chứa khoảng… 30 sinh viên đã tuyển  hơn 1.500 sinh viên Ấn Độ và hỗ trợ làm thủ tục visa cho họ vào Mỹ, với  những mục đích  hoàn toàn không liên quan gì đến việc học hành. Một cách  vắn tắt, Tri-Valley thực chất chỉ là một đường dây cung cấp dịch vụ  nhập cư trái phép vào Mỹ mà thôi. Sau khi vụ việc bị vỡ lở, nhà chức  trách Mỹ đã đóng cửa ngôi trường giả mạo này, đồng thời thực hiện những  biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với số sinh viên mà Tri-Valley đã đưa  sang Mỹ, trong đó biện pháp gắn chip theo dõi hành tung của họ đã khiến  phía Ấn Độ phản ứng khá gay gắt – họ cho rằng việc gắn chip thường chỉ  xảy ra đối với những tội phạm nguy hiểm, đồng thời giới học thuật Ấn cho  rằng các sinh viên nói trên hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm gì vì  họ chỉ là nạn nhân của sự lừa đảo do Tri-Valley gây ra, và cần phải  được giúp đỡ để giảm thiểu những thiệt hại mà họ đã phải chịu do việc  Tri-Valley bị đóng cửa.   Chúng tôi xin giới thiệu góc nhìn của một học giả nổi tiếng của Hoa Kỳ,  giáo sư và nhà nghiên cứu giáo dục đại học quốc tế Philip Altbach về vấn  đề này trên tờ Inside Higher Education ngày 21/2/2011, vì những vụ việc  tương tự như vụ Tri-Valley hoàn toàn cũng có thể xảy ra ở Việt Nam.   Vũ Kim Khôi dịch và giới thiệu  Nếu sự việc không nghiêm trọng đến thế thì nó chỉ đáng xem là một tình huống nực cười. Một trường đại học giả mạo của Hoa Kỳ đã tuyển hơn 1500 sinh viên từ Ấn Độ và tạo điều kiện cho họ xin visa vào Hoa Kỳ. Vấn đề là các sinh viên này không hề theo học tại trường, thậm chí chẳng cư trú ở khu vực gần trường nữa, và điều này cuối cùng đã được các viên chức Chính phủ Hoa Kỳ phát hiện và họ đã xiết chặt quản lý đối với các sinh viên này. Sự kiện trên đã được nêu trên tờ Chronicle of Higher Education số ra ngày 02/02/2011. Theo tạp chí này, trường Đại học Tri-Valley tọa lạc tại phía Bắc tiểu bang California và là một trường đại học không được kiểm định, có quy mô khoảng 30 sinh viên. Tuy nhiên ngôi trường này lại tuyển đến 1500 sinh viên Ấn Độ. Khi các viên chức di trú và hải quan của Hoa Kỳ phát hiện ra thực trạng trên, họ liền tập trung số sinh viên này lại và thậm chí gắn cả thiết bị theo dõi trên nhiều người trong số này. Đến đây thì sự việc trên đã đập vào mắt giới báo chí Ấn Độ, và họ đã liên tục chỉ trích giới chức trách Hoa Kỳ vì những hành động vô nhân đạo, với ngụ ý rằng các sinh viên đó chỉ là những nạn nhân vô tội.  Trong Quốc hội Ấn Độ, vốn hiện đang tranh cãi về đạo luật cho phép mở cửa thị trường giáo dục đại học tại quốc gia này, đang một số người đặt câu hỏi về việc làm cách nào Ấn Độ có thể tự bảo vệ mình trước các trường đại học “bay đêm” như trên. Vụ việc của trường Tri-Valley diễn ra ngay sau sự cố kỳ thị người Ấn Độ tại Úc, cùng với việc xem xét lại chính sách mở cửa của quốc gia này dành cho sinh viên nước ngoài cũng đã gây ra những phẫn nộ tại Ấn Độ. Trong vụ việc tại Úc, người ta đã khám phá ra rằng nhiều thẩm mỹ viện và những cái-gọi-là cơ sở đào tạo sau trung học đang tiếp nhận các sinh viên Ấn Độ, nhưng không phải để đến đây học tập mà để làm việc trái phép.  Những sự cố trên và nhiều sự cố khác đang làm dấy lên nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến vấn đề quốc tế hoá trong giáo dục đại học. Như Uwe Brandenburg và Hans de Wit đã nêu ra trong ấn phẩm International Higher Education, chúng ta hiện đang đối mặt với sự khủng hoảng về quốc tế hoá – trong một số khía cạnh, hiện nay giai đoạn thương mại hóa trong giáo dục đại học đang dần thay thế cho thời kỳ lý tưởng hóa trước đây, và cùng với nó là đủ mọi vấn đề mà sự thương mại hóa thiếu kiểm soát có thể đem lại. Nền kinh tế thế giới vừa qua đã hứng chịu hậu quả từ những giao dịch thả nổi và không kiểm soát trong đợt suy thoái toàn cầu vừa qua. “Thị trường tự do” trong giáo dục đại học gần như cũng đang đứng trước tình cảnh tương tự – xã hội (sinh viên, phụ huynh, gia đình và cả các trường) không có khả năng đưa ra những quyết định sáng suốt do tồn tại thực trạng thiếu hụt sự minh bạch cũng như kiểm soát đối với các trường lừa đảo, những trường vốn có thể dễ dàng trà trộn vào số đông các trường đang hoạt động hợp pháp.  Dưới đây là một số điều cần suy nghĩ từ vụ việc trường Tri-Valley:  Đối với Ấn Độ, sự cố trên cho thấy những trường đại học nước ngoài muốn thâm nhập vào thị trường giáo dục đại học Ấn Độ và đang thực hiện tuyển sinh là những trường không đáng tin cậy. Chúng ta cần phải cẩn trọng.  Ai là người đứng ra tuyển sinh cho trường Tri-Valley? Phải chăng là các cơ quan môi giới và nhân viên tuyển sinh? Những bài phóng sự trên báo cho thấy rằng ngay chính các sinh viên Ấn Độ cũng tham gia vào công tác chiêu sinh để được trả tiền.  Phản ứng từ các cấp có thẩm quyền của Hoa Kỳ chẳng có gì đáng ngạc nhiên hay gây shock. Các “sinh viên” rõ ràng vi phạm các điều luật về nhập cư của Hoa Kỳ, và việc kiểm soát họ không phải là điều vô lý– như quan điểm của một số nhà phê bình Ấn Độ. Ít ra là các sinh viên đó không bị trục xuất hay bị tù.  Sự cố trường Tri-Valley khiến uy tín của giáo dục đại học Hoa Kỳ tại Ấn Độ đã bị hủy hoại, ít ra là ở một mức độ nhất định; đồng thời giới chức trách và các tổ chức kiểm định Hoa Kỳ cần cảnh giác hơn với những “xưởng cấp bằng” đang ngày càng xuất hiện nhiều ở Mỹ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc cải cách tuyển sinh đại học theo phong cách Mỹ *      Năm 2015 sẽ được ghi nhớ như là khởi đầu của kỷ nguyên mới trong nền giáo dục Trung Quốc, theo một vài tờ báo tại đất nước này. Đây là năm đầu tiên những chính sách nhắm đến sự thay đổi hệ thống kỳ thi tuyển sinh đại học, hay còn gọi là “Gaokao” (cao khảo), được áp dụng. Những cải cách này không chỉ đơn thuần thiết kế lại kỳ thi, mà thay đổi hoàn toàn cả một hệ thống tuyển sinh đại học cũng như tạo chuyển biến cho tất cả các bậc học trong nền giáo dục Trung Quốc.     Nhiều tiêu chuẩn đánh giá  “Áp dụng tốt cho những trường đại học nước ngoài”, một học sinh trung học năm nhất nói về quy trình tuyển sinh đại học được phác thảo trong những tài liệu cải cách. Cậu ta đã đúng. Tóm lại, cuộc cải cách này nhắm đến việc thiết lập một hệ thống tuyển sinh đại học theo phong cách Mỹ, nhưng áp dụng theo cách riêng của Trung Quốc.    Các trường đại học của Mỹ thường dựa vào nhiều tiêu chuẩn để đánh giá trình độ của học sinh nộp đơn dự tuyển, tiêu biểu là: điểm của các bài kiểm tra được chuẩn hóa (SAT hoặc ACT), học lực tại trường trung học (điểm trung bình GPA và bảng điểm), các bài tiểu luận, thư giới thiệu, và bất cứ bằng chứng bổ sung nào về tài năng đặc biệt hoặc kinh nghiệm của học sinh. Hệ thống của Trung Quốc từ trước đến giờ phần lớn vẫn luôn chỉ dựa vào điểm của những bài thi Gaokao. Hệ thống cải cách đã đột ngột mở rộng số lượng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, bao gồm:   Điểm kiểm tra chuẩn hóa của các môn Toán, Trung văn, và Anh văn cộng thêm ba môn học do học sinh tự chọn, tương đương với các bài kiểm tra SAT hoặc ACT.   Quá trình học tập trong trường trung học được đánh giá bởi những bài thi chuẩn hóa sau khi hoàn thành từng khóa học. Tất cả các khóa học có trong chương trình học phổ thông đều được tính, trong khi theo cách làm cũ, kỳ thi Gaokao chỉ bao gồm một vài môn học. Cách làm mới sẽ cho thấy bức tranh toàn diện hơn về quá trình học tập, y như điểm trung bình GPA trong hệ thống của Mỹ.   Tuy nhiên, thay vào những bài tiểu luận và thư giới thiệu như trong hệ thống của Mỹ, hệ thống cải cách của Trung Quốc lại tính đến việc “đánh giá năng lực toàn diện” – một bộ hồ sơ quan trọng về các hoạt động thể hiện phẩm chất đạo đức (tình yêu dành cho Đảng, lòng yêu nước, lý tưởng, lòng trung thực và độ tin cậy, lòng tốt và sự thân thiện, tinh thần trách nhiệm, hiểu biết pháp luật và kỷ cương), học vấn, sức khỏe tinh thần và thể chất, năng khiếu/tài năng nghệ thuật, mức độ gắn kết với cộng đồng và xã hội.  Nhiều lựa chọn  Việc cải cách dự định đem lại nhiều lựa chọn hơn cho học sinh và các trường đại học, rất giống với hệ thống của Mỹ.  Lựa chọn môn thi: Cũng giống học sinh xin nhập học vào các trường đại học ở Mỹ có thể chọn các bài kiểm tra SAT II theo môn học hoặc các chương trình học AP khác nhau, hệ thống cải cách của Trung Quốc sẽ cho phép học sinh tùy chọn làm các bài kiểm tra ở ba môn trong tổng số sáu hoặc bảy môn học (tùy theo từng tỉnh), bên cạnh ba môn bắt buộc (Toán, Anh văn và Trung văn) để tính tổng điểm kiểm tra. Trong khi, theo hệ thống cũ, học sinh phải thi các môn giống nhau và theo đề bài chung do cấp tỉnh quyết định.           Hệ thống tuyển sinh cải cách của Trung Quốc cũng đặt ra nhiều tiêu chuẩn đánh giá, chứ không chỉ duy nhất dựa vào kết quả điểm thi đầu vào như trước, mang đến cho học sinh nhiều lựa chọn – từ lựa chọn môn thi, lựa chọn trường, đến lựa chọn hình thức tuyển sinh, giống như hệ thống tuyển sinh đại học ở Mỹ.        Lựa chọn trường: Trong hệ thống giáo dục Mỹ, học sinh có thể nộp đơn vào nhiều trường đại học thuộc nhiều ngành và thứ hạng khác nhau. Hệ thống cải cách của Trung Quốc sẽ cho phép những lựa chọn tương tự; trong khi ở hệ thống cũ, học sinh cần nộp một danh sách thứ hạng ưu tiên các trường đại học mà họ lựa chọn cho từng hạng điểm (có tất cả ba hạng điểm). Trường đầu tiên trong hạng điểm mà học sinh đạt tiêu chuẩn được độc quyền xem xét hồ sơ. Nếu bị từ chối, hồ sơ sẽ được chuyển sang lựa chọn thứ hai, nhưng đến lúc ấy trường đại học tại nguyện vọng thứ hai có thể đã đủ chỉ tiêu tuyển sinh. Theo hệ thống mới, học sinh Trung Quốc có thể nộp hồ sơ vào nhiều trường đại học và có khả năng được nhận vào nhiều trường khác nhau.  Lựa chọn quy trình tuyển sinh: Các trường đại học và cao đẳng tại Mỹ có nhiều cách thức tuyển sinh khác nhau: tuyển sinh sớm, tuyển sinh không hạn định thời gian, tuyển sinh định kỳ. Hệ thống cải cách tại Trung Quốc sẽ mở rộng các cách thức tuyển sinh do các trường đại học thiết kế để đem lại cho học sinh thêm nhiều lựa chọn.  Nhiều cơ hội  Khác với hệ thống của Mỹ cho phép học sinh tham gia kì thi SAT và ACT bao nhiêu lần và bất cứ lúc nào học sinh muốn, hệ thống cũ của Trung Quốc chỉ tổ chức kỳ thi tuyển sinh mỗi năm một lần, và kết quả thi chỉ có giá trị cho kỳ tuyển sinh của năm đó. Hệ thống cải cách nhắm đến việc cho phép học sinh thi mỗi môn hai lần (trừ môn Toán và Trung văn sẽ tiếp tục được tổ chức thi chỉ một lần mỗi năm). Kết quả thi cũng sẽ có giá trị trong vòng hai năm ở một số tỉnh.  Mỹ hóa nhưng vẫn giữ nguyên đặc điểm Trung Hoa  Trong khi tinh thần của cuộc cải cách Gaokao dường như đi theo khuôn mẫu của Mỹ, thì rõ ràng việc thực hiện lại phản ánh thực tế Trung Quốc. Ví dụ như, nạn sửa chữa làm sai lệch hồ sơ là một trong những mối lo ngại lớn nhất. Để chống lại các cách làm sai lệch hồ sơ có thể xảy ra, Trung Quốc phải có một hệ thống giảm thiểu khả năng giả mạo và đánh giá chủ quan. Kết quả là, hệ thống cải cách không coi trọng điểm số thời trung học vì chúng có thể bị thổi phồng bằng cách làm giả, hay những lá thư giới thiệu vì chúng đánh giá một cách chủ quan và dễ dàng bị thao túng, hay những bài tiểu luận và phát biểu cá nhân vì chúng có thể được thêu dệt dễ dàng. Vì thế thi cử vẫn là hình thức chính để đánh giá năng lực học sinh.    Ngay cả việc “đánh giá năng lực toàn diện” vốn mang tính chủ quan cũng cần tuân thủ một quy trình tỷ mỉ để đảm bảo tính khách quan và xác thực. Hướng dẫn của Bộ Giáo dục yêu cầu phải thực hiện các bước như sau:   Giấy tờ trung thực: Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi lại trung thực những hoạt động mà học sinh đã tham gia và thu thập các giấy tờ xác nhận.    Kiểm thảo và phân tách: Vào cuối mỗi học kỳ, với sự giúp đỡ của giáo viên, học sinh sẽ lựa chọn những hoạt động quan trọng và tiêu biểu để làm đánh giá. Học sinh bắt buộc phải ký tên lên các giấy tờ nếu sử dụng chúng cho hồ sơ tuyển sinh đại học.   Công khai và được xác nhận: Những hồ sơ được chọn phải được trưng bày ở những nơi công cộng như lớp học hay công bố trên website của trường để xác thực. Giáo viên phải duyệt kỹ lưỡng để xác nhận các giấy tờ trong hồ sơ này và ký tên lên chúng.   Xây dựng hồ sơ năng lực: Bộ Giáo dục yêu cầu mỗi tỉnh phải xây dựng một hình thức chuẩn cho hồ sơ năng lực và yêu cầu các giáo viên cung cấp “những nhận xét khách quan và chính xác về khả năng của từng học sinh”. Bên cạnh đó, các trường cũng phải kiểm tra hồ sơ của từng học sinh.   Vì sao phải cải cách  Vòng cải cách Gaokao này là một phần trong công cuộc cải cách giáo dục toàn diện tại Trung Quốc nhằm nuôi dưỡng nguồn nhân lực sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế của đất nước trong tương lai và giải quyết một số bức xúc chính đáng. Thông cáo của Quốc Vụ Viện tóm tắt những vấn đề chính của hệ thống Gaokao truyền thống như sau:  + Tác động tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em;  + Việc học hành trở thành gánh nặng quá mức;  + Cơ hội không đồng đều trong giáo dục đại học;  + Quá nhiều trường để lựa chọn ở bậc trung học cơ sở và tiểu học, gây phân tán.    + Gian lận trong việc cho điểm cộng và vi phạm các quy định, chính sách trong khâu tuyển sinh.   Để giải quyết vấn đề cuối cùng, hệ thống Gaokao mới đã tái cấu trúc quyết liệt chương cho điểm cộng, vốn ban đầu được xây dựng nhằm công nhận những tài năng đặc biệt, khuyến khích các hành động mang tính phục vụ xã hội, và bù đắp cho những học sinh chịu thiệt thòi do những bất bình đẳng trong xã hội. Lấy ví dụ, hệ thống cải cách không còn cho điểm cộng cho những học sinh đoạt các giải thưởng ngoại khóa trong thể thao và nghệ thuật.  Phản ứng của người dân  Nhìn chung, hệ thống tuyển sinh mới tạo ra được những phản ứng tích cực khắp Trung Quốc. Nhiều người hi vọng hệ thống này sẽ thật sự làm cho cả nền giáo dục trở nên tốt hơn. Tuy vậy lãnh đạo các trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh vẫn còn nhiều lo ngại, hoang mang và hoài nghi trước quy mô quá lớn của những thay đổi. Giới truyền thông đã ghi nhận một số phản ứng tức thời, bao gồm:   Gánh nặng của việc lựa chọn   Hệ thống Gaokao cải cách mang đến cho học sinh và phụ huynh thêm nhiều cơ hội lựa chọn. Với những người đã quen với việc có ít hoặc không có lựa chọn nào, việc phải đưa ra quyết định lựa chọn có thể là một trải nghiệm đáng sợ. Thay vì phải lựa chọn, một số phụ huynh ở Thượng Hải đang bắt con họ học thêm tất cả các môn, khiến cho gánh nặng về học hành còn lớn hơn, theo một bài báo của tờ China Youth.  Mối lo về việc không có sự phân cấp   Trong hệ thống mới, những bài thi của ba môn tùy chọn (trong tổng số sáu môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý và Chính trị) sẽ không tính kết quả bằng điểm mà bằng thang trình độ. Có 11 thang trình độ, mỗi thang chênh nhau 3 điểm. Một vài phụ huynh lo ngại rằng, để phân loại học sinh thuộc tốp đầu và tốp cuối, hệ thống 11 thang trình độ này sẽ không chính xác như hệ thống cho điểm cũ, và vì vậy sẽ không công bằng cho những học sinh được xếp hạng cao ở ba môn tính theo thang trình độ mà lại đạt điểm thấp trong ba môn tính điểm (Toán, Trung văn, và Anh văn), mỗi môn có thể đạt tối đa 150 điểm. Một bà mẹ ở Thượng Hải có con trai học xuất sắc môn Vật lý và Hóa học vô tỏ ra vô cùng lo lắng. Bà giải thích với tờ China Youth rằng, ngay cả khi con trai bà đạt trình độ A+ cho cả ba môn tùy chọn thì cũng chỉ cao hơn học sinh đạt trình độ A có chín điểm, và sẽ vẫn thua những học sinh giỏi các môn Toán, Trung văn hoặc Anh văn, vì những học sinh đó có thể đạt tới 450 điểm. Vì vậy bà đang cân nhắc việc cho con trai mình đi du học nước ngoài.  Xáo trộn trong các trường học   Lãnh đạo các trường và giáo viên đang hết sức lo lắng, làm cách nào tổ chức các lớp học và việc dạy học cho phù hợp với hệ thống mới này. Phần lớn các trường học ở Trung Quốc không có truyền thống cho phép học sinh tự chọn lớp hay chọn môn học. Vì vậy thiết lập một hệ thống hỗ trợ và xử lý lựa chọn của các học sinh ở những khóa học khác nhau sẽ là một thay đổi triệt để.  Những hoài nghi về Đánh giá năng lực toàn diện  Không ngạc nhiên rằng một trong những lo ngại chủ yếu về hệ thống mới liên quan đến tính khách quan, minh bạch và tính khả thi của những yếu tố vừa mới được đưa vào. Tuy những năm qua, Trung Quốc đã thúc đẩy nhiều sáng kiến và nhiều trường học đã chấp nhận cách làm mới, các kết quả đạt được vẫn chưa thật lý tưởng. Chúng chưa được sử dụng để ra những quyết định có tầm quan trọng như tuyển sinh đại học. Dưới hệ thống mới này, tầm quan trọng đó được đẩy lên cao hơn, do đó nảy sinh nhiều câu hỏi về việc liệu các trường học của Trung Quốc có thể quản lý một hệ thống đáng tin cậy và đúng đắn cho các quyết định có tính quan trọng như vậy hay không.  Cơ hội mới cho công ty dạy kèm   Hệ thống Gaokao cải cách có khả năng mở ra thị trường mới cho việc kinh doanh giáo dục. Nhiều công ty dạy kèm bắt đầu được thành lập, cung cấp các chương trình học phù hợp cho hệ thống Gaokao cải cách. Các phụ huynh cũng sẽ tìm kiếm những chương trình mới nhằm giúp con cái họ sẵn sàng cho những kỳ thi tuyển sinh cải cách, hoặc tìm đến những chương trình dạy tiếng Anh nếu họ quyết định con họ tốt hơn nên ra khỏi hệ thống mới này để du học nước ngoài.  Ly Nga lược dịch  Trần Lệ Thùy hiệu đính  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt   Nguồn:  http://zhaolearning.com/2015/05/09/the-dawn-of-a-new-era china%E2%80% 99s-college-entrance-exam-transformation/        Năm 2014, thành phố Thượng Hải và tỉnh Chiết Giang bắt đầu thí điểm từng phần hệ thống tuyển sinh mới.               Năm 2017, bắt đầu triển khai hệ thống tuyển sinh mới trên khắp cả nước.              Năm 2020, triển khai tất cả những cải cách được đề xuất, hệ thống mới được thiết lập.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc chiêu mộ nhân tài cho trường đại học      Trung Quốc đang nỗ lực lật ngược tình thế chảy máu chất xám, nhưng có vẻ như những biện pháp đã triển khai chỉ giải quyết được vấn đề danh tiếng hơn là thực chất cho nền học thuật nước này.    Từ cuối những năm 1970, Trung Quốc đã chú trọng tới việc gửi sinh viên ra nước ngoài học trong nỗ lực vực lại nền giáo dục sau những tổn thất mà chính sách của Mao Trạch Đông đã gây ra cho các viện, trường. Hơn 3 triệu người Trung Quốc ra nước ngoài du học. Sinh viên Trung Quốc chiếm 1/5 tổng số sinh viên quốc tế ở các nước có thu nhập cao thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD. Hơn một phần tư trong số đó học tập tại Mỹ.   Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ Giáo dục Trung Quốc, chỉ 1/3 số sinh viên du học về nước, thậm chí tỉ lệ này trên thực tế còn có thể thấp hơn. Nghiên cứu do một học giả tại Viện Khoa học và Giáo dục Oak Ridge (Mỹ) thực hiện năm nay cho thấy, tính đến năm 2011, 85% nghiên cứu sinh Trung Quốc đã nhận bằng tiến sĩ vào năm 2006 ở Mỹ vẫn ở lại đây.  Để thu hút chuyên gia về các trường đại học trong nước, từ giữa những năm 1990, Chính phủ Trung Quốc đã khởi xướng một loạt chương trình, như chính sách đãi ngộ một lần (có thể lên đến 1 triệu nhân dân tệ, tương đương 160.000 đô-la Mỹ), thăng chức, trợ cấp nhà ở, thậm chí là giao tặng căn hộ… Một số đại học hàng đầu còn xây nhà ở cho các học giả thuê hoặc mua với giá ưu đãi. Nhưng sau tất cả những nỗ lực đó, chỉ có hai trường của Trung Quốc lọt vào top 100 bảng xếp hạng đại học thế giới của Times Higher Education. Chính phủ vẫn phàn nàn về sự thiếu vắng giải Nobel khoa học.  Chủ trương kéo một vài học giả tiếng tăm trở về nước để biến Trung Quốc thành một cường quốc học thuật cũng không thành công bởi rất nhiều học giả chỉ trở về làm việc bán thời gian. Theo David Zweig thuộc ĐH Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, gần 75% những người mang quốc tịch Trung Quốc tham gia chương trình “1.000 nhân tài” đã không từ bỏ chức vụ ở nước sở tại. Bên cạnh đó, đối tượng mà chương trình chiêu mộ học giả Trung Quốc ở nước ngoài này chủ yếu nhắm đến những giáo sư đã thành danh, viên mãn trong nghề, bởi vậy mà thời kỳ làm việc hiệu quả và sáng tạo nhất của họ thường đã qua.   Các đại học Trung Quốc cũng còn nhiều khó khăn trong việc nuôi dưỡng nhân tài trong nước. Theo ông Cao Cong thuộc Đại học Nottingham (Anh), việc đề cao những kinh nghiệm ở nước ngoài trong tiêu chí xét tuyển vô hình trung đã khuyến khích những người trẻ tuổi xuất sắc nhất của Trung Quốc dành những năm tháng làm việc hăng say nhất ở nước ngoài. Bằng chứng là mỗi năm có hơn 300.000 sinh viên ra nước ngoài học tập.   Trong hoạt động nghiên cứu, nhiều khoản kinh phí được giao cho những nhà quản lý không có chuyên môn thẩm định đề tài thay vì tổ chức bình duyệt công khai và cạnh tranh. Ông Cao cho biết, môi trường học thuật ở Trung Quốc không khuyến khích việc “ngờ vực” những lý thuyết sẵn có, nhất là những lý thuyết mà các giáo sư kỳ cựu – cũng là những người nắm quyền quản lý các nguồn lực – tin theo. Việc đánh giá tổ chức và nhà khoa học chỉ dựa vào các con số: các học giả được xét thưởng dựa theo số lượng bài báo công bố chứ không phải chất lượng, khiến cho các nhà nghiên cứu né tránh những nghiên cứu liên ngành. GS Shi Yigong, Trưởng khoa Khoa học Sự sống tại ĐH Thanh Hoa ở Bắc Kinh cũng cho biết thực trạng nhiều khi chỉ cần có “quan hệ” là xin được kinh phí hay thăng chức. Chính phủ đã chọn ra sáu lĩnh vực nghiên cứu cụ thể trong khoa học để tài trợ, trong đó có công nghệ nano, biến đổi khí hậu, và tế bào gốc. Việc để các quan chức quyết định phạm vi nghiên cứu như vậy sẽ không thúc đẩy được đổi mới sáng tạo.  Cho đến nay, các trường vẫn theo lệ tuyển luôn sinh viên mới ra trường của mình. Nhiều giảng viên trong trường không có bằng tiến sĩ; giảng viên được nhận biên chế trọn đời nên cũng mất đi động lực vươn lên; việc thăng tiến của giảng viên cũng do nội bộ trường quyết định.   Hiện tại đã bắt đầu có những dấu hiệu đáng khích lệ hơn. Một số đại học như ĐH Bắc Kinh đang sử dụng những phương pháp đánh giá quốc tế trong việc tuyển dụng và thăng chức: các vị trí, công việc được đăng quảng cáo công khai và các học giả có thể yêu cầu thăng chức và thưởng công theo những thành quả đạt được. Cách làm này cách đây 10 năm đã bị chính đội ngũ giảng viên của trường phản ứng mạnh mẽ, buộc trường phải từ bỏ kế hoạch. Trung Quốc còn có hơn 2.400 đại học và cơ sở nghiên cứu khác, và cho đến nay mới chỉ rất ít trong số này có thể thay đổi cách nghĩ và cách làm.  Khánh Minh lược dịch   Nguồn: http://www.economist.com/news/china/21633865-china-trying-reverse-its-brain-drain-matter-honours       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc mua các trường đại học và phổ thông ở Mỹ      Trong bối cảnh một số trường đại học và phổ thông ở Mỹ đang gặp khó khăn về tài chính và đầu tư, thì các công ty đầu tư lớn của Trung Quốc đã nhắm tới để mua lại.      Trường Florida Preparatory Academy, mới được bán cho Newopen USA . Ảnh: Florida Prep.  Mới đây, Beijing Kaiwen Education Technology Co., một doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc, vừa mua trường đại học Mỹ Westminster Choir College, một chi nhánh của Đại học Rider, chuyên đào tạo về âm nhạc với giá 44 triệu USD. Đây là trường đại học thứ tư của Mỹ bán cho Trung Quốc kể từ năm 2015 tới nay. Trước đó, các trường đại học khác đã được bán cho Trung Quốc là Dowling College, Chester College, và Bay State College. Cụ thể, năm 2015, Jiahui Education mua trường Chester College of New England và đổi tên thành Busche Academy, trường quốc tế dành cho học sinh tiểu học và trung học. Vào tháng 11 năm 2017, công ty Ambow Education Holding Ltd. tại Bắc Kinh đã thông báo về việc mua Bay State College ở Boston nhưng không tiết lộ số tiền. NCF Capital Ltd. đã trả khoảng 26 triệu USD để mua trường Dowling College ở Oakdale, New York vào tháng 8 năm 2017, sau đó Công ty HongDa Financial Holding Ltd. (đã được niêm yết trên sàn chứng khoán Hồng Kông) mua lại 51% cổ phần.  Theo tờ Bloomberg, nhiều trường đại học nhỏ và phổ thông của Mỹ đang ngày càng ít người theo học, dẫn tới những khó khăn về tài chính (trong một báo cáo mới đây của Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia tại Washington, có 66 trường Trung học phổ thông của Mỹ đã phải đóng cửa từ năm 1970 tới 2016). Và đây là cơ hội tốt để các công ty của Trung Quốc bỏ khoản đầu tư mua lại các trường này. Các chủ sở hữu mới này muốn tiếp thị các trường học này tới thị trường Trung Quốc, “ở Trung Quốc, có nhu cầu rất lớn về việc du học ở Mỹ. Nhiều học sinh và phụ huynh sẵn sàng trả rất nhiều tiền cho giáo dục [tại đây]”, Charles Tang, phó chủ tịch HongDa Financial Holding Ltd nói.  Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, các nhà đầu tư Trung Quốc cũng ráo riết mua và mở các hệ thống trường tư. Gần đây, hai hệ thống trường tư là Stratford School System ở California và Florida Preparatory Academy ở Florida đã được bán cho Trung Quốc. Và mong muốn của các công ty Trung Quốc không dừng lại ở việc sở hữu một hai trường, mà là có liên kết một mạng lưới giáo dục giữa Trung Quốc ở Mỹ. Chẳng hạn, Newopen USA, một chi nhánh của Tập đoàn Newopen ở Trùng Khánh, Trung Quốc, không chỉ là chủ sở hữu Florida Preparatory Academy mà còn điều hành ba trường đại học và một mạng lưới các trường tiểu học và trung học ở Trung Quốc.  Về phía các cơ sở giáo dục được các công ty Trung Quốc mua lại, đây có thể là một cơ hội để được đầu tư đáng kể về cơ sở vật chất. Hiệu trưởng trường Florida Preparatory Academy, James Dwight (sau thương vụ mua bán vẫn tiếp tục là hiệu trưởng) không tiết lộ giá bán cụ thể của trường nhưng cho biết, chủ đầu tư sẽ đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất của trường. Trong một bức thư gửi cho phụ huynh ngày 8 tháng 12 năm 2017, Dwight đã mô tả việc bán cho Newopen là “cơ hội duy nhất trong đời” và đã có kế hoạch về việc “tiến hành các cải tạo chính cũng như xây dựng các tòa nhà với cơ sở vật chất hiện đại, toàn diện”.  Tới đây, trong năm 2019, các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ khai trương trường Whittle School & Studios ở thủ đô Washington DC và Thẩm Quyến với mức học phí 40,840 USD một năm. Các nhà đầu tư dự kiến Whittle School sẽ là trường hàng đầu trong đào tạo mầm non tinh hoa ở Trung Quốc và Mỹ.  Bảo Như tổng hợp  Nguồn:  https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-03-20/cash-strapped-u-s-colleges-become-targets-for-chinese-companies  https://www.reuters.com/article/us-primavera-stratford-lbo/primavera-lines-up-us220-million-of-loans-for-stratford-school-lbo-idUSKBN1E22QH  https://www.floridatoday.com/story/news/education/2017/12/11/florida-prep-sold-chinese-education-company/940622001/  https://www.washingtonpost.com/local/education/private-school-with-global-ambition-to-open-in-dc-and-china-in-2019/2018/02/07/c101aaa2-0b4b-11e8-95a5-c396801049ef_story.html?utm_term=.303a73d7fa01    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Trước hết cần cải cách pháp lý      Điều trước hết l&#224; văn bản chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục lần n&#224;y phải được cải c&#225;ch về mặt ph&#225;p l&#253;, tu&#226;n thủ quy tr&#236;nh l&#224;m luật ở c&#225;c nước ti&#234;n tiến. Ở họ ch&#237;nh s&#225;ch chỉ được ph&#233;p thực thi khi trở th&#224;nh văn bản lập ph&#225;p, nghĩa l&#224; buộc phải qua &#237;t nhất 2 “r&#224;o cản”, Ch&#237;nh phủ v&#224; Quốc hội, tại mỗi “r&#224;o cản” lại được c&#225;c ủy ban chuy&#234;n m&#244;n li&#234;n quan thẩm định, đệ tr&#236;nh &#253; kiến đề xuất. Chỉ với quy tr&#236;nh l&#224;m luật đ&#243;, chiến lược ph&#225;t triển gi&#225;o dục lần n&#224;y mới c&#243; thể hy vọng tr&#225;nh được số phận bất khả thi như c&#225;c chiến lược trước n&#243;.         Khởi đầu cách đây 9 năm, năm 2000, tổ chức hơn 30 nước công nghiệp OECD hiện đang tiến hành một chương trình khảo cứu quốc tế mang tên PISA đánh giá xếp hạng chất lượng giáo dục phổ thông trung học năm cuối của họ, bằng phương pháp thực nghiệm, cho điểm, trải qua 3 giai đoạn, từ năm 2000 đánh giá khả năng đọc, từ năm 2003 đánh giá khả năng toán, và từ năm 2006 đánh giá trình độ các môn học tự nhiên, được phân bổ cho hơn 60 nứơc tham gia (gồm cả những nước đối tác của OECD), thực hiện tại nước mình, với ít nhất 5000 học sinh thử nghiệm. Cho dù bản thân PISA luôn được tranh cãi phải biện, nhưng ít nhất các quốc gia OECD, sau từng giai đoạn, cũng biết được thứ hạng chất lượng giáo dục phổ thông nứơc mình trên bình diện quốc tế – cơ sở cho việc ban hành chính sách cải cách giáo dục của họ.               Với chính sách “đổi mới”, nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài.        Trong khi đó, văn bản chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam dài 23 trang, bắt đầu bằng nêu những thành tích, tiếp đến làcác yếu kém, được coi là cơ sở thực tế cho 11 giải pháp chiến lược đề xuất. Về mặt khoa học, các cơ sở thực tế nêu ra chỉ mang định tính kiểu „thiếu thực tiễn, không phù hợp… Thiếu cân đối, chưa chú trọng… Chưa đáp ứng được nhiệm vụ… Nghèo nàn lạc hậu…“,  hoặc xảy ra đâu đó, như „muốn mở trường họ khai bịa có nhiều tiến sĩ, thực ra chỉ có một…,“ mà không được đo lừơng bằng những con số toàn cục, nên khó có thể khẳng định được bản chất vấn đề như trong trường hợp định lượng được bảo đảm bằng thuật toán thống kê. Một khi cơ sở thực tế đưa ra đã không thể khẳng định được bản chất vấn đề thì 11 giải pháp dựa trên đó cũng không thể dám chắc thay đổi được toàn bộ vấn đề. Và đây chính là rủi ro của văn bản phát triển giáo dục Việt Nam đã đề xuất.   Giáo sư Hoàng Tuỵ đã đúng khi cho rằng, bàn đến giáo dục đào tạo trước hết phải đề cập đến cốt lõi của nó, tư tưởng, triết lý, mà rốt cuộc phản ảnh ở mục tiêu đào tạo giáo dục. Chắc các chuyên gia ngành giáo dục không lạ với mô phỏng phổ biến, vẽ một vòng tròn trong đó có 2 mũi tên qua lại giữa thầy và trò, nằm trong khung hình vuông biểu tượng “nhà trường”, trên một nền được ghi “môi trường kinh tế xã hội”. Nghiã là khởi nguồn và đích nhắm, mục tiêu của giáo dục đào tạo chính là nền tảng kinh tế xã hội. Ở ta, trứơc “đổi mới”, đó là mô hình kinh tế quản lý tập trung cùng cơ chế hành chính bao cấp; đời sống kinh tế xã hội mọi mặt đều tuân theo kế hoạch do nhà nước quản lý từ trên xuống. Nền đào tạo giáo dục, với người thầy dạy gì, ở đâu, dạy như thế nào, lương bao nhiêu, với người trò học gì, trường nào, vào ngành nghề gì, ra trường làm ở đâu, trường lớp sách vở đồ dùng dạy học… đều do nhà nước quyết định; lớp được coi là đơn vị học và quản lý hành chính có cơ cấu lãnh đạo cùng các tổ chức xã hội như cơ quan nhà nước, xuyên suốt phổ thông, học nghề, đại học; tất cả nhằm phục vụ cho yêu cầu của nền kinh tế xã hội lúc đó. Chính mục tiêu khái quát đào tạo học sinh vừa hồng vừa chuyên đưa ra thời đó được diễn giải nhằm vào những nội dung trên.  Với chính sách “đổi mới”, nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài. “Chỉ tiêu học sinh khá giỏi, lên lớp, tốt nghiệp”, từng được xem là mục tiêu phấn đấu của người thầy, hô hào cổ vũ một thời, do không        Văn bản chiến lược giáo dục không chỉ đủ điều kiện “cần” về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện “đủ” bởi chế tài do hệ thống tư pháp, tòa án, viện kiểm sát đảm nhận.          còn thích hợp, nên trở thành chứng  “bệnh”.Học thêm, dạy thêm các nước tiên tiến vẫn khuyến khích, đến ta trở thành quốc nạn, dạng “làm tiền” học sinh, chỉ vì chính sách trả lương người thầy vẫn là cung cách của xưa kia, cộng với khối lượng kiến thức tối thiểu cần trang bị cho học sinh đã không được pháp định. Kiến thức ra trường của sinh viên đại học 4 năm nước ta sẽ không bao giờ bằng các nước tiên tiến, nếu vẫn tiếp tục như xưa nay đầu tư cho mục tiêu “vừa hồng” một quỹ thời gian chính khoá lên tới 2 học kỳ, bao gồm các môn chính trị, quốc phòng, thể chất… mà ở các nước tiên tiến qũy đó họ dành cho chuyên ngành. Nghĩa là mình thua họ 1/4 kiến thức chuyên môn (điều nghịch lý là kiến thức “vừa hồng”, ta học trong trừơng nhiều hơn nhưng vẫn kém xa họ, vì các môn đó họ bổ túc, tự học, ôn luyện, qua tham gia câu lạc bộ, diễn đàn, phong trào, vững hơn ta nhiều. Đặc biệt sinh viên ta ra trường hầu hết rất thụ động, hậu qủa của học và bị quản lý trong đơn vị lớp, không thể chủ động như sinh viên các nước tiên tiến nhờ ở đại học hoàn toàn tự do tổ chức lấy cuộc sống, chương trình học, thực tập và làm thêm, như một người tự hành nghề trong xã hội.  Nhìn dưới góc độ pháp lý, có thể hình dung được tương lai của văn bản chiến lược phát triển giáo dục, nếu không thay đổi được phương thức ban hành xưa nay. Thực trạng nền giáo dục đào tạo nước ta bây giờ cũng chính là kết qủa của những chiến lược trước đó. Khó có thể đổ lỗi hay ca ngợi ý tưởng cải cách các lần đó, bởi các cải cách đó được thực hiện dưới dạng chủ trương, theo cơ chế hành chính xin cho, dựa chủ yếu vào chỉ thị từ trên, phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan ở dưới. Không có chế tài nào buộc người ta phải thực hiện, không cá nhân có thẩm quyền nào chịu trách nhiệm về số phận của nó. Vì vậy, điều trứơc hết là văn bản chiến lược phát triển giáo dục lần này phải được cải cách về mặt pháp lý, tuân thủ quy trình làm luật ở các nước tiên tiến. Ở họ chính sách chỉ được phép thực thi khi trở thành văn bản lập pháp, nghĩa là buộc phải qua ít nhất 2 “rào cản”, chính phủ và quốc hội, tại mỗi “rào cản” lại được các ủy ban chuyên môn liên quan thẩm định, đệ trình ý kiến đề xuất. Trong văn bản lập pháp đó, bao giờ cũng có mục quan trọng là nhân sự và tài chính dành cho cơ quan hành pháp thực thi và mức tài chính đầu tư cho các hạng mục được nêu trong chính sách. Văn bản luật như vậy không chỉ đủ điều kiện „cần“ về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện “đủ” bởi chế tài do hệ thống tư pháp, toà án, viện kiểm sát đảm nhận. Chỉ với quy trình làm luật đó, chiến lược phát triển giáo dục lần này mới có thể hy vọng tránh được số phận các văn bản trước nó, chí ít những giải pháp chiến lược đề xuất bị hoài nghi bất khả thi, bức xúc dư luận chắn chắn sẽ được kết luận, tỷ như xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế vào năm 2015, hoặc đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, mà không nêu được tổng kinh phí đầu tư là bao nhiêu? Lấy ở đâu ra ? nhân sự nào cho 4 trường đẳng cấp quốc tế? 2 vạn tiến sỹ đào tạo ra tìm việc làm chỗ nào? và cha đẻ của nó sẽ được luật pháp thừa nhận không ai khác ngoài bộ trưởng phải chịu trách nhiệm với đứa con của mình!         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương: Cái nôi của nền giáo dục Việt Nam hiện đại      “Đào tạo người thầy giáo tốt, chúng ta được một thế hệ tốt”.  Là một trong những cái nôi đào tạo những trí thức lớn của Việt Nam như Hoàng Ngọc Phách, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Lê Thước…, Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) Đông Dương đã góp phần đưa nền giáo dục nho học vào dĩ vãng và đặt nền móng cho nền giáo dục hiện đại sau này.      Trường Cao đẳng Sư phạm (Ecole supérieure de pédagogie): Danh sách 14 thí sinh đã đậu kỳ thi tốt nghiệp (Khoá 1,  1917-1920)1. Ảnh: L’Écho annamite, n° 40, 12 juin 1920, p. 2. (Báo L’Écho annamite, số 40 ngày 12.06.1920.  Sự ra đời, mục tiêu và tuyển sinh của Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương     Trường CĐSP Đông Dương được ra đời năm 1917 để đào tạo giáo viên bản địa có đủ năng lực đảm bảo việc giảng dạy trong các trường trung học đệ nhất cấp và trường trung học sư phạm tại Đông Dương.2 Lực lượng được đào tạo sẽ bổ sung cho sự thiếu hụt số lượng giáo viên đến từ Pháp.3 Khi thành lập trường này, Albert Sarraut đã có những tính toán rõ ràng. Đó không chỉ là hành động chính trị lấy lòng dân thuộc địa trong Thế chiến 1. Xa hơn, khi xóa bỏ hệ thống giáo dục truyền thống ở Đông Dương khỏi hệ thống giáo dục chính quy, trong đó có giáo dục nho học của Việt Nam, yêu cầu đặt ra bắt buộc phải phát triển giáo dục bằng tiếng Pháp, trong đó có giáo dục trung học. Việc này yêu cầu cần phải chuẩn bị nhân lực giáo viên tại chỗ, thay vì tuyển từ Pháp sang sẽ tốn kém hơn (phải trả lương cao hơn).    Trường gồm có hai ban: Văn học và Khoa học. Những năm đầu tiên, trong bối cảnh đại chiến thế giới, trường đã gặp nhiều khó khăn, cụ  thể là thiếu giảng viên và phương tiện giáo dục. Ban đầu giảng viên là những viên chức làm việc trong hệ thống học chính công tại Đông Dương hoặc tại Trường Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội. Sau có thêm các giáo viên đến từ Trường Trung học Albert Sarraut tại Hà Nội và một vài giáo sư đến từ Pháp.    Phần lớn sinh viên CĐSP là người Việt Nam. Số lượng sinh viên người Lào, Campuchia rất ít. Trường bắt đầu giảng dạy vào tháng 10/1917, có 20 sinh viên cho năm đầu tiên của khóa 1.4 Lần đầu tiên tuyển sinh, trường chỉ xét tuyển thay cho thi tuyển. Cho đến tận năm 1922, trường chỉ nhận những sinh viên là những người có bằng trung học đệ nhất cấp, trung học sư phạm, trong đó có những người đang làm giáo viên tiểu học. Kể từ năm học 1923, trường vào thời kỳ quá độ trong tuyển sinh, tức là nhận cả sinh viên có bằng trung học đệ nhất cấp và tú tài. Vào lúc khai giảng năm học 1923, đã có một vài tú tài bản xứ vào học, cụ thể là có 6/22.5 Theo ông Nguyễn Khánh Toàn (sinh viên khoá 1923-1926), một số sinh viên đã có trình độ nho học vững, nhất là các sinh viên Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh).6    Năm học 1932-1933, trường được tổ chức lại theo Nghị định ngày 24/7/1932. Trường trở thành trường cao đẳng thực sự khi chỉ tuyển học sinh đã có bằng tú tài.7 Nhưng không may mắn, theo chính quyền giải thích, vì lý do thiếu hụt ngân sách, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, kể từ năm học 1931-1932 số lượng tuyển sinh rất hạn chế, giảm xuống còn 4 vào năm 1931 và tương tự vào năm 1932.8 Năm học 1934-1935, trường không tuyển thêm sinh viên mới nữa. Những sinh viên đang học sẽ tiếp tục cho đến hết khóa, khi đó trường sẽ dừng hoạt động.9     Hoạt động giáo dục     Theo chương trình đào tạo được quy định trong Nghị định ngày 24/7/1932 của Toàn quyền về tổ chức lại trường Sư phạm, gồm có ba năm học với các môn sau10:    – Những môn chung cho hai ban: Tâm lý học ứng dụng giáo dục; Xã hội học ứng dụng giáo dục; Giáo dục học đại cương; Quản lý học đường và bổn phận nghề nghiệp; Vệ sinh học đường; Ngữ âm học và biểu đạt ngôn từ.    – Những môn Ban Văn học: Ngôn ngữ và Văn chương Pháp; Nghiên cứu tác phẩm; Thực hành sư phạm (làm bài luận, bài thuyết trình, bài giảng ); Ngôn ngữ và Văn chương Đông Dương; Cổ văn Viễn Đông; Lịch sử; Địa lý.    – Những môn Ban Khoa học: Toán học; Vật lý; Hóa học; Thực hành Sinh học; Thực vật học; Địa chất và Khoáng học, Thiên nhiên học. (Các môn học cả lý thuyết và thực hành).    Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ có thể tìm thấy hồi ký của một số cựu sinh viên Ban Văn học của Trường CĐSP Đông Dương, mà không tìm  thấy hồi ký của các vị là cựu sinh viên Ban Khoa học. Cho nên vẫn còn thiếu đi phần đánh giá của cựu sinh viên ban này.      Số sinh viên (theo ban) của Cao đẳng Sư pham Đông Dương qua các năm học, thời kỳ 1917-1935. Nguồn : Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (1917-1936).    Chúng ta biết rằng giáo dục nho học truyền thống ở Việt Nam không có trường chuyên biệt để đào tạo giáo viên. Khi Trường CĐSP Đông Dương được thành lập, ngoài những môn chuyên ngành của từng ban, còn có những môn học thuộc về nghiệp vụ sư phạm, khoa học giáo dục, khoa học sư phạm dành cho tất cả sinh viên của trường, có cả lý thuyết và thực hành. Đây là một sự tiến bộ rất lớn. Những môn nghiệp vụ này đã thu hút cả những sinh viên người châu Âu tại Đông Dương đến học để cải thiện năng lực sư phạm.    Trường CĐSP không chỉ đào tạo nhân sự Đông Dương cho lành nghề. Trường còn nâng cao trình độ cho nhân sự là người Âu bằng việc đảm bảo cho họ một lý thuyết nghề nghiệp, cái mà họ vẫn còn hoàn toàn thiếu. Ngoài những sinh viên đến học đều đặn, tất cả là người Đông Dương, năm học này, Trường CĐSP còn có 13 phụ nữ châu âu dự thính tự do của các môn Tâm lý học và Sư phạm học, trước đó vào năm học 1917-1918 có 9 người.11    Theo ông Hoàng Ngọc Phách, triết học là môn thực sự mới mẻ: “Những môn học ở đây (CĐSP) như văn, sử, địa, chúng tôi đã học ở trung học, không có gì mới lạ lắm, chỉ là sâu rộng hơn mà thôi, nhưng môn triết thì thật mới”.12 Đồng thời ông và nhiều người thời kỳ ấy cũng đã thấy được những giá trị của văn học Pháp: “Lúc bấy giờ, nhiều người trong chúng tôi đều nhìn thấy ở văn học Pháp một tư tưởng tiến bộ và rất nhiều tiếng nói phong phú, đa dạng, có lợi cho phát triển văn học Việt Nam. Có người đã nói: Thực dân xâm lược pháp thì nên đánh đuổi đi, nhưng văn học Pháp thì nên giữ lại”.13    Còn trong hồi kí của ông Đặng Thai Mai, sinh viên khóa 8, 1924-1927, ta có thể thấy một chương trình giảng dạy văn chương toàn diện: “Hồi ấy, khóa học của Trường Sư phạm chỉ kéo dài trong ba năm, mỗi năm mỗi lớp chỉ tiếp nhận trong ngoài hai mươi sinh viên, và chương trình học một tuần trong ngoài hai mươi giờ. Về khoa văn, ngoài giáo trình giáo dục học, chúng tôi còn phải giải quyết một thời khóa biểu khá nặng: Việt văn, Pháp văn, Triết học, Giáo dục học, Địa lý, Lịch sử. (….). Trọng điểm cố nhiên là văn học phương Tây, thời kỳ cổ điển Hy-La đến thế kỷ XX. Văn học phương Đông được giảng kèm qua giáo trình văn học Việt Nam, qua lịch sử văn hóa Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Lịch sử văn học phương Tây gồm hai bộ phận, văn bản học và lịch sử văn học. Giáo trình bộ môn văn học được phối hợp với hai bộ môn triết học và lịch sử chính trị thế giới”.14    Qua các bài giảng của các giáo sư, sinh viên có dịp tiếp xúc với sự phong phú của các học thuyết, hệ tư tưởng chính trị xã hội phương tây. Dù chưa mang tính hệ thống, nhưng trong bối cảnh thuộc địa, việc tiếp xúc này là một dịp tốt để mở mang tư tưởng. Ông Đặng Thai Mai còn cho biết: “Giáo sư lịch sử của chúng tôi hồi ấy là một đảng viên Đảng Xã hội. Giáo trình của ông đã chịu ảnh hưởng khá rõ rệt của học thuyết mác xít. Giáo sư triết học cũng tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Paris và đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm về tư tưởng phương Tây. Chúng tôi đều hết sức khâm phục lối lập luận độc đáo và sâu sắc của ông, đặc biệt trong khi trình bày và phê phán các trường phái triết học Pháp, Anh, Mỹ”.15    “Chúng tôi cũng lấy làm lạ là giáo trình hai năm đầu của ông về luân lý học đều thấm nhuần ít nhiều quan điểm mác xít và nhiều câu kết luận của một số chương trong giáo trình không hề ngần ngại công kích chế độ tư bản và tư tưởng bảo thủ. Nhưng đến năm thứ ba thì sau nhiều bài giảng, ông có vẻ như ủng hộ khá mạnh giáo lý Thiên chúa giáo. Một bạn đã bạo dạn hỏi ông về sự chuyển hướng ấy. Ông đã trầm ngâm và thở dài trước khi trả lời: “Rồi đây bạn sẽ hiểu, chỉ có niềm tin là cứu được chúng ta trong những cơn thử thách đau đớn nhất của cuộc đời”. […] Tôi nhớ lại câu nói của Goethe về tư tưởng Hy-La “Đã ngồi dưới cái bóng râm ấy thì cũng khó thoát ra khỏi một cách nguyên vẹn”. Nhận xét ấy lại càng đúng khi nghĩ đến ảnh hưởng của đạo Gia tô đối với tư tưởng, nghệ thuật châu Âu. Không mấy nhà văn, nhà tư tưởng phương Tây là không ảnh hưởng của tôn giáo”.16    Giáo sư Đặng Thai Mai còn dành những lời tốt đẹp và biết ơn cho nhà giáo Bùi Kỷ, một giáo sư người Việt Nam duy nhất của trường: “Nhà trường đã dành cho Việt văn một tuần bốn giờ dưới sự hướng dẫn của cụ Bùi Kỷ. Cụ đã đậu cử nhân rồi phó bảng. Trong thời gian theo đòi Hán học, cụ cũng đã sang Pháp du học mấy năm và đã làm quen ít nhiều với phương pháp dạy văn học phương Tây. Tóm lại cụ là người thời ấy gọi là “Hán Pháp tinh thông”. Với cụ Bùi Kỷ, trường Cao đẳng Sư phạm trong thời gian ba năm, chúng tôi có thể học tập và nghiên cứu văn học Việt Nam một cách có hệ thống. (…)17 Với cụ Bùi Kỷ, chúng tôi bắt đầu chú ý đến văn thơ thời kỳ đầu của nhà Lý, nhà Trần, thời kỳ mà, theo ý cụ, nho giáo chưa chiếm được địa vị độc tôn và học khoa cử chưa phải là khuôn vàng thước ngọc của học thuật nước nhà. Giáo trình văn học của cụ Bùi trong ba năm học ấy cố nhiên chưa có thể là hoàn toàn đầy đủ, chẳng hạn, chúng tôi chưa có dịp nghiên cứu văn học nước nhà từ nửa thế kỷ XIX về sau này. Dầu sao, giáo trình của cụ Bùi Kỷ đối với chúng tôi là những dịp thu hoạch khá phong phú để tiếp tục tìm tòi suy nghĩ sau ngày ra trường”.18      Số sinh viên (theo nước) của Cao đẳng Sư pham Đông Dương qua các năm học, thời kỳ 1917-1935. Ảnh: Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (1917-1936).    Tuy nhiên, mối quan hệ giữa giáo sư với sinh viên không phải lúc nào cũng yên ả trong bối cảnh xã hội thực dân thời ấy. Như trường hợp bà giáo hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Ngọc Phách. Sinh viên Hoàng Ngọc Phách bày tỏ trong khóa luận rằng xã hội có những định kiến, nhất là về tình yêu, ông phê phán chế độ gia trưởng và cho rằng thực dân cũng muốn duy trì điều này để phục vụ cho việc cai trị. Đương nhiên sau đó bà giáo không đồng ý và thuyết phục chàng sinh viên trẻ nên viết lại nếu muốn luận văn được thông qua để đậu tốt nghiệp. Ông đành phải nghe lời, nhưng tư tưởng chống lại những định kiến của gia đình và xã hội trong tình yêu đôi lứa đã được ông bày tỏ trong tác phẩm Tố Tâm của ông.    Trường hợp của sinh viên Nguyễn Khánh Toàn cũng là một ví dụ nữa về xung đột học đường thời thuộc địa. Trong một bài kiểm tra, ông bác bỏ học thuyết triết học đơn thuần chỉ phục vụ triết học (triết học vị triết học). Ông chủ trương học thuật phải có tính thực dụng, nghĩa là để làm việc gì có ích cho xã hội, đại khái như việc phục vụ công việc giải phóng đất nước khỏi ngoại bang. Khi bày tỏ quan điểm như vậy, ông đã bị giáo sư dạy triết chất vấn. Thực ra, trước đó đã có sự kiện Nguyễn Khánh Toàn đọc bài diễn văn chống Pháp ở hội quán sinh viên khi đón Toàn quyền Varrenne đến đây, một bài diễn văn “đốt nhà” (nảy lửa). Cuối cùng ông vẫn được cho thi tốt nghiệp nhưng bị đánh trượt mặc dù luôn là sinh viên đạt học bổng và đã học tới những môn học cuối cùng. Họ sợ rằng nếu đuổi học ông thì tạo bầu không khí căng thẳng bất bình. Nhưng nếu cho ông đỗ, ông sẽ trở thành giáo sư dạy học trung học nhưng có đầu óc chống Pháp công khai. Nên họ chọn cách cho ông trượt tốt nghiệp để êm chuyện.19 Rồi khi rời trường ông đã chọn con đường hoạt động cách mạng, bôn ba nhiều nơi, sau thành một giáo sư đỏ và cơ duyên lại đưa ông gắn bó với ngành sư phạm khi đảm trách chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục sau này, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Những căng thẳng, xung đột học đường đó chúng ta có thể hiểu được. Nhưng cũng không vì thế phủ nhận những giá trị của trường mang đến cho người học.    Về phương pháp giáo dục, ý kiến đánh giá nhìn chung cho thấy ngoài việc giảng dạy trên lớp, các giáo sư còn nhấn mạnh việc tổ chức tự học, tự nghiên cứu. Theo ông Đặng Thai Mai, “Để bổ sung cho giáo trình, các giáo sư đã phân công cho sinh viên một số đề tài để làm thuyết trình. Hồi ấy thư viện Trung ương được trang bị khá đầy đủ và tương đối kịp thời để cung cấp báo chí và thư tịch mới xuất bản bên Pháp. Chương trình được bố trí khá hợp lý”.20  Qua tìm hiểu cho thấy, những khóa đầu, sinh viên được làm khóa luận tốt nghiệp ra trường. Ngày nay có thể tìm thấy trong tạp chí Hội Trí tri21 đăng bài luận tốt nghiệp của cụ Lê Thước là sinh viên khóa hai của trường, về lịch sử giáo dục nho học22.    Việc cho sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp (bằng tiếng Pháp) có tác dụng rất tốt để bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu. Đáng tiếc là việc làm khóa luận tốt nghiệp ở những khóa sau này đã không còn có trong chương trình đào tạo. Tuy nhiên, các giáo sư vẫn rất chú ý đến việc bồi dưỡng phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu cho sinh viên. Điều này đã góp phần trang bị cho sinh viên, nhất là ban văn học, khi ra trường có thể thực hiện công việc nghiên cứu. Đôi dòng dưới đây của giáo sư Đặng Thai Mai như một tóm lược súc tích về những gì đã thu hoạch được khi là sinh viên của trường : “Đối với chúng tôi, mấy năm học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội phải nói là đã được đánh dấu bằng những thu hoạch đáng giá. Về phần Việt văn, Hán văn cũng như về Pháp văn, ngoài các mục đích thiết thực là bồi dưỡng cho giáo viên chuyên môn phụ trách giảng dạy văn học và văn học sử ở các trường trung học, nhà trường cũng chú ý hướng dẫn sinh viên về phương pháp nghiên cứu. Các giáo sư luôn luôn luôn chú ý đến vấn đề phương pháp nghiên cứu về cả hai phương diện: tính nghệ thuật và tính lịch sử. Giảng văn cũng là dịp chúng tôi làm quen với những thủ tục cơ bản như là sưu tầm tài liệu, lên bảng thư mục, tìm hiểu những vấn đề đã được đặt ra trong công trình nghiên cứu của các nhà phê bình lớp trước để rồi, trên cơ sở đó rút ra một đề tài nghiên cứu cùng với quan điểm của mình. Về phần tôi, tôi thấy rằng đây là điểm thu hoạch quan trọng bậc nhất trong mấy năm theo học ở trường Cao đẳng Sư phạm”.23      Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách thể hiện suy nghĩ của ông về những định kiến của xã hội (cũng là điều mà chính quyền thực dân muốn duy trì để dễ bề cai trị) về tình yêu đôi lứa. Đây là điều ông ấp ủ từ khi còn học ở Trường CĐSP Đông Dương. Ảnh: Nhã Nam.   Khóa đầu tiên của trường với 20 sinh viên đầu vào đã có 14 sinh viên tốt nghiệp vào năm 1920, trong đó có bốn người ban sư phạm văn và 10 nguời ban sư phạm khoa học. Theo báo cáo của chính quyền, những bài luận tốt nghiệp của khóa đầu này được khen gợi cả về nội dung và văn phong.24    Kết luận     Vai trò của người giáo viên rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Chính quyền Pháp tại Đông Dương đã có biện pháp cụ thể, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, trong đó có việc đào tạo giáo viên trung học. Kể từ năm 1920, thời điểm khóa đầu tiên của Trường CĐSP Đông Dương có sinh viên tốt nghiệp, lực lượng giáo viên trung học đệ nhất cấp đã được tăng cường. Qua việc nghiên cứu hồi ký của những cựu học sinh trung học cơ sở của thời kỳ này, cụ thể là của trường Trung học Bảo hộ (Trường Bưởi-Chu Văn An), Quốc học Huế, Trung học Pétrus Ký và Quốc học Vinh, chúng tôi thấy rằng những giáo viên được đào tạo từ trường CĐSP Đông Dương đều trở thành những giáo viên được học sinh kính trọng và ngưỡng mộ về năng lực và phẩm hạnh của họ. Một số giáo viên được đào tạo từ CĐSP Đông Dương ra cũng đã tham gia và góp phần vào nâng cao chất lượng giáo dục tư nhân, như trường trung học tư Thăng Long ở Hà Nội khi đó chẳng hạn. Một số thầy được đào tạo từ trường CĐSP Đông Dương, sau này là những nhà trí thức nổi tiếng có nhiều đóng góp cho khoa học và giáo dục nước nhà như các thầy Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều, Cao Xuân Huy, Ca Văn Thỉnh, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Lân….    Tuy nhiên, mục đích lập ra nhà trường chỉ để đào tạo các giáo viên trung học đệ nhất cấp thời đó (tương đương như trung học cơ sỏ, cấp hai sau này). Vì thế nội dung chương trình còn chưa thể so được với các trường sư phạm cao cấp bên Pháp, nơi mà không chỉ đào tạo giáo viên mà còn cả cán bộ khoa học ở trình độ cao. Chúng ta thấy điều này thể hiện rõ ràng nhất ở ban khoa học. Tuy có giảng dạy về toán, lý, hóa, nhưng nội dụng, chương trình, thời gian, phương pháp chưa đủ liều lượng để tạo ra các giáo viên kiêm các nhà khoa học. Thực tế rất khó để tìm thấy nhà khoa học tự nhiên nào đã tốt nghiệp từ đây ra. Còn bên ban văn học, ngoài nhờ sự đào tạo của nhà trường, còn nhờ khả năng tự học, tự nghiên cứu thêm về sách báo. Các thầy từ ban văn học đi ra, nhiều thầy còn có vốn văn hóa nho học truyền thống nữa. Nghiên cứu khoa học xã hội dù sao cũng có mặt thuận lợi hơn bên nghiên cứu khoa học tự nhiên (đôi khi không cần phải có những phòng thí nghiệm như khoa học tự nhiên), khi có vốn ngôn ngữ cổ, ngoại ngữ (tiếng Pháp) cộng với tiếng mẹ đẻ và cả phương pháp nghiên cứu tài liệu đã được học trong trường, cộng vói trình độ phương pháp tư duy nhất định thì có thể đi vào nghiên cứu ở một số lĩnh vực như lịch sử, văn học, văn hóa, lý luận giáo dục, triết học, tư tưởng…□  ——-  Chú thích  1 Trong danh sách khóa đầu này, có tên các thầy giáo sau này đã trở lên nổi tiếng: Dương Minh Thới, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Nhỏ, Nguyễn Gia Tường, Vũ Tiến Sáu.  2 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1926, p.488.  3 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement, 1930, p.362.  4 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1919, p.200.  5 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement 1926, tome 2, p.489.  6 Nguyễn Khánh Toàn,Tuyển tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr.31, 32.  7 Direction générale de l’Instruction publique, Annales de l’Université de Hanoi (tome 1), 1933, Arrêté de réorganisation de l’École supérieure de pédagogie de Hanoi, p.98;  Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement 1933, p.108.  8 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement 1932, p137; Rapports au Conseil de gouvernement 1933, p.108.  9 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement, 1935, p.106.  10 Gouvernement général de l’Indochine – Direction de l’Instruction publique, Annale de l’Université de Hanoi, Tome 1, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, p.98-104.  11 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1919, p.200.  12 Hoàng Ngọc Phách, Tuyển tập, op.cit, p.186-188.  13 Hoàng Ngọc Phách, Tuyển tập, op.cit, p.192,193.  14 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285.  15 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285  15 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.286  17 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.292.  18 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.294.  19 Nguyễn Khánh Toàn, Tuyển tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.  20 Đặng Thai Mai, Hồi ký: thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285  21 Hội có tên tiếng pháp là la Société d’enseignement mutuel du Tonkin, khi dịch sang tiếng Việt lấy tên là Hội Trí tri.  22 Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin. Tome III, année, n° 4, L’enseignement des carractè res chinois, p.48  23 Đặng Thai Mai, Hồi ký : thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.290-291.  24 Agence économique de l’Indochine, Communiqué de la presse indochinoise, 01/04/1921, p.11.       Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Trường chuyên, lớp chọn: Công bằng hay đặc quyền?      Trái với ngộ nhận của nhiều người Việt Nam  rằng “trường chuyên, lớp chọn” không tồn tại trong các nền giáo dục tiên  tiến, trên thực tế, việc bồi dưỡng, phát triển tài năng và năng khiếu  cho người học qua các chương trình và trường lớp riêng biệt phát triển  khá mạnh ở các quốc gia như Mỹ, Úc, Canada, v.v kèm theo các chính sách,  quy định và những hướng dẫn thực hành rất chi tiết, rõ ràng đối với  loại hình giáo dục đặc thù này.       Quyền bình đẳng trong việc phát triển tối đa tiềm năng vốn có     Cách tổ chức và tên gọi có thể hơi khác nhau, từ “trường chọn” (selective school) như cách gọi ở Úc1, “trường cho học sinh tài năng và năng khiếu” (school for the talented and gifted) như cách gọi phổ biến trước đây ở Mỹ2, “trường chuyên biệt” (specialized school) dành cho các học sinh có thiên hướng về khối ngành STEM (Science, Technology, Engineering and Mathematics)3, hoặc không có trường lớp riêng mà là những “chương trình tài năng và năng khiếu” (Gifted and Talented Education Program) đặt trong những trường lớp thông thường, tất cả các “lò luyện tài năng” nói trên đều có chung một mục đích là làm sao tạo ra những học sinh xuất sắc, “những ngôi sao” trên các lĩnh vực khác nhau.     Có thể đưa ra nhiều ví dụ từ Mỹ. Cuốn Cẩm nang về đào tạo tài năng của bang Idaho (phiên bản tháng 6/2005)4 nêu rõ định nghĩa thế nào là tài năng/năng khiếu và các biểu hiện bên ngoài của những học sinh có năng khiếu đặc biệt; các yêu cầu về quản lý chương trình; việc xác định học sinh có năng khiếu đặc biệt; kiểm tra đánh giá người học; phát triển và đánh giá chương trình v.v. Bang South Carolina cũng có một cuốn cẩm nang tương tự (phiên bản 2006), trong đó ngoài những nội dung như trên còn có thêm phần bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và các dịch vụ hỗ trợ các chương trình đào tạo tài năng5. Bang Texas, một bang khá nổi tiếng với ngôi trường TAG Magnet liên tục đứng đầu bốn năm liền trong bảng xếp hạng các trường PTTH công lập Mỹ của US News and World Report6, còn xây dựng hẳn kế hoạch đào tạo tài năng cho toàn tiểu bang kèm theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc hoạt động của loại hình đào tạo này7.     Nói ngắn gọn, đối với Mỹ, đào tạo năng khiếu/tài năng không chỉ là việc các trường được phép thực hiện, mà là quan điểm rõ ràng của liên bang và được cụ thể hóa thành chính sách và kế hoạch hành động (số kinh phí cấp cho việc đào tạo tài năng/năng khiếu; quy định cho phép hoặc không cho phép học trước tuổi, học nhảy lớp v.v) ở mỗi tiểu bang nhằm đào tạo nhân tài cho các địa phương8.             Cách đây vài tháng, Bộ Giáo dục và Đào tạo  Việt Nam đã đưa ra quan điểm chính thức không cho phép tổ chức “chọn”  học sinh vào lớp Sáu dưới bất kỳ hình thức thi cử, khảo sát hay sát hạch  nào, nhằm bảo đảm tất cả học sinh đều được hưởng một nền giáo dục toàn  diện.        Một điểm cần lưu ý, trong khi ở Việt Nam, việc thực thi công bằng xã hội, tránh đặc quyền đặc lợi thường được đưa ra làm cơ sở để CẤM tổ chức các trường chuyên, lớp chọn, thì ở một nước có nền giáo dục đại học hàng đầu thế giới như Mỹ, cũng chính điều này lại là cơ sở để CHO PHÉP tổ chức trường chuyên, lớp chọn. Lý lẽ của họ khá đơn giản: Mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng trong việc phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mình. Với các học sinh có năng khiếu đặc biệt thì việc sử dụng thời gian để theo học một chương trình tương tự như trẻ em khác sẽ làm cho các em không còn thời gian để phát triển năng khiếu riêng của mình. Không những thế, đối với trẻ em đó, việc phải theo học một chương trình học dành cho trẻ em bình thường sẽ hoặc quá dễ, quá nhàm chán hoặc đôi khi lại là quá khó, khiến các em bị giảm động cơ học tập dẫn đến kết quả không tốt, và có thể bị đánh giá nhầm thành một học sinh kém hoặc “cá biệt”. Chính vì vậy, đối với các học sinh này (và cha mẹ của các em), việc không có các trường lớp riêng cho các em là một biểu hiện của đối xử bất công với những người thiểu số. Điều này được xem y hệt như việc đối xử không công bằng với những người thiểu số khác. Quan điểm đem lại sự công bằng cho người học đã được nêu rõ qua câu trích dẫn lời phát biểu của cố Tổng thống Kennedy ở ngay trang đầu cuốn Cẩm nang về đào tạo tài năng của bang Idaho đã nêu ở trên:    “Không phải trẻ em nào cũng có tài năng, năng lực hoặc động cơ như nhau, nhưng mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng với nhau trong việc phát triển tài năng, năng lực và động cơ của mình.”    Bên cạnh hệ thống các trường lớp dành riêng cho những học sinh có tài năng/năng khiếu đặc biệt là các hội/hiệp hội nghề nghiệp chuyên về “giáo dục tài năng và năng khiếu”. Hội nghị toàn cầu lần thứ 21 về GATE năm 2015 vừa được tổ chức tại thành phố Odense, Đan Mạch cách đây mới hơn một tháng9. Không chỉ quan tâm đến những vấn đề cụ thể như việc vận hành các trường lớp tài năng/năng khiếu, các hội nghề nghiệp này còn nghiên cứu, công bố và thảo luận những vấn đề mang tính lý luận sâu hơn như định nghĩa như thế nào là tài năng, thế nào là môi trường phù hợp cho việc phát triển tài năng, phát triển chương trình và phương pháp giảng dạy cho học sinh tài năng, và không thể không kể đến cuộc tranh luận về vấn đề nên hay không nên cho con em theo học những chương trình dành riêng cho đối tượng tài năng/năng khiếu.     Vẫn còn nhiều băn khoăn    Giống như ở Việt Nam, cuộc tranh luận về giáo dục tài năng và năng khiếu đã kéo dài dai dẳng từ khi bộ môn này ra đời cách đây hơn một thế kỷ. Ở đây cần nêu thêm một chút lịch sử: bộ môn “giáo dục tài năng và năng khiếu”, một phân ngành của tâm lý giáo dục, xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 khi các nhà tâm lý tìm ra được những phương pháp khoa học để đo lường sự khác biệt giữa các cá nhân – về thể chất, tính cách, trí tuệ, năng lực, hoặc tài năng/năng khiếu. Chính điều này đã dẫn đến nhu cầu tạo ra các chương trình giáo dục khác nhau nhằm tối ưu hóa việc phát triển tiềm năng cho từng đối tượng, mà cụ thể là các chương trình giáo dục tài năng/năng khiếu. Đây cũng là lập luận căn bản của phe ủng hộ trường chuyên, lớp chọn ở các nước như Mỹ, Úc, Canada. Vậy thì tại sao, bất chấp những lợi ích cho người học và sự ủng hộ cùng hỗ trợ hết mình của chính quyền, vẫn có nhiều người chống lại sự tồn tại của các trường chuyên, lớp chọn ngay tại chính tại các nước nơi bộ môn “giáo dục tài năng và năng khiếu” phát triển mạnh mẽ nhất?     Hóa ra tấm huân chương nào cũng có mặt trái. Trong một bài viết ngắn được đăng vào tháng 8/2011 trên trang mạng chuyên viết về những vấn đề giáo dục có tên là Patch (có nghĩa là “miếng vá”, ở đây hàm ý làm cho tốt hơn), bà Goushey, một giảng viên tiếng Anh tại trường Đại học cộng đồng St Louis, đã phân tích về những cái được và mất của việc cho con tham gia vào chương trình giáo dục tài năng10. Theo bài viết này, ngoài những cái được về mặt phát triển trí tuệ, việc phải học riêng với một nhóm đối tượng hẹp và “không bình thường” (theo nghĩa: những trẻ em được đánh giá là có tài năng/năng khiếu đặc biệt) đã làm hạn chế khả năng hội nhập xã hội của đứa trẻ, chưa kể những phản ứng tâm lý tiêu cực từ phía những đứa trẻ khác như mặc cảm vì thấy mình “không được xem là tài năng”, ghen tỵ vì thấy những đứa trẻ tham gia chương trình tài năng dường như có đặc quyền đặc lợi. Điều này bà đã nhận thấy ngay từ trong gia đình vì bà có hai đứa con, đứa lớn được học chương trình tài năng còn đứa nhỏ thì không, dù cả hai theo bà đều thông minh, “tài năng” và có động cơ không hơn kém gì nhau.            Trong khi ở Việt Nam,  việc thực thi công bằng xã hội, tránh đặc quyền đặc lợi thường được đưa  ra làm cơ sở để CẤM tổ chức các trường chuyên, lớp chọn, thì ở một nước  có nền giáo dục đại học hàng đầu thế giới như Mỹ, cũng chính điều này  lại là cơ sở để CHO PHÉP tổ chức trường chuyên, lớp chọn.        Vậy phải làm gì? Bài viết của Goushey không đưa ra câu trả lời dứt khoát, mà bỏ lửng bằng một nhận xét không mang tính kết luận như sau:     Có lẽ việc tạo ra những cơ hội để phát triển tối đa năng lực của những trẻ em “tài năng/năng khiếu” nên là công việc của gia đình. Về phía cộng đồng, chúng ta đều mong muốn có những thành viên có thông minh, cảm xúc, và kỹ năng xã hội tốt, chứ không chỉ là thông minh trí tuệ hoặc sáng tạo khoa học. Và nếu không thể làm gì khác thì có lẽ nên đặt tên các chương trình “tài năng/năng khiếu” bằng một cái tên khác để có thể tạo ra một cộng đồng học tập sao cho có nhiều học sinh được hưởng lợi từ các chương trình đó hơn.     Lời kết luận bỏ lửng của Goushey có lẽ cũng là lời kết luận tốt nhất cho vấn đề “trường chuyên, lớp chọn” ở Việt Nam. Chọn lựa cuối cùng sẽ phải dựa trên những cân nhắc thận trọng nhất về cái được và cái mất so với mục tiêu và nguồn lực của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia trong những thời điểm cụ thể.   1http://www.caringbah-h.schools.nsw.edu.au/   2http://tagmagnet.org/ – TAG Magnet là tên một trường năng khiếu tại Texas, trong đó TAG là viết tắt của cụm từ Talented And Gifted; http://www.hollingworthschool.com/, trường năng khiếu tại bang Ohio  3http://ncsss.org/about/history-and-founders   4Một vài ví dụ: https://www.sde.idaho.gov/site/gifted_talented/resources_manuals_docs/PracticesManual.pdf   5https://ed.sc.gov/agency/programs-services/123/documents/SCGiftedandTalentedBestPracticesManual.pdf  6http://www.usnews.com/education/best-high-schools/articles/us-news-ranks-best-high-schools   7http://tea.texas.gov/Curriculum_and_Instructional_Programs/Special_Student_Populations/Gifted_and_Talented_Education/Gifted_Talented_Education/ – Cuốn trang lên để xem bản kế hoạch đào tạo tài năng của TEXAS.  8http://www.nagc.org/sites/default/files/Gifted-by-State/Table%20D%20%28state%20policies%29.pdf Bản tóm tắt kết quả khảo sát về các chính sách liên quan đến việc đào tạo tài năng trên từng tiểu bang của Mỹ.  9http://worldgifted2015.com/wp-content/uploads/2015/08/WEBBOG-21st-World-Conference.pdf   10http://patch.com/missouri/eureka-wildwood/gifted-education-pros-and-cons           Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Đại học Đà Lạt: Thầm lặng và chuyên tâm      Ở đây mọi người đều không nói về mình, ngoại trừ tôi ra” – Phó hiệu trưởng trường Đại học Đà Lạt Nguyễn Văn Kết, vừa bức xúc nhưng cũng vừa trìu mến bộc bạch về ngôi trường ông góp công xây dựng suốt hơn 30 năm qua. Trường Đại học Đà Lạt khiêm nhường như chính vị trí của nó được giới thiệu trên website: “Những tòa nhà với kiến trúc độc đáo ẩn mình giữa những hàng thông. Không gian trường yên bình và tĩnh lặng, một nơi lý tưởng cho học tập và nghiên cứu”.       Tháp chuông là một trong những đặc trưng trong khuôn viên trường Đại học Đà Lạt. Trước kia, đây là nguyện đường Năng Tĩnh của Viện Đại học Đà Lạt, bây giờ trở thành một khu giảng đường. Ảnh: Tạp chí Kiến trúc  Khi nhắc đến một trường đại học tốt ở Việt Nam, trường Đại học Đà Lạt không phải là một cái tên ấn tượng. Ngôi trường này không có một ví trị đáng chú ý trên các bảng xếp hạng đại học ở Việt Nam (trường Đại học Đà Lạt xếp thứ 25 theo Webometrics và xếp thứ 47 theo Unirank). Xét về số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí trong danh mục Scopus, trường xếp thứ 45 Việt Nam trong năm 2019. Trường đại học Đà Lạt cũng chưa nằm trong danh sách hơn 100 trường đại học Việt Nam được kiểm định chất lượng.  Vậy có điều gì đáng kể ở đây?  Một trường hợp ngoại lệ  “Việc hội nhập, phát triển của một nhà trường đúng là rất khó, đặc biệt là những trường giống như chúng tôi ở phía Tây Nguyên, cái gì cũng xa xôi hết” – PGS. Nguyễn Văn Kết mở đầu câu chuyện với chúng tôi. “Xa” ở đây, có lẽ không chỉ là khoảng cách địa lý với Hà Nội mà còn nằm ngoài tầm với của các ưu đãi. Trong một loạt các văn bản mang tính chỉ đạo phát triển đại học trên cả nước, như Nghị quyết 04 TW năm 1993 về đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đến Quyết định 47 năm 2001 về quy hoạch mạng lưới các trường đại học và Nghị quyết 29 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đều thống nhất tập trung đầu tư vào các đại học trọng điểm và hai đại học ở miền núi là Đại học Tây Bắc và Đại học Tây Nguyên. Những đại học này vô hình trung trở thành “thỏi nam châm” thu hút đa phần các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, các dự án, đề tài lớn của nhà nước và cả tài trợ của các tổ chức quốc tế. Ai nằm ngoài danh sách này và không ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, giống như trường Đại học Đà Lạt, sẽ cảm thấy như…bị bỏ rơi. Ngoài ra, Tây Nguyên, một khu vực có hơn 40% là người dân tộc thiểu số, đồng nghĩa sẽ có một tỉ lệ tương đối các sinh viên trường Đại học Đà Lạt là sinh viên thuộc diện chính sách. Với ngân sách eo hẹp, có những năm trường trả học phí cho gần 3000 sinh viên, tương đương gần ¼ tổng số sinh viên của trường.   Không khó để tưởng tượng rằng, vì gặp nhiều khó khăn như vậy, nhiều trường đại học tỉnh thường lựa chọn chỉ tập trung vào đào tạo là chính, còn nghiên cứu và chuyển giao tri thức, công nghệ là phụ. Nhưng trường Đại học Đà Lạt là một trong số ít các ngoại lệ. Nhìn kĩ vào trong các bảng xếp hạng một lần nữa, sẽ thấy rằng, trường Đại học Đà Lạt là một trong hai trường đại học tỉnh có công bố quốc tế nhiều nhất và số lượng bài báo nằm trong top 10% được trích dẫn nhiều nhất thế giới trong năm năm 2012-2016 của trường còn vượt Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng – hai đại học trọng điểm quốc gia. Nhưng, điều ấn tượng nhất, đó là hiếm có một trường đại học nào mà dấu ấn của nó hiển hiện trong đời sống người dân của tỉnh tràn ngập và rõ ràng đến thế: Những nhà vườn và homestay trăm hoa đua nở ven Đà Lạt được khởi xướng từ một mô hình của Khoa Du lịch, nhiều tour du lịch mạo hiểm đang gây sốt trong giới trẻ, chẳng hạn như trò high rope course – đu dây qua rừng thông bên cạnh thác Datanla là xuất phát từ các nghiên cứu của khoa này. Trường Đại học Đà Lạt cũng là một mảnh ghép lớn trong bức tranh nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng, 90% giám đốc của các trung tâm nuôi cấy mô ở tỉnh đều là cựu sinh viên trường và hơn một nửa nhân lực của Đà Lạt Hasfarm, một trong những công ty hoa lớn nhất Đông Nam Á đều tốt nghiệp trường Đại học Đà Lạt. Thomas Hooft, người sáng lập Đà Lạt Hasfarm, một trong những công ty hoa lớn nhất Đông Nam Á, đã viết trong di chúc của mình là dành ít nhất 15 tỉ đồng để đầu tư nhà kính thông minh cho trường Đại học Đà Lạt, như một cách tri ân cho hoạt động đào tạo của trường.   Tìm được thị trường ngách  Trường Đại học Đà Lạt ở Tây Nguyên giống như con cá lớn trong một cái ao nhỏ. So với các đại học trong cùng khu vực, trường Đại học Đà Lạt có một lịch sử lâu đời và một xuất phát điểm thuận lợi hơn. Trường được thành lập trên nền của Viện Đại học Đà Lạt, một đại học tư thục có tiếng và danh giá trong khu vực miền Trung – Nam Bộ dưới thời Việt Nam Cộng hòa từ năm 1958, đào tạo đa ngành, theo định hướng giáo dục khai phóng với bốn trường/khoa gồm: Trường Sư phạm, Trường Văn khoa, Trường Khoa học và Trường Chính trị Kinh doanh. Các trưởng khoa trước đây đều được đào tạo từ các trường danh tiếng trên thế giới ở Mỹ và Pháp. Sau năm 1976, mặc dù không theo định hướng cũ, toàn bộ sinh viên và giảng viên trước đây cũng không một ai còn ở lại nhưng trường Đại học Đà Lạt được kế thừa một cơ sở vật chất khang trang và cách quản lí các khoa bài bản và là một trong bốn trường đại học tổng hợp đầu tiên của Việt Nam (bên cạnh Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Huế). Không ngạc nhiên khi trường vẫn giữ vị trí số một Tây Nguyên từ trước đến nay.    Điều kiện tự nhiên và kinh tế đặc thù ở tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên khiến những gì được đào tạo và nghiên cứu ở trường dễ dàng được chuyển giao ra ngoài thực tế. Lâm Đồng có lẽ là tỉnh duy nhất có một lịch sử lâu đời sản xuất nông sản giá trị cao, chuyên cung cấp rau và hoa cho toàn bộ miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa bởi khí hậu giống như những vùng ôn đới. Giờ đây, khác với hầu hết các tỉnh thành khác trên cả nước, sản xuất nông nghiệp ở đây gần như đã đạt đến một chuỗi khép kín chuyên nghiệp từ nguyên liệu đầu vào đến thị trường đầu ra. Người nông dân, các chủ trang trại ở đây không chỉ nhạy bén với công nghệ mới mà còn sẵn sàng chịu rủi ro, bỏ tiền ra thử nghiệm. Các trang trại lúc nào cũng trong tình trạng khan hiếm nhân lực. Du lịch ở Đà Lạt cũng đặc biệt, luôn trong tình trạng khách du lịch cao kỉ lục, vượt trên cả Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc, gọi là hội chứng “Nghiện Đà Lạt” (Dalat Holic), nhưng số lượng khách sạn 3-5 sao chỉ chiếm 1/3 – 1/7 so với các địa danh trên và tỉnh cũng hạn chế những dự án khách sạn cao tầng vì e ngại phá vỡ cảnh quan thành phố, mở ra cơ hội “chen chân” cho các homestay và nhà vườn.     Phòng thí nghiệm tự sắm của TS. Nguyễn Công Nguyên, để thực hiện các phân tích màng mỏng lọc nước của mình, mỗi mùa hè, anh phải “chạy sang Đài Loan” vì ở đây không có đủ thiết bị.   Lối đi trong đào tạo nông nghiệp của trường Đại học Đà Lạt được PGS. Kết tuyên bố rất rõ ràng, “chỉ hướng đến rau và hoa công nghệ cao” và “chuyên tâm những gì phục vụ cho kinh tế của tỉnh trước”. Điều này được thể hiện xuyên suốt ở khoa sinh học và khoa nông lâm. TS. Trần Văn Tiến, trưởng khoa sinh học cho biết, các hướng nghiên cứu của khoa, về cơ bản đều dựa trên điều kiện tự nhiên và đa dạng sinh thái của vùng miền Trung – Tây Nguyên. Chẳng hạn, họ chỉ tập trung chọn tạo giống rau, hoa và đưa ra các chế phẩm vi sinh phục vụ canh tác hữu cơ đặc biệt phù hợp với khu vực này. Còn theo TS. Nguyễn Ngọc Tuân, khoa nông lâm đang có thế mạnh về ngành công nghệ bảo quản rau, hoa sau thu hoạch – một trong những ngành đang khát nhân lực nhất ở Lâm Đông. Hay Viện Nghiên cứu Ứng dụng công nghệ sinh học, được cho là đầu mối chuyển giao công nghệ của trường trong tương lai, sẽ chỉ tập trung vào công nghệ trồng tối ưu nhất cho nấm và dâu tây, hai loại thực vật rất khó trồng nhưng nhiều người quan tâm vì giá trị cao.  Kể cả các ngành khác, việc đào tạo hay nghiên cứu của họ cũng gắn liền với nhu cầu của Lâm Đồng và Tây Nguyên. Như đã nói ở trên, Khoa Du lịch là một ví dụ. Một trong những đóng góp lớn của họ đó là tạo ra những loại hình du lịch mới tận dụng những nguồn lực sẵn có của Tây Nguyên, thay đổi bộ mặt du lịch của Đà Lạt. Từ những đề tài chưa đến 190 triệu của tỉnh, họ tự điều tra khảo sát, nghiên cứu tiềm năng địa điểm, thuyết phục doanh nghiệp, người dân bỏ tiền đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật, thiết kế chương trình kết hợp với các công ty lữ hành để đưa khách du lịch đến tận nơi thử nghiệm, và đưa ra đánh giá hiệu quả đầu tư. Với cách nghiên cứu bài bản, họ là người khởi xướng mô hình tham quan nhà vườn giờ đang trở thành trào lưu lan rộng khắp tỉnh Lâm Đồng. Bộ tiêu chí đánh giá nhà vườn của UBND tỉnh Lâm Đồng cũng xuất phát từ nghiên cứu của khoa. Một trường hợp khác là khoa kĩ thuật hạt nhân, sau khi chính phủ tuyên bố ngừng dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận vào năm 2016, đã chuyển hướng sang ứng dụng kĩ thuật hạt nhân trong chọn tạo giống cây trồng.  Sự thông hiểu những đặc trưng bản địa không chỉ khiến cho trường tìm được một thị trường đào tạo và nghiên cứu riêng biệt mà còn khiến họ trở thành “điểm đến” của các doanh nghiệp trên địa bàn mỗi khi gặp khó khăn. “Chúng tôi hơi một tí là nhận được cuộc gọi ‘cô ơi cái này phải làm thế nào’ cái kia ‘phải làm thế nào’, thế là mình lại tư vấn” – chị Trương Thị Lan Hương, giảng viên Khoa Quản trị du lịch chia sẻ. Chính vì vậy, chị không gặp khó khăn gì khi hợp tác và kể cả thuyết phục doanh nghiệp bỏ vốn đối ứng đầu tư thử nghiệm các mô hình du lịch mới trong nghiên cứu của mình. Thậm chí, cả khóa luận tốt nghiệp của sinh viên cũng thuyết phục được doanh nghiệp ứng dụng, ví dụ như tuyến du lịch sinh thái ở Bidoup Núi Bà. Đối với nhiều khoa của trường Đại học Đà Lạt, việc trao đổi giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, cởi mở và tự nhiên tới mức, họ không để ý đó là quá trình chuyển giao tri thức – vốn là khó khăn không ai muốn nhắc đến ở các trường đại học lớn khác. TS. Nguyễn Công Nguyên, khi dẫn chúng tôi tới thăm phòng thí nghiệm của Khoa Môi trường, chỉ vào những chai đựng nước thải xếp ngay ngắn dưới các bàn thí nghiệm và cho biết, khoa anh giúp thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho hầu hết các bệnh viện, khu chăn nuôi và khách sạn ở tỉnh Lâm Đồng.   Có thể, mối quan hệ khăng khít với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong nhiều năm đã giúp cho trường Đại học Đà Lạt không bị rơi vào lối dạy “tầm chương trích cú”. Nhưng đến năm 2014, trường mới áp dụng CDIO – một giải pháp thiết kế chương trình đào tạo hết sức khắt khe được khởi xướng bởi những trường kĩ thuật hàng đầu Mỹ và châu Âu, dựa trên các tiêu chuẩn đầu ra. Lúc đó, các doanh nghiệp mới thực sự được tham gia thảo luận cùng xây dựng chương trình. Trong trường hợp của ngành nông học, khoa nông lâm, trường mời tới 200 chuyên gia, doanh nghiệp và cựu sinh viên tới góp ý về khung chương trình và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.            Vượt ra khỏi sự “cô lập”  Trong ấn tượng của nhiều người, trường Đại học Đà Lạt là một cơ sở đào tạo quá chuyên biệt và tự giới hạn mình trong đường biên của tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên. Trên thực tế, vì vị trí địa lý và điều kiện đầu tư của nhà nước, ngôi trường này, ở một khía cạnh nào đó, trong một thời gian dài, gần như bị “cô lập”, không hề có hợp tác quốc tế. Đến cuối những năm 90, số lượng tiến sĩ của trường chỉ đếm trên đầu ngón tay, toàn là những người tập kết ra Bắc trước năm 1975 rồi đi học ở các nước Xã hội Chủ nghĩa. Những giảng viên khác thì không có cơ hội bởi lúc đó, “Các công văn để thi đi học nước ngoài thì ngoài bộ gửi qua đây là đã hết hạn rồi. 31 hết hạn thì 30 công văn mới tới, lấy đâu ra, không đi được”. Đó còn chưa kể, vì chưa từng nói tiếng anh nên các giảng viên “cứ thấy khách nước ngoài là trốn.” – PGS. Kết kể lại.     TS. Lee Hyun Suk tới trường Đại học Đà Lạt làm việc được bốn năm và lập ra bảo tàng côn trùng ở đây.   Đến những năm 2000, trường Đại học Đà Lạt mới có hợp tác quốc tế, nhờ nỗ lực của cố GS. Nguyễn Hữu Đức. Ông là học trò của nhà toán học Việt kiều nổi tiếng Frederic Phạm và là một thành viên kì cựu của nhóm nghiên cứu kì dị tại Việt Nam bên cạnh những GS đầu ngành như Hà Huy Vui, Nguyễn Tự Cường tại Viện Toán học dưới thời GS. Lê Văn Thiêm. PGS. Kết đánh giá về ông là một người “quan hệ rộng và open-minded (cởi mở)”.  Qua mối quan hệ cá nhân, dự án đầu tiên mà ông mang đến cho trường Đại học Đà Lạt vào năm 2005 do Hàn Quốc tài trợ bốn tỷ đồng, liên quan đến phát triển công nghệ sinh học được dành cho khoa nông lâm và khoa sinh học. Các đối tác quan trọng nhất đối với trường Đại học Đà Lạt, chủ yếu đến từ các quốc gia/vùng lãnh thổ ở Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản – cũng là các quốc gia đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh. Sau khi qua đời vào năm 2007, ông đã thiết lập được mối quan hệ với 35 viện, trường, công ty Hàn Quốc.   Cho đến hiện nay, các mối quan hệ hợp tác quốc tế của trường Đại học Đà Lạt chủ yếu đến từ các mối quan hệ cá nhân. Nhiều khi vì cảm mến cung cách làm việc của những giảng viên ở đây mà họ tới hợp tác. Chẳng hạn, Lee Hyun Suk, tiến sĩ sinh vật nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam đã tới trường Đại học Đà Lạt làm việc bốn năm và lập một bảo tàng côn trùng ở đây chỉ vì “lời mời của thầy Kết”. Hay công ty Saponia, lựa chọn trường Đại học Đà Lạt để thử nghiệm trồng sâm của Hàn Quốc tại Việt Nam, nếu thành công sẽ chuyển giao toàn bộ công nghệ cho trường chỉ vì “TS. Tuân là người làm việc chính xác và có tấm lòng”.     Nhờ vào những mối quan hệ cá nhân đó mà trường Đại học Đà Lạt xây dựng được hệ thống phòng thí nghiệm và gửi các giảng viên đi học thạc sĩ, tiến sĩ. Năm 2009, nhờ vào mối quan hệ của mình mà PGS. Nguyễn Văn Kết đã giành được một dự án ODA của Hàn Quốc và nhờ đó xây dựng phòng thí nghiệm của khoa nông lâm với máy móc hiện đại nhất, “máy phân tích ở nước ngoài có gì thì mình đều có hết” – TS. Tuân, từng làm nghiên cứu sinh ở Đại học Hannover, Đức cho biết. Nhưng không phải tất cả các khoa đều có may mắn như vậy, phần lớn các thiết bị hiện nay không đủ để phục vụ cho họ công bố quốc tế. TS. Tiến ở Khoa Sinh học cho biết, nếu muốn giải trình tự gene phức tạp là phải nhờ phía Hàn Quốc. Còn TS. Nguyên ở Khoa Môi trường phải “tranh thủ mấy tháng hè” qua làm việc với giáo sư của anh ở Đài Loan để tiếp tục hướng nghiên cứu về màng mỏng lọc nước biển thành nước uống của anh. Anh chia sẻ rằng, anh sẽ mua lại một trong hai máy làm màng lọc của ông. Ở trong tình trạng khó khăn hơn, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao, suốt nhiều năm mới sắm được một thiết bị cơ bản là nồi hấp để tiệt trùng trong phòng thí nghiệm, còn những thứ khác, dù đơn giản như kính hiển vi… cũng chưa có. Nhưng ngay cả khi được hỗ trợ bởi đối tác, nhận được máy móc của họ từ nước ngoài là cả một chặng đường khó khăn đối với trường Đại học Đà Lạt. PGS. Nguyễn Văn Kết thốt lên “ôi thôi thôi” mấy lần, lắc đầu đầy chán nản khi nhớ lại năm 2014 tiếp nhận thiết bị mô phỏng lõi lò phản ứng hạt nhân OPR 1000 Core Simulator từ phía Hàn Quốc, về cơ bản chỉ là một chiếc máy tính, ông phải chạy khắp các bộ ngành xin một loạt giấy tờ “trời ơi đất hỡi” từ an toàn bức xạ đến phòng cháy chữa cháy để có thể thông quan.  Có được cơ sở vật chất, thiết bị là một chuyện, duy trì nó lại là việc khác. Khác với nhiều trường lớn, có một khoản kinh phí thường xuyên để bảo trì phòng thí nghiệm của mình, các giảng viên trường Đại học Đà Lạt hoàn toàn phải tự lo cho phòng thí nghiệm của mình. Mặc dù có mối liên kết với doanh nghiệp khăng khít nhưng các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Lạt chưa đủ tiềm lực để dám đồng nghiên cứu. Đa số trường hợp, trường vẫn tư vấn miễn phí. Kinh phí để “nuôi” các phòng thí nghiệm, không gì ngoài các đề tài, dự án. Tuy nhiên dù năng lực nghiên cứu không phải bàn cãi, chưa bao giờ trường nhận được đề tài nhà nước về khu vực Tây Nguyên. Từ năm 2013-2017, 100% số đề tài của trường là đề tài cấp tỉnh và Bộ Giáo dục và Đào tạo với tổng kinh phí mỗi năm được nhận, là những con số khiêm tốn ở khoảng 2 tỉ – 6 tỉ đồng.      Nhưng mặc dù phải xoay sở với những nguồn tài trợ ít ỏi và nỗ lực gấp nhiều lần những nơi khác để có được các mối quan hệ quốc tế, những giảng viên của trường Đại học Đà Lạt, theo cảm nhận của tôi, đầy hạnh phúc khi làm việc ở đây, trong không khí gần gũi gần giống như một gia đình. Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi 90% giảng viên được gửi đi học ở nước ngoài sẽ quay trở lại tiếp tục làm việc tại Đà Lạt, dù nhận được nhiều lời mời chào từ các nơi khác.   “Vì mọi người thích Đà Lạt, chọn ở Đà Lạt” – chị Trương Thị Lan Hương nói, không cần đến một giây suy nghĩ. Có lẽ người Đà Lạt chọn sự thư thái tinh thần hơn là tiền bạc? Khi lý giải tại sao trường Đại học Đà Lạt quyết không tăng học phí dù trong bất cứ hoàn cảnh nào và tại sao vẫn giữ nhiệm vụ đào tạo kĩ thuật hạt nhân, giữ nguyên ưu đãi cho sinh viên khi nhà nước chưa hỗ trợ một đồng nào, PGS. Kết trả lời: “cái tính cách của người Đà Lạt nó như thế”.  □    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên: Quyết sách “ươm mầm” người tài      Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên là một trường non trẻ, xuất phát điểm nhiều khó khăn nhưng đã sớm có quyết sách phát triển nguồn nhân lực để định hình hướng đi trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học cơ bản uy tín của khu vực trung du và miền núi phía Bắc.    Không nhất thiết xuất sắc nhất nhưng phải phù hợp  Khi chúng tôi tới trường Đại học (ĐH) Khoa học Thái Nguyên, thấy khu nhà dành cho ban giám hiệu mới xây giữa khoảng đất trống, chỉ có những cây mới trồng, chưa đủ thời gian mọc cao để toả bóng mát, bên cạnh hai khu giảng đường cũng nằm khá khiêm tốn. “Tất cả cơ sở vật chất như các bạn thấy hiện nay của trường đều chỉ mới có trong khoảng vài năm nay. Chục năm về trước chúng tôi hầu như không có gì. Hồi năm 2012, khi mới nhận nhiệm vụ làm trưởng phòng đào tạo và quản lý khoa học của trường, thật sự là tôi đã hết sức lo lắng, một phần vì chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý, phần khác vì cơ sở vật chất quá thiếu thốn, khó khăn hơn ĐH Sư phạm Thái Nguyên, nơi tôi dạy trước đó quá nhiều”, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn, Hiệu trưởng trường ĐH Khoa học Thái Nguyên chia sẻ.    GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn, hiệu trưởng trường ĐH KH Thái Nguyên.  Ngược dòng thời gian, trở về mười lăm năm trước, thời điểm mới bắt đầu xây dựng trường ĐH Khoa học Thái Nguyên trên cơ sở nguồn nhân lực vốn “gom” toàn bộ cán bộ đang giảng dạy đại cương ở ĐH Thái Nguyên, ngoài ra chỉ có ba người không dạy đại cương, gồm hiệu trưởng nhà trường và hai cán bộ quản lý khác. Trong số đó, chỉ có 6 tiến sĩ được phân công quản lí đơn vị và bốn bộ môn trực thuộc. “Nguồn nhân sự lúc đó đều là những giảng viên nhiều tuổi, chẳng ai còn có nguyện vọng đi học nâng cao chuyên môn”, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn nhớ lại. Với nguồn nhân lực mỏng và yếu đó, trường bắt buộc phải tuyển dụng mới, thu hút nhân tài, nhưng để tìm được những người xuất sắc và trưởng thành trong khoa học thì lại ngặt một nỗi: ai sẽ tới Thái Nguyên, một nơi vừa xa xôi, điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn lại chưa có một môi trường học thuật mạnh?  Sau nhiều đắn đo, lãnh đạo trường quyết định sẽ tuyển dụng một lớp cán bộ mới chỉ gồm những người trẻ với tiêu chí không nhất thiết phải là người “xuất sắc nhất” nhưng phải “phù hợp” – nghĩa là đủ giỏi và tâm huyết xây dựng trường. Quy trình tuyển dụng cũng rất đặc biệt: không cần thành lập một hội đồng tuyển dụng với đầy đủ thành phần ban bệ “rườm rà” mà mỗi ngành mời một giáo sư có uy tín đang làm việc tại Hà Nội ra đề thi, bài thi được chuyển thẳng về Hà Nội để chấm, toàn bộ quá trình đó là bí mật. Nhờ đó, những người giỏi nhất trong số ứng viên có cơ hội trúng tuyển, bởi không có bất cứ mối quan hệ hay yếu tố nào khác có thể tác động tới quá trình chấm thi. “Nhờ tuyển dụng công khai, công bằng nên số người ứng tuyển vào đây rất nhiều, tỉ lệ chọi đều ở trên mức 1/10 và thực sự là hồi đó chúng tôi đã tạo được nguồn tốt nhất cho trường rồi”, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn nói.  Tuy tiềm lực mỏng, nhưng ngay từ đầu, trường đã có định hướng lâu dài để đội ngũ non trẻ này trở thành thế hệ dẫn dắt nghiên cứu khoa học cơ bản, không chỉ của trường mà còn đối với khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Để những “hạt mầm” trưởng thành, trường nhanh chóng cử cán bộ đi học ở các cơ sở nghiên cứu đầu ngành trong cả nước ngay và sau đó tìm kiếm cơ hội để đi học nước ngoài. Quy định đảm bảo tiến độ thời gian học tập của trường khá khắt khe: Cán bộ phải cam kết thời điểm hoàn thành thạc sĩ, tiến sĩ đúng hạn, chậm quá sáu tháng là cắt 10% lương tăng thêm; nếu bảo vệ TS đúng hạn được nhà trường thưởng 40 triệu, nếu bảo vệ quá hạn sau một năm thì mức thưởng chỉ còn 15 triệu. Không chỉ đi học, hầu hết các giảng viên trẻ của ĐH Khoa học đều tham gia cùng các nhóm nghiên cứu tại những cơ sở nghiên cứu có điều kiện cơ sở vật chất và nguồn nhân lực tốt hơn để công bố quốc tế. Một số trường hợp điển hình như TS Phạm Thế Chính, chủ nhiệm khoa Hóa học và TS Nguyễn Phú Hùng, phó chủ nhiệm phụ trách khoa Công nghệ sinh học, có những bài báo ISI đầu tiên xuất phát từ nghiên cứu trong quá trình học nghiên cứu sinh.  Gắn bó vì sự trân trọng  Nuôi dưỡng được nguồn nhân lực đã khó, nhưng để giữ được người, nhất là người tài ở lại lâu dài trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn ở Thái Nguyên lại còn khó hơn. Những người giỏi, có công bố quốc tế chất lượng tốt như TS. Nguyễn Phú Hùng và TS. Phạm Thế Chính, đều được nhiều cơ sở nghiên cứu khác sẵn sàng “săn đón” nhưng vẫn bám trụ lại với nhà trường. “Có lẽ bởi vì, tôi cũng như các bạn ấy đều thấy rằng vùng khó khăn mới cần sự đóng góp, cống hiến của mình. Đối với những nơi có điều kiện tốt hơn, thì việc ở hay đi của một vài cá nhân sẽ không quyết định đến cơ sở đó lắm, còn ở đây thì sự ở lại của họ có ý nghĩa rất lớn đối với nhà trường và sinh viên, nên họ ở lại”, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn chia sẻ. Chị cho biết thêm, hiện nay, ĐH Khoa học Thái Nguyên có trên 52% trong tổng số sinh viên là dân tộc thiểu số, hầu hết các em đều chưa đủ điều kiện kiến thức và tài chính để học ở những trường lớn nên rất cần những người đủ kinh nghiệm, kiến thức và tâm huyết dẫn dắt.  Không ai khác, chính hiệu trưởng nhà trường là người gắn dấu ấn sâu đậm trong quá trình thu hút người trẻ trở về Thái Nguyên. Từ thời kỳ Hiệu trưởng tiền nhiệm là PGS.TS Nông Quốc Chinh (2012 – 2016) cho đến nay, PGS.TS Nông Quốc Chinh và GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn luôn duy trì thói quen thường xuyên email hỏi thăm những nghiên cứu sinh của trường đang học ở các cơ sở trong nước và nước ngoài… mỗi tháng để động viên họ trở về giảng dạy. “Thú thực, chúng tôi về đây là vì hai lý do chính, thứ nhất là trách nhiệm của một cán bộ giảng viên được nhà nước cử đi học tập, thứ hai là vì sự tôn trọng cả nhân cách lẫn tài năng của chị Nhàn”, TS. Nguyễn Phú Hùng tâm sự. TS. Phạm Thế Chính cũng cho biết cảm giác “choáng ngợp” khi lần đầu tiên gặp chị Nhàn, một trong những phó giáo sư trẻ nhất Việt Nam và là một trong hai nữ giáo sư toán học hiếm hoi của ngành Toán Việt Nam, lại sẵn sàng bắt tay xây dựng trường từ những ngày còn đầy khó khăn, từ đó anh quyết định gắn bó lâu dài ở trường chứ không ra đi. Sau khi về trường giảng dạy, chính các anh cũng đã tạo động lực để một số nhà nghiên cứu trẻ khác sau khi bảo vệ TS ở nước ngoài cùng về công tác ở ĐH Khoa học.  Sau 15 năm nỗ lực ươm mầm, đến nay, số lượng tiến sĩ, phó giáo sư chiếm khoảng 30% trong tổng số hơn 200 giảng viên của trường ĐH Khoa học Thái Nguyên, trong đó khoảng 40 cán bộ thường xuyên có công bố quốc tế hằng năm. Dự kiến, trong khoảng 2 – 3 năm nữa, đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên sẽ đạt trên 50%, cao hơn so với mặt bằng toàn quốc (vì hiện nay trường có trên 60 NCS, một nửa là NCS ở nước ngoài). Mặc dù chưa có cơ sở vật chất tốt, nhưng trường ĐH Khoa học Thái Nguyên đã xây dựng được không gian học thuật sôi nổi và gắn kết, hầu hết cán bộ nghiên cứu có năng lực đều là những người có gắn bó lâu dài với nhà trường.  Từ năm 2011 tới nay, trung bình mỗi năm trường Đại học Khoa học Thái nguyên công bố khoảng 30 bài báo thuộc danh mục ISI và chiếm khoảng 50% tổng số công bố quốc tế ISI của toàn ĐH Thái Nguyên (ĐH Thái Nguyên xếp thứ bảy trong tổng số những ĐH có nhiều công bố nhất Việt Nam). “Chỉ trong ba quý đầu năm 2017, trường ĐH Khoa học Thái Nguyên đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu công bố quốc tế của cả năm. Thậm chí nhiều đề tài của trường chỉ được cấp ngân sách vài chục triệu nhưng vẫn có bài công bố ISI”, PGS.TS Trần Thanh Vân, Trưởng Ban Khoa học công nghệ và môi trường, Đại học Thái Nguyên cho biết. Kết quả ấn tượng nhưng điều đáng ngạc nhiên là trường ĐH Khoa học Thái Nguyên có một chiến lược thúc đẩy công bố quốc tế theo cách của “con nhà nghèo”. Ngược lại với nhiều trường đại học trong nước có chính sách thưởng “khủng” để tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế, ĐH Khoa học Thái Nguyên không có điều kiện tài chính để thưởng mà chỉ hỗ trợ 20 triệu với một nghiên cứu có công bố ISI mà không được tài trợ nghiên cứu. Còn lại, các đề tài được nhận tài trợ từ ngân sách nhà nước đều bắt buộc phải có công bố quốc tế.  Những khó khăn còn đó  Mặc dù đang nỗ lực thúc đẩy công bố quốc tế chủ yếu bằng tinh thần, bằng niềm tin, nhưng lãnh đạo trường ĐH Khoa học Thái Nguyên cũng không thể phủ nhận những nỗi lo lâu dài về điều kiện cơ sở vật chất và nguồn tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong nhà trường.  Trước mắt, để khắc phục khó khăn đó, các nhóm nghiên cứu, đặc biệt là các nhóm trong lĩnh vực cần tới thực nghiệm phải “xoay xở” để có thể tham gia cùng các nhóm nghiên cứu khác trong nước hoặc thậm chí ra nước ngoài. Ví dụ nhóm nghiên cứu của TS. Chính phải xin kinh phí của Viện Hóa học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và của Bỉ để thực hiện những thí nghiệm quan trọng tại Bỉ, TS. Hùng phải xin tài trợ đi Pháp làm các thực nghiệm cần thiết, hay nhóm nghiên cứu về toán học của GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn sử dụng kinh phí từ đề tài Nafosted do chị làm chủ nhiệm để mời các nhóm nghiên cứu ở các nước phát triển sang để thảo luận nghiên cứu. Và trên thực tế, hiện nay số công bố quốc tế là “sản phẩm” trực tiếp hoặc gián tiếp từ các mối quan hệ hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế chiếm tới gần một nửa tổng số công bố quốc tế của trường ĐH Khoa học Thái Nguyên. Nhưng mặt khác, các nhà nghiên cứu ở đây cũng đề xuất, cần xây dựng một cơ chế dùng chung các phòng thí nghiệm ngay trong chính ĐH Thái Nguyên. “Chẳng hạn, Viện Khoa học sự sống trực thuộc ĐH Thái Nguyên, hiện nay nằm trong khuôn viên trường ĐH Nông lâm có trang thiết bị khá hiện đại, là nơi chúng tôi có thể thực hiện nhiều thí nghiệm thay vì phải tìm tới một số phòng phòng thí nghiệm ở Hà Nội, nhưng chúng tôi không thể tận dụng tốt các cơ sở vật chất này vì chưa có một quy định thực sự rõ ràng trong việc sử dụng thiết bị chung”, TS. Nguyễn Phú Hùng nói.  Hiện nay, chỉ có những cán bộ có thành tích khoa học xuất sắc mới được tham gia các chương trình nghiên cứu cấp Bộ, cấp quốc gia hoặc từ các quỹ tài trợ cho khoa học cơ bản trong nước, ngoài nước. Số này đã “kéo” được một số cán bộ khác tham gia nghiên cứu cùng để chia sẻ kiến thức và nguồn lực tài chính. Chẳng hạn, trong số 120 giảng viên ngành Toán của bảy trường thành viên thuộc ĐH Thái Nguyên, chỉ có một chủ nhiệm đề tài thuộc Quỹ Nafosted, 1-2 chủ nhiệm đề tài thuộc Bộ GD&ĐT kinh phí 150-300 triệu, 1-2 chủ nhiệm đề tài cấp đại học kinh phí 30-50 triệu, và thêm 15-20 thành viên được tham gia và chia sẻ nguồn tài chính từ các đề tài. Số cán bộ nghiên cứu còn lại không có tài trợ để nghiên cứu. “Có khi cả khoa chỉ có một đề tài cấp cơ sở trị giá 5 – 10 triệu. Với số tiền như vậy để làm nghiên cứu ‘đến nơi đến chốn’ là vô cùng khó khăn, do vậy năng lực nghiên cứu sẽ mai một đi. Đây là thực trạng ở trường ĐH Khoa học Thái Nguyên và cũng là của rất nhiều trường. Thậm chí các trường khác còn khó khăn hơn nhiều, bởi vì trường tôi còn có được lực lượng khá nhiều cán bộ nghiên cứu ‘khỏe’ ”, GS. Lê Thị Thanh Nhàn nói. Do đó, nguồn tài trợ các đề tài cấp cơ sở để nuôi dưỡng, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản là rất cần thiết.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Trường Đại học Luật Đông Dương: Cất cánh trong thời kỳ 1939-1945      LTS: Trong kì trước, tác giả Lê Xuân Phán đã kể về sự hình thành của Đại học Luật Đông Dương khởi đầu tuy gian truân nhưng vẫn nỗ lực hướng đến những chuẩn mực đào tạo và thi cử không thua gì đại học bên Pháp. Trong kì này, ta sẽ chứng kiến Đại học Luật Đông Dương tiến thêm một bước nữa với những hoạt động nghiên cứu sâu sắc, mở ra những chương trình giảng dạy sau đại học mà đặc biệt là chương trình tiến sĩ.      Tổng thống Pháp Paul Doumer, người đã ký sắc lệnh thành lập Đại học Luật Đông Dương vào năm 1931.  Những bước tiến về tổ chức và lực lượng giảng viên     Trước khi trường Luật Đông Dương ra đời, tiền thân của nó, Trường Cao học Đông Dương cũng tổ chức các khóa luật trong vòng một năm nhằm cấp “Chứng chỉ nghiên cứu pháp luật Đông Dương” (Certificat d’études juridiques indochinois) cho những người đã đi làm trong chính quyền.    Về sau, trường Luật Đông Dương cũng có một khóa tương tự, nhưng nội dung được nâng cấp hơn1, gọi là “Trường hành chính Đông Dương (École d›Administration indochinoise).2 Khóa học này gọi là “năm thứ tư”, dành cho những ai đã kết thúc ba năm học cử nhân luật. Để tham gia một số lĩnh vực của hệ thống hành chính, khóa học này là bắt buộc. Chương trình dạy học của chứng chỉ này gồm những môn sau: 3    – Luật dân sự Đông Dương và lịch sử các thể chế tư pháp và phong tục Đông Dương (cả năm học);  – Luật công và hành chính Đông Dương (cả năm học);  – Các nguyên tắc kinh tế chính trị áp dụng vào Đông Dương và viễn đông (nửa năm học-học kỳ);  – Tổ chức xét xử và thủ tục tố tụng dân sự có thể áp dụng vào Đông Dương (học kỳ);  – Luật hình sự và thủ tục tố tụng hình sự có thể áp dụng vào Đông Dương (học kỳ);  – Lịch sử nước Annam (Việt Nam) từ thế kỷ XVI đến thời điểm khi đó (năm học);  – Tài chính Đông Dương (học kỳ); vấn đề xã hội Đông Dương (học kỳ);  – Đào tạo chuyên viên và hành chính (học kỳ).    Theo luật sư Vũ Quốc Thúc, nhờ chương trình này mà người học có thể am hiểu tình hình kinh tế và chính trị trong xứ Đông Dương thay vì chỉ có một kiến thức tổng quát về luật học.4      Các giáo sư trường Luật Đông Dương từ Pháp sang công tác ở đây cũng thường tự hào là họ có nhiệm vụ bảo vệ những truyền thống cao đẹp của đại học. Họ cố gắng giữ thái độ độc lập, không muốn dính líu tới chính sách của nhà cầm quyền thuộc địa.      Để thực hiện được chương trình đào tạo này, các giáo sư trường Luật Đông Dương thời kỳ này đã cộng tác cùng các cộng sự để nghiên những vấn đề như luật, kinh tế các nước Đông Dương từ đó có tài liệu giảng dạy và học tập cho sinh viên. Theo sắc lệnh ngày 27/4/1940, Viện Cao học Tư pháp và Xã hội Viễn đông (Institut des Hautes Études Juridiques et Sociales d’Extrême-Orient)5 được thành lập trực thuộc Đại học Luật Đông Dương và có sự bảo trợ của Khoa Luật Paris. Viện này có mục tiêu sau:      – Tăng cường cộng tác trong giảng dạy;  – Phát triển sự hiểu biết của các tổ chức về cả lý thuyết và ứng dụng;  – Hình thành một trung tâm làm việc và nghiên cứu  khoa học về luật, trung tâm tài liệu khoa học và trung tâm hợp tác quốc tế.     Về đội ngũ giảng viên. Theo giáo sư René Maunier, đại biểu của Khoa Luật Paris được cử đến trường Luật Đông Dương, thì lực lượng giảng viên trong khoảng 5 năm 1935-1940 đã có đổi mới và phong phú hơn. Vào năm 1940, cả về phương diện chất lượng và số lượng, lực lượng giảng viên tại đây đã ngang bằng với khoa luật của các vùng của Pháp. Trường đã có tám giáo sư thực thụ, trong số đó có sáu người đã có bằng chuyên gia cao cấp (hay Bằng chuyên môn cao cấp) (agrégé, agrégation6).7             Danh sách  Giảng viên tại Trường Luật năm 1940-Personnel enseignant de l’École supérieure de Droit en 1940          Họ tên      Vị trí, học hàm học vị      Môn phụ trách          1. Camerlynk      Hiệu trưởng, giáo sư thực thụ hạng 4 các khoa luật (Directeur, Professeur titulaire de 4e classe des facultés de Droit)      Droit civil (1er année), Droit pénal (2e année)          2. Kherian      Chuyên gia cao cấp, Giáo sư (Agrégé des Facultés de Droit, Professeur titulaire de l’École)      Économie politique (1er, 2e et 4e années)          3. Guillien      Chuyên gia cao cấp, Giáo sư (Agrégé des Facultés de Droit, Professeur titulaire de l’École      Droit constitutionnel (1er année), Droit administratif (2e et 4e années)          4. Dennery      Chuyên gia cao cấp, Giáo sư (Agrégé des Facultés de Droit, Professeur titulaire de l’École)      Droit civil, procédure, Droit international, privé (3e année)          5. Comby      Chuyên gia cao cấp, Giáo sư (Agrégé des Facultés de Droit, Professeur titulaire de l’École)      Législation coloniale (3e année)          6. Pinto      Chuyên gia cao cấp, Giáo sư (Agrégé des Facultés de Droit, Professeur titulaire de l’École)      Législation coloniale (3e année)          7. Andt      Giáo sư (Professeur titulaire de l’École)      Droit romain (1er et 2e années), Histoire du Droit (1er année)          8. Chabas      Giáo sư (Professeur titulaire de l’École)      Droit civil (1er année), Droit commercial (3e année), Doit pénal (4e année)          9. Olivier      Giảng viên thỉnh giảng (Conseiller à la Cour d’Appel de Hanoi, chargé d’enseignement)      Droit civil annamite (4e année)          10. Nadailiat      Giảng viên thỉnh giảng (Conseiller à la Cour d’Appel de Hanoi, chargé d’enseignement)      Procédure (4e année)             11. Doudet      Giảng viên thỉnh giảng (Directeur des Archives et Bibliothèques de l’Indochine-Chargé de cours)      (Cours d’études juridiques indochinois)          12. Domec      Giảng viên thỉnh giảng (Directeur du Personnel au Gouvernement général Chargé de cours)      Formation professionnelle et rédaction administrative (Cours d’études juridiques indochinoise)          13. Guiriec      Giảng viên thỉnh giảng (Directeur des Bureaux à la Résidence Supérieure au Tonkin Chargé de cours)      Questions sociales indochinoises (Cours d’études juridiques indochinoise)          14. Guiriec Nadailiat      Giảng viên thỉnh giảng (Procureur de la République- Chargé de Cours)      Organisation judiciaire et Procédure civile applicable aux Indochinois (Cours d’études juridique indochinoise)          Source : ANP, AJ/16/8339, Rapport sur la session d’examens de l’École supérieure de Droit (mai 1940)             Trong thời kỳ chiến tranh, một số giáo sư, giảng viên được huy động tham gia nghĩa vụ. Lực lượng giảng viên của trường bị tổn thất. Giáo sư Dennesy đã hy sinh vì nước Pháp vào ngày 23/9/1940 tại chiến trường Lạng Sơn8 (sự kiện Nhật vào Đông Dương và tiến qua Lạng Sơn), giáo sư Edouard Andt mất ngày 05/11/1941.9 Lực lượng giáo sư, giảng viên còn lại đã phải cáng đáng một số lượng công việc lớn vì số sinh viên tăng lên đáng kể, ngoài ra còn có thêm một số chứng chỉ được mở ra.10    Nghiên cứu các báo cáo của chính quyền và của các giáo sư của Khoa Luật Paris được cử sang chủ trì các kỳ thi tại Hà Nội cho thấy họ có tinh thần khách quan, độc lập, nghiêm túc trong đánh giá. Họ luôn làm đúng trách nhiệm để đảm bảo chất lượng, đồng thời có những đề xuất để phát triển trường Luật Đông Dương với tư cách là một bộ phận của Khoa Luật Paris. Ví dụ, một hành động rất thiết thực và ý nghĩa đó là vào năm học 1934-1935, nhờ sự can thiệp của giáo sư Gidel, 300 luận án của Khoa Luật Paris được bổ sung cho trường Luật Hà Nội, đó là những tài liệu quý giá cho giáo sư và sinh viên ở Hà Nội.11 Đây là điều rất được trân trọng. Các giáo sư trường Luật Đông Dương từ Pháp sang công tác ở đây cũng thường tự hào là họ có nhiệm vụ bảo vệ những truyền thống cao đẹp của đại học. Họ cố gắng giữ thái độ độc lập, không muốn dính líu tới chính sách của nhà cầm quyền thuộc địa. Sau khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu, để khỏi gây mâu thuẫn với phủ toàn quyền theo chế độ Pétain, Vichy, các giáo sư phải tìm hình thức cộng tác không thương tổn tới quy chế độc lập của họ.12     Đào tạo nghiên cứu sinh luật khoa     Từ đầu năm 1937, trong một báo cáo của mình về trường Luật Đông Dương, giáo sư Gabriel Le Bras đã nêu quan điểm ủng hộ mạnh mẽ việc thành lập tại trường Luật Hà Nội một ban đào tạo nghiên cứu sinh. Theo ông, có những lý do sau:13    – Thứ nhất: để đáp ứng đề nghị của sinh viên (các sinh viên khoa luật thường gửi đến các giáo sư từ Paris sang những lời đề nghị, trong đó có đề nghị việc mở khóa đào tạo nghiên cứu sinh luật tại Hà Nội).    – Thứ hai: là một cơ sở giáo dục đại học thực sự và trọn vẹn phải đạt đến mức đào tạo nghiên cứu sinh tốt nghiệp với một luận án tiến sĩ.    – Thứ ba: đây là cơ hội tốt để cho các giáo sư và sinh viên tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, nhất là về những vấn đề tại Đông Dương.    – Cuối cùng: Trường sẽ thu hút hơn sự chú ý của những người nước ngoài và sinh viên những nước lân cận có thể quan tâm về vấn đề đào tạo nghiên cứu sinh. (Đây là vấn đề mở rộng, gây ảnh hưởng văn hóa Pháp ra bên ngoài).    Giáo sư Le Bras đã dự kiến một chương trình hoàn chỉnh cho việc đào tạo nghiên cứu sinh luật tại Hà Nội, cụ thể là sau khi có bằng cử nhân, cần phải học tiếp và lấy các chứng chỉ sau: tư pháp, công pháp, kinh tế chính trị, lịch sử khoa học và cuối cùng là bảo vệ một luận án tiến sĩ. Năm 1937, hai học giả về luật và kinh tế có tiếng ở Pháp bấy giờ là Gaëtan Pirou và Jean Escarra đã đưa ra một phương án đơn giản và thực tế hơn. Nghiên cứu sinh thay vì phải học bốn chứng chỉ thì chỉ cần hoàn thành hai chứng chỉ trước khi bảo vệ luận án: Một chứng chỉ về tư pháp theo mô hình bên Pháp, và một chứng chỉ nghiên cứu chuyên sâu về Đông Dương. Tên của hai chứng chỉ này là: Nghiên cứu về tư pháp và Nghiên cứu về kinh tế chính trị (“Études supérieures de Droit privé” và “Études supérieures d›Economie politique”). Số lượng sinh viên đăng ký học hai chứng chỉ này đã tăng từ 39 vào năm học 1942-1943 lên 47 vào năm 1943-1944. Cuối cùng, khi làm luận án, học viên sẽ được định hướng nghiên cứu chủ yếu những vấn đề về luật và kinh tế Đông Dương và vùng Viễn Đông.14      Gabriel Le Bras (1891 – 1970), một nhà nghiên cứu luật pháp và một thẩm phán có tiếng ở Pháp, người ủng hộ mạnh mẽ việc Đại học Luật Đông Dương cần mở chương trình đào tạo nghiên cứu sinh.    “Tôi ghi danh học chứng chỉ Cao học Tư pháp (Diplôme d’Études supérieures de Droit privé) từ tháng 10 năm 1942, nhưng chỉ có thể đến tham khảo ở Thư viện Đại học hằng ngày cho tới tháng giêng 1943, vì từ lúc đó trở đi tôi phải làm việc ở Phủ Toàn quyền. Học cao học tư pháp luôn luôn phải tra cứu các bộ tạp chí pháp luật Dalloz và Sirey: vì bận đi làm, tôi chỉ có thể tới thư viện chiều thứ bảy và sáng chủ nhật, do đó việc nghiên cứu rất khó khăn, thay vì đậu ngay khóa tháng 5/1943, tôi phải đợi khóa tháng chín năm đó mới đậu nổi và đậu một cách chật vật. Tháng 10 cùng năm tôi ghi danh học chứng chỉ Cao học Kinh tế chính trị, Diplôme d’Études supérieures d’Economie politique. Học chứng chỉ này tôi có thể mượn sách của thư viện để về nhà đọc. Mỗi lần có thể mượn hàng chục cuốn sách(…). Khi đọc sách kinh tế chính trị, tôi thấy hấp dẫn đặc biệt. Tôi còn nhớ có hai cuốn sách đã biến tôi thành một tín đồ nhiệt thành của môn kinh tế học. Cuốn thứ nhất nói về tiền tệ của tác giả Hartley Withers nhan đề What is Money? dịch ra Pháp văn là Qu’est ce que le monnaie (Tiền tệ là gì). Tôi bắt đầu đọc vào buổi tối và say mê đến nỗi thức trắng đêm để đọc cho hết cuốn sách. Cuốn sách của Withers đã thúc đẩy tôi khảo cứu thêm về vấn đề tiền tệ, tín dụng và đặc biệt là các phương pháp mà nhà nước có thể áp dụng để chỉ huy kinh tế qua tiền tệ và tín dụng. Lúc làm luận văn để thi tôi đã chọn đề tài tiền tệ. Giáo sư Khérian phụ trách ban cao học kinh tế rất hãnh diện về cái luận văn của tôi nên yêu cầu tôi đưa thêm cho ông một bản để ông gửi cho ông Gannay, lúc đó làm Tổng Giám đốc Đông Dương Ngân hàng Hà Nội (…). Lúc bấy giờ chủ tâm của ông Khérian chỉ là để khoe với ông Gannay là ban Cao học Kinh tế của trường Luật Hà Nội không phải chỉ hữu danh vô thực, lạm dụng danh hiệu để lập lờ đánh lận con đen. Trái lại, nó có thể đào luyện những chuyên viên có trình độ tương đương với các sinh viên Tiến sĩ ở Pháp”. 15    Theo một tổng kết ngắn16, tính đến năm 1944, Đại học Luật Đông Dương mỗi năm cấp khoảng 30 bằng cử nhân luật và tính đến ngày 9/3/1945, Trường đã đào tạo được khoảng 260 cử nhân luật, trong đó có 220 người Việt Nam. Đó là chưa kể số người được đào tạo thành công để nhận các chứng chỉ các khác. Trong số những người nước ngoài học tại đây có cả người Pháp đang sinh sống tại Đông Dương. Điều này cho thấy định kiến trường chỉ là nơi dành cho người bản xứ đã phần nào bị xóa bỏ. Sinh viên theo học trường ngày càng tăng trong những năm 1940 và Đại học Luật Đông Dương vươn lên chiếm vị trí hàng đầu trong tổng số sinh viên của Đại học Đông Dương khi đó.      Sinh viên và giảng viên trường Luật Đông Dương trong khoảng năm 1939-1941    Tuy nhiên, sự kiện Nhật- Pháp bắn nhau vào ngày 9/3/1945 đã khiến Đại học Luật Đông Dương phải đóng cửa. Vì vậy, theo ông Vũ Quốc Thúc, một trong những nghiên cứu sinh đầu tiên của trường Luật Đông Dương, thì chưa có sinh viên nào kịp bảo vệ luận án tại đây. 17 Bản thân ông cũng đang chuẩn bị trình luận án, nhưng cũng không kịp và sau này đã sang Pháp bảo vệ thành công luận án vào tháng 5/1950 và được đánh giá cao.18     Trường Đại học Luật Đông Dương và việc phổ biến tư tưởng tiến bộ của nhân loại     Từ 1937, giáo sư Pirou đã nêu quan điểm rằng trường luật không nên chỉ dừng lại ở vai trò giáo dục. Nó còn phải thực hiện nhiệm vụ về khoa học, đó là làm cho mọi người vùng Viễn Đông biết về văn hóa lập pháp và nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về pháp luật và kinh tế tại Đông Dương.19    Trong những năm tồn tại, trường Luật Đông Dương đã góp phần hiệu quả vào việc lan tỏa tư tưởng pháp quyền của phương Tây. Ông Vũ Quốc Thúc đã viết trong hồi kí của mình: “Ngay trong buổi khai giảng đầu tiên, giáo sư Camerlynck, khoa trưởng trường Luật khoa Đại học, đã bàn về tinh thần pháp luật. Ông ta đã nói một cách vô cùng hấp dẫn, nghe tới đâu tôi hiểu tới đó và cảm thấy hoàn toàn đồng ý. […]”20 “Trong giáo trình của các đại học Luật khoa theo kiểu mẫu Pháp có ba bộ môn, đối với tôi là cả một sự khám phá, vì nhờ các bộ môn này tôi đã nhìn thấy một chân trời mới giống như một kẻ vừa ra khỏi hang tối được thấy ánh sáng Mặt trời. Trước hết là bộ môn tư pháp gồm những bộ môn như dân luật, hình luật, luật thương mại, tố tụng, tổ chức tư pháp, luật La Mã vv… Từ lâu tôi vẫn tưởng rằng những kẻ học luật phải thuộc lòng các điều khoản phức tạp khô khan ghi trong các bộ luật. Tôi nghĩ rằng nếu phải dùng trí nhớ như vậy, kẻ học luật chẳng khác chi một con vẹt thông thái. Sau khi nghe các giáo sư giảng bài tôi mới nhận thấy điều cần phải lĩnh hội và nếu hưởng ứng, ghi sâu trong tâm khảm, chính là tinh thần pháp trị, là những nguyên tắc trác việt đã khiến cho người ta phải chấp nhận các điều khoản được ghi trong các bộ luật. Những điều khoản này dĩ nhiên phức tạp vì phải áp dụng cho nhiều trường hợp cụ thể, nhưng bao giờ cũng suy diễn từ một số nguyên lý căn bản. Một khi đã lĩnh hội được nội lý ấy, kẻ học luật không cần phải thuộc lòng mọi điều luật, đó là một sự cố gắng vô ích. Vì mỗi khi cần, người ta có thể tra cứu các bộ luật in sẵn.[…] Bộ môn thứ hai giúp tôi “giác ngộ”, chính là môn Chính trị học. Ta thừa hiểu là nếu chính quyền Pháp bằng lòng cho thiết lập một trường Đại học Luật khoa ở Hà Nội để trấn an dư luận sau các biến cố năm 1930, họ vẫn ngần ngại chưa dám cho thiết lập một trường Đại học Chính trị giống như Institut d’E’tudes Politiques ở Paris. Mặc dù vậy nhờ ở một số môn nằm trong giáo trình các trường Đại học Luật Khoa, sinh viên có thể gián tiếp tiếp cận bộ môn chính trị học. Đó là các môn: Luật hiến pháp, Pháp chế sử, Quốc tế công pháp, Luật hành chính, Luật tài chánh. Theo đúng tinh thần, phải vượt qua bề ngoài các định chế, nhìn xuyên qua lời lẽ các luật lệ để tìm hiểu những nguyên lý trác việt, các giáo sư trường Luật đã luôn luôn dựa trên chính trị học để giảng bài cho sinh viên. Chính vì vậy mà họ đã đem lại cho sinh viên bản xứ cơ hội để nhận thức sự mâu thuẫn trầm trọng giữa những gì được đề cao ở trường Luật Hà Nội và thực tế thuộc địa vô cùng tàn nhẫn, bỉ ổi. […]”       Kết quả đậu cử nhân của của khóa năm 1938, trong đó có tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp  Bộ môn thứ ba đã kích thích óc hiếu kỳ của tôi là kinh tế học. Hồi đó, tức là năm 1939, môn kinh tế học chưa được giới đại học Pháp coi là một khoa học trưởng thành nghĩa là có những quy luật chính xác ai nấy đều tín cẩn. Môn này còn được gọi là kinh tế chính trị học, Économie politique, nói khác nó là một phần của chính trị học chuyên dạy về những học thuyết kinh tế để giúp cho những kẻ làm chính trị.(…). Môn kinh tế học chỉ được dành một chỗ đứng rất khiêm tốn trong giáo trình của Luật khoa Đại học.( …). Mặc dù vậy, tôi đã rất chú ý tới môn này vì thấy người ta đã giải thích một cách khoa học những sự kiện thông thường trong cuộc sống hằng ngày, như hiện tượng vật giá lên xuống, hiện tượng tiền tệ lưu thông, vv… Mặt khác, qua lịch sử các học thuyết kinh tế, tôi đã có một ý niệm mặc dù mơ hồ về một vài chủ thuyết lúc đó bị nhà cầm quyền thuộc địa nghiêm cấm như chủ thuyết Mác, Ăng Ghen, chủ thuyết Quốc gia kinh tế.” 21  ***  Sau khi có chiến tranh nổ ra vào cuối năm 1946, Pháp chiếm đóng lại Hà Nội, trường Luật vẫn duy trì hoạt động tuyển sinh, đào tạo cho đến năm 1954 khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản Hà Nội trong hòa bình. Điều này cho thấy việc mở trường luật, ngay từ lúc đầu, là việc làm nghiêm túc của người Pháp khi đó.    Những người có bằng cử nhân luật tại trường Luật Đông Dương được công nhận giá trị như bằng cử nhân luật bên Pháp. Liệu có gì mâu thuẫn không khi mà một nước đến nước khác xâm lược rồi đô hộ và cai trị lại đi mở trường để dạy cho dân thuộc địa về luật như bên nước họ? Thực ra đó là xuất phát từ tư tưởng coi trọng và thực thi quản lý xã hội bằng pháp luật.    Mặc dù, Việt Nam vẫn là một nước bị đô hộ và người dân vẫn phải chịu bất công trong nhiều lĩnh vực. Và, những cuộc khởi nghĩa đòi độc lập dân tộc đều bị đàn áp thẳng tay vào thời kì đó. Tuy nhiên, trong đời sống thường ngày, từng bước đã có các văn bản pháp luật, các quy định và hướng dẫn thực hiện được ban ra để các cá nhân và các tổ chức tuân thủ trong hầu hết các lĩnh vực như tổ chức hành chính, giáo dục, y tế, kinh tế (mở công ty tư, kinh doanh, trường tư), báo chí, thuế, môi trường, vệ sinh, xây dựng, tranh chấp dân sự, gia đình, hôn nhân vv…. Thời đó cũng đã có luật sư tranh tụng trước tòa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân và tổ chức theo luật.    Khi trường Luật ra đời cũng có ý đào tạo các tri huyện có trình độ cử nhân luật, am hiểu pháp luật (sau còn phải học thêm một vài chứng chỉ khác liên quan đến phong tục tập quán mới có thể được thi, tập sự rồi mới được bổ nhiệm làm quan tri huyện). Công bằng để đánh giá thì đó chính là việc nâng cao quản lý xã hội bằng pháp luật. Các ông tri huyện cử nhân luật Tây học sẽ thay dần cho các ông tri huyện theo chế độ quan lại cũ. Phân tích như vậy để thấy thêm được vai trò của trường. Ngoài ra, trường còn giúp cho một bộ phận, dù rất nhỏ, trong giới thanh niên nước ta khi đó được học hỏi, tiếp cận một cách có hệ thống với văn minh pháp quyền phương Tây, văn minh lập pháp. Mà văn minh đó thời nào cũng rất cần thiết để xây dựng xã hội. Bên cạnh đó, các sinh viên luật cũng được học những lĩnh vực khoa học mới mẻ nhưng rất hữu ích như kinh tế chính trị học. Thực tế là một bộ phận các cử nhân luật từ đây ra đã góp phần tích cực, hiệu quả vào việc soạn thảo, góp ý xây dựng hiến pháp tiến bộ năm 1946, hoặc vào cải cách tư pháp của nước ta, bên cạnh đó là vào nhiều lĩnh vực quan trọng trong xây dựng xã hội sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. □  —-  1 Le Rectorat d’Académi, Les œuvres culturelles en Indochine, op.cit, p.62.  2 AGEFOM//243, Faculté de Droit.  3 F.R. Giraud et Bui Ngo Hien, Université de Hanoi. Livret de l’étudiant indochinois, 1942-1943, publié par la Direction de l’Instruction Publicque, Hanoi, p.22-23.  4 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.159.  5 F.R. Giraud et Bui Ngo Hien, Université de Hanoi. Livret de l’étudiant indochinois, 1942-1943, publié par la Direction de l’Instruction Publicque, Hanoi, p.26.  6 Từ “agrégé” dịch sang tiếng Việt có khi dùng là thạc sĩ, nhưng như thế có thể bị hiểu lầm là bằng thạc sĩ cao học như hiện nay, tức cao hơn cử nhân một bậc. Thực tế bên Pháp để đạt bằng Agrégé khó và phức tạp hơn, thường thì thí sinh phải có bằng tiến sĩ và có kinh nghiệm rồi mới thi và đậu được. Đây cũng là điểm đặc biệt trong giáo dục của Pháp. Chúng tôi dịch là Bằng chuyên gia cao cấp, hoặc Bằng chuyên môn cao cấp (người có bằng này thì gọi là chuyên gia cao cấp).  7 ANP, AJ/16/8339, Rapport sur la session d’examens de l’École supérieure de Droit (mai 1940)  8 (Báo) Le Figaro, Le Carnet du Firago, no 326, le 22 novembre 1940.  9 Ông thọ 54 tuổi, nguồn : Association générale des étudiants de l’Université indochinoise, Le Monôme. Organe de l’Association générale des étudiantsde l’Université indochinoise. N°29, 1941-11, p.12.  10ANP, AJ/16/8339, Rapport sur le fonctionnement de la Faculté de Droit de l’Indochine (Pierre Lampué, novembre 1946)  11 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au grand Conseil des intérêts économiques et financières et au Conseil de gouvernement, session ordinaire de 1932, Hanoi, Impr Extrême-Orient, 1935, p.101.  12 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.158.  13 ANOM, Indochine, Nouveau Fonds, Carton 259, dossier 2229  14 ANP, AJ/16/8339, Rapport du professeur René Cassin sur le fonctionnement de l’École supérieur de Droit, le 3 juin 1939.  15 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.194-196.  16 Le Rectorat d’Académi, Les œuvres culturelles en Indochine, op.cit, p.63.  17 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.159.  18 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.279.  19 ANP , AJ/16/8339,  Rapport sur l’École supérieure de Droit de Hanoi 1937 (de Mr Pirou).  20 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.147.  21 Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, cuốn II, Đời tôi trải qua các thời biên, Nxb Người Việt, 2010, tr.153-156.    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Trường đại học ở Trung Quốc chỉ chạy theo lợi nhuận      Mới đây, trên tờ Phương Nam, GS Khâu Thành Đồng (được thế giới biết nhiều hơn với cái tên phiên âm theo tiếng Quảng Đông: Shing-Tung Yau, sinh năm 1949 tại Hongkong, là nhà toán học gốc Hoa duy nhất đến nay đoạt huy chương Fields (được coi là giải Nobel Toán học), hiện giảng dạy tại ĐH Harvard) đã có bài trả lời phỏng vấn gây xôn xao giới khoa học và đại học Trung Quốc khi phê phán họ chỉ biết chạy theo hư danh, tiền bạc mà bỏ rơi chất lượng nghiên cứu, đào tạo.    PV: Ông là giáo sư của đại học Princeton, là nơi đào tạo rất nhiều nhà khoa học xuất sắc. Ông có cho rằng một trường đại học kiểu Princeton có thể xuất hiện ở Trung Quốc?  KTĐ: Có được một trường đại học như vậy không hề đơn giản. Điều chủ yếu lãnh đạo khoa học của trường là ai? Ngay từ đầu Princeton đã là trường đại học hạng nhất, bởi Einstein đã đến đó, rất nhiều nhà khoa học vĩ đại nhất đã đến đó. Trường còn có sự tài trợ hạng nhất. Có môi trường nghiên cứu hạng nhất, có những người trẻ tuổi hạng nhất tới học, hai thứ đó kết hợp thành một trường đại học hạng nhất.  Ông có nghĩ Trung Quốc có thể sao chép mô hình đó?  Mấu chốt vấn đề là Trung Quốc có thể có  những nhà khoa học hàng đầu thế giới hay không? Hiện tại, Trung Quốc chưa có. Một giáo sư nổi tiếng một năm được trả 400.000 đô-la, hiện Trung Quốc chưa thể hậu đãi như vậy. Không những không đủ nhiều tiền, vấn đề nhân sự của Trung Quốc cũng quá phức tạp.  Tiền hoạt động của Princeton hoàn toàn do các quỹ tư nhân cung cấp, song hầu hết các cơ sở nghiên cứu của Trung Quốc đều do nhà nước quản lý. Như Kế hoạch 863*, bao gồm một số phòng thí nghiệm quốc gia… đều do Nhà nước, Bộ Khoa học-Kĩ thuật và Bộ Giáo dục nắm. Theo ông, mô hình quản lý đó ảnh hưởng tới khoa học kĩ thuật như thế nào?  Quan trọng là có người làm được hay không. Vấn đề của khoa học Trung Quốc hiện nay là: chỉ biết quẳng một khoản tiền vào một chương trình, đề tài, nhưng tìm không ra chủ nhiệm thích hợp.  Ông nói tìm không ra người thích hợp, là do thiếu năng lực hay do cơ chế?  Cả hai. Trung Quốc có rất nhiều chương trình lớn và mời rất nhiều chuyên gia “nổi tiếng” nước ngoài dành toàn bộ thời gian tham gia. Những người đó thực chất đều giả dối. Các giáo sư nổi tiếng nước ngoài đều giảng dạy toàn thời gian. Theo quy định, họ phải ở Mỹ 9 tháng (để nghiên cứu). Ví như giáo sư Harvard, họ phải ở  Mỹ 9 tháng, chỉ có 3 tháng có thể ra ngoài. Vì sao lại có một số chuyên gia giả dối? Vì có tiền là có người theo. Đại học Bắc Kinh cũng được, đại học nào cũng được. Trả lương cả năm, một năm mấy trăm vạn tệ, sao không làm?  Nhưng chính ông kiêm giáo sư của rất nhiều trường ở Bắc Kinh, Triết Giang. Phê phán như vậy chẳng phải ngược đời sao?  Tôi không nhận một đồng nào của các cơ sở trong nước, vé máy bay tôi cũng tự trả. Nhưng người kia đều lấy tiền nhà nước, không chỉ lương, mà còn cả kinh phí, để tiếp đãi bạn bè, thường là vé máy bay hạng nhất, đón tiếp ở khách sạn 5 sao. Nếu không lấy đồng nào như tôi, họ tuyệt không dám làm như vậy.  “Học giả của một trường đại học nổi tiếng” – dùng cái danh đó có thể moi được Bộ Giáo dục một khoản tiền lớn. Kiểu người như thế không chỉ một, mà rất nhiều. Tờ New York Times nói 40% nhân tài mà Đại học Bắc Kinh mời là từ nước ngoài. Anh thử tới Mỹ kiểm tra một lượt xem, tôi bảo đảm phần lớn là giả dối.  Ông có cho rằng phương thức mời như vậy có thể thúc đẩy khoa học không?  Có thể thúc đẩy cái gì? Cách đó là lừa mình dối người! Sinh viên thì nhận hướng dẫn rồi, mác Đại học Bắc Kinh thì đeo rồi, lại còn nhờ người khác dạy thay, đó là lừa đảo. Vì sao các trường đại học lớn trong nước phải làm cái việc trái lẽ đó? Bởi trường có thể  hưởng lợi, mời được giáo sư tên tuổi này kia sẽ lấy được một khoản tiền. Mời một người, có thể mang về cho trường mấy chục triệu tệ, tội gì không mời? Trưng cái tên đó lên, giáo viên của trường cũng thơm lây; trưng cái tên đó, xếp hạng của trường cũng tăng lên. Nhà trường kiếm được vài triệu, số tiền đưa anh (tức giáo sư được mời -PV) thì đáng bao? Mà có phải tiền của họ đâu, là tiền nhà nước. Nạn nhân là ai đây? Là xã hội, là nghiên cứu sinh.  Hướng dẫn sinh viên ở Trung Quốc cũng gọi là giáo sư. Ông thấy thế nào?  Thầy hướng dẫn ở Mỹ cũng gọi là giáo sư. Nhưng thực chất nó không giống ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, sinh viên giúp anh viết luận án, làm thuê cho anh, một năm viết cho anh mấy chục bài báo. Hiện nay rất nhiều trường đại học ở Trung Quốc chỉ chạy theo lợi nhuận, theo tiền, theo kinh phí. Kết quả nghiên cứu thật thì không  ai quan tâm.  Trước kia trong giới giáo dục có quan niệm “giáo dục là hàng hóa”, ông nghĩ sao?  Giáo dục Trung Quốc đi theo con đường rất nực cười. Trường Đại học Đại Hưng Trung Quốc biến thành xí nghiệp, thành công xưởng có thành công không? Thực chất không thành công, bởi thành công của nó không liên quan gì tới giáo dục. Chẳng qua chỉ là xí nghiệp lợi dụng cơ sở của vật chất của nhà trường để kiếm ăn.  Trên thế giới không ở đâu như Trung Quốc, Nhà nước đổ bao nhiêu tiền của vào Bộ Giáo dục là để họ xây dựng sản nghiệp hay bồi dưỡng nhân tài?  Với cơ chế hiện nay, ông cho là có thể đào tạo được nhân tài không?  Ngày nay giáo sư có danh ở Trung Quốc không dạy sinh viên. Vì sao vậy? Tất cả chỉ vì lợi ích bản thân, bởi vậy mà trình độ sinh viên ngày nay kém trước rất nhiều. Còn giáo sư trường Harvard chúng tôi buộc phải tiếp xúc với sinh viên. Nếu không, không được làm giáo sư.  Sinh viên Đại học Bắc Kinh không thoải mái khi nghe tôi nói :”Các bài báo của sinh viên Harvard đăng trên những tạp chí hàng đầu còn có chất lượng hơn các bài báo của một số viện sĩ Trung Quốc”. Họ cảm thấy bị chọc tức, song đó là sự thật. Trên các tạp chí toán học nổi tiếng của Mỹ, mười năm nay người Trung Quốc chỉ đăng được 20, 30 bài. Nhưng sinh viên Harvard của chúng tôi thường đăng bài trên đó.  Có quan niệm phổ biến trong các trường đại học là “vừa giảng dạy vừa nghiên cứu”, nhưng đại học Trung  Quốc chỉ chú trọng nghiên cứu mà xem nhẹ dạy học.  Tất cả các trường đại học nổi tiếng của Mỹ đều phải quan tâm một việc là: đã nghiên cứu thì phải dạy học. Các giáo sư có danh của Trung Quốc không dạy học, chỉ nghiên cứu. Thế nhưng chất lượng nghiên cứu có khá hơn trước không? Trái lại. Mười năm nay, trình độ sinh viên Đại học Bắc Kinh xuống thê thảm. Mà nghiên cứu của những giáo sư có danh kia có khá hơn không? Tuyệt đối không! Cứ tra xem những bài nghiên cứu đăng ở đâu thì khắc rõ!  Ở Trung Quốc, thường thấy hiện tượng quan chức chuyển sang làm viện sĩ.  Ở Trung Quốc còn một hiện tượng đã làm hiệu trưởng rồi còn làm viện sĩ, mà không phải là làm viện sĩ rồi mới làm hiệu trưởng. Tôi nói thẳng, ở Trung Quốc muốn làm viện sĩ chỉ cần có đủ tiền là mua được. Ở Hongkong cũng có nhiều người làm như vậy.  Thế còn Mĩ?  Mỹ có muốn làm cũng không được.  Vì sao vậy?  Viện Khoa học Quốc gia Mỹ (The National Academy of Science – ND) cũng có vài ba người không đủ chuẩn, nhưng 90% trở lên là giỏi thực sự. Ở Trung Quốc, đâu cũng thấy tiền tài mua danh vị, danh giáo sư cũng được, danh viện sĩ cũng được, không thấy sỉ nhục. Một số vị học phiệt làm chủ tịch rất nhiều cuộc bình xét, họ cho anh một giải thưởng, bảo anh phải bầu người nọ người kia làm viện sĩ. Ai nắm kinh phí là người đó có năng lực bình xét, là có năng lực ảnh hưởng.  Theo ông, làm thế nào để dẹp bỏ hiện tượng này?  Theo tôi, có thể bãi bỏ chế độ viện sĩ. Một nhóm, cứ cho là nhóm có trình độ khoa học cao nhất mà kết quả là 60% danh không xứng với thực thì sự tồn tại của nhóm đó có nghĩa gì?  Một số giáo sư, viện sĩ của Trung Quốc hiện dùng thời gian để kéo quan hệ, kiếm đề tài; nhà trường ủng hộ việc họ lấy tiền mua chức viện sĩ, đồng thời cũng ủng hộ họ lấy danh viện sĩ để kiếm đề tài. Vấn đề đó giải quyết thế nào?  Khi Bộ Giáo dục đánh giá các trường đại học tốt hay không tốt, việc đầu tiên là hỏi trường đó có bao nhiêu viện sĩ mà không hỏi trình độ họ như thế nào. Thật kì quái! Cơ chế đánh giá không hoàn thiện chính là căn bệnh lớn nhất của giới khoa học Trung Quốc.  Theo ông, cơ chế đánh giá phải như thế nào?  Công bằng. Xây dựng thành công cơ chế đánh giá thì bất kì vấn đề khoa học nào cũng có thể giải quyết được. Tìm những nhà khoa học hạng nhất, đi đầu nhất, thành lập một hội đồng, cùng thảo luận, thì không mất bao nhiêu công cũng thu được kết quả. Harvard làm như vậy, cả thế giới cũng làm như vậy, chỉ có Trung Quốc không muốn làm. Không làm bởi sợ thiệt hại lợi ích bản thân.  Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc, lại về nước thường xuyên nên rất hiểu tình hình trong nước. Vậy vì sao ông lại dùng cách phê phán trực tiếp mà không dùng cách thức truyền thống?  Tôi phê phán Đại học Bắc Kinh bao lần rồi mà họ không thay đổi, để lớp trẻ hiện nay phải chịu hậu quả. Tôi tận mắt chứng kiến nhiều nhà khoa học trẻ bị vùi dập, tôi bày tỏ thế nào cũng không tác dụng.  Là thành viên của Viện Khoa học Quốc gia Mỹ, khi bàn bạc để bầu viện sĩ hải ngoại ở Châu Á, nhất là ở Trung Quốc, tôi phải tìm đỏ mắt 5 năm trời mới chọn ra được một người. Trình độ khoa học của Trung Quốc không bằng người ta, thế nhưng họ cứ khăng khăng bảo là hơn người, thì tôi không có cách nào cả.  Mấy năm trước, Trung Quốc ghép các trường đại học lại để “thành lập trường đại học hàng đầu thế giới”, ông thấy thế nào?  Chỉ trọng số lượng mà xem nhẹ chất lượng thì có ghép bao nhiêu trường đại học, tuyển bao nhiêu sinh viên, đẻ ra bao nhiêu nghiên cứu, cũng không làm nên nền khoa học hàng đầu, xuất hiện những nhà khoa học hàng đầu. Không có cơ chế  xem trọng chất lượng, khoa học Trung Quốc vĩnh viễn tụt hậu.  (Xinhuanet.com)  —————————-  * Kế hoạch nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc, bắt đầu từ tháng 3/1986.  Trước đó,  hè 2005, Khâu Thành Đồng về Trung Quốc, và trong một loạt phỏng vấn với các nhà báo, ông tấn công Điền Cương và các nhà toán học tại  Đại học Bắc Kinh. Trong một bài báo đăng trên một tờ báo khoa học Bắc Kinh với tựa đề “Khâu Thành Đồng lên án nạn tham nhũng trong giới hàn lâm Trung Quốc,” ông cáo buộc Điền Cương cùng một lúc đã giữ chức vị giáo sư tại nhiều nơi và đã đòi 125 nghìn đô-la cho vài tháng làm việc tại một trường đại học tại Trung Quốc, trong khi các sinh viên phải sống thiếu thốn. Ông cũng buộc tội Điền Cương gian lận học bổng, ăn cắp ý tưởng và ép buộc các nghiên cứu sinh phải đề tên mình vào bài báo của họ. Điền Cương hoảng hốt khi bị Khâu Thành Đồng tấn công, nhưng vì đã là học trò của Khâu, Điền Cương cảm thấy không thể làm được gì: “Tôi có cội rễ sâu xa trong văn hóa Trung Quốc. Thầy là thầy, và luôn đáng kính. Rất khó khăn cho tôi khi nghĩ mình sẽ phải làm gì.”    (Theo Manifold Destiny – The New Yorker)      VĂN AN dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường đại học trong thời đại trí tuệ nhân tạo      Trong 50 năm nữa, trí tuệ nhân tạo và học máy sẽ mạnh hơn hẳn hiện nay, công nghệ sẽ thay thế lao động của con người vì công nghệ hoạt động hiệu quả hơn con người trong hầu hết các công việc. Giáo dục đại học chuẩn bị gì cho sinh viên trước sự kiện này?      Trí tuệ nhân tạo (AI) và robot đang khiến cho các đại học phải tìm cách định vị lại vai trò của mình. Ảnh: Arkos.vn   Gần đây tôi được đề nghị giữ chức chủ tịch một trường đại học ở Kazakhstan, với ba môn học chính: kinh doanh, kinh tế học và luật pháp; giảng dạy theo chuyên ngành hẹp, mặc dù nghiêm khắc về mặt tri thức. Tôi đang xem xét công việc này, nhưng tôi có đưa ra mấy điều kiện.  Tôi đề nghị chuyển trường đại học này thành cơ cở giáo dục, trong đó sinh viên tiếp tục tập trung vào ba môn chính, nhưng họ cũng phải hoàn thành “chương trình học tập cốt lõi” về nhân văn, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên – trong đó có khoa học máy tính và thống kê. Sinh viên còn phải chọn một đề tài phụ từ một trong những môn khoa học nhân văn hay khoa học xã hội.  Có nhiều lý do để nhấn mạnh quá trình chuyển đổi như thế, nhưng quan trọng nhất, theo tôi, là cần phải chuẩn bị cho sinh viên mới ra trường để họ có thể thích ứng với thế giới, trong đó trí tuệ nhân tạo và công nghệ dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo ngày càng có vai trò nổi bật hơn. Muốn thành công trong công việc, sinh viên sẽ cần phải có những kĩ năng mới.  Trong 50 năm nữa, trí tuệ nhân tạo và học máy sẽ mạnh hơn hẳn hiện nay, công nghệ sẽ thay thế lao động của con người vì công nghệ hoạt động hiệu quả hơn con người trong hầu hết các công việc. Giáo dục đại học phải đào tạo sinh viên để họ có thể đối đầu với sự kiện này. Giả sử rằng trí tuệ nhân tạo sẽ chuyển hóa việc làm trong tương lai, khi con người không còn có thể cạnh tranh với người máy, những người làm giáo dục phải suy nghĩ xem sinh viên mới ra trường cần những kĩ năng nào.  Dễ dàng dự đoán rằng những nhiệm vụ đơn giản sẽ biết mất trước tiên. Quá trình chuyển hoá này đang diễn ra trong những nước giàu có, nhưng sẽ cần một thời gian nữa mới tới những nơi như Kazakhstan. Khi xu hướng này tăng tốc, dân số cũng sẽ điều chỉnh theo cho phù hợp. Suốt nhiều thế kỉ, dân số tăng lên khi cơ hội kinh tế gia tăng; ví dụ, số người trong gia đình nông dân tăng lên khi nhu cầu tăng, đấy là vì cần nhiều lao động hơn để có thể sản xuất đủ hàng hóa cho người tiêu dùng.  Nhưng dân số hiện nay trên thế giới là không ổn định. Khi trí tuệ nhân tạo tiến sâu hơn vào nơi làm việc, công việc sẽ biến mất, tỉ lệ người có việc làm sẽ giảm, dân số sẽ giảm theo. Về nguyên tắc, thế là tốt – trái đất đang nứt ra thành từng mảng – nhưng sẽ khó quản lý trong ngắn hạn, đấy là khi tốc độ suy giảm dân số thấp hơn tốc độ suy giảm việc làm.  Ví lý do đó, thế hệ người lao động tiếp theo – các sinh viên hiện nay – cần được đào tạo đặc biệt thì mới thịnh vượng được. Đồng thời, và có lẽ hơn tất cả các thời kì trước đây, họ cần loại hình giáo dục có thể giúp họ tư duy một cách bao quát hơn và tạo ra những kết nối khác thường và bất ngờ giữa những lĩnh vực khác nhau.  Rõ ràng là, những người lãnh đạo trong tương lai phải thành thạo với máy tính – từ lập trình cơ sở tới mạng máy tính mô phỏng hoạt động của bộ não người – thì mới hiểu được cách thức máy móc kiểm soát năng suất là động và các quá trình phân tích. Sinh viên mới ra trường còn cần kiến thức về tâm lý học, đấy là chỉ nói, nếu muốn hiểu được “bộ não”của máy tính khác bộ não người ở chỗ nào. Và người lao động trong tương lai còn cần phải được giáo dục về đạo đức thì mới có thể định hướng được trong cái thế giới mà giá trị của con người không còn được coi là đương nhiên nữa.  Những người làm giáo dục cho những sinh viên tương lai này phải bắt đầu ngay từ bây giờ. Muốn không trở thành những người theo thuyết định mệnh mù quáng, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh phải nghiên cứu lịch sử kinh tế và chính trị. Các sinh viên kinh tế học phải học các môn kỹ thuật, như thể họ sẽ là các kỹ sư chịu trách nhiệm xây dựng lực lượng lao động trong tương lai vậy. Còn các sinh viên luật thì phải tập trung vào giao điểm giữa tập hợp dữ liệu lớn (big data) và nhân quyền, để họ có quan điểm thấu triệt, cần cho việc bảo vệ người dân khỏi những lực lượng có thể tìm cách “vắt chanh bỏ vỏ” những người mà họ đã sử dụng.  Ngay cả những sinh viên học những môn sáng tạo và giải trí cũng phải học khác đi. Vì lý do là, trong thế giới mà trí tuệ nhân tạo giữ thế thượng phong, mọi người đều cần được giúp đỡ để quản lý thời gian rảnh rỗi của mình. Chúng ta sẽ không thôi chơi quần vợt chỉ vì robot bắt đầu thắng giải Wimbledon; nhưng sẽ cần các kỹ năng tổ chức và giao tiếp mới thì mới giúp được người ta điều chỉnh những thay đổi trong sáng tạo và chơi. Cần những kĩ năng mới, được điều chỉnh cho phù hợp với thế giới mà trí tuệ nhân tạo giữ thế thượng phong thì mới quản lý được các ngành công nghiệp này.  Công việc trong tương lai có thể khác hẳn những kịch bản mà tôi có thể tưởng tượng ra, hay có thể gây ra nhiều đổ vỡ hơn; không ai biết. Nhưng, giáo dục đại học có trách nhiệm chuẩn bị cho sinh viên trước mọi tình huống có thể xảy ra – ngay cả những tình huống mà hiện nay dường như không thể nào xảy ra được. Chiến lược tốt nhất cho những người làm giáo dục trong bất kỳ lĩnh vực nào và bất cứ khi nào, là dạy kỹ năng làm cho con người trở thành con người, chứ không phải đào tạo sinh viên để họ có thể giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các công nghệ mới.  Dù tôi có làm ở đâu trong ngành giáo dục thì việc đào tạo các thanh niên để họ có thể đối mặt với tương lai cũng luôn luôn là công việc của tôi. Và hiện nay, tương lai đó dường như sẽ bị máy móc chi phối. Muốn thành công, những người làm giáo dục – và các trường đại học của chúng ta – phải tiến hóa.  Phạm Nguyên Trường dịch  Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary/artificial-intelligence-higher-education-by-andrew-wachtel-2018-02  —————–  * Andrew Wachtel là Chủ tịch của trường Đại học Mỹ của Trung Á.    Dù AI là tương lai, đại học vẫn cần phải duy trì những giá trị quá khứ   Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang đặt ra những thách thức, rằng đại học cần phải làm gì để tận dụng được các lợi thế do tiềm năng đó mang lại? Năm 2000, nhà giáo dục học người Mỹ Chuck M. Vest – nhân vật rất có uy tín tại Học viện Công nghệ MIT, trong bức thư gửi Hội đồng trường đã viết: “Liệu tương lai của giáo dục, công việc học tập và đào tạo, sẽ thuộc về môi trường kỹ thuật số nhờ các thế hệ máy tính đời mới, hay sự học tốt nhất vẫn phải đến từ nỗ lực tự thân của người học, nhờ vào những tương tác trực tiếp trong khuôn viên các ngôi trường. Tôi tin rằng câu trả lời là Cả hai”. Quan điểm này, sau đó đã được đúc kết lại trong cuốn sách “Pursuing the Endless Frontier: Essays on MIT and the Role of Research Universities” xuất bản năm 2005 (Tạm dịch: Theo đuổi giới hạn vô cùng: các tiểu luận về MIT và vai trò của Đại học nghiên cứu) Cũng theo Vest, đại học chính là phương tiện tốt nhất giúp đào tạo nên những cá nhân tài năng, có đóng góp quan trọng đối với sự hình thành tri thức, công nghệ và kỹ thuật mới. Vì vậy, để hoàn thành sứ mệnh của mình, các đại học cần thiết phải duy trì được sự cân bằng giữa “liên tục” và “thay đổi”. Từ “liên tục” ở đây được dùng để chỉ các giá trị thuộc về chiều sâu, cùng những nguyên tắc mang tính hướng dẫn; đó còn là sự cam kết “xuất sắc trong học thuật” và tính thiết yếu của những “cuộc đời trí tuệ”.     Hải Đăng tổng hợp (Nguồn: http://world.edu/ai-future-universities-must-retain-values-past/_         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Đại học Y Đông Dương: Một thập kỉ khởi đầu bấp bênh      Lời tòa soạn: Trường Y Hà Nội là một trong những trường đại học ra đời sớm nhất và nổi tiếng nhất ở Việt Nam, là cái nôi đào tạo ra những bác sĩ đầu ngành nổi tiếng như các ông Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung. Nhưng ít ai biết rằng, dù phát triển y tế là công việc cấp bách để duy trì ổn định xã hội và thúc đẩy kinh tế nhưng Trường Y Hà Nội lại có một quá khứ nhọc nhằn, có những lúc số y sĩ được đào tạo trong một khóa chưa đầy một bàn tay. Sự phát triển của Trường Y gắn liền với mâu thuẫn giữa mục tiêu chính trị của những nhà cầm quyền và mục đích khoa học của các giảng viên, giữa nền y học phương Tây và phương thức chữa bệnh truyền thống và cả trong bối cảnh chiến tranh ngổn ngang. Tiếp nối chuỗi bài về Đại học Luật Đông Dương, Tia Sáng xin giới thiệu đến với bạn đọc trường Đại học Y Đông Dương với lịch sử đầy thăng trầm của nó.       Trương Y Đông Dương, mặt tiền tòa nhà chính. Nguồn: La Dépêche coloniale illustrée. 15 décembre 1908.    Một trong những mốc khởi đầu của Trường Y Hà Nội là từ Nghị định số 565 ngày 12/8/1898 của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer nhằm thiết lập một Ban nghiên cứu những điều kiện tổ chức và vận hành một trường y. Theo nghị định này, Ban có sáu thành viên, gồm năm bác sĩ và một dược sĩ. Trưởng ban là bác sĩ Hénaff, Giám đốc Bệnh viện Chợ Quán Sài Gòn.1    Theo quan điểm của Paul Doumer, mục tiêu trước nhất của Trường Y Hà Nội không chỉ phải đào tạo được những bác sĩ đủ năng lực mà còn tham gia nghiên cứu khoa học về bệnh lý và xử lý các dịch bệnh hoành hành tại vùng Viễn Đông tác động đến những người châu Âu và người bản địa. Viễn kiến của ông về trường Y được nhắc đến trong báo cáo về tình hình Đông Dương năm 1901 rằng việc đào tạo tại Đông Dương một lực lượng y sĩ châu á bởi người Pháp sẽ là một phương tiện tích cực mở rộng ảnh hưởng văn hóa Pháp. Y sĩ được đào tạo tại Trường Y Hà Nội, ở lại hoặc đến các cơ sở y tế bên ngoài Đông Dương, sẽ phục vụ cho nước Pháp, đồng thời sẽ phục vụ cho nhân loại.2    Một điều thú vị là Trường Y ban đầu được dự kiến đặt tại Sài Gòn (Trưởng ban nghiên cứu việc thành lập trường cũng là bác sĩ Pháp ở Sài Gòn) nhưng cuối cùng lại chuyển hướng đặt ở Hà Nội. Lý do lựa chọn Hà Nội là những người thẩm định dự án thành lập dựa trên “số lượng và bản chất của các bệnh tác động đến dân Bắc Kỳ, tầm quan trọng của cư dân trong vùng này của thuộc địa, và sự cận kề với các tỉnh của Trung Quốc vốn đã diễn ra các hoạt động y học của Pháp”.3    Trường Y Hà Nội được thành lập chính thức vào tháng 1/1902. Ban đầu, tòa nhà chính của Trường Y Hà Nội được đặt ở làng Thái Hà, cách trung tâm Hà  Nội khoảng 5 km, gần với một bệnh viện mà ở đó có các hoạt động giảng dạy lâm sàng. Bệnh viện có tổng năm phòng, khoảng 40 giường bệnh, chật hẹp, khá xa trung tâm đô thị. Xung quanh bệnh viện, người ta có thể thấy những ao tù là nơi làm tổ của muỗi vằn. Một thời gian ngắn sau khi khai giảng, gần như tất cả sinh viên của trường và cả những người châu Âu ở đó đã bị sốt.    Thăng trầm buổi đầu thành lập     Mặc dù cơ sở vật chất thiếu thốn nhưng Trường Y lại có một khởi đầu khá bài bản về mặt học thuật. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là bác sĩ nổi tiếng Yersin. Ông cũng là người giảng dạy về động vật học. Ngoài ra còn có hai vị giáo sư thực thụ khác được tuyển từ Pháp sang thông qua một kỳ thi, bác sĩ Le Roy Des Barres và bác sĩ Degorce, họ đều là cựu nội trú của bệnh viện ỏ Paris. Hai vị giáo sư này sẽ ở lại, gắn bó lâu dài với trường và sau này họ sẽ lần lượt trở thành hiệu trưởng. Có hai người được giao phụ trách giảng dạy tiếng pháp và các khoa học căn bản. Hai người khác nữa phụ trách giảng dạy và một phiên dịch.4      Nghị định 565 thành lập ban nghiên cứu Y khoa của Paul Doumer.  Tuy nhiên, chưa đầy một năm sau đó, khi toàn quyền mới của Đông Dương là Paul Beau nhậm chức, số phận của Trường Y bị đảo lộn hoàn toàn. Paul Beau cho rằng hoạt động nghiên cứu ở Trường Y là không cần thiết: “Cơ quan này không nên là một trung tâm nghiên cứu cao cấp được giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở bậc cao nhất, mà là một cơ sở hướng dẫn nghề nghiệp. Đó không phải là cung cấp cho người học kiến thức khoa học tiên tiến nhất, mà là đào tạo các y sĩ bản địa, những người sẽ là trợ lý tốt của các bác sĩ châu Âu”.5    Quan điểm của Paul Beau trái ngược hoàn toàn với quan điểm của bác sĩ Yersin, người luôn mong muốn Trường Y sẽ là một cơ sở giáo dục và nghiên cứu ở trình độ cao. Hiệu trưởng Yersin đã cảm nhận được bóng tối bao phủ lên Trường Y ngay từ khi Paul Beau lên nắm quyền: “Từ những dấu hiệu, tôi đã nhận thấy rằng thời kỳ vàng son đã kết thúc đối với chúng ta, và chúng ta đã chịu tổn thất một cách ghê gớm khi ngài Doumer đi khỏi Đông Dương”.6 Cuối cùng, bác sĩ Yersin đã rời khỏi Hà Nội vào ngày 9/7/1904 để tới đảm nhiệm vị trí lãnh đạo Viện Nghiên cứu Pasteur Nha Trang7. Ông đã chỉ trích chính sách của Paul Beau một cách nặng nề: “Với những ý tưởng của vị toàn quyền hiện thời, không có gì hi vọng cho tương lai của các sinh viên, những người sẽ đi ra từ ngôi trường của chúng ta. Họ đã bị kết án trước bởi định kiến mà không có sự xét xử. Người ta chỉ muốn tạo ra các y tá, điều mà tôi không thể chấp nhận”.8     Nhưng đó vẫn chưa phải là những ngày đen tối nhất của Trường Y. Người kế nhiệm Paul Beau là Antony Klobukowski còn có những chính sách hà khắc hơn. Vào năm 1908, khi Antony Klobukowski lên nắm quyền, ông đã đóng cửa Đại học Đông Dương khi trường mới chỉ hoạt động được một năm học. Tuy trường Y không phải chịu số phận đáng thương như vậy, nhưng phải chịu đựng rất nhiều khó khăn từ những chính sách hẹp hòi: Dù tiền phụ cấp cho giảng viên được tăng lên nhưng lại hạn chế bớt quyền của hiệu trưởng, xóa bỏ ban quân y bị xem là không hữu ích ; Giảm số lượng sinh viên tuyển vào, ấn định còn sáu sinh viên9 (một cho Lào, một cho Campuchia và bốn cho Việt Nam). Nhà cầm quyền biện hộ cho hành động của mình như sau: “Vô tác dụng và nguy hiểm khi đào tạo số lượng y sĩ vượt quá số lượng vị trí làm việc mà chúng ta có thể bố trí cho họ”.10                  Nhóm sinh viên trường y và giảng viên trong trang phục thực hành. Nguồn:  La Dépêche coloniale illustrée, 15 décembre 1908.    Hậu quả là mỗi năm trường chỉ đào tạo được rất ít y sĩ Đông Dương: năm 1913 chỉ có bốn y sĩ tốt nghiệp và năm 1914 chỉ hai y sĩ ra trường. Số lượng ấy không đủ cho nhu cầu tại các cơ sơ y tế. Vậy đâu là lí do thực sự của quyết định giảm đi số sinh viên? Trong một báo cáo về Trường Y từ 1911-1913 có đoạn: “Biện pháp này là hậu quả của một định hướng chính trị mới với mong muốn rằng An Nam (Việt Nam) không vượt ra được giới hạn của ruộng đồng và định hướng chính trị đó xuất phát từ căn nguyên cho rằng người An Nam có học thức sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta”.11    Đến khi Antony Klobukowski hết nhiệm kì, Albert Sarraut lên làm toàn quyền Đông Dương năm 1911, số phận Trường Y mới bắt đầu khởi sắc. Nhà cầm quyền lúc đó nhận ra rằng cần cấp bách cải tổ Trường Y mới mong đáp ứng được nhu cầu lớn về các y bác sĩ ngoài thực tế.    Quan điểm về sự nguy hiểm của những người bản xứ có học thực vì thế cũng được nhìn nhận lại. Cũng trong báo cáo về Trường Y năm 1911-1913 có đoạn: “Thật không chính xác khi cho rằng người bản xứ có học sẽ trở thành những kẻ thù nguy hại của chúng ta”.12    Dưới thời Albert Saraut, Trường Y có tên là Trường Y Đông Dương và có những bước phát triển quan trọng: Năm 1914, ban Dược được thành lập để đào tạo các dược sĩ phụ tá; Năm 1919, mở thêm khóa giảng dạy về khoa học gồm vật lý, hóa học và tự nhiên; Năm 1920 thành lập lại Ban quân y vốn bị bãi bỏ vào năm 1909. Trong đó, việc mở thêm khóa giảng dạy về khoa học tự nhiên năm 1919 là bước đầu tiên để Trường Y trở thành một cơ sở giáo dục đại học thực sự giống như mô hình chính quốc.    Toàn quyền Albert Saraut cho rằng xét về mọi phương diện, sẽ tốt hơn nếu Trường Y Đông Dương đáp ứng tốt hơn yêu cầu khắt khe nhất của giáo dục y tế đầy đủ. Khi đó, các sinh viên sẽ chỉ đến Paris trong thời gian cần thiết để trải qua các bài kiểm tra lâm sàng và bảo vệ luận án của họ. Chuyển đổi Trường Y thành một trường toàn cấp là sự hoàn thiện cần thiết của việc tổ chức giáo dục đại học ở Đông Dương. Ý tưởng này được đặt ra từ năm 1918 nhưng đến năm 1921 mới chính thức được thực hiện và do trường mãi không tuyển đủ số lượng sinh viên, do khó khăn trong bổ nhiệm giảng viên và tổ chức nghiên cứu thực hành mà đến năm 1933, trường Y mới trở thành Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương và năm 1941 mới được dùng danh xưng là Đại học Tổng hợp Y Dược Đông Dương.     Đôi nét về giảng viên tại Trường Y Đông Dương     Như chúng ta đã biết, vào lúc thành lập trường, chính quyền Pháp không đào tạo tại Đông Dương những bác sĩ có trình độ như bên Pháp. Vì lúc đầu họ lo ngại rằng nếu đẩy nhanh tốc độ phổ biến khoa học, sớm đào tạo tầng lớp có trình độ cao như chính quốc ngay tại thuộc địa thì họ sẽ có thể trở thành lực lượng quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại nước đô hộ.      Nhóm sinh viên trường y và giảng viên trong trang phục thực hành. Nguồn:  La Dépêche coloniale illustrée, 15 décembre 1908.    Nhưng để tối ưu việc khai thác thuộc địa, hạn chế chi phí cho chính quốc thì lại cần phải đào tạo nhân lực tại chỗ, trong đó có việc đào tạo có đội ngũ y bác sĩ, dược sĩ, hộ sinh. Để giải quyết mâu thuẫn này, người Pháp đành phải chọn giải pháp mở trường y nhưng lúc đầu còn rất hạn chế về số lượng cũng như cắt giảm đi chương trình đào tạo. Y, bác sĩ ra trường cũng bị hạn chế về quyền làm việc, họ chỉ được đóng vai trò phụ tá cho bác sĩ Pháp.    Những bác sĩ, giáo sư trí thức Pháp có tư tưởng tiến bộ cũng bị nằm trong khuôn khổ của chính sách này của nhà cầm quyền. Họ chỉ có thể đưa ra những đề xuất, kiến nghị, nhưng họ không phải là người có quyết định cuối cùng. Trường hợp bác sĩ Yersin là một ví dụ điển hình rõ nét. Ông phải từ bỏ lý tưởng của mình về một trường y thực sự vì Toàn quyền Paul Beau không đồng quan điểm với ông. Cần phải đặt trong bối cảnh chính trị như vậy để hiểu được những cố gắng, nỗ lực của các giáo sư bác sĩ, giảng viên Pháp đã đến và làm việc tại Trường Y Đông Dương.    Phân tích các niên giám về Đông Dương, danh sách thống kê nhân sự, nhìn tổng thể, có thể thấy những giáo sư Pháp đến làm việc tại Trường Y từ 1902 đến 1945 tập trung vào ba thời kỳ chính : những năm đầu tiên sau khi thành lập trường ; những năm thuộc thập niên 1920 và những năm thuộc thập niên 1930. Trong mỗi thời kỳ lại có hai nhóm, nhóm sẽ ở lại làm việc lâu dài, gắn bó với trường, và nhóm chỉ ở lại trong khoảng thời gian ngắn vì những lý do khác nhau. Do điều kiện về tư liệu có hạn, chúng tôi không thể đề cập chi tiết đến toàn bộ tất cả các giảng viên, mà chỉ có thể đi vào chi tiết hơn ở một vài giảng viên trong mỗi thời kỳ, coi như đại diện cho các giảng viên đã từng có những đóng góp cho sự phát triển của trường Y Hà Nội.    Những giảng viên đến vào thời kỳ đầu tiên gồm có các bác sĩ Yersin, Capus, Jacquet, Degorce, Le Roy Des Barres và Cognacq. Bác sĩ Yersin là vị Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương, ngay từ đầu ông đã muốn xây dựng nhà trường thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu chất lượng cao. Ông là một trí thức Pháp được người Việt yêu mến. Dù ông không có nhiều thời gian gắn bó với Trường Y vì lý do như đã đề cập trong phần đầu, nhưng ông đã nêu cao tinh thần vì khoa học, vì học sinh thân yêu, vì sự phát triển của nhà trường. Ba vị bác sĩ cuối cùng trong danh sách trên là những người ở lại làm việc lâu dài : Bác sĩ Cognacq từ 1904-1921; Bác sĩ Degorce từ 1902-1928 ; Bác sĩ Le Roy Des Barres từ 1902-1934. Cả ba vị sẽ lần lượt kế tiếp nhau trở thành Hiệu trưởng Nhà trường sau Bác sĩ Hiệu trưởng Yersin. Năm 1904, Bác sĩ Cognacq được bổ nhiệm là người đứng đầu Trường Y. Mặc dù đồng thời phụ trách nhiều chức vụ, ông đã đảm bảo việc lãnh đạo nhà trường đến năm 1922 khi được bổ làm Thống sứ Nam Kỳ.13    Ngay từ những ngày đầu tiên của Trường Y, hai vị Bác sĩ cựu nội trú của bệnh viện Paris là Le Roy des Barres và Degorce đã được tuyển dụng sang để phụ trách giảng dạy lâm sàng. Họ đã giúp Hiệu trưởng Cognacq hoàn thành vai trò người đứng đầu nhà trường. Cả hai nhà thực hành y học tài năng này đã trở thành những giáo sư đầu tiên của Trường Y Hà Nội.    Trong một báo cáo về tình hình Đông Dương năm 1913 có đoạn viết: “Giảng dạy lâm sàng được thực hiện tại Bệnh viện Bảo hộ (nay là Bệnh viện Viêt Đức), dưới sự hướng dẫn của các bác sĩ Le Roy des Barres và Degorce ; nhờ vào hai vị giáo sư bác sĩ ưu tú này, những sinh viên đã có thể tìm thấy, trong những phòng bệnh họ hay lui tới, ngọn nguồn quý giá nhất từ hoạt động giảng dạy sinh động, thực tế, hữu ích ở cấp độ cao nhất mà nếu không có điều ấy thì sẽ không thể có học và thực hành y khoa”.14    Trong những năm 1920, Trường Y đón nhận thêm những bác sĩ tiến sĩ Polidor, Raymond, Naudin, Keller, Cartoux đến công tác. Từ 1930 đến 1940, Trường Y được tăng cường một lực lượng nhận sự giảng dạy rất cần thiết và hiệu quả, đó là các bác sĩ Lucas Championnière, Joyeux, Sollier, Grenierboley, Blondel, Rivoalent, Montagné và các giáo sư cao cấp Toullec, Galliard, Deleas, Huard, Masias và Meyer May. Những giảng viên này cùng với các giảng viên đến trong những năm 1920 đã đóng vai trò quan trọng vào thời kỳ trường chuyển dần từ đào tạo bác sĩ Đông Dương tiến lên đào tạo bác sĩ tiến sĩ giống như Pháp. Trong số những vị này, chúng tôi đề cập nhiều hơn đến những vị mà chúng tôi có được thông tin. Đầu tiên là bác sĩ tiến sĩ Cartoux, sinh ngày 19/3/1889, được tuyển vào công chức tại Đông Dương năm 1926 và làm việc tại Trường Y Hà Nội đến tận năm 1945.15 Ông là giáo sư đại học “được các sinh viên quý như một ông thầy giỏi và một người bạn vì tuổi trẻ dễ thông cảm nhau. (…)  Ông xứng đáng là người là cụ Nguyễn Du miêu tả trong hai câu “Phong tư tài mạo tuyệt vời. Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”.16    Giáo sư bác sĩ Lucas Championnière là một tấm gương sáng của sinh viên. Ông được sinh viên biết đến không chỉ là thành viên một gia đình có truyền thống về y học hiện đại. Ông là cháu nội của bác sĩ Just Lucas-Championnière (1803-1858), người sáng lập tờ báo y khoa và thực hành giải phẫu, đây là tờ báo chuyên ngành đầu tiên cho phổ biến y học dành cho bác sĩ đa khoa, bố ông cũng là bác sĩ. Giáo sư Lucas Championnière có một di ngôn gây cảm hứng về sứ mạng cao đẹp của y khoa và của thầy thuốc, bác sĩ: “Bác sĩ, đó là vị sứ giả đầu tiên của văn minh ; y học, đó là bước chân thực sự đầu tiên hướng đến cuộc sống tốt hơn mà chúng ta phải mang đến”.17 Năm 1936, người ta có thể bắt gặp ở Hà Nội một bệnh viện tư nhân mang tên là “Bách khoa Y viện Lucas Championnière” mà một trong những sáng lập viên là bác sĩ Đặng Văn Ngữ.    Vào tháng 10/1935, bác sĩ Henri Galliard (sinh năm 1891), giáo sư cao cấp của Khoa Y Paris, đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Y Đông Dương. Ông được học trò miêu tả là một người thầy tử tế. Ông đã lãnh đạo trường vượt qua những gian khó trong giai đoạn thế chiến thứ hai, đồng thời tăng số lượng sinh viên đáng kể từ 147 (giai đoạn 1939-1940) lên 226 (vào thời kì 1944-1945). Ông là người trực tiếp đào tạo và giữ bác sĩ Đặng Văn Ngữ lại công tác với vai trò trợ lý. Sau đó, dù rất muốn học trò của mình ở lại công tác do thấy làm việc hiệu quả, nhưng để tốt cho sự phát triển của học trò, ông đã giới thiệu bác sĩ Đặng Văn Ngữ sang Nhật Bản tiếp tục bổ túc thêm về y học.18    Một nhận vật khác cũng rất gắn bó với Trường Y là giáo sư bác sĩ Pierre Huard. Năm 1933, ông làm ở bệnh viện ở Marseille, Pháp rồi sau đó ông đến Hà Nội làm lãnh đạo về phẫu thuật tại bệnh viện. Năm 1936, ông về Pháp nghỉ phép sáu tháng, rồi tranh thủ thời gian này ông thi đỗ bằng Cao cấp nghiên cứu (agréré) rồi làm việc ở châu Phi. Nhưng rồi ông luôn nghĩ về Hà Nội và quyết định về đây vào cuối năm 1940 và được bổ nhiệm là cán bộ ngoại hạng. Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp là một học trò, rồi cộng sự thân cận và tiêu biểu của ông trong lĩnh vực giải phẫu. Ông công tác tại Hà Nội cho đến 1945. Khi trường y được mở lại tại Hà Nội thời kỳ 1946-1954, ông chính là Hiệu trưởng của trường giai đoạn này.    Nhà Trường còn có những giáo sư nổi tiếng khác. Giáo sư bác sĩ Meyer May cũng là một điển hình. Ông đến Hà Nội trong những năm 1930 cùng với kỹ thuật y khoa Paris. Ông đã tìm hiểu những kỹ thuật sáng tạo nhất tại Bệnh viện Beaujon ở Paris và Bệnh viện của Khoa Y ở Lille (Pháp). Những kỹ thuật này đã được áp dụng ở Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Tháng 6/1940 khi GS. Huard lên đường về Pháp, Giáo sư Meyer-May đã thế chỗ trên cương vị là giáo sư lâm sàng. Do tư tưởng bài Do Thái dâng cao trong Đại chiến II, để tránh rủi do, vì là người gốc Do thái, ông đã phải bí mật sang Mỹ vào cuối năm 1940. Trước khi đi Mỹ, ông đã kịp góp phần vào đào tạo một số bác sĩ tiến sĩ tại Trường Y Hà Nội, trong số này có bác sĩ Tôn Thất Tùng, một học trò thân cận của ông.19    Nghiên cứu các niên giám của Trường Y Hà Nội từ 1935 đến 1945 cho thấy các giáo sư, giảng viên cùng các sinh viên và cộng sự, hằng năm đều có nhiều nghiên cứu khoa học. Kết quả các nghiên cứu được công bố hằng năm. Hoạt động đó đã góp phần hiệu quả vào công tác đào tạo tại trường và phát triển y học.□  ——  1 Là bệnh viện xưa nhất ở Tp. Hồ Chí Minh, vào thời điểm đó là nơi điều trị bệnh truyền nhiễm, tâm thần và bệnh phong và đồng thời cũng là trung tâm huấn luyện Y Khoa, đào tạo y tá.  2 Paul Doumer, Situation de l’Indochine, op.cit, p107,108.  3 Paul Doumer, Situation de l’Indochine, op.cit, p107.  4 Exposition coloniale internationale. Paris 1931. Indochine française. Section générale. Direction générale de l’instruction publique, École de plein exercice de médecine et de pharmacie de l’Indochine, Impr. d’Extrême-Orient (Hanoï) 1931.  5 Beau Paul, Situation de l’Indochine 1902-1907, tome 2, p.297  6 Jacques Gonzalès, Histoire de la naissance et du développement de l’École de Médecine de Hanoï, op.cit, p.63.  7 Jacques Gonzalès, Histoire de la naissance et du développement de l’École de Médecine de Hanoï, op.cit, p.63.  8 Jacques Gonzalès, Histoire de la naissance et du développement de l’École de Médecine de Hanoï , op.cit, p63.  9 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil supérieur, session ordinaire de 1910, Impr d’Extrême-Orient, Hanoi-Haiphong 1910, p.100.  10 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil supérieur, session ordinaire de 1910, Impr d’Extrême-Orient, Hanoi-Haiphong 1910, p.100.  11 ANOM, Fonds privées, 9PA/9, École de Médecine de Hanoi. Réorganisation. (École de Médecine 1911-1913)  12 ANOM, Fonds privées, 9PA/9, École de Médecine de Hanoi. Réorganisation. (École de Médecine 1911-1913)  13 L’Écho annamite, 6 novembre 1939  14 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement, session ordinaire de 1913, deuxième partie, p 604,605.  15 Selon « Annuaire administratif de l’Indochine (1920-1937) » et «Annales de l’École supérieure de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine », (Tome I-X, de 1935 à 1944)  16 Lê Văn Khải, Truyện y sĩ, truyện y khoa, Saigon 1971, trích trong “100 năm Đại học Y Hà Nội, những kỷ niệm“, Hà Nội 2002, tr.34.  17 Nguyên văn tiếng Pháp là “Le médecin, c’est le premier ambassadeur de la civilisation ; la médecine, c’est le premier pas tangible vers le mieux vivre que nous devons apporter”, được trích dẫn vào phần đầu luận án tiến sĩ của bác sĩ Bửu Hiệp bảo vệ vào năm 1936 tại Trường Y Hà Nội với chủ đề «La médecine française dans la vie annamite » (Y học Pháp trong đời sống Việt Nam).  18 Đặng Văn Ngữ, Trở về với quê hương kháng chiến, tapchisonghuong.com.vn, ngày 26.12.2014.  19 Chúng ta có thể vào intenet để tìm kiếm một video “Phỏng vấn bác sĩ Trần Duy Hưng”. Bác sĩ Trần Duy Hưng là một nhân chứng lịch sử, qua lời kể của ông, chúng ta thấy được một phần mối quan hệ tốt đẹp của các giáo sư Pháp và các sinh viên thời đó, trong đó có đoạn ông kể về giáo sư Meyer May với những lời trân trọng (nội dung này nằm ở đoạn đầu của clip dài 55 phút 23 giây).    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Trường hè “Đường vào khoa học”      “Trường hè khoa học” lần thứ hai dành cho  các bạn trẻ yêu thích và muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học sẽ  diễn ra trong ba ngày, từ 20 đến 22/8, tại Hà Nội.    Đây là hoạt động thường niên do ba tiến sĩ: Giáp Văn Dương (Việt Nam), Ngô Đức Thế (Đan Mạch) và Lưu Quang Hưng (Singapore) khởi xướng từ năm 2013, nhằm giúp các bạn trẻ hiểu về công việc nghiên cứu và được trang bị những kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để tiếp cận với nghề nghiên cứu thông qua các bài giảng từ các diễn giả là những nhà khoa học, giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu và từng làm việc hoặc học tập tại nước ngoài.   200 sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh sau đại học và học sinh chuyên ở miền bắc sẽ được lựa chọn tham dự chương trình thuần túy học thuật và phi lợi nhuận này từ hơn 500 hồ sơ gửi về.   Với chủ đề “Đường vào khoa học”, Trường hè năm nay có bốn nội dung, bên cạnh nội dung “Hành trang khoa học” tương tự năm trước (các bài giảng cơ sở như khoa học là gì, giáo dục đại học, tự do học thuật, nghiên cứu khoa học ở đại học, kinh nghiệm viết bài báo khoa…), còn có ba nội dung mới: Nghiên cứu khoa học (các bài giảng về nghiên cứu chuyên sâu của giảng viên nhưng được trình bày dễ hiểu với đại chúng, giúp học viên có một cái nhìn cụ thể của cách thức và sản phẩm nghiên cứu khoa học), Khoa học và Cuộc sống (các bài giảng về ứng dụng của khoa học trong cuộc sống, quan hệ giữa khoa học và nghệ thuật, lịch sử, văn hóa…); Trải nghiệm và Tương tác (các phương pháp phân tích số liệu trong khoa học; giả lập phỏng vấn học bổng; nộp hồ sơ tuyển vị trí khoa học; nộp hồ sơ đề tài…)   Ngoài các giảng viên trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, Trường hè năm nay mời thêm các giảng viên trong lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế và nghệ thuật TS Nguyễn Đức Thành (Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội), TS Trần Trọng Dương và TS Nguyễn Tô Lan (Viện nghiên cứu Hán Nôm), TS Đinh Hồng Hải (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội), TS Nguyễn Ngọc Huy (Viện nghiên cứu Chuyển đổi Môi trường và Xã hội)…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường hè “Khoa học trong vỏ hạt dẻ”      “Trường hè khoa học” lần thứ ba sẽ diễn ra từ ngày 24 đến ngày 26/8 tại Hà Nội, hiện đang mở cửa nhận hồ sơ đăng ký từ những sinh viên, giảng viên và những nhà nghiên cứu trẻ yêu khoa học và muốn theo đuổi con đường này.      Với chủ đề “Khoa học trong vỏ hạt dẻ” (Science in a nutshell), Trường hè năm 2015 sẽ tập trung vào bốn nội dung: nền tảng khoa học, kỹ năng và phương pháp luận về nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm từ những người đi trước và tương tác trải nghiệm thực tế thông qua một số tình huống giả lập. Theo anh Ngô Đức Thế, một trong ba người sáng lập Trường hè khoa học, cho biết, so với hai năm trước, bài giảng năm nay sẽ sinh động hơn, có chiều sâu hơn, nhiều tính tương tác hơn với những bài tập về critical thinking và reviewing.     Tham gia giảng dạy tình nguyện tại Trường hè là những người nghiên cứu khoa học có nhiều kinh nghiệm ở hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học XH&NV như:  TS. Phạm Sỹ Thành (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, giám đốc chương trình Trung Quốc tại Viện nghiên cứu chính sách và phát triển VERP), TS. Nguyễn Ngọc Anh (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phát triển DEPOCEN, hiện là thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội), TS. Trần Trọng Dương (Viện nghiên cứu Hán Nôm), TS. Trần Hải Đức (Khoa Vật lý, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), TS. Nguyễn Đức Dũng (Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ AIST, Đại học Bách Khoa Hà Nội)…    Năm nay, sẽ có 200 người được lựa chọn tham gia khóa học miễn phí này và những người chưa được tham gia năm trước sẽ được ưu tiên khi tiếp tục nộp hồ sơ tham dự năm nay.             Trường hè khoa học được sáng lập bởi ba người bạn là  Giáp Văn Dương (Tiến sĩ Vật lý, hiện là người sáng lập và điều hành  GiapSchool), Ngô Đức Thế (hiện đang làm postdoct tại Technical  University of Denmark, Đan Mạch), Lưu Quang Hưng (hiện là cán bộ nghiên  cứu tại Đại học Quốc gia Singapore) với mục tiêu định hướng những người  trẻ trên con đường nghiên cứu khoa học. Trường hè đã được tổ chức vào năm 2013 và 2014 với chủ đề lần lượt là “Hành trang khoa học” và “Đường vào khoa học”, đều tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong năm 2015, Trường hè khoa  học sẽ được tổ chức tại hội trường SmartSkill, tòa nhà T1, Trung Hòa  Nhân Chính, Hà Nội.                Hạn cuối nộp đơn là  ngày 16/8/2015 và kết quả sẽ được thông báo vào ngày 19/8/2015. Các ứng  cử viên sẽ gửi hồ sơ (bao gồm một lá thư ngắn giới thiệu về bản thân và  lí do tại sao tham gia Trường hè kèm CV không quá hai trang, có đính kèm  ảnh cá nhân. Tất cả được khuyến khích viết bằng Tiếng Anh) và gửi về  email: truonghekhoahoc@gmail.com. Sau đó, họ sẽ đăng ký online theo địa  chỉ: https://goo.gl/Z9mmYS)                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường học cho con em lao động nhập cư ở Bắc Kinh đóng cửa      Trên con đường bụi mù của ngôi làng Dongba xơ xác ở mé đông Bắc Kinh, một câu hỏi thường trực trong những cuộc chuyện trò xã giao từ khi học kì mới bắt đầu tuần trước là: “Ông bà đã tìm được trường mới cho bọn trẻ chưa?”    Từ khi chính quyền Bắc Kinh bất ngờ yêu cầu đóng cửa bốn trường học trong làng từ giữa tháng 8, phụ huynh của khoảng 2.000 học sinh phải chạy đua tìm chỗ học cho con cái học hành kì này. Không chỉ mình họ: tổng cộng khoảng 14.000 học sinh trong thành phố đang phải tìm trường học mới sau khi chính phủ đóng cửa hơn hai mươi trường trong thành phố hè này – một số trường thậm chí còn bị phá dỡ.    Tất cả những ngôi trường bị đóng cửa đều chung một đặc điểm: học sinh là con cái của những công nhân di cư, đội quân của những lao động chui nông thôn lũ lượt tới Bắc Kinh trong hai thập kỉ qua để tìm việc và hưởng lợi từ sự bùng nổ kinh tế. Việc đóng cửa dồn dập đã khiến những người chỉ trích buộc tội chính phủ phân biệt đối xử với người di cư là một cách đuổi cổ họ hoặc chặn đứng dòng di cư ngày càng tăng. Bắc Kinh ngày càng lo ngại về số lượng người di cư những năm gần đây, chính phủ ước tính hiện tại có khoảng 7 triệu di dân ở thủ đô, chiếm 36% tổng dân số.  Di dân ở Trung Quốc từ lâu đã sống trong tình trạng rất bấp bênh. Hệ thống đăng kí hộ khẩu rắc rối khó hiểu khiến dân nhập cư thuộc tầng lớp lao động gần như không thể đăng kí làm cư dân chính thức ở những thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải hay Thâm Quyến. Không có giấy phép cư trú, họ không thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe địa phương hoặc trợ cấp phúc lợi xã hội, và không thể đăng kí cho con cái vào các trường công địa phương. Tuy nhiên Bắc Kinh và những thành phố khác vẫn cần lao động giá rẻ để làm việc tại các công trường và dự án hạ tầng, do vậy một hệ thống các trường hoạt động ngoài pháp luật đã mọc lên như nấm, cung cấp dịch vụ giáo dục cho riêng con cái của những công nhân di cư và vận hành một cách hoàn toàn kín đáo. Nó là một hệ thống đáng nghi về tính hợp pháp, nhưng chính phủ từ vài chục năm nay vẫn nhắm mắt làm ngơ.  Tuy nhiên, tình hình đã đột ngột thay đổi hè này. Theo như giáo viên các trường cho biết thì không có lời giải thích nào từ Bắc Kinh. “Trường tôi mở cửa năm 1998 và ngoại trừ vụ bùng phát dịch SARS năm 2003 chúng tôi chưa bao giờ bị yêu cầu đóng cửa. Nhưng bây giờ tôi đột nhiên nhận được thông báo nói rằng trường của chúng tôi không đảm bảo an toàn”. Liu Jigui, hiệu trưởng Trường tiểu học Yucai dạy con cái của dân lao động nhập cư tại làng Jiangtai, cho biết. Liu nói rằng anh chưa bao giờ nhận được giải thích rõ ràng tại sao trường lại phải đóng cửa. “Họ nói rằng trường không đạt chuẩn, nghĩa là không đạt chuẩn. Một khi họ không muốn bạn mở trường, họ sẽ luôn tìm bằng được lí do”.  Một số trường đơn giản là bị kéo sập – phụ huynh đến đăng kí cho con cái mình vào năm học mới chỉ thấy những đống gạch vụn nơi trước kia từng là trường. “Nói một cách công bằng, họ phá đổ một vài trường, nhưng có lẽ một số trường cũng nên bị đóng cửa hoặc phá dỡ”, Jonathan Hursh, sáng lập viên của tổ chức phi chính phủ Compassion for Migrant Children có trụ sở tại Bắc Kinh, cho hay. “Nhưng thỉnh thoảng chính quyền địa phương sẽ phản ứng mà không hề đắn đo suy tính về hậu quả của những hành động này, về 14,000 đứa trẻ con di dân bị ảnh hưởng và ba mẹ chúng, về những tác động tâm lí và tình cảm mà áp lực gây ra”.  Chính quyền hứa hẹn sẽ bố trí cho tất cả học sinh đăng kí chính thức vào các trường – một số trường công, một số trường tư nhưng được tài trợ bởi nhà nước – với phương tiện học tập tốt hơn. “Không một học sinh nào sẽ bị bỏ học bởi chuyện này”, phát ngôn viên của Hội đồng giáo dục thị chính Bắc Kinh nói với giới truyền thông. Nhưng Hursh nói quá trình nhập học tại các trường chính cho thấy rõ tình trạng bấp bênh của những công nhân di cư, với việc yêu cầu họ phải xuất trình những chứng từ hợp pháp mà họ không thể nào có được. “Ví dụ, một chứng từ có thể là hợp đồng thuê nhà, nhưng người dân lại đang sống trong những ngôi nhà không tồn tại chính thức, đến một địa chỉ cũng không có. Đây thậm chí không phải là những ngôi nhà hợp pháp, do vậy làm sao có thể có hợp đồng thuê nhà chính thức được? Việc thuê mướn lao động cũng vậy thôi. Khi hầu hết đều là những công việc không chính thức, làm sao bạn có thể chìa ra hợp động lao động chính thức được?”, Hursh nhận định.        Việc đóng cửa dồn dập đã khiến những người chỉ trích buộc tội chính phủ phân biệt đối xử với người di cư là một cách đuổi cổ họ hoặc chặn đứng dòng di cư ngày càng tăng.        Đáp lại yêu cầu khẩn thiết của các bậc cha mẹ, một số trường đã chống lại lệnh đóng cửa. “Chúng tôi nhận được thông báo yêu cầu đóng cửa, nhưng học sinh trong vùng không có nơi nào để đi cả”, Wan Tian, hiệu trưởng Trường Tiểu học Dongba  nơi có khoảng 500 con em di dân theo học, cho biết. “Tất cả học sinh đều xung phong tới trường, do vậy chúng tôi mở cửa trở lại bất chấp lệnh cấm”. Wan nói học sinh trường ông không có cách nào tập hợp được giấy tờ như yêu cầu để đăng kí tại các trường chính thống. Ít nhất hiện nay dường như giới chức thành phố đã ngầm chấp nhận quyết định vẫn mở cửa trường của ông.  Tuy nhiên, hầu hết các gia đình di dân không có mấy lựa chọn ngoài việc đặt lòng tin vào lời hứa của chính phủ về một sự giáo dục tốt hơn cho con em của họ tại các trường chính thống. Nhưng vẫn tồn tại những quan ngại rằng những trường mới cũng không tốt hơn các trường cũ đã bị đóng cửa. Ở Dongba, phần lớn học sinh được bố trí tới Trường tiểu học Boya, một ngôi trường tư nằm ở rìa làng, trợ cấp bởi chính quyền, và cách khu dân cư trung tâm 20 phút chạy xe đạp. Ngôi trường nằm trên một khu đất hoang, bao quanh bởi một đống gạch vụn và những khối nhà xây dựng dở dang. Con đường bụi bẩn dẫn tới cổng trường đi qua một đống rác và toilet trống.  Song Meiying sống ở Dongba 11 năm và quản lí một cửa hiệu bán vật liệu xây dựng, vốn là mặt tiền của ngôi nhà không cửa sổ. Thời gian rảnh, bà lục lọi đống rác để tìm những thứ có thể tái chế và bán kiếm thêm chút tiền. Hai đứa con gái bà nằm trong hàng trăm trẻ được bố trí tới Boya đầu tháng này. Trong khi bà được bảo rằng hai đứa con sẽ có được môi trường học tập tốt hơn ở ngôi trường mới, Song lo rằng Boya không được trang bị đủ để đáp ứng số lượng lớn các học sinh mới.  “Trước đây Boya chỉ có 700 học sinh, nhưng từ năm nay có gần 1,400 học sinh. Tôi không biết như vậy có an toàn hơn so với ngôi trường cũ hay không. Nhưng điều duy nhất chúng tôi có thể làm là nghe theo chính quyền, nghe theo giáo viên. Họ nói nó an toàn hơn, và chúng tôi hi vọng vậy”.  Từ khi chính quyền Bắc Kinh bất ngờ yêu cầu đóng cửa bốn trường học trong làng từ giữa tháng 8, phụ huynh của khoảng 2.000 học sinh phải chạy đua tìm chỗ học cho con cái học hành kì này. Không chỉ mình họ: tổng cộng khoảng 14.000 học sinh trong thành phố đang phải tìm trường học mới sau khi chính phủ đóng cửa hơn hai mươi trường trong thành phố hè này – một số trường thậm chí còn bị phá dỡ.  Tất cả những ngôi trường bị đóng cửa đều chung một đặc điểm: học sinh là con cái của những công nhân di cư, đội quân của những lao động chui nông thôn lũ lượt tới Bắc Kinh trong hai thập kỉ qua để tìm việc và hưởng lợi từ sự bùng nổ kinh tế. Việc đóng cửa dồn dập đã khiến những người chỉ trích buộc tội chính phủ phân biệt đối xử với người di cư là một cách đuổi cổ họ hoặc chặn đứng dòng di cư ngày càng tăng. Bắc Kinh ngày càng lo ngại về số lượng người di cư những năm gần đây, chính phủ ước tính hiện tại có khoảng 7 triệu di dân ở thủ đô, chiếm 36% tổng dân số.  Việc đóng cửa dồn dập đã khiến những người chỉ trích buộc tội chính phủ phân biệt đối xử với người di cư là một cách đuổi cổ họ hoặc chặn đứng dòng di cư ngày càng tăng.Di dân ở Trung Quốc từ lâu đã sống trong tình trạng rất bấp bênh. Hệ thống đăng kí hộ khẩu rắc rối khó hiểu khiến dân nhập cư thuộc tầng lớp lao động gần như không thể đăng kí làm cư dân chính thức ở những thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải hay Thâm Quyến. Không có giấy phép cư trú, họ không thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe địa phương hoặc trợ cấp phúc lợi xã hội, và không thể đăng kí cho con cái vào các trường công địa phương. Tuy nhiên Bắc Kinh và những thành phố khác vẫn cần lao động giá rẻ để làm việc tại các công trường và dự án hạ tầng, do vậy một hệ thống các trường hoạt động ngoài pháp luật đã mọc lên như nấm, cung cấp dịch vụ giáo dục cho riêng con cái của những công nhân di cư và vận hành một cách hoàn toàn kín đáo. Nó là một hệ thống đáng nghi về tính hợp pháp, nhưng chính phủ từ vài chục năm nay vẫn nhắm mắt làm ngơ.  Tuy nhiên, tình hình đã đột ngột thay đổi hè này. Theo như giáo viên các trường cho biết thì không có lời giải thích nào từ Bắc Kinh. “Trường tôi mở cửa năm 1998 và ngoại trừ vụ bùng phát dịch SARS năm 2003 chúng tôi chưa bao giờ bị yêu cầu đóng cửa. Nhưng bây giờ tôi đột nhiên nhận được thông báo nói rằng trường của chúng tôi không đảm bảo an toàn”. Liu Jigui, hiệu trưởng Trường tiểu học Yucai dạy con cái của dân lao động nhập cư tại làng Jiangtai, cho biết. Liu nói rằng anh chưa bao giờ nhận được giải        “Trường tôi mở cửa năm 1998 và ngoại trừ vụ bùng phát dịch SARS năm 2003 chúng tôi chưa bao giờ bị yêu cầu đóng cửa. Nhưng bây giờ tôi nhận được thông báo nói rằng đột nhiên trường của chúng tôi không còn an toàn nữa”        thích rõ ràng tại sao trường lại phải đóng cửa. “Họ nói rằng trường không đạt chuẩn, nghĩa là không đạt chuẩn. Một khi họ không muốn bạn mở trường, họ sẽ luôn tìm bằng được lí do”.  Một số trường đơn giản là bị kéo sập – phụ huynh đến đăng kí cho con cái mình vào năm học mới chỉ thấy những đống gạch vụn nơi trước kia từng là trường. “Nói một cách công bằng, họ phá đổ một vài trường, nhưng có lẽ một số trường cũng nên bị đóng cửa hoặc phá dỡ”, Jonathan Hursh, sáng lập viên của tổ chức phi chính phủ Compassion for Migrant Children có trụ sở tại Bắc Kinh, cho hay. “Nhưng thỉnh thoảng chính quyền địa phương sẽ phản ứng mà không hề đắn đo suy tính về hậu quả của những hành động này, về 14,000 đứa trẻ con di dân bị ảnh hưởng và ba mẹ chúng, về những tác động tâm lí và tình cảm mà áp lực gây ra”.  Chính quyền hứa hẹn sẽ bố trí cho tất cả học sinh đăng kí chính thức vào các trường – một số trường công, một số trường tư nhưng được tài trợ bởi nhà nước – với phương tiện học tập tốt hơn. “Không một học sinh nào sẽ bị bỏ học bởi chuyện này”, phát ngôn viên của Hội đồng giáo dục thị chính Bắc Kinh nói với giới truyền thông. Nhưng Hursh nói quá trình nhập học tại các trường chính cho thấy rõ tình trạng bấp bênh của những công nhân di cư, với việc yêu cầu họ phải xuất trình những chứng từ hợp pháp mà họ không thể nào có được. “Ví dụ, một chứng từ có thể là hợp đồng thuê nhà, nhưng người dân lại đang sống trong những ngôi nhà không tồn tại chính thức, đến một địa chỉ cũng không có. Đây thậm chí không phải là những ngôi nhà hợp pháp, do vậy làm sao có thể có hợp đồng thuê nhà chính thức được? Việc thuê mướn lao động cũng vậy thôi. Khi hầu hết đều là những công việc không chính thức, làm sao bạn có thể chìa ra hợp động lao động chính thức được?”, Hursh nhận định.  Đáp lại yêu cầu khẩn thiết của các bậc cha mẹ, một số trường đã chống lại lệnh đóng cửa. “Chúng tôi nhận được thông báo yêu cầu đóng cửa, nhưng học sinh trong vùng không có nơi nào để đi cả”, Wan Tian, hiệu trưởng Trường Tiểu học Dongba  nơi có khoảng 500 con em di dân theo học, cho biết. “Tất cả học sinh đều xung phong tới trường, do vậy chúng tôi mở cửa trở lại bất chấp lệnh cấm”. Wan nói học sinh trường ông không có cách nào tập hợp được giấy tờ như yêu cầu để đăng kí tại các trường chính thống. Ít nhất hiện nay dường như giới chức thành phố đã ngầm chấp nhận quyết định vẫn mở cửa trường của ông.  Tuy nhiên, hầu hết các gia đình di dân không có mấy lựa chọn ngoài việc đặt lòng tin vào lời hứa của chính phủ về một sự giáo dục tốt hơn cho con em của họ tại các trường chính thống. Nhưng vẫn tồn tại những quan ngại rằng những trường mới cũng không tốt hơn các trường cũ đã bị đóng cửa. Ở Dongba, phần lớn học sinh được bố trí tới Trường tiểu học Boya, một ngôi trường tư nằm ở rìa làng, trợ cấp bởi chính quyền, và cách khu dân cư trung tâm 20 phút chạy xe đạp. Ngôi trường nằm trên một khu đất hoang, bao quanh bởi một đống gạch vụn và những khối nhà xây dựng dở dang. Con đường bụi bẩn dẫn tới cổng trường đi qua một đống rác và toilet trống.  Song Meiying sống ở Dongba 11 năm và quản lí một cửa hiệu bán vật liệu xây dựng, vốn là mặt tiền của ngôi nhà không cửa sổ. Thời gian rảnh, bà lục lọi đống rác để tìm những thứ có thể tái chế và bán kiếm thêm chút tiền. Hai đứa con gái bà nằm trong hàng trăm trẻ được bố trí tới Boya đầu tháng này. Trong khi bà được bảo rằng hai đứa con sẽ có được môi trường học tập tốt hơn ở ngôi trường mới, Song lo rằng Boya không được trang bị đủ để đáp ứng số lượng lớn các học sinh mới.  “Trước đây Boya chỉ có 700 học sinh, nhưng từ năm nay có gần 1,400 học sinh. Tôi không biết như vậy có an toàn hơn so với ngôi trường cũ hay không. Nhưng điều duy nhất chúng tôi có thể làm là nghe theo chính quyền, nghe theo giáo viên. Họ nói nó an toàn hơn, và chúng tôi hi vọng vậy”.  Thanh Hiền dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Khoa học Đông Dương      Ra đời muộn nhất trong số các trường thuộc Đại học Đông Dương và chỉ hoạt động vỏn vẹn trong bốn năm nhưng Trường Khoa học Đông Dương vẫn để lại những dấu ấn quan trọng đối với nền giáo dục và khoa học của Việt Nam.      Báo chí thời đó đã có bài viết về sự kiện thành lập Trường Khoa học Đông Dương. Nguồn : Báo Nước Nam, Số 122, 30 Tháng Tám 1941 (tiêu đề Trường Cao đẳng Khoa học Hà Nội), và báo Thanh niên, Số 120, 15 Tháng Tám 1941 (tiêu đề : Một tin mừng cho thanh niên hiếu học. Việc mở trường Cao đẳng Khoa học tại Hà Nội), tiêu đề 2 bài báo khác nhau nhưng nội dung là của một bài, của một tác giả bút danh là V.I.  Trước khi trường Khoa học Đông Dương ra đời, Pháp đã thành lập tại Đại học Đông Dương một số cơ sở giáo dục giảng dạy các nội dung liên quan các trường khoa học ứng dụng có tính chất nghề nghiệp chuyên môn để đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xây dựng hạ tầng phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa được thực hiện trước. Trong đó bao gồm các trường như:     Trường Y sĩ thú y (Ecole vétérinaire)     Chính quyền Pháp nhận thấy rằng việc đào tạo lực lượng y sĩ thú y người bản địa là rất cấp bách đối với một nơi mà kinh tế dựa nhiều vào nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng như Đông Dương. Ở đó, thường xuyên có tình trạng vật nuôi bị chết hàng loạt vì dịch bệnh do thiếu vệ sinh và phòng bệnh. Trong khi lực lượng người âu thì quá mỏng để phụ trách việc giám sát cả một nơi rộng như thế.1 Vì vậy, năm 1904, một Ban Y sĩ thú y (section vétérinaire) đã được thành lập trực thuộc trường Y Đông Dương. Sau này, ban y sĩ thú y đã được tách ra khỏi trường Y và trở thành một trường thành viên của Đại học Đông Dương, thành lập năm 1917.    Ban đầu, trường đào tạo mỗi khóa trong ba năm học. Kể từ năm học 1921-1922 đã bắt đầu có năm học thứ tư.2 Các môn học gồm thực vật học, động vật học, vật lý, hóa học, giải phẫu học so sánh, sinh lý học, sinh lý học so sánh, bệnh học, điều trị học, dược lý, thiết bị y, phôi thai học, bệnh lây và ký sinh trùng, vi khuẩn học…vv. Ngoài ra còn có thực hành thú y. Kết thúc khóa học, những người được cấp bằng còn tiếp tục được trải qua một kỳ thực tập bổ túc ba tháng tại viện nghiên cứu Pasteur ở Nha Trang.     Những y sĩ thú y Đông Dương được coi là trợ lý quý giá của các y sĩ thú y Pháp. Họ được giao nhiệm vụ giám sát vệ sinh của một tỉnh và phải truy tìm ra các trường hợp bệnh lây, giám sát các hội chợ, chợ phiên và sử dụng các biện pháp cần thiết để chống lại những bệnh dịch ở động vật. Tại những trung tâm mà các y sĩ thú y cư trú, họ còn được giao nhiệm vụ đảm bảo cho công việc của các viên thanh tra các lò mổ.3     Trường Công chính (Ecole des Travaux publics)     Công cuộc khai thác thuộc địa đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng và đặt ra nhu cầu đào tạo nhân lực bản địa tại chỗ. Khởi nguồn của trường Công chính bắt đầu từ sự kiện năm 1902 tại Nam kỳ và Bắc kỳ có mở ra khóa đào tạo những ứng viên vào vị trí nhân viên kỹ thuật của lĩnh vực xây dựng công cộng. Đến năm 1913 mới có một nghị định thành lập một trường Công chính dành cho toàn Đông Dương. Tuy nhiên, trường gặp nhiều khó khăn do cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất gây ra (1914-1918).4    Mục đích của trường là đào tạo thanh niên để có hiểu biết những khái niệm cần thiết về xây dựng, về đo đạc, tính toán, về địa hình để trở thành nhân viên trợ tá cho nhân viên người âu (tại Đông Dương) làm việc trong các văn phòng hoặc tại thực địa. Ban đầu trường chỉ đào tạo mỗi khóa trong hai năm học, sau này có thêm đào tạo nhân viên công chính trình độ cao đẳng trong ba năm học. 5     Trường Nông-Lâm (Ecole supérieure d’Agriculture et de Sylviculture)    Trường được ra đời trong cuộc cải cách giáo dục của Albers Sarraut bắt đầu từ năm học 1917-1918. Trường có ban nông nghiệp và ban lâm nghiệp. Mục đích ban đầu của trường là đào tạo ra các kỹ thuật viên bản địa có năng lưc để hoặc là làm phụ tá và cho nhu cầu bổ khuyết cho nhân sự người âu trong các cơ quan nông nghiệp và lâm nghiệp ; hoặc là với tư cách như người nông dân, đưa các phương pháp hiện đại về canh tác đất áp dụng trong cộng đồng dân cư nông thôn.    Những năm đầu của trường, chương trình đào tạo cho mỗi khóa được thực hiện trong ba năm học. Đến năm 1920 đã có khóa đầu tiên thi tốt nghiệp. Sau một thời gian hoạt động, chính quyền muốn nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo và đã ra một nghị định vào ngày 30/3/1925 để tổ chức lại hoạt động của nhà trường. Theo đó, chương trình đào tạo sẽ nâng lên là ba năm rưỡi, trong đó hai năm rưỡi sinh viên sẽ học lý thuyết và thực hành tại Hà Nội, và một năm đi áp dụng thực tế tại các cơ sở công hoặc tư nhân tại Đông Dương.6    Trường Nông Lâm, Trường Công chính cùng với Trường Y sĩ thú y phải tạm ngừng hoạt động vào khoảng năm 1935 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Vào khoảng thời kỳ thế chiến hai (1939-1945), do nhu cầu nhân lực tại chỗ, ba trường này đã được khôi phục hoạt động.     Trường Thương mại (Ecole de Commerce) và Trường Ứng dụng thương mại (Ecole d’application commerciale)     Trường Thương mại được thành lập vào ngày 02/10/1920, đặt tại Hà Nội và đi vào hoạt động ngay sau đó. Trường Ứng dụng thương mại được thành lập và hoạt động vào tháng 10/1922 đặt tại Sài Gòn. Hai trường này có mối liên hệ với nhau. Sau khi sinh viên tốt nghiệp tại trường Thương mại (Hà Nội), một số sẽ được gửi đi học tiếp một khóa thực tập do trường Ứng dụng thương mại tại Sài Gòn tổ chức.    Sau hai năm hoạt động, đến tháng 5/1922 Trường Thương mại tại Hà Nội đã có khóa đầu tiên thi tốt nghiệp với 25 người đăng ký và có 20 người đỗ, có 13 người được phép vào thực tập tại Sài Gòn, do Trường Ứng dụng thương mại tại Sài Gòn tổ chức để nhận bằng cao đẳng.7 Cả 13 người này đã trải qua một kỳ thực tập ba tháng tại các hãng, xưởng ở Sài Gòn như ngân hàng, công ty. Sau đó tất cả họ đã thành công trong kỳ thi tốt nghiệp năm 1923 trước hội đồng đánh giá gồm nhiều người có địa vị trong giới thương mại của Sài Gòn.8    Theo nghị định ngày 25/8/1925, và một số nghị định khác,9 trường Thương mại Hà Nội và trường Ứng dụng thương mại Sài Gòn được tổ chức lại thành một trường và thành lập thêm một số ban đào tạo. Từ 1926, chỉ còn một trường mang tên Thương mại và Bưu điện và Điện báo (Ecole de Commerce et des Postes et des Télégraphes) (Gọi tắt là trường Thương mại), bao gồm: Ban thương mại, Ban ứng dụng thương mại, Ban bưu điện và Điện báo, và Ban Điện báo vô tuyến.      Biểu đồ số lượng sinh viên trường Khoa học (1941 – 1944).  Sau một vài năm hoạt động, nhận thấy có những bất hợp lý trong việc tổ chức, để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, theo nghị định ngày 29/9/1928, trường được nâng thành cao đẳng theo mô hình như bên Pháp, hai ban thương mại và ứng dụng thương mại được hợp nhất lại thành ban thương mại, đào mỗi khóa trong ba năm học. Các ban còn lại vẫn giữ nguyên và đào tạo trong hai năm học.    Không  may mắn do bị ảnh hưởng trầm trọng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vào giai đoạn 1932-1933 trường Thương mại đã căn bản phải dừng hoạt động.    Trường Khoa học ứng dụng (Ecole des sciences appliquées)    Trường được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 30/10/1922. Trường dành để đào tạo những kỹ thuật viên bản địa chuyên ngành cho lĩnh vực công nghiệp tư nhân và hành chính công tại Đông Dương. Những chuyên ngành đào tạo gồm : công chính, địa bạ và địa hình, hầm mỏ, hóa học công nghiệp, và điện. Trong số đó, ban đầu chỉ có lĩnh vực công chính là đào tạo ở trình độ cao đẳng, sau đó có thêm lĩnh vực địa bạ và địa hình.  Như vậy trường Khoa học ứng dụng có nhiều ngành đào tạo trùng với trường Công chính. Năm 1928, chính quyền đã tổ chức lại bằng việc chuyển ban công chính của trường Khoa học ứng dụng sang trường Công chính. Theo dõi các báo cáo của chính quyền các năm tiếp theo, chúng tôi không còn thấy trường Khoa học được đề cập đến nữa. Điều này có thể hiểu là trường đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1929.    Các trường kỹ thuật nghề này đã cung cấp được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho hệ thống hành chính, xây dựng và kinh tế trước 1945. Một số ít nhà khoa học của nước ta đã từng được đào tạo từ một trong số các trường này là ông Bùi Công Tiễu, giáo sư Bùi Huy Đáp, giáo sư Thái Văn Trừng, giáo sư Lê Văn Trương.     Thành lập Trường Cao đẳng khoa học (Ecole supérieure des sciences)    Từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số trí thức có tư tưởng đổi mới ở nước ta đã nhận thức rõ hơn vai trò của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, kỹ thuật để phát triển đất nước. Từ những bản điều trần của cụ Nguyễn Trường Tộ gửi triều đình Nguyễn10 đến phong trào Đông Du của cụ Sào Nam Phan Bội Châu và các đồng chí đều thể hiện khát vọng tiếp thu khoa học kỹ thuật.    Thực tế tại Đông Dương, trước khi thành lập trường Cao đẳng Khoa học ở Hà Nội vào năm 1941, thì đã có trường Y-Dược Đông Dương chuyên sâu về giảng dạy và nghiên cứu khoa học sức khỏe và dược học ; trường Luật chuyên sâu về giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu về khoa học pháp lý, kinh tế chính trị. Còn lại, việc phổ biến, giảng dạy về khoa học thuộc một số lĩnh vực khác cũng đã có nhưng với một liều lượng còn rất hạn chế. Chẳng hạn, trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương có ban Khoa học, nhưng nội dung chỉ dừng ở mức đào tạo giáo viên giảng dạy về các môn toán, lý, hóa, sinh, địa lý tại trường trung học cơ sỏ (cấp 2). Hoặc các trường cao đẳng kỹ thuật như vừa nêu ở trên cũng đã giảng dạy về khoa học, nhưng còn ở mức độ hạn chế về nội dung, thời gian, phương pháp đào tạo. Điều này có thể được lý giải rằng khoa học là chìa khóa phát triển, tạo nên sức mạnh vượt trội của phương Tây, cho nên nó không thể dễ dàng, nhanh chóng được nhà cầm quyền Pháp chuyển giao với liều lượng cao, cả về nội dung và phương pháp nghiên cứu, cho nhân dân thuộc địa.    Năm 1927, Henri Gourdon, Tổng thanh tra Học chính Đông Dương, đã nêu ra vấn đề cần thiết phải thành lập thêm một số trường cao cấp trong đó có trường văn học và trường khoa học. Trong một báo cáo gửi Bộ Thuộc địa, đề ngày 27/9/1927, ông đã nhấn mạnh việc tiến tới thành lập một trường khoa học để cấp các chứng chỉ khoa học và cử nhân khoa học.11 Nhưng phải đợi rất nhiều năm, giữa thời điểm Chiến tranh Thế giới hai, trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương mới được thành lập theo một sắc lệnh ngày 26/7/1941 của Thống chế Pétin, người đứng đầu nước Pháp khi đó.12 Đây cũng là trường thành viên cuối cùng của Đại học Đông Dương được thành lập trước khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 09/3/1945. Báo chí thời đó đã có bài viết về sự kiện này.    Phải lưu ý rằng, trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, nước Pháp đã bị chiếm đóng một phần bởi quân phát xít Đức. Tại Đông Dương, họ cũng phải chấp nhận nhường 70000 km2 cho Thái Lan sau một cuộc chiến ngắn. Theo sử gia Pierre Brocheux, Pháp không thể tiếp tục duy trì thuộc địa bên ngoài quỹ đạo Nhật bản.13 Để ngăn cản người dân thuộc địa ngả về phía Nhật, đô đốc Decoux phải làm một vài nhượng bộ cho người dân Đông Dương, nhất là đối với các quan lại, và cả đối với tầng lớp tinh hoa có học đang ngày một tăng lên đáng kể về số lượng. Trường Đại học khoa học đã được ra đời trong bối cảnh đó. Nó được dành cho cả sinh viên người bản địa Đông Dương và sinh viên Pháp muốn ở lại tại đây để học trong  lúc có chiến tranh bên châu Âu.    Đôi nét về vận hành và kết quả đào tạo    Mục tiêu của trường Cao đẳng Khoa học được xác định như sau:14  1. Giảng dạy về vật lý học, hóa học, thiên nhiên học, toán học đại cương và ứng dụng; cấp chứng chỉ Vật lý, Hoá học, Sinh học (PCB); cấp chứng chỉ ở trình độ cao đẳng và cấp bằng cử nhân khoa học.    2. Góp phần vào nghiên cứu và ứng dụng khoa học tại Đông Dương;    3. Đào tạo cán bộ người Đông Dương cho hệ thống hành chính và kinh tế nơi đây.    Ngoài cấp chứng chỉ khoa học, trường có đào tạo sinh viên đến trình độ cử nhân. Trường được thành lập theo mô hình bên Pháp, nhưng có sự thay đổi đặc biệt cho phù hợp với Đông Dương. Cụ thể là để đảm bảo rằng sinh viên tú tài có trình độ kiến thức chung đủ để theo học tại trường, một bài đánh giá thử được thực hiện vào đầu mỗi năm học.    Việc cấp các chứng chỉ PCB và chứng chỉ đại học do trường và nha học chính Đông Dương thực hiện. Bằng cử nhân khoa học do Viện hàn Lâm Paris cấp.  Về nhân sự giảng dạy, do hoàn cảnh chiến tranh, nên chính quyền phải huy động nhân sự tại chỗ, đó là các giáo sư đang công tác tại Đông Dương, trong đó có những giáo sư đã ở tuổi về hưu.             Danh sách nhân sự giảng dạy tại trường CĐKH (1942-1943)          Tên      Chức danh, học hàm, học vị      Môn phụ trách          MM Bourret      Hiện trưởng, giáo sư tiến sĩ  (Directeur de l’École, docteur ès sciences, professeur de l’Enseignement supérieur)      Động vật học (Biologie animale)          Bernard      Giáo sư đại học (Professeur de l’Enseignement supérieur)      Vật lý (Physique)          Hoffet      Tiến sĩ  (Docteur ès sciences)      Địa lý (Géologie)          Werts      Giáo sư, Tiến sĩ (Professeur agrégé)      Hóa học (Chimie)          Petelot      Giáo sư đại học (Professeur de l’Enseignement supérieur)      Thực vật học (Biologie végétale)          Bosq      Giáo sư, Tiến sĩ  (Professeur agrégé)      Toán học (Mathématique)          Nguồn : F.R. Giraud et Bui Ngo Hien, Université de Hanoi. Livret de l’étudiant indochinois, 1942-1943, publié par la Direction de l’Instruction Publicque, Hanoi, p. 99.            Về cơ sở vật chất, chiến tranh đã ảnh hưởng tiêu cực đến trường, cụ thể là cho đến tận năm 1945, những thiết bị, vật liệu khoa học quan trọng được đặt mua từ bên Pháp vẫn chưa được chuyển đến. May mắn là những thiết bị, vật liệu vẫn còn dự trữ tại các phòng thí nghiệm đã có trước đó và có thể huy động được tại chỗ. Cùng với sự nỗ lực khắc phục khó khăn của các giảng viên và trợ giảng nên việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu đã có thể thực hiện gần tương đương như bên chính quốc.    Trường đã có sự thành công nhanh chóng trong tuyển sinh, số lương sinh viên rất đáng kể và tăng qua các năm học. Phần lớn là sinh viên Việt Nam, sinh viên Pháp cũng chiếm tỷ lệ khá. Vào Năm học 1943-1944 có tổng số 275 sinh viên, trong đó có 169 sinh viên Việt Nam, 101 sinh viên Pháp, còn lại 5 sinh viên thuộc về một số nơi khác đến.    Sau khi Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), Trường Khoa học phải tạm ngừng hoạt động (sau đó Pháp có khôi phục lại hoạt động trong vùng chiếm đóng). Tính từ khi thành lập đến thời điểm tạm đóng cửa, trường chỉ mới có chưa đầy bốn năm hoạt động, lại trong hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh thế giới, vì vậy những thành tựu chỉ mới bắt đầu. Theo ghi nhận, tính đến năm 1945, trường đã đạt những kết quả sơ bộ (bảng 1).                           1943-1944      1944-1945          Chứng chỉ đại học phát ra theo năm học      Vật Lý đại cương (Physique générale)      12      4          Hóa học đại cương (Chimie générale)      13      5          Thực vật học (Botanique)      4      2          Động vật học (Zoologie)      5      1          Địa chất học (Géologie)      6      1          Vi phân và tích phân (Calcul diffférentiel et intégral)             4          Cơ học thuần túy (Mécanique rationnelle)             8          Bằng      Cử nhân khoa học         22          Bảng 1. Nguồn : ANOM, AGEFOM//243,  Recherches et Institution scientifiques et culturelles  Indochine (Bulletin d’Information, N° 85 du 07.10.1946, Chronique sociale et économique)             Đôi lời kết    Là thành viên ra đời muộn nhất trong số các trường thuộc Đại học Đông Dương, thời gian hoạt động chỉ chưa đầy bốn năm đã phải đóng cửa (sau 1945 mới mở lại), điều kiện hoạt động thiếu thốn về trang thiết bị và nhân sự giảng dạy, cho nên trường chưa đạt được thành tựu rõ nét. Việc trường được thành lập muộn có thể lý giải rằng người Pháp trong một thời gian dài chưa sẵn sàng để giảng dạy tại Đông Dương khoa học cơ bản (toán, lý, hóa, sinh) ở mức độ cao giống như bên chính quốc Pháp.    Với sự cố gắng của các giảng viên và tinh thần ham học hỏi, vươn lên của các sinh viên, trường đã đạt một số kết quả nhất định. Trong số các sinh viên tốt nghiệp hoặc học chưa trọn vẹn ở trường Khoa học, có một vài nhân vật sau đã trở thành những nhà khoa học tài năng của nước ta. Tiêu biểu nhất đó là Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Văn Chiển, chuyên môn về địa chất, và Giáo sư Đào Văn Tiến chuyên môn về sinh học. Ngoài ra về toán học còn có giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn và giáo sư Ngô Thúc Lanh cũng từng là sinh viên của trường. Các nhân vật trên, cùng một số nhân vật khác học tại đây, tuy số lượng còn chưa nhiều, đã góp phần tích cực, hiệu quả vào công cuộc xây dựng, phát triển giáo dục và khoa học của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám.□  —-  Chú thích  1 La Dépêche coloniale illustrée. N° 23, 15 décembre 1908, tr.330  2 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil de gouvernement de l’Indochine, tome 2, 1921  3 Exposition coloniale, Indochine , ouvrage publié sous la direction de Sylvain Lévi. Paris 1931, p.89.90.  4 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil de gouvernement de l’Indochine,1930, p366.  5 Section des services d’intérêt social. Direction générale de l’Instruction publique. Le service de l’Instruction publique en Indochine en 1930. 1930, p.115.  6 Gouvernement général de l’Indochine. Direction de l’instructionpublique. Arrêté du 30 mars 1925 portant règlement de l’Ecolesupérieure d’agriculture et de sylviculture de l’Indochine. 1925.  7 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil de gouvernement de l’Indochine,1922. T2. P.50  8 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil de gouvernement de l’Indochine,1923, t2 p.65  9 Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au Conseil de gouvernement de l’Indochine,1926, t2, p501  10 Từ Ngọc Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, nxb Mai Lĩnh, Hà Nội 1942.  11 ANOM, Indo Nf 2232,  Rapport de Henri Gourdon sur l’enseignement en Indochine, 1927.  12 Journal officiel de l’Etat français, n° 213, samedi 2 aout 1941, Décret du 26 juillet 1941 portant création d’un école supérieure de sciences à l’Université de Hanoi, , p.3235.  13 Brocheux Pierre, La Revue « Thanh Nghi »: un groupe d’intellectuels vietnamiens confrontés aux problèmes de leur nation (1941-1945). In: Revue d’histoire moderne et contemporaine, tome 34 N°2, Avril-juin 1987. p. 317-331.  14 ANOM, AGEFOM//243,  Recherches et Institution scientifiques et culturelles  Indochine (Bulletin d’Information, N° 85 du 07.10.1946, Chronique sociale et économique)    Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Trường thành viên đầu tiên của ĐHQG Hà Nội ra tạp chí      Mới đây, tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn của ĐH  KHXH&amp;NV đã nhận được giấy phép xuất bản, đưa trường này trở thành  trường thành viên đầu tiên của ĐH Quốc gia Hà Nội có tạp chí riêng.    PGS.TS Phạm Quang Minh, Phó Hiệu trưởng phụ trách Nghiên cứu khoa học của trường, cho biết, hiện đã có 15 học giả Việt Nam và năm học giả nước ngoài nhận lời vào Hội đồng biên tập tạp chí. “Năm học giả nước ngoài đều là những tên tuổi hàng đầu thế giới về Việt Nam học – đó là David Marr và Carlyle Thayer (Australia), Furuta Motoo (Nhật), Oscar Salemink (Na Uy), Peter Zinoman (Mỹ),” ông Minh nói.    Sự ra đời của tạp chí cũng sẽ chấm dứt sứ mệnh tờ chuyên san của trường, vốn thuộc danh sách các chuyên san được tính điểm bài báo khoa học (1 điểm ). Ông Minh chia sẻ, “xin phép để ra được tạp chí đã khó nhưng khó hơn là xây dựng uy tín để thuyết phục được Hội đồng Chức danh [giáo sư Nhà nước] đưa nó vào danh mục các tạp chí tính điểm bài báo khoa học.”     Tạp chí KHXH&NV mỗi năm xuất bản sáu số, trong đó có một số tiếng Anh, mỗi số dày 100 trang, dự kiến số đầu sẽ ra vào tháng Mười tới, theo lời ông Minh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Y Hà Nội: Khởi đầu một nền y học hiện đại của Việt Nam      Sau khi Trường Y Hà Nội được thành lập, có một Nghị định quan trọng ngày 28/7/1902 quy định về chương trình đào tạo, điều kiện được trúng tuyển vào trường. Theo đó, độ tuổi đăng ký tuyển sinh là từ 15 đến 20, có đủ trình độ tiếng pháp, là người bản xứ hoặc được bảo hộ bởi Pháp.      Trường Y Hà Nội*. Nguồn : Source : ANOM (Cote : FR ANOM 30Fi117/20.  Khoa Y (Ban Y)     Sau khi Trường Y Hà Nội được thành lập, có một Nghị định quan trọng ngày 28/7/19021 quy định về chương trình đào tạo, điều kiện được trúng tuyển vào trường. Theo đó, độ tuổi đăng ký tuyển sinh là từ 15 đến 20, có đủ trình độ tiếng pháp, là người bản xứ hoặc được bảo hộ bởi Pháp. Tiếp đó là Nghị định ngày 25/10/1904 tổ chức lại Trường Y trên cơ sở mới. Độ tuổi được tuyển là từ 18 đến 25. Chương trình đào tạo cho các y sĩ tương lai sẽ kéo dài bốn năm và các sinh viên học tại trường theo chế độ ăn ở nội trú.2    Chương trình đào tạo quy định trong phần kèm theo của nghị định ngày 25/10/1904 như sau:3    – Năm đầu tiên: lý thuyết giải phẫu và sinh lý học; phẫu thuật lâm sàng; y học lâm sàng; phẫu tích.    – Năm thứ hai: lý thuyết giải phẫu và sinh lý học; nội khoa và ngoại khoa; y học lâm sàng và giải phẫu lâm sàng; dược lý, phẫu tích.    – Năm thứ ba: lý thuyết giải phẫu và sinh lý học; nội khoa và ngoại khoa; y học lâm sàng và giải phẫu lâm sàng; vệ sinh; sản khoa; điều trị học; dược lý, phẫu tích.    – Năm thứ tư, sinh viên gắn bó với bệnh viện, bệnh xá hoặc các cơ sở y tế khác do Toàn quyền quyết định theo đề nghị của Hiệu trưởng Trường Y và với sự đồng ý của Trưởng các cơ quan y tế.      Số lượng y sĩ Đông Dương tốt nghiệp tại Trường Y Hà Nội từ khóa đầu đến năm 1930. Nguồn: Exposition coloniale internationale, L’École de plein exercice de médecine et de pharmacie de l’Indochine, op.cit.    Việc giảng dạy lần đầu tiên của trường bắt đầu vào tháng 3/1902 với 29 sinh viên được nhận học bổng, trong đó gồm 15 người được chọn ra từ 121 ứng viên trong một cuộc thi tại Bắc Kỳ, số còn lại là năm người Trung Kỳ, tám người Nam Kỳ và một người Campuchia được chính quyền tại các khu vực này lựa chọn ra.4 Sau những năm đầu khó khăn và mày mò thử nghiệm, phải đến năm 1906-1907 mới có được những kết quả ban đầu. Thật vậy, khóa 1 sau một thời gian đào tạo đã có nhiều sinh viên không đủ điều kiện để đi tới năm học cuối cùng. Chỉ có tám sinh viên đã rời trường để hoàn thành thực tập của họ tại các cơ sở y tế khác nhau ở Đông Dương. Những cơ sở y tế này đã không ngớt lời ca ngợi các sinh viên được đào tạo tại Trường Y Hà Nội. Chẳng hạn, lãnh đạo Bệnh viện Thanh Hóa đã nhận xét về sinh viên Ưng Thông (người về sau phụ trách việc chăm sóc sức khỏe theo lối Tây y cho gia đình nhà vua Bảo Đại): “Y sĩ thực tập Ưng Thông là một trợ lý siêng năng, chín chắn, tận tuỵ mà về phần tôi sẽ thấy rất tiếc nếu không được thấy anh ấy quay lại Thanh Hóa nơi mà anh ấy đã thể hiện được giá trị và được lòng người dân”.5 Hay Yvonne de Miribel, thống sứ Bắc Kỳ đã dành những lời có cánh cho sinh viên Lê Văn Chỉnh, về sau trở thành là bác sĩ Y khoa đầu tiên người Việt Nam ở Hà Nội6: “Anh Lê Văn Chỉnh xứng đáng với lời khen ngợi lớn nhất cho sự vất vả mà anh đã chịu để làm cho những người dân bản địa hiểu được khía cạnh tốt đẹp từ sự ảnh hưởng của chúng ta, không chỉ trên cương vị là một bác sĩ, mà còn như thể một chủ tịch của Trung tâm văn hóa Pháp (Alliance francaise). Anh Lê Văn Chỉnh nói ngôn ngữ của chúng ta như một người Pháp; tính cách ngay thẳng, chăm chỉ, yêu nghề và có niềm tin vào sự ưu việt của Tây y (…). Từ góc độ vô tư, tận tâm với người bệnh, anh là một tấm gương. Nói ngắn gọn, đó là một nhân viên ưu tú, rất chắc chắn, hoàn toàn khác thường”.7    Trong tám sinh viên thực tập đó chỉ có năm y sĩ Đông Dương tốt nghiệp vào năm 1907.8 Theo các nhà chức trách, kết quả đầu tiên của trường là tuyệt vời. Vai trò của y sĩ bản địa, theo Toàn quyền Paul Beau, là rất cần thiết trong hoạt động y tế. Nếu bác sĩ châu âu là người chỉ đạo và kiểm soát, thì y sĩ bản địa là lực lượng tác động đến dân cư, khiến đồng bào của họ chấp nhận các phương pháp chữa trị và thúc đẩy họ trong công tác giữ gìn vệ sinh.9 Năm 1908 đã có quyết định rằng các y sĩ Đông Dương giỏi nhất có thể được gửi đến Pháp để hoàn thiện thêm nghiên cứu y khoa của họ ở đó. Thời gian lưu trú của họ được ấn định là hai năm.10 Trong năm học 1910-1911, trong số những cựu sinh viên của trường đã có những người thành công để lấy bằng bác sĩ thuộc địa, do Viện Nghiên cứu Y học thuộc địa Paris cấp. Có ba bác sĩ gốc Đông Dương đứng ở thứ tự hai, sáu và chín trên tổng số 39 ứng cử viên bác sĩ y đến từ các nước thuộc địa của Pháp.11 Một báo cáo của chính quyền năm 1916 có viết: “Một trong số họ, một người Nam Kỳ trẻ tuổi, Nguyễn Văn Thinh12, được xếp hạng thứ hai, đã vượt qua cuộc thi một cách đặc biệt nổi trội, anh ấy xứng đáng khi nhận được lời chúc mừng của ban giám khảo và được hạng xuất sắc”.13      Trong đại chiến 1914-1918, Đông Dương đã gửi một đội ngũ quân sự lớn đến Pháp, công nhân, y tá, phu, v.v. Một bệnh viện Đông Dương được thành lập ở Marseille (Mác Xây) trên khu đất của quận Saint Louis (có tên là “Campagne de l’Evêque” – Chiến dịch của Giám mục) cho người An Nam bị thương và bị bệnh. Nhân sự của bệnh viện bao gồm một giám đốc, một y sĩ phụ trách quản lí và năm y sĩ trợ tá, tất cả được chọn trong số những sinh viên giỏi nhất tốt nghiệp trường Y Hà Nội.14    Kể từ năm học 1921-1922, song song với đào tạo y sĩ Đông Dương theo chế độ bốn năm, Trường Y đã mở thêm một chương trình đào tạo bác sĩ. Theo điều 24 của Sắc lệnh ngày 18/5/1920 về Trường Y toàn cấp, những nghiên cứu sinh y khoa phải trải qua bốn năm học theo chương trình chung, hoàn thành chứng chỉ Lý-Hóa-Khoa học, phải theo những lớp bổ trợ và phải trải qua những bài thi tương ứng với trình độ theo từng năm học. Cuối cùng, họ sẽ đến Pháp để hoàn thành năm học cuối tại Khoa Y Paris và trải qua kỳ thi lâm sàng và bảo vệ luận án y khoa của họ tại đây (ví dụ như bác sĩ Đặng Vũ Lạc, Hoàng Thụy Ba, Phạm Ngọc Thạch). Theo báo cáo của nhà cầm quyền vào thời điểm năm 1925, trình độ của những học viên ban nghiên cứu sinh y khoa (Section de Doctorat) là “không thể hiện điều gì kém hơn những sinh viên chính quốc”.15 Điều này phần nào phản ánh được chất lượng đào tạo tại Trường Y Hà Nội.    Từ việc áp dụng Sắc lệnh ngày 19/10/1933, nhà trường có thể cấp bằng bác sĩ Quốc gia, ban y Đông Dương (theo chương trình cũ) bắt đầu dừng tuyển sinh từ tháng 9/1932 và bị xóa bỏ khi những sinh viên cuối cùng học xong, thay vào đó chỉ còn ban đào tạo bác sĩ như bên Pháp. Theo quy định mới, khắt khe hơn trước,16 sinh viên phải có bằng tú tài hoặc tương đương, phải trải qua sáu năm học bao gồm cả lý thuyết và thực hành, ở trên lớp, tại phòng thí nghiệm và tại bệnh viện, không tính một năm học để có chứng chỉ khoa học PCB (Lý, Hóa, Sinh), vượt qua ít nhất năm lần kiểm tra cho năm năm học đầu tiên, và ba kỳ kiểm tra lâm sàng17, năm thứ sáu có hai kỳ thực tập bắt buộc. Luận án y khoa chỉ được bảo vệ sau khi đã hoàn thành các bài kiểm tra lâm sàng và nghiên cứu sinh phải đăng ký chủ đề của luận án với thư ký của trường hai tháng trước khi bảo vệ, và chủ đề phải được sự thông qua của hiệu trưởng.     Năm 1934, giáo sư Lemaitre, đại biểu đầu tiên của Khoa Y Paris đã đến Hà Nội để chủ trì và cũng là chủ tịch hội đồng giám khảo của kỳ thi tháng sáu và bảy tại đây theo sự ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Quốc gia, đồng thời tìm hiểu hoạt động của Trường Y.18    Một sự kiện khoa học quan trọng đánh dấu sự phát triển của Trường Y Đông Dương trong đào tạo là vào tháng 10/1935, lần đầu tiên những nghiên cứu sinh y khoa có thể bảo vệ luận án (thèse) của họ tại trường sau khi hoàn thành việc nghiên cứu. Đây cũng là năm cuối cùng tồn tại của ban y Đông Dương. Như đã biết, trước đó, từ năm 1925 các nghiên cứu sinh phải sang Pháp bảo vệ luận án. Trong báo cáo của mình, giáo sư Emile Brumpt, đại biểu của Khoa Y Paris, chủ tịch hội đồng luận án tháng 10/1935 tại Trường Y Hà Nội đã nhận xét rằng nhìn chung những kết quả là hoàn hảo, ngoại trừ một nghiên cứu sinh có thể do nhút nhát hoặc do trình độ hiểu tiếng Pháp còn kém.    Trong số 12 luận án y khoa, theo giáo sư Brumpt, hai luận án đạt loại xuất sắc (trong đó một được giới thiệu xét thưởng cho luận án tại Khoa Y Paris và một được gửi đến Hội đồng Giải thưởng luận án), năm luận án đạt giỏi, năm đạt loại khá. Theo Hermant, quan chức cao cấp trong lĩnh vực y tế công và thanh tra an toàn vệ sinh tại Đông Dương, ông có thể nhận 20 tiến sĩ y khoa mỗi năm vào làm tại sở cứu trợ.19 Với nhu cầu này, số bác sĩ tiến sĩ y khoa vẫn còn ở mức thấp cho một nơi rất rộng như Đông Dương.20 Nhưng đáng tiếc là những cơ sở y tế cứu trợ này ở Đông Dương không làm thỏa mãn các tiến sĩ y khoa trẻ vì họ chỉ được giao cho vai trò là phụ tá của các bác sĩ Pháp. Nhiều người trong số đó đã lựa chọn việc phục vụ trong lĩnh vực y tế tư nhân tại những thành phố lớn bởi vì “dân chúng vùng nông thôn còn khá nghèo hoặc vẫn còn gắn bó với Đông y”.21 Thật vậy, tất cả 12 tiến sĩ y khoa tốt nghiệp tháng 10/1935 tại trường Y Hà Nội, đều là người Việt Nam, thì có bảy người làm trong y tế tư nhân, trong đó hai ở Hà Nội, hai ở Sài Gòn, một ở Mỹ Tho, một ở Phan Thiết và một ở Hải Phòng. Có hai người tham gia tạm thời vào việc giảng dạy tại nơi tốt nghiệp. Ngoài ra còn có hai người đến Pháp với học bổng nhận được. Còn lại một người ở lại Hà Nội.22    Từ năm 1935 đến 1945, có 147 luận án tiến sĩ y khoa đã được bảo vệ thành công tại Trường Y Đông Dương.23 Cần nhắc lại sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945, nhiều người Pháp bị bắt hoặc phải đi trốn. Nhưng đối các viên chức trí thức Pháp, ít nhất là với trường hợp các giáo sư trường trường Y, vẫn được Nhật cho hoạt động, vì thế năm 1945 vẫn có thi và bảo vệ luận án.24 Phần lớn tác giả luận án  từ 1935-1945 là người Việt Nam. Trong số này có những gương mặt bác sĩ tiến sĩ y khoa nổi tiếng như các bác sĩ: Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung,  Đỗ Xuân Hợp…     Khoa Dược (Ban Dược)     Phải 12 năm sau khi trường Y Hà Nội ra đời thì khoa dược mới được thành lập tại đây theo Nghị định ngày 20/7/1914 của Toàn quyền để đào tạo dược sĩ phụ tá. Theo chính quyền, dưới đây là những lý do cho sự ra đời của khoa Dược:       Thực hành nhãn khoa. Ảnh : thoisutoancanh.com  – Dược sĩ phụ tá sẽ mang đến sự giúp đỡ hiển nhiên trong các cơ sở y tế quan trọng như bệnh viện bản địa. Họ cũng sẽ rất hữu ích trong các cơ sở ngoại giao và các dược sĩ dân sự sẽ sử dụng họ như những dược sĩ trợ tá;    – Họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân phối các dược phẩm Pháp trong cộng đồng người Đông Dương vốn tiêu thụ rất nhiều sản phẩm của Anh, Nhật Bản hoặc Trung Quốc. Trong các cơ quan lãnh sự ở Trung Quốc, bằng cách ủy quyền cho các dược sĩ trợ lý giữ kho thuốc của cơ quan cứu tế, nhờ đó sẽ đảm bảo một đầu ra nhất định cho các sản phẩm của Pháp;    – Họ có thể cạnh tranh và làm mất dần các dược sĩ Trung Quốc hiện đang khai thác người Việt mà không cần phải dùng đến độc dược.25    Lớp sinh viên dược sĩ phụ tá (trợ lý) đầu tiên vào Trường Y năm 1914 gồm bốn sinh viên, một người Nam Kỳ, một người An Nam và hai người Bắc Kỳ.26 Thời gian của các khóa học được ấn định là ba năm bao gồm các môn học liên quan đến chuyên ngành như vật lý, hóa học, động vật học, thực vật học, hóa học khoáng vật,  vật lý y học, hóa học hữu cơ, độc tính học, vệ sinh…, và cuối cùng là ba tháng thực tập tại bệnh viện, thực tập tại phòng thí nghiệm.27  Lần đầu tiên, vào năm 1917, bốn dược sĩ trợ lý đã tốt nghiệp. Theo ý kiến ​​của các giáo sư và các thành viên của hội đồng thi, những người tốt nghiệp này rất xuất sắc. Những tân dược sĩ sẽ được tuyển dụng trong các cơ sở y tế khác nhau và hứa hẹn sẽ cung cấp các dịch vụ rất tốt. Chính phủ cũng muốn thay thế dần dần nhiều dược sĩ Trung Quốc vì theo chính phủ, những dược sĩ Trung Quốc vốn hay bán các sản phẩm nước ngoài gây bất lợi cho ngành công nghiệp Pháp và gây độc hại cho nhiều trẻ em An Nam vì không biết gì về liều thuốc trẻ sơ sinh.28    Từ năm học 1935-1936, Trường không đào tạo dược sĩ Đông Dương theo chế độ ba năm học nữa, mà nâng lên theo chế độ năm năm, trong đó gồm một năm thực tập và bốn năm học tại trường.29 Kỳ thực tập chỉ có thể được hoàn thành tại các hãng thuốc mà chủ sở hữu đã được cấp phép cho mục đích này bởi nhà chức trách. Kết thúc thực tập, thực tập sinh trải qua một kỳ kiểm tra đánh giá để xác nhận. Họ có thể bắt đầu đi học sau khi thực tập thành công.  Theo Biên niên giám của Trường Y Dược Hà Nội, từ năm 1941 đến 1944 đã có 19 người được nhận bằng dược sĩ của Trường.30 Một trong những người tốt nghiệp ban Dược của Trường Y chính là GS. Đỗ Tất Lợi, tác giả của công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”.     Chứng chỉ khoa học (chứng chỉ nghiên cứu vật lý, hóa học và thiên nhiên)     Đây là chứng chỉ về vật lý, hóa học và thiên nhiên (PCN). Sau này môn học thiên nhiên được thay thế bằng môn sinh học (PCB). Tại Pháp, đào tạo để cấp chứng chỉ khoa học tại các trường Đại học Khoa học đã được xác nhận trong sắc lệnh ngày 32/7/1893. Để được quyền học lấy chứng chỉ này, tại Pháp, những thí sinh phải đủ 17 tuổi trở lên và phải có bằng trung học đệ nhất cấp (trung học cơ sỏ) hoặc tương đương.31      Thực hành ở khoa dược**. Ảnh : thoisutoancanh.com  Tại Đông Dương, vào lúc chưa có Trường Khoa học, Toàn quyền Sarraut đã quyết định tổ chức giảng dạy chứng chỉ này tại Trường Y. Lớp học đầu tiên đã được tổ chức vào ngày 01/10/1917. Sau đó có một Sắc lệnh ngày 7/01/1919 chính thức thiết lập tại Đông Dương việc giảng dạy chứng chỉ này. Để được đăng ký vào học, cũng như bên Pháp, các ứng viên phải có bằng cấp trung học đệ nhất cấp hoặc tương đương.    Sau khi hoàn thành các môn học và các bài thi trước hội đồng giám khảo được bổ nhiệm bởi Toàn quyền theo đề nghị của Giám đốc Nha học chính, nếu thành công, các sinh viên sẽ được cấp chứng chỉ năng lực về khoa học vật lý, hóa và thiên nhiên. Người Đông Dương sau khi được nhận chứng chỉ này, khi cần có thể đề nghị chuyển đổi sang chứng chỉ tương đương bên Pháp theo quy định.    Năm 1941, khi trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương được thành lập và việc giảng dạy để cấp chứng chỉ này được chuyển sang đó.     Khoa Hộ Sinh (Ban Hộ sinh)     Ban Hộ sinh bản xứ được thành lập vào năm 1905, có chức năng đào tạo các nữ hộ sinh cho các bệnh viện và các nhà hộ sinh ở các cơ sở Cứu trợ y tế tại Đông Dương, đặc biệt là tại Bắc Kỳ. Ngoài ra, tại Sài Gòn cũng có đào tạo nữ hộ sinh thuộc Trường Y tá tiêm chủng Chợ Lớn.32    Chính quyền nhận thấy rằng sự thiếu hiểu biết về khoa học vệ sinh và chăm sóc trẻ sẽ dẫn đến tình trạng chết yểu, chết non rất cao. Vì vậy, các nữ hộ sinh bản xứ đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến sâu rộng trong dân chúng những quy tắc khử trùng và cách phòng bệnh, chăm sóc trẻ theo cách hiện đại.33    Mỗi khóa đào tạo nữ hộ sinh được ấn định là hai năm. Người học sẽ được dạy về giải phẫu, sinh lý học sinh sản, kiến thức đại cương về thai phụ và thai sản. Học sinh phải đi thực tập tại bệnh viện để được thực hành đỡ đẻ. Họ sẽ có những kinh nghiệm về bệnh lý thai phụ và sản phụ. Người ta sẽ nhấn mạnh đến vấn đề vệ sinh thai phụ và sản phụ, đồng thời cũng không thể quên được vấn đề vệ sinh trẻ sơ sinh và tiêm chủng. Trong hai năm học, học sinh sẽ phải chăm chỉ chuyên cần theo các buổi thực tập về hộ sinh (phải đủ số ca thực hành theo quy định). Cuối cùng, khi đã hoàn thành yêu cầu và vượt qua được kỳ đánh giá cuối khóa, họ sẽ được bổ nhiệm làm hộ sinh hạng ba.       Nhóm học sinh ở lớp hộ sinh. Nguồn : La Dépêche coloniale illustrée. 15 décembre 1908  Mặc dù là nghề quan trọng với xã hội như vậy nhưng việc tuyển sinh ngành này ban đầu rất khó khăn vì nhiều lẽ:    1. Nghề này ít được coi trọng trong dân chúng. Việc đỡ đẻ thường do các bà đỡ không được đào tạo với mức phí thấp thực hiện. Cho nên nghề này thường được làm bởi những phụ nữ nghèo:    2. Những phụ nữ bản địa được đi học còn rất hiếm, học lên trung học lại càng hiếm. Những người này có thể tìm thấy công việc trong hệ thống giáo dục như giáo viên tiểu học, trợ giáo với mức lương cao hơn so với công việc hộ sinh trong các trung tâm cứu trợ y tế tại Đông Dương;    3. Nữ hộ sinh sẽ phải làm việc trong tất cả các cơ sở khắp Đông Dương, thậm chí ngay cả ở những nơi bị xem là độc hại;    4. Đây là nghề phải luôn trong tình trạng sẵn sàng làm việc bất cứ giờ nào, vì vậy họ có thể phải chịu những phiền phức ngày cũng như đêm, hơn thế, họ không có kỳ nghỉ như trong ngành giáo dục;    5. Việc học tập để trở thành hộ sinh là khó khăn đối với nữ sinh khi trình độ họ còn hạn chế. Nhiều học sinh đã phải bỏ dở công việc học tập của mình.  Những điều kiện cho việc tuyển sinh đã dần được cải thiện. Dân chúng dần dần có sự tin tưởng hơn vào năng lực các nữ hộ sinh khi làm việc. Uy tín của những nữ hộ sinh có trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao, do đó, những nữ hộ sinh sau khi tốt nghiệp đã có thể tự lập nghiệp ở các thành phố. Hơn nữa, đã có một số biện pháp hành chính để cải thiện thu nhập của các nữ hộ sinh có trình độ được chính quyền áp dụng như: tăng lương, phụ cấp cho mỗi ca sinh và tiêm phòng đậu mùa và chống lao. Họ có cơ hội có khách hàng tư nhân trong những điều kiện nhất định. Kể từ khi thành lập đến năm 1948, có hơn 100 nữ hộ sinh tốt nghiệp trường Y Đông Dương.      Lời kết     Trường Y Hà Nội (1902) ra đời sớm và có thời gian hoạt động liên tục lâu nhất trong số các trường cao đẳng, đại học theo mô hình hiện đại tại Đông Dương trước 1945. Từ 1902 đến 1945, giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trường là thời kỳ 1930 đến 1945 khi trường đào tạo sinh viên tốt nghiệp bằng luận án y khoa bác sĩ ngay tại trường, tương đương như bên Pháp và cấp bằng dược sĩ nhà nước. Có thể lý giải rằng sau nhiều năm cai trị Đông Dương, các cuộc khởi nghĩa đều thất bại, người Pháp đang tự tin vào công cuộc cai trị và đã có chính sách rõ ràng hơn trong việc phát triển giáo dục y học nơi đây. Họ đã cử đến trường Y các giáo sư, bác sĩ, chuyên gia cao cấp để mang trình độ Y học  cao nhất của Pháp thời bấy giờ vào giảng dạy, đào tạo, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho sinh viên Đông Dương, và cho cả sinh viên Pháp và một số nước lân cận học tại đây.    Những đề tài nghiên cứu của các giáo sư, giảng viên và sinh viên nhà trường tập trung vào những vấn đề y học tại Đông Dương, nhất là tại Việt Nam đã góp phần vào phát triển y học và cải tạo thực tiễn tình trạng sức khỏe cộng đồng. Có những nghiên cứu đã đạt đến phạm vi quốc tế, được đánh giá rất cao bởi những phát hiện mới rất giá trị. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng về giải phẫu gan, được thực hiện khi ông còn học và làm việc tại đây trước 1945 và nghiên cứu về hình thái học người, giải phẫu người của giáo sư, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp.       Học thực hành hộ sinh ở bệnh viện Réne – Robin (nay là bệnh viện Bạch Mai).  Trường Y Đông Dương đã đào tạo được một lực lượng y sĩ, bác sĩ, dược sĩ, nữ hộ sinh, tuy không nhiều, nhưng thông qua lực lượng đó đã góp phần chữa trị, chăm sóc sức khỏe, phổ biến khoa học, vệ sinh cho cộng đồng dân cư. Qua đó cũng làm thay đổi từng bước những quan niệm lạc hậu, phản khoa học về chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, họ cùng với một số bác sĩ học ở nước ngoài về đã tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng ngành y dược của nước ta sau Cách mạng tháng Tám.□  —  1Bulletin officiel de l’Indochine française, N°7-1902, Arrêté fixant le programme des études et déterminant les conditions d’admission à l’École de médecine de Hanoi.  (Du 28 juillet 1902), p.621.  2 Bulletin officiel de l’Indochine française, N°10-1904  3 Bulletin officiel de l’Indochine française, N°10-1904, p.894.  4 Gouvernement général de l’Indochine, Annales de là Faculté de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Tome VII-1942, Publiées par les professeurs de la Faculté, Impr Extreme d’orient, Hanoi 1942, p.tr.3.  5 La Dépêche coloniale illustrée. 15 décembre 1908, N° 28,  l’Ecole de Médecine de l’Indo-Chine, p.324.  6 Theo tiểu sử của ông Lê Văn Chỉnh trong sách “Souverains et notabilités d’Indochine” xuất bản năm 1943  bởi chính quyền Đông Dương (Le Gouvernement Générale de l›Indochine), trang 12, ông sinh năm 1879 tại Hà Nội, theo học tại Trường thuộc địa Paris (Ecole coloniale de Paris) năm 1897, được chỉ định là người đạo tại trường Y Hà Nội năm 1902 (répétiteur, theo chúng tôi là kèm về tiếng Pháp cho sinh viên, vì ông giỏi tiếng Pháp), nhận bằng y sĩ Bản địa năm 1907. Ông quay lại Paris năm 1909, được nhận bằng Y sĩ thuộc địa năm 1910, tham gia chiến tranh thế giới 1914-1918, được bằng bác sĩ Nhà nước năm 1922.   7 La Dépêche coloniale illustrée. 15 décembre 1908, N° 28,  l’Ecole de Médecine de l’Indo-Chine, p.324.  8 La Dépêche coloniale illustrée. 15 décembre 1908, N° 28,  l’Ecole de Médecine de l’Indo-Chine, p.328.  9 Paul Beau, Situation de l’Indo-Chine de 1902 à 1907, tome 2, op.cit, p.92,93.  10 Ministère des Colonies, Indochine, Situation générale de la colonie pendant l’année 1911, Saigon,Impr Commerciale,1911, p.22.  11 Ministère des Colonies, Indochine, Situation générale de la colonie pendant l’année 1911, Saigon, Impr Commerciale 1911, p.93  12 Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đúng là người gốc Nam Kỳ, sinh năm 1888, vào ngạch bác sĩ bản xứ (médecin indigène) ngày 29/11/1908 tại Bệnh viện Chợ Quán. Ông không phải sinh viên khoá đầu của trường Y Hà Nội (vì năm 1902 chưa đủ 15 tuổi theo quy định tuyển sinh, và không có trong danh sách trúng tuyển), còn ông có phải sinh viên khóa hai không thì cũng chưa tìm thấy tài liệu nào chứng thực. Trong hai tiều sử của ông mà chúng tôi tìm thấy được viết khi ông còn sống thì cũng không nói ông là cựu sinh viên Trường Y Hà Nôi. Nhưng trong đó có một thông tin đáng chú ý là năm 12 tuổi (1900) ông có sang Pháp học.  13 Ministère des Colonies, Indochine, Situation générale de la colonie pendant l’année 1911, Saigon,Impr Commerciale 1911, p.22.  14 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, session ordinaire de 1916, tome 2, p.92.  15 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, session ordinaire de 1925, tome 2, p.72-73.  16 Gouvernement général de l’Indochine, Annales de là Faculté de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine, Tome I-1935-1937, Publiées par les professeurs de la Faculté, Impr Extreme d’orient, Hanoi 1937, p.tr.10.  17 Thông tin được ghi trên chứng chỉ tốt nghiệp bác sĩ của nhiều vị tại trường Y Hà Nội (chụp tại Trung tâm lưu trữ ở Paris) : Mỗi năm học có một kỳ kiểm tra, riêng năm thứ  4 có 2 kỳ kiểm tra, ngoài ra còn 3 kỳ kiểm tra lâm sàng.  18 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au grand Conseil des intérêts économiques et financières et au Conseil de gouvernement, session ordinaire de 1935, Hanoi, Impr Extrême-Orient, 1935, p.101.  19 ANOM, Fonds Ministériels, GUERNUT//22, Le professeur Emile Brump,  op.cit,.  20 ANOM, Fonds Ministériels, GUERNUT//22, Le professeur Emile Brumpt …, op.cit,.  21 ANOM, Fonds Ministériels, GUERNUT//22, Le professeur Emile Brumpt …, op.cit.  22 Gouvernement générale de l’indochine, Rapport au grand conseil des intérêts économiques et financiers et au conseil de gouvernement 1936, p111,112.  23 Xem danh sách 147 luận án và tác giả tại phụ lục.   24 Theo giáo sư Vũ Công Hòe trong website của Trường Y Hà Nội (http://hmu.edu.vn/LichSu/Lichsu-P1)  25 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, 1914, tome 2, p.703,704.  26 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, 1915, tome 2, p.71   27 Exposition coloniale internationale, École de plein exercice de médecine et de pharmacie de l›Indochine, op.cit, p.25.  28 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, 1917, p.89.  29 Gouvernement général de l’Indochine. Université de l’Indochine, Annales de l’École Supérieure de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine, Tom I, 1935-1937, Impr d’Extrême-Orient, Hanoi, 1937, p.10-13.  30 Theo đó, danh sách các dược sĩ tốt nghiệp thời kỳ 1941-1944 như sau:  năm 1941 :các ông Nghiem Xuan Huynh, Nguyen Binh Tien ; kỳ thi tháng 1.1942: bà GUIGUET và ông. Reocreux; kỳ thi tháng 6.1942: có các ông Chuong Van Vinh, Nguen Van Duong và Nguyen Tien Quang; kỳ thi tháng 10/1942 : các ông Nguyen Thanh Nhuan, Vu Cong Thuyet, Trinh Van Luan, Vu Ngoc Tran; kỳ thi tháng 2.1943 : ông Nguyen Ba Cu; kỳ thi tháng 6.1943, có ông Cao Trieu Liem; tháng 4.1944 : ông Ta Ngoc Dieu; tháng 6. 1944 : bà Pham Thi Yen, các ông Nguyen Van Du, Nguyen Xuan Hoai, Huynh Quang Dai; tháng 10/1944 có ông Do Tat Loi.  31 Gouvernement général de l’Indochine, Conseil de Gouvernement de l’Indochine, session ordinaire de 1917, deuxième partie, p.90.  32 La Dépêche coloniale illustrée. N° 20, ngày 31.10.1907, tr.250.  33 Paul Beau, Situation de l’Indochine française de 1902 à 1908, tome 2, op.cit, p.299     * Sửa lại so với bản in là ảnh năm 1920  ** Sửa lại so với bản in là thực hành nhãn khoa. (Chú thích của ảnh 2 và ảnh 3 bị đổi ngược cho nhau)       Author                Lê Xuân Phán        
__label__tiasang Truyền cảm hứng học toán cho trẻ em      Trẻ em yêu thích cái gì, tò mò muốn biết cái gì, thì sẽ học cái đó rất nhanh. Muốn cho một bé học giỏi toán, thì điểm quan trọng đầu tiên là phải làm cho bé yêu toán. Chúng ta không thể bắt ép ai đó yêu toán, mà chỉ có thể gợi mở và khuyến khích. Ngày hội STEM là một trong những dịp rất tốt để tạo ra sự gợi mở và khuyến khích đó.    Nỗi sợ toán đến từ đâu?  Rào cản tâm lý là trở ngại lớn nhất đối với trẻ em (và cả người lớn) trong việc học toán (cũng như học các thứ khác). Nếu đứa trẻ chán nản hoặc sợ hãi với môn toán, thấy khổ sở khi học toán, thì tất nhiên học sẽ khó vào. Khi trẻ mắc phải những tâm lý tiêu cực đó, thì không phải là do “nó dốt, nó hư”, mà là do hoàn cảnh tạo ra như vậy, và một phần lớn lỗi trong chuyện này thuộc về người lớn (thầy cô giáo hoặc cha mẹ). Một số lý do phổ biến khiến cho trẻ trở nên sợ toán, chán toán là:  – Trẻ bị chế giễu, sỉ nhục (“sao mày ngu thế, sao điểm mày thấp thế”), hay thậm chí đánh đập khi không làm được bài.  – Giáo viên dạy chán và sách cũng chán, quá giáo điều, hình thức, khô khan, giải thích các thứ không rõ ràng, và cũng không nối kết được toán học với các thứ khác, khiến cho toán học trở nên khó hiểu và vô nghĩa, chẳng biết học để làm gì.  – Trẻ bị ép học quá nhiều đến mức mụ mẫm, thiếu ngủ và thiếu các hoạt động giải trí để có thể phát triển cân bằng.  Cần giải tỏa cho trẻ em về tâm lý, xóa bỏ được nỗi sợ toán, nỗi ghét toán, nỗi sợ bị điểm kém, chuyển được giờ học toán từ “địa ngục” sang thành “sự sung sướng” thì học sẽ nhanh vào. Chẳng hạn, chúng ta không nên sỉ nhục trẻ khi nó bị điểm kém, mà ngược lại nên tỏ ra độ lượng, làm cho nó hiểu rằng ai cũng có thể có lúc bị điểm kém, điều đó không phải là bi kịch.  Chúng ta không nên ép trẻ học quá nhiều (bắt đi học thêm quá nhiều, giao quá nhiều bài tập bắt buộc về nhà, v.v.), và đặc biệt không nên làm gì ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ. Giấc ngủ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành trí nhớ dài hạn, kết nối các kiến thức đã có lại với nhau, làm cho con người thông minh lên. Ngoài thời gian ngủ, trẻ con cần có thời gian chơi, thời gian tự học và tự đọc sách, học một cách “thòm thèm” chứ không học kiểu nhồi nhét.  Chương trình môn toán ở Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm bất cập. Ví dụ: trong một cuộc thăm dò ý kiến gần đây, hầu hết những người trả lời nói rằng khái niệm tích phân (có trong chương trình phổ thông) chẳng dùng làm gì cả. Tích phân “vô dụng” như vậy thì đưa nó vào chương trình phổ thông làm cái gì?! Thực ra thì phép tính tích phân là một trong những công cụ đa năng nhất của toán học, không hề vô dụng tý nào, chỉ có điều cách dạy hiện tại (thiên về mẹo mực tính toán tích phân, trong khi đó lại lờ đi bản chất và ý nghĩa của tích phân) khiến cho người học cảm thấy vô dụng vì chẳng liên hệ được nó với cái gì.  Còn nhiều ví dụ khác tương tự như trên, cho thấy chương trình dạy toán cần được cải tiến theo hướng: dễ hiểu hơn (không có nghĩa là nhảm nhí hóa, bỏ bớt nhiều khái niệm quan trọng ra khỏi chương trình, mà là giải thích các khái niệm một cách dễ hiểu hơn), tự nhiên hơn (không có khái niệm toán học quan trọng nào là “từ trên trời rơi xuống”, nhưng có những sách trình bày các khái niệm cứ như từ trên trời rơi xuống), sinh động hơn, gắn liền với thực tế và với các môn học khác hơn, v.v. Việc kết hợp toán (M) với STE thành STEM là một xu hướng giáo dục tốt, khiến cho toán trở nên sinh động và có nghĩa.    Dạy Toán một cách trong sáng đúng bản chất  Einstein có nói đại ý: “Nếu bạn không thể giải thích được một khái niệm gì đó cho đứa trẻ 6 tuổi hiểu được, thì có nghĩa là bạn chưa hiểu vững khái niệm đó”. Mọi ý tưởng quan trọng trong toán học thực ra đều rất trong sáng, và không đến mức khó như mọi người sợ. Giải thích chúng một cách trong sáng đúng bản chất (thay vì hình thức và giáo điều) thì trẻ em cũng hiểu được nhiều khái niệm của toán học hiện đại.  Lấy ví dụ khái niệm nhóm. Sách toán (đại học) ở Việt Nam đưa ra khái niệm nhóm một cách  hình thức, và ví dụ minh họa cũng “từ trên trời rơi xuống” (một bảng phép nhân của các phần tử, rồi kiểm tra chúng thỏa mãn các tiên đề của nhóm, nhưng chẳng biết ví dụ từ đâu ra, chẳng thấy liên quan tới cái gì hết). Khi tôi hỏi chuyện các sinh viên đã học môn này, họ thú thực cũng chẳng hiểu gì về nhóm. Thế mà có “cây đa cây đề”  lại muốn ôm cái định nghĩa trừu tượng, hình thức đó về nhóm đi dạy cho trẻ em. Tất nhiên trẻ em sẽ chẳng thể nào hiểu được bản chất “nhóm” là gì, tuy mang tiếng “được học toán hiện đại”.          Gần đây tôi cùng GS Hà Huy Khoái, GS Đỗ Đức Thái, TS Trần Nam Dũng, và một số đồng nghiệp và bạn bè khác có lập ra dự án “Tủ sách Sputnik” để đem đến thêm nhiều sách hay và đa dạng về toán cho trẻ em. Trong Tủ sách Sputnik hiện đã có những quyển sách nổi tiếng toàn thế giới (bán hàng triệu bản), ví dụ như quyển “Những cuộc phiêu lưu của người thích đếm” của Malba Tahan và quyển “Ba ngày ở nước Tí Hon” của Levshin (bản dịch mới). Đây là những quyển sách mà thực sự trẻ em nào đọc cũng thấy hay.          Ông V.I. Arnold là một trong những nhà toán học lớn nhất thế giới của thế kỷ 20, và đồng thời cũng là người viết nhiều sách phổ biến toán học rất hay, rất trực giác và gần gũi với thế giới tự nhiên. Ông cũng là người lên tiếng phản đối mạnh mẽ nhất chuyện dạy toán theo kiểu hình thức, quá trừu tượng, quá xa vời cuộc sống cho học sinh. Một trong những quyển sách cuối cùng mà Arnold viết (cho học sinh phổ thông) là quyển “Hiểu thế giới bằng toán học” (Mathematical understanding of nature) với nhiều ví dụ rất hay, từ giọt nước cho đến cầu vồng cho đến động cơ máy bay phản lực, v.v. Những sách như vậy cần được phổ biến đến học sinh ở Việt Nam. (Tủ sách Sputnik cũng đang dịch quyển sách này của Arnold)  Hiện tại phần lớn trẻ em ở Việt Nam chỉ được học toán qua sách giáo khoa lý thuyết và bài tập, chứ không biết đến các thể loại sách khác về toán rất cần thiết cho việc bổ sung kiến thức và gợi mở tình yêu toán học. Chúng ta cần tăng cường cho trẻ em tiếp xúc với các sách hay thuộc các thể loại khác, ví dụ như: sách truyện có nội dung toán học (đọc về toán mà ly kỳ hấp dẫn như truyện cổ tích), sách về toán học trong cuộc sống và trong tự nhiên (để trẻ em thấy các khái niệm toán học sinh động và hữu ích ra sao), sách về các trò chơi toán học (còn gì hay hơn là chơi vui mà lại là học hiệu quả),  sách về lịch sử toán học (biết về lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ hơn mọi thứ), đố vui giải trí toán học (đố vui cũng là một cách luyện não hiệu quả), v.v. Những sách như thế ở Việt Nam cũng đã có, nhưng còn tương đối hiếm. Những sách hay, dễ đọc mà rơi vào tay trẻ em thì chẳng cần thúc ép nài nỉ trẻ em cũng sẽ say sưa đọc, và từ đó mà yêu toán, giỏi toán.  Con người sinh ra bình đẳng với nhau, nhưng không giống nhau về năng khiếu bẩm sinh và môi trường phát triển. Khả năng về toán học của các trẻ em khác nhau vì vậy cũng khác nhau. Vì vậy không thể có một chương trình chung nào thích hợp với toàn bộ trẻ em cùng lứa tuổi. Một chương trình chung có thể thích hợp với đa số các trẻ em, nhưng bên cạnh đó cần các chương trình đặc biệt dành cho các trẻ em có năng khiếu đặc biệt hoặc ngược lại có những khó khăn đặc biệt khi tiếp cận môn toán (hay những môn học khác). Nếu trẻ em có năng khiếu đặc biệt về toán mà cứ phải học theo cùng tốc độ với các trẻ em có học lực trung bình thì ắt sẽ dẫn đến sự buồn chán và nguy cơ thui chột năng khiếu bẩm sinh.   —————————————————————–  * GS. Nguyễn Tiến Dũng là đại sứ của Ngày hội STEM và là nguyên viện trưởng Viện Toán lý thuyết trực thuộc Đại Học Toulouse, Pháp.            Author                Quản trị        
__label__tiasang TS Đỗ Ngọc Minh: Hợp tác mang lại nhiều ý tưởng      Giảng dạy tại trường đại học Illinois từ năm 2002, năm nay TS Đỗ Ngọc Minh có năm nghỉ phép đầu tiên (sabbatical year) để “làm mới mình” theo như truyền thống của các trường đại học nghiên cứu của Mỹ. Anh gần như dành trọn năm nghỉ phép này cho các hoạt động tại Việt Nam. Tháng 7 vừa qua, anh tham gia trường hè Xử lý tín hiệu số lần thứ 3 tổ chức tại Đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Tạp chí Tia Sáng có cuộc trò chuyện với anh về công việc của anh tại Việt Nam và tại Đại học Illinois, Mỹ.     Xin anh giới thiệu đôi nét về trường hè Xử lý tín hiệu số.  Ý tưởng ban đầu của trường hè là giúp các bạn sinh viên có điều kiện học tập trong khoảng thời gian ngắn (2 tuần) trong điều kiện gần như ở các trường đại học bên nước ngoài về phương pháp giảng dạy, kiến thức mới.  Một trong những khó khăn của trường hè là nguồn kinh phí mời giáo sư từ nước ngoài đến tham gia giảng dạy và hỗ trợ các em sinh viên khắp cả nước tới học. Lần thứ nhất tổ chức vào năm 2006, trường hè được Quỹ Giao dục Việt Nam VEF tài trợ. Lần thứ hai tôi xin được tài trợ của Quỹ phát triển khoa học của Mỹ- National Science Foundation (trong chương trình đào tạo cho những nhà lãnh đạo về công nghệ của Mỹ trong tương lai có cái nhìn rộng hơn về thế giới) để mời một số giáo sư của Mỹ và 6 sinh viên tại trường của tôi sang làm việc tại trường hè. Lần thứ 3 này, phần lớn tiền tài trợ từ trong nước. Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng hỗ trợ nơi ăn ở của các sinh viên và kinh phí mời các giáo sư tham gia giảng dạy. Hai tập đoàn là FPT và VTC cũng tài trợ với điều kiện cho cán bộ của họ theo học vì các công ty này đã chú trọng vào nghiên cứu phát triển, và muốn cập nhật công nghệ mới, kiến thức thức mới trong ngành xử lý tín hiệu số. Ngoài ra, quỹ Vietnam Foundation có hỗ trợ rất quan trọng là đưa toàn bộ tài liệu của trường hè lên học liệu mở Việt Nam để các bạn không có điều kiện tham dự vẫn có thể theo học được.  Trường hè Xử lý tín hiệu số trong tương lai sẽ được phát triển như thế nào?  Sau 3 lần làm, những người tổ chức cũng thấy tự tin hơn. Không chỉ có sinh viên mà các công ty trong và ngoài nước cũng đã quan tâm đến trường hè. Chúng tôi nhận thấy các em sinh viên đặc biệt hứng thú với các khóa học này. Ngoài việc giúp các em bổ sung kiến thức, được làm việc và học tập trong một môi trường như ở các trường đại học ở Mỹ, chúng tôi còn giúp các em có nguyện vọng đi du học sau đại học ở nước ngoài. Qua quá trình làm việc, chấm bài, trò chuyện, phỏng vấn, tôi cũng hiểu rõ hơn điểm mạnh của các em. Vì thế khi viết thư giới thiệu, với nhiều em tôi có thể viết: “sinh viên này giỏi như sinh viên PhD bên trường Illinois của tôi”. Điều này thực sự giúp các em rất nhiều vì Đại học Illinois đang được xếp hạng số 3 trên thế giới về các ngành Kỹ Thuật. Những năm tới, tôi mong muốn sẽ tổ chức trường hè thường xuyên hơn, có thể không phải hai năm một lần mà là hàng năm. (Địa chỉ trên web của trường hè là http://dspvietnam.info.)  Qua quá trình làm việc với các sinh viên Việt Nam tại các trường hè, anh có nhận xét gì?   Độ vênh giữa lý thuyết và thực hành của sinh viên Việt Nam đã được cải thiện nhiều so với những lần đầu tôi tiếp xúc. Nhưng có điều tôi nhận thấy các em sinh viên hiện nay có vẻ xem nhẹ các môn học cơ bản (toán, lý).  Những môn học này không chỉ là công cụ rất cần cho nghiên cứu mà còn có vai trò rất lớn trong việc hình thành tư duy hệ thống, tránh mất thời gian mày mò trong nghiên cứu khoa học.   Các nhóm nghiên cứu liên ngành ở các trường đại học Mỹ có vẻ rất dễ hình thành, đó là nhờ vào yếu tố gì?   Chính bức tường giữa các khoa làm cho nghiên cứu chỉ giới hạn trong từng ngành. Tại khoa của tôi, họ chỉ quản lý giáo sư về lương và thời gian giảng dạy. Còn phòng làm việc và thí nghiệm của tôi nằm trong một trung tâm nghiên cứu liên khoa: có sự tham gia của giáo sư và các nhóm nghiên cứu tới 20 khoa khác nhau. Các nhóm có thể cùng đầu tư mua một thiết bị dùng chung. Có sự đào thài hàng năm, nếu các nhóm nghiên cứu hoạt động không tốt có thể mời các nhóm khác vào. Khi các dự án của các nhóm được đầu tư, một phần lớn trích cho mua sắm thiết bị, chi phí dịch vụ cho các hoạt động của trung tâm. Sự tập hợp của nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau tại một trung tâm khuyến khích sự trao đổi liên ngành.             TS Đỗ Ngọc Minh              Giải nhì Olympic Toán quốc tế năm 1991              Tốt nghiệp cử nhân Khoa học máy tính tại Đại học Canberra, Úc năm 1997              Hoàn thành chương trình tiến sĩ tại Học viện kỹ thuật Lausanne (Thụy Sĩ) năm 2001              Giảng dạy tại trường Đại học Illinois, Mỹ từ năm 2002              Hiện là Giáo sư (Associate Professor) khoa Điện và Khoa học máy tính, Đại học Illinois              Nghiên cứu hiện tại: biểu diễn thông tin về ảnh và video (công nghệ nén ảnh, video), tạo ra các thuật toán dựng và xử lý ảnh trong sinh học, xây dựng hệ thống kết nối nhiều microphone và camera.          Còn về phía những người nghiên cứu thì sao?   Hiện nay, hầu như những vấn đề mới mẻ, có ảnh hưởng lớn đều cần tới sự liên kết của nhiều ngành. Do vậy, việc tạo cho mình thói quen sẵn sàng làm việc với các nhóm khác là rất cần thiết. Tính cách của người Mỹ có điểm hay mà tôi học được đó là cái gì chưa biết thì càng kích thích nỗ lực học và làm để cho biết. Ngoài việc nghiên cứu, giảng dạy, tôi đề ra mục tiêu là mỗi học kỳ tham gia một lớp học nào đó để mở rộng kiến thức. Rồi học từ đồng nghiệp và cả sinh viên nữa. Chia sẻ kiến thức đến từ cả phía thầy và trò.   Các trường đại học của Mỹ có những giải pháp  nào để các kết quả nghiên cứu nhanh chóng trở thành sản phẩm?   Các trường đại học của Mỹ hiện nay đều khuyến khích giáo sư và sinh viên thành lập các công ty start-up. Tuy nhiên họ rà soát cẩn thận để tránh những xung đột quyền lợi. Thường người đứng đầu công ty phải khai báo các hoạt động của mình liên quan tới trường để đảm bảo là hoạt động của công ty không vi phạm các quy định của trường ví dụ như thiết bị sử dụng như thế nào, những người tuyển có phải là sinh viên không, nếu là sinh viên phải có người thứ ba đứng ra đảm bảo mình không lợi dụng họ. Khi công ty có lợi nhuận sẽ trích lại một phần cho trường theo thỏa thuận.   Trong trường có những môn học về kinh doanh cho các sinh viên khối kỹ thuật. Những người đã thành công trong doanh nghiệp được mời tới nói chuyện, giảng dạy cho sinh viên. Có những cuộc thi kiểu như ý tưởng kinh doanh, sinh viên quan tâm thành lập nhóm, mời những người đầu tư mạo hiểm đến, cấp những khoản đầu tư nhỏ cho những dự án của sinh viên có tính khả thi cao. Các trường cũng có khu vườn ươm. Tại đây, các giáo sư hoặc các nhóm sinh viên có thể thuê văn phòng với giá ưu đãi, tạo lập mạng lưới, trao đổi thông tin, thỉnh thoảng có mời những người đầu tư mạo hiểm vào đi một vòng xem xét cơ hội đầu tư. Trường cũng tổ chức những buổi seminar về huy động vốn, bảo vệ bản quyền. Nói chung, có nhiều sự hỗ trợ để cho những người có tinh thần kinh doanh có thể “mạo hiểm”.   Việt Nam có thể học được gì từ kinh nghiệm này?   Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các nhà nghiên cứu tạo ra các công ty start-up để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình. Như tại Mỹ, quỹ tài trợ nghiên cứu cơ bản vẫn dành 10% đầu tư cho các công ty start-up chuyển giao công nghệ. Để tránh hiện tượng nhiều nhà nghiên cứu chỉ chú trọng đầu tư cho công nghệ mình thích mà không quan tâm tới thị trường sẽ chấp nhận như thế nào, có thể mời những người bên công nghiệp sang đánh giá tính khả thi của dự án. Nhà nước đầu tư giai đoạn đầu để xốc nó lên, bên công nghiệp thấy có tiềm năng họ sẽ nhảy vào đầu tư thêm.   Năm vừa rồi, trường đại học Illinois mở trung tâm nghiên cứu cứu tại Singapore được  Chính phủ nước này tài trợ 50 triệu USD. Tôi cùng với 14 giáo sư khác của trường tham gia vào trung tâm này. Mục tiêu của trung tâm không phải chỉ làm ra bài báo. Kết quả cuối cùng họ muốn hướng tới là đào tạo con người và tác động tới nền kinh tế ra sao. Chính phủ Singapore mong muốn số tiền đầu tư của họ sau một thời gian sẽ phải đóng góp bao nhiêu vào GDP của họ.   Theo anh, làm thế nào để hợp tác quốc tế trong nghiên cứu có hiệu quả?    Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phần lớn đều xuất phát từ quan hệ cá nhân như gặp gỡ tại các hội nghị hoặc quan hệ thầy trò. Tuy nhiên, đây chỉ là bước đầu, để hợp tác có hiệu quả, cả hai bên đều phải có thế mạnh riêng của mình. Tôi nghĩ Việt Nam nên chọn ra một số ngành có tiềm năng phát triển lên. Cần phải có những chương trình học bổng cho các nghiên cứu sinh Viêt Nam trong nước đi trao đổi khoảng 6 tháng – 1 năm ở nước ngoài. Trong kỹ thuật, các giáo sư là người có ý tưởng hợp tác nhưng cần những người triển khai. Cho nên cần thêm rất nhiều đầu tư cho các nghiên cứu sinh trong nước để giúp họ làm nghiên cứu và hợp tác quốc tế.   Học tập và làm việc trong môi trường khác nhau giúp gì cho anh?    Nếu chỉ ngồi một chỗ thì chỉ có thể làm tốt một lĩnh vực của mình. Trong khi đó, một nhà nghiên cứu về công nghệ hiện nay lại rất cần biết về nhiều mảng khác nhau. Tôi  luôn luôn muốn có những cơ hội làm mới mình. Làm việc với các cộng sự có lĩnh vực nghiên cứu khác với mình là cách để học hỏi thêm được nhiều điều. Nhờ đó, tôi không chỉ biết trong ngành hẹp mà còn liên kết nhiều ngành khác nhau để cho ra nhiều ý tưởng mới.  Cảm ơn anh.  Ngọc Tú thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ đại học: Kinh nghiệm Đài Loan      Tại Việt Nam hiện đang có nhiều ý kiến tranh cãi xoay quanh vấn đề trao quyền “tự chủ” cho các trường đại học. Nằm rất gần Việt Nam, lại có nhiều mối liên hệ về văn hóa lịch sử, những cải cách giáo dục đại học ở Đài Loan trong thập niên 1980 – 1990 (*) là một ví dụ cho thấy hiệu quả của những thay đổi, từ việc “giới hạn” sang tăng thêm quyền “tự do” cho các trường.      Đại học Quốc gia Đài Loan. Ảnh: ntu.edu.tw.  Đầu thập niên 1980, Quốc dân Đảng vẫn kiểm soát rất chặt hệ thống các trường đại học ở Đài Loan: tất cả những quyết định từ thành lập, nhân sự, tài chính đến nội dung giảng dạy, … đều phải được nhà nước phê duyệt; các hiệu trưởng và trưởng khoa có thể dễ dàng bị bãi miễn mà không rõ lý do; bên cạnh đó, nhà nước kiểm duyệt những sinh hoạt học thuật và sinh viên bắt buộc phải học những môn chính trị (như chủ thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn). Từ thập niên 1990, sau khi cải cách, xã hội Đài Loan đã trở nên cởi mở và tự do hơn rất nhiều, các trường đại học vì thế cũng giành được quy chế tự trị nhiều hơn. Luật Giáo dục Đại học sửa đổi quy định: thiết chế “đại học tự trị” (autonomous university) và “tự do học thuật” (academic freedom) cần phải được bảo vệ.    Phát triển đa dạng  Sau khi tình trạng thiết quân luật được dỡ bỏ năm 1987, giáo dục đại học tại Đài Loan đã chứng kiến sự lớn mạnh chưa từng có. Chỉ trong 10 năm, từ 1987 – 1997, số lượng các trường (đại học và cao đẳng) tăng hơn gấp đôi từ 28 lên 67; số sinh viên cũng nhảy vọt từ 200.000 lên hơn 380.000 … Trước đây, quy trình tuyển sinh thường dựa trên những tiêu chí truyền thống như: thành tích học tập ở bậc phổ thông và kết quả thi đầu vào đại học; sau này được mở rộng thêm các kênh: 1) nhà trường tiến cử và lựa chọn; 2) chính sách riêng cho các tài năng; 3) các trường tuyển sinh độc lập; 4) sinh viên trực tiếp nộp hồ sơ ứng tuyển; ngoài ra còn có thêm một số tiêu chí mới như: tiềm năng lãnh đạo và thành tích hoạt động ngoại khóa.  Khung pháp lý mới  Đáp ứng đòi hỏi cải cách trên khắp đảo quốc, chính quyền Đài Loan đã thể chế hóa (institutionalize) nguyên tắc pháp trị (rule of law) đối với vấn đề trao quyền tự trị cho các đại học. Ba đạo luật chính: luật Giáo dục Đại học, luật Giáo chức và luật Giáo dục Tư thục đã được bổ sung, sửa đổi và phổ biến trong thập niên 1990, hướng tới điều chỉnh mối quan hệ giữa Bộ Giáo dục với các hội đồng nhà trường và những phân khoa. Luật Giáo dục Đại học mới cho các trường được tự quyết trong vấn đề tài chính, nhân sự, giáo trình giảng dạy,… Hai đạo luật còn lại nhằm tăng quyền cho giáo chức lẫn các cá nhân người học, giúp họ chủ động hơn trong mọi vấn đề.    Tăng tính phân quyền  Cơ chế ra đời để biến hoạt động quản lý tại các trường đại học trở nên đa dạng hơn, khi các phân khoa trực thuộc được trao nhiều quyền tự quyết. Chẳng hạn, ở cấp độ thể chế, tại cả trường công lẫn trường tư, các thành viên trong khoa được bầu công khai 2 – 3 ứng viên cho chức vụ trưởng khoa hay hiệu trưởng. Mặc dù quyết định phê duyệt cuối cùng vẫn nằm trong tay bộ giáo dục chủ quản (ở cấp trường là hiệu trưởng), tuy nhiên kết quả bầu chọn từ các khoa rất được coi trọng, có ý nghĩa tham khảo lớn. Bầu cử minh bạch đã mang tới hiệu quả tích cực, làm tăng tính chính danh (legitimacy) của vai trò lãnh đạo đại học. Trước đó, mọi quyết định từ bầu chọn, bổ nhiệm đến bãi miễn chức vụ (hiệu trưởng hay khoa trưởng), ở cả trường công lẫn trường tư, đều do Bộ Giáo dục và các tổ chức sáng lập chi phối.  Để được bầu làm trưởng khoa hay hiệu trưởng, ứng viên phải có một chương trình tranh cử cụ thể, dựa trên năng lực, kinh nghiệm và tầm nhìn; đồng thời phải trả lời những chất vấn của những thành viên trong khoa, các khoa và cả sinh viên, … Bên cạnh đó, nhà nước cũng cho các giáo sư vàviên chức được quyền thương lượng với trường về mức lương và điều kiện làm việc khi ký hợp đồng lao động. Cũng theo luật Giáo dục Đại học, các khoa có quyền tuyển dụng, bổ nhiệm và sa thải giáo chức.    Tự kiểm định chất lượng  Đây là cơ chế thứ hai, được xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng của các trường khi được tự trị. Trước đây, Bộ Giáo dục nắm toàn quyền kiểm định, đánh giá chất lượng học thuật và bằng cấp của các trường, cũng như những quyết định bổ nhiệm, thăng chức, … Đây thực chất là một công cụ của chính quyền để kiểm duyệt và loại bỏ những hoạt động học thuật không có lợi cho vai trò lãnh đạo của Quốc dân Đảng. Từ năm 1991, Bộ Giáo dục bắt đầu trao dần quyền được tự kiểm định chất lượng cho các trường; tới niên khóa 1996 – 1997, đã có 15 trường đạt được quy chế này.  Những điểm chính về nền giáo dục đại học Đài Loan: Đầu thập niên 1980, trước khi cải cách, đặc biệt là hệ thống tính lương cho giáo chức, nạn tham nhũng và hối lộ tràn lan trong hệ thống giáo dục đại học Đài Loan. Thời đó, các giáo sư thích được làm công tác quản lý hơn là coi trọng hoạt động học thuật. Hiện nay lương cơ bản hàng tháng của giáo sư Đài Loan lần lượt là: 80.000 Đài tệ (khoảng hơn 2700 USD) với giáo sư trợ lý (assistant professor), 100.000 Đài tệ (3300 USD) với phó giáo sư (associate professor); và 120.000 Đài tệ (4000 USD) với giáo sư thực thụ (full professor). Những giáo sư giữ chức khoa trưởng, hiệu trưởng hay giáo sư xuất sắc (distinguished professor) sẽ nhận lương cao hơn (khoảng 200.00 Đài tệ, gần 7000 USD), thậm chí có thể tự đòi hỏi mức đãi ngộ riêng. Năm 1994, GS Lý Nguyên Triết – Nobel Hóa học 1986 được mời về lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học Trung ương (Academia Sinica), phải từ bỏ quốc tịch Mỹ và nhận lương cao hơn Tổng thống. Năm 2005, Quốc hội Đài Loan chấp thuận ngân sách 50 tỷ Đài tệ (tương đương 1,7 tỷ USD) trợ cấp thêm cho Đại học Quốc gia Đài Loan và Đại học Quốc gia Thành Công trong 5 năm. Hiện nay, mỗi năm Đại học Quốc gia Đài Loan vẫn nhận được hàng trăm triệu USD tiền trợ cấp từ Quốc hội. Mỗi năm Đài Loan chi tối thiểu 15% ngân sách cho giáo dục, chưa kể các chương trình tài trợ cho nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể thao, … được đảm bảo bởi hiến pháp.    Muốn được quyền tự kiểm định, các trường phải trải qua ba vòng xét duyệt. Trước tiên, trường phải đáp ứng được chuẩn mực tối thiểu do bộ giáo dục quy định về tỷ lệ công bố học thuật ở các phân khoa thành viên trong vòng 4 năm gần nhất (70% với các khoa quy mô trên 50 thành viên có công bố, và 90% với những khoa ít hơn 20 thành viên). Tại vòng hai, Bộ sẽ thành lập một Ủy ban độc lập để đánh giá xem quy trình tự kiểm định tại các trường có đáp ứng những tiêu chuẩn đó hay không. Đặc biệt, Ủy ban này sẽ tiến hành điều tra liệu hội đồng khoa học ở các phân khoa và các trường có được thành lập và hoạt động đúng với chức năng. Nếu vượt qua hai vòng sát hạch, hồ sơ sẽ lọt vào vòng ba – các trường được cấp phép tự kiểm định tạm thời (thường phải sau 3 năm). Vào cuối giai đoạn ba, họ phải trải qua một lần xét duyệt cuối và nếu vượt qua thì sẽ được trao toàn quyền tự kiểm định. Tuy nhiên, ngay cả khi đạt được tư cách này, kết quả tự kiểm định vẫn phải thường xuyên được gửi tới Bộ để lưu giữ, và những ấn phẩm học thuật được công bố cũng phải gửi tới Bộ để đánh giá lại.  Tự quyết chương trình giảng dạy  Đây là cơ chế thứ ba, được thông qua để đảm bảo các đại học thật sự là tự trị. Nhà nước gỡ bỏ những điều cấm kỵ trước đây với các môn học liên quan tới tôn giáo, nghệ thuật hay thể thao – mà Quốc dân Đảng nhìn nhận có thể ảnh hưởng tới vị thế lãnh đạo của họ và giao độc quyền cho các trường quốc lập thực hiện. Trong quá khứ, một số trường tư thục do tôn giáo tài trợ như ĐH Công giáo Phụ Nhân (Fujen Catholic University) hay ĐH Tin lành Chung Nguyên (Chungyuan Christian University) không được mở phân khoa thần học hay tôn giáo. Mãi tới năm1997, luật Giáo dục Tư thục sửa đổi mới cho phép các cá nhân, tổ chức tư lập và hội đoàn dân sự, … được mở trường không giới hạn loại hình, ngoại trừ quân đội và cảnh sát.  Theo đạo luật này, hoạt động đào tạo chuyên ngành sư phạm cũng được nới rộng. Trước đây, sứ mệnh đào tạo giáo viên (tiểu học và trung học cơ sở) chỉ do các trường công thực hiện (3 đại học và 9 cao đẳng). Thế độc quyền này bị phá vỡ khi luật Đào tạo Giáo viên sư phạm ra đời vào năm 1994. Theo đó, những trường trước đây không chuyên và không có phân khoa sư phạm sẽ được mở thêm ngành này. Trong niên khóa 1995 – 1996, có tổng cộng 2190 cơ sở giáo dục tham gia thí điểm chương trình, gồm 22 đại học và cao đẳng (có cả Đại học Quốc gia Thanh Hoa – National Tsinghua University và Viện Công nghệ Đài Loan – Taiwan Institute of Technology). Sau khi kiểm định và xét duyệt lại, Bộ giáo dục mới cấp phép cho 7 đại học công lập và 3 trường tư thục được mở thêm chuyên ngành sư phạm, bắt đầu từ niên khóa 1997 – 1998.    Thay lời kết  Trước khi cải cách, giáo dục Đài Loan không có nhiều kinh nghiệm với tự chủ đại học. Tuy nhiên, bằng nỗ lực từ nhiều phía cùng với các cơ chế phù hợp được ban hành để giúp các trường giành được nhiều quyền tự quyết hơn. Chỉ sau 20 năm, giáo dục đại học của Đài Loan đã thu được thành tựu lớn, giúp hòn đảo này đứng vào hàng ngũ phát triển nhất châu Á, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Trong một xã hội cởi mở, cả nhà nước, khoa học gia, chính trị gia và cộng đồng xã hội ở Đài Loan đều đang không ngừng học hỏi để bảo vệ và phát huy tinh thần “tự trị đại học”.  * Hiện nay Đài Loan có gần 170 trường đại học, cao đẳng và các học viện (tính đến năm 2015), trong đó 2/3 là các trường tư thục. Các tổ chức tôn giáo như Phật giáo, Tin lành và Công giáo đóng góp tới 15 đại học và học viện. Phần lớn các đại học tư thục đều do những tập đoàn kinh tế sáng lập. Ngay cả tại huyện cũng có trường đại học, vấn đề này đang gây ra nhiều hệ lụy – gọi là “lạm phát đại học”, trong khi số sinh viên thì không tăng do tình trạng già hóa dân số và tỷ lệ sinh thấp. * Theo thống kê, gần 70% số thanh niên tốt nghiệp trung học của Đài Loan tiếp tục theo học đại học và cao đẳng. Hiện nay, tỷ lệ chấp nhận sinh viên nhập học của các trường lên tới 90% (thuộc loại cao nhất châu Á). Khoảng hơn 1/4 số sinh viên tốt nghiệp đại học lựa chọn học lên thạc sỹ và tiến sỹ. * Học phí của sinh viên Đài Loan hiện nay dao động trong khoảng 3500 – 5000 USD, tùy theo trường. Học phí trường tư thường cao hơn trường công, tuy nhiên sự chênh lệch cũng không đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người của Đài Loan là gần 24.000 USD/năm (tính theo sức mua là hơn 49.000 USD/năm, ngang với Đức) * Đại học Quốc gia Đài Loan (National Taiwan University) là trường nổi tiếng nhất của hòn đảo này, nhiều lần lọt vào bảng xếp hạng Top 100 thế giới do QS hay Times Higher Education bình chọn. Đây là cái nôi của các nhà lãnh đạo chính trị, kinh tế, khoa học và văn hóa của Đài Loan. Toàn bộ các Tổng thống do dân bầu: Lý Đăng Huy, Trần Thủy Biển, Mã Anh Cửu và Thái Anh Văn đều là cựu sinh viên của trường. * Đại học Quốc gia Thanh Hoa (National Tsinghua University) và Đại học Quốc gia Giao thông (National Chiao-Tung University) – nằm cạnh Khu Công viên khoa học Tân Trúc (Hsinchu Science Park) có rất nhiều đóng góp cho nền kinh tế kỹ thuật cao của Đài Loan. Theo ước tính, có hơn 500 chủ tịch và CEO của các tập đoàn công nghệ như Acer, Asus, Mediatek, … là cựu sinh viên của hai trường này. * Gần 70% số sinh viên của Đài Loan tốt nghiệp từ các trường đại học tư thục. Phần đông những sinh viên này sẽ ở lại Đài Loan làm việc. Ngược lại, rất nhiều sinh viên ưu tú từ các đại học công lập sẽ đi du học (chủ yếu là Mỹ) rồi ở lại nước ngoài làm việc.  ————-  (*) Tham khảo:  1. Wing-Wah Law (1999), Higher Education in Taiwan: The Rule of Law and Democracy, International Higher Education, No. 11 (Springer), pp. 4-6. Link: http://www.fe.hku.hk/wwlaw/p06.html  2. William Yat-Wai Lo (2010), Decentralization of higher education and its implications for educational autonomy in Taiwan, Asia Pacific Journal of Education, 30:2, pp. 127-139. Doi: 10.1080/02188791003721572  3. William Yat-Wai Lo (2014), University Rankings: Implications for Higher Education in Taiwan, Springer.    Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất*      Các điều khoản trong Luật Giáo dục đại học cho thấy quyền tự chủ thực sự của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.       Luật Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam, ban hành năm 2012 và có hiệu lực từ đầu năm 2013, đã khẳng định quyền tự chủ của các trường đại học trong một điều luật riêng – Điều 32 về quyền tự chủ của cơ sở GDĐH. Sự kiện này được xem là một bước tiến quan trọng trong quan điểm quản trị đại học của nhà nước Việt Nam nói chung và Bộ GD&ĐT (GD&ĐT) nói riêng vì đây là lần đầu tiên quyền tự chủ của trường đại học được đưa vào văn bản pháp luật. Đồng thời, điều luật này cũng một lần nữa khẳng định quyết tâm thực hiện những cải cách theo hướng tăng quyền tự chủ cho các trường như đã được nêu tại Điều 14 của Luật Giáo dục 2005: “nhà nước … [sẽ] tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.”1  Một điều đáng ngạc nhiên là mặc dù quyền tự chủ đã trở thành một quyền luật định của các trường đại học từ hơn một năm nay, nhưng dư luận xã hội và bản thân các trường đại học của Việt Nam, kể cả các trường đại học tư thục hoàn toàn không nhận kinh phí của Nhà nước, vẫn cho rằng Nhà nước – mà cụ thể là Bộ GD&ĐT – đang kiểm soát các trường quá chặt chẽ với những quy định chi li, không đúng với tinh thần trao quyền tự chủ. Tại sao có sự mâu thuẫn này? Phải chăng có sự khác biệt giữa quan niệm về tự chủ được nêu trong luật GDĐH và quan niệm của các trường, vốn dựa trên định nghĩa phổ biến về tự chủ đại học trên thế giới?   Tự chủ đại học theo quan điểm học thuật phương Tây  Trong diễn ngôn GDĐH của các nước phương Tây, tự chủ là một khái niệm rất quan trọng và được xem là giá trị căn bản của một trường đại học, như đã được tái khẳng định trong Tuyên bố Magna Charta Universitatum tại Bologna năm 19882. Khái niệm này được đề cập từ cách đây 10 thế kỷ, thời kỳ bắt đầu hình thành các trường đại học đầu tiên của phương Tây3. Và cũng trong suốt thời gian đó, khái niệm tự chủ cũng như các vấn đề liên quan như tại sao tự chủ là quan trọng, các khía cạnh của tự chủ v.v đã được lật đi lật lại để bàn bạc, tranh luận, biện giải, và phát triển thành một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh và vẫn còn tiếp tục được phát triển cho phù hợp với những thay đổi bên ngoài.  Đã tồn tại rất nhiều định nghĩa và các diễn giải khác nhau liên quan đến vấn đề tự chủ của các trường đại học. Tuy nhiên, dù có ít nhiều khác biệt trong cách diễn đạt và sự nhấn mạnh, hầu hết các tác giả đều thống nhất ở một số điểm then chốt, đó là:   (1) Tự chủ là điều kiện tối cần thiết để một trường đại học có thể tồn tại và hoàn thành sứ mạng đã đề ra.   (2) Tự chủ là một khái niệm phức tạp, với nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng tối thiểu phải bao gồm các khía cạnh sau: tự chủ về quản trị, tự chủ trong hoạt động chuyên môn (hay tự chủ học thuật), và tự chủ về tài chính.   (3) Tự chủ không phải là một tình trạng với hai trạng thái hoặc “có” hoặc “không”, mà là một đặc điểm mà mỗi trường có thể đạt được ở nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn không tự chủ đến hoàn toàn tự chủ.   Có thể phân biệt hai mức độ tự chủ: tự chủ thực chất (substantive autonomy), là thẩm quyền đầy đủ để đưa ra các quyết định và vận hành nhà trường; và mức thấp hơn là tự chủ thủ tục (procedural autonomy), tức thẩm quyền trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhưng không có quyền đưa ra quyết định (Berdahl 1971; dẫn lại theo UNESCO 2014:22).  Tự chủ đại học trong Luật GDĐH 2012  Quyền tự chủ của các trường đại học được xác định rõ tại Khoản 1, Điều 32 của Luật GDĐH 2012. Nguyên văn Điều 32 với (gồm Khoản 1 và Khoản 2) về quyền tự chủ của cơ sở GDĐH như sau:  1. Cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng GDĐH. Cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.   2. Cơ sở GDĐH không còn đủ năng lực thực hiện quyền tự chủ hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tùy thuộc mức độ, bị xử lý theo quy định của pháp luật.  Đọc Điều 32, dễ tưởng rằng các trường đã được giao quyền một cách đầy đủ, vì mọi khía cạnh của tự chủ đều đã được đề cập: tự chủ về quản trị (tổ chức và nhân sự); tự chủ về tài chính (tài chính và tài sản); và tự chủ về học thuật (đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng). Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm mơ hồ, ví dụ như quyền tự chủ phải “phù hợp với năng lực” (Khoản 1), và những trường “không còn đủ năng lực thực hiện quyền tự chủ hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ” sẽ “bị xử lý theo quy định của pháp luật” (Khoản 2). Thế nhưng, năng lực thực hiện quyền tự chủ là gì và ai là người có thẩm quyền xác định điều này thì lại không được xác định rõ ràng. Giả định rằng việc xác định năng lực của các trường sẽ do Bộ GD&ĐT quyết định trong từng trường hợp cụ thể, thì quyền tự chủ của trường đại học vừa được xác định trong khoản 1 của Điều 32 trên thực tế đã bị vô hiệu hóa – ít ra là cho đến lúc việc xác định năng lực của các trường được làm rõ.  Xem xét toàn bộ tất cả các điều khoản trong Luật GDĐH càng thấy quyền tự chủ thực sự của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực, vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi. Thường xuyên xảy ra tình trạng quyền tự chủ vừa được giao ở điều này bị hạn chế tại một điều khác, thậm chí có mâu thuẫn ngay giữa hai khoản trong cùng một điều luật. Khái niệm tự chủ chưa được hiểu đúng, dẫn đến việc từng khía cạnh của quyền tự chủ đều bị hạn chế hoặc chỉ được trao một cách hình thức và thường xuyên bị thu hẹp thêm bởi các điều khoản khác. Dưới đây là phần phân tích dựa trên các trích dẫn từ trong Luật GDĐH 2012.  Về khái niệm “tự chủ”  Không giống như quan niệm phổ biến ở phương Tây, Luật GDĐH cho thấy tự chủ không được xem là quyền đương nhiên của cơ sở GDĐH, mà phụ thuộc vào năng lực (đã phân tích ở trên) đồng thời dựa trên kết quả xếp hạng và kiểm định (Điều 32; Điều 53). Cả hai việc này đều do nhà nước kiểm soát.  Về việc xếp hạng, cho đến nay vẫn chưa biết ai sẽ là người thực hiện; tuy nhiên, Luật GDĐH đã có sẵn quy định về việc công nhận kết quả xếp hạng (Chính phủ quy định tiêu chuẩn phân tầng… Thủ tướng Chính phủ công nhận xếp hạng đối với trường đại học. Bộ GD&ĐT công nhận xếp hạng đối với trường cao đẳng… Căn cứ kết quả xếp hạng, Bộ GD&ĐT phối hợp với UBND tỉnh, thành phố… để hỗ trợ… Điều 9, Khoản 5). Trong khi đó, mặc dù việc kiểm định độc lập đã được đặt ra từ lâu, nhưng theo Luật GDĐH thì hoàn toàn do Bộ GD&ĐT kiểm soát, từ khâu ban hành chuẩn đối với cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục; yêu cầu tối thiểu để thực hiện chương trình; quy trình và chu kỳ kiểm định; nguyên tắc, điều kiện, và tiêu chuẩn của tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định chất lượng; cấp giấy, thu hồi giấy chứng nhận kiểm định; quyết định thành lập hoặc cho phép hoạt động kiểm định (Điều 52, Khoản 3). Nói cách khác, quyền tự chủ của các trường phụ thuộc hoàn toàn vào những quyết định của nhà nước liên quan việc xác định xem cơ sở giáo dục xứng đáng được trao quyền tự chủ đến đâu.   Quan niệm nói trên về tự chủ kéo theo quan điểm trao cho nhà nước, mà cụ thể là Bộ GD&ĐT, thẩm quyền rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của các trường, và cả ba khía cạnh tự chủ của trường đại học đều bị hạn chế một cách tối đa.  Về tự chủ trong lĩnh vực chuyên môn  Tự chủ trong lĩnh vực chuyên môn bao gồm mọi hoạt động mang tính chuyên môn/học thuật đặc thù của một trường đại học, trong đó quan trọng là hoạt động đào tạo. Hai vấn đề thường được đề cập nhất của hoạt động đào tạo là tuyển sinh và mở ngành/chuyên ngành đào tạo.   Điều 34 về chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh quy định rõ các cơ sở giáo dục có quyền tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức tuyển sinh (Điều 34, Khoản 1, Mục b và Khoản 2, Mục b). Tuy nhiên, Khoản 3 của điều luật này nêu rõ “Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và ban hành quy chế tuyển sinh”, cho thấy việc thể hiện quyền tự chủ trong hoạt động này cũng được khoanh vùng trong những quy định chặt chẽ và chi li của Bộ.  Điều 33 của Luật GDĐH về mở ngành/chuyên ngành đào tạo thể hiện rõ nét vai trò kiểm soát của Bộ. Khoản 2 của Điều 33 xác định “Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định cụ thể điều kiện, trình tự, thủ tục mở hoặc đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo… hoặc chuyên ngành đào tạo…; quyết định cho phép mở hoặc đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo… hoặc chuyên ngành đào tạo” ở mọi trình độ từ cao đẳng đến tiến sĩ. Không có chỗ nào cho quyền tự chủ của các trường.  Những hoạt động khác liên quan đến hoạt động đào tạo bao gồm việc xây dựng chương trình và giáo trình giảng dạy (Điều 36), tổ chức và quản lý đào tạo (Điều 37), cấp phát và quản lý văn bằng, chứng chỉ (Điều 38). Ở cả ba điều này đều có tình trạng quyền tự chủ được khẳng định ở khoản này thì lại bị hạn chế ở khoản khác bởi quy định “Bộ GD&ĐT quy định về việc…” hoặc “Bộ GD&ĐT ban hành quy chế…” ở khoản cuối trong mỗi điều luật. Trong khi đó, ai cũng biết các quy định, quy chế do Bộ GD&ĐT hoặc các cơ quan quản lý nhà nước khác thường rất xa rời thực tế và chậm thay đổi, hoặc ngược lại thay đổi liên tục và thiếu tính ổn định, gây ra không ít khó khăn cho các trường.   Trong các hoạt động chuyên môn khác của các trường – khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế và đảm bảo chất lượng – sự kiểm soát của nhà nước lại càng chặt chẽ hơn, và tình trạng hạn chế quyền tự chủ của các trường bằng điều khoản giao thẩm quyền kiểm soát cho các cơ quan quản lý nhà nước ở khoản cuối cùng của mỗi điều luật cũng xảy ra tương tự như trên (Điều 42, Khoản 3 về quản lý khoa học công nghệ; Điều 48, Khoản 3 về quản lý hoạt động hợp tác quốc tế; Điều 52, Khoản 3 về ban hành chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học).  Về quyền tự chủ tài chính và quản trị   Tự chủ về tài chính và quản trị (xác định tầm nhìn và chiến lược hoạt động; tổ chức bộ máy; lựa chọn, tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự; đầu tư, thu chi tài chính v.v) là những điều kiện căn bản đảm bảo cho các trường triển khai mọi hoạt động chuyên môn một cách ổn định và với hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, trong Luật GDĐH cả hai điều kiện này đều rất hạn chế.  Về tự chủ tài chính, chỉ có trường đại học tư mới có quyền tự xác định mức học phí, còn trường công lập phải thu học phí theo quy định của Nhà nước. Tất cả các mặt khác của hoạt động tài chính, kể cả trong các trường tư, đều phải theo những quy định chặt chẽ. Ví dụ, ngay cả với trường đại học tư thục thì Luật GDĐH còn quy định cả việc sử dụng phần tài chính chênh lệch giữa thu và chi, rút vốn và chuyển nhượng vốn (Điều 66), và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ GD&ĐT hoặc các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan khác (Điều 67).   Sự thiếu tự chủ của các trường được thể hiện rõ nhất ở khía cạnh quản trị. Trong tổng số 11 chương (không kể chương cuối, Điều khoản thi hành, không có nội dung gì cụ thể), có đến năm chương liên quan khía cạnh quản trị của các trường đại học.   Có bốn chương nêu các khía cạnh quản trị cụ thể trong một trường đại học. Chương I (Những quy định chung) quy định về vai trò của tổ chức Đảng và các đoàn thể trong trường đại học mà tất cả các trường đều phải tuân theo. Chương II (Tổ chức cơ sở GDĐH) quy định chi li mọi khía cạnh của cơ cấu tổ chức của mọi loại hình trường đại học, và ngay cả trường đại học tư cũng phải theo các quy định chi tiết đến cả nhiệm kỳ và tuổi của Hiệu trưởng, và quan hệ giữa Hiệu trưởng và các loại hội đồng trong cơ cấu tổ chức của nhà trường. Chương III quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ sở GDĐH (bao gồm cả quyền tự chủ đang được thảo luận trong bài viết này), theo đó mọi loại hình trường đều phải có nhiệm vụ báo cáo hoạt động và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ GD&ĐT, các bộ ngành có liên quan, hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà trường đặt cơ sở hoạt động (Điều 28). Chương VIII (Giảng viên) quy định trình độ, chức danh, nhiệm vụ và quyền hạn của mọi giảng viên đại học trong mọi loại hình trường, kể cả giảng viên thỉnh giảng và báo cáo viên.   Ngoài bốn chương vừa nêu, Luật GDĐH còn có một chương riêng về quản lý nhà nước đối với GDĐH (Chương IV), trong đó Điều 68 về nội dung quản lý nhà nước về GDĐH với 12 khoản cho thấy hầu như không có khía cạnh hoạt động nào của một trường đại học mà không có sự chỉ đạo và kiểm tra giám sát của nhà nước, từ chiến lược và chính sách phát triển GDĐH – một việc ở tầm vĩ mô, xứng đáng để nhà nước quan tâm quản lý; đến khối lượng, cấu trúc chương trình, biên soạn và xuất bản giáo trình và tài liệu học tập, bồi đưỡng giảng viên, hay quy định về việc tặng danh hiệu vinh dự cho những người có đóng góp cho giáo dục đại học – những việc ở tầm vi mô.  ***  Kinh nghiệm của thế giới cho thấy các trường đại học chỉ có thể phát huy được tiềm năng của mình để đóng góp vào việc đào tạo nhân lực và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế với hiệu quả cao nhất nếu quyền tự chủ được trao cho các trường một cách đầy đủ. Phân tích Luật GDĐH 2012 cho thấy sự kiểm soát của nhà nước vẫn còn quá chặt chẽ, cho dù quyền tự chủ của các trường đại học đã được nêu rõ ràng trong một điều luật riêng.  Tất cả những điều khoản cụ thể hóa quyền tự chủ đại học trong Luật GDĐH – như tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức tuyển sinh, tự xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo (trong khuôn khổ các quy định của Bộ), hoặc tự in phôi bằng, cấp văn bằng cho người học – cho thấy trong quan niệm của những người làm luật thì tự chủ đại học chỉ có thể ở mức độ tự chủ thủ tục, và ngay cả ở mức độ này thì quyền tự chủ của các trường vẫn còn khá hạn chế. Trong khi đó, tự chủ thực chất, liên quan chủ yếu đến tự chủ về quản trị, và kèm theo đó là một hệ thống giám sát minh bạch và hiệu quả, mới thực sự là điều mà chúng ta đang cần để có thể nâng cao hiệu quả và chất lượng của GDĐH của Việt Nam.    * Bài viết là bản rút gọn bài trình bày tại diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.  ———  1 http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php %20lut/View_Detail.aspx?ItemID=18148  Điều 14. Quản lý nhà nước về giáo dục – Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.  2 http://cicic.ca/docs/bologna/Magna_Charta.en.pdf –   3 http://unesdoc.unesco.org/images/0009/000927/0927 70eo.pdf (CEPES 1994, p. 36)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ đại học: Tám giải pháp cấp thiết      Tự chủ đại học là quá trình đầy khó khăn, thách thức nên thực hiện tự chủ ĐH cần có lộ trình phù hợp, với việc tìm ra hàng loạt giải pháp thật sâu rộng và cụ thể để biến khát vọng của chúng ta thành hiện thực. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần cầu thị trong việc nhìn nhận những bất cập, hạn chế, từ đó có các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của đất nước.      Sinh viên nhập học trường ĐH Kinh tế Quốc dân, một trong những trường thí điểm tự chủ đại học.  Nhìn từ các văn bản quy định hiện hành, có thể hiểu tự chủ đại học (TCĐH) đồng nghĩa với việc không còn khái niệm ‘cơ quan chủ quản’, mỗi cơ sở giáo dục (CSGD) là một pháp nhân độc lập, CSGD – trên cơ sở các nguồn lực và lợi thế so sánh – được tự quyết định ‘thân phận’ của mình, được tự khẳng định vị thế và tầm vóc của mình, thích ứng với cơ chế thị trường, ở đó lao động sáng tạo và tự do học thuật được tôn trọng và vinh danh. Muốn ĐH tự chủ thực sự, hội đồng trường (HĐT) phải có thực quyền theo Luật định, chỉ khi ấy mới nói đến việc xóa bỏ cơ chế chủ quản. Tuy nhiên trong thực tế triển khai, việc giải quyết mối quan hệ giữa các thiết chế đảng ủy – HĐT – hiệu trưởng cũng như điều kiện tiến đến ‘xóa cơ chế chủ quản’ đang đặt ra không ít những thách thức, khó khăn và vướng mắc. Điều đó dẫn tới một thực tế là, dù TCĐH đã được thừa nhận và thúc đẩy gần 30 năm, nhưng dường như chưa thực sự tạo ra những chuyển biến đáng kể về chất lượng đào tạo, quản trị và nghiên cứu khoa học (NCKH) so với tiềm năng của các CSGD và so với mong đợi của xã hội.    Vì vậy, để các cơ sở giáo dục đại học công lập thực sự hoạt động theo cơ chế tự chủ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi có các kiến nghị sau:      Để tạo ‘khoảng mở’ cho CSGD thực hành tự chủ ĐH, các văn bản quy phạm dưới luật chỉ nên đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc để cơ quan quản lý nhà nước dựa vào đó giám sát, đảm bảo việc thực hiện nhất quán với toàn bộ hệ thống một cách công bằng, minh bạch; tạo ‘khoảng trời tự do’ đủ lớn cho các CSGD năng động thể hiện thực lực tự chủ ĐH của nhà trường.      (1) Đánh giá toàn diện TCĐH ở Việt Nam để làm cơ sở cho việc đổi mới chính sách    Cách đây hơn hai năm, chúng ta đã có một báo cáo đánh giá được trình bày tại Hội nghị Tổng kết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các CSGD ĐH công lập. Tuy nhiên, một vấn đề lớn, mới và khó như tự chủ ĐH mà sau hai năm triển khai, thậm chí có trường vừa ‘thí điểm’ được có vài ba tháng, e rằng việc tổ chức nghiên cứu đánh giá hơi quá sớm để có thể có được các kết quả đáng tin cậy. Vì thế rất cần một khảo sát, đánh giá tương đối toàn diện về tự chủ ĐH ở Việt Nam (VN) sáu năm qua, giao cho một tổ chức đánh giá độc lập để phác họa được bức tranh trung thực về tự chủ ĐH cho đến thời điểm hiện tại, xác định đúng các khó khăn, cản trở, cơ hội và thách thức; phát hiện đúng các nhân tố mới hợp lý, hiệu quả cao nhưng chưa hợp luật; từ đó có những chính sách phù hợp và khả thi, bắt rễ từ thực tiễn, đẩy nhanh tiến trình tự chủ ĐH; tránh tình trạng lấy lỗi sửa lỗi, dùng chắp vá này để sửa chắp vá khác.    Ví dụ, giữa một CSGD không nhận kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, công bố hai bài báo khoa học hạng Q1, Q2 trên các tạp chí thuộc danh mục ISI /giảng viên cơ hữu, với một CSGD có công bố với số lượng và chất lượng tương đương nhưng đơn vị này nhận đều đặn hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng/năm tiền ngân sách nhà nước. Trong trường hợp này nhà nước bảo vệ, ủng hộ ai giữa hai CSGD này, nếu đứng trên quan điểm lợi ích-chi phí, rõ ràng nhà nước và xã hội phải bảo vệ CSGD không nhận kinh phí thường xuyên, nhưng muốn bảo vệ họ thì cần phải có những điều chỉnh gì trong chính sách?     (2) Đồng bộ và minh bạch hóa hệ thống pháp lý về tự chủ đại học     Muốn tự chủ đại học, hệ thống pháp luật phải đồng bộ, làm thành một chỉnh thể thống nhất và biện chứng, vừa đồng bộ, vừa rõ ràng, vừa mở, tạo niềm tin pháp lý cho các CSGD tự chủ và cho xã hội. Do đó, việc giảm thiểu tối đa sự không đồng bộ, sự nhập nhằng pháp lý, tăng sự dễ hiểu và dễ áp dụng của các điều luật, các văn bản dưới luật để ai cũng có thể hiểu đúng, làm đúng giữ vai trò rất quan trọng trong việc hiện thực hóa các qui phạm pháp luật vào cuộc sống thực. Khung pháp lý phải đủ rộng và thoáng để các trường có thể vững bước đi trên con đường ‘tự chủ’, được pháp luật bảo vệ, chứ không phải ‘bê đá dò đường’ để tránh các áp lực vô hình như hiện nay. Cần lưu ý là, trong khi hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, rất cần có cơ chế bảo vệ ‘Kim Ngọc’, bảo vệ những con người dũng cảm, dám đi trước trong việc vận dụng quyền tự chủ vào việc nâng cao chất lượng ĐH.      Trong phòng thí nghiệm của trường ĐH Tôn Đức Thắng, đơn vị thí điểm tự chủ đại học và gây nhiều tranh cãi thời gian qua. Ảnh: Trường ĐH Tôn Đức Thắng.    (3) Điểm mấu chốt của lộ trình xóa bỏ cơ chế chủ quản là nâng cao năng lực và quyền lực thực sự của HĐT và phù hợp với ‘thể trạng’ của từng CSGD    Muốn xây dựng ĐH tự chủ hoàn toàn, CSGD có thể tự quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến sự phát triển của họ một cách công khai, minh bạch, hiệu quả, không phụ thuộc vào một ‘cấp trên’ nào, cần nhanh chóng hiện thực hóa, thể chế hóa chỉ đạo của Trung ương ‘HĐT là cơ quan thực quyền cao nhất trường ĐH’ và quan điểm ‘quản lý theo mô hình doanh nghiệp’, giải phóng các trường tự chủ khỏi cơ chế chủ quản, các cơ quan quản lý có thẩm quyền không thể tùy tiện can thiệp vào quyền tự chủ của nhà trường đã được nhà nước trao gửi, tránh những rủi ro không đáng có cho CSGD dám đi tiên phong trong việc thực hiện cơ chế tự chủ. Do đó, phải thiết kế lại hệ thống quản trị và quản lý trường ĐH.    Tuy nhiên, để xóa bỏ cơ chế chủ quản còn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế, rất cần được tháo gỡ và định hướng. Ví dụ, các quy định hiện hành do các cơ quan chủ quản đặt ra có giá trị đến đâu và mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và trường ĐH trực thuộc sẽ như thế nào? Với câu hỏi này, vướng mắc trước tiên nằm ở bản chất và hình thái mối quan hệ được gọi là cơ chế chủ quản, vai trò của cơ quan chủ quản đối với các CSGD công lập là thực hiện quyền đại diện của sở hữu nhà nước trong các CSGD. Cơ quan chủ quản sẽ quản lý trường thông qua đại diện mà mình cử vào – HĐT – chứ không theo kiểu cấp phát kinh phí, duyệt cấp biên chế, ra lệnh, chỉ đạo… như trước nữa. Hơn thế, cơ quan chủ quản còn phải tôn trọng các quyết định về mặt chuyên môn của nhà trường vì tự chủ về mặt chuyên môn, học thuật mới là hồn cốt của GDĐH.      Về mặt thiết kế hệ thống, cần có tổ chức đảng, và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa ba thiết chế lãnh đạo, quản trị, quản lý trường ĐH, làm sáng tỏ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, và mối quan hệ giữa ba thiết chế đảng ủy, HĐT và ban Giám hiệu; gỡ ‘điểm nghẽn’ này theo hướng giao thực quyền cho HĐT.      Muốn vậy, trong Luật và các văn bản dưới Luật cần phải làm rõ mối quan hệ chủ quản và trực thuộc cũng như vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các bên. Và điều tối quan trọng là luật hóa để đảm bảo ‘khoảng trời tự do’ đủ rộng dành cho tự chủ và bảo vệ những người dám đi tiên phong trong việc đưa tự chủ đại học vào cuộc sống.     (4) Sự vào cuộc và đồng hành của các cơ quan quản lý có thẩm quyền     Quá trình tự chủ ĐH ở VN tuy mới bắt đầu, nhưng đã có nhiều tín hiệu cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng và đúng quy luật. Những cái mới, cái chưa có tiền lệ cần phải được nhìn nhận hết sức cẩn trọng, vì lợi ích chung của tiến trình tự chủ ĐH, tránh tình trạng chỉ thấy cây mà quên mất rừng, muốn chặt bỏ cây này, cấy ghép cây kia trong cách hành xử của cơ quan chủ quản đối với nhà trường, tránh gây ra một cuộc khủng hoảng niềm tin trong xã hội và trong hệ thống các trường ĐH về tự chủ ĐH, tạo điều kiện cho tự chủ ĐH phát triển đúng hướng. Nhà nước cần dứt khoát đoạn tuyệt với tư duy ban phát, đánh đổi, ra điều kiện với CSGD trong việc giao quyền tự chủ cho họ.    Để được như thế, cán bộ lãnh đạo và quản lý cần phải biết đồng hành cùng CSGD, biết lắng nghe một cách có trách nhiệm với những tiếng nói từ CSGD, trong đó có tiếng nói của các giảng viên, những người thấu hiểu gần như đến tận cùng những được mất của tự chủ ĐH; thao thức với những vấn đề CSGD đang trăn trở, vui buồn với những buồn vui của CSGD; biết phát hiện, chắt chiu, có thiện tâm ‘gạn đục khơi trong’, biết nâng niu từng chút, từng chút thành quả ban đầu của công cuộc TCĐH, biết nuôi dưỡng và bảo vệ cái mới, cái còn chưa được định hình rõ ràng trong hiện tại, nhưng sẽ là tất yếu của ngày mai, nhất là trong điều kiện ‘thí điểm tự chủ’ theo tinh thần của Nghị quyết 771.      (5) Hiểu đúng về trách nhiệm giải trình     Tự chủ ĐH như anh em sinh đôi với trách nhiệm giải trình. Khi trường ĐH được trao quyền tự chủ nghĩa là họ trở thành đối tượng được (nhà nước) trao quyền và trao gửi sứ mệnh (agent) trên thực tế. Quyền lực và nghĩa vụ đó là do nhà nước giao phó. Nhà nước đóng vai trò ‘principal’ – tiếp nhận giải trình” và do đó, nhà trường phải giải trình trước nhà nước. Nhà nước không thể giám sát được tất cả, nên để giúp nhà nước giám sát hoạt động của các trường tự chủ, nhà nước thường đặt ra các qui tắc để công chúng (xã hội) cùng giám sát. Khi đó, công chúng (cụ thể và trực tiếp hơn là sinh viên và gia đình, doanh nghiệp) đóng vai trò người thụ hưởng (beneficiaries), đồng thời cũng là người giám sát.     Thế nhưng bản thân nhà nước cũng không tránh khỏi trách nhiệm giải trình, bởi vì trong một mối quan hệ tương quan khác, quyền lực của nhà nước là do Nhân dân giao và thuộc về Nhân dân. Vì thế, nội hàm của khái niệm ‘trách nhiệm giải trình’ cần được làm rõ trong khung pháp lý của tự chủ ĐH.    (6) Tạo ‘khoảng mở’ cho thực hành tự chủ đại học    Để hạn chế tối đa các chệch choạc và ‘lạc hướng’ của các CSGD, họ cần được hướng dẫn để ‘làm đúng’ trong tiến trình tự chủ. Chúng ta có thể tham khảo nguyên tắc ‘tuân thủ-hoặc-giải trình’ (comply-or-explain) của hệ thống quản trị ĐH Anh Quốc. Các bộ tài liệu hướng dẫn như Bộ hướng dẫn đánh giá kết quả đầu ra (KPIs), Bộ hướng dẫn thẩm định chất lượng do Ủy ban Chủ tịch Hội đồng ĐH (CUC) ban hành đều triển khai theo nguyên tắc này.     Tuân thủ-hoặc-giải trình là một cách tiếp cận trong mô hình quản trị hiện đại nhằm cho phép các tổ chức linh hoạt áp dụng quy định, trong khi cơ quan quản lý nhà nước vẫn thực hiện đầy đủ vai trò của mình, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật cho CSGD. Nguyên tắc này được đề xuất trên cơ sở lập luận: ‘không có một cỡ áo vừa vặn cho tất cả’ hay ‘không có tấm lưới nào bắt được tất cả các loại cá’; vì thực tiễn thì mênh mông, nên khi áp dụng nguyên tắc này vào quản trị sẽ giúp tránh nguy cơ rập khuôn, cứng nhắc, áp đặt, qua đó duy trì sự đa dạng về các loại hình, phương thức tự chủ trong hệ thống, tạo sự linh hoạt, năng động và tự chủ thật sự cho CSGD.     (7) Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng đủ mạnh về chuyên môn và liêm chính về học thuật    Để tự chủ có thể trở thành hiện thực, hệ thống kiểm định chất lượng nhất thiết phải được củng cố toàn diện cả về năng lực triển khai cũng như tính thực chất để trở thành căn cứ vững chắc cho cơ chế tự chủ ĐH toàn diện. Có thể Bộ GD&ĐT có tổ chức kiểm định chất lượng thuộc hay trực thuộc Bộ, nhưng rất cần các tổ chức kiểm định chất lượng độc lập, không thuộc hay trực thuộc Bộ GD&ĐT.      (8) Cơ chế giám sát và phân bổ nguồn lực đầu tư: Chuyển sang đánh giá “đầu ra”    Để các trường đại học thực sự được vận hành một cách bình đẳng thì việc đánh giá giám sát, phân bổ nguồn lực cần được tiến hành dựa trên đánh giá kết quả đầu ra. Tiếc rằng, hiện nay có nhiều ‘chế độ’ phân bổ nguồn lực, với nhiều khác biệt giữa trường trung ương, trường tỉnh, trường vùng, trường quốc gia, trường ngành, trường quốc tế, trường có yếu tố nước ngoài, trường công lập, trường dân lập v.v… Ngay trong các trường công lập cũng có sự phân bổ khác nhau, chưa dựa trên các tiêu chí minh định về KPIs như số lượng, chất lượng các bài báo, các phát minh, sáng chế. Vì vậy, nhà nước nên chỉ giám sát kết quả ‘đầu ra’ KPIs mà CSGD đã cam kết, và lấy đó làm tiêu chí quan trọng cho đầu tư, hỗ trợ của nhà nước cho từng CSGD. Việc giám sát KPIs nên giao cho một cơ quan, tổ chức độc lập xếp hạng, đánh giá, đó không phải là công việc quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT.  ***  Thay lời kết     Để xây dựng một nền GDĐH dân tộc, nhân bản và khai sáng, trường ĐH thực sự là cái nôi của đổi mới sáng tạo theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế, cần nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc; nhưng đã đi là sẽ đến.Vấn đề là ‘đi’ như thế nào để ‘đến’ nhanh hơn với hiệu quả đầu tư tiền bạc và thời gian thấp nhất. Điều đó phụ thuộc vào sự chuyển biến cả về chất và lượng trong mối quan hệ giữa chính phủ và CSGD thông qua việc chính phủ hỗ trợ và cho phép các trường ĐH thay đổi hoàn toàn hệ thống cấu trúc và quản trị ĐH. □  —  1 Sau Nghị quyết 77 là Nghị quyết 117/NQ-CP ngày 09/11/2017, và sau đó là Điều khoản chuyển tiếp (Điều 18) của Nghị định 99, cho phép tiếp tục thí điểm tự chủ.  Cân nhắc thận trọng việc kiêm nhiệm các chức vụ bí thư cấp ủy, chủ tịch HĐT và hiệu trưởng   Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay đang tồn tại một thực tế: Có CSGD 3 vị trí lãnh đạo, quản trị và quản lý chủ chốt là bí thư, chủ tịch HĐT, hiệu trưởng (HT) do 3 người đảm nhiệm; có trường bí thư kiêm HT, có trường bí thư kiêm chủ tịch HĐT; có CSGD một người nắm giữ luôn cả 3 vị trí này.  Thực tế cho thấy, chủ tịch HĐT kiêm HT khiến quyền lực của HT càng lớn và dễ dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ vì ‘vừa đá bóng vừa thổi còi’ mà không vấp phải một ‘phản biện’ hay một sự ‘cân đối quyền lực’ nào. Ở những CSGD này chỉ có dân chủ hình thức. Còn nếu một người kiêm nhiệm luôn cả 3 chức vụ, gần như chế độ ‘thủ trưởng’ thời chiến, thì tốt nhất là bỏ luôn thiết chế HĐT, vì sự tồn tại HĐT ở đây chỉ là minh họa cho một thứ dân chủ không có thật.  Bí thư cấp ủy cũng không nên kiêm chủ tịch HĐT, vì Đảng ủy là đại diện cho tổ chức Đảng trong trường, còn HĐT là đại diện của chủ sở hữu cộng đồng thuộc phạm vi rộng lớn hơn bên ngoài nhà trường; và như vậy, mô hình bí thư kiêm chủ tịch HĐT sẽ làm mất đi tính đại diện cộng đồng của HĐT. Hơn nữa HĐT là cơ quan quyền lực, lãnh đạo cụ thể, HĐT của một trường cũng đóng vai trò như ‘quốc hội’ của CSGD, còn Đảng ủy là cơ quan lãnh đạo về chính trị và tư tưởng. Vì vậy, nếu bí thư kiêm chủ tịch HĐT, thì các quyết nghị của HĐT sẽ mang tính cục bộ vì quyền lợi của CSGD nhiều hơn, rất khó tránh khỏi thiên vị, sẽ làm cho tính độc lập của HĐT với Đảng ủy giảm đi và do đó, tính ’tự chủ’ cũng sẽ bị suy giảm, và thậm chí là bị triệt tiêu. Điều đó đảm bảo tổ chức đảng là tổ chức hoạt động như một hội đồng quản trị, và như vậy không cần có thêm HĐT.  Trong quá trình chuyển đổi, tiến tới 3 vị trí này do 3 nhân vật đảm nhiệm như ở các nước phát triển, bí thư Đảng ủy có kiêm chủ tịch hội đồng hoặc kiêm HT hay không, nên để CSGD chủ động lựa chọn, phù hợp với điều kiện thực tế của từng CSGD, vì mỗi CSGD có đặc điểm khác nhau, miễn là CSGD ấy là một tập thể đoàn kết, vững mạnh, phát triển, được quản trị và quản lý tốt, đào tạo và NCKH có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Tự chủ đại học – thực trạng và giải pháp*      Quyền tự chủ của trường đại học đã được thừa nhận từ gần 10 năm nay nhưng chưa tạo ra chuyển biến đáng kể, một phần do những vướng mắc về cơ chế, nhưng một phần quan trọng khác là do các trường chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng.     Những bất cập xét từ hạn chế của pháp luật   Ở Việt Nam, từ năm 2005, quyền tự chủ của trường đại học đã được Luật Giáo dục ghi nhận với nội dung tương tự quan niệm của các nước phát triển: “Trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động sau đây: 1. Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; 2. Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng; 3. Tổ chức bộ máy nhà trường; tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đãi ngộ nhà giáo, cán bộ, nhân viên; 4. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; 5. Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ.”1   Tuy nhiên, có thể các nhà lập pháp chưa hiểu hết chiều sâu của những quy định này và các nhà quản lý chưa sẵn sàng thực hiện chúng. Bởi vì ngay trong Luật Giáo dục có thể tìm thấy những quy định trái chiều, ví dụ: “Trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình giáo dục của trường mình.”2; “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.”3; “Nhà giáo được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ.”4   Quyền tự chủ được tái khẳng định trong Luật Giáo dục đại học (GDĐH) năm 2012: “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.”5 Về học thuật, lần đầu tiên các trường được tưu chủ xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh; tự in phôi bằng, cấp bằng cho tất cả các trình độ mà trường đào tạo.  Đây là một bước tiến trong tư duy quản trị đại học. Tuy nhiên, nó vẫn chưa phải là một bước ngoặt có khả năng tạo ra sự đột phá, vì theo quy định của Luật, Nhà nước vẫn đóng vai trò kiểm soát rất lớn. Có thể nêu lên một số nhận xét cụ thể như sau:   Đối với trường đại học, việc xác định sứ mạng đóng vai trò rất quan trọng vì đó là lý do tồn tại, quyết định hướng phát triển và khả năng cạnh tranh của mỗi trường. Tuy nhiên, theo qui định của Luật GDĐH, ngay từ việc phát triển trường theo định hướng nào (nghiên cứu, ứng dụng hay vừa nghiên cứu vừa ứng dụng) cũng do các nhân tố ngoài trường quyết định là chính. Bởi vì theo quy định của Luật thì “cơ sở giáo dục đại học được phân tầng thành: a) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; b) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng; c) Cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành”6; mỗi tầng lại gồm các hạng; và “căn cứ kết quả xếp hạng, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định kế hoạch ưu tiên đầu tư, giao nhiệm vụ và cơ chế quản lý đặc thù đối với các cơ sở giáo dục đại học (công lập – NMT chú)”, “hỗ trợ cơ sở giáo dục đại học tư thục về đất đai, tín dụng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”7. Theo quy định này, các trường đại học định hướng nghiên cứu được xếp trên tầng cao nhất, còn trường đại học định hướng thực hành dưới tầng thấp nhất; tầng trên tầng dưới có quyền lợi khác nhau. Bởi vậy, việc định hướng phát triển trường dễ bị chi phối vì lợi ích: hầu hết các trường, kể cả những trường ngoài công lập mà trụ sở, giảng đường còn phải đi thuê, giảng viên cơ hữu chỉ trong khoảng 50 người, đều xác định là trường đại học định hướng nghiên cứu. Nhưng “tiêu chuẩn phân tầng cơ sở giáo dục đại học” lại do Chính phủ quy định.8 Điều đó có nghĩa là sứ mạng của trường không còn phụ thuộc vào nguyện vọng của những người sáng lập và tập thể nhà trường nữa.   Cũng theo quy định tại Điều 9, trường đại học được xếp hạng theo khung xếp hạng do Chính phủ ban hành. “Thủ tướng Chính phủ công nhận xếp hạng đối với đại học, trường đại học; Bộ trưởng Bộ GD&ĐT công nhận xếp hạng đối với trường cao đẳng.”9 Việc cơ quan nhà nước gánh lấy trách nhiệm xếp hạng các trường vừa tước bỏ quyền tự chủ của cộng đồng đại học trong hoạt động này, vừa ảnh hưởng tới thanh danh của cơ quan nhà nước, bởi vì đối với giới chuyên môn, kết quả xếp hạng của những tổ chức xếp hạng có uy tín mới thật sự có giá trị.   Cùng với việc phân tầng, xếp hạng, Luật GDĐH cũng quy định mức độ tự chủ khác nhau giữa các trường và để ngỏ khả năng “thu hồi quyền tự chủ”. Điều 32 quy định: “1. Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục. 2. Cơ sở giáo dục đại học không còn đủ năng lực thực hiện quyền tự chủ hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tùy thuộc mức độ, bị xử lý theo quy định của pháp luật.”   Trong các trường đại học hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ có trường đại học vốn đầu tư nước ngoài được quyền tự chủ rộng rãi nhất.10 Tiếp theo là ĐH quốc gia. Luật dành hẳn một điều quy định về tổ chức này: “Đại học quốc gia có quyền chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy.”11 Trong số các trường còn lại, những trường ở tầng cao, thứ hạng cao được hưởng “cơ chế quản lý đặc thù”, có nghĩa là được quyền tự chủ cao hơn. Còn các trường đại học tư thục, cũng giống như doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực kinh tế, tuy được quyền tự chủ rộng rãi hơn nhưng điều kiện thực hiện quyền tự chủ lại hạn chế hơn do không được hoặc ít được tiếp cận với các nguồn lực của Nhà nước.   Sự phân tầng trên dưới có tính chất cố định bằng pháp luật, sự xếp hạng cao thấp có tính chất lâu dài bằng văn bản công nhận của người đứng đầu Chính phủ và những sự ưu đãi khác nhau, mức độ tự chủ khác nhau theo các tiêu chí tầng trên/tầng dưới, hạng cao/hạng thấp, công lập/tư thục, trong nước/nước ngoài sẽ dẫn đến một cuộc cạnh tranh không bình đẳng giữa các trường. Các trường ở tầng dưới, thứ hạng thấp, ưu đãi kém sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền tự chủ, còn những trường đã được cố định ở tầng cao, thứ hạng cao, ưu đãi cao cũng sẽ mất dần động cơ phấn đấu.   Về tổ chức và nhân sự, mỗi trường đại học công lập đều thuộc một cơ quan chủ quản. Cơ quan này quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể các trường12; bổ nhiệm chủ tịch hội đồng trường và hiệu trưởng13. Cơ quan chủ quản còn quyết định biên chế, xếp bậc lương và trả lương cho cán bộ, giảng viên, viên chức toàn trường.   Điểm mới trong Luật GDĐH là quy định trường đại học có hội đồng trường14 (ở ĐH Quốc gia, đại học vùng là hội đồng đại học15, ở trường đại học tư thục là hội đồng quản trị16).   Hội đồng trường ở trường đại học công lập được trao quyền rất lớn, nhưng không có quyền bầu và miễn nhiệm hiệu trưởng (hoặc giám đốc đại học) nên về nguyên tắc hiệu trưởng (giám đốc) không phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng17 mà chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên, giống người đứng đầu tổ chức thuộc hệ thống hành chính hơn là người đứng đầu tổ chức tự quản. Hội đồng trường thường do hiệu trưởng (giám đốc) làm chủ tịch, do đó, Hội đồng đóng vai trò tư vấn hơn là một Hội đồng quyền lực.18 Mặt khác, ở các trường đại học công lập Việt Nam, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam mới là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, từ chiến lược phát triển dài hạn, kế hoạch hằng năm đến tổ chức, nhân sự, tài chính, các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và mọi hoạt động khác của nhà trường.19 Mối quan hệ giữa tổ chức Đảng với Hội đồng trường chưa được Luật GDĐH quy định rõ nên Hội đồng trường chỉ mang tính hình thức, không có thực quyền. Bởi vậy, cho đến năm 2010, trong 440 trường đại học, cao đẳng lúc đó, chưa tới 10 trường có Hội đồng trường, và trên thực tế, các Hội đồng này gần như không hoạt động, các thành viên ngoài trường hầu như không dự phiên họp nào, không có bất cứ hoạt động gì, trừ sự hiện diện tại phiên họp công bố quyết định thành lập Hội đồng.20   So với trường công lập, các trường tư thục không phải chịu nhiều ràng buộc như trên. Tuy nhiên, hiệu trưởng trường đại học tư thục vẫn phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước công nhận sau khi được bầu21, học hàm giáo sư, phó giáo sư của các trường đại học ngoài công lập cũng do một cơ quan bên ngoài trường là Hội đồng Chức danh Nhà nước xét duyệt trước khi hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm. Bên cạnh đó, Luật GDĐH còn quy định: “Người có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học thì có thẩm quyền quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục đại học.”22, trong khi lẽ ra chỉ hội đồng quản trị hoặc hiệu trưởng mới có quyền sáp nhập, chia, tách trường.   Điểm khác biệt quan trọng giữa trường tư thục với trường công lập là Hội đồng quản trị có thực quyền. Nhưng vì đây là “tổ chức đại diện duy nhất cho quyền sở hữu của nhà trường” có nhiệm vụ trước hết là “tổ chức thực hiện các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông”23 – cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất về đường lối phát triển của nhà trường theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục24 cho nên quyền tự chủ thực chất là quyền của những cổ đông lớn, chứ không phải của các nhà chuyên môn – những nhân tố đảm bảo cho trường đại học có đủ năng lực tự quyết định làm gì và làm như thế nào.25  Về mặt thực thi các quy định của pháp luật, mặc dù từ năm 2005, Luật Giáo dục đã ghi nhận quyền tự chủ của trường đại học, nhưng trên thực tế, suốt từ đó tới nay, Bộ GD&ĐT vẫn xét duyệt chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức kỳ thi tuyển sinh “ba chung” cho các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc. Việc mở ngành hiện nay vẫn theo cơ chế xin-cho. Theo phản ánh của một lãnh đạo trường, chỉ cần hồ sơ sai một chữ cũng phải trả lại để sửa và có khi mất hàng tháng trời. Một số trường khác cho biết vẫn không được in phôi bằng mà phải mua phôi của Bộ GD&ĐT và phải đi lại nhiều lần.26  Thiếu năng lực và sự sẵn sàng  Quyền tự chủ của trường đại học đã được thừa nhận từ gần 10 năm nay nhưng chưa tạo ra chuyển biến đáng kể, một phần do những vướng mắc về cơ chế như đã phân tích ở trên, nhưng một phần quan trọng khác là do các trường chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng.   Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trường nào cũng thiếu và yếu. Đặc biệt là tập quán “tự túc tự cấp” làm cho lực lượng của các trường ngày càng yếu đi. Phần lớn các trường đại học, nhất là những trường lâu năm, thường chỉ giữ lại những sinh viên do chính trường mình đào tạo ra để làm giảng viên. Trừ một số trường hợp trúng tuyển đi học nước ngoài sau khi tốt nghiệp đại học, trong suốt thời gian học đại học, cao học và làm nghiên cứu sinh, những sinh viên này chỉ biết các thầy ở trường mình, hầu như không tiếp xúc với những chuyên gia khác, những trường phái khác. Ở lại trường làm giảng viên, họ tiếp tục nép dưới bóng những ông thầy cũ, và tiếp tục truyền giảng những giáo điều cũ cho các lớp sinh viên mới. Đó là chưa kể nhiều trường hợp những người có chức có quyền và giảng viên giữ lại trường con cháu mình, mặc dù những học trò này không hẳn là những sinh viên xuất sắc. Giống như tình trạng hôn nhân cận huyết, tất cả những điều này dẫn đến hậu quả không mong muốn: các thế hệ giảng viên và học trò suy giảm dần năng lực sáng tạo, năng lực tiếp thu cái mới, từ đó làm suy giảm năng lực chung của trường đại học.27   Sự thiếu sẵn sàng của các trường thể hiện rõ ở kỳ thi tuyển sinh ĐH hai năm gần đây. Thực hiện quy định của Luật GDĐH, Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường tổ chức tuyển sinh riêng. Nhưng chỉ có 62 trường trong số gần 500 trường đại học, cao đẳng hưởng ứng đề nghị này, chủ yếu là tuyển sinh riêng cho một số ngành đặc thù: Những ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội cần như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tuyển sinh dựa vào kết quả học tập và kết quả thi tốt nghiệp phổ thông. Những ngành đòi hỏi năng khiếu như sân khấu, điện ảnh, nhạc, họa,… thì ngoài việc dựa vào kết quả học tập và kết quả thi tốt nghiệp phổ thông còn tổ chức thi môn năng khiếu. Các ngành khác của những trường này vẫn tham gia kỳ thi tuyển sinh “ba chung” của Bộ.28 Chính vì vậy, Bộ GD&ĐT phải kéo dài kỳ thi “ba chung” thêm ba năm nữa, tức là đến năm 2017. Giải thích vì sao các trường tốp đầu cũng không muốn tuyển sinh riêng, Thứ trưởng Bùi Văn Ga nói: “Với thi ba chung như mọi năm thì các trường tốp trên rất yên tâm không suy nghĩ về tuyển sinh riêng, cái khó nhất là làm đề thi thì Bộ đã làm cho các trường, họ không thiếu nguồn tuyển, nếu làm riêng thậm chí sẽ có nhiều rủi ro hơn nên các trường không muốn tuyển sinh riêng.”29 Điều này cho thấy tâm lý cầu an, thụ động là trở ngại lớn trong quá trình đổi mới GDĐH nói chung cũng như thực hiện quyền tự chủ nói riêng.  Quyền tự chủ một mặt đảm bảo cho trường đại học được tự quyết định các vấn đề của mình, nhưng mặt khác lại đề cao trách nhiệm của nhà trường trước xã hội – từ những đối tượng liên quan trực tiếp như Nhà nước, nhà đầu tư, người học và gia đình họ đến những người đóng thuế để cung cấp ngân sách hoặc để kiến tạo môi trường hoạt động cho nhà trường.30 Trách nhiệm này thường được gọi là trách nhiệm giải trình, bao gồm các nghĩa vụ cung cấp thông tin, lý giải và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của nhà trường.   Đáng tiếc là trong khi nỗ lực đòi hỏi và thực thi quyền tự quyết định, nhiều trường đại học nước ta lại tỏ ra miễn cưỡng, hình thức trong việc minh bạch hóa các thông tin về tài chính, đào tạo và việc làm; đồng thời không phải chịu trách nhiệm về điều kiện đào tạo kém, chất lượng đào tạo yếu, khả năng tìm việc làm và hòa nhập thị trường lao động thấp của sinh viên trường mình. Trong tuyển sinh, hầu hết các trường đều có khuynh hướng hạ thấp yêu cầu, lấy cho đủ chỉ tiêu, thậm chí sẵn sàng vượt chỉ tiêu để thu được nhiều học phí.31 Quá trình đào tạo hầu như không sàng lọc, chủ yếu cũng để tránh giảm thu nhập của trường. Chỉ trừ những sinh viên tự ý bỏ học hoặc vi phạm kỷ luật nặng đến mức phải buộc thôi học, hễ đã vào được trường thì sẽ tốt nghiệp và có bằng cử nhân. Sinh viên ra trường thất nghiệp được coi là vấn đề của xã hội, không gắn với trách nhiệm của bất cứ trường nào. Thậm chí, khi một số tỉnh, thành từ chối nhận sinh viên tốt nghiệp đại học ngoài công lập và đại học tại chức, khá nhiều lãnh đạo trường đã lên tiếng trên báo chí, coi đây là sự kỳ thị, mà không thấy nguyên nhân dẫn đến quyết định này là chất lượng thấp của những cử nhân mà họ đã đào tạo ra.   Chất lượng đội ngũ yếu, xu hướng đào tạo chạy theo số lượng phục vụ lợi ích kinh tế và trách nhiệm giải trình thấp là những hạn chế lớn của các trường đại học, một mặt khiến cơ quan quản lý nhà nước không mạnh dạn trao quyền tự chủ đầy đủ cho các trường, mặt khác có thể khiến xu hướng thương mại hóa giáo dục phát triển, trong khi chất lượng nguồn nhân lực đào tạo ra ngày càng thấp.   Kiến nghị về giải pháp  Để thực hiện tự chủ đại học, làm đòn bẩy nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực sáng tạo khoa học – công nghệ của các trường, theo chúng tôi, cần sớm tổng kết 10 năm thực hiện tự chủ đại học, trên cơ sở đó, áp dụng một số giải pháp cấp bách sau:  Nhóm giải pháp về thể chế  Tập trung sửa đổi Luật Giáo dục và Luật GDĐH, từ đó rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để tạo điều kiện thực hiện tự chủ đại học. Ngoài việc khắc phục những bất cập, mâu thuẫn đã nêu ở phần trên, cần làm rõ trách nhiệm giải trình của các trường, phân biệt trường hoạt động vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận để các trường hoạt động không vì mục đích lợi nhuận có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các nguồn lực của Nhà nước. Theo quan điểm của chúng tôi, những trường hoạt động theo nguyên tắc doanh nghiệp – quyết định dựa theo tỷ lệ phiếu của cổ đông và chia lợi tức cho cổ đông dưới bất kỳ hình thức nào – đều là trường hoạt động vì mục đích lợi nhuận.   Nhóm giải pháp thực hiện tự chủ về tổ chức – nhân sự  Nghiên cứu, giải quyết mối quan hệ giữa hội đồng trường (hội đồng quản trị) với tổ chức, cá nhân có liên quan, trước hết là với Đảng ủy ở trường công lập và nhà đầu tư ở trường tư thục, để hội đồng có đủ năng lực và thực quyền quyết định các vấn đề của nhà trường. Bãi bỏ cơ chế “Bộ chủ quản”, các trường đại học chỉ chịu sự quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT. Các trường cần xây dựng, công bố và thực hiện tiêu chuẩn cán bộ quản lý và giảng viên, quy chế tuyển dụng, làm việc, đề bạt cán bộ quản lý và giảng viên để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên.   Nhóm giải pháp thực hiện tự chủ về học thuật  Cùng với việc đổi mới kỳ thi tốt nghiệp phổ thông theo hướng thể hiện yêu cầu phân loại học sinh rõ hơn làm cơ sở tuyển sinh đại học, cần tổng kết và kết thúc hình thức thi “ba chung” để các trường tự quyết định việc tuyển sinh của mình (xét tuyển hay thi tuyển, thi tuyển độc lập hay liên kết với một số trường khác). Các trường xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, chú trọng chuẩn ngoại ngữ trước mắt ngang với yêu cầu của các trường đại học hàng đầu trong khu vực ASEAN; gắn kết chặt chẽ với đơn vị sử dụng lao động; thực hiện sàng lọc mạnh để đảm bảo chất lượng đào tạo.    Nhóm giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính  Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện tự chủ đại học và thí điểm tự chủ về tài chính, tiếp tục mở rộng yêu cầu thí điểm và số trường thí điểm để sớm có kết luận về vấn đề này.  * Bài viết là bản rút gọn bài trình bày của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết tại diễn đàn thường niên  Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.    —  1 Điều 60 Luật Giáo dục;   2 Điều 41 Luật GD;   3 Điều 54 Luật GD;   4 Điều 81 Luật GD;   5 Khoản 1 Điều 32 Luật GDĐH;   6 Khoản 4 Điều 9 Luật GDĐH.  7 Khoản 5 Điều 9 Luật GDĐH;   8 Như trên;   9 Như trên;   10 Điều 31 Luật GDĐH;   11 Điều 8 Luật GDĐH;   12 Khoản 3 Điều 27 Luật GDĐH;   13 Khoản 4 Điều 6 và khoản 1 Điều 20 Luật GDĐH;   14 Điều 16 Luật GDĐH;   15 Điều 18 Luật GDĐH;   16 Điều 17 Luật GDĐH.  17 Theo Laura Chirot và Ben Wilkinson, trong thực tế, vai trò quan trọng nhất của hội đồng quản trị ở Hoa Kỳ là tuyển dụng và sa thải hiệu trưởng, dựa trên việc đánh giá những quyết định mà người hiệu trưởng đưa ra có phù hợp với nỗ lực của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu hay không. Điều này đặc biệt quan trọng trong những năm đầu của một trường đại học khi văn hóa của nhà trường và những cơ chế điều chỉnh nội bộ chưa thành nề nếp. (Laura Chirot, Ben Wilkinson. Những nhân tố vô hình tạo nên sự ưu tú …, Tlđd, tr. 27)  18 Ở Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức,… hội đồng trường bầu hiệu trưởng. Một số trường ĐH (như Đại học Nông nghiệp Quốc gia ở TP Toulouse, CH Pháp, còn quy định chủ tịch hội đồng trường phải là người ngoài trường).  19 Điều 56 Luật GD: “Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.  20 Báo cáo Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội năm 2010  21 Khoản 1 Điều 20 Luật GDĐH.  22 Khoản 3 Điều 27 Luật GDĐH.  23 Khoản 2 Điều 17 Luật GDĐH.  24 Ban hành kèm theo Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 63/2011/QĐ-TTg ngày 10/11/2011.  25 TS Vũ Đức Vượng, một giáo sư ĐH từ Mỹ về dạy học ở trong nước cũng chia sẻ nhận xét này : “Trong giới trường tư, có những trường tự xưng là “phi lợi nhuận” nhưng trong thực tế hành xử không khác gì một công ty vì lợi nhuận thông thường […]Tuy nhiên, lợi nhuận mới chỉ là phần nổi của tảng băng; quan trọng hơn, và kiểm soát được lợi nhuận là quyền sở hữu và quyền quản trị nhà trường. Về khoản này, Luật Đại học của Việt Nam hiện nay lại khá rõ ràng: cổ đông là sở hữu chủ và hội đồng quản trị, do cổ đông bầu lên hay chỉ định, có toàn quyền điều hành nhà trường qua trung gian là hiệu trưởng và ban giám hiệu. Nói khác đi, một đại học tư hiện nay ở Việt Nam, hành xử như một “doanh nghiệp vì lợi nhuận”, dù đại học đó có tự xưng là “phi lợi nhuận” và các giảng viên, nhân viên từ cấp hiệu trưởng trở xuống đều là nhân viên của doanh nghiệp, như bất cứ ở một doanh nghiệp nào khác. ” (Báo VietNamNet 29/5/2014).  26 Hồ Thu. Luật Giáo dục đại học: Bộ vẫn bao sân? Báo Tiền phong,, 25/10/2013.  27 Ngay ở Trung Quốc hiện nay, người ta cũng đã khắc phục tình trạng này. Theo Jen, Lin-Liu, ở Khoa Toán ứng dụng ĐH Thanh Hoa, Thượng Hải chỉ có 1 trong số 21 giảng viên dưới 45 tuổi là người tốt nghiệp từ chính ĐH Thanh Hoa (“A Chinese University, Elite Once More” Chronicle of Higher Education 50, no.44 [2004]. Dẫn theo Laura Chirot, Ben Wilkinson. Những nhân tố vô hình tạo nên sự ưu tú …, Tlđd, tr. 39 ).  28 Báo PetroTimes, 1/7/2014. Sẵn sàng cho kỳ thi đại học 2014; Đại học Văn hóa. 10 trường đại học, cao đẳng được tuyển sinh riêng, http://huc.edu.vn/chi-tiet/2236/10-truong-DH-CD-duoc-tuyen-sinh-rieng.html.  29 Báo Giáo dục Việt Nam, 11/7/2014. Tuyển sinh riêng gặp trở ngại … làm đề.   30 Ở nước Anh, Điều lệ Imperial College London nêu rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin về thu nhập thường xuyên cho ba tổ chức quản trị có vai trò giám sát nhà trường, bao gồm một Hội đồng gồm 19 thành viên, chịu trách nhiệm về tài chính và định hướng chiến lược; một Ủy ban với những người đại diện cho lợi ích của cộng đồng của quốc gia và của quốc tế, nhằm tạo ra một diễn đàn để thảo luận về bất cứ vấn đề gì quan trọng đối với trường ĐH; và một Hội đồng Giảng viên nhằm điều chỉnh các hoạt động đào tạo trong trường. Còn ở Ấn Độ, mỗi IIT và IIM được giám sát bởi một hội đồng quản trị gồm các viên chức chính phủ địa phương và trung ương, đại diện doanh nghiệp, đại diện giảng viên, cán bộ quản lý của trường. Thông tin chi tiết về điều kiện tài chính của họ và những quyết định nội bộ được cung cấp cho các bên liên quan ngoài nhà trường. Mức độ minh bạch đáng kể này đã tạo ra sự ủng hộ của công chúng cho phép họ chống lại những áp lực làm giảm tiêu chuẩn. (Laura Chirot, Ben Wilkinson. Những nhân tố vô hình tạo nên sự ưu tú … tr. 26, 42).   31 Nhiều trường săn đón, chào mời thí sinh bằng đủ mọi cách: “thưởng điểm, tặng tiền, cấp học bổng, thậm chí đến người giới thiệu, môi giới cũng được thưởng “tiền công” (!)” (Báo Tuổi Trẻ, 24/8/2011). Theo Hướng dẫn làm hồ sơ xét tuyển nguyện vọng 2 đại học, cao đẳng 2014, mức điểm dành cho thí sinh ngành thiết kế nội thất chỉ là 10, trong đó môn vẽ – khối V và môn hình họa – khối H đã được nhân hệ số 2. Như vậy, trung bình mỗi môn thi chỉ cần 2,5 điểm là đã trúng tuyển. Với thí sinh thuộc đối tượng và khu vực ưu tiên thì chỉ cần 7,5 điểm/3 môn trong đó đã nhân hệ số môn năng khiếu là đậu. Quy ra, điểm thi thật chỉ có 1,8 điểm/môn. (http://tuyensinhtructuyen.edu.vn/ts/15-diem-moi-mon-cung-vao-dai-hoc-1-4283.aspx).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: Hai mặt của một vấn đề      Tự chủ đại học (ĐH) ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1990, được luật hóa và thí điểm* đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục ĐH công lập giai đoạn 2014-2017, nhưng đến nay nhìn chung việc thực hiện tự chủ ĐH công lập chưa thực sự tạo ra chuyển biến đáng kể, do nhiều nguyên nhân, trước hết là do có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về những nội dung cơ bản của tự chủ ĐH. Thậm chí có những nội dung hết sức quan trọng, chẳng hạn như vấn đề trách nhiệm giải trình của nhà trường trước các cơ quan quản lý nhà nước, người học và xã hội về các hoạt động đã hoặc sẽ được thực hiện, hầu như chưa được đề cập đến.        Các diễn giả trao đổi tại buổi tọa đàm. Ảnh: Hảo Linh.  “Chân kiềng” giữ thăng bằng cho các trường tự chủ  Vừa qua, tại buổi tọa đàm “Tự chủ đại học: Quyền tự quyết và trách nhiệm giải trình” do Tia Sáng tổ chức, một số lãnh đạo trường ĐH tư thục và công lập, các nhà nghiên cứu giáo dục, nhà quản lý cho rằng, trách nhiệm giải trình hầu như còn được nhìn nhận và thực hiện rất khác nhau giữa các trường ĐH tư thục và công lập. Chẳng hạn như trường tư thục ĐH Thăng Long trách nhiệm này được thực hiện ngay từ ngày đầu thành lập với tư thế của “người phục vụ”. Nên theo GS Hoàng Xuân Sính, Chủ tịch hội đồng quản trị, Hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Thăng Long, ngay cả trong những hoạt động thuần tuý phục vụ lợi ích của người học như trao học bổng, trường cũng phải trả lời hàng loạt câu hỏi của sinh viên, phụ huynh về nguồn gốc học bổng, cách chia các suất học bổng, cách chọn lựa sinh viên nhận học bổng… Vào buổi chiều thứ tư hằng tuần, hiệu trưởng nhà trường sẽ cùng đối thoại, trả lời các thắc mắc của sinh viên, và có rất nhiều chất vấn “hóc búa”. Trong khi đó, ở các trường ĐH công lập, giải trình dường như chỉ là “báo cáo” với các cấp quản lý.  Không chỉ vậy, những khái niệm về trách nhiệm giải trình của trường ĐH ở Việt Nam hầu như còn chưa được hiểu đúng. GS.TS Trần Đức Viên, chủ tịch Hội đồng trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam giải thích, trách nhiệm giải trình “được hiểu nôm na là trách nhiệm giải thích việc thực thi nhiệm vụ, công vụ, hành động, hoạt động, sản phẩm, quyết định và chính sách bao gồm cả việc quản lý, quản trị của một tổ chức, hay một cá nhân khi được (ai đó) yêu cầu. Nội hàm của trách nhiệm giải trình bao gồm nghĩa vụ báo cáo, giải thích, chịu trách nhiệm về hậu quả, và phải chịu hình phạt trong trường hợp có hành vi sai trái về những gì tổ chức, cá nhân đó đã cam kết, hoặc theo một qui định hay khế ước nào đó của luật pháp, của xã hội”.  Góp ý cho các quy định về tự chủ ĐH và đổi mới giáo dục ĐH cần dựa trên những khung, bộ tiêu chí chung. ĐH ở cácnước phát triển có thang để đánh giá mức độ quản trị của nhà trường, gồm: 1) quản lý và lãnh đạo; 2) sự tham gia của các bên liên quan; 3) trách nhiệm giải trình; 4) khả năng tự chủ và 5) minh bạch. Dựa trên các tiêu chí cụ thể, sẽ đánh giá được khả năng tự chủ cũng như mức độ giải trình của các trường. TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên.    Ông cũng cho rằng, khi trường ĐH được trao quyền tự chủ nghĩa là họ trở thành đối tượng được (nhà nước) trao quyền và trao gửi sứ mệnh (agent) trên thực tế. Quyền lực và nghĩa vụ đó là do Nhà nước giao phó. Nhà nước đóng vai trò “principal – tiếp nhận giải trình” và do đó, nhà trường phải giải trình trước nhà nước. Nhà nước không thể giám sát được tất cả, nên để giám sát hoạt động của các trường tự chủ, nhà nước thường đặt ra các qui tắc để công chúng (xã hội) cùng giám sát. Khi đó, công chúng (cụ thể và trực tiếp hơn là sinh viên và gia đình, doanh nghiệp) đóng vai trò người thụ hưởng (beneficiaries), đồng thời cũng là người giám sát. Thế nhưng bản thân Nhà nước cũng không tránh khỏi trách nhiệm giải trình (giải trình 2 chiều), bởi vì trong một mối quan hệ tương quan khác, quyền lực của Nhà nước là do nhân dân giao phó và do đó, Nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm và phải giải trình với nhân dân, trong đó có các cơ sở đào tạo, người học, các bậc phụ huynh. Trong GD&ĐT, khái niệm tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình luôn đi liền nhau.  Trong khi đó, hiện nay, trong hoạt động, các trường ĐH phải “thông qua” quá nhiều các bên. Chẳng hạn, các hoạt động mở ngành đào tạo phải xin phép Bộ GD&ĐT, liên quan đến tăng giảm học phí phải thông qua Bộ Tài chính, cho đến xây dựng tòa nhà, đấu thầu, mua sắm… phải thông qua một số cơ quan khác nhau với quá nhiều văn bản thủ tục hành chính hướng dẫn. Hoặc chỉ đơn giản là “nâng lương cho các giáo sư thì cũng cần Bộ Nội vụ duyệt, mặc dù Bộ Nội vụ chẳng biết ông ấy là ai, chẳng bao giờ tra về ông giáo sư ấy trên Google Scholar. Họ chỉ ngồi trên họ phê thôi, rất hình thức nhưng vẫn làm”, ông lấy ví dụ.  Trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của chúng ta có thể thể hiện qua các hoạt động sau: (i) Công khai về sứ mạng, mục tiêu giáo dục và các giá trị cốt lõi của nhà trường; đồng thời, cam kết thực hiện những nội dung đó. (ii) Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện đầy đủ các văn bản quản trị và quản lý nội bộ đối với mọi lĩnh vực hoạt động của trường. (iii) Công khai chỉ số đầu ra cơ bản KPIs đã cam kết (iv) Định kỳ kiểm định chất lượng trường và chương trình đào tạo đạt yêu cầu của tiêu chuẩn chất lượng GDĐH quốc gia; khuyến khích kiểm định chất lượng khu vực và quốc tế, và công khai kết quả kiểm định chất lượng. (v) Thực hiện kiểm toán độc lập hằng năm và công khai kết quả kiểm toán. (vi) Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ chế độ báo cáo các cơ quan quản lý trường đại học, cơ quan giám sát; các thông tin công khai phải được cập nhật thường xuyên, định kỳ. GS.TS Trần Đức Viên    Các nhà khoa học tại toạ đàm đều cho rằng, trách nhiệm giải trình phải là một yếu tố song song, một “chân kiềng” không thể thiếu và sẽ tạo sức mạnh, đảm bảo cho quá trình tự chủ của các trường ĐH. Thậm chí “khả năng tự chủ  tới đâu sẽ quyết định khả năng giải trình tới đó”, theo phát biểu của TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên, chuyên gia thẩm định giáo dục độc lập tại tọa đàm. Tuy nhiên, trong các văn bản quy định hiện hành về giáo dục ĐH, nội hàm của khái niệm trách nhiệm giải trình chưa thực sự được làm rõ.  Minh bạch thông tin gắn với lượng hóa các chỉ tiêu  Điểm mấu chốt để trường ĐH tự chủ và các bên liên quan thực hiện trách nhiệm giải trình chính là công khai minh bạch hóa thông tin. Tuy nhiên, dù đã có quy định về minh bạch thông tin, theo quy chế “ba công khai” (thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT), nhưng các trường lại “công khai thông tin theo cách thức rất khác nhau và không dễ dàng truy cập vào cơ sở dữ liệu công khai của các trường để kiểm chứng báo cáo”, ông Phạm Hiệp, nhà nghiên cứu giáo dục độc lập, nghiên cứu sinh ngành giáo dục tại ĐH Văn hóa Trung Hoa, Đài Loan nói. Do đó, các nhà khoa học đề xuất, quy định về minh bạch thông tin của các đại học phải được thể hiện qua các chỉ tiêu có thể đo lường được như các chỉ số đầu ra cơ bản KPIs thường được chia thành bốn nhóm:  (i) Thành tựu KH&CN, như số sản phẩm KH&CN, tiến bộ kĩ thuật, công nghệ mới được áp dụng, số bài báo thuộc hệ thống ISI/ Scopus, số lượng giải thưởng quốc gia, quốc tế về KH&CN, số lượt giảng viên tham gia các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế, tỷ lệ kinh phí hoạt động KH&CN/tổng kinh phí, số phát minh sáng chế, số hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp, với địa phương, v.v… ;  (ii) Chất lượng đào tạo như tỷ lệ giảng viên/người học, tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên có chức danh GS/PGS, số chương trình đào tạo được kiểm định, kinh phí đầu tư/đầu sinh viên, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng, sau 12 tháng tốt nghiệp, lương khởi điểm của sinh viên, v.v… ;  (iii) Mức độ quốc tế hóa, như tỷ lệ chuyên gia người nước ngoài làm việc tại ĐH công lập, tỷ lệ giảng viên được mời giảng dạy ở nước ngoài, số bài báo công bố chung với người nước ngoài, số giảng viên, nghiên cứu sinh được đào tạo, tập huấn ở nước ngoài, số sinh viên quốc tế, số hội thảo quốc tế, số chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh, số lượng hiệp hội hay mạng lưới quốc tế ĐH công lập là thành viên, v.v…;  (iv) Cơ sở vật chất, như kinh phí đầu tư thiết bị nghiên cứu và giảng dạy, số phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO, kinh phí đầu tư cho trung tâm học liệu, v.v…  Ngoài ra, nhà khoa học tại tọa đàm đều nhấn mạnh, công việc thu thập thông tin thống kê, đánh giá giám sát các chỉ số đầu ra không nên chỉ là phần việc của quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT (hiện nay Bộ GD&ĐT vẫn có cơ sở dữ liệu thống kê thường niên về giáo dục ĐH), mà nên có các cơ quan, tổ chức thực hiện độc lập. Điều đó sẽ một phần giúp Bộ GD&ĐT giảm “gánh tải” khối lượng công việc, mặt khác đảm bảo tính công khai, minh bạch và khách quan của thông tin, theo thông lệ ở nhiều nước phát triển.  Minh bạch vai trò của các thiết chế  Trách nhiệm giải trình được đặt ra nhằm làm rõ vai trò của trường ĐH và các bên liên quan trong quản trị ĐH – vốn gồm hai cấp: Quản lý cấp nhà nước và quản trị trong nội bộ các trường ĐH. Tuy nhiên, không chỉ có quản lý cấp nhà nước đang gặp vướng mắc khó giải trình do cơ chế xin – cho, mà ngay trong quản trị nội bộ của các trường ĐH, sự phân vai giữa các thiết chế vốn không rõ ràng, chồng chéo dẫn tới khó giải trình, theo TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên. Cụ thể, trong mô hình quản trị ĐH ở nhiều nước phát triển, bên dưới hội đồng trường sẽ có ban giám hiệu và các tổ chức đoàn thể khác. “Còn ở Việt Nam, nếu đem sơ đồ quản trị đó ra đối sánh thì vị trí của Đảng ủy ở đâu? ở trên hay song song với Hội đồng trường? rất nhiều chức năng của hội đồng trường thì chi bộ đã làm”, TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên nói.  Về vấn đề tự chủ đại học, tôi quan niệm tự chủ là tự do trong khung, trong trường hợp cái khung đó của các trường đại học là Luật Giáo dục đại học, là “Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường đại học”, thì cái khung đó hẹp hay rộng sẽ tùy thuộc vào việc làm luật. Rõ ràng hiện nay các trường được tự chủ trong một cái khung chật hẹp, cho nên trường công mới có vấn đề của trường công, trường tư có vấn đề của trường tư. Trường công loay hoay mãi với “Hội đồng trường”, đến bây giờ vẫn còn nhiều trường không có Hội đồng trường, trường có thì chỉ làm không thực chất. Còn trường tư thì khốn khổ với “sở hữu chung không phân chia” và với “người đưa vào trường để quản lý tài sản chung”; lúc không tuyển sinh được thì cổ đông è cổ đóng tiền để trả lương thầy giáo và nhân viên, lúc có tiền thì thành tài sản chung, có người ở ngoài đưa vào để quản lý tài sản chung. Thêm nữa, trường đại học tư thục không vị lợi nhuận có định nghĩa trong Luật rồi, mà chẳng thấy hình hài vì cái khung quá chật hẹp. GS.TS Hoàng Xuân Sính    Trên thực tế, chỉ ở một số ít trường ĐH công lập, hội đồng trường có hoạt động mạnh và rõ ràng, thì đều xuất phát từ các yếu tố thuận lợi nhất định thuộc về tầm nhìn, nhận thức của lãnh đạo nhà trường, thậm chí là Bộ chủ quản chứ không xuất phát từ những cơ chế quy định rõ ràng về vai trò, mối quan hệ của hội đồng trường và các thiết chế khác trong quản trị ĐH. Chẳng hạn ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam, hội đồng trường bầu hiệu trưởng, hiệu trưởng tự chọn hiệu phó và các đơn vị giúp việc rồi đề nghị hội đồng trường phê duyệt, còn cơ quan chủ quản là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ phê chuẩn hai chức danh các thành viên hội đồng trường và hiệu trưởng. GS.TS Trần Đức Viên đánh giá, một tầm nhìn tôn trọng quyền tự quyết của các cơ quan học thuật của Bộ chủ quản như vậy cũng là một “may mắn” của Học viện Nông nghiệp tại thời điểm trường này bắt đầu tự chủ, và điều đó có tính quyết định tới thành bại của quá trình tự chủ hóa.  Hoạt động của hội đồng trường được đánh giá là không hiệu quả bởi vì hội đồng trường đã được quy định về quyền nhưng không gắn với trách nhiệm và lợi ích, theo PGS.TS Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng ĐH Bách khoa Hà Nội. “Trường ĐH Bách khoa Hà Nội mời các đại diện doanh nghiệp KH&CN tham gia vào hội đồng trường thì họ tham gia bằng tình cảm, họ vào cho vui, nhưng bảo họ ký cái gì mà phải chịu trách nhiệm thì họ rất ngại. Để họ có trách nhiệm thì phải gắn liền họ với lợi ích (không phải là lợi ích trực tiếp của từng cá nhân, mà là lợi ích đại diện cho một nhóm, ví dụ như nhóm đại diện doanh nghiệp)”, ông nói. Do đó, ông đề xuất sửa quy định về hội đồng trường, làm rõ hội đồng trường là đại diện cho các bên có lợi ích liên quan, có cơ chế rõ ràng để hội đồng trường hoạt động.  Theo bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) giới khoa học nên tiếp tục có những đề xuất nhằm hiến kế, góp ý cho Bộ GD&ĐT trong việc xây dựng quy định “khung” của quá trình tự chủ ĐH nói riêng và đổi mới giáo dục ĐH nói chung. Trong đó, điều cốt lõi nhất là khung tự chủ phải vừa thông thoáng cho các trường chủ động, sáng tạo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, phản ứng linh hoạt trước yêu cầu của thị trường; vừa có tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra cụ thể để có thể quản lý chất lượng trong điều kiện tự chủ đại học; vừa tiệm cận với chuẩn quốc tế, vừa khả thi trong điều kiện Việt Nam.  “Góp sức cho đổi mới giáo dục là trách nhiệm của tất cả mọi người. Chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận về vấn đề này nhằm đưa ra được những khuyến nghị cho ngành giáo dục, miễn là những chia sẻ của chúng tôi được lắng nghe một cách cầu thị”, GS.TS Trần Đức Viên nói.  ———————-  * Với Luật giáo dục 2005, Luật giáo dục ĐH 2012, sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục ĐH công lập giai đoạn 2014-2017.             Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: Nhìn từ Quy chế tuyển sinh đại học 2020      Xem xét Quy chế tuyển sinh đại học 2020 vừa được công bố, dễ nhận thấy những điểm phù hợp và chưa phù hợp, thậm chí đi ngược tinh thần tăng cường tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học của Luật Giáo dục đại học sửa đổi.      Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: Nhìn từ Quy chế tuyển sinh đại học 2020.  Luật GDĐH sửa đổi (ban hành năm 2018 và có hiệu lực từ tháng 7/2019) có nhiều điểm mới, đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học nhằm ‘giải phóng’ giáo dục đại học với hy vọng có bước phát triển đột phá trong thời gian tới.  Trong đó, Điều 32 Khoản 3 Luật GDĐH 2018 quy định các trường đại học có ‘quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn bao gồm ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế”.  Nghị định 99/2019/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật GDĐH sửa đổi nêu rõ quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình liên quan tới tuyển sinh của các trường đại học bao gồm:  Được quyền ban hành và tổ chức thực hiện các quy định nội bộ về hoạt động tuyển sinh phù hợp quy định của pháp luật và có trách nhiệm xác định, công bố công khai phương thức, chỉ tiêu tuyển sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. (Điều 13, Khoản 1, mục a và b)  Như vậy, về khía cạnh pháp lý, cả Luật GDĐH và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đều nêu rõ việc tuyển sinh hoàn toàn nằm trong phạm vi trường được phép tự chủ.  Quy chế tuyển sinh đại học 2020: quy định chi tiết hay nguyên tắc?  Quy chế tuyển sinh đại học 2020 được ban hành kèm theo Thông tư số 09/2020/TT-BGDĐT gồm 29 điều bao trùm đầy đủ các vấn đề liên quan.  Xem xét Quy chế, dễ nhận thấy, có những điều khoản đưa ra quy định theo nguyên tắc, ví dụ như Điều 2 Khoản 3 và 4 quy định “tất cả các trường đều phải xây dựng và công khai Đề án tuyển sinh các hình thức đào tạo trên trang thông tin điện tử của trường trước 15 ngày, gửi Đề án về Bộ GDĐT và thực hiện công tác tuyển sinh theo Đề án tuyển sinh đã công bố”.  Tuy nhiên, có một số điều khoản đưa ra quy định chi tiết mang tính áp đặt đối với phạm vi trường được phép tự chủ. Chẳng hạn, Điều 10, Khoản 1, Mục c quy định “Điểm xét tuyển là tổng điểm các bài thi/môn thi theo thang điểm 10 đối với từng bài thi/môn thi của tổ hợp xét tuyển (…) và được làm tròn đến hai chữ số thập phân; đối với các thí sinh bằng điểm xét tuyển ở cuối danh sách thì xét trúng tuyển theo các điều kiện phụ do mỗi trường đã thông báo, nếu vẫn còn vượt chỉ tiêu thì ưu tiên thí sinh có nguyện vọng cao hơn”.  Rõ ràng, nếu đã giao cho trường tự chủ xây dựng đề án tuyển sinh và Bộ GD&ĐT kiểm soát, giám sát thực hiện, thì việc xác định điểm xét tuyển, công thức tính điểm, việc làm tròn số, hay việc tuyển chọn khi thừa và thiếu chỉ tiêu phải để trường toàn quyền quyết định. Nói cách khác, các quy chế, thông tư dưới luật chỉ nên đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc để cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) dựa vào đó giám sát, đảm bảo việc thực hiện nhất quán với toàn bộ thí sinh một cách công bằng, minh bạch.  Tương tự, các quy định liên quan tới việc tự tổ chức thi, kiểm tra riêng để tuyển sinh trong Điều 12 là những điều kiện hạn chế quyền tự chủ nghiêm trọng nhất. Để ‘đảm bảo chất lượng’, Khoản 1 Mục d đặt ra các yêu cầu “ngân hàng câu hỏi thi chuẩn hóa và/hoặc tự luận của trường đủ lớn để xây dựng đề thi cho việc tổ chức thi trong mỗi lần thi; có giải pháp đảm bảo sự tương đương của các đề thi và phải thực hiện quy trình để đảm bảo đề thi, đáp án, hướng dẫn chấm thi được bảo mật trước, trong và sau khi thi”. Quy định này hàm chứa những điểm không chặt chẽ, nhất quán với định hướng của Luật GDĐH sửa đổi, như sau:  Thứ nhất, dù hình thức thi là tự luận hay trắc nghiệm thì đều có thể chuẩn hoá, mà nếu đã cần chuẩn hoá thì không phân biệt loại câu hỏi thi.  Thứ hai, ‘chuẩn hoá’ câu hỏi thi hay đề thi là yêu cầu quá cao một cách không cần thiết đối với bài thi cấp trường với kết quả sử dụng nội bộ. Cơ quan QLNN đáng lẽ chỉ nên yêu cầu về nguyên tắc rằng các trường phải thực hiện đảm bảo chất lượng (ĐBCL) đề thi và chấm thi, còn cụ thể ĐBCL bằng cách thức nào, phương pháp nào nên để cho trường chủ động đề xuất trong Đề án tuyển sinh của mình. Chuẩn hoá câu hỏi thi và đề thi chỉ là một biện pháp ĐBCL khâu ra đề thi, đòi hỏi thời gian dài và nhân lực có trình độ chuyên môn chuyên biệt thực hiện. Việc áp đặt cách thức như vậy thực chất là đưa ra “hàng rào kỹ thuật” để loại bỏ phương án “tự thi tuyển” của các trường. Hệ quả là, việc Quy chế ‘cho phép’ các trường tự tổ chức thi tuyển chỉ mang tính hình thức, đồng thời vi phạm phạm vi tự chủ của các trường.  Thứ ba, việc quy định ngân hàng câu hỏi thi phải “đủ lớn” là không đủ rõ ràng để có thể triển khai giám sát thực hiện, từ đó thực thi trách nhiệm giải trình cũng là vấn đề.  Cuối cùng, dù ‘chuẩn hoá’ là một phương pháp ĐBCL đề thi, có nhiều cách tiếp cận và quy trình để triển khai chuẩn hoá. Nếu yêu cầu chuẩn hoá mà không tham chiếu đến một quy định hay hướng dẫn cụ thể nào thì việc giám sát thực hiện không khả thi.  Từ phân tích trên có thể nói, Quy chế tuyển sinh 2020 có những điểm phù hợp và chưa phù hợp, thậm chí đi ngược với Luật GDĐH sửa đổi.  Tuân thủ-hoặc-giải trình, một tiếp cận đáng cân nhắc  Với điểm nhấn vào tăng cường tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, việc Luật GDĐH sửa đổi sẽ được triển khai, thực thi như thế nào luôn là mối quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách, mà còn của các cấp lãnh đạo, quản lý ở đại học.  Các nước phương Tây khi bắt đầu đẩy mạnh tự chủ và trách nhiệm giải trình của các trường đại học trong nửa cuối của thế kỷ 20 đã thay đổi cách tiếp cận trong QLNN để có thể đồng thời duy trì cả hai trụ cột quan trọng này của quản trị đại học cấp hệ thống. Song song với việc tăng cường các biện pháp và công cụ ĐBCL, việc áp dụng ‘deregulation’ – nới lỏng, gỡ bỏ bớt các chính sách, quy định ràng buộc đối với các trường đại học được nhiều nước Âu, Mỹ thực hiện. Tuy nhiên, động thái này làm nảy sinh vấn đề mới: các cơ sở giáo dục đại học có thể cần được hướng dẫn để ‘làm đúng’. Để giải quyết, hệ thống quản trị đại học của Anh sử dụng nguyên tắc “tuân thủ-hoặc-giải trình” (comply-or-explain) đối với các trường đại học. Các bộ tài liệu hướng dẫn như Bộ hướng dẫn KPI, Bộ hướng dẫn thẩm định chất lượng do Uỷ ban Chủ tịch Hội đồng Đại học (CUC) ban hành đều triển khai theo nguyên tắc “tuân thủ-hoặc-giải trình”.  “Tuân thủ-hoặc-giải trình” là một cách tiếp cận trong mô hình quản trị hiện đại nhằm cho phép các tổ chức linh hoạt áp dụng quy định, trong khi cơ quan QLNN vẫn thực hiện đầy đủ vai trò của mình đồng thời cung cấp hướng dẫn kỹ thuật, chuyên môn cho họ.  Nguyên tắc này được đề xuất trên cơ sở lập luận không có “một cỡ áo vừa vặn cho tất cả”; và khi áp dụng vào quản trị sẽ giúp tránh nguy cơ rập khuôn, cứng nhắc, qua đó duy trì sự đa dạng về các loại hình, phương thức… trong hệ thống.  Theo nguyên tắc “Tuân thủ-hoặc-giải trình”, các cơ quan QLNN hoặc các hiệp hội có thể đặt ra các “Bộ quy tắc ứng xử” (Code of conduct) hoặc các bộ tài liệu hướng dẫn (guidelines) để các cơ sở giáo dục thực hiện, nếu không phải giải trình sự phù hợp của các phương thức, cách thức thay thế. Bằng quy định như vậy, một mặt cơ quan QLNN vẫn có thể thực hiện vai trò của mình, đồng thời cho phép các trường cơ hội tự chủ.  Theo người viết, cách tiếp cận “Tuân thủ-hoặc-giải trình” rõ ràng là một lựa chọn đáng cân nhắc. Đối với Quy chế tuyển sinh, có thể có hai lựa chọn về cách thức quản trị mà không xung đột với Luật GDĐH sửa đổi: (1) các văn bản dưới luật chỉ nhất quán đưa ra các nguyên tắc đảm bảo chất lượng, còn tất cả các quy định chi tiết để cho trường quyết định; (2) Bộ GD&ĐT ban hành các bộ tài liệu hướng dẫn yêu cầu tuân thủ hoặc nếu không tuân thủ thì trình đề án riêng, kèm theo bản thuyết minh, giải trình những điểm khác biệt. Những trường lựa chọn tuân thủ tài liệu hướng dẫn của Bộ không cần chuẩn bị và đệ trình đề án tuyển sinh. Chỉ những trường làm khác mới phải xây dựng đề án, như vậy việc duyệt và giám sát thực hiện sẽ khả thi hơn. Cũng có thể kết hợp cả hai phương án (1) và (2) để tạo sự linh hoạt và chặt chẽ.  Tài liệu tham khảo:  Schofield, A. (2009). What is an Effective and Higher Performing Governing Body in UK Higher Education?  Seidl, D., Sanderson, P., & Roberts, J. (2009). Applying” comply-or-explain”: Conformance with Codes of Corporate Governance in the UK and Germany. Working paper. (389). Centre for Business Research, University of Cambridge.  Shattock, M. (2006). Managing good governance in higher education. Maidenhead, Berkshire: Open University Press.  Đỗ Thị Ngọc Quyên/ Khoa học và phát triển  https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/tu-chu-dai-hoc-va-trach-nhiem-giai-trinh-nhin-tu-quy-che-tuyen-sinh-dai-hoc-2020/20200521021549826p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ và tự do học thuật trong giáo dục đại học Việt Nam      Có thể khẳng định trong thập kỷ tới, tự chủ đại học (GDĐH) sẽ là điểm bản lề giữ vai trò mấu chốt trong cải cách và phát triển giáo dục đại học trong nước. Nhưng sẽ là một khiếm khuyết lớn nếu thảo luận về tự chủ mà không bàn đến tự do học thuật bởi tự chủ mà thiếu vắng tự do học thuật sớm muộn cũng bộc lộ hạn chế trong quá trình phát triển của đại học.      Trong Hội thảo Tổng kết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ngày 20/10/2017, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định: “Tự chủ đại học gần như là đường một chiều, là con đường chúng ta phải đi. Không có tự chủ đại học sẽ không có những trường đại học mạnh, không có đại học mạnh thì không có lực lượng nhân lực tốt, đất nước sẽ không phát triển được”. Ảnh: Vietnamnet.  Sự ra đời của tự chủ đại học  Câu chuyện về tự chủ đại học ở Việt Nam xuất phát từ quá trình mở cửa và đổi mới giáo dục đại học, khi các trường đại học thấy sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đã “bó chân bó tay” họ trong quá trình đổi mới trước áp lực nâng cao chất lượng và gia tăng trách nhiệm giải trình trong khoảng 10 năm trở lại đây. Với nền giáo dục có sự quản lý nhà nước chặt chẽ như Việt Nam, tự chủ và các tranh luận quanh nó là tất yếu và việc các trường đấu tranh đòi quyền tự chủ chỉ là vấn đề thời gian.    Thảo luận về tự chủ đại học bắt đầu từ tự chủ về học thuật như khung chương trình và mở ngành, dần chuyển sang tự chủ về tài chính, tự quyết học phí và cắt giảm ngân sách. Ban đầu các trường đại học chủ yếu yêu cầu nới rộng các hạn chế, ràng buộc về học thuật như mở chương trình hợp tác quốc tế, mở ngành, tuyển dụng và chế độ chính sách nhân sự nhằm phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo. Sau nhiều năm liên tục được thảo luận, đến 2012, khái niệm “tự chủ đại học” mới  đưa vào Luật Giáo dục đại học; tuy vậy về cơ bản khái niệm này chưa được quy định đủ rõ ràng để có thể triển khai. Do vậy, tự chủ đại học trong Luật 2012 chủ yếu mang tính hình thức, được ràng buộc với nhiều điều kiện, hoặc chỉ áp dụng với một số ít đối tượng (ví dụ, với cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài). Có thể nói “tự chủ” này được đặt ra do áp lực từ hệ thống để giải quyết tình thế, do vậy tính thực tiễn thấp.      Trong khi ở châu Âu tự chủ là quyền tự do của cơ sở giáo dục trong việc định đoạt các vấn đề vận hành, thì ở Việt Nam, tự chủ đại học thực chất là sự đánh đổi nguồn hỗ trợ tài chính lấy quyền tự do quyết định các công việc nội bộ của các trường.      Nghị quyết 77/NQ-CP ban hành năm 2014 là văn bản pháp quy đầu tiên hướng dẫn thực hiện tự chủ cho các trường đại học. Tự chủ trong Nghị quyết này là hình thức tự chủ có điều kiện. Cụ thể, “cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư” là điều kiện để được tự chủ toàn diện bao gồm đào tạo và nghiên cứu khoa học, tổ chức bộ máy, nhân sự, đầu tư mua sắm, học phí và sử dụng nguồn thu. Kể từ khi ban hành đến nay đã có 23 trường công lập triển khai thí điểm tự chủ theo đề án riêng của mỗi trường. Có thể nói các trường này đều cho thấy đang có những bước chuyển mình tích cực và chủ động, vấn đề đặt ra là nếu mô hình tự chủ tài chính như vậy triển khai trong toàn hệ thống các trường đại học công lập thì vai trò của nhà nước đối với giáo dục đại học là gì? Quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học sẽ được thực hiện qua cơ chế nào? Và bằng cách nào có thể đảm bảo các trường đại học sẽ thực hiện sứ mệnh của cơ sở giáo dục công lập?  Bản chất tự chủ đại học ở Việt Nam  So với tự chủ đại học ở châu Âu, tự chủ đại học ở Việt Nam có nhiều khác biệt về bản chất. Trong khi ở châu Âu tự chủ là quyền tự do của cơ sở giáo dục trong việc định đoạt các vấn đề vận hành, thì ở Việt Nam, tự chủ đại học thực chất là sự đánh đổi nguồn hỗ trợ tài chính lấy quyền tự do quyết định các công việc nội bộ của các trường. Đối với những trường chưa đủ năng lực tự lực về tài chính, tự chủ đều là có điều kiện được ràng buộc với nhiều yêu cầu về đảm bảo chất lượng cũng như các quy định tài chính, nhân sự, vv… do các Bộ liên quan đặt ra đối với trường công.    Đại học Tôn Đức Thắng, một trong những trường đầu tiên thực hiện cơ chế tự chủ. Ảnh: Sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng trong ngày hội Open day của trường.  Về mức độ, đánh giá và phân tích tự chủ đại học ở châu Âu liên tục trong nhiều năm qua ghi nhận các mức tự chủ khác nhau trong đó có mức tự chủ hoàn toàn (được coi là vấn đề nội bộ của trường, trường hoàn toàn được tự quyết); tự chủ một phần (có các mức độ khác nhau; theo hướng dẫn trong các văn bản pháp quy, không có quy định cụ thể trong luật; bổ nhiệm một số vị trí, thành viên…); và không được tự chủ (tuân thủ quy định trong Luật; phải qua phê duyệt của cơ quan cấp trên như Bộ, Quốc hội, và các điều kiện hạn chế khác). Phần lớn các quốc gia, nhất là các hệ thống Tây và Trung Âu, thường cho phép mức độ tự chủ cao nhất cho các trường đại học của mình; mức độ tự chủ hạn chế dần đối với các quốc gia Đông Âu và chỉ chiếm số ít (theo báo cáo đối sánh của Hiệp hội các trường đại học châu Âu năm 2017). Trong khi đó, tự chủ cho các đại học Việt Nam vẫn chủ yếu là tự chủ có điều kiện. Phần lớn các trường đều phải báo cáo và xin phê duyệt của cơ quan quản lý cấp trên, mặc dù có một số trường hợp việc báo cáo chỉ là thủ tục như với hệ thống đại học-trường đại học. Ngay cả đối với các trường được thí điểm tự chủ tài chính và tự chủ toàn diện, tự chủ cũng là có điều kiện và điều kiện ở đây chính là đề án tự chủ đã được Thủ tướng phê duyệt.   Những cản trở đối với tự chủ   Thiết chế bùng nhùng  Mặc dù thời điểm triển khai tự chủ đại học đã chín muồi, việc chuẩn bị thực thi cũng tương đối kỹ lưỡng, vẫn còn không ít rào cản về cấu trúc hệ thống quản trị ở cả hai cấp, hệ thống và cơ sở giáo dục, cho việc thiết lập cơ chế tự chủ đại học. Con đường tiến tới tự chủ của các trường không bằng phẳng và đơn giản.  Về lý thuyết,  Hội đồng Trường là một cơ chế qua đó cơ quan chủ quản đại diện cho sở hữu nhà nước có thể tham gia vào việc hoạch định và chỉ đạo chiến lược đối với cơ sở đào tạo. Thực tế cho thấy cơ chế này chưa hoạt động như thiết kế; hội đồng trường chưa phải là tổ chức có tiếng nói quyết định trong các đại học công. Vướng mắc không chỉ ở việc các tổ chức nội bộ trong trường đại học (bao gồm ban giám hiệu, hội đồng khoa học, Đảng ủy, hội đồng trường) có chức năng và nhiệm vụ chồng chéo trong các vai trò lãnh đạo, điều hành, vận hành, quản lý, giám sát… Vướng mắc còn nằm ở khâu nhân sự, việc kiêm nhiệm các vị trí lãnh đạo cao nhất của các tổ chức nội bộ này. Dù đã được đưa vào Luật từ 2012, tính đến giữa năm 2018 tỷ lệ các trường chưa thành lập hội đồng trường chiếm tới 2/3 tổng số các trường công lập, kể cả một số trường tự chủ tài chính (theo báo cáo của GS Trần Đức Viên trước Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội). Không có Hội đồng trường, các trường vẫn vận hành bình thường theo hành lang pháp lý dành cho giáo dục đại học. Nói cách khác, bối cảnh thực tiễn và pháp lý chưa cho thấy việc thành lập HĐT là cấp thiết cho sự tồn tại và hoạt động của nhà trường. Ở những trường đã thành lập tổ chức này, đã có thời ba vị trí lãnh đạo cao nhất trong nhà trường (bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng, Chủ tịch HĐT) là do một cá nhân kiêm nhiệm đảm nhận.   Những thay đổi mới nhất trong Luật giáo dục sửa đổi đặt ra những quy định mới về vai trò, chức năng cũng như thành viên của HĐT, nhưng viễn cảnh chưa sáng sủa khi các trường còn khá lúng túng với mô hình mới này và khi vấn đề chồng chéo vai trò còn đó.   Không những thế, hệ thống quản trị giáo dục đại học có tính tập trung cao nhưng đồng thời lại có độ phân mảnh đáng kể. Ngoài Bộ GD&ĐT, các trường đại học còn chịu sự quản lý về các vấn đề khác nhau bởi các bộ liên quan. Một số đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT trong khi nhiều trường trực thuộc các bộ chủ quản chuyên ngành hoặc các cơ quan chủ quản như Tổng liên đoàn Lao động VN. Cơ chế chủ quản cũng là một cản trở không thể không giải quyết để các trường đại học có thể thực sự được giải phóng và tự chủ. Tuy nhiên với mô hình quản trị hiện tại, giải pháp cho cơ chế chủ quản liên quan chặt chẽ đến hội đồng trường và hiệu quả hoạt động của tổ chức này.   Sự không đồng bộ về luật   Trong khi chờ Luật sửa đổi được thực thi, các chuyên gia, giới lãnh đạo, quản lý trong các trường tỏ ra thận trọng, dè dặt, thậm chí có phần hoài nghi về tính khả thi của Luật. Ngoài các vấn đề về mô hình quản trị, tổ chức, vai trò của hội đồng trường, một lý do quan trọng nữa là sự khập khễnh giữa các luật và quy định trong khung pháp lý hiện hành.   Khi phân tích các quy định mới về tự chủ trong Luật GDĐH sửa đổi, không khó để các trường nhận thấy những bất cập, vướng mắc liên quan tới các luật và quy định khác, chẳng hạn, giữa quy định tự chủ về nhân sự theo Luật GDĐH và Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức sẽ gây cản trở các trường trong việc thực hiện tự chủ. Ngoài ra các điều khoản khác về tự chủ của các trường đại học công lập cũng đều có “xung đột” nhất định với Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, vv… Nếu những vướng mắc này không được các bộ và cơ quan liên quan phối hợp tháo gỡ, tự chủ đại học sẽ chỉ là hình thức.   Khó hoàn thành sứ mệnh nếu tự do hoc thuật không được đảm bảo  Nếu so với diễn biến dẫn đến tự chủ đại học ở châu Âu thì bối cảnh GDĐH ở Việt Nam hoàn toàn khác. Tự chủ ở châu Âu xuất hiện khi tự do học thuật tồn tại trong môi trường GDĐH như một lẽ đương nhiên. Trong khi đó,  khi bàn đến tự chủ cho các trường ĐH ở Việt Nam, tự do học thuật vẫn là một khái niệm xa lạ. Ngay cả khi tự chủ đại học là tâm điểm của cải cách giáo dục đại học thì tự do học thuật hầu như hiếm khi được nhắc đến.   Cần nhắc lại rằng nếu tự do học thuật không được đảm bảo, giáo dục đại học khó có thể thực hiện được sứ mệnh của mình. Tự chủ, kể cả toàn diện, không nghiễm nhiên dẫn đến hay bảo đảm tự do học thuật mặc dù đó là cơ chế cho phép thực thi tự do học thuật. Chính bởi vậy, nếu thảo luận về tự chủ mà không bàn đến tự do học thuật sẽ là một khiếm khuyết lớn; tự chủ mà thiếu vắng tự do học thuật sớm muộn cũng bộc lộ hạn chế trong quá trình phát triển của đại học.    Cho một tương lai của tự chủ đại học Việt Nam  Có thể khẳng định trong thập kỷ tới tự chủ đại học sẽ là điểm bản lề giữ vai trò mấu chốt trong cải cách và phát triển giáo dục đại học trong nước. Mặc dù bước đi này đã có sự chuẩn bị trong nhiều năm qua với các thử nghiệm và xây dựng hành lang pháp lý, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này. Tương lai của tự chủ đại học là chưa rõ ràng và phụ thuộc đáng kể vào hiệu quả của hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Một số vấn đề quan trọng cần phải được xem xét.  1. Vấn đề tự chủ đại học cần được xác định rõ trong mô hình quản trị đại học cấp hệ thống; khái niệm và nội hàm của nó cần được xác định một cách chính xác để có thể các bên đều giữ đúng vai trò, chức trách của mình trong hệ thống đại học, đặc biệt là đại học công. Khái niệm tự chủ tài chính cần được xem xét lại để tạo môi trường tài chính lành mạnh cho GDĐH phát triển vì lợi ích cao nhất của người học và xã hội. Loại hình tự chủ (toàn diện hay thủ tục) cũng cần được xác định rõ. Với bối cảnh chính trị xã hội hiện nay của Việt Nam, tự chủ thủ tục có thể là lựa chọn phù hợp hơn, và có tính khả thi lớn hơn.   2. Việc xã hội hóa giáo dục cần được nhìn nhận chuẩn xác hơn, để từ đó xác định phạm vi và khái niệm tự chủ tài chính phù hợp trong giáo dục công lập. XHH là giải pháp huy động và chia sẻ nguồn lực xã hội, bao gồm cả nhân lực, tài lực, tri thức, vv, để thực hiện một số dịch vụ xã hội nhất định. Xã hội hóa rõ ràng không phải chỉ là về tài chính, và không phải là xóa bỏ vai trò và nghĩa vụ tài chính của nhà nước đối với các dịch vụ xã hội, trong đó có giáo dục, đặc biệt là giáo dục công lập. Không thể sử dụng chính sách XHH để chối bỏ trách nhiệm tài chính với các dịch vụ này. Vấn đề là cần có cơ chế phù hợp, hiệu quả cho phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học.   3. Các trường đại học cần nghiên cứu, xây dựng các cơ chế cho phép và khuyến khích tự do học thuật như là một khía cạnh của tự chủ đại học để phát huy tốt nội lực của đội ngũ giảng viên.   4. Hệ thống văn bản dưới luật cần tập trung gỡ rối các xung đột giữa các luật và đồng bộ hóa các quy định do các bộ và cơ quan chủ quản ban hành nhằm đảm bảo một môi trường pháp lý nhất quán cho quá trình thiết lập cơ chế tự chủ.   5. Mô hình tổ chức hoạt động của Hội đồng trường cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và xác định rõ ràng về cấu trúc quản trị. Bất kể là cấu trúc “đơn viện” (Hội đồng trường là cấp cao duy nhất) hay “lưỡng viện” (Hội đồng trường song song giữ vai trò lãnh đạo cùng với một tổ chức khác như Đảng ủy) cũng cần được làm rõ để xác định đầy đủ sự tham gia và vai trò của các tổ chức nội bộ trong hệ thống quản trị nhà trường.   6. Để bức tranh tự chủ có thể trở thành hiện thực, hệ thống kiểm định chất lượng nhất thiết phải được củng cố toàn diện cả về năng lực triển khai cũng như tính thực chất để trở thành căn cứ vững chãi cho cơ chế tự chủ đại học toàn diện.□   Tự chủ đại học trong giáo dục đại học thế giới   Theo Hiệp hội các trường đại học châu Âu, tự chủ đại học được thể hiện ở sáu khía cạnh: quản trị tổ chức, nhân sự, tài chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý người học. Khi Hiệp hội này triển khai đề án dài hạn đối sánh các nền giáo dục đại học ở châu Âu, tự chủ đại học được phân tích ở bốn khía cạnh tổ chức, tài chính, nhân sự và học thuật (Estermann, Nokkala, & Steinel, 2011). Thang đo mức độ tự chủ đại học được cụ thể hóa thành bộ chỉ số có cấu trúc như sau:  1. Tự chủ về tổ chức: trường đại học được tự quyết về các vấn đề tổ chức nội bộ như lựa chọn, bổ nhiệm, sa thải lãnh đạo các cấp, về các vấn đề chiến lược như điều lệ và ngân sách, cấu trúc tổ chức như thành lập các đơn vị trực thuộc.  2. Tự chủ tài chính: trường đại học được tự quyết định các vấn đề tài chính nội bộ, cụ thể là độc lập quản lý ngân quỹ, tự quyết việc sử dụng ngân quỹ, quy định mức học phí, mua tài sản…  3. Tự chủ nhân sự: trường đại học được tự quyết định các vấn đề tuyển dụng và quản lý nhân sự, cụ thể là việc tuyển dụng, thương thưởng, sa thải và bổ nhiệm nhân sự phù hợp với tổ chức.  4. Tự chủ học thuật: quyền tự quyết của nhà trường trong các vấn đề học thuật như tuyển sinh, nội dung đào tạo, đảm bảo chất lượng, mở ngành và ngôn ngữ giảng dạy.  Cần lưu ý rằng trong các định nghĩa cũng như bộ chỉ số đánh giá, phân tích tự chủ đại học của châu Âu, việc cấp ngân sách nhà nước cho đại học không hề bị phủ nhận. Chỉ số tự chủ về tài chính xem xét mức độ lệ thuộc của trường đại học vào ngân sách nhà nước hoặc mức độ đa dạng hóa các nguồn thu của trường. Trong số 11 chỉ số của bộ công cụ đánh giá tự chủ tài chính, có tới hai chỉ số xem xét chu kỳ cấp ngân sách và loại hình ngân sách được cấp (khoán trọn gói theo nhiệm vụ hay khoán theo chi mục) để đánh giá mức độ tự do của trường trong việc sử dụng ngân sách nhà nước.  Tài liệu tham khảo  Askling, B., Bauer, M., & Marton, S. (1999). Swedish Universities towards Self-Regulation: A New Look at Institutional Autonomy. Tertiary Education & Management, 5(2), 173.   Estermann, T., Nokkala, T., & Steinel, M. (2011). University Autonomy in Europe II – The Scorecard. from European University Association (EUA) http://www.eua.be/Libraries/Publications/University_Autonomy_in_Europe_II_-_The_Scorecard.sflb.ashx  Maassen, P., Gornitzka, Å., & Fumasoli, T. (2017). University reform and institutional autonomy: A framework for analysing the living autonomy. Higher Education Quarterly, 71(3), 239.   Philip, G. A. (2001). Academic Freedom: International Realities and Challenges. Higher Education, 41(1/2), 205.   Provot, E.B. & Easterman, T. (2017). University Autonomy in Europe III The Scorecard 2017. Available at: https://eua.eu/resources/publications/830:the-european-university-association-and-science-europe-join-efforts-to-improve-scholarly-research-assessment-methodologies.html  Tuổi trẻ. (05/2019). Mở rộng quyền tự chủ cho 3 trường đại học. https://tuoitre.vn/mo-rong-quyen-tu-chu-cho-3-truong-dai-hoc-20190527074200122  htm?fbclid=IwAR37K53xnL6l92w54o14 -_SWpPpnOd_HnzRAcyc1E-OCxoAjqGAVHgYeuOI  Trần Đức Viên. (2018) Hội đồng trường ở Đại học công lập: Nhu cầu tự thân hay dân chủ hình thức? https://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Hoi-dong-truong-o-Dai-hoc-cong-lap-Nhu-cau-tu-than-hay-dan chu-hinh-thuc-post188980.g    Author                Đỗ Thị Ngọc Quyên        
__label__tiasang Tự chủ về trí tuệ, sự thật lịch sử và tự do giảng dạy (Phỏng vấn 1)      Theo TS Văn học Franck Cabane, giáo viên tiếng Pháp ở trường Phổ thông Trung học Maximilien-Sorre, Cachan, Vùng Paris, Pháp, mục đích sư phạm là dắt dẫn các em dần từng bước đi tới tự làm chủ về trí tuệ.    Mục tiêu của giáo dục: giúp học sinh đạt tới sự tự làm chủ về trí tuệ  Nguyễn Thị Từ Huy: Cảm ơn ông đã đón tôi trong giờ “Nghiên cứu theo nhóm có hướng dẫn” (Travaux Personnels Encadrés) của học sinh năm cuối ở trường trung học phổ thông. Quan sát công việc của học sinh lớp ông thật thú vị. Tôi thấy các em tỏ ra khá thành thạo trong những bước nghiên cứu khác nhau: chọn đề tài nghiên cứu, thu thập tư liệu, xây dựng kế hoạch đề án nghiên cứu, thực hiện việc viết báo cáo nghiên cứu, hoàn thành đề án. Học sinh của ông cho thấy các em có tính sáng tạo, năng động và có khả năng phân tích.     Xin ông cho biết: mục đích sư phạm của cách làm việc này là gì?    Franck Cabane: Cách làm này hướng tới ba mục đích. Một mặt, đây là việc mang lại cho học sinh hứng thú làm việc theo nhóm, mỗi nhóm từ ba đến bốn em, ưu tiên cho đề án với thời gian dài – nhiều tuần lễ –, tất nhiên là còn có việc mang lại cho học sinh những kỹ thuật nghiên cứu cơ bản nhưng được duy trì sao cho đúng mục tiêu (xác định vấn đề nghiên cứu, phân bố công việc, lên lịch cụ thể trước nhưng khi cần vẫn có thể sửa đổi lịch) trước khi thực hiện các giai đoạn biên soạn, biên tập sơ bộ, và hình thành báo cáo nghiên cứu.           Loạt bài phỏng vấn dưới đây được thực hiện  cùng với các giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Vùng  Paris, trong thời gian tôi ở Pháp, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2012.  Claire Montanari, Dominique Delmas ở trường THCS Molière, và Franck  Cabane ở trường THPT Maxilimien-Sorre đã cho phép tôi tham dự giờ giảng  cũng như các hoạt động sư phạm khác của họ.    Cả  ba giáo viên này đều có bằng Agrégation (một chứng chỉ cho phép họ tham  gia dạy học và để có được chứng chỉ này phải trải qua một kỳ thi quốc  gia rất khó). Claire Montanari và Franck Cabane là tiến sĩ văn học.  Claire Montanari làm thư ký cho Nhóm nghiên cứu về Hugo ở Đại học Paris  7. Franck Cabane là tác giả của cuốn tiểu luận “L’Écriture en marge dans  l’oeuvre de Diderot” do NXB Honoré Champion ấn hành năm 2009, và tham  gia nhiều hoạt động của tạp chí “Nghiên cứu về Didorot và về bách khoa  toàn thư”. Dominique Delmas là đồng tác giả của nhiều công trình tập thể  và của nhiều Bộ sách giáo khoa trung học cơ sở về Lịch sử -Địa lý,  trong đó có một bộ sách giáo khoa lịch sử được chọn để giảng dạy trong  trường THCS của ông.   Qua cuộc  trò chuyện này chúng ta có thể hiểu thêm về niềm đam mê, về cách thức và  quan niệm trong hoạt động giảng dạy của các giáo viên Pháp, đồng thời  cũng hiểu thêm về tổ chức chương trình của hai môn văn và sử ở trường  phổ thông của Pháp.        Mặt khác, mục đích sư phạm là cho phép học sinh có được một sự tự chủ vừa đủ để sử dụng các nguồn thông tin khác nhau hiện chúng tôi đang có trong tay, đồng thời nhắc nhở các em – với tôi, nghĩ rằng đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn mà tất cả chúng ta đang trải qua – rằng các em cần có ý thức sử dụng hữu hiệu những trợ giúp số liệu và các em không được thay thế bằng các trợ giúp khác.   Nhưng còn một phương diện nữa trong mục đích sư phạm, đó là dắt dẫn các em dần từng bước đi tới tự làm chủ về trí tuệ, dĩ nhiên là tự chủ tương đối, bằng cách để các em thực hiện công việc các em đang tiến hành để có thể trình bày miệng trong cuộc thi tú tài phổ thông. Về mặt này, trường chúng tôi đã có quyết định dành một thời gian huấn luyện trình bày miệng vào cuối học kỳ.  Ông là tiến sĩ văn chương, ông đã xuất bản một cuốn sách về Diderot. Có mối liên hệ nào giữa công việc nghiên cứu của ông và công việc giảng dạy (ở trường trung học)?  Mối liên hệ hiện thời giữa các hoạt động nghiên cứu và công việc nhà giáo của tôi khá là khăng khít. Với những năng lực có thể cao hơn mức trung bình và một trình độ thực hành sâu trong công việc nghiên cứu, chắc hẳn tôi có đủ sức làm chủ công việc giảng dạy thuộc phạm vi chương trình dạy học theo phương thức Travaux Personnels Encadrés (Nghiên cứu theo nhóm có hướng dẫn). Tôi vẫn có thể cung cấp cho học sinh của mình những kiến thức đặc thù mà tôi có được khi làm luận án, như tôi đang làm năm nay với lớp cuối bậc học phổ thông, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu về nhân vật tiểu thuyết, một tiểu thuyết của Diderot La Religieuse (“Nữ tu sĩ”), cuốn tiểu thuyết này năm nay lại có một chuyển thể kịch mới nữa.   Một câu hỏi liên quan đến văn chương: tại sao ở trường trung học lại không có môn Văn, trong khi môn Tiếng Pháp thì lại dạy hầu hết những nhà văn lớn, nhà thơ lớn và những kịch tác gia lớn?   Trường trung học có nhiều bậc, lớp Đệ nhị (tương đương với lớp 10 theo hệ Trung học của Việt Nam), lớp Đệ nhất (tương đương với lớp 11) và năm cuối, trong môn Tiếng Pháp, chứ không phải môn Văn, việc thu nhận kiến thức lý thuyết và các kỹ năng đặc biệt, nhât là về tu từ học, là mục tiêu của chương trình khung quốc gia rất chính xác và thường xuyên chỉnh sửa lại. Việc dạy Văn không vì thế mà bị gạt sang một bên. Việc này tiến hành riêng ở năm Đệ nhất và năm cuối chuyên khoa văn chương, theo một chương trình khung xác định, có nội dung nghiên cứu sâu những tác phẩm văn chương lớn theo hệ thống chủ đề được xác định cho toàn quốc đã có từ mười năm nay và danh sách các tác phẩm đó cứ hai năm lại đổi mới từng phần một.   Ông cũng tham gia giảng dạy ở lớp dự bị đại học. Ông có thể miêu tả cách tổ chức các lớp dự bị đó, phương pháp làm việc của ông, những yêu cầu và lợi ích của lớp đó đối với học sinh?  Lớp dự bị tôi dạy từ sáu năm nay hướng học sinh vào Kinh tế và Luật; đó là trường dự bị của Đại học Tolbiac. Tôi chịu trách nhiệm dạy Phương pháp luận/Đại cương Văn hóa, trong nội dung đó có tỷ lệ đáng kể về Triết học và Xã hội học. Mục tiêu giảng dạy của tôi ở năm thứ nhất là làm cho học sinh quen với những môn thi đặc thù vào các Trường thương mại, các Viện nghiên cứu Chính trị học, hoặc những trường lớn như Viện Nghiên cứu Khoa học Chính trị hoặc Trường Cao đẳng Sư phạm Cachan, mà họ định thi vào, bắt đầu với việc học làm tóm tắt văn bản và học biện luận rồi sau đó thì đi tập vào những hợp đề lớn mà họ buộc phải thực hiện. Do yêu cầu phải làm chủ một cách xuất sắc phương pháp thuyết trình nói trong hệ thống trường này, nên tôi cũng đề xuất cho học sinh làm các bài tập dưới dạng trình bày miệng ngắn gọn hoặc báo cáo miệng từ hai mươi phút đến nửa giờ trong các nhóm hẹp. Mặc dù số lượng học sinh ngày càng tăng, tập thể giáo viên chúng tôi vẫn đề xuất rằng vào năm thứ hai, để chuẩn bị cho học sinh đi thi, trong suốt học kỳ sáu tháng thứ nhất, sẽ tăng cường hơn việc dạy đến từng cá nhân học sinh. Sang học kỳ hai, công việc dạy cá thể hóa càng tăng cường hơn. Sau hết, năm này qua năm khác, mối quan hệ thầy trò được duy trì với cả những khóa học sinh sắp ra trường, là việc rất cần để giới thiệu với các khóa học sinh tiếp nối về nội dung học của các trường lớn.  Phạm Toàn dịch từ tiếng Pháp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ về trí tuệ, sự thật lịch sử và tự do giảng dạy (Phỏng vấn 2)      Thầy giáo lịch sử Dominique Delmas ở trường THCS Molière, Vùng Paris, Pháp, cho rằng sử học dạy ở nhà trường phải cho thấy sự đa dạng trong quan điểm và cố không che giấu sự tàn bạo của các cuộc đụng độ.    Sử học dạy ở nhà trường cố gắng cho thấy sự đa dạng trong quan điểm và cố không che giấu sự tàn bạo của các cuộc đụng độ    Nguyễn Thị Từ Huy: Trước hết, xin cảm ơn ông đã cho tôi dự tiết ông dạy về chủ nghĩa Quốc-Xã ở lớp 9. Tôi theo dõi ông làm việc với một nửa lớp, gồm những học sinh chậm tiến. Nhưng tôi không cảm thấy là học trò của ông gặp khó khăn, vì ông đã thúc đẩy các em nói ra các ý kiến của mình, giúp các em hiểu bài, nắm được các khái niệm và những hiện tượng phức tạp khó nắm bắt, như hệ ý thức Quốc-Xã, như chủ nghĩa bài Do Thái, như khái niệm chuyên chế … Tôi nhận thấy ông không nói nhiều, mà đặt nhiều câu hỏi. Khi học trò không trả lời được ngay, ông đưa ra các gợi ý hoặc ông nêu câu hỏi theo cách khác. Tôi thấy ông tỏ ra rất kiên nhẫn để hướng các học trò tới các mục tiêu bài học phải đạt được. Tôi có thể hình dung thấy việc ông chuẩn bị bài giảng chẳng đơn giản chút nào, ông đã đưa ra bốn lược đồ và học sinh phải tự phân tích dưới sự hướng dẫn của ông. Vậy ông có thể giải thích chi tiết hơn về phương pháp làm việc của ông cũng như về mục đích chính xác của bài dạy này?  Dominique Delmas: Một trong những mục tiêu có tính thách thức trong chương trình Sử học lớp 9 trung học cơ sở là làm cho học sinh hiểu rõ hai nhà nước toàn trị thế kỷ thứ 20, là nhà nước Đức Quốc-Xã và nhà nước kiểu Stalin, làm sao chỉ ra cho các em thấy hai nhà nước đó có gì giống nhau và có gì khác nhau.  Tôi hoàn toàn tôn trọng phương pháp suy diễn, xuất phát từ các tư liệu lịch sử để đi tới phát hiện hệ ý thức, các mục tiêu và cách thức hoạt động trong thực tiễn của các chế độ toàn trị, nên tôi đã nghĩ đến việc sử dụng các hình ảnh thị phạm trong đó có cả lược đồ và biểu tượng, tôi làm như vậy vì 4 lý do chính sau đây:  Bằng cách thêm dần, trong quá trình thầy trò cùng làm việc, từng yếu tố một vào lược đồ mang hình ảnh thị phạm, ta xây dựng được khái niệm trong tâm trí học sinh theo cung cách tiệm tiến.  Bằng cách diễn đạt thị phạm các khái niệm vừa tổng quát vừa trừu tượng đó, ta sẽ giúp học sinh tiếp nhận các khái niệm một cách dễ dàng thoải mái hơn.  Việc dùng các hình ảnh được xây dựng theo cùng một cung cách triển diễn và dùng cả các ký hiệu chung khiến cho việc so sánh hai hệ thống được dễ dàng hơn.  Ta có thể giúp học sinh làm việc bằng cách yêu cầu các em chuyển từ ngôn ngữ này [thị phạm – ND thêm] qua ngôn ngữ khác [nói và viết – ND thêm] bằng cách yêu cầu các em tái tạo lại các lược đồ dưới dạng văn bản viết.  Về cách thức làm việc, chị đã hoàn toàn thấy rõ những gì tôi tìm cách thực hiện là nhằm tạo thuận lợi cho cả những trao đổi và việc lắng nghe lẫn nhau. Việc phát biểu ý kiến và việc đưa ra các giả thuyết đều được khuyến khích tối đa nhằm củng cố sự tự tin và độ tin cậy lẫn nhau giữa các học trò phần lớn đều thuộc diện gặp khó khăn1. Các buổi làm việc chung theo cách thức đối thoại đan xen nhau với các buổi khác để trẻ em được làm việc độc lập hoặc theo từng cặp đôi. Khi đó việc trao đổi với giáo viên mang tính cá thể hơn và thích hợp với từng học trò riêng rẽ. Cũng có cả hình thức hoạt động học khác là cách viết bài mà không ít học sinh cho đến lúc này vẫn gặp khá nhiều khó khăn.  Giá mà được ông cho biết về sách giáo khoa Sử học trường phổ thông thì hay vô cùng. Ông là tác giả sách Sử học dùng trong trường này, ông có thể chia sẻ với chúng tôi những gì liên quan đến cấu tạo sách giáo khoa của ông, về nguyên tắc biên soạn, và cả về chương trình Sử học bậc trung học cơ sở của nước Pháp?  Sách giáo khoa được biên soạn bởi những nhóm giáo viên thường là do tổ chức IPR thanh sát (IPR viết tắt của Inspecteurs Pédagogiques Régionnaux là Thanh tra Sư phạm Khu vực phụ trách đánh giá các giáo viên trung học). Tại từng trường, các giáo viên bỏ phiếu chọn một trong số những sách giáo khoa được in ở các nhà xuất bản khác nhau (có chừng tám nhà xuất bản như thế). Ở trường phổ thông cơ sở (collège), sách giáo khoa được phát không, nhưng trường trung học phổ thông (lycée) thì không như vậy.   Các tác giả sách giáo khoa biên soạn dựa trên những chương trình học chính thức quy định các nội dung hoặc các chủ đề, đôi khi các nhóm biên soạn có chọn lựa khác, nhưng đều phải có những thực hành đặc biệt thí dụ như huấn luyện cách học tự sự hoặc nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật như là chứng nhân của Lịch sử. Ở Pháp, do thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc cho tới 16 tuổi, học sinh từ lớp 6 tới lớp 9 phải học cho xong những giai đoạn lớn của Lịch sử kể từ thời Cổ đại tới thế giới đương đại. Chương trình học tập trung vào Pháp và châu Âu. Các không gian lịch sử được mở rộng dần, từ vùng Địa Trung Hải tới Đại Tây Dương, rồi tuần tự tới các vùng khác trên thế giới. Cũng có vài chuyên đề riêng nhưng ngắn gọn học ở lớp 6 về triều đại Gupta của Ấn Độ và thời nhà Hán của Trung Hoa, ở lớp 5 có bài về các vương quốc và đế quốc Tây Phi châu thế kỷ thứ X và XV. Các chương trình cũng phản ánh sự tiến triển của khoa Sử học. Cuối thời kỳ thống trị bởi cái gọi là Biên niên sử (Annales), từ những năm 1980, khoa học Lịch sử là nơi các thành tố chính trị và văn hóa được đánh giá trong tương quan với kinh tế và xã hội, và các chủ đề nghiên cứu cũng chia cắt với nhau thành những chủ đề nhỏ hơn.  Như chị đã thấy, các chương sách đều có những trò chơi đan xen với các tư liệu khác nhau để các giáo viên lấy từ đó ra để tổ chức cho học sinh hoạt động học. Trong các trò chơi và tư liệu đó nhất thiết phải có một “bài học” dưới một hình thức trình bày sáng sủa và dễ hiểu, mà người học phải tìm ra được phần căn bản của chủ đề được đề cập tới. Sách giáo khoa cũng phải chịu những ràng buộc từ phía nhà xuất bản: maket và cách dàn trang đôi khi rất áp đặt rất hà khắc, yêu cầu về tính hấp dẫn (để ve vãn người mua và người dùng…) đôi khi lại dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức.  Ông dạy những nội dung nào về Lịch sử Pháp cho học sinh lớp 9? Liệu những sự kiện coi là nhạy cảm (như chiến tranh Algérie) có được đem dạy không?    Ở lớp 9, học trò học lịch sử Pháp thế kỷ XX. Chương trình học ưu tiên cho ba thời điểm nổi trội: nước Pháp thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiến thế giới, nước Pháp thời Đức Quốc-Xã chiếm đóng, phe Kháng chiến và phe Hợp tác với Đức, sau cùng là Đệ Ngũ Cộng hòa từ năm 1958 cho tới thời điểm hiện nay. Cuộc chiến Algérie được học trong chương về giải trừ chế độ thực dân. Dần dà, với vấn đề này và nhiều vấn đề khác nữa, như vấn đề về thời bị Đức chiếm đóng, cùng với những thay đổi thế hệ và những tiến bộ trong nghiên cứu, thực tại được bóc trần ở mọi kích tấc, kể cả những thứ khó xử nhất hạng đối với ký ức quốc gia dân tộc. Trong Thế chiến 2 chẳng hạn, đó là những vấn đề về vài trò của Chính phủ Vichy và vai trò của một số người Pháp trong các vụ bắt bớ người Do Thái và đàn áp người kháng chiến, hoặc trong cuộc chiến tranh Algérie thì có những vấn đề về tội ác chiến tranh và tra tấn.   Liên quan đến Lịch sử nước Pháp đương đại được dạy ở bậc Trung học cơ sở, có bốn yếu tố chính yếu trong những năm 1970 đã giúp vào việc nghiên cứu những phương diện đối lập nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định: sự thay đổi các thế hệ, những công trình của các nhà nghiên cứu đôi khi là các nhà nghiên cứu người nước ngoài như nhà viết sử người Mỹ, Paxton, tác phẩm của ông về chính quyền Vichy đã gây sốc tại Pháp2, sức mạnh phản kháng trước và sau Biến cố tháng Năm 1968, sau nữa là những đòi hỏi của các thế hệ con cháu muốn được nghe tiếng nói và ký ức của những người thiểu số (Người Pháp gốc Algérie vẫn gọi là Pieds-Noirs, người “lính địa phương” Algérie vẫn gọi là người Harkis, những chiến binh Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algérie -FLN- trên đất Pháp).  Các sách giáo khoa được viết tự do về những tội ác gắn liền với chế độ thực dân hoặc vấn đề về những cuộc nổi loạn năm 1917 trong Thế chiến thứ nhất. Với những giai đoạn lịch sử xa hơn nữa, các quan điểm có khác nhau. Thế nên, ở lớp 8 Trung học cơ sở, triều đại của Louis XIV không chỉ được nghiên cứu dưới lăng kính hành động của nhà vua và giới tinh hoa mà cũng còn được xem xét theo các điều kiện của người dân thời đó. Về nước Pháp thế kỷ 20, có hai vấn đề gai góc nhất, như tôi đã nói, là giai đoạn Chiếm đóng và giai đoạn giải trừ chế độ thực dân, nhất là về cuộc chiến tranh Algérie. Về giai đoạn Chiếm đóng, những vấn đề liên quan đến chính sách trị Do Thái của chính quyền Vichy và sự tham gia vào chính sách này của người dân Pháp và một bộ phận chính quyền và tổ chức chính trị cũng được xem xét thẳng thắn hơn, đây là một dẫn chứng: trong sách giáo khoa có những tư liệu cho thấy một người Pháp mặc quân phục Đức trên vai có phù hiệu Pháp và cả những tư liệu khác cho thấy cảnh sát Pháp tham gia càn quét người Do Thái rồi chở họ đi trên những xe buýt tịch thu của lực lượng du kích kháng chiến RATP. Cũng có những tài liệu tương tự về thái độ và dư luận công chúng rất đa dạng, có vẻ như hồi ban đầu tỏ ra đi theo phe đa số của thống chế Pétain và cứ thay đổi tiến bộ dần trải qua thời kỳ kéo dài bốn năm chiếm đóng. Sau hết, chuyện chiến tranh Algérie, Sử học dạy ở nhà trường cố gắng cho thấy sự đa dạng trong quan điểm và cố không che giấu sự tàn bạo của các cuộc đụng độ: phe khủng bố và việc đàn áp phe khủng bố. Nhưng các cuộc tranh cãi vẫn còn nóng hổi, một khi vị trí quan trọng vẫn dành cho việc dạy Sử học trong nhà trường Pháp. Mới cách đây vài năm thôi đã có dự luật trình Quốc Hội cho phép nhà trường thừa nhận phương diện tích cực của chế độ thực dân.  Phạm Toàn dịch từ tiếng Pháp  —  1 Thiếu tự tin dường như là một đặc tính của học sinh Pháp. Khi tham dự các test quốc tế của tổ chức Hợp tác và Phát triển châu Âu OCDE, đa số học sinh Pháp chọn cách không-trả lời thay vì chọn cách có thể sai, các em học sinh Pháp chiếm số đông trong đám ngồi im thin thít hơn là rơi vào nguy cơ sai lầm.  2 Tác giả chứng minh rằng đường lối chính trị của chính quyền Vichy không chỉ là hệ quả của những áp lực và mệnh lệnh của quân chiếm đóng.    Đọc thêm Phỏng vẫn 1 tại: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=6235      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự chủ về trí tuệ, sự thật lịch sử và tự do giảng dạy (Phỏng vấn 3)      Cô giáo Pháp văn Claire Montanari ở trường THCS Molière, Vùng Paris, Pháp, cho biết, nói chung, các chương trình tiếng Pháp rất tốt, và các giáo viên lại được “tự do sư phạm”, khiến cho họ hoàn toàn đam mê với nghề dạy học.&#160;  &#160;    Nguyễn Thị Từ Huy: Chị đã thành công trong kỳ thi quốc gia để lấy bằng Agrégation về Văn học hiện đại. Việc lấy chứng chỉ này có ích gì cho chị trong việc dạy Trung học cơ sở?          Claire Montanari: Thi lấy bằng Agrégation là việc khó và đòi hỏi phải bỏ công chuẩn bị nhiều lắm. Song tôi vẫn có kỷ niệm rất tốt đẹp về thời kỳ đó. Các chương trình đa dạng cho phép tiếp cận các tác phẩm của mọi thời kỳ, từ Trung đại tới thế kỷ thứ XX. Dẫu sao, việc chuẩn bị hết sức chu đáo tiếng Pháp cổ và tiếng Latin thì đến bây giờ vẫn còn có ích cho tôi. Nó cho phép tôi trả lời những câu hỏi học sinh nêu ra về chính tả một số từ nào đó. Có một khoảng lùi khi xem xét sự tiến hóa của ngôn ngữ cho phép ta giải thích các hiện tượng và làm cho ta dễ nhớ chúng hơn. Khi được đem dùng để viết lại một câu chuyện thì các trường hợp ngoại lệ bỗng trở nên rất có ý nghĩa. Tôi thấy học sinh thường tỏ ra hứng thú tìm hiểu lịch sử ngôn từ. Công việc của ta khi giảng dạy không phải là phác họa lại lịch sử ngôn ngữ qua từng thế kỷ, sự tiến hóa của các âm vị, mà phải là tái tạo lại một lô gich đồng thời chỉ ra rằng ngôn ngữ thật sống động, ngôn ngữ không ngừng tiến hóa.      Chị đã xây dựng cả một loạt bài giảng về các tác phẩm chiến tranh. Để làm công việc đó, chị đã sử dụng những văn bản rất đa dạng. Chị có được hoàn toàn tự do lựa chọn các văn bản đó không?       Nói chung, các chương trình tiếng Pháp là rất tốt, và các giáo viên lại được hưởng cái gọi bằng “tự do sư phạm”, khiến cho ta hoàn toàn đam mê với nghề dạy học.       Dĩ nhiên là các chương trình đó ấn định ra một bộ khung để tất cả học sinh thuộc một lứa tuổi đều có thể đề cập tới những chủ đề lớn như nhau và các khái niệm ngữ pháp cơ bản. Nói chung ở trường trung học cơ sở, các tác phẩm được học theo trình tự thời gian, làm theo cách như vậy ngay cả khi có những chủ đề nhất định được học theo chiều cắt ngang. Các em lớp 6 (mười một tuổi) học các tác phẩm lớn thời Cổ đại (Homère, Virgile). Lên lớp 5 [tương đương với lớp 7 của chương trình ở Việt Nam], các em học thời Trung đại và thời Phục hưng. Các em lớp 4 [tương đương với lớp 8 của chương trình Việt Nam] học tác phẩm thế kỷ thứ XIX – thật đáng tiếc là các tác phẩm thế kỷ thứ XVIII hơi bị coi nhẹ trong các chương trình mới soạn những năm gần đây, còn các em năm lớp 3 [tức là lớp 9 ở chương trình Việt Nam] thì học tác phẩm thế kỷ thứ XX và XXI.       Các quy định chính thức xác định chi tiết các đường nét lớn đó và gợi ý cho giáo viên tạo ra các giáo trình riêng dựa trên một danh mục các tác phẩm nhất định. Các giáo viên được tự do lựa chọn trong các danh mục nói chung là rất đầy đủ đó. Mặc dù có các lời gợi ý song chúng không hạn chế công việc của giáo viên. Chẳng hạn như, ở lớp 9, học sinh phải học “Tiểu thuyết và truyện vừa thế kỷ XX và XXI đề cập tới lịch sử và thế giới đương đại” và chương trình đề ra là “việc lựa chọn được nhường cho cách đánh giá của giáo viên” và không đưa ra một thí dụ nào hết. Theo ý tôi, cái quyền tự do to lớn này rất là căn bản đối với việc giảng dạy văn chương. Học sinh nhận thấy ngay giáo viên có hứng thú hay không trước một văn bản tác phẩm nào đó. Chỉ có thể tạo ra hứng thú đọc cho học sinh nếu như các em chia sẻ hứng thú đó. Ngoài ra, việc cho phép giáo viên tự tạo ra loạt văn bản tác phẩm sẽ kích thích hứng thú của người dạy học rất nhiều: công việc đó đem lại ý nghĩa cho việc làm của nhà giáo. Lời một thanh tra học đường tại một cuộc họp đã khiến tôi rất có ấn tượng. Ông bảo chúng tôi thế này: “các bạn hãy nhớ kỹ rằng khi các bạn tự tạo ra giáo trình của mình, thì các bạn cũng là những nghệ sĩ”. Công thức này khiến tôi rất thích thú và tôi thường nghĩ đến nó ngay cả khi tôi không dám tin chắc mình đáng mang danh hiệu nghệ sĩ! Dẫu sao, tôi thích tự chọn các văn bản và không tự hạn định mình ở các văn bản do sách giáo khoa đề xuất. Thiếu cái quyền tự do sư phạm đó, nghề dạy học nhanh chóng biến thành công việc của người nhai lại bài giảng.      Được chọn các văn bản tác phẩm dùng trong việc dạy học cũng giúp cho ta am tường công việc sáng tạo kịch nghệ. Khi học về thể loại kịch, các chương trình nhấn mạnh thật đúng về “mối quan hệ giữa văn bản và nghệ thuật trình diễn”. Vậy là các giáo viên có thể chọn lựa các tác phẩm kịch nghệ để nghiên cứu liên quan đến những vở đang diễn. Ở lớp 9 chẳng hạn, học sinh phải học thể loại bi kịch (chương trình đề ra mục “Từ bi kịch cổ điển tới bi kịch đương đại”). Khi được biết đoàn kịch Tempête tại khu nhà hát Cartoucherie đang dựng vở Médée của Corneille, tôi quyết định cho học vở này và dẫn tất cả học sinh lớp 9 đi coi.     Vậy nếu học sinh các lớp khác nhau không cùng học những văn bản tác phẩm như nhau, chị làm cách gì để đánh giá các em?       Đánh giá duy nhất và chung cho tất cả các học sinh cùng một lớp ở Trung học cơ sở nói chung là các môn kiểm tra theo lối bắt thăm (épreuves du brevet blanc) và cuộc thi lấy bằng tốt nghiệp cuối bậc Trung học cơ sở. Trước khi tham gia các cuộc sát hạch đó, học sinh được đánh giá trong nội bộ lớp học, dĩ nhiên là căn cứ theo các tiêu chuẩn của chương trình học. Mỗi lớp học, do có giáo viên khác nhau, sẽ học những văn bản tác phẩm khác nhau. Việc này thực sự không có vấn đề gì phải lo cả. Chẳng hạn, với học sinh lớp 3, các em phải học chủ đề Thơ ca dấn thân. Có những giáo viên cho các em học thơ của Louis Aragon, giáo viên khác cho học thơ của Paul Eluard, có những giáo viên khác lại chọn Jacques Prévert. Tất cả học sinh lớp 3 đều không cùng đọc những tác giả và những tác phẩm như nhau. Nhưng các em sẽ biết cách xác định thế nào là thơ ca dấn thân và biết được những phương pháp phân tích.       Hiển nhiên là có những tác giả không thể bỏ qua được mà học sinh nào cũng phải học ở bậc trung học cơ sở: kịch của Molière chẳng hạn có thể được học ở các bậc, từ lớp 6 cho tới lớp 9. Một nền văn hóa chung được hình thành như vậy đó. Ngoài ra, cũng cần thiết đa dạng hóa các văn bản tác phẩm đến mức cao nhất có thể sao cho học sinh có được một tầm nhìn rộng rãi khoát đạt đối với việc xác định “văn chương là gì”.       Nếu tôi không nhầm, các văn bản tác phẩm chị cho học sinh học ở lớp đều không cho các em học trước, không có sự chuẩn bị trước ở nhà. Chị đã đặt ra cho các em trả lời rất nhiều câu hỏi ngay tại lớp. Phương pháp này của chị nhằm mục đích gì?      Tôi luôn luôn không dùng chỉ một cung cách phân tích văn bản tác phẩm. Cũng có khi tôi cho các em câu hỏi chuẩn bị ở nhà. Nhưng nói chung tôi thích cho các em phát hiện và phân tích các văn bản tác phẩm ngay ở lớp học, nhất là với học sinh lớp 9. Bao giờ cũng vậy, cần khai thác yếu tố bất ngờ và những phản ứng tức thời của học sinh. Những câu hỏi miệng tôi đặt cho học sinh cho phép tôi nhảy cóc sang những nhận xét ngẫu nhiên và tiến xa hơn việc chỉ đơn giản sơ kết tóm tắt những gì đã được ghi chép và viết ra.      Tôi cũng tìm cách cho học sinh có những phản xạ sẽ có ích cho các em khi lên học năm lớp 10, ở lớp này các em phải tự xây dựng những bình luận văn bản tác phẩm. Khi đó các em không cần dựa vào những bộ câu hỏi dắt dẫn nữa, mà phải tự mình tìm ra những đặc điểm của các trích đoạn được đưa cho các em học. Trong khi giảng dạy ở lớp 9, tôi thường bắt đầu với việc đọc văn bản tác phẩm và cố bằng giọng đọc mà làm bộc lộ giá trị độc đáo của văn bản tác phẩm đó – giễu nhại, hí hước, hào hùng … Rồi tôi hỏi học sinh chỗ nào trong văn bản khiến các em rung động, chỗ nào làm cho các em ngạc nhiên. Theo ý tôi, đó là câu hỏi cơ bản, câu hỏi các em phải thường xuyên đặt ra khi học ở bậc trung học cơ sở: cái gì đã làm cho văn bản tác phẩm này mang tính cách một văn bản độc nhất? Xuất phát từ câu hỏi giản đơn ấy, các nhận xét rất đa dạng của học sinh cho phép khoanh vùng chính xác hơn văn phong và ý đồ của tác giả.       Khi tôi mới đi dạy, tôi có xu hướng diễn giảng nhiều: tôi phân tích rất kỹ văn bản tác phẩm cho học sinh … và nhiều khi tôi nghe thấy có tiếng nhận xét: ”nhưng thưa cô, cô tin rằng tác giả thực sự nghĩ tới mọi thứ đó hay sao?” Khi đó, những lời phân tích đều nằm bên ngoài các em và suy cho cùng thì các em không tin vào những điều phân tích ấy. Nhưng khi tự các em tìm ra mọi thứ, các em sẽ chẳng hỏi tôi câu hỏi như thế nữa.      Trong giờ dạy mà tôi được tham dự chị đề cập tới vấn đề chiến tranh Algérie. Chị đã viết từ đó lên bảng và nhấn mạnh vào tính chất nhạy cảm của vấn đề. Tại sao chị lại đi vào cái điều không nói ra của cuộc chiến Algérie trong bài giảng của mình? Phải chăng chị muốn học sinh của mình nhìn thẳng vào sự thật và thay đổi lối suy nghĩ?          Buổi giảng đó là một buổi nằm trong cả loạt mang chủ đề văn chương viết về chiến tranh. Làm sao người ta có thể nói được về chiến tranh? Làm sao có thể kể lại cái điều không thể mô tả được? Có cách gì truyền đạt được một chứng nhân? Trong loạt bài giảng này, tôi đã đề cập tới những tác giả khác nhau. Có những tác phẩm nói tới cuộc chiến 1914-1918 và nhấn mạnh vào những điều kiện sống của người lính so với người thường dân là những người không thể nào hiểu nổi sự khủng khiếp của chiến tranh: Khói lửa (Le Feu) của Henri Barbusse, Chuyến viễn du tới tận cùng đêm đen (Voyage au bout de la nuit) của Céline. Có những tác phẩm khác nói đến Thế chiến hai: chúng tôi đã phân tích một văn bản của Romain Gary vinh danh các phi công kháng chiến tác giả đã có dịp gần gụi, cuốn Lời hứa hẹn của Bình Minh (La Promesse de l’aube).      Theo hướng đó, tôi cũng cho học trích đoạn một tiểu thuyết rất có tính đương đại, Về con người (Des Hommes), của Laurent Mauvignier. Mới đầu tôi chỉ muốn giúp các học sinh suy nghĩ về quan hệ của các em với những chứng nhân.       Thế chiến thứ hai cũng đã lùi khá xa trong tâm trí các em hơn là chúng ta vẫn nghĩ. Ông bà tôi nói với tôi về chiến tranh, về cuộc vỡ trận, về thời kỳ chiếm đóng, và nói về cha mẹ của các cụ đã sống thời chiến tranh 1914-1918; ông bà của học trò tôi không ra đời năm 1940. Nếu cần học hai cuộc Thế chiến, tôi nghĩ là nên tiếp cận những sự kiện gần gụi hơn với các em. Có những em cũng đã liên kết truyện ngắn của Laurent Mauvignier và chuyện của chính gia đình các em. Một số em có ông là lính Pháp và đã tác chiến ở Algérie. Một em trong số đó có ông là người Pháp gốc Algérie. Có những em thuộc gia đình gốc gác ở Algérie. Nhưng phần lớn các em đều không xác định được thời gian của cuộc chiến Algérie và bối cảnh cực kỳ mơ hồ với các em. Thế nên việc học văn bản tác phẩm này quả thực là không phải vô ích. Trước hết, phải chỉ ra rằng mọi sự thực lịch sử đều cực kỳ phức tạp do vậy tôi luôn “mời gọi học sinh tự nêu câu hỏi về những vấn đề của nhân loại và những câu hỏi lớn của thế giới chúng ta và thời đại chúng ta”. Vấn đề là cần “tra vấn” về Lịch sử, và không bao giờ nên đưa cho học sinh một quan điểm mang tính ý thức hệ.       Phạm Toàn dịch từ tiếng Pháp    Đọc thêm:  Phỏng vấn 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=6235  Phỏng vấn 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6242&CategoryID=6      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội      Ngày 16-5-1906 Toàn quyền Paul Beau ký Nghị định số 1514a, Điều 1 của Nghị định này ghi rõ: “Nay thành lập ở Đông Dương, với tên gọi Trường Đại học (Université) một tập hợp các khoá đào tạo bậc đại học cho các sinh viên xứ thuộc địa và các nước láng giềng”.1 Đây là một văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu sự ra đời của trường đại học Đông dương (ĐHĐD) – mô hình giáo dục đại học hiện đại đầu tiên tại Thủ đô Hà Nội.  Nhìn lại hành trình lịch sử hơn 100 năm qua từ ĐHĐD đến ĐHQGHN có thể thấy tính kế thừa và liên tục phát triển là đặc điểm xuyên suốt, nổi bật, không chỉ được thể hiện rõ trong sự khẳng định một mô hình, sự tiếp nối truyền thống học thuật, mà còn chính là thái độ tôn trọng lịch sử, ở tầm cao văn hoá đậm chất trí tuệ, nhân văn được khởi đầu với quyết định “mở cửa lại” Trường Đại học của Chủ tịch Hồ Chí Minh.      1. Đại học Đông Dương – mốc khởi đầu nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại   Điều cần nói ngay ở đây là quyết định thành lập Đại học Đông Dương không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, mà trước tiên là do yêu cầu của chính bản thân thực dân Pháp, nhằm đáp ứng yêu cầu khai thác và bóc lột kinh tế thuộc địa, phục vụ quyền lợi tối cao của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Mặt khác cũng khách quan đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng đổi mới cách học của nhân dân Việt Nam lúc đó. Ngay từ giữa thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của cuộc Duy tân ở Nhật Bản thời Minh Trị (1868) và của cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc (1898), một số trí thức yêu nước đã đề xuất các giải pháp canh tân cách học, kêu gọi rời bỏ lối học từ chương của nhà trường Nho học, đề cao thực học theo mô hình phương Tây. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự xuất hiện các phong trào Đông Du, Nghĩa thục và Duy tân hồi đầu thế kỷ 20. Trước tình hình đó, chính quyền Pháp ở Đông Dương thấy cần phải cải cách học chế để cầm chân thanh niên Việt Nam để họ khỏi đi ra nước ngoài, đồng thời cũng cổ động thế lực nước Pháp ở Viễn Đông, quét dần ảnh hưởng Trung Hoa trong giới Nho sĩ Việt Nam mà chúng rất nghi ngại và đang ra sức lôi kéo.  Trước khi Đại học Đông Dương ra đời, người Pháp đã cho xây dựng một số cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và nghiên cứu khoa học như Trường Dạy nghề Hà Nội (Ecole professionelle de Hanoi, 1898), Trường Công chính (Ecole des Travaux Publique), Trường Y khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine, 1902) vv…   Để xúc tiến việc thành lập Đại học Đông Dương, ngày 8.3.1906 Toàn quyền Paul Beau ký Nghị định thành lập Hội đồng phát triển giáo dục bản xứ Đông Dương, do Henri Gourdon làm Chủ tịch (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignement Indigène en Indo – Chine). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hội đồng này là: “nghiên cứu những điều kiện để thành lập và hoạt động của một trường đại học gồm các môn giảng dạy ở bậc đại học dành cho người bản xứ và người châu Á”.1                     Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 5/1906, Chủ tịch Hội đồng đã trình toàn quyền Paul Beau một bản báo cáo về dự án thành lập trường đại học, trong đó tôn chỉ và sứ mệnh của nhà trường đã được xác định rõ: “Trường đại học sẽ là một trung tâm giảng dạy giáo dục bậc đại học, đỉnh cao học vấn ở Đông Dương. Đại học Đông Dương, trong khi đáp ứng các nhu cầu kinh tế và hành chính của thuộc địa trong các ban kỹ thuật, sẽ cố gắng hướng dẫn tinh thần khoa học và phương pháp học tập và nghiên cứu hiện đại cho những người xuất sắc và những người châu Á ở các nước láng giềng. Trường đại học sẽ cố gắng tạo nên ở Đông Dương một trung tâm văn hoá Âu châu, như vậy sẽ đóng góp vào việc thúc đẩy sự phát triển tri thức của những người dân được chúng ta bảo hộ…”.2   Theo đề nghị của Hội đồng, ngày 16. 5. 1906 Toàn quyền Paul Beau đã ký Nghị định về việc thành lập Đại học Đông Dương đặt trực tiếp dưới quyền của Toàn quyền Đông Dương và do một Hội đồng Quản trị (Conseil d’Administration) điều hành. Về cơ cấu tổ chức, Đại học Đông Dương gồm có 5 trường thành viên đều gọi chung là trường cao đẳng (ecole supérieure),3 là: Trường Luật và Hành chính (Ecole supérieure de Droit et Administration), trường Khoa học (Ecole supérieure des Sciences), trường Y khoa (Ecole supérieure de Médecine), trường Xây dựng dân dụng (Ecole supérieure du Génie Civil) và Trường Văn khoa (Ecole supérieure des Lettres). Trong 5 trường nói trên thì trường Khoa học và trường Văn khoa là các trường thành lập mới hoàn toàn, còn ba trường kia thực chất là các trường đã được thành lập từ trước, nay được sáp nhập vào Đại học Đông Dương. Các trường thành viên này không tồn tại biệt lập với nhau, mà được Hội đồng Quản trị thống nhất điều hành cả về mặt hành chính và chuyên môn. Để đảm bảo tính liên thông và phối hợp giữa các trường thành viên, Điều 5 của Nghị định ghi rõ: “mỗi sinh viên được ghi tên vào một trường, nhưng sẽ có một số môn học chung (cours communs) cho hai hoặc nhiều trường”. Ngoài ra, Đại học Đông Dương cũng có cơ chế phối hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu đã và sẽ được thành lập ở Đông Dương (Điều 3).   Ngày 10/11/1907 lễ khánh thành Đại học Đông Dương đã được tổ chức long trọng tại Hà Nội, và ngay sau đó năm học đầu tiên được khai giảng với tổng số 193 sinh viên, trong đó có 94 sinh viên mới được tuyển chọn, 37 sinh viên năm thứ nhất của trường Y khoa. Trong năm học đầu tiên chính quyền Pháp đã đầu tư cho Đại học Đông Dương trên 15.000 đồng bạc Đông Dương (piastres) để mua sắm trang thiết bị, lập thư viện, trả lương cho bộ máy quản lý và các giáo viên.  Đến cuối năm 1917, Toàn quyền Albert Sarraut đã quyết định cải cách giáo dục lần thứ hai bằng việc ban hành bộ “Học chính tổng quy” (Réglement général de l’Instruction publique), chia nền giáo dục ở Việt Nam làm 3 cấp, đồng thời khẳng định lại cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của Đại học Đông Dương trên một tầm cao mới. Bên cạnh các trường thành viên cũ từng bước được nâng cao chất lượng đào tạo, một loạt các trường thành viên mới được thành lập. Cho đến trước Thế chiến thứ II, Đại học Đông Dương có tất cả 14 trường thành viên, trong đó trường Y khoa và trường Luật được tương đương trường đại học bên Pháp và sinh viên tốt nghiệp được nhận Bằng tốt nghiệp Quốc gia (Diplôme d’Etat), ngang với văn bằng của các trường đại học ở Pháp.  Như vậy là cho đến trước Cách mạng tháng Tám, Đại học Đông Dương đã là một đại học hiện đại đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín ở Viễn Đông, có quy mô đào tạo đạt tới hơn 1000 sinh viên/năm. Một số ngành đạt chất lượng quốc tế.  2. Đại học Quốc gia Việt Namtiếp nối truyền thống học thuật trên tầm cao mới  Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 29/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị “thông cáo rằng Chính phủ sắp mở cửa lại trường Đại học”. Sau đó Hội đồng Chính phủ đã quyết nghị: “Đến ngày 15-11-1945, trường đại học sẽ mở cửa”.4 Điều cần nhấn mạnh ở đây là Hồ Chủ tịch và Hội đồng Chính phủ VNDCCH quyết định “mở cửa lại trường đại học“ chứ không phải là thành lập một trường đại học mới nào đó. “Trường đại học” được nói tới ở đây chính là Đại học Đông Dương, vì trước đó chưa có bất cứ một thiết chế giáo dục nào khác có danh xưng là “Trường đại học” trên toàn cõi Việt Nam.  Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 44/SL thành lập Hội đồng Cố vấn học chính do Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục Vũ Đình Hoè làm Chủ tịch. Trong khuôn khổ của Bộ Quốc gia giáo dục, Đại học vụ cũng được thành lập, do ông Nguyễn Văn Huyên làm Giám đốc, trực tiếp chuẩn bị các điều kiện tổ chức hoạt động của trường đại học. Cũng trong ngày hôm đó, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 45/SL thành lập Ban Đại học Văn khoa nằm trong trường đại học, do ông Đặng Thai Mai làm Giám đốc. Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 15/11/1945, trường đại học đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học đầu tiên dưới chế độ mới tại Giảng đường lớn của Toà nhà chính của Đại học Đông Dương cũ, tại số 19 Lê Thánh Tông. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ toạ buổi lễ, có một số quan khách quốc tế đến dự.   Theo báo cáo của Bộ trưởng Vũ Đình Hoè tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 21.11.1945, năm học đầu tiên tất cả các ban đại học có 1.149 sinh viên đăng ký chính thức và 270 sinh viên dự thính, riêng ban Văn khoa có 253 sinh viên và ban Chính trị xã hội có 529 sinh viên.5  Cũng từ buổi lễ khai giảng này trường đại học này chính thức mang tên là trường Đại học Quốc gia Việt Nam. Trong năm học đầu tiên nhà trường có 5 ban là: Y khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị xã hội và Mỹ thuật. Đây là những ngành học được mở lại theo quyết nghị của phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 4.10.1945. Như vậy trường Đại học Quốc gia Việt Nam vẫn kế thừa mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực của Đại học Đông Dương.  Tại buổi lễ khai giảng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao bằng tốt nghiệp của chế độ mới cho những sinh viên cũ của ĐHĐD vừa hoàn thành chương trình đào tạo trước đó bị tạm thời gián đoạn bởi cuộc đảo chính Nhật- Pháp (9.3.1945). Đây là một bằng chứng hiển nhiên nữa cho thấy ngay từ ngày đầu tiên trường Đại học Quốc gia Việt Nam đã được nhìn nhận, xây dựng trên cơ sở kế thừa, tiếp nối liên tục Đại học Đông Dương. Đồng thời đây cũng là một quyết định có tầm văn hoá cao của chính quyền cách mạng do Hồ Chí Minh đứng đầu.  Tuy nhiên trường Đại học Quốc gia Việt Nam không chỉ kế thừa giản đơn mô hình và cơ cấu tổ chức của Đại học Đông Dương. Bản chất của chế độ mới đã mang lại cho nó sứ mệnh mới, mục đích đào tạo mới, và do đó, nội dung chương trình đào tạo ở một số ban, nhất là các ban Văn khoa, Chính trị Xã hội và Mỹ thuật đã được thay đổi triệt để. Tham gia giảng dạy ở tất cả các ban là các giáo sư người Việt Nam, bên cạnh đó còn có cả các nhà văn hoá, nhà hoạt động chính trị – xã hội, trong đó có cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.   3. Đại học Quốc gia Hà Nội kế thừa truyền thống, hướng tới tương lai  Sau khi miền Bắc nước ta được giải phóng, một số trường đại học được mở cửa để đón nhận số sinh viên từ vùng tự do vào và một số sinh viên ở lại của vùng mới được giải phóng, như trường Đại học Sư phạm Văn khoa, Đại học Sư phạm Tự nhiên và Đại học Y dược. Ngày 4/6/1956 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2183/PC thành lập 5 trường đại học và 15 trường trung học chuyên nghiệp, trong đó c                  Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là đơn vị kế thừa trực tiếp Trường Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngoài cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức và truyền thống học thuật, nhiều nhà giáo, nhà khoa học đầu tiên, những người đã xây nền đắp móng, tạo dựng truyền thống học thuật vẻ vang của ĐHTH HN đã được đào tạo và trưởng thành từ Đại học Đông Dương và Đại học Quốc gia Việt Nam, hay được đào tạo ở nước ngoài về. Có thể kể ra một số tên tuổi tiêu biểu nhất trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội như Ngụy Như Kontum, Lê Văn Thiêm, Đặng Thai Mai, Trần Đức Thảo… Trải qua gần 4 thập kỷ phát triển, Trường ĐHTH HN đã có những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng là trường đại học khoa học cơ bản hàng đầu của cả nước.  Đến cuối thế kỷ 20, nhân loại đang tiến vào kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, năm 1993 Chính phủ quyết định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) nhằm tạo tiền đề cho những chuyển biến tích cực mang tính đột phá, đáp ứng nhu cầu của công cuộc phát triển đất nước trong tình hình mới. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà ĐHQGHN lại được xây dựng dựa trên cơ sở sáp nhập một số trường đại học lớn ở Hà Nội, mà nòng cốt là Trường ĐHTH HN. Đây chính là sự tiếp tục khẳng định mô hình đại học hiện đại đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở tiếp nối truyền thống học thuật được khởi đầu từ ĐHĐD và phát huy truyền thống đó trên một tầm cao mới.  ————–  1 Direction de l’Instruction Publique – C. Mus, Directeur de l’Ecole supérieure de Pédagogie de l’Université Indochinoise: “La Premiére Université Indochinoise”, Hanoi, Imprimerie G. Taupin & Cie, 1927, tr. 2.   2 Journal officiel de l’Indochine francaise (JOIF) , 11-6-1906, tr. 807.  3 Trong tiếng Pháp lúc đó ecole supérieure cũng có thể hiểu là trường đại học, như trường Cao đẳng Sư phạm ở Paris (Ecole Normale Supérieure) là một trường đại học danh tiếng của nước Pháp.   4 Biên bản họp Hội đồng Chính phủ, ngày 22.9.1945. Tài liệu sưu tầm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.  5 Biên bản Hội đồng Chính phủ họp ngày 21 – 11 – 1945, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Hà Nội.   * GS.NGND Đinh Xuân Lâm – Phó Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam [100 Years-VietNam National University, HaNoi]    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do học thuật: Sinh lộ của một nền văn minh      “Tự do học thuật” ở phương Tây không phải là  chuyện tình cờ, trái lại, có lịch sử rất lâu dài. Tuy trải qua nhiều  thăng trầm, nó là một dòng chảy bất tận và bất diệt, như một cuộc đua  tiếp sức. Những cá nhân kiệt xuất tiếp nối nhau mang ngọn lửa thiêng,  soi đường sinh lộ cho cả một nền văn minh.    Hình tượng “học giả”, như ta đã biết, được Kant sử dụng nhiều lần trong luận văn nổi tiếng “Khai minh là gì?” để nói đến việc sử dụng lý trí một cách công khai trong đời sống xã hội. Viên chức phải tuân lệnh trong công việc, xét từ vai trò xã hội nhất định. Nhưng đồng thời, “với tư cách học giả”, họ còn có quyền công khai sử dụng ngòi bút, xét từ quan điểm công dân thế giới. Đó là cách nói khác về “tư cách người trí thức” theo nghĩa rộng, chỉ những ai được thụ hưởng nền giáo dục đại học và “có năng lực diễn đạt ý kiến dưới hình thức văn bản”. Vì thế, môi trường đại học là nơi thể hiện quyền tự do này một cách tập trung và đậm đặc nhất. Với quan niệm ấy, Kant mở một chương mới cho tinh thần đại học hiện đại, sẽ được định chế hóa chỉ hơn một thập kỷ sau đó: sự ra đời của mô hình đại học Humbold (1810). Tuy nhiên, “tự do học thuật” ở phương Tây không phải là chuyện tình cờ, trái lại, có lịch sử rất lâu dài. Tuy trải qua nhiều thăng trầm, nó là một dòng chảy bất tận và bất diệt, như một cuộc đua tiếp sức. Những cá nhân kiệt xuất tiếp nối nhau mang ngọn lửa thiêng, soi đường sinh lộ cho cả một nền văn minh.  TỪ “TỰ DO TRƯỜNG PHÁI” …  Với sự du nhập Kitô giáo như là tôn giáo chính thống vào các thế kỷ đầu công nguyên, phương Tây đứng trước thử thách chưa từng có trước sự xung đột giữa hai truyền thống lớn: truyền thống nhân bản, thế tục của Hy-La cổ đại và truyền thống tín ngưỡng siêu nhiên Do thái-Kitô giáo. Nhiều tín điều cơ bản có vẻ đi ngược, nếu không muốn nói là vượt khỏi trực quan và lý trí thông thường (sáng thế từ hư vô, Đức Mẹ đồng trinh, tam vị nhất thể v.v…), đòi phải được lý giải hợp tình hợp lý, thỏa mãn trí óc và con tim. Sớm nhìn nhận nhu cầu điều hòa ấy, và hơn thế, chấp nhận giải quyết nó một cách sòng phẳng là dấu son đầu tiên. Thế là, bên cạnh các tu viện, nhiều định chế học thuật độc lập ra đời. Ta không khỏi kinh ngạc nếu theo dõi kỹ chất lượng và cung cách tranh luận của thời kỳ này. Nhưng, được như vậy là nhờ đặc điểm chủ yếu của “tự do trường phái” (libertas scholastica) suốt thời trung cổ từ thế kỷ 12-15: đó là đặc quyền tự quản mang tính hiệp hội nghề nghiệp, gồm quyền thành lập, kết nạp và khai trừ thành viên, cũng như tự do bầu chọn người đại diện. Những quyền tự do này được bảo trợ bởi Giáo hoàng, và sau đó là bởi các ông vua. Sự thống nhất giữa chính trị và tôn giáo tất nhiên chưa mang lại những quyền tự do học thuật theo nghĩa ngày nay. Nhưng, các đại học không cảm thấy mình mất tự do, bởi chính chúng góp phần định hình sự thống nhất ấy.  … ĐẾN “TỰ DO KHOA HỌC”  Từ thế kỷ 17, bắt đầu cất lên nhiều tiếng nói đòi tự do tư tưởng, tiền thân của tự do khoa học ngày nay. Các tác giả như Spinoza, Putendorf, Collins hay Gundling đòi hỏi “tự do triết học” (libertas philosophandi), thoát khỏi sự khống chế của thần học, việc định chế hóa đầu tiên theo hướng này là đại học cải cách ở Halle (Đức) năm 1694. Tiếp theo, tự do nghiên cứu và giảng dạy trong tinh thần khai minh của thế kỷ Ánh sáng có cơ sở pháp lý vững chắc trong điều lệ của phân khoa triết, đại học Göttingen (Đức) năm 1737.   Trong “văn hóa sinh viên”, nền tự do học thuật dành nhiều đặc quyền hợp pháp cho đời sống của sinh viên chính thức: ăn mặc tùy thích, để râu đủ kiểu, kể cả ăn chơi, đập phá, vượt khỏi các quy tắc luân lý thông thường! “Ôi, thời vàng son của đời sinh viên: tự do, tự do, tất cả là tự do!”, một từ điển ghi nhận với nhiều tiếc nuối vào năm 1749.  Một cao điểm mới của khái niệm tự do trong sinh viên là thời kỳ Đại Cách mạng Pháp (1789). Lần đầu tiên có sự pha trộn, rồi hòa quyện giữa ý thức đặc quyền của tầng lớp ưu tú với ý thức tự do chính trị của quảng đại quần chúng cách mạng. Một ngọn lửa khai phóng bùng lên năm 1798 với tác phẩm cuối đời của Immanuel Kant: “Sự tranh chấp giữa các chuyên khoa”.  NHƯ CÁI THANG CẦN HAI THANH CHỐNG  Vào thời Kant, đại học gồm ba chuyên khoa trụ cột: thần học, luật học và y học. Thần học lo chuyện “hạnh phúc vĩnh hằng” của kiếp người; luật học lo chuyện hạnh phúc dân sự của mọi thành viên xã hội; và y học lo hạnh phúc thể xác của mỗi người. Được gọi là ba chuyên khoa “cao cấp”, vì được nhà nước bảo trợ và quản lý, dựa vào ba văn bản “thiên kinh địa nghĩa”: Kinh thánh, Bộ luật quốc gia và Bộ Điều lệnh y học. Chính thống hóa ba bộ môn này, nhà nước thực thi quyền lực của mình.  Ở phía ngược lại là các chuyên khoa “cấp thấp” (!), trong ngôn ngữ của Kant, là “chuyên khoa triết học”. Chuyên khoa này không thu hẹp trong môn triết theo nghĩa đen, mà bao gồm cả văn chương, khoa học và kinh tế. Chúng độc lập với lợi ích của nhà nước, mà chỉ dựa vào lý tính của con người. Chúng không nhất thiết đối lập với quyền lực nhà nước, trái lại, là phi quyền lực, một tiền thân sáng giá của quan niệm về tổ chức xã hội dân sự ngày nay. Chúng có bản tính khác với quyền lực, vì luôn thách thức “những ranh giới của quyền lực từ bên trong” (Derrida). Là bộ phận của đại học, nhưng chuyên khoa này bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống hàn lâm nhờ vào quyền sử dụng lý tính phê phán một cách công khai và vô điều kiện. Giữ một chỗ, đồng thời không giữ chỗ nào trong hệ thống đại học là nghịch lý đầy sức sống cho bản thân đại học.  Sự “tranh chấp giữa các chuyên khoa” không phải là xung đột kiểu chiến tranh mà là hợp pháp. Nếu các chuyên khoa “cao cấp” giữ cánh phải của chiếc thang tri thức để củng cố hệ thống, thì chuyên khoa “triết học” giữ cánh trái của chiếc thang như là trách vụ phản biện. Khi lý tính đưa ra phán đoán công khai, nó giữ cho chiếc thang vững chắc, an toàn. Có chiếc thang nào chỉ có đơn độc một thanh chắn? Chỗ độc đáo của Kant: chuyên khoa triết học không vỗ ngực sẽ mang lại chân lý. Nó chỉ yêu chân lý và, quan trọng hơn, tạo nên “điều kiện khả thể” cho việc đi tìm chân lý. Xin nghe Kant nói: “Trong đại học phải có một chuyên khoa giảng dạy độc lập với mệnh lệnh của nhà nước. Nó không ra lệnh, nhưng có quyền tự do phán đoán về tất cả những gì liên quan đến mối quan tâm khoa học là đi tìm chân lý”.  Quả là một con đường dài và gian khổ từ cái chết của Socrates, từ tự do trường phái thời trung cổ đến tự do học thuật ngày nay, để nó được trịnh trọng ghi vào hiến pháp của các nước văn minh (chẳng hạn, đó là điều 5 trong Luật cơ bản của CHLB Đức).  Chiếc thang đã được bắt, và các thế hệ sau Kant sẽ tiếp tục leo lên từng nấc một. Không ít gian nan, nhưng dù sao đã có chỗ đặt chân. Đại học Humboldt – chỉ hơn một thập kỷ sau – như vừa nói, là thành tựu rực rỡ từ một lời di chúc.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 23, 03.07.2014)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do học thuật và những giới hạn còn ít người biết      Bài viết về những hạn chế và biến tướng của  tự do học thuật của một nhà lãnh đạo trường đại học công ở Mỹ đã được sự quan tâm  đặc biệt của Hiệp hội các Giáo sư đại học Mỹ (American Association of  University Professors – AAUP) trong bối cảnh của AAUP đang phát động  chiến dịch nhằm củng cố tự do học thuật tại các trường đại học công trên toàn  nước Mỹ.     Phần đông giới học thuật ở Mỹ rất hài lòng khi quyền tự do học thuật được bảo vệ, nhưng cũng có nhiều người không biết những giới hạn của quyền đó, khi cho rằng tự do học thuật cho họ quyền phát ngôn bất kỳ cái gì, với bất cứ ai và ở bất cứ đâu họ muốn, thậm chí trong một số trường hợp, tự do học thuật bị lạm dụng để che đậy cho thái độ lừa dối và không xứng với môi trường giáo dục đại học như quát nạt các đồng nghiệp, mắng mỏ sinh viên hoặc các nhân viên trước đám đông, phỉ báng danh dự của các nhà quản lý đại học.  Rất nhiều trưởng khoa đã phàn nàn là quyền tự do học thuật lâu nay đã bị biến tướng thành thói bào chữa cho bất kỳ hành động vô trách nhiệm nào. Một vị trưởng bộ môn đã kể lại câu chuyện về một giáo sư có thâm niên nhưng bỏ vô số tiết dạy và không lên lớp. Và khi bị đối chất với những chứng cứ về việc bỏ giờ dạy, vị giáo sư này nói với trưởng bộ môn rằng là một nhà học thuật bà có quyền dạy môn của mình theo bất kỳ cách nào bà thấy phù hợp nhất.   Một trưởng bộ môn khác cũng phàn nàn một giáo sư trong bộ môn chỉ phân công một sinh viên trợ giảng “giúp điều khiển các cuộc thảo luận” cố tình bỏ giờ dạy suốt cả 3 tháng. Hệ quả của việc này là sinh viên trợ giảng bị bắt buộc phải dạy môn học đó cộng thêm với việc nghiên cứu của riêng mình. Khi các sinh viên trong lớp phản ánh vấn đề này với trưởng bộ môn thì vị giáo sư nọ đã tức tối cho rằng đây là quyền tự do học thuật của ông ta và sẽ kiện ra tòa nếu trưởng bộ môn can thiệp vào việc làm của ông ta. Một trường hợp khác là một cuộc hỗn chiến giữa hai đồng nghiệp xảy ra tại cuộc họp khoa và kết quả là hai người cùng bị thâm tím và chảy máu mũi. Sau đó cả hai người này đều cho rằng họ được “bảo vệ” bởi quyền tự do học thuật và nhà trường không được khiển trách họ vì đã gây náo loạn tại cuộc họp của bộ môn.   ***  Tự do học thuật có hai ý nghĩa:          Tự do học thuật chỉ giới hạn trong biên giới  của những phát ngôn mang tính chất học thuật trong khi tự do ngôn luận  là một điều luật trong hiến pháp tập trung vào hệ thống dân chủ của  chính phủ Mỹ.         Cho phép một trường đại học có quyền quản lý chương trình và các quan hệ học thuật của riêng trường đó mà không bị ảnh hưởng bởi chính phủ. Ví dụ, các trường đại học có thể tự quyết định sẽ cho dạy môn học nào và ai sẽ dạy. Các trường có những tiêu chí tuyển sinh, tốt nghiệp riêng của trường mình, có những thứ tự ưu tiên cho các công việc trong trường (đây là một đặc thù rất quan trọng của hệ thống giáo dục đại học Mỹ). Chính điều này đã giúp cho việc ngăn chặn chính phủ can thiệp vào nhân sự của trường đại học; đồng thời dùng các trường ĐH như một công cụ trong chiến dịch quảng bá vận động bộ máy chính quyền.   Các giảng viên quyền tham gia nghiên cứu các vấn đề còn gây tranh cãi (và có thể thảo luận về những vấn đề này) mà không sợ bất kỳ sự trả thù nào. Tất cả những điều này có liên quan trực tiếp đến chuyên môn và không phải là sự bảo vệ vĩnh viễn cho bất kỳ và tất cả các phát ngôn ở bất kỳ địa điểm nào. Trong tuyên ngôn của Hiệp hội các giáo sư ĐH Mỹ AAUP đã chỉ rõ rằng các giáo sư “nên thận trọng trong việc không đề cập đến các khía cạnh còn đang gây tranh cãi mà không liên quan đến chuyên môn của mình.”  Nếu không được quyền tự do học thuật bảo hộ, có những học giả có thể sợ bị liên lụy đến sự nghiệp vì họ thách thức những giả định có giá trị trong chuyên môn của mình, vì họ đi ngược lại những giá trị trí tuệ lâu đời, vì họ đặt lại vấn đề của những câu chuyện lịch sử đã được công chúng công nhận, vì họ tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mang tính nhạy cảm cao, hoặc vì họ dám thử những thí nghiệm động chạm đến giá trị đạo đức của con người. Từ đó các giảng viên trong trường có thể tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời những phát minh gây chấn động giới chuyên môn và chính những phát minh này củng cố mạnh vị trí của các trường trong hệ thống đại học.           Cốt lõi của tự do học thuật là nhằm tăng  cường trao đổi ý tưởng chỉ riêng trong cộng đồng những người làm học  thuật, vì thế tự do học thuật không bảo vệ những phát ngôn hoặc lối cư  xử như vu khống hay phỉ báng hay bắt nạt đồng nghiệp, gian dối trong lý  lịch, hoặc giảng dạy theo những cách thức không phù hợp.        Cốt lõi của tự do học thuật là nhằm tăng cường trao đổi ý tưởng chỉ riêng trong cộng đồng những người làm học thuật, vì thế tự do học thuật không bảo vệ những phát ngôn hoặc lối cư xử như vu khống hay phỉ báng hay bắt nạt đồng nghiệp, gian dối trong lý lịch, hoặc giảng dạy theo những cách thức không phù hợp.   AAUP luôn nhắc nhở rằng là một giáo sư đại học có nghĩa vừa là một công dân và vừa là một nhân viên trong trường. Trên phương diện là một công dân, người giáo sư có thể không bị nhà trường kỷ luật vì những phát ngôn của mình. Nhưng trên phương diện là những học giả và giảng viên đại diện cho một trường ĐH, người giáo sư có trách nhiệm cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói của mình và kiểm soát mình nên nói gì và nói như thế nào. Theo AAUP, “Vì người giáo sư đại học có một vị trí đặc biệt trước công chúng nên nó cũng kèm theo với những trách nhiệm đặc biệt”. Những gì một giáo sư phát ngôn ra thường được ngầm hiểu là phát ngôn chính thống của một trường hơn là phát biểu của một cá nhân.   Có những người lầm tưởng giữa khái niệm về tự do ngôn luận trong trường với những ý niệm nhỏ hơn về tự do học thuật, nhưng thực ra đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Tự do học thuật chỉ giới hạn trong biên giới của những phát ngôn mang tính chất học thuật trong khi tự do ngôn luận là một điều luật trong hiến pháp tập trung vào hệ thống dân chủ của chính phủ Mỹ.   Nhưng ngay cả tự do ngôn luận cũng có những giới hạn của nó. Quyền tự do ngôn luận theo quy định của hiến pháp cũng không có nghĩa sẽ bảo vệ mỗi cá nhân trong bất kỳ phát ngôn nào bất kể nội dung ra sao (ví dụ: dọa “có cháy” trong đám đông còn nguy hiểm hơn bội phần trong trường hợp chỗ đó không có cửa thoát hiểm, mang ý nghĩa “phát ngôn phản cảm”, hoặc đe dọa lính cứu hỏa).   Tự do học thuật là một đặc quyền nên được trân trọng vì nó đảm bảo một môi trường cho tự do tìm hiểu và khám phá. Và chính điều đó nhắc người ta cần phải bảo vệ để khái niệm này không trở thành vô hạn và không trở thành quá rộng để đến nỗi bị mất đi khả năng bảo vệ các cơ quan học thuật.   Đỗ Thu Hương dịch    Nguồn: http://chronicle.com/article/The-Limits-of-Academic-Freedom/49354/)  * Bài dịch này được sự cho phép của chính tác giả. Gary A. Olson đã từng là Hiệu phó phụ trách chuyên môn tại ĐH Idaho nhưng đang từ chức khỏi vị trí này. Cùng với John W. Presley, ông cũng là đồng tác giả của cuốn sách nổi tiếng “The Future of Higher Education: Perspectives From America’s Academic Leaders” (Tạm dịch: “Tương lai của giáo dục đại học trên quan điểm của những người làm quản lý ĐH ở Mỹ”)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự do khám phá, nhận thức, trải nghiệm: Câu chuyện của giáo dục Việt Nam      Giáo dục Việt Nam hoàn toàn có thể đào tạo được những học sinh thông minh, xuất sắc, trí tuệ. Nhưng có lẽ phải thẳng thắn với nhau, môi trường giáo dục hiện giờ của ta đã có thể đem đến cho những học sinh bình thường cảm giác hạnh phúc trong sự học, dành cho các em một không gian để tự do khám phá, nhận thức, trải nghiệm hay chưa?    1. Dư luận lại vừa có dịp xôn xao nhân câu chuyện về những bài tập mà một thầy giáo người Ý, Cesare Catà, giao cho học trò của mình trong kỳ nghỉ hè. 15 bài tập ấy có lẽ gây ngạc nhiên cho học trò, cho giáo viên và phụ huynh ở Việt Nam bởi thay vì đưa ra những yêu cầu ôn tập kiến thức cũ, chuẩn bị cho học kỳ tới, thay vì được biểu đạt dưới hình thức những mệnh lệnh, chúng giống như những lời nhắn gửi, khuyên nhủ của người thầy. Những bài tập này hướng đến việc khuyến khích học trò tự do trải nghiệm khám phá giá trị của đời sống và bản thân, để từ đó biết trân quý bản thân, từ thân thể đến những cảm xúc của mình, và xa hơn thế, biết nâng niu những ý nghĩa của thế giới qua những hành động như ngắm bình minh, đi dạo dọc bờ biển hay cảm nhận được vẻ đẹp của ngày hè.  Cũng giống như cơn sốt của dư luận về đề thi tú tài ở Pháp trước đó, một lần nữa, ta mới nhận ra khoảng cách thực sự giữa giáo dục nước nhà với giáo dục thế giới, không phải qua các cuộc thi học sinh giỏi khu vực và quốc tế, nơi mà chúng ta liên tục nằm trong “top” những quốc gia có thành tích tốt nhất mà qua sự khác biệt trong triết lý giáo dục. Giáo dục Việt Nam hoàn toàn có thể đào tạo được những học sinh thông minh, xuất sắc, trí tuệ. Nhưng có lẽ phải thẳng thắn với nhau, môi trường giáo dục hiện giờ của ta đã có thể đem đến cho những học sinh bình thường cảm giác hạnh phúc trong sự học, dành cho các em một không gian để tự do khám phá, nhận thức, trải nghiệm hay chưa?           Trong bài báo đăng trên Vietnamet  (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/271809/thay-giao-dang-bai-tap-ve-nha-cho-hoc-sinh-noi-tieng-khap-the-gioi.html),  người dịch đã lược thuật 15 bài tập mà thầy Cesare Catà giao cho học  sinh của mình trong dịp nghỉ hè, bao gồm: 1- Hãy đi dạo buổi sáng dọc bờ  biển; 2- Hãy cố gắng dùng từ mới; 3- Hãy đọc; 4- Hãy tránh những cảm  giác tiêu cực, trống rỗng; 5- Hãy ghi nhật ký; 6- Hãy nhảy múa; 7- Hãy  đón bình minh; 8- Hãy tập thể thao; 9- Hãy biểu đạt tình cảm chân thành  với người mình thích; 10 – Hãy đọc lại ghi chép về những bài học và đối  chiếu với những gì diễn ra trong cuộc sống xung quanh mình; 11- Hãy sống  hạnh phúc và khoáng đạt như mặt trời; 12- Hãy hạn chế cãi cọ, cáu kỉnh;  13 – Hãy xem phim hay; 14- Hãy yêu quý mùa hè với những gì mà thiên  nhiên trao tặng; 15- Hãy là người tốt.           2. Thầy Cesare Catà dạy môn gì, cho học trò ở cấp học nào? Thú thật, tôi chưa tìm hiểu thông tin này, nhưng với tôi, điều đó không quan trọng bằng việc nhận ra tinh thần nhân văn đằng sau những bài tập của ông – khuyến khích người học nghĩ khác, biết chất vấn, băn khoăn, tìm kiếm.  Tinh thần nhân văn ấy, trong thực tế của giáo dục Việt Nam, theo quan sát của cá nhân tôi, như một người trong cuộc, lại chưa được nhận thức thấu đáo trong việc dạy, học và nghiên cứu các ngành nhân văn. Những người giảng dạy lịch sử từ nhiều năm nay không ngừng than vãn về tình trạng học sinh thờ ơ với môn học này và gần đây nhất là nỗi hoảng hốt khi đề án đổi mới giáo dục quyết định biến môn sử thành môn tích hợp với các bộ môn khác, thay vì một môn học độc lập. Đã có nhiều phân tích xác đáng về nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này, nhưng thực sự có lẽ đã đến lúc những người biên soạn sách giáo khoa và giảng dạy lịch sử nên nghĩ nhiều hơn về bản chất nhân văn của việc học lịch sử. Chỉ con người mới có lịch sử và con người cần có quyền tự do nhận thức về lịch sử: học lịch sử chỉ hấp dẫn khi người học được quyền chất vấn những gì được xem là sự thật của lịch sử, được quyền khai quật nhiều lịch sử khác, được quyền nhìn thấy nhiều góc, nhiều khía cạnh phức tạp của quá khứ, chứ không phải chỉ chấp nhận lịch sử như một tự sự mang tính áp đặt.  Tôi sẽ nói cụ thể hơn về lĩnh vực văn học, bộ môn mà tôi chịu trách nhiệm như một người giảng dạy và phải thừa nhận đó đang là một môn học gây nhiều áp lực cho học trò hơn là được yêu thích. Như một nghịch lý, giáo viên vẫn luôn luôn tổng kết, khẳng định những giá trị nhân văn trong tác phẩm văn học, nhưng ngay cả khi đó, bài giảng của giáo viên vẫn khó chạm được vào nhận thức và tình cảm của học trò.  Ta hãy thử xem bài tập đọc sách mà thầy Cesare muốn học sinh của mình thực hành: “Hãy đọc, bởi vì đó là hình thức nổi loạn tốt nhất.” Văn chương, tự nó, luôn là sự nổi loạn: nó luôn là thế giới nơi sự phản tất yếu nhiều khi là một hình thức của đạo đức, bởi phản tất yếu cũng đồng nghĩa với tự do; nó là thế giới của cái khả nhiên, cái luôn có thể thoát ra khỏi những ranh giới tất định, và do đó, luôn thách thức tư duy của con người; nó là thế giới của những mẫu cá tính, nhân cách chưa có tiền lệ, lệch khỏi những chuẩn mực. Dạy và học văn ở Việt Nam có lẽ vẫn luôn dè chừng trước phẩm chất nổi loạn của văn chương, cho dù nếu để ý kỹ, ngay với sách giáo khoa hiện thời, người dạy và người học đều đã có cơ hội làm quen với những sự nổi loạn ấy: những kẻ điên khùng, những người phản kháng, những kẻ ngông cuồng kể cả khi biết phía trước là thất bại, thậm chí cái chết. Chúng ta gặp họ, những kẻ nổi loạn ấy, nhưng chúng ta lại ngại khơi dậy sự chú ý, sự quan tâm của học trò đến chiều kích nổi loạn ấy ở các nhân vật văn học. Chúng ta thường quy những nhân vật ấy về những phạm trù, những phán xét đạo đức sẵn có: Vũ Như Tô thất bại vì ảo tưởng, vì theo đuổi một thứ nghệ thuật không phục vụ nhân dân; Don Quixote điên rồ vì đã lầm lẫn truyện kiếm hiệp với đời thực, do đó, thiếu tỉnh táo… Chúng ta không nhận ra sự nổi loạn của văn chương mang ý nghĩa khai phóng, đề nghị một sự cởi mở trong tư duy, sự nới rộng nhận thức và lòng cảm thông. Chính khía cạnh nổi loạn này mới khiến học sinh không nhìn tác phẩm chỉ là dấu tích của một thời đại đã qua, nhân vật chỉ là những tượng đài.  Chúng ta nói nhiều về khả năng cảm thông mà văn chương có thể khơi dậy nơi người đọc. Nhưng có một diễn ngôn phổ biến về chủ nghĩa nhân đạo trong giảng dạy văn chương ở nhà trường Việt Nam là nhìn con người như một nạn nhân, chủ yếu là nạn nhân của xã hội. Điều đó không sai, nhưng nó là một quan niệm hẹp về nhân đạo. Nó thiếu bình diện của sự khoan dung, độ lượng, từ chối phán xét kẻ khác, chấp nhận sự khác biệt và phức tạp của kẻ khác. Nó thiếu sự chú ý đến những tình cảm nhân tính khác nơi con người. Khi dạy truyện “Chí Phèo”, chúng ta chăm chăm phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo, từ đó chỉ ra xã hội như là thủ phạm tạo nên tấn bi kịch ấy mà ít dừng lại ở những trạng thái cảm xúc lạ kỳ, nghịch lý của nhân vật: cảm giác ngạc nhiên của Chí Phèo khi thấy bóng mình nhễ nhại dưới trăng, cảm giác sợ hãi mơ hồ về hư vô, cảm giác muốn được làm nũng với Thị Nở như với mẹ… Chúng ta chăm chăm bình luận về khát vọng lương thiện của Chí Phèo qua câu “Ai cho tao lương thiện” mà lại ít chú ý đến câu kế tiếp “Làm thế nào để xóa hết những vết mảnh chai trên mặt này” để nghe ra được cảm giác tự ghê tởm chính mình của Chí Phèo, sự tự ý thức nghiệt ngã của nhân vật khi phải tự mình làm đau chính mình, tự mình làm biến dạng hình hài của mình để có thể tồn tại được? Chỉ khi đi sâu vào những nghịch lý, những mâu thuẫn, những hoang mang vô tận của con người mà văn chương mở ra, ta mới có thể nghĩ đến một sự tích hợp hợp lý giữa văn chương với các lĩnh vực khác: qua văn chương, ta chất vấn đạo đức; qua văn chương, ta suy tư về nhân quyền, về những khả năng “có được là người” của con người; qua văn chương, ta đọc ra được sự bất công của lịch sử…  Chúng ta tin vào sự thiết thực của việc giảng dạy văn chương ở chỗ đó là môn học trau dồi khả năng ngôn ngữ. Nhưng chúng ta ít lưu ý rằng, văn chương không phải chỉ giúp chúng ta diễn đạt trôi chảy, lưu loát như một nhà hùng biện, ngôn ngữ văn chương gợi mở chúng ta hình dung, mường tượng đến những gì còn chưa được đặt tên, những gì trong im lặng sâu thẳm của nội giới. Ngôn ngữ của văn chương còn giúp chúng ta ngập ngừng và thận trọng để không làm tổn thương thế giới và con người. Người dạy và người học, trước ngôn ngữ của văn chương, đôi khi cần ngây thơ hơn là tin rằng các quy tắc ngôn ngữ học có thể phân tích rạch ròi mọi cấu trúc. Đời sống duy lý muốn mọi thứ phải rõ ràng, văn chương nghệ thuật cân bằng lại cho con người bằng cách nó nâng niu sự mơ hồ, nó làm mọi đường biên, ranh giới, khái niệm đều không trở nên rắn chắc như một tất định.          Chỉ khi đi sâu vào những nghịch lý, những mâu thuẫn,  những hoang mang vô tận của con người mà văn chương mở ra, ta mới có thể  nghĩ đến một sự tích hợp hợp lý giữa văn chương với các lĩnh vực khác:  qua văn chương, ta chất vấn đạo đức, qua văn chương, ta suy tư về nhân  quyền; về những khả năng “có được là người” của con người; qua văn  chương, ta đọc ra được sự bất công của lịch sử…          3. Ngành nhân văn ở Việt Nam cũng đối mặt với những khó khăn mà nền giáo dục của nhiều nước, ngay cả các cường quốc về giáo dục, cũng đang trải qua. Nhưng có lẽ câu chuyện về sự khủng hoảng – nếu ta muốn dùng từ này, dù tôi thấy nó không thật sự tương thích với thực trạng của Việt Nam – lại nằm ở chỗ khác. Trước hết và hơn hết, để thật sự hấp dẫn được người học, ngành nhân văn cần phải nhân văn hóa chính bản thân mình, ít nhất trong các diễn ngôn của hoạt động giảng dạy và nghiên cứu. Nó cần phải lưu tâm đến con người, cần phải tạo không gian rộng cho những trải nghiệm cá nhân và tự do tư tưởng, cảm nhận, tự do biểu đạt. Nó phải thật sự vì con người, chứ không phải chỉ là một lĩnh vực được định hướng bởi những mệnh đề trừu tượng về con người. Và thực ra điều này không cần phải chờ đợi những chỉ thị, pháp lệnh từ bên trên nào. Nó có thể bắt đầu ngay từ việc suy ngẫm thật sâu sắc và dám đi đến cùng một nhận thức cá nhân về một bài văn mình phải giảng hay phải viết về nó. Như thể việc đi đến cùng một nhận thức cá nhân ấy chính là biểu hiện cho một ý thức tự do.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ dự án Bàn tay nặn bột đến Nhà chiếu hình Vũ trụ:  Dạy trẻ em yêu khoa học      Georges Charpak, Viện sĩ Viện H&#224;n l&#226;m khoa học Ph&#225;p, người được trao Giải thưởng Nobel Vật l&#253; năm 1992 với ph&#225;t minh &#8220;buồng đa tuyến&#8221; (multiwire chamber) đ&#227; ph&#225;t biểu rằng: Thay đổi việc giảng dạy khoa học ở trường tiểu học l&#224; một đ&#242;n bẩy để biến đổi x&#227; hội.  Trong cuộc phỏng vấn ng&#224;y 8-3-2009 của tạp ch&#237; CERN Courier, Trung t&#226;m Nghi&#234;n cứu Hạt nh&#226;n ch&#226;u &#194;u, nh&#226;n dịp Georges Charpak vừa tr&#242;n 85 tuổi, &#244;ng đ&#227; chia sẻ về dự &#225;n gi&#225;o dục của m&#236;nh với t&#234;n gọi B&#224;n tay nặn bột. Những vấn đề &#244;ng đề cập rất đ&#225;ng để c&#225;c nh&#224; gi&#225;o dục Việt Nam phải suy nghĩ.    Ông nói: “Tôi đã tham gia dự án “Bàn tay nặn bột” trong 12 năm qua. Đây chắc chắn là điều lớn nhất mà tôi cống hiến được cho xã hội. “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp giáo dục mới dựa trên ý tưởng là học khoa học thông qua thí nghiệm trực tiếp do chính các em học sinh làm. Chúng ta cần một cuộc cách mạng trong giáo dục khoa học và tôi đang tiến hành một cuộc đấu tranh để chống lại những bất cập trong giáo dục khiến cho trình độ dân trí bị hạ thấp. Ở Pháp, kể từ dịp khai giảng vào tháng 9 – 2000, các trường học tiểu học trong cả nước đã bắt đầu đổi mới việc giảng dạy khoa học theo tinh thần của phong trào “Bàn tay nặn bột”. Phong trào này được sự bảo trợ của Viện Hàn lâm khoa học Pháp và sự hỗ trợ của một nhóm nhỏ các viện sĩ. Các trường học ở lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ) bây giờ cũng áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Cách đây gần hai năm, tháng 6 – 2007, một thành viên của nhóm này là Viện sĩ Pierre Joliot – Curie, con trai Nhà bác học Frédéric Joliot- Curie và cháu ngoại ông bà Pierre và Marie Curie có sang Việt Nam để giới thiệu phong trào “Bàn tay nặn bột”. Hiện nay nhiều nước trên thế giới như Mehico, Colombia, Hungary, Thái Lan, Trung Quốc,v.v…đang học tập kinh nghiệm của Pháp để áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong hoàn cảnh nước mình.”  Tôi có dịp gặp Viện sĩ Georges Charpak khi ông đến thành phố Hồ Chí Minh dự cuộc Hội thảo quốc tế vào cuối tháng 10-1995. Năm 1997, nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh khối Pháp ngữ, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi có tham dự và được Georges Charpak tặng cuốn sách của ông, có tên là Bàn tay nặn bột – Khoa học ở trường tiểu học (La Main à la Pâte – Les sciences à l’école primaire – quyển sách này đã được tôi dịch và nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1999). Tôi nghĩ rằng, nước ta cũng nên tham khảo kinh nghiệm của phong trào “Bàn tay nặn bột” để thay đổi cách dạy các môn khoa học ở các trường tiểu học, làm cho các em học các môn khoa học một cách nhẹ nhàng, hứng thú và bổ ích.  Tháng 12 – 1996 khi đi dự cuộc Hội thảo về Giáo dục Vật lý (Physics Education) do Hiệp hội Quốc tế Vật lý Lý thuyết và Ứng dụng tổ chức tại Thái Lan, tôi có đến thăm Nhà chiếu hình vũ trụ và Bảo tàng khoa học ở Thủ đô Bangkok được khánh thành năm 1964 với sự hiện diện của Vua và Hoàng hậu Thái Lan. Tháng 5 – 1997 tôi có đến xem Cung khoa học và nhà chiếu hình vũ trụ rất hiện đại ở Paris, thủ đô của Pháp. Tôi nghĩ tại sao thủ đô Hà Nội lại không có một Nhà chiếu hình vũ trụ, một Cung khoa học có thể phát triển ở các em thiếu nhi sự say mê tìm tòi và lòng yêu khoa học?  Còn nhớ, hồi tháng 10 – 2000, Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam ký hiệp định viện trợ thiết bị cho một nhà chiếu hình vũ trụ ở Hà Nội. Ngày 27- 04 – 2001, UBND Thành phố Hà Nội, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Đại sứ quán Pháp cùng ký một bản thoả thuận bảo đảm nhà chiếu hình vũ trụ Hà Nội sẽ khánh thành vào tháng 12 – 2002. Phía Pháp cam kết, ngoài thiết bị cho nhà chiếu hình vũ trụ, sẽ vận động các Viện nghiên cứu, các trường Đại học và các công ty tư nhân ở Pháp hỗ trợ để trang bị cho một toà nhà khoa học. Như vậy là nếu UBND Thành phố Hà Nội giữ đúng lời cam kết khởi công xây dựng Nhà chiếu hình vũ trụ thì đến nay, trẻ em Hà Nội đã có một Nhà chiếu hình vũ trụ, một tòa nhà khoa học, phát triển lên thành một Cung khoa học.  Thật đáng tiếc! Cuối cùng dự án hoãn lại vì Chủ tịch Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên gửi thư thông báo không làm nữa vì tương lai sẽ làm ở công viên Yên Sở. Và công lao chuẩn bị của bao nhiêu người trong mấy năm trời, kể cả của ông đại sứ, tham tán và kiến trúc sư Pháp đành bị hủy. Số tiền viện trợ của Chính phủ Pháp đã mất bây giờ xin lại rất khó. Năm 2002 khi có hy vọng sẽ khánh thành Nhà chiếu hình vũ trụ Hà Nội tôi nghĩ là mình chậm thua Thái Lan gần 40 năm, còn bây giờ không biết bao nhiêu năm nữa.  Việc giáo dục lòng yêu khoa học cho các cháu thiếu nhi là việc liên quan đến tương lai của các em, đến tiền đồ dân tộc. Vì thế, tôi tha thiết mong rằng Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội sẽ làm việc với Đại sứ quán Pháp để thực hiện lại dự án về nhà chiếu hình vũ trụ đã bị dừng mấy năm trước đây. Một Thủ đô không thể không có một Nhà chiếu hình vũ trụ, một Cung khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy ăn xổi…      Là chuyên gia lăn lộn nhiều năm tại Việt Nam, tôi cũng đã chứng kiến trong ngành của mình (tính toán cơ học) rất nhiều điều tương tự với những thực tế về tình trạng giáo dục và đào tạo hiện hành của Việt Nam mà GS. Pierre Darriulat đã phản ánh.    Đơn cử như có lần liên lạc được với một vài cán bộ cao cấp ngành dầu khí, trong những năm 90 là ngành khá thịnh vượng tại Việt Nam, sẵn sàng đầu tư cho việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại cho việc thiết kế tính toán các thiết bị thăm dò và khai khác dầu trên biển Đông Nam Á, tôi đề xuất họ sử dụng một phần mềm tính toán sau này trở thành một chương trình vạn năng có giá trị thương mại cao vì có khả năng tính toán thiết kết các cấu trúc phức tạp, đặc biệt xác định độ rung của các dàn khoan trước tải trọng sóng gió. Vì là đồng tác giả của phần mềm đó, tôi có đủ thẩm quyền chuyển giao công nghệ này về Việt Nam với một giá rất rẻ. Nhưng tôi bất ngờ có được câu trả lời là họ chỉ muốn mua phần mềm này với giá thật là cao và đã có ký kết mua ở Singapore – trong khi ở thời buổi ấy Singapore đang học hỏi chúng tôi. Đồng thời, họ cũng không để tâm đến đề nghị chính đáng của tôi với tư cách chuyên gia rằng điều cốt yếu không phải ở việc mua sắm những thiết bị và phầm mềm đắt tiền, mà là đào tạo được những người biết sử dụng và đánh giá các kết quả tính toán. Và tôi ngỡ ngàng chợt hiểu là họ mua để có nhiều hoa hồng chứ không phải để sử dụng một cách hiệu quả trên thực tế.      Thí dụ trên và một số trường hợp khác mà tôi đã được chứng kiến, điển hình cho tư duy ăn xổi của một số cá nhân, tổ chức khoa học trong nước, mà đáng tiếc là đến nay vẫn tồn tại sau gần 30 năm đất nước đổi mới.      Tôi rất đồng ý với GS. Pierre Darriulat, nói ra sự thật là thiết yếu trong tình hình hiện nay. Do vậy các nhà khoa học Việt kiều thành công ở nước ngoài khi về Việt Nam tác nghiệp, nên cố gắng giữ cho mình một tinh thần độc lập, phê phán và phản biện nghiêm túc, kịp thời những sai trái hiện hữu. Chỉ có như thế mới có thể góp phần hữu hiệu vào việc cấp bách là chấn hưng khoa học, giáo dục nước nhà.  —  * Giáo sư danh dự Đại học Liège, Bỉ,    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy lại về ứng dụng công nghệ trong giáo dục      Một báo cáo công phu hơn 200 trang của OECD có tên “Học sinh, máy tính và sự học: Tạo lập kết nối”1 công bố cuối tháng Chín vừa qua tuy không đưa ra những kết luận bất ngờ những vẫn khiến chúng ta phải tư duy lại về vai trò của công nghệ đối với sự phát triển của trẻ em và làm thế nào để những tiến bộ của công nghệ thông tin – truyền thông có thể góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của giáo dục.    Máy tính không thôi thì chẳng ích gì     Dẫn số liệu phân tích của PISA2, báo cáo nhận định: “Việc dùng máy tính có giới hạn trong trường học có thể dẫn đến kết quả tốt hơn so với không dùng chút nào, nhưng việc sử dụng quá nhiều (vượt mức trung bình của các nước OECD) lại có biểu hiện thành tích học tập giảm sút nghiêm trọng” và “Kết quả học tập chỉ tốt hơn trong một số bối cảnh cụ thể, trong đó phần mềm và việc kết nối Internet giúp gia tăng thời gian học tập và thực hành”.     Những lo ngại về tác động tiêu cực của công nghệ tới trẻ em không phải tới tận khi có báo cáo của OECD mới được khơi lên. Thậm chí cả những trường rất non trẻ như Trường Acorn3 ở London mới được thành lập năm 2013 cũng ban hành những chính sách có vẻ đi ngược lại xu thế của thời đại: Cấm triệt để việc sử dụng máy tính trong lớp học. Họ tuyên bố: “Chúng tôi chống lại mọi loại hình thiết bị điện tử cho trẻ nhỏ… và chỉ tích hợp dần dần ở lứa tuổi vị thành niên. Trong đó gồm cả Internet. Với việc chọn trường này để gửi gắm con em, quý vị phụ huynh phải ủng hộ quan điểm đó, cho dù cá nhân quý vị có nhìn nhận việc ấy như thế nào”. Lý do được đưa ra là “Mục đích của việc cấm này là dành không gian cho trẻ lớn lên. Thay vì biến trẻ em thành những kẻ tiêu xài đồ dùng công nghệ và TV, chúng phải học để tạo ra những hoạt động của riêng mình. Chúng cần phải trở thành những người kiến tạo tích cực thay vì những kẻ tiêu xài thụ động”.    Giống như Trường Acorn, đã từ lâu, hệ thống hơn 160 trường Waldorf trên toàn nước Mỹ với triết lí giáo dục Steiner nhấn mạnh vào những trải nghiệm sáng tạo và các hoạt động thể chất cũng hoàn toàn vắng bóng đồ công nghệ. Bài báo gần đây trên New York Times4 cho thấy số đông yếu nhân ở ngay trung tâm công nghệ thế giới là Thung lũng Silicon rất thích cho con mình vào hệ thống trường Waldorf vì ở đó chúng không bị công nghệ bủa vây.             Tiềm năng của công nghệ đối với giáo dục:               – Giúp giảm chi phí và cải tiến chất lượng theo các cách thức khác nhau;               – Tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề cơ bản ở rất nhiều quốc gia như phát triển đội ngũ nhà giáo, mở rộng cơ hội tiếp cận hạ tầng công nghệ;              – Cung cấp dịch vụ giáo dục cho số đông dân chúng với chi phí thấp hơn nhiều hoặc cung cấp chất lượng cao hơn với cùng chi phí;               – Dễ dàng nhân rộng những mô hình tốt ở quy mô lớn;               – Khai thác dữ liệu để hiểu rõ hơn việc học của con người;               – Gia tăng năng suất của giáo viên, giải phóng giáo viên khỏi những công việc tay chân vốn tốn thì giờ như thi cử, chấm bài.           Trước đó, nhiều người đã biết huyền thoại công nghệ Steve Jobs cũng nổi tiếng với quy định hạn chế tối đa việc dùng điện thoại thông minh khi ở nhà. Rõ ràng là chúng ta không hề khó tìm ra những người ủng hộ quan điểm cần cảnh giác với công nghệ trong lớp học.    Thế nhưng, người ta cũng không thể phủ nhận sự cần thiết phải đào tạo những kĩ năng để sống tốt trong kỉ nguyên số cho con trẻ: kĩ năng thiết yếu về công nghệ thông tin-truyền thông (ICT) và an ninh số (digital security). Ngay cả những kĩ năng thiết yếu tưởng chừng như cổ điển cũng cần phải được tái định hướng, như kĩ năng đọc, ngoài việc thông thạo việc đọc sách, báo in thông thường, học sinh của thế kỉ 21 còn phải thông thạo cả việc đọc những thông tin dưới dạng điện tử bao gồm những trang web với cách thức tổ chức thông tin khác biệt so với sách truyền thống, hay những định dạng sách điện tử kiểu mới, và cả những mẩu tin lan tràn trên mạng xã hội. Việc không đào tạo những kĩ năng này có thể dẫn đến nới rộng khoảng cách giữa những trẻ em được thụ hưởng thành tựu của KH&CN và những trẻ em thiệt thòi vì không được tiếp cận công nghệ hiện đại. Bức tường số hóa đó có thể lấy đi những cơ hội học tập và trải nghiệm tuyệt vời mà lẽ ra mọi trẻ em trên thế giới phải được hưởng như nhau.     Vậy làm thế nào để hạn chế những tác hại của công nghệ đối với sự phát triển của trẻ em? Làm thế nào để những tiến bộ của công nghệ thông tin – truyền thông có thể góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của giáo dục?   Hệ thống giảng dạy số hóa khép kín     Câu trả lời thứ nhất có vẻ khá rành rọt, ít ra là từ những người có xu hướng “bảo thủ” như các nhà giáo ở Trường Acorn hay hệ thống trường Waldorf mà chúng ta đã kể: Cần một sự kiềm chế từ phía các phụ huynh, tích hợp công nghệ cần có liều lượng và lộ trình đúng đắn. Câu trả lời thứ hai dường như không được rõ ràng như thế.     Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy một phần lời giải trong báo cáo “Tầm nhìn mới cho giáo dục: Giải phóng tiềm năng của công nghệ”5 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). Đồng tình với quan điểm về việc phải trang bị cho trẻ em những kĩ năng thiết yếu của thế kỉ 21 như đọc, viết, khoa học, tư duy phản biện, sáng tạo, giao tiếp và cộng tác, nhóm tác giả báo cáo của WEF cũng chỉ ra nguy cơ nới rộng khoảng cách rất đáng kể về việc giáo dục những kĩ năng này giữa nhóm quốc gia có thu nhập cao trong khối OECD với nhóm các quốc gia có thu nhập thấp. Để thu hẹp khoảng cách này thì thế giới thông thể không cậy nhờ những tiến bộ KH&CN.     Nhóm tác giả cho thấy tiềm năng của công nghệ đối với giáo dục là rất to lớn: Công nghệ có thể giúp giảm chi phí và cải tiến chất lượng theo các cách thức khác nhau; Tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề cơ bản ở rất nhiều quốc gia như phát triển đội ngũ nhà giáo, mở rộng cơ hội tiếp cận hạ tầng công nghệ; Cung cấp dịch vụ giáo dục cho số đông dân chúng với chi phí thấp hơn nhiều hoặc cung cấp chất lượng cao hơn với cùng chi phí; Dễ dàng nhân rộng những mô hình tốt ở quy mô lớn; Khai thác dữ liệu để hiểu rõ hơn việc học của con người; Gia tăng năng suất của giáo viên, giải phóng giáo viên khỏi những công việc tay chân vốn tốn thì giờ như thi cử, chấm bài.     Và để giải phóng những tiềm năng to lớn đó, nhóm tác giả đề xuất một sáng kiến về một hệ thống giảng dạy khép kín (Close-loop Instructional System) có tích hợp những công nghệ giáo dục tiên tiến vào từng khâu trong quy trình giáo dục từ tạo lập mục tiêu học tập, phát triển chương trình, nội dung học tập và chiến lược giảng dạy, giảng dạy, đánh giá quá trình, can thiệp, theo dõi và đo lường kết quả học tập.         Theo đó, những EdTech thành công trong thời gian gần đây như DreamBox, Knewton, Khan Academy hay Code.org có thể cung cấp những chương trình và nội dung học tập thích ứng cá nhân hóa. Kho tài nguyên giáo dục mở (OER) ngày càng được mở rộng và chất lượng như Curriki, LearnZillioon, BetterLesson, Gooru cung cấp nguồn học liệu mới đa dạng cho nhiều mục đích và khả năng tùy biến cao. Hàng loạt những nguồn tài nguyên quý giá cho các hoạt động đào tạo sư phạm và liên tục nâng cao tay nghề sẵn có trên các cổng MOOC hoặc các kho tài nguyên giáo dục mở khác. Các công cụ hỗ trợ giao tiếp và cộng tác như bộ công cụ Google Apps cho giáo dục, công cụ ghi chép miễn phí OneNote, công cụ giao tiếp Facebook hay những nền tảng blog cho giáo dục như EduBlogs giúp việc giao tiếp và cộng tác trong trường học hiệu quả hơn. Hàng loạt những game tương tác và giả lập chất lượng cao như ExploreLearning, SimCityEDU, MolecularWorkbench trợ giúp việc thực hành của học sinh. Các hệ thống quản trị học tập và thông tin sinh viên như Edmodo, Schoology, Canvas, PowerSchool ngày càng hiện đại, cung cấp lượng dữ liệu lớn và công cụ phân tích để các nhà trường có được hiểu biết sâu sắc về tình hình học tập của học sinh, sinh viên, thông qua đó mà thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời hoặc đề xuất những chương trình cải tiến dựa trên dữ liệu.     Rõ ràng là “gói giải pháp công nghệ” này có một cách tiếp cận chỉnh thể đối với việc giáo dục trong bối cảnh số hóa. Nó vừa tích hợp những công nghệ tiên tiến vào chu trình giáo dục, vừa mở cửa cho những hình thức giảng dạy mới, có đổi mới thực chất trong nội dung và cách thức để gia tăng thời gian học tập, nâng cao chất lượng tương tác và cải thiện hiệu quả giáo dục.     Bất chấp những kết luận không mấy tích cực về tình hình ứng dụng công nghệ trong lớp học, người đứng đầu nhóm thực hiện báo cáo của OECD nhận định “ICT đã thay đổi triệt để mọi mặt cuộc sống và cách làm việc của chúng ta. Những học sinh không thể ‘bơi’ trong thời đại số hóa này sẽ gặp khó khăn lớn trong việc hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế, xã hội và nền văn hóa xung quanh chúng”. Câu hỏi cho giới làm chính sách và đội ngũ các nhà giáo hiện nay không phải là có nên đưa công nghệ vào lớp học hay không mà là đưa vào như thế nào. Tầm nhìn của WEF cho phép chúng ta hình dung một phần giải đáp cho câu hỏi đó: sự xuất hiện một nền giáo dục thông minh, ở đó nhà trường và đội ngũ nhà giáo có thể tận dụng công nghệ đương thời để sáng tạo những phương thức giảng dạy hiệu quả trong bối cảnh mới, giải quyết tốt hơn những vấn đề muôn thuở của giáo dục.      ——-    1OECD (2015), Students, Computers and Learning: Making the Connection, PISA, OECD Publishing.    http://dx.doi.org/10.1787/9789264239555-en    2 “Programme for International Student Assessment” (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khởi xướng và chỉ đạo    3http://qz.com/513945/this-school-has-banned-all-technology-in-the-classroom-and-at-home    4 At Waldorf School in Silicon Valley, technology can wait  http://www.nytimes.com/2011/10/23/technology/at-waldorf-school-in-silicon-valley-technology-can-wait.html?_r=0     5 WEF(2015), New Vision for Education – Unlocking the potential of technology  http://www3.weforum.org/docs/WEFUSA_NewVisionforEducation_Report2015.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy phân tích và liên kết tổng thể      Một nền kinh tế và xã hội càng phát triển thì lại càng cần nhiều những bộ óc biết giải quyết vấn đề. Bài viết của Giáo sư Phan Đình Diệu đăng trên Tia Sáng số 17 (1) đã nhấn mạnh rằng cải thiện khả năng giải quyết vấn đề cho người đi học là điều cần hướng tới trong phương pháp giáo dục hiện tại ở nước ta. Nhưng để đưa ra được một đường lối cải cách cụ thể và hiệu quả cho xã hội thì luận điểm trên cần được nhìn nhận lại và phát triển nối tiếp kỹ lưỡng hơn. Xã hội không chỉ cần những bộ óc giải quyết được vấn đề mà người khác đặt ra cho mình. Xã hội còn rất cần những người tự vạch ra các mục tiêu và tự đặt ra các vấn đề cần giải quyết. Để rồi thấy được đâu là vấn đề và mục tiêu có tính mấu chốt. Nghĩa là nhận ra vấn đề nào là chính, vấn đề nào là phụ. Mục tiêu nào là ngọn, mục tiêu nào là gốc rễ. Bộ óc của những người biết làm chủ rất cần thiết cho mọi ngành nghề cũng như các cấp độ điều hành khác nhau. Để điều hành tối ưu hóa các nguồn lực của riêng một cá nhân hay của một doanh nghiệp, một bộ ngành, hay một Chính phủ, thì đầu óc tổ chức luôn cần thiết hàng đầu. Dù có rất nhiều người thợ giỏi biết giải quyết vấn đề, nhưng nếu thiếu đi người điều hành giỏi thì nhân lực và các nguồn tài nguyên khác vẫn bị lãng phí là điều tất yếu.    Để tạo ra một lớp người chủ giỏi trong tương lai, ngay từ bây giờ chúng ta cần chú trọng dạy cho học sinh và sinh viên tư duy phân tích và liên kết tổng thể. Đây cũng là chất liệu thiết yếu giúp các em tự tìm thấy lòng say mê trong học tập.     Đối với người đi học, niềm hạnh phúc đến từ tiến trình gồm ba bước: khám phá kiến thức mới – làm chủ kiến thức – vận dụng để sáng tạo ra thành quả được người khác công nhận. Tư duy phân tích và liên kết tổng thể là chất liệu không thể thiếu cho người học xuyên suốt tiến trình ba bước này.        Nhu cầu làm chủ kiến thức trong xã hội             Sự thiếu làm chủ kiến thức sẽ dẫn tới lối hành xử mày mò, trông chờ vào vận may. Hậu quả ở tầm vĩ mô là một nền kinh tế ỳ trệ bởi những lãng phí cơ hội và tài nguyên vào những khoản đầu tư mang tính đánh quả vào chứng khoán và bất động sản. Ở tầm vi mô là những đời sống cá thể hời hợt, biểu hiện ở sự thiếu tính định hướng, thiếu say mê phấn đấu, và hệ quả tất nhiên là thiếu trách nhiệm.          Mục tiêu căn bản cho mọi người học là làm chủ được kiến thức mà mình tiếp thu. Khi chưa làm chủ được kiến thức thì người ta buộc phải hi vọng vào vận may để vận dụng thành công trong giải quyết các vấn đề. Bàn về nghiệp làm thuốc, Hải Thượng Lãn Ông đã từng nói: “người đời chỉ xem tạp chứng mà tìm những phương thuốc cũ, gặp chứng nhẹ mà khỏi, tự cho là thần thánh, gặp chứng nặng mà chết thời đổ cho mệnh trời.” (2) Điều Lãn Ông phê phán ở đây chính là sự tùy tiện, thiếu suy xét nghiêm túc thấu đáo trong việc học tập của người thầy thuốc. Nghiên cứu và vận dụng kiến thức theo lối đánh quả như vậy dẫn tới nguy cơ tổn hại khó lường cho sức khỏe người bệnh. Người thầy thuốc có y đức phải có trách nhiệm xây dựng kiến thức chắc chắn ngay từ nền tảng. Tương tự như vậy, mọi lĩnh vực đều cần tới ý thức làm chủ kiến thức. Sự thiếu làm chủ kiến thức sẽ dẫn tới lối hành xử mày mò, trông chờ vào vận may. Hậu quả ở tầm vĩ mô là một nền kinh tế ỳ trệ bởi những lãng phí cơ hội và tài nguyên vào những khoản đầu tư mang tính đánh quả vào chứng khoán và bất động sản. Ở tầm vi mô là những đời sống cá thể hời hợt, biểu hiện ở sự thiếu tính định hướng, thiếu say mê phấn đấu, và hệ quả tất nhiên là thiếu trách nhiệm.  Thế nào là làm chủ được kiến thức? Khi khám phá một vấn đề mới mẻ, con người buộc phải dựa vào vốn kiến thức mình đã có. Nó bao gồm các khái niệm đã từng được định dạng và các logic kết nối quan hệ nhân-quả và chính-phụ giữa các tín hiệu này với nhau. Khi đối chiếu kho kiến thức cũ này với vấn đề mới mẻ trước mắt, nếu vấn đề thực sự phức tạp, người ta phải phân tách ra các thành phần nhỏ để dễ dàng nắm bắt hơn. Nhìn vào các thành phần này, người ta có thể hiểu ra những logic kết nối mới, hoặc định dạng được những khái niệm mới. Sau khi đã hiểu thấu đáo các thành phần thì cần định dạng các quan hệ logic kết nối chúng với nhau theo một sự sắp xếp giúp tái tạo lại được tổng thể ban đầu. Tuy không phải ai cũng có khả năng thực hiện tất cả các bước đi trên với một tinh thần duy lý tận cùng, nhưng nhờ vào những bước tư duy kể trên mà chúng ta biết được đâu là ranh giới giữa phần sự vật mình đã thông hiểu và đâu là phần còn chưa biết. Có khi chính những phần chưa biết này sẽ kích thích con người tiếp tục khám phá để đi xa hơn nữa. Nhưng ngược lại, nếu không trải qua các bước tư duy trên thì con người vĩnh viễn chìm đắm trong sự mịt mờ hỗn độn. Đối với con em chúng ta trên ghế nhà trường hôm nay, những lỗ hổng kiến thức chồng chất lên nhau tất yếu sẽ dẫn tới sự trì trệ, lạc hậu trong phát triển kinh tế và xã hội sau này. Nhưng không phải người đi học nào cũng có được ý thức và nghị lực để liên tục tự bù lấp vào các lỗ hổng kiến thức. Ngay cả khi thầy cô thật sự tận tâm thì vẫn không thể tự mình bù lấp hết cho các em. Vậy nên, sẽ có hiệu quả lâu dài hơn nếu các thầy cô có thể truyền đạt cho học sinh (hay ít ra là một số em có tiềm năng hơn cả) ý thức và niềm vui khi tự học. Đây là vấn đề thuộc về phuơng pháp giáo dục sẽ được bàn kỹ hơn sau.      Điều cần cải thiện từ hiện trạng giáo dục  Hiện tượng phổ biến hiện nay trong việc giảng dạy các bộ môn khoa học là thầy cô giáo nêu ra định lý, sau đó yêu cầu học sinh ghi nhớ và áp dụng định lý để giải quyết các bài toán cụ thể. Một học sinh thường được coi là giỏi nếu giải quyết đủ bước, chính xác, và nhanh chóng bài toán mà thầy cô đưa ra. Làm được như vậy thì cả thầy và trò cùng cho rằng đã làm chủ được kiến thức và dễ dàng tự thấy thỏa mãn. Tuy nhiên, nếu công việc giáo dục chỉ dừng lại ở đó thì sẽ là một sự vô tâm và lãng phí rất đáng tiếc. Bởi vì văn hóa khoa học không chỉ một tập hợp của các bài giải toán. Nó là một công trình xây dựng từ các tấm, miếng tri thức nhân loại tích lũy qua nhiều thế kỷ. Kết cấu của công trình ấy phản ánh được những quy luật tự nhiên con người tổng kết và chắt lọc từ thực tế. Càng nắm vững các quy luật thì càng áp dụng được vào nhiều tình huống khác nhau. Người xưa nói học một biết mười chính là như vậy. Một người học sinh biết giải nhiều bài tập mà tự mình còn chưa thẩm thấu kiến thức thành các quy luật thì cũng giống như một công trường chứa nhiều vật liệu xây dựng chứ chưa hề có công trình xây dựng. Với cách giảng dạy phổ biến hiện nay, chúng ta gặt hái ra đa số là những người thợ giải toán với tư duy xơ cứng. Họ chưa có được một văn hóa khoa học tương xứng với những tri thức tinh túy của nhân loại.             Với cách giảng dạy phổ biến hiện nay, chúng ta gặt hái ra đa số là những người thợ giải toán với tư duy xơ cứng. Họ chưa có được một văn hóa khoa học tương xứng với những tri thức tinh túy của nhân loại.          Truyền thụ cho người học một văn hóa khoa học bằng cách nào? Đứng trước một định lý, nhiệm vụ của những người thày không chỉ là giúp học sinh áp dụng vào các bài tính toán thực tiễn cụ thể. Họ còn phải giúp học sinh nhận ra mối liên hệ giữa định lý mà học sinh đang học với những lý thuyết đã từng được tiếp thu từ trước đó. Cũng sẽ rất hữu ích nếu như người thầy gợi tả các lý thuyết mà học sinh sắp được học, và hỏi xem các em hình dung định lý đang học có liên quan thế nào tới các lý thuyết này. Chúng ta biết rằng không có một định lý nào có thể đứng tách ra khỏi các định lý khác mà lại hàm chứa được đầy đủ sự sâu sắc của nó. Bởi vì cái này là nền tảng của cái kia. Hoặc là từ khoảng trống mà cái trước không lấp đầy đã tạo ra tiền đề để ra đời cái sau. Lưu ý rằng không cần phải đòi hỏi các em biết tường tận đường đi nước bước của các bài chứng minh cụ thể. Điều thiết yếu là giúp các em phát huy tối đa khả năng hình dung các vấn đề trừu tượng. Từ đó mà tự hình thành trong đầu mình một hệ thống kết nối các định lý mấu chốt với nhau. Đây mới thật là văn hóa khoa học mà các em cần tích lũy cho bản thân.   Bài viết của Giáo sư Phan Đình Diệu có lấy xuất phát điểm từ việc chỉ ra tính chủ quan của các nguyên lý khoa học cổ điển. Hiểu được tính chủ quan này cũng là một phần tất yếu trong văn hóa khoa học của người đi học. Mỗi một định lý thường là hệ quả của một định lý khác, vốn có thể lại là hệ quả của một định lý khác nữa. Khi dò liên tục tới cùng thì người đi học tìm thấy các tiên đề, hoặc các giả thiết mang tính gốc rễ. Tiên đề là quy luật chưa chứng minh được. Còn giả thiết là những giới hạn được áp đặt để khoanh vùng vấn đề. Tính chủ quan của các lý thuyết khoa học chính là ở đây. Nhưng nhờ có tính chủ quan này mà vấn đề được định dạng. Cũng như để nhận dạng một khu đất thì đầu tiên người ta phải vẽ nên các đường ranh giới. Nhờ có các ranh giới chính xác mà ta biết khu đất che phủ tới đâu, có chứa đựng mục tiêu mà mình quan tâm hay không. Bởi vậy, người thày nên giảng kỹ lưỡng về các giới hạn ở điểm khởi đầu như vậy, thay vì vội vã lao thẳng tới những ý đồ thực tiễn mà một lý thuyết có thể giải quyết. Muốn vậy thì phải lưu tâm cho các em nhận thức rõ đâu là điểm đặt chân của mỗi một mệnh đề. Tức là chỉ rõ vai trò của từng giả thiết tạo thành mệnh đề đó. Qua đó người đi học mới nắm được cách tự học căn bản. Để sau này khi gặp các mệnh đề khác thì tự các em đặt ra được câu hỏi “nó đúng ở chỗ nào, khi nào thì nó không còn đúng nữa”. Như vậy là thay vì liên tục áp đặt vào đầu các em những lời giải thích, chúng ta dạy các em tự tư duy. Khi đã có cái nhìn thực chất và bao quát, người học tự mình có thể nhận ra được tính chủ quan của từng nội dung khoa học một cách tỉnh táo và thông suốt. Từ đây các em có thể cố gắng tự đánh giá trong hoàn cảnh thực tiễn nào thì việc ứng dụng nội dung khoa học nào là khách quan và hữu ích. Ngược lại, nếu các em hiểu theo một cách cào bằng rằng mọi nội dung khoa học đều có chỉ khách quan tới một giới hạn nào đấy, từ đó mà xem thường giá trị thực tiễn của tri thức và đánh mất đi lòng nhiệt huyết trong khám phá tìm tòi, thì lại là một sự hiểu sai rất nguy hại.  Điều cần tránh trong văn hóa khoa học là việc đi lạc vào trong những thủ thuật rườm rà, thấy cây mà không thấy rừng. Mặc dù cái nhìn vi mô cũng quan trọng không kém cái nhìn vĩ mô. Cái nhìn vi mô là sự hiểu biết về cấu trúc căn bản của từng sự vật. Điều này có được là thông qua những bài tập cụ thể. Nhờ các bài tập mà các em hiểu rõ hơn ý nghĩa các thành phần trong một định lý cũng như mối quan hệ gắn kết các thành phần với nhau. Như vậy việc nghiên cứu vi mô và vĩ mô đều có điểm chung. Đó là người học cần nhận ra mối quan hệ gắn kết các thành phần riêng rẽ trong mỗi một tổng thể. Các bài tập vi mô vì vậy cần duy trì sự minh giản để giúp học sinh hình dung được bản chất lý thuyết của vấn đề. Những bài tập nâng cao cũng cốt là để các em hiểu sâu sắc hơn về bản chất mà thôi. Càng hiểu sâu sắc về bản chất thì khi ứng dụng thực tế các em sẽ càng sắc sảo. Ngược lại, không nên khích lệ các em chú tâm vào những bài toán mang tính mẹo mực đòi hỏi trí tuệ tiểu xảo. Về vấn đề này, PGS. TS Dương Quốc Việt trong giáo trình viết cho sinh viên Đại Học Sư Phạm đã từng nói rất cô đọng như sau:      Thông qua việc giải hoặc đề xuất ra các bài toán sơ cấp, người làm dù ở trình độ hạn chế cũng vẫn có điều kiện phát triển tư duy. Vì thế nó là một mảnh đất tốt để rèn luyện tư duy toán học cho học sinh phổ thông. Tuy nhiên chúng ta cần phải biết loại bỏ những bài tập toán kiểu “mẹo đối mưu”. Bởi như chính Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong cảnh nước nhà nguy cấp cách đây khoảng bảy thế kỷ đã dạy rằng: “mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh”. Đại dương mênh mông của khoa học nói chung và toán học nói riêng, vốn đã luôn là những thách thức muôn thuở của loài người. Các bạn nên hướng về đại dương ấy, mà biết rèn luyện cho học trò của mình những phẩm chất hữu ích trong tương lai, đừng chỉ biết “làm xiếc trong ao tù”… (3)                Vẻ đẹp chân thật của khoa học không phải là những xảo thuật tinh vi mà ở sự sáng sủa và tính hàm súc. Một văn hóa khoa học đúng nghĩa cho người học khả năng nhìn xa, bao quát, và sâu sắc vào nhiều khía cạnh cuộc sống.          Vẻ đẹp chân thật của khoa học không phải là những xảo thuật tinh vi mà ở sự sáng sủa và tính hàm súc. Một văn hóa khoa học đúng nghĩa cho người học khả năng nhìn xa, bao quát, và sâu sắc vào nhiều khía cạnh cuộc sống. Thói quen phân tích ra các thành phần và xâu chuỗi lại tổng thể sẽ giúp người học sinh tự nghiên cứu hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực chứ không giới hạn ở những bộ môn khoa học. Các bộ môn lịch sử và địa lý thường xuyên đòi hỏi khả năng liên kết các dữ kiện biến động để nhận ra những quy luật xã hội có tính bất biến. Âm nhạc và hội họa đòi hỏi khả năng cảm nhận các yếu tố riêng rẽ, các mạch cảm xúc riêng biệt, đồng thời vẫn nhận ra được bố cục lớn của tác phẩm. Đối với triết học và văn học thì khả năng phân tích và tổng hợp các ấn tượng trừu tượng lại càng thiết yếu, vì người đi học không thể tiếp xúc đối tượng qua tai nghe mắt thấy mà hoàn toàn phó thác vào trí tưởng tượng của mình. Qua đây, ta thấy rằng để nâng tầm vóc văn hóa cho thế hệ tương lai, nhất thiết phải dạy cho các em thói quen tư duy phân tích và liên kết tổng thể.     Hướng đi cụ thể  Tư duy phân tích và liên kết tổng thể có thể giúp các bài học trở nên sinh động, giàu ý nghĩa chứ không hề tẻ nhạt khô khan. Chẳng hạn, nếu ta dạy học sinh cấp tiểu học cách tính diện tích hình thang mà không liên hệ gì tới công thức tính diện tích hình tam giác thì bài học sẽ khó tránh khỏi tính chất học thuộc khiên cưỡng. Nhưng nếu ta vẽ đường chéo nối 2 đỉnh bất kỳ để chỉ ra rằng diện tích hình thang cũng chính là tổng diện tích hai hình tam giác có 2 cạnh song song và chung nhau một đường cao, thì ngay lập tức mọi yếu tố thành phần trong công thức diện tích hình thang được kết nối chặt chẽ và rất sống động. Từ minh họa này chúng ta có thể thấy rằng tư duy phân tích và liên kết tổng thể có thể được thực hành ngay từ những cấp học thấp nhất. Lên tới các cấp cao hơn, tư duy sư phạm đó vẫn không hề thay đổi. Vẫn chỉ là sự kết nối bài học hiện tại với các bài học trong quá khứ và tương lai. Để làm được như vậy thì người đi dạy phải bỏ thêm một chút công sức, nhưng chắc chắn sẽ làm bài giảng phát triển mạch lạc và chặt chẽ hơn.              Nhiệm vụ của một người thày giỏi là giúp học sinh tự mình khám phá để đi từ một tầng kiến thức thấp tới một tầng kiến thức cao hơn. Bản thân người thày mỗi khi khám phá ra được một cầu nối mới thì đã bắt đầu có thể cảm thấy được niềm hạnh phúc của việc sáng tạo. Còn khi mà cả thày và trò cùng bỏ công sức, cùng gặt hái thành quả, thì học tập và giảng dạy thực sự là con đường sáng tạo với niềm hạnh phúc trọn vẹn.          Người dạy có thể chia ra các bậc thang hợp lý kết nối các tầng kiến thức lại với nhau. Bậc thang lớn quá thì một học sinh năng lực trung bình không thể bước nổi. Bậc thang ngắn quá thì học sinh khá giỏi thấy nhàm chán, lười động não. Vậy nên, nhiệm vụ của một người thầy giỏi là giúp học sinh tự mình khám phá để đi từ một tầng kiến thức thấp tới một tầng kiến thức cao hơn. Bản thân người thày mỗi khi khám phá ra được một cầu nối mới thì đã bắt đầu có thể cảm thấy được niềm hạnh phúc của việc sáng tạo. Còn khi mà cả thày và trò cùng bỏ công sức, cùng gặt hái thành quả, thì học tập và giảng dạy thực sự là con đường sáng tạo với niềm hạnh phúc trọn vẹn. Chúng ta cần sớm thay đổi cách hiểu nhầm lẫn tai hại, coi học sinh giỏi là những người cần cù chăm chỉ, học thuộc lòng lý thuyết và giải bài tập nhanh chóng thuần thục như máy. Người học giỏi đúng ra phải là người làm chủ được tri thức, biết định dạng, phân loại, để từ đó sáng tạo và nhận thức ra tri thức mới hữu ích cho mình. Việc giải bài tập chỉ mới là bước căn bản để học sinh hiểu bài chứ chưa hẳn đã tạo ra thử thách khả năng sáng tạo. Còn khi người học biết kết nối thông tin để hình thành nhận thức mới mẻ cho bản thân mình, thì đó chính là sự sáng tạo. Cũng chỉ thông qua đó thông tin mới thực sự sống động và thôi thúc lòng ham hiểu biết.   Ngày nay không ít học sinh thích đọc truyện tranh Nhật Bản và chơi game điện tử hơn là học kiến thức phổ thông, chính vì tác giả viết truyện tranh biết tạo ra những mạch khám phá liên tục. Chương này nối tiếp, kích thích cảm xúc cho chương kia. Chứ nếu các chương có nội dung na ná như nhau, hoặc các mạch khám phá bị đứt gãy rời rạc, thì chắc chắn trẻ em đã không say mê đến vậy. Mặt khác, việc chơi game cho phép trẻ hóa thân vào môi trường ảo, nơi bản thân được phát huy khả năng sáng tạo. Đó cũng là nơi trẻ cảm thấy được kết nối cọ xát với môi trường và vượt qua các chướng ngại ảo để cảm thấy giá trị của cái tôi được khẳng định. Tất cả những nhu cầu tâm lý ấy hoàn toàn chính đáng. Nếu việc học hành không giúp trẻ thỏa mãn những nhu cầu căn bản này thì các em tất yếu sẽ tìm đến lối thoát khác. Có những lối thoát mà người lớn cho là lãng phí tuổi trẻ, thậm chí cho là suy đồi hay nguy hiểm cho chính bản thân các em. Nhưng lỗi chính là của người lớn khi đã thất bại trong việc giáo dục và định huớng từ sớm.              Khi tự mình phân tích và kết nối thông tin thì người học làm chủ được môi trường của mình. Việc phân tích và kết nối thông tin thành công tạo ra ấn tượng khám phá mới mẻ, đồng thời cho người học cảm giác được lao động, vượt qua chướng ngại để đem về thành quả sáng tạo. Cha mẹ, thày cô trân trọng, khích lệ, cùng với điểm số xứng đáng giúp giá trị bản thân của người học được khẳng định. Cả ba yếu tố giúp đem lại niềm hạnh phúc trọn vẹn trong học tập.          Công việc học tập hoàn toàn có thể trở nên thu hút nếu các nhu cầu tâm lý của người học được thỏa mãn. Người dạy học, dù là cha mẹ hay thày cô, nếu muốn thu hút người học, thì không thể không dạy và kiểm tra các em khả năng tự mình kết nối thông tin theo một mạch khám phá liên tục. Qua đó, cần kích thích được trí tưởng tượng của các em khi tìm kiếm sự kết nối giữa các chương với nhau. Các bước tư duy đặt ra không nên quá dễ nhưng cũng không cần phải quá khó. Khi các em làm được thì thầy cô, cha mẹ nên hết sức trân trọng và khích lệ, vì đó là thành quả sáng tạo trí tuệ rất có ý nghĩa của con em mình. Đặc biệt là khi các em tự mình hoàn thành được trọn vẹn một quá trình tìm tòi nghiêm túc. Đó có thể coi là bước tập dượt để tạo thành một thói quen vô cùng quan trọng cho tương lai. Và điều quan trọng hơn nữa là các em sẽ tìm thấy được niềm hạnh phúc trong công việc. Khi tự mình phân tích và kết nối thông tin thì người học làm chủ được môi trường của mình. Việc phân tích và kết nối thông tin thành công tạo ra ấn tượng khám phá mới mẻ, đồng thời cho người học cảm giác được lao động, vượt qua chướng ngại để đem về thành quả sáng tạo. Cha mẹ, thầy cô trân trọng, khích lệ, cùng với điểm số xứng đáng giúp giá trị bản thân của người học được khẳng định. Cả ba yếu tố giúp đem lại niềm hạnh phúc trọn vẹn trong học tập. Niềm hạnh phúc đó sẽ lâu dài nếu được xen kẽ với những hoạt động khác, phù hợp với hình thức và cung bậc năng lượng cần được giải tỏa. Việc tiêu hao năng lượng cho thể thao là cần thiết. Thậm chí cả những khoảng lặng cũng rất cần thiết cho sự phát triển tự nhiên của trí tuệ. Để được như vậy thì khối lượng học tập cần được lược giảm, chắt lọc, để chỉ còn lại những tinh chất thực sự cần thiết.   Nếu thày cô chỉ đặt ra những câu hỏi mang tính chất phân tích và liên kết ở trên lớp thì chỉ mới ưu tiên tác động tới các học sinh khá giỏi. Để đạt được hiệu quả toàn diện thì cần đưa những câu hỏi này vào các bài kiểm tra. Đây là khả năng trong tầm tay của mọi thầy cô có năng lực sư phạm khá. Hiện nay đa số các bài kiểm tra học sinh thường mới chỉ giới hạn ở việc kiểm tra khả năng học thuộc lý thuyết và thực hành qua giải bài tập. Điều này giới hạn sức sáng tạo trong tự học của các em rất nhiều. Đa số học sinh nghĩ rằng mình giải nhanh chóng bài tập và học thuộc lý thuyết, vậy là quá đủ rồi. Phải tới khi tốt nghiệp ra trường các em mới vấp váp và thấy rằng thực tế đòi hỏi hơn thế rất nhiều. Cần phải liên tục tổng hợp, phân tích, và đánh giá thông tin. Và nhất là luôn đặt ra được câu hỏi sáng suốt: tiếp theo tôi cần nắm thông tin gì, thực tế cần tôi giải quyết vấn đề nào? Qua đó các em mới thấy rằng việc tiếp thu học vấn giống như cái cầu thang đi lên nương tựa vững vàng vào thực tiễn. Lúc nào cũng có bước tiếp theo hữu ích cho hành trình thực tế của mình. Giá như có cơ hội nhận diện ra chiếc cầu thang này từ sớm để có thể tự học, tự sáng tạo, thì khi tốt nghiệp người học viên đã có thể tự buớc đi thật vững vàng.      Mấu chốt và kỳ vọng  Một người không biết tự học, hay một người làm việc với khả năng trung bình giống nhau ở chỗ khi làm việc này thì không thể quán chiếu, tìm ra mối liên hệ với việc khác. Bởi vậy học tập và làm việc giống như cày bừa trên những mảnh ruộng cằn cỗi. Từng công đoạn rời rạc cho nên vừa tẻ nhạt vừa vất vả. Người biết tự học hay một người làm việc giỏi thì không như vậy. Niềm đam mê là điểm tương đồng giữa họ. Vì đam mê nên không xa rời sự vật mà mình quan tâm. Vì không xa rời nên ngộ ra được các sợi dây liên kết sự vật với nhau. Nếu chỉ xem xét một vấn đề riêng lẻ thì không gian liên tưởng rất hẹp và khô khan. Nhưng nếu bắt đầu xem xét hai hoặc ba vấn đề và tìm sự liên kết giữa chúng với nhau, thì trường liên tưởng được mở ra rộng lớn và sinh động. Trong mỗi sự vật ta thấy mối liên quan tới nhiều sự vật. Trong nhiều sự vật ta vẫn soi chiếu thấy một sự vật. Qua đó, mỗi lần được làm việc ta lại tiếp tục phát hiện ra những khám phá kỳ thú mới. Khám phá được nên càng tăng hiệu quả và lại càng thêm gắn bó với công việc. Tiến trình đó quả là đáng thèm muốn cho tất cả mọi người. Nhưng mấu chốt của nó chỉ tóm gọn giản dị trong ý thức phân tích và liên kết tổng thể. Đó là ngăn cách rất mỏng manh giữa một người thợ mang đầu óc lệ thuộc hoàn cảnh với một người làm chủ giỏi. Ngăn cách đó ai cũng có thể vượt qua được nếu có ý thức vượt qua và có sự cố gắng tập dượt thành thói quen.      Ngày nay, không hiếm thấy những người sinh viên ra trường thiếu khả năng viết một lá đơn mạch lạc, không thiếu bước, không lặp ý. Đối với một người tốt nghiệp đại học thì kỹ năng phân tích và liên kết tổng thể một sự vật như vậy còn quá hạn chế. Trong khi sự phát triển đất nước đang đòi hỏi đầu óc điều hành tổng quan ở mọi lĩnh vực, mọi quy mô. Để sao cho nhìn trên diện rộng các nguồn tài nguyên của chúng ta không bị lãng phí, các tiến trình phát triển không dẫm chân, mâu thuẫn lẫn nhau. Tình trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn là một ví dụ sinh động cho sự lãng phí thời gian, sức khỏe, và trí tuệ con người. Những cảnh đám đông trôi thụ động theo quán tính đó là sự ngầm cảnh báo cho một tình trạng phổ cập về sự lãng phí tài nguyên và cơ hội. Chúng ta trì trệ vì không biết đặt ra và giải quyết câu hỏi: đâu là bước đi tiếp theo để tối ưu cho một tương quan giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài? Trong các tổ chức, môi trường thông tin mập mờ dẫn tới trách nhiệm và quyền lợi của cá nhân không được phân bổ cụ thể, chính xác, và càng khó bề đánh giá, kiểm soát. Đó tất yếu cũng là môi trường lý tưởng cho tệ tham nhũng và quan liêu.              Cấp tối giản nhất trong phương pháp giúp học sinh phát huy tư duy phân tích và liên kết tổng thể chỉ gói gọn trong hai câu hỏi với từng bài học. Thứ nhất, bài học hôm nay liên quan ra sao tới các bài học đã qua. Thứ hai, bài học hôm nay có thể tạo ra nền tảng gì và vẫn còn lại khoảng trống nào. Đối với từng mệnh đề thì đâu là giả thiết nền tảng, đâu là ý nghĩa thực tiễn. Nếu giả thiết nền tảng thay đổi thì kết luận của mệnh đề sẽ bị thay đổi như thế nào.          Ngay cả tiến trình cải cách giáo dục cũng đang ở trong dòng trì trệ chung. Học sinh các cấp càng ngày càng phải học nặng hơn, trong khi hiệu quả thực tiễn còn chưa tiến bộ rõ ràng. Phải chăng vẫn còn phổ biến lối tư duy tai hại, rằng người học giỏi thì phải chăm chỉ học thuộc lòng và biết giải bài tập với tốc độ thật nhanh? Nếu quả như vậy thì chưa thể thấy chất lượng giáo dục được cải thiện đáng kể. Vì vậy, hi vọng rằng các thầy cô giáo có thể sớm giúp các em phát huy tư duy phân tích và liên kết tổng thể. Phương pháp tiến hành rất giản dị. Cấp tối giản nhất trong phương pháp giúp học sinh phát huy tư duy phân tích và liên kết tổng thể chỉ gói gọn trong hai câu hỏi với từng bài học. Thứ nhất, bài học hôm nay liên quan ra sao tới các bài học đã qua. Thứ hai, bài học hôm nay có thể tạo ra nền tảng gì và vẫn còn lại khoảng trống nào. Đối với từng mệnh đề thì đâu là giả thiết nền tảng, đâu là ý nghĩa thực tiễn. Nếu giả thiết nền tảng thay đổi thì kết luận của mệnh đề sẽ bị thay đổi như thế nào. Những câu hỏi đơn giản như vậy nằm trong một bước đi vô cùng căn bản trong giáo dục mà có lẽ một số thày cô đã chuyên tâm tiến hành từ lâu. Nếu có thể phổ cập rộng ra thì hiệu quả tức thời hẳn sẽ không nhỏ, và lợi ích lâu dài càng không nhỏ chút nào.     —————————–  (1)   Phan Đình Diệu, Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Trong Giáo Dục Hiện Đại, Tia Sáng, 17, 05/09/2008  (2)   Lãn Ông Lê Hữu Trác, Hải Thượng Y-Tôn Tâm Lĩnh, Thần Chương  (3)   Dương Quốc Việt, giáo trình cho sinh viên Đại Học Sư Phạm       Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Tư duy thiết kế và sự trỗi dậy của não phải      Trong suốt một thời gian dài, và ngay cả thời hiện tại, chúng ta thường chỉ để ý tới phần bên trái của não bộ nhưng ngày nay có xu thế quan tâm đến việc rèn luyện não phải, bởi thế giới đang dịch chuyển sang thời đại nhận thức với sự đề cao những người sáng tạo và đồng cảm.      Mỗi chúng ta sở hữu một kilogram vật chất đặc biệt nằm trong hộp sọ. Cái bộ máy tự nhiên tối tân ấy cho đến nay vẫn là một thế giới đầy bí ẩn với hầu hết đại chúng, thậm chí với cả những nhà khoa học lừng danh. Cứ mỗi khi chúng ta “phát hiện” thêm một chút về nó, là khi chúng ta lại ồ lên, hoặc ngã ngửa ra vì bấy lâu nay có gì đó đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một trong những lần như vậy là khi người ta “khám phá “ ra rằng chúng ta đã bỏ rơi phần bên phải của não bộ quá lâu.   Chúng ta đều biết não có hai nửa bán cầu khá là riêng biệt. Phần bên phải điều khiển các cơ quan bên trái, phần còn lại điều khiển các phần bên phải của cơ thể chúng ta. Nhưng chỉ mới gần đây thôi, chúng ta mới biết thêm rằng hai bán cầu não còn phân chia nhiệm vụ chức năng khác nhau khá là tường minh. Não trái chuyên trách phần “duy lý” gồm các hoạt động liên quan đến tư duy logic, phán đoán, kĩ năng ngôn ngữ, tính toán, viết lách. Còn não phải “chuyên trị” các thứ liên quan đến thẩm mĩ, sự khéo léo, năng lực đồng cảm, khả năng âm nhạc, nghệ thuật, tình cảm, lòng say mê và khả năng sáng tạo. Mặc dù có sự phân tách chuyên biệt như vậy, nhưng khi chúng ta hoạt động, hai nửa bán cầu có liên kết chặt chẽ với nhau thật nhịp nhàng chứ không hoàn toàn tách biệt về chức năng.   Tư duy thiết kế  Trong suốt một thời gian dài, và ngay cả thời hiện tại, chúng ta thường chỉ để ý tới phần bên trái của não bộ. Thậm chí dường như giới khoa học đánh đồng não trái với chức năng “người”, vì nó đảm trách các hoạt động dễ nhìn thấy nhất mà con người mang những đặc trưng khác biệt: năng lực tư duy logic, ngôn ngữ và tính toán. Có lẽ đó là một trong những thói quen tư duy sai lầm nghiêm trọng bậc nhất cho tới khi chúng ta thấy công dụng khác biệt mà phần bên phải của não bộ mang lại.   Hãy xem lại câu chuyện thành công của chiếc điện thoại thông minh iPhone và cuộc cách mạng mà Apple và Steve Jobs đã tạo ra trong ngành công nghệ thông tin để thấy rõ điều đó. iPhone rõ ràng là một cỗ máy công nghệ phức tạp, được chế tạo tinh xảo với các bộ phận tân tiến bậc nhất. Nhưng nó còn có những “vũ khí tối mật” khác mang tên Thiết kế. Thiết kế ở đây không chỉ là hình dáng chiếc điện thoại mà còn là cách nó hoạt động và mang lại trải nghiệm ưu việt cho người dùng. Không chỉ chạy tốt, mà còn phải đẹp, hữu dụng và thân thiết. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra iPhone không được làm ra với tư duy lắp ráp, hay tư duy chế tạo của nhà kĩ sư, mà là bằng tư duy thiết kế (Design Thinking).           Từ Thời đại Nông nghiệp đến Thời đại Nhận thức, theo Daniel Pink.          Cách thức xây dựng sản phẩm theo tư duy thiết kế bắt đầu bằng sự thấu cảm với người dùng để nắm bắt những nhu cầu thầm kín không mấy khi nói thành lời, từ đó phát sinh các ý tưởng thiết kế và giải pháp để đáp ứng nhu cầu đó, rồi tạo lập các bản mẫu để hiện thực hóa ý tưởng, rồi mang ra thử nghiệm để nhận về các phản hồi thực sự từ người dùng, ltối ưu nó và tiếp tục cải tiến nhiều lần trước khi thành sản phẩm cuối tới tay người dùng, và không ngừng cải tiến trong các phiên bản tiếp theo của sản phẩm. Tư duy thiết kế đã tạo ra sự ưu trội của Apple. Nhưng không chỉ có mỗi gã khổng lồ Apple biết sử dụng cái phần cảm xúc và nghệ thuật nằm bên não phải của các kĩ sư và nhà thiết kế sản phẩm.   Trong các trường kinh doanh hiện nay, nhiều doanh nhân thường được dạy cách thức nhìn bức tranh lớn thông qua Bản vẽ Mô hình Kinh doanh (Business Model Canvas), vốn do hai tác giả hâm mộ nhiệt thành tư duy thiết kế sáng tạo ra. Cuốn sách kinh doanh đã tiêu thụ hàng triệu bản “Tạo lập mô hình kinh doanh” của Alexander Osterwalder và Yves Pigneur dạy người học tìm kiếm sự thấu cảm với khách hàng mục tiêu thông qua các công cụ như bản đồ thấu cảm, từ đó đúc rút ra các vấn đề bức thiết cần phải giải quyết, rồi đi đến giải pháp, và thêm nhiều bước đi nữa để phác thảo lên bức tranh kinh doanh tổng thể. Phương pháp đã trở thành “kinh điển” đối với các startup hiện nay đang cho thấy sự hữu dụng tuyệt vời của việc đưa não phải tham gia tích cực vào các tình huống sáng tạo trong kinh doanh.   Tại Viện nghiên cứu về Designd.School ở Đại học Stanford, tư duy thiết kế còn được sử dụng như là một phương pháp giáo dục kiểu mới nhằm tìm kiếm giải pháp giáo dục cá nhân hóa, tự chủ, tự lập, sáng tạo và đổi mới. Những quy trình hoạt động giáo dục đặc trưng của tư duy thiết kế gồm các bước Cảm nhận – Tưởng tượng – Hành động – Chia sẻ đang rất được các nhà trường hưởng ứng. Minh chứng tiêu biểu nhất cho sự hưởng ứng này có thể tìm kiếm sự kiện “Shadow a Student Challenge”mới đây nhằm tạo điều kiện để trên 1430 lãnh đạo trường học trên khắp 50 tiểu bang của nước Mỹ nhập vai sinh viên để đồng cảm với họ, nhận diện các vấn đề của giáo dục, để từ đó đưa ra được những hành động tương ứng nhằm tạo lập các sự thay đổi cần thiết.    Thiết kế chỉ là một ví dụ điển hình về sự nổi dậy của não phải trong thời đại ngày nay. Theo Daniel Pink, tác giả cuốn sách bán chạy “Một tư duy hoàn toàn mới – Tại sao những người-não-phải sẽ thống trị thế giới”, những người-não-phải sở hữu một trong “sáu giác quan” rất khác biệt gồm: Thiết kế, Kể chuyện, Hòa hợp, Đồng cảm, Giải trí, Tìm kiếm ý nghĩa. Pink biện luận, tiếp nối thời đại công nghiệp và thời đại thông tin với lý trí, ngôn ngữ và tư duy logic chiếm thế thượng phong, ngày nay thế giới đang dịch chuyển sang thời đại nhận thức với sự đề cao những người sáng tạo và đồng cảm.   Thực ra Pink không phải là người đầu tiên bàn tới chuyện phải chú ý tới phần bên phải của não bộ con người. Kể từ khi nhà tâm lí học trứ danh Howard Garder phá vỡ thế độc tôn của IQ bằng việc cho ra đời học thuyết về trí thông minh đa dạng những năm 80 thế kỉ trước, nhiều nghiên cứu đã củng cố ý tưởng về tầm quan trọng của cảm xúc, đồng cảm, nghệ thuật và sáng tạo.   Trong thực tiễn, chúng ta có thể thấy ngày càng rõ xu hướng tìm tuyển dụng và đề cao những người có chỉ số cảm xúc cao thay vì IQ như trước. Nhiều tạp chí nổi tiếng trong giới kinh doanh như Havard Business Review hay Forbes cũng đã có hàng loạt bài báo trong nhiều năm liền nhấn mạnh vào khả năng thành công cao hơn ở những người có ưu trội về EQ. Sự ghi nhận đối với các chức năng bên phải não bộ không chỉ dừng ở cộng đồng học thuật mà đã đi sâu vào thực tiễn cuộc sống.   Câu chuyện về não phải đối với giáo dục của chúng ta?   Thật đáng tiếc là chúng ta vẫn đang ở thời kì thống trị của não trái. Chúng ta vẫn nói về một nền giáo dục toàn diện, nhưng thực ra trong đầu phụ huynh và phần nhiều giáo viên, danh sách môn chính thực ra rất ngắn gọn: Toán, Lí, Hóa; hoặc với một số người là Toán-Văn-Anh. Con số dưới 10% chọn thi đại học ban C cho thấy thực trạng “nghiêng về não trái” của chúng ta hết sức rõ nét. Ngay cả cái môn Văn vốn nhẽ ra phải là chỗ để rèn luyện lòng đồng cảm, trí tưởng tượng, và năng lực sáng tạo nghệ thuật, thì phần lớn lại đang luyện cho học sinh chúng ta năng lực sao chép. Chúng ta đã từ lâu bỏ rơi não phải.   Cá biệt cũng có những nỗ lực lội ngược dòng thú vị. Chúng ta có thể tìm thấy một ví dụ hay nằm ở chương trình Giáo dục Hiện đại của nhóm Cánh Buồm từng được trao Giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2015. Với phương châm “xây dựng con người Việt Nam hiện đại, tự chủ, trách nhiệm và tâm hồn phong phú”, đội ngũ làm chương trình Cánh Buồm đã hiện thực hóa ý tưởng giáo dục nghệ thuật cho học sinh ngay từ tiểu học một cách chính quy bài bản.Tương tự như tư duy thiết kế ở Designd School hay một số trường học ở Mỹ, môn Văn của Cánh Buồm dạy học sinh một chu trình Đồng cảm-Tưởng tượng-Liên tưởng-Bố cục để tạo thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Thông qua việc rèn luyện các thao tác “làm nghệ thuật” ngay từ tấm bé, não phải của trẻ em được rèn giũa liên tục. Mục đích của sự rèn luyện này không phải là để biến học sinh thành hàng loạt các nghệ sĩ, mà cơ bản hơn là để rèn tư duy nghệ thuật, và gián tiếp làm cho não phải mạnh lên. Đây quả là một gợi ý rất hay về tư duy, cách làm để tạo lập những con người sáng tạo và đồng cảm cho “thời đại nhận thức” của thế kỉ XXI hiện nay.    Author                Quản trị        
0.5
__label__tiasang     Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ hai chuyện về đổi mới giáo dục      Câu chuyện thứ nhất. Năm 1961, khi được tin U. Gagarin bay vào vũ trụ, Tổng thống Mỹ lúc đó là J. Kennedy đã phải ngậm ngùi thừa nhận: “Nền giáo dục Xô Viết đã chiến thắng!”. Và đằng sau chiến thắng này là gì?    Đó là cả một chiến lược giáo dục dài hạn. Còn nhớ, tháng 3 năm 1946, Thủ tướng Anh Winston Churchill, với sự có mặt của người đồng sự Mỹ Harry Truman, trong bài phát biểu tại Đại học Fulton, đã lớn tiếng kêu gọi phương Tây đoàn kết cùng chống lại nhà nước Xô Viết. Chiến tranh lạnh và cuộc chạy đua vũ trang chính thức khởi động. Đúng năm ngày sau, trường Đại học Vật lý Kỹ thuật Mátxcơva (Moscow Institute of Physics and Technology (MIPT), hay còn gọi là Phystech) chính thức được thành lập. Cùng với hai ngôi trường khác là Đại học Vật lý Kỹ sư Mátxcơva (MIFI) và Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Bauman, MIPT sẽ góp phần tạo thế chân kiềng, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp quân sự của Liên Xô. Mỗi trường đều có những nhiệm vụ cụ thể. Trường MIFI sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị nguồn nhân lực cho ngành nguyên tử. Trường Kỹ thuật Bauman đào tạo các nhà sáng chế vũ khí (xe tăng, pháo, tên lửa…), còn MIPT đảm trách việc đào tạo các nhà nghiên cứu – sáng chế cho các ngành trọng yếu: quân sự, năng lượng và vũ trụ. Chính thế chân kiềng này đã tạo nên sức mạnh vô địch của kỹ thuật quân sự Xô Viết, mà dư âm vẫn còn đến tận bây giờ. Bởi ngay từ đầu, P.Kapitza, N.Semenov, L. Landau (đều là những người nhận giải thưởng Nobel vật lý) – những sáng lập viên MIPT, đã đề ra 4 nguyên tắc tổ chức cơ bản của ngôi trường mới: 1) tuyển chọn học sinh tài năng từ khắp mọi miền đất nước; 2) giảng viên sẽ là những nhà khoa học tích cực và tài năng nhất, đang trực tiếp nghiên cứu; 3) phương pháp giảng dạy chú trọng phát huy tối đa năng lực sáng tạo của từng học viên; 4) thực hành trực tiếp trong những phòng thí nghiệm hàng đầu của nền khoa học Xô Viết lúc bấy giờ. Có thể thấy ngay, đây chính là nguyên tắc của một trường đại học đào tạo nhân tài. Và đúng như thế, trong suốt chặng đường tồn tại và phát triển MIPT đã đào tạo cho Liên Xô và Nga 50 viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học quốc gia, 3 nhà du hành vũ trụ, hàng chục doanh nhân, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng… Hiện nay, MIPT vẫn là một trong những trường đại học hàng đầu của Liên Bang Nga, với hơn 100 viện sĩ trực tiếp giảng dạy. Sinh viên tốt nghiệp MIPT nắm giữ hàng loạt các chức vụ quan trọng không chỉ trong các viện nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước mà ngay cả ở các Tập đoàn kinh tế hàng đầu như: Gazprom, Rusnheft, Luicol, Transnheft… Dù làm việc nơi đâu, trong hay ngoài nước, sinh viên Phystech đều là những người nổi bật. Và họ chính là đối tượng săn lùng sáng giá nhất của các công ty săn đầu người đa quốc gia, không kém cạnh gì sinh viên đại học Harvard.                     Câu chuyện thứ 2. Mấy thập kỷ gần đây, thế giới không ngừng kinh ngạc trước những thành tựu vượt bậc của Trung Quốc về mọi mặt: kinh tế, xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật. Và một trong những động lực tạo nên sự kinh ngạc này chính là giáo dục. Trung Quốc đã tiến hành cải cách giáo dục song song theo cả hai hướng: nâng cao chất lượng đào tạo đại trà và chú trọng đào tạo chuyên sâu. Với đại trà, hàng năm, Trung Quốc có trên nửa triệu chuyên gia và kỹ sư tốt nghiệp đại học. Về chuyên sâu, Trung Quốc đã không tiếc tiền đầu tư cho một số cơ sở giáo dục (dù rất ít) với mục đích đạt bằng được tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ Đại học Fudan, ngôi trường cổ kính với lịch sử gần 100 năm, ngày nay đang nuôi tham vọng sánh vai đại học Berkeley hay Cambridge. Phòng thí nghiệm tối tân, hội thảo thường xuyên với giáo sư nước ngoài, thư viện tầm cỡ quốc tế… tất cả chỉ với một mục đích duy nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho 24.000 sinh viên tiếp cận tri thức và nâng cao trình độ. Đặc biệt, Trung Quốc đã mạnh dạn cởi bỏ định kiến, mở rộng cửa đón nhận nguồn nhân lực và trí tuệ từ bên ngoài. Ví dụ, Giám đốc Đại học Fudan là một giáo sư thiên văn đào tạo tại Austin, bang Texas của Mỹ. Giám đốc Viện Nghiên cứu Sinh học là một giáo sư của Đại học Cincinnati (Mỹ), ông Jin Li, chuyên gia nổi tiếng về di truyền học, đã đồng ý về lại Shanghai với mức lương 1 triệu NDT/năm (hơn 120.000USD, gấp đôi lương trung bình một giáo sư đại học tại Pháp). Lương các giáo sư “bản xứ” đuợc tăng gấp 10 hoặc gấp 20 lần so với cách đây 10 năm. Ngoài ra, chính quyền Trung Quốc còn áp dụng cả một chính sách khuyến khích sinh viên ra nước ngoài học tập ở những trường đại học hay cao đẳng nổi tiếng trên thế giới. Kết quả là từ năm 1978 đến nay, tổng cộng số du học sinh Trung Quốc đã lên đến khoảng 580 000 người. Và đã có trên 150 000 trong số này trở về phục vụ đất nước1. Có thể thấy, chính giáo dục, chứ không phải một ngành nào khác, đã làm nên điều kỳ diệu của quốc gia châu Á này.  ***  Qua câu chuyện về giáo dục của Liên Xô và Trung Quốc, chúng ta thấy trong cuộc chấn hưng nền giáo dục nước nhà trước hết muốn thành công cần phải có những nhà giáo dục, nhà quản lý tâm huyết và tầm cỡ, đủ ý chí và nghị lực kiến tạo các quyết định chính trị đúng đắn, bởi người ta luôn luôn phản đối cái mới theo quán tính và thói quen. Thứ hai, giáo dục muốn thành công phải phát huy hết khả năng sáng tạo của người học, tôn trọng họ trước hết như là một cá tính, một chủ thể đủ lý trí và sức khỏe để làm chủ cuộc sống của mình. Chừng nào tư tưởng áp đặt, định kiến, phong trào vẫn còn nặng nề trong hệ thống giáo dục, thì chừng đó chúng ta đừng đặt vấn đề đào tạo nhân tài. Thứ ba, học phải đi đôi với hành. Các trung tâm nghiên cứu, các tập đoàn kinh tế hàng đầu phải là một phần không thể tách rời trong quá trình đào tạo. Chính họ, chứ không phải ai khác là nơi gắn liền lý thuyết với thực tiễn.  ——–    Đỗ Tuyết Khang. Trung Quốc sau 4 năm tham gia WTO: Đánh giá sơ khởi vài nét chính. Tạp chí Thế giới mới. Số 11 – 2005.  Nguyễn Văn Minh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự học như một tầm nhìn      Sáu năm hoạt động, nhóm Cánh Buồm không bao giờ che giấu ý đồ làm mẫu những công việc mong sao tác động được vào tiến trình thay đổi công cuộc Giáo dục Việt Nam hôm nay. Nói cách khác, nhóm Cánh Buồm rất có ý thức về Tầm nhìn Giáo dục của mình.  Đã đến lúc nhóm Cánh Buồm nói rõ Tầm nhìn Giáo dục đó ra được chưa?      Phổ cập thì được gì nếu đồng thời “phổ cập” luôn cả lối học tập nhồi sọ    Tầm nhìn Giáo dục cần được định nghĩa như là cái nguyên lý phát triển chi phối toàn bộ công việc. Tầm nhìn khác với triết lý giáo dục. Nếu nền giáo dục may mắn có được một triết lý giáo dục, thì triết lý đó cũng chỉ chi phối mặt tinh thần của công cuộc đó thôi. Còn Tầm nhìn Giáo dục lại như một thứ “đề án” vừa “tinh thần” vừa “vật chất”: nó mang tư tưởng riêng, mang hoài bão riêng, song lại không dừng ở địa hạt tinh thần – nó rất cụ thể vì phải mang trong mình cả giải pháp kỹ thuật thực thi nữa.   Chỉ cần đọc tên các cuộc hội thảo hằng năm của nhóm Cánh Buồm1, có thể thấy lặp đi lặp lại yếu tố tự học, thậm chí cả tự giáo dục. Với nhóm Cánh Buồm, có thể nói đó là một mục tiêu ám ảnh có tính chất như một lý tưởng sống. Cái lý tưởng dắt dẫn toàn bộ hoạt động của nhóm được nói lên và viết ra nhiều lần: “Tự học là một năng lực các nhà sư phạm hai tay dâng lên trẻ em Việt Nam”. Năng lực tự học sẽ giúp con em tự giáo dục để tổ chức quá trình tự phát triển, nhờ đó mà biết sống tự lập, tự cường.   Nhóm Cánh Buồm chỉ có một tầm nhìn xoay quanh việc hai tay dâng năng lực tự học cho con em toàn thể dân tộc. Nhóm không đưa ra một “tầm nhìn” hình thức kiểu như “một xã hội học tập”, kiểu “phổ cập Tiểu học” để rồi lần lần leo lên “phổ cập Đại học” một ngày nào đó chưa biết chừng! Phổ cập thì được gì nếu đồng thời “phổ cập” luôn cả lối học tập nhồi sọ, giáo điều, lối học để ghi điểm, học để thi đỗ, học để “vẻ vang dòng họ” kéo theo đủ thứ khoa trương khoe mẽ không cần thiết chút gì cho cuộc sống!    Tự học như một thách thức, một lối sống  Tự học như một tầm nhìn, ngay từ một khởi điểm u buồn, vẫn thấy được tất cả thanh thiếu niên Việt Nam vào đời không trang bị bằng tài sản thừa kế mà bằng năng lực của bản thân. Tự học như một phẩm chất hoàn toàn trái ngược với mọi “phẩm chất” trì trệ, xa lạ với một thế giới biến động từng giây từng phút. Tự học như một viễn kiến chống lại mọi giá trị hủ lậu được tân trang bằng những đồ trang kim hàng mã nhân danh cái “hiện đại”. Tự học của học trò như một thách thức và buộc phải cải tạo giới nhà giáo, trong đó không ít người quen “leo cao” nhờ sự trì trệ của xã hội. Tầm nhìn tự học, tự giáo dục rồi sẽ phải trở thành một ao ước nồng nàn, kiên trì, của cả thầy lẫn trò đồng hành xây dựng cuộc sống thực của cuộc đời bắt buộc phải hiện đại hóa từng bước chắc chắn.        Tầm nhìn Tự học đòi hỏi phải xử lý khái niệm  Giáo dục theo cách khác – theo cách tôn trọng người học thay vì chỉ tôn  trọng người dạy – và khi đó khái niệm tự học mới được sáng tỏ.        Tự học như một phương pháp, một lối sống, một công cụ tâm lý, không phải là điều có thể đặt ra một cách dễ dãi. Tầm nhìn đó hoàn toàn ngược lại cách thức người lớn vẫn áp đặt cho trẻ em từ lâu đời – những người lớn “bắt” trẻ con phải “nên người” – mà ngay chính bản thân người lớn cũng mù mờ về khái niệm Người họ đem ra dứ trẻ con. Mà nực cười nhất là nhiều “người lớn” càng nếm trải thất bại đủ kiểu càng khăng khăng tự cho mình cái quyền đòi hỏi trẻ con phải nên người!   Tầm nhìn Tự học chống lại những lý thuyết hỗ trợ cho mọi cách định nghĩa khái niệm Giáo dục theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa. Tầm nhìn mới đòi hỏi phải xử lý khái niệm Giáo dục theo cách khác – theo cách tôn trọng người học thay vì chỉ tôn trọng người dạy – và khi đó khái niệm tự học mới được sáng tỏ.   Tầm nhìn Tự học đòi hỏi ta trở lại với nhà tâm lý học phát triển Jean Piaget, để có được những nghiên cứu về cách học của con người kể từ khi chào đời. Chỉ khi nào đi tìm nguồn gốc hành động học từ trong sự phát triển tự nhiên của sinh vật người, khi đó hành động học của từng chủ thể học sẽ hiện ra dưới ánh sáng khác.   Trước khi chào đời, đứa nhỏ sống trong bụng mẹ tối om, lại là một môi trường nước, nó lại không cần ăn uống và hít thở vì nhau thai đã làm hộ các công việc thiết yếu đó. Nhưng khi chào đời, đứa nhỏ sống dưới ánh sáng Mặt trời, nó tự thở bằng phổi, nó tự ăn mà sống. Và thế là từ phút thứ nhất của đời mình, đứa trẻ đã phải học để thích nghi với môi trường sống mới. Jean Piaget coi sự thích nghi này là sự học (tự học một cách sinh vật học) để tự có những điều học được. Những điều học được này sẽ thay đổi để thành những điều học được mới mẻ hơn, có chất lượng khác đi – và Jean Piaget gọi đó là hoạt động điều tiết. Một định nghĩa khái niệm Giáo dục đơn giản mà chính xác đến thế là cùng! Chẳng thế mà Albert Einstein đã có cách đánh giá Jean Piaget không gì đẹp hơn: “Giản dị như một thiên tài”!    Giải pháp kỹ thuật     Một dân tộc tự học, một quốc gia tự học, một xã hội tự học, đó là Tầm nhìn Giáo dục của nhóm Cánh Buồm. Có một vế đối cho nó để nó không dừng lại ở cấp độ một ảo tưởng. Vế đối đó được tạo thành bởi những giải pháp kỹ thuật.   Muốn có giải pháp kỹ thuật, việc đầu tiên là truy tìm nguyên nhân nền giáo dục cũ không mang lại năng lực tự học cho học sinh. Nhóm Cánh Buồm cho rằng thủ phạm là sự thiếu hiểu biết của các nhà sư phạm về CÁCH HỌC. Nhà sư phạm luôn luôn nghĩ tới cách dạy mà không nghĩ xem cách dạy của mình hiệu quả đến đâu. Nhà sư phạm chăm chăm dạy dỗ, và khi học sinh không tiếp thu những điều được nhồi nhét, thì lỗi được đổ lên đầu vùng quê, dòng họ, gia đình người học để lý giải tình trạng học sinh học dốt.        Tầm nhìn Tự học của nhóm Cánh Buồm không  dừng lại ở cấp độ một ảo tưởng bởi nó mang trong mình cả giải pháp kỹ  thuật thực thi nữa. Trung thành với lý thuyết thao tác của Jean Piaget,  nhóm đã tìm ra tương đối đầy đủ thao tác học tiếng Việt (ngôn ngữ học)  và thao tác học Văn (nghệ thuật).        Nói một cách công tâm, có lẽ Hồ Ngọc Đại là nhà sư phạm đầu tiên lên tiếng cảnh báo tình trạng tập trung vào cách dạy (với đỉnh cao là “năm bước lên lớp”) và ông kêu gọi hãy đi tìm sâu vào cách học. Chương đầu tiên trong tác phẩm Bài học là gì? của Hồ Ngọc Đại có cái tên khá “phản cảm” với rất nhiều người, đó là “Vẫn chưa có trường sư phạm”. Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra rằng Việt Nam chưa có nghề sư phạm mặc dù có trường sư phạm. Vậy nếu có nghề sư phạm, thì nghề đó có đặc trưng gì? Cũng theo Hồ Ngọc Đại, suy cho cùng, và định nghĩa chắt lọc nhất, đó là nghề đi tìm những thao tác học và ứng dụng vào người học.   Tư tưởng sư phạm tập trung vào thao tác học vô cùng đúng đắn đó đã được Jean Piaget nghiền ngẫm, khảo sát, ghi chép hàng chục năm trời trên những “chuột bạch” là ba con đẻ của mình, sau đó là vô số vật phẩm tại trường phổ thông Jean-Jacques Rousseau ở Thụy Sĩ, để cuối cùng đúc kết rằng tư duy con người cũng mang tính thao tác. Lẽ ra, trong một bối cảnh tự do hơn rất nhiều đồng nghiệp, Hồ Ngọc Đại có thể đi xa nữa. Hơn ba chục năm tồn tại, lẽ ra Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm của Hồ Ngọc Đại có thể hoàn thành toàn bộ chương trình và sách cho toàn bộ bậc học phổ thông! Nguyên nhân là do trình độ triển khai tư tưởng thao tác của Piaget, hay do chủ động dừng lại làm thật đẹp ở lớp Một và vài lớp trên lớp Một.  Nhóm Cánh Buồm mà người sáng lập luôn luôn nhận mình đã học được nhiều từ Hồ Ngọc Đại những truyền đạt không nguyên văn, song đã quyết đi theo tư tưởng thao tác của Piaget đến triệt để. Nhóm Cánh Buồm chủ động lập một Tủ sách Tâm lý Giáo dục mà trong hơn một năm đã có hai xuất bản phẩm gốc từ Piaget. Còn dưới một chục đầu sách Piaget đang nằm chờ dịch và in với sự tham gia của hai nữ tiến sĩ Việt Nam ở Pháp và nhóm dịch giả ở trong nước, gồm Nhà giáo Ưu tú Vũ Thế Khôi, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, nhà thơ và dịch giả Hoàng Hưng, và dịch giả Dương. Tủ sách đó cũng không chỉ dừng lại ở Piaget, nó còn được bổ sung bằng những tác giả kinh điển và hiện đại khác. Về lâu dài, rõ ràng là nó gợi ra những nghiên cứu tâm lý học giáo dục bản địa. Và đây là điều hết sức quan trọng: bên cạnh sách lý thuyết, nhóm Cánh Buồm trung thành với lý thuyết thao tác của Jean Piaget đã tìm ra tương đối đầy đủ thao tác học tiếng Việt (ngôn ngữ học) và thao tác học Văn (nghệ thuật).   Mười cuốn sách Tiểu học hai môn Văn và Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm đem dùng có kết quả ở trẻ em đã thúc giục nhóm triển khai soạn sách Văn và Tiếng Việt lớp Sáu như một thăm dò đầu tiên. Thăm dò vào ba điểm: (a) trẻ em lớp Sáu có thể tự học được không (dĩ nhiên có sự trợ giúp về cách học của giáo viên, nhưng không có bài giảng của giáo viên); (b) các nhà nghiên cứu đại diện cho bộ phận sáng láng của dư luận xã hội có phản ứng ra sao; và (c) có thể tiếp tục triển khai lên đến hết lớp Chín không.  Tại sao Tầm nhìn của nhóm Cánh Buồm lại dừng “đột ngột” ở lớp Chín? Đó là vì cũng theo Tầm nhìn ấy, dự kiến học sinh học hết lớp Chín sẽ vào đời. Các em sẽ vào đời theo ba hướng: (a) Đi kiếm sống; (b) Học thêm ở trường học nghề rồi cũng đi kiếm sống “có đẳng cấp” hơn; và (c) Học lên bậc Trung học Phổ thông (như tên gọi bây giờ, và Tầm nhìn Cánh Buồm muốn đề nghị đổi tên thành bậc Trung học Chuyên ban, với “tầm nhìn” là bậc tập nghiên cứu, để bước lên bậc tập độc lập nghiên cứu hoặc bậc Đại học).   Có vậy thôi ư? Xin thưa, sáu năm hoạt động, nhóm Cánh Buồm xin tạm trình ra xã hội bấy nhiêu điều thuộc Tầm nhìn Giáo dục của chính mình thai nghén và cho chào đời. Đó là những sản phẩm có thực, xã hội có thể đem về dùng thử, hoàn toàn không vu vơ như những thu hoạch… vu vơ.  —  1Kể từ năm 2009, nhóm Cánh Buồm đều đặn tổ chức hội thảo hằng năm: Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em (2009), Chào lớp Một (2010), Tự học – Tự giáo dục  (2011), Em biết cách học (2012), Cánh Buồm no gió – thời đại Internet (2013), Cao hơn, xa hơn, và dễ tự học (2014), Chào lớp Sáu (2015).           Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ kết quả một cuộc thi lập trình      Cuộc thi lập trình bậc đại học của ACM (ACM International Collegiate Programming Contest, viết tắt là ACM-ICPC) hàng năm là cuộc thi lập trình có truyền thống và danh tiếng nhất của sinh viên máy tính bậc đại học trên thế giới. Đạt được thứ hạng cao trong cuộc thi này làm gia tăng đáng kể tiếng tăm của một trường, dù là ở bất kỳ nước nào trên thế giới     Các thành viên của một đội tuyển đoạt thứ hạng cao thì có một đề mục nặng ký trong bản tóm tắt thành tích (resumé) để xin học Masters, Ph.D ở các trường hàng đầu thế giới. Năm vừa rồi, một Ph.D xin việc ở khoa tôi đã từng nằm trong một đội tuyển của Slovakia đứng thứ 12 trong kỳ thi ACM-ICPC năm 1996.  Các trường đại học ở Trung Quốc và Đông Âu (bao gồm Nga) bắt đầu thống trị cuộc thi này những năm gần đây. Trường đại học đạt hạng cao nhất của Mỹ chỉ đứng thứ 17. Ta có thể rút ra bài học hay các câu hỏi gì từ kết quả này (khá đồng nhất trong những năm gần đây)?  Phải chăng chất lượng giáo dục khoa học máy tính (KHMT) ở Mỹ đang giảm sút? Hay chất lượng sinh viên học KHMT ở Mỹ đang giảm sút? (Nhớ rằng ta đang xét đến chất lượng giáo dục KHMT ở bậc đại học chứ không phải sau đại học). Nếu câu trả lời là có thì do nguyên nhân nào?  Một bài báo gần đây của Thomas L. Friedman trên tờ New York Times có bàn về vấn đề này. Thomas gợi ý rằng sinh viên Mỹ đang tụt hậu về khoa học và kỹ thuật.  Một bài phỏng vấn khác của CNet News cũng quan tâm đến cùng đề tài. Giáo sư David Patterson, Chủ tịch của ACM là người trả lời phỏng vấn. (Giáo sư Patterson là nhà nghiên cứu chủ đạo thiết kế cấu hình RISC và hệ thống RAID. RISC là nền tảng của cấu hình SPARC của hãng Sun Microsystems). Trong bài, giáo sư Patterson quy kết quả yếu của các đại học Mỹ cho các lý do: (a) sự thiếu quan tâm tầm quốc gia [ví dụ các trường ở Nga đoạt giải thì được chính tổng thống Putin khen thưởng], (b) các trường ở Đông Âu và Trung Quốc coi trọng cuộc thi này hơn các trường ở Mỹ, nhưng ông cũng nghĩ đó không phải là lý do cốt yếu, (c) người Mỹ biếng nhác hơn vì họ đã thống trị KHMT quá lâu, (d) sự giảm sút của đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu KHMT những năm gần đây ở Mỹ, và (e) chất lượng đầu vào của sinh viên giảm sút sau bùng nổ dot-com.  Gần đây, Bill Gates làm một tour nói chuyện ở vài trường đại học lớn để kêu gọi sinh viên giỏi vào học KHMT và kêu gọi các trường tìm cách thu hút thêm sinh viên giởi từ nước ngoài. Lý do cho chuyến “du Nam” này của Bill chính là sự giảm sút chất lượng và số lượng sinh viên KHMT mà Microsoft đang và sẽ bị ảnh hưởng lớn. Việc xin visa sinh viên vào Mỹ khó khăn trong những năm gần đây làm giảm đáng kể số sinh viên ngoại quốc ở Mỹ. Out-sourcing, off-shoring làm cho sinh viên KHMT ở Mỹ tìm việc khó khăn hơn, do đó họ không lao vào KHMT nhiều như những năm 90.  Kết quả thi này có phản ánh chính xác trình độ sinh viên và chất lượng của đại học đoạt giải hay không?  Giáo sư Norm Matloff lý luận là không. Norm cho rằng, cũng như chuyện “luyện gà chọi” thi Olympics thể dục dụng cụ, Trung Quốc và các nước Đông Âu đầu tư rất nhiều vào các kỳ thi loại này. Kết quả thi không phản ánh đúng trình độ của học sinh và chất lương giáo dục. Ví dụ, ở ngay tại Trung Quốc thì hai trường Đại học Bắc Kinh (Peking University) và Đại học Thanh Hoa (Tsinghua University) là hai trường hơn hẳn Shanghai Jiaotong University, thế nhưng cả Bắc Kinh lẫn Thanh Hoa đều không nằm trong top 10. Ta có thể thêm vào các IIT của Ấn Độ – chất lượng sinh viên và chất lượng giáo dục các ngành kỹ thuật rất cao – nhưng họ không có mặt trong top 10.  Các trường đại học ở Việt Nam có thể học được gì từ kết quả này?  Các trường đại học Mỹ có tham gia kỳ thi này hay không thì cũng không ảnh hưởng mấy đến giáo dục đại học của họ. Việt Nam thì khác. Tôi nghĩ ta nên tích cực tham gia kỳ thi này. Có vài cái lợi trước mắt và lâu dài:  * Đầu tư vào một kỳ thi như vậy không nhiều (từ thời gian đến tiền bạc), lại có thể tiến hành độc lập từ các trường đại học, không cần quản lý tầm quốc gia. Bản chất kỳ thi là giữa các trường với nhau, không phải là giữa các nước với nhau như kỳ thi toán quốc tế. Mỗi trường chỉ cần 3 sinh viên và một huấn luyện viên và chẳng cần thiết bị gì ngoài một cái máy tính và một số sách vở.  * Một đại học ở VN có thể cải thiện danh tiếng tầm quốc tế ngay lập tức nếu đạt thứ hạng kha khá. Các sinh viên tốt nghiệp đại học này sẽ được xem xét với một ánh mắt khác khi xin học Masters/Ph.D ở nước ngoài. Các sinh viên đoạt giải trong kỳ thi sẽ có tương lai sáng láng khi xin học sau đại học.  * Tạo được thêm động cơ học tập lập trình cho sinh viên KHMT. Việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật nhanh với lời giải đẹp như trong kỳ thi ACM-ICPC là chất lượng rất quan trọng của kỹ sư máy tính.  Có không ít các tranh cãi về chuyện “luyện gà chọi” thi học sinh giỏi ở Việt Nam. Nhiều người có thể nghĩ rằng thêm một nhóm “gà chọi” nữa sẽ làm cho vấn đề tệ hơn. Mặc dù vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ càng hơn nhưng tôi muốn nêu một thực tế rất đáng chú ý là có rất rất nhiều những khoa học gia của Việt Nam thành công ở nước ngoài, hoặc đang giữ các vị trí quan trọng trong nước hiện nay là cựu sinh viên chuyên Toán…  Ngô Quang Hưng (Mỹ)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ khái niệm “siêu nhân” của Nietzsche, nghĩ về người thầy      Xã hội ta vốn rất coi trọng người thầy. Không có vấn đề gì khi sự đề cao mang nghĩa ghi nhận đóng góp của người thầy đối với cộng đồng, như ghi nhận đóng góp của các ngành nghề, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, sự đề cao đó phần nào xuất phát từ ý nghĩ cố hữu là thầy luôn luôn đúng. Điều đó cản trở quá trình phê phán của người thầy.      Ai cũng có thể trở thành siêu nhân…*  Khái niệm siêu nhân trong triết học Nietzsche, theo cách hiểu của Deleuze, là rất khác so với quan niệm thông thường. Sự phát triển của điện ảnh, nhất là thể loại khoa học giả tưởng đã tạo nên một hình ảnh đậm nét trong trường liên tưởng của chúng ta. Siêu nhân – đó là những người có năng lực siêu nhiên, phi thường, thường xuất hiện với sứ mệnh thiêng liêng là chống lại thế lực phi nghĩa nào đó; siêu nhân bao giờ cũng chiến thắng, anh ta là kẻ mạnh và luôn đóng vai chính. Nietzsche quan niệm: “siêu nhân, con người bị vượt qua, bị vượt lên” (1). Có nghĩa là với Nietzsche, siêu nhân không phải là kẻ mang sức mạnh siêu nhiên, mà siêu nhân xuất hiện khi con người bị vượt qua. Sức mạnh của siêu nhân là ở chỗ có khả năng phê phán và chấp nhận sự phê phán, sự phê phán nhằm vào những mặt cần phê phán và có tác dụng hoàn thiện con người.   Điều này nghe có vẻ rất đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi chấp nhận sự phê phán tức là chấp nhận rằng bản thân có những khuyết điểm, những sai lầm cần phải sửa chữa. Thái độ này đòi hỏi một sự dũng cảm đặc biệt mà không phải ai cũng có. Deleuze viết: “Đừng nghĩ rằng siêu nhân của Nietzsche là một sự đấu giá cao hơn: về bản chất, nó khác con người, khác với cái tôi” (2). Con người có bản năng tự bảo vệ, đối với ý thức của mình cũng vậy, thật khó để con người phủ định bản thân, thật khó để cho cái tôi tự lên án chính nó.  Khái niệm siêu nhân của Nietzsche mở ra một khả năng của con người. Với quan niệm của Nietzsche, siêu nhân là một sự trở thành của con người, bất kỳ ai cũng có thể là siêu nhân nếu họ tiến hành phê phán, và ngược lại, biết chấp nhận sự phê phán. Làm được điều đó có nghĩa là họ đã tạo điều kiện cho sự hình thành của siêu nhân. Quyền lựa chọn giờ đây được chuyển vào tay con người chứ không phải Chúa, đó là nỗ lực sống chứ không phải là định mệnh.  …nhưng người thầy phải sáng suốt gấp đôi  Xã hội ta vốn rất coi trọng người thầy. Trong chế độ phong kiến, quan hệ thầy – trò là một trong ba quan hệ trụ cột của xã hội, cùng với quan hệ vua – tôi và cha – con. Cho đến ngày nay, vị trí của người thầy luôn được đề cao. Không có vấn đề gì khi sự đề cao đó mang nghĩa ghi nhận đóng góp của người thầy đối với cộng đồng, như ghi nhận đóng góp của các ngành nghề, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, sự tôn vinh hiện nay phần nào xuất phát từ ý nghĩ cố hữu là thầy luôn luôn đúng. Điều đó cản trở quá trình phê phán, cũng là cản trở quá trình đến với siêu nhân của người thầy. Mọi người xung quanh nghĩ rằng thầy luôn đúng, như thế thật khó để chính ông nghĩ rằng mình đã sai.   Khi một đứa trẻ bị la mắng, người ta nói với nó rằng đó là để nó tiến bộ hơn; nhưng khi đứa trẻ lên tiếng về cái sai của người lớn, người ta sẽ nghĩ nó hư. Những đóng góp hay nhận xét của học sinh đối với thầy giáo bị xem là vô lễ và xúc phạm. Gần đây, Bộ Giáo dục đưa ra ý kiến về việc tiến hành nhận xét giáo viên trong trường phổ thông, và người nhận xét là học sinh. Dư luận nảy sinh hai luồng quan điểm: 1. cho rằng đó là tiến bộ, phù hợp với xu thế của thời hiện đại; 2. phản đối vì việc đó làm ảnh hưởng đến quan hệ thầy – trò truyền thống, làm giảm uy tín người thầy và “làm hư” học sinh. Cuối cùng, việc học sinh nhận xét giáo viên chỉ được một số trường tư thực hiện và vẫn không áp dụng một cách đại trà.   Người thầy ở xã hội ta thật khó có thể thực hiện quá trình vươn tới siêu nhân – khái niệm mà chúng ta đang nói đến. Tâm lý xã hội đã ảnh hưởng đến tâm lý cá nhân. Người thầy một mặt bị kìm nén bởi đặc tính cố hữu của con người là bảo thủ, một mặt được xã hội vỗ về rằng ông luôn đúng. Để nhận ra khuyết điểm của mình, ông phải sáng suốt gấp đôi.    Người thầy – người đồng hành  Mối quan hệ thầy – trò vốn được xác định trong thế đối xứng cao – thấp cần phải được điều chỉnh. Người thầy ngày nay không đứng cao hơn học sinh trong quá trình khám phá tri thức. Vai trò người truyền thụ nên được thay đổi thành người đồng hành, người trao đổi. Có như vậy thì những ý kiến đóng góp của học sinh về mặt chưa tốt, chưa đúng của thầy mới được coi là bình thường. Thầy phê trò thì cũng nên có chiều ngược lại. “Siêu nhân là sản phẩm tích cực của bản thân sự phê phán” (3). Từ câu này có thể hiểu rằng người phê phán và kẻ bị phê phán ngang hàng với nhau, bởi trong quá trình trở thành siêu nhân thì hai vai trò đó có thể được hoán đổi: lúc này anh là kẻ bị phê phán, nhưng lúc khác anh là người phê phán, dù ở trường hợp nào thì anh cũng đang góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của con người. Nói “siêu nhân là sản phẩm tích cực” bởi vì sau phê phán cái xấu bị bóc trần và tiêu diệt đi, con người sau phê phán thay đổi theo hướng tốt lên. Hơn thế nữa, sự phê phán ở đây không chỉ là “phê bình” mà còn là “tự phê bình”.   Ý nghĩa triệt để nhất của khái niệm phê phán là ở sự tự phê bình này. “…một ‘kiểu người tương đối có tính siêu nhân’: kiểu người phê phán, con người với tư cách là kẻ muốn bị vượt qua, bị vượt lên”. Cái “muốn” đó biểu hiện sốt sắng nhất ở việc tự tiến hành phê phán. Thực tế cho thấy, phê phán người khác luôn dễ hơn phê phán chính mình, con người thường nghĩ rằng nhận ra cái sai của người khác tức là chứng tỏ mình giỏi hơn họ. Đầu mũi tên phê phán phải hướng vào bên trong trước khi vươn ra bên ngoài để đảm bảo tính trong sáng và bình đẳng của nó.  Siêu nhân trong cách hiểu thông thường là nhân vật dùng sức mạnh của mình để chống lại một lực lượng phi nghĩa. Đối tượng nó hướng đến là lực lượng phi nghĩa đó. Trong triết học Nietzsche, vì siêu nhân là sản phẩm của phê phán nên nó lấy chính mình làm đối tượng “tấn công”. Siêu nhân loại trừ cái cần bị phê phán trong chính nó. Với Nietzsche, cái cần phê phán tồn tại trong mỗi con người và phải được loại trừ trước hết bởi chính người đó. Cái cần phê phán không phải được tập trung hoàn toàn trong một thế lực đại diện nào để con người ta chỉ chăm chú vào đó để tấn công. Siêu nhân trong cách hiểu thông thường hóa ra rất đơn giản: anh ta chỉ việc phát hiện ra mục tiêu ở – bên – ngoài mình và sử dụng những năng lực siêu nhiên trời phú (mang tính bản năng, có sẵn) để hoàn thành sứ mệnh là tiêu diệt mục tiêu ấy.   Ngược lại, quá trình trở thành siêu nhân theo quan niệm của Nietzsche thật khó khăn khi chúng ta – với tư cách là những con người thiếu sót – phải phát hiện ra cái thiếu sót của mình. Siêu nhân sẽ ra đời khi con người không hoàn hảo phê phán cái không hoàn hảo của anh ta. Cũng như khi nói “Chúa đã chết”, Nietzsche một lần nữa nhấn mạnh việc tự chịu trách nhiệm với bản thân của con người thông qua quan niệm về siêu nhân.  Làm việc với thế hệ trẻ, đó là niềm vui của người thầy mà cũng là trách nhiệm. Người thầy buộc phải tự hoàn thiện mình, trước hết như một nhu cầu tự thân của con người, sau đó là để tương xứng với sự học của học sinh. Học sinh là người lĩnh hội kiến thức, tức là người tìm cách phủ nhận cái mình chưa biết bằng cái mình sẽ biết. Người thầy, bởi vì là một người bạn đường, cũng cần phải khắc phục cái mình còn thiếu sót. Quá trình tự phê phán diễn ra một cách tự nhiên nếu người thầy nhận thức được việc ông đang làm là đi cùng với thế hệ trẻ trên con đường trưởng thành của họ – đó cũng là quá trình trở thành siêu nhân của chính ông.              Bài tiểu luận này được thực hiện trong khuôn khổ chuyên đề hướng dẫn cách đọc một tác phẩm triết học tại Khoa Văn học và Ngôn Ngữ, ĐHKHXHNV TP HCM.          —  * Các tít phụ do Tia Sáng đặt  (1) Gilles Deleuze, Nietzsche và triết học (Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), NXB Tri thức, H, 2010, tr. 131  (2) Sđd, tr. 232  (3) Sđd, tr. 130             Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ không đến có diễn ra như thế nào ?      Bài viết lược thuật tham luận của tiến sĩ tâm lý học Mạc Văn Trang tại hội thảo giới thiệu sách Tâm lý học của Jean Piaget Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em, tổ chức ở Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội trong tháng hai vừa qua.      Khi đọc sách “Sự ra đời trí khôn của trẻ em”1 và “Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em”2 của Jean Piaget, bỗng nhiên tôi nhớ đến câu thơ rất thú vị của Xuân Diệu:“ÔI! TỪ KHÔNG ĐẾN CÓ/ XẢY RA NHƯ THẾ NÀO”?… trong bài “Quả sấu non trên cao”. Không gì thích hợp hơn là mượn câu thơ đó làm tựa đề cho bài viết về những nghiên cứu Tâm lý học phát triển của Jean Piaget.  Bằng phương pháp quan sát trường diễn cuộc sống tự nhiên của trẻ trong quá trình phát sinh, phát triển, trước hết là các con của ông, Piaget đã ghi chép tỉ mỉ, mô tả cặn kẽ từ các phản xạ sinh lý đến sự nảy sinh ra hiện tượng tâm lý diễn ra như thế nào. Quả là kỳ thú khi quan sát được cái “từ không đến có” diễn ra trong đời sống tâm lý của đứa trẻ…Trên cơ sở đó Piaget phát hiện ra tính quy luật của các hiện tượng tâm lý, xác lập các quan điểm tâm lý học của ông.  Có thể lấy ví dụ như được trình bày trong cuốn “Sự ra đời trí khôn của trẻ em”, bằng việc quan sát liên tục bé sơ sinh, hàng trăm lần mỗi lần bé thèm bú, cử động tìm vú và đến 29 ngày bé thích nghi với việc bú ra sao… Piaget thu được kết quả “mang một tầm quan trọng lớn về lý thuyết, cho phép hiểu được một hệ thống các phản xạ thuần túy có thể tạo thành thái độ tâm lý ở điểm nào, ngay khi có sự hệ thống hóa sự vận hành của chúng. Quá trình ấy được phân tích bằng việc xem xét liên tiếp nó với tư cách sự thích nghi và với tư cách sự tổ chức tăng dần” (tr.47- MVT in nghiêng). Từ cơ chế phản xạ thuần túy sinh lý – di truyền sơ khai, đứa trẻ đã “học” bằng tích lũy dần các phản xạ để thích nghi với vận động bú và hình thành nên cơ chế đồng hóa, điều tiết và tổ chức cùng với quá trình đó là sự nảy sinh ra cấu trúc cảm giác vận động sơ khai…(một hiện tượng tâm lý).  Quá trình đó trải qua sáu giai đoạn hình thành, phát triển (trong vòng 1 năm 6 tháng) cái cấu trúc cảm giác vận động sơ khai được áp dụng vào các tình huống mới; được liên kết giữa các vận động cầm nắm, nghe, nhìn, phát âm… trở thành những cái “sơ đồ” (schème) ngày càng được đồng hóa, phổ cập hóa phong phú và có khả năng điều tiết linh hoạt ứng với các tình huống khác nhau. Và khi một đồ chơi trong tầm nhìn của trẻ vắng mặt, trẻ ngơ ngác, bập bẹ gọi tên đồ vật và đi tìm kiếm nó (quan sát 181). Như vậy biểu trưng về đồ vật vắng mặt (cái sơ đồ biểu trưng trong não) đã điều khiển hành vi tìm kiếm của đứa trẻ. Một nấc thang phát triển có chất lượng mới về trí khôn được ra đời ở đứa trẻ (tr.415). Ta đã thấy, trí khôn ra đời từ phản xạ sinh lý chuyển thành cảm giác vận động, và từ cảm giác vận động đến biểu trưng về sự vật, trong quá trình phát triển tự nhiên diễn ra suốt 18 tháng đầu đời của đứa trẻ. Từ không đến có đã diễn ra như thế đấy!  Trong cuốn “Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em”, Piaget lại trả lời câu hỏi: Biểu tượng từ đâu mà có? Đó là từ sự bắt chước và từ trò chơi. Theo Wallon, nhà tâm lý học Pháp, thì bắt chước không thể xảy ra ở đứa trẻ trước nửa sau của năm tuổi thứ hai3. Nhưng Piaget không tin vào điều đó, ông quan sát trẻ sơ sinh từ đầu và thử nghiệm phát lại những âm của đứa trẻ 2 tháng 11 ngày, trẻ tỏ ra “chú ý” nghe; rồi khi nó 2 tháng 17 ngày, khi ông phát âm lại những âm quen thuộc (ví dụ arr..), bé đã bắt chước ngay và arr… theo… Rồi lúc bé được 1 tháng 26 ngày, ông làm động tác quay đầu sang bên phải, bên trái, bé nhìn và cũng bắt chước quay đầu theo… Ông gọi đó là giai đoạn bắt chước lẻ tẻ. Giai đoạn tiếp theo là “Bắt chước có hệ thống những âm thanh trẻ đã phát âm và những động tác trẻ đã thực hiện trước đó và được trẻ nhìn thấy”, (như bắt chước những âm thanh, những cử động tay, chân… ở trẻ 7 – 9 – 10 tháng). Giai đoạn bốn và năm: “Bắt chước những vận động không nhìn thấy trên cơ thể và những hình mẫu” vào 11 tháng 28 ngày. Vào lúc 1 năm 3 tháng 15 ngày trẻ biết chủ động bắt chước những âm thanh có nghĩa, như Mama. Papa… Như vậy những cấu trúc sơ khai ngày càng được đồng hóa và điều tiết cao hơn để đáp ứng những hành vi ngày một phức tạp hơn. Đến giai đoạn sáu: Bắt đầu sự bắt chước có tính biểu trưng và sự tiến hóa của bắt chước. Từ bắt chước tức thời đến bắt chước trì hoãn (sau mới lặp lại), rồi bắt chước có tính biểu trưng ở trẻ vào lúc hai tuổi, là một trong những cơ sở hình thành biểu tượng ở trẻ.  Cùng với bắt chước là trò chơi, có ý nghĩa quyết định tới hình thành biểu tượng. “Sự sinh ra trò chơi” ở trẻ cũng bắt đầu từ cảm giác vận động khi trẻ ném quả bóng cho nảy lên, kéo cái xe bằng sợi dây… Đó là bắt đầu những trò chơi thực hành đơn giản (lúc hơn hai tuổi); tiếp đó là trò chơi tượng trưng (chăm sóc búp bê, nấu ăn…); rồi trò chơi có quy tắc… Cùng với phát triển ngôn ngữ, trò chơi phát triển với nhiều kiểu dạng phong phú, cho đến trẻ 7 – 8 tuổi vẫn phát triển các trò tượng trưng, trò chơi có quy tắc… với biểu tượng ngày càng phong phú, đa dạng và có tính khái quát cao hơn.  Quá trình bắt chước và trò chơi là cơ sở hình thành nên thế giới biểu tượng ở trẻ. Các biểu tượng tạo nên các liên tưởng, là cơ sở cho phát triển trí tưởng tượng, tư duy hình tượng ở trẻ.   Cùng với sự phát triển ngôn ngữ, các biểu tượng là tiền đề phát triển tư duy, từ giai đoạn “tiền thao tác” (2 đến 6 tuổi); giai đoạn “thao tác cụ thể” (7 đến 11 tuổi); giai đoạn “thao tác hình thức” (trên 12 tuổi); vân vân…  Có những ý kiến phản biện cho rằng, dưới tác động của giáo dục, quá trình hình thành biểu tượng, phát triển tư duy có thể diễn ra sớm hơn ở trẻ, chứ không cứng nhắc như Piaget mô tả. Nhưng ở đây Piaget muốn mô tả sự phát triển tự nhiên của trẻ để thấy được tính quy luật của sự sinh thành, phát triển của các hiện tượng tâm lý từ không đến có diễn ra như thế nào trong mối quan hệ của trẻ với môi trường sống…  Sách của Piaget rất khó đọc, vì ông quan sát, mô tả rất tỉ mỉ, chi tiết từng cử động, từng biểu hiện của đứa trẻ, lặp đi lặp lại, ngày nay qua ngày khác, năm này qua năm khác, với những thuật ngữ riêng của ông, không giống ai! Chỉ những người thực sự quan tâm đến trẻ em, hứng thú khám phá quy luật hình thành, phát triển tâm lý của trẻ và từ đó tìm ra phương thức giúp trẻ phát triển trong hạnh phúc, mới thích thú đọc Piaget.  Những người làm giáo dục bằng ảo tưởng, áp đặt ý chí chủ quan lên trẻ em, với phương thức “chỉ đạo quyết liệt”, “dấy lên phong trào thi đua”, “đồng loạt ra quân” tiến hành “những trận đánh lớn”, [coi] “sách giáo khoa là vũ khí”, “giáo viên là chiến sĩ”… theo hiệu lệnh từ “tổng tư lệnh ngành”, nhất loạt xông lên… thì làm sao đọc được Piaget!    ——  1  Hoàng Hưng dịch, NXB Tri Thức, 2015  2 Nguyễn Xuân Khánh và Hoàng Hưng dịch, NXB Tri Thức, 2016  3 Wallon, Từ hành động đến Tư duy, tr.157 (dẫn theo Piaget)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ “Khúc gỗ cong queo của con người”…      Khổng Tử có lẽ là người đầu tiên dùng hình  ảnh này khi chê trách môn đệ là chàng Tể Dư có tật xấu ngủ ngày: “Tể Dư  ngủ ngày, cây gỗ mục không thể chạm trổ gì được”! Kant không phải là người mơ mộng; ông nhìn nhận thực  tế đáng buồn ấy nơi mọi con người chứ không chỉ nơi cá nhân nào. “Từ  khúc gỗ cong queo tạo nên con người, không thể đẽo gọt ra cái gì thẳng  thớm cả!”       Ông viết tiếp: “Ta chỉ có thể tiệm cận ý niệm về một xã hội công dân tự do và công bằng mà thôi”. Chỉ có thể tiệm cận, vì sinh vật có lý trí như ta bao giờ cũng mang theo mình “xu hướng vị kỷ của động vật”, vì thế, cần có kẻ “cầm đầu” để ước thúc. Thế nhưng, kẻ “cầm đầu” này – dù là một tập thể hoặc một cá nhân – ở đâu ra? Cũng phải từ những con người cụ thể (từ thế giới được phân đôi) mà ra, và, giống như mọi sinh vật trần tục, có nhu cầu khác, sớm hay muộn, sẽ lạm dụng sự tự do của họ.  Vì thế, cần phải có “mệnh lệnh nhất quyết” hay quy luật đạo đức để định hướng cho con người. May thay, quy luật này không phải do quyền uy xa lạ nào ban bố mà do chính con người tự đặt ra cho mình.  BA “CÔNG THỨC” CỦA MỆNH LỆNH NHẤT QUYẾT  Như đã thấy, mệnh lệnh nhất quyết hay quy luật đạo đức do con người tự đặt ra cho chính mình, được thể hiện bằng những “châm ngôn” chủ quan, nói lên “động cơ của ta mỗi khi hành động đạo đức. Kant lần lượt phát biểu thành ba công thức nổi tiếng:  – công thức cơ bản: “Hãy chỉ hành động theo châm ngôn, qua đó bạn đồng thời có thể muốn rằng nó trở thành một quy luật phổ quát!”.  – công thức quy luật tự nhiên: “Hãy chỉ hành động như thể châm ngôn cho hành động của bạn phải trở thành quy luật tự nhiên phổ quát thông qua ý chí của bạn!”.  – công thức cứu cánh tự thân:   “Hãy hành động sao cho lúc nào bạn cũng xem con người nơi bản thân bạn và nơi người khác như mục đích (tự thân) chứ không đơn thuần như phương tiện”.  Hàng ngày hàng giờ ta vẫn sử dụng bản thân ta như là phương tiện (vd: để gánh, vác…) và người khác (vd: thuê mướn nhân công…). Kích thước đạo lý, theo Kant, chính là ở chỗ không chỉ “đơn thuần” như thế! Quy luật đạo đức không xa lạ; nó chỉ cao cả. Nó là thước đo để trắc nghiệm xem một châm ngôn có giá trị phổ quát, xứng danh là mệnh lệnh đạo đức hoặc chỉ là một mệnh lệnh giả thiết, có điều kiện trong phạm vi thực dụng. Nó không gì khác hơn là “trung đạo vàng” (“điều ta không muốn thì đừng làm cho người khác”) được nâng lên cấp độ hoàn chỉnh hơn.     SỰ “TỰ TRỊ” LÀ MỤC TIÊU HAY TIỀN ĐỀ CỦA GIÁO DỤC?  Vấn đề khó khăn nhất của giáo dục là gì? Kant viết: “Một trong những vấn đề khó khăn nhất của giáo dục là làm sao hợp nhất việc con người vừa phải phục tùng sự cưỡng chế của quy luật, vừa có năng lực sử dụng sự tự do của mình? Cưỡng chế là cần thiết! Vậy làm sao tôi vun bồi sự tự do khi bị cưỡng chế? Tôi phải làm sao cho học sinh vừa chấp nhận sự cưỡng chế, đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng thật tốt sự tự do. Không làm được điều này, tất cả sẽ trở nên “máy móc”, và người học ra trường không biết cách dùng sự tự do của mình”.  Nói gọn, giáo dục nhằm trở nên tự do và tự trị phải chăng tự nó là một sự mâu thuẫn? Bởi thế có khác gì dùng người học như một phương tiện (thông qua kỷ luật, cưỡng chế) để phục vụ cho mục đích dù cao cả đến đâu (đạo đức hóa), trong khi “mệnh lệnh đạo đức” đòi phải xem con người như “cứu cánh tự thân”?  Có thể phó mặc cho đứa trẻ được “tự trị” trong mọi lĩnh vực? Tất nhiên là không! Đứa trẻ tự nó chưa đủ sức phán đoán và chọn lựa hành động, trong khi không một xã hội, cộng đồng hay tập thể nào không có những luật lệ, quy tắc ứng xử buộc nó phải tôn trọng và tuân thủ. Chính vì thế, trong truyền thống giáo dục xem trọng sự tự trị của cá nhân, người ta mặc nhiên xem sự tự trị (hay quyền tự do quyết định theo lý trí của mình) là  mục tiêu cần hướng đến của giáo dục chứ không phải là tiền đề hay điểm xuất phát. So với mục tiêu ấy, đứa trẻ được xem là còn “bất cập”. Nó cần và sẽ trở nên “tự trị” trong tương lai, chứ hiện tại chưa phải là tự trị.  Kant có cách nhìn khác về sự tự trị. Tự trị, theo nghĩa của Kant, là năng lực tự ban bố quy luật và quy tắc hành động cho chính mình, dựa vào nhận thức của chính mình, độc lập với mọi sự quy định từ bên ngoài, dù đến từ đâu. Tức là, phải giả định như là điều kiện tiên quyết rằng ta có năng lực tra hỏi và đặt lại mọi vấn đề vốn đã được xã hội chấp nhận.  Trong thực tế, năng lực ấy phải chăng chỉ là ảo tưởng? Vâng, có thể là ảo tưởng, nhưng, như nhiều người hiểu Kant đã nhận định, đó là “ảo tưởng tích cực và cần thiết”. Chính tiền đề này mới góp phần làm cho cuộc đời đáng sống và làm cho cuộc sống chung của con người có thể tiến hóa và “đạo đức hóa”. Kant thừa nhận rằng thời đại của ông chưa đạt tới được cấp độ đạo đức hóa. Thế nhưng, hãy “làm như thể” rằng cấp độ ấy là có thật và con người hãy sống và hành động theo phương hướng ấy. “Làm như thể” là khái niệm cực kỳ hệ trọng và sâu sắc nơi Kant. Nó là viễn tượng khai phóng, mở rộng chân trời cho kiếp nhân sinh và cho sự xứng đáng làm người, không phân biệt tuổi tác và học vấn.  BA CHÂM NGÔN CỦA TÂM HỒN LÀNH MẠNH  Trong “Phê phán năng lực phán đoán”, Kant nêu ba châm ngôn cho “tâm hồn lành mạnh”:  – “suy nghĩ bằng đầu óc của mình”, tức cung cách tư duy không bảo thủ, giáo điều, định kiến;  – “suy nghĩ trong vị trí của người khác”, tức cung cách tư duy khoáng đạt, rộng mở, thông cảm và sẵn sàng đối thoại;  – “suy nghĩ nhất quán với chính mình”, tức cung cách tư duy chặt chẽ, trung thực và thấu đáo.  Qua ba châm ngôn, ta thấy Kant không đặt nặng việc giáo dục đạo đức suông cho bằng làm cho con người mạnh mẽ lên, với “tâm hồn lành mạnh”. Ưu tiên hàng đầu không phải ở chỗ giả tưởng rằng ta có thể trở nên hoàn toàn trong sáng, chỉ hành động theo lý trí sáng suốt cho bằng vun bồi năng lực để có thể có ý kiến, quan điểm riêng và đủ dũng cảm thể hiện ý kiến, quan điểm riêng ấy trong cộng đồng xã hội chứ không tách rời với nó.  Nói cách khác, tự do, tự trị, trong triết thuyết giáo dục của Kant, không phải là một phẩm chất vốn có của con người, trái lại, là một nghĩa vụ phải phấn đấu thực hiện.Vì thế, thật hữu lý khi nên đọc triết thuyết giáo dục của Kant không phải bằng cặp mắt của nhà đạo đức hoặc của kẻ bi quan, trái lại, của nhà hiền triết biết rằng sự nghiệp giáo dục có thể thất bại, rằng mục tiêu tối hậu có thể không bao giờ đạt được tron vẹn, đồng thời biết phải làm gì để lội ngược dòng, trong sự kiên nhẫn và tỉnh thức.     (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 20, 12.06.2014)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ một phiên tòa phát xít      “Mệnh lệnh nhất quyết” hay quy luật đạo đức  nổi tiếng của Kant như là nguyên tắc hướng dẫn suy nghĩ và hành động đã  đi vào cuộc sống đầy huyết lệ như ngôi sao Bắc đẩu dẫn đường!       “Điều tôi đã làm là lay động các giới sinh viên không phải bằng tổ chức nào cả mà chỉ bằng sức mạnh đơn thuần của lời nói, không phải để kích động bạo lực mà để nhận rõ tác hại nghiêm trọng của những gì đã gây ra cho đời sống chính trị của đất nước. Việc quay trở lại với những nguyên tắc đạo đức sáng tỏ, với nhà nước pháp quyền, với lòng tin tưởng lẫn nhau trong nhân dân không phải là cái gì bất hợp pháp, trái lại, là khôi phục pháp luật. Áp dụng mệnh lệnh nhất quyết của Kant, tôi tự hỏi điều gì sẽ diễn ra nếu châm ngôn hành động chủ quan ấy của tôi trở thành một quy luật phổ quát. Vậy, chỉ có một câu trả lời cho câu hỏi ấy thôi: trật tự, an ninh và lòng tin ắt sẽ trở về cho nhà nước và đời sống chính trị của chúng ta”.  Đó là lời nói sau cùng của giáo sư Kurt Huber (1893-1943) trước tòa án phát xít Đức ngày 19.4.1943. Ông bị kết án tử hình và bị hành quyết ngày 13.7 cùng năm. Ngày nay, quảng trường trước đại học Ludwig Maximilians cổ kính ở München (Đức) được mang tên “Quảng trường Giáo sư Huber” để tưởng nhớ ông.  Đáng chú ý trong lời nói sau cùng này là ông nhắc đến “mệnh lệnh nhất quyết” hay quy luật đạo đức nổi tiếng của Kant như là nguyên tắc hướng dẫn suy nghĩ và hành động. Một luận điểm triết học tưởng như cao xa, trừu tương đã đi vào cuộc sống đầy huyết lệ như ngôi sao Bắc đẩu dẫn đường! Đây chính là phiên bản thứ hai của “mệnh lệnh nhất quyết” như là nguyên tắc nền tảng cho quan hệ đạo đức giữa những cá nhân với nhau và với đồng loại của mình: “Hãy hành động sao cho lúc nào cũng xem người khác là mục đích tự thân chứ không đơn thuần là phương tiện”. Mệnh lệnh nhất quyết và việc thừa nhận phẩm giá của con người trong mọi lĩnh vực đời sống là hai mặt của một đồng tiền. Mang lại giá trị và hiệu lực thực tế cho quy luật đạo đức nền tảng ấy cùng với phẩm giá của con người cá nhân là đụng chạm đến những vấn đề thiết cốt nhất trong quan hệ giữa người với người cũng như giữa những quốc gia với nhau từ giác độ những yêu sách chính đáng khác nhau của đồng loại. Trong tinh thần ấy, triết thuyết của Kant, nhất là triết thuyết giáo dục, đặt cơ sở cho việc giải quyết vấn đề nóng bỏng hiện nay về hòa bình và sống chung hòa bình giữa các quốc gia và các nền văn hóa. Theo cách nói của Kant, “bậc vương giả” hay “những dân tộc vương giả” – tức những dân tộc biết tự cai trị mình theo các quy tắc của sự bình đẳng – cần lắng nghe các nhà triết học. Khi phác họa các “điều khoản” cho một “nền hòa bình vĩnh cửu”, Kant nửa đùa nửa thật đề nghị ghi thêm một “điều khoản bí mật”, đó là: “Các quốc gia có vũ trang cần phải tham vấn châm ngôn của các nhà triết học về các điều kiện để bảo đảm hòa bình”. Tại sao phải “bí mật”? Vì, một mặt, do bản chất tự do của công việc suy tưởng, biết rằng “việc nắm giữ quyền lực khó mà không làm hư hỏng phán đoán tự do của lý tính”, nên, khác với các phe nhóm hay tầng lớp có quyền lực khác trong xã hội, các triết gia “chứng minh một cách hoàn toàn không khả nghi rằng họ chỉ quan tâm đến chân lý mà thôi”! Mặt khác, nếu không thể “mua chuộc” được, thì cũng thật bất tiện khi yêu cầu kẻ cầm quyền kiêu căng phải công khai “hạ cố” tham vấn các triết gia! Cho nên, điều kiện duy nhất để thực hiện “điều khoản bí mật” ấy chỉ là: hãy khôn ngoan để cho các triết gia được ăn nói tự do và công khai.   … ĐẾN “TUYÊN NGÔN PHỔ QUÁT VỀ SỰ KHOAN DUNG” CỦA UNESCO (1995)  Nếu Kant được xem là “người cha tinh thần” của Hội Quốc Liên và Liên Hiệp Quốc ngày nay, thì, may thay, “điều khoản bí mật” nói trên (trong danh tác gần cuối đời: “Hướng đến nền hòa bình vĩnh cửu”, 1797) đã được lắng nghe và “công khai hóa” trong Tuyên ngôn về những Nguyên tắc của sự Khoan dung (The Declaration of Principles on Tolerance) được mọi thành viên của UNECO thông qua tại Paris năm 1995. Một năm sau, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu mọi quốc gia thành viên áp dụng Tuyên Ngôn này trong phạm vi từng quốc gia. Nội dung chính yếu của Tuyên Ngôn thật ra không gì khác hơn là… triết học Kant được chính thức hóa bằng văn bản của cơ quan quốc tế có thẩm quyền! Vì tầm quan trọng của nó, xin trích đoạn như sau:  1. “Khoan dung là tôn trọng, chấp nhận và tán thưởng sự đa dạng phong phú của những nền văn hóa trong thế giới chúng ta, cũng như những hình thức diễn đạt và những phương cách làm người khác nhau. Nó được hình thành từ tri thức, sự cởi mở, truyền thông và tự do tư tưởng, tự do lương tâm và đức tin. Khoan dung là hài hòa trong sự khác biệt. Nó không chỉ là nghĩa vụ đạo đức mà còn là đòi hỏi chính trị và pháp lý. Khoan dung là đức tính mang lại hòa bình, góp phần thay thế văn hóa chiến tranh bằng văn hóa hòa bình”.  2. “Khoan dung không phải là nhân nhượng, hạ mình hay quỵ lụy. Khoan dung, trên hết, là thái độ tích cực nhờ nhìn nhận những nhân quyền phổ quát và những quyền tự do cơ bản của người khác. Nó tuyệt nhiên không được sử dụng để biện minh cho việc vi phạm những giá trị nền tảng này. Sự khoan dung phải được mọi cá nhân, mọi nhóm và mọi quốc gia thực hiện trên thực tế.  3. “Khoan dung là trách nhiệm đề cao nhân quyền, sự đa nguyên (kể cả đa nguyên văn hóa), nền dân chủ và chế độ pháp quyền. Nó bác bỏ chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa chuyên chế và khẳng định những tiêu chuẩn do những cơ quan nhân quyền quốc tế đề ra.  4. “Nhất quán với việc tôn trọng nhân quyền, việc thực hiện sự khoan dung không có nghĩa là dung thứ sự bất công xã hội, từ bỏ hay làm suy yếu những xác tín của mỗi người. Nó có nghĩa là mỗi người được tự do tuân theo những xác tín của mình và chấp nhận việc những người khác tuân theo sự xác tín của họ. Nó có nghĩa là chấp nhận sự thật rằng con người, tuy khác nhau về bề ngoài, hoàn cảnh, tiếng nói, hành vi và giá trị, đều có quyền được sống trong hòa bình và được là chính họ. Nó cũng có nghĩa là không ai được áp đặt quan điểm của mình lên những người khác”.  Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc, tháng 9.2000 cũng viết về sự khoan dung: “Con người phải tôn trọng lẫn nhau trong tất cả mọi sự đa dạng về lòng tin, văn hóa và ngôn ngữ. Không nên sợ hãi và đè nén những khác biệt trong lòng cũng như giữa những xã hội với nhau, trái lại, cần trân quý chúng như là tài sản quý giá của nhân loại. Cần phải tích cực xúc tiến nền văn hóa hòa bình và đối thoại giữa mọi nền văn minh”.  Khó hình dung làm sao những nhận thức cao đẹp ấy có thể thành tựu mà không có phần đóng góp quyết định từ nhân cách và sự nghiệp của Immanuel Kant. Và thật dễ hiểu tại sao những thế lực cường quyền lạc hậu, hắc ám sớm muộn sẽ trở thành kẻ thù chung của nhân loại.  (Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 25, 17.07.2014)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư nhân đầu tư vào giáo dục đại học và nghiên cứu: Bây giờ chính là thời cơ      Tập đoàn Phenikaa vừa có một quyết định táo bạo, đó là sở hữu Trường Đại học Thành Tây và thành lập hai viện nghiên cứu: một viện chuyên tập trung vào khoa học cơ bản (TIAS), trực thuộc Đại học Thành Tây và một viện chuyên tập trung vào khoa học ứng dụng và phát triển công nghệ (PRATI).        Trước sự kiện này, Ấn phẩm Tia Sáng đã tổ chức tọa đàm “Định hướng phát triển PRATI & TIAS” kết nối lãnh đạo của Phenikaa, người đứng đầu các viện nghiên cứu mới thành lập và một số nhà khoa học uy tín. Buổi thảo luận, tuy vậy, không chỉ xoay quanh câu chuyện của Phenikaa mà còn là lời góp ý cho tham vọng đầu tư vào nghiên cứu khoa học của khối tư nhân.  Thời khắc của khối tư nhân  Xây dựng một trường đại học “đẳng cấp quốc tế” là vấn đề được bàn luận ở Việt Nam từ lâu nhưng những nỗ lực thực hiện chưa đem lại một kết quả khả quan.  Từng là thành viên trong tổ tư vấn của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải trong việc xây dựng đại học tiêu chuẩn quốc tế và của dự án tài trợ 300 triệu USD của Ngân hàng Phát triển châu Á để hỗ trợ xây dựng mô hình đại học chất lượng cao ở Việt Nam (Trong đó, một trường đại học hợp tác với Chính phủ Pháp, đặt tại Hà Nội, chính là Đại học Việt Pháp hiện nay và một trường đại học hợp tác với Chính phủ Nhật, đặt tại Đà Nẵng), GS Phạm Duy Hiển nhận định rằng, kết quả của những dự án này, đều không được như kì vọng: “Tôi rút ra kết luận: trong điều kiện hiện nay nhà nước đừng đứng ra tổ chức các đại học quốc tế mà hãy để cho khu vực tư nhân, các hãng, các công ty thực hiện việc này. Hệ thống nhà nước quan liêu và có nhiều cản trở” – ông nói.  Nhưng không chỉ trong giáo dục đại học, khối công lập của Việt Nam cũng chưa có nhiều thành công trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi, tạo điều kiện cho những nhà khoa học có năng lực. Những lí do sâu xa của vấn đề này, được GS.Pierre Darriulat, người sáng lập ra Phòng thí nghiệm Đào tạo Việt Nam – Auger (Vietnam Auger Training LaboratorY – VATLY) nghiên cứu về tia vũ trụ đầu tiên tại Việt Nam nhắc đến nhiều lần trên Tia Sáng, chủ yếu là thiếu kinh phí nghiên cứu cho những lĩnh vực cần ưu tiên, thiếu sự tôn trọng với những kỷ luật và đạo đức khoa học và sự quan liêu (mà Trung Quốc đã giải quyết được nhưng Việt Nam thì chưa) trong khối công lập.             GS Pierre Darriulat. Ảnh: Thanh Nhàn  Điều này cũng nhận được sự đồng tình của nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân trong buổi tọa đàm. Bộ KH&CN cũng có những vận động thay đổi quy chế tài chính (cơ chế quỹ và nâng cao mức trần đầu tư cho KH&CN trong doanh nghiệp) và cơ chế tuyển chọn người vào các cơ quan nghiên cứu nhưng bị vướng Luật Thuế, Luật Ngân sách, Luật Công chức Viên chức nên không thành hiện thực. Viện VKIST được lập ra như một “ngoại lệ” để thử nghiệm chính sách, tạo ra một môi trường thân thiện với nhà khoa học, nhưng vẫn vướng những quy định trên. Chính vì vậy, theo GS. Pierre Darriulat, khối tư nhân có thể tránh khỏi những vấn đề trên và nói một cách lạc quan, nếu thành công, có thể là một ví dụ để khối nhà nước thay đổi phương thức và thái độ đối với việc quản lý và tài trợ nghiên cứu khoa học.  Đa số những người có mặt ở hội thảo đều tin rằng, khi đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đào tạo, khu vực tư nhân có thể tránh được những điểm yếu của khối công lập. Với nguồn lực tài chính mạnh, người nắm quyền và người thực thi thu về một mối, cơ chế quản lí có thể linh hoạt, khối tư nhân có những lợi thế nhất định trong việc tạo ra một môi trường đổi mới sáng tạo cho các cá nhân có năng lực. Là doanh nghiệp với số lượng nhân viên lớn trong nhiều lĩnh vực chuyên môn, họ cũng là những người nhanh nhạy với thị trường và nắm được yêu cầu đầu ra cần có của sinh viên để có một chương trình và cách thức đào tạo phù hợp.  Trường hợp này, Phenikaa có một tham vọng rất lớn, họ dự định sẽ xây dựng Đại học Thành Tây thành đại học nghiên cứu, và lọt vào top 30 các trường đại học châu Á trong vòng 30 năm nữa. Ngoài ra, hai viện nghiên cứu PRATI và TIAS đang dự kiến theo đuổi những hướng nghiên cứu cập nhật trên thế giới, thậm chí vượt ra ngoài những lĩnh vực thế mạnh của Phenikaa và không trực tiếp gắn liền với sản xuất và sản phẩm của tập đoàn như Y, dược và nông nghiệp.          TS Hồ Xuân Năng (đứng), Tổng giám đốc Phenikaa. Ảnh: Thanh Nhàn.  Đại học Thành Tây, PRATI và TIAS đều có ba hội đồng khoa học: một hội đồng quốc tế độc lập, gồm những nhà khoa học Việt kiều và nước ngoài, riêng PRATI có cả những doanh nhân của các tập đoàn công nghệ từ Đài Loan (Công ty TNHH Công nghệ Syskey), Pháp (Tập đoàn HORIBA), Hàn Quốc (Effucel Inc) và hai hội đồng khoa học gồm những nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài tập đoàn. Trao đổi với chúng tôi, Tổng giám đốc Tập đoàn Phenikaa Hồ Xuân Năng chia sẻ rằng, thời điểm này ở Việt Nam là cơ hội tốt để ông thực hiện những điều trên.  Hiện nay chất lượng đào tạo đại học của Việt Nam còn hạn chế, trong khi nhu cầu của người Việt Nam mong muốn học trường đại học chất lượng cao, theo chuẩn quốc tế mà không phải đi du học vẫn rất lớn, hơn nữa, rất nhiều những nhà khoa học Việt Nam tài năng ở nước ngoài và cả trong nước muốn trở về và tìm kiếm một nơi có điều kiện làm việc tốt trong điều kiện như vậy “Không phải lúc này thì là lúc nào [đầu tư cho đại học]?” – ông nói.  Dung hòa những xung đột  Vấn đề lớn nhất mà các nhà khoa học nêu ra đối với doanh nghiệp khi muốn tạo lập một tổ chức đào tạo chất lượng cao đó là con người – trưởng các nhóm nghiên cứu mạnh. Đây cũng là điều mà bản thân Phenikaa cũng đã lường trước nhưng chưa chắc họ đã “thấm thía” sự khó khăn trong việc tìm kiếm những nhân vật đủ tố chất để điều hành và phát triển một tổ chức nghiên cứu mạnh.  GS. Phạm Duy Hiển cho rằng điều đó không dễ khi trong cộng đồng khoa học Việt Nam, có rất nhiều người có xu hướng làm việc một mình với một máy tính mạnh và phần mềm tốt để làm việc trên các kho dữ liệu của thế giới. Họ vẫn công bố nhiều nhưng không nâng tầm một nền khoa học khi không tạo ra một nhóm nghiên cứu cũng như đưa ra một hướng nghiên cứu mang tính đa ngành.             GS Phạm Duy Hiển (trái) và GS Võ Tòng Xuân. Ảnh: Thanh Nhàn  GS. Pierre Darriulat cũng đồng tình với ý kiến này. Ông cho rằng, điều đầu tiên phải làm là tìm người, biết cách thiết lập và triển khai các chương trình nghiên cứu, tuy nhiên trên thực tế “không nhiều người có thể làm được điều này”.  GS. Trần Đức Viên (Chủ tịch Hội đồng trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đưa ra những tiêu chí chọn người cụ thể hơn, trong điều kiện Việt Nam, người trưởng nhóm nghiên cứu không chỉ phải đáp ứng năng lực khoa học mà cả về đạo đức: Phải có tầm nhìn chiến lược, không “ăn đong” mà phải theo đuổi định hướng nghiên cứu mình đặt ra đến cùng; phải dũng cảm và dám chịu khổ, chịu thiệt, vừa biết tạo ra thách thức để tạo hứng khởi cho đồng nghiệp nhưng cũng vừa tự nhận về mình việc khó, việc khổ và chấp nhận hưởng lợi ít hơn người khác, không chạy theo chức quyền để rồi bỏ mặc nhóm nghiên cứu tan vỡ. Theo GS. Pierre, cách tốt nhất để chọn đúng người là xin lời khuyên từ những người có uy tín lớn, kinh nghiệm lâu năm trong cộng đồng khoa học quốc tế.  Các nhà khoa học trong buổi hội thảo cũng cho rằng, khi doanh nghiệp bắt đầu bước chân vào lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo, cần thiết phải đặt mục tiêu khiêm tốn. GS. Pierre cho rằng, cần thiết phải bắt đầu từ quy mô nhỏ và chỉ cần đặt mục tiêu chỉ phát triển 2 – 3 nhóm nghiên cứu mạnh. Không cần phải đầu tư nhiều tiền bạc vào cơ sở vật chất (không cần xây riêng một tòa nhà) và đội ngũ hành chính (chỉ nên có một người đóng vai trò liên lạc với các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu bên ngoài) nhưng phải có một dự án dài hơi và một khoản ngân sách rõ ràng để tài trợ cho nó. Việc chi tiêu khoản ngân sách này không nhất thiết phải đặt ra một cách chính xác (độ chính xác chỉ cần 30% là đủ) và tập đoàn có nghĩa vụ giám sát, giải ngân cùng với sự tư vấn của hội đồng khoa học quốc tế và các quyết định đưa ra cần phải công khai, minh bạch với các nhà khoa học.      GS Trần Đức Viên.  Nếu trong vòng 5 năm, họ xây dựng và ổn định được các nhóm nghiên cứu và sau 10 năm có tiếng tăm nhất định trên thế giới, theo GS. Pierre, đã là một thành công lớn và nó đòi hỏi tập đoàn phải tuân thủ nghiêm ngặt đạo đức và kỷ luật khoa học, đặc biệt là đặt niềm tin cho những nhà nghiên cứu. “Đừng kì vọng họ có thể tạo ra lợi nhuận sớm mà nó sẽ mất rất nhiều thời gian” – ông nói. Ngoài ra, trong làn sóng coi trọng công bố quốc tế quá mức và có trường hợp các trường đại học tư nhân sẵn sàng bỏ kinh phí ra để “mua” công bố, thay vì tự thân xây dựng đội ngũ của mình, một viện/trường mới lập ra cần đủ tỉnh táo để hiểu rằng số lượng công bố quốc tế không phải là thước đo duy nhất cho năng lực khoa học của mình.  Việc cân bằng giữa lợi ích của tập đoàn và sự tự do của nhà khoa học cũng sẽ là một thách thức lớn mà Phenikaa phải đối mặt. TS. Nguyễn Trần Thuật, Trung tâm Công nghệ Nano và Năng lượng (ĐHQGHN) cho rằng giá trị cốt lõi của đại học và nghiên cứu khoa học cơ bản là tự do học thuật, có thể nghiên cứu hàng chục năm mới ra kết quả trong khi doanh nghiệp chỉ có thể tập trung cho những gì có lợi cho mình, kể cả nghiên cứu cũng chỉ có thể ưu tiên cho hướng gần với sản xuất của mình và có thể ra sản phẩm ngay.  Vậy doanh nghiệp có dung hòa được hai thái cực này không khi trên thế giới hiện nay, không có tập đoàn công nghệ nào dám đầu tư cho trường đại học và viện nghiên cứu cơ bản? GS. Trần Xuân Hoài, Nguyên Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng (Viện hàn lâm KH&CN VN) cũng chia sẻ rằng, mô hình viện nghiên cứu mà Phenikaa theo đuổi hiện nay cũng giống như những gì hãng máy tính IBM làm cách đây hơn 70 năm với Phòng thí nghiệm Khoa học tính toán Watson. Nhưng liệu bây giờ theo đuổi một mô hình 70 năm trước thì có phù hợp?  “Các anh phải làm thế nào để các anh sống trước đã. Phải ‘Phenikaa first’” – GS. Trần Xuân Hoài nói. Đa số mọi người cho rằng, các viện/trường tư nhân chỉ nên lựa chọn một vài hướng nghiên cứu và lĩnh vực trọng điểm, gắn trực tiếp với lợi ích của doanh nghiệp thay vì dàn trải nhiều lĩnh vực. TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên, một nhà nghiên cứu giáo dục đại học độc lập, cũng cho biết là trường hợp Phenikaa trước hết chỉ nên tập trung đào tạo mảng khoa học – công nghệ (cho đến khi tốt mới chuyển sang y, dược và kinh tế).  Hơn nữa, cần xác định mối liên kết giữa các viện, trường và tập đoàn dựa trên đầu vào và đầu ra: viện/trường có thể đóng góp gì cho tập đoàn và ngược lại, tập đoàn có thể đóng góp gì cho viện/trường. Chỉ khi lượng hóa được đầu vào – đầu ra nói trên thì doanh nghiệp và khối viện/trường mới có thể ràng buộc với nhau về tự do học thuật và trách nhiệm giải trình, nếu không thì mối quan hệ này rất dễ đổ vỡ.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/tu-nhan-dau-tu-vao-giao-duc-dai-hoc-va-nghien-cuu-bay-gio-chinh-la-thoi-co/20180809100832649p1c785.htm          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tủ sách Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm: Đi từ gốc*      Việc  chọn dịch Jean Piaget mở đầu cho Tủ sách Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm là  chọn giới thiệu một vấn đề tính từ cái gốc chứ không tính từ cái ngọn.  Đó vẫn là tiếp tục cách làm từ khi ra đời của nhóm Cánh Buồm: chọn những  việc làm mang tính chất làm mẫu – cách nói khác của “gợi ý” – với chút  khác biệt: gợi ý có thể chỉ dừng lại ở lời khuyên, còn làm mẫu thì hàm  chứa cả giải pháp và nhất thiết phải có sản phẩm.    1.     Được sự hỗ trợ to lớn từ Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, từ tháng 10 năm 2012, sau khi giao nộp sản phẩm cho xã hội bằng 16 đầu sách bậc Tiểu học, nhóm Cánh Buồm đã bắt tay vào xây dựng Tủ sách Tâm lý học Giáo dục, mà hôm nay chúng tôi vô cùng sung sướng cho ra mắt bản sách đầu tiên của Jean Piaget, Sự ra đời trí khôn ở trẻ em, do nhà thơ Hoàng Hưng dịch.   Và chẳng bao lâu nữa, chúng tôi cũng lại sẽ giới thiệu bản sách thứ hai của Jean Piaget, Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em, do nhà văn Nguyễn Xuân Khánh dịch, và một bản thảo thứ ba cũng của Jean Piaget do Hoàng Hưng dịch đang hoàn thành, Sự xây dựng cái thực ở trẻ em.   Tại sao nhóm Cánh Buồm lại tập trung mở màn Tủ sách Tâm lý học giáo dục bằng cả loạt ba tác phẩm cùng dịch từ Jean Piaget như thế? Lý giải việc này có thể là điều thú vị, và cũng là điều cần thiết cho công việc xây dựng một nền Giáo dục quốc dân bậc phổ thông xứng đáng với sứ mệnh Chấn hưng văn hóa mà xã hội đặt vào tay những nhà giáo dục.  Như chúng ta đã biết, nhóm Cánh Buồm chào đời cuối năm 2009 với cuộc ra mắt khởi nghiệp tại hội trường lớn của Trung tâm Văn hóa Pháp, trong cuộc hội thảo có tên Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em, cuộc hội thảo mà ngay sớm hôm sau, ông giám đốc nhiệm kỳ trước Patrick Michel đã gọi điện cho GS Chu Hảo, nói gần nguyên văn là “cần tổ chức tiếp những sự kiện như tối hôm qua… Tối qua, hai cô phiên dịch đã tranh nhau micro để được dịch những nội dung trao đổi hết sức thú vị …”  Khởi đầu công trình bằng bảng treo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em cho thấy nhóm Cánh Buồm không dám hành động một cách liều lĩnh. Sẽ rất vô lý khi ngồi viết sách rồi chữa sách liên miên, khi tung ra cả ngàn đầu sách “tham khảo” khó định giá, và rước về những gói dự án giáo dục có hơi hướng lạ…, càng khó hiểu khi kêu gọi giảm tải, giảm tải mạnh, giảm tải sâu, rồi tổ chức “trận đánh lớn” cho trẻ em song lại không thấy lý giải những việc làm quyết liệt vì trẻ em theo định hướng hiểu trẻ em…   Vì thế, nhóm Cánh Buồm sau khi chủ động trình xã hội một bộ sách tiểu học mới, thì nhóm cũng phải tiếp tục chủ động trình xã hội Tủ sách Tâm lý học Giáo dục – cả hai công việc đều mang tính chất làm mẫu. Trên thực tế, trước khi bắt tay dịch, ngay từ năm 2011 nhóm Cánh Buồm đã chuẩn bị kế hoạch dịch và in sách Tâm lý học, mở đầu với việc xây dựng bộ thuật ngữ Piaget.  2.    Bây giờ là lúc giải thích thêm sao lại mở đầu bằng Piaget?   Chúng ta đều biết Jean Piaget không phải là người đầu tiên xây dựng ngành Tâm lý học thành một ngành khoa học riêng rẽ. Công việc mày mò tìm đối tượng nghiên cứu cho Tâm lý học, và phương thức tổ chức nghiên cứu Tậm lý học theo hướng thực nghiệm đã được Wilhelm Maximilian Wundt và các sinh viên tiên phong của ông thực hiện. Wundt cho rằng “mục tiêu duy nhất của Tâm lý học thực nghiệm là mô tả chính xác cái ý thức của con người”. Wundt tìm cách tách hai mặt “sinh lý” và “tâm lý” trong tâm lý học. Với Wundt, Tâm lý học cần phải nghiên cứu trực tiếp vào ý thức người với sự trợ giúp bằng thực nghiệm của các khoa học tự nhiên. (Từ điển bách khoa Stanford). Cách làm này chúng tôi đã mô tả hầu bạn đọc trong sách Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục. (Phạm Toàn, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2008. Chương về W. M. Wundt).   Tiếp theo Wundt vẫn chưa đến lượt Jean Piaget. Bác sĩ người Pháp Alfred Binet năm 1905 đã hoàn thành bộ đo nghiệm tâm lý để lọc những trẻ em không đủ điều kiện hưởng thụ nền giáo dục Tiểu học bắt buộc. Bộ đo nghiệm này sau khi vượt Đại Tây Dương qua Hoa Kỳ đã được hoàn thiện thành bộ đo nghiệm Simon–Binet mà sau năm lần thay đổi đã thành bộ đo nghiệm Stanford-Binet. Đất nước Hoa Kỳ công nghiệp hóa đã cung cấp thêm phương thức nghiên cứu tâm lý người – rất khôn ngoan là những thực nghiệm thao tác học tập trên động vật – dẫn tới những Quy luật học tập – đặc biệt dẫn tới bài báo mang tính Tuyên ngôn của Edward Thorndike (1874 – 1949), “Đóng góp của tâm lý học cho công cuộc giáo dục”, khẳng định vai trò không thể thiếu của tâm lý học đối với giáo dục.   Jean Piaget bắt đầu sự nghiệp Tâm lý học giáo dục khác với những người “đi trước” nói trên. Piaget không nghiên cứu Sinh-Tâm lý và dựa trên những sinh viên đã trưởng thành như Wundt. Piaget không nghiên cứu trẻ em không bình thường như Binet. Piaget cũng không nghiên cứu quy luật học tập “cắt khúc” dựa trên Kích thích – Đáp ứng của thuyết hành vi như các học giả châu Mỹ. Piaget muốn giải đáp những câu hỏi lớn hơn: (a) Tư duy trẻ em và tư duy người trưởng thành khác nhau ra sao? (b) Trẻ em nhìn thế giới khách quan ra sao và các em lý giải các hiện tượng trong thế giới đó như thế nào? (c) Có những mối liên hệ nào giữa cấu trúc tư duy này sang cấu trúc tư duy khác? Và ông đã tiến hành công việc nghiên cứu tâm lý học giáo dục của ông như sau:  (1)     Piaget nghiên cứu để đi tới bức tranh toàn cảnh về con đường phát sinh và phát triển nhận thức của con người kể từ khi nó ra đời, kể từ khi khởi đầu một ngày tuổi.   (2)     Piaget dùng phương pháp quan sát trực tiếp và trao đổi với trẻ nhỏ để nghiên cứu sự tiến hóa của thế giới thực trong con người kể từ hành động bú mút đến khi có tiếng nói đầu tiên, cho đến khi dùng những biểu trưng…   (3)    Piaget kiểm chứng các dữ liệu trên số lớn trẻ nhỏ nhằm “xây dựng một lý luận về nhận thức mang tính khoa học nhờ được kiểm chứng qua thực nghiệm.   Và thế là, đi từ quan sát này tới quan sát khác, đi từ giả thiết này tới giả thiết khác, theo dõi đứa trẻ kể từ ngày tuổi đầu tiên, Piaget đạt tới hai điều cơ bản: (a) một là, lý thuyết trí khôn bằng thao tác, và (b) lý thuyết về nhận thức, hay là Tâm lý học của sự phát sinh và sự triển diễn của trí khôn người.   3.     Trong bước đầu tiên của Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm, nhóm đã chọn dịch ba cuốn của Jean Piaget: Sự ra đời trí khôn ở trẻ em, Sự hình thành biểu trưng ở trẻ em, và Sự xây dựng cái thực ở trẻ em.   Trong cả ngàn nhà tâm lý học với những công trình đua nhau mọc hơn cả nấm mùa xuân, nhóm Cánh Buồm chọn ba tác phẩm đó vì cảm thấy chúng vừa đủ để giới thiệu một phương pháp nghiên cứu và kèm theo đó là cả một thái độ nghiên cúu trung thực, giản dị và tài hoa – “giản dị như một thiên tài”, như đánh giá của Albert Einstein.  Sức vóc nhóm Cánh Buồm không nhiều. Việc chọn dịch Piaget mở đầu cho Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm là chọn giới thiệu một vấn đề tính từ cái gốc chứ không tính từ cái ngọn. Đó vẫn là tiếp tục cách làm từ khi ra đời của nhóm Cánh Buồm: chọn những việc làm mang tính chất làm mẫu – cách nói khác của “gợi ý” – với chút khác biệt: gợi ý có thể chỉ dừng lại ở lời khuyên, còn làm mẫu thì hàm chứa cả giải pháp và nhất thiết phải có sản phẩm. Đó chính là tinh thần Cánh Buồm chúng tôi vẫn dặn dò nhau: mình muốn cuộc sống có chút gì tốt đẹp, thì mình hãy làm ra cái đó cho cuộc sống, dù ít dù nhiều, nhưng phải CÓ THẬT. Đó là một thách thức không chỉ về đạo lý, mà cả về năng lực.  Khi nói đến năng lực, có lẽ cũng lại phải nói thêm đôi ba điều. Năng lực tâm lý học của nhóm Cánh Buồm hoàn toàn do tự học với đầy nguy cơ sai sót. Nhà thơ Hoàng Hưng, vốn là nhà giáo sau có lúc làm biên tập viên báo của bộ Giáo dục, khi về hưu là trưởng ban Văn hóa-nghệ thuật một tờ báo lớn đã làm mọi việc để Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm được hình thành. Cái duyên vả uy tín của nhà thơ dịch giả Hoàng Hưng đã giúp “lôi kéo” nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tạm nghỉ công việc sang tác đồ sộ của anh để dịch Piaget. Từ bên Pháp, cô Đặng Xuân Thảo chuyên gia tại CNRS và cô Nguyễn Thụy Phương giảng viên tại Đại học Descartes, biết tin bên nhà có Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm, cũng hăng hái đăng ký công việc dịch với Hoàng Hưng.   Dĩ nhiên, một mình Piaget không làm nên cả một nền Tâm lý học Giáo dục. Bắt chước trẻ em đang bị bắt học những bài văn mẫu, ta cũng có thể nhại cho vui rằng “một con én không là một mùa xuân”.   Vì thế, nhóm Cánh Buồm chủ trương trong vài ba năm đầu, trong khi chờ đợi các nhà nghiên cứu Tâm lý học giáo dục nội địa làm ra những giáo trình phản ánh những công trình công phu của họ, sẽ giới thiệu một bộ ba, ngoài Jean Piaget, còn có Howard Gardner và Lev Vygotski – một vị giáo sư Tâm lý học trẻ trung người Mỹ đang sống cùng với lý thuyết về các thành phần trí khôn, và một tài năng xuất chúng của một vị anh hùng thất trận qua đời quá sớm.   Tác phẩm của Howard Gardner, ngoài cuốn Cơ cấu trí khôn (Phạm Toàn dịch, Giáo dục, 1987 và 1988, Tri thức tài bản lần thứ ba, 2013) sẽ có thêm hai cuốn Trí khôn phi học đường (Đào Thúy Hạnh đang dịch) và  Trí khôn sáng tạo (Hồng Nhung đang dịch).  Còn Vygotski? Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, một trong năm thành viên cao tuổi của nhóm Cánh Buồm, đã sôi nổi nhận kế hoạch dịch Tư duy và ngôn ngữ và  Sự phát triển các chức năng tâm lý bậc cao, nhưng anh chỉ có thể bắt đầu từ năm 2016 sau khi hoàn tất những công trình Nga-Việt đang làm dở (Đại từ điển và  Truyện Kiều bằng tiếng Nga).   Muộn vẫn còn hơn không! Nhưng muộn quá sẽ là có tội!  Mau với chứ, vội vàng lên với chứ! Hình như Xuân Diệu đang giục giã bà con ta…  Hà Nội, 15-4-2014  * Bài nói tại Hội thảo giới thiệu Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội ngày 23/4/2014, tiêu đề do Tia Sáng đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tủ sách tâm lý học giáo dục của nhóm Cánh Buồm      Kể từ khi ra đời năm 2009, bên cạnh việc công bố dần những cuốn sách giáo khoa tiểu học hàm chứa định hướng Tâm lý học Giáo dục, nhóm Cánh Buồm còn xác nhận mối quan tâm quán xuyến đến cái lý thuyết làm nền cho các hoạt động của mình bằng việc công bố ba cuốn “Cẩm nang sư phạm” mới đây và chuẩn bị công bố vào năm 2014 những tác phẩm đầu tiên trong Tủ sách Tâm lý học do nhóm tổ chức dịch từ hai năm nay – đó là ba tác phẩm của Jean Piaget (Sự hình thành trí khôn ở trẻ em, Sự tạo dựng cái thực ở trẻ em, Sự tạo thành biểu tượng ở trẻ em) và ba tác phẩm của Howard Gardner (tái bản Cơ cấu trí khôn, dịch mới Trí khôn phi học đường, Trí khôn sáng tạo).    Khi người được phân công tổ chức tủ sách TLHGD Cánh Buồm đưa thông tin về dự án này trên FB, có một nhà văn trẻ rất chịu đọc sách đã comment rằng: “Cháu thấy sách tâm lý đầy các hiệu sách mà nền giáo dục nước nhà ngày càng lụn bại, vậy giờ còn dịch sách TLHGD làm gì? Có phải người ta không biết về lý thuyết giáo dục đâu, mà nguyên nhân ở chỗ khác!”  Nhưng sự thực có phải sách tâm lý đầy các hiệu sách không? Hãy thử để một buổi tra cứu tổng mục sách TLHGD trong Thư viện Quốc gia hay thử dùng công cụ tìm kiếm Google, ta sẽ có kết quả đáng ngạc nhiên về sự nghèo nàn không tưởng tượng nổi: quanh đi quẩn lại là một số giáo trình đại học, mà nội dung không khác nhau là mấy, và hình như bắt nguồn từ các giáo trình Liên Xô đã rất cũ, lại dạy rất chung chung về những vấn đề tâm lý học khái quát chứ không đi vào những lý thuyết mang tính tri thức học hay liên quan đến sự phát triển trí tuệ là điều thiết cốt mà nhà giáo phải nắm rất vững. Không hề có mặt những tác phẩm gốc của các nhà TLHGD hiện đại hàng đầu thế giới như Alfred Bruner, Alfred Binet, John Dewey, Benjamin Bloom, Claparède, Lev Vygotsky… Có lẽ Howard Gardner là trường hợp hiếm hoi với cuốn “Trí khôn nhiều thành phần” được ra mắt mấy năm gần đây (NXB Giáo dục, 1997, 1998, NXB Tri thức, tái bản có bổ sung, 2013).  Tủ sách TLHGD Cánh Buồm ra đời trong hoàn cảnh ấy. Mặt khác, do chỗ sức nhóm Cánh Buồm có hạn, nên nó phải bắt đầu với những tác giả được nó đánh giá là tiêu biểu: Jean Piaget và Howard Gardner cùng những công trình tâm lý học mang tính gợi ý hơn cả của các ông.   J. Piaget và những nghiên cứu về sự phát triển trí khôn   Jean Piaget (1896 – 1980) là người phát triển tâm lý học theo tư tưởng chủ đạo là sự phát triển trí khôn. Jean Piaget đã tiến hành nghiên cứu tâm lý học trên những trẻ em bình thường. Trước Piaget, nhà sinh lý học Maximilian Wundt ở Đức mới chỉ có công đưa tâm lý học vào con đường thực nghiệm và cho thấy có thể đo nghiệm được những kết quả nghiên cứu tâm lý con người. Tiếp đó, bác sĩ y khoa người Pháp Alfred Binet tiến hành những đo nghiệm tâm lý trẻ em mà mục đích chỉ nhằm loại bỏ được những em không đủ khả năng theo học bậc tiểu học bắt buộc. Bộ đo nghiệm Binet vượt Đại Tây Dương sang Mỹ đã được phát triển hết sức thông minh thành bộ Binet-Simon, dùng những đo nghiệm rộng rãi và bớt tốn kém trên động vật để xác định những thao tác học tập; và khi từ bên kia Đại Tây Dương trở lại châu Âu, nó đã mang theo thuyết hành vi (behaviorism) đang ngự trị.   Behaviorism trong Giáo dục trông cậy tất cả vào người thầy truyền thụ kiến thức. Ông thầy đưa ra kiến thức, rồi quan sát, đo đạc, cải tiến những thay đổi mang tính hành vi trong kiến thức mà học trò tiếp nhận. Việc học như thế có bản chất là một đáp ứng dạng phản xạ có điều kiện hay sự ghi nhớ và lặp lại các khuôn mẫu hành vi cho đến khi chúng trở thành tự động. Nói một cách đơn giản, thuyết hành vi coi kiến thức như những khuôn mẫu được làm hằn vào não đứa trẻ như vào một cục sáp mềm.   Jean Piaget không rơi vào trạng thái có phần nào mang tính chất giáo dục kiểu nước Phổ (Prussian) mà mục tiêu là đào tạo nhân công cho nền đại kỹ nghệ. Jean Piaget đã thay đổi căn bản quan niệm về sự học của đứa trẻ. Ông được coi là nhà tâm lý học nhận thức đã hoàn chỉnh lý thuyết “xây dựng” (Constructivism) trong giáo dục. Thuyết này gắn bó sự phát triển trí khôn của chủ thể với sự trưởng thành tự nhiên về mặt sinh học của chính chủ thể đó.   Ngay từ sơ sinh, chủ thể đã tự học, mà cách thức tự học chính là những phản xạ. Cách “học tập” tự nhiên ban đầu đó được Piaget đặt tên là trình độ trí khôn cảm giác-vận động trước khi trở thành trí khôn thao tác, trước khi thành trí khôn cụ thể, trí khôn trừu tượng. Các “kiến thức” được phát triển ở con người khi thông tin mới đi vào tiếp xúc với kiến thức đã có trong con người nhờ những kinh nghiệm trước đó và đã được “xây dựng” trong những cấu trúc tư duy. Vậy kiến thức là cái được sáng tạo trong quá trình chủ thể khám phá thế giới. Đứa trẻ tự tạo nên kiến thức có nghĩa là làm nên thế giới của chính mình từ kinh nghiệm, thay đổi nó từ chỗ hỗn loạn đến chỗ có tổ chức. Và theo cách đó, Piaget tin rằng một người thầy chủ yếu là người tạo điều kiện thuận lợi, quan sát và hướng dẫn học sinh xây dựng nên kiến thức của chính chúng, hơn là người truyền thụ kiến thức.   Đóng góp của Piaget với giáo dục được tóm tắt ở những điểm sau: 1. Tập trung vào quá trình tư duy của trẻ hơn là ở sản phẩm cuối cùng (tức là chú trọng phương pháp tạo ra kiến thức hơn là một số kiến thức cụ thể); 2. Nhìn nhận vai trò chủ chốt của việc trẻ tự khai tâm, người lớn cần tích cực tham dự vào hoạt động học của trẻ; 3. Tôn trọng tiến trình phát triển từng bước của trí khôn để giáo dục phù hợp với lứa tuổi của trẻ; 4. Chấp nhận sự khác biệt cá nhân trong phát triển.   Điều thú vị mà có thể ta chưa biết: mãi cho đến thập niên 1960, nền giáo dục Mỹ vẫn còn được coi là rất nặng tính “Phổ” của thuyết hành vi, nghĩa là một nền giáo dục nhắm đào tạo công cụ cho cỗ máy công nghiệp hóa, hầu như chưa biết đến Piaget, cho đến khi những tác phẩm quan trọng nhất của ông được dịch ra và cũng đúng lúc giáo dục Mỹ chín muồi cho một sự thay đổi. Không thể phủ nhận tác động của Piaget đối với thành công ngoạn mục của giáo dục Mỹ trong nửa thế kỷ lại đây (Xem “Jean Piaget’s Enlightened Influence on the American Educational System” http://voices.yahoo. com/jean-piagets-enlightened-influence-american-10516715. html?cat=37  Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng giáo dục Việt Nam đã có đủ kinh nghiệm thất bại để thấy đã đến thời điểm thuyết TLHGD của Piaget phải được coi như tư tưởng chỉ đạo cho mọi toan tính cải cách căn bản nền giáo dục, mà câu nói sau đây của ông có thể là một triết lý giáo dục mang tính khai minh: “Phần lớn người ta cho rằng giáo dục nghĩa là dẫn dắt đứa trẻ để nó trở thành một người trưởng thành điển hình của xã hội… Nhưng với tôi, giáo dục nghĩa là tạo ra những con người sáng tạo… Ta phải tạo ra các nhà phát minh, các nhà cách tân, không phải những kẻ tuân thủ.” (Jean Piaget, Trò chuyện với Jean Claude Bringuier, 1980)  H. Gardner và lý thuyết về nhiều dạng trí khôn   Howard Gardner sinh năm 1943, khi vào nghề tâm lý học thì ngành học này đã có nhiều thành tựu về tâm lý học phát triển. Ngành học thì phát triển, nhưng cũng để đọng lại những điều có hại cho nền Giáo dục, trong đó điều nguy hại nhất mà H. Gardner chống đối mãnh liệt nhất, đó là hệ thống đo nghiệm tâm trí, đặc biệt là cái chỉ số IQ. H. Gardner coi việc gắn chặt cuộc đời một em bé vào một con số như là tiền định, như là số mệnh, sau khi được hỏi han qua loa bên cây bút chì và tờ giấy trắng, là điều vô lý đến cùng cực, không thể chấp nhận được. Không thể coi IQ là thân phận con người!  H. Gardner rất coi trọng Jean Piaget, thấy ở Piaget người khởi đầu của tâm lý học đích thực. Ông rất tôn trọng những thực hành của Piaget giúp trẻ em ở trường phát triển trí khôn. Song H. Gardner không đồng tình với việc coi trí khôn người như là có một gốc chung duy nhất. H. Gardner đặt câu hỏi: một thiếu niên sinh trưởng ở vùng đảo Thái Bình Dương tuy mù chữ nhưng điều khiển con tàu không bị lạc giữa cả ngàn hòn đảo, em đó có được coi là “thông minh” không? Một tu sĩ Hồi giáo hơn chục năm sống trong tu viện vừa học chữ vừa học thuộc lòng cả bộ Kinh Koran, người đó có được coi là “thông minh” không? Và giữa người nghệ sĩ du ca mù Homer thuộc lòng cả vạn câu thơ và em bé ngồi sáng tác nhạc bên chiếc máy tính điện tử thời nay, hai người ấy có chung một kiểu trí khôn nào không? Những vấn đề như thế, những nghiên cứu sâu vào các loại hồ sơ trí khôn người và các đề án nghiên cứu phát triển tiềm năng người, đã khiến H. Gardner vào năm 40 tuổi (1883) hình thành lý thuyết về những “khung” trí khôn người: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn logic-toán, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể ở dạng động, trí khôn âm nhạc, trí khôn cá nhân hướng nội, và trí khôn cá nhân hướng ngoại.  Ta thấy rõ, lý thuyết tâm lý học Gardner bổ sung cho cách nghiên cứu cổ điển, căn bản của Piaget, sẽ mang lại một không khí tươi mới, dân chủ, cởi mở cho nhà trường.  ***  Xin nói thêm vài lời về việc tại sao lại chọn Piaget và Gardner, phải chăng chọn lựa này cố tình cho thấy chỉ có hai nhà tâm lý học đó là đủ cho nền Giáo dục?  Chắc chắn là không phải vậy rồi! Ngay từ khi thành lập, nhóm Cánh Buồm đã tự nhận chỉ làm những việc mang tính gợi ý – gọi nôm na là “làm mẫu”. Vậy thì, Piaget và Gardner cũng chỉ là những cái “mẫu”.   Nhà giáo Ưu tú Vũ Thế Khôi, cũng là một thành viên của nhóm Cánh Buồm, sau khi thấy các bản thảo dịch Piaget và Gardner, đã nghĩ đến việc dịch Sự phát triển các chức năng thần kinh bậc cao của Lev Vygotsky.   Và chúng tôi cũng còn nghĩ đến công trình khác cũng của Vygotsky về tư duy và ngôn ngữ, những công trình của các nhà tâm lý học sư phạm Nga Xô viết như A. Luria, Leontiev, V. V. Davydov… Nhưng chắc chắn đó không thể là việc làm của một nhóm Cánh Buồm.             Tác phẩm của J. Piaget trong Tủ sách TLHGD Cánh Buồm              * Sự ra đời trí khôn ở trẻ em (Hoàng Hưng dịch)              Tác giả quan sát mọi hành vi tự phát và phản ứng với các thí nghiệm tâm  lý mà ông thử trên từng đứa trẻ, ghi chép tỷ mỷ, tham chiếu các loại lý  thuyết tâm lý. Ông đi đến kết luận: ngay từ trong nôi, trẻ đã chứng tỏ  một hoạt động cảm giác và vận động khác thường, đến cuối năm thứ nhất  thì hoạt động này đã thể hiện mọi tính chất của sự hiểu mang tính trí  khôn. Tác giả chia quá trình hình thành trí khôn của trẻ làm những giai  đoạn: Thích nghi cảm giác-vận động tạo bởi phản xạ (như bú…) và thích  nghi học được; thích nghi cố ý đi từ đồng hóa tái tạo đến phát kiến  những phương tiện mới bằng các kết hợp tâm trí. Đó là sự phát triển trí  khôn trước khi có ngôn ngữ.              * Sự xây dựng cái thực ở trẻ em (Hoàng Hưng dịch)              Nghiên cứu những thời kỳ trẻ đi đến chỗ có được biểu trưng của thế giới  khách quan thường trực và độc lập với bản thân chính biểu trưng ấy. Sự  xây dựng này được thực hiện bằng hai vận động bổ sung nhau: sự điều tiết  tư duy với sự vật và sự đồng hóa các dữ kiện mới bằng cái học được  trước đó. Cuốn sách được coi như tác phẩm kinh điển về tâm lý trẻ em.               * Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em (Nguyễn Xuân Khánh dịch)              Phân tích sự chuyển từ trí khôn cảm giác-vận động sang tư duy dựa trên  các biểu tượng và ký hiệu, là bước chuyển quyết định đối với sự tiến hóa  của lý tính con người. Thông qua phân tích giấc mơ và trò chơi của trẻ,  Piaget vạch lại con đường tạo sinh biểu trưng, từ việc bắt chước tự  phát của trẻ còn bú mẹ đến bắt chước chuyển vào trong nội tâm và có hình  ảnh của ấu nhi.    Tác phẩm của H. Gardner trong Tủ sách TLHGD Cánh Buồm              * Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn (Phạm Toàn dịch; Nguyễn Dương Khư và Phạm Anh Tuấn hiệu đính)              H.  Gardner không phải là nhà tâm lý học như ta vẫn quan niệm. Nói chính  xác, ông là người tổng hợp các thành tựu tâm lý học và các thành tựu  sinh lý thần kinh, đo nghiệm tâm lý, tâm lý học thực nghiệm, v.v… để xây  dựng lý thuyết của mình. Trong Cơ cấu trí khôn ra đời năm 1983, Gardner  dùng tám tiêu chí để dựa vào đó mà xem xét thế nào là một trí khôn và  từ đó đề xuất bảy dạng trí khôn. Đó là (1) trí khôn ngôn ngữ; (2) trí  khôn lô-gich toán; (3) trí khôn không gian; (4) trí khôn âm nhạc; (5)  trí khôn cơ thể ở dạng động; (6) trí khôn cá nhân hướng ngoại; (7) trí  khôn cá nhân hướng nội.              Cách nhìn trí khôn có nhiều thành phần giúp  cho việc tổ chức hợp lý một nền giáo dục tạo ra những con người phát  triển tự do thực sự. Quan điểm này đem lại sức mạnh cho người học vì họ  được tự do phát triển hết mức năng lực người của bản thân mình.    Trí  khôn phi học đường: Trẻ em tư duy thế nào và nhà trường nên dạy các em  như thế nào (Phạm Thị Minh Đức, Đào Thúy Hạnh, Đinh Phương Thảo dịch;  Dương Tường hiệu đính)              Sách gồm ba phần chính: (1) Những điều khó  hiểu trong việc học của con trẻ. (2) Những điều thường bị hiểu sai về  giáo dục, về nhà trường, về các môn học, về các cách học. (3) Nên làm  chương trình và soạn sách cũng như tổ chức việc học của các em như thế  nào.              Một giáo viên đánh giá sách này 5 sao đã viết: “Một cách lý  tưởng, sách này nên được học cùng với sách của Piaget và Vygotski. Bộ ba  nhà tâm lý học này sẽ tạo thành một toàn thể bổ sung lẫn cho nhau.  Trong sách này, Gardner cũng đưa ra ý tưởng rằng sự phát triển tâm trí  không mang tính đồng phục và không phải là một quá trình luôn luôn được  sắp đặt nghiêm nhặt. Sách này cùng với Trí khôn nhiều thành phần sẽ giúp  lý giải cung cách phát triển tâm trí lại không đều nhau như vậy.”   Trí khôn sáng tạo: Giải phẫu tính sáng tạo qua cuộc đời của Freud, Einstein, Picasso, Stravinsky, Eliot, Graham, và Gandhi (Phạm Toàn và Bùi Duy Thanh Mai dịch)              Tác  giả tự giới thiệu như sau: “Cuốn sách này vừa là một cao điểm lại vừa  là một bước khởi đầu: là một cao điểm ở chỗ nó chứa đựng những mối quan  tâm suốt đời tôi đến các hiện tượng thuộc năng lực sáng tạo và những đặc  điểm lịch sử của sự sáng tạo; là một bước khởi đầu ở chỗ nó đưa ra một  cách tiếp cận mới để nghiên cứu những nỗ lực sáng tạo của con người, một  phương diện cần đến cả những truyền thống xã hội và khoa học lẫn những  truyền thống nhân văn.              … Cách tiếp cận của tôi với việc nghiên  cứu tính sáng tạo được bắt đầu với việc tập trung vào tiểu sử – bằng  cách xem xét thật thấu đáo vào những giai đoạn trong cuộc đời một cá  nhân sáng tạo khi một bước đột phá được hình thành trong khái niệm, rồi  được thể hiện ra, và được phản ứng lại bởi những cá nhân có tiếng tăm và  bởi những tổ chức có liên hệ.”              Tuy nhiên, trong thực tiễn giảng  dạy, sách này không được đánh giá với sự “nhất trí cao”. Chính sự khác  biệt trong tiếp nhận tác phẩm này có khi lại là một điều hấp dẫn người  đọc nghiêm túc chăng?                                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ tư tưởng của Fukuzawa nghĩ về đổi mới giáo dục hiện nay      Đọc “Khuyến học” của Fukuzawa Yukichi (Phạm Hữu Lợi dịch, 2014), tôi có cảm tưởng như ông đang nói với dân Việt, với Chính phủ Việt Nam ngay lúc này, chứ không chỉ nói với người Nhật Bản thời Minh Trị (1868 – 1912). Những tư tưởng, những phân tích, mô tả của ông có ý nghĩa đến kinh ngạc với Việt Nam hiện nay từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội; từ những điều to lớn tầm quốc gia đại sự như chủ trương “thoát Á nhập Âu” trong tổ chức quản trị xã hội, trong cách thức và mục tiêu giáo dục, đến chuyện “chí sĩ rởm”, chuyện&#160; “rượu uống người” để phản ánh tình trạng mất tự chủ của người dân bởi “muôn hình vạn trạng” trong đó có nạn nhậu nhẹt.    Giáo dục con người tự chủ và khai sáng  Tư tưởng bao trùm trong tác phẩm là tư tưởng về giáo dục con người tự chủ và khai sáng. Cũng như Rousseau của Pháp, với Fukuzawa, một nền giáo dục khai minh phải là một nền giáo dục đào tạo con người tự chủ về tư duy, về phán đoán, có khả năng phản biện, có khả năng tự tồn tại, tự xoay xở… Con người tự chủ là con người không chạy theo trào lưu thời thượng, hay chịu sự chi phối của dư luận, hay bất kỳ điều gì mà không suy xét, không lấy lý trí của mình để đánh giá và tự mình đem ra các quyết định.   Một dân tộc tự chủ và trưởng thành là một dân tộc sẵn sàng học tất cả những điều hay cái đẹp đến từ mọi nơi nhưng không làm mất căn tính của mình, vì sự học hỏi là một quá trình chọn lọc dựa trên lý tính chứ không phải đơn giản là những hành động bắt chước. Fukuzawa phê phán tất cả những hủ tục, những mê tín, những huyền thuyết làm u mê dân chúng, ông phê phán quan niệm học để làm quan, cách học tầm chương trích cú, hư học của Trung Hoa, nhưng ông cũng phê phán cả những người chạy theo phương Tây một cách hời hợt như một phong trào mà không suy xét thấu đáo.   Ông kêu gọi nhà trường, các bậc phụ huynh phải đào tạo được những công dân tự chủ, độc lập, có trách nhiệm, dám dấn thân để bảo vệ chân lý và công bình xã hội. Với ông, sự độc lập của các cá nhân sẽ làm nên sự độc lập của quốc gia, là vốn quý thúc đẩy sự phát triển, nhưng cũng là thuốc đề kháng bảo vệ sự độc lập của đất nước. Ông viết:  “nếu có lòng yêu nước thì mỗi người chúng ta đều phải suy nghĩ trước hết về độc lập cho bản thân mình, rồi hãy giúp đỡ người khác cùng độc lập” (tr. 61 – 62).   Sự lệ thuộc là nguyên nhân của mọi điều xấu, một cá nhân lệ thuộc là cá nhân không thể minh định, không có lập trường, dễ dàng a dua, chạy theo phong trào, đám đông, hình thức, vọng ngoại. Nó cũng là nguyên nhân của sự nịnh bợ, luồn cúi với những người có chức quyền, nhưng lại hay xách mé, coi thường những người dưới mình kiểu thượng đội hạ đạp.  Vấn đề của giáo dục Việt Nam và chương trình Đổi mới  Khi hệ thống giáo dục không lấy sự tự chủ, khai minh khai trí làm trọng tâm trong việc đào tạo, làm đích đến của nền giáo dục, mà chỉ lo chăm bẵm “đúc” những con người công cụ theo một mô hình nào đó có sẵn để dễ bề sai khiến, thì nền giáo dục đó làm cạn kiệt nguồn nguyên khí quốc gia. Tạo ra những “Hồn Trương Ba, da hàng thịt, cơ thể mình trở thành nơi trú ngụ của linh hồn người khác” (tr. 144).  Những điều Fukuzawa viết ở trên thật có ý nghĩa, nó phản ánh mọi vấn đề trong xã hội Việt Nam nói chung và trong giáo dục Việt Nam hiện nay nói riêng, mà chúng ta đang hằng ngày tranh luận. Trong giáo dục nước ta hiện nay, những tính cách riêng, những điều tự chủ trong tư duy và hành động, khả năng phê phán, những chính kiến… không được khuyến khích phát triển, tập tành thành những thói quen cho học sinh, ngược lại, giáo dục đang là cỗ máy khổng lồ nghiền nát và làm hòa tan những điều này trong những định hướng chung, những chủ thuyết có sẵn, những phong trào thi đua có tính tập thể, ép tất cả vào một cái khuôn được định nghĩa bởi các nhà lãnh đạo chính trị. Khi không có một lập trường dựa trên những giá trị chắc chắn, không chính kiến, không có cái gì riêng của mình làm điểm tựa, không có khả năng tự chủ, người trẻ sẽ dễ dàng chạy theo những trào lưu nhất thời, buông mình cho những tệ nạn, mặc kệ thời cuộc kim tiền và truyền thông xô đẩy.   Học sinh chúng ta hết cấp phổ thông có thể trở thành những con người biết nhiều những kiến thức, nhưng lại không thể có sự độc lập trong tư duy, trong phán đoán, trong việc đem ra các quyết định, thiếu các kỹ năng để có thể xoay xở trong công việc và trong cuộc sống… Ngày 29/11/2013, Ngân hàng Thế giới đã công bố báo cáo có tựa đề “Phát triển kỹ năng: Chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế hiện đại ở Việt Nam”, trong đó đã chỉ ra đa số cán bộ chuyên môn (80%) của VN thiếu các kỹ năng cần thiết như kỹ năng tư duy sáng tạo và phê phán, khả năng trình bày, tính toán, giải quyết vấn đề, khả năng ghi nhớ và tốc độ tư duy. Cũng ở khía cạnh này, các phân tích kết quả cuộc thi PISA mới đây đã chỉ ra, mặc dù VN được xếp hạng khá cao, nhưng riêng “Sự cởi mở, linh hoạt trong giải quyết vấn đề của học sinh” thì bị xếp 67/68 nước tham gia.  Theo cách phân tích của Fukuzawa thì hậu quả của những điều này là sự lệ thuộc và có thể dẫn đến mất độc lập. Cá nhân thì chỉ sống dựa vào người khác, dựa vào những thứ có sẵn, đất nước lại lệ thuộc vào ngoại bang vì quốc gia không thể tự tin và có thể tự chủ khi các công dân của mình không thể tự tin và tự chủ.  Tôi không tìm thấy trong các nội dung văn bản chính thức hiện hành liên quan đến “mẫu người tự chủ” được định nghĩa một cách rõ ràng trong các phần nói về mục tiêu giáo dục. Cũng vậy, trong Báo cáo tóm tắt Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục…” trước đây, và “Dự thảo đề án đổi mới chương trình và SGK” của Bộ Giáo dục vừa mới được trình bày trước Quốc hội, không thấy nội dung này mặc dầu đã có những cố gắng tham khảo giáo dục của các nước có nền giáo dục phát triển.  Tôi nghĩ, muốn đưa đất nước đi lên, chúng ta phải cải cách giáo dục, và nền giáo dục đó phải lấy “mẫu người tự chủ và có trách nhiệm” làm đích đến. Từ đó mới xác định lại chương trình nội dung, cách thức tổ chức, đánh giá… Nếu không, công cuộc đổi mới hiện nay rồi cũng sẽ thất bại dẫu cho có đầu tư 34 ngàn tỷ hay hơn thế nữa, vì chúng ta vẫn tiếp tục “lạc đường”, bởi cả thế giới tiến bộ từ rất lâu đã lấy mẫu hình này làm mục tiêu giáo dục trong mọi cấp bậc, từ giáo dục gia đình đến giáo dục nhà trường.  Một người bạn tôi đã so sánh hoàn cảnh Nhật Bản vào thời Minh Trị, trong đó Fukuzawa viết tác phẩm “khuyến học” tương tự như hoàn cảnh của Việt Nam trong thời mà Nguyễn Trường Tộ sống và liên tục gửi những điều trần của ông lên cho nhà Nguyễn nhưng không được lắng nghe. Thế nhưng hiện nay, chúng ta thấy những gì mà Fukuzawa phản ánh trong tác phẩm này lại là những gì chúng ta đang chứng kiến hằng ngày. Như vậy, chẳng lẽ, gần 150 năm trôi qua, mà nước ta đang giậm chân tại chỗ, trong khi Nhật đã là một cường quốc hùng mạnh trong tốp đầu của thế giới ?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ tư tưởng giáo dục của Rousseau, nghĩ về giáo dục VN      Hình ảnh nhân vật Emile, sản phẩm giáo dục theo hình dung của Rousseau, và một học sinh Việt Nam cùng độ tuổi, khác nhau rất nhiều theo hướng Emile trưởng thành, vững chãi, độc lập hơn trong tư duy, phán đoán và hành động. Đây chính là hệ quả của các quan điểm giáo dục và cách tổ chức giáo dục khác nhau.    Cách đây hơn một năm, sau một buổi thuyết trình, một em học sinh lớp 11 đến gặp tôi và xin “hướng nghiệp”, em đang suy nghĩ để chọn ngành thi đại học nhưng không biết chọn ngành nào. Tôi đã khuyên em nên tìm hiểu rõ hơn những ngành mà em quan tâm, suy nghĩ kỹ về bản thân, về tương lai cũng như về hoàn cảnh gia đình rồi tự đưa ra quyết định. Hơn sáu tháng sau, em liên lạc lại với tôi và thể hiện là em có tìm hiểu về các ngành học, nhưng vẫn không biết quyết định thế nào. Hôm mồng hai Tết vừa rồi, em chúc Tết tôi, tôi hỏi em quyết định thế nào rồi, em vẫn trả lời là chưa quyết định được và nói có lẽ sẽ “để người khác quyết định” giúp.   Cũng thời gian này tôi đọc xong toàn bộ tác phẩm Emile hay là về giáo dục của Rousseau*, triết gia người Pháp sống vào thế kỷ 18, và thấy hình ảnh của nhân vật Emile, sản phẩm giáo dục theo hình dung của Rousseau vào độ tuổi như em học sinh nói trên, khác nhau rất nhiều theo hướng Emile trưởng thành, vững chãi, độc lập hơn trong tư duy, phán đoán và hành động.  Ở đây, tôi không có ý so sánh hình ảnh một học sinh Việt Nam có thật với một Emile tưởng tượng của Rousseau, nhà triết học “đa tài, đa nạn, đa đoan” (Bùi Văn Nam Sơn, 2013), nhưng sẽ nói tới sự lạc hậu trong quan niệm và cách thức giáo dục của chúng ta hiện tại so với quan điểm và cách thức giáo dục của triết gia Rousseau, người sống cách chúng ta 250 năm trong tác phẩm Emile. Bởi lẽ tôi thấy rất nhiều học sinh, thậm chí là cả các sinh viên gần ra trường cũng gặp rất nhiều vấn đề tương tự như em học sinh cuối bậc trung học phổ thông nói trên, nên có thể nói đây là một hiện tượng gắn liền với giáo dục.    Giáo dục của Rousseau   Hình ảnh một người trẻ, độ tuổi 15 mà Rousseau muốn tạo ra là: Tự lập, tự tin vào bản thân, mạnh khoẻ về thể lý và tinh thần, chân tay lanh lẹ, “trí óc đúng đắn và không thành kiến, tâm hồn tự do… Không phá rối sự an tĩnh của ai hết, nó đã sống hài lòng, hạnh phúc và tự do, hết mức mà thiên nhiên cho phép” (tr. 277).  Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cho trẻ em kiến thức, mà dạy cho trẻ biết làm thế nào để có kiến thức. “Vấn đề là chỉ ra cho nó cần làm thế nào để luôn khám phá ra sự thật hơn là bảo cho nó biết một sự thật”. (tr. 273). Rousseau muốn đứa trẻ phải tự học hỏi, phải tự sử dụng lý trí của nó chứ không phải sử dụng lý trí của người khác; ông không dạy đứa trẻ khoa học mà dạy nó “tiếp thu khoa học theo nhu cầu” (tr. 276). Ông mong muốn đứa trẻ có một đầu óc “phổ quát”, cởi mở, thông minh, sẵn sàng cho tất cả.   Mục tiêu của giáo dục là dạy đứa trẻ làm người tự do chứ không đào tạo đứa trẻ thành ông này bà khác trong xã hội, hay làm công dân của một chế độ nào đó nhất định. Con người tự do là con người khi tư duy, khi hành động không bị ràng buộc bởi vật chất, thành kiến hay dư luận, không bị những đam mê nhục dục khống chế. Tức là con người trưởng thành và độc lập trong tư duy trong phán đoán, biết sử dụng lý trí của mình để suy xét, quyết định và hành động một cách hợp lẽ trong sự tôn trọng “tự nhiên” và sự thật, tôn trọng người khác chứ không chịu lụy thuộc bất cứ thứ gì.  Con người tự do không “phục tùng luồn cúi của một nô lệ”, cũng không có “giọng điệu hách dịch của một chủ nhân” (tr. 206) kiểu thượng đội hạ đạp. Là con người luôn sống và tỏ ra chính là mình, không hào nhoáng bên ngoài, không thêm không bớt.  Giáo dục cũng phải tạo ra con người có đạo đức, biết rung cảm, biết thương xót, có lòng trắc ẩn. Giáo dục phải dạy cho học sinh làm những việc tốt, không chỉ là việc bỏ một số tiền túi ra bố thí cho những người nghèo khó mà bằng sự chăm sóc đối với họ, dạy cho học sinh lấy lợi ích của họ làm lợi ích của mình, phục vụ họ, bảo vệ họ, dành cho họ cả con người và thì giờ.   Con người đó phải biết nghi ngờ chính mình, “biết thận trọng trong cách cư xử, biết kính nể những người hơn tuổi mình…” (tr. 342). Là con người yêu hòa bình, không những hòa bình giữa người với người mà còn với thiên nhiên. Emile của Rousseau không bao giờ suỵt cho hai con chó cắn nhau, hay làm cho con chó đuổi cắn con mèo (tr. 343). Emile hiền lành và yêu hòa bình, nhưng không nhu nhược, khi để bảo vệ chân lý và sự thật, anh ta sẽ sẵn sàng dấn thân để đấu tranh.   Phương pháp của Rousseau là tự học, ông viết: “Chắc chắn là người ta rút ra được những khái niệm rõ ràng hơn nhiều và vững vàng hơn nhiều từ những sự vật mà ta tự học hiểu lấy như vậy, hơn là từ những sự vật được người khác giáo huấn; và, ngoài việc ta không hề làm cho lý trí mình quen phục tùng một cách nô lệ trước uy quyền, ta còn khiến mình thành giỏi giang hơn trong việc tìm ra các quan hệ, kết nối các ý tưởng, sáng chế các dụng cụ, so với trường hợp ta tiếp nhận tất cả những điều này y như người ta đem lại cho mình, và để đầu óc mình tiêu trầm trong trạng thái uể oải…” (tr. 230). Khi bắt đầu hướng dẫn cho Emile nghiên cứu các quy luật tự nhiên, Rousseau bắt đầu với những hiện tượng thông thường và rõ rệt nhất.   Phần Lan là học trò trung thành của Rousseau  Giáo dục phổ thông Phần Lan những năm gần đây được thế giới ca ngợi. Theo tôi, Phần Lan có các quan điểm giáo dục và cách tổ chức giáo dục rất gần với tư tưởng của Rousseau. Người Phần Lan không đem ra một khuôn mẫu có sẵn để làm mục tiêu đào tạo, mà đào tạo học sinh trở thành những con người tự do, tự chủ trong phán đoán, độc tập trong tư duy, trang bị cho học sinh phương pháp hơn là kiến thức.   Nếu Rousseau kèm riêng cho Emile với “giáo án” riêng dựa trên tâm tính và hoàn cảnh của Emile thì nhà trường Phần Lan cũng chủ trương “khác biệt hóa” trong phương cách giáo dục của họ. Không chỉ tăng thêm các môn tự chọn cho học sinh, họ còn chủ trương “kèm” từng học sinh với những kế họach riêng – nhiệm vụ của giáo viên là nghiên cứu tâm lý thể trạng, hoàn cảnh, thực lực của học sinh trong lớp để thiết kế những “giáo án” riêng cho từng em trong sự phối hợp chặt chẽ với gia đình và các cơ quan an sinh xã hội, câu lạc bộ địa phương với mục tiêu giúp học sinh phát triển một cách tối đa và cách toàn diện về trí tuệ, thể lý, đạo đức phù hợp với bản tính “tự nhiên”.  Nếu mục tiêu của Rousseau là làm cho Emile hạnh phúc tối đa trong lứa tuổi của anh ta, với những gì được thiên nhiên trao tặng trước khi dạy cho Emile sự hiểu biết thì mục tiêu của người Phần Lan cũng là tạo ra một môi trường làm cho học sinh hạnh phúc nhất vì họ cho rằng một đứa trẻ hạnh phúc phải phát triển toàn diện, cân bằng và nhờ đó có khả năng lĩnh hội bất kỳ điều gì.   Nếu Rousseau là người thầy duy nhất của Emile từ khi nhỏ đến khi Emile cưới cô nàng Sophie nhằm có thể hiểu thấu đáo học trò của ông để đưa ra những hướng dẫn phù hợp nhất thì tại Phần Lan, giáo viên thường theo học sinh từ lớp 1 đến lớp 6, thậm chí đến hết lớp 9, cũng nhằm có thể hiểu thấu đáo từng học sinh và có các phương án dạy dỗ phù hợp nhất với từng em…  Giáo dục Việt Nam  Tìm hiểu về giáo dục phổ thông Việt Nam hiện tại, tôi thấy giáo dục chúng ta cách xa so với các tư tưởng giáo dục nói trên. Chúng ta không đặt ra mục tiêu đào tạo con người “tự do”, “tự chủ” như tư tưởng của Rousseau hay của giáo dục Phần Lan, mà muốn tạo ra con người công cụ theo một khuôn mẫu đã được định sẵn. Chúng ta không đặt mục tiêu trang bị cho học sinh khả năng tư duy và phán đoán một cách độc lập, không để cái đầu của các em có cơ hội tự suy nghĩ, khám phá những cái mới mà chúng ta đã suy nghĩ thay, sắp xếp thay cho các em đến từng chi tiết. Rousseau đã chống lại chuyện học thuộc lòng, ngay cả học thuộc những vần thơ hay như Ngụ ngôn La Fontaine vào thế kỷ 18, thế mà ngày nay chúng ta vẫn bắt trẻ nhỏ học thuộc lòng đủ thứ, vẫn tồn tại hiện tượng “văn mẫu” một cách phổ biến trong nhà trường.   Thay vì dạy cho học sinh phương pháp, chúng ta lại dạy kiến thức theo những nội dung chương trình được soạn sẵn một cách chi tiết và nặng nề. Thay vì tìm cách phát triển học sinh một cách toàn diện theo đặc điểm tâm thể lý của từng em, chúng ta lại “sản xuất” đồng loạt bằng cách áp đặt lên toàn bộ hệ thống cùng một nội dung chương trình, một cách thức tổ chức giảng dạy và thi cử… Cách giáo dục như vậy không thể làm cho học sinh trưởng thành độc lập trong tư duy, trong phán đoán, có thói quen sáng tạo, phát minh, phát kiến nhằm thúc đẩy sự thay đổi xã hội.   Cũng vậy, với lối giáo dục phụ thuộc này, chuyện học sinh không có khả năng thực hiện những quyết định liên quan đến tương lai như câu chuyện trình bày ở trên là điều dễ hiểu, là hệ quả của một lối giáo dục.   Theo tôi, hơn bao giờ hết, những tư tưởng giáo dục của Rousseau rất có giá trị tham khảo. Trong thời đại thông tin ngày nay, khi khối lượng kiến thức nhân loại liên tục tăng lên theo cấp số nhân, nếu chúng ta cứ chạy theo nhồi nhét kiến thức cho học sinh thì sẽ chỉ làm đầu óc non nớt của trẻ nhỏ thêm u mê và mệt mỏi đến tê liệt. Thời đại ngày nay cũng có quá nhiều thứ cám dỗ so với thời của Rousseau, dễ làm cho giới trẻ rơi vào tình trạng lệ thuộc, trở thành những “nô lệ” mới (nô lệ cho game, cho thế giới ảo, cho các trào lưu ăn chơi, cho các thành kiến định kiến của người lớn, cho dư luận, v.v), nếu giáo dục không làm gì để phòng ngừa, để giải phóng, giành lại “tự do” cho các em, mà lại tăng thêm “gông cùm” nặng nề, thì các em sẽ không đủ trưởng thành, tự tin và có khả năng tự lập khi bước vào đời.   Bộ Giáo dục Việt Nam đang chuẩn bị cho “trận đánh lớn” theo hướng làm cho giáo dục Việt Nam xích lại gần hơn với giáo dục của những nước tiến bộ, nhưng nhìn từ quan điểm của Rousseau hay triết lý giáo dục của người Phần Lan, thì theo tôi vẫn còn khoảng cách quá lớn. Nếu những người có trách nhiệm trong giáo dục không đổi mới tư duy một cách “căn bản và toàn diện” thì làm sao nền giáo dục có thể thay đổi một cách căn bản và toàn diện?    ————–  * Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch, Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành lần đầu năm 2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư tưởng Khổng giáo trong giáo dục đại học Trung Quốc      Chính phủ Trung Quốc (TQ) trong những năm  gần đây đã thiết lập hàng trăm Học viện Khổng Tử trên toàn thế giới được  chính phủ TQ tung hô như những giá trị cốt lõi của TQ hiện đại. Vậy  thực tế chính phủ TQ đã phát triển tư tưởng Khổng giáo như thế nào trong  giáo dục đại học?     Mô hình quản lý  Theo lý giải của Gs. Marginson (2011), hệ thống tư tưởng Khổng giáo trong giáo đại học ở TQ và một số quốc gia chịu ảnh hưởng của Khổng giáo ở Châu Á (kể cả Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong, Nhật, Đài Loan) được phát triển dựa trên bốn yếu tố sau:  – Chính sách quản lý và kiểm soát chặt chẽ của nhà nước thể hiện qua những điều luật, qui định chi tiết và những ưu tiên nghiên cứu chiến lược so với các quốc gia ở Tây Âu (xuất phát từ tư tưởng nhà nước thống nhất “bình thiên hạ”, cấp dưới phục tùng cấp trên).   – Tốc độ phát triển về qui mô của sinh viên và sự đóng góp học phí/ đầu tư cho giáo dục của các hộ gia đình (tức truyền thống “hiếu học” của người dân).   Sự chọn lựa gắt gao sinh viên qua các kỳ thi tuyển sinh quốc gia (tức xuất phát từ lối thi cử lều chỏng học theo kiểu tầm chương trích cú để ra làm quan, làm “công bộc” cho dân và… kiếm tiền).   – Sự đầu tư rất lớn của nhà nước cho nghiên cứu thông qua việc mở cửa nền kinh tế và nguồn lực thu được từ học phí cũng như các khoản tài trợ của nhà nước nhằm hình thành nên các trường đại học nghiên cứu hàng đầu (tức “vua chăm lo cho con dân” thông qua tiền thuế của người dân và tài nguyên của đất nước).   Nhằm duy trì vai trò của nhà nước trong việc kiểm soát chặt chẽ các cơ sở giáo dục đại học, TQ duy trì sự lãnh đạo toàn diện của Đảng thông qua đảng ủy và hiệu trưởng. Đảng ủy theo đó đóng vai trò giống như hội đồng trường trong việc định hướng chiến lược và ra các quyết định về vấn đề nhân sự. Tuy nhiên, do tất cả các thành viên của Đảng ủy là cán bộ trong trường (internal stakeholders) nhưng lại quản trị nhà trường trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh và toàn cầu hóa nên các trường đại học rất cần các hội đồng trường theo đúng nghĩa, tức thành phần của hội đồng trường bao gồm các chuyên gia về các lĩnh vực, đặc biệt là quản trị, tài chính, kinh doanh, và học thuật trong và ngoài trường, theo đó, số thành viên bên ngoài nhiều hơn số thành viên bên trong. Song song đó, các trường tuy được phần nào được cởi trói nhưng quyền tự do học thuật, đặc biệt đối với các ngành khoa học xã hội luôn là điều cấm kỵ trong xã hội TQ nhằm đảm bảo sự “ổn định để phát triển” theo tư tưởng của Khổng giáo chứ không phải “phát triển để ổn định” theo quan điểm của các nước phương Tây. Tuy nhiên, chính phủ TQ đã khôn khéo trong việc học hỏi và sử dụng các hình thức quản trị tiên tiến theo hệ tự do mới (neo-liberalism) hay quản lý công mới (new public management) từ phương Tây nhằm cải cách hệ thống giáo dục đại học của quốc gia (Mok 2009)1 theo hướng cận thị trường (quasi-market) với sự tham gia quản lý và kiểm soát của nhà nước (state control). Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền làm ăn kinh tế và mở rộng hoạt động doanh nghiệp, đồng thời chuyển từ nghiên cứu riêng lẻ đơn ngành theo mô thức 1 (mode 1) sang nghiên cứu liên kết đa ngành theo mô thức 2 (mode 2) (Gibbons et al. 1994)2, kết hợp với kiểm định chất lượng và hình thành cơ chế đảm bảo trách nhiệm xã hội và giải trình.   Mặc dù TQ sao chép và gián tiếp sử dụng mô hình quản lý công mới của các nước phương Tây nhưng nhà nước vẫn duy trì kiểm soát chi tiết chương trình giảng dạy, bổ nhiệm nhân sự cấp cao, kể cả định hướng nghiên cứu (Huang 2009; Newby et al. 2009; Oba 2007; Yamamoto 2007:82) với lập luận nếu nhà nước không duy trì chính sách quản lý nhà nước tập quyền thì sẽ rất dễ dẫn đến sự phân chia cát cứ và bạo động. Điều này trái ngược với mô hình giáo dục đại học Anh-Mỹ – tức các cơ sở giáo dục đại học được giao nhiều quyền tự chủ hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng với sự hỗ trợ, giám sát của nhà nước nhưng phải đi đôi với trách nhiệm xã hội và giải trình.   Đầu tư cho giáo dục đại học  Phần lớn các hộ gia đình ở TQ và Việt Nam đều muốn đầu tư cho con em mình được vào đại học nên không quản lao động khó nhọc để gởi con em vào các lớp luyện thi, ra nước ngoài du học hoặc buộc các em học thêm từ… thuở lên ba để có thể vào các trường điểm nhằm “nở mặt nở mày” với thiên hạ và có lẽ trên hết là để… đổi đời.   Theo thống kê TQ, vào năm 2005, chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục là 35% (Rong, 2009). Ở Mỹ là 34% cho thấy có một số nét tương đồng giữa hai quốc gia về chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục. Tuy nhiên vai trò của tài trợ công lập cho giáo dục đại học ở Mỹ khác hẳn so với truyền thống của quốc gia Khổng giáo này. Một số quỹ tài trợ tư thục xuất phát từ các mạnh thường quân (hiến tặng) chứ không phải từ các hộ gia đình, đặc biệt các trường thuộc nhóm tinh hoa. Chính phủ hỗ trợ một phần lớn kinh phí cho các trường bậc thấp hơn của các cơ sở công lập như cho các trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ và cho các trường nghề (TAFE) ở Úc. Còn ở TQ và Việt Nam, nhiều cơ sở giáo dục đại học tư thục phải tự thân vận động dựa trên nguồn thu chủ yếu là học phí nên việc tối đa hóa lợi nhuận là điều khó tránh khỏi.   Vai trò của chi tiêu gia đình dành cho giáo dục được khuyến khích tối đa ở các quốc gia đang phát triển trong hệ thống Khổng giáo đã thúc đẩy tư nhân hóa cao độ trong giáo dục đại học nhằm có thể chia sẻ gánh nặng với nhà nước. Tuy nhiên, việc này đã vô tình đẩy người dân vào hoàn cảnh khó khăn hơn vì chính phủ một số quốc gia lợi dụng chiêu bài “chia sẻ chi phí” để từ bỏ vai trò của mình trong việc tài trợ và đầu tư cho giáo dục đại học (Chapman & Austin, 2002)3.   Bài học nào cho Việt Nam?   Do mô hình Khổng giáo là sự kết hợp quyền lực quản lý nhà nước trung ương tập quyền theo dạng “quân xử thần tử” nên sẽ bóp chết đi sự sáng tạo và quyền tự chủ là đặc trưng vốn có của các trường đại học. Song song đó, ở Việt Nam, do ảnh hưởng của văn hóa tiểu nông và trọng tình nghĩa, một xã hội đặc trưng của “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” vốn đi lên từ tàn dư của chủ nghĩa phong kiến lỗi thời với tư duy phản biện kém, thiếu tôn trọng qui luật khách quan và các bằng chứng duy lý, cũng như xem “vua là thiên tử” nên việc phải nhất nhất tuân theo “lệnh vua” đã hằn sâu trong trí não của tất cả người dân và ngay cả trong giới nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, là một quốc gia Á Đông vốn nổi tiếng về “quyền lực cao” (high power distance) và sự “e sợ cao” (high uncertainty avoidance) (Hofsted, 2001)4 nên việc phải “tu thân” và “tự kiểm duyệt” bản thân trước khi viết và công bố một sản phẩm khoa học nào, đặc biệt là khoa học xã hội là việc buộc phải làm vì đây là luật bất thành văn.   Việc kêu gọi “chia sẻ học phí”, hay tăng học phí thông qua hình thức “xã hội hóa” nhưng thiếu sự tài trợ và điều phối của nhà nước sẽ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội đối với những gia đình nghèo, nói cách khác là cùng một mức học phí cho tất cả các đối tượng mà không căn cứ vào mức thu nhập và hoàn cảnh gia đình sẽ dẫn đến hiện tượng lấy của người nghèo… chia cho người giàu. Chính sách học phí bất hợp lý hiện nay khiến tăng thêm khoảng cách bất công: 35% phần tài trợ của ngân sách nhà nước chảy vào lớp con em của 20% dân cư giàu nhất nhưng chỉ 15% chảy vào con em của 20% dân cư nghèo nhất5. Mặc dù ngân sách nhà nước năm 2012 cho ngành giáo dục, so với năm 2011, tăng 5,4% và đạt gần 5.800 tỷ đồng6, trong đó giáo dục đại học chiếm khoảng 10% nhưng theo Gs. Đào Trọng Thi, do “hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học còn hạn chế và cụ thể là cơ chế phân bổ kinh phí từ ngân sách Nhà nước mang tính bình quân, dàn trải và chưa thực sự gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng, công tác quản lý đầu tư còn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý theo ngành”. Ngoài ra, Ông cũng cho biết “5 năm trước (thời điểm 2005), cấp kinh phí 6 triệu đồng/một sinh viên cho trường công. Sau đó lại cho phép các trường công tuyển sinh vượt chỉ tiêu, trong khi số kinh phí từ ngân sách không thay đổi. Bởi vậy, trên thực tế suất đầu tư cho sinh viên nhiều trường chỉ được khoảng 2,5 triệu đồng/sinh viên/năm”7. Một lý do quan trọng khác dẫn đến nhiều bất cập trong việc đầu tư cho giáo dục đại học là việc thành lập trường, nhất là các trường công lập tại nhiều địa phương còn dễ dãi dẫn đến việc “đầu tư cho giáo dục đại học bị dàn trải, manh mún” bởi “kết quả giám sát của Quốc hội cho thấy, từ 1998 – 2009, đã có 312 trường đại học, cao đẳng được thành lập, trong đó có 64 trường được thành lập mới hoàn toàn, còn lại là nâng cấp từ bậc học thấp hơn. Nhờ đó, 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bất cập là quy mô đào tạo vượt xa năng lực đào tạo và suất đầu tư cho sinh viên cũng rất thấp, trong khi đó là một trong những tiêu chí rất quan trọng”8. Song song đó là lối thi cử thực dụng cứng nhắc mà thí sinh được xem như những “chú cá chép vượt vũ môn để hóa rồng”, tức chỉ chú trọng đến đầu vào (inputs) mà quên đi quá trình đào tạo (processes) và chất lượng đầu ra (outputs) trong khi cả ba yếu tố này đều rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao bởi “không thể có một cỡ giày cho tất cả các loại bàn chân”.   Từ những phân tích trên, có thể thấy mô hình Khổng giáo sẽ phát huy tác dụng rất lớn nếu có sự kết hợp nhuần nhuyễn với những tư tưởng tiến bộ của phương Tây. Tuy nhiên, mô hình này nếu đứng một mình sẽ nảy sinh nhiều hạn chế và sẽ chắc chắn sẽ gặp nhiều thách thức trong tương lai như rất khó để nâng cao chất lượng các trường đại học tư thục nếu nhà nước tiếp tục đứng ngoài và chối bỏ trách nhiệm tài trợ cho các trường.       —  1.  Mok, K.-H. (2009). When neo-liberalism colonizes higher education in Asia: Bringing the ‘‘public’’ back into the contemporary university. Unpublished paper. Centre for East Asian Studies, University of Hong Kong, Hong Kong.  2. Gibbons, M., Limoges, C., Nowotny, H., Schwartzman, S., Scott, P., & Trow, M. (1994). The new production of knowledge: The dynamics of science and research in contemporary societies. London: Sage    3. Chapman, D., & Austine, A. (Eds.). (2002). Higher Education in the Developing World: Changing Contexts and Institutional Responses. Westport, Connecticut, London: Greenwood Press  4. Hofstede, G. H. (2001). Culture’s consequences: comparing values, behaviours, institutions, and organizations across nations. Thousand Oaks: Sage Publications    5. http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=226&Itemid=2    6. http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2011/12/chi-ngan-sach-5-800-ty-dong-cho-giao-duc-trong-nam-2012/    7. http://vneconomy.vn/201006061123236P0C9920/dau-tu-cho-giao-duc-dai-hoc-dang-bi-chia-nho.htm    8. Như 2         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyển chọn giáo viên trung học ở Pháp      Ở Pháp, hằng năm, từ tháng 3 đến tháng 6 có rất nhiều kỳ thi tuyển chọn giáo viên phổ thông các cấp, giáo viên các trường dạy nghề. Ở bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về 1 kỳ thi lớn nhất và thu hút nhiều thí sinh nhất trong số đó, kỳ thi tuyển chọn giáo viên trung học cấp quốc gia CAPES (Certificat d’aptitude au professorat d’enseignement du second degré – bằng chứng nhận trình độ giảng dạy trung học).       Điều kiện dự thi  Tất cả công dân Pháp hoặc công dân khối liên minh châu Âu có trình độ đại học trở lên có quyền đăng ký dự thi. Thí sinh muốn trở thành giáo viên môn nào thì đăng ký dự thi môn đấy. Điều đặc biệt là bằng đại học của thí sinh không nhất thiết phải trùng với nguyện vọng của thí sinh. Nghĩa là, thí sinh có bằng đại học về Vật lý vẫn có thể thi tuyển để trở thành giáo viên Toán học hoặc thậm chí là Lịch sử.  Sau khi đăng ký dự thi, thí sinh có thể đăng ký vào lớp luyện thi CAPES được tổ chức bởi IUFM (Institut universitaire de formation de maître – Viện đại học đào tạo giáo viên) để ôn thi trong vòng 6 tháng, từ tháng 9 đến hết tháng 2. Thí sinh cũng có thể trở thành thí sinh tự do, nếu chọn cách tự ôn thi.      Cách thức tổ chức thi   Số lượng thí sinh trúng tuyển mỗi ngành phụ thuộc vào số lượng giáo viên ngành đó về hưu trong năm tiếp theo. (Ví dụ với môn Toán, chỉ 900-1500 người. Con số cụ thể sẽ được Bộ Giáo dục Pháp công bố vào đầu năm học. Tỷ lệ đỗ cho môn thi này thường khoảng 1/10).  Kỳ thi bao gồm 2 phần, thi viết và thi nói ; những thí sinh vượt qua kỳ thi viết vào tháng 3 sẽ tiếp tục ôn thi nói diễn ra vào tháng 6. Thông thường, số thí sinh vượt qua kỳ thi viết gấp đôi chỉ tiêu đỗ năm đó, sao cho tỷ lệ chọi ở vòng thi nói sẽ là 1/2.  Kỳ thi viết : 2 bài thi trong 2 ngày, mỗi bài 5h, nội dung thi trải đều ở trình độ 3 năm đại học. Điều đặc biệt là để làm hết khối lượng bài tập làm trong 5h này, 1 giáo viên bình thường hoặc 1 thí sinh giỏi phải mất khoảng 12h mới làm xong. Chính vì vậy, thông thường, thí sinh chỉ cần đạt khoảng 14/40 sau 2 bài thi viết là sẽ đỗ sang phần thi nói.  Kỳ thi nói : 2 bài thi nói trong 2 ngày, thí sinh bốc thăm ngẫu nhiên 1 vấn đề về Lý Thuyết và 1 Bài tập (ở trình độ trung học), chuẩn bị trong 2 tiếng (không có tài liệu) rồi giảng lại trong vòng 25 phút trước hội đồng gồm 4 giám khảo.    Cách thức bố trí công việc cho thí sinh trúng tuyển                   1 cuốn tài liệu hướng dẫn cho kỳ thi CAPES        Thí sinh khi thi được ghi 5 nguyên vọng về nơi mà mình muốn làm việc. Sau đó, dựa vào điểm thi của thí sinh và dựa vào địa chỉ thường trú của thí sinh, dựa vào 5 nguyện vọng của thí sinh, Bộ Giáo dục Pháp bố trí những thí sinh trúng tuyển về các trường cấp 2, cấp 3. Lương khởi điểm của giáo viên là khoảng 1200 – 1400 Euro sau thuế.  Vượt qua 2 kỳ thi viết và nói không có nghĩa thí sinh đã trở thành giáo viên chính thức của Bộ Giáo dục Pháp. Bởi trong năm đầu tiên, mỗi tuần, những giáo viên mới này sẽ phải đứng lớp mà người dự giờ và chấm điểm là ban tuyển chọn. Thời gian còn lại, họ phải đi học những lớp liên quan đến nghiệp vụ như : Tâm lý, Phương pháp giảng dạy, quản lý…. Thông thường, có khoảng 5% giáo viên trượt trong năm này. Những giáo viên này phải học lại năm sau, và nếu vẫn tiếp tục trượt trong 2 năm sau nữa thì kết quả thi đỗ CAPES từ cách đó 3 năm coi như hết giá trị. Những giáo viên vượt qua được năm học thử nghiệm này sẽ chính thức được đứng lớp và trở thành giáo viên phục vụ cho Bộ Giáo dục Pháp.    Ưu điểm của cách tổ chức thi CAPES  Với cách thi mở, thí sinh có thể thoải mái chọn ngành mình thích, và những thí sinh thi trượt hoàn toàn có thể thi lại hoặc chuyển hướng để chọn nghề khác một cách dễ dàng.  Bài thi viết trong 5h với khối lượng bài làm trải dài nhiều phần và phải mất 12h mới làm xong vừa đánh giá được chất lượng cũng như khả năng sắp xếp thời gian khi làm bài, lại vừa tạo rất nhiều thuận lợi cho thí sinh thể hiện hết khả năng: thí sinh có thể bỏ những phần không làm được để tập trung vào làm những phần bài thế mạnh.  Tổ chức kỳ thi đơn giản, gọn nhẹ, theo thể thức sơ loại từng vòng lại không tốn quá nhiều tiền nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được số lượng giáo viên cũng như có thể tuyển chọn đuợc những giáo viên có trình độ, chất lượng tốt.            * Một giáo viên trẻ ở Pháp nhận mức lương khoảng 1200-1400 Euro/tháng; nếu tính cả thời gian chuẩn bị, chấm bài ở nhà, người đó phải làm việc 35h/tuần. Như vậy, tiền công cho 1h lao động của họ khoảng 8,5-10 Euro/h. Với mức lương này, anh (chị) ta hoàn toàn có thể đảm bảo 1 cuộc sống khá thoải mái: thuê 1 căn hộ, chi phí sinh hoạt, ăn uống, đi lại, du lịch 3,4 lần/năm; ngoài ra chưa kể sẽ nhận được rất nhiều lợi tức do làm việc cho Nhà nước.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyển sinh đại học: Việt Nam có học được gì ở Trung Quốc?      Kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2010 như thế là đã qua đi – một kỳ thi theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo là công bằng, nghiêm túc, và có chất lượng. Công bằng, theo nghĩa tất cả mọi thí sinh phải đọ sức trên cùng một bộ đề thi, thì đã rõ. Còn nghiêm túc và có chất lượng, nếu dựa trên những số liệu mà báo chí đã cung cấp, thì quả có thế thật. So với những năm trước, kỳ thi năm nay đã có nhiều tiến bộ: đề thi được đánh giá là có tính phân hóa cao hơn, số thí sinh và giám thị bị kỷ luật ít hơn, công tác chấm thi trắc nghiệm càng nhanh chóng và thành thục hơn.                          Bên cạnh sự hài lòng về tính chuyên nghiệp ngày càng tăng của kỳ thi tuyển sinh do Bộ Giáo dục chỉ đạo trong nhiều năm qua, cũng có những ý kiến cho rằng cách tổ chức thi tuyển sinh theo kiểu “ba chung” như hiện nay chưa hẳn đã là phương pháp hiệu quả để tuyển chọn những học sinh tốt nhất làm chất liệu đầu vào cho các trường đại học của Việt Nam. Bởi trên thế giới nhiều quốc gia không cần tổ chức kỳ thi tuyển sinh đại học rầm rộ và tốn kém như Việt Nam, nhưng vẫn chọn được các ứng viên tốt để vào đại học. Trong số đó, Hoa Kỳ là một ví dụ tiêu biểu nơi nhà nước liên bang không hề can thiệp vào hoạt động của các trường ở bất cứ khâu nào, mà trước hết là khâu tuyển sinh.  Nhắc đến Hoa Kỳ, có lẽ sẽ rất nhiều người cho rằng Việt Nam sẽ không học hỏi được nhiều từ quốc gia này, vì điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, và thể chế chính trị của hai nước quá khác nhau. Điều này cũng đúng. Có lẽ tốt hơn là nên nhìn vào một quốc gia láng giềng có rất nhiều điểm tương tự với Việt Nam: Trung Quốc. Nơi, cũng giống như Việt Nam, kỳ thi tuyển sinh vào đại học là một sự kiện giáo dục trọng đại hàng năm, do Bộ Giáo dục Trung Quốc đứng ra tổ chức. Một kỳ thi đã tồn tại trên 50 năm, bắt đầu từ năm 1949, với số lượng thí sinh khổng lồ mà báo chí phương Tây đã gọi rất đúng là kỳ thi lớn nhất hành tinh. Lớn cả về số lượng lẫn sự quan trọng của nó đối với xã hội.  Từ vài năm gần đây, kỳ thi này đã vấp phải những chỉ trích của giới trí thức và giới truyền thông Trung Quốc. Những người phê bình cho rằng kỳ thi này vừa áp lực, vừa  tốn kém lại vừa không hiệu quả, và đòi hỏi có những cải cách quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học của Trung Quốc, trước hết là ở đầu vào. Vì, theo một bài báo có tựa là “Brains Unchained”1 – tạm dịch là “Cởi trói trí não” – đăng trên tờ China Daily ngày 5/7/2010 vừa qua, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục tổ chức thi cử như hiện nay, nhấn mạnh kiểm tra việc nhớ kiến thức, trong đó mỗi câu hỏi chỉ chấp nhận một đáp án đúng duy nhất, thì Trung Quốc sẽ khó có thể đào tạo được một lực lượng lao động tư duy độc lập và sáng tạo, một điều kiện mà nếu thiếu thì sự phát triển kinh tế của đất nước Trung Quốc trong thời gian tới chắc chắn sẽ bị chững lại.  Kỳ thi tuyển sinh của năm 2010 của Trung Quốc cũng chỉ vừa diễn ra cách đây hơn một tháng thôi. Quanh kỳ thi này, báo chí Trung Quốc đã tốn bao nhiêu giấy mực. Tin tức về kỳ thi này dồn dập, tới tấp trong suốt cả tháng qua, xoay quanh hai ngày diễn ra kỳ thi là ngày 7 và 8 tháng 6 vừa qua. Riêng trên tờ Xinhuanews cũng đã có thể đọc được hàng chục bài viết về tuyển sinh với  những tựa sau: “Trung Quốc tạo mạng lưới kiểm soát để giảm gian lận trong kỳ thi tuyển sinh” (4/6/2010); “Cả nước lặng im chờ đợi kết thúc kỳ thi tuyển sinh hàng năm” (5/6/2010); “Trung Quốc tăng cường an ninh trong những ngày tuyển sinh” (6/6/2010); “Thí sinh và phụ huynh lo lắng cầu nguyện để mong thi đạt được kết quả tốt” (7/6/2010); “Kỳ thi tuyển sinh quốc gia bắt đầu với những biện pháp an ninh đặc biệt” (7/6/2010).  Rồi sau đó, là “11 người bị bắt giữ vì liên lụy đến vụ gian lận trong kỳ thi tuyển sinh tại vùng Tây Nam Trung Quốc” (9/6/2010); “Vạch trần ‘công nghệ gian lận thi cử’ sau kỳ thi tuyển sinh đại học của Trung Quốc” (9/6/2010). Xen lẫn với những tin tức dồn dập về kỳ thi ấy, là những bài viết lo lắng về chất lượng đại học của Trung Quốc, về nạn “chảy máu chất xám” khi ngày càng nhiều học sinh Trung Quốc không muốn học đại học tại Trung Quốc mà chọn đi du học ở nước ngoài. Và những kêu gọi đổi mới quản lý, trao thêm quyền tự chủ cho các trường trong mọi việc, trong đó trước hết là quyền được quyết định chọn sinh viên vào học tại trường. Như trong bài “Cởi trói trí não” đã nêu ở trên.  Đổi mới kỳ thi tuyển sinh đại họ tại Trung Quốc quả thật đã trở thành một yêu cầu cấp bách, và là mong muốn của đa số người dân Trung Quốc. Trong một cuộc thăm dò dư luận gần đây trên báo mạng China Daily, có đến 70% số người được hỏi đã trả lời là kỳ thi này cần được cải cách.  Nhưng để thay đổi một truyền thống đã tồn tại trên 50 năm và đã trở thành một nếp làm, nếp nghĩ của nhiều người, và cũng trở thành thói quen được xem là lẽ đương nhiên của hơn một tỷ con người, điều  này hoàn toàn  không dễ dàng. Theo nhận định của WENR (World Education News & Reviews), một tổ chức truyền thông giáo dục Hoa Kỳ, trong một vài năm gần đây, việc cải cách tuyển sinh tại Trung Quốc cũng đang rục rịch bắt đầu, mặc dù diễn ra một cách hết sức chậm chạp. Bài viết này chúng tôi cũng đã chọn dịch và đăng trên số báo này, với cái tựa là “Cải cách tuyển sinh tại TQ – nhưng chỉ một chút thôi”.2  Nếu tình trạng ở Trung Quốc là như vậy, thì tự hỏi Việt Nam có nên tiếp tục kỳ thi “ba chung” đẩy áp lực, tốn kém, và hiệu quả chưa cao như hiện nay, hay chăng?  [1] http://www.chinatoday.com.cn/ctenglish/se/txt/2010-07/05/content_283124.htm  2 http://www.wes.org/ewenr/10june/asiapacific.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tuyển sinh ở các trường đại học hàng đầu của nước Anh      Để giữ g&#236;n thanh danh, uy t&#237;n của m&#236;nh, c&#225;c trường đại học danh tiếng nhất ở Anh sẽ đặc biệt quan t&#226;m đến việc thắt chặt hơn nữa kh&#226;u tuyển sinh. Ngay lập tức đ&#227; nổ ra cuộc tranh luận rất s&#244;i nổi của người d&#226;n về sự b&#236;nh đẳng v&#224; cơ hội trong hệ thống gi&#225;o dục ở nước n&#224;y.    Điểm cao nhất trong học bạ tốt nghiệp ở Anh là  “A”, tương tự với điểm mười. Cho đến nay  học sinh nào muốn được học ở Đại học Cambridge phải có ít nhất ba điểm – A.  Nhưng trong tương lai ít nhất phải có một “A cộng” hoặc còn gọi là “ A sao” –  cách cho điểm này bắt đầu được thực hiện từ năm nay. Trong khi đó Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh cách cho điểm mới này không phải là thước đo để tuyển sinh đại học –  vì đây là vấn đề còn phải rút kinh nghiệm.                   Trong năm tới trường Đại học Tổng hợp Cambridge sẽ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập. Từng có sinh viên của trường này trở thành thủ tướng, học phí lên đến  3000 Bảng Anh mỗi năm và việc tuyển chọn cực kỳ khó khăn vì thế đối với nhiều người thì việc theo học ở trường này là không thể.        Theo nhật báo “Daily Telegraph” thì đã có nhiều trường đại học tuyên bố noi gương  Cambridge  và sẽ thắt chặt hơn nữa khâu tuyển sinh thông qua  điểm cao hơn, trong số này có các trường như Đại học Bristol và Đại học College London. Trong khi đó trường Đại học Oxford tuyên bố trước mắt chưa áp dụng điểm mới trong khâu tuyển sinh.   Cách đây mấy tháng các trường đại học hàng đầu ở Anh  như Cambridge và  Oxford, do bị áp lực của Chính phủ, còn ngỏ ý sẽ phấn đấu để nâng cao tỷ lệ tuyển chọn học sinh thuộc tầng lớp bình dân tốt nghiệp các trường công lập. Yêu cầu của Chính phủ Anh là dễ hiểu vì dù sao các trường đại học ở Anh cũng được ngân sách Nhà nước hỗ trợ khá lớn, thí dụ 3/5 ngân sách của Đại học Cambridge là do Nhà nước tài trợ. Nay một số trường đại học muốn thắt chặt hơn nữa các tiêu chuẩn  tuyển sinh. Lý do mà các trường này đưa ra là, số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có trên ba điểm A khá nhiều vì thế việc tuyển chọn rất khó khăn vì  khả năng tuyển sinh hằng năm chỉ có mức độ nhất định. Geoff Parks, trưởng Ban tuyển sinh Đại học Cambridge nói với báo “The Times”: “Cho đến nay việc phân loại, tuyển chọn các em có thành tích học tập xuất sắc nhất chưa thực sự thích hợp. Tiêu chuẩn mà chúng tôi áp dụng cho đến nay vẫ chưa là một rào cản có ý nghĩa”. Về lâu dài Đại học Cambridge có thể tính đến việc áp dụng tiêu chuẩn tuyển chọn tối thiểu là một A thông thường và hai “A cộng”.  Một số nhà phê bình của Công đảng,  Công đoàn các nhà giáo và chuyên gia giáo dục lại cho rằng  với cách tuyển chọn như trên thì có nhiều khả năng học sinh tốt nghiệp các trường tư thục  được tuyển chọn vào các trường đại học hàng đầu, học sinh các trường công lập sẽ bị loại vì điều kiện xuất phát không giống nhau. Ông Barry Sheerman, nghị sỹ Công đảng, Chủ tịch Ủy ban về trẻ em, trường học và gia đình phát biểu với báo “Times”: “Tôi e ngại rằng, những trường đại học hàng đầu ở đất nước ta sẽ trở thành vùng cấm đối với các em con nhà bình dân”. Trong thực tế số lượng các bậc phụ huynh đủ khả năng tài chính cho con em theo học ở các trường tư thường không nhiều.   Hệ thống nhà trường ở Anh chia thành hai nhóm, một bên là một nhóm  nhỏ các trường công lập dành cho học sinh xuất sắc và các trường tư thục , số còn lại  gồm khoảng  3000 trường có khoảng cách khá lớn so với các trường hàng đầu. Thí dụ trên một nửa số sinh viên hiện đang học ở Đại học Oxford từng theo học phổ thông chỉ ở 200 trường thuộc nước Anh.   Trong khi các trường tư hoan nghênh thì các trường của Nhà nước lại tỏ ra hoài nghi với quy định mới này. Hiệu trưởng 250 trường tư đã tỏ ra “hết sức vui mừng về việc Đại học Cambridge đi đầu trong việc công nhận “A cộng”. Ông John Dunford, Tổng thư ký hiệp hội các trường công thì lại không coi quy định bổ sung đối với quy chế tuyển sinh là một sáng kiến. Ông này cho rằng “người ta có thể áp dụng nhiều cách khác để thực hiện việc tuyển chọn tốt hơn”.  Tuy nhiên khó khăn trong khâu tuyển chọn không phải là khó khăn duy nhất để có thể theo học tại các trường đại học hàng đầu nước Anh. Học phí cao cũng là một khó khăn không nhỏ. Hiện nay học phí mỗi năm lên đến  3145 Bảng Anh (khoảng  3350 Euro). Hiện tại nhiều trường đại học đang nghĩ đến việc tăng học phí hơn nữa.    Theo một nghiên cứu gần đây nhất thì  học phí đại học ở Anh có thể lên đến 33.000 Bảng. Một nghiên cứu theo yêu cầu của Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học Anh cho thấy, sinh viên bắt đầu nhập trường đại học vào năm 2016 riêng tiền học phí sẽ phải chi từ 21.000 đến 33.000 Bảng.           Thực sự là  đã có nhiều cuộc tranh luận đối với việc tuyển sinh vào hai trường Đại học  Oxford và  Cambridge – viết tắt là “Oxbridge”. Trên mạng Internet có rất nhiều ví dụ về các câu hỏi theo kiểu đánh đố được nêu lên trong các cuộc phỏng vấn tuyển sinh. Các thí sinh  phải bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề về triết lý hoặc đạo lý, họ cũng phải chứng minh khả năng tư duy lôgích  của mình.               Sau đây là một số câu hỏi khá kỳ quặc, đại loại như…              “Bạn muốn là một cuốn tiểu thuyết hay một bài thơ ?”              “Sự tham lam là tốt hay xấu?”              “Làm sao người ta biết  California đang tồn tại, khi người ta không ở đấy?”              “Bao nhiêu phần trăm nước trên Trái đất này ở trong một con bò sữa?”              “Nếu như có ba cô gái đẹp khỏa thân đứng trước bạn thì bạn sẽ chọn cô nào? Và việc lựa chọn đó có ảnh hưởng gì đến nền kinh tế quốc dân?”        
__label__tiasang Tuyển sinh xong lại… đóng cửa ngành      17g ngày 10-10, thời hạn nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển cuối cùng của kỳ tuyển sinh ĐH -CĐ năm 2011 kết thúc. Hàng loạt trường phải ngậm ngùi tạm đóng cửa ngành do có quá ít thí sinh trúng tuyển. Chưa năm nào số trường, số ngành phải đóng cửa nhiều như năm nay.    Không chỉ các ĐH ngoài công lập, ĐH địa phương, ngay cả các ĐH vùng có lịch sử lâu đời như Huế, Đà Nẵng cũng trong tình cảnh này.  Ngay khi kết thúc nguyện vọng (NV) 1, ĐH Đà Nẵng đã thông báo không mở hai ngành kinh tế chính trị và thống kê tin học. Tương tự, Trường ĐH Phạm Văn Đồng cũng không thể mở ngành tài chính ngân hàng và Trường ĐH Phú Yên quyết định đóng cửa ngành tin học sau khi kết thúc NV1.  Vét cạn thí sinh  TS Hoàng Hữu Hòa – trưởng ban khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục ĐH Huế – cho biết có thể một số ngành như lịch sử, Hán Nôm, tin học, toán tin ứng dụng, triết học… sẽ không mở được trong năm nay. Trường sẽ vận động thí sinh chuyển sang ngành khác cùng khối thi và điểm chuẩn. Trường ĐH Nha Trang với thế mạnh về các ngành đào tạo kỹ thuật hàng hải, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, thế nhưng những năm gần đây số lượng thí sinh trúng tuyển nhóm ngành này cứ teo tóp dần.   Kỳ tuyển sinh năm nay, trường buộc phải đóng cửa hai ngành kỹ thuật khai thác thủy sản, kinh tế và quản lý thủy sản sau khi xét tuyển NV2. Tương tự, Trường ĐH Quy Nhơn cũng tạm ngừng tuyển sinh ngành tâm lý giáo dục sau khi xét tuyển NV2 bởi chỉ có năm thí sinh trúng tuyển.  Không chỉ các ngành nhóm kỹ thuật, khoa học cơ bản, năm nay rất nhiều ngành sư phạm cũng bị thí sinh ngó lơ và một số trường không còn cách nào khác là phải đóng cửa ngành. TS Nguyễn Văn Đệ – hiệu trưởng Trường ĐH Đồng Tháp – cho biết kỳ thi tuyển sinh năm nay trường phải đóng cửa các ngành sư phạm kỹ thuật công nghiệp, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, khoa học thư viện và công nghệ thiết bị trường học (bậc CĐ).   Nhiều ngành khác vẫn gắng gượng mở ngành khi lượng thí sinh trúng tuyển chỉ đạt khoảng 50% chỉ tiêu. Ở khối trường công lập, Trường ĐH An Giang là đơn vị có số ngành phải đóng cửa nhiều nhất, trong đó có ba ngành đóng cửa sau khi kết thúc NV1 gồm sư phạm tin học, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, sư phạm kỹ thuật công nghiệp. Trong khi đó, các ngành sư phạm vật lý, sư phạm hóa học, sư phạm địa lý và chăn nuôi thú y dù đã phải xét tuyển đến NV3 nhưng vẫn không có thí sinh và trường cũng buộc phải đóng cửa các ngành này.  Ở khối trường ngoài công lập, tình hình cũng không mấy khả quan. Trường ĐH Quang Trung (Bình Định) chỉ tuyển được khoảng 2/3 chỉ tiêu. Lần đầu tiên trường này buộc phải đóng cửa hai ngành công nghệ thông tin, kinh tế và quản lý môi trường. Trường ĐH Yersin (Đà Lạt) cũng trong tình cảnh tương tự.   Các ngành công nghệ thông tin và công nghệ sinh học có thể rất “hot” ở nhiều trường khác nhưng lại vắng thí sinh ở trường này và trường phải dừng tuyển sinh trong năm nay. Với thế mạnh và có truyền thống về các ngành xã hội nhưng nhiều năm nay nhóm ngành này ở Trường ĐH Văn Hiến TP.HCM lại rất thưa thớt thí sinh. Ông Trần Chút – phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Hiến – cho biết trong kỳ tuyển sinh năm nay, hai ngành văn học và xã hội học nhiều khả năng sẽ phải đóng cửa.          “Các ngành sư phạm, kể cả các ngành sư phạm  cơ bản, bị ghẻ lạnh là điều đáng báo động. Nhà nước cần có chính sách để  phát triển các ngành này, nếu không sẽ có tác động không tốt đến sự  phát triển chung của hệ thống giáo dục.”   TS HOÀNG CUÂN QUẢNG (phó hiệu trưởng ĐH An Giang)        Khó khăn trong tuyển sinh đến mức phải đóng cửa ngành không phải là điều nằm ngoài dự liệu của các trường. Bởi vậy, ngay từ khi mới bắt đầu “cuộc đua” tuyển sinh, nhiều trường đã tung ra nhiều chiêu thu hút thí sinh. Trong đó, nhiều trường bất chấp cả những chiêu thức phản cảm để vơ vét thí sinh.   Tặng tiền cho thí sinh, trả tiền “môi giới” cho những ai giới thiệu được thí sinh đến trường nhập học là những chiêu được nhiều trường ĐH tung ra trong tuyển sinh năm nay. Trường ĐH Lương Thế Vinh (Nam Định), Trường ĐH Thái Bình Dương (Khánh Hòa) đều có chính sách “động viên” các đơn vị nếu làm tốt việc khuyến khích thí sinh đăng ký xét tuyển vào trường, trường gửi tiền tặng đến từng đơn vị với số tiền 250.000 đồng/thí sinh.   Cũng nhằm “giành giật” thí sinh, một số trường đã ép thí sinh không trúng tuyển bậc ĐH vào học bậc CĐ của trường dù thí sinh không có nguyện vọng. Thậm chí thí sinh đến trường đòi, trường kiên quyết không trả để thí sinh xét tuyển vào trường khác. Trong khi đó, Trường ĐH Trà Vinh dành 500 chỉ tiêu liên kết đào tạo theo địa chỉ ở hàng loạt điểm ở Đồng Nai, Sóc Trăng, Long An. Việc “bán chỉ tiêu” này được tổ chức hoàn toàn sai với hướng dẫn về đào tạo theo địa chỉ của Bộ GD-ĐT.  Tuy nhiên, đáng kể nhất là hàng loạt trường bất chấp quy chế tuyển sinh, làm méo mó công tác xét tuyển, vơ vét người học bằng đủ mọi giá. Trường ĐH Đông Á (Đà Nẵng) tự ý giảm điểm sàn khi tặng 0,5 điểm cho thí sinh xét tuyển vào trường!   Cũng để vơ vét thí sinh, Trường CĐ Viễn Đông nhận hồ sơ nhập học của thí sinh khi chưa hết thời gian xét tuyển NV2. Nghiêm trọng hơn cả là Trường CĐ Công nghệ Bắc Hà (Bắc Ninh) liên kết với Trung tâm Đào tạo các vấn đề kinh tế hiện đại (CMET) ở quận 4, TP.HCM với hình thức tuyển sinh bậc CĐ chính quy hoàn toàn không theo quy chế hay quy định nào hiện hành.   Theo thông báo, nơi đây bắt đầu nhận hồ sơ xét tuyển từ ngày 5-8 (trước quy định 20 ngày), xét tuyển đợt 1 từ ngày 15 đến 18-8 và đợt 2 từ 25-8 đến 15-9! Không những thế, trường này còn thản nhiên vận dụng điều 33 quy chế tuyển sinh dù chẳng có trụ sở hay đào tạo nhân lực cho TP.HCM! Thậm chí nơi này còn tuyển cả thí sinh dưới điểm sàn. Tuy đã tung đủ chiêu nhưng rất nhiều trường vẫn “đói” thí sinh.        Theo TS Phạm Thị Ly – Trung tâm Đào tạo và  phát triển nguồn nhân lực ĐHQG TP.HCM, bức tranh chung là những ngành  phải đóng cửa không chỉ bao gồm khoa học xã hội và nhân văn, các ngành  kỹ thuật như nông nghiệp, chăn nuôi mà cả các ngành từng thu hút nhiều  thí sinh như kinh tế, ngoại ngữ… ở một số trường cũng không có đủ  người để mở lớp. Hậu quả tức thời là tặng điểm, treo thưởng, khuyến mãi  cùng nhiều “tiểu xảo” để thu hút thí sinh, những hiện tượng chỉ góp thêm  sự bát nháo vào một hệ thống vốn đã nhiều bất cập. Hậu quả lâu dài và  nghiêm trọng hơn là lãng phí nguồn lực của giáo dục và nhất là tạo ra  tác động tiêu cực cho việc đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong tương  lai.          Đại học mọc như nấm  Chuyện hàng loạt trường phải đóng cửa ngành hiện nay là điều đã được nhiều chuyên gia giáo dục cảnh báo từ những cuộc đua mở ngành, mở trường ĐH, CĐ.  Từ năm 1998-2009, có 307 trường ĐH, CĐ được thành lập mới hoặc nâng cấp (chưa tính các trường sĩ quan quân đội, công an, các trường ĐH, CĐ thành viên, khoa trực thuộc, phân hiệu của các ĐH). Tính đến hết năm 2009, cả nước có 409 trường ĐH, CĐ trong đó có 76 trường ngoài công lập. Đến nay 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một trường ĐH hoặc CĐ (chỉ còn Đắk Nông là tỉnh duy nhất chưa có trường ĐH, CĐ). Riêng hai năm 2010-2011 đã có khoảng 20 trường ĐH được thành lập trên cơ sở nâng cấp các trường CĐ hoặc thành lập mới và nhiều trường ĐH đang trong quá trình xem xét cho thành lập.  Trong khi quy mô đào tạo ở tất cả các bậc học và hệ đào tạo tăng nhanh thì các điều kiện cơ bản như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, giáo trình cơ bản… để đảm bảo chất lượng đào tạo lại không theo kịp. Đặc biệt, nhiều trường mới được thành lập nhưng đã tuyển sinh với quy mô lớn vượt xa năng lực đào tạo.   Nhiều chuyên gia giáo dục nhận định việc thành lập trường ĐH, CĐ trong vài năm gần đây phát triển theo số lượng, chạy theo quy mô đào tạo và thành tích của bộ, ngành, địa phương mà chưa chú ý tới quy hoạch chung cũng như các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.  Không chỉ ồ ạt nâng cấp lên ĐH, việc đua nhau mở ngành cũng diễn ra hết sức nhộn nhịp. Trong 10 năm qua, đã có 347/355 lượt trường đăng ký được cho phép mở ngành. Năm 2009 cả nước có hơn 4.300 ngành học thì năm 2010 con số này đã nhảy lên hơn 4.500 ngành học.   Mặt khác, đối với những trường ĐH mới được thành lập hay nâng cấp từ CĐ lên, tốc độ mở ngành còn ồ ạt hơn. Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM (được nâng cấp từ trường CĐ) trong năm 2010 có bốn ngành đào tạo bậc ĐH với 800 chỉ tiêu.   Nhưng mùa tuyển sinh năm nay trường đã đào tạo 10 ngành bậc ĐH với 1.200 chỉ tiêu… Tương tự, năm 2010 Trường ĐH Thủ Dầu Một (nâng cấp từ Trường CĐ Sư phạm Bình Dương) xét tuyển 600 chỉ tiêu ĐH cho sáu ngành, đến năm nay đã nhảy vọt lên 12 ngành với 1.200 chỉ tiêu ĐH và 600 chỉ tiêu CĐ…          Điểm sàn chưa hợp lý     Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn  đến tình trạng trên trong kỳ tuyển sinh năm nay được nhiều người đưa ra  đó là việc tính toán điểm sàn của Bộ GD-ĐT chưa hợp lý. Ông Cổ Tấn Anh  Vũ – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM – cho rằng  việc dựa trên tổng chỉ tiêu và số thí sinh đạt điểm trên mức chỉ tiêu  ấy để xác định điểm sàn là chưa hợp lý. Thực tế nhiều thí sinh chỉ chọn  học một số ngành, nhóm ngành nhất định – nhất là kinh tế – nên nhiều  ngành xã hội nhân văn, kỹ thuật bị thiếu nguồn tuyển. Từ đó dẫn đến tình  trạng thừa vẫn thừa ở các ngành, trường kinh tế trong khi thiếu hoàn  thiếu ở các trường, ngành kỹ thuật, nhân văn.    Trong khi đó PGS-TS Nguyễn Thiện Tống – phó  hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long – cho rằng do việc tuyển sinh cào bằng  cho tất cả các trường trong khi mỗi nhóm trường có đặc thù và chức năng  riêng, mặt bằng thí sinh các khu vực cũng khác nhau.         Một thành viên đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng: “Các trường được phép mở ngành ồ ạt mà không có sự kiểm tra thực tế các điều kiện mở ngành có đáp ứng hay không. Đây là lý do quan trọng nhất của việc tồn tại các trường ĐH, CĐ hoạt động nhưng không có điều kiện đảm bảo chất lượng như quy định và cam kết của trường”. Một số ngành mới mở ở các trường không phù hợp với trình độ đào tạo ĐH như các ngành võ thuật, nấu ăn, thời trang…  Đáng nói là cơ cấu ngành nghề tập trung vào khối ngành kinh tế, trong khi nhiều ngành kỹ thuật công nghệ đứng trước nguy cơ đóng cửa. TS Nguyễn Kim Quang, trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Khoa học tự nhiên – ĐHQG TP.HCM, cho rằng trong khi thí sinh đua nhau vào nhóm ngành kinh tế, các trường vẫn hùa theo vì việc đầu tư mở khối ngành này chỉ là “tay không bắt giặc” dạy – học chay, không tốn kém như khối ngành kỹ thuật, khoa học cơ bản.  TS Vũ Thị Phương Anh – phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng và hỗ trợ chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội Các trường ĐH-CĐ ngoài công lập – cho rằng những quy định về mở trường, mở ngành hiện nay hết sức máy móc, chỉ dựa trên các thông số về cơ sở vật chất, giảng viên, chương trình đào tạo của các trường mà không dựa vào quy hoạch, không xét đến nhu cầu sử dụng nhân lực (phải có điều tra để xây dựng quy hoạch nguồn nhân lực).   Điều này dẫn đến các ngành mở ra rồi tự chết. Hiện nay đã có quy hoạch phát triển ĐH đến năm 2020 nhưng việc xét mở trường, mở ngành lại chưa căn cứ vào bản quy hoạch này. Điều dễ nhận thấy nhất là hầu như các trường, ngay cả các trường mới thành lập khi xin mở ngành mới đều tập trung vào nhóm ngành kinh tế, bởi đây là những ngành không đòi hỏi nhiều về đầu tư cơ sở vật chất, chi phí đào tạo thấp nên sinh lời lớn, lại dễ có người học. Thống kê sơ bộ cho thấy hầu hết các trường đều có nhóm ngành này, có xin thì có cho.  Bên cạnh đó, cách quản lý hiện nay hầu như khoán trắng cho các trường. Cũng như công tác tuyển sinh hiện nay, bộ nắm đầu vào, thả đầu ra, trong khi đáng ra phải làm điều ngược lại, công tác quản lý ĐH cũng vậy. Bộ chỉ xét mở ngành (đầu vào) và trong quá trình đào tạo không có cơ chế gì để kiểm định, điều chỉnh cho phù hợp.  Đẩy mạnh phân tầng đại học  Trước tình trạng giáo dục đại học chạy theo số lượng như hiện nay, nhiều chuyên gia đề nghị cần đẩy mạnh phân tầng đại học để có chính sách đầu tư và tuyển sinh khác nhau, tạo ra hệ thống trường đại học đa dạng.  Qua thực tế giám sát chất lượng đào tạo của các trường ĐH-CĐ, GS-TS Nguyễn Minh Thuyết – nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội – kết luận điều kiện đảm bảo chất lượng của các trường rất yếu. Thậm chí có trường trung cấp vừa được nâng cấp lên CĐ mới hai năm đã được nâng tiếp lên ĐH. Như thế làm sao đảm bảo các điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo. GS Thuyết cho rằng không nên thực hiện việc nâng cấp ồ ạt các trường trung cấp lên CĐ, CĐ lên ĐH như hiện nay. Bởi các trường trung cấp, CĐ mạnh về đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, khi nâng lên bậc cao hơn sẽ không phát huy được thế mạnh của mình trong khi lại yếu ở việc đào tạo lý thuyết của bậc ĐH. Làm như thế chúng ta sẽ mất trường trung cấp tốt trong khi lại có trường CĐ non và mất trường CĐ tốt để có trường ĐH non.  Để giải quyết vấn đề này, theo GS Thuyết, Bộ GD-ĐT phải tham mưu cho Chính phủ để đánh giá chính xác mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng. Xã hội đang nghi ngờ về chất lượng đào tạo và có những đòi hỏi cao hơn về vấn đề này. Tuy nhiên, khuynh hướng phấn đấu của Bộ GD-ĐT vẫn là số lượng. Hiện cả nước có 450 trường ĐH-CĐ và sẽ tăng lên 573 trường vào năm 2020 để đạt tỉ lệ 400 sinh viên/vạn dân. Phải đánh giá đúng để có thể điều chỉnh chiến lược, đáp ứng cả bài toán về số lượng và chất lượng.   Cũng nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng đào tạo, TS Vũ Thị Phương Anh – phó giám đốc Trung tâm bồi dưỡng và hỗ trợ chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội Các trường ĐH-CĐ ngoài công lập – cho rằng cách quản lý chất lượng ĐH hiện nay Bộ GD-ĐT hầu như khoán trắng cho các trường. Cũng như công tác tuyển sinh hiện nay, bộ nắm đầu vào thả đầu ra trong khi đúng ra phải làm ngược lại. Công tác quản lý ĐH cũng vậy. Bộ chỉ xét mở ngành (đầu vào) và trong quá trình đào tạo không có cơ chế gì để kiểm định, điều chỉnh cho phù hợp. Nếu có hệ thống kiểm định ngành nghề với sự tham gia của các hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp thì bộ và các trường sẽ kịp thời điều chỉnh chương trình đào tạo để nâng cao chất lượng, thu hút người học.          Chiều 12-10, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM  đã tổ chức hội thảo góp ý cho Luật giáo dục ĐH sẽ được Quốc hội cho ý  kiến tại kỳ họp thứ 2. Lãnh đạo các trường ĐH trên địa bàn đã đóng góp  nhiều ý kiến đối với dự thảo luật, trong đó tập trung vào các vấn đề tự  chủ trong trường ĐH. Hầu hết các đại biểu tham gia nhấn mạnh cần phải  giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường, để từ đó đổi mới và nâng cao  chất lượng. Các ý kiến cho rằng không chỉ giao quyền tự chủ tuyển sinh  mà cần cả tự chủ về tài chính, bằng cấp.         Trong khi đó, GS-TS Đặng Lương Mô – cố vấn ĐHQG TP.HCM – đề xuất VN không nên vội đưa ra những mục tiêu xa vời, xây dựng các trường ĐH đẳng cấp châu lục hay quốc tế mà nên nhắm đến các mục tiêu gần, thiết thực, cụ thể và có thể đạt được trong tầm tay. Cần quy định rõ ràng các tiêu chuẩn tối thiểu đối với một ĐH để đảm bảo chất lượng ĐH về cơ sở vật chất (bao gồm cả phòng ốc thí nghiệm, phòng nghiên cứu…) và đội ngũ giảng viên có đủ số lượng và năng lực.  Để giải quyết những bất cập trong phát triển giáo dục ĐH hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, từ đó đẩy mạnh phân tầng ĐH.   TS Vũ Thị Phương Anh đề xuất: căn cứ trên đặc thù và chức năng riêng của các trường, cần có các nhóm trường khác nhau để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người học và địa phương. Chẳng hạn ở Mỹ, hệ thống ĐH cộng đồng làm rất tốt chức năng mở rộng cơ hội tiếp cận ĐH cho đại bộ phận người dân, trong khi những trường ĐH đỉnh cao có nhiệm vụ khác, đối tượng tuyển sinh khác. Ở VN, khi đánh đồng các trường, nhiều trường không tuyển sinh được sẽ phải dùng mọi cách để lách, thu hút thí sinh. Bên cạnh đó, bộ nên đẩy mạnh công tác kiểm định đầu ra để từ đó thị trường quyết định ai tốt thì tồn tại, ai không tốt sẽ bị đào thải.  Cùng quan điểm, PGS-TS Vũ Đình Thành – hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM)  – cho rằng cấu trúc hệ thống giáo dục ĐH VN chưa phân tầng, các trường đều được đánh đồng như nhau trong khi mục tiêu, nhiệm vụ mỗi trường mỗi khác. Điều này dẫn đến việc đầu tư, chính sách tuyển sinh giống nhau, gây khó khăn cho các trường. Cần phải có các tiêu chuẩn về chất lượng để phân tầng ĐH thành trường ĐH mục tiêu nghiên cứu (số lượng sinh viên ít, đầu tư lớn, chất lượng sinh viên cao), các trường đáp ứng nhu cầu nhân lực sẽ là nơi học tập của đại đa số sinh viên.  Tương tự, GS-TS Võ Tòng Xuân – hiệu trưởng Trường ĐH Tân Tạo – cho rằng xu hướng ĐH hóa các trường CĐ là một chính sách sai lầm trong phát triển ĐH ở VN. Chúng ta đang phát triển theo thị hiếu người học (sính bằng ĐH) mà chưa căn cứ vào nhu cầu nhân lực thực tế. Không nhất thiết tỉnh nào cũng có trường ĐH. Để phát triển, các địa phương cần đội ngũ nhân lực lành nghề, có kỹ năng chứ không phải tất cả đều là kỹ sư, cử nhân. Do đó mỗi tỉnh cần có một trường CĐ cộng đồng (gom các trường nghề, trung cấp, CĐ ở địa phương lại) để đào tạo những ngành nghề mà địa phương đang cần. Những sinh viên học xong nếu đủ điều kiện có thể liên thông lên ĐH.   Trong khi đó, TS Phạm Thị Ly – Trung tâm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ĐHQG TP.HCM – phác họa một hệ thống ba tầng bậc: trên đỉnh hình tháp là các ĐH định hướng nghiên cứu, chiếm khoảng 10% tổng số sinh viên, tiếp theo là các ĐH định hướng giảng dạy, chiếm khoảng 40% tổng số sinh viên, và tầng dưới cùng là các trường CĐ cộng đồng, trường nghề, chiếm khoảng 50% số sinh viên (bao gồm cả các trường hiện nay do Bộ LĐ-TB&XH quản lý).          Đại học Quốc gia TP.HCM phải trở thành đầu tàu   Sáng 12-10, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị  Doan đã đến thăm và làm việc với ĐHQG TP.HCM. Tại đây, Phó chủ tịch nước  nhấn mạnh: “Đến năm 2020 ĐHQG TP.HCM phải trở thành đầu tàu của các ĐH  cả nước. Đây là mô hình cần được phát huy và nhân rộng. Nếu được giao  quyền tự chủ nhiều hơn, ĐHQG sẽ phát huy được sức mạnh và trí tuệ của  toàn đội ngũ, góp phần phát triển hệ thống giáo dục ĐH. Đề nghị ĐHQG  TP.HCM phát triển theo hướng ĐH nghiên cứu triển khai ứng dụng, sớm đứng  vào hàng ngũ các trường ĐH tiên tiến trên thế giới”.   Chiều cùng ngày, tại cuộc làm việc với  Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, phó chủ tịch nước khẳng định nhiều trường ĐH  tư thục đang đào tạo theo kiểu “ăn xổi ở thì”, chạy đua tuyển sinh,  không quan tâm tới chất lượng đào tạo, chất lượng đầu ra của sinh viên.  Trong thời gian tới Chính phủ, Bộ GD-ĐT sẽ siết lại chất lượng đào tạo  tại các trường ĐH tư thục.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Úc hỗ trợ ba đại học miền núi phía Bắc      Đại học Tây Bắc, Đại học Thái Nguyên và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được Chính phủ Úc cam kết hỗ trợ nhiều khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên.      Đại học Tây Bắc, TP Sơn La.  Ngày 29/8, tại Sơn La, Chương trình Úc cùng Việt Nam Phát triển Nguồn nhân lực (Aus4Skills) đã ký thỏa thuận cam kết hỗ trợ Đại học Tây Bắc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ quản lý, cải tiến chương trình và phương pháp giảng dạy, tăng cường hỗ trợ cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, và thúc đẩy vai trò nữ giới với công tác lãnh đạo.  Trao đổi với Tạp chí Tia Sáng, đại diện của Đại sứ quán Australia tại Việt Nam cho biết, chuỗi hoạt động mà Aus4Skills sẽ tổ chức trong chương trình hỗ trợ Đại học Tây Bắc đến năm 2020 bao gồm:  – Khóa học về lãnh đạo và hoạch định chiến lược trong giáo dục đại học cho quản lý cấp cao.  – Khóa học về quản lý chất lượng cho các trưởng khoa và nhà quản lý có thâm niên.  – Khóa học áp dụng các nguyên tắc về đổi mới và phát triển chương trình giảng dạy cho đội ngũ giảng viên cấp cao trong các lĩnh vực ưu tiên.  – Nghiên cứu về nhu cầu và khoảng cách về mặt kỹ năng đối với nguồn nhân lực ở Tây Bắc.  – Khóa học xây dựng chương trình và phương pháp giáo dục cho người học, không phân biệt giới tính, kể cả người khuyết tật, có thể hòa nhập.  – Chương trình làm việc nhóm về các kỹ năng sư phạm chung, đặc biệt với sinh viên tới từ nhóm các dân tộc thiểu số.  – Đào tạo giảng viên sư phạm, chuyên về kỹ năng chung.  – Khóa tập huấn cho đội ngũ các giảng viên về việc kết hợp các kỹ năng chung trong chương trình giảng dạy.  – Chương trình Nữ giới với hành trình lãnh đạo dành cho sinh viên các trường đại học ở vùng núi phía Bắc.  – Thỏa thuận tư vấn về mặt kỹ thuật trong ngắn hạn để hỗ trợ hai trường đại học  vùng Tây Bắc nâng thành tích học tập cho sinh viên dân tộc thiểu số.  Tham gia các khóa đào tạo này còn có giảng viên từ Đại học Thái Nguyên và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là hai trường cũng sẽ được Aus4Skills ký thỏa thuận hợp tác tương tự vào tháng 9 tới.  Là một địa bàn còn nghèo của cả nước, Tây Bắc đặc biệt gặp khó khăn trong việc phát triển nguồn nhân lực. Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc được thành lập từ năm 1953 và được nâng cấp thành Đại học Tây Bắc vào năm 2001. Sứ mệnh ngày nay của trường là đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của bảy tỉnh Tây Bắc và những tỉnh lân cận. Hiện trường có khoảng 10.000 sinh viên, trong đó 80% là người dân tộc thiểu số. Những ngành đào tạo chính của trường có thể kể đến Nông – Lâm, Sư phạm, Kinh tế, Ngoại ngữ…  Aus4Skills là chương trình hỗ trợ của Chính phủ Australia dành cho Việt Nam trong 5 năm, nhằm giúp Việt Nam tiếp cận và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng, góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững.  Nguồn tham khảo: Thông cáo báo chí, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam                         Author                Hải Đăng        
__label__tiasang Ứng dụng CNTT ở bậc trung học: Mười điểm cần lưu ý      Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn quốc về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học tại các trường trung học ở Hà Lan, GS. Wilfried Admiraal* (Đại học Leiden, Hà Lan) chỉ ra mười yếu tố cần có để triển khai hiệu quả CNTT vào môi trường giáo dục bậc trung học. Nghiên cứu được tiến hành từ trước khi dịch Covid-19 xuất hiện, có thể sẽ là một nguồn tham khảo hữu ích trong bối cảnh giáo viên và học sinh đều đang phải học cách để thay đổi kỹ năng dạy và học của chính mình.      Kunskapsskolan là một mô hình ‘trường tri thức’ của Thụy Điển. Tại đây, các giáo viên chia sẻ và cùng nhau xây dựng toàn bộ hoạt động giảng dạy, học tập, đánh giá và tài liệu. Trong một hoạt động giảng dạy và thực hành bất kỳ chứa đựng sự nỗ lực của rất nhiều thầy cô. Ảnh: kunskapsskolan.com.   Từ lý thuyết đến thực nghiệm, tất cả đều cho thấy rằng dạy học ứng dụng CNTT sẽ giúp người học tích cực hơn trong việc trau dồi kiến thức – thông qua quá trình tích hợp thông tin và trải nghiệm mới vào nền tảng kiến thức sẵn có. Tuy nhiên thời thế đã thay đổi. Các biện pháp mà những quốc gia trên thế giới triển khai nhằm ngăn chặn sự lây lan của Covid-19 trong phạm vi trường học đã thay đổi hoàn toàn việc dạy học từ xa.     Tại nhiều quốc gia, giáo viên đến trường hoặc ở nhà để dạy, còn học sinh tham dự các lớp học, thực hiện dự án và hoàn thành bài tập tại nhà. Nhưng không phải học sinh, sinh viên nào cũng có khả năng truy cập công nghệ để tham dự lớp học, cũng như không phải ai trong các em cũng có một môi trường học tập an toàn tại nhà.   Hình thức dạy học từ xa còn đòi hỏi giáo viên, phụ huynh và học sinh phải đáp ứng được những kỹ năng mà từ trước đến nay họ chưa từng biết tới. Hậu Covid-19, bức tranh giáo dục sẽ ra sao? Trong thời điểm khó khăn này, chúng ta sẽ học được gì? Sau 30 năm nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy học, rốt cục chúng ta đã có được gì? Liệu những phương pháp giảng dạy mà chúng ta đang triển khai có thực sự thay đổi hoạt động dạy và học từ trong bản chất?    Từ những lý thuyết học tập     Trong suốt hai thập kỷ qua, bức tranh giáo dục đã đổi khác rất nhiều nhờ vào sự xuất hiện của các ứng dụng lớp học ảo, phần mềm mô phỏng, lồng ghép kiến thức vào trò chơi, thí nghiệm ảo, trực quan hóa các mô hình phức tạp cũng như những công cụ cho phép học sinh và giáo viên trao đổi và tương tác như email, mạng xã hội và hệ thống nhắn tin. Vào đầu thế kỷ này, việc sử dụng công nghệ chủ yếu mang tính chất hỗ trợ phương pháp giảng dạy sẵn có như sử dụng phần mềm trình chiếu, bảng điện tử, môi trường học ảo và email. Gần đây, công nghệ – dưới sự hỗ trợ của điện thoại thông minh, máy tính bảng, phương tiện truyền thông xã hội, công nghệ 4.0 và kết nối Internet tốc độ cao – còn được áp dụng nhằm điều chỉnh phương pháp giảng dạy, thay đổi hình thức dạy và học từ bản chất.    Nhìn chung, công nghệ có thể giúp dạy và học hiệu quả theo ba cách. Đầu tiên, công nghệ có thể đổi mới tiến trình dạy học, như sử dụng Công nghệ thực tế ảo (Virtual Reality) và Thực tế ảo tăng cường (Augmented Reality), trò chơi điện tử có tính giáo dục, và công nghệ 4.0. Thứ hai, công nghệ giúp việc học trở nên linh hoạt hơn, chẳng hạn như việc tận dụng tài nguyên giáo dục mở và các hình thức học tập trực tuyến khác nhau. Thứ ba, công nghệ tạo điều kiện để áp dụng phương pháp học tập tương thích (điều chỉnh nội dung dạy học để đáp ứng nhu cầu của mỗi học sinh). Chẳng hạn, nhờ có công nghệ hiện đại mà giáo viên sẽ thuận lợi hơn trong việc phân tích học tập (đo lường, thu thập, phân tích và báo cáo dữ liệu về người học và bối cảnh của họ, nh ằm mục đích hiểu và tối ưu hóa việc học), kiểm tra thích ứng (bài kiểm tra được thiết kế đặc biệt để đo lường khả năng, độ khó của câu hỏi tăng hay giảm tùy thuộc vào câu trả lời trước đó) và trí tuệ nhân tạo.       Khi người học phải ‘tự bơi’ trong phần lớn tiến trình học, các em sẽ cảm thấy lạc lõng và không biết cách điều chỉnh lộ trình học tập của chính mình; còn nếu giáo viên kiểm soát quá mức, học sinh sẽ không có động lực làm bài tập và hoàn thành dự án, do đó thường bị điểm thấp trong bài kiểm tra.      Từ những lý thuyết học tập như thuyết hành vi, thuyết nhận thức và thuyết học tập xã hội – bắt nguồn từ các công trình của Dewey, Piaget và Vygotsky, các nhà giáo dục đã ấp ủ việc triển khai CNTT vào quá trình dạy học. Trong một nghiên cứu vào năm 1999, Jonassen, Peck và Wilson đã trình bày một cách tiếp cận mới trong quá trình ứng dụng công nghệ vào dạy học. Bằng cách tổng hợp một số lý thuyết, họ đã mô tả các nguyên tắc và đặc điểm của môi trường học tập. Họ cho rằng, ứng dụng công nghệ cao vào dạy học chỉ hiệu quả khi người học chủ động kiến tạo tri thức thông qua các hoạt động thảo luận, phát biểu, hợp tác, đưa ra quan điểm và thực sự suy ngẫm.     Vào năm 2006, trong một nghiên cứu, Barak đã đề ra bốn nguyên tắc giảng dạy tương tự, dựa trên các lý thuyết học tập khác nhau. Nguyên tắc đầu tiên: học tập theo hoàn cảnh. Nguyên tắc này dựa trên các lý thuyết về nhận thức hoàn cảnh, cho rằng kiến ​​thức không thể tách rời khỏi bối cảnh và các hoạt động của người học. Việc học chỉ xảy ra khi người học xử lý thông tin vừa thu được bằng trải nghiệm của chính họ.     Nguyên tắc thứ hai: học tập là một quá trình tích cực. Người học tiếp thu kiến thức thông qua kinh nghiệm của bản thân tốt hơn là thông qua việc thụ động tiếp nhận thông tin do người khác cung cấp hoặc thông qua các phương tiện kỹ thuật. Do đó, các nhà giáo dục nên xem công nghệ là phương tiện xây dựng và khám phá tri thức, thay vì là công cụ chuyển giao và thụ động tiếp nhận tri thức.     Nguyên tắc thứ ba, học tập là một quá trình tương tác xã hội – dựa trên học thuyết của Vygostky (1978). Nguyên tắc này có nghĩa việc học là quá trình trao đổi giữa người học và những người khác – giáo viên, bạn học, phụ huynh và người quen. Lave và Wenger (2002) đã kết hợp nguyên tắc thứ nhất và thứ ba khi cho rằng học tập xã hội diễn ra nhờ các hoạt động, bối cảnh và văn hóa của người học (tức là, hoàn cảnh xã hội). Tương tác xã hội là một yếu tố quan trọng để học tập dựa trên trải nghiệm riêng – người học tham gia vào một cộng đồng mà ở đó chứa đựng niềm tin và hành vi của chính họ. Nguyên tắc thứ tư, đó là thực hành phản tư (tự phản biện) đóng vai trò trung tâm trong học tập. Trong tác phẩm mang tính bước ngoặt của mình, Schon đã mô tả khái niệm thực hành phản tư bao gồm “diễn ra tại chỗ, phê phán, tái cấu trúc và kiểm tra sự hiểu biết về các hiện tượng từng trải, dưới dạng một cuộc tự đối thoại.”      Những điểm cần lưu ý     Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 35 trường trung học ở Hà Lan vào năm học 2016-2017. Đây là những trường đã tham gia vào một dự án sáng kiến toàn quốc nhằm đánh giá, thiết kế lại các hoạt động dạy học ứng dụng CNTT, đổi mới quá trình học tập. Giáo viên đã tận dụng ưu điểm của công nghệ vào việc cá nhân hóa hoạt động học tập của toàn bộ học sinh trong lớp.     Thông qua quan sát lớp học, các câu trả lời, phỏng vấn nhóm/cá nhân, các bài kiểm tra của cả giáo viên và học sinh, nhóm nghiên cứu đã thu thập được rất nhiều dữ liệu khác nhau. Tổng cộng có 43 can thiệp đổi mới được thực hiện trong 35 trường. Với mỗi hoạt động can thiệp, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra hai câu hỏi, giáo viên sẽ trả lời hai lần – trước và sau khi tiến hành thiết kế hoạt động dạy học tích cực:       Dù là sử dụng phương pháp hay công nghệ hiện đại nào, năng lực tự học của học sinh vẫn là yếu tố quyết định. Ảnh: Đ.N.T/Thanhnien  1) Với sự hỗ trợ của công nghệ, làm thế nào để cá nhân hóa quá trình học tập trong trường trung học?    2) Cá nhân hóa quá trình học tập với sự hỗ trợ của công nghệ sẽ mang lại hiệu quả gì đối với khả năng tự học, động lực học tập và thành tích của học sinh?    Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, nhóm khảo sát đã đưa ra mười điểm cần lưu ý trong dạy học ứng dụng CNTT ở bậc trung học – bao gồm những vấn đề như hoạt động dạy của giáo viên, chương trình học, nâng cao chuyên môn cho GV, chính sách giáo dục và nghiên cứu giáo dục:    Vai trò của người giáo viên    Thông qua khảo sát, nhóm nghiên cứu nhận ra rằng, khi người học phải ‘tự bơi’ trong phần lớn tiến trình học, các em sẽ cảm thấy lạc lõng và không biết cách điều chỉnh lộ trình học tập của chính mình; còn nếu giáo viên kiểm soát quá mức, học sinh sẽ không có động lực làm bài tập và hoàn thành dự án, do đó thường bị điểm thấp trong bài kiểm tra.    Kiểm soát sự chia sẻ có nghĩa là, học sinh có quyền chủ động quyết định tốc độ, trình tự học, phân bổ thời gian và thực hành bài học trong một khuôn khổ lớn do giáo viên đặt ra, chẳng hạn như một chuỗi bài học hoặc thậm chí là một học kỳ. Học sinh càng có nhiều động lực nội tại với các môn học hoặc chủ đề cụ thể ở trường, thì quá trình học tập lại càng được kiểm soát hiệu quả. Từ đó, có thể lưu ý một số điểm sau:    1) Ứng dụng hiệu quả CNTT trong dạy học được thể hiện thông qua khả năng kiểm soát hoạt động học tập giữa giáo viên và học sinh    Khả năng sư phạm của người giáo viên đóng vai trò quan trọng. Kết quả khảo sát cho thấy, khi giáo viên thay đổi phương pháp – tiếp cận việc học của học sinh như một người hướng dẫn thay vì là một chuyên gia, khả năng tự học, động lực học và kết quả kiểm tra của các em học sinh cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực. Từ những nghiên cứu trước đây, chúng ta đã biết rằng trong môi trường học tập mà giáo viên và học sinh đều có quyền kiểm soát, học sinh phải biết cách theo dõi và điều chỉnh quá trình học tập của chính mình. Điều này có nghĩa là giáo viên (hoặc chính công nghệ) nên đưa ra lời khuyên để các em có thể làm được điều này. Hay nói cách khác, giáo viên nên dạy học sinh cách học. Kỹ năng này dường như còn quan trọng hơn trong bối cảnh công nghệ đang tham gia vào quá trình dạy học.     2) Trong quá trình dạy học, người dạy cần lấy người học làm trung tâm, tập trung hướng dẫn học sinh cách theo dõi và điều chỉnh quá trình học tập của mình.     Trong một số trường hợp khảo sát, giáo viên đã sử dụng phần mềm thích ứng1 để hỗ trợ học sinh thực hành, ví dụ, giáo viên sử dụng kỹ thuật phân tích học tập (phân tích, đánh giá đặc điểm của từng học sinh) trong các kỹ năng ngôn ngữ và toán học để chuẩn bị tiết học. Từ đó, máy tính sẽ cung cấp các bài kiểm tra tiêu chuẩn cho một môn học cụ thể, phù hợp với khả năng của học sinh, sau đó đưa ra nhận xét về kết quả kiểm tra (điểm kiểm tra cũng như chi tiết về câu trả lời của họ), gợi ý và khung hướng dẫn. Khảo sát cho thấy rằng càng nhiều sinh viên thực hành với phần mềm thích ứng, kết quả của họ trong các bài kiểm tra càng cao. Phát hiện này đồng thời xác nhận các nghiên cứu trước đây đã đưa ra kết luận chính xác về hiệu quả của việc sử dụng phần mềm thích ứng.    3) Phần mềm thích ứng và hoạt động thực hành của người học là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh.     Các kết quả thu được từ việc đổi mới hoạt động giảng dạy còn khá lộn xộn, tùy thuộc vào mức độ tự kiểm soát và theo dõi tiến trình học tập của học sinh. Điều quan trọng là giáo viên phải hiểu được tầm quan trọng của việc hỗ trợ học sinh cách tự chủ trong học tập. Với tư cách là một người định hướng, giáo viên có thể hỏi học sinh về nhu cầu của các em, từ đó có những phương án hỗ trợ phù hợp.     4)  Ứng dụng CNTT vào dạy học hiệu quả hay không phụ thuộc vào khả năng tự học và nhu cầu hỗ trợ của học sinh.    Tự học là một khía cạnh quan trọng trong học tập ứng dụng CNTT. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh phải được dạy CNTT là gì và cách sử dụng nó để theo dõi, điều chỉnh quá trình học tập của chính mình. Khảo sát cho thấy, khi các thầy cô muốn phát triển kỹ năng tự điều chỉnh của học sinh, họ sẽ đầu tư vào việc chuẩn bị các hoạt động học tập (lập kế hoạch và lựa chọn) thay vì tự điều chỉnh trong quá trình học (theo dõi, chuyển hướng và kiên trì) và sau khi học (phê bình và đánh giá). Thành tích học tập của học sinh tốt hơn khi giáo viên hướng dẫn một cách rõ ràng cho học sinh về kỹ năng tự điều chỉnh này.     5) Dạy học ứng dụng CNTT hiệu quả ngụ ý rằng học sinh cần được phát triển kỹ năng tự điều chỉnh ở một mức độ cơ bản    Chương trình học    Ở một số trường, việc thiết kế lại hoạt động dạy học cho thấy sự thay đổi trong tầm nhìn của trường về dạy, học và ứng dụng công nghệ. Tầm nhìn này hầu hết được phát triển bởi chính các trường hoặc dựa trên các mô hình hiện có như Kunskapsskolan, một mô hình ‘trường tri thức’ của Thụy Điển. Trong đó, các giáo viên chia sẻ và cùng nhau xây dựng toàn bộ hoạt động giảng dạy, học tập, đánh giá và tài liệu. Điều này nghĩa là dù là môn học nào, hay do giáo viên nào dạy, học sinh cũng đều hoàn toàn bình đẳng trong việc tiếp cận tri thức. Trong hầu hết các trường hợp, điều này cũng có nghĩa, trong một hoạt động giảng dạy và thực hành bất kỳ chứa đựng sự nỗ lực của rất nhiều thầy cô. Điều này cho thấy:     6) Quá trình xây dựng hoạt động giảng dạy, hình thức đánh giá, tài liệu học tập cũng như tầm nhìn của trường về dạy học và ứng dụng công nghệ là điều kiện tiên quyết để ứng dụng CNTT vào trong dạy học một cách hiệu quả.     Kỹ năng sư phạm là yếu tố quyết định. Mặc dù từ nhiều năm trước, học sinh đã bắt đầu sử dụng máy tính bảng và máy tính xách tay, nhưng các giáo viên đã chỉ ra rằng một người thầy thiếu kỹ năng sư phạm thì rất khó để triển khai áp dụng CNTT một cách hiệu quả. Điều này phù hợp với kết luận từ các nghiên cứu trước đây, cho rằng những đổi mới trong giảng dạy đã bước qua cánh cổng trường một cách rời rạc: hầu hết các giáo viên sử dụng công nghệ để làm những gì họ đã luôn làm từ trước, bởi những hoạt động đó phù hợp với quan điểm của họ về dạy và học. Điều này dẫn tới các yêu cầu sau:     7) Cần cung cấp cho giáo viên thêm những thông về phương pháp dạy học tích cực để họ trở thành một người giáo viên tốt, chứ không phải là một chuyên gia công nghệ.    Phát triển chuyên môn     Theo khảo sát, nhà trường đã thông báo và hỗ trợ hiệu quả về mặt công nghệ cho giáo viên, nhưng việc phát triển chuyên môn để triển khai hiệu quả công nghệ thì vẫn chưa được chú trọng. Giáo viên cho biết họ cần thêm thông tin và những hỗ trợ để hiểu hơn cách cùng học sinh kiểm soát quá trình học tập, phát triển kỹ năng tự học, từ đó đưa ra những hỗ trợ cần thiết.     8) Cần tổ chức những buổi tập huấn cho giáo viên với mục tiêu là phát triển kỹ năng giảng dạy trong thời kỳ công nghệ thông tin ngày càng phát triển.     Chính sách giáo dục  Nhà trường, khu vực và nhà nước cần điều chỉnh việc dạy học để đáp ứng nhu cầu của thời đại, khi mà công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, được triển khai trong mọi giao thức của đời sống. Một số câu hỏi cơ bản cần được giải quyết, chẳng hạn như đâu là mức độ cần đạt của học sinh và chương trình giảng dạy nên được thiết kế đồng đều hay cụ thể hóa? Các tòa nhà trong trường học nên được thiết kế và trang bị như thế nào để hỗ trợ việc học của học sinh?     9) Để triển khai CNTT hiệu quả, cần có sự thay đổi trong chính sách giáo dục cấp khu vực hoặc quốc gia, đặc biệt là về chương trình học, thời gian giảng dạy, thiết kế trường học, tài chính.    Nghiên cứu giáo dục    Những nghiên cứu với mục đích cá nhân hóa quá trình học tập nên tính đến bối cảnh cụ thể của người học, từ đó đưa ra những phương án thích hợp.     10) Nhưng nghiên cứu về ứng dụng CNTT vào môi trường sư phạm nên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, vì các yếu tố trong hoạt động dạy và học chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh và đối tượng cụ thể.   ***  Dự án nghiên cứu này đã tiến hành từ trước khi dịch Covid-19 xuất hiện, đưa ra một số điểm cần lưu ý như: ứng dụng CNTT hiệu quả đòi hỏi GV phải lấy người học làm trung tâm, tập trung vào việc tổ chức các hoạt động dạy học, theo dõi xuyên suốt tiến trình học tập của học sinh. Nhưng cách tiếp cận này có còn hiệu quả trong dạy học trực tuyến, khi mà giáo viên và học sinh không thể tương tác trực tiếp được với nhau? Kỹ năng tự học rất quan trọng, nhưng nó còn quan trọng hơn trong bối cảnh học tại nhà. Vai trò của phụ huynh vào thời điểm này sẽ là gì? Phần mềm thích ứng lúc này có thể làm được gì? Kỹ năng sư phạm sẽ đóng vai trò gì? Làm thế nào để cân bằng, biến CNTT thành công cụ hỗ trợ chứ không phải là một yếu tố quyết định mọi thứ? Không chỉ lúc này, mà hậu Covid-19, chúng ta vẫn phải cùng nhau tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi đó. □     Anh Thư dịch     Mạng lưới Giáo dục (EduNet) trực thuộc Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE-Global) khởi xướng chương trình hành động 2019 – 2030 vì “Trường học ngày mai – Công dân tương lai” nhằm đóng góp vào cuộc thảo luận cải cách và đổi mới tư duy giáo dục ở Việt Nam thông qua một cách tiếp cận có cơ sở khoa học và đồng thuận của nhiều tác nhân (người ra chính sách giáo dục, chuyên gia, giáo viên, học sinh và phụ huynh). Trong khuôn khổ đó, năm nay EduNet) cùng phối hợp với Đại học Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức Diễn đàn Giáo dục Việt Nam 2020 (diễn ra ngày 9/6) với chủ đề “Trường học ngày mai, Công dân tương lai” để cùng xác định lại phương châm và mục tiêu giáo dục, hiện đại hóa phương pháp sư phạm, tái định nghĩa vai trò của các tác nhân, hướng tới những thay đổi tích cực và bền vững cho giáo dục Việt Nam.  Diễn đàn 2020 nêu ra 4 chủ đề lớn sau:  1. Định nghĩa lại những mục tiêu của giáo dục cho thế kỷ 21  2. Hợp tác trong giáo dục, phát triển các ngành khoa học xã hội, gây dựng xã hội học tập  3. Dạy và học, đào tạo giáo viên, vai trò của trường học trong thời đại số hóa  EduNet hân hạnh được cộng tác với Tia Sáng để gửi đến bạn đọc những tham luận của các diễn giả khách mời, các giáo sư đại học và các chuyên gia giáo dục.   Độc giả có thể theo dõi nội dung và đăng ký tham dự trực tuyến tại đây: https://ves.sciencesconf.org/  * Wilfried Admiraal là Giáo sư ngành Khoa học Giáo dục, đồng thời là Giám đốc của ICLON (Leiden University Graduate School of Teaching), một đơn vị trực thuộc Đại học Leiden (Hà Lan).    Tài liệu tham khảo:  Admiraal, W., Vermeulen, J., & Bulterman-Bos, J. (in press). Teaching with learning analytics: How to connect computer-based assessment data with classroom instruction? Technology, Pedagogy and Education.  Barak, M. (2006). Instructional principles for fostering learning with ICT: Teachers’ perspectives as learners and instructors. Education and Information Technologies, 11, 121-138.  Brown, J. L., Collins, A., & Duguid, P. (1989). Situated cognition and the culture of learning.  Johnson, S. D. & Aragon, S. A. (2003). An instructional strategy framework for online learning environments. In S.A. Aragon (Ed.), Facilitating learning in online environments. New Directions for Adult and Continuing Education, 10 (pp. 31-44). San Francisco: Jossey-Bass.  Jonassen, D., Peck, K., & Wilson, B. (1999). Learning with technology: A constructivist approach. Upper  Kamp, M-T., van de, Admiraal, W., Drie, J. van., & Rijlaarsdam, G. (2015). Enhancing divergent thinking in visual arts education: Effects of explicit instruction of meta-cognition. British Journal of Educational Psychology, 85, 47-58.  Lave, J. & Wenger, E. (2002). Legitimate peripheral participation in communities of practice. In R. Harrison, F. Reeve, A. Hanson & J. Clarke (Eds.), Supporting life long learning: Perspectives on learning (Vol. 1, pp. 111-126). London: Routledge Falmer.  Niemiec, R. P., Sikorski, C., & Walberg, H. J. (1996)., Learner-control effects: A review of reviews and a meta-analysis. Journal of Educational Computing Research, 15(2), 157–174.  Sadler, D. R. (1989). Formative assessment and the design of instructional systems. Instructional Science, 18(2), 119-144.  Salomon, G. (1998). Novel constructivist learning environments and novel technologies: Some issues to be considered. Research Dialog in Learning and Instruction, 1(1), 3-12.  Schön, D. (1983). The reflective practitioner: How professional think in action. New York: Basic Books.  —  Chú thích:   1 Phần mềm thích ứng là những phần mềm hỗ trợ phương pháp dạy học thích ứng (adaptive teaching and learning). Phương pháp giáo dục này sử dụng thuật toán máy tính để tương tác với người học, từ đó cung cấp các tài nguyên cũng như hoạt động học tập cụ thể phù hợp với nhu cầu và khả năng riêng của mỗi cá nhân.     Author                Wilfried Admiraal        
__label__tiasang Ươm mầm nhận thức      Trong cuốn sách Ươm mầm nhận thức*, tác giả  Ellen Galinsky đã tập hợp các nghiên cứu về những kỹ năng cần thiết mà  bà đã dành tâm huyết theo đuổi suốt trong sự nghiệp của mình thành bảy kỹ năng cốt lõi mà mọi trẻ em đều cần.         Có hàng trăm cuốn sách đưa ra lời khuyên cho cha mẹ, từ việc dạy trẻ cách đi vệ sinh, tuân thủ kỷ luật cho đến dinh dưỡng. Dù có quá nhiều thông tin được cung cấp, song lại có rất ít những lời khuyên dựa trên các nghiên cứu khoa học cho các bậc phụ huynh về việc làm sao nuôi dạy con trở thành những em bé ngoan và phát triển toàn diện các tiềm năng của trẻ, giúp trẻ học được cách đảm đương các thử thách của cuộc sống, giao tiếp tốt với mọi người và giữ được niềm say mê học tập. Đó là những “kỹ năng cần thiết” mà Ellen Galinsky đã dành tâm huyết theo đuổi suốt trong sự nghiệp của bà, thông qua những nghiên cứu của riêng bà và qua nhiều thập kỷ trò chuyện với hơn một trăm nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực khoa học thần kinh và sự phát triển của trẻ. Tin tốt là có những điều đơn giản hằng ngày mà qua đó bậc cha mẹ nào cũng có thể giúp trẻ xây dựng những kỹ năng này ngay hôm nay và trong tương lai. Chúng không hề tốn kém, và không bao giờ là quá muộn để bắt đầu.  Trong cuốn sách Ươm mầm nhận thức, Ellen Galinsky đã tập hợp các nghiên cứu này thành bảy lĩnh vực chính cần thiết cho trẻ nhất: (1) Tập trung và tự chủ; (2) Nắm bắt quan điểm; (3) Giao tiếp; (4) Tạo liên kết; (5) Suy nghĩ thấu đáo; (6) Đảm đương thử thách; (7) Tự định hướng, say mê trong học tập.   Trong từng kỹ năng, Galinsky chỉ ra những điều được minh chứng bởi các nghiên cứu khoa học và bà cung cấp nhiều việc cụ thể mà cha mẹ có thể làm – bắt đầu ngay từ hôm nay – để trau dồi các kỹ năng cho trẻ. Đó là những kỹ năng giúp trẻ có khả năng tập trung vào mục tiêu vì thế chúng có thể học hỏi dễ dàng hơn và kết nối với những gì chúng vừa học được. Đây là những kỹ năng chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng đương đầu với những áp lực của cuộc sống hiện đại, các kỹ năng mà trẻ sẽ tiếp cận bây giờ và trong những năm tới.  Ươm mầm nhận thức thực sự là cuốn sách mang tính đột phá, chỉ dẫn cho phụ huynh cách làm sao để cung cấp cho trẻ những công cụ quan trọng nhất mà chúng cần.   Sách đã nhận được sự hoan nghênh của những tên tuổi uy tín như Tiến sĩ y khoa T.Berry Brazelton, Tiến sĩ y khoa David A. Humburtg, chuyên gia viết sách Adele Faber, và nhà báo Judy Woodruff, Ươm mầm nhận thức được cho là sẽ trở thành cuốn sách kinh điển trong lĩnh vực nuôi dạy con cái.  Bảy kỹ năng sống cốt lõi mà mọi trẻ em đều cần là gì?    1.    Tập trung tự chủ  Trẻ cần kỹ năng này để đạt được những mục tiêu của chúng, đặc biệt là trong một thế giới đầy rẫy những tác nhân gây xao lãng và dễ bị chìm ngập trong biển thông tin. Kỹ năng này bao gồm sự tập trung, khả năng ghi nhớ các quy tắc, nhận thức linh hoạt và học cách tự kiểm soát bản thân.    2.    Nắm bắt quan điểm  Nắm bắt quan điểm không đơn thuần chỉ là việc bày tỏ sự thấu cảm, nó còn bao hàm khả năng hiểu những người khác suy nghĩ và cảm nhận thế nào, và hình thành nền tảng sự hiểu biết của trẻ về những mong muốn của cha mẹ, thầy cô giáo và bạn bè của trẻ. Những trẻ có thể nắm bắt quan điểm của người khác cũng có xu hướng ít tham gia vào các xung đột.  3.    Giao tiếp  Giao tiếp không chỉ là hiểu về ngôn ngữ, nói, đọc và viết – nó còn là một kỹ năng quyết định điều bản thân muốn giao tiếp và nhận ra sự giao tiếp của chúng ta sẽ được người khác hiểu như thế nào. Hiện tại giáo viên và những người sử dụng lao động cảm thấy đây là kỹ năng bị thiếu nhất.  4.    Tạo liên kết  Tạo liên kết là yếu tố quan trọng của khả năng học tập – sự nhận thức được sự giống và khác nhau đồng thời phân loại những sự việc này theo phạm trù khác nhau. Việc tạo ra những liên kết khác thường là cốt lõi của sự sáng tạo. Trong một thế giới mà con người có thể “google” để tìm kiếm mọi thông tin, thì những ai có thể nhận ra sự kết nối sẽ không chỉ dừng lại ở việc hiểu thông tin mà còn có thể sử dụng tốt các thông tin đó.  5.    Suy nghĩ thấu đáo  Suy nghĩ thấu đáo là sự tìm kiếm những hiểu biết hợp lý và đáng tin cậy để tác động đến niềm tin, quyết định và hành động.  6.    Đảm đương thử thách  Cuộc sống đầy những áp lực và thử thách. Những đứa trẻ sẵn sàng lãnh lấy các thử thách (thay vì né tránh hoặc đơn giản là phải đương đầu với chúng) sẽ thành công hơn ở trường học và trong đời sống.    7. Tự định hướng, say mê trong học tập  Chính thông qua học tập chúng ta có thể khám phá ra tiềm năng của chính mình. Bởi thế giới luôn thay đổi nên chúng ta cũng vậy, chừng nào còn tồn tại thì chúng ta tiếp tục học tập.  Ellen Galinsky là chủ tịch và đồng sáng lập Học viện Gia đình và Việc làm (Families and Work Institute), giúp hình thành chuyên ngành đời sống gia đình và việc làm tại trường Bank Street College of Education – nơi bà giảng dạy 25 năm qua. Tại học viện, bà tiếp tục phụ trách những nghiên cứu sâu về sự thay đổi của lực lượng lao động và sự thay đổi của gia đình. Hơn bốn mươi cuốn sách và các báo cáo của bà bao gồm: Ask the children: the breakthrough study that reveals how to suceeed at work and parenting (Hãy hỏi trẻ: Một nghiên cứu mang tính đột phá, chỉ ra cách làm thế nào để thành công trong công việc và trong việc làm cha làm mẹ) và tác phẩm kinh điển The six stages of parenthood (Sáu giai đoạn trong quãng đời làm cha mẹ).   Là một diễn giả nổi tiếng, bà dẫn chương trình tại Hội nghị Nhà Trắng về công tác Chăm sóc trẻ em 1997 và chăm sóc Thanh thiếu niên năm 2000. Bà xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện truyền thông như Good morning America, Good News Tonight và Oprah Winfrey Show.  —  * MIND IN THE MAKING – The seven essential life skills every child needs, Huỳnh Nguyên Chính dịch; DTBooks và NXB Thời Đại ấn hành tháng 3/2014; 446 trang, giá bìa: 180.000 đồng        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ưu đãi cho người học ngành năng lượng nguyên tử      Bắt đầu từ 10-02-2015, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho người học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được Bộ Giáo dục &amp; Đào tạo và Bộ Tài chính ban hành trong Thông tư liên tịch mới sẽ chính thức có hiệu lực.    Theo thông tư liên tịch số 208/2014/TTLT-BTC-BGDĐT, người học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử hệ chính quy trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tại các cơ sở đào tạo được miễn học phí và ở ký túc xá miễn phí.  Ngoài ra còn có các ưu đãi khác cho sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh như:   – được xem xét tuyển chọn đi thực tập 6 tháng ở nước ngoài trong năm cuối của chương trình đào tạo;  – được Bộ GD&ĐT tuyển chọn cử đi học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở ngoài nước bằng nguồn ngân sách nhà nước;  – được cấp vé máy bay, cấp lệ phí sân bay, tiền tàu, xe từ sân bay đến trường và ngược lại; được mua bảo hiểm y tế tối thiểu do nước sở tại quy định áp dụng chung cho công dân nước ngoài đến học tập;  – học viên cao học, nghiên cứu sinh trong thời gian học tập, nghiên cứu ở nước ngoài được giữ nguyên lương.  Kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được bố trí trong dự toán chi sự nghiệp giáo dục hằng năm của Bộ GD&ĐT.  Thông tư liên tịch áp dụng đối với người học các ngành/ chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử có cam kết chịu sự phân công công tác sau khi tốt nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các cơ quan liên quan; các cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (cơ sở đào tạo); các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện chính sách đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.  Nguồn: http://www.truyenthongkhoahoc.vn/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài cảm nghĩ về khoa học xã hội Việt Nam      Theo thống kê giai đoạn 1996 – 2005, cả Việt Nam chỉ có 69 công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội, nghĩa là trung bình chỉ khoảng 7 công bố mỗi năm cho hằng trăm viên nghiên cứu và đại học trong cả nước. Tại sao lại thế?     Tôi viết những dòng này sau khi đọc bài “Báo động đỏ về đào tạo khoa học xã hội và nhân văn” của TS. Ðoàn Lê Giang. Tôi hoàn toàn chia sẻ với ông khi ông nhận định và được Tạp chí Hồn Việt nhấn mạnh: “Tôi xin lỗi tất cả để nói rằng: đào tạo KHXH&NV của chúng ta hiện nay là kém nhất trong lịch sử: thua giáo dục thời phong kiến và thời thực dân Pháp…”1. Và đương nhiên là thua xa so với thiên hạ, không những về đào tạo mà còn cả về nghiên cứu, bởi hai chuyện này vốn gắn bó hữu cơ với nhau. Chúng ta chẳng gây dấu ấn được gì, không tạo ra được các dòng, các lý thuyết nào mang tên Việt Nam, chẳng có ai kiểu như E. Kant của Ðức, J.P. Sartre hay P. Bourdieu của Pháp cả. Theo thống kê giai đoạn 1996 – 2005, thì cả Việt Nam chỉ có 69 công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội2, nghĩa là trung bình chỉ khoảng 7 công bố mỗi năm cho hằng trăm viên nghiên cứu và đại học trong cả nước. Tại sao lại thế? Trong Hội thảo “Khoa học xã hội thời hội nhập” do ĐH Quốc gia TP HCM tổ chức trong ngày 15/12/2011 vừa rồi, các diễn giả đã giải thích là có nhiều nguyên nhân, chẳng hạn do chúng ta “tự dựng nên một hàng rào về nhận thức” trước các lý thuyết khoa học Phương Tây, do khoa học xã hội bị “tầm thường hóa và chính trị hóa”3 v.v.      Do tôi chưa có điều kiện để phân tích sâu các nguyên nhân thực trạng KHXH, bài viết này chỉ là một vài cảm nghĩ về phương diện quản lý nghiên cứu, những gì ít nhiều đã được các diễn giả trong hội thảo nhắc tới ở trên đã đề cập.   Vấn đề quản lý nghiên cứu  Bản thân khái niệm “quản lý nghiên cứu” đã là một vấn đề, mà Frank H.T. Rhodes, hiệu trưởng Ðại học Cornell liên tục trong ba nhiệm kỳ, tác giả cuốn “Tạo dựng tương lai” rất nổi tiếng, đã phê bình là nó hàm chứa sự mâu thuẫn giữa nghiên cứu và quản lý. Theo ông, nhà nghiên phải được làm việc trong một tâm thế hoàn toàn tự do, bởi “quyền tự do cho phép những học giả giỏi nhất trong lĩnh vực của họ theo đuổi các ý tưởng đem lại sức sống mãnh liệt và sự mới mẻ, độc đáo cho cộng đồng viện đại học. Nghiên cứu trong các viện đại học không được quản lý và không được chỉ đạo bởi lẽ những nỗ lực quản lý có nhiều khả năng phản tác dụng, xét về lâu dài”4.   Kết quả nghiên cứu trước hết là thành quả hoạt động sáng tạo cá nhân. Những ý tưởng sáng tạo lắm khi đến bất chợt, khó có thể đoán định trước, như I. Newton đã đưa ra Ðịnh luật Vạn Vật Hấp Dẫn từ việc nhìn thấy trái táo rơi, như C. Darwin đã đưa ra lý thuyết Tiến Hóa từ việc đọc cuốn sách về dân số do một tu sĩ người Anh viết. Nào ai có thể lên chương trình trước cho nhà bác học Newton rằng nhiệm vụ của ông là giờ đó phải ngồi dưới gốc cây táo để quan sát trái táo rơi và sau đó phát triển thành lý thuyết. Một ý tưởng lóe lên bất chợt từ việc quan sát một hiện tượng thiên nhiên của một con người đam mê khám phá, với trí thông minh, và óc tò mò khoa học, đã đưa nhà bác học đến thành công. Ðiều này hoàn toàn mang dấu ấn cá nhân chứ không phải tập thể được quản lý, được chỉ đạo từ cấp trên.   Do đó, viện nghiên cứu nên là nơi, là môi trường hoạt động, trao đổi học thuật qua lại giữa các nhà nghiên cứu, nơi mỗi người có thể đặt những đề tài của mình trước lăng kính, trước sự phản biện của các đồng nghiệp cùng hay khác chuyên môn… Hữu ích của nó là tạo ra sự tương tác cộng hưởng, giúp nhà nghiên cứu có cái nhìn nhiều chiều, kích thích tư duy, khuyến khích khám phá tìm tòi, chứ viện nghiên cứu không nên là nơi áp đặt những nguyên tắc, những định hướng hay bất kỳ thứ gì khác. Ðương nhiên, khi nhà nghiên cứu được hưởng hoàn toàn tự do như một đặc ân, thì họ cũng phải có đạo đức, chuẩn mực và trách nhiệm của nghề làm nghiên cứu trong sự tương quan với tổ chức mà mình trực thuộc, với các đồng nghiệp cũng như với xã hội nói chung.   Tinh thần tự do trong nghiên cứu học thuật đã có lỉch sử 200 năm khởi đầu từ tư tưởng của E. Kant và W.V. Humboldt, đã làm cho nền đại học Ðức và các nước Tây Âu phát triển. Hòa kỳ là quốc gia biết vận dụng tinh thần tự do học thuật này, và nhờ vậy đã tạo ra một nền học thuật hùng cường, đem lại sự thịnh vượng cho họ trên nhiều mặt.   Việt Nam có vẻ đang xa lạ với tinh thần này, nên đại học vì thế không thể trở thành nơi ươm mầm cho những sáng tạo, nhất là những sáng tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội. Nền giáo dục của chúng ta đã từng kẹt trong truyền thống nho giáo và bối cảnh kinh tế chính trị tập trung kiểu Xô Viết một thời nay đang phải tìm đường cải cách, lại gặp ngay trào lưu thị trường hóa giáo dục vốn đề cao tính kinh tế và thực dụng trong giảng dạy và nghiên cứu, đang xô đẩy các nền đại học trên thế giới.   Như đã nói, việc tìm cách quản lý về thời gian, về công việc của nhà nghiên cứu đã là không nên, huống hồ là quản lý, là định hướng tư tưởng của nhà nghiên cứu, như một số diễn giả trong hội thảo đã đề cập phần nào phản ánh. Có lẽ vì chuyện này, mà trong lĩnh vực khoa học xã hội đang tồn tại nhiều “vùng cấm”, “vùng nhạy cảm” mà nhà nghiên cứu phải tránh, hoặc phải vòng vo, mà khoa học lại vốn dĩ không có những vùng như thế. Câu chuyện về nhà bác học Galilei thời trung cổ gặp khó khăn khi tuyên bố trái đất tròn và đang quay, chẳng lẽ vẫn còn đâu đó trên đất nước chúng ta ? Nhà nghiên cứu sẽ chẳng có thể làm được điều gì mới mẻ cho khoa học, cho xã hội khi đã bị điều kiện hóa trong tư tưởng và trong công việc.   Nhìn ra thiên hạ, những nước phát triển nhất là những nước đã từ rất sớm biết tạo ra một môi trường cho các tư tưởng lớn phát triển, tạo thành các dòng, các trường phái triết thuyết trong mọi lĩnh vực khoa học, nhất là khoa học xã hội, làm nền tảng cũng như dẫn dắt chỉ đường cho toàn xã hội đi lên. Vai trò của khoa học xã hội trong đời sống xã hội cũng tựa như đời sống tinh thần, tư duy nơi một con người, khi những thứ này có vấn đề, không chuẩn thì số phận cá thể này sẽ ra sao ?     Ông Giang trong bài báo nói trên cũng cảnh báo “sai lầm thuộc về lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… tức là KHXH&NV sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng và lâu dài, có khi mất đến hàng mấy chục, hàng trăm năm mới khắc phục được.” Nhận xét này cũng hoàn toàn phù hợp với lời cảnh báo của UNESCO trong: “Tuyên bố Sinaia (Romania) năm 1992 rằng “Lịch sử đã cho thấy rằng sự vi phạm quyền tự do học thuật nghiên cứu và quyền tự chủ của đại học phải trả giá đắt về mặt trí tuệ, sự tha hoá xã hội cũng như sự trì trệ về kinh tế”5. Phải chăng tình trạng xã hội hiện nay của chúng ta đang chứng thực lời cảnh báo này?     —  * Viện Nghiên Cứu Phát Triển Giáo Dục IRED  1. http://honvietquochoc.com.vn/Giao-duc/Bao-dong-do-ve-dao-tao-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van.aspx  2. http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111215/vn-chi-co-2-bai-bao-ve-khoa-hoc-xa-hoi-tren-tap-chi-the-gioi.aspx   3. http://tuanvannguyen.blogspot.com/2011/12/hoi-thao-khoa-hoc-xa-hoi-thoi-hoi-nhap.html  4. Dịch qua tiếng Việt bởi Hoàng Kháng và nhóm dịch, lược đăng trong Kỷ yếu Ðại học Humboldt 200 năm (1810 – 2010) – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam. Hà Nội. Nxb. Tri Thức. Tr. 342 – 343.   5. La Declation Sinaia sur la Liberte Academique et l’Autonomie universitaire, UNESCO thông qua năm 1992.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài kỷ niệm với anh Hoàng Tụy      Anh Hoàng Tụy cùng đi với tôi sang khu học xá Nam Ninh trong chuyến đi cuối cùng vào tháng 11/1951. Đang dạy ở trường Lê Khiết, Quảng Ngãi nghe tin GS Lê Văn Thiêm, nhà toán học nổi tiếng đã về nước mở Trường khoa học cơ bản, anh xin ra Việt Bắc để tiếp tục học toán.    Bắt đầu từ tháng 8 anh mất cả tháng trời để đi qua các vùng tạm chiếm Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình mới đến được vùng tự do Hà Tĩnh. Đến Thanh Hóa, cạn lương tiền anh phải ở lại dạy học thêm để có tiền tiếp tục đi lên Việt Bắc. Khi ấy Hòa Bình đã được giải phóng nên đường lên Việt Bắc có phần dễ hơn. Anh đã gặp tôi vào giữa tháng 11, đưa cho tôi giấy giới thiệu của Thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn. Suốt ba tháng trời đi từ khu V ra tới Việt Bắc anh đều mang theo gạo và một cái nồi để tự nấu cơm ăn. Đoàn cuối cùng đi với tôi gồm hơn chục người trong đó có tới ba cấp dưỡng của Tổng liên đoàn cử sang Khu học xá nên anh không phải tự nấu cơm nữa. Khi ngồi nghỉ trong một hang núi đá vôi ở Chợ Mới gần đường đi Bắc Cạn, tôi nói: Bây giờ anh không phải tự thổi cơm nữa, hãy để lại cho tôi cái nồi làm kỷ niệm. Đó là một cái nồi nhôm hình dáng khá đặc biệt không giống bất kì loại nồi nào ở ngoài Bắc, hình bầu dục cao, tôi đã đục lỗ ở đáy để làm chõ thổi xôi. Không hiểu sao trải qua bao năm tháng tôi còn giữ nó làm kỉ niệm! Mãi tháng 5/2007 Bảo tàng Bắc Ninh hỏi tôi: bác có còn kỉ vật gì thời chiến tranh chống Pháp, tôi tặng bảo tàng coi như kỉ vật mà tôi còn giữ được của một thanh niên đã vượt trên nghìn km gian khổ để đi tầm sư học đạo!              GS Hoàng Tụy đã tập hợp được một nhóm nhà giáo có tên tuổi, giàu kinh nghiệm ở trong nước và ngoài nước, làm việc công phu nhiều ngày để xây dựng cả một đề án chấn hưng giáo dục được trình lên Chính phủ. Tôi không được biết số phận của đề án đó ra sao nhưng tin chắc rằng nó không được quan tâm như những dự án kèm theo hàng triệu USD của các quan chức trong ngành!          Khi đến Tâm Hư là địa điểm đầu tiên của khu học xá Nam Ninh, tôi bận lo việc bố trí học tập cho các Trường Sư phạm sơ cấp và Trung cấp nên đã vô tình phân công anh dạy toán cho Sư phạm trung cấp, anh không bằng lòng nhưng vẫn chấp hành. Sau đó nghe tin là anh đã mày mò tự học tiếng Nga rất nhanh, chỉ sau ba tháng đã đọc được sách toàn bằng tiếng Nga. Nhưng tôi cũng chỉ ở khu học xá có một năm rồi về nước. Mãi 14 năm sau, khi chuyển công tác về xây dựng khoa Địa lý- Địa chất trường Đại học Tổng hợp sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên, tôi mới biết anh và anh Thiêm đang dạy ở Khoa Toán. Ngày ấy phong trào cách mạng văn hóa từ Trung Quốc đã lan tới trường Tổng hợp. Một số phần tử cơ hội chủ nghĩa tả khuynh là học trò của hai anh lên tiếng đã lên tiếng chống cái gọi là thiên tài chủ nghĩa của hai anh và qua đó chống Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Một thời gian sau hai anh phải chuyển sang Viện Khoa học Việt Nam. Tuy không gặp hai anh, tôi hoàn toàn cảm nhận được nỗi buồn của hai anh đồng thời rất tiếc cho trường để mất hai thầy giáo là những nhà toán học hàng đầu của đất nước! Mười năm sau khi chuyển sang làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam tôi mới lại gặp hai anh đã xây dựng thành công Viện Toán học Việt Nam. Riêng anh đã xây dựng được một chuyên ngành toán học mới: tối ưu toàn cục.  Là những người đã làm việc nhiều năm trong ngành giáo dục, chúng tôi rất bức xúc trước những tiêu cực hiện nay trong nền giáo dục và đã nhiều lần lên tiếng để phân tích và đã mạnh dạn vạch ra những bất cập của nền giáo dục hiện nay và đề ra những giải pháp. Không chỉ nói, GS Hoàng Tụy đã hành động và đặc biệt GS Hoàng Tụy đã tập hợp được một nhóm nhà giáo có tên tuổi, giàu kinh nghiệm ở trong nước và ngoài nước, làm việc công phu nhiều ngày để xây dựng cả một đề án chấn hưng giáo dục được trình lên Chính phủ. Tôi không được biết số phận của đề án đó ra sao nhưng tin chắc rằng nó không được quan tâm như những dự án kèm theo hàng triệu USD của các quan chức trong ngành! Tấm gương của nhà khoa học-nhà giáo Hoàng Tụy sớm tự xác định được chí hướng, khả năng và của mình rồi vượt mọi gian khổ để thực hiện bằng được ước mơ của mình quả là một bài học quý giá cho lớp trẻ hiện nay.    Chú thích ảnh: GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Văn Chiển, Nhà thơ Lê Đạt, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển… tại cuộc gặp mặt sáng thứ 7 hàng tuần của Tia Sáng      GS.NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài mong ước nhỏ về sách giáo khoa      Biên soạn sách giáo khoa – nhất là ở  bậc phổ thông – luôn là một công việc vô cùng khó khăn. Chẳng  thế mà đại văn hào Lev Tolstoi, sau khi lao tâm khổ tứ sáng tạo  nên những tiểu thuyết đồ sộ bất tử, về cuối đời mới dám bắt  tay vào viết cuốn Tập đọc vỡ lòng cho trẻ em và thú nhận đó  là công trình lấy đi của ông nhiều tâm lực nhất!.    Chương trình và sách giáo khoa hiện nay có không ít ưu điểm.Tuy nhiên trong bài báo ngắn này tôi chỉ muốn bày tỏ vài mong ước nhỏ của mình để sách giáo khoa con em chúng ta đang học sắp tới đây có thể phần nào hoàn thiện hơn chăng.      Thay vì đem tới những kiến thức chết, “đóng hộp” sẵn, cần để các em tiếp cận với những kiến thức sống động, có giá trị ứng dụng cao, thiết thực với cuộc sống trước mắt và lâu dài. (Cần phải chú trọng học những điều tưởng như bình thường nhất như học cách ứng xử văn hóa với mọi người để không văng tục, chửi bậy, không động một tý là gây gổ đâm chém nhau; học ăn để tránh suy dinh dưỡng hoặc tránh béo phì; học cách đi lại để không bị tai nạn giao thông; học làm sao để góp phần chống biến đổi khí hậu, chống ô nhiễm môi trường, chống đói nghèo, dịch bệnh; học bơi để khỏi chết đuối; học sử dụng điện sao cho an toàn, không chập cháy…, trước khi dùi mài đủ thứ kiến thức cao siêu…).  Thay vì chỉ tập trung bồi dưỡng một chiều cho các em nhận thức toàn mầu hồng về đất nước với “rừng vàng, biển bạc”, với lịch sử vẻ vang luôn “đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”, với dân tộc anh hùng bất khuất, cần cù thông minh…, hãy chia sẻ với các em những suy nghĩ chân thành , thẳng thắn vì sao đất nước ta trong suốt chiều dài của lịch sử cũng như cho tới tận hôm nay vẫn chưa bao giờ thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu; hãy cùng các em đi tìm những khuyết tật thâm căn cố đế nào khiến dân tộc ta hơn một lần để vuột khỏi tầm tay những cơ hội vàng lẽ ra đã có thể đưa dân tộc ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu; hãy chỉ cho các em thấy cần tránh xa những việc làm, những cung cách ứng xử nào khiến hình ảnh con người Việt Nam bị xấu đi trong con mắt bạn bè quốc tế…   Thay vì vô tình hay hữu ý coi các em gần như là đồng nghiệp của mình (!) để rồi say sưa, phô bày đủ loại kiến thức mang dáng vẻ hàn lâm chuyên sâu (đại thể như là thổi vào tai các cô cậu lớp 4, lớp 5 vắt mũi chưa sạch, còn đang ham đánh bi, đánh đáo những khái niệm về “kết cấu giai cấp, phân tầng xã hội” ở Việt Nam sau Thế chiến lần I…), hãy hết sức lưu tâm đến mức độ phát triển tâm sinh lý của từng lứa tuổi học sinh để có cách tiếp cận phù hợp.  Thay vì chỉ tập trung hoàn toàn vào việc truyền thụ kiến thức đại trà cho số đông, trong một số trường hợp cụ thể, sách giáo khoa cũng cần dành một phần hợp lý để “cá thể hóa” sự truyền thụ này sao cho có thể phát huy được năng lực khác biệt tiềm tàng ở một số em xuất sắc.  Thay vì dạy chay – học chay buồn tẻ, xơ cứng, hãy cung cấp ngay trong sách giáo khoa những đề xuất sinh động hóa môn học, khiến trẻ em như được vừa học vừa chơi, vừa nghe giảng vừa trực tiếp tham gia vào quá trình kiếm tìm kiến thức, làm sao cho các em thực sự cảm thấy đến trường thích hơn ở nhà…  Thay vì biến môn văn – lẽ ra là rất hấp dẫn – thành một môn học nhàm chán, gây sợ hãi cho rất nhiều học sinh vô tội bởi nếp mòn “chuẩn hóa, khuôn mẫu hóa, đáp án hóa” các cảm nhận không mấy khi giống nhau trước cái tình, cái đẹp thiên hình vạn trạng trong văn thơ, hãy để các em chủ động đến với văn học một cách cởi mở nhất, thật đa chiều, đa dạng, để văn học thực sự trở thành vốn tình cảm, vốn tâm hồn cao đẹp vô giá mà các em sẽ mang theo suốt cuộc đời…  Thay vì chỉ sử dụng những phương tiện truyền thống với các con chữ trên trang giấy trắng, khi làm bộ sách giáo khoa mới nay mai, không thể không tận dụng tối đa những tiện ích to lớn mà công nghệ thông tin mang lại.   Những bài giảng trực tuyến của những giảng viên hàng đầu, những giáo án điện tử thường xuyên được cập nhật, những băng đĩa hình sinh động bổ trợ thêm cho những cuốn sách dầy cộp cổ điển… sẽ giúp giáo viên và học sinh “tiêu hóa” tốt hơn rất nhiều lượng kiến thức phong phú mà chương trình học đặt ra.  Nói một cách tổng quát, yêu cầu cao nhất mà theo chúng tôi, bộ sách giáo khoa cần đạt tới là phải thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân chủ – nhân văn, khoa học – hiện đại, dân tộc – quốc tế.   Biên soạn một bộ sách sách giáo khoa mới hoàn thiện hơn quả là một vấn đề nan giải. Từ lời nói đến việc làm, từ ý định đến việc hiện thực hóa thành công – là cả một quãng đường xa lắc như từ Trái đất tới Sao Hỏa, Sao Kim…  Xin được nói thêm một ý cuối: Công việc khó khăn này chỉ có thể đạt kết quả như mong muốn nếu huy động được sự đóng góp của thật nhiều chuyên gia từ nhiều nguồn khác nhau tập hợp dưới cây đũa chỉ huy của một nhạc trưởng có tầm nhìn cao xa, đầy đủ năng lực và tâm huyết. Kết quả của công việc to lớn này phải được công khai trước công luận, trước ngàn vạn cặp mắt săm soi đầy thiện chí mà nghiêm khắc của bàn dân thiên hạ trước khi chính thức được đưa vào sử dụng. Với một chương trình thống nhất, nên có 2 – 3 bộ sách giáo khoa khác nhau; thời gian và công chúng sẽ biết cách lựa chọn bộ sách nào có ưu thế hơn cả. Trong vô luận trường hợp nào thì cạnh tranh lành mạnh cũng đem lại kết quả tốt hơn, công minh hơn là sự độc diễn của duy nhất một bộ sách giáo khoa cho dù nó có thể là sản phẩm của những người được mang danh là uyên bác nhất.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nhận xét từ kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2005-2008      Ni&#234;n học 2006-2007, Bộ trưởng Bộ Gi&#225;o dục &amp; đ&#224;o tạo (GD&amp;ĐT), Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nh&#226;n tuy&#234;n bố trong v&#224;i năm tới sẽ c&#243; thay đổi đ&#225;ng kể trong gi&#225;o dục, ph&#225;t động chiến dịch &#8220;hai kh&#244;ng&#8221;: kh&#244;ng ti&#234;u cực trong thi cử, v&#224; kh&#244;ng chạy theo th&#224;nh t&#237;ch. Sau hai năm thực hiện chiến dịch, c&#243; lẽ đ&#227; đến l&#250;c ch&#250;ng ta đặt c&#226;u hỏi về hiệu quả của chiến dịch n&#224;y ra sao. Trong b&#224;i n&#224;y, hai c&#226;u hỏi cụ thể được đặt ra v&#224; giải đ&#225;p l&#224;:  (1) Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ th&#244;ng (THPT) c&#243; thay đổi trong thời gian qua? Ch&#250;ng ta biết rằng &#8220;bệnh th&#224;nh t&#237;ch&#8221; được biểu hiện qua tỉ lệ tốt nghiệp trong c&#225;c k&#236; thi trung học. Trong những năm trước 2007, tỉ lệ tốt nghiệp THPT thường rất cao (tr&#234;n 90%), v&#224; c&#243; &#253; kiến cho rằng tỉ lệ đ&#243; kh&#244;ng phản ảnh đ&#250;ng thực học của học sinh. Do đ&#243;, nếu tỉ lệ tốt nghiệp THPT biến chuyển theo thời gian sau 2007 c&#243; thể xem l&#224; một biểu hiện của hiệu quả của chiến dịch chống ti&#234;u cực trong thi cử.  <strong style=”mso-bidi-font-weight: normal&a    Để trả lời hai câu hỏi trên, tôi sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê. Dù số liệu không đầy đủ như mong muốn, nhưng cũng cung cấp một số dữ liệu cơ bản cho mỗi tỉnh thành như số học sinh, số giáo viên, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp, v.v… từ năm 2005 đến 2008. Do đó, đơn vị phân tích trong bài này là địa phương (tỉnh / thành), chứ không phải cho từng trường trung học. Có thể xem đây là một phân tích mang tính quần thể (ecologic analysis), và kết quả cần diễn giải cẩn thận theo bối cảnh đó.   Về đơn vị hành chính, nước ta có 64 tỉnh thành, được chia thành 8 vùng theo địa lí: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH, bao gồm cả Hà Nội), Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ (bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh), và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Dựa vào cách phân vùng này, tôi cũng phân tích tỉ lệ tốt nghiệp THPT cho từng vùng và so sánh giữa các vùng.     Tỉ lệ tốt nghiệp THPT và dao động trong 4 năm   Biểu đồ 1 trình bày mật độ phân phối tỉ lệ tốt nghiệp của 64 địa phương trong thời gian 2005-2008. Năm 2005, tỉ lệ tốt nghiệp THPT của cả nước tính trung bình là 89%, với tỉnh có tỉ lệ thấp nhất và cao nhất là 66% (Cần Thơ) và 99,8% (Hải Dương). Năm 2006, tỉ lệ tốt nghiệp của cả nước là 92% (tức tăng 3% so với năm trước), và tỉ lệ thấp nhất và cao nhất cũng thu ngắn lại ở độ 75% (Sóc Trăng) và 99,9% (Nam Định).   Đến năm 2007, tỉ lệ tốt nghiệp giảm xuống còn 80%; và đến niên học 2008, chỉ còn 75% học sinh tốt nghiệp THPT. Một điều đáng chú ý là độ dao động về tỉ lệ tốt nghiệp hai năm sau tăng đáng kể. Chẳng hạn như trong năm 2008, có tỉnh với tỉ lệ tốt nghiệp thấp nhất là 40% (Cao Bằng) và tỉnh thành có tỉ lệ cao nhất là 94% (Nam Định).   Biểu đồ 1 còn cho thấy hai khoảng thời gian rõ rệt: trong năm 2005 – 2006, tỉ lệ tốt nghiệp của các địa phương lệch về hướng tỉ lệ cao, nhưng đến thời gian 2007 – 2008 thì tỉ lệ có độ phân phối tương đối “chuẩn” hơn (tức có tỉ lệ cao và thấp phân phối tương đối đều chung quanh tỉ lệ trung bình). Thật vậy, năm 2006 có 64/64 các địa phương với tỉ lệ tốt nghiệp trên 70%, nhưng đến năm 2007 chỉ có 48/64 (hay 75%) địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp trên 70%, và con số này giảm xuống còn 42/64 (hay 66%) trong năm 2008.                                           Biểu đồ 1. Phân phối của tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT trung bình (tỉ lệ thấp nhất và cao nhất) trong 4 năm 2005, 2006, 2007 và 2008 lần lượt là: 89% (66 – 99,8%), 92% (75 – 99,9%), 80% (38,6 – 97,4%), và 75% (40,5 – 94,3%).                Phân tích tỉ lệ tốt nghiệp THPT theo vùng   Phân tích cho từng vùng (Bảng 1) cho thấy tỉ lệ tốt nghiệp rất khác nhau giữa các vùng, và mức độ khác biệt có xu hướng gia tăng trong hai năm 2007 và 2008. Tuy nhiên, dễ dàng thấy các tỉ lệ này tập trung vào 2 nhóm rõ rệt. Nhóm thứ nhất bao gồm các tỉnh thành thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, và Đông Nam Trung bộ, với tỉ lệ tốt nghiệp (năm 2007-2008) dao động trong khoảng 75-87%. Nhóm thứ hai bao gồm các địa phương thuộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc, và Tây Nguyên, với tỉ lệ tốt nghiệp dao động từ 62-71%.   Năm 2005, tỉ lệ tốt nghiệp THPT vùng Đồng bằng sông Cửu Long thấp nhất (76%) so với các vùng khác; đến năm 2008 vùng này có tỉ lệ tốt nghiệp vẫn ở 75% nhưng đứng hạng hai (chỉ sau vùng Đồng bằng sông Hồng). Ngược lại, các tỉnh vùng Đông Bắc có tỉ lệ tốt nghiệp năm 2005 là 91,5% (chỉ sau ĐBSH và Bắc Trung Bộ), nhưng đến năm 2008 thì giảm xuống 65,1% và thuộc vào tỉ lệ thấp nhất của cả nước.              Bảng 1. Tỉ lệ (%) tốt nghiệp THPT tính từng vùng trong thời gian 2005-2008             Vùng      2005      2006      2007      2008          Đông Bắc      91,5      94,0      68,2      65,1          Tây Bắc      89,3      88,5      67,9      62,3          ĐBSH      96,4      97,0      86,9      85,2          Bắc Trung Bộ      94,8      95,6      76,2      71,8          Nam Trung Bộ      87,5      89,2      83,0      75,4          Tây Nguyên      84,2      87,8      71,4      67,5          Đông Nam Bộ      82,5      90,9      83,6      74,8          ĐBSCL      75,8      87,5      77,8      75,2          Toàn quốc      88,7      92,2      80,0      75,0             Tương quan giữa các năm 2005-2008  Liên quan đến những dao động về tỉ lệ tốt nghiệp giữa các năm là câu hỏi có mối tương quan (correlation) giữa 4 năm. Để trả lời câu hỏi này, tôi ước tính hệ số tương quan (coefficient of correlation) giữa 4 năm. Hệ số tương quan dao động từ 0 đến |1|, với 0 có nghĩa là không có tương quan, và 1 có nghĩa là tương quan tuyệt đối. Tương quan tuyệt đối có nghĩa là chúng ta chỉ cần biết tỉ lệ tốt nghiệp của một năm là có thể tiên đoán cho tỉ lệ tốt nghiệp của năm khác. Vì có 4 năm, cho nên có tất cả 6 hệ số tương quan (như trình bày trong Biểu đồ 2 dưới đây.   Mối tương quan giữa các năm tập trung thành hai thời kì rõ ràng. Tỉ lệ tốt nghiệp trong năm 2005 và 2006 có hệ số tương quan là 0,73, tương đương với tỉ lệ tốt nghiệp trong năm 2007 và 2008 (hệ số tương quan 0,74). Nói cách khác, địa phương nào có tỉ lệ tốt nghiệp cao trong năm 2007 cũng là những địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp cao trong năm 2008. Tuy nhiên, vì mối tương quan dưới 1, cho nên có một số tỉnh tuy có tỉ lệ tốt nghiệp cao trong năm 2007 nhưng lại thấp trong năm 2008. Chẳng hạn như Điện Biên, năm 2007 tỉ lệ tốt nghiệp THPT là 92%, nhưng đến năm 2008 giảm xuống còn 75%. Ngược lại, có một số tỉnh mà tỉ lệ tốt nghiệp năm 2007 thấp nhưng tăng cao trong năm 2008 như Bạc Liêu (38,6% năm 2007 tăng lên 65% năm 2008), hay Tuyên Quang (từ 40% năm 2007 tăng lên 60% năm 2008).   Tuy nhiên, mối tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp trong năm 2005 và 2007 (hay giữa 2005 và 2008) thì không đáng kể. Nói cách khác, tỉ lệ tốt nghiệp trong năm 2005 không tiên lượng (và không liên quan) gì đến kết quả của năm 2007 và 2008!  Tiêu biểu cho xu hướng này là tỉnh Tuyên Quang năm 2005 có tỉ lệ tốt nghiệp 98%, nhưng đến năm 2008 giảm xuống 10 điểm còn 60%, Nghệ An từ 99,6% năm 2005 giảm xuống còn 61,5% trong năm 2008. Ngược lại, tỉ lệ tốt nghiệp ở Cần Thơ năm 2005 là 66% (thấp nhất nước) nhưng tăng lên 86% trong năm 2008, hay Đồng Tháp tăng từ 67% năm 2005 lên 74% năm 2008. Thật ra, xu hướng tăng trong 2005 – 2008 thường thấy ở phần lớn các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.                                          Biểu đồ 2. Mối tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp THPT qua các năm 2005-2008. Trong biểu đồ, kí hiệu “tn” có nghĩa “tỉ lệ tốt nghiệp”.               Phân tích độ dao động của tỉ lệ tốt nghiệp THPT     Như đề cập trong phần đầu của bài viết, những dao động của tỉ lệ tốt nghiệp có thể chia thành 2 nguồn: giữa các địa phương và trong mỗi địa phương. Độ dao động thường được thể hiện qua “phương sai”, một chỉ số thống kê thông dụng trong các nghiên cứu khoa học xã hội.   Bảng 2 tóm lược phương sai của hai nguồn vừa đề cập theo từng vùng, nhưng kết quả cũng có xu hướng tương tự cho từng địa phương. Kết quả phân tích trong bảng này cho thấy độ dao động theo thời gian trong mỗi địa phương đều cao hơn giữa các điạ phương. Có thể lấy một ví dụ để minh họa cho trường hợp này. Tỉnh Phú Thọ có tỉ lệ tốt nghiệp trong năm 2005-2008 lần lượt là 98%, 99%, 69%, và 70%. Tỉnh Tuyên Quang (cũng thuộc vùng Đông Bắc) có tỉ lệ tốt nghiệp trong 4 năm đó là 98%, 96%, 40%, và 60%. Do đó, độ dao động trong mỗi tỉnh qua các năm rất cao (từ 98% xuống còn 60%), nhưng trong mỗi năm độ khác biệt giữa 2 tỉnh lại rất thấp. Điều này cho thấy mức độ ổn định của tỉ lệ tốt nghiệp rất thấp, và không có độ tin cậy cao.   Một cách tính khác là tính toán hệ số biến thiên (lấy độ lệch chuẩn chia cho trung bình) cho từng địa phương. Hệ số này được tóm lược trong cột sau cùng của Bảng 2. So với tỉ lệ tốt nghiệp trung bình, vùng Đông Bắc và Tây Bắc có độ dao động khoảng 29%, cao nhất nước.             Bảng 2. Phân tích độ dao động giữa các địa phương và trong mỗi địa phương             Vùng      Tỉ lệ tốt nghiệp trung bình trong 4 năm 2005-2008 (%)      Dao động trong mỗi địa phương giữa 4 năm      Dao động giữa các địa phương tính trung bình cho mỗi năm      Hệ số biến thiên (coefficient of variation; %)          Đông Bắc      79,7      333,1      279,1      22,9          Tây Bắc      77,0      285,8      120,6      21,9          ĐBSH      91,3      74,0      168,2      9,4          Bắc Trung Bộ      84,6      197,7      63,7      16,6          Đông Nam Bộ      82,9      67,6      120,5      9,9          Nam Trung Bộ      83,8      60,0      50,5      9,2          Tây Nguyên      77,7      125,6      167,1      14,4          ĐBSCL      79,1      92,7      202,4      12,2             Chú thích: Chữ “dao động” ở đây là phương sai (variance). “Hệ số biến thiên” phản ảnh mức độ dao động về tỉ lệ tốt nghiệp giữa các năm trong một vùng. Hệ số biến thiên được tính bằng cách lấy căn số bậc 2 của “Dao động trung bình trong mỗi địa phương” chia cho “Tỉ lệ tốt nghiệp trung bình trong 4 năm 2005-2008”.            Tỉ lệ tốt nghiệp của năm nào hợp lí ?  Các phân tích trên cho thấy 3 điểm chính: thứ nhất, tỉ lệ tốt nghiệp trong 2 năm 2005-2006 rất khác (cao hơn) với hai năm 2007-2008; thứ hai, mối tương quan về tỉ lệ tốt nghiệp giữa hai năm 2005-2006 và hai năm 2007-2008 rất thấp; và thứ ba, độ dao động trong mỗi địa phương cao hơn độ dao động giữa các địa phương. Câu hỏi đặt ra là: thế thì tỉ lệ của năm nào đuợc xem là hợp lí, phản ảnh thực học của một tỉnh thành?   Giải đáp câu hỏi này đòi hỏi một tiêu chí để làm chuẩn cho việc đánh giá tính hợp lí của tỉ lệ thi tốt nghiệp THPT. Hiện nay, chúng ta chưa có dữ liệu hay nghiên cứu để xác lập tiêu chí đó. Tôi sử dụng chỉ số về năng lực cạnh tranh kinh tế (PCI) của 64 tỉnh thành do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) công bố (xem Thời báo Kinh tế Sài Gòn 11/12/2008). PCI là một chỉ số phản ảnh, như tên gọi, khả năng cạnh tranh kinh tế, là tổng hợp các chỉ số về giáo dục, xã hội, và con người. Có thể tạm xem chỉ số này là một (chỉ một) trong những chỉ tiêu về thực trạng giáo dục của một địa phương. Theo đó, chúng ta kì vọng rằng địa phương nào có tỉ lệ tốt nghiệp THPT cao cũng có chỉ số PCI cao. Nếu tỉ lệ tốt nghiệp không liên quan đến PCI, có thể xem tỉ lệ tốt nghiệp không có tính hợp lí cao.   Mối tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp 2005-2008 và chỉ số cạnh tranh kinh tế PCI được trình bày trong Biểu đồ 3. Mối tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp trong 2 năm 2005-2006 và PCI rất thấp, thậm chí âm tính (tức tỉnh thành có tỉ lệ tốt nghiệp thấp nhưng chỉ số PCI cao)!  Tuy nhiên, mối tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp trong 2 năm 2007-2008 và PCI khá cao (hệ số tương quan >0.30). Nói cách khác, những địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp THPT cao cũng là những địa phương có khả năng cạnh tranh kinh tế cao. Nhưng vì hệ số tương quan không phải là 1 hay gần 1, nên một số tỉnh thành tuy có PCI cao nhưng tỉ lệ tốt nghiệp thấp (như Bình Dương). Tuy nhiên, phân tích này rõ ràng cho thấy tỉ lệ tốt nghiệp THPT của 2 năm 2007-2008 có vẻ hợp lí hơn tỉ lệ trong hai năm 2005-2006.                         Biểu đồ 3. Tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp THPT và chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế (PCI). Hệ số tương quan giữa tỉ lệ tốt nghiệp THPT và PCI cho các năm 2005-2008 lần lượt là -0.19, 0.05, 0.31, và 0.34.             Địa phương nào có bệnh thành tích ?   Câu trả lời có lẽ là “tất cả”. Nhưng chúng ta cần có một cách định lượng bệnh thành tích giữa các địa phương một cách khách quan hơn là những nhận xét và phán xét theo cảm tính. Như tôi vừa trình bày cho thấy tỉ lệ tốt nghiệp trong hai năm 2007 và 2008 có thể xem là hợp lí (hay ít ra là hợp lí hơn so với thời gian trước đó).  Do đó, chúng ta có thể sử dụng tỉ lệ tốt nghiệp của hai năm 2007-2008 là “chuẩn” để định lượng bệnh thành tích. Vì tỉ lệ thi tốt nghiệp rất khác nhau giữa các tỉnh thành, và độ dao động trong mỗi tỉnh thành quá lớn, do đó cần phải có một cách “hóa giải” các khác biệt này. Nếu một địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp không dao động giữa các năm, thì mức độ ổn định có thể phản ảnh qua độ lệch chuẩn (standard deviation – SD) của địa phương đó. Do đó, một cách định lượng bệnh thành tích là tính mức độ thay đổi của tỉ lệ tốt nghiệp năm 2007-2008 và 2005-2006 theo đơn vị SD theo công thức sau đây:   Z = (TLTN2008 – TLTN2005) / SD  Trong đó, TLTN 2008 là tỉ lệ tốt nghiệp trong hai năm 2007-2008 và TLTN 2005 là tỉ lệ tốt nghiệp trong hai năm 2005-2006. Tôi gọi chỉ số Z này là “chỉ số bệnh thành tích”. Bởi vì SD luôn luôn dương, nhưng khác biệt giữa TLTN 2008 và TLTN 2005 có thể dương mà cũng có thể âm, nên Z cũng có thể âm và dương tính. Theo đó, nếu chỉ số Z là âm thì thể hiện bệnh thành tích cao, và chỉ số Z dương là thể hiện sự liêm chính cao. Kết quả phân tích cho từng vùng có thể tóm lược trong Bảng 3 sau đây (có thể xem phụ bảng cho tất cả các tỉnh thành).             Bảng 3. Chỉ số bệnh thành tích cho từng vùng              Vùng      Chỉ số Z          Đông Bắc      -16,9          Tây Bắc      -6,6          ĐBSH      -6,8          Bắc Trung bộ      -16,3          Đông Nam bộ      -3,2          Nam Trung bộ      0,2          Tây Nguyên      -5,1          ĐBSCL      23,8             Chỉ số bệnh thành tích được ghi nhận cao nhất ở các địa phương thuộc vùng Đông Bắc (chỉ số Z = -16,9) và Bắc Trung Bộ (-16,3). Các địa phương thuộc các vùng Đồng bằng sông Hồng (kể cả Hà Nội), Tây Bắc, và Tây Nguyên có chỉ số bệnh thành tích dao động trong khoảng -5 đến -6.   Nhưng chỉ số bệnh thành tích của các tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ (0,2) và Đồng bằng sông Cửu Long (23,8) dương tính, cho thấy hai vùng này có nạn bệnh thành tích thấp nhất, nếu không muốn nói là chỉ số thi cử “thành thật” nhất. Thật vậy, chẳng hạn như An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bình Thuận, tỉ lệ tốt nghiệp trong 2005-2006 (trước khi phát động chiến dịch “Hai không”) thấp hơn so với 2007-2008, và độ dao động cũng thấp hơn các tỉnh khác. Do đó, ở các tỉnh này, chỉ số bệnh thành tích được ghi nhận thấp nhất nước (hay cũng có thể nói chỉ số “thành thật” cao nhất nước).      Vài nhận xét             Tỉ lệ tốt nghiệp dao động rất lớn giữa hai thời gian 2005-2006 và 2007-2008, và đây có thể xem là một tín hiệu, một chỉ tiêu cho thấy chiến dịch “Hai không” mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân phát động từ khi ông nhậm chức có tác động, có lẽ đúng với lời hứa ông tuyên bố sau khi nhậm chức rằng “sẽ có chuyển biến trong vài năm tới” về thi cử.          1/ Như tôi đề cập ngay từ đầu, tất cả phân tích này mang tính mô tả là chính, vì số liệu không phải từ cơ sở trường mà từ tỉnh thành. Nói cách khác, vì số liệu đúc kết ở đơn vị tỉnh thành, tức đã trải qua một quá trình trung bình hóa, do đó, các kết quả trình bày trong bài này có thể xem là tương đối “tích cực” hơn thực tế, hiểu theo nghĩa “trơn tru” hơn và ít dao động hơn là phân tích trên từng trường. Nhưng những kết quả này vẫn cung cấp cho chúng ta một vài nét phác họa của bức tranh giáo dục trung học hiện nay.   Các phân tích trên đây cho thấy tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông ở nước ta trong thời gian qua đã có biến chuyển theo chiều hướng tích cực, hiểu theo nghĩa tỉ lệ tốt nghiệp trong hai năm 2007-2008 có vẻ hợp lí hơn so với hai năm trước đó. Tính trung bình, trong hai năm 2007-2008, cứ 4 học sinh thi tốt nghiệp trung học, có 3 học sinh đỗ.   Tuy nhiên, tỉ lệ tốt nghiệp dao động rất lớn giữa hai thời gian 2005-2006 và 2007-2008, và đây có thể xem là một tín hiệu, một chỉ tiêu cho thấy chiến dịch “Hai không” mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân phát động từ khi ông nhậm chức có tác động, có lẽ đúng với lời hứa ông tuyên bố sau khi nhậm chức rằng “sẽ có chuyển biến trong vài năm tới” về thi cử.  2/ Hiện nay, mức độ tương quan giữa các kì thi tốt nghiệp vẫn còn thấp. Điều này cho thấy dù tỉ lệ tốt nghiệp trung học có cải tiến theo chiều hướng tích cực, nhưng vẫn chưa đủ để đạt độ tin cậy như chúng ta mong muốn. Nhưng qua phân tích này, có thể nhận ra một số địa phương có “chỉ số bệnh thành tích” tương đối bất thường so với trung bình của cả nước.  Hiện nay, có đề nghị bỏ kì thi THPT và thay vào đó là một kì thi giống như SAT bên Mĩ. Ở Úc học sinh chỉ thi một kì thi tốt nghiệp trung học, và người ta căn cứ vào điểm thi trung học để tuyển sinh đại học. Thi cử là một việc làm tốn kém, chẳng những làm hao tổn tiền bạc của nhà nước và nhân dân, mà còn có thể gây tác động tiêu cực đến tâm lí của học sinh. Do đó, theo tôi, phấn đấu để giảm thi cử là một định hướng tích cực. Nhưng qua phân tích trên, chúng ta thấy tỉ lệ tốt nghiệp THPT vẫn còn dao động quá cao và thiếu độ tin cậy, tôi e rằng bỏ kì thi tốt nghiệp THPT chưa phải là giải pháp tối ưu cho tình hình hiện nay.   Theo phân tích của Giáo sư Dương Thiệu Tống (trong cuốn sách “Vài suy nghĩ về giáo dục”, Nhà xuất bản Trẻ, 2003), mức độ tương quan giữa điểm thi tú tài và điểm thi trong lúc theo học đại học cực kì thấp:  (a) giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm thi tuyển sinh đại học là 0,17;   (b) giữa điểm tốt nghiệp lớp 12 và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0,09;   (c) giữa điểm thi tuyển sinh đại học và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0,19.             Phần lớn những đề thi và câu hỏi trong kì thi THPT mang tính thi đố, chứ không phải hẳn nhằm để kiểm tra năng lực và trình độ của học sinh trong suốt các năm trung học. Chẳng hạn như đề thi toán chỉ bao gồm vỏn vẹn 6 câu hỏi, và hầu hết nội dung các câu hỏi này tập trung vào chương trình cuối bậc trung học, chứ không phải cho toàn bộ chương trình trung học. Một số câu hỏi còn mang tính hóc búa, thiếu tính thực tế, thậm chí đi ra ngoài chương trình học. Cách soạn đề thi như thế tạo cơ hội cho thói quen học tủ và không hẳn phản ánh khả năng thực của học sinh.          Những kết quả này cho thấy một cách rõ ràng rằng điểm thi tốt nghiệp trung học không phải là yếu tố tiên đoán cho điểm thi tuyển đại học và càng không có liên hệ gì đáng kể với điểm học trong năm cuối của chương trình đại học. Nói cụ thể hơn, một số lớn học sinh có điểm thấp khi tốt nghiệp trung học khi đi thi đại học và khi tốt nghiệp đại học vẫn có điểm cao; ngược lại nhiều học sinh có điểm cao trong kì thi tốt nghiệp trung học có thể là những sinh viên có điểm thấp khi học đại học. Nói cách khác, điểm thi THPT không phân biệt được khả năng của người sinh viên lúc theo học đại học như nhiều người từng phản ảnh; và đề thi THPT không ăn khớp với nhu cầu khoa bảng ở bậc đại học.    Tại sao điểm thi chưa phản ảnh khả năng của học sinh?  Trả lời câu hỏi này đòi hỏi nhiều nghiên cứu và phân tích nghiêm chỉnh, mà có lẽ Bộ GD&ĐT có số liệu để làm. Nhìn chung, tôi thấy câu trả lời có thể nằm ở cách ra đề thi. Thật vậy, phần lớn những đề thi và câu hỏi trong kì thi THPT mang tính thi đố, chứ không phải hẳn nhằm để kiểm tra năng lực và trình độ của học sinh trong suốt các năm trung học. Chẳng hạn như đề thi toán chỉ bao gồm vỏn vẹn 6 câu hỏi, và hầu hết nội dung các câu hỏi này tập trung vào chương trình cuối bậc trung học, chứ không phải cho toàn bộ chương trình trung học. Một số câu hỏi còn mang tính hóc búa, thiếu tính thực tế, thậm chí đi ra ngoài chương trình học. Cách soạn đề thi như thế tạo cơ hội cho thói quen học tủ và không hẳn phản ánh khả năng thực của học sinh.             Thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở nước ta đã có chuyển động theo chiều hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, do độ dao động quá lớn trong mỗi tỉnh thành giữa các năm, tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông có thể chưa phản ảnh chính xác thực học của học sinh. Do đó, đề nghị bỏ kì thi tốt nghiệp trung học hay chủ trương bỏ thi đại học vào năm 2010 của Bộ GD-ĐT chưa có cơ sở khoa học vững vàng. Chúng ta cần nhiều dữ liệu và phân tích quá trình tiến triển cho từng học sinh qua nhiều năm mới có thể đi đến một quyết định hay chủ trương sao cho đem lại lợi ích tối đa cho cộng đồng.          Chúng ta biết rằng học sinh khác nhau về năng khiếu giữa các môn học. Có học sinh giỏi về toán nhưng kém về sinh học; có học sinh khá về hóa học nhưng không có năng khiếu về toán. Ngay cả trong một môn, như môn toán chẳng hạn, có học sinh khá về lí thuyết nhưng kém về việc ứng dụng, nhưng có học sinh giỏi trong việc ứng dụng toán mà kém các chủ đề mang tính lí thuyết, và cũng có em giỏi cả hai mặt lí thuyết và ứng dụng. Và, khả năng của các em, dù lí thuyết hay ứng dụng, cần phải được ghi nhận qua việc thi cử. Vì thế, một đề thi lí tưởng cần phải phản ảnh những thực tế này.   Tóm lại, các phân tích trên đây cho thấy thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở nước ta đã có chuyển động theo chiều hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, do độ dao động quá lớn trong mỗi tỉnh thành giữa các năm, tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông có thể chưa phản ảnh chính xác thực học của học sinh. Do đó, đề nghị bỏ kì thi tốt nghiệp trung học hay chủ trương bỏ thi đại học vào năm 2010 của Bộ GD-ĐT chưa có cơ sở khoa học vững vàng. Chúng ta cần nhiều dữ liệu và phân tích quá trình tiến triển cho từng học sinh qua nhiều năm mới có thể đi đến một quyết định hay chủ trương sao cho đem lại lợi ích tối đa cho cộng đồng.     Author                Quản trị        
0.18181818181818182
__label__tiasang Vai trò của đại học *      Đ&#226;y l&#224; diễn văn khai mạc Nobel của TS. Marcus Storch,Chủ tịch Hội đồng Quỹ Nobel, tại lễ ph&#225;t giải thưởng v&#224;o ng&#224;y 10 th&#225;ng 12 năm 2008 tại Stockholm, Thụy Điển. Thật kh&#244;ng phải thừa khi nghe lại vai tr&#242; của đại học trong thời to&#224;n cầu h&#243;a được &#244;ng tr&#236;nh b&#224;y dưới c&#225;i nh&#236;n của một người của Quỹ Nobel. C&#225;m ơn Quỹ Nobel cho ph&#233;p chuyển ngữ v&#224; phổ biến.    Kính thưa Nhà Vua, Kính thưa Hoàng Hậu, Thưa Các Nhà được vinh danh, Thưa Quý Bà, Quý Ông,  Thừa lệnh của Quỹ Nobel, tôi vui mừng được chào đón Quý Vị tại Buổi lễ Phát Giải Nobel của năm nay. Đặc biệt tôi muốn chào đón các Nhà được vinh danh, và gia đình họ tại buổi lễ này mà mục đích của nó là để vinh danh các Nhà được giải và những đóng góp của họ cho khoa học và văn học. Chúng tôi xin gửi những lời chào mừng nồng nhiệt đến Giáo sư Nambu, người không thể đến Stockholm được.  Vừa mới hôm nay tại Oslo, Nhà được giải Hòa bình Martti Ahtisaari được vinh danh “vì các nổ lực quan trọng của ông, trên nhiều lục địa và hơn ba thập kỷ, để giải quyết các cuộc khủng hoảng thế giới.”  Thể theo ý nguyện của Alfred Nobel, nhiệm vụ của Quỹ Nobel – thông qua các viện xét giải – là chọn lựa những người trong lãnh vực khoa học và văn hóa đã có những đóng góp lớn nhất vào sự tiến bộ nhân loại. Do đó nhiệm vụ của chúng tôi không phải là tiên đoán tương lai, mà mô tả tốt nhất theo khả năng mình những gì đã xảy ra.  Điều này không ngăn cản chúng tôi mô tả những kinh nghiệm chúng tôi đã thu thập được trong hơn 100 năm qua từ khi Quỹ Nobel được thành lập.  Nền tảng của sự phát triển con người là tri thức. Những đóng góp quan trọng nhất là đến từ các đại học. Cho nên một cách lôgíc nếu chúng ta cố gắng mô tả làm thế nào một đại học có thể hoàn thành nhiệm vụ của nó một cách tốt nhất.  Như tôi nhìn thấy, một đại học có ba nhiệm vụ chính:      Là ký ức của xã hội      Là mũi nhọn của xã hội, và      Là tấm gương phê phán của xã hội.      Xin cho phép tôi được bình luận về ba nhiệm vụ này.  Để là ký ức của xã hội, nó đòi hỏi sự chuyễn tiếp đến thế hệ kế tiếp những gì chúng ta tri thức hôm nay.  Trong Alice in Wonderland, Lewis Carroll đã nói: “Bạn cần phải chạy nhiều như có thể mới giữ được mình nguyên tại cùng vị trí.” Tri thức chúng ta – cái nền tảng – tăng trưởng liên tục, điều đó có nghĩa là những yêu cầu để chuyển tải tri thức hôm nay tăng lên không ngừng. Nếu không tăng trưởng được nguồn lực của các đại học bằng một cách nào đó để chúng ta giữ vững được nền tảng, thì chúng ta sẽ không thể thỏa mãn được nhiệm vụ cơ bản. Hệ lụy sẽ là một xã hội đình trệ.   Ngày nay, nhân loại không nghi ngờ gì nữa đang đối mặt với các thách thức tăng lên hơn bao giờ hết, và các nghiên cứu mủi nhọn đóng và sẽ đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, xét một cách toàn cầu. Điều này bao hàm khả năng kích thích, tinh luyện và thu hút những nhà nghiên cứu hôm nay cũng như những sinh viên giỏi nhất, nghĩa là các nhà nghiên cứu của tương lai. Nhưng các đại học cũng phải có sự khoáng đạt cho phép các học trình được theo đuổi một cách tương đối tự do giữa các ngành học khác nhau. Trong những năm đại học, nhiều nhà được vinh danh của chúng tôi trong các ngành khoa học cũng đã từng học các đề tài nhân văn. Sự kích thích qua lại này đã chứng minh có ý nghĩa lớn lao trong việc giành được sự thành đạt. Trong lúc đó, để là một đại học thành công, nó đòi hỏi một quy mô tối thiểu. Khuynh hướng trong nhiều quốc gia là tạo ra một số các đại học mới ngày càng nhiều, và do đó làm mỏng đi các nguồn lực luôn luôn giới hạn của chúng ta, gây nguy cơ các đại học không thể chu toàn nhiệm vụ của mình được.                   Đại học Berlin khoảng 1900. Đại học này được thành lập 1810, theo tinh thần của Humboldt, là tự do học, tự do dạy, và thống nhất việc giảng dạy và nghiên cứu. Người thầy giỏi trước nhất phải là người thầy nghiên cứu giỏi. Khoa học phải được xem là “cái chưa tìm được hết, cái không bao giờ tìm được ra trọn vẹn, và chúng ta không ngừng đi tìm nó. Một khi người ta chấm dứt việc đi tìm khoa học, hay tự nghĩ rằng, khoa học không cần được tạo ra từ chiều sâu của tinh thần (trí tuệ), mà chỉ cần được thu thập xếp hàng dài, thì lúc đó tất cả sẽ bị mất mát một cách không gì cứu vãn được…và nếu vẫn tiếp tục, khoa học sẽ biến thành một ngôn ngữ rỗng.” (W.v. Humboldt)          Nhiều chuyên gia cho rằng có hai loại nghiên cứu – loại nghiên cứu tốt và nghiên cứu xấu. Có nhiều sự thật trong nhận định đó. Một cách tiếp cận khác là chúng ta nói có loại nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Đại thể, nghiên cứu cơ bản hoạt động không cần các mục tiêu được định trước, trong khi nghiên cứu ứng dụng hoạt động với các mục tiêu được định trước. Cả hai đều quan trọng và là điều kiện tiên quyết của nhau. Những tiến bộ lớn đem lại lợi ích cho nhân loại phần lớn xuất phát từ nghiên cứu cở bản, điều được minh họa – một cách đặc biệt – bởi danh sách của các Nhà được vinh danh trước đây và bây giờ. Nghiên cứu ứng dụng sử dụng các tiến bộ này. Một trong những nhà sáng lập Giải Lasker, Cô Mary Lasker, đã nói: “Nếu bạn nghĩ nghiên cứu là tốn kém, thì hãy bịnh đi sẽ biết.” Rất tiếc, khuynh hướng hôm nay là phần tổng nguồn lực của chúng ta được dành cho nghiên cứu cơ bản ngày càng ít đi. Giáo sư Gunnar Öquist, Thư ký thường trực của Hàn lâm viện khoa học Thụy Điển, gần đây đã viết: “Quan niệm rằng, chính sách nghiên cứu cần phải được hướng theo các nhu cầu của khu vực thương mại, chứng tỏ những người biện minh cho một sự phát triển như thế không hiểu gì về những thách thức nhân loại đang đương đầu. Nó cũng thiếu luôn sự hiểu biết về tiềm năng vốn có trong hệ thống nghiên cứu khoa học.” Nghiên cứu cơ bản là nhân tố quan trọng nhất và duy nhất làm cho chúng ta có khả năng đối phó với các thách thức mà nhân loại đang phải đối phó. Chúng ta phải chăng đang đi trên con đường đúng đắn?    Nhiệm vụ thứ ba là tấm gương phê phán của xã hội. Trong thế kỷ 20, và đặc biệt sau những sự kinh hoàng của Thế chiến thứ hai, nhu cầu xác định các quyền con người tăng lên trên bình diện quốc tế. Và chính xác hôm nay, chúng ta kỷ niệm sinh nhật thứ 60 của tuyên bố bởi Liên Hiệp Quốc về Tuyên Ngôn Phổ Quát về các Quyền Con người vào ngày 10 tháng 12, 1948. Rất ít quốc gia thực hiện tất cả 30 điều khoảng của Tuyên ngôn. Mặc dù thế, chúng ta có thể nghi nhận rằng hồ sơ này – mà tác giả chính của nó là René Cassin, người được trao giải thưởng Nobel 40 năm trước – thiết lập một chuẩn mực quan trọng có thể dùng đế đấu tranh chống lại những sự bất công và áp bức. Một trong những điểm chính yếu của quyền con người là tự do tập hợp và trao đổi tri thức. Một khuynh hướng gây rối là ngày càng có nhiều hạn chế về tự do ngôn luận, và do đó về các cơ hội để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, có thể được thấy rõ trong số tình huống ngày càng tăng lên trên thế giới. Có một nguy cơ nghiêm trọng, đó là những sự phát triển trên thế giới có thể đi vào hướng, đối với tất cả chúng ta, sai lạc.  Tôi đã đưa ra các nguy cơ tôi nhìn thấy trong cách xử lý những thách thức lớn mà nhân loại đang gặp phải. Điều tích cực là chính chúng ta sẽ xác định chúng ta muốn hành động thế nào. Sự lựa chọn chiến lược của chúng ta sẽ đòi hỏi cả hai, tri thức và can đảm./.  Nguyễn Xuân Xanh, người dịch   * Tựa đề do người dịch tự đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của ngôn ngữ ký hiệu với người khiếm thính      Phương pháp dạy người khiếm thính bằng khẩu  hình kéo dài gần 100 năm qua đã bị thay đổi bằng chương trình  “song ngữ”, người khiếm thính học ngôn ngữ ký hiệu ngay từ đầu, còn phương pháp dạy  giao tiếp thông qua khẩu hình chỉ được dạy như ngôn ngữ thứ hai.     Thông thường, những người khiếm thính bẩm sinh sẽ chỉ học và tư duy bằng ngôn ngữ ký hiệu (NNKH). Tuy vậy, một số người điếc bẩm sinh đôi lúc sẽ tư duy được bằng cả ngôn ngữ lời nói nếu cố gắng học nói. Những người không bị điếc hoàn toàn vẫn nghe được một chút khi đeo thiết bị trợ thính (thường gọi là “khiếm thính”) sẽ vẫn có khả năng tư duy trong đầu bằng âm thanh, lời nói.   Khiếm thính thường nghiêm trọng hơn khiếm thị bởi não bộ của người khiếm thính không tiếp xúc được với ngôn ngữ, trong khi đó ngôn ngữ có tầm quan trọng không thể thiếu với các chức năng lưu giữ ký ức, tư duy trừu tượng và sự tự nhận thức của não bộ. Nói một cách hình tượng, ngôn ngữ như là phương tiện để não có thể điều khiển các “phần cứng”. Do đó, dù không khiếm khuyết về não bộ, nhưng những người khiếm thính không được học NNKH sẽ bị khuyết tật trí tuệ, cho đến khi họ học được một thứ ngôn ngữ đã được cấu trúc sẵn.  Ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong những giai đoạn phát triển đầu của não bộ, vì thế những người điếc không được học NNKH sớm thường sẽ gặp khó khăn trong học tập và các vấn đề này sẽ đeo bám họ suốt cuộc đời, ngay cả khi sau đó họ có thể học một loại ngôn ngữ ký hiệu đặc thù. Đó là lý do mà người khiếm thính từng bị coi là một dạng khuyết tật trí tuệ và không thể dạy dỗ được cho tới tận những năm 1970.   Trước đó, từ những năm 1880, người khiếm thính được học sử dụng khẩu hình để giao tiếp thay vì dùng ngôn ngữ kí hiệu. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng não bộ của người điếc không thể liên kết hoàn toàn với ngôn ngữ nói giống như cách NNKH ăn sâu, bắt rễ vào não bộ của họ. Căn bản vì ngôn ngữ lời nói không thể giúp não bộ của họ xử lý thông tin. Những người khiếm thính bị ép học ngôn ngữ nói sẽ có được ý thức về bản thân và trí nhớ tốt hơn những người không được học một thứ ngôn ngữ nào, tuy nhiên họ cũng không thể khai thác và phát triển được toàn bộ tiềm năng của não bộ như khi học NNKH.   Từ các phát hiện này, phương pháp dạy người khiếm thính bằng khẩu hình kéo dài gần 100 năm qua đã bị thay đổi bằng chương trình “song ngữ”, người khiếm thính học NNKH ngay từ đầu, còn phương pháp dạy giao tiếp thông qua khẩu hình chỉ được dạy như ngôn ngữ thứ hai.   Hoàng Nhu dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của trình độ giáo dục: bài học qua khủng hoảng kinh tế      Báo cáo thống kê sơ bộ mới nhất về giáo dục của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – Organization for Economic Cooperation and Development)&#160; đã chỉ ra, trong khủng hoảng kinh tế, số người có trình độ đại học bị mất việc thấp hơn nhiều so với số người thiếu bằng cấp hay trình độ chuyên môn. Giáo dục và kỹ năng tốt là yếu tố quan trọng để cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của mỗi con người.    Năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học là ở mức 4,4%. Mức thất nghiệp ở những người chưa tốt nghiệp phổ thông là 11,5%, tăng 2,8% so với năm trước. Điều này càng làm trầm trọng tình trạng thất nghiệp của giới trẻ mà hiện nay đã vượt quá 17% trong khu vực OECD.  “Chi phí cá nhân và xã hội của những người nghỉ học chưa có bằng cấp ngày càng tăng lên”, tổng thư ký OECD, Angel Gurria nói, “Bằng mọi cách, chúng ta không được phép đánh mất thế hệ tương lai. Dù có phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách, Chính phủ vẫn phải tiếp tục đầu tư nhằm duy trì chất lượng giáo dục, đặc biệt là ở những nước gặp phải vấn đề ngân sách và con người”. “Đầu tư vào giáo dục không chỉ là vấn đề về tiền bạc. Nó cũng là một sự đầu tư vào con người, đầu tư vào tương lai”.  Theo thống kê sơ bộ hiện nay, tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở trên thế giới trung bình khoảng 82%. Những người trong số 18% còn lại sẽ phải đối mặt với những thách thức vô cùng lớn trong việc tìm kiếm việc làm.  Hơn 50% thanh thiếu niên không đi học ở lứa tuổi từ 15 đến 19 hiện nay đều đang thất nghiệp hoặc chưa có việc làm. Trong khi đó, ở hầu hết các quốc gia, những thanh niên không có việc làm và không đi học thì đều không được nhận hỗ trợ phúc lợi xã hội. Và so với lứa tuổi trưởng thành, nguy cơ từ bỏ không tiếp tục tìm kiếm việc làm và mất cơ hội tiếp cận thì trường lao động của họ cao hơn gấp 2 lần.  Chính vì thế, Chính phủ cần phải đầu tư vào giáo dục. Xét về lâu dài, ngân sách của họ sẽ được hưởng lợi từ việc đầu tư này. Những người có học vấn càng cao thì càng ít có khả năng cần tới trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ phúc lợi, và nộp thuế nhiều hơn khi họ tham gia vào thị trường lao động.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò giáo dục của bảo tàng: Chấm dứt những bài thuyết minh “một chiều”      Bảo tàng, với tư cách là một thiết chế văn hóa và giáo dục, không thể chỉ đơn thuần cung cấp cho xã hội những bài “thuyết minh” như hơn bốn mươi năm về trước mà phải có sự thay đổi trong nhận thức và hành động nhằm đảm bảo chức năng giáo dục, mang lại lợi ích cho cộng đồng và phù hợp với sự phát triển của xã hội.    Thực trạng của công tác giáo dục ở bảo tàng hiện nay  Ngay từ khi mới ra đời vào những năm cuối của thập kỷ 50 của thế kỷ 20, bên cạnh những chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản…, các bảo tàng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là giáo dục công chúng về tư tưởng chính trị, về những truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông thông qua các bộ sưu tập  bảo tàng. Chính vì lẽ đó, bảo tàng nào cũng có người/bộ phận được gọi là “tuyên truyền”, thường đặt trong Phòng Trưng bày – Tuyên truyền. Với nhiệm vụ chính là “tuyên truyền”, tức là truyền bá một chiều những nội dung được chuẩn bị trước của bảo tàng tới công chúng, các “thuyết minh viên” trong bảo tàng trở thành những người “thầy” giảng cho “học sinh”- những khách tham quan, và “học sinh” nghe và ghi chép, nhập tâm những thông tin do người thuyết minh viên cung cấp. Nếu được hỏi, “học sinh” sẽ nhắc lại những gì đã được “thầy” giảng mà không cần suy nghĩ gì thêm. Điều này phản ánh cách học tập truyền thống trong môi trường nhà trường theo kiểu thầy giảng- trò nghe, ít tranh luận, chất vấn. Cách thức học tập “thụ động” như vậy làm học sinh ít cảm thụ và chóng quên. Cách học đó không đòi hỏi những “thuyết minh viên” phải động não, tìm tòi, học hỏi nhiều. Họ chỉ cần học thuộc những “bản thuyết minh” mà những nhà nghiên cứu cung cấp cho họ, hay những bài viết trên trưng bày là có thể hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ “tuyên truyền” của mình. Với phương pháp này, các bảo tàng chủ yếu thuyết minh cho các đoàn tham quan và thuyết minh theo nhu cầu. Nếu tích cực hơn nữa thì bảo tàng có thể chức các cuộc thi và tìm hiểu dưới các hình thức khác nhau (như phiếu, nói, viết…) nhân các ngày kỷ niệm hay các ngày lễ. Cũng chính vì quan niệm “tuyên truyền” chứ không phải “giáo dục”, với tính chất công việc đơn điệu, thiếu đa dạng, những nhân viên Phòng Tuyên truyền phần nhiều thiếu tính sư phạm và tính chuyên nghiệp của một người làm công tác giáo dục. Điều đó cũng khiến cho nhà trường ít gắn với bảo tàng vì ít thấy hiệu quả của mỗi chuyến tham quan, ít thấy lợi ích của việc tham quan bảo tàng đối với các chương trình vốn đã quá nặng ở nhà trường. Tuy nhiên, chúng ta không thể không ghi nhận những kết quả mang tính giáo dục mà phương pháp “kinh điển” này mang lại. Đó là những tri thức, những câu chuyện kể rất hay, rất cảm động và rất hấp dẫn mà nhiều thuyết minh viên đã để lại trong lòng công chúng.            Nhân viên của bảo tàng hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm khoa học        Nhưng như vậy chưa đủ. Trong giai đoạn mới này, công chúng không còn hoàn toàn “thụ động” nữa. Họ muốn được trải nghiệm, được giao tiếp, được đối thoại… Nhu cầu đó đòi hỏi các cán bộ làm công tác giáo dục ở bảo tàng phải đổi mới phương pháp tiếp cận, phải năng động hơn, tìm tòi và tổ chức nhiều hoạt động hơn để thu hút họ. Với xu hướng nhận thức mới, khái niệm “tuyên truyền” dần được thay thế bằng khái niệm “giáo dục”, tức là thay đổi phương pháp tiếp cận để bảo tàng có thể có nhiều hoạt động mang tính giáo dục đa dạng và chất lượng cao hơn nhằm thu hút khách đến với mình và đóng góp nhiều hơn cho xã hội.    Nhận thức đúng hơn về vai trò giáo dục trong bảo tàng  Kể từ khi bảo tàng được coi là dành cho công chúng từ giữa thế kỷ 19, đến khi những nhà giáo dục bảo tàng được tham gia tích cực hơn vào quá trình tổ chức trưng bày từ những năm 80 của thế kỷ 20 là cả một chặng đường dài cho thấy vai trò giáo dục trong bảo tàng ngày càng được coi trọng. Người ta không chỉ quan tâm đến việc bảo tàng “dạy” gì cho công chúng, mà quan trọng hơn là “công chúng học bằng cách trải nghiệm như thế nào”. Ở đây, công chúng là người học “chủ động” chứ không còn là người nghe “thụ động” nữa. Công chúng được tiếp cận nhiều chiều để tự rút ra những kết luận, những bài học, những kiến thức mới cho mình chứ không phải chỉ một chiều. Các trưng bày ở bảo tàng cố gắng không đưa ra những kết luận áp đặt mà thường gợi mở. Đó là sự khác nhau rất cơ bản giữa phong cách giáo dục cũ và phong cách giáo dục mới trong bảo tàng.  Từ những nghiên cứu khách tham quan về việc học tập của họ trong bảo tàng, vận dụng những lý thuyết về giáo dục, một nhà giáo dục bảo tàng ở Đại học Leicester (Anh), GS. Eilean Hooper-Greenhill đã đưa ra nhận xét tinh tế về vai trò giáo dục của bảo tàng như sau:  “Hiểu theo cách truyền thống, giáo dục bảo tàng bị bó hẹp ở việc cung cấp những thông tin cụ thể cho một nhóm người hạn chế như học sinh phổ thông hay các nhóm khách du lịch. Nhưng giờ đây vai trò giáo dục của bảo tàng được hiểu rộng rãi hơn, bao gồm trưng bày, sắp đặt, sự kiện và học tập. Vì vậy, công việc của những người làm công tác giáo dục bảo tàng cũng tăng lên theo bao gồm cả việc phát triển trưng bày, tiến hành nghiên cứu khách tham quan, tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục. Nói tóm lại, sự phức hợp của vai trò giáo dục bảo tàng gói gọn lại trong 3 từ: giáo dục, diễn giải và giao tiếp.          Nghệ nhân làng gốm Phù Lãng đang hướng dẫn học sinh làm gốm        Từ nhận thức mang tính khái quát trên về vai trò giáo dục của bảo tàng cho thấy tính giáo dục không chỉ thuộc về những người làm công tác giáo dục. Để tạo được môi trường tốt cho du khách học tập, các trưng bày của bảo tàng phải hấp dẫn và có tính giáo dục, thông tin về cuộc trưng bày phải được chuyển tới du khách trước khi họ đến bảo tàng để họ có sự chuẩn bị trước về những điều họ sẽ được học, bảo tàng phải tạo cho du khách sự thuận tiện và thoải mái khi họ đi thăm bảo tàng, và các bài viết trưng bày phải ngắn gọn, dễ hiểu và khuyến khích người đọc… Như vậy, công tác giáo dục của bảo tàng không chỉ đảm nhiệm việc “tuyên truyền”, mà còn phải tổ chức các hoạt động tương tác dành cho công chúng, cho học sinh và cho trẻ em đi theo gia đình.  Trong khi cách học và cách dạy ở nhà trường đang có sự thay đổi rõ rệt cho thấy việc học tập ngày càng chủ động hơn của học sinh thì mô hình chỉ “tuyên truyền” một chiều ở bảo tàng dường như không còn phù hợp nữa. Học sinh ngày nay đã bắt đầu trở nên “đòi hỏi” hơn và muốn “đối thoại” nhiều hơn. Các em đến thăm bảo tàng không chỉ để nghe một bài được thuyết minh viên chuẩn bị sẵn, đôi khi rất buồn tẻ, mà các em còn đòi hỏi được trải nghiệm và khám phá. Điều đó đặt những người làm công tác bảo tàng phải tự đổi mới, tìm tòi, sáng tạo, trên cơ sở phương pháp khuyến khích sự tương tác và đối thoại, để đưa ra những hoạt động giáo dục bổ ích, lý thú và thiết thực cho các em.          Học sinh Việt Nam và Nhật Bản đang chơi trò chơi truyền thống        Bảo tàng có thể kết hợp với nhà trường để tổ chức tốt chuyến tham quan cho các em. Khác với nhà trường là nơi học tập chính thức, bảo tàng tạo thêm nhiều cơ hội khác nhau để các em trải nghiệm, khẳng định lại những gì đã học và học thêm những kiến thức mà nhà trường không cung cấp/ không có. John Dewey (1859-1952), người được coi là nhà triết gia giáo dục nổi tiếng nhất của Mỹ đã từng nhấn mạnh: “Giáo dục bắt đầu bằng trải nghiệm”. Bảo tàng có thể thu hút các em bằng nhiều hình thức giáo dục đa dạng qua các buổi thuyết trình liên quan đến chủ đề trưng bày, các buổi chiếu phim, các buổi trình diễn, các lớp tập làm thủ công, hoạt động của Phòng Khám phá… Ngoài ra, chúng ta còn có thể mang bảo tàng đến với các em, đến với cộng đồng (mô hình bảo tàng lưu động, “bảo tàng vali”, nói chuyện chuyên đề…). Một công cụ hữu hiệu và mạnh mẽ nữa mà các bảo tàng trên thế giới hiện đang phát triển là trang web giáo dục, ở đó công chúng từ xa có thể tìm thấy đầy đủ thông tin về các hiện vật và nội dung trưng bày. Các giáo viên có thể tìm thông tin trước rồi chuẩn bị cho học sinh trước khi đi tham quan. Như vậy, nhà trường và bảo tàng kết hợp lại sẽ cung cấp cho các em những kiến thức phong phú, đa dạng và bổ ích.  Trong bối cảnh đó, Phòng giáo dục trở thành một thành tố đương nhiên trong cơ cấu mỗi bảo tàng, không thể thiếu được như Phòng Bảo quản, Phòng, Trưng bày, Phòng Nghiên cứu, sưu tầm… Để đáp ứng nhu cầu là cầu nối giữa bảo tàng và công chúng, các cán bộ giáo dục cần tự trau dồi và nâng cao năng lực. Họ cần được đào tạo để trở nên chuyên nghiệp hơn, làm việc có tính sư phạm hơn để có thể tổ chức những chương trình giáo dục và công chúng thích hợp với từng đối tượng, trước hết là học sinh.  Tất nhiên, tổ chức được đa dạng hoạt động giáo dục trong bảo tàng là điều không đơn giản, đòi hỏi nhiều trí tuệ, công sức, thời gian, tiền bạc nhưng không phải là không thể.  ——————–  Nguyễn Văn Huy*  Nguyễn Thu Hương  * Bảo tàng Dân tộc học    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề căn bản là đổi mới chuyên Toán theo hướng nào?      Từ những tranh luận được khởi xướng cách đây chưa lâu và đến nay vẫn còn chưa dứt về việc liệu có hay không nên duy trì hệ thống giáo dục chuyên toán ở cấp phổ thông của Việt Nam, có thể thấy những ý kiến phê phán thường chỉ ra những khiếm khuyết, hạn chế của hệ thống này, trong khi những ý kiến bảo vệ cho việc duy trì hệ thống chuyên toán thường viện dẫn tới vẻ đẹp của toán học và giá trị giáo dục mà nó mang lại.       Thực ra cả hai luồng quan điểm đó cùng song song có lý, không hề mâu thuẫn nhau. Hệ thống chuyên toán là cần thiết, trước hết bởi toán học có vẻ đẹp và giá trị đáng quý, hết sức quan trọng với con người; đồng thời việc chú trọng bồi dưỡng cho những trẻ em có sở thích và năng lực thiên phú về toán cũng là điều hợp lý, bởi giáo dục cũng giống như thể thao ở điểm không thể cào bằng mọi đối tượng, mà trong điều kiện hữu hạn cho phép của xã hội cần ưu tiên để những người có năng lực nhất được phát huy phát triển tối đa tiềm năng của mình. Nhưng như vậy không có nghĩa là hệ thống giáo dục chuyên toán như hiện nay của chúng ta là hoàn hảo, mà trái lại, cần có những thay đổi để đảm bảo học sinh được tiếp thu những giá trị tốt nhất, lành mạnh và phù hợp nhất mà toán học có thể mang lại cho các em trong điều kiện cho phép hiện nay và các giai đoạn tới đây.   Trước hết, phải khẳng định với nhau toán học về bản chất không phải là một hệ thống các bài toán. Toán học là một hệ thống các lý thuyết và ngôn ngữ, mà giá trị của chúng là giúp con người thấu hiểu thế giới tự nhiên một cách sâu sắc hơn, đúng bản chất hơn, và là một trong những kênh không thể thiếu để con người phát huy trí tưởng tượng, năng lực sáng tạo phong phú của mình. Các bài toán chỉ là một phần của toán học, là bước trung gian để hiểu, chứng minh, tạo sức thuyết phục, và là công cụ để giải quyết các vấn đề ứng dụng từ lý thuyết.  Khi đã thống nhất với nhau ở điểm này, chúng ta thấy rằng nhiệm vụ hàng đầu của một nền giáo dục toán học là góp phần tạo ra những nhà lý thuyết. Ở cấp ứng dụng, đó là những người có khả năng chuyển hóa các vấn đề thực tiễn thành những vấn đề lý thuyết, từ đó xây dựng bài toán, giải bài toán, rồi chuyển hóa thành giải pháp hữu ích phục vụ đời sống – đó có thể là một người thợ mộc, người nông dân, một thương gia, hay bất kỳ ngành nghề nào. Ở mức độ cao cấp, đó là những người xây dựng được những con đường tri thức mới có tính nền tảng, đủ sức thuyết phục nhiều người khác cùng khai thác, mở mang, nối dài thêm cho những con đường ấy – chúng ta hi vọng một ngày nào đó sẽ có những tri thức lý thuyết lớn của toán học mang tên người Việt.  Đó có thể là giấc mơ còn xa, nhưng nếu thực sự yêu quý toán học vì những giá trị tốt đẹp của nó thì chúng ta cần tham vọng, từ đó mới có định hướng cho những nỗ lực thay đổi thiết thực. Bởi nếu không như vậy thì hệ thống giáo dục chuyên toán của chúng ta sẽ mãi mãi duy trì như hiện nay: Thực chất đó là những câu lạc bộ giải toán, những cuộc thi giải toán khó, mà sản phẩm mang lại đa phần là những con người ghi nhớ/bị đóng khung trong một số dạng bài toán nhất định nhưng không hề thấu hiểu giá trị và vẻ đẹp của các lý thuyết toán, chỉ biết giải bài toán cho sẵn chứ không hề có tinh thần tự lập ra đề toán có ích cho cuộc sống hoặc theo nhu cầu sáng tạo tự thân. Và như vậy những tranh cãi về giá trị được/mất cho xã hội sẽ vẫn tiếp tục không có hồi kết.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề Đạo đức Nghiên cứu trong Y sinh học và Khoa học Xã hội: Một So sánh giữa các nước Phát triển và Đang phát triển      T&#243;m tắt  Y sinh học v&#224; khoa học x&#227; hội từ l&#226;u đ&#227; bị quan ngại về những vấn đề đạo đức trong nghi&#234;n cứu. Tuy nhi&#234;n c&#243; một sự c&#225;ch biệt kh&#225; r&#245; trong c&#225;c nước ph&#225;t triển v&#224; c&#225;c nước đang ph&#225;t triển trong c&#225;ch tiếp cận c&#243; t&#237;nh chất đạo đức về việc nghi&#234;n cứu. Hiển nhi&#234;n l&#224; những thủ tục đạo đức trong nghi&#234;n cứu đang được tu&#226;n theo trong c&#225;c nước đang ph&#225;t triển vẫn c&#242;n ở giai đoạn ban sơ. C&#225;c nh&#224; nghi&#234;n cứu ở những nước ph&#225;t triển v&#224; đang ph&#225;t triển đang tranh luận về việc n&#234;n chăng chỉ c&#243; một bộ khung đạo đức c&#243; thể &#225;p dụng cho cả thế giới v&#224; cố gắng x&#225;c định những ti&#234;u chuẩn đạo đức to&#224;n cầu cho việc nghi&#234;n cứu y sinh học v&#224; khoa học x&#227; hội. Hội đồng C&#225;c Tổ chức Y khoa Quốc tế v&#224; Tổ chức Y tế Thế giới đ&#227; nhấn mạnh tầm quan trọng của những vấn đề đạo đức trong việc thực hiện những nghi&#234;n cứu y sinh học v&#224; khoa học x&#227; hội, đồng thời tỏ ra quan ngại về sự an to&#224;n, b&#237; mật, sự t&#244;n trọng lợi &#237;ch v&#224; kh&#244;ng phi ph&#225;p của người tham gia nghi&#234;n cứu. Bắt đầu bằng tầm quan trọng của c&#225;c nguy&#234;n tắc đạo đức trong nghi&#234;n cứu về con người, b&#224;i viết n&#224;y sẽ thảo luận về những vấn đề đạo đức trọng yếu trong việc thực hiện nghi&#234;n cứu. Phần tiếp theo l&#224; so s&#225;nh c&#225;c nước ph&#225;t triển v&#224; đang ph&#225;t triển trong nghi&#234;n cứu khoa học x&#227; hội v&#224; y sinh học.     Tổng quan  Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nghiên cứu được xem là nhân tố quyết định sự thịnh vượng của quốc gia. Một điều đã được công nhận rộng rãi là mọi nghiên cứu liên quan đến con người hoặc những thông tin về con người có thể xác định được thì đều cần được thực hiện theo những nguyên tắc về đạo đức (Draper and Wilson, 2007). Người ta mong đợi các nhà nghiên cứu nhận thức rõ và tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức như sự ưng thuận của người cung cấp thông tin, sự đền bù cho người tham gia, sự cẩn mật, và những nguyên tắc cơ bản trong việc công bố khoa học và hợp tác quốc tế (Kanungo, 2006). Tuy vậy, lịch sử đã cho thấy vô số trường hợp phi đạo đức trong nghiên cứu (Kanungo, 2006). Mặc dù các nhà nghiên cứu y sinh học đã rất chú ý vấn đề đạo đức, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu xã hội đối với vấn đề đạo đức nghiên cứu vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Cũng tương tự như thế, có một sự khác biệt rất đáng kể giữa các nước phát triển và đang phát triển về mức độ quan tâm đến vấn đề đạo đức trong việc thực hiện nghiên cứu (Christakis, 1992). Cân nhắc những luận cứ trên, bài viết này giải thích tầm quan trọng của cách tiếp cận có tính đạo đức trong nghiên cứu khoa học xã hội khi nó liên quan đến con người và những thông tin về con người có thể nhận biết được. Hơn nữa, bài viết sẽ so sánh sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà y sinh học ở các nước phát triển và đang phát triển trong cách tiếp cận về mặt đạo đức trong khi thực hiện việc nghiên cứu.     Tại sao chúng ta cần có cách tiếp cận đạo đức đối với nghiên cứu: Một ví dụ   Một ví dụ nổi tiếng thế giới về nghiên cứu phi đạo đức là “Nghiên cứu Tuskegee về bệnh giang mai không được điều trị”. Trong nghiên cứu này, vốn là do Cơ quan Dịch vụ Y tế Hoa Kỳ bảo trợ thực hiện từ năm 1932 đến 1972, 412 người Mỹ gốc Phi nghèo khó với căn bệnh giang mai không được điều trị đã được theo dõi đối chứng với 204 người không bị bệnh để xác định lịch sử tự nhiên của bệnh giang mai. Mặc dù vào thời điểm cuộc nghiên cứu này bắt đầu, không có thứ thuốc nào tốt để điều trị căn bệnh, nhưng cuộc nghiên cứu vẫn được tiếp tục ngay cả khi thuốc kháng sinh penicillin đã trở thành phổ biến (năm 1944) và đã được biết là một phương tiện hữu hiệu để điều trị căn bệnh này. Những người bệnh là đối tượng của cuộc nghiên cứu đã không được điều trị mãi đến năm 1972. Cuộc nghiên cứu đã không bị hủy bỏ cho đến khi nó trở thành sự chú ý của các nhà báo và bị đưa lên trang nhất báo Washington Star và New York Times khiến Chính phủ Nixon phải kêu gọi tạm dừng cuộc nghiên cứu này lại. Trong cuộc nghiên cứu này, có khá nhiều vi phạm đạo đức: Những người tham gia cuộc nghiên cứu với tư cách đối tượng nghiên cứu đã không được thông tin về quyền ưng thuận của họ (thực ra, họ đã bị lừa dối một cách có tính toán cẩn thận); họ bị từ chối điều trị theo cách tốt nhất; và cuộc nghiên cứu vẫn tiếp tục thậm chí sau khi cách điều trị hữu hiệu đã trở thành phổ biến. Và lý lẽ của nhóm nghiên cứu này là gì? Là những người Mỹ gốc Phi nghèo khổ này dù sao cũng đã không được điều trị, cho nên các nhà nghiên cứu chỉ làm mỗi một việc là quan sát cái gì sẽ xảy ra, và kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng (một “cơ hội không bao giờ có lại lần nữa”); một bác sĩ nói, sau khi penicillin trở thành phổ biến. Mối quan tâm về đạo đức được diễn giải ở đây là cuộc nghiên cứu này có một ý nghĩa quan trọng không chỉ vì giá trị thông tin, mà đối với số đông những người giống như những người đang là đối tượng của cuộc nghiên cứu – một dân chúng đang bị bần cùng hóa vì một tỉ lệ lớn những người bị bệnh giang mai không được điều trị. (Nguồn: Editorial, The New England Journal of Medicine). Những gì đã xảy ra đã khiến  giới nghiên cứu ý thức rõ hơn về việc xây dựng những thủ tục cho nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu.     Đạo đức nghiên cứu  Đạo đức nghiên cứu là những nguyên tắc đạo lý hướng dẫn việc thực hiện nghiên cứu từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành và công bố kết quả. Theo Walton, đạo đức nghiên cứu phân tích những vấn đề đạo đức đặt ra khi con người liên quan tới các cuộc nghiên cứu với tư cách là những đối tượng được nghiên cứu. Có ba mục tiêu trong đạo đức nghiên cứu: Mục tiêu trước hết và cơ bản là bảo đảm sự an toàn và nhằm bảo vệ những người tham gia cuộc nghiên cứu. Hai là bảo đảm rằng cuộc nghiên cứu được thực hiện theo cách phục vụ cho lợi ích của các cá nhân, các nhóm người cũng như phục vụ cho cộng đồng như một tổng thể. Cuối cùng, mục tiêu thứ ba là xem xét những hoạt động nghiên cứu và dự án cụ thể về tính chất đạo đức của nó, về việc những dự án này chuẩn bị cho các rủi ro như thế nào, bảo vệ sự cẩn mật ra sao và thực hiện những thủ tục cho thấy sự ưng thuận của người tham gia nghiên cứu như thế nào (Walton).   Bằng những nguyên tắc và cách tiếp cận đạo đức, các nhà nghiên cứu có thể bảo vệ sức khỏe, sự an toàn, quyền hạn, sự riêng tư và phẩm giá của những người tham gia cuộc nghiên cứu với tư cách là đối tượng nghiên cứu. Như Calman (2002) đã nói  “Để bắt đầu một cuộc hành trình hay đặt một nền móng, phải xác định những tính cách như sự thành thật, cởi mở, chia sẻ và tôn trọng quan điểm của người khác, cũng như khoan dung với quyền tự quyết định của họ; làm điều tốt đẹp nhất cho người khác thay vì làm tổn thương họ, giữ lời hứa, chia sẻ những thời khắc khó khăn với người khác”. Do vậy, để bảo đảm an toàn, lợi ích và sự bí mật của những người tham gia cuộc nghiên cứu và những thông tin cá nhân của họ, cần bắt buộc giới khoa học và nghiên cứu sinh phải được phê chuẩn về mặt đạo đức trước khi thực hiện cuộc nghiên cứu.      Vai trò của trường đại học và các tổ chức nghiên cứu trong việc phê chuẩn đạo đức   Phần lớn các trường đại học và tổ chức nghiên cứu hiện nay đã bắt đầu làm quen với những thủ tục/ ủy ban chính thức trong việc xem xét phương diện đạo đức của những công trình thực hiện trong y sinh học và các khoa học xã hội như kinh tế, xã hội học, tâm lý học, và tiếp thị. Tuy nhiên, có những mức độ thay đổi khá nhiều giữa các ủy ban xem xét vấn đề đạo đức nghiên cứu của các trường và của các tổ chức nghiên cứu trong việc xem xét và thủ tục phê chuẩn (Christakis, 1992). Các nhà nghiên cứu ở các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu cần nộp những tài liệu cần thiết cho Ủy ban đạo đức nghiên cứu để được phê chuẩn và thực hiện nghiên cứu một cách độc lập và có hiệu quả. Những tài liệu cần nộp và thủ tục phê chuẩn được nêu trong Phụ lục. Nếu Ủy ban thấy rủi ro hay tổn thương cho người tham gia trong quá trình nghiên cứu, họ có quyền từ chối phê chuẩn.    Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Kinh tế của Anh đã xác định những nghiên cứu sau đây là có nhiều rủi ro trên mức tối thiểu và yêu cầu được phê chuẩn về mặt đạo đức trước khi thực hiện:   Ø             Nghiên cứu liên quan đến các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em và thanh thiếu niên, người khuyết tật hay thiểu năng tâm thần, hoặc những người đang ở trong một mối quan hệ phụ thuộc và bất bình đẳng.   Ø             Nghiên cứu liên quan đến những chủ đề nhạy cảm như hành vi tính dục, hành vi chính trị hoặc phi pháp, kinh nghiệm về bạo lực, sự bạo hành và bóc lột, sức khỏe tâm thần, giới tính và chủng tộc của người được nghiên cứu.   Ø            Nghiên cứu liên quan đến các nhóm  như chủng tộc hay văn hóa, về những cộng đồng bản xứ hay người nhập cư, v.v…   Ø             Nghiên cứu liên quan đến việc tiếp cận những hồ sơ cá nhân và những thông tin mật   Ø             Nghiên cứu liên quan đến những căng thẳng tâm lý, những nỗi lo âu, sự bị làm nhục và đau đớn hơn mức tối thiểu.   Ø             Nghiên cứu liên quan đến sự lừa dối.  Ø             Nghiên cứu liên quan đến sự can thiệp thô bạo vào cuộc sống hằng ngày của người được nghiên cứu    Theo báo cáo của Hội đồng, những nghiên cứu của giới khoa học và sinh viên thực hiện ở Anh và các nước châu Âu đã tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức và nghiên cứu chỉ bắt đầu khởi sự sau khi được Ủy ban đạo đức nghiên cứu phê chuẩn. Tương tự như vậy, Ủy ban Đạo đức Nghiên cứu Con người ở Úc và Hội đồng Xét duyệt Thể chế của Hoa Kỳ xem xét các dự án nghiên cứu ở Úc/Hoa Kỳ và bảo đảm sự an toàn cũng như bảo vệ người được nghiên cứu. Những tổ chức nghề nghiệp như Hội Nghiên cứu Giáo dục Hoa Kỳ (AERA), Hội Nghiên cứu Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), Hội Nghiên cứu Xã hội học Hoa Kỳ (ASA) đều có những hướng dẫn tổng quát cho thành viên và thực hiện việc phê chuẩn về đạo đức nghiên cứu. Khảo sát các công trình nghiên cứu y sinh học và khoa học xã hội liên quan đến con người ở các nước đang phát triển, có thể thấy không hề có một khuôn khổ đạo đức thích hợp nào được xây dựng và người nghiên cứu không tỏ ra chú ý đến việc bảo vệ sự an toàn và bí mật của người được nghiên cứu. Tuy nhiên, sẽ trở thành điều bắt buộc đối với các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển trong việc tuân thủ sự phê chuẩn về đạo đức nghiên cứu nhằm thu hút được các quỹ tài trợ nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài. Đã có nhiều dự án nghiên cứu với nội dung khoa học rất tốt bị từ chối vì thiếu nền tảng đạo đức theo sự xem xét của các hội đồng ở các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức tài trợ (Patton, 2002). Đồng thời điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc công bố kết quả.        Phê chuẩn đạo đức và việc công bố kết quả nghiên cứu   Thật thú vị nếu ta lưu ý rằng phần lớn các tạp chí nghiên cứu khoa học đã bắt đầu yêu cầu các nhà nghiên cứu, các tác giả cung cấp bằng chứng về việc phê chuẩn đạo đức trước khi công bố những kết quả nghiên cứu liên quan đến con người hay sử dụng những thông tin cá nhân của con người. Tuy nhiên, họ không ngăn cản các nhà nghiên cứu đang làm việc mà không có sự phê chuẩn đạo đức. Mặt khác, những quy định này gây trở ngại cho việc công bố các kết quả nghiên cứu (Draper and Wilson, 2007). Một mặt hạn chế chính của cách làm này là các tạp chí nghiên cứu không nắm chắc được phẩm chất và kinh nghiệm của những Ủy ban đạo đức đã phê chuẩn cho một dự án nghiên cứu. Theo Draper và Wilson (2007), các tạp chí nghiên cứu y khoa thường gặp phải những vấn đề này ở những công trình không khởi sự ở các nước phát triển. Vấn đề này cũng rất phổ biến trong lãnh vực khoa học xã hội.       Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học   Vấn đề đạo đức nghiên cứu trong quy trình xem xét và đánh giá những công trình y sinh học đã được thực hiện hàng thế kỷ nay với những hướng dẫn và quy tắc nghiêm ngặt ở các nước phát triển. Năm 1964, Tuyên ngôn Helsinki của Hội Nghiên cứu Y khoa Thế giới đã nhấn mạnh 12 nguyên tắc căn bản cho việc thực hiện những nghiên cứu y sinh học có liên quan đến con người (Kalantri, 2003). Theo đó, Hội đồng Các tổ chức nghiên cứu Y khoa Quốc tế (CIOMS) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra những hướng dẫn cho cả các nước phát triển và đang phát triển để tiến hành những nghiên cứu y sinh học một cách có đạo đức. Bản hướng dẫn này về sau được điều chỉnh them vào năm 1993 và trở thành Hướng dẫn Đạo đức Quốc tế về Nghiên cứu Y sinh học liên quan đến con người. Nhờ CIOMS và WHO, các nhà nghiên cứu từ những nước đang phát triển giờ đây đã nhận thức được tầm quan trọng của cách tiếp cận đạo đức trong nghiên cứu và áp dụng các nguyên tắc đạo đức trong thực tiễn nghiên cứu. Các tư liệu thành văn cho thấy nghiên cứu y sinh học ít được chú ý về mặt đạo đức ở các nước đang phát triển (Kalantri, 2003). Thực tế này ở Ấn Độ đã thu hút các công ty sản xuất dược phẩm ở các nước phát triển. Lực lượng lao động có năng lực kỹ thuật, chi phí thấp, bệnh nhân có sẵn, hệ thống kiểm soát dược phẩm dễ dãi, thiếu các quy định về thử nghiệm, không nhất quán trong những yêu cầu về sự ưng thuận của người thử nghiệm thuốc, và quá trình xét duyệt về đạo đức nghiên cứu không thỏa đáng đã biến Ấn Độ thành một điểm đến thích hợp cho các nghiên cứu y sinh học (FERCAP Newsleter, 2008). Khoảng dưới 40 Ủy ban về đạo đức nghiên cứu được thành lập và hoạt động ở Ấn Độ một cách đúng đắn, còn lại những ủy ban khác thì thật đáng ngờ vực. Thêm vào đó, luật pháp ở Ấn Độ không yêu cầu các điều tra viên hoặc thành viên Ủy ban đạo đức phải khai báo những mâu thuẫn về lợi ích của mình khi thực hiện nhiệm vụ.    Xem xét tình hình đạo đức nghiên cứu ở Việt nam, Ủy ban đạo đức nghiên cứu y sinh học đang hoạt động ở cấp bộ và cấp đơn vị. Ủy ban ở cấp bộ có nhiệm kỳ 5 năm, và chín thành viên. Ủy ban ở cấp đơn vị có nhiệm kỳ 4 năm và có bảy thành viên (Quang, 2007). Ủy ban đạo đức nghiên cứu ở Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc xem xét dự thảo và thông báo cho các nhà nghiên cứu/ các cơ quan nghiên cứu về những quyết định liên quan đến việc nghiên cứu và những vấn đề mà họ quan ngại (Quang, 2007). Tuy nhiên, lĩnh vực hoạt động của các ủy ban này chỉ giới hạn trong Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược TP.HCM. Ở những trường đại học khác, các nhà nghiên cứu y sinh học không cần trải qua thủ tục xét duyệt nào về đạo đức nghiên cứu (Quang, sđd). Vì vậy chúng ta có thể kết luận rằng việc xem xét về mặt đạo đức trong việc thực hiện các nghiên cứu y sinh học ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác đang còn giai đoạn sơ khai và ở mức thấp so với các nước phát triển (Xem bảng 1).      Đạo đức trong Nghiên cứu Khoa học Xã hội   Theo Walton, đạo đức nghiên cứu có truyền thống tập trung vào nghiên cứu y sinh học. Trong những năm gần đây, việc xem xét yếu tố đạo đức trong nghiên cứu khoa học xã hội bắt đầu trở thành mối quan tâm hàng đầu. Điều này có phần là hệ quả của những thay đổi về mặt pháp lý trong vấn đề bảo vệ thông tin và quyền con người, đồng thời là kết quả của mối quan ngại ngày càng tăng trong công chúng về những đòi hỏi còn hạn chế của đạo đức nghiên cứu. Không có lãnh vực nào của hoạt động con người có thể được miễn trừ khỏi những mối quan ngại về đạo đức. Dịch vụ công, y tế và sức khỏe, chăm sóc xã hội, các doanh nghiệp tài chính và thương mại ngày càng được chi phối bằng việc đánh giá những hậu quả đạo đức mà hoạt động của họ có thể gây ra. Các nhà nghiên cứu hoạt động trong các ngành khoa học xã hội như kinh tế học, tâm lý học, xã hội học và y tế có những nguyên tắc riêng của họ về đạo đức và phê chuẩn đạo đức theo các nguyên tắc đó. Ngay cả khi cùng trong một lĩnh vực của khoa học xã hội, mỗi nhà nghiên cứu có một quan điểm khác nhau về vấn đề đạo đức. Bởi vậy không có một tuyên bố nào có thể áp đặt một bộ công thức hay luật lệ cứng nhắc để các nhà nghiên cứu khoa học ở khắp mọi nơi có thể dựa vào. Vì khoa học xã hội rất rộng lớn, có những khác biệt khá lớn trong những vấn đề liên quan đến con người, những phương pháp nghiên cứu mới đang hình thành làm nảy sinh những vấn đề quan trọng nhưng rõ ràng về đạo đức và những nghĩa vụ của người nghiên cứu (Walton). Vì vậy, những vấn đề đạo đức đủ loại khác nhau đang khuấy động việc nghiên cứu khoa học xã hội và việc xây dựng những quy trình thủ tục nhằm phê chuẩn đạo đức vẫn còn ở giai đoạn ban sơ. Bởi thế, tuân theo những phương pháp đạo đức trong nghiên cứu khoa học xã hội vẫn còn là một thách thức đối với các nhà nghiên cứu.   Rubin và Rubin (1995) cho rằng hướng dẫn đạo đức không bao hàm được tất cả những tình huống lưỡng nan mà một nhà nghiên cứu phải đương đầu trong thực tiễn nghiên cứu khoa học xã hội. Vì vậy, bổn phận của người nghiên cứu là tự suy nghĩ và nhận định về trách nhiệm đạo đức của họ. (Patton, 2002). Sự ưng thuận của người cung cấp thông tin trong các nghiên cứu định tính và nghiên cứu xã hội làm đơn giản hóa các thủ tục về đạo đức và các nhà nghiên cứu thấy thế là dễ dàng và có hiệu quả. Tuy vậy, Homan (1992) cho rằng, trong phần lớn các nghiên cứu khoa học xã hội, bổn phận đạo đức bắt đầu và kết thúc với giấy ưng thuận của người cung cấp thông tin cho cuộc nghiên cứu. Trong một số trường hợp, giấy ưng thuận này có vẻ như nhằm bảo vệ người nghiên cứu hơn là bảo vệ người cung cấp thông tin cho cuộc nghiên cứu. Một nhà nhân loại học nói “Tôi sợ rằng giấy ưng thuận của người cung cấp thông tin khi áp dụng máy móc bằng cách dùng một mẫu đơn có sẵn, sẽ trở thành một thứ bảo vệ người nghiên cứu hơn là người được nghiên cứu. Giấy ưng thuận có được bằng cách này có tính chất đơn phương hơn là song phương và bảo vệ ngườii nghiên cứu tránh khỏi những trách nhiệm với những người được nghiên cứu, là những người không hiểu hết nội dung và kết quả của cuộc nghiên cứu” (Fluehr-Lobban, 1998, p.199).   Vì đạt được phê chuẩn đạo đức là điều bắt buộc để thực hiện nghiên cứu ở các nước phát triển, sự gắn bó của các nhà nghiên cứu với thủ tục về đạo đức khó có thể so sánh với các nước đang phát triển. Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở các nước đang phát triển tỏ ra rất ít quan tâm đến thủ tục xin phê chuẩn về đạo đức và rất ít công trình được thực hiện với sự phê chuẩn của ủy ban đạo đức. Sự không nhất quán trong thủ tục xin phê duyệt gây trở ngại cho việc tham gia vào quá trình này của các nhà nghiên cứu. Thêm nữa, tình hình kinh tế và chính trị của các nước đang phát triển cũng làm nản lòng giới khoa học và sinh viên trong việc tuân thủ những thủ tục này.                              Các nước phát triển         Các nước đang phát triển          Nghiên cứu y sinh học            Rất quan tâm đến vấn đề đạo đức                Ít quan tâm đến vấn đề đạo đức              Nghiên cứu KHXH liên quan đến con người          Rất quan tâm đến vấn đề đạo đức                   Không quan tâm đến vấn đề đạo đức                 Figure 1: Research Ethics Matrix.      Kết luận  Hiển nhiên là trong một thế giới phức tạp, đạo đức là một đòi hỏi ngày càng quan trọng hơn, không chỉ đối với y sinh học và y tế công, mà cả đối với lĩnh vực khoa học xã hội  (Ringheim, 1995). Vì vậy các nhà nghiên cứu ở cả những nước phát triển và đang phát triển đều rất cần duy trì một tiêu chuẩn cao về đạo đức. Cần bắt buộc phải có phê chuẩn về đạo đức trước khi bắt đầu cuộc nghiên cứu. Trách nhiệm của Nhà nước là thành lập những ủy ban xem xét về đạo đức nghiên cứu và quản lý quá trình nghiên cứu. Như Ringheim (1994) đã nói, nghiên cứu cần được thực hiện theo những nguyên tắc đạo đức; tôn trọng con người, hướng thiện, công bằng và không có tính chất phi pháp.    Phạm Thị Ly dịch     Reference:  Calman, K. C. (2002), “Communication of risks: choice, consent, and trust”, Lancet, vol. 360, pp. 166-68  Christakis, N.A. (1992), “Ethics are Local; Engaging Cross-Cultural Variation in the Ethics for Clinical Research”, Social Science and Medicine, vol. 35, no. 9, pp. 1079-1091.   Council for International Organizations of Medical Sciences. International ethical guidelines for biomedical research involving human subjects. Geneva. Council for International Organization of medical Sciences; 1993.  Draper, H. and Wilson, S. (2007), “Research Ethics Approval: Comprehensive Mechanisms are Essential but Not Available”, Family practice, vol. 24, pp. 527-228.      Fluehr-Lobban, C. (1998). Ethics. In H. R. Bernard (Ed.), Handbook of Methods in Cultural Anthropology (pp. 713-201). London: Alta Mira Press.   Forum for Ethical Review Committees in Asia and the Western pacific, FERCAP Newsletter, 2008.   Homan, R. (1992), “The Ethics of Open Methods”, The British Journal of Sociology, vol. 43, no. 3, pp. 321-332.   Kalantri, S.P. (2003), “Ethics in Clinical Research”, Indian Journal of Anaesthesia, vol. 47, no. 1, pp. 30-32.  Kanungo, R. (2006), “Ethics in Research”, Indian Journal of Medical Microbiology, vol. 24, no. 1, pp. 5-6.  Patton, M. (2002), Qualitative Research and Evaluation Methods. (3rd ed.), Thousand oaks: Sage.   Quang, N.N. “Ethical Aspects of Biomedical Research”, Symposium Proceedings; A Two Day Workshop on Implementing Clinical Research in Vietnam: A Dialogue on the Current Regulations of the Ministry of Health Held at Hanoi, Vietnam, 2007, pp. 9-12.   Redshaw, M.E., Harris, A. and Baun, J.D. (1996), “Research Ethics Committee Audit: Differences Between Committees”, Journal of Medical Ethics, vol. 22, pp. 78-82.   Research Ethics Framework, Economic and Social Science Research Council Report, (2003), pp. 1-36.  Ringheim, K. (1995), “Ethical Issues in Social Science Research with Special Reference to Sexual Behaviour Research”, Social Science and Medicine, vol. 40, no. 12, pp. 1691-1697.    Rubin, H. and Rubin, I. (1995), Qualitative Interviewing: The Art of Bearing Data, Thousand Oaks, CA: Sage.   Walton, “What is Research Ethics”, http://www.researchethics.ca/what-is-research-ethics.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề thể chế      Khác với kinh tế quản lý tập trung, nền kinh tế thị trường tuân theo quy luật cung cầu. Thị trường nhân dụng cũng không ngoại lệ. Chúng luôn dịch chuyển từ chỗ thừa sang chỗ thiếu để lập thế cân bằng mới cả về cơ cấu lẫn số lượng, trong khi đó cả về chính sách lẫn nhận thức dân chúng nước ta chưa hẳn sẵn sàng thích ứng với quy luật lưu thông chất xám trong thời đại toàn cầu hoá mà vẫn nặng kỳ thị nó coi đó là chảy máu chất xám.      *Phần I: Sự kiện 12/13 thủ khoa Việt Nam ở lại  Cuộc thi kiến thức Đường lên đỉnh Olympia dành cho học sinh trung học phổ thông của VTV3, tổ chức từ năm 1999 đến nay đã qua 14 năm. Ngoài phần thưởng, các nhà vô địch hằng năm còn được Đại học Kỹ thuật Swinburne Úc trao tặng 100% học bổng. Trong số 13 thủ khoa đã tốt nghiệp có đến 12 ở lại làm việc, như Trần Ngọc Minh, tốt nghiệp chuyên ngành telecom, làm việc ở Canberra. Võ Văn Dũng, ngành Information Systems & Business (Accouting), làm kế toán ở Melbourne. Đỗ Lâm Hoàng chuyên ngành Telecom, làm việc tại Melbourne…. Duy nhất nhà vô địch 2011, Lương Phương Thảo, trở về Việt Nam sinh sống. Sự kiện trên trở thành tin hot được dư luận quan tâm tranh cãi nhiều chiều gắn với hiện tượng toàn cầu, mà giới chỉ trích gọi là „chảy máu chất xám“ tức mất chất xám. Thuật ngữ này dịch từ tiếng Anh: human capital flight, hoặc brain drain, dùng để chỉ trích dòng di cư nguồn nhân lực bậc cao giữa các nước, dồn về các nước giàu. Dư luận càng quan tâm hơn khi ông Trần Ngọc Phi Long, 31 tuổi, Phó Phòng Hợp tác quốc tế, Sở Ngoại vụ Cần Thơ, từng học thạc sĩ chuyên ngành „quản lý quan hệ quốc tế“ tại Anh theo đề án 150 của Cần Thơ, được cử đi công tác tại Canada đầu tháng 7.2014, không về nước, viết thư xin nghỉ việc. Trong khi đó đề án 150 quy định người được du học bằng ngân sách phải cam kết làm việc cho địa phương thời hạn bằng ba lần thời gian học tập, làm cho luồng dư luận phản đối ông Long có thêm căn cứ pháp lý. Trước đó, ông Nguyễn Tất Thạch, cán bộ Trung tâm Công nghệ thông tin, thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Thuận, nhân dịp nghỉ lễ 30/4, 1/5 đi tour du lịch sang Hàn Quốc không trở về. Cũng như trường hợp trên, luồng dư luận phản đối căn cứ vào văn bản 1665/UBND – SNV ngày 8/5/2013 quy định cán bộ, công chức viên chức nghỉ phép đi tham quan, du lịch nước ngoài phải được Giám đốc Sở Nội vụ cho phép. Những thành phần trên, dù nhìn dưới góc độ chảy máu chất xám hay không, cũng chỉ là 1 phần nhỏ trong tổng số gần 4 triệu người Việt, gốc Việt, hiện định cư ở nước ngoài, nằm trong quy luật di cư của xã hội loài người.  *Phần II: Quy luật di cư  Hiện tượng di chuyển nơi cư trú (di cư, hay di trú) gắn liền với loài người từ nguyên thủy, dần hình thành các tộc chủng phân bố khăp năm châu. Và cũng như trái đất, nó trở thành quy luật vận động không ngưng nghỉ. Tích gốc người Việt từ con rồng cháu tiên, 50 người xuống biển, 50 lên rừng tỏ ra không ngoại lệ. Do đặc tính dị dưỡng, chưa nói người, đến động vật cũng vậy, tới độ hình thành cả loài chim di trú; di cư vì vậy có thể coi là quy luật „đất lành chim đậu“ không thể cưỡng. Không phải vô cớ bài hát „Trái đất này là của chúng mình“, cuốn hút trẻ em ước ao tới vậy !  Theo số liệu UN, năm 2005 thế giới có tới 190 triệu người di cư, chiếm 3% dân số toàn cầu.   Khảo cứu các nước OECD năm 2012 cho kết quả, con số nhập cư dôi (hiệu số đầu vào trừ đầu ra) ở Mỹ đứng đầu trên 1.000.000 người. Đức thứ 2 chừng 400.000, Anh Quốc 300.000 thứ 3; đứng cuối cùng Mexico 20.000, thứ hạng trước đó Phần Lan 23.000.     *Phần III: Quy luật lưu thông chất xám  Con người sinh ra để mưu sinh, di cư chính nhằm thay đổi hẳn cuộc sống, tìm đất lành chim đậu. Nhất là khi bị đe doạ sinh tồn, như chiến tranh, thiên tai, đàn áp. Hoặc do  kỳ vọng hay tìm thấy ở quốc gia mới môi trường làm việc phát huy được năng lực, thu nhập thích ứng, điều kiện xã hội mọi mặt bảo đảm chất lượng cuộc sống, thường xảy ra đối với lao động bậc cao – được gọi là „chất xám“. Chất xám chảy máu hay đó chỉ là sự lưu thông toàn cầu như bất kỳ thị trường nào, vốn, hàng hoá, tiền tệ… hoàn toàn do thể chế kinh tế chính trị quyết định. Trước đây không xảy ra hiện tượng di cư chất xám toàn cầu tới mức như hiện nay, do một nửa thế giới áp dụng nền kinh tế quản lý tập trung, đặc trưng của các nước xã hội chủ nghĩa. Theo đó, kế hoạch nhân lực do nhà nước phân bổ quản lý, cá nhân không được quyền và không thể tự do tìm, làm việc ở quốc gia khác; vượt ngoài giới hạn đó nhẹ bị coi là lưu vong, nặng quy kết về chính trị. Đề án 150 Cần Thơ và công văn 1665/UBND – SNV Bình Thuận  đặt ra quy định đối với nhân sự họ liên quan tới làm việc ở nước ngoài, và luồng dư luận phản đối những người đó có thể nhìn nhận dưới góc độ trên. Như vậy cả về chính sách lẫn nhận thức dân chúng nước ta chưa hẳn sẵn sàng thích ứng với quy luật lưu thông chất xám trong thời đại toàn cầu hoá mà vẫn nặng kỳ thị nó coi đó là chảy máu chất xám. Khác với kinh tế quản lý tập trung, nền kinh tế thị trường tuân theo quy luật cung cầu. Thị trường nhân dụng cũng không ngoại lệ. Chúng luôn dịch chuyển từ chỗ thưà sang chỗ thiếu để lập thế cân bằng mới cả về cơ cấu lẫn số lượng. Tốc độ có thể rất nhanh, như kết qủa UN thống kê 60 năm qua cho thấy số nhập cư dôi thay đổi chỉ trong vài ba năm. Đức năm 2009 mới đứng thứ 8, năm 2012 đã lên thứ 2, sau Mỹ. Dịch chuyển không theo một hướng mà mang tính thuận nghịch như xuất nhập khẩu; năm 2013 Đức có 1.226.000 triệu người nhập cư, thì cũng có tới 789.000 người Đức di cư ra nước ngoài. Không đâu là đất lành vĩnh viễn cho mọi con người! Thậm chí mang tính lặp lại, di cư rồi  nhập cư trở lại; trong tổng số người nhập cư vào Đức nói trên có tới 110.000 người Đức di cư trước kia nay hồi hương. Nguyên lý thuận nghịch và lặp lại, hay nói cách khác „lưu thông chất xám“, giúp tạo nên thị trường nhân dụng thế giới cân bằng động, không nước nào „chết hẳn“ vì mất chất xám và cũng không nước nào „bội thực“ vì quá nhiều. Còn chênh lệch là quy luật tất yếu của xã hội loài người, giống như giàu và nghèo, chính nó lại tạo ra động lực khắc phục nó, thúc đẩy vận động phát triển, tương tự như trong nhiệt động học, chênh lệch nhiệt độ là động lực quyết định tốc độ truyền nhiệt.  *Phần IV: Thực tế nhập cư một số nước  Quy luật lưu thông chất xám không chỉ phát huy tác dụng ở nước giàu như Đức. Khác với chảy máu chất xám là mất nó, lưu thông chất xám giúp cho nước nghèo phát triển; trong số 3-4 triệu người Việt di cư ra nước ngoài, hiện hàng năm có trên 10 tỷ đô la ngang ngửa thu ngân sách nước ta, đổ về nước. Kèm theo đó, bao cá nhân, gia đình, nhà kinh doanh, cùng công ty nước ngoài, mang theo kiến thức công nghệ thiết bị về nước lập nghiệp (đáng tiếc thiếu số liệu thống kê để lượng hoá). Chưa nói những nhân vật tên tuổi thế giới sống ở nước ngoài như Ngô Bảo Châu đã và đang đóng góp cho đất nước.  Trung Quốc là nước hội nhập lưu thông chất xám có kết qủa hàng đầu thế giới; chấp nhận chảy máu chất xám ban đầu, thu lại chất xám về sau, biến nó thành lưu thông chất xám 2 chiều, thông qua khuyến khích học sinh du học, làm việc ở nước ngoài, thậm chí nhập quốc tịch hay kết hôn, rồi ưu đãi chào mời họ trở về. Từ những năm 1980 đến 2007, trên 2/3 số du học sinh Trung Quốc không về nước làm việc, 88% sinh viên du học tại Mỹ ở lại lâu dài ít nhất 5 năm. Năm 2012 có tới 72% chuyên gia Trung Quốc tới Mỹ bổ túc kiến thức, không trở về.  Ở Nga, trong vòng 10 năm hậu Xô Viết, ước từ 500.000 tới 800.000 chuyên gia Nga sang các nước phương Tây lập nghiệp. Hoa Kỳ là quốc gia hàng đầu thu hút nguồn chất xám; năm 2012,  trong ngành y cứ 4 bác sĩ có một nhập cư. Anh thuộc quốc gia hiện đại, nhưng 1/3 trong số 3,3 triệu người Anh di cư ra nước ngoài có bằng đại học.   Trong gần 3.000 công dân Pháp lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, có tới 70% ở lại tương đương tỷ lệ ở lại của du học sinh Việt Nam, chứng tỏ chất xám lưu thông không hẳn cứ từ nước nghèo tới nước giàu.    *Phần V: Tham khảo chính sách và thị trường chất xám ở Đức  Thị trường không phải một chiếc bánh để chia đều, hay phúc lợi nhà nước phải bảo đảm như nhau cho mọi người, mà là nơi cạnh tranh giành lợi nhuận, kể cả thị trường nhân dụng. Quốc gia nào tạo nên thị trường hấp dẫn, quốc gia đó sẽ vượt trội. Có thể tham khảo chính sách thu hút chất xám Đức, không phải bằng chủ trương chung chung hay mỹ từ kêu gọi, mà được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, tự động, trên cơ sở Luật Lưu trú (AufenthG) và nghị định Quyền Làm việc (BeschV), áp dụng cho sinh viên nước ngoài, đã tốt nghiệp đại học, các khoa học gia được mời, các trí thức, lao động nước ngoài bậc cao khác ngoài EU (trong EU được coi như người Đức). Theo Điều 16 Luật AufenthG, sinh viên nước  ngoài học dự bị tiếng Đức sau năm thứ 1 và khi học chính thức không cần giấy phép của Cơ quan Lao động Đức cấp, được làm việc 120 ngày hoặc 240 nửa ngày / năm, không kể ngày lễ, cuối tuần, hay các công việc cộng tác khoa học, phụ trợ trong trường. Với luật lương tối thiểu áp dụng từ năm tới, 8,50 Euro/giờ, họ dễ dàng đảm bảo cuộc sống, chi phí học tập chưa kể hỗ trợ gia đình, và đặc biệt qua đó hoà nhập vào xã hội Đức, làm nền tảng cho họ tự quyết định dễ dàng nên ở lại hay hồi hương sau khi học, không bị thụ động đứng giữa đôi dòng nước.   Sinh viên các nước trong kỳ nghỉ hè sang Đức mỗi năm được phép làm việc 3 tháng (Điều 10 BeschV). Đó là cơ hội để họ tìm hiểu thị trường lao động Đức. Sinh viên nước ngoài thực tập trong khuôn khổ trao đổi giữa 2 nhà nước, được phép làm việc 1 năm không cần giấy phép lao động (Điều 2, BeschV).   Sinh viên nước ngoài học ở Đức, sau khi tốt nghiệp được cấp giấy phép lưu trú 18 tháng để tìm việc (Điều 16 Aufenth G). Nếu tìm được, sẽ được cấp giấy phép lưu trú có thời hạn ở Đức để làm việc (Điều 18 AufenthG). Sau 2 năm, được cấp giấy phép lưu trú vô thời hạn, tức định cư ở Đức (Điều 18 b Aufenth G). Nghĩa là nhà nước tạo mọi điều kiện cho sinh viên nước ngoài hoà nhập dần vào xã hội Đức từng cấp bậc một từ khi nhập học cho đến khi định cư hẳn. Giải thích tại sao đa phần sinh viên nước ngoài sau khi tốt nghiệp ở lại Đức, tới 2/3; số còn lại hồi hương do hoặc không tìm được chỗ làm việc, hoặc sẵn chỗ hưá hẹn trong nước tốt hơn, hoặc vì hoàn cảnh cá nhân.  Các nhà khoa học sang Đức nghiên cứu cộng tác sẽ được cấp giấy phép để lưu trú ở Đức với mục đích làm việc tiếp tục, nếu họ được nhận làm nhân viên nghiên cứu, giảng dạy, kỹ sư, kỹ thuật viên tại các trường đại học, cơ sở khoa học Đức, hoặc cơ sở tương tự (Điều 5 BeschV, Điều 18 AufenthG). Những người khác chưa được nhận vẫn được cấp giấy phép lưu trú tương tự, nếu họ có kiến thức chuyên môn đặc biệt có lợi cho xã hội Đức. Chính sách trên chính xuất phát từ nguyên lý sâu xa, nền kinh tế hiện đại còn được gọi là nền kinh tế trí thức, nên khả năng cạnh tranh của nó tùy thuộc vào lợi thế chất xám, cần phải thu hút. Những trường hợp như ông Nguyễn Ngọc Phi Long, hay ông Nguyễn Tất Thạch, hay bất cứ ai tương tự nếu nhìn từ góc độ chính sách nhà nước Đức nói trên, sẽ thấy đó là quy luật tất yếu; cá nhân bị nó chi phối chứ không thể chi phối lại. Tương tự các nhà khoa học trên, theo Điều 20 AufenthG và Quy phạm EU, các nhà nghiên cứu ngoại quốc được cấp giấy phép lưu trú với mục đích nghiên cứu nếu có các cơ sở nghiên cứu ở Đức tiếp nhận làm việc với mức lương tối thiểu 1.750 Euro/tháng (phiá Tây), 1.493,33 Euro/tháng (phiá Đông), nghĩa là thị trường tuyển dụng không chỉ ở Đức mà vươn ra toàn cầu. Cũng vậy các nhà khoa học hay giảng dạy ngoại quốc có kiến thức chuyên môn nổi trội hoặc ở vị trí lãnh đạo, muốn sang Đức làm việc, sẽ được cấp  giấy phép lưu trú vĩnh viễn, không cần điều kiện mức lương tối thiểu (Điều 19 AufenthG). Người nước ngoài có bằng đại học được phép sang Đức tìm việc 6 tháng nếu tự bảo đảm được cuộc sống trong thời gian đó (Điều 18 AufenthG).  Để ở lại làm việc tiếp tục, họ được cấp giấy phép lưu trú đặc biệt gọi là thẻ xanh EU, với điều kiện mức lương tối thiểu phải bằng 2/3 mức thu nhập giới hạn trên trong đóng bảo hiểm hưu trí nhà nước. Sau 33 tháng làm việc sẽ được cấp giấy phép lưu trú vô thời hạn (Điều 19a AufenthG). Ngay cả những người không được cấp thẻ xanh do không đạt mức lương tối thiểu cũng có thể được cấp giấy phép lưu trú để làm việc, nếu được cơ quan quản lý lao động đồng ý (Điều 27 BeschV). Người lao động bao giờ cũng gắn với gia đình, để thu hút lao động bậc cao yên cư lạc nghiệp thì phải bảo đảm gia đình họ được đoàn tụ. Người đoàn tụ cũng được cấp giấy phép lưu trú, làm việc và hưởng mọi tiêu chuẩn an sinh như mọi công dân Đức (Điều 2-15 BeschV).  Nhờ chính sách được luật hoá thành hành lang pháp lý trên, mà Đức hiện đứng hàng thứ 2 thế giới về nhập cư dôi, không chỉ thu hút chất xám thế giới mà còn bù đắp được vấn nạn dân số giảm 200.000 người mỗi năm do số người chết cao hơn số người sinh; hoà nhập họ như công dân Đức, nói cách khác công dân hoá lao động bậc cao nước ngoài.   *Phần VI: Còn chính sách nước ta?   Nước ta chưa thể mong, và đủ khả năng công dân hoá lao động bậc cao nước ngoài như Đức vốn còn qúa xa vời, nhưng đối với lao động bậc cao người Việt và gốc Việt ở nước ngoài thì sao? Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không quốc gia nào dùng được biện pháp hành chính để điều khiển thị trường lao động như trong nền kinh tế quản lý tập trung cả, mà chỉ có thể điều chỉnh chính mình để thích ứng với thị trường đó. Khác hẳn mọi thị trường khác mang tính vật chất nằm ngoài con người, thị trường lao động nằm trong chính mỗi con người, vì vậy chỉ có thể thích ứng với thị trường đó khi nước ta hội nhập đầy đủ thể chế kinh tế, xã hội thế giới. Mà điều kiện tiên quyết làm nền tảng cho nó, bước đi đột phá đầu tiên, có thể coi như thí điểm, chính là chính sách hoà nhập lao động tái nhập cư, bảo đảm bình đẳng, không phân biệt người Việt trong hay ngoài nước, như nhà nước  Đức không hề phân biệt đối với người Đức ở nước ngoài hay công dân nước ngoài sống ở Đức. Đơn thuần như kết hôn thôi, hoàn toàn riêng tư, không phải đại sự quốc gia gì, ở Đức người Đức đăng ký ở đâu người nước ngoài cũng đăng ký ở đó. Nhưng nước ta phân biệt, ai quốc tịch nước ngoài đều phải tới Sở Tư pháp tỉnh thành, kể cả gốc Việt, lẫn người Việt định cư, còn người dân chỉ cần tới ủy ban phường xã. Chẳng nhẽ chính giới ta không ai nhận ra hai thế giới người Việt trong một quốc gia Việt qua từng hiện tượng riêng lẻ như thế cộng lại – cái gọi là chính sách trên thực tế ? Chỉ cần đạt được điều kiện tiên quyết trên thôi thì đã thu hút được bao lao động bậc cao Việt ở nước ngoài. Một khi sống ở đâu làm gì không còn phải lưỡng lự do bị phân biệt, ắt họ sẽ tự động chọn „quê hương là chùm khế ngọt“ mà không cần bất cứ một ưu đãi ưu ái lợi ích nào ở Việt Nam vốn không thể nào cao hơn các quốc gia hiện đại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa tổ chức trong cải cách giáo dục đại học      C&#225;c nh&#224; l&#227;nh đạo đều nhận thức được rằng, đ&#224;o tạo ra &#8220;con người&#8221; với đầy đủ c&#225;c kỹ năng, tri thức, đạo đức v&#224; thể lực l&#224; c&#225;ch tốt nhất để cạnh tranh với c&#225;c quốc gia kh&#225;c, để x&#227; hội ph&#225;t triển bền vững.  V&#224; một trong những giải ph&#225;p quan trọng nhất l&#224; cải c&#225;ch gi&#225;o dục đại học. V&#224; để c&#243; thể th&#224;nh c&#244;ng trong việc n&#224;y cần hết sức quan t&#226;m đến văn h&#243;a tổ chức-&nbsp; một r&#224;o cản lớn trong cải c&#225;ch gi&#225;o dục đại học hiện nay.    Chúng ta hãy thử cùng nhau điểm qua một vài nỗ lực “cải cách giáo dục” trên thế giới trong những năm gần đây (Vì trong khuôn khổ bài viết có hạn, nên tôi chỉ xin nêu và bình luận những ví dụ liên quan đến giáo dục đại học – cũng là cấp giáo dục quan trọng nhất, lớn nhất, phức tạp nhất và luôn được xem là khó cải tổ nhất trong các cấp học).  Tại Hàn Quốc, ngay sau chiến tranh, Chính phủ nước này đã rất chú trọng đầu tư cho giáo dục. Trong vòng 10 năm, từ 1975 đến 1986, ngân sách đầu tư cho giáo dục tại nước này đã tăng từ 220 tỷ Won (2,2% GNP) lên tới 3,76 nghìn tỷ Won (chiếm 4,5% GNP)(1) – mà một phần rất lớn đã được chi cho giáo dục đại học. Một loạt các trường đại học của Hàn Quốc mới được thành lập, ngay lập tức đã vươn tới tiếp cận trình độ quốc tế. Có thể nói không ngoa rằng, giáo dục đại học, chính là điểm tựa để “con rồng” Hàn Quốc bay xa, trở thành một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Cũng mới đây thôi (2007), Chính phủ Hàn Quốc lại vừa cho khởi động một chương trình cải tổ sâu rộng nhất trong vòng 37 năm trở lại đây, khi họ quyết tâm biến Viện Đại học KAIST (Korea Advanced Institute of Science and Technology) thành Trung tâm Khoa học – Công nghệ đẳng cấp quốc tế mạnh nhất vùng Đông Á. (2)  Tại châu Âu, năm 2003, các hiệu trưởng từ 900 trường đến từ 29 nước đã cùng nhau ký vào bản Tuyên bố Bologna(3), có thể coi là một cuộc Cách mạng về Giáo dục Đại học lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu đã ca ngợi Tuyên bố này đã biến cả châu lục trở thành một “Hợp chủng quốc Âu châu”, tại đó, các nhà quản lý giáo dục đã đi trước rất xa trước các chính trị gia (trong 900 trường ký vào bản tuyên bố, có cả những trường đến từ các nước chưa nằm trong khối liên minh châu Âu EU). Và người ta tin rằng, kể từ đây, vấn đề chảy máu chất xám (sang Hoa Kỳ) và các vấn đề về nguồn nhân lực tại châu Âu sẽ được giải quyết.  Quay lại với Ả rập Xê Út, nơi mà từ lâu vẫn được coi là gã nhà giàu thừa tài nguyên, lắm của cải và ít quan tâm đến vấn đề giáo dục; thì nay, mọi chuyện đã khác. Nhận thấy cần phải chủ động tạo “vốn con người”, đầu năm nay, vua Abdullah vừa ký quyết định thành lập Trung tâm Đại học KAUST (King Abdullah University of Science and Technology) (4) với vốn khởi điểm 10 tỷ USD (ngay lập tức trở thành đại học có nguồn tài chính đứng hàng thứ 6 trên thế giới) với chỉ 5 ngành học là: Kỹ sư hóa, Toán ứng dụng, Kỹ sư cơ học, Khoa học vật liệu, Kỹ sư xây dựng và môi trường – đều là 5 ngành rất thiết thực cho nền kinh tế phần lớn chỉ dựa vào Dầu mỏ ở Ả Rập Xê Út.  Và nếu chịu khó lướt qua một vài trang mạng chuyên san về giáo dục như The Higher Chronicle of Education, Education News, Times Higher Education Suplement… thì có thể kể ra rất nhiều các cuộc “đại phẫu”, “tiểu phẫu” đã, đang và sẽ diễn ra tại các đại học khắp nơi trên thế giới. Chỉ có điều, không phải cuộc cải cách nào cũng thành công, thậm chí không ít cuộc cải cách đã thất bại.  Vậy, liệu các đại học của Việt Nam có thể học hỏi được gì từ những bài học cải cách đại học đã diễn ra?     Vấn đề văn hóa tổ chức?  Thực ra, ai cũng hiểu khi cải cách, thì phải làm những bước gì: Rà soát lại thực trạng – Đặt cho mình một mục tiêu – Chuẩn bị các nguồn lực – Lên các kế hoạch ngắn hạn để ưu tiên thực hiện trước – và cuối cùng Kiên trì theo đuổi.  Nói thì dễ nhưng làm lại khó, bởi hình như càng sửa lại càng sai, mà đã sai thì lại phải sửa. Và cuối cùng dẫn đến một thực trạng là “Thay vì cải cách làm thay đổi trường đại học, thì các trường đại học lại thay đổi sự cải cách”(5) và do đó, các cuộc cải cách vẫn cứ diễn ra triền miên, từ năm này qua năm khác.   Nguyên nhân là ở đâu? Không có mục tiêu ư? Không có đủ các nguồn lực ư? Rõ ràng đó không phải là những nguyên nhân chính bởi thực tế rằng, chúng ta đã bỏ ra rất nhiều tiền để cải cách, và chưa có cuộc cải cách nào là không có mục tiêu cả. Vậy thì hình như là tại chúng ta chưa kiên trì và chưa lựa chọn tốt các kế hoạch ngắn hạn đúng đắn? Điều này đúng. Bởi một khi chúng ta bắt đầu cải cách một đại học, chúng ta thường gặp phải một “kẻ phá bĩnh ngầm”, nhưng lại có sức mạnh vô cùng khủng khiếp, đó là “văn hóa tổ chức” nội tại của chính đại học đó.  Văn hóa tổ chức là gì? Vai trò của nó là như thế nào đối với các kế hoạch ngắn hạn? Tại sao nó có thể mài mòn biết bao nỗ lực và cố gắng của chúng ta?    Văn hóa tổ chức là truyền thống, là thói quen, là quan niệm và cách nhìn nhận của các thành viên trong tổ chức đó. Văn hóa tổ chức chi phối mối tương tác giữa các cá nhân trong tổ chức và giữa các cá nhân trong tổ chức với xã hội bên ngoài; qua đó tạo nên các chuẩn mực đạo đức trong tổ chức đó. Và một khi người ta muốn cải cách một trường đại học, tức là người ta sẽ phải thay đổi truyền thống, thói quen, quan niệm, cách nhìn nhận và cả các chuẩn mực đạo đức ở đại học đó. Tuy nhiên, nghịch lý lại là ở chỗ, trong phần lớn các trường hợp, các cá nhân thường không ý thức được sự tồn tại của văn hóa tổ chức trong các hoạt động của họ. Và đó chính là nguyên nhân gốc rễ của vấn đề: Văn hóa tổ chức là rào cản lớn nhất cho các cuộc cải cách diễn ra tại các đại học ngày nay.   Trên cơ sở mối quan hệ là sự tương tác giữa các thành viên trong một tổ chức, văn hóa tổ chức đại học bao gồm những thành tố sau đây: 1) Sự tương tác giữa các cán bộ trong trường đại học (các nhà lãnh đạo, giáo viên và chuyên viên hành chính); 2) Sự tương tác giữa các sinh viên trong trường đại học; 3) Sự tương tác giữa các cán bộ và sinh viên trong trường đại học; 4) Sự tương tác giữa cán bộ của trường đại học với phụ huynh sinh viên; 5) Sự tương tác giữa cán bộ của trường đại học với xã hội bên ngoài; và 6) Sự tương tác giữa sinh viên của trường đại học và xã hội bên ngoài.   Như đã nói ở trên, vì trong phần lớn các trường hợp, các cá nhân thường không ý thức được sự tồn tại của văn hóa tổ chức, do 6 thành tố kể trên sẽ chi phối “ngầm” mọi hoạt động của đại học. Một khi cải cách diễn ra, ở một bước nào đó mà không phù hợp với 1 trong 6 thành tố trên thì nó sẽ có nguy cơ bị thất bại.     Bài học từ những trường hợp thành công và thất bại  Quay trở lại với trường hợp Hàn Quốc, trong thực tế, trước KAIST, nước này đã thất bại trong một kế hoạch cải cách đại học khác từ một thập kỷ trước đó. Thống kê cho thấy, vào thời điểm đó, lượng sinh viên Hàn Quốc du học lên tới gần hơn 400.000. Ước tính, hằng năm họ thất thoát khoản chi phí dành cho du học lên tới 3-4 tỷ USD. Để khắc phục tình trạng “chảy máu chất xám sinh viên”, tại thời điểm đó, Chính phủ Hàn Quốc một mặt tăng cường trợ cấp cho các trường đại học dạy bằng tiếng Anh, mặt khác hỗ trợ các nỗ lực thu hút nhiều hơn các giáo sư nước ngoài. Tuy vậy, những nỗ lực này dường như vẫn chưa đạt được hiệu quả như ý. Năm 2007, báo cáo của Bộ giáo dục Hàn Quốc cho biết 23 trường đại học trên cả nước chỉ thu hút được 22 giáo sư nước ngoài về giảng dạy. Từ bài học này, nếu xét trên góc độ văn hóa tổ chức, thì rõ ràng các nhà lãnh đạo của Hàn Quốc đã không chú ý hoặc ý thức được việc: Liệu các giáo sư nước ngoài có hòa nhập được với các đồng nghiệp người bản địa hay không (thành tố thứ 1)? Liệu các giáo sư nước ngoài có thích ứng được với cuộc sống ở Hàn Quốc hay không (thành tố 2)? Khi mà người Hàn Quốc vốn ít nhiều vẫn mang nặng tính cách bài ngoại đã ăn sâu trong tiềm thức.            Một số cải cách giáo dục đại học đáng chú ý:  1950: Hoa Kỳ thành lập Trung tâm Quỹ Khoa học Quốc Gia (National Science Foundation) với mục đích thúc đẩy liên kết giữa các trường đại học với các doanh nghiệp và quân đội.  1984: Chính phủ Nhật thành lập Hội đồng cải cách giáo dục đại học  1986: Quốc Hội Trung Quốc công bố bản Quy định tạm thời về quản lý giáo dục đại học kéo theo một loạt thay đổi trong các trường đại học Trung Quốc.  2003: 900 đại học châu Âu ký vào bản Tuyên bố Bologna thỏa thuận việc quy chuẩn về bằng cấp giữa các đại học, đồng thời xây dựng hệ thống tín chỉ chung ECTS.  2003: Úc công bố bản báo cáo Nelson (Nelson Report) trong đó ban hành một số thay đổi về cách thức quản lý các đại học công và mối quan hệ giữa các đại học công và đại học tư, đại học quốc tế.  2007: Chính phủ Pháp ban hành Luật số 2007-1199 về quyền tự do và trách nhiệm của các trường đại học trong đó trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các đại học công.  2007: Hàn Quốc triển khai dự án Đại học KAIST với quyết tâm trở thành trung tâm đại học của Đông Á.  2008: A Rập Xê Út thành lập Đại học KAUST với vốn hoạt động lên tới 10 tỷ USD (đứng hàng thứ 6 trên thế giới)  2008: Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất thực hiện chính sách mời các chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ về làm hiệu trưởng các trường đại học của nước này nhằm chuẩn bị cho việc cải cách trong tương lai gần.               Nhìn sang bài học từ châu Âu, lại cho thấy một trường hợp khác hẳn. Các nhà lãnh đạo khi khởi xướng ra Tuyên bố Bologna, ngay từ ban đầu đã ý thức được vai trò của văn hóa. Họ cho rằng: “Ngày nay, còn quá nhiều sinh viên các nước chúng ta lấy được bằng cấp mà chưa hề được hưởng một thời gian học tập bên ngoài biên giới nước mình.” và “Ngày xưa, sinh viên và giáo sư tự do đi lại và nhanh chóng phổ biến kiến thức của mình trên toàn lục địa.” Chính nhờ truyền thống vốn có từ “ngày xưa”, mà các đại học châu Âu mới có thể đi đến thống nhất nhanh đến vậy. Ngay lập tức, hệ thống tín chỉ ECTS – được coi là chuẩn mực liên thông trên khối giờ học tập – giữa 900 trường. Bằng cấp tại nước này được công nhận tại nước khác. Do đó, tại châu Âu hiện nay, một sinh viên hoàn toàn có thể làm được một việc như sau một cách dễ dàng, nếu muốn: học năm thứ 1 tại Pháp, năm thứ 2 tại Hy Lạp, năm cuối đại học tại Thụy Sỹ, năm thạc sỹ tại Tây Ban Nha và làm nghiên cứu sinh tại Thụy Điển – một tình huống không tưởng so với trước kia. Và với công bố này, các đại học châu Âu đã và đang giải quyết được những vấn đề cơ bản sau đây: 1) Nâng cao được tầm hiểu biết văn hóa và ngoại ngữ cho sinh viên; 2) Nâng cao chất lượng dạy và học; 3) Nâng cao được chất lượng nghiên cứu khoa học; 4) Tạo được sự cạnh tranh đáng kể với các nền giáo dục mạnh khác như Nhật Bản, Hoa Kỳ; 5) Giải quyết được bài toán“lưu động chất xám”, giảm tình trạng thất nghiệp và chảy máu chất xám.    Người lãnh đạo và yếu tố thời gian…  Có thể khẳng định, trong trường hợp lý tưởng nhất, mọi thành viên của đại học đều phải quan tâm đến văn hóa tổ chức, hay nói đúng hơn là họ phải ý thức thấu đáo về sự tồn tại và ảnh hưởng của văn hóa tổ chức trong quá trình cải cách (thực tế cho thấy điều này không bao giờ xảy ra), trong đó người hiệu trưởng phải dành sự quan tâm đặc biệt tới khía cạnh này.   Sau khi đã có mục tiêu, đã chuẩn bị được các nguồn lực cần thiết về con người, tài chính, cơ sở vật chất. Các hiệu trưởng thường lúng túng trong việc lựa chọn (hoặc lựa chọn sai) những kế hoạch ngắn hạn cần làm trước (trường hợp các đại học ở Hàn Quốc). Đôi khi, nhiều cuộc cải cách thất bại ngay sau khi đã thành công bước đầu do các hiệu trưởng hấp tấp “đốt cháy giai đoạn”, và nhảy qua một vài bước mà đáng ra họ cần phải thực hiện – nếu tính đến vai trò của văn hóa tổ chức.  Ví dụ sau đây có thể nói là rất điển hình tại Việt Nam và các nước có nền đại học kém phát triển.   Nhiều hiệu trưởng sau khi đi thăm quan các đại học nước ngoài, bị ấn tượng bởi hệ thống thư viện và kho tài liệu mở hiện đại, phong phú của họ – lúc nào cũng chật cứng sinh viên và giảng viên. Khi trở về, các nhà lãnh đạo cho tập trung các nguồn lực để cải tổ lại hệ thống thư viện của trường mình. Nhưng, ngay cả khi thư viện đã có nhiều sách và tài liệu, thì số lượng sinh viên đến mượn sách vẫn rất thưa thớt; bởi sinh viên của chúng ta không có thói quen lên thư viện đọc sách ngay sau giờ học giống như các sinh viên quốc tế (thành tố thứ 1). Trong khi đó, một số sinh viên chăm chỉ lên thư viện mới, họ lại thường phàn nàn về đội ngũ thủ thư làm việc kém chuyên nghiệp (thành tố thứ 2) và vô trách nhiệm (thành tố thứ 3).   Trường hợp của đại học Hoa Sen, TP HCM lại cho ta một ví dụ khác hẳn.  Với quan điểm nếu sinh viên có thể xưng “tôi” với giảng viên sẽ làm xóa nhòa quan hệ thứ bậc, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo; từ lâu, ban lãnh đạo trường đã khuyến khích việc làm này. Mới đây nhất, một cuộc tọa đàm do đại học này tổ chức mang tên “Có nên xưng ‘tôi’ với thầy, cô” (6) đã thu hút được sự quam tâm của giới truyền thông. Có thể nói, sự kiện này là một “bước đệm” cần thiết, tranh thủ các ý kiến ủng hộ của công chúng, qua đó đưa việc xưng “tôi” vào đời sống trong Đại học Hoa Sen một cách dễ dàng hơn.     Như vậy, trong các cuộc cải cách, nếu dựa trên góc nhìn của văn hóa tổ chức, người hiệu trưởng khôn ngoan là người biết dựa vào sự thấu hiểu văn hóa tổ chức mà ưu tiên chọn lựa được chính xác lộ trình cải tổ phù hợp với thói quen, truyền thống của các thành viên trong đại học của mình.  Thời gian cũng là điều cần phải tính trước mỗi cuộc cải cách. Nhiều khi, chúng ta không đủ kiên nhẫn và thường sốt sắng chỉ trích các đại học. Nhưng cải cách đại học là cải cách văn hóa tổ chức của đại học đó. Mà văn hóa là yếu tố chỉ có thể thay đổi cùng với thời gian, hay nói đúng hơn chỉ có thời gian mới có thể thay đổi được văn hóa. Chúng ta hãy nhớ rằng, tất cả các trường đại học hàng đầu thế giới, từ Oxford đến Sorbonne, Harvard, Yale… đều đã phải trải qua hàng trăm năm xây dựng, cải tổ và vận động không ngừng mới được một vị thế như ngày hôm nay.  Xin quay lại một thông tin thú vị liên quan đến dự án Đại học KAUST ở Ả Rập Xê Út. Hiệu trưởng đầu tiên của KAUST không phải là một người bản địa, mà là một người Singapore, tiến sĩ Choon Fong Shih, nguyên hiệu trưởng Đại học Quốc Gia Singapore (NUS), nguyên giáo sư Đại học Brown, nguyên chuyên gia tư vấn cho một số dự án về năng lượng của MIT, NASA. Vua Abdullah hy vọng với uy tín khoa học và tài lãnh đạo của Tiến sĩ Choon, KAUST sẽ sớm tiếp cận được trình độ khoa học – công nghệ quốc tế. Tuy nhiên nhiều ý kiến lo ngại rằng Tiến sĩ Choon sẽ vẫn phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong một xã hội bảo thủ bậc nhất thế giới.  KAUST còn những một năm nữa mới tuyển sinh khóa đầu tiên, và chúng ta hãy cùng nhau chờ đợi xem tài lãnh đạo của ông Choon có tiếp tục thành công như hồi ông còn ở NUS?  Thành công hay thất bại thì còn phải chờ thời gian kiểm chứng. Nhưng câu chuyện của Đại học KAUST và Tiến sĩ Choon sẽ còn tiếp tục là bài học cho các nhà nghiên cứu và lãnh đạo giáo dục trong tương lai.     Tài liệu tham khảo  1) Xem www.countrystudies.us, “Education of South Korea”.  2) Thành Huy (dịch từ The Chronicle of Higher Education), “Nỗ lực trở thành trung tâm Đại học Đông Á”, Tạp chí Tia Sáng ngày 08/04/2008.  3) Hà Dương Tường, “Không gian Đại học châu Âu”, Tạp chí Thời đại, số 13 tháng 3/2008.  4) Phạm Hiệp (dịch từ The Chronicle of Higher Education),“Ả Rập Xê Út: Đại học Khoa học và Công nghệ Abdullah bổ nhiệm tân hiệu trưởng”, Bản tin ĐHQGHN số 204/2008.  5) Henry M.Levin, “Learning from School Reform”, The International Conference on Rejuvenating Schools Trhough Parnership”, Hongkong, 5/2001  6) “Sinh viên có nên xưng ‘tôi’ với thầy cô”, báo điện tử Vietnamnet ngày 24/8/2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn hóa trẻ và giáo dục toàn cầu      Giáo sư Tiến sĩ Sử học Mart Stewart, người mới đây đã đưa một nhóm sinh viên Mỹ đi thực tế tại Việt Nam, dành cho Tia Sáng một buổi chuyện trò nhiệt tình và chân thành về đề tài giáo dục toàn cầu và văn hóa trẻ.    Không còn là một cảnh tượng lạ lùng khi một nhóm người trẻ tuổi tụ tập trong quán cà phê chuyện trò hào hứng về âm nhạc, phim ảnh, internet, thơ ca, về cả giao thông trên đường phố, mua bán ở chợ… Cho dù một nửa trong nhóm là người Mỹ, còn nửa kia là những người Việt Nam cùng trang lứa, chiến tranh tuyệt nhiên không hề được nhắc đến. Nói cho cùng, cuộc chiến đã qua đi non 37 năm, hai nước cũng đã bình thường hóa quan hệ mười lăm năm.   Trong quán cà phê Trung Nguyên buổi chiều Hà Nội tháng mười hai se lạnh, tạp chí Tia Sáng đã tổ chức cuộc gặp gỡ thân mật giữa các sinh viên Việt Nam và 10 sinh viên Mỹ của trường Western Washington đang đi thực tế ở Việt Nam. Cuộc trò chuyện thoải mái này là một phần trong chương trình học hỏi của các sinh viên Mỹ khi họ đi từ Sài Gòn ra Hà Nội về Cần Thơ.   Thưa Giáo sư Stewart, thật vui khi thấy cuộc gặp gỡ của các sinh viên đầy hào hứng, lạc quan, tươi trẻ như vậy. Những bạn ấy đều đang ở ngưỡng cửa trưởng thành và thế giới chỉ mới bước qua ngưỡng cửa của thế kỷ hai mươi mốt. Nhìn đâu chúng ta cũng thấy dấu hiệu của tương lai, tương lai, và tương lai. Những bạn trẻ ấy đã chia sẻ những ý tưởng và thông tin về thế giới họ đang sống. Họ cũng nói về những mối quan tâm trong văn hóa diễn cảm, về những hy vọng của gia đình và cộng đồng, về sự thịnh vượng trong tương lai, và nỗi quan ngại đối với môi trường toàn cầu. Họ còn trao đổi địa chỉ email và cam kết duy trì mối quan hệ mới thiết lập trên những trang Facebook của họ. Thật là một điều hay tất cả những bạn trẻ ấy. Chúng tôi ước gì giáo sư cũng chia sẻ với bạn đọc về công việc của ông, như mục đích chuyến du học do ông và nhà văn Lý Lan tổ chức ở Việt Nam lần này.  Khóa học “Việt Nam và Mỹ” là một phần của chương trình đại học về văn hóa học gồm phần chính khóa trong lớp học truyền thống dài 12 tuần ở tại trường Western Washington, Mỹ, và phần đi thực tế 3 tuần ở Việt Nam. Tất cả sinh viên tham gia khóa học đều phải hoàn tất một đề án nghiên cứu về một khía cạnh đặc biệt nào đó trong mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam mà các sinh viên hứng thú. (Mời xem các bài tự thuật của các sinh viên Gabe Sowa, Taneum Bambrick và Brooke Warren về những đề tài của họ.) Học thầy không tày học bạn, một trong những cách học hay nhất cho sinh viên của lớp này là đối thoại với những người bạn Việt Nam đồng lứa về tương lai và những vấn đề khiến họ quan tâm, giúp đỡ nhau trong thực hiện đề án nghiên cứu mà những đề tài đều nhằm để hiểu biết văn hóa của nhau. Những cuộc giao lưu này không chỉ là “bài tập” của khóa học và không chỉ thể hiện qua những ghi chép tươi rói niềm lạc quan tuổi trẻ về tương lai và những liên hệ Việt – Mỹ. Chúng còn thể hiện một mô hình ngoại giao văn hóa, vì việc trao đổi ý tưởng và giá trị, chia sẻ cái kinh nghiệm vượt qua khác biệt xa lạ để có được hiểu biết lẫn nhau, là những điều định dạng tương lai một cách tích cực. Những sinh viên này không phải là đại biểu chính thức của nước mình, nhưng ít nhiều họ vẫn đại diện cho văn hóa của mình, và những điều họ nói với nhau đáng được lắng nghe như tiếng nói của giới trẻ về tương lai.   Xin giáo sư giải thích thêm về những chương trình du học của sinh viên Mỹ, có phải chỉ nhằm để hiểu biết những nền văn hóa khác?     Giáo sư Tiến sĩ Mart Stewart trò chuyện với sinh viên trong cuộc gặp.      Ra nước ngoài học hỏi quả thực là cách tốt nhất để có những tầm nhìn cần thiết cho những người trẻ có học khi họ tiến đến một thế giới mà họ sẽ là những công dân toàn cầu. Sinh viên các nước khác đến Mỹ học thường vì những ưu điểm của những chương trình đặc biệt trong nền giáo dục Mỹ và vì danh tiếng được thứa nhận và giá trị đầu tư của nền giáo dục Mỹ. Mặt khác sinh viên lại Mỹ nhận thức sự cô lập văn hóa Mỹ trên nhiều mặt, và trong một thế giới đang toàn cầu hóa thì một tầm nhìn có tính toàn cầu về văn hóa và tri thức là cần thiết. Vì vậy họ đi đến các nước khác để học hỏi tối đa về dân tộc và con người mà họ đang tìm hiểu, theo nghĩa đầy đủ nhất của từ du học.       Cho dù động cơ ban đầu và mục đích của họ là gì, thì sống và học ở một nước khác xứ sở mình cũng đem lại cho sinh viên điều này: Chia sẻ được một số hiểu biết văn hóa lẫn nhau với nước chủ nhà, điều này sẽ gia tăng cơ hội cảm thông nhau trong tương lai và đặt nền cho những trao đổi và hợp tác xa hơn.   Trong những chuyện trò của sinh viên Việt – Mỹ ở Hà Nội vừa rồi họ không chỉ trao đổi sở thích văn hóa, mà còn chia sẻ về hy vọng về ngày mai. Có khác biệt gì giữa hai nhóm sinh viên Việt và Mỹ khi họ hướng tới tương lai không?  Cả sinh viên Việt lẫn Mỹ đều có hy vọng về thành tựu nghề nghiệp và sự sung túc để sống thoải mái. Đó là giấc mơ chung của người trẻ. Các sinh viên Việt Nam đã so bì với sinh viên Mỹ về tự do cá nhân và những lựa chọn nghề nghiệp cùng những cơ hội sinh viên Mỹ có được để đeo đuổi sự nghiệp, còn sinh viên Mỹ thì bày tỏ những lo âu về tương lai giờ đây chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc suy thoái kinh tế tệ hại nhất trong xã hội Mỹ kể từ cuộc Đại khủng hoảng vào thập niên 1930, và họ có thể là thế hệ đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ sẽ không thể trông mong một mức sống sung túc hơn cha mẹ mình. Một số sinh viên Mỹ thừa nhận là sau khi tốt nghiệp đại học họ có lẽ sẽ về sống với gia đình, một điều trước đây hiếm khi xảy ra trong xã hội Mỹ, nhưng nay là một xu hướng ngày càng tăng. Những bạn trẻ Việt Nam nhanh nhẩu bổ sung là ở Việt Nam là chuyện bình thường khi người ta sống chung với gia đình cho đến khi lấy chồng lấy vợ, thậm chí có vợ chồng rồi vẫn ở chung nhà với cha mẹ. Các bạn này chỉ phàn nàn về áp lực thành đạt quá lớn mà gia đình đặt lên họ, và những lễ nghĩa mà họ phải tuân theo khi sống trong gia đình. Sinh viên Mỹ thì ghen tỵ với sự chăm chút của gia đình đối với các bạn Việt và hỗ trợ của mạng lưới quan hệ cá nhân trong xã hội Việt Nam. Trước khi trò chuyện, các bạn trẻ ấy không ngờ trong thực tế giữa họ có nhiều mối quan tâm chung nổi lên trên những khác biệt riêng tư..     Chẳng hạn điều gì thưa Giáo sư?  Vấn đề môi trường là một. Khi nhóm sinh viên Mỹ gặp gỡ những bạn Việt đồng lứa ở Hà Nội hay những nơi khác, hầu như tất cả đầu quan tâm đến những vấn đề ngày càng nghiêm trọng về môi trường mà họ phải đối phó trong tương lai, đặc biệt là biến đổi khí hậu. Nhóm sinh viên của trường Western Washington đã đến thăm viện Giáo dục Thiên nhiên ở Hà Nội và Trung tâm Cứu hộ Động vật Hoang dã ở thành phố Hồ Chí Minh, chia sẻ về nỗi lo mất đi sự đa dạng sinh thái dẫn đến những hậu quả xấu về môi trường. Khi các bạn trẻ Việt và Mỹ đèo nhau trên xe gắn máy chạy trên các đường phố, họ đều ưu phiền về ô nhiễm không khí và tiếng ồn do lượng xe cộ giao thông tăng. Họ cũng biết phần lớn lượng khí carbon thải vào không khí ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu chủ yếu do Mỹ, Trung quốc và các nước đã phát triển thải ra, nhưng các nước đang phát triển như Việt Nam gánh chịu hậu quả nặng hơn, như biến đổi khí hậu có khả năng làm tăng mực nước biển và ảnh hưởng đến vựa lúa ở châu thổ sông Cửu Long và sông Hồng của Việt Nam. Khoa học khí hậu vẫn còn là bộ môn gây tranh cãi, bản thân khí hậu là con quái vật hỗn loạn, nhưng với những thông tin xác tín nhất hiện nay thì môi trường và biến đổi khí hậu sẽ là vấn đề quan tâm chung giữa Việt Nam và Mỹ trong tương lai, có thể theo một cách thức mới. Các bạn trẻ Việt Nam và Mỹ đều muốn vấn đề này được giải quyết trước khi quá muộn. Như một bạn đã phát biểu trong cuộc gặp thân mật ở Không gian sáng tạo Trung Nguyên: “Chúng ta là những người thừa kế vấn đề môi trường, chúng ta sẽ phải trở thành những người lãnh đạo để giải quyết vấn đề này.”  Là một sử gia, Giáo sư nhận thấy các sinh viên có thái độ thế nào đối với những quan hệ lịch sử giữa hai nước?  Trong vòng hai mươi năm qua, khoảng thời gian những sinh viên này ra đời và lớn lên, mối quan hệ Việt – Mỹ phát triển với những thăng trầm thế nào đều có dây mơ cội rễ với cuộc chiến tranh đã qua. Bây giờ đối với phần lớn người Mỹ, “Việt Nam” không chỉ là chiến tranh nữa. Đối với người Mỹ trẻ thì cuộc chiến đó là việc của thế hệ ông nội ông ngoại. Việt Nam đối với các sinh viên của tôi là một đất nước có dân số đông đảo mà đa số còn trẻ. Tuy nhiên, khóa “Việt Nam và Mỹ” này là một khóa học thuộc khoa Lịch Sử của trường đại học Western Washington, các sinh viên tìm hiểu quan hệ giữa hai nước từ sự kiện và quan điểm lịch sử, và có ít nhất hai trong số sinh viên chọn đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chiến tranh. Một đề tài là phụ nữ Việt Nam và chiến tranh, đề tài thứ hai là ký ức về chiến tranh được lưu giữ ở Việt Nam. Các em chủ yếu nghiên cứu bằng tài liệu tiếng Anh ở Mỹ và bổ sung phần khiếm khuyết bằng chuyến đi thực tế ở Việt Nam. Các em đã đến Đình Bến Dược, Nghĩa trang liệt sĩ, địa đạo Củ Chi, viện bảo tàng Chiến Tranh, viện bảo tàng phụ nữ, viện bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, hồ Hữu Tiệp (còn xác máy bay B.52), lăng Hồ Chí Minh, những đài tưởng niệm chiến sĩ vô danh… cả những nơi khách du lịch đến đông đúc và những nơi chỉ có ý nghĩa đối với người dân địa phương. Các em cũng gặp gỡ phỏng vấn những cựu chiến binh, những nữ du kích, những nạn nhân chiến tranh.   Đối với các sinh viên Mỹ, họ hiểu rằng “ký ức” lịch sử thay đổi theo sự thay đổi các thế hệ, và mỗi thế hệ nhìn lại quá khứ vừa “kính nhi viễn chi” vừa thiết lập kết nối mới . Sinh viên Việt Nam tỏ ra tôn trọng lịch sử và có những tiếp cận cá nhân, thông qua những người thân thuộc trong gia đình chòm xóm mà biết được những nỗ lực và hy sinh phi thường của ông bà mình. Nhưng họ rất muốn bỏ qua quá khứ hướng tới tương lai xây dựng một Việt Nam mới. Hiển nhiên một lịch sử mới cần được làm ra.      Những cuộc gặp gỡ trao đổi văn hóa với người đồng lứa ở nước khác trong những chuyến đi du học như vầy có thể coi là “ngoại giao văn hóa” không?  Tôi nghĩ những cơ hội để kết nối vòng quanh thế giới ngày nay thuận lợi hơn bao giờ hết, và những người trẻ đang cỡi trên lưng những cơ hội này. Điều quan trọng nhất về những cuộc gặp gỡ trao đổi giữa các bạn đó không phải là việc trao đổi địa chỉ email hay những ý kiến cao siêu, mà chính là sự tiếp xúc (giáp mặt) trực tiếp. Một sinh viên của tôi nói: “Hóa ra em không thực sự hiểu “văn hóa” như em đọc trong sách giáo khoa là sao. Em mĩm cười với người ta và người ta mĩm cười đáp lại. Đơn giản vậy thôi.” Tôi thú nhận, như một kẻ già đầu tôi tự hỏi liệu như vậy có hơi ngây thơ, hơi lãng mạn. Nhưng tôi cũng biết là những kiểu tiếp xúc như vầy khi người ta còn trẻ sẽ ngấm vào sự trưởng thành già dặn của họ, tạo một nền tảng cho những quan hệ tương lai thiên về hữu nghị hơn hận thù, thiên về cảm thông và hợp tác hơn đối địch. Đó là mục đích của giáo dục hướng đến toàn cầu.         Trong quán cà phê, các sinh viên đã nói về âm  nhạc, phim ảnh, sách truyện mà họ thích, nói chung là giới trẻ nói về  những thứ mà một số người gọi là “expressive culture”, (expressive: có  tính biểu lộ, diễn cảm, thể hiện, phô trương, phù phiếm).               Giới trẻ bày  tỏ với nhau sự yêu thích những tên tuổi được yêu thích và làm cho chúng  nổi tiếng. Ngưỡng mộ tán tụng sự nổi danh này có lẽ là tính đặc trưng  của giới trẻ, cũng như biết ngay người nào đó “già” khi người đó không  màng đến những tên tuổi lấp lánh nữa. Nhưng cái có lẽ mới và đặc biệt về  sự hâm mộ danh tiếng này là giới trẻ ngày nay tha hồ lựa chọn trong bữa  tiệc phù hoa to lớn chưa từng có trong quá khứ – và họ tự do lựa chọn,  ít bận tâm đến những giới hạn chính trị và văn hóa.               Họ nhảy cóc từ nhạc  đồng quê Mỹ của Johnny Cash đến nhạc jazz Pháp Việt của Nguyen Le, rồi  qua nhạc Trịnh, đến nhóm ca nữ Hàn quốc, sang Lady Gala cuồng loạn,  không bỏ qua Chopin, thậm chí cải lương ở đồng bằng sông Cửu Long, cả  Beatles hay Glee. Phim ảnh và sách cũng vậy, giới trẻ “nếm” hết thảy  những gì nổi đình đám trên khắp thế giới. Những trang web mà giới trẻ  “thích” đủ thượng vàng hạ cám của hàm văn hóa rộng lớn.               Các nhà văn hóa  học giải thích rằng kiểu chọn lựa trên diện rộng và dựa trên thông tin  hướng dẫn này là đặc tính của văn hóa “hậu hiện đại”. Những khả năng  tái tập hợp vô tận chỉ có được trong một thời đại rất linh hoạt và phong  phú về văn hóa. Những người chỉ trích có thể cho rằng nhảy cóc từ kinh  nghiệm văn hóa này đến trải nghiệm khác khiến cho giới trẻ hời hợt, chỉ  “thừ” văn hóa liên tục mà không cần chuyên tâm đào sâu để có sự thấu  hiểu văn hóa vững chắc.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Vào miền đất lạ      Trẻ em phải học lấy một phương pháp học tiếng nước ngoài mà hiệu quả của phương pháp nằm ở chỗ các em phải sở hữu được cái tiếng nước ngoài đó như một công cụ thực thụ. Cái công cụ đó được dùng vào việc giao tiếp với đối tác, được dùng để học hỏi những cái hay cái đẹp của một nền văn hóa khác lạ, và cũng là công cụ của một cung cách tư duy khác.     Trong tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình, văn hào Lev Tolstoy mô tả việc dùng tiếng Pháp trong các gia đình quý tộc Nga, và không quên giễu một bà hầu tước nào đó chuyên phát âm chữ Europe thành “uy-rôp”.   Chuyện phát âm sai đó phản ánh một thực trạng học tiếng nước ngoài trước đây trên toàn thế giới: phần lớn người học đi sâu vào học để đọc, để dịch, để ngâm ngợi những nét đẹp ngôn ngữ xa lạ với tiếng mẹ đẻ của mình. Trừ những trường hợp buộc phải giao tiếp, ngoài ra việc học tiếng nước ngoài trước đây chỉ nhằm tự bồi bổ trí tuệ.    Ấy thế rồi nổ ra Đại chiến thế giới lần thứ hai. Cuộc Đại chiến năm 1914-1918 chưa đủ sức làm đảo lộn toàn bộ Trái đất này. Nhiều miền đất vẫn như còn mơ ngủ sau cuộc Thế chiến thứ nhất. Nhưng đã không có tình trạng không thức tỉnh nữa sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Thế chiến thứ hai tàn phá mạnh, nhưng cũng mở ra một thời đại cho ai ai cũng nhận thấy toàn cầu hóa sẽ cứu vãn thế giới. Với nhiều vùng đất, Thế chiến thứ nhất vẫn diễn ra như là chuyện cháy nhà hàng xóm, “ta đây” vẫn bình chân được.   Có lẽ người Mỹ là người vừa có điều kiện, vừa biết chuẩn bị sớm nhất, kỹ nhất cho việc thúc đẩy cái sự nghiệp toàn cầu hóa đó. Một quả bom hạt nhân để đánh dấu sự kết thúc chiến tranh, một kế hoạch cỡ như Marshall phục hồi toàn diện một châu lục, và … một chương trình đào tạo tiếng Anh cấp tốc vừa phục vụ cho việc tiếp quản những miền đất lạ vừa phục vụ cho giao lưu kinh tế-văn hóa trong viện trợ Mỹ.  Từ đầu năm 1944, người Mỹ đã đào tạo gần nửa triệu sĩ quan học các tiếng nước ngoài đủ sức giao tiếp với cư dân các vùng đất lạ. Phương pháp cấp tập intensive và theo đường lối giao tiếp communicative ra đời.   Phương pháp này được hoan nghênh và được củng cố vào những năm hậu chiến. Tình trạng nghèo nàn hậu chiến khiến cho dòng di dân hết sức tấp nập. Nước Italia, nước Pháp, nước Hy Lạp cùng là tư bản và dân chủ, mỗi năm mỗi nước chừng vài ba triệu người chạy qua Mỹ kiếm sống. Nước Nam Tư, nước Ba Lan, nước Hungary, nước Tiệp, nước Albania cộng sản và dân chủ mới, cũng mỗi năm mỗi nước chừng vài ba triệu người chạy qua Mỹ kiếm sống. Chưa kể, sau này, còn dòng người tị nạn chiến tranh cục bộ, rồi thuyền nhân tị nạn hòa bình, ai ai cũng phải biết giao tiếp bằng tiếng của đất đón rước họ, không thể chờ lâu hơn ba tháng… Sao lại ba tháng nhỉ? Hình như đó là thời hạn nhận khoản trợ cấp cho cả những người tị nạn có tổ chức và không có tổ chức.  Chỉ tội nghiệp cho những nền giáo dục nào đã trót thể chế hóa “cách tiếp cận” giao tiếp trong cách học cấp tập vài ba tháng, và áp dụng máy móc vào cho học sinh có cả một thời gian dài nhiều năm để học lấy một tiếng nước ngoài – những học sinh nhận khoản trợ cấp của cha mẹ ít ra cũng dài nhiều lần hơn ba tháng trợ cấp thất nghiệp theo thể thức tị nạn.  Phải nói luôn: với trẻ em, cái gọi bằng “lối tiếp cận giao tiếp” khi học tiếng nước ngoài đã mắc một sai lầm kép: tạo ra một tâm lý thỏa mãn non coi như người học “giao tiếp” đến vậy là đủ; trong khi hoàn toàn không có những kỹ thuật sư phạm bảo đảm cho “lối tiếp cận” đó thành công.  * * *  Đất nước đang bắt buộc phải hội nhập vào cuộc toàn cầu hóa. “Bắt buộc” hiểu theo nghĩa quy luật, hiểu theo nghĩa tính tất yếu. Nhận thức được điều đó sẽ dấn thân vào cuộc toàn cầu hóa một cách có ý thức. Như một người đi vào miền đất lạ. Như một người học tiếng nước ngoài. Vả chăng muốn hội nhập vào cuộc viễn du toàn cầu hóa, thì cái công cụ đầu tiên phải sắm chính là tiếng nước ngoài vậy.  Chỗ khác nhau giữa một người lớn và một em học sinh trong việc học tiếng nước ngoài là ở điểm này. Người lớn chỉ cần có công cụ là tiếng nước ngoài. Người lớn có thể học theo cách học của sĩ quan Hoa Kỳ năm 1944, intensive và communicative. Cốt chiếm lĩnh lấy cái tiếng nước ngoài đó bằng mọi giá.   Trẻ em thì khác. Trẻ em phải học lấy một phương pháp học tiếng nước ngoài mà hiệu quả của phương pháp nằm ở chỗ các em phải sở hữu được cái tiếng nước ngoài đó như một công cụ thực thụ. Cái công cụ đó được dùng vào việc giao tiếp với đối tác, được dùng để học hỏi những cái hay cái đẹp của một nền văn hóa khác lạ, và cũng là công cụ của một cung cách tư duy khác để đến được với một Shakespeare hoặc một Rabelais hoặc một nhà thơ khác nữa là Rumi.  Bạn đã thấy là tôi hoàn toàn không hề nói đến một mảnh bằng hoặc một chứng chỉ, mà hoàn toàn suy tưởng đến những khía cạnh văn minh văn hóa của một công việc trong nhiều công việc hội nhập. Có khi cũng cần đến một chứng chỉ, nhưng chỉ nên coi đó là sự cần thiết tạm thời để vươn xa hơn vào văn hóa và văn minh nhân loại.  Với cách suy nghĩ như vậy thì cách học một thứ tiếng nước ngoài sẽ phải hoàn toàn thay đổi, không thể dừng lại ở cung cách “giao tiếp”, ngay từ tiết học đầu tiên đã “lấy giao tiếp nuôi giao tiếp”.   Việc học tiếng nước ngoài cũng phải theo quy luật của việc tự giáo dục nói chung mà bậc tiểu học phải là bậc học phương pháp học. Nhà giáo (nhà sư phạm) có nhiệm vụ tổ chức việc học phương pháp học, chứ không phải là cải tiến phương pháp dạy học. Từ đây, một cách tổng quát, nghĩ rằng chúng ta sẽ gọi khái niệm mới phương pháp tiếng nước ngoài đó cũng tương tự như phương pháp nghệ thuật (khi học văn thơ), phương pháp lịch sử (khi học những vấn đề của Sử học), phương pháp ngôn ngữ (khi học tiếng mẹ đẻ), phương pháp toán (khi học toán hoặc logic).…   Cái phương pháp tiếng nước ngoài mà trẻ em cần sở hữu bắt đầu bằng cách học phát âm. Phát âm chuẩn là bước đầu bắt buộc của việc học tiếng nước ngoài. Các âm của tiếng nước ngoài lại không nằm viển vông nơi hư vô, mà gửi trong các từ và trong các biểu đạt (trong sự nối âm, trong cách nhấn trọng âm). Song, để dễ học (cho học trò) và dễ tổ chức việc học (cho giáo viên), và cũng để hợp với tâm lý người học, ta sẽ chia ra như sau:  Lớp Một, âm và từ, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp;  Lớp Hai, Từ và từ loại, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp;  Lớp Ba, Từ và câu, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp;  Lớp Bốn, Câu và bài, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp;  Lớp Năm, Văn, thơ, kịch tiêu biểu của nền văn hóa người học đang thâm nhập, trò chơi ngôn ngữ, thực hành giao tiếp.  Lên bậc học trên, giả định là bậc tương đương như phổ thông cơ sở hiện thời, vòng học thứ nhất ở bậc tiểu học về âm, từ, câu và bài lại được “ôn tập lại” (vận dụng nâng cao) trong những vật liệu đa dạng lên, đã có thể dùng tiếng nước ngoài bồi bổ tri thức cho người học.  Hoàn toàn có thể nghĩ, nếu học tiếp theo cách thức này, đến bậc học tương đương như phổ thông trung học hiện thời, vòng học thứ nhất và thứ nhì kể trên sẽ được nâng cao thành vòng học đi tìm tri thức cho học sinh, và hoàn toàn không cần có những lớp “đặc quyền đặc lợi” tách ra học từng môn học riêng biệt bằng tiếng nước ngoài (rất phản cảm như những lớp học VIP đã bị dư luận lên án).  Cũng không loại trừ đến một khúc nào đó, tùy tình hình chuẩn bị của ngành giáo dục, tùy khả năng kinh tế của đất nước, và nhất là tùy theo nhu cầu cần được đáp ứng của người học, nhà trường phổ thông sẽ tổ chức học một ngoại ngữ thứ hai, với phương pháp học cấp tập (intensive) hơn, mang nhiều yếu tố tự học và tự chọn hơn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang “Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn…” (Rousseau với tuổi dậy thì và tuổi thanh niên)      Con người không là trẻ con mãi được! Trình tự tự nhiên đưa ta ra khỏi tuổi thơ vào một thời điểm nhất định. Như những gợn sóng trên mặt biển báo hiệu một cơn bão xa, sự thay đổi bắt đầu bằng lời thì thầm của những say mê vừa chớm nở.    Song hành là những thay đổi về thể chất. Khuôn mặt phát triển với đường nét định hình. Cằm lún phún, giọng vỡ, tiếng nói chưa như người lớn nhưng không còn là trẻ con nữa. Đôi mắt, cửa sổ của tâm hồn, long lanh hơn, với nhiều ánh lửa. Đã qua rồi lứa tuổi trước 15: “đời dịu mềm như nguyệt trước rằm” (Huy Cận/Học sinh)…     TUỔI DẬY THÌ “TÌM BẠN KẾT DUYÊN”…     Biến cố quan trong nhất trong tiểu sử của mỗi đời người, theo Rousseau, là sự xuất hiện của tính dục. Cuộc sống sinh vật “không nghe hoa bướm gọi bên mình” bắt đầu nhường chỗ cho những tình cảm nhân loại. Thân thể, giác quan, não bộ đã phát triển; bây giờ là lúc biết lắng nghe. Trước nay, đứa trẻ chỉ được giáo dục cho chính mình và bởi chính mình. Từ bây giờ, cần được giáo dục cho một cuộc sống với những người khác, trong mối quan hệ xã hội ngày càng rộng mở. Trước hết là tình bạn: “buổi chiều đầu họ tìm bạn kết duyên / trong sân trường tưởng dạo giữa Đào viên” (Huy Cận/Tựu trường). Rồi: “một hôm trận gió tình yêu lại / đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ!” (Huy Cận/Học sinh). Tình bạn, tình yêu, tình gia đình… trở thành động lực điều chỉnh. Mục tiêu là sự phát triển cảm xúc và hoàn thiện nhân cách.     CÁC CẤP ĐỘ KINH NGHIỆM     Tâm hồn trẻ em bị giới hạn ở cấp độ thấp về kinh nghiệm. Chúng biết sự vật, nhưng không biết mối quan hệ với những sự vật khác và với con người. Chúng chưa biết chính mình, nên chưa thể phán đoán về người khác. Nói khác đi, đứa trẻ chưa thể có kinh nghiệm xã hội và tôn giáo. Và cũng chính vì thế, chúng chưa thể hiểu và đánh giá ý nghĩa cuộc đời. Thế giới của tinh thần, luân lý, nghệ thuật, triết hoc – những mối quan tâm nâng con người lên khỏi cấp độ hoang dã – tuy sẵn sàng hé mở nhưng hầu như vẫn còn khép kín. Cho đến tuổi 15, cậu Émile chưa biết gì nhiều về lịch sử, phong tục hay xã hội. Tất nhiên, cậu có năng lực khái quát hóa, nhưng với cấp độ trừu tượng ít ỏi.     TỪ “TRẬN GIÓ TÌNH YÊU”     Như đã nói, theo Rousseau, mọi trải nghiệm và tình cảm cao nhất hình thành nhờ sự xuất hiện của đời sống tính dục. Khi con người thấy mình có nhu cầu kết bạn với người khác (cùng giới hay khác giới), họ không còn là một sinh thể cô lập. Mọi mối quan hệ với giống loài, và mọi xúc cảm của tâm hồn ra đời cùng với nhu cầu này. Đời sống tính dục làm nảy sinh vô vàn những tình cảm đi kèm với nó như những tình cảm “hạng nhì”. Trong số những cảm thức ấy phải kể đến cảm thức về cái đẹp và cái cao cả, về quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội, luân lý và tín ngưỡng.     CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA NHÀ GIÁO DỤC     Khi chàng Émile có ý thức về sự phụ thuộc của mình vào người khác, chàng mới buộc phải bắt đầu tìm hiểu về chính mình và về các mối quan hệ với người khác.     Bàn về giáo dục trong giai đoạn này (từ 15-20 tuổi), Rousseau viết: “Chính ở lứa tuổi này, người thầy giáo tài giỏi bắt đầu chức năng đích thực của mình với tư cách là nhà quan sát và triết nhân biết rõ nghệ thuật khám phá trái tim trong khi nỗ lực hun đúc nó”.     Trước hết là biết ngăn ngừa những đam mê xấu. Tiếp theo là vun bồi những xúc cảm cao cấp: tình bạn, thiện cảm, lòng biết ơn, lòng yêu công lý, yêu cái thiện và yêu con người. Muốn vậy, phải nghiên cứu thấu đáo bản tính tâm lý, xã hội và luân lý của con người. Những chủ đề này, như đã biết, không chỉ được dạy và học gián tiếp qua sách vở mà cần trải nghiệm trong đời sống thực.     Đánh thức những tình cảm bên trong quan trọng hơn và đi trước việc truy tìm những nguyên nhân bên ngoài. Chính sự phát triển và tích hợp bên trong nội tâm mới mang lại ánh bình minh thật sự cho thế giới tinh thần, luân lý, nghĩa vụ, nghệ thuật, tôn giáo, triết học… Nhiệm vụ đích thực của giáo dục là vun bồi, tích hợp, rèn tập những tình cảm, xúc cảm, ham mê nội tâm ấy hơn là khám phá hay quan sát thực tại, bởi chính chúng mới mang lại ý nghĩa, giá trị và sự hữu dụng cho những hiện tượng bên ngoài. Ranh giới giữa văn minh và dã man là mức độ phong phú hoặc nghèo nàn của trải nghiệm nội tâm.     CHƯƠNG TRÌNH HỌC     Chương trình học chủ yếu cho giai đoạn thanh niên này là tri thức về bản tính con người và trật tự xã hội, ngày nay có thể phân loại thành tâm lý học, xã hội học và đạo đức học. Nhưng cũng không phải bằng sách vở cho bằng những kinh nghiệm nồng nàn trong quan hệ với những con người và hoàn cảnh sống thật. Về văn học, Rousseau chuộng dạy và học cổ văn. Trong giai đoạn này, cổ tích, truyền kỳ lại cần thiết cho việc vun bồi đạo đức. Tôn giáo cũng quan trọng, nhưng ông thích tôn giáo tự nhiên, đánh động lòng người chứ không phải giáo điều và tín lý.     GIÁO DỤC NỮ GIỚI     Émile đã trưởng thành, cần tìm người bạn đời cho chàng! Vì thế, phần cuối của tác phẩm dành cho việc giáo dục nữ sinh. Tiếc thay, đây lại là phần yếu nhất của quyển sách, bởi ông hoàn toàn bỏ rơi đường lối giáo dục cá nhân luận chỉ dành cho nam sinh.     “Toàn bộ nền giáo dục cho nữ sinh phải đặt trong quan hệ với nam sinh. Làm hài lòng nam giới, hữu ích cho nam giới, mang lại danh giá cho nam giới, được nam giới yêu thương, dạy dỗ nam giới khi còn nhỏ, chăm sóc khi lớn, an ủi, làm cho cuộc sống nam giới dễ chịu và ngọt ngào là những nghĩa vụ của phụ nữ mọi thời và cần dạy cho họ từ thuở còn thơ”!     Phụ nữ vẫn cần rèn luyên thể chất như nam giới, nhưng để giữ vẻ yêu kiều và sức khỏe sinh sản hơn là cho sự phát triển tự thân. Từ đó dễ hình dung các chủ trương khác của Rousseau: dạy nữ công, gia chánh, trang điểm, múa, hát, vâng lời và siêng năng, cam chịu những cưỡng chế, bất công trong gia đình, dạy sùng bái tín ngưỡng ngay từ lúc còn thơ. Theo ông, con gái phải theo tín ngưỡng của mẹ; vợ theo tín ngưỡng của chồng. Về mặt đạo đức, dùng công luận để hướng dẫn, và căn cứ vào cảm xúc của chồng để điều chỉnh hành vi, lời ăn tiếng nói!     Ta thấy, trong giáo dục nam giới, Rousseau bắt đầu bằng chủ trương tự nhiên luận cấp tiến bao nhiêu thì trong giáo dục nữ giới, ông bảo thủ và nệ cổ bấy nhiêu!     Quan niệm về nữ giới nói chung và giáo dục nữ giới nói riêng là chủ đề tranh luận gay gắt ở châu Âu suốt thế kỷ 18 và 19. Từ Rousseau đến Kant, Hegel…, bước tiến bộ khá chậm chạp với nhiều định kiến khó gột rửa. Nhờ quan niệm rộng hơn và đầy đủ hơn về “con người”, triết học giáo dục sẽ chứng kiến một cuộc “cách mạng” trong tư duy về nữ giới và nữ quyền.      Ngoài sự hạn chế hiển nhiên nhưng không kém lạ lùng do việc phủ nhận nhân cách độc lập của phụ nữ, không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc của Rousseau đối với triết học giáo dục hiện đại. Chúng ta sẽ tiếp tục bàn về ảnh hưởng ấy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Về một bộ não khác      Tôi từng khá sốc khi phải chứng kiến một cuộc so găng giữa trí tuệ con người và một cỗ máy siêu quyền lực mang tên Google, mà phần thắng thì không thuộc về con người.    Con người ngày càng bị phụ thuộc vào Google và Internet  Phương 1 – một cô giáo tiểu học thâm niên, là cán bộ nòng cốt của một trường tiểu học có tiếng ở Hà Nội đang nổi giận đùng đùng lên tông cao độ để đánh võ mồm với một cô giáo trẻ khác (cô Thanh, cũng phừng phừng mặt đỏ) về cách viết đúng chính tả từ lô-gích (logic). Sau khi dự giờ cô Thanh, cô Phương nhất quyết cách viết “lô-gích” của cô Thanh là không đúng, phải viết là “lô-gíc” hoặc “lô-ghích”. Còn cô Thanh thì cũng cãi lại quyết liệt: “từ này tiếng Anh là logic, tiếng Pháp là logique (đọc là lô-gích-cờ), phiên ra tiếng Việt thì ghi là logic cũng được, lô-gích cũng được, lô-gíc cũng được”. Cô Phương: “không thể như thế được, chính tả chỉ có một quy tắc thôi. Hồi trước ở trường sư phạm, giáo sư viết là lô-gíc”. Thế rồi để minh họa cho khẳng định của mình, cô rút iPhone hồng của mình ra rồi Google từ “lô-gíc”. Cô chốt: “đấy, trên mạng người ta dùng là lô-gíc chứ, có ai dùng lô-gích đâu?”. Cô Thanh thì không những không hạ nhiệt mà còn căng thẳng hơn, nhưng không thể lí luận thêm gì nữa vì thấy mình rơi vào trạng thái “bó tay”.    Trong tình huống, Google đã trở thành vị giáo sư đáng kính hơn tất thảy. Nó không chỉ là công cụ tìm kiếm thông tin trên Internet, mà đã trở thành kẻ phán xét cái gì là đúng cái gì là sai.    Ngày nay khi Internet trở thành cái bể chứa tất tần tật tri thức của loài người, thì người ta không còn giữ cái thói quen phải khắc ghi kiến thức nữa, người ta chỉ cần lưu vài từ khóa, phần còn lại để Google lo. Con gái bạn nóng trong người? Hỏi Google cháu đang bệnh gì. Bạn cần tìm nhà mới để đổi gió? Hỏi Google ai bán giá bao nhiêu. Con trai bạn hỏi về lực hấp dẫn? Hỏi Google chỉ cho một hoạt cảnh, v.v. và v.v. Bạn phó mặc cho Google phần lớn những công việc “đầu óc” nặng nề mà xưa nay vẫn phải miễn cưỡng làm, giờ thì mọi thứ nhàn tênh.    Nhiều nhà nghiên cứu và triết gia đã mất công tìm hiểu, phát biểu và xuất bản sách về đề tài mới nhưng hóc búa liên quan giữa Internet và sự thay đổi ở não bộ và hành vi của con người. Tác giả Siva Vaidhyanathan gọi tên quá trình xâm lăng có độ phủ lớn chưa từng có trong lịch sử loài người này bằng thuật ngữ “Googlization of Everything” trong cuốn sách cùng tên: Thế giới mạng đang Google-hóa, tri thức đang bị Google-hóa tri thức và trí nhớ của con người cũng đang bị Google-hóa. Nicolas Carr, sau khi dẫn hàng loạt những nghiên cứu của tâm lí học và thần kinh, đã mạnh mẽ cảnh báo Google đang khiến chúng ta “ngu dần đều”, ít nhất là chiểu theo các tiêu chuẩn truyền thống: Trong đầu con người sẽ hầu như chỉ còn lại các mảnh vụn thông tin, các từ khóa thay vì những “kiến thức sâu sắc”. Có lẽ chỉ cần tĩnh tâm nhìn quanh quan sát là chúng ta đã có thể thấy Google đang khiến ngày càng nhiều người giống cô Phương ở đầu bài này –tin vào những “chân lí giả tạo” do Google dựng lên một cách vô tình; chúng ta có thể sẵn sàng phó mặc cho Google Maps dẫn đường qua những con đường cũ kĩ lầy lội chỉ vì nó chưa cập nhật con đường mới làm cách đó có vài trăm mét; chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều tin giật gân kiểu như “một thị trấn nhỏ ở châu Âu có tên là Eu đã phải đặt vấn đề đổi sang một tên khác vì khi tìm kiếm trên Google chỉ thấy xuất hiện một EU khác chứ không phải là chính họ”. Tất cả những điều đó đến với chúng ta một cách thật nhẹ nhàng và êm ái: các công cụ mà Google cung cấp đều thật “thiết yếu”, “rất cần cho cuộc sống”, và đặc biệt là chúng hầu như miễn phí. Chúng ta đang thả mình để cho Google nuốt chửng, từng ngày từng ngày một.    Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science năm 2011 dưới tiêu đề “Tác động của Google lên não bộ của chúng ta: Hệ quả về nhận thức của việc truy xuất thông tin từ ngón tay” của các nhà khoa học tại Đại học Columbia, Wisconsin và Harvard cho thấy, sinh viên đại học ngày nay có xu hướng ghi nhớ ít hơn nếu họ biết là có thể lấy thông tin đó từ máy tính. Theo các tác giả, não bộ của chúng ta có xu hướng thích ứng với công nghệ mới. Chúng ta đang phụ thuộc vào Google và Internet y như phụ thuộc vào kiến thức mà chúng ta có được từ bạn thân hay đồng nghiệp. “Việc mất kết nối với Internet mang lại trải nghiệm không khác gì mất đi một người bạn thân”. Và rằng “cái hiểu biết của chúng ta đang phụ thuộc vào việc Google đang biết những gì”.    Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang chứng kiến một viễn cảnh đám mây Internet trở thành bộ nhớ chính yếu của loài người. Ở cấp độ cá nhân, một số người còn thấy nó quan trọng hơn cả chính cái bộ nhớ nằm trong hộp sọ của mình.    Người ta nói “there is no free lunch” (“không bữa trưa nào miễn phí cả”); liệu cái giá của sự tiện lợi mà Google mang lại phải chăng chính là tự do của chính chúng ta?   Nhiều câu hỏi khác cũng được đặt ra từ hiện tượng này đối với công việc giáo dục. Người giáo viên đã thôi không còn vai trò ghi nhớ và cung cấp thông tin nữa, vậy họ sẽ dạy cái gì cho học trò? Liệu chúng ta có còn nên cố công dạy những tri thức vụn vặt cho con trẻ, hay dạy phương pháp học tập để chúng tự tiếp thu và chắt lọc thông tin từ bể chứa Internet? Làm sao để biết cái đúng nhỡ đâu Google cho kết quả sai? Đã đến thời của “kĩ năng đặt câu hỏi” trong nhà trường hay chưa? Sách giáo khoa của chúng ta liệu có đang quá cô lập khi chúng không hề “cắm vào Google”? Ở thời đại số hóa này, Internet và Google nên đứng ở đâu trong hệ thống nhà trường của chúng ta? ———–1 Các tên riêng của nhân vật đã được đổi.            Author                Dương Trọng Tấn        
__label__tiasang Về một bộ sách mới lịch sử văn học Việt Nam dùng trong nhà trường      Trong lịch sử của nền giáo dục cận hiện đại Việt Nam, kể từ thời Pháp thuộc, kinh qua các giai đoạn và các thể chế chính trị khác nhau, cùng với môn lịch sử, môn văn luôn nằm trong số những môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mang tính bắt buộc, không thể thiếu đối với mọi cấp học phổ thông. Nhưng vì sao cho đến nay, tầm quan trọng của môn học này chỉ được “đồng thuận” như một quán tính trong giáo dục? Để trả lời câu hỏi này có nhiều vấn đề cần phải được đặt ra, giải quyết. Bài viết này chỉ bàn về một bộ phận, một góc công việc, đó là những gì liên quan đến việc biên soạn sách vở và việc giảng dạy văn học Việt Nam trong nhà trường.    1. Nhu cầu khách quan của việc biên soạn một bộ Lịch sử văn học Việt Nam mới dùng trong nhà trường.  Nhận xét đầu tiên gây ngạc nhiên và thắc mắc của tôi đối với môn học này trong nền giáo dục cận hiện đại ở Việt Nam. Đó là việc từ khi có các bộ sách giáo khoa môn văn học dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa rồi tiếp theo là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ “quốc văn” hầu như đã không còn được sử dụng. Trong khi nhìn ngược lên phía trước, thì ngay dưới thời Pháp thuộc, trong chương trình của nhà trường Pháp – Việt, từ ngữ này lại được sử dụng một cách phổ biến và ổn định. Trong ký ức của tất cả những người lớn tuổi từng học trong các hệ nhà trường thời Pháp thuộc, “Quốc văn giáo khoa thư” gần như đồng nghĩa với nội dung của môn văn học. Càng ở các lớp dưới, môn “quốc văn” lại càng có sự hiện diện quan trọng trong chương trình: với tuổi thơ, văn học trước hết là văn học bằng tiếng mẹ đẻ. Từ những năm 20 của thế kỷ XX cho đến tận ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, rồi vẫn được tiếp tục trong chương trình sách giáo khoa ở miền Nam cho đến tận năm 1975, các bộ sách giáo khoa bậc phổ thông thường xuyên nếu không gắn với từ “quốc văn” thì lại gắn trực tiếp với quốc hiệu Việt Nam. Những bộ sách mang tiêu đề như vậy của các tác giả như Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản,… là những bộ sách nổi tiếng, được tái bản nhiều lần trong nhiều chục năm, chính là bằng chứng của một quan niệm về trọng tâm của môn văn học. Không hiểu vì một lý do nào đó, mà tất cả các sách giáo khoa văn học bậc phổ thông từ sau năm 1954 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 trên phạm vi cả nước, những từ ngữ như “quốc văn” hay “văn học Việt Nam” lại không có mặt nữa trên trang bìa của các cuốn sách giáo khoa, dù rằng trong nội dung, có thể chỉ sử dụng văn liệu từ văn học Việt Nam. Cụm từ “văn học Việt Nam” chỉ có mặt trong  tên các giáo trình ở bậc đại học hoặc trong tên các công trình nghiên cứu chuyên sâu. Dĩ nhiên ai cũng hiểu “văn học Việt Nam” thì không phải là toàn bộ văn học, và nhu cầu phát triển nâng cao tri thức chuyên ngành đòi hỏi sự hiểu biết càng sâu rộng càng tốt. Các nền văn học khác, các vấn đề mang tính lý thuyết phức tạp khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là nhất thiết phải xóa bỏ tính đặc thù và tầm quan trọng của tri thức chuyên sâu về nền văn học dân tộc, cần thiết phải từ bỏ việc dành cho nó những quy chế riêng! Cần nhắc lại một sự khẳng định mang tính lý thuyết và mang tính phương pháp luận nhận thức quan trọng ở đây rằng khác với các đối tượng của các khoa học và các nghệ thuật khác, văn học là loại hình nghệ thuật chuyển tải những đặc trưng dân tộc với mức độ đậm đặc nhất, tập trung nhất. Vậy nên hầu như ở quốc gia nào cũng thế, “quốc văn” luôn luôn chiếm một vai trò quan trọng đặc biệt trong chương trình của môn học này ở các cấp học phổ thông.  Đề xuất đầu tiên của tôi liên quan đến nhận xét này: trong việc biên soạn nội dung chương trình và sách giáo khoa cho môn văn, ở các cấp học phổ thông, cần phải tách riêng chương trình văn học Việt Nam và ưu tiên cho việc truyền thụ nó một cách có hệ thống. Có lẽ các tác giả của khung chương trình và tác giả của các bộ sách giáo khoa môn văn học sẽ bác bỏ hay chí ít là tranh luận lại với ý kiến này, cho rằng tôi đã đề xuất một công việc vốn đã được thực hiện từ lâu, như người ta thường nói là “đẩy một cánh cửa đã mở”. Nhưng trên thực tế, tôi có thể khẳng định rằng lịch sử văn học Việt Nam, trong khuôn khổ chương trình của các cấp học phổ thông, chưa bao giờ được trình bày và truyền thụ một cách có hệ thống thực sự. Nói một cách dè dặt nhất, thì đối với 9 thế kỷ văn học truyền thống, thậm chí cho đến cả bộ phận văn học 30 năm đầu thế kỷ XX, tất cả các bộ sách giáo khoa đều chưa làm được gì nhiều hơn là việc “bước đầu giới thiệu”. Tôi chưa thấy trong khung chương trình sách giáo khoa phổ thông ở bất kỳ một quốc gia nào, nếu quốc gia đó có độ dài lịch sử văn học dăm ba trăm năm trở lên, mà lại dành cho văn học hiện – đương đại một thời lượng áp đảo đến như ở ta. Nguyên nhân và hậu quả của sự quan tâm lệch lạc này thì có thể có nhiều, thậm chí rất nhiều, và đây cũng chưa phải lúc chúng tôi đi sâu phân tích lý giải nó, mà chỉ mới đưa ra như một bằng chứng cho lập luận đã nói trên, rằng việc trình bày lịch sử văn học Việt Nam theo cách mà các bộ sách giáo khoa đã thực hiện, sẽ không làm sao đáp ứng được yêu cầu đưa tri thức về văn học Việt Nam một cách có hệ thống và có trình tự tới với người đi học.  Ngay trong khuôn khổ chương trình môn văn học ở bậc phổ thông, đã cần thiết phải có một bộ sách giáo khoa dành riêng cho học sinh về lịch sử văn học Việt Nam. Đề nghị này không những không trái với những gì đã diễn ra trong thực tiễn của lịch sử giáo dục, mà còn cũng cố một định hướng vốn có trong đó. Bộ sách này sẽ phải đóng vai trò là “cột sống” của toàn bộ chương trình môn văn học ở toàn bộ các cấp học phổ thông. Nếu lưu tâm đến thực tế rằng tuyệt đại đa số người đi học chỉ học môn này cũng như học các môn học cơ bản khác (toán, vật lý, hóa học, sinh vật, lịch sử, địa lý,…) trong chương trình phổ thông, thì không thể biên soạn bộ sách này theo tinh thần “sơ bộ giới thiệu”, “bước đầu giúp làm quen”… mà phải theo tinh thần chuẩn bị “hành trang cơ bản để vào đời về mặt văn học” cho mỗi công dân Việt Nam. Rõ ràng đã, đang và sẽ là bất bình thường khi một người Việt Nam bình thường bất kỳ nào đó đã trưởng thành và đã được học qua chương trình phổ thông – hãy tưởng tượng về một cuộc đối thoại, một cuộc “tiếp thị” văn học của một công dân Việt Nam trước một khách nước ngoài – mà không thể điểm lại được những chặng lớn của lịch sử văn học của quốc gia – dân tộc mình, “kê biên” ra ở từng chặng, như vậy những tác giả lớn, những tác phẩm chính, những chủ đề – đề tài quan trọng, những hình tượng văn học cơ bản, những vẻ đẹp cơ bản của nghệ thuật ngôn từ của dân tộc. Thiết nghĩ, môn văn học ở nhà trường đã đến lúc cần phải có những “bảng cửu chương” những “hằng đẳng thức đáng nhớ” của mình, những “dãy hóa trị” những bảng “hệ thống tuần hoàn Meldeleev”… của mình. Người ta thường nói rằng trong thời đại máy tính điện tử ngày nay, việc lưu vào ký ức qua nhiều thông tin vừa là điều bất khả vừa là việc làm không cần thiết. Không phải như thế: con người không thể tư duy nếu trong trí nhớ sống của nó không nạp đủ những dữ liệu tối thiểu. Dữ liệu huy động từ ký ức sống của bộ não người (chứ không phải trong “bộ não” của máy tính) mới thực sự là điều kiện cho tư duy của con người hoạt động.            Đã đến lúc cần phải có một bộ sách giáo khoa dành riêng cho học sinh về lịch sử văn học Việt Nam             Một bộ sách lịch sử văn học Việt Nam đáp ứng những đòi hỏi như thế cho chương trình học vấn phổ thông là chưa từng xuất hiện. Nhưng đã quá muộn để mà chần chừ. Việc thực hiện một bộ sách như thế cũng không hề vượt “quá tầm tay” của đội ngũ các nhà giáo giảng dạy văn học ở các cấp học.  2.- Cũng khách quan, là nhu cầu phải có bộ sách về lịch sử văn học Việt Nam dành cho các đối tượng chuyên nghiệp.  Tôi gọi là “các đối tượng chuyên nghiệp” tất cả những người tiếp tục học tập và tìm hiểu lịch sử văn học Việt Nam như một hoạt động nghiệp vụ sau và trên chương trình văn học phổ thông. Có thể hình dung lần lượt các “đối tượng” đó là: các giáo sinh khoa văn ở các trường Cao đẳng sư phạm, sinh viên ngành văn các trường Đại học (cả hệ sư phạm lẫn hệ tổng hợp), giáo viên môn văn ở các cấp học, tất cả những người làm công tác nghiên cứu thuộc các khoa học lịch sử và nghiên cứu nghệ thuật (cả trong nước lẫn ngoài nước, cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài), các nhà văn và nghệ sĩ, cả những người làm công tác quản lý, điều hành liên quan đến lĩnh vực văn học nghệ thuật. Từ trước tới nay, trên thực tế các bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam ở cấp Đại học (chủ yếu do các nhà khoa học và nhà giáo thuộc hai hệ thống trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp biên soạn) được sử dụng “thay chỗ” cho bộ sách này. Cũng cần nói thêm rằng thuộc hệ thống sách như thế này từng có cả các bộ “Lược thảo…”, “Sơ thảo…” của các nhóm nhà khoa học và cả bộ Lịch sử văn học Việt Nam do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức biên soạn mà do nhiều nguyên nhân đã chỉ in được tập 1 (hầu như “không một tiếng vang”) rồi không được tiếp tục nữa. Hầu hết các bộ sách này đều đã được biên soạn và xuất bản trên dưới ba mươi năm nay. Trong khoảng ba mươi năm trở lại đây, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho tái bản nhiều lần, chủ yếu là bộ giáo trình văn học Việt Nam của các nhà giáo thuộc trường Đại học Tổng hợp cũ.  Dù có viễn kiến đến mấy, các tác giả của những bộ sách này cũng không thể phản ánh trước được những thay đổi trong các thành quả, tri thức nghiên cứu của cả giới mấy thập kỷ vừa qua. Sự lạc hậu (đương nhiên) của phương pháp luận và phương pháp biên soạn văn học sử của những bộ sách này dĩ nhiên cũng khiến cho việc tổ chức biên soạn lại ít nhất là một bộ sách mới thay thế chúng đã trở thành một nhu cầu cấp thiết.  Tôi nghĩ rằng, cả hai bộ sách nói trên đều cần được biên soạn theo tinh thần là những bộ sách giáo khoa, mà đã là sách giáo khoa thì phải thuộc trách nhiệm của Bộ Giáo dục và đào tạo, đều phải là xuất bản phẩm đương nhiên trước hết của Nhà xuất bản Giáo dục.  Trần Ngọc Vương    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Về nguồn gốc của đại học*      Lấy nghiên cứu, khám phá kết hợp với giảng dạy, tự do trong giảng dạy và học tập làm trọng tâm hoạt động, mà không có sự can thiệp của nhà nước, Đại học Berlin của nước Phổ (tiền thân nước Đức), nay còn được gọi là Đại học Humboldt, được xem như bà mẹ của các đại học hiện đại&#160;trên&#160;thế giới.    GS Steven Weinberg, nhà vật lý lý thuyết Hoa Kỳ (Nobel Vật lý năm 1979) phát biểu, “Tôi tin rằng không có các đại học nghiên cứu lớn, mô hình bắt đầu từ Đức thế kỷ 19, chúng ta ở Hoa Kỳ sẽ phải tự nuôi sống bằng cách trồng đậu nành, và giới thiệu Grand Canyon cho du khách từ Đức và Nhật Bản”.  Sự kiện 200 năm tuổi của Đại học Humboldt, vì thế có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng học thuật cũng như toàn xã hội, bởi các đại học là nơi tạo ra tri thức mới để làm giàu cho xã hội, tạo ra công nghệ, cung cấp các nhà lãnh đạo quốc gia, tạo ra tầng lớp trí thức có nhân cách mạnh mẽ, làm cho quốc gia hùng cường.  Đại học nghiên cứu của Đức  Trong sự thất trận trước Napoleon, nỗi đau và tủi nhục quốc gia, sự lạc hậu của đất nước, sự thoái trào của đại học Đức trước khuynh hướng        Đại học Berlin còn được gọi là Đại học Humboldt để tưởng nhớ tới hai anh em  Wilhlem và Alexander von Humboldt. Cả hai đều là những nhân vật tên tuổi của Phổ thế kỷ 18-19. Alexander, người em, là nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và thám hiểm, đi ra thế giới bên ngoài, trong khi Wilhelm là nhà chính trị, nghiên cứu ngôn ngữ và cải cách giáo dục, đi vào nội tâm. Chính Wilhelm là người xây dựng đại học Berlin và cải tổ nền giáo dục Đức. Ông Wilhelm chỉ thua Alexander một việc là không điển trai bằng ông em!        khai sáng thực dụng đang thắng thế, và đang có nguy cơ bị thay thế bởi các trường chuyên nghiệp, Đại học Berlin ra đời nhằm lấy sức mạnh tinh thần để bù đắp những mất mát về vật chất: đó là kỳ vọng to lớn mà các nhà cải cách Phổ đã đặt vào đại học Berlin để vực dậy đất nước, bằng con đường trí tuệ. Đại học Berlin chính là đại học trồng người cho mục tiêu đó – trồng người trăm năm theo đúng nghĩa, một dự phóng rất xa. Phát triển con người toàn diện, hướng đến hoàn hảo, đó là khẩu hiệu của giáo dục.  Nhưng đại học Berlin lại không phải là tác phẩm của các công chức nhà nước, mà thoát thai từ tinh thần và sứ mệnh cao cả của hai giới tinh hoa Đức: các nhà văn lãng mạn, thấm nhuần chủ nghĩa tân-nhân văn; và các nhà triết học duy tâm Đức. Người Đức tuy là một dân tộc chiến binh nhưng không tự ví mình như những người La Mã, mà thấy gần gủi hơn với người Hy Lạp, một dân tộc đã thiết lập sự vĩnh cửu của mình trong thế giới ý tưởng của triết học, khoa học, văn học và nghệ thuật, hơn là trong quân sự hay chính trị.     Người Đức có đặc thù là phát triển văn hóa, nghệ thuật và triết học trước khi phát triển ý thức chính trị. Để mượn lời nhận xét của GS Wolf Lepenies, Berlin: “Vương quốc nội tâm kia mà nền triết học của chủ nghĩa duy tâm Đức cũng như nền văn chương của trường phái cổ điển Weimar đã xây dựng, đã đi trước sự thành lập vương quốc chính trị (của Đức) hơn một trăm năm”. Nhà đại văn hào Schiller khẳng định trong một bài thơ văn xuôi mang tên Cái lớn lao của Đức rằng nhân phẩm và tính chất quốc gia của Đức độc lập với chính trị. Tôi xin đọc vài câu: “…người Đức sống trong/ một ngôi nhà sắp sụp đổ, nhưng bản thân anh ta/ là một cư dân cao cả, và trong khi/ Vương quốc chính trị chao đảo/ phẩm chất tinh thần vẫn tiếp tục được dựng xây/ củng cố bền chặt và hoàn hảo hơn.”  Đó là những nét hết sức đặc thù của dân tộc Đức. Jürgen Mittelstraß, một GS về lịch sử đại học, có một nhận xét khá độc đáo: “Hoặc là đại học có một lý thuyết, và lý thuyết đó là duy tâm. Hoặc không có đại học”! Chỉ có những đại học với những nguyên lý ngoại hạng như đại học Berlin mới tạo ra những kết quả ngoại hạng, và chỉ có kết quả ngoại hạng mới có tác dụng lên diện rộng của xã hội như Humboldt nói.  Tuy nền giáo dục đại học Đức chưa bao giờ có đầy đủ các tính chất Humboldt: tự do hàn lâm chỉ có trong vòng chấp thuận của chính trị và tôn giáo, như Max Weber nói, nhưng đại học Đức đã phát triển mạnh mẽ, và đã làm rạng danh quốc gia, đã đưa nước Đức thành cường quốc về công nghiệp và khoa học vào hậu bán thế kỷ 19. Trong vòng khoảng 30 năm, Đại học Đức đã mang về 30 giải Nobel, một kỳ tích chỉ có Hoa Kỳ mới vượt qua được sau này. Cuộc cách mạng khoa học thứ hai của thế kỷ 19 sẽ khó hình dung dược nếu không có các đại học nghiên cứu Đức theo mô hình Humboldt. Cuối thế kỷ 19, mô hình đại học Humboldt đã ảnh hưởng lên toàn thế giới. Chúng ta có thể nói về một Liên đoàn đại học Humboldt thế giới. Thế giới khen ngợi không tiếc lời.  Đại học nhân văn của Anh  Nước Anh có truyền thống đại học rất sớm. Oxford là một trong 3 đại học châu Âu đầu tiên thế kỷ 12, bên cạnh Bologna và Paris. Nhưng Đại học Anh, mà đại diện là Oxford và Cambridge, có truyền thống nhân văn rất mạnh, đặt nặng việc đào tạo sinh viên thành người có văn hóa hơn là người thông thái; đào tạo công chức cho nhà thờ và nhà nước là chính. Người phát ngôn nổi tiếng nhất của đại học Anh của thế kỷ 19 là nhà thần học John Henry Newman, với cuốn sách nổi tiếng từ đó đến nay của ông: Ý niệm của một Đại học xuất bản khoảng 50 năm sau đại học Humboldt, đề cao tri thức nhân văn, là cứu cánh tự thân, hơn là tri thức hữu dụng là phương tiện đi đến mục đích. Ông cũng không xem đại học là nơi nghiên cứu.    John Stuart Mill, đồng nghiệp của Newman, có một bài diễn văn khai mạc nổi tiếng chứa đựng tinh thần nhân văn tuyệt vời. Ông viết:  Đại học không phải là chỗ của giáo dục nghề nghiệp. Các đại học không chủ ý dạy tri thức đòi hỏi để làm cho con người phù hợp với các cách kiếm sống nào đó. Mục tiêu của đại học không phải tạo ra các luật gia, bác sĩ hay kỹ sư có kỹ năng, mà tạo ra những con người có năng lực (tư duy) và có văn hóa.[…]  Con người là con người, trước khi con người là luật gia, bác sĩ, nhà kinh doanh, hay nhà sản xuất; và nếu chúng ta làm cho họ thành những người có năng lực và nhạy cảm (capable and sensible), họ sẽ tự làm cho họ thành những luật gia hay bác sĩ có năng lực và nhạy cảm.     Trong những lúc lo lắng vì nền giáo dục nhân văn trên thế giới bị thua thiệt trước giáo dụng thực dụng ngày càng bành trướng trên thế giới, các học giả thường tìm lại cái tháp ngà nhân văn ấm áp của hai vị này để được an ủi.  Đa đại học của Hoa Kỳ  Lịch sử như đã thay ca giữa Đức và Hoa Kỳ. Hai quốc gia này đã luân phiên nhau chiếm ngự vũ đài tri thức thế giới trong hai thế kỷ liền bằng các đại học tinh hoa của họ, đưa khoa học lên những đỉnh cao rực rỡ, và tạo nên sự phồn vinh chưa từng có cho thế giới. Năm 1933, thời điểm Hitler lên nắm quyền, cũng là lúc nền đại học Đức cáo chung để chuyển ngọn đuốc sang bên kia bờ Đại Tây dương.  Đại học Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ trong hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất vào cuối thế kỷ 19, với đạo luật Morrill cấp đất cho đại học, với tinh thần trí thức Đức được các nhà lãnh đạo đại học Mỹ du nhập vào, và chủ nghĩa dân túy Hoa Kỳ, muốn phục vụ rộng rãi xã hội. Ở đây tinh thần đại học của Hoa Kỳ đã hiện rõ, có khác biệt với châu Âu. Nhưng cho đến thế chiến thứ nhất và cả thứ hai, đại học Hoa Kỳ vẫn chưa thật sự là đại học xuất sắc.  Giai đoạn thứ hai, và là giai đoạn hoàng kim, diễn ra sau thế chiến thứ hai, với nhiều nhân tố thuận lợi, như luật hỗ trợ các quân nhân giải ngũ đi vào đại học, sự tăng trưởng sinh sản mạnh mẽ, cái sốc sputnik, sự di tản của lực lượng khoa học hàng đầu từ châu Âu sang Hoa Kỳ, và báo cáo nổi tiếng của Vannevar Bush mang tên“Khoa học: Biên giới vô tận” đưa chính sách nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học cơ bản, về các trường đại học dân sự – phù hợp với tinh thần đại học của Humboldt.  Đại học Hoa Kỳ là kết tinh của ba nhân tố: Là đại học nhân văn (Anh) trong chương trình đào tạo cử nhân, đại học nghiên cứu (Đức) trong chương trình đào tạo thạc sĩ và nhân sự nghiên cứu, và là đại học dịch vụ (Hoa Kỳ) trong mục tiêu phục vụ xã hội.  “Ý tưởng đại học” trước đây như một cái làng với các thầy tu nay phát triển lên thành “Ý tưởng của multiversity”, đa đại học, với một thành phố tri thức có sự đa dạng bất tận.  Tính từ năm 1950 là thời điểm phôi thai, 55 phần trăm tất cả giải Nobel và Fields của thế giới được trao về tay những học giả thường trú tại Hoa Kỳ; Hoa Kỳ trở thành trung tâm thế giới của đào tạo thạc sĩ. Năm 2005 các đại học danh giá Hoa Kỳ thu hút đến 70 phần trăm số khoa học gia giải Nobel đương thời, một con số cực kỳ to lớn. (Nhớ đến Berlin đã từng có 14 khoa học gia giải Nobel sống đương thời!)  Năm 1963 Clark Kerr, nhà quản lý đại học lỗi lạc của Hoa Kỳ, đã cho rằng tri thức giờ đây là “khu vực đầu tàu” của sự tăng trưởng kinh tế, như ngành đường sắt ở hậu bán thế kỷ 19, và ngành công nghiệp ôtô đầu thế kỷ 20 đã từng làm.  Những hạt giống ý tưởng của đại học  Đại học là một trong ít các định chế của xã hội tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại, lâu hơn cả các vua chúa, lãnh chúa phong kiến, không những không tàn lụi đi mà ngày càng phát triển mạnh mẽ thêm. Hầu hết các đại học thời Trung cổ vẫn còn hiện hữu tại vị trí cũ của chúng, như Clark Kerr nhận xét.  Ý tưởng giáo dục châu Âu đã có từ khoảng 2500 năm trước tại Hy Lạp cổ đại. Hàn lâm viện của Platon có thể được xem là hạt nhân của học thuật đầu tiên của châu Âu, hội tụ đầy đủ các tính chất học thuật: đi tìm cái tốt, cái chân lý, bằng khoa học, bằng sự đối thoại trong không khí tự do, bằng sự tự nguyện, thầy và trò bình đẳng nhau, thầy và trò tìm đến nhau. Đó thực tế là những hạt giống ý tưởng đại học của các nhà cải cách đại học Đức Fichte, Humboldt và Schleiermacher sau này.  Nhưng đại học có tổ chức và tinh thần gần gủi với đại học chúng ta ngày nay chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ 12 tại Tây Âu, với các đại học đầu tiên là Bologna, Paris và Oxford. Mục tiêu của đại học là mối quan tâm học thuật, khoa học, mong muốn đạt đến nhận thức và tri thức, hơn là từ lý do kinh tế.  Dần dần nhà thờ và nhà nước thấy tính chất hữu ích của các tổ chức đại học, ra sức bảo hộ và giúp đỡ. Tôi xin đọc một đoạn trong hiến chương của Đại học Naples:  “Chúng ta mong muốn rằng, trong tất cả các phần đất của Vương quốc nhiều người sẽ trở thành uyên bác và thông thái, bằng cách tiếp cận được suối nguồn của tri thức, và trường học của niềm tin, để cho những người tốt nghiệp phục vụ cho công lý thánh thiện, và sẽ trở thành hữu ích cho chúng ta, cho nền hành chánh của công lý và luật pháp mà chúng ta thúc giục mọi người tuân thủ.” (Naples 1224)  Tinh thần khoa học của đại học  Nhưng câu hỏi quan trọng: tinh thần nào đã nuôi dưỡng đại học châu Âu thời Trung cổ cả ngàn năm qua? Xin thưa: đó là  tinh thần khoa học. Tinh thần này đã bắt nguồn từ thời cổ đại Hy Lạp, sau khoảng một ngàn năm, tái xuất hiện trong cuộc dịch thuật vĩ đại diễn ra cùng lúc. Trong vòng gần 100 năm, đội quân dịch thuật quốc tế mà phần lớn là học giả Ả Rập đã dịch sang tiếng La tinh các tác phẩm quan trọng của các nhà khoa học Hy Lạp và Ả rập: Aristote, Euclid, Ptolemy, Y khoa của Hippocrate và các tác phẩm Quang học, Đại số học của các học giả Ả rập.  Châu Âu đã đưa kho tàng tư liệu này vào trong chương trình giảng dạy để làm động lực phát triển. Galilei, Newton và tất cả các nhà khoa học tên tuổi khác của châu Âu, đều phải trải qua việc học tập các tác phẩm kinh điểm của Aristote trong thời sinh viên.  Khoa học có thể được tìm thấy ở nhiều nền văn hóa trên thế giới, như tại khu vực Islam hay Trung Hoa thời Trung cổ, nhưng đã không được thể chế hóa để phát triển bền vững.  Đại học phương Đông  Ở phương Đông, như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, các thể chế giáo dục cổ điển cao cũng được hoàn thiện mặt hình thức vào thế kỷ 12 tại Trung Quốc. Chu Dy và các học giả khác xây dựng chủ nghĩa tân-khổng giáo của nhà Tống, tiêu chuẩn hóa các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh, và các sách này được dùng cho các kỳ thi hoàng gia để chọn nhân tài phục vụ nhà nước, kéo dài đến đầu thế kỷ 20.   Việt Nam cũng có đại học đầu tiên vào cùng thời kỳ: Văn Miếu năm 1070, Quốc Tử giám năm 1076, với mục đích lo việc đào tạo quan chức phục vụ bộ máy hành chánh của nhà vua, lấy Nho Giáo làm hệ tư tưởng và chính trị, tương tự như Trung Hoa.  Nhưng điểm khác biệt rất cơ bản là đại học Trung Hoa không có khoa học như đại học châu Âu. “Trung Hoa có nhiều (môn) khoa học, nhưng không có khoa học, không có một quan niệm (concept) duy nhất để bắt cầu cho toàn thể các khoa học”. Các nhà triết học Trung Hoa không có tư duy hệ thống cho các khoa học như Aristote và các môn đệ đã làm. Vật lý là môn khoa học nền tảng, nhưng nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Trung Quốc Needham cho rằng có ít tư duy vật lý một cách hệ thống ở Trung Hoa, “khó có thể nói về một khoa học vật lý phát triển” ở đó. Do đó người ta không thể chờ đợi một cuộc cách mạng khoa học hiện đại như ở châu Âu thế kỷ 17.  Đưa tinh hoa văn hóa thế giới vào đất nước  Ý tưởng đại học Humboldt, hay của châu Âu tuy đã có mặt tại Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước bởi những học giả Tây học thuộc “thế hệ vàng”, nhưng nó không được thể chế hóa, theo đuổi và phát triển một cách liên tục. Nhìn chung, đại học Việt Nam dường như đã mất đi rất nhiều truyền thống quốc học lẫn Tây học. Thế hệ vàng của những trí thức Việt Nam Tây học yêu nước thế kỷ 20 lẽ ra đóng vai trò chuyển đổi nền đại học cổ truyền Việt Nam sang nền đại học hiện đại để đi vào quỹ đạo đại học thế giới. Nhưng hoàn cảnh lịch sử đã đánh mất đi vai trò lịch sử của họ.  Bây giờ, muốn đổi mới đại học một cách sâu xa, xã hội Việt Nam cần có một cuộc dịch thuật vĩ đại như thời Trung cổ ở châu Âu hay thời Minh Trị ở Nhật Bản, để đưa tinh hoa văn hóa thế giới vào đất nước. Điều này đòi hỏi xã hội phải có một thái độ cởi mở. Đại học phải lấy nghiên cứu làm đầu tàu. Đại học cần có giao lưu thường xuyên với đại học thế giới, và có cùng thước đo học thuật. Cơ chế chính trị cần phải từng bước tương thích với nhu cầu phát triển của đại học, phù hợp với quy luật thế giới, vì lợi ích sống còn của quốc gia. Đại học phải có nhiều quyền tự chủ hơn. Và điều sống còn: là đại học phải có văn hóa trọng đãi nhân tài. Phá hủy văn hóa này, là phá hủy nền đại học. Nói tóm lại, đại học Việt Nam phải có tính chất Humboldt, vừa tinh hoa, vừa phục vụ.  Lời kết luận  Với hàn lâm viện của Platon, ngôi nhà minh triết được phát họa như bản thảo học thuật đầu tiên cho nhân loại. Với sự xuất hiện của đại học Trung cổ thế kỷ 12 tại châu Âu, ngôi nhà đó được xây dựng thành các thể chế bền vững. Cả hai, hàn lâm viện và đại học, đều có chung lý tưởng: đi tìm chân lý bằng phương pháp khoa học. Khoa học trở thành động cơ của học thuật châu Âu.  Trong thế kỷ 21, sự cạnh tranh giữa các quốc gia để đạt tới đại học trác việt đã bùng nổ, xuất phát từ sự cạnh tranh kinh tế quyết liệt và từ quan niệm xem đại học như đầu tàu của công nghệ và đổi mới, tạo ra và truyền bá tri thức tinh hoa cho xã hội. Đại học chiếm ngự cả thế giới, cả những quốc gia với hệ thống chính trị không tương thích.  Chiếm được trọn thế giới, nhưng đại học lại có nguy cơ mất đi linh hồn và lý do tồn tại của nó: sự minh triết, vốn là động lực phát triển nội tại gần 2500 năm qua, để trở thành công cụ thuần túy của công nghiệp và thương mại.  Đại học Việt Nam không thể đứng ngoài cộng đồng đại học thế giới, không thể không được trao cho sứ mạng vinh quang mà các nhà cải cách Phổ đã đặt vào nó 200 năm trước: đó là sứ mạng trồng người, xây dựng con người nhân văn, xây dựng khoa học, sứ mệnh canh tân quốc gia, lấy sức mạnh tinh thần để bù đắp những thua thiệt vật chất từ hàng thế kỷ qua, vượt lên mọi lợi ích cục bộ nhất thời, để xây dựng lại giang san.   —  *Bài nói chuyện trong cuộc hội thảo BÀN VỀ TINH THẦN ĐẠI HỌC ngày 22/3/2011 tại Đại học Xã hội và Nhân văn TP HCM    Author                Quản trị        
__label__tiasang Về những câu hỏi “Tại sao?” của GS Văn Như Cương      Trong bài viết “Thi xong rồi lại phải hỏi TẠI SAO?”(1) GS&#160; Văn Như Cương tin rằng cũng như mọi năm, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay hẳn sẽ lại được Bộ GD&amp;ĐT đánh giá là nghiêm túc, bảo mật, bám sát chương trình, v.v, tóm lại là thành công tốt đẹp. Nhưng với cái nhìn của một người quan sát từ bên ngoài như GS Cương, thì kỳ thi ấy có quá nhiều điều “khó hiểu” cần phải trả lời.     Cụ thể, ông nêu làm ví dụ một loạt 6 câu hỏi như sau:   1.    Tại sao các bậc phụ huynh phải đóng tiền để hỗ trợ kỳ thi ?  2.    Tại sao nhiều thầy cô giáo không muốn xem thi và chấm thi?  3.    Tại sao so với năm 2009, số thanh tra ủy quyền của Bộ năm nay lại giảm đi 15 lần (600 người so với 9000 người)?  4.    Tại sao không thực hiện điều mà Bộ từng tuyên bố: từ năm 2009 mỗi thí sinh có một đề thi trắc nghiệm?  5.    Tại sao đề thi lại phải có phần tự chọn cho chương trình chuẩn và chương trình nâng cao? Tại sao riêng môn ngoại ngữ lại không cần?  6.    Tại sao phải thi theo cụm trường làm cho một số không ít thí sinh rất vất vả?  Quả là quá nhiều câu hỏi, khiến ta không thể không băn khoăn. Dường như sau rất nhiều cải cách, việc tổ chức những kỳ thi quan trọng của Việt Nam hiện nay vẫn chỉ là một tập hợp ngẫu nhiên các biện pháp được thực hiện mà không rõ lý do. Người trả lời tốt nhất cho những câu hỏi của GS Cương tất nhiên là Bộ Giáo dục, nhưng vì Bộ chưa bao giờ đưa ra câu trả lời rõ ràng và chính thức, nên chúng ta đành phải tự tìm cách trả lời. GS Cương đã đưa ra trong bài viết của mình một số cách lý giải mà tôi thấy đều có lý. Tôi cũng nghĩ thêm ra được vài cách lý giải khác, vàc ó lẽ ai có con em đi học cũng đều có thể đưa ra được một số câu trả lời được, theo kinh nghiệm của riêng mình mà chẳng mấy khó khăn.  Ví dụ, việc đóng góp hỗ trợ kỳ thi của phụ huynh, vốn là chuyện tự nguyện “không ai bắt buộc”. Điều này thì có con em đi học ở Việt Nam đều đã quá quen, vì nó chẳng khác gì với nhiều kiểu “tự nguyện” đóng góp nhiều thứ trong suốt 12 năm học tập ở trường phổ thông. Lý do ư? Vì đầu tư cho ngành giáo dục không đến nơi đến chốn, và/hoặc việc quản lý và sử dụng kinh phí trong ngành giáo dục không được minh bạch và hiệu quả. Thầy cô giáo không muốn xem thi và chấm thi ư, có lẽ đó là hậu quả của tình trạng “quyền rơm, vạ đá”. Công việc thì nặng nhọc, trách nhiệm thì cao, bồi dưỡng thì lại rất bèo bọt. Mà cũng có thể họ chẳng mấy tin vào sự công bằng, nghiêm túc của kỳ thi như những đánh giá chính thức từ Bộ, nên cảm thấy những hy sinh của mình là vô nghĩa. Còn số thanh tra ủy quyền giảm đi 15 lần, có thể là vì sự có mặt của lực lượng thanh tra quá đông đảo vào năm 2009 thực ra cũng chẳng mấy có tác dụng, nên không còn cần huy động đông đúc tốn kém như vậy nữa.  Một vài câu hỏi của GS Cương thiên về kỹ thuật, đòi hỏi phải hiểu biết về thi cử một chút, nhưng không đến nỗi không thể trả lời. Chẳng hạn, việc Bộ không áp dụng cách tổ chức “mỗi thí sinh một đề thi” như đã tuyên bố cũng chẳng có gì lạ. Chẳng phải đây là lần đầu tiên Bộ GD&ĐT có những tuyên bố như đinh đóng cột nhưng sau đó lại không thực hiện (có lẽ là do không thực hiện được). Các thầy cô giáo trong ngành giáo dục đã rất vui mừng chờ đợi năm 2010 sẽ sống được bằng lương, để đến giữa năm 2011 thì ai cũng biết rằng cuộc sống của thầy cô giáo còn khó khăn hơn trước nhiều do lạm phát phi mã. Riêng việc Bộ đã không áp dụng phương pháp “mỗi thí sinh có một đề thi” có lẽ lại là một điều hay, trước hết là vì trên thế giới có lẽ chẳng ai làm như thế cả, hơn nữa nếu thực hiện ở Việt Nam trong điều kiện ra đề thi và in sao đề thi thiếu chuyên nghiệp và cận ngày thi như hiện nay thì việc sai sót dây chuyền và hàng loạt là rất dễ xảy ra.   Hai câu hỏi cuối cùng mặc dù liên quan đến những vấn đề kỹ thuật khác nhau nhưng lại có chung một câu trả lời: Tại sao ư, chẳng có tại sao hết! Những việc ấy, giống như nhiều việc khác ở Việt Nam, đã được quyết định mà không hề dựa trên ý kiến chuyên môn của những người có hiểu biết nhiều nhất về thi cử và khảo thí, mà dựa trên ý kiến của số đông, vốn là những người không hiểu rõ những gì mình đang góp phần ra quyết định.  Tất cả những câu hỏi nêu trên dẫn đến một câu hỏi cuối cùng: Tại sao Bộ lại cứ phải ôm lấy công việc mà các Sở có thể làm? Theo tôi, đây không phải là một câu hỏi, mà là ý kiến góp ý của GS Cương đối với Bộ Giáo dục, đó là: xin Bộ hãy trao bớt các quyền lực và công việc mà mình đang nắm xuống các địa phương, tức các Sở Giáo dục (và các trường đại học, trong trường hợp kỳ thi đại học). Có vẻ như GS Cương cho rằng chỉ cần giao quyền từ trung ương xuống địa phương thì mọi câu hỏi tại sao ở trên sẽ tự động mất đi, và mọi việc sẽ được giải quyết ổn thỏa.   Tại sao Bộ không giao quyền cho các địa phương hoặc các trường? Tôi tin rằng Bộ Giáo dục cảm thấy mình có những lý do rất đúng đắn để giữ lại quyền tổ chức các kỳ thi quan trọng, bởi một khi giao quyền đi thì sẽ xảy ra tình trạng mỗi nơi làm một cách, thiếu thống nhất, và Bộ sẽ không có điều kiện để kiểm tra, giám sát cho xuể nếu các địa phương cố tình làm sai. Vì vậy, Bộ cần phải nắm lấy các kỳ thi để tạo sự công bằng và giữ vững chất lượng – những mục tiêu quả thật là quan trọng, và vì vậy, việc Bộ vẫn tiếp tục nắm toàn quyền trên các kỳ thi quan trọng xem ra là hoàn toàn chính đáng.           Có lẽ chúng ta cần một lần dứt khoát xác định rõ mục tiêu của cải cách thi cử: cải cách là vì lợi ích của chính người học, và vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải vì thành tích của ngành, hay để bảo vệ quan điểm của một vài người, hay vì những mục tiêu ngầm nào khác, hay, đơn giản là cải cách chỉ là để … cải cách.         Nhưng ngay lập tức ta lại vấp phải những câu hỏi lớn hơn, là phải chăng sự công bằng có thể được đem lại bằng cách thống nhất tất cả mọi thứ như hiện nay: một kỳ thi chung, một điểm sàn cho mỗi khối thi, một bộ sách giáo khoa, một chương trình khung, một mức lương thống nhất cho các giáo viên, một mức học phí cho một cấp học? Và phải chăng chỉ có Bộ Giáo dục mới có thể kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của ngành giáo dục một cách hiệu quả nhất để đem lại chất lượng cho giáo dục Việt Nam? Thực tế của nền giáo dục Việt Nam hiện nay đã cho thấy câu trả lời là không phải thế.   Là một nhà giáo với kinh nghiệm gần 30 năm, đồng thời là một phụ huynh, tôi có một kinh nghiệm quý như thế này: khi ta giải một bài toán theo cách làm mò, thì chẳng bao lâu sẽ bị rơi vào tình trạng vừa trả lời xong một câu hỏi thì ngay lập tức phát sinh một (hoặc nhiều) câu hỏi khác phát sinh, và cứ thế kéo dài mãi. Mỗi lần như vậy, tôi luôn nói với học sinh, hoặc con cái của tôi: Cần phải trở lại từ đầu, và bắt đầu từ những điều căn bản.   Kinh nghiệm này giờ đây có vẻ cũng đúng áp dụng được với việc cải cách thi cử của Việt Nam. Có lẽ chúng ta cần một lần dứt khoát xác định rõ mục tiêu của cải cách thi cử: cải cách là vì lợi ích của chính người học, và vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải vì thành tích của ngành, hay để bảo vệ quan điểm của một vài người, hay vì những mục tiêu ngầm nào khác, hay, đơn giản là cải cách chỉ là để … cải cách.   Chỉ khi nào chúng ta xác định rõ ràng mục tiêu của cải cách thi cử thì lúc ấy mới có thể bàn chuyện nên làm gì và làm như thế nào. Bằng không, thì e rằng những câu hỏi “tại sao”giống như những câu hỏi của GS Cương sẽ cứ tiếp tục vang lên sau mỗi kỳ thi mà không bao giờ chấm dứt.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Về xây dựng lại Chương trình & Sách giáo khoa      Trong những năm qua, nếu không là tất cả, thì phần lớn các nhóm tác giả đều đã làm việc cật lực và hết sức tâm huyết. Rồi các nhà quản lí và hàng vạn người góp ý trăn trở. Thế nhưng ở tất cả các môn, sách giáo khoa nào cũng bị kêu. Thành ra ai cũng bực tức (kể cả tác giả), cũng thấy bị thiếu tôn trọng.  Thực tế này cho thấy Chương trình và Sách giáo khoa (CT &amp; SGK) của chúng ta có những bất cập lớn là điều rõ ràng, không cần phải mất công tranh luận nữa. Điểm mấu chốt bây giờ là làm gì và làm cách nào để có được một Chương trình và các bộ sách giáo khoa tốt hơn.    Qui trình biên soạn  Đây cũng là điều trăn trở của nhiều người và được chia thành hai trường phái rõ ràng. Một phía chủ trương xây dựng lại cả CT lẫn SGK. Phía kia lại cho rằng chỉ nên cải tiến, chỉnh sửa cả CT lẫn SGK. Phái nào cũng có những lí luận sắc bén của mình, làm cho các nhà quản lí cấp cao khó biết chọn giải pháp nào cho hợp lí.  Vậy chúng ta phải làm gì? Để trả lời cho câu hỏi này, theo tôi trước hết chúng ta cần phân tích cách thức chuẩn bị biên soạn CT & SGK trong thời gian vừa qua. Thông tin càng chi tiết, càng chính xác bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Có như vậy, các nhà khoa học, sư phạm, quản lí mới … có thể đưa ra được nhận định phù hợp. Nhờ dựa trên những số liệu có thật, những thực tế đã diễn ra chứ không phải những phỏng đoán, nên những đề xuất thay đổi tiếp theo cũng sẽ khả thi hơn và tập trung hơn. Rất tiếc, theo tác giả được biết, thì những thông tin chính thức về vấn đề này rất hiếm. Suốt ba năm vừa qua, khi cộng tác cùng Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đánh giá CT & SGK, chúng tôi cũng đã nhiều lần kiến nghị được cung cấp tài liệu. Tuy nhiên những đề nghị của chúng tôi không được đáp ứng, ngoài một văn bản của Viện Khoa học Giáo dục nói về qui trình biên soạn CT & SGK, trong đó chủ yếu nêu về các yêu cầu (khoa học, sư phạm, …) của các đối tượng này. Vì vậy nói sâu thì không thể được, mà nói chung chung dễ bị “lạm ngôn”.  Trong quá trình làm việc, một ý niệm chung chúng tôi được biết là ở hầu hết các môn, chương trình từng cấp được biên soạn hầu như song song với việc bắt đầu viết sách giáo khoa của cấp đó. Có lúc có môn còn làm theo qui trình ngược, tức là chép từ các đề mục của sách giáo khoa ra. Từng môn đã vậy thì Chương trình tổng thể của tất cả các môn càng khó mà thống nhất, hoàn chỉnh được. Từ đó dẫn đến quá tải, thiếu tính liên thông giữa các cấp, các môn là điều khó tránh khỏi. Thực tế đã diễn ra đúng như vậy, gây bức xúc cho mọi tầng lớp xã hội.  Cho dù không có thông tin chính xác để nói đầy đủ được, tôi vẫn có cảm giác rằng điểm mấu chốt đầu tiên dẫn đến những bất cập trong CT & SGK chính là qui trình biên soạn. Dĩ nhiên sau đó còn nhiều vấn đề phải bàn, song chưa giải quyết đúng đắn vấn đề này thì không bao giờ chúng ta tìm ra lối thoát.  Có nhiều yêu cầu cho qui trình biên soạn mà các nhà khoa học quản lí chắc chắn đã và sẽ đề ra. Nhưng vấn đề cốt yếu theo tôi là tính bao quát và tính đồng bộ. Hay nói cách khác là cần có (nhóm) tổng công trình sư cho toàn bộ Chương trình, cũng như (nhóm) tổng công trình sư cho từng  môn.   Mỗi một chương trình có một đặc thù riêng của nó. Tôi chỉ nêu một vài ví dụ. Khi xây dựng Chương trình tổng thể, điều cần tính đến trước tiên ắt hẳn là thời gian học của học sinh.  Điều hiển nhiên, càng cấp thấp thì thời gian trên lớp càng phải ít hơn. Không chỉ ít hơn 1-2 tiết mỗi tuần mà phải đáng kể, có thể đến 4-5 tiết mỗi tuần. Bao nhiêu cho phù hợp phải có ý kiến của các nhà y khoa, các nhà tâm lí… Phân bổ trên lí thuyết của Chương trình chuẩn hiện nay là: Lớp  1: 21 tiết, Lớp 2-3: 22 tiết, Lớp 4-5: 24 tiết, Lớp 6: 27 tiết, Lớp 7: 29 tiết, Lớp 8-11: 30 tiết và Lớp 12: 29, 5 tiết. Sự chênh lệch về thời gian học giữa Trung học cơ sở và Trung học phổ thông là không đáng kể. Rõ ràng điều này là quá tải với các em Trung học cơ sở, khi mà sức khoẻ của các em kém xa so với các anh chị ở bậc Trung học phổ thông. Với việc phải học ít nhất 260 phút/1 buổi, nếu như không phải học 2 buổi, và chỉ tính thêm mỗi thời gian làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài cho ngày hôm sau, thì học sinh Trung học cơ sở của chúng ta phải học ít nhất 8 giờ mỗi ngày, tức là bằng một ngày làm việc của cán bộ công chức. Trên thực tế thì nhiều hơn, vì số tiết trên chưa kể tới các nội dung giáo dục khác và những hoạt động giáo dục ngoài giờ. Còn nếu như trường nào tổ chức học 2 buổi /ngày (chẳng hạn các trường chuẩn quốc gia), thì thời gian tối thiểu học sinh các cấp (kể cả Tiểu học) mỗi ngày ở trên lớp là 9 giờ /ngày. Không cần phải đi học thêm, chúng ta có thể hình dung việc học hành của con em chúng ta nặng nề như thế nào?  Như vậy, nếu khống chế yếu tố thời gian trước, thì chúng ta mới bắt đầu cân đong đo đếm xem đưa môn nào vào dạy, môn nào không. Đối với cuộc sống, có môn nào mà không quan trọng. Chỉ xét về yếu tố đó để rồi bắt học sinh học sẽ không bao giờ đem lại một Chương trình tổng thể tốt. Trên thực tế vừa qua đã có khá nhiều biểu hiện này, mà việc tranh luận không có hồi kết thúc vì ai cũng đứng trên góc độ tầm quan trọng cả! Cho nên mới có chuyện chương trình đã quá tải, nhưng môn nào cũng thấy thiếu thời gian. Đó là chưa kể một số môn (chẳng hạn, Luật giao thông) đang xếp hàng đòi đến lượt mình được đưa vào!  Cần phải thấy rằng có những điều rất cần thật đấy, nhưng học sinh có thể học ở môi trường khác, chứ không nhất thiết phải bê hết cả vào trường học. Khi đã biết rõ thời gian khống chế, thì người tổng công trình sư sẽ biết được môn nào sẽ do Nhà trường đảm nhiệm, môn nào để cho lĩnh vực khác. Chẳng hạn, môn Mỹ thuật, Âm nhạc phổ cập cho Tiểu học là đúng, thì đến Trung học cơ sở nên dành cho các câu lạc bộ chăng? Hay môn ngoại ngữ thì nên chăng chỉ bắt đầu từ Trung học phổ thông, còn các cấp dưới dành cho câu lạc bộ?… Ngay trong một môn cũng thế, có những cái có thể không cần dạy (ở trường) mà học sinh vẫn biết. Khi nghiên cứu một bộ sách giáo khoa Lớp 1 của Singapore, chúng tôi thấy họ không dạy phép so sánh giữa các số trong phạm vi 20. Nghĩ kĩ mới thấy họ có lí, vì đứa trẻ 3 tuổi cũng đã biết là 2 cái kẹo ít hơn 5 cái kẹo. Riêng như vậy đã bớt được 2-3 tiết cho trẻ nhỏ vui chơi!  Dĩ nhiên thời gian mới chỉ là một yếu tố. Sau đó còn phải định đoạt được khối lượng kiến thức cho từng môn, và lại phải đảm bảo sự hỗ trợ của môn này cho môn kia… Nói tóm lại đó là một khối lượng công việc khổng lồ, cần phải được xét tổng thể, định đoạt ngay từ đầu, trước khi đi vào công việc cụ thể là viết các bộ sách giáo khoa. Việc này cần sự thảo luận kĩ càng và phối hợp chặt chẽ của nhiều nhà chuyên môn. Nói đến đây hẳn rằng không ít người lắc đầu cho rằng nếu cứ bàn cãi như vậy thì không tìm ra hồi kết thúc. Điều đó dường như đúng trong trào lưu hiện nay. Đúng, vì ý kiến có muôn hình muôn vẻ. Đứng về một khía cạnh nào đó, từng ý kiến có cái lí của nó. Nhưng nhiều cái có lí đứng cạnh nhau có khi lại thành cái vô lí, hoặc là bất khả thi. Khi đó thử hỏi làm sao (nhóm) tổng công trình sư của toàn bộ Chương trình hay (nhóm) tác giả của một quyển sách giáo khoa cụ thể có thể đáp ứng được mọi yêu cầu của người góp ý? Do vậy phải có lối thoát khoa học. Đó chính là công tác phản biện. Phải thực hiện công việc phản biện không chỉ đối với sách giáo khoa, mà ngay cả đối với chương trình tổng thể cũng như từng môn.  Hệ thống phản biện        Chúng ta không có phản biện theo đúng nghĩa của nó để rồi làm yếu đi hoặc thủ tiêu vai trò phản biện. Đó chính là nguyên nhân căn bản thứ hai dẫn đến sự bất cập của CT & SGK hiện nay.        Phải nói rằng, mỗi một sản phẩm về CT & SGK của ta đều được gửi đi lấy ý kiến nhận xét rất công phu của rất nhiều người và nhiều lần. Rồi sau đó còn có hội đồng thẩm định. Thoạt nghe có vẻ như thấy kì công đến thế còn gì. Tuy nhiên những vấn đề nhức nhối của CT & SGK mà nhiều người cảm thấy nói lên rằng qui trình này vẫn không ổn. Vậy cái đó là gì?  Cách đây hai năm, khi đánh giá CT & SGK cho bậc tiểu học và Trung học cơ sở theo đơn đặt hàng của Liên hiệp các Hội KHKTVN, chúng tôi rất bất ngờ khi phát hiện ra điều tưởng chừng như không thể xảy ra là chúng ta không có phản biện theo đúng nghĩa của nó để rồi làm yếu đi hoặc thủ tiêu vai trò phản biện. Đó chính là nguyên nhân căn bản thứ hai dẫn đến sự bất cập của CT & SGK hiện nay.  Về vấn đề soạn chương trình và viết sách giáo khoa, cho dù là của môn có vẻ rất dơn giản như Toán, tôi khẳng định không có một con đường duy nhất và không có một sản phẩm tối ưu. Không ai có thể viết một quyển sách giáo khoa mà không bị chê trách vì có rất nhiều cách tiếp cận. Tiếp cận mỗi kiểu đều có hạn chế riêng. Nếu đưa lấy nhận xét đại trà thì phần lớn chỉ đi vào tiểu tiết. Nhận xét trong một phạm vi nhỏ thì có thể đúng trong khung cảnh đó, nhưng sang khung cảnh xa hơn chưa chắc đã hợp lý. Do đó có khi càng sửa theo càng sai vì càng lệch khỏi ý tưởng chính của quyển sách. Đôi khi sự công kích quá đáng có thể lấn át mất ưu điểm của sản phẩm.  Đó là chưa kể, trong khoa học, chân lý chưa chắc đã thuộc về số đông. Thấy như vậy mới thông cảm và hiểu được tâm trạng của tác giả sách giáo khoa trước những ý kiến đóng góp khác nhau. Vì thế, nếu cứ đưa ra nhận xét tràn lan rộng rãi thì tác giả không bao giờ “ăn ngon ngủ yên” dù đã làm việc cật lực. Do đó ý kiến đại chúng tuy rất phong phú, nhưng cũng chỉ nên xem có tính chất tham khảo.  Người phản biện thì khác hoàn toàn. Ông ta phải cân đong, suy tính, tìm tòi tài liệu đối chiếu. Ông ta phải phân tích cho được hạn chế, ưu điểm của cách tiếp cận này hay kia. Sau khi so sánh cân đối giữa ưu điểm và hạn chế thì rút ra kết luận và có thể chấp nhận hay không. Nếu chấp thuận, thì mới tính đến chuyện góp ý nhằm cải tiến và bớt đi một số lỗi (chứ chẳng thể hết được). Còn nếu thấy bất cập thì kiên quyết phủ định hoàn toàn, chứ không có chuyện sửa đi sửa lại, càng không có chuyện tác giả muốn chấp nhận ý kiến phản biện hay không thì tùy. Chính đánh giá phải chủ yếu dựa trên hệ thống phản biện là nhằm đảm bảo tính hệ thống và tính đầy đủ đã nêu ở phần trước. Đây là cách làm chuẩn, thông thường trên thế giới với các công trình khoa học. Và với cách làm này thì quá trình đánh giá mới có thể kết thúc được.  Dĩ nhiên, cũng có trường hợp phản biện sai nhưng thế giới đã thống kê là tỉ lệ đó vô cùng nhỏ. Còn như kiểu lấy ý kiến đánh giá hiện nay, tác giả thích thì sử dụng, không thích thì thôi. Điều đó cũng gây tác động ngược lại là nhiều người viết nhận xét, vốn đã chẳng thích thú gì, lại càng không muốn tốn công tốn sức làm những điều biết chắc (hoặc nghi là) vô bổ.  Đa dạng hóa sách giáo khoa  Cuộc thảo luận vừa qua có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng có một ý được nhiều người tán thưởng chính là tư tưởng: một Chương trình, nhưng nhiều bộ sách giáo khoa. Đó là một kết luận đúng, phản ánh thực trạng khách quan là không thể có sản phẩm tối ưu. Với sự cạnh tranh về tính khoa học cũng như kinh tế (bán được sách), các nhóm tác giả phải làm việc dày công hơn nữa. Và ý kiến phê phán của dư luận cũng sẽ hợp lí hơn, bởi lẽ ai không thích cách tiếp cận này thì có thể lựa chọn cái khác thay thế. Thậm chí, nếu thích tự người sử dụng (thầy cô giáo, học sinh, phụ huynh) có thể tham khảo mỗi vấn đề ở một bộ sách khác nhau!  Được phép viết nhiều bộ sách khác nhau không chỉ đem lại lợi ích lớn lao cho học sinh, mà cũng là động lực thúc đẩy tính sáng tạo của các (nhóm) tác giả, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng và đề cao họ. Nếu viết sách ra mà bị phản biện từ chối bất hợp lí, tác giả có thể tìm nhà xuất bản khác để đăng. Tác giả cũng có thể chủ động tìm tòi sáng tạo để viết những bộ sách phù hợp với từng vùng, từng đối tượng cụ thể. Thời gian biên soạn sách lúc đó chắc chắn cũng sẽ được rút gọn nhiều. Còn số lượng tác giả chắc chắn sẽ không lớn như hiện nay. Vai trò quản lí của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc biên soạn các bộ sách giáo khoa lúc đó chỉ là giám sát để không xảy ra khuynh hướng cục bộ hóa, tức là nơi nào đó chỉ nhăm nhăm dùng sản phẩm của địa phương mình biên soạn. Khi đó Nhà nước (mà cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo) sẽ bớt đi một gánh nặng lớn, để tập trung trí tuệ vào những vấn đề khác.  Dĩ nhiên, để có thể có được nhiều bộ sách tốt, Chương trình tổng thể và từng môn phải thể hiện được độ mở của mình. Có nghĩa là ngoài những kiến thức chuẩn tối thiểu (mà kì thi tốt nghiệp phổ thông chỉ dựa vào đó) thì cần cho phép mở rộng nâng cao (nhưng không nhân nhượng về định lượng thời gian dạy và học). Nếu ai đó đủ sức học sách viết cao hơn, sau đó có lợi thế trong việc thi cử vào những trường đại học tốt hơn thì cũng là lẽ đương nhiên. Chắc chắn cửa của Đại học Harvard lừng danh của Mỹ chỉ mở cho rất ít sinh viên!  ***  Với cách tiếp cận nêu trong bài này, rõ ràng còn nhiều vấn đề cần phải phân tích kĩ lưỡng hơn. Tuy có thể thấy rằng cần phải xây dựng lại CT & SGK, tuân theo những yêu cầu khoa học nghiêm ngặt, mà ở trên chỉ là vài yêu cầu cơ bản.  Xây dựng lại, không có nghĩa là chúng ta xóa bỏ hoàn toàn chương trình và các bộ sách giáo khoa hiện nay. Chúng ta sẽ kế thừa chúng, chắt lọc những ưu điểm và loại bỏ bớt những bất cập. Mà điều đó cần có thời gian, không thể làm vội vàng. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy cùng nhau động viên sử dụng bộ sách hiện nay, chứ đừng có sửa sang một vài tiểu tiết (trừ phi sai quá thì in thêm đính chính). Đi theo con đường sửa sang một đôi chỗ, để rồi sách năm nay khác năm trước một vài chỗ, thì chính là chúng ta tiếp tục lặp lại hiện tượng muôn thuở đã bị dư luận xã hội lên án gay gắt nhiều năm qua.  Lê Tuấn Hoa      Author                Quản trị        
__label__tiasang VEF hỗ trợ Việt Nam xây dựng các trường đại học xuất sắc về KH&CN      Đó là khẳng định của Chủ tịch Hội đồng quản  trị Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) Silvera Board tại buổi làm việc với Bộ  trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân mới đây.    Ông Silvera Board chia sẻ, ngoài các phương thức hỗ trợ truyền thống, thời gian tới VEF đang có kế hoạch xây dựng các trường đại học tại Việt Nam theo mô hình giáo dục của Mỹ. Thông qua VEF, phía Mỹ sẽ tiếp nhận các nghiên cứu sinh, các chuyên gia từ Việt Nam sang học tập, đào tạo tại Mỹ. Trong tương lai, họ sẽ là nguồn cán bộ quan trọng của Việt Nam trong việc đào tạo các thế hệ tiếp theo phục vụ phát triển đất nước.  Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, hiện nay, Việt Nam đang thiếu những cơ sở nghiên cứu mạnh so với khu vực và thế giới. Cùng với đó là sự liên kết giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt là với các doanh nghiệp về KH&CN. Việc nghiên cứu, đầu tư phát triển khoa học hiện nay chỉ có tại các Viện, Trung tâm nghiên cứu,… mà chưa có sự đầu tư lớn ở các trường đại học. Trong khi đó, tại Mỹ, phần lớn các phát minh, sáng chế về KH&CN đều xuất phát từ các trung tâm thuộc các trường đại học. Qua đó, việc xây dựng các trường đại học tại Việt Nam có hướng chuyên về nghiên cứu KH&CN sẽ góp phần giải quyết những hạn chế trên.    Author                Quản trị        
0.1559633027522936
__label__tiasang Vì một phương án thi cử hữu hiệu hơn      Để đạt được mục tiêu chủ yếu đề ra đối với thi tốt nghiệp THPT là đánh giá đúng thực chất, năng lực của học sinh, tôi xin nêu ra một phương án trung gian giữa hai phương án 1 và 2 của Bộ GD&ĐT, tạm gọi là phương án 4. Với phương án mới này, chúng ta sẽ lần lượt trả lời 9 câu hỏi.    1. Số môn thi    Ngay trong đề xuất phương án 1, cho phép thi tự chọn, Bộ GD&ĐT đã nêu nguy cơ dẫn đến học lệch ở trường phổ thông. Tỉ lệ chọn thi các môn Địa lí, Lịch sử, Sinh học và Ngoại ngữ (ở khu vực nông thôn, miền núi) thấp đến thê thảm trong năm 2014 về lâu dài sẽ gây tác động tiêu cực đến vai trò của các môn học này trong nhà trường. Số môn thí sinh phải học để thi theo giải pháp mới sẽ là 8, tất cả đều bắt buộc, giống như phương án 2 được các trường đại học ủng hộ.   Về mặt giáo dục, thi tốt nghiệp 8 môn văn hoá cơ bản đảm bảo duy trì nguyên tắc đánh giá toàn diện ở bậc giáo dục phổ thông. Chương trình hiện hành chắc chắn là có nhiều khiếm khuyết, nhưng không phải hoàn toàn là “đồ vứt đi”. Để sửa chữa thì phải tìm những giải pháp tích cực nhằm bổ khuyết cho nó trong khi chuẩn bị một chương trình khác hoàn thiện hơn, chứ không thể theo kiểu “buông xuôi”, “xoá hết làm lại” (bởi nếu thế, một cách biện chứng thì sẽ phải truy cứu lại trách nhiệm của tất cả những người liên quan trong việc xây dựng chương trình hiện hành).  Trong khi hệ thống phân luồng, phân ban, định hướng nghề nghiệp chưa tốt, cần phải xem kiến thức và kĩ năng của cả 8 môn văn hoá cơ bản này như là nền tảng căn bản cho thế hệ trẻ về sau, kể cả khi đi làm hay đi học ở các bậc học cao hơn, bởi đào tạo nghề hay đào tạo đại học không thể thay thế hoàn toàn chức năng giáo dục tổng quát của giáo dục phổ thông. Đây là tiền đề tối quan trọng để đưa tất cả các môn học ở nhà trường phổ thông về vị trí ngang bằng nhau, khắc phục tình trạng học lệch, đặt nặng “môn chính”, xem nhẹ “môn phụ”,… Riêng với môn Ngoại ngữ, cũng giống như từ trước 2014, những cơ sở giáo dục nào có đủ điều kiện dạy môn này suốt 3 năm THPT thì sẽ bắt buộc thi, còn cơ sở nào không đủ điều kiện thì chỉ cần tạm bỏ qua (trước 2014 là thi một môn khác thay thế).  2. Thời lượng thi  Theo phương án 4, tổng thời gian thí sinh phải làm các bài thi sẽ là 600 phút (hoặc 540 phút ở các cơ sở giáo dục được bỏ qua môn ngoại ngữ), tương đương với thời lượng trung bình của phương án 1 được đa số các Sở GD&ĐT ủng hộ, và tăng 18 % so với thời lượng thi từ trước 2014. Thời lượng để đánh giá một nhóm kiến thức, kĩ năng của một môn học nào đó không thể quá ít, nếu muốn đảm bảo hiệu quả tác động ngược trở lại tiến trình dạy học trong nhà trường. Đây là một điểm vướng mắc chính của phương án 2, bởi thi tích/tổng hợp nhiều môn thì thời lượng dành cho mỗi môn là bao nhiêu, và tổng thời gian của mỗi bài thi là bao nhiêu, tất cả chưa được hình dung rõ ràng.  Trong phương án 4, sẽ có 5 buổi thi, mỗi buổi có tổng cộng 120 phút làm bài, tất cả đều bắt buộc (Toán; Ngữ văn; Lịch sử + Địa lí; Vật lí + Hoá học; Sinh học + Ngoại ngữ). Số buổi thi như vậy sẽ thấp hơn so với trước 2014, và bằng với phương án 2. So với phương án 1, số buổi thi sẽ giảm bớt 3, nhưng cả hai có cùng bản chất vì vẫn là kì thi 8 môn với 8 bài thi. Lợi ích nằm ở chỗ, khi thi bắt buộc 8 môn, số phòng thi, số thí sinh và lực lượng giám thị hoàn toàn ổn định, không có gì phức tạp trong việc tổ chức so với trước 2014. Giữa mỗi buổi thi ghép môn, chỉ cần 15-30 phút giải lao tại chỗ, thu bài thi môn trước và phát đề thi môn sau mà không cần phải cho thí sinh di chuyển để thay đổi phòng thi như khi thi tự chọn. Do đó, hiệu suất tổ chức kì thi sẽ cao hơn rất nhiều.  Về mặt giáo dục, cách tốt nhất vẫn là tổ chức thi mỗi môn một buổi, dù môn ấy thời lượng ít hay nhiều, vì thí sinh còn có một khoảng thời gian tối thiểu để ôn bài. Nhưng giả sử chấp nhận việc ghép môn thi nhằm trước tiên là giảm số buổi thi (như kì thi 2014) và tiết kiệm phần nào chi phí, thứ đến là hướng đến các bài thi tích hợp trong tương lai, thì phương án 4 là một bước đệm khả dĩ. Thi các môn độc lập với thời lượng vừa đủ vừa bớt gây băn khoăn đối với học sinh và giáo viên, vừa kế thừa những thay đổi theo hướng tích cực của kì thi 2014 trong cách ra đề thi.  3. Chú trọng kết quả học tập trong năm  Phương án 4 này có lợi ích rất rõ ràng trong việc sử dụng kì thi tốt nghiệp để tác động ngược trở lại phương pháp dạy học ở trường phổ thông, thông qua cách thức ra đề. Một thực tế cần phải nhìn nhận, đó là sự cách biệt về điều kiện hoạt động và về trình độ tổ chức giáo dục giữa các vùng miền ở nước ta còn quá lớn. Trước mắt, giao hẳn cho các cơ sở giáo dục hay các địa phương tự chịu trách nhiệm xác nhận kết quả tốt nghiệp THPT của học sinh mà không thông qua một kì thi quốc gia là một việc hàm chứa nhiều nguy cơ, vì khó đảm bảo được điều kiện thực hiện đồng nhất.  Để điều hoà được nhu cầu địa phương với chuẩn mực quốc gia, đề thi cần được thiết kế sao cho có tính phân loại cao, để xác định ít nhất 3 nhóm trình độ:  •    nhóm chuẩn: cần đạt được một ngưỡng tối thiểu ở mỗi môn học, tương đương với học lực trung bình trong năm, nhưng không thể thấp hơn;  •    nhóm khá: yêu cầu cao hơn so với nhóm chuẩn, đáp ứng nhu cầu tuyển sinh đại học của các trường có chất lượng khá;  •    nhóm giỏi: yêu cầu cao nhất, dành cho học sinh giỏi và xuất sắc của chương trình chuẩn và học sinh chương trình phân ban, nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển sinh của các trường đại học tốp đầu.  Kinh nghiệm cho thấy, việc ra đề có tính phân loại như thế hoàn toàn nằm trong tầm tay, và lại tương thích cao độ với toàn bộ chương trình hiện hành, cả chuẩn và phân ban. Chỉ khi đề thi bám sát chương trình và có tính phân loại cao, cùng với mục tiêu đánh giá chú trọng các kĩ năng tư duy bậc cao, tác động ngược trở lại từ kì thi đối với tiến trình dạy học trong năm mới có thể thấy được rõ ràng. Khi tiến trình dạy học được điều tiết đồng bộ với kì thi tốt nghiệp, độ tin cậy của cả hai hoạt động kiểm tra đánh giá này sẽ dần dần được nâng cao, là cơ sở để tiến thêm một bước nữa đến việc sử dụng kết quả thường kì trong xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học.  4. Không gây xáo trộn cho học sinh và giáo viên  Tác động tích cực trước tiên của phương án 4 là đối với vai trò của các môn học, tức tác động đến công việc của giáo viên trong nhà trường phổ thông. Ở đây cần xem xét vấn đề trong toàn bộ diễn biến thay đổi từ thi tốt nghiệp 4 môn những năm 1980-1990, và 6 môn từ khoảng đầu những năm 2000 cho đến 2013. Nhược điểm lớn nhất của các kì thi 4 môn hay 6 môn, đó là tình trạng đối phó và cắt xén chương trình học hàng năm mỗi khi Bộ GD&ĐT công bố môn thi vào cuối tháng 3. Với thi tự chọn một số môn như trong năm 2014 hay trong phương án 1, cũng không thể đảm bảo được vai trò của môn học (và giáo viên) ở những môn có quá ít học sinh chọn thi; tương quan thầy-trò trong thực tế lớp học sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong phương án 4, cả 8 môn văn hoá cơ bản đều thi bắt buộc, chấm dứt sự phân biệt môn chính môn phụ, giáo viên môn nào cũng như nhau, tất cả phải đầu tư dạy dỗ nghiêm túc không chỉ ngay từ đầu năm lớp 12 mà cả trong toàn bộ 3 năm THPT. Đó cũng là cách để đưa việc dạy-học trở về trạng thái bình thường, tránh “no dồn đói góp” chỉ tập trung “tăng tốc” và đối phó ở giai đoạn thi cử, rải đều quá trình trang bị kiến thức và kĩ năng cho học sinh trong suốt nhiều năm học. Đây là điều kiện không thể thiếu nếu muốn dạy học thực chất, tăng cường sử dụng kết quả đánh giá thường kì trong việc xác nhận tốt nghiệp THPT.  Tác động đến học sinh của phương án này là điểm đáng kể nhất. Về mặt tâm lí, học sinh đương nhiên muốn thi ít môn. Thực tế là ai cũng thừa nhận tình trạng học lệch ở trường phổ thông, học sinh chỉ chú trọng các môn thuộc khối thi đại học mà lơ là các môn khác, nhất là khi môn ấy thuộc diện “không thi” (trong các kì thi 4/6 môn, hay khi thi tự chọn). Trong khi đó, tạm gác qua những điểm bất cập trong các môn học hiện hành, thì những kiến thức và kĩ năng tổng quát cần thiết cho mọi công dân đều ít nhiều hiện diện trong từng môn học. Lơ là, bỏ qua một môn học không phục vụ mục đích thi đại học của mình, học sinh cũng đã bỏ qua luôn cơ hội trang bị những năng lực hành động cho mình trong tương lai. Thi 8 môn dĩ nhiên ít học sinh nào muốn, nhưng làm giáo dục là hướng đến cái tốt dài hạn trong tương lai, chứ không chỉ để thoả mãn cái mong muốn nhất thời của đối tượng giáo dục. Cũng như thầy cô giáo trên lớp, không ai hỏi xem học trò muốn thi phần nào để mình giới hạn nội dung thi vào những phần ấy. Các hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá, thi cử chỉ cần đảm bảo được sự đồng bộ nội tại, đồng thời chú trọng các biện pháp đi kèm (thời lượng thi hợp lí, đề mở, chú trọng năng lực tư duy,…) để giảm bớt áp lực tâm lí và sự căng thẳng cho thí sinh.  Vì vậy, việc lựa chọn một giải pháp đổi mới thi cử có tính ổn định lâu dài, có lộ trình chuyển tiếp hợp lí là hết sức cần thiết. Đáng tiếc là, Bộ GD&ĐT trong vòng nửa năm qua đã có quá nhiều động thái thay đổi vội vã, thiếu cơ sở khoa học chặt chẽ, dẫn đến nhiều xáo trộn không đáng có. Phương án 4 rất dễ dàng thực hiện trong điều kiện hiện nay để có được một kì thi tốt nghiệp THPT với chất lượng xác thực hơn, đồng thời đảm bảo được tính ổn định và khắc phục dần những khuyết điểm của chương trình giáo dục hiện hành cho đến khi xây dựng và triển khai được một chương trình mới hoàn chỉnh.  5. Tạo cơ sở cho các trường đại học tuyển sinh  Phương án 4 là một bước chuyển tiếp có tính khả thi cao đối với việc bãi bỏ kì thi tuyển sinh đại học, đồng thời tăng cường tính tự chủ của các trường đại học trong việc tuyển sinh. Trước tiên là về phạm vi kiến thức, kĩ năng, kì thi bắt buộc 8 môn sẽ cho phép các trường có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về bất cứ thí sinh nào, cũng như tiên đoán được tốt hơn năng lực chuyên môn của các em (thông qua đối chiếu kết quả thi tốt nghiệp 8 môn với điểm trung bình của cả 8 môn ấy trong suốt 3 năm THPT). Sau đó là với những trường hay ngành muốn duy trì cách tuyển sinh theo khối thi truyền thống, việc sử dụng kết quả của riêng từng môn là rất dễ dàng, kể cả trong việc xác định trọng số cho môn chính hay tính hệ số cho đối tượng ưu tiên. Hơn nữa là, với những trường/ngành không muốn tuyển theo khối truyền thống, mà là theo kết quả tổng thể hay theo những nhóm môn học khác nhau, thì tất cả cũng đã có sẵn đầy đủ mà không cần phải tốn kém thêm cho nhiều lần thi.  Đối với yêu cầu phân tầng đại học, mà một trong những yếu tố xác định là chất lượng tuyển đầu vào, giải pháp này cũng có lợi, bởi khi đề thi có tính phân loại cao, các thí sinh đạt chuẩn có thể nộp đơn ứng tuyển vào bất cứ trường đại học, cao đẳng, trung cấp nào trong nước. Các trường có chất lượng khá, muốn tuyển nguồn sinh viên tốt hơn chỉ cần nâng cao mức yêu cầu (qua điểm thi tốt nghiệp và điểm trung bình ở THPT của một số hay tất cả các môn). Các trường tốp đầu hay các trường năng khiếu thì hoàn toàn có đủ lí do và nguồn lực để có thể tự tổ chức một kì thi tuyển riêng cho mình, với mức độ cạnh tranh và tính chọn lọc cao hơn nhiều.  Đối với thí sinh, cái lợi đầu tiên là phá vỡ được “định kiến” rằng lựa chọn ngành nghề chỉ có phụ thuộc vào 3 môn học của riêng một khối thi nào đó. Ví dụ, nhiều ngành kinh tế có thể tuyển cả các thí sinh khối A hay C, thế thì những môn nào trong số các môn Toán, Vật lí, Hoá học và Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí sẽ có vai trò cần thiết cho các ngành này? Điểm thứ hai, đó là chỉ với một kì thi tốt nghiệp 8 môn, và chỉ một lần duy nhất nếu thi đậu, thí sinh sẽ có thể nộp hồ sơ ứng tuyển vào bất cứ trường nào, ngành nào, tuyển theo kết quả của bất cứ môn học/thi nào. Thay vì chỉ được 1-2  nguyện vọng cho mỗi lượt thi như những năm qua, mỗi thí sinh sẽ có thể có đến hàng chục nguyện vọng chọn ngành đào tạo khác nhau, thuộc tất cả các khối (trừ các ngành năng khiếu) xét theo cách tuyển sinh truyền thống. Nếu năm trước thi đậu tốt nghiệp mà chưa trúng tuyển vào trường/ngành mong muốn, hoặc khi đã vào học giữa chừng mà muốn thay đổi ngành học, chỉ cần năm sau mang hồ sơ đi nộp vào trường/ngành khác. Thời gian và công sức thay vì dành cho luyện thi hàng năm, có thể ưu tiên để học bổ sung những kiến thức, kĩ năng cần thiết khác, thậm chí đi làm để tích luỹ kinh nghiệm trước khi học tiếp bậc đại học. Thí sinh thi tốt nghiệp chưa đạt tức là chưa đủ chuẩn “ra ràng”, thời gian chỉ cần dành cho việc về lại trường cũ dự thính hoặc tự ôn luyện những môn chưa đạt để cho đến khi đủ chuẩn.  Chỉ khi nào đảm bảo cho “sản phẩm đầu ra” của giáo dục phổ thông được đồng bộ về chất lượng, đáp ứng những yêu cầu tối thiểu để học tốt ở các bậc học tiếp theo, thì các trường đại học mới có được nguồn “nguyên liệu” tốt để tiếp tục hoàn thiện “sản phẩm” đào tạo của mình. Nếu muốn nói đến “lòng tin” cần trao cho nhau giữa hai bậc giáo dục này, thì phương án 4 có thể là một “chất xúc tác” hiệu quả. Chỉ khi nào các thế hệ học sinh tốt nghiệp phổ thông với hành trang kiến thức và kĩ năng tổng quát đẩy đủ, xã hội mới có được những thế hệ người lao động đủ năng lực hành động để đáp ứng yêu cầu thực nghiệp mà đỡ phải tốn kém chi phí đào tạo lại, sửa sai cho các “dây chuyền” không đạt hiệu quả trước đó.  6. Đánh giá cả kiến thức và năng lực tư duy học sinh  Một trong những điều kiện thực hiện phương án 4, đó là tiếp tục đẩy mạnh xu hướng ra đề mở, chú trọng kết hợp kiểm tra kiến thức với đánh giá năng lực và cảm nhận của học sinh như đã áp dụng ở một số môn trong kì thi 2014 và trước đó. Gần đây Bộ GD&ĐT đã tiến hành triển khai tập huấn hàng loạt cho giáo viên phổ thông cả nước về phương pháp ra đề kiểm tra mới theo chương trình PISA. Kết hợp với sự đổi mới triệt để trong cách ra đề thi tốt nghiệp THPT, đây sẽ là một thời cơ để tạo ra chuyển biến đáng kể trong phương pháp dạy học ở trường phổ thông.  Làm được như vậy, áp lực học hành và thi cử đối phó sẽ được giảm đi, những khiếm khuyết của chương trình sách giáo khoa hiện hành sẽ được khắc phục bớt, hứng thú học tập của học sinh sẽ gia tăng. Dạy học và thi cử thực chất sẽ có thêm một cơ hội. Ngành giáo dục sẽ có thêm điều kiện thuận lợi và thời gian để tập trung nghiên cứu, xây dựng những chính sách, giải pháp căn cơ và lâu dài.  7. Giảm áp lực thi cử  Áp lực thi cử nếu có trong phương án 4, đó chỉ là việc học sinh phải thi 8 môn bắt buộc. Áp lực đó sẽ được giảm bớt với thời lượng thi vừa phải (120 phút làm bài trong mỗi buổi thi), cấu trúc đề thi thoáng hơn, có yêu cầu vừa sức ở mức chuẩn và có tính phân loại cao ở mức “trên sàng”, và giúp gia tăng số cơ hội lựa chọn nghề nghiệp lên nhiều lần. Đối với hội đồng thi, việc tổ chức 5 buổi thi với 8 bài thi tất cả đều bắt buộc, số phòng thi và số thí sinh ổn định, sẽ cho phép chuẩn bị được phương án tối ưu để giảm áp lực cho lực lượng giám thị, đảm bảo chất lượng kì thi.  Đối với xã hội, áp lực thi cử theo phương án này sẽ được nhìn nhận ở một góc độ khác. Chúng ta cần tránh nhầm lẫn việc giảm áp lực kì thi bằng cách làm sao cho dễ nhất đối với thí sinh. Ở Việt Nam hiện nay, nếu xét đến việc bãi bỏ kì thi tuyển sinh đại học “3 chung”, cả đời người đi học chỉ có duy nhất một kì thi quốc gia, đó là thi tốt nghiệp THPT. Đây là một bước chuyển quan trọng, xác nhận giai đoạn giáo dục tổng quát để bước ra cuộc đời nghề nghiệp hoặc lên bậc học cao hơn, với những kiến thức và kĩ năng khó có thể trang bị dễ dàng trong các giai đoạn về sau. Đó là chìa khoá của sự thành công hay thất bại trong cả cuộc đời nghề nghiệp sau này. Áp lực đương nhiên phải có, tìm cách giảm bớt được thì tốt, nhưng dễ dãi thì không nên.  Điều quan trọng là áp lực này phải đặt trọng tâm vào việc học sinh có được trang bị đầy đủ hành trang cơ bản để phát triển tương lai nghề nghiệp của họ hay chưa, và kì thi có đánh giá đúng các năng lực họ được trang bị hay không. Hiện nay môi trường giáo dục nước ta chưa hoàn toàn thuận lợi để lấy kết quả đánh giá thường kì làm điều kiện công nhận tốt nghiệp, nhưng khi kì thi tốt nghiệp có tác động điều tiết tốt đến tiến trình dạy học, áp lực thi cử sẽ giảm đi vì chỉ cần học hành nghiêm túc trong năm là có thể thi đậu. Áp lực lên một kì thi duy nhất sẽ được triệt giảm vì đã được rải đều trong suốt tiến trình học.  8. Giảm chi phí xã hội  Như ở trên đã nói, chi phí xã hội trong câu chuyện thi cử không chỉ nằm ở chỗ tốn bao nhiêu kinh phí cho một kì thi, mà còn ở chỗ hiệu quả và hiệu suất tổ chức kì thi ấy như thế nào, tác động lâu dài đến cả tiến trình giáo dục phổ thông bên dưới và đào tạo đại học bên trên ra sao. Cả trong kì thi 2014 và phương án 1, việc tổ chức thi 8 môn với 5-6 môn tự chọn vừa làm giảm hiệu suất tổ chức của bản thân kì thi, vừa không có đủ yếu tố đảm bảo đồng bộ với nhiều mặt khác trong quá trình chuyển tiếp học sinh từ phổ thông lên đại học. Hậu quả của lối học lệch, thi cử đối phó đã, đang và còn nặng nề trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhưng nguyên nhân cốt lõi lại ít khi được nhận diện đúng để xác định giải pháp phù hợp. Những biện pháp thay đổi lòng vòng, mới hôm trước làm thế này bảo rằng đúng, ngay hôm sau bỏ đi làm khác hoặc thậm chí hoàn toàn ngược lại, cũng bảo rằng đúng, thì vừa không thể đảm bảo được tính ổn định cần thiết trong giáo dục, vừa gây tốn kém vì cứ vừa làm vừa sửa sai, mà chưa biết đến lúc nào mới thấy được cái đúng.  Chương trình giáo dục hiện hành quả là có nhiều khiếm khuyết, nhưng không thể bị vứt bỏ ngay sang một bên. Ở từng cơ sở giáo dục vẫn có những thầy cô giáo ngày đêm âm thầm tìm những cách tốt nhất có thể để bù đắp cho những khiếm khuyết ấy, làm cho môn học khô khan của mình trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Phương án 4 là cách để cho phép những nỗ lực ấy được nhìn nhận đúng, có nhiều cơ hội nhân rộng, nảy nở, để đặt lại người thầy vào đúng vai trò của mình trong nhà trường. Khi trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, thì giáo dục mới có thể làm được tốt nhất chức năng của mình, và khi đó xã hội mới bớt được tốn kém chi phí, thời gian, công sức và tâm trí để sửa sai cho những “sản phẩm” không đạt chuẩn mà nhà trường đưa vào.  Những ý tưởng về các môn học tích hợp vừa vẽ ra trong dự định của Bộ GD&ĐT là một ước mơ đẹp, nhưng đường đi tới đó còn lắm chông gai, và hơn hết vẫn còn bỏ ngỏ câu hỏi chính về việc xử lí thế nào đối với gần nửa triệu giáo viên các môn học riêng rẽ hiện có ở các trường trung học trong cả nước, cũng như câu chuyện tổ chức lại hệ thống đào tạo giáo viên theo các môn học riêng rẽ hiện hành tại các trường sư phạm. Điều đó lại còn cho thấy chính những người lập ra các đề án đổi mới thi cử hiện nay đầy mâu thuẫn, khi nhất quyết cho rằng thi tự chọn các môn theo khối tuyển sinh là tốt cho định hướng nghề nghiệp, rồi lại vẽ ra trong tương lai là học/thi tích hợp kiến thức của tất cả các môn/lĩnh vực cũng tốt cho định hướng nghề nghiệp của các em. Một lần nữa, phương án 4 là một bước đệm hợp lí nhất hiện nay và hoàn toàn phù hợp với định hướng lâu dài, rằng kiến thức và kĩ năng tổng quát thuộc nhiều lĩnh vực là cần thiết cho các thế hệ trẻ, và chỉ có thể được giáo dục, rèn luyện tốt nhất trong giai đoạn phổ thông, để làm nền tảng cho giáo dục đại học hay đào tạo nghề làm tốt hơn công việc đào tạo chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp của mình (dĩ nhiên, với những thay đổi cần thiết khác về mặt hệ thống). Mỗi khâu của quá trình giáo dục làm tốt được công việc của mình chính là điều kiện để tối ưu hoá tổng chi phí xã hội đầu tư cho giáo dục.  9. Vì một kì thi chung  Qua tất cả các mặt phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy câu chuyện kì thi chung hay riêng không còn là vấn đề nữa. Xác quyết điều kiện thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản theo phương án 4 cũng có nghĩa là đặt “sợi chỉ đỏ” về nguyên tắc giáo dục làm trọng tâm để dẫn dắt mọi ý định đổi mới thi cử. Khi ấy, thời gian và công sức thay vì để bàn ra bàn vào thi cử như thế nào, thì sẽ dành cho việc xác định các biện pháp kĩ thuật cần thiết, để huy động mọi thành phần xã hội tham gia góp phần đảm bảo tính chất nghiêm túc và trung thực của kì thi.  Điểm qua mô hình  Mỹ mà nhiều người viện dẫn, phương án 4 tưởng là nặng nề, áp lực, nhưng bản chất lại cho phép đi cùng hướng về cái đích mà người ta mong muốn. Nhiều người bảo học hành, thi cử ở Mỹ nhẹ nhàng, điều đó đúng, nhưng không hề dễ dàng! Học sinh Mỹ phải chuẩn bị con đường nghề nghiệp của mình ngay từ năm đầu của bậc THPT, với một hệ thống chuyên gia tư vấn hướng nghiệp chuyên trách ở khắp các trường trung học cũng như ở các dịch vụ tư vấn độc lập. Họ học theo mô hình tín chỉ để đáp ứng nhu cầu và định hướng cá nhân, nhưng đừng nhầm tưởng rằng họ “học lệch”, bởi danh mục lựa chọn của họ có trên 3.000 môn học thuộc 6 lĩnh vực kiến thức văn hoá cơ bản, 4 lĩnh vực kĩ năng xã hội, 2 lĩnh vực định hướng nghề nghiệp tổng quát và trên 10 lĩnh vực định hướng nghề nghiệp chuyên sâu. Tính chặt chẽ và có định hướng rõ ràng của lộ trình học tập, cân bằng giữa các nhóm kiến thức, kĩ năng tổng quát và chuyên sâu là một yếu tố quan trọng trong hồ sơ xét tuyển đại học của học sinh Mỹ. Kết quả học tập thường kì cũng là một yếu tố quan trọng trong xét tuyển đại học, nhưng nước Mỹ đảm bảo được sự tin cậy đó bởi điều kiện kinh tế và trình độ tổ chức xã hội của họ đã ở một mức cao, rất chú trọng thái độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc của mình, cho phép đánh giá đúng thực chất năng lực của người học ngay tại cơ sở giáo dục. Họ đã vậy, nhưng phân nửa số tiểu bang lại còn đang chuyển sang tổ chức thi tốt nghiệp chung để giảm bớt sự cách biệt về tiêu chuẩn đánh giá thường kì giữa các cơ sở giáo dục trong cùng tiểu bang, cũng như giữa các tiểu bang khác nhau. Những tưởng như vậy sẽ cho phép tỉ lệ tốt nghiệp THPT của họ cao ngất, nhưng thực tế lại chỉ dao động trên dưới 85 %. Thế vẫn chưa đủ, kết quả thường kì ấy còn phải được xem xét bổ sung kèm với kết quả các kì thi chuẩn hoá độc lập (ACT, SAT), cũng đo lường các kiến thức và kĩ năng tổng quát của thí sinh… Vậy mà, 20 trường đại học tinh tuyển hàng đầu nước Mỹ có tỉ lệ tuyển chỉ vào khoảng 10 % trên tổng số hồ sơ nộp, tỉ lệ này ở 80 trường hàng đầu là khoảng 30 %, trong khi tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học vào đại học trên toàn nước Mỹ là dưới 60 %, trong đó 1/3 là vào các trường đại học cộng đồng (đào tạo 2 năm), với khả năng được chuyển tiếp lên các trường đào tạo 4 năm danh giá hơn (khoảng 60 %). Và cuối cùng, chỉ vừa hơn phân nửa số sinh viên ghi danh vào đại học trên toàn nước Mỹ đạt tốt nghiệp có bằng cấp trong suốt cuộc đời mình.  Nếu cần còn có thể dẫn thêm nhiều số liệu khác nữa, tất cả chỉ để nói lên rằng nước Mỹ chưa bao giờ bỏ qua tầm quan trọng của kiến thức và kĩ năng tổng quát cần trang bị cho các thế hệ trẻ của mình ngay từ bậc THPT. Nhưng điều kiện kinh tế xã hội của họ cho phép thực hiện được việc đánh giá tối đa thực chất người học trong suốt tiến trình giáo dục, nên việc học hành nghiêm túc thường xuyên đối với họ là bình thường, tạo ra cảm giác học hành, thi cử nhẹ nhàng. Còn chúng ta, nhiều người khi ngưỡng vọng thực tại của họ lại vô tình hay hữu ý bỏ quên sự khác biệt quá lớn về hệ thống và điều kiện thực hiện, để đưa ra những biện pháp thay đổi rất hình thức, tạo ra sự dễ dàng một cách dễ dãi mà không đảm bảo được các nguyên tắc giáo dục cốt lõi và đồng bộ cả trong ngắn hạn và dài hạn. Giáo dục Việt Nam, xét từ thực tế hiện nay, nếu đặt “giấc mơ Mỹ” làm mục tiêu phấn đấu thì không có gì trở ngại, nhưng hãy hết sức tỉnh táo và thực tế để bước đi từng bước nhỏ, chắc chắn và ổn định trên con đường đó. Phương án 4, thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản, là một giải pháp thích hợp cho những bước đi đầu tiên ấy.  10. Câu hỏi cuối cùng: Điều kiện cần và đủ?  Để kì thi tốt nghiệp THPT thành công, những yêu cầu về nguyên tắc giáo dục để cho phép đánh giá đúng thực chất năng lực của học sinh như đã nêu trên chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là khâu tổ chức thi, gác thi và chấm thi phải đảm bảo nghiêm túc, trung thực. Thực tế thì ai cũng biết cả ba khâu này phụ thuộc vào một yếu tố: lòng quyết tâm và sự sẵn sàng chấp nhận một kết quả thi tốt nghiệp đúng thực chất của lãnh đạo từng địa phương. Khi không có sự đồng lòng ấy, mọi giải pháp thi cử đều sẽ rơi vào tình trạng bế tắc.  Để giải quyết vấn đề này, điều cần thiết là cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải thôi xem tỉ lệ tốt nghiệp (số thí sinh đạt trên tổng số thí sinh dự thi) tiệm cận tuyệt đối là thành tích cần phấn đấu đạt được. Để đánh giá thành tích giáo dục của một địa phương hay một trường phổ thông, không thể chỉ dựa vào duy nhất một con số đó, mà phải xét rộng ra nhiều yếu tố khác, như tỉ suất tốt nghiệp (số học sinh tốt nghiệp THPT trên tổng số học sinh đầu vào lớp 10), hệ số tốt nghiệp (số học sinh tốt nghiệp THPT trên tổng số học sinh rời khỏi trường theo mọi lí do), tỉ lệ đậu vào đại học-cao đẳng-trung cấp chuyên nghiệp, tỉ lệ có việc làm, v.v. Vì mục đích tối thượng của giáo dục không phải là cấp cho người học một mẩu giấy xác nhận tốt nghiệp bằng mọi giá, mà là trang bị cho họ những năng lực cần thiết nhất trước khi gia nhập vào đời sống xã hội. Và không có môi trường nào để “ấp ủ” quá trình đó tốt hơn là nhà trường phổ thông. Cởi bỏ “định kiến” về ý nghĩa của con số tỉ lệ tốt nghiệp, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để tạo được sự đồng thuận xã hội, biến trường học thành nơi thực sự thân thiện, biến môi trường giáo dục thành một không gian hạnh phúc, vì hướng đến sự thành công lâu dài trong cuộc đời của người học./.  ————    * Nghiên cứu sinh, ngành Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg, Pháp    Author                Nguyễn Tấn Đại        
__label__tiasang Vì sao các Hội đồng trường tồn tại mờ nhạt?      Trong lĩnh vực quản trị giáo dục đại học, cơ chế Hội đồng trường (HĐT) được sử dụng rất phổ biến ở các nước phát triển và đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Dù ở đâu, các HĐT đều mang đặc trưng của một hội đồng quản lý với thẩm quyền cao nhất trong một trường đại học, đại diện cho chủ sở hữu của nhà trường, mà đối với các trường đại học công lập thì đó chính là chủ sở hữu cộng đồng. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam lại không như vậy.      Nhiều người học không biết HĐT là tổ chức gì vì tất tật các lĩnh vực hoạt động của trường đại học có liên quan đến người học đều do một tay hiệu trưởng hoặc các phó hiệu trưởng thay mặt hiệu trưởng quyết định.   Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Điều lệ trường đại học…) đều khẳng định vai trò quan trọng của HĐT trong thể chế tự chủ của các trường đại học. Ai cũng biết HĐT là tổ chức quản lý có quyền lực cao nhất trong nhà trường với các đại diện từ các nhóm lợi ích có liên quan như nhà nước (cơ quan chủ quản), đảng (Bí thư Đảng ủy), chính quyền (Ban giám hiệu gồm hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng), Công đoàn, Đoàn Thanh niên, giáo viên, cựu sinh viên, nhà tuyển dụng, doanh nghiệp, v.v… Ai cũng thừa nhận quyền tự chủ của trường đại học không thể trao cho cá nhân hiệu trưởng mà phải cho một tập thể lãnh đạo – HĐT. Do vậy, rõ ràng, việc thành lập HĐT phải được coi là khâu đột phá trong triển khai tự chủ đại học, và đúng ra, như một lẽ tự nhiên, nó phải nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT.  Tiếc là, rằng hay thì thật là hay, nghe ra thực tế nhiều năm qua ở không ít trường đại học công lập, HĐT chỉ tồn tại rất mờ nhạt, là nơi phát ra những khẩu hiệu hô hào mà thiếu các hành động cụ thể và thiết thực, hầu như không thể hiện được vai trò của một tổ chức quyền lực, và không thực sự phản ánh tinh thần dân chủ lẽ ra phải có ở các cơ sở giáo dục đại học.  Có ý kiến cho rằng, thực trạng đó tồn tại trước hết là do hạn chế về năng lực, phẩm chất của bản thân các HĐT, ngoài ra còn do sự thiếu quan tâm chỉ đạo từ chính phủ và thiếu quan tâm từ bản thân các thành viên trong cộng đồng ở mỗi trường đại học cũng như cộng đồng xã hội nói chung.     Về sự thiếu quan tâm và chỉ đạo thiết thực, hiệu quả của chính phủ, ai cũng thấy dường như sau khi cơ quan có trách nhiệm ban hành quyết định giao quyền thí điểm đổi mới cơ chế quản lý, các trường coi như phải tự bơi. Người ta cũng dễ thấy sự “đánh trống bỏ dùi” trên các văn bản pháp quy cũng như trên các văn bản điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp hay gián tiếp có trách nhiệm đến lĩnh vực GD&ĐT. Xin nêu vài ví dụ:  HĐT trong tâm thức nhà quản lý  Cho đến nay, chưa có Quy định nào của Ban Bí thư thay thế Quy định số 97-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu…), ký ngày 22/3/ 2004, nên trong Quy định số 1237A-QĐ/ĐUK của Đảng ủy khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội, ký ngày 04/01/2017, vẫn không dám “đi xa”, trong việc quy định vai trò của HĐT, cụ thể: “Trên cơ sở ý kiến, chủ trương của Đảng ủy, Hội đồng trường ra quyết nghị thông qua dự thảo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng công tác do Ban Giám hiệu chuẩn bị”, “Hằng năm, căn cứ vào nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao và tình hình thực tế của nhà trường, Ban Giám hiệu có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng công tác báo cáo để Đảng ủy thảo luận. Đảng ủy tập trung thảo luận, ra nghị quyết về những mục tiêu chủ yếu, những biện pháp lớn để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường” (Mục 1 Điều 2), “Ban Giám hiệu có trách nhiệm đề xuất báo cáo xin ý kiến tập thể Đảng ủy về nhân sự được đề xuất. Hội đồng trường giám sát việc thực hiện theo các quy định đã được thông qua. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy, Hiệu trưởng ra quyết định” (Mục 3 Điều 4: những vấn đề về tổ chức và cán bộ). Như vậy, mọi việc dường như đã được đảng ủy và ban giám hiệu làm cả, HĐT chỉ có việc “thông qua” hoặc là “giám sát”, không thấy vị trí là “cơ quan quyền lực cao nhất” của nhà trường thể hiện ở chỗ nào.      Việc thành lập Hội đồng trường phải được coi là khâu đột phá trong triển khai tự chủ đại học, và đúng ra, như một lẽ tự nhiên, nó phải nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT.        Trong các tài liệu pháp quy hiện hành đều quy định rất rõ ràng, chủ tịch HĐT không là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, nhưng quy định này không áp dụng cho các đại học quốc gia và đại học vùng; vì thế, ở đại học quốc gia và đại học vùng, giám đốc kiêm nhiệm luôn cả chức bí thư và chủ tịch HĐT. Một người vừa đề ra chính sách, vừa tổ chức thực hiện chính sách, và giám sát luôn việc thực hiện chính sách ấy, thì khó có thể đảm bảo mọi việc đều được công khai, minh bạch, dân chủ. Không có cơ sở khoa học nào của việc giám đốc đại học quốc gia và đại học vùng, một người được phép làm cả ba chức vụ, còn các trường đại học khác thì không.  Khi đề cập đến hoạt động của HĐT, các văn bản đều quy định: HĐT họp thường kỳ ít nhất sáu tháng một lần. Quy định này được đại đa số các vị bí thư Đảng ủy, hiệu trưởng nhà trường hiểu là HĐT mỗi năm họp hai lần. Như vậy, 25-30% số thành viên HĐT là người ngoài trường sẽ gần như không nắm bắt được tình hình hoạt động thực sự của trường, dẫn tới tình trạng các thành viên hầu như không có ý kiến phản biện, không thấy báo cáo “giám sát” nào đáng giá của hội đồng, tất cả chỉ là sự đồng ý trên tinh thần “vui vẻ cả”.  Về tiêu chuẩn, điều kiện của Chủ tịch Hội đồng trường và Hiệu trưởng, các tài liệu pháp quy hiện hành luôn quy định “tiêu chuẩn chủ tịch hội đồng trường như tiêu chuẩn của hiệu trưởng”, “nhiệm kỳ của hội đồng trường theo nhiệm kỳ của hiệu trưởng”, trong khi trên thực tế, HĐT là tổ chức chịu trách nhiệm lựa chọn và tổ chức bầu hiệu trưởng theo quy trình do HĐT xây dựng và thông qua. Nghĩa là HĐT có trước, ban giám hiệu có sau, vậy mà vẫn tồn tại qua nhiều năm quy định “sinh con rồi mới sinh cha”, nhưng không thấy ai có ý kiến gì.  Vị thế và vai trò của HĐT thiếu được coi trọng còn thể hiện rõ qua thực tế là trong các cuộc họp của Bộ GD&ĐT cũng như của các bộ ngành liên quan khác, giấy mời của Bộ GD&ĐT gửi các trường dự Hội nghị tổng kết năm học cũng như các Hội nghị khác thường chỉ mời hiệu trưởng hoặc ban giám hiệu, hiếm khi nào mời HĐT!  HĐT tồn tại như thế nào ở một trường đại học  Khi được cấp trên yêu cầu phải thành lập HĐT, hiệu trưởng các trường đại học thường chọn một vị trưởng phòng nào đó như trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng đào tạo, cũng có thể là chủ tịch công đoàn, hoặc cùng lắm là một phó hiệu trưởng sau khi được “làm công tác tư tưởng” đã “xung phong” nghỉ vai trò phó hiệu trưởng để nhận nhiệm vụ mới. Không khó để thấy rằng họ hầu như không thực sự có vị thế bình đẳng để có thể bàn “chuyện triều đình”, hoặc chất vấn, phản biện trước hiệu trưởng. Người ta thậm chí còn nói, chức danh chủ tịch HĐT trên thực tế chỉ có quyền làm theo ý hiệu trưởng.  Nếu dự một hội nghị của một trường đại học, thì bao giờ chức danh được “kính thưa” cũng theo thứ tự (bất thành văn) là bí thư, hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng, rồi mới đến ông/bà chủ tịch HĐT vô cùng kính mến. Tương tự như vậy, khi các vị áo cao mũ dài đến thăm một cơ sở giáo dục đại học công lập, khi “cho ý kiến chỉ đạo”, thường thì bao giờ các vị ấy, như một lẽ tự nhiên, cũng “thưa” ông/bà hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trước chức danh chủ tịch HĐT, dù họ là những người chữ nghĩa đầy người, thuộc loại “trên thông thiên văn”, biết thừa HĐT là “cơ quan quyền lực cao nhất” của trường đại học tự chủ.  Còn với người học, họ không biết HĐT là tổ chức gì vì trong suốt quá trình học ở trường đại học, họ không thấy một dấu tích, dù bé nhỏ, của HĐT. Các vấn đề thiết thân với cán bộ viên chức và người học như mức học phí, thời gian nghỉ lễ nghỉ hè, khen thưởng, kỉ luật, bằng cấp, lương bổng, v.v… tóm lại là tất tật các lĩnh vực hoạt động của trường đại học có liên quan đến người học đều do một tay hiệu trưởng hoặc các phó hiệu trưởng thay mặt hiệu trưởng quyết định. Ngay cả trên các loại bằng cấp của người học, các quy định pháp luật của ta đều không có chỗ cho sự hiện diện của HĐT – ở các nước có nền giáo dục đại học phát triển thì không thế, ta hãy thử nhìn vào bằng Thạc sĩ, bằng Tiến sĩ của một đại học nào đó ở Hoa Kỳ, ở đó đều có chữ ký ở vị trí trang trọng nhất của ông/bà chủ tịch HĐT; thậm chí bằng cấp là do HĐT quyết định, nên trên các bằng cấp này đều có dòng chữ “Be it Known that the Trustees of X Universiy…” hay “the Trustees of the University have conferred upon…”.  Với các đối tác (trong và ngoài nước), khi tìm đến trường đại học, họ đều tìm đến hiệu trưởng hoặc chí ít là phó hiệu trưởng, đều mong gặp ban giám hiệu, không ai tìm đến HĐT để gặp gỡ, để thương thảo; vì họ biết, chỉ có ban giám hiệu mới có thực quyền quyết định những vấn đề “ra đồng tiền bát gạo”. Khi nhà trường cần gặp gỡ, thương thảo với các đối tác hay với lãnh đạo cấp trên cũng vậy, không ai cử HĐT vì vừa không đúng với chức năng, nhiệm vụ của HĐT, vừa không ai tin rằng HĐT, trên thực tế, có thực quyền quyết định một việc nào đó, dù to hay nhỏ của nhà trường.  Như vậy, khi mà các HĐT tồn tại mà không có thực quyền, không có vị thế trong thực tiễn cuộc sống của các trường đại học, và chưa thực sự được coi trọng trong tâm thức các nhà quản lý, thì phải chăng sự tồn tại đó chỉ cho “đầy đủ thủ tục”, thể hiện rằng chúng ta cũng đang đổi mới và hội nhập về GD&ĐT “theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế”?       Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Vì sao chưa hiệu quả?      Nhằm giải quyết tình trạng ngày càng có nhiều học sinh bị khủng hoảng tâm lý ở mức độ nghiêm trọng, ngành giáo dục đã thí điểm triển khai dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiệu quả chưa được như mong đợi.      “Không ít học sinh của tôi có biểu hiện tâm lý bất bình thường, trong đó, có một số em bị nhiễm HIV, là trẻ mồ côi hoặc gia cảnh rất nghèo. Các em này thường nhạy cảm trước những lời chọc ghẹo, trong giao tiếp với bạn bè dễ bị căng thẳng, không kiểm soát được hành vi, thậm chí nổi khùng, đánh, chửi bạn. Khi tôi khuyên nhủ, các em đấm vào tường hoặc đấm vỡ cửa kính… ”, chị Thương1, giáo viên một trường THCS tại TP Hải Phòng cho biết. Điều đáng nói, tình trạng khủng hoảng tâm lý học đường như chia sẻ của chị đang ngày một phổ biến và để lại hậu quả nghiêm trọng. Cái chết thương tâm do tự tử của cậu bé Ksor Sôn (Gia Lai) vừa qua là một ví dụ cho thấy, học sinh thời nay rất dễ bị khủng hoảng, chấn thương tâm lý vì nhiều lý do: mắc bệnh lý tâm thần, bị bạn bè trêu ghẹo, giận dỗi bố mẹ, học kém hay như Ksor, chỉ vì không có quần áo mới đi học. Một nghiên cứu dịch tễ học về trẻ em Việt Nam trên mẫu đại diện quốc gia [2] được thực hiện tại 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh, thành đã chỉ ra: Khoảng 11,9% trẻ em trong độ tuổi từ 6-16 bộc lộ các vấn đề bất ổn về hành vi, cảm xúc, trong đó, 6,9% chưa vượt qua giới hạn “an toàn” và 5% đã chạm ngưỡng lâm sàng – cần can thiệp ngay. Ngoài ra, năm 2014, Sở GD&ĐT TP Hà Nội phối hợp cùng Plan International Việt Nam cũng tiến hành một khảo sát khác và kết quả khiến người ta phải giật mình về tình trạng căng thẳng tinh thần của học sinh: khoảng 65,3% học sinh từng chịu đựng bạo lực tinh thần tại trường học. Phải làm sao trước tình trạng này?  Hỗ trợ tâm lý thiếu hiệu quả, học sinh thiệt thòi  Để khắc phục thực trạng này, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mạnh dạn thí điểm một trong hai mô hình hỗ trợ tâm lý học đường sau:  Thứ nhất, giáo viên kiêm nhiệm vai trò của chuyên viên tâm lý học đường; thứ hai, chuyên viên tư vấn tâm lý học đường phải kiêm nhiệm thêm các công tác khác. Theo PGS.TS Trần Thị Lệ Thu, Trưởng bộ môn Tâm lý ứng dụng, khoa Tâm lý giáo dục, đại học Sư phạm Hà Nội, cả hai mô hình trên đều bất hợp lý, bởi: “Hầu hết giáo viên đều quá tải với việc dạy học và khó đảm nhiệm thêm vai trò khác. Chưa kể, dù được tập huấn ngắn hạn về tâm lý, giáo viên kiêm nhiệm chuyên viên tâm lý cũng khó có chuyên môn sâu và chỉ có thể ‘tư vấn đầu bờ’ mà thôi. Còn chuyên viên tâm lý, do phải đảm nhiệm các công tác khác trong trường học nên nhiều khi, khó đảm bảo tính khách quan, tính bí mật trong quá trình hỗ trợ, tư vấn”.  Tương tự như Hà Nội, nhiều trường tại TP HCM cũng lâm vào tình trạng vừa thừa, vừa thiếu chuyên viên tư vấn. Trên địa bàn thành phố, đã có khoảng 89% các trường THCS công lập và 86% trường THPT công lập thực hiện hỗ trợ tâm lý học đường nhưng trong số 480 chuyên viên tâm lý học đường, chỉ có 21% chuyên trách, còn lại, 79% phải kiêm nhiệm nhiều công việc một lúc. Những người phải kiêm nhiệm chủ yếu là giáo viên giảng dạy (54%), giám thị (19%), tổng phụ trách đội và trong ban giám hiệu (23%). Họ có chuyên môn về sư phạm chứ không được đào tạo bài bản về tâm lý học đường2. Kết quả, học sinh chính là đối tượng chịu thiệt thòi hơn cả.  Theo khảo sát của Tia Sáng, sau quá trình thí điểm, đến nay, chỉ có một số ít trường phổ thông ở Hà Nội thực hiện tốt chương trình hỗ trợ tâm lý học đường như: hệ thống trường Olympia, hệ thống giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, trường THPT Đinh Tiên Hoàng. Đặc biệt,  hệ thống trường tư thục Olympia có phòng Tâm lý học đường độc lập. Chuyên viên tâm lý học đường ở đây không phải kiêm nhiệm giảng dạy các bộ môn khác (chỉ dạy thêm các tiết tâm lý học cho học sinh khối THPT) và luôn can thiệp kịp thời, trực tiếp khi có các trường hợp tâm lý bất thường. “Khi một học sinh có vấn đề bất ổn về tâm lý, tôi có thể yêu cầu tất cả mọi người trong hệ thống giáo dục của trường hợp tác để hỗ trợ toàn diện cho học sinh. Chẳng hạn, khi  học sinh từ nhà lên xe bus đi học, mình đề nghị monitor phải giao tiếp với em đó. Tôi cũng thảo luận với giáo viên và cha mẹ để họ có cách ứng xử phù hợp khi các em đến trường, về nhà, nhằm đảm bảo học sinh có điều kiện phát triển tâm lý tốt hơn”, chị Phương Hoài Nga, chuyên viên tâm lý học đường tại hệ thống trường tư thục Olympia chia sẻ.  Tại hệ thống giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, dù vẫn phải kiêm nhiệm việc giảng dạy các bộ môn khác nhưng ba chuyên viên tâm lý học đường đã thực hiện một mô hình khá linh hoạt là tư vấn chéo: Chuyên viên A phải giảng dạy lớp A thì sẽ tư vấn cho lớp B để đảm bảo các chuyên viên tâm lý không tư vấn trùng lớp mà mình đang giảng dạy. Ngoài ra, các chuyên viên tư vấn ở trường Olympia và Nguyễn Bỉnh Khiêm thường xuyên trao đổi chuyên môn đồng thời chịu sự giám sát của các nhà tâm lý học thuộc các trường đại học Sư phạm Hà Nội, đại học Giáo dục.  Tuy nhiên, đó là hai trường hợp hiếm hoi triển khai “triệt để” dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường và theo đánh giá của chính các chuyên gia trong ngành, rất khó nhân rộng hai “tấm gương” này. Vì sao?  “Dưới” thờ ơ, “trên” lúng túng?  “Chuyên viên tâm lý học đường chính là người có khả năng nhất trong việc đánh giá khuyết tật trong hệ thống nhà trường và hợp tác chặt chẽ cùng giáo viên  lớp đặc biệt để tham gia tư vấn (consultation) trong việc dạy dỗ học sinh”. TS. Lê Nguyên Phương.  “Khi bắt đầu đưa phòng tâm lý học đường vào hoạt động, suốt một thời gian dài, giáo viên và phụ huynh vẫn không hiểu rõ vai trò của phòng và tại sao lại phải phối hợp với chúng tôi”, chị Phương Hoài Nga nhớ lại. Chị và các chuyên viên khác đã phải mất tới 5 năm để cải thiện tình hình, khiến giáo viên, phụ huynh thay đổi nhận thức và tích cực hợp tác. Ngoài vấn đề kinh phí, chính vì chưa nhận ra tầm quan trọng của công tác tư vấn tâm lý học đường nên không ít trường sử dụng giáo viên kiêm nhiệm thay vì tuyển các chuyên gia thực sự. PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, nhiều trường đại học đã đào tạo chuyên ngành tâm lý học đường nhưng sau khi ra trường, các chuyên viên tâm lý được đào tạo bài bản này có nguy cơ thất nghiệp nếu không nơi nào tuyển dụng (tới nay, Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã có bảy khóa thạc sĩ Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên, đồng thời, theo khảo sát của Tia Sáng, Đại học sư phạm Hà Nội có năm khoá cử nhân Sư phạm Tâm lý giáo dục). Một nguy cơ khác là có thể tới đây, nhiều sinh viên sẽ “quay lưng” với ngành tâm lý học đường do lo lắng chuyện “đầu ra” và kết quả, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu chuyên viên cứ thế tiếp diễn.  Có thể thấy, thực trạng trên bắt nguồn từ chính sự lúng túng của ngành giáo dục. Nhiều năm nay, ngành giáo dục đã có chủ trương coi trọng các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường. Từ năm 2005, bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành công văn số 9971/BGD&ĐT – HSSV về triển khai công tác tư vấn cho học sinh sinh viên, trong đó có hướng dẫn về các nội dung tư vấn. Trong nhiều văn bản tổng kết công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên gần đây, Bộ GD&ĐT đều xác định rất rõ ràng vai trò của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường và cũng tiến hành đánh giá ưu nhược điểm của các mô hình tư vấn tâm lý đã đi vào hoạt động3. Tuy vậy, ngành giáo dục dường như còn đang lúng túng trong việc đưa dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường vào thực tiễn chứ không chỉ là thí điểm khi chưa hề có các văn bản cụ thể quy định quy trình thực hiện, giám sát chuyên môn cho các hoạt động này mà chủ yếu vẫn để các cơ sở giáo dục tự triển khai một cách linh hoạt. “Đó là lý do nhiều trường áp dụng mô hình giáo viên kiêm nhiệm chuyên viên hỗ trợ tâm lý hoặc để chuyên viên đảm nhiệm thêm nhiều công việc khác. Giả sử, nếu chấp nhận mô hình giáo viên kiêm nhiệm hoạt động hỗ trợ tâm lý thì giáo viên đó phải được đào tạo về tâm lý học đường, hoặc trong đào tạo sư phạm phải chú trọng đến các nội dung chuyên sâu về tâm lý học đường”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh phân tích.  “Sự thay đổi về chính sách là yếu tố quan trọng để thúc đẩy nhận thức đúng hơn về hỗ trợ tâm lý học đường và rộng hơn thế là nhận thức đúng hơn về vai trò của sức khoẻ tâm thần đối với xã hội”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh.  Không chỉ vậy, dường như hệ thống giáo dục “vẫn chưa có một hiểu biết toàn diện và sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa ba ngành: tâm lý học đường (school psychology), tham vấn học đường (school counseling) và công tác xã hội học đường (school social work)”, TS. Lê Nguyên Phương, Chủ tịch Liên hiệp Phát triển tâm lý học đường thế giới, hiện đang giảng dạy Tâm lý học đường tại đại học Chapman, California, Mỹ nhận xét. Chính những thiếu sót về nhận thức đó mới dẫn đến thiếu sót trong đào tạo; xây dựng công cụ, tiêu chuẩn đạo đức hành nghề và các phương diện thực hành khác. “Trên thế giới và đặc biệt tại Mỹ, chuyên viên tâm lý học đường được đào tạo để phòng ngừa, sàng lọc, đánh giá, can thiệp, tham vấn, tư vấn các khiếm khuyết về trí tuệ, học tập, cảm xúc và hành vi trong nhà trường. Trong khi đó, tại Việt Nam, khi nhìn nhận về ngành nghề này, hầu hết mới chỉ nghĩ đến hoạt động tham vấn (counseling) mà quên rằng chuyên viên tâm lý học đường chính là người có khả năng nhất trong việc đánh giá khuyết tật trong hệ thống nhà trường và hợp tác chặt chẽ cùng giáo viên  lớp đặc biệt để tham gia tư vấn (consultation) trong việc dạy dỗ học sinh”, ông nhấn mạnh.  Giải quyết từ gốc  Trả lời phỏng vấn của Tia Sáng, không ít chuyên gia tâm lý cho rằng, để giải quyết tận “gốc rễ” vấn đề, trước tiên, các cơ quan chức năng phải tiến hành cấp mã ngành, mã nghề cho ngành tâm lý học đường. Cùng với đó, phải xây dựng ngay quy trình thực hiện cụ thể, bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp, quy trình giám sát chuyên môn và đạo đức nghề. Khi có chính sách rõ ràng, các trường sẽ căn cứ vào đó để có chương trình tuyển dụng, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực được đào tạo sâu về tâm lý học đường.  Về mặt chuyên môn, các chuyên gia đều khẳng định, nên chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm và cần thiết phải có chuyên viên tâm lý học đường chuyên nghiệp. Họ phải được thực hiện đúng nhiệm vụ, đồng thời có ý kiến tương đối độc lập với ban giám hiệu nhà trường để đảm bảo sự khách quan và vô tư trong quá trình hỗ trợ cho nhà trường cùng học sinh.  Xem xét các mô hình dịch vụ hỗ trợ tư vấn tâm lý học đường đã được áp dụng, có thể thấy, mô hình của trường tư thục Olympia tương đối “chuẩn”, đem lại hiệu quả khả quan và nên nhân rộng. Tuy nhiên, đa số các cơ sở giáo dục công lập đều “vấp” phải vấn đề về nguồn nhân lực và tài chính. Điều đáng nói, học sinh đang học tập tại các trường thiếu thốn kinh phí lại chính là đối tượng cần được hỗ trợ tâm lý học đường bởi ngoài áp lực học tập, các em còn phải chịu áp lực từ hoàn cảnh gia đình và căng thẳng xã hội. Trong bối cảnh đó, giải pháp trước mắt mà các cơ sở giáo dục có thể cân nhắc là nhiều trường cùng nhận sự hỗ trợ của một chuyên viên tâm lý học đường. Từ kinh nghiệm thực hành ở Mỹ, TS. Lê Nguyên Phương gợi ý: “trong tuần, một chuyên viên tâm lý học đường có thể làm việc hai ngày ở trường này và ba ngày ở trường kia theo lịch cố định, miễn sao không bị quá tải. Hội Tâm lý học đường của Mỹ cũng đã đưa ra tỷ lệ hợp lý giữa chuyên viên tâm lý học đường và học sinh là: 1/500-700”.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, sự thay đổi nhận thức của xã hội vẫn là quan trọng nhất.  Trong những năm qua, TS. Phương cùng nhiều nhà tâm lý học khác tại Việt Nam vẫn kiên trì tìm cách tuyên truyền, phổ biến về vai trò của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường. Từ những nỗ lực đó, tháng Bảy vừa qua, Hội thảo quốc tế về tâm lý học đường lần thứ 5 đã được tổ chức tại Việt Nam, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế.    Author                Nguyễn Thu Quỳnh        
__label__tiasang Vì sao chúng ta không tử tế hơn?      Mùa tốt nghiệp đã qua, năm học mới đang bắt đầu, nhưng bài diễn văn của George Saunders trong lễ bế giảng tại Đại học Syracuse vẫn hết sức đáng đọc. Dù nội dung không quá mới mẻ nhưng nó được lan truyền nhanh chóng, xuất hiện cả trên trang điện tử của New York Times, và đem lại niềm cảm hứng cho nhiều độc giả.    Theo thời gian, những bài diễn từ như thế này đều rập theo cùng một kiểu khuôn mẫu truyền thống, ấy là: Một gã già nua, với những năm tháng tươi đẹp nhất đã lùi vào dĩ vàng, kẻ đã vấp phải không ít những sai lầm kinh khiếp (chính là tôi đây), đem đến lời khuyên chân thành cho một nhóm các bạn trẻ tuổi sáng lạn nhiệt huyết mà những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời còn đang ở phía trước (chính là các bạn).  Với người già, ngoài chuyện bạn có thể vay tiền họ hay đề nghị họ khiêu vũ một điệu nhảy cổ lỗ sĩ cho các bạn xem và tha hồ cười, họ còn hữu dụng ở một điểm, ấy là bạn có thể hỏi họ: “Nghĩ lại những chuyện ngày xưa, bác có tiếc nuối day dứt điều gì chăng?” Và họ sẽ kể bạn nghe. Đôi khi như bạn biết đấy, họ tự kể ra dù bạn chẳng hỏi. Thậm chí có khi bạn yêu cầu rành rọt là thôi đừng có kể ra, thế mà họ vẫn cứ kể.  Vậy điều gì khiến cho tôi tiếc nuối day dứt? Nghèo túng ngày này qua tháng khác? Không phải. Hay những công việc tồi tệ, như nghề “bẻ khuỷu chân giò trong lò mổ?” Không, tôi chẳng day dứt chuyện đó. Cởi truồng nhảy lộn đầu xuống sông ở Sumatra, đầu óc choáng váng, rồi nhìn lên thấy khoảng 300 con khỉ ngồi trên một đường ống, đang đại tiện xuống dòng sông mà tôi đang há mồm bơi trần như nhộng? Hay là chuyện bị ốm gần chết sau đó, và dính bệnh tật trong suốt bảy tháng tiếp theo? Không, những chuyện đó chẳng sao cả. Hay là liệu tôi có day dứt về những trường hợp đáng xấu hổ? Như cái lần chơi khúc côn cầu trước một đám đông, trong đó có người con gái tôi thực sự si mê, thế mà chẳng hiểu bằng cách nào tôi bị té xuống, miệng ọe ra một tiếng, lóng ngóng tự làm cho bóng bay vào khung thành của mình, đồng thời đánh văng cây gậy vào đám đông và suýt nữa thì bay trúng người cô ấy? Không. Tôi thậm chí cũng chẳng day dứt gì chuyện đó.  Nhưng có chuyện này làm tôi day dứt:  Hồi tôi học lớp Bảy, có một đứa trẻ mới trong lớp. Để bảo toàn danh tính cho cô ấy, trong diễn từ này tên cô được mặc định là “ELLEN.” ELLEN rất bé, hay xấu hổ. Cô đeo đôi mục kỉnh, loại mà vào thời ấy chỉ những bà già mới đeo. Những khi bối rối hồi hộp, tức là hầu như lúc nào cũng vậy, cô bé có thói quen cho một dẻ tóc vào mồm nhai.  Cô bé nhập trường, đến sống trong khu dân phố của chúng tôi, và hầu như chẳng được ai coi trọng, nhiều khi còn bị trêu chọc (“Tóc mày ngon nhỉ” – kiểu như vậy). Tôi có thể thấy chuyện đó làm cô bé bị tổn thương, và vẫn nhớ hình ảnh của cô sau mỗi lần bị trêu như thế: mắt nhìn xuống, chạnh lòng một chút, như thể nhận ra vị trí nhạt nhòa của mình trong đời sống, và cô chỉ biết ráng hết sức để mình tự biến mất. Một lúc sau cô bé dạt đi chỗ khác, dẻ tóc vẫn còn ngậm trong miệng. Tôi hình dung khi tan trường cô bé về nhà, mẹ cô sẽ hỏi: “Ngày hôm nay thế nào con yêu?” và cô sẽ nói, “Tốt ạ”. Rồi mẹ cô sẽ nói, “Con chơi với nhiều bạn không?” và cô trả lời: “Có ạ, nhiều lắm”.  Có khi tôi thấy cô bé quanh quẩn trước sân nhà, như thể sợ phải rời khỏi đấy.   Và rồi – họ chuyển đi. Chỉ vậy thôi. Chẳng có bi kịch, cũng chẳng xảy ra một vụ bắt nạt gớm ghê cuối cùng.  Hôm trước cô bé còn ở đó, ngày hôm sau đã không còn nữa.  Hết chuyện.  Vì sao tôi day dứt việc này? Vì sao bốn mươi hai năm sau tôi vẫn nghĩ về nó? So với đa số những đứa trẻ khác, thực ra tôi khá tử tế với cô bé. Tôi chưa bao giờ nói điều gì không hay với cô ấy. Thậm chí, đôi khi tôi còn bảo vệ cô ta (một cách vừa phải).  Thế mà. Chuyện ấy vẫn làm tôi băn khoăn.   Vậy nên đây là sự thật mà tôi biết, dù nó có hơi cổ lỗ, và tôi cũng không thật rõ mình phải làm gì với nó.  Đó là, điều khiến tôi tiếc nhất trong đời mình là những lần để lạc mất lòng tốt.  Đó là những khoảnh khắc khi thấy một người nào đó, chịu đau khổ ngay trước mặt mình, và rồi tôi đã hành xử một cách … hợp lý. Dè dặt. Vừa phải.  Nếu ta nhìn qua lăng kính từ phía ngược lại và đặt câu hỏi: Ai, trong cuộc đời bạn, khiến bạn nhớ đến một cách dễ chịu nhất, với cảm giác quý mến thật rõ ràng?  Chắc chắn đó những người đối xử với bạn tốt nhất.  Nói ra thì có phần dễ dãi, và chắc là khó thực hiện, nhưng tôi cho rằng chúng ta nên đặt ra một mục tiêu trong cuộc đời: cố gắng tử tế hơn.  Câu hỏi mấu chốt đầu tiên là: Vấn đề của chúng ta là gì? Vì sao chúng ta không tử tế hơn?  Mỗi người trong chúng ta sinh ra với một chuỗi những mê lầm cố hữu, có lẽ chúng là một phần trong bản năng sinh tồn hình thành do chọn lọc tự nhiên: (1) cho rằng mình là trung tâm vũ trụ (nghĩa là cho rằng câu chuyện đời mình là chính yếu và đáng quan tâm nhất, hay thực chất là duy nhất); (2) cho rằng mình tách biệt khỏi thế giới (kiểu như chúng ta chỉ cần biết là đang sống trong đất nước của mình, còn bên ngoài kia chẳng đáng quan tâm), và (3) cho rằng ta bất diệt (cái chết là có thật, nhưng nó chỉ đến với người khác, còn với ta thì không).  Tuy chúng ta không thực sự tin vào những điều mê lầm này – hiểu biết của chúng ta hẳn là sâu sắc hơn thế – nhưng ta vẫn tin vào chúng một cách âm thầm, và để chúng chi phối lối sống của mình, khiến ta luôn ưu tiên nhu cầu của mình cao hơn nhu cầu người khác, mặc dù điều chúng ta vẫn mong muốn trong thâm tâm là cố gắng trở nên bớt ích kỷ, hiểu biết và tỉnh táo hơn, cởi mở hơn, nhân ái hơn.  Do đó, câu hỏi mấu chốt tiếp theo sẽ là: Ta phải LÀM như thế nào? Làm sao để ta trở nên nhân ái, cởi mở, bớt vị kỷ, tỉnh giác hơn, bớt mê lầm hơn, v.v?  Vâng, đó quả là câu hỏi quan trọng.  Nhưng thật không may, tôi chỉ còn lại ba phút [cho bài diễn từ này].  Vậy nên cho phép tôi nói điều này. Có một số cách. Điều ấy hẳn bạn cũng đã biết, vì trong cuộc sống của mình, bạn đã trải qua những lúc Giàu Nhân ái và cả những lúc Kém Nhân ái, và bạn cũng tự biết điều gì giúp mình đến gần với lòng nhân ái hơn. Giáo dục; đắm mình trong một tác phẩm nghệ thuật; nguyện cầu; thiền định; nói chuyện thẳng thắn với một người bạn thân; tham gia vào những truyền thống tâm linh – qua đó ta nhận ra đã có vô vàn những nhà thông thái để lại những câu trả lời cho các câu hỏi mà ngày nay chúng ta thắc mắc.  Tuy nhiên tử tế thực chất là điều khó – ban đầu thì nó dễ dàng, nhưng rồi nó phức tạp và đòi hỏi ở ta đủ thứ.  Nhưng có một điều giúp ích cho chúng ta: đó là việc “trở nên tử tế” có thể xảy ra tự nhiên theo tuổi tác con người. Có thể đơn giản chỉ vì sự mệt mỏi: khi ta già hơn, ta nhận ra sự ích kỷ thật vô ích – hay thật ra là vô lý. Chúng ta trở nên nhân ái và tự xét lại thói vị kỷ của mình. Chúng ta bị cuộc đời vùi dập, rồi được ai đó bảo vệ, giúp đỡ, và học được rằng chúng ta không tách rời nhau, và cũng không muốn tách rời. Chúng ta chứng kiến những người gần gũi thân thiết với mình rơi rụng đi, và dần dần nhận thấy bản thân ta cũng sẽ một ngày phải rơi rụng. Đa số mọi người khi có tuổi đều bớt ích kỷ và nhân ái hơn. Tôi tin chuyện đó là thật. Nhà thơ Hayden Carruth người Syracuse từng nói trong một bài thơ ông viết lúc gần cuối đời, rằng “bây giờ gần như chỉ còn lại Tình Yêu”.  Cho nên, một dự đoán, cũng là lời chúc chân thành của tôi tới các bạn: khi bạn già đi, cái tôi của bạn sẽ nhỏ lại và bạn sẽ trưởng thành lên trong tình yêu. BẠN sẽ dần dần bị thay thế bởi TÌNH YÊU. Nếu bạn có con, đó sẽ là khoảnh khắc to lớn trên tiến trình tự tiêu trừ cái tôi. Bạn sẽ không còn quá chăm lo cho bản thân BẠN, chỉ cần các con bạn được hưởng điều tốt đẹp là được rồi. Đó cũng là lý do phụ huynh của các bạn tự hào và hạnh phúc biết bao trong ngày hôm nay. Một trong những ước mơ trìu mến nhất của họ đã thành hiện thực: đó là bạn đã đạt được một điều khó khăn và bền vững, nó sẽ giúp bạn trở nên một người lớn hơn và sẽ giúp cuộc đời bạn tốt đẹp hơn, từ nay trở đi và mãi mãi – tiện đây, tôi xin chúc mừng các bạn.  Khi còn trẻ, chúng ta thường lo ngại – cũng là điều dễ hiểu – liệu mình có đủ phẩm chất hay không. Chúng ta có thể thành đạt hay không? Liệu ta có thể dựng xây một cuộc sống đầy đủ cho chính mình? Nhưng chúng ta – đặc biệt là các bạn trong thế hệ ngày nay – chợt nhận ra có một vòng lặp trong sự tham vọng. Bạn cố gắng học giỏi trung học, mong sao được vào một trường đại học tốt, để rồi bạn có thể học giỏi đại học, mong sao tìm được một công việc tốt, để rồi bạn có thể làm tốt công việc, đề rồi …   Điều này thực chất là tốt. Nếu chúng ta trở nên tử tế hơn, tiến trình ấy phải bao gồm cả sự nghiêm túc với chính bản thân mình – trong vai trò là một người làm việc, một người thành đạt, một người mơ mộng. Ta phải như vậy, để đạt đến bản thể tốt đẹp nhất của mình.  Thế nhưng sự thành đạt vốn không bền vững. “Thành công”, trong việc gì cũng vậy, luôn khó, và luôn đặt ra cho ta những đòi hỏi mới (thành công giống như một ngọn núi luôn tự vươn cao trong quá trình bạn trèo lên), và có một nguy cơ rất thật là “thành công” sẽ nuốt trọn toàn bộ cuộc đời bạn, trong khi bạn vẫn để ngỏ những câu hỏi lớn lao trong cuộc đời.  Vì vậy, lời khuyên cuối bài diễn từ của tôi cho bạn: vì với cách nhìn của tôi, cuộc đời bạn là một tiến trình dần dần trở nên tử tế và nhân ái hơn, cho nên bạn hãy: nhanh chân lên. Phải khẩn trương. Bắt đầu ngay từ bây giờ. Có một thứ mê lầm trong mỗi người chúng ta, một thứ bệnh tật: sự ích kỷ. Nhưng cũng tồn tại cả phương thuốc giải. Hãy là một bệnh nhân tích cực và chủ động, thậm chí lo lắng một chút vì chính bản thân mình – nỗ lực tìm ra những liều thuốc chống ích kỷ có hiệu quả nhất, cho toàn bộ phần còn lại cuộc đời mình.     Hãy cứ làm tất cả những đự định khác, những điều to lớn – du lịch, giàu có, trở nên có tên tuổi, sáng tạo, lãnh đạo, yêu đương, kiếm được hay để mất một mớ tiền, hay là cởi truồng bơi trong rừng (sau khi đã kiểm tra và đảm bảo không có phân khỉ)– nhưng đồng thời trong phạm vi khả năng cho phép, hãy hướng mình theo sự tử tế. Làm những điều giúp hướng bạn theo những câu hỏi lớn, và tránh những điều làm bạn nhỏ bé và tầm thường. Phần tỏa sáng trong bạn, nằm sâu hơn cả cá tính – ta có thể gọi là linh hồn – cũng sáng lạn như của bất kỳ ai. Sáng như của Shakespeare, sáng như của Gandhi, sáng như của Mẹ Teresa. Hãy dọn quang mọi thứ ngăn cách bạn với ánh sáng bí mật ấy. Tin rằng nó tồn tại, hiểu về nó nhiều hơn, nuôi dưỡng nó, chia sẻ những quả ngọt của nó một cách không mệt mỏi.   Một ngày kia, 80 năm sau, khi bạn 100 tuổi, còn tôi 134, khi cả hai ta đã tử tế và nhân ái quá mức, hãy viết cho tôi đôi dòng, kể tôi nghe về cuộc đời bạn. Tôi hi vọng bạn sẽ nói: nó quá tuyệt vời.  —  George Saunders là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời là giáo sư Đại học Syracuse ở Mỹ. Ông viết truyện ngắn, tiểu luận, truyện dài, và truyện cho trẻ em, dành được nhiều giải thưởng uy tín.      Thanh Xuân lược dịch theo New York Times    http://6thfloor.blogs.nytimes.com/2013/07/31/george-saunderss-advice-to-graduates/?_r=0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao giáo dục vô vị lợi cần thiết      Khi nền giáo dục khai phóng đang lâm nguy, những viễn kiến cho một nền dân chủ lành mạnh mà giáo dục khai phóng đem lại bị che khuất bởi những mục tiêu kinh tế trước mắt, chúng ta có thể làm gì để cưỡng chống lại sự bành trướng của giáo dục vị lợi?     Trong Lời bạt cuốn sách nhiều suy tư về giáo dục của mình: Vô vị lợi: Vì sao nền dân chủ cần các môn học nhân văn1, GS Martha C. Nussbaum, có kể về những chuyến thuyết trình của bà về triết lý giáo dục khai phóng và nhân văn sau khi cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ vào mùa xuân năm 2010. Ở những nơi bà đến, trong và ngoài nước Mỹ, thực tế giáo dục khắp nơi khiến nỗi lo về sự suy giảm, lép vế của mô hình giáo dục khai phóng (giáo dục vì dân chủ) so với mô hình giáo dục hướng tới sự phát triển kinh tế (giáo dục vì lợi ích) như là một định hướng sai lầm của nền dân chủ, khiến cho những tác động và sự đón nhận sâu rộng cuốn sách ở nhiều nơi, không khỏa lấp được những trăn trở, băn khoăn cho tương lai của nền (giáo dục vì) dân chủ.     Trong cuốn sách có tính chất kêu gọi hành động này, Nussbaum đã trình bày một cách xuất sắc các vấn đề của giáo dục khai phóng. Bảy chương sách là bảy câu chuyện khác nhau, quy tụ những suy tư về nền giáo dục khai phóng và giá trị nhân văn của nó. Nếu như ở câu chuyện mở đầu, bà mới chỉ đề xuất dặt dè về “cuộc khủng hoảng thầm lặng” nhưng có “quy mô to lớn và với tầm hệ trọng toàn cầu” của nền giáo dục, mà tương lai rất có thể về lâu dài, như cách bà so sánh với căn bệnh ung thư, “gây thiệt hại nặng nề cho tương lai của nền tự trị dân chủ”; thì câu chuyện trở nên nặng nề, u ám hơn khi “nền giáo dục dân chủ đang lụn bại”.            Đặc trưng của giáo dục khai phóng không phải để tạo ra những con người có ý thức cao độ về sức mạnh của mình, mà là để đánh thức nhận thức về sự bấy yếu, bất toàn của con người, từ đó mà khơi dậy sự kết nối, cảm thông.           Tại sao vậy? Chương hai của cuốn sách bày ra nguyên nhân của thực trạng ấy. Ở đấy, Nussbaum tường trình về sự khác biệt giữa giáo dục vì lợi ích và giáo dục vì dân chủ. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự quá chú trọng vào các hiệu quả kinh tế đã khiến nhiều quốc gia lựa chọn mô hình giáo dục thứ nhất, nhằm tạo ra các công dân có trình độ tốt nhất về kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho nền kinh tế, và bỏ lại phía sau, cắt giảm các môn học nhân văn và nghệ thuật ở mô hình giáo dục thứ hai, vốn thường chỉ tạo ra các cá nhân tự chủ, có trách nhiệm và tinh thần phản biện xã hội, thứ đem lại “sức khỏe” lâu dài chứ không phải lợi nhuận trước mắt cho nền dân chủ.    Nhưng vì sao giáo dục vì dân chủ vẫn thật sự cần thiết (trong khi giáo dục vì lợi nhuận không phải lúc nào cũng là sự triệt tiêu giá trị nhân văn và tinh thần khai phóng, chỉ là không đánh giá đúng mức vị trí cần thiết của giá trị và tinh thần ấy mà thôi)? Đó không chỉ đơn thuần là câu chuyện, như một ví dụ của bà, cử tri sẽ bỏ phiếu cho ai, người hứa đem đến thành tích kinh tế rõ ràng như “tôi đã tạo ra n công việc cho tiểu bang S” và người hứa đem đến những thành tích trừu tượng hơn như “tôi đã đặt nền tảng cho sức khỏe lâu dài của nền dân chủ”. Thiên vị một mô hình giáo dục hướng đến thành tích kinh tế ngắn hạn đã không thuyết phục được mục tiêu đào tạo con người đích thực. Chương ba của cuốn sách cho chúng ta biết lí do vì sao ta phải chú trọng hơn đến việc đào tạo con người đích thực, nơi mà ý thức về “những tình cảm đạo đức (và phản đạo đức)” như là suy tư thường xuyên của nền giáo dục.    Khi trình bày phương pháp và mục tiêu của giáo dục khai phóng ở chương bốn và chương năm, Nussbaum đã lược thuật cho chúng ta diễn tiến của mô hình giáo dục này, khởi đi từ truyền thống sư phạm Socrates, sự kết hợp giữa ý thức về tầm quan trọng của tranh luận để thiết tạo lý tính logic và tầm quan trọng của tưởng tượng nghệ thuật để gây dựng tình cảm thông. Bà cũng dành nhiều lời ngợi ca cho những đóng góp, sự gặp gỡ trong quan điểm giáo dục của Tagore và Dewey, những người gây dựng nền tảng cho giáo dục khai phóng hiện đại. Và theo bà, kết tập từ truyền thống ấy, từ điểm nhìn toàn cầu hóa, giáo dục khai phóng hiện nay phải hướng tới việc định hình “những công dân thế giới”. Đó là mục tiêu quan trọng mà chỉ giáo dục vì lợi ích thôi là chưa đủ cho một thế giới đang đa dung về văn hóa.    Chương sáu dành sự quan tâm đáng kể cho văn học và nghệ thuật, các môn học “vun đắp trí tưởng tượng”. Về vấn đề này, Nussbaum quan niệm, “các công dân không thể liên hệ tốt với thế giới phức tạp xung quanh họ chỉ với kiến thức thực tiễn và tính logic. Khả năng thứ ba của người công dân, liên hệ chặt chẽ với hai khả năng trên, là cái mà chúng ta có thể gọi là trí tưởng tượng tự sự [literary imagination]”. Đánh giá cao vai trò của văn học đối với ý thức về công lý trong việc phát triển hoàn thiện con người ở đây gắn bó mật thiết với triết lý giáo dục khai phóng mà Nussbaum theo đuổi. Đặc trưng của giáo dục khai phóng, như bà đã chỉ ra ở chương ba, không phải để tạo ra những con người có ý thức cao độ về sức mạnh của mình, mà là để đánh thức nhận thức về sự bấy yếu, bất toàn của con người, từ đó mà khơi dậy sự kết nối, cảm thông. Khi người ta hiểu rằng mỗi cá thể là hạn chế, người ta cần sự chia sẻ nhiều hơn, bớt đi ý thức về quyền uy cá nhân, và kiềm chế việc tạo ra những áp lực ngang hàng trong các ứng xử xã hội. Văn học nghệ thuật, theo đó, là không gian tuyệt vời cho các khả thể trải nghiệm khác nhau mà mỗi cá nhân không có. Sống trải với những kinh nghiệm khác, của người khác, con người trở nên nhân ái hơn, dễ cảm thông hơn, và cuộc sống vì thế mà hòa bình hơn, nhân ái hơn, thay vì sự chinh phục, kiểm soát và tiếm chiếm.    Khi cho rằng nền giáo dục khai phóng đang lâm nguy, Nussbaum hiểu rằng những mục tiêu kinh tế trước mắt của chúng ta hiện nay đã che khuất những viễn kiến cho một nền dân chủ lành mạnh mà giáo dục khai phóng đem lại. Để cưỡng chống lại sự bành trướng của giáo dục vị lợi, theo Nussbaum, chúng ta cần hướng đến những “suy tư toàn cầu, hành động địa phương”. Giáo dục vô vị lợi không tồn tại trong một môi trường chân không, hay biểu hiện như một giá trị phổ biến, mà định vị trong không thời gian và những địa điểm nhất định. Người ta phải suy tư về giáo dục vô vị lợi từ việc hiểu biết sâu sắc những nền tảng văn hóa đa dạng làm chân đế cho việc thực thi các hành động giáo dục, và việc nhận thức về sự đa dạng này đồng thời cũng củng cố lòng cảm thông dựa trên ý tưởng về sự cần thiết của giá trị nhân văn và tinh thần khai phóng.     Đọc Vô vị lợi, chúng ta không chỉ thấy được một đề xuất có ý nghĩa chiến lược, một tinh thần dấn thân triệt để vì tương lai của nền dân chủ, mà rất nhiều những nhận định khác trong tác phẩm, nhờ sự hiểu biết rộng mở và căn bản triết học thâm sâu của tác giả, thường xuyên mời gọi những hồi ứng tri thức đáng kể. Tạo nên được không khí thảo luận, tôn trọng ý kiến khác và sự tranh luận, nhu cầu phản tư, bản thân cuốn sách cũng là một biểu hiện của một tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân văn và khai phóng. Kết nối thường trực tất cả các vấn đề được thảo luận với ý thức về công lý, cuốn sách thực sự là một chất vấn xứng đáng được tưởng thưởng và phổ biến rộng rãi, trong nền dân chủ và bên ngoài nó nữa.  ———————–  1 Martha C. Nussbaum: Vô vị lợi: Vì sao nền dân chủ cần các môn học nhân văn. (Bùi Thanh Châu dịch). Ban Tu thư Đại học Hoa Sen & NXB Hồng Đức, 2015, 224 trang    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao học sinh ghét môn lịch sử?      Học sinh chán ghét môn sử không phải là hiện tượng chỉ có ở Việt Nam. Bài viết của thầy giáo người Mỹ Greg Milo phân tích nguyên nhân của hiện tượng phổ biến này và đề xuất một số biện pháp khắc phục trong tầm tay.    Học lịch sử ích gì?  Tôi mở sách giáo khoa môn lịch sử thế giới và thở dài.    Cuốn sách mở đầu với bài học về nguồn gốc của các nền văn minh, và, kết thúc bằng bức ảnh thời nay được chụp vội vã. Tổng cộng là 5.000 năm lịch sử.    “Thế đấy”. Ngay từ hồi mới đi dạy, tôi đã tự đặt cho mình câu hỏi: “Thế ra giáo viên dạy lịch sử chúng tôi phải dạy tất tần tật mọi thứ đã xảy ra ở khắp mọi nơi trên trái đất này ư?”    “Thì đúng vậy chứ còn gì nữa (giọng mỉa mai).”    Khi đi dạy đến năm thứ bảy, tôi bắt đầu tự hỏi: “Sự kiện đó tóm lại là sao? Ai thèm quan tâm đến Da Vinci cơ chứ? Ai cần biết về thập niên hai mươi vui vẻ trẻ trung của nước Mỹ? Ai thèm quan tâm Tôn Tử? Ai cần biết quái gì về môn lịch sử? Vấn đề mấu chốt là gì?” Mãi đến năm thứ năm vào nghề, tôi mới bắt đầu lựa chọn một số bài giảng để lướt qua và một số bài để giảng sâu hơn, nhưng đối với một môn học dựa trên trình tự thời gian thì điều đó có lẽ rất khó cho học sinh theo dõi. Tôi chẳng thích thú gì đào sâu vào thời Trung Cổ, nhưng nếu chỉ giảng lướt qua thì cũng không thể mong học sinh hiểu được tại sao lại có phong trào Phục hưng tại châu Âu.    Tôi muốn nói, không phải tôi không quan tâm, vì tôi là dân mọt sách về môn học này mà. Tôi đoán hầu hết các nhà sử học đều như vậy. Nhưng tôi cũng đoán biết nhiều học sinh không mê gì môn lịch sử.    Tôi đã từng nghe rất nhiều người nói, “Hồi nhỏ đi học tôi ghét môn lịch sử lắm, nhưng giờ thì thích rồi”. Họ cũng chẳng còn nhớ gì về thứ lịch sử mà họ đã học trong lớp, ngoại trừ việc giáo viên dạy rất chán, nhưng họ có thể kể cho tôi biết bao điều về các sự kiện lịch sử mà hiện nay họ quan tâm. Tại sao điều đó xảy ra?    Tại sao học sinh ghét môn lịch sử?    Tôi chắc chắn có rất nhiều lý do có thể kể ra, nhưng một lý do mà các học sinh của tôi – những đứa ghét môn lịch sử – luôn kể ra, đó là: môn học này thật nhàm chán.   “Tại sao lại nhàm chán?” tôi hỏi.    Học sinh thường trả lời đại khái như: “Hiệp ước Versaille có giúp được gì cho em trong cuộc sống hay không ạ?”    Câu hỏi rất hay.    Nó khiến tôi tự hỏi liệu có nên chú trọng vào nội dung của môn lịch sử hay không.    Điều gì trong môn nghiên cứu xã hội1 là quan trọng nhất đối với học sinh?    Câu trả lời của tôi: Tăng cường kỹ năng tư duy cho các em.    Tôi muốn học sinh của mình biết suy nghĩ. Tôi muốn chúng có thể đưa ra những quyết định có lý lẽ sau khi đã xem xét những khả năng khác nhau của cùng một sự kiện. Tôi muốn chúng hiểu những hậu quả khi đưa ra một quyết định, trong dài hạn cũng như ngắn hạn. Tôi muốn chúng hiểu mỗi quyết định sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Và tôi muốn chúng có hành động phù hợp.    Nếu mục tiêu của tôi là, giống như Bộ Giáo dục của bang Ohio đã đề ra, “chuẩn bị cho học sinh tham gia vào xã hội với tư cách một công dân”, thì hẳn tôi phải muốn thử thách khả năng ra quyết định của học sinh, và tạo cơ hội cho các em hành động.    Và điều này có nghĩa là học sinh có thể thực hành kỹ năng ra quyết định thông qua bất kỳ đề tài nào – chứ không nhất thiết phải là một đề tài nhàm chán.     Sao phải chết cứng vào trình tự thời gian  Nhưng tại sao môn lịch sử lại cần phải được dạy thông qua những chủ đề sắp xếp theo trình tự thời gian?    Tại sao học sinh của tôi phải học về sự sụp đổ của đế chế La Mã hay về Công ty thương mại Đông Ấn? Biết đâu có đứa lại muốn học về các cuộc bầu cử ở Burundi thì sao?    Sách giáo khoa thường được viết với các chi tiết thật ngắn gọn và không đầy đủ, lướt qua các chi tiết độc đáo, rất giống một ông thầy không thực sự rành về môn học nhưng vẫn phải dạy. Phương pháp này bỏ qua nhiều biến số quan trọng giúp ta hiểu các mối quan hệ nhân quả.    Sách giáo khoa cũng có khuynh hướng bỏ qua tính nhân văn của môn học – hơi giống với kiểu kể một câu chuyện không có nhân vật chính.    Nếu chúng ta muốn học sinh của mình có thể đưa ra những quyết định hợp lý, thì chúng ta cần phải hiểu được sự pha trộn phức tạp của các nhân vật, địa danh và các sự kiện lịch sử đã tạo ra những hệ quả nào đó.  Hãy để học sinh tự lựa chọn chủ đề  Học sinh của tôi thường đặt những câu hỏi cho thấy các em nhạy bén như thế nào. Các em nhận ra là bài học còn những khoảng trống chưa được giải quyết, hoặc có những nội dung mà tôi đã lướt qua quá nhanh trong khi giảng. Tôi có thể tận dụng sự sắc sảo này của các em, giải đáp những câu hỏi mà các em đặt ra, chớp lấy những khoảnh khắc tâm trí các em khai mở như vậy để truyền thụ kiến thức. Tuy nhiên, thay vì làm điều ấy, tại sao lại không để các em tự khám phá ra câu trả lời cho chính mình nhỉ?    Rất tiếc là các môn học của chúng ta lại không được thiết kế theo kiểu như vậy. Đây không phải là bữa ăn được chọn món. Thực đơn đã được thiết lập, và các món ăn sẽ luôn được lần lượt được mang ra theo thứ tự. Và bởi vì cấu trúc của môn học đã được quy định, một học sinh có thể mở sách xem bài và tự nhủ: “Ồ, không thấy câu hỏi ở đây, tức là sẽ không có trong bài thi, vậy thì lướt qua luôn đi. Ở trang kế sẽ học gì thế nhỉ? Ô, quá trình ‘lưu hóa’2, cứ tưởng là lưu manh hóa chứ, buồn cười quá đi mất!”    Tôi có thể xây dựng một bài học trong đó có những khoảng trống để mọi học sinh của tôi thực hành kỹ năng quan sát tìm tòi và đưa ra kết luận – và tôi vẫn thường làm vậy. Nhưng cũng có thể có những lựa chọn khác làm cho học sinh thích học – chẳng hạn như cho phép các em quyết định chọn chủ đề để học, thay vì tôi luôn luôn là người quyết định.    Tại sao ta không cho phép học sinh quyết định chọn những chủ đề vẫn còn chưa được giải quyết mà chúng muốn nghiên cứu và góp phần giải quyết, thay vì đòi hỏi tất cả học sinh đều có cùng một trải nghiệm giống nhau trên cùng một chủ đề như nhau?    Thay vì đưa ra một niên đại chuẩn các sự kiện đã chọn sẵn, sao ta không chọn một chủ đề để đào sâu suốt cả một học kỳ, cho phép học sinh xé nhỏ đề tài ấy thành nhiều mảng, và cung cấp cho các những chi tiết cần thiết để các em có thể đưa ra những tranh luận có giá trị?    Nếu việc mỗi học kỳ chỉ chọn một chủ đề nghe có vẻ cực đoan, thì hãy chọn bốn chủ đề. Điều tôi muốn nói là chọn ít chủ đề đi nhưng tập trung vào chiều sâu để thấy được sự phong phú của môn lịch sử và thu hút học sinh nhiều hơn.    Cách thiết kế môn lịch sử hiện nay quá nhấn mạnh vào thời gian. “Làm sao tôi có thể đi qua được đến 5.000 năm lịch sử chỉ trong một học kỳ cơ chứ?”    Giáo viên chỉ chăm chăm tập trung vào yếu tố thời gian trong môn lịch sử, và điều này có lý do chính đáng.     “Tôi không thể bỏ thêm thời gian giải thích về cuộc chiến tranh Triều Tiên bởi tôi còn phải giảng về vụ xì-căng-đan Watergate vào tuần tới, rồi còn phải trình bày về phong trào dân quyền để chuẩn bị đầy đủ kiến thức cho học sinh làm bài kiểm tra.”    Quả là vớ vẩn. Để thực hành kỹ năng nghiên cứu xã hội thì chỉ cần một trong các đề tài nói trên là đủ. Tất cả những đề tài trên đều thú vị. Hãy chọn lấy một thôi.    Nội dung giảng dạy cho một học kỳ có thể dựa trên các năng lực Tìm tòi, Phân tích, và Nêu giải pháp, và giáo viên có thể dựa trên việc phát triển các năng lực nói trên để dẫn dắt chương trình học, thay vì dựa vào cái nhãn môn học là Văn minh phương Tây. Một môn học tập trung vào các phương pháp có thể chọn năm sự kiện hay nhân vật thú vị và không liên quan đến nhau để nghiên cứu sâu.    Nghiên cứu xã hội chính là như thế: tìm hiểu về xã hội. Chúng ta thích tạo ra các công thức để khái quát hóa về việc xã hội và con người trong xã hội đó vận hành như thế nào. Các nhà kinh tế luôn cố gắng đưa ra dự đoán về các khuynh hướng, nhưng thực sự không có cách nào để tiên đoán một cách nhất quán rằng mỗi cá nhân sẽ hành động như thế nào. Vì hành vi của con người luôn có yếu tố bất ngờ nên chúng ta cố phân loại và làm cho nó có ý nghĩa. Chúng ta gắn tên gọi vào các thời đại, dùng chúng để đặt nhan đề cho các chương, rồi dán nó vào một cuốn sách và gọi nó môn lịch sử.    “Đây là những gì đã xảy ra trong quá khứ,” chúng ta nói với học sinh. “Phù, thế là xong, chúng tôi đã trình bày xong những vấn đề lịch sử rồi.”    Rồi tự nhiên một học sinh đặt câu hỏi: “Vì sao ở Mỹ có nhiều nhà tù đến thế ạ?”    Và chúng ta sẽ trả lời lấp liếm “Ồ, câu ấy không có trong bài kiểm tra, hãy trở lại với các niên đại lịch sử kẻo hết giờ mất” và thế là sự tò mò của đứa trẻ bị dập tắt hoàn toàn. Và chúng tiếp tục nghĩ: “Ôi, môn sử thật là nhàm chán”.   Hồng Hiếu dịch,   Phương Anh hiệu đính  Nguồn:   http://www.edweek.org/ew/articles/2015/09/23/why-do-students-hate-history.html  Các tiêu đề phụ do Tia Sáng đặt    Đọc thêm:    http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=9283     ——-    * Trưởng bộ môn Nghiên cứu xã hội tại trường trung học Archbishop Hoban, Akron, Ohio. Email: milog@hoban.org; Twitter: @Mr_Greg_Milo.    1 Ở nhiều bang của Mỹ, môn lịch sử thuộc nhóm môn học tích hợp gọi là Nghiên cứu xã hội (Social Studies). Bang Ohio, nơi tác giả bài viết này đang giảng dạy, là một ví dụ. http://education.ohio.gov/Topics/Ohios-Learning-Standards/Social-Studies     2 Từ trong bản gốc là vulcanization, tức “lưu huỳnh hóa”. Từ này nghe hao hao giống như từ vulva nghĩa là “cửa mình” của phụ nữ, nên học sinh thấy buồn cười. Tạm dịch ra như trên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Mẹ Hổ “chạm vào dây thần kinh” người Mỹ      Cuốn sách “tường  thuật” lại, có phần bông lơn và thậm xưng, về hành trình dạy con nghiêm  khắc “kiểu Trung Hoa” của Amy Chua đã thật sự “chạm vào thần kinh của người Mỹ. Vì sao vậy?    Trích đoạn trong quyển Khúc chiến ca của Mẹ Hổ* của tác giả Amy Chua đăng trên Tạp chí Phố Wall có thể nói không ngoa là đã khơi mào cho một cuộc thảo luận sôi nổi về triết lý giáo dục con cái trên toàn nước Mỹ. Trong cuốn sách của mình, Amy Chua đã “tường thuật” lại, có phần bông lơn và thậm xưng, về hành trình dạy con nghiêm khắc “kiểu Trung Hoa” của bà để dẫn đến hai cô con gái rất thành công trong học hành: cô chị vừa được Harvard nhận, và cả hai cô con gái đều chơi nhạc cụ cổ điển xuất sắc.  Có thể hiểu tại sao người Mỹ lại bị “chạm vào dây thần kinh” vì quyển sách này. Một mặt, triết lý giáo dục con cái của họ nhìn chung là trái ngược với những gì Amy Chua thể hiện trong sách. Họ luôn đề cao tính độc lập của trẻ em, để cho trẻ em được rất nhiều tự do chọn lựa trong học hành và giải trí, xây dựng lòng tự trọng và cá tính nghi ngờ quyền thế. Mặt khác, người Mỹ phải đối mặt với các con số cụ thể, rằng học sinh gốc Á chiếm trên 50% tại các trường trung học số một nước Mỹ như Lowell, Stuvyesant, Hunter College, rằng 44% người Mỹ gốc Á có bằng đại học so với 26% của dân da trắng.   Kể cũng khá oái oăm là ở Trung Quốc các nhà giáo dục đã và đang tìm cách thoát ly khỏi lối giáo dục từ chương, nghiêm ngặt chặt chẽ, tạo ra một thế hệ những con ong thợ rất tốt luôn phục tùng nhưng thiếu hẳn tính sáng tạo. Trong khi đó, ở Mỹ các nhà giáo dục luôn lo lắng và tranh luận về sự sa sút của kết quả thi cử của học sinh Mỹ so với trẻ em cùng tuổi trên thế giới. Ranh giới cân bằng tinh tế giữa hai triết lý giáo dục trong thời đại toàn cầu hóa có lẽ là một trong những nguyên nhân chủ đạo của cuộc thảo luận sôi nổi không hồi kết này.   Các kết quả nghiên cứu tâm lý trẻ em hiện nay cũng “xẻ” Amy Chua làm đôi, nửa đúng nửa sai. Các nghiên cứu tâm lý học đều khẳng định rằng chỉ có lao động miệt mài thì mới có thể thành công ở một công việc bất kỳ, chơi đàn piano, vẽ, hay giải Toán. Sự nghiêm khắc của Amy Chua với hai con: không TV và video games, không ngủ ở nhà bạn, luôn phải được điểm A, 6 tiếng piano mỗi ngày, v.v., đã góp phần dẫn đến thành công của hai cô bé. Và, bà Amy Chua cũng hoàn toàn đúng rằng nếu không lao động cho đến khi xuất sắc thì sẽ không thể phát triển được sự đam mê với công việc. Mà một khi ta đã đam mê thì ta lại càng xuất sắc. Mặt khác, sự khắc nghiệt cả về tâm lý lẫn vật lý của bà (như việc thóa mạ và hành xác các con) có khả năng dẫn đến những hậu quả khôn lường trong phát triển tâm lý và tính cách cá nhân về lâu dài. Các em gái Mỹ gốc Á từ 15 đến 24 tuổi có tỉ lệ tự vẫn cao nhất trong các nhóm chủng tộc.   Một loạt số thống kê khác mở rộng cuộc thảo luận theo hướng mới. Ở Mỹ thì học sinh Mỹ gốc Á chiếm gần 20% tỉ lệ sinh viên ở các trường Ivy-League (Harvard, Princeton, Yale, Brown, Cornell, Columbia, Dartmouth, Upenn). Đó là chưa kể các học sinh gốc Á đã phải thi điểm SAT trung bình cao hơn các nhóm khác 150 điểm thì mới vào được các trường này. Thế nhưng, mặc dù chiếm 5% dân số Mỹ, người Mỹ gốc Á chỉ chiếm 0,3% các viên chức ở các tập đoàn, ít hơn 1% thành viên các ban bệ ở các tập đoàn, và 2% hiệu trưởng các đại học. Chỉ có 9 CEOs gốc Á trong danh sách Fortune 500. Thậm chí, ở những chỗ mà dân gốc Á thống lĩnh về lượng như ở thung lũng Silicon, các con số cũng mất cân xứng tương tự. Một phần ba các kỹ sư phần mềm ở thung lũng Silicon là gốc Á, thế nhưng họ chỉ chiến 6% thành viên các ban bệ và 10% viên chức trong 25 công ty lớn nhất thung lũng. Ở viện sức khỏe quốc gia Mỹ, 21,5% các nhà khoa học là người gốc Á, nhưng chỉ có 4,7% là các giám đốc.  Có lẽ, thành công nhất của Amy Chua là quyển sách của bà khơi mào cho mỗi bậc cha mẹ chúng ta có cơ hội tranh luận, tư duy, và hình thành một triết lý giáo dục cho riêng mình, chứ không phải do Khúc chiến ca của Mẹ Hổ là một cẩm nang nuôi dạy trẻ. Một số nghiên cứu trong ngành Kinh tế học gần đây đã gợi ý rằng, giáo dục của cha mẹ không phải là chỉ số chính đo “thành công” của con cái. “Môi trường” mới là chỉ số chính. Đa số con cái của các đồng nghiệp của tôi (các giáo sư trong một đại học Mỹ) đều học các trường đỉnh, không Ivy-League thì Stanford, Berkeley. Một đồng nghiệp người Hoa thậm chí rất “phản”-Amy Chua. Ông nói Amy Chua làm xấu hình ảnh Hoa kiều ở Mỹ. Con trai ông được nuôi dạy theo kiểu “Tây”: cho nhiều chọn lựa và phát triển cá tính. Cậu bé chán Cello thì sang học Guitar, chán Toán thì sang học Khoa Học Máy Tính. Năm vừa rồi cậu thi giải nghiên cứu khoa học trẻ của hãng Intel được vào top-40, và đã được vào Nhà Trắng bắt tay tổng thống Obama. Cậu đã được hai trường số 1 thế giới về khoa học và công nghệ nhận: CalTech và MIT. Để làm đối trọng với Mẹ Hổ, ta có thể gọi ông là Ba Voi: hiền lành và cung cấp một nền tảng vật chất vững chãi và môi trường sinh hoạt lành mạnh cho con mình.     Tìm một điểm cân bằng hữu lý trong giáo dục con cái sẽ là một hành trình rất cá nhân của từng bậc phụ huynh. Khúc chiến ca của Mẹ Hổ gợi mở cho chúng ta nhiều vấn đề thiết thực cần giải quyết trong hành trình này. Quan trọng hơn hết, có lẽ chúng ta nên lưu tâm rằng “làm thế nào để nuôi con thành công?” không đồng nghĩa với “làm thế nào để dưỡng dục một con người hạnh phúc?”                                                                                                          * NXB Thời đại và AlphaBooks ấn hành tháng 6/2011, 396 trang         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Nga sa sút tại Olympic toán quốc tế ?      Trong những kỳ thi Olympic toán quốc tế (IMO) gần đây, nước Nga đã không giữ được vị trí vốn có của mình nữa. Đây không phải là thất bại ngẫu nhiên mà là hệ quả tất yếu của những quyết sách sai lầm từ 15 đến 20 năm trước.      Đội tuyển Toán Liên Xô trước đây từng giành thứ hạng cao trong các cuộc thi IMO.  Trước đây, tôi từng là học sinh yêu toán và cũng đoạt giải học sinh giỏi toán thành phố Leningrad. Nhờ đó, tôi được tham gia lớp học nổi tiếng của thầy Sergei Rukshin, bệ phóng cho nhiều tài năng toán Nga như Grigori Perelman – người đoạt giải thưởng Fields năm 2006, Stanislav Smirnov người đoạt giải Fields năm 2010, Fedor Nazarov và Chelkak Dmitry – giải Salem Prize hai năm 1999, 2014, Eugenia Malinnikova và Alexander Logunov – giải thưởng Viện nghiên cứu Clay 2017. Cũng xin nói thêm là Perelman từng từ chối giải thưởng trị giá một triệu đô la của Viện nghiên cứu Clay.  Sau khi kết thúc khóa học ở lớp của thầy Sergei Rukshin, dù không trở thành nhà nghiên cứu toán học như các học trò nổi tiếng khác nhưng tôi vẫn lặng lẽ theo dõi tiến trình đào tạo của lớp. Có thể nói một điều chắc chắn là thầy Sergei Rukshin tuyển chọn “nhân tài” từ mọi khu vực của thành phố một cách kỹ lưỡng. Ở trong lớp học của thầy, mọi người được học theo một chương trình do thầy soạn phù hợp với khả năng tiếp thu. Không chỉ có vậy, trong quá trình học, một số trò chơi điện tử đang được trẻ em yêu thích cũng được đưa vào chương trình.  Khi một số người nói với tôi rằng, nước Nga đang trượt dốc tại các kỳ thi IMO vài năm gần đây, thoạt tiên tôi cho rằng, chắc là họ phóng đại, kết quả đó chỉ là chuyện hi hữu thôi. Nhưng rồi đã nhiều bức thư gửi tới tôi cùng có những lời bình luận, buộc tôi phải cay đắng thừa nhận, đúng là chúng ta đang đứng ở vị trí mà 10 năm trước bị coi là đáng xấu hổ.  Các bạn có thể tìm hiểu kết quả của đội tuyển Nga trên trang web của IMO.  Nếu không tính tới IMO 1992, kỳ thi diễn ra sau biến cố chính trị ở Nga khiến đội tuyển Nga và đội tuyển các quốc gia thuộc khối Các quốc gia độc lập (SNG) sau những biến cố chính trị, thì chúng ta luôn luôn hoặc nằm trong tốp ba hoặc là gần vị trí đấy ở gần như toàn bộ các cuộc thi. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên: mặc dù một nửa số học sinh của chúng ta, sau khi Liên Xô tan rã, đã thuộc về các quốc gia ngoài Nga, nhưng trình độ toán phổ thông của chúng ta vẫn mạnh tới mức các học trò giỏi toán của chúng ta có thể thi đấu ngang ngửa với đối thủ Trung Quốc và cả Mỹ (Mỹ vốn vẫn nổi tiếng về việc “mua” trí tuệ châu Á).  Vào năm 2011, lần đầu tiên đội tuyển toán Nga rơi vào tình trạng đáng báo động: nhiều năm chúng ta dậm chân tại chỗ ở vị trí thứ tư và không có cơ hội leo lên cao. Cần phải có giải pháp để vượt qua cuộc khủng khoảng này để chúng ta có thể trở lại tốp ba, nếu không chúng ta sẽ trượt dốc không phanh. Rất đáng tiếc là sau đó, chúng ta đã không trở lại tốp ba.  Năm 2015, tiếng chuông báo động đã vang lên. Đội tuyển Nga đứng thứ 8 trong bảng xếp hạng các đội tuyển còn tính riêng về số huy chương Olympic thì Nga tụt xuống vị trí 21 bởi đây là lần đầu tiên không giành được tấm huy chương vàng nào và “khiêm tốn” đứng giữa Iran và Singapore. Khi đó, kết quả này được coi là sự ngẫu nhiên, còn những người quan tâm đến toán biết rõ lối nghĩ đó chỉ là tự an ủi chính mình: năm đó đội tuyển Nga dự IMO với sáu thành viên chứ không phải là một.  Năm 2016, tiếng chuông thứ hai vang lên: Nga rơi xuống vị trí thứ 7 mà thực ra là 8 vì ở kỳ IMO đó, Nga và Anh cùng đứng thứ 7 nhưng Nga xếp trên vì hơn về số huy chương vàng.     Năm 2017, ngay cả những người lạc quan cũng nhận thấy, chúng ta thực sự lâm vào tình trạng nguy kịch. Đội tuyển Nga giữ vị trí thứ 11 trong số các đội tuyển tham dự IOM và thứ 14 về số huy chương, một kết quả “ngang ngửa” với các nước nhỏ như Grudia hay Hy Lạp.  Tôi nghĩ rằng, ở thời điểm này, việc xét đến những yếu tố như đội tuyển Nga xếp sau Mông Cổ, Turkmenistan và Tajikistan hay vì sao vị trí thứ 11 với nước Nga bị coi là thảm họa đều không có ý nghĩa gì. Vì vậy, tôi sẽ bàn ngay đến bản chất của vấn đề: hệ thống tuyển chọn và đào tạo các thí sinh toán học từ thời Liên Xô để lại đã bị phá bỏ.  Trước đây, việc lựa chọn các học sinh vào đội tuyển Olympic được diễn ra theo nhiều cấp độ. Tất cả học sinh giỏi được đưa vào danh sách ứng cử viên và ngay trước kỳ Olympic, tất cả đều được tham gia một kỳ tập huấn đặc biệt rồi thi tuyển nội bộ trong một cuộc thi được tổ chức như một cuộc thi Olympic, qua đó chọn ra những học sinh xuất sắc nhất.  Nhưng bây giờ hệ thống tuyển chọn này đã bị thay đổi. Người được giao phụ trách đội tuyển toán Nga, Nazar Agakhanov, đã bắt đầu tùy tiện trong việc tìm ra những gương mặt xuất sắc: dựa vào kết quả cuộc thi Olympic toàn Nga và các cuộc thi cấp vùng ở nhiều quốc gia khác.  Hãy thử hình dung ba học trò tài năng. Một có kết quả tốt tại kỳ thi Olympic Trung Quốc, một đứng đầu ở kỳ thi Olympic toàn Nga, một xuất sắc trong cuộc thi tương tự ở Serbia. Vậy chúng ta phải chọn ai vào đội tuyển quốc gia?  Trong trường hợp này, câu trả lời là không rõ. Bởi cần phải mời cả ba tới một kỳ tập huấn đặc biệt, xem các bạn đó giải các dạng toán trong một cuộc thi như IMO như thế nào. Thêm vào đó cần xét thêm một yếu tố khác: nếu ai đó từng tham gia IMO kỳ trước thì có ưu thế hơn, vì “đào tạo” bạn này sẽ dễ dàng hơn.  Thay vì những cách làm đó, thật đáng tiếc là bây giờ việc tuyển chọn thành viên đội tuyển toán Nga lại ít nhiều mang tính ngẫu nhiên. Tôi phỏng đoán là có cả một số yếu tố khác trong đó: những bạn trẻ từ một số thành phố hoặc từ một số trường đại học có “tên tuổi” có nhiều cơ hội lọt vào đội tuyển hơn.  Những suy nghĩ này không phải là vô căn cứ, ví dụ một nửa thành viên trong đội tuyển Nga dự IMO năm 2017 không nằm trong số một trăm người có thứ hạng cá nhân cao nhất: hai thành viên nằm trong nhóm thứ hạng sau một trăm (vị trí thứ 115 và 188), lần đầu tiên trong lịch sử tham gia của đội tuyển Liên Xô và Nga có một thành viên nằm dưới thứ hạng hai trăm: vị trí thứ 265. Vì học sinh giỏi toán của Nga là có thừa nên chỉ có thể đưa ra một kết luận là: hệ thống tuyển chọn yếu kém, những người lọt vào danh sách đội tuyển không phải là giỏi nhất.     Cuối cùng, mỗi năm lại có thêm những than phiền về việc chuẩn bị cho IMO. Hãy xem xét một thông tin từ thầy Sergei Rukshin: “…trưởng đoàn Toán Nga là Nazar Agakhanov, phó giáo sư Viện Toán lý Moscow. Ông ta dựa vào cuộc thi Olympic Toán Nga để tuyển chọn và thành lập đội tuyển. Thế nhưng tiếp theo thì ông ta hoàn toàn phó thác công việc giảng dạy cho người khác. Theo thời khóa biểu thì ông ta không dạy một tiết nào cho đội tuyển. Nếu trong một đội tuyển bóng đá mà huấn luyện viên trưởng hành xử như vậy thì ông ta đáng bị sa thải từ lâu”.  Thêm một điều không hay nữa. Từ năm 2015, đội tuyển toán Nga được đào tạo trong một khóa huấn luyện mới mang tên Sirius diễn ra bên bờ biển Đen. Ngay năm đầu tiên, các học sinh bị vắt kiệt khủng khiếp, nhiều thông tin bên lề cho rằng, các giảng viên bắt học sinh giải toán hết sức để có cớ nghỉ ngơi dài hạn.  Hãy xem, một đội tuyển Olympic khác là đội tuyển vật lý không chọn biển Đen mà đến một nơi khác, kém nổi tiếng hơn, Dolgoprudny. Kết quả là đội tuyển Olympic vật lý có năm thành viên tham dự và giành được năm huy chương vàng.  Sẽ không quá muộn nếu chúng ta sửa sai từ bây giờ. May mắn là tài năng vẫn còn tồn tại trên đất Nga, theo thống kê của các trung tâm đào tạo ngoại khóa: 10 năm trở lại đây, các bậc phụ huynh có xu hướng đầu tư tiền bạc và thời gian vào việc học phụ đạo của con em mình. Nói đơn giản thì chúng ta vẫn có người để tuyển chọn.  Việc quan trọng phải làm ngay là điều chỉnh lại hệ thống tuyển chọn học sinh giỏi toán cho IMO. Có thể áp dụng một cách linh hoạt hệ thống tuyển chọn đã hình thành từ những năm 1980 và đem lại hiệu quả tốt, hoặc là phải rút ra những bài học về mặt tổ chức sau những kỳ thi IMO không thành công để các giáo viên phải thay đổi.  Bên cạnh đó, cũng cần phải đấu tranh với nạn tham ô, nhũng nhiễu đang diễn ra trong các kỳ thi Olympic ở ngay trong lòng nước Nga. Nhiều kẻ đã tìm cách “lách” để đưa học trò lọt qua cánh cửa thi tuyển vào đại học, rất khó để có thể “mua bán” kết quả một kỳ thi quốc gia, thậm chí ở một số vùng là không thể nhưng với các kỳ thi Olympic thì “dễ thở”: có thể mua huy chương vàng một kỳ thi Olympic cấp địa phương hoặc trường đại học (vì học sinh giành huy chương vàng Olympic cấp này được hưởng một số ưu đãi trong kỳ thi xét tuyển vào đại học).  Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, nên quy trách nhiệm hình sự với những kẻ lợi dụng việc tổ chức Olympic để nhận hối lộ, hoặc là bỏ chế độ ưu đãi khi xét tuyển vào đại học cho những người đoạt giải trong kỳ thi Olympic. Bởi xét theo logic thông thường thì nếu học sinh có thể đoạt huy chương vàng trong kỳ thi Olympic môn toán thì chắc chắn bài toán trong kỳ thi tuyển sinh đại học cũng không quá khó giải.  “Hãy nhớ lại kỳ Olympic đầu tiên của nước Nga với một môn duy nhất là toán, và được tổ chức tại Leningrad vào năm học 1933-34. Trong thời kỳ đất nước gặp khó khăn, các cuộc thi Olympic vẫn diễn ra nhằm tuyển chọn những người xuất sắc nhất vào các trường đại học kỹ thuật và quân sự. Giờ đây trong hoàn cảnh mới của đất nước, tất cả cho chúng ta thấy, chúng ta vẫn cần phải vun xới và bồi đắp nguồn nhân lực. Bây giờ người ta có xu hướng cho rằng việc sớm học chuyên sâu về khoa học không đem lại kết quả gì và những em lọt vào đội tuyển Olympic toán và có huy chương không đem lại gì cho khoa học. Hãy nhìn vào những tên tuổi lớn của toán học Nga hiện nay như Perelman và những người khác: Eugene Malinnikova, Alexander Logunov, Stas Smirnov, và Alexander Perlin – cựu thành viên đội tuyển Soviet cuối cùng, hiện ở Manhattan và là một trong những nhà phân tích tài chính hàng đầu thế giới; Misha Kogan – nhà địa trắc học, Mikhail Temkin – giáo sư toán ở Israel… Họ đều trưởng thành từ St. Petersburg. St. Petersburg là nơi đi đầu về đào tạo toán học.  Có một sự thật là hệ thống Olympic của Bộ Giáo dục Nga tuyển chọn học sinh ở độ tuổi quá muộn: lớp 9, lớp 10 và lớp 11. Nhưng St. Petersburg là nơi đi đầu trong việc phát hiện tài năng toán học từ khi các em còn nhỏ. Đội tuyển Olympic của thành phố bắt đầu tuyển từ lớp 6 và trong năm 1993 thậm chí còn mở cho học sinh dưới lớp 5. Kinh nghiệm cho thấy, bắt đầu từ sớm lại là cách tốt nhất để tìm ra con đường nghề nghiệp trong tương lai. Thậm chí vào tháng 2/2017, trong một cuộc thi Olympic ở khu vực Ural, lần đầu tiên giải nhất lớp 9 thuộc về một học sinh lớp 6 trong đội tuyển của chúng tôi! Một cuộc thi khác vào tháng 6/2017, học sinh của chúng tôi cũng giành giải nhất ở ba hạng mục lớp 6, 7 và 8”. (Sergei Rukshin)  Hoàng Ngự Huấn dịch  Nguồn: https://ria.ru/authors/20170902/1501619466.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Nhật Bản có thể phát triển từ trong đổ nát chiến tranh?      Trả lời câu hỏi này tại hội thảo “Khởi  nghiệp kiến quốc– Công thức thành công từ các cường quốc và bài học cho  Việt Nam” ngày 23/11, trong khuôn khổ Ngày hội Sáng tạo vì khát vọng Việt lần 2,  GS.TS giáo dục Kanda Yoshinobu (Viện Inamori, Đại học Kagoshima) cho  rằng, tất cả là nhờ một nền giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường.    NHẬT BẢN BẠI TRẬN ĐỔ NÁT SAU CHIẾN TRANH  Như các bạn đều biết, trong chiến tranh thế giới lần thứ II, Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Nagasaki và Hiroshima, các thành phố lớn khác như Tokyo, Osaka, Nagoya, Kobe, Kagoshima … cũng trở thành đống đổ nát sau các cuộc ném bom của không quân Mỹ. Thiệt hại của Nhật Bản trong chiến tranh được coi là thiệt hại lớn nhất trong lịch sử thế giới.  Người dân Nhật Bản sau chiến tranh đã mất tất cả và họ đã đứng dậy từ đống đổ nát. Nhật Bản trở thành đống đổ nát nhưng người dân Nhật Bản đều mang trong mình niềm hy vọng và giấc mơ to lớn. Nhật Bản đã phổ cập giáo dục trên toàn quốc ngay từ thời Minh Trị Duy Tân. Và sau chiến tranh mọi người dân Nhật Bản đã tạo nên không khí mang tính văn hóa là “tất cả mọi người đều học tập”. Chế độ giáo dục được cải cách và phát triển một cách rõ rệt.  Nhật Bản đã mất tất cả bởi chiến tranh nhưng tấm lòng của người dân Nhật Bản vẫn còn đó. Đó là lòng ham muốn học tập cao độ ở trong mỗi người dân. Nhật Bản đã xây dựng các trường đại học quốc lập mới trên tất cả các tỉnh thành. Tất cả các trường trung cấp chuyên nghiệp trước chiến tranh đều được đầu tư nâng cấp trở thành trường đại học. Sau chiến tranh, Nhật Bản nghèo khó về mặt vật chất nhưng các trường học không ngớt được đầu tư xây dựng. Đặc biệt là Nhật Bản đã tập trung cho công cuộc giáo dục thực nghiệm và giáo dục tri thức toàn diện.   Trong thời đại mới, tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều được hoàn thiện thể chế và nội dung giáo dục. Đến năm 1970, toàn bộ học sinh trong độ tuổi đi học đều tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhờ học tập mà người dân Nhật Bản đã xây dựng lại đất nước từ trong đổ nát. Đồng thời với công cuộc giáo dục đào tạo, các phong trào tự nguyện của người dân được triển khai một cách tích cực để thực hiện một xã hội dân chủ. Mọi người dân Nhật Bản đều mang trong mình tấm lòng nhiệt huyết để xây dựng một xã hội mới từ trong đổ nát. Tất cả các tổ chức xã hội của công nhân, nông dân, hợp tác xã, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, các đoàn thể kinh tế, tổ chức các công ty vừa và nhỏ đều tích cực triển khai các hoạt động học tập tại các vùng miền, nơi làm việc với niềm tin tưởng mạnh mẽ: Sự nỗ lực trong học tập sẽ mang lại tất cả.   HỌC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT TRONG NÔNG NGHIỆP   Với mục đích xây dựng đất nước Nhật Bản từ trong đổ nát sau chiến tranh, việc học tập của người dân Nhật Bản không chỉ bó hẹp trong giáo dục nhà trường. Công cuộc cải cách ruộng đất ở Nhật Bản xóa sạch tầng lớp địa chủ, tinh thần lao động của người nông dân tăng cao. Trước chiến tranh, các thuộc địa của Nhật Bản là nguồn cung cấp lương thực. Thảm bại trong chiến tranh thế giới lần thứ II khiến cho Nhật Bản mất toàn bộ thuộc địa và nạn khan hiếm lương thực, thiếu đói ngay sau chiến tranh trở nên vô cùng nghiêm trọng. Ngay tại thủ đô Tokyo, khắp mọi nơi trở thành vườn ruộng trồng trọt. Quảng trường rộng lớn trước tòa nhà Quốc hội Nhật Bản cũng biến thành ruộng.  Tôi sinh ra và lớn lên tại Tokyo. Khi còn nhỏ bản thân tôi không chỉ làm ruộng mà còn nuôi hơn 100 con gà. Đối với trẻ con Nhật Bản thời ấy, chế độ ăn một bữa không mất tiền tại tất cả các trường học Nhật Bản trở thành bữa chính quan trọng. Thiếu gạo, thiếu đói diễn ra ngay tại trung tâm Tokyo. Thời đó, song song với việc khôi phục đất nước sau chiến tranh thì việc người dân trở về các vùng thôn quê để mua gom lương thực, thực phẩm là công việc sống còn.  Mười năm sau chiến tranh, Nhật Bản đã tự cung cấp đủ lương thực, thực phẩm. Tinh thần lao động của người nông dân Nhật Bản làm năng suất trong sản xuất nông nghiệp vượt xa so với trước chiến tranh. Ở khắp tất cả các vùng miền Nhật Bản, phong trào học tập kỹ thuật canh tác nghiên cứu về giống cây trồng, chăn nuôi nở rộ. Thanh niên nông thôn đi đầu trong việc tìm tòi sáng tạo các phương pháp sản xuất trồng trọt và chăn nuôi mới.  Tôi sinh năm 1944. Khi tôi học cấp I thì hầu như ngày nào cũng phải ra mảnh ruộng trong sân trường làm cỏ. Ngay sau chiến tranh, bom đạn không nổ vùi lấp trong sân trường. Khi phát hiện thì mọi công việc dọn vườn, làm ruộng đều dừng lại hoặc được hủy bỏ. Trường học thiếu thốn. Lớp học sáng, lớp học chiều. Chúng tôi đã cố gắng theo học và lao động vì tin rằng tương lai sẽ tươi sáng. Tuy vậy, đến những năm cuối cấp I cuộc sống khấm khá hơn, nên chúng tôi đã vừa được học vừa được chơi.  CÁC CÔNG TY DẪN DẮT NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ II  Nhiều công ty đã dẫn dắt sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đều xuất phát từ những nhà xưởng nhỏ bé và trở thành các tập đoàn lớn trên thế giới. Sony được thành lập vào năm 1946. Sony đã khởi đầu từ một căn phòng tồi tàn trên tầng ba trong cửa hàng bách hóa Shirogiya ở Tokyo. Cửa hàng bách hóa Shirogiya khi đó chỉ là một tòa nhà cháy đen còn trơ lại sau cuộc ném bom của không quân Mỹ. Tường bê tông quanh phòng rạn nứt, cửa sổ kính vỡ thông thống gió lùa.  Người sáng lập Sony, ông Ibuka Masaru đã dựng bảng hiệu công ty ở căn phòng đó. Sony ra đời với mục đích giúp ích cho xã hội bằng việc sử dụng kỹ thuật của người sáng lập. Tuy vậy, công ty phải bắt đầu từ công việc gì thì chẳng ai biết. Lương công nhân trong thời kỳ đầu được lấy từ sổ tiết kiệm của ông Ibuka. Để công ty tồn tại thì phải nghĩ ra một việc nào đó. Thế rồi, công việc đầu tiên mà ông ấy nghĩ ra đó là sửa chữa và cải tạo radio. Tiếp đến, ông bắt tay vào việc nghiên cứu chế tạo nồi cơm điện. Sony khởi đầu từ một công ty nhỏ bé vẻn vẹn 20 nhân viên như vậy.  Sản phẩm chăn điện bán chạy, cũng do ông Ibuka nghĩ ra. Và ông còn nung nấu trong lòng: bằng bất cứ giá nào cũng phải chế tạo được máy ghi âm. Không biết bằng cách nào mà ông đã thuyết phục được một viên tướng Mỹ, chở máy ghi âm mang đến tận công ty cho ông nghiên cứu. Thời đó, ngay cả ở Mỹ máy ghi âm cũng mới được làm ra và là cỗ máy vô cùng quý giá. Sony đã chế tạo thành công máy ghi âm thu băng đầu tiên ở Nhật Bản. Và người dân Nhật Bản lúc bấy giờ gọi nó là “cuộn giấy biết nói”. Trên thế giới, không có nước nào có tỷ lệ sử dụng máy ghi âm trong các trường học cao như ở Nhật Bản. Mở được thị trường tiêu thụ máy ghi âm trong ngành giáo dục là một bước tiến to lớn của Sony. Tiếp đến, Sony đã nghiên cứu mở ra một bước ngoặt mới. Đó là việc dùng “đá” trong chất bán dẫn transistor. Sony lần lượt nghiên cứu và chế tạo thành công các sản phẩm mới mà người tiêu dùng Nhật Bản mong muốn.  Ông Honda, nhà chế tạo xe máy và ô tô, cũng bắt đầu khởi nghiệp từ một nhà xưởng nhỏ bé trên thảo nguyên hoang cháy, sau các cuộc không tập của Mỹ ở thị trấn Hamamatsu, tỉnh Shizuoka. Việc đầu tiên ông làm là cải tiến một loại động cơ công suất nhỏ mà quân đội sử dụng trong kỹ thuật vô tuyến để gắn vào xe đạp. Động cơ thúc giục ông làm khi đó là “Muốn gắn động cơ vào xe đạp để bà vợ tôi đỡ vất vả hơn khi đi mua sắm”. Và rồi ông đã tự nghiên cứu chế tạo được động cơ. Ông đã tự mày mò nghiên cứu trên cơ sở mua biết bao xe máy của các nước Châu Âu mang về tháo, lắp…. Kết quả là công ty cổ phần Honda được thành lập vào năm 1948 với tổng số nhân viên là 20 người.  Sản phẩm xe đạp gắn động cơ mà phụ nữ cũng dễ dàng sử dụng của ông đã bán chạy khắp Nhật Bản. Vào thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ bị ô nhiễm nặng bởi khí thải xe ô tô. Người đầu tiên dám đương đầu nghiên cứu giải quyết vấn đề khí thải xe ô tô chính là ông Honda. Năm 1972, ông đã thành công trong việc chế tạo động cơ ít gây ô nhiễm nhất, thấp hơn cả tiêu chuẩn cho phép về lượng khí thải – tiêu chuẩn mà lúc bấy giờ người ta đều lắc đầu cho là “không thể”.  Năm 1964, Nhật Bản đăng cai Thế vận hội Olympic Tokyo. Nhờ việc đăng cai thế vận hội, Tokyo đã hoàn toàn “thay da đổi thịt”. Trong vòng chưa đầy 20 năm, từ trong đống đổ nát, Tokyo đã trở thành đại đô thị sầm uất có thể sánh ngang với bất cứ thành phố nào trên thế giới. Nhật Bản đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế cao độ. Và vấn đề ô nhiễm môi trường cũng trở thành vấn đề nan giải cho Nhật Bản. Giải quyết ô nhiễm trở thành phong trào của toàn thể người dân Nhật Bản. Các tổ chức giúp đỡ các gia đình nạn nhân của ô nhiễm lần lượt ra đời ở khắp các địa phương, các giải pháp giải quyết ô nhiễm cũng được thực thi một cách nghiêm ngặt. Nhật Bản đã nghiên cứu loại bỏ khói bụi từ các ống khói nhà máy, tinh lọc nước thải. Các chế độ chính sách để bảo vệ cuộc sống của người dân cũng được hoàn thiện: chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ phúc lợi. Việc xây dựng một xã hội mới, xã hội tốt đẹp hơn đã được tiến hành trong quá trình phát triển kinh tế cao độ là đặc điểm của Nhật Bản. Mọi người lao động đều tham gia đóng Quỹ lương hưu để sau này khi hết tuổi làm việc, đều có thể yên tâm sinh sống. Chế độ bảo hiểm y tế được thực thi một cách đầy đủ để mọi người dân khi ốm đau đều có thể đến bệnh viện điều trị sức khỏe. Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tuyển dụng được hoàn thiện để mọi người dân có thể yên tâm làm việc.  Chế độ tuyển dụng suốt đời – từ khi vào công ty đến khi về hưu, công ty đảm bảo công việc và cuộc sống suốt đời cho người lao động – đã nâng cao tinh thần hăng say làm việc. Và chế độ tuyển dụng đó đã tạo ra không khí coi trọng tinh thần tập thể, tất cả cùng đồng lòng nâng cao trình độ chuyên môn, làm việc quên mình và sáng tạo.  CÔNG TY COI TRỌNG NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ TOÀN THỂ CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN THAM GIA ĐIỀU HÀNH CÔNG TY    Phương thức điều hành kinh doanh trên cơ sở coi trọng người lao động lan rộng. Và có không ít các công ty từ quy mô rất nhỏ đã phát triển thành tập đoàn lớn. Những nơi, ngay từ khi công ty còn nhỏ bé đã triệt để thực hiện triết lý kinh doanh coi trọng người lao động, cống hiến cho xã hội, đều phát triển bền vững. Còn những công ty bóc lột thậm tệ người lao đông, thì dù đạt được sự phát triển nhất thời, dù trở thành công ty lớn nhưng đến một giai đoạn nhất định, đều đã bị phá sản.  Ở Nhật Bản, ngay từ thời Edo, việc kinh doanh đúng đắn mang tính xã hội, việc kinh doanh vì đại nghĩa đóng góp cho con người và xã hội đã được tiến hành ngay cả trong giới thương nhân. Ngay cả thời kỳ Minh Trị, tinh thần đại nghĩa trong buôn bán làm ăn cũng được các nhà kinh doanh tiêu biểu cho Nhật Bản như Eichi Shibusawa, Ohara Magosaburo áp dụng trong thực tiễn.  Inamori Kazuo, người sáng lập Kyocera – tập đoàn chuyên sản xuất các linh kiện chính trong ngành điện tử – là một nhà kinh doanh được cả thế giới biết đến vì đã làm sống lại Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Ailine) từng bị phá sản. Trong lĩnh vực điện thoại di động – ông là người thách đấu chống lại NTT – công ty viễn thông khổng lồ độc quyền của chính phủ Nhật Bản và tạo ra sản phẩm điện thoại di động thương hiệu au. Ông là nhà nghiên cứu đồng thời là nhà kỹ thuật phát minh ra nguyên liệu fine ceramic – gốm công nghệ cao dùng trong ngành điện tử. Ông cũng là người xây dựng nên tập đoàn Kyocera hùng mạnh từ một công ty nhỏ bé lúc ban đầu.  Không bao lâu sau ngày thành lập, công ty của ông đã đi vào hoạt động ổn định. Ông đã tuyển dụng thêm 9 nhân viên mới. Tuy nhiên, chưa đầy một năm, các nhân viên mới đã “nổi loạn” về vấn đề lương thấp. Vì công ty còn nhỏ nên 9 người này là những nhân viên quan trọng đối với công ty. Và cũng vì quy mô còn nhỏ nên công ty đã không thể đáp ứng đồng lương theo đúng yêu cầu của họ. Từ cuộc “nổi loạn” của các nhân viên trẻ này, ông đã “ngộ” ra rằng: Phải mang lại hạnh phúc cả về tinh thần lẫn vật chất cho toàn thể nhân viên và người đứng đầu công ty phải nỗ lực sao cho toàn thể cán bộ công nhân viên cùng có trách nhiệm tham gia điều hành kinh doanh công ty.  Điều quan trọng là công việc kinh doanh phải đúng đắn, mang tính xã hội, lao động vì con người, vì xã hội. Công việc kinh doanh dứt khoát không thể vì tư lợi. Ông luôn cật vấn bản thân, động cơ kinh doanh của mình là gì, có “thiện” hay không. Ông coi trọng việc giáo dục Triết lý kinh doanh do ông soạn thảo cho toàn thể nhân viên. Hiện nay dù đã trở thành tập đoàn lớn mạnh nhưng Kyocera vẫn quán triệt Triết lý kinh doanh như thuở mới thành lập.  Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng công việc kinh doanh là công việc vì đại nghĩa, là công việc phải đúng đắn mang tính xã hội, vì con người vì nhân loại. Lao động, làm việc trên tinh thân đại nghĩa vì con người vì xã hội chính là nguồn động lực để phát triển.  HỌC LÀ ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN  Nhờ quá trình học tập, mà nhân viên công ty Kyocera có thể hiểu được “nghĩa lớn” –có thể suy nghĩ được vai trò thực sự mang tính xã hội của bản thân, có thể biết được sự tuyệt vời của quá trình lao động mang tính xã hội đúng đắn nhờ việc coi trọng sự đoàn kết, sức mạnh của việc hợp tác với toàn thể mọi người, là nguồn năng lượng to lớn trong công ty. Nhờ việc học tập mà họ làm việc không vì lợi ích riêng của từng cá nhân, không vì ham muốn dục vọng của riêng mình. Tức là, nhờ học tập mà nhân viên coi trọng việc hợp tác trong kinh doanh – toàn thể mọi người đều tự giác tham gia trên cơ sở coi trọng triết lý kinh doanh vì con người, kinh doanh vì xã hội, kinh doanh vì nhân loại Kyocera không cứng nhắc áp dụng cách thức quản lý theo chủ nghĩa năng lực, chỉ chạy theo kết quả.  Từ năm 1990, khi nền kinh tế bong bóng bị vỡ, xã hội Nhật Bản, phương thức kinh doanh của các công ty Nhật Bản bị ảnh hưởng xáo trộn mạnh. Nền kinh tế Nhật Bản cũng bị trì trệ. Có những lĩnh vực bị Hàn Quốc và Trung Quốc vượt lên. Nhất là Nhật Bản phải đối diện với cục diện khắc nghiệt: sự cạnh tranh về giá cả. Mặc dù vậy Kyocera, từ khi còn là công ty nhỏ vẫn kiên định nghiên cứu phát triển ròng rã suốt 30 năm, hệ thống phát điện bằng năng lượng mặt trời với phương châm làm tròn bổn phận quan trọng mang tính xã hội. Kyocera dứt khoát không kinh doanh chỉ nhằm lợi ích cục bộ, Kyocera được đánh giá là công ty mà các nhân viên luôn hiểu ý nghĩa và tự hào về công việc, làm việc vì nghĩa lớn: đóng góp cống hiến cho nhân loại. Thông qua việc nghiên cứu và phát triển lắp đặt hệ thống phát điện dùng năng lượng mặt trời, nhân viên Kyocera tích cực triển khai giờ học tại chỗ về môi trường và cuộc sống tại các trường tiểu học.  Tháng 10 vừa qua, Kyocera đã thành công trong việc xây dựng tại tỉnh Kagoshima hệ thống Magasola, phát điện bằng năng lượng mặt trời, lớn nhất Nhật Bản. Ở Nhật Bản hiện nay, việc sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện phát triển nhanh chóng. Trên các mái nhà dân, các nhà máy và các khu đất trống, đâu đâu cũng thấy tấm panen pin mặt trời. Trong quá trình phát triển kinh tế ở Nhật Bản, việc kinh doanh ngắn hạn và việc nghiên cứu phát minh các kỹ thuật trong dài hạn mang tính cống hiến cho nhân loại, được tiến hành đồng thời song song với nhau.  Xuất phát từ quan điểm cống hiến cho xã hội, cho nhân loại, từ nay về sau Nhật Bản có lẽ vẫn tiếp tục phát triển các kỹ thuật hiện đại nhất, vẫn tiếp tục chế tạo các sản phẩm trên cơ sở coi trọng chất lượng, tìm hiểu nhu cầu của con người trên hành tinh này, họ đang cần những thứ gì và đang gặp những khó khăn ra sao, mà không chỉ tập trung vào cuộc cạnh tranh giá cả. Điều này có thể coi là văn hóa chế tạo sản phẩm của Nhật Bản, là hình ảnh của đất nước Nhật Bản vươn lên phát triển kinh tế từ đống đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ II. Vừa tìm kiếm các mối liên kết quốc tế, vừa tôn trọng bản sắc văn hóa riêng có của từng quốc gia, Nhật Bản có lẽ sẽ gánh vác vai trò phân công lao động mang tính quốc tế để cùng tồn tại, cùng thịnh vượng.  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến trọn cuộc đời cho nền độc lập Việt nam. Lời kêu gọi cho nền độc lập của Việt Nam nhận được sự hưởng ứng của mọi người dân Việt Nam và trên trường quốc tế là bởi vì nó chứa đựng tính chính nghĩa, có tính xã hội và tính phổ quát. Đó là quyền độc lập của các dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ. Dù khó khăn đến mấy vẫn giành được độc lập. Đó là kết quả của sự đồng tâm hợp sức, tài trí của mọi người dân Việt Nam. Và việc Nhật Bản có thể vươn mình từ trong đổ nát sau chiến tranh cũng như phát triển kinh tế đất nước chính là nhờ tài trí của mọi người dân Nhật Bản.  Năm nay là năm kỷ niệm 40 năm khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản. Quan hệ giao lưu giữa hai nước nhằm góp phần vào nền hòa bình và phát triển ở Châu Á, với mong muốn cùng tồn tại, cùng thịnh vượng cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Và từ bình diện quốc tế, trên cơ sở chính nghĩa mang tính xã hội, tôi cho rằng hai nước cùng mong muốn đóng góp, cống hiến cho nhân loại.  Đó là việc xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế mang tính bền vững các địa phương ở Việt Nam và Nhật Bản. Để thực hiện điều này, tôi cho rằng cần phải triển khai nền giáo dục vì sự phát triển bền vững trên quy mô toàn quốc.  Người Nhật Bản chúng tôi đã tạo ra văn hóa tất cả mọi người dân đều học tập từ thời Minh Trị Duy Tân. Đặc biệt là cuốn “Khuyến học” của ông Fukuzawa Yukichi đã viết về tinh thần hiện đại hóa cho đất nước Nhật Bản. Tôi mong muốn các bạn tìm đọc và cùng suy nghĩ về những điều ông ấy đã viết, nhất là suy nghĩ về tinh thần độc lập.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao sinh viên khối KHXH và nhân văn giảm      Năm 2011, số hồ sơ đăng ký dự thi vào khối KHXH và nhân văn đều sút giảm. Nhiều trường không có hồ sơ nào đăng ký khối C (Văn, Sử, Địa). Tình trạng sinh viên xa lánh khối KHXH và nhân văn đã diễn ra từ mấy năm qua, nhưng đến năm nay thì ‘báo động đỏ’, nói theo một tham luận tại hội thảo Làm Gì Để Người Học Tìm Đến Với Nhóm Ngành KHXH và Nhân Văn do ĐH Văn Hiến tổ chức ngày 30/3/2011 (vhu.edu.vn).    Quan niệm chưa chuẩn về đào tạo   Muốn có một bức tranh đầy đủ về khối KHXH và nhân văn thuộc hệ đại học Việt Nam tất cần một cuộc khảo sát toàn diện, nghiêm túc và khách quan. Tuy nhiên, các thông tin trên báo chí về sự sụt giảm lượng sinh viên đăng ký khối KHXH và nhân văn từ mấy năm qua là một chỉ dấu phản ảnh phần nào sự thật. Cách giải thích trực tiếp và đơn giản nhất là nhìn các hiện tượng chung quanh.        Thứ nhất là chất lượng giảng dạy. Cơ chế đòi người dạy đại học phải có bằng thạc sĩ. Yêu cầu này đúng nhưng không đủ, bởi lẽ không cứ thạc sĩ là dạy được; và không cứ cử nhân là không dạy được. ĐH Columbia của Mỹ, đứng hàng 6 thế giới về khối KHXH và nhân văn theo xếp hạng của Times Higher Education 2011, đã bổ nhiệm vị khoa trưởng Khoa Báo Chí không có bằng thạc sĩ: Nicholas Lemann. Lemann chỉ ‘cử nhân thôi’ nhưng ông là nhà báo kỳ cựu của the Washington Post, Texas Monthly, và Atlantic Monthly. Điều này cho thấy bằng cấp không bao giờ là yêu cầu duy nhất để làm thầy trong các đại học lớn, mà phải có kinh nghiệm hành nghề trong lĩnh vực của mình (industry experience).  Nguyên nhân thứ hai là do chính quan niệm không đúng về khối KHXH và nhân văn của nhiều người trong giới đại học.   Một vị giáo sư mới đây phát biểu với Tuổi Trẻ rằng sinh viên tốt nghiệp lịch sử hay địa lý nếu không làm việc đúng chuyên môn sẽ có ít cơ hội để chuyển đổi nghề nghiệp. Nhận xét này vừa đúng vừa sai. Đúng qua thực tế, chẳng hạn sinh viên ngành sử, khó chuyển đổi qua làm ngành khác. Sai là ở chỗ: quan niệm sai về sử học, do xuất phát điểm sai nên chương trình dạy (sử) không chỉ sai từ việc tập trung dạy sử, mà còn sai cả trong cơ cấu toàn bộ chương trình cử nhân, không chú trọng đào tạo các kỹ năng khác cần cho một ‘sử gia’.  Sử học không phải biểu trưng bởi các ‘sử gia’ gật gù ngồi hồi tưởng quá khứ. Cốt tủy của sử học là quá trình tìm tòi điều tra, thách thức người học đi tìm mức độ xác thực về một hiện tượng và giải thích nó qua bằng chứng chứ không chỉ ôn (và ôm) lại một hiện tượng. Khi tái tạo quá khứ có bằng chứng, người học sử giúp nhà làm chính sách hoạch định tương lai. Để làm được các yêu cầu tối thiểu này, sinh viên theo ngành sử phải được trang bị các kiến thức và kỹ năng khác, gồm kiến thức về kinh tế, thống kê, văn hóa, xã hội, và cả địa lý. Người học sử phải như một con chim bay trên cao (và do đó) có thể nhìn toàn cảnh một cảnh rừng. Nhưng muốn biết toàn cảnh đó gồm những gì (thì) phải bay sà xuống thấp mới thấy cánh rừng đó gồm nhiều loại cây khác nhau, nhiều loại thú, và cả tiếng kêu của côn trùng.        Thực ra sinh viên tốt nghiệp ngành sử của Việt Nam đều được học các môn có vẻ như cung cấp các kỹ năng nói trên. Chỉ riêng các môn cơ sở ngành và bắt buộc cũng đã trên 30 môn, nhiều hơn bất cứ chương trình sử nào ở Mỹ hay Úc. Một chương trình rộng, nhưng thực chất là cung cấp kiến thức từ sách vở, trong khi cái cần là đào luyện kỹ năng tìm tòi, suy luận để (tự) tìm ra sự thật, một năng lực gần như phản xạ của sinh viên các nước phát triển.        Nếu được đào tạo để hiểu sử gia tái tạo lịch sử và phân tích lịch sử bằng cách nào thì năng lực người học sẽ không giới hạn trong ngành sử, và như thế không có lý gì tốt nghiệp ngành sử lại không thể chuyển đổi qua ngành khác. Giới chủ có lẽ thích những người như thế hơn.        Quan niệm về đào tạo chưa đúng dẫn đến cách thiết lập chương trình không phù hợp. Những cái sai này xoay vòng, cái này vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của cái kia.        Không thể theo đuôi  Trong cuốn A Whole New Mind: Why right-brainers will rule the future (Trí Tuệ Toàn Tri Mới: Tại sao người có não phải mạnh sẽ điều khiển tương lai) (2005), Daniel Pink nhận xét mấy thập niên qua thuộc về lớp người có năng lực riêng: thảo chương viên phần mềm có thể bẻ khóa mật mã, luật sư có thể thảo hợp đồng, thạc sĩ quản trị kinh doanh có thể gậm nhấm các con số. Nhưng chìa khóa mở vào vương quốc tương lai đang chuyển qua tay lớp người khác. ‘Tương lai tùy thuộc vào các nhóm người khác nhau với các bộ óc rất khác nhau – người sáng tạo, người đồng cảm, người thấu hiểu các mô thức, và người tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời. Đó là các nghệ sĩ, nhà phát minh, nhà thiết kế, người kể chuyện, người chăm sóc, người an ủi, người có tầm nhìn xa, những người sẽ hưởng nhiều nhất phần thưởng và chia sẻ niềm vui vô biên của xã hội.’  Cuốn sách của Pink được dịch ra 20 ngôn ngữ, là đề tài thảo luận trong nhiều trường đại học. Pink cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của ‘khái niệm’, và việc hình thành khái niệm nằm trong bán cầu phải của não. Theo Pink, nhân loại trải qua bốn thời kỳ, đầu tiên là nông nghiệp, đến công nghiệp, gần đây nhất là công nghệ thông tin, và hiện nay là “kỷ nguyên khái niệm’ (conceptual age), tức thuộc những người sáng tạo. Vì sao? Vì chỉ qua sáng tạo thì hàng hóa quá phong phú hiện nay (nhờ tự động hóa kể cả khám bệnh cũng bằng máy) mới có thể cạnh tranh.  Ngày nay người ta đều công nhận bán cầu phải là bán cầu của sáng tạo, của tính nhân văn, của cảm xúc người.  Khái niệm về công nghiệp sáng tạo (creative industries) xuất phát và đẩy mạnh ở Anh khi Thủ tướng Tony Blair lên cầm quyền năm 1997. Sáng tạo là tạo sự khác biệt, thuộc bán cầu phải, và trong giáo dục, nó cần kiến thức và kỹ năng thuộc khối KHXH và nhân văn.  Nói như thế không có nghĩa chúng ta lại theo đuôi thế giới. Các nước phát triển đang chuyển qua thời đại sáng tạo vì họ đã có một cái nền vững chắc về cơ cấu giáo dục nói chung. Họ đã có phần cứng… cứng. Ta không thể chạy phần mềm Photoshop phiên bản mới nhất trên máy computer 286 cách đây hai thập kỷ. Để theo kịp, phải có một phần cứng có cấu hình mạnh. Đó là cơ chế đại học, chương trình, lương bổng, quan trọng nhất là người dạy, những cái nhiều người đã nói đến.  Việc điều chỉnh có thể làm ngay, nhưng không phải lại ‘đi tắt đón đầu’ chạy theo xu hướng của thế giới (công nghệ sáng tạo hay mở đại học tràn lan). Cao đẳng cộng đồng hãy cứ là cao đẳng cộng đồng. Đại học chuyên ngành vẫn cứ là đại học chuyên ngành nhưng nên hướng thành đại học đa ngành để sinh viên có kiến thức toàn diện hơn. Nhưng cấp bách nhất là phải đổi nhận thức về cách chọn người dạy và cách dạy (sẽ dẫn theo việc thay đổi chương trình).  Sinh viên lơ là khối KHXH và nhân văn không phải lỗi của họ. Đó là hậu quả của một quá trình. Điều chúng ta hy vọng là sau những điều chỉnh về người dạy và cách dạy, cấp sau trung học sẽ tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có khả năng suy luận, diễn đạt, tự tìm tòi, và quan trọng nhất là biết sáng tạo.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao tôi yêu người mẹ Trung Hoa của tôi      Sophia Chua-Rubenfeld, cô con gái 18 tuổi của Mẹ Hổ Amy Chua, kể với tờ New York Post rằng phương pháp dạy con “yêu cho roi cho vọt” của mẹ khiến cô trở thành một con người có khả năng suy nghĩ độc lập và có thể tận dụng tối đa những cơ hội mới.       Gửi Hổ mẹ,  Mẹ đã bị chỉ trích rất nhiều từ khi mẹ cho xuất bản hồi kí, “Khúc chiến ca của Hổ mẹ.” Vấn đề là mọi người không nhận ra sự hài hước của mẹ. Mọi người nghĩ rằng mẹ lúc nào cũng nghiêm trọng và họ nghĩ rằng Lulu và con bị trấn áp bởi một người mẹ ác độc. Điều đó chẳng đúng chút nào hết. Vào mỗi thứ năm, mẹ lại nới lỏng quy định và để bọn con chơi trò chơi toán học ở dưới hầm nhà mà.  Nhưng sự thật là đó không phải lỗi của họ. Không một người ngoài nào có thể biết bên trong gia đình mình thế nào. Họ không nghe thấy chúng ta cười phá lên trước những câu chuyện cười của nhau. Họ không thấy chúng ta ăn bánh hamburger với cơm chiên. Họ không biết sáu chúng ta – tính cả những chú chó – đã vui vẻ thế nào khi chen chúc trên một chiếc giường và bàn luận nên tải bộ phim nào từ Netflix về để xem.  Con phải công nhận một điều: là con của mẹ có nghĩa là không có những buổi tiệc trà. Đã có những buổi tụ tập mà con muốn tới và có những trại hè về đàn piano mà con ước ao có thể bỏ qua. Nhưng bởi vì con đã 18 tuổi và chuẩn bị rời hang hổ, con rất hãnh diện về cách mà mẹ và ba đã nuôi nấng con. Và đây là lí do.  Có rất nhiều người đổ lỗi cho mẹ đã nuôi dạy những đứa trẻ robot không thể nào tự lo lắng cho bản thân. Điều này thật nực cười, vì con nghĩ những người này…ừm, điều này không quan trọng. Dù sao đi nữa, con đã suy nghĩ về việc này và đưa tới quyết định cuối cùng là: Con nghĩ sự giáo dục nghiêm khắc của cha mẹ khiến con trở nên tự lập hơn. Lúc đầu, con quyết định trở thành một đứa con dễ bảo. Có thể con đã học được từ ba, ba dạy con cách không quan tâm tới người khác nghĩ gì và đưa ra quyết định của riêng con; nhưng con cũng đã tự quyết định con sẽ trở thành người như thế nào. Con đã không phản kháng và cũng không phải chịu đựng tất cả những vấn đề và sự chỉ trích của mẹ. Gần đây con đã có thể làm những việc con muốn như là xây nhà kính ở trung tâm thành phố, nguyền rủa Daft Punk1 với Lulu trong xe ô tô và bắt bạn trai con xem đi xem lại bộ phim “Chúa tể của những chiếc nhẫn”- miễn là lúc ấy con đã luyện piano xong.  Tất cả mọi người đều nói về những tấm thiệp sinh nhật mà bọn con từng làm cho mẹ và mẹ đã từ chối vì chúng không đủ đẹp. Thật là buồn cười khi mọi người cho rằng con và Lulu sẽ bị tổn thương suốt cả cuộc đời. Thực tế, nếu con đã dành cả trái tim mình vào đó, có thể con đã rất buồn. Nhưng hãy nhìn trực diện vào sự thật: Tấm thiệp thật mỏng manh và con đã sai. Con chỉ mất có 30 giây để làm nó; con thậm chí đã không gọt sắc bút chì. Đó là lí do mà khi mẹ từ chối tấm thiệp, và con không có cảm giác mẹ từ chối tấm lòng của con. Nếu con thực sự cố gắng hết sức mình để làm nó, mẹ đã không trả nó lại.  Con vẫn nhớ khi con bước lên sân khấu trong một cuộc thi piano. Con đã rất lo lắng và mẹ đã thì thầm vào tai con: “Soso, con đã luyện tập chăm chỉ hết mức có thể. Con trình diễn thế nào không phải là vấn đề quan trọng nữa.”  Mọi người đều nghĩ rằng nghệ thuật chỉ là xuất thần. Nhưng mẹ Hổ, mẹ đã cho con thấy ngay cả sự sáng tạo cũng cần đến sự nỗ lực. Con đoán rằng con có hơi khác so với những đứa trẻ khác ở trường phổ thông, nhưng ai dám nói đó là điều không tốt? Có thể con là đứa trẻ may mắn khi có những người bạn tuyệt vời, nhất là mẹ. Trước cuộc thi quan trọng, các bạn để vào ba lô con những mảnh giấy “Chúc may mắn cho cuộc thi ngày mai nhé! Bạn sẽ rất tuyệt đấy!” Các bạn cũng đến buổi trình diễn piano của con và con bật khóc khi nghe họ hô vang “Cố lên” ở Sảnh Carnegie. Con biết phần lớn các bạn đã đến là vì những chiếc bánh bao mà mẹ sẽ làm sau đó.   Khi con lên cấp ba, mẹ nhận ra rằng đã tới lúc để con trưởng thành thêm chút nữa. Ở đây, tất cả nữ sinh đều trang điểm vào năm lớp chín. Con đã tới CVS để mua một số đồ và tự học cách trang điểm cho bản thân. Đó không phải là một vấn đề lớn. Mẹ đã rất ngạc nhiên khi con đi xuống nhà ăn tối và kẻ mắt, nhưng mẹ không phiền lòng. Mẹ đã để con có được nghi lễ trưởng thành ấy.  Con còn nghe mãi lời chỉ trích rằng mẹ đã cổ súy cho cách học phiến diện, nhưng mẹ và ba đã dạy con cách theo đuổi tri thức vì lợi ích thực của nó. Trong năm thứ hai ở trường trung học, con đã tự đăng kí vào môn quân sự – lịch sử (vâng, mẹ đã để con chọn rất nhiều môn học ngoài toán và lý). Một trong những nhiệm vụ của bọn con là phỏng vấn một người đã từng đi qua chiến tranh. Con biết rằng con có thể đạt điểm cao nếu con phỏng vấn ông bà, khai thác những câu chuyện thơ ấu về Chiến tranh thế giới lần thứ Hai mà con đã nghe đi nghe lại hàng ngàn lần. Con đề cập chuyện ấy với mẹ và mẹ khuyên rằng, “Sophia, đây là cơ hội tốt để tìm hiểu những điều mới. Con đang chọn một con đường dễ dàng đấy”. Mẹ đã đúng, mẹ Hổ của con. Cuối cùng con đã phỏng vấn một người lính nhảy dù Israel rất đáng sợ và câu chuyện của chú ấy đã làm thay đổi cái nhìn của con với cuộc đời. Nhờ có mẹ mà con có được trải nghiệm ấy.  Còn điều này nữa: con nghĩ rằng ham muốn có một cuộc sống có ý nghĩa là ham muốn chung của tất cả mọi người. Đối với một số người đó là làm việc để đi tới đích. Với một số người khác đó là tận hưởng cuộc sống từng phút mỗi ngày. Vậy làm thế nào để sống trọn vẹn nhất? Rất có thể đó là làm việc cật lực cho giải Nobel hay đi nhảy dù. Đối với con thành quả hay sự tự hài lòng không phải là vấn đề quan trọng. Quan trọng ở chỗ ta biết rằng đã đẩy bản thân, thể xác và tinh thần tới giới hạn cao nhất của khả năng. Ta cảm thấy điều đó khi ta chạy nước rút, khi bản đàn piano mà ta tập hàng giờ cuối cùng cũng vang lên đầy sống động. Ta cảm thấy điều đó khi ta vấp phải một ý tưởng thay đổi cuộc đời, và khi ta làm điều gì đó cho riêng mình mà ta nghĩ rằng ta không bao giờ có thể. Nếu con mất đi vào ngày mai, con sẽ ra đi với ý nghĩ rằng con hài lòng vì đã sống hết 110% khả năng của mình.  Và con phải cám ơn mẹ về điều này, mẹ Hổ của con.       Thạch Thảo & Alpha Books dịch   ___  (1) Daft Punk: một ban nhạc điện tử gồm hai nhạc sĩ người Pháp là Guy-Manuel de Homem-Christo và Thomas Bangalter.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao trẻ không thích học văn?      Hiện nay học sinh ngại học văn, sợ học văn  đã trở thành hiện tượng phổ biến. Đi tìm nguyên nhân và giải pháp cho  vấn đề này chính là nội dung của buổi sinh hoạt Ngày Sư phạm Cánh Buồm  tháng 9 với tên gọi “Vì sao trẻ không thích học văn?”    Tham dự sự kiện, những người quan tâm đến việc học văn của học sinh phổ thông, đặc biệt ở bậc tiểu học, sẽ có cơ hội trao đổi về phương pháp học văn mới do nhóm Cánh Buồm khởi xướng: không giảng giải, áp đặt mà hướng dẫn để học sinh tự mình làm ra tác phẩm nghệ thuật “theo con đường người nghệ sĩ đã đi”; đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm quý báu giúp học sinh yêu thích và hứng thú với môn văn.  Ngày Giáo dục Cánh Buồm số 3 có phần thuyết trình của ThS Nguyễn Thị Thanh Hải, người phụ trách việc soạn thảo sách giáo khoa môn Văn của Nhóm Cánh Buồm. Nhà giáo Phạm Toàn cũng sẽ có mặt để tham gia tọa đàm với người tham dự.  Ngày Sư phạm Cánh Buồm hằng tháng sẽ kéo dài đến hết năm nay, nhằm tạo ra môi trường trao đổi cởi mở giữa những người mong muốn góp phần xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em.  Thông tin chi tiết:  Thời gian: Từ 15:00 đến 17:00, thứ Bảy, ngày 14/9/2013  Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên, số 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp: Ba giải pháp      Lựa chọn được ngành học đúng, thiết kế được lộ trình học tập phù hợp giúp sau này có thể kiếm được một công việc tốt, có thu nhập thỏa đáng là mối quan tâm của tất cả các bậc phụ huynh, học sinh cũng như sinh viên.  Kinh nghiệm thế giới cho thấy, có ba giải pháp để giải quyết vấn đề này:    Xây dựng chương trình định hướng, tư vấn nghề nghiệp trong nhà trường   Đây là cách thức phổ biến và có thể áp dụng được ở cả trường cấp III lẫn đại học cao đẳng. Với cách thức này, nhà trường có thể cử giảng viên/giáo viên hoặc cán bộ chuyên trách thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với sinh viên/học sinh và phụ huynh nhằm tư vấn, cung cấp thông tin, giải thích những thắc mắc trong quá trình học và định hướng tương lai. Với học sinh cấp III, việc định hướng này có thể bao gồm việc chọn ngành, nghề nào, đăng ký thi vào trường đại học/cao đẳng nào… Với sinh viên đại học/cao đẳng, việc định hướng này có thể bao gồm chọn môn học nào, lĩnh vực chuyên sâu nào, đi thực tập ở đâu…   Bên cạnh đó, các cán bộ tư vấn có thể sử dụng các bài trắc nghiệm uy tín đã được sử dụng rộng rãi như “Đánh giá trí thông minh nổi trội – Multiple Intelligence” hay “đánh giá tính cách nghề nghiệp – Hollande Codes” giúp học sinh/sinh viên khám phá sở trường, đặc tính của bản thân và mức độ tương thích với các ngành, nghề.  Xây dựng dữ liệu về thực trạng việc làm sinh viên sau tốt nghiệp   Bộ dữ liệu này có thể bao gồm các chỉ số: tỷ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên đi làm đúng chuyên ngành được đào tạo, mức thu nhập bình quân hiện nay, loại hình tổ chức/công ty đang làm việc, mức độ hài lòng với công việc hiện tại… Trong thực tế, bộ dữ liệu này đã được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng và triển khai từ nhiều năm nay. Đơn vị tổ chức khảo sát bộ dữ liệu này có thể là chính bản thân trường đại học, cơ quan chức năng có thẩm quyền (Bộ Giáo dục, Cục Thống kê …) hoặc các đơn vị dân sự như hiệp hội các trường đại học, các công ty về giới thiệu việc làm… Căn cứ trên bộ dữ liệu, học sinh/sinh viên có thể tham khảo và biết bức tranh “định lượng” về ngành, nghề tương lai mà mình định chọn sẽ như thế nào. Với các nhà khoa học, bộ dữ liệu này cũng là những “chất liệu” tốt cho họ đưa ra những dự báo, phân tích về thực trạng giáo dục, thực trạng vấn đề việc làm cho các nhà hoạch định chính sách và sinh viên tham khảo. Tại Việt Nam, một phần thông số của bộ dữ liệu này cũng được quy định trong Báo cáo ba công khai được Bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng từ năm 2009 đối với tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Tuy vậy, nhược điểm của cách làm này là các thông số thống kê lại do chính trường đại học thực hiện. Để khách quan, những thống kê này tốt nhất nên được giao cho một cơ quan độc lập thực hiện.     Cho phép trao đổi tín chỉ giữa các ngành   Áp dụng tín chỉ đã được các trường đại học ở nước ta thực hiện hơn 10 năm trở lại đây. Tuy vậy, hệ thống tín chỉ hiện nay mới chỉ hoàn thiện một nửa bởi nó mới làm được “tín chỉ dọc”. Nghĩa là, sinh viên học tốt có thể tăng tốc để tích lũy nhiều tín chỉ để tốt nghiệp nhanh hơn. Hoặc ngược lại, vì một lý do nào đấy, sinh viên cần tạm hoãn việc học một thời gian, có thể quay lại nhà trường trong tương lai trên cơ sở bảo lưu những tín chỉ đã tích lũy được. Như vậy, với cơ chế này, sinh viên khi đã chọn một chuyên ngành là phải gắn bó với chuyên ngành đó trong suốt bốn-năm năm đại học; nếu muốn lựa chọn lại, sinh viên đó buộc phải thi lại đại học và học lại từ đầu. Với “tín chỉ ngang”, sinh viên được phép chuyển sang ngành mới khi được phép của cấp có thẩm quyền (thường là trưởng khoa); và các tín chỉ tích lũy từ ngành học cũ có thể được chuyển đổi một phần hoặc toàn phần sang ngành mới. Nhờ cơ chế này, sinh viên có thể dễ dàng chuyển sang ngành mới phù hợp hơn mà không tốn quá nhiều thời gian học lại.   Nếu như giải pháp thứ nhất là giải pháp truyền thống, giải pháp thứ hai là giải pháp không thể không làm thì xét cho cùng, giải pháp thứ ba mới là giải pháp hiệu quả nhất. Bởi khó có thể đòi hỏi tất cả các sinh viên phải chọn đúng ngành, đúng nghề ngay từ năm thứ nhất; ngay cả khi sinh viên đó đã được thụ hưởng tối đa lợi ích từ hai giải pháp đầu tiên. Giải pháp “tín chỉ ngang” hay đúng hơn là cho phép trao đổi tín chỉ giữa các ngành trong thực tế đã diễn ra khá phổ biến ở châu Âu và một số nước thuộc cộng đồng các nước nói tiếng Anh – nơi có chất lượng đào tạo tương đối đồng đều và Nhà nước có thể yên tâm về mức độ liêm chính cao trong quá trình xét duyệt chuyển ngành cho sinh viên. Tuy nhiên cơ chế “tín chỉ ngang” cũng có thể sẽ là kẽ hở cho tiêu cực nảy sinh, ví dụ sinh viên hối lộ trưởng khoa để được chuyển sang ngành mới – nơi có tỷ lệ đỗ thấp hơn so với ngành cũ. Với những nước có nền giáo dục đại học kém phát triển như Việt Nam, triển khai “tín chỉ ngang” tuy khó, nhưng vẫn có thể khả thi bằng việc áp dụng thí điểm cho một số chương trình chất lượng cao ở các đại học hàng đầu.          Hệ thống “tín chỉ ngang” ở châu Âu    Tiến  trình Bologna, khởi động từ đầu những năm 2000 được coi là hệ thống  “tín chỉ ngang” hay “tín chỉ trao đổi” (cách gọi đúng theo thuật ngữ  chuyên môn) lớn nhất thế giới. Theo tiến trình này, cho đến nay, đã có  hơn 1.000 trường đại học tại châu Âu đồng ý ký công nhận tín chỉ lẫn  nhau, tạo thành một “Không gian đại học châu Âu”; mà ở đó sinh viên có  thể dễ dàng chuyển trường, chuyển ngành học trong thời gian học của  mình. Hệ thống này linh hoạt đến mức có thể cho phép một sinh viên học  năm nhất ở Anh chuyên ngành tin học chuyển sang Pháp học năm hai chuyên  ngành quản lý hệ thống và hoàn thành chương trình đại học vào năm ba tại  Thụy Điển với tấm bằng quản trị kinh doanh; đồng thời có khi chỉ mất  thêm một năm nữa để lấy bằng đại học thứ hai về tài chính.               Ngoài  “Không gian đại học châu Âu”, trên thế giới còn một số hệ thống “tín chỉ  ngang” khác đang hoạt động khá hiệu quả như tại Bắc Mỹ, Đông Á. Các  trường đại học tại khu vực ASEAN rất muốn áp dụng “tín chỉ ngang” trong  toàn khu vực và mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng vẫn chưa đi vào hoạt  động hiệu quả.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Viễn cảnh về các mạng lưới đại học toàn cầu      Giáo dục đại học từ lâu vẫn là khu vực kết nối quốc tế, nơi các học giả tìm kiếm phương thức trao đổi ý tưởng và học hỏi kiến thức mới. Sự kết nối này dường như đang vươn đến những tầm cao mới, một phần do khả năng kết nối trực tiếp cũng như qua thế giới ảo hiện nay, nhưng đó chưa phải là toàn bộ lý do.    Nói về “sự xuất hiện liên tục dường như không có điểm dừng của các hiệp hội, các mạng lưới, tập đoàn và liên minh các trường đại học”, tác giả Kris Olds từ trường Đại học Wisconsin – Madison cho rằng chúng ta đang chứng kiến quá trình “giải quốc gia hóa” khi các cơ sở giáo dục thay đổi phạm vi tầm nhìn, cơ cấu tổ chức và chiến lược phát triển vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Ở chiều ngược lại, một bản phân tích về các thời điểm then chốt trong quá trình quốc tế hóa từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 21 cho thấy việc “giải quốc gia hóa” trường đại học để thực hiện quá trình quốc tế hóa thường không thành công (hoặc thành công nhưng không bền vững). Vậy thì tại sao hiện nay các mạng lưới toàn cầu lại sinh sôi nảy nở như vậy, và vì sao những nỗ lực của các trường nhằm vươn ra khỏi biên giới quốc gia lại thường đi đến chỗ thất bại?  Những cuộc hợp tác nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử khắp châu Âu, châu Á, Úc, Bắc Mỹ và Nam Mỹ do các học giả thuộc Mạng lưới đại học toàn thế giới (Worldwide University Network) tiến hành cho thấy sự phát triển của các tập đoàn và mạng lưới quốc tế là phản ứng đối với những sự thay đổi lớn mang tính cấu trúc trong lịch sử của giáo dục đại học. Các trường đại học đã hợp sức với nhau nhằm đáp ứng những kỳ vọng mới và giải quyết những vấn đề “trong một phạm vi ngày càng rộng lớn”. Họ làm điều này trong điều kiện số sinh viên nhập học bấp bênh và nguồn kinh phí thiếu ổn định, phụ thuộc vào những tăng giảm thất thường của nền kinh tế; các phương tiện giao thông và truyền thông mới tạo điều kiện cho khả năng lưu chuyển – giữa sinh viên, học giả và ngay cả kiến thức nữa; sự gia tăng nhu cầu về khoa học ứng dụng, năng lực về công nghệ, sáng kiến thương mại; và những thay đổi về ý thức hệ tư tưởng vốn luôn đi kèm theo những thay đổi về chính thể. Các thách thức này giờ đây vẫn tiếp tục cộng hưởng với nhau như những tác nhân tạo ra các mạng lưới toàn cầu, nhưng bên cạnh đó còn có thêm những tác nhân mới.   Áp lực cạnh tranh đang khiến các cơ sở giáo dục và các quốc gia tìm kiếm lợi thế cạnh tranh thông qua việc hợp tác. Hào quang đáng thèm khát của “danh tiếng toàn cầu” và “đẳng cấp thế giới” dẫn đến nhu cầu xếp hạng, định vị, xây dựng thương hiệu, và quản lý danh tiếng. Vào thế kỷ 21, khi quyền lực và ảnh hưởng của truyền thông toàn cầu đã lan tỏa khắp nơi, tác nhân này trở nên mạnh hơn trước, được hỗ trợ và mở rộng qua công nghệ di động và truyền thông xã hội. Việc liên kết với những đối tác thành công, có nguồn lực dồi dào, hoặc có uy lực, được tin là sẽ mang lại những giá trị gia tăng cả về thực chất lẫn thông qua hào quang phản chiếu. Việc được mời tham dự một mạng lưới độc quyền – (như Liên minh Các trường đại học nghiên cứu của châu Âu hay Universitas 21)– là dấu hiệu của sự công nhận lẫn nhau trong liên minh và được cảm nhận như là một sự thừa nhận về tiêu chuẩn chất lượng trong thang đẳng cấp nghiên cứu toàn cầu. Với những tổ chức giáo dục khác đang trong quá trình tìm kiếm đối tác, việc có các đối tác toàn cầu có thể không hề liên quan đến “việc khám phá tri thức mới”, mà là dấu hiệu của sự khác biệt và đặc thù trong thị trường chen chúc các mạng lưới dày đặc.    Sự đa dạng của các mạng lưới toàn cầu    Các mạng lưới toàn cầu không chỉ sinh sôi nảy nở trong các cơ sở giáo dục mà còn hoạt động xuyên qua các khu vực khác nhau để kết nối với những đối tác mới và nâng cao khối tài sản cấu thành nhằm đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp, người dân, và các trường đại học. Các hệ thống đổi mới sáng tạo “triple helix” tức “vòng xoắn ba” là một ví dụ về việc kết hợp các nguồn lực vốn dĩ biệt lập với nhau để phát triển các sản phẩm trong công nghiệp, hỗ trợ hoạch định chính sách trong chính phủ, hoặc sáng tạo và phổ biến kiến thức trong các cơ sở học thuật – để tạo điều kiện phát triển các thiết kế tổ chức mới, các tri thức mới, các sản phẩm và dịch vụ mới. Cây cầu mới nối liền Đan Mạch và Thụy Điển1 đã giúp thành lập Mạng lưới Đại học Oresund, mở ra các lĩnh vực nghiên cứu và các khả năng hợp tác mới trong lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, mạng lưới vốn gồm 11 trường đại học này đã bị thu nhỏ lại chỉ còn vài cơ sở giáo dục có khả năng đạt được nhiều lợi ích nhất từ mạng lưới ấy.     Những hình thức mới về giao lưu văn hóa giữa Birmingham (Anh) và Chicago (Mỹ) bao gồm các mối liên kết đa dạng giữa các viện bảo tàng, nhà hát, phòng trưng bày nghệ thuật và các trường đại học, tận dụng mối quan hệ của các “thành phố kết nghĩa” vốn có lịch sử lâu dài.    Các doanh nghiệp cũng chủ động thành lập các mạng lưới: Ngân hàng Santander đã thành lập Tập đoàn Đại học toàn cầu Santander để hỗ trợ giáo dục đại học như “một phương tiện đóng góp cho sự phát triển và phồn vinh của xã hội”2. Hiện tổ chức này đã có 1.000 trường đại học thành viên khắp 17 quốc gia, và Ngân hàng Santander là nhà tài trợ cho các nghiên cứu, chương trình giao lưu, trao đổi học giả, sinh viên, và học bổng.    Các tổ chức quốc tế cũng tạo điều kiện cho các mạng lưới toàn cầu tập hợp tài nguyên, tìm giải pháp cho những thách thức cấp bách của thời đại, và đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Các mạng lưới được thiết lập trong Chương trình UNITWIN3 và UNESCO Chairs – một chương trình hiện bao gồm 650 cơ sở giáo dục ở 24 quốc gia – “đóng vai trò như những nhóm đầu não và những người xây cầu nối giữa các cơ sở học thuật, tổ chức xã hội dân sự, các cộng đồng địa phương với các công trình nghiên cứu, và việc hoạch định chính sách.”    Tính bền vững    Một số mạng lưới toàn cầu hiện nay hoàn toàn mới; một số đã tồn tại được vài thập kỉ, số khác được tái cấu trúc, như Mạng lưới Đại học Oresund; và một số đã biến mất hoàn toàn, như tập đoàn Scottish Knowledge – một tập đoàn chuyên đào tạo qua mạng bao gồm 11 trường đại học. Kinh nghiệm trong quá khứ có thể cung cấp cho ta một vài gợi ý về tính bền vững của các mạng lưới, đó là: thất bại sẽ xảy ra bất cứ khi nào chiến lược phát triển của các mạng lưới quốc tế phớt lờ hoặc coi nhẹ những khác biệt giữa các quốc gia về mặt văn hóa, chính trị, hoặc nhận thức – đặc biệt là khi tồn tại quan điểm cho rằng sự theo đuổi những kết nối quốc tế mới sẽ làm yếu đi những liên kết quốc gia. Một bài học khác là nếu muốn duy trì được lòng tin, sự nỗ lực, và sự chia sẻ nguồn lực thì phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong một mạng lưới đều có được lợi ích từ việc tham gia mạng lưới ấy. Có lẽ năng lực cốt lõi để duy trì các mạng lưới toàn cầu chính là khả năng quản lý các mối quan hệ vượt qua các ranh giới quốc gia bằng sự tôn trọng và đem lại hiệu quả mong muốn.  Ly Nga dịch, Phương Anh hiệu đính    Nguồn:   http://ejournals.bc.edu/ojs/index. php/ihe/article /view/8727    ———-    1https://www.youtube.com/watch?v=X8_VQbOh7go    2http://www.santander.com/csgs/Satellite/CFWCSancomQP01/en_GB/Corporate/Sustainability/Santander-Universities-/Santander-committed-to-Higher-Education.html    3http://www.unesco.org/en/university-twinning-and-networking/university-twinning-and-networking/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tiếp nhận trường ĐH KH&CN Hà Nội      Ngày 20/4, tại Hà Nội, Bộ GD&amp;ĐT đã tổ chức lễ bàn giao trường Đại học KH&amp;CN Hà Nội về Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam.      Ngày 18/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định giao Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam trực tiếp quản lý trường Đại học KH&CN Hà Nội.  Dự án thành lập trường Đại học KH&CN Hà Nội bằng nguồn vốn ODA của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp cùng liên minh các trường đại học Pháp (được phê duyệt ngày 25/4/2011), đã đạt được kết quả khả quan, khẳng định chủ trương đúng đắn phát triển trường đại học mô hình mới theo định hướng nghiên cứu ở Việt Nam.  Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành quy chế tổ chức hoạt động đặc thù và quy chế tài chính đặc thù cho trường. Trường được tự chủ cao trong tất cả các mặt hoạt động, cơ chế quản trị đại học tiên tiến, trong đó, vai trò quan trọng của Hội đồng trường quyết định định hướng chiến lược. Chương trình đào tạo theo các nước tiên tiến, đào tạo cán bộ theo chiều sâu, phát triển cơ sở vật chất đồng bộ. Đến nay, giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển theo mô hình mới thông qua cơ chế, chính sách đặc thù cơ bản đã hoàn thành. Dự án đầu tư xây dựng nhà trường đã bắt đầu đi vào nề nếp, ổn định.  Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga ghi nhận sự hỗ trợ của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đối với trường Đại họcKH&CN Hà Nội từ ngày trường được thành lập đến nay. Cụ thể, Viện đã cử cán bộ tham gia quản lý, giảng dạy; hỗ trợ cơ sở vật chất, môi trường làm việc, học tập, nghiên cứu; xây dựng các đối tác hợp tác quốc tế… Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam là cơ quan nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Vì vậy, Viện quản lý trực tiếp trường Đại học KH&CN Hà Nội sẽ thuận lợi hơn cho trường trong giai đoạn phát triển chuyên môn.  Về phía Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, ông Phan Văn Kiệm, Phó Chủ tịch Viện khẳng định: Viện sẽ tiếp tục dành điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất và giảng viên cho nhà trường, đó là trách nhiệm của cơ quan chủ quản và các đơn vị trực thuộc. Đồng thời, trường Đại học KH&CN Hà Nội tiếp tục được xây dựng theo định hướng đề cao nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do học thuật trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Vien-Han-lam-KHCN-Viet-Nam-tiep-nhan-Truong-DH-KHCN-Ha-Noi/252393.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam cần áp dụng theo hệ thống giáo dục Bologna      Trong khoảng hai mươi năm qua, nhiều báo cáo đánh giá được công bố cho thấy nhiều nhược điểm trong hệ thống giáo dục sau trung học ở Việt Nam, và đề xuất các giải pháp giải quyết những nhược điểm này. Trong đó, những ai gạt sang một bên đặc thù lịch sử phát triển gần đây của Việt Nam thì thường tỏ thái độ gay gắt, trịnh thượng, còn những người thông cảm với đặc thù riêng này lại thể hiện một tinh thần ôn hòa và có tính xây dựng hơn, tuy nhiên về bản chất các ý kiến khá tương tự nhau, đó là kêu gọi một sự đổi mới đột phá trong giáo dục sau trung học.      Ở Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, nơi áp dụng theo hệ thống giáo dục Bologna, sinh viên chỉ mất ba năm để có bằng đại học, nhưng trình độ tương đương với sinh viên các trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội (học trong bốn năm) và Đại học Bách khoa Hà Nội (học trong năm năm). Nguồn: http://www.usth.edu.vn.  Nhiều nhà trí thức và học giả Việt Nam đã có cơ hội bày tỏ quan điểm, kêu gọi một sự đổi mới toàn diện thay vì dần dần từng bước, trong thời gian gần đây điển hình có các ý kiến của Ngô Bảo Châu trong Nhóm Đối thoại Giáo dục Việt Nam[1], một báo cáo của UNESCO về giáo dục sau trung học ở Châu Á[2] và một số nội dung công bố tại một hội thảo chuyên đề do Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Giáo dục tổ chức hồi tháng Sáu năm 2014 tại Đại học Nguyễn Tất Thành [3].  Thay vì trình bày thật chi tiết các luận điểm về đổi mới giáo dục Việt Nam, điều mà GS Hoàng Tụy cùng nhiều người đã làm trong những năm qua, tôi chỉ xin điểm lại một vài ý quan trọng: Việt Nam nên quan tâm tới những khuyến nghị được đưa ra nhiều lần bởi các báo cáo đánh giá nhằm cải thiện giáo dục sau trung học; xác định và làm rõ về mục tiêu của các trường đại học; tìm ra điểm hài hòa giữa hai thái cực, giữa một bên là phục vụ kiến tạo tầng lớp tinh hoa, bỏ qua nhu cầu số đông, và phía ngược lại là tham vọng giáo dục bình đẳng tuyệt đối cho mọi thanh thiếu niên; Việt Nam cần xác định và thể hiện rõ các nhu cầu của đất nước đối với các ngành nghề khác nhau, theo đó phân bổ hài hòa nguồn lực, đội ngũ giảng dạy giữa các trường; công tác hướng nghiệp cần chú trọng giúp giới trẻ đưa ra lựa chọn tối ưu cho tương lai của họ; nên học từ kinh nghiệm của các nước khác, nhưng hoàn toàn không nên sao chép cứng nhắc mà phải tôn trọng những hoàn cảnh, đặc thù riêng; quy hoạch các trường đại học công lập và tư thục phù hợp với sự phát triển của đất nước, đảm bảo cả hai đối tượng đều phát triển hài hòa; nhận thức rõ rằng sinh viên trẻ ở Việt Nam là những người thông minh, không hơn cũng không kém so với ở bất kỳ quốc gia nào khác, khác biệt duy nhất chính là quá trình đào tạo mà họ nhận được từ trường đại học; nhiều nội dung giảng dạy ở trường hiện nay đã lạc hậu, cần được điều chỉnh cập nhật; các trường đại học của Việt Nam nên rèn luyện tư duy phản biện cho giới trẻ, hình thành những nhân cách tỏa sáng bởi phẩm giá, trí tuệ, và sự liêm chính, thay vì tạo ra những con người chỉ biết phục tùng.  Tôi phải thú nhận rằng qua nhiều năm, những tiến bộ mà tôi được chứng kiến là không nhiều và dường như chúng thường bị cản trở bởi sự thắng thế của tình trạng trì trệ và xơ cứng. Tôi xin đưa ra hai ví dụ gần đây.  Chúng tôi làm nghiên cứu về vật lý thiên văn, là lĩnh vực vật lý năng động nhất hiện nay, được minh chứng bởi sự gia tăng số lượng thành viên so với các lĩnh vực khác trong Hội Vật lý Hoa Kỳ: từ 2012 tới 2016, lượng thành viên ngành vật lý thiên văn tăng tới 15%, trong khi ngành vật lý tính toán chỉ tăng 5% và tất cả các ngành vật lý khác (tám ngành) đều đang giảm. Trong giai đoạn mười lăm năm qua, trung bình cứ ba năm lại có một lần Nobel Vật lý được trao cho ngành vật lý thiên văn. Vậy mà ở Việt Nam, thiên văn học và vật lý thiên văn không hề được đào tạo ở trình độ thạc sỹ và tiến sỹ. Gần đây, một trong các sinh viên của tôi phải trình bày luận án tiến sỹ của mình trước một hội đồng chuyên môn. Ta có thể hình dung rằng lẽ ra hội đồng này phải bàn về sự thiếu hụt trong chương trình đào tạo ở Việt Nam và sự cần thiết của việc cải tiến nó. Nhưng không, người ta tốn nhiều thời gian để bàn về các vướng mắc hành chính và cách thức để làm sao thông qua một luận án tiến sỹ ngành thiên văn học trong bối cảnh ngành này không nằm trong danh sách được quy định. Câu chuyện này đã lặp đi lặp lại tới sáu lần với các trường hợp trước đây, xảy ra trong khoảng mười hai năm nay, cho thấy vấn đề không nằm ở các thành viên cụ thể trong hội đồng, mà là ở nhận thức chung của họ về vai trò, trách nhiệm của mình, như được quy định trong thẩm quyền của họ. Để có sự tiến bộ, chúng ta phải thay đổi các luật lệ quy định đang vận hành xã hội khi mà chúng không còn phù hợp với thực tiễn; chính vì vậy chúng ta cần những con người dám thực sự đưa ra quyết định; nếu ta chỉ biết tuân theo những luật lệ sẵn có, vậy thì đâu cần đến các nhà lãnh đạo, chỉ cần những cỗ máy cũng đủ rồi. Nếu chúng ta tìm cách đưa ngành vật lý thiên văn vào chương trình đào tạo tiến sỹ từ mười hai năm trước, thì ngày nay ta đâu còn bế tắc trong sự trớ trêu lỗi thời như vậy.  Thêm một ví dụ khác. Hơn hai năm trước, tôi kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo về lợi ích cho Việt Nam từ các chương trình hợp tác với các trường đại học có uy tín trên thế giới trong đào tạo tiến sỹ. Các trường này sau đó sẽ tiếp tục dõi theo sự nghiệp của những học viên này, tạo ra mối quan hệ với các trường đại học khác ở nước ngoài nơi có thể tiếp tục mở rộng triển vọng hợp tác trong tương lai, mang lại kiến thức và kỹ năng không chỉ cho một cá thể học viên mà cho cả nhóm học viên người Việt. Tôi đã kiến nghị về việc đơn giản hóa những quy định về việc trao bằng ở phía Việt Nam, sao cho học viên có thể được trao đồng thời bởi cả hai quốc gia. Thứ trưởng Bùi Văn Ga bày tỏ rằng ông hoàn toàn đồng tình và cho tôi biết người của ông đang cố gắng điều chỉnh như hướng đề xuất của kiến nghị. Thế nhưng đến nay tình hình vẫn chưa được cải thiện chút nào, sau khi được cấp bằng ở nước ngoài, học viên vẫn phải mất thêm một năm thực hiện các quy trình cần thiết để được xét cấp bằng trong nước. Trong đó, ngoài các yêu cầu khác, họ phải bảo vệ trước một hội đồng trong nước và phải gửi một bản tóm tắt dài khoảng 25 trang cho năm mươi (50!) tiến sỹ người Việt, trong đó tối thiểu phải có mười lăm người cho phản hồi tích cực. Trong ngành vật lý thiên văn của tôi, số lượng tiến sỹ ở Việt Nam ít hơn nhiều so với con số mười lăm. Chuyện này không chỉ đáng xấu hổ mà còn phản ánh một tâm lý ngờ vực đầy định kiến. Việc đơn giản hóa quy trình thủ tục liệu có gây tốn kém, phiền hà? Không hề, nếu không muốn nói là còn giúp giảm bớt chi phí.  Tôi có thể dẫn thêm nhiều ví dụ khác, nhưng hai trường hợp trên đây giúp minh họa khá rõ cho sự bảo thủ và trì trệ mà chúng ta đang phải đối diện khi tìm cách cải thiện giáo dục sau trung học ở Việt Nam.  Trong tình hình đó, chúng ta rất nên xem xét áp dụng các chuẩn mực của hệ thống giáo dục Bologna để tạo cơ hội chỉnh đốn và mang lại một bầu không khí trong lành hết sức cần thiết cho giáo dục sau trung học ở Việt Nam. Ở đây ta không bàn quá nhiều vào các chi tiết, nhưng có thể nói rằng việc áp dụng theo hệ thống Bologna sẽ giúp các trường đại học Việt Nam giảm thời gian đào tạo đại học từ bốn – năm năm xuống còn ba năm. Tất nhiên, đó là với các trường đại học giảng dạy khoa học – kỹ thuật; các trường khác không nhất thiết áp dụng khung thời gian này. Những ai trong chúng ta từng giảng dạy các sinh viên năm cuối trong các trường đại học ở Việt Nam có lẽ cũng nhận thấy rằng phải tới hai phần ba, nếu không muốn nói là ba phần tư các em trong lớp học được rất ít từ những năm tháng đại học của mình, thậm chí còn bị rơi rụng đi những kiến thức trung học phổ thông nền tảng.  Qua giảng dạy các lớp thạc sỹ ở Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (nơi áp dụng theo hệ thống Bologna), tôi thấy rằng các sinh viên có bằng đại học từ trường này chỉ mất ba năm, nhưng trình độ tương đương với sinh viên các trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội (học trong bốn năm) và Đại học Bách khoa Hà Nội (học trong năm năm). Như vậy, lợi ích quan trọng nhất của việc áp dụng hệ thống Bologna là tiết kiệm được một năm trong giai đoạn thời gian quý giá nhất đời người của thế hệ trẻ Việt Nam. Ngoài ra còn giúp tiết kiệm các nguồn lực, gồm cả nhân lực và vật lực để dành cho việc khác. Điều này còn giúp mang lại sự bình đẳng, khi mà thời lượng đào tạo đại học trên cả nước đều như nhau. Đây cũng là cơ hội tốt để chúng ta xem lại và hiện đại hóa danh mục chủ đề giảng dạy trong các trường; đưa ra những chỉnh đốn mà hệ thống giáo dục đại học của chúng ta đang rất cần; giúp các bậc phụ huynh tin tưởng rằng đất nước đủ năng lực giáo dục con em họ; góp phần giảm bớt dòng sinh viên du học, qua đó hạn chế bớt sự lãng phí tài lực to lớn và nạn chảy máu chất xám mà Việt Nam đang phải gánh chịu.  Hệ thống giáo dục Bologna hiện nay đã được áp dụng ở đa số các nước châu Âu và được nhiều nước trên thế giới coi như một chuẩn mực cho giáo dục sau trung học. Mặc dù điều này không trực tiếp liên quan đến luận điểm chính của bài viết, nhưng tôi xin mô tả vắn tắt về mô hình này. Nó bao gồm ba mảng đào tạo đại học (ba năm), thạc sỹ (hai năm) và tiến sỹ (ba năm), đòi hỏi học viên đạt được những kỹ năng sau: Đại học: Học viên phải thể hiện mình đã thu được những kiến thức và hiểu biết chuyên môn phát triển lên từ nền tảng là giáo dục phổ thông trung học, có bổ sung thêm sự hỗ trợ từ những cuốn sách giáo khoa cao cấp, và đạt tới một trình độ đủ sức nắm bắt những tri thức tân tiến trên một số phương diện chuyên môn; có khả năng áp dụng kiến thức và hiểu biết một cách chuyên nghiệp trong công việc hoặc nghề nghiệp, thể hiện được năng lực của mình qua tư duy và cách lập luận, giải quyết các vấn đề trong chuyên môn của mình; có khả năng thu thập và phân tích các dữ liệu cần thiết để đưa ra những đánh giá các vấn đề liên quan về xã hội, khoa học, hay đạo đức; có khả năng truyền đạt thông tin, ý tưởng, các vấn đề và giải pháp, cho đối tượng là các chuyên gia hoặc người bình thường; phát triển những kỹ năng học hỏi cần thiết để có thể tiếp tục theo đuổi sự học ở trình độ sâu hơn, trên tinh thần tự chủ ở mức độ cao. Thạc sỹ: Học viên phải thể hiện mình đã thu được những kiến thức và hiểu biết được xây dựng từ giai đoạn học đại học và tiếp tục chuyên sâu hơn, tạo nền tảng/cơ hội cho năng lực tự xây dựng và áp dụng các ý tưởng trong một lĩnh vực nghiên cứu nào đó; có khả năng áp dụng kiến thức và hiểu biết, năng lực giải quyết vấn đề trong những vấn đề mới mẻ, có tính mở rộng (hoặc liên ngành) trong ngành học của mình; có khả năng kết nối tri thức và giải quyết những vấn đề phức tạp, đưa ra những kết luận chuyên môn phù hợp trong điều kiện thông tin thiếu hoặc bị hạn chế, đồng thời nhận thức được những trách nhiệm xã hội và đạo đức liên quan trong việc áp dụng các tri thức và kết luận chuyên môn này; có năng lực trình bày các kết luận chuyên môn, lý giải những cơ sở căn cứ và lập luận cần thiết một cách sáng rõ cho đối tượng độc giả là chuyên gia hoặc công chúng bình thường; có những kỹ năng học hỏi cần thiết để có thể tiếp tục theo đuổi nghiên cứu, trên tinh thần hầu như hoàn toàn tự chủ. Tiến sỹ: Học viên phải thể hiện được hiểu biết có tính hệ thống về một ngành học, thuần thục những kỹ năng và phương pháp nghiên cứu mà ngành học đó đòi hỏi; cho thấy năng lực nhận thức, thiết kế, triển khai và áp dụng một tiến trình nghiên cứu công phu, tuân thủ đạo đức học thuật; có đóng góp một kết quả nghiên cứu mới, một công trình đáng kể giúp mở rộng biên giới kiến thức khoa học, có khả năng xứng đáng được công bố trong nước hoặc quốc tế; đủ năng lực phản biện, đánh giá và tổng hợp những ý tưởng mới mẻ, phức tạp; có năng lực đối thoại về chuyên môn của mình với các đồng nghiệp, với giới khoa học và công chúng xã hội; đủ trình độ để có thể được kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy các tiến bộ công nghệ, xã hội, và văn hóa trong một xã hội tri thức.  Thanh Xuân dịch  Nguồn:  1. Tổng kết nghiên cứu về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam, Tháng 5, 2015  2. http://www.uis.unesco.org/Library/ Documents/higher-education-asia-graduate-univrsity-research-2014-en.pdf  3. Developing a Globally Integrated Higher Education System in Vietnam: A Nine-Point Plan, cheer/edu/vn/en.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Việt Nam đứng thứ tám về số sinh viên du học ở Mỹ      Báo cáo thường niên của Viện Giáo dục Quốc tế (IIE) cho biết Việt Nam hiện xếp thứ tám trong số những nước có nhiều sinh viên du học nhất ở Mỹ, so với vị trí thứ 20 cách đây 5 năm.    Theo Open Doors 2011, báo cáo thường niên về biến động trong giáo dục quốc tế ở Mỹ do IIE xuất bản với sự hỗ trợ của Vụ Văn hoá và Giáo dục thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, số sinh viên Việt Nam hiện đang theo học tại các cơ sở giáo dục đại học của Mỹ năm học 2010-2011 đã tăng 14%, từ hơn 13 nghìn lên gần 15 nghìn sinh viên.  “Đây là một tín hiệu tích cực trong quan hệ giáo dục ngày càng phát triển mạnh giữa hai nước,” Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David B. Shear bình luận về bản báo cáo. “Chúng tôi mong muốn sẽ có thêm nhiều sinh viên Việt Nam hơn nữa tới Mỹ nơi họ có thể khai thác một hệ thống giáo dục đại học có chất lượng cao nhất và đa dạng nhất trên thế giới.”  Cũng theo báo cáo nói trên, tổng số sinh viên quốc tế theo học tại các trường đại học và cao đẳng của Mỹ tăng 5%, lên hơn 720.000 trong năm học 2010-2011. Đây là con số cao kỷ lục về lượng sinh viên quốc tế theo học tại Mỹ.  Báo cáo Open Doors 2011 được công bố đúng vào Tuần lễ Giáo dục Quốc tế, được tổ chức vào tuần thứ ba của tháng 11 hàng năm tại hơn 100 nước trên thế giới, kể từ năm 2000, theo sáng kiến chung của Bộ Ngoại giao và Bộ Giáo dục Mỹ.   Năm nay, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam sẽ tổ chức một loạt các cuộc thi và sự kiện nhằm tôn vinh những lợi ích của hoạt động giáo dục và trao đổi quốc tế. Nhân dịp này, Đại sứ David B. Shear cũng công bố các chương trình học bổng sau đại học trị giá 1 triệu USD dành cho sinh viên Việt Nam.        Các nước trong top 10 về số sinh viên du học ở Mỹ là: Trung Quốc (gần 158 nghìn SV) , Ấn Độ, Hàn Quốc, Canada, Đài Loan, A rập Xê út, Nhật Bản, Việt Nam, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ (hơn 12 nghìn SV).           Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam là gì?      Sinh ở Mỹ, Anna Le đang là sinh viên năm thứ  2 trường đại học Western Washington. Mùa thu rồi bạn theo học một khóa  lịch sử “Việt Nam và Mỹ”, cuối khóa có ba tuần đi thực tế để làm bài  nghiên cứu ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đó là  lần đầu tiên Anna Le đi Việt Nam, với nỗi háo hức được thăm viếng và tìm  hiểu quê hương của cha mẹ, và để hiểu chính bản thân mình.       Đề tài nghiên cứu của Anna Le là mối liên hệ giữa ẩm thực và căn cước. Việt Nam là như thế nào, cái gì là Việt Nam, cái gì không phải Việt Nam? Tưởng đơn giản, rạch ròi, mà hóa ra không phải vậy. Đây là bài viết bằng tiếng Anh của Anna Le sau khi trở về trường và nhớ lại những trải nghiệm của mình. Bản dịch sang tiếng Việt của Lý Lan.  Nhiều thói quen du lịch của đám bạn Mỹ trắng cùng lớp đã hại tôi. Chẳng hạn, mặc dù tôi có thể dễ dàng sống bằng bánh xèo, bún thịt nướng và phở trong suốt thời gian ở Việt Nam, nhưng cứ thình thoảng tôi lại theo tụi nó để ăn “đồ Mỹ”. Hay kêu tắc xi trong khi có thể đi bộ và đáng lẽ nên đi bộ. Rồi ra dấu, chỉ chỏ như người thời tiền sử khi mua đồ ăn, và dùng cái máy tính mà những người bán hàng chìa cho chúng tôi để cò kè trả giá khi mua cái áo thun có in chân dung Bác Hồ.   Đêm Giáng sinh tôi cũng lại sa đà vô một trò du lịch mà tôi đã thề sẽ không bao giờ để mình dính vào. Tôi mượn cuốn sổ và cây viết của người bạn đồng hành, viết ra địa điểm mà tụi tôi muốn đến trên mặt giấy lùi xùi vì hơi ẩm, xé ra, đưa cho người lái tắc xi. Anh ta nhìn mấy chữ tôi viết, rên lên hơi cường điệu. Anh nói chỗ đó kẹt xe khủng khiếp. Tôi thông cảm việc anh không chịu len lỏi vào chốn trung tâm thành phố ấy. Đêm trước đó tất cả tụi tôi đều đã trải qua kinh nghiệm mắc kẹt giữ quận nhất trong mùa Giáng sinh. Thân thể tôi vẫn còn nhức nhối vì đã hít không biết bao nhiêu khói thải từ những cái xe bị đạp thắng liên tục, bụi bặm và hơi nước xịt từ những vòi phun lòng thòng ngớ ngẩn.   Tài xế không chịu chạy, tụi tôi cũng không chịu xuống xe, mà ngồi cãi vã với nhau xem phải làm gì với gã lái xe không chịu giúp tụi tôi hiện thực hóa giấc mơ ăn Noel ở thành phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng tài xế chịu thua, đau khổ chở tụi tôi đến nơi. Nơi nào? Dĩ nhiên là Rex Hotel. Tụi tôi nồng nhiệt cám ơn anh. Tôi trả tiền và nói “Cám ơn chú”. Giọng nói biết ơn một cách chân thành của tôi kèm theo xưng hô bất nhờ “chú” thân mật như gọi người trong gia đình tức thì gây ra vô số đợt sóng cảm xúc tràn qua gương mặt người tài xế. Gương mặt nhăn nhó của anh ta biểu lộ rõ sự giận ghét. Ngôn ngữ thân thể của anh ta cho tôi biết anh cảm thấy bị lừa và mắc bẫy.  Anh nhìn khuôn mặt Việt Nam đeo đôi kính ngoại quốc của tôi. Tướng tá “mập mập” của tôi có lẽ khiến anh còn ngờ ngợ, chứ tiếng “chú” chắc chắn không phải là cách xưng hô của người nước ngoài. Anh dấm dẳng hỏi: “Cô LÀ…” Tôi nói tôi là Việt kiều, trả tiền xe, rồi ra khỏi tắc xi, và câu chuyện dừng ở đó. Nhưng tôi đã thất vọng thấy mình bị đối xử khác.   Phản ứng của “Chú” tài xế ít nhiều giống như dự đoán của tôi về cách người Việt Nam sẽ đối xử với tôi. Lớn lên ở Mỹ với sự bối rối của người Mỹ gốc Âu lẫn Á khi họ phải xác định chủng tộc của tôi. Ngay cả trên đường bay đến Việt Nam, tôi thấy thật buồn cười khi tiếp viên hãng hàng không Korean Airlines cứ nói tiếng Anh với mấy bạn cùng lớp ngồi cùng hàng phía trước và phía sau tôi, nhưng lại nói với tôi bằng tiếng Hàn! Những cuộc trò chuyện với nhiều người khác, chứ không chỉ với “chú” tắc xi quạu quọ, đều thường thường bao gồm câu hỏi “Cô là người gì?” Cho nên tôi đã không thể chuẩn bị được gì đối với những phản ứng mà tôi thật sự gặp ở những người Việt Nam khác.  “Tên tôi là Anna và tôi đến đây để tìm hiểu về ẩm thực, toàn cầu hóa và căn…”  “Cô là người Việt Nam?”  Tôi đã đến phi trường Tân Sơn Nhất, đang làm thủ tục hải quan. Viên chức mặc đồng phục xanh với những sọc đỏ dữ dằn nhìn vào tên tôi trong sổ thông hành: Le Xuan Anna Ngoc. Chẳng để ý đến chữ “Anna” kỳ cục, ông ta hỏi: “Lê Ngọc Xuân, hử?” Thành thật mà nói, trước đây tôi chưa từng nghe ai đọc trọn vẹn cái tên Việt Nam của tôi, và tôi có cảm giác chết trong lòng một tí khi ông ta phát âm nó đúng hơn cả tôi. Sợ líu cả lưỡi, tôi trả lời bằng tiếng Anh kèm theo nụ cười mơ hồ: “Chính là tôi.” Tôi lấy làm lạ với ông ta. “Lê Ngọc Xuân hử?” Đó có thực là tôi?  Ở một xưởng dệt chiếu ở đồng bằng sông Cửu Long, trong lúc tụi tôi đang xem một người tô màu lên chiếu, người lái đò nói: “Thấy không, cái cô đó coi bộ là người Việt Nam”.   Ở Hà Nội, tụi tôi lên tắc xi và lần đầu tiên tôi gặp nữ tài xế tắc xi ở Việt Nam. Tôi bảo chị ấy: “Đi chợ Đồng Xuân được hông?” Gương mặt chị bừng sáng lên niềm vui khi nghe ra tiếng Việt tập tọng của tôi, và chị hỏi tôi những câu hỏi công thức về quốc tịch và ngôn ngữ mà tôi thường bị hỏi, sau đó chị tiếp tục bô lô ba la trên suốt chặng đường còn lại với giọng Hà Nội mà tôi nghe khó hiểu quá.   Đừng vội trách tôi, đôi khi tiếng Việt của tôi kém cỏi đến nỗi tôi trở nên đứa ngớ ngẩn khi ông xe ôm trên đường phá ra cười, lặp lại câu tôi nói với đồng nghiệp đậu xe kế bên, tôi biết họ tưởng tôi là một du khách Đông Á vừa học lõm bõm vài câu tiếng Việt. Vào ngày cuối cùng tôi ở Việt Nam, ông xe ôm đó khen tôi nói tiếng Việt rất giỏi. Nếu ông ta biết tiếng Việt là ngôn ngữ đầu tiên tôi học nói với mẹ mình, ắt hẳn ông không cho đó là tiếng Việt giỏi của một người nước ngoài, mà là tiếng Việt dở của một người đồng bào với ông. Mặc dù bị một số người gạt bỏ như người nước ngoài, một số người khác vẫn coi tôi là người Việt Nam không chối cãi được, ngoài cả sự hình dung của tôi.   Bây giờ quay lại với đề tài ẩm thực và căn cước, đằng nào thì chúng ta cũng phải ăn mỗi ngày, nhiều lần mỗi ngày. Sau khi thưởng thức một tô bún thịt xào, tôi học được một bài học đáng giá về đặc tính Việt Nam. Tụi tôi hỏi người quản lý của một nhà hàng Việt Nam hết sức độc đáo vài câu hỏi liên quan đến thực phẩm và chủ trương ẩm thực của nhà hàng. Ông nói là những đầu bếp trong nhà hàng của ông ở miền tây lên, không thông qua trường lớp đào tạo chuyên môn, mà nấu nướng theo những thực đơn mang theo ở trong lòng của họ. Chúng tôi thảo luận về nguyên liệu dùng trong chế biến và thăm nhà bếp một lát, xem các đầu bếp trổ tài pháp thuật. Tôi hỏi có gì khác giữa nhà hàng này và tất cả những nhà hàng khắp nơi trên thế giới tự dán nhãn ẩm thực Việt Nam chánh cống. Khá nhiều điểm được nêu ra về quê nhà, tình yêu, nấu nướng với cả tấm lòng, nhưng điều khiến tôi chú ý nhất là khi ông quản lý nói về bột ngọt. Ông nói thẳng với tôi: “Chúng tôi có xài bột ngọt. Mấy nhà hàng khác quảng cáo là ‘không bột ngọt’ thì không phải Việt Nam chánh cống. Đồ ăn Việt Nam đúng điệu là phải có bột ngọt.”  A ha. Ngay tức thì tôi bỗng hiểu ra. Nhà hàng nào quảng cáo “không bột ngọt” trong món ăn để thuyết phục du khách thì, xin lỗi, món ăn của quí vị đâu còn chánh cống Việt Nam nữa. Nếu mình khoái món cải biên đông tây kết hợp và “không bột ngọt” là chủ trương thì đâu thể tự nhận là chánh cống Việt Nam. Bản sắc Việt Nam thì cứ là bất cứ cái gì Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam. Tôi bắt đầu hiểu.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam, thiên đường cho các giảng viên?      Trên nhiều lĩnh vực, chúng ta có thể kể ra  những sáng kiến thành công đáng được khích lệ. Nhưng trước hết chúng ta  cần đối diện với hiện thực bằng tâm trí và cái nhìn rộng mở, suy xét kỹ  lưỡng trước khi đưa ra những nhận xét “trái với cảm nhận chung của xã  hội”.    Gần đây, tôi đọc trên Vietnamnet một bài báo đăng ngày 3/11 1 đề cập sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học Việt Nam, khởi đầu từ khi mở cửa một số đại học tư vào năm 1989 và khẳng định rằng hiện nay giảng viên “giỏi” ở Việt Nam có khả năng kiếm được thu nhập nhiều tới mức cho phép mức sống của họ cao hơn nhiều đồng nghiệp ở một số nước phát triển. Bài báo để lại ấn tượng rằng các giảng viên đại học “giỏi”, dù cho nội hàm của khái niệm này có là thế nào đi chăng nữa, đang có mức sống tốt, và vấn đề lương thấp của giới học thuật ngày nay đã thành chuyện quá khứ. Họ cho đây là dấu hiệu của sự tiến bộ và khẳng định nạn chảy máu chất xám từng rất trầm trọng trong thập niên chín mươi, nay có nhiều tín hiệu khả quan theo chiều ngược lại.   Thật tuyệt vời phải không? Chúng ta bây giờ đã có thể yên tâm và thoải mái. Những lo phiền trước kia nay không còn nữa, và phát biểu gần đây của Bộ trưởng Bộ KH&CN cũng trở nên lạc hậu: “Chừng nào chúng ta chưa quan tâm đến cuộc sống, thu nhập của những người làm khoa học, chưa mạnh dạn thay đổi nếp quản lý theo cơ chế cũ thì chừng đó chúng ta chưa thể có được sự phát triển đột biến trong KH&CN.”2  Có lẽ các bạn bè của tôi là những người chưa đủ “giỏi” hoặc tôi đang sống nhầm chỗ nên chỉ biết những giáo sư, giảng viên, nghiên cứu viên, và sinh viên, mà vấn đề nghiêm trọng của họ là thu nhập thấp, không đủ để họ có thể dành toàn bộ thời gian và tâm sức cho công việc của mình. Họ phải dạy số giờ nhiều gấp đôi thời lượng mà một giảng viên thông thường có thể dạy một cách có chất lượng. Họ buộc phải bỏ thời gian vào những hoạt động kiếm thêm thu nhập gây ảnh hưởng tới nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu. Tôi được biết có rất nhiều sinh viên ra nước ngoài du học rồi không trở về vì không tìm thấy cơ hội việc làm đủ sức hấp dẫn ở trong nước.  Thông điệp mà bài báo đưa ra hoàn toàn trái ngược với thực tế. Thấy cây mà không thấy rừng, bài báo che đi sự thật bằng cách nhấn mạnh vào một số ví dụ thiếu tính đại diện cho tình hình chung ở Việt Nam. Tôi cảm thấy đưa ra một thông điệp như vậy là thiếu trách nhiệm, trong bối cảnh cải thiện chất lượng giáo dục đại học đang là vấn đề hết sức cấp bách mặc dù giáo dục đại học ở Việt Nam có một số điểm sáng mà bài báo đã nêu.   Thứ nhất, các đại học tư có lẽ đã thành công trong đào tạo những ngành như quản trị doanh nghiệp, tiếp thị, ngân hàng, quản lý, và những lĩnh vực tương tự khác mà lâu nay được coi là thời thượng không chỉ ở Việt Nam mà cả khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra, các trường tư cũng đóng vai trò tích cực như là những trường nghề trong việc đào tạo các kỹ thuật viên. Nhưng nhìn chung, họ không thể thay thế vai trò của các đại học công lập trong đào tạo các ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, y dược – những lĩnh vực được coi là sân chơi của trường công. Chỗ đứng nào nên dành cho các đại học tư là một vấn đề xã hội liên quan đến những câu hỏi quan trọng như đem lại cơ hội bình đẳng cho sinh viên, mức học phí, tuyển chọn giảng viên, giá trị bằng cấp, số lượng sinh viên được đào tạo trong các ngành khác nhau, đặc biệt là trong nhóm ngành dịch vụ, v.v. Tôi không phải là chuyên gia để bàn về những vấn đề trên, nhưng rõ ràng chúng ta sẽ phải trả lời các câu hỏi này khi phân tích nghiêm túc vai trò và thành công của các đại học tư trước khi bàn về thu nhập của giảng viên tại những trường này.  Thứ hai là về các trung tâm xuất sắc, đây là một sáng kiến đáng khích lệ ở khía cạnh chúng có thể trở thành những hạt giống cho sự tiến bộ trong tương lai và những giá trị của chúng có thể được nhân rộng. Việc Đại học Quốc gia TP HCM thành lập một đại học quốc tế rõ ràng là bước đi đúng hướng mà Hà Nội và các địa phương khác nên làm theo. Nhưng chúng ta cần xem xét kỹ những kinh nghiệm từ mô hình này để có thể triển khai các sáng kiến tương tự trong tương lai một cách hiệu quả nhất.  Các đại học được coi là xuất sắc, gồm một số trường liên kết với Đức, Pháp (Đại học KH&CN Hà Nội), hay về sau là với Nhật Bản và Mỹ, là những sáng kiến đáng trân trọng. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để đánh giá thành tựu của những trường này bởi chúng chỉ mới được thành lập chưa lâu. Những đại học này đang phải đối diện với không ít thách thức không dễ vượt qua. Chẳng hạn, chúng đang bị xem là được ưu đãi không công bằng, khi được phép cấp bằng cử nhân chỉ sau ba năm đào tạo thay vì bốn hoặc năm năm như với ba trường đại học lớn về khoa học khác ở Hà Nội, và có khả năng được cấp bằng tiến sỹ mà không phải thực hiện nhiều bước như quy định hiện hành đối với các trường khác ở Việt Nam. Quan trọng hơn, các trường này cần phải tuyển dụng cán bộ người Việt không chỉ trong các phòng ban quản lý hành chính và hậu cần mà cả trong đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu. Hiện nay, Đại học KH&CN Hà Nội (USTH) không hề có giảng viên cơ hữu, chỉ có giảng viên tạm thời và đa số giảng viên có quốc tịch Pháp. Các giảng viên tạm thời người Việt được trả khoảng 30 USD/giờ, cao hơn đáng kể so với mức trả ở các đại học công lập Việt Nam, nhưng họ chỉ thường dạy một môn học mỗi năm, tương đương 30 giờ dạy, tức là thu nhập dưới 1.000 USD/năm, thấp hơn nhiều so với số liệu rất cao mà bài báo nêu trên đưa ra.  Chúng ta nên trả lương giảng viên ra sao là một vấn đề quan trọng. Nó đặt ra vấn đề về chất lượng giảng viên. Rõ ràng chúng ta nên trả lương cho những người dành thời gian ở nhà chuẩn bị giáo án – điều mà các giảng viên tốt thường làm – cao hơn so với những người đơn thuần chỉ đọc cho sinh viên chép những nội dung sẵn có trong sách giáo khoa. (hiện nay với những người dành thời gian ở nhà chuẩn bị giáo án, mức lương 30 USD/giờ tương đương với 15 USD/giờ dạy trên lớp, là con số chấp nhận được). Bên cạnh đó, cũng nên quan tâm tới cách thức đánh giá chất lượng giảng viên, hay vấn đề cấp bằng “habilitation” 3 như thông lệ chung ở nhiều nước trên thế giới.  Điều rất đáng quan tâm là phần nhiều thu nhập của các giảng viên được dẫn chứng trong bài báo đến từ các đề tài nghiên cứu, có thể từ Quỹ NAFOSTED hoặc các nguồn tài trợ dồi dào hơn. Các chính sách này đáng được hoan nghênh, là nhân tố quan trọng cho tiến bộ về giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam. Nhưng như chúng ta đã biết, chúng cũng có thể mang lại những tác động tiêu cực, ví dụ như khuyến khích các nhà khoa học đề xuất nhiều dự án tốn kém, gây lãng phí, hoặc khuyến khích họ đăng ký tên mình trên thật nhiều đề tài, dự án. Chúng ta lẽ ra nên hướng tới hình mẫu những vị giáo sư đã có đủ thu nhập từ lương của họ để dành hết thời gian và tâm sức cho nghiên cứu và giảng dạy, thay vì trở thành một người chuyên làm ăn và “giỏi” thu vén lợi ích riêng từ cơ chế, chính sách của nhà nước.  Cải thiện chất lượng đại học trong nước là một vấn đề quan trọng và dài hạn, và là một thách thức lớn. Nó cần sự quan tâm nghiêm túc từ những người có trách nhiệm để có thể đào tạo được một thế hệ người lao động mới có đủ năng lực trong mọi lĩnh vực mà đất nước đang cần để phát triển: những kỹ sư có khả năng vận hành nhà máy điện nguyên tử, thiết kế và chế tạo các thiết bị điện tử hiện đại; những kiến trúc sư có khả năng thiết kế môi trường đô thị cho tương lai; những bác sỹ phục vụ cho hạ tầng y tế thiết yếu của đất nước; những nhà khoa học có năng lực hiện đại hóa nông nghiệp và bảo vệ môi trường, v.v.  Trên nhiều lĩnh vực, chúng ta có thể kể ra những thành công đáng được khích lệ. Nhưng trước hết chúng ta cần đối diện với hiện thực bằng tâm trí và cái nhìn rộng mở, suy xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra những nhận xét “trái với nhận thức chung của xã hội” như cách viết của các tác giả bài báo. Chúng ta cần đánh giá sự tiến bộ dựa trên kết quả thu được. Hãy bỏ đi thói quen dành quá nhiều thời gian cho những bảng xếp hạng như Pisa, Thượng Hải, hay các nghiên cứu cùng loại với nghiên cứu của FPT được sử dụng trong bài báo, hoặc cố tình làm lệch lạc ý nghĩa thực chất của chúng. Chúng ta có những nhiệm vụ quan trọng hơn trước mắt để làm, và có những cách hiệu quả hơn để sử dụng chất xám và thời gian của mình.  Phạm Trần Lê dịch  ————————————————–  Chú thích:   1 Đàm Quang Minh và Phạm Hiệp, Thu nhập giảng viên cao nhất lên đến hơn 1 tỷ đồng/năm, Vietnamnet, 3/11/2014, http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/205223/thu-nhap-giang-vien-cao-nhat-len-den-hon-1-ty-nam.html.  2 http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/khcn-trung-uong/5968-ton-vinh-va-chia-se.html  3 Cho phép người được cấp bằng hướng dẫn nghiên cứu sinh; muốn có học hàm Giáo sư phải có bằng này    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế về giáo dục: MỘT CHIẾN LƯỢC, HAI KỊCH BẢN      T&#211;M TẮT  Việc x&#226;y dựng chiến lược hội nhập quốc tế về gi&#225;o dục n&#243;i chung, gi&#225;o dục đại học n&#243;i ri&#234;ng, l&#224; một nhiệm vụ cấp b&#225;ch của Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Tuy nhi&#234;n, vấn đề n&#224;y đến nay chưa được quan t&#226;m đ&#250;ng mức. B&#224;i viết n&#224;y sử dụng phương ph&#225;p kịch bản, l&#224; phương ph&#225;p hiện đang được sử dụng rộng r&#227;i trong nghi&#234;n cứu về c&#225;c tương lai của gi&#225;o dục, để đề xuất một tiếp cận th&#237;ch hợp đối với vấn đề đặt ra. Theo đ&#243;, căn cứ v&#224;o xu thế chuyển động trong phương thức cung ứng gi&#225;o dục xuy&#234;n bi&#234;n giới v&#224; định hướng ph&#225;t triển của gi&#225;o dục Việt Nam trong 10 – 15 năm tới, một chiến lược hội nhập quốc tế về gi&#225;o dục được đề xuất. Đ&#243; l&#224; chiến lược với hai kịch bản đối lập nhau nhưng được tạo điều kiện để chung sống b&#234;n nhau, bổ sung cho nhau: một kịch bản l&#224; ưu ti&#234;n hợp t&#225;c quốc tế về gi&#225;o dục theo cơ chế phi thương mại, kịch bản kia l&#224; chủ động v&#224; t&#237;ch cực tham gia thương mại dịch vụ gi&#225;o dục theo cơ chế thương mại.    1. Đặt vấn đề  Mới đây, Hội nghị thế giới về giáo dục đại học, tổ chức từ 5 đến 8/7/2009 tại UNESCO Paris, nhận định rằng giáo dục đại học đang chuyển động dưới tác động của những động lực mới. Đó là: Sự gia tăng nhu cầu nhập học, việc đa dạng hoá các loại trường và nguồn cung ứng, hợp tác giữa các nhà truờng và liên kết mạng, nhu cầu học tập suốt đời, tác động của công nghệ thông tin và truyền thông, trách nhiệm xã hội của các trường đại học, sự thay đổi trong vai trò của Chính phủ.  Về cơ bản các động lực trên là biểu hiện cụ thể của một thế giới toàn cầu hoá trong giáo dục đại học. Theo cách nói của T. Friedman, đó là một thế giới phẳng trong đó các rào cản về địa lý, kinh tế và chính trị đang lần lần được dỡ bỏ. Thế giới phẳng này cũng đang làm “phẳng hoá” giáo dục nghĩa là tạo ra một sân chơi giáo dục bằng phẳng, liên kết mạng, nơi mọi người đều có thể học hỏi, trau dồi kiến thức, phát triển kỹ năng, và mọi quốc gia, tổ chức đều có thể tham gia cung ứng giáo dục, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh bình đẳng.  Vì thế, hợp tác quốc tế về giáo dục đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, cao hơn và phức tạp hơn. Đó là hội nhập quốc tế về giáo dục.  Các thách thức và cơ hội của tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đã được phân tích nhiều trong các diễn đàn, hội thảo và tài liệu nghiên cứu, quốc tế cũng như trong nước. Vấn đề là từ những phân tích đó, mỗi quốc gia cần tìm ra cho mình các chính sách và chiến lược cần thiết để giáo dục đại học thực hiện được tốt nhất sứ mệnh của mình trong việc sản sinh, truyền bá và áp dụng tri thức, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Điều này đã được đặt ra ở nước ta trong Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, nhưng chưa được quan tâm đúng mức.  Bài viết này sử dụng phương pháp kịch bản, là phương pháp đang được sử dụng trong nghiên cứu về các tương lai của giáo dục, để đề xuất một tiếp cận về chiến lược phù hợp với hiện trạng và định hướng phát triển của giáo dục đại học Việt Nam.     2. Quốc tế hoá giáo dục   Ngày nay, trong các tranh cãi không ngã ngũ về toàn cầu hoá, vẫn chí ít có một sự thống nhất chung về nhận định. Đó là việc coi toàn cầu hoá như một quá trình không thể đảo ngược. Tuy nhiên đó là quá trình định hướng được và cần phải định hướng vì sự phát triển bền vững của từng quốc gia cũng như toàn thế giới.  Yêu cầu định hướng đối với tiến trình toàn cầu hoá thuộc phạm vi chính sách phát triển của từng quốc gia trên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, quốc tế hoá giáo dục là một xu thế mới trong chính sách phát triển giáo dục ở các nước nhằm góp phần định hướng tiến trình toàn cầu hoá.  Quốc tế hoá giáo dục là quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục trong đó các yếu tố quốc tế và liên văn hoá được tích hợp vào chức năng, nhiệm vụ, cách cung ứng và tiến trình  tổ chức thực hiện giáo dục. Quá trình này hiện đang diễn ra chủ yếu thông qua sự dịch chuyển xuyên biên giới của bốn nhân tố cơ bản: Người học, nhà giáo, chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục. Sự dịch chuyển này có một tên gọi riêng là giáo dục xuyên biên giới.  Giáo dục xuyên biên giới trong mười năm gần đây phát triển mạnh mẽ và mang hai đặc trưng cơ bản: 1/ bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới vốn có từ lâu của người học và nhà giáo, đã hình thành và tăng cường việc dịch chuyển xuyên biên giới của chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục; 2/ bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế phi thương mại (thông qua hợp tác quốc tế với các dự án ODA và liên kết đào tạo) đã hình thành và phát triển sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế thương mại.  Hai cơ chế này có quan hệ mật thiết với hai tổ chức quốc tế hàng đầu trong tiến trình quốc tế hoá giáo dục. Đó là UNESCO và WTO.  UNESCO là tổ chức giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông của Liên Hiệp Quốc với 193 nước thành viên. Quan điểm cơ bản của UNESCO coi giáo dục là một quyền lợi cơ bản của con người và bất kỳ ai, trên cơ sở xứng đáng, cũng có quyền tiếp cận giáo dục đại học. Trong bối cảnh quốc tế hoá giáo dục, UNESCO có nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước, thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới không nhằm mục đích lợi nhuận. Văn bản pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ này của UNESCO là Tuyên bố thế giới về giáo dục đại học cho thế kỷ XXI và các Công ước UNESCO về công nhận văn bằng.  WTO là tổ chức thương mại thế giới hiện có 153 nước thành viên. Quan điểm cơ bản của WTO coi giáo dục là một trong 12 ngành dịch vụ khả mại (tradable service) thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS; dịch vụ này cần được từng bước tự do hoá thương mại trên cơ sở đàm phán. Cũng giống như UNESCO, GATS có nhiệm vụ đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá giáo dục. Điều khác biệt cơ bản là ở chỗ, GATS hướng tới việc thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới nhằm mục đích lợi nhuận.  Rất nhiều nước hiện nay vừa là thành viên của UNESCO, vừa là thành viên của WTO. Các nước đó chấp nhận cả hai cơ chế giáo dục xuyên biên giới: có lợi nhuận và không lợi nhuận. Thực ra, dù có chính thức chấp nhận hay không thì cả hai cơ chế hoạt động này đã trở thành một hiện thực. Vấn đề là tìm mối quan hệ tối ưu giữa hai cơ chế để giáo dục  thực hiện được sứ mệnh của mình theo mục tiêu cụ thể và lâu dài của từng nước.     3. Hiện trạng hội nhập quôc tế về giáo dục ở Việt Nam  Việt Nam đã có những bước đi chủ động trong hội nhập giáo dục, tiếp nhận giáo dục xuyên biên giới theo cả hai cơ chế: không lợi nhuận và có lợi nhuận. Trong bốn phương thức cung ứng dịch vụ giáo dục theo quy định của GATS, giáo dục nước ta hiện đã mở cửa cho cả bốn phương thức: cung ứng xuyên biên giới, tiêu thụ ngoài nước, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân.  Về cung ứng xuyên biên giới: Phương thức này bao gồm đào tạo theo chương trình liên kết, đào tạo theo chương trình nhượng quyền (franchise), và đào tạo qua mạng. Đào tạo theo chương trình liên kết đã phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian qua; đào tạo theo chương trình nhượng quyền bước đầu được thực hiện qua các chương trình tiên tiến; đào tạo qua mạng đang diễn ra tự phát, chưa có quy định pháp lý. Nhìn chung các chương trình liên kết và chương trình nhượng quyền đều được thẩm định nghiêm túc trước khi đưa vào chính thức sử dụng. Tuy nhiên, điểm yếu cơ bản của chúng ta vẫn là những bất cập trong việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục và đánh giá, kiểm định chất lượng thực hiện chương trình giáo dục. Ngoài ra, cần chú ý đến một số khuynh hướng mới sau: chương trình liên kết đang mở rộng phạm vi từ giáo dục đại học sang cả giáo dục mầm non và phổ thông; ngoài việc nhập khẩu chương trình giáo dục, có việc tăng cường nhập khẩu sách giáo khoa và giáo trình nước ngoài; hiện tượng chương trình liên kết chui; tình trạng kéo dài về sự thiếu vắng chủ trương, chính sách rõ ràng trong giáo dục qua mạng.  Về tiêu thụ ngoài nước: Châu Á hiện là khu vực gửi sinh viên du học nước ngoài nhiều nhất (43% tổng số), tiếp đến châu Âu (34%), châu Phi (12%), Bắc Mỹ (7%), Nam Mỹ (3%), châu Đại Dương (1%). Trung Quốc, kể cả Hồng Kông, có số sinh viên du học nhiều nhất (10%), rồi đến Hàn Quốc (5%), Ấn Độ (4%), Nhật (4%), Thổ Nhĩ Kỳ (3%), Malayxia (2%); du học sinh của Indonesia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam gộp lại chiếm 5% tổng số[1]. Vấn đề cơ bản thường được lưu ý đối với phương thức cung ứng giáo dục này là hiện tượng chảy máu chất xám. Tuy nhiên, còn một số vấn đề khác không kém phần quan trọng như chảy ngoại tệ, chất lượng giáo dục, sự công nhận văn bằng, khả năng hội nhập với văn hoá trong nước sau du học…Các báo cáo hiện nay của chúng ta về cơ bản đưa ra một cái nhìn tích cực đối với du học trên các phương diện tỷ lệ sinh viên trở về nước, khả năng tìm việc làm và thăng tiến trong công việc. Tuy nhiên, du học ở nước ta mới chỉ mở rộng và phát triển trong vòng 5-6 năm nay. Các tác động của nó thường chỉ thấy rõ sau khoảng 10 năm và có liên quan chủ yếu đến công tác quản lý, chất lượng và hiệu quả của du học tự túc, việc thu hút lưu học sinh về nước, khả năng giữ chân họ với điều kiện và môi trường làm việc trong nước. Vì vậy rất cần những nghiên cứu và đánh giá dự báo, nhất là trong tình hình các nước phát triển có chính sách công khai nhằm thu hút người tài và nhân lực trình độ cao, còn du học sinh trở về nước lại cảm thấy khó khăn và hẫng hụt trong việc phát huy năng lực.  Về hiện diện thương mại: Từ năm 2000, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp lý khuyến khích sự hiện diện thương mại của các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài theo cơ chế vì lợi nhuận và không vì lợi nhuân, dưới các hình thức văn phòng đại diện, cơ sở liên kết và cơ sở 100% vốn nước ngoài. Mặt tích cực của nó là đã thúc đẩy tiến trình đa dạng hoá giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của một bộ phận người học thuộc các gia đình có thu nhập cao, khuyến khích sự du học tại chỗ. Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề đang được đặt ra đối với phương thức cung ứng giáo dục này, nhất là khi phương thức này sẽ được mở cửa không hạn chế theo cam kết về GATS của Việt Nam đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác. Trước hết là vấn đề thể chế: ngoài các quy định của GATS phải xử lý cho phù hợp như quy tắc tối huệ quốc, quy tắc đối xử quốc gia, quy tắc tuần tự tự do hoá, quy tắc minh bạch…, cần đặc biệt chú trọng đến những quy định về điều kiện thành lập trường, cấp phép, tuyển sinh, chương trình đào tạo, quá trình đào tạo, công nhận văn bằng, kiểm toán, kiểm định, thu nhập, lợi nhuận, thuế. Tiếp nữa là vấn đề quản lý: phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sự thông thoáng về thủ tục hành chính với sự chặt chẽ trong chất lượng và hiệu quả quản lý, đặc biệt tập trung vào quản lý chất lượng. Những vấn đề về bảo vệ người học, chống gian lận thương mại, giữ gìn và bảo vệ văn hoá truyền thống cũng cần đặc biệt quan tâm.  Về hiện diện thể nhân: Luật pháp Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi học thuật; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện để người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài giảng dạy, hợp tác, chuyển giao công nghệ giáo dục ở Việt Nam. Thực tế, thời gian qua, các nhà giáo dục nước ngoài và Việt kiều đã có sự đóng góp đáng kể trong tiến trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả mới diễn ra chủ yếu trong khung cảnh hợp tác quốc tế, theo lôgic phi thương mại. Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động này nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đóng góp của người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài trong việc phát triển giáo dục, cần chú trọng tới những vấn đề nẩy sinh khi nước ta mở cửa để đón sự hiện diện thể nhân của các nhà giáo dục nước ngoài theo cơ chế thương mại.     4. Chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục  Để đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, một trong những nhiệm vụ và giải pháp được quy định trong NQ 14/2005/NQ-CP là “xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam thực hiện các hiệp định và cam kết quốc tế”[2].  Hơn 20 năm qua, giáo dục đại học Việt Nam nói riêng, giáo dục Việt Nam nói chung, đã trong tiến trình đổi mới liên tục. Tuy nhiên, như Đại hội Đảng X đã nhận định, cách đổi mới còn mang tính chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Vì vậy, tháng 2 năm 2007, HNTW 4 (khoá X) đã ra Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, trong đó yêu cầu: “Khẩn trương xây dựng đề án tổng thể cải cách giáo dục-đào tạo nghề, từ nội dung, chương trình đến phương pháp dạy và học, chế độ thi cử; chú trọng đào tạo ngoại ngữ, tin học, luật pháp quốc tế, kiến thức và kỹ năng hành chính; đào tạo và đào tạo lại giáo viên đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có chất lượng cao”.  Mới đây, trong Thông báo 242/TB-TW ngày 15/4/2009, Bộ Chính trị tái khẳng định sự cần thiết thực hiện chủ trương cải cách giáo dục như đã được nêu tại các NQTW 4, 7 và 9 (khoá X).  Cải cách giáo dục là bài toán lớn của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc phát biểu cụ thể bài toán này có liên quan mật thiết đến chủ trương chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập, phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh CNH và HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, như đã được chỉ ra trong các Nghị quyết Trung ương.  Việc xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, phải được coi là bộ phận hợp thành của đề án cải cách giáo dục. Nó phải xuất phát từ chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động và tích cực hội nhập để phát triển giáo dục phục vụ đắc lực việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Vì thế có thể bước đầu xác định mục tiêu của chiến lược hội nhập này là: Huy động mạnh mẽ các nguồn lực để phát triển giáo dục, từng bước chuyển sang mô hình giáo dục mở, với ưu tiên hàng đầu trong đào tạo nhân lực, nhân tài và nâng cao chất lượng, xây dựng nền giáo dục hiện đại, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.     Vấn đề đặt ra là cần có chính sách và giải pháp như thế nào để thực hiện mục tiêu trên.  Trong bức tranh tổng thể, như đã trình bày ở trên, về xu thế thương mại trong quốc tế hoá giáo dục và hiện trạng hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam, cần lưu ý là Việt Nam đã có những cam kết khá sâu và rộng về GATS trong giáo dục. Theo đó, ta mở cửa cho sự hiện diện thương mại của các nhà đầu tư nước ngoài trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác đối với các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ. Nói cách khác, nếu trước khi vào WTO, xu thế chủ đạo trong hội nhập quốc tế của Việt Nam là hợp tác quốc tế về giáo dục (theo cơ chế phi thương mại), thì sau khi vào WTO, sẽ phát triển một xu thế mới, bổ sung và tranh chấp với xu thế trên, đó là xu thế thương mại dịch vụ giáo dục.  Sự tồn tại đồng thời, vừa hợp tác vừa cạnh tranh, của hai xu thế đó là đặc trưng nổi bật, chi phối sự vận động của giáo dục Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Sự khôn ngoan về chính sách và giải pháp trong chiến lược hội nhập là làm thế nào khai thác được mặt tích cực của từng xu thế, tạo điều kiện để cả hai bổ sung cho nhau, cùng trở thành động lực phát triển.  Muốn vậy, trước hết trên cơ sở phân tích SWOT, có thể thấy một số đặc trưng chủ yếu liên quan đến giáo dục Việt Nam như sau:    Cơ hội: Đất nước đã có vị thế mới trên trường quốc tế; hội nhập kinh tế quốc tế vững chắc; tăng tr­ưởng kinh tế cao; giáo dục Việt Nam đứng trước yêu cầu và điều kiện phát triển chưa từng có về quy mô, cơ cấu và chất l­ượng nguồn nhân lực;  Thách thức: Việt Nam tuy đã thoát khỏi cái bẫy của nước thu nhập thấp nhưng trình độ kinh tế vẫn lạc hậu, tăng trưởng chưa bền vững; phân tầng xã hội và chênh lệch vùng miền chư­a thu hẹp; nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế kéo theo nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục;  Điểm mạnh: Hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đem lại thế và lực mới cho giáo dục Việt Nam với hệ thống quan điểm chỉ đạo, chủ trư­ơng, chính sách phù hợp; hệ thống giáo dục quốc dân t­ương đối hoàn chỉnh và phát triển rộng khắp trong toàn quốc; hợp tác quốc tế về giáo dục phát triển mạnh mẽ, vững chắc và có hiệu quả;  Điểm yếu: Môi tr­ường pháp lý về giáo dục thiếu hoàn chỉnh; công tác quản lý giáo dục không theo kịp sự phát triển của thực tiễn hội nhập quốc tế về giáo dục; năng lực cạnh tranh yếu ở cả 3 cấp độ: quốc gia, nhà trư­ờng, dịch vụ giáo dục.       5. Các kịch bản khả dĩ  Hiện nay, trong xây dựng chiến lược giáo dục, người ta đặc biệt quan tâm đến phương pháp kịch bản[3]. Nếu phương pháp truyền thống thường chỉ giới hạn vào cách nhìn cổ điển coi tương lai giáo dục là sự kéo dài, ngoại suy của quá khứ giáo dục thì phương pháp kịch bản đem đến một cách nhìn mới: tương lai giáo dục có thể là sự phát triển theo kiểu phân nhánh, đứt đoạn, hoặc nhảy vọt. Do đó phương pháp kịch bản kết hợp cả lôgic và trí tưởng tượng để đưa ra “câu chuyện” về các tương lai khả dĩ của giáo dục. Nó là công cụ góp phần khắc phục khiếm khuyết cơ bản trước đây trong phương pháp xây dựng chiến lược là phương pháp ngoại suy. Nó kích thích tranh luận, khơi gợi tư duy và cách nhìn mới, và nhờ vậy mở rộng phạm vi lựa chọn trước khi đi đến quyết định chiến lược.  Về lý thuyết, có thể xây dựng vô vàn kịch bản giáo dục. Tuy nhiên, để đảm bảo tính tương thích và nhất quán của kịch bản, cần có phương pháp tiếp cận khoa học. Phương pháp này đến nay vẫn trong giai đoạn định hình. Theo đó, giáo dục được đặc trưng bởi những tham biến khác nhau và được mô tả như một không gian nhiều chiều. Mỗi kịch bản giáo dục sẽ là một đa tạp trong không gian đó.  Thông thường, để đơn giản, người ta mô tả giáo dục trong một không gian hai chiều. Vấn đề là chọn ra hai chiều đó. Cụ thể, trong phần tiếp đây, liên quan đến chiến lược hội nhập, sẽ chọn hai chiều đo là: 1/ phương thức hội nhập quốc tế về giáo dục, 2/ mô hình tổ chức hoạt động giáo dục.  Theo chiều đo 1, như đã trình bày ở trên, phương thức hội nhập quốc tế về giáo dục ở nước ta đang có sự dịch chuyển từ hợp tác quốc tế (với cơ chế phi thương mại) sang thương mại dịch vụ giáo dục (theo quy định của GATS).   Theo chiều đo 2, căn cứ định hướng quy định bởi Đại hội Đảng X, chúng ta “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học”[4]. Điều đó dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tổ chức và hoạt động giáo dục: hệ thống giáo dục chuyển từ đóng sang mở; đối tượng học tập không còn giới hạn trong phạm vi tuổi trẻ mà mở rộng sang mọi lứa tuổi; tâm lý học lên đại học được thay bằng tâm lý học suốt đời; giáo dục ứng thí được thay thế bằng giáo dục đáp ứng nhu cầu cá nhân và yêu cầu xã hội; giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy đan xen, thâm nhập lẫn nhau và đều có cơ chế để đi tới văn bằng.  Căn cứ theo hai chiều đo đó, có thể xây dựng một ma trận hai hàng hai cột với bốn kịch bản như trong bảng dưới đây.  Có thể nói trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục của Việt Nam được mô tả chủ yếu bởi kịch bản 1 với phương thức hợp tác quốc tế là chính trong một hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức cứng nhắc, không sẵn sàng trong việc đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Trong những năm gần đây, với việc mở cửa cho việc thành lập các trường có yếu tố nước ngoài hoạt động vì mục đích lợi nhuận, bức tranh hội nhập quốc tế giáo dục ở Việt Nam có thể được mô tả bổ sung phần nào bằng kịch bản 2.                    Hợp tác quốc tế về giáo dục      Thương mại dịch vụ giáo dục          Mô hình giáo dục đóng         KB1.Cung không đáp ứng cầu giáo dục. Chế độ tuyển sinh nặng nề; chương trình giáo dục cứng nhắc; vai trò KTXH của nhà trường mờ nhạt. Cơ hội chọn trường hầu như không có. HTQT góp phần đa dạng hoá và nâng cao chất l­ượng giaó dục. Tuy nhiên giáo dục hướng tới sự đơn nhất, các trường nghĩ và làm như nhau. Cạnh tranh là không cần thiết và không được khuyến khích. Chất luợng và hiệu quả chuyển biến chậm.         KB2.Có tiến bộ trong khắc phục cung- cầu.  Người học có thêm cơ hội trong việc lựa chọn trường học. Bên cạnh sự đa dạng của hệ thống trường lớp và chương trình giáo dục, xuất hiện yếu tố cạnh tranh. Nhà trường được nhiều quyền tự chủ hơn. Chương trình giáo dục và vai trò KTXH của nhà trường được chú trọng hơn. Chất lượng giáo dục có sự chuyển biến tích cực. Gia tăng s­ự phân tầng, mất công bằng xã hội trong hệ thống và ngư­ời học. Bên cạnh đó là nguy cơ chảy máu chất xám và gian lận thương mại.          Mô hình giáo dục mở         KB3. Có sự thay đổi cơ bản trong đối tượng học, tâm lý học, mục đích học, cách học. Hệ thống giáo dục được tái cơ cấu triệt để cùng với sự phát triển của thị trường lao động. Tuy nhiên, mô hình rất khó thực hiện vì đòi hỏi nguồn lực lớn, hạ tầng phát triển, quản lý hiện đại. HTQT về giáo dục vẫn chỉ giới hạn trong việc góp phần khắc phục các yếu kém về quản lý và chất lư­ợng giáo dục. Cơ chế chủ đạo là hợp tác. Nguồn lực con người và tài chính để xây dựng hệ thống giáo dục mở bị hạn chế. Hệ thống giáo dục mở hình thành chậm         KB4. Mô hình giáo dục mở không chỉ giới hạn trong hệ thống giáo dục quốc dân mà mở rộng thành mạng l­ưới toàn xã hội. Có sự gắn kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp trong cung ứng giáo dục. Cơ chế cạnh tranh là chủ đạo và tạo nên sự đa dạng trong tổ chức và hoạt động giáo dục. Người học đ­ược nhiều quyền hơn trong việc lựa chọn trường học, cách học, chương trình học. Nguồn lực để xây dựng hệ thống giáo dục mở được huy động mạnh mẽ từ thị trường. Hệ thống giáo dục mở hình thành nhanh hơn. Kèm theo đó là nguy cơ chất lượng không đảm bảo và gia tăng mất công bằng xã hội.             Căn cứ vào 4 kịch bản nêu trên, có thể hình dung phương hướng phát triển trong hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam theo nhiều phương án: Giữ nguyên kịch bản 1, hoặc chuyển sang kịch bản 2, 3, 4, hoặc một kịch bản trung gian nào đó.  Với những khó khăn về nguồn lực và năng lực, chắc rằng trong những năm tới, kịch bản 1 vẫn giữ vai trò chính trong hội nhập quốc tế về giáo dục của Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực thi cam kết về GATS trong giáo dục buộc phải triển khai kịch bản 2 và tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng sẽ đưa dần kịch bản này lên vị trí không kém phần quan trọng so với kịch bản 1. Cả hai kịch bản đều giúp bổ sung nguồn lực để phát triển giáo dục theo hướng hiện đại, bao gồm nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Hai kịch bản này cũng có khả năng bổ sung cho nhau để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu theo những chiều đo khác nhau của giáo dục: ưu thế trong hợp tác quốc tế về giáo dục là ở các chiều đo nâng cao năng lực quản lý, bảo đảm chất lượng, giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục; thương mại dịch vụ giáo dục cũng có khả năng mở ra nhiều cơ hội mới trong phát triển, nhưng do lôgic thương mại, ưu thế của nó chủ yếu là ở việc nâng cao quy mô và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trường lao động.  Hai kịch bản này sẽ song song tồn tại trong tiến trình hội nhập quốc tế giáo dục của Việt Nam, cùng góp phần đưa giáo dục Việt Nam từng bước tiến lên hiện đại, chuyển sang mô hình giáo dục mở. Như vậy, với tầm nhìn 10-15 năm tới, chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục của nước ta sẽ là một chiến lược với cả hai kịch bản 3 và 4 để bổ sung cho nhau trong việc xây dựng hệ thống giáo dục mở.  Nói cách khác, chính sách cơ bản trong chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục của Việt Nam sẽ là ưu tiên hợp tác quốc tế về giáo dục, đồng thời chủ động và tích cực tham gia thương mại dịch vụ giáo dục.     6. Ưu tiên hợp tác quốc tế về giáo dục  Đến nay, trong 153 nước thành viên của WTO, mới chỉ có 51 nước cam kết về tự do hoá thương mại dịch vụ giáo dục theo quy định của GATS. Trong nhận thức chung của xã hội dân sự và ngành giáo dục, ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, giáo dục vẫn được coi là một lợi ích công. Vì thế, tuy dòng chẩy giáo dục xuyên biên giới trong hơn thập kỷ vừa qua có phân nhánh mới theo cơ chế thương mại, nhưng chủ lưu hiện nay và trong nhiều năm tới vẫn là hợp tác quốc tế về giáo dục, theo lôgic chia sẻ tri thức, kinh nghiệm, cùng xây dựng và phát triển không gian giáo dục chung, không vì mục đích lợi nhuận.  Với những điểm mạnh và điểm yếu hiện có của giáo dục như đã nêu trên, Việt Nam cần có chính sách ưu tiên hợp tác quốc tế về giáo dục trong chiến lược hội nhập. Mục tiêu của chính sách này là tăng cường hợp tác quốc tế theo quy định của Luật Giáo dục 2005, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên là nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực hợp tác và cạnh tranh.  Bên cạnh các hoạt động truyền thống như phát triển các quan hệ song phương và đa phương, đẩy mạnh liên kết đào tạo, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, thu hút và phát huy sự đóng góp của các chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, cần đặc biệt chú ý đến những hoạt động mới đang được sử dụng làm đối trọng trước sức ép của cơ chế thương mại trong giáo dục.  Trên phạm vi thế giới, UNESCO hiện là cơ quan đầu mối và đi đầu trong nhiều hoạt động và sáng kiến nhằm duy trì học tập là một quyền lợi cơ bản của con người, bảo đảm để giáo dục là một lợi ích công toàn cầu. Riêng trong giáo dục đại học, lĩnh vực đang đứng trước xu thế thương mại hoá mạnh nhất,  Thông cáo ngày 8/7/2009 của Hội nghị thế giới về giáo dục đại học khẳng định “giáo dục đại học, với tư cách là một lợi ích công, là trách nhiệm của tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan, đặc biệt là các chính phủ”[5]. Vì thế UNESCO – với tư cách là labô của các ý tưởng, tác nhân của hợp tác quốc tế, nhà thiết lập chuẩn mực, người xây dựng năng lực, nơi cung cấp thông tin –  tuyên bố giành ưu tiên cho giáo dục đại học trong các chương trình và ngân sách hoạt động của mình.   Chương trình UNITWIN/UNESCO Chairs với mục đích hỗ trợ phát triển các trường đại học, thu hẹp khoảng cách về tri thức giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, đã thu được những kết quả khích lệ trong hơn một thập kỷ qua và đang tiếp tục mở rộng mạng lưới UNITWIN để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu của các trường đại học ở các nước đang phát triển. Sáng kiến “Trí thức không biên giới” (Academics without borders), “Tình nguyện viên đại học” (University Volunteers Scheme) có tác dụng thu hút các học giả đã về hưu, kể cả các học giả trẻ nhiệt huyết, các học giả bản xứ đang ở nước ngoài, góp sức để nâng cao chất lượng giáo dục, tiếp nguồn chất xám cho các nước đang phát triển.  Đáng quan tâm là Chương trình toàn cầu về hợp tác và phát triển trong giáo dục đại học do UNESCO khởi xướng. Sự hội tụ trong giáo dục đại học trên cơ sở hợp tác quốc tế về giáo dục là mục tiêu cao cả mà chương trình này hướng tới. Tính khả thi của chương trình được minh chứng bởi việc triển khai và mở rộng tiến trình Bologna nhằm xây dựng một không gian giáo dục đại học châu Âu thống nhất trong đa dạng. “Toàn cầu hoá là một quá trình bên ngoài thúc đẩy giáo dục đại học và nghiên cứu trở thành toàn cầu. Ngày nay thách thức cơ bản là bảo đảm rằng không gian nghiên cứu và giáo dục đại học thế giới vẫn bảo tồn được tính đa dạng, loại bỏ sự đơn nhất và được sử dụng như một lợi ích chung toàn cầu đích thực. UNESCO kêu gọi tất cả các đối tác cùng theo đuổi nỗ lực này nhằm góp phần triển khai Tuyên bố của Hội nghị thế giới về giáo dục đại học”[6].  Ở phạm vi khu vực, có thể coi “Tuyên bố chung Thăng Long- Hà Nội về không gian giáo dục ASEAN” là một tuyên bố Bologna của khối ASEAN. Tuyên bố này do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đọc tại lễ bế mạc Diễn đàn giáo dục ASEAN 2007, tổ chức ngày 23/11/2007 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, và được các đại biểu nhất trí thông qua, thể hiện nguyện vọng và quyết tâm chính trị của các nước thành viên trong việc xây dựng một không gian giáo dục ASEAN thống nhất trong đa dạng. Hiện nay, một khung chương trình đang được bàn thảo để hướng tới việc hình thành một không gian chung của giáo dục đại học ASEAN vào năm 2015[7]. Mục tiêu này đang bị coi là quá lãng mạn, khó khả thi, tuy nhiên lợi ích cho từng quốc gia và cả khối ASEAN sẽ là rất lớn trong quá trình thực hiện chương trình này. Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách và giải pháp cụ thể để tranh thủ sự hợp tác quốc tế trong khu vực, sớm đưa giáo dục Việt Nam hội tụ về chất lượng và tương đương về văn bằng với trình độ tiên tiến của khu vực.     7. Chủ động và tích cực tham gia thương mại dịch vụ giáo dục  Mặc dù hợp tác quốc tế hiện vẫn được coi là nền tảng trong chính sách quốc tế về giáo dục xuyên biên giới của các nước phát triển nhưng trong vòng hơn chục năm nay xu thế chung là chuyển trọng tâm sang các quan tâm về lợi ích kinh tế và yêu cầu cạnh tranh quốc tế. Vì thế, nhìn chung các nước phát triển có xu hướng xem xét lại chính sách quốc tế hoá giáo dục theo cách tiếp cận nhằm tạo nguồn thu, do đó góp phần biến giáo dục quốc tế thành một thị trường cạnh tranh về nhân tài và nguồn lực. Xu thế chuyển dịch cách tiếp cận nêu trên dẫn đến một đặc trưng mới, nổi bật của giáo dục xuyên biên giới trong thập kỷ vừa qua. Đó là việc chuyển từ viện trợ sang thương mại, được một số nước phát biểu công khai.  Với việc thể chế hoá thương mại dịch vụ giáo dục trong các quy định của GATS, một thị trường giáo dục toàn cầu đã chính thức hình thành. Về mặt lý thuyết, đang còn có rất nhiều tranh cãi về bản chất của thị trường này. Nhưng trên thực tế, ở nhiều nước, đang hình thành một thị trường giáo dục gần đúng, thường được gọi là chuẩn thị trường (quasi-market). Gần đúng, bởi vì một mặt cơ chế cạnh tranh được phát huy để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, mặt khác Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng và quản lý giáo dục để hạn chế các tác động mặt trái của thị trường.  Việc mở cửa thị trường giáo dục theo quy định của GATS đặt Việt Nam trước những cơ hội mới và thách thức mới như đã được phân tích nhiều trong thời gian gần đây[8]. Về cơ bản, có thể nói việc tham gia GATS tự nó không làm cho giáo dục của một nước tốt lên hay xấu đi. GATS chỉ mở ra những cơ hội mới cùng những thách thức mới. Vấn đề đặt ra cho từng nước là nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu của giáo dục nước mình, xây dựng chính sách và giải pháp phù hợp để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức.  Với phân tích SWOT như nêu trên, khi thực thi các cam kết về GATS trong giáo dục, Việt Nam cần chuyển từ thế bị động sang thế chủ động. Nghĩa là cần có chính sách và giải pháp để chủ động và tích cực tham gia thương mại dịch vụ giáo dục. Kịch bản này, tuy trong nhiều năm tới chưa ở vị trí ưu tiên như kịch bản hợp tác quốc tế về giáo dục, nhưng về lâu dài sẽ ngày càng quan trọng và đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt trong tư duy và chiến lược hội nhập. Đó là vì về lâu dài, do xu thế chuyển từ viện trợ sang thương mại, nguồn lực trong hợp tác quốc tế sẽ giảm đi để nhường chỗ cho nguồn lực trong thương mại dịch vụ giáo dục. Như vậy, chúng ta cần có chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài để phát triển mạnh mẽ giáo dục trên các lĩnh vực đã mở cửa; đó cũng chính là các lĩnh vực có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trình độ cao trước yêu cầu hội nhập và phát triển.  Các mục tiêu ưu tiên cần đạt được là phát triển du học tại chỗ, hiện đại hoá giáo dục, góp phần xây dựng mô hình giáo dục mở. Về lâu dài có thể tính đến việc xuất khẩu giáo dục đối với những ngành học mà Việt Nam có thế mạnh.  Với việc chủ động và tích cực tham gia thương mại dịch vụ giáo dục, giáo dục Việt Nam đã chính thức chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục và chuyển sang mô hình cung ứng chuẩn thị truờng.   Bước chuyển này không đột ngột bởi lẽ trước khi vào WTO, như đã phân tích ở trên, chuẩn thị trường giáo dục cũng đã hình thành một cách tự phát và nhỏ bé ở một số cấp học. Điểm khác biệt sau khi vào WTO sẽ là sự phát triển mang tính tự giác của chuẩn thị trường và khả năng phát triển mạnh mẽ của nó ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục người lớn và một số dịch vụ giáo dục khác. Nếu bước chuyển thành công, giáo dục Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, tận dụng được các cơ hội của tiến trình hội nhập để tạo chuyển biến cơ bản về quy mô, chất lượng, hiệu quả trên con đường chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá.     8. Kết luận  Mục đích của bài viết này là nêu lên sự cần thiết và một số nội dung cơ bản của chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam với hai kịch bản. Hai kịch bản này tuy đối lập nhau về cơ chế thực hiện nhưng hoàn toàn có thể “chung sống”và bổ sung cho nhau để tạo điều kiện cho giáo dục nước ta chuyển nhanh chóng, vững chắc và có hiệu quả sang mô hình giáo dục mở. Cùng với bước chuyển này trong mô hình tổ chức giáo dục là bước chuyển của giáo dục nước ta sang mô hình cung ứng chuẩn thị trường.  Cần chú ý rằng trong chuẩn thị trường giáo dục, nhà cung ứng chính là Nhà nước với sự hợp sức của xã hội dân sự và các tổ chức quốc tế giáo dục không vì mục đích lợi nhuận. Bên cạnh đó là các nhà cung ứng giáo dục khác bao gồm các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước. Với xu thế thương mại hoá giáo dục hiện nay, nhiều nhà cung ứng giáo dục sẽ hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Xu thế này được tăng cường với sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư xuyên quốc gia, các tập đoàn giáo dục quốc tế. Khi thực thi các cam kết về GATS trong giáo dục, thị trường giáo dục được mở ra và dưới con mắt của các tập đoàn giáo dục quốc tế thì đó là một thị trường dịch vụ như các thị trường dịch vụ khác.  Vì thế thị trường giáo dục ở mỗi nước sẽ chịu hai lực tác động. Một bên là  tác động của Nhà nước và xã hội dân sự cùng các tổ chức quốc tế phi lợi nhuận  để bảo đảm đó là một chuẩn thị trường. Một bên là tác động của các doanh nghiệp giáo dục trong và ngoài nước để có một thị trường dịch vụ thực sự, hoạt động theo quy luật cung cầu và có lợi nhuận.  Sự có mặt của các tập đoàn giáo dục quốc tế vào thị trường giáo dục quốc gia có khả năng làm thay đổi rất nhiều mối tương quan về lực nói trên. Ngày nay, ở Bắc Mỹ và Tây Âu, đã có những tập đoàn giáo dục dày dạn kinh nghiệm và nổi tiếng như Appolo, IBM, McGraw-Hill, Sylvan, Thomson, Pearson, Prisa, Reed Elsevier, Vivendi…Ở các châu lục khác cũng đang hình thành và phát triển các tập đoàn giáo dục mới như Edunexo (châu Mỹ Latinh), Educor (châu Phi), South Ocean Development Group (châu Á). Như các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp giáo dục quốc tế này đều có mong muốn mở rộng thị trường giáo dục trên phạm vi toàn cầu.  Với quan điểm không có một thị trường giáo dục quốc tế duy nhất mà chỉ có sự tích tụ của các thị trường giáo dục nội địa, các doanh nghiệp giáo dục quốc tế đã đưa ra các bài học chính yếu để thành công trong chinh phục thị trường[9]. Trước hết là phải đánh giá được mức độ phù hợp của thị trường về giá trị chiến lược. Tiếp nữa là xây dựng chiến lược phù hợp để gia nhập thị trường.Và cuối cùng, nhất thiết phải xây dựng được các quan hệ đối tác hữu hiệu trong thị trường nội địa.  Việc tiếp cận thị trường giáo dục nội địa là một công việc lâu dài và phức tạp. Tuy nhiên, với kinh nghiệm dày dạn, tiếm lực kinh tế lớn, năng lực quản lý chuyên nghiệp và công nghệ hiện đại, các nhà đầu tư xuyên quốc gia hiện đặt nhiều hy vọng vào việc chinh phục thành công các thị trường giáo dục nội địa. Dưới tác động của các nhà đầu tư quốc tế  này cùng với sự phối hợp của các nhà đầu tư trong nước hoạt động vì lợi nhuận, dịch vụ giáo dục có nhiều khả năng bị kéo về phía của một thị trường dịch vụ thuần tuý, như bất cứ thị trường dịch vụ nào khác.   Vì vậy khó khăn lớn nhất của Chính phủ trong chiến lược hội nhập với hai kịch bản nêu trên là xây dựng thể chế chuẩn thị trường giáo dục, tức là tạo dựng hành lang pháp lý, chính sách và cơ chế phù hợp để bảo đảm thị trường giáo dục phát huy hiệu quả nhưng vẫn chỉ vận động trong giới hạn của một chuẩn thị trường.         TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] OECD, Internationalization and Trade in Higher Education, Opportunities and Challenges, 2004      [2]  Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020      [3] Think Scenarios, Rethink Education, OECD 2006.      [4]  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, tr 35, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2006      [5] 2009 World Conference on Higher Education: The New Dynamics of Higher Education and Research for Societal Change and Development, Communique 8 July 2009.      [6] UNESCO, Synthesis Report on Trends and Developments in Higher Education since the WCHE (1998-2003), Paris 2003.      [7]  Supachai Yavaprabhas, ASEAN Higher Education Area, Macao 2008      [8] Xem chẳng han Kỷ yếu của Diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới giáo dục đại học VN”, Hà Nội 12/2006      [9]  A Global Education Market? Global Businesses Buiding Local Markets, White Paper by Peter Stokes, Eduventures.com, 2001.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam tụt hạng tại Olympic Toán      Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) cho biết, Việt Nam đoạt 6 Huy chương Đồng tại kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 52, xếp thứ 31/90, là thứ hạng thấp nhất từ trước đến nay của Việt Nam tại sân chơi này.    Kỳ thi Olympic Toán quốc tế (IMO) 2011 được tổ chức tại Hà Lan với sự tham dự của đại diện 90 quốc gia và vùng lãnh thổ.  6 thành viên tham dự đội tuyển Việt Nam là Đỗ Kim Tuấn (Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam), Lê Hữu Phước (Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn – Đà Nẵng), Nguyễn Văn Quý (Trường THPT chuyên Bắc Ninh), Nguyễn Thành Khang (Trường THPT Chuyên Hùng Vương – Phú Thọ), Võ Văn Huy (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Phú Yên) và Nguyễn Văn Thế (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định).  Năm nay, gây xôn xao là trường hợp em Võ Văn Huy, một học sinh nghèo trường huyện ở tỉnh Phú Yên lọt vào đội tuyển. Đây là trường hợp hy hữu khi một học sinh không phải của trường chuyên tỉnh lại lọt vào đội tuyển trong “lịch sử” 35 năm tham dự IMO của Việt Nam.  Năm nay, trong thành phần đội tuyển cũng hoàn toàn vắng bóng học sinh của các trường THPT chuyên ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội, THPT chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội – những đơn vị thường xuyên là chủ lực trong đội tuyển Olympic Toán quốc tế.  Để hình dung rõ hơn về điều này, có thể biết thêm, có năm, cả 6 thành viên đội tuyển đều là học sinh Trường THPT chuyên ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội.  Trao đổi với chúng tôi, trước câu hỏi phải chăng những học sinh xuất sắc nhất (trong môn Toán học ở bậc phổ thông) đã không còn mặn mà với việc đầu tư cho mục tiêu thi IMO, một giáo viên lâu năm kinh nghiệm am hiểu về thi IMO cho biết, cách thức (và mục tiêu) chọn đội tuyển hiện tại có nhiều điều tế nhị.  Năm nay, điểm số cao nhất của đoàn là 21 còn thấp nhất là 17 điểm. Chỉ có một thí sinh đạt được 1 điểm ở câu 6 (câu mặc định là câu khó nhất của đề thi) là Nguyễn Văn Qúy.   Với 6 Huy chương Đồng, đoàn học sinh Việt Nam xếp thứ 31/90, thứ hạng thấp nhất của đội tuyển Việt Nam tại sân chơi IMO từ trước tới nay.  Việt Nam tham dự IMO lần đầu năm 1974 và thường đứng trong Top 10, hầu như ít khi đứng ngoài Top 15. Năm ngoái, Việt Nam xếp thứ 12 trong bảng tổng sắp. Thành tích cao nhất của đội là đứng thứ 3.  Năm nay hai nước ASEAN có thành tích tiến bộ vượt bậc Singapore (đứng thứ 3 trong khi trước đây ít khi lọt vào Top 10) và Thái Lan (đứng thứ 5).  IMO lần thứ 53 dự kiến sẽ được tổ chức tại Argentina vào năm 2012.  10 đội xếp cao nhất tại IMO 2011:  1. Trung Quốc  2. Mỹ  3. Singapore   4. Nga  5. Thái Lan  6. Thổ Nhĩ Kỳ  7. Triều Tiên  8. Đài Loan  9. Romania  10. Iran       Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam và Liên bang Nga: Quan hệ đối tác bền vững      Sau ba chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống LB Nga V.V. Putin và những lần đối thoại trực tiếp của tôi với Bộ trưởng Bộ GD&amp;ĐT Phạm Vũ Luận, tôi rất vui mừng được tiếp xúc trực tiếp với công chúng Việt Nam và chia sẻ một vài suy nghĩ về triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và CHLB Nga trong lĩnh vực giáo dục và khoa học – một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ đối tác chiến lược của hai nước chúng ta.    Hiện nay, tại LB Nga đang có gần 5000 học viên Việt Nam theo học là các ngành kỹ thuật (xây dựng, kiến trúc, chế tạo máy, năng lượng, giao thông), viễn thông, y và các ngành khoa học xã hội (kinh tế, luật, tiếng Nga, văn học), trong số đó có gần 2000 là học bổng nhà nước.   Riêng trong năm 2013, các trường đại học Nga đã tiếp nhận một con số kỷ lục công dân Việt Nam – 661 học viên (năm 2012 là 549 học viên). (Trong quan hệ của Nga với các nước, về mặt này Việt Nam đứng thứ nhất, trừ các nước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập – SNG). Và theo kế hoạch hợp tác với Việt Nam từ nay đến năm 2015, LB Nga sẽ cấp cho Việt Nam 700 học bổng, đến năm 2020 là 1000 học bổng. Ngoài các học bổng nhà nước, người học Việt Nam còn có thể thi để được nhận các học bổng của các doanh nghiệp Việt Nam và Nga, những doanh nghiệp quan tâm đến việc đào tạo tài năng trẻ.        Đã có hơn 30 ngàn chuyên gia,  hàng ngàn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học được  Liên Xô/Nga đào tạo theo  những chuyên ngành quan trọng nhất của Việt  Nam.        Để hiện thực các dự án trọng điểm, trong đó quá trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam, việc hợp tác với Nga  đào tạo các chuyên gia năng lượng hạt nhân, được đặc biệt quan tâm. Hiện nay các sinh viên chuyên ngành năng lượng hạt nhân của Việt Nam đang được đào tạo tại các trường đại học chuyên ngành đạt chuẩn quốc tế của LB Nga – trường Đại học Năng lượng hạt nhân MEIFI (thành phố Obninsk), Đại học Năng lượng Moskva, Đại học Bách khoa Tomsk, Đại học Bách khoa Saint-Peterburg, Đại học Liên bang Viễn đông; đồng thời với việc xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Việt Nam, mối quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực công nghệ cao sẽ còn được phát triển sâu rộng hơn nữa.  Tôi thực sự vui mừng về việc nhiều trường đại học Nga có quan hệ hợp tác với các trường đại học Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: trao đổi sinh viên, cán bộ giảng dạy, quản lý, nghiên cứu khoa học và tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, thể thao, giải trí. Quan hệ hợp tác này có tác động tốt đến việc nâng cao chất lượng đào tạo và là cơ sở vững chắc cho việc giữ vững và phát triển tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta.  Một trong những hướng quan trọng nhất để phát triển mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực khoa học xã hội đó là việc đào tạo các chuyên gia ngôn ngữ tiếng Nga và tiếng Việt. Do vậy tại trường Đại học Liên bang vùng Viễn đông nằm tại thành phố Vladivostok, ngành Việt Nam học đã được thành lập cách đây hơn 30 năm, việc tăng số lượng sinh viên nước ngoài, trong đó có sinh viên Việt Nam, được đặc biệt quan tâm. Hiện nay, với một tổ hợp siêu hiện đại tại đảo Rusky, với cơ sở hạ tầng đạt chuẩn quốc tế dành cho sinh viên, đã được xây dựng, Đại học Liên bang Viễn đông đang có hơn 1000 sinh viên từ 22 nước trên thế giới theo học. Đến năm 2019 con số này sẽ lên tới 7000 sinh viên. Chúng tôi rất hy vọng trong số đó sẽ có nhiều sinh viên đến từ Việt Nam. Đồng thời nhiều trường đại học Nga rất quan tâm đến việc phát triển các chương trình học ngoại ngữ tiếng Nga, kể cả các chương trình đào tạo từ xa.          Sinh viên Việt Nam tại Nga          Trong những năm tới, LB Nga chủ trương đầu tư rất lớn vào việc hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ việc học tiếng Nga tại Việt Nam. Chịu trách nhiệm tiến hành hoạt động này là Viện tiếng Nga mang tên A.S. Puskin. Theo đó, tiếng Nga sẽ là ngôn ngữ thứ hai, sau tiếng Anh, được sử dụng rộng rãi trên internet. Điều này rất có ý nghĩa với ngành công nghiệp du lịch của Việt Nam. Xin được nhắc đến con số khách du lịch Nga vào Việt Nam năm 2012 tăng gấp đôi so với năm trước, và chỉ tính đến tháng 9 năm 2013 lượng khách Nga vào Việt Nam đã tăng thêm 66%, đạt con số trên 200 ngàn người.  Ở những nước như Nga và Việt Nam, tương lai của giáo dục phụ thuộc nhiều vào việc áp dụng các khóa học trực tuyến cho phép tất cả người học tiếp cận một cách tự do, kể cả miễn phí. Những khóa học của những giáo sư Nga danh tiếng mà trước đây chỉ rất ít người có điều kiện được nghe thì giờ đây đã đến với hàng trăm sinh viên, kể cả đang ở nước ngoài. Việc thành lập các cơ sở trực tuyến riêng cũng đã được khởi động ở nước Nga. Trong đó phải kể đến uniweb.ru và eduson.tv. Sắp tới sẽ được khai mạc sân chơi quốc tế “Universarium”. Theo thống kê của chúng tôi, 1/3 số người dân Nga sử dụng máy tính và internet theo cách này hoặc cách khác, để tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong cuộc sống. Tôi nghĩ, ở Việt Nam cũng như vậy, nên chúng tôi dự định phát triển một chương trình học trực tuyến dành cho đối tượng chuẩn bị vào đại học, với mục đích chuẩn bị một cách tốt nhất cho các sinh viên Việt Nam sang Nga học đại học.  Một trong những nhiệm vụ của quan hệ hợp tác của chúng ta là thành lập trường Đại học Tổng hợp Công nghệ Việt-Nga (VRTU) tại Hà Nội. Theo dự kiến, đến năm 2020 trường Đại học Công nghệ Việt-Nga sẽ căn bản hoàn thành những nhiệm vụ trọng điểm. Tại thời điểm này, nhà trường đã bắt đầu hoạt động giảng dạy. Hiện nhà trường đã tuyển sinh hơn 100 sinh viên, đã tiến hành tuyển chọn giáo viên đi thực tập, bồi dưỡng và nâng cao trình độ tại các trường đại học thành viên của LB Nga, ngoài ra, việc cử các giáo sư, giảng viên của các trường ĐH LB Nga đến Hà Nội giảng dạy các bộ môn như điều khiển học, xây dựng, quản trị cũng đã được khởi động. Việc thành lập thành công trường Đại học Công nghệ Việt-Nga sẽ nâng mối quan hệ hợp tác của hai nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo lên một tầm cao chất lượng mới. Chúng ta sẽ cùng nỗ lực để thúc đẩy việc thực hiện dự án rất cần thiết và nhiều triển vọng này.  ***  Tôi không thể không nói đến sự hợp tác rất thành công của các nhà khoa học. Ví dụ đầy thuyết phục cho việc hợp tác này là hoạt động của Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ nhiệt đới Việt –Nga với những thành tựu trong nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ sinh học; trong nghiên cứu độ bền của các thiết bị kỹ thuật quân sự ở điều kiện nhiệt đới, trong y học và môi trường được các chuyên gia trên thế giới đánh giá rất cao; đồng thời với một đội ngũ cán bộ khoa học tài năng, nhiều kinh nghiệm, chúng tôi cho rằng, Trung tâm Nhiệt đới thực sự có nhiều tiềm năng trong việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu mang tính chất toàn cầu cũng như trong khu vực, nơi mà Việt Nam được coi là một trong những nước phát triển nhanh.  Vì vậy tiềm năng của Trung tâm Nhiệt đới cần được khai thác triệt để và có hiệu quả với tất cả các đối tác có nguyện vọng trong lĩnh vực năng lượng, y tế, giao thông, xây dựng hạ tầng cơ sở, nông nghiệp và thu hút không chỉ các trường đại học hàn lâm mà cả các doanh nghiệp của cả hai nước, như các tổng công ty “Rostechnology”, “Rosatom”, công ty liên doanh “Vietsovpetro” v.v… Mô hình này khẳng định tiềm năng to lớn của việc hợp tác giữa các tổ chức nhà nước và doanh nghiệp tư nhân để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Song, để làm được việc đó chúng ta cần có một cơ chế hỗ trợ tài chính và quản lý dự án tại Trung tâm Nhiệt đới.  Chúng tôi mong muốn được mở rộng quan hệ hợp tác không chỉ về phương diện khoa học hàn lâm, mà cả về đầu tư, công nghệ và hỗ trợ công nghiệp. Vì vậy trong 3-4 năm tới, trong hoạt động hợp tác về khoa học và kỹ thuật, chúng tôi muốn tập trung vào việc phát triển các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thông tin truyền thông, công nghệ nano và hiệu quả năng lượng. Trong tương lai, các dự án trong lĩnh vực thăm dò vũ trụ vì mục đích hòa bình, trong lĩnh vực hàng không và giao thông đường sắt, chế tạo máy, công nghiệp mỏ và y tế sẽ là những dự án đầy tiềm năng.   ***  Trong mọi lĩnh vực, vấn đề hợp tác về giáo dục và khoa học giữa hai nước Việt Nam và LB Nga, quan điểm của Nga và Việt Nam đều trùng hợp và được xây dựng trên nguyên tắc cùng trách nhiệm, cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau, do vậy chúng ta dễ dàng tìm được tiếng nói chung và xây dựng được chiến thuật chiến lược phù hợp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội không cần người giỏi, đạo học khó phát triển      GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, nếu kinh tế nước ta chỉ dừng lại ở khai khoáng và gia công, lắp ráp thì các trường vẫn chỉ đào tạo như lâu nay họ vẫn làm. Còn về chính sách nhân lực, nếu tiêu chí tuyển dụng, sử dụng, cất nhắc chỉ xoay quanh mấy chữ “quan hệ”, “tiền tệ”, còn “trí tuệ” xếp chót bảng thì con em chúng ta cũng chẳng cần&#160; học nhiều, học giỏi làm gì.    – Thưa ông, Thủ tướng vừa có công điện yêu cầu các tỉnh thành phải khẩn trương rà soát tình hình, nắm chắc từng trường hợp cụ thể, có giải pháp hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, không để trường hợp học sinh, sinh viên nào phải bỏ học, thôi học vì lý do không có khả năng đóng học phí và bảo đảm cuộc sống tối thiểu. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Với công điện này, rõ ràng Chính phủ đã rất quan tâm đến giáo dục bậc đại học. Tuy nhiên, dư luận xã hội không khỏi lo ngại trong quá trình triển khai thực hiện sẽ  nảy sinh tiêu cực. Quan điểm của ông  vấn đề này thế nào, thưa ông?  Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết:  Chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên đã được Chính phủ triển khai từ nhiều năm nay thông qua hình thức cho vay tín dụng. Công điện của Thủ tướng vừa qua thêm một lần nữa nhắc nhở các địa phương phải thật sự chủ động nắm tình hình đời sống của nhân dân địa phương mình, từ đó  xây dựng kế hoạch hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo để các em có tiền đi học.    Dư luận xã hội vui vì Chính phủ đã quan tâm nhưng lo ngại về khả năng nảy sinh tiêu cực trong quá trình triển khai chính sách. Lo ngại là có cơ sở, vì  trên thực tế  ở không ít địa phương, có những hộ gia đình không nghèo hoặc đã thoát nghèo nhưng vẫn “xin được nghèo” để nhận hỗ trợ của Chính phủ. Dịp Tết Nguyên đán cách đây mới vài năm còn xảy ra tình trạng nhiều địa phương  sử dụng nguồn tiền Chính phủ hỗ trợ người nghèo ăn Tết không đúng đối tượng, không đúng định mức hoặc tiền đến được với người nghèo thì đã qua dịp Tết.    Một lo ngại nữa là học phí của các trường ĐH, CĐ rất khác nhau, trường ngoài công lập thu học phí cao gấp 5, 10, 20 lần trường công lập, quỹ tín dụng nào có thể hỗ trợ học sinh, sinh viên số tiền lớn như vậy? Thậm chí, giả sử quỹ tín dụng dám cho vay thì học sinh, sinh viên nghèo có dám vay không? Vay xong lấy tiền đâu mà trả? Chúng ta biết rằng Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định tăng mức cho vay hỗ trợ học tập lên 860.000 đồng cho học sinh, sinh viên. Với mức hỗ trợ này, có thể nộp học phí ở trường công lập, chứ không thể bước chân vào trường ngoài công lập.   Trong khi các trường công lập có mức học phí giao động từ 4-9 triệu đồng/ năm thì các trường dân lập lại có mức học phí lên tới cả trăm triệu đồng  thậm chí có trường học phí được tính bằng tiền đô như Trường ĐH Tân Tạo (3.000 USD/năm). Thưa ông, vì sao lại có  mức học phí quá chênh lệch như  vậy? Nếu bỏ qua lý do về trang bị cơ sở vật chất, và không được nhận kinh phí từ ngân sách nhà nước thì mức học phí này có hợp lý không và theo ông khoảng bao nhiêu là vừa?   Chính phủ chỉ có thể ấn định khung học phí áp dụng cho các trường công lập. Trường ngoài công lập không bị hạn chế trong việc huy động mức đóng góp của người học vì họ không nhận được kinh phí từ ngân sách nhà nước, phải tự cân đối thu chi. Nhà nước chỉ hỗ trợ họ về đất đai, về thuế trong những trường hợp nhất định, đồng thời hỗ trợ trong đào tạo cán bộ, nếu như cán bộ của họ thi đỗ vào chương trình đào tạo sau đại học của Chính phủ.  Việc thu học phí là  quyền tự quyết của các trường đại học, nhưng Nhà nước quản lý bằng cách yêu cầu các  trường công khai tài chính, công khai cơ sở vật chất và công khai chất lượng đầu ra của trường cho sinh viên và gia đình các em lựa chọn. Còn nếu nói mức học phí như vậy là nhiều hay ít thì rất khó, nó phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và  chương trình đào tạo của nhà trường để sinh viên ra trường có cơ hội tìm được việc làm và cuối cùng là “thương hiệu” (uy tín) của trường đó. Tuy nhiên, mức học phí của nhiều trường ngoài công lập (cao nhất lên tới cả trăm triệu đồng/năm) chắc chắn là không phù hợp với số đông người Việt Nam, vốn chỉ có mức thu nhập trung bình 3-4 triệu đồng/tháng, miền núi thu nhập 1- 2 trăm nghìn đồng/người/tháng.  Muốn con em mình theo học tại những trường này thì phụ huynh phải làm bài toán chọn lựa.  – Với tình hình tài chính khó khăn như hiện nay, việc một gia đình có thu nhập trung bình có thể lo cho con theo học ĐH đã khó, chưa nói đến những gia đình thuần nông. Rõ ràng trong xã hội chúng ta, GDĐH đang có xu hướng lựa chọn sinh viên thay vì sinh viên chọn trường ĐH, thưa ông?    Trên thực tế, đối với một số trường thuộc tốp đầu thì thí sinh nếu chỉ có học lực trung bình thậm chí khá không dễ vào được, còn các trường dân lập ít tên tuổi thì lại “khát” sinh viên. Thậm chí những trường ĐH xuất sắc do Chính phủ mở thông qua hình thức liên kết với nước ngoài cũng không dễ tuyển sinh viên. Theo kết quả giám sát năm 2010 của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng (VHGDTNTNNĐ) của Quốc hội, có trường khóa đầu tiên chỉ  tuyển được 36 sinh viên với mức học phí 15 ngàn USD năm, sau một thời gian theo học, có 8 em bỏ. Ở những trường này thì  trò chọn trường chứ không phải trường chọn trò nữa. Chính vì khó tuyển sinh viên, để duy trì hoạt động, nhiều trường đã tuyển cả những sinh viên chỉ đạt 8- 9 điểm, thậm chí phải đưa ra những biện pháp thu hút sinh viên bằng học bổng, bằng chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài.    Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Uỷ ban  VHGDTNTNNĐ của Quốc hội cho rằng để các trường tự in bằng, cấp bằng là sự đột phá về quyền tự chủ, nếu Luật GDĐH được thông qua. Khi đó sẽ có một hình ảnh mới của GDĐH ở Việt Nam. Theo nhìn nhận của ông thì hình ảnh mới của GDĐH Việt Nam sẽ thế nào sau quyền được tự chủ in bằng, cấp bằng? Và nếu việc này trở thành hiện thực thì liệu có xảy ra tình trạng như Nam Định, Đà Nẵng vừa qua từ chối nhận người tốt nghiệp trường ngoài công lập hoặc người chỉ có văn bằng tại chức làm công chức không?     Tôi không nghĩ đó là ý kiến đầy đủ của GS Đào Trọng Thi. Để GDĐH Việt Nam có một hình ảnh mới, hay nói đúng hơn là để GDĐH có một chuyển biến mới với chất lượng mới thì phải giải quyết được những mối quan hệ lớn, những vấn đề cốt tử trong GDĐH.  Trước hết là phải giải quyết mối quan hệ giữa quy mô đào tạo với chất lượng đào tạo. Năm 96-97 cả nước chỉ có trên 100 trường ĐH, CĐ; nay cả nước đã có trên 450 trường. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Chính phủ còn đặt chỉ tiêu đạt 573 trường vào năm 2020, tức là thành lập 123 trường nữa trong vòng 9 năm. Việc phát triển nhanh quy mô đào tạo có mặt tích cực là đáp ứng được nhu cầu học tập của mọi người nhưng với việc phần lớn các trường không đủ điều kiện đào tạo như hiện nay (cơ sở vật chất thiếu thốn và lạc hậu, số lượng giảng viên thiếu, chất lượng giảng viên yếu – theo Bộ GD&ĐT, từ năm 1997 đến 2008, số sinh viên tăng 13 lần, trong khi số giảng viên chỉ tăng 3 lần), chất lượng đào tạo khó đạt yêu cầu.  Thứ 2 là phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với  đơn vị sử dụng lao động. Có thể thấy rằng chưa có một trường ĐH, CĐ nào, trừ các trường Y, thiết lập được mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các đơn vị sử dụng lao động. Chính vì vậy mới có tình trạng trường ĐH, CĐ cứ đào tạo, còn cơ sở sản xuất, kinh doanh không đặt hàng đào tạo cũng như không hỗ trợ đào tạo, thậm chí ngại không nhận sinh viên về thực tập. Hai bên không thể gặp nhau, dẫn đến tình trạng sinh viên nhiều trường ĐH, CĐ sau tốt nghiệp không tìm được việc làm, buộc phải làm trái ngành nghề được đào tạo, hoặc có tìm được việc làm thì cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất, kinh doanh.  Ở các nước công nghiệp, người ta xử lý mối quan hệ này tốt hơn. Ví dụ, ở CHLB Đức, trường CĐ nghề của họ có chương trình đào tạo hỗn hợp, kết hợp giữa nhà trường (nhà nước) với doanh nghiệp, trong đó nhà trường đóng góp 30% kinh phí tương đương 30% thời lượng giảng dạy lý thuyết; doanh nghiệp hỗ trợ 70% kinh phí tương đương 70% thời lượng thực hành tại doanh nghiệp; thậm chí doanh nghiệp còn có thể trả lương cho sinh viên nếu trong quá trình thực tập sinh viên đáp ứng được yêu cầu của công việc. Hình thức đào tạo này mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên cũng như cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động. Sinh viên thực tập ở doanh nghiệp có thể làm quen với dây chuyền sản xuất, với công nghệ tiên tiến, trong khi nhà trường ở bất cứ nước nào cũng khó có thể có được dây chuyền sản xuất hiện đại như doanh nghiệp, vì đó là lẽ sống của doanh nghiệp. Việt Nam ta nên tham khảo kinh nghiệm này.  Mối quan hệ thứ ba là quan hệ giữa tự chủ của cơ sở với  quản lý nhà nước. Bộ GD&ĐT lâu nay phải bao sân quá nhiều. Từ ban hành chương trình khung, ra đề và tổ chức thi tuyển sinh, duyệt chỉ tiêu tuyển sinh đến duyệt điểm sàn, in ấn và cấp bằng tốt nghiệp. Có thể nói Bộ hoạt động gần như một Ban giám hiệu của cả nước. Nhưng có một nhân tố vào hàng quyết định chất lượng đào tạo là kinh phí và sử dụng kinh phí thì Bộ lại không nắm được. Mỗi năm giáo dục và đào tạo được phân bổ 20% ngân sách nhà nước, song  Bộ GD&ĐT chỉ quản được khoảng 5%, còn lại do các địa phương, các bộ ngành khác quản lý mà không cần báo cáo Bộ. Bên cạnh đó, nguồn ngân sách này không chỉ được chi cho hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến sau ĐH mà còn chi cho các trường của lực lượng vũ trang, các trường chính trị – hành chính để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ cấp xã đến trung ương. GDĐH được khoàng 10 % của tổng số 20 % ngân sách nhà nước; nhưng Bộ GD&ĐT chỉ quản lý có 15% các trường ĐH thôi.  Mối quan hệ thứ 4 cần giải quyết là quan hệ giữa nhà trường với cơ chế thị trường. Trường ĐH, CĐ ngoài công lập có thể hoạt động theo hai nguyên lý khác nhau là hoạt động vì mục đích lợi nhuận và hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Loại trường hoạt động vì mục đích lợi nhuận giống như một công ty cổ phần, trong đó những người góp vốn được chia cổ tức, người có cổ phần lớn có tiếng nói quyết định hơn đối với hoạt động của nhà trường. Loại trường hoạt động không vì mục đích lợi nhuận cũng do tổ chức, cá nhân góp vốn nhưng góp vốn chỉ vì mục đích phát triển giáo dục. Người góp vốn không được chia cổ tức, thậm chí cũng không tham gia hội đồng quản trị mà chỉ bầu ra một hội đồng gồm những người am hiểu giáo dục để quản lý công việc nhà trường. Lợi nhuận hằng năm được tích lũy để trả lương cho giảng viên, nâng cao trình độ giảng viên, cấp học bổng cho sinh viên giỏi, tăng cường cơ sở vật chất, năng lực đào tạo của nhà trường. Gần như toàn bộ các trường ngoài công lập ở nước ta hoạt động vì mục đích lợi nhuận, như một công ty cổ phần. Phân chia quyền lợi không đều thì sinh ra mâu thuẫn. Như vậy rất khó để phát triển. Đáng tiếc là Dự thảo Luật GDĐH đang duy trì tình trạng này.    Quay trở lại trường hợp quyết định của Đà Nẵng từ chối nhận người chỉ có văn bằng tại chức và quyết định của Nam Định từ chối nhận người tốt nghiệp các trường ngoài công lập làm công chức thì theo tôi đây là lời cảnh báo đối với các trường, không chỉ trường ngoài công lập. Là người sử dụng lao động, các địa phương đó và các cơ quan, doanh nghiệp có quyền đưa ra tiêu chí lựa chọn lao động của mình. Các trường phải đào tạo tốt hơn thì mới cải thiện được hình ảnh của mình.  – Vâng, người sử dụng lao động có quyền đưa ra tiêu chí lựa chọn lao động. Nhưng việc cấm học sinh có học lực yếu, học lực trung bình không được dự thi đại học có phải là một phương pháp sàng lọc lao động không, thưa ông?  Việc ngăn cản học sinh có học lực yếu, học lực trung bình dự thi ĐH là không đúng luật. Nhưng cần đặt câu hỏi “Vì sao không mấy ai muốn đi học trường nghề mà tất cả đều lao vào thi ĐH?” Câu trả lời là vì kinh tế nước ta chậm phát triển, thị trường lao động nhỏ hẹp, không có bằng cấp cao khó tìm được việc làm, mà có tìm được việc làm thì cũng khó có thu nhập tạm đủ chi dùng. Phần đông người ta đi học chỉ để lấy tấm bằng tiến thân. Do đó, bao nhiêu năm nay GDĐH không có gì thay đổi, ngay cả Dự thảo Luật GDĐH lần này cũng chưa đưa ra được những quy định có khả năng tạo ra những thay đổi căn bản. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chính sách phát triển kinh tế – xã hội và chính sách nhân lực của ta. Nếu kinh tế nước ta chỉ dừng lại ở khai khoáng và gia công, lắp ráp thì các trường vẫn chỉ đào tạo như lâu nay họ vẫn làm. Còn về chính sách nhân lực, nếu tiêu chí tuyển dụng, sử dụng, cất nhắc chỉ xoay quanh mấy chữ “quan hệ”, “tiền tệ”, còn “trí tuệ” xếp chót bảng thì con em chúng ta cũng chẳng cần  học nhiều, học giỏi làm gì.  Nói tóm lại, một xã hội không cần người giỏi thì đạo học khó phát triển lắm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xã hội không-có-lần-thứ-hai      Hệ thống giáo dục từng giúp cho Hàn Quốc phồn vinh nay đang bắt đầu phải thay đổi.      Kỳ thi quyết định đời người   Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày thi đại học là cả Hàn Quốc tạm dừng hoạt động: Máy bay không cất cánh, văn phòng mở cửa muộn, người đi bộ đứng tránh khỏi lòng đường, cảnh sát túc trực đề phòng tình huống khẩn cấp có thể xảy đến với thí sinh thi. Bộ bài thi trắc nghiệm ngày hôm đó sẽ quyết định tương lai của thí sinh. Những người đạt điểm cao sẽ được vào trường tốt, gần như đảm bảo cho họ vị trí trọn đời tại một chaebol. Thí sinh bị điểm kém thì vào những trường ít tên tuổi, hoặc không vào nổi đại học. Sau đó, họ chỉ được nhận vào những công ty nhỏ kém uy tín hơn và, vì chuyện nhảy việc là điều cấm kỵ ở Hàn Quốc, nên họ rất có thể sẽ ở nguyên đó cho đến hết đời. Thế là chỉ cần điền sai vài chỗ thôi cũng có thể vĩnh viễn bị đẩy ra khỏi tầng lớp trên của xã hội Hàn Quốc.  Việc chú trọng tối đa vào một kỳ thi như vậy mang lại một số lợi thế cho Hàn Quốc. Hệ thống này rất giản tiện: một kỳ thi duy nhất để sàng lọc những thanh niên giỏi giang, chăm chỉ và đẩy họ vào dòng chảy hối hả của xã hội. Cơ chế này khuyến khích những người tài năng: người nghèo mà có tài sẽ vươn được lên cao chỉ bằng cách học hành chăm chỉ. Tầm quan trọng của kỳ thi cũng nhắc nhở trẻ em phải nghe giảng khi đi học và nhắc phụ huynh giám sát con cái làm bài tập về nhà; và điều này lại càng giúp đảm bảo rằng kết quả học tập ở Hàn Quốc đạt tới mức khiến thế giới phải mơ ước. Hàn Quốc gần như dẫn đầu hệ thống chấm điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Năm 2009, họ đứng thứ tư, sau Thượng Hải, Singapore và Hồng Kông nhưng những nơi đó đều là thành phố hơn là một quốc gia đúng nghĩa.          Một khảo sát cho thấy 100% phụ huynh ở Hàn  Quốc muốn con vào đại học. Trên thực tế, có tới 63% người Hàn Quốc trong  độ tuổi 25 đến 34 tốt nghiệp đại học –tỷ lệ cao nhất trong các nước  OECD.         Người dân được đào tạo tốt và cần cù đã tạo ra phép màu kinh tế Hàn Quốc. Khởi đầu từ “chân đất” những năm 1960, họ đã tiến lên thời đại băng thông rộng. Năm ngoái bất chấp suy thoái toàn cầu, Hàn Quốc vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế 6,2%. Trong thời đại kinh tế tri thức, giáo dục quyết định vận mệnh nền kinh tế. Vì vậy, nhờ vào giáo dục mà hệ thống [kinh tế xã hội] của Hàn Quốc đã đạt được những thành công sâu rộng.   Tuy nhiên, cái giá [mà học sinh] phải trả là rất cao. Trước hết, trường trung học đối với các em đúng là địa ngục. Hai tháng trước ngày thi đại học, Kim Min-sung, một học sinh bình thường, không cảm xúc và nhút nhát. Toàn bộ niềm vui dường như đã bị ép kiệt ra khỏi cậu để dành chỗ những gì thực tế hơn. Lớp học ở trường kéo dài từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều, và sau đó, cậu tới thẳng thư viện để học cho tới nửa đêm. Cậu ở đó bảy ngày mỗi tuần. “Mãi cũng quen thôi,” cậu nói mấp máy. Khoảng thời gian vui vẻ nhất của Min-sung là lúc chơi bóng đá với các bạn vào giờ nghỉ trưa. Tất cả học sinh thường tràn ra căng-tin khi chuông [hết giờ] reo và nuốt chửng món mì như sói đói. Chúng cố ăn thật nhanh để có thêm những phút giây tự do hiếm hoi.  Bố mẹ Min-sung bắt cậu dành phần lớn thời gian trong ngày để tập trung lo học hành. Bố cậu, một giáo viên, dạy cậu cách quản lý thời gian: lập một kế hoạch và tuân thủ nó, làm sao học đến mức nhiều nhất có thể nhưng không kiệt sức đến mức gục xuống bàn. Mẹ cậu tiếp sức cho con với những “món ăn ngon” và khuyên nhủ cậu “học thêm nữa, nhưng đừng cố quá.”  Min-sung nói cậu không đặc biệt ham muốn vào đại học. Mơ ước của cậu là trở thành đại diện cho một ngôi sao thể thao, vốn là công việc không cần tới bằng đại học. Tuy nhiên, cậu phải miễn cưỡng chấp nhận thực tế là ở Hàn Quốc, “không thể kiếm được việc nếu không có bằng đại học.”  Một khảo sát của hãng môi giới chứng khoán CLSA cho thấy 100% phụ huynh ở Hàn Quốc muốn con vào đại học. Trên thực tế, có tới 63% người Hàn Quốc trong độ tuổi 25 đến 34 tốt nghiệp đại học – tỷ lệ cao nhất trong các nước OECD. Kể từ năm 1995, tỷ lệ người Hàn Quốc vào đại học đã tăng tới 30%, đạt mức 71% vào năm 2009. Kết quả này có vẻ ấn tượng, nhưng dường như không phải tất cả thanh niên Hàn Quốc ra trường đều được hưởng lợi thực sự từ tấm bằng đại học hơn là đi học nghề. Một khảo sát hồi tháng Tám [năm 2011] phát hiện ra rằng có tới 40% sinh viên không tìm được việc trong 4 tháng đầu tiên sau khi ra trường.           Các chaebol chỉ tuyển người theo học các  trường danh giá –  nghĩa là họ có thể để mất những người tài nhưng lại  không giỏi chuyện thi cử, cũng như những người phát triển muộn, tài năng  chỉ đạt độ chín ở độ tuổi ngoài 20 hoặc ngoài 30 trở đi.         Tình trạng thất nghiệp cho thấy sự hy sinh to lớn về tài chính đối với phần lớn các gia đình cho việc học hành của con cái đã không đem lại kết quả tương xứng. Học phí đại học vốn không rẻ, và nỗ lực ôn luyện vào đại học cũng vô cùng tốn kém. Các phụ huynh thường tìm mọi cách để giúp con qua được kỳ thi quyết định đời người. Nhiều người gửi con tới các lò luyện thi tư nhân, được gọi là hagwon, sau giờ học ở trường. Các gia đình ở Seoul chi tới 16% thu nhập cho việc thuê gia sư.  Cho một đứa con theo học “lò” 1.000 USD mỗi tháng đã là khó. Nuôi ba đứa con cùng học như vậy thì thật phi thường. Các bậc cha mẹ bị cuốn vào cuộc chạy đua vũ trang. Những người chỉ có một con sẽ chịu được chi phí cao và họ đẩy giá của những “lò” tốt nhất lên. Điều này khiến các gia đình khác càng có lý do để sinh ít con hơn.  Kể từ năm 1960, tỷ lệ sinh con ở Hàn Quốc đã giảm, có lẽ là nhanh hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, từ mức 6 trẻ em trên mỗi phụ nữ xuống chỉ 1,15 vào năm 2009. Đó chính là một cảnh báo cho một sự sụp đổ về nhân khẩu. Nếu mỗi phụ nữ Hàn Quốc chỉ có một con thì mỗi thế hệ sau sẽ chỉ có quy mô bằng một nửa thế hệ trước đó. Hàn Quốc sẽ già cỗi và suy yếu đi.  Cũng không ngạc nhiên khi Chính phủ [Hàn Quốc] lo ngại. Tổng thống Lee Myung-bak nói rằng cần phải tạo ra một “xã hội công bằng”. Có nghĩa là, cùng với nhiều việc khác, phải thay đổi thái độ đối với bằng cấp. Ông nói ông muốn các nhà tuyển dụng bắt đầu đánh giá các nhân viên tiềm năng bằng các tiêu chí khác chứ không chỉ xem xét bằng cấp và học vấn. Hồi tháng Chín [2011], ông hứa hẹn Chính phủ sẽ bắt đầu tuyển thêm người chưa có bằng đại học. “Giá trị [con người] không chỉ bao gồm lý lịch giáo dục,” ông nói.  Áp lực thay đổi   Tổng thống cũng khuyên các công ty nên mở rộng tiêu chí tuyển dụng để có thể tuyển những người ở các cấp độ kinh nghiệm khác nhau. Một số công ty đã đồng ý. Ví dụ, Công ty đóng tàu Daewoo cho biết sẽ bắt đầu tuyển những người tốt nghiệp trung học và mở một trung tâm để đào tạo họ. Tuy nhiên, các nhà quản lý ở những công ty lớn nhất của Hàn Quốc lại thuộc thế hệ những người coi bằng cấp là tất cả và họ có thể sẽ không muốn thay đổi.          Tổng  thống Lee Myung-bak nói rằng cần phải tạo ra một “xã hội công bằng”. Có  nghĩa là, cùng với nhiều việc khác, phải thay đổi thái độ đối với bằng  cấp. Ông nói ông muốn các nhà tuyển dụng bắt đầu đánh giá các nhân viên  tiềm năng bằng các tiêu chí khác chứ không chỉ xem xét bằng cấp và học  vấn. Hồi tháng Chín [2011], ông hứa hẹn chính phủ sẽ bắt đầu tuyển thêm  người chưa có bằng đại học.         Chính phủ cũng đang nỗ lực giảm bớt những ưu thế mà các trường tư thục dành cho trẻ em trong các gia đình khá giả. Từ năm 2008, nhà chức trách địa phương đã được phép giới hạn giờ và học phí của các lò luyện thi. Các “thám tử tự do”, được gọi là “hagparazzi”, bí mật mang máy ảnh tới các “lò” để bắt quả tang những nơi thu phí quá cao hoặc dạy quá giờ. Hagparazzi sẽ được thưởng một phần số tiền phạt mà các cơ sở giáo dục vi phạm phải nộp. Nhưng những lò luyện thi giá tới 1.000USD/tháng vẫn mọc lên như nấm. Theo số liệu của Chính phủ thì hiện có khoảng 100.000 lò.  Một áp lực khác khiến Hàn Quốc thay đổi chính là giới trẻ. Rất nhiều người thắc mắc liệu việc bị người già áp đặt lối sống có làm cho họ hạnh phúc hay không. Kang Jeong-im, nhạc công, nói ngắn gọn: “Tôi nghĩ là rất khó sống theo ý mình ở Hàn Quốc.” Điều tồi tệ nhất chính là trường trung học, cô nhớ lại: “Chúng tôi cứ như là máy ghi nhớ. Hầu như ngày nào tôi cũng ngủ gục trên bàn học. Giáo viên quát tháo và ném phấn vào tôi.”  Cô Kang đã khiến cha mẹ tự hào khi đỗ vào Đại học Yonsei, một trong những trường hàng đầu ở Hàn Quốc. Nhưng vào được trường, cô lập tức nổi loạn. Cô giao du với những người cấp tiến, đọc các tài liệu về Marx và Foucault. Cô cũng tham dự những cuộc diễu hành chống đối, vẫy áp phích, bị dính hơi cay, và suýt bị bắt. “Tôi thấy thích như vậy,” cô nói, “cảm giác mình được làm gì đó quan trọng”.  Cô tập chơi guitar rồi lập ban nhạc. Cha mẹ cô không thực sự vui lòng; họ muốn cô tìm một công việc được coi trọng và lập gia đình. Bạn bè và họ hàng của cha mẹ cô hỏi: “Con gái anh chị đang làm gì?” và “Sao anh chị lại để cháu nó sống như thế?”  Kang không thể sống được bằng thu nhập từ việc chơi nhạc nên cô phải làm thêm các công việc ngắn hạn. Ở Hàn Quốc có rất nhiều người giống như cô. Tỷ lệ người làm việc bán thời gian trong giới trẻ Hàn Quốc đã bùng nổ từ 8% năm 2000 lên tới 23% vào năm 2010; còn tỷ lệ người dưới 25 tuổi ký hợp đồng ngắn hạn nhảy vọt từ 0% lên tới 28%. Một phần lý do là các công ty thiếu tiền mặt đang dần dần từ bỏ truyền thống thuê nhân viên trọn đời, một phần khác là do giới trẻ cũng chẳng còn muốn bị trói vào một vị trí trong suốt 30 năm.  Tác động từ bên ngoài  Gần đây con đường để thăng tiến của thanh niên HQ đã bắt đầu thay đổi do một yếu tố tác động quan trọng chính là các du học sinh. Khoảng 13% sinh viên bậc đại học của Hàn Quốc học ở nước ngoài, theo số liệu của OECD – đây là tỷ lệ cao hơn bất kỳ nước phát triển nào. Những năm gần đây, nhiều người trong số họ đã về nước, chủ yếu vì Chính phủ Mỹ sau sự kiện 11/9/2001 đã có những chính sách khiến sinh viên người nước ngoài tốt nghiệp rất khó xin được việc ở Mỹ. Một điều tra của Vivek Wadhwa (Đại học Duke) phát hiện ra rằng phần lớn sinh viên không thể xin được visa làm việc. Và vì quy trình đăng ký quá dài dòng mệt mỏi nên nhiều người thậm chí chẳng buồn thử. Đây là một thiệt hại cho Mỹ nhưng lại là thắng lợi của Hàn Quốc (cũng như Ấn Độ và Trung Quốc).  Những người trở về nhìn chung đều có năng lực và ít bị truyền thống trói buộc hơn. Ví dụ, Richard Choi – người có cha đẻ làm quản lý cho một một chaebol và thường phải đi khắp nơi – theo học một trường của Anh ở Hồng Kông, rồi học văn hóa khởi nghiệp của Mỹ trong khi nghiên cứu công nghệ y sinh học tại Đại học Johns Hopkins ở Baltimore.  Khi về Hàn Quốc, anh thành lập một mô hình kinh doanh trong đó khách hàng nhận được điểm tích lũy mua hàng từ người bán hàng khi giới thiệu sản phẩm cho bạn bè. Nếu mô hình này hoạt động được ở đâu khác thì chắc chắn nó cũng sẽ thành công ở Seoul, như Choi nhận định. Mà ngay cả khi mô hình này thất bại thì Choi cũng có thể kiếm được việc tốt, anh nghĩ vậy. Nhưng anh cần phải khẩn trương vì ngay cả người có kỹ năng tốt như anh cũng chẳng có chaebol nào thèm thuê nếu đã quá 30 tuổi.  Một số ít người học trong nước cũng đang thách thức hệ thống cũ. Charles Pyo, một doanh nhân internet trẻ, mượn thẻ tín dụng của mẹ để bắt đầu kinh doanh dịch vụ thiết kế trang web năm 14 tuổi. Cha mẹ anh không đồng ý; họ nghĩ anh đáng ra nên lo học hành. Nhưng rồi họ nhượng bộ sau khi thấy dòng tiền chảy vào tài khoản. Anh kiếm được 200.000 USD trong vòng 3 năm.  Giờ đây, sau khi tốt nghiệp Đại học Yonsei, ở tuổi 25, Pyo đã kịp mở hai công ty: một chuyên cung cấp các “widget” – các gói phần mềm giúp trang web của các công ty hoạt động tốt hơn – và sắp sửa kinh doanh cả những phần mềm ứng dụng “điện toán đám mây” cho smartphone; một chuyên thiết kế game cho mạng xã hội.  Pyo nói rằng những việc anh đang làm thú vị hơn rất nhiều so với việc đi làm công ăn lương thông thường. Nhưng anh cũng gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân viên. Mọi người vẫn nghĩ rằng nếu ai đó không làm cho chaebol thì chắc chắn chỉ vì người đó không đủ giỏi, anh phàn nàn. “Họ nói: ‘Sao tôi lại nên làm việc cho anh? Anh có phải Samsung đâu.’”  Pyo tin rằng Hàn Quốc sẽ là một quốc gia hạnh phúc hơn nếu như có thêm nhiều người đủ can đảm tự lập. Nhưng sinh viên giỏi vẫn “quan tâm quá nhiều đến kỳ vọng từ người khác,” anh thở dài. “Họ không muốn tụt lại sau bạn bè. Họ sợ nếu làm điều gì đó khác biệt thì sẽ bị coi là kẻ thất bại.”    Vương quốc nhiệm mầu phải cởi mở hơn   Bước nhảy vọt kinh tế của Hàn Quốc dựa trên một cơ cấu dân số trẻ và người lao động cần cù (lực lượng lao động Hàn Quốc từng tăng mạnh trong giai đoạn 1970 – 1990), một nền giáo dục tốt, và rất nhiều cơ hội để bắt kịp các nước phát triển. Nhưng thế giới, và cả Hàn Quốc, đều đã thay đổi. Hàn Quốc không thể tiếp tục giữ được sự năng động với một lực lượng lao động đang già nua và giảm dần về số lượng, không thể sáng tạo với một hệ thống giáo dục đặt việc học vẹt lên trên tư duy. Và người dân Hàn Quốc không thể phát huy hết tiềm năng trong một xã hội nơi chỉ có một cửa duy nhất để vươn lên trong cuộc sống, nhất là khi cơ hội ấy đến khi họ mới còn ở tuổi thiếu niên. Để tiếp tục là nơi mà một nhà văn đã gọi là “mảnh đất nhiệm mầu”, Hàn Quốc phải cởi mở hơn, và cho phép có nhiều con đường dẫn tới thành công.       Hoàng Minh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định đúng mục tiêu giáo dục      Để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết của Đại hội XI, trước hết, cần đổi mới mục tiêu giáo dục. Lúc này, một mục tiêu giáo dục dễ đạt được sự đồng thuận hơn cả là kết hợp hài hoà sự phát triển tự do của cá nhân với sứ mệnh đào tạo nhân lực phục vụ xã hội.  &#160;        Theo một số nhà nghiên cứu, hai khuynh hướng triết học có ảnh hưởng quyết định tới việc xây dựng mục tiêu giáo dục là thuyết bản vị xã hội và thuyết bản vị cá nhân.  Thuyết bản vị xã hội quan niệm phải lấy việc đáp ứng nhu cầu xã hội làm mục tiêu giáo dục. “Họ […] cho rằng về phương diện mục tiêu giáo dục, cá nhân không có chút ý nghĩa nào cả ; mọi chế độ giáo dục của quốc gia chỉ có một mục tiêu là đào tạo những công dân phục tùng tuyệt đối lợi ích quốc gia.” [1]  Đây là một quan niệm phổ biến vào thời kỳ cổ đại và trung đại, từ Đông sang Tây. Mục tiêu của giáo dục lúc đó là đào tạo người phục vụ vương quyền, thần quyền. Ở Trung Quốc và Việt Nam, không triều đại nào giáo dục không nhằm đào tạo quan lại. Ở châu Âu cổ đại, giáo dục của thành bang Sparte ở Hy Lạp “lấy việc đào tạo quan lại, các chỉ huy quân sự và chiến binh bảo vệ sự thống trị làm mục đích […]. Vào thời kỳ Trung cổ, giáo hội ở vào địa vị độc tôn, tôn giáo thống trị tất cả, giáo dục mang đậm sắc thái tôn giáo ; chính trị và giáo hội là một […]. Phục vụ giáo hội, thích ứng với nhu cầu của giáo hội trở thành mục đích giáo dục của cả châu Âu.” [2] Đến giữa thế kỷ XVIII, nhà hoạt động chính trị người Pháp La Chalotais (1701 – 1785) vẫn còn bày tỏ mong muốn “nhà nước đảm nhận công tác giáo dục, đào tạo những công dân để phục vụ nhà nước. Giáo dục phải gắn với hiến pháp và pháp luật, tiến theo đường lối chính trị.” [3]  Ngược với thuyết bản vị xã hội, những người chủ trương thuyết bản vị cá nhân lấy con người làm trung tâm, từ đó xem xét mọi giá trị và định hướng trong xã hội. Quan điểm này phát triển từ thời kỳ Phục Hưng, khi văn hoá, giáo dục “thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa tín điều và chủ nghĩa khổ hạnh của nhà thờ, giải phóng con người và nhận thức, trí tuệ, tài năng theo hướng của chủ nghĩa nhân văn” [4]. Người ta lấy việc phát triển, hoàn thiện nhân cách của cá nhân làm mục tiêu giáo dục. John Loke (1632 – 1704), nhà triết học Anh, quan niệm : “Mỗi người có những đặc tính của mình. Có lẽ không có hai trẻ em nào mà có thể nuôi dưỡng, giáo dục bằng phương pháp hoàn toàn giống nhau.” [5] Do đó, theo ông, giáo dục phải đề ra mục tiêu và phương pháp sát thực. Ông ví người học như một thuỷ thủ đi biển, không cần biết biển sâu bao nhiêu, chỉ cần biết chỗ nào có đá ngầm cần tránh. Người học cũng vậy, “không cần biết mọi việc, chỉ cần biết những việc quan hệ đến cách hướng lái cuộc đời” của họ. [6] Còn nhà triết học Anh John Stewart Miller (1806 – 1873) thì đề cập đến vai trò của tự do phát triển nhân cách thông qua quan niệm về mối quan hệ giữa cá tính với thiên tài. Ông cho rằng thiên tài thường có cá tính mạnh hơn người khác, phủ nhận cá tính là giết chết thiên tài. Để xã hội có nhiều thiên tài hơn, cần tạo ra một bầu không khí tự do cho mọi người có điều kiện phát huy cá tính của mình. [7].  ***  Để làm rõ sự khác biệt giữa hai đường lối dạy học –  một, thiên về trang bị kiến thức nhằm đào tạo nhân lực theo yêu cầu phục vụ xã hội, và một – thiên về phát triển năng lực cá nhân, có thể tham khảo một trích đoạn trong bài viết của một tác giả Trung Quốc trên tờ Văn Cảo Báo [8]:   “Một người cha gốc Hoa đưa cậu con trai chín tuổi tới Mỹ, cho con vào học một ngôi trường ở Mỹ, trong lòng lo lắng vô cùng vì không hiểu đó là trường học kiểu gì!  Trong lớp, học sinh tự do tùy ý thảo luận, có thể cười ầm ĩ ; giáo viên và học sinh thường xuyên cùng ngồi bệt trên mặt đất ; vào giờ học mà cứ như đang chơi trò chơi ; ba giờ chiều đã là tan học ; lại không có sách giáo khoa thống nhất.  Khi ông đem cho giáo viên xem bài học lớp 4 mà con ông đã học ở Trung Quốc, giáo viên nói với ông, cho tới lớp 6, con trai ông không phải học thêm môn toán nữa. Lúc đó, ông bắt đầu hối hận vì đem con đến Mỹ mà làm lỡ việc học của con.  Ở Trung Quốc, cặp sách của học sinh nặng trịch những tri thức, còn nhìn con mình bây giờ, mỗi ngày mang cái cặp nhẹ tênh đến trường, đi học như đi chơi. Một học kỳ nháy mắt đã hết, ông không khỏi nghĩ ngợi, hỏi con, ấn tượng sâu sắc nhất khi đến Mỹ học là gì? Cậu bé đáp: “Tự do”.　  Một bận, cứ tan học, đứa trẻ lại chạy tới thư viện rồi mang một lô sách về nhà, thế mà chưa tới hai ngày đã trả. Ông lại hỏi, mượn sách nhiều như thế để làm gì? Con trai đáp: “Làm bài tập”.  Sau đó, nhìn thấy tên bài tập mà cậu bé đang làm trên máy vi tính “Trung Quốc hôm qua và hôm nay”, ông kinh ngạc suýt ngất: Đây là chủ đề môn học gì vậy? Thử hỏi vị nào đang làm tiến sĩ dám “ôm” đề tài lớn như thế?  Ông hỏi con trai, đây là chủ ý của ai, cậu bé hồn nhiên đáp: “Thầy giáo nói Mỹ là một nước di dân, mỗi học sinh đều cần viết một bài về đất nước mà tổ tiên mình đã sinh sống, còn phải phân tích sự khác biệt so với nước Mỹ dựa trên địa lý, lịch sử, nhân văn, đồng thời phải đưa ra quan điểm và cách nhìn của mình.” Người cha im lặng.  Mấy ngày sau, ông thấy bài tập của con trai đã xong, một tập gồm hơn 20 trang giấy, từ Hoàng Hà chín khúc đến văn tự tượng hình ; từ con đường tơ lụa tới lá cờ ngũ tinh,…  Cả bài văn được viết với một khí thế hào hùng, có lý lẽ, có căn cứ, phân chương phân tiết, đặc biệt là một danh sách thư mục tham khảo ở phần cuối khiến người cha không khỏi bàng hoàng: Cái cách thức của một luận văn tiến sĩ này, ngoài ba mươi tuổi ông mới học được.  Đến khi sắp kết thúc học kỳ lớp 6 của con, ông lại được một phen sửng sốt: Giáo viên đưa ra một loạt câu hỏi liên quan đến Chiến tranh thế giới thứ hai” nghe như một kỳ huấn luyện trước khi ứng cử của một thượng nghị sĩ tương lai:  – Bạn cho rằng ai nên chịu trách nhiệm đối với cuộc chiến tranh này?  – Theo bạn, nguyên nhân thất bại của đảng Nazi (Đức) là gì?  – Nếu bạn là cố vấn cao cấp của Tổng thống Truman, bạn sẽ tỏ thái độ gì đối với việc Mỹ ném bom nguyên tử?  – Bạn có cho rằng, biện pháp tốt nhất để kết thúc chiến tranh khi đó chỉ là ném bom nguyên tử?  – Theo bạn, cách tốt nhất để tránh chiến tranh ngày nay là gì?  […] Học sinh tiểu học của Mỹ lúc này đã học được phương pháp tìm đáp án ở đâu mỗi khi có nghi vấn. Ngoài thư viện, học sinh tiểu học ở Mỹ cũng tìm tài liệu trên các trang web liên quan khi làm bài tập và một số báo cáo nghiên cứu.  […] Ở cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, rất nhiều người có cảm giác rằng người Mỹ thường không phải là đối thủ của lưu học sinh Trung Quốc trong chuyện thi lấy học bổng, nhưng cứ đụng tới lĩnh vực thực tiễn, làm một vài vấn đề có tính nghiên cứu, thì người Trung Quốc không thể linh hoạt được bằng người Mỹ, không có tính sáng tạo dồi dào như họ.  […] Một khi không còn quy định, mất đi sự chỉ đạo, không nhìn thấy hệ thống quy chiếu vốn có nữa, thì với người Mỹ là giành được tự do, còn với người Trung Quốc, có lẽ chỉ còn lại cảm giác mất phương hướng, khủng hoảng, trống rỗng, không biết dựa vào đâu.  Khi đã công tác được năm năm, mười năm, thực tế ấy lại càng rõ ràng hơn. Người Trung Quốc thường chỉ có thể làm kỹ thuật, cùng lắm là lên quản lý một bộ phận kỹ thuật nào đó, dường như không mấy ai làm được giám đốc công ty lớn.”   Sự so sánh học sinh Trung Quốc với học sinh Mỹ trong bài báo trên cho thấy khác biệt về chương trình học giữa hai nền giáo dục có mục tiêu khác nhau. Một bên xuất phát từ quan niệm về mục tiêu đào tạo nhân lực của mình, cố gắng hoạch định và áp dụng đồng loạt chương trình giáo dục đầy đặn, chi tiết với hệ thống kiến thức, kỹ năng được cho là cần thiết đối với tất cả các công dân tương lai; còn một bên thì chú trọng phát huy sự năng động và sở nguyện, sở trường, của mỗi học sinh, tạo điều kiện cho họ tự hoàn thiện nhân cách và phát triển năng lực của mình. Kết quả là với chương trình giáo dục thứ nhất, học sinh có thể được học nhiều kiến thức hơn, trong những lớp học quy củ hơn nhưng học hành kém hứng thú và ít hiệu quả hơn vì chỉ học một cách thụ động những điều đã được cung cấp sẵn trong sách giáo khoa, và nếu có được tổ chức hoạt động thì phần lớn các trường hợp chỉ mang tính hình thức để cả lớp cùng đạt đến một đáp số chung như đã định hình trong sách.  ***       Ở nước ta, ngay từ lúc khai sinh nhà nước dân chủ cộng hoà, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lại “những lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ : “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Điều đó chứng tỏ ngay từ khi lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng đã có nhận thức đúng đắn về các quyền của con người, trong đó có quyền tự do phát triển.  Tuy nhiên, do chiến tranh xâm lược bùng nổ ở miền Nam ngay sau Ngày Độc lập rồi lan rộng ra cả nước và tồn tại hai chính thể đối địch kéo dài tới 30 năm, đồng thời do chậm khắc phục tư tưởng phong kiến và cũng do nhận thức ấu trĩ nên tư tưởng tiến bộ về quyền con người chưa được triển khai đầy đủ trong thực tiễn.    Điều 50 Hiến pháp hiện hành tái khẳng định quyền con người nhưng thống nhất nó với quyền công dân : “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”  Một trong những quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận là quyền học tập phù hợp với điều kiện, năng lực của mình : “Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức. HS có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng […] Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp.” (Điều 59).  Tuy nhiên, cho đến nay, trong mục tiêu giáo dục, sự phát triển của cá nhân vẫn chỉ được đề cập như là phẩm chất mà công dân cần có để thực thi nghĩa vụ xã hội của mình. Chưa bao giờ chúng ta nhận thức rõ sự phát triển đa dạng về nhân cách của người học là một mục tiêu giáo dục, mặc dù không ít lần bày tỏ mong muốn “biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục”.     Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khoá VIII, “nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị vǎn hoá của dân tộc, có nǎng lực tiếp thu tinh hoa vǎn hoá nhân loại; phát huy tiềm nǎng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ nǎng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật ; có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời dặn của Bác Hồ.”   Điều 2 Luật Giáo dục cũng quy định : “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”  Với mục tiêu như trên, trong hàng chục năm qua, giáo dục Việt Nam đã đào tạo và cung cấp cho xã hội đội ngũ nhân lực về cơ bản đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các ngành nghề, cơ quan, đơn vị. Nhưng vì chỉ chú trọng mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong khi dự báo nhu cầu sử dụng nhân lực còn yếu nên nhân lực đào tạo ra không tránh khỏi tình trạng vừa thiếu vừa thừa. Nội dung các môn học, kể từ bậc học phổ thông đến đại học chưa thoát khỏi tình trạng kinh viện ; phương pháp giáo dục ít quan tâm đến cá thể hoá ; năng lực thực tiễn, năng lực sáng tạo của người học yếu v.v… –  đó cũng là những hệ quả của đường lối dạy học mang tính chất “phân phối”, “cào bằng”.   ***  Để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết của Đại hội XI, trước hết, cần đổi mới mục tiêu giáo dục. Lúc này, một mục tiêu giáo dục dễ đạt được sự đồng thuận hơn cả là kết hợp hài hoà sự phát triển tự do của cá nhân với sứ mệnh đào tạo nhân lực phục vụ xã hội.  Một con đường như thế đã được Jean-Jaques Rousseau (1712 – 778) thể hiện trong các công trình của mình. Trong tác phẩm Khế ước xã hội, ông cổ vũ cho việc xây dựng con người công dân, con người tập thể, phục vụ nhà nước và xã hội ; còn trong tác phẩm Emile [9], ông lại thể hiện quan điểm xây dựng con người cá nhân, riêng biệt.  Một số học giả cho rằng dường như Rousseau dao động giữa hai con đường. Nguyễn Mạnh Tường phân tích : “Thực ra các mâu thuẫn chỉ là bề ngoài. Cả hai tác phẩm đều xuất phát từ một đường lối chung : nỗ lực tìm kiếm tự do, tự do chính trị cho nông dân, tự do thiên nhiên cho trẻ em, và mặt khác, cả hai tác phẩm đều tìm cách xác định bản chất chân thật của con người và xã hội. Cần nói thêm rằng […] Rousseau trong cuốn Emile tuy thực hiện một đường lối giáo dục cá biệt nhưng giáo dục cho Emile những đức tính xã hội để khi thời cơ đến, Emile trở thành một công dân tốt.” [10]  Chính K. Marx cũng đã từng khẳng định : “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.” [11] Ý kiến của nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản là một gợi ý tốt cho việc xây dựng một mục tiêu giáo dục hài hoà như chúng tôi đã trình bày.   ***  Mục tiêu giáo dục mới tất yếu dẫn đến quan niệm mới về định hướng phát triển của giáo dục nước nhà. Theo chúng tôi, nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới phải là một nền giáo dục thực học và dân chủ. Dưới đây là nội dung chủ yếu của hai định hướng phát triển này :  Trước hết, nói về thực học.  Để đáp ứng mục tiêu đào tạo nhân lực phục vụ xã hội, thực học có nghĩa là ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trong những ngành kinh tế – kỹ thuật có tính ứng dụng cao. Nước ta còn nghèo, lại là nước đi sau và muốn nhanh chóng bắt kịp các nước đi trước nên không thể phát triển dàn trải. Trong vòng 50 năm tới, cần tập trung đào tạo nhân lực cho những ngành trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, có khả năng tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với các ngành khoa học cơ bản, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, chỉ cần đầu tư đào tạo số lượng ít những người thực sự có năng khiếu, sở trường để bồi dưỡng nhân tài.  Với tư tưởng thực học, hệ thống giáo dục phổ thông cũng cần được xem xét lại. Việc kéo dài thời gian học phổ thông tới 12 năm tỏ ra không phù hợp với hoàn cảnh của đa phần người học và điều kiện kinh tế của đất nước nói chung. Theo quan điểm của chúng tôi, nên thiết kế hệ thống này theo công thức 9 + 2, tức là đại bộ phận học sinh chỉ học chương trình giáo dục cơ bản 9 năm ; sau đó, tuỳ sở nguyện, sở trường và kết quả học tập mà vào trường trung học nghề hoặc trung học phổ thông 2 năm với chương trình tự chọn gồm các môn phục vụ chuyên ngành tương lai do người học tự xác định.  Để đáp ứng mục tiêu phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với sở nguyện, sở trường của mỗi cá nhân, thực học có nghĩa là chuyển đổi từ chương trình theo định hướng nội dung (content-based approach) thành chương trình theo định hướng năng lực (competency-based approach).  Xây dựng chương trình theo định hướng nội dung là định ra trong chương trình một hệ thống các đơn vị kiến thức, kỹ năng cần trang bị cho người học. Đây là kiểu chương trình xác định đầu vào. Cách tiếp cận này thiên về lý thuyết, kết quả là người học được trang bị kiến thức có tính hệ thống nhưng yếu về kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng sống.  Xây dựng chương trình theo định hướng năng lực là định ra một khung năng lực và hoạt động làm nảy sinh ở người học nhu cầu khám phá thế giới,  khám phá năng lực của bản thân để phát triển. Đây là kiểu chương trình xác định đầu ra. Việc xác định đầu ra, tức là lập danh sách những năng lực cần hình thành và phát triển ở người học không dễ dàng vì nó không phải là một hệ thống có sẵn như khái niệm khoa học. Chương trình chỉ có thể xác định bộ khung năng lực và hoạt động để mỗi HS, thông qua hoạt động học tập tự phát hiện và phát triển sở nguyện, sở trường của mình mà trở thành một thực thể với năng lực riêng. Nhà trường không có mục đích và cũng không có khả năng tạo ra những lớp người có năng lực giống hệt nhau như những chiếc máy trong sản xuất công nghiệp. Ngược lại, chính tính đa dạng của các cá nhân sẽ tạo nên sự hài hoà và sức mạnh tổng hợp của xã hội.  Chương trình theo định hướng năng lực đòi hỏi một phương pháp giáo dục thích hợp – đó là phương pháp tổ chức hoạt động. Bởi vì năng lực không thể được hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Kiến thức có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng người học chỉ làm chủ được những kiến thức này khi chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Kỹ năng cũng vậy, muốn phát triến nó, người học phải được hoạt động trong môi trường gần với môi trường thực dưới sự hướng dẫn của người dạy. Tương tự, những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trong thực tế. Dạy học với chương trình theo định hướng năng lực không chỉ đảm bảo kết quả đào tạo bền vững mà còn tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nguồn lực trong đào tạo, đồng thời giảm áp lực làm việc, áp lực học hành đối với người dạy và người học.   Đối với lĩnh vực giáo dục đại học và dạy nghề, trong đổi mới phương pháp dạy học, cần tăng cường thời gian thực hành cho người học, gắn kết trường học với đơn vị sử dụng lao động để người học có điều kiện vừa học vừa làm. Ở CHLB Đức, việc đào tạo kỹ sư thực hành và công nhân thường có sự liên kết giữa nhà nước với doanh nghiệp theo tỷ lệ doanh nghiệp bỏ ra 70%, nhà nước 30% tổng chi phí đào tạo. Trong quá trình đào tạo, học sinh có 70% thời gian học tại doanh nghiệp, 30% tại trường. Thời gian học tại doanh nghiệp, học sinh được tiếp cận với toàn bộ thiết bị, công nghệ mới, thậm chí được doanh nghiệp trả lương khi đáp ứng được yêu cầu của công việc. Đây là một kinh nghiệm quý nên được tham khảo trong giáo dục đại học và dạy nghề.  Thứ hai, nói về dân chủ.  Dân chủ là một thuộc tính tất yếu của giáo dục để thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng một xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh”, đồng thời để đảm bảo cho sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của mỗi người phù hợp với sở nguyện, sở trường và điều kiện của họ.    Dân chủ trước hết là đảm bảo quyền và trách nhiệm của xã hội tham gia phát triển và quản lý giáo dục. Trên phương diện này, dân chủ đồng nghĩa với xã hội hoá, nhưng xét về mặt thuật ngữ thì sử dụng thuật ngữ dân chủ hợp lý hơn. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng xã hội hóa (socialisation) là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học, được hiểu là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên của xã hội ấy. Xã hội hoá trước tiên được thực hiện trong gia đình, rồi được tiếp tục thực hiện trong nhà trường và các nhóm xã hội – nghề nghiệp. Giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường thường làm công việc xã hội hoá trước (anticipatory socialisation) ; trong nhiều trường hợp, nhất là khi đã vào đời hoặc sống trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ta phải đào thải một số giá trị cũ, tiếp thu những giá trị mới để hoàn thiện bản thân, tức là được xã hội hoá lại (resocialisation). Để tránh hiểu ngược với cách hiểu đã phổ biến từ lâu trong nhân loại học và xã hội học, chúng ta cần thay thuật ngữ xã hội hoá trong cụm từ xã hội hoá giáo dục bằng thuật ngữ dân chủ (hoặc dân chủ hoá).  Nội dung xã hội hoá (dân chủ hoá) giáo dục đã được thể hiện đầy đủ trong Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ. Nhưng trong suốt thời gian qua, xã hội hoá chỉ được triển khai theo hướng lập chế độ học phí để người dân chia sẻ gánh nặng cùng Nhà nước nhằm duy trì hoạt động giáo dục và thu hút vốn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để mở trường, còn về việc tham gia quản lý giáo dục thì cho đến nay các tầng lớp nhân dân chỉ có thể thực hiện quyền của mình thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) và lên tiếng trên báo chí, chứ chưa có quy định nào về cơ chế thực hiện quyền và trách nhiệm của cộng đồng dân cư giám sát hoạt động của cơ sở giáo dục ở địa phương mình. Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục, quyền chủ động của giáo viên và quyền của người học đóng góp vào quá trình thực hiện hoạt động giáo dục chưa được đảm bảo bằng những chính sách rõ ràng, khả thi.   Việc huy động sự tham gia phát triển giáo dục cũng còn nhiều hạn chế, chưa thể hiện bàn tay điều tiết của Nhà nước để bổ sung cho những khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Trong khi thu hút các nguồn vốn đầu tư mở trường, Nhà nước chưa có chính sách ưu đãi thích hợp để khuyến khích đầu tư vào những vùng khó khăn (miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa), những lĩnh vực thiếu hấp dẫn (giáo dục mầm non, dạy nghề) hoặc những lĩnh vực cần ưu tiên (các ngành có tính ứng dụng cao) và cũng chưa có chính sách linh hoạt để điều tiết kinh phí cho những vùng, những lĩnh vực khó có khả năng thu hút đầu tư xã hội.  Vấn đề xây dựng chính sách thích hợp đối với các cơ sở giáo dục hoạt động vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận cũng chưa được xử lý một cách đúng đắn. Văn bản quy phạm pháp luật mới nhất đề cập vấn đề này là Luật Giáo dục đại học vừa được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2012 vẫn thừa nhận cơ sở giáo dục chia lợi tức cho cổ đông là cơ sở giáo dục hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và vẫn dành thẩm quyền quyết định đường lối phát triển nhà trường cho các cổ đông theo mức góp vốn. Những nguyên tắc này không khác gì nguyên tắc tổ chức, hoạt động của công ty cổ phần. Thế nhưng, theo quy định tại khoản 3 Điều 12 thì các cơ sở giáo dục đó vẫn được hưởng “chính sách ưu tiên về thuế, đất đai, tín dụng, đào tạo cán bộ” như các cơ sở thật sự hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.    Trong đổi mới giáo dục lần này, cần xây dựng lại chính sách thích hợp để khuyến khích sự ra đời của các cơ sở giáo dục hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.  Một nội dung quan trọng khác của xã hội hoá (dân chủ hoá) là tạo điều kiện để mỗi người trong xã hội hưởng thụ thành quả giáo dục (xây dựng xã hội học tập) trong thời gian qua cũng chưa được quan tâm.  Mặc dù các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng và đề ra những định hướng phát triển xã hội học tập nhưng việc triển khai trong thực tế chưa có chuyển biến đáng kể. Số lớp “vừa học vừa làm” (tại chức) mở ra nhiều, người đi học đông, nhưng chất lượng thường không đảm bảo. Động cơ mở lớp, động cơ đi học phần lớn không đúng như mục đích xây dựng xã hội học tập. Để tiến tới một xã hội học tập, trong đó người lao động có thể học bất kỳ một học phần nào nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng, phục vụ cho công việc của mình, không nên quan niệm cứng nhắc giáo dục thường xuyên phải tổ chức thành những lớp học riêng, học phải lấy bằng, mà cần quan niệm là tuỳ điều kiện thời gian của mình và khả năng tiếp nhận của cơ sở giáo dục, người học có thể theo học cùng sinh viên chính quy hoặc học lớp riêng. Nhưng để đảm bảo giáo dục thường xuyên có mặt bằng ngang với mặt bằng đào tạo chính quy, những người có nguyện vọng học lấy bằng hay tín chỉ cần thi học phần, thi tốt nghiệp chung với sinh viên chính quy.  Về nội dung và phương pháp dạy học, dân chủ thể hiện ở sự khai phóng, tức là cởi mở về tư tưởng, học thuật, tạo điều kiện cho người học sáng tạo và phát triển phù hợp với khả năng, nguyện vọng của mình. Có khai phóng thì giáo dục và xã hội mới tạo ra được những lớp người dám nghĩ, dám làm.  Nhiều học giả nhận xét rằng người Việt Nam chúng ta thường tiếp thu nhanh và có nhiều sáng kiến nhưng năng lực tưởng tượng không cao, do đó ít có khả năng tạo ra những bước đột phá. Từ mô hình xã hội đến phát triển kinh tế, công nghệ, chúng ta thường nhập khẩu hoặc mô phỏng sáng kiến nước ngoài. Nguyên nhân hẳn không phải là hạn chế về năng lực tư duy mà là ở sự kìm hãm tự do tư tưởng và sự thiếu thốn về cơ sở vật chất kéo dài hàng nghìn năm từ chế độ phong kiến phương Đông cho đến trước thời kỳ Đổi mới. Hơn lúc nào hết, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là thời cơ thuận lợi để giải phóng tư duy con người khỏi tầm nhìn hạn hẹp, tạo ra những bước ngoặt về chất lượng nhân lực, góp phần thúc đầy phanh sự phát triển của đất nước và tiến bộ của nhân loại.  Giáo dục là một bộ phận của xã hội, vì vậy sự nghiệp đổi mới lĩnh vực này chỉ có thể thành công với điều kiện kinh tế – xã hội được đổi mới.  Có thể thấy, cho đến nay, nguyên nhân sâu xa nhất hạn chế chất lượng giáo dục của nước ta là nền kinh tế và thị trường lao động chưa tạo được sức hấp dẫn và áp lực buộc giáo dục phải thay đổi. Với một nền kinh tế chỉ dựa trên lắp ráp, gia công, khai khoáng, nông nghiệp cổ truyền cùng dịch vụ nhà hàng, khách sạn, chuyển nhượng đất đai thì mục tiêu đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao không có cơ sở thực tế, do đó giáo dục sẽ không có động lực thực hiện mục tiêu này. Bên cạnh đó, nền kinh tế, nhất là khu vực kinh tế nhà nước, chưa vận hành theo đúng quy luật kinh tế thị trường, từ đó đẻ ra một thị trường lao động không công bằng và một nền giáo dục ứng thí, đi học chỉ cốt lấy bằng nhằm đáp ứng “tiêu chuẩn cán bộ”, chứ không cần thực học. Phải tìm cách thích nghi với một thị trường lao động như vậy, lớp trẻ nếu không bị tha hoá về nhân cách thì cũng ít có động cơ chính đáng trong học tập, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình. Cho nên, muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục thì Nhà nước phải đẩy mạnh cải cách kinh tế và đổi mới chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ ; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh, nhân ái, tạo môi trường xã hội tích cực để hình thành và phát triển nhân cách tốt đẹp cho tuổi trẻ học đường.  ***  Đổi mới một lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến hàng triệu giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và hàng chục triệu người học như giáo dục không phải dễ dàng. Nhưng đó là công việc nhất thiết phải làm để thực hiện ước nguyện đưa dân tộc ta ”bước tới đài vinh quang, sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới.             [1] Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa (Bùi Đức Thiệp dịch). Triết học giáo dục hiện đại. NXB Chính trị Quốc gia, 2008, tr. 150.      [2] Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa, Sđd, tr. 158.      [3] Nguyễn Mạnh Tường, Sđd, tr. 322.      [4] Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 3. NXB Từ điển bách khoa, HN, 2003, tr. 508.      [5] Dẫn theo Nguyễn Mạnh Tường, Lí luận giáo dục châu Âu (thế kỉ XVI, XVII, XVIII). NXBGD, HN, 1995, tr. 228 – 229.      [6] Dẫn theo Nguyễn Mạnh Tường, Sđd, tr. 224.      [7] Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa, Sđd, tr. 148. Có lẽ xuất phát từ niềm tin này, các trường đại học danh tiếng của Anh như Đại học Oxford, Đại học Cambridge đã có những quy định để bảo vệ những sinh viên không quan tâm đến những điều vụn vặt, có thói quen kỳ quặc nào đó. Cho đến nay, Đại học Oxford đã đào tạo được 29 vị Thủ tướng của nước Anh ; còn Đại học Cambridge cũng đã đào tạo được 63 người đoạt giải Nobel      [8] Theo Báo điện tử Phụ nữ  Today, 08/07/2012.      [9] Còn gọi là De l’education (Về giáo dục), xuất bản năm 1762.      [10] Nguyễn Mạnh Tường, Sđd, tr. 388.      [11] C.Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập, t.4. NXB Chính trị Quốc gia, HN, 1995, tr.628.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây đắp nền tảng nhân văn cho thế hệ tương lai      Trong một thời gian dài “lấy lòng mong muốn thay cho thực tế…bất chấp quy luật của lịch sử, muốn đốt cháy giai đoạn…thiếu sáng suốt trong nhận thức và hành động, trong lý luận và thực tiễn” (Phạm Văn Đồng), chúng ta đã sao nhãng, thậm chí là coi thường việc vun đắp cái nền tảng của quá trình “trồng người”, mà hệ lụy của nó là những suy thoái của giáo dục và đào tạo mà chúng ta đang phải gánh chịu hôm nay!     Xin chỉ gợi ra đây một vấn đề: chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ.   Giáo dục lý tưởng đương nhiên là cần thiết, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng.   Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân”, mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Bởi lẽ, như Các Mác đã giải thích rất đúng: “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó… Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối.“  Chính vì thế, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”.   Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa. Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo lăng kính “ý thức hệ”, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Người ta không thấy được rằng, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, lý trí cũng như tình cảm của con người dễ bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.   Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm nguyên nhân từ những điều vừa nói. Hơn nữa, nền tảng nhân văn đang được bồi đắp thêm trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó, “sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.(1) Để có được “con người có giáo dục” với những đặc điểm mang tính thời đại ấy, nhiệm vụ của hệ thống giáo dục và đào tạo sẽ càng nặng nề thêm.   Trong bài viết đăng trên tạp chí Tia sáng “Để có lớp trí thức xứng đáng”, giáo sư Hoàng Tụy đã thẳng thắn chỉ ra những bất cập của một bộ phận không nhỏ những trí thức được đào tạo trong thời gian qua, do “…thiếu căn bản về văn hóa phổ quát. Tư duy của họ chỉ phát triển theo một đường ray mà hễ ai trật ra là nguy hiểm. Cho nên trừ những người ý thức được điều đó, còn số khá đông thường chỉ là những chuyên viên kỹ thuật được trang bị một số vốn kiến thức kỹ thuật, chuyên môn hẹp nào đó, ở thời đó, và cũng rất mau lạc hậu, nhưng thiếu một nhãn quan rộng, thiếu một tầm nhìn ra ngoài ngành nghề hẹp của mình, cho nên bị hạn chế ngay trong việc phát triển chuyên môn, và càng bị hạn chế đứng trước những vấn đề xã hội, văn hóa không thuộc phạm vi chuyên môn hẹp của mình.   Hầu như mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, it khả năng và cũng không thich thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hâu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại”.   Chỉ ra căn bệnh của một bộ phận trí thức đang thực hiện sứ mệnh giáo dục và đào tạo, nói rộng hơn, sứ mệnh trau giồi văn hóa, chuyển tải văn hóa cho thế hệ trẻ, cũng là để gióng lên tiếng chuông cảnh báo đối với những ai đang gánh trên vai mình sứ mệnh nặng nề đối với đất nước. Cần hiểu rằng, giáo dục và đào tạo, đặc biệt là ở bậc đại học, nói như bà Drew G. Faust, Hiệu trưởng Đại học Harvard trong diễn từ nhậm chức ngày 12.10.2007 “cái học ở đại học” là “cái học đúc khuôn cho cả đời người, cái học chuyển đạt gia tài của ngàn năm trước, cái học tạo ra vóc dáng cho tương lai”.   Cam kết của đại học là vô thời hạn, thành tựu không tiên đoán được, không đo lường được, nỗ lực làm việc không phải để tăng sức cạnh tranh mà là để “định nghĩa cái gì đã làm chúng ta là người qua bao nhiêu thế kỷ“, cái gì giúp ta “hiểu ta là ai, từ đâu đến, đi về đâu và tại sao”. Đi tìm ý nghĩa như vậy là một hành trình bất tận, luôn luôn đặt lại vấn đề, luôn luôn gặp giải thích mới, không bao giờ bằng lòng với những khám phá đã có, câu trả lời này chỉ gợi lên câu hỏi tiếp theo. (2)  Cùng với sự thiếu hụt một văn hóa phổ quát do sự lạc hậu của hệ thống giáo dục, sự đứt gãy của văn hóa truyền thống đang tác động mạnh đến đời sống tinh thần của thế hệ trẻ. Đó là chất xúc tác làm cho một bộ phận đáng kể thanh thiếu niên đứng trước nguy cơ xuống cấp về đạo đức, xa rời các giá trị truyền thống của dân tộc. Nói đến tuổi trẻ là nói đến hoài bão, nói đến ước mơ và hành động, thế mà có một bộ phận không nhỏ những người trẻ tuổi, trong đó có những sinh viên, đang là lực lượng chủ lực sẽ bổ sung vào đội ngũ trí thức, lại thiếu những năng lực cần thiết để đương đầu với những biến động đầy phức tạp của xã hội hiện đại khi thiếu khả năng phê phán, yếu năng lực tư duy sáng tạo để tìm ra con đường giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Và nói đến tuổi trẻ, không thể không nói đến thanh thiếu niên nông thôn với cuộc sống của phần lớn làng quê, nơi kinh tế có phần nào cải thiện, nhưng lối sống chưa mấy đổi thay, đời sống văn hóa hiện nay hết sức nghèo nàn, lại đang hứng chịu những cặn bã của văn minh đô thị.  Vực dậy một nền văn hóa khó gấp bội phần vực dậy một nền kinh tế. Đừng quên rằng, văn hóa không phải là mỳ ăn liền, văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu. Việc ăn tươi nuốt sống những sản phẩm văn hóa không tương thích với môi trường sống và phong tục tập quán sẽ gây độc hại nhiều hơn là thêm dưỡng chất. Tuổi trẻ đang cần những dưỡng chất đến từ một nền văn hóa mà trong đó, những tinh hoa của truyền thống dân tộc được thăng hoa trong quá trình chọn lựa và tiếp thu những thành tựu của văn hóa và văn minh của thời đại nhằm tăng thêm sức đề kháng chống trả những cặn bả của nền văn minh mà người ta đã thải loại ra.  Để kết thúc bản tham luận đã quá dài, xin dừng lại với một thông điệp của M Gorky, nhà văn Xô viết từng một thời chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong các giáo trình văn học và lý luận văn học giảng dạy ở bậc đại học của ta. Trong Những ý tưởng không hợp thời đăng trên nhật báo Novaja Žizn (Đời Mới) những năm 1917-1918, Gorky đã cảnh báo: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần.” … Vì vậy mà: “Dân tộc này phải còn nỗ lực rất nhiều đế đạt đến ý thức về bản sắc và nhân phẩm của nó. Dân tộc này còn phải được trui rèn trong ngọn lửa cháy không bao giờ dứt của văn hóa, tinh thần nô lệ đã hằn sâu trong nó phải bị tẩy sạch đi ”. Cho nên, văn hào Xô Viết ấy đã quyết liệt mà rằng: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”  Tôi tin rằng, thông điệp ấy không chỉ gửi riêng cho người Nga, và đối với chúng ta, những người đang có nhiều suy tư về con người Việt Nam, đối tượng của giáo dục và đào tạo, nội dung của thông điệp đưa ra ngót một thế kỷ dường như vẫn còn nguyên tính thời sự!     Chú thích:  (1) Peter F. Drucker. “Post-Capitalist society ” Harper Business 1993)  (2) Dẫn lại theo Cao Huy Thuần. Tạp chí Thời đại.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực      Cách tiếp cận chương trình giáo dục (CTGD) sẽ định hướng cho toàn bộ các thành tố của CTGD: từ đề xuất mục tiêu, chuẩn chương trình, xác định các lĩnh vực/môn học, các hoạt động; đến việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học, cách tổ chức, kiểm tra đánh giá kết quả… Có nhiều cách tiếp cận chương trình, bài viết này tập trung vào một vài cách tiếp cận cơ bản được nhiều nước vận dụng trong các lần phát triển chương trình gần đây nhất, đặc biệt là hướng tiếp cận năng lực.       I. Tiếp cận nội dung và tiếp cận kết quả đầu ra  Từ những năm 90 của thế kỉ trước, khi so sánh quốc tế(1) về thiết kế CTGD, người ta thường nêu lên hai cách tiếp cận chính:  Thứ nhất là tiếp cận dựa vào nội dung hoặc chủ đề (content or topic based approach) và thứ hai là tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (outcome-based approach or outcome-focused curriculum). Để ngắn gọn xin gọi cách 1 là tiếp cận nội dung và cách 2 là tiếp cận kết quả đầu ra.  Tiếp cận nội dung là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn học nào đó. Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS cần biết cái gì? (what we want students to know?). Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một khoa học bộ môn nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học.  Tiếp cận kết quả đầu ra như NIER(2)  (1999) đã xác định”là cách tiếp cận nêu rõ kết quả- những khả năng hoặc kĩ năng (abilities or skills) mà HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể” (3). Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? (what we want students to know and to be able to do?)   Từ hai cách tiếp cận chính nêu trên, cũng theo NIER, xu hướng chung trong việc thiết kế CTGD của các nước là kết hợp cả hai. Ví dụ Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Philippines và Hoa Kỳ khi thiết kế CT đều sử dụng kết hợp hai cách tiếp cận này một cách đa dạng. Các nước Úc, New Zealand, và Thái Lan chủ yếu sử dụng cách tiếp cận đầu ra, trong khi đó Cộng hòa Fiji, Indonesia và Việt Nam chủ yếu lại sử dụng cách tiếp cận nội dung. Ấn Độ, Sri Lanka đang chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận đầu ra. Như thế có thêm cách tiếp cận thứ 3 là cách kết hợp giữa 1 và 2.     II. Phát triển chương trình theo hướng tiếp cận năng lực  Bước sang thế kỉ XXI, do tốc độ phát triển của xã hội hết sức nhanh chóng, với những biến đổi liên tục và khôn lường. Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt và đứng vững trước những thách thức của đời sống, vai trò của GD ngày càng được các quốc gia chú trọng và quan tâm đầu tư hơn bao giờ hết. Thay đổi, sửa sang, cải tiến CT, thậm chí cải cách GD đã được nhiều nước tiến hành (4). Theo tổng kết của INCA (5) có 4 nhân tố chính dẫn đến việc cần xem xét, cải tổ CTGD của một quốc gia: a) do thay đổi thể chế chính trị; b) do CT nặng nề, quá tải; c) muốn cải tiến để hệ thống GD trở nên công bằng và vượt trội hơn và d) muốn hiện đại hóa CTGD mà trọng tâm là hướng vào chuẩn bị các kĩ năng nhằm đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống và lao động trong thế kỉ XXI(6).   Có khá nhiều vấn đề đặt ra khi xem xét chỉnh sửa, đổi mới CTGD. Trước hết là việc xem xét, thiết kế lại cần theo cách tiếp cận nào? Bản chất của cách tiếp cận ấy là gì? Và tại sao lại theo hướng tiếp cận này? Khảo sát và nghiên cứu việc phát triển CTGD của một số nước gần đây, chúng tôi thấy xu thế thiết kế CT theo hướng tiếp cận năng lực được khá nhiều quốc gia quan tâm, vận dụng. Tên gọi của cách tiếp cận này có khác nhau nhưng thuật ngữ được dùng khá phổ biến là Competency-based Curriculum (Chương trình dựa trên cơ sở năng lực – gọi tắt là tiếp cận năng lực).        II.1. Bản chất và lí do chuyển sang cách tiếp cận năng lực  Theo cách mô tả và lí giải của một số nước thì CT tiếp cận năng lực thực chất vẫn là cách tiếp cận kết quả đầu ra vừa nêu ở phần 1. Tuy nhiên cần lưu ý, có rất nhiều dạng “kết quả đầu ra”; đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học. CT tiếp cận theo hướng này chủ trương giúp HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. CT truyền thống chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? CT tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết? Trong lời nói đầu CT New Zealand có đoạn: “Chương trình hướng vào kết quả đầu ra là CT nhằm xác định những gì chúng ta muốn HS biết và có thể làm được. Nó nêu rõ 05 năng lực chính nhằm giúp HS củng cố kiến thức, tham gia xã hội có hiệu quả và nhấn mạnh học suốt đời. Dân số của chúng ta ngày càng trở nên đa dạng, khoa học công nghệ ngày càng tinh vi, đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng phức tạp. Hệ thống GD của chúng ta cần phải đáp ứng được những đòi hỏi này và những thách thức khác của thế kỷ XXI. Đó chính là lí do của việc xem xét lại CT được tiến hành vào các năm 2000-2002”(7).    Những năm đầu thế kỉ XXI, các nước trong khối EU đã bàn luận rất sôi nổi về khái niệm Năng lực cơ bản (key competence) và tuyên bố: “để chuẩn bị cho thế hệ trẻ thành công khi đối mặt với những thách thức của xã hội thông tin và nhận được tối đa lợi ích từ những cơ hội mà xã hội đó tạo ra đã trở thành mục tiêu quan trọng của hệ thống GD châu Âu. Nó định hướng cho sự thay đổi chính sách GD, xem xét lại nội dung CT và phương pháp dạy- học. Điều đó chắc chắn càng làm gia tăng sự chú ý tới các năng lực cơ bản, cụ thể là những năng lực hướng vào cuộc sống với mục đích suốt đời tham gia xã hội một cách tích cực.”(8)  Nhìn chung sau năm 2000 các nước có sự xem xét, cải tổ CTGD đều theo định hướng vừa nêu. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng tuyên bố rõ đó là CT tiếp cận theo năng lực.   Nhìn vào CTGD các nước vừa thay đổi, có thể thấy ba loại:      a) Một số nước tuyên bố CT thiết kế theo năng lực và nêu rõ các năng lực cần có ở HS. Chẳng hạn như: Úc, Canada, New Zealand, Pháp…      b) Một số nước cũng tuyên bố CT thiết kế theo năng lực nhưng không nêu hệ thống năng lực, mà chỉ nêu chuẩn cụ thể cho CT theo hướng này; tiêu biểu là CT của Indonesia (2006),       c) Một số nước khác không tuyên bố CT thiết kế theo năng lực nhưng thực chất CT vẫn được thiết kế dựa trên cơ sở năng lực. Ví dụ CT của Hàn Quốc, Phần Lan(9) , …      II.2. Khái niệm năng lực và phân loại hệ thống năng lực   Có rất nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, giáo dục học, triết học, tâm lý học và kinh tế học đã cố gắng định nghĩa khái niệm năng lực. Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E. Weinert (OECD,2001b, p.45) kết luận: Xuyên suốt các môn học “năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. Cũng tại diễn đàn này, J. Coolahan (UB châu Âu 1996, p 26) cho rằng: năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành GD”(10) …  Có thể thấy dù cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what). Tất nhiên hành động (làm), thực hiện (performance) ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách “máy móc”,“mù quáng”; đúng như, CT của Indonesia đã xác định:“Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản. (Puskur, 2002)”(11).   Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Nhìn vào CT thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence).  Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên chương trình (Cross-curricular competencies). Hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính (key competence). Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như(12): năng lực nền tảng (socles de compétences), năng lực chủ yếu (essential competencies), kĩ năng chính (key skills), kĩ năng cốt lõi (core skills), Năng lực cơ sở (basic competencies), khả năng/phẩm chất chính; (key qualifications); Kĩ năng chuyển giao được (key transferable skills ),… Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.(13)  Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó; vì thế CT Québec gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject-specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên CT- năng lực chung.  Sáng tạo và đọc diễn cảm là ví dụ để phân biệt hai loại năng lực này. Sáng tạo là năng lực chung. Nó là sản phẩm của tất cả các môn học/hoạt động và đòi hỏi vận dụng ở tất cả các môn học/hoạt động; còn đọc diễn cảm là năng lực riêng, năng lực do môn tiếng Việt và văn học đảm nhận. Trong cuộc sống rất cần năng lực sáng tạo; không sáng tạo thì không thể phát triển, thậm chí khó tồn tại. Nhưng không đọc diễn cảm được thì cũng không có gì ảnh hưởng lớn. Chưa ai chết vì không đọc được diễn cảm.         II.3. Xác định hệ thống năng lực chung  Tại sao khi thiết kế CTGD cần chú ý phát triển các năng lực chung? Xin mượn lời giải thích được nêu trong Lời nói đầu văn bản Các năng lực xuyên chương trình Québec: “Thế giới phức tạp, đa cực mà chúng ta đang sống đòi hỏi mọi người phải nối kết nhiều thành tố đa dạng của tri thức nhằm thích ứng với môi trường, sự phát triển và hành động có hiệu quả. Bởi vậy nhà trường cần hiểu rõ việc phát triển cho HS các năng lực phổ thông là cơ sở vững chắc cho vốn tri thức chính yếu. Chương trình GD Québec gọi các năng lực này là những năng lực xuyên chương trình.”(14)  Hai nhà triết học M. Canto-Sperber và J-P.Dupuy (OECD, 2001 b, p 75ff) thì cho rằng cần chú trọng loại năng lực này vì đó là “những năng lực không thể thiếu cho một cuộc sống tốt đẹp. Mặc dù quan niệm về một cuộc sống tốt đẹp có nhiều dạng khác nhau, nhưng bản chất nổi bật của nó là khả năng thành đạt, tinh thần trách nhiệm, hành động hữu ích trong các lĩnh vực gia đình, kinh tế và chính trị”. Theo họ những năng lực này vượt ra ngoài giới hạn của tri thức các môn học và được tạo thành dưới hình thức “biết làm” (know-how) hơn là hình thức “biết gì” (know-what).   Để nhận diện năng lực chung Hội đồng châu Âu đưa ra ba tiêu chí(15): Thứ nhất là khả năng hưũ ích của năng lực ấy đối với tất cả các thành viên cộng đồng. Chúng phải liên quan đến tất cả mọi người, bất chấp giới tính, giai cấp, nòi giống, văn hoá, ngôn ngữ và hoàn cảnh gia đình. Thứ hai: nó phải tuân thủ (phù hợp) với các giá trị đạo đức, kinh tế văn hoá và các quy ước xã hội. Thứ ba: nhân tố quyết định là bối cảnh, trong đó các năng lực cơ bản sẽ được ứng dụng (thực hiện).  Để xác định các năng lực chung cho CTGD một quốc gia, theo chúng tôi cần dựa vào ba yếu tố cơ bản sau đây: Thứ nhất: yêu cầu phát triển của đất nước trong một giai đoạn cụ thể, nhất là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và đào tạo một thế hệ công dân đáp ứng được những thách thức của tương lai. Thứ hai: thực trạng năng lực của HSPT nói riêng và của người lao động nói chung của một đất nước. Thứ ba: xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho HS trong nhà trường PT nhằm đáp ứng thị trường lao động.  Mặc dù cùng xuất phát từ các yếu tố trên, nhưng việc xác định hệ thống năng lực chung cho CTGDPT mỗi nước lại hết sức đa dạng, phong phú(16). Thống kê CT gần đây của 11 nước(17)  theo hướng tiếp cận năng lực, chúng tôi thấy đã có 35 năng lực khác nhau. Tuy nhiên từ thống kê này, có thể thấy một số năng lực (NL) chung được khá nhiều nước đề xuất/lựa chọn. Cụ thể là 8 năng lực sau đây:  1.    Tư duy phê phán, tư duy logic  2.    Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ  3.    Tính toán , ứng dụng số  4.    Đọc-viết (literacy)  5.    Làm việc nhóm – quan hệ với người khác  6.    Công nghệ thông tin- truyền thông (ICT)  7.    Sáng tạo, tự chủ  8.    Giải quyết vấn đề  Có nhiều NL chỉ riêng cho một nước, chẳng hạn: Những hiểu biết liên văn hóa (Úc); Trực giác – intuitive (Nhật); tham gia và đóng góp (New Zealand); nhận thức toàn cầu (global awareness – Singapore); hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật (Tây Ban Nha); học độc lập (Đức); năng lực xã hội (Úc, Sigapore)…  Số lượng NL do mỗi nước đề xuất cũng khác nhau: có nước nêu 10 NL (Úc); có nước nêu 9 NL (Canada – CT Québec), có nước nêu 8 NL (Tây Ban Nha, Singapore); có nước nêu 7 NL (Pháp) ; có nước nêu 6 NL (Anh, Scotland); có nước nêu 5 NL (New Zealand); Nam Phi nêu 4 NL… Tên gọi của các lực ở nhiều nước cũng rất khác nhau.  Phần lớn các nước trong khối EU căn cứ vào 8 lĩnh vực NL chính mà Hội đồng châu Âu đã thống nhất sau một thời gian tranh luận gay gắt vào năm 2002 (18) để đề xuất (thêm, bớt ) hệ thống NL cho CTGD của mỗi nước. 8 lĩnh vực NL chính đó là:  1.    Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ  2.    Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài  3.    Công nghệ thông tin và truyền thông  4.    Tính toán và năng lực toán, khoa học, công nghệ  5.    Doanh nghiệp, kinh doanh (entrepreneurship )  6.    Năng lực liên cá nhân và năng lực công dân  7.    Hiểu biết về học (learning to learn)  8.    Văn hoá chung  Khi xác định hệ thống năng lực chung cần trang bị cho HS, CT bao giờ cũng nêu rõ nội dung mỗi năng lực, tức là trả lời câu hỏi: năng lực này là gì? Chẳng hạn năng lực tư duy được CT Úc giới thuyết như sau: “Năng lực tư duy được xem là trình độ vận dụng hoạt động trí tuệ, nó rất đa dạng trong việc sử dụng thông tin để đạt kết quả. Năng lực tư duy bao gồm các yếu tố như giải quyết vấn đề, ra những quyết định, tư duy phê phán, phát triển lập luận và sử dụng các chứng cớ chứng minh cho lập luận của mình. Năng lực tư duy là cốt lỗi của nhiều hoạt động trí tuệ.”(19)           II.4. Thiết kế chương trình theo hướng tiếp cận năng lực  Thiết kế CT truyền thống thường bắt đầu từ mục tiêu GD sau đó xác định các lĩnh vực/môn học, chuẩn kiến thức và kĩ năng, phương pháp dạy học và cuối cùng là đánh giá. Còn thiết kế CT theo năng lực trước hết cần xác định các năng lực chung cần trang bị và phát triển cho HS. Những năng lực này có thể nêu ngay trong mục tiêu của CTGD. Từ các năng lực này mới xác định các lĩnh vực/môn học bắt buộc cần thiết có vai trò trong việc phát triển năng lực; sau đó phải xác định được chuẩn năng lực cho mỗi giai đoạn/cấp/lớp; tiếp đến là xác định những năng lực mà mỗi môn học bắt buộc có thể đảm nhận; chẳng hạn với CT của New Zealand(20), môn tiếng Anh sẽ đảm nhận 4 năng lực: a) Sử dụng ngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp và học tập; b) Trình bày việc viết và nói thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (media) khác nhau; c) Đọc và nghe các văn bản viết, nói và văn bản thông tin đại chúng; d) Viết được các thể loại (genres) khác nhau với những mục đích cá nhân và xã hội. Môn Toán sẽ chịu trách nhiệm 3 năng lực: a) Giải quyết một tình huống có vấn đề; b) Sử dụng được lập luận toán học; c) Giao tiếp bằng việc sử dụng ngôn ngữ toán.  Cuối cùng mỗi môn học, các năng lực nêu trên lại đựơc trình bày với ba nội dung: Đặc điểm của năng lực; Kết quả cần đạt về năng lực; Tiêu chí đánh giá năng lực này.  Khảo sát CTGD gần đây của khoảng 30 quốc gia, chúng tôi thấy CTGD Québec của Canada là CT được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực hoàn chỉnh nhất trong số các nước tuyên bố xây dựng CT theo hướng này.  *  * *  Từ những gì nêu ra ở trên, có thể khẳng định đôi điều:  Thứ nhất: xây dựng, thiết kế CTGD theo hướng tiếp cận năng lực người học là một xu thế khá nổi trội, được nhiều nước chú ý vận dụng trong việc phát triển CT, đặc biệt đối với giai đoạn GD cơ sở, bắt buộc. Tuy việc triển khai, vận dụng có những mức độ khác nhau, nhưng khá thống nhất về quan niệm và cách hiểu.  Thứ hai: cần phân biệt năng lực chung/năng lực chính còn gọi là năng lực xuyên CT với các năng lực riêng của môn học cụ thể. Hai năng lực này có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng các năng lực chung rất được chú ý trong khi xem xét và đổi mới CT. Vì chúng được sử dụng trong tất cả các môn học và các lĩnh vực học tập, phản ánh sự hội tụ, tích hợp và tổng hợp tất cả các kết quả học tập của nhiều giai đoạn. Với ý nghĩa này, chúng là những thước đo giá trị của mọi người, khi họ sống trong một xã hội phức tạp, khôn lường, với các tình huống và những tương tác đổi thay liên tục.  Thứ ba: thiết kế, xây dựng CT theo hướng phát triển năng lực thực chất vẫn là cách tiếp cận “kết quả đầu ra”. Nhưng “kết quả đầu ra” ở đây là hệ thống năng lực tổng hợp như đã trình bày, chứ không phải là một tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ rời rạc.  Thứ tư: thiết kế và thực hiện CT theo hướng phát triển năng lực cần phải nhất quán từ hệ thống năng lực, mục tiêu, chuẩn năng lực, đặc điểm của các năng lực, kết quả cần đạt về năng lực và tiêu chí đánh giá các năng lực. Tránh việc chỉ đặt ra ở một khâu nào đó của quy trình GD.  Bài toán cần suy nghĩ và bàn bạc, trao đổi để có lời giải là: Việt Nam nên phát triển CTGD theo hướng tiếp cận năng lực như thế nào để vừa phù hợp với thực tiễn đất nước, vừa hội nhập đựơc với xu thế tiến bộ của thế giới.                             Tài liệu tham khảo chính  1.    An International Comparative Study of School Curriculum – NIER (1999) – Tokyo   2.    Definition and Selection of Competencies (DeSeCo) (http://www.deseco.admin.ch/)  3.    INCA (2010) – http://www. inca.org.uk  4.    Key Competencies – A developing concept in general compulsory education– Eurydice, 2002  5.    Melbourne Declaration on Educational Goals for Young Australians, December 2008  6.    New Zealand Curriculum (2007) – The Ministry of Education – Wellington, New Zealand. – www.learningmedia.co.nz   7.     National Education Reform in Indonesia (2006): Milestones and Strategies for the Reform Process by Dr. Ella Yulaelawati – http://www.worldedreform.com/intercon  8.    The Shape of the Australian Curriculum (2008)- http://www.acara.edu.au/general   9.    The Québec Education Progam (2005): Cross-Curricular Competency – Broad Areas of Learning- Subject-Specific Competencies  10.    Quebec Educational Reform (2005)- www.6swlauriersb.qc.ca  11.    Review motivators – Thematic Probe Curriculum review in the INCA countries: June 2010  12.    Wikipedia, the free encyclopedia – General competence  —-  Chú thích:  * Viện KHGD Việt Nam  (1) An International Comparative Study of School Curriculum – NIER- Tokyo-1999- p 33  (2) National Institute for Educational Research (Viện nghiên cứu GD Quốc gia – Nhật Bản)  (3) NIER- Tài liệu đã dẫn, trang 33.  (4) Khảo sát việc phát triển CTGD của 21 nước do INCA thống kê, chúng tôi thấy từ năm 2000 đến nay đã có tới 14 nước tiến hành xem xét, chỉnh sửa CT với nhiều mước độ khác nhau. Thuật ngữ thường sử dụng trong các văn bản CT là Review ( xem xét lại), Innovation (đổi mới) và Reform ( sửa đổi, cải cách)…  (5) International Review of Curriculum and Assessment Frameworks Internet Archive- www. inca.org.uk  (6) Review motivators – Thematic Probe Curriculum review in the INCA countries: June 2010  (7) Foreword – New Zealand Curriculum  (8) Key Competencies A developing concept in general compulsory education- Eurydice, 2002    (9) Trong các văn bản CT của Phần Lan, năng lực được hiểu và gọi là các kĩ năng cơ bản ( basic skills)  (10) Key Competencies A developing concept in general compulsory education- http://www.eurydice.org  (11) Cải cách giáo dục ở Indonesia – http://www.worldedreform.com/intercon/kedre9.htm  (12) Khái niệm Competence thuật ngữ xuyêt suốt CTGD cơ bản bắt buộc châu Âu (EU) Eurydice, 2002 – http://www.eurydice.org).  (13) Definition and Selection of Competencies (DeSeCo Project)- OECD  (14) Cross-curricular competencies- Québec Education Program  (15) Key Competencies A developing concept in general compulsory education- Tài liệu đã dẫn  (16) Weinert (2001) xác nhận một tài liệu công bố gần đây về chủ đề này ở Đức viết rằng: có hơn 650 năng lực chính ( established that recent publications on the subject in Germany cite more than 650 general key qualifications or key competencies.”)  (17) Đó là các nước: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Singaporre, New Zealand, Tây Ban Nha, Canada, Scotland, Nam Phi, Úc ( chủ yếu là theo INCA)  (18) European Commission 2002c  (19) Melbourne Declaration on Educational Goals for Young Australians December 2008  (20) The Québec Education Progam: Cross-Curricular Competency – Broad Areas of Learning- Subject-Specific Competencies- 2005           Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng cơ chế giải trình hiệu quả      Trao quyền tự chủ cho các trường đại học của Việt Nam là một điều tất yếu. Tuy nhiên tự chủ chỉ có thể tồn tại song với trách nhiệm giải trình, và những quốc gia nơi các trường đại học có sự tự chủ cao nhất cũng chính là những nơi có cơ chế giải trình hiệu quả nhất.    Trong một loạt các động thái chứng tỏ quyết tâm thay đổi cung cách quản lý trong giáo dục đại học, vừa qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 57/TT sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (thường được biết đến dưới tên gọi Quy chế 43). Thông tư này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/2/2013 sắp tới. Những thay đổi trong Thông tư nói trên chủ yếu liên quan đến Chương trình đào tạo, trong đó quan trọng nhất là quy định liên quan đến Điều 2 của Quy chế (Chương trình đào tạo). Nếu trước đây theo Quy chế 43 mọi chương trình đào tạo ĐH phải được xây dựng dựa trên chương trình khung do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, thì hiện nay với thông tư mới, hiệu trưởng các trường đại học đã được trao quyền ban hành các chương trình đào tạo được thực hiện trong trường của mình.  Xin trích nguyên văn các điều khoản quy định có liên quan trong hai văn bản nói trên: Quy chế 43 quy định rằng “Chương trình được các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành” (Điều 2, Khoản 2). Nhưng trong Thông tư 57, điều khoản này đã được sửa lại thành “Hiệu trưởng ban hành chương trình thực hiện trong trường mình” (Điều 2, Khoản 4). Chỉ một câu ngắn, nhưng đó là dấu hiệu của một thay đổi căn bản từ mô hình quản trị do nhà nước kiểm soát sang mô hình tự chủ mà các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến đã theo đuổi từ lâu. Mặc dù tự chủ trong các hoạt động chuyên môn – trong đó thấp nhất là sự tự chủ trong xây dựng chương trình – chỉ mới là mức độ tự chủ tối thiểu của một trường đại học, nhưng đây vẫn là một bước phát triển quan trọng để cải cách giáo dục đại học tại Việt Nam.       Dường như có một điều kỳ lạ đang diễn ra. Trong khi lâu nay tại Việt Nam các trường luôn mong mỏi được trao thêm quyền tự chủ còn Bộ Giáo dục thì cho rằng mình cần giữ nhiều quyền trong tay để kiểm soát chất lượng giáo dục đại học, vốn là điều cần thiết trong tình trạng nhiều trường đại học tại Việt Nam vẫn còn chưa đủ mạnh. Tuy nhiên, với Thông tư 57 thì Bộ bỗng chủ động thay đổi, dù không có căn cứ nào để nói rằng giờ đây tất cả các trường đã đủ lớn mạnh để được trao thêm quyền tự chủ. Như vậy, có hai câu hỏi có thể được đặt ra, đó là: (1) Việc bỏ chương trình khung liệu sẽ đem lại những lợi ích gì cho nền giáo dục đại học của Việt Nam? Và (2) Làm thế nào để bảo đảm rằng việc trao quyền tự chủ về chương trình đào tạo cho các trường không dẫn đến tình trạng hỗn loạn, mạnh ai nấy làm, bất chấp chất lượng?   Nhìn ra thế giới, có thể thấy tất cả các nền giáo dục thành công đều dựa trên nguyên tắc trao quyền tự chủ đầy đủ cho các trường. Không giống như ở Việt Nam, nơi mọi chương trình đào tạo trong cùng một ngành học ở mọi trường đều na ná giống nhau, hoàn toàn không có bản sắc (vì được xây dựng dựa trên cùng một chương trình khung), chương trình đào tạo ở các nước có thể có những khác biệt đáng kể. Cùng là ngành Ngôn ngữ học ứng dụng nhưng một trường có thể chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ngôn ngữ, trường khác nhấn mạnh việc thu thập và phân tích ngữ liệu người học (learner corpora) để nghiên cứu quá trình phát triển ngôn ngữ, còn một trường khác nữa thì quan tâm đến khoa học trắc nghiệm với các phương pháp định lượng để kiểm tra – đánh giá năng lực người học cho chính xác, chẳng hạn.   Không cần tìm ở đâu xa xôi, ngay tại một số nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Indonesia, hoặc Malaysia thì quyền tự chủ tối thiểu về chuyên môn là tự xây dựng chương trình đào tạo của mình cũng đã được bảo đảm từ lâu. Việc xác định được “bản sắc” của từng trường và từng chương trình đào tạo cũng là một trong những yêu cầu của đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn của AUN, tức Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á mà hai đại học quốc gia của Việt Nam đang là thành viên. Cạnh tranh bằng sự khác biệt với các “đối thủ” đã trở thành suy nghĩ bình thường của lãnh đạo các trường đại học. Vì vậy, nếu Việt Nam cứ khư khư với việc tiếp tục giữ chương trình khung thì điều đó đồng nghĩa với việc buộc các trường đại học của mình phải tạo ra những chương trình thiếu bản sắc, hao hao giống nhau, không thể đáp ứng được những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động, và càng không thể nào có được tính cạnh tranh cần thiết trong một thế giới ngày càng hội nhập sâu rộng.   Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng sự tự chủ của các trường đại học trên thế giới không phải là không có điều kiện. Tự chủ chỉ có thể tồn tại song với trách nhiệm giải trình, và những quốc gia nơi các trường đại học có sự tự chủ cao nhất cũng chính là những nơi có cơ chế giải trình hiệu quả nhất. Cơ chế ấy thường bao gồm những yếu tố sau: một thị trường cạnh tranh lành mạnh, nơi “người tiêu dùng” (ở đây là người học và gia đình) được đảm bảo quyền thông tin chính xác và đầy đủ cùng sự tự do lựa chọn; một hệ thống các luật lệ, quy định ở tầm vĩ mô đủ chặt chẽ và rõ ràng để có thể thực thi nhưng cũng đủ thoáng và rộng để không vô tình xâm phạm vào quyền tự chủ của các trường; và một cơ chế tự kiểm soát của giới chuyên môn thông qua các hội nghề nghiệp và quá trình kiểm định chất lượng chương trình đào tạo gắn với việc đáp ứng nhu cầu chuyên môn của thị trường nhân lực thuộc các lãnh vực nghề nghiệp. Với một cơ chế giải trình như vậy, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước có thể nói là khá nhẹ nhàng, vì chỉ cần tạo ra sân chơi cho mọi người và sau đó thì lui về giám sát, khuyến khích và hỗ trợ những người chơi tốt hoặc cần được hỗ trợ, và xử phạt những trường hợp vi phạm nếu có.   Khi xét tình hình Việt Nam theo các yếu tố của một cơ chế giải trình hiệu quả hiện như đã nêu ở trên, có thể thấy hiện nay chúng ta cũng đã có đa số yếu tố, dù đôi chỗ chỉ mới ở mức sơ khai: thị trường cạnh tranh (đôi khi chưa hoàn toàn lành mạnh), quyền thông tin của người học (vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu thông qua “ba công khai”), tự do lựa chọn (ở mức tương đối), khung pháp lý để vận hành các chương trình đào tạo (đôi khi còn mơ hồ, chồng chéo, hoặc chưa đầy đủ). Yếu tố còn sơ khai nhất, thậm chí có thể nói là chưa tồn tại, đó là yếu tố cuối cùng: vai trò của các hội nghề nghiệp trong quá trình tự kiểm soát thông qua kiểm định chất lượng chương trình đào tạo thuộc các ngành nghề khác nhau. Và đây chính là việc mà Việt Nam cần phải đẩy mạnh trong thời gian tới, nếu muốn các chương trình đào tạo của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của một thị trường lao động chung của khu vực mà ASEAN đang đặt mốc thời gian là năm 2015 – một thời gian không còn bao xa nữa!  Trao quyền tự chủ cho các trường là một điều tất yếu để nền giáo dục của Việt Nam có thể cất cánh, nhưng đó sẽ không phải là một việc làm dễ dàng và chỉ cần sự tự nguyện trao quyền của Bộ. Để việc trao quyền tự chủ có thể diễn ra một cách thuận lợi và đem lại những tác động tích cực nhất, nhất thiết phải tập trung vào việc xây dựng một cơ chế giải trình hiệu quả. Những động thái gần đây của Bộ Giáo dục, và nói rộng ra hơn nữa là của cả hệ thống chính trị Việt Nam, đang cho thấy sự thay đổi quan điểm và phương pháp ngày càng tiệm cận với cách làm chung của thế giới, cho phép ta có thể có ít nhiều hy vọng vào một sự cải cách đúng hướng. Đường đi sẽ còn rất dài, nhưng nếu đã chọn đúng đường và bắt đầu đi những bước đầu tiên, thì chắc chắn việc đạt đến đích chỉ còn là vấn đề thời gian.      —  Tài liệu tham khảo  Thông tư http://vnu.edu.vn/upload/vanban/2013/01/04/TT57-2012.pdf  Quy chế 43 http://dt.ussh.edu.vn/_tailieu/Quy%20che%20quy %20dinh/Quy%20che%20dao%20tao%20theo%20tin%20chi%20-%20Bo%20GD&DT%5B1%5D.pdf  Accademic autonomy http://www.university-autonomy.eu/dimensions/academic/   Luật Giáo dục đại học: http://www.ndun.edu.vn/vi/download/ Luat/Luat-giao-duc-Dai-hoc-so-08-2012-QH13-ngay-18-thang-6-nam-2012/   Chương trình khung của các ngành do Bộ ban hành, ví dụ http://thuvienphapluat.vn/archive/Thong-tu/Thong-tu-02-2012-TT-BGDDT-Chuong-trinh-khung-giao-duc-dai-hoc-nganh-Su-pham-vb134582t23.aspx     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế: thực trạng ở Việt Nam      Báo chí trong những năm gần đây nói nhiều về mục tiêu xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam trong vòng 10-15 năm tới, nhưng lại ít bàn về tình hình thực tế ở Việt Nam như thế nào. Bài viết này sẽ phân tích các nỗ lực cụ thể nhằm đạt mục tiêu trên.      Trước tiên, có thể hiểu đại học đẳng cấp quốc tế là đại học được xếp hạng cao trên thế giới. Có nhiều bảng xếp hạng đại học, nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến hai bảng xếp hạng của Đại học giao thông Thượng Hải [1] và của Thời báo Luân Đôn [14]. Mỗi nơi có các tiêu chí khác nhau để xếp hạng các trường đại học, nhưng tựu chung lại thì người ta vẫn dựa vào các yếu tố sau để đánh giá một trường đại học đẳng cấp quốc tế: cơ cấu tổ chức, thành tích nghiên cứu và chất lượng sinh viên, trong đó thành tích nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng [8]. Thậm chí số điểm dành cho thành tích nghiên cứu chiếm đến 80% tổng số điểm có thể có của một trường trong bảng xếp hạng của Đại học giao thông Thượng Hải. Để xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam chúng ta phải trả lời trước tiên câu hỏi liệu đội ngũ các nhà khoa học của ta có cung cấp đủ giảng viên có thành tích nghiên cứu cho một trường đại học như vậy hay không?           Với cơ cấu hiện  nay thì phải có những ca đại phẫu thuật thì mới có thể thay đổi được hai  đại học này. Nhưng đại phẫu thuật dễ gây ra tai biến. Vì vậy, phương án khả thi nhất là xây dựng đại học mới theo các chuẩn mực quốc tế, tập trung vào một số ngành chúng ta có thế mạnh rồi phát triển dần lên.        Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta hãy xét đội ngũ các nhà toán học Việt Nam là ngành có thành tích công bố quốc tế tương đối tốt ở trong nước. Theo thống kê của Chương trình trọng điểm phát triển toán học đến năm 2020 thì số công bố quốc tế hàng năm của tất cả các nhà toán học Việt Nam chưa bằng của Đại học Toulouse III là một đại học trung bình ở Pháp và số lượng các nhà toán học trong nước có công bố thường xuyên hiện nay chỉ khoảng 150 người, xấp xỉ số lượng các nhà toán học Đại học Toulouse III. Để có được một giảng viên có trình độ nghiên cứu bình thường cũng cần ít nhất 10 năm đào tạo. Chỉ với ví dụ này đã có thể khẳng định chúng ta không thể có được một đại học đẳng cấp quốc tế tròng vòng 10-15 năm tới.     Xây dựng từ đầu hay xây dựng lại một đại học có sẵn?  Chúng ta hãy xem các nước xung quanh giải quyết vấn đề này như thế nào. Năm 1998 Trung Quốc đưa ra Chương trình 985 tập trung đầu tư cho 9 trường đại học trọng điểm để nhằm đưa những trường này thành những đại học đẳng cấp quốc tế [2], [11]. Các trường này đều là những đại học có truyền thống như Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa. Từ trước tới nay, các trường này đều là nơi tập trung những tinh hoa của cả hệ thống đại học Trung Quốc. Đối với dân số hơn một tỷ người thì ta có thể hình dung chất lượng giảng viên và sinh viên của họ ưu tú như thế nào. Trong 3 năm đầu, mỗi trường trọng điểm được nhà nước hỗ trợ thêm từ 135 đến 270 triệu USD [12]. Vì vậy, chúng ta không nên lấy làm lạ khi trong danh sách 200 đại học hàng đầu thế giới năm 2010 của Thời báo Luân Đôn có đến 5 trường đại học trọng điểm của Trung Quốc, trong đó Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa xếp hạng thứ 37 và 58.           Ở đây có một  nghịch lý là chúng ta chấp nhận hai trường đại học được thành lập mà  không có đội ngũ giảng viên cơ hữu, trái ngược với quy định thành lập  các trường đại học trong nước.         Chúng ta cũng có hai đại học lớn là hai đại học quốc gia ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Nếu hai đại học đó giữ được cơ cấu tổ chức và truyền thống đào tạo của hai đại học tiền thân là Đại học tổng hợp Hà Nội và Đại học khoa học Sài Gòn thì chúng ta có thể hy vọng vào việc xây dựng hai đại học này thành những đại học có vai vế trong vùng. Còn với cơ cấu hiện nay thì phải có những ca đại phẫu thuật thì mới có thể thay đổi được hai đại học này. Nhưng đại phẫu thuật dễ gây ra tai biến. Có lẽ vì vậy mà một nước có lịch sử phát triển nền đại học giống Việt Nam là Hàn Quốc đã chọn con đường khác. Họ có Đại học quốc gia Seoul, nhưng họ lại tập trung đầu tư xây dựng một trường mới hoàn toàn là Học viện cao cấp Hàn Quốc về Khoa học và Công nghệ (Korean Advanced Institut of Science and Technology, viết tắt là KAIST). KAIST được thành lập năm 1971 theo một đạo luật đặc biệt nhằm đưa trường này thành một “trung tâm nghiên cứu và phát triển theo sách lược quốc gia” [7]. Để giải quyết vấn đề nhân sự họ có nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút người tài đến làm việc và chọn sinh viên ưu tú đến học. Chỉ sau vài năm, KAIST đã trở thành một đại học hàng đầu thế giới. Học viện này hiện được Thời báo Luân Đôn xếp hạng thứ 79, trong lúc Đại học quốc gia Seoul được xếp hạng thứ 109.  Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta không thể xây dựng một đại học đẳng cấp ngay lập tức như Hàn Quốc được. Vấn đề là đội ngũ các nhà khoa học của ta quá mỏng. Nếu tập trung hết vào một trường đại học sẽ làm suy yếu toàn bộ hệ thống đại học. Chúng ta cũng không thể hy vọng bắt đầu với một đội ngũ giáo sư và sinh viên làng nhàng, rồi hy vọng trường đó sẽ trở thành đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, phương án khả thi nhất là xây dựng đại học mới theo các chuẩn mực quốc tế, tập trung vào một số ngành chúng ta có thế mạnh rồi phát triển dần lên.   Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có đề án xây dựng một đai học như vậy nhằm gắn chặt nghiên cứu với đào tạo, vốn là một yêu cầu không thể thiếu đối với một đại học tiên tiến. Phương án này hoàn toàn khả thi vì Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao trong nhiều ngành khoa học và công nghệ và có cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh. Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc là cơ quan có cơ cấu tương tự như Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng có một cơ sở đào tạo mang tên Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc. Đại học này cũng được chính phủ Trung Quốc chọn là một trong 9 trường trọng điểm năm 1998 và hiện nay đã trở thành một trường đại học hàng đầu thế giới. Thời báo Luân Đôn xếp hạng đại học này thứ 49 năm 2010, còn trên cả Đại học Thanh Hoa. Rất tiếc là đề án thành lập một đại học tương tự như Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã không được thực hiện.     Xây dựng với sự trợ giúp quốc tế          Hiện nay là phần lớn sinh viên vào học các trường này thuộc các gia đình khá giả nhưng điểm thi đại học thấp.  Nói  một cách nôm na là nhà nước đã hỗ trợ cho con nhà giàu học kém vào học  các trường này, không phục vụ gì cho quá trình phát triển trường sau  này.        Để khắc phục sự thiếu hụt nhân lực chúng ta cũng có thể hợp tác với quốc tế để xây dựng các đại học mới. Hiện nay chúng ta có hai trường đại học mới đuợc thành lập với sự hợp tác của Đức và Pháp là Đại học Việt Đức ở TP Hồ Chí Minh và Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (gọi nôm na là Đại học Việt Pháp). Mục tiêu phát triển của hai trường này là đến năm 2020 được xếp hạng trong danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới và là hình mẫu cho các đại học khác về phương pháp quản lý và chương trình đào tạo, tạo động lực cho đổi mới giáo dục đại học Việt Nam [3], [10]. Các trường này đều do người nước ngoài quản lý và đảm nhiệm phần lớn thời lượng giảng dạy [4], [5]. Tuy nhiên, cách thức hoạt động của hai đại học này có nhiều điều gây băn khoăn về mục tiêu trên.    Không có đội ngũ giảng viên cơ hữu  Đây là trở ngại lớn nhất trên con đường trở thành Đại học đẳng cấp quốc tế. Chương trình đào tạo có thể hay, giáo viên nước ngoài có thể giỏi, nhưng nếu họ chỉ sang đây giảng bài trong vòng 1-2 tháng thì sinh viên tiếp thu kiến thức như thế nào. Điều này không khác gì các chương trình dạy học từ xa mà chất lượng đào tạo như thế nào thì chúng ta đều quá rõ. Một trong những tiêu chí quan trọng để xếp hạng các trường đại học là thành tích nghiên cứu. Nhưng với đội ngũ giáo viên thỉnh giảng như vậy thì lấy thành tích nghiên cứu ở đâu. Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách tuyển giáo sư nước ngoài đến làm việc lâu dài. Nhưng với trình độ xã hội phát triển còn thấp, chúng ta khó có thể thu hút người giỏi bên ngoài đến làm việc, dù có trả lương họ cao thế nào đi nữa. Thực tế ở trường Đại học Việt Đức cho thấy hầu hết các giáo sư đều đến từ các đại học khoa học ứng dụng là các trường có vị trí rất thấp trong hệ thống đại học của Đức, có thể ví như các trường cao đẳng (nước Đức có 105 đại học thật sự và 203 đại học khoa học ứng dụng). Đại học Việt Pháp được một số trường đại học lớn của Pháp đỡ đầu, nhưng hiện nay không có giảng viên cơ hữu nước ngoài. Trong Hội thảo COPED tại Viện hàn lâm khoa học Pháp năm 2010, tôi hỏi ông Piere Sebban hiệu trưởng Đại học Việt Pháp về vấn đề này thì được biết là trường không có kế hoạch tuyển giáo sư cơ hữu nước ngoài. Ở đây có một nghịch lý là chúng ta chấp nhận hai trường đại học được thành lập mà không có đội ngũ giảng viên cơ hữu, trái ngược với quy định thành lập các trường đại học trong nước. Bài toán giảng viên cơ hữu chỉ giải quyết được bằng cách tuyển người Việt. Vậy thì tại sao không tuyển ngay những nhà khoa học Việt để làm nòng cốt cho các trường này ngay từ bây giờ. Nhưng nếu có nhiều giảng viên Việt Nam quá, thì tên gọi Việt Đức hay sự hợp tác Việt Pháp còn có ý nghĩa gì. Đây sẽ là một bài toán nan giải cho các nhà quản lý.  Kinh phí phụ thuộc bên ngoài  Hiện nay kinh phí cho giảng viên nước ngoài ở Đại học Việt Đức hay Đại học Việt Pháp do chính phủ Đức và Pháp tài trợ. Tuy nhiên sự tài trợ đó không thể là mãi mãi. Nếu các trường này không có một đội ngũ giảng viên cơ hữu hoàn chỉnh thì các trường này sẽ hoạt động ra sao khi các nước Đức và Pháp không tài trợ nữa. Xét về khía cạnh kinh tế thì chi phí đi lại và ăn ở cho các giảng viên nước ngoài đến giảng dạy ngắn hạn tại các trường này tốn kém hơn rất nhiều việc thuê giảng viên cơ hữu, mà lại không phục vụ gì cho việc phát triển đội ngũ giảng viên người Việt về lâu dài. Để khắc phục tình trạng này cần phải bổ sung vào quy chế tổ chức và hoạt động của các trường quy định tỷ lệ giảng viên cơ hữu và phải có lộ trình cho việc tiến tới có một đội ngũ giảng viên cơ hữu hoàn chỉnh.  Hệ thống các chuyên ngành đào tạo không hoàn chỉnh  Các đại học đẳng cấp quốc tế đều có một hệ thống quy mô các chuyên ngành bổ trợ cho nhau. Có như vậy thì mới giữ được chất lượng đào tạo đỉnh cao. Nhưng các trường đại học do nước ngoài trợ giúp khó lòng làm được việc này. Lý do chính vẫn là đội ngũ giảng viên. Không có cách gì để có thể mời đủ giảng viên nước ngoài cho tất cả các môn học được. Hiện nay Đại học Việt Đức chỉ đào tạo một số chuyên ngành ứng dụng hẹp gồm 2 chuyên ngành hệ cử nhân và 5 chuyên ngành hệ thạc sĩ. Đó là những chuyên ngành họ tìm được đối tác bên Đức tham gia đào tạo [5]. Đại học Việt Pháp hiện nay mới đào tạo hai chuyên ngành công nghệ. Trong tương lai sẽ có thêm 4 chuyên ngành công nghệ [4]. Cả hai trường này đều không có các khoa khoa học cơ bản trong khi mọi trường đại học đẳng cấp quốc tế đều cần có một số khoa khoa học cơ bản phụ trách giảng dạy và nghiên cứu các kiến thức liên quan. Ngay cả những đại học kỹ thuật của Pháp như Đại học bách khoa Paris (Ecole Polytechnique) xếp hạng thứ 39 trong bảng xếp hạng 2010 của Thời báo Luân Đôn cũng có đầy đủ các khoa khoa học cơ bản và đó đều là những khoa có tiếng trên thế giới. Tuy nhiên, ông Sebban hiệu trưởng Đại học Việt Pháp cho rằng trường chỉ đào tạo các hướng công nghệ đa ngành và do đó không cần các khoa khoa học cơ bản. Thậm chí khi được hỏi là Đại học Việt Pháp có theo mô hình đại học nào của Pháp không thì ông Sebban trả lời là không và coi Đại học Việt Pháp là một thử nghiệm về một mô hình đại học hoàn toàn mới. Điều này đã gây nên sự bất bình trong những người tham dự Hội thảo COPED tại Viện Hàn lâm khoa học Pháp, trong đó có nhiều nhà khoa học hàng đầu của Pháp. Bất bình là vì không thể mạo hiểm trong một trọng trách như vậy, nhất là khi nó liên quan đến một sự đầu tư rất lớn của nhà nước Việt Nam.  Chất lượng sinh viên không cao  Hai trường đại học Việt Đức và Việt Pháp đều thu học phí tương đối cao. Vì vậy họ khó lòng tuyển được sinh viên có chất lượng. Những học sinh giỏi sẽ chọn các trường đại học có tên tuổi với học phí thấp để theo học. Những học sinh khá có khả năng tài chính sẽ đi học ở nước ngoài. Như vậy chỉ còn các học sinh kém mới chọn vào các trường Đại học Việt Đức hay Việt Pháp. Thực tế tuyển sinh ở các trường này cho thấy điểm chọn vào trường xấp xỉ điểm sàn vào đại học. Thậm chí trường Việt Đức còn tổ chức học bán thời gian vào buổi tối và cuối tuần nhằm thu hút học viên có chất lượng cho hệ cao học [5]. Với đầu vào như vậy thì làm thế nào có thể bảo đảm chất lượng đầu ra nhằm đưa các trường này thành các đại học đẳng cấp quốc tế được.   Một vài năm trước đây, Singapore có chính sách thu hút các trường đại học danh tiếng trên thế giới mở cơ sở đào tạo tại Singapore bằng các chính sách ưu đãi về tài chính và đất đai. Hầu hết các trường đều từ chối vì để giữ được chất lượng đào tạo như cơ sở gốc của họ thì quá tốn kém. Chỉ có duy nhất Đại học New South Wales (UNSW) có kế hoạch đầu tư 200 triệu đô la Úc mở cơ sở đào tạo tại Singapore [9]. Đây là một trong những đại học hàng đầu của Úc, được Thời báo Luân Đôn xếp hạng thứ 152 năm 2010. Họ được chính phủ Singapore bố trí 20 ha đất, hỗ trợ 17,3 triệu đô la Singapore và cho vay thêm 15 triệu đô la Singapore [6]. Tuy nhiên chỉ sau nửa năm hoạt động họ phải đóng cửa cơ sở ở Singapore vì có ít người theo học. Lý giải chuyện này, GS Fred Hilmer, phó hiệu trưởng UNSW lúc đó nói rằng “Khi một sinh viên nói muốn có bằng của Úc thì điều đó có nghĩa anh ta muốn đến Sydney. Bài học chúng tôi học được là sinh viên đến học không chỉ vì thương hiệu của trường mà còn vì địa điểm đến nữa” [9]. Có lẽ đó cũng là lý do mà cho đến nay, trên thế giới chưa có một nước đang phát triển nào xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế với sự trợ giúp từ bên ngoài.   Tóm lại, việc xây dựng đại học đẳng cấp quôc tế với sự trợ giúp từ bên ngoài như Đại học Việt Đức hay Đại học Việt Pháp khó lòng thành công. Có thể đó là những mô hình tốt về quản lý đại học hay về chương trình đào tạo. Nhưng nhà nước có cần thiết đầu tư lớn như vậy để xây dựng các trường này hay không. Chỉ riêng với 100 triệu Euro của chính phủ Pháp tài trợ cho Đại học Việt Pháp chúng ta đã có thể cử hơn 4000 người đi học thạc sĩ hai năm ở Pháp (theo định mức của Chương trình 322), một con số mà Đại học Việt Pháp chắc sẽ không đạt được sau 10 năm mà chất lượng đào tạo lại không bằng. Ngoài ra còn phải xét đến khía cạnh thực tế hiện nay là phần lớn sinh viên vào học các trường này thuộc các gia đình khá giả nhưng điểm thi đại học thấp. Nói một cách nôm na là nhà nước đã hỗ trợ cho con nhà giàu học kém vào học các trường này, không phục vụ gì cho quá trình phát triển trường sau này. Nếu chúng ta muốn có những mô hình tốt về quản lý đại học hay chương trình đào tạo thì chúng ta chỉ cần xây trường mới rồi thuê giáo sư nước ngoài đến làm hiệu trưởng hay chủ nhiệm các khoa. Tuy nhiên việc này không phải lúc nào cũng có kết quả tốt. Hàn Quốc đã từng thuê giáo sư R.B. Laughlin, giải Nobel về Vật lý, đến làm Hiệu trưởng KAIST năm 2006. Sau hai năm họ phải bãi nhiệm ông này vì không “được việc”, có lẽ vì ông này không thông hiểu văn hóa của người Triều Tiên [13].   Tôi tin rằng người Việt có thể tự mình xây dựng được một đại học đẳng cấp quốc tế. Chúng ta có nhiều nhà khoa học giỏi được đào tạo ở nước ngoài, đủ kinh nghiệm và trình độ để xây dựng một trường đại học theo các chuẩn mực quốc tế. Vấn đề là nhà nước có tạo ra được cơ chế để họ có thể thực hiện các ý tưởng của mình hay không. Đất nước chúng ta không giàu, nhưng ít ra chúng ta nên tập trung đầu tư xây một hoặc hai trường đại học mà ở đó các nhà khoa học và sinh viên ưu tú nhất của đất nước có thể làm việc và học với những điều kiện tốt nhất. Nếu chúng ta không làm được điều này thì những tinh hoa về khoa học của Việt Nam sẽ đi ra nước ngoài mãi mãi và chúng ta sẽ lại phải mời người nước ngoài đến giảng dạy cho chúng ta.   Tài liệu tham khảo  [1] Academic Ranking of World Universities, http://www.arwu.org/ARWU2010.jsp  [2] Baidu-Encyclopedia, 985 List, http://baike.baidu.com/view/59436.htm#2  [3] Báo Hà Nội Mới, Trường Đại học Việt Đức chính thức ra mắt, http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/giao_duc/307700/truong-%C4%91ai-hoc-viet-%C4%91uc-chinh-thuc-ra-mat.htm  [4] Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, http://usth.edu.vn/vi/  [5] Đại học Việt Đức, http://www.vgu.edu.vn/vi/  [6] P. Forss, UNSW given S$15m in loans and S$17.3m in grants, Channel NewsAssia, 16 July 2007.  http://www.channelnewsasia.com/stories/singaporelocalnews/view/288515/1/.html  [7] KAIST, At a Glance: A Brief history, http://www.kaist.edu/edu.html  [8] H.M. Levine, D.W. Jong, D. Ou, What is a world class university?  http://www.tc.columbia.edu/centers/coce/pdf_files/c12.pdf  [9] D.A. Paulo, Shock closure of UNSW in Singapore, Today, 24 May 2007.  http://www.channelnewsasia.com/stories/singaporebusinessnews/view/278073/1/.html  [10] Vietnamnet, 15 năm nữa, Việt Nam có đại học lọt top 200, http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/54/15-nam-nua–viet-nam-co-dai-hoc-lot-top-200.html  [11] Wikipedia, C9 League, http://en.wikipedia.org/wiki/C9_League  [12] Wikipedia, Project 985, http://en.wikipedia.org/wiki/Project_985  [13] D. Wohn, Premier science university ousts unpopular president, Science 312, no. 5770 (2006), pp. 32-33.  [14] The World University of Ranking, http://www.timeshighereducation.co.uk/world-university-rankings/2010-2011/top-200.html             Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đại học đẳng cấp thế giới ở Việt Nam: Làm gì để tăng tốc?      Jamil Salmi, chuyên gia giáo dục đại học của  Ngân hàng Thế giới, đưa ra công thức để đạt đến thành  công của một đại học đẳng cấp thể giới gồm ba yếu tố, được xếp theo thứ tự là: sự tập trung về tài năng, nguồn lực tài chính  dồi dào, và cơ chế quản trị hiệu quả.     Xây dựng một nền giáo dục đại học vững mạnh  trong đó có một vài ngôi trường đạt “đẳng cấp thế giới” vừa là ước vọng  vừa là mục tiêu phấn đấu của hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam, và  được cho là điều kiện tối cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh của  một quốc gia trong nền kinh tế tri thức ngày nay. Trong những năm qua,  Chính phủ Việt Nam đã theo đuổi ước vọng này bằng một chiến lược phát  triển song song: vừa tiếp tục đầu tư ở mức cao cho những trường trọng  điểm quốc gia, vừa cho thiết lập và vận hành 4 trường đại học mới theo  mô hình giáo dục của các nước tiên tiến. Mục tiêu cụ thể được đặt ra là  đến năm 2020 phải có ít nhất một trường lọt vào danh sách các trường  hàng đầu trong một bảng xếp hạng danh tiếng.   Tính đến thời điểm hiện nay, chỉ còn đúng 7 năm rưỡi nữa là chạm đến điểm cuối cùng của mốc thời gian đã định sẵn. Tuy nhiên, có thể thấy khả năng đạt được mục tiêu nói trên là không dễ dàng. Hơn lúc nào hết, đây là lúc mà Việt Nam cần nhìn nhận lại những gì đã thực hiện trên cơ sở xem xét những kinh nghiệm quốc tế để tìm ra bí quyết nhằm tăng tốc việc hiện thực hóa ước vọng nói trên.   Yếu tố thành công của một “trường ĐH có đẳng cấp”: Tài chính, quản trị hay  tài năng?  Theo Jamil Salmi, chuyên gia giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới, đưa ra vào năm 2007, công thức để đạt đến thành công của một đại học đẳng cấp thể giới chỉ vỏn vẹn có 3 yếu tố, được Salmi xếp theo thứ tự là: sự tập trung về tài năng, nguồn lực tài chính dồi dào, và cơ chế quản trị hiệu quả. Vậy trong ba yếu tố này, liệu yếu tố nào là cốt lõi cho sự thành công?   Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, yếu tố “nguồn lực tài chính dồi dào” luôn là điều đáng quan tâm và lo lắng hơn cả. Bởi, ai cũng biết kinh phí hoạt động hằng năm của các trường có đẳng cấp thế giới là hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đô la. Tuy nhiên, trên thực tế điều này lại không đến nỗi khó khăn như ta tưởng. Các tổ chức tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB) hoặc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) sẵn sàng cho các nước vay đầu tư vào giáo dục đại học nếu họ đánh giá rằng đây là một nước có tiềm năng. Việt Nam là một trong những nước được chọn để cho vay như vậy.  Với quan điểm rằng đầu tư vào giáo dục mà đặc biệt là giáo dục đại học luôn là một đầu tư sinh lợi, mối quan tâm lớn nhất của các tổ chức cho vay này là nguồn vốn đầu tư được sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Với quan điểm đó, đối với họ thì yếu tố thứ ba – “cơ chế quản trị hiệu quả” – mới chính là bí quyết giúp một trường đại học có thể bước vào “câu lạc bộ của những người có đẳng cấp”. Vì vậy, một trong những khuyến cáo quan trọng của Ngân hàng Thế giới với những quốc gia đối tác là phải thực hiện những cải cách phù hợp, trong trường hợp này là cải cách về quản trị đại học. Đó cũng là điều mà Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thực hiện trong vài thập niên qua, dù mức độ thành công của những cải cách này vẫn còn cần những tổng kết và đánh giá chuyên nghiệp hơn những gì đã được công bố hiện nay.  Yếu tố còn lại, “sự tập trung về tài năng” – được hiểu là tài năng của cả giảng viên lẫn sinh viên – dù được Salmi liệt kê đầu tiên và hiển nhiên phải là yếu tố quan trọng nhất, lại không làm mọi người quá lo lắng.  Dường như nhiều người tin rằng để có được các trường đại học đẳng cấp thì đầu tiên chỉ cần nỗ lực để có những ngôi trường được đầu tư tử tế về cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính dồi dào, cùng một cơ chế quản trị tiên tiến trong đó tự do học thuật của giảng viên được tôn trọng, giảng viên được tham gia vào quá trình ra quyết định của nhà trường và được đãi ngộ xứng đáng. Khi đã có được những điều này thì người ta cho rằng đương nhiên các trường sẽ thu hút được nhiều giảng viên giỏi đến làm việc, và với một trường vừa có cơ sở vật chất tốt, vừa có giảng viên giỏi thì hẳn sẽ dễ dàng thu hút được những sinh viên có tài năng sáng chói nhất. Như vậy, sản phẩm đào tạo của trường – các sinh viên tốt nghiệp – đương nhiên sẽ được xã hội hân hoan đón nhận, sẽ thăng tiến trong nghề nghiệp và về lâu về dài sẽ đóng góp vào việc xây dựng danh tiếng cho trường.  Tuy nhiên, kinh nghiệm trên thế giới cho thấy thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Không phải là ngẫu nhiên mà Salmi lại đưa yếu tố tài năng lên thành yếu tố đầu tiên trong danh sách. Và cũng không ngẫu nhiên khi các trường đại học danh tiếng của các nước tiên tiến trên thế giới luôn có những chương trình học bổng và tài trợ nghiên cứu hấp dẫn cho sinh viên từ khắp nơi trên thế giới. Với những tiêu chí lựa chọn khắt khe, các tài trợ này chủ yếu nhằm để thu hút nguồn tài năng từ khắp thế giới. Vì chính những tài năng trẻ từ các nguồn đào tạo đa dạng này mới có thể tạo ra được một cộng đồng khoa học với nhiều góc nhìn đa dạng và những ý tưởng mới mẻ, một điều kiện không thể thiếu của một trường thuộc hàng đẳng cấp. Vì suy cho cùng sứ mạng của mọi trường đại học có đẳng cấp đều là thu hút, nuôi dưỡng, sử dụng – gộp chung lại là phát triển tài năng. Tài năng – đó mới thực sự là bí quyết thành công của các trường đẳng cấp thế giới, và để thành công trong việc phát triển tài năng, các điều kiện về cơ sở vật chất dồi dào và cơ chế quản trị hiệu quả vẫn chưa phải là điều kiện đủ cho các trường này.    Trường đại học như một môi trường phát triển tài năng: Môi trường bên ngoài và các yếu tố tăng tốc  Ngoài hai điều kiện đã nêu ở trên là nguồn lực dồi dào và cơ chế quản trị hiệu quả, còn một yếu tố khác mà chúng ta không thể quên, đó là yếu tố thời gian. Sẽ cần bao nhiêu năm để một chương trình đào tạo hoặc nghiên cứu, một bộ môn, một khoa hoặc một trường mới được thành lập – giả định rằng chúng có mọi điều kiện hoàn hảo để hoạt động – khẳng định được hiệu quả, tác động và danh tiếng của mình đối với xã hội? Câu trả lời chính xác thì không ai biết, nhưng chắc chắn là đơn vị để tính phải là hàng thập niên. Các chính sách quản lý của những người lãnh đạo các trường đại học ít khi đem đến thành công ngay lập tức, mà thường phải sau hơn một nhiệm kỳ thì những sáng kiến cải tiến hoặc đường lối, chủ trương do họ đưa ra mới có thể thấy được kết quả tác động. Và không phải ngẫu nhiên mà tất cả những ngôi trường hàng đầu thế giới hiện nay đều có lịch sử tồn tại và phát triển đến vài thế kỷ.  Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận chờ một cách thụ động, mà có thể học tập kinh nghiệm của một số các quốc gia “nhanh chân” hơn các nước khác trong cuộc đua “đẳng cấp thế giới, và tránh mắc phải sai lầm của những nước chậm tiến hơn, thậm chí đi nửa chừng lại ngưng rồi khởi động lại từ điểm xuất phát. Trong một công bố gần đây về giáo dục đại học ở châu Mỹ Latin, Salmi đã đúc kết những điều kiện về môi trường bên ngoài và những yếu tố tăng tốc cho sự phát triển của các trường đại học thuộc các quốc gia là những thành viên mới của “câu lạc bộ đẳng cấp thế giới” này. Xin trình bày lại dưới đây theo hai nhóm chính: nhóm môi trường bên ngoài và nhóm yếu tố tăng tốc.  Về môi trường bên ngoài, hay gọi chính xác theo ngôn ngữ của Salmi là “môi trường sinh thái của giáo dục đại học”, tác giả cho rằng để có các trường đẳng cấp thế giới thì ở cấp vĩ mô sẽ cần phải có một môi trường kinh tế chính trị ổn định và phát triển, có tinh thần thượng tôn pháp luật (rule of law) và sự bảo đảm các quyền tự do căn bản của trí thức, sự tự chủ của các trường đại học, đảm bảo kinh phí hoạt động và sự an toàn của những người hoạt động trong môi trường giáo dục. Bên cạnh đó, cần có một môi trường thông tin truyền thông số hiện đại, cập nhật, và cuối cùng là một yêu cầu rất bình thường nhưng không kém quan trọng là vị trí địa lý phù hợp để đặt những ngôi trường có mục tiêu đạt đẳng cấp quốc tế. Điều này rất cần thiết vì các trường có đẳng cấp nhất thiết phải có vị trí thuận lợi (về mặt giao thương, về nguồn nhân lực, và về sự tập trung của các ngành công nghiệp) để có thể thu hút tài năng từ khắp các địa phương, các vùng và các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.   Về các yếu tố tăng tốc, Salmi cho rằng những quốc gia “nhanh chân” trong cuộc đua đẳng cấp thế giới đều có áp dụng một hay nhiều trong số 5 biện pháp sau đây:   Thu hút sự trở về của nguồn chất xám trong nước đã từng ra đi và thành công ở các nước tiên tiến, nhằm hỗ trợ xây dựng/cải cách một ngành đào tạo, một chương trình nghiên cứu, một trường đại học trong nước, v.v. Đây là chiến lược mà Trung Quốc đã áp dụng khá thành công trong những năm qua, với kết quả được cả thế giới khâm phục.  Sử dụng tiếng Anh làm công cụ giao tiếp trong các trường đại học để tạo ra một môi trường quốc tế thực thụ thu hút các tài năng trên toàn thế giới và tạo ra một cộng đồng khoa học đa dạng và mới mẻ. Đây chính là điều kiện thành công của Singapore, đồng thời cũng là một chiến lược tăng tốc được Malaysia áp dụng khá thành công.  Tập trung vào các ngành khoa học và kỹ thuật (science and engineering) là những ngành có sự gắn kết chặt chẽ với các ngành công nghiệp để nhanh chóng tạo được một “nguồn lực đóng vai trò quyết định” (critical mass) cho sự phát triển xã hội. Đây chính là chiến lược mà các nước Nhật Bản và Hàn Quốc đã áp dụng thành công từ những thập niên cuối của thiên niên kỷ trước, và sau đó là Singapore và Malaysia.   Thiết lập một quy trình đối sánh (benchmarking) quốc gia và quốc tế để đo lường và theo dõi hoạt động của các trường một tương đối định lượng và khoa học. Nói cách khác, đây là việc áp dụng một cách có lựa chọn và có phản biện các hệ thống xếp hạng trong và ngoài nước để từ đó biết được hiệu suất hoạt động của từng trường so với mục tiêu đề ra và so với các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược này hiện đang được nhiều nước trên thế giới và trong khu vực áp dụng ở nhiều mức độ khác nhau.  Chú trọng cải thiện chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy ở đại học để tạo nguồn phát triển tài năng. Đây chính là một yếu tố tăng tốc căn bản nhất và có giá trị bền vững nhất trong cuộc đua đẳng cấp thế giới, nhưng thường khi lại bị bỏ sót vì sự “âm thầm” và “thường nhật” của nó – như người ta hay nói, giống như không khí, người ta chỉ nhận ra sự hiện diện của nó khi nó không còn hiện diện!  Những phát hiện và đúc kết của tác giả Salmi là nhằm mục đích tư vấn cho các nước đang phát triển của châu Mỹ Latin, nhưng cũng hoàn toàn phù hợp cho các quốc gia khác như Việt Nam. Mặc dù mốc thời gian 2020 đã rất gần và có thể chúng ta sẽ không đạt mục tiêu có một vài trường lọt vào top 200 của thế giới, nhưng một sự nhìn nhận lại để đi tới là rất cần thiết vào lúc này, vì Việt Nam không được phép dừng lại trong cuộc đua “đẳng cấp thế giới”. Một sự dừng lại vào lúc này cũng có nghĩa là nền giáo dục đại học của Việt Nam đã chịu thua trong sự nghiệp “phát triển tài năng” của đất nước, để mặc những tài năng này lưu lạc cho các trường nước ngoài thu hút, nuôi dưỡng, và sử dụng để cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Lẽ nào chúng ta lại chấp nhận như thế?  Tài liệu tham khảo  Sadlak, J and Liu, Nan Cai (Eds) (2009). The world-class university as part of a new higher education paradigmn: From institutional qualities to systemic excellence. Bucharest: UNESCO-CEPES.  Salmi, J (2013). “Daring to soar: A strategy for developing world-class universities in Chile”. In Pensaminento Educativo. Revista de Investigacion Educacional Latinoamericana 2013, 50(1), 130-146.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng ĐH Hoa Sen theo tinh thần Humboldt      Vừa qua, ĐH Hoa Sen đã tổ chức cuộc thi viết “Tôi mong đợi gì ở các trường đại học?” trong chương trình hoạt động kỷ niệm 200 năm đại học Humboldt. Theo TS Nguyễn Trân Phượng, Hiệu trưởng ĐH Hoa Sen, lý do để ĐH Hoa Sen tổ chức cuộc thi vì tinh thần Humboldt là một cội nguồn quan trọng của đại học hiện đại mà ĐH Hoa Sen đang hướng tới với mục tiêu, đồng thời là nghĩa vụ và cam kết: trở thành một trường ĐH Việt Nam không thua kém bất kỳ một ĐH tử tế nào ở các nước khác.  TS Nguyễn Trân Phượng đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về những giải pháp để tập thể sư phạm ĐH Hoa Sen thực hiện được mục tiêu đó.    Xin chị cho biết tinh thần cơ bản qua những bài tham gia cuộc thi “Tôi mong đợi gì ở các trường đại học”?  Chúng tôi thu thập ý kiến qua bảng hỏi và mở cuộc thi viết là để cho công chúng, gồm doanh nghiệp, phụ huynh, giảng viên và sinh viên cả ở Việt Nam và ngoài Việt Nam có cơ hội lên tiếng. Nên tôi không muốn nói thay họ. Độc giả quan tâm, xin mời xem trực tiếp trên trang http://hu200.hoasen.edu.vn/.  Với khoảng 100 bài dự thi được gởi về trong đó có cả bài từ Phần Lan, Malaysia… đã phản ánh khá trung thực sự chia sẻ của số đông về các giá trị cơ bản của tinh thần Humboldt; nhưng họ chưa tin ở tính khả thi của việc thực hiện tinh thần đó trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Họ thấy rõ giáo dục đại học còn lệ thuộc nhiều vào chính trị vai trò chủ yếu của đại học là khai sáng tinh thần tự do và tôn trọng công lý chưa được coi trọng, do vậy nền giáo dục đại học nói chung chưa đáp ứng những tiêu chí tối thiểu của giáo dục đại học và đang thất bại trong việc cung cấp những điều quan trọng mà sinh viên cần có.   Cũng có những nhận định của một số người cần được trao đổi lại, chẳng hạn “đại học thực chất là tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục, cần được đối xử như một doanh nghiệp và hành động như doanh nghiệp”. Song cũng có thể thấy ở đó sự nóng lòng, bức xúc về tính kém minh bạch, kém hiệu quả trong quản lý giáo dục hiện tại.   Nhận thức về mục tiêu của giáo dục đại học hay những mong đợi cụ thể của doanh nghiệp, phụ huynh, giảng viên và bản thân sinh viên, theo tôi không có khác biệt lớn với mong đợi của công chúng các nước khác. Vấn đề là khoảng cách còn xa giữa mong đợi bình thường, chính đáng đó và thực trạng.  Vậy trong hoạt động của nhà trường, Đại học Hoa Sen đã có những giải pháp gì để đáp ứng được sự mong đợi đó?  Không phải đợi hỏi công chúng rồi chúng tôi mới có giải pháp.   Ngay từ khi thành lập trường Hoa Sen cách đây gần 20 năm, đã có tiền đề cho sự phát triển đúng hướng của Đại học Hoa Sen ngày hôm nay. Tiền đề đó có thể nêu tóm tắt là: có một ý tưởng, một dự án giáo dục rõ ràng, khác biệt làm xuất phát điểm cho sự thành lập trường. Dự án Hoa Sen nhằm thể nghiệm một triết lý đào tạo, một mô hình giáo dục sau phổ thông khác với hiện trạng phổ biến của những năm đầu thập niên 1990. Bởi vậy, người ta sẽ không hiểu đúng về bản chất trường đại học Hoa Sen nếu chỉ xem nó là một trường mới được “nâng cấp” từ bậc học thấp hơn, và theo nhãn quan của đa số trong xã hội Việt Nam, là “hèn kém” hơn hay có sự khác biệt về bản chất so với trường đại học. Người ta cũng sẽ không hiểu nó nếu cứ bám lấy định kiến là đại học tư chỉ có thể làm nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực (teaching university) mà không thể vươn tới chức năng nghiên cứu cơ bản (research university). Theo tôi cũng có phần giáo điều khi nhất mực tách rời và đối lập hai loại hình đại học này.  Sự chuyển đổi thành trường cao đẳng, rồi trường Đại học Hoa Sen vừa là sự phát triển dựa vào nội lực được tích lũy trước đó của trường, vừa trên cơ sở tự tạo cho mình những nội lực mới và, khi cần, những nội lực khác; nhưng có một số điều cốt lõi vẫn bất biến trong tính chất làm nên “bản sắc” Hoa Sen, có thể coi là gene từ buổi hình thành.  Xin chị cho biết một trong những điều bất biến được coi là quan trọng nhất?  Đó là từ chối coi Việt Nam hay trường học ở Việt Nam là “ngoại lệ” không giống ai. Chúng tôi cho rằng trường học ở đâu (dù trường mẫu giáo hay đại học, dù trường công hay tư, lớn hay nhỏ, lâu đời hay mới lập) cũng phải là trường học mà không phải là cơ sở kinh doanh; giáo dục sau phổ thông, giáo dục đại học ở đâu, dù nước giàu, nước nghèo, nước đã hay đang phát triển, dù Á Đông hay Âu Mỹ cũng phải có những tính chất cơ bản chung, phù hợp với thời đại của mình.  Chính vì thế, Hội thảo khoa học đầu tiên chúng tôi tổ chức ngay sau khi trở thành đại học có chủ đề “Tính chủ động của tư duy, phương pháp và tinh thần đại học”. Đó là chưa kể các cuộc thảo luận nội bộ được tổ chức trong quá trình chuẩn bị đề án đại học, với sự tham gia của nhiều trí thức trong và ngoài nước, để xác lập nền tảng của một triết lý giáo dục không quá cách biệt với thế giới.  Nhiều người cho rằng các cá nhân phải là những con người trọn vẹn trước khi trở thành kỹ sư, nhà khoa học. Chị có đồng tình với ý kiến này không?   Tôi rất dè dặt với những khái niệm vừa quá khái quát để có thể tường minh, vừa có hơi hướm chuẩn mực “muôn đời” như là con người trọn vẹn. Nó làm tôi nhớ một thời người ta ngộ nhận chỉ cần dán nhãn “nhà trường xã hội chủ nghĩa” là có thể ba bó chắc một giạ là chúng đào tạo ra “con người xã hội chủ nghĩa”. Tôi thì tin là con người phải luôn được nhìn nhận và đối xử như là con người, dù họ có học hay chưa từng đến trường. Còn giáo dục đúng nghĩa, may ra là giáo dục giúp cho con người có ý thức rõ ràng hơn về thân phận làm người của mình, về tính nhân bản cần có của xã hội và về cách thế mà mỗi người góp phần giữ gìn, nuôi dưỡng tính nhân bản đó, dù họ là nhà triết học, nhà khoa học, là chị thư ký, anh kỹ sư hay là những nhân vật đời thường bình dị như trong tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Ngọc Tư.  Thứ nhất, tôi hoài nghi về khẳng định được chị nhắc lại hai lần: phải là “con người trọn vẹn” trước khi trở thành kỹ sư, nhà khoa học. Tại sao nhất thiết phải trước khi nhỉ? Có phải vì đại học Hoa Kỳ ưa chuộng mô hình học liberal arts ở college trước khi học “chuyên ngành” ở đại học không? Nói ưa chuộng có nghĩa là cũng không phải bắt buộc. Vả chăng, phần lớn các trường đại học Hoa Kỳ cũng như mọi trường đại học tử tế ở nước khác vẫn đang trăn trở cải tiến, thể nghiệm; nói cho đúng là không có mô hình bất di bất dịch. Theo tôi, đại học bây giờ phải vừa rộng, vừa sâu. Còn trước, sau, hay ít nhiều đồng thời, là lộ trình học tập, rèn luyện, trải nghiệm (learning experience) nên được tạo điều kiện cá thể hóa theo năng lực, sở trường, sở thích, cơ hội và nhiều hoàn cảnh khác của cá nhân.  Thứ hai, chắc chắn là tôi rất thích khi chị nhắc “các cá nhân”. Tôi tin là giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng nhất thiết không nên quên các cá nhân ngay cả khi giáo dục đại học đang ồ ạt đại chúng hóa như một xu thế không ai cưỡng nổi, và cũng chẳng nên cưỡng lại, vì đó đồng thời là dân chủ hóa cơ hội tiếp cận tri thức. Chỉ cần đó là giáo dục thực chất, không cung cấp giá trị ảo.  Vậy theo chị, mục tiêu đào tạo con người của ĐH Hoa Sen là gì?   Đó là đào tạo sinh viên trở thành những con người đáp ứng với nhu cầu làm người của thế kỷ 21.  Từ khi còn là trường đào tạo kỹ thuật viên (học 2 năm sau tú tài), chúng tôi đã coi trọng việc dạy ngoại ngữ và dạy môn Giao tiếp (Communication), rồi Giao tiếp liên văn hóa, khi chúng tôi thành trường cao đẳng, có thêm quỹ thời gian. Đó vừa là trang bị kỹ năng cần thiết cho mọi nghề, vừa là nuôi dưỡng tính nhân bản của những con người có đầu óc cởi mở với ngôn ngữ và văn hóa khác, biết lắng nghe và tôn trọng khác biệt trong giao tiếp với tha nhân, không chỉ trong môi trường làm việc.                Khi trở thành trường đại học, chúng tôi lập bộ môn Kỹ năng và phương pháp, trong đó, ngoài môn Giao tiếp, có thêm các môn như Phương pháp học đại học, Dẫn nhập phương pháp nghiên cứu khoa học, Tư duy phản biện, Giới và phát triển. Nay bộ môn này đã trở thành chương trình Giáo dục tổng quát và từ năm học 2011-2012 sẽ có thêm nhiều môn học mới khác như: Con người và môi trường, Đạo đức nghề nghiệp, Nhập môn triết học, Nhập môn văn hóa Việt Nam, Phát triển nghề nghiệp, hay Cảm nhận nghệ thuật. Sinh viên tất cả các ngành bậc cao đẳng và đại học đều bắt buộc chọn học một số môn trong các môn trên. Ở bậc đại học, có những môn học dạng seminar, đòi hỏi năng lực tự nghiên cứu và tranh luận khoa học nhiều hơn.   Ngoài ra, cũng từ 1991, chúng tôi chăm lo công tác Sinh viên vụ (sau này gọi là Hỗ trợ sinh viên) và coi hai lần thực tập là thành phần bắt buộc trong tất cả các chương trình đào tạo, không chỉ giúp sinh viên hiểu và hội nhập thành công vào môi trường doanh nghiệp, mà còn đặt họ trong tâm thế luôn so sánh, đối chiếu, phân tích, lý giải, kiểm nghiệm những điều học được ở trường và học tại nơi làm việc, học trong thực tế cuộc sống, học làm người hữu dụng, biết đối nhân xử thế.   Khi trở thành trường cao đẳng, chúng tôi phải xin “đặc cách” của Bộ Giáo dục để được phép giao đề tài tốt nghiệp cho sinh viên khá, giỏi tập tành nghiên cứu, tìm giải pháp cho các bài toán sản xuất, kinh doanh và tham gia giải quyết các vấn đề thực tế. Nay Hoa Sen là trường đại học, sinh viên có quyền chọn lựa giữa đi thực tập tốt nghiệp có hoặc không có đề tài nghiên cứu, chỉ làm đề tài hay học môn thay thế để mở rộng cơ hội khám phá tri thức ngoài ngành học chính.  Học chế tín chỉ được thực hiện tại Hoa Sen không có khác biệt đáng kể với cách nó được áp dụng ở các nước phát triển; một số môn học được giảng bằng tiếng Anh kể cả ở năm 1, năm 2 và nhiều hơn ở 2 năm cuối. Điều này tạo thuận lợi cho chúng tôi tiếp nhận sinh viên quốc tế đến học tại trường, trao đổi sinh viên. Từ đó sinh viên có nhiều cơ hội giao lưu với sinh viên quốc tế, học từ giảng viên quốc tế (là cơ hữu của trường hay đến dạy trong khuôn khổ hợp tác đại học), tham dự seminar, hội thảo khoa học quốc tế do trường tổ chức. Ngoài ra, họ được khuyến khích giao lưu với doanh nghiệp, sinh hoạt câu lạc bộ, thực hiện nhiều dự án phục vụ cộng đồng.  Bắt đầu từ năm nay, Quỹ Phát triển KH&CNquốc gia- Bộ KH&CN có chương trình tài trợnghiên cứu cơ bản cho ngành khoa học xã hội và nhân văn với mong muốn các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có thể kết nối với cộng đồng khoa học thế giới. Theo chị, cần có những chính sách gì để khuyến khích công bố của quốc tế của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội và nhân văn?   Theo tôi cần có chính sách khuyến khích nhà khoa học công bố quốc tế nhất là trong khoa học xã hội, nhưng điều đó không quan trọng bằng việc thật sự có nhà nghiên cứu và có hoạt động nghiên cứu nghiêm túc, có kết quả nghiên cứu theo chuẩn mực quốc tế (chứ đừng theo cách “đặc thù”).   Điều thiết yếu khác, là tự do và năng lực tư duy. Chính sách có thể cản trở hay tạo thuận lợi; nhưng nó không tạo ra sự tự do, cũng không trực tiếp sản xuất ra công trình nghiên cứu; mà là sự chọn lựa, ý chí và năng lực của con người, của các cá nhân và nhóm nghiên cứu, hay khả năng kết nối giữa nhu cầu cuộc sống và tri thức, công nghệ đáp ứng nhu cầu đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù với hiệu ứng nhanh hay chậm, ngắn hạn hay lâu dài.  Tóm lại, tôi vẫn trông mong ở nguồn lực từ cộng đồng trong nước và quốc tế, ở tài năng và “sĩ khí” nhiều hơn ở chính sách. Tôi càng ít tin là cái quỹ nào đó sẽ là phép lạ tạo sự thần kỳ. Nếu nghĩ chỉ bằng tiền mà giải quyết được căn bệnh trầm kha, chẳng phải là giản lược lắm sao? Còn tiền nếu được dùng hiệu quả, không thất thoát do tham nhũng, lãng phí thì đương nhiên là có ích.   “Không có sự tạo dựng lớn lao nào mà không có một giấc mơ”. Giấc mơ mà chị cùng cộng sự dành cho Đại học Hoa Sen là gì?  Ước mơ của chúng tôi giản dị lắm. Làm giáo dục một cách chân thực, đàng hoàng, tử tế, góp phần khôi phục diện mạo người thầy, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu, người học, cũng là khôi phục diện mạo người Việt mình trước cộng đồng quốc tế. Làm sao để đồng nghiệp, sinh viên quốc tế tới trường chúng tôi giảng dạy, nghiên cứu, học tập, đến Việt Nam làm việc, sinh sống cảm thấy hiệu quả, thoải mái; thú vị với khác biệt văn hóa, với ẩm thực Việt; mà khỏi phải tự hỏi: “Ủa, sao ở đây kỳ vậy?” Để người của Hoa Sen đến với cộng đồng dù ở nông thôn          Hiếu học, hiếu tri”, ham học, ham hiểu biết (bây giờ là giá trị đầu tiên trong bảy giá trị của Đại học Hoa Sen) là giá trị mà tôi sống với nó từ hồi nhỏ đi học tới bây giờ. Nghiên cứu với tôi là học, “học không biết chán” như người xưa nói, học với kiến thức tích lũy suốt quá trình dài làm trò rồi làm thầy, học với phương pháp luận vững chắc được đào tạo tử tế, với niềm đam mê sử học từ năm tôi hai mươi tuổi và chọn lãnh vực học thuật này làm nghề của mình. Từ gần 20 năm nay, “chuyên ngành” tôi đam mê là nghiên cứu lịch sử giới, lịch sử phụ nữ.          hay thành thị, dù là doanh nghiệp hay trường học, cơ sở công tác xã hội đều chứng tỏ mình là người hữu dụng, biết sẻ chia. Để người từ trường chúng tôi đi công tác, học tập, giao lưu với quốc tế đều để lại ấn tượng đẹp về người Việt. Để các bạn trẻ có cơ hội học hành, phát triển bản thân, ra trường có việc làm tốt, sống thực với các giá trị mà Hoa Sen xác định là giá trị cốt lõi của văn hóa tổ chức mình. Chúng tôi cũng mong muốn các giá trị đó được coi trọng một cách rộng rãi hơn trong văn hóa Việt thời hiện đại.  Người ta đua nhau hướng về “trường quốc tế”. Hoài bão của chúng tôi là xây dựng Hoa Sen thành một trường đại học Việt Nam không thua kém bất kỳ một đại học tử tế nào ở các nước khác. Đó là một ước mơ mãnh liệt của tôi, đang được chia sẻ ngày càng rộng, càng sâu và mạnh trong tập thể sư phạm Đại học Hoa Sen. Nhưng không chỉ là ước mơ, đó còn là nghĩa vụ và là cam kết của chúng tôi.  Công việc của một nhà quản lý có làm chị “xao lãng” công việc của một nhà nghiên cứu?  Nghề giáo dục cũng là chọn lựa của tôi từ rất sớm, vì một đam mê khác. Trách nhiệm người dạy, người nghiên cứu, rồi người quản lý đều cột chặt tôi với giáo dục. Nên nghiên cứu giáo dục cũng vừa là đam mê vừa là điều bắt buộc.  Đã là bắt buộc và đam mê thì sao mà xao lãng được. Huống chi tôi còn có một tình yêu khác, có chung với rất nhiều người cùng thế hệ, là yêu nước Việt, người Việt. Cùng thế hệ với tôi, người Âu, Á, Mỹ, Phi gì cũng có nhiều người chia sẻ với nước Việt, dân Việt, vì hai cuộc chiến tranh khốc liệt làm người ta không thể dửng dưng. Tôi tin nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu lịch sử một cách tử tế là cần thiết và hữu dụng cho nước mình, dân mình; dù sự cần thiết và hữu dụng đó không giống như cơm ăn, áo mặc hay nhà ở, việc làm.  Những ràng buộc của công việc quản lý chỉ có cái hại rất lớn – là ngốn của tôi nhiều thời gian quá; trong nhiều trường hợp là thời gian lãng phí vì không tạo ra giá trị thật. Nhưng biết sao bây giờ, đó cũng là thân phận làm người Việt.   Dù sao, tôi có cảm giác thời gian và tâm lực tôi dành cho nghiên cứu khá hiệu quả, vì ít phụ thuộc bối cảnh, môi trường làm việc hơn là công tác quản lý. Ước gì nó được nhiều hơn một chút, tôi sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều!  Ngọc Tú thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học      Chất lượng chung của các trường đại học có lẽ là điểm tối nhất trong bức tranh chung của ngành giáo dục Việt Nam. Chất lượng nghiên cứu và giảng dạy ở đại học liên quan trực tiếp đến vấn đề con người, cụ thể là trình độ nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ cán bộ của các trường đại học.     Các thông tin định lượng như chỉ số ảnh hưởng, chất và lượng các báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí hoặc hội nghị chuyên môn cho thấy một bức tranh không sáng sủa về chất lượng chung của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của các trường đại học Việt Nam. Nhưng điều đáng lo ngại hơn nhiều là quy trình xây dựng và cải tiến đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học Việt Nam hoàn toàn ngược với quy trình ở các trường đại học của các nước tiên tiến. Nếu hiện trạng này tiếp diễn thì e rằng chất lượng đại học Việt Nam không những tiếp tục ở thứ hạng thấp mà sẽ còn đi giật lùi so với những bước tiến nhanh và chắc chắn của các nước láng giềng, không cần nói đâu xa.  Mục đích của bài viết này là phân tích những chính sách xây dựng đội ngũ ở các trường đại học Việt Nam, so sánh với thông lệ quốc tế và đề xuất những việc cần làm để từng bước cải thiện chất lượng nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học Việt Nam.  Hai thành tố của cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu là (1) xây dựng đội ngũ có chất lượng cao, và (2) tận dụng nhân lực chất lượng cao đang có sao cho họ phát huy hết khả năng của mình, song song với đào thải từ từ nhân lực không phù hợp. Phạm vi của bài này nằm ở thành tố thứ nhất!  Tạo nguồn   Một trong những chính sách phổ biến ở các trường đại học Việt Nam là “tạo nguồn”. Các sinh viên giỏi được giữ lại trường, trong nhiều trường hợp được hỗ trợ để tiếp tục du học, làm luận văn tiến sĩ ở nước ngoài. Những người này bị ràng buộc bởi một lời hứa sau khi học xong sẽ quay trở lại làm việc cho trường. Trong một số trường hợp, họ bị ràng buộc bởi một cam kết với chính phủ Việt Nam khi nhận học bổng từ Chính phủ.  Bỏ qua một số tiêu cực ắt có trong việc lựa chọn những sinh viên được ưu tiên đi học nước ngoài, biện pháp tạo nguồn đó đang là biện pháp mang lại hiệu quả tích cực nhất trong bối cảnh hiện tại. Nhờ cơ chế tạo nguồn mà nhiều trường đại học còn duy trì được việc trẻ hóa đội ngũ với những nhà khoa học trẻ có ít nhiều trải nghiệm trong môi trường quốc tế.  Mặt khác, quy trình tạo nguồn cũng phản ánh những điểm yếu nhất trong công việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học Việt Nam, đó là sự thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc, thiếu tính cạnh tranh trong tuyển dụng, và thiếu tính linh hoạt trong tổ chức cán bộ.  Tính thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc là nguyên nhân khiến người ta cần ràng buộc bằng cam kết những sinh viên được sắp xếp đi học tiếp ở nước ngoài. Các ràng buộc này có những hệ lụy như phân tích dưới đây.  Phương pháp “tạo nguồn” mang nặng tính chủ quan. Các trường chỉ ưu tiên tuyển chính những người mình đào tạo ra, những đối tượng mình “quy hoạch”. Việc cạnh tranh, chủ động đi tìm và tuyển những người trẻ được đào tạo từ những “nguồn” khác trở nên rất hãn hữu.  Thiếu cạnh tranh tất yếu dẫn đến chất lượng giảm. Về mặt học thuật thì sự thiếu “máu mới”, do người khác tuyển dụng và đào tạo, dẫn đến một sự trì trệ nhất định trong nghiên cứu. Thầy và trò cùng một “lò” ra sẽ ít có các giao thoa ý tưởng cần thiết trong nghiên cứu khoa học.  Sự ràng buộc này cũng cực kỳ thiếu linh hoạt cho cả cá nhân những giảng viên “được đi”, và cho quy hoạch cán bộ của trường. Về mặt cá nhân thì nó gây khó dễ cho các cơ hội phát triển sự nghiệp khoa học của người được đào tạo. Về mặt quy hoạch nhân sự thì để tạo được nguồn, cần có kế hoạch dài từ năm đến mười năm. Kết quả của quá trình dài như vậy sẽ bị chi phối bởi rất nhiều rủi ro, và trên thực tế không có gì để đảm bảo chất lượng đầu ra ngoài niềm tin. Bên cạnh đó, kế hoạch dài hơi sẽ hạn chế đáng kể tính linh hoạt trong chính sách khoa học của các trường đại học phải thích nghi liên tục với môi trường quốc tế ngày một biến động.    Quy trình tuyển chọn  Quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu hiện đang tuân thủ các quy định chung của tuyển chọn công chức, viên chức. Quy trình hiện tại hầu như không có các yếu tố đặc thù cho môi trường hàn lâm, trong khi tính chất công việc của các nhân sự hàn lâm lại rất khác so với công việc thông thường của một viên chức nhà nước. Một đặc thù quan trọng của môi trường đại học hiện đại là lấy khả năng nghiên cứu khoa học làm tiêu chí số một, và sự tự do học thuật – thể hiện qua quyền quyết định của Faculty – là nền tảng hoạt động.          Quy trình tạo nguồn phản ánh những điểm yếu nhất trong công việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học Việt Nam, đó là sự thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc, thiếu tính cạnh tranh trong tuyển dụng, và thiếu tính linh hoạt trong tổ chức cán bộ.           Tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển dụng giảng viên và giáo sư đại học phải là khả năng nghiên cứu khoa học. Chỉ có những người “sống và thở” ở tiền tuyến của tri thức nhân loại mới có khả năng hiểu và truyền tải những kiến thức nền tảng và những phát kiến tiên tiến nhất cho lực lượng lao động trí não tương lai.   Hệ quả tất yếu của tiêu chí trên là tiếng nói tối cao trong việc tuyển chọn phải thuộc về những người có khả năng đánh giá trình độ, khả năng, và tiềm năng nghiên cứu khoa học của ứng viên. Như vậy cấu trúc của Hội đồng tuyển chọn phải khác với hiện nay, nó phải bao gồm những giáo sư giảng dạy tại khoa, có uy tín về khoa học, và không thể bao gồm nhân viên của các phòng ban, ví dụ như phòng tổ chức cán bộ.   Cơ cấu của các hội đồng tuyển chọn cũng thể hiện cán cân quyền lực ở trường đại học. Ở một trường đại học Mỹ, quyền lực nằm chủ yếu trong tay của Faculty, các ban bệ có trách nhiệm thực hiện quyết định của Faculty. Quyền quyết định nhân sự thuộc về khoa là một biểu hiện rất cơ bản của tự do học thuật. Ở các trường đại học Việt Nam hiện nay, các ban bệ thường đứng trên Faculty.  Quyền lực của hệ thống quan liêu thể hiện ở quy trình tuyển chọn rắc rối và không đồng nhất. Quy trình đủ rắc rối để cho Faculty không có khả năng thực hiện vai trò quyết định của mình nếu không có sự hỗ trợ của các phòng ban. Đối với các ứng viên, tình hình còn khó khăn hơn nữa. Nếu không có quen biết, họ không có khả năng vượt qua những rào cản mang tính chất hành chính.   Nói tóm lại, quy trình tuyển chọn cần phải được minh bạch hóa: tuyển ứng viên với một quy trình mở, ai được nộp đơn, ai được tuyển, dựa trên tiêu chí gì, kết quả như thế nào, v.v. Trong tuyển chọn phải ưu tiên hàng đầu tiêu chí khoa học, và trả quyền quyết định về cho những người có thẩm quyền khoa học.    Bổ nhiệm giáo sư  Một trong những chức năng cơ bản nhất của một trường đại học là định hướng chiến lược phát triển khoa học. Từng khoa, từng trường, cần biết thế mạnh hay chỗ yếu của mình để có kế hoạch phân bổ nhân lực, vật lực hợp lý trong các ràng buộc tài nguyên hữu hạn.   Ở các nước tiên tiến, việc này thường được làm thông qua việc bổ nhiệm giáo sư và tạo một số điều kiện để vị giáo sư đó có tiếng nói trong việc phát triển nghiên cứu chuyên môn của mình ở nơi tuyển mình về. Việc này ở Việt Nam được tổ chức một cách rất khác với các nước khác. Việc xét chức danh giáo sư được giao cho Hội đồng Chức danh giáo sư.  Gần đây có một số chuyển biến trong thủ tục phong và bổ nhiệm giáo sư, cụ thể là Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước chỉ xét, công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư hoặc Phó giáo sư, việc bổ nhiệm thuộc về quyền của trường. Tuy rằng việc bổ nhiệm ở cấp trường chủ yếu vẫn mang tính chất hình thức, nhưng đây là một chuyển biến quan trọng và tích cực về mặt chính sách. Nếu bản thân các trường nhận thức đầy đủ vai trò tự chủ khoa học của mình, họ sẽ phải chủ động đi tìm những nhà khoa học xuất sắc về đầu quân, và tìm cách cải thiện tính hấp dẫn của vị trí giáo sư.  Việc tổ chức lại quy trình phong, bổ nhiệm giáo sư chắc chắn sẽ là một trong những biện pháp có khả năng làm chuyển biến mạnh nhất chất lượng nghiên cứu và giảng dạy của các trường đại học. Việc này cần được làm lại theo hướng ưu tiên tính tự chủ khoa học của các trường đại học, và xác định rõ hơn giáo sư là một vị trí công việc chứ không phải một phẩm tước khoa học.    Chế độ thu nhập  Chế độ thu nhập cứng nhắc hiện tại là một trong những ràng buộc lớn nhất cho mọi chính sách nhân sự đại học – và có lẽ là yếu tố chủ đạo làm các vị trí hàn lâm thiếu tính hấp dẫn các cá nhân xuất sắc. Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy đại học là công chức hoặc viên chức nhà nước, chế độ thu nhập của họ được điều chỉnh bởi những quy định chung về thang lương của công/viên chức nhà nước. Với thang lương hiện tại, mức lương cơ bản của giảng viên đại học không đảm bảo cho họ một mức sống trung lưu cao trong xã hội. Trong mọi hệ thống xã hội, mức sống trung lưu cao cho cán bộ giảng viên nghiên cứu luôn là điều kiện cần cho một hệ thống giáo dục tốt vì: (1) nó thể hiện mức độ ưu tiên của xã hội đối với giáo dục đại học, (2) để nghiên cứu tốt thì ứng viên tuyệt đối cần thời gian tư duy tự do, không bị ràng buộc bởi cơm gạo.          Quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu hiện đang tuân thủ các quy định chung của tuyển chọn công chức, viên chức, hầu như không có các yếu tố đặc thù cho môi trường hàn lâm, trong khi tính chất công việc của các nhân sự hàn lâm lại rất khác so với công việc thông thường của một viên chức nhà nước.          Để khắc phục thang lương bất hợp lý hiện tại, Nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học thông qua các quỹ như Nafosted. Các đề tài khoa học đã trở thành một nguồn tăng thu nhập đáng kể cho cán bộ nghiên cứu. Bên cạnh ý nghĩa tích cực, chúng ta thấy việc này thực chất phản ánh khó khăn của Việt Nam trong việc cải cách hệ thống tiền lương. Việc cải cách chế độ thu nhập cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở đại học là một việc hệ trọng.   Tìm ra một lộ trình để cho những thu nhập bổ sung được gộp vào thu nhập chính là một bài toán rất khó, nhưng nó rất cần có lời giải. Thật vậy, nếu không làm minh bạch thu nhập, không thể có chính sách tích cực xây dựng đội ngũ nghiên cứu giảng dạy.   Sử dụng nhân lực “thời vụ” cao cấp    Bên cạnh việc quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ nghiên cứu giảng dạy cơ hữu, cũng cần chú ý đến việc “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”. Thuật ngữ trong ngoặc kép dùng để chỉ thử nghiệm thành công ở Trung Quốc cuốn hút các giáo sư nước ngoài đến Trung Quốc làm việc ngắn hạn. Họ rất thành công trong việc lôi cuốn các nhà khoa học đầu đàn sắp hoặc vừa về hưu sang làm việc ở Trung Quốc mỗi năm hai, ba tháng. Với mức thù lao ít hơn nhiều so với các trường đại học phương Tây phải trả, họ đã thực sự tận dụng được tri thức, uy tín của những nhà khoa học có tên tuổi lớn.   Ở Việt Nam, cần nêu trường hợp của GS. Darriulat. Ông đến làm việc ở Việt Nam sau khi nghỉ hưu ở Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN). Trong thời gian ở Việt Nam mười năm gần đây, ông đã đóng góp nhiều vào việc đào tạo một thế hệ những nhà vật lý thực nghiệm trẻ và tài năng. Cần lưu ý, trong trường hợp này GS. Darriulat chủ động đến với Việt Nam; việc ông đến Việt Nam không phải là kết quả của một chính sách.  Tóm tắt một số đề xuất  1. Quy trình tuyển chọn thống nhất cho tất cả các trường đại học trong cả nước, tiến tới tạo một thị trường tuyển dụng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thông suốt trong cả nước.  2. Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết định tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.  3. Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự.  4. Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.  5. Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.  6. Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”.  7. Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.   Bài trình bày tại diễn đàn thường niên Đối thoại Giáo dục Việt Nam lần thứ nhất với chủ đề Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam, diễn ra trong hai ngày 31/07 và 01/08/2014 tại TP Hồ Chí Minh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam: KINH NGHIỆM CỦA PHẦN LAN       Đối với Phần Lan giới tr&#237; thức được hiểu l&#224; những người c&#243; văn h&#243;a hoặc nh&#243;m người c&#243; văn h&#243;a, những người n&#224;y l&#224; những nh&#224; tư tưởng thực tế v&#224; được xem l&#224; b&#225;u vật quốc gia. Giới tr&#237; thức d&#249;ng để chỉ cộng đồng những người c&#243; ảnh hưởng tới to&#224;n bộ nền khoa học v&#224; văn h&#243;a của x&#227; hội. C&#225;c th&#224;nh vi&#234;n trong giới tr&#237; thức l&#224; người định ra bản chất của thời kỳ đ&#243; v&#224; l&#224; những người đứng ra tranh luận c&#244;ng khai c&#225;c vấn đề. Theo quan điểm n&#224;y th&#236; ở Phần Lan đ&#227; h&#236;nh th&#224;nh giới tr&#237; thức từ những năm 1800, đ&#243; l&#224; thời điểm xuất hiện ch&#237;nh trị c&#244;ng khai v&#224; tr&#234;n nền tảng của một nền gi&#225;o dục ưu việt với triết l&#253; cơ bản l&#224; b&#236;nh đẳng v&#224; cơ hội đồng đều với chất lượng cao nhất cho mọi c&#244;ng d&#226;n.     ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở PHẦN LAN  Cho dù xét trên tiêu chí nào thì Phần Lan cũng có đội ngũ trí thức mạnh. Trên thực tế, điều kiện cần của trí thức và đội ngũ trí thức chính là nền học vấn của một quốc gia. Nếu nhìn từ tiêu chí này, ta có thể hình dung được rõ tính ưu việt của Phần Lan so với các quốc gia khác. Theo thống kê của Phần Lan, 27% dân số Phần Lan có bằng đại học trở lên. 99,3% học sinh cấp ba thành thạo ít nhất 3 loại ngôn ngữ là tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển và tiếng Anh. Tính tới cuối năm 2006, 64% dân số Phần Lan trên 15 tuổi, tức khoảng 2.806.000 trên tổng số dân trên 15 tuổi là 4.375.774 có bằng trung học trở lên. Trong số đó, có 21.280 tiến sĩ, chiếm 0.5%. Nếu nhìn sâu vào một trường đại học, như Đại học Helsinki, ta cũng có thể phần nào hình dung mức độ sản sinh tri thức mạnh mẽ từ nền giáo dục của nước này. Đại học Helsinki là một trong những ĐH hàng đầu của Phần Lan, xếp hạng thứ 4 trong số các trường ĐH châu Âu, với 11 khoa, 18 viện nghiên cứu độc lập. Theo Báo cáo năm 2006, tổng số sinh viên theo học lấy bằng là 38.000 sinh viên nhưng còn có tới 51.000 sinh viên theo học các khóa thường xuyên không lấy bằng cấp (continuing education). Hằng năm chỉ có 22% số lượng nộp đơn được nhận vào trường. Trường có 22 chi nhánh (campus) ở khắp đất nước. Số người làm việc tại Đại học Helsinki là 7.707 người trong đó đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu là 3.784. Kinh phí hoạt động hằng năm là 517 triệu Euro và tổng số bài viết khoa học được xuất bản hằng năm là 5830 trong đó 1904 bài báo được xuất bản tại Phần Lan và 3926 bài báo được xuất bản trên các ấn phẩm của thế giới. Nếu tính số bằng phát minh sáng chế theo đầu người, Phần Lan luôn đứng trong tốp đầu thế giới. Ngoài ra, nhờ vào hệ thống giáo dục toàn diện ưu việt của Phần Lan, học sinh Phần Lan ba lần liên tiếp đứng đầu điều tra PISA của 57 quốc gia phát triển toàn thế giới và mô hình này hiện đang trở thành hình mẫu để các quốc gia trên thế giới học tập.  Xét về khía cạnh phát triển kinh tế, nhờ vào tri thức và đội ngũ trí thức hùng hậu, sau gần 50 năm phát triển, Phần Lan được xem là một trong những nước phát triển nhất châu Âu. Kể từ năm 2001 vượt Mỹ trở thành nước cạnh tranh nhất về kinh tế, được Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá là nước có “văn hóa sáng tạo”. Các chỉ số so sánh với OECD về toàn cầu hóa, môi trường, tự do kinh tế, cạnh tranh, thành tựu công nghệ, giáo dục, tự do báo chí, tham nhũng, chỉ số phát triển con người, chỉ số cạnh tranh, tăng trưởng hầu hết đều dẫn đầu thế giới hoặc đứng ở trong tốp 10 thế giới. Dân số trung bình khoảng 5 triệu trong đó lực lượng lao động trung bình gần 2.7 triệu người nhưng trong một thập kỷ qua GDP luôn ở mức trung bình 150 tỷ Euro và đạt xấp xỉ 170 tỷ năm 2006; bình quân đầu người 38.000 Euro/năm. Tất cả những thành tựu trên đều xuất phát từ nền giáo dục chất lượng cao, luôn đứng trong tốp đầu các nước tạo ra các sản phẩm tri thức mới, trong đó NOKIA là một ví dụ điển hình. Dù dân số ít nhưng Phần Lan có tới 228.000 công ty vừa và nhỏ và cũng có tới 16 công ty trên tổng số 2000 công ty lớn nhất thế giới      BÀI HỌC PHẦN LAN  Do nhận thức cần phải xây dựng một xã hội và nền kinh tế dựa trên tri thức để tạo lợi thế cạnh tranh với thế giới và cũng do đặc thù của hệ thống chính trị và quan niệm xã hội tự do nên ở Phần Lan không đặt vấn đề “xây dựng đội ngũ trí thức”. Phần Lan tin rằng điều kiện tối thiểu cho trí thức là một môi trường tự do và không nên đưa trí thức vào thành một “đội ngũ”. Cũng giống như các nước phương Tây khác, ở Phần Lan báo chí là tự do, đại học và các viện nghiên cứu là hoàn toàn độc lập, Chính phủ không đóng vai trò quản lý mà chỉ đóng vai trò giám sát, nền kinh tế hoạt động theo quy luật thị trường và công chức hoàn toàn mang tính phục vụ. Phản biện xã hội được khuyến khích và Phần Lan là một trong số ít nước cho phép truyền hình được làm phim hài chiếu hằng tuần về các nhà lãnh đạo đương thời.  Phần Lan tin rằng xây dựng được giới trí thức mạnh cần phải bắt nguồn từ giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông. Trẻ em thất học từ nhỏ không những sẽ là một gánh nặng cho xã hội mà còn không thể và không bao giờ trở thành một trí thức. Do đặc thù dân số ít, thời tiết khắc nghiệt, nghèo tài nguyên và vị trí địa lý bất lợi nên Phần Lan chú trọng phát triển con người trở thành một nguồn tài nguyên. Phần Lan quan niệm rằng một con người được sinh ra là tài sản của quốc gia và cần phải được chăm sóc tốt nhất và đây chính là lực lượng lao động tạo nên tri thức và của cải cho xã hội để thay thế lớp người không còn sức lao động sau này. Chính vì thế xây dựng phúc lợi xã hội cơ bản cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở… luôn là ưu tiên hàng đầu và          Để đối phó với những khắc nghiệt của thiên nhiên, địch họa và có chỗ đứng trong thế giới văn minh hiện đại, Phần Lan luôn cho rằng phải xây dựng được nền giáo dục và xã hội dựa vào ba trụ cột chính là kỹ năng, tri thức và sáng tạo. Những mục tiêu chính trị đó là động lực thúc đẩy Phần Lan phải luôn phấn đấu duy trì được một nền giáo dục chất lượng cao và một xã hội học tập suốt đời.          trên thực tế đã trở thành những dịch vụ công tốt nhất.   Triết lý cơ bản của nền giáo dục của Phần Lan là bình đẳng và cơ hội đồng đều với chất lượng cao nhất. Học tập từ mầm non cho tới bậc tiến sỹ là hoàn toàn miễn phí, kể cả sách vở và ăn uống tại trường. Giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông là cưỡng bách. Bên cạnh đó Phần Lan tin rằng nhân tố quan trọng nhất để giáo dục tạo ra được tri thức là giáo viên và văn hóa nhà giáo và do đó Phần Lan chú trọng xây dựng một đội ngũ giáo viên có tâm huyết và được đào tạo bài bản, nghề giáo là nghề được coi trọng bậc nhất trong xã hội. Cách đây 30 năm, tại Phần Lan không còn tồn tại Trường Sư phạm. Việc đào tạo giáo viên đã được chuyển hẳn sang đào tạo tại các trường đại học. Trên thực tế, tiêu chuẩn mà Phần Lan đang áp dụng cho giáo viên: dạy mầm non tối thiểu phải có bằng cử nhân, dạy tiểu học, trung học tối thiểu phải có bằng thạc Sỹ và dạy sinh viên phải là tiến sĩ, giáo sư, là một trong những tiêu chuẩn hầu như chưa có quốc gia nào theo kịp. Một điểm ưu việt khác của giáo đại học của Phần Lan là sự phân biệt rõ giữa Đại học thực hành (Polytechnique) là nơi đào tạo ra các kỹ sư, các nhà quản lý phục vụ cho thế giới công việc (professional world) và cung ứng nhân lực cho nền kinh tế hiện tại và Đại học hàn lâm (University) là nơi kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo kiến thức hàn lâm cho cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ và đòi hỏi sinh viên phải tạo ra những kiến thức mới trên cơ sở nghiên cứu và sáng tạo (thay vì học những kỹ năng làm việc ở trường Đại học thực hành)  Chính vì một nền giáo dục quyết liệt và ưu việt như vậy nên chất lượng giáo dục và nguồn tri thức do giáo dục tạo ra rất dồi dào. Học sinh trung học ở Phần Lan, ngoài việc kiến thức liên tiếp đứng đầu trong thế giới các nước phát triển còn biết thành thạo ít nhất từ 3-5 ngoại ngữ. Các trường đại học và các viện nghiên cứu luôn nằm trong tốp 5 nước đứng đầu sản sinh ra nhiều bằng sáng chế và phát minh mới của thế giới nếu tính bình quân đầu người. Kiến thức của sinh viên ra trường cập nhật với tình hình thế giới và thị trường và hiếm có quốc gia nào có tỷ lệ 56% sinh viên có việc làm khi còn đang học tập và 90% sinh viên tốt nghiệp sau một năm có thể tìm được việc làm phù hợp với ngành học của mình như ở Phần Lan.     SỬ DỤNG TRÍ THỨC: TRƯỜNG HỢP BỘ NGOẠI GIAO   Chính vì nền giáo dục tạo ra được một nguồn trí thức dồi dào như vậy nên việc sử dụng trí thức ở các cơ quan Nhà nước và trong nền kinh tế cũng có sự cạnh tranh quyết liệt. Nhìn vào tiêu chuẩn tuyển chọn nhân viên văn phòng (thư ký, hành chính) của Bộ Ngoại giao và các nhà ngoại giao trẻ hằng năm và các chính sách sử dụng cán bộ có thể thấy rõ điều này.   Đối với nhân viên văn phòng. Tiêu chuẩn tối thiểu ngoài phải giỏi hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Phần Lan và Thụy Điển, bắt buộc phải thành thạo ít nhất thêm 2 ngoại ngữ trong số năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nga và Tây Ban Nha. Bên cạnh bằng cấp chính quy, ứng viên phải có kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử xã hội, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Năm 2004, chỉ có 20 được chấp nhận trong số 440 ứng viên thi tuyển. Để được nhận, ứng viên phải qua vòng sơ tuyển, phải vượt qua vòng xét loại hồ sơ, kiểm tra về tâm lý và phỏng vấn. Sau khi được nhận, ứng viên vừa được đào tạo, vừa thử việc trong 6 tháng. Trước khi đi nhiệm kỳ, bắt buộc phải qua các lớp đào tạo về ngôn ngữ và chuyên môn tùy theo nguyện vọng và tính chất công việc.  Đối với cán bộ ngoại giao. Tiêu chuẩn tối thiểu phải tốt nghiệp thạc sỹ, giỏi hai ngôn ngữ chính thức (Phần Lan và Thụy Điển), bắt buộc phải giỏi 1 ngoại ngữ và thành thạo một ngoại ngữ trong số năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nga và Tây Ban Nha. Ngoài hồ sơ chính thức, các ứng viên được đòi hỏi phải có thêm kinh nghiệm làm việc, tham gia tích cực vào các tổ chức/xã hội dân sự, có bài viết xuất bản, kinh nghiệm làm việc với truyền thông, truyền hình. Những người được tuyển dụng tập trung vào các ngành khoa học xã hội, khoa học chính trị, luật và kinh tế; thường đã có vài năm kinh nghiệm làm việc, trình độ ngoại ngữ rất cao so với mặt bằng chung. Năm 2004, chỉ có 30 người được nhận trong số 850 người thi tuyển. Thông thường hằng năm có từ 15-30 thí sinh được nhận. Các thí sinh phải trải qua bốn vòng là sơ tuyển trên cơ sở hồ sơ đăng ký, kiểm tra kiến thức chung, kiểm tra tâm lý và phỏng vấn; phỏng vấn vòng cuối và kiểm tra trình độ ngoại ngữ. Trước khi làm việc ở các sứ quán bên ngoài, ít nhất phải trải qua hai năm đầu trong Bộ và phải luân chuyển ít nhất hai Vụ trong Bộ (một Vụ ít nhất trong sáu tháng), dự hai khóa đào tạo về quan hệ quốc tế và ngôn ngữ nước sẽ sang làm việc và thử việc thêm 6 tháng tại Sứ quán sở tại.   Cũng giống như việc tuyển chọn nhân sự trong các cơ quan Chính phủ, chính sách sử dụng và tuyển dụng công chức ở Bộ Ngoại giao, thay vì dựa trên chỉ tiêu thì đều trên cơ sở vị trí cần tuyển dụng. Không hiếm trường hợp tuyển nhân sự cán bộ ngoại giao hằng năm vào các vị rất khó như “cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng”. Cách làm chung là mỗi vị trí tuyển dụng đều được công khai về tiêu chuẩn, trách nhiệm cũng như quyền lợi. Người được tuyển dụng được trao quyền độc lập xử lý công việc trong phạm vi mình phụ trách trên cơ sở phối hợp với đồng nghiệp và người phụ trách. Chế độ đãi ngộ, thăng tiến, luân chuyển cán bộ dựa trên hiệu quả và sáng kiến xử lý công việc. Việc một cán bộ tốt ở Bộ được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng hơn trong Chính phủ là rất thường xuyên và những người trẻ tuổi nhưng nắm giữ những cương vị chủ chốt không phải là trường hợp hiếm thấy ở Phần Lan. Do có đội ngũ trí thức giỏi nên năng lực hội nhập của Phần Lan được đánh giá cao trong các nước châu Âu. Mặc dù mới gia nhập EU từ 1995 nhưng Phần Lan đã hai lần làm chủ tịch của EU (năm 1999 và 2006) và đã hoàn thành rất tốt trọng trách này. Những lãnh đạo của Phần Lan có uy tín cao trong EU, bản thân cựu Tổng thống Phần Lan hiện đang đóng vai trò trung gian hòa giải những vấn đề rất hóc búa ở Trung Đông. Và có lẽ ví dụ điển hình nhất trong việc sử dụng trí thức của Phần Lan là việc Tổng thống Phần Lan bổ nhiệm Bộ trưởng ngoại giao mới vào ngày 4.4.08 vừa qua. Vị tân Bộ trưởng, dù chưa phải là trẻ nhất trong nội các, mới chỉ ở tuổi 40, (trước khi được bổ nhiệm là nghị viên Nghị viện châu Âu, cố vấn đặc biệt cho Chủ tịch Ủy ban châu Âu), là tiến sĩ triết học của trường Đại học Kinh tế London khi ở tuổi 30, và trở thành giáo sư 1 năm sau đó. Và dù mới ở tuổi 40 nhưng vị Tân ngoại trưởng thành thạo 5 ngoại ngữ (Phần Lan, Thụy Điển, Anh, Pháp, Đức) và đã kịp cho ra đời 8 cuốn sách về Liên minh châu Âu, cuốn cuối cùng xuất bản năm 2005 khi mới 37 tuổi.            Nhìn lại bài học của Phần Lan, việc đặt vấn đề “xây dựng đội ngũ trí thức…” nên chăng được điều chỉnh lại “xây dựng nền tảng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam…”. Tính tới chiến lược lâu dài việc phát triển đội ngũ trí thức nên bắt đầu từ việc cầu thị học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các nước đi trước để cải tổ triệt để nền giáo dục lạc hậu của nước ta, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên hội nhập mới.          Đúng như những phát biểu của chính giới và hiểu biết chung của Phần Lan, hệ thống giáo dục của Phần Lan là nhân tố quyết định tạo ra đội ngũ trí thức. Xuyên suốt trong lịch sử, tâm thức để xây dựng nền giáo dục đều xuất phát từ ý thức coi trọng tri thức. Để đối phó với những khắc nghiệt của thiên nhiên, địch họa và có chỗ đứng trong thế giới văn minh hiện đại, Phần Lan luôn cho rằng phải xây dựng được nền giáo dục và xã hội dựa vào ba trụ cột chính là kỹ năng, tri thức và sáng tạo. Những mục tiêu chính trị đó là động lực thúc đẩy Phần Lan phải luôn phấn đấu duy trì được một nền giáo dục chất lượng cao và một xã hội học tập suốt đời. Ngay trong sử thi lâu đời nhất của Phần Lan – Kalevala – nhân vật chính không phải là một chiến binh anh hùng mà là một nhà thông thái dùng tri thức để tạo ra của cải và hạnh phúc, dùng lời nói và thơ văn thay cho súng đạn để chiến thắng kẻ thù.  Nhìn lại bài học của Phần Lan, việc đặt vấn đề “xây dựng đội ngũ trí thức…” nên chăng được điều chỉnh lại “xây dựng nền tảng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam…”. Tính tới chiến lược lâu dài việc phát triển đội ngũ trí thức nên bắt đầu từ việc cầu thị học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các nước đi trước để cải tổ triệt để nền giáo dục lạc hậu của nước ta, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên hội nhập mới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng một đại học “hoa tiêu”      Tôi nghĩ chỉ có xây dựng một đại học hoa tiêu, một “đại học nghiên cứu trong đó có không khí khoa học cởi mở, một môi trường hợp tác thân thiện thì mới tập hợp được các nhà khoa học lớn.    Đã từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã đề ra giáo dục là quốc sách hàng đầu và cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, nhưng dường như trên thực tế vẫn chỉ coi đó là khẩu hiệu chính trị hơn là một chiến lược phải  nghiên cứu nghiêm túc để thực hiện bằng được. Hậu quả là mấy năm gần đây giáo dục thì bị suy thoái nghiêm trọng còn khoa học thì cúng ta đì đẹt đi sau thiên hạ khá xa. Rõ ràng nếu xây dựng được một trường đại học hoa tiêu hay đẳng cấp quốc tế thì nó đương nhiên là một đầu tàu của cả hai ngành giáo dục và khoa học.  Mấy năm trước đây sau khi Thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Đại học Harvard, ngài T.Wallely đã gửi cho Thủ tướng bản đề cương xây dựng trường Đại học hàng đầu của Việt Nam, trong đó nêu lên bốn nguyên lý cơ bản trong cơ chế quản lý như tự chủ, tự chịu trách nhiệm… Tiếc rằng trong mấy năm qua ý đồ rất sáng suốt và cao đẹp của Thủ tướng vẫn chưa biến được thành một đề án khả thi.  Trong bài trả lời của GS Đàm Thanh Sơn với phóng viên Tia Sáng (số 17 ngày 5/9/2007), tôi thấy GS đã nêu lên những nguyên tắc để xây dựng thành công một trường đại học đẳng cấp cao như vậy. Không ai bảo ai nhưng rõ ràng các nguyên tắc mà GS Thanh Sơn nêu lên về cơ bản trùng với các nguyên lý ngài T.Wallely đã nêu ra. Phải chăng đó là những chân lý của thời đại mà chúng ta phải chấp nhận nếu không muốn mãi mãi tụt hậu so với thiên hạ!  Đầu năm 2001, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đã muốn chấn chỉnh nền đại học bằng cách thành lập các Đại học Quốc gia trên cơ sở các trường đại học cũ. Bây giờ đã có thể nói vì không thoát khỏi tính bảo thủ của các đại học cũ, sự ra đi của GS Nguyễn Văn Đạo và sự chuyển công tác của GS Đào Trọng Thi đánh dấu sự không thành công của mô hình Đại học Quốc gia. Tôi nghĩ chỉ có xây dựng một đại học hoa tiêu, một “đại học nghiên cứu trong đó có không khí khoa học cởi mở, một môi trường hợp tác thân thiện thì mới tập hợp được các nhà khoa học lớn. Hiện nay vì thiếu một môi trường cởi mở, một sự đãi ngộ thích đáng nên có nhiều nhà khoa học tài năng, trẻ có, trung niên có đang dạy tại các trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, nếu có trường đại học hoa tiêu và chính sách đãi ngộ thích đáng thì có thể mời một số trở về. Khi hết nhiệm kỳ, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhận định là đã không thành công trên hai mặt trận khoa học và giáo dục. Nay tôi đề nghị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hãy ra tay xây dựng trường Đại học hoa tiêu làm đầu tàu cho nghiên cứu cơ bản đồng thời là đầu tàu cho nền giáo dục quốc gia, thực hiện kế hoạch “hai trong một”.  Hơn nữa, tôi cũng đề nghị đồng chí tiếp tục thực hiện kế hoạch xây dựng ba trường trung học chất lượng cao do nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã quyết định từ năm 1996, nhưng nay dường như ít được quan tâm. Như vậy vừa xây dựng giáo dục từ thấp đến cao vừa có sự tiếp tay giữa các đời Thủ tướng. Mong lắm thay.  GS. NGND Nguyễn Văn Chiển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế: Chín sai lầm phổ biến      Theo một bài viết vừa đăng trên trang blog The World View của tờ Inside Higher Education vào ngày 22/8/2010 của Jamil Salmi, chuyên gia về giáo dục đại học của Ngân hàng thế giới, tác giả cuốn sách The Challenge of Establishing World Class University do UNESCO xuất bản1, “việc xây dựng một cơ sở giáo dục đại học mới với mong muốn đạt tiêu chuẩn cao nhất là một việc làm&#160; cao quý nhưng cực kỳ khó khăn”, thậm chí “đầy cạm bẫy”. Nhưng theo tác giả thì những cạm bẫy này không phải là không thể tránh được, nếu chúng ta biết học hỏi những kinh nghiệm của những người đi trước. Chín sai lầm cần tránh được đúc kết trong bài viết dưới đây có thể là rất hữu ích này cho không chỉ những người tham gia xây dựng các trường Đại học đẳng cấp quốc tế hiện nay, mà cả cho các nhà quản lý giáo dục tại Việt Nam.  &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Phương Anh dịch và giới thiệu      Thuật ngữ “đại học đẳng cấp quốc tế” đã trở thành một cụm từ thông dụng để mô tả các trường đại học nghiên cứu đỉnh cao trong hệ thống đẳng cấp của giáo dục đại học. Chính phủ các nước đáp lại sự cạnh tranh toàn cầu bằng cách bổ sung kinh phí để thúc đẩy các trường đại học ưu tú của mình, như có thể thấy qua các “sáng kiến xuất sắc” tại nhiều nước có hoàn cảnh khác nhau như Trung Quốc, Đức, Nigeria, Nga, Hàn Quốc, hay Đài Loan. Trong một số trường hợp, chính phủ khuyến khích các trường đại học hàng đầu của mình hợp nhất lại để đạt được hiệu quả kinh tế nhờ mở rộng quy mô. Một vài nước khác thành lập các trường đại học hoàn toàn mới với mục tiêu rõ ràng là tạo ra các trường đẳng cấp quốc tế.  Tuy nhiên, tạo được một trường đại học mới với chất lượng cao là một điều dễ nói khó làm, vì xây dựng một tổ chức tầm cỡ thế giới đòi hỏi nhiều hơn là những phản ứng tức thời nhằm đạt vị trí cao trong các bảng xếp hạng, hoặc bơm thật nhiều tiền vào ngân quỹ của trường. Nó là một quá trình phức tạp và lâu dài mà chỉ mới gần đây người ta mới thực sự quan tâm. Dưới đây là phác thảo những sai lầm phổ biến nhất trong những sáng kiến thiết lập một trường đại học hàng đầu.  1. Xây dựng một khuôn viên tuyệt đẹp, và hy vọng phép lạ sẽ xảy ra.   Cơ sở hạ tầng hẳn nhiên là phần dễ thấy nhất của một trường đại học mới. Người ta chăm chút vào việc thiết kế, xây dựng một công trình ấn tượng, và điều này tất nhiên là cần thiết. Một cơ sở hạ tầng tốt chắc chắn là một phần quan trọng trong trải nghiệm học tập của sinh viên, và các nhà nghiên cứu cũng cần các phòng thí nghiệm đầy đủ để thực hiện nghiên cứu khoa học ở đỉnh cao. Tuy nhiên, nếu không có cách quản trị thích hợp, đội ngũ lãnh đạo mạnh, chương trình giảng dạy được xây dựng kỹ lưỡng, cùng đội ngũ giảng viên/ nghiên cứu viên có trình độ, thì một khuôn viên xinh đẹp cũng  chỉ là một cái vỏ rỗng.  2. Chỉ thiết kế các chương trình sau khi xây dựng cơ sở vật chất.   Có một giả định thường gặp rằng việc dạy – học có thể dễ dàng thích ứng với bất cứ cơ sở vật chất nào, nhưng thực ra những phương pháp sư phạm tân tiến đòi hỏi phải có cơ sở vật chất phù hợp. Ví dụ, các phương pháp tiếp cận tương tác, học tập dựa trên vấn đề, hoặc các phương pháp làm việc theo nhóm và học tập đồng cấp  (peer learning) thường bị hạn chế bởi các giới hạn vật lý của các giảng đường và lớp học thông thường. Tầm nhìn, sứ mạng, và kế hoạch dạy – học cần được xác định trước khi xây dựng cơ sở hạ tầng để cái sau được điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu của cái trước, chứ không phải là ngược lại  3. Nhập khẩu nội dung giảng dạy từ một nơi khác.   Các nhóm phụ trách việc thiết lập các trường đại học mới thường nhìn vào các trường đại học hàng đầu của các nước công nghiệp phát triển để “mua” các yếu tố trong chương trình giảng dạy của họ thay vì phải trải qua một quá trình lâu dài nhằm thiết kế các chương trình của riêng mình. Mặc dù điều này có vẻ thiết thực và thực tế, đó không phải là cách hiệu quả nhất để xây dựng văn hóa học tập của một trường đại học mới đạt chuẩn mực cao. Các trường hàng đầu của thế giới như Harvard và MIT là các tổ chức mang tính đơn nhất, nên sẽ là không thực tế khi nghĩ rằng có thể tái tạo mô hình học thuật của những trường này ở nơi khác. Và cũng không thực tế khi hình nghĩ rằng có thể cóp nhặt từng mảnh ghép của các trường đại học có uy tín từ những quốc gia và các nền văn hóa khác nhau rồi giả định rằng các mảnh này sẽ ăn khớp lại với nhau để tạo ra một nền văn hóa học thuật và nghiên cứu trong các trường đại học mới.  4. Thiết kế để áp dụng trong “hệ sinh thái học thuật” của các nước OECD, thực hiện ở nơi khác.      Sao chép những đặc điểm cụ thể vốn làm cho các trường đại học hàng đầu ở Bắc Mỹ và Châu Âu thành công – sự tập trung tài năng, nguồn lực phong phú và quản trị phù hợp – là cần thiết nhưng chưa đủ để tạo ra một trường đại học tầm cỡ thế giới. Sẽ rất khó khăn nếu muốn nói là không thể duy trì sự phát triển của các trường đại học khi sinh thái giáo dục đại học của đất nước không hoàn toàn thuận lợi cho sự phát triển ấy. Các yếu tố chính của một hệ sinh thái học thuật bao gồm sự lãnh đạo ở tầm quốc gia (tầm nhìn cho tương lai của giáo dục đại học, năng lực thực hiện cải cách), khuôn khổ pháp lý (cơ cấu quản trị và các quá trình quản lý ở cấp quốc gia và đơn vị), khung đảm bảo chất lượng, các cơ chế tích hợp cho các loại hình tổ chức đại học khác nhau, nguồn lực tài chính và cơ chế khuyến khích phù hợp, kèm theo cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết. Sự thiếu vắng của dù chỉ một trong những yếu tố này hoặc sự thiếu đồng bộ giữa các chiều kích khác nhau có khả năng làm giảm tiềm năng phát triển và tồn tại bền vững của các trường đại học mới.           Một đại học đẳng cấp không chỉ cần có khuôn viên đẹp, mà phải có đội ngũ lãnh đạo mạnh, có chương trình giảng dạy được xây dựng kỹ lưỡng, và đặc biệt là đội ngũ giảng viên giỏi, tâm huyết. Trong ảnh là ĐH Cambridge danh tiếng của nước Anh nhìn từ trên cao          5. Chậm trễ trong việc tạo ra một Hội đồng Quản trị và bổ nhiệm đội ngũ lãnh đạo.   Việc tạo ra một trường đại học mới thường là một quyết định chính trị của giới lãnh đạo, sau đó giao cho một Bộ hoặc một ban dự án kỹ thuật triển khai thực hiện. Điều này thường làm cho việc thiết kế và quy trình triển khai chịu sự quản lý trực tiếp của trung ương. Một dự án tầm cỡ như vậy cần được sở hữu và thực hiện bởi một đội ngũ lãnh đạo năng động, làm việc dưới quyền của một Hội đồng độc lập có khả năng đưa ra những hướng dẫn và sự trao quyền. Một cơ cấu quản trị thích hợp ngay từ đầu là điều rất quan trọng để thành công.  6. Chỉ lập kế hoạch cho những chi phí trước mắt, mà quên đi sự ổn định tài chính lâu dài hạn.     Những người bảo trợ sáng lập một trường đại học mới thường công bố một khoản hiến tặng rất lớn cho việc thành lập trường, nhưng chỉ có vốn đầu tư ban đầu thì  không đủ. Cần phải cung cấp đầy kinh phí cho những năm đầu hoạt động trong khi chờ đợi thiết lập được một mô hình kinh doanh đảm bảo rằng tổ chức mới có thể duy trì được chính nó.  7. Đưa ra những chỉ tiêu định lượng quá tham vọng.    Lãnh đạo của các trường đại học mới đôi khi nghĩ rằng họ có thể nhanh chóng tuyển được một số lượng lớn sinh viên,  thông thường con số được nghĩ đến là cả chục ngàn. Điều này hiếm khi đạt được mà không ảnh hưởng xấu đến chất lượng. Trong thập niên 1970, tác giả E. F. Schumacher đã viết trong cuốn sách có tựa “Nhỏ là đẹp” rằng các dự án phát triển thành công thường có kích thước nhỏ. Ngày nay điều đó vẫn đúng, đặc biệt là khi xây dựng một trường đại học mới. Nếu chất lượng là vấn đề ưu tiên thì hầu như chỉ nên bắt đầu với một số ít chương trình đào tạo và ít sinh viên. Khi một nền văn hóa học thuật xuất sắc đã được thiết lập thì việc mở rộng  dễ dàng hơn.  8. Nghĩ rằng bạn có thể làm tất cả trong vòng mười tám tháng.   Một kế hoạch tham vọng quá mức sẽ tưởng tượng rằng một trường đại học mới có thể được đưa ra hoạt động sau vài tháng và chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu có thể được thực hiện trong vòng vài năm. Vội vã trong những bước phát triển ban đầu có thể dẫn đến những quyết định có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và chi phí. Xây dựng một trường đại học tất yếu phải là một quá trình lâu dài, đòi hỏi lãnh đạo ổn định, cải tiến liên tục, và sự kiên nhẫn. Điều này đặc biệt đúng khi muốn phát triển những truyền thống khoa học mạnh, rất cần thiết để tạo ra những nghiên cứu mũi nhọn và các ứng dụng công nghệ.  9. Chỉ dựa vào các học giả nước ngoài mà không vun đắp năng lực tại địa phương.   Thuê các học giả nước ngoài là cách làm phổ biến để tăng tốc độ khởi động của một trường đại học mới. Thật vậy, đưa các giáo viên giàu kinh nghiệm và các nhà nghiên cứu đến để giúp đỡ một trường mới là hợp lý, và đó cũng có thể là một chiến lược nâng cao năng lực hiệu quả nếu các học giả này không chỉ nghiên cứu, giảng dạy mà còn có nhiệm vụ đào tạo lớp học giả trẻ hơn và ít kinh nghiệm hơn ở nước sở tại. Nhưng nó có thể là một chiến lược phản tác dụng nếu không có những nỗ lực mang tính hệ thống nhằm thu hút và giữ chân các học giả có trình độ trong nước.  Để kết luận, việc đưa ra một cơ sở giáo dục đại học mới với mong muốn đạt tiêu chuẩn cao nhất là một việc làm  cao quý nhưng cực kỳ khó khăn. Con đường để đạt được sự xuất sắc trong học thuật thì đầy cạm bẫy, mặc dù những cạm bẫy này không phải là không thể tránh được, như đã được minh họa trong những phần trên của bài viết. Quan trọng hơn, quyết định xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế luôn phải được xem xét trong bối cảnh thích hợp để đảm bảo sự gắn kết với chiến lược giáo dục đại học của đất nước và tránh sự lệch lạc trong phân bổ nguồn lực trong ngành. Tuy nhiên, nếu có một kế hoạch chu đáo và thực tế, việc đạt được sự xuất sắc trong giáo dục đại học luôn có thể được xem như là một mục tiêu xứng đáng và quan trọng.  —————————-  1 http://siteresources.worldbank. org/ EDUCATION/Resources/2782001099079 877269/547664-1099079956 815/547670-1237305262556/WCU .pdf   2 Richard Miller là Hiệu trưởng của Franklin W. Olin College of Engineering (thường được gọi tắt là Olin College), một đại học tư phi lợi nhuận với tuổi đời khá non trẻ, chỉ mới bắt đầu hoạt động từ năm 2002. Tuy vậy, trong lịch sử ngắn ngủi đó Olin College đã tạo được danh tiếng cho mình, và được xếp hạng trong top 10 những chương trình kỹ thuật tốt nhất nước Mỹ (dành cho các trường nhỏ, không đào tạo tiến sĩ) theo bảng xếp hạng của US News and World Report năm 2010. Lý lịch trích ngang của Richard Miller có thể tìm được ở đây: http://www.olin.edu/faculty_staff/ leadership_team_bios/miller. html, truy cập ngày 3/10/2010. (Chú thích của người dịch.)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng 400 đại học hàng đầu thế giới      Tạp chí Times Higher Education vừa công bố  danh sách 400 trường đại học hàng đầu thế giới năm 2012 – 2013. Theo đó, ĐH Công nghệ California (California Institute of Technology – Caltech) vẫn xếp đầu bảng, trong khi ĐH Harvard rơi từ vị trí thứ 2 xuống vị trí thứ 4.    ĐH Oxford (Anh) từ vị trí số 4 năm ngoái đã nhảy lên vị trí thứ 2, đẩy Harvard xuống vị trí số 4. Tuy nhiên, nếu tính tốp năm ĐH hàng đầu thế giới thì nước Mỹ vẫn thống trị bảng xếp hạng khi có tới bốn trường.   ĐH Tokyo (Nhật Bản) xếp hạng 27. ĐH Quốc gia Singapore (Singapore) xếp thứ 29, tiếp đến là ĐH Hồng Kông (Hồng Kông, Trung Quốc) xếp thứ 35. Đây là ba trường ĐH châu Á có thứ hạng cao nhất.  Khá ngạc nhiên là trong tốp 99 ĐH hàng đầu thế giới năm nay, các nước và vùng lãnh thổ châu Á gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Nhật, Trung Quốc đều có hai ĐH lọt vào tốp.  Cũng trong tốp 400 ĐH hàng đầu thế giới, Nhật Bản là quốc gia châu Á có nhiều trường ĐH lọt vào tốp nhất (13 trường), kế tiếp là Trung Quốc (9 trường), Hàn Quốc (6 trường)…  Từ trước tới nay, Việt Nam chưa có trường ĐH nào lọt vào bảng xếp hạng này.  Xếp hạng ĐH của tạp chí Times Higher Education dựa trên dữ liệu từ tập đoàn truyền thông Thomson Reuters. 50 chuyên gia hàng đầu của 15 quốc gia đến từ tất cả các châu lục cùng đưa ra bảng xếp hạng.  Bảng xếp hạng này dựa trên 13 chỉ số đánh giá, chia làm năm nhóm: Giảng dạy – môi trường học tập; Nghiên cứu – bài báo, thu nhập và danh tiếng; Trích dẫn – tầm ảnh hưởng của nghiên cứu với thế giới; Nguồn thu đến từ ngành công nghiệp – phát minh, sáng chế; Tầm ảnh hưởng quốc tế – giảng viên, lượng sinh viên quốc tế học, công bố nghiên cứu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng các trường ĐH toàn cầu: ĐH Mỹ tụt hạng      Mặc dù vẫn chiếm ưu thế trong Top 10 và Top 20 của Bảng xếp hạng các  trường đại học trên thế giới 2014-2015 do tạp chí Times Higher Education  công bố, nhưng nhìn chung các trường đại học của Mỹ đang bị tụt hạng rõ  ràng: số trường trong top 200 trường đầu bảng giảm và xếp hạng của phần  lớn các trường này cũng thấp hơn trước.    Website timeshighereducation.co.uk ngày 1/10 vừa công bố Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới 2014-2015. Cũng như mọi năm, Mỹ và Anh vẫn thể hiện ưu thế vượt trội trong giáo dục đại học. Các trường đại học đại học Mỹ chiếm bảy trong Top 10, và chiếm 15 trong Top 20.   Trong 100 đại học xếp hạng cao nhất (Top 100), Mỹ có 45 trường, Anh có 11, Hà Lan – 6; Đức – 6; Australia – 5; Canada – 4; Thụy Sĩ – 3; Thụy Điển – 3; Hàn Quốc – 3; Nhật – 2; Singapore – 2; Pháp – 2; Bỉ – 2; Hong Kong – 2; Trung Quốc (đại lục) – 2; Ý – 1; Thổ Nhĩ Kỳ – 1.   Cho dù Viện Công nghệ California bốn năm liền chiếm ngôi thứ nhất nhưng nhìn chung thì các trường đại học của Mỹ đang bị tụt hạng rõ ràng: tổng số trường đại học Mỹ trong 200 trường đầu bảng từ 77 năm ngoái giảm xuống còn 74; xếp hạng của khoảng 60% các trường này thấp hơn trước.   Một số trường đại học ở châu Âu có thứ hạng cao, ngoài Anh ra, có: Thụy Sĩ có Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Zürich (ETH Zürich) – xếp thứ 13 và Trường Bách khoa Kỹ thuật Liên bang Lausanne (EPFL) thứ 34; CHLB Đức có Đại học München – thứ 29, Đại học Göttingen – thứ 67; Thụy Điển có Viện Karolinska thứ 44.   Australia ở châu Đại dương có Đại học Melbourne xếp thứ 33, Đại học quốc gia Úc thứ 45.  Châu Á có 24 trường lọt vào trong danh sách 200 trường đầu bảng, tăng bốn trường so năm ngoái, trong đó Đại học Tokyo và Đại học Quốc gia Singapore lọt vào Top 25, được xếp ở vị trí thứ 23 và 25. Ngoài ra Nhật còn có Đại học Kyoto xếp thứ 59; Singapore còn có Đại học Công nghệ Nam Dương xếp thứ 61.  Trung Quốc đại lục có ba trường lọt vào Top 200, tăng thêm một so với năm ngoái. Đại học Bắc Kinh từ thứ hạng 45 tụt xuống thứ 48. Đại học Thanh Hoa lên một bậc, xếp thứ 49. Đại học Phục Đán lọt vào Top 200, xếp hạng thứ 193.  Hong Kong Trung Quốc có tới bốn trường thuộc danh sách 200 trường đầu bảng, tăng một so với năm ngoái; trong đó thứ hạng của Đại học Hong Kong vẫn giữ ở thứ 43, còn Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong từ vị trí thứ 57 nhảy lên thứ 51. Ngoài ra Đại học Trung văn Hong Kong (Chinese University of Hong Kong) xếp thứ 129, Đại học Đô thị Hong Kong (City University of Hong Kong) thứ 129.   Hàn Quốc có Đại học Quốc gia Seoul thứ 50,  Viện khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) thứ 52, Đại học Khoa học và Công nghệ (Postech) thứ 66.  Thổ Nhĩ Kỳ có Đại học Công nghệ Trung Đông xếp thứ 85.  CHLB Nga duy nhất có Đại học tổng hợp quốc gia Moscow mang tên Lomonosov xếp hạng thứ 196.   Đông Á đi lên mạnh mẽ   Phân chia theo khu vực, trong danh sách 400 đại học hàng đầu, châu Á có 52 trường; Bắc Mỹ có 126; Nam Mỹ – 4; châu Âu – 178; châu Đại dương – 25; Vùng Trung Đông – 11; châu Phi – 4.   Phil Baty Biên tập viên bảng xếp hạng của Times Higher Education cho biết: các trường đại học hàng đầu khu vực Đông Á tiếp tục thể hiện xu thế đi lên mạnh mẽ trong bảng xếp hạng này. Nhiều đại học phương Tây do thiếu kinh phí mà mất ưu thế. Anh, Canada và Mỹ rõ ràng đang gặp nguy cơ tụt hạng trong nền kinh tế tri thức toàn cầu. 60% trường đại học Mỹ bị tụt hạng trong bảng xếp hạng năm nay. Trung Quốc có bước tiến đáng kể trong bảng xếp hạng của Times Higher Education. “Có nhiều chứng cớ cho thấy chính phủ Trung Quốc đã thực hiện những cố gắng đáng khâm phục trong việc xây dựng các trường đại học hàng đầu thế giới, các cố gắng đó đã thu được kết quả” – ông nói.   Các trường đại học sau đây của Trung Quốc đại lục đã lọt vào danh sách Top 400: Đại học Khoa học kỹ thuật Trung Quốc, Đại học Nam Kinh, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Nhân dân Trung Quốc, Đại học Trung Sơn, Đại học Triết Giang, Đại học Lý Công Vũ Hán và Đại học Vũ Hán.  Bảng xếp hạng đại học thế giới của Times Higher Education được coi là một trong những xếp hạng đại học thế giới có ảnh hưởng nhất. Có 13 chỉ tiêu được dùng để xem xét đánh giá xếp hạng, ngoài giảng dạy và nghiên cứu khoa học ra còn có tình hình trích dẫn luận án, sự chuyển hóa thành tích nghiên cứu thành thu nhập và mức độ quốc tế hóa của nhà trường.            10 trường xếp    hạng cao nhất                     Xếp hạng 2014-15      Xếp hạng 2013-14      Tên trường          1      1      Viện Công nghệ California (Mỹ)                  2      2      Đại học   Harvard (Mỹ)                  3      2      Đại học   Oxford (Anh)                  4      4      Đại học   Stanford (Mỹ)                  5      7      Đại học   Cambridge (Anh)                  6      5      Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ)                  7      6      Đại học Princeton   (Mỹ)                  8      8      Đại học California,   Berkeley (Mỹ)                  9      10      Imperial   College London (Anh)                  9      11      Đại học   Yale (Mỹ)                    Nguyễn Hải Hoành dịch  Nguồn: http://www.timeshighereducation.co.uk/news/world-university-rankings-2014-2015-results-out-now/2016100.article     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng của ĐH Thượng Hải:  Có nhiều tiêu chí không hợp lý      C&#243; khoảng 61% c&#225;c nh&#224; l&#227;nh đạo gi&#225;o dục Ph&#225;p tỏ &#253; muốn cải thiện thứ bậc của&nbsp; gi&#225;o dục Ph&#225;p dựa tr&#234;n c&#225;ch xếp hạng theo Đại học Thượng Hải trong khi họ kh&#244;ng cần biết rằng c&#225;ch xếp hạng đ&#243; chứa đựng nhiều chỉ số kh&#244;ng hợp l&#253;.    Vấn đề xếp hạng  Trong những năm gần đây giới khoa học châu Âu đang lên cơn sốt đánh giá các nghiên cứu khoa học và trình độ các trường đại học. Riêng ở Pháp, luật tự chủ (autonomie)[1] của các trường đại học và việc cải cách tổ chức nghiên cứu lại tạo nên một không khí làm tăng sự nhạy cảm đối với vấn đề này. Sự thiếu vắng những nguyên tắc dẫn đường và những phương pháp khoa học càng làm cho việc sử dụng thư viện lượng học (bibliométrie)[2] càng thêm hỗn độn. Thư viện lượng học tạo dữ liệu cho việc đánh giá hiệu suất nghiên cứu theo các công bố khoa học. Các chỉ số cũ thường sử dụng là input = kinh phí đầu tư còn output = số công trình công bố và số lần trích dẫn được sử dụng để đánh giá “chất lượng” (qualité) và “tác động” (impact) của công trình khoa học.  Báo cáo của Nghị sĩ Joel Bourdin năm 2008 cho thấy rằng mọi cách xếp hạng đều có giới hạn và đều có khuynh hướng đáng tiếc là đánh giá cao có hệ thống một số nước. Cách xếp hạng theo Đại học Thượng Hải rơi vào số đó và đã đánh giá quá thuận lợi cho các trường đại học Mỹ. Nói cách khác bao giờ cũng tìm được một chỉ số nào đó thuận lợi cho một đối tượng nhất định. Liệu một chỉ số có phản ánh được đúng ý nghĩa mà người ta gán cho nó hay không?  Sử dụng sai lầm các chỉ số sẽ gây nên những hệ quả xấu đối với những nhà hoạch định chính sách vì họ sẽ dựa trên những tiêu chí không chuẩn xác.    Lề thói xếp hạng cũng đã lan truyền đến các tổ chức như European Science Foundation khi tổ chức này xếp các tạp chí theo A, B, C tùy theo tạp chí đó là quốc tế, quốc gia hay địa phương. Kiểu xếp hạng như vậy làm mất ranh giới giữa “đánh giá” (évaluation) và thống kê thuần túy theo thư viện lượng học (bibliométrie).   Khoa học lượng học (scientometrie)[2] nghiên cứu số đo hoạt động khoa học hiện nay gần đồng nghĩa với thư viện lượng học (bibliometrie) và thường được thay thế cho nhau.  Đã từ lâu tổ chức Thomson Reuters đã cung cấp những cơ sở thư mục (bibliographie) và nhiều công trình khoa học lượng học đều dựa trên các dữ liệu của tổ chức này. Từ năm 2004 một nhà băng dữ liệu mới đã được thành lập, đó là Scopus do Elsevier, một nhà xuất bản hàng đầu thế giới về khoa học tung lên thị trường. Các nguồn này được sử dụng nhiều trong việc đánh giá nhờ chỗ các dữ liệu nhập vào đây đều được kiểm soát.  Vô tổ chức trong đánh giá  Google Scholar & Internet đã dần dần cung cấp dữ liệu cho các phân tích thư viện lượng học (bibliométrie và nói rộng hơn cho Webométrie). Song hai nguồn này là hai nguồn không được kiểm soát và ở đây không có một chỉ tiêu nào để được nhập vào nguồn (so với Web of Science và Scopus). Sự hội nhập miễn phí vào Google Scholar & Internet càng tăng thêm phần hỗn độn trong quy trình đánh giá. Và người ta theo châm ngôn “any number beats no number” (có một con số còn hơn không có con số nào).  Trong xếp hạng Thượng Hải các trường đại học trên thế giới được xếp vào một bảng theo thứ hạng (palmarès), tạo ra một thách thức đối với các nhà hoạch định giáo dục và các nhà lãnh đạo các trường đại học. Ngoài ra còn có chỉ số h nhằm đánh giá cá nhân các nhà nghiên cứu khoa học.  Trong cả hai trường hợp (xếp hạng Thượng Hải và chỉ số h) người ta sử dụng một con số, có được bằng tổng hợp nhiều phép tính, để xếp hạng và đánh giá chất lượng nghiên cứu mà không chú ý đến tính đa chiều của quá trình nghiên cứu.  Vậy một chỉ số tốt là như thế nào? Một chỉ số tốt phải phản ánh được khái niệm ta muốn có, song chỉ số đó cũng chỉ phản ánh một cách gần đúng khái niệm đó mà thôi. Ví dụ ta muốn đo tác động (impact) khoa học của một tác giả, ta có thể nghĩ rằng tổng số trích dẫn đối với tác giả đó có thể là chỉ số mong muốn, song phải nghiên cứu mối liên hệ giữa số đo độc lập chất lượng và số đo có được theo chỉ số đó. Thư viện lượng học từ những năm 1970 đã nhiều lần chỉ rõ có mối quan hệ giữa trình độ các trích dẫn mà một tác giả nhận được và mức độ nổi tiếng được đánh giá theo các giải thưởng khoa học và các bổ nhiệm hàn lâm mà tác giả đó có được. Cần nói thêm là chỉ số đó chỉ nên áp dụng đối với khoa học tự nhiên còn trong khoa học xã hội – nhất là trong văn chương- nguời ta sử dụng tác phẩm chứ không phải những bài báo để làm phương thức công bố kết quả.   Chỉ số thuần nhất (homogène) và không thuần nhấT (hétérogène)    Các chỉ số thuần nhất là các chỉ số nói một cách toán học là “hữu ước” (commensurable – cùng số đo) với nhau. Ví dụ số input = kinh phí đầu tư và output = số công trình khoa học công bố trên các tạp chí chính là hai chỉ số thuần nhất, vì người ta có thể thành lập tỷ số input /output để đánh giá hiệu quả.  Còn nếu ta thêm vào đó ví dụ chỉ số đánh giá bởi một số chuyên gia đầu ngành thì ta sẽ có một chỉ số không thuần nhất vì đó là một số đo “vô ước” ( incommensurable-không cùng số đo) đối với hai chỉ số trên.                    Tiêu chuẩn             Chỉ số         Trọng số           Chất lượng đào tạo      Số giải Nobel và huy hiệu Fields trong số cựu sinh viên          10 %             Chất lượng của ĐH      Số giải Nobel và huy hiệu Fields trong giảng viên          20 %          Số nghiên cứu viên được trích dẫn nhiều trong chuyên ngành của mình (theo Thomson Reuters)         20%             Công trình công bố      Công bố trên Nature và Science         20 %          Có chỉ số Science Citation index và Arts & Humanities Citation Index         20 %          Quy mô của tổ chức       Thành tựu hàn lâm chuẩn hóa theo quy mô của tổ chức          10 %              Chúng ta thấy rõ rằng cách đánh giá cuối cùng dựa trên tổng của nhiều chỉ số không thuần nhất, ví dụ số lượng công bố trên Nature & Science là vô ước với số giải Nobel. Người ta có thể thắc mắc vì sao lại chọn hai Tạp chí Nature & Science là hai tạp chí có khuynh hướng Mỹ rõ rệt. Hơn nữa liệu có thể chấp nhận một  chỉ số có khả năng khuynh đảo đến 100 thứ bậc trong bảng xếp hạng chỉ bởi vì ta gán cho Đại học Berlin (Đại học Humboldt) giải Nobel 1822 của Einstein? Và cũng có thể thắc mắc liệu chất lượng của một đại học vào năm 2006 có thể chịu ảnh hưởng của những công trình được thực hiện từ 80 năm về trước?  Nói tóm lại, sự xếp hạng Thượng Hải mặc dầu được nói đến nhiều, quả thực không có một giá trị khoa học nào cả. May chăng thì bảng xếp hạng Thượng Hải có một ý nghĩa nào đó đối với việc quốc tế hóa “thị trường đại học” (marché universitaire”), trong quá trình tìm kiếm những khách hàng nước ngoài hào phóng. Cũng cần nói thêm rằng dựa trên bảng xếp hạng Thượng Hải, nhiều bộ phận lãnh đạo các nước muốn tìm cơ hội làm ăn bằng cách đưa ra những cải cách không hiệu quả. Có thể đánh cược rằng nếu các đại học của Pháp được xếp hạng cao hơn trong bảng danh sách Thượng Hải (theo xếp hạng Thượng Hải năm 2008 thì đại học tốt nhất của Pháp là Đại học Paris 06 chiếm vị trí thứ 42) thì người ta khó lòng biện minh cho các cải cách đang tiến hành hiện nay ở Pháp và chắc lúc đó họ sẽ sẵn sàng phê bình mạnh mẽ bảng danh sách đó (vì họ mất đi lý do để tiến hành cải cách).              Thứ hạng quốc tế      Đại học      Châu lục      Thứ hạng trong  châu lục      Nước      Thứ hạng quốc gia         Tổng số điểm          1      Harvard Univ      Americas      1      USA      1         100          2      Stanford Univ      Americas      2      USA      2         73,7          3      Univ California – Berkeley      Americas      3      USA      3         71,4          4      Univ Cambridge      Europe      1      UK      1         70,4          5      Massachusetts Inst Tech (MIT)      Americas      4      USA      4         69,6          6      California Inst Tech      Americas      5      USA      5         65,4          7      Columbia Univ      Americas      6      USA      6         62,5          8      Princeton Univ      Americas      7      USA      7         58,9          9      Univ Chicago      Americas      8      USA      8         57,1          10      Univ Oxford      Europe      2      UK      2         56,8                …………………                   Thứ hạng   Quốc tế      Đại học      Châu lục      Thứ hạng trong châu lục      Nước      Thứ hạng quốc gia         Tổng số        điểm             42      Univ Paris 06      Châu Âu      7      Pháp      1      33.1                
__label__tiasang Xếp hạng đại học: cần minh bạch hóa phương pháp      Đứng tr&#234;n quan điểm của &#8220;kh&#225;ch h&#224;ng&#8221; hay sinh vi&#234;n đang chọn trường, xếp hạng đại học l&#224; một điều c&#243; &#237;ch v&#236; theo l&#237; thuyết n&#243; c&#243; thể cung cấp v&#224;i th&#244;ng tin về chất lượng đ&#224;o tạo của trường đại học. V&#236; vậy nhu cầu xếp hạng đại học ở nước ta l&#224; c&#243; thật, nhưng vấn đề ở đ&#226;y l&#224; đo lường chất lượng như thế n&#224;o cho kh&#225;ch quan. Đ&#243; l&#224; c&#226;u hỏi mấu chốt kh&#243; c&#243; giải đ&#225;p kh&#225;ch quan v&#224; khoa học, nhất l&#224; trong điều kiện thiếu thốn dữ liệu như ở nước ta.     Vấn đề phương pháp   Hiện nay có nhiều nhóm truyền thông đứng ra lập những danh sách “top 200” và “top 500”. Trong các nhóm này phải kể đến nhóm Phụ trang giáo dục đại học của tờ Thời báo (THES – Times Higher Education Supplement) và nhóm thuộc Đại học Giao thông Thượng Hải (GTTH) được nhiều người biết đến từ 2003. Các nhóm này sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá chất lượng đào tạo và nghiên cứu của một đại học.    Nhóm GTTH dựa vào 4 tiêu chí chính là số cựu sinh viên tốt nghiệp đoạt giải Nobel và Fields, số giáo sư đoạt giải Nobel và Fields, số nhà khoa học được trích dẫn nhiều lần, số bài báo khoa học trên hai tập san Nature và Science, số bài báo khoa học trên tập san trong danh bạ SCIE, SSCI, và thành tựu của giáo sư và đội ngũ khoa bảng.    Ngược lại, thay vì tập trung vào các tiêu chí nghiên cứu khoa học của GTTH, nhóm THES dựa vào sự đánh giá của giới khoa bảng từ các trường khác, số sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các công ty toàn cầu, phần trăm giáo sư và sinh viên là người nước ngoài, tỉ số sinh viên / giáo sư, và số lần trích dẫn tính trên đầu người giáo sư.   Mỗi tiêu chí được cho một trọng số (weight). Tổng tích số của trọng số và kết quả của mỗi tiêu chí là điểm cuối cùng cho mỗi đại học. Chẳng hạn như nhóm GTTH định trọng số 10% cho số cựu sinh viên đoạt giải Nobel và Fields, và thành tựu của giáo sư; nhưng cho trọng số 20% cho các tiêu chí như số giáo sư đoạt giải Nobel và Fields, số giáo sư có trích dẫn cao, số bài báo trên Science và Nature hay trong danh bạ SSI và SSCI.  Để thấy hạn chế của cách xếp hạng, tôi sẽ lấy cách làm của GTTH ra làm ví dụ. Giả dụ có hai đại học A với 300 giáo sư và đại học B với 500 giáo sư. Thành quả của hai đại học này qua 4 tiêu chí chính mà nhóm GTTH dựa vào để xếp hạng đại học như sau:            Tiêu chí      Đại học A      Đại học B          Số cựu sinh viên đoạt giải Nobel và Fields (trọng số 10%)      1      0          Số giáo sư đoạt giải Nobel và Fields (trọng số 20%)      2      0          Số giáo sư có chỉ số trích dẫn cao (trọng số 20%)      100      2          Số bài báo trên tập san Science và Nature (trọng số 20%)      30      30          Số bài báo trên các tập san quốc tế (trọng số 20%)      350      500          Thành tựu trung bình của giáo sư (trọng số 10%)      9.65      10.64          Tổng số điểm      106.15      117.04            Nhìn qua kết quả của các tiêu chí trên, chúng ta thấy rõ ràng đại học A mặc dù số giáo sư ít hơn nhưng có thành tựu khoa học cao hơn đại học B. Đại học A có 1 cựu sinh đoạt giải Nobel (nhưng đại học B không có); số giáo sư có trích dẫn cao của đại học A cũng cao gấp 50 lần đại học B; năng suất khoa học của đại học A (số bài báo trên Science và Nature hay nói chung trên 300 giáo sư) cũng cao hơn đại học B. Thế nhưng theo cách tính của nhóm GTTH thì đại học A có số điểm là 106.15, thấp hơn đại học B với tổng số điểm là 117.04!  Do đó, theo cách xếp hạng của GTTH thì đại học B có chất lượng cao hơn đại học A!   Vì sao có sự khác biệt về xếp hạng đến vô lí như thế? Vấn đề chính ở đây là phương pháp tính toán của GTTH đặt nặng vào số lượng bài báo và số lượng này tùy thuộc vào lực lượng khoa bảng (số lượng giáo sư) của trường đại học. Để quân bình hóa vấn đề chênh lệch số lượng giáo sư giữa các trường, họ tạo thêm một tiêu chí bằng cách lấy tổng tích số của 5 tiêu chí và chia cho số lượng giáo sư, và tiêu chí quân bình này có trọng số 10%! Ngoài ra, GTTH còn xem giá trị của một bái báo trên Science và Nature tương đương với một bài báo trên một tập san dưới trung bình nhưng có trong danh bạ SSI và SSCI!   Phần lớn giới làm khoa học đều biết rằng những tiêu chí như số lần trích dẫn cao và số công trình 2 tập san danh tiếng Science và Nature là thước đo quan trọng của nghiên cứu khoa học. Theo đó, giả dụ rằng chúng ta cho trọng số 30% cho những giáo sư có trích dẫn cao và bài báo trên 2 tập san danh tiếng Science và Nature, và trọng số 10% cho các tiêu chí còn lại, thì tổng số điểm của đại học A sẽ là 81.73 và đại học B là 65.56. Theo cách đánh giá này thì đại học A có chất lượng cao hơn đại học B. Ví dụ đơn giản này cho chúng ta thấy một vấn đề nổi cộm: đó là vấn đề phương pháp xác định trọng số.   Do đó câu hỏi then chốt cần đặt ra là làm thế nào để xác định được trọng số cho mỗi tiêu chí?  Phương pháp khách quan nhất để xác định trọng số là phân tích thống kê. Có nhiều mô hình thống kê để xác định trọng số, và các phương pháp này đều dựa vào nhiều giả định khó kiểm tra. Trong ngành y, người ta đã sử dụng phương pháp thống kê để xếp hạng bệnh viện từ lâu, và qua đó mà học được rất nhiều điều từ cách làm của họ. Bài học đơn giản nhất là: nếu không rành thống kê thì không nên làm, vì nếu làm sẽ gây ra hệ quả nghiêm trọng như vụ Bristol bên Anh trước đây.   Các phương pháp này đòi hỏi một trình độ thống kê học cao mà không phải nhà thống kê học nào cũng có thể làm được. Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tôi nghĩ đến hai nhà thống kê học trong lĩnh vực này: đó là Giáo sư Huỳnh Huynh thuộc đại học South Carolina (Mỹ) và Giáo sư Phạm Gia Thụ thuộc Đại học Moncton (Canada). Hai giáo sư này là những chuyên gia hàng đầu trên thế giới về thống kê học, đặc biệt là Giáo sư Huynh là một chuyên gia về đo lường giáo dục lâu năm rất có tiếng trên thế giới. (Xin nói ngay rằng tôi chẳng quen biết gì hai giáo sư này và cũng chưa bao giờ gặp mặt, chỉ ngưỡng mộ qua những công trình của họ mà thôi.)   Vấn đề dữ liệu   Nhưng nếu mô hình phân tích thống kê là một vấn đề kĩ thuật thì vấn đề quan trọng khác là chất lượng của dữ liệu. Nguyên liệu của phân tích thống kê là dữ liệu. Nếu dữ liệu thu thập không tốt thì kết quả phân tích thống kê chỉ là những con số vô nghĩa. Do đó, các dữ liệu về đại học phải được thu thập một cách có hệ thống và có phương pháp khoa học. Các dữ liệu này phải được thu thập qua nhiều năm, chứ không chỉ một năm. Chỉ khi nào dữ liệu thu thập mang tính khoa học theo thời gian thì phân tích thống kê mới mang ý nghĩa, và trọng số xác định từ phân tích thống kê mới có thể nói là mang tính hợp lí.                         Ở nước ta, tôi nghĩ nhu cầu xếp hạng đại học là có thật, nhưng trước khi công bố xếp hạng, tôi nghĩ cần phải có dữ liệu dồi dào qua nhiều năm (longitudinal research) chứ không phải một năm, và phương pháp phải mang tính hợp lí cao thì mới đảm bảo tính khách quan của xếp hạng. Thiết tưởng việc xếp hạng đại học có ảnh hưởng đến nhiều người, vấn đề phương pháp và dữ liệu cần nên được minh bạch hóa và thảo luận trước khi ứng dụng vào thực tế.            Không ai ngoài nhóm GTTH biết phương pháp phân tích và dữ liệu họ thu thập như thế nào, nhưng có điều chắc chắn là kết quả xếp hạng của GTTH không nhất quán với các danh sách khác. Chẳng hạn như một số trường xuất hiện trên danh sách top 200 của GTTH không có trong danh sách của THES (và ngược lại). Theo xếp hạng năm 2006, 4 trong số 50 trường hàng đầu của GTTH không nằm trong top 500 của THES! Một số trường trong danh sách top 50 của GTTH thậm chí không nằm trong danh sách top 500 của THES. Tính tổng cộng, chỉ có 133 trường nằm trong cả hai danh sách! Phân tích này một lần nữa cho thấy cách xếp hạng của cả hai nhóm không đáng tin cậy và không có cơ sở khoa học vững vàng.    Xin lấy vài trường hợp làm ví dụ. Đại học Osaka theo cách xếp hạng của THES đứng hạng 69 năm 2004, nhưng tụt xuống hạng 105 năm 2005, rồi quay về hạng 70 năm 2006. École Polytechnique của Pháp cũng “nhảy đầm” như thế: hạng 27 năm 2004, 10 năm 2005, và 37 năm 2006! Chính vì thế mà nhiều đại học bây giờ không đánh giá cao những cách xếp hạng này.    Một số chuyên gia khi phân tích các tiêu chí và cách làm của GTTH và THES nhận xét rằng các tiêu chí mà hai nhóm này sử dụng thiếu tính khoa học, và họ cảnh báo rằng cách xếp hạng hiện nay có thể gây tác hại cho khoa học và giáo dục. Chuyên gia về chất lượng đại học F. Raan phê phán một cách gay gắt phương pháp của Đại học Giao thông Thượng Hải. Trong một bài báo khoa học, ông chỉ ra những sai lầm về khái niệm và phương pháp của GTTH. Ông nói thẳng rằng nhóm GTTH không biết gì về phân tích chất lượng khoa học cả, ông gọi nhóm này là “Những người kém cỏi về chuyên môn và thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực định lượng khoa học.” Thật vậy, trong một thư trả lời, nhóm GTTH cũng thú nhận: “Chúng tôi [nhóm GTTH] thậm chí không dám tự nhận mình là các nhà nghiên cứu về đo lường khoa học.”  Hiệu trưởng Đại học McGill (một “Harvard của Canada”) Bernard Shapiro, trong một thư cho các nhóm xếp hạng đại học, viết như sau: “Việc tổng hợp các chỉ tiêu riêng lẻ để đi đến một chỉ số chung hay xếp hạng là một việc làm hết sức khó khăn.  Qui trình này đòi hỏi việc xác định trọng số cho mỗi tiêu chí trong phương trình tính toán. Trọng số phải được đúc kết từ những phân tích và đánh giá mà tôi chắc chắn rằng chẳng ai đồng ý. Rõ ràng là nếu thay đổi trọng số thì thứ tự xếp hạng sẽ khác nhau rất lớn. Và, điều này cho thấy cách xếp hạng hiện nay không đáng tin cậy. Vì không đáng tin cậy nên nó có thể gây tác hại đến uy tín của đại học.” Giáo sư Gerhard Casper, hiệu trưởng Đại học Stanford (California) cũng gióng một tiếng nói tương tự: “Phương pháp xếp hạng hiện nay không chính xác và không có ý nghĩa thực tế. #1 và #2 có thể khác nhau như #1 và #10, nhưng có lẽ sự khác biệt này chẳng có ý nghĩa thống kê, nhưng đại học sẽ có hạng khác nhau.” Năm ngoái, một nhóm đại học ở Mỹ kêu gọi tẩy chay những xếp hạng hiện hành.   Và tình hình nước ta    Hiện nay, ngành giáo dục nước ta đang có nỗ lực để xếp hạng đại học Việt Nam. Tuy nhiên, các tiêu chí cụ thể sẽ được sử dụng cho việc xếp hạng này vẫn chưa được công bố. Nhưng qua phát biểu của một chuyên gia (“Việc xếp hạng các trường ĐH cần phản ánh được hai hoạt động chính của nhà trường là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trong nghiên cứu khoa học phải bao hàm cả chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Các trường ĐH được xếp hạng theo cùng nhóm theo từng lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu khoa học.”) thì các tiêu chí mà các giới chức Việt Nam sắp sử dụng có vẻ khác với các tiêu chí trên thế giới. Tất nhiên, tiêu chí của Việt Nam không nhất thiết phải giống với các nhóm khác, nhưng vấn đề hợp lí nội tại (internal validity) và hợp lí ngoại tại (external validity) của các tiêu chí vẫn cần phải được xem xét cẩn thận.   Không biết phương pháp xác định trọng số mà các chuyên gia Việt Nam sắp sử dụng để xếp hạng đại học là gì, và dữ liệu đã được thu thập hay phân tích ra sao. Trang web của nhóm nghiên cứu về cách xếp hạng đại học không cung cấp những thông tin cụ thể về phương pháp phân tích, cũng như những công trình đã được công bố quốc tế (peer reviewed publications).    Hai yêu cầu cơ bản của bất cứ một đo lường nào là độ tin cậy (reliability) và độ chính xác (accuracy). Độ tin cậy phản ảnh tính nhất quán của biến đo lường khi được ứng dụng nhiều lần trong một điều kiện. Độ chính xác của một đo lường cung cấp cho chúng ta biết đo lường thật sự phản ảnh được bao nhiêu bản chất của vấn đề chúng ta cần biết. Chỉ khi nào các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng hai yêu cầu này thì mới có thể áp dụng rộng rãi.    Ở nước ta, tôi nghĩ nhu cầu xếp hạng đại học là có thật, nhưng trước khi công bố xếp hạng, tôi nghĩ cần phải có dữ liệu dồi dào qua nhiều năm (longitudinal research) chứ không phải một năm, và phương pháp phải mang tính hợp lí cao thì mới đảm bảo tính khách quan của xếp hạng. Thiết tưởng việc xếp hạng đại học có ảnh hưởng đến nhiều người, vấn đề phương pháp và dữ liệu cần nên được minh bạch hóa và thảo luận trước khi ứng dụng vào thực tế.  Như đề cập trên, đối với sinh viên và phụ huynh chọn trường, xếp hạng đại học có thể có ích. Nhưng xếp hạng như cách làm hiện nay không thể xem là một chỉ số về chất lượng khoa học hay đào tạo được, bởi vì ngay cả cụm từ “chất lượng” vẫn chưa được định nghĩa và định lượng rõ ràng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng đại học: Giải pháp cho Việt Nam      Hội thảo “Giải pháp nâng cao chất lượng và uy tín quốc tế của các trường đại học Việt Nam” do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) và ĐHQGHN tổ chức mới đây đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các cơ sở giáo dục đại học và các bên liên quan. Tuy nhiên, các luồng thông tin đánh giá về xếp hạng đại học đều rất khác nhau. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Hữu Đức, phó giám đốc ĐHQG HN.      PGS.TS Nguyễn Hữu Đức.    Tia Sáng: Hội thảo về xếp hạng đại học do Bộ GD&ĐT và ĐHQGHN phối hợp tổ chức đã làm rõ và thống nhất được một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học, theo ông, vấn đề quan trọng nhất mà hội thảo đã nêu được là gì?   GS.TS Nguyễn Hữu Đức: Hội thảo bàn nhiều nội dung, nhưng tựu trung, nhiều ý kiến thảo luận cho rằng, đối với giáo dục đại học, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học cần phải đặt lên hàng đầu. Muốn làm tốt được điều này, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trước hết phải thực hiện kiểm định chất lượng và minh bạch các điều kiện đảm bảo chất lượng đối với cộng đồng;  quan tâm giải quyết các vấn đề trong nước, nhưng đồng thời phải hướng đến việc hội nhập với khu vực và nâng cao uy tín quốc tế. Khuyến khích các trường đại học chủ động lựa chọn và tham gia xếp hạng bởi các tổ chức xếp hạng đại học quốc tế có uy tín phù hợp với chiến lược phát triển để góp phần đối sánh và nhận diện đơn vị.  Tôi cho rằng, đại học phải làm chất lượng, còn xếp hạng chỉ làm nhiệm vụ chụp ảnh, chụp được toàn bộ hay được một phần kết quả cũng cần khuyến khích để đối sánh với cái chung của thế giới và nhận diện cho cái riêng của mình.      Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học là vấn đề quan trọng nhất còn xếp hạng chỉ làm nhiệm vụ chụp ảnh, chụp được toàn bộ hay được một phần kết quả cũng cần khuyến khích để đối sánh với cái chung của thế giới và nhận diện cho cái riêng của mình.      Tuy nhiên, sau hội thảo vẫn còn một số các ý kiến còn lưỡng lự và băn khoăn về vấn đề xếp hạng đại học ở Việt Nam.  Một hội thảo đề cập đến những nội dung khá mới mà có nhiều luồng thông tin khác nhau thì cũng là bình thường. Theo quan sát của tôi các ý kiến còn lưỡng lự, các trường đại học còn chần chừ thường liên quan đến các yếu tố sau đây.  Thứ nhất, đó là nhóm các ý kiến còn nhầm lẫn giữa kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học.  Ở ta, nói kiểm định chất lượng là do cách dịch ra cho gọn nên không phản ánh hết nội hàm của hoạt động này. Từ gốc tiếng Anh của hoạt động này là kiểm định điều kiện đảm bảo chất lượng (quality assurance) chứ không phải là trực tiếp chất lượng (quality).  Kiểm định là để xem trường đại học đã đủ các điều kiện tổ chức đào tạo chưa. Cùng điều kiện như nhau, nhưng để có một đại học chất lượng xuất sắc đến đâu thì còn phải xét đến các kết quả và sản phẩm đầu ra của họ. Nói thế để thấy là tại sao các trường đại học Việt Nam đạt kiểm định với tỉ lệ rất cao, nhưng có ít trường đại học xếp hạng tốt là vậy. Thế nên các trường đại học cũng nên sử dụng kết quả kiểm định chất lượng cho đúng nghĩa của nó.  Thứ hai, là nhóm các trường không thể nào, không bao giờ lọt vào bảng xếp hạng. Đó là các trường không có đào tạo tiến sĩ, không có nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế.  Có những trường đại học đào tạo bậc đại học các lĩnh vực công nghệ cao, rất có chất lượng, nhưng chừng nào trường chưa quan tâm đến đào tạo tiến sĩ, chưa quan tâm đến công bố quốc tế thì dù có mặn mà với xếp hạng, cũng khó lọt top.  Có thể nói rộng ra, khi bàn chuyện đại học (theo tiêu chí university của thế giới) mà có sự tham gia của các trường đại học có cơ cấu và chức năng không hoàn chỉnh thì tiếng nói không thống nhất là tất nhiên. Xếp hạng đại học do đó liên quan mật thiết đến việc phân tầng, xếp hạng theo nhóm, theo sứ mệnh và mục tiêu.  Thứ ba, là nhóm ý kiến so sánh, chỉ trích phương pháp và tiêu chí của các bảng xếp hạng. Mỗi nhóm xếp hạng đều có cách tiếp cận và mục tiêu đánh giá của họ cả. Trong 16 bảng xếp hạng đại học mà mấy hôm nay truyền thông nhắc đến nhiều, có 3 bảng xếp hạng QS, THE và ARWU có uy tín nhất thế giới. Trong đó, bảng xếp hạng QS mà 6 trường đại học Việt Nam tham gia được không phải là bảng chất lượng thấp đâu. Bảng này theo khảo sát của trang web Alexa thì có sự quan tâm thứ nhất của thế giới đấy. Các trường đại học hàng đầu thế giới đều tự nguyện tham gia bảng xếp hạng này, như: Massachusetts Institute of Technology (MIT), Stanford University, Harvard University, California Institute of Technology (Caltech), University of Cambridge (top 5 QS thế giới năm 2018). Rồi cả các trường đại học hàng đầu châu Á: Nanyang Technical University (NTU), National University of Singapore (NUS), The Hong Kong University of Science and Technology, Korean Advanced Institute of Science & Technology (KAIST), The University of Hong Kong (top 5 QS châu Á 2018). Và đến top 25 đại học hàng đầu ASEAN (hình 1). Tất cả các trường danh giá, chẳng ai từ chối, bài xích bảng này hay bảng nọ cả.  Và cuối cùng, là các trường đại học công lập, trong số đó có các trường đại học trọng điểm, đã có bề dày truyền thống và các kết quả nhất định, nhưng ít nhiều còn thiếu tự tin và đang phải lo toan với cơm áo gạo tiền. Đây là nhóm đại học tiềm năng, đáng ra phải tích cực thể hiện trách nhiệm trong việc xây dựng thương hiệu đơn vị, thương hiệu quốc gia, nhưng đáng tiếc là đang khiêm tốn quá.    Bảng 1: Các trường đại học tốp 25 của ASEAN năm 2018.      Điểm chung nhất và bản chất sơ khởi của việc xếp hạng là phục vụ cộng đồng, phục vụ người học, cho nên bản chất đó là một dịch vụ miễn phí (public services). Khi tham gia xếp hạng các trường không phải đóng một lệ phí nào và cộng đồng sử dụng thông tin xếp hạng cũng miễn phí.      Đúng là có thể có các luồng ý kiến khác nhau, nhưng trên thế giới không có trường đại học nào từ chối và trả lại “vương miện” khi được xếp hạng cả. Thế tựu trung lại, bản chất và mục tiêu của các bảng xếp hạng là gì mà cộng đồng quan tâm thế, thưa ông?  Điểm chung nhất và bản chất sơ khởi của việc xếp hạng là phục vụ cộng đồng, phục vụ người học, cho nên bản chất đó là một dịch vụ miễn phí (public services). Khi tham gia xếp hạng các trường không phải đóng một lệ phí nào và cộng đồng sử dụng thông tin xếp hạng cũng miễn phí. Hoàn toàn không có yếu tố thương mại nào ở đây.  Tác dụng của các bảng xếp hạng không chỉ giới hạn ở đó. Nhờ có cơ sở dữ liệu phong phú về các trường đại học, các bảng xếp hạng còn có thể thực hiện đượcnhiệm vụ quan trọng khác là phân tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách của các tổ chức, quốc gia (policy driven services). Liên quan đến mục tiêu quản lý và hoạch định chính sách của các quốc gia, các bảng xếp hạng thường được tài trợ và giao cho các phòng thí nghiệm hoặc các trung tâm nghiên cứu thực hiện. Còn việc phân tích hiện trạng và đối sánh phục vụ mục đích riêng của các tổ chức sẽ do các tổ chức chi trả. Đây là việc các tổ chức xếp hạng có thể phục vụ thêm, ngoài phạm vi xếp hạng.  Nhưng có cảm giác là các bảng xếp hạng đại học thế giới và đại học châu lục chỉ dành cho một nhóm nhỏ các trường đại học nhà giàu, số còn lại rất đông đang đứng ngoài?  Đúng như vậy. Ngay như bảng xếp hạng mở rộng nhất thì QS thế giới chỉ xếp hạng được cho 1.000 trường, chiếm khoảng 3% tổng số các đại học trên thế giới và QS châu Á cũng chỉ được 400 trường.  Tuy nhiên, đây không phải là giàu hay tiết kiệm. Để có một trường đại học xuất sắc, có thứ hạng tốt không thể là một trường chỉ có phấn trắng và bảng đen. Đó phải là một môi trường học thuật hiện đại cần có nhiều đầu tư, hoặc là đầu tư từ nhà nước hoặc các doanh nghiệp. Đây là mục tiêu của các quốc gia quyết tâm đầu tư để có các trường đại học xuất sắc, có khả năng làm cho GD&ĐT và KH&CN trở thành động lực cho sự phát triển, đổi mới chất lượng nguồn nhân lực, thay đổi phương thức sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Kinh nghiệm đầu tư thành công của Trung Quốc thông qua các đề án 211, 985, của Hàn Quốc qua chương trình BK21 và mới đây của LB Nga qua chương trình “5-100” rất đáng học tập.       Bảng 2: Các tiêu chí của bảng xếp hạng ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải.  Vậy theo ông, giải pháp nào cho các trường còn lại? Ở các quốc gia khác thì họ có kinh nghiệm gì?  Có thể lấy kinh nghiệm của Trung Quốc làm ví dụ. Bảng xếp hạng đại học thế giới ARWU nổi tiếng do một trung tâm nghiên cứu thuộc của trường ĐH Giao thông Thượng Hải thực hiện lần đầu vào năm 2003. Xuất phát điểm chỉ nhằm nghiên cứu đánh giá và đối sánh năng lực của các trường đại học hàng đầu của Trung quốc so với thế giới để làm cơ sở xây dựng chính sáchđầu tư phát triển mà thôi. Bảng xếp hạng này nhanh chóng thu hút sự quan tâm của các trường đại học, chính phủ và giới truyền thông trên toàn thế giới. Các tiêu chí của bảng xếp hạng này rất cao (xem bảng 2) và năm 2017 Trung quốc chỉ có 45 trường góp mặt.  Về phương diện quốc gia, để giải quyết bài toán của 1243 trường đại học của họ, Trung quốc đã xây dựng bảng xếp hạng các trường đại học trong nước với các tiêu chí (xem bảng 3) khác biệt rất nhiều với bảng xếp hạng thế giới. Với cách này họ đã xếp hạng được cho 600 các trường đại học mỗi năm công bố được ít nhất 100 bài báo Scopus. Còn một cách làm khác rất đặc biệt nữa là có Bảng xếp hạng riêng cho các trường đại học Nhật Bản ngay trong trang web của THE (https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology-japan-university-rankings-2018).    Bảng 3: Tiêu chí của bảng xếp hạng các trường đại học Trung Quốc  Ông có gợi ý cho xếp hạng đại học ở Việt Nam?  Về xếp hạng quốc tế, như đã nói ở trên, tuỳ theo chiến lược phát triển từng giai đoạn, các trường toàn quyền lựa chọn bảng xếp hạng quốc tế để tham gia, khả thi nhưng phải có tính hội nhập và phổ quát cao để dễ có sự đối sánh hệ thống.  Ở cấp độ quốc gia, tôi thấy cần thiết phải hình thành một nhóm chuyên gia có đại diện của cơ quan quản lí nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học có điều kiện và kế hoạch tham gia xếp hạng triển khai xây dựng bộ tiêu chí và quy trình đánh giá xếp hạng riêng cho các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.  Bộ tiêu chí đánh giá xếp hạng này trước hết phải có sự đồng thuận của trường, coi đó là bộ công cụ phục vụ công tác đánh giá, nhận diện hiện trạng, xây dựng chính sách đầu tư phát triển và quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam. Các trường đại học có kết quả xếp hạng quốc tế và trong nước tốt sẽ được hỗ trợ giao nhiệm vụ đầu tư phát triển. Các cơ sở giáo dục đại học có kết quả đánh giá xếp hạng yếu kém cần được xử lý, đảm bảo trách nhiệm với xã hội.  Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!  PV thực hiện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng đại học Việt Nam?      Xếp hạng chỉ là một (trong nhiều) công cụ để đánh giá chất lượng đại học (ĐH), không nên quá kỳ vọng vào nó; bởi vì, công cụ này cũng không phải là khuôn vàng thước ngọc. Hơn thế, vấn đề đặt ra là phải có chất lượng giáo dục (thật) đã rồi mới nói đến chuyện vươn tới các bảng xếp hạng có uy tín cao mang tính toàn cầu; trong khi chất lượng giáo dục ĐH chưa đâu vào đâu thì việc chạy theo các bảng xếp hạng đẳng cấp thế giới ‘ngay và luôn’ cũng không giúp gì nhiều cho cải cách căn bản và toàn diện giáo dục ĐH.      Phòng lab của Trung tâm nghiên cứu gene và protein (ĐH Y Hà Nội). Ảnh: Hoàng Minh.   Nhu cầu có thật  Trong mấy năm gần đây, nhu cầu được cung cấp thông tin về chất lượng các trường ĐH của cộng đồng, người học và phụ huynh ngày càng lớn, xếp hạng ĐH đã trở thành một nhu cầu có thật không chỉ của giới học thuật mà đã trở thành ‘chuyện thường ngày’ của đời sống xã hội; nhất là khi chúng ta đã có mục tiêu đến năm 2020 sẽ có một trường ĐH lọt Top 200 ĐH tốt nhất trên thế giới (!?); tiếp đó, năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một Nghị định quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam (ĐHVN) (3 tầng 3 hạng); tuy rằng cho tới nay, chưa có bất cứ bảng xếp hạng chính thức nào của các cơ quan chức năng được công bố, nhưng Nghị định này cũng đã đủ sức khuấy lên một xu hướng, khi công khai khi ngấm ngầm, về việc chuẩn bị nguồn lực để tham giaxếp hạng đại học (XHĐH) của không ít trường ĐH. Xu hướng này đã trở thành sự thật khi ngày 06/9/2017, một nhóm xếp hạng độc lập, lần đầu tiên đã ‘dám’ công bố bảng xếp hạng 49 trường ĐH VN, ‘made in Vietnam’ và ‘made by Vietnamese’, chọn ‘điểm nhấn’ là khâu yếu nhất của giáo dục ĐH VN: chỉ số về nghiên cứu khoa học (chiếm tới 40% tổng số điểm), gây xôn xao dư luận và bất ngờ cho nhiều người. Dù còn nhiều tranh cãi và âu lo, nhưng xếp hạng đại học (XHĐH) vẫn đang là một xu hướng hiển hiện và trở thành nhu cầu có thật ở VN.  Câu hỏi đặt ra là: XHĐH để làm gì? Không lẽ đơn giản chỉ là nhằm cung cấp thông tin tham khảo cho xã hội? Để từ đó tạo nên chuyển biến tích cực cho xã hội và cho các trường, tạo thêm động lực cho ĐHVN, như động lực cạnh tranh và nâng cao chất lượng, động lực hội nhập quốc tế và minh bạch thông tin… Không ai nghĩ như vậy! Cái đích của mọi đổi mới và cải cách trong GD&ĐT, trong đó có XHĐH, là nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội của các trường ĐH. Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học là vấn đề quan trọng nhất, cốt lõi nhất của mọi hệ thống GD&DT và của từng trường ĐH; còn xếp hạng chỉ làm nhiệm vụ ‘chụp ảnh’, chụp được toàn bộ hay được một phần kết quả nào đó thì cũng đều cần khuyến khích để đối sánh với cái chung của thế giới và từ đó tìm ra lối đi của riêng mình nhằm tiệm cận dần với các chuẩn mực của các trường ĐH có thứ hạng cao.  Như vậy, tham gia xếp hạng là việc nên làm nhưng phải phù hợp với nguồn lực, hoàn cảnh và điều kiện của từng trường, của đất nước.    Vấn đề đặt ra là: có nhất thiết phải tiến hành XHĐH theo các bảng xếp hạng quốc tế có uy tín cao (như THE hay QS) ngay không? Có cần luật hóa việc XHĐH ngay bây giờ không? Nếu có thì làm như thế nào? Nếu không thì bao giờ làm và làm như thế nào?  Tại hội nghị ‘Nâng cao chất lượng và uy tín quốc tế của các trường đại học Việt Nam’, do Bộ GD&ĐT và ĐHQG HN phối hợp tổ chức ngày 11/4/2018 tại Hà Nội vừa qua, dường như chủ tọa và nhiều người thiên về xu hướng ‘nhập khẩu nguyên chiếc’ một hệ thống xếp hạng đẳng cấp phương Tây, cụ thể là hệ thống QS của Anh. Đây là cách đơn giản và tiện lợi nhất mà người ta thường làm khi nhập khẩu công nghệ, theo phương châm ‘đi tắt đón đầu’, ‘bỏ qua giai đoạn’ loay hoay tự làm, ‘tiến thẳng lên’ các chỉ số, tham số của một tổ chức xếp hạng được coi là có uy tín vào hàng cao nhất. Chúng ta hội nhập quốc tế thì phải thừa nhận và áp dụng tiêu chí của quốc tế, hiển nhiên là vậy! Có nhóm khác cho rằng, ta chỉ tham khảo cái hay cái phù hợp của họ để xây dựng một bộ tiêu chí và tiêu chuẩn xếp hạng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh VN, vì tất cả các bảng xếp hạng ấy đều không phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế hiện nay của các trường ĐH VN (ví dụ, có hệ thống xin ý kiến của nhà tuyển dụng và các chuyên gia để đánh giá về uy tín của một trường ĐH đã dành đến 40-50% số điểm cho thông số thiên về cảm tính chủ quan này; hay có hệ thống quá coi trọng các công bố trên tạp chí Nature, tạp chí Science và số nhà khoa học đạt giải thưởng Nobel và Fields,v.v).      Cái mà xã hội đang trông ngóng và hối thúc là nâng cao chất lượng (thật) của giáo dục ĐH. Chúng ta cần và phải phát triển những tiêu chuẩn chất lượng giáo dục ĐH, nâng cao chất lượng đầu vào, qui trình đào tạo, quá trình đào tạo và đầu ra (các tiêu chuẩn phản ảnh phẩm chất và năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp).        Việc cần làm ngay?  Vậy, XHĐH theo các bảng xếp hạng có uy tín cao trên thế giới như QS hay THE có là nhu cầu cấp bách, có là việc cần làm ngay, có là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH trong giai đoạn hiện nay? Câu trả lời là không; điều đó cũng cần nhưng chưa phải là nhu cầu cấp bách và cũng không phải là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH trong giai đoạn hiện nay. Cái mà xã hội đang trông ngóng và hối thúc là nâng cao chất lượng (thật) của GDĐH. Chúng ta cần và phải phát triển những tiêu chuẩn chất lượng giáo dục ĐH, nâng cao chất lượng đầu vào, qui trình đào tạo, quá trình đào tạo và đầu ra (các tiêu chuẩn phản ảnh phẩm chất và năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp). Mục tiêu hàng đầu và thật sự của ĐH là đào tạo những chuyên gia có kiến thức và kĩ năng đóng góp thiết thực và hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước, chứ chưa phải là có tên trong danh sách top này hay top kia. Đất nước và xã hội đang cần trường nào thực sự có nhiều đóng góp hơn cho việc đào tạo ra những con người có ích cho xã hội, trường nào thực sự tạo ra kiến thức giúp ích cho cộng động, cải thiện đời sống người dân, thay đổi bộ mặt xã hội, hơn là trường nào công bố quốc tế nhiều hơn.  Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tham gia vào các bảng xếp hạng quốc tế chỉ cho chúng ta thấy được khoảng cách của chính mình với các trường ĐH khác trong khu vực và trên thế giới, nhưng sẽ không mang lại cho chúng ta những thông tin cần thiết đủ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch chiến lược cho giáo dục ĐH nói chung và cho từng trường ĐH nói riêng. Chúng ta chưa cần quá bận tâm với những danh sách top này top kia của QS hay THE, mà cần làm rõ cái lõi hợp lý trong xếp hạng, từ đó tìm ra lối đi riêng với những lựa chọn ưu tiên phù hợp. Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, ưu tiên là nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống và vì vậy nên tập trung vào xếp hạng quốc gia. Và ngay cả khi tiến hành XHĐH quốc gia thì cũng phải thoát ra khỏi hội chứng XHĐH, thoát ra nỗi ám ảnh ‘toàn cầu’; đi vào thực chất của chất lượng giáo dục và đào tạo.  Trong khi tiêu chí của các bảng xếp hạng quốc tế uy tín đang còn ‘quá cao’, liệu chúng ta có cách nào để tự đánh giá xếp hạng mình? Có chứ! Trên thế giới đang tồn tại nhiều bảng xếp hạng khác nhau, nhưng dù là bảng xếp hạng nào thì cũng xoay quanh các giá trị cốt lõi và sứ mệnh của bất kỳ một ĐH nào: sáng tạo ra tri thức mới làm giàu thêm kho tàng tri thức của quốc gia, của nhân loại thông qua nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; truyền bá các tri thức và các giá trị nhân bản của tiền nhân và của thời đại ngày nay cho thế hệ đương thời thông qua đào tạo và phục vụ xã hội. Bởi vậy, hầu như bảng xếp hạng nào cũng đều có “hồn cốt” khá giống nhau (có người cho rằng, sự trùng hợp về các tiêu chí của các bảng xếp hạng lên tới 70%). Vì thế, VN hoàn toàn có thể xây dựng một bảng xếp hạng riêng phù hợp với điều kiện và thực trạng ĐH VN, phù hợp với thông lệ quốc tế, và thực hành nó trong một khoảng thời gian nhất định trước khi tham gia vào các bảng xếp hạng mang tính toàn cầu.  Như vậy, nếu có làm ngay, thì có lẽ cũng chỉ nên khuyến khích và hỗ trợ các bảng xếp hạng trong nước, với bộ tiêu chí và tiêu chuẩn hướng đễn những chuẩn mực quốc tế, đối sánh với các trường có thứ hạng cao trên thế giới để tìm đường đi tiết kiệm về thời gian và tiền bạc nhất, phù hợp với nguồn lực, điều kiện và văn hóa Việt Nam. Để thử sức trên sân chơi quốc tế thì sự lựa chọn hợp lý hơn cả là chúng ta nên tham gia vào các bảng bình dân hơn, vừa sức ta hơn như Webometrics (dựa trên xếp hạng website và top chuyên gia) và Scientometrics (căn cứ trên thống kê công bố khoa học), chúng ta lại đang có một số lợi thế nhất định trên ‘sân chơi’ này. Từ năm 2004, khi Webometrics tạo ra một ‘sân chơi’ đại chúng hơn dành cho mọi cơ sở giáo dục ĐH, miễn là cơ sở đó có trang web, mức độ uy tín của nó không ngừng đc nâng cao và có độ bao phủ lớn hơn; Webometrics ngày càng chứng tỏ đây là một ‘sân chơi’ có hạng về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Từng bước chắc chắn, không nóng vội, đi từ gốc của vấn đề rồi sẽ đến cái ngày, VN có thể tham gia vào sân chơi đẳng cấp cao như THE hay QS.  Vì vậy, nên chăng trong vài năm tới, chúng ta tập trung vào công tác kiểm định chất lượng và minh bạch các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường theo các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, sau đó mới khuyến khích các trường ĐH chủ động lựa chọn và tham gia xếp hạng bởi các tổ chức XHĐH trong nước và quốc tế có uy tín phù hợp với chiến lược phát triển của từng trường để họ đối sánh và nhận diện, thiết kế và tìm đường đi cho riêng họ theo một mẫu số chung là chất lượng giáo dục ĐH, là nền giáo dục dân tộc, khai sáng và nhân bản.  Do đó, thay vì chạy theo sức hút mang tính truyền thông với những mục tiêu còn xa vời, thiếu thực tế với thực trạng nền giáo dục ĐH nước nhà, chúng ta đừng quá vội vàng và quá bận tâm với những danh sách sách top 200 top 500, mà hãy tập trung nguồn lực đầu tư vào những việc thực tế hơn để nâng cao tiêu chuẩn đào tạo tiệm cận dần đến trình độ quốc tế, sao cho sinh viên khi tốt nghiệp có thể hội nhập với cộng đồng quốc tế dễ dàng, thực sự là các công dân toàn cầu. Một khi tiêu chuẩn đã đạt chuẩn quốc tế thì mục tiêu top 200 hay top 500 không còn là vấn đề lớn nữa.          Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Xếp hạng đại học Việt Nam: Một số vấn đề kỹ thuật      Tiếp theo bài viết trình bày nguyên tắc và phương pháp tiến hành báo cáo “Một cách xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam”1, Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam có bài viết chia sẻ câu chuyện về những thách thức trong quá trình thu thập và kiểm chứng dữ liệu cũng như lựa chọn tiêu chí để hình thành nên bảng xếp hạng đại học Việt Nam đầu tiên.      Từ trái qua: TS. Giáp Văn Dương, TS Lưu Quang Hưng, và TS Nguyễn Ngọc Anh đại diện cho Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam trao đổi với cử tọa tại tọa đàm về báo cáo do Nhóm phối hợp với tạp chí Tia Sáng tổ chức, Hà Nội, 06/09/2017. Ảnh: Thu Quỳnh.  Vì sao xếp hạng?  Giáo dục đại học đang bị nhiều chuyên gia đánh giá là một trong những khâu yếu nhất của hệ thống giáo dục hiện nay, vì phần lớn các trường chỉ tập trung vào tuyển sinh và giảng dạy, trong khi một mô hình đại học hoàn chỉnh phải đi liền với nghiên cứu khoa học và sản sinh ra tri thức mới.  Do chỉ tập trung vào giảng dạy nên công bố khoa học của các trường hiện nay rất ít, có trường một năm không có nổi số bài nghiên cứu đếm trên đầu ngón tay, thua xa năng suất làm việc của một phòng thí nghiệm hoặc một bộ môn nhỏ trong một đại học ở nước ngoài. Điều này thật khó chấp nhận nếu chúng ta quan niệm đại học phải là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Lý do là chỉ thông qua nghiên cứu thì cả thầy và trò mới thực sự dấn thân vào hành trình cập nhật, khám phá và làm chủ tri thức. Nhờ đó, kỹ năng làm việc, kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp được hoàn thiện, khả năng đổi mới sáng tạo được phát triển. Nếu không có nghiên cứu thì những điều nhà trường giảng dạy chỉ là một sự lặp lại, dễ dàng bị tụt hậu so với thế giới. Các sinh viên được đào tạo trong môi trường như thế, hẳn nhiên cũng sẽ bị tụt hậu so với mặt bằng chung của quốc tế.  Liệu có cách nào để thúc đẩy giáo dục đại học Việt Nam cải thiện chất lượng theo hướng tăng cường nghiên cứu, và rộng hơn là đổi mới theo hướng hội nhập quốc tế? Chúng tôi thấy, tiến hành đánh giá xếp hạng các trường một cách độc lập và minh bạch là một trong những cách tốt và nhanh nhất. Vì sao vậy? Vì minh bạch và định lượng là động lực của quản trị và cải tiến. Không ai có thể quản trị nếu không đo lường được những điều họ muốn quản trị. Cũng không ai có thể cải tiến nếu không định lượng được những điều họ muốn cải tiến. Đây là nguyên lý sơ đẳng mà bất cứ nhà quản trị nào cũng thuộc nằm lòng.  Chưa kể, xếp hạng đại học hiện đang là một xu hướng của giáo dục đại học trên thế giới mà Việt Nam trước sau gì cũng sẽ nhập cuộc. Thậm chí, Việt Nam còn đặt mục tiêu đến năm 2020 có một trường vào Top 200 các trường tốt nhất trên thế giới trong các bảng xếp hạng quốc tế.  Xây dựng một bảng xếp hạng các trường đại học Việt Nam để xã hội tham khảo, đồng thời góp phần giúp các trường tự đổi mới và cải cách mạnh mẽ hơn nữa, chính là lý do Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam ra đời và tiến hành dự án nghiên cứu xếp hạng đại học một cách độc lập.  Làm rõ thuật ngữ liên quan  Khi tiến hành nghiên cứu xếp hạng các trường, cái khó đầu tiên chúng tôi gặp phải lại nằm ngay ở cách hiểu về xếp hạng. Trong cách hiểu của đại chúng, và trong các văn bản liên quan viết bằng tiếng Việt, thuật ngữ “xếp hạng” khi thì được hiểu là rating (chấm điểm chất lượng), khi lại được hiểu là ranking (xếp thứ tự cao-thấp).  Ở đây, chúng tôi diễn giải một cách dễ hiểu một số khái niệm gắn với đối tượng là các trường đại học để người đọc nắm được như sau:  * Xếp hạng (theo cách hiểu ranking): Là việc xây dựng mối quan hệ cao-thấp giữa các trường hoặc nhóm trường dựa trên các thước đo được định nghĩa ở phương pháp xếp hạng. Xếp hạng thường được thực hiện bởi các tổ chức hoặc nhóm chuyên gia độc lập.  * Xếp hạng (theo cách hiểu rating): Là sự lượng hóa điểm số của trường trên một thang đo định trước để xếp vào các hạng cao-thấp. Đây là một cách đánh giá chất lượng phổ biến, thường được chấm điểm theo sao với các bộ tiêu chí tương ứng. Ví dụ Quacquarelli Symonds (QS) chấm 7 sao là bậc cao nhất trong đánh giá đại học. Rating thường được tiến hành bởi xã hội, nhóm độc lập, hiệp hội hoặc cơ quan quản lý.  * Kiểm định (accreditation): Là kiểm tra và thẩm định nhằm công nhận mức độ tiến bộ và đảm bảo chất lượng của đại học. Kiểm định thường được tiến hành bởi các hiệp hội, tổ chức có chuyên môn. Cơ quan quản lý của nhà nước thường đóng vai trò thẩm định năng lực của các hiệp hội, tổ chức này; nhưng đôi khi cũng tham gia kiểm định trực tiếp.  Giải thích sơ bộ như vậy để thấy, trong báo cáo “Một cách xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam” của chúng tôi, xếp hạng được hiểu là Ranking (xếp thứ tự cao-thấp) chứ không phải là Rating (chấm điểm cao-thấp về chất lượng), càng không phải là Accreditation (kiểm định chất lượng).  Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng, xếp hạng và kiểm định là hai quá trình độc lập với nhau. Các bảng xếp hạng phổ biến (ARWU, Times Higher Education, Webometrics, …) đều không yêu cầu các trường phải được kiểm định mới được xếp hạng. Dĩ nhiên, việc xếp hạng sẽ uy tín hơn nếu tiến hành trên đối tượng đã được rà soát, kiểm định. Ranking thường được tiến hành bởi một nhóm độc lập, dựa trên một bộ tiêu chí nào đó do nhóm lựa chọn, và phản ánh góc nhìn riêng của nhóm.  Các khó khăn gặp phải  Khi tiến hành nghiên cứu xếp hạng đại học này, nhóm chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn. Có thể kể đến một số khó khăn điển hình sau:  Khó khăn trong thu thập số liệu: Trên văn bản, quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đã được ban hành kèm theo thông tư 09/2009/ BGĐT, theo đó các cơ sở giáo dục phải công khai thông tin tại các cơ sở giáo dục và trên các trang thông tin điện tử. Thế nhưng rất nhiều trường đại học đã không công khai thông tin theo quy chế này ở các nội dung như: (i) công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế; (ii) công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; và (iii) công khai tài chính.  Dù rất muốn, chúng tôi đã không có được các dữ liệu, chẳng hạn:  * Tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm: Trong danh sách 49 trường được xếp hạng, chỉ có 15 trường có dữ liệu về tỷ lệ việc làm. Sau khi phân tích sâu hơn, chúng tôi thấy chất lượng dữ liệu này rất đáng ngờ, chủ yếu dựa trên kết quả nhà trường tự công bố mà chưa được kiểm chứng. Hơn nữa, số mẫu lại quá ít (chỉ có 30% số trường). Do đó, số liệu này không thể dùng được.  * Đánh giá của nhà tuyển dụng: Hiện nay, chưa thấy có một nghiên cứu hoặc khảo sát quy mô nào về đánh giá của nhà tuyển dụng dành cho những người tốt nghiệp các trường. Những cuộc điều tra quy mô lớn như thế tốn thời gian, công sức và tiền của. Với nguồn lực hạn chế, nhóm chúng tôi chưa thể thực hiện trong năm đầu tiên này, mà đặt mục tiêu cho những năm tiếp theo.  * Số liệu bài báo công bố trong nước: Trong khi các cơ sở dữ liệu quốc tế cung cấp công cụ tra cứu chính xác, đầy đủ, thì hiện không có cách gì tìm kiếm tổng hợp trực tuyến các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học Việt Nam. Hơn nữa, việc đánh giá, thống kê và phân loại chất lượng của các tạp chí trong nước hiện nay chưa được tiến hành, nên không thể sử dụng tiêu chí này vào tính toán chỉ số xếp hạng.  * Số liệu về bằng phát minh, sáng chế: Theo tìm hiểu của chúng tôi, có rất ít trường đăng ký phát minh sáng chế với các cơ quan quản lý chứng nhận ở Việt Nam hay nước ngoài.  Những loại dữ liệu nêu trên đều quan trọng trong việc làm rõ chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học. Song quan điểm của chúng tôi là, cần hành động với những thứ mình có trong tay, chọn lọc những thứ tốt nhất trong đó để sử dụng.  Khó khăn trong kiểm chứng dữ liệu: Tính chính xác của dữ liệu là một mối quan tâm lớn của bất cứ người làm thống kê nào. Tuy sử dụng các số liệu từ báo cáo ba công khai do chính các trường gửi cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng độ chính xác của các số liệu này có thể còn có điểm nghi ngờ. Đây là lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai rà soát lại tính xác thực của các báo cáo, công việc có thể mất vài năm. Trường nào công bố sai sẽ chịu trách nhiệm, với chế tài xử phạt. Dù sao, Ba công khai là số liệu chính thống nhất mà chúng ta biết về các trường tính đến thời điểm hiện tại. Trong tương lai, chúng tôi tin rằng, với quyết tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chất lượng dữ liệu sẽ trở nên tốt hơn, và các bảng xếp hạng sử dụng nguồn dữ liệu này sẽ trở nên khả tín hơn.  Khó khăn do mô hình đại học quá khác nhau: Hệ thống trường đại học của Việt Nam hiện nay rất khác với hệ thống trường đại học trên thế giới. Theo đó, có mô hình đại học quốc gia và đại học vùng, ở đó trong đại học lại có trường đại học. Rồi lại có các trường đơn ngành theo mô hình của Liên Xô cũ tồn tại song song với các trường đa ngành theo mô hình Âu-Mỹ. Điều này làm cho việc so sánh giữa các trường trở nên rất khó khăn.  Khó khăn trong xây dựng tiêu chí: Do có nhiều khác biệt với thế giới, việc sử dụng bảng tiêu chí tương tự như của các bảng xếp hạng phổ biến có khả năng không phù hợp. Chẳng hạn, trong bảng xếp hạng ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải có đến 30% tiêu chí liên quan đến giải Nobel và giải Fields, những thứ không có ở Việt Nam. Nếu tính cả các bài báo đăng trên Nature và Science (20%) và danh mục các nhà khoa học được trích dẫn nhiều trong 21 phân ngành (20%), những thứ rất hiếm khi xảy ra với các đại học Việt Nam, thì có đến 70% tiêu chí không áp dụng được ở Việt Nam. Với các bảng xếp quốc tế hạng khác, câu chuyện cũng diễn ra gần tương tự (50-80%), theo nghĩa nếu sử dụng tiêu chí của họ thì sẽ không có số liệu tương ứng ở Việt Nam để xếp hạng. Vì thế, bộ tiêu chí cho bảng xếp hạng này phải được xây dựng sao cho đảm bảo các nguyên tắc: Phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, khách quan, định lượng và hướng đến chuẩn mực quốc tế.  Quy mô hay năng suất?  Mọi bảng xếp hạng đều phải trả lời câu hỏi cơ bản và quan trọng khi đánh giá: tiêu chí đó sẽ theo năng suất hay theo quy mô?  Nếu theo 100% năng suất, thì những trường nhỏ, ít được biết đến, có thể sẽ có thứ hạng cao đột xuất. Còn theo quy mô 100%, thì các đại học quốc gia/vùng sẽ chiếm ưu thế ổn định và tuyệt đối. Cả hai lựa chọn này đều cực đoan. Theo ước lượng của chúng tôi, bảng xếp hạng của Đại học Thượng Hải dựa 90% theo quy mô (đếm tổng các con số). Bảng xếp hạng của Times Higher Education và QS thì ưu tiên đánh giá năng suất (50-70%).  Trong báo cáo này, chúng tôi coi quy mô và năng suất/chất lượng có tầm quan trọng như nhau. Quy mô phản ánh sức ảnh hưởng của trường đến xã hội. Vì thế, những trường có điểm tuyển vào rất cao, nhưng mỗi năm chỉ tuyển vài trăm sinh viên, thì có thể bị “thua thiệt” về xếp hạng so với những trường mỗi năm tuyển vài nghìn sinh viên, do ảnh hưởng của nguồn nhân lực được đào tạo thấp hơn. Trong khi đó, với sự tham gia của năng suất trong bộ tiêu chí, chúng tôi muốn nhấn mạnh yếu tố chất lượng của nghiên cứu khoa học, hiệu quả của công tác giảng dạy, v.v… khiến các trường có quy mô lớn phải đầu tư chiều sâu vào các yếu tố chất lượng.  Chi tiết về các tiêu chí xếp hạng được trình bày trong bảng bên dưới.    Kết quả và sử dụng bảng xếp hạng  Bên cạnh bảng xếp hạng tổng thể 49 trường, chúng tôi còn xếp hạng theo từng nhóm tiêu chí: nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo, và cơ sở vật chất và quản trị. Kết quả chi tiết của bảng xếp hạng được công bố tại địa chỉ: http://www.xephangdaihoc.org/2017  Chúng tôi xin được nhấn mạnh rằng bảng xếp hạng này hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa tham khảo. Nếu không đồng tình với bảng xếp hạng, người sử dụng hoàn toàn có thể bỏ qua, không công nhận và không sử dụng. Bảng xếp hạng là một sản phẩm nghiên cứu độc lập, không phải của cơ quan quản lý, nên hoàn toàn không có yếu tố ràng buộc.  Đối với các cơ quan quản lý, đây có thể được xem như một tài liệu tham khảo độc lập và sơ lược, đưa thêm một góc nhìn mới về một số cơ sở giáo dục đại học Việt Nam. Đối với học sinh và phụ huynh, bảng xếp hạng có thể được dùng để phác họa về tương quan giữa các trường với nhau, trước khi đào sâu tìm hiểu về trường và ngành nghề mình cần quan tâm. Đối với chính các cơ sở giáo dục đại học, bảng xếp hạng có thể được xem như một lát cắt giúp các trường nhìn lại những mặt mạnh và yếu của mình trong so sánh với các cơ sở giáo dục bậc cao khác ở Việt Nam – và hoàn toàn không khuyến khích các trường chạy theo những con số vô hồn mà bỏ quên việc cải thiện chất lượng thực sự và toàn diện.  Tiếp thu và hoàn thiện  Sau khi công bố bản báo cáo, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của chuyên gia lẫn những người quan tâm đến giáo dục. Hầu hết các ý kiến về chuyên môn đều có nội dung xác đáng và có tính gợi mở nhằm cải thiện kết quả nghiên cứu trong thời gian tới. Nhóm trân trọng cảm ơn các phản hồi và góp ý này. Nhóm sẽ rà soát lại phương pháp và cách làm, lựa chọn hướng tiếp cận khả thi và đáng tin cậy nhất để nâng cao chất lượng của bảng xếp hạng trong thời gian tới.  ———-  1 Một báo cáo về xếp hạng đại học Việt Nam, Tia Sáng số 17, 05/09 /2017 (http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Mot-bao-cao-ve-xep-hang-dai-hoc-Viet-Nam-10893)       Author                Nhóm Xếp hạng Đại học Việt Nam        
__label__tiasang Xếp hạng, xếp loại và kiểm định chất lượng      Xếp hạng đại học (XHĐH), như một số người hiểu không hẳn đã là xếp hạng, mà có thể là xếp loại, đối sánh hay kiểm định chất lượng đào tạo. Do vậy, thiết nghĩ, cũng cần thống nhất và phân biệt một số khái niệm có liên quan khi bàn về lĩnh vực ‘xếp hạng đại học’.    Xếp hạng (ranking) là cách để đánh giá các trường đại học một cách định lượng, hoặc phối hợp giữa định lượng và định tính, do một tổ chức bên ngoài nhà trường thực hiện nhằm phân loại mức độ cao thấp của từng trường (hoặc từng ngành hay chương trình đào tạo) tham gia xếp hạng, nhằm cung cấp thông tin tham khảo khả tín cho xã hội (người học, gia đình, chính phủ, xã hội). Xếp loại hay phân hạng (rating) là xếp các trường đại học cùng mức (cùng ‘đẳng cấp’) thành các nhóm (trường) cao thấp khác nhau, như cách người ta phân loại và công nhận khách sạn 3 sao, 4 sao hay 5 sao, như cách tiếp cận của QS Star. Đối sánh (benchmarking) cũnglà một phương pháp định lượng nhưng nhằm so sánh trường đại học này (một đối tượng) với một trường đại học khác (‘vật chuẩn’) để cải thiện tổ chức, hoạt động của ‘đối tượng’ nhằm đạt đến chất lượng tương tự như ‘vật chuẩn’ trong một khoảng thời gian xác định nào đó. Thường, đối sánh là do chính nhà trường thực hiện để cải thiện chất lượng các hoạt động của họ và được coi là một công cụ quản lý chất lượng quan trọng.    Phân tầng đại học cũng là một hình thức xếp hạng, tuy nhiên cần có bộ tiêu chí rõ ràng. Nguồn ảnh: baohaiquan  Như vậy, có thể hiểu nôm na, xếp hạng là nhìn vào hiện tượng còn đối sánh là nhìn vào bản chất; xếp hạng quan tâm đến nguồn lực còn đối sánh lại quan tâm đến việc quản lý và sử dụng nguồn lực; xếp hạng quan tâm đến kết quả còn đối sánh thì quan tâm đến nguyên nhân; xếp hạng là nhìn ra bên ngoài, trong lúc đối sánh là nhìn vào bên trong. Nghĩa là, nếu cần quảng cáo tiếp thị, thì xếp hạng là phương cách hữu hiệu, còn nếu cần phải cải thiện chất lượng hoạt động để đạt được sự phát triển bền vững, lâu dài, thì đối sánh thiết thực và hiệu quả hơn.  Kiểm định chất lượng đào tạo (quality assurance) là đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng, xem trường đại học đã đủ các điều kiện tổ chức đào tạo để đảm bảo chất lượng đã cam kết hay chưa; kiểm định không phải là chất lượng. Cùng điều kiện và kết quả kiểm định như nhau, nhưng chất lượng một đại học còn phụ thuộc vào các kết quả khác và sản phẩm đầu ra. Nghĩa là, một trường đại học có kết quả kiểm định cao, nhưng rất có thể lại được xếp hạng chất lượng bình thường.  Xếp hạng các trường đại học trong phạm vi một nước đã có từ lâu, ít nhất là cách đây trên 1/3 thế kỷ, vào khoảng năm 1983, khi tuần báo US News & World Report lần đầu tiên tiến hành xếp hạng các trường đại học Hoa Kỳ. Sau đó, vào năm 1992, theo chân US News & World Report, báo The Times đã công bố bảng xếp hạng các đại học Anh. Tiếp theo, nhiều báo khác như Daily Telegraph, The Guardian, Financial Times, tuần báo Die Zeit v.v. cũng công bố các bảng xếp hạng riêng, tạo thành trào lưu xếp hạng đại học và sự cạnh tranh thứ hạng của không ít các trường đại học của các quốc gia này. Ngày nay, ở nhiều nước, việc xếp hạng đại học đã trở thành một hoạt động bình thường trong hoạt động của các trường đại học.  Việc xếp hạng các trường đại học trên qui mô toàn cầu được khởi xướng vào năm 2003, khi ‘the Academic Ranking of World Universities (ARWU)’ do trường Đại học Giao thông vận tải Thượng Hải, công bố (hiện nay do Shanghai Ranking Consultancy tiến hành), nhằm đánh giá và đối sánh các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc với các trường đại học danh tiếng Âu-Mỹ, làm cơ sở xây dựng chính sách phát triển đại học cho chính phủ Trung Quốc, không liên quan gì đến việc xếp hạng đại học. Nhưng chính công bố ARWU này đã thu hút sự chú ý của giới học thuật toàn cầu, trở nên nổi tiếng ngay từ khi ra đời, và ngẫu nhiên tạo ra cơn sốt xếp hạng đại học trên phạm vi toàn thế giới: năm sau đó (2004) Times Higher Education (THE), một tuần san có trụ sở tại London, công bố bảng xếp hạng; tiếp theo là Quacquarelli Symonds (QS), một công ty hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và du học nước ngoài của Anh, công bố bảng xếp hạng. Cho đến nay đã có khoảng 16 bảng xếp hạng mang tầm cỡ quốc tế như thế, trong đó 3 bảng xếp hạng đại học thế giới ra đời sớm nhất (ARWU, THE và QS) đồng thời cũng là các bảng xếp hạng đại học được coi là có uy tín nhất.  Như vậy, có thể thấy các bảng xếp hạng đại học trên thế giới thường do các báo, tạp chí, trang web, cũng có thể là một tổ chức thuộc chính phủ hoặc viện nghiên cứu hay nhóm nghiên cứu độc lập tiến hành. Mỗi nhóm xếp hạng có cách tiếp cận và mục tiêu đánh giá không giống nhau, nên mỗi nhóm lại dựa trên một bộ tiêu chí (criteria) và chỉ số (indicators) riêng để đo lường, theo những tiêu chí và tiêu chuẩn, điều kiện của tổ chức xếp hạng, phản ánh góc nhìn riêng của tổ chức xếp hạng ấy; vì vậy kết quả xếp hạng của các bảng xếp hạng là không tương đồng.    Xếp hạng đại học là một chủ đề được bàn thảo nhiều trên thế giới và gần đây là ở Việt Nam, và dường như không có hồi kết. Dù bị chỉ trích, chê bai và lên án thế nào, XHĐH vẫn tồn tại và phát triển trên qui mô toàn cầu, các trường đại học hàng đầu thế giới đều tự nguyện tham gia bảng xếp hạng này hoặc bảng xếp hạng kia; thậm chí nhiều người đã coi XHĐH như một thứ ‘văn hóa’ của các trường ĐH: văn hóa xếp hạng; hay chí ít là giáo dục đại học cần tìm cách chung sống với việc xếp hạng. Ngay cả những người chê bai, tẩy chay và lên án xếp hạng ĐH thường vẫn ‘soi’ họ vào các bảng xếp hạng nào đó để ‘sửa mình’.  Bất cứ bảng xếp hạng nào cũng đóng góp những giá trị nhất định và có sự tương thích nào đó với chất lượng đào tạo và NCKH của các trường nằm trong và ngoài bảng xếp hạng. Các bảng xếp hạng này, không ít thì nhiều, đã góp phần vào việc thay đổi chính sách quốc gia, chiến lược cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của các trường đại học theo hướng ngày một nhân văn và khai sáng hơn. Xếp hạng còn khuyến khích các trường minh bạch thông tin, giúp xã hội và nhà nước giám sát tốt hơn chất lượng hoạt động của nhà trường.  Rõ ràng là, XHĐH đã là xu thế toàn cầu và trở thành nhu cầu có thật trong ‘đời sống’ của không ít các trường đại học. Việc lọt vào các top 100, 200 hay 500 trường đại học tốt nhất thế giớiđã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các trường đại học trên khắp các châu lục, nhất là của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, đang muốn có nền giáo dục đại học hội nhập với thế giới.    Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Xét tặng giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học”      Theo dự thảo quy định xét tặng giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học”, Bộ GD&amp;ĐT dự kiến xét tặng giải thưởng này theo sáu lĩnh vực KH&amp;CN.      Sáu lĩnh vực này bao gồm:  1- Khoa học tự nhiên: Toán học và thống kê, khoa học máy tính và thông tin, vật lý, hóa học, khoa học trái đất và môi trường, sinh học, khoa học tự nhiên khác.  2- Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ: Kỹ thuật dân dụng; kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật thông tin; kỹ thuật cơ khí, chế tạo máy; kỹ thuật vật liệu và luyện kim; kỹ thuật hóa học; kỹ thuật y học; kỹ thuật môi trường; công nghệ sinh học môi trường; công nghệ sinh học công nghiệp; công nghệ nano; kỹ thuật thực phẩm và đồ uống; khoa học kỹ thuật và công nghệ khác.  3- Khoa học Y, Dược: Y học cơ sở, y học lâm sàng, dược học, công nghệ sinh học trong y học, khoa học y, dược khác.  4- Khoa học Nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học nông nghiệp, khoa học nông nghiệp khác.  5- Khoa học xã hội: Tâm lý học, kinh tế và kinh doanh, khoa học giáo dục, xã hội học, pháp luật, khoa học chính trị, địa lý kinh tế và xã hội, thông tin đại chúng và truyền thông, khoa học xã hội khác.  6- Khoa học nhân văn: Lịch sử và khảo cổ học, ngôn ngữ học và văn học, triết học, đạo đức học và tôn giáo, nghệ thuật, khoa học nhân văn khác.  Bộ GD&ĐT cho biết, giải thưởng nhằm mục đích phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập hoặc làm việc theo nhóm của sinh viên; hình thành năng lực tự học cho sinh viên; góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học; khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học; góp phần phát hiện và bồi dưỡng các nhà khoa học trong tương lai.   Các đề tài được triển khai ứng dụng trong thực tiễn sẽ được ưu tiên.   Theo dự thảo, đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên tham gia xét Giải thưởng phải đáp ứng các yêu cầu sau: Được hội đồng khoa học cấp cơ sở đánh giá xếp loại xuất sắc; có tính mới, tính sáng tạo; có giá trị khoa học và thực tiễn. Ưu tiên các đề tài được triển khai ứng dụng trong thực tiễn hoặc có công bố khoa học từ kết quả nghiên cứu của đề tài trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.  Đồng thời, chưa được trao bất kỳ một giải thưởng tương đương cấp Bộ tại thời điểm nộp hồ sơ; tổng số sinh viên tham gia thực hiện một đề tài tối đa không quá năm người, trong đó phải xác định rõ sinh viên chịu trách nhiệm chính; mỗi đề tài chỉ có một người hướng dẫn nghiên cứu.  Theo dự thảo, thời hạn nhận hồ sơ trước ngày 30/6 hàng năm. Lễ trao Giải thưởng sẽ được tổ chức vào tháng 12 hàng năm.  Về cơ cấu giải, mỗi lĩnh vực KH&CN sẽ có 1 giải nhất hoặc không quá 2% tổng số đề tài của mỗi lĩnh vực; số giải nhì không quá 15% tổng số đề tài của mỗi lĩnh vực; giải ba không quá 25% tổng số đề tài của mỗi lĩnh vực; giải khuyến khích không quá 35% tổng số đề tài của mỗi lĩnh vực.  Trường hợp đặc biệt, Ban Chỉ đạo Giải thưởng quyết định số lượng giải thưởng của mỗi lĩnh vực KH&CN.            Theo dự thảo, quy định này sẽ áp dụng đối  với các đại học, trường đại học, học viện trong hệ thống giáo dục quốc  dân (cơ sở giáo dục đại học).  Đối tượng tham gia giải thưởng là đề tài  nghiên cứu khoa học của sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục  đại học trên lãnh thổ Việt Nam tại thời điểm nộp hồ sơ tham gia xét giải  thưởng. Luận văn, đồ án tốt nghiệp của sinh viên không thuộc đối tượng  tham gia xét Giải thưởng này.            Nguồn: http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Xet-tang-giai-thuong-Sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc-theo-6-linh-vuc/237925.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xóa dần chữ “phụ” trong môn học Lịch sử      Về Lịch sử, đã có nhiều bài viết xoay quanh chủ đề này, tuy nhiên ở những góc nhìn rất nhỏ cũng có thêm nhiều điều mà dư luận cũng như giới khoa học cần quan tâm.  Vẫn thường thấy người ta gọi môn học nào đó là môn “phụ”, một môn học không quan trọng theo đúng nghĩa gốc mà phụ huynh, học sinh, thầy cô và toàn xã hội vẫn quan niệm thì Lịch sử nghiễm nhiên nằm trong số những môn học “phụ” đó.    Cứ quen dần không biết từ lúc nào đã ra đời sự phân biệt môn “phụ” và môn “chính” ấy? Mà cho tới tận bây giờ nó vẫn không thoát khỏi sự kén chọn môn học ưu tiên trong toàn bộ các môn học của học sinh. Ngay đến cả các bậc phụ huynh cũng nghĩ đó là môn không quan trọng chỉ học qua loa là được.  Còn trong trường học thì các thầy cô giáo dạy môn phụ không được ưu ái, thậm chí còn bị “lép vế” hơn so với các thầy cô dạy môn chính.  Chính rào cản của xã hội không công nhận vai trò thực sự quan trọng của môn học này khiến cho không ít giáo viên dạy môn “phụ” ít có cơ hội phát triển để có thể thật sự tậm huyết với nghề. Cho nên không chỉ riêng môn Lịch sử, các môn Địa lý, Giáo dục công dân, Kĩ thuật… cũng không nằm ngoài quy luật ấy.  Tại sao các môn học này lại bị phân biệt và đối xử như vậy? Phải chăng chúng được coi là môn phụ từ khi ngành giáo dục Việt Nam ra đời?  Và rồi muốn học tốt môn lịch sử thì việc hiểu địa lý nước Việt lại là điều cốt lõi căn bản, nhưng số phận của nó cũng như môn lịch sử cũng chẳng hơn gì các môn học “phụ” khác, cũng vẫn chỉ nhận được từ phía học sinh, thầy cô, và các bậc phụ huynh sự thờ ơ và thiếu coi trọng.  Những địa danh nổi tiếng của đất nước nằm ở đâu? Những khu rừng, những mảnh đồi, những căn cứ bí mật trong chiến tranh… trên mọi miền của đất nước có mang dấu ấn của những người chiến sĩ đã hi sinh. Những chiến trường đầy ác liệt và đẫm máu ấy ở nơi nào nếu học tốt môn địa lý chẳng phải là cơ sở học tốt môn học gọi là khô khan khó vào này hay sao?  Chưa hết, đã là môn học có tính chất khô khan khó học khó tiếp thu rồi nó còn được những thầy cô chưa có ngọn lửa nhiệt tình (hoặc có cũng rất ít) khơi lên sự đam mê trong lòng học sinh.  Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó, nội dung và cách trình bày, hình ảnh minh họa trong sách giáo khoa gần đây cũng được không ít báo chí nhắc tới.  Có không ít tờ báo phản ánh thực trạng những bài viết trong sách giáo khoa sử ở một số nội dung còn chưa mang tính khoa học trung thực (như phiến diện về các trận thắng).  Rồi thêm vào đó những câu truyện lịch sử rất ít (hiếm) thấy để minh họa sống động những trận chiến ác liệt hay những hồi kí, những tâm tư của người lính sau chiến tranh.  Lối trình bày theo dạng đề mục I, II, III… của sách giáo khoa lịch sử hiện nay giống như một công trình khoa học nhiều hơn là sách nhằm truyền thụ kiến thức lịch sử. Cách viết này nếu nhìn ở khía khoa học sẽ thấy nội dung rất cô đọng, dễ hiểu nhưng về cách truyền  tải thông điệp lịch sử như thế sẽ khó tạo ra sức hút đối với học sinh.  Việc khơi dậy lòng tự hào và ý thức dân tộc trong mỗi trang sử không phải chỉ có học thuộc lòng cái có sẵn, đúc kết sẵn là có thể rút ra ngay bài học kinh nghiệm, ý nghĩa của lịch sử. Cái mà học sinh có thể học được ở đây là làm sao có thể cảm nhận những mất mát hi sinh to lớn của những người đi trước, là xương máu là mồ hôi công sức của biết bao con người, những chuyển biến về nhiều lĩnh vực xã hội như kinh tế chính trị văn hóa… trong các giai đoạn lịch sử khác nhau để từ đó ý thức được việc giữ gìn thành quả của cha ông trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Khơi lên trong tâm hồn học sinh lòng biết ơn sâu sắc, lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, thêm yêu những trang sử hào hùng của dân tộc.  Những cái đó không đâu ngoài những câu chuyện người thật việc thật, những hình ảnh sinh động, những câu chuyện mang tính thông tin mang hơi thở của thời cuộc, những lời văn giầu cảm xúc gần gũi dễ đọc chắc sẽ dễ truyền vào tâm trí người đọc.  Nhà giáo dục Nguyễn Ngọc Đại từng phát biểu: “Có thể ví Sách giáo khoa và sách bài tập như một bộ tiểu thuyết hấp dẫn người đọc trên từng trang sách mà cái đọng lại là tư tưởng chủ đạo của sách (cả nội dung lẫn phương pháp)”.  Sau sách giáo khoa phải kể đến sách tham khảo lịch sử hiện nay, có quá ít những cuốn sách lịch sử hấp dẫn người đọc. Ngay trẻ em cũng chỉ thích truyện tranh của nước ngoài, người lớn thì thích đọc sách của các nhà văn nổi tiếng theo trào lưu chung của xã hội.  Chưa thấy xuất hiện một vài tiểu thuyết hay truyện tranh nào về lịch sử gây tiếng vang trong dư luận chứ chưa dám nói là gây “sốt”.  Trong văn học, phim ảnh, kịch… còn thiếu quá nhiều những câu chuyện lịch sử chứa đựng những giai thoại bất hủ về tình yêu để tăng thêm tính nhân văn cũng như sự lôi cuốn của tác phẩm.  Cứ thử hình dung trên một trang nhất báo nào đó có đề cập đến một điểm khai quật lịch sử có những di tích có nói đến dấu chân người vượn cổ hay những con vật hóa thạch có hình thù kì dị, những địa chỉ có cả một quần thể kiến trúc cổ như đình đền, thành phố… đều được dư luận và công chúng háo hức chờ đợi, thậm chí còn bàn tán xôn  xao.  Thành cổ Hà nội là minh chứng điển hình đó thôi! Khi được mở cửa công trình lịch sử này đã đón chào biết bao lượt khách thăm quan.  Mà ngay cả đến những vụ mất tượng phật cổ ở các đình, chùa đều được lên án mạnh mẽ và nhận được sự quan tâm rất lớn của dư luận…  Điều này cho thấy công chúng (tất cả các tầng lớp) đều không có ý quay lưng lại với lịch sử mà ngược lại họ luôn sẵn sàng đón chờ những sự kiện lịch sử điều đó nói lên tình yêu đối với lịch sử có sẵn trong trái tim của biết bao con người.  Nhưng cho đến nay, những tài liệu vô cùng phong phú và hấp dẫn ấy lại ít được đưa vào sách đưới dạng truyện kể, hoặc có được đưa vào sách thì nó trở nên khô khan khó học và khó nhớ: lý do đó là tại sao? Liệu một phần có phải nguyên nhân do cách viết sách của ta? Lịch sử không chỉ có chiến tranh, không chỉ có sự thay đổi các tầng lớp thống trị, mà lịch sử là một diễn trình của cả xã hội, kinh tế, khoa học.  Xóa dần chữ  “phụ” đang tồn tại trong lòng của phụ huynh, của học sinh, của các giáo viên chính là nhiệm vụ của toàn xã hội. Tìm đúng vị trí, xác định đúng vai trò và nhấn mạnh tầm quan trọng của môn học Lịch sử là môn học “chính” sẽ thu hút được sự quan tâm của học sinh, từ đó khơi gợi trong tâm trí các em sự say mê, yêu thích và cảm hứng bất tận về một lĩnh vực văn hóa xã hội đầy ý nghĩa.  Trần Ngọc Tú      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xoay hướng đình!      Thực tình mà nói, chẳng bao giờ ngành Giáo dục coi nhẹ “cỗ máy cái” có tên Sư phạm. Tóc trên đầu tôi từ khi rậm như rừng, bây giờ lơ thơ dăm ba ngọn, đã được nghe và nghe không biết bao nhiêu lần cái mệnh đề ban ra như một ước mơ, sư phạm phải đi trước một bước.     Thế nhưng, ước mơ đó dần dần trở thành ác  mộng của những  nhà tổ chức công cuộc Giáo dục khi thấy mình bó tay không  sao thực  hiện nổi cái ước mơ dằng dai day dứt.   Bài viết này sẽ đưa ra một vài điều “bắt bệnh” và một toa thuốc dùng thử, để cùng ngẫm nghĩ tiếp công việc đi trước một bước của ngành Sư phạm, sao cho ngành này đi đầu lôi cuốn toàn bộ sự nghiệp trồng người.    Bệnh không chuyên nghiệp  Chẳng ai đọc hết các luận văn được đẻ ra từ “lò” Đại học Tổng hợp (gọi theo tên cũ) và “lò” Đại học Sư phạm. Nhưng điều bắt bệnh sau đây chắc là không sai mấy: các luận văn của hai nguồn đào tạo sao mà giống nhau! Sự giống nhau đó không bộc lộ cái “lỗi” của phía Đại học Tổng hợp (nghiên cứu những vấn đề khoa học chung). Nhưng nó bộc lộ cái lỗi của phía Sư phạm: luận văn của sư phạm phải mang tính chuyên nghiệp riêng của nghề dạy học chứ?  Lấy một thí dụ: “lò” Sư phạm Việt Bắc có luận văn về Truyện Kiều, thì luận văn đó không thể, chẳng hạn, chỉ dừng lại so sánh văn bản của Nguyễn Du, thí dụ “tốt vời” hay “tót vời” hay “tuyệt vời”; không thể dừng lại ở cú pháp của cách kể chuyện giữa giường thất bảo ngồi trên một bà… Nếu đã là luận văn tạo ra từ “lò” Sư phạm Việt Bắc, có lẽ phải gắn với việc dạy cùng những chi tiết ấy cho người dân tộc thiểu số với những thiếu thốn nhất định về sự am tường tiếng Việt.  Thế nhưng, tại sao lại có tình trạng cách “nghiên cứu” trùng nhau như thế? Câu trả lời của tôi là: tại vì công việc làm luận văn không là kết quả của một công trình nghiên cứu, mà hình như mới chỉ là viết luận văn thôi. Nhiều khi viết mà không cần nghiên cứu.  Một luận văn là một công trình tổng kết mang tính lý thuyết về những khám phá của tác giả trong thực tiễn nghiên cứu “thực địa”.   Xét theo tinh thần đó, trong một luận văn, phần viết hào hứng nhất, phần viết gan ruột nhất của tác giả phải là phần Phương pháp nghiên cứu. Thế nhưng, xin bạn hãy lật giở bất cứ luận văn, luận án nào, phần “Phương pháp nghiên cứu” là phần tất cả các tác phẩm đều giống hệt nhau cả về nội dung lẫn giọng văn.  Xin kể một chuyện minh họa. Cô giáo T.T.L.A. nhờ tôi góp ý đề cương về dạy thơ Tú Mỡ. Tôi khuyên cô nên thêm một phần: Đưa Tú Mỡ vào dạy từ lớp nào ở bậc phổ thông? Thực nghiệm ít nhất ở lớp 5, lớp 9 và lớp 12 sẽ cho thấy học sinh khác nhau ra sao khi đến với Tú Mỡ, và nhà sư phạm phải xử lý công việc dạy như thế nào. Xin nói luôn, giáo sư hướng dẫn của cô đã gạch phần đó, bảo cô là “rách việc”.   Trong tình hình giáo sư cũng cần chạy sô theo số lượng người học, thì việc nghiên cứu quả là rách việc thật. Và thế là còn lại con đường ngon ăn nhất: chỉ viết luận văn thôi. Và giáo sư tự tay chữa luận văn của học trò đỏ lòe đỏ loẹt … cho nhanh! Cho đỡ “rách việc”!  Rất khó thực hiện một cách làm khác đi, cho chất sư phạm được tôn trọng. Khó nhưng không phải là tuyệt vọng! Và đây là trải nghiệm của tôi. Cuối những năm 1990, tôi hay bị phó tiến sĩ Đ.N.R. (cầu Giời cho linh hồn con người hiền hòa xuề xòa này an nghỉ) bắt tôi “giúp đỡ” người làm nghiên cứu do anh hướng dẫn. Trong cả chục người, chỉ được một người nghe tôi tiến hành thực nghiệm thao tác tưởng tượng của học sinh tiểu học với vật liệu là những tranh trừu tượng tôi mượn từ thư viện Trường Quốc tế Pháp tại Hà Nội. Tôi rất quý cô giáo dân tộc Bế H.H. này. Sản phẩm nghiên cứu của cô hiện được dùng vào sách Văn của nhóm Cánh Buồm, riêng ở sách Văn lớp Năm có bài ôn tập với những hình trừu tượng vừa kể.   Bệnh vu vơ    Do “nghiên cứu” lấy lệ, không cốt tự học, cốt lấy văn bằng, nên kết quả “nghiên cứu” không thể sát thực. Ta hãy hình dung, nhờ chủ trương “tiến sĩ hóa” các vị trí then chốt, khi những vị đó được ngồi ở địa vị được ban ra những quyết sách mang tính chuyên nghiệp cho trường sư phạm, thì kết quả sẽ ra sao.   Sẽ là những quyết sách vu vơ.    Để minh họa cho cái vu vơ, xin trích giới thiệu một số hướng dẫn tổ chức trường cao đẳng sư phạm tiểu học, bậc học quan trọng nhất và khó khăn nhất của trường phổ thông.  Trong cả nồi canh sùng sục, hãy nếm thử hai thìa: Quyết định 2493-GD-ĐT ngày 25-7-1995, ban hành mục tiêu, kế hoạch, chương trình Cao đẳng Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và các tài liệu ban hành kèm, và Quyết định 3049-GD-ĐT ngày 1-9-1995, ban hành mục tiêu, kế hoạch, khung chương trình đào tạo giáo viên tiểu học lên trình độ cao đẳng sư phạm và các tài liệu ban hành kèm.   Trong những quyết định này, đã thống kê được những mục tiêu cần có của một nhà giáo sau 3 năm đào tạo chính quy.    “Về văn hóa và khoa học: Trang bị một cách có hệ thống và rộng những tri thức các môn văn hóa-khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn, nghệ thuật…) liên quan đến các môn học và hoạt động ở tiểu học”.  Về âm nhạc, trang bị những “khái quát nghệ thuật âm nhạc thế giới”, “giới thiệu và nghe tác phẩm một số nhạc sĩ tiêu biểu như J. S. Bach, Mô-da, Bê-hô-ven, Su-be, Sô-panh, Tsai-cốp-xki”…, học các “khuynh hướng âm nhạc hiện đại (Jazz, Pop, Rock)”, và học cả “nhạc phi điệu tính” nữa.   Về mỹ thuật, cũng dự kiến học Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam và thế giới, “đi sâu vào giới thiệu danh họa và tác phẩm tiêu biểu của một số khuynh hướng nghệ thuật”, “phân tích tác phẩm hội họa và điêu khắc”, v.v…   Trong quyết định cũng nói tới việc đào tạo giáo sinh có năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tự tổng kết kinh nghiệm và năng lực tự chọn phương pháp giáo dục thích hợp nhất.   Những quyết định này soạn ra đã gần mười năm, không biết đã có ai, có cơ quan nào rút ra được điều gì bổ ích về tính đúng đắn hoặc tính chất vu vơ của chúng? Không biết chất lượng giáo viên sư phạm cao đẳng tiểu học giờ đây ra sao mà trẻ em cứ lao đi học thêm?   Tôi thành thực xin lỗi các vị chuyên viên đã khổ công biên soạn chương trình đào tạo sư phạm trên – chắc chắn các vị không định làm hỏng ngôi trường đào tạo người thầy vô cùng quý giá của ngành Giáo dục.   Nhưng các vị không sao tự mình rút ra nổi khỏi cái vòng luẩn quẩn như sau. Không thấy trường sư phạm nào công bố công trình nghiên cứu riêng của mình trên “thực địa” là trẻ em ở địa phương mình. Mong muốn giáo sinh cao đẳng sư phạm tiểu học có năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tự tổng kết kinh nghiệm và năng lực tự chọn phương pháp giáo dục thích hợp nhất thì chính giáo viên của trường phải tổ chức công cuộc nghiên cứu đó. Nhưng lấy đâu ra thì giờ tổ chức nghiên cứu thực sự một khi các thầy còn bận hướng dẫn viết những luận văn rất đáng ngờ về phẩm tính khoa học. Ngay giáo sư hướng dẫn ở một trường sư phạm cỡ lớn còn coi việc nghiên cứu thực nghiệm là “rách việc” thì bói đâu ra cả một “phong trào quần chúng” thi đua nhau nghiên cứu khoa học?  Chỉ có thể nói: sự vu vơ được sinh ra từ phẩm tính vu vơ khi nghiên cứu lại được củng cố bằng những giải pháp vu vơ không khi nào bị trừng phạt.   Cứ như thế, thì làm sao cho có nổi trường sư phạm đi trước một bước?!    Bước nào đi trước?   Có lẽ có thể đề xuất cách làm theo trình tự công việc như sau chăng:  Việc một, trước khi đạt tới việc “đi trước một bước”, hãy kiên trì nghiên cứu thay đổi cách học của trẻ em kể từ độ tuổi thấp nhất có thể, nhưng ít nhất cũng phải từ khi các em vào lớp Một.   Xưa nay hễ nghĩ đến Cải cách Giáo dục, người ta thường nghĩ nhiều đến thay đổi mục đích, mục tiêu của Giáo dục hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị. Phương diện tâm lý học của việc học rất ít được quan tâm nghiên cứu. Nay cần đề cao những công trình nghiên cứu cách học của trẻ em để từ việc thay đổi cách học này mà chuyển sang nghiên cứu cách nhà giáo tổ chức việc học của trẻ em.   Việc hai, công tác thực nghiệm và triển khai rộng dần công việc thực nghiệm, giúp xác định tính đúng đắn của sản phẩm nghiên cứu trong việc một trên đây. Công việc nghiên cứu thực nghiệm này phải mang tính chất tự do và dân chủ.  Tự do, là các nhóm nghiên cứu thi thố tài năng để có sản phẩm mang nặng tính chất địa phương. Ngay dạy tiếng Việt, giữa Hà Nội và Sài Gòn cũng có thể có cách học khác nhau, chưa nói đến so sánh giữa các thành thị lớn này và những người học ở các miệt vườn xa xôi, các vùng núi cao heo hút.   Dân chủ, là các nhóm nghiên cứu của các trường sư phạm phải được đối xử ngang nhau, cùng chịu những quy chế như nhau, cùng được hưởng kinh phí như nhau.  Mục tiêu giai đoạn làm việc hai này là chọn ra được những bộ sách và chương trình thích hợp hơn cả, có đủ khả năng đem dùng đại trà.   Việc ba, sau khi đã xác định được sản phẩm nghiên cứu tốt hơn cả, những sản phẩm (chương trình và sách giáo khoa) đã được trẻ em chấp nhận có khả năng nhân rộng thì sẽ tiến hành huấn luyện mới và huấn luyện lại các nhà giáo đứng lớp vốn được tuyển từ rất nhiều nguồn.   Công việc huấn luyện này cần được coi như là giai đoạn thực nghiệm sư phạm nhờ đã tìm ra được cách học của trẻ em.   Vậy là, thay vì theo một đường thẳng giản đơn theo kiểu “sư phạm đi trước một bước” làm đầu máy lôi kéo cả ngành Giáo dục đi theo, sẽ là hai vòng quay – một vòng trẻ em và một vòng sư phạm – hai vòng đuổi nhau và luôn luôn hướng lên phía trên, ngày càng cao hơn, ngày càng tinh tế hơn và phức tạp hơn, đem lại hiệu quả giáo dục ngày càng to lớn hơn.   Làm việc này không thể chỉ qua một chỉ thị. Phải thay đổi cái tư duy đối với cách làm khoa học từ những người thầy của người thầy. Cái tư duy ấy lâu nay đã quen mui theo một hướng đình làm cả làng toét mắt! Toét mắt là tại hướng đình, cả làng toét mắt riêng mình gì em! Có lẽ phải xoay hướng đình!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng mới trong đào tạo tiến sĩ trên thế giới: Tái định hình khái niệm      Trong mấy năm gần đây, có ba hiện tượng nổi  bật trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên phạm vi toàn thế giới: một là vai  trò chủ động của chính phủ nhiều nước trong việc xác lập những kế hoạch  và mục tiêu đầy tham vọng nhằm tạo ra một số lượng lớn người có bằng  tiến sĩ; hai là hiện tượng ngày càng nhiều tiến sĩ làm việc ngoài khu  vực hàn lâm; và cuối cùng là hiện tượng “lạm phát bằng tiến sĩ” hay nói  cách khác, sự “mất giá” của bằng tiến sĩ trong mắt công chúng, nhất là ở  những nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mặc dù thiếu thốn nguồn  nhân lực chất lượng cao, những người có bằng tiến sĩ không còn được kính  trọng như xưa. Một câu hỏi đập vào mắt tất cả mọi người:  Chúng ta đang có quá ít, hay quá nhiều tiến sĩ? Đàng sau câu hỏi này là  một vấn đề quan trọng hơn nhiều: chúng ta quan niệm thế nào là tiến sĩ?  Khái niệm “tiến sĩ” chứa đựng những giá trị, chuẩn mực, kỳ vọng gì và nó  đã diễn tiến như thế nào qua thời gian? Liệu cái cách mà chúng ta đang  đào tạo tiến sĩ có đáp ứng được những gì xã hội thực sự cần, và nếu như  phải thay đổi, chúng ta có những lựa chọn như thế nào?&#160; Đó là những vấn  đề được thảo luận trong Hội thảo về Đào tạo Tiến sĩ: Vấn đề Chính sách,  Sư phạm, và Thực tế, do Khoa Sau ĐH, trường ĐH RMIT (Australia) tổ chức  tại Melbourne ngày 11 và 12.12.2014, với sự tham dự của các học giả  Australia, UK, New Zealand, Ethiopia, Malaysia và Việt Nam. Bài viết này  là ghi nhận và suy nghĩ về một số vấn đề đã được nêu ra và thảo luận  tại Hội thảo.    Quan niệm về tiến sĩ và mô hình đào tạo tiến sĩ  Trước hết là một bức tranh toàn cảnh, những điểm hội tụ và phân kỳ trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên toàn cầu, do giáo sư Denise Cuthbert, Trưởng khoa Sau Đại học của trường ĐH RMIT (Australia) trình bày. Sự trỗi dậy và lan rộng mọi nơi của nền kinh tế tri thức từ giữa những năm 90 đã dẫn đến việc định vị lại GDĐH như một thành tố quan trọng của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, là điều có ý nghĩa to lớn đối với sự hiểu biết của chúng ta về đào tạo tiến sĩ cũng như việc quản lý quá trình này. Kinh tế tri thức cũng khiến cho năng lực nghiên cứu của các trường ĐH trở thành đối tượng quan tâm của chính sách ở mọi cấp: cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp độ toàn cầu; hay nói cách khác, vấn đề đào tạo tiến sĩ đã trở thành một vấn đề chính trị trên toàn cầu.  Bởi vậy, từ những năm 90 trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến mối quan tâm có ý nghĩa chính trị to lớn chưa từng có tiền lệ trước đó đối với việc đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là ở những nền kinh tế mới nổi hay các nước đang phát triển như khu vực châu Á và tiểu vùng châu Phi. Cuthbert đã thu thập hơn 200 văn bản chính sách của các nước về vấn đề đào tạo tiến sĩ từ 1996 đến nay. Ở Australia, đã có ít nhất 30 văn bản chính sách chủ yếu có liên quan vấn đề này từ năm 1998 đến nay. Các tổ chức châu Âu như LERU, EUA cũng có những hành động chính sách mạnh mẽ về đào tạo tiến sĩ. Châu Á càng nổi bật hơn với những chính sách tăng cường tiến sĩ: Chương trình Trí tuệ Hàn Quốc dự định đào tạo 1300 tiến sĩ mỗi năm trong thời gian 1998-2005; Malaysia nhắm tới 60.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2023, Ấn Độ đặt mục tiêu 20.000 tiến sĩ trước năm 2020, Zimbabue đòi hỏi tất cả giảng viên của mình phải có bằng tiến sĩ trước năm 2015. South Africa cũng cho thấy sự quan tâm mạnh mẽ của chính sách đào tạo tiến sĩ và coi đó như một động lực của nền kinh tế (Tebeje Molla, Deakin University, Australia).  Đồng thời, câu hỏi về việc những người có bằng tiến sĩ đã phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế tri thức như thế nào và cuộc thảo luận gần đây về khả năng được sử dụng, khả năng tìm được việc làm phù hợp của các tiến sĩ cũng ngày càng trở nên nổi bật. Khái niệm truyền thống về học vị tiến sĩ coi họ như những người nghiên cứu chuyên nghiệp và sứ mạng của họ là tìm kiếm tri thức nhằm phát triển học thuật, coi tri thức là mục tiêu tối hậu, không nhất thiết là tri thức đó phải tạo ra một lợi ích vật chất cụ thể nào, “research for its own sake”, nghiên cứu vì lợi ích của chính nó, chứ không nhằm vào một mục đích cụ thể, quan niệm này đã từng thống trị giới hàn lâm trong nhiều thế kỷ đến mức thậm chí có học giả cho rằng những người hướng nghiên cứu của mình vào việc phục vụ cho những người đương thời là những kẻ “đánh đĩ tri thức” (“intellectual prostitutes”, Dugatkin, 1999), tức bán linh hồn cho những mục tiêu ngắn hạn trước mắt.  Quan niệm cực đoan như thế của trường phái “tháp ngà” ngày nay hầu như không còn chỗ đứng. Tuy nhiên, nó đã phản ánh một thực tại là trong nhiều thế kỷ qua, chỗ làm của các tiến sĩ chủ yếu là ở các trường ĐH và viện nghiên cứu. Ngày nay, kinh tế tri thức đòi hỏi một lực lượng lao động có kỹ năng cao trong việc nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao tri thức. Dường như khu vực sản xuất kinh doanh bên ngoài nhà trường ngày càng cần những người được đào tạo kỹ năng nghiên cứu bậc cao như các tiến sĩ. Lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu hàn lâm truyền thống đã không chú ý đến việc đào tạo những kỹ năng đa dạng và linh hoạt để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới việc làm bên ngoài trường ĐH, thậm chí ngay cả những kỹ năng cơ bản để thực hiện nhiệm vụ truyền thống của các tiến sĩ như kỹ năng giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu, họ cũng không được đào tạo bài bản. Bởi vậy, đang có một khoảng cách giữa mô hình đào tạo tiến sĩ hiện nay và những gì các tiến sĩ có thể mang lại cho thế giới việc làm ngoài nhà trường.  Ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ cũng không còn đơn thuần là một vấn đề học thuật, mà là một mục tiêu trong việc quản lý trường ĐH và của chính sách quốc gia. Số người có bằng tiến sĩ đang được coi là chỉ báo hoạt động của các trường ĐH cũng như cho năng lực nghiên cứu của quốc gia. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK) cho rằng, trong bối cảnh của Tiến trình Bologna, ngày càng nhiều ý kiến phê phán lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu truyền thống: quá hẹp, quá nhấn mạnh đến luận án thay vì phải chú trọng đến quá trình đào tạo. Kehm cho rằng ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ đang trở nên rất đa dạng về mục đích và mô hình: có đến 9 loại tiến sĩ khác nhau đã được nêu ra: loại tiến sĩ nghiên cứu hàn lâm kiểu truyền thống, loại tiến sĩ được đào tạo để dạy học, loại tiến sĩ được cấp bằng dựa trên số bài báo khoa học đã tích lũy được, loại tiến sĩ chuyên ngành (trong những lĩnh vực chuyên nghiệp rất hẹp và rất đặc thù, ví dụ tiến sĩ y khoa), loại tiến sĩ trên nền tảng hoạt động thực tiễn (trong các ngành nghệ thuật và thiết kế), loại tiến sĩ “tốc hành”, và loại tiến sĩ của các chương trình liên kết, loại tiến sĩ hợp tác, và tiến sĩ trong khu vực doanh nghiệp. Sự đa dạng này là một dấu hiệu của phân tầng về chức năng, và cho thấy hoạt động đào tạo tiến sĩ ngày nay không còn đơn thuần là tái sản xuất lực lượng lao động chỉ cho nghề nghiệp hàn lâm như xưa nữa. Tuy nhiên, hầu như tất cả các loại tiến sĩ trừ loại truyền thống đều bị phê phán dữ dội về việc thiếu sự nghiêm ngặt trong tiêu chuẩn và quá trình đào tạo. Sự phê phán này rút cuộc dẫn đến câu hỏi: thế nào là tiến sĩ?  Có một xu hướng khác ở một vài nước đang phát triển là một quan niệm ngày càng phổ biến coi bằng tiến sĩ là một thứ trang sức sang trọng (Ly Phạm, ĐHQG-HCM, Việt Nam). Thêm vào đó, những diễn tiến trong thái độ xã hội đối với người có bằng tiến sĩ; hiện tượng một phần ba tiến sĩ du học ngoài nước bằng tiền ngân sách đã không trở về, hoặc trở về nhưng không được sử dụng đầy đủ; và chỉ hơn một phần ba người có bằng tiến sĩ làm việc trong khu vực hàn lâm, số còn lại chủ yếu trong khu vực hành chính công, những sự kiện này ở Việt Nam cũng đòi hỏi sự xem xét lại một cách nghiêm túc quan niệm về bằng tiến sĩ.  “Tiến sĩ” gắn chặt với hoạt động nghiên cứu. Nhưng thế nào là nghiên cứu? Giáo sư Ross Gibson (University of Canberra, Australia) dẫn ra hai định nghĩa về nghiên cứu: một là định nghĩa khá nghiêm ngặt của Nhóm Công tác Tài trợ Nghiên cứu Khoa học dựa trên kết quả hoạt động của các trường ĐH New Zealand nêu ra năm 2002:  “Nghiên cứu là những điều tra nguyên thủy được thực hiện nhằm đạt được kiến thức và sự hiểu biết. Hoạt động nghiên cứu thường gắn với đòi hỏi thực nghiệm hoặc có bản chất phê phán, được dẫn dắt bởi những giả thuyết hay bởi những cương vị của trí tuệ có thể đưa ra một sự đánh giá nghiêm ngặt. Nó là một hoạt động sáng tạo, độc lập, tích lũy lâu dài và được thực hiện bởi những người có kiến thức sâu trong chuyên ngành, am hiểu lý thuyết, phương pháp, và có nhiều thông tin trong lĩnh vực mà họ đang tìm kiếm tri thức. Kết quả nghiên cứu phải được mở ra cho sự sàng lọc và đánh giá chính thức của những người khác trong cùng lĩnh vực, và điều này có thể thực hiện thông qua công bố khoa học hoặc trình bày trước công chúng. Trong một số lĩnh vực, kết quả khảo sát có thể nằm trong hình thức tác phẩm nghệ thuật, thiết kế hay trình diễn. Hoạt động nghiên cứu bao hàm cả những đóng góp cho hạ tầng trí tuệ của chuyên ngành (ví dụ như từ điển hay những sách được dùng như công cụ tra cứu). Nó cũng bao gồm những thiết kế thực nghiệm, những giải pháp xây dựng, và cả những điều tra khảo sát dẫn đến những vật liệu mới hay cải thiện nó một cách đáng kể, những bộ phận mới, những sản phẩm hay quy trình mới”.  Định nghĩa thứ hai là của Bộ Nghiên cứu Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo Liên bang Úc, đưa ra năm 2011: “Nghiên cứu được định nghĩa là sự sáng tạo ra tri thức mới, và/hoặc sử dụng những tri thức hiện có theo một cách mới và có tính sáng tạo để tạo ra những khái niệm mới, phương pháp mới, và những hiểu biết mới. Nó có thể bao gồm tổng hợp và phân tích những kiến thức đã có trước đó ở mức độ dẫn tới những kết quả mới và có tính chất sáng tạo”.  Dựa trên những định nghĩa này, hoàn toàn có thể định hình lại quan niệm về bằng tiến sĩ cũng như về quy trình, phương pháp sư phạm, tiêu chuẩn đánh giá, mô hình đào tạo phù hợp với những mục đích khác nhau.  Denise Curbert nêu lên một hình dung mới về tiến sĩ trong nền kinh tế tri thức như một hình thức đối lập với tiến sĩ hàn lâm theo truyền thống. Sự khác biệt này được bà nêu ra như sau:    Ý tưởng về việc cần có những loại tiến sĩ khác nhau, những con đường sự nghiệp khác nhau cho họ là một ý tưởng được nhiều người chia sẻ. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK), Morshidi Sirat (Viện Nghiên cứu GDĐH Quốc gia Malaysia), Ly Phạm (ĐHQG-HCM, Việt Nam) và Tebeje Molla (Deakin University, Australia) đều nói về nhu cầu đa dạng hóa đào tạo tiến sĩ trong bối cảnh phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức.  Trong bối cảnh Việt Nam, quả là lãng phí nếu người học phải theo đuổi một chương trình tiến sĩ chỉ để có một tấm bằng, trong lúc những gì được đào luyện thì không có mấy liên quan đến những gì họ thực sự cần cho con đường mà họ thực sự theo đuổi. Thay vào đó, cần có những lối đi khác, cách tiếp cận khác, phương pháp sư phạm khác, có ý nghĩa thiết yếu hơn cho chính họ và cho tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh của Malaysia và các nước tiểu vùng châu Phi, sự đa dạng nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH và giới doanh nghiệp, giữa nghiên cứu và ứng dụng, đổi mới, sáng tạo trong khu vực sản xuất kinh doanh, còn trong bối cảnh Việt Nam, sự đa dạng này cần nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH với cộng đồng xã hội nói chung, trước một thực tế là một số lớn những người có bằng tiến sĩ đã không làm việc trong khu vực hàn lâm, cũng không làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, mà là trong khu vực hành chính công.  Hình dung về tiến sĩ từ góc nhìn sư phạm và thực tiễn  Hội thảo cũng bàn đến những giá trị và kỳ vọng, những chuẩn mực mà xã hội và giới hàn lâm đặt ra với học vị tiến sĩ, chương trình và quy trình đào tạo tiến sĩ.  Trước hết là vấn đề động lực. Robyn Barnacle và Denise Cuthbert (RMIT University, Australia) thực hiện một nghiên cứu với 403 nhà nghiên cứu xuất sắc nhất ở khoảng giữa sự nghiệp, gần một nửa dưới 40 tuổi, và một nửa tuổi từ 41-50, thuộc mọi lãnh vực ở Australia. Kết quả cho thấy, động lực của các nhà nghiên cứu khá đa dạng, từ chỗ thỏa mãn nhu cầu tri thức hay khẳng định bản thân, cho đến ý thức về sự cống hiến tất yếu, trong đó cái thứ nhất được nhấn mạnh hơn. Có ba xu hướng động lực chính: động lực bản thân, động lực quá trình, và động lực kết quả. Kết quả này đặt ra câu hỏi là động lực nào được xem là đáng mong muốn trong việc đào tạo những người nghiên cứu, và chương trình đào tạo nghiên cứu có vai trò gì trong việc nuôi dưỡng những động lực ấy.  Từ góc nhìn của nghiên cứu sinh, họ đã đặt những niềm tin và hy vọng gì, và trải nghiệm của họ trong quá trình theo đuổi bằng tiến sĩ gợi ra cho chúng ta điều gì? Cat Mitchell (University of Auckland, New Zealand) nói về những hy vọng mà nghiên cứu sinh ấp ủ, đặc biệt với những nghiên cứu sinh là người đầu tiên trong gia đình vào đại học, bằng tiến sĩ chẳng những là hy vọng của chính họ, mà còn là kỳ vọng và mong đợi của cả gia đình và có khi cả dòng họ, quê hương. Đối với nhiều người, theo đuổi bằng tiến sĩ là một giấc mơ, và giấc mơ thầm kín ấy đã đóng vai trò là động lực giúp họ vượt qua trở ngại khó khăn. Nghiên cứu của Mitchelle cho thấy nhiều nghiên cứu sinh đã chọn theo đuổi bằng tiến sĩ vì họ tin rằng đó là cây cầu dẫn đến một nghề nghiệp vẻ vang, được xã hội tôn trọng, được bù đắp xứng đáng về lương bổng. Những hình dung về tiến sĩ ấy hình thành trong bối cảnh trường ĐH (định hình bởi các chính sách, cách tuyển sinh, điều lệ nhà trường, v.v.) lẫn một bối cảnh văn hóa xã hội lớn hơn (tiểu thuyết, phim ảnh, các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v.) đã tạo ra một quan niệm về việc thế nào là tiến sĩ trong công chúng (Frances Kelly, University of Auckland, New Zealand).  Trong việc hướng dẫn nghiên cứu sinh, Catherin Manathunga (Victoria University, Australia) đề xuất một cách tiếp cận liên văn hóa, nhấn mạnh rằng toàn cầu hóa đã khiến cho nghiên cứu sinh quốc tế chiếm một số lượng ngày càng lớn. Ngày càng nhiều giáo sư hướng dẫn làm việc với các nghiên cứu sinh có một nền tảng văn hóa hoàn toàn khác biệt, vì vậy cần hiểu biết đầy đủ hơn những yếu tố liên đới: thời gian, nơi chốn, và kiến thức. Tác giả khích lệ các học giả phương Tây có một thái độ thách thức với niềm tin về những kiến thức được cho rằng đó là chân lý phổ quát cho mọi nơi và mọi thời đại. Một thực tế khác tương tự cũng được nêu lên, là hiện tượng “nô dịch hóa” trong nghiên cứu (Robin Barnacle, RMIT, Australia), “thực dân hóa” (Barbara Grant, University of Auckland, New Zealand), hay là coi nghiên cứu sinh như những “nô lệ”. Các nước có nền GDĐH tiên tiến như Hoa Kỳ, UK, Australia đang dựa vào nghiên cứu sinh quốc tế để thực hiện những nghiên cứu cải tiến công nghệ dưới nhiều hình thức khác nhau, và có khi xem họ như những lao động bậc cao rẻ tiền. Quan hệ giữa giáo sư hướng dẫn và nghiên cứu sinh có thể khác nhau khá nhiều, từ cực này đến cực khác. Vì nghiên cứu sinh được xem là phải thực hiện những nghiên cứu độc lập, có những giáo sư mặc dù có vai trò rất quan trọng trong công trình nghiên cứu của học trò, hầu như không được nhắc đến. Ngược lại, có những người “cướp công” của nghiên cứu sinh. Có những giáo sư hầu như không hướng dẫn gì, có người ngược lại rất tận tình chỉ dạy và truyền đạt kinh nghiệm. Bởi vậy, chất lượng của việc hướng dẫn nghiên cứu sinh đang là mối lo ngại của nhiều trường ĐH. Từ năm 1985, University of Auckland ở New Zealand đã có Sổ tay Hướng dẫn Nghiên cứu sinh do Hội đồng Giảng viên của trường phê duyệt. Văn bản này được bổ sung sửa chữa nhiều lần từ năm 1992 đến 2014, vốn dài 1 trang nay lên đến 5 trang! Danh sách những thứ “phải là” dành cho giáo sư hướng dẫn tăng từ 8 lên đến 22, qua 5 lần sửa đổi (Barbara Grant, University of Auckland).   Thực tế trên đây cho chúng ta thấy, bức tranh về đào tạo tiến sĩ trên toàn thế giới đã khác rất nhiều so với cách đây vài thập niên, nhưng không phải ai cũng nhận thức rõ được điều này. Trong hai mươi năm qua chính sách nhiều nước đã đồng quy ở một điểm, đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo tiến sĩ, coi đó là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Kinh tế tri thức như một đặc điểm của thời đại là yếu tố trọng yếu đã thúc đẩy việc đào tạo tiến sĩ và đặt ra cho nó những đòi hỏi to lớn trong việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, dẫn dắt các hoạt động sáng tạo và đổi mới nhằm nâng cao năng suất. Điều này kích thích chúng ta xem xét lại những hình dung, kỳ vọng và giá trị mà xã hội đã và đang đặt vào học vị tiến sĩ như một đỉnh cao của kiến thức học thuật. Thật đáng ngạc nhiên là hiện nay có rất ít nghiên cứu về chủ đề trên. Hội thảo này là một diễn đàn nhỏ của các nhà chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực đa ngành, có am hiểu về giáo dục quốc tế, có sự gắn bó mạnh mẽ với sự nghiệp nghiên cứu, là một nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề chưa được biết rõ, những vấn đề có thể dẫn tới sự đổi thay phù hợp hơn trong chính sách, trong quan niệm về học vị tiến sĩ, trong quá trình đào tạo tiến sĩ và sử dụng những người có bằng tiến sĩ như thế nào để đáp ứng với những đòi hỏi, kỳ vọng và thay đổi của xã hội.  Nguồn: http://www.her.ntt.edu.vn/vn/?p=461#more-461    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng mới trong khai thác các khóa học đại chúng mở trực tuyến      Xu hướng sử dụng các khóa học đại chúng mở trực tuyến (MOOC) đào tạo nguồn nhân lực là bước phát triển rất đáng chú ý của MOOC trong thời gian gần đây. Ngoài ra, MOOC còn có thể được sử dụng như kênh đào tạo khách hàng hay phát triển thương hiệu.    Những ngày mùa thu này, Thảo Nguyên đang rất vui vì vừa mới hoàn tất chương trình học trực tuyến “Foundations of Teaching for Learning” (tạm dịch: Cơ sở của nghề dạy học) do Commonwealth Education Trust cung cấp thông qua cổng đào tạo trực tuyến mở đại chúng Coursera. Chương trình là một chuỗi gồm chín khóa học trực tuyến, cung cấp cơ hội học tập bài bản về giáo dục cho những người đang giảng dạy hoặc làm những việc liên quan nhưng chưa có điều kiện tham gia các chương trình đào tạo giáo viên chính quy. Các khóa học này bao phủ hết những nội dung “tiêu chuẩn” của một chương trình đào tạo giáo viên, trong đó có các hiểu biết về nghề giáo, về việc học tập của con người, về chương trình giáo dục, lập kế hoạch giảng dạy, đánh giá, các quy tắc và giá trị cốt lõi của nghề dạy, cũng như cách thức phát triển mạng lưới quan hệ nghề nghiệp.             Coursera là cổng giáo dục trực tuyến mở đại  trà phi lợi nhuận lớn nhất hiện nay do ĐH Stanford, ĐH Michigan, ĐH  Princeton và ĐH Pennsylvania khởi xướng, tới nay đã thu hút khoảng 15  triệu người dùng, hơn 100 đại học trên thế giới tham gia cung cấp khóa  học. Cùng với hai gã MOOC khổng lồ khác là edX và Udacity, Coursera tạo  thành thế chân vạc trong lĩnh vực đang phát triển rất nhanh này. Tới  nay, các cổng MOOC đã thu hút tổng cộng 25 triệu học viên trên toàn thế  giới.         Với Coursera, Nguyên – một MBA chuyển sang làm giảng viên và phát triển chương trình vài năm nay – đã tìm được cơ hội tuyệt vời để hệ thống hóa lại kiến thức cũng như kinh nghiệm về giáo dục, đồng thời học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ về nghề mà cô đã chọn. Trong vòng gần bốn tháng, tận dụng những lúc thời gian rảnh rỗi buổi trưa ở cơ quan và buổi tối ở nhà, Nguyên kiên trì theo dõi từng bài giảng thông qua video, tương tác với các học viên khác cùng tham gia khóa học, hoàn thành các bài luận và kiểm tra theo yêu cầu chuyên môn của từng giảng viên. Tuy có đôi chút khó khăn lúc khởi đầu, nhưng các trải nghiệm học tập được thiết kế tốt với các bài giảng ngắn và hấp dẫn, thời gian học tập linh hoạt, cùng với những phản hồi mau lẹ của cộng đồng học tập trên Coursera đã giúp Nguyên nhanh chóng quen thuộc với cách học MOOC. Ngay sau khi kết thúc chương trình của Common Wealth Education Trust, Nguyên lại đăng kí học tiếp một khóa khác của Đại học London với chủ đề nâng cao hơn: “Tương lai của giáo dục”.   Thảo Nguyên nằm trong số hơn một triệu người đã “tốt nghiệp” ít nhất một khóa học trên Coursera kể từ khi nó được giới thiệu ra công chúng vào năm 2012.     Theo một khảo sát1 diện rộng mới đây của nhóm tác giả công bố trên Harvard Business Review ngày 22-9-2015, Coursera cùng với edX và các nhà cung cấp MOOC khác đã thu hút khoảng 25 triệu người học chỉ trong ba năm, trong đó có khoảng 40% đến từ những nước khó khăn không thuộc OECD. Khảo sát cũng cho thấy số lượng lớn người học MOOC nhận thấy lợi ích đối với nghề nghiệp (72%) và việc học tập (61%) của bản thân. Ngay cả khi tỉ lệ hoàn thành khóa học là rất nhỏ – tỷ lệ này trên Coursera là 1/15 – thì với việc tạo ra những thay đổi tích cực cho hàng triệu người trên thế giới, MOOC đang dần chứng tỏ rằng những kì vọng ban đầu của nó về tác động lớn lao tới giáo dục là không hề quá viển vông.   Dùng MOOC phát triển nguồn nhân lực    Trong con số 25 triệu học viên của MOOC, phải kể đến một lực lượng quan trọng đến từ những chương trình đào tạo trong doanh nghiệp. Không giống như sự dè dặt ở các trường học, các doanh nghiệp rất mạnh dạn và nhanh chóng thử nghiệm những cách học tập kiểu mới, trong đó có việc tận dụng MOOC để phát triển nguồn nhân lực. Google đã dùng khóa học MOOC trên Udacity để huấn luyện đồng loạt về công nghệ HTML5 cho toàn bộ 80.000 nhân viên của mình. Yahoo! thì đã có chương trình khuyến khích nhân viên của mình học tập trên Coursera với cam kết tài trợ toàn bộ lệ phí thi chứng chỉ cho những khóa học được lựa chọn cẩn thận.     Xu hướng sử dụng MOOC phát triển nguồn nhân lực như Google hay Yahoo! là đại diện cho bước phát triển rất đáng chú ý của MOOC trong thời gian gần đây. Các công ty có thể tận dụng tài nguyên MOOC để tạo lập các khóa học nội bộ sử dụng hình thức học tập đảo ngược (flipped-learning, tạo bài giảng rồi gửi cho người học trước, thiết kế các bài tập tương tác để hướng dẫn khi gặp mặt sau) để vừa tăng hiệu quả học tập vừa giảm chi phí; khuyến khích nhân viên tự đưa ra các hoạt động phát triển nghề nghiệp, học tập liên tục trên các khóa học được khuyến cáo (như Yahoo! đã làm) hoặc tổ chức phổ cập hàng loạt những kiến thức trọng yếu (như Google đã làm).              Hiện nay các cổng MOOC còn cung cấp các khóa on-demand, hay self-paced không chịu ràng buộc bởi các tính chất mặc định của các khóa học đại chúng mở trực tuyến là: tiếp cận đại chúng; mở về nội dung, mở về phí, mở về khả năng tham gia, và mở về nền tảng; học trực tuyến qua Internet; và nội dung và tổ chức học tập như một khóa học chính quy chứ không đơn thuần là cung cấp một vài tư liệu rải rác được gom lại.          Ngoài ra, MOOC còn có thể được sử dụng như là một kênh đào tạo khách hàng [cách sử dụng sản phẩm của mình] hữu hiệu, ví dụ Google kết hợp Udemy để phát triển khóa học dạy lập trình trên nền tảng Android; để phát triển thương hiệu thông qua các khóa học; hoặc thậm chí để đưa ra các giải pháp cho các vấn đề thực tiễn2 như Coursolve, một startup EdTech mới nổi, đã thực hiện việc đưa sinh viên thực tập vào các dự án để phân tích và giải quyết các chiến lược hoặc tình huống thực tiễn ngay tại các doanh nghiệp.    Ở Việt Nam, trường đào tạo cán bộ mới được thành lập của tập đoàn FPT – FPT Corporate University (FCU) – đã xây dựng một chương trình học tập liên tục mang tính bắt buộc cho toàn bộ nhân viên với điểm nhấn quan trọng là MOOC. Năm 2015, có khoảng 6.000 trong tổng số 25.000 nhân viên của FPT sẽ theo học ít nhất một khóa học trên Coursera hoặc tương đương để hoàn thành “nhiệm vụ học tập”.  Dường như FPT đã nhìn ra được cơ hội to lớn từ đặc tính quan trọng của MOOC: giáo dục chất lượng cho số đông dân chúng. Họ đã tận dụng MOOC như thế nào?    Tương lai hiển lộ: Đại học hoàn toàn trên mây    Tuy ý tưởng về trường “đại học trong doanh nghiệp” của FPT nhang nhác giống những mô hình kinh điển khác trên thế giới như ĐH Apple được mở ra từ năm 2008 để triển khai các chương trình đào tạo nội bộ về văn hóa Apple, hay như ĐH Infosys chuyên đào tạo tân binh cho tập đoàn IT lớn nhất Ấn Độ Infosys, trường FCU thành lập năm 2015 lại lựa chọn phương tiện và cách làm mới: Thay vì chỉ tập trung vào xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo truyền thống, FCU đưa mọi người lên “Mây” (tức lên Internet) để học.     Nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của MOOC cùng với hàng loạt các công nghệ giáo dục khác (như Duolingo, Khan Academy, Gooru…) khiến cho kho tài nguyên giáo dục mở trên mạng đã đủ lớn để có thể đáp ứng nhu cầu học tập của đa số nhân viên FPT, đội ngũ nghiên cứu và phát triển của FCU tập trung tìm kiếm các khóa học phù hợp, bản địa hóa chúng, và thiết kế các cách thức học tập tối ưu với điều kiện ở công ty.   Bên cạnh việc nhờ cậy vào tinh thần “ham học” của mỗi nhân viên, FCU tích cực tận dụng kho tri thức và đội ngũ chuyên gia sẵn có của tập đoàn, kết hợp với các tài nguyên miễn phí trên Coursera để thiết kế các khóa học dạng blended-learning (học tập hỗn hợp, kết hợp cả học trực tuyến với học truyền thống), giúp “giải tỏa” cơn khát đào tạo trong một số lĩnh vực có nhu cầu lớn như Quản trị dự án hay Giao tiếp hiệu quả với chi phí tối ưu. Cách làm của FPT phản ảnh một xu thế mới nổi trong ứng dụng MOOC vào đào tạo doanh nghiệp. Nếu cách tiếp cận của FPT thành công, có thể đây sẽ là một cái mẫu hết sức điển hình cho việc triển khai các chương trình đào tạo nội bộ.   Thật thú vị, Coursera hay edX vốn xuất thân từ cái nôi đại học truyền thống như Harvard, Stanford, hay MIT lại dường như đang đóng vai trò rất lớn cho khu vực giáo dục phi chính quy thông qua việc cung cấp nguồn tài nguyên giáo dục để người học khắp năm châu bốn bể tự học, tự hoàn thiện năng lực theo nhu cầu.     Chúng ta đã nghe rất nhiều về “học tập suốt đời”, học tập liên tục để thích nghi với một thế giới biến đổi nhanh chóng hiện nay. Nhưng học như thế nào, ở đâu, với chi phí bao nhiêu lại hầu như không có câu trả lời dễ dàng. Vì thế “học tập suốt đời” giống như một khẩu hiệu nói cho sang miệng chứ ít thực tế. Việc học của hầu hết mọi người gần như đã chấm dứt khi họ rời khỏi trường đại học hoặc các trường đào tạo nghề. Ngược lại, câu chuyện của Thảo Nguyên với MOOC, của các công ty Google, Yahoo!, FPT lại giúp chúng ta hình dung rõ hơn về một thực tế khác, có thể chính là tương lai của học tập suốt đời. Giờ thì chúng ta hoàn toàn có thể tham gia vào những chương trình học tập theo nhu cầu, để phục vụ công việc hiện tại, hoặc để thỏa mãn lòng hiếu tri thuần khiết. Những “trường đại học trên mây” phi chuẩn như Coursera, edX, Udacity, hoặc tùy biến như FCU có thể chính là lời giải cho việc hiện thực hóa sự học suốt đời cho mọi người, cho những tổ chức học hỏi, và những xã hội học tập trong tương lai gần.    ————-    1Chen Zhenghao và cộng sự, “Who’s Benefiting from MOOCs, and Why“, HBR, 22-9-2015 (https://hbr.org/2015/09/whos-benefiting-from-moocs-and-why)     2 Zafrin Nurmohamed và cộng sự, “A New Use for MOOCs: Real-World Problem Solving”, HBR, 4-7-2013 (https://hbr.org/2013/07/a-new-use-for-moocs-real-world/)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất bản cuốn từ điển Hindi – Việt đầu tiên      Chiều 27.5, cuốn từ điển Hindi (Ấn Độ) –  Việt đầu tiên đã được xuất bản và ra mắt&#160; tại Trường ĐH Khoa học xã hội  và nhân văn TP.HCM.    Từ điển Hindi – Việt được hai tác giả người Ấn Sadhna Saxena và người Việt Phạm Đình Hướng biên soạn với số lượng khoảng 9.000 mục từ, trong đó có khoảng 7.500 mục từ chính và 1.500 tiểu mục từ.  Ngoài ra, từ điển còn có những câu thành ngữ, ngạn ngữ thông dụng trong đàm thoại hằng gày.  Từ điển Hindi – Việt được xuất bản theo thỏa thuận giữa Tổng lãnh sự quán Ấn Độ tại TP.HCM và Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, do Tổng lãnh sự quán Ấn Độ tại TP.HCM tài trợ.  Từ điển Hindi – Việt được in 150 cuốn nhằm phục vụ cho sinh viên đang theo học tiếng Hindi tại Khoa Đông phương học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM. Từ điển sẽ được hoàn thiện trước khi xuất bản rộng rãi trên thị trường.  Tiếng Hindi không chỉ đơn thuần là quốc ngữ của Ấn Độ, mà còn là một bộ phận cấu thành của nền văn minh và những giá trị văn hóa đặc trưng của Ấn Độ. Vì thế, ông Abhay Thakur, Tổng lãnh sự Ấn Độ tại TP.HCM, hy vọng Từ điển Hindi – Việt sẽ giúp sinh viên sẽ hiểu rõ hơn về văn hóa và văn minh Ấn Độ. Cùng với đó là việc mở rộng và đẩy mạnh mối quan hệ văn hóa, thương mại và kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Ấn Độ.    Tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, ngành Ấn Độ học ra đời năm 2000. Thế nhưng, bà Sadhna Saxena, một trong những tác giả của cuốn từ điển, đồng thời là giảng viên tại trường này, cho biết những năm qua, việc giảng dạy và học tập tiếng Hindi gặp nhiều khó khăn khi sinh viên phải học và tìm hiểu thông qua tiếng Anh, trong khi cả tiếng Anh và Hindi đều là ngoại ngữ đối với sinh viên.   Ông Phạm Đình Hướng, đồng tác giả Từ điển Hindi – Việt, chia sẻ: Từ năm 2002, khi còn là sinh viên ngành Ấn Độ học, Khoa Đông phương học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, để tiếp cận giá trị văn hóa Ấn Độ chủ yếu thông qua tiếng Hindi, thế nhưng tài liệu học tập tiếng Hindi lại hết sức hạn chế. Cho đến nay, Việt Nam chưa có một tài liệu nào được xuất bản để hỗ trợ việc học tập tiếng Hindi.  Với niềm đam mê nền văn hóa Ấn Độ cùng tiếng Hindi, ông Phạm Đình Hướng đã chuẩn bị cho cuốn từ điển này từ 3 – 4 năm trước và bắt tay vào biên soạn cùng bà Sadhna Saxena trong vòng hai năm. Ông mong muốn Từ điển Hindi – Việt sẽ giúp sinh viên học tập tốt hơn và việc giảng dạy hiệu quả hơn.  Như vậy, với cuốn Từ điển Hindi – Việt, sinh viên dễ dàng tìm hiểu tiếng Hindi mà không nhất thiết phải giỏi tiếng Anh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ‘Xưởng bằng giả’: Tác hại đối với sinh viên và xã hội      Đa số các quốc gia xuất khẩu bằng giả lại là những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh Quốc và Úc; trong khi các quốc gia nhập khẩu một cách hoàn toàn tự nguyện và không nghi ngại chính là những quốc gia đang phát triển.      Tin tức dồn dập trên các tờ báo lớn thời gian gần đây làm cho công chúng Việt Nam bắt đầu tỉnh thức với nạn bằng giả, trường dỏm đang hoành hành khắp nơi trên cả nước. Nhưng bằng giả, trường dỏm không chỉ có ở Việt Nam, mà là vấn nạn toàn cầu. Nhiều nỗ lực quan trọng trên phạm vi quốc tế để chống lại vấn nạn này đã và đang được thực hiện.  Bài viết ‘Xưởng bằng giả’: Tác hại đối với sinh viên và xã hội của hai tác giả Judith S. Eaton thuộc CHEA (Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học Hoa Kỳ) và Stamenka Uvalic – Trumbic thuộc UNESCO nhằm nêu tổng quan về vấn nạn xưởng bằng giả trên phạm vi toàn thế giới. Bài viết đã được đăng trên trang web của CIHE (Trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học quốc tế thuộc ĐH Boston, Hoa Kỳ) từ năm 2008.             Các nỗ lực chống bằng giả, trường dỏm có thể phân loại thành ba  nhóm hoạt động chính:               (1) tăng cường sự giám sát của chính quyền đối với việc cấp phát và sử dụng bằng cấp, và thực hiện các biện pháp chế tài nghiêm nhặt đối với những trường hợp vi phạm;               (2) tăng cường vai trò của giới truyền thông trong việc cung cấp thông tin minh bạch về các trường đại học trong và ngoài nước;              (3) giáo dục người tiêu dùng giáo dục (tức sinh viên và gia đình), người sử dụng lao động, và toàn xã hội, về những tác hại có thể có do việc tham gia học tập ở những trường đại học dỏm (trong tiếng Anh gọi là diploma mill, tạm dịch là ‘xưởng bằng giả’) gây ra.               Cả ba nhóm hoạt động nói trên đều quan trọng và cần được triển khai đồng thời và nhịp nhàng để tạo ra một hiệu ứng cộng hưởng làm tăng hiệu quả của nỗ lực chống bằng giả, trường dỏm.          Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết này đến bạn đọc như một nỗ lực của giới truyền thông nhằm ngăn chặn bớt tác hại của các xưởng bằng giả quốc tế trong giai đoạn đang hội nhập sâu rộng như hiện nay. Những phần in nghiêng đậm trong bài là do chúng tôi thêm vào để nhấn mạnh những ý liên quan đến Việt Nam, không có trong bản gốc tiếng Anh.  ———  Các “xưởng bằng giả” đang làm đình trệ những nỗ lực nhằm đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học – điều này lâu nay vẫn là một vấn đề quan trọng ở cấp quốc gia, nhưng hiện nay đã trở thành một mối quan tâm trên toàn thế giới. Đối mặt với vấn đề này, Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học đặt tại Hoa Kỳ vừa hợp tác với UNESCO để tập hợp một nhóm không chính thức các chuyên gia về giáo dục đại học và đảm bảo chất lượng/kiểm định để tập trung giải quyết vấn đề liên quan đến các xưởng bằng giả.  Đặc điểm của các xưởng bằng giả  Các xưởng bằng giả vốn là những tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo đại học giả mạo, thậm chí lừa đảo; những tổ chức này chuyên bán những chứng chỉ và văn bằng giả. Nhìn bên ngoài, một xưởng bằng giả thường có vẻ giống như một trường đại học hay cao đẳng thông thường, với các ấn phẩm (dưới dạng bản in hoặc điện tử), phô trương những tiện nghi trong khu học xá bắt mắt, có logo trông cổ xưa như thể trường đã có một bề dày về truyền thống, và danh sách giảng viên có những bằng cấp rất ấn tượng. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ ta có thể nhận ra những “học xá” của các “trường” này chỉ là những địa chỉ gửi thư; logo của trường thì sao chép (có chỉnh sửa) từ logo của những trường nổi tiếng, và danh sách giảng viên thì lại bao gồm những người “có thể” cũng có lúc giảng dạy nhưng thực chất lại không phải là những giảng viên thường xuyên tham gia trong hoạt động giảng dạy của trường.  Tuy không có một khái niệm được thừa nhận rộng rãi về xưởng bằng giả, nhưng hầu hết những “trường” này đều có chung một số đặc điểm. Bằng cấp của các “trường” này đều có thể mua được. Chúng không đòi hỏi hoặc đòi hỏi rất ít việc tham gia lớp học của sinh viên (trực diện hoặc trực tuyến). Sinh viên ở đây được yêu cầu làm rất ít bài tập, và yêu cầu tốt nghiệp là ở mức tối thiểu. Việc quyết định cấp bằng có thể dựa một phần rất lớn trên lý lịch cá nhân hoặc kinh nghiệm thực tế, và những yêu cầu trên có thể không được quy định bằng văn bản. Một số xưởng bằng giả có thể không có giấy phép hoạt động của tiểu bang. Tên của các “trường” này thường được chọn sao cho nghe hao hao giống những trường đại học, cao đẳng nổi tiếng. Nhằm gia tăng lòng tin của khách hàng, một vài “trường” còn mạo nhận về các tổ chức quốc tế như UNESCO hoặc WHO, tuyên bố sai sự thật rằng đã được các tổ chức nêu trên kiểm định. Những ‘trường’ này có thể không đưa ra được bằng chứng đáng tin cậy về chất lượng của mình – chẳng hạn như đã được kiểm định bởi các tổ chức kiểm định được công nhận.  Các xưởng bằng giả kiểu cũ đóng trên một địa bàn cụ thể hoặc sử dụng phương pháp hàm thụ chỉ có thể hoạt động trong giới hạn một khu vực hoặc quốc gia. Tuy nhiên, giờ đây các “trường” này đã tận dụng triệt để cách thức tiếp cận qua web và mạng internet, tạo cho họ khả năng mở rộng phạm vi hoạt động ra thế giới một cách dễ dàng. Đa số các quốc gia xuất khẩu bằng giả lại là những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh Quốc và Úc; trong khi các quốc gia nhập khẩu một cách hoàn toàn tự nguyện và không nghi ngại chính là những quốc gia đang phát triển.  Thật khó có thể xác định được số lượng các xưởng bằng giả đang hoạt động, và những ước lượng về số trường dỏm này cùng với phạm vi hoạt động của chúng cần được xem xét cẩn thận. Phạm vi tài chánh của một xưởng bằng giả có thể xê dịch từ nửa tỉ đô-la cho đến hàng tỉ đô-la hằng năm.  Rủi ro từ những xưởng bằng giả  Các xưởng bằng giả gây ra những tác động đáng kể về mặt xã hội, vì vậy mọi người có liên quan đến giáo dục đại học đều có trách nhiệm ngăn cản sự tồn tại của những tổ chức đáng ngờ này. Những người có liên quan không chỉ là sinh viên mà còn là các nhà tuyển dụng và chính phủ, cũng như là các trường đại học và cao đẳng thực chất.  Đối với sinh viên, dù họ là những người cố tình tìm kiếm bằng cấp bằng con đường dễ dãi hoặc là nạn nhân của những quảng cáo sai lệch từ các xưởng bằng giả, đều là những người bị hại vì những bằng giả mắc tiền đó đều là lừa đảo và trong nhiều trường hợp là không có giá trị. Các sinh viên và phụ huynh tại các quốc gia đang phát triển, những người bị thu hút bởi cơ hội có được một bằng cấp nước ngoài một cách linh động chính là nhóm đối tượng dễ bị hại nhất. Điều rất thường xảy ra là những bằng giả này không thể dùng để xin việc hoặc thăng chức. Số tín chỉ từ các xưởng bằng giả không được chuyển đổi sang những trường hợp pháp. Nếu một bằng đại học được chứng minh là giả, nó sẽ không được chấp nhận để vào học sau đại học.  Các nhà tuyển dụng bị tổn thương khi họ vô tình tin tưởng vào những bằng cấp giả mạo và xem đó là bằng chứng về năng lực của nhân viên mà họ tuyển dụng. Một nhân viên có bằng giả như vậy, ở mức nhẹ nhất, sẽ làm cho đơn vị bị mất mặt. Ở mức nặng nhất, những người sử dụng bằng dỏm là mối đe dọa cho người khác, đặc biệt khi những bằng dỏm ấy lại được sử dụng như sự đảm bảo về mặt chuyên môn trong những lĩnh vực như điều dưỡng và công trình sư. Lúc đó, mạng sống của nhiều người sẽ bị đe dọa.  Chính phủ sẽ chịu thiệt hại lớn khi hàng triệu đô-la tiền thuế của người dân được dùng làm trợ cấp và khoản vay cho sinh viên đóng học phí tại các trường giả hoặc khi chính phủ (trên cương vị là nhà tuyển dụng) cấp trợ cấp học phí cho các nhân viên theo học tại các trường giả. Chính phủ (thực ra là người nộp thuế) còn buộc phải duy trì chi phí củng cố những luật lệ nhằm ngăn ngừa hoạt động của các xưởng bằng giả – ví dụ như việc điều tra những vụ lừa đảo được thực hiện trong nhiều năm tại Hoa Kỳ, do Cục Thương mại Liên bang và Văn phòng Kiểm toán chính phủ Mỹ  (Government Accountability Office, trước đây là General Accountability Office) (1).  Các trường đại học và cao đẳng cũng chịu thiệt hại do các xưởng bằng giả gây ra vì chúng làm suy giảm những nỗ lực hợp pháp của các trường đại học chân chính trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học có chất lượng. Khi các xưởng bằng giả nhái tên những trường đáng tin cậy để phục vụ nhu cầu bất chính của các xưởng bằng giả này, chúng đã tạo ra sự nhầm lẫn và nghi ngờ trong các sinh viên tiềm năng và xã hội đối với những trường chân chính. Sự nghi ngờ của xã hội đối với các xưởng bằng giả khiến cho những trường đại học hợp pháp bị vạ lây, làm giảm đi các nỗ lực duy trì niềm tin của công chúng và nỗ lực phục vụ xã hội của các trường đại học tử tế.  Chính sách quốc gia  Kể từ thập niên 1990, một số nước đã thực hiện các hoạt động quan trọng nhằm khống chế các xưởng bằng giả như: xuất bản những danh sách các trường hợp pháp, ban hành những đạo luật nhằm ngăn chặn việc hình thành những xưởng bằng giả, đóng cửa những xưởng bằng giả đã tồn tại, và duy trì những chiến dịch thông tin và tăng cường nhận thức của xã hội. Tại cuộc họp gần đây giữa những nhà lãnh đạo trong giáo dục đại học và quản lý chất lượng để thỏa luận về vấn đề xưởng bằng giả, các cá nhân đến từ Nigeria, Úc, Anh Quốc và Hoa kỳ đều nói đến việc cần thiết duy trì các hoạt động nói trên.  Những nỗ lực khác bao gồm việc Trung Quốc cho xuất bản các danh sách của những trường nước ngoài được công nhận và yêu cầu rằng các trường nước ngoài muốn hoạt động tại nước này phải thông qua việc thiết lập mối quan hệ với các trường trong nước. Tại Anh Quốc, một hệ thống cảnh báo được xây dựng nhằm thông báo cho xã hội về những xưởng bằng giả, kèm thông tin về việc các trường này có đáp ứng được những tiêu chuẩn cấp bằng đại học tại Anh Quốc hoặc tiêu chuẩn để được gọi là trường đại học hay chưa. Tại Nigeria, những bằng cấp trực tuyến từ những trường không được kiểm định bị cấm và các nhà tuyển dụng không được phép chấp nhận bằng dỏm. Tại Úc, khái niệm “trường đại học” được bảo vệ chặt chẽ.  Hoạt động quốc tế  Việc chú trọng gần đây vào vấn đề các xưởng bằng giả đi kèm với các hoạt động về chất lượng học thuật là vì giáo dục đại học hiện nay ngày càng được quốc tế hóa. Trong tài liệu Study Abroad (Du học), UNESCO đã công bố Bản thông tin (Fact Sheet) của Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học Hoa Kỳ (CHEA) về các xưởng bằng giả và xưởng kiểm định giả được tập hợp vào năm 2003, đây là một phần trong những cảnh báo của UNESCO trước hiện tượng xưởng bằng giả đang tồn tại. UNESCO và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) đã phát hành Cẩm nang hướng dẫn về việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học xuyên biên giới có chất lượng vào năm 2005. Cuốn Cẩm nang đã đề ra những trách nhiệm cho những đối tượng liên quan khác nhau trong giáo dục đại học – nhằm bảo vệ chất lượng trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học xuyên biên giới và chống lại các xưởng bằng giả. UNESCO gần đây cũng tiến hành thử nghiệm Cổng thông tin về các tổ chức giáo dục đại học, cho phép tiếp cận từ khắp nơi trên thế giới danh sách các trường đại học hợp pháp trên mọi quốc gia. (http://www.unesco.org/education/portal/hed-institutions). Việc công bố danh sách này giúp làm rõ rằng những trường không có trong danh sách là những trường có thể đáng ngờ.     Nhóm chuyên gia quốc tế do CHEA và UNESCO tập hợp cũng đang tiến hành xây dựng bản tuyên bố về các hoạt động hiệu quả trên phạm vi quốc tế trong việc giải quyết vấn nạn về xưởng bằng giả. Nhóm chuyên gia này cũng đang tìm kiễm những chiến lược mới, chẳng hạn như liệu có cần những nỗ lực quốc tế thường trực trong việc xác định những tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục lừa đảo hay không, cũng như tính khả thi của việc duy trì chương trình nâng cao nhận thức xã hội trên phạm vi quốc tế.  Nỗ lực quốc tế nói trên sẽ còn là một nhu cầu lâu dài. Các xưởng bằng giả sẽ tiếp tục là một vấn nạn đối với các sinh viên, nhà tuyển dụng, chính phủ, và cả giáo dục đại học. Chúng làm tổn hại một nguồn tài nguyên quan trọng của các quốc gia – cụ thể là ngành giáo dục đại học rộng mở, đa dạng và có hiệu quả cao cũng như các sinh viên, đối tượng được các tổ chức này phục vụ.  Phương Anh giới thiệu – Kim Khôi dịch  Nguồn:  http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number53/p3_Eaton_Uvalic-Trumbic.htm  * Judith S. Eaton là Chủ tịch Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học đặt tại Washington D.C, Hoa Kỳ. Email: eaton@chea.org và Stamenka Uvalic-Trumbic hiện là Trưởng Bộ phận Cải cách, Đổi mới, và Đảm bảo Chất lượng, Phòng Giáo dục Đại học, UNESCO tại Paris, Pháp. Email: s.uvalic-trumbic@unesco.org.  (1) Từ GAO dịch sang tiếng Việt chưa thống nhất, chúng tôi chọn gọi theo cách dịch trong bài viết của Vietnamnet trong bài viết này “Chính phủ Mỹ nói một đàng, làm một nẻo” đăng ngày 13/5/2010. Link: http://vietnamnet.vn/thegioi/201005/Chinh-phu-My-noi-mot-dang-lam-mot-neo-909650/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý niệm đại học: Linh hồn của giáo dục cấp cao      Đại học, muốn xứng danh là đại học, phải  được một “Ý niệm” dẫn đạo như ngôi sao Bắc đẩu. Không ai có ảo tưởng,  một ngày nào đó, sẽ “đến được” ngôi sao ấy, nhưng không có nó, ta sẽ lầm  lũi và lầm lạc trong đêm tối mịt mùng. “Ý niệm”, như chân trời vươn  tới, như lý tưởng vẫy gọi…       Sau tháng 5.1945, sự sụp đổ của chế độ toàn trị quốc xã để lại một nước Đức nói riêng, Tây Âu nói chung, trong cảnh “tan hoang bờ cõi”. Cơ sở vật chất tan nát dưới bom đạn chiến tranh. Thảm họa nhân đạo cũng vô tiền khoáng hậu. Cấp bách, đáng lo hơn nữa là sự suy sụp của đời sống khoa học và đại học, vốn là “vũ khí bí mật” và niềm tự hào đã đưa nước Đức lên ngôi quán quân về khoa học suốt thế kỷ 19, nhờ thừa hưởng di sản của mô hình đại học Humboldt, được thành lập từ 1810. Chính sách chính trị hóa và công cụ hóa khoa học và đại học của chế độ quốc xã đã đánh đúng vào trái tim và đầu não của quốc gia. Hơn thế, đã hủy diệt giá trị cốt lõi nhất của nền văn minh Tây phương hiện đại: tinh thần khách quan và dân chủ trong khoa học. Hàng loạt giáo sư và nhà khoa học đầu đàn, vì lý do chủng tộc hay chính trị, bị cho nghỉ hưu sớm, cấm giảng dạy và công bố khoa học, bị giết hại hoặc lưu vong. Nước Đức mất hơn một phần ba lực lượng khoa học khi chiến tranh kết thúc. Karl Jaspers, bị cấm giảng dạy (vì có vợ gốc Do Thái), đột nhiên đứng trước trọng trách lịch sử: khôi phục lại đại học cổ kính và lừng danh Heidelberg, qua đó góp phần hồi sinh đại học Tây Âu nói chung. Lần hiếm hoi ta được chứng kiến: những tư tưởng triết học của một triết gia “hiện sinh” nổi tiếng có dịp đi vào cuộc sống, được thử thách (và thành công!) trong thực tế! Trải bao nước chảy qua cầu, nền đại học ngày nay không thể quên công lao và đóng góp có ý nghĩa lịch sử ấy của Karl Jaspers!  “Ý niệm đại học”  Jaspers đã sơ thảo những ý tưởng cốt lõi về đại học từ 1923, viết lại và bổ sung những ý tưởng mới trước tình hình nghiêm trọng và cấp bách, lấy nhan đề cũ “Ý niệm Đại học” (Hà Vũ Trọng và Mai Sơn dịch, Ban Tu thư ĐH Hoa Sen, 2013). Việc Jaspers dùng lại nhan đề cũ từ hơn hai mươi năm trước cho thấy ông đã ôm ấp và không thay đổi nội dung cơ bản. Đó là: đại học, muốn xứng danh là đại học, phải được một “Ý niệm” dẫn đạo như ngôi sao Bắc đẩu. Không ai có ảo tưởng, một ngày nào đó, sẽ “đến được” ngôi sao ấy, nhưng không có nó, ta sẽ lầm lũi và lầm lạc trong đêm tối mịt mùng. “Ý niệm”, như chân trời vươn tới, như lý tưởng vẫy gọi, vốn là một trong những thuật ngữ đắc ý nhất và quý báu nhất của nhà đại khai minh, triết gia Immanuel Kant!  “Lòng hiếu tri nguyên thủy”    Con người ai cũng ham hiểu biết. Trong đời sống hàng ngày, ta cần và muốn biết nhiều thứ để có thể đạt được những mục đích nhất định. Chị đi học tiếng Anh, anh đi học vi tính… để dễ tìm việc. Nhưng, đạt được mục đích rồi thì thôi, chuyển sang nhu cầu hiểu biết mới. “Lòng hiếu tri nguyên thủy” thì khác! Nó thể hiện trong việc đi tìm chân lý trong đại học. Nơi đây, thầy và trò gắn bó với nhau vì cùng chia sẻ một đam mê bất tận, một khát vọng không bao giờ thỏa mãn là luôn vươn tới trong nhận thức, dù biết rằng không có chỗ dừng lại và không thể dừng lại. “Ý niệm đại học” chính là sự nuôi dưỡng lòng hiếu tri nguyên thủy khôn nguôi ấy. Không có nó soi đường, đại học sẽ sa đọa thành… trường phổ thông cấp bốn hay cơ sở khổng lồ chỉ biết cung cấp nhân lực cho nền kinh tế và bộ máy cai trị. Tinh thần đại học, như thế, ngay từ bản tính và từ đầu, không thể tương thích với mọi chính sách công cụ hóa dù về chính trị hay kinh tế.  Ba nhân tố của “ý niệm đại học”  Xét như là định chế, “Ý niệm” hay “lòng hiếu tri nguyên thủy” trong đại học thể hiện qua ba nhân tố:   –     Sự thống nhất luôn mới mẻ của các ngành khoa học. Vì “đại học là nơi thực hiện năng lực hiếu tri nguyên thủy” trong phạm vi rộng lớn nhất, do đó, dù phân ngành và chuyên môn hóa đến đâu, các phân khoa phải có mối dây liên hệ nội tại, đảm bảo tính nhất quán và hữu cơ của một toàn bộ, truyền sức sống cho nhau như từ một cơ thể. Nếu không thế, đại học sẽ thoái hóa thành “cửa hàng bách hóa” phục vụ theo ý thích của “khách hàng” như một loại “dịch vụ kiến thức” đơn thuần, “mua” rồi, “xài” rồi thì thôi! Vì thế, nghiên cứu khoa học là lý do tồn tại của đại học, song hành với công việc giảng dạy. Không có nghiên cứu “bất tận”, lòng hiếu tri chỉ là nhất thời.  –    Định chế đại học, xét cho cùng, chỉ là điều kiện vật chất cho việc phát huy nhân cách của những con người sống và làm việc trong đó. Định chế “được đánh giá tùy vào việc nó có đào tạo nên những nhân cách tốt đẹp nhất hay không và liệu nó có khả năng đảm bảo những điều kiện tinh thần cho việc nghiên cứu, truyền thông và giảng dạy”.  –     Về mối quan hệ giữa đại học và nhà nước, Jaspers nhận ra sự tương hỗ luôn căng bức: đại học vừa thuộc nhà nước, vừa tự trị, không mang tính nhà nước. Thành hay bại là ở chỗ xây dựng được cơ chế hợp tác bền vững, ổn định và tôn trọng lẫn nhau.  Nhiệm vụ tối cao của đại học: Đào luyện đời sống tinh thần  Nghiên cứu và giảng dạy cần kết hợp với tiến trình đào luyện con người. Cái sau mới là thành tựu quý báu nhất và là nhiệm vụ tối cao của đại học. “Giáo dục đại học là tiến trình đào luyện sự tự do đầy thực chất, mà cụ thể là tham gia vào đời sống tinh thần đang diễn ra ở đó”. Sự đào luyện ấy chủ yếu diễn ra trong tinh thần Socrates. Hoạt động khoa học mang những con người có lòng hiếu tri nguyên thủy lại với nhau, tạo nên một cộng đồng, một nền “cộng hòa những học giả”, trong đó chỉ có luận cứ là được xem trọng chứ không phải quyền lực hay quyền uy.  Trong lời giới thiệu in ở đầu tác phẩm này (“Ý niệm đại học, như một giá trị cốt lõi”), chúng tôi đi đến kết luận: “Đến với công trình tâm huyết này của Jaspers, ta chỉ có thể trân trọng “lòng tin triết học” của ông rằng: đại học hiểu như sự thống nhất của các ngành khoa học không chỉ là một Ý niệm phát triển từ triết học, dựa trên một tiến trình lịch sử đã qua, mà còn là một Ý niệm sẽ điều hướng diễn trình trong tương lai. (…) Ý niệm, theo đúng nghĩa, không phải là một “sáng kiến” chủ quan, mà là kết quả của lao động trí tuệ, vì thế, không thể tìm thấy nó một cách dễ dàng trong thực tế. Nhưng, không một cơ quan, tổ chức hay xã hội nào có thể trường tồn mà không tìm ra và bảo vệ những giá trị cốt lõi. Hiểu theo nghĩa ấy, biết đâu Ý niệm có khi mạnh hơn thực tại, vì nó định hình thực tại”.  Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 40, 27.08.2015      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ 1)      “Ý niệm đại học” là cách dịch tinh tường và tinh tế nhan đề tác phẩm nổi tiếng của Karl Jaspers. Bởi, “Idee/Idea” ở đây không có nghĩa đơn giản là “ý tưởng”, theo nghĩa là “suy nghĩ” hay “ý kiến” nào đó về đại học. Jaspers, một trong những triết gia hàng đầu của thế kỷ 20, đã cố ý sử dụng thuật ngữ “Ý niệm” tiêu biểu của bậc tiền bối là Immanuel Kant để chỉ Nguyên tắc của lý tính, lý tưởng để vươn tới tuy không bao giờ đạt được trọn vẹn, như ngôi sao Bắc đẩu dẫn đường cho kẻ lữ hành.     Vâng, theo Jaspers, quả có một Ý niệm về đại  học, và Ý niệm này (xin viết hoa để phân biệt!) là Tinh thần sống động,  là Hồn của đại học. Nhưng, một khi phải bàn về “Ý niệm đại học” là mặc  nhiên thú nhận rằng Ý niệm ấy đang bị xem nhẹ, ánh sáng dẫn đường ấy  đang bị lu mờ, hồn cốt ấy đang phai nhạt và có nguy cơ tan biến. Tương  lai cho nền đại học đã bị sa đọa như thế phụ thuộc vào sự khôi phục Tinh  thần nguyên thủy. Jaspers thừa biết rằng con đường trở về lại với thời  cổ điển là vô vọng, nhưng một sự tái tạo theo tinh thần của Humboldt  trong những điều kiện kinh tế-xã hội mới mẻ là cần thiết, và, hơn thế,  là có thể làm được.   I. Theo Jaspers, đại học hiện đại đứng trước sự chọn lựa: “hoặc thành công trong việc giữ vững nền đại học (…) bằng sự tái sinh của Ý niệm trong nỗ lực kiên quyết hiện thực hóa một hình thái tổ chức mới, hoặc đại học sẽ cáo chung trong tính chức năng [đơn thuần] của những cơ sở khổng lồ đào tạo những chuyên viên khoa học-kỹ thuật”[1]. Khôi phục nguyên si mô hình đại học cổ điển của Humboldt là bất khả thi, bởi Ý niệm không phải là cái gì tĩnh tại và đã hoàn tất, độc lập với sự phát triển của bản thân Tinh thần và thoát ly khỏi những hoàn cảnh xã hội nhất định. Vì thế, tái sinh Ý niệm phải đi liền với sự đổi mới nó. Có những yêu sách truyền thống vẫn còn giá trị, nhưng, mặt khác, phải phù hợp với những hoàn cảnh mới.  Câu hỏi lập tức đặt ra: “Ý niệm” ấy là gì? Và tại sao nền đại học hiện đại – nói riêng là đại học Đức, đối tượng trực tiếp của Jaspers trong sách này – lại xa rời Ý niệm của nó? Đâu là những nguyên nhân bên trong và bên ngoài? Nếu không giải đúng những câu hỏi này, cương lĩnh “hồi sinh và đổi mới” chỉ là một giấc mơ hão huyền.          Karl Jaspers (1883-1969) là một trong những triết gia quan trọng nhất của thế kỷ 20. Tuy không chịu nhận danh hiệu, ông thường được xem là triết gia hiện sinh “hữu thần”, trong khi Martin Heidegger và J. P. Sartre… là hiện sinh “vô thần”. Xuất thân là bác sĩ y khoa, ông đi từ tâm bệnh học sang tâm lý học và triết học, với nhiều suy tưởng sâu sắc về ý nghĩa của đời người (qua các thuật ngữ nổi tiếng như: hoàn cảnh ranh giới, thất bại, giao cảm, tự do, siêu việt, lòng tin triết học…). Là nạn nhân của chủ nghĩa phát xít Đức, Jaspers đấu tranh cho nền dân chủ và kêu gọi tái lập nền giáo dục hướng theo những giá trị, mà Ý niệm đại học là tác phẩm tiêu biểu. Từ 1948, ông rời nước Đức, sang Basel (Thụy Sĩ) giảng dạy cho đến khi mất vào năm 1969.        Quyển “Ý niệm Đại học” được K. Jaspers biên soạn ở Heidelberg (Đức) ngay sau Thế Chiến II, sau thảm họa kinh hoàng của bạo lực, khủng bố, chiến tranh và tội ác diệt chủng. Ông sử dụng bản sơ thảo cùng tên từ 1923, viết lại và bổ sung nhiều ý tưởng mới trước tình hình nghiêm trọng: sự tàn phá nền học thuật Đức nói chung và nền đại học Đức nói riêng của chủ nghĩa quốc xã[2], cùng với trách nhiệm cá nhân nặng nề của ông trong trọng trách xây dựng lại Đại học Heidelberg với tư cách là một thành viên lãnh đạo đại học.  Bản thân ông là nạn nhân trực tiếp của chế độ phát xít. Là một triết gia hàng đầu, ông bị cấm giảng dạy và công bố khoa học vì có vợ gốc Do Thái. Hai vợ chồng ông may mắn thoát chết vào giờ chót nhờ thành phố Heidelberg được giải phóng kịp thời. Ông viết: “Những người sống sót chúng tôi đã không đi tìm cái chết (…). Chúng tôi cố tìm cách để sống sót. Chính việc chúng tôi sống sót đã là một tội lỗi!”[3].  Lương tâm trí thức đã thúc đẩy Jaspers tìm cách cứu vãn những gì đã bị chế độ cực quyền tàn phá hầu như tận gốc rễ: sự độc lập tư duy và sự khách quan khoa học. Đối lập lại với chủ trương chính trị hóa và công cụ hóa đại học của chủ nghĩa quốc xã, Jaspers đề xướng quan niệm của Kant về “Ý niệm” theo nghĩa điều hướng, dẫn đạo (regulativ) như là lý tưởng cần vươn tới. Jaspers định nghĩa Ý niệm này là “lòng hiếu tri nguyên thủy”, và lòng hiếu tri ấy sẽ thể hiện trong việc đi tìm chân lý: trong đại học, thầy và trò cùng chia sẻ một đam mê, một khát vọng, dù biết rằng đó là một công cuộc bất tận, thậm chí bất khả, không khác gì của nhân vật Sysiphus trong thần thoại Hy Lạp. Tác phẩm này, do đó, cần được đọc từ bối cảnh ra đời đầy bi tráng của nó! Theo Jaspers, công cuộc đi tìm chân lý ấy triển khai trong bốn lĩnh vực lớn: 1. trong nghiên cứu và giảng dạy; 2. trong giáo dục và đào luyện (Bildung); 3. trong sự truyền thông và giao lưu; và, sau cùng, 4. trong tính phổ quát [4].  Đi tìm chân lý bằng khoa học, cho nên nghiên cứu là nền tảng và là nhiệm vụ cốt lõi của đại học. Và vì sự hiếu tri luôn mong muốn thông báo đến người khác, nên việc giảng dạy là bộ phận thiết yếu gắn liền với nghiên cứu. Việc nghiên cứu khoa học – như là nỗ lực không mệt mỏi hướng đến chân lý – sẽ hình thành một mẫu người đặc biệt: mẫu người được đào luyện trong “tinh thần khoa học” hay trong “thái độ khoa học” theo cách nói của ông: “giáo dục đại học là năng lực dẹp bỏ những đánh giá riêng tư, tùy tiện, dành chỗ cho tri thức khách quan, dẹp bỏ ý muốn nhất thời, nhường chỗ cho sự phân tích vô tư những sự kiện”. Hướng đến tính “nhân văn” (Humanitas) trong sự thống nhất giữa nghiên cứu và giảng dạy, nền giáo dục đúng nghĩa chỉ có thể hình thành trong sự trao đổi ý kiến “của mọi người với mọi người”, trong sự giao tiếp và truyền thông giữa người dạy và người học, và luôn trong mối quan hệ với cái toàn bộ, tức với tính “phổ quát” (Universalität) của các ngành khoa học. Như thế, theo Jaspers, đại học là sự hợp nhất giữa: “cơ sở nghiên cứu và giảng dạy, thế giới đào luyện, đời sống truyền thông, vũ trụ của các ngành khoa học”. Không một lĩnh vực hay khía cạnh nào được tách rời với các lĩnh vực hay khía cạnh khác, nếu không muốn phá hủy tính toàn bộ của đại học.  Những ý tưởng cốt lõi của Jaspers     Ý niệm dẫn đạo ấy của Jaspers dẫn đến những hệ quả nào cho đại học, xét như một định chế? Ở đây, xin giới hạn vào ba điểm cốt yếu: 1. quan niệm của Jaspers về sự thống nhất mới mẻ của các ngành khoa học; 2. quan hệ giữa nhân cách và định chế (đại học), và 3. quan hệ giữa đại học và nhà nước.  1. Theo Jaspers, đại học là nơi “thực hiện năng lực hiếu tri trong phạm vi rộng lớn nhất của nó từ sự thống nhất các ngành khoa học như một toàn bộ, do đó, hệ thống phân chia các ngành khoa học cũng như “các phân khoa” phải có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Theo ông, chính sự phân hóa “phân khoa triết học” vào thế kỷ 19 thành một bên là phân khoa toán học-khoa học tự nhiên, và bên kia là phân khoa thuộc “khoa học tinh thần” (ngày nay gọi là khoa học nhân văn và xã hội”), thêm vào đó là sự độc lập của các ngành kinh tế học, đã phá vỡ tính thống nhất của đại học. Trước mắt mọi người, đại học thoái hóa thành một “cửa hàng bách hóa”, phục vụ tùy theo ý thích của mỗi khách hàng. Jaspers nhìn thấy lối thoát cho kịch bản suy đồi ấy không phải trong việc quay trở lại với quá khứ, trái lại, trong việc thực hiện một sự thống nhất mới mẻ của đại học, đó là việc tích hợp tri thức và năng lực nghiên cứu hiện đại (nhất là của lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ) trong sự mở rộng đại học như một tiến trình liên tục.  2. Định chế đại học, theo Jaspers, chỉ là “điều kiện” cho việc phát huy nhân cách của những con người sống và làm việc trong đó. Định chế “được đánh giá tùy theo việc nó có thể đào tạo nên những nhân cách tốt đẹp nhất hay không và liệu nó có khả năng đảm bảo những điều kiện tinh thần cho việc nghiên cứu, truyền thông và giảng dạy”. Với kinh nghiệm xương máu và đầy tủi nhục của thời kỳ quốc xã, Jaspers muốn nhấn mạnh đến nguy cơ sa đọa của đại học, đến yêu cầu khẩn thiết của việc phải nhanh chóng vượt bỏ “sự cuồng tín và mù quáng”, để khôi phục và thúc đẩy “tính nhân văn”, sự khoan dung và tinh thần “cộng đồng” trong lý tính.  3. Về mối quan hệ giữa đại học và nhà nước, Jaspers nhận ra một sự tương hỗ luôn căng bức và nghịch lý: đại học vừa thuộc nhà nước (staatlich), vừa đồng thời, độc lập và không mang tính nhà nước (staatsfrei). Nó thuộc nhà nước bởi phải phục tùng sự quản lý nhà nước và cần sự tài trợ mạnh mẽ, nhưng đồng thời không mang tính nhà nước bởi sự tự trị, tức tự-chịu trách nhiệm trong nghiên cứu, giảng dạy với đầy đủ các quyền hạn của “hội đoàn” trong việc tổ chức thi cử, cấp bằng và thu dụng nhân sự.  —–  [1] Những trích dẫn, trừ khi có chú thích khác, đều từ “Ý niệm Đại học” (nguyên bản tiếng Đức).  [2] Không thể kể xiết những truy bức, tổn thất và thoái hóa mà nền đại học Đức thời quốc xã Đức phải gánh chịu khi bị bắt buộc phải phục vụ chế độ cực quyền chuyên chế. Chỉ riêng về số lượng: mất hơn 3000 học giả – tức một phần ba nhân sự – vô số phải tị nạn ở nước ngoài, một cuộc di tản trí thức lớn nhất chưa từng có thời bấy giờ.  [3] Karl Jaspers, Die Schuldfrage / Câu hỏi về tội lỗi, Heidelberg 1946, tr. 64 và tiếp.  [4] Xem thêm: Hedwig Kopetz, Forschung und Lehre. Die Idee der Universität bei Humboldt, Jaspers, Schelsky und Mittelstraß / Nghiên cứu và giảng dạy. Ý niệm Đại học nơi Humboldt, Jaspers, Schelsky và Mittelstraß; Wien-Köln-Graz 2002, tr. 57 và tiếp.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ 2)      Theo Jasper, đại học có ba nhiệm vụ: nghiên cứu, giảng dạy, và quan trọng hơn cả, đào luyện đời sống tinh thần.     II.  Ta thử đi sâu hơn vào các luận điểm nói trên của Jaspers:  1. Bản chất của khoa học  Ý niệm đại học đặt cơ sở trên “bản chất của khoa học”. Vì, theo Jaspers, “nơi đâu có việc tìm tòi chân lý vô-điều kiện, ở đó có yêu sách của con người xét như là con người”. Chính từ việc đi tìm chân lý vô-điều kiện và vô-giới hạn này, Jaspers đề ra cương lĩnh của đại học: “Đại học là nơi hiện thực hóa lòng hiếu tri nguyên thủy. Nó không có mục đích nào khác hơn là trải nghiệm những gì ta có thể biết và những gì ta sẽ trở thành, thông qua tri thức.   Jaspers phân biệt giữa “khoa học theo nghĩa hẹp” (chỉ các ngành khoa học riêng lẻ như vật lý, hóa học v.v…) với “khoa học theo nghĩa đích thực hay theo nghĩa rộng”. Theo ông, khoa học theo nghĩa hẹp có các hạn chế sau đây:  – “tri thức khoa học về sự vật không phải là tri thức về Tồn tại”. Các khoa học riêng lẻ cô lập những quan hệ đặc thù khỏi mối quan hệ phổ biến. Ta không nhận thức được “bản thân Tồn tại” nơi những đối tượng nhất định, trái lại, chỉ nhận thức được mặt hiện tượng của chúng, vì những đối tượng của khoa học tự nhiên đều là những hiện tượng trong khuôn khổ không-thời gian. Chính cái biết mở rộng đến vô tận về những mối quan hệ tự nhiên sẽ tạo ra “cái biết chắc chắn nhất về cái không biết”. Do đó, theo Jaspers, sẽ là sai lầm cơ bản khi tin rằng tất cả đều được giải quyết trong các mối quan hệ “tự nhiên”, tức chỉ được tiếp cận bởi khoa học tự nhiên.  – “tri thức khoa học không thể mang lại cứu cánh nào cho đời sống. Nó không đề ra được những giá trị chung quyết”. Những cứu cánh, nhất là cứu cánh tối hậu như là sự Thiện tối cao, không thuộc về lĩnh vực khoa học, trái lại, cho thấy có nguồn gốc ngoại lý, siêu lý.  –  “khoa học không thể giải đáp cho câu hỏi về ý nghĩa của chính nó”, cũng như không thể phản tỉnh về cơ sở của chính mình.  Vì thế, việc biện minh cho khoa học, theo Jaspers, dễ rơi vào hai thái cực, thoạt nhìn như trái ngược nhau, nhưng cùng dẫn đến hệ quả cực đoan như nhau: công cụ hóa khoa học như một phương tiện đơn thuần hoặc tuyệt đối hóa khoa học như một cứu cánh tự thân. Với tầm nhìn xa, Jaspers dự báo khả năng hoạt động khoa học sẽ “trượt dài” vào sự vô tận của những khẳng định, vào sự phân tán và tự mãn của kiến thức chuyên môn, chồng chất những kết quả và không còn quan hệ gì với ý nghĩa của khoa học và đời sống. Nhà khoa học đòi hỏi sự tự do, nhưng, theo Jaspers, khi nội hàm của tự do (tức vương quốc của các cứu cánh và sự Thiện tối cao) bị phai mờ, nó sẽ bị chuyển hóa thành sự tùy tiện. Và vì kết quả khoa học có giá trị phổ quát, nó hiện diện như tài sản chung, tha hồ cho các thế lực chính trị và kinh tế khác nhau khai thác. Đó cũng là lý do tại sao quyền lực nhà nước đã “sẵn lòng” dành chút ít tự do cho việc nghiên cứu khoa học. Mô hình đại học Humboldt, theo Jaspers, vô hình trung đã mắc mưu: “khoa học là một cô gái giang hồ!”. Phương cách nào để nhà khoa học không còn “đánh đĩ” chính mình? Theo Jaspers, phương cách cứu chữa không gì khác hơn là xác định trở lại “lòng hiếu tri nguyên thủy”. Khi ta muốn biết một điều gì nhất định, ta đề ra một mục đích, và trong trường hợp ấy, lòng hiếu tri không còn đúng nghĩa là “nguyên thủy” nữa. Cũng không còn là “nguyên thủy” khi nỗ lực hiếu tri được xem như thành tố của lý tưởng giáo dục thuộc về một xã hội hay một giai đoạn lịch sử nhất định. Vậy, “nguyên thủy” ở đây, theo Jaspers, chỉ có thể là sự “tò mò”, là lòng khao khát sơ khai muốn nhận diện được cái xa lạ, cái chưa quen thuộc. Chỉ có sự tò mò không bao giờ thỏa mãn ấy mới khêu gợi một sự nhận thức sâu xa: sự nhận thức trong “tính nguyên thủy của nó”. Chính lòng hiếu tri mang kích thước “hiện sinh” ấy mới có thể làm cơ sở cho khoa học: “không một sự hiểu biết riêng lẻ nào thỏa mãn được tôi; tôi tiến lên phía trước không ngừng nghỉ. Tôi mong muốn mở rộng tri thức thành cái Toàn bộ”. Nhưng, để sự thôi thúc “vô-điều kiện” ấy không trở thành mù mờ, khoa học cần một sự “hướng đạo”. Sự hướng đạo ấy đến từ đâu? Với lòng hiếu tri nguyên thủy, sự hướng đạo đến với ta từ bên trong, nhưng lại thông qua “cái Một của Tồn tại”. Chỉ có “cái Một” này mới mang lại linh hồn cho khoa học. “Linh hồn” này là gì, theo Jaspers, là điều không thể nói rành mạch. Cái cá biệt, trong chừng mực là cái cá biệt, cần được nhận thức và tiếp tục tra hỏi. Nhưng, linh hồn không dừng lại hay tan biến đi trong cái cá biệt, đó chính là định nghĩa “tiêu cực” đầu tiên về linh hồn này: “từ nỗi bàng hoàng trước vẻ đẹp và sự hài hòa trong thế giới, khoa học đẩy tôi vào nỗi sợ hãi trước mọi sự tan vỡ, trước sự vô nghĩa và hủy diệt không thể giải thích được”. Trong nỗi sợ hãi ấy, con người có được “trải nghiệm hiện sinh”, tức trải nghiệm về “sự bất tri thực sự mà Cái Một như là sự Siêu việt luôn gián tiếp cho tôi thấy. Sự Siêu việt ấy sẽ là người hướng đạo âm thầm cho mọi sự hiếu tri của tôi”. Trải nghiệm này mang lại linh hồn và ý nghĩa cho lòng hiếu tri, nhưng “ý nghĩa này cũng không thể được xác định một cách thuần lý được”. Nói cách khác, “khoa học không phải là mảnh đất vững chắc cho tôi yên nghỉ, trái lại, là con đường tôi đi để xác tín về sự Siêu việt trong hình thức của sự bất an vốn gắn liền với sự hiếu tri (…) Sự hướng đạo từ cái Một của sự Siêu việt tuyệt nhiên không rõ ràng, rành mạch. Không ai có thể nắm bắt và sở hữu nó trọn vẹn. Trái lại, sự Siêu việt chỉ có thể được hiện thực hóa trong hình thái lịch sử liên tục vươn tới của nhận thức, như một thể nghiệm, một sự dấn mình mạo hiểm”. Nói theo ngôn ngữ triết học của Jaspers, hiện sinh (Existenz) đột phá sự hiện hữu (Dasein), và, khi sự đột phá này được ý thức, Jaspers gọi là sự “soi sáng hiện sinh”, tức cần đến năng lực của lý tính (Vernunft) để giữ khoảng cách phản tỉnh với hiện hữu, trong khi giác tính (Verstand) giúp ta giải quyết những đòi hỏi thực dụng trong đời sống. Giác tính luôn thỏa mãn khi giải quyết thành công những vấn đề của cuộc sống, trong khi lý tính là năng lực và động lực để tiếp tục tra hỏi. Tóm lại, chống lại tư duy “thực chứng” của thời đại và tư duy “vị lợi” trong khoa học, Jaspers muốn mang lại một kích thước mới: lòng hiếu tri nguyên thủy, vô điều kiện, có nền tảng sâu xa trong “hiện sinh” của con người.  2. Nhiệm vụ của đại học: “đào luyện đời sống tinh thần”  Trước hết, thử hỏi người sinh viên chờ đợi gì ở đại học? Sinh viên học một chuyên ngành, họ chờ đợi những kiến thức chuyên môn được truyền đạt một cách có hệ thống, được tốt nghiệp để vào đời một cách thuận lợi. Nhưng, theo Jaspers, sinh viên còn chờ đợi hơn thế: “Con đường đến với khoa học phải được mở ra cho họ; thế giới và con người ngày càng sáng tỏ với họ, và cái Toàn bộ phải được trình bày trong một trật tự vô tận như một vũ trụ. Lao động khoa học – theo đúng Ý niệm về nó – là mang tính tinh thần, nghĩa là, có quan hệ với toàn bộ cái khả tri”. Nói khác đi, đại học có ba nhiệm vụ: nghiên cứu, giảng dạy, và quan trọng hơn cả, đào luyện đời sống tinh thần. Sự thống nhất chặt chẽ giữa ba nhiệm vụ tạo nên Tinh thần sống động, mang lại linh hồn và sức sống cho mọi chuyên ngành.  Việc nghiên cứu là sự hợp nhất của ba yếu tố: nắm vững phương pháp, sản sinh ý tưởng và vun bồi lương tâm trí thức. Cả ba gắn liền với chủ thể nghiên cứu. Nếu để cho những yếu tố bên ngoài khoa học (như danh vọng, quyền lực, tiền tài…) chi phối, nhà khoa học sẽ không còn là chủ thể của tiến trình lao động khoa học nữa. Không còn nhịp đập của trí tuệ và con tim, đại học sẽ khô héo, hay, nói một cách hình tượng, “chỉ còn ngữ văn, không còn triết học; chỉ còn thực hành kỹ thuật, không còn lý thuyết, chỉ có dữ kiện vô tận, nhưng không còn Ý niệm nào”. Lao động khoa học cần tránh bị thoái hóa thành những kỹ năng vụn vặt, đó là lý do cần kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy: “Chỉ ai tự mình nghiên cứu thì mới giảng dạy một cách đích thực. Nếu không, chỉ là sắp xếp cái đã biết một cách giáo khoa mà thôi. Trong khi đó, đại học không phải là trường phổ thông mà là học viện cấp cao (…) Vì thế, đối với nghề nghiệp đặc biệt này, được đào tạo tốt nhất không phải là được học một tri thức đã hoàn tất, mà là được đào tạo và phát huy những quan năng của tư duy khoa học. Giữ vai trò quyết định ở đây không phải là sở hữu điều đã học, mà là năng lực phán đoán và năng lực tra hỏi. Năng lực này chỉ có được bằng cách tiếp xúc với công việc nghiên cứu sống động”.  Đối với người học, có Ý niệm về tính toàn bộ của chuyên ngành đặc thù của mình, rồi, nói chung, có Ý niệm về tính toàn bộ của con người hiếu tri là điều quyết định cho sự nghiệp về sau. Lý do thật dễ hiểu: làm thầy giáo, thầy thuốc hay quan tòa, ta đều phải làm việc với con người toàn bộ và với tổng thể những quan hệ của cuộc sống. “Việc đào tạo các chuyên ngành này sẽ là vô hồn và vô nhân đạo, nếu không hướng đến cái toàn bộ”. Vì thế, theo Jaspers, việc phá vỡ đại học thành những chuyên ngành cô lập với nhau là tiền đề – và cũng là hậu quả – của mưu đồ “thu gom” lao động khoa học để phục vụ cho những mục đích kinh tế-chính trị vụ lợi nhất thời.  Jaspers đặt cơ sở cho lập luận này từ quan niệm của Kant về phẩm giá. Theo ông, lao động khoa học và thành tựu khoa học có một phẩm giá. Phẩm giá là cái gì vượt lên mọi giá cả: “Trong vương quốc của những mục đích, tất cả đều có một giá cả hoặc một phẩm giá. Có giá cả, khi ta có thể thay thế nó bằng cái gì ngang giá, ngược lại, những gì vượt lên trên mọi giá cả, nghĩa là, không có vật ngang giá, cái ấy là phẩm giá”[5]. Theo Kant, chỉ có đạo đức và con người – trong chừng mực có năng lực đạo đức – “là duy nhất có được phẩm giá. Còn tài khéo và sự chăm chỉ trong lao động thì có một giá thị trường”[6]. Sự tự trị, do đó, là cơ sở cho phẩm giá của bản tính con người. Và đại học, theo tên gọi, là universitas, là cái Toàn bộ, là sự Thống nhất hay tính Toàn thể. Đại học bao giờ cũng là universitas generis humani, là nhân loại hiểu như một nhất thể. Tính người là thiêng liêng: chính nó mang lại phẩm giá cho từng mỗi cá nhân. Trong ý nghĩ đó, theo Jaspers, khái niệm “phẩm giá” của Kant hoàn toàn có thể áp dụng vào cho lao động khoa học, hiểu như việc thực hiện tính người ở cấp độ đậm đặc nhất.  Bên cạnh sự thống nhất giữa nghiên cứu và giảng dạy, Jaspers khẳng định nguyên tắc thứ hai của đại học là “sự kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy với tiến trình đào luyện con người”. “Giáo dục đại học là tiến trình đào luyện sự tự do đầy thực chất, mà cụ thể là bằng việc tham gia vào đời sống tinh thần đang diễn ra ở đó”. Sự đào luyện ở đại học, về bản chất, là tinh thần giáo dục Socrates. Hoạt động khoa học mang những con người ham hiểu biết lại với nhau, tạo nên một cộng đồng, một nền “cộng hòa của những học giả”, trong đó chỉ có luận cứ là được xem trọng, chứ không phải quyền lực hay quyền uy. “Ý nghĩa nguyên thủy của universitas như là cộng đồng của thầy và trò cũng quan trọng như ý nghĩa của sự thống nhất mọi ngành khoa học. Trong Ý niệm đại học có sự đòi hỏi về tính cởi mở toàn diện với nhiệm vụ liên kết không giới hạn, nhằm gián tiếp tiệm cận cái Một-Toàn bộ”. Điều này không gì khác hơn là sự truyền thông và giao tiếp rộng rãi giữa những nhà khoa học, nhất là giữa những nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau. “Ý niệm Đại học không chỉ cho phép mà còn đòi hỏi tiếp nhận những nhân vật bất đồng và mâu thuẫn với nhau vào trong lòng mình”.  —  [5] Immanuel Kant, Grundlegung zur Metaphysik der Sitten / Đặt cơ sở cho Siêu hình học về đức lý, Tác phẩm Kant, Ấn bản Hàn Lâm, Tập IV, Berlin 1968, tr. 434.|  [6] Sđd, tr. 435.    Đọc thêm:  Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ 1)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6559&CategoryID=6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ cuối)      Người đọc ngày nay đến với Ý niệm đại học –  sau ngót 70 năm, với bao nước chảy qua cầu – bằng nhiều cảm xúc pha  trộn. Nhiều ý tưởng thâm thúy, sôi nổi của Jaspers vẫn còn sức hấp dẫn  và thuyết phục của một cương lĩnh giáo dục nhân bản, đầy tính viễn kiến.  Nhưng, đối chiếu với thực tế phàm tục, không ít quan điểm của Jaspers  đã tỏ ra quá lạc quan, thậm chí,… viễn mơ và không tưởng.     Tiếc thay,  ngay ở những quan điểm cốt lõi!  –    Dự báo của Jaspers về sự mở rộng của đại học, nhất là đối với các ngành kỹ thuật, đã trở thành hiện thực, nhưng hy vọng của ông về một sự tích hợp các ngành khoa học dường như còn là điều xa vời. Ý niệm về sự thống nhất các ngành khoa học, trong thực tế, ngày càng trở nên khả nghi trong “hoàn cảnh hậu-hiện đại”[7], khi – như chính Jaspers đã tiên liệu – chỉ có sự cùng tồn tại bình đẳng và đồng đẳng của nhiều ngành khoa học cạnh tranh với nhau, từ “thiên văn học và quản trị xí nghiệp, đến triết học và quản lý khách sạn”! Thế giới hậu-công nghiệp còn mang theo mình ý thức tân-nhân bản hay chỉ đơn thuần duy kinh tế và duy kỹ thuật? “Tuyên ngôn các khoa học tinh thần” năm 2005 do hàng loạt giáo sư hàng đầu đề xướng, kêu gọi khôi phục định hướng liên ngành, kết hợp khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên vẫn chưa mang lại kết quả gì cụ thể[8].  –    Trong cấu trúc và cơ chế nội bộ của đại học hiện đại, lòng tin của Jaspers rằng: “Vì cùng nhau mưu cầu chân lý, nên những nhà nghiên cứu sẽ không quan hệ với nhau theo kiểu cạnh tranh sinh tồn” phải chăng chỉ là một giấc mơ đẹp, khi “publish or perish”, với sự chi phối mãnh liệt của chức vụ, lương bổng và nguồn tài trợ, trở thành một “luật chơi” ngày càng khắc nghiệt và không kém phần thô bạo? “Đại học không chỉ cho phép mà còn đòi hỏi tiếp nhận những nhân vật bất đồng và mâu thuẫn với nhau vào trong lòng mình” như khẳng định ở trên sẽ trả lời thế nào trước nạn bè phái, “cánh hẩu” tràn lan và khó chối cãi trong đời sống đại học ngày nay? Và, cái gì còn lại là “phẩm giá”, trong khi mọi cái (một bài báo, một quyển sách, một bằng sáng chế…) đều có một “giá cả”?  –    Sau cùng là về mối quan hệ luôn căng bức và tế nhị giữa khoa học và chính trị, giữa đại học và nhà nước. Từ kinh nghiệm xương máu dưới chế độ phát xít cực quyền, Jaspers kiên quyết đòi hỏi sự phi chính trị của đại học: “Chính trị cũng như tính quốc gia, dân tộc – phải là đối tượng của nghiên cứu, chứ không phải là mục tiêu và ý nghĩa của đời sống đại học”, nếu không muốn “phản bội Ý niệm đại học”. Trong đại học “việc gần gũi với thực tế là thông qua nhận thức, chứ không phải thông qua hành động”. Hannah Arendt, nữ triết gia, bạn thân của Jaspers, đồng thời là chiến sĩ chống phát xít và, cùng với Jaspers, là nhân chứng thời đại, lại có cách nhìn khác. Trong thư ngày 9.7.1946, Arendt phê bình thẳng thắn và chi ly “mấy điều thực tế”, trong tác phẩm này của Jaspers. Theo bà, “không có sự an toàn phi chính trị trước chính trị”, và cũng chính vì thế mà đại học “đã đánh mất phẩm giá của mình dưới chế độ cực quyền từ 1933”. Theo Arendt, đại học ngày nay thậm chí “phải là một nhân tố chính trị”, hiểu theo nghĩa là cứ điểm để bảo vệ tự do ngôn luận như là nền tảng của quyền tự do phát biểu chân lý khoa học và, qua đó, của quyền tự do giảng dạy (như sẽ được trịnh trọng ghi vào trong Điều 5 của Hiến Pháp CHLB Đức sau đó ít lâu). Jaspers tán đồng trong thư ngày 19.10.1946 cho Arendt: “Những nhận xét phê bình của bà đối với quyển Ý niệm đại học của tôi đều đúng cả”!  Đến với công trình tâm huyết này của Jaspers, ta chỉ có thể trân trọng “lòng tin triết học” của ông rằng: đại học hiểu như sự thống nhất của các ngành khoa học không chỉ là một Ý niệm được phát triển từ triết học, dựa trên một tiến trình lịch sử đã qua (các khoa học riêng lẻ ngày càng dị biệt hóa, và đều bắt nguồn từ Một khoa học nguyên thủy v.v…), mà còn là một Ý niệm sẽ điều hướng diễn trình trong tương lai: “Mọi khoa học đều thiết yếu gắn liền với nhau là một Ý niệm triết học. Chỉ từ Ý niệm ấy mới phát sinh sự thống nhất của các khoa học như là một sứ mệnh định hình nên cái toàn bộ của tri thức. Và đó cũng là chỗ bắt đầu sự tương tác của mọi khoa học hướng về một mục tiêu chung”.    —–  [7] J. F. Lyotard, Hoàn cảnh hậu-hiện đại, Một báo cáo về tri thức, Ngân Xuyên dịch, NXB Tri thức, 2007.  [8] “Manifest Geisteswissenschaften”, Tuyên ngôn của năm giáo sư ngày 25.11.2005: http://www.bbaw.de/ bbaw/Veranstaltungen/Veranstaltungsseite_ansehen.html?terminid=551  [9] Bùi Văn Nam Sơn, Platon và việc thực hiện ý tưởng, Trò chuyện triết học, NXB Tri thức 2012, tr. 36 và tiếp.  —    Đọc thêm:   Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ 2)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6571&CategoryID=6   Ý niệm đại học như một giá trị cốt lõi (Kỳ 1)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6559&CategoryID=6      Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 bí ẩn – mười “kỳ án” trong Thái dương hệ      Tìm giải những bí mật sâu kín của Thái dương hệ là mục tiêu theo đuổi không mệt mỏi bởi các nhà hành tinh học, các nhà vật lý học. Họ muốn đi ngược thời gian tìm lại dấu vết xưa của quá trình hình thành Thái dương hệ. Nhưng hiện nay những dấu vết xưa đó vẫn còn là những bí ẩn.    Sau đây là những thiên thể trong Thái dương hệ.  Mặt trời, chung quanh mặt trời là những hành tinh cùng với các vệ tinh của chúng:  1/ Mercure/Sao Thủy/  2/ Venus/Sao Kim/  3/  Quả đất với vệ tinh là mặt trăng  4/  Mars/Sao Hỏa/với các vệ tinh là. Phobos & Deimos  5/ Ceres, một tiểu hành tinh (asteroid) tìm thấy năm 1801  Các tiểu hành tinh  quay quanh mặt trời có quỹ đạo nằm giữa các quỹ đạo của Mars và Jupiter  6/ Jupiter/ Sao Mộc/với các vệ tinh là Io,  Europe  7 /  Saturne / Sao Thổ/với các vệ tinh  là  Titan,  Encelade  8 /  Uranus/Sao Uranus/  9 /  Neptune/ Sao Hải vương/  #   Vành Kuiper là một vùng trong Thái dương hệ trải rộng sau quỹ đạo của Neptune, các thành viên trong vành này được gọi là siêu-Neptune  10 / Pluton / Sao Diêm vương/với vệ tinh là Charon.  Theo quyết định gây tranh cãi của IAU(International Astronomical Union-Hội đồng Thiên văn quốc tế), Pluton không còn là hành tinh.  11 /   2003 UB313 (tức Xena hay còn gọi là Eris) phát hiện ngày 29 tháng 7 năm 2005.  12/  Các sao chổi  #   Mây Oort ( theo tên của nhà thiên văn Đức Jan Oort) là một đám mây hình cầu, cái nôi của nhiều sao chổi.  ——————————-  Xét từ quan điểm vũ trụ, Thái dương hệ chứa những điều bí mật như trong những vụ án ly kỳ, hiện trường còn đó song tình tiết vụ án chưa được làm rõ. Đã xảy ra những va chạm, những hủy diệt của các hành tinh không khác gì những cuộc chạm trán, hành xử trong các kỳ án.  Từ hiện trạng của Thái dương hệ các nhà khoa học hy vọng khôi phục lại quá trình hình thành của nó. Nguời ta nghiên cứu từ mặt trời, đến các hành tinh, các tiểu hành tinh, các vệ tinh, các sao chổi hòng mong lượm nhặt mọi thông tin cần thiết cho sự khôi phục đó. Một trong những công cụ cơ bản là các trạm thăm dò, đây là một ưu thế của các nhà hành tinh học (planetologue) so với các đồng nghiệp, các nhà vũ trụ học chuyên nghiên cứu các sao và vũ trụ vì những trạm thăm dò này có thể “sờ mó” được các đối tượng nghiên cứu khi chúng bay quanh hoặc đổ bộ xuống đối tượng. Một kỷ nguyên mới đã mở ra khi trạm Mariner của Mỹ ngày 14 tháng 7 năm 1965 gửi về mặt đất những hình ảnh đầu tiên của sao Hỏa. Trạm thăm dò Huygens đổ bộ lên vệ tinh Titan năm ngoái đã cho những thông tin bất ngờ: người ta tưởng tượng trên bề mặt Titan sẽ là những núi lửa cao ngất, những con sông dài song người ta chỉ tìm thấy một cảnh tượng gần giống trên sao Kim, dường như thiên nhiên có nhiều sức tưởng tượng hơn các nhà khoa học.  Sau đây là 10 điều bí ẩn của Thái dương hệ. .  ..  1. Bí ẩn số một: Liệu có sự sống trên sao Hỏa?  Trước đây sao Hỏa đã có những thời kỳ ấm và ẩm ướt, rất thuận tiện cho sự sống nảy sinh. Song năm 1976 trạm thăm dò Viking không tìm thấy dấu vết của các vi khuẩn sống. Các robot Opportunity & Spirit cũng không tìm thấy tín  hiệu nào của sự sống trong hiện tại và quá khứ trên sao Hỏa.  Song liệu có phải đào sâu dưới bề mặt mới hy vọng tìm được dư tích và các hóa thạch chứng minh sự sống? Rất có thể dưới độ sâu nhiều km tồn tại những mạch nước nuôi dưỡng nhờ những hoạt động địa nhiệt lại có sự sống trong đó? Nếu chưa có một đoàn thám hiểm lên đấy thì làm sao thực hiện được việc đi sâu vào lòng sao Hỏa để tìm sự sống?  2. Bí ẩn số hai: Còn những hành tinh nào nữa chưa được phát hiện trong Thái dương hệ?  Các nhà hành tinh học và vật lý học đang có hy vọng phát hiện những hành tinh (có thể có kích thước cỡ sao Diêm vương) nhờ những kính viễn vọng. Một vùng đặc biệt được quan tâm là vành Kuiper, đây là một vùng có khả năng chứa nhiều hành tinh giá lạnh (có cả sao Diêm vương) nằm sau sao Hải vương và xa mặt trời khoảng mười lần so với quả đất. Trong năm 2005 người ta đã phát hiện trong vành Kuiper thiên thể Xena (mã số là 2003UB313) với đường kính bằng 2400 km, 5% lớn hơn sao Diêm vương.  Có thể đây là hành tinh số 11 (song điều này chưa được sự đồng thuận của các nhà hành tinh học).  Người ta còn nói đến khả năng tồn tại nhiều hành tinh khác nữa với chu kỳ quay quanh mặt trời bằng nhiều ngàn năm và nếu hiện nay chúng còn ở xa mặt trời thì không thể quan sát chúng được!           Quỹ đạo của 2003UB313        3. Bí ẩn số ba: Liệu có dự báo được các cơn thịnh nộ của mặt trời?  Mặt trời là sao ở gần quả đất, nhưng nhiều bí mật của nó vẫn còn nằm trong bóng tối. Mặt trời lớn hơn quả đất khoảng 110 lần đang phát ra năng lượng nhờ tổng hợp nhiệt hạch.  Trên mặt trời có những điểm đen (người ta cho rằng tạo nên bởi từ trường của mặt trời), ở đó nhiệt độ thấp hơn chung quanh. Tại vùng những điểm đen đó xảy ra những vụ nổ, càng nhiều điểm đen thì càng nhiều vụ nổ. Vụ nổ được ghi nhận đầu tiên bởi Richard Carrington vào năm 1859. Mỗi điểm đen có kích thước khoảng 20.000 km. Số các điểm đen đó đạt cực đại trong chu kỳ 11 năm.  Các điểm này được hình thành trong chiều sâu của mặt trời, vì hiện tượng đối lưu mà chúng xuất hiện trên bề mặt dưới dạng những cung lửa mà mỗi điểm mút ứng với một điểm đen (tương tự như hai cực của một thanh nam  châm). Khi các cung từ trường này bị xoắn chằng chịt với nhau thì các cung bị đứt và vụ nổ xảy ra, mặt trời phát ra trong vũ trụ những dòng hạt, tia X và tia cực tím. Các vụ nổ đạt cực đại theo một chu kỳ cực đại của các điểm đen nghĩa là bằng 11 năm.Tại sao 11 năm? Chưa ai giải thích được.            Một vụ nổ, một cơn thịnh nộ của mặt trời        4. Bí ẩn số bốn: Tại sao Quả đất có một từ trường?  Nguời ta biết sử dụng la bàn đã từ 1000 năm nhờ sự tồn tại của từ trường. Từ trường đã đảo cực (chuyển Bắc thành Nam và ngược lại) 100 lần trong vòng 50 triệu năm nay. Người ta cho rằng nguyên nhân của từ trường là sự tồn tại những chuyển động cuộn xoáy  mạnh trong lòng đại dương của một chất lỏng kim loại nằm sâu trong lòng đất. Song hiện nay vẫn chưa ai hiểu được động học của máy phát đó, lại càng không hiểu vì sao lại có hiện tượng đảo cực.  5. Bí ẩn số năm: Có tồn tại nhiều hệ tương tự như Thái dương hệ?              Từ trường quả đất bảo vệ bề mặt quả đất đối với những hạt có điện tích từ gió mặt trời, phía hướng về mặt trời từ trường bị nén lại còn phía đêm từ trường kéo dài ra xa.          Trong vòng 10 năm người ta đã phát hiện ít nhất 190 hành tinh chuyển động xung quanh những sao như mặt trời. Nhiều số trong các hành tinh đó quả thực cấu thành những hệ, song có hệ nào tương tự như Thái dương hệ? Nghiên cứu những hệ này sẽ góp phần tìm hiểu sự hình thành của hệ Thái dương và đem lại hy vọng phát hiện sự sống trên một hành tinh tương tự quả đất.  6. Bí ẩn số sáu: Tại sao sao Kim đã trở thành một địa ngục?            Các đĩa gồm những mảnh vỡ xung quanh sao HD53143 và HD 139664 dường như tương tự với vành Kuiper của Thái dương hệ. Liệu trong các vành này có tồn tại một hành tinh như quả đất?        Sao Kim và quả đất có kích thước và khối lượng gần giống nhau. Song sự giống nhau dừng tại đó. Nhiệt độ trên sao Kim bằng 460 oC, thứ nhất vì sao Kim ở gần mặt trời hơn quả đất (108 triệu km so với 150 triệu km) song đó chưa phải là tất cả mà vì một yếu tố thứ hai  quan trọng hơn là hiệu ứng lồng kính. Lượng CO2 trên sao Kim đã đun nóng các đại dương và cuối cùng làm cho các đại dương biến mất và sao Kim không ngừng nóng lên. Có phải chăng đây là câu trả lời vì đâu sao Kim biến thành một địa ngục?  7. Bí ẩn số bảy: Những vành đai của các hành tinh đã hình thành như thế nào?  Đến năm 1977 thì người ta chỉ biết có sao Thổ là có các vành đai quay chung quanh. Song mười  năm sau thì người ta phát hiện các sao như Uranus, sao Mộc, sao Hải vương cũng có các vành đai bao quanh. Các vành đai này gồm hàng tỷ khối băng lẫn với đá có kích thước từ vài micromét đến nhiều km.Hiện nay người ta không thể hiểu được các vành đai này đã hình thành như thế nào và một điều kỳ lạ là chúng không tan biến vì sự bắn phá của các dòng các thiên thạch , lẽ ra chúng đã mất đi từ mười triệu năm trước! Còn nếu chúng  được hình thành muộn hơn cho nên tồn tại đến ngày nay thì một câu hỏi khác lại được đặt ra là cơ chế nào đã kìm hãm sự hình thành đó?  Người ta cho rằng các vành đai đó có thể là dư tích của nhiều hành tinh khác.              Sao Thổ cùng các vành đai.        8. Bí ẩn số tám: Các hành tinh đã xuất hiện như thế nào?  Hãy tưởng tượng một đám tinh vân gồm bụi và khí, như đã tồn tại nhiều tỷ năm về trước trong vũ trụ. Dưới tác động của trọng trường bản thân đám tinh vân co lại theo hình xoắn ốc làm thành một đĩa quanh mặt trời…  Các hạt bụi tích tụ lại dần tạo nên những vi hành tinh, mầm mống của những hành tinh hiện nay. Đây là một kịch bản đơn giản và rất đẹp … tiếc rằng kịch bản này không làm việc. Những thiên thể có kích thước cỡ 100 m sẽ mau chóng rơi vào mặt trời trong một thời gian ngắn hơn là thời gian để chúng tích tụ lại đề làm thành một hành tinh. Đành vĩnh biệt giả thuyết các vi hành tinh. Và nếu các hành tinh xuất hiện thì chúng phải rơi dần vào mặt trời. Sao Hỏa đáng lý đã di chuyển dần theo hình xoắn ốc vào mặt trời trong vòng 100.000 năm.  Điều bí ẩn ở đây là vì sao cuộc di chuyển đó không xảy ra trong Thái dương hệ, điều gì đã làm chậm thậm chí ngăn cản hiện tượng di chuyển đó. Người ta hy vọng nghiên cứu sâu vào các khoảng cách giữa hành tinh và sao, tỷ số khí/bụi , kích thước các hạch tâm của hành tinh để thu được một kịch bản chính xác cho lịch sử hình thành hệ Thái dương.  9. Bí ẩn số chín: Các đại dương ngầm của Europe tiềm chứa những bí mật gì?  Europe là vệ tinh của sao Mộc. Từ năm 1997 nhờ trạm thăm dò Galileo người ta đã biết rằng trên Europe có nước nằm dưới bề một mặt băng giá, và nếu có nước thì hy vọng có sự sống, cho nên tiếp theo sau sao Hỏa thì Europe có hy vọng là cái nôi của sự sống. Trạm thăm dò Galileo đã phát hiện những dị thường từ trường trên Europe, điều này chứng tỏ tồn tại thật sự một lớp nước dẫn điện dưới độ sâu vài chục km dưới bề mặt. Người ta cho rằng ứng viên cho lớp nước này là một lớp nước mặn với thành phần hóa học gần bằng thành phần của nước trong các đại dương trên quả đất. Trạm thăm dò Galileo cũng thu được hình ảnh rõ nét của những khối băng với kích thước nhiều km nổi trên mặt Europe. Cấu trúc này ứng với sự chuyển động của một vỏ băng cứng dày khoảng 1 đến 15 km trên mặt một lớp nước có bề dày 100 đến 200 km. Nhưng nếu có sự sống thì đây là một dạng sống đặc biệt nảy sinh trong một môi trường chịu áp suất lớn của một vỏ băng dày.  Trên quả đất người ta cũng đã quan sát được những sinh vật sống trong những điều kiện cực khuynh như vậy. Ngoài ra người ta cho rằng trên Europe nguồn năng lượng cho sự sống có thể cung cấp bởi những hoạt động thủy nhiệt giống như trên quả đất.  10. Bí ẩn số mười: Các sao chổi đã hình thành như thế nào?  Một vùng nằm xa nhiều nghìn lần so với vành Kuiper là vùng đám mây Oort có thể là cái nôi của các sao chổi, trong vùng này người ta hy vọng sẽ phát hiện được hàng nghìn sao tựa sao Diêm vương. Tiếc rằng mây Oort quá xa để có thể quan sát được dễ dàng.              Sao Thổ cùng các vành đai.        Người ta xem các sao chổi như là những tư liệu cho lịch sử của Thái dương hệ. Các sao chổi được hình thành xa hơn sao Diêm vương và chứa đựng những chất liệu nguyên thủy của hệ Thái dương chúng ta, những chất liệu của 4,5 tỷ năm về trước. Song vài tháng trước đây, trạm thăm dò Stardust đã đem về quả đất những hạt bụi lấy từ đuôi sao chổi Wild2 và gây một bất ngờ lớn: những hạt bụi này sau phân tích là những tinh thể pyroxène và olivine, vốn là hai chất liệu chỉ hình thành ở nhiệt độ rất cao. Như vậy một phần vật chất của sao chổi phải được tạo ra rất gần mặt trời trước khi bị bắn xa đến sao chổi. Sự hiểu biết về sao chổi do đó càng ngày càng trở nên phức tạp. Sao chổi là những thiên thể có độ bất đồng nhất rất lớn. Trạm thăm dò Rosetta sẽ đổ bộ năm 2014 lên sao chổi Churyumov-Gerasimenko nhằm tìm hiểu thêm cấu trúc bên trong của sao chổi.  Sao chổi có quỹ đạo hình ellip rất dẹt , sao chổi trên hình vẽ này có hai đuôi: một đuôi khí và một đuôi bụi vũ trụ.  CC biên dịch  Tài liệu tham khảo  [1] Science & vie, tháng 7 năm 2006  [2]MichaelA.Seeds , Horizons, Wadsworth Publishing Company  Valerie Greffoz – Julien Bourdet – Boris Bellanger    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 câu chuyện khoa học nổi bật của thế giới      Có lẽ năm 2014 sẽ được ghi nhớ nhất bởi các  thành tựu khoa học của năm nay nhanh chóng diễn biến thành nỗi thất  vọng, thậm chí bi kịch: các đột phá về nghiên cứu tế bào gốc và nghiên  cứu vũ trụ đã nhanh chóng bị nghi ngờ; tàu vũ trụ thương mại gặp trục  trặc lớn. Thế nhưng việc cho thiết bị thăm dò đổ bộ xuống sao chổi, công  tác nghiên cứu truy tìm nguồn gốc loài người và các cố gắng tìm hiểu bộ  não vẫn là những lý do đáng để chúng ta vui mừng.    1. Triển khai chạy đua vào vũ trụ   Năm nay, việc nghiên cứu vũ trụ của các nước châu Á có bước nhảy vọt. Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ ISRO đưa được tàu thăm dò lên quỹ đạo sao Hỏa, do đó Ấn Độ trở thành nước đầu tiên thành công ngay trong lần đầu thăm dò sao Hỏa. Nhật phóng tàu thăm dò Hayabusa-2; đây là chuyến bay thứ hai của Nhật thực thi dùng robot lấy mẫu đất đá từ một tiểu hành tinh đem về. Cho dù xe robot “Thỏ Ngọc” (Yutu) của Trung Quốc đổ bộ lên Mặt trăng đã ngừng thu thập dữ liệu về bề mặt Mặt trăng, nhưng các nhà khoa học ở Trung tâm chỉ huy chuyến bay đã khởi động dự án thăm dò Mặt trăng tiếp theo bằng cách phóng một thiết bị thăm dò lên quỹ đạo Mặt trăng rồi trở về Trái đất.  Nhưng năm nay không phải là năm tốt lành đối với các chuyến bay vũ trụ có tính thương mại. Tàu SpaceShipTwo dùng cho du lịch vũ trụ của Công ty Virgin Galactic đã phát nổ trong một chuyến bay thử nghiệm tại California, làm chết một trong số các phi công. Ba ngày trước khi xảy ra sự cố đó, bệ phóng tên lửa ở Virginia bị nổ phá hỏng một tên lửa tư nhân không chở người; đây là tên lửa dự định dùng để chở đồ tiếp tế lên Trạm ISS. Tai nạn này phá hỏng nhiều nghiên cứu thí nghiệm liên quan tới ISS trong khi các nhà quản lý ISS đang cố tăng thành quả nghiên cứu khoa học của họ. Các vấn đề trên trạm ISS cũng làm trì hoãn việc bố trí một loạt vệ tinh quan sát Trái đất có biệt danh Dove (Chim bồ câu); đây là một phần của dự án sử dụng các vệ tinh nhỏ xíu “CubeSats” (Vệ tinh hình hộp) để thu thập dữ liệu vũ trụ.    Trên một quy mô lớn hơn, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã phóng thành công vệ tinh quan sát Trái đất đầu tiên trong series vệ tinh “Lính gác Trái đất” (Sentinel Earth-observing) được mong đợi từ lâu.    2. Sao Hỏa gọi điện về   Sau chuyến bay kéo dài 10 năm, tháng Tám năm nay tàu vũ trụ Rosetta của ESA đến được sao chổi 67P/Churyumov–Gerasimenko và đi vào quỹ đạo của sao chổi này. Ba tháng sau, Rosetta thả thiết bị thăm dò Philae xuống bề mặt sao chổi 67P – đây là sự kiện hạ cánh lần đầu chưa bao giờ có lên một sao chổi. Philae đã cố gắng chuyển về Trái đất các dữ liệu khoa học trong 64 tiếng đồng hồ trước khi nguồn điện của nó cạn kiệt, vì nó hạ cánh xuống một địa điểm đất đá gập ghềnh trong bóng râm. Đồng thời cả một hạm đội tàu thăm dò sao Hỏa – các tàu thăm dò của Ấn Độ, Mỹ và châu Âu, đã bay sát qua sao chổi Siding Spring trong một tình huống ngoài dự kiến. Tháng Mười, sao chổi này bay lướt qua sao Hỏa ở cự ly 139.500 km – tức khoảng 1/3 cự ly Trái đất – Mặt trăng. Các thiết bị của NASA hạ cánh xuống sao Hỏa vẫn tiếp tục từ từ bò đi trên bề mặt thiên thể này: cuối cùng, xe-robot Curiosity bò đến mỏm núi mà nó từng nhắm tới sau khi hạ cánh năm 2012. Còn xe-robot Opportunity thì đã đi được 40 km trên sao Hỏa, phá kỷ lục đi trên thiên thể ngoài Trái đất của xe Mặt trăng Lunar-2 của Liên Xô.   Việc nghiên cứu các hành tinh bên ngoài Hệ Mặt trời cũng có bước tiến lớn. Tháng Hai năm nay, nhóm nghiên cứu kính viễn vọng Kepler (kính này hiện đã hết hạn sử dụng) tuyên bố đã tìm thấy dấu vết tồn tại của 715 hành tinh bên ngoài Hệ Mặt trời. Đây là con số xác nhận một lần lớn nhất chưa từng có trong lịch sử. Nhóm này còn phát hiện ra hành tinh đầu tiên có kích cỡ như Trái đất ở bên ngoài Hệ Mặt trời và nằm trong vùng định tinh thích hợp tồn tại của nó. Đây là một bước tiến gần tới người “Anh em sinh đôi của Trái đất” mà các nhà khoa học tìm kiếm lâu nay.     3. Giải mã nguồn gốc loài người    Nếu xét tới việc người Neanderthal đã chết gần 30.000 năm qua, thì năm nay họ trải qua một năm không bình thường. Do sự tạp giao xảy ra trong thời kỳ thượng cổ nên DNA của họ được bảo tồn trong gene của người không phải là người châu Phi. Năm nay, hai nhóm nhà khoa học đã tiến hành phân loại di tích của người Neanderthal. Sau khi phân tích gene của hai người Homosapiens cổ xưa nhất – những người từng sống ở miền Tây Nam Siberia 45.000 năm trước và ở miền Tây nước Nga hơn 36.000 năm trước, nhóm nghiên cứu đã hiểu biết thêm về mối quan hệ tính dục giữa người Homoneanderthalensis với loài người thượng cổ. DNA đã cho thấy sự tồn tại các nhóm người cho đến hiện nay còn chưa biết và cho thấy thời điểm chính xác hơn của sự kết hợp lẫn nhau giữa người Homosapiens với người Neanderthal – việc này có thể xảy ra tại vùng Trung Đông vào khoảng 50.000 đến 60.000 năm trước. Đồng thời kết quả dùng đồng vị carbon xác định niên đại của mấy chục di tích khảo cổ ở châu Âu cho thấy, thời gian loài người và người Neanderthal cùng tồn tại ở đây sớm hơn rất nhiều so với nhận định trước kia – tại một số nơi sớm chừng mấy chục nghìn năm.    Bộ gene mới và cũ đã thể hiện niên đại xuất hiện nền văn minh nông nghiệp. Ngoài các tổ tiên cổ xưa hơn, DNA mang trong người châu Âu hiện đại còn thừa kế đặc điểm của những nông dân có nước da sáng, mắt nâu di cư từ vùng Trung Đông tới từ 7.000- 8.000 năm trước. Qua việc xác định trình tự bộ gene, các nhà khoa học cũng hiểu rõ hơn về những nông sản được nông dân thời đó thuần hóa như lúa mì và lúa mạch. Tháng Bảy năm nay, một nhóm nghiên cứu liên hợp đã báo cáo dự thảo bản đồ bộ gene lúa mì chứa 124.000 gene và 17 tỷ nucleotide. Một nhóm nhà khoa học khác đã công bố bộ gene của 3.000 loại lúa nước. Các nhóm gene trong tương lai có thể sớm đem lại những thông tin bổ sung. Trên cơ sở bốn loại nucleotide tồn tại trong tất cả các hình thức sự sống, các nhà khoa học ở California đã đưa hai loại nucleotide hóa chất vào trong gene của khuẩn Escherichia coli. Bước tiếp theo là sẽ sử dụng bộ trình tự gene mở rộng để chế tạo các loại protein mới. Năm nay, nhiễm sắc thể đầu tiên của nấm men đã được tạo ra trong một dự án tổng hợp gene nấm men hoàn chỉnh.   4. Ebola rung chuông báo động    Nạn dịch Ebola tàn phá miền Tây châu Phi năm nay là nạn dịch lớn nhất kể từ khi virus Ebola được phát hiện vào năm 1976. Nạn dịch này thể hiện những thiếu sót lớn về khả năng đối phó với các bệnh truyền nhiễm mới bùng phát của toàn thế giới. Đến giữa tháng Mười đã có chừng 6.800 người chết tại Guinea, Liberia và Sierra Leone. Ca bệnh đầu tiên của nạn dịch này được cho là một em bé hai tuổi tại Guinea, đã chết đầu tháng 12/2013. Việc phân tích gene virus cho thấy loại virus này truyền nhiễm từ động vật sang con người.    Trước đó, giới truyền thông tập trung chú ý vào các loại thuốc thử dùng, kể cả kháng thể cocktail ZMapp, nhưng các chuyên gia bệnh truyền nhiễm nhấn mạnh cần phải tăng cường công tác điều trị và sử dụng các biện pháp dịch tễ cơ bản như truy tìm những người từng tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm Ebola.    Thực tế cho thấy nỗi lo sợ nạn dịch sẽ lan sang các nước khác là không có cơ sở. Một số ít ca nhiễm bệnh xảy ra ở Mali, Nigeria, Senegal, Tây Ban Nha và Mỹ đã nhanh chóng được cô lập cách ly, tình trạng nạn dịch tiếp tục lan rộng đã được kiềm chế. Tháng 11 đem lại những tin tức phấn khởi: việc thử vaccine Ebola với nhóm những tình nguyện viên khỏe mạnh đầu tiên cho kết quả an toàn; vùng Tây châu Phi đầu năm 2015 sẽ bắt đầu triển khai thử nghiệm hiệu quả của loại vaccine này và các loại vaccine khác. Các loại thuốc cũng như các cách điều trị liên quan đến máu hoặc huyết thanh lấy từ những bệnh nhân Ebola sống sót cũng đang được thử nghiệm. Nhưng những câu hỏi lớn về đặc tính sinh học của loại virus này vẫn còn chờ giải đáp.    5. Sự tai hại của bụi vũ trụ    Trong tháng Ba năm nay, dự án kính thiên văn BICEP2 đã tỏ rõ sức mạnh nghiên cứu của nó khi các nhà thiên văn báo cáo về chứng cớ tồn tại sóng hấp dẫn đến từ vụ nổ Big Bang – xem ra điều đó có thể xác nhận sự giãn nở của vũ trụ, tức vũ trụ ban đầu đã nở ra theo cấp lũy thừa. Nhưng sau đó người ta nhanh chóng thấy tín hiệu mà kính thiên văn vô tuyến BICEP2 đặt ở Nam cực phát hiện được có thể là tín hiệu đã bị bụi vũ trụ bẻ cong – lý thuyết này nhận được sự ủng hộ từ kết quả quan trắc của vệ tinh Planck (thuộc ESA) công bố hồi tháng Chín.   Nhóm nghiên cứu BICEP2 và Planck đang có kế hoạch công bố sớm kết quả phân tích chung của hai nhóm nhằm đưa ra lời giải đáp cuối cùng đối với mối nghi hoặc về sóng hấp dẫn. Trung Quốc đề ra kế hoạch dùng máy gia tốc siêu lớn thực hiện sự va chạm electron-positron để nghiên cứu hạt Higgs và đang xem xét một mục tiêu hùng vĩ hơn: siêu máy gia tốc hạt proton-proton thế hệ mới. Graphene thể hiện một nhược điểm mới, các nhà khoa học phát hiện thấy vật liệu mỏng nhất và cứng nhất này có thể bị các proton xuyên qua. Nhưng điều đó lại gợi ý về các ứng dụng mới của pin nhiên liệu hydrogen hoặc một màng mỏng thu nhận hydrogen từ không khí.     6. HIV hết hy vọng   Năm 2014 đầy những tin tức không tốt lành đối với các nhà nghiên cứu HIV. Năm 2013, các thầy thuốc nói rằng “em bé Mississippi” (Mississippi baby) – một trẻ sơ sinh nhiễm HIV ngay từ khi lọt lòng – đã được chữa khỏi bệnh nhờ sớm điều trị tích cực bằng các thuốc kháng virus. Nhưng tháng 7/2014, các nhà nghiên cứu tuyên bố khi xét nghiệm máu của em bé, giờ đã lên bốn, vẫn thấy có virus HIV. Ca Mississippi baby tương tự trường hợp của hai bệnh nhân được điều trị tại Boston, bang Massachusetts – trong vài năm sau khi cấy tủy sống, họ đã không còn virus; nhưng đến tháng 12/2013 có tin nói virus HIV lại xuất hiện ở hai người này.    Tháng Bảy năm 2014, hội thảo quốc tế về AIDS tại Melbourne (Australia) rúng động bởi cái chết của sáu đại biểu dự hội thảo, trong đó có chuyên gia virus học nổi tiếng Joep Lange của Đại học Amsterdam. Chiếc máy bay MH17 của hãng Hàng không Malaysia chở họ đi dự hội thảo đã bị bắn rơi trên vùng trời Ukraine.    Tuy vậy, lĩnh vực nghiên cứu HIV vẫn thu được một số kết quả phấn khởi, như sự ra đời liệu pháp biên tập DNA làm cho tế bào miễn dịch có khả năng chống virus HIV; việc phát hiện hai người Australia nhiễm HIV sau khi được điều trị bằng liệu pháp tế bào gốc chữa ung thư cho tới nay vẫn chưa thấy cơ thể họ có virus HIV.     7. Bộ não được lợi   Sự phát triển chưa từng thấy của công nghệ nano và công nghệ máy tính đã thúc đẩy các dự án nghiên cứu đầy tham vọng tìm hiểu bộ não. Trong năm nay, rất nhiều công việc như vậy đã có chuyển biến lớn, cho dù không phải tất cả các chuyển biến đó đều tích cực. Tháng Bảy, “Dự án Não người” (Human Brain Project) của Liên minh châu Âu EU sử dụng siêu máy tính mô phỏng bộ não đã gặp rắc rối. Trong một bức thư kháng nghị gửi cho Ủy ban EU, hơn 150 nhà khoa học chủ chốt liên danh buộc tội “Dự án Não người” tiêu tốn cả tỷ Euro, và đã trở nên chuyên quyền, độc đoán và rời xa mục tiêu khoa học. Họ đe dọa sẽ ngừng hợp tác với dự án trừ phi triệt để thẩm tra việc quản lý dự án. Các bên liên quan hiện đang hòa giải với nhau và hy vọng đầu năm 2015 có thể công bố kế hoạch sửa đổi. Trong khi đó, dự án não nước Mỹ (US BRAIN – Brain Research through Advancing Innovative Neurotechnologies) lại được thực thi một cách bình yên hơn; năm nay dự án này nhận được khoản tài trợ đầu tiên.   Tháng Mười, Nhật Bản tham gia trào lưu nghiên cứu não toàn cầu, tuyên bố dự án có tên Brain/MINDS (Brain Mapping by Integrated Neurotechnologies for Disease Studies) đầy tham vọng, sẽ kéo dài trong mười năm. Dự án này sẽ lập bản đồ não của giống khỉ Marmoset, dùng để hỗ trợ cho việc nghiên cứu các loại bệnh thần kinh và bệnh tâm thần của loài người.    8. Vì sao Trái đất chậm nóng lên    Trong mấy tháng vừa rồi, các nhà khí hậu học trải qua một cuộc tập dượt chờ đợi sự xuất hiện hiện tượng El Nino đáng thất vọng vì sự kiện nóng lên mạnh tại Đông Thái Bình Dương từng được dự báo cuối cùng đã không xuất hiện. Dù sao năm 2014 vẫn là năm nóng nhất kể từ khi có ghi chép tình hình thời tiết, cách nay chừng 140 năm. Năm nay nóng hơn kỷ lục nóng của các năm 1998, 2005 và 2010.    Các nhà khoa học vẫn đang tranh cãi về nguyên nhân gây ra tình trạng nóng lên tương đối chậm trong 15 năm qua. Một nghiên cứu công bố vào năm nay quy kết nguyên nhân đó là do sự thay đổi có tính giai đoạn trong hoàn lưu biển đã mang nhiệt lượng đến các tầng sâu của Đại Tây Dương và các biển ở Nam bán cầu. Một phân tích khác biện luận rằng tình trạng nóng lên toàn cầu tương đối chậm là do nhiệt độ của Đại Tây Dương tăng lên và sau đó hiện tượng này lại làm cho Thái Bình Dương lạnh đi.    Về mặt chính sách, tháng 11 vừa qua, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã hoàn tất bản báo cáo đánh giá thứ năm, cảnh báo nếu cứ tiếp tục thải khí nhà kính thì sẽ dẫn đến “những ảnh hưởng nghiêm trọng, phổ biến và không thể đảo ngược đối với loài người và hệ sinh thái”.    Trung Quốc và Mỹ đều cam kết sẽ giảm lượng khí thải nhà kính, điều đó làm tăng hy vọng về việc các nước phát triển và đang phát triển sẽ đạt được mục tiêu của họ về một công ước khí hậu quốc tế mới tại các cuộc đàm phán ở Paris vào năm 2015. 9) Bi kịch tế bào gốc   Năm 2014 mở đầu với một bùng nổ về tế bào gốc. Tháng Một, các nhà nghiên cứu ở Trung tâm phát triển sinh học (CDB) thuộc Viện Nghiên cứu Lý – Hóa Nhật Bản (RIKEN) công bố một khám phá làm mọi người ngạc nhiên: họ đã tìm được phương pháp nhanh chóng và dễ dàng chế tạo các tế bào gốc đa năng bằng cách ngâm các tế bào trưởng thành vào một dung dịch có tính a-xit hoặc cho chúng chịu một áp lực vật lý. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Nature nhưng sau đó bị phát hiện là có những số liệu và hình ảnh ngụy tạo, hơn nữa các thí nghiệm lặp lại đều thất bại. Bài báo nói trên đã bị rút khỏi tạp chí vào tháng Bảy. Sau đó, một trong các đồng tác giả bài báo, người của CDB – Yoshiki Sasai, nhà tiên phong về y học tái sinh – đã tự sát vào tháng Tám.    Tháng Chín, Trung tâm CDB đang bị săm soi rốt cuộc đã có một số tin tốt lành: bác sĩ nhãn khoa Masayo Takahashi của CDB đã tiến hành thí nghiệm lâm sàng đầu tiên về tế bào gốc đa năng có tính dẫn dắt [induced pluripotent stem cells]. Ngoài ra, thí nghiệm lâm sàng đầu tiên trên thế giới dùng tế bào gốc phôi thai để điều trị tổn thương ở xương sống cũng đem lại hy vọng mới; thí nghiệm này được tái khởi động sau khi đột nhiên dừng lại vào năm 2011. Trong một tiến triển khác, Douglas Melton của Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts tìm ra phương pháp chế tạo tế bào β sinh ra chất insulin (insulin-creating β-cells). Khám phá này có thể giúp ích cho việc nghiên cứu liệu pháp mới điều trị bệnh tiểu đường loại 1, nếu các nhà nghiên cứu có khả năng ngăn cản hệ miễn dịch tấn công các tế bào đó. Luật “Quyền thử nghiệm (‘right-to-try’ laws) ra đời ở một số tiểu bang nước Mỹ cho phép sử dụng liệu pháp tế bào gốc chưa được thẩm định; còn tại Nhật Bản, những hướng dẫn mới về lâm sàng cho phép áp dụng các liệu pháp tế bào gốc chưa qua thử nghiệm xác nhận hiệu quả nghiêm ngặt vào lâm sàng – đang gây ra những quan ngại về vấn đề đạo đức sinh học.     10. Những phát hiện đáng sợ    Ngày 1/7 năm nay, các nhà nghiên cứu đã phát hiện trong nhà kho ở khuôn viên Viện Y tế quốc gia Mỹ (US National Institutes of Health, NIH) ở Bethesda, Maryland có chứa sáu lọ virus đậu mùa tồn trữ từ cách đây 60 năm. Phát hiện này đã đánh động về những lỗ hổng an toàn sinh học tại các phòng thí nghiệm của chính quyền Mỹ, bao gồm cả việc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) phát giác các nhân viên nghiên cứu của mình từng quản lý sơ hở đối với bào tử bệnh than và không thận trọng trong chuyên chở virus cúm H5N1 nguy hiểm tới một phòng thí nghiệm khác. Tháng Tám, trong đợt “rà soát an toàn”, NIH đã phát hiện một chiếc hộp 100 năm tuổi bên trong chứa các tác nhân gây bệnh và chất độc ricin.    Những vụ việc nói trên dẫn đến sự tái diễn cuộc tranh luận về vấn đề liệu lợi ích của việc nghiên cứu một số tác nhân gây bệnh có lớn hơn những mối nguy tiềm ẩn từ việc nghiên cứu đó hay không. Trung tuần tháng Mười, Nhà Trắng đã làm rúng động hàng ngũ các nhà khoa học khi tuyên bố sẽ không tài trợ những nghiên cứu làm cho các mầm bệnh – như virus cúm – trở nên nguy hiểm hơn hoặc dễ lây truyền hơn. Nhà Trắng còn yêu cầu các nhà nghiên cứu tạm đình chỉ những nghiên cứu tương tự đang được tiến hành. Trên cơ sở bản tuyên bố đó, NIH yêu cầu dừng khoảng 20 dự án nghiên cứu do viện này tài trợ, trong khi hai nhóm cố vấn sẽ tiến hành đánh giá các rủi ro và ích lợi của những nghiên cứu như vậy trong suốt năm tới.   Nguyễn Hải Hoành lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 công nghệ thân thiện với môi trường của tương lai      Theo các chuyên gia, chính sách lãng phí năng lượng, lạm dụng tài nguyên, khan hiếm nguồn nước, thay đổi khí hậu toàn cầu và nạn phá rừng là một số vấn đề cần giải quyết để con người có thể có cuộc sống bền vững trên hành tinh này. Dự tính đến năm 2025, sẽ có thêm 2,9 tỉ người góp phần làm cạn kiệt nguồn nước, và vào năm 2030 nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ tăng lên 60%. Dưới đây là 10 sản phẩm công nghệ thân thiện với môi trường do trang web LiveScience.com bình chọn. Trong đó, một số cũ, một số mới, một số khác thường, nhưng đều có thể giúp tương lai chúng ta tươi sáng hơn.    Giấy báo tái sử dụng  Thử tưởng tượng, hôm trước bạn vừa nằm cuộn tròn trên giường đọc tờ báo buổi sáng và ngay hôm sau bạn lại dùng chính tờ giấy đó để đọc cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn mà bạn yêu thích. Đó là một khả năng của giấy điện tử – là một màn hình linh hoạt trông giống như giấy thật, nhưng có thể tái sử dụng nhiều lần. Màn hình này bao gồm nhiều hạt capsule siêu nhỏ chứa các phần tử mang điện được bao bởi một phôi kim loại. Mỗi  capsule siêu nhỏ có các hạt trắng và đen mang điện dương hoặc âm. Tùy thuộc xem điện âm hay dương, mà hạt đen hoặc trắng hiển thị trên bề mặt màn hình những mẫu khác nhau. Chỉ tính riêng ở Hoa Kỳ, hơn 55 triệu tờ báo như vậy có thể được bán mỗi ngày.  Chôn lấp các chất gây ô nhiễm  Khí cacbonic là yếu tố chính gây nên hiệu ứng nhà kính và làm trái đất ngày càng nóng lên. Theo Ban Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, đến năm 2030, chúng ta sẽ thải gần 8.000 tấn CO2. Còn theo một số chuyên gia, chúng ta không thể hạn chế lượng khí thải CO2 phát tán vào khí quyển và mà phải tìm cách loại bỏ nó. Người ta đã đề xuất phương án chôn các khí trên xuống đất trước khi chúng kịp bay vào khí quyển. Sau khi tách riêng CO2 ra khỏi những khí thải khác, có thể chôn nó trong những giếng dầu cạn, mỏ muối và trong các vách đá trong lòng đất. Điều này nghe có vẻ thú vị, nhưng các nhà khoa học không chắc chắn liệu các khí có chịu nằm yên dưới lòng đất hay không và hiệu quả lâu dài sẽ như thế nào. Thêm vào đó, chi phí tách và chôn lấp vẫn còn quá cao.  Làm sạch bằng cây cối và vi khuẩn  Phương pháp “Bioremediation” có thể dùng vi khuẩn và cây cối để dọn sạch ô nhiễm. Ví dụ loại bỏ nitrat trong nước bằng vi khuẩn và dùng cây để hút thạch tín trong đất thông qua quá trình có tên là “phytoremediation”. Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đã thí điểm dùng quy trình trên để làm sạch ở một số nơi.   Thường thì các loài cây bản địa có thể dùng để làm sạch nhiều nơi và trồng chúng rất có lợi vì hầu như chúng không cần phun thuốc trừ sâu hay tưới nước. Ở một số loài khác, các nhà khoa học cố gắng thay đổi di truyền học để chúng có thể dùng rễ hút các chất gây ô nhiễm và dùng những chất này để nuôi dưỡng sự phát triển của cây.  Trồng cây trên mái nhà  Ý tưởng trên không phải là mới, ví dụ như trường hợp của vườn treo Babylon, một trong bảy Kì quan thế giới cổ đại chẳng hạn. Theo truyền thuyết, mái nhà, ban công và thềm cung điện hoàng gia Babylon được biến thành các khu vườn theo lệnh của nhà vua nhằm chiều lòng hoàng hậu.  Vườn trên mái nhà giúp hấp thụ hơi nóng, hút nước mưa, giảm việc sử dụng điều hòa vào mùa hè và giảm ảnh hưởng của cacbon điôxít bằng cách hút khí cacbonic và nhả ra ôxy. Công nghệ này có thể làm giảm ảnh hưởng “đảo nhiệt” thường xảy ra ở trung tâm dân cư. Thêm đó, bướm và chim chóc cũng có thể trở thành cư dân thường xuyên trên khu vườn, có thể làm cuộc sống của chúng ta gần gũi với thiên nhiên hơn. Đây là loại mái nhà xanh đang được dùng thử nghiệm ở bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.  Khai thác năng lượng từ biển  Đại dương chiếm hơn 70% bề mặt Trái đất. Trong đó sóng biển mang trong mình nó  năng lượng dồi dào có thể làm các tua-bin hoạt động và biến năng lượng cơ học trên thành điện. Trở ngại khi dùng là việc khai thác nó vì đôi khi các con sóng quá nhỏ để sản xuất đủ năng lượng cần thiết. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có cách tích lũy khi năng lượng cơ học được sinh ra đủ.  Ở New York, người ta đang thử nghiệm phương pháp đó tại con sông phía đông thành phố với 6 tua-bin chạy bằng năng lượng thủy triều. Còn người Bồ Đào Nha lại đang theo đuổi một dự án khác có thể sản xuất đủ năng lượng cho hơn 1500 gia đình. Ở đây, một hệ thống phao có khả năng thu năng lượng đại dương đã được các nhà khoa học thuộc Đại học bang Oregon thiết kế.  Chuyển đổi năng lượng nhiệt đại dương  Thiết bị có thể thu nhiều năng lượng mặt trời nhất chính là đại dương. Theo Bộ năng lượng Hoa Kỳ, mỗi ngày các đại dương thu nhiệt từ mặt trời đủ bằng lượng chứa trong 250 tỉ thùng dầu. Công nghệ OTEC biến đổi năng lượng nhiệt có trong đại dương thành điện bằng cách lợi dụng sự chênh lệch nhiệt độ giữa bề mặt nước. Sự khác biệt về nhiệt độ có thể vận hành tua-bin, làm chạy các máy phát điện. Thiếu sót của công nghệ này là công suất điện thu được vẫn còn quá nhỏ.  Ý tưởng mới về mặt trời  Năng lượng mặt trời chiếu tới Trái đất dưới dạng các photon và có thể chuyển thành điện hoặc nhiệt.  Những thiết bị thu năng lượng mặt trời có nhiều dạng khác nhau và đã được các công ty năng lượng và hộ gia đình dùng thành công. Trong đó, hai loại máy được biết đến rộng rãi nhất là thiết bị thu nhiệt và pin mặt trời. Nhưng các nhà khoa học đang cố biến đổi loại năng lượng này có hiệu quả hơn bằng cách một hệ thống gương parabol tích tụ chúng lại.    Thách thức cho vấn đề này, đôi khi lại bắt nguồn từ các chính sách thúc đẩy từ Chính phủ. Bang California (Hoa Kỳ) đã ủng hộ một chương trình toàn diện khuyến khích phát triển năng lượng mặt trời. Ngược lại, ở bang Arizona, dù có nguồn ánh sáng dồi dào nhưng không biết cách biến năng lượng thành ưu thế. Thực tế ở một số nơi, kế hoạch sử dụng năng lượng mặt trời bị ngăn cản bởi những luật lệ nghiêm khắc về thẩm mỹ.  Năng lượng ‘H’  Sử dụng pin năng lượng hydro được coi như một giải pháp thay thế cho xăng, dầu và không gây ô nhiễm môi trường. Điện sinh ra trong quá trình kết hợp hydro và ôxy tạo ra nước. Vấn đề ở đây là pin thu được phải có hydro. Như vậy, các phân tử như nước và rượu phải được xử lí để chiết xuất ra hydro cung cấp cho pin nhiên liệu. Một số quá trình yêu cầu cần sử dụng những nguồn năng lượng khác, do đó phá hỏng ưu thế của loại “nhiên liệu sạch” này.  Gần đây các nhà khoa học đang nghiên cứu các phương pháp nạp năng lượng cho máy tính xách tay và các thiết bị nhỏ bằng pin nhiên liệu. Một số công ty cũng hứa hẹn sẽ sớm ra mắt loại xe chỉ thải nước sạch. Tương lai về một “nền kinh tế hydro” là hoàn toàn khả thi.  Loại bỏ muối  Theo Liên Hợp Quốc, khan hiếm nước sẽ ảnh hưởng đến hàng tỉ người vào giữa thế kỉ này. Khử muối, về cơ bản là rút muối và các chất khoáng ra khỏi nước biển, là một trong những cách cung cấp nước cho nhiều nơi trên thế giới mà hiện nay nguồn nước còn hạn chế. Nhưng vấn đề với công nghệ này là khá tốn kém và tiêu tốn nhiều năng lượng.  Các nhà khoa học đang hướng tới những quy trình tiến bộ hơn, dùng những nhiên liệu rẻ tiền có thể tạo nhiệt và làm bay hơi nước, trước khi lọc nó qua màng lọc cực nhỏ.     Biến mọi thứ thành dầu  Bất kì rác thải carbon nào, từ ruột gà tây cho đến lốp xe đã qua sử dụng, dưới nhiệt độ và áp suất vừa đủ đều có thể biến thành dầu (thông qua quá trình có tên thermo-depolymerizationquá trình phân hóa bằng nhiệt). Quá trình này cũng tương tự như cách tạo ra dầu trong tự nhiên, nhưng phải trải qua hàng triệu năm để có được sản phẩm tương tự. Những người đề xướng chương trình này khẳng định một tấn chất thải từ gà tây có thể sản xuất được khoảng 600 pound dầu.    Phạm Huyền Trang (www.livescience.com)        Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 đột phá khoa học 2012      Năm 2012 đã khép lại với những dấu ấn rực rỡ của giới khoa học toàn cầu. Đến hẹn lại lên, tạp chí khoa học danh tiếng Science tôn vinh những đột phá khoa học của năm 2012 với những sự kiện nổi bật: khám phá ra “hạt của Chúa”, những tiến bộ trong kỹ thuật gene, tàu thám hiểm đáp thành công xuống bề mặt sao Hỏa, tạo ra trứng từ tế bào gốc của chuột…        1. Khám PHÁ ra “hạt của chúa”  Khám phá nổi bật nhất trong năm 2012 được tạp chí Science bình chọn là việc các nhà khoa học đã chứng minh sự tồn tại của boson Higgs bằng thực nghiệm. Sự bí ẩn cũng như tầm quan trọng của hạt Higgs đã khiến giới khoa học đặt tên cho loại hạt này là “hạt của Chúa”.   Nhiều năm qua, hàng tỉ USD đã được đổ ra và hàng chục nghìn nhà vật lý đã lao vào truy tìm hạt Higgs. Và trong năm 2012, Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) đã tiến hành thí nghiệm trên máy gia tốc lớn, nơi các hạt proton va vào nhau với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng, sinh ra những mảnh vỡ hạ nguyên tử được quan sát kỹ càng nhằm tìm dấu hiệu tồn tại của hạt Higgs. Hai nhóm thí nghiệm độc lập của CERN đã tìm thấy loại hạt mới có khối lượng xấp xỉ 125 Gigaelectronvolt (GeV – một proton có khối lượng khoảng 0,938 GeV). Cả hai thông báo kết quả của họ đạt mức “5 sigma”, nghĩa là chỉ có 0,00006% cơ hội khám phá của họ sai lạc.  Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia Fermi (Fermilab) tại Mỹ cũng thông báo rằng họ đã tìm ra những bằng chứng cuối cùng về sự tồn tại của hạt Higgs sau khi phân tích dữ liệu từ hàng nghìn tỷ vụ va chạm hạt trong Tevatron – một máy gia tốc hạt có công suất lớn của Fermilab.  Nếu giới vật lý có thể chứng minh sự tồn tại của hạt Higgs – mảnh ghép cuối cùng trong mô hình chuẩn của vật lý hạt – thì phát hiện này sẽ là một trong những thành tựu khoa học vĩ đại nhất trong vòng 100 năm. Chứng minh được sự tồn tại của hạt Higgs, họ cũng sẽ xóa tan hoài nghi về sự tồn tại của vật chất tối, loạt vật chất có thể chiếm tới 75% khối lượng của vũ trụ. Nhưng hạt Higgs không chỉ có ý nghĩa đối với vũ trụ xa xôi, mà còn mang đến nhiều lợi ích cho cuộc sống trên địa cầu. Với hạt Higgs, loài người sẽ có thêm một nguồn năng lượng mới và dồi dào. Ngoài ra hạt Higgs còn có thể giúp con người tạo nên những thành tựu công nghệ đột phá trong giao thông và viễn thông.    2. Giải mã bộ gene người cổ xưa DenisovanS  Các nhà khoa học thuộc Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck ở Đức trong năm 2012 đã hoàn thành giải mã bộ gene của loài người cổ xưa Denisovans, tổ tiên của chúng ta ngày nay. Các hóa thạch trong đó bao gồm một mẩu xương ngón tay, hai chiếc răng hàm của một dòng dõi Denisovans đã tuyệt chủng, được tìm thấy tại hang Denisovans, miền Nam Siberia vào năm 2008. Mảnh xương ngón tay nhỏ bé cho phép các nhà khoa học giải mã toàn bộ bộ gene của người cổ Denisovans thông qua kỹ thuật giải mã DNA. Phương pháp này cho phép các nhà nghiên cứu tạo ra bộ gene một cách chi tiết và hoàn chỉnh (30X), tương tự bộ gene của người hiện đại.   Các nghiên cứu cho thấy rằng họ Denisovans cùng chung sống với người Neanderthals và lai giống với loài người chúng ta ngày nay (tên khoa học là Homo sapiens). Sau khi người Neanderthals và Denisovans tuyệt chủng, loài người chúng ta ngày nay thống trị Trái đất. Những người đến từ Đông Nam Á và Nam Mỹ sở hữu nhiều gene của người Neanderthals hơn người châu Âu. Điều này cho thấy rằng tổ tiên cổ xưa của họ được lai giống nhiều hơn với người Neanderthals.   3. Tiến bộ trong kỹ thuật gene  Một công cụ mới cho phép các nhà khoa học làm biến đổi hay khử hoạt tính gene ở những con vật thí nghiệm. Công nghệ này có thể hiệu quả, và thậm chí rẻ hơn, các kĩ thuật xử lí gene hiện nay và có thể cho phép các nhà khoa học tập trung vào những vai trò nhất định của gene và sự đột biến đối với sức khỏe và người bệnh. Trong năm qua, các nhà nghiên cứu đã tạo ra được một loại protein có thể sử dụng để thay đổi các gene của một tế bào đang di chuyển. Được biết đến với cái tên TALENs, protein này cho phép các nhà nghiên cứu có thể thay đổi hoặc vô hiệu hóa những gene nhất định ở vật nuôi và các loài động vật khác, thậm chí là các tế bào từ người bệnh.  4. Lời giải từ hạt neutrino    Các nghiên cứu về trạng thái biến đổi của hạt neutrino được thực hiện tại Phòng thí nghiệm neutrino Daya Bay, Trung Quốc, chỉ ra rằng, các electron phản neutrino biến đổi thành các dạng khác khi chúng di chuyển ở tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Điều này giải thích vì sao vũ trụ gồm nhiều vật chất hơn phản vật chất.    Các hạt neutrino cũng như phản neutrino đều có ba hình thái: electron, moun và tau. Trong quá trình di chuyển trong không gian, các hạt này có thể liên tục biến hình từ trạng thái này sang trạng thái kia. Khả năng biến hình này được đo bằng 3 tham số là theta12, theta 23 và theta13. Năm 2012, các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm neutrino Daya Bay tuyên bố đã xác định được tham số theta13. Các nhà khoa học sẽ tiếp tục tiến hành thí nghiệm để tìm hiểu xem hạt neutrino có hành xử khác với phản neutrino hay không. Từ đó, họ có thể tìm ra manh mối để giải thích vì sao vũ trụ lại nghiêng về vật chất, thay vì phản vật chất trong sau Vụ Nổ lớn (Big Bang).   5. Dự án Encode   Con người vừa đạt được bước nhảy lớn trên hành trình khám phá chính cơ thể mình. Bước nhảy lớn đó mang tên ENCODE. 442 nhà khoa học tại 32 phòng thí nghiệm của Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Singapore và Nhật đã tham gia vào công trình giải mã bộ gene người có tên Encode, được khởi động vào năm 2003 với mục đích nhận diện mọi yếu tố chức năng trong bộ gene người. Một dự án tiên phong nhằm giải mã 1% bộ gene người đã được công bố hồi năm 2007.  Sau bao năm nỗ lực nghiên cứu, các nhà khoa học vừa đưa ra bộ bách khoa toàn thư về ADN mang tên Encode. Không phải hầu hết hệ gene người đều là đồ bỏ đi như cách nghĩ trước đây, mà 80% ADN đều có chức năng của mình, và Encode là cuốn bách khoa toàn thư mô tả các chức năng của các ADN này. Điều mà các nhà khoa học học được từ Encode là hệ gene người phức tạp đến mức nào, và sự tinh vi trong sắp xếp số lượng cực lớn những công tắc có chức năng điều khiển các gene hoạt động.  Cuốn bách khoa toàn thư về ADN này sẽ mở ra lĩnh vực hiểu biết hoàn toàn mới về cơ chế xuất hiện của bệnh tật và cách ngăn ngừa chúng. Từ đây, các nhà khoa học hy vọng kết quả này sẽ mang lại những hiểu biết sâu sắc hơn về một số loại bệnh và tìm ra những cách điều trị tốt hơn.  6. Tàu thám hiểm sao Hỏa Curiosity hạ cánh thành công  Tàu thăm dò tự hành Curiosity trị giá 2,5 tỉ USD của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) đã thực hiện thành công cú đáp ngoạn mục lên bề mặt sao Hỏa, đánh dấu một cột mốc thành công cho nỗ lực khám phá hành tinh đỏ công phu nhất trong lịch sử. Việc hạ cánh thành công của Curiosity, phòng thí nghiệm tự hành tinh vi nhất từng đáp xuống một hành tinh khác, đánh dấu một kỳ công công nghệ chưa từng có. Quá trình hạ cánh khép lại cuộc hành trình dài hơn 8 tháng, bay qua hơn 567 triệu km trong vũ trụ, của Curiosity.   Xe tự hành Curiosity bắt đầu hành trình tìm kiếm dấu hiệu của sự sống kéo dài hai năm. Sau gần nửa năm lăn bánh trên bề mặt hành tinh đỏ, Curiosity đã gửi về Trái đất rất nhiều bức ảnh cũng như các số liệu phân tích quý giá, đem lại những khám phá kinh ngạc chưa từng được biết về hành tinh này.  7. Đột phá bằng công nghệ laser tia X  Lần đầu tiên các nhà khoa học đã sử dụng một chùm laser tia X để chụp ảnh cấu trúc của một protein, điều này cũng mở ra một hướng mới trong việc chụp ảnh những cấu trúc siêu nhỏ. Chùm laser tia X được sử dụng có cường độ mạnh gấp một tỉ lần những nguồn synchrotron trước đây, cho phép các nhà khoa học xác định cấu trúc của một protein liên quan trong sự lây truyền bệnh ngủ châu Phi.  Bằng kỹ thuật này các nhà khoa học đã phát hiện ra cấu trúc chi tiết về lớp màng protein có vai trò quan trọng trong sự truyền nhiễm sinh vật ký sinh gây ra bệnh buồn ngủ châu Phi. Việc tìm hiểu cấu trúc của các màng protein cũng sẽ cho phép chúng ta tìm ra những loại thuốc hiệu nghiệm để cứu sống hàng trăm nghìn người trên thế giới, đặc biệt là người dân châu Phi, hằng ngày phải đối phó với những nguy cơ từ căn bệnh này.      8. Cánh tay robot điều khiển bằng suy nghĩ  Các nhà thần kinh học và kỹ sư sinh học thuộc Đại học Pittsburgh, bang Pennsylvania, Mỹ đã chế tạo thành công cánh tay robot được điều khiển bằng suy nghĩ hiện đại nhất từ trước tới nay. Đây là một bước đột phá mới mở ra hy vọng cho những bệnh nhân bị liệt tay chân trên thế giới có thể tự phục vụ mình nhờ vào cánh tay robot.  Bằng cách phẫu thuật cấy ghép cánh tay robot cho những người bại liệt có tay mất khả năng chuyển động, các nhà khoa học đã tiến hành kết nối ý tưởng hoạt động của bộ não để điều khiển cánh tay giả, thông qua việc cấy các mảng vi điện cực rất nhỏ vào vỏ não của người bệnh.  Các vi điện cực này sẽ nhận các tín hiệu từ não gắn với các ý tưởng chuyển động. Những tín hiệu này sau đó sẽ được sao chép sang mã máy tính, mà lệnh hướng tới chính là việc làm cánh tay nhân tạo chuyển động theo ý muốn.  Phát minh mới đã giúp tăng cường đáng kể các mã lệnh, hay còn gọi là các thuật toán, cho phép tín hiệu đầu tiên xuất hiện từ não bộ nhanh chóng được sao chép. Thuật toán dựa trên mô hình máy tính này gần như có thể bắt chước cách mà một bộ não bình thường điều khiển các chuyển động tay chân. Kết quả cho thấy cánh tay giả đã có thể cử động chính xác và tự nhiên hơn rất nhiều so với những thử nghiệm từng được tiến hành trước đây.  9. Fermion Majorana huyền thoại lộ diện  Sau hàng thập kỷ tìm kiếm, cuối cùng các nhà vật lý cũng tin rằng họ đã tạo ra thành công hạt Majorana fermion huyền thoại. Trong một bài báo đăng tải trên Tạp chí Science mới đây, nhà vật lý Vincent Mourikand Leo P.Kouwenhoven cho biết nhóm của ông đã khiến cho hạt Majorana fermion phải lộ diện bằng cách đưa một bảng mạch nhỏ vào từ trường nam châm.   Các fermion Majorana là những hạt giống electron có phản hạt riêng của chúng. Chúng không phải là fermion cũng chẳng phải boson, và thay vào đó chúng tuân theo thống kê phi Abel. Các trạng thái lượng tử của những hạt như vậy được trông đợi là có trở kháng cao đối với các nhiễu loạn do môi trường gây ra, khiến chúng là những ứng cử viên lí tưởng cho các máy tính lượng tử. Có thể nói, hạt fermion Majorana  sẽ mang đến cho con người một ứng dụng trong thực tế, đó là cách thức lưu trữ thông tin đơn giản và hiệu quả hơn trong điện toán lượng tử.  10. Tạo ra trứng từ tế bào gốc của chuột  Kết quả được GS. Mitinori Saitou, ĐH Kyoto (Nhật Bản) và cộng sự công bố trên tạp chí Science. Các nhà khoa học đã lấy tế bào gốc từ chuột và tái lập gene của chúng thành tế bào tiền thân của trứng. Những tế bào này được kết hợp với những tế bào phù hợp khác của chuột cái để tái tạo buồng trứng và rồi được cấy vào chuột. Khi đó chúng sẽ phát triển thành trứng. Tiếp theo, trứng được thụ tinh trong ống nghiệm và cho ra đời những chú chuột con khỏe mạnh, có khả năng sinh sản.  Mặc dù đây chỉ mới là nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và cần nhiều thời gian nữa mới có thể thử nghiệm trên người, nhưng đột phá khoa học này sẽ là một cuộc cách mạng trong điều trị bệnh vô sinh.   Đức Phường  (tổng hợp)        Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 đột phá khoa học trong năm 2006      Đột phá khoa học lớn nhất năm 2006: Perelman chứng minh được Phỏng đoán Poincare*    Cuối cùng thì nhà toán học người Nga Perelman đã giải quyết được bài toán tồn tại hơn 100 năm, từng “đã đánh bại rất nhiều bộ óc vĩ đại”. Tầm quan trọng của sự kiện này, theo Tổng biên tập tạp chí Science Donald Kennedy, không những là đột phá của năm mà là “ít nhất của thập kỷ”.   Sau chứng minh của Perelman, tạp chí Science còn thống kê 9 sự kiện khoa học đột phá khác, không xếp theo thứ tự nào:                  · DNA hóa thạch: Dùng công nghệ mới để phân tích và giải mã DNA, các nhà nghiên cứu đã có được thông tin gene từ hóa thạch của người Neanderthan và voi ma-mút.  · Băng tan: Công bố của các nhà nghiên cứu gây nhiều lo ngại: Băng ở Nam Cực và Greenland vẫn đang tan, thậm chí với tốc độ nhanh hơn.  · Bước đầu tiên của cá: Phát hiện loài cá hóa thạch có xương sống cứng, chân có màng đã gây chú ý  lớn trong năm 2006. Loài cá giống cá sấu này cho chúng ta hình dung cuộc sống của loài động vật rời đại dương lên đất liền sống như thế nào.  · Thiết bị “áo tàng hình”: Nó không giống áo tàng hình của Harry Potter chút nào. Trong thí nghiệm, các nhà khoa học khiến vi sóng tới “nhảy khỏi” vật thể mà không tạo ra phản xạ hay bóng.                  · Hy vọng cho mắt lão hóa: Các nhà nghiên cứu chứng đốm thị giác do lão hóa đã chứng minh thuốc Lucentis có thể cải thiện được điều này.  · Cơ chế tiến hóa: Từ loài chuột biển, ruồi dấm, bướm… các nhà khoa học đã khám phá những thay đổi về gene dẫn đến sự tiến hóa thành loài mới.     · Tầm mới cho kính hiển vi: Năm ngoái, với kỹ thuật kính hiển vi mới, các nhà sinh học có thể nhìn các chi tiết tới 200 nanometer, thấy rõ được cấu trúc của tế bào và protein.     · Sự hình thành ký ức: Vài khám phá trong năm 2006 khiến các nhà thần kinh học gần thêm một bước tới khám phá cơ chế lưu giữ ký ức của não. Một tiến trình được gọi là “tiềm năng dài hạn” (long-term potentiation) củng cố kết nối của các nơ-ron thần kinh có vẻ là nền tảng của trí nhớ.                     · Loại RNA mới: Các nhà khoa học đã khám phá một loại phân tử RNA nhỏ mới, được gọi là “RNA tương tác Piwi”, có thể “tắt” gene.  Các nhà khoa học của tờ Science cũng xem vụ giả mạo của nhà nghiên cứu Hàn Quốc Woo-Suk Hwang và đồng nghiệp là “Tàn phá của năm” 2006 (“Breakdown of the Year”, trái với “Breakthough of the Year”). Sau vụ Hwang, ban biên tập tạp chí Science phải thay đổi cách tiếp nhận và công bố các công trình nghiên cứu.  Cuối cùng, ban biên tập tạp chí Science cũng nêu ra 6 lĩnh vực nghiên cứu triển vọng trong năm 2007  · Thám hiểm các hành tinh khác: Vệ tinh Thám hiểm sao hỏa của Mỹ và tinh Tốc hành sao Kim sẽ tìm kiếm các hành tinh khác quanh 2 sao này. Phi thuyền Chân trời Mới của NASA đã khám phá rìa của sao Diêm Vương sẽ bay tới sao Mộc vào tháng 2 này.  · Việc khai quật được sọ và xương người nguyên thủy ở CH Georgia, Kenya và Trung Quốc có thể cho thêm thông tin về tổ tiên xa xưa nhất của loài người.  · Hệ gene của loài linh trưởng có thể cho thấy nhánh tiến hóa hàng triệu năm trước.  · Vấn đề thay đổi khí hậu có thể sẽ được hâm nóng vào tháng 2 tới, khi Hội thảo Liên chính phủ về thay đổi khí hậu toàn cầu sẽ đưa ra báo cáo cuối cùng.  · Việc nghiên cứu so sánh toàn bộ hệ gene của những người khỏe mạnh và bệnh tật có thể sẽ là chiến lược mới để chống lại bệnh tật.  · Lưới quang học (optical lattices) được chế tạo từ nguyên tử siêu lạnh và tia laser có thể giúp các nhà khoa học giải quyết vấn đề nhiệt độ của siêu dẫn.  ANH VIỆT (Theo MSNBC, Science)    * Henry Poincare (1854 – 1912), nhà toán học người Pháp sáng lập môn hình học tô-pô (topology). Hình học tô-pô, còn gọi là “hình học tấm cao su” (ruber-sheet geometry) tập trung vào đặc tính bảo tồn bề mặt, bất kể nó bị kéo dãn hay chọc ra như thế nào. Trong mắt các nhà hình học tô pô, không có gì khác biệt giữa một chiếc “bánh vòng” (bagel) với một tách cà phê bởi cả hai đều có một lỗ thủng trên bề mặt. Song lại có sự khác biệt lớn giữa một trái bóng (không có lỗ) với một chiếc lốp xe bơm căng (có một lỗ). Poincare phỏng đoán không có cách nào thay đổi bề mặt không có lỗ (no-hole surface) sang bề mặt có một lỗ (on-hole surface) mà không xé rách nó, và bất kỳ bề mặt không có lỗ nào cũng có thể kéo căng thành khối cầu. Trước Perelman, các nhà toán học đã có thể chứng minh phỏng đoán của Poincare đúng với mọi chiều – ngoại trừ chiều thứ 3.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 khám phá khoa học lớn nhất năm 2015      Trang mạng upi.com mới đây đã bình chọn Top  10 khám phá khoa học lớn nhất năm 2015, theo đó trong năm qua các nhà  khoa học toàn cầu đã có những khám phá lớn như sau:      1. Tổ tiên mới của loài người: Người Nalendi    Tháng Chín, các nhà khoa học tuyên bố phát hiện chủng Người Nalendi (Homo nalendi), tổ tiên trước nay chưa từng biết của nhân loại, tìm thấy trong một hang động ở Nam Phi. Đã đào được các bộ hóa thạch đại diện cho ít nhất 15 cá thể có trọng lượng và đặc trưng cơ thể tương tự loài người thân nhỏ (small-bodied humans).    2. Tiến bộ về công nghệ biên tập gene CRISPR    Năm nay đã thực hiện một số đột phá về sử dụng công nghệ biên tập gene CRISPR. Trung Quốc báo cáo đã cải tiến được DNA của một phôi thai loài người không thể sống (nonviable human embryo), một giải pháp từng gây tranh cãi. ĐH Harvard cấy gene một loài voi mamut lông dài đã bị diệt chủng từ lâu vào những tế bào sống của loài voi hiện đại (đặt trong một đĩa nuôi cấy petri).     3. Phát hiện hàng trăm loài vật mới    Năm 2015, World Wildlife Foundation công bố một báo cáo bốn năm, tuyên bố đã phát hiện thấy 211 loài vật mới ở vùng phía đông Hymalaya, gồm 133 loài thực vật, 39 loài động vật không xương sống, 26 loài cá, 10 loài động vật lưỡng thê, một loài bò sát, một loài chim và một loài động vật có vú.    4. Nước chảy trên sao Hỏa    Tháng Chín, NASA trình bày chứng cớ xác đáng nhất về việc có tồn tại nước trên sao Hỏa: dấu vết nước chảy có chứa muối hình thành những vệt thay đổi theo mùa. Các nhà khoa học còn có thể thăm dò thấy sự tồn tại các phân tử muối gọi là perchlorates. Phát hiện này đã làm tăng khả năng tồn tại sinh vật trên sao Hỏa.    5. Thử máu phát hiện được ung thư    Các nhà nghiên cứu Thụy Điển khám phá ra một phương pháp từ một giọt máu mà xác định được bệnh nhân có mắc bệnh ung thư thời kỳ đầu hay không. Phương pháp này đạt độ chính xác xét nghiệm 96%, độ chính xác tiến hành phân loại bệnh ung thư đạt 71%. Sự khác biệt phát hiện trong xét nghiệm cũng có thể được sử dụng để giúp bác sĩ xác định quá trình điều trị tốt nhất.    6. Phát hiện kháng sinh mới đầu tiên trong 30 năm nay    Đầu năm nay, các nhà khoa học phát hiện được một chất kháng sinh mới đầu tiên trong 30 năm nay. Khám phá này có thể mở đường cho việc nghiên cứu chế tạo một thế hệ mới chất kháng sinh và đấu tranh chống tính nhờn thuốc đang ngày càng nghiêm trọng. Chất kháng sinh gọi là Teixobactin này có thể dùng để điều trị nhiều dạng nhiễm khuẩn thường thấy, như lao phổi, bệnh bại huyết và C. diff [loại vi khuẩn có khả năng gây ra viêm loét, sưng tấy và kích thích ruột già ; khi loại vi khuẩn này phát triển quá mức, có thể nguy hiểm đến tính mạng người bệnh] cũng như có khả năng đưa Teixobactin vào sử dụng trong vòng năm năm tới.    7. Bản đồ “biểu hiện gene (epigenome)” – một mã di truyền thứ hai     Trong tháng Hai, một nhóm nhà di truyền học ở nhiều nơi trên đất Mỹ đã hoàn tất việc tạo dựng bản đồ biểu hiện gene loài người toàn diện nhất, trở thành đỉnh cao của một thập niên nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu đã có thể lập được bản đồ của hơn 100 loại tế bào nhân loại. Điều đó sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn mối liên hệ phức tạp giữa DNA với các loại bệnh.    8. Hệ sao (thiên hà, galaxy) sáng nhất trong giải Ngân hà    Năm nay, một trong những kính thiên văn mạnh nhất của NASA là Wide-field Infrared Survey Explorer (Vệ tinh thăm dò tia cực đỏ trong khắp vũ trụ) đã tìm thấy một hệ sao sáng nhất xưa nay chưa từng thấy. Hệ sao này bức xạ ra một lượng ánh sáng tương đương với 300 nghìn tỷ Mặt trời. Các nhà nghiên cứu tin rằng có thể có một hố đen siêu lớn tồn tại ở phía sau ánh sáng bất thường của hệ sao này.     9. Kính áp tròng phỏng sinh kiểu mới     Tập đoàn Công nghệ Ocumentic đã đầu tư 3 triệu USD tiến hành nghiên cứu- triển khai trong tám năm, cuối cùng vào tháng Năm năm nay họ đã cam đoan có thể dùng một phẫu thuật thực hiện trong 8 phút để cấy mắt kính phỏng sinh ẩn vào mắt của bệnh nhân. Loại kính này có thể nâng cao thị lực tới mức gấp ba tiêu chuẩn thị lực bình thường.     10. Biến tế bào bệnh bạch huyết thành tế bào miễn dịch.     Tháng Ba năm nay, các nhà khoa học ở Đại học Stanford tìm ra một phương pháp có thể cưỡng bức biến đổi các tế bào bệnh bạch huyết ác tính thành tế bào miễn dịch vô hại (tức đại thực bào macrophages). Khám phá này có thể dẫn tới việc biến đổi các tế bào ung thư ở con người thành các đại thực bào, sau đấy những đại thực bào đó có thể nuốt và tiêu diệt các tế bào ung thư và các tác nhân gây bệnh.    Nguyên Hải  Nguồn: http://www.upi.com/Science_News/2015/12/04/Top-10-scientific-discoveries-of-2015/8651449249859/  Top 10 scientific discoveries of 2015    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm giải mã bộ gene của con người      Hàng ngàn nhà nghiên cứu trên toàn thế giới làm việc 8 năm liên tục, tiêu tốn hơn 1 tỷ USD, và cuối cùng ngày 14/4/2003, họ thông báo đã hoàn thành nhiệm vụ giải mã bộ gene người (Human Genome), lập ra danh sách ba tỷ ký tự của mã di truyền tạo nên những DNA của con người.    Để kỷ niệm 10 năm sự kiện này, xin tóm lược những ý kiến của Eric D. Green, Viện trưởng Viện nghiên cứu quốc gia về gene người (NHGRI), Mỹ, về những gì đã được thực hiện, ý nghĩa của nó và những gì chờ đợi sắp tới.      Xin hãy trở lại ngày này cách đây 10 năm. Gene của những ai đã được giải mã? Và tại sao người ta muốn biết trình tự bộ gene của một số người chọn lựa một cách ngẫu nhiên? Phải chăng tất cả chúng ta đều giống nhau?  Ý tưởng xuyên suốt cả quá trình không phải là giải mã sắp xếp gene của một con người cụ thể nào mà là để tạo lập một nguồn tài nguyên. Đó là trình tự sắp xếp một bộ gene giả thiết, một bộ gene mẫu chuẩn (reference). Nó mang ý nghĩa bộ gene đại diện cho nhân loại.  Thế nghĩa là sao? Các ông đã đã sử dụng DNA của con người, phải không? Tại sao lại nói đó là bộ gene giả thiết?  Lúc đó cách giải mã trình tự gene được thực hiện như sau. Tại mỗi một thời điểm, chúng tôi lần lượt đọc các ký tự của bộ gene, mỗi lần một trang tại một thời điểm, và ở cuối ngày thì tới lượt các trang tiếp khác của những người khác nhau. Mỗi trang là một đoạn DNA, bao gồm khoảng 100 nghìn gốc cơ bản (base) trong tổng cộng ba tỷ gốc cơ bản (tức là bốn hóa chất tạo nên DNA). Bộ gene của một người hiến máu vô danh ở Buffalo chiếm phần lớn, bởi vì chàng ta là chuyên gia trong việc tạo ra một thư viện lớn về DNA – tương đương với các trang – đang làm việc tại Viện Ung thư Roswell Park, ở Buffalo.  Nhưng nếu đó chỉ là một gene giả thiết, được tạo thành từ các mảnh (bits) và miếng (pieces) của chuỗi DNA từ nhiều người khác nhau, thì sao lại tốt hơn một gene thật được?  Đó là một bộ chuẩn được sử dụng để làm các nghiên cứu khác. Hai người khác nhau thì cứ 1.000 gốc cơ bản mới có một gốc cơ bản khác nhau thôi, thế nghĩa là 99,9% bộ gene của bất kỳ người nào cũng giống như nhau. Chúng tôi sử dụng công cụ đó để xây dựng kiểu như vẽ một bản đồ đường cao tốc. Chúng ta có thể đi theo bản đồ đó và bổ sung những thông tin nào là quan trọng cho mỗi con đường. So sánh dễ hiểu nhất là giống như khi bạn sử dụng bản đồ GPS trong xe hơi. Thật tuyệt là bạn có một bản đồ đường cao tốc, nhưng bạn thực sự còn muốn biết đâu là trung tâm mua sắm, đâu là trạm xăng, nơi đỗ xe sắp tới, quán cơm… Chúng tôi muốn biết đâu là các gene, là bộ phận của bộ gene chịu trách nhiệm mã hóa protein. Đâu là những nơi trên bộ gene làm cho người này khác người kia? Đâu là những gene mã hóa cho các bệnh tật?    Hiện nay để giải trình tự bộ gene của một người có khó lắm không?  Chúng ta hiện nay có thể giải trình tự hệ gene người như trước đây chỉ trong một vài ngày và với giá dưới 10 nghìn USD, có thể chỉ bốn hay năm nghìn USD thôi. Và chúng tôi giải trình tự hệ gene cho bạn gồm một bản nhận được từ cha và một bản trình tự gene mà bạn nhận được từ mẹ của bạn, tổng cộng sáu tỷ cặp đấy, mà chi phí chỉ tương đương như chụp cộng hưởng từ (MRI). Xin nhớ rằng chương trình giải mã bộ gene người ngày trước chỉ giải có 3 tỷ gốc cơ bản thôi nhé!     Làm thế nào mà lại có được giá rẻ như vậy?  Tháng 4/2003, ngay sau khi hoàn thành bộ gene người, Viện của chúng tôi kêu gọi tìm công nghệ để cung cấp một bản trình tự bộ gene của một người với giá 1.000 USD. Việc đó đã gây nên cuộc tranh cãi ghê gớm. Tôi còn nhớ mình đã mong mỏi như thế nào để một ngày nào đó chúng tôi sẽ thực hiện được trình tự một bộ gene với chỉ 1.000 USD. Giờ thì tôi chẳng cần lo lắng về cái giá 1.000 USD nữa. Chúng tôi đã đạt được tiến bộ đến 6 bậc (tức 1 triệu lần) trong một thập kỷ.  Ông nghĩ sao đối với câu hỏi của những người luôn hoài nghi: “Đâu là những phương pháp chữa trị cho các bệnh mà các ông đã hứa hẹn cho chúng tôi?”  Tôi trở thành Viện trưởng của viện nghiên cứu này ba năm rưỡi trước đây, và tôi còn nhớ như in khi lần đầu tiên tôi gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Thường xuyên tôi nghe:   “Các ông đã hoàn thành công việc này hơn bảy năm rồi. Mà đã thắng lợi chưa đấy? Đâu là những thành công?”  Giờ thì tôi không còn nghe như thế nhiều nữa. Tôi nghĩ rằng những gì đang xảy ra, và đã xảy ra trong ba năm qua là chỉ số tổng hợp tuyệt đối của thành công. Tiếng trống thành công cuối cùng đã át được tất cả.  Chúng tôi đang hiểu biết thêm bệnh ung thư và các bệnh di truyền hiếm gặp. Có những câu chuyện không thể tin được như giờ đây chúng tôi có thể chỉ lấy máu từ một thai phụ mà phân tích được DNA của thai nhi.  Hơn nữa chúng ta ngày càng có nhiều đường thông tin hơn để kê đơn chữa bệnh bởi vì trước tiên chúng ta có thể làm xét nghiệm di truyền. Chúng ta có thể sử dụng DNA của vi sinh vật để theo dõi sự bùng phát của dịch bệnh trong một vài giờ.  Cuộc chơi đã thay đổi rồi. Đó là các thành tựu to lớn đã đạt được, và đó chính là câu chuyện hợp logic nhất để kể với mọi người.  XH lược thuật theo   http://www.nytimes.com/2013/04/16/science/the-human-genome-project-then-and-now.html?ref=science    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm “giải Nobel về KHXH&NV”      Giải John W. Kluge, cho tới nay được coi là  giải thưởng quốc tế lớn nhất trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, vừa tròn mười tuổi.    Khoa học xã hội và nhân văn là một ngành tri thức quan trọng nhưng hơn 100 năm qua chưa hề có một giải thưởng quốc tế nào dành cho ngành này. Để bù đắp thiệt thòi đó, năm 2003 Thư viện Quốc hội Mỹ đã lập Giải thưởng thành tựu trọn đời về khoa học nhân văn và xã hội John W. Kluge (John W. Kluge Prize for Lifetime Achievement in the Humanities and Social Sciences) để trao cho các nhà khoa học hoạt động trên lĩnh vực triết học, sử học, tôn giáo học, ngôn ngữ học, nhân loại học, phê bình văn học…  Cho tới nay, giải John W. Kluge được coi là giải thưởng quốc tế lớn nhất trong lĩnh vực khoa học nhân văn-xã hội; giới báo chí thường gọi là giải Nobel khoa học nhân văn-xã hội.  Tên giải thưởng này lấy theo tên của nhà tài trợ John W. Kluge, một người Mỹ kinh doanh ngành truyền hình; năm 2000 ông tặng 73 triệu USD cho Thư viện Quốc hội Mỹ làm quỹ lập giải thưởng này.  Để tìm ra chủ nhân giải Kluge, hằng năm Thư viện Quốc hội Mỹ mời hơn 2.000 nhân vật tên tuổi trên toàn thế giới tham gia bình xét và chọn ra mỗi năm 9 ứng viên; từ danh sách đó, Giám đốc Thư viện Quốc hội Mỹ lựa lấy một hoặc vài người để trao một giải thưởng Kluge trị giá một triệu USD Mỹ.   Có lẽ do khó tìm được sự nhất trí trong việc đánh giá thành tựu khoa học xã hội nhân văn nên suốt 10 năm qua chỉ có năm năm chọn được người để trao giải Kluge – tổng số có 8 người. Các năm 2005, 2007, 2009, 2010, 2011 không chọn được ai.  Danh sách chủ nhân giải Kruge các năm qua  Giải Kluge năm 2003 (giải đầu tiên) được trao cho nhà triết học Ba Lan Leszek Kolakowski, sinh 1927, chuyên gia nghiên cứu về sự sụp đổ hệ tư tưởng của Liên Xô, nổi tiếng với tác phẩm ba tập Các trào lưu chính của chủ nghĩa Mác (Main Currents of Marxism), xuất bản năm 1976.   Giải Kluge năm 2004 được trao cho hai người: – Jaroslav Pelikan giáo sư Đại học Yale, sinh 1923, chuyên nghiên cứu về Ki Tô giáo và giáo lý Kitô giáo; – Paul Ricoeur triết gia Pháp, sinh 1913, nổi tiếng về các nghiên cứu hiện tượng học và chú giải học.   Giải Kluge năm 2006 được trao cho hai nhà sử học: – Yu Ying-shi, người Mỹ gốc Hoa, sinh 1930, giáo sư ba trường Đaị học Harvard, Yale, Princeton. – John Hope Franklin, người Mỹ gốc Phi, sinh 1915, giáo sư Đại học Duke, cựu Hội trưởng Hội Sử học Mỹ, chuyên nghiên cứu lịch sử nước Mỹ, nổi tiếng với tác phẩm Từ nô lệ tới tự do (From Slavery to Freedom, 1947), in hơn ba triệu bản.  Giải Kluge năm 2008 được trao cho hai nhà sử học Romila Thapar (nữ) and Peter Brown. Bà Romila Thapar người Ấn Độ, sinh 1931, giáo sư đại học Jawaharlal Nehru ở New Delhi, chuyên nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ cổ đại. Ông Peter Brown người Ireland, sinh 1935, chuyên nghiên cứu về cổ sử La Mã và châu Âu thời trung cổ.  Chủ nhân giải Kruge năm 2012 là Fernando Henrique Cardoso, người Brazil, sinh 1931, một trong các học giả hàng đầu và nhà thực hành môn kinh tế chính trị học trong lịch sử châu Mỹ La-tinh hiện nay. Ông là người đầu tiên nhận giải Kluge trong số các học giả ở lĩnh vực xã hội học, chính trị học và kinh tế học. Cardoso từng nhiều năm làm Bộ trưởng trong chính phủ Brazil và từng là Tổng thống thứ 34 của nước này, nhiệm kỳ 8 năm (1/1/1995-1/1/2003).  Từ danh sách trên có thể thấy hầu hết chủ nhân giải Kluge khi nhận giải đều có tuổi đời rất cao, trẻ nhất 73 tuổi, già nhất 91 tuổi, bình quân hơn 80 tuổi. Điều đó chứng tỏ lĩnh vực khoa học xã hội-nhân văn quả là khó có sáng tạo, chủ yếu dựa vào tích luỹ kiến thức và cần cù lao động. Ngoài ra việc bình chọn thành tựu trong lĩnh vực này là rất khó.  Nguyễn Hải Hoành     Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm nữa sẽ có Internet lượng tử?      Nhật báo Daily Mail (Anh) số ra ngày 6/5/2014 đưa tin một  nhóm nhà khoa học ở ĐH Harvard đã nghiên cứu thành công thiết bị  đóng ngắt lượng tử (quantum switches), dọn đường cho sự ra đời mạng Internet lượng tử (Quantum Internet) có  tính bảo mật cực cao.        Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học dùng một nguyên tử đơn lẻ để chế tạo thiết bị đóng ngắt mạch. Trong tương lai có thể dùng cáp nối các bộ đóng ngắt mạch nhỏ xíu có kích cỡ bằng một nguyên tử này lại thành mạng, trở thành xương sống của mạng Internet lượng tử, bảo mật 100% cho mọi thông tin truyền trên mạng. Theo dự kiến, sớm nhất loại mạng này sẽ xuất hiện trong 10 năm tới.   Nhóm nghiên cứu nói trên do hai giáo sư Mikhail Lukin ở ĐH Harvard và Vladan Vuletic ở Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đứng đầu; thành viên gồm các nghiên cứu sinh Jeff Thompson, Lee Liu, các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Tobias Tiecke và Nathalie de Leon.   GS Lukin cho biết: “Xét về mặt công nghệ thì đây là một thành tựu xuất sắc. Ý tưởng của chúng tôi dựa trên một khái niệm rất đơn giản: Hãy để bộ đóng ngắt mạch điều khiển bằng ánh sáng (light switch) đạt tới giới hạn cực đại của chúng.”  “Việc chúng tôi đã làm là dùng một nguyên tử đơn lẻ làm bộ đóng ngắt mạch, căn cứ theo trạng thái của nó mà đóng hoặc ngắt dòng dịch chuyển của các photon; dùng một photon để thực hiện đóng hoặc ngắt mạch.”  Tuy rằng có thể dùng bộ đóng ngắt mạch này để chế tạo máy tính lượng tử, nhưng GS Lukin nói dường như chưa có nhiều khả năng dùng công nghệ đó cho loại máy tính để bàn. Trong tương lai công nghệ này sẽ được dùng vào việc tạo dựng mạng cáp quang sử dụng hệ thống mật mã lượng tử (quantum cryptography) – một phương pháp mã hóa thông tin sử dụng định luật cơ học lượng tử, nhờ đó việc trao đổi thông tin trên mạng sẽ trở nên tuyệt đối an toàn. Trong một hệ thống như vậy, không hacker nào có thể lấy hoặc đọc được các thông tin truyền trên mạng.   GS Lukin cho biết: “Dường như không phải ai cũng có nhu cầu dùng loại công nghệ này nhưng đúng là có một số lĩnh vực thực sự cần ứng dụng nó. Vì thế sẽ tới cái ngày mà công nghệ đó phát sinh ảnh hưởng có tính biến đổi đối với xã hội chúng ta. Hiện nay chúng tôi chỉ hạn chế dùng hệ thống mật mã lượng tử trong cự ly tương đối ngắn – vài chục km. Cùng với sự bứt phá trong nghiên cứu công nghệ này, cuối cùng chúng ta có lẽ sẽ có thể mở rộng phạm vi sử dụng hệ thống mật mã lượng tử tới vài nghìn km.”  Điều quan trọng là hệ thống này có không gian nâng cấp rất lớn, tương lai có khả năng lắp hàng nghìn bộ đóng ngắt mạch như vậy trong một thiết bị điện tử.  Sự an toàn của các dữ liệu phụ thuộc vào tính an toàn của khóa mật mã (dãy số cấu tạo bởi các số 0 và 1, dùng để bảo mật cho thông tin). Thế nhưng trong hệ thống bảo mật hiện dùng thì trong quá trình truyền thông tin, khóa mật mã có nguy cơ bị hacker đánh cắp. Đây là khâu yếu kém nhất trong các hệ thống thông tin hiện dùng.   Công nghệ phân phát khóa mật mã lượng tử sử dụng trạng thái lượng tử của các photon đơn lẻ để tiến hành mã hóa khóa mật mã. Khi xuất hiện bất cứ sự đánh cắp thông tin nào, nguyên lý cơ học lượng tử sẽ quyết định trạng thái lượng tử của photon bị nhiễu loạn bởi hành vi đánh cắp đó, nhờ thế bên truyền thông tin sẽ phát hiện sự đánh cắp.    Trung Quốc xây tuyến thông tin lượng tử dài nhất thế giới  Tạp chí khoa học Nature (Anh) ngày 24/4/2014 đưa tin: Trung Quốc đã khởi công xây dựng mạng thông tin lượng tử có cự ly dài nhất thế giới, nối Bắc Kinh với Thượng Hải với độ dài hơn 2.000 km và kinh phí đầu tư chừng 100 triệu USD.   Giáo sư Phan Kiến Vĩ (Jian-Wei Pan), nhà vật lý lượng tử ở ĐH Khoa học kỹ thuật Trung Quốc (tại Hợp Phì) phụ trách dự án đầu tư này. Ông giới thiệu: “Trục Bắc Kinh-Thượng Hải sẽ không chỉ cung cấp sự bảo đảm thông tin có cấp bậc an toàn cao nhất cho nhà nước và các định chế tài chính tiền tệ, mà còn dùng để kiểm nghiệm các nguyên lý cơ bản của vật lý lượng tử, là nơi thí nghiệm đo lường, ứng dụng công nghệ mới.”  Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất triển khai xây dựng mạng thông tin lượng tử cự ly dài. Một nhóm nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của nhà khoa học Don Hayford tại công ty Battelle, đang hợp tác với ID Quantique để bắt đầu triển khai xây dựng tuyến thông tin lượng tử dài 650 km giữa trụ sở công ty Battelle đặt tại thành phố Columbus (Ohio, Mỹ) với cơ quan làm việc của họ tại Washington DC. Ngoài ra Hayford còn cho biết, họ đã lên kế hoạch trên cơ sở tuyến thông tin đó xây dựng một mạng thông tin lượng tử vòng quanh nước Mỹ, có chiều dài hơn 10 nghìn km, nối tất cả các đô thị chính; tuy vậy dự án này còn chưa có nguồn kinh phí.  Cả hai mạng thông tin lượng tử nói trên của Trung Quốc và Mỹ đều sử dụng cáp quang tối (dark fibres) làm đường dây truyền tín hiệu lượng tử, song loại cáp này “không phải luôn luôn mua được và giá quá đắt” — Andrew Shields một nhà vật lý lượng tử tại Trung tâm nghiên cứu ở châu Âu của Toshiba nói. Có một cách giải quyết tự nhiên vấn đề này — đó là thử truyền tín hiệu lượng tử trên “cáp quang sáng” (‘lit’ fibres) — tức loại cáp quang dùng trong thông tin hiện nay. Thế nhưng trong trường hợp thông thường, cường độ quang dùng để tiến hành thông tin kiểu hiện nay phải đạt được mức mỗi xung quang gồm có vài trăm tỷ photon; để so sánh, ta biết tín hiệu thông tin lượng tử của cấp một photon đơn lẻ đã trực tiếp bị nhấn chìm.  Shields và đồng nghiệp mới đây có công bố một báo cáo nói các nghiên cứu của họ đã giải quyết thành công vấn đề nói trên: đã thực hiện ổn định công nghệ phân phát khóa mật mã lượng tử trong một đường cáp quang sáng nối giữa hai đầu cuối cách nhau 26 km của Tập đoàn thông tin BT (Anh Quốc).   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp từ báo nước ngoài        Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm xây dựng lực lượng hiến máu dự bị: Thực chất, hiệu quả và bền vững      Việc tạo nguồn máu ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo không dễ như ở các vùng đô thị, dù nhu cầu về máu ở vùng sâu vùng xa không nhiều như đô thị nhưng khi đã cần là rất cần, nếu không có máu truyền là bệnh nhân gần như chắc chắn tử vong.      Có rất nhiều khó khăn nếu tổ chức các hoạt động truyền máu ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo vẫn theo như mô hình đã có của những nơi đông dân cư, thành phố lớn. Khó khăn về giao thông? Vận chuyển? điện? điều kiện bảo quản? Rồi máu chỉ giữ được với thời hạn ngắn (35-40 ngày)?… Cả nước có đến hơn 3.000 hòn đảo, giả sử mỗi đảo chỉ trang bị một tủ lạnh thôi thì số lượng kinh phí cần đã lớn bao nhiêu rồi?  Chúng tôi đã đi nhiều nơi vùng sâu, vùng biên giới và gần 10 đảo để tìm hiểu cách giải quyết, nhưng vẫn không tìm ra cách. Mãi đến hôm ra Côn Đảo, đang ngồi chủ trì cuộc họp, thì bỗng nhiên nghĩ rằng: Tại sao lại không xây dựng một lực lượng hiến máu dự bị thực chất, hiệu quả và bền vững; Và lực lượng đó tạo nên “ngân hàng máu sống” tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo? “Thực chất” là họ có đăng ký nghiêm túc, đăng ký là sẵn sàng tham gia hiến máu. “Hiệu quả” là khi họ đi hiến máu là hiến được và đó là máu “sạch”, có thể dùng ngay được cho bệnh nhân. “Bền vững” là những người đó sẵn sàng hiến máu nhiều lần, họ sống tại địa phương đấy. Phải gần 10 năm mới tìm ra được ba tính từ thực chất, hiệu quả và bền vững đó! Với ba tính từ này, chúng tôi quyết định tìm kiếm cho được cách lưu trữ máu ngay chính trong cơ thể người hiến máu có đủ sức khỏe, không bị bệnh tật, không bị nhiễm các virus lây qua đường truyền máu. Máu đó là máu “sạch”, máu tươi, máu luôn mới!  Sau đó, Viện đã bắt tay ngay vào việc xây dựng Ngân hàng máu sống. Đảo lớn là Cát Bà, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ; đảo vừa như Lý Sơn, Côn Đảo, Bình Ba; đảo bé như Cồn Cỏ, hòn Tre… rồi cả vùng sâu, biên giới ở Đồng Văn, Điện Biên Đông, Bố Trạch, Tịnh Biên… Qua nhiều công trình nghiên cứu cấp cơ sở và một đề tài cấp Bộ, chúng tôi đã có được trong tay gần 20 ngân hàng máu sống ở các nơi trong cả nước. Hơn thế nữa là đã hoàn thành được nhiều quy trình chuẩn để từ đó đào tạo, nhân rộng cho các địa phương.  Việc quản lý “ngân hàng máu sống” được thực hiện một cách chặt chẽ bằng cách giao danh sách cho UBND huyện, cơ sở y tế huyện, trạm xá xã… và tổ chức “báo động thử”. Kết quả báo động thử thật bất ngờ, người chậm nhất 21 phút, còn người đến nhanh nhất chỉ sau 8 phút.  Máu lấy được từ lực lượng hiến máu dự bị ở các ngân hàng máu sống đó, đã nhanh chóng phục vụ được cho việc cấp cứu bệnh nhân: Tại đảo Bạch Long Vĩ, cho đến nay đã có 2 trường hợp bị tai nạn đứt cánh tay ở giữa biển đã được cứu sống, ở huyện Điện Biên Đông cứu được sản phụ băng huyết, ở Đồng Văn máu cứu được người bệnh Thalassemia…  Như vậy là từ một vấn đề thực tiễn đặt ra, Viện đã tập trung suy nghĩ, nghiên cứu và kết quả của những nghiên cứu đó nhanh chóng được đưa vào ứng dụng ngay trong thực tiễn một cách vô cùng hiệu quả.    Author                Nguyễn Anh Trí        
__label__tiasang 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam?      Viện Đo lường và đánh giá sức khỏe (IMHE) thuộc Đại học Washington ở Seattle, Mỹ vừa công bố các thống kê liên quan đến tình hình sức khỏe của người Việt năm 2017.    Theo IMHE, mười nguyên nhân lớn nhất gây tử vong ở Việt Nam lần lượt là 1) đột quỵ, 2) bệnh tim do thiếu máu cục bộ, 3) ung thư phổi, 4) bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, 5) alzheimer, 6) tiểu đường, 7) xơ gan, 8) tai nạn giao thông, 9) nhiễm trùng đường hô hấp dưới và 10) lao. Đây cũng là những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu theo đánh giá của IMHE vào 2007. Hầu như các bệnh trong top 10 này không thay đổi mà chỉ thay đổi vị trí thứ tự một số căn bệnh. Chẳng hạn, lao từng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ năm vào 2007 thì nay đã xuống vị trí thứ mười còn tiểu đường trước đây chỉ đứng thứ mười thì nay đã trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ sáu tại Việt Nam. Điều này cho thấy, các chương trình y tế mà Việt Nam đã triển khai nhằm đối phó với bệnh lao đã có hiệu quả, tuy nhiên nỗ lực của ngành y tế vẫn còn chưa đủ trước diễn biến bệnh tật mới, khi tiểu đường – một trong những căn bệnh phổ biến trên thế giới hiện nay, đang tăng cao.   Trong nghiên cứu này, IMHE chỉ ra những yếu tố hàng đầu có thể vừa gây ra tử vong vừa gây khuyết tật ở Việt Nam gồm có: 1) thói quen ăn uống, 2) hút thuốc, 3) huyết áp cao, 4) tăng đường huyết khi đói, 5) uống rượu, 6) ô nhiễm không khí, 7) chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, 8) suy dinh dưỡng, 9) bệnh nghề nghiệp, 10) rối loạn mỡ máu, 11) suy giảm chức năng thận. Theo đó, các yếu tố nguy cơ hàng đầu vẫn không có gì thay đổi so với 10 năm trước. Nhưng một điều đáng quan tâm là thói quen ăn uống của người Việt lại là một căn nguyên “gây nguy hiểm” cho sức khỏe. Cụ thể, đa số người Việt có thói quen ăn rất nhiều tinh bột, trong khi tiêu thụ một lượng lớn tinh bột gạo sẽ dẫn đến việc đưa một lượng đường quá lớn vào cơ thể – một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh mãn tính như béo phì và tiểu đường.   Những kết quả nghiên cứu của IMHE cũng là một gợi ý có ích để các nhà quản lý hoạch định các chương trình y tế của Việt Nam, ví dụ như nêu ra thực tế là hầu hết các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam đều gồm các bệnh không truyền nhiễm (trừ lao) trong khi chính sách y tế công cộng hiện hành đều chủ yếu tập trung vào bệnh nhiễm khuẩn. Do vậy, chúng ta cần có những thay đổi kịp thời trong các chính sách y tế công cộng để sẵn sàng ứng phó. ¨  Bảo Như      Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 nhân vật  nổi bật năm 2013      Họ đến từ nhiều quốc gia khác nhau, có người còn rất trẻ, có người đã đến tuổi nghỉ ngơi, có người vì niềm đam mê khoa học, cũng có người vì không muốn khoanh tay đứng nhìn nỗi bất công… Tất cả, bằng những nỗ lực cá nhân, đã góp phần tạo nên diện mạo cho làng khoa học năm 2013 vừa qua theo sự đánh giá của tạp chí khoa học danh tiếng Nature.    TRƯƠNG PHƯỢNG: “Phù thủy” biến đổi DNA  Tiến sĩ trẻ 32 tuổi Trương Phượng, Học viện Công nghệ Massachusetts, đang đi đầu trong trào lưu nghiên cứu sử dụng hệ thống CRISPR/Cas để điều chỉnh bộ gene – một phương pháp ít tốn kém, dễ làm, và có độ chính xác cao.   CRISPRs (clustered regularly interspaced palindromic repeats – chuỗi lặp lại đối xứng đều nhau) là các chuỗi DNA được nhiều loại vi khuẩn và cổ khuẩn sử dụng để tự vệ. Chúng giải mã các sợi RNA có khả năng nhận diện cụ thể một chuỗi mục tiêu trong bộ gene virus. Các RNA kết hợp với một loại protein có liên quan đến CRISPR (gọi là Cas), để cắt DNA của đối tượng xâm nhập. CRISPR tương tự như hai phương pháp điều chỉnh bộ gene trước đây là ZFN (zinc-finger nuclease – nuclease ngón tay kẽm) và TALEN (transcription activator-like effector nuclease – nuclease giống nhân tố kích hoạt phiên mã). Tuy nhiên, cả hai phương pháp cũ này đều định vị các chuỗi mục tiêu qua các loại protein vốn khó sản xuất và đòi hỏi nhiều kinh phí. CRISPR sử dụng RNA nên dễ thiết kế hơn.  Tuy không phải là người khai sinh cho phương pháp điều chỉnh gene bằng CRISPR, song Tiến sĩ Trương Phượng đã cho thấy tiềm năng to lớn của phương pháp này với tác dụng trên các tế bào có nhân eukaryote, gồm cả tế bào của động thực vật. Phát hiện này khẳng định khả năng điều chỉnh bộ gene của các loài chuột, và thậm chí là loài linh trưởng, để hỗ trợ nghiên cứu, cải thiện cách mô phỏng bệnh trên người, từ đó phát triển các biện pháp điều trị.  TANIA SIMONCELLI: Chiến đấu với những bằng sáng chế gene người  Cuộc chiến cam go, dằng dai về bằng sáng chế gene người cuối cùng đã đi đến một kết thúc có hậu khi, vào tháng 6 vừa rồi, Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố Myriad Geneetics, một công ty chẩn đoán phân tử tại thành phố Salt Lake, Utah, thua kiện. Và công đầu thuộc về người phụ nữ có tên Tania Simoncelli.  Thực ra, Cục Sáng chế và Nhãn hiệu Thương mại Mỹ vẫn thường cấp bằng sáng chế gene người trong suốt gần 30 năm qua. Nhưng nhận thấy đây là mối đe dọa đối với quyền tiếp cận thông tin y học của cá nhân mỗi người dân, đồng thời cũng là rào cản đối với các hoạt động nghiên cứu gene của các nhà khoa học, Simoncelli đã dành tới 4 năm thu thập các bằng chứng để giúp các luật sư của Liên minh Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) khởi thảo một vụ kiện với đối tượng hướng tới là Myriad Genetics, công ty lúc đó đang bảo vệ rất gắt gao quyền sáng chế đối với hai loại gene có liên quan tới ung thư vú. Đồng thời cô còn đứng lên tập hợp một lực lượng ủng hộ hùng hậu gồm các nhà khoa học, các bệnh nhân, và các bác sĩ.    Về những nỗ lực bền bỉ của mình, Simoncelli chỉ nói giản dị: “Tôi muốn làm chiếc cầu nối giữa khoa học và công lý”. Từng có bằng cử nhân về sinh học và xã hội tại Đại học Cornell, sau đó có bằng thạc sỹ về năng lượng và tài nguyên từ Đại học California, Berkeley, lẽ ra Simoncelli đã có thể dành thời gian làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành khoa học, công nghệ, và xã hội. Nhưng cuối cùng cô đã quyết định từ bỏ dự định ban đầu để làm việc trong gần 7 năm liên tục ở ACLU, thậm chí sau này khi rời khỏi ACLU đến làm việc cho Cục Quản lý Thực – Dược phẩm (FDA) cô vẫn dành các kỳ nghỉ để quay lại đây tham gia theo đuổi vụ kiện. Hiện cô đang công tác tại Ban Khoa học và Chính sách Công nghệ của Nhà Trắng.   DEBORAH PERSAUD: Gieo mầm hy vọng cho những em bé nhiễm HIV  Đầu năm 2013, cả thế giới hồ hởi đón nhận tin vui: một em bé nhiễm HIV bẩm sinh ở Mississippi đã không còn mang trong người loại virus này. Một tháng sau đó, ba người công bố, Deborah Persaud, Hannah Gay, và Katherine Luzuriaga, được xướng tên trong “bảng phong thần” đình đám của Tạp chí Time – danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới.  Câu chuyện bắt đầu từ tháng 9/2012, khi Gay gọi điện cho Persaud về trường hợp một bệnh nhi nhiễm HIV từ mẹ. Vì người mẹ không điều trị trong thai kỳ nên vài giờ sau khi đứa trẻ ra đời, Gay cho trẻ sử dụng ba loại thuốc kháng virus liều cao, bao gồm zidovudine, lamivudine và nevirapine. Các xét nghiệm cho thấy khi đó bé bị nhiễm HIV, và người mẹ được khuyến nghị tiếp tục cho bé điều trị. Tuy nhiên, trong một lần khám kiểm tra, Gay nhận thấy đứa trẻ chưa được cho dùng thuốc trong 5 tháng liên tục, vì vậy Gay tiến hành xét nghiệm máu, và các kết quả kiểm nghiệm kỹ lưỡng sau đó cho thấy, trên cơ thể em bé đã không còn dấu hiệu virus nào, và ngày càng có cơ sở để khẳng định liều kháng virus ban đầu đã hoàn toàn tiêu diệt được virus HIV.   Nhóm Nghiên cứu Lâm sàng Quốc tế về AIDS trong thai kỳ, ở trẻ nhũ nhi và trẻ vị thành viên, nơi Persaud đang làm cố vấn khoa học, đang lên kế hoạch thử nghiệm điều trị sớm với liều lượng cao cho trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm HIV. Nếu các kết quả này là bền vững, thì rất có thể sẽ đến ngày hàng trăm trẻ nhiễm HIV không còn phải dùng thuốc thường xuyên. Hiện Persaud đang tìm phương pháp xác định những trường hợp có dấu hiệu thuyên giảm bệnh. “Đó là một thử thách lớn,” bà nói, “nhưng nó cũng có thể là bước ngoặt trong việc tìm ra liệu pháp điều trị HIV cho trẻ nhỏ.”    MICHEL MAYOR: Tìm kiếm những Trái đất khác  Suốt hai thập kỷ qua, Michel Mayor, nhà du hành danh dự tại trường Đại học Geneeva, Thụy Sĩ, cùng nhóm nghiên cứu của mình đã phát hiện ra hàng trăm hành tinh nằm ngoài hệ mặt trời. Nhưng riêng năm 2013 lại mang tới cho người hùng săn hành tinh 71 tuổi này một phát hiện đặc biệt thú vị: Kepler-78b, một trong số hàng nghìn hành tinh do tàu không gian Kepler của NASA phát hiện được trong giai đoạn 2009 – 2013, có tỷ trọng và kích cỡ gần giống với Trái đất nhất từ trước tới nay.   Tuy không hẳn là một sự so sánh chính xác, bởi Kepler-78b có quỹ đạo gần hành tinh mẹ tới nỗi bề mặt bị nóng chảy, nhưng Mayor tin rằng việc tìm ra chị em song sinh với Trái đất chỉ còn là vấn đề thời gian. Với sự cải tiến công nghệ không ngừng – Mayor có biệt tài trong việc thiết kế, chế tạo các thiết bị đo lường độ rung phổ sáng của các hành tinh, yếu tố giúp gián tiếp đánh giá kích cỡ và trọng lực của chúng – ông cho rằng chỉ mất thêm khoảng 5 năm nữa để có thể tìm kiếm một hành tinh giống Trái đất, giữ khoảng cách vừa đủ với hành tinh mẹ để có thể giữ được chất lỏng, và kèm theo đó là mầm mống của sự sống.   NADEREV SAÑO: Tiếng nói của lương tri  Khi Naderev Saño, trưởng đoàn đàm phán Philippines, đọc bài diễn văn đẫm nước mắt tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu diễn ra hồi tháng 11 tại Warsaw, anh vẫn còn chưa biết tình hình số phận của những người họ hàng và hàng nghìn đồng bào khác trên đất nước mình. Anh chỉ biết rằng anh trai mình vẫn còn sống và đã gia nhập đoàn quân cứu hộ khẩn cấp đang miệt mài tìm kiếm thi thể các nạn nhân của cơn bão Haiyan. Anh cũng biết rằng cơn bão khủng khiếp đó có thể là dấu hiệu của những gì mà các khu vực ven biển sẽ phải đối mặt trong tương lai.  Không dừng ở lời nói, tại hội nghị lần này, vốn chẳng được mấy người kỳ vọng sẽ có thêm tiến triển nào trong việc xây dựng một hiệp ước ràng buộc nhằm kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính, Saño đã lấy mình ra làm hình ảnh sống để nhắc nhở mọi người rằng sinh mạng con người đang bị đe dọa. Anh đã tuyệt thực trong suốt 14 ngày, cho tới khi các bên tham dự đạt được một thỏa thuận vào phút cuối về việc duy trì tiến độ đàm phán cho hội nghị thượng đỉnh về khí hậu tiếp theo diễn ra tại Paris năm 2015.  Cho tới giờ, tiến độ giải quyết vấn đề ấm lên toàn cầu vẫn rất chậm chạp. Sau hơn hai thập kỷ bàn bạc, đàm phán, lượng khí carbon dioxide phát thải ra ngoài không khí vẫn không ngừng tăng lên. Từng có thời gian làm nghiên cứu sinh về ứng phó với biến đổi khí hậu và thiên tai, Saño hiểu rằng các nhà khoa học luôn né tránh việc đưa ra bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào giữa hiện tượng ấm lên toàn cầu với các cơn bão, mặc dù về cơ bản người ta nhất trí cho rằng biển ấm lên sẽ làm cường độ bão mạnh hơn. “Tôi hy vọng rằng bên cạnh những cuộc đàm phán chậm chạp, những hy sinh mất mát mà dân tộc tôi phải chịu và tiếng nói của chúng tôi sẽ đem lại sự thay đổi nào đó”, Saño chia sẻ.    VIKTOR GROKHOVSKY: Thợ săn thiên thạch  Thành công đến với kỹ sư luyện kim Viktor Grokhovsky, trường Đại học Liên bang Ural, trong năm nay đúng là “từ trên trời rơi xuống”. Ngày 15/2, khối thiên thạch khổng lồ rơi xuống làm rung chuyển cả thành phố Chelyabinsk, Nga, khiến giới thiên văn học được phen bất ngờ, do nó đến từ một vùng không gian mà các kính thiên văn dưới mặt đất chưa tiếp cận tới. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau vụ va chạm, qua những tính toán chính xác về điểm rơi của các mảnh vụn, Grokhovsky đã giúp phát hiện ra hơn 700 mảnh thiên thạch với tổng trọng lượng là 5,5 kg. Đặc biệt tính toán của ông giúp tìm ra mảnh thiên thạch lớn nhất, có trọng lượng 570kg, được trục vớt từ đáy hồ Chelyabinsk hồi tháng 10 vừa qua.  Những mảnh vỡ của khối thiên thạch trên hiện đang có mặt tại rất nhiều phòng thí nghiệm khác nhau trên thế giới. “Thiên thạch Chelyabinsk có tầm quan trọng vô cùng lớn,” Grokhovsky nói. Kích cỡ khổng lồ và những thiệt hại mà nó gây ra đã khiến các nhà khoa học phải nâng mức khả năng các thiên thạch tương tự – hoặc lớn hơn – va vào trái đất. Còn đối với Grokhovsky thì đây quả là trải nghiệm có một không hai trong đời. “Tôi thật may mắn khi được dự một phần vào câu chuyện kỳ thú này về cuộc phiêu lưu của một vị khách du hành từ vũ trụ đến trái đất”, anh nói.  TRẦN HỨA LAN: Tiền đồn ngăn chặn virus H7N9  Đầu tháng 4, thế giới nín thở theo dõi tình hình ở Trung Quốc: Một loại virus cúm gia cầm mới – H7N9 –lại lây lan từ gia cầm sang người, gây bệnh và làm tử vong nhiều người. Ngay lập tức, Trần Hứa Lan, trưởng phòng thí nghiệm Cúm gia cầm Quốc gia tại thành phố Cáp Nhĩ Tân, và các đồng nghiệp xông pha vào tuyến đầu trong các nỗ lực khống chế đại dịch.   Chưa đầy 48h sau khi những ca nhiễm H7N9 đầu tiên được xác nhận, nhóm làm việc của Trần Hứa Lan cùng với các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh thú y Thượng Hải đã thu thập được khoảng 1.000 mẫu bệnh phẩm từ đất, nước, trang trại nuôi, và các chợ bán gia cầm sống ở Thượng Hải và tỉnh An Huy. Chính quyền nhanh chóng đóng cửa các chợ bán gia cầm sống có tỉ lệ nhiễm bệnh cao, nhờ đó tốc độ lây lan của dịch bệnh giảm xuống. Phản ứng nhanh nhạy và minh bạch của Trung Quốc đã được cộng đồng quốc tế ủng hộ nhiệt liệt.  Nhóm nghiên cứu nhận thấy virus H7N9 dễ lây từ người sang gia cầm hơn H5N1. Cho tới nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy H7N9 có thể lây từ người sang người, song bà Trần Hứa Lan cho rằng đây cũng là một khả năng.   SHOUKHRAT MITALIPOV: Những quy định trói chân một người tiên phong trong lĩnh vực nhân bản người  Tháng 5 vừa qua, làng khoa học quốc tế lại được phen khuấy động khi Tiến sĩ Shoukhrat Mitalipov, nhà sinh học sinh sản tại trường Đại học Sức khỏe và Khoa học Oregon, Portland, Mỹ, tuyên bố nhân bản thành công bốn tuyến tế bào bằng cách đưa nhân vào trứng. Đây là một bước đột phá trong nhân bản người, đem lại niềm hy vọng chữa trị nhiều loại bệnh nan y bằng cách sử dụng tế bào gốc làm từ phôi nhân bản của tế bào da.  Nhưng thành công của Mitalipov không chỉ đòi hỏi vượt qua những thách thức về khoa học kỹ thuật, mà cả những quy định ngặt nghèo và ma trận các thủ tục. Từ năm 2007, ông đã mong muốn tạo ra những tế bào có khả năng chữa nhiều bệnh sử dụng tế bào gốc làm từ phôi nhân bản của tế bào da, nhưng điều này đòi hỏi phải dùng rất nhiều trứng người để tạo ra những phôi mà sau này sẽ bị hủy bỏ. Để làm vậy Mitalipov phải được sự đồng ý của các hội đồng khoa học và một ủy ban giám sát nghiên cứu tế bào gốc. Rút cục, Đại học Portland đã phải xây cho ông một phòng thí nghiệm hoàn toàn mới, vì họ không được cho phép tạo ra tế bào gốc từ phòng thí nghiệm ban đầu, vốn được cấp kinh phí từ ngân sách liên bang.  Ngày nay, sau khi thành công vang dội, Mitalipov lại quay về với guồng quay chậm chạp trong công việc của mình. Hiện ông đang đôn đáo tìm kiếm thêm đối tác và nguồn tài trợ cho các dự án nghiên cứu tế bào tiếp theo, bởi các nhà tài trợ liên bang không tài trợ cho các nghiên cứu trên các tuyến tế bào, còn Viện Y học Tái sinh California thì không tài trợ cho những hoạt động nghiên cứu dựa vào trứng lấy từ những người hiến trứng lấy tiền. Vì vậy mà “mọi việc vẫn dậm chân tại chỗ như một năm trước đây”, Mitalipovcho biết.  KATHRYN CLANCY: “Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”  Tháng 4 năm nay, giới học thuật phải sửng sốt trước những phát hiện động trời trong giới: nạn quấy rối tình dục tại nơi tác nghiệp đang diễn ra tràn lan tới mức đáng báo động. Kẻ “vạch áo” ở đây là Kathryn Clancy, Tiến sĩ nhân loại học của trường Đại học Illinois.   Từ những lời tâm sự dè dặt của các bạn đồng nghiệp, Clancy quyết định làm rõ vấn đề bằng những số liệu cụ thể thông qua một cuộc khảo sát. Kết quả cho thấy, 59% trong số 124 người được hỏi nói rằng họ từng là nạn nhân của các vụ sàm sỡ, quấy rối qua lời nói, 18% bị sàm sỡ thân thể (sau này Clancy tăng quy mô khảo sát lên 666 người và bổ sung thêm các ngành địa chất học và động vật học, kết quả cho thấy các tỉ lệ này về cơ bản không thay đổi). Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy tình trạng này diễn biến một cách có hệ thống, “con mồi” thường là các nữ sinh viên trẻ mới ra trường, còn “kẻ săn mồi” thường là nam giới lớn tuổi hơn, ở các chức vị cao hơn, đa phần chính là các nhân sự chính thức trong các trường, như các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ hay giáo sư, chứ không phải là những công nhân làm việc theo hợp đồng ngắn hạn. Nhiều người còn cho biết tác nghiệp tại thực địa – tức là khi họ bị tách ra khỏi những chuẩn mực thông thường về gia đình, bạn bè – có khả năng làm nảy sinh những hành vi không mong muốn nhất.  Cũng qua nghiên cứu, Clancy và cộng sự thấy rằng nhiều nạn nhân đã chọn cách im lặng vì sợ bị cản trở trong công việc. Một số khác gửi đơn khiếu nại song lại nhận được lời khuyên hãy giữ im lặng hoặc “sống chung với lũ”. Chỉ có một số trường hợp ít ỏi được giải quyết thỏa đáng. Nhưng dù gì đi nữa, đối với nhiều người, thì đó là nỗi ám ảnh suốt đời. Có những nhà nghiên cứu trẻ đã phải cắn răng từ bỏ khoa học chỉ vì những kỷ niệm kinh hoàng ở nơi tác nghiệp.  Chỉ vài ngày sau công bố của Clancy, các hiệp hội nghề nghiệp nhanh chóng đưa ra những chính sách nghiêm khắc, không khoan nhượng đối với vấn nạn này. Meredith Hastings, một nhà sinh địa hóa học (biogeochemist) từ Đại học Brown ở Rhode Island, đồng sáng lập của tổ chức Mạng lưới Phụ nữ Ngành Khoa học Trái đất, nhận định rằng những điều Clancy đã làm là vô cùng cần thiết để đưa ra ánh sáng một vấn đề nghiêm trọng bị bỏ qua trong giới khoa học, và “chúng ta không thể biết mức độ phổ biến của những chuyện này cho tới khi ai đó lên tiếng”.   HENRY SNAITH: Kẻ thờ thần Mặt trời  Năm nay, Henry Snaith, nhà vật lý trẻ 35 tuổi tại trường Đại học Oxford, đã khiến giới nghiên cứu vật liệu phải kinh ngạc khi ông tạo ra sự nhảy vọt về hiệu suất của pin mặt trời bằng chất bán dẫn dùng perovskite.    Phần lớn các loại pin mặt trời hiện nay đều làm từ silicon, và chuyển được khoảng 17 – 25% năng lượng ánh sáng thành điện năng. Tuy nhiên, việc đòi hỏi quá nhiều silicon khiến sản xuất pin mặt trời rất tốn kém. Các loại pin dạng phim mỏng, chứa các loại chất bán dẫn khác, thì rẻ hơn nhưng lại thường kém hiệu quả hơn, được cải tiến công nghệ qua vài thập kỷ nhưng chỉ đạt được mức hiệu suất 15%. Pin mặt trời sử dụng perovskite hội đủ những lợi thế của hai loại pin trên, và hiện đã đạt mức chuyển hóa năng lượng 15%. Nếu tiếp tục điều chỉnh, Snaith tin rằng nó có thể đạt mức chuyển hóa 29%, ngang ngửa với loại pin crystalline gallium arsenide vốn được dùng nhiều trong các thiết bị vệ tinh nhưng không thể sản xuất đại trà do giá thành quá đắt đỏ.  Snaith chọn pin mặt trời làm chủ điểm nghiên cứu bởi đây là trung gian cho ngành năng lượng sạch. Theo ông, năng lượng gió đòi hỏi quá nhiều kỹ nghệ, trong khi triển vọng công nghệ phản ứng nhiệt hạch còn rất xa vời. Do đó nghiên cứu quang điện là hợp lý trong hoàn cảnh hiện nay. Vẫn còn nhiều cơ hội phát triển trong ngành này, và những phát minh mới đều đem lại những lợi ích nhãn tiền.  Các nhà sản xuất pin mặt trời hiện đã bắt đầu quan tâm tới vật liệu perovskite, nhưng Snaith cho rằng bản thân mình cũng có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh. Từ năm 2010 anh đã đồng sáng lập ra công ty Oxford Photovoltaics, với mục tiêu kinh doanh là lắp các tấm pin perovskite lên cửa sổ kính thông thường, và đến năm 2017 dự kiến họ sẽ làm ra những tấm pin chỉ rẻ ngang với kính gia dụng thông thường.   Những nhân vật dự kiến năm 2014  Masayo Takahashi, Trung tâm RIKEN Sinh học Phát triển  Năm 2014 có thể sẽ là thời điểm tế bào gốc đa năng sẽ được thử nghiệm lâm sàng lần đầu tiên, khi nhà nghiên cứu Takahashi dùng các tế bào có nguồn gốc từ bệnh nhân để tạo các lớp võng mạc nhằm điều trị bệnh thoái hóa võng mạc, nguyên nhân phổ biến gây mù.  Chris Field, Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu.  Là đồng chủ nhiệm của báo cáo sắp tới về tác động biến đổi khí hậu, một vấn đề đang được coi là ngày càng cấp bách, Field hi vọng sẽ tránh được những sai lầm từng gây mất điểm cho bản báo cáo năm 2007 của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu.  Jean-Pierre Bourguignon, vị chủ tịch sắp tới của Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu   Nhà toán học người Pháp này sắp thay thế Helga Nowotny để ngồi vào vị trí phụ trách cơ quan cấp kinh phí hàng đầu châu Âu, đồng thời được hưởng ngân sách lớn hơn so với người tiền nhiệm mình. Tuy nhiên, ông sẽ phải bảo vệ cơ quan này trước những sức ép chính trị và quan liêu không nhỏ.  Koppillil Radhakrishnan, Chủ tịch Tổ chức Cơ quan Nghiên cứu Vũ trụ Ấn Độ   Tàu vũ trụ của Ấn Độ dự kiến sẽ tới được quỹ đạo sao Hỏa vào tháng 9 tới, đánh dấu lần đầu tiên quốc gia này đưa tàu đi thám hiểm hành tinh đỏ (nhiệm vụ Mars Orbiter Mission). Cả thế giới đang dõi theo con tàu trên hành trình gian nan mà những lần chinh phục trước đây của nhân loại cho thấy thất bại nhiều hơn thành công.   Gordon Sanghera, Giám đốc điều hành Oxford Nanopore  Tháng 2 tới, các khách hàng của công ty Oxford Nanopore (Anh) dự kiến sẽ hé lộ thông tin về những dữ liệu thu được sử dụng thiết bị MinION giúp xác định trình tự gene. Nếu thiết bị này thực hiện đúng như những gì người ta hứa hẹn, nó sẽ giúp đưa con người vào một kỷ nguyên mới, trong đó việc xác định trình tự gene được tiến hành một cách nhanh chóng và rẻ hơn trước rất nhiều.   Bùi Thu Trang lược dịch theo Nature  http://www.nature.com/ news/365-days-nature-s-10-1.14367    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 sự kiện vật lý 2010      &#160;Tạp chí PhysicsWorld bình chọn 10 sự kiện Vật lý năm 2010.      1. PHẢN HYDROGEN  Nhóm ALPHA (Antihydrogen Laser Physics Apparatus,CERN) thông báo cuối tháng 11 vừa rồi đã giam giữ được 38 nguyên tử phản hydrogen (một phản electron quay chung quanh một phản proton) trong 170 ms, thời đoạn đó cũng đủ để thực hiện các phép đo phổ học. Một vài tuần sau nhóm ASACUSA (Atomic Spectroscopy & Collisions Using Slow Antiproton, CERN) cũng thu được kết quả tương tự.  Kết quả này cho phép nghiên cứu chi tiết các mức năng lượng của phản nguyên tử hydrogen. Một sự khác biệt nhỏ trong các mức năng lượng của phản hydrogen so với hydrogen sẽ cung cấp thông tin về một bí ẩn lớn của vật lý: tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất trong vũ trụ.   Jeffrey Hangst (Đại học Aarhus, Đan Mạch) đại diện nhóm ALPHA đã phát biểu rằng điểm mấu chốt trong nghiên cứu phản hydrogen là đo quá trình chuyển tiếp giữa hai trạng thái 1s & 2s, đồng thời đo quá trình tương tự trong hydrogen, so sánh kết quả có thể phát hiện sự vi phạm đối xứng quan trọng trong vật lý là đối xứng CPT (charge-parity-time/điện tích-chẵn lẻ-thời gian). Điều này giúp các nhà vật lý trả lời câu hỏi: tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất trong vũ trụ?   Điều thách thức mà nhóm ALPHA đối diện là việc tích lũy đủ số lượng các nguyên tử phản hydrogen. Hangst nói rằng chương trình 5 năm của dự án ALPHA là tìm cách làm cho phản hydrogen đủ lạnh để có thể giam giữ chúng lại vì rằng thực hiện các phép đo phổ học trên chùm (beam) là rất khó khăn.          Nhóm ALPHA ăn mừng thắng lợi        Nhóm ASACUSA tại CERN            Tháng 12/2010 nhóm ASACUSA cũng thông báo đạt được những kết quả trên, họ đang tập trung nghiên cứu cấu trúc siêu tinh tế trong các mức năng lượng của phản hydrogen để so sánh với trường hợp hydrogen. Lãnh đạo nhóm ASACUSA là nhà vật lý Yasunori Yamazaki (từ phòng thí nghiệm RIKEN, Nhật Bản). Điều đáng lưu ý là hiện nay chưa có một lý thuyết có khả năng tiên đoán được đối xứng CPT bị vi phạm như thế nào trong hệ hydrogen-phản hydrogen.  2. KHÍ QUYỂN CÁC HÀNH TINH LẠ KHÔNG CÒN LÀ BÍ MẬT  Trong năm 2010 một nhóm các nhà thiên văn Canada và Đức đã lần đầu tiên đo trực tiếp phổ khí quyển của một hành tinh nằm ngoài hệ Mặt trời. Markus Janson (Đại học Toronto) cùng cộng sự đã sử dụng kính Viễn vọng Lớn VLT (Very Large Telescope) đài thiên văn ESO (European Southern Observatory) để nghiên cứu khí quyển của hành tinh lạ HR 8799 cách Trái đất 130 năm ánh sáng. Mặc dầu hành tinh này không có sự sống song những nghiên cứu khí quyển của hành tinh này sẽ mang lại nhiều thông tin cho việc truy tìm sự sống ở những nơi khác.  3. CÁC HIỆU ỨNG LƯỢNG TỬ THẤY BẰNG MẮT THƯỜNG          Hộp cộng hưởng        Đây là một thành công trong việc quan sát lượng tử trên một đối tượng vĩ mô đủ lớn để có thể thấy bằng mắt thường. Andrew Cleland và cộng sự đã thành công trong việc giảm biên độ dao động trong một hộp cộng hưởng bằng cách làm lạnh nó xuống dưới 0,1 độ K và nhờ đó tạo nên hiện tượng chồng chất (superposition) đồng thời của trạng thái kích thích và không kích thích trong hộp cộng hưởng. Điều này tương đương với tình huống con mèo nổi tiếng của Schrodinger đồng thời vừa chết vừa sống. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một tia sáng rọi vào ranh giới bí ẩn giữa thế giới lượng tử và cổ điển.  4. HIỆU ỨNG TÀNG HÌNH  Hai nhóm các nhà vật lý đã công bố kết quả chế tạo được áo choàng tàng hình. George Barbastathis và cộng sự (Viện công nghệ Massachusetts & Đại học Singapore) đã chế tạo được áo choàng tàng hình cho một vật 2D. Đồng thời Shuang Zhang và cộng sự (Đại học Birmingham, Đại học Hoàng gia & Đại học kỹ thuật Đan mạch) đã chế tạo được áo choàng tàng hình được một vật 3D. Khác với các  áo choàng khác thường làm bằng siêu vật liệu nhân tạo, hai áo choàng trên sử dụng tinh thể calcite.    5. LASER ÂM (SOUND LASER) ĐẦU TIÊN  Hai nhóm vật lý độc lập nhau đã chế tạo những ‘laser” phonon dầu tiên. Những laser này phát ra những sóng âm liên kết (coherent) tương tự như laser phát ra những sóng ánh sáng liên kết. Nhóm thứ nhất do Tony Kent (Đại học Nottingham, Anh) lãnh đạo, nhóm thứ hai-Ivan Grudinin (Caltech). Laser của nhóm thứ nhất phát âm trong khoảng 400 GHz, laser của nhóm thứ hai- khoảng megahertz. Các laser này có thể dùng để thu ảnh 3D của những cấu trúc nano.  6. NGƯNG TỤ  BOSE-EINSTEIN TỪ ÁNH SÁNG          Hộp cộng hưởng        Nhiều nhà vật lý cho rằng đây là điều bất khả thi, song nhóm các nhà vật lý Đức đã tạo ra được ngưng tụ Bose-Einstein (BEC/Bose-Einsstein Condensate) từ photon. BEC được hình thành khi các boson (tức các hạt có spin nguyên) được làm lạnh đến lúc mọi hạt đều rơi vào cùng một trạng thái. Mặc dầu photon là hạt boson được biết đến nhiều hơn cả song chúng đễ dàng sinh và hủy khi tương tác với các vật chất khác do đó khó lòng làm lạnh chúng để tạo thành một ngưng tụ (condensate). Martin Weitz và cộng sự (Đại học Bonn) đã giải quyết vấn đề này bằng cách bơm liên tục với một laser đề bù trừ số photon bị mất. Thành tích đột phá này có thể giúp ích nhiều cho công nghệ pin Mặt trời.   7. TƯƠNG ĐỐI TÍNH TRONG PHẠM VI THƯỜNG NHẬT  James Chin-Wen Chou và cộng sự (Viện Quốc gia Tiêu chuẩn & Công nghệ-NIST) đã sử dụng hai đồng hồ quang học chính xác nhất hiện nay trên thế giới để chứng minh rằng thời gian đã đi nhanh hơn trong chiếc đồng hồ bị treo cao 33 cm hơn chiếc đồng hồ kia. Họ cũng chứng minh được rằng thời gian đi chậm hơn trên chiếc đồng hồ chuyển động 35 km/giờ so với chiếc đồng hồ kia. Ở đây không có điều gì mới về lý thuyết tương đối Einstein song điều đáng nói là các hiệu quả tương đối đã được kiểm nghiệm ngay trong các khoảng không gian và vận tốc gần với đời sống thường nhật.           Toàn ảnh (hologram) của máy bay Phantom F-4        8. TẠO ẢO GIÁC THAM GIA (TELEPRE SENCE) VÀONHỮNG CẢNH TRONG PHIM CHIẾN TRANH GIỮA CÁC VÌ SAO  Việc sử dụng vật lý để tái tạo một cảnh thực trong cuốn phim Chiến tranh giữa các vì sao xứng đáng được bình chọn là một trong top 10 sự kiện 2010. Năm 1977 khán giả đã trầm trồ thán phục các hiệu quả đặc biệt của cuốn phim cổ điển này trong đó có toàn ảnh (hologram) Công chúa Leia kêu cứu  Obi-Wan Kenobi.   Nasser Peyghambarian và cộng sự (Đại học Arizona & Tập đoàn Kỹ thuật Nitto Denko) đã thực hiện một bước tiến quan trọng trong việc biến những toàn ảnh động học, thời gian-thực đó thành hiện thực bằng cách chế tạo những màn ảnh polymer khúc xạ quang (photorefractive) siêu nhạy với ánh sáng laser.  9. PROTON CÓ KÍCH THƯỚC NHỎ HƠN TA TƯỞNG  Các nhà vật lý đã tiến hành nhiều phép đo về proton trong hơn 90 năm qua, vì vậy nhiều người nghĩ rằng kích thước proton chắc là đã được xác định. Song trong năm 2010 một nhóm các nhà vật lý quốc tế lãnh đạo bởi Randolf Pohl (Viện Quang học Lượng tử Max Planck) đã phát hiện rằng kích thước proton thực sự nhỏ hơn kích thước ta xác định trước đây 4%. Kết quả này thu được nhờ nghiên cứu hydrogen “muonic” trong đó electron được thay thế bằng một hạt nặng hơn là muon. Kết quả đột phá này làm cho các nhà vật lý phải suy nghĩ lại cách áp dụng điện động lực học lượng tử QED (Quantum Electrodynamics), thậm chí phải xét lại liệu lý thuyết có cần những thay đổi cơ bản hay không.              Va chạm của các ion chì        10. CERN ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG VA CHẠM BẢN LỀ  Chúng ta không thể không bình chọn vào top mười sự kiện 2010 các kết quả đột phá thu được trên Máy Va chạm Hadron Lớn LHC (Large Hadron Collider) ở CERN. Tháng 3/2010 các nhà vật lý LHC đã thực hiện được các va chạm proton-proton 7 TeV mà  không bất kỳ máy gia tốc nào trước đây làm được. Tháng 11/2010 các nhà vật lý trên tiến đến dự án nghiên cứu quá trình va chạm ion chì và tạo nên các điều kiện chỉ có ở thời điểm ngay sau Bigbang.  CC. biên dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 sự kiện vật lý năm 2016      Việc khám phá ra sóng hấp dẫn và nghịch lý về con mèo của Schrödinger đều có mặt trong danh sách những thành tựu vật lý của năm 2016 do tạp chí Physics World bình chọn.      Con mèo của nhà vật lý Schrödinger ở hai trạng thái sống và chết cùng một thời điểm  Việc khám phá thành công sóng hấp dẫn, được dự đoán bởi lý thuyết hấp dẫn của A. Einstein cách đây 100 năm, là kết quả nghiên cứu tại Đài Quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser LIGO, thu hút sự tham gia của các nhà khoa học tại 80 viện nghiên cứu trên toàn thế giới. LIGO điều khiển một vài phòng thí nghiệm trên thế giới, nơi có những tia laser chạy dọc các “cánh tay” giao thoa kế rất dài (vài km), để cố gắng ghi nhận được sự co dãn cong vênh của không – thời gian khi sóng hấp dẫn đi qua. Cuối cùng, họ đã phát hiện ra các tín hiệu đầu tiên được sinh ra từ vụ sáp nhập hai lỗ đen trong vũ trụ sớm xảy ra cách trái đất hơn một tỷ năm ánh sáng.  “Những ghi nhận về sóng hấp dẫn của LIGO, đặc biệt là trong một khoảng thời gian tương đối ngắn ngủi là sự thật không thể tin nổi”, Hamish Johnston, biên tập viên của Physics World, đánh giá. “Những quan sát này đã đem lại bằng chứng trực tiếp đầu tiên của sự tồn tại của các lỗ đen, vì vậy LIGO đã thay đổi sự nhìn nhận của chúng ta về vũ trụ”.  Theo Physics World, chín sự kiện còn lại là:   Con mèo của Schrödinger: Nghịch lý nổi tiếng trình bày ý tưởng về con mèo ở trong một cái hộp có thể đồng thời ở hai trạng thái sống và chết. Kịch bản này được nhà vật lý Schrödinger thiết kế ra để minh họa một vài nguyên lý trong thế giới kỳ lạ của cơ học lượng tử. Đây là một ví dụ của sự chồng chập lượng tử, nơi các hạt có thể ở hai trạng thái khác nhau cùng một lúc.  Một nhóm gồm các nhà nghiên cứu Pháp – Mỹ đã sáng tạo hai lỗ hổng vi sóng (các hộp cộng hưởng), còn các con mèo được tái hiện bằng số lượng lớn các hạt photon và chứng minh “con mèo” có thể ở trong hai vị trí riêng rẽ cùng một thời điểm.  Compact “đo trọng lực”: Các nhà khoa học ĐH Glasgow đã thiết kế một máy đo trọng lực nhỏ gọn, không tốn nhiều kinh phí nhưng có thể thực hiện các phép đo chính xác trọng lực trái đất. Thiết bị này có thể được sử dụng trong việc thăm dò khoáng sản, xây dựng công trình dân dụng và giám sát quá trình hoạt động của núi lửa.  Hàng xóm gần: Các nhà vật lý thiên văn đã khám phá ra bằng chứng về một hành tinh đá trong khu vực có thể có sự sống của Proxima Centauri, ngôi sao gần nhất hệ mặt trời của chúng ta. Thế giới xa lạ mang tên Proxima b này lớn gấp 1,3 lần trái đất và theo lý thuyết thì có thể có nước ở dạng lỏng trên bề mặt hành tinh.  Rối lượng tử: Một nhóm các nhà khoa học quốc tế đã sáng tạo và đo đạc một hiệu ứng là rối lượng tử giữa hai kiểu khác biệt của ion – một nguyên tử tích điện hoặc phân tử. Sự khám phá này có thể giúp người ta hình dung con đường hướng tới các máy tính lượng tử siêu nhanh.  Vật liệu mơ ước: Các nhà khoa học đã đo được một tính chất gọi là sự khúc xạ âm trong vật liệu graphene đầy hứa hẹn. Khúc xạ âm có thể được sử dụng để xây dựng các hình thức của thiết bị quang học như các thấu kính siêu chính xác.    Đồng hồ hạt nhân: Các nhà vật lý Đức đã dò ra được một sự chuyển tiếp khó nắm bắt trong nguyên tố thorium -229 có thể cho phép phát triển thành một “đồng hồ hạt nhân” có độ ổn định hơn các loại đồng hồ nguyên tử thông thường vẫn được sử dụng ngày nay.  Thấu kính kinh ngạc: Một nhóm các nhà khoa học ở ĐH Strathclyde (Scotland) đã làm ra thấu kính hiển vi mới mang tên Mesolens, có sự kết hợp độc đáo giữa trường nhìn rộng và độ phân giải cao.  Tính toán nhanh: Các máy tính lượng tử có thể dự báo một cuộc cách mạng công nghệ nhưng các nhà khoa học phải vượt qua nhiều rào cản trước khi họ có thể làm ra các thiết bị về “thế giới thật”. Năm 2016, các nhà nghiên cứu Áo đã sử dụng một máy tính lượng tử để mô phỏng [các trạng thái] vật lý nhằm miêu tả sự tương tác cơ bản giữa các hạt hạ nguyên tử – một sự phát triển đáng kể trong lĩnh vực này.  Động cơ tí hon: Một nhóm các nhà nghiên cứu tại ĐH Mainz (Đức) đã thiết kế và chế tạo một động cơ nhiệt chỉ dựa trên duy nhất một nguyên tử. Động cơ này có khả năng quy đổi nhiệt độ bằng một ion calcium ở trong một ống hình phễu đến động cơ cơ khí.  Thanh Nhàn dịch  TS. Phùng Văn Đồng hiệu đính  Nguồn: http://www.bbc.com/news/science-environment-38302759    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 sự kiện vật lý nổi bật năm 2007      Năm 2007 đã qua, cũng như nhiều lĩnh vực khác như sinh học, hóa học, y học…, các nhà vật lý vẫn miệt mài vật lộn với những bài toán, “túc trực” bên những cỗ máy thí nghiệm để khám phá ra những tính chất mới của tự nhiên. Và vừa qua, Viện Vật lý Mỹ (American Institute of Physics) đã bình chọn 10 sự kiện vật lý tiêu biểu nhất, tạo nên những cú “hích” mới cho tiến bộ khoa học trong suốt năm 2007.    “Giảm tốc”… ánh sáng                     Giờ đây, Lene Hau và cộng sự, ĐH Harvard, có thể “tạm dừng” và lưu trữ tín hiệu ánh sáng trong một đám khí nguyên tử siêu lạnh. Trong thí nghiệm các nhà khoa học đã chiếu một xung ánh sáng vào một đám nguyên tử Natri ở trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein (BEC), và sau đó khôi phục lại tín hiệu ánh sáng ở một đám nguyên tử Natri ở trạng thái BEC thứ hai cách đó 160 micron. Như vậy, ánh sáng laser có thể “đi” chậm đến mức gần như…dừng hẳn.  Với thành công tuyệt vời này, việc chia sẻ thông tin lượng tử có thể thực hiện dưới dạng ánh sáng, và hơn nữa, không chỉ trong một dạng mà có thể tiến hành theo hai dạng nguyên tử. Sự kiện này sẽ trở thành một cú “hích” lớn trên con đường phát triển các máy tính lượng tử và thông tin quang học.  Quan sát chui hầm của điện tử                     Khi chiếu một xung laser vào nguyên tử có thể “giải thoát” các điện tử khỏi nguyên tử. Tuy nhiên, quá trình này xảy ra trong một phần tỷ tỷ giây nên từ trước đến nay, các nhà khoa học chỉ có thể quan sát được các hiệu ứng gián tiếp như sự iôn hóa của nguyên tử. Nhưng vừa qua, hiệu ứng chui hầm của điện tử trong nguyên tử đã được nhóm nghiên cứu ba nước Đức-Úc-Hà Lan quan sát trong “thời gian thực”. Với một kỹ thuật mới, Ferenc Krausz và cộng sự đã sử dụng hai xung laser với các bước sóng khác nhau, một xung hồng ngoại và một xung tử ngoại cực ngắn, chiếu vào đám khí nguyên tử Neon. Bằng việc thay đổi độ trễ của xung, nhóm nghiên cứu đã quan sát được hiệu ứng chui hầm của điện tử với độ phân giải dưới femto giây.  Kỹ thuật này sẽ mở ra một triển vọng đầy hứa hẹn trong lĩnh vực quang tử, vi điện tử và chụp ảnh sinh học.  Những tia vũ trụ có năng lượng cao nhất                     Hầu hết các tia vũ trụ đến từ bên trong Dải Ngân Hà, đặc biệt là Mặt trời, nhưng vẫn có một lượng tia vũ trụ đến từ khoảng không gian ngoài Ngân Hà. Điều thú vị nhất là những cơn mưa rào tia vũ trụ có năng lượng trên 1019 eV, cao hơn năng lượng của bất cứ hạt cơ bản nào được tạo ra trong các máy gia tốc trên quả đất.   Trước khi đến Trái đất, hầu hết các tia vũ trụ đã “chu du” trong không gian liên thiên hà, nơi từ trường có thể làm chệch hướng quỹ đạo ban đầu của chúng. Nhưng đối với các tia vũ trụ có năng lượng đặc biệt lớn, từ trường cũng không “đủ sức” tác động và hầu như chúng vẫn giữ nguyên quỹ đạo ban đầu. Các nhà khoa học có thể lần theo dấu vết để biết chúng đến từ đâu trong không gian và khẳng định rằng, những tia vũ trụ năng lượng đặc biệt cao đến từ nhân các thiên hà hoạt động, nơi các lỗ đen khổng lồ đóng vai trò như những  “máy gia tốc hạt”, tạo ra những hạt có năng lượng thậm chí cao hơn 57 EeV. Kết luận này đã được đưa ra bởi các nhà khoa học làm việc tại Đài thiên văn Piere Auger ở Argentina. Đài thiên văn này là tập hợp một dãy các detector trải rộng trên một bình địa 3000 km2, và chỉ để tìm kiếm một thứ: mưa rào tia vũ trụ.  Định luật thứ hai của Newton                     Được xem là trụ cột của vật lý học cổ điển, định luật hai Newton nói rằng, lực tác dụng lên vật tỷ lệ thuận với gia tốc. Định luật này đã được kiểm chứng một cách ngoạn mục và… “vẫn đúng” ở giá trị gia tốc 5.10-14m/s2, chính xác hơn một nghìn lần các thí nghiệm kiểm tra trước đó. Trong thí nghiệm mới, các nhà khoa học ở Đại học Washington đã sử dụng một con lắc xoắn, một dạng đặc biệt của con lắc, ở đó, lực phục hồi không phải lực hấp dẫn mà được cung cấp bởi một sợi dây xoắn vô cùng mảnh.   Định luật hai Newton bị vô hiệu hóa trong không gian hạ nguyên tử. Nhưng trong thí nghiệm này, con lắc có khối lượng 70 g và chứa 1024 nguyên tử thì những xem xét lượng tử không còn quan trọng. Theo nhà khoa học Jens Gundlach, với sự khẳng định cho rằng, lực tỷ lệ thuận với gia tốc có thể ảnh hưởng đến những thảo luận sâu hơn về hai sự kiện chưa lý giải trong khoa học: Những tính chất dị thường trong đường cong quay của các thiên hà gợi ý rằng, hoặc tồn tại một lực hấp đã bên ngoài tạo bởi vật chất tối không nhìn thấy hoặc trong một dạng mới của Định luật hai Newton (Động lực học Newton hiệu chỉnh-MOND); Những bí mật xung quanh sự tăng tốc nhỏ bất thường đối với tàu không gian Pioneer 10, Pioneer 11, Galileo và Ulysses trên quỹ đạo trong Hệ mặt trời.  Cặp Cooper trong chất cách điện                     Một thí nghiệm tại đại học Brown đã đo điện trở của một lát tạo bởi các cụm nguyên tử bismuth rải trên một lớp nền với các lỗ đường kính 27nm và cách nhau 100 nm. Các tấm fim bismuth này sẽ là chất siêu dẫn nếu mẫu vật tạo ra bởi nhiều lớp nguyên tử, nhưng cũng có thể trở thành chất cách điện nếu fim này chỉ mỏng vào khoảng vài lớp nguyên tử.  Ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ chuyển tiếp (2K), với pha siêu dẫn, điện trở giảm dần xuống tới 0, còn với pha cách điện, điện trở của bismuth lại vô cùng lớn. Cặp Cooper là nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng siêu dẫn, và ngày nay chúng được tìm thấy ngay cả trong các chất cách điện. Với một phương pháp đo mở rộng, bằng cách quan sát hiện tượng xảy ra đối với điện trở khi từ trường được nâng lên cao. Dưới tác động của từ trường tăng dần, điện trở sẽ dao động một cách tuần hoàn, với một chu kỳ tỉ lệ thuận với điện tích của hạt dẫn. Từ tính tuần hoàn này, tỉ lệ được phát hiện ra lớn gấp 2 lần so với điện tích của electron; các nhà vật lý tại đại học Brown đã kết luận rằng chúng chính là các cặp đôi điện tích chuyển động trong mẫu vật. Nói cách khác, cặp Cooper hình thành ngay trong các chất cách điện. Điều này chỉ đúng với điều kiện nhiệt độ cực thấp, vài  mK. Sự hình thành của một boson cách điện sẽ mở ra những khám phá mới về liên hệ giữa các chất cách điện và các chất siêu dẫn.  Làm lạnh vật có kích thước đồng xu bằng laser                     Làm lạnh một vật có kích thước một đồng xu bằng laser xuống dưới 1 K đã trở thành hiện thực. Các nhà khoa học làm việc tại phòng thí nghiệm LIGO ở MIT, Caltech, Viện nghiên cứu Max Planck ở Postdam, Hannover đã sử dụng những chùm laser để làm lạnh một mảnh gương có kích thước một đồng xu với khối lượng 1 gam xuống nhiệt độ 0.8 K. Mục đích của việc làm lạnh này là để khám phá các tính chất lượng tử của những đối tượng vật chất “lớn”. Từ trước tới nay, giới khoa học chỉ có thể làm lạnh được những “mẫu vật” nhỏ ở kích thước nano và khối lượng chỉ đạt vài microgam.  Có một thực tế là tất cả các thí nghiệm làm lạnh chỉ xảy ra trong không gian một chiều. Nhiệt độ 1K áp dụng cho những chuyển động của nguyên tử dọc theo chùm laser, trong khi gương lại tự do cho việc chuyển động trong những chiều khác. Kết quả, nếu bạn chạm vào mẫu vật sẽ không cảm thấy lạnh… cứng.  Hiệu ứng cong của không-thời gian                     Đài thiên văn không gian Gravity Probe B (GP-B) có sứ mệnh kiểm tra thuyết tương đối rộng của Einstein. Không ngoài dự liệu, đài thiên văn này đã “đo” được hiệu ứng cong của không-thời gian xung quanh Trái đất với độ chính xác 1%. Hướng tiếp cận cơ bản để nghiên cứu hiệu ứng tinh tế này là quan sát hiện tượng tiến động của con quay hồi chuyển gắn trên tàu không gian chuyển động trên quỹ đạo cực quanh Trái đất. Tốc độ tiến động quan sát được có giá trị 6.6 giây cung/năm, khá gần với tiên đoán của thuyết tương đối rộng.  Với những kỹ thuật tiên tiến nhất được sử dụng để tạo nên những chi tiết hoàn hảo nhất từ trước đến nay cho phép GP-B có thể tiến hành những phép đo đạt độ chính xác hơn bao giờ hết. Thuyết tương đối đã tạo nên một cuộc cách mạng trong khoa học. Tuy nhiên, nhiều tiên đoán của lý thuyết này vẫn nằm ngoài khả năng thẩm định bởi con người. Một lần nữa, những kết quả của GP-B đã củng cố niềm tin của chúng ta.  “Tăng tốc” tìm kiếm Higgs ở Tevatron                     Các nhà vật lý làm việc tại máy va chạm Tevatron ở Femilab đang “bội thu” các kết quả nghiên cứu trên con đường “săn lùng” boson Higgs.  Boson Higgs được tiên đoán bởi Mô hình chuẩn của vật lý năng lượng cao và giả thuyết chiếm phần lớn khối lượng của vũ trụ. Các hạt này tồn tại trong những thời khắc rất sớm, khi vũ trụ “chào đời”. Vũ trụ “lạnh” đi, boson W và Z (hạt mang tương tác yếu) đã “thu” được một khối lượng, trong khi photon (hạt mang tương tác điện từ) thì không. Chính sự bất đối xứng này làm cho hai tương tác hoạt động khác biệt trong suốt quá trình tiến hóa của vũ trụ. Tuy nhiên, ở thang năng lượng cao, hai tương này thống nhất làm một. Mô hình chuẩn tiên đoán rằng, khối lượng của Higgs khoảng 100GeV-1TeV. Các hạt Higgs có thể được tạo ra trong phòng thí nghiệm bằng việc cho các proton và phản proton va chạm với nhau ở thang năng lượng cỡ 2 TeV.  Các nhà khoa học ở Fermilab đang có được những bằng chứng đầu tiên chỉ ra sự hiện diện của các boson Higgs. Nếu các kết quả được khẳng định rất có thể giới vật lý phải mở rộng Lý thuyết trường chuẩn hạt cơ bản.  Chỉ tồn tại 3 loại neutrino                     Các thí nghiệm khoa học đã chỉ ra rằng, các hạt neutrino có khối lượng vô cùng nhỏ, thậm chí không có khối lượng, chỉ tương tác thông qua hấp hẫn hoặc lực hạt nhân yếu, và có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác. Những dao động của neutrino xảy ra trong ba dạng được ghi nhận bởi mô hình chuẩn trong vật lý hạt cơ bản: neutrino electron, neutrino muon và neutrino tau. Tuy nhiên, trong thí nghiệm LSND ở Los Alamos, các nhà khoa học lại ám chỉ tồn tại một loại neutrino thứ tư, “neutrino sterile”, chỉ tương tác với hấp dẫn.  Ngay lập tức các nhà khoa học ở Fermilab cùng bắt tay săn lùng dấu vết của loại neutrino thứ tư này. Với hàng loạt thí nghiệm MiniBooNE tiến hành ở Fermilab, các nhà khoa học đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục chứng tỏ rằng, không tồn tại loại neutrino thứ tư như giả định.  Xung ánh sáng ngắn nhất                     Các nhà nghiên cứu ở Italy đã tạo ra được xung laser ngắn nhất từ trước tới nay-một vụ nổ riêng biệt của ánh sáng tử ngoại chỉ kéo dài 130 atto giây. Trong thí nghiệm, chùm laser hồng ngoại cường độ mạnh được sử dụng để chiếu vào đám khí (thường là Argon hoạc Neon). Trường điện mạnh của laser có thể làm cho các điện tử dao động mạnh, sau đó chúng phát ra những xung laser cực ngắn chứa các photon năng lượng cao. Các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Italy tin rằng, với kỹ thuật hiện có, họ có thể tạo ra những xung laser ngắn hơn 100 atto giây.  Việc “thăm dò” cấu trúc bên trong các nguyên tử và phân tử bằng việc sử dụng các xung laser siêu ngắn có thể tiết lộ nhiều chi tiết mới về cơ chế hoạt động bên trong của chúng, mang lại nhiều lợi ích cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản cũng như những ứng dụng công nghiệp như điều khiển các phản ứng hóa học…  Đức Phường (Theo American Institute of Physics)    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 thí nghiệm có tính đột phá  trong  sự phát triển của khoa học      Đó là những thí nghiệm không đòi hỏi những trang thiết bị đắt tiền, phức tạp nhưng mang lại những phát kiến khoa học góp phần quan trọng vào sự phát triển của nhân loại.    Thí nghiệm hai khe áp dụng cho sự giao thoa của electron  Cả Newton và Young đều quan niệm không đầy đủ về bản chất của ánh sáng. Đến đầu thế kỷ 20, Max Planck (và sau đó là Einstein) chỉ ra rằng, ánh sáng phát xạ và hấp thụ không phải liên tục mà gián đoạn theo từng lượng tử gọi là photon. Bên cạnh đó các thí nghiệm lại tiếp tục chỉ ra rằng ánh sáng có tính chất sóng.   Vài thập kỷ sau, thuyết lượng tử được phát triển đã dung hòa hai quan niệm đối nghịch này và chỉ ra rằng cả hai đều…đúng: photon và những hạt hạ nguyên tử khác (electron, proton…) đều thể hiện lưỡng tính sóng-hạt.  Để kiểm nghiệm ý tưởng này, các nhà vật lý thường sử dụng thí nghiệm của Young, trong đó thay vì chùm sáng thì họ sử dụng chùm electron cho đi qua hai khe hẹp nhỏ gần nhau. Tuân theo những định luật của cơ học lượng tử, chùm hạt này giao thoa, tạo thành những vân sáng, tối xen kẽ giống như những vân tạo bởi ánh sáng. Và như vậy khẳng định: các hạt hành xử giống như…sóng.     Thí nghiệm rơi tự do của Galileo  (Năm 1600)  Trước khoảng thời gian cuối những năm 1500, quan niệm của Aristotle khiến mọi người đều nhất mực tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Kết luận này được Nhà thờ chuẩn y và tiếp tục thống trị trong suốt kỷ nguyên tối.  Galileo Galilei, giáo sư toán học ở Đại học Pisa, đã làm nên một điều phi thường giúp thay đổi nhận thức của chúng ta về vạn vật, và thí nghiệm của ông đã trở thành một cột mốc đáng nhớ trong lịch sử khoa học.   Trong thí nghiệm, Galilei đã thả hai vật có khối lượng khác nhau từ tháp nghiêng Pisa. Kết quả hai vật rơi xuống đất trong cùng một khoảng thời gian, và như vậy bác bỏ quan niệm của Aristotle. Chính thách thức đối với Aristotle đã khiến ông bị đuổi việc. Nhưng quan trọng hơn cả, Galilei đã chỉ ra rằng, những tri thức khoa học phải được đúc kết từ quy luật khách quan của tự nhiên chứ không phải bằng niềm tin.     Thí nghiệm giọt dầu của Millikan  (Năm 1910)  Từ thời cổ đại, con người đã biết đến điện khi quan sát những tia chớp trong những trận mưa giông hay những tia sáng li ti xuất hiện khi cọ xát tấm dạ len vào bàn tay. Năm 1887, nhà vật lý người Anh J. J. Thomson cho rằng, điện tích bao gồm những hạt mang điện âm gọi là electron. Sau đó, năm 1909, nhà khoa học người Mỹ Robert Millikan đã nảy ra ý tưởng đo điện tích của những hạt này.  Trong thí nghiệm, ông đã phun những giọt dầu vào một buồng trong suốt. Ở đỉnh và đáy là những tấm kim loại gắn vào một bộ pin điện để tạo ra một bản mang điện dương và bản còn lại mang điện âm.  Lúc đầu, giọt dầu không tích điện và rơi dưới tác dụng của trọng lực. Sau đó ông cho những hạt này “nhiễm điện” bằng việc rọi một chùm tia rơnghen để iôn hóa. Vì mang điện nên những giọt dầu sẽ rơi nhanh hơn do chịu thêm tác dụng của điện trường. Quan sát hết giọt dầu này đến giọt dầu khác khi thay đổi hiệu điện thế, Millikan đi đến kết luận: điện tích có một giá trị không đổi. Từ việc so sánh khoảng thời gian rơi của giọt dầu khi mang điện và chưa mang điện ông đã tính ra đơn vị điện tích nhỏ nhất là e = 1,63.10-19C.    Thí nghiệm thanh xoắn của Cavendish  (Năm 1798)  Một trong những đóng góp khác của Newton là lý thuyết hấp dẫn. Lý thuyết này phát biểu rằng, lực hấp dẫn giữa hai vật tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm thế nào xác định được lực này khi cường độ của nó quá yếu.  Vào năm 1700, nhà khoa học Anh Henry Cavendish quyết tâm tìm kiếm sự thật. Ông đã sử dụng một thanh gỗ mảnh, hai đầu có gắn viên bi kim loại, giống như quả tạ, rồi treo lơ lửng bằng một sợi dây. Sau đó ông sử dụng hai quả cầu chì đặt gần hai đầu thanh. Nếu quả cầu chì hút hai viên bi kim loại kia thì sợi dây sẽ xoắn lại. Để đo được những thay đổi tinh tế, Cavendish đã đặt những mảnh ngà khắc tinh vi ở mỗi bên. Còn để triệt tiêu sự ảnh hưởng của không khí, dụng cụ (gọi là cân bằng xoắn) được đặt trong một buồng kín và được quan sát bởi hai ống nhòm gắn ở mỗi bên.  Bằng thí nghiệm của mình, cuối cùng ông cũng đã xác định được thông số gọi là hằng số hấp dẫn với độ chính xác đáng kinh ngạc và từ đó, Cavendish đã tính được khối lượng của Trái đất là 6.0x 1024 kilôgram.    Thí nghiệm phân tích ánh sáng mặt trời bằng lăng kính của Newton  (Năm 1665-1666)  Isaac Newton sinh vào năm Galileo chết. Năm 1665, ông tốt nghiệp Đại học Trinity, Cambridge. Trước Newton, mọi người quan niệm rằng ánh sáng là thể thuần khiết nhất (một lần nữa Aristotle cũng quan niệm như vậy), và những màu sắc riêng biệt chỉ là sự biến đổi nào đó của ánh sáng trắng. Để kiểm tra nguyên lý tổng hợp này, Newton đã chiếu một chùm ánh sáng Mặt trời qua một lăng kính và chỉ ra rằng nó phân tích thành một phổ màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím trên bức tường. Newton kết luận chính đây mới là những màu cơ bản.     Eratosthenes đo chu vi trái đất  (Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên)  Thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, trưa ngày Hạ chí ở một thành phố nhỏ Ai Cập mà ngày nay gọi là Aswan, ánh sáng Mặt trời chiếu thẳng xuống đáy giếng sâu. Ngay lập tức Eratosthenes, một thủ thư làm việc tại thư viện Alexandria, đã nhận ra rằng, ông đã có được thông tin quan trọng để xác định chu vi Trái đất. Cùng giờ và ngày đó năm sau, ông tiến hành đo bóng đổ của một chiếc cọc ở thành phố Alexandria và phát hiện thấy những tia sáng Mặt trời bị nghiêng một góc 7 độ so với phương thẳng đứng.  Giả sử rằng Trái đất hình cầu thì chu vi của nó tương ứng với một góc 360 độ. Nếu Aswan và Alexandria cách nhau 7 độ thì khoảng cách tương ứng giữa hai thành phố này là 7/360 vòng tròn. Bằng cách đo khoảng cách hai thành phố là 5.000 stadia, Eratosthenes kết luận chu vi Trái đất gấp 50 lần khoảng cách đó, tức là khoảng 250,000 stadia.   Ngày nay, các nhà khoa học không biết rõ 1 stadia là bao nhiêu mét nên không biết chính xác chu vi Trái đất mà Eratosthenes tính được đạt đến độ chính xác nào. Nhưng dù gì đi chăng nữa, xét về mặt khoa học thì cách tính của ông hoàn toàn hợp lý.    Thí nghiệm giao thoa ánh sáng của Young  (Năm 1801)  Không phải Newton lúc nào cũng đúng. Trải qua hàng loạt các cuộc tranh luận, để rồi ông nhận định rằng bản chất của ánh sáng là hạt hơn là sóng. Năm 1803, nhà khoa học Anh Thomas Young đã nảy ra ý tưởng kiểm tra lại kết luận đó.   Trong thí nghiệm của mình, ông đã khoét một lỗ nhỏ ở cửa sổ và dùng một tấm giấy chắn lại chỉ để hở một lỗ nhỏ. Khi chùm sáng đi qua lỗ nhỏ này được đổi hướng bởi một tấm gương phẳng. Sau đó Young tiếp tục sử dụng một tấm bìa mảnh có khoét hai lỗ nhỏ gần nhau với mục đích tách chùm sáng tới thành hai. Thật bất ngờ, khi hai chùm sáng này chiếu lên một bức tường, giao thoa, để lại những vân tối, sáng xen kẽ nhau. Young kết luận: ánh sáng có tính chất sóng.    Rutherford khám phá ra hạt nhân nguyên tử  (Năm 1911)  Trước khi Ernest Rutherford tiến hành những thí nghiệm về phóng xạ ở Đại học Manchester vào năm 1911, mọi người quan niệm rằng nguyên tử cấu tạo bởi một lượng lớn các hạt điện tích dương và các electron “trộn” vào nhau tạo thành một cấu trúc “mềm”.  Sử dụng các hạt alpha bắn vào một lá vàng mỏng, Rutherford nhận thấy một lượng nhỏ các hạt alpha bật trở lại. Nếu nguyên tử là một cấu trúc mềm thì hạt alpha sẽ bị “hấp thụ”, nhưng thí nghiệm lại chứng tỏ rằng trong nguyên tử phải có một hạt nhân cứng để khi hạt alpha va vào sẽ bị “bật” ra. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, cuối cùng ông đưa ra kết luận, phần lớn khối lượng của nguyên tử tập trung vào một lõi nhỏ gọi là hạt nhân, các electron quay xung quanh hạt nhân này.     Thí nghiệm của Galileo về những quả bóng lăn trên mặt phẳng nghiêng (Năm 1600)  Galileo tiếp tục tinh lọc những ý tưởng về chuyển động của các vật. Trong thí nghiệm về chuyển động trên mặt phẳng nghiêng, ông đã thiết kế một tấm phản dài 12 cubit, rộng nửa cubit, khoét một rãnh thẳng và phẳng ở giữa. Sau đó ông nghiêng mặt phẳng để cho những quả bóng lăn xuống, rồi đo thời gian chuyển động lăn dốc bằng một đồng hồ nước – một chiếc bình đựng nước thông với chiếc cốc ở phía dưới qua chiếc ống nhỏ. Để đo thời gian chuyển động, ông cân lượng nước chảy vào cốc. Sau đó Galileo so sánh thời gian với quãng đường quả bóng đi được.  Aristotle tiên đoán rằng vận tốc của quả bóng là không đổi. Nhưng thí nghiệm của Galileo lại chỉ ra rằng, chuyển động của những quả bóng được gia tốc: quãng đường đi được tỷ lệ thuận với bình phương thời gian di chuyển.     Quả lắc Faucault (Năm 1851)  Vài năm trước các nhà khoa học đã đặt một quả lắc tại Nam Cực và quan sát chuyển động quay của nó. Họ đang tái tạo lại thí nghiệm đã từng tiến hành ở Paris năm 1851.   Sử dụng một sợi dây thép dài 220 feet, nhà khoa học Pháp Jean-Bernard-Léon Foucault treo một quả cầu sắt nặng 62 pound từ mái vòm của nhà thờ Panthéon, rồi sau đó cho nó dao động. Để ghi lại quá trình chuyển động của con lắc ông đã gắn một chiếc kim châm vào quả cầu và đặt một chiếc vòng chứa cát ẩm dưới sàn nhà.  Những người quan sát xung quanh hết sức ngạc nhiên vì chuyển động quay không giải thích được của con lắc khi nó để lại những vệt hơi khác biệt nhau sau mỗi lần chuyển động lắc đi lắc lại. Với những gì đang xảy ra dưới sàn của nhà thờ Panthéon, Foucault đã chỉ ra một cách thuyết phục hơn bao giờ hết: Trái đất đang quay quanh trục của nó. Tại vĩ độ ở Paris, con lắc hoàn thành một vòng quay theo chiều kim đồng hồ hết 30 giờ; còn tại Nam bán cầu con lắc sẽ quay theo chiều ngược lại; tại xích đạo chuyển động của con lắc không quay; tại cực nam của Trái đất các nhà khoa học khẳng định chu kỳ chuyển động quay này là 24 giờ.  Đức Phường  (Theo Physicsworld)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 vấn đề khoa học lớn theo tạp chí PHYSICS WORLD      Để kỷ niệm 25 năm ngày thành lập, tạp chí Physics World số 10/2013&#160; đã cho đăng nhiều bài&#160; tổng kết các vấn đề quan trọng trong khoa học và công nghệ. Sau đây là 10 vấn đề trong số các vấn đề được đề cập đến trong số báo trên: Năm phát hiện lớn về vật lý trong 25 năm qua và năm câu hỏi lớn chưa có câu trả lời đặt ra cho tương lai.    Năm phát hiện lớn trong vật lý 25 năm qua  (Tushna Commissariat, Matin Durrani )       Theo Physics World [1] thì việc chọn năm phát hiện lớn trong 25 năm qua là một điều khó khăn. Tuy nhiên năm phát hiện sau đây là ấn tượng nhất:      1/ Viễn tải lượng tử (quantum teleportation-viễn tải thông tin từ A đến B trong nháy mắt). Hiện tượng này được sử dụng như chủ đề trong phim Star Trek.     Tạp chí Physics World đã chọn những vấn đề làm thay đổi mạnh mẽ nhận thức của chúng ta về thế giới khách quan.     Vấn đề thứ nhất theo trình tự thời gian là vấn đề viễn tải lượng tử. Có thể chăng làm biến mất một con người tại một điểm, để rồi tái tạo con người đó tại một điểm khác? Đây là khoa học hay viễn tưởng?                Hãy biến tôi thành tia vật chất để chuyển tôi đến một nơi xa xôi! Viễn tải lượng tử hiện nay đã trở thành hiện thực đối với một trạng thái lượng tử.          Phim khoa học viễn tưởng nhiều tập Star Trek đã dựng nên một viễn cảnh khoa học giàu tưởng tượng. Thuyền trưởng Kirk nhờ thuyền phó bấm một số nút và Kirk đã phi vật chất hóa (dematerialise) thành một tia chớp ánh sáng để xuất hiện trên một hành tinh bí ẩn.      Viễn tải  (teleportation) từ lâu là một câu chuyện khoa học viễn tưởng. Đến năm 1992 một nhóm các nhà vật lý và tin học đã tìm ra ý tưởng để sao chép một trạng thái của một hạt đến một nơi khác. Họ đã sử dụng một hiện tượng do Einstein phát hiện trong những năm 30 của thế kỷ trước: trong một số điều kiện, hai thực thể lượng tử lại được nối liền với nhau bởi một sợi dây vô hình, bí ẩn do một tác động ma quái (spooky action – từ của Einstein). Đó là hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement).      Trong những năm gần đây người ta đã tiến hành những thí nghiệm chứng tỏ viễn tải lượng tử là vấn đề khoa học nghiêm chỉnh, mở ra những khả năng rộng lớn cho tính toán lượng tử, mật mã lượng tử.     Năm 1997 nhóm các nhà khoa học lãnh đạo bởi Anton Zeilinger (Đại học Innsbruck) thực hiện ý tưởng viễn tải lượng tử trạng thái phân cực của photon. Sau đó nhiều nhà khoa học đã thực hiện viễn tải lượng tử trạng thái spin nguyên tử, spin hạt nhân và các trạng thái khác. Hiện nay kỷ lục khoảng cách viễn tải lượng tử là 21m đối với các nguyên tử riêng lẻ và 143km đối với photon.Viễn tải lượng tử sẽ mở ra nhiều khả năng không tiên đoán được cho khoa học và công nghệ.            2/ Một trạng thái mới của vật chất     Sự tạo ra đầu tiên trên thế giới trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein (BEC- Bose-Einstein condensate) từ những nguyên tử lạnh năm 1995 đã làm biến đổi vật lý nguyên tử .Ý nghĩa lớn lao của điều này là tạo nên một dạng vật chất mới trong đó các hạt bị giam  chung trong trạng thái ở năng lượng thấp nhất, đã mở ra nhiều triển vọng nghiên cứu trong vật lý.     Ý tưởng về BEC bắt đầu từ năm 1924 khi nhà lý thuyết Ấn độ Satyendra Nath Bose suy ra định luật Planck cho bức xạ vật đen lúc xem photon như một chất khí của nhiều hạt đồng nhất. Ông chia sẻ ý tưởng của mình với  Einstein và hai nhà khoa học đã tổng quát hóa lý thuyết của Bose cho một khí lý tưởng các nguyên tử và tiên đoán rằng nếu các nguyên tử bị làm đủ lạnh – bước sóng của chúng trở thành lớn đến mức chồng lên nhau (overlap). Các nguyên tử mất nhận dạng cá nhân (individual identities) và tạo nên một trạng thái lượng tử vĩ mô hay nói cách khác một siêu nguyên tử – tức là một BEC. Mãi đến năm 1980 khi kỹ thuật laser đã đủ phát triển để làm siêu lạnh các nguyên tử đến nhiệt độ rất thấp thì BEC mới thực hiện được.                Mật độ của mây các nguyên tử rubidium siêu lạnh làm thành một BEC.Đỉnh màu trắng và xanh là BEC, một đám mây gồm nhiều ngàn nguyên tử .          Ngày 5/6/1995 một nhóm các nhà vật lý tại phòng thí nghiệm JILA (Đại học Colorado + Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia NIST) đứng đầu là Carl Wieman và Eric Cornell lần đầu tiên thành công trong việc tạo nên BEC gồm 2000 nguyên tử rubidium 87 được làm siêu lạnh trong một bẫy từ  sử dụng  laser. Sau đó Wolfgang Kettle (Viện công nghệ Massachusetts) cũng tạo được BEC từ 500.000 nguyên tử sodium 23. Ba nhà vật lý trên được giải Nobel Vật lý năm 2001.     Trong BEC sự tương tác giữa các nguyên tử có thể kiểm tra được cho nên BEC được dùng trong việc mô phỏng các tính chất của hệ môi trường đông đặc mà chúng ta rất khó nghiên cứu được trong các vật liệu thực tế.      Năm 2010 các nhà vật lý đã tạo được BEC từ các photon (là các hạt mà Bose nghiên cứu từ đầu).     Các nhà vật lý đang nghĩ đến việc tạo nên một trạng thái tựa-condensate từ các fermion. Song đây là điều khó hơn vì fermion khác với boson không chịu nằm chung ở điều kiện bình thường trong cùng một trạng thái.         3/ Vai trò của các siêu tân tinh (supernovae)     Việc phát hiện hiện tượng dãn nở có gia tốc của vũ trụ dẫn đến việc giả định sự tồn tại của một năng lượng tối bí ẩn bao trùm vũ trụ. Có rất nhiều phát hiện trong lĩnh vực thiên văn học và vũ trụ học nhưng sự phát hiện quá trình vũ trụ dãn nở có gia tốc (chứ không phải chậm lại) là phát hiện nổi trội hơn cả. Điều phát hiện này buộc rằng ¾ khối lượng-năng lượng của vũ trụ phải gồm bằng một chất bí ẩn gây lực đẩy và được gọi là năng lượng tối. Trước đây người ta đã tiên đoán rằng vũ trụ sẽ co lại trong một vụ co lớn (Big Crunch) hoặc dãn nở mãi mãi không gia tốc với một tốc độ vừa phải tùy theo mật độ vật chất.     Sự phát hiện vũ trụ dãn nở có gia tốc trong giữa những năm 1990 là một điều gây ngạc nhiên lớn, được thực hiện nhờ hai nhóm nghiên cứu đang truy lùng những sao bùng nổ có tên là siêu tân tinh 1a. Những sao này luôn bùng nổ khi đạt đến một khối lượng nhất định. Sự bùng nổ này có thể làm thành những ngọn nến quy chiếu cho phép đo được chính xác các khoảng cách trong vũ trụ.     Hai nhóm nghiên cứu:     1/ Saul Perlmutter, đề án SCP (Supernova Cosmology Project), Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley và Đại học California, Mỹ,      2/ Brian P. Schmidt Đại học quốc gia Australia, Weston Creek, cùng Adam G. Riess, Đại học Johns Hopkins và Viện khoa học viễn vọng vũ trụ, Baltimore, Mỹ, đề án  HZT (High-z Supernova Search Team), đoạt giải Nobel Vật lý năm 2011 vì đã phát hiện quá trình dãn nở có gia tốc của Vũ trụ dựa trên  những quan sát các siêu tân tinh ở những khoảng cách xa.                Hiện tượng dãn nở có gia tốc của vũ trụ trở nên rõ ràng khi nghiên cứu siêu tân tinh 1a càng ngày càng đi xa để lại một ảnh tồn dư như trên hình vẽ.          Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy điển đánh giá rằng sự phát hiện của 3 nhà vật lý trên không kém quan trọng so với sự phát hiện CMB (Cosmic Microwave Background-Phông vi ba vũ trụ, bức xạ tồn dư của vũ trụ) năm 1992.       4/ Neutrino  có khối lượng, neutrino được xem là một bóng ma vật chất     Năm 1998 người ta đã tìm rằng các hạt neutrino có khối lượng, điều này là một trong những bí ẩn lớn nhất trong vật lý học. Theo lý thuyết hạt neutrino không có khối lượng, trong khi thực nghiệm chứng tỏ rằng neutrino lại có khối lượng. Năm 1998 thí nghiệm Super – Kamiokande tại Nhật Bản đã thu được nhiều kết quả chứng tỏ neutrino có khối lượng. Khi neutron phân rã beta thì xuất hiện neutrino là những hạt không điện tích tương tác với vật chất qua tương tác yếu. Wolfgang Pauli đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của hạt neutrino để giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng trong phân rã beta (tên neutrino là tên do Enrico Fermi đặt). Hạt neutrino là một hạt khó ghi đo được.     Năm 1956 Reines cùng với Clyde Cowan đã ghi đo được anti neutrino bức xạ từ một lò phản ứng hạt nhân, hai tác giả trên đoạt giải Nobel Vật lý năm 1995.     Sau đó nhà vật lý người Ý Bruno Pontecorvo đưa ra ý tưởng về “hương vị“ của neutrino (có nhiều loại neutrino khác nhau về “hương vị”, đó là neutrino electron và neutrino muon)  và về khả năng dao động của neutrino từ một hương vị này sang hương vị kia. Một loại neutrino thứ ba – tau neutrino- tiên đoán từ năm 1975 được tìm ra năm 2000.     Một vấn đề lớn được đặt ra khi năm 1964 Raymond Davis và John Bahcall (BNL) tìm thấy rằng các neutrino mặt trời chỉ được ghi đo khoảng 30 % so với số lượng tính toán bởi lý thuyết. Sự sai khác này chỉ có thể giải thích nếu các neutrino “dao động” giữa các hương vị khi chúng du hành từ mặt trời đến trái đất: thí nghiệm của David chỉ ghi đo được 1/3 vì chỉ nhạy với neutrino electron. Song các nhà vật lý chứng minh rằng nếu có dao động thì bắt buộc neutrino phải có khối lượng, điều này trái với Mô hình chuẩn (SM-Standard Model) của các hạt cơ bản. Năm 1998 detector khổng lồ Super-Kamiokande  chứng minh rằng neutrino electron và neutrino muon dao động lẫn nhau khi chúng đi qua trái đất và tìm thấy neutrino có khối lượng dầu chỉ vào khoảng 0,1eV.       5/ Hạt Higgs-hạt của Chúa     Ngày 4/7/2012 hai nhóm (mỗi nhóm 3000 người) gồm các nhà vật lý làm việc tại các thí nghiệm ATLAS (A Toroidal LHC Apparatus) và CMS  (Compact Muon Solenoid) ở CERN công bố đã tìm ra một “hạt tựa Higgs” với khối lượng nằm trong vùng lân cận 125 GeV/c2.                Cuối cùng hạt Higgs  đã được tìm ra tại Máy gia tốc hạt lớn (LHC)          Gần nửa thế kỷ khi Peter Higgs – và độc lập với nhau Robert Brout, Francois Englert và nhiều người khác đã công bố các công trình mô tả cơ chế các hạt thu được khối lượng khi tương tác với hạt Higgs. Hạt Higgs  có thể giải thích được sự phá vỡ đối xứng điện yếu và dẫn đến cơ chế các hạt thu được khối lượng. Song SM (Standard Model-Mô hình chuẩn) không tiên đoán được khối lượng của hạt Higgs. Trong những tháng cuối LHC đã cung cấp dữ liệu 10 lần nhiều hơn số tiên liệu, nhờ đó đã giúp ATLAS và CMS có thể khẳng định cuối cùng là hạt tìm ra quả là hạt Higgs.     Quá trình tìm hạt Higgs quả là một quá trình xảy ra tựa như một cơn sốt về hạt Higgs (Higgsteria) đã lan truyền và cuốn hút sự chú ý trên toàn thế giới. Việc tìm ra hạt Higgs không chỉ là một sự kiện quan trong nhất của thế kỷ 21 mà rất có thể của lịch sử vật lý về một kỳ tích khoa học của con người.                                                                        Năm câu hỏi lớn chưa có câu trả lời   (Catherine Heymans, Adam Frank, Ray Jayawardhana, Sabine Hossenfelder, John Preskill )      1/ Bản chất của Vũ trụ tối là gì?     Hơn 95% của vũ trụ gồm một dạng năng lượng tối và vật chất tối mà chúng ta không ghi đo được và cũng không giải thích được.      Vũ trụ của chúng ta gồm khoảng 26,8% vật chất tối, 68,3% năng lượng tối và ít hơn 5% là vật chất thông thường như trái đất. Các nhà khoa học đang  đặt ra câu hỏi bản chất của vũ trụ tối là gì?     Vật chất tối không bức xạ và cũng không hấp thụ ánh sáng, vật chất tối chỉ được ghi nhận nhờ tương tác hấp dẫn với vật chất thông thường là vật chất mà chúng ta thấy được.     Năng lượng tối khó mô tả hơn là nguồn gốc của quá trình dãn nở bí ẩn của vũ trụ sau Big Bang. Hai phạm trù đó là hai phạm trù tương khắc giữ vũ trụ trong một tỷ lệ hiện nay: vật chất tối làm co vũ trụ còn năng lượng tối làm dãn nở vũ trụ.     Nhiều ý kiến cho rằng để giải thích vũ trụ tối cần đến những lý thuyết có khả năng làm thay đổi nhận thức của chúng ta về vũ trụ.     Đa số cho rằng vật chất tối gồm các hạt WIMPs (Weakly Interacting Matter Particles). Vài tỷ tỷ hạt WIMP đi ngang trái đất từng giây một. Sự tìm ra các hạt tối sẽ là một thành tựu quan trọng của vật lý trong thế kỷ này theo Fritz Zwicky.     Những quan trắc về dãn nở có gia tốc của vũ trụ dẫn đến giả thuyết về sự tồn tại một năng lượng bao trùm chân không của toàn vũ trụ. Theo lý thuyết lượng tử thì chân không chứa đầy những hạt ảo luôn sinh và hủy với một giải rộng khối lượng.Vì khối lượng và năng lượng tương đương với nhau nên chân không được xem như một nhà băng khổng lồ với năng lượng  vô tận thúc đẩy toàn vũ trụ vào một quá trình dãn nở với gia tốc.     Song khi các nhà vật lý hạt ước tính năng lượng chân không thì kết quả thu được cao hơn thực tại đến 120 bậc. Điều này dẫn đến nhiều giả thuyết về năng lượng tối.       2/ Thời gian là gì?     Câu hỏi này đã được đặt ra nhiều thế kỷ song có lẽ sẽ tiếp tục được đặt ra trong một thời gian dài nữa. Câu hỏi về thời gian là một câu hỏi xưa nhất về bản chất và ý nghĩa về sự tồn tại thực tế của nó. Đây là một vấn đề mang nhiều ý nghĩa triết học.Và vấn đề thời gian không phải là một vấn đề nằm đơn độc mà nằm chồng chéo giữa nhiều bài toán quan trọng khác như vậy đòi hỏi một câu trả lời tổng thể. Trong lịch sử đã xảy ra cuộc tranh luận giữa Parmenides và Heraclitus (thế kỷ 5 TCN). Theo Parmenides thời gian , vốn là một số đo tương đối của các biến đổi thật sự chỉ là một ảo tưởng, nói cách khác thực tại ở mức cơ bản nhất là phi thời gian và vĩnh cửu.                Thời gian chỉ là một công cụ đo đạc, thời gian chỉ là một ảo tưởng?               Ngược lại Heraclitus thì không có điều gì có thể tồn tại ngoài thời gian. Hiện nay các nhà khoa học cũng chia làm 2 phái Parmenidean & Heraclitan và một phái trung dung thứ ba. Phái trung dung chủ trương động học  cơ học Newton. Những phương trình vi phân của động học Newton xử lý thời gian như một thông số chảy với một vận tốc không thay đổi ở mọi nơi và mọi thời điểm của vũ trụ. Những phương trình này mô tả các định luật tồn tại vĩnh cửu và ngoài thời gian.     Song các định luật Newton chỉ đúng trong những giới hạn nhất định khi vận tốc nhỏ hơn vận tốc ánh sáng nhiều lần và kích thước hệ nhiều lần lớn hơn kích thước lượng tử.     Sự phát sinh lý thuyết tương đối và lượng tử đã làm thay đổi bức tranh mô tả bởi Newton song cũng không ảnh hưởng đến ý tưởng khẳng định rằng các định luật vật lý tồn tại ngoài thời gian.     Một vấn đề lý thú của thời gian là vấn đề mũi tên thời gian (chảy theo một chiều) và mọi hệ vật lý đều chịu tính bất khả hồi, không đảo ngược được. Song các phương trình Newton cũng như các phương trình Schrodinger đều không nói được thời gian đang chảy theo hướng nào (có nghĩa là bất biến với t thay bằng –t). Vậy mà các hệ vĩ mô lại loại trừ sự bất định đó. Một quả trứng vỡ không trở thành nguyên lại được và như thế mũi tên thời gian từ quá khứ đến tương lai là một tính chất cốt yếu của thực tại.     Chỉ với sự phát triển của cơ học thống kê và nhiệt động học mũi tên thời gian mới được giải quyết khi nghiên cứu đến các trạng thái vi mô ứng với một trạng thái vĩ mô. Và đại lượng tương ứng một hệ lớn là entropy, một đại lượng luôn tăng. Song lại phát sinh vấn đề: tại sao vũ trụ bắt đầu lại có entropy thấp để cho phép vũ trụ tiến triển (evolution) làm cho entropy tăng lên.Theo Roger Penrose và Sean Carroll và nhiều nhà lý thuyết khác thì xác suất entropy ban đầu  nhỏ là  rất bé. Các vấn đề về điều kiện ban đầu của vũ trụ dẫn đến nhu cầu phải có lý thuyết hấp dẫn lượng tử!     Nếu người ta  chuyển phương trình Schrodinger trong một dạng tương thích với không-thời gian của lý thuyết tương đối tổng quát thì người ta lại thu được một phương trình trong đó không có thời gian: đó là phương trình Wheeler-DeWitt.     Như vậy phải chăng phương trình Wheeler-DeWitt chứng minh rằng Parmenides là đúng? Và thời gian chỉ là một ảo tưởng? Các nhà vật lý hấp dẫn lượng tử cho rằng những điều mà chúng ta nói về không gian và thời gian đều không là cơ bản, phải tìm một điều gì đó cơ bản hơn khác xa với những điều chúng ta lâu nay quan niệm.     Như thế câu hỏi “Thời gian có thực hay không?” sẽ là câu hỏi có phải thời gian đột sinh từ một tập nguyên lý sâu xa hơn.     Một phương hướng khác là phương hướng do Lee Smolin đề ra. Theo Lee Smolin nói định luật vật lý phi thời gian là một điều sai, khi ta nghiên cứu đến những vũ trụ song song (ở đấy các định luật vật lý khác nhau chứ không tồn tại vĩnh cửu ngoài thời gian). Smolin nghiêng về phái Heraclitan và quan niệm rằng thời gian là cái nền tảng của mọi thực tại và không phải là một phạm trù đột sinh. Các định luật vật lý gắn liền với thời gian. Các nghiên cứu về thời gian dẫn đến nhiều bản chất của thời gian mà chúng ta đã phát hiện được và còn phải đi tiếp nữa để tìm hiểu. Triết học về thời gian còn là một vấn đề bỏ ngỏ và là một bí ẩn còn đó của vật lý.      3/ Sự sống chỉ tồn tại trên trái đất?     Nhóm các nhà khoa học của Onstrott đang nghiên cứu tìm tòi những cơ thể của sự sống ở những hang động nơi không có mặt trời chiếu sáng đến. Sự phát hiện nhiều loại vi khuẩn đã dấy nên một thách thức đối với những gì ta biết được từ sinh học. Thay vì quang hợp trực tiếp hay gián tiếp chúng được nuôi sống nhờ khí hydrogen tồn tại trong những hệ sinh thái dưới đất vốn đã đứt đoạn với các chu kỳ sinh học trên mặt đất nhiều vạn năm. Năm 2011 Gaetan Borgonie (Đại học Ghent, Bỉ) cùng đồng nghiệp nghiên cứu loài nematodes sống dưới mặt đất nhiều km trong nhiều hầm mỏ vùng Nam Phi, và đó là những cơ thể đa bào đầu tiên tìm thấy ở độ sâu như vậy. Những phát hiện này đã mở rộng sinh quyển hành tinh chúng ta một cách đáng kể. Và điều lý thú là những phát hiện này góp phần làm sáng tỏ quan hệ sinh học giữa trái đất nguyên thủy trước khi xuất hiện quang hợp với bản chất sự sống của những thế giới khác có những khí quyển khác khí quyển của chúng ta.                Loài extremophiles có thể sống trong những điều kiện sát thủ đối với nhiều dạng sống trên trái đất . Ví dụ ngành tardigrade (thuộc loài này) có thể sống ở nhiệt độ gần nhiệt độ không tuyệt đối và dưới áp suất nhiều hơn áp suất ở các đáy đại dương sâu nhất và thậm chí trong chân không dưới bức xạ vũ trụ.           Những cơ thể tìm thấy sâu trong lòng đất thuộc về loài gọi là extremophiles mà các nhà sinh vật tìm thấy trong những thập kỷ gần đây. Những loài khác bao gồm vi trùng có khả năng sống gần núi lửa dưới đáy đại dương cũng được phát hiện.Nhiều loài có khả năng sống ở biên của tầng bình lưu (stratosphere). Sự tồn tại tất cả các loài đó chứng tỏ rằng sự sống là một hiện tượng có khả năng thích ứng với một giải rộng các điều kiện của môi trường.     Mặc dầu có sự đa dạng các loài trên lại  liên quan với nhau: chúng chia sẻ một chế độ hóa –sinh, cùng tham gia một cây tiến hóa (evolutionary tree) và có nguồn gốc từ một tổ tiên mà có lẽ đã tồn tại hơn 3 tỷ tỷ năm về trước.     Các nhà sinh học đã khẳng định rằng những yếu tố của sự sống cũng như những cơ thể khả dĩ rất có thể tồn tại ngoài trái đất và hơn nữa có thể có mặt khắp nơi trong vũ trụ. Các ghi đo thực hiện trong phòng thí nghiệm chứng tỏ rằng amino acid- những viên gạch của protein- tồn tại trên các thiên thạch và sao chổi. Nhiều thiên thạch giàu carbon thậm chí còn chứa một số thành phần DNA ( nucleobase). Nhiều đo đạc thiên văn sử dụng quang học, hồng ngoại và radio còn phát hiện một số phân tử hữu cơ phức tạp trên những đám mây giữa các sao- đây là vùng sinh nở của các sao và các hành tinh.     Gần chúng ta hơn sao Hỏa là mục tiêu đầu tiên để tìm kiếm sự sống ngoài trái đất. Tương tự như thế các mặt trăng của sao Mộc và sao Thổ cũng là mục tiêu cho việc tìm kiếm sự sống.     Một câu hỏi lớn là vị trí của chúng ta trong vũ trụ phải được đặt ra khi chúng ta đã phát hiện hàng nghìn hành tinh quay chung quanh những “mặt trời” (như mặt trời trong Thái dương hệ). Những hành tinh này gọi là những hành tinh  thuộc các thái dương hệ lạ. Chúng được phát hiện nhờ sử dụng các kính viễn vọng trên mặt đất và những phi thuyền như Kepler của NASA.     Nhờ công nghệ tiên tiến người ta có thể đo nhiệt độ trên những hành tinh xa, phát hiện dấu vết của nước trong khí quyển của chúng và thậm chí những dấu hiệu đầu tiên của sự sống ngoài trái đất. Những hành tinh có kích thước của trái đất cũng được phát hiện với số lượng hàng chục và dường như chúng có thể dung nạp sự sống, ở đấy nhiệt độ thích hợp cho sự hình thành nước cần thiết cho sự sống. Những điều này càng đưa câu hỏi về sự sống ngoài trái đất lên một bình diện mới. Song phát hiện sự sống đó không phải là một việc dễ dàng. Cần một thế hệ mới những kính viễn vọng có khả năng ghi đo được những phân tử cần cho sự sống – như oxygen, ozone, methane, nước, carbon dioxide- trong khí quyển của những hành tinh xa xôi. Thậm chí khi ghi đo được các phân tử đó chúng ta cũng khó lòng hình dung được dạng sống ở đấy là như thế nào.     Trái đất trong Thái dương hệ là hành tinh duy nhất với các đại dương và các điều kiện khác cho sự sống. Tuy nhiên là quá tự tôn nếu cho rằng sự sống trên trái đất là duy nhất trong vũ trụ khi tồn tại hàng tỷ mặt trời khác với nhiều chất liệu cần cho sự sống trong vũ trụ. Có thể tồn tại sự sống nói chung song sự sống có trí tuệ lại là một vấn đề khác. Cần phát hiện ít nhất một ví dụ của sự sống nơi khác ngoài trái đất để hiểu dạng sống đó là gì và thấy được rằng sự sống trên trái đất không phải là duy nhất trong vũ trụ.                                                                                   4/ Liệu có thể thống nhất lượng tử với hấp dẫn?     Một vấn đề lớn của vật lý học là thống nhất lý thuyết lượng tử với lý thuyết hấp dẫn thành hấp dẫn lượng tử QG (Quantum Gravity).     QG phải cho chúng ta biết vật chất lượng tử chịu hấp dẫn như thế nào khi trường hấp dẫn là mạnh. Nếu trường hấp dẫn yếu thì chúng ta có thể thực hiện lượng tử hóa như đối với các tương tác khác. QG sẽ cho chúng ta biết điều gì đã xảy ra khi vũ trụ sơ sinh. Theo lý thuyết tương đối tổng quát thì vũ trụ xuất phát từ một điểm kỳ dị. Điều này không phù hợp với ý nghĩa vật lý do đó chúng ta phải tìm một mô tả khác đối với không thời gian ở những thời điểm này. Bởi vì hấp dẫn là mạnh lúc vũ trụ sơ sinh cho nên những hiệu ứng lượng tử không thể bỏ qua được đối với pha này.      GR cũng tiên đoán những điểm kỳ dị. Khi vật chất co lại thành lỗ đen dẫn đến nghịch lý mất thông tin. Lỗ đen có bức xạ nhiệt vì những hiệu ứng lượng tử không bao gồm hiệu ứng hấp dẫn lượng tử. Nhưng khi lỗ đen bốc hơi hoàn toàn điều gì còn lại là bức xạ nhiệt. Thông tin dường như bị mất trong quá trình không thuận nghịch này. Hiện nay nghịch lý này đã được làm sáng tỏ phần nào nhờ đối ngẫu AdS/CFT, xem chú thích [2] song nhiều vấn đề vẫn còn tồn tại.     Các nhà vật lý đã xây dựng nhiều lý thuyết QG: lý thuyết dây, LQG (Loop quantum Gravity-lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng), CDT (Causal Dynamical Triangulation-phủ không thời gian bằng một lưới tam giác nhân quả) và ASG (Asymptotically Safe Gravity-khử phân kỳ trong hấp dẫn)… Hiện nay lý thuyết dây là được đánh giá cao tiếp theo là lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng. Xây dựng các lý thuyết này tương tự như xây dựng một đường hầm chưa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, chỉ thỉnh thoảng lóe lên một vài kết quả đơn lẻ.      Có thể nói chưa có một đột phá nào thành công trong việc thống nhất lượng tử và hấp dẫn, đây là điều mà chúng ta học được qua bao nhiêu năm. Chỉ vài khía cạnh của QG xuất hiện. Một trong các khía cạnh đó là ý tưởng về phương pháp toàn ảnh (holography): mã hóa thông tin trong một thể tích trên biên của thể tích đó (đối ngẫu AdS/CFT). Một khía cạnh khác là ý tưởng về đưa một độ dài cơ bản vào lý thuyết.      Nói chung còn nhiều cách trở trước mắt. Chúng ta không phải xây dựng một QG với những khía cạnh nào đó mà phải xây dựng một QG duy nhất mô tả đúng thực tại.     Bởi vì hấp dẫn về bản chất là hệ quả của sự làm cong không thời gian vì vật chất cho nên vấn đề cơ bản là phải đi sâu vào bản chất lượng tử của chính không thời gian. Đây là câu hỏi cơ bản nhất trong những câu hỏi chưa có câu trả lời với ý nghĩa là câu hỏi này động chạm đến những thành phần cơ bản nhất của mọi lý thuyết.     Cần phải có cuộc cách mạng trong nhận thức không thời gian. Bản chất của thời gian mũi tên thời gian là vấn đề gắn liền với QG trong thời sơ sinh của vũ trụ. Nhiều người nghĩ rằng ta đang có đủ điều kiện để tiến đến xây dựng QG trong một tương lai tuy nhiên không gần.       5/ Có thể chăng khai thác hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement-một trong những điểm kỳ lạ của cơ học lượng tử)?     Cơ học lượng tử đã có tuổi hơn một thế kỷ, song các nhà khoa học vẫn còn ngỡ ngàng và mê hoặc bởi những điều kỳ lạ của thế giới lượng tử. Nếu cơ học cổ điển phù hợp dễ dàng với trực giác thì lý thuyết lượng tử lại thách thức trực giác của chúng ta.Trong thế kỷ 21 người ta hy vọng rằng chế ngự những điểm kỳ lạ của CHLT sẽ giúp chúng ta chế tạo những máy tính lượng tử với khả năng vô biên.                Cơ học lượng tử nói rằng các hạt có thể tồn tại trong trạng thái chồng chất (như ở nơi này đồng thời ở nơi khác) còn Thuyết tương đối rộng nói rằng hạt có trường hấp dẫn. Song trường hấp dẫn của một chồng chất lượng tử là gì? Câu hỏi này trông đơn giản nhưng hiện nay chúng ta chưa trả lời được. Cần phải xây dựng Hấp dẫn lượng tử.           Để thấy sự khác nhau giữa cổ điển và lượng tử hãy xét đến quá trình mã hóa các thông tin bởi những hệ vật lý.Trong lượng tử người ta sử dụng “qubit-tức là bit lượng tử) để mã hóa. Một qubit chính là một hệ lượng tử với hai trạng thái phân biệt lẫn nhau ví dụ  dùng spin của một electron. Song để thấy sự khác nhau giữa bit và qubit cần phải nói đến vấn đề liên đới lượng tử (quantum entanglement).     Bước cơ bản trong tính toán lượng tử là phép toán unita U trên trạng thái chồng chất L-qubit. Phép toán U được thực hiện song song đối với tất cả 2L biên độ phức .Trong máy tính cổ điển một phép toán như vậy đòi hỏi 2L bước tính cơ bản cho mỗi  biên độ.     Chính tính chất song song lượng tử này trong các máy tính lượng tử dẫn đến một gia tốc hàm mũ cho quá trình tính toán. Đây là ưu thế tuyệt đối của máy tính lượng tử so với máy tính cổ điển thông dụng hiện nay.     Một đặc tính của các trạng thái lượng tử, khác biệt với các trạng thái cổ điển là hiện tượng liên đới lượng tử, theo đó sự tương tác giữa các qubit làm phát sinh một sự chồng chất liên kết (giao thoa) các trạng thái lượng tử. Sự chồng chất này không thể đưa về tích của các qubit riêng lẻ. Ví dụ đối với 2 qubit, ta không có biểu thức:   Ψ ≠  Ψ1 ⊗ Ψ2       mà có những biểu thức như sau:   | β00> =( 1/ √2 ) [| 00 > +| 11 >]                                                                          | β02> =( 1/ √2 ) [| 01 > +| 10 >]                                                                           | β10> =( 1/ √2 ) [| 00 > – | 11 >]   | β11> =( 1/ √2 ) [| 01 > – | 10 >]     Các trạng thái | bmn> gọi là các trạng thái Bell, hoặc trạng thái EPR hoặc cặp EPR, đặt theo chữ cái đầu tiên của tên các tác giả Einstein, Podolsky & Rosen là những người đầu tiên phát hiện ra các tính chất kỳ lạ của những trạng thái đó.     Hiện tượng liên đới lượng tử đặc biệt lý thú khi xét hệ nhiều thành phần. Ví dụ lấy một cuốn sách 100 trang. Nếu cuốn sách là một hệ cổ điển thì khi đọc một trang ta có thể tiếp nhận 1% nội dung cuốn sách nhưng nếu cuốn sách là một hệ lượng tử có liên đới thì khi đọc một trang chúng ta nhận được một điều gì đó hỗn độn chưa phản ánh được nội dung cuốn sách. Nguyên nhân là vì thông tin không nằm trong từng trang riêng lẻ mà nằm trong mối liên đới giữa các trang.     Nếu chế tạo một máy tính lượng tử ta có thể thực hiện một quá trình mã hóa nhiều lần nhanh hơn với một máy tính cổ điển.     Song một trở ngại chúng ta gặp phải là vấn đề mất liên kết (decoherence-xem chú thích [3]). Trong một máy tính cổ điển một lỗi xảy ra khi sự tương tác với môi trường chung quanh làm đảo một bit. Trong máy tính lượng tử điều này gây rắc rối nhiều hơn, thông tin trong máy phải được loại bỏ khỏi hệ quả tương tác với môi trường đến khi máy tính hoàn thành công việc.     Làm sao để chống lại hiện tượng decoherence. Người ta lại sử dụng chính ngay hiện tượng liên đới lượng tử. Phương pháp hữu hiệu nhất là mã hóa thông tin trong những trạng thái liên đới lượng tử. Trạng thái lưu trữ trong máy giống như một cuốn sách lượng tử nói ở trên. Môi trường tác động lên một trang không nhiễu loạn nội dung thông tin của cuốn sách bởi vì thông tin tiềm ẩn không phải trong một trang cuốn sách mà trong mối liên đới giữa các trang. Nguyên tắc này gọi là nguyên tắc sửa chữa lỗi lượng tử (quantum error correction) sẽ là nguyên tắc hướng dẫn chế tạo phần mềm và phần cứng các máy tính lượng tử.      Ngày nay các nhà khoa học và các nhà công nghệ đang may mắn ở vào thời đoạn đột sinh của công nghệ lượng tử. Chế ngự những tính chất kỳ lạ của lượng tử, chế ngự hiện tượng liên đới lượng tử sẽ dẫn họ đi xa.                CC.  biên dịch và chú thích  —  Tài liệu tham khảo và chú thích   [1] Physics World tháng 10/2013, số báo kỷ niệm 25 năm của tạp chí.  [2] Năm1993 Gerard ‘t Hooft đề ra nguyên lý holographic còn gọi là ánh xạ hay đối ngẫu AdS/CFT (Anti-de-Sitter/Conformal Field Theory-Lý thuyết trường conform) và được Maldacena thực hiện năm 1997: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý n chiều trên mặt biên (ở đây là một lý thuyết CFT trong không gian n= 4 chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1) chiều của hệ nằm trong mặt biên (ở đây là  không gian AdS với n= 5  chiều).   [3] Trong cơ học lượng tử sự mất liên kết (quantum decoherence) là sự mất trật tự của các góc pha giữa những thành phần của một hệ nằm trong trạng thái chồng chất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 vấn đề tiêu biểu của khoa học thế giới 2015 (theo Nature)      Trong năm 2015, các nhà khoa học đã giải quyết được nhiều thách thức, từ biến đổi khí hậu cho tới vấn đề đạo đức trong chỉnh sửa gene. Nhiều phát hiện quan trọng cũng được thực hiện, chẳng hạn như những ngọn núi băng ở sao Diêm Vương, bằng chứng về sự kì dị của lượng tử, và những chi tiết về cấu trúc bộ máy phân tử bên trong tế bào.      1. Đường tới Paris  Năm 2015, cộng đồng thế giới đã có những suy nghĩ nghiêm túc hơn về biến đổi khí hậu. Trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc diễn ra vào tháng 12, lần đầu tiên cả các quốc gia phát triển và đang phát triển đều cam kết kiểm soát hoặc giảm tải lượng khí thải nhà kính. Và vào thời điểm hội nghị diễn ra con số này là 184 nước, cùng với những kỳ vọng, lạc quan về việc hội nghị sẽ là bước ngoặt lịch sử trong những nỗ lực kiểm soát hiện tượng ấm lên toàn cầu. Hội nghị diễn ra trong sự siết chặt an ninh sau cuộc tấn công khủng bố tại Paris hồi tháng 11, và đã đạt được một thỏa thuận tầm vóc vào ngày 12/12 với sự phê chuẩn của 195 quốc gia, theo đó, phần lớn các quốc gia trên thế giới cam kết sẽ giảm lượng khí phát thải và giới hạn sự biến đổi khí hậu ở mức dưới 2 °C. Các quốc gia sẽ đánh giá tiến độ thực hiện cam kết của mình vào năm 2018 và bắt đầu từ năm 2020, cứ sau mỗi năm năm, họ sẽ phải rà soát lại các cam kết về khí hậu của mình.  Trước khi đến Paris đầu tháng 12, các nhà đàm phán về khí hậu đã đón nhận một tin tốt bất ngờ: các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức Global Carbon Project xuất bản báo cáo dự đoán rằng, lượng phát thải khí carbon toàn cầu có thể giảm 0,6% trong năm 2015. Trung Quốc công bố dự định thực thi một hệ thống cap-and-trade (hệ thống này áp đặt giới hạn khí thải cho mỗi doanh nghiệp và cho phép họ mua bán giới hạn này tùy theo nhu cầu); sau nhiều năm lưỡng lự, cuối cùng Tổng thống Mỹ Barack Obama bác bỏ đề xuất xây dựng đường ống Keystone XL chuyển dầu từ Canada tới các nhà máy lọc dầu ở Mỹ, và Giáo hoàng Francis cũng đã ra một thông điệp về môi trường trong chuyến thăm tới Bắc Mỹ hồi tháng Chín.           Các nhà lãnh đạo thế giới ăn mừng  chiến thắng về thỏa thuận lịch sử cam kết giảm lượng khí phát thải và  giới hạn sự biến đổi khí hậu ở mức dưới 2 °C. Ảnh: Nature          Tuy nhiên, có lẽ cam kết này của các quốc gia cũng khó lòng giữ cho sự thay đổi khí hậu ở dưới mức cao hơn 2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, trong khi nếu vượt quá ngưỡng, nhiều nhà khoa học tin rằng thế giới sẽ có những xáo trộn về hệ sinh thái và kinh tế. Nhiệt độ bề mặt toàn cầu trung bình hiện đã ở mức cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp 1°C, và 2015 có lẽ sẽ là năm ấm kỷ lục.  2. Sao Diêm Vương và các sao khác  Trong lĩnh vực khám phá Hệ Mặt trời, điểm nhấn năm 2015 là các sao lùn Diêm Vương và Ceres (nằm ở trung tâm vành đai thiên thạch giữa sao Hỏa và sao Mộc) lần đầu được đón tiếp các chuyến thăm bằng tàu vũ trụ từ Trái đất, kết quả là chúng ta đã được chiêm ngưỡng nhiều hình ảnh ấn tượng.  Khi tàu vũ trụ New Horizons bay qua sao Diêm Vương vào ngày 14/7, hành tinh này đã trở thành tâm điểm chú ý của cả thế giới khi phơi bày ra một kỳ quan địa chất gồm những dãy núi băng, sông băng nitrogen, và những lãnh nguyên bằng phẳng đã khiến giới nghiên cứu hành tinh – trong đó có Alan Stern, người đứng đầu dự án – sửng sốt, đồng thời làm dấy lên những thắc mắc về nguồn gốc các hoạt động địa chất đã tạo nên khung cảnh đó.                        Tàu vũ trụ New Horizons của NASA gửi những hình ảnh kỳ vĩ về địa hình đầy phong phú của Pluto. Ảnh: Nature          Sự xuất hiện của hành tinh Ceres diễn ra bớt “ồn ào” và chậm rãi hơn với thời điểm bắt đầu là từ tháng Ba khi tàu vũ trụ Dawn của NASA bị trọng lực của hành tinh này hút vào quỹ đạo. Giới nghiên cứu bất ngờ khi thấy hành tinh tối và nhiều nước này mang trong nó nhiều điều bí ẩn riêng, chẳng hạn như ngọn núi hình kim tự tháp, những hình ảnh phản xạ lấp lánh của muối và màn sương huyền ảo ở một số miệng núi dưới ánh Mặt trời buổi sáng.   Năm 2015, tàu Rosetta của Cơ quan Vũ trụ châu Âu tiếp tục quỹ đạo đầy ấn tượng của mình quanh sao chổi 67P/Churyumov–Gerasimenko. Sau cuộc hạ cánh gian nan và được coi là mất tích vào tháng 11/2014, tàu đổ bộ Philae đi kèm tàu Rosetta đã liên lạc với Trái đất hồi tháng Sáu vừa qua nhưng mất tín hiệu vào tháng sau, có lẽ là vĩnh viễn.   Tàu MAVEN (Mars Atmosphere and Volatile Evolution – khí quyển và sự tiến hóa bất ổn của sao Hỏa) của NASA đã đưa về những dữ liệu đo lường chi tiết đầu tiên về hiện tượng gió Mặt trời đã cuốn đi bầu khí quyển sao Hỏa, khiến hành tinh này hiện nay hầu như không còn không khí. Và 11 năm sau khi hạ cánh xuống hệ thống sao Thổ, tàu Cassini của NASA đã đưa ra dữ liệu khẳng định rằng, đại dương nằm dưới bề mặt của Mặt trăng Enceladus (một trong sáu Mặt trăng lớn nhất quanh sao Thổ) trải rộng xung quanh mặt cầu, khiến nó trở thành một địa điểm rất tiềm năng cho các cuộc truy tìm sự sống ngoài Trái đất.  3. Tùy chỉnh gene theo nhu cầu  Hiếm có phương pháp nào lại nổi tiếng nhanh như CRISPR–Cas9, hệ thống chỉnh sửa gene chính xác, dễ thực hiện nhưng cũng gây nhiều tranh cãi. Tháng Tư vừa qua, việc các nhà khoa học Trung Quốc công bố sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa trên phôi người “non-viable” (tức những phôi thai không có khả năng tạo ra sự sống) đã làm dấy lên cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học và các nhà đạo đức sinh học. Cuộc tranh cãi lên tới đỉnh điểm trong Hội nghị Thượng đỉnh Quốc tế về Chỉnh sửa gene người diễn ra vào đầu tháng 12 tại Washington DC với sự tham gia của gần 500 nhà đạo đức học, nhà khoa học và các chuyên gia pháp lý đến từ hơn 20 nước. Hội nghị đã kết luận: Các công cụ vẫn chưa sẵn sàng để có thể đưa vào sử dụng trong việc chỉnh sửa các bộ gene trong phôi người dùng để thụ thai. Tuy vậy, hội nghị cũng không đưa ra lời kêu gọi cấm sử dụng công trình này cho hoạt động nghiên cứu cơ bản.            Một kỹ thuật viên của Viện nghiên  cứu Hệ Gene Trung Quốc (BGI) đang ôm một chú lợn có bộ gene đã được  chỉnh sửa bằng các enzyme TALEN. Ảnh: Nature          Trong ba năm qua, CRISPR đã trở thành công cụ được giới khoa học lựa chọn để cải thiện gene động vật và mùa màng cũng như để chữa một số bệnh trên người: Tháng 10 vừa qua, các nhà nghiên cứu đã lập kỷ lục khi thực hiện chỉnh sửa các bộ gene trên phôi lợn tại 62 vị trí cùng lúc –công trình này có thể giúp đem lại sức sống mới cho lĩnh vực cấy ghép mô khác loài (xenotransplantation). Việc chỉnh sửa gene này có thể giúp giảm bớt nguy cơ bị phơi nhiễm trước các loài virus nguy hiểm trên lợn khi con người tiếp nhận những bộ phận giống người được sinh trưởng trên lợn.   Tháng Tám vừa qua, Google và một số nhà đầu tư khác đã “bơm” 120 triệu USD cho Editas Medicine, startup chuyên về chỉnh sửa gene có trụ sở tại Cambridge, Massachusetts, để sử dụng công nghệ CRISPR trong các cuộc thử nghiệm lâm sàng vào năm 2017 nhằm chỉnh lại gene bị đột biến ở những người bị suy giảm thị giác.  Tháng 11 vừa qua, các nhà nghiên cứu ở Vương quốc Anh công bố, họ đã sử dụng một hệ thống khác – các enzyme có tên gọi là TALEN – để chỉnh sửa các tế bào miễn dịch trên người và cấy chúng vào cơ thể một bé gái một tuổi mắc bệnh ung thư bạch cầu, qua đó có thể cứu sống được bé gái này. Và vào tháng 12, các nhà khoa học ở công ty Sangamo Biosciences tại Richmond, California, cũng ra thông báo: sang năm 2016, họ sẽ bắt tay vào thực hiện thí nghiệm trên người để kiểm tra khả năng cắt ADN bằng công nghệ nuclease ngón tay kẽm nhằm chỉnh sửa một gene lỗi gây ra chứng máu khó đông.  4. Những thắng lợi của vaccine  Edward Jenner, người đã thử nghiệm loại vaccine đầu tiên trên thế giới cách nay hơn 200 năm, hẳn sẽ rất tự hào về những tiến bộ mà ngành này đã đạt được trong năm 2015. Sau khi được gấp rút đưa vào thí nghiệm trên người hồi tháng tư vừa qua, R, VSV-ZEBOV – vaccine chống dịch bệnh Ebola – cho thấy nó có thể bảo vệ gần như toàn diện những người sử dụng sau khi bị phơi nhiễm với dịch bệnh. Vaccine này chứa một loài virus trên gia súc đã bị làm yếu đi và được điều chỉnh để có thể sản sinh ra một protein của Ebola. Theo dự đoán của giới chuyên gia, công trình này có thể tiếp tục được mở rộng để xử lý các loại bệnh đang bùng phát khác.  Sau gần 30 năm phát triển, RTS,S  – vaccine phòng chống sốt rét đầu tiên của thế giới, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ một nhóm cố vấn toàn cầu về vaccine hồi tháng 10 vừa qua. Trước đó, vào tháng Tư, các nhà nghiên cứu đã thông báo rằng, loại vaccine này có thể đạt được tỉ lệ bảo vệ khiêm tốn là 30% trong một cuộc thí nghiệm lâm sàng thực hiện trên hơn 15.000 trẻ em tại châu Phi. Nhóm cố vấn trên cho biết cần thực hiện thêm những cuộc thử nghiệm khác đối với loại vaccine này trên một triệu trẻ nhỏ trước khi đưa vào sử dụng rộng rãi.            Nhũ nhi ba tuần tuổi ở Guinea là một trong số những bệnh nhân cuối cùng của đại dịch Ebola. Ảnh: Nature          Cuối cùng, Mexico đã công nhận vaccine chống sốt xuất huyết đầu tiên. Nhà sản xuất loại vaccine trên, Sanofi, công ty có trụ sở tại Paris, đang hy vọng loại vaccine này của họ sẽ tiếp tục được phê chuẩn tại các quốc gia khác như châu Mỹ Latin và châu Á.  5. Sự kì dị của lượng tử  Giới vật lý đã chào mừng sự kiện 100 năm ra đời thuyết tương đối rộng của Albert Einstein vào tháng 11 bằng một loạt các cuộc hội thảo, các cuốn sách và các bộ sưu tập những công trình nghiên cứu của nhà bác học. Einstein cũng trở thành tâm điểm chú ý hồi tháng Tám khi các nhà vật lý đưa ra bằng chứng thuyết phục nhất hiện nay chứng minh hai vật thể, chẳng hạn như hai hạt hạ phân tử, có thể được liên kết – hoặc “vướng” vào nhau. Điều này cho phép một phân tử có thể tác động tới hành vi của một phân tử khác, ngay cả trong trường hợp hai phân tử này bị tách ra ở khoảng cách rất xa. Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh được rằng, họ có thể tạo nên một sự gắn kết chặt chẽ giữa hai electron được đặt cách nhau 1,3km.                        Trong loạt bốn bài thuyết trình tại  Viện Hàn lâm Khoa học Phổ từ tháng 11 đến tháng 12/ 1915, Einstein đã  trình bày lý thuyết mới về lực hấp dẫn. Họa sỹ: Jasper Rietman. Ảnh: The  Guardian            Einstein nổi tiếng là người xem thường hiện tượng này – điều mà ông gọi là “hành động ma quái từ xa” – bởi nó dường như phá vỡ cái nguyên lý phổ quát là không gì có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Nhưng mặc cho những nghi ngại của Einstein, một ngày nào đó phương pháp này sẽ có thể được vận dụng để xây dựng một mạng lưới internet lượng tử có độ an ninh cao, bất khả xâm phạm đối với các hacker.  6. Động đất nhân tạo  Khai thác gas, dầu và các hoạt động khác của con người được coi là góp phần kích hoạt các trận động đất trên khắp thế giới, từ Thụy Sỹ tới Ấn Độ hay Trung Quốc, nhưng Oklahoma là khu vực được các nhà khoa học tích cực tìm hiểu và nghiên cứu cách phản ứng lại với các trận động đất nhiều nhất. Từ năm 2009, bang này đã bắt đầu có dấu hiệu gia tăng mức độ động đất và 2015 là năm có sự gia tăng đáng kể nhất; hiện nay, tính trung bình mỗi năm, Oklahoma có nhiều trận động đất từ cấp 3 trở lên hơn so với California.            Nhà địa chấn học Amberlee Darold  đang điều tra về những cuộc động đất ở Oklahoma để cố gắng tìm hiểu về  nguyên nhân gây ra những trận động đất này. Ảnh: Nature          Tháng Tư vừa qua, giới chức bang này cuối cùng cũng lên tiếng thừa nhận về khả năng ngành năng lượng có can dự vào xu hướng này. Theo kết quả cuộc điều tra địa chất của Oklahoma, thủ phạm có thể là các giếng dầu và gas bơm nước thải vào sâu trong lòng đất, theo đó việc đẩy hàng chục triệu lít chất lỏng xuống lòng đất có thể làm thay đổi các vết nứt địa tầng và làm gia tăng khả năng động đất.    7. Đánh giá mức độ tin cậy trong nghiên cứu khoa học  Năm 2015, những tranh cãi về cách cải thiện độ tin cậy trong các kết quả nghiên cứu đã không còn diễn ra trên giấy mà được chuyển thành những phân tích và hành động thiết thực.  Các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã gặp không ít khó khăn trong quá trình tìm kiểm chứng độc lập các công trình nghiên cứu, do những lý do khác nhau, chẳng hạn như những sai sót của các nghiên cứu được kiểm chứng, ngay từ khâu phương pháp luận hay trong phân tích dữ liệu.          Nhiều tạp chí khoa học đã đưa bảng  liệt kê các danh sách cần kiểm tra để chiểu theo các hướng dẫn của NIH  về việc tái thực hiện nghiên cứu. Nhưng một số nhà khoa học xã hội không  vui với cách thức “một phương án cho mọi trường hợp” này. Ảnh: Nature          Tháng 12, Dự án Tái thực hiện các Nghiên cứu trong Sinh học Ung thư của Mỹ thông báo họ sẽ cắt giảm quy mô hoạt động nghiên cứu lại các công trình quan trọng trong lĩnh vực sinh học ung thư từ 57 xuống còn 37 công trình, vì hoạt động này tiêu tốn quá nhiều kinh phí và thời gian.  Tháng Tư vừa qua, một nhóm tái thực hiện khác đã đưa ra bằng chứng chứng minh rằng, khoảng 2/3 các chương trình tái thực hiện các nghiên cứu về tâm lý học đều kết thúc thất bại. Ngoài ra, một phân tích gây tranh cãi ước đoán, mỗi năm khoảng 28 tỉ USD bị tiêu phí vào các nghiên cứu sinh học không thể kiểm chứng do trình bày quá sơ sài hoặc tài liệu cung cấp sai.  Tháng 10, Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) công bố các hướng dẫn để cải thiện khả năng tái thực hiện nhằm kiểm chứng các công trình nghiên cứu. Bộ hướng dẫn này yêu cầu người bình duyệt đề xuất phải để mắt tới những sai sót trong thiết kế nghiên cứu có thể dẫn tới sự thiên lệch trong kết quả thực hiện, đồng thời yêu cầu người xin tài trợ cũng phải miêu tả chi tiết cách chứng thực các thuốc thử sử dụng trong nghiên cứu. Giới xuất bản cũng vào cuộc: năm 2015, dưới áp lực của tổ chức Resource Identification Initiative (Sáng kiến về Xác định Nguồn lực), khoảng hơn mười tạp chí khoa học đã bắt đầu yêu cầu tác giả các công trình nghiên cứu phải sử dụng những tiêu chí cụ thể để xác định các thuốc thử trong thí nghiệm của mình.  8. Tình trạng phân biệt giới tính trong khoa học  Cuộc tranh luận về phân biệt giới tính trong năm nay diễn ra ngày càng công khai hơn, khơi nguồn bởi một số sự kiện cho thấy tình trạng này vẫn đang tràn lan trong giới khoa học. Vào tháng Tư, nhà di truyền học tiến hóa Fiona Ingleby thuộc trường Đại học Sussex tại Brighton, Anh, chia sẻ trên Twitter rằng, tạp chí PLoS ONE đã từ chối đăng tải một bài viết mà bà thực hiện cùng với một nữ đồng nghiệp khác sau khi một nhà bình duyệt hé lộ, nếu họ bổ sung thêm “một hai” đồng tác giả là nam giới thì chất lượng phân tích của bài viết trên sẽ được cải thiện hơn.             Tim Hunt sẽ không còn được coi là giáo sư danh dự của trường Đại học London.           Vào tháng Sáu, nhà sinh học đoạt giải Nobel Tim Hunt cũng phải nhận vô số lời chỉ trích khi nói về “rắc rối với phụ nữ” trong phòng thí nghiệm. “[Khi họ xuất hiện ở đó] thì một là anh yêu họ, hai là họ yêu anh, và khi anh phê bình họ thì họ khóc”, ông nói tại một hội nghị các nhà báo khoa học quốc tế tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc. Hai ngày sau phát ngôn trên, ông rút lui khỏi vị trí giáo sư danh dự tại trường Đại học London. Tuy Hunt đã phân trần rằng đó chỉ là lời bông đùa và bản thân ông sau đó đã chịu đủ búa rìu dư luận, nhưng trường đại học trên vẫn kiên quyết không khôi phục vị trí cho ông.  Sự kiện ồn ào nhất diễn ra vào tháng 10 khi một tin “động trời” được phát hiện: chuyên gia săn lùng hành tinh ngoài hệ Mặt trời danh tiếng Geoffrey Marcy đã quấy rối tình dục rất nhiều sinh viên trong ít nhất là một thập kỷ trở lại đây. Marcy đã rời khỏi vị trí của mình tại trường Đại học California, Berkeley trong sự phẫn nộ của đồng nghiệp trong trường cũng như trong ngành thiên văn học. Sự vụ này đã khiến các cộng đồng khoa học bắt đầu tiến hành xây dựng hoặc đánh giá lại các chính sách nhằm ngăn chặn tình trạng quấy rối tình dục trong các cuộc hội nghị và các sự kiện khác.  9. Khung hình phân tử tĩnh  Năm qua, các nhà sinh học cấu trúc đã có những phát hiện chi tiết chưa từng có về cỗ máy phân tử của sự sống nhờ vào những tiến bộ trong kỹ thuật kính hiển vi điện tử đông lạnh (cryo-EM). Các nhà nghiên cứu có thể xác định cấu trúc của các protein tế bào bằng cách khiến chúng đông kết cực nhanh, sau đó dùng một kính hiển vi điện tử để chụp hình với kết quả là những bức ảnh có độ phân giải gần ở mức nguyên tử.             Kỹ thuật kính hiển vi điện tử đông lạnh (cryo-EM) đang gây lên cơn bão khi vén lên cơ chế bí mật của tế bào. Ảnh: Nature          Ứng dụng kỹ thuật trên, trong năm nay, các nhà sinh học đã vẽ được sơ đồ chi tiết của hơn 100 cấu trúc phân tử, trong đó có proteasome, phức hợp protein có chức năng tiêu hủy các protein không cần thiết hoặc bị hỏng, và spliceosome, phức hợp protein cắt nhỏ RNA thông tin trước khi chuỗi này được chuyển thành protein.   10. Y học chính xác  Tùy chỉnh phác đồ điều trị cho từng cá nhân người bệnh từ lâu đã là một mục tiêu của ngành y sinh học, và hồi tháng Một 2015, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã dành cho nỗ lực này sự ủng hộ quan trọng khi đích thân công bố Sáng kiến Y học Chính xác (PMI). Trong khuôn khổ của chương trình trị giá 215 triệu USD này, Viện Y tế Quốc gia Mỹ cùng các tổ chức đối tác khác sẽ tiếp cận một triệu người dân trên nước Mỹ để thu thập các dữ liệu về gene, hồ sơ sức khỏe và thậm chí cả những dữ liệu từ các thiết bị theo dõi sức khỏe điện tử. Sau đó, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng dữ liệu để tìm kiếm mối liên hệ giữa nguy cơ mắc bệnh với các yếu tố về di truyền và môi trường. Trung Quốc cũng sẽ có một dự án sáng kiến y học chính xác với quy mô lớn vào năm 2016, tận dụng thế mạnh về năng lực giải trình tự bộ gene.                        Tổng thống Barack Obama loan báo về Sáng kiến Y học Chính xác (PMI) vào tháng 1/2015. Ảnh: Nature          Bùi Thu Trang lược dịch   http://www.nature.com/news/365-days-the-science-events-that-shaped-2015-1.19016    Author                Quản trị        
__label__tiasang 100 năm ngày sinh GS. Tạ Quang Bửu:  “Đại sư” của tôi      Tôi không được vinh hạnh và may mắn trực tiếp học Anh, nhưng theo quan niệm đúng và hay rằng “Ai dạy mình điều gì tốt đẹp, đó là thầy mình” thì anh Bửu lại đại sư, ân sư của tôi, của nhiều tráng sinh, không học ở trường Thiên Hựu do Anh là Hiệu trưởng.  Chúng tôi học Anh không chỉ qua những lời kẽ, ý kiến, mà cuộc đời và con người Anh là mẫu mực cho chúng tôi noi theo suốt đời. Rất nhiều bài học, rất nhiều kỷ niệm ân tình, chỉ xin nhắc lại đôi ba, từ tâm khảm.                      Hồi học tiểu học, tôi được thầy dạy: bọn Tây gọi ta là Xa-lơ a-na-mít, các trò phải học giỏi, học tiếng Tây hơn bọn Tây con, cho Tây nó sợ. Ra Huế vào học trường Khải Định, Anh Bửu là một tấm gương sáng chói gần gũi nhất về mục tiêu này. Tôi được nghe kể chuyện Anh thi Tú tài. Dạo đó, có Tú tài bản xứ, chương trình học rất nặng, có chương trình Tú tài Tây, theo chương trình bên Pháp, đều dùng Pháp ngữ làm chính ngữ và Tú tài nào cũng có hai ban Toán và Triết học, thi riêng, bằng cấp riêng (tú tài toán, tú tài triết). Một thôi đã là khó. Anh Bửu đỗ cả bản xứ, cả Tây, đỗ cả bản xứ triết và bản xứ toán, Tây toán, Tây triết, lại toàn hạng ưu, và thủ khoa Tú tài Tây!  Học cái gì, làm việc gì, cũng không chịu loại kém, loại trung bình, mà phải đạt loại giỏi, hàng đầu, như đấu thủ vào đấu trường phải có ý chí giành huy chương vàng. Anh Bửu dạy chúng tôi như vậy, và chính là anh “siêu mẫu”. Anh du học chỉ 5 năm ở Pháp, Anh, mà Anh giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức… tiếng La tinh cổ, tiếng Hy Lạp cổ, giỏi toán, vật lý, hóa, vạn vật học, giỏi triết, văn, tâm lý học… chắc là tôi kể không đủ. Niedrist người Pháp, Giám đốc nhà máy điện Huế tráng sinh cùng toán với tôi có hôm nói chuyện với anh Bửu về việc mời kỹ sư Pháp từ Paris sang để chữa cỗ máy bị hỏng. Anh Bửu bảo để anh xem rồi anh chữa, máy chạy và Niedrist mời anh làm Phó giám đốc nhà máy điện Huế. Trong quá trình học tập, học hỏi, mắc mớ điều gì, chúng tôi đến hỏi Anh. Thì rất lạ, Anh giống như Từ điển Bách khoa sống, anh trả lời ngay, rõ ràng, khúc chiết.  Không phải chỉ ở các môn học Anh mới áp dụng phương pháp “giật huy chương vàng” đó, mà ở những môn thể dục thể thao như leo núi, tìm phương hướng, sống một mình trong rừng… của hướng đạo, đến bơi, bóng bàn, quyền Anh, nhảy cao, nhảy dài, thuyền buồm… Anh đều giỏi, giỏi đến mức được phục, giỏi có bài bản hẳn hoi. Ví dụ, anh đã dạy anh em những phương pháp mới nhất thế giới về bơi (bơi kiểu Crawl), bóng bàn (kiểu Barna), về nhảy cao, nhảy dài… Anh không bao giờ nói ẩu, làm cẩu thả. Cái gì Anh cũng tìm đọc, tìm học, thực tập… Anh truyền lại cho chúng tôi cái mà chúng tôi thường gọi là “sens du fini” – ý thức về hoàn thiện, hoàn chỉnh – bất cứ học, hay làm việc gì cũng gắng tới mức hoàn chỉnh, hoàn thiện. Sau này đàn em và học trò của Anh có nhiều người vừa uyên thâm, vừa quảng bá, vừa đa tài chính là nhờ thầy Bửu – Anh Bửu từ những ngày đó.  Anh không bao giờ tỏ ý muốn người khác theo ý kiến của mình, thậm chí thường tỏ ra bực bội cả khi có anh em  nghe theo, làm theo ý kiến của Anh kiểu bái phục tuân hành. Anh hoàn toàn không hề có sự áp đặt bắt buộc đối với ai. Có một đêm tỉnh túc (tráng sinh thường có những đêm thức với nhau, tham luận những vấn đề cơ bản về nghĩa vụ làm người…) Anh có đọc cho nghe bài thơ tiếng Anh của Bernard Shaw, tạm dịch sang tiếng Việt như sau:  Ý kiến của anh làm tôi nôn mửa  Nhưng nếu có ai giam cầm, tù đầy, xử tử anh  Thì tôi đấu tranh đến giọt máu cuối cùng của tôi để bảo vệ Anh.  Sau sự biến Nhật đảo chính Pháp tháng 3-45, nhân có việc ghé Huế, tôi đến vấn an Anh. Vì Anh như anh cả của tôi, nên tôi có thưa với Anh – để nhờ Anh cho một lời dạy bảo chỉ dẫn – việc tôi đã tham gia hoạt động Phản Đế Hội với các anh Hoàng Phê, Lâm Cự, Huỳnh Quang Địa… Anh lắng nghe, hỏi thêm một số điểm về tổ chức này đang hoạt động bí mật. Xong Anh bảo “cậu biết vì sao chủ nghĩa Quốc tế vào ta rất thuận lợi? Các cụ của chúng ta thấm nhuần đạo Nho, vốn thường nói đến hai chữ “Đại đồng”, Quốc tế là đại đồng, nên các cụ nghe lọt tai lắm. Còn cách mạng Pháp 1789 có mục tiêu thế giới hơn là quốc gia, con người hơn là dân tộc. Khẩu hiệu của cách mạng Pháp rõ ràng hướng về con người, về thế giới: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Anh không nói gì thêm, không nói sai – đúng, nên – không nên, phải – không phải. Khi chia tay, Anh bắt tay trái (chào kiểu Hướng đạo: tay trái ở phía trái tim) và cười: “En route” (lên đường).          Tại hội nghị Geneve ngày 21/7/1954 Thứ  trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu đại diện phía Việt Nam ký hiệp định với Pháp.          Nhiều khi, Anh nói những câu rất ngắn nhưng rõ ràng Anh muốn khởi động ở chúng tôi những suy nghĩ, những quyết định. Ví dụ, có lần quanh lửa trại, Anh cầm bút chì đưa lên nói: Mình có thể gọi cây bút chì bằng 11 thứ tiếng khác nhau, nhưng không làm ra được lấy một cây bút chì nào”. Ở những tâm tư hướng về đất nước độc lập, thịnh vượng, những câu như vậy có sức lay động rất lớn. Hẳn vì thế mà trong chúng tôi, có nhiều anh định học triết, luật, văn đã đổi ý định mà đi học khoa học tự nhiên, nghĩ đến công nghiệp, sản phẩm công nghiệp “Made in Vietnam”.  Năm 1972 ở Hà Nội, một lần nữa tôi chứng kiến tài năng tuyệt vời, trình độ bác học của Anh. Chomsky là nhà ngôn ngữ học ở Hoa Kỳ, đã lập ra một trường phái riêng là Toán -Ngôn ngữ. Ông chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Theo đề nghị của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, Chính phủ mời ông sang thăm Việt Nam. Lần đầu tiên ông Chomsky nói chuyện về Toán – Ngôn ngữ, hơn 10 vị phiên dịch không dịch được. Cuối cùng, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu làm phiên dịch vậy. Phải giỏi toán cao cấp hiện đại, tiếng Anh, ngôn ngữ học, tiếng Việt và hiểu sâu về tin học, mới dịch được. Những lần nói chuyện sau của ông Chomsky phiên dịch đã có sẵn bài phiên dịch của anh Bửu. Trở lại Mỹ, ông Chomsky viết trên The New York Times về chuyến đi Việt Nam. Tôi có được đọc, và đây là câu nói về anh Bửu: “Tôi đã đi nhiều nước, chưa ở đâu tôi được gặp một Bộ trưởng thông thái (erudite) đến như vậy”.  Anh lập gia đình muộn. Quá tứ tuần Anh thành hôn với ái nữ của Tổng ủy viên trưởng Hướng đạo Việt Nam Hoàng Đạo Thúy, tên rừng là Hồ Sứt (Anh Thúy sứt mất một răng), Toán Tây kết chúng tôi tổ chức một cuộc lửa trại ở núi Thiên Thai (Huế) mừng Anh chị. Quà tặng của chúng tôi hết sức giản dị – tặng anh Bửu một áo sơ mi Hướng đạo – tráng sinh, tặng chị Oanh một nón lá bài thơ Huế. Hôm đó, chị Oanh mặc áo dài Việt Nam kiểu mới (tức kiểu Lemur, bó ở eo, màu sẫm, và mang găng tay dài quá khuỷu). Quách Tử Hấp vốn nói năng nhỏ nhẹ, hay đỏ mặt như con gái, nói với tôi: “Trông noble quá hả? (noble là quí phái). Lát sau, chị đến ngồi gần chúng tôi, cười rất tươi, hỏi “Mấy anh nói xấu gì tôi vậy?” Tôi đáp: “Thưa Tạ mệnh phụ…?” Chị tỏ vẻ ngạc nhiên, ngắt lời tôi “Anh nói gì?” Tôi thưa: “Anh Hấp nói chị rất noble, thì tôi phải gọi mệnh phụ chứ sao” và chúng tôi vui cười thoải mái trong tình gia đình.  Tôi đến nay cũng chưa hiểu vì sao anh Bửu có tên từng là “Chồn Fennec”. Sao là chồn? Cũng như tôi vẫn chưa thật hiểu đầy đủ vì sao Anh đặt tên cho tôi là “Báo cô đơn” (Léopard solitaire), gọi tắt nghịch ngợm là “báo cô” (ăn báo cô, nuôi báo cô). Nhưng chúng là với tư cách Báo cô mà tôi được gọi ông Tạ Quang Bửu là Anh Bửu và nay được viết những dòng này về Chồn Fennec nhân ngày giỗ anh lần thứ mười.  Tia Sáng năm 1997      Author                Quản trị        
__label__tiasang 100 năm ngày sinh Hans Bethe: Người khám phá bí mật Mặt Trời      Chỉ vừa mất cách đây hơn một năm, ông là một trong những nhà vật lý lý thuyết lớn của thời đại chúng ta, người mà trong những năm 30 của thế kỷ trước đã tìm ra các chu trình phản ứng hạt nhân, khám phá bí mật nguồn năng lượng khổng lồ của những ngôi sao. Với công lao tính toán và giải thích sự dịch chuyển Lamb, ông được nhiều người coi là cha đẻ của môn lý thuyết trường lượng tử. Cuộc đời ông cũng mang nhiều nghịch lý. Con người gầy gò có nụ cười ốm yếu nhưng rất hài hước này là trưởng phân viện vật lý lý thuyết ở Los Alamos trong suốt giai đoạn Mỹ triển khai chương trình Manhattan thời chiến. Đã từng là một nhân vật quan trọng tham gia chế tạo những quả bom nguyên tử đầu tiên, nhưng sau chiến tranh, Bethe lại trở thành một nhà hùng biện tài giỏi, đấu tranh phản đối vũ khí hạt nhân trong suốt giai đoạn đàm phán ở Geneva để đi tới hòa ước đông-tây, giải trừ quân bị.    Sinh ngày 2/7/1906 ở Strasburg, là con trai của một giảng viên đại học, Bethe đã học ở Munich và Frankfurt và sau đó cũng trở thành một giảng viên ở Munich và Tubingen trong những năm 1930-1933. Tuy mẹ Bethe là người Do Thái nhưng ông cũng đã tránh được sự ngược đãi và kỳ thị của Đức quốc xã. Nhận được học bổng từ quỹ Rockefeller, Bethe và người bạn Rudolf Peierls lần lượt đến Rome và Cambridge để trốn tránh nước Đức ngột ngạt của Hitler. Ở Anh, Bethe đã trở thành giảng viên của Đại học Manchester trong vòng một năm, ở chung nhà thuê với gia đình Peierls và hàng ngày phải đi mất sáu dặm đến trường bằng một chiếc xe đạp cũ. Sau đó, ông cũng đã tìm được một vị trí tương tự ở Đại học Bristol.  Vào thời gian đó, trong vật lý thiên văn vẫn còn một bài toán hóc búa chưa có lời giải. Bài toán này đã từng được Arthur Eddington nêu lên hồi những năm 1920, thách thức thế giới vật lý. Đó là làm thế nào các ngôi sao có thể liên tục phát ra những năng lượng khổng lồ trong khoảng thời gian hàng tỷ năm mà không bị tắt? Người ta từng nghĩ rằng, năng lượng có thể là động năng sinh ra khi vật chất bị rơi vào nhau dưới tác dụng của trường hấp dẫn lớn. Nhưng các tính toán đã chỉ ra rằng, nguồn năng lượng như vậy chỉ đủ cung cấp cho một ngôi sao kiểu như Mặt Trời trong vòng một vài triệu năm mà thôi. Như vậy nguồn năng lượng khổng lồ của các ngôi sao vẫn còn là một bí ẩn.  Năm 1935, Bethe dời Bristol đến Đại học Cornell (Mỹ), và ông đã tìm ra câu trả lời được ẩn chứa trong những phức hợp của các quá trình hạt nhân sinh năng cao. Bethe nghiên cứu rất kỹ lưỡng tất cả những gì người ta đã biết hồi đó về hạt nhân nguyên tử. Ông đã viết một loạt ba bài báo về vật lý hạt nhân. Những bài báo này đã sớm trở thành những công trình nổi tiếng và kinh điển, còn được gọi là “Kinh thánh Bethe”.  Ông đã chỉ ra rằng, ở đây nhất thiết phải có hai quá trình: ở nhiệt độ cực kỳ cao, carbon có thể tác dụng như một chất xúc tác hạt nhân, nó thúc đẩy một quá trình tổng hợp các nguyên tử hydro thành heli và sinh ra năng lượng khổng lồ do sự hụt khối. Chu trình carbon do Bethe đề xướng này được xuất bản năm 1938, nó đã giải thích được tuổi đời lớn của các ngôi sao cực kỳ nóng. Bethe cũng đã chỉ ra rằng, ở nhiệt độ thấp hơn, dưới áp suất và mật độ tương tự như ở Mặt Trời, một chuỗi các diễn biến có thể dẫn đến sự kết hợp trực tiếp các nguyên tử hydro để tạo thành heli và giải phóng nhiều năng lượng. Cơ chế này lgần với nguyên lý hoạt động của bom H (bây giờ người ta vẫn đang tìm cách điều khiển loại phản ứng tổng hợp hạt nhân này để phục vụ nhu cầu năng lượng).Với các phản ứng nhiệt hạch, thời gian sống của các ngôi sao có thể đạt nhiều tỷ năm, và lời giải của Bethe đã được thực tế kiểm chứng.     Tháng 9/1939, quân đội của Hitler tấn công Ba Lan, châm ngòi nổ cho chiến tranh thế giới II. Rất nhiều nhà vật lý tài năng đã chạy sang Mỹ. Bethe khi ấy đã được mời làm cố vấn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ. Ông cũng làm việc với cương vị là cán bộ nghiên cứu của Phòng thí nghiệm Bức xạ thuộc Viện Công nghệ Massachusetts. Hoạt động đáng chú ý nhất của Bethe trong đầu thập kỷ 1940 chính là tham gia vào chương trình nghiên cứu mùa hè ở Berkeley năm 1942. J. Robert Oppenheimer đã thành lập một nhóm nghiên cứu về tính khả thi của một loại vũ khí nguyên tử. Ngoài Bethe, nhóm nghiên cứu này còn gồm nhiều nhà vật lý tài năng khác như Edward Teller, Felix Bloch và Emil Konopinski. Họ đã thiết lập nên một cơ sở lý thuyết cho việc chế tạo bom nguyên tử. Mùa đông năm 1942, Mỹ bắt đầu triển khai “Chương trình Y” ở Los Alamos dưới sự chỉ huy của tướng Leslie R. Groves và Oppenheimer. Teller đã cố gắng thuyết phục Bethe tham gia vào chương trình này. Ban đầu Bethe còn ngần ngại, nhưng cuối cùng thì ông cũng chấp nhận. Oppenheimer để ông làm trưởng phân viện lý thuyết, một vị trí mà Teller đã rất thèm muốn. Chính điều này đã gây ra mối hiềm tị của Teller đối với Bethe trong mấy chục năm trời.     Sau chiến tranh, Bethe trở về Cornell và trở thành một người tham gia rất nhiệt tình vào các phong trào cộng đồng. Ông tuyên truyền nhiều về việc điều khiển năng lượng nguyên tử vì mục đích dân sự, ông cũng viết các bài báo và nói chuyện về sự nguy hiểm của chiến tranh hạt nhân. Bethe cũng vẫn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học cơ bản của mình. Năm 1947, ông công bố một bài tính toán lý thuyết về sự dịch chuyển Lamb, giải thích sự xê dịch các mức năng lượng của electron trong nguyên tử hydro. Nghiên cứu này của Bethe đã khởi đầu cho lĩnh vực điện động lực học lượng tử, nó chính là một bài tính toán đầu tiên và rất kinh điển của môn lý thuyết trường lượng tử.   Năm 1949, Liên bang Xô Viết thử nghiệm thành công bom nguyên tử. Hoa Kỳ ráo riết thúc đẩy chương trình bom hydro (bom H). Teller lại một lần nữa thuyết cố gắng thuyết phục Bethe tham gia vào đề án chế tạo loại vũ khí vô cùng nguy hiểm này. Lúc đầu, Bethe đã cương quyết từ chối, ông cực lực chống lại việc xây dựng những vũ khí mang tính hủy diệt, ông cũng tìm cách lập luận rằng bom H không thể chế tạo thành công được. Tuy nhiên, khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Bethe đã đồng ý tham gia vào đề án, ông giải thích: “… mong muốn chính của tôi là chứng minh một cách dứt khoát rằng bom H sẽ không hoạt động”. Thực ra, thiết kế ban đầu của Teller đã bị chứng minh là không khả thi. Tuy nhiên đầu năm 1951, Teller và Stan Ulam đã nghĩ ra một phương pháp kích nổ cho bom H. Khi ấy Bethe cũng tỏ ra hoang mang: “Tôi đã bị thuyết phục rằng, cái thứ vũ khí khủng khiếp ấy có thể trở thành hiện thực, và chúng tôi buộc phải lo ngại rằng người Nga cũng có thể và sẽ làm ra nó”. Quả bom H đầu tiên đã được cho nổ vào ngày 1/10/1952.  Trong những năm 1950, Bethe là thành viên Hội đồng Cố vấn Khoa học của tổng thống Eisenhower. Một trong những mục tiêu lớn nhất của Eisenhower khi ấy là đi đến một hiệp ước với Xô Viết về việc cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân, ông này đã đặt niềm tin ở Bethe. Ngay cả sau khi Eisenhower kết thúc nhiệm kỳ, Bethe vẫn tiếp tục nỗ lực cho mục tiêu này trong những năm đầu thập kỷ 1960. Cuối cùng thì năm 1963, tổng thống Kenedy cũng đã ký một hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân trong khí quyển. Bằng sự hiểu biết sâu rộng và  khả năng thuyết phục của mình, Bethe và đóng góp không biết mệt mỏi cho những thỏa thuận cùng giải trừ vũ khí hạt nhân của các phe đối đầu trong chiến tranh lạnh.                Năm 1967, Hans Bethe được trao giải Nobel cho khám phá về nguồn năng lượng của các sao. Trong bài phát biểu lúc nhận giải, chính Bethe đã thừa nhận rằng, ông tỏ ra ngạc nhiên vì thấy nhiều người còn có những đóng góp lâu dài, căn bản và phức tạp hơn mà không được giải trong khi đó công trình của ông chỉ thực hiện trong thời gian ngắn mà vẫn được chọn để trao giải. Đó có lẽ là sự khiêm tốn rất trung thực của Bethe, nhưng chúng ta đều biết rằng, ông hoàn toàn xứng đáng với giải Nobel đó. Bởi vì sự giải đáp về nguồn năng lượng của các sao đã trở thành một trong những ứng dụng quan trọng nhất của vật lý trong thời đại chúng ta. Hơn nữa, nó cũng đã đem lại những thay đổi mang tính cách mạng trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.  Ngoài giải thưởng Nobel, Bethe còn được nhận nhiều giải thưởng danh giá khác như Huân chương Max Planck, Giải thưởng Enrico Fermi, Huân chương Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los Alamos. Năm 1992, ông cùng Joseph Rotblat được trao giải thưởng Hòa bình Albert Einstein.  Bethe về nghỉ hưu năm 1975, nhưng vẫn là giáo sư danh dự ở Cornell. Ông hoạt động tích cực trong những chiến dịch đòi cắt giảm và giải trừ các loại vũ khí hủy diệt. Trong một lá thư ngỏ gửi cho cộng đồng khoa học tháng 7/1995, ông viết: “Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả các nhà khoa học ở tất cả các nước, hãy dừng lại và từ bỏ những chương trình nghiên cứu, chế tạo và phát triển vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, sinh học, cũng như bất cứ loại vũ khí hủy diệt nào khác,”. Năm 1999, ở tuổi 93, Bethe vẫn cố gắng đấu tranh chống lại quyết định rút khỏi Hiệp ước Cấm Toàn diện Thử nghiệm Hạt nhân của nghị viện Mỹ.  Hans Bethe mất ngày 6/3/2005. Cho đến tận lúc trút hơi thở cuối cùng, ông vẫn không ngừng theo đuổi một chiến dịch kéo dài hàng thập kỷ của mình, một chiến dịch biến thế giới này thành nơi an toàn hơn cho tất cả mọi người.  Trần Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang 100 năm qua, con người cao hơn, béo hơn và sống thọ hơn      Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đi đến kết  luận: 100 năm qua, loài người đang biến đổi trở nên cao hơn, béo hơn và  sống thọ hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử. Nhưng đây không phải là sự biến đổi gene trên ý nghĩa thực sự, bởi lẽ  thời gian một thế kỷ chưa đủ để xảy ra sự biến đổi như vậy.    Stephen Stearns, giáo sư sinh thái học và sinh vật học tiến hóa của ĐH Yale (Mỹ), nói, phần lớn các thay đổi xảy ra trong thời kỳ ngắn như thế “đơn giản chỉ là phản ứng của sự phát dục cơ thể đối với sự thay đổi của môi trường”; sự thay đổi đó gồm thay đổi về dinh dưỡng, phân phối thực phẩm và điều kiện y tế, vệ sinh.  Tại một số nước phát triển, con người trở nên cao hơn trước. Trong một thế kỷ qua, thanh niên Anh cao thêm 10 cm. Người Hà Lan có chiều cao bình quân nhất thế giới: 1,85 m. Theo nghiên cứu của GS John M. Komlos ở ĐH Duke (Mỹ), chiều cao bình quân của người Mỹ trong thời gian Thế chiến II là 1,77 m, cao nhất thế giới; thế nhưng đến cuối thế kỷ XX, họ không còn giữ được vị trí số một nữa, vì chiều cao ấy không tăng lên.  Tuy vậy biên độ tăng chiều cao ở các nước có khác nhau. Barry Bogin, giáo sư sinh học nhân loại ở ĐH Loughborough (Anh Quốc), cho biết: người Đông Đức cũ vẫn không cao bằng người Tây Đức cũ. Chiều cao bình quân ở một số nước ngoài phương Tây từng xảy ra chiến tranh, bệnh tật và các vấn đề khác lại giảm đi, như người da đen Nam Phi.  Từ những năm 1970, GS Bogin liên tục nghiên cứu người Maya ở Guatemala, Mexico và Mỹ. Ông phát hiện, trẻ sinh ra ở Mỹ cao hơn 11,4 cm so với trẻ Maya sinh ra ở Mexico và Guatemala. Bogin nói có lẽ là do trẻ sinh ra ở Mỹ được ăn uống đầy đủ hơn và hưởng dịch vụ y tế tốt hơn, hơn nữa ít có khả năng tiếp xúc các bệnh truyền nhiễm.  Nhưng việc tăng chiều cao cũng kèm theo cái giá phải trả khá cao. Các trẻ em người Maya này chẳng những ngày càng giống người Mỹ về chiều cao mà cũng tăng cân như người Mỹ, tức thể trọng quá nặng.  Bogin nói: “Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều béo ra.” Một báo cáo đăng trên tạp chí y học The Lancet số ra ngày 29/5 cho biết năm 2013, thế giới có 29% số dân béo phì.  Vì sao loài người lại béo lên? Các nhà khoa học đang tranh cãi về vấn đề này. Một số người cho rằng vì ăn quá nhiều mà vận động quá ít. Một số lại nói tới tác động của gene và virus.   Số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy tuổi thọ của loài người hiện nay dài hơn bất cứ thời kỳ nào. Tuổi thọ bình quân toàn cầu năm 2012 lên đến 70. WHO dự đoán, phụ nữ các nước phát triển kiểu Mỹ sinh vào năm 2030 sẽ có tuổi thọ bình quân cao tới 85. Bogin nói, sự kéo dài tuổi thọ có thể liên quan tới những tiến bộ lớn của y học, sự cải thiện điều kiện vệ sinh và được dùng nước sạch.  Trong khi đó Stearns cho rằng mặc dù tất cả các nhân tố nói trên đều đã hạ thấp tỷ lệ chết do bệnh truyền nhiễm, nhưng tỷ lệ chết bởi bệnh Alzheimer, bệnh tim mạch và ung thư lại tăng lên. Nói cách khác, tuổi thọ của loài người đang được kéo dài nhưng họ lại chết vì những loại bệnh khác với trước kia.    Stearns nói, các loại bệnh có tính miễn dịch tự thân (autoimmune diseases) như chứng xơ cứng đa phát (multiples sclerosis) và bệnh tiểu đường type I cũng ngày càng thường xuyên xuất hiện. Một số nhà khoa học cho rằng, các loại bệnh này tăng lên do khi cơ thể người không tiếp xúc hoặc tiếp xúc rất ít với vi khuẩn thì hệ miễn dịch thậm chí có phản ứng quá mức với các vi khuẩn hữu ích.                Nguyễn Hải Hoành tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang 100 năm sau, hồ Ba Bể sẽ biến mất?      Với 70 vạn tấn phù sa bồi lấp mỗi năm, hồ Ba Bể – đang được UNESCO xem xét công nhận là di sản thiên nhiên thế giới – đứng trước nguy cơ thành sân bóng.    Viện Khoa học Thủy lợi đã lập dự án tiền khả thi hệ thống công trình thủy lợi chống bồi lấp hồ Ba Bể với hai hạng mục chính, gồm xây dựng cụm công trình thủy lợi trên sông Bó Lù và Tà Han để chặn giữ bùn cát ra sông Gâm, giảm 2/3 lượng cát lấp hồ, xây dựng cụm công trình thủy lợi trên sông chợ Lèng với mục đích ổn định luồng lạch cửa sông, hút phù sa ở cửa sông, trả lại diện tích mặt nước cho hồ. Tuy nhiên ngoài các biện pháp công trình, còn cần di dân tái định cư, chấm dứt nạn phá rừng ven hồ để giảm xói lở đất xuống lòng hồ, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ di sản cho người dân…  P.V        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm nguồn mở: Trên đường bảo vệ dữ liệu cá nhân      Sự ra đời của GDPR – Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (General Data Protection Regulation) của Liên minh châu Âu (EU) vào năm 2016 đã thay đổi to lớn cách xử lý các dữ liệu cá nhân của các công ty công nghệ. Thay vì lạm dụng dữ liệu của những người dùng, các công ty này phải trao cho họ gần như toàn quyền kiểm soát dữ liệu của bản thân mà các công ty thu thập, lưu giữ và xử lý. Nguồn mở có thể là một trong những giải pháp giúp các công ty tuân thủ được các yêu cầu của GDPR và tránh những hình phạt đáng tiếc khi không tuân thủ.    Nguon mo gdpr: Ảnh: Opensource.com  GDPR là Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (General Data Protection Regulation) của Liên minh châu Âu (EU). Đây được cho là một trong những quy định toàn diện nhất và tiên tiến nhất trong việc xử lý dữ liệu cá nhân, và đang thay đổi cách các tổ chức thu thập và sử dụng dữ liệu không chỉ ở các nước trong EU mà còn trên toàn thế giới.  Quy định này được mô tả trong một tài liệu 88 trang bao gồm các nguyên tắc và bổn phận phải tuân thủ khi thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân của các công dân của Liên minh châu Âu1. Nghị viện châu Âu ban hành GDPR vào tháng 4/2016 và quy định này có hiệu lực kể từ ngày 25/5/2018. Mặc dù quy định này chỉ áp dụng đối với những việc xử lý dữ liệu liên quan đến các công dân EU nhưng nó đã và đang thay đổi cách vận hành của nhiều công ty công nghệ – vốn là các công ty toàn cầu.  Dữ liệu cá nhân (personal data) trong GDPR được định nghĩa như là bất kỳ thông tin nào liên quan tới thể nhân được nhận dạng hoặc có khả năng nhận dạng được, bao gồm:  * thông tin có thể nhận dạng trực tiếp ai đó, cần hoặc không cần theo ngữ cảnh – đôi khi được gọi là “thông tin có khả năng nhận dạng được cá nhân” (ví dụ, mã số định danh quốc gia như số chứng minh thư, số hộ chiếu; tên; ngày sinh; địa chỉ thư điện tử).  * thông tin có thể gián tiếp nhận dạng được ai đó (ví dụ, tên công việc + công ty – “Giám đốc về Vật tư tại Công ty ABC”).  * thông tin có thể kết nối được tới một cá nhân xác định (ví dụ, các bài post trên mạng xã hội, các chi tiết đơn hàng, các chi tiết ngân hàng, thông tin y tế, các địa chỉ IP…).  GDPR hết sức khắt khe với các hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Theo đó định nghĩa về “xử lý” bao trùm gần như tất cả các hoạt động, ở bất kì thời điểm nào thực hiện liên quan đến dữ liệu. Điều này bao gồm thu thập, lưu giữ, truyền, xóa dữ liệu cá nhân và thậm chí cả truyền và xem dữ liệu, dù sử dụng hay không sử dụng các công cụ tự động.  Để hạn chế tối đa việc lợi dụng dữ liệu cá nhân. GDPR xác định bảy nguyên tắc chính về xử lý dữ liệu cá nhân. Trong đó, xử lý dữ liệu cá nhân phải hợp pháp, công bằng và minh bạch đối với chủ thể dữ liệu. Dữ liệu cá nhân cũng chỉ được thu thập ở mức tối thiểu, xử lý dữ liệu và lưu trữ dữ liệu trong khoảng thời gian phù hợp với các mục đích hợp pháp mà dữ liệu đó được thu thập. Hơn nữa, các dữ liệu thu thập phải được duy trì chính xác và cập nhật, đồng thời thực hiện mọi bước hợp lý để xóa hoặc sửa dữ liệu không chính xác. Việc xử lý dữ liệu phải đảm bảo tính bảo mật thích hợp. Người kiểm soát dữ liệu cá nhân phải có trách nhiệm giải trình trong việc chứng minh mình tuân thủ tất cả các nguyên tắc trên.  Đặc biệt, GDPR đề cập đến tính mở trong nguyên tắc đối với các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân2. Trong đó, các tổ chức này phải: Mở với mọi người về dữ liệu cá nhân nào họ đang thu thập; Mở với mọi người về cách thức họ sử dụng, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu cá nhân; Mở về các cơ chế trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng sai các dữ liệu cá nhân; Giải thích cho mọi người hiểu cách dữ liệu của họ được thu thập và sử dũng cũng cách thức mà các tổ chức đưa ra quyết định sau khi phân tích và xử lý dữ liệu cá nhân của họ; Kết quả của quá trình thu thập, sử dụng và xử lý dữ liệu cũng cần phải càng mở càng tốt.  Dữ liệu cá nhân và dữ liệu mở là hai khái niệm không loại trừ lẫn nhau. Khi xử lý dữ liệu cá nhân là các dữ liệu mở, phương pháp ẩn danh (Anonymisation) thường được sử dụng để không thể nhận dạng hoặc tái nhận dạng được các thể nhân từ các dữ liệu mở đó. Tuy nhiên, đây không phải là trọng tâm của bài viết này.  Tại sao phần mềm nguồn mở lại phù hợp với các quy định của GDPR?  Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở được định nghĩa là phần mềm với mã nguồn của nó được công khai sẵn sàng, theo cách thức kịp thời và thân thiện với người sử dụng, ở định dạng người và máy đọc được và sửa được, theo một giấy phép mở trao cho những người khác quyền để sử dụng, truy cập, sửa đổi, mở rộng, nghiên cứu học tập, tạo ra các tác phẩm phái sinh và chia sẻ phần mềm đó và mã nguồn, thiết kế và kế hoạch chi tiết của nó. Mã nguồn phải được đưa vào nội dung phát hành phần mềm đó và được lưu trong các kho truy cập mở và giấy phép được chọn phải cho phép các sửa đổi, các tác phẩm phái sinh và chia sẻ theo các điều khoản và điều kiện mở bình đẳng và tương thích.  Bảng 1: 17 dự án nguồn mở sẵn sàng với GDPR cho Doanh nghiệp (ERP, CRM, CMS, CHAT, Đám mây, Phân tích)9        PMNM  Magento  EspoCRM  SuiteCRM  Vtiger CRM  NextCloud      Giấy phép mở  OSL v3, AFLv3  GPLv3  AGPLv3  SUGARCRM PL v1.1.2  AGPLv3      PMNM  OwnCloud  RocketChat  ERPNext  Axelor ERP  Dolibarr ERP/ CRM      Giấy phép mở  AGPLv3  MIT  GPL  AGPLv3  GPLv3+      PMNM  Matomo  OWA  GrandNode  0 A.D.  WordPress      Giấy phép mở  AGPLv3  MIT  GPLv3  GPLv2  GPLv2+      PMNM  Zenario CMS  Jahia CMS            Giấy phép mở  BSD  GPLv3              Bảng 2: 5 công cụ phân tích tuân thủ với GDPR là PMNM10        PMNM  PostHog  Plausible  Countly  GoAccess  Matomo      Giấy phép mở  MIT  AGPLv3  AGPLv3  MIT  AGPLv3        Phần mềm nguồn mở đã trở thành một “bảo chứng” cho tính bảo mật của phần mềm. Đến năm 2022, 97% mã phần mềm thương mại có chứa nguồn mở. Sự hiện diện của thành phần nguồn mở trong một ứng dụng được coi là yêu cầu tối thiểu và bắt buộc đối với bất kì nỗ lực DevSecOps và AppSec nào3. Trong đó, DevSecOps là viết tắt của Phát triển (Development), Bảo mật (Security) và Vận hành (Operation), AppSec (App Security) là các quá trình kiểm soát nguy cơ về bảo mật trong suốt vòng đời của ứng dụng – từ khi thiết kế đến lúc kết thúc một sản phẩm.  Bảo mật dữ liệu, nhất là bảo mật dữ liệu cá nhân, là một trong những vấn đề quan trọng của bảo mật trong DevSecOps và AppSec. Vì rất nhiều ứng dụng được sử dụng để thu thập/phân tích/xử lý dữ liệu cá nhân của các công dân, bảo mật dữ liệu chắc chắn cũng là mối quan tâm của tất cả các bên liên quan tới các dự án Phần mềm nguồn mở trên thế giới, bao gồm cả những người làm chính sách về nó ở tất cả các mức quản lý.  Phần mềm nguồn mở còn là một xu thế tất yếu, là điều kiện tiên quyết để phát triển Khoa học mở – phong trào nhằm giúp cho bất cứ ai có điều kiện kết nối internet đều có thể tiếp cận tri thức một cách bình đẳng, dễ dàng và miễn phí. Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia thành viên của nó thông qua vào ngày 23/11/20214, khẳng định Khoa học Mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay. Trong đó, phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở là một trong năm thành phần của Kiến thức Khoa học Mở, điều được khuyến nghị cho các quốc gia trên thế giới ưu tiên đầu tư để ứng dụng và phát triển,    Phần mềm nguồn mở còn là một xu thế tất yếu, là điều kiện tiên quyết để phát triển Khoa học mở – phong trào nhằm giúp cho bất cứ ai có điều kiện kết nối internet đều có thể tiếp cận tri thức một cách bình đẳng, dễ dàng và miễn phí.    Mặc dù “phần mềm nguồn mở không tự nhiên bảo mật hơn so với phần mềm nguồn đóng sở hữu độc quyền. GDPR sẽ có tác động lớn tới cộng đồng phần mềm nguồn mở. Để tuân thủ quy định này, những người phát triển – các lập trình viên, hay những người sử dụng phần mềm nguồn mở, đặc biệt là các doanh nghiệp cần phải ý thức và khắc phục các lỗ hổng, rủi ro bảo mật liên quan đến rò rỉ thông tin cá nhân. Trên thực tế một trên 18 thành phần nguồn mở chứa những rủi ro bảo mật và 84% các dự án sử dụng nó không vá lỗi.5  Tuy nhiên, phần mềm nguồn mở có nhiều cơ hội hơn trong việc đáp ứng các yêu cầu khắt khe của GDPR, bởi hai bên đều chia sẻ các quan điểm về hợp pháp, công bằng, bình đẳng và tự do. Phần lớn các triết lý mà cộng đồng nguồn mở theo đuổi đều gắn liền với các nguyên tắc cơ bản của GDPR. Nếu phải thu thập dữ liệu cá nhân, đại đa số dự án nguồn mở cũng chỉ giới hạn trong mục đích hợp lí và chỉ ở mức tối thiểu. Mục đích của các dự án nguồn mở là để sửa chữa các lỗi lập trình chứ không phải để thu thập dữ liệu cá nhân. Hơn nữa, mọi dữ liệu cá nhân thu thập được cũng như toàn bộ mã nguồn đều cập nhật và công khai về mục đích của chúng.6  Mặc dù phần mềm nguồn mở không hoàn hảo “nhưng các hệ thống sẵn có để sửa lỗi cho phần mềm nguồn mở được lên kế hoạch, được triển khai, và được phân bổ nhân sự, tốt hơn nhiều” phần mềm nguồn đóng. Vì thế, “nếu bạn phải tin tưởng phần mềm bạn đã không kiểm tra, thì hãy chọn tin tưởng mã nguồn được phơi ra cho nhiều lập trình viên, những người có khả năng độc lập nói ra về các lỗi”7, vì theo Luật Linus, ‘Nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn’ (given enough eyeballs, all bugs are shallow)8.  Đối với mỗi phần mềm nguồn mở, hay nói chính xác hơn, đối với mỗi dự án phần mềm nguồn mở đúng nghĩa, thuộc sở hữu của cộng đồng dự án phần mềm nguồn mở đó, tất cả các hoạt động phát triển của nó đều là minh bạch sao cho bất kỳ ai cũng có thể soi xét được từng dòng mã lệnh của nó, và vì thế, bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra được mục đích của từng dòng mã lệnh của nó được viết ra để làm gì.  Khác với phần mềm nguồn mở, bản chất của các phần mềm nguồn đóng cùng mã nguồn của nó là thường phụ thuộc vào chỉ một công ty sở hữu độc quyền. Vì vậy, việc sử dụng các phần mềm và mã nguồn đóng là không dễ đưa ra sự minh bạch đủ để tuân thủ “Các nguyên tắc của tính mở đối với các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân” của GDPR như được nêu ở trên. Ví dụ, làm thế nào có thể biết mã nguồn của phần mềm nguồn đóng thực sự không làm những gì được coi là bất hợp pháp đối với các dữ liệu cá nhân, khi không ai có thể nhìn thấy mã nguồn của nó ngoài các lập trình viên của chính công ty phần mềm nguồn đóng đó?  Hiện nay, các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức nhà nước ngày càng có nhu cầu sử dụng các phần mềm, giải pháp phần mềm tuân thủ GDPR để tránh bị phạt, nhiều trong số chúng là các PMNM. Nếu phi phạm GDPR, số tiền phạt là 2% của doanh thu trên toàn cầu của công ty đó, bất kể công ty đó đặt trụ sở ở đâu.  Hơn nữa, việc sử dụng các phần mềm nguồn đóng và mã nguồn đóng, chắc chắn là đi ngược với xu thế không thể đảo ngược của thế giới trong phát triển Khoa học mở của UNESCO mà đã có 193 nước cam kết theo đuổi.□  —-  Chú thích  1EU, 27 April 2016: General Data Protection Regulation: http://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX:32016R0679  2Open Data Institute, 2018: Openness principles for organisations handling personal data: https://theodi.org/article/openness-principles-for-organisations-handling-personal-data/. Bản dịch sang tiếng Việt: https://vnfoss.blogspot.com/2018/02/cac-nguyen-tac-cua-tinh-mo-oi-voi-cac.html  3Synopsys: 2022 Open Source Security and Risk Analysis Report: https://www.synopsys.com/content/dam/synopsys/sig-assets/reports/rep-ossra-2022.pdf, p.22  4UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  5Glyn Moody, 2/5/2018, https://www.linuxjournal.com/content/gdpr-takes-open-source-next-level  6Amye Scavarda Perrin 2021, https://open.mitchellhamline.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1101&context=cybaris  7Seth Kenlon (Red Hat), 09/02/2021: Understanding Linus’s Law for open source security: https://opensource.com/article/21/2/open-source-security. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/phan-mem-tu-do-nguon-mo/hieu-luat-linus-ve-bao-mat-cua-nguon-mo-431.html  8Lê Trung Nghĩa, 2021: Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 1): https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-phan-1-448.html, phần C. Mô hình phát triển của phần mềm nguồn mở.  9Hamza Musa, 10/03/2019: 17 GDPR-Ready Open source Projects for the Enterprise (ERP, CRM, CMS, CHAT, Cloud, Analytics): https://medevel.com/gdpr-opensource/  10Posthog: The 5 best GDPR-compliant analytics tools: https://posthog.com/blog/best-gdpr-compliant-analytics-tools    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang 12 năm đi tìm kháng thể Ebola      Sau 12 năm tìm kiếm và nghiên  cứu virus Ebola, nhà virus học người Israel Leslie Lobel phát hiện trong máu một số  người may mắn sống sót từ nạn dịch Ebola tại châu Phi có loại kháng thể  miễn dịch với virus Ebola; qua nghiên cứu hệ miễn dịch của họ, ông đang  triển khai chế tạo một loại văcxin phòng ngừa virus này.    Virus Ebola truyền bệnh qua tiếp xúc trực tiếp và qua thể dịch. Trong các nạn dịch trước đây, Ebola đã giết chết từ 60 đến 90% số người bệnh. Trong nghiên cứu, TS Lobel sử dụng các mẫu máu lấy từ những người hiếm hoi sống sót sau khi bị nhiễm Ebola để tạo ra các phân tử protein trong phòng thí nghiệm. Các phân tử đó, tức kháng thể*, sẽ tấn công virus Ebola để ngăn cản sự nhiễm bệnh.   Nạn dịch Ebola nổ ra từ tháng 3/2014 tại các nước Tây Phi như Sierra Leone, Liberia, Guinea và Nigeria đang lan tràn nhanh chóng, đã làm hơn 1.600 người nhiễm bệnh, trong đó hơn 900 đã chết. “Đây là kết quả của một sự thực là thế giới chúng ta còn đang ngủ yên trong khi lẽ ra phải đấu tranh chống các loại bệnh truyền nhiễm,” Lobel nói. Tai họa ấy chứng tỏ thế giới đang cần rất nhiều loại văcxin mà Lobel và các đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu trong 12 năm nay trên cơ sở tìm hiểu hệ miễn dịch của những người sống sót sau nạn dịch Ebola tại Uganda.  Lobel tốt nghiệp Đại học Columbia ở New York, sau đó lấy bằng tiến sĩ y khoa rồi về nước làm việc tại Đại học Ben-Gurion (BGU) ở sa mạc Negev, Israel. Tại đây ông dẫn đầu công tác nghiên cứu bệnh truyền nhiễm. Từ năm 2003, ông bắt đầu tìm kiếm những người Uganda may mắn sống sót sau nạn dịch Ebola. Mỗi năm ông đến châu Phi năm lần, mỗi lần vài tuần, hầu như đi khắp khu vực từng xảy ra dịch Ebola, săn lùng tìm kiếm loại virus đáng sợ ấy.   “Chẳng ai hiểu công việc của tôi, rất khó tìm được nguồn tài trợ. Những người xung quanh tôi hiểu biết không nhiều về bệnh truyền nhiễm,” ông nói. Rất may là về sau Lobel nhận được sự tài trợ hiếm hoi của một quỹ công nghệ sinh học Israel. Ông cùng một vài cộng sự cô đơn đi khắp châu Phi trong hơn 10 năm, tìm những người sống sót sau nạn dịch và đến thăm gia đình họ cũng như hợp tác với các bệnh viện và nhà khoa học sở tại để triển khai nghiên cứu, lựa chọn được mấy trăm bệnh án và mẫu kháng thể. “Tôi uống thuốc chống sốt rét và thuốc kháng sinh để bảo vệ mình rồi đi gặp những người từng có tiền sử nhiễm virus Ebola ít nhất ba tháng nhưng sau đó sống sót khỏe mạnh. Tôi nghiên cứu hệ miễn dịch của họ, tìm nguyên nhân vì sao họ sống sót. Câu trả lời có thể là di truyền hoặc di truyền biểu hiện,” Lobel nói.  Để được họ tín nhiệm, khi đến gặp họ, Lobel đều không mặc quần áo bảo hộ. “Tôi không phải người xa lạ đến nơi là vội lấy mẫu máu rồi cấp tốc chuồn mất tăm.”   Năm 2011, công tác nghiên cứu của Lobel có chuyển biến căn bản. Viện Nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia Mỹ (U.S. National Institutes of Health) và quân đội Mỹ năm đó tán thành ý tưởng nghiên cứu của ông và bắt đầu tài trợ. Họ liên kết với Viện Nghiên cứu virus Uganda lập một nhóm hợp tác nghiên cứu ba bên và lập phòng thí nghiệm ở châu Phi. Đây là một trong số rất ít nghiên cứu về Ebola trên toàn thế giới; nghiên cứu này có thể dẫn đến một liệu pháp điều trị bệnh, thậm chí làm ra loại văcxin chứa những thành phần mô phỏng phản ứng của hệ miễn dịch. “Đây có thể là loại văcxin tác động nhanh hơn loại văcxin mà quân đội Mỹ đã chế tạo và đang thí nghiệm trên loài khỉ,” Lobel nói.   Qua điều tra tìm hiểu năm vùng từ năm 2000 từng xảy ra dịch Ebola, Lobel phát hiện một số người Uganda không có kháng thể, một số người có kháng thể nhưng không có khả năng miễn dịch, chỉ một số ít người có kháng thể miễn dịch với virus Ebola. Nhóm nghiên cứu theo dõi 120 người Uganda sống sót sau dịch Ebola, xác định mẫu máu người có kháng thể miễn dịch, từ đó tách được kháng thể, nghiên cứu đặc tính protein virus để sau cùng tìm ra văcxin ngừa dịch Ebola. Nếu nghiên cứu này thành công và văcxin được sản xuất đại trà để tiêm chủng cho đông đảo dân chúng thì nhân loại sẽ có thể ngăn ngừa được nạn dịch Ebola vô cùng nguy hiểm. Tuy rằng rất nhiều người chủ trương nên tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nhằm chế tạo dược phẩm chữa cho những người nhiệm virus Ebola, nhưng Lobel cho rằng điều quan trọng hơn là phải chế tạo được văcxin ngừa dịch Ebola trên cơ sở nghiên cứu kháng thể lấy từ thiên nhiên, là kháng thể tốt nhất. Ông nói, thuốc Zmapp do công ty dược phẩm sinh học Mapp Biopharmaceutical Inc. (Mỹ) đang thử sử dụng tuy rất hữu hiệu song có mặt hạn chế, chỉ thích hợp với một số nhóm người đặc biệt.   Lobel rất lo ngại trước tình hình hiện nay Israel cũng như nhiều nước khác thiếu chuyên viên về virus học và bệnh truyền nhiễm, lại càng không có ai muốn đi châu Phi làm việc tại những vùng có dịch bệnh. Các công ty dược phẩm không nhiệt tình với việc nghiên cứu virus truyền nhiễm, những nước thường xuyên xảy ra dịch bệnh đều là nước nghèo và lạc hậu, thiếu ý thức phòng bệnh, không chuẩn bị đầy đủ để đối phó với nạn dịch lớn. Lobel nói: “Bệnh truyền nhiễm ác tính là mối đe dọa lớn nhất đối với nền văn minh của loài người, thế nhưng hiện nay mọi người hầu như trở nên tê liệt và trì trệ trước các loại bệnh truyền nhiễm”.  —    *Kháng thể (antibody) là phân tử protein hình thành trong cơ thể động vật, có tác dụng trung hòa hiệu ứng của những loại protein lạ xâm nhập cơ thể (tức kháng nguyên, antigen).  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  Nguồn:  – http://www.timesofisrael.com/israeli-scientist-leads-search-for-ebola-cure/  Israeli scientist leads search for Ebola cure  – http://www.algemeiner.com/2014/08/08/ebola-research-at-israel%E2%80%99s-ben-gurion-university-could-yield-vaccine/ Ebola Research at Israel’s Ben-Gurion University Could Yield Vaccine. 8/8/2014  – http://kepu.sciencenet.cn/index.php?s=/Index/datail/id/591   以色列病毒学家：在自然界寻找埃博拉抗体    Author                Quản trị        
__label__tiasang 12 sự kiện vật lý nổi bật năm 2006      Trong năm 2006, ngoài những mạch nước trên Hỏa tinh và chiếc “áo tàng hình đầu tiên”, các nhà vật lý cũng đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong nghiên cứu vật liệu ở cấp độ lượng tử, đem lại cho chúng ta những hiểu biết cơ bản và sâu sắc hơn về vật chất cũng như thúc đẩy những công nghệ tương lai như máy tính lượng tử đến gần với hiện thực hơn.                             1. Tháng Giêng: Sự rối lượng tử giữa ánh sáng và các nguyên tử. Sự rối là một nền tảng quan trọng của lý thuyết thông tin lượng tử và là một trong những cơ sở cho các máy tính lượng tử.  Những nghiên cứu mang tính đột phá của nhóm các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Georgia (Hoa Kỳ) đã mở ra triển vọng hiện thực hoá việc ứng dụng những hiện tượng rối vốn rất không bền này.                          2. Tháng Hai: Những quả sét hòn lớn. Sét hòn là một hiện tượng tự nhiên kỳ thú hay chỉ thuần tuý là sản phẩm của trí tưởng tượng? Các nhà vật lý ở Israel đã thực hiện một nghiên cứu đáng chú ý để trả lời câu hỏi này. Họ đã sử dụng một loại lò vi sóng đặc biệt để mô phỏng xem làm thế nào mà những tia sét thông thường được tin là có thể tạo ra sét hòn. Họ đã thu được những quả cầu lửa được mô tả là “bùng nhùng và trôi nổi trong không khí.”                   3. Tháng Ba: Cường độ bão có liên quan đến những đại dương đang ấm lên. Các nhà vật lý khí hậu hàng đầu thế giới đã đưa ra cảnh báo rằng, sự tăng lên của nhiệt độ mặt nước biển đang làm tăng số những trận bão có cường độ rất lớn trên khắp hành tinh.                                 4. Tháng Tư. Fermilab phát hiện những chuyển tiếp vật chất-phản vật chất. Một nhóm hợp tác quốc tế ở Fermilab đã thực hiện một phép đo chính xác nhất từ trước đến giờ đối với những chuyển tiếp nhanh giữa vật chất và phản vật chất, đem lại những cơ sở mới để nghiên cứu về sự vi phạm đối xứng CP. Thí nghiệm đã cho thấy, có những meson B nhất định được quan sát là có thể biến đổi tự phát thành các phản hạt tương ứng của chúng. Và các phản meson B lại biến đổi trở lại thành các meson B tương ứng. Sự biến đổi qua lại này xảy ra ở tốc độ ba nghìn tỷ lần mỗi giây.                                  5. Tháng Năm. Các khí lượng tử ba chiều. Mạng quang học là một hệ thống các tia laser dùng để bẫy các nguyên tử sắp xếp theo những quy tắc nhất định. Hai nhóm các nhà vật lý độc lập với nhau đã lần đầu tiên thành công trong việc bẫy cùng một lúc cả các hạt boson và fermion trong một mạng quang học ba chiều. Đột phá này đã đem lại một hệ thống mô hình hiệu quả để nghiên cứu tương tác giữa các electron (fermion) và phonon (boson) trong vật liệu.                   6. Tháng Sáu. Cái nhìn mới về thủy tinh. Các nhà khoa học Mỹ đã báo cáo rằng, thuỷ tinh có thể chuyển hoàn toàn về trạng thái ban đầu của nó sau khi bị bắn phá bởi các electron năng lượng cao. Mức độ cao của tính bền nhiệt động này là hoàn toàn không được ngờ tới với cấu trúc nguyên tử hỗn độn của thuỷ tinh. Kết quả này có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xử lý những chất thải hạt nhân.                    7. Tháng Bảy. Vật liệu Graphene. Là loại màng carbon hai chiều có chiều dày chỉ cỡ một nguyên tử, nó là loại vật liệu có nhiều tính chất đặc biệt. Các nhà khoa học Mỹ đã phát triển một kỹ thuật xử lý graphene bằng việc bao phủ nó trong một ma trận polymer có độ bền cao. Bước tiến này mở ra cánh cửa cho sự phát triển các loại transitor và linh kiện mới khai thác những tính chất hai chiều ưu việt của graphene.                   8. Tháng Tám. Bình chọn nhà vật lý sáng tạo nhất thế giới. Theo Physics Web, nhà lý thuyết Philip Anderson (Giải Nobel) được bình chọn là nhà vật lý đương thời sáng tạo nhất thế giới. Steven Weinberg đứng ở vị trí thứ hai. Vị trị thứ ba thuộc về nhà lý thuyết dây Eduard Witten. Cả ba nhà khoa học này đều có mối liên hệ với Đại học Princeton và Physic Web cũng coi New Jersey là nơi sáng tạo nhất về vật lý.                   9. Tháng Chín. Ngưng tụ Bose-Einstein ở nhiệt độ cao. Có hai nhóm nghiên cứu đã công bố về   hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein (BEC) ở nhiệt độ cao hơn so với trước đây người ta vẫn nghĩ.   BEC là hiện tượng mà một số lớn các boson trở về cùng một trạng thái nền khi nhiệt độ hạ xuống   gần độ không tuyệt đối. Nhưng một nhóm nghiên cứu đã nói rằng họ quan sát thấy BEC ở 19K, còn   nhóm kia thì tuyên bố rằng họ đã chứng kiến hiện tượng này ở nhiệt độ phòng. Một số người vẫn   còn đặt câu hỏi là không biết những hiện tượng này có thực sự được coi là BEC hay không.                   10. Tháng Mười. “Áo tàng hình”. Các nhà khoa học Mỹ đã phát triển một loại thiết bị có thể   khiến một vật trở nên vô hình trong bức xạ vi sóng, loại sóng được sử dụng trong một số hệ thống  rađa. Chiếc “áo tàng hình” này làm từ một loại siêu vật liệu có khả năng bẻ cong bức xạ vi sóng và   làm nó đi vòng quanh vật thể, giống như dong nước chảy qua một hòn đá trơn.                         11. Tháng Mười một. Đo spin mà không làm phá hủy trạng thái. Các nhà vật lý Mỹ lần đầu tiên sử dụng một tia laser để đọc trạng thái spin mà không phá hủy trạng thái đó. Đây là một bước đột phá về nguyên tắc để có thể ứng dụng các tính chất lượng tử của các electron độc thân và các photon trong việc truyền thông tin.                    12. Tháng Mười hai. Những mạch nước trên Hoả tinh. Bằng chứng thuyết phục đầu tiên về hoạt động bồi tích gần đây trên Hỏa tinh đã được các nhà khoa học Mỹ đưa ra. Họ đã quan sát những hình ảnh chụp bề mặt hành tinh đỏ bởi tàu thăm dò của NASA và chỉ ra những dấu vết cho thấy rằng, từ bảy năm trước đã có những mạch nước lỏng chảy ở hai trị trí khác nhau. Sự kiện này ủng hộ cho những liên tưởng về khả năng tồn tại sự sống trên Hỏa tinh.     TTD (Theo physicsweb.org)       Author                Quản trị        
__label__tiasang 1/3 động vật linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng      Theo báo cáo của Liên minh bảo tồn thế giới: gần 1/3 động vật linh trưởng trên thế giới có nguy cơ tuyệt chủng do con người tàn phá môi trường sống.      Báo cáo tập trung vào số phận của 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất, hiện đang bị đe dọa bởi hàng loạt các vấn đề mà các nhà bảo tồn chưa tìm ra cách giải quyết, gồm 11 loài ở châu Á, 11 ở châu Phi và 3 ở Nam và Trung Mỹ. Theo các tác giả báo cáo, tất cả cá thể còn lại của những loài này nếu tập hợp lại cũng chỉ vừa lấp đầy một sân vận động!   Tường Vi (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 15 năm vì an toàn và chất lượng truyền máu      “Máu là vấn đề sinh mạng [con người] chứ không phải chuyện đùa”, đó là lời giải đáp ngắn gọn mà GS.TS. Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học truyền máu Trung ương (NIHBT), đưa ra khi nói về động lực khiến ông và đồng nghiệp kiên trì thực hiện những nghiên cứu về máu trong suốt gần 15 năm qua. Những nghiên cứu ấy tập hợp trong cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng KHCN nhằm đảm bảo an toàn truyền máu, phục vụ cho cấp cứu và đảm bảo đủ máu dự trữ cho điều trị”1, được đề nghị trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đợt 5.      GS. TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng NIHBT  Tuy nhiên, GS. TS Nguyễn Anh Trí và cộng sự của ông, bác sỹ chuyên khoa 2 Phạm Tuấn Dương, Phó Viện trưởng NIHBT, đều khiêm nhường cho rằng, phần lớn các nghiên cứu này là sự kế tục công việc của những thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước, những người từng phải làm việc trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn và chưa được tiếp cận với công nghệ tiên tiến nhiều như hiện nay nên dù không ít các công trình nghiên cứu về máu của họ có giá trị nhưng thường rải rác, thiếu tập trung dẫn đến hạn chế hiệu quả sử dụng. Học hỏi kinh nghiệm từ thế hệ các nhà nghiên cứu trước, GS. TS Nguyễn Anh Trí cùng với đồng nghiệp tại NIHBT đã xây dựng một kế hoạch nghiên cứu dài hạn, bắt đầu từ những nhiệm vụ cấp cơ sở để giải quyết các vấn đề cơ bản, đặt nền móng cho việc thực hiện những đề tài hoặc dự án sản xuất thử nghiệm tiếp theo cấp bộ, cấp nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề trên quy mô lớn hơn, qua đó đưa ra những quy trình, sản phẩm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế và được Bộ Y tế phê chuẩn áp dụng trên quy mô toàn quốc.  Xây dựng chuỗi nghiên cứu liên tục và đồng nhất  Một trong những yếu tố cơ bản dẫn đến thành công của các đề tài nghiên cứu trong cụm công trình của NIHBT là do được tiến hành theo một lộ trình chặt chẽ, không chỉ theo các cấp độ quy mô mà còn có cả tính kế thừa, bổ sung cho nhau về mặt chuyên môn. Kết quả nghiên cứu của đề tài này bổ sung, hỗ trợ trực tiếp việc thực hiện đề tài khác.  Theo GS. TS Nguyễn Anh Trí, điều bất ngờ là cách thức tổ chức công việc nghiên cứu có tính hệ thống chặt chẽ và bài bản như vậy lại bắt đầu từ những kinh nghiệm tưởng chừng rất nhỏ nhặt. Nhớ lại thời điểm sang Nhật Bản học một khóa về công nghệ y tế (medical technology), GS. TS Trí được giao nhiệm vụ xử lý 20 vạn mẫu máu mỗi ngày – công việc dường như thuộc về trách nhiệm của một kỹ thuật viên hơn là nhà nghiên cứu. “Các thầy Nhật giải thích, ‘công nghệ y tế tưởng là việc lớn nhưng học rất dễ và rất nhanh vì đã có quy trình rồi, quan trọng là cách giải quyết vấn đề từ cái nhỏ nhất, điều này nếu học không được thì mai này về nước tổ chức công việc không được đâu’, tôi mới ngã ngửa người ra.”, GS. TS Nguyễn Anh Trí kể với phóng viên Tia Sáng về những gợi ý đầu tiên cho việc tổ chức các nghiên cứu tại NIHBT.  GS.TS. Nguyễn Anh Trí và nhóm cộng sự tại NIHBT đã có cách tiếp cận rất bài bản khi xác định mối quan hệ mật thiết giữa những nội dung chính cần nghiên cứu: 1. An toàn truyền máu về mặt miễn dịch; 2. An toàn truyền máu phòng lây nhiễm HIV, HBV, HCV qua đường truyền máu; 3. Đủ nguồn người hiến máu an toàn, đáp ứng nhu cầu về máu và các chế phẩm máu, qua đó có thể thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu một cách đồng bộ. Ví dụ khi nghiên cứu về tạo nguồn hiến máu an toàn ở các vùng đô thị và miền núi, hải đảo, các nhà nghiên cứu của NIHBT cũng tiến hành nghiên cứu phương pháp xác định chất lượng nguồn cung máu ở đó, từ đó hình thành những “ngân hàng máu sống” tin cậy. GS. TS Trí cho biết, phương thức tuyển chọn những người vào danh sách “ngân hàng máu sống” tuân thủ theo một quy trình nhất quán, đảm bảo quy trình đó có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều tuyến cơ sở y tế, Trung ương đến địa phương, kể cả các vùng sâu, vùng xa hay biên giới, hải đảo. Mẫu máu của những người đạt tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe ban đầu được chuyển về sàng lọc tại NIHBT bằng phương pháp NAT (Nucleic Acid Amplification Test), kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử có khả năng phát hiện ra chất liệu di truyền (ADN, ARN) của tác nhân gây bệnh như virus viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và HIV trong máu với “thời gian cửa sổ” ngắn hơn so với kỹ thuật xét nghiệm huyết thanh học, phương pháp xét nghiệm đang được áp dụng phổ biến tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, NIHBT thành lập danh sách “ngân hàng máu” và giao cho UBND huyện, cơ sở y tế huyện, trạm xá xã… để các nơi này có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra sức khỏe định kỳ, thậm chí tổ chức “báo động thử” để kiểm tra độ sẵn sàng của người hiến.  Nghiên cứu thành công nâng cao an toàn, chất lượng truyền máu  Với quyết tâm làm ra sản phẩm cụ thể, các nhà nghiên cứu của NIHBT không bằng lòng với những đề tài nghiên cứu có kết quả mới chỉ đạt được ở quy mô thử nghiệm hoặc được áp dụng trong phạm vi Viện. Một minh chứng rõ nét cho quyết tâm này là từ 16 nhiệm vụ cấp cơ sở, Viện đã thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế “Nghiên cứu xây dựng panel hồng cầu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương nhằm nâng cao chất lượng an toàn truyền máu về mặt miễn dịch” với thành công xây dựng được bộ panel hồng cầu sàng lọc và định danh kháng thể bất thường, đồng thời làm ra bộ hồng cầu mẫu. Sau đó, NIHBT tiếp tục đề xuất với ban chủ nhiệm chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KC 10 (Bộ KH&CN) dự án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện quy trình sản xuất, bảo quản và cung cấp panel hồng cầu cho các cơ sở cung cấp máu cho toàn quốc để nâng cao chất lượng dịch vụ truyền máu” (mã số KC 10.DA 10/06-10) với một phần kinh phí từ chương trình và một phần kinh phí đối ứng của Viện.  PGS. TS Mai An giải thích, các bộ panel hồng cầu dùng để sàng lọc kháng thể bất thường, những kháng thể thường xuất hiện trong máu của những người hay phải truyền máu, truyền máu nhiều lần, như trường hợp những người mắc bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh) suốt đời cần truyền máu. Những kháng thể bất thường trong máu người bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng “truyền máu không hiệu lực” mà theo lời GS. TS Nguyễn Anh Trí “truyền [được] mấy đơn vị máu tưởng là yên tâm rồi nhưng [thực tế là] không có hiệu quả gì hết”. Nhờ các bộ panel hồng cầu này, các bác sỹ có thể xác định sớm trong máu bệnh nhân có kháng thể bất thường hay không và đó là kháng thể nào, sau đó tiến hành lựa chọn loại máu phù hợp để truyền. Như vậy sẽ giúp người bệnh nhận máu truyền an toàn hơn, và cho phép “hồng cầu có thể tồn tại trong mạch của bệnh nhân ít nhất hai, ba tháng, số lần truyền máu giảm đi, chứ còn như trước đây cứ hai, ba tuần một lần lại phải vào viện”, PGS. TS Bùi Thị Mai An nhận xét về những hiệu quả mà bộ panel hồng cầu mang lại.  Từ kết quả nghiên cứu này, dự án sản xuất thử nghiệm được NIHBT thực hiện ngay tại khu vực sản xuất của Viện trong bối cảnh gặp nhiều thuận lợi về nhân lực và cơ sở vật chất khi những trang bị nhiều thiết bị hiện đại được bổ sung, mua sắm từ năm 2004, “không như trước đây dùng máy ly tâm xử lý cứ 10 chai lại vỡ một chai hay tiểu cầu được tách chiết chỉ tồn tại được 24 giờ” như lời bộc bạch của ThS Phạm Tuấn Dương. Sau ba năm thực hiện, NIHBT đã làm chủ được toàn bộ quy trình sản xuất panel hồng cầu với các kỹ thuật lọc bạch cầu bằng phin lọc bạch cầu, rửa hồng cầu bằng máy ly tâm lạnh trong ống falcon, pha hồng cầu 5%, đông lạnh hồng cầu trong ống falcon… cũng như tự làm ra nguyên liệu như các dung dịch nuôi dưỡng và bảo quản hồng cầu (Alsever) rẻ bằng 1/10 dung dịch cùng loại (CellStabs) của nước ngoài. Việc nghiên cứu và sản xuất thành công bộ sinh phẩm panel sàng lọc và định danh hồng cầu đạt tiêu chuẩn quốc tế đã trở thành niềm tự hào của NIHBT, tuy nhiên, ThS Phạm Tuấn Dương vẫn khiêm tốn, “chúng tôi chỉ cố gắng thực hiện trọn vẹn một quy trình kết nối phòng thí nghiệm với bộ phận sản xuất để làm ra những sản phẩm có thể dùng được, có thể áp dụng được, nhằm đảm bảo vấn đề an toàn truyền máu”.  Hiện nay, mỗi tháng NIHBT sản xuất được 1.000 bộ chế phẩm mẫu, 100 bộ chế phẩm sàng lọc để cung cấp cho 117 bệnh viện thuộc 27 địa phương trên cả nước.  Tạo ra quy trình chuẩn để có thể ứng dụng rộng rãi  Với ý thức rõ ràng hướng tới tính ứng dụng thiết thực và rộng rãi của kết quả nghiên cứu trong cộng đồng, GS. TS Nguyễn Anh Trí và các cộng sự luôn nỗ lực để đảm bảo tất cả các đề tài nghiên cứu đều có sự chuẩn hóa các quy trình thực hiện, đơn cử như các công đoạn trong quá trình thành lập “ngân hàng máu sống” bao gồm vận động truyên truyền, xét nghiệm, sàng lọc, khám kiểm tra lại sức khỏe… đều được NIHBT hoàn thiện trước khi bàn giao lại Bộ Y tế. Khi đã chuẩn hóa, việc áp dụng quy trình tại cơ sở y tế các cấp cũng thuận lợi hơn. GS. TS Nguyễn Anh Trí đã đề nghị Bộ Y tế cấp kinh phí để NIHBT có thể mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho các nhân viên y tế trên toàn quốc để họ có thể áp dụng quy trình ngay tại cơ sở, “riêng về quy trình thành lập ‘ngân hàng máu sống’, chúng tôi đã mở được 10 lớp, mỗi lớp thu hút khoảng 100 người tham gia tập huấn, qua đó có thể yên tâm về việc thực hiện các công đoạn theo đúng quy chuẩn tại các địa phương”.  Trên cơ sở những kết quả thực hiện nghiên cứu và đề xuất của Viện, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 26/2013/TT-BYT hướng dẫn hoạt động truyền máu, thay thế quyết định số 06/2007/QĐ-BYT về quy chế truyền máu, trong đó có những quy định rất rõ về tuyển chọn người hiến máu; xét nghiệm các đơn vị máu toàn phần và thành phần máu; điều chế, bảo quản, vận chuyển máu và chế phẩm máu; quản lý, sử dụng máu và chế phẩm máu ở cơ sở điều trị; lưu giữ hồ sơ và chế độ báo cáo… Kỹ thuật NAT về sàng lọc máu, kỹ thuật mà các quốc gia phát triển trên thế giới đang sử dụng, cũng được đưa vào thông tư để bắt buộc các cơ sở y tế phải áp dụng với lộ trình thực hiện: trước ngày 1/1/2015 với Hà Nội, Thừa Thiên – Huế, TPHCM, Cần Thơ; trước ngày 1/1/2017 với Thái Nguyên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Đắc Lắc, Bình Định và trước ngày 1/1/2018 trên toàn quốc. “Với quy định của thông tư, Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam đồng ý thanh toán cho bệnh nhân nếu có thẻ bảo hiểm y tế. Điều chúng tôi rất mừng là đã đem lại cơ hội cho người dân Việt Nam được thụ hưởng máu và chế phẩm máu an toàn như quốc tế”, GS. TS Nguyễn Anh Trí cho biết.  Để đảm bảo triển khai kỹ thuật NAT đúng thời hạn trong thông tư, nhiều bệnh viện trên cả nước đã bắt đầu gửi cán bộ về Viện học hỏi, nâng cao trình độ. “Chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận và tạo điều kiện cho họ nắm bắt kiến thức, ví dụ như hiện chúng tôi đang hướng dẫn bác sỹ Nguyễn Long Quốc (bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ) để khi kết thúc khóa học, anh có thể thực hiện kỹ thuật sàng lọc và định danh kháng thể bất thường một cách thuần thục như chúng tôi”, PGS. TS Mai Thị Mỹ An nói.  Như vậy, bằng cách thức tổ chức thực hiện khoa học và mang tính hệ thống, cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng KH&CN nhằm đảm bảo an toàn truyền máu, phục vụ cho cấp cứu và đảm bảo đủ máu dự trữ cho điều trị” đã được ứng dụng rộng rãi, nói như PGS. TS Mai Thị Mỹ An “dù gặp khó khăn đến mấy trong quá trình nghiên cứu thì chúng tôi cũng cảm thấy vui vui vì làm được điều có ích và thấy nó được mọi người đón nhận”.  ———-  1 Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng KHCN nhằm đảm bảo an toàn truyền máu, phục vụ cho cấp cứu và đảm bảo đủ máu dự trữ cho điều trị” do nhóm tác giả: GS.TS. Nguyễn Anh Trí, PGS.TS. Bùi Thị Mai An, TS. Ngô Mạnh Quân, BSCKII. Phạm Tuấn Dương, PGS.TS. Bạch Khánh Hòa thực hiện    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang 150 năm ngày sinh Nikola Tesla: Nhà phát minh của những giấc mơ      Làm thế nào mà cảnh hoàng hôn thơ mộng và lãng mạn lại có thể liên quan đến những động cơ điện xoay chiều? Trong những giấc mơ thì mọi chuyện đều có thể xảy ra, nhất là giấc mơ của một nhà phát minh thiên tài như Nikola Tesla. Và ở đây, điều quan trọng là những giấc mơ của Tesla đã đem lại cho loài người những phát minh được xếp vào hàng cơ bản và quan trọng nhất của nền văn minh công nghiệp.    Khi các thành viên của Hội Thương mại Chicago đến nghe bài giảng của nhà phát minh điện học nổi tiếng Nikola Tesla ngày 13/5/1899, họ đã rất sững sờ khi nhìn thấy cảnh một hồ nước nhân tạo nằm ngay giữa hội trường. Mọi người bàn tán xôn xao, chắc chắn Tesla sẽ làm điều gì đó rất thú vị với một chiếc xuồng nhỏ đang trôi trên mặt hồ kia. Đột nhiên, cái xuồng bỗng di chuyển quanh hồ và phát ra những luồng sáng loang loáng. Ở trên bờ, Tesla đang vận hành một bộ điều khiển từ xa, dùng sóng vô tuyến vô hình để truyền các lệnh đến chiếc xuồng. Trước đám đông đang vô cùng phấn khích, Tesla đã mời một số người hô lên các lệnh: “Rẽ trái! Phát sáng!”. Sử dụng bộ phát sóng không dây của mình, Tesla liên tục truyền các tín hiệu cho chiếc xuồng. Kỳ thú hơn nữa, Tesla còn trình diễn cho mọi người một màn trận giả đặc sắc, điều khiển những khối thuốc nổ dynamite lao thẳng vào các tàu của kẻ địch. Khi ấy, Tesla đã không thể biết rằng, cái mô hình “đồ chơi” của ông đã trở thành nguyên mẫu đầu tiên cho tên lửa dẫn đường – một thứ vũ khí cực kỳ nguy hiểm.            Động cơ cảm ứng dòng xoay chiều hai pha được Tesla chế tạo năm 1887          Giấc mơ về một loại động cơ  Tesla sinh ngày 10/7/1856 trong một gia đình người Xec-bi ở vùng biên giới của đế quốc Áo-Hung, ngày nay là Croatia. Khi còn thiếu niên, Tesla học kỹ thuật ở trường Bách khoa Joanneum ở Graz, Áo. Ở đó, những bài giảng về vật lý của giáo sư Jacob Poeschl đã cuốn hút rất nhiều người trẻ tuổi. Từ những bài giảng của Poeschl, Tesla đã bắt đầu suy nghĩ về một trong những phát minh quan trọng nhất của mình, một động cơ AC (điện xoay chiều). Một ngày, khi quan sát giáo sư của mình đang cố gắng khắc phục hiện tượng phát tia lửa điện từ các chổi quét đảo mạch của một động cơ DC (điện một chiều), Tesla đã nảy ra ý tưởng chế tạo một loại động cơ mà không cần đến bộ đảo mạch, anh lập tức đề xuất với thầy. Bực mình vì sự ngang bướng của học trò, Poeschl đã diễn giải một tràng dài về sự bất khả thi trong việc chế tạo một loại động cơ như vậy, cuối cùng ông kết luận: “Anh Tesla có lẽ sẽ làm nên những thứ vĩ đại, nhưng chắc chắn là anh sẽ không bao giờ làm được cái động cơ ấy đâu!”. Tuy nhiên, sự quở trách ấy đã làm bùng lên trong Tesla những ngọn lửa quyết tâm sôi sục của khát vọng tuổi trẻ. Trong suốt những năm còn ở Graz và sau đó là Prague, anh đã không ngừng theo đuổi một cách miệt mài việc nghiên cứu chế tạo một loại động cơ không phát sinh tia lửa điện.  Năm 1881, Tesla dời đến Budapest để làm việc cho hai anh em Tivadar và Ferenc Puskas. Là một nhà tài trợ đầy tham vọng, Tivadar đã từng thuyết phục Thomas A. Edison trao cho mình bản quyền những phát minh để giới thiệu chúng ở lục địa Châu Âu. Anh em nhà Puskas đang có kế hoạch xây dựng một trạm điện thoại ở Budapest sử dụng mẫu thiết kế điện thoại cải tiến của Edison. Thật không may, họ đã không thể tìm được người làm việc khi Tesla đột nhiên ốm nặng. Nhờ có sự quan tâm của người bạn học Anthony Szigeti mà Tesla đã có thể hồi phục.  Chính trong một buổi đi dạo với Szigeti, Tesla đã nảy ra một ý tưởng xuất thần về chiếc động cơ của mình. Khi họ đang say mê ngắm cảnh hoàng hôn, Tesla đã đột nhiên hình dung ra việc sử dụng từ trường quay cho chiếc động cơ – đó chính là một ý tưởng mang tính quyết định. Tesla đã thực hiện việc đảo ngược cấu hình kỹ thuật, thay vì việc thay đổi cực từ ở rotor, ông đã thay đổi từ trường ở bên trong chính stator. Cấu hình mới này đã loại bỏ một cách tự nhiên sự phát sinh tia lửa điện. Tesla đã thấy rằng, nếu từ trường trong stator mà quay, nó sẽ làm cảm ứng một điện trường trên rotor và do đó khiến cho rotor quay. Ông cũng bắt đầu hình dung ra rằng, từ trường quay có thể được tạo ra bằng việc sử dụng AC thay vì DC, nhưng ở thời điểm đó ông vẫn chưa biết làm thế nào để biến ý tưởng này thành hiện thực.  Phát minh của thợ đào kênh.            Chiếc xuồng điều khiển bằng sóng vô tuyến điện          Tesla đã dành tới 5 năm tiếp theo để thử nghiệm và định hình nên chiếc động cơ của mình. Sau khi giúp anh em nhà Puskas xây dựng trạm điện thoại ở Budapest, Tesla cùng với Tivadar dời đến Paris, tại đó họ tham gia vào việc thiết lập hệ thống chiếu sáng của thành phố. Năm 1884, Tesla đến New York để gặp Edison nhưng ông đã không có dịp để xây dựng mối quan hệ với nhà phát minh lỗi lạc này. Ở New York, Tesla suýt nữa thì đã có thể trình bày với Edison về ý tưởng chiếc động cơ của mình. Ông nhớ lại: “Lúc ấy là ở đảo Coney, và tôi đang chuẩn bị giải thích cho Edison thì một ai đó đã chạy đến kéo ông ấy đi. Chiều hôm ấy tôi về nhà và bị sốt, lần này thì tôi quyết định sẽ không nói với bất cứ người nào về chiếc động cơ của mình”. Vài tháng sau, khi Tesla vừa hoàn thành việc thiết kế một hệ thống phát sáng hồ quang cải tiến, người quản lý của ông đã nuốt lời không trả món tiền thưởng như đã hứa, nhà phát minh đã bỏ đi trong sự căm phẫn.  Sau đó Tesla đến làm việc cho hai nhà kinh doanh Benjamin A. Vail và Robert Lane đến từ Rahway  , họ đã khuyên ông đăng ký bằng phát minh về hệ đèn hồ quang để họ có thể thương mại hóa nó. Tesla đã ngây thơ trao bản quyền phát minh cho hai kẻ quỷ quyệt này với một niềm tin rằng họ sẽ đưa vào sản xuất ra những thiết bị để cạnh tranh với Edison. Tuy nhiên, Vail và Lane đã quyết định dành tiền đầu tư vào các ứng dụng bóng đèn điện. Vì thế, khi các đèn hồ quang của Tesla vừa được sử dụng ở Rahway thì hai nhà kinh doanh đã lập thức sa thải ông và tổ chức lại nhà máy. Hoàn toàn trắng tay sau khi bị bỏ rơi, Tesla đã buộc phải đi đào kênh để kiếm sống.         Mặc dù phải chịu đựng cả một năm cực nhọc, Tesla cũng đã tập trung tài năng của mình trong tháng 3 năm 1866 để hoàn thành một bằng sáng chế ứng dụng cho động cơ từ nhiệt – đó là một thiết bị mới, hoạt động dựa trên việc đốt nóng và làm lạnh các nam châm. Sau khi trình bày phát minh của mình cho người quản đốc công việc đào kênh, Tesla đã được giới thiệu đến gặp Charles Peck, một luật sư khá thông minh. Bị hấp dẫn bởi cái động cơ từ nhiệt, Peck đã quyết định bảo trợ cho nghiên cứu của Tesla. Vì không phải là một chuyên gia kỹ thuật nên Peck đã mời Alfred Brown, một giám sát viên ở Western Union tham gia hỗ trợ cho Tesla.  Peck và Brown đã thuê một phòng thí nghiệm cho Tesla ở Manhattan, tại đó nhà phát minh lại miệt mài phát triển chiếc động cơ từ nhiệt của mình. Cho đến khi thấy được sự không hiệu quả của mô hình động cơ này, Peck đã để Tesla tiếp tục hoàn thiện các động cơ AC. Tesla đã bắt đầu làm thí nghiệm với một tổ hợp các dòng xoay chiều dùng cho động cơ. Cách làm này tỏ ra khá là bất thường, bởi vì hầu hết các nhà thực nghiệm thời đó đều chỉ làm việc với một dòng xoay chiều trong hệ thống của họ. Đến tháng 9/1887, Tesla đã khám phá ra rằng, ông có thể tạo ra một từ trường quay khi cho hai dòng xoay chiều riêng biệt đi vào các cặp cuộn dây đặt đối diện nhau trên stator. Ngày nay thì hai dòng điện đó được gọi là lệch pha nhau 90 độ, và chiếc động cơ sẽ hoạt động với dòng điện hai pha. Rất tự hào và phấn chấn về thành quả đạt được, Tesla cũng đã cho ra đời một số sáng chế khác, cũng dựa trên nguyên lý từ trường quay. Đặc biệt quan trọng là, chính Tesla đã đưa ra ý tưởng rằng dòng xoay chiều đa pha có thể truyền năng lượng qua những khoảng cách đáng kể.  Khi động cơ AC của Tesla đã chứng tỏ một cách rõ ràng tính hiệu quả, những người bảo trợ của ông đã bắt đầu nghĩ đến việc quảng cáo nó để thu lợi. Peck và Brown đã lập kế hoạch bán đấu giá các phát minh của Tesla, chứ không phải đưa chúng vào quy trình sản xuất. Cuối cùng, họ đã sắp đặt để Tesla làm công việc giảng dạy trước khi Viện Kỹ thuật Điện Mỹ ra đời vào năm 1888. Những bài giảng của Tesla được đăng trên tạp chí đã sớm thu hút được sự quan tâm của George Westinghouse, một người đã thành danh trong việc chế tạo các hệ thống phanh khí và hệ thống tín hiệu cho đường ray xe lửa. Vào thời điểm đó, các công ty sản xuất đèn điện đã tính đến việc chuyển từ DC sang AC, vì AC có thể được truyền qua các khoảng cách xa hơn, đến được với nhiều khách hàng hơn. Trong khi Edison vẫn tập trung vào các kỹ thuật DC, thì Westinghouse lại quyết định đánh cuộc với AC. Chính vì vậy, Peck và Brown đã có thể thuyết phục ông trả một số tiền hậu hĩnh cho các phát minh của Tesla. Vào tháng 7/1888, Westinghouse đã trả trước 75.000 đô la và tiền bản quyền 2,5 đô la cho mỗi sức ngựa mà mỗi động cơ được sản xuất. Tesla đã hào phóng chia cho hai người bảo trợ của mình năm phần chín số tiền thu được.  Westinghouse hy vọng các động cơ của Tesla có thể được sử dụng để chạy các xe điện trên phố, vì vậy Tesla đã tới Pittsburgh để cải tiến thiết kế của ông cho phù hợp với ứng dụng này. Tuy nhiên, nhà phát minh và các kỹ sư của Westinghouse đã gặp lúng túng trước những khó khăn kỹ thuật. Vì động cơ của Tesla đòi hỏi hai dòng xoay chiều và bốn đầu dây, nó không thể được mắc vào hệ AC đơn pha đã có, vì vậy người ta cần phải lắp đặt thêm các dây bổ sung. Mặc dù Tesla cũng đã phát triển một số động cơ hai dây, cái gọi là những thiết kế chia pha hoạt động tốt nhất ở những tần số 50Hz hoặc thấp hơn, nhưng vào thời điểm đó, hệ thống đơn pha của Westinghouse lại sử dụng dòng 133Hz để sao cho khách hàng không thể nhìn thấy các bóng đèn nóng sáng bị nhấp nháy.   Các kỹ sư của Westinghouse cuối cùng đã giải quyết được vấn đề bằng việc điều chỉnh động cơ của Tesla và phát triển một hệ AC mới sử dụng dòng ba pha 60Hz. Westinghouse đã trình diễn một cách ngoạn mục kỹ thuật mới này khi xây dựng một trạm thủy điện ở thác Niagara, công trình này đã truyền điện năng qua một khoảng cách 25 dặm tới những nhà máy ở Buffalo. Ngày nay, động cơ của Tesla và hệ AC đa pha đã trở thành nền tảng cho hệ thống cung cấp điện năng ở Bắc Mỹ.  Sự cộng hưởng điện  Từ lâu trước khi trạm Niagara đi vào hoạt động, Tesla đã cảm thấy nóng ruột và rời bỏ Westinghouse. Sử dụng số tiền bản quyền của mình, năm 1889 Tesla đã thiết lập một phòng thí nghiệm mới ở thành phố New York. Để thu hút sự quan tâm của công chúng, ông đã tự tạo cho mình hình ảnh về một nhà phát minh lập dị. Cũng như sự hiếu kỳ đối với những phát minh của Edison ở Menlo Park trong những năm 1870, thì trong những năm 1890, người ta cũng đổ xô đến phòng thí nghiệm của Tesla để xem các phát minh kỳ lạ của ông.  Trong khi tìm cách để tạo ra ánh sáng hồ quang bằng việc sử dụng hệ AC, Tesla đã tìm ra những hiện tượng mới rất cơ bản, liên quan đến các hiện tượng điện tần số cao. Ông đã băn khoăn, tự đặt ra câu hỏi rằng nếu có thể tạo ra những động cơ bằng dòng AC 60Hz thì có thể chế tạo được cái gì với một dòng điện có tần số 10.000Hz? Trước đây, Tesla đã nối các cuộn cảm từ, điện trở và tụ điện lại với nhau để tạo thành các động cơ chia pha của ông, còn bây giờ ông lại nối cuộn cảm với tụ điện theo một cấu hình mới để tạo ra những dòng tần số cao.  Nhà phát minh đã theo đuổi hướng nghiên cứu này trong suốt 15 năm tiếp theo. Tesla đã nhận ra rằng, một mạch được cấu hình thích hợp có thể khuếch đại các tín hiệu điện, nâng cao tần số và hiệu điện thế của chúng. Từ đó, ông đã chế tạo những “máy phát khuếch đại khổng lồ” – ngày nay được gọi là các cuộn dây Tesla, những thiết bị này có thể sinh ra những tia lửa điện dài hơn 40m. Tesla còn nhận ra một điều rất quan trọng là, hiện tượng cộng hưởng có thể được ứng dụng để dò các tín hiệu vô tuyến. Một máy phát với một tụ điện và cuộn cảm nhất định có thể sinh ra tín hiệu ở một tần số nhất định. Tương tự như thế, nếu ở máy thu cũng có tụ điện và cuộn cảm như ở máy phát thì nó cũng sẽ phản ứng mạnh nhất đối với tần số của tín hiệu máy phát.  Từ ý tưởng cơ bản về hiện tượng cộng hưởng điện, Tesla đã đồng thời theo đuổi những phát minh trong lĩnh vực chiếu sáng, truyền tín hiệu không dây và phân phối điện năng không dây. Với hy vọng phát triển một loại bóng đèn hiệu suất cao để thay thế bóng đèn nóng sáng của Edison, Tesla đã không chỉ sáng tạo nên những bóng đèn huỳnh quang mà còn khám phá ra rằng có thể sử dụng một ống chân không để phát hiện các sóng vô tuyến. Mặc dù nhà phát minh thiên tài đã không tiếp tục theo đuổi khám phá này, nhưng J. A. Fleming và Lee De Forest đã tiếp bước ông để chế tạo ra những bóng đèn điện tử dùng trong kỹ thuật vô tuyến.  Với những mạch điện hoàn chỉnh để thu và phát các sóng vô tuyến, Tesla đã thử nghiệm chúng với các ăng-ten được treo vào những quả bóng lơ lửng trên nóc phòng thí nghiệm và trên nóc khách sạn ở Manhattan của ông. Nhưng thật bất hạnh, ngay khi bắt đầu có được những kết quả đầy hứa hẹn thì phòng thí nghiệm của Tesla bị cháy tan tành vào tháng 3/1895, toàn bộ những hệ thống thiết bị nghiên cứu và kết quả ghi chép đều mất sạch.           Tesla trong văn phòng của ông ở New York năm 1916        Hệ thống phát năng lượng toàn cầu           Mùa xuân năm 1899, Tesla đã đóng cửa phòng thí nghiệm xây lại của ông ở New York và lập nên một trung tâm nghiên cứu ở vùng núi Pikes Peak, thuộc Colorado. Tại đó, nhà phát minh đã tập trung giải quyết một vấn đề mà ông tin rằng nó sẽ trở thành ứng dụng quan trọng nhất của sóng điện từ: sự truyền năng lượng không cần dây dẫn đến khắp nơi trên thế giới. Vào thời đó, nhu cầu về điện ở Mỹ dường như không thể được thỏa mãn, mặc dù khắp nơi đã chằng chịt các đường dây. Chính vì vậy, nhà phát minh đã mơ về một mạng lưới viễn thông có thể vừa truyền điện năng vừa truyền thông tin mà không cần dây dẫn.  Giấc mơ mới mẻ đó của Tesla đã được dựa trên cơ sở về hiện tượng cộng hưởng điện. Giống như những nhà nghiên cứu vô tuyến đi trước, ông cũng đã nhìn nhận mối quan hệ giữa máy phát và máy thu như hai yếu tố duy nhất của một hệ khép kín. Đầu tiên, máy phát gửi sóng vô tuyến đến qua không khí đến máy thu. Sau đó, vì cả hai thiết bị đều được đặt trên mặt đất nên một dòng phản hồi sẽ đi từ máy thu qua mặt đất đến máy phát. Không giống như nhiều người chỉ chú trọng vào việc phát sóng vô tuyến qua khí quyển, Tesla lại quyết định tập trung vào những dòng điện trong lòng đất. Ông đã suy nghĩ rằng, tại sao lại không thể có một máy phát gửi các sóng qua lòng đất đến máy thu rồi sau đó phản hồi lại qua khí quyển? Tesla đã tưởng tượng ra rằng có thể xây dựng một trạm phát để truyền năng lượng điện từ vào vỏ trái đất cho đến khi đạt tới tần số cộng hưởng điện của hành tinh. Khi đó toàn Trái đất sẽ phát ra các xung năng lượng, và chúng có thể được thu nhận bởi các trạm thu trên khắp thế giới. Tesla đã thiết lập một số máy phát lớn ở thành phố Colorado Springs để thử nghiệm lý thuyết này và ông rất tự tin rằng chúng đã thành công trong việc phát năng lượng khắp thế giới. (Tesla thậm chí còn tin rằng, các tín hiệu của ông đã đến được sao Hỏa và ông đã nhận được một thông điệp phản hồi từ những người sao Hỏa!).  Rất mãn nguyện với niềm tin rằng, năng lượng có thể được truyền qua lòng đất đến khắp nơi trên hành tinh, Tesla trở về New York vào năm 1900. Sau đó, Tesla đã viết một bài dài 60 trang cho tạp chí Thế kỷ với tiêu đề “Vấn đề tăng cường nguồn năng lượng của loài người”. Và những nỗ lực của ông đã được đền đáp vào năm 1901, trùm tư bản J. Pierpont Morgan đã đầu tư 150.000 đô la cho đề án truyền năng lượng không dây của Tesla. Nhà phát minh đã nhanh chóng tận dụng số tiền này, không tiếc chi phí để trang bị cho một phòng thí nghiệm mới ở Wardenclyffe, bờ bắc của Long Island. Mặc dù Morgan đã từ chối cung cấp thêm tiền và Tesla cũng đã không thu được những kết quả kỹ thuật mong muốn song nhà phát minh vẫn xây dựng một tháp ăng-ten cao 57m ở Wardenclyffe. Thậm chí những mối quan hệ với nhiều nhà tài trợ ở New York cũng đã không thể giúp Tesla đảm bảo được các chi phí tài chính để hoàn thành đề án của mình, ông nhanh chóng bị rơi vào tình trạng suy sụp tinh thần.  Những năm cuối đời và di sản để lại  Tesla đã hy vọng có được tiền để tiếp tục công việc ở Wardenclyffe bằng việc chuyển những nỗ lực sáng tạo của ông từ kỹ thuật điện sang kỹ thuật cơ khí. Nhận thức được rằng, các động cơ piston hơi nước của những nhà máy điện đang được thay thế bởi những tua-bin hơi nước có hiệu suất cao hơn, ông đã bắt đầu nghiên cứu một mô hình thiết kế tua-bin hoàn toàn không có cánh quạt. Cũng giống như những phát minh khác của ông, tua-bin không có cánh quạt được dựa trên một ý tưởng lớn. Vì từ trường quay có thể làm quay rotor của động cơ AC nên Tesla đã nghĩ rằng có thể dùng lực nhớt của hơi nước để tác động lên những đĩa mỏng đặt gần nhau được gắn chặt vào một cán tua-bin. Thiết kế tua-bin của Tesla đã hoạt động ở tốc độ vượt quá 10.000 vòng mỗi phút nhưng thật không may tốc độ đó quá nhanh và vượt quá sức chịu đựng của tất cả các đĩa thép mỏng.  Mặc dù Tesla đã không thể thuyết phục bất cứ ai đưa vào sản xuất mẫu tua-bin của mình nhưng ông cũng đã có được bằng phát minh về một loại đồng hồ đo tốc độ tự động dựa trên cùng một nguyên lý giống với chiếc tua-bin. Trong suốt hai chục năm sau đó, Tesla đã sống bằng tiền bản quyền cho phát minh về chiếc đồng hồ đo tốc độ của ông. Ông cũng đã viết báo cho các tạp chí phổ biến khoa học, trong đó ông thường nhắc đến tương lai của điện và vô tuyến. Tuy nhiên, càng ngày ông càng cảm thấy buồn rầu và chán nản. Cuối cùng ông trở thành một người ẩn dật, lang thang hết khách sạn này đến khách sạn khác.  Năm 1931, để kỷ niệm ngày sinh lần thứ 75 của Tesla, tạp chí Time đã đăng trên trang nhất một câu chuyện kể về nhà phát minh đánh tín hiệu lên các ngôi sao với chiếc “máy Tesla” của ông – đó là một máy phát vô tuyến khổng lồ. Rất hứng thú với việc kỷ niệm này, Tesla đã quyết định tổ chức những cuộc họp báo hàng năm vào ngày sinh nhật ông. Trong những buổi họp này, Tesla đã liên tục cảnh báo về những mối nguy hiểm của cuộc chiến tranh toàn cầu và cho rằng thảm họa đó có thể tránh được bằng việc phát triển một loại siêu vũ khí có khả năng duy trì sự cân bằng của các lực lượng. Ông tuyên bố rằng, nó chính là một loại súng phát ra chùm tia có thể tập trung một lượng lớn năng lượng để chiếu vào các máy bay, tàu chiến và quân đội. Năm 1937, khi Tesla đang đi dạo quanh thành phố, ông bị một chiếc taxi đâm phải. Lần này thì nhà phát minh vĩ đại đã không bao giờ có thể hồi phục được nữa, ông mất vào ngày 8/1/1943.  Tesla đã để lại một di sản phong phú các phát minh. Ông được biết đến như cha đẻ của động cơ AC và năm 1956, cái tên “tesla” được đặt cho một đơn vị quốc tế đo mật độ dòng của từ trường. Những tiên đoán đầy bí ẩn và kỳ lạ của ông đã khiến ông trở thành một vị thánh đối với những nhóm người đi theo những niềm tin tâm linh không chính thống. Bị mê mẩn bởi những tuyên bố của Tesla về sự khám phá những bí ẩn huyền ảo của vũ trụ, những tín đồ này đã cho rằng, các nhân vật quyền lực như Edison và Morgan đã âm mưu ngăn cản Tesla hoàn thiện các phát minh và sự nghiệp cách mạng hóa thế giới của ông.  Mặc dù những tuyên bố cường điệu và những đồn đại là thiếu cơ sở, nhưng Tesla đã thực sự là một con người có những đóng góp vĩ đại cho khoa học kỹ thuật. Khả năng tập trung vào những nguyên lý cơ bản là sức mạnh lớn nhất của ông, nhưng nó cũng đồng thời là điểm yếu lớn nhất của ông. Tesla đã quá say mê với vẻ đẹp của những khái niệm cơ bản, say mê đến mức ông đã không thể ngừng được việc theo đuổi đến từng chi tiết để hoàn thiện những phát minh của mình.          Trung Dũng biên dịch  W. Bernard Carlson      Author                Quản trị        
__label__tiasang 150 năm Viện Khoa học Nhà nước Mỹ      Ngày 3/3/1863, Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln  ký lệnh thành lập Viện Khoa học Nhà nước Mỹ (US National Academy of  Sciences; NAS). Đây là một tổ chức phi lợi nhuận, các thành viên phục vụ  với tư cách cố vấn nhà nước về khoa học, công trình và y học.     Từ đó trở  đi NAS trở thành cơ quan tư vấn khoa học độc lập của Chính phủ Mỹ. Trong  150 năm qua, để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan Chính phủ Mỹ, NAS đã  biên soạn được hơn 10 nghìn bản báo cáo. Riêng trong thời gian từ 1996  đến 2012, họ đã hoàn tất 3.805 bản báo cáo. Tuy vậy, một bình luận mới  đây đăng trên tạp chí Nature lại cho rằng nếu muốn tiếp tục tồn tại, NAS  phải hoạt động một cách linh hoạt hơn. Tạp chí Nature đã phỏng vấn ông  Ralph Cicerone, Chủ tịch NAS (ảnh bên) về vấn đề này. Dưới đây là nội dung các câu hỏi và trả lời.  PV: Trong 150 năm qua, NAS đã xác định nhiệm vụ của mình như thế nào?  Cicerone: Dù là trước đây hoặc hiện nay, chúng tôi vẫn gánh vác sứ mệnh quan trọng được nhà nước giao cho, đó là cung cấp tư vấn tri thức cho Chính phủ Liên bang. NAS hầu như phụ trách tất cả mọi công việc thuộc các mặt khoa học và công nghệ. Thời xưa gọi là nghệ thuật cơ giới (mechanical arts).  Hiện nay NAS đang đóng một số vai trò mới, kể cả lãnh đạo dự án nghiên cứu được tài trợ bằng khoản bồi thường rò rỉ dầu trên vịnh Mexico năm 2010. Ông nghĩ thế nào về sứ mệnh của NAS trong 10 năm tới?  Tôi cần phải nói rằng chúng tôi đang tham dự nhiều hơn trong các lĩnh vực giáo dục và quốc tế, đồng thời vẫn tiếp tục giúp Chính phủ đánh giá các chương trình khoa học.  NAS làm thế nào để tỏ ra mình có sự khác biệt với các cơ quan tư vấn kiểu như các think-tank, sao cho thể hiện mình là nguồn gốc của các khuyến cáo có trình độ chuyên môn cao?   Chúng tôi cố gắng tránh những người và những lợi ích chỉ gắn bó với một phía của một vấn đề. Và chúng tôi thường áp dụng trình tự thẩm định ngang cấp rất nghiêm ngặt.     NAS làm thế nào để đi trước, nhất là khi cần bỏ ra từ một đến hai năm để tiến hành một đề án nghiên cứu của NAS?  Chúng tôi đang cố hết sức rút ngắn thời gian chậm trễ và thời kỳ thai nghén của dự án. So với tiến trình của các sự kiện đang xảy ra thì giành thắng lợi là một cuộc chiến đấu gian khổ.  Xem ra các báo cáo kiến nghị tư vấn thường không làm người ta ngạc nhiên mấy. Phải chăng NAS đang có nguy cơ trở nên lỗi thời?    Khó mà xác định được việc một bản báo cáo nào đó của NAS có thể có ảnh hưởng như thế nào. Chúng tôi cố gắng quan sát xem các nghị sĩ Quốc hội xử lý những bản báo cáo ấy ra sao, họ có đưa chúng vào các điều luật hay không? Họ sẽ truyền bá những kết luận đó ở mức độ thế nào? Báo đài đưa tin ra sao? Người ta nhận được những lời mời như thế nào để nói về vấn đề đó? Có trường hợp các báo cáo của chúng tôi sẽ ảnh hưởng trong một số năm về sau.  Tần suất mà cơ quan yêu cầu tư vấn cảm thấy kinh ngạc về các kết luận của NAS là bao nhiêu?  Tôi không thể cung cấp cho ông một số liệu cụ thể, nhưng đúng là có xảy ra trường hợp như vậy. Thí dụ một cơ quan hoặc một ban ngành của chính quyền dự định lên một dự án nhưng họ mong muốn tiến hành hành trắc nghiệm dự án đó. Xin nêu một thí dụ cụ thể: cách đây khoảng chục năm, kính viễn vọng Hubble tới thời hạn cần sửa chữa. Khi ấy NASA đưa ra một quyết định nội bộ: sẽ không tu sửa kính Hubble. Nhưng nhiều lãnh tụ các chính đảng và thủ lĩnh dân chúng lại có ý kiến phản đối, và họ đề nghị NAS phân tích giúp. Điều làm cho mọi người ít nhiều ngạc nhiên là tiểu ban của NAS lại đề xuất ý kiến nên tiến hành việc sửa chữa kính Hubble dưới tiền đề công nghệ cho phép. Sau đó NASA đã thay đổi phương án và thực thi việc sửa chữa kính Hubble. Có lẽ đây không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất trong đời sống xã hội, nhưng là một thí dụ.  Năm ngoái NAS được cấp 2 triệu USD để nghiên cứu bài học kinh nghiệm từ sự cố hạt nhân Fukushima ở Nhật. Các nghiên cứu khác đã được cấp 250 nghìn USD. Vậy phạm vi kinh phí điển hình là gì?   Hầu như bao gồm toàn bộ phạm vi dự án.   Những khoản tiền đó chi vào việc gì?  Khoản chi đơn lẻ lớn nhất là thời gian nhân viên làm việc. Chúng tôi phải chi trả lương cán bộ nghiên cứu, bố trí họ làm một số nghiên cứu bối cảnh, quản lý toàn bộ quá trình đánh giá và giao thiệp làm việc với các nghị sĩ và cơ quan Chính phủ. Có lúc chúng tôi cũng làm nhiều công việc phân tích số liệu.  NAS có áp dụng một số biện pháp khích lệ nhằm hạ giá thành hay không?  Biện pháp chủ yếu chúng tôi đã áp dụng là các cán bộ chủ trì dự án nghiên cứu chỉ nắm một ngân sách hữu hạn, biện pháp này được tất cả mọi người công nhận.    Tình hình suy thoái kinh tế Mỹ trong mấy năm qua có ảnh hưởng gì đến số lượng dự án nghiên cứu hằng năm của NAS không?  Hiện nay chúng tôi nhận thấy có một chút ảnh hưởng, không có gì ghê gớm cũng không có gì đáng để ý. Kinh phí kích thích của Chính phủ có thể bù đắp được một số thiếu hụt. Dĩ nhiên chưa ai biết tương lai sẽ ra sao.  Cùng với sự cắt giảm kinh phí, ông có cho rằng trong tương lai, Chính phủ sẽ bớt quan tâm đến các báo cáo tư vấn của NAS hay không?  Chớ nên tin vào quan điểm đó. Dĩ nhiên điều này cũng không thể dự đoán được. Cơ quan chính quyền liên bang phải cắt giảm các khoản chi của họ, nhưng nhiều ban ngành đúng là vẫn cần những kiến nghị về mặt quyền ưu tiên. Dĩ nhiên nếu họ có nguồn kinh phí dồi dào hơn thì họ có thể cần tới những kiến nghị “rắn” hơn.  NAS cũng có một chức năng danh dự, đó là lựa chọn các thành viên [báo chí Việt Nam thường gọi là Viện sĩ] của mình. Phải chăng điều đó sẽ đem lại nguy cơ bè phái?   Đúng là luôn tồn tại nguy cơ như vậy. Một trong những điều chúng tôi quan tâm hiện nay là NAS chưa có đủ số thành viên (Viện sĩ) đến từ miền Trung nước Mỹ. Sự phân bố Viện sĩ theo vùng còn chưa đều.  Năm ngoái NAS chọn được 84 thành viên mới, trong đó có 26 nữ, tỷ lệ trên 30%, đạt kỷ lục cao nhất trong lịch sử. Nhưng năm 2011 chỉ chọn được 9 thành viên nữ. Ông xác định tư cách thành viên NAS như thế nào?  Chúng tôi không có bất cứ hạn chế nào về số lượng thành viên. Trong mấy năm qua, chúng tôi chỉ quan tâm hơn tới lớp trẻ. Tôi cho rằng chúng tôi đúng là có tạo điều kiện để các nhà khoa học nữ tham gia đội ngũ của NAS.  Ông nhận định như thế nào về vấn đề đa nguyên hóa dân tộc và chủng tộc?  Nếu quan tâm tới tình hình khoa học và công nghệ Mỹ hiện nay thì ông sẽ phát hiện những người Mỹ gốc Á châu rất ưu tú, thế nhưng trong số thành viên NAS, người Mỹ gốc Á và gốc Nam Á lại không nhiều như ông tưởng tượng. Chúng tôi mong muốn có thể áp dụng các biện pháp đột phá để thay đổi tình trạng đó, bởi lẽ lớp trẻ trong hệ thống nghiên cứu khoa học đang không ngừng tăng lên.  Thế còn người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha thì sao?  Số người này còn quá ít. Tôi chưa thể nói chính xác về số người Mỹ gốc Tây Ban Nha, nhưng đúng là tỷ lệ người Mỹ gốc Phi còn rất thấp.  Các thành viên của NAS có vai trò gì trong xã hội?  Chúng tôi có quy định một trình tự rất hợp lý để tuyển chọn Viện sĩ. Nếu đến thăm các trường tư thục thì ông sẽ thấy các thành viên NAS đảm nhận nhiều công việc: bảo đảm chất lượng giảng dạy, hỗ trợ việc tiến hành các lựa chọn quyền ưu tiên. Hơn nữa, họ — không phải tất cả mọi người – đều có năng lực thể hiện và sử dụng tiêu chuẩn cao đại diện cho một cơ quan.              Hải Hoành dịch  Nguồn: US science academy celebrates 150 years (Helen Shen  01 March 2013).      President Ralph Cicerone discusses diversity and efficiency at the National Academy of Sciences.  http://www.nature.com/news/us-science-academy-celebrates-150-years-1.12530       Author                Quản trị        
__label__tiasang 16 năm cho một bước ngoặt      Bình thản trước thất bại và dứt khoát khi đứng trước các lựa chọn nhưng PGS.TS Lê Thị Luân không khỏi tỏ ra bối rối khi phải nói với báo chí về mình, về quá trình nghiên cứu đã đưa chị đến với Giải thưởng Kovalevskaya hồi đầu tháng Ba này.    Sự bền bỉ của nhà khoa học     Trong 24 năm làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu sản xuất vaccine và sinh phẩm y tế (Bộ Y tế), PGS.TS Lê Thị Luân đã dành 16 năm để nghiên cứu vaccine Rotavin-M1 phòng virus Rota, là nguyên nhân gây tiêu chảy ở hơn 50% số trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh này, theo số liệu từ một số Bệnh viện Nhi lớn trong nước. Công trình của chị và đồng nghiệp được đánh giá là bước ngoặt trong ngành vaccine học Việt Nam bởi đây là lần đầu tiên nước ta đã sản xuất thành công một loại vaccine sử dụng hệ thống chủng giống thiết lập trên chủng nội địa.      “Tạo hệ thống chủng giống là khâu khó nhất trong quy trình sản xuất một vaccine. Hỗn dịch phân người bệnh có hàng tỷ con virus, chúng tôi phải xác định đặc tính từng con và tìm ra những con an toàn, đồng nhất, ổn định, đáp ứng miễn dịch với hiệu suất cao rồi đem nuôi cấy để tạo chủng. Mất ba năm, từ năm 1998 đến 2001, chúng tôi mới tạo được mẫu virus. Sau đó, tôi phải mang mẫu này sang Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ để phát triển trên tế bào vì điều kiện thiết bị Việt Nam lúc đó chưa cho phép làm việc này. Mang virus được nuôi cấy thành công trở về, tôi cùng đồng nghiệp phải mất thêm hai năm nữa mới hoàn chỉnh được quy trình tạo chủng,” nhà khoa học quê Vĩnh Phúc kể.     Với thành công này, Việt Nam đã hoàn toàn chủ động tạo nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất cho sản xuất vaccine tiêu chảy mà không cần đợi chuyển giao công nghệ hay nhập ngoại. Năm 2011, nghiên cứu tạo chủng virus Rota của TS Luân và đồng nghiệp được Cục Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.              Với vaccine Rotavin-M1 do nhóm nghiên cứu của PGS.TS Lê Thị Luân tạo chủng giống và xây dựng quy trình sản xuất, Việt Nam trở thành nước thứ tư trên thế giới sản xuất thành công vaccine phòng tiêu chảy do virus Rota, sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc.          Sau khi tạo được chủng giống, TS Luân cùng đồng nghiệp lại tiếp tục xây dựng qui trình công nghệ sản xuất vaccine Rota với tiêu chuẩn cập nhật quốc tế. Kết quả thử nghiệm lâm sàng từ năm 2009 đến năm 2011 đã chứng minh vaccine Rota sản xuất tại Việt Nam có tính an toàn và đáp ứng miễn dịch tốt trên trẻ 6-12 tuần tuổi với hai liều cách nhau hai tháng và được đưa ra thị trường cho trẻ uống từ tháng 8/2012 trên toàn quốc. “Thị trường Việt Nam đang lưu hành ba loại vaccine phòng tiêu chảy là Rotavin-M1 của chúng tôi và hai loại khác của Bỉ và Mỹ với giá cao gấp khoảng ba lần. Tại phòng dịch vụ của mình, chúng tôi giới thiệu cả ba loại và hoàn toàn tự tin vào Rotavin-M1, hiện đã chiếm khoảng 40% thị phần, với giá 600 nghìn đồng cho hai liều uống,” chị Luân cho biết.     Nhiều khả năng sắp tới Rotavin-M1 sẽ được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Khi đó, công suất 200-300 nghìn liều/năm như hiện nay sẽ phải nâng lên 3,5 – 4 triệu liều/năm. “Điều khiến tôi an tâm nhất là đã gần 100 nghìn trẻ sử dụng Rotavin-M1 trên cả nước nhưng chưa có bất kỳ phàn nàn nào về sản phẩm,” chủ nhân của giải Kovalevskaya 2013 nói.                 PGS.TS Lê Thị Luân (đứng) trao đổi công việc với các đồng nghiệp ở Phòng Kiểm định chất lượng vaccine. Ảnh: TT          Thành công không hề được lập trình sẵn cho con đường nghiên cứu của chị. Tốt nghiệp bác sĩ đa khoa nội nhi rồi theo học ba năm nội trú vi sinh, chị không hề hình dung tương lai gắn với phòng thí nghiệm, chỉ nghĩ học vi sinh để sau này làm bác sĩ nhi sẽ có thêm kiến thức điều trị bệnh tận gốc. “Luận văn tốt nghiệp nội trú của tôi được GS Hoàng Thủy Nguyên, bậc thầy trong ngành virus, vaccine học của Việt Nam chấm và chú ý. Ngay sau đó, tôi được Thầy nhận về làm việc tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương rồi tạo điều kiện cho đi đào tạo tại Nhật Bản. Từ đây tôi mới xác định mình sẽ làm nghiên cứu,” chị nhớ lại.      Kể từ khi bước vào con đường nghiên cứu trong lĩnh vực y tế dự phòng, TS Luân luôn nghĩ đến thất bại như một điều bình thường mà người làm khoa học nào cũng phải đối mặt. “Trong quá trình tạo chủng giống cho vaccine tiêu chảy, tôi luôn nghĩ đến hai khả năng, nếu thành công, tôi có thể chuyển sang bước tiếp theo, còn nếu không, phải sẵn sàng quay lại bước trước đó – tôi đặt hai khả năng này ngang nhau – vì vậy mặc dù mất nhiều năm với không ít lần thất bại, bế tắc nhưng tôi không cảm thấy tuyệt vọng,” chị chia sẻ.      Bên cạnh việc học cách bình thản trước thất bại, chị cũng cho rằng, để làm nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam, nhà khoa học cần có một hậu phương vững vàng về mọi mặt, bao gồm cả kinh tế, thì họ mới có thể chuyên tâm đầu tư thời gian cho phòng thí nghiệm, đặc biệt là trong một lĩnh vực vất vả và có thu nhập thấp nhất của ngành y tế là y tế dự phòng. Chị không may mắn đã mất đi một nửa của hậu phương ấy – chồng chị, người vui vẻ nhận về mình nhiều phần việc gia đình để chị đỡ phải tất tả, đã ra đi vì một căn bệnh hiểm cách đây 11 năm. Chị cho biết mình duy trì được phong độ nghiên cứu cũng nhờ có người mẹ chồng tuyệt vời đứng ở phía sau.     Hiện chị phụ trách toàn bộ việc nghiên cứu sản xuất vaccine chân tay miệng (đã xong khâu tạo chủng giống) và tham gia những quy trình chính của việc nghiên cứu sản xuất vaccine bại liệt tiêm, thay cho vaccine uống (đã qua giai đoạn tiền lâm sàng, với chủng giống được nhập từ Viện Bại liệt Nhật Bản).      Theo TS Luân, với việc nằm trong nhóm chín nước trên thế giới sản xuất được vaccine, Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về ngành vaccine học của mình. “Chúng ta có đội ngũ được đào tạo bài bản cả trong nước và quốc tế, có kinh nghiệm, có trình độ cập nhật, và trang thiết bị hiện đại do các nước phát triển như Hà Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản,… hỗ trợ. Tại thời điểm này, tất cả các công đoạn trong sản xuất vaccine đều có thể thực thi tốt tại nước ta. Chỉ tiếc là hệ thống kiểm định quốc gia (NRA) của chúng ta chưa đạt chuẩn quốc tế nên cơ hội xuất khẩu bị hạn chế,” chị cho biết.      Nỗi lo thường trực của nhà quản lý     Là Phó giám đốc phụ trách bộ phận R&D phát triển sản phẩm mới của Trung tâm Nghiên cứu sản xuất vaccine và sinh phẩm y tế từ năm 2001, chị “không phải căng thẳng vì những việc hậu cần” nhưng lại có một nỗi lo thường trực khác, đó là chảy máu chất xám. “Tôi biết làm bác sĩ điều trị một lần khám có thể kiếm vài trăm nghìn, còn bác sĩ y tế dự phòng như chúng tôi không được phép khám bệnh, suốt ngày chỉ lo chống dịch, đi xuống địa phương trèo đèo lội suối cả buổi có khi cũng chỉ được phụ cấp 10 nghìn đồng. Chính vì thế mấy năm nay Khoa Y tế dự phòng của Đại học Y Hà Nội chưa bao giờ tuyển được đủ sinh viên, mặc dù nhu cầu rất lớn. Đồng nghiệp có nhờ tôi thuyết phục các em nhưng tôi bảo, tôi có nói gì cũng chỉ là nói suông thôi, tốt nhất phải có chính sách tăng thu nhập cứng cho những người làm y tế dự phòng vì họ chẳng có nguồn thu nhập mềm nào đáng kể,” chị chia sẻ.     Với điều kiện trả lương như hiện tại, Trung tâm của chị không dám mơ đến việc thu hút những nhân tài tu nghiệp ở nước ngoài về mà chỉ đặt mục tiêu đào tạo những người tận tụy, tâm huyết sẵn có của mình. “Năm nào chúng tôi cũng tạo điều kiện cho mấy chục lượt cán bộ đi tu nghiệp ngắn hạn ở Mỹ và Nhật Bản.” Vậy mà vẫn không ngăn nổi hiện tượng chảy máu chất xám. “Có những đợt cảm giác dây chuyền lỏng lẻo hẳn vì có năm người trong dây chuyền thì đến ba người ra đi, hầu hết đầu quân cho tư nhân hoặc công ty nước ngoài ở các vị trí giám sát hoặc quản lý. Chúng tôi thật sự lâm vào khủng hoảng nhân lực cách đây mấy năm, khi hàng loạt cán bộ chủ chốt xin thôi việc. Sau cơn chuếnh choáng, ban lãnh đạo chúng tôi quyết định phải điều chỉnh các chính sách đào tạo để làm sao người này đi thì có người khác thay thế, đồng thời xây dựng các chế độ ưu đãi như hỗ trợ sản xuất và ký hợp đồng với những cán bộ đến tuổi hưu nhưng có trình độ chuyên môn sâu.”                 PGS.TS Lê Thị Luân (thứ tư, từ trái sang) và các đồng nghiệp ở Phòng Kiểm định chất lượng vaccine. Ảnh: TT          Bản thân chị cũng không ít lần bị bên ngoài “lôi kéo”, nhưng chị nói, “Có người nói tôi lạc hậu, điều đó không đúng, có lẽ tôi chỉ là người dễ hài lòng với những gì mình đã có và đối với tôi, sống có trước có sau mới là điều quan trọng hơn cả,” nhà nữ khoa học vẫn giữ được ánh mắt trong vắt ở tuổi 52 nói chân thành.     Tuy nhiên, chị kỳ vọng Luật KH&CN sửa đổi sẽ giúp thay đổi tình trạng “lép vế”, xét về mặt thu nhập, của những cơ quan nghiên cứu thuộc khối nhà nước. “Đây là một bộ luật hỗ trợ và bảo vệ một cách có trọng tâm, trọng điểm quyền lợi của người làm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học ứng dụng. Chúng tôi hy vọng nếu nó được thực thi nghiêm túc thì cơ hội để người làm khoa học sống đàng hoàng nhờ chất xám của mình sẽ sớm trở thành hiện thực.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang 17% dân số thế giới đang thiếu nước sạch      Trong bản báo cáo ra ngày 9-11, Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) đã đưa ra những con số đáng lo ngại: 1,1 tỉ người chưa được sử dụng nước sạch, 2,6 tỉ người vẫn chưa tiếp cận được các điều kiện vệ sinh.    Theo đó, UNDP đặt ra yêu cầu cung cấp 20 lít nước sạch mỗi ngày cho những người nghèo nhất.  Mỗi năm, 1.8 triệu trẻ em chết do sự nhiễm khuẩn truyền qua nguồn nước bẩn. Hàng triệu phụ nữ hàng ngày phải mất nhiều giờ để tìm được nước cần thiết cho gia đình và các cư dân trong các khu dân nghèo của thành phố trả tiền nước đắt từ 5 đến 10 lần hơn các vùng khác. Bảng báo cáo ước tính rằng mỗi năm, Châu Phi lãng phí khoảng 5% tổng sản phẩm quốc nội do sự thiếu hụt nguồn nước sạch.  Những mục tiêu thiên niên kỷ được thông qua bởi Liên Hợp quốc vào năm 2000 dự kiến giảm một nửa sự thiếu hụt này từ đây đến 2015. Nhưng theo Kermal Dervis -Giám đốc của chương trình Phát triển LHQ, mục tiêu này khó đạt được do lĩnh vực này ít được ưu tiên trong chi tiêu của các chính phủ. Theo đó các chính phủ chỉ dành ít hơn 5% trong tổng thu nhập quốc dân vào việc cung cấp nước sạch; lấy một ví dụ như Pakistan dành ngân sách cho quân sự gấp 47 lần so với ngân sách cho nước hợp vệ sinh.  Đạt được những mục tiêu Thiên niên kỷ sẽ cứu sống một triệu trẻ em trong thập kỷ tới và tiết kiệm 38 tỉ đôla mỗi năm, Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng chỉ một đôla đầu tư vào các nước có thu nhập thấp thu lại được gần 8 đôla. Thêm vào đó, một sự tiếp cận nước tốt là một cách thức hữu hiệu để bảo vệ 830 triệu người dân sống ở vùng nông thôn chịu kém dinh dưỡng và bị đe dọa bởi sự nóng lên của khí hậu.  Để đạt được 20 lít nước sạch cho mỗi người mỗi ngày, tổ chức Phát triển của LHQ đề nghị các quốc gia đặt nước sạch và việc làm sạch lên hàng đầu của các việc ưu tiên và dành 1% trong tổng thu nhập quốc dân.    Liệu rằng sẽ xảy ra những cuộc chiến tranh vì nước?  Theo các nhà quan sát, 90% dân số sống trên 145 quốc gia chia sẽ nhau trong việc dùng các nguồn nước thì một cuôc chiến tranh về nước sẽ không tránh khỏi. Tuy vậy UNDP tin rằng trong tương lai sẽ không có nguy cơ một cuộc chiến tranh về nước. Trong vòng 50 năm qua, theo thống kê có 37 cuộc xung đột giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề nguồn nước, 30 trong tổng số đó xảy ra ở vùng Trung Đông. Do đó, 200 bản hiệp ước về việc kiểm soát nguồn nước chung đã được ký kết. Theo bảng báo cáo của UNDP, mặc dầu số người cần nguồn nước sạch ngày càng cao, nhưng những mâu thuẫn về quyền lợi liên quan đến nước sạch sẽ được giải quyết qua hợp tác và đối thoại.  Trí Nguyên (Theo Le Monde)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 2 đề xuất trong quy định đánh giá tác động môi trường      Luật Bảo vệ m&#244;i trường 1993 trước đ&#226;y quy định về Đ&#225;nh gi&#225; t&#225;c động m&#244;i trường (ĐTM) đối với c&#225;c dự &#225;n đầu tư tại Điều 18, trong đ&#243; nhấn mạnh tất cả c&#225;c dự &#225;n đều &#8220;phải lập b&#225;o c&#225;o ĐTM để cơ quan quản l&#253; Nh&#224; nước về bảo vệ m&#244;i trường thẩm định. Kết quả thẩm định b&#225;o c&#225;o ĐTM l&#224; một trong những căn cứ để cấp c&#243; thẩm quyền x&#233;t duyệt dự &#225;n hoặc cho ph&#233;p thực hiện&#8220;. Nghị định 175/1994/NĐ-CP hướng dẫn thi h&#224;nh Luật Bảo vệ m&#244;i trường c&#243; 12 Điều hướng dẫn về ĐTM, trong đ&#243; Điều 11 quy định &#8221;việc x&#226;y dựng b&#225;o c&#225;o ĐTM đối với c&#225;c dự &#225;n đầu tư được tiến h&#224;nh th&#224;nh 2 bước: Sơ bộ v&#224; chi tiết&#8221;. ĐTM sơ bộ được thực hiện trong giai đoạn xin cấp Giấy ph&#233;p đầu tư; v&#224; ĐTM chi tiết được thực hiện trong giai đoạn thiết kế x&#226;y dựng. Nội dung ĐTM sơ bộ gi&#250;p cơ quan quản l&#253; m&#244;i trường c&#243; đủ cơ sở c&#226;n nhắc v&#224; đưa ra c&#225;c nhận x&#233;t về lựa chọn địa điểm, về lựa chọn nguy&#234;n liệu v&#224; c&#244;ng nghệ, từ đ&#243; đưa ra c&#225;c khuyến nghị về những vấn đề/nội dung cần lưu &#253; khi l&#224;m ĐTM chi tiết.     Tuy nhiên do có ý kiến cho rằng việc yêu cầu dự án phải làm 2 lần báo cáo ĐTM là gây phiền hà về thủ tục hành chính nên từ 1998 (bắt đầu từ việc ban hành Thông tư 490/1998/TT-BKHCN&MT) đã loại bỏ dần dần việc thực hiện ĐTM sơ bộ và luật hoá bước sàng lọc (screening) trong quy trình ĐTM bằng việc ban hành danh mục quy định các dự án phải lập báo cáo ĐTM.   Nhược điểm của việc không thực hiện sàng lọc mà dựa hoàn toàn vào danh mục quy định các dự án phải lập báo cáo ĐTM đã làm nảy sinh nhiều lúng túng khi xuất hiện loại hình dự án mới không có trong danh mục. Thậm chí đã xảy ra trường hợp dự án sản xuất bột giấy Lee and Man tại Hậu Giang đã “suýt” không thực hiện ĐTM vì danh mục nêu trong Nghị định 80/2006/NĐ-CP đã “bỏ quên” loại hình sản xuất bột giấy; trong khi Nghị định 21/2008/NĐ-CP mặc dù bổ sung rất nhiều loại hình dự án mới (tổng cộng 162 loại hình) vào danh mục nhưng lại không có loại hình kho lưu giữ, trung chuyển chất thải nguy hại. Mặc dù vẫn có thể xếp các dự án bị bỏ sót này vào loại hình “dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu trực tiếp đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ” để yêu cầu phải thực hiện ĐTM, nhưng rõ ràng việc vận dụng này chỉ là giải pháp “tình thế” khiên cưỡng.  Vì vậy để vừa đảm bảo ý nghĩa và hiệu quả của ĐTM như một công cụ ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm ngay từ giai đoạn xây dựng dự án, vừa đảm bảo tính hợp lý và thống nhất giữa các bước trong quy trình ĐTM với quy trình xây dựng và triển khai dự án đầu tư, chỉ có thể lựa chọn 1 trong 2 đề xuất sau đây:  – Yêu cầu chủ dự án thực hiện nghiên cứu khả thi ngay trong giai đoạn xin cấp Giấy phép đầu tư: Việc có các thông tin chi tiết về phương án kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, nhiên liệu và hóa chất không những giúp ĐTM đưa ra các dự báo và đánh giá định lượng mà còn giúp các cơ quan thẩm định về công nghệ, xây dựng, tài chính có đủ cơ sở đưa ra các kết luận xác đáng về việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Tuy nhiên nghiên cứu khả thi đòi hỏi quá nhiều thời gian, kinh phí và vì thế trở thành gánh nặng vật chất đối với chủ đầu tư nếu dự án không được chấp thuận (và hệ lụy kéo theo là sẽ có nguy cơ trở thành gánh nặng “tinh thần” đối với cơ quan quản lý trong việc thực hiện chủ trương thông thoáng thủ tục, kêu gọi đầu tư);  – Quy định 2 bước thực hiện ĐTM: Tất cả các dự án đều phải trình nộp báo cáo ĐTM sơ bộ trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Cơ quan quản lý môi trường trong quá trình thẩm tra đầu tư sẽ xem xét báo cáo ĐTM sơ bộ để cân nhắc và đưa ra các kết luận đánh giá về lựa chọn địa điểm, về lựa chọn nguyên liệu và công nghệ và yêu cầu dự án có hay không phải trình nộp thẩm định báo cáo ĐTM chi tiết (với những khuyến nghị về vấn đề/nội dung cần đặc biệt lưu ý) trong giai đoạn thiết kế xây dựng. Như vậy danh mục quy định các dự án phải lập báo cáo ĐTM sẽ được loại bỏ khỏi các văn bản pháp luật liên quan. Nói chung không cần thiết phải tổ chức Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM sơ bộ, trừ những dự án có vấn đề phức tạp; dĩ nhiên điều này sẽ đòi hỏi cần thiết nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của các cán bộ trong các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2 phần 3 số gấu Bắc cực sẽ chết vào năm 2050      Loài gấu Bắc cực sẽ mất đi 2/3 dân số vào giữa thế kỷ này do băng đang mỏng đi nhanh chóng trên vùng cư trú của chúng.    Khảo sát của Cơ quan địa chất Mỹ khẳng định gấu Bắc cực sẽ biến mất dọc theo bờ biển phía bắc Alaska và Nga, đồng thời chúng cũng sẽ mất đi 42% diện tích vùng băng giá cần thiết để sinh sống trong mùa hè, nơi chúng săn bắt và sinh sản. Tất cả đều do trái đất đang nóng lên.  Gấu trắng có tuổi đời khoảng 30 năm. Chúng sử dụng các tảng băng vùng cực làm bàn đạp để đi săn hải cẩu, song lại hiếm khi săn con mồi này trên đất liền hoặc trong các vùng nước. Do băng ở vùng Bắc cực đang suy giảm mạnh, và cũng chưa được đánh giá hết, các nhà khoa học dự báo rằng quần thể của chúng cũng sẽ co lại nhanh chóng.  (Theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 20 năm bền bỉ nghiên cứu về POPs      Từ một nhóm nghiên cứu gần như “vô danh”, sau 20 năm bền bỉ đi theo con đường đã chọn, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích môi trường – an toàn thực phẩm (Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã trở thành một địa chỉ tin cậy về nghiên cứu và tư vấn chính sách trong lĩnh vực khoa học môi trường, đặc biệt là về các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs). GS. TS Phạm Hùng Việt đã trao đổi với phóng viên Tia Sáng về cách triển khai nghiên cứu trong điều kiện còn nhiều khó khăn ở Việt Nam.      GS. TS Phạm Hùng Việt, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích môi trường – an toàn thực phẩm (Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội).  Năm 2002, Công ước Stockholm về các hợp chất POPs mới được ký kết nhưng những nghiên cứu đầu tiên về POPs đã được nhóm nghiên cứu của ông thực hiện từ sáu năm trước. Vậy bằng cách nào nhóm nghiên cứu có thể bắt kịp với những vấn đề nóng của thế giới, dù mới được thành lập?  Khi còn làm postdoc ở Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ, tôi đã chú ý rất nhiều đến “Silent Spring” (Mùa xuân câm lặng) của nhà sinh học Mỹ Rachel Carson, một cuốn sách gối đầu giường trong lĩnh vực khoa môi trường xuất bản năm 1962. Trên cơ sở nghiên cứu thực hiện từ giữa những năm 1940, tác giả đã nêu sự ảnh hưởng của con người với môi trường thông qua việc sử dụng các loại hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ… – những chất mà sau này được Công ước Stockholm đưa vào danh sách các chất POPs. Tôi nhận thấy, POPs không là vấn đề của riêng ai hay của riêng quốc gia nào. Tại Thụy Sỹ, thầy của tôi là giáo sư Wilhem Simon có hai hướng nghiên cứu chính, khối phổ phân giải cao là một trong hai hướng đó, đây là công cụ hữu hiệu nhất để nghiên cứu cấu trúc cũng như xác định thành phần các hỗn hợp phức tạp như dioxin/furan, polyclobiphenyls (PCBs)…Các học trò của thầy theo hướng này sau đấy là những nhà khoa học nổi tiếng về POPs, ví dụ TS. Peter Schmid (EMPA, Thụy Sỹ), là một đồng nghiệp mà tôi giữ mối liên hệ chặt chẽ sau này.  Tuy vậy trở về Việt Nam nhiều năm và tập hợp được nhóm nghiên cứu, có trong tay công cụ sắc ký khí từ hợp tác với Thụy Sỹ, tôi mới có điều kiện làm về POPs. Để bắt đầu, chúng tôi cũng phải tầm sư học đạo trong nước, cử các bạn trẻ tới học hai cán bộ có kinh nhiệm nhất về phân tích thuốc trừ sâu cơ clo lúc đó là anh Nguyễn Mạnh Ẩm ở Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng và anh Đặng Đức Nhận ở Viện Năng lượng nguyên tử VN. Thêm vào đó, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ của GS. Joshep Tarradellas – một người rất nổi tiếng về nghiên cứu PCBs. Ông đã cùng đồng nghiệp tư vấn rất tận tình cho nhóm khi bắt đầu phân tích các đối tượng phức tạp như PCBs từ những năm 1995. Và phải nói rằng, một cơ duyên đã đi theo chúng tôi suốt hai chục năm nghiên cứu về POP đó là lời mời tham gia vào một chương trình phân tích, quan trắc trong khu vực Đông Á của trường Đại học Liên hợp quốc (Nhật Bản) vào năm 1996.  Chưa có nghiên cứu nào về POPs, tại sao họ lại biết và mời mình tham gia?  Họ biết đến mình thông qua sự giới thiệu của bạn bè. Tất nhiên để được cùng tham gia nghiên cứu với họ, mình phải chứng minh được năng lực nghiên cứu và đáp ứng được những yêu cầu ban đầu của họ. Đây là lý do vì sao trước khi mời, họ phải gửi mẫu của một phòng thí nghiệm chuyên sản xuất mẫu thử của thế giới để xem mình có đủ năng lực phân tích không, khi đánh giá so với chuẩn nếu kết quả mình có Z score < 2 thì họ chấp nhận mình.  Lúc đó nhóm nghiên cứu của tôi cũng chưa có tiếng tăm gì nhưng vẫn nhiệt tình tham gia. Có sợ thất bại không ư? Không, mình vẫn muốn biết khả năng của mình đến đâu chứ. Kết quả là họ chấp nhận và mời mình tham gia pha đầu tiên trong dự án của họ về các hợp chất POPs cùng bảy phòng thí nghiệm khác tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan.  Cơ hội làm việc với các nhóm nghiên cứu này đem lại cho nhóm nghiên cứu của ông điều gì?  Qua hợp tác với các phòng thí nghiệm này, mình cũng trưởng thành lên nhiều và tự tin mở rộng hợp tác quốc tế trong nhiều vấn đề, nhiều đối tượng cần nghiên cứu…, như chất chống cháy PBDEs trong rác thải điện tử, chất Dioxin/Furan trong phát thải công nghiệp, giao thông, chất PFOS chống dính trong đồ gia dụng, chất CFC trong thiết bị làm lạnh…; đồng thời mình cũng nhận ra được rằng, ở Việt Nam mình có rất nhiều mẫu cần thiết cho nghiên cứu về POPs. Các quốc gia có năng lực cao trong nghiên cứu về POPs thì lại không có mẫu “tốt” như vậy trong tự nhiên. Do đó, mình phải “tận dụng” điều đó để thiết lập các mối quan hệ hợp tác quốc tế khác.  Đặc biệt, chúng tôi có hợp tác rất tốt với nhóm nghiên cứu của giáo sư Shinsuke Tanabe, Đại học Ehime (Nhật Bản) suốt từ những năm 1999 tới nay trong triển khai các đợt lấy mẫu môi trường của cả khu vực Đông Á và xây dựng ngân hàng mẫu tại Nhật Bản. Đã có năm thành viên của nhóm được đi làm tiến sĩ và postdoc nhiều năm tại đây về POPs, U-POPs. Hiện giờ, họ đều là những chuyên gia giàu kinh nhiệm về POPs ở Việt Nam.  Việc Việt Nam sớm tham gia Công ước Stockholm có làm cho việc nghiên cứu của ông thêm thuận lợi?  Việc sớm tham gia Công ước Stockholm đã chứng tỏ Việt Nam đã nhận ra những hậu quả của POPs đối với môi trường và sức khỏe con người. Với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam bắt đầu thực hiện một số công việc như kiểm kê sự tồn lưu của hai loại POPs, như chất độc màu da cam, có chứa Dioxin, đã được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam và tập kết tại một số kho chứa ở sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng…, hóa chất bảo vệ thực vật như DDT được nhập từ Liên Xô cũ từ dưới thời chiến tranh để phục vụ sản xuất nông nghiệp, phun diệt muỗi chống bệnh sốt rét…; và đánh giá khả năng tác động đến sức khỏe con người, qua đó xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn hướng dẫn và chọn ra những cách quản lý phù hợp như cấm lưu hành hay tiêu hủy…  Do đã có năng lực nghiên cứu thông qua dự án của trường Đại học Liên hợp quốc nên nhóm nghiên cứu của tôi, lúc này đã chính thức được thành lập dưới tên gọi Trung tâm nghiên cứu môi trường và Phát triển bền vững (Đại học Khoa học tự nhiên)1, có thể tham gia các dự án tại Việt Nam cùng các nhà quản lý và các nhóm nghiên cứu trong nước, quốc tế khác.  Các chất POPs cổ điển như DDT đã rất cũ với thế giới rồi nên khó có công bố. Vậy việc tham gia thực hiện các dự án về nó có giúp được gì cho Trung tâm?  Đúng là DDT hay PCBs – chất trơ không chuyển hóa nên góp phần chống ôxi hóa là phụ gia của dầu biến thế và tồn tại bền vững trong môi trường sau khi thải loại, là những chất rất cũ. Nhìn chung nghiên cứu về chúng khó làm ra những công bố quốc tế, vốn đòi hỏi tính mới, nhưng việc tham gia những dự án kiểm kê, đánh giá các chất này của Bộ Tài nguyên và Môi trường hay Bộ Công Thương mang lại kinh phí và kinh nghiệm xử lý cho các nhà nghiên cứu của Trung tâm, đôi khi nó làm nảy sinh ra những vấn đề rất hay. Ví dụ khi tham gia dự án kiểm kê và xử lý PCB của Điện lực Việt Nam (Bộ Công thương), Trung tâm phân tích chất PCB trong khoảng 59.000 mẫu dầu biến thế trong và ngoài ngành điện lực, chúng tôi nhận thấy giữa phương pháp tiêu chuẩn mà thế giới vẫn áp dụng là sắc kí và phương pháp sàng lọc nhanh có một số mẫu cho kết quả vênh – lớn. Vậy sự chênh lệch này xuất phát từ đâu? Kiểm tra đi kiểm tra lại, chúng tôi “gần tìm ra” nguyên nhân: thay vì dùng PCB, nhà sản xuất đã dùng hóa chất khác làm phụ gia, và hóa chất này cũng được xếp vào danh sách POPs nhưng chưa bị các nhà quản lý Việt Nam “động tới”.  Do tồn tại ở mức phần tỷ trong các mẫu nên việc phân tích chất POPs không chỉ khó hơn so với nhiều đối tượng khác mà còn phải thực hiện trên những thiết bị đắt tiền, trong khi kinh phí đầu tư cho đề tài hiện nay của Việt Nam không có khoản chi về thiết bị. Ông đã giải quyết vấn đề này bằng cách nào?  Đúng vậy, ngay cả kinh phí từ dự án với Đại học Liên hợp quốc thì cũng ở mức nhỏ, đủ mua vật tư hóa chất, kinh phí cử người đi nước ngoài tập huấn những kỹ thuật phân tích mới, dự hội thảo, seminar… Tuy nhiên qua đó, tôi có được mối quan hệ với Shimadzu, công ty sản xuất thiết bị khoa học và đơn vị đầu tư cho các dự án này, thường xuyên dịch và tổ chức hội thảo cho họ tại Việt Nam. Năm 1998, tôi đề xuất một dự án hợp tác với họ: một bên có mặt bằng, nhân lực, một bên có máy móc, phụ tùng. Việc kết hợp giữa hai bên sẽ có được một phòng thí nghiệm chung và các công bố quốc tế được thực hiện từ đây sẽ ghi thêm dòng chữ cảm ơn Shimadzu. Phòng thí nghiệm trị giá hai triệu đô đã ra đời như thế, nhiều thiết bị trong phòng thí nghiệm này đã phục vụ cho nhiều nghiên cứu về POPs. Gần đây, chúng tôi cũng tiếp tục ký kết một dự án tương tự với Shimadzu, dự kiến thực hiện trong năm tới.  Bên cạnh đó, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng mới tiến hành đầu tư chiều sâu về trang thiết bị cho Trung tâm Nano và Năng lượng, đơn vị được thụ hưởng không chỉ Trung tâm này mà còn một số đơn vị khác của trường, trong đó có chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi có nhiều cơ hội thực hiện các nghiên cứu về POPs mới như các đồng nghiệp quốc tế.  Được biết, ngoài việc là địa chỉ tin cậy về nghiên cứu các chất POPs, Trung tâm còn là một nơi tư vấn chính sách cho các đơn vị quản lý.     Như trên đã nói, quá trình Trung tâm tham gia xử lý các chất POPs tồn lưu như DDT, PCB… cũng là tham gia vào việc hình thành chính sách quản lý. Sau đó, mỗi khi có vấn đề gì liên quan đến các chất gây ô nhiễm trong môi trường, không chỉ chất POPs, các cơ quan chức năng lại tìm đến với mình, nhờ mình tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn. Hiện tại, do Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công nhận kết quả nghiên cứu của mình là số liệu nghiên cứu của quốc gia và chấp thuận đưa nó vào mạng lưới các trung tâm nghiên cứu về POPs theo Công ước Stockholm trên thế giới. Do đó, các kết quả nghiên cứu này đã góp phần hỗ trợ công tác hoạch định chính sách. Đây là niềm vui của những người làm khoa học bởi thấy được những nghiên cứu của mình đóng góp cho xã hội thông qua chính sách quản lý.  Mặt khác, do Trung tâm còn là đơn vị đóng vai trò đào tạo cán bộ, nên trong lĩnh vực POPs, đã có nhiều cán bộ ở các viện, cục thực hiện luận án tiến sỹ trên cơ sở phối hợp nghiên cứu giữa hai đơn vị. Và sau này họ đều trở thành các cán bộ chủ chốt về kỹ thuật, cán bộ lãnh đạo ví dụ Viện Hải dương học Hải phòng, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Kiểm soát ô nhiễm… Chính những người xuất phát từ cán bộ khoa học, kỹ thuật như vậy sẽ có cách nhìn hợp lý hơn trong việc xây dựng hay thực hiện những chính sách quản lý liên quan.  Trong suốt 20 năm nghiên cứu về POPs, ông rút ra được điều gì?  Có hai vấn đề mà tôi rút ra được từ quá trình nghiên cứu về POPs. Thứ nhất, mỗi hóa chất đều có mặt tốt và mặt xấu. Ngay từ khi phát minh các chất đó, các nhà khoa học chưa thể lường hết được những tổn hại lâu dài mà nó sẽ gây ra mà mới chỉ nhìn thấy những ưu điểm ban đầu. Ví dụ khi tìm ra DDT vào năm 1939, nhà hóa học Paul Hermann Mueller cũng không ngờ rằng sau đó ông được trao giải Nobel Y sinh vào năm 1948. Tuy nhiên nhiều năm sau, người ta phát hiện ra DDT lại là chất có độ bền vững và độc tính cao nên khi tồn lưu rất lâu trong môi trường, dễ dàng đi vào chuỗi thức ăn trong tự nhiên, qua đó thâm nhập vào cơ thể con người và ảnh hưởng đến hệ thần kinh của con người. Vì thế, các nhà nghiên cứu phải liên tục nâng cao năng lực của mình để có thể bám sát được những vấn đề nóng và cả những vấn đề tưởng cũ nhưng liên quan trực tiếp đến đời sống con người.  Thứ hai là muốn thành công trong nghiên cứu thì mình phải biết mở rộng hợp tác quốc tế, không chỉ để học hỏi họ mà còn mời được họ tham gia nghiên cứu với mình. Qua trao đổi học thuật thì vấn đề mới nảy sinh. Anh có làm nghiên cứu thật thì quốc tế mới biết đến anh và đến tìm anh. Mà để việc đó thuận lợi thì mình cũng phải tương đối hiểu biết một tí, kiến thức cập nhật một tí.  Để áp dụng được hai điều này thì cốt lõi là mình phải tự kiên trì, bền bỉ thực hiện nghiên cứu và tìm mọi cách vượt qua khó khăn để giải quyết vấn đề.  Những kinh nghiệm đó góp phần định hướng gì về nghiên cứu cho ông trong thời gian tới?  Với các hợp chất POPs, chúng tôi đã có bề dày trong việc nghiên cứu về sự có mặt, lan truyền của chúng trong các thành phần môi trường. Hiện tại, mọi người đều biết các chất ô nhiễm đi vào cơ thể chủ yếu đều qua con đường thức ăn. Do vậy đối tượng mẫu mà chúng tôi tiếp tục hướng tới là thực phẩm, cũng như các vấn đề liên quan tới sức khỏe môi trường, bên cạnh các phương pháp phân tích hóa lý thuần túy, các kỹ thuật sinh học như ELISA, Calux, marker sinh học phân tử,… cũng sẽ được áp dụng. Đây cũng chính là những hướng đi mới của các nhóm nghiên cứu về POPs trên thế giới.  Cảm ơn ông!   Thanh Nhàn thực hiện  ——  1. Kể từ tháng 11/2016, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích môi trường – an toàn thực phẩm (ĐHQGHN) ra đời trên cơ sở nhóm nghiên cứu mạnh của Giáo sư Phạm Hùng Việt. Phòng thí nghiệm trọng điểm này có hoạt động lồng ghép với Trung tâm Công nghệ Môi trường và Phát triển bền vững.  “Những hiểu biết rất rộng về POPs của Trung tâm của GS. TS Phạm Hùng Việt đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong công tác quản lý như trong thực hiện Dự án quản lý chất PCB tại Việt Nam. Điều chúng tôi ấn tượng là các nhà khoa học của Trung tâm không chỉ đưa ra những kết quả phân tích mẫu chính xác và được đối tác nước ngoài công nhận mà còn hoàn thành công việc đúng thời hạn trong hợp đồng. Với chúng tôi điều này vô cùng quý báu bởi dự án này có nhiều bên tham gia, nếu bên nào không hoàn thành đúng mốc quy định sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch chung. Bên cạnh đó, các thành viên của Trung tâm còn hết sức cởi mở và sẵn sàng trao đổi với chúng tôi về chuyên môn mỗi khi gặp tình huống khó, thậm chí còn hướng dẫn chúng tôi về cả vấn đề ngoài hợp đồng.”  (Bà Lê Thị Ngọc Quỳnh, Phó trưởng Ban KHCN&MT, Tập đoàn Điện lực Việt Nam)       Author                Quản trị        
__label__tiasang 20 năm nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc ở Việt Nam      Kể từ ca ghép tủy đầu tiên tại Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM vào năm 1995, đến nay đã có hơn 500 ca ghép tế bào gốc được tiến hành ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để việc nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vào điều trị, chăm sóc sức khỏe đạt hiệu quả cao hơn, cần phải giải đáp nhiều câu hỏi liên quan đến nền tảng khoa học, kĩ thuật, nhân lực, cơ sở hạ tầng, và hành lang pháp lý.    Từ ca ghép tủy đầu tiên…   Tiến sĩ, bác sĩ Huỳnh Nghĩa, Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM cho biết, năm 1995, bệnh viện thực hiện ca ghép tủy đầu tiên, lấy tủy xương của người cho phù hợp với người ghép. Lúc ghép bệnh nhân chưa có gia đình, nay đã có hai người con, một cháu tám tuổi, một cháu năm tuổi, vẫn sống khỏe mạnh bình thường. Sau ca ghép này, nhiều ca ghép tế bào gốc khác của bệnh viện được tiến hành, không chỉ bằng phương pháp ghép tủy xương mà còn bằng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi (do PGS Nguyễn Tấn Bỉnh thực hiện ca đầu tiên). Theo TS.BS Huỳnh Nghĩa, ghép tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi là phương pháp chủ yếu được sử dụng kể từ năm 1998 đến nay ở bệnh viện, và tỉ lệ sống của những bệnh nhân bị ung thư máu được ghép tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi sau năm năm đạt từ 65-72%.             Ca ghép tế bào gốc đầu tiên trên thế giới được tiến hành vào năm 1960, cách đây 55 năm.         Sau đó, khi ngân hàng máu từ cuống rốn của Bệnh viện được xây dựng (hiện nay đã lưu trữ được 2.500 mẫu máu cuống rốn) thì phương pháp tế bào gốc máu cuống rốn đã được tiến hành trên 10 bệnh nhân bị ung thư máu, suy tụy. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn bị hạn chế do lượng tế bào trong máu cuống rốn không nhiều, chi phí lại lớn trong điều kiện Việt Nam hiện nay.     Cũng theo TS.BS Huỳnh Nghĩa, trở ngại nhất trong vấn đề ghép tế bào gốc máu cuống rốn, ghép tủy xương và tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi đều ở chỗ chúng ta ít tìm được người cho phù hợp. Do việc tình nguyện cho tủy, hiến tế bào gốc trưởng thành chưa phát triển ở Việt Nam, các bác sĩ buộc phải tìm một phương pháp khác là phương pháp ghép nửa thuận hợp cho những bệnh nhân bị ung thư máu thuộc dạng nguy cơ cấp cao, tức là những người sau điều trị nếu không ghép sẽ có nguy cơ bị tái phát sau hai-ba tháng. Theo đó, bác sĩ lấy tế bào gốc nửa thuận hợp từ nguồn cho của người thân trong gia đình bệnh nhân. Đến nay, Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM đã tiến hành được ba ca, nhưng ca đầu tiên đã tử vong, hai ca còn lại thành công, bệnh nhân sống khỏe và đang theo dõi.     “Sau 20 năm trong hệ thống ghép tế bào gốc tạo máu ở Việt Nam, chúng tôi đã ghép được 200 ca, đưa vào và cải tiến liên tục phương pháp ghép để người Việt Nam có cơ hội tiếp cận với những phương pháp mới trên thế giới. Tỉ lệ sống sau năm năm ghép của bệnh nhân cũng đã tương đối gần với những nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia,… Tuy nhiên số ca được ghép như vậy là quá ít, do chi phí cao, và cái khó nhất của chúng tôi là tìm được người cho phù hợp. Vì vậy, chúng tôi đang nỗ lực đưa ra chương trình đăng kí hiến tế bào gốc tạo máu để mở rộng nguồn. Ngoài ra, chúng tôi đang phấn đấu chẩn đoán và điều chỉnh các rối loạn sau ghép. Hi vọng với sự phát triển của ngành huyết học cùng đóng góp của bạn bè ngành tế bào gốc, chúng ta phát triển được tế bào gốc trong áp dụng chữa trị bệnh nhân”, TS.BS Huỳnh Nghĩa nhận định.   … đến những câu hỏi còn bỏ ngỏ    Giải quyết những vấn đề khó trong nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vào điều trị bệnh bằng đi sâu vào các kĩ thuật mới và nguồn tế bào gốc mới như ở Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM, theo GS.TS Trương Đình Kiệt, nguyên Phó hiệu trưởng ĐH Y Dược TP.HCM, là phù hợp với hướng nghiên cứu đang phát triển mạnh và cạnh tranh trên thế giới, với nhiều sản phẩm tế bào gốc đã được chấp nhận.     Tuy nhiên, theo TS. Phạm Văn Phúc, phó trưởng phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM, còn nhiều câu hỏi lớn về việc ứng dụng tế bào gốc vào điều trị, chăm sóc sức khỏe vẫn chưa được trả lời thỏa mãn như: 1. Tế bào gốc sẽ đi đến đâu trong cơ thể sau ghép? Có thể kiểm soát việc di chuyển này? 2. Số phận của tất cả các tế bào gốc sau ghép vào cơ thể sẽ như thế nào? 3. Nên ghép tế bào gốc hay ghép tế bào đã biệt hóa hay hỗn hợp hai loại tế bào này? 4. Mối quan hệ giữa tế bào gốc và ung thư? (sự sinh u hay ung của tế bào gốc ghép vào đã được chứng minh); 5. Tính toàn vẹn của tế bào gốc sau khi nuôi cấy hay biệt hóa in vitro (nuôi cấy)?…    TS Phúc cũng nhấn mạnh, kĩ thuật tế bào gốc ở Việt Nam hiện đang thiếu một nền tảng khoa học vững chắc, kĩ thuật còn lạc hậu và chắp vá. Chẳng hạn, thao tác trên tế bào gốc người sử dụng các thành phần có nguồn gốc từ động vật (stem cell culture using animal serum)1, thế giới hiện không dùng nữa nhưng Việt Nam còn dùng; không kiểm soát hay kiểm soát không đủ các tiêu chuẩn tối thiểu cho sản phẩm tế bào gốc trước khi ghép vào cơ thể; thiết bị liên quan bắt đầu lạc hậu làm cho giá thành điều trị quá cao; nguồn tế bào cho cấy ghép còn thiếu; kĩ thuật tăng sinh còn mới mẻ và chưa được quan tâm; các kĩ thuật phụ trợ cho ngành tế bào gốc không phát triển đồng bộ…     Bên cạnh đó, trị liệu dựa vào tế bào gốc cần ít nhất hai nhóm nhân lực: (1) các nhà khoa học tế bào gốc, và (2) các bác sĩ tế bào gốc. Tuy nhiên, nhân lực cho cả hai nhóm này ở nước ta vừa thiếu, vừa yếu. Thống kê cho thấy, cả nước chỉ có khoảng 300 người làm công việc liên quan đến tế bào gốc, trong đó, không quá 50 người được đào tạo chính quy về tế bào gốc. Đặc biệt quan trọng hơn, số lượng bác sĩ tế bào gốc quá ít!     TS Phúc còn cho rằng, nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng tế bào gốc trong y học đòi hỏi những điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng nguồn tế bào khi cấy ghép. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, các phòng thí nghiệm thu nhận, phân lập, xử lí, nuôi cấy, bảo quản, cấy ghép… tế bào gốc đều bắt buộc phải đạt chứng nhận GLP (Good laboratory practice) và GMP (Good manufacturing practice). Tuy nhiên, hiện nay trên cả nước, số lượng phòng thí nghiệm đạt các tiêu chuẩn GLP, GMP cho nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng tế bào gốc còn rất hiếm.     Trước thực tế đó, nhiều chuyên gia trong ngành nhận định, để làm và phát triển được tế bào gốc, vấn đề hợp tác là rất quan trọng. “Việc hợp tác là giải pháp đầu tiên và hữu hiệu nếu Việt Nam muốn nghiên cứu tế bào gốc có dấu ấn trên thế giới. Tuy nhiên, cần hiểu rằng, hợp tác là sự phân chia nghiên cứu nhiều mảng khác nhau để tạo thành một mảng ghép, chứ không phải là cùng ‘dẫm chân’ lên một mảng nghiên cứu”, GS.TS Trương Đình Kiệt nói.   Bên cạnh đó, GS.TS Trương Đình Kiệt nhấn mạnh, việc thiếu một hành lang pháp lý rõ ràng cũng khiến nhiều vấn đề quan trọng chưa có câu trả lời rốt ráo, chẳng hạn như: nhà khoa học phải làm gì để công trình nghiên cứu tế bào gốc của họ được phép ứng dụng lâm sàng; bác sĩ và bệnh viện cần điều kiện gì để được sử dụng tế bào gốc trong điều trị; các doanh nghiệp muốn đầu tư vào sản xuất các sản phẩm tế bào gốc hay liên quan tế bào gốc có được cấp phép không và hoạt động như thế nào?…             Hiện trong nước đã có một số trị liệu hiệu quả từ ứng dụng tế bào gốc, đặc biệt tế bào gốc lấy từ mô mỡ (giản tiện và chi phí không cao) cho trị liệu khớp gối, nghẽn đường hô hấp (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) ở TP.HCM, cho bệnh li thượng bì trẻ em ở Hà Nội. Ngoài ra, gần đây tế bào gốc được dùng hỗ trợ trị liệu ung thư tử cung bằng xạ trị cũng rất thành công ở Huế. Về công nghệ, Việt Nam đang triển khai tốt kĩ thuật tế bào gốc trung mô (Mesenchymal Stem Cell – MSC), loại tế bào gốc hiện đã được công nhận và cho sử dụng ở một số nước tân tiến ở châu Âu và châu Á, và đang được nghiên cứu lâm sàng cho nhiều bệnh với kết quả khả quan.               Nói tóm lại, tôi cho rằng cần đề cao và tận dụng những kết quả mình đã đạt được để khắc phục những khó khăn và định hướng đi xa hơn cho nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc ở Việt Nam. Sự tiến bộ khoa học ở nước ngoài, theo kinh nghiệm của chúng tôi, cũng theo chiều hướng này.”    TS. Nguyễn Đức Thái, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM               —    1 Theo công nghệ cũ, tế bào gốc được nuôi cấy trong môi trường sử dụng nhiều thành phần từ động vật đặc biệt là huyết thanh bò, khiến tế bào gốc người có thể bị nhiễm các chất (protein) từ bò và gây rủi ro lớn khi ghép tế bào gốc này vào người, đặc biệt là nhiễm virus, tác nhân gây bệnh từ bò sang người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 200 năm ngày sinh Darwin      Vừa qua, tr&#234;n thế giới đ&#227; c&#243; hơn 300 th&#224;nh phố v&#224; địa phương tổ chức kỉ niệm 200 năm ng&#224;y sinh của Charles Robert Darwin (12/2/1809 &#8211; 19/4/1882) v&#224; những di sản khoa học v&#244; c&#249;ng to lớn m&#224; &#244;ng để lại cho đời. Để hiểu th&#234;m về một nh&#224; khoa học c&#243; thể n&#243;i l&#224; vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học từ cổ ch&#237; kim, b&#224;i viết n&#224;y sẽ b&#224;n qua v&#224;i n&#233;t ch&#237;nh về hai c&#244;ng tr&#236;nh l&#224;m n&#234;n t&#234;n tuổi của &#244;ng v&#224; cũng g&#226;y ra nhiều tranh luận dai dẳng cho đến ng&#224;y h&#244;m nay: đ&#243; l&#224; l&#237; thuyết tiến h&#243;a v&#224; chọn lọc tự nhi&#234;n.     Thân thế   Charles Robert Darwin sinh ra tại làng Shrewsbury, hạt Shropshire (Anh) trong một gia đình trưởng giả gồm 6 anh chị em (ông là người thứ năm).  Cha ông là bác sĩ Robert Darwin, và ông nội là Erasmus Darwin, cũng là một bác sĩ, triết gia, nhà thơ, và nhà tự nhiên học có tiếng.  Năm 1825, tức mới 16 tuổi, Darwin thực tập nghề y, làm phụ tá cho cha ông điều trị những người nghèo ở hạt Shropshire. Sau đó, ông theo học y khoa tại trường Đại học Edingburgh.  Học một thời gian ông cảm thấy chán nản, rồi bắt đầu bỏ bê học hành, nhưng ông lại tìm được một sở thích mới là đọc sách về các loài vật.  Cha ông rất giận khi biết Charles bỏ bê học hành theo đuổi một thú vui mà cha ông cho là vô bổ đó.    Theo lời của cha, ông chuyển từ Đại học Edingburgh đến Đại học Cambridge để học văn khoa, với kì vọng trở thành tu sĩ sau này.  Năm 1828 ông đến Cambridge, nhưng thay vì chú tâm theo học, ông lại chạy theo những thú vui mới như cưỡi ngựa và săn bắn.  Ở đây ông quen với một nhà tự nhiên học rất nổi tiếng đương thời là Giáo sư John Stevens Henslow.  Đến kì thi năm 1831, Darwin đạt kết quả tốt, đứng hạng 10 trong số 178 sinh viên.   Năm 1831, qua giới thiệu của Giáo sư Henslow, Charles Darwin được tham gia chuyến viễn du trên tàu Beagle. Chuyến du hành thám hiểm dự trù chỉ 2 năm, nhưng trong thực tế kéo dài đến 5 năm trời qua gần 65.000 km. Khi đến Brazil ông kinh ngạc và thích thú trước sự đa dạng của rừng Amazon, nhưng rất ghét thái độ của những tay thực dân đối với người nô lệ bản xứ. Có người cho rằng chính vì ông ghét thái độ kì thị người bản xứ của người Âu châu đã nung nấu ý chí để ông chứng minh rằng những người da trắng này có cùng nguồn gốc với người nô lệ địa phương. Trong một trang nhật kí nổi tiếng, ông viết rằng: “Theo tôi, chúng ta phải ghi nhận rằng một người dù với những phẩm chất vương giả của mình… vẫn mang trên người cái dấu ấn không thể xóa bỏ của một cội nguồn cấp thấp.”   Trong thời gian thám hiểm và tàu ghé qua nhiều địa điểm khác nhau, ông quan sát hàng loạt hiện tượng và thu thập rất nhiều di vật. Nơi gây ấn tượng sâu sắc nhất cho ông là quần đảo Galapagos (cách đất liền Nam Mỹ khoảng 500 km), vì ở đây ông tìm thấy những con rùa khổng lồ, thằn lằn to lớn, sư tử biển, cua, v.v… mà ông không thấy ở bên Âu châu. Điều đặc biệt thú vị là các sinh vật này cũng có mặt ở một vài đảo chung quanh nhưng với hình dạng khác chút ít. Ông ghi chú rất chi tiết, cẩn thận, phân biệt rõ cái nào là quan sát thực tế, và cái nào là do ông suy luận. Thỉnh thoảng ông gửi các hiện vật này về Đại học Cambridge cùng với nhật kí cho gia đình biết ông đang làm gì và ở đâu.    Thời gian tham gia đoàn thám hiểm cũng chính là lúc ông nhận ra rằng những gì ông đọc trong Kinh thánh không phù hợp với thực tế của thế giới tự nhiên, và ông thai nghén lí thuyết tiến hóa từ đó. Ngay từ lúc đó ông đã lí giải rằng hình thể đất đai ngày nay đã trải qua những quá trình thay đổi lớn; các sinh vật tồn tại và sẽ thay đổi hình dạng trong các thế hệ sau; và các sinh vật này không phải được một đấng tối cao nào sáng tạo ra một cách độc lập, mà chúng tiến hóa từ các sinh vật khác.    Khi tàu Beagle về London vào ngày 2/10/1836, Darwin đã nổi tiếng trong giới khoa học, vì trước đó một năm Giáo sư Henslow hay sử dụng những hiện vật của Darwin để thuyết giảng trong các hội nghị khoa học. Trong thời gian ở London, ông đọc cuốn sách nổi tiếng về dân số của Linh mục Thomas Malthus, mà trong đó ông lí giải rằng dân số sẽ được quân bình hóa do các yếu tố bệnh tật, hạn chế tài nguyên, và chiến tranh.  Chịu ảnh hưởng cách lí giải đó, Darwin suy luận rằng một cơ chế tương tự cũng vận hành trong thế giới tự nhiên, và ông gọi đó là “natural selection” – chọn lọc tự nhiên.   Lí thuyết tiến hóa                     Tháng 9/1835 Darwin đã có cơ hội tiếp cận với những con rùa khổng lồ sống trên đất và dưới nước trong vùng núi lửa GALAPAGES trên xích đạo    Cuộc thám hiểm của Darwin trên chiếc tàu Beagle kéo dài 5 năm (12/1831-10/1836)        Ngày 18/6/1858 khi Darwin viết gần phân nửa cuốn sách về lí thuyết chọn lọc tự nhiên, ông được người bạn cũ là Alfred R. Wallace gửi cho đọc luận văn cũng cùng chủ đề, Darwin thấy sốc vì có người có cùng ý tưởng! Darwin dừng viết sách và lập tức đề nghị Wallace cùng với ông soạn một bài báo công bố trước. Ngày 1/7/1858, Hội Linnean ở London[1] trình bày một cách khiếm diện bài báo khoa học 18 trang của Charles Darwin và Alfred Wallace về lí thuyết chọn lọc tự nhiên, nhưng sau này người ta chỉ nhớ đến Darwin, ít ai nhắc đến Wallace[2]. Thật ra, Darwin là một nhà khoa học đích thực và xứng đáng là người phát triển lí thuyết chọn lọc tự nhiên[3].                 “Theo tôi, chúng ta phải ghi nhận rằng một người dù với những phẩm chất vương giả của mình … vẫn mang trên người cái dấu ấn không thể xóa bỏ của một cội nguồn cấp thấp”      (Charles Darwin)          Ngày22/11/1859 (tức 150 năm trước), Darwin cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “On the Origin of Species” (có khi gọi tắt là Origin tạm dịch: “Về nguồn gốc các loài vật”). Cuốn sách chỉ in 1250 bản, nhưng bán hết ngay trong ngày xuất bản! Sau đó (và cho đến nay), sách được in rất nhiều lần và vẫn là một trong những cuốn bán chạy nhất. Sự ra đời của cuốn sách và lí thuyết chọn lọc tự nhiên, nói như nhà sinh vật học Stephen Jay Gould, là một cuộc cách mạng cơ bản nhất trong tất cả cuộc cách mạng tri thức của lịch sử nhân loại, một phát kiến quan trọng nhất trong thiên niên kỉ.  Trong cuốn Origin ông quan sát thấy các loài vật biến đổi theo từng vùng và thời gian. Ngày nay, sự biến đổi đó được gọi là “tiến hóa” (evolution), Có nghĩa là sự thay đổi về đặc tính di truyền của các nhóm sinh vật qua nhiều thế hệ. Dựa vào sự thật của tiến hóa, ông tìm một lí thuyết tiến hóa để giải thích những gì ông quan sát được. Lí thuyết tiến hóa được dựa trên 6 phát biểu mang tính “nền tảng” sau đây:  Các sinh vật (kể cả con người) sản sinh ra nhiều con, và số con sống sót nhiều hơn số chết;   Những con có khác biệt chút ít về hình thể, nhưng những biến dạng này có ích cho sự sinh tồn mai sau;   1. Các sinh vật đấu tranh (như tìm thực phẩm và nơi cư trú) để tồn tại;   2. Những sinh vật nào thích ứng với môi trường sống sẽ sống và tái sản sinh;   3. Các đặc tính có ích cho sự tồn tại và tái sản sinh sẽ được lưu truyền cho thế hệ kế tiếp;   4. Cơ chế của tiến hóa là chọn lọc tự nhiên.    Chọn lọc tự nhiên thực ra là một nguyên lí hết sức đơn giản (nhưng cũng dễ gây hiểu lầm). Toàn bộ nguyên lí có thể minh họa bằng một ví dụ như sau: nếu những người với gene A có nhiều con cái hơn những người với gene B, thì về lâu về dài gene A sẽ trở nên phổ biến trong dân số hơn gene B, và gene B sẽ dần dần trở nên hiếm trong dân số. Do đó, nói đến chọn lọc tự nhiên là nói đến (a) sự biến thiên về thông tin chứa trong gene làm nên những khác biệt về đặc tính của loài vật; (b) sự khác biệt về khả năng tái sản sinh của loài vật, do hệ quả của thay đổi thông tin trong gene qua nhiều thế hệ.                        Nhiều người hiểu lầm rằng thuyết của Darwin cho rằng con người xuất phát từ khỉ. Thật ra, Darwin chưa bao giờ nói hay viết như thế. Darwin viết rằng khỉ, vượn, và người nhất định phải có cùng một nguồn cội (tổ tiên) vì họ rất giống nhau so với các sinh vật khác như người với cá chẳng hạn. Thật vậy, ngày nay, qua phân tích di truyền học, chúng ta thấy trong bất cứ gene nào hay chuỗi DNA nào được khảo sát, con người và loài tinh tinh có cấu trúc gene và DNA giống nhau hơn là giữa tinh tinh với khỉ. Nếu so sánh DNA của con người và DNA của tinh tinh, sự trùng hợp lên đến 98.4%, tức chỉ khác biệt 1.6%. Phân tích chuỗi DNA trong hệ thống máu globin, mức độ trùng hợp giữa con người hiện đại và tinh tinh là 98.76%, tức chỉ khác biệt trên dưới 1%. Chính vì sự trùng hợp di truyền này, nhiều nhà nhân chủng học đề nghị xếp loại tinh tinh thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm Pan troglodytes (hay những tinh tinh ‘thường’), nhóm 2 gồm Pan paniscus (còn gọi là bonobo hay pygmy chimpazee – tinh tinh nhỏ), và nhóm 3 là … chúng ta, tức Homo sapiens, người thông minh. Có thể nói rằng chúng ta và tinh tinh hay khỉ có cùng tổ tiên, nhưng qua tiến hóa thì bây giờ chúng ta “văn minh” hơn người anh em họ tinh tinh kia. Darwin không bao giờ nói khỉ là tổ tiên của con người.   Ảnh hưởng   Tại sao lí thuyết chọn lọc tự nhiên được các nhà khoa học đánh giá là một ý tưởng cách mạng vĩ đại của thiên niên kỉ? Tại vì lí thuyết này là nền tảng của nền y sinh học hiện đại, nó cung cấp cho chúng ta một phương tiện để hiểu về thế giới tự nhiên; một sự hiểu biết sâu hơn (dù chưa hoàn hảo) về hành vi của con người, về nguồn cội của chúng ta đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Bất cứ ai làm trong ngành y sinh học đều có thể thấy lí thuyết của Darwin hoàn toàn hợp lí.   Trong phần cuối của cuốn Origin, Charles Darwin tiên đoán rằng công trình của ông sẽ dẫn đến nhiều nghiên cứu quan trọng trong một tương lai gần. Sau 200 năm, lời tiên đoán của Darwin đã thành sự thật. Ngày nay, trong y khoa có một bộ môn học gọi là Darwinian Medicine hay Evolutionary Medicine (y học tiến hóa) để giải thích tại sao chúng ta mắc những bệnh như ung thư, tiểu đường, xơ vữa động mạch, phiền muộn, ho, cảm cúm, nhiễm trùng, v.v… Thuyết tiến hóa chẳng những được sử dụng để lí giải về sự đa dạng của các loài vật, mà còn được áp dụng để hiểu hành vi con người (như tại sao phụ nữ thích đàn ông có chiều cao cao, hay đàn ông thích phụ nữ có mông nở, ngực to và khuôn mặt cân đối); tâm lí, và làm nền tảng cho hàng loạt các bộ môn khoa học xã hội khác. Mới đây, thuyết tiến hóa còn được sử dụng làm mô hình giải thích các hiện tượng xã hội như chiến tranh và tranh chấp quân sự giữa các quốc gia hay các vùng trong một quốc gia.  Các nhà kinh tế có hẳn một trường phái kinh tế tiến hóa (evolutionary economics) ứng dụng thuyết tiến hóa để giải thích phát triển kinh tế, tiếp thị, và thị trường chứng khoán.    Charles Darwin để lại cho đời chỉ 3 công trình khoa học (dưới dạng 3 cuốn sách) và một số bài báo khoa học, nhưng cũng đủ để thay đổi thế giới một cách vĩnh viễn. Cứ mỗi năm, các nhà khoa học lại tìm thấy ứng dụng mới của lí thuyết tiến hóa. Công trình Origin của Darwin có thể xem là một trong những tác phẩm trụ cột của thế giới, và đặt ông vào hàng của những “đại thụ” như Aristotle, Thánh Augustine, William Shakespeare, Charles Dickens, Fyodor Dostoevsky, Honoré de Balzac, Victor Hugo, những tác gia đặt nền móng cho văn minh phương Tây. Charles Darwin, qua công trình Origin, đã và sẽ còn thay đổi thế giới.   —————  Chú thích  [1] Nay là một phần của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Anh. Hội Linnean là một hội sinh học lâu đời nhất trên thế giới, danh xưng của hội lấy từ tên của nhà sinh vật học nổi tiếng người Thụy Điển Carl Linnarus.   [2] Nhiều người cho rằng Darwin ăn cắp ý tưởng của Wallace, nhưng khi xem xét bằng chứng giả thiết này không đúng. Wallace có gửi bài báo của mình cho Darwin đọc, và Darwin thấy những ý tưởng trong đó trùng hợp ý tưởng của mình nên đề nghị cả hai bài báo công bố cùng một lúc. Tuy nhiên, Darwin hơn Wallace một bậc: đó là ông có công thu thập dữ liệu và bằng chứng dồi dào để làm nền tảng cho lí thuyết của mình, còn Wallace thì chỉ nói suông. Có ý tưởng là một chuyện, nhưng phải có bằng chứng là một chuyện khác.   [3] Xem qua các bài báo và nhật kí của Darwin chúng ta thấy ông là một nhà khoa học thật sự, hiểu theo nghĩa có tư duy phân tích, cẩn thận, và phát biểu có bằng chứng.  Bất cứ phát biểu nào ông cũng có bằng chứng làm cơ sở. Ngay cả sau khi phát triển một giả thuyết, ông cũng tìm bằng chứng để tự bác bỏ ý tưởng đó, hoặc tìm bạn bè phản biện dùm.       Vài nét phác họa về Charles R. Darwin  Sinh: 12/2/1809 tại hạt Shrewsbury (Anh).  Tạ thế ngày 19/4/1882 tại Downe, Kent (Anh).   Gia đình: Thành hôn với người chị họ là Emma Wedgewood.  Hai người có tất cả 10 con.  Học vấn: Học Y khoa tại Đại học Edinburgh trước khi bỏ học và chuyển sang học Văn khoa tại Christ’s College thuộc Đại học Cambridge với ý định trở thành giáo sĩ.  Sự nghiệp:  1831 Được Giáo sư John Stevens Henslow mời tham gia chuyến du hành trên tàu HMS Beagle đến Nam Mỹ để nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của Hoàng gia Anh.   1838-1843 Biên tập và đóng góp cho cuốn sách về khoa học tự nhiên vật và động vật học (The Zoology of the Voyage of HMS Beagle).  Phát triển học thuyết lựa chọn tự nhiên.   1859 Công bố cuốn sách nổi tiếng “On the Origin of Species” (Về nguồn gốc các loại vật).   1871 Công bố cuốn sách nổi tiếng khác “The Descent of Man” “Selection in Relation to Sex”  1872 Công bố cuốn sách “The Expression of the Emotions in Man and Animals”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang 200 năm ngày sinh John Stuart Mill      John Stuart Mill là nhà triết học và kinh tế người Anh, một nhà tư tưởng lỗi lạc của thời đại cải cách xã hội thế kỷ 19. Ông còn là nhà logic tài ba và nhà lý thuyết nổi tiếng về đạo đức học.    Cuộc đời và sự nghiệp  John Stuart Mill sinh ngày 20/5/1806 ở Pentonville, London. Là con trai cả của nhà sử học, kinh tế và triết học James Mill, John được bố dạy học với một chương trình nghiêm khắc. Lên 8 tuổi, cậu đã đọc Các truyện ngụ ngôn Hy Lạp của Aesop, Cuộc viễn chinh (Anabasis) của Xenophon và toàn bộ các tác phẩm của Herodotus. Cậu đã làm quen với các tác phẩm của nhà văn trào phúng Lucian, nhà lịch sử triết học Diogenes Laertius, nhà văn Isocrates và 6 hội thoại của Plato. Ngoài ra, John cũng đọc say sưa nhiều tác phẩm lịch sử bằng tiếng Anh. Cũng ngay từ khi 8 tuổi, cậu đã bắt đầu học tiếng Latin, hình học Euclid, đại số và dạy học cho các em trong gia đình. Lĩnh vực quan tâm chính của cậu là lịch sử, tuy nhiên cậu đã học qua tất cả các tác giả Hi Lạp và La Mã thường được dạy ở trường, năm 10 tuổi, cậu đã đọc được các tác phẩm của Plato và Demosthenes một cách dễ dàng. Năm 12 tuổi, cậu bắt đầu nghiên cứu kỹ lưỡng logic Triết học kinh viện đồng thời đọc các luận thuyết logic của Aristote. Trong những năm tiếp theo, cậu bắt đầu học kinh tế chính trị, nghiên cứu các tác phẩm của Adam Smith và David Ricardo. Trên thực tế, cậu bé John chịu ảnh hưởng nhiều của người cha, điều này đã khiến cậu luôn bị mâu thuẫn, cậu đã phải trải qua một tuổi thơ không hạnh phúc vì những ràng buộc tư tưởng và sự phát triển tư duy thiếu tự nhiên.  Từ 5/1820 đến 7/1821, Mill sống ở Pháp, học tiếng Pháp, hóa học, thực vật học và toán học nâng cao. Khi trở về, năm 1821, anh bắt đầu học tâm lý học và luật La Mã. Năm 1828, Mill trở thành trợ lý thanh tra của văn phòng India House. Trong 20 năm, từ 1836 đến 1856, Mill đảm trách mối quan hệ của công ty Đông Ấn với các bang Ấn Độ, và năm 1856, Mill trở thành trưởng văn phòng thanh tra.  Các bài viết của Mill về “Linh hồn của Thời đại” trên tờ Người thanh tra vào những năm 1930-1931 đã mở đầu cho sự nghiệp viết báo nổi tiếng của ông. Năm 1832-1833, ông đóng góp nhiều bài luận cho các tờ Tait’s Magazine, The Jurist, và Monthly Repository. Năm 1835, Mill làm biên tập cho tờ The London Review. Tờ báo này sáp nhập với The Westminster năm 1836 và Mill tiếp tục làm biên tập cho đến 1840. Sau 1840, ông xuất bản một số bài báo quan trọng trên The Edinburgh Review. Trong những năm này, Mill cũng đã viết các tác phẩm lớn mang tính hệ thống logic và kinh tế chính trị. Sự nhiệt tình được thức tỉnh của ông đối với chủ nghĩa nhân đạo đã phát triển theo xu hướng cung cấp một phương pháp chứng minh đáng tin cậy cho đạo đức học và khoa học xã hội. Ở đây, Mill đã phần nào chịu ảnh hưởng của nhà triết học thực chứng người Pháp Auguste Comte, nhưng chắc chắn là, cảm hứng chính đã đến từ nhà vật lý học và toán học Isaac Newton. Ông đã nhận thấy rằng, logic mới không đối nghịch một cách đơn giản với logic cũ. Trong một vài năm, ông đã tìm kiếm những giải nghĩa cho sự tương đồng giữa hai logic này nhưng không có kết quả. Cuối cùng, năm 1837, khi đọc Triết học của Khoa học Quy nạp của William Whewell và đọc lại tác phẩm Mở đầu về Nghiên cứu Triết học Tự nhiên của John F.W. Herschel, Mill đã thấy được con đường rõ ràng để thành lập các phương pháp nghiên cứu khoa học và sáp nhập logic mới vào logic cũ như một sự bổ sung. Tác phẩm nổi tiếng Hệ thống Logic, gồm hai tập, được xuất bản năm 1843. Cuốn sách của ông là sự nỗ lực xây dựng một hệ thống logic cho các khoa học nhân văn dựa trên sự giải thích nhân quả, nó  bao quát cả lịch sử, tâm lý học, và xã hội học.                     Quá trình nghiên cứu kinh tế chính trị của Mill được chính bản thân ông chia thành ba giai đoạn. Năm 1844, ông xuất bản tác phẩm Bàn về những vấn đề phức tạp của Kinh tế Chính trị, một số bài luận trong đó là những lời giải cho các bài toán chuyên môn rắc rối, như sự phân chia lợi ích của thương mại quốc tế, ảnh hưởng của tiêu dùng đối với sản xuất, việc định nghĩa lao động năng suất và không năng suất, các mối liên hệ chính xác giữa lợi nhuận và tiền công. Ở đây, Mill tỏ ra là một người kế tục xuất sắc David Ricardo, đưa ra những nhận định chính xác hơn và rút ra những hệ quả sâu sắc hơn. Trong giai đoạn thứ hai, tính độc lập và sáng tạo trở nên rõ ràng hơn trong tác phẩm Những Nguyên lý của Kinh tế Chính trị, xuất bản năm 1848. Cũng vào thời gian đó, Mill đang ủng hộ việc xây dựng hình thức sở hữu nông dân, một giải pháp cho sự nghèo đói và bất ổn ở Ireland. Sau đó, ông thực hiện một nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về các nhà văn xã hội chủ nghĩa. Mill tin rằng, vấn đề xã hội cũng quan trọng như vấn đề chính trị. Ông không thừa nhận chế độ sở hữu, ông đã phân tách các vấn đề của sản xuất và phân phối. Mill cũng không chấp nhận một hình thức phân phối mà thường xuyên đẩy các tầng lớp lao động vào một cuộc sống khốn khó, thậm chí là đói kém. Tuy Mill không đi đến một giải pháp Xã hội chủ nghĩa, nhưng ông đã có những phân tích xuất sắc đối với việc xây dựng lại một xã hội tốt đẹp hơn. Mill gọi đây là giai đoạn thứ ba của một nhà kinh tế chính trị, ông nói rằng, ông đã được trợ giúp bởi cô Taylor (Harriet Hardy), người đã trở thành vợ ông vào năm 1851.  Trong suốt bảy năm sau khi lập gia đình, Mill bị cuốn vào công việc của công ty Đông Ấn, và đây là thời kỳ mà ông xuất bản ít tác phẩm nhất. Năm 1858, công ty bị giải thể, Mill được mời vào một ghế trong hội đồng mới nhưng ông đã từ chối và về nghỉ với số tiền hưu 1500 bảng. Sau khi vợ mất, ông dành phần lớn quãng đời còn lại ở Saint-Véran, gần Avignon, Pháp.  Mill đã đi tìm sự khuây khỏa bằng việc xuất bản một loạt sách về đạo đức học và triết học, đó là sản phẩm của sự suy ngẫm lâu dài và một phần được viết với sự cộng tác của người vợ. Các tác phẩm nổi tiếng như Bàn về Tự do và Những suy nghĩ về cải cách Nghị viện đều được xuất bản năm 1859. Trong tác phẩm Những xem xét về Chính thể Đại nghị (1861), ông đã hệ thống hóa các quan điểm được trình bày trong nhiều bài báo và tiểu luận. Thuyết vị lợi của Mill là một cố gắng để trả lời những quan điểm chống lại lý thuyết đạo đức của ông và cũng để loại bỏ những sự hiểu sai về nó.       Mill tìm thấy một cuộc sống khá thoải mái ở Avignon. Biệt thự của ông chứa đầy sách báo. Mill cực kỳ say mê âm nhạc và bản thân ông cũng là một nghệ sỹ piano tài giỏi. Ở miền quê yên bình, vốn là một nhà thực vật học nghiệp dư, ông vẫn thường đọc sách, viết sách, bàn luận, đi dạo và nghiên cứu thực vật. Trong hành trình cuối cùng đến Avignon, ông đã dành thời gian tìm kiếm, phân loại các loài hoa mùa xuân và hoàn tất một danh mục quần thể thực vật ở địa phương này.  Mill đã không bao giờ từ bỏ niềm vui lao động cũng như sự nhiệt tình quan tâm đến các vấn đề của xã hội con người. Các bài luận trong Luận án (1875) tập bốn của ông nói về tài sản, về đất đai, về lao động, về các vấn đề siêu hình học và tâm lý học, chúng được viết cho tờ Fortnightly Review trong giai đoạn sự nghiệp nghị trường ngắn ngủi của ông. Năm 1867, Mill là một trong những người sáng lập tổ chức giành quyền bầu cử đầu tiên của phụ nữ, năm 1869, ông xuất bản tác phẩm Sự Khuất phục của Phụ nữ (viết năm 1861), một tuyên ngôn kinh điển về quyền bầu cử của phụ nữ. Hoạt động xã hội cuối cùng của ông liên quan đến sự ra đời của Tổ chức Cải cách Sở hữu Đất đai. Cuốn Tự thuật và Ba bài luận về Tôn giáo được xuất bản sau khi ông mất. Mill đã qua đời ở Avignon ngày 8/5/1873. Một tượng đồng đúc chân dung ông được dựng lên trên đường đê sông Thames ở London.  Giá trị tư tưởng và tầm ảnh hưởng  Mặc dù có những quan điểm khá là khác nhau về giá trị lâu dài của triết học Mill, nhưng cho đến nay nhiều người vẫn nhận thấy rằng, tác phẩm của Mill đạt được sự rõ ràng đến mức kỳ diệu, và có vẻ như ông là nhà triết học sáng suốt nhất.  Mill đã tạo ra nền móng của một học thuyết và một tập hợp các thuật ngữ chuyên môn được sử dụng cực kỳ hữu hiệu trong giảng dạy. Quan trọng hơn, nghiên cứu của ông được coi như một kiểu nhân cách hóa đối với những xu hướng nhất định trong triết học. Những xu hướng này là cần thiết cho sự diễn giải và biểu đạt, bởi vì chúng tạo ra một sự lôi cuốn mạnh mẽ đối với những suy nghĩ nghiêm túc. Mill được coi như một người theo thuyết vị lợi, nhưng người ta đã nhận thấy rằng, trong một số bài viết ông đã kịch liệt chống lại chủ nghĩa vị lợi. Chính Mill đã điều chỉnh thuyết vị lợi được thừa hưởng từ Bentham và cha ông  theo cách này hay cách khác để vượt qua những chỉ trích, phê bình đối với thuyết này. Người ta cũng cho Mill là một người theo chủ nghĩa kinh nghiệm (mặc dù ông đã phủ nhận điều đó), các lý thuyết về tam đoạn luận và toán học của ông thường được sử dụng để minh họa cho các hệ quả tiền định của chủ nghĩa này.  Vào giữa thế kỷ 19 ở Anh, đại diện nổi bật của truyền thống kinh nghiệm chủ nghĩa chính là John Stuart Mill. Lý thuyết của Mill được trình bày trong tác phẩm Khảo sát Triết học của William Hamilton (1865), đó là một sự gắn kết đúng đắn các học thuyết của Berkeley và Hume. Nó thể hiện sự nghi ngờ của Mill đối với chủ nghĩa siêu hình, phủ nhận yếu tố nhận thức không qua trải nghiệm và chống lại mọi hình thức trực giác.Tuy nhiên, những tư tưởng chủ đạo của Mill lại được tìm thấy trong tác phẩm Hệ thống Logic (1843) của ông. Tác phẩm này, cũng như tiêu đề phụ của nó – Các Nguyên lý về Bằng chứng và các Phương pháp Khảo sát Khoa học, đã cho thấy một sự liên hệ với phương pháp luận khoa học nhiều hơn là logic hình thức. Ở đây, Mill đã phân biệt một cách cơ bản các phương pháp diễn dịch và quy nạp, định nghĩa quy nạp là quá trình mà con người khám phá và chứng minh những nhận định tổng quát, ông cũng đưa ra “bốn phương pháp thẩm định thực nghiệm” và chúng đã trở thành trung tâm của phương pháp quy nạp.  Logic của Mill là cực kỳ có sức thuyết phục, hiện nay nó vẫn tiếp tục được dạy ở các đại học Oxford và Cambridge. Mill đã là người đứng đầu chủ nghĩa tự do chính trị trong thế kỷ 19, một người kế tục xuất sắc John Locke. Nếu như Locke và Rousseau đã chắp những đôi cánh tự do và cấp tiến cho lý thuyết xã hội trong giai đoạn đầu của thời kỳ hiện đại, thì chính Stuart Mill và Karl Marx đã vạch ra những phương hướng cho sự cải cách xã hội 100 năm sau này. Những tư tưởng của Marx và Mill được coi là những đối trọng bổ sung cho nhau trong tiến trình phát triển kinh tế chính trị và triết học xã hội.                       Lược dịch(Trung Dũng)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 2007 là năm của cá heo      Chương trình Liên hợp quốc về môi trường (PNUE) đã quyết định 2007 sẽ là “Năm của cá heo”, nhằm thu hút sự chú ý về những mối đe dọa mà loài động vật biển có vú này đang phải đối mặt, đặc biệt từ một số lưới đánh cá của các ngư dân châu Âu.    Các lưới đánh cá trang bị mỏ neo với chiều dài có thể lên đến 6 km này đã khiến các nhà bảo vệ môi trường phản đối kịch liệt, vì chúng không chỉ bắt loài cá ngừ mà còn tóm cả những động vật khác như cá heo.  Ngày 4/12, Tổ chức bảo vệ môi trường (WWF) đã lên án một thỏa thuận ký kết vào tháng 11/2006 của 25 nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) về việc đánh bắt cá ở các vùng nước sâu. Thỏa thuận này dự kiến hạn chế việc đánh bắt một số loài cá, nhưng ít hơn so với khuyến cáo của các nhà khoa học, nhằm bảo vệ quyền lợi của các ngư dân, đặc biệt là người Pháp và người Italy.  25 nước trên đã được phép đánh bắt cá ngừ ở biển Địa Trung Hải, sử dụng kỹ thuật đánh bắt mà WWF xem là tương tự với kỹ thuật đánh lưới cào bị cấm từ năm 2002 tại các vùng hải phận thuộc EU.  “Bất cứ ai tiêu thụ cá ngừ từ biển Địa Trung Hải là coi như chấp nhận cái chết của loài cá heo”, bà Heike Vesper, chuyên gia về cá heo thuộc WWF khẳng định.  (Theo HTV, Cyberpresse)        Author                Quản trị        
__label__tiasang 2007, Trung Quốc phóng vệ tinh thăm dò Mặt trăng đầu tiên      Huang Chunping, một chuyên gia vũ trụ hàng đầu của Trung Quốc ngày 6-2 cho biết nước này sẽ phóng vệ tinh thăm dò Mặt trăng đầu tiên vào nửa cuối năm nay, 2007.    Vệ tinh này, Chang’e I, sẽ được phóng vào không gian nhờ tên lửa đẩy Trường Chinh 3-A. Nó sẽ cung cấp những hình ảnh 3D về bề mặt Mặt trăng, khảo sát sự phân bố của 14 nguyên tố có thể sử dụng được trên Mặt trăng, nghiên cứu sóng ngắn trên Mặt trăng và đánh giá độ dày của đất Mặt trăng.  Huang cũng cho biết tên lửa đẩy thế hệ mới của Trung Quốc, được thiết kế để phóng một trạm không gian, sẽ sẵn sàng hoạt động trong 7 năm nữa. Tên lửa được đặt tên Trường Chinh 5 và có khả năng phóng vật thể nặng từ 9 đến 25 tấn.  Theo Huang, Trung Quốc hiện đang đi sau Mỹ và Nga đến 15 năm trong công nghệ tên lửa. “Tuy nhiên với những nỗ lực của chúng tôi, chúng tôi có thể đuổi kịp Mỹ và Nga trong 15 năm nữa”, ông nói.  Chương trình thăm dò Mặt trăng của Trung Quốc sẽ được thực hiện qua 3 giai đoạn. Sau vệ tinh Chang’e I, một tàu thăm dò theo quỹ đạo Mặt trăng được điều khiển từ xa sẽ được phóng vào vũ trụ. Ở giai đoạn thứ ba, một tàu vũ trụ thám hiểm Mặt trăng sẽ khoan phá một mẩu của Mặt trăng và mang nó về Trái đất.  TƯỜNG VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 2019-nCoV: Các phòng thí nghiệm trên thế giới đang chờ đợi phân tích các mẫu virus sống      Các nhà khoa học cần mầm bệnh để tìm hiểu các đặc tính sinh học của vật lây nhiễm mới xuất hiện và phát triển các test, thuốc và vaccine.      Credit: Dr Linda Stannard/UCT/Science Photo Library  Không có dấu hiệu cho thấy dịch bệnh do chủng mới coronavirus dịu đi, các nhà vi trùng học trên khắp thế giới đang muốn chạm tay vào các mẫu virus “bằng xương bằng thịt”. Họ đang lập lên các kế hoạch để kiểm thử thuốc và vaccine, phát triển các mô hình bệnh tật trên động vật và tìm hiểu các vấn đề về tính sinh học của virus như cách nó lan truyền như thế nào.  “Vào khoảng khắc nghe thấy thông tin về dịch bệnh này, chúng tôi đã bắt đầu đặt các thiết bị dò để có thể tìm hiểu các mẫu bị cô lập,” Vincent Munster, một nhà vi trùng học tại Viện nghiên cứu các bệnh dị ứng và truyền nhiễm quốc gia Mỹ tại Hamilton, Montana, nói. Phòng thí nghiệm của ông đang chờ đợi nhận được một mẫu vật sẽ đến vào tuần tới từ Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) ở Atlanta, Georgia, nơi phụ trách đối phó các ca nhiễm virus này của Mĩ.  Phòng thí nghiệm đầu tiên cô lập và nghiên cứu virus 2019-nCoV trên thế giới nằm ở tâm chấn của dịch bệnh: Vũ Hán, Trung Quốc. Một nhóm nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Vi trùng học Vũ Hán do nhà vi trùng học Zheng-Li Shi dẫn dắt đã cô lập được con virus này từ một người phụ nữ 49 tuổi đã phát triển triệu chứng từ ngày 23/12/2019 trước khi lâm vào trạng thái nguy kịch. Nhóm nghiên cứu của Shi tìm thấy rằng con virus có thể giết chết các tế bào người được nuôi cấy và xâm nhập vào các thụ thể phân tử cùng loại như loại coronavirus khác: chính virus đã gây ra bệnh SARS.  Một phòng thí nghiệm ở Australia đã loan báo vào ngày 28/1/2019 là đã có được các mẫu virus từ một người bị lây nhiễm sau khi từ Trung Quốc trở về. Nhóm nghiên cứu này đã chuẩn bị để chia sẻ các mẫu với những nhà khoa học khác. Các phòng thí nghiệm tại Pháp, Đức và Hong Kong đang cô lập và chuẩn bị chia sẻ các mẫu virus mà họ thu được từ các bệnh nhân địa phương, Bart Haagmans, một nhà vi trùng học tại Trung tâm y tế Erasmus ở Rotterdam, Hà Lan. “Có lẽ là tuần tới thì chúng tôi sẽ nhận được các mẫu từ một trong số các phòng thí nghiệm đó”, ông nói.  Các trình tự gene và  các mẫu  Trình tự hệ gene đầu tiên của virus 2019-nCoV đã được công khai vào đầu tháng 1/2020, và hàng tá trình tự hệ gene –  được lấy từ nhiều bệnh nhân khác – cũng được công khai. Các trình tự gene này đã lập tức dẫn đến các xét nghiệm chẩn đoán virus cũng như các nỗ lực để nghiên cứu về sự lan truyền và tiến hóa của mầm bệnh. Nhưng các nhà khoa học cho biết những trình tự gene không thể thay thế cho các mẫu virus, vốn cần thiết cho các xét nghiệm thuốc và vaccine cũng như để nghiên cứu sâu hơn về con virus này. “Điều cần thiết là chia sẻ virus,” Maria Van Kerkhove, một nhà dịch tễ học về bệnh truyền nhiễm tại WHO tại Geneva, Thụy Sĩ, cho biết tại buổi họp báo ngày 29/1/2020.  Munster nói, ưu tiên hàng đầu trong phòng thí nghiệm của ông sẽ là nhận diện các động vật từng là động vật lây nhiễm cho người theo cách tương tự 2019-nCoV. Nhiều mô hình động vật sẽ hữu dụng để xét nghiệm vaccine và thuốc. Kế hoạch ban đầu của nhóm nghiên cứu là xem xét một con chuột được biến đổi gene để chứa một phiên bản thụ thể của người mà virus gây bệnh SARS và chủng coronavirus mới để lây nhiễm cho các tế bào. Công việc tương lai có thể liên quan đến việc phơi nhiễm những con chuột và sau đó là các động vật linh trưởng với virus và kiểm tra xem liệu các vaccine có thể ngăn ngừa được sự lan truyền bệnh dịch không, ông cho biết thêm.  Phòng thí nghiệm của Munster đang mong muốn khởi động việc đo kiểm virus có thể sống sót trong không khí hoặc trong nước bọt trong bao nhiêu lâu. Điều này có thể giúp các nhà dịch tễ học hiểu được là liệu 2019-nCoV có thể lan truyền thông qua không khí hay không hay chỉ thông qua tiếp xúc gần. Nghiên cứu của Munster sẽ liên quan đến việc xịt các hạt chứa virus bằng một thiết bị gọi là trống Goldberg, và sau đó đo đạc khả năng của chúng lây nhiễm lên các tế bào của người sau những giai đoạn tồn tại trong không khí như thế nào.  Nhiều thí nghiệm sẽ được thực hiện dưới những biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt – như mức độ an toàn sinh học cấp 3 – để ngăn ngừa những người làm trong phòng thí nghiệm bị lây nhiễm và để tránh những phát thải ngẫu nhiên mầm bệnh. Hàng ngàn phòng thí nghiệm như vậy đang hoạt động trên khắp thế giới nhưng Munster lưu ý nhiều nghiên cứu về 2019-nCoV có thể được thực hiện trong những điều kiện an toàn sinh học ít nghiêm ngặt hơn để thúc đẩy tốc độ nghiên cứu.  Dò theo sự lây lan  Một trong những ưu tiên đầu tiên của Haagmans sẽ là phát triển một xét nghiệm máu để tìm các kháng thể chống lại 2019-nCoV. Nó sẽ cho phép các nhà nghiên cứu nhận diện được người từng bị phơi nhiễm 2019-nCoV nhưng không còn bị nhiễm bệnh mà có thể không bao giờ phát triển các triệu chứng.  Nhóm nghiên cứu của ông hi vọng thấy được liệu động vật nào có thể đóng vai trò như mô hình về những lây nhiễm cho người – những con chồn sương. Các nhà nghiên cứu dùng các loài động vật để nghiên cứu về cúm và những bệnh về phổi khác bởi phổi của chúng tương tự như phổi người, và chúng dễ bị nhiễm những con virus tương tự. Haagmans hi vọng xét nghiệm xem liệu chúng có thể truyền được 2019-nCoV cho những con vật khác cùng loài không, để có được những hiểu biết sâu hơn về sự lan truyền của mầm bệnh giữa con người với con người.  Có nhiều câu hỏi mà các nhà vi trùng học muốn biết về 2019-nCoV có cơ sở từ những phát hiện trong những nghiên cứu trước về các virus sau SARS và liên quan đến triệu chứng bệnh MERS. Ví dụ, có những dấu hiệu một protein cần để virus SARS lây nhiễm vào tế bào đã được thích nghi để xâm nhập vào tế bào người một cách dễ dàng hơn.  Dẫu hiện tại thì Haagmans đang chờ đợi để đặt tay vào một mẫu 2019-nCoV, ông vẫn hi vọng cuối cùng có thêm nhiều mẫu từ khắp quá trình bùng phát dịch bệnh để xem là liệu virus này có tiến hóa và nếu có thì như thế nào. “Chúng tôi cần hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất sinh học của con virus này, đặc biệt là so sánh với những con virus mà chúng tôi đã biết. Và đó là những gì mà chúng tôi sẽ làm”, ông nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00262-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2019-nCoV: Khoa học Việt Nam có thể làm được gì?      Những giải pháp mà Việt Nam đang triển khai ứng phó dịch viêm phổi do 2019-nCoV gây ra đều dựa trên những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học đã được tích lũy nhiều năm, kể từ khi phải đối mặt với dịch SARS vào năm 2002-2003.      Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam kiểm tra phòng xét nghiệm của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2. Ảnh: Nguyễn Chi.  Trong bối cảnh bệnh dịch bùng phát, tài khoản Twitter của Liên Hợp Quốc đã trích dẫn lời chia sẻ của Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus tại phiên họp ngày 31/1/2020 ở Geneve: “Đây là thời điểm của sự thật, không phải sự sợ hãi. Đây là thời điểm của khoa học, không phải tin đồn. Đây là thời điểm của đoàn kết, không phải chia rẽ”. Câu nói của TS. Tedros Adhanom Ghebreyesus hàm ý đến vai trò của khoa học, của những hiểu biết về họ cúm coronavirus và đặc điểm dịch tễ của 2019-nCoV sẽ đóng vai trò quan trọng trong các giải pháp và đề xuất, tư vấn để các chính phủ khống chế bệnh dịch.  Những công việc đầu tiên  Tại Việt Nam, những hành động ứng phó như vậy đã được triển khai từ khi dịch bệnh bắt đầu có dấu hiệu lây lan nhanh chóng. Một cách chủ động, các nhà nghiên cứu ở những cơ sở nghiên cứu và điều trị như Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Học viện Quân y, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Viện lâm sàng các bệnh nhiệt đới (Bệnh viện TƯ Quân đội 108), ĐH Y Hà Nội, Viện Pasteur TPHCM, Nha Trang, Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam… đều nhanh chóng kết nối với các đồng nghiệp quốc tế ở Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mĩ (CDC)…, cập nhật những thông tin mới nhất từ các nền tảng online như Sáng kiến Chia sẻ dữ liệu cúm toàn cầu (GISAID) – một sáng kiến bắt đầu từ lời kêu gọi của một nhóm nhà nghiên cứu y học hàng đầu thế giới, GenBank – một cơ sở dữ liệu về giải trình tự có chú giải với các trình tự gene nucleotide và các dịch mã protein của nó, để có thêm những thông tin mới.  Tâm thế sẵn sàng đối đầu với dịch bệnh như vậy đã đưa các nhà nghiên cứu kết hợp chặt chẽ với đội ngũ bác sĩ lâm sàng để có thể nhanh chóng nắm bắt được những đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch cũng như những đặc điểm di truyền, cơ chế lây nhiễm… của chủng virus mới được phát hiện.  Do đó, trường hợp của một bệnh nhân 65 tuổi có tiền sử tăng huyết áp, tiểu đường type 2 được điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TPHCM) với triệu chứng sốt và suy nhược, sau khi cùng vợ trở về từ quận Vũ Xương, thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào đầu tháng 1/2020, đã được các bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy và các nhà nghiên cứu Viện Pasteur TPHCM kịp thời theo dõi. Nét nổi bật của ca này là việc người cha đã truyền 2019-nCoV cho con trai mình sau khi ở cùng phòng trong một khách sạn tại Nha Trang. Qua 3 ngày ủ bệnh, bệnh nhân 27 tuổi này đã có triệu chứng sốt và khi xét nghiệm, ngay cả khăn lau của anh cũng cho kết quả dương tính với virus. Tất cả những thông tin về diễn biến của triệu chứng, quá trình ủ bệnh, những kết quả xét nghiệm, khả năng lây nhiễm qua tiếp xúc với những người khác… này đều được nhóm nhà nghiên cứu ghi chép tỉ mỉ trong bài báo “Importation and Human-to-Human Transmission of a Novel Coronavirus in Vietnam” (Sự quan trọng và lan truyền từ người sang người của một coronavirus mới tại Việt Nam) xuất bản trên The New England Journal of Medicine (NEJM), tạp chí của Hội Y học Massachusetts được đánh giá là một trong những tạp chí có bình duyệt lâu đời và uy tín ngành y. Đáng chú ý, bệnh nhân Trung Quốc nhập viện vào ngày 22/1/2020 thì chỉ đến ngày 28/1/2020 là TS.BS Nguyễn Vũ Thượng – tác giả chính, PGS. TS Phan Trọng Lân (Viện Pasteur TPHCM) – tác giả thứ nhất, đã cùng với cộng sự ở Viện Pasteur TPHCM, Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM đăng tải bài báo vào ngày 28/1/2020.    Ban giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy chúc mừng bệnh nhân người Trung Quốc 27 tuổi ra viện. Nguồn: nld.com.vn  Theo thống kê của Nature, đến hết ngày 30/1/2020, có ít nhất 54 bài báo viết bằng tiếng Anh về truyền 2019-nCoV được xuất bản, trong đó hơn 30 bài là tiền ấn phẩm được công bố sớm trên các “kho lưu trữ” onine như bioRxiv, medRxiv, ChemRxiv, còn lại là trên các tạp chí có bình duyệt như The Lancet, The Journal of Medical Virology, The New England Journal of Medicine… (không tính các bài báo xuất bản bằng tiếng Trung). Như vậy, không chỉ có mặt trong nhóm các bài báo đầu tiên về 2019-nCoV, bài báo của nhóm tác giả Viện Pasteur TPHCM và Bệnh viện Chợ Rẫy còn là một trong những bằng chứng ghi nhận trường hợp lây nhiễm virus người qua người đầu tiên ngoài Trung Quốc với những triệu chứng bệnh tật điển hình.  Phát triển bộ xét nghiệm nhanh virus  Quá trình ứng phó bệnh dịch của các nhà khoa học Việt Nam đã được Bộ KH&CN thúc đẩy ngay trong phiên họp khẩn do Thứ trưởng Phạm Công Tạc chủ trì vào ngày 30/1/2020, ngày đi làm đầu tiên sau Tết Nguyên đán. Với mong muốn tìm được những giải pháp hữu hiệu, không chỉ góp phần giải quyết được tình trạng tức thời của bệnh dịch mà còn đưa ra được những giải pháp mang tính dài hơi về các bệnh dịch do virus cúm gây ra, Bộ KH&CN đã mời các chuyên gia y tế ở các cơ sở y tế như Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Học viện Quân y, Bệnh viện Quân y 103, Viện Pasteur TP.HCM, Công ty vaccine và sinh phẩn số 1 (VABIOTECH)… đến làm việc.  Là đồng tác giả của công bố mới, PGS. TS Phan Trọng Lân đã trình bày cách thức ông và cộng sự phát hiện ra chủng 2019-nCoV trên bệnh nhân Trung Quốc, trong đó nêu những cố gắng cập nhật thông tin hướng dẫn từ WHO như quy trình phản ứng tổng hợp chuỗi phiên mã ngược thời gian thực (Real-time reverse-transcription polymerase chain reaction) để có được kết quả xét nghiệm đúng và được WHO tin cậy.  Việc có được những thông tin dịch bệnh với độ chính xác cao sẽ không chỉ góp phần cung cấp cho WHO một phần nhỏ trong bức tranh tranh tổng thể về 2019-nCoV toàn cầu mà còn là cơ hội để Việt Nam hiểu được bản chất dịch tễ học của dịch bệnh do virus này gây ra. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam có thể thực hiện được một công việc thiết thực: sản xuất bộ kit xét nghiệm nhanh 2019-nCoV để có thể chủ động xét nghiệm sàng lọc người lây nhiễm virus từ các trường hợp bị nghi ngờ và cách ly sớm, tránh lây lan bệnh rộng hơn. Điều này lại cần thiết hơn khi có nhiều trường hợp bị nhiễm 2019-nCoV mà không biểu lộ triệu chứng rõ rệt và thời gian ủ bệnh của bệnh lại kéo dài tới 14 ngày (trong khi thời gian ủ bệnh của SARS-CoV chỉ từ 4 đến 6 ngày, dù có tổ tiên chung với 2019-nCoV). Các chuyên gia đều thống nhất với quan điểm này của PGS. TS Phan Trọng Lân và GS TS Nguyễn Văn Kính – nguyên giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và ông Trần Đắc Phu – nguyên cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế).      Việc chúng ta có được những thông tin dịch bệnh với độ chính xác cao sẽ không chỉ góp phần cung cấp cho WHO một phần nhỏ trong bức tranh tranh tổng thể về 2019-nCoV toàn cầu mà còn là cơ hội để Việt Nam hiểu được bản chất dịch tễ học của  dịch bệnh do virus này gây ra; đồng thời là cơ sở để Việt Nam có thể sản xuất bộ kit xét nghiệm nhanh 2019-nCoV.      Một trong những khó khăn hiện nay mà Việt Nam phải đối mặt là thiếu hụt về số bộ kit bởi số lượng bộ kit do CDC hoặc WHO cấp không nhiều. Trong tình huống này, việc chủ động phát triển và sản xuất được các bộ xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm với độ chuẩn xác cao, thời gian ngắn cần được tiến hành ngay. Đây không phải là việc quá khó của Việt Nam bởi năm 2015, Bệnh viện TƯ Quân đội 108 đã phát triển thành công bộ kit chẩn đoán, phát hiện virus MERS-CoV với độ chính xác gần như tuyệt đối chỉ sau 3, 4 giờ.  Để chạy đua với thời gian trong sản xuất các bộ kit như vậy, cần có một cơ chế đặc biệt cho phép chỉ định đơn vị thực hiện nhiệm vụ mà không cần phải qua các quy trình, thủ tục như đối với những nhiệm vụ KH&CN khác do Bộ KH&CN quản lý, theo ý kiến đóng góp của GS. TS Lê Bách Quang, người có rất nhiều kinh nghiệm về việc này khi là thành viên Ban chủ nhiệm Chương trình KC.10/16-20 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng”.  Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần chủ động nghiên cứu phát triển hoặc tiếp nhận công nghệ sản xuất vaccine phòng bệnh do 2019-nCoV gây ra. Đây cũng là thách thức với thế giới bởi trong thời điểm hiện nay, chưa có loại thuốc nào chứng tỏ được hiệu quả điều trị bệnh SARS hoặc các lây nhiễm do coronavirus gây ra ở người, và chưa có loại vaccine nào có thể ngăn chặn được các nhiễm trùng hô hấp được cấp phép. Với kinh nghiệm của một người nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, TS. Đỗ Tuấn Đạt, Giám đốc VABIOTECH cho biết, công ty đã sớm chủ động liên hệ với Trung tâm Vi sinh vật học Max Planck (Đại học Bristol Anh) – đối tác của công ty trong dự án triển khai sản xuất các vaccine từ công nghệ MultiBac, một công nghệ sản xuất tái tổ hợp hiệu năng cao, đặc biệt thích hợp cho sản xuất vaccine mới với số lượng lớn và chi phí thấp – và đề nghị họ hỗ trợ công việc sản xuất vaccine 2019-nCoV khi có công nghệ.  Cần sự đầu tư dài hạn và liên tục  Câu chuyện về dịch bệnh cho các virus cúm gây ra trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 – virus SARS-CoV, MERS-CoV, 2019-nCoV, H5N1…, cho thấy những khó khăn mà các quốc gia phải đối mặt. Sự tiến hóa một cách liên tục của virus cúm buộc chúng ta phải dành nhiều thời gian nghiên cứu về chúng. Có thể thấy điều đó ở virus cúm A, một loại virus gây cúm trên nhiều động vật và đôi khi gây bệnh ở người, “trong quá trình lây nhiễm, hai virus có thể cùng xâm nhiễm vào một tế bào vật chủ, trao đổi và tích hợp bộ gene, tạo ra chủng virus cúm mới có khả năng tránh được miễn dịch của con người, dù trước đó họ đã có được miễn dịch với chủng lưu hành trước đó hoặc miễn dịch tạo ra từ vaccine”, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (Phó trưởng Khoa Virus, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương) đã nêu ví dụ như vậy vào tháng 4/2019.  Với những đặc điểm khu biệt như vậy, việc có một chiến lược đầu tư dài hạn và liên tục về các virus cúm và các dịch bệnh mới nổi khác sẽ là cơ hội để Việt Nam có được những hiểu biết sâu rộng về bản chất dịch tễ học của bệnh tật, những cơ chế phát sinh và lây nhiễm bệnh để kịp thời ứng phó khi có dịch bệnh xuất hiện; hình thành và tích lũy những năng lực cần thiết để có những ứng phó kịp thời trước bệnh dịch; đào tạo thêm nhiều chuyên gia lâm sàng, dịch tễ học; có thêm trang thiết bị hiện đại… Ví dụ, Viện nghiên cứu nhiễm trùng và miễn dịch Peter Doherty tại Melbourne trở thành phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới ngoài Trung Quốc phân lập và sao chép được 2019-nCoV. Lý giải về nguyên nhân giúp Viện có thể dò tìm, giải trình tự và phân lập được virus trong vòng 5 ngày, TS. Julian Druce cho biết: “Chúng tôi đã làm việc 10 đến 12 giờ mỗi ngày trên cơ sở thiết kế và lập kế hoạch cho một quy trình làm việc như vậy trong nhiều năm”.  May mắn là đội ngũ các nhà khoa học ở các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam đã được chuẩn bị điều đó thông qua nhiều chương trình KH&CN do Bộ KH&CN quản lý, từ các đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ NAFOSTED tài trợ, chương trình KC10 đến các chương trình hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương về KH&CN, chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao… Nhìn vào 10 năm hoạt động của Quỹ NAFOSTED, có thể thấy nhiều nhóm nghiên cứu đã hình thành ở Viện Vệ sinh dịch tễ, ĐH Y Hà Nội, Học viện Quân y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108…, đồng thời các nhà nghiên cứu Việt Nam có nhiều điều kiện duy trì mạch nghiên cứu, công bố quốc tế cũng như mời các đồng nghiệp quốc tế tham gia nghiên cứu. Đây cũng là một phần nguồn lực quan trọng để PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng, một chủ nhiệm đề tài quen thuộc của NAFOSTED, nắm bắt khái niệm One Health trong y tế hiện đại do WHO khởi xướng – một cách tiếp cận liên ngành, thu hút nhiều bên tham gia, thực hiện từ quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường – thực hiện đề tài về mối liên hệ giữa người và gia cầm bị nhiễm cúm A. Qua việc thực hiện đề tài, chị đã xuất bản bài báo “Highly Pathogenic Avian Infuenza A(H5N1) Viruses at the Animal– Human Interface in Vietnam, 2003–2010” trên The Journal of Infectious Diseases, công trình giúp chị trở thành nhà khoa học ngành Y đầu tiên đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019.  Với Việt Nam, con đường từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng là cách làm duy nhất để có thể chủ động sản xuất những bộ kit chẩn đoán nhanh và các loại vaccine phòng ngừa cúm, các bệnh truyền nhiễm mới nổi trong tương lai. Đó cũng là bài học của Cuba trong phát triển và sản xuất CimaVax – vaccine ung thư phổi không tế bào nhỏ – vào năm 2016. “Họ thành công nhờ vào làm nghiên cứu cơ bản tốt vì muốn thử nghiệm cái gì thì cũng phải chắc chắn về mặt công nghệ. Họ cũng xem xét rất kỹ bản chất dịch tễ học của bệnh tật, vì vậy sản phẩm của họ có chất lượng và có nội hàm khoa học rất cao”, đó là một phần chia sẻ của TS. Đỗ Tuấn Đạt khi biết tin Cuba có CimaVax.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang 21 bài học cho thế kỷ XXI (phần 1)      Qua lịch sử xuyên suốt từ khi con người nhân sinh xuất hiện hơn 80.000 năm trước đây, Yuval Noah Harari đã tổng hợp các vấn đề sát sườn mà mỗi người dân, tổ chức, chính phủ khắp nơi trên thế giới đang phải đối mặt hằng ngày.    Các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây đã đẩy vọt năng suất lao động của con người và là động lực chính của mọi cấu trúc chính trị, xã hội trên toàn thế giới trong hơn 300 năm trở lại đây. Các cuộc cách mạng đó là cách con người tác động ra bên ngoài, biến đổi thiên nhiên phục vụ cho mình. Nhưng cuộc cách mạng 4.0 lần này rất khác bởi con người đang thay đổi chính mình. Từ bản năng lao động của con người có thể mất đi cho đến cấu trúc sinh học của cơ thể có thể được máy móc thay thế. Cho nên chúng ta sẽ nhìn thấy những thách thức rất to lớn có thể làm biến đổi cấu trúc xã hội, đe dọa tương lai, thậm chí diệt vong nền văn minh nhân loại.  Sự vỡ mộng về chủ nghĩa tự do và mối đe dọa từ công nghệ  Những câu chuyện đã dẫn dắt nhân loại suốt cả thế kỷ 20 giờ đây đã tan vỡ hết cả. Từ chủ nghĩa phát xít hay toàn trị, đến cả câu chuyện cuối cùng là chủ nghĩa dân chủ tự do vốn vẫn được cho là xu thế tất yếu của nhân loại vào đầu thế kỷ 21 này, giờ đã không còn đủ lôi cuốn thêm ai. Người ta đang thực sự hoài nghi về nó, đúng hơn là về khả năng mở rộng và phổ quát của nó ra toàn cầu, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Nhiều mô hình chính trị khác đang được phát triển và có những thành công đáng kể ở nhiều nơi. Giờ đây nhiều người ở Kentucky hay Yorkshire có khi còn bất an về cuộc sống, về tự do hơn nhiều người ở Thượng Hải hay Singapore. Trong khi những người theo chủ nghĩa tự do còn đang hoang mang chưa hiểu vì sao những cái tưởng như chắc chắn lại không thành sự thật, thì sự hạn chế tự do, từ cá nhân đến quốc gia, bởi những trật tự mới như tăng thuế hay trật tự cũ được thiết lập lại như Anh rời khỏi châu Âu, lại đang xuất hiện và khiến nhiều người hoài nghi về tương lai của văn minh nhân loại.  Mối đe dọa đó thực ra đến từ công nghệ, từ những đứt gãy công nghệ quá nhanh mà các cơ cấu chính quyền hiện nay trên thế giới, vốn được định hình trong thời đại công nghiệp 1.0-2.0 với các máy hơi nước, nhà máy lọc dầu và màn hình tivi, chưa đáp ứng được. Nhiều chính trị gia còn chưa hiểu được nguyên lý hoạt động của các công nghệ mới nhất thì nói gì đến việc quản lý chúng. Mà nói gì thì nói, công nghệ hay đúng hơn là năng suất của người lao động là cái cốt lõi chi phối xã hội.    Trong khi những người theo chủ nghĩa tự do còn đang hoang mang chưa hiểu vì sao những cái tưởng như chắc chắn lại không thành sự thật, thì sự hạn chế tự do, từ cá nhân đến quốc gia, bởi những trật tự mới như tăng thuế hay trật tự cũ được thiết lập lại như Anh rời khỏi châu Âu, lại đang xuất hiện và khiến nhiều người hoài nghi về tương lai của văn minh nhân loại.    Nhà sử học Yuval Noah Harari cho rằng, nếu như từ vài trăm năm nay con người thay đổi thế giới bằng công nghệ thì gần đây, con người đang thay đổi chính con người bằng công nghệ, ở hai khía cạnh: thứ nhất là những con người ảo, thông minh như người mà không phải người; thứ hai là cơ thể người sắp tới sẽ không hoàn toàn là con người nguyên thủy mà sẽ gắn theo nhiều thiết bị vô cơ để thực hiện các chức năng sinh học.  Cái thứ nhất đang tạo ra một cảm giác bị bỏ rơi cho một số đông không theo kịp công nghệ. Trước đây người ta bị máy móc bóc lột thì nay bị máy móc bỏ rơi. Cảm giác bị bỏ rơi khó đấu tranh hơn bị bóc lột rất nhiều. Cái thứ hai đang đi sau một chút, và hệ quả của nó cũng sẽ không hề nhỏ. Các máy móc giờ đã đọc được những dòng suy nghĩ từ bộ não thì chẳng bao lâu nữa chúng cũng có thể phát các xung điện kích thích bộ não chúng ta có những cảm giác, suy nghĩ, và mong muốn do máy móc đưa ra. Không ai tưởng tượng được hậu quả sẽ thế nào. Một số nhỏ các kỹ sư có thể điều khiển suy nghĩ của hàng tỷ người? Dù chủ ý hay một sai lầm vô ý cũng sẽ dẫn đến một sự sụp đổ văn minh nhân loại. Đây là một nguy cơ đang thành hiện thực mà ít chính trị gia nào đang suy nghĩ một cách nghiêm túc. Họ, có khi còn chỉ nghĩ đến một cuộc sụp đổ sinh thái (do biến đổi khí hậu chẳng hạn) mà đã đủ đau đầu vì chưa có giải pháp rồi.  Có lẽ chính vì vậy mà cảm giác bất an và mất lòng tin đang tăng lên vì người dân hằng ngày đang sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), bị AI điều khiển và cảm nhận được rõ hơn cả nguy cơ này.  Đó là nguy cơ họ sẽ bị đào thải và trở thành người thừa trong xã hội, bị AI điều khiển, chi phối.  Nhìn lại lịch sử thì chủ nghĩa tự do đã nhiều lần gặp khủng hoảng nhưng nó đều vượt lên và chiến thắng. Đó là Thế chiến thứ nhất, cuộc chiến để kết thúc các cuộc chiến và đối thủ là chủ nghĩa đế quốc; đó là Thế chiến thứ hai với chủ nghĩa chủng tộc phân biệt bị đánh bại; tiếp theo là cuộc Chiến tranh Lạnh với chủ nghĩa tập thể trên hết. Giờ đây chủ nghĩa tự do không còn đối thủ nào nữa thì nó lại rơi vào trạng thái hư vô. Thực ra thì nó không thể tiến thêm trên quy mô toàn cầu nhưng ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc lại dần tìm được những giá trị tự do đặc thù của mình.  Các tài sản văn hóa, tôn giáo và lịch sử vốn bị lu mờ bởi những câu chuyện trong thế kỷ 20 giờ lại tìm được hào quang. Nhưng tương lai rốt cuộc sẽ là gì thì chúng ta cần nhìn lại căn nguyên của những biến đổi trên, công nghệ AI và sinh học, những thứ đang và sẽ chi phối tất cả chúng ta.  Mối đe dọa việc làm  Với mỗi cuộc cách mạng công nghiệp trước đây khi máy móc thay thế lao động thì con người lại tạo ra những việc làm mới tốt hơn và luôn có đủ việc làm. Nhưng đó là khi máy móc thay thế các công việc trong ngành nông nghiệp, công nghiệp và con người phần lớn chuyển dịch sang các ngành dịch vụ vốn đòi hỏi tri thức và giao tiếp con người. Nhưng lần này máy móc đã có thể lấn sang ngành dịch vụ: chúng thông minh hơn rõ rệt và bắt đầu có khả năng giao tiếp với người: nghe hiểu, nhìn và nhận biết, nói, học, sáng tác,…  Đó mới là các tiến bộ của công nghệ thông tin hay AI, còn với những tiến bộ của công nghệ sinh học thì những dòng suy nghĩ chi tiết trong não bộ vốn là những dòng điện sinh hóa, cũng có thể bị máy bắt chước và điều khiển. Khi kết hợp hai công nghệ này lại thì cái gọi là “trực giác” cũng không còn là lợi thế của riêng con người: tài xế nên lái cách nào, luật sư nên cãi ra sao, việc đàm phán nên theo hướng nào, bác sỹ phẫu thuật nên cắt đường nào,… tất cả đều có thể đo được từ dòng điện não và máy sẽ học theo nó.  Và không chỉ mỗi máy học theo cách của một người, nhiều máy có thể kết nối tốt hơn sự hợp tác của nhiều người. Ví dụ một chiếc xe tự lái vốn sẽ có thể lái tốt hơn một người bình thường, thì hàng vạn xe tự lái trong một thành phố sẽ được kết nối với nhau và phối hợp nhịp nhàng hơn hàng vạn con người bình thường. Và như thế là không chỉ tai nạn giao thông giảm đi do bớt sai lầm của mỗi con người, mà kẹt xe cũng giảm, luồng giao thông cải thiện do tăng sự phối hợp chung. Tương tự như vậy là hàng ngàn bác sỹ AI có thể phối hợp với nhau cho một ca phẫu thuật, hay cùng tìm kiếm một vaccine mới. Điều này thực sự rất có ý nghĩa với người dùng. Bạn sẽ được tiếp cận tri thức của không chỉ một hay một số người mà là hàng triệu, hàng tỷ chuyên gia cùng đang giúp bạn. Trong thuật toán của phác đồ điều trị của bạn là tổng hợp tri thức học từ hàng vạn bác sỹ chuyên khoa trên thế giới về căn bệnh của bạn, điều mà không con người nào cung cấp được. Viễn cảnh đó đã rất gần và điều ngược đời này có thể xảy ra: một bệnh nhân sau khi được thuyết phục sẽ dễ dàng chấp nhận để bác sỹ AI chuẩn đoán và ra quyết định điều trị, nhưng lại nhất định cần một y tá thực hiện việc điều trị như tiêm cho mình. Trong tương lai công việc tri thức lại dễ bị thay thế hơn công việc cần đến chân tay.  Viễn cảnh đó khiến cho công việc chịu rất nhiều sức ép. Có hai lối thoát:  Thứ nhất là tìm hiểu và nghiên cứu những thứ mới, ví dụ các bệnh truyền nhiễm mới, các cách điều trị mới… Cái mới thì chưa có (nhiều) dữ liệu nên AI chưa học giỏi được nhưng cách đi này không có nhiều, khó vì phải liên tục tìm các mới khác thay thế.  Thứ hai là học cách chế tạo và vận hành các hệ thống AI. Cách này khả thi hơn vì các hệ thống AI sẽ rất nhiều, nhu cầu sẽ cao nhưng cũng không có gì đảm bảo. Bởi trong tương lai các hệ thống AI sẽ có thể tự vận hành, tự học với sự can thiệp rất ít của con người. Ví dụ như ngày nay để vận hành một máy bay không người lái cần đến vài chục kỹ sư AI nhưng tương lai các hệ thống sẽ tích hợp hết và chuyển thành Auto-AI.    Chúng ta đã có cảm giác mình là một khối dữ liệu bị xô đẩy trong cái biển mây dữ liệu thì một ngày nào đó, người điều khiển cái biển dữ liệu đó có thể là AI, hoặc một mạng lưới AI cũng nên.    Nhưng đến đây đã đủ để chúng ta nhìn thấy nguy cơ cho việc làm trong xã hội. Cả hai nhóm người trên, người sáng chế và người vận hành AI, đều đòi hỏi kiến thức cao không thuộc về số đông. Hơn nữa các công việc trên còn cần phải trau dồi và đòi hỏi kiến thức mới trong thời gian rất ngắn. Điều này trái với thực tế công việc hiện tại khi đa số chúng ta học một kỹ năng và làm cả đời. Nếu như trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước thì lực lượng lao động đông luôn là một lợi thế của một quốc gia thì trong tương lai đơn giản là sẽ không cần lao động. Hàng trăm triệu công nhân may mặc sẽ bị thay thế bằng robot in 3D, những chuyên viên ngân hàng, tổng đài viên chăm sóc khách hàng qua điện thoại, kỹ sư chế tạo và điều khiển,… sẽ sớm bị mất việc. Không có nghề nghiệp trọn đời, cũng không còn ngành nghề nào tồn tại mãi mãi.  Có thể cảm nhận thấy một viễn cảnh số đông lao động không có việc làm đúng nghĩa, hoặc do AI bị trì hoãn, hoặc do trợ cấp của chính phủ, hoặc do sự chia nhỏ công việc ra,… thậm chí là không làm việc mà chỉ tiêu thụ. Con người có thể rơi vào một trạng thái vô dụng, bất mãn và mất kiểm soát. Điều đó có thể tạo thành một nguy cơ to lớn gây xáo trộn các hệ thống chính trị xã hội đương thời.  Bên cạnh nguy cơ mất ổn định xã hội còn có một nguy cơ khác có thể dẫn đến hủy diệt nền văn minh nhân loại, khi mà sự vận động của con người đang bị thu hẹp lại, con người bị lệ thuộc và chi phối bởi máy móc và thuật toán, rốt cuộc mất đi giá trị nhân văn và trở thành những cỗ máy người.  Mối đe dọa nhân tính  Hơn 300 năm trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến sự chuyển giao quyền lực từ thần thánh, hoàng gia,… vốn tồn tại hàng ngàn năm sang nền dân chủ, tự do của mỗi con người, công dân thì chỉ trong vài chục năm nữa chúng ta sẽ chứng kiến quyền lực từ con người sang thuật toán.  Thuật toán ở đây không chỉ là các thuật toán máy tính mà chính là những thuật toán chạy trong toàn bộ cơ thể chúng ta. Khi mà các nhà khoa học nhận biết ra được các cảm giác, trực giác mà con người có quy lại chỉ là những thuật toán chạy qua hàng triệu nơ-ron thần kinh thì sự tự do của mỗi con người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.  Ai đó sẽ nhận biết được mọi cảm giác trong tôi. Nếu tôi sợ hãi, dù có cố không biểu hiện trên khuôn mặt thì điện vẫn chạy trong não qua các dây thần kinh và nơ-ron kích hoạt, thì người ta sẽ đo được ngay thôi. Mọi cảm giác, mọi suy nghĩ hay quan điểm, nhận thức hay giác ngộ bây giờ không chỉ là của mình mà rất dễ bị đánh cắp. Và khi trước đây chúng ta cố bảo hộ quyền tự do dân chủ vì mỗi người là riêng biệt, là thiêng liêng và bất khả xâm phạm thì ngày nay mỗi con người có thể không còn là của riêng mình.  Một mặt thì nó rất tốt. Các cảm biến sẽ đo đến từng hoạt động tế bào và điện trong cơ thể để tìm ra, dự báo bạn “có thể” bị mắc virus cúm hay không? Xin nhắc lại là có thể tức là chúng sẽ dự đoán được trước khi bạn mắc bệnh, điều mà các xét nghiệm hiện nay không làm được. Nhưng mặt khác thì các cảm biến hay cảnh báo luôn luôn hoạt động, kiểu gì thì cũng có vấn đề trong cơ thể và chúng ta sẽ phải luôn chạy theo các thuật toán cảnh báo kia. Các hệ thống dữ liệu và AI bây giờ hiểu rõ bản thân mỗi người hơn ai hết, hơn cả chính họ. Và từ việc hiểu đến điều khiển chỉ còn là một bước nhỏ.  Không chỉ trong lĩnh vực y tế, việc chúng ta đang bị điều khiển đã diễn ra ở rất nhiều lĩnh vực khác rồi. Mỗi khi xem phim hay Youtube, các thuật toán khuyến nghị dẫn dắt chúng ta đi từ clip này qua clip khác. Mua hàng hay lướt web, gọi điện hay vay tiền, tất cả các dữ liệu đó đều được thu thập và các nhà cung cấp còn có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau để ban đầu đưa ra các dịch vụ tốt hơn, còn chúng ta bị dẫn dắt trong mê cung các sản phẩm và dịch vụ khiến cho năng lực ra quyết định và lựa chọn của mình mất dần.  Hãy để ý đến việc Google maps tiện dụng thế nào nhưng cũng làm cho con người mất đi khả năng định hướng và tìm đường. Bộ máy tìm kiếm của Google rõ ràng hoạt động thay cho não bộ của chúng ta trong rất nhiều trường hợp. Chúng ta dần dần dựa vào máy móc và không tự ra quyết định cho mình nữa, nhưng như thế thì những mối quan hệ, quan niệm của chúng ta về nhân tính và về cuộc đời sẽ thay đổi. Bạn sẽ làm quen cô gái kia không? Có nên ký hợp đồng với đối tác này không? Có nên tuyển ứng viên kia không? Nên cư xử với đứa bạn này thế nào? Có nên làm từ thiện chỗ kia không? Chúng ta sẽ giải thích quyết định của mình với đối tác bằng câu “AI bảo thế” hay sao?  Và trong những cỗ máy AI đó thì vẫn cần một chuyên gia về triết học và đạo đức để thiết lập các tham số. Chuyên gia sẽ thẩm định lại mô hình tuyển dụng để nó không vi phạm phân biệt giới tính hay chủng tộc, sẽ phán xét các cơ chế xử lý tai nạn của chiếc xe tự lái, hay đưa ra lập luận cho một quyết định phẫu thuật với xác suất thất bại nào đó. Có lẽ đây là một nghề sẽ còn phát triển trong thời đại AI này.  Mối đe dọa độc tài  Điều này đang ngày một rõ hơn. Vài trăm kỹ sư của Facebook đang điều khiển hành vi tương tác của vài tỷ người trên Trái đất. Nếu họ thay đổi các chức năng mà chúng ta đăng bài, share hay like, giới thiệu bạn mới, khuyến nghị status mới,… thì cả tỷ người sẽ nháo nhào. Vào cuối thế kỷ trước người ta nhận thấy việc quyết định tập trung là không thể và phải để cho thị trường tự do và phân tán quyết định, thì ngày nay việc quyết định tập trung lại khả thi. Chỉ cần quy tụ dữ liệu về hết một nơi thì máy tính đủ công suất và mô hình thông minh để tính toán ra giải pháp tối ưu. Các mô hình đó phần lớn sẽ dựa trên mạng nơron, hay nói cách khác là họ sẽ tạo ra những bộ não khổng lồ.  Ai sở hữu khối dữ liệu và bộ não đó sẽ có quyền lực tối thượng. Hiện nay là các tập đoàn công nghệ đang chi phối cả thế giới, sau này cũng có thể là các chính phủ. Chắc chắn là một chính phủ như thế có thể kiểm soát mọi công dân của mình còn hơn cả thời Đức Quốc xã. Cùng với việc làm sẽ bị thu hẹp lại và cả một tầng lớp đông đảo trở thành vô dụng như nói ở trên, quyền lực chính trị sẽ có thể bị thu hẹp lại cho một nhóm nhỏ người và quyền lực của mỗi công dân sẽ trở nên mơ hồ.  Cho đến hiện nay thì chúng ta cảm thấy lo sợ vì khả năng của AI có thể bắt chước con người và thay thế con người trong công việc nhiều hơn. Nhưng trong tương lai liệu AI có thể thông minh hơn con người không? Câu trả lời là bất định vì hiện nay chính con người chúng ta cũng chưa hiểu rõ trí thông minh của mình là gì, vì sao mà có. Nếu khả năng sáng tác, khám phá, phát minh cũng chỉ là những dòng điện hóa chạy qua các dây thần kinh và nơron thì sớm hay muộn người ta cũng đọc và mã hóa được chúng, để rồi tạo ra những cỗ máy AI biết phát triển trí thông minh, khi đó năng lực của AI sẽ đáng sợ và không ngờ được. Ngay cả giờ đây chúng ta đã có cảm giác mình là một khối dữ liệu bị xô đẩy trong cái biển mây dữ liệu thì một ngày nào đó, người điều khiển cái biển dữ liệu đó có thể là AI, hoặc một mạng lưới AI cũng nên.  Mối đe dọa bất bình đẳng  Ngay trong góc độ việc làm chúng ta đã thấy có những nhóm người sở hữu dữ liệu, tạo ra AI, điều khiển AI sẽ có lợi ích lớn và phần đông còn lại là người sử dụng AI hay đúng hơn là bị AI điều khiển. Các công ty công nghệ ngày nay chiếm đầu bảng các doanh nghiệp lớn nhất, khác xa so với 50 năm trước đây. Và tương tự là các tỷ phú công nghệ rồi sẽ là những người giàu nhất. Khoảng cách giàu nghèo đang tăng lên kinh khủng với tốc độ của phát kiến công nghệ.  Sự bất bình đẳng đó còn tăng nhanh hơn nữa khi mà công nghệ sinh học kết hợp thêm vào. Người có điều kiện không chỉ sẽ đẹp hơn, khỏe hơn, sống thọ hơn mà còn thông minh hơn do các máy móc hỗ trợ não bộ được gắn trực tiếp hoặc truyền gián tiếp. Đó là một tương lai nguy hiểm khi mà khác so với trước đây, tầng lớp tinh hoa vẫn cần số đông lao động để thực hiện nhiệm vụ kinh tế và thị trường tiêu thụ, ngày nay họ có thể sẽ chả cần. Họ có thể xây bức tường đóng kín và tận hưởng trong đó, thực phẩm và hàng hóa được máy móc và AI chế tạo tự động, AI sinh học sẽ chăm sóc sức khỏe, giải trí và cả tinh thần cho họ. AI chiến binh sẽ bảo vệ vòng ngoài khỏi những kẻ xâm chiếm hay rủi ro thiên tai,… Sự bất bình đẳng đó tạo ra số đông dư thừa chả biết làm gì. Họ bị đẩy xuống tầng dưới không vì một lý do cụ thể nào cả. Không phải chủng tộc, giới tính, giai cấp, mà mỗi người bị phân biệt vì dữ liệu của anh ta cho kết quả như thế, không giải thích được. Và do vậy người ta cũng không thể liên kết với nhau do có cùng đặc điểm bị đối xử mà đấu tranh cho được.  Nền độc tài số nói trên và hệ quả là sự bất bình đẳng số sẽ là những thách thức chính trị lớn nhất hiện nay.□        Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang 21 bài học cho thế kỷ XXI. Phần 3: Thế giới hậu sự thật      Chúng ta có thể gọi “Homo sapiens” là một loài Hậu-sự thật vì sức mạnh và bản chất của nó là việc tạo ra và tin vào các câu chuyện hư cấu. Giữa thế giới Hậu sự thật này, chúng ta còn băn khoăn hàng loạt câu hỏi: thế giới thực chúng ta đã tạo ra như thế nào? những câu chuyện cũ và mới trong đó? Cái gì sẽ xuất hiện? Chức năng cần thiết trong cuộc đời là gì? Chính trị và tôn giáo, hay Chúa là ai? Và cuối cùng là cái gì là ý nghĩa của cuộc đời này?      Dốt nát  Trong suốt vài thế kỷ qua, tư tưởng tự do được xây dựng trên nền tảng những cá nhân lý trí. Các nền dân chủ hay thị trường tự do đều cho rằng chỉ cần để số đông quyết định theo kiểu bình quân đầu phiếu là sẽ có lựa chọn tốt nhất. Nhưng thực tế ngày nay đã cho thấy các giả định về cá nhân lý trí, đúng hơn là cá nhân quyết định theo lý trí lại không thuyết phục. Thứ nhất, các nhà kinh tế học hành vi và tâm lý học tiến hóa đã chỉ ra hầu hết các quyết định của con người chứa nhiều cảm tính hơn suy luận lý trí. Thứ hai là con người còn quyết định theo cộng đồng tính: chúng ta bị ảnh hưởng bởi quyết định của những người xung quanh mình. Sự suy nghĩ và chia sẻ nhóm chính là cái giúp con người làm chủ thế giới này, nhưng cũng chính nó khép kín mỗi người vào trong cái phòng phản âm chứa đầy những người suy nghĩ giống mình, và mình cũng giống họ. Nơi đó tin tức tự xác thực và niềm tin tự củng cố.  Và khi bước ra ngoài, những con người đó nói về đủ mọi thứ như thể họ là chuyên gia, từ khí tượng học cho đến chính sách biến đổi khí hậu, từ những việc cần làm ở Iraq hay Ukraine trong khi chưa chắc đã biết các quốc gia này ở đâu trên bản đồ. Kể cả khi các chuyên gia thực sự đưa thêm các bằng chứng và dữ kiện chính xác cũng không cải thiện là bao. Công chúng sẽ lại bị chi phối bởi cảm tính và quan điểm của những người xung quanh mình. Chúng ta đang có quá nhiều thông tin nhưng thực sự lại biết quá ít và cuộc sống hiện đại càng khuếch đại thêm sự “dốt nát” đó của con người. Ngay cả các tổng thống và giám đốc điều hành, những người được hỗ trợ bởi hàng loạt các chuyên gia nhiều khi cũng không hiểu sâu các chủ đề quan trọng. Đơn giản là họ có quá ít thời gian, hơn nữa là ở địa vị quyền lực họ còn phải có thêm sự lựa chọn tin tưởng. Đối với họ, cả nghe và nói đều phải có sự thận trọng nhất định.  Trong cuốn sách này, Yuval Noah Harari kể về câu chuyện diễn ra vài năm trước, ông được mời dùng bữa tối với Thủ tướng Benjamin Netanyahu. Bạn bè ông đã khuyến cáo đừng có đi, nhưng bị cám dỗ bởi suy nghĩ sẽ nghe được một vài điều to tát nào đó, ông đã tới để rồi cuối cùng thất vọng tràn trề. Khoảng ba chục người khi đó đều cố tỏ ra ấn tượng với “người vĩ đại”, thế nên cũng chẳng có ai chia sẻ được với ai điều gì thực sự có ý nghĩa cả. Đây không phải là lỗi của ông Thủ tướng mà là lỗi của lực hấp dẫn quyền lực. Nhiều khi bạn phải thoát ra ngoài lỗ đen quyền lực đó để tìm kiếm những tri thức đột phá. Vấn đề sẽ càng tệ hơn trong những thập kỷ tiếp theo vì công nghệ phát triển, các dòng kinh tế và động lực chính trị sẽ càng trở nên phức tạp. Và cuối cùng thì con người, như Socrates đã chỉ ra từ hơn 2000 năm trước, tốt nhất là nên thừa nhận sự “ngu dốt” của chính mình.  Công lý  Công lý hay đạo đức đã được tiến hóa cùng với con người trong cuộc sống của các nhóm săn bắt hái lượm nhỏ. Ví dụ như nếu tôi cùng anh đi săn mà tôi săn được một con hươu to còn anh không có gì, liệu tôi có nên chia chiến lợi phẩm cho anh? (đạo đức). Còn nếu như một mình anh đi hái nấm và trở về với một giỏ đầy, liệu tôi khỏe hơn anh nên tôi có thể giật tất cả giỏ nấm đó? (công lý). Phóng đại ra, chúng ta nghĩ rằng có thể áp dụng những nguyên tắc công lý và đạo đức đó cho các vấn đề toàn cầu, thực ra không phải.  Kích thước sẽ ảnh hưởng đến bản chất của vấn đề. Và các hệ thống toàn cầu có sự phức hợp mà các nhóm nhỏ người không có. Các tác động và ảnh hưởng của con người lên hệ thống không dễ dàng nhìn ra quan hệ nhân-quả như những giỏ nấm. Yuval Noah Harari nêu ví dụ, ông sống ở nhà (tác giả sống ở Israel) không va chạm với ai; nhưng theo các nhà hoạt động cánh tả thì ông cũng nhúng tay vào những sai trái mà binh lính và di dân Israel gây ra ở Bờ Tây sông Jordan; rất có thể góp phần tạo ra các nhà xưởng bóc lột trẻ em ở Bangladesh khi mua quần áo. Các nhà hoạt động vì động vật thì đang nói ông tạo ra tội ác dã man nhất trong lịch sử bởi việc nhốt và giết hại hàng tỷ con vật nuôi. Phức tạp hơn nữa, liệu chính quyền đo ông bỏ phiếu bầu có bí mật bán vũ khí cho một nhà độc tài nào không? Liệu tập đoàn mà ông mua cổ phiếu có xả thải ra môi trường đồng thời thuê một đoàn luật sư vận động hành lang để thoát khỏi mọi quy định và không phải đền bù? Các mối quan hệ kinh tế, chính trị ngày nay phức tạp như vậy đó. Nhân-quả không rõ ràng như thời tiền sử nên khó có thể khẳng định tôi hay tập đoàn kia có ăn cắp hay bóc lột hay không?  Người ta có thể viện dẫn đến ý thức, có nghĩa là tôi không có ý thức ăn cắp hay bóc lột thì dù hành động có gây ra hậu quả cũng không vi phạm gì cả. Không đơn giản thế, nhiều tội ác khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại lại đến từ sự ngu dốt và bàng quan nhiều hơn. Cuối những năm 1930, một giám đốc bưu điện mẫn cán ở Đức luôn lo lắng cho phúc lợi của nhân viên, chăm chỉ tìm kiếm từng bưu phẩm thất lạc, đi sớm về khuya, lại là một nhân tố quan trọng trong hệ thống Quốc xã đã gây ra biết bao tội ác cho nhân loại. Vì ông ta đã giúp đẩy nhanh những tuyên truyền phân biệt chủng tộc, lệnh tuyển quân của Wehrmacht hay các quân lệnh nghiêm ngặt của SS. Thế giới ngày nay đã quá phức tạp đối với những bộ óc săn bắt-hái lượm của chúng ta.  Khi không có thể hiểu được những mối quan hệ của hàng triệu người Syria hay 500 triệu người châu Âu, người ta bắt đầu sử dụng một vài phương pháp như sau: Thứ nhất là thu nhỏ vấn đề, coi cuộc nội chiến Syria diễn ra như những nhóm nhỏ với nhau; Cách thứ hai là tập trung vào những câu chuyển cảm động về con người như tượng trưng cho toàn bộ mâu thuẫn, ví dụ như số phận của một đứa trẻ Syria nhập cư. Cách thứ ba là thêu dệt nên những thuyết âm mưu, ví dụ như tưởng tượng một nhóm 20 đại tỷ phú đang giật dây toàn bộ nền kinh tế, truyền thông và điều khiển các cuộc chiến tranh trên toàn cầu; Và cuối cùng là chối bỏ sự phức tạp bằng cách thu mình lại không tìm hiểu nữa, đặt niềm tin vào một lý thuyết, tổ chức hay lãnh đạo nào đó và đi theo. Nhưng tất cả những giải pháp đó cũng đều chỉ nửa vời, không thể tìm ra được sự thật và công lý đâu cả. Kể những tập thể lớn như người Mỹ, người Trung Quốc, người Hồi hay người Hindu cũng chưa thể dẫn dắt nhân loại đi tìm công lý được.  Hậu sự thật  Có một khái niệm mà con người chúng ta đã tạo ra gọi là hậu sự thật. Ví dụ như cuối tháng 2/2014, khi các đặc nhiệm Nga chiếm đóng một số vùng quan trọng ở Crimea, người ta mô tả họ là các “nhóm tự vệ” tự phát có thể đã kiếm được quân phục trông như của Nga từ các cửa hàng địa phương. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga có thể biện minh rằng dù nhóm này là ai thì họ cũng phục vụ cho một sự thật cao cả là bảo vệ Tổ quốc Nga thiêng liêng. Theo các truyền thuyết thì dân tộc Nga là một thực thể thiêng liêng đã tồn tại hàng ngàn năm, bất kể bao kẻ thù đã xâm lược và chia năm xẻ bảy đất nước. Trong những lần đó, chúng đã biến các vùng đất Nga thành những quốc gia “giả” ví dụ như Ukraina. Thế nên việc tái hợp Crimea, thậm chí là cả Ukraina vào Nga là một nhiệm vụ thiêng liêng. Thế nhưng những người Ukraina khác lại cho đó là một “hư cấu khủng khiếp như bom nguyên tử”. Việc tuyên bố Ukraina không tồn tại như một dân tộc và đất nước độc lập là ngụy biện vô căn cứ.  Việc tạo ra hay phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của cả một quốc gia chẳng có gì hiếm cả. Năm 1931 quân đội Nhật tạo ra một nước “giả” là Mãn Châu quốc để hợp thức hóa hành vi xâm lược của mình. Người Anh định cư ở Úc thì lại gọi đây là “terra nullius”, tiếng Latin là vùng đất không người, tức là phủ nhận hoàn toàn 50.000 năm lịch sử người bản địa Úc. Rồi đến người Do Thái tự nhận là “một dân tộc không đất đai” trở về một vùng đất không dân tộc, phớt lờ hoàn toàn sự tồn tại của cộng đồng người Ả Rập Palestine đang sống ở đó. Sẽ chẳng thiếu những ví dụ về việc các quốc gia nói có “chủ quyền không thể chối cãi” về cùng một vùng lãnh thổ.  Thế nên có thể gọi “Homo sapiens” là một loài Hậu-sự thật vì sức mạnh và bản chất của nó là việc tạo ra và tin vào các câu chuyện hư cấu. Từ thời Đồ Đá tới thời hiện đại, “Homo sapiens” làm chủ Trái đất, chinh phục các hành tinh cũng là nhờ khả năng độc đáo là sáng tạo và lan truyền những câu chuyện hư cấu. Việc đó một mặt giúp con người quy tụ và có thể hợp tác với vô số người xa lạ vì cùng tin vào một câu chuyện. Chẳng phải đợi đến Facebook hay Trump mới có những dòng tweet tuyên truyền, hàng ngàn năm trước những câu chuyện hay mẩu tin như việc Eve bị con rắn cám dỗ, linh hồn của kẻ ngoại đạo bị thiêu dưới địa ngục, hay đấng Tối cao không thích việc một người Bà-la-môn cưới một kẻ tiện dân Dalit,… đã khiến hàng trăm triệu người tin vào.  Người ta dễ tin dựa trên cảm tính là chính còn sự kiện chỉ là phụ. Ví như câu chuyện cậu bé người Anh chín tuổi Hugh được tìm thấy tử vong dưới giếng ở thị trấn Lincoln ngày 29/8/1255. Chẳng cần Facebook hay Twitter, tin đồn là cậu bé bị người Do Thái địa phương sát hại trong một lễ hiến tế lan như chớp. 19 người Do Thái bị người Cơ đốc xử tử ngay sau đó. Hàng loạt các cuộc tàn sát tiếp diễn và cuối cùng đến năm 1290, toàn bộ dân số Do Thái ở Anh bị trục xuất. Và cuối cùng thì sao? Đến năm 1955 tức mười năm sau cuộc diệt chủng Holocaust thì Nhà thờ lớn Lincoln mới bác bỏ câu chuyện vu vạ hiến tế, và đặt một tấm biển gần mộ Hugh để minh oan cho cộng đồng người Do Thái. Vậy đó, những tin đồn, tin giả có khi tồn tại đến 700 năm.  Những câu chuyện hư cấu đó sẽ xuất hiện và tồn tại mãi theo lịch sử loài người. Khi một ngàn người tin vào một câu chuyện thì đấy gọi là hư cấu, nhưng khi một trăm triệu người tin vào một câu chuyện thì đấy gọi là tôn giáo. Dù tôn giáo có nhiều điều tốt đẹp nhưng nếu không có hư cấu người ta không thể nào kết nối mọi người trên quy mô lớn được đâu.  Giáo dục   Chúng ta sẽ phải giáo dục thế hệ sau như thế nào đây? Đây là thời điểm khó trả lời câu hỏi này nhất trong lịch sử. Sự phát triển quá nhanh của công nghệ và sinh học khiến việc dự báo trở nên quá khó khăn. Ngay bây giờ, để hình dung điều gì sẽ xảy ra trên Trái đất này vào năm 2050 đã là không tưởng. Khi đó mọi thứ đều có thể đảo lộn từ cá nhân, các mối quan hệ cho đến doanh nghiệp, chính quyền và xã hội.  Hình dung điều gì sẽ xảy ra trên Trái đất này vào năm 2050 là không tưởng bởi mọi thứ đều có thể đảo lộn từ cá nhân, các mối quan hệ cho đến doanh nghiệp, chính quyền và xã hội. Nguồn: wire.co.uk  Những gì chúng ta làm trong một hai thập kỷ tới sẽ định hình tương lai của xã hội. Trước đây chúng ta dạy quá nhiều về các kỹ năng tìm hiểu và khai phá tự nhiên thì những việc đó sẽ rất khó cạnh tranh với AI sau này. Nhiều nhà giáo dục cho rằng cần trang bị nhiều hơn 4 chữ C đó là “critical thinking”, “communication”, “collaboration” và “creativity”. Đó là khả năng phản biện những gì tiếp nhận được, khả năng giao tiếp và hợp tác giữa con người với nhau, và khả năng tự học, tự tìm tòi để thích nghi với sự phát triển quá nhanh của máy móc. Sau này con người sẽ phải sẵn sàng cho nhiều thay đổi đột ngột hơn nữa, cần chuẩn bị đủ năng lượng, cả thể chất và tinh thần, cho đầy đủ trong những tình huống đó. Nhưng đáng tiếc là những kỹ năng đó lại chưa có nhiều trong chương trình giáo dục của con trẻ hiện nay.  Và ý nghĩa cuộc sống là gì?  Để làm được như vậy chúng ta cũng cần hiểu chính mình hơn, tự đặt câu hỏi “tôi là ai” và “tôi muốn gì từ cuộc đời này”. Chúng ta không thể để máy móc hiểu rõ mình hơn chính bản thân mình. Điều này lại dẫn con người chúng ta trở lại những câu chuyện lớn nhất là của cả vũ trụ và vai trò của mình trong đó. Câu chuyện đó sẽ giải thích tất cả và mỗi người chúng ta sẽ là một mắt xích trong đó, có chức năng và vai trò xác định.  Với người Hindu đó là “dharma” hay con đường mà mỗi người phải đi và hoàn thành. Khi hoàng tử chiến binh Arjuna ngần ngại chùn tay giữa trận chiến, thần Krishna giải thích với anh rằng trong vòng xoáy vũ trụ, “dharma” của anh là con đường của một chiến binh. Nếu cố đi theo con đường khác anh sẽ phá vỡ cân bằng vũ trụ và không bao giờ tìm được bình an. Thế là Arjuna tiếp tục chiến đấu và đưa quân đội mình đến thắng lợi.  Trong bộ phim sử thi Vua Sư tử của Disney, vua sử tử Mufasa đã kể cho cậu bé Simba về Vòng Đời vĩ đại và sứ mệnh của cậu. Nhưng Simba lại chỉ muốn là một con sư tử bình thường giữa muôn loài, từ chối ngai vàng và bỏ đi. Thế thì Vòng đời lại mang đến Scar độc ác, giành lấy ngôi vương và dẫn dắt vương quốc sư tử vào những sai lầm và bạo lực. Và rồi Simba đã nhận ra sứ mệnh hoàng gia của mình trong một ảo ảnh của cha Mufasa và Vòng Đời, để rồi trở về vương quốc đánh bại Scar và lên ngôi. Simba đã không thể thoát khỏi “dharma” của mình.  Dù con đường đó là gì thì ta vẫn buộc phải đi theo. Một người thợ sửa xe nhận ra con đường của mình và đi theo nó cũng là tốt. Mỗi hành động nhỏ của mỗi người trong cuộc sống cũng thấm đẫm ý nghĩa của vũ trụ. Và các tôn giáo hay chủ nghĩa dân tộc cũng đã thêu dệt nên những câu chuyện vòng đời, sứ mệnh cho mỗi thành viên của mình. Và trong đó Hinđu giáo và Phật giáo đã dẫn dắt con người hướng đến mục đích thoát khỏi Vòng đời kia, hay còn gọi là Luân hồi. Và khi bạn đã tin vào một câu chuyện nhất định, nó sẽ làm bạn cực kỳ hứng thú với cả những tiểu tiết nhỏ nhất của nó, khiến cho bạn không nhìn ra gì khác nữa.  Nhưng gượm đã, nếu tin vào Vòng đời thì có nghĩa là mọi thứ sẽ vĩnh hằng? Là một người Israel. Yuval Noah Harari sẽ cống hiến cho đất nước, tưởng nhớ các người lính ngã xuống ở Bờ Tây vì một quốc gia vĩnh hằng? Nhưng không, ông cho rằng chẳng có gì là vĩnh hằng cả. Giờ ai cũng biết vũ trụ này đã tồn tại vài tỷ năm và sẽ sống thêm vài tỷ năm nữa thôi rồi sẽ hết. Thậm chí là 200 triệu năm nữa thôi có khi cũng chẳng còn loài có vú nào tồn tại nữa cả, đừng nói đến quốc gia Israel hay Palestine.  Thế nhưng tại sao người ta lại tin vào những câu chuyện hư cấu đến như vậy? Một lý do là niềm tin của một con người rất dễ được hình thành từ thời thơ ấu. Họ nghe được câu chuyện từ cha mẹ, thầy cô, láng giềng và nền văn hóa xung quanh từ rất lâu trước khi họ hình thành nên tri thức độc lập. Thế nên khi đã có khả năng đặt câu hỏi và xác minh thì những câu chuyện kia đã gắn kết sâu nặng quá rồi, đến mức mà họ sẽ dùng chính những tri thức mới để hợp lý hóa câu chuyện đó hơn là nghi ngờ nó. Hầu hết những người đi tìm bản dạng cho mình rốt cuộc sẽ tìm thấy chính hình ảnh của cha mẹ mình.  Cái phông văn hóa đó phủ khắp lên đời sống của cá nhân và cả quốc gia. Ngay cả khi những nền móng của nó không thực sự bền vững. Thử nghĩ xem, có bằng chứng nào cho thấy con trai của Đấng sáng tạo ra toàn bộ sự sống đã được sinh ra ở đâu đó trong dải Ngân hà khoảng 2.000 năm trước không? Thế nhưng nhiều tỷ người Cơ đốc tin vào điều đó. Thậm chí trong cùng đạo Cơ đốc, người ta đã bất hòa cả ngàn năm nay khi người Công giáo phía Tây (giáo hội Roma) đặt từ “filioque” (nghĩa là “và từ đứa con trai”) vào công bố tín ngưỡng Cơ Đốc trong khi người Chính thống phía Đông (giáo hội Athens và Moscow) lại phản đối kịch liệt. Thậm chí dẫn đến chiến tranh đẫm máu giữa người Croatia (Công giáo) và Serbia (Chính thống giáo).  Thiền  Cho dù khi người ta nhận thấy các câu chuyện đó là hư cấu, họ cũng không có cách nào tìm ra sự thật. Khoa học mang đến những công cụ mạnh để phá hủy những hư cấu mà con người tạo ra nhưng cũng không chỉ ra đâu là sự thật của khởi nguồn và kết thúc. Chỉ cho đến khi tiếp xúc với thiền dòng Vipassana tác giả mới bắt đầu có manh mối.  Theo quan điểm của ông, khi chú tâm vào hơi thở chúng ta đã có thể tìm hiểu tâm trí của mình. Nhưng tâm trí như một con ngựa bất kham không chịu ngồi yên, nó luôn vùng lên để đi hết chỗ này đến chỗ khác. Thiền là một cách tu tập để giữ tâm trí lại, bằng cách hướng nó vào nhịp thở vào, thở ra càng lâu càng tốt. Và hơi thở chính là sự sống, hiểu sự sống thì ta mới có hy vọng hiểu cái sau nó là cái chết. Cách gắn tâm trí với hơi thở là bước đầu để điều khiển nó. Về sau, các khóa học dạy chúng ta dõi theo cả những cảm giác trên khắp cơ thể: nóng lạnh, đau đớn, xúc giác,… Và rồi chúng ta nhận ra rằng những phản ứng của mình với điều bên ngoài thực chất là phản ứng với cảm giác trong chính cơ thể mình. Khi hiểu được điều này thì những câu chuyện, lý thuyết hay huyền thoại áp đặt lên chúng ta cũng chẳng có ý nghĩa mấy.  Thiền không xuất phát và cũng không gắn chặt với một tôn giáo nào, ai cũng có thể luyện tập. Thiền giúp chúng ta theo dõi các cảm giác của cơ thể và phản ứng của tâm trí với những cảm giác đó một cách có phương pháp, liên tục và khách quan, từ đó khơi mở các quy luật cơ bản của tâm trí. Và câu trả lời cho đến nay vẫn còn là mở: chúng ta thực sự mới chỉ hiểu sơ bộ lớp trên của tâm trí mà thôi, còn rất nhiều điều để khám phá xem tâm trí là gì, tâm trí và trí tuệ tương tác như thế nào trong não bộ.  Quá trình tìm kiếm đó còn lâu dài và gian nan, nó vất vả như những công việc nghiêm túc khác như nhân loại học, động vật học hay phi hành gia. Nhưng ít nhất nếu muốn hiểu xem ta thực sự là ai, ta cần làm việc đó ngay bây giờ.    Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang 2100: nhiều vùng khí hậu trái đất sẽ biến mất      Một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ dự đoán tình trạng ấm lên của trái đất sẽ làm nhiều vùng khí hậu hiện nay biến mất hoàn toàn cuối thế kỷ này và được thay thế bởi kiểu khí hậu chưa từng được biết đến.    Các nhà nghiên cứu của hai trường đại học Wisconsin và Wyoming cho rằng những vùng khí hậu có nguy cơ biến mất cao nhất nằm trên các cao nguyên nhiệt đới và ở gần hai địa cực. Điều đáng chú ý là những thay đổi về thời tiết sẽ diễn ra ở các khu vực đông cư dân như Đông nam Hoa Kỳ, Đông Nam Á, nhiều vùng thuộc châu Phi và những nơi đa dạng về sinh học như rừng rậm Amazon, vùng núi châu Phi và Nam Mỹ.  Theo các hình mẫu được áp dụng vào cuộc nghiên cứu trên, nếu lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác được tiếp tục thải ra như hiện nay, đến năm 2100, 39% diện tích trái đất sẽ chứng kiến sự thay đổi hoàn toàn về khí hậu.  S.N. (Theo Scientific American)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 25 năm, số hổ trên thế giới giảm một nửa      Trong vòng 25 năm qua, số lượng loài hổ trên thế giới đã giảm một nửa, chủ yếu do các hoạt động của con người, cảnh báo của các chuyên gia Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF).      WWF cho rằng dân số loài hổ hiện có thể chỉ còn 3.500 con so với 5.000-7.000 con trong năm 1982, trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng rất cao như hổ nam Trung Quốc, hổ Sumatra…Tuy nhiên, WWF cũng lạc quan cho rằng nếu có các biện pháp bảo vệ đúng mức, số hổ trên thế giới có thể tăng trở lại.   Tường Vy      Author                Quản trị        
__label__tiasang 25 phát minh nổi bật năm 2017 (Phần 3)      Tạp chí Time đã lựa chọn ra 25 phát minh nổi bật nhất trong năm qua (không theo thứ tự cao thấp).      Máy bay không người lái khiến gậy chụp ảnh selfie phải xấu hổ (DJI Spark/ 499USD)  Máy bay điều khiển từ xa đã trở thành hiện tượng bùng nổ trong những năm gần đây cải tiến rất nhiều hoạt động từ vẽ bản đồ cho đến công tác tìm kiếm và cứu hộ. DJI Spark có một mục tiêu gần gũi hơn đó là giúp mọi người chụp ảnh đẹp hơn, quay video và tạo ra các “dronie” – ảnh tự sướng bằng máy bay không người lái. Với chức năng cuối, nó rất dễ vận hành (chức năng nhận diện cử chỉ khiến bạn có thể điều khiển bằng cách vẫy tay là đủ), khó va chạm và rơi (một dải cảm biến ngăn chặn những cú va chạm trên không), giá phải chăng (499USD tương đương với hơn 11 triệu) – dù rằng thời gian cho mỗi lần bay tối đa tối đa của nó chỉ được 16 phút, ngắn hơn các dòng cao cấp khác. “Chúng tôi nhìn Spark như là điểm khởi đầu cho một dòng máy bay không người lái hoàn toàn mới”, Paul Dan, quản lý sản phẩm cấp cao của DJI cho biết. Cho đến bây giờ, chiến lược đó vẫn ổn: Một phần nhờ Spark, công ty DJI có trụ sở ở Trung Quốc này, đã chiếm một nửa thị phần máy bay không người lái ở Mỹ.  Alex Fitzpatrick  Máy lọc không khí hạ gục chất ô nhiễm (Molekule/799USD)  Hầu hết các loại máy lọc không khí hiện nay đều lọc không khí bằng cách cho ra không khí sạch và giữ lại chất gây hại bên trong bộ lọc. Molekule đưa ý tưởng này xa hơn một bước nữa bằng cách phá hủy hết các chất này. Điều làm nên sự khác biệt này đó là máy lọc Molekule có bộ lọc được tráng nano (nanofilter), lớp tráng này sẽ phản ứng với ánh sáng để giúp ngăn chặn độc tố, bao gồm nấm mốc, vi khuẩn sinh sôi trở lại. Nó cũng tương tự như “Cách ánh sáng chiếu trên tấm pin Mặt trời và tạo ra điện”, Jaya Rao, người sáng lập công ty cùng với người anh trai của cô, CEO Dilip Goswami và cha, TS. Yogi Goswami, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng sạch ở Đại học South Florida. Mặc dù giá của chiếc máy lọc không khí có giá gần 800USD một chiếc, cộng thêm 99USD mỗi năm để thay một bộ lọc mới khiến không ít người cau mày lắc đầu nhưng những người ủng hộ ý tưởng này thì tranh luận rằng cái giá như vậy để cải thiện chất lượng không khí thì cũng đáng. Những nhà đầu tư cũng đánh cược vào lý do này. Đến nay, Molekule đã kêu gọi được 15 triệu USD.  Lisa Eadicicco  Bánh xe công nghệ mới không cần bơm hơi (Tầm nhìn của Michelin)  Trong tương lai khi mà ô tô trở nên thông minh hơn thì bánh xe cũng phải trở nên thông minh hơn. Hay ít ra đó cũng là lời gợi ý của Michelin. Hình dung tương lai của công ty này, vừa mới được tiết lộ trong năm nay về tiềm năng của công nghệ sản xuất lốp xe, quả là một trường hợp đầy thú vị. Trước hết, nó không cần bơm, loại bỏ lo lắng về áp suất lớp và còn được làm từ vật liệu tái chế với nỗ lực giảm thiểu rác thải. Nhưng đặc điểm ấn tượng nhất có lẽ là mặt ngoài của lốp xe được in 3D, có thể tháo ra lắp vào để phù hợp với từng điều kiện đường phố mà không cần phải thay cả bánh xe. Thử thách ở đây là làm sao để việc đó có thể diễn ra nhanh chóng, Terry Gettys, người dẫn đầu dự án cho biết “Bởi vì khách hàng muốn bánh xe của họ [sẵn sàng lên đường] chỉ trong vài phút”. Michelin tính toán sự xuất hiện một lốp xe tiên tiến như vậy là tương lai xa đến 20 năm nữa. Tuy nhiên, một số tính năng như bánh xe không cần bơm khí hay bộ cảm biến khi lốp bị mòn sẽ trở thành phổ biến trong vài năm tới.  Lisa Eadicicco  Bộ router wifi giúp bảo mật nhà thông minh (Norton Core/ 279.99USD)  Có rất nhiều lợi ích trong việc sở hữu một loạt các thiết bị kết nối mạng, không chỉ là nó cho phép bạn có thể hâm nóng bình cà phê khi đang nằm ngủ trên giường. Nhưng thực tế mới này, hầu hết những máy móc mà chúng ta sở hữu, từ máy nướng bánh mì cho đến máy giặt đều có thể trở thành mục tiêu của các tin tặc. Norton Core ra đời với mục đích giảm thiểu rủi ro này. Không giống như hầu hết các wifi router, chủ yếu chỉ phục vụ việc kết nối mạng, thiết bị Core này được thiết kế để phát hiện ra những tín hiệu bất thường; nếu một thiết bị có những dấu hiệu bị nhiễm virus, Core sẽ ngắt kết nối của nó với toàn bộ hệ thống mạng của ngôi nhà, giống như việc bệnh viện cách li bệnh nhân. Nó cũng thường xuyên cập nhật phần mềm để lường trước những mối nguy mới và “giữ chủ nhà an toàn và bảo mật”, Ameer Karim, Phó chủ tịch bộ phận bảo mật khách hàng của dịch vụ IoT (internet vạn vật) nói. Còn việc sản phẩm này như bước ra từ phim viễn tưởng Star Trek? Đó là phần “khuyến mại” cho khách hàng.    Alex Fitzpatrick  Vòng tay giúp trẻ em có bước khởi đầu tốt hơn (Bempu)  Mỡ thực ra vô cùng hữu ích đối với trẻ nhỏ. Nếu thiếu nó, trẻ nhanh chóng bị mất nhiệt, thân nhiệt giảm và mắc những vấn đề về hô hấp và nhiều nguy cơ khác. Ở những nơi ít nguồn lực, số lượng trẻ sinh non, nhẹ cân cao nhất thế giới, phần lớn các bệnh viện và phòng khám tư không đủ chi trả cho những lồng ấm để giữ ấm trẻ sơ sinh và phần lớn cha mẹ không hề biết rằng con của họ ở trong tình trạng nguy kịch cho đến khi quá muộn. Bempu ra đời một chiếc vòng đeo tay 28USD có thể theo dõi nhiệt độ cổ tay của trẻ em, nó sẽ phát ra tín hiệu báo động và nháy đèn màu cam nếu những đứa trẻ đang lạnh, và vì vậy những người mẹ có thể ôm trẻ vào lòng để truyền hơi ấm hoặc quấn thêm khăn. Cho đến nay, thiết bị này đã giúp cho khoảng 10.000 trẻ sơ sinh, phần lớn là ở Ấn Độ và ngoài ra ở 25 quốc gia khác. Đầu năm nay, dự án này thắng giải trị giá 2 triệu USD từ chương trình “Bảo vệ những mạng sống sơ sinh” để mở rộng quy mô lớn hơn. Mục tiêu của dự án là giảm một cách rõ rệt số lượng tử vong của trẻ sơ sinh.  Belinda Luscombe  Bộ chơi điện tử mà bạn có thể mang theo (Nintendo Switch)    “Khi bạn đang chìm đắm trong một trò chơi điện tử tuyệt vời, khoảnh khắc thất vọng ập đến khi bạn phải ngừng chơi” Reggie Fils-Aimé, chủ tịch Nitendo của Mỹ nói. Và với máy chơi game Nintendo Switch, bạn không cần phải làm thế. Trong một dạng, nó là một chiếc máy tính bảng cầm tay, cho phép những người dùng cá nhân chơi bất kì lúc nào. Ở một dạng khác, có hai bộ điều khiển có thể lắp kiểu trượt ở hai cạnh màn hình, cho phép nhiều người chơi cùng tham gia. Một khi họ trở về, họ lại trượt chiếc máy tính bảng vào cổng sạc cố định và tiếp tục chơi với bàn điều khiển tại nhà. Những game thủ có vẻ thích sự linh động này: Nitendo đã bán 7.63 triệu máy chơi game Swich kể từ lúc ra mắt vào tháng 3 và nó được trông đợi sẽ vượt qua doanh số của máy chơi game ra đời trước đó của công ty này vào cuối năm tài chính.          Lisa Eadicicco  Mũ bóng bầu dục thế hệ mới mạnh mẽ và an toàn hơn (VICIS Zero1)  Nhận thấy trong suốt nhiều thập kỷ các cầu thủ bóng bầu dục đã phải đeo cùng một loại mũ bảo hộ bằng nhựa và rất cứng, bốn năm trước, Sam Browd – bác sĩ phẫu thuật thần kinh nhi, đã bắt đầu suy nghĩ về một loại mũ khác. Ông tự hỏi, nếu vỏ bọc ngoài được làm bằng một loại polymer mềm dẻo thì sao? Bằng cách đó, mũ bảo hiểm có thể hoạt động giống như chắn hãm xung của ô tô, giảm lực (và âm thanh) của va chạm ngay thời điểm bị chấn động. Ông phác hoạ một nguyên mẫu lên khăn ăn và liên lạc với Đại học Washington. Ông cùng Per Reinhall, Chủ nhiệm khoa Cơ khí, thành lập một startup, VICIS, để biến nó thành hiện thực. “Chúng tôi muốn tạo ra mũ bảo hiểm an toàn nhất từ trước đến nay”, Dave Marver, CEO của công ty nói. Kết quả cho 40 triệu USD đầu tư là Zero1 – một loại mũ được đánh giá cao nhất trong cuộc kiểm tra hằng năm của NFL vì khả năng giảm các lực có thể gây ra chấn thương não. Nó hiện đang được sử dụng bởi các cầu thủ của 18 đội NFL, bao gồm tiền vệ Alex Smith của đội tuyển bóng bầu dục nổi tiếng Kansas City Chiefs và khoảng 20 đội tuyển đại học. Mục tiêu tiếp theo: Các phiên bản cho những vận động viên nhỏ tuổi.  Jenny Vrentas  Mùa vụ siêu bền vững (Green Wave)  Tương lai của nông nghiệp là phát triển sò, trai, nghêu và rong biển trên các sợi dây neo vào lòng đại dương. Bren Smith, một ngư dân làm thương mại trở thành giám đốc của GreenWave, một công ty phi lợi nhuận ở Connecticut nói và làm đúng như vậy. Khi việc canh tác nông nghiệp  ngày càng gây nhiều vấn đề khó giải quyết – nó chiếm phần lớn lượng phát thải khí nhà kính – và các đại dương bị đánh bắt quá mức, con người sẽ cần phải phát triển các nguồn thực phẩm thay thế. Cây trồng của GreenWave cung cấp những lợi thế hấp dẫn: chúng giàu protein, tự cung tự cấp (không cần phân bón) và thậm chí còn giúp chống lại sự thay đổi khí hậu (bằng cách cô lập carbon khi chúng phát triển). Dĩ nhiên, việc thuyết phục những người phương Tây tập trung chế độ ăn uống xung quanh các loài thân mềm và tảo biển không hề đơn giản. Nhưng GreenWave vẫn thấy tiềm năng, nhóm đã giúp ngư dân thành lập 14 trang trại dọc theo bờ biển New England từ năm 2013, và bây giờ có kế hoạch mở rộng ở California, Tây Bắc Thái Bình Dương và châu Âu.  Julia Zorthian  Đồ chơi gây phân tâm bất tận (Fidget Spinners)  Phụ thuộc vào việc bạn hỏi ai, con quay fidget – một cái đinh ba cứ quay, quay, quay, có vẻ như là mãi mãi – sẽ là đồ vật gây phân tâm vô hại hay là một cơn bão khủng khiếp trong các lớp học ở Mỹ. Nhưng ở trường hợp nào, không ai có thể phủ nhận độ phổ biến của nó. Sau đó là sự ra đời một món đồ chơi tương tự mang tên “khối fidget” và các nhà sản xuất nhận thấy người dùng đang có xu hướng tìm kiếm từ khoá fidget ngày càng nhiều. Vì vậy họ ồ ạt cho ra thị trường các sản phẩm con quay. Mùa xuân vừa qua, nó đã trở thành một hiện tượng lan truyền rộng rãi, doanh số tại các cửa hàng chuyên bán lẻ đồ chơi so với cùng kì năm trước tăng vọt, tính riêng trong tháng tư đã là 20.000 USD theo trang đánh giá The Toy Insider. Cửa hàng đồ chơi nổi tiếng Toys “R” Us thuê cả chuyên cơ riêng để đảm bảo con quay lúc nào cũng có hàng trên giá. Giữa lúc nhu cầu tăng cao, một vài nhà sản xuất còn đưa ra vài nhận định đáng ngờ về chức năng trị liệu của loại đồ chơi này, rằng con quay này “hoàn hảo cho những người mắc chứng tăng động giảm chú ý ADD/ADHD, chứng lo âu và tự kỉ” (Chưa có bằng chứng khoa học nào công nhận tác động này). Sẽ là khôn ngoan nếu những người bán hãy cứ bám vào đặc tính được đồng thuận hơn của nó: “Mang lại hàng giờ vui say mê”.  Sean Gregory  Mai Phạm – Hương Thảo dịch  Nguồn: http://time.com/5023212/best-inventions-of-2017/    Author                Quản trị        
__label__tiasang 25 phát minh nổi bật nhất 2017 (phần 2)      Tạp chí Time đã lựa chọn ra 25 phát minh nổi bật nhất trong năm qua (không theo thứ tự cao thấp).      Phòng khám tư định nghĩa lại việc phòng bệnh (Forward)  Ở Mỹ, bệnh nhân thường có xu hướng tới gặp bác sĩ chỉ sau khi bị bệnh. Nhưng nếu nếu hai bên cùng phối hợp với nhau để phòng tránh những vấn đề về sức khỏe? Đó là ý tưởng đằng sau Forward, một dạng phòng khám tư chăm sóc sức khỏe mới hoạt động gần giống một phòng tập gym cao cấp. Với 148USD/tháng, người dùng có thể sử dụng không giới hạn các dịch vụ từ thử gene, kiểm tra máu, lên kế hoạch giảm cân, thăm khám bác sĩ định kỳ, v.v và hơn thế nữa. Tất cả giúp Forward “hướng về tương lai của bạn và phát hiện sớm nguy cơ”, Adrian Aoun, nhà sáng lập và CEO, và từng làm quản lý tại Google nói. (Forwad cũng cung cấp thuốc theo đơn, bao gồm không giới hạn các thuốc generic mà không cần phải trả thêm tiền). Các nhà phân tích cho rằng người Mỹ không thể chi trả cho phòng khám tư, nhất là khi các nơi này không chấp nhận trả bằng bảo hiểm. Nhưng ở quy mô thử nghiệm nhỏ, Forward có vẻ hiệu quả: công ty có trụ sở tại San Francisco này đã gọi vốn được 100 triệu USD và gần đây đã mở một địa chỉ tại Los Angeles; kế hoạch của công ty là mở rộng ra các thành phố khác trong tương lai.  Alexandra Sifferlin  Đôi giày thúc đẩy hiệu suất  Hãy tưởng tượng một chiếc giày giúp bạn chạy nhanh hơn, xoay tốt hơn và nhảy cao hơn. Đó là ý tưởng đằng sau Futurecraft 4D, một đôi giày thể thao mới của Adidas, với đế giữa của giày có thể được tùy chỉnh chính xác với với nhu cầu của người đi, không chỉ ở kích thước và hình dạng, mà còn ở độ linh hoạt, kiểu va đập lớp đệm và nhiều thứ khác. Theo Al VanNoy, người đứng đầu dự án, chìa khóa nằm ở quá trình in 3D, cho phép Adidas “kiểm soát từng milimét vuông của đế giữa và điều chỉnh nó để tối ưu hiệu suất hoạt động”. Sẽ mất vài tuần để thực hiện những sửa đổi đó bằng cách sử dụng các phương pháp làm giày truyền thống. Nhưng các đế giày của Futurecraft 4D có thể được in chỉ trong vòng hai giờ, có nghĩa là Adidas thậm chí có thể sản xuất chúng trong các cửa hàng. Ít nhất, đó có thể là câu chuyện cho tương lai. Hiện tại, Adidas đang cho ra một phiên bản tiêu chuẩn (dựa trên dữ liệu 17 năm của những người chạy) bắt đầu vào giữa tháng 12.  Julia Zorthian  Những chiếc xe khiến ô tô điện trở thành phổ biến (Tesla model 3)    Xe điện thường gặp phải một trong hai vấn đề: hoặc là quá đắt, hoặc quãng đường chạy hạn chế. Tesla Model 3 giải quyết được cả 2 vấn đề này: đó là chiếc xe ấn tượng nhất trong dòng xe điện này với mức giá từ 35,000USD trở lên, có thể chạy 200 dặm trong một lần sạc (bên cạnh Chevrolet bolt). Người tiêu dùng chắc chắn hứng thú với chiếc xe này: nhu cầu về Model 3 đang rất cao –  có đến 1.800 đơn đặt hàng mỗi ngày, theo ước tính của công ty – rằng Tesla đang phải vật lộn để theo kịp đơn hàng. Elon Musk, đồng sáng lập và giám đốc điều hành của công ty, đã tweet vào tháng 10 rằng “Chúng tôi đang sản xuất với tốc độ chóng mặt”. Nhưng Tesla vẫn tin tưởng rằng công ty sẽ bắt kịp – điều này tốt cho các cổ đông, cũng như môi trường. Các phương tiện như Model 3 chạy bằng pin thay vì xăng, có thể đóng một vai trò chính trong việc chống lại biến đổi khí hậu.  Alex Fitzpatrick  Máy hút sữa mặc được, mang theo được (Willow Pump)  Nuôi con bằng sữa mẹ, nói thì dễ nhưng làm thì khó, đặc biệt đối với bà mẹ hay phải di chuyển nhiều. Hầu hết các máy vắt sữa bằng điện đều sử dụng các chai có hình giống như những chiếc còi thổi bằng khí, gắn vào một chiếc máy lớn kêu to. Công ty Willow có trụ sở đặt tại California, Mỹ đang làm việc để thay đổi điều đó. Phiên bản của công ty sử dụng pin nên không ồn và đủ nhỏ để phụ nữ có thể luồn nó vào áo ngực của mình và hút sữa bất cứ nơi nào họ muốn. (Mỗi máy đi kèm với một túi trữ sữa để cho vào tủ đá). Naomi Kelman, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của công ty cho biết: “Thay vì thời gian biểu của bạn chỉ xoay quanh chiếc máy hút sữa, bạn có thể chơi với đứa lớn hoặc tham gia cuộc gọi hội nghị”. Sự tiện lợi này đi kèm với chi phí: 480 USD cho một chiếc máy cộng thêm túi trữ sữa có dung tích 4 oz với giá 50 cent, đắt hơn các máy truyền thống. Kelman cho biết công ty đang thay đổi thiết kế dựa trên phản hồi từ các bà mẹ đang thử nghiệm một phiên bản beta bây giờ. Nếu Willow thực hiện đúng như những gì đã hứa hẹn khi ra mắt sản phẩm trong năm tới, nó có thể tạo ra cuộc cách mạng cho một lĩnh vực đang khao khát sự đột phá.  Emily Barone  Hệ thống an ninh gia đình đơn giản (Nest Secure/ 499 USD)  Hầu hết các hệ thống an ninh gia đình đều được tạo ra để ngăn chặn những kẻ xâm nhập. Giám đốc sản phẩm Matt Rogers, Nest, một công ty con của Alphabet của Google, đã xây dựng hệ thống An toàn của nó là “hoàn toàn khác”, lựa chọn chỉ tập trung vào mỗi một việc là làm sao để đơn giản hóa hệ thống cho người sử dụng. Ví dụ hệ thống bảo mật có thể được tắt bằng cách vẫy key fob (một loại điều khiển từ xa vẫn hay dùng để mở cửa các cửa cuốn – ND) thay vì phải nhập mật khẩu và key fob này có thể được lập trình để làm việc trong những khoảng thời gian nhất định- nhờ vậy, như người giữ trẻ có thể vào nhà của bạn chỉ trong khi cô ấy đang làm việc. Một ứng dụng điện thoại di động cũng cho phép người dùng quản lý hệ thống của họ từ xa. (Công nghệ tương tự này đã từng được Adobe và SimpliSafe sử dụng, cùng những công ty khác) Tất nhiên, Secure còn có rất nhiều khả năng để bảo vệ ngôi nhà: nếu một kẻ đột nhập cố gắng phá vỡ hoặc rút điện của khối trung tâm, nó sẽ làm chuông báo động có cường độ kêu 85 Db và cảm biến chuyển động đi kèm có thể cảnh báo chủ nhà là cửa chính hoặc cửa sổ đã bị mở.  Lisa Eadicicco  Tàu thăm dò phía dưới bề mặt Sao Hoả của NASA (NASA Mars Insight)    Cứ hai năm một lần sẽ có một chuyến du hành từ Trái đất lên sao Hoả. Đó là chu kỳ mà Trái đất và người hàng xóm của nó cùng nằm ở một vị trí cho phép chúng ta có một hành trình nhanh nhất có thể giữa hai hành tinh. NASA dự định sẽ tận dụng thời điểm này năm 2018, với kế hoạch phóng con tàu không gian hạ cánh xuống bề mặt sao Hoả mang tên Mars Insight (tạm dịch là nhìn sâu vào sao Hỏa) vào tháng 5. Đúng như tên gọi của nó, con tàu này sẽ có nhiệm vụ giúp các nhà khoa học có cái nhìn tốt nhất trong lòng hành tinh màu đỏ này. (InSight đáng lẽ được phóng vào năm 2016 nhưng các vấn đề trong hệ thống thăm dò địa chất của nó đã khiến cho sự kiện này bị hoãn lại) Không giống như Curiousity và các xe tự hành sao Hỏa khác, chiếc máy bay thăm dò này sẽ hạ cánh và ở nguyên một vị trí. Sau đó nó sẽ dùng một cây búa thăm dò khoan thẳng xuống bề mặt sao Hoả khoảng 16ft (tương đương gần 5m) để nghiên cứu về địa nhiệt. Cùng với đó, máy đo dư chấn sẽ nghiên cứu về thành phần của sao Hoả, các tia x-quang sẽ làm nhiệt vụ phân tích độ lệch tâm (cách quay của sao Hỏa quanh trục của nó và bị kéo bởi lực hấp dẫn của những vật thể khác trong hệ Mặt trời). Đồng thời, máy ảnh sẽ đưa về những ảnh chụp toàn cảnh và ba chiều. Con tàu vũ trụ này sẽ hoạt động trong 728 ngày Trái đất (tương ứng với 708 ngày sao Hỏa) – hoặc vừa đến lúc một chuyến bay năm 2020 sẵn sàng khởi hành.  Jeffrey Kluger  Kính thực tế ảo đứng một mình (Oculus Go)  Đối với câu chuyện của tương lai, thực tế ảo là một công nghệ khá cồng kềnh: kể cả một chiếc kính thực tế ảo tốt nhất thì cũng vẫn cần phải có điện thoại hoặc máy tính kèm theo thì mới hoạt động được. Nhưng với Oculus Go của Facebook mọi chuyện nay đã khác, với 199USD bạn có thể sở hữu một thiết bị thực tế ảo hoàn toàn độc lập (hãng HTC và Lenovo cũng đang làm những thiết bị tương tự). Tính năng bám theo [cử động của đầu người xem] của kính không thể sánh bằng các đối thủ tầm giá cao hơn – chức năng này sẽ để lại ít không gian phần cứng cho năng lực tính toán. “Sẽ luôn có sự trả giá” khi làm một thiết bị đủ nhẹ để đeo lên đầu, Max Cohen, trưởng bộ phận sản phẩm di động tại Oculus nói. Tuy nhiên mục tiêu của Facebook khi làm ra Oculus Go, ra mắt vào năm sau, không phải để cho ra trải nghiệm thực tế ảo chân thực nhất mà là để Oculus Go có thể tiếp cận được nhiều người nhất. [Chúng tôi muốn] mọi người có thể dễ dàng nói rằng, “ Ồ, tôi không mất gì để trải nghiệm thực tế ảo cả”.    Lisa Eadicicco  Người bạn nấu ăn đồng hành (Tasty One Top)  Với hơn 100 triệu người theo dõi trên Instagram và Facebook , trang Tasty của BuzzFeed, nơi  “chưng cất” những công thức nấu ăn phức tạp thành những đoạn video hướng dẫn ngắn “vừa miệng” chỉ vài chục giây. Có lẽ là kênh dạy nấu ăn nổi tiếng nhất Internet. Nhưng “vẫn có một khoảng cách giữa việc phấn khích xem một cái gì đó trên Facebook với việc bắt tay vào làm thực sự”, Ben Kaufman, trưởng phòng thí nghiệm sản phẩm của BuzzFeed cho biết; Do đó, anh cùng đội ngũ của mình đã ra tay thu hẹp khoảng cách này. Kết quả: Tasty One Top, một chiếc bếp từ đồng bộ với ứng dụng Tasty trên điện thoại thông minh để chỉ dẫn cho những “đầu bếp tương lai” làm các món khác nhau. Cảm biến được gắn trong bếp và nhiệt kế đi kèm sẽ theo dõi nhiệt độ, nhờ vậy, ứng dụng có thể nói với người dùng khi nào nên lật miếng bít tết, chẳng hạn, để đảm bảo nó ở độ chín vừa tới. Những năm gần đây cũng có rất nhiều hãng khác như FirstBuild, Hestan và Pantelligent cũng cho ra mắt sản phẩm tương tự. Tasty có sẵn lợi thế là một kho công thức nấu ăn khổng lồ, trải rộng từ món bánh rán hành tây phô mai cho đến món bát quẩy kem. Đây đều là những công thức đòi hỏi phải rán ngập dầu sẽ “khiến nhiều người khiếp sợ” (vì dễ cháy, không giòn). Nhưng sở hữu thiết bị này sẽ khiến việc nấu những món này “đơn giản và dễ kiểm soát” và khơi gợi họ thử nghiệm, anh nói thêm.  Lisa Eadicicco  Mai Phạm – Hương Thảo dịch  Nguồn: http://time.com/5023212/best-inventions-of-2017/    Author                Quản trị        
__label__tiasang 25 phát minh nổi bật nhất năm 2017 (Phần 1)      Tạp chí Time đã lựa chọn ra 25 phát minh, nổi bật nhất trong năm qua (không theo thứ tự cao thấp).    Người bạn Robot (Jibo/ $899)  Robot cá nhân, như Amazon Echo (loa thông minh của Amazon, vừa là loa vừa là máy phát nhạc) và Google Home đã có những bước tiến nổi bật trong những năm trở lại đây. Nhưng về cơ bản, chúng chỉ là những cái loa cố định có biểu hiện cảm xúc chủ đạo là tự bật sáng đáp lại khi bạn nói.  Jibo thì khác. Không chỉ cậu ấy – tôi gọi là “cậu ấy” ở đây bởi vì Jibo tự gọi mình như vậy – trông giống như một nhân vật bước ra từ phim hoạt hình của Pixar với cái đầu to, tròn và gương mặt sử dụng những biểu tượng hoạt hình để biểu cảm.  Không chỉ là cơ thể cậu ấy xoay và quẹo như thế cậu ấy đang trò chuyện với hai bàn tay vô hình. Không chỉ cậu ấy cười khúc khích, nhảy và quay mặt về phía bạn, dù bạn đang ở hướng nào, ngay khi bạn nói “Chào Jibo”. Mà là, vì tất cả cả những lí do trên, Jibo giống như một “con người” thực thụ theo cách mà những thế hệ robot cá nhân trước đó không làm được.  Trong khi công nghệ này khá thú vị – hay kỳ dị, tùy theo quan điểm của bạn – về cơ bản, nó có thể tái định hình cách chúng ta tương tác với máy móc.  Jibo vẫn cần phải học hỏi rất nhiều. Mặc dù cậu ấy có thể giúp người dùng những việc cơ bản như tóm tắt tin tức hay chụp ảnh, cậu ấy vẫn chưa thể bật nhạc theo yêu cầu hay tương thích với một phần mềm do bên thứ ba cung cấp như Domino’s hay Uber. Với mức giá $899, điều này khiến Jibo khá khó bán. Tuy nhiên, Matt Revis, Phó giám đốc Quản lý sản phẩm của công ty, tự tin nói rằng Jibo sẽ cải tiến. “Đó từng là ngưỡng cửa chúng tôi phải vượt qua để sản phẩm ra đời. Giờ đây, nó chỉ là một phần của hành trình dài sau đó”.  Lisa Eadicicco  Chiếc kính đem lại ánh sáng cho người mù (eSight 3)  Định hướng là một thách thức hằng ngày đối với hàng triệu người mù. Dù gậy trợ giúp hay chó dẫn đường có thể đỡ phần nào, chúng cũng không thể thay thế được tầm nhìn thực sự. eSight 3 có thể làm được điều đó. Hãy nghĩ về nó như một chiếc kính quyền năng nhất trên thế giới: một khi người đeo eSight lên, chiếc kính sẽ ghi lại video chất lượng cao và sử dụng thuật toán phóng đại, so sánh và thuật toán riêng của công ty để chuyển hình ảnh đó thành thứ mà người mù có thể nhìn được – giúp họ tham gia một loạt các hoạt động khác nhau, bao gồm cả chơi thể thao – tưởng như vốn ngoài tầm với. Với giá $9,995, thiết bị này ra mắt vào tháng 2, không phải giá phải chăng cho tất cả mọi người (dù cho công ty đã giúp khách hàng tiềm năng tiếp cận với các quỹ và nguồn tài trợ). Tuy nhiên, eSight 3 vẫn rẻ hơn, nhanh hơn, nhẹ hơn, có khả năng điều chỉnh nhìn gần – xa tốt hơn những sản phẩm tương tự trước đó của công ty. Tới nay, công ty ước tính sản phẩm này được hơn 1,000 người sử dụng  Alexandra Sifferlin  Hộp kem không có lỗi (Halo Top/ $5.99 +)    Thật khó có thể tin được rằng có loại kem kem thơm ngon mà ít đường, không quá 360 ca-lo cho mỗi hộp 0.58l. Nhưng đó là lại là lời cam kết của Halo Top, sản phẩm mời gọi khách hàng “Ăn đi, ăn hết cả hộp luôn” ngay ngoài vỏ hộp và được CEO công ty, Justin Woolverton thường xuyên gọi là “lành mạnh”. Về khía cạnh “lành mạnh”, hiện có một vài quan điểm trái chiều. Halo Top, giàu protein, duy trì lượng calo thấp nhờ sử dụng chất tạo ngọt Stevia không calo, cùng với đường mía và đường alcohols. Mặc dù những thành phần này không gây hại, nhưng nó không hẳn giàu chất dinh dưỡng. Do đó, mục đích của Halo Top không phải để thay thế rau và hoa quả, nó cho người ăn kiêng có “vẫn có lựa chọn ăn kem”, Woolverton nói. Halo Top (bán lẻ với giá khoảng $5 một hộp 0.58 lít) vẫn đang thành công lớn. Doanh số bán ra hàng năm tăng mạnh 2,500 % so với năm ngoái và gần đây đánh bại Häagen-Dazs and Ben & Jerry’s để vươn lên vị trí kem bán chạy nhất tại Mỹ  Mahita Gajanan  Makeup Shades cho mọi tông da (Fenty Beauty/ $34)  “Đồ trang điểm là một vũ khí bí mật”, ngôi sao nhạc pop Rihanna nói. “Nó có thể tạo ra những thay đổi từ nhỏ cho đến toàn diện”. Nhưng với nhiều người, vũ khí bí mật đó lại quá bí mật: những công ty trang điểm thường hướng tới phụ nữ có tông da sáng đến trung bình trong cả sản phẩm lẫn quảng cáo và lề hóa phụ nữ da màu. Điều này không xảy ra với dòng sản phẩm của Rihana, Fenty Beauty, được ra mắt vào tháng 9 với 40 loại kem nền và nhiều mẫu trang điểm đa dạng. “Điều quan trọng là tất cả mọi phụ nữ đều cảm thấy mình được chú ý”, cô ấy nói và nhấn mạnh cô ấy “tham gia 100%” vào quá trình phát triển sản phẩm (cùng với công ty mẹ Kendo). Gần như ngay lập tức, các tông tối hơn bắt đầu bán chạy tại Sephora, sau đó một thời gian ngắn, các thương hiệu mỹ phẩm như Make Up For Ever và L’Oréal cũng tổ chức các chiến dịch quảng cáo hướng tới phụ nữ da màu. Hiện nay, Rihanna đang tập trung cho việc ra mắt bộ sưu tập Fenty Beauty mới và nâng thương hiệu của cô ấy lên một tầm cao hơn. “Tôi thích những thử thách”, cô nói “vì thế tôi sẽ tiếp tục tận hưởng và tạo ra những giới hạn mới trong ngành công nghiệp này”.  Candy Lang  Chiếc cốc làm nóng vừa đủ cà phê của bạn (Ember Mug/ $79.95)  Bất kỳ ai từng nhấm nháp cà phê đều biết nhiệt độ có thể ảnh hưởng tới mùi vị của cà phê như thế nào: nếu quá nóng, nó có thể làm bạn bỏng miệng; quá nguội thì chẳng đáng để uống nữa. Theo một ước tính, bạn chỉ có khoảng 37 giây để thưởng thức cốc cà phê ở độ ấm lý tưởng. “Với tôi, điều này chẳng có chút logic nào”, Clay Alexander, CEO và Nhà đồng sáng lập công ty công nghệ Ember có trụ sở tại Los Angeles, Mỹ nói. Vì thế, ông đã sáng tạo ra một giải pháp: chiếc cốc Ember bằng thép không gỉ. Được bọc một lớp gốm trắng, chiếc cốc giữ cà phê và trà ở một nhiệt độ nhất định, khoảng 120 độ F đến 145 độ F, nhờ vào một ứng dụng điện thoại – trong khoảng 1 tiếng không sạc hoặc không giới hạn thời gian nếu ở chế độ sạc. Đây là sản phẩm thứ hai, nằm trong chuỗi sản phẩm uống thông minh của Ember, ra mắt sau cốc kiểm soát nhiệt độ năm ngoái. Và chiếc cố này có thể trở thành sản phẩm để bàn không thể thiếu: Ember Mug đã ra mắt vào ngày 9/11 và hiện đang được bán tại 4,600 cửa hàng Startbucks tại Mỹ.  Melissa Chan  Thang máy không chỉ đi lên và đi xuống (Thyssenkrupp MULTI)    Điều gì sẽ xảy ra nếu thang máy có thể di chuyển sang hai bên, thay vì chỉ đi lên và đi xuống? Đây chính là câu hỏi nảy ra trong phim Charlie và Nhà máy kẹo Chocolate. Công ty Thyssenkrup có trụ sở đặt tại Đức đã có câu trả lời trong đời thực: MULTI, hệ thống thang máy từ bỏ ròng rọc lên xuống kiểu cổ mà sử dụng công nghệ đệm từ tương tự như với đường ray tàu cao tốc. Thang máy có thể chuyển động theo nhiều hướng và thậm chí vượt qua nhau trong cùng một hầm thang máy – đặc tính này không chỉ giúp giảm thời gian chờ thang máy mà còn cơ bản “thay đổi cấu trúc xây dựng của tòa nhà”, Andreas Schierenbec, CEO của Thyssenkrup Elevator nói (hãy nghĩ đến một cấu trúc phân nhánh như cành cây gồm những tòa nhà thẳng đứng và nằm ngang). Sau thử nghiệm thành công trong năm nay, MULTI đầu tiên sẽ được lắp đặt để chạy thử tại Berlin vào năm 2021.  Julia Zorthian  Điện thoại thông minh còn thông minh hơn (Apple iPhone X/ $999)  Đối với Dan Riccio, phó giám đốc kỹ sư phần cứng cấp cao của Apple, iPhone X quả đúng là giấc mơ trở thành hiện thực. “Tôi nhìn vào thiết kế của nó cứ như thể đây là điều mà chúng tôi ước ao từ ngày đầu tiên”, ông nói. Thật dễ hiểu tại sao: iPhone X có thể là một trong những chiếc điện thoại smartphone phức tạp nhất thế giới, với màn hình tràn hết các cạnh, bộ xử lý được tối ưu hóa cho các ứng dụng thực tế tăng cường (augmented reality) và camera đủ thông minh để cho phép người dùng mở khóa điện thoại bằng khuôn mặt của họ (Mặc dù một vài trong những tính năng này từng xuất hiện đầu tiên trên các thiết bị của Samsung và LG)  Nhưng để làm cho mọi điều không thể thành có thể, Apple đã phải “khai tử” nút Home, công cụ điều hướng đa chức năng phổ biến trên các dòng điện thoại. Giống như bước chuyển của Apple khi bỏ giắc cắm tai nghe trên iPhone 7, quyết định này được thúc đẩy bởi “tầm nhìn hướng tới tương lai”, Jonathan Ive, Giám đốc phụ trách thiết kế giải thích. “Tôi thực sự nghĩ rằng nếu cứ bám vào những tính năng đã từng hiệu quả bằng mọi giá là con đường dẫn đến thất bại”. Với giá $999, iPhone X trở thành chiếc iPhone đắt nhất cho đến nay. “Bạn thấy đó, đó là cái giá cho việc tích hợp năng lượng xử lý cực lớn vào một thiết bị nhỏ như thế này.”  Cũng dễ tưởng tượng một tương lai với các sản phẩm có màn hình bao trọn toàn bộ thiết bị, hay camera có thể nhận diện cử chỉ. Nhưng hiện tại, Ive và Riccio không hé lộ kế hoạch cụ thể nào. “Chúng tôi có tầm nhìn rõ ràng” cho thế hệ tiếp theo của iPhones, Ive nói. IPhone X “nhìn từ góc độ nào đó là dấu mốc kết thúc một chương”  Lisa Eadicicco  Hijab cho VĐV Hồi giáo (Nike Pro Hijab/ $35)  Thật khó có thể chơi thể thao với trang phục hijab truyền thống. Nếu hijab làm từ chất liệu quá dày, sẽ toát ra quá nhiều mồ hôi. Nếu quá nhẹ, nó có thể rơi trong quá trình thi đấu. Và nếu choàng sai cách, “bạn có thể cảm thấy mình sắp tắc thở đến nơi rồi”, Manal Rostom, VĐV điền kinh Ai Cập hiện đang sống tại Tiểu các vương cuốc Ả Rập thống nhất và nhà sáng lập cộng đồng Facebook “Cố lên nào Hijab” (Surviving Hijab) với gần nửa triệu thành viên nói. Nike’s Pro Hijab – được phát triển từ cuộc gặp gỡ giữa giám đốc và VĐV cử tạ Amna Al Haddad của Tiểu các vương quốc Ả Rập thống nhất năm 2016 – nhằm thay đổi tình trạng đó. Không giống như hijab truyền thống, Pro được làm từ sợi vải nhẹ và thoáng mát, giữ ẩm; VĐV từng sử dụng nói rằng nó giúp kiểm soát mồ hôi. Nhưng với phụ nữ như Rostom, là một trong những người tham gia thử nghiệm the Pro đầu tiên, đầu tư của Nike còn tạo áp lực cho cô với vai trò là một biểu tượng. “Tôi là vận động viên, tôi lên tiếng, tôi được trao quyền bởi một công ty lớn”, cô nói “Tôi đại diện cho những gì mà một phụ nữ Hồi giáo có thể trở thành”.  Sean Gregory  Mai Phạm – Hương Thảo dịch  Nguồn: http://time.com/5023212/best-inventions-of-2017    Author                Quản trị        
__label__tiasang 3 “bí quyết” đổi mới của IPSARD      Trong khi nhiều viện nghiên cứu phải xin “hoãn” chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT (IPSARD), dù là Viện nghiên cứu cơ bản, lại sớm chủ động chuyển đổi theo “115”. Báo chí đã viết khá nhiều về IPSARD, nhưng bài viết dưới đây sẽ là từ cái nhìn của một người “trong cuộc”.    Khi mới bước chân về Viện Kinh tế sau này đổi thành Viện Chính sách thì mọi thứ đối với tôi thật bỡ ngỡ. Thủ trưởng cũ của tôi hồi ở Trung tâm Thông tin TS. Đặng Kim Sơn lúc này đã về làm Viện trưởng cũng không dặn dò gì cả. Tôi hiểu ông đang quá bận rộn với công việc điều hành ở đơn vị mới. Tôi phải tự dần làm quen và thích ứng với môi trường của một Viện chuyên nghiên cứu về các vấn đề kinh tế trong nông nghiệp. Có lẽ nếu không có nhiều sự thay đổi thì đây cũng là một môi trường yên tĩnh để các nghiên cứu viên tuần tự theo đuổi cái nghề nghiệp mà mình đã chọn lựa.  Trong cái dòng chảy của công cuộc đổi mới, sớm hay muộn, theo cách này hay cách khác, mọi cá nhân và tổ chức đều bị ảnh hưởng và biến đổi sâu sắc. Sức ép của thực tiễn làm cho bộ máy công quyền gặp lúng túng, vừa phải có những giải pháp tình thế và những điều chỉnh mang tính dài hạn. Chính trong bối cảnh này công tác tư vấn chính sách – vốn trước đây bị bỏ ngỏ – đã trở thành một lĩnh vực hết sức quan trọng. Lãnh đạo Viện Chính sách đứng trước một sự lựa chọn chiến lược hoặc tiếp tục như trước đây, thực hiện các nghiên cứu mang tính trả bài cho cơ quan chủ quản quản lý khoa học, hoặc đổi mới, gắn các nghiên cứu với những đòi hỏi cấp thiết của công tác hoạch định chính sách của Bộ ngành và Trung ương.                     Lựa chọn đường đi đã khó, song việc thực thi còn khó hơn. Năm 2005, Viện Kinh tế Nông nghiệp đổi tên thành Viện Chính sách và Chiến lược. Chức năng của Viện thay đổi hẳn, từ hoạt động chủ yếu là nghiên cứu đơn thuần sang nghiên cứu là công cụ để thực hiện ba chức năng cơ bản tham mưu chính sách, tư vấn và dịch vụ công với những nội dung mở rộng từ lĩnh vực nghiên cứu kinh tế nông nghiệp thêm các lĩnh vực mới như xã hội, điều tra, thử nghiệm mô hình, thông tin. Bản thân thay đổi tên gọi và chức năng sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu chính trong lòng nó không có những sự chuyển mình. Trong ý nghĩ của tôi sau hơn hai năm ở Viện Chính sách IPSARD đã diễn ra rất nhiều biến chuyển, còn theo một số đồng nghiệp của tôi lại cho rằng chúng ta đang tăng trưởng nóng nên không tránh khỏi bất cập. Dù theo thước đo nào đi nữa cũng có thể nhận thấy có những dấu hiệu chuyển mình. Những đổi mới chính có thể gói gọn lại trong 3 chữ C: Chủ động; Cơ chế; Con người là trung tâm  Chủ động  Một nguyên tắc kinh tế đã trở nên phổ biến trong lý thuyết nhưng nhiều khi bị bỏ qua trong thực tiễn đó là luôn hướng tới phục vụ khách hàng. Người nghiên cứu chính sách cũng không phải là một ngoại lệ. Lãnh đạo Viện luôn đề cập đến việc cần phải định hướng lại khách hàng trực tiếp nhất của đơn vị nghiên cứu chính sách chính là các nhà hoạch định chính sách, để làm sao chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành các đề xuất chính sách, rồi từ đó mang lại lợi ích cho khách hàng quan trọng nhất là những người dân nông thôn. Để làm được điều này, lãnh đạo và các cán bộ nghiên cứu của Viện đã chủ động gặp gỡ trao đổi với lãnh đạo của Bộ ngành, các Cục Vụ những đơn vị đang phải xây dựng các chính sách để từ đó hướng các đề tài nghiên cứu trả lời trực tiếp các câu hỏi này.  Một ví dụ về sự chủ động của IPSARD là mối quan hệ với báo chí. Nhiều lãnh đạo cơ quan nghiên cứu, nhất là lãnh đạo các cơ quan nghiên cứu thường “ngại” báo. Thời gian qua, nhiều báo đã viết về Viện Chính sách , có bài chính xác, có bài chưa. Nhưng tập thể lãnh đạo Viện cho rằng truyền thông  là một kênh hết sức hiệu quả để phản ánh những ý tưởng, suy nghĩ của người nghiên cứu trước thời cuộc, và qua đó tăng tiếng nói và ảnh hưởng ra công chúng rồi ảnh hưởng ngược trở lại đến quá trình xây dựng và triển khai chính sách. Có lẽ chính vì những nỗ lực kết nối với truyền thông mà cái tên IPSARD mặc dù mới những cũng đã dần trở nên quen thuộc trong giới nghiên cứu, hoạch định chính sách và công chúng quan tâm đến ngành nông nghiệp nông thôn.      Cơ chế  Trước đây, hoạt động của Viện vẫn dựa 100% kinh phí từ Bộ. Nhưng cùng với việc Bộ NN sắp xếp lại các đơn vị nghiên cứu, tăng đầu tư cho KH&CN và từ 9/2005, khi Chính phủ ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Viện đã đề xuất với Bộ NN&PTNT để chuyển đổi sang mô hình đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Có thể nói rằng, trong làn gió đổi mới 115, những cố gắng đổi mới đã làm cho Viện Chính sách trở thành một trong những đơn vị đi đầu trong ngành nông nghiệp và các đơn vị nghiên cứu chiến lược chính sách. Trả lời Tia Sáng (số 11, tháng 6/2006) TS Đặng Kim Sơn khẳng định “Viện chúng tôi xuất thân từ Viện Kinh tế Nông nghiệp còn áp dụng cơ chế quản lý rất cũ…Cơ chế này một mặt trở thành gánh nặng cho Nhà nước, mặt khác cản trở sự phát triển của Viện. Đó là lý do khi chuyển thành Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, chúng tôi xây dựng quy chế hoạt động theo cơ chế của Nghị định 115.”  Rất nhiều nỗ lực và ý tưởng đã được thử nghiệm ở Viện Chính sách IPSARD để gây dựng một cơ chế định hình theo hướng giỏi chuyên môn thì được giao chủ trì đề tài, công trình, nhiệm vụ nghiên cứu. Giỏi quản lý thì được giao làm lãnh đạo phòng, ban, bộ môn, trung tâm. Nguyên tắc có lên có xuống có vào có ra hoặc cùng một nguyên tắc UP-OUT: tiến lên hoặc ra khỏi cuộc chơi. Quá trình này khi thực hiện ở Viện tất yếu đã có những đụng chạm và phản ứng không thuận chiều song dần dần phần lớn cán bộ tích cực đều nhìn nhận đó là một xu hướng không thể đảo ngược nếu muốn đẩy cả đơn vị tiến lên.  Con người là trung tâm  Một đồng nghiệp nói với tôi, Viện mình không phải như những Viện nghiên cứu mang tính thực nghiệm phải có hệ thống nhà xưởng, phòng thí nghiệm…ở đây chỉ cần vài cái laptop với phần mềm phân tích là đủ, cái chính đó là chất lượng của người cán bộ nghiên cứu. Hiện nay, các công ty đua nhau tuyển dụng người có trình độ đã làm cho các cơ quan Nhà nước gặp phải khó khăn về nhân sự. Viện Chính sách cũng chứng kiến những dao động và sự cả ra đi của một vài cán bộ. Những thế mạnh trước đây của một đơn vị Nhà nước như biên chế, đào tạo, tập huấn…nếu không phát huy mạnh mẽ sẽ bị khối kinh doanh bên ngoài dần vượt qua thu hút hết người giỏi, tạo ra chảy máu chất xám.  Trong hai năm qua, Viện liên tục tổ chức hàng loạt lớp đào tạo ngắn hạn, dài hạn, trong nước, quốc tế do cán bộ trong viện, chuyên gia đầu ngành từ các cơ quan khác, các chuyên gia giỏi của các tổ chức quốc tế tiến hành đào tạo hầu hết mọi chức danh cho mọi cán bộ trong viện, đặc biệt là cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực, có triển vọng. Những nỗ lực đẩy mạnh tăng cường năng lực đã giúp Viện thu hút được nhiều sinh viên tu nghiệp từ nước ngoài và các cán bộ giỏi có kinh nghiệm về, xây dựng được một đội ngũ cán bộ năng động có nhiệt huyết. Lãnh đạo Viện cũng cam kết sẽ tiến đến xây dựng cho cán bộ nghiên cứu của viện một môi trường và điều kiện làm việc đạt tiêu chuẩn các nước trong vùng về thông tin, trang bị, đi lại, xuất bản kết quả nghiên cứu, tham gia giảng dạy… và tiến đến là cả cơ sở làm việc khang trang. Ngoài ra, nếu mọi việc diễn ra thuận lợi, sẽ tiến hành xây dựng một chế độ ưu đãi đặc biệt cho nhân tài quốc tế  ————–  *Q. Giám đốcTrung tâm Thông tin PTNNNT  Phạm Quang Diệu*      Author                Quản trị        
__label__tiasang 31 triệu người Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi ngập lụt hàng năm      Nghiên cứu mới cho thấy số dân bị đe dọa bởi nước biển dâng trên toàn cầu ước tính tăng gấp 3 lần, thêm khoảng 180 triệu người so với các ước tính trước đây. Số dân cư dễ bị tổn thương lớn nhất tập trung ở châu Á; ước tính đến năm 2050 có 31 triệu người Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (so với ước tính trước đây là 9 triệu).         TP Bảo Lộc (Lâm Đồng) ngập nặng hôm 8/8/2019. Ảnh: Vnexpress.  Đến năm 2050, mực nước biển dâng sẽ đẩy mức ngập lụt ven biển trung bình hàng năm tăng cao, làm ngập các khu vực hiện có tới 300 triệu người sinh sống, theo một nghiên cứu của Climate Central công bố ngày 29/10/2019 trên tạp chí Nature Communications. Và thủy triều cao có thể vĩnh viễn nhấn chìm diện tích đất có khoảng 150 triệu người cư trú.  Những phát hiện này được dựa trên CoastalDEM, một mô hình độ cao kỹ thuật số mới được phát triển bởi Climate Central. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp học máy để sửa chữa các lỗi hệ thống trong dữ liệu độ cao hiện đang được sử dụng để đưa ra đánh giá quốc tế về rủi ro ngập lụt ven biển (hệ thống radar họa đồ của NASA, NASA’s Shuttle Radar Topography Mission – SRTM).  Các ước tính về số dân toàn cầu gặp rủi ro dựa trên dữ liệu từ CoastDEM cao gấp 3 lần so với các giá trị được tạo ra bằng cách sử dụng dữ liệu độ cao SRTM.  Nghiên cứu được công bố cũng như tóm tắt nghiên cứu từ Climate Central trình bày chi tiết các phát hiện của Climate Central từ việc đánh giá riêng rẽ đối với 135 quốc gia trên nhiều kịch bản khí hậu và qua các năm.  Climate Central cũng sử dụng dữ liệu độ cao mới của mình để tạo ra những bản đồ tương tác, cho phép khám phá cấp địa phương của các khu vực bị đe dọa trên toàn thế giới.  Sáu quốc gia châu Á (Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan) có tổng cộng khoảng 237 triệu người sống ở những khu vực có thể sẽ phải hứng chịu các trận ngập lụt ven biển ít nhất là hàng năm vào năm 2050. Con số này nhiều hơn gấp bốn lần so với những ước tính đến năm 2050 dựa trên dữ liệu độ cao cũ.  Đánh giá dựa trên dữ liệu độ cao được cải tiến của CoastDEM cho thấy ngay cả khi khí thải nhà kính được cắt giảm ở các mức vừa phải, các khu vực trong sáu quốc gia châu Á vẫn có thêm khoảng 183 triệu người bị ảnh hưởng so với các đánh giá dựa trên dữ liệu độ cao trước đây.    Số người bị ảnh hưởng bởi ngập lụt ven biển tính đến năm 2050 theo ước tính mới:  # 1: Trung Quốc từ 29 triệu người theo ước tính cũ lên đến 93 triệu người  # 2: Bangladesh từ 5 triệu người lên đến 42 triệu  # 3: Ấn Độ từ 5 triệu người lên đến 36 triệu  # 4: Việt Nam từ 9 triệu người lên đến 31 triệu  # 5: Indonesia từ 5 triệu người lên đến 23 triệu  # 6: Thái Lan từ 1 triệu người lên đến 12 triệu        Hầu hết TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng và nhiều phần của Hà Nội sẽ nằm dưới mực nước biển (khu vực màu đỏ) trước năm 2050, theo bản đồ dự kiến của Climate Central.  Thay vì một phần của ĐB Sông Cửu Long và TP HCM như các dự đoán trước đây, gần như toàn bộ diện tích miền Nam Việt Nam sẽ ở dưới mực nước biển trước 2050, ảnh hưởng tới khoảng hơn 20 triệu người (gần ¼ tổng số dân cư) sinh sống ở khu vực này.  Ở phía Bắc, các tỉnh ven và gần biển như Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh cũng đều có nguy cơ mất một phần lớn diện tích do nước biển dâng. Trong đó Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình có khả năng nằm ở dưới nước hoàn toàn.  31 triệu người Việt Nam (khoảng 1/3 dân số), thay vì 9 triệu dân như các dự báo trước đây, sẽ phải đối mặt với các đợt ngập lụt mặn thường xuyên và nguy cơ di dân vì mất đất.  Xa hơn, đến năm 2100, nếu việc phát thải không được kiểm soát và băng tan sớm, thì các khu vực với tổng cộng 250 triệu người hiện đang sinh sống tại sáu quốc gia này sẽ bị chìm dưới mức thủy triều cao, con số này cao gần gấp năm lần so với các đánh giá về năm 2100 dựa trên dữ liệu độ cao cũ.  “Những đánh giá này cho thấy tiềm năng của biến đổi khí hậu trong việc định hình lại các thành phố, nền kinh tế, bờ biển và toàn bộ các khu vực trên toàn cầu trong cuộc sống của chúng ta,” tiến sĩ Scott Kulp, một nhà khoa học cao cấp tại Climate Central và tác giả chính của nghiên cứu cho biết. “Khi thuỷ triều tăng cao hơn ở nơi mà mọi người gọi là nhà, các quốc gia sẽ ngày càng phải đối mặt với những câu hỏi rằng tốn bao nhiêu và mất bao lâu để việc phòng chống ngập ven biển có thể bảo vệ họ.”  Một số nguy cơ dễ bị tổn thương được tiết lộ bởi nghiên cứu của Climate Central hiện nay đã thực sự tồn tại, ví như các công trình đê và các tuyến phòng chống ngập ven biển khác đã cho phép tới 110 triệu người sống trên đất liền nằm dưới mực nước thủy triều cao. Do thiếu dữ liệu nên nghiên cứu không tính đến tác động của việc phòng chống ngập hiện tại và tương lai.    Dân làng di chuyển bằng thuyền gần một ngôi nhà ngập nước ở quận Morigaon của bang Assam, Ấn Độ vào ngày 15/7/2019. Ảnh: CNN.  Đằng sau dữ liệu CoastDEM  Bộ dữ liệu độ cao chính được sử dụng cho nghiên cứu ven biển toàn cầu, SRTM, đo độ cao của các bề mặt gần nhất với bầu trời, chẳng hạn như ngọn cây và mái nhà. Do đó, nó đo độ cao ven biển trung bình cao hơn 2 mét (sáu feet) và hơn 4 mét (13 feet) trong khu vực đô thị mật độ cao, cho thấy sự an toàn giả tạo trước nguy cơ ngập lụt và mực nước biển dâng. Trong khi đó, CoastalDEM giảm các lỗi này xuống khoảng trung bình 10 centimet (bốn inch).  Một số quốc gia đã thu thập và công bố dữ liệu độ cao chính xác hơn, thường dựa trên dữ liệu đo từ máy bay sử dụng phương pháp lidar; CoastalDEM đã được hiệu chuẩn và xác nhận bằng cách sử dụng chủ yếu các dữ liệu này.  “Đối với tất cả các nghiên cứu quan trọng đã thực hiện về dự báo biến đổi khí hậu và dự báo mực nước biển, thì đối với hầu hết các bờ biển trên toàn cầu, chúng ta đã không biết chiều cao của mặt đất dưới chân,” Tiến sĩ Benjamin Strauss, nhà khoa học và CEO của Climate Central và đồng tác giả của nghiên cứu, phát biểu. “Dữ liệu của chúng tôi cải thiện bức tranh đó, nhưng vẫn rất cần các chính phủ và các công ty hàng không vũ trụ sản xuất và công bố các dữ liệu độ cao chính xác hơn. Cuộc sống và sinh kế phụ thuộc vào điều đó.”  Yếu tố lượng khí thải carbon  Các đánh giá dựa trên CoastDEM cho biết vào cuối thế kỷ này nếu không có các công trình phòng chống ngập thì những khu vực hiện là nơi sinh sống của 420 triệu người trên toàn thế giới có thể dễ bị tổn thương bởi các trận ngập lụt ven biển hàng năm, điều này vẫn diễn ra kể cả khi cắt giảm ở mức vừa phải lượng khí thải carbon.  Các ước tính tóm tắt ở đây có khả năng là bảo thủ bởi vì chúng dựa trên các dự báo mực nước biển tiêu chuẩn và giảm lượng khí thải carbon gần như phù hợp với các mục tiêu của Thỏa thuận Paris 2015, những mục tiêu mà các nỗ lực trên toàn thế giới cho đến nay vẫn chưa đi đúng hướng để đạt được.  Các ước tính dựa trên lượng khí thải không được kiểm soát và nguy cơ băng tan sớm dự báo rằng mực nước biển dâng cao có thể đe dọa khu vực có tới 630 triệu người hiện đang sinh sống – 340 triệu người trong số đó đang sống ở những khu vực được dự báo sẽ ngập dưới mức thủy triều cao vào năm 2100.  Ở tám quốc gia châu Á, kịch bản đó có nghĩa là thủy triều cao thường xuyên sẽ dâng cao hơn những khu vực hiện có ít nhất 10 triệu người sinh sống.    Dân số ở những khu vực có nguy cơ bị lũ lụt thường xuyên vào năm 2100 (đánh giá dựa trên CoastDEM so với dữ liệu độ cao phổ biến)  1. Trung Quốc: 87 triệu so với 26 triệu  2. Bangladesh: 50 triệu so với 6 triệu  3. Ấn Độ: 38 triệu so với 6 triệu  4. Việt Nam: 35 triệu so với 13 triệu  5. Indonesia: 27 triệu so với 6 triệu  6. Thái Lan: 13 triệu so với 2 triệu  7. Nhật Bản: 12 triệu so với 7 triệu  8. Philippines: 11 triệu so với 2 triệu    Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang 35 bài toán nan giải      Vừa qua, tờ báo thông tin khoa học hàng đầu của Pháp và thế giới, La Recherche đã cho công bố 35 bài toán nan giải trong các ngành khoa học, từ toán học, tin học đến vật lý, sinh học… Sau đây là một số trong các bài toán nan giải đó.      1/  Truy tìm  điểm gốc của thời gian  Jean  Pierre Luminet,  Giám đốc nghiên cứu tại CNRS, đài thiên văn Paris-Meudon  Theo thuyết Big Bang thì càng đi ngược lại trong quá khứ Vũ trụ càng nóng và mật độ vật chất càng lớn, cho đến một thời điểm rất gần với thời điểm ban đầu, mà vật lý hiện nay không mô tả được điều gì. Song thời điểm ban đầu đó có phải là một thực tế hay không?  Vũ trụ hiện nay đang giãn nở dựa trên những quan sát các thiên hà và các cụm thiên hà. Quá trình giãn nở này dường như không có kết cuộc. Nếu chúng ta quay ngược cuộn phim của vũ trụ lại? Thời gian vũ trụ liệu sẽ kéo lùi vô tận hay tiến đến một trị số hữu hạn. Đây là một trong những bài toán bí ẩn lớn nhất của Vật lý thiên văn!           Không gian đầy bọt sôi động vì những thăng giáng lượng tử. Từ không gian đầy bọt đó bắn ra những giọt, những giọt này là biểu hiện của những hạt cơ bản (phỏng theo tranh Bọt thời gian của họa sĩ Jean-Michel Joly, L’Ecume du temps, Saint-Etienne, 1990 ) ..          Theo lý thuyết tương đối, nếu các tính chất của vật chất và bức xạ là những tính chất mà chúng ta đã biết thì các khoảng  cách vũ trụ sẽ giảm dần trong quá khứ và nhất thiết tại “không điểm” (điểm gốc) của thời gian các khoảng cách vũ trụ đó sẽ bằng số không. Không điểm có ngay trước sự xuất hiện của không thời gian. Thời gian không- hay không điểm – này cách xa hiện tại khoảng 13,7 tỷ năm. Và điều này cũng có nghĩa là không tồn tại những thực thể, những sao có tuổi già hơn 13,7 tỷ năm.  Và thời gian có một điểm bắt đầu hay không? Điều này đang là một bài toán bí ẩn đối với các nhà vật lý. Theo lý thuyết tương đối thời gian không (tức không điểm của thời gian) được mô tả như là một điểm “kỳ dị”, một điểm mà sự vật tiệm cận đến nhưng không bao giờ đến: tại điểm đó Vũ trụ đã có một thể tích vô cùng bé với một mật độ và độ cong vô cùng lớn. Điểm kỳ dị là điểm đứt đoạn của các quỹ đạo không- thời gian và dường như không phải là một hiện  thực, điểm kỳ dị nằm ngoài vòng nắm bắt của các lý thuyết vật lý hiện nay.  Lý thuyết vật lý hiện đại chỉ cho phép đi ngược thời gian đến giai đoạn Planck mà thôi, mọi ý đồ nghiên cứu các quá trình trong giai đoạn Planck đều dẫn đến một bức tranh lượng tử mờ.  Từ năm 1960, John Wheeler (nhà vật lý lý thuyết Mỹ) đã đưa ra ý tưởng: ở mức vi mô của vũ trụ, hình học của vũ trụ là mờ, so sánh được với một không gian đầy bọt sôi động vì những thăng giáng lượng tử. Từ không gian đầy bọt đó bắn ra những giọt, những giọt này là biểu hiện của những hạt cơ bản.            Tránh điểm kỳ dị: trong những lý thuyết như lý thuyết siêu dây người ta giả định tồn tại một độ dài cơ bản, nhờ đó mà điểm kỳ dị suy từ lý thuyết tương đối cổ điển được loại trừ.          Mọi lý thuyết, mô hình nói trên đều chứa những giả thuyết không dễ dàng được chấp nhận. Một điều kiện cần cho mọi lý thuyết, mô hình là loại bỏ điểm kỳ dị.  Nói tóm lại việc tìm điểm gốc của thời gian vẫn đang còn bị bỏ ngỏ, tiếp tục là một trong những bài toán bí ẩn lớn nhất của các nhà vật lý.  3/  Phương trình tối hậu của vật lý  Lisa Randall, Giáo sư vật lý lý thuyết,  Đại học Harvard  Liệu có tồn tại một Lý thuyết của tất cả (TOE –theory of everything)? Đã một thế kỷ các nhà vật lý đi tìm một lý thuyết có khả năng thống nhất cơ học lượng tử và lý thuyết tương đối, nhằm nắm bắt được bản chất thống nhất của 4 loại tương tác. Lý thuyết siêu dây dường như được xem là lý thuyết “tối hậu”, là ứng cử viên triển vọng cho TOE.  Song những phát triển gần đây cho thấy rằng lý thuyết siêu dây trong hiện trạng cũng có lẽ chưa là tối hậu.             Cấu trúc hình học này có tên là “đa tạp Calabi-Yao”, cấu trúc này chứa những chiều dư nằm ẩn theo lý thuyết siêu dây.          Nếu tìm được lý thuyết thống nhất tối hậu thì chúng ta tiến được một bước dài trong việc thấu hiểu thế giới khách quan. Trong những năm gần đây lý thuyết siêu dây đã có những phát triển đáng chú ý trong việc xây dựng một lý thuyết như vậy.  Liệu có tồn tại một TOE, một lý thuyết của tất cả, một lý thuyết chỉ dựa trên một số ít tham số nối liền nhau bởi một phương trình duy nhất có khả năng mô tả được mọi hiện tượng vật lý chung quanh ta? Đây là một tham vọng lớn, nhưng chính tham vọng đó đã thúc đẩy các nhà vật lý lao động gần một thế kỷ.  Nếu xét đến độ phức tạp của vấn đề thì dường như các nhà vật lý quá ư lạc quan. Cho rằng có thể tìm được một phương trình tối hậu như vậy, thì vẫn còn một vấn đề không kém phần khó khăn là xác định điều kiện ban đầu: Vũ trụ đã bắt đầu như thế nào?  Mục tiêu quan trọng của việc xây dựng TOE là thống nhất bốn tương tác: hấp dẫn, điện từ, và hai tương tác hạt nhân yếu và mạnh. Hai tương tác đầu đã được biết từ lâu, hai tương tác sau được biết trong thế kỷ XX, tương tác hạt nhân yếu xảy ra trong các tương tác hạt nhân cho phép mặt trời chiếu sáng được, tương tác hạt nhân mạnh xảy ra khi các hạt cơ bản được kết dính với nhau trong hạt nhân nguyên tử.   Sheldon Glashow, Steven Weinberg và Abdus Salam đã thành công trong việc thống nhất hai lực hạt nhân yếu và điện từ.  Người ta cần xây dựng một lý thuyết vượt qua ranh giới mẫu chuẩn. Một trong những lý thuyết như thế là lý thuyết có “siêu đối xứng”,  siêu đối xứng làm ứng mỗi hạt của mẫu chuẩn, một siêu hạt. Trong lý thuyết siêu đối xứng, xây dựng từ những năm 70, quả thực cường độ của ba loại tương tác (yếu, mạnh,  điện từ ) quy về một điểm ở năng lượng cao.  Hiện nay chúng ta chưa phát hiện ra các siêu hạt, nhưng sự tồn tại của chúng không gây một nghi ngờ nào cho các nhà vật lý.   Liệu lý thuyết siêu dây có phải là TOE chưa?  Lý thuyết siêu dây chưa giải thích được vì sao hình học của Vũ trụ lại có dạng như chúng ta quan sát được. Các nhà lý thuyết siêu dây cho rằng 6 hoặc 7 chiều dư (extra dimensions)  bị compắc hóa và cuộn lại trong những kích thước quá bé để có thể quan sát được. Những chiều dư compắc hóa này làm thành một cấu trúc gọi là “không gian Calabi- Yao”.  Tồn tại một số rất lớn các không gian Calabi-Yao, với một số không gian Calabi-Yao người ta có được 3 họ các hạt cơ bản như trong mẫu chuẩn, song với những không gian Calabi-Yao khác người ta có thể có đến hàng trăm họ các hạt cơ bản.  Không tồn tại một lý thuyết nào để chọn một không gian Calabi-Yao để xác định được hình học của Vũ trụ.  Năm 1999 Raman Sundrumvà Lisa Randall chứng minh rằng các chiều dư có thể nằm ẩn trong Vũ trụ, và các chiều dư này thậm chí có thể có kích thước vô cùng. Hấp dẫn có thể cư trú trong những chiều dư đó.  Như vậy có thể nói rằng lý thuyết siêu dây trong hiện trạng chưa phải là lý thuyết tối hậu, có khả năng giải thích được Vũ trụ.  Người ta hy vọng vào máy LHC (Máy va chạm hadron lớn) sẽ hoạt động vào năm 2007 có thể đem lại những kết quả thực nghiệm làm sáng tỏ một số vấn đề, như sự tồn tại của các siêu hạt cần thiết cho việc tiệm cận đến  một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh với một phương trình tối hậu. Song hiện nay điều này vẫn còn là một bài toán bí ẩn thách thức vật lý học.    8/  Quỹ đạo kỳ lạ của những trạm thăm dò PIONEER  Jacques-Olivier Baruch                   Đây là trạm thăm dò Pioneer 10, phóng ngày 02/03/1972 hiện nay cách xa trái đất hơn 12 tỷ km. Từ năm 1980, các kỹ sư đã đo được một độ lệch khó hiểu so với quỹ đạo tính toán              Những trạm thăm dò Mỹ Pioneer 10 & 11 được phóng vào năm 1970 đã đi một quãng đường nhỏ hơn tính toán. Điều gì đã xảy ra?    Các kỹ sư đã truy tìm các nguyên nhân: dò nhiên liệu? Phát xạ nhiệt do phân rã plutonium của máy phát nhiệt điện? áp lực từ phía gió vũ trụ giữa các sao? Sai số trong các tính toán quỹ đạo? Mọi công tác truy tìm đều không dẫn đến kết quả.  Vậy chỉ còn lại một nguyên nhân: có thể cần phải thay đổi định luật hấp dẫn!  Marc-Thierry Jaekel, Cao đẳng Sư phạm Pháp (Ecole Normale Superieure) cùng với cộng sự Serge Reynaud đã giải thích hiện tượng “dị thường Pioneer” bằng cách đưa thêm vào một thông số thứ hai liên quan đến vận tốc xuyên tâm bên cạnh hằng số hấp dẫn trong phương trình Einstein. Dường như mọi việc đều ổn. Song các cơ quan vũ trụ  dự định phải bỏ nhiều trăm triệu  euro để kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết. Liệu “dị thường Pioneer” có mở ra một chương mới của hấp dẫn?    10 /  Hãy còn sớm để nói đến dự báo địa chấn   Michel Campillo – Đại học Joseph-Fourier / Grenoble  Viện Địa vật lý Mỹ USGS đang xây dựng một kế hoạch “dự báo địa chấn”. Song tính hữu hiệu của kế hoạch dường như cần phải được chứng minh. Vấn đề không phải là ở chỗ dự báo một động đất sẽ xảy ra mà sự được thua là ở chỗ phải dự báo được cường độ của động đất, tùy cường độ mà phải có những biện pháp tốn kém cho dân chúng và những biện pháp này liệu có đáng được thực hiện hay không?  Hiện nay có hai phương pháp để dự báo: một là quan sát sự dịch chuyển của các tầng kiến tạo (tectonic), song phương pháp này cũng còn khó để dự báo sự tiến triển phức tạp của hệ thống. Hai là sử dụng các địa chấn yếu để dự báo sự đến gần của một động đất nhưng nhiều địa chấn lại không dẫn đến một vụ động đất nào.  Michel Campillo hy vọng rằng trong vòng 5 năm tới người ta có thể có những tiến bộ đáng kể trong dự báo. Trước đây người ta vẫn cho rằng vỏ trái đất chịu tác động của hai hiện tượng: thứ nhất là sự dịch chuyển của các tầng kiến tạo, thứ hai là những biến động do địa chấn. Trong vòng những năm gần đây nhờ các phép đo GPS (định vị toàn cầu) người ta phát hiện những hiện tượng trung chuyển, những địa chấn thầm lặng kéo dài có ảnh hưởng quan trọng đến sự dịch chuyển các tầng địa chất. Sự quan sát những hiện tượng trung chuyển này cho phép xây dựng các mô hình chính xác hơn. Ngoài ra người ta còn quan tâm đến nước địa nhiệt. Những vết nứt gẫy sẽ thay đổi hệ chảy lan (percolation) của nước địa nhiệt, nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp thêm cho dự báo địa chấn.    12 /  Máy tính trong giai đoạn hậu-silicium  Pierre Vandeginste  Máy tính mạnh nhất hiện nay (tính đến tháng sáu 2005) là máy “BlueGene/L của IBM” có khả năng thực hiện 137 ngàn tỷ phép tính trong một giây (137 teraflops). Cuộc chạy đua tin học dường như  không có giới hạn. Theo “định luật Moore” cứ hai năm thì số linh kiện tích hợp trên một con rệp silicium sẽ tăng lên gấp đôi. Quá trình này sẽ tiếp diễn đến bao giờ? Định luật Moore có gặp phải những giới hạn do vật lý áp đặt không?  Năm 2005 có 1,12 tỷ transistor trên 90 nanomét (nm), người ta cho rằng đến năm 2007 kích thước tương ứng sẽ là “45 nm” và đến năm 2010 sẽ là “30 nm”… những con rệp “3D” được nghiên cứu. Song đến một lúc có lẽ phải chia tay với silicium. Những ống nano cacbon sẽ thay thế các transistor.  Nhờ các máy tính ADN được nghiên cứu từ năm 1994 ở UCLA, người ta khai thác tiềm năng tích hợp của phân tử AND trong tin học.  Cuối cùng người ta nghĩ đến các “máy tính lượng tử” có khả năng giải quyết những bài toán quan trọng như bài toán thừa số hóa những con số chứa hàng trăm chữ số.  13 /  Sét hòn  Franck Daninos            Một bức tranh cổ mô tả sự xuất hiện của sét hòn và niềm kinh dị của những ngươì chứng kiến.          Nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích hiện tượng sét hòn.  Từ xưa nhiều người đã chứng kiến sự xuất hiện của sét hòn. Bức tranh cổ sau đây mô tả một sét hòn và niềm kinh dị của những người trong cuộc.  Đó là một quả cầu vàng hoặc vàng da cam hoặc đỏ xuất hiện trong thời tiết giông bão có kích thước một quả bóng đá, bay lơ lửng trên mặt đất theo một quỹ đạo bất định với tốc độ khoảng 3m/giây. Nó có thể bay qua cửa sổ rồi quay tròn trước sự kinh ngạc của người chứng kiến. Hiện tượng thường kéo dài khoảng một phút, rồi nổ tan giải phóng nhiệt năng và một mùi lạ lùng.  Hiện nay chưa có một giả thuyết nào đúng đắn về sét hòn có khả năng giúp tái tạo sét hòn lại trong phòng thí nghiệm.  Năm 1888 Lord Kelvin tuyên bố trước một cuộc họp của Hiệp hội Anh quốc về Phát triển khoa học rằng sét hòn chỉ là một ảo tưởng quang  học. Song nhiều dữ liệu thực tế đã chứng minh rằng ý kiến của  Lord Kelvin là không đúng. Hàng trăm giả thuyết đã được đưa ra! Một giả thuyết đáng chú ý: sét hòn là một khối plasma, song một khó khăn của giả thuyết này là plasma có khuynh hướng giãn nở hơn là bị giam giữ lại trong dạng một hòn. Năm 2002 một nhà hóa học New Zealand đưa ra giả thuyết: khi sét đánh xuống đất, nhiều hạt silicium bị bốc hơi. Sau đó các hạt này kết thành những sợi và cuộn thành những quả cầu rỗng thành sét hòn. Song đến hiện nay sét hòn vẫn còn là một điều bí ẩn.  14/  Dự báo thời tiết cho thế kỷ tiếp theo?  Viviane Thivent  Nếu tin vào các báo cáo của GIEC (Nhóm liên chính phủ về dự báo khí hậu) thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng từ 1,4 đến 5,80C đến năm 2100. Sự cách biệt trong dự báo đó có nguyên nhân là chưa biết chính xác kịch bản phát triển của hai nước Ấn Độ và Trung Quốc. Mà đó cũng không phải là những nguyên nhân duy nhất. Dự báo thời tiết phải dựa trên những mô hình. Nói cụ thể là làm thế nào để mô hình hóa sự tiến triển của những đám mây?  Có nên chăng tin vào dự báo tăng nhiệt độ của Trái đất? Trong quá khứ hành tinh của chúng ta đã trải qua những giai đoạn tăng nhiệt độ như vậy. Một điều có thể tin là quả thực tốc độ tăng nhiệt độ có lớn: trong ba mươi năm qua nhiệt độ trái đất đã tăng 0,60C.  15/  Vũ trụ đen    Nabila Aghanim,  CNRS    Vũ trụ gồm vật chất đen (còn gọi là vật chất tối, 23%) và năng lượng đen (còn gọi là năng lượng tối, 73%). Hiện nay người ta vẫn chưa rõ bản chất của vật chất đen.  Vào những năm 30 của thế kỷ trước Fritz Zwicky, người Thụy Sĩ, khi nghiên cứu chuyển động 7 thiên hà trong chòm Coma, nhận thấy rằng 7 thiên hà này chuyển động quá nhanh so với tính toán thực hiện trên cơ sở các khối lượng quan sát được xung quanh. Muốn giải thích được chuyển động nhanh đó,  xung quanh 7 thiên hà nói trên cần phải có một khối lượng vật chất 400 lần lớn hơn khối lượng quan sát được, nhưng khối lượng thiếu này không tìm thấy ở đâu cả. Bài toán vật chất tối (dark matter) ra đời  (1933).  70 năm đã trôi qua mà bài toán vật chất tối – một trong những bài toán cơ bản của vật lý – vẫn chưa có lời giải!  Người ta đã nghĩ đến việc sửa đổi lý thuyết hấp dẫn, song điều này quá ư mạo hiểm, cho nên các nhà vật lý thiên về tìm kiếm những hạt lạ (exotic) là ứng viên cho vật chất đen.  Một vấn đề còn bí ẩn hơn nữa là năng lượng đen. Trong khi vật chất đen gây lực hút thì năng lượng đen gây lực đẩy. Từ năm 1988 các quan trắc về những sao siêu mới chứng tỏ rằng vũ trụ đang giãn nở có gia tốc. Như vậy phải tồn tại một năng lượng đen dẫn đến sự giãn nở có gia tốc đó. Năng lượng đen này có thể là năng lượng của chân không, có thể liên quan đến hằng số hấp dẫn trong phương trình Einstein.  Vật chất đen và năng lượng đen là hai vấn đề rất hấp dẫn đối với các nhà vật lý. Hai vấn đề này không phải tạo ra một bức tranh đen tối mà trái lại việc giải quyết hai vấn đề này sẽ mở ra một tương lai sáng lạn cho vật lý.  28/  Hiện tượng nóng chảy của các vật rắn là một vấn đề khó hiểu  Pablo Jensen, Phòng vật lý vật chất ngưng tụ, Lyon    Từ ngàn năm nay hiện tượng nóng chảy của chất rắn, như băng hoặc chocolat vẫn là một hiện tượng thông thường. Tuy nhiên bản chất của sự nóng chảy này vẫn là một điều khó hiểu, các nhà vật lý vẫn chưa tìm ra một lý thuyết tổng quát cho hiện tượng này.  Khi nhiệt độ tăng cao các nguyên tử trong chất rắn dao động mạnh và phá vỡ cấu trúc tinh thể: chất rắn nóng chảy.  Năm 1910 nhà vật lý người Anh Frederik Lindemann thiết lập rằng khi biên độ dao động đạt 10% đến 15% khoảng cách giữa các nguyên tử thì vật rắn nóng chảy. Song không có một lý thuyết nào để giải thích điều đó.  Vật rắn không nóng chảy từng nguyên tử một. Đây là một hiện tượng mang tính tập thể (collective). Hiện tượng tập thể đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình vật lý, ví dụ quá trình chảy rối (turbulence).  Các nhà vật lý đã xây dựng những mô hình đơn giản hóa theo hai hướng. Trong cách tiếp cận thứ nhất, người ta cho rằng bề mặt chất rắn là xuất phát điểm của quá trình nóng chảy. Trong cách tiếp cận thứ hai, người ta xem xuất phát điểm quá trình nóng chảy nằm ở những điểm khuyết tật. Với cách tiếp cận thứ nhất người ta hy vọng có thể xây dựng được một lý thuyết tổng quát. Còn nếu quá trình nóng chảy xảy ra theo cách tiếp cận thứ hai thì e rằng còn lâu mới xây dựng được một lý thuyết tổng quát cho hiện tượng nóng chảy của vật rắn. Trong cả hai cách tiếp cận đều phải nghiên cứu các chuyển động tập thể. Những mô phỏng trên máy tính là quan trọng để xây dựng được mô hình.    33/  Các hằng số vật lý có thể thay đổi theo không gian và thời gian  Frank Daninos  Các phương trình vật lý đều chứa những hằng số như c-vận tốc ánh sáng, h-hằng số Planck, G-hằng số hấp dẫn. Người ta vẫn cho rằng  đó là những đại lượng không thay đổi theo không gian và thời gian.  Năm 1937 Dirac đưa ra ý tưởng là hằng hấp dẫn có thể biến đổi theo thời gian. Năm 2001 nhà vật lý người Úc John Webb đưa ra những phương pháp để kiểm nghiệm sự thay đổi của hằng số a =  e 2/2 e0 h c.  Đó là hằng số cấu trúc tinh tế,  lần đầu tiên do Arnold Sommerfeld đưa vào trong lý thuyết điện từ năm 1916. Trong công thức trên e là điện tích electron, e0- hằng số điện môi chân không, h– hằng số Planck,  c– vận tốc ánh sáng.  Hằng số a lượng hóa cường độ tương tác điện từ tương đối tính (c) của các hạt mang điện tích trong chân không (e0) của lý thuyết lượng tử (h).Trị số bằng số của a  là 1/137, 03599976 hay xấp xỉ bằng 1/137.  Người ta sử dụng ý tưởng đơn giản sau. Như ta biết các quasar được phát hiện năm 1965, đó là những quasi-star (thiên thể tựa sao) có độ sáng lớn hơn 100 tỷ sao, ở xa quả đất khoảng 3 tỷ năm ánh sáng. Ánh  sáng từ quasar trên đường đi đến quả đất gặp phải những đám mây vật chất, những đám mây này hấp thụ một số bước sóng ánh sáng. Các nhà vật lý  nghiên cứu phổ hấp thụ của ánh sáng từ các quasar đi qua các đám mây, và từ đó suy ra trị số của a tại những thời điểm sớm của vũ trụ. John Webb tìm thấy trị số a mười tỷ năm về trước nhỏ hơn trị số hiện tại một lượng bằng một phần mười ngàn.   Các hằng số làm thành cơ sở  cấu trúc vật lý. Nếu một số hằng số có những trị số khác thì những tổ hợp cấu trúc nguyên tử, cũng như các sinh thể có thể không cấu thành được, vậy không tồn tại.  Mong muốn giải thích các hằng số vật lý là một cố gắng xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh của TOE (Theory of Everything – Lý thuyết của tất cả). Vấn đề các hằng số trở nên phức tạp vì trong những lý thuyết như siêu dây, lý thuyết M thì ngoài các chiều không- thời gian phải xét đến những chiều dư (extra dimensions), số chiều dư này có thể lên đến 7. Cho nên những hằng số mà chúng ta thường quan sát được chưa phải là những hằng số thực thụ, chúng chỉ là cái “bóng” ba chiều của những hằng số đích thực.  Trong lý thuyết dây có khả năng tồn tại đến 10500 lời giải ứng với ngần ấy thế giới khả dĩ. Thế giới của chúng ta chỉ là một thể hiện của tập thế giới đó, chỉ là một ốc đảo bao quanh bởi nhiều thế giới siêu thực không có sự sống, tại đấy những cấu trúc như nguyên tử cacbon, các phân tử DNA không cấu thành được. Nếu chúng ta phiêu lưu đến những thể giới đó thì cuộc sống của chúng ta sẽ bị chấm dứt.  Vấn đề các hằng số vật lý có thay đổi theo không gian và thời gian hay không vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ.  C C      Author                Quản trị        
__label__tiasang 350 năm tạp chí khoa học đầu tiên trên thế giới      Ấn bản đầu tiên của tờ tạp chí khoa học đầu tiên của thế giới được xuất bản tại Anh đúng 350 năm trước đây. Dấu mốc này là một cơ hội để các nhà sử học và nhà khoa học suy ngẫm về quá khứ, hiện tại và tương lai của ngành xuất bản khoa học.       Kỷ yếu Triết học (Philosophical Transactions)1 được xuất bản tại London bởi nhà triết học tự nhiên Henry Oldenburg, Thư ký của Hội Hoàng gia vào ngày 6 tháng 3 năm 1665. Đây là ấn phẩm định kỳ đầu tiên dành cho khoa học thực nghiệm và khoa học quan sát (khoa học quan sát vào thời bấy giờ chỉ ngành triết học về tự nhiên hoặc triết học thực nghiệm), và cũng là ấn phẩm định kỳ bằng tiếng Anh cổ nhất đến nay vẫn đang được xuất bản.   Tạp chí được hình thành một phần để giúp Hội Hoàng gia thực hiện mục tiêu “đẩy mạnh kiến thức về tự nhiên”, giúp các nhà triết học tự nhiên có thể truyền đạt, trao đổi với nhau, và giúp cho các thông tin viên của Hội theo kịp những tin tức trong thế giới nghiên cứu thực nghiệm.  Kỷ yếu Triết học- ấn bản định kỳ vào thứ Hai đầu tiên của mỗi tháng- đã ngay lập tức thành công bởi loại hình xuất bản này linh động, nhanh, rẻ và ít rủi ro cho các tác giả cộng tác hơn là cách họ tự xuất bản thời bấy giờ; đồng thời nó trở thành một hệ thống đăng ký- bằng chứng về ngày tháng một nhà khoa học đã công bố kết quả của mình trước các đối thủ nghiên cứu khác.  Vào năm 1866, ngay sau kỉ niệm 200 năm của tạp chí, nhà sinh vật học T.H. Huxley đã nhận định rằng, nếu tất cả các cuốn sách được in từ sau năm 1665 bị phá hủy trừ tờ Kỷ yếu Triết học thì những tiến bộ trí tuệ của loài người trong thời kỳ đó vẫn được ghi chép và lưu giữ “tử tế”, tuy không thể đầy đủ.  Sau này, khi tạp chí phát triển thêm quá trình bình duyệt thì tờ Kỷ yếu Triết học thực sự đã phát triển to lớn hơn ý tưởng ban đầu của Oldenburg nhiều. Nó trở nên được sùng bái như một thứ gì đó linh thiêng, như hiện thân của kiến thức loài người trong thời đại tiến bộ nhanh chóng, và là giám hộ cho tính trung thực khoa học. Nó cũng trở thành kiểu mẫu cho xuất bản học thuật ở tất cả các lĩnh vực khác nữa.  Theo ước tính, ngày nay có khoảng 30,000 tờ tạp chí khoa học đang được xuất bản.  Vấn đề lòng tin  Nhưng quá trình phát triển của tờ tạp chí này không phải luôn thuận buồm xuôi gió ngay từ đầu. Những khó khăn thực tiễn gây ra bởi bệnh dịch, hỏa hoạn hay chiến tranh vào những năm 1660 thực ra lại không đáng kể bằng vấn đề lòng tin.  Một số đồng nghiệp của Oldenburg cho rằng ông đã quá tự do trong việc truyền bá những ý tưởng của người khác; họ không muốn những nghiên cứu của mình bị mang ra soi xét và đánh giá, hoặc không muốn công trình của mình được quảng bá theo những cách mà họ không kiểm soát được. Các biên tập viên về sau cũng bị buộc nhiều tội khác nhau như tham nhũng, thiên vị, thiếu trình độ v.v.  Đến năm 1753, Hội Hoàng gia bị bắt buộc phải tiếp quản tờ Kỷ yếu để giữ gìn danh tiếng cho cả Hội và tạp chí.             Thành lập vào tháng 11 năm 1660 bởi Vua Charles II của Anh, Hội Hoàng gia có lẽ là hiệp hội hàn lâm khoa học lâu đời nhất vẫn còn tồn tại. Mục tiêu đề ra của Hội là nhằm phát hiện, đẩy mạnh, và trợ giúp những xuất sắc trong khoa học, và để khuyến khích sự phát triển và sử dụng khoa học vì lợi ích của loài người.   Ngày nay, với khoảng 1600 thành viên thường trực, Hội  Hoàng gia giữ vai trò tư vấn khoa học cho chính phủ Anh, hoạt động dựa  trên tiền trợ cấp của chính phủ nghị viện. Hội hoạt động như một Viện  hàn lâm Khoa học, tài trợ cho các nhà nghiên cứu và các công ty khởi  nghiệp liên quan đến khoa học.           Việc tiếp quản đã kéo theo sự hệ thống hóa dần dần việc xuất bản khoa học, thay quyền tự do hành động của những biên tập viên trước bằng một hội đồng biên tập tuân thủ theo quy tắc để tránh sự thiên vị và lộng quyền.   Vào đầu thế kỷ 19, các nhà cải tổ lại bắt đầu phản đối việc quá nhiều thành viên của Hội Hoàng gia chỉ là những kẻ không chuyên giàu có mà không có mối quan tâm hay bằng cấp khoa học thực chất nào, và yêu cầu phải xóa bỏ tầm ảnh hưởng của vị thế xã hội, nâng sự xuất sắc trong khoa học thành yếu tố đánh giá nghiên cứu. Kết quả là tạp chí bắt đầu đưa vào hệ thống bình duyệt- ngày nay đã trở thành một quy trình thiết yếu trong xuất bản khoa học hiện đại. Việc chuyển trách nhiệm đánh giá bài báo của hội đồng sang cho các cá nhân có chuyên môn cũng đánh dấu sự trở lại của tiếng nói có trọng lượng của cá nhân các nhà biên tập.    .Những tồn tại ngày nay và bài học từ lịch sử  Dịp kỉ niệm này là một thời khắc tốt để xem xét lại những phức tạp trong lịch sử phát triển của tờ tạp chí, hơn hết là bởi dòng tạp chí khoa học đang trải qua một giai đoạn thiếu chắc chắn căn bản. Việc các nghiên cứu khoa học nào được công bố hay không đã trở thành một chủ đề “nóng”. Mọi người cũng bắt đầu đặt câu hỏi về tính hợp pháp của việc những nghiên cứu được tài trợ công lại phải trả tiền mới có thể tiếp cận được, và các hội đồng cũng như các tổ chức nghiên cứu đang ngày càng cam kết hơn trong việc cung cấp nguồn truy cập mở cho những xuất bản nghiên cứu mà họ tài trợ.  Ngoài ra, còn có những lo ngại về các mối đe dọa đến quá trình bình duyệt, ví dụ như sự chọn lọc các kết quả nghiên cứu để xuất bản, hoặc những gian lận công khai, và cả lo ngại về giá trị của những dữ liệu làm cơ sở cho những kết quả được công bố.  Bao trùm tất cả những vấn đề này là việc trong những năm gần đây, đa số các nhà xuất bản khoa học quốc tế cho thấy họ có lợi nhuận hoạt động khoảng 35% hoặc hơn, nhờ dựa một phần rất lớn vào công sức lao động tình nguyện không công của các tác giả, các nhà biên tập và nhà bình duyệt hàn lâm.  Đây không phải là một vấn đề hoàn toàn mới. Ngành khoa học thời kỳ đầu ở Anh cũng dựa vào công sức lao động tình nguyện trong một thời gian dài đến mức có thể đã làm nản lòng những người tin tưởng rằng khoa học là một trong những chỉ số tiến bộ của loài người, trong đó có nhà sinh vật học Huxley- người từng than thở về việc thiếu những cơ hội nghề nghiệp trong ngành khoa học vào thế kỷ 19. Nhiều tạp chí khoa học đã bị chìm nghỉm do thiếu kinh phí và thiếu sự quan tâm; ngay cả Kỷ yếu Triết học cũng chịu thua lỗ trong suốt 270 năm liền sau khi Oldenburg qua đời và chỉ tồn tại được nhờ những khoản trợ cấp lớn từ những người sở hữu, nhà biên tập nối nghiệp ông và từ Hội Hoàng gia sau đó.  Tạp chí khoa học đầu tiên của thế giới đã được duy trì hơn ba thế kỷ như một cam kết cho sự tiến bộ của tri thức, ngay cả khi nó tiêu tốn tiền của và đe dọa khả năng tồn tại của Hội Hoàng gia. Một thách thức cho các tạp chí khoa học từ lâu vẫn là làm sao để cân bằng giữa sự thúc đẩy khoa học một cách không vụ lợi với yêu cầu phải trả công xứng đáng cho những người làm khoa học.  Nhận thức về sự thiếu minh bạch trong quá trình bình duyệt ngày nay, cộng với những lo ngại về việc ai sẽ được hưởng lợi từ mô hình thương mại hóa xuất bản khoa học hiện giờ, đã dẫn đến ngày càng tăng những đòi hỏi phải có truy cập mở và bình duyệt mở. Đây là những vấn đề hệ trọng có liên quan tới tính đáng tin cậy của kiến thức khoa học và tính công bằng nghề nghiệp giữa các nhà khoa học. Chúng ta rất có thể đang phải đối mặt với một điểm đứt gãy lớn trong lịch sử truyền thông khoa học.  Các bài học lịch sử về những điểm đứt gãy tương tự trong quá khứ đã cho chúng ta thấy những giải pháp luôn thay đổi, mỗi giải pháp mới đều đáp lại cái cũ, cuối cùng cũng là để phục vụ cho một nỗ lực luôn kiên định, đó là sự theo đuổi và phổ biến tri thức một cách không vụ lợi.  Bất kể kết quả của những tranh luận hiện nay sẽ ra sao, chắc rằng tương lai của truyền thông khoa học sẽ tiếp tục phụ thuộc vào sự không vụ lợi ấy, vào sự hào phóng thời gian, kiến thức và lời khuyên của các nhà khoa học.  Khánh Minh biên dịch  Nguồn: http://www.theguardian.com/science/the-h-word/2015/mar/06/350-years-of-the-scientific-journal-celebrating-the-anniversary-of-philosophical-transactions  ——–  1 Tên đầy đủ là Kỷ yếu Triết học: Một số báo cáo về những công việc, nghiên cứu và công sức của những đầu óc sáng tạo ở nhiều nơi đáng kể trên thế giới (Philosophical Transactions: Giving Some Accompt of the Present Undertakings, Studies and Labours of the Ingenious in Many Considerable Parts of the World).      Author                Quản trị        
__label__tiasang 40% các trường hợp bị ung thư là do lối sống      Gần một nửa số bệnh nhân ung thư được chẩn đoán ở Anh mỗi năm – trên 130.000 người – bị bệnh là do có lối sống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu và ăn những đồ có hại cho cơ thể, theo một báo cáo mới đây.     Thuốc lá là thủ phạm lớn nhất – nguyên nhân của 23% bệnh nhân nam và 15,6% bệnh nhân nữ – báo cáo về Nghiên cứu Ung thư ở Vương quốc Anh cho hay.  Nguyên nhân phổ biến tiếp theo ở đàn ông là thiếu hoa quả và rau tươi trong khẩu phần ăn, còn đối với phụ nữ là thừa cân.  Báo cáo này được công bố trên Tạp chí Ung thư của Anh.  Các tác giả khẳng định, cho tới thời điểm hiện tại, đây là phân tích toàn diện nhất về vấn đề này.  Tác giả chính là giáo sư Max Parkin cho biết: “Nhiều người tin rằng ung thư là do số phận hoặc do di truyền, và ai không may thì bị. Tuy nhiên, nhìn vào tất cả bằng chứng thì rõ ràng là khoảng 40% trường hợp ung thư là do những thứ mà hầu hết chúng ta có thể thay đổi.”  Cân nặng là một yếu tố quan trọng  Đối với đàn ông, lời khuyên tốt nhất là: ngừng hút thuốc, ăn nhiều hoa quả và rau hơn, hạn chế uống rượu.  Đối với phụ nữ, bản báo cáo tiết lộ lời khuyên tốt nhất là ngừng hút thuốc, nhưng cũng phải xem xét lại cân nặng của mình.  Giáo sư Parkin nói: “Chúng tôi bất ngờ khi phát hiện ra rằng việc ăn hoa quả và rau rất quan trọng trong việc bảo vệ đàn ông chống lại ung thư. Và chúng tôi cũng bất ngờ khi thấy rằng ở phụ nữ, thừa cân là nguyên nhân nguy hiểm hơn việc sử dụng rượu.”  Tổng cộng, có 14 nhân tố môi trường và lối sống có liên quan tới nguyên nhân gây ra 134.000 trường hợp ung thư ở Anh mỗi năm. Những nhân tố này bao gồm cả nơi bạn sinh sống và nghề nghiệp bạn làm.  Khoảng 100.000 (34%) trường hợp ung thư có liên quan tới hút thuốc lá, chế độ ăn uống, rượu và thừa cân.  1/25 trường hợp ung thư có liên quan tới nghề nghiệp, ví dụ như tiếp xúc với các hóa chất hoặc amiăng.  Một số nhân tố nguy hiểm đã được chứng minh, như sự liên quan của hút thuốc với ung thư phổi. Tuy nhiên, những nhân tố khác lại được công nhận ít hơn.  Ví dụ như đối với ung thư vú, có gần 1/10 nguyên nhân là do thừa cân hoặc béo phì. Đối với ung thư thực quản, một nửa số nguyên nhân là do ăn quá ít rau và hoa quả, trong khi chỉ có 1/5 nguyên nhân là do rượu – báo cáo cho thấy.  Đối với ung thư dạ dày, 1/5 nguyên nhân là do ăn quá nhiều muối.  Một số bệnh ung thư như ung thư miệng và vòm họng chủ yếu là do lối sống.  Tuy nhiên, những loại khác như ung thư túi mật phần lớn không liên quan tới lối sống.  Các nhà nghiên cứu căn cứ vào tính toán của họ về số ca bệnh trong 18 loại ung thư khác nhau vào năm 2010, bằng cách sử dụng các số liệu của Anh trong 15 năm từ năm 1993 tới năm 2007.  Ở đàn ông, 6,1% (9.600 ca) trường hợp ung thư có liên quan tới việc ăn thiếu hoa quả và rau; 4,9% (7.800 ca) là do nghề nghiệp; 4,6% (7.300 ca) là do rượu; 4,1% (6.500 ca) do thừa cân và béo phì; 3,5% (5.500 ca) là do tiếp xúc với ánh sáng Mặt trời quá nhiều.  Ở phụ nữ, 6,9% (10.800 ca) có liên quan tới thừa cân và béo phì; 3,7% (5.800 ca) là do các bệnh truyền nhiễm như HPV (nguyên nhân gây ra hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung); 3,6% (5.600 ca) là do ánh sáng Mặt trời; 3,4% (5.300 ca) là do thiếu hoa quả và rau; 3,3% (5.100 ca) là do rượu.  Tiến sĩ Rachel Thompson tới từ Qũy Nghiên cứu Ung thư thế giới cho biết bản báo cáo này đã bổ sung thêm “bằng chứng chắc chắn cho thấy nguy cơ ung thư là do ảnh hưởng từ lối sống của chúng ta”.  Tiến sĩ Harpal Kumar – giám đốc điều hành Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Anh – cho biết tuân theo một lối sống lành mạnh không đảm bảo rằng một người sẽ không bị ung thư nhưng nghiên cứu cho thấy “chúng ta có thể loại bỏ được đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Nếu có điều gì đó mà chúng ta có thể làm được để giảm nguy cơ ung thư thì chúng ta nên làm nhiều nhất có thể” – ông nói.  Ông Glyn Berwick thuộc Cơ quan Chăm sóc Ung thư Penny Brohn – nơi chuyên cung cấp những lời khuyên về dinh dưỡng và tập thể dục – cũng đồng ý với điều này. “Từ nhiều năm kinh nghiệm, chúng ta biết rằng thay đổi lối sống có thể mang lại những tác động tích cực.”   Hiệu trưởng ĐH Y Hoàng gia, ông Richard Thompson, cho biết những phát hiện này là lời cảnh tỉnh với chính phủ trong việc đưa ra những hành động mạnh mẽ hơn đối với sức khỏe công cộng.  “Việc tăng tỷ lệ mắc những bệnh ung thư có thể phòng ngừa cho thấy phương pháp ‘củ cà rốt’ của những thỏa thuận tự nguyện với ngành công nghiệp không đủ để nhắc nhở những hành vi lành mạnh và cần phải được thay thế bằng phương pháp ‘cây gậy’ của những giải pháp lập pháp” – ông nói.  Chính phủ cho biết họ đang lên kế hoạch bắt đầu một cuộc thảo luận về luật đóng gói vỏ bao thuốc lá vào cuối năm nay.  Bộ trưởng Y tế công cộng Anne Milton cho hay: “Tất cả chúng ta đều biết rằng khoảng 23.000 ca ung thư phổi có thể được ngăn chặn mỗi năm ở Anh nếu mọi người không hút thuốc. Bằng cách đưa ra những thay đổi nhỏ như bỏ thuốc, xem xét lại đồ uống, tập thể dục nhiều hơn và để mắt tới cân nặng, chúng ta có thể loại bỏ nguy cơ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe.”  Nguyễn Thảo theo  http://www.bbc.co.uk/news/health-16031149        Author                Quản trị        
__label__tiasang 40 cử nhân Việt Nam nhận học bổng Eramus Mundus      Ủy ban Châu Âu đã thông qua danh sách 40 sinh viên Việt Nam nhận học bổng Eramus Mundus năm học 2006-2007. Các sinh viên này sẽ theo học một trong 35 chương trình sau đại học tại 57 consortia (liên danh các trường) được chọn để tổ chức các khóa học Eramus Mundus tại Châu Âu.    Eramus Mundus là một chương trình hợp tác và trao đổi trong lĩnh vực đào tạo sau đại học tại các nước thuộc Liên minh châu Âu, một trung tâm đào tạo lớn của thế giới. Chương trình tài trợ các khóa học thạc sĩ chất lượng cao với mức học bổng có thể từ 24.000 tới 42.000 euro tùy theo thời gian của khóa học.  Để tìm hiểu chương trình Eramus Mundus, có thể tham khảo thêm thông tin tại địa chỉ:  http://europa.eu.int/comm/education/programmes/mundus/index_en.html hoặc tham gia các buổi giới thiệu thông tin về học bổng Erasmus Mundus lần hai vào nửa cuối năm 2006 tại nhiều trường đại học trên toàn quốc.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang 40% ngôn ngữ trên Trái Đất có nguy cơ tuyệt chủng      Các nhà ngôn ngữ học Anh vừa khẳng định như vậy. Theo các nhà khoa học, cứ hai tuần có một ngôn ngữ bị biến mất.      Điều này sẽ khiến một nửa trong số 7.000 ngôn ngữ trên Trái Đất sẽ bị tuyệt chủng từ nay đến cuối thế kỷ này. “Sự biến mất của các ngôn ngữ trong lịch sử nhân loại chưa từng nhanh như hiện nay”, nhà nghiên cứu David Harrison khẳng định. Các nhà ngôn ngữ học chứng minh rằng 80% các cư dân trên Trái Đất sử dụng 80 ngôn ngữ, trong khi có 3.500 ngôn ngữ được dùng bởi 0,2% số cư dân trên thế giới. Nguyên nhân do sự toàn cầu hóa và các đợt di dân. Điều kiện kinh tế khiến người ta rời bỏ nguyên quán, đến nhập cư tại các thành phố và quên dần tiếng mẹ đẻ. Các nhà nghiên cứu đã xác định năm khu vực có ngôn ngữ địa phương gần như biến mất là: Bắc Australia, miền Trung châu Mỹ La-tinh, khu vực giữa Canada và Mỹ (British Columbia, bang Washington và Oregon), Siberia và bán đảo Kamtchatka.   V.N (Theo Ria Novosti)      Author                Quản trị        
__label__tiasang 4991 – mồi lửa châm ngòi cho thuyết  rò rỉ phòng thí nghiệm của Lệ (Phần 3)      Tóm tắt kì trước: Vào năm 2018, Thạch Chính Lệ và các đồng nghiệp giải trình tự gene một trong số các virus corona trên dơi và tìm ra một mẫu giống Sars-CoV-1 khoảng 80%. Nhóm của bà gọi virus này là 4991. “Nó không có gì là một virus đặc sắc” – Chính Lệ nói. Thế nhưng ở kỳ này, 4991 bỗng nhiên lại trở thành một trong những mồi lửa châm ngòi cho thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm, khiến “nữ người dơi” Trung Quốc bị chỉ trích gay gắt, tại sao vậy?     Dương Hưng Lâu và Thạch Chính Lệ, Viện Virus Vũ Hán lấy mẫu từ họng dơi ở một hang động tỉnh Hồ Bắc.    “Tôi không muốn làm hỏng chuyện”  Vào 5 giờ rưỡi sáng ngày 2/1/2020, Si Haorui, một học viên trong đội của Thạch Chính Lệ, đi thẳng về phía viện để bắt đầu công việc trong ngày. Trời đang lạnh và làn hơi trắng phả từ miệng cứ bay xung quanh khi anh rảo bước trên con phố tối tăm, trống trải.  Si không phải là tuýp người dậy sớm. Hiếm khi nào anh ra khỏi nhà trước 10 giờ rưỡi. Nhưng vào buổi sáng lạnh lẽo tháng một ấy, anh có một cuộc chiến cần phải đối mặt. Hai ngày rưỡi trước, những nhà lâm sàng ở Bệnh viện Kim Ngân Đàm Vũ Hán, trung tâm bệnh truyền nhiễm của thành phố đã gửi mẫu đến viện virus yêu cầu phân tích bệnh phẩm khẩn cấp.  Mẫu bệnh phẩm đến từ bảy bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch. Họ đã nằm viện gần đây vì căn bệnh viêm phổi bí ẩn.  Sau hôm ấy, vào ngày 31/12, Ủy ban sức khỏe thành phố Vũ Hán đưa ra tuyên bố đầu tiên về đại dịch, cho hay họ đang điều tra nguyên nhân của 27 trường hợp viêm phổi. Phòng thí nghiệm của Lệ là nơi đầu tiên chính thức điều tra về virus, và Si là một phần của đội. Anh đang chạy nước rút để tìm cho ra được nguyên nhân. Trong cường độ làm việc chạy đua với thời gian, những thành viên trong đội đã tìm ra gene RdRp từ 5 trong số 7 mẫu bệnh phẩm bệnh nhân. Bước tiếp theo của họ là giải trình tự hệ gene của virus. “Đó là chuyên môn của tôi”, Si nói khi gặp tôi ở cơ sở giải trình tự gene của viện, một thanh niên mảnh khảnh hơn 20 tuổi, với đôi mắt chuyển thành đôi hình vòng cung khi cười. “Tôi biết có rất nhiều rủi ro khi làm công việc này. Tôi không muốn làm hỏng chuyện”.  (Phòng thí nghiệm của Lệ là một trong bốn đội được lựa chọn bởi Ủy ban Sức khỏe Quốc gia để cùng phối hợp chỉ ra nguyên nhân của căn bệnh mới. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, và chỉ ủy ban này mới có thẩm quyền để tuyên bố sự bùng phát của một bệnh truyền nhiễm mới nổi và đưa ra những thông báo liên quan).  Si nhớ lại cảm giác mình bước chân vào phòng giải trình tự chẳng khác một người lính đang lao vào chiến trận. Anh trang bị cho mình vũ khí vào đêm trước đó – phần mềm anh đã mài giũa để ghép lại trình tự hệ gene của những kháng nguyên chưa được biết đến. Máy vẫn chạy hối hả để đọc những mảnh ghép ngắn của vật liệu di truyền từ những vi sinh vật trong mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân. Tiếng rì rì của máy tính phủ kín căn phòng. Đôi mắt của Si dán chặt vào máy giải trình tự. Quá trình đã đi đến bước cuối cùng của việc giải trình. Nó bắt đầu xử lý các tập tin. Một thời gian dài trôi qua. Thời gian như ngừng lại. Cuối cùng cũng xong, bàn tay khẽ run, Si khẽ khàng đưa đĩa vào máy và sao chép tập tin vào đó. Anh chạy nhanh lên lầu tới văn phòng mình, nơi có thể gắn kết với siêu máy tính của viện để phân tích.  Khoảng 8 giờ 30 phút sáng, việc phân tích hệ gene hoàn tất. Một trình tự, giờ được biết là WIV04, gần như hoàn tất với độ chi tiết cao: đó là một coronavirus.  Lệ nhập xâu trình tự trên để đối chiếu với kho dữ liệu của viện và quốc tế để xem đó có phải là trình tự mới không. Chuỗi có sự tương hợp gần nhất là trình tự từ mẫu 4991 mà đội lấy từ Mặc Giang năm 2013. Virus không còn mơ hồ hay không đáng chú ý, bây giờ xứng đáng có một cái tên chính thức. Đội gọi nó là RaTG13 – Ra là tên loài dơi chứa virus, Rhinolophus affinis; TG là Tongguan (Đồng Quan) – thành phố của nơi tìm ra virus này; và 13 cho thời điểm phát hiện – năm 2013. Một tháng sau, đội đăng tải báo cáo trên tạp chí Nature cho thấy virus này có độ tương đồng đến 96% so với chủng coronavirus tìm thấy ở những bệnh nhân mới năm 2020.  Thông tin RaTG13 tương đồng nhiều với SARS-CoV-2 đã dấy lên nhiều nghi vấn. Những nhà chỉ trích như Alina Chan, nhà sinh học phân tử chuyên về liệu pháp gene tại Viện Broad của Đại học Harvard và MIT tại Cambridge, Massachusetts đưa ra câu hỏi hoài nghi về việc bài báo trên Nature xuất bản vào tháng 2/2020 của Lệ không đề cập rằng RaTG13 đến từ mỏ Mặc Giang – cái nôi của căn bệnh viêm phổi bí ẩn vào năm 2012. Bà cũng là người có xu hướng tin vào lý thuyết rò rỉ virus từ phòng thí nghiệm, đã khiến thuyết này lan rộng và xa hơn, đồng thời ký vào lá thư Khoa học kêu gọi điều tra sâu hơn về khả năng xảy ra của giả thuyết này. Trong quyển sách Viral mà bà là đồng tác giả với cây viết khoa học người Anh Matt Ridley, có đoạn ghi rằng Viện Vũ Hán đã “được cho tiền để ém nhẹm sự thật”.  Thạch Chính Lệ đã nỗ lực đập tan nghi vấn này bằng cách đăng tải một phụ lục chi tiết về những nghiên cứu ở Mặc Giang trên tạp chí Nature vào tháng 11/2020 nhằm cho thấy đội không phát hiện bất kỳ dấu hiệu nào ghi nhận tình trạng nhiễm coronavirus trong mẫu của những người thợ mỏ. Nhưng điều đó không giúp chấm dứt sự ngờ vực.    Không chủng virus lai nào đến từ phòng thí nghiệm của Lệ lại có mối liên hệ thân thiết với SARS-CoV-2, và do đó không loài nào có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch.    Tuy nhiên, sự tương đồng toàn thể giữa hai loại virus không phải là bằng chứng cho thấy RaTG13 là nguồn gốc của Covid-19, dựa trên một bài được xuất bản trên tạp chí Cell tháng 9/2021 được viết bởi trên 24 nhà virus học hàng đầu và chuyên gia bệnh truyền nhiễm. Hai virus có thể có mối liên quan nhưng chúng nằm ở những nhánh tiến hóa khác nhau vốn đã rẽ nhánh từ nửa thế kỷ trước, theo nhận định của David Robertson – một nhà virus học ở Đại học Glasgow của Anh Quốc. “RaTG13 không thể tự nhiên biến hóa thành SARS-CoV-2”, ông nói. Cũng như không ai có thể sử dụng được RaTG13 như bộ khung để chế tạo ra SARS-CoV-2, như một số người ủng hộ thuyết rò rỉ từ phòng thí nghiệm tranh luận: hai virus khác nhau khoảng hơn 1100 nucleotide phân bố rải rác khắp toàn bộ hệ gene – một khoảng cách bất khả thi cho bất kỳ nỗ lực thực tế nào. Theo lời nhà virus học Angela Rasmussen từ Đại học Saskatchewan, Canada, việc tạo ra SARS-CoV-2 từ RaTG13 “có thể đòi hỏi một quá trình thiết kế di truyền kỳ công chưa từng xảy ra trước đây”.  Trong khi đó, bằng chứng về giả thuyết nguồn gốc tự nhiên tiếp tục nhiều lên. Trong năm vừa qua, hàng loạt nhóm nghiên cứu độc lập ngoài Viện Vũ Hán đã phát hiện ra hàng chục “người anh em họ hàng” thân thiết với SARS-CoV-2 ở Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Thái Lan và Campuchia. Theo lời của David Robertson trong bản trước in (preprint) đăng tải tháng 9/2021: một nhóm nhà khoa học người Lào và Pháp báo cáo việc phát hiện virus ở Lào có chia sẻ cùng một tổ tiên chung với SARS-CoV-2 khoảng một thập niên trước. Tuy không tham gia vào các nghiên cứu này, ông cũng cho rằng những phát hiện mới này là bằng chứng cho thấy SARS-CoV-2 có khả năng cao nhất đã tiến hóa trong hoang dã. “Chúng ta đang đến gần với tổ tiên của SARS-CoV-2”, ông nói.  Nhưng kể cả khi không có mẫu coronavirus từ dơi nào đến từ đội của Thạch Chính Lệ là nguyên nhân gây ra đại dịch, các nhà khoa học của bà còn làm việc với nhiều virus khác nữa. Một phần công việc nghiên cứu của họ bao gồm việc hiểu về cơ chế hoạt động của virus, trong đó có trộn lẫn vật liệu di truyền (genetic mixing) và bắt cặp di truyền (genetic matching) của những tác nhân gây bệnh khác nhau để tìm ra hoạt động của hệ gene virus. Liệu một trong những virus lai (chimera) như vậy có thể là nguồn gốc của đại dịch không? Để biết được điều đó, tôi cần nói chuyện với Lệ.  Quá trình cắt ghép gene   Thạch Chính Lệ thực sự xứng đáng với biệt danh “nữ người dơi”. Khi tôi ghé thăm văn phòng bà, một chiếc móc khóa hình con dơi nằm trên bàn làm việc. Một bức ảnh bà đang phóng sinh một con dơi trong chuyến thám hiểm săn lùng dơi được treo gần cửa sổ. Đặt trên cửa ra vào là chiếc dĩa vàng và xanh lá cây có họa tiết một con dơi đang bay được mua từ chuyến đi thực địa ở Tứ Xuyên.  “Dơi tượng trưng cho phước lành trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Chúng được gọi là bian fu, bian – suôn sẻ và fu – may mắn. Chúng ta thường thấy hình tượng dơi trong trang sức, đồ sứ và các tòa nhà ở những ngôi làng vùng sâu vùng xa”, Lệ nói.  Khi bộ sưu tập những trình tự coronavirus của các nhà nghiên cứu tăng lên, đặc biệt sau năm 2012, khi lần đầu tiên họ nuôi cấy thành công virus sống – họ muốn chỉ ra được các vật liệu di truyền cho phép virus gây bệnh cho con người, để từ đó các nhà khoa học có thể phát triển thuốc và vaccine chống lại chúng.  Thạch Chính Lệ đặc biệt hứng thú với câu hỏi: liệu protein gai là yếu tố duy nhất tác động vào khả năng lây bệnh cho tế bào của virus, hay những thành phần khác của hệ gen của kháng nguyên cũng có một vai trò nhất định? Một trong những trình tự coronavirus từ dơi của bà, SHC014, có vẻ lý tưởng khi đáp ứng cho thắc mắc này. Nó có độ tương đồng đến 95% với hệ gene của con SARS-CoV-1, nhưng sở hữu chiếc gai khác hoàn toàn, và những nghiên cứu về virus giả (pseudovirus) cho thấy chúng không thể dễ dàng đi vào tế bào của nhiều loài động vật khác, bao gồm cả con người. Liệu điều này có nghĩa là chúng không có khả năng gây bệnh cho con người?  Ralph Baric, nhà di truyền học ở Đại học Bắc Carolina, Chapel Hill.  Các nhà khoa học không thể kiểm chứng câu trả lời này trực tiếp vì họ chưa thể phân lập virus sống từ mẫu dơi ở thời điểm đó. Nhưng hai cách tiếp cận di truyền có thể làm sáng tỏ. Cách thứ nhất là tổng hợp virus từ trình tự hệ gene của nó, cách thứ hai là kiểm tra xem SARS-CoV-1 vẫn có thể gây bệnh hay không nếu gai của nó được thay thế bởi gai chứa trình tự SHC014.  Thạch Chính Lệ chưa có những công cụ cần thiết để thực hiện công việc di truyền trên, nên vào tháng 7/2013 bà đã gửi email cho Ralph Baric – một tượng đài về di truyền từ Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill về lời mời tham gia vào đội ngũ cùng với những yêu cầu trên.  Lệ bảo tôi rằng việc hợp tác với Baric không phải là một hợp tác chặt chẽ, vì không có sự trao đổi nhân viên phòng thí nghiệm, vai trò cộng tác chính của Lệ là cung cấp trình tự hệ gene SHC014, vốn chưa được công bố ở thời điểm ấy. Những phát hiện này được đăng tải trên Nature Medicine năm 2015 cho thấy điều khá ngạc nhiên. Cả SHC014 tổng hợp và cá thể lai SARS-CoV-1-SHC014 đều có khả năng gây bệnh cho tế bào người và khiến chuột mắc bệnh. Cả hai đều ít gây tử vong hơn SARS-CoV-1, nhưng điều đáng lo ngại là những thuốc và vaccine chống SARS ở thời điểm đó không có tác dụng với virus này..  Trong khi đó, đội của Lệ tại phòng thí nghiệm của bà đang cố gắng thực hiện việc cắt ghép gene tương tự, được tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, hướng tới việc phát triển những vật liệu di truyền có thể cho phép các virus dơi gây những bệnh giống SARS ở con người. Nhưng trong khi Ralph Baric chú trọng vào tác nhân SARS-CoV-1 gây bệnh ở người trong bài báo của Nature Medicine, Thạch Chính Lệ chỉ sử dụng những virus trên dơi họ hàng với nó – đa số là chủng WIV1 (Wuhan Institute of Virology 1), chủng coronavirus đầu tiên từ dơi mà cả đội đã phân lập. Nguy cơ trong thực tế với loài người mà chúng gây ra vẫn chưa biết rõ. Vào thời điểm đại dịch bùng phát, đội của bà đã tạo ra tổng cộng hơn 10 virus lai bằng cách hoán đổi gai của WIV1 với các virus họ hàng khác của nó – được tạo ra từ những trình tự mới được phát hiện của coronavirus trong dơi. Kết quả cho thấy chỉ một số rất nhỏ có thể gây bệnh tế bào người trong đĩa petri.  Vẫn còn nhiều điều bất ngờ chờ đấy. Để phản hồi vụ kiện do Tổ chức thông tin phi chính phủ The Intercept khởi xướng dựa trên Đạo luật tự do thông tin Hoa Kỳ, Viện Y tế Quốc gia nước này đã tiết lộ một thí nghiệm chưa từng công bố trên tạp chí khoa học nào. Trong thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu kiểm tra khả năng gây bệnh của ba loài virus lai đối với loài chuột có gene biểu hiện ACE2 từ người.  So với chủng “cha mẹ” WIV1 của chúng, ba virus lai phát triển rất nhanh ở phổi chuột ở giai đoạn bệnh đầu tiên, nhưng WIV1 bắt kịp đà với ba virus này vào cuối thử nghiệm.  Những khác biệt này khiến Lệ ngạc nhiên, nhưng điều khiến bà băn khoăn nằm ở chủng lai gây sụt cân nhiều nhất ở chuột bị nhiễm bệnh – một chỉ dấu cho khả năng gây bệnh của chúng – là trình tự WIV4-SHC014, có gai khác biệt nhất so với gai của SARS-CoV-1. Chủng lai có gai giống với SARS-CoV-1 không có ảnh hưởng lên thay đổi cân nặng của loài động vật.  Các nhà nghiên cứu đều nhận định, những kết quả từ nghiên cứu di truyền ở cả phòng thí nghiệm của Thạch Chính Lệ và Ralph Baric – cả hai đều hợp tác với EcoHealth Alliance trụ sở ở New York – đã đưa ra bằng chứng thuyết phục cho thấy protein gai không phải là yếu tố duy nhất đánh giá khả năng virus gây bệnh cho động vật. “Chúng tôi không thể đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của virus chỉ bằng việc sử dụng virus giả hay những tiên đoán dựa trên giải các trình tự hệ gene và mô hình phân tử”, Thạch Chính Lệ bảo tôi.  Không chủng virus lai nào đến từ phòng thí nghiệm của Lệ lại có mối liên hệ thân thiết với SARS-CoV-2, và do đó không loài nào có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch. Nhưng có vẻ đội đã tạo ra ít nhất một virus lai, WIV1-SHC014, với độc lực tăng lên so với dòng cha mẹ WIV của nó. Những người chỉ trích như Richard Ebright, một nhà sinh học phân tử tại Đại học Rutgers, nhận định loại nghiên cứu tăng chức năng của virus này phải được kiểm tra giám sát nghiêm ngặt. Nhưng Thạch Chính Lệ khẳng định rằng không có nghiên cứu nào, kể cả những cộng tác của bà với Baric và EcoHealth mang ý định tạo ra thêm nhiều virus nguy hiểm. Không có virus lai nào thực sự tăng sự lây truyền và độc lực đối với động vật có vú được thừa nhận tại thời điểm bà đề xuất nghiên cứu.  Theo người phát ngôn của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, khoản tài trợ mà Lệ nhận cùng với EcoHealth Alliance – cũng là nơi duy nhất cùng nhận tài trợ với Viện Vũ Hán – “đã được bình duyệt và công nhận bởi các chuyên gia là hoàn toàn nằm ngoài” loại nghiên cứu tăng chức năng của virus.  Những nhà virus học như Goldstein từ Đại học Utah tranh luận rằng những nghiên cứu di truyền như vậy có thể giúp bảo vệ chúng ta khỏi những đại dịch trong tương lai. Trong năm vừa qua, những nhóm nghiên cứu trong đó có đội của Ralph Baric đã trình bày về khả năng phát triển loại vaccine được cho là phòng ngừa mọi loại coronavirus có thể ngăn chặn cùng lúc một nhóm các coronavirus, gồm có SARS-CoV-1, SARS-CoV-2, các virus họ hàng của chúng từ dơi mà Lệ đã phát hiện và từ cả những họ hàng tiềm năng khác vẫn chưa được xác định. Tháng chín năm ngoái, Viện Y tế Quốc gia tuyên bố trao giải thưởng 36,3 triệu USD để triển khai các nghiên cứu sâu hơn tương tự. Các nhà nghiên cứu nói việc khám phá những virus mới trong thiên nhiên hoang dã và sử dụng công nghệ di truyền để mổ xẻ chức năng của chúng trong phòng thí nghiệm có thể mở ra những hướng đi nhằm kiềm chế và điều trị những căn bệnh truyền nhiễm bùng phát trong tương lai giống như SARS và covid-19.  Thách thức về an toàn sinh học   Dù không có chủng virus lai nào là nguồn gốc của covid-19, vẫn có những mối quan ngại rằng các quy chuẩn an toàn sinh học của phòng thí nghiệm Vũ Hán không đủ chặt chẽ để phòng tránh những đại dịch sinh ra từ những hoạt động nghiên cứu.  Những nghiên cứu trên các virus sống và việc cắt ghép di truyền vốn luôn rủi ro. Những sự cố có thể xảy ra kể cả trong những nơi có mức độ an toàn sinh học khắt khe nhất. Các nhà khoa học có thể vô ý bị nhiễm virus trong phòng thí nghiệm, quá trình trộn lẫn và bắt cặp gene vô tình tạo nên một siêu vi sinh vật có khả năng trốn thoát những thiết kế an toàn sinh học vốn dành cho chủng “cha mẹ”.  Tôi hỏi Thạch Chính Lệ làm cách nào Trung Quốc kiểm soát được nghiên cứu về coronavirus để hạn chế tối đa những rủi ro đó.  “Trung Quốc không có một chính sách an toàn sinh học chung với mọi nghiên cứu về coronavirus”, bà nói. “Mọi thứ được đánh giá theo từng trường hợp.” Chẳng hạn, trường hợp của nghiên cứu về SARS-CoV-1 và SARS-CoV-2 được thực hiện ở những phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3, còn các coronavirus gây bệnh ở người gây cảm lạnh thông thường được xử lý dưới điều kiện an toàn sinh học cấp độ 2. Thế những virus từ dơi thì sao?  10 năm trước, Ủy ban An toàn sinh học từ Viện Vũ Hán đưa ra luật rằng mức an toàn sinh học cấp 3 phải được áp dụng khi làm việc với đối tượng động vật, mức an toàn sinh học cấp 2 có thể dành cho nghiên cứu phân tử và nuôi cấy tế bào bao gồm cả coronavirus trong dơi, nhưng trong buồng an toàn sinh học có máy lọc khí và với áp suất âm để giữ virus ở trong buồng.  Một số nhà khoa học như Ebright, coi điều này là thiếu an toàn. Ông bổ sung rằng, coronavirus từ dơi là “những tác nhân chưa phân rõ đặc tính” với độc lực virus và khả năng lây lan chưa được biết rõ. “Lối tiếp cận duy nhất có thể chấp nhận được là bắt đầu áp dụng tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp cao …. và chỉ giảm mức độ an toàn sinh học xuống sau khi đã quyết định làm như vậy là thấu đáo,” ông nói với tôi trong email.  Tuy nhiên, những người khác không nghĩ rằng công việc của Thạch Chính Lệ cho thấy sự lơ là trong tiêu chuẩn an toàn sinh học ở Trung Quốc. Góc nhìn chủ yếu giữa các nhà khoa học trên thế giới trước đây – và khả năng đến bây giờ vẫn là loài coronavirus từ dơi khả năng cao nhất là phải tiến hóa trên động vật trung gian trước, sau đó mới gây bệnh cho con người.  “Mọi ủy ban an toàn sinh học của các cơ sở nghiên cứu phải cân nhắc giữa nguy cơ thực tế với nguy cơ tiềm năng”, theo lời của Rasmussen từ Đại học Saskatchewan, bổ sung thêm rằng sự chỉ định về an toàn sinh học của Viện Vũ Hán là hợp lý ở thời điểm đó. □  Phạm Vĩnh Anh dịch  Nguồn: https://www.technologyreview.com/2022/02/09/1044985/shi-zhengli-covid-lab-leak-wuhan/      Author                Jane Qiu        
__label__tiasang Những vấn đề khí hậu được quan tâm nhiều nhất trong năm 2021      Dưới đây là 5 vấn đề khí hậu được quan tâm nhiều nhất trong năm qua theo lựa chọn của tạp chí Scientific American.    Nhiệt độ tăng, hạn hán, lũ lụt    Biến đổi khí hậu thúc đẩy các hiện tượng thời tiết cực đoan trên khắp thế giới trong năm nay. Cháy rừng bùng lên khắp Siberia, Hy Lạp, Ấn Độ và các khu vực khác. California, nơi thường xuyên xảy ra cháy lớn trong những năm gần đây, lại chứng kiến ​​những trận hỏa hoạn kinh hoàng. Đám cháy Dixie, vụ cháy lớn thứ hai trong lịch sử của bang này, đã thiêu rụi gần một triệu hecta. Ngoài ra, Dixie và Caldor ở California là những đám cháy đầu tiên trên đỉnh của dãy núi Sierra Nevada, một khu vực cảnh quan nổi tiếng của bang.        Cháy rừng trên khắp miền Tây nước Mỹ bắt nguồn từ nắng nóng khắc nghiệt và hạn hán, cả hai hiện tượng thời tiết cực đoan này đều trở nên trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu. Một đợt nắng nóng nghiêm trọng ảnh hưởng đến Tây Bắc Thái Bình Dương và tây nam Canada vào tháng 6, phá vỡ kỷ lục nhiệt độ cao nhất trong lịch sử. Vào ngày nóng nhất, nhiệt độ ở Seattle đạt 42 độ C, trong khi khu vực này vốn mát mẻ và ẩm ướt; nhiệt độ ở Portland đạt đến mức kinh hoàng 46 độ C. Một nghiên cứu cho thấy đợt nắng nóng như vậy “hầu như không thể xảy ra” nếu không có biến đổi khí hậu. Đợt nắng nóng này làm chết hàng trăm người và hàng tỉ sinh vật biển.    Vài tháng sau, những trận mưa xối xả đã gây ra lũ lụt trong cùng khu vực, khiến hàng nghìn cư dân phải di dời. Các quan chức Canada gọi trận mưa như trút nước đổ xuống British Columbia – lên đến hơn 15cm trong một ngày – là sự kiện “có một trong 500 năm”. Lũ lụt do mưa cũng quét qua các thung lũng sông ở Đức, Bỉ và Đan Mạch, phá hủy các tòa nhà và giết chết hơn 200 người. Một phân tích cho thấy lũ lụt như vậy ở châu u có khả năng xảy ra cao gấp 9 lần trong điều kiện khí hậu ấm hơn.    Năm 2021 cũng chứng kiến một mùa bão nghiêm trọng khác ở Mỹ – ngay sau cơn bão kỷ lục năm 2020 – gây lũ lụt ở nhiều khu vực. Bão Ida cấp 4 đã đổ bộ vào bờ biển Louisiana vào tháng 8 (đúng ngày kỷ niệm cơn bão Katrina năm 2005), tàn phá toàn tiểu bang, đặc biệt là ở vị trí của các cộng đồng thu nhập thấp. Mưa từ của Ida tiếp tục gây ra lũ lụt chết người ở các khu vực phía Đông Bắc, bao gồm cả TP New York.    Khoa học khẳng định con người gây biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan    Những sự kiện thời tiết cực đoan như trên đang trở nên nghiêm trọng và thường xuyên hơn do sự nóng lên toàn cầu, theo Báo cáo Đánh giá lần thứ Sáu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), công bố vào tháng Tám.    Được tổng hợp bởi hơn 200 nhà khoa học, báo cáo khẳng định chắc chắn nguyên nhân đang thúc đẩy biến đổi khí hậu: “Rõ ràng là ảnh hưởng của con người đã làm ấm bầu khí quyển, đại dương và đất liền.”    Các tác giả cũng cảnh báo rằng các cam kết hiện tại của các quốc gia trong việc giảm phát thải khí nhà kính vẫn chưa không đủ để đạt được mục tiêu hạn chế nóng lên toàn cầu trong phạm vi 2 độ C (3,6 độ F) so với mức tiền công nghiệp, theo thỏa thuận khí hậu Paris năm 2015.    Người dân toàn cầu lo ngại về khí hậu    Một cuộc khảo sát với hơn 10.000 người từ 16 đến 25 tuổi ở 10 quốc gia công bố vào tháng 9 trên Lancet Planetary Health cho thấy 60% số người được hỏi “rất” hoặc “cực kỳ lo lắng” về biến đổi khí hậu; và 45% cho biết cảm giác buồn bã, tức giận và lo lắng liên quan đến biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của họ. Thuật ngữ “lo âu sinh thái” (eco-anxiety), định danh cảm giác lo lắng và buồn bã nói trên, thậm chí còn được thêm vào Từ điển tiếng Anh Oxford năm nay.    Nước Mỹ chuyển hướng    Năm nay, quan điểm của Mỹ về biến đổi khí hậu đã hoàn toàn đảo ngược so với năm 2020, sau khi ông Biden nhậm chức tổng thống vào tháng Giêng. Vào ngày đầu tiên nhậm chức, chính quyền Biden đã nộp các thủ tục giấy tờ cần thiết để đưa Mỹ gia nhập lại thỏa thuận khí hậu Paris kể từ ngày 19/2. Ông cũng chỉ đạo các cơ quan liên bang tính đến biến đổi khí hậu khi đánh giá các dự án cơ sở hạ tầng; và chấm dứt tài trợ của liên bang cho than và các dự án phát thải nhiều carbon khác ở nước ngoài.    Sau đó, ông tổ chức hội nghị thượng đỉnh quốc tế vào Ngày Trái đất (22/4) và đưa ra cam kết Mỹ sẽ cắt giảm một nửa lượng khí thải carbon vào năm 2030 và giảm phát thải methane, một khí gây hiệu ứng nhà kính rất mạnh.    Chính quyền Biden cũng bắt đầu sửa đổi các quy tắc và quy định liên bang để thực sự đáp ứng các mục tiêu đã đặt ra, tái lập lại các cơ quan liên quan về khí hậu đã bị vô hiệu hóa dưới thời của tổng thống Donald Trump. Chi phí xã hội của carbon – tính toán thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra khi đánh giá các chương trình và dự án – đã được nâng lên 51 USD/ tấn, tăng từ mức 1 USD/ tấn dưới thời chính quyền Trump. Và chỉ trong tháng 12, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ đã ban hành các tiêu chuẩn khí thải xe cộ nghiêm ngặt hơn – đây là một bước đi quan trọng bởi vì giao thông vận tải là ngành đóng góp lớn nhất vào lượng khí thải nhà kính của Mỹ.    Nhưng một số hành động của chính quyền Biden đã bị chỉ trích – đáng chú ý là việc tiếp tục cho thuê đất để khoan dầu khí.    Nhiều nghi ngờ về COP26    Nhiều dấu hỏi đặt ra sau khi Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần thứ 26 (COP26) diễn ra ở Glasgow từ ngày 31/10, sau một năm trì hoãn vì đại dịch COVID-19. Mục đích của COP26 là để các nước tăng cường cam kết giảm phát thải theo thỏa thuận khí hậu Paris. Một số nước đã làm như vậy, nhưng những cam kết mới cũng không được như các nhà hoạt động môi trường kỳ vọng – và cũng không đủ để đạt mục tiêu 2 độ C, theo các nhà khoa học khí hậu. Một phân tích được tiến hành sau COP26 cho thấy với các cam kết hiện tại, nhiệt độ trái đất có thể ấm lên 3 độ Cvào năm 2100 so với thời kỳ tiền công nghiệp, chưa tính đến tình hình triển khai thực tế của nhiều cam kết.    Các quốc gia đã đồng ý sẽ tiếp tục nâng các cam kết giảm phát thải vào cuộc họp COP 27 được tổ chức vào ngay năm tới tại Ai Cập, thay vì đợi đến năm 2025.    Ngô Thành t/h    Author                .        
__label__tiasang 50% loài động vật có vú trên thế giới đang suy      Sách đỏ về các loài bị đe dọa tuyệt chủng do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công bố ngày 6-10 cho thấy: Ngoài 1/2 loài động vật có vú đang trên đà suy giảm số lượng cá thể,&#160;có thể&#160;có đến 1/3 loài động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng.     Hiện 1/4 loài động vật có vú trên thế giới đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, tương đương với 1.141/5.487 loài được tổ chức này thống kê. Tuy nhiên, thực tế có thể còn tệ hơn nhiều do các chuyên viên nghiên cứu thiếu thông tin liên quan đến 836 loài động vật có vú. Jan Schipper, một chuyên viên của IUCN, nhận định số loài động vật có vú có nguy cơ bị xóa sổ có thể lên đến 36%. Theo các chuyên viên, có ít nhất 76 loài động vật có vú đã bị tuyệt diệt kể từ năm 1500, và sự khủng hoảng hệ động vật hiện tại được xem như giai đoạn tuyệt chủng lớn thứ sáu trong lịch sử các loài. Một trong những nguyên nhân khiến các loài động vật có vú không còn tồn tại trên Trái đất là con người đã tranh giành môi trường sống của chúng khi đẩy mạnh tốc độ phá rừng, cũng là nơi cư ngụ của các loài động vật trong tự nhiên. Nạn săn bắn lậu cũng là một nhân tố khiến nhiều loài động vật không còn chốn nương thân. Theo AFP    Author                Quản trị        
__label__tiasang 50 năm trước, chiếc ổ cứng máy tính đầu tiên ra đời,      50 năm trước, chiếc ổ cứng máy tính đầu tiên ra đời, nó to gấp đôi chiếc tủ lạnh và nặng cả tấn – một sự khởi đầu góp phần thay đổi bộ mặt công nghệ thế giới.    Nếu giữ một chai vang, đây là một dịp tốt để mừng 50 năm ngày chiếc ổ cứng đầu tiên ra đời. Đừng vội cười, ngày 13/9/1956, hãng IBM đã tung ra chiếc RAMAC (Random Access Method of Accounting and Control – Điều khiển và tính toán theo truy cập ngẫu nhiên) được trang bị ổ cứng đầu tiên, khởi đầu cho tiến trình thay đổi lối sống của chúng ta.            Khi RAMAC hoạt động,  cần cả một đội chuyên gia túc trực          Chiếc RAMAC được thiết kế ở Trung tâm nghiên cứu của Big Blue là thủy tổ của những chiếc ổ cứng 1,8 inch, chứa được 7.500 bài hát trong chiếc máy nghe nhạc iPod nhỏ xíu giá gần 300 đô-la. Tất nhiên chiếc RAMAC đầu tiên cũng có thể phát ra âm thanh “rộn rã”. Nó nặng cả tấn, trị giá tương đương 250.000 đô-la ngày nay. Bởi cần trang bị một bộ làm lạnh bằng khí nén để làm nguội hai đầu ghi và đọc dữ liệu nên RAMAC chạy rất ồn. Tất cả dung lượng được lưu trong 50 chiếc đĩa phủ ô-xít sắt- mỗi chiếc to bằng chiếc bánh pizza 24 inch – là 5MB. Nó không đủ để lưu hai bản nhạc “Hound Dog” định dạng MP3 của Elvis Presley.  Những ai đã trông thấy RAMAC đều sửng sốt. ” Nó to bằng hai chiếc tủ lạnh, cao bằng đầu người, và vì có bộ phận làm lạnh nên nó luôn nhỏ nước” – Jim Porter, người từng tiếp xúc với chiếc RAMAC ngay từ hồi giữa những năm 50 nhớ lại: “Nó đã dấy lên kỷ nguyên thông tin”. Đó là chiếc máy tính truy cập ngẫu nhiên đầu tiên, trong khi trước kia ta phải tua cuốn băng từ đầu tới cuối để truy cập dữ liệu.              Ổ Tanba-1 2,5 inch, được giới thiệu năm 1991, chứa 63 MB dữ liệu. Loại thiết bị kích thước 2,5 inch này hiện vẫn phổ biến trong các máy tính xách tay, nhưng dung lượng đã lên đến 100 GB        Các nhà nghiên cứu đã và đang không ngừng tăng dung lượng và làm giảm giá thành ổ cứng, điều đó đã tạo ra một cuộc cách mạng cũng ngoạn mục không kém cuộc cách mạng trong việc tăng tốc độ bộ vi xử lý. Dung lượng lưu trữ khổng lồ tạo đất sống cho các ngành kinh doanh khổng lồ. Không có những chiếc ổ cứng truy cập ngẫu nhiên với sức chứa vô cùng lớn, không thể hình dung Google, eBay hay Amazon sẽ ra sao. Tuy nhiên những nhà nghiên cứu đang luôn phá vỡ giới hạn lưu trữ trên chiếc đĩa nhỏ bé lại không nhận được sự tôn vinh xứng đáng. “Thay vì Thung lũng Silicon (vật liệu chủ yếu trong bộ vi xử lý), người ta nên gọi nó là Thung lũng Ô-xít Sắt (vật liệu trên bề mặt ổ cứng)” – Mark Kryder Giám đốc kỹ thuật của công ty Seagate phát biểu: Không phải bộ vi xử lý tăng cường khả năng của máy quay cá nhân, mà chính là khả năng chứa dữ liệu”. Nó đang thúc đẩy những ngành công nghiệp mới.”  Các chuyên gia cho rằng tiến trình tăng dung lượng lưu trữ tới mức kinh ngạc trong một ổ cứng nhỏ giá rẻ còn diễn ra trong ít nhất là hai mươi năm nữa. Lúc đó những ổ cứng cho doanh nghiệp sẽ có mức chứa peta-byte (triệu lần gigabyte) và cho gia đình là terabyte (nghìn lần gigabyte). Khi đó những ổ cứng hàng trăm gigabyte ngày nay sẽ hiếm tới mức trở nên quý như kim cương. “Bạn sẽ mang theo tất cả ảnh bạn chụp, tất cả các bài hát từng nghe, tất cả hóa đơn từng chi trả”. Bill Healy, uỷ viên quản trị của Hitachi, hãng trang bị ổ cứng cho các máy tính của IBM từ năm 2003 phát biểu.              Kích thước siêu nhỏ của ổ cứng Hitachi        Song khả năng lưu trữ khổng lồ của những chiếc ổ cứng di động cũng gây nên lo ngại về ăn cắp bản quyền (vì một ổ cứng có thể lưu hàng nghìn bài hát) và xâm phạm riêng tư (vì ổ cứng có thể chứa rất nhiều thông tin về chúng ta). Điều gì sẽ xảy ra khi ta có thể lưu giữ đủ mọi thứ với một giá gần như cho không? Kryder của Seagate và Healy của Hitachi đều chắc chắn rằng sẽ tung ra loại ổ cứng được mã hóa để bảo vệ bản quyền và thông tin cá nhân. Và chúng ta nên tin họ!  V.A dịch từ Newsweek  Steven Levy      Author                Quản trị        
__label__tiasang 60% lượng nước ngầm ở Nam Á bị ô nhiễm      Nghiên cứu mới trên Nature Geoscience đã cho thấy hơn một nửa lượng nước ngầm ở khu vực nam Á bị nhiễm mặn hoặc asen.      Sử dụng nước ở Ấn Độ. Nguồn ảnh: www.revealnews.org  Hơn một nửa lượng nước ngầm ở khu vực lưu vực sông Ấn – Hằng, nơi cung cấp nước ngọt cho hơn 750 triệu người ở các nước Pakistan, Ấn Độ, Nepal và Bangladesh bị ô nhiễm tới mức không nên dùng để uống hoặc để tưới tiêu trong nông nghiệp, nghiên cứu này khuyến cáo.  “Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là nguồn nước bị nhiễm mặn và asen”, nhóm tác giả cho biết. Ở độ sâu lên tới khoảng 200m, có tới 23% tổng lượng nước ngầm quá mặn, và khoảng 37% lượng nước ngầm nhiễm asen với nồng độ độc hại vượt mức cho phép.  Tình trạng nhiễm mặn và asen ở lưu vực sông Ấn – Hằng có nguyên nhân do sự tác động từ con người và tự nhiên, trong đó bao gồm cả hậu quả từ các hoạt động tưới tiêu trong nông nghiệp vốn được quản lý kém. Asen vốn sẵn có trong tự nhiên, nhưng nay mức độ ô nhiễm hóa chất này ngày càng tăng cao do quá trình sử dụng phân bón trong nông nghiệp và khai thác mỏ cho sản xuất công nghiệp.  Báo cáo trên cũng cho thấy tình trạng nhiễm độc do asen trong nước uống đang là vấn đề rất đáng lo ngại ở khu vực các nước Nam Á này.  Ước tính, lưu vực sông Ấn – Hằng đóng góp khoảng một phần tư tổng số lượng nước ngầm trên toàn thế giới – nước ngọt được lưu trữ ở các khe, túi nước ngầm, trong lòng đất. Nguồn tích tụ cho nước ngầm chủ yếu lấy từ nước mặt trên các dòng sông và lượng mưa hàng năm. Khoảng mười lăm tới hai mươi triệu giếng lấy nước ngầm từ lưu vực sông này mỗi năm cũng làm dấy lên lo ngại về nguy cơ cạn kiệt nguồn nước.  Nghiên cứu mới được đưa ra dựa trên nguồn báo cáo từ nhiều khu vực về mực nước và chất lượng nguồn nước ngầm từ năm 2000 tới 2012 cho thấy rằng mực nước chiếm khoảng 70% của tầng chứa nước (aquifer). Nhưng con số này thậm chí có thể giảm xuống chỉ còn 30%, đặt biệt là ở các khu vực tập trung dân cư đông đúc.  Bảo Như lược dịch theo The Guardian.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang 6.500 năm trước đã xảy ra hiện tượng mát dần toàn cầu      Nghiên cứu mới trên tạp chí Scientific Data thuộc Nature Research “Holocene global mean surface temperature, a multi-method reconstruction approach” cho thấy quá trình ấm lên toàn cầu suốt 150 năm qua đã chấm dứt hiện tượng mát dần toàn cầu (global cooling) diễn ra trong sáu thiên niên kỷ trước.      Nhiệt độ bề mặt toàn cầu ở Thế Holocene. Nguồn: Phys.org  Kết quả cho thấy hiện tượng mát dần toàn cầu đã bắt đầu từ khoảng 6500 năm trước khi nhiệt độ trung bình toàn cầu trong dài hạn đạt đỉnh, tức cao hơn khoảng 0.7oC so với giữa thế kỷ XIX. Kể từ đó, việc tăng tốc độ phát thải khí nhà kính đã khiến nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hiện nay cao hơn 1oC so với giữa thế kỷ XIX.  Bốn nhà nghiên cứu ở Trường Trái đất và Bền vững (SES) thuộc ĐH Bắc Arizona dẫn dắt 93 nhà khoa học về cổ khí hậu học đến từ 23 quốc gia thực hiện đề tài. Họ đã tái tạo toàn cảnh nhiệt độ trung bình toàn cầu ở Thế Holocene – giai đoạn sau kỷ băng hà và bắt đầu khoảng 12 000 năm trước. Darrell Kaufman, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết, “những nghiên cứu trước đây cho thấy thế giới đã mát hơn trong khoảng 1000 năm trước giữa thế kỉ 19, khi nhiệt độ trung bình toàn cầu dần tăng lên cùng với sự tích tụ của khí nhà kính. Dựa trên dữ liệu cổ khí hậu học được công bố trước đây kết hợp với với những phương pháp phân tích thông kê mới, nghiên cứu này đã cho thấy quá trình mát dần toàn cầu đã bắt đầu từ khoảng 6500 năm trước”.  Đầu năm 2020, họ đã công bố bộ dữ liệu cổ khí hậu học toàn diện nhất về 12.000 năm qua, chứa 1319 hồ sơ dữ liệu được lấy mẫu từ 679 vùng trên toàn cầu. Ở mỗi vùng, các nhà nghiên cứu đã phân tích bằng chứng sinh lý học, địa hóa học và sinh thái học từ những mẫu lưu trữ ở trên cạn lẫn dưới biển, bao gồm trầm tích hồ, trầm tích biển, than bùn và sông băng, để tìm hiểu sự thay đổi nhiệt độ trong quá khứ. “Hiện tượng mát dần toàn cầu đã diễn ra với tốc độ khoảng 0,1oC trong 1000 năm, chậm hơn nhiều so với tốc độ ấm lên toàn cầu. Những chu kỳ quỹ đạo chậm của Trái đất có lẽ đã tác động đến hiện tượng mát dần, làm giảm ánh nắng ở Bắc bán cầu vào mùa hè, đạt đỉnh vào thời kỳ băng hà nhỏ (Little Ice Age) trong những thế kỷ gần đây”, Erb, người phân tích dữ liệu để tái hiện nhiệt độ cho biết.    Kể từ giữa thế kỷ XIX, quá trình ấm lên toàn cầu đã tăng khoảng 1oC, cho thấy trong thời kỳ hậu băng hà hiện nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu của thập kỷ 2010-2019 đã ấm hơn bao giờ hết.  McKay đã phát triển một số phương pháp thống kê để tổng hợp dữ liệu trên khắp thế giới, nhấn mạnh rằng chưa từng có nghiên cứu nào tái tạo nhiệt độ của từng thập kỷ trong khoảng 12.000 năm trước nên kết quả trên khó thể so sánh với bất kỳ thập kỷ nào gần đây. “Mặt khác, nhiệt độ thập kỷ 2010-2019 có thể sẽ thấp hơn nhiệt độ trung bình [được dự báo có khả năng vượt quá 1oC so với thời tiền công nghiệp] của thế kỷ này” McKay nói.   Kaufman cho biết thêm: “Có thể lần gần đây nhất nhiệt độ trung bình toàn cầu đạt mức cao hơn 1oC so với thế kỷ XIX là trước kỷ băng hà – khoảng 125 000 năm trước đây, khi mực nước biển cao hơn khoảng 20 feet (khoảng 6m) so với ngày nay”.  “Việc nghiên cứu các mô hình thay đổi nhiệt độ tự nhiên theo không gian và thời gian giúp chúng tôi hiểu rõ và có thể định lượng các quá trình gây ra biến đổi khí hậu. Nó giúp chúng ta chuẩn bị sẵn sàng cho tất cả các mức biến đổi khí hậu trong tương lai do con người và tự nhiên gây ra” Routson nhận xét. “Khí hậu trong tương lai chủ yếu phụ thuộc vào tác động của con người, đặc biệt là việc tích tụ khí nhà kính. Tuy nhiên, các yếu tố tự nhiên cũng sẽ tác động đến khí hậu và những biến thiên của chúng trong hệ thống khí hậu sẽ làm các tác động này trở nên phức tạp hơn. Việc tính đến cả nhân tố con người lẫn tự nhiên sẽ giúp cải thiện các dự án về biến đổi khí hậu trong tương lai”, ông nói. □  Thanh An dịch   Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-major-paleoclimatology-global-upended-years.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang 8% ADN của người có nguồn gốc từ virus      Bạn nghĩ toàn bộ ADN của mình đều là của con người? Hãy nghĩ lại. Vì một phát hiện mới cho thấy “phần con người” thậm chí còn ít hơn so với các nhà khoa học suy nghĩ trước đây. Mười chín đoạn ADN có nguồn gốc không phải từ bản thân con người –mà do virus nhiễm vào và để lại từ thời tổ tiên của chúng ta hàng nghìn năm trước – vừa được tìm thấy, ẩn giữa các gen của chúng ta.      Khoảng 50 trong số 2.500 người được nghiên cứu có một đoạn ADN mới được phát hiện, có công thức di truyền nguyên vẹn từ virus, phát hiện này đã được công bố trong Kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học Quốc gia Mỹ.  Dù chưa biết rằng các ADN này có khả năng tái tạo, sao chép hay không nhưng các nghiên cứu khác đã cho thấy rằng nó có thể ảnh hưởng đến con người mang nó.  Ngoài việc tìm ra những đoạn gen mới này, trước đó, các nhà khoa học cũng đã tìm thấy 17 đoạn ADN virus khác trong hệ gen của con người.  Nghiên cứu này xem xét toàn bộ chuỗi của ADN của người từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có một số lượng lớn từ châu Phi – nơi tổ tiên của người hiện đại trú ngụ trước khi di cư đi khắp thế giới. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật phức tạp để đối sánh từng vùng quan trọng trong hệ gen của mỗi người.  Virus cổ nội sinh HERV  Những phát hiện này góp phần lý giải những gì khoa học đã biết về virus cổ nội sinh của con người, còn gọi là HEVRs. Đó là tên những virus cổ đã chèn một bản sao ADN từ chính vật liệu di truyền RNA của mình vào hệ gen của tổ tiên chúng ta. Chúng có phần giống loại virus hiện đại gây suy giảm hệ miễn dịch ở người, trong đó gây ra bệnh AIDS.  Qua thời gian, các ADN tạo ra do virus vẫn được sao chép và truyền lại qua các thế hệ con người và hiện diện trong ADN của chúng ta ngày nay. Trong thực tế, khoảng 8 phần trăm những gì chúng ta vẫn nghĩ là ADN “con người” thực sự đến từ virus. Trong một số trường hợp, chuỗi HERV được cơ thể con người chấp nhận nhằm phục vụ một mục đích hữu ích, chẳng hạn như giúp cơ thể phụ nữ mang thai hình thành lớp tế bào xung quanh thai nhi và bảo vệ nó khỏi các chất độc trong máu của người mẹ.  Các HEVRs mới là một phần của hệ HERV-K, giữ nguyên vẹn toàn bộ hệ gen virus, hoặc tiền virus, chỉ thấy được trên nhiễm sắc thể X; được đặt tên là Xq21. Nó là loại tiền virus thứ nguyên được tìm thấy ẩn nấp trong ADN của con người.            Mặc dù tiền virus trong ADN  của chúng ta có thể hiếm nhưng các tác động của chuỗi HERV lên sức khỏe  hay bệnh tật của chúng ta có lẽ là không.          “Có thể các dấu tích ADN của virus này có khả năng gây lây nhiễm virus, và nếu đúng, điều này sẽ cho phép chúng ta nghiên cứu về các trận dịch bệnh do virus xảy ra từ xa xưa”, tác giả chính của nghiên cứu này, nhà vi khuẩn học John Coffin, Đại học Y tế Tufts nói. Ông thêm rằng: “Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng, rất cần thiết để hiểu virus cổ và con người đã cùng tiến hóa như thế nào trong thời gian gần đây”.  Phần lớn các bộ gen được nhóm nghiên cứu khảo sát được lấy từ Dự án “1000 Genome”, một dự án hợp tác quốc tế, những bộ gen khác do các đồng nghiệp tại Đại học Stanford thu thập trong Dự án Đa dạng gen người, với chủ yếu mẫu DNA từ các tình nguyện viên châu Phi. Những mẫu sau cho thấy nhiều dấu hiệu của HEVRs, điều này phản ánh mức độ đa dạng di truyền trong người dân châu Phi. Đặc trưng đó do nguồn gốc cư trú lâu đời ở lục địa này – trái ngược với dân cư châu Âu, châu Á và châu Mỹ đều hình thành từ các cuộc di cư từ cổ đại.  Nghiên cứu này được tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia, cũng như Hiệp hội Ung thư Mỹ và Quỹ F.M. Kirby.  Thu Quỳnh dịch theo Sciencedaily   Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2016/03/160322100714.htm        Author                Quản trị        
__label__tiasang 80 năm sợi nilon: Những giấc mơ từ sợi tổng hợp      Cách đây 80 năm một huyền thoại đã ra đời: nilon. Nilon có độ đàn hồi lớn hơn, bền hơn, ít bị co giãn và dễ giặt hơn so với các loại vải thời đó.    Từ lịch sử của nilon, người ta có thể điểm lại sự phát triển của mốt thời trang, về phụ nữ và về xã hội.  “Một loại sợi tốt hơn dành cho một cuộc sống tốt đẹp hơn” – với khẩu hiệu mạnh miệng này, hãng DuPont  của Hoa Kỳ đã giới thiệu phát minh mới nhất của mình tại Hội chợ thế giới năm 1939 ở New York: sợi nilon. Ngày 15.5.1940 đã xảy ra tình trạng chen lấn, xô đẩy trước các cửa hàng bách hoá. Chị em phụ nữ quyết dành bằng được những đôi tất đầu tiên được sản xuất hàng loạt bằng chất liệu nilon. Thậm chí cảnh sát đã phải vào cuộc để duy trì trật tự. Ngày này trở thành “Nilon Day” trong lịch sử Hoa kỳ. Ngày đó một huyền thoại đã ra đời. Người chịu trách nhiệm về sự kiện này là Wallace Hume Carothers, ông  phụ trách mảng nghiên cứu của DuPont, là người đầu tiên phát triển loại sợi tổng hợp hoàn toàn từ carbon, hydro và oxy.    Wallace Hume Carothers, cha đẻ của nilon. Ảnh: Wikipedia.   Nhưng tại sao chị em lại ngây ngất về chuyện này? “Bất kể người phụ nữ nào cũng đều ao ước có một đôi tất lụa chính hiệu, nhưng mặt hàng này vô cùng đắt“, bà Elisabeth Hackspiel-Mikosch, giáo sư về lý thuyết và lịch sử thời trang của AMD Akademie Mode & Design Düsseldorf giải thích. Thời điểm đó chỉ có một chất liệu thay thế có giá thấp hơn là lụa nhân tạo làm từ cellulose. “Nhưng sợi nilon có độ đàn hồi tốt hơn, bền hơn, form ổn định hơn và dễ giặt hơn. Đơn giản là tất nilon làm cho đôi chân xinh đẹp hơn”.  DuPont phát động một chiến dịch quảng cáo khổng lồ từ đó đẩy mạnh sức tiêu thụ. Những hình ảnh quảng cáo như đôi chân đi tất nilon vươn lên bầu trời hay hai người phụ nữ giành giật co kéo chiếc tất để chứng minh độ bền của nilon càng khuấy động sự khao khát tất nilon. Cũng vào thời điểm đó, cuối những năm 1930, nhà hoá học người Đức Paul Schlack làm việc cho IG Farben đã phát triển một chất liệu tương tự mang tên: Perlon. Thay vì kiện tụng khốc liệt về pháp lý hai bên đã có sự thoả thuận về quyền sử dụng và phân chia thị trường.  Tuy nhiên thời gian mà hai doanh nghiệp này thu được tiền tỉ nhờ tiêu thụ tất nilon kéo dài không lâu. Ít lâu sau Nilon và Perlon chủ yếu dành cho công nghiệp chiến tranh, để làm vải dù, lều bạt và dây. Sau khi chiến tranh kết thúc hai loại vải này mới trở lại phục vụ dân sự – và điều này diễn ra ở Hoa kỳ sớm  hơn so với ở Đức.  “Sau những năm tháng gian khổ, thiếu thốn người phụ nữ lại ước muốn được làm đẹp”, Elisabeth Hackspiel-Mikosch giải thích. Christian Dior cũng nhận ra điều này, năm 1947 ông ta đã tạo ra một diện mạo người phụ nữ hoàn toàn mới với vòng eo thu nhỏ với các điểm nhấn ở vòng mông và ngực. Đôi tất nilon là một sự điểm xuyết nho nhỏ vào cái đẹp duyên dáng đó. Nó đồng thời cũng là biểu tượng cho hình ảnh những người phụ nữ muốn dã từ quá khứ. Khi người đàn ông ở ngoài chiến trường, người phụ nữ giữ vai trò tích cực ở hậu phương và trong xã hội, còn giờ đây họ muốn trao trả lại những trọng trách này. Đôi tất trở thành một phần của kịch bản yểu điệu, nữ tính, mà nữ giới muốn mượn nó để tiếp cận và tìm người chồng khá giả cho mình.    Hình ảnh quảng cáo tất nilon của hãng Dupont năm 1935. Ảnh: wired.  “Đến những năm 70 người phụ nữ mặc quần dài trên đường phố thường bị dè bỉu”, bà Hackspiel-Mikosch nhớ lại. Những ai không thể có được một đôi tất chính hiệu thì tìm cách dùng các sản phẩm như “tất nhuộm mầu nâu bánh mật” khiến cho đôi chân cũng như được trang điểm. Người ta còn dùng bút chì than để tạo ra đường gờ mầu đen.  Đường gờ mịn màng ở phía sau tất kích thích trí tưởng tượng của cánh mày râu, thực ra cái đường viền này có nguyên nhân rất thực tế: thời kỳ đầu chưa có máy đan tròn dành cho các nguyên liệu mong manh này. Thời đó còn xuất hiện các cửa hàng chuyên sửa chữa tất bị hỏng, lỗi. Vào những năm 50 mốt thời trang này không thuộc diện sản phẩm dùng một lần như ngày nay.  Trước đó không ai nghĩ người ta có thể chú ý đến đôi tất bởi lẽ phụ nữ luôn mặc váy dài tới sát đất và che giấu đôi chân của mình. Mãi đến sau năm 1920 đôi chân mới được giải phóng và từ đó người ta mới quan tâm đến tất. Tất và thời trang luôn đi liền với nhau như một dạng cộng sinh. Nếu như viền váy vươn cao lên, tất cũng vươn lên theo.    Kiểm tra tất nilon tại Thụy Sĩ, năm 1954. Ảnh: Wikipedia.   Đến những năm 1960, minirock (váy ngắn) xuất hiện giúp bổ sung cho vẻ đẹp của quần tất. Và ngành thời trang cũng sử dụng sợi tổng hợp, áo nilon ra đời như một tiến bộ vượt bậc vì rất dễ giặt sạch, phơi khô, giữ dáng. Tuy nhiên, bất lợi lớn nhất của sản phẩm này là chỉ sau ít phút người mặc đã ra mồ hôi –  đi cùng với nó là mùi hơi người.  Sang tới những năm 1980 nilon lại lên ngôi. Giờ đây các nhà thiết kế thời trang đã mang lại cho nilon đời sống khác, đa dạng và sang trọng hơn. “Tôi muốn tạo ra điều mà trước đây hầu như bị coi là không thể: biến nilon thành sang trọng”, nhà thiết kế của hãng thời trang xa xỉ Prada, Miuccia Prada nói.   Ngày nay, yêu cầu phát triển bền vững được đề cao – và một loại nilon mới mang tên econyl được tái chế từ rác thải nhựa và lưới đánh cá cũ bỏ đi. Ông lớn ngành thời trang Prada dự định từ 2021 sẽ không sử dụng sợi nilon mới nữa. Thương hiệu phổ biến như Burberry thì đã giới thiệu bộ sưu tập làm từ nguyên liệu tái sinh như áo măng tô ngắn, áo khoác và cả phụ kiện mùa hè vừa qua.   Wallace Hume Carothers là cha đẻ của tất cả các loại sản phẩm này nhưng ông thậm chí còn không chứng kiến sự xuất hiện của tất nilon trên thị trường, ông tự vẫn năm 1937.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.cio.de/a/der-kunststoff-aus-dem-die-traeume-waren,3624433    Author                Quản trị        
__label__tiasang 90 năm ngày sinh GS.NGND Nguyễn Văn Chiển (4.11.1918):     THẦY CHIỂN – MỘT TRÍ THỨC LỚN      T&#234;n tuổi Thầy Nguyễn Văn Chiển gắn liền với lịch sử ph&#225;t triển của nền gi&#225;o dục c&#225;ch mạng Việt Nam, với sự nghiệp đ&#224;o tạo c&#225;c thế hệ c&#225;n bộ khoa học ngay từ đầu những năm 40 của thế kỷ trước, đặc biệt gắn liền với lịch sử h&#236;nh th&#224;nh v&#224; ph&#225;t triển ng&#224;nh khoa học Tr&#225;i đất. Nhiều thế hệ t&#244;n vinh Thầy l&#224; &#8220;người t&#236;m đường cho ng&#224;nh khoa học Tr&#225;i đất ở Việt Nam&#8221;. Con đường khoa học của Thầy, cũng như rất nhiều nh&#224; khoa học c&#249;ng thế hệ, kh&#244;ng hề dễ d&#224;ng, su&#244;n sẻ m&#224; đầy gian tru&#226;n, vất cả. Nhưng với sự phấn đấu bền bỉ, với l&#242;ng y&#234;u khoa học v&#224; &#253; thức tr&#225;ch nhiệm với tương lai của đất nước, những g&#236; m&#224; Thầy đ&#227; đem đến cho cuộc đời, cho khoa học v&#224; gi&#225;o dục nước nh&#224; thật đ&#225;ng tự h&#224;o.    Là con trai của một gia đình nông dân, nhưng nhờ trí thông minh, sự cần cù mà chàng thiếu niên Nguyễn Văn Chiển đã bước chân vào học Đại học Khoa học, nơi mà không mấy ai con nhà nông dám mơ ước. Năm 1944 với bằng cử nhân Khoa học, Thầy đã được tuyển vào Phòng thí nghiệm Địa chất thuộc Đại học Khoa học Hà Nội. Đây là một việc hiếm có vì toàn bộ công việc Địa chất ở Đông Dương đều do người Pháp độc quyền. Quyết định chọn ngành Địa chất của cử nhân Nguyễn Văn Chiển một phần quan trọng là do gợi ý của GS Hoàng Xuân Hãn- người mà thầy Chiển luôn quý trọng và biết ơn.  Cách mạng Tháng Tám thành công, người thanh nhiên, nhà giáo, nhà địa chất trẻ Nguyễn Văn Chiển hăng hái tham gia giảng dạy địa chất ở các trường Đại học Khoa học, Nông Lâm, Công Chính, đã đóng góp xuất sắc cho sự hình thành đội ngũ đông đảo các nhà khoa học địa chất- một ngành khoa học mà trước Cách mạng Tháng Tám Thầy Chiển là người duy nhất bắt đầu tiếp cận.  Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, Thầy Chiển về giảng dạy Địa chất ở trường Đại học Sư phạm do GS Lê Văn Thiêm làm Hiệu trưởng. Đến khi Nhà nước chủ trương mở một số trường đại học mới, Thầy Chiển lại cùng toàn bộ phòng thí nghiệm Địa chất rời ĐHSP về Đại học Bách khoa Hà Nội. Với một phòng thí nghiệm thiết bị nghèo nàn, Thầy và một vài cộng sự xoay sở cho mọi công việc trong điều kiện chưa có chương trình đào tạo, không có giáo trình, Thầy Chiển đã vừa học thêm vừa dạy đuổi theo sinh viên từ môn học này sang môn học khác. Một khó khăn lớn nữa là sao cho có đủ thuật ngữ tiếng Việt để giảng dạy một khoa học có quá nhiều khái niệm, quá nhiều tên gọi mà trước đây Thầy chỉ quen dùng qua tiếng Pháp hoặc Hán Việt. Thầy đã dày công biên soạn thuật ngữ Địa chất, và có thể nói đó thực sự là một sáng tạo, một thành tựu lớn của Thầy Chiển. (Phần lớn hệ thống thuật ngữ cơ bản về địa chất nay đang thông dụng, nhất là thuật ngữ thuần Việt hoặc phiên âm theo gốc Latinh thay cho thuật ngữ Hán Việt, gắn liền với công sức của Thầy Chiển từ thuở ấy).  Nhờ sự nỗ lực của Thầy và các cộng sự mà miền Bắc có được những kỹ sư địa chất đầu tiên để phục vụ kịp thời cho nhu cầu điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản của đất nước. Nhiều người trong số kỹ sư khóa đầu đó về sau đã trở thành những nhà khoa học địa chất hàng đầu, những nhà quản lý cấp cao của Nhà nước.                  Ngày 4/11, tại giảng đường ĐHQGHN, Lễ mừng đại thọ GS. NGND Nguyễn Văn Chiển, người sinh viên của Đại học Đông Dương 60 năm trước, người giảng viên xuất sắc của nhiều trường đại học, trong đó có các đại học tiền thân của ĐHQGHN ngày nay, nhà khoa học, nhà quản lý tài giỏi của nhiều cơ quan nghiên cứu và đào tạo, và trên hết là người thầy đức độ, giản dị nhưng đáng kính của nhiều thế hệ sinh viên đã được tổ chức trọng thể và đầm ấm tình thầy trò, đồng nghiệp.  Thay mặt toàn thể GS, giảng viên và sinh viên, GS.TS Mai Trọng Nhuận, Giám đốc ĐHQG Hà Nội đã kính tặng Thầy bức trướng với 5 chữ “ĐỨC – TRÍ – MỸ – SƠN – HÀ”.          Giữa những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhờ quan hệ rộng rãi và uy tín lớn với trí thức trong và ngoài nước, Thầy Chiển đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng trường Đại học- Mỏ Địa chất trên cơ sở của Khoa Địa chất của Đại học Bách Khoa và khoa Khoa học Trái đất tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.   Cùng với công việc đào tạo, Thầy Chiển luôn luôn hăng say với công việc nghiên cứu khoa học. Chiếc kính hiểm vi phân cực đã thay thầy suốt trong cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm, dù lúc đó nó không dùng làm gì, là một minh chứng cho lòng say mê địa chất học của Thầy. Rồi khi kháng chiến thắng lợi chiếc kính hiển vi đó lại thay thầy về phục vụ cho việc dạy và học. Ngày nay chiếc kính đó trở thành một kỷ vật vô giá của Khoa Địa chất ở ĐHQG Hà Nội.  Nghiên cứu khoa học trở thành  nhiệm vụ trọng tâm chính của Thầy khi năm 1977 Thầy được giao trách nhiệm lãnh đạo lĩnh vực Khoa học Trái đất ở Viện Khoa học Việt Nam với cương vị Phó Viện trưởng. Hàng loạt các chương trình, dự án lớn mà Thầy chủ trì đã được thực hiện với giá trị khoa học và giá trị thực tiễn cao. Với Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “Điều tra tổng hợp về Tây Nguyên”, và đặc biệt Chương trình “Xây dựng tập bản đồ Quốc gia CHXHCN Việt Nam”, nhà khoa học Nguyễn Văn Chiển đã thể hiện một uy tín khoa học cao, khả năng tập hợp một lực lượng đông đảo cán bộ khoa học thuộc nhiều lĩnh vực và năng lực lãnh đạo triển khai các chương trình nghiên cứu với độ phức tạp và quy mô lớn.  Hoạt động của Thầy Nguyễn Văn Chiển rất đa dạng. Song song với công việc đào tạo và nghiên cứu khoa học, Thầy còn có nhiều đóng góp cho các công tác tổ chức, xã hội và hoạt động đối ngoại: GS.NGND Nguyễn Văn Chiển là người sáng lập Hội Địa chất Việt Nam và là Chủ tịch đầu tiên của Hội, là Ủy viên lãnh đạo của Liên hiệp của Hội Khoa học Việt Nam, là Thư ký (nay gọi là Chủ tịch) đầu tiên của Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Ở các giai đoạn sau, Thầy là Chủ nhiệm Khoa ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng học hàm Liên ngành Khoa học Trái đất và Mỏ.  Đánh giá cao những đóng góp của GS.NGND Nguyễn Văn Chiển cho sự nghiệp giáo dục và khoa học, Nhà nước đã trao những phần thưởng cao quý cho Thầy như danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Huân chương Lao động hạng Nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học & Kỹ thuật và nhiều phần thưởng cao quý khác.  Tài năng và trí tuệ uyên bác của Thầy mọi người đều kính phục, nhưng hơn hết, đó là đức tính cần cù, khiêm tốm, giản dị. Thầy từng nói “nhiều học trò của thầy nay đã giỏi hơn thầy, đó là điều rất đáng mừng vì Con hơn cha là nhà có phúc”. Nhưng tất cả những ai là học trò của Thầy chung một niềm tự hào về một người Thầy, một trí thức lớn của Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang 99% côn trùng có lợi cho con người      Đó là khẳng định của các nhà khoa học tại một lễ hội đặc biệt dành cho côn trùng đang diễn ra ở thành phố Wageningen, miền nam Hà Lan. Đến đây, mọi người sẽ được tham dự nhiều hoạt động bổ ích để hiểu thêm về các loài tí hon này.    Lễ hội côn trùng diễn ra trong vòng 1 tuần với các hoạt động gồm những hội thảo trao đổi về cách để không sợ côn trùng, những bài giảng ngoài trời về côn trùng, và đặc biệt là nỗ lực phá kỷ lục thế giới về ăn côn trùng. Và kỷ lục cũng đã bị phá vỡ, khi có tới 1.747 người tập trung trên quảng trường và mỗi người ăn một chén sâu chiên giòn với tiêu và tỏi.  Giáo sư Marcel Dicke, nhà côn trùng học, Đại học Wageningen cho biết: “Nếu không có côn trùng, thế giới sẽ không giống như những gì có ngày hôm nay, và thậm chí chúng ta cũng chẳng có dịp có mặt trên đời. Chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống của côn trùng, và nên cho mọi người thấy tầm quan trọng của chúng. Đó chính là mục đích của tuần lễ hội này. Bởi sự thực trái đất là hành tinh của côn trùng chứ không phải của con người”.  Theo các nhà khoa học, 99% côn trùng là có ích cho sự sinh tồn của loài người, chỉ có 1% còn lại là sâu bọ có hại.  Theo VTV.vn  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang A. Grothendieck, người chứng minh “định lí”: Tồn tại nền toán học Việt Nam      GS Lê Văn Thiêm, Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học Việt Nam là người có công lao rất lớn trong đẩy mạnh việc hợp tác giữa các nhà toán học Việt Nam với các nhà toán học thế giới. Ngay trong những lúc khó khăn nhiều mặt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, với uy tín khoa học của mình, ông đã mời đã mời được nhiều nhà toán học có tên tuổi lớn trên thế giới sang thăm và nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ các nhà toán học Việt Nam. Trong đó chuyến đi của Grothendieck là một cột mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác khoa học giữa các nhà toán học Việt Nam và các nhà toán học Pháp.      Tháng 11 năm 1967 Grothendieck sang miền Bắc Việt Nam, rồi ông mở lớp giảng bài cho Đại học Hà Nội đang sơ tán trong rừng. Trong ảnh: Grothendieck cùng với các học trò của mình, GS. Hoàng Xuân Sính áo trắng, tóc ngắn. Ảnh: pnp.mathematik.uni-stuttgart.de/lexmath/kuenzer/sinh  Đó  là một trong những “Định lí” nổi tiếng nhất của một trong những nhà toán học nổi tiếng nhất của thế kỉ này: Alexandre Grothendieck. Ông đã chứng minh “định lí tồn tại” nổi tiếng của mình không phải theo cách thường dùng để chứng minh các “định lí Grothendieck” nổi tiếng khác.   Lần này, thế giới toán học được biết đến một phương pháp chứng minh mới của Grothendieck: ông chứng minh định lí trên bằng chuyến đi của mình đến miền Bắc Việt Nam trong thời kì ác liệt nhất của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Sau khi từ Việt Nam trở về, tháng 11 năm 1967, Grothendieck đã viết một bài về chuyến đi của mình, kết thúc bằng câu: “Tôi đã chứng minh một trong những định lí quan trọng nhất của mình, đó là: Tồn tại một nền toán học Việt Nam”. Bài viết đó nhanh chóng trở thành nổi tiếng trong thế giới toán học, bởi vì bất cứ điều gì mà Grothendieck viết ra đều là điều mà mọi người làm toán quan tâm.  Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt Nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó. Tôi hiểu điều này một cách rõ ràng khi, rất nhiều năm sau chuyến đi của Grothendieck, nhiều đồng nghiệp nước ngoài nói với tôi rằng, họ biết đến nền toán học Việt Nam từ sau khi đọc bài viết của Grothendieck. Và cũng nhiều lần, tôi phải kể lại tường tận những gì tôi đã được chứng kiến, những gì Grothendieck đã làm trong chuyến đi thăm Việt Nam. Bản thân sự kiện Grothendieck đến Việt Nam đã là điều đáng ngạc nhiên. Ông, người được trao giải thưởng Fields (là giải thưởng cao nhất về toán, tương tự như giải Nobel đối với các ngành khoa học khác, được tặng 4 năm một lần cho 1-4 nhà toán học xuất sắc nhất thế giới), người mà bất kì một trường đại học lớn nào cũng lấy làm vinh dự khi ông đến thăm, lại đi đến Việt Nam đang dưới bom đạn ác liệt? Nhưng, để có thể hình dung tại sao những điều Grothendieck viết ra lại có ảnh hưởng to lớn như vậy trong thế giới toán học, xin được nói đôi lời về ông.      Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt Nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó.      Alexandre Grothendieck không phải là người có một thời thơ ấu êm ả và thuận lợi. Ông sinh năm 1928 ở Đức. Cha ông mất năm 1943 trong trại tập trung Dachau, ông cùng với mẹ chuyển sang sống ở Pháp ngay trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ hai để tránh họa phát xít. Tại Pháp, ông được những người chống phát xít giúp đỡ để có thể đến trường học. Năm 1948, ông đến Paris tìm gặp Henri Cartan, và ít lâu sau đến Nancy làm việc dưới sự hướng dẫn của Jean Dieudonné, một trong những nhà toán học xuất sắc nhất thời bấy giờ. Luận án tiến sĩ mà Grothendieck viết thời kì đó đã nhanh chóng trở thành kinh điển. Trong luận án của mình, Grothendieck xây dựng lí thuyết tích tenxơ các không gian hạch lồi địa phương, một lí thuyết mà đến nay vẫn là nền tảng của giải tích hàm hiện đại. Năm 1958, khi ở Pháp thành lập Insitiut des Hautes Etudes Scientifiques (nổi tiếng trong thế giới toán học dưới tên gọi tắt IHES), Grothendieck trở thành một trong những giáo sư đầu tiên của Viện. Có lẽ những năm làm việc ở IHES là những năm rực rỡ nhất của thiên tài Grothendieck.  Bằng lí thuyết các “lược đồ”, ông muốn làm cho hình học, đại số, số học và một số lĩnh vực cơ bản khác của toán học trở thành một khối thống nhất. Grothendieck đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong toán học.  Có thể nói, ông để lại dấu ấn của mình trong mọi lĩnh vực của toán học hiện đại. Người ta có thể nhận ra  ảnh hưỏng  của Grothendieck ngay cả khi không thấy trích dẫn định lí cụ thể nào của ông. Điều này cũng giống như ảnh hưởng của Picasso đến thẩm mĩ của thời đại chúng ta: ta nhận ra Picasso không chỉ qua các bức họa của ông, mà thấy Picasso ngay trong hình dáng của những vật dụng hằng ngày. Grothendieck đã góp phần làm cho IHES thực sự trở thành một trong vài ba trung tâm lớn nhất của toán học thế giới. Chỉ một chi tiết sau đây cũng cho ta thấy rõ điều đó: từ ngày thành lập đến 1999, IHES mới có 9 người là “giáo sư chính thức” (professeur permanent) thì đã có 6 người đoạt giải Fields, đó là: Alexandre Grothendieck, René Thom, Jean Bourgain, Alain Connes, Pierre Deligne, Maxim Kontsevich. Hằng năm, có khoảng 200 lượt người đến làm việc tại IHES (khoảng từ một tuần đến một năm). Bản thân tôi cũng có cái may mắn được làm việc tại IHES một năm, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1988. Lúc đó, Grothendieck đã rời IHES, nhưng cũng như tất cả mọi người, tôi luôn thấy “tinh thần Grothendieck” thể hiện ở khắp nơi, trong cách thức tiến hành các hoạt động khoa học cũng như trong những vấn đề nghiên cứu của IHES, và cả trong những câu chuyện hằng ngày. Việc Grothendieck đột ngột rời bỏ IHES, và nói chung, rời bỏ toán học năm 1970, vào thời kì thiên tài của ông đang ở đỉnh cao, đã làm xôn xao giới toán học. Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn không thật hiểu rõ tại sao. Nhiều người cho rằng ông không đồng ý với việc IHES nhận một số tiền tài trợ của các cơ quan quân sự (vào thời điểm đó, số tiền này là vào khoảng 3,5% ngân sách của Viện. Ông là người luôn có những quan điểm riêng của mình, và có thể là như nhiều người quan niệm, ông khá  “ngây thơ” về chính trị. Giáo sư Louis Michel kể lại: có một lần, ông chỉ cho Grothendieck xem bản thông báo về một hội nghị quốc tế mà Grothendieck được mời làm báo cáo viên chính. Trong phần liệt kê các cơ quan tài trợ có NATO, và Michel hỏi Grothendieck xem có biết NATO là gì không, thì Grothendieck trả lời “không”! Sau khi được giải thích NATO là gì, Grothendieck đã viết thư cho ban tổ chức hội nghị để phản đối. Và cuối cùng, vì không muốn mất Grothendieck, ban tổ chức đành mất NATO!                                                   Grothendieck trong chuyến sang Việt Nam, cùng với các học trò của mình trong rừng. Ảnh: pnp.mathematik.uni-stuttgart.de/lexmath/kuenzer/sinh pnp.mathematik.uni-stuttgart.de/lexmath/kuenzer/sinh  Vậy mà con người có vẻ như ngây thơ về  chính trị, không biết NATO là gì, đã đến thăm và giảng bài tại Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Khi ông đến Việt Nam (năm 1967), tôi vừa học xong năm thứ tư Khoa toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tuy đã tốt nghiệp nhưng chưa nhận công tác nên tôi được “tự do” rời khu sơ tán về Hà Nội và đi nghe các bài giảng của ông. Thường thì Giáo sư Tạ Quang Bửu hoặc Giáo sư Đoàn Quỳnh phiên dịch cho ông. Tôi thật sự kinh ngạc vì sự bình tĩnh của ông: các bài giảng của ông thường bị ngắt quãng vì những lần máy bay Mỹ bắn phá thành phố. Vậy mà ông, người đến từ một đất nước đã từ lâu không có chiến tranh, không hề tỏ ra mảy may lo sợ. Nhưng rồi thì các bài giảng của ông cũng phải chuyển lên khu sơ tán, vì không thể nào giảng bài khi mà buổi học bị ngắt quãng hàng chục lần vì máy bay. Theo lời ông nói, chuyến đi Việt Nam đã làm ông thật sự ngạc nhiên: ở một đất nước ngày đêm phải đối đầu với cuộc chiến tranh ác liệt bậc nhất trong lịch sử, người ta vẫn dạy toán, học toán, và biết đến những thành tựu hiện đại nhất của toán học! Từ sự ngạc nhiên đó, ông đã công bố định lí của mình: “Tồn tại một nền toán học Việt Nam”.  “Định lí” trên đây của Grothendieck đã làm thế giới toán học biết đến nền toán học Việt Nam trong chiến tranh. Chuyến đi của Grothendieck đã mở đầu cho một loạt chuyến đi thăm và giảng bài của nhiều nhà toán học lớn đến Việt Nam, trong đó nhiều nhất vẫn là các nhà toán học Pháp: L. Schwartz, A. Martineau, P. Cartier, Y. Amic,… Có thể nói chuyến đi của Grothendieck là một cột mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác khoa học giữa các nhà toán học Việt Nam và các nhà toán học Pháp.   Cuối đời Grothendieck sống trong một căn nhà nhỏ bên sườn dãy Pyrénées. Ông muốn ẩn dật, muốn xa lánh cuộc đời. Nhưng cuộc đời không bao giờ quên ông. Nền toán học thế giới không bao giờ quên ông. Và chúng ta cũng không bao giờ quên ông, người đã dùng tiếng tăm và ảnh hưởng của mình làm cho thế giới biết đến nền toán học Việt Nam ngay từ những năm chiến tranh chông Mỹ.□  Ở khu sơ tán, có một hình ảnh về ông mà không bao giờ tôi quên. Đó là có một lần, tôi thấy ông cởi trần ngồi đọc sách, cái áo ướt màu “phòng không” vắt trên bụi sim. Hỏi ra mới biết, ông giành toàn bộ va li của mình để mang theo sách vở sang tặng các nhà toán học Việt Nam, và chỉ có bộ quần áo duy nhất mặc trên người! Vậy nên mỗi lần giặt, ông phải chờ quần áo khô để mặc lại chứ không có quần áo để thay! Trong thời gian ông ở Việt Nam, mỗi tuần ông đều nhịn ăn vào ngày thứ sáu. Khi các nhà toán học Pháp biết chuyện, họ đều rất ngạc nhiên vì không thấy ông có thói quen đó khi ở Pháp. Và người ta cho rằng chỉ có thể có một cách giải thích: ông muốn tiết kiệm một phần lương thực cho Việt Nam! Đó là một con người với thiên tài kì lạ, cá tính kì lạ, và cũng có tấm lòng ưu ái kì lạ với Việt Nam.       Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Abdus Salam – Giữa Đông và Tây, giữa Bắc và Nam      Những tin tức, phóng sự bên Trung và Cận Đông với hình ảnh phiến diện về cộng đồng, tín đồ đạo Hồi khiến họ bị gán nhiều nhãn hiệu không mấy tốt đẹp. Bài viết tản mạn này mong chia sẻ với bạn đọc một cái nhìn khác để cùng nhau suy ngẫm về thế sự thăng trầm, qua một nhân vật phi thường giáo sư Abdus Salam (1926-1996) người Pakistan duy nhất cho đến nay được giải thưởng Nobel Vật lý.    Thế sự thăng trầm   Không chút ngại ngần bận quốc phục với khăn áo xanh và đôi hia đỏ, lạ lùng giữa ngàn người mang âu phục đen trong buổi lễ trao giải Nobel tháng chạp năm 1979, bài diễn văn của Salam gợi cho ta nỗi niềm mang mác vui buồn của bao người mê say khoa học ở những quốc gia chậm phát triển bên Á, Phi, Nam Mỹ. Câu chuyện cũng không khỏi liên quan đến vấn đề chảy chất xám, giáo dục nói chung và đại học chất lượng cao nói riêng ở nước ta, một đề tài nóng bỏng.              Không chút ngại ngần bận quốc phục với khăn áo xanh và đôi hia trong đỏ trong buổi trao giải Nobel 79        Để mở đầu, mời bạn đọc mường tượng cậu học sinh tài ba Abdus năm 14 tuổi tốt nghiệp thủ khoa trung học toàn vùng Punjab, khiến cả tỉnh Jhang hãnh diện ào ra đường đón chào cậu nhỏ trở về quê. Vài năm sau đó Salam được học bổng rời xóm làng đi tàu biển ròng rã cả tháng để sang Anh tiếp tục lớp cao học và tiến sĩ về toán lý tại Cambridge, một trong vài đại học hàng đầu thế giới với mấy chục giải Nobel.  Bên bờ sông Cam êm đềm của trường đại học uy tín gắn liền với những tên tuổi đời đời lừng danh như Newton, Darwin, Maxwell, Dirac, chàng thanh niên Abdus Salam của xứ thuộc địa Pakistan không khỏi suy tư đến thời đại vàng son của khoa học mang dấu ấn đạo Hồi ở các xứ Ả Rập, Ba Tư, Afghanistan. Thực thế, trong khoảng thời gian kéo dài 350 năm (750-1100), ở những vùng đó có nhiều bậc thầy uyên thâm, xuyên ngành và phổ quát như Jabir, Al-Battani, Omar Khayam, Ibn Sina (Avicenne), Ibn Rushd (Averroes) đã từng soi sáng tri thức toàn cầu từ thiên văn đến triết học qua toán, cơ, lý, hóa, y, dược. Trong chuyến thăm viếng những trung tâm văn hóa khoa học vang bóng một thời ở vùng Andalucia miền nam Tây Ban Nha từ Toledo, Cordoba qua Granada, cậu Abdus ngậm ngùi ngắm nhìn bức tranh miêu tả giây phút vị vua cuối cùng Hồi giáo Boabdil năm 1492 mắt rưng rưng lệ, dâng hiến lâu đài Alhambra lộng lẫy cho nữ hoàng Công giáo Isabella để trở về sống kiếp lưu đầy bên kia bờ Địa Trung Hải, giã biệt mãi mãi xứ sở người Moro mà hơn bảy trăm năm trước (711) tổ tiên đến từ Bắc Phi đã xây dựng nên.             ICTP- trung tâm QT về vật lý lý thuyết ở Trieste, Ý        Rõ ràng cái ấn tượng thăng trầm trong lịch sử của các nền văn hiến và của khoa học nói riêng đã đeo đuổi hoài Abdus Salam. Với tầm nhìn xa trông rộng, ngay từ lúc đó ông bắt đầu suy nghĩ tìm phương cách để giúp các đồng nghiệp ở những nước kém phát triển có phương tiện liên tục học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo hầu lấp dần cái hố xa cách khoa học kỹ thuật giữa hai bán cầu Tây và Đông, Bắc và Nam. Trong bài phát biểu ở Stockholm năm ấy, ông nhắc nhở mọi người rằng sự tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên cũng như những sáng tạo trong khoa học là di sản chung của loài người, nhiều dân tộc đã trải qua những chu kỳ phát triển, lúc thịnh lúc suy.  Ta hãy theo Salam ngược dòng thời gian lùi về năm 1217, thuở ấy ở xứ Scotland phía bắc nước Anh kém mở mang, dân chúng chỉ biết chăn cừu, dệt len có chàng thanh niên Michael hiếu học rời quê hương lặn lội xuống miền nam tìm đến thụ giáo nhà học giả Do Thái Moses bin Maimoun đang giảng dạy tại hai trường đại học Ả Rập nổi tiếng hàng đầu thế giới ở Toledo và Cordoba phồn vinh. Nhưng trước đó cả ngàn năm, còn có một kho tàng tri thức tuyệt vời khác đã rọi sáng nhân loại với những bậc thầy kì diệu người Hy Lạp từ Pythagore (định lý về tam giác vuông góc), Socrate, Plato, Aristotle, Euclide (hình học phẳng), Archimedes, đến Ptolemy. Trải qua những cuộc bể dâu, nền văn hóa rực rỡ ấy đã bị lãng quên, hầu như chẳng còn ai kể cả Michael biết đến ngôn ngữ của Homer nữa.  Phải chờ đến thời đại vàng son của triết học, khoa học bên Trung, Cận Đông từ thế kỉ thứ bảy kéo dài vài trăm năm , tủ sách tinh hoa Hy Lạp nằm trong quên lãng cả mươi thế kỉ mới được chuyển ngữ sang tiếng Ả Rập. Năm 1231, sau khi dịch các công trình của Aristotle từ Ả rập sang Latinh để góp phần khai sáng các dân tộc Âu châu còn đang mê mẩn trong bóng tối thần quyền, Michael bèn đến Salerno và gặp Henrik Harpestraeng – một người thầy thuốc riêng của vua Đan Mạch- đang ở đó học hỏi về truyền máu và giải phẫu. Thủa ấy bộ sách kinh điển về ngành này là của Avicenna mà chỉ Michael mới biết ngôn ngữ để dịch giùm cho Henrik cùng chung cảnh ngộ đến từ những nuớc chậm mở mang. Toledo và Salerno thời xa vắng ấy là hai trung tâm văn hóa chói lọi, biết bao học giả từ các xứ Đông, Nam giầu mạnh văn minh như Syria, Ai Cập, Ba Tư đến để trao đổi kiến thức, nhưng cũng còn vài trường hợp hiếm hoi như Michael hay Harpestraeng từ những miền Tây, Bắc nghèo nàn vì cầu tiến mà tìm đến để học hỏi. Đó là sơ đồ một trung tâm cộng tác quốc tế thời Trung cổ giữa hai nền văn hóa trình độ khá chênh lệch.  Bảy trăm năm sau, chu kỳ thịnh suy đã đi hết một vòng. “Michael – anh chàng Scottish giờ đây là chúng tôi”, Salam nói, những người của thế giới Đông và Nam kém phát triển đang đi về phương Tây và Bắc để học hỏi. Tìm kiếm chân lí, trau dồi kiến thức là khát vọng hướng thượng chung của con người bất kì từ đâu đến, và “sông kia giờ đã nên đồng”, đại học Toledo, Salerno uy tín thời ấy nay đã trở thành Cambridge, Imperial College of London danh tiếng thời nay!    Abdus Salam, vài nét về con người và sự nghiệp  Trước hết đôi dòng về những công trình kinh điển và đồ sộ của ông về Vật lý lý thuyết hạt cơ bản mà giải Nobel trọng thưởng. Trong Vật lý như ta biết cho đến nay chỉ có bốn định luật cơ bản điều hành các hiện tượng thiên nhiên, đó là vạn vật hấp dẫn, điện-từ, tương tác yếu và tương tác mạnh trong các hạt nhân nguyên tử. Luật hấp dẫn được Newton phát hiện – và sau này thay thế bởi thuyết tương đối rộng của Einstein – diễn tả các vật thể mang khối lượng tạo ra một trọng lực (hay trọng trường) để hút chúng lại gần nhau.  Bổ túc bởi vật lý lượng tử của thế kỷ hai mươi với trường quang tử (photon), điện-từ có tên mới là điện động học lượng tử. Thấu triệt cơ chế vận hành của hai trường cơ bản là điện tử (electron) và quang tử (photon) rồi sau đó chế ngự, điều khiển được chúng, con người đã đưa công kỹ nghệ thông truyền tin đến những thành tựu kì diệu ngày nay.  Luật hấp dẫn và điện-từ tác động ở khắp cả hai thế giới vi mô và vĩ mô, trong khi đó tương tác yếu chỉ vận hành ở thế giới vi mô, đặc biệt hạt neutrino (khối lượng nhỏ muôn vàn, gần như không) chỉ có tương tác yếu mà thôi. Sự phân rã bêta (neutron phân rã ra proton + electron + neutrino) trong các hạt nhân nguyên tử là một biểu hiện điển hình của tương tác yếu. Nên biết thêm là thuật ngữ yếu thoạt nghe tưởng yếu mềm ít tác động, nhưng thực ra nó chủ chốt điều hành các phản ứng nhiệt hạch trong các thiên thể. Mặt trời cho ta ánh sáng chỉ vì phản ứng nhiệt hạch tung hoành ở trong trung tâm nó, và mỗi giây đồng hồ trên một phân vuông của làn da chúng ta có gần trăm tỷ hạt neutrino từ Mặt trời bay đến! Chỉ vì cường độ của tương tác yếu quá nhỏ so với cường độ của điện-từ nên với từng ấy neutrino rọi vào mà sinh vật trên trái đất này vẫn điềm nhiên sinh sôi nẩy nở.  Abdus Salam, người Hồi giáo, cùng với hai người Mỹ gốc Do Thái, Sheldon Glashow và Steven Weinberg đã phát hiện ra là mặc dầu hai định luật cơ bản điện-từ và yếu có cường độ tương tác quá khác biệt, nhưng thực ra chúng mang rất nhiều đặc tính chung và hơn nữa có thể hòa hợp trong một tương tác duy nhất mà Salam đặt cho cái tên là điện-yếu. Sở dĩ có sự khác biệt giữa hai cường độ là vì khối lượng của hạt photon (tượng trưng cho điện-từ, xin nhớ electron trao đổi photon) bằng không mà khối lượng của hạt Z (tượng trưng cho phân rã yếu, xin nhớ neutrino trao đổi Z) thì lại quá lớn. Thuyết điện-yếu tiên đoán được khối lượng cùng các đặc tính của hạt Z và sau đó thực nghiệm kiểm chứng với độ chính xác tuyệt vời.  Sự tổng hợp hai hiện tượng thiên nhiên điện-từ và yếu là cả một cuộc cách mạng trong Vật lý ở cuối thế kỷ 20, tầm quan trọng của nó có thể ví như sự tổng hợp giữa ba hiện tượng điện, từ và quang ở thế kỷ 19 với Maxwell. Lý thuyết tổng hợp điện-yếu của đồng tác giả Glashow, Salam, Weinberg từ nay còn mang tên gọi là Mô Hình Chuẩn.  Nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn trong cuốn sách ‘’Cấu trúc của những cuộc cách mạng trong khoa học’’, Mô Hình Chuẩn (Standard Model) là một mẫu hình (paradigm) mà vật lý trong một thời gian dài phải dựa vào. Chỉ khi nào có một khám phá đưa mô hình chuẩn đến mâu thuẫn, không sao giải thích nổi thì một mẫu hình mới sẽ ra đời, bao gồm mô hình chuẩn như một trường hợp đặc biệt. Cũng như cơ học cổ điển của Newton là mẫu hình kéo dài hơn hai trăm năm cho đến khi thuyết tương đối hẹp ra đời với Einstein, Lorentz, Poincaré; và cơ học cổ điển Newton chỉ là một trường hợp đặc biệt (của những hệ thống chuyển động với vận tốc nhỏ so với vận tốc ánh sáng) của cơ học tương đối tính.  Cũng thêm một dấu ngoặc trong công trình khoa học của ông, khoảng năm 1957 khi hai nhà vật lý Trung Quốc Dương Chấn Ninh và Lý Trung Đạo làm việc ở Mỹ đoạt giải Nobel vì khám phá ra sự vi phạm “đối xứng gương” trong tương tác yếu, thì đồng thời Salam – bằng một cách tiếp cận rất độc đáo liên quan đến hạt neutrino không có khối lượng – cũng góp phần quyết định vào tìm hiểu sự vi phạm này.  *  **  Nhưng sự nghiệp Abdus Salam không dừng lại ở giải Nobel  Mới 30 tuổi đã được bầu vào Hàn lâm viện Hoàng gia Anh ( viện sĩ trẻ nhất là người ngoại quốc), nhiều lần được đề nghị giải Nobel (trước Mô Hình Chuẩn), Abdus Salam dùng uy tín của mình để chặn nạn chảy máu chất xám. Ông đi chu du khắp đó đây, gặp gỡ thuyết phục các chính khách, ngoại giao, văn hóa, khoa học ở UNESCO, IAEA và các mạnh thường quân ở những nước giàu mạnh để gây ngân quỹ khổng lồ, thành lập năm 1964 ở thành phố Trieste bên bờ biển Adriatic thuộc nước Ý một trung tâm lớn quốc tế về khoa học tự nhiên ICTP, nơi giao lưu thường trực của những nhà khoa học ở hai bán cầu  Ðông-Nam với Tây-Bắc. Lúc đầu giới hạn trong lãnh vực Vật lý lý thuyết sau lan rộng sang Toán (Giáo sư Lê Dũng Tráng hiện đang chủ trì viện Toán của ICTP), Cơ, Tin Học, Sinh-Hoá, Khoa học ứng dụng, Toán áp dụng cho Tài chính.  Sống cuộc đời tư đạm bạc, không giữ cho mình một xu, tất cả tiền thưởng của giải Nobel, Salam tặng lại cho ICTP để giúp đỡ các đồng nghiệp thiếu thốn ở các nước chưa phát triển. Cho đến nay có hơn một trăm ngàn nhà khoa học ở 122 nước, trong đó có Việt Nam, đến ICTP làm việc.  Khi Salam mất, thay thế ông làm giám đốc ICTP là Miguel Virasoro người Argentina gốc Do Thái, rồi Katepalli Sreenivasan người Ấn Độ, chi tiết này mang nhiều ý nghĩa.  Để kết thúc, người viết không khỏi liên tuởng đến buổi truyền hình trực tiếp đêm hòa tấu vì hòa bình Israel-Palestine với dàn nhạc giao hưởng West-Eastern Divan tại thành phố Ramallah đầy tang tóc. Trình diễn xong bản sinphonia concertante của Mozart và symphony số 5 của Beethoven, nhạc trưởng thiên tài Daniel Barenboim người Do Thái bùi ngùi ngỏ vài lời tưởng niệm cố nhân Edward Said, một nhà tư tưởng lớn người Palestine giáo sư Văn học Sử của Đại học Columbia. Hai vị dự tính cùng nhau hòa nhịp dương cầm ở Ramallah góp phần thức tỉnh lương tâm, thiện chí, kêu gọi hòa bình giữa hai dân tộc, nhưng rất tiếc Said ra đi hơi đột ngột. Vui sao khi Khoa học và Âm nhạc, Hồi với Do Thái, Ấn Độ với Pakistan tay trong tay cùng thế giới đại đồng vươn lên tìm cái Thực và cái Đẹp. Con người nhìn xa thấy rộng Abdus ở trên cao chắc hẳn cũng mỉm cười, mà cũng là kì ngộ thay, Salam trong tiếng Ả Rập nghĩa là Hòa bình!  ———-  * Ðại Học Pierre et Marie Curie, Paris.  Phạm Xuân Yêm*       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ada Lovelace: Nhà lập trình đầu tiên trên thế giới      Dù bản quyền phát minh chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới thuộc về một nhà toán học nam nhưng người đem lại cho nó “sức sống” vượt qua khả năng tính toán đơn thuần của một cỗ máy để có thể tạo ra những “hình mẫu đại số như chiếc khung cửi dệt nên lá và hoa” là một người phụ nữ đặc biệt – Ada Lovelace.      Ada Lovelace. Nguồn: The Guardian.  Ada Lovelace (bá tước Lovelace) là một trong những phụ nữ đầu tiên trong lịch sử ngành Khoa học máy tính. Bà có tên đầy đủ là Augusta Ada Gordon, sinh vào ngày 10/12/1815 tại London, Ada là con gái của Lord Byron, một trong những nhà thơ nổi tiếng và có ảnh hưởng nhất nước Anh mọi thời đại. Bà được công nhận là lập trình viên đầu tiên nhờ vào việc viết chương trình tính toán số Bernoulli cho cỗ máy “Công cụ phân tích” (Analytical Engine), một trong những hình mẫu của chiếc máy tính đầu tiên. Từ hơn một thế kỉ trước khi chiếc máy tính hiện đại xuất hiện, Ada đã tiên đoán những gì máy tính có thể làm được và hiểu rằng sẽ có một ngành khoa học được phát triển một cách độc lập dựa trên nó, hay chúng ta gọi ngày nay, chính là khoa học máy tính.  Những ghi chép và chương trình máy tính ở một thế kỷ trước khiến Lovelace được công nhận là nhà lập trình đầu tiên trong lịch sử. Kể cả khi chưa từng tiếp xúc với một chiếc máy tính hoàn chỉnh, bà đã nhìn thấy tiềm năng của máy tính, nhận ra khả năng máy tính có thể hiểu được các biểu tượng và được sử dụng để tạo ra âm nhạc hoặc nghệ thuật. “Cái nhìn sâu sắc này sẽ trở thành khái niệm cốt lõi của thời đại kỹ thuật số,” Walter Isaacson đã viết như vậy về Ada Lovelace trong cuốn sách “Những người sáng tạo” của mình. “Bất kỳ nội dung, dữ liệu hoặc thông tin nào – âm nhạc, văn bản, hình ảnh, số, ký hiệu, âm thanh, video đều có thể được thể hiện dưới dạng kỹ thuật số và được điều khiển bằng máy móc.”  Con gái của nhà thơ với niềm đam mê toán học  Khi Ada Lovelace mới mười hai tuổi, giống như những đứa trẻ khác, bà ước mình có thể bay được. Nhưng Ada tiếp cận vấn đề một cách có phương pháp, bà nghiên cứu cấu tạo cơ thể của loài chim, kiểm tra các vật liệu khác nhau có thể dùng làm cánh như lông, giấy và lụa và viết “Flyology” (tạm dịch: Khoa học về bay), một ghi chép về những phát hiện của mình.  Mẹ của Ada, bà Annabella Byron, là người phụ nữ đối lập hoàn toàn với cha bà, nam tước Byron, một nhà thơ Lãng mạn gọi vợ mình là “công chúa của Hình bình hành”. Một tháng sau khi Ada chào đời, Annabella Byron đã rời khỏi nhà cùng con gái nhằm tránh sự ảnh hưởng của nam tước Byron. Ada lớn lên trong kỷ luật với định hướng giáo dục xoay quanh số học, âm nhạc và tiếng Pháp. Bà Byron muốn kiềm chế trí tưởng tượng của con gái mình vì cảm thấy đấy là một “mối đe dọa” đến từ gene nhà Byron.  Nhưng Lovelace đã hòa giải hai thái cực của cả cha và mẹ. Với Lovelace, trí tưởng tượng là một “sự kết hợp”, nắm bắt điểm chung giữa những đối tượng tưởng như không có mối liên hệ rõ ràng. Trí tưởng tượng là ngành “khám phá”, là sự thâm nhập vào thế giới vô hình xung quanh ta, thế giới của Khoa học.  Ada được tiếp cận với giới trí thức khoa học ở Anh, giao lưu với những nhà tư tưởng lớn thời bấy giờ như Mary Somerville1. Ada Lovelace gặp chồng tương lai của mình, William King, qua Somerville. Họ kết hôn năm 1835, khi bà mới 19 tuổi. King nhanh chóng trở thành bá tước, và Ada trở thành nữ bá tước xứ Lovelace. Đến năm 1839, bà đã sinh hai con trai và một con gái.  Tuy nhiên, bà không để cuộc sống gia đình ảnh hưởng đến học tập của mình. Cùng thời điểm kết hôn, bà viết cho Somerville: “Bây giờ tôi đã đọc Toán mỗi ngày và chìm đắm trong lượng giác…” Rõ ràng, hôn nhân không làm bà từ bỏ những gì bà đang theo đuổi, cũng không làm nhụt quyết tâm thực hiện chúng. Năm 1840, Lovelace đề nghị Augustus De Morgan, một giáo sư toán học ở London, dạy kèm cho bà. Thông qua trao đổi thư từ, ông đã dạy toán học cao cấp ở trình độ đại học cho Ada. Sau này, ông viết cho mẹ Ada rằng nếu một nam sinh thể hiện khả năng xuất sắc như Ada, chắc hẳn anh ta sẽ trở thành một nhà toán học xuất chúng.  Diễn giải về chiếc máy tính đầu tiên  Cơ hội của Lovelace đến từ khi bà gặp Charles Babbage, một nhà toán học nổi tiếng, người sau này trở thành bạn và người thầy của bà từ trước khi bà lấy chồng. Vào ngày 5/6/1833, Ada, khi ấy mới mười bảy tuổi, lần đầu tham dự một bữa tiệc hoành tráng với rất nhiều nhân vật quan trọng trong xã hội ở London. Babbage, bốn mươi tuổi, hào hứng nói về một phát minh mà ông gọi là “Máy vi phân”- với các bánh răng cơ khí được đánh số có thể thực hiện các phép tính với kết quả đáng tin cậy. Bị bản mẫu của một chiếc máy thậm chí còn chưa hoàn chỉnh hấp dẫn, Ada đã tiếp tục viết thư cho Babbage về các tiềm năng của nó và các nghiên cứu toán học của riêng bà. Trong những bức thư kéo dài từ năm 1835 đến năm 1852, Babbage nói về những kế hoạch của ông còn bà thì thể hiện những tham vọng của mình.      Từ năm 2009, ngày 15 tháng 10 được chọn để tưởng nhớ Ada Lovelace và nêu bật những đóng góp – thường vẫn bị bỏ qua – của phụ nữ đối với toán học và khoa học.      Khi Babbage bắt đầu một dự án mới, “Analytical Engine” (Công cụ phân tích), một cỗ máy cơ khí với hàng nghìn bánh răng có thể thực hiện được nhiều chức năng hơn và cho độ chính xác cao hơn, Lovelace đóng vai trò thông dịch chính của ông. Sau đó Babbage đã được nhà toán học Luigi Federico đồng ý viết một bài báo về cỗ máy của ông để xuất bản trong một tạp chí hàn lâm của Thụy Sĩ vào tháng 10/1842. Lovelace dịch bài báo sang tiếng Pháp, với những ghi chú của riêng mình. Phiên bản của bà dài đến 20 ngàn chữ so với bản gốc chỉ có 8 ngàn chữ, hay theo như Babbage: “Những ghi chú của Nữ bá tước xứ Lovelace dài gấp ba lần chiều dài của bài viết ban đầu… Tác giả đã chạm đến gần như toàn bộ những câu hỏi khó khăn và trừu tượng nhất của vấn đề”. Bản dịch của Lovelace được xuất bản năm 1843 và được coi là một cột mốc quan trọng trong ngành khoa học máy tính: Bà mô tả rất rõ ràng cách thiết bị của Babbage hoạt động và liên tưởng tới máy dệt Jacquard để giải thích nguyên lý của nó: cũng giống như máy dệt tự động Joseph-Marie Jacquard phát minh có thể tạo ra hình ảnh từ các thẻ đục lỗ, hệ thống của Babbage sẽ dùng các bánh răng để dệt nên phương trình đại số. Lovelace cũng đã viết chi tiết cách để tính toán các số Bernoulli và nó đã đi vào lịch sử với vai trò là chương trình máy tính đầu tiên.  Tầm nhìn về một ngành khoa học mới  Lovelace viết: “Khoa học về các phép toán, tuy bắt nguồn từ toán học … nhưng đặc biệt hơn, nó có thể tách riêng thành một ngành mới, với các giá trị trừu tượng riêng của mình”. Sau này, Essinger đã nhắc lại câu nói đó trong cuốn tiểu sử của ông và khẳng định: “Không còn nghi ngờ gì nữa, Ada đã phát minh ra khoa học máy tính và tách nó khỏi toán học”. Cái mà bà gọi là “khoa học về các phép toán” chính là khoa học máy tính của chúng ta ngày nay.    Chương trình tính số Bernoulli do Ada Lovelace viết (trong quyển sách Phác thảo về Công cụ tính toán của Luigi Menabrea, minh họa bằng những ghi chép của Ada Lovelace)   Chính Lovelace, chứ không phải Babbage, đã nhìn thấy sự nên thơ đằng sau cỗ máy của ông. Bà viết: “Ngành khoa học này được cấu thành bởi thứ ngôn ngữ mà chỉ nó thôi cũng có thể thể hiện được những sự kiện tuyệt vời của thế giới tự nhiên, và những sự thay đổi không ngừng của những mối quan hệ, dù là hữu hình hay vô hình, đang diễn ra trong thế giới mà chúng ta đang sống”. Bà tiếp tục: “Một ngôn ngữ mới, rộng lớn và mạnh mẽ, đã được phát triển cho việc sử dụng và phân tích trong tương lai, và kết quả là chúng ta sẽ có những ứng dụng nhanh hơn và chính xác hơn để phục vụ cho nhân loại hơn là những gì chúng ta đang sở hữu…”  Lovelace đã chỉ ra tiềm năng mang tính cách mạng của chiếc “máy tính”, xử lý những ký hiệu hoàn toàn chỉ là biểu tượng, mà nhờ đó có thể thắng trò chơi hoặc sáng tạo âm nhạc: “Nếu các mối quan hệ cơ bản về cao độ âm thanh… trong sáng tác âm nhạc có thể được thể hiện dưới những kí hiệu như vậy thì cỗ máy này có thể sáng tạo những bản nhạc công phu ở bất cứ một mức độ phức tạp nào”.  Cuối cùng, Lovelace đặt ra câu hỏi liệu cỗ máy có thể tự nghĩ hay không, nhưng lại phủ nhận điều đó. Năm 1950, Alan Turing trong bản “Khoa học máy tính và trí tuệ” đã liệt kê chín sự phản đối về “trí tuệ nhân tạo”, trong đó có “sự phản đối của quý bà Lovelace” rằng một cỗ máy không thể có sự sáng tạo. Đầu tiên ông đồng ý, nhưng sau đó lại tự thắc mắc: “Một cách khác để thể hiện phản đối là cho rằng máy tính không bao giờ có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Nhưng máy tính đã làm tôi ngạc nhiên hết lần này đến lần khác”.  Nhiều năm về sau, các học giả vẫn tranh cãi liệu Lovelace có thực sự đã viết những dòng này.  Theo nhà sử học Babbage Bruce Collier, đóng góp của Ada đã bị phóng đại, và bà chỉ là một người với những “ảo tưởng về khả năng của mình, một hiểu biết nông cạn về Charles Babbage và công cụ phân tích của ông”. Nhưng Essinger2, Toole3 và những người khác lại bác bỏ. Aurora, giám đốc điều hành của tổ chức Ada Initiative4 cho rằng “Khi mọi người nhận ra lập trình máy tính quan trọng như thế nào… thì họ phản ứng dữ dội và nỗ lực đòi lại nó như một sản phẩm của nam giới…. một điều phụ nữ không làm, không nên làm và không thể làm được”.  Suw Charman-Anderson – cựu giám đốc điều hành tổ chức Open Rights Group tại London, cho rằng câu chuyện của Lovelace đặc biệt có ý nghĩa, vì “vẫn có nhiều người tìm cách hạ thấp uy tín của bà. Đó là điều không còn xa lạ gì với phụ nữ làm việc trong giới công nghệ. Chúng ta có thể nhìn vào câu chuyện của Ada và nhận ra những thách thức mà chúng ta đang đối mặt cũng tương tự như những rào cản của Ada, và thành tích của bà chính là điều chúng ta đang vươn tới.” Không còn nghi ngờ gì nữa, dù Babbage có sự khéo léo về mặt kĩ thuật nhưng Lovelace mới là người nhìn ra tiềm năng của nó trong thuở sơ khai của ngành khoa học máy tính.  Hạnh Duyên tổng hợp  Nguồn: ethw.org; nytimes; newyorker; theguardian  Chú thích:  1 Nhà toán học Mary Somerville, đã xuất bản cuốn sách “Về Kết nối giữa các ngành Khoa học Vật chất”, một công trình góp phần vào sự định hình ngành Vật lý học hiện đại, trở thành tác phẩm viết về khoa học kinh điển thời Victoria.  2James Essinger, tác giả cuốn “Ada’s Algorithm: How Lord Byron’s Daughter Ada Lovelace Launched the Digital Age” [Thuật toán của Ada: Ada Lovelace, con gái của Byron mở đường cho kỷ nguyên số như thế nào?].  3Betty A. Toole, tác giả cuốn sách “Ada, the Enchantress of Numbers: Prophet of the Computer Age” [Ada, người đam mê các con số: Vị tiên tri của thời đại máy tính].  4Ada Initiative là một sáng kiến từ thiện ở Hoa Kỳ, được thực hiện từ năm 2011 đến 2015, tập trung hỗ trợ phụ nữ tham gia các hoạt động công nghệ và văn hóa thông qua việc thúc đẩy các chương trình, các quy tắc ứng xử ủng hộ đa dạng giới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang ADN hé lộ bí mật chưa từng biết đến về châu Mỹ Latin      Tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội các nhà nhân học hình thể Mỹ (AAPA) diễn ra từ ngày 11 đến 14/4, Andrés Moreno-Estrada – nhà di truyền học quần thể tại PTN quốc gia nghiên cứu đa dạng hệ gene Mexico (LANGEBIO) đã tiết lộ những bí ẩn về các cuộc nhập cư vào Mỹ Latin trong lịch sử.      Các tàu của Anh thường xuyên sách nhiễu tàu buồm Tây Ban Nha, vốn đưa những người bị lãng quên danh tính tới Mỹ Latin, bao gồm người Philippines bị bắt làm nô lệ và người Do Thái cũ. Nguồn: Nature.com  Deborah Bolnick, nhà di truyền nhân chủng học tại Đại học Texas, Mỹ, nhận xét: “Hiểu biết mới sẽ giúp chúng ta nhận ra những cách thức mà kinh nghiệm và thực tiễn lịch sử tỉ mỉ đã để lại dấu ấn sâu sắc trên các hệ gene của chúng ta.”  Juan Esteban Rodríguez, học viên cao học chuyên ngành di truyền học quần thể tại LANGEBIO đã lên kế hoạch nghiên cứu về tổ tiên của người Mexico, một phần trong cuộc di cư toàn cầu. Bắt đầu từ thế kỷ 19, nhiều người nhập cư Trung Quốc đã di chuyển đến Mexico để xây dựng đường sắt tại các bang phía Bắc nước này. Lớn lên gần biên giới với Mỹ, Rodríguez biết rất rõ về lịch sử này và anh muốn tìm hiểu xem liệu mình có thể xác định  được sự hiện diện về gene của người nhập cư Trung Quốc trong quần thể người Mexico hiện đại không.  Nhưng khi xem xét một cơ sở dữ liệu gồm 500 hệ gene người Mexico – ban đầu được dành cho các nghiên cứu y sinh, thật ngạc nhiên là anh đã phát hiện ra một số biến thể di truyền chung với người châu Á. Một số người ở ở Bắc Mexico có gốc gác châu Á khá rõ nhưng hóa ra là họ không phải những người duy nhất bởi Rodríguez đã tiếp tục khám phá ra 1/3 số người được lấy mẫu ở Guerrero, quốc gia ven biển Thái Bình Dương nằm cách biên giới Hoa Kỳ gần 2.000 km về phía nam, cũng có đến 10% “dấu vết” của tổ tiên châu Á, cao hơn đáng kể so với phần lớn người Mexico. Và khi so sánh những hệ gene đó với những người ở châu Á ngày nay, anh thấy họ có quan hệ gần gũi nhất với người Philippines và Indonesia.      1/3 số người được lấy mẫu ở Guerrero, quốc gia ven biển Thái Bình Dương nằm cách biên giới Hoa Kỳ gần 2.000 km, có đến 10% “dấu vết” của tổ tiên châu Á.      Rodríguez và người hướng dẫn, Andrés Moreno-Estrada – nhà di truyền học quần thể ở LANGEBIO, đã lật lại các sử liệu để tìm ra tổ tiên của những người này có thể là ai. Họ học được từ các nhà sử học, những người nghiên cứu các bản kê hàng hóa trên tàu và các tài liệu thương mại khác từ thế kỷ 16 đến 17, là các thuyền trưởng người Tây Ban Nha đã giong buồm di chuyển giữa Malina và cảng Acapulco (Guerrero) để chuyên chở hàng hóa và con người, kể cả những người châu Á bị bắt làm nô lệ. Mặc dù biết rõ về việc giao dịch nô lệ bằng đường biển nhưng các nhà sử học không tìm thấy cứ liệu về nguồn gốc của các nạn nhân. Khi thuyền cập bến Mexico, tất cả những người này đều được gọi là “chinos” – người Trung Quốc. Moreno-Estrada nói: “Chúng tôi đang khám phá những câu chuyện bí ẩn về chế độ nô lệ và những người bị mất danh tính khi họ xuống thuyền ở một đất nước hoàn toàn xa lạ.”  Các nhà khoa học khác nghiên cứu di sản của một nhóm người bị gạt ra bên lề ở Mexico thuộc địa: người châu Phi. Hàng chục ngàn nô lệ và người châu Phi tự do sống ở Mexcio trong khoảng thế kỷ 16 – 17, đông hơn cả người châu Âu thời kỳ đó. Kết quả là ngày nay, hầu hết những người Mexcio đều mang khoảng 4% gene người châu Phi. María Ávila-Arcos, nhà di truyền học ở Phòng thí nghiệm quốc tế nghiên cứu về hệ gene người (Juriquilla, Mexico), nhận xét, tỷ lệ này cao hơn nhiều so với các cộng đồng khác. Trước đây, cô đã đã phát hiện ra cộng đồng hậu duệ gốc Phi ở Guerrero và Oaxaca, có khoảng 26% gốc gác châu Phi, phần lớn là đến từ Bắc Phi.  Một nghiên cứu gần đây xuất bản trên bioRxiv đã sử dụng dữ liệu di truyền của 6.500 người sinh ra ở Brazil, Chile, Colombia, Mexico và Peru và phát hiện các biến thể di truyền phổ biến ở dân cư khu vực đông Địa Trung Hải và Bắc Phi, đặc biệt là ở người Do Thái Sephardi, đã xuất hiện trong khắp dân cư Mỹ Latin, chiếm gần ¼ các đối tượng lấy mẫu.  Nghiên cứu này do nhà di truyền học Andrés Ruiz-Linares (ĐH Phúc Đán, Trung Quốc), Garrett Hellenthal (Đại học London) và cộng sự thực hiện. Họ đã theo dấu những người đã cải đạo từ đạo Do Thái sang Thiên chúa giáo vào năm 1942, khi Tây Ban Nha trục xuất những người từ chối cải đạo. Người cải đạo bị cấm di cư tới thuộc địa của Tây Ban Nha, dù một số ít đã thực hiện được việc này. Nhưng sự phổ biến của gốc gác Sephardi ở Mỹ Latin gợi ý rằng việc di cư còn nhiều hơn so với những gì lịch sử ghi lại.  Đối với Ragsdale, công trình này là một lời nhắc nhở rằng các vẫn còn nhiều bất ngờ ngay với cả những nhà khoa học vẫn nghĩ rằng mình đã hiểu rõ, “cách chúng ta nghĩ về việc thuộc địa hóa vẫn còn quá đơn giản. Chúng ta đang thiếu rất nhiều sự tỉ mỉ ở đây.”  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/04/latin-america-s-lost-histories-revealed-modern-dna    Author                Quản trị        
__label__tiasang AI biến ảnh có độ phân giải thấp  trở nên sắc nét hơn 60 lần      Những bức ảnh có khuôn mặt trông-như-thật với độ phân giải rõ nét hơn tới 64 lần, bao gồm cả các đường nét như nếp nhăn, lông mi và râu ria – những đặc điểm không tồn tại trong bức ảnh gốc.      Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Duke (Hoa Kỳ) đã phát triển một công cụ AI có thể biến những hình ảnh mờ, mà trong đó khuôn mặt người không thể nhận diện được, thành những bức chân dung rõ nét, những khuôn mặt trông-như-thật với độ phân giải rõ nét hơn tới 64 lần, bao gồm cả các đường nét như nếp nhăn, lông mi và râu ria – những đặc điểm không tồn tại trong bức ảnh gốc.     “Trước đây, chúng ta chưa bao giờ tái tạo được một bức ảnh với độ phân giải cao cùng nhiều chi tiết tỉ mỉ như thế này”, nhà khoa học máy tính Cynthia Rudin, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.  Các nhà nghiên cứu sẽ trình bày hệ thống mới của họ, còn gọi là hệ thống PULSE, tại Hội nghị về Tầm nhìn Máy tính và Nhận dạng Mẫu (CVPR) 2020, dự kiến tổ chức từ ngày 14 tháng 6 đến ngày 19 tháng 6.     Trước đây, các nhà khoa học thường nhập hình ảnh có độ phân giải thấp vào máy, máy tính sẽ ‘đoán’ cần bổ sung pixel vào đâu bằng cách thử ghép các pixel tương ứng – một cách tương đối – lại với nhau, dựa trên những hình ảnh có độ phân giải cao mà máy tính đã từng ‘thấy’ trước đó. Kết quả của việc này là các vùng như tóc và da thường không đồng đều, tổng thể thành phẩm thường mờ nhòa và không rõ nét.     Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một cách tiếp cận khác. Thay vì chụp bức ảnh có độ phân giải thấp rồi từ từ thêm chi tiết mới, hệ thống sẽ tạo ra một lượt các khả năng, tìm kiếm các hình ảnh chất lượng cao trông giống với ảnh gốc nhất – khi thu nhỏ cùng kích thước.     Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một công cụ học máy mang tên “mạng sáng tạo đối nghịch” (GAN), được cấu thành từ hai mạng đối nghịch trong cùng một dữ liệu ảnh. Một mạng tái tạo mặt người từ những tấm ảnh mà nó đã ‘xem’, trong khi mạng kia xem xét tấm ảnh tái tạo đã đủ thuyết phục để bị nhầm với những tấm ảnh thực hay chưa. Càng có nhiều kinh nghiệm thì mạng đầu tiên sẽ càng thành thạo hơn, song song với đó, mạng thứ hai sẽ ngày càng không phân biệt được thật – giả trong tấm ảnh.     Dựa trên những bức ảnh nhòe nhoẹt, chất lượng kém, PULSE có thể tạo các bức ảnh rõ nét trông như thật – điều mà các phương pháp khác không thể, Rudin cho biết. Từ một khuôn mặt mờ ảo, nó có thể tạo ra hàng loạt tấm ảnh sắc nét để chúng ta lựa chọn, tài tình đến mức mỗi khuôn mặt đều khác nhau.     Ngay cả khi ta cung cấp cho hệ thống những chân dung mà hầu như không thể nhận diện được mắt và mũi, “thuật toán của chúng tôi vẫn có thể làm được gì đó, đây là điều mà các phương pháp truyền thống không thể làm được”, chuyên gia toán học Alex Damian, đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.     Hệ thống có thể chuyển đổi hình ảnh khuôn mặt từ 16×16 pixel thành 1024×1024 pixel chỉ trong vài giây, đồng nghĩa với việc bổ sung hơn một triệu pixel, gần bằng độ phân giải HD. Các chi tiết như lỗ chân lông, nếp nhăn và lọn tóc không thể nhận diện trong các bức ảnh độ phân giải thấp sẽ trở nên rõ nét trong các phiên bản do máy tính tạo ra.     Các nhà nghiên cứu đã yêu cầu 40 người đánh giá 1.440 tấm ảnh được tạo ra bằng PULSE và năm phương pháp khác, theo thang điểm từ một đến năm, và PULSE được đánh giá là có khả năng tạo ra những tấm ảnh chân thực nhất.        Mặc dù các nhà nghiên cứu tập trung vào việc tái tạo chân dung người, nhưng về mặt lý thuyết, có thể áp dụng kỹ thuật tương tự vào hầu hết các bức ảnh trong các lĩnh vực từ y học, hình ảnh trong kính hiển vi cho đến thiên văn và vệ tinh. Gần như trong mọi lĩnh vực, trí thông minh nhân tạo đều có thể tạo ra một bức ảnh mới sắc nét hơn, Sachit Menon, tác giả của nghiên cứu, người vừa tốt nghiệp Đại học Duke chuyên ngành toán học và khoa học máy tính, cho biết.     Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết không nên sử dụng hệ thống này vào việc nhận dạng khuôn mặt: Nó sẽ không biến một bức ảnh mờ ảo, không thể nhận diện từ camera an ninh thành hình ảnh rõ nét của người thật. Thay vào đó, nó có khả năng tạo ra những khuôn mặt mới không tồn tại ngoài thực tế, nhưng trông có vẻ giống thật. □     Anh Thư dịch  Nguồn bài và ảnh: https://techxplore.com/news/2020-06-artificial-intelligence-blurry-sharper.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai Cập phát hiện kim tự tháp mất tích      Các nhà khảo cổ học Ai Cập cho biết vừa tìm thấy kim tự tháp 4.000 năm tuổi đã biến mất gần 200 năm trước sau khi được một nhà khảo cổ học phát hiện.      Chuyên gia khảo cổ Ai Cập Zahi Hawass cho hay kim tự tháp trên có thể đã được xây vào thời vua Menkhauhor, vị pharaoh ít người biết đến đã trị vì trong 8 năm vào thế kỷ thứ 24 trước CN. Vào năm 1842, nhà khảo cổ học người Đức Karl Richard Lepsius từng đề cập đến một trong các khám phá của ông tại Saqqara, thành phố của người chết và là nơi chôn cất những vị vua tại Memphis, thủ đô của vương triều cổ đại Ai Cập. Đó là phát hiện số 29 và được gọi là Kim tự tháp không đầu (do chỉ còn phần đế). Tuy nhiên, cát sa mạc đã vùi lấp kim tự tháp và không có nhà khảo cổ nào có thể tìm thấy lại nơi an nghỉ của pharaoh Menkhauhor. Cùng với việc phát hiện kim tự tháp trên, ông Hawass cho hay nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy một phần con đường tiến hành nghi thức tôn giáo từ thời Ptolemaic, khoảng 300 năm trước CN.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang AI có thể dự đoán hiệu quả của thuốc điều trị ung thư      Các nhà khoa học đã tạo ra một xét nghiệm mang tính thử nghiệm có thể dự đoán những kết hợp trong sử dụng thuốc dường như hiệu quả với các bệnh nhân ung thư ít nhất từ 24 đến 48 giờ.    Kỹ thuật tiên tiến mà họ áp dụng là dùng AI để phân tích dữ liệu protein quy mô lớn từ các mẫu khối u, và có thể dự đoán được đáp ứng thuốc của bệnh nhân chính xác hơn nhiều so với những phương pháp hiện hành.  Phân tích di truyền khối u có thể tiết lộ những đột biến đang tiếp thêm nhiên liệu cho các bệnh ung thư tiến triển, một số còn có thể nhắm đích cho điều trị – nhưng chỉ một mình hệ gene không thể đem lại những dự đoán chính xác để lựa chọn các sự kết hợp thuốc.  Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu Ung thư London, đã thử nghiệm kỹ thuật mới trên các tế bào ung thư đơn lẻ trong phòng thí nghiệm và tế bào khối u được phân lập từ dịch phổi ở bệnh nhân mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ.  Nghiên cứu của họ được xuất bản trên tạp chí Molecular Cancer Therapeutics, và do Viện nghiên cứu Sức khỏe quốc gia (NIHR), Quỹ Wellcome, Nghiên cứu ung thư Anh và Viện nghiên cứu ung thư (ICR) – vốn vừa là một viện nghiên cứu và cũng là một tổ chức từ thiện.  Huấn luyện các thuật toán học máy  Các nhà khoa học thực hiện các phân tích “proteomic” (hệ protein) – kiểm tra những thay đổi trong trong 52 protein quan trọng và cách chúng tương tác với nhau trong phản ứng với các điều trị thuốc. Các nhà nghiên cứu sau đó huấn luyện các thuật toán để tinh chỉnh những thay đổi của protein chủ chốt dự đoán các đáp ứng thuốc.  Đầu tiên, các nhà nghiên cứu sử dụng thuật toán dự đoán các tế bào siêu nhạy như thế nào với từng loại thuốc ung thư. Họ phát hiện ra kỹ thuật này có thể dự đoán các đáp ứng thuốc đơn lẻ chính xác hơn các đặc điểm di truyền, như các đột biến trong những gene EGFR, KRAS và PIK3CA – ba chỉ thị di truyền hiện hành được sử dụng trong các điều trị lâm sàng để dự đoán các đáp ứng thuốc trong ung thư phổi.  Sau đó các nhà nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận tương tự để dự đoán độ nhạy với sự kết hợp thuốc – sử dụng 21 các kết hợp hai thuốc khác nhau trong các tế bào ung thư phổi với những khiếm khuyết gene khác nhau, như đột biến trong EGFR và KRAS.  Có tổng số 252 cách kết hợp thuốc, 128 cách chứng tỏ khả năng hợp lực thuốc, điều đó có nghĩa là hiệu quả kết hợp vượt quá hiệu quả của mỗi loại thuốc dùng đơn lẻ được kết hợp lại với nhau.  Trong số này, bài kiểm tra AI đã xác định chính xác năm kết hợp được xếp hạng cao nhất với 57% thời gian và 10 kết hợp được xếp hạng cao nhất với 83% thời gian.  Nhận diện được những kết hợp thành công  Bài thử nghiệm đã xác định được sự thành công của những kết hợp thuốc từng chứng tỏ hứa hẹn, ví dụ những kết hợp của trametinib và capivasertib, hoặc gefitinib và everolimus, trong các dòng tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ có các đột biến EGFR.  Các nhà nghiên cứu cũng có thể nhận biết được những kết hợp mới như vemurafenib và capivasertib, trong thử nghiệm cho thấy có thể có tiềm năng hiệu quả với các dòng tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ không có đột biến EGFR hay KRAS.  Do đó đây là thử nghiệm đầu tiên có thể đề xuất những dự đoán cá nhân hóa trong đó sự kết hợp thuốc dường như sẽ hiệu quả trong từng cá nhân người bệnh. Các nhà nghiên cứu tại ICR tin là công nghệ mới có thể đóng vai trò cốt lõi trong việc khắp phục tiến hóa của bệnh ung thư và kháng điều trị bằng việc cho phép các bác sĩ  phân tích cách thuốc phát huy tác dụng trong kết hợp thuốc.  Nghiên cứu mới mới chỉ thiết lập được khái niệm cơ bản nên việc thử nghiệm nó cần được đánh giá kỹ hơn trước khi áp dụng trên các bệnh nhân, Nghiên cứu này xem xét đến bảy loại thuốc khác nhau trong những kết hợp thuốc khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch cho một nghiên cứu lớn hơn tiếp theo với dự kiến kiểm tra 15 loại thuốc và xem xét 12.000 protein tải nạp tín hiệu thay vì con số 52 như nghiên cứu này.    “Có tiềm năng để hướng dẫn bác sĩ”  Giáo sư Udai Banerji, người chuyên nghiên cứu về dược học ung thư phân tử ở Viện nghiên cứu ung thư London, và cố vấn ung thư tại Quỹ Trust Royal Marsden NHS, và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói: “Thử nghiệm của chúng tôi đem lại chứng minh về khái niệm cho việc sử dụng AI để phân tích những thay đổi trong những dòng chảy thông tin bên trong tế bào ung thư và đem đến những dự đoán về cách các khối u phản hồi với những sự kết hợp khác nhau của thuốc điều trị”.  “Với khoảng thời gian quay vòng nhanh ít hơn hai ngày, thử nghiệm này có tiềm năng hướng dẫn các bác sĩ trong nhiệm vụ điều trị và đem lại lợi ích cho từng bệnh nhân ung thư. Đây là một bước quan trọng để hướng chúng ta vào việc sử dụng các đột biến di truyền vào dự đoán đáp ứng thuốc.  “Phát hiện của chúng tôi chứng tỏ cách tiếp cận đầy sáng tạo của chúng tôi là hiệu quả và khiến cho có được những dự đoán chính xác hơn nhiều so với các phân tích di truyền cho bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Trước khi đưa thử nghiệm này vào điều trị lâm sàng và hướng dẫn điều trị cá nhân hóa, chúng tôi sẽ cần những đánh giá xa hơn các phát hiện của chúng tôi, ví dụ như thực hiện một nghiên cứu trên những bệnh nhân sẽ có điều trị để kiểm tra xem các dự đoán này chính xác đến đâu”.  “Sự kết hợp các liệu pháp vượt qua khả năng kháng thuốc”   Giáo sư Kristian Helin, giám đốc điều hành Viện nghiên cứu Ung thư London thì cho rằng “Một trong những thách thức lớn nhất mà chúng tôi phải đối mặt trong nghiên cứu ung thư và điều trị ung thư là năng lực đáp ứng, sự tiến hóa và kháng thuốc của bệnh ung thư. Do đó chúng tôi mong đợi tương lai của điều trị ung thư sẽ là sự kết hợp giữa các liệu pháp có thể vượt qua sự kháng thuốc – nhưng chúng tôi cần hiểu biết sâu hơn về những cách kết hợp thuốc sẽ hoạt động hiệu quả như thế nào với những người bệnh khác nhau.  “Nghiên cứu mới này là một ví dụ lớn về sự hợp tác liên ngành, trong sự tích hợp hiểu biết của chúng ta về sinh học ung thư, AI và thuốc điều trị lâm sàng để đem lại sự chứng minh khái niệm cho một thử nghiệm mới có thể dự đoán được những điều trị kết hợp thuốc có thể đem lại hiệu quả cho bệnh nhân. Nó cho thấy quyền lực tiềm năng của AI và phân tích protein với điều trị cá thể hóa và có thể là một bước đi quan trọng trong việc giúp chúng ta giải quyết được sự kháng thuốc – hi vọng là sẽ giúp chúng ta đem lại cho các bệnh nhân những đề xuất điều trị cá nhân hơn và thông minh hơn”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.bloomberg.com/news/articles/2022-04-03/test-could-predict-effective-cancer-drug-combinations-in-less-than-two-days  https://medicalxpress.com/news/2022-04-ai-effective-cancer-drug-combinations.html    Author                .        
__label__tiasang AI của Google đánh bại những game thủ giỏi nhất      Một trí thông minh nhân tạo (AI) có tên AlphaStar do công ty DeepMind thuộc Google xây dựng vừa được xếp hạng top 0,15% game thủ giỏi nhất trong tổng số 90.000 người chơi ở khu vực châu Âu.      Người chơi StarCraft II chiến đấu với nhau trong một chiến trường tương lai.  Kết quả này, được công bố vào ngày 30 tháng 10 trên tạp chí Nature, cho thấy AI có thể cạnh tranh ở cấp độ cao nhất của StarCraft II, một trò chơi chiến thuật trực tuyến phổ biến, trong đó người chơi sẽ đóng vai một trong ba phe (lực lượng Terran của con người hoặc một trong hai nhóm người ngoài hành tinh Protoss và Zerg) – chiến đấu với nhau trong một chiến trường tương lai.  Trong StarCraft II, người chơi thực hiện hơn 300 hành động mỗi phút và phải đa nhiệm các công việc: quản lý tài nguyên, thực hiện các thao tác chiến đấu phức tạp và cuối cùng là đánh bại chiến thuật của đối thủ.  Còn AI của DeepMind dựa trên các mạng thần kinh nhân tạo học cách nhận biết các hình mẫu, chiến thuật từ các tập dữ liệu lớn và sau đó tự đưa ra quyết định thay vì hoạt động dựa trên những hướng dẫn cụ thể được lập trình trước.  Trước đây DeepMind đã xây dựng các AI thống trị cờ vua, cờ vây và giờ nhắm đến việc đưa AI giành chiến thắng trong trò StarCraft II để làm cột mốc tiếp theo trong nhiệm vụ phát triển một AI toàn năng – một cỗ máy có khả năng học hoặc hiểu bất kỳ nhiệm vụ nào của con người. Starcraft được lựa chọn vì sự phức tạp chiến thuật và nhịp độ nhanh của trò chơi này.  Lần đầu DeepMind cho AlphaStar đọ sức với người chơi chuyên nghiệp cao cấp vào tháng 12 năm ngoái trong một loạt các ván chơi thử nghiệm. Lúc đó AlphaStar đã đánh bại hai người chơi chuyên nghiệp, nhưng các ý kiến phản biện cho rằng các trận đấu đó không công bằng vì AlphaStar xử lý với tốc độ và độ chính xác của máy tính vượt xa con người.  Sự phức tạp đầy thách thức  Sự phức tạp của StarCraft II đặt ra những thách thức lớn đối với AI. Không giống như cờ vua, StarCraft II có đến hàng trăm ‘quân cờ’ – những loại lính khác nhau trong các quân đội khác nhau của các phe – vận hành đồng thời theo thời gian thực, không theo kiểu trật tự lần lượt như cờ.  Tại mỗi thời điểm, một quân cờ chỉ có số bước di chuyển hợp lệ hạn chế và AlphaStar có thể chọn trong số 1026 hành động này. Và StarCraft II không giống như cờ vua, là một trò chơi với thông tin không hoàn hảo – người chơi thường không thể thấy đối thủ của mình đang làm gì. Điều này làm cho trò chơi càng khó đoán.  Trong gần một thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã thử sức các chương trình máy tính chơi StarCraft và StarCraft II với nhau trong một cuộc thi hàng năm. Oriol Vinyals, cũng đang đồng chủ nhiệm dự án AlphaStar, thuộc nhóm nghiên cứu từ Đại học California, Berkeley đã giành chiến thắng trong cuộc thi đầu tiên vào năm 2010. Tuy nhiên, không giống như AlphaStar, hầu hết các chương trình này vận hành dựa vào các quy tắc được mã hóa cứng chứ không phải các mạng thần kinh có thể tự học. “Khi đó tôi đã bắt đầu nghĩ có lẽ nên sử dụng học máy, nhưng còn quá sớm”, Vinyals nói.  Năm 2016, Vinyals đã tham gia DeepMind và bắt đầu phát triển các AI có thể tự dạy mình cách chơi StarCraft II. AlphaStar bắt đầu tự học bằng cách bắt chước từ một bộ dữ liệu gần một triệu ván chơi của con người. Để cải thiện AlphaStar hơn nữa, DeepMind đã tạo ra một giải đấu cho các phiên bản khác nhau của AI này cạnh tranh với nhau. “Phương pháp này có ý nghĩa đối với một trò chơi như StarCraft II, nơi đó không có một chiến lược nào là tốt nhất, cũng như cho nhiều ứng dụng thực tế khác của AI”, Kai Arulkumaran, nhà nghiên cứu AI tại Imperial College London, nói.  DeepMind cũng đặt ra giới hạn với AlphaStar để đảm bảo AI thực sự vượt qua con người về suy nghĩ và chiến thuật chứ không chỉ phản xạ nhanh hơn. Bởi vì Starcraft là trò chơi đòi hỏi thao tác nhanh, một máy tính phản xạ với tốc độ siêu phàm có thể đánh bại con người mà không cần thông minh hơn hoặc đưa ra quyết định tốt hơn. DeepMind đã giới hạn tốc độ phản xạ của AlphaStar xuống mức bằng những người chơi có kinh nghiệm. Và cuối cùng, với những điều kiện này và sau 27 ngày học, AlphaStar nằm trong top 0,5% những người chơi giỏi nhất trong số tất cả người chơi trên máy chủ châu Âu.  Đến nay, phiên bản cuối cùng của AI AlphaStar được học trong 44 ngày và thường xuyên chơi với các người chơi chuyên nghiệp. Tuy AI AlphaStar chưa thể đánh bại những người chơi giỏi nhất thế giới trong tất cả các trận như trước đây đã từng chiến thắng con người trong cờ vua và cờ vây, nhưng DeepMind cho rằng thử nghiệm đã thành công, và nói rằng AI của họ họ đã chinh phục được game StarCraft II (AlphaStar thắng 61/90 trận trước các game thủ xếp hạng cao).  Tuy nhiên, các nhà khoa học AI khác không cho rằng thử nghiệm là một chiến thắng hoàn toàn vì AlphaStar vẫn còn một số điểm yếu. Dave Churchill, một nhà nghiên cứu AI tại Memorial University of Newfoundland (MUN), Canada, cho rằng AlphaStar vẫn dễ bị tổn thương trước các chiến thuật mà nó chưa từng được thấy và học từ trước. “Đây là một hệ thống AI rất ấn tượng và chắc chắn là hệ thống AI mạnh nhất đối với trò chơi StarCraft cho đến nay”, ông nói. “Tuy nhiên không thể coi AI đã chinh phục hoàn toàn Starcraft, và AlphaStar thậm chí còn chưa thể chơi ở cấp độ vô địch thế giới”.    Trước Alphastar, Deepmind cũng tạo ra AI đánh cờ AlphaZero và AI này chỉ mất bốn giờ tự học để trở thành chương trình cờ vua mạnh nhất trong lịch sử vào năm 2017. “Với tư cách là một kỳ thủ sắc sảo và chủ động tấn công, tôi thấy rất vui khi xem AlphaZero thi đấu. Bởi vì, thông thường máy chơi cờ theo cách rất chắc chắn và chậm nhưng AlphaZero lại làm điều ngược lại. Thật đáng ngạc nhiên khi thấy một cỗ máy chơi một cách xông xáo như vậy, và AlphaZero cũng cho thấy rất nhiều sự sáng tạo. Đó là một bước đột phá thực sự – và tôi tin rằng thành tựu này có thể cực kỳ hữu ích cho nhiều nghiên cứu khác trong lĩnh vực khoa học máy tính”. Garry Kasparov, cựu vô địch thế giới và là một trong những đại kiện tướng cờ vua mạnh nhất trong lịch sử nhận xét. Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Science, các nhà nghiên cứu tại Deepmind đã giải thích cách AlphaZero học cách chơi cờ vua, cờ vây và Shogi bằng cách tự chơi hàng triệu ván thông qua quá trình thử và sai gọi là học tăng cường. Trong hơn 1.000 trận đấu với Stockfish, chương trình mạnh hơn bất kỳ đại kiện tướng nào và thường xuyên giành vô địch thế giới cờ vua máy tính Alphazero đã thắng 155 trận, hòa 839 trận và chỉ thua 6 trận. Khả năng tự học là một bước quan trọng đối với giấc mơ tạo ra một AI có thể giải quyết mọi nhiệm vụ. Trong tương lai gần, AI của DeepMind có thể cho phép các chương trình máy tính thực hiện các thách thức khoa học như cuộn gập protein hoặc nghiên cứu vật liệu, phát hiện thuốc mới, giám đốc điều hành DeepMind Demis Hassabis cho biết trong một cuộc họp báo cuối năm 2017. “Chúng tôi rất vui mừng vì chúng tôi nghĩ rằng cách làm này bây giờ đã đủ tốt để tạo ra tiến bộ trong những vấn đề thực tế”.       Theo Khoahocphattrien.vn       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ai cũng có những lúc nản lòng      Lần đầu tiên đến Việt Nam nhân tham gia chuỗi sự kiện trong “Cầu nối –  cuộc đối thoại hướng đến văn hoá hoà bình” cuối tuần qua, giáo sư người  Mỹ từng nhận giải Nobel Vật lý năm 1996 Douglas D. Osheroff chia sẻ, điều lớn nhất giải Nobel mang lại cho ông  là cơ hội được đi nhiều nơi và gặp gỡ mọi người ở những nền văn hoá khác  nhau.    Thưa ông, chủ đề ông nói chuyện tại Việt Nam lần này là “Khoa học thay đổi cuộc sống chúng ta”, vậy khoa học đã thay đổi cuộc đời ông thế nào?     Rõ ràng là khoa học đã thay đổi cuộc đời tôi, tôi làm rất nhiều nghiên cứu về khoa học và luôn luôn hứng thú với chúng. Mặc dù việc phát hiện ra heli 3 không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của tôi, nhưng khi tôi biết mình được giải thưởng Nobel thì thật là, tôi đã đi lại suốt trong phòng và nói liên hồi. Và sau đó, tôi bay đến 150.000 dặm mỗi năm và có 1,9 triệu chuyến bay đến thời điểm này. Tôi có thể làm những việc này (thuyết giảng, giao lưu) ở Mỹ, nhưng tôi thích được gặp gỡ nhiều người ở các nền văn hoá khác nhau và biết cách họ suy nghĩ thế nào về mọi điều. Rất nhiều niềm vui và nhiều việc để làm.     Ông có cho rằng, sự nghiệp của mình có “bắt rễ” từ khi ông còn nhỏ?     Chắc chắn là như vậy. Cha tôi là người cố gắng khiến cho tôi hứng thú với khoa học. Tôi là một trong hai người con trai (trong số năm anh chị em trong gia đình) được cha khuyến khích nhiều về khoa học. Có lần tôi đã gặp phải một tai nạn khi dòng điện 600V chạy qua người, cơ thể co giật đến năm lần, nhưng khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm ở phía kia trong phòng mà không sao.     Tôi còn nghe nhiều tai nạn khác nữa, ông thật là may mắn.     Đúng là tôi rất may!     Ông có bao giờ thấy mệt mỏi hay bị nhụt chí?     Ôi, mọi người đôi lúc đều cảm thấy nản lòng, nhưng nếu không thế thì bạn không phải người bình thường.     Và ông đã vượt qua thế nào?           Trước câu hỏi của sinh viên trường đại học Quốc gia Hà  Nội “Ước mơ lớn nhất của ông là gì”, giáo sư nói, ông mong khoa học tiếp  tục phát triển rộng khắp hơn trên thế giới và một số trong các bạn sẽ  tập trung vào các vấn đề rất thách thức lớn hiện nay như là sự ấm lên  của trái đất. “Tôi rất hy vọng một trong số các bạn sẽ tiếp tục giải  quyết thách thức và có thể cứu lấy hành tinh trước khi quá muộn”.                 Đưa ra lời khuyên cho các em sinh viên, giáo sư nhấn mạnh một điểm là  “làm gì cũng phải yêu thích”. Để trở thành người giỏi ở bất cứ lĩnh vực  gì, các bạn phải hiểu con người bên trong của mình, mình có thế mạnh gì,  mình thực sự muốn làm gì? Điều gì khiến bạn cảm thấy tốt đẹp, khiến bạn  có động lực? Nhưng việc giỏi ở lĩnh vực nào đó chưa đủ, mà bạn phải  hứng thú với nó.        Trong khoa học mà có cái gì đó sai thì thực sự là thách thức và tôi luôn nghĩ, mình sẽ vượt qua nó. Cũng giống như trong cuộc sống, luôn có nhiều thách thức. Và càng có nhiều thì chúng ta càng phải chinh phục.     Ông có thể chia sẻ về gia đình mình?     Vợ tôi là người Đài Loan. Trước đây, vì quá say mê khoa học trong nhiều năm, nên chúng tôi không nghĩ đến con cái, và sau đó thì quen dần với việc không có con. Khi là giáo sư ở trường đại học, thì bạn có thể cảm thấy không cần có con vì bạn có ảnh hưởng đến rất nhiều bạn trẻ. Nhưng khi về già, thì bạn cũng hơi lo lắng “ai sẽ chăm sóc mình những ngày xế chiều?”, đôi khi cũng hơi lo sợ. Nhưng tôi không hối tiếc bất cứ điều gì đã làm trong cuộc đời mình. Tôi cũng nói với các bạn sinh viên trẻ là tôi sẽ tác động đến các bạn, giúp mọi người có niềm đam mê khoa học. Lần này đến Việt Nam, tôi cũng muốn khuyến khích các em sinh viên đại học Quốc gia Hà Nội có thêm tình yêu với khoa học.     Theo ông, cách tốt nhất để Việt Nam phát triển khoa học là đưa sinh viên đến các nước tiên tiến khác học. Nhưng nếu họ không quay về khi có điều kiện tốt hơn, thì phải làm sao?     Đó là một việc cần phải có sự khôn khéo. Nhưng điều đầu tiên bạn cần nhận ra là, nếu các sinh viên Việt Nam tới đại học Stanford (Mỹ) để làm các thí nghiệm, thì sau đó, họ sẽ tự hỏi: tôi có thể trở thành một nhà khoa học hữu ích khi trở về không? Nếu câu trả lời là “không” thì họ sẽ phải bắt tay vào tìm kiếm công việc ở Mỹ. Đó là bản năng của con người. Vì thế, tôi nghĩ nếu Việt Nam muốn gửi một số sinh viên đi, thì nên có một số chương trình cụ thể cho phép họ tiếp tục các nghiên cứu của mình khi trở về.     Ý ông là Việt Nam cần có các thiết bị hiện đại?     Đó là một vấn đề rất phức tạp, bạn cần phải nhìn lại xem cái gì bạn có và cái gì thích hợp. Tôi đã chứng kiến đại học ở Brazil gần đây đã nhập thiết bị về mà không phải mua. Tại đại học Stanford có một số nhà nghiên cứu có thiết bị mà không cần nữa, các thiết bị đó có thể được tặng cho các trường đại học ở các nước đang phát triển.     Nói chung, ông sẽ nói gì về tình trạng chảy máu chất xám ở các nước đang phát triển như Việt Nam?     Bạn có thể đào tạo nên những nhà khoa học sáng giá, nhưng nếu không có các cơ hội cho mình, thì tại sao họ ở lại Việt Nam?     Việt Anh            Author                Quản trị        
__label__tiasang AI học cách thăm dò “suy nghĩ” của các máy tính khác      Bất cứ ai đã từng có những tương tác không như ý với Siri hay Alexa đều biết rằng các trợ lý số không nắm bắt được tâm trí con người. Các nhà tâm lý học gọi sự nắm bắt về mặt tâm lý này là “Tâm thức luận” (Theory of mind) – nhận thức về niềm tin và mong muốn của người khác. Giờ đây, một nhóm nhà khoa học máy tính ở DeepMind tại London đã tạo ra một trí tuệ nhân tạo (AI) có thể thăm dò “tâm trí” và dự đoán hành động của các máy tính khác. Đây là bước khởi đầu cho sự tương tác dễ dàng giữa các máy tính và giữa máy tính và con người.      ToMnet quan sát các AI khác để tìm hiểu về cách các AI khác hoạt động như thế nào. Nguồn: Sciencemag.  Khoảng 4 tuổi, con người đã bắt đầu hiểu rằng niềm tin của người khác có thể khác với thực tế và có thể dựa vào những niềm tin đó để dự đoán hành vi tương lai của họ. Một số máy tính ngày nay có thể nhận diện được các biểu cảm như “hạnh phúc” hoặc “tức giận” — một kỹ năng gắn liền với tâm thức luận – nhưng chúng mới hiểu một chút về cảm xúc và động cơ của con người.  Neil Rabinowitz, nhà nghiên cứu ở DeepMind cùng các đồng nghiệp đã tạo ra ToMnet – một AI có tâm thức luận, và cho nó quan sát các AI khác để tìm hiểu về cách các AI khác hoạt động như thế nào. ToMnet bao gồm ba mạng lưới “thần kinh”, mỗi mạng lưới được tạo từ các phần tử tính toán nhỏ và các kết nối có thể học hỏi qua trải nghiệm, gần giống cơ chế của não người. Mạng đầu tiên tìm hiểu xu hướng của các AI khác dựa trên các hành động trong quá khứ của chúng. Mạng thứ hai định hình hiểu biết về “niềm tin” hiện tại của các AI đó. Mạng thứ ba lấy kết quả từ hai mạng còn lại, tùy theo tình huống, dự đoán động thái tiếp theo của AI.  Các AI được nghiên cứu “nhân vật” có đặc điểm giản đơn, di chuyển trong một phòng ảo để thu thập các hộp màu ở một số vị trí. ToMnet quan sát căn phòng này từ bên trên. Trong một lần thử nghiệm, có ba “loài” AI: Một không thể nhìn thấy xung quanh phòng, một không thể nhớ các bước gần đây của nó, một có thể nhìn và nhớ. Các nhân vật “mù” có một xu hướng đi dọc theo các bức tường, các nhân vật không có trí nhớ di chuyển đến bất cứ vật gì gần nhất. Loài thứ ba tự hình thành cho mình các mục tiêu phụ, và có chiến thuật lấy các vật thể theo thứ tự nhất định để kiếm tối đa các vị trí. Sau một số lần thử, ToMnet không chỉ có thể xác định loài của nhân vật chỉ sau vài bước mà còn có thể dự đoán chính xác hành vi tương lai của chúng. Các nhà nghiên cứu đã thông báo kết quả này tại Hội nghị quốc tế về học máy tại Stockholm vào tháng 8/2018.  Thử nghiệm cuối cùng cho thấy ToMnet thậm chí còn hiểu được khi nào một nhân vật có niềm tin sai lầm, đây là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển tâm thức luận ở người và các động vật khác. Trong thử nghiệm này, một loại nhân vật được lập trình để bị “cận thị”; khi máy tính thay đổi cảnh quan ngoài tầm nhìn của nhân vật này trong trò chơi, ToMnet đã dự đoán chính xác rằng nó sẽ bám theo đường đi ban đầu một cách thường xuyên hơn so với các nhân vật có tầm nhìn rõ – những nhân vật thường hay thay đổi để thích nghi.  Gopnik nói, nghiên cứu này và một nghiên cứu khác tại hội nghị đề xuất khả năng các AI có thể dự đoán hành vi của AI khác dựa trên những gì biết về chúng, đều là những ví dụ về khả năng nổi bật của các mạng thần kinh trong việc tự học các kỹ năng. Nhưng ngay cả khi làm được điều đó thì vẫn không thể đặt chúng ngang tầm với con người. Con người có khả năng vượt qua nhiệm vụ này với độ chính xác gần như tuyệt đối, ngay cả khi họ chưa bao giờ gặp phải trước đây.  Nguyễn Hoàng Nam dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/07/computer-programs-can-learn-what-other-programs-are-thinking       Author                Quản trị        
__label__tiasang AI: một cách tiếp cận CMCN 4.0 trong doanh nghiệp      Một trong những lĩnh vực của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN4.0) thường được nhắc tới là ứng dụng trí thông minh nhân tạo (AI) trong việc thay thế công việc của con người. Vậy doanh nghiệp có thể tận dụng được gì ở AI để phục vụ công việc kinh doanh của mình?      Đào tạo ngành khoa học máy tính tại trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN. Nguồn: ĐHQGHN.  Vài năm gần đây phương pháp học sâu (Deep Learning) dựa trên các mạng thần kinh nhân tạo, được sự hỗ trợ bởi lượng dữ liệu lớn để “đào tạo” cho các chương trình và khả năng tính toán mạnh mẽ của các hệ thống máy tính đã tạo ra các bước đột phá về khả năng của AI trong các lĩnh vực nhận dạng hình ảnh, giọng nói và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.  Tuy nhiên, chưa cần phải nói đến các phương pháp mới như Deep Learning, AI đã có thể được sử dụng để giải quyết khá nhiều bài toán cơ bản trong doanh nghiệp. Một ví dụ tìm giải pháp tối ưu dựa trên một tập các ràng buộc (constraint satisfaction) là một vấn đề của AI phát triển từ những năm 1970 vẫn có thể áp dụng trong việc lập lịch, lập danh mục thương mại điện tử (e-commerce catalog), ứng dụng du lịch khi mọi người muốn tối ưu một chuyến đi có rất nhiều ràng buộc như thời gian, phương tiện, nơi ở… Máy tính có thể tìm phương án tối ưu hóa chuyến đi cho mỗi khách hàng dựa trên các giải thuật tìm kiếm phương án.  Các hệ chuyên gia sử dụng tập tri thức từ các chuyên gia và máy suy diễn (inference engine) vẫn có thể ứng dụng trong các lĩnh vực như y học, tài chính, pháp luật, giáo dục vì nó giải quyết suy diễn logic cơ bản của con người là “nếu X thì Y”. Khi tập luật này quá lớn dĩ nhiên máy tính sẽ hiệu quả và không bị sai sót như con người. Ngày nay các tập tri thức này dễ xây dựng và quản lý hơn vì có nhiều khuôn dạng chuẩn trao đổi dữ liệu và có thể thu thập từ các nguồn dữ liệu mở và sự chia sẻ thông tin ngày càng sẵn và dễ tìm trên internet.    Các phương pháp xử lý ngôn ngữ tự nhiên sử dụng để bóc tách, thu thập thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu phi cấu trúc càng dễ được ứng dụng vì sự phát triển của mạng xã hội và sự số hóa các văn bản tài liệu.  Phương pháp Học máy (machine learning) phân nhóm Naive Bayes sử dụng mô hình xác suất dựa trên định lý Bayes với giả định có sự độc lập giữa các thành phần dữ liệu, ngoài ứng dụng kinh điển là phân loại thư rác, có thể sử dụng trong rất nhiều ứng dụng như tự động phân công phản hồi của khách hàng cho phòng ban, nhân viên có trách nhiệm xử lý, phân loại công việc dựa vào hồ sơ nhân viên, phân loại mặt hàng trong các ứng dụng thương mại điện tử, phân loại khách hàng tiềm năng để người bán hàng tiếp cận…  Không thể phủ nhận vai trò của dữ liệu lớn (Big Data) trong việc mang lại những cách tiếp cận mới trong việc giải quyết vấn đề của doanh nghiệp trong CMCN4.0. Ví dụ khi phân tích dữ liệu từ hàng tỉ điểm dữ liệu thu thập từ mạng điện thoại di động, công ty Swisscom Thụy Sĩ có thể phát hiện ra các xu hướng chuyển động của người dân để tối ưu hơn việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Một dự án xây dựng một đường hầm ở thành phố Montreux đã được dừng lại qua việc phân tích dữ liệu này và đã tiết kiệm cho Chính phủ Thụy Sĩ 150 triệu Franc Thụy Sĩ. Trung Quốc cũng có các dự án phân tích dữ liệu mobile để tối ưu hóa việc xây dựng cơ sở hạ tầng hay các dịch vụ công cộng cho người dân, ví dụ nên đặt trạm đỗ xe bus ở vị trí nào, phân làn đường đã tối ưu chưa.      Một lưu ý là ứng dụng AI không nhất thiết phải dựa trên dữ liệu lớn (Big Data), một lầm tưởng khiến các doanh nghiệp còn ngần ngại khi ứng dụng AI để giải quyết các vấn đề của mình vì cho là lượng dữ liệu chưa đủ lớn hay chưa có các công cụ xử lý dữ liệu lớn. Một máy tính cá nhân hiện tại đã đủ mạnh và đủ lớn để có thể lưu trữ và xử lý hàng trăm triệu bản ghi trong vài giờ thậm chí vài chục phút nếu chương trình xử lý được viết tối ưu. Nhưng chắc chắn một doanh nghiệp sẽ không thể ứng dụng các phương pháp AI nếu không có sự thu thập dữ liệu, làm sạch dữ liệu và khiến dữ liệu này có thể dễ dàng truy cập xử lý bởi các thành phần cài đặt các thuật toán AI xử lý.  Cần thận trọng với những cạm bẫy  Những công nghệ mới hứa hẹn mang đến những chuyển đổi mới cho doanh nghiệp, tuy vậy mỗi doanh nghiệp phải tỉnh táo trước những cạm bẫy công nghệ có thể gặp phải.  Công nghệ bị thổi phồng  Được nhắc đến trong các phương tiện truyền thông gần đây khiến một số công nghệ như AI, Blockchain đã bị thổi phồng quá mức. Không ít các doanh nghiệp đã ước lượng quá thấp thời gian, kiến thức và nhân lực cài đặt các giải pháp AI. Một làn sóng không nhỏ các startup, người chào bán sản phẩm dịch vụ cũng tận dụng trào lưu này trên để tiếp thị cho các sản phẩm không có nhiều tính đột phá hoặc chưa chứng minh được hiệu quả nhưng mượn truyền thông khoác lên những mỹ từ khi mô tả sản phẩm.  Chính vì thế các doanh nghiệp, tổ chức nên thận trọng hơn với những người chào bán các giải pháp, sản phẩm AI. Một trong các cách để doanh nghiệp có thể tránh lãng phí hay thất bại khi mua các hệ thống là định nghĩa rõ hơn những gì mình muốn đạt được từ giải pháp, cân nhắc xem mình đã có dữ liệu đầu vào, đầu ra để đánh giá giải pháp đó chưa. Thậm chí doanh nghiệp cũng có thể tự xây dựng một số tính năng dựa trên các thư viện mã nguồn mở hay API sẵn có để hình dung rõ hơn về ứng dụng mình cần, đồng thời tạo ra lực lượng nhân viên có kinh nghiệm có thể đánh giá tính năng các hệ thống định mua và tùy chỉnh hiệu quả hơn cho doanh nghiệp. Với mỗi sản phẩm, giải pháp định triển khai luôn yêu cầu các bước proof-of-concept để kiểm nghiệm tính hiệu quả của nó. Cần đòi hỏi cao về tính tương thích và khả năng kết nối với các thành phần công nghệ thông tin doanh nghiệp đang có trước khi bỏ tiền mua giải pháp trọn gói.  Thiếu nhân lực để giải quyết bài toán AI một cách hiệu quả  Một trong các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng AI vào trong các doanh nghiệp là thiếu các kỹ sư, chuyên gia có kỹ năng quản lý xây dựng và quản lý các hệ thống AI mang lại giá trị cho công ty.  Mặc dù chúng ta khá lo ngại vì thiếu đội ngũ kỹ sư chuyên gia làm AI, nhưng có thể khẳng định chúng ta có một lực lượng tiềm năng cho nguồn nhân lực ấy. Cái cần thay đổi ở đây là phương thức đào tạo và tận dụng con người. Việt Nam có một lượng lớn các sinh viên có kỹ năng lập trình, cấu trúc dữ liệu và giải thuật khá tốt, thành tích trong các cuộc thi Tin học trên thế giới đã chứng minh điều đó. Học sinh và sinh viên Việt Nam được đào tạo và luyện nhiều về toán học trong giai đoạn phổ thông và các năm đầu đại học. Các kiến thức về toán giải tích, đại số tuyến tính, xác suất thống kê không thể thiếu trong ngành Trí tuệ nhân tạo. Với việc phát triển ngày càng nhiều các ứng dụng mã nguồn mở, nền tảng miễn phí cho AI, các tài liệu online, một sinh viên ngành Công nghệ thông tin chưa cần tốt nghiệp nếu chịu khó tìm tòi đã có một lượng kiến thức tương đối để có thể tham gia xây dựng một phần mềm giải quyết được một vấn đề ứng dụng AI.  Có điều doanh nghiệp có định nghĩa ra vấn đề AI trong thực tế đấy được hay chưa? Đã thu thập được dữ liệu hay chưa? Có sẵn sàng nhận sinh viên vào thực tập để truy cập các nguồn dữ liệu của doanh nghiệp hay không? Các hành lang pháp lý bảo vệ dữ liệu và sở hữu trí tuệ được thực hiện thế nào? Trường đại học và viện nghiên cứu cũng cần khuyến khích sinh viên ngành khoa học máy tính sự khao khát giải quyết các bài toán ngoài thực tế khi làm đồ án môn học thay vì các ví dụ kinh điển AI như chơi cờ, trò chơi. Cách thức duy nhất để tạo ra được những kỹ sư có chất lượng chính là sự cọ xát và niềm đam mê giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng thực tế chứ không chỉ dựa vào các cuộc thi.  Dùng AI trả lời mọi vấn đề của doanh nghiệp  Cần nhớ AI không phải là điều thần kỳ mang lại mọi lời giải cho doanh nghiệp nếu vấn đề đó chưa được định nghĩa rõ, thu thập dữ liệu cẩn thận để xác định ra được giới hạn mà ứng dụng AI có thể “phá vỡ” được nó. Lấy ví dụ hệ thống AI sử dụng mạng Neural, bản chất của thuật toán không thay đổi nhiều, phạm vi ứng dụng của nó cũng không thay đổi nhiều, nhưng nhờ sức mạnh của máy tính và nguồn dữ liệu lớn để tạo ra bước đột phá về kết quả gần đây.  AI nên được cân nhắc ở những ứng dụng mang lại thêm giá trị cho doanh nghiệp, ví dụ cắt giảm chi phí, tự động hoá  một số quy trình (vì các yếu tố này đã rất rõ ràng với kinh nghiệm của doanh nghiệp) thay vì để nó tự tìm ra thị trường, sản phẩm, tính năng mới vì đây là các khía cạnh cần sự nhạy bén của con người, sẽ thiếu nguồn tri thức, dữ liệu và quy tắc chung để máy móc có thể xử lý.  Có thể tạm định nghĩa ra các mức độ của dữ liệu là (1) Có dữ liệu (2) Có dữ liệu tốt (wealthy data: sạch sẽ, chính xác, kịp thời) (3) Có thật nhiều dữ liệu (big data). Nếu nguồn dữ liệu mới chỉ ở mức độ 1 thì chưa nên áp dụng ngay các kỹ thuật AI và cũng không nhất thiết phải đợi đến mức 3 mới ứng dụng nó.  Cố gắng theo đuổi những “gã khổng lồ”  Các công ty công nghệ lớn thường dễ tạo ra các bài học thành công về AI vì họ có lượng dữ liệu rất dồi dào, lượng người dùng và hành vi sử dụng phong phú, cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu phát triển mạnh. Tuy nhiên nếu mỗi doanh nghiệp rập khuôn áp dụng công nghệ A vì công ty B rất lớn đã thành công rất dễ bị cạn kiệt tài nguyên, nhân lực.  Khi mới tham gia một nhóm phát triển ứng dụng công nghệ AI ở một công ty tại Zurich, tôi thấy một kỹ sư trong nhóm đang xây dựng một hệ thống khá phức tạp dựa trên một số bài báo khoa học của một công ty công nghệ lớn. Tuy nhiên hơn 2 tháng phát triển, hệ thống vẫn chưa xong mặc dù các bộ phận khác của công ty khá sốt ruột. Khi tham gia vào nhóm, tôi bỏ ra một vài ngày để hoàn thành module tương tự như vậy dựa trên một hệ thống mã nguồn mở. Việc thực hiện diễn ra khá nhanh vì dựa trên nguồn dữ liệu và chỉ tận dụng nền tảng phần mềm công ty đã có. Module này nhận được phản hồi tích cực của bộ phận làm kinh doanh vì khá tương đồng với những gì họ mong đợi, và bộ phận phát triển giao diện với người dùng đang phụ thuộc vào module này có thể tiến hành ngay các cài đặt của họ, không bị ngừng trệ tiến độ nữa, hệ thống được trình bày cho khách hàng để thu thập phản hồi, tiếp tục cải tiến tiếp dựa trên các kỹ thuật tân tiến hơn.  Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong cách tiếp cận xây dựng MVP (minimum viable product) khá thông dụng ngày nay nhưng chưa nhiều nhân viên và doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nó vì bị “hào quang” và giải pháp của các công ty lớn che phủ cách tận dụng tài nguyên của doanh nghiệp mình.    ***   Có thể nói khi quá trình số hóa đi đến đâu thì tiềm năng áp dụng các thành tựu của CMCN4.0 sẽ theo đến đấy. Vì thế nhanh chóng giải quyết nốt những tồn đọng của doanh nghiệp từ CMCN lần thứ 3 (ứng dụng công nghệ thông tin, internet, mạng xã hội), tích cực chuyển đổi số, tận dụng công nghệ một cách hợp lý, đổi mới cách làm việc của mỗi con người để giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đó là những bước không thể thiếu để doanh nghiệp, tổ chức có thể tự tin tiếp cận với cuộc CMCN lần thứ 4.  Khi nghe và nói đến CMCN4.0 quá nhiều, thay vì nghi ngờ hãy bắt tay vào thử nghiệm nó từng bước nhỏ để mang lại giá trị nhất định cho doanh nghiệp. Amazon, công ty nhận danh hiệu sáng tạo hàng đầu thế giới năm 2017, đã từng cho biết: Một trong các bí quyết của sự đổi mới và sáng tạo trong công ty mình là thực nghiệm, thực nghiệm và thực nghiệm.    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Ai sở hữu tâm trí một nhà khoa học?  (kỳ 1)      Doanh nghiệp Mỹ ngày càng có nhiều quyền đối với các ý tưởng của các nhà nghiên cứu của mình. Nhưng kiểm soát tri thức không phải việc dễ dàng.      Nhà máy hóa chất Dupont tại Camden, Nam Carolina trên một postcard năm 1935.  Cuối thập kỷ 1990, giới quản lý doanh nghiệp và giới nghiên cứu của các trường đại học cố gắng giải quyết một vấn đề ngày càng cấp bách và nhận được nhiều sự quan tâm: Khi những người lao động tri thức, thí dụ các nhà vật lý học làm việc trong công nghiệp, rời chỗ làm vào cuối ngày, cũng là lúc họ mang theo mình những tài sản trí tuệ giá trị. Các nhà quản lý không sợ bị mất các tài liệu liên quan đến bằng sáng chế. Họ lo bị mất một bộ kỹ năng vô hình, sự hiểu biết sâu sắc về cách vận hành của công ty, quan hệ với các nhân viên kỹ thuật khác, và những know-how làm nên giá trị vượt trội của một nhân viên kinh nghiệm so với một người mới ra trường. Nói cách khác, doanh nghiệp lo sợ không sở hữu được toàn bộ tâm trí của các nhà khoa học.  Cuộc đấu tranh về việc ai sở hữu các ý tưởng đã kéo dài hàng thế kỷ. Là người đưa nghĩ ra ý tưởng? Là người chủ tài trợ cho nghiên cứu? Hay là các ý tưởng nên được chia sẻ một cách nào đó giữa hai bên?  Phần lớn cuộc đấu tranh đó có kết cục là các nhà khoa học mất dần quyền kiểm soát đối với những phát minh của mình, cả trong công nghiệp lẫn trong khu vực học thuật. Trước đây các bằng sáng chế được mặc định là của nhà phát minh, nhưng ngày nay chúng thuộc về người chủ công ty. Kỹ năng thực hành và kinh nghiệm với quá trình nghiên cứu từng là phẩm chất cá nhân cơ bản nhất của một nhân viên, nhưng các luật sư doanh nghiệp đã xây dựng nhiều công cụ pháp lý khác nhau để ngăn cản những lao động trình độ cao đem chúng ra thị trường tự do. Trong những năm 1990, nhiều nhóm gồm các thạc sĩ quản trị kinh doanh và các học giả của các trường kinh doanh cùng chung sức tìm hiểu xem liệu những tiến bộ về công nghệ thông tin, về các phương pháp quản lý, về luật, và về xã hội học có thể giúp họ trích xuất được những know-how của nhân viên, giúp cho công ty có thể lưu giữ và sở hữu chúng vĩnh viễn. Hệ quả là sự ra đời của lĩnh vực nghiên cứu và xu hướng quản lý được gọi là “quản trị tri thức”.  Bài viết này lần lại những thay đổi ở Mỹ về luật, về các thông lệ trong kinh doanh, và về kỳ vọng của xã hội đối với nghiên cứu và phát minh, từ đó làm sáng tỏ lịch sử về sự kiểm soát của doanh nghiệp đối với những ý tưởng của các nhà khoa học. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà quyền sở hữu trí tuệ được quy định chặt chẽ trong khi sự bảo vệ dành cho nhân viên thì tương đối lỏng lẻo, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, nơi ít có công đoàn. Từ chỗ một nhà khoa học trong khối công nghiệp có quyền sở hữu không thể chối cãi đối với các ý tưởng của mình, qua nhiều thế kỷ, quyền tự quyết đó đã bị bào mòn theo nhiều cách khác nhau. Biết về quá khứ đó có thể giúp các nhà khoa học xác định được mình nên kì vọng điều gì ở tương lai.  Bằng sáng chế và phát minh  Ở nước Mỹ sơ khai, luật – và cả xã hội – thừa nhận quyền của mỗi người đối với thành quả trí tuệ của mình. Vì thế, hiển nhiên là các nhà phát minh sở hữu mọi bằng sáng chế về các công nghệ mình phát triển, cho dù họ đang làm việc cho ai. Một nhà phát minh tất nhiên có thể bán một bằng sáng chế, nhưng nói chung công ty không thể đòi hỏi nhân viên chuyển nhượng lại chúng. Công ty hóa chất DuPont được thành lập năm 1802. Tại thời điểm đó, nếu một nhà hóa học của DuPont tìm ra được một cách cải thiện việc sản xuất thuốc súng hoặc tìm ra một công thức thuốc nhuộm mới, bằng sáng chế sẽ thuộc về người đó. DuPont sẽ nhận được “quyền sử dụng” (shop right) phát minh mà không phải trả tiền bản quyền, nhưng người nhân viên mới sở hữu bằng sáng chế. Ông ta có thể dùng nó để lập công ty riêng, cấp phép sử dụng, hoặc bán đứt nó.  Cho tới khoảng thời kỳ nội chiến Mỹ, một nguyên lý cơ bản của luật hợp đồng là hai bên phải được hưởng lợi ngang nhau. Ngày nay nguyên lý đó vẫn đúng ở một chừng mực nào đó – một giao kèo mà chỉ có một bên được lợi, chẳng hạn một lời hứa hiến tặng tiền từ thiện, thì không bị ràng buộc bởi pháp luật. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ 19, nguyên lí này được tuân thủ mạnh mẽ hơn nhiều; các quan tòa có khi vô hiệu hóa các hợp đồng mà họ cho là quá bất công. Với hợp đồng lao động của các nhà phát minh, điều đó có nghĩa là các quan tòa thường từ chối việc thi hành một điều khoản đòi hỏi nhà phát minh chuyển nhượng lại các bằng sáng chế được phát triển trong thời gian làm việc cho công ty.  Công chúng và luật thời đó coi bằng sáng chế là một phần thưởng cho hoạt động sáng tạo, là một sự đền đáp của xã hội cho việc tạo ra một thứ hữu ích. Như được ghi trong điều đầu tiên của Hiến pháp Mỹ, bằng sáng chế tồn tại “để thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các ngành nghệ thuật có ích, bằng cách đảm bảo trong một thời gian hữu hạn cho các tác giả và các nhà phát minh độc quyền đối với các tác phẩm và các phát minh của họ.”  Tới đầu thế kỷ thứ 20, tình thế gần như hoàn toàn bị đảo ngược. Sau nhiều thập kỷ bị chi phối bởi các thẩm phán thân doanh nghiệp, tòa án chuyển sang thiên về khái niệm tự do trong hợp đồng. Theo tư tưởng mới, việc của tòa án không phải là ép các hợp đồng giao dịch tuân theo quan niệm của mình về công bằng. Nếu ai đó lựa chọn bán nhà của mình với giá 1 USD, đó là quyền của họ, kể cả nếu người mua sẵn sàng trả hơn rất nhiều. Nếu một nhà khoa học lựa chọn ký vào một hợp đồng lao động đồng ý từ bỏ quyền sáng chế đối với mọi phát minh trong thời gian làm nhân viên, thì đó là lựa chọn của họ và tòa án phải tôn trọng. Trên lý thuyết, luật giả định là các nhà khoa học yêu cầu và được đền bù một cách công bằng cho việc nhượng lại các quyền đó.  Tuy nhiên, trong thực tế, người thất nghiệp hiếm khi có khả năng mặc cả từng chi tiết của hợp đồng lao động, nhất là nếu một số điều khoản đã trở thành tiêu chuẩn của giới công nghiệp. Ngày nay, nhiều công ty tư nhân và trường đại học đòi hỏi người làm đồng ý rằng bất cứ thứ gì được tạo ra với sự hỗ trợ của công ty hoặc trường đại học đều thuộc về tổ chức chứ không thuộc về cá nhân. Nhân viên còn có ít quyền lực hơn nếu các công ty cấu kết với nhau. Trong một vụ kiện nổi tiếng năm 2013, một số công ty công nghệ ở Thung lũng Silicon, trong đó có Apple, Google và Pixar, bị kiện vì đồng ý không tuyển nhân viên của nhau để giữ mức lương thấp. Sau khi Bộ Tư pháp Mỹ điều tra, các công ty đã phải trả một khoản tiền lớn, nhưng vụ kiện hầu như không làm thay đổi quan điểm rằng người lao động có thể đòi hỏi sự đền bù hợp lý trong hợp đồng lao động.  Bí mật thương mại và thỏa thuận không cạnh tranh  Mặc dù bằng sáng chế được nói đến nhiều nhất trong các thảo luận về sở hữu trí tuệ, các công ty đủ mọi quy mô thường phụ thuộc nhiều hơn vào bí mật thương mại để bảo vệ các sáng kiến của mình.  Dựa vào bí mật thương mại không chỉ là giữ kín một quy trình. Thực chất, một công ty có thể được pháp luật bảo hộ đặc biệt cho các bí mật công nghiệp của nó dưới một số điều kiện. Nó phải chứng minh được trước tòa các nỗ lực thiện chí để giữ bí mật về một quy trình – thí dụ hạn chế ra vào một số khu vực, hoặc huấn luyện nhân viên về những gì được và không được tiết lộ. Quy trình phải được chứng minh là có giá trị và chưa từng được công khai trên các ấn phẩm truyền thông đại chúng thì công ty mới có thể nhờ pháp luật bảo vệ bí mật cho nó.  Bí mật thương mại cũng có lịch sử, và tùy theo cách bạn đếm, nó có thể rất ngắn, hoặc rất dài. Một số nguồn gốc của luật về bí mật thương mại có từ hàng trăm năm trước, từ luật thời xưa ở Anh về việc các thợ cả trong các phường hội được phép chỉ truyền kiến thức cho đồ đệ của mình. Trong thực tiễn nói chung, dĩ nhiên, các doanh nghiệp vẫn sử dụng bí mật thương mại để giữ ưu thế cạnh tranh, từ bí mật sản xuất thủy tinh quang học tới thuật toán phía sau những kết quả tìm kiếm của Google.  Luật của Mỹ về bí mật thương mại lại tương đối trẻ. Khi luật về bí mật thương mại thay đổi, những tiêu chuẩn đối xử của doanh nghiệp đối với các nhà khoa học cũng thay đổi. Trước thế kỷ thứ 20, luật cho các công ty ít quyền kiểm soát đối với nhân viên cũ. Các công ty có thể kiện những người tìm cách lấy cắp bí mật thương mại của họ, thí dụ bằng cách hối lộ nhân viên để tuồn ra ngoài tài liệu quan trọng. Tuy nhiên, rất khó chứng minh hành vi phạm pháp đó, nhất là khi tái phát minh ra bí mật thương mại của người khác bằng thử nghiệm hoặc bằng kỹ thuật dò ngược [reverse engineering] là hoàn toàn hợp pháp.    Máy gia tốc cyclotron (trái) và lược đồ Feynman (phải) là những ví dụ về những tiến bộ khoa học rất khó truyền bá chỉ bằng các tài liệu viết .  Thường thì tòa án gặp phải những trường hợp mơ hồ hơn, như một nhân viên nghỉ việc mở công ty riêng với công nghệ mình đã phát triển, hoặc sang làm cho một công ty cạnh tranh nhưng không mang theo tài liệu gì. Khi đó, có thể tưởng tượng được là nhân viên đó đã tiết lộ bí mật thương mại, nhưng chứng minh điều đó là gần như không thể. Một số công ty tìm cách thuyết phục tòa án ra lệnh cấm người nhân viên đi làm ở nơi mới, nhưng vào thế kỷ thứ 19, các quan tòa gần như sẽ luôn luôn bác bỏ những đề nghị như thế. Thời đó, quyền sử dụng tay nghề và kiến thức để kiếm sống của một người được coi là có giá trị xã hội quan trọng hơn là quyền kiểm soát của công ty đối với các thông tin có giá trị tiềm tàng.  Trong các thập kỷ 1940 và 1950, các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến việc quản lý, khai thác, và kiểm soát kiến thức vô hình, hay know-how. Có thể sự trỗi dậy sau chiến tranh của thương mại quốc tế cho thấy rõ rằng trao đổi khoa học và công nghệ giữa các nền văn hóa khác nhau là việc khó khăn và chỉ gửi tài liệu thôi thì không đủ. Thông tin thường phải được một người nắm rõ kiến thức đích thân truyền đạt. Về việc này, có nhiều thí dụ nổi tiếng trong vật lý. Sau khi máy gia tốc cyclotron được phát minh vào những năm 1930, chỉ những phòng thí nghiệm từng đón tiếp những người đã làm việc với máy cyclotron trước đó là xây dựng được một chiếc máy của riêng mình. Chỉ có báo cáo thôi thì không bao giờ đủ. Nhà sử học David Kaiser chỉ ra rằng lược đồ Feynman cũng thế, chúng trở nên phổ biến khi những người trực tiếp học về chúng đi khắp nơi trên thế giới.  Sự quan tâm đến know-how cũng có thể liên quan đến nỗi lo sợ trong Chiến tranh lạnh về việc các gián điệp phe cộng sản lấy cắp các bí mật khoa học như kế hoạch vũ khí hạt nhân. Trong một bài phỏng vấn năm 1948, J. Robert Oppenheimer nói “cách tốt nhất để gửi thông tin là gói nó ở trong một người.”  Dù có những nguyên nhân lịch sử sâu xa, hầu hết luật về bí mật thương mại có từ vài thập kỷ trở lại đây. Các bang riêng rẽ bắt đầu thông qua luật thống nhất đầu tiên về bí mật thương mại, Uniform Trade Secret Act (Luật chung về bí mật thương mại), năm 1979, trước yêu cầu của các doanh nghiệp; đến năm 2013 nó đã được 47 bang thông qua. Luật liên bang đầu tiên về bí mật thương mại, Defend Trade Secret Act (Luật bảo vệ bí mật thương mại), sao chép lại hầu hết các điều khoản của luật cấp bang vào năm 2016.  Các điều khoản không cạnh tranh trong hợp đồng lao động có liên quan mật thiết với việc bảo vệ bí mật thương mại. Đầu những năm 1800, các doanh nghiệp bắt đầu quy định trong thông báo tuyển nhân viên rằng nhân viên không được gia nhập hoặc thành lập một công ty cạnh tranh sau khi thôi việc hoặc bị sa thải. Lúc đầu, các quy định đó bị đình trệ vì sự lo ngại cho quyền của người lao động đối với thành quả trí óc của mình, nhưng một triết lý mới thiên về sự tự do của hợp đồng dần dần bào mòn sự bảo vệ đó. Tới Thế chiến thứ nhất thì các điều khoản không cạnh tranh đã khá phổ biến trong các công việc kỹ năng cao. Xu hướng đó tiếp tục cho đến ngày nay, khi đến cả các nhân viên của các hãng đồ ăn nhanh đôi khi cũng ký vào thỏa thuận không làm việc cho đối thủ cạnh tranh.  Luật mới và mức phạt mới  Trong khi hầu hết những thay đổi trong luật bí mật thương mại được thúc đẩy bởi các quyết định của tòa án, các cơ quan lập pháp cũng có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong bước tiến tới các mức án hình sự cho việc tiết lộ bí mật thương mại. Trước đây, vi phạm bằng sáng chế của người khác khiến bạn có thể bị kiện nhưng không phải ngồi tù. Tuy nhiên, từ khi có Economic Espionage Act (Luật gián điệp kinh tế) năm 1996, các ủy viên công tố liên bang có thể khởi tố bất cứ ai sở hữu trái phép các bí mật thương mại ở dạng văn bản. Trong một vụ nổi tiếng năm 2009, Sergey Aleynikov, một cựu lập trình viên của Goldman Sachs, đã bị bắt, khởi tố và bị tuyên án tám năm tù không được ân xá, vì tội đánh cắp bí mật thương mại. Bí mật thương mại ở đây là những mã máy tính do chính ông ta viết, và sao lưu trên một hệ thống lưu trữ đám mây, khi còn là nhân viên. Không hề có bằng chứng cho thấy ông ta đã truy cập lại chúng sau khi rời Goldman Sachs.  Cùng năm đó, hai kỹ sư bị buộc tội, sau đó trắng án, chuyển bí mật thương mại về sản xuất chất bán dẫn của một công ty ở bang California cho một nhà sản xuất Trung Quốc. Năm 2010, Kexue Huang, một công dân Canada làm việc cho công ty Dow Agro-Sciences ở bang Indiana, nhận tội đã chuyển bí mật thương mại về thuốc trừ sâu cho một số công ty ở Đức và Trung Quốc, và bị kết án 15 năm tù. Năm 2015, Xi Xiaoxing, một giáo sư vật lý của Đại học Temple, bang Philadelphia, bị bắt và bị buộc tội gửi bí mật sản xuất màng mỏng cho Trung Quốc, do sự thiếu hiểu biết của các nhân viên Cục Điều tra liên bang (FBI) về các khoa học và công nghệ liên quan. Các cáo buộc sau đó bị gỡ bỏ, và ông Xi vẫn đang kiện lại FBI.  Các cáo buộc hình sự cho tội ăn cắp bí mật thương mại vẫn còn hiếm, nhưng chúng ngày càng trở nên phổ biến. Số lượng điều tra của FBI về các vụ đánh cắp bí mật thương mại tăng 60% từ năm 2009 đến năm 2013. Có thể gián điệp kinh tế là một mối đe dọa thực sự đối với nền kinh tế Mỹ, nhưng các vụ khởi tố ngày càng nhiều gây ra tác dụng phụ là các doanh nghiệp nhiều quan hệ có ngày càng nhiều quyền lực đối với nhân viên của mình. Bị ông chủ cũ kiện đòi bồi thường thiệt hại kinh tế hoặc ngăn cản nhận một công việc mới là một chuyện; đối mặt với mười năm tù lại là một chuyện rất khác.  Vẫn có những giới hạn quan trọng cho sự kiểm soát luật định đối với ý tưởng, kỹ năng, và khả năng tìm việc nói chung của một nhà khoa học giỏi. Các điều khoản không cạnh tranh thường chỉ có thể bị buộc thi hành dưới những ràng buộc “hợp lý”, chẳng hạn không được gia nhập một công ty đối thủ trong vòng một hoặc hai năm, trong một khu vực địa lý nhất định, hoặc với một công ty cạnh tranh trực tiếp. Ở một số bang, như California, các nhà lập pháp đã quyết định rằng các điều khoản không cạnh tranh là không bị buộc phải thi hành.  Hơn nữa, có một khía cạnh giá trị của một nhân viên khó có thể hạn chế hoặc luật hóa. Bất kỳ ai làm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đều hiểu rằng cần nhiều hơn kiến thức sách vở để làm cho mọi thứ hoạt động. Chúng ta thường gọi dạng tri thức đó là know-how. Nó bao gồm sự thành thạo sử dụng các thiết bị – thí dụ có thể nhanh chóng tìm ra nguyên nhân một cái phổ kế cho ra các số đo bất thường. Hay khả năng sắp xếp thời gian để mọi thứ tiến triển một cách hiệu quả, thay vì tốn nhiều thời gian vô ích giữa các công đoạn. Nó bao gồm việc biết hỏi đúng người khi cần trợ giúp, và các kỹ năng và óc đánh giá vô hình, vốn là lý do mọi chương trình vật lý đều có các môn học thực nghiệm.  Những know- how đó là vô giá, nhưng nó không có một vị trí rõ ràng trong luật sở hữu trí tuệ Mỹ. Một số trong đó có thể được coi là bí mật thương mại, nhưng một thợ hàn bậc thầy không nhất định phải giữ bí mật về kỹ thuật của mình. Giải thích hoặc thể hiện những kỹ thuật đó trước một thợ hàn non tay hơn sẽ không biến người thợ trẻ thành một đối thủ nghiêm túc. Nhiều kỹ năng và sự hiểu biết không thể đem đăng ký bằng sáng chế bởi chúng không phải là một bước phát kiến lớn vượt quá hiểu biết của những người lành nghề khác, thế nhưng chúng vẫn là vô giá.  Vào giữa thế kỷ thứ 20, luật sư của nhiều công ty nỗ lực xây dựng bảo hộ sở hữu trí tuệ cho know-how. Từ những năm 1950 tới đầu những năm 1970, các doanh nghiệp đấu tranh để mở rộng sự bảo hộ cho know-how như một quyền sở hữu. Cuối cùng, các tập đoàn thất bại vì những thay đổi về luật; các luật sư chuyển hướng tập trung vào việc thúc đẩy sự bảo hộ mạnh hơn cho bí mật thương mại, và ý tưởng về việc bảo hộ pháp lý cho know-how mất dần khỏi trí nhớ của mọi người. Nhưng ý định ngầm kiểm soát các tri thức của các doanh nghiệp vẫn không hề suy giảm. Nó sẽ quay lại dưới một số dạng khác, có lẽ rõ rệt nhất là trong một trào lưu quản lý doanh nghiệp trong thập kỷ 1990 có tên là quản lý tri thức.  Nguyễn Hoàng Thạch, Viện Toán học dịch  Nguồn bài và ảnh: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.3972       Author                Douglas O’Reagan*        
__label__tiasang Ai sở hữu tâm trí nhà khoa học?  (kỳ 2)      Bài viết ở kỳ 1 đã kể lại lịch sử về nỗ lực của giới doanh nghiệp trong việc kiểm soát tài sản trí tuệ của công ty mình. Nó không chỉ dừng lại ở việc giành quyền sở hữu các bằng sáng chế, bảo vệ chặt chẽ các bí mật thương mại, mà còn tìm mọi cách để kiểm soát và chuẩn hóa các ý tưởng và kĩ năng mà các nhân viên tài năng trong công ty tích lũy qua năm tháng.      Khu công sở của Apple ở Cupertino, bang California. Đây là hội sở của công ty từ 1993 đến 2017. (Ảnh: Joe Ravi, CC BY-SA 3.0.) Apple, Google, Pixar từng có một thỏa thuận không thuê lại người của nhau.   Quản lý tri thức  Một cách nào đó, quản trị tri thức (QTTT) là một điểm kết thúc kì quặc cho thảo luận về các quyền pháp lý của các nhà khoa học và các nhà phát minh. Trào lưu quản lý này của thập kỷ 1990 chẳng mấy liên quan đến luật. Tuy thế, nó là một thí dụ gần đây về cách mà các tổng giám đốc điều hành (CEO), các chuyên viên tư vấn, và các học giả từ nhiều lĩnh vực cố gắng nắm bắt và kiểm soát những tri thức tạo nên giá trị của các nhân viên giỏi.  Thị trường cho những ý tưởng quản trị doanh nghiệp nở rộ vào khoảng giữa những năm 1990, QTTT đạt đỉnh cao vào đầu những năm 2000 và tiếp tục cho tới ngày nay. Để hình dung về quy mô của trào lưu này, thị trường “dịch vụ quản lý tri thức” tăng từ 400 triệu USD năm 1994 lên 2,6 tỷ USD năm 1997, rồi 3,6 tỷ năm 1998. Năm 2002, công ty tư vấn McKinsey & Company đầu tư 35,8 triệu USD cho hệ thống QTTT riêng của nó, tăng từ 8.3 triệu vào năm 1999.  Mục tiêu đằng sau QTTT là nắm bắt cái được coi là tiềm năng khổng lồ chưa được khai phá của tri thức của một công ty, bao gồm cả những tài sản trí tuệ chính thức như các bằng sáng chế, lẫn know-how của các nhân viên. Thí dụ, bộ phận A có thể đang phát triển một công nghệ tuyệt vời mà bộ phận B có thể sử dụng, nhưng nếu không có các cấu trúc thích hợp để hai bộ phận trao đổi với nhau, bộ phận B có khi phải “phát minh lại bánh xe”, hoặc thậm chí đi mua công nghệ của nơi khác. Lew Platt, cựu CEO của Hewlett-Packard, đã nói: “Giá như HP biết mình có những gì, năng suất của chúng tôi có thể tăng gấp ba lần”. QTTT cũng trở thành một chủ đề nóng trong quản lý đại học từ giữa đến cuối những năm 2000, khi các nhà quản lý tìm cách khuyến khích sự hợp tác liên ngành và liên phòng ban.      Ngày nay, ham muốn của các nhà quản lý về việc kiểm soát tri thức của các nhà khoa học thường bị ngăn chặn không phải bởi luật mà bởi bản chất của tri thức: chúng ta thường biết nhiều hơn những gì chúng ta có thể nói hoặc viết ra. Khoa học là một quá trình được xây dựng bởi những kỹ năng mang tính con người, chứ không chỉ là một tập hợp các sự việc, các hình vẽ, và các danh sách các việc cần làm.      Mặc dù đặt ra mục tiêu đầy tham vọng cho QTTT, nhưng nhiều dự án dán nhãn QTTT lại quá giản đơn khi áp dụng. Phần lớn chỉ xoay quanh việc áp dụng công nghệ thông tin, chẳng hạn như phần mềm hợp tác Lotus Notes, các diễn đàn thảo luận nội bộ, và các cơ sở dữ liệu các câu hỏi thường gặp của nhân viên trong công ty.  Một công ty tìm đến sự giúp đỡ của QTTT là Buckman Laboratories, một công ty hóa học ở Memphis, bang Tennessee. Buckman dựa vào việc “gửi các tiến sĩ khoa học đi khắp nơi làm việc” để truyền bá các tri thức kỹ thuật đến các xưởng sản xuất với các thiết bị mới và cả các dây chuyền vừa được chuyển giao. Trong thị trường lao động nghèo nàn vào cuối thập kỷ 1990, họ “thuê không đủ người và đào tạo người không đủ nhanh”, theo một hồ sơ của tờ Wall Street Journal. Buckman tìm đến những giải pháp công nghệ lấy cảm hứng từ QTTT, bao gồm việc lập ra một diễn đàn cho nhân viên và tạo ra một trang web với một thư mục về ai biết những gì về các quy trình của công ty, với mục đích giúp các nhân viên khác tìm được đúng người để hỏi.  Dow Chemical còn đi xa hơn với QTTT. Cuối những năm 1990, Tổng Giám đốc Tri thức (Chief Knowledge Officer) mới được bổ nhiệm Gordon Petrash bắt tay vào rà soát lại hàng nghìn bằng sáng chế của công ty, tìm kiếm những công dụng mới của các công nghệ của các dòng sản phẩm khác nhau, và cấp phép sử dụng bằng sáng chế cho các công ty khác. Kết quả là một thành công lớn và mang lại hàng triệu đô-la phí sử dụng bằng sáng chế mỗi năm. Petrash bắt đầu lập kế hoạch tập hợp các nhà khoa học, các kỹ sư, các nhân viên quản lý và các luật sư về bằng sáng chế để chuẩn hóa và lặp lại quy trình đó với một loại tài sản trí tuệ còn mơ hồ hơn bằng sáng chế: know-how của công ty.  Dow lao vào một vũng lầy các câu hỏi triết học, xã hội học và kinh tế. Làm sao định nghĩa “tri thức”? Liệu tri thức có thể được quản lý hợp lí? Cả tập thể công ty có thể học thay vì dựa vào một vài cá nhân trong đó? Liệu một tổ chức có giữ được những tri thức của nó khi các nhân viên đến và đi? Làm thế nào mà Dow có thể buộc nhân viên chia sẻ những tri thức và kinh nghiệm độc nhất và giá trị của họ, khi đó chính là cái đảm bảo công việc của họ? Là tốt hay xấu nếu nhân viên trao đổi lời khuyên với bạn bè làm cho các công ty đối thủ? Những người làm QTTT cũng như các học giả về QTTT chưa bao giờ trả lời được thấu đáo các câu hỏi đó, nhưng họ đã tạo ra nền tảng cho hình thức quản trị tri thức lấy con người làm trung tâm vào giữa những năm 2000 thay vì các giải pháp lấy công nghệ làm trung tâm trước đó.   QTTT và tri thức ngầm  Một mục tiêu quan trọng của các nhà nghiên cứu QTTT là nắm bắt được “tri thức ngầm”, một khái niệm ít nhiều đồng nghĩa với know-how. Một tác phẩm tiêu chuẩn về QTTT là cuốn sách năm 1995 của Ikujiro Nonaka và Hirotaka Takeuchi, Công ty sáng tạo tri thức: Các doanh nghiệp Nhật Bản tạo ra động lực cho đổi mới sáng tạo như thế nào? (The Knowledge-Creating Company: How Japanese Companies Create the Dynamics of Innovation), trong đó việc trau dồi kiến thức ngầm được coi là một nguồn thành công chính của các doanh nghiệp Nhật Bản. Khi nền công nghiệp Mỹ đang còn quay cuồng do phải cạnh tranh gay gắt với Nhật Bản trong thập kỷ 1980, ý tưởng đó hết sức cuốn hút.  Nonaka và Takeuchi mượn khái niệm “tri thức ngầm” từ Michael Polanyi, một nhà khoa học và triết học, người đã viết về nó trong những năm 1960. Với Polanyi, tri thức ngầm là thứ tri thức khó có thể viết ra. Thí dụ, khó mà tưởng tượng được một cuốn sách giáo khoa dạy đi xe đạp.  Tuy nhiên, trong khi Polanyi cho rằng tri thức ngầm không thể diễn tả bằng lời thì tác giả của quyển sách Công ty sáng tạo tri thức và nhiều tác phẩm về QTTT không những lờ đi luận điểm này mà còn coi việc nắm bắt tri thức ngầm dưới dạng cụ thể như văn bản là mục tiêu cốt lõi của mình. Trong một ví dụ trọng tâm của cuốn sách, một nhóm nghiên cứu và phát triển (R&D) đang thiết kế một chiếc máy làm bánh mỳ dành thời gian học việc với một nghệ nhân làm bánh. Nhóm phát hiện ra rằng một động tác xoắn nhẹ trong quá trình nhào bột là một bước quan trọng còn thiếu cho chiếc máy của họ, và họ thêm bước xoắn đó vào sơ đồ thiết kế mới. Nonaka và Takeuchi cho rằng các công ty Mỹ cần nhìn vào thí dụ đó và tìm kiếm tri thức ngầm cả từ bên trong công ty lẫn thông qua hợp tác.  Ham muốn đưa tri thức ngầm về các dạng cụ thể, như các cơ sở dữ liệu của công ty, hướng dẫn sử dụng, tài liệu kỹ thuật và thiết kế của thiết bị, khiến QTTT có những tương đồng với lịch sử trước đó về bằng sáng chế, bí mật nghề nghiệp, thỏa thuận không cạnh tranh, và việc cấp phép cho know-how. Một bài báo năm 1999 của Wall Street Journal về QTTT đã tóm gọn tham vọng của trào lưu trong tựa đề của nó: “Know-how trong ngân hàng: Làm thế nào để sẵn sàng khi nhân sự chủ chốt rời đi”.  Nói một cách khác, QTTT nhằm khiến cho các nhà khoa học và các kỹ thuật viên tay nghề cao dễ thay thế hơn. Nhưng mục tiêu cuối cùng đó đã làm cho nhiều người lao động tri thức bất an. Như lời một thợ cơ khí 56 tuổi nói với Wall Street Journal năm 2002, “Nếu tôi trao các mẹo của mình, quản lý có thể dùng chúng để tăng tốc mọi thứ và khiến tôi luôn phải làm hết tốc lực.”  Đến cuối những năm 2000, sự ồn ào xung quanh QTTT đã giảm, nhưng các phương pháp QTTT vẫn được dùng nhiều. Dù không bao giờ còn giữ vai trò trung tâm của giới kinh doanh, QTTT vẫn rất phổ biến. Công ty tư vấn Bain & Company xác định qua các cuộc thăm dò ý kiến rằng QTTT là một trong những kỹ thuật quản lý được các CEO quan tâm nhất từ cuối những năm 1990 và trong những năm 2000. Ít nhất hai mươi tạp chí khoa học chuyên về QTTT hiện vẫn đang được ấn hành. Các doanh nghiệp vẫn quan tâm sâu sắc đến việc nắm bắt tri thức ngầm mà một nhà vật lý, làm việc trong công nghiệp hay trong trường đại học, mang lại, dù cho họ vẫn chưa tìm được các công cụ để làm việc đó.  Vậy vì sao sự phấn khích với QTTT nguội đi? Có thể có vài lý do. Ở tầm cơ bản, một số ý tưởng then chốt của QTTT, chẳng hạn giá trị của việc khuyến khích nhân viên duy trì những mạng xã hội không chính thức, đã trở nên một phần bình thường của doanh nghiệp so với trước đây. Tương tự, những xôn xao xung quanh việc các doanh nghiệp sử dụng các phần mềm xử lý văn bản và mạng máy tính cũng mất dần, không phải vì phần mềm xử lý văn bản là một công nghệ thất bại, mà vì nó đã trở nên quá bình thường để đáng được chú ý.      Trong một ví dụ trọng tâm của cuốn sách, một nhóm nghiên cứu và phát triển (R&D) đang thiết kế một chiếc máy làm bánh mỳ dành thời gian học việc với một nghệ nhân làm bánh. Nhóm phát hiện ra rằng một động tác xoắn nhẹ trong quá trình nhào bột là một bước quan trọng còn thiếu cho chiếc máy của họ, và họ thêm bước xoắn đó vào sơ đồ thiết kế mới. Nonaka và Takeuchi cho rằng các công ty Mỹ cần nhìn vào thí dụ đó và tìm kiếm tri thức ngầm cả từ bên trong công ty lẫn thông qua hợp tác.      Một số tham vọng trung tâm của QTTT có thể coi là chưa bao giờ được đạt đến. Các tập đoàn tiếp thu ý tưởng về việc phải tối đa hóa giá trị của know-how tập thể của công ty, nhưng nói thì dễ hơn làm. Những nỗ lực thời kỳ đầu tập trung vào các giải pháp công nghệ, như yêu cầu nhân viên viết hiểu biết của mình trên các cơ sở dữ liệu máy tính tập trung, nhưng những phương pháp như thế hiển nhiên không thể thâu tóm được mọi khía cạnh của mọi công việc. Hơn nữa, ngay cả khi có đủ trình độ diễn đạt để làm điều trên thì không có mấy nhân viên thích tự làm cho mình dễ bị thay thế.  Như vậy, QTTT không phải là một mối đe dọa sống còn đối với những nhân viên tay nghề cao như các nhà khoa học. Nhưng lịch sử của phong trào cho thấy tham vọng của các doanh nghiệp đã bành trướng như thế nào đối với việc kiểm soát thứ ở trong đầu nhân viên của họ. Các chủ doanh nghiệp ở nước Mỹ thời kỳ đầu không thích nhân viên giỏi đi làm việc mới mang theo bí mật của công ty, nhưng họ nói chung chấp nhận điều đó như một thực tế kinh doanh. Ngày nay, ham muốn của các nhà quản lý về việc kiểm soát tri thức của các nhà khoa học thường bị ngăn chặn không phải bởi luật mà bởi bản chất của tri thức: chúng ta thường biết nhiều hơn những gì chúng ta có thể nói hoặc viết ra. Khoa học là một quá trình được xây dựng bởi những kỹ năng mang tính con người, chứ không chỉ là một tập hợp các sự việc, các hình vẽ, và các danh sách các việc cần làm.  Các lợi ích kinh tế của những ý tưởng lưu động  Có những luận điểm hợp lý ủng hộ việc trao cho giới chủ nhiều quyền kiểm soát hơn đối với tài sản trí tuệ và đối với nhân viên tay nghề cao. Về nguyên tắc, một công ty khi biết nhân viên không thể mang ý tưởng đi sẽ sẵn sàng đầu tư đào tạo nhân viên và tài trợ cho nghiên cứu nhiều hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều việc làm hơn cho các nhà vật lý cũng như các nhà khoa học và kỹ sư khác. Không có những sự bảo vệ đó, sẽ không ai muốn tài trợ cho một nghiên cứu mà ai khác cũng có thể lấy cắp.  Những vấn đề đó không hề vụn vặt, nhưng những nghiên cứu đang được tiến hành trong kinh tế học và các lĩnh vực khác bắt đầu cung cấp những bằng chứng vững chắc cho thấy việc các nhân viên tay nghề cao có điều kiện luân chuyển sang các công việc mới đem lại những lợi ích kinh tế vượt trội ở tầm vĩ mô, đặc biệt ở khía cạnh thức đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Khi những lao động tri thức tìm kiếm công việc mới, họ truyền bá know-how và kinh nghiệm, và sự truyền bá tri thức là cốt lõi của sáng tạo khoa học kỹ thuật. Việc kinh doanh độc quyền từ bằng sáng chế được chính phủ công nhận và việc khóa chặt nhân viên bằng các hợp đồng bọc thép có vẻ an toàn một cách quyết rũ, nhưng việc cho phép con người và ý tưởng tự do trao đổi mới có thể đem lại sự hiệu quả cao nhất cho cá nhân mỗi công ty, tốt hơn cho các nhân viên của họ, và dẫn đến một nền kinh tế mạnh hơn.  Có lẽ sẽ luôn có những giới hạn cho sự kiểm soát của các doanh nghiệp đối với tâm trí của các nhà khoa học; nhiều thứ quan trọng đơn giản không thể bị tách ra khỏi các cá nhân. Một trực giác và kinh nghiệm nhất định là cần có để biết, chẳng hạn, cần thực hiện những thí nghiệm nào, lý giải dữ liệu ra sao, hay vì sao một quy trình tinh vi lại thất bại – những thứ đó không thể nào được lưu trong một cơ sở dữ liệu. Dẫu vậy, các nhà khoa học không thể không biết cấu trúc của luật, các tiêu chuẩn thực tiễn kinh doanh, hay các kỹ thuật quản lý. Quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với những gì do nhân viên làm ra là hợp lý, nhưng quyền của người lao động đối với những ý tưởng và thành quả lao động của mình cũng hợp lý.  Dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng cần hiểu rằng thực trạng đó là kết quả của hàng thế kỷ đấu tranh chính trị, vận động hành lang, và những biến đổi lịch sử khác. Nó không phải là tự nhiên hay tất yếu, và nó có thể, và sẽ, tốt lên hoặc xấu đi. Các doanh nghiệp vẫn sẽ cố gắng giành thêm quyền kiểm soát đối với tri thức, cả ở trong nước lẫn thông qua các hiệp ước quốc tế. Trong khi đó, các nhà khoa học vẫn sẽ tìm cách giữ sự tự chủ và quyền mang theo tri thức khi rời khỏi văn phòng mỗi ngày – và mãi mãi.  Nguyễn Hoàng Thạch, Viện Toán học dịch  Nguồn bài và ảnh: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.3972    Author                Douglas O’Reagan*        
__label__tiasang Ai sống ở Đại Nam thế kỷ XIX?      Bạn sẽ rất ngạc nhiên khi xem ghi chép của vương triều Nguyễn (nhà nước) và các quan chức về những cư dân cư trú trên lãnh thổ hình chữ S. Liệu bạn có tìm thấy người Chăm, người Ede, người Mường, người Khmer… Câu trả lời là không. Thay vào đó là những “Hán nhân”, “Thanh nhân”, “Minh hương”, ‘Phiên nhân”, “man”, “thổ”, …1         Phụ nữ Việt Nam đầu thế kỷ XX.     Đây là câu chuyện về những người sống trên lãnh thổ Việt Nam thế kỷ XIX. Họ gồm những ai và phân bố ở đâu?  Một thống kê nhanh về các ‘nhóm người’2 sống trên lãnh thổ Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ sẽ cung cấp một bức tranh về những người này:          Ví dụ về các nhóm cư dân ở Việt Nam thế kỷ XIX          Vùng đất/ tộc người hiện đại      Tên gọi      Nguồn tư liệu          Người Việt      Hán nhân                 Cambodia      Phiên  Thổ                 Trấn Ninh      Man      Trong Đại Nam nhất thống chí.          Hưng Hóa      Thổ nhân  Hắc Thái, Bạch Thái  Miêu nhân  Bạch Miêu nhân  Nùng Nhân  Man Nhân  Lào Nhân  Xiêm Quốc Nhân  Xa Lý Nhân  Sóc Nhân  Sơn Choang Nhân  Thọ Nhân  Phố Nhân  Thanh nhân  Minh Hương…      Phạm Thận Duật (1856). Hưng hóa ký lược.          Hạ lưu Mekong      Hán nhân  Thổ nhân      Đại Nam Thực Lục                 Thanh nhân                        Minh hương                 Thượng du Ninh Bình, Thanh Hóa      Thổ nhân      Đại Nam thực lục          Bình Thuận  Quảng Ngãi      Kinh dân  Thổ dân  Man, thổ  Kinh cựu thổ dân      Trong ‘Khâm định tiễu bỉnh Thuận tỉnh man phỉ’, Vũ man tạp lục.          ….                        Nguồn: Đại Nam Thực lục, Hưng Hóa ký lược, Đại Nam nhất thống chí, Vũ Man tạp lục…  Tất cả các mô tả này khắc họa một thế giới mà ‘Hán nhân’ chiếm đa số; tập trung chủ yếu tại các đồng bằng trung tâm và vùng thấp. Xung quanh họ là cư dân vùng cao và các nhóm cư dân đường biên. Hãy xem tỉnh Hưng Hóa, một trong những vùng đất có đa dạng tộc người bậc nhất của lãnh thổ Việt Nam mà ngày nay bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, một phần Yên Bái và Phú Thọ. Một quan chức nhà Nguyễn là Phạm Thận Duật được cử lên cai trị và đã mô tả những sắc dân của vùng ‘thượng du’ này.          Thống kê dân đinh và dân ngụ cư ở Hưng Hóa          Phủ, châu, huyện      Số đinh      Ngụ cư      Số đinh của nhóm ngụ cư          Phủ Gia Hưng      Huyện Tam Nông      825                        Huyện Thanh Sơn      689                        Minh Hương      6          Huyện Thanh Thủy      349      Man      14          Châu Sơn La      284                        Châu Thuận      583                        Châu Mai Sơn      313      Thanh nhân      9          Châu Mộc      340      Thanh nhân      2          Châu Yên      161      Thanh nhân      4          Man      6          Châu Phù Yên      632      Thanh nhân      2          Man      47          Châu Mai      203                        Châu Đà Bắc      225      Man      8          Phủ Hoa Hóa      Huyện Yên Lập      316                        Huyện Trấn Yên      296      Man      35          Châu Thủy Vĩ      1.182      Thanh nhân      16          Minh hương      63          Man      306          Châu Văn Bàn      179      Thanh nhân      4          Man      86                            Phủ Tây An      Châu Chiêu Tấn      521      Thanh nhân      39          Nùng      2          Man      247          Châu Luân      145      Thanh nhân      3          Châu Quỳnh Nhai      241      Man      77          Phủ Điện Biên                                      Châu Ninh Biên      444      Minh hương      29          Thanh nhân      2          Châu Tuần Giáo      212                        Nguồn: Hưng Hóa Ký lược, 1856.    Tại một tỉnh khác ở phía Nam là Bình Thuận, Đại Nam nhất thống chí mô tả “Hán Thổ tạp cư” (Người Hán [Việt] và người Thổ ở lẫn). Lại có những dân Thổ gia nhập vào “giáo hóa”, theo phong tục của người Hán [Việt], nên gọi là “tân dân” (dân mới). Lại có những thôn “đàn ông thì mặc quần áo người Hán, đàn bà mặc quần áo người Thổ, gọi là Kinh cựu Thổ dân [Thổ dân là người Kinh cũ]” (Nam dụng Hán [Việt] phục, nữ dụng Thổ phục, nhất danh Kinh cựu Thổ dân). “Tương truyền là người Kinh Thuận Hóa đến lấy vợ người Thổ, lâu ngày sinh nở thành đông, cho nên dân đã đồng hóa. Ngoài ra dân Man các sách, ở dựa núi, gác nhà sàn, ngôn ngữ líu lo, ăn mặc quê lậu (ăn bằng tay, không dùng đũa)”. Như vậy là Kinh dân/ Hán [Việt], Thổ dân, man dân… ở lẫn lộn nhau, có quan hệ hôn nhân, và thay đổi phong tục, tập quán, cũng như thay đổi tên gọi.      Bức vẽ của Phạm Thận Duật về dân man với các hình xăm. Nguồn: Phạm Thận Duật. 1856.    Vì thế, tộc người (tên gọi, bản sắc, dòng máu…) chưa bao giờ là yếu tố bất biến. Kinh [Hán nhân = Việt] cũng có thể biến thành ‘Thổ’. Ngược lại, ‘Thổ’, nếu gia nhập ‘giáo hóa’ thì thành ‘tân dân’ (và do đó đang trên đường trở thành ‘Hán’).  Tên gọi các nhóm dân cư này và chính sách ‘tộc người’ của triều Nguyễn nằm trong những chuyển biến địa-chính trị, mở rộng lãnh thổ và dự án “văn hóa, văn minh” lớn nhất của người ‘Việt’ ở thế kỷ XIX khi lần đầu tiên lãnh thổ rộng lớn hình chữ S ra đời. Lần đầu tiên những người ‘Kinh’/ ‘Việt’ (chủ nhân của các vương triều trên vùng châu thổ sông Hồng) đã làm một cuộc mở rộng ngoạn mục sau bốn thế kỷ, xác lập một lãnh thổ rộng lớn với đa dạng tộc người chưa từng có trong lịch sử của vùng duyên hải phía Đông Đông Nam Á lục địa.  Với sự xác lập này, không gian kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tộc người truyền thống của ‘Đại Việt’ đã bị phá vỡ. Thay vào đó là một không gian Việt Nam, và sau đó là Đại Nam. Như tôi đã lập luận, không chỉ có việc nhà nước ở Huế lúng túng trong việc định đô, lúng túng trong việc quản lí lãnh thổ và xác lập cân bằng địa chính trị mới, mà còn lúng túng trong việc điều phối sự cân bằng tộc người và xác lập quan hệ tộc người mới trong không gian cai trị của mình.  Tới năm 1804, lần đầu tiên không gian này được gọi là ‘Việt Nam’. Nguồn gốc của tên gọi này là việc vua Gia Long muốn lấy tên Nam Việt để đặt cho vương quốc của mình. Nhà Thanh sợ nhầm lẫn (và đề phòng tham vọng lãnh thổ của Huế) liên quan tới vương quốc Nam Việt của Triệu Đà mà lãnh thổ khi đó bao gồm một phần tỉnh Quảng Đông, đã đảo hai chữ ‘Nam Việt’ thành ‘Việt Nam’.  Trong thế giới ‘Việt Nam’ đó, Gia Long tuyên bố: “Hán di hữu hạn” [Người Việt và dân di phải có giới hạn].  Con trai ông, Minh Mệnh thì nghĩ khác. Ông tìm kiếm một diễn ngôn mới về bản sắc chính trị và tộc người cho vương quốc của mình. Người Việt là ‘Hán nhân’, những hậu duệ thực sự của nền văn hóa Hoa Hạ. ‘Tộc người’, với Minh Mệnh đơn giản được đo bằng thực hành văn hóa. Khác với cha mình, nhà vua tuyên bố “nhất thị đồng nhân” [đối xử bình đẳng như nhau] với tất cả dân chúng, và tham vọng dùng ‘giáo hóa’ để biến tất cả thành ‘Hán nhân’, dù là người vùng cao trên lãnh thổ hình chữ S hay người ‘Phiên’, người ‘man’ ở Lào và Cambodia. Năm 1838, ông đưa ‘Việt’ ra khỏi tên gọi vương quốc của mình, thay vào đó là ‘Đại Nam’, nhấn mạnh tới sự mở rộng không gian địa lý, không gian đế chế và không gian văn hóa:  “Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả, trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó” (Thực lục).  Các quan chức ở Huế chính là những nhà thực hành nhiệt huyết cho ý tưởng này. Lý Văn Phức với tư cách là sứ thần của Đại Nam đã ‘nổi khùng’ khi thấy biển đề công quán dành cho mình là “An Nam di quán”, và quyết làm ra nhẽ bằng cách thảo ngay một bài luận về di (Biên di luận).  Việt ta là phường ấy [di] chăng? Việt ta không phải chúng vậy, mà là hậu duệ của Viêm Đế, họ Thần Nông, bậc thánh Trung quốc thời cổ vậy. Thời cổ là vùng hoang viễn, chưa khai hóa, bấy giờ coi là di thì được. Nhưng đến thời Chu đã là Việt Thường, coi là thị tộc, các đời sau là Giao Chỉ, coi là quận huyện, chưa bao giờ gọi là di cả. …  Huống hồ, từ thời Trần, Lê, quốc thổ An Nam ngày càng mở rộng, đến nay đã gấp bội lần, phía Bắc giáp ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam của Trung châu; phía Tây khống chế các tộc man di, tiếp với các nước Nam Chưởng, Miến Điện; phía Đông trông ra bể lớn, ôm bọc các đảo; phía Nam cũng chạm tới biển, vòng qua phía Tây Nam sát vách Xiêm La, các thuộc quốc còn lại và tộc man di khác nhau nội phụ đều đủ cả, thật là một đại quốc sừng sững giữa trời đất. “Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo”; (Trần Quang Đức 2012).  Nhận thức của Lý Văn Phức phản ánh tầm nhìn đã được chuyển đổi của vương triều trong cách thức tiếp cận ‘bản sắc tộc người’ của Huế. Điều này phản ánh sự chuyển dịch lớn trong nhận thức của nhà Nguyễn, đặc biệt là Minh Mệnh về ‘phân loại cư dân’, chính sách đối với các nhóm dân cư, và việc có thể ‘đồng hóa’ các nhóm dân cư khác nhau thành ‘Hán’, sử dụng công cụ giáo hóa.  Trên tinh thần đó, một viên chức triều Nguyễn khác viết đi từ Cambodia đã sử dụng diễn ngôn về Đại Nam như một ‘đại quốc’ và nhấn mạnh tới sức mạnh của ‘giáo hóa’ để thay đổi các ‘tộc người’ khác [Phiên/ Khmer,…], để biến họ thành ‘Hán’ “Trấn Tây phong thổ ký”, Viện Hán Nôm, VHv. 1729).  Cuối cùng, bài viết này không nhằm mục đích phủ nhận các giá trị của thực hành văn hóa, chính trị của nhóm người, tộc người. Sự thực hành đó và các giá trị của chúng trong tiến trình lịch sử là có thật và có giá trị. Ở đây chỉ xin lưu ý rằng các hệ giá trị, tên gọi nhóm/ tộc người và sự thực hành văn hóa, bản sắc tộc người chưa bao giờ là bất biến trong lịch sử. Thông qua việc thống kê cách thức các nhóm cư dân trên lãnh thổ Việt Nam được gọi tên một cách ‘chính thức’ trong các văn bản hành chính, chính sử triều Nguyễn cũng như ghi chép của các quan chức, bài viết chỉ ra rằng trong một quá khứ chưa xa (hơn một thế kỷ trước), những người sống trên lãnh thổ Đại Nam là những nhóm với tên gọi và hình dung rất ‘xa lạ’ so với những người sống trên lãnh thổ hình chữ S ngày nay.  Minh Mệnh và các tổ tiên chưa xa của chúng ta sống trong một thế giới khác. Hệ phân loại tộc người và sự vận hành của ‘tộc người’ trong thế giới của họ khác xa so với cách thức chúng ta đang tư duy về tộc người hiện đại. Vì thế, hãy cẩn thận khi soi chiếu “bản sắc tộc người” vào trong quá khứ. Đó mới là câu chuyện của hai thế kỷ trước. Vậy 2000 năm trước thì sự khác biệt sẽ ra sao? Đồng thời, hãy tưởng tượng (dù biết lịch sử không thể nếu) nếu người Pháp không áp đặt khoa học phương Tây và hệ phân loại tộc người của họ lên xã hội Việt Nam. Nếu không có quá trình hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam hiện đại trong thế kỷ XX thì khi đó các bạn sẽ gọi mình và những nhóm người xung quanh là gì? Liệu những ‘thổ nhân’, ‘man’.., có mất đi? □     Chú thích:  1 Lưu ý rằng trong bản dịch quốc ngữ của bộ Đại Nam Thực lục, phần lớn các từ chỉ người Việt (Hán nhân) đã được chuyển dịch thẳng sang người Kinh/ Việt. Các chỗ đề cập tới người Man, thổ chẳng hạn thì được dịch không thống nhất. Có chỗ dịch giả để nguyên (người man, thổ), chỗ khác, nếu dịch giả biết (chắc/ đoán) dân tộc thiểu số nào được nhắc tới thì sẽ thay từ nguyên gốc (man, phiên, thổ) bằng danh xưng hiện đại.  2 Xin lưu ý rằng tất cả những khái niệm như ‘man’, ‘thổ’… không phải là ý tưởng của tác giả. Chúng là cách mà hệ thống hành chính, nhà nước và giới trí thức triều Nguyễn, trong thế giới quan của mình, gọi những người cư trú trong không gian vương quốc Đại Nam. Ở đây chỉ xin tường thuật lại dựa trên tư liệu.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang AI tạo ra thông tin sai lệch: Khó khăn của các tập đoàn công nghệ      Chatbot AI có thể sẽ là công cụ “tiếp tay” cho những kẻ muốn truyền bá thông tin giả tạo, sai lệch, gây kích động.       OpenAI – một công ty AI “dưới cơ” nhưng đầy tiềm lực – đã đánh thức những gã khổng lồ công nghệ đang ngủ quên bằng các sản phẩm AI sáng tạo của mình, trong đó sản phẩm mới nhất và cũng nổi bật nhất là chatbot đàm thoại ChatGPT. Microsoft đã đầu tư 10 tỷ USD vào OpenAI như một phần trong chiến lược tích hợp AI vào các sản phẩm, từ đó vượt qua các đối thủ công nghệ lớn dù non trẻ hơn. Sự kiện này buộc Google phải phát đi báo động đỏ trong nội bộ toàn công ty và ra mắt các sản phẩm AI sớm hơn dự kiến (Ngày 6/2, tập đoàn Alphabet Inc – công ty mẹ của Google – đã ra mắt một dịch vụ chatbot mới có tên “Bard” nhằm cạnh tranh trực tiếp với ChatGPT). Trong khi đó Mark Zuckerberg đã tuyên bố ý định biến Meta trở thành “người dẫn đầu về AI tạo sinh (Generative AI)”, đây rõ ràng là một động thái phản ứng trước chatbot “gây sốt” của OpenAI.  Các công ty này bỗng nhiên đều nỗ lực phát triển các sản phẩm có vẻ giống nhau, nhưng chiến thắng sẽ gọi tên ai? Các cuộc thảo luận xoay quanh câu hỏi này thường tập trung vào quy mô của các mô hình AI và lượng dữ liệu huấn luyện AI, nhưng có một yếu tố khác cũng rất quan trọng: các công ty có thể xây dựng những hệ thống đáng tin cậy – không gây hại quá mức cho xã hội và đặc biệt là không làm mất ổn định nền dân chủ – đến mức độ nào.  ChatGPT là bản nâng cấp của mô hình ngôn ngữ GPT-3, sản phẩm tạo lập văn bản của OpenAI. GPT-3 từng thu hút rất nhiều sự chú ý nhưng chưa bao giờ được người dùng trên khắp thế giới đón nhận rộng rãi như cách ChatGPT đã đạt được. Thay đổi lớn nhất từ ​​GPT-3 sang ChatGPT không phải là kích thước mô hình — chúng được cho là có kích thước tương đương nhau — mà là sau quá trình đào tạo của GPT-3 để thu thập các mối tương quan thống kê của dữ liệu từ văn bản trên Internet, ChatGPT tiếp tục trải qua quá trình tương tác với con người, nhận phản hồi để cải thiện đầu ra của nó. Một khía cạnh quan trọng của quá trình sàng lọc này là lọc ra phần nội dung công kích và gây nguy hại. ChatGPT vừa hữu ích hơn GPT-3 vừa phù hợp hơn với người dùng phổ thông, những con số kỷ lục mà nó xác lập được kể từ khi ra mắt đã cho thấy điều này.  Để so sánh, một hệ thống tạo văn bản tổng quát khác gần đây là Galactica của Meta, về cơ bản đây là một nền tảng tương tự GPT-3 được tinh chỉnh với khả năng tóm tắt và viết các bài báo khoa học. Việc thiếu các bộ lọc rà soát, loại bỏ các nội dung gây hại đã khiến Galactica phải nhận về các chỉ trích gay gắt và bị Meta gỡ bỏ sau vài ngày. Vì không có bộ lọc, nhiều người sẽ tận dụng nó để tạo ra thông tin sai lệch nguy hiểm về khoa học và y tế trên quy mô lớn. Trên thực tế, một người dùng đã dễ dàng tạo ra một bài báo y tế có vẻ hợp lý về lợi ích sức khỏe của việc ăn mảnh thủy tinh vỡ.  Việc sử dụng thông tin sai lệch như một vũ khí nguy hiểm không còn là mối quan tâm đơn lẻ hay chỉ mới là giả thiết. Ngay sau khi ChatGPT ra đời, cả hội nghị Quốc tế về máy học lần thứ 40 lẫn Stack Overflow – website hỏi đáp dành cho lập trình viên – đã tạm thời cấm nội dung do AI tạo ra. Quản trị Stack Overflow giải thích rằng website đã tràn ngập các câu trả lời thoạt nghe có vẻ hợp lý nhưng không chính xác do AI tạo ra, nhiều hơn mức mà ban quản trị có thể kiểm soát. Eurasia Group, một tổ chức tư vấn địa chính trị nổi tiếng, gần đây đã đưa ra một báo cáo dự đoán những rủi ro hàng đầu vào năm 2023. Báo cáo liệt kê công nghệ AI tạo sinh là công nghệ lớn thứ ba — chỉ sau bộ đôi Trung Quốc và Nga — vì khả năng “làm xói mòn lòng tin xã hội, trao quyền cho những kẻ mị dân và độc tài, đồng thời gây náo loạn hoạt động của các doanh nghiệp và thị trường.” Đây không phải là tổ chức duy nhất gióng lên hồi chuông cảnh báo về sức mạnh của AI.  Thay vì phát giác và thừa nhận rủi ro này, giám đốc bộ phận nghiên cứu AI của Meta, ông Yann LeCun, đã ngạo mạn bác bỏ. Ông cũng đổ lỗi cho người dùng về màn ra mắt thảm hại của Galactica.  Tương tự, Microsoft từng đổ lỗi cho người dùng vì đã lạm dụng Tay, một chatbot thời kỳ đầu, ra mắt vào năm 2016 và nhanh chóng bị “khai tử” sau khi Tay có những phát ngôn ủng hộ phát xít, phản đối nữ quyền. Nhưng kể từ đó, Microsoft đã nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của sức mạnh của công nghệ trực tuyến đến xã hội. Gần đây, các nhà điều hành tại Microsoft và Meta đã đưa ra những tuyên bố đầy trái ngược về rủi ro của AI. Đầu tháng này, Brad Smith, Chủ tịch Microsoft đã viết bài trên blog của công ty, thảo luận về nhu cầu phát triển AI có trách nhiệm và những nỗ lực thực hiện điều này của Microsoft từ năm 2017. (Có lẽ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi nỗ lực này bắt đầu ngay sau khi chatbot phân biệt chủng tộc thu hút sự chú ý không mong muốn). Trong bài viết, Smith cảnh báo: “Thật không may, một số kẻ sẽ sử dụng công nghệ này để khai thác những khiếm khuyết trong bản chất con người, cố tình sử dụng thông tin sai lệch để nhắm vào mọi người, phá hoại nền dân chủ và khám phá những phương thức mới để thúc đẩy việc theo đuổi cái ác”. Ông cũng khẳng định rằng “chúng ta cần những cuộc đối thoại sâu sắc và rộng rãi, đồng thời cam kết những hành động chung để dựng lên những hàng rào bảo vệ cho tương lai”. Đây là thái độ đúng đắn với AI, và đó là sai lầm của Meta – về cả mặt đạo đức và thương mại – khi họ chọn cách khác.  Meta rất thiếu nhất quán trong việc quan tâm đến các khía cạnh đạo đức của công nghệ, từc các điểm mù dữ liệu cho đến bỏ qua lỗ hổng bảo mật dữ liệu, trả lương thấp cho người lao động trong môi trường làm việc tồi tệ [để kiểm duyệt các nội dung vi phạm tiêu chuẩn]. Thái độ gần đây của Meta với AI cũng không kém phần đáng lo ngại. Chẳng hạn, LeCun, Giám đốc AI của Meta gần đây đã tuyên bố rằng bộ lọc AI của công ty phát hiện gần như mọi phát ngôn thù địch trên nền tảng, mặc dù bằng chứng từ người tố cáo Facebook – Frances Haugen, cựu Giám đốc Sản phẩm của Facebook, cho thấy tình hình hoàn toàn ngược lại. Khi nhận xét về chatbot Meta ra mắt vào tháng tám năm ngoái nhưng không thu hút được người dùng, LeCun thừa nhận chatbot của Meta “đã bị những người dùng thử chỉ trích”. Nhưng ông đã sai lầm khi nói rằng “nó nhàm chán vì nó an toàn”. Theo hầu hết người dùng, các tính năng an toàn trên chatbot của Meta còn sơ khai, cồng kềnh và không hiệu quả. Những gì xảy ra sau khi người dùng các chat bot như Tay hay ChatGPT đã chứng minh, người dùng và các nhà đầu tư quan tâm đến AI an toàn (các chính phủ chắc chắn cũng cần).  Khác với cách tiếp cận liều lĩnh của Meta thì Google cũng có thái độ thận trọng về AI. Trước đây, Sundar Pichai, CEO của Google đã bày tỏ lo ngại về AI. Một sự khác biệt nhỏ nhưng rõ ràng giữa suy nghĩ của ông và Zuckerberg khi nói đến những hệ quả xã hội ngoài ý muốn về sức mạnh của công nghệ sau chiến thắng bầu cử đầy bất ngờ năm 2016 của Trump – khi được hỏi liệu tin tức giả mạo có thể là yếu tố quyết định hay không, ông đã trả lời: “Chắc chắn. Tôi nghĩ rằng toàn bộ tin giả có thể là vấn đề”. Trái lại, Zuckerberg bác bỏ ý tưởng này vì “khá điên rồ”.  Nếu ChatGPT thành công, trong khi những nỗ lực của Meta với AI tạo sinh (generative AI) thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do OpenAI quan tâm đến việc ngăn chặn chatbot tạo ra những dữ liệu độc hại, trong khi Meta rất ít quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, những gì OpenAI đã làm mới chỉ là bước đầu, không đồng nghĩa với việc giải quyết được vấn đề thông tin sai lệch. Những người muốn lạm dụng AI với mục đích xấu có thể dễ dàng tránh được các hàng rào ngăn chặn những yếu tố độc hại của ChatGPT, như chúng ta đã thấy vào đầu tuần này, tất cả các công cụ tìm kiếm tiếp tục gặp vấn đề. Hiện tại, giới truyền thông rất thận trọng với công cụ tìm kiếm Bing mà Microsoft mới cập nhật, trong khi Bard của Google bị chế giễu. Nhưng khi vượt qua những lo lắng ban đầu, điều quan trọng nhất là liệu có “ông lớn” nào có thể tạo ra AI mà chúng ta thực sự có thể tin tưởng hay không. □  Thanh An ± Anh Thư dịch  Nguồn: https://time.com/6255162/big-tech-ai-misinformation-trust/    Author                .        
__label__tiasang Alaska: một ngôi làng tan chảy vì khí hậu nóng dần lên      Ngôi làng nhỏ Shishmaref của người Eskimo trên một hòn đảo nhỏ tiếp giáp với Alaska, đang bị nhấn chìm dần từng chút một hàng năm vào đại dương, khiến dân địa phương phải dọn nhà vào đất liền và có nguy cơ mất đi gốc tích của họ.    Theo các nhà khoa học, đây là những nạn nhân của tình trạng khí hậu Trái đất đang nóng dần lên.  Hòn đảo có ngôi làng Shishmaref nằm trên lớp đất đóng băng thường xuyên thuộc vùng biển Chukchi, phía Bắc eo biển Bering, cách Nga 150 km. Đảo rộng khoảng 600 mét và dài 5 km. Theo giáo sư địa vật lý Vladimir Romanovsky, thuộc trường Đại học Alaska Fairbanks (UAF), nhiệt độ tại Alaska đã nóng dần lên trong ít nhất 30 năm gần đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lớp đất đóng băng trên đảo này.  Dưới tác động của tình trạng rã băng, vùng đất trên đảo trở nên dễ bị lũ lụt do băng tan cũng như những cơn bão mạnh phạt mất những vạt đất trên đảo.  Hiện nay, tình trạng đất băng đang tan dần và những con sóng biển đã chồm lên bờ tàn phá nhiều kho hàng, tàu thuyền, sân phơi thịt cá và khi dự trữ thực phẩm trên đảo ngày càng diễn ra dồn dập hơn. Mới đây, một căn nhà đã tan chảy và sập đổ khiến 20 người phải di dời sâu vào trong đảo. Nhưng theo chính quyền địa phương, ngôi làng 600 dân này sẽ phải di dời vào đất liền trong thời gian tới.  Dù vậy, người ta lo ngại việc dân bản địa bị sáp nhập vào một cộng đồng khác trên đất liền có thể dẫn đến tình trạng xóa sổ giá trị truyền thống của dân làng Shishmaref, vốn đã có mặt trên hòn đảo này từ 4.000 năm trước…   (Theo AFP) L.XUÂN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Alexander Borodin – một con người, hai sự nghiệp      Để viết đầy đủ về ông phải cần đến hai bài tiểu sử, một tiểu sử khoa học và một tiểu sử âm nhạc. Hồi Borodin còn là sinh viên, giáo sư hóa học Zinin vẫn thường nói với nhà soạn nhạc trẻ Borodin rằng: “Anh Borodin ạ, anh hãy ít chú ý hơn vào những khúc tình ca đi, tôi đặt hy vọng vào anh đấy!”. Còn người bạn Rimsky-Korsakov thì lại kêu gọi nhà hóa học Borodin: “Ông phải chuyên tâm vào âm nhạc!”. Khó mà có thể nói được Borodin đã nghe lời ai trong hai người này, nhưng một điều chắc chắn là, ông đã rất thành công trong cả hóa học lẫn âm nhạc.    Alexander Porfir’yevich Borodin sinh ngày 12/12/1833 ở St Peterburg (Leningrad), là con ngoài giá thú của một vị hoàng thân Nga. Borodin được học hành rất cẩn thận ngay từ nhỏ, cậu biết nhiều ngoại ngữ và thông thạo các tiếng Đức, Pháp, Anh. Năm lên 8 tuổi, cậu đã tỏ ra yêu thích âm nhạc và các nhạc cụ. Nhận ra tài năng của Borodin, mẹ cậu đã khuyến khích cậu học nhạc. Borodin đã bắt đầu sáng tác một khúc polka cho piano lúc mới 9 tuổi. Trong thời gian học nhạc, Borodin cũng đã bắt đầu say mê hóa học. Cậu đã có thể làm được pháo hoa và các pin điện bằng hóa học.  Năm 1850, Borodin vào học ở Viện Y Dược, ở đó những người bạn thân nhất của anh là các sinh viên người Đức. Anh đã học thực vật học, động vật học, tinh thể học, giải phẫu và đặc biệt là hóa học. Năm thứ ba ở trường, anh trở thành một học trò của giáo sư hóa học N. N. Zinin. Ông giáo sư này đôi khi cũng rầy la Borodin vì anh thường dành nhiều thời gian cho âm nhạc. Ngày 6/4/1856, Borodin tốt nghiệp khóa học ở viện với kết quả xuất sắc. Cũng trong năm đó, vào ngày 17/3, Borodin đã trình bày công trình đầu tiên của anh mang tên “Tác động của Ethyl-iodide đối với Hydrobenzamide và Amarine” ở Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Ngày 15/5, Borodin nhận được học vị tiến sỹ với bản luận án “Sự tương đồng về hóa tính và độc tính của arsenic acid và phosphoric acid.” Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của viện hàn lâm, một bản luận án được viết và bảo vệ bằng tiếng Nga mà không phải là tiếng Latin. Mặc dù có học vị là tiến sỹ y học nhưng vì bản tính của Borodin là rất sợ nhìn thấy máu nên ông đã không bao giờ thực hành với cái chuyên môn đó.  Trong một vài năm sau đó, Borodin đã đi đến nhiều nước. Ông thường dành những mùa hè ở Nga để phân tích các loại nước khoáng và nghiên cứu các tính chất y dược của chúng. Mùa thu năm 1859, Borodin quay lại Tây Âu để tiếp tục nghiên cứu. Trước khi dời Nga, ông đã gặp Mussorgsky lần thứ hai để trao đổi công việc với nhà soạn nhạc trẻ này. Trong những năm tiếp theo, Borodin chủ yếu ở Heidelberg, nơi mà những người bạn ông là Mendeleev, Sechenkov và Botkin đang làm việc với nhà hóa học Đức Erlenmeyer. Hồi tháng 9/1860, ông đã đến Rotterdam để nghỉ hè với Mendeleev.           Borodin và Mendeleev là hai người ngồi giữa.        Ở Paris, Borodin cũng đã công bố một công trình với tiêu đề “Những dẫn xuất monobromo của các acid valeric và butyric”. Ông cũng nghiên cứu về phản ứng của bromine  đối với các muối bạc, và chỉ ra một kiểu phản ứng mới với bạc acetate. Kiểu phản ứng này chính là một nguyên mẫu của phản ứng Hunsdiecker. Tháng 5/1861, Borodin đã quen với một phụ nữ Nga 29 tuổi tên là Ekaterina Sergeyevna Protopopova. Cô là một nghệ sỹ piano tài năng, một người ngưỡng mộ Chopin, Liszt và Schumann. Ekaterina đã nhanh chóng cuốn hút được Borodin với những niềm say mê âm nhạc của mình. Và thế là họ yêu nhau đầy quyến luyến. Lễ thành hôn của họ đã diễn ra vào mùa xuân năm 1863.  Trong thời gian ở Italy, Borodin đã trở thành người đầu tiên điều chế được benzoyl fluoride khi cho muối acid tác dụng với benzoyl chloride. Đó là hợp chất thơm chứa fluor đầu tiên được điều chế trong lịch sử hóa học. Ông đã mô tả sản phẩm như một chất lỏng nhờn không màu và có mùi gây kích thích hơn hợp chất chloride của nó. Borodin làm việc rất cần mẫn trong phòng thí nghiệm nhưng ông cũng dành nhiều sự quan tâm tới âm nhạc và phân chia thời gian như nhau cho cả hai lĩnh vực.   Trở về Nga, Borodin vào làm việc trong Viện Y học và dạy hóa học hữu cơ cho sinh viên trong viện. Các sinh viên vẫn thường nói về ông như “một người rất thông minh và giàu sức lôi cuốn”.  Vào mùa thu năm 1862, Borodin đã có một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Ông đã làm quen với nhà soạn nhạc nổi tiếng Balakirev, người đứng đầu một nhóm các nhà soạn nhạc Nga. Nhóm này bao gồm Mili Alexeyevich Balakirev, Modest Mussorgsky, Nikolai Rimsky-Korsakov. Kể từ khi có thêm Alexander Borodin và Cesar Cui, họ đã trở thành “Nhóm Hùng mạnh”, hay nhóm “Năm Người Nga,” một nhóm các nhà soạn nhạc cực kỳ nổi tiếng trong lịch sử âm nhạc.             Một ca sỹ đang đứng hát trước Mussorgsky, Korsakov, Stasov, Balakirev, Cui và Borodin (từ trái sang phải)        Sự nghiệp của Borodin là một sự hòa trộn tuyệt vời giữa âm nhạc và hóa học. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu và khám phá quan trọng liên quan các hợp chất amylate, benzil, aldehyde và các hợp chất hữu cơ khác. Đến cuối thập kỷ 1860 và đầu thập kỷ 1870, tuy vẫn tiếp tục nghiên cứu và công bố các công trình khoa học nhưng Borodin đã bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến sáng tác. Tuy nhiên, vào năm 1872, Borodin đã tìm ra một loại phản ứng mới: phản ứng ngưng tụ aldol. Phản ứng này đã trở thành một trong những phương phương pháp kinh điển để tổng hợp các hợp chất hữu cơ mới chứa oxy. Về sau nó còn được phát triển thành một phương pháp tổng hợp những amino acid quan trọng. Trong thời gian tham gia đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trong giáo dục và đọc các bài giảng y dược, Borodin đã bắt đầu viết vở opera Hoàng tử Igor. Cũng trong năm 1872, Borodin đã sáng tác xong phần đầu của bản giao hưởng Tráng sỹ và một số màn của Hoàng tử Igor, vở opera này là một kiệt tác nổi tiếng nhất của ông. Năm 1877, Borodin lại đi ra nước ngoài lần nữa. Khi đến Weimar, ông đã được Franz Liszt chào đón nồng nhiệt. Tình bạn của hai nhà soạn nhạc này đã tiến triển rất tốt đẹp sau khi Borodin đề tặng Liszt một tác phẩm của mình. Borodin cũng quay trở lại Heidelberg, nơi mà ông đã gặp Ekaterina lần đầu tiên. Những hồi ức lãng mạn ở đây đã tạo cảm hứng cho ông viết bản Tứ tấu Dây số 2, đề tặng người vợ yêu dấu.         Trong thập kỷ sau đó, Borodin chủ yếu tập trung vào sáng tác. Ông mất đột ngột vì bệnh tim vào ngày 15/2/1887. Có rất đông người đã đến dự đám tang của Borodin. Ông được chôn cất trong nghĩa trang Alexander Nevsky, bên cạnh mộ của Mussorgsky. Ekaterina đã không có mặt ở đám tang, bà đau buồn đến mức ốm nặng và mất sau đó vài tháng. Những người bạn của Borodin là Rimsky-Korsakov và Glazunov đã xuất bản nốt các sáng tác của ông. Mười năm sau khi Borodin mất, số tiền thu được từ việc xuất bản các tác phẩm của ông (chủ yếu là từ vở Hoàng tử Igor) đã lên đến khoảng 50.000 rúp.           Edward Elgar trong phòng thí nghiệm.        Trường hợp của Alexander Borodin là rất hiếm hoi trong cả lịch sử hóa học lẫn lịch sử âm nhạc. Sau Borodin thì có thể nhắc đến Edward Elgar, một nhà soạn nhạc kiệt xuất nhưng cũng rất ham mê nghiên cứu hóa học. Elgar đã từng nghiên cứu về việc sản xuất hydrogen sulphide (khí H¬2S) và cũng đã từng chế tạo một cỗ máy điều chế loại khí này. Người ta cho rằng, Elgar trở nên vô cùng yêu thích hóa học trong những giai đoạn ông cảm thấy chán viết nhạc. Elgar có một phòng thí nghiệm với những chồng cao ngất các chai lọ, khay đĩa,  đèn Bunsen, chày cối, bình cổ cong và tất cả những dụng cụ chuyên nghiệp của một nhà hóa học thực thụ. Elgar có vẻ như đã nhúng tay vào nhiều thí nghiệm khác nhau, từ việc điều chế các hợp chất phosphoric đến cả việc sản xuất xà phòng. Thực ra so với Borodin thì Elgar không được đào tạo chính thức về hóa học. Các kết quả nghiên cứu của Elgar dù sao cũng chỉ là những sự tò mò thông minh và thú vị.     Tuy Borodin không phải là người duy nhất mang theo suốt cuộc đời mình sự say mê nghiêm túc đối với cả khoa học lẫn âm nhạc, nhưng chúng ta mãi mãi vẫn cảm thấy ngạc nhiên về con người và sự nghiệp của ông. Borodin là một nhà hóa học nổi tiếng với những đóng góp quan trọng trong lịch sử hóa học, nhưng đôi khi người ta lại biết đến nhà soạn nhạc Borodin nhiều hơn, một nhà soạn nhạc với nhiều tác phẩm nổi tiếng vẫn được trình diễn và thu âm thường xuyên. Năm 1955, nhóm Tứ tấu Giao hưởng Moscow đổi tên thành nhóm Tứ tấu Alexander Borodin để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với nhà soạn nhạc, một trong những người sáng lập nền âm nhạc thính phòng Nga. Nhóm Tứ tấu Borodin rất nổi tiếng này đã từng cộng tác mật thiết với Dmitri Shostakovich và nhiều lần biểu diễn cùng huyền thoại piano Sviatoslav Richter.  Tham khảo  Grove Music Online  http://www.geocities.com  Russian Masters 1, Abraham G, Lloyd-Jones D, Macmillan, 1986  Borodin – the composer and his music, Abraham G, William Reeves, 1927  Aleksandr Borodin: Chemist and Composer, Hunt C, Chemistry in Britain, June 1987, pp547  Aleksandr Porfir’yevich Borodin, Kauffman G, Education in Chemistry, September 1987, pp139  Full-Time Chemist, Part-Time Musician, White A, Journal of Chemical Education, April 1987, pp326  Anecdotes on Elgar, Hunt C, Chemistry in Britain, March 1987, pp209  (Xem thêm tiểu sử âm nhạc của A. Borodin tại http://www.classicalvietnam.info)  Trần Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Alexander Fleming tìm ra Penicillin như thế nào?      Năm 1928, nhà vi trùng học Alexander Fleming có một phát hiện đột phá từ một chiếc đĩa petri[1] đã bị nhiễm bẩn. Ông nhận ra loại nấm mốc xâm nhiễm làm hỏng thí nghiệm ông tiến hành trước đó là một chất kháng khuẩn cực mạnh: penicillin. Nhờ khám phá đó mà sau này Fleming được vinh danh khi hơn một thập kỷ sau con người biến penicillin thành thứ thuốc thần kỳ của thế kỷ 20.     Một buổi sáng tháng Chín năm 1928, Alexander Fleming ngồi bên bàn làm việc ở bệnh viện St. Mary sau khi trở về từ kỳ nghỉ cùng gia đình ở nông thôn. Trước khi đi nghỉ, Fleming đã dồn đống đĩa petri của mình sang một bên để vị đồng nghiệp Stuart R. Craddock có thể dùng chiếc bàn làm việc khi ông không có ở đó. Trở về từ chuyến đi, Fleming dọn dẹp đống đĩa bị bỏ bê lâu ngày để xem chiếc nào còn dùng được. Rất nhiều đĩa đã bị nhiễm bẩn. Fleming đặt đống đĩa lớn này vào một khay nước rửa Lysol.   Công việc của Fleming chủ yếu tập trung vào mục tiêu tìm kiếm một thứ “thần dược”. Tuy khái niệm vi khuẩn đã phổ biến từ khi được Antonie van Leeuwenhoek mô tả lần đầu năm 1683 nhưng mãi đến cuối thế kỷ 19, Louis  Pasteur mới chứng minh được rằng vi trùng gây bệnh. Nhưng dù con người đã có những hiểu biết này, vẫn chưa ai tìm ra được thứ thuốc có thể diệt vi trùng gây bệnh mà không làm hại cơ thể người.   Năm 1922, Fleming có một phát hiện quan trọng, đó là lysozyme. Khi đang nghiên cứu một số vi khuẩn, Fleming bị sổ mũi và làm rơi một số giọt chất dịch vào một đĩa thí nghiệm, khiến vi khuẩn bị tiêu diệt. Fleming phát hiện ra rằng chất tự nhiên có trong nước mắt hoặc dịch mũi có thể giúp cơ thể chống lại vi trùng, và dẫn tới nhận thức rằng có thể tìm được các chất diệt khuẩn không gây hại cho cơ thể người.  Vào buổi sáng tình cờ trong năm 1928 đó, khi Fleming đang thu xếp đống đĩa thì một trợ lý cũ của ông là BS Merlin Pryce tới thăm. Fleming tranh thủ kêu ca về khối lượng công việc mà ông phải làm thêm kể từ khi Pryce chuyển đi. Để minh họa, Fleming lục trong chồng đĩa lớn mà ông đã bỏ vào khay nước rửa Lysol và lôi ra vài chiếc vẫn chưa bị nhúng trong dung dịch Lysol (may mắn là chồng đĩa quá lớn nên còn sót những chiếc đĩa bẩn chưa bị dung dịch Lysol tẩy sạch).   Khi nhặt lên một chiếc đĩa để đưa cho Pryce xem, Fleming chợt nhận thấy có gì đó khác thường. Khi ông đi vắng, nấm mốc đã mọc trong đĩa. Bản thân việc đó thì không có gì lạ cả. Tuy nhiên, loại nấm mốc đó dường như đã giết được Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng) trong đĩa. Và ông nhận ra rằng loại nấm mốc này có tiềm năng diệt khuẩn.           Năm 1999, tạp chí Time xếp Fleming trong số 100 người quan trọng nhất của Thế kỷ 20, và viết về khám phá của ông như sau:              Đó  là một khám phá làm thay đổi lịch sử. Hoạt chất trong nấm mốc mà  Fleming đặt tên là Penicillin, là một chất chống viêm nhiễm có dược tính  rất mạnh. Sau khi cuối cùng được con người nhận ra là dược liệu cứu  mạng hữu hiệu nhất trên thế giới, penicillin đã vĩnh viễn thay đổi cách  điều trị nhiễm khuẩn. Tới giữa thế kỷ, khám phá của Fleming đã tạo dựng  ra một ngành công nghiệp dược liệu khổng lồ, với những loại penicillin  nhân tạo giúp chinh phục các tai họa cổ xưa nhất của nhân loại, trong đó  có các chứng giang mai, hoại tử, lao phổi.          Fleming bỏ ra vài tuần lễ để trồng thêm nấm mốc và cố gắng xác định chính xác chất nào trong nấm đó đã giết được vi khuẩn. Sau khi trao đổi với chuyên gia về nấm mốc C. J. La Touch, người có văn phòng nằm ngay dưới phòng thí nghiệm của Fleming, hai người xác định nấm đó là Penicillium. Vì vậy, Fleming đặt tên chất kháng khuẩn trong nấm đó là penicillin.   Nhưng loại nấm đó từ đâu ra? Nhiều khả năng là từ phòng của La Touche ở tầng dưới. La Touch lúc ấy đang thu thập một số lượng lớn các mẫu nấm mốc cho John Freeman, người đang nghiên cứu bệnh hen suyễn, và có lẽ là một vài mẫu nấm đã bay vào phòng thí nghiệm của Fleming.   Fleming tiếp tục thực hiện hàng loạt thí nghiệm để xác định hiệu quả của nấm mốc đó trên các vi khuẩn có hại. Ngạc nhiên làm sao, phần lớn vi khuẩn bị tiêu diệt. Thế rồi Fleming tiến hành những thí nghiệm tiếp theo và thấy rằng loại nấm đó không độc.     Đây có phải “thần dược” không? Với Fleming thì không. Dù thấy được tiềm năng của nó nhưng Fleming không phải là nhà hóa học nên ông không thể tách được hoạt chất kháng khuẩn penicillin và không thể giữ nó hoạt động đủ lâu để có thể dùng trên cơ thể người. Năm 1929, Fleming viết một báo cáo về các kết quả của mình nhưng không được cộng đồng khoa học quan tâm.     Mười hai năm sau  Năm 1940, năm thứ hai của Đệ Nhị Thế chiến, hai nhà khoa học của Đại học Oxford là Howard Florey người Úc và Ernst Chain người Đức tị nạn đang nghiên cứu một số dự án rất hứa hẹn về vi trùng học. Họ dự định dùng những nghiên cứu về hóa học để thúc đẩy các dự án này, trong đó có dự án về penicillin.Với các công nghệ hóa học mới của thời đó, họ đã sản xuất được một thứ bột màu nâu có thể giữ tính kháng khuẩn hơn vài ngày. Họ thí nghiệm và thấy rằng thứ bột này an toàn.    Vì chiến trường đang cần thuốc nên việc sản xuất đại trà bắt đầu rất nhanh. Nhờ vậy, trong Đệ Nhị Thế chiến, Penicillin đã cứu vô số mạng sống. Không có nó, những người bị thương, dù rất nhẹ, cũng có thể chết vì nhiễm trùng. Ngoài ra, Penicillin còn chữa được cả bạch hầu, hoại tử, viêm phổi, bệnh giang mai và bệnh lao.   Tuy Fleming phát hiện ra Penicillin nhưng chính Florey và Chain mới là những người biến nó thành sản phẩm hữu ích. Fleming và Florey đều được phong tước Hiệp sĩ năm 1944 và cả ba người (Fleming, Florey và Chain) cùng nhận giải Nobel năm 1945 về Y học, trong đó Fleming được ghi công là đã tìm ra penicillin.     —     [1] Đĩa dùng để cấy vi khuẩn          Hoàng Minh dịch theo   http://history1900s.about.com/od/medicaladvancesissues/a/penicillin.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Alexandre Grothendieck: Thiên tài kỳ lạ nhất của Thế kỷ 20      Ngày 12 tháng 11 năm 2014, người ta đưa một cụ già yếu đến kiệt sức vào bệnh viện của thị trấn Saint-Girons, một thị trấn nhỏ nằm sâu trong khu vực núi Pyrénées thuộc tỉnh Ariège (Pháp). Ngày hôm sau, tức 13 tháng 11 năm 2014, ông cụ qua đời. Sau đó người ta mới được biết rằng đó là nhà Toán học vĩ đại Alexandre Grothendieck. Ông thọ 86 tuổi.      Grothendieck trong chuyến sang Việt Nam, cùng với các học trò của mình trong rừng. GS. Hoàng Xuân Sính áo trắng, tóc ngắn. Ảnh: Wikimedia.    Báo Libération ngày 14 tháng 11 năm 2014 chạy tít: Alexandre Grothendieck, hay là cái chết của một nhà Toán học thiên tài muốn được lãng quên.  Kèm theo là bài của ký giả-nhà văn Philippe Doutroux, trong đó có đoạn: Alexandre Grothendieck qua đời hôm thứ năm tại bệnh viện Saint-Girons (Ariège), thọ 86 tuổi. Một cái tên quá phức tạp để nhớ, một con người nhiều lần quyết định tự xóa tên mình và bảo mọi người hãy xóa tên mình cùng tất cả những gì mình đã làm để khi chết không còn dấu vết trên thế gian. Nhưng con người này quá lớn, nhà Toán học này quá quan trọng làm sao có thể tự xóa tên hay người khác xóa tên được.  Để phần nào hiểu được vì sao ông, một nhà toán học đẳng cấp, được xếp ngang với Albert Enstein, lại được cho là một con người kỳ lạ, nếu không muốn nói là kỳ dị, Tia Sáng trích phần 5 và phần 7 trong bài viết của tác giả Lê Quang Ánh: Một thiên tài Toán học kỳ lạ nhất của Thế kỷ 20 Alexandre Grothendieck.  Thay đổi sau chuyến thăm Việt Nam  Năm 1965, chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang, Mỹ đổ quân vào miền Nam và ném bom miền Bắc để làm suy yếu quân miền Bắc – thời gian này đang xâm nhập miền Nam ngày càng nhiều. Phong trào chống chiến tranh trong giới sinh viên và trí thức lan tràn ở nhiều đô thị Mỹ.  Giới trí thức khuynh tả ở Pháp cũng tham dự phong trào này không kém phần tích cực. Trong số những người cầm đầu có Laurent Schwartz, giáo sư đỡ đầu của Grothendieck ở Nancy, một người Trotskiste cũ. Grothendieck theo hướng đi của Schwartz nhưng tích cực hơn, ông ủng hộ Bắc Việt bằng nhiều hành động cụ thể Tháng 11 năm 1967 ông qua Bắc Việt, rồi ông mở lớp giảng bài cho Đại học Hà Nội đang sơ tán trong rừng. Trở về Paris, ông lên án Mỹ sử dụng bom bi và bom napal trong những trận oanh tạc Bắc Việt khốc liệt1. Ông lên án giới khoa học đã tiếp tay tạo nên những phương tiện tàn ác này. Ông bán chiếc huy chương Fields của ông để góp phần gây quỹ “Một tỷ cho Việt Nam”. Ông tuyên bố từ đây về sau ông chỉ tham dự những cuộc hội thảo, hội nghị, tổ chức Toán học nào không có sự trợ giúp của giới quân sự hoặc có dính dáng đến tài chính của Bộ Quốc phòng.  Năm 1968 phong trào sinh viên ở Pháp nổ ra, lúc đầu ở Paris, sau lan dần đến các trung tâm đô thị khác, càng ngày càng đông. Lúc đầu họ chống lại sự cải tổ đại học, sau họ chống chiến tranh, tạo thành một phong trào xã hội sâu rộng. Grothendieck tham dự tích cực, sôi nổi. Năm 1969, giữa thời kỳ đang hoạt động Toán học sung mãn, Grothendieck bỗng nhiên tuyên bố ngưng nghiên cứu Toán học lý thuyết để chuyển sang nghiên cứu sinh vật học phân tử, dưới ảnh hưởng của Mircea Dumitrescu, một nhà sinh vật học và cũng là bạn thân của ông. Dự định của Grothendieck là phát triển những mô hình Toán học ứng dụng cho ngành sinh vật học (G. Bringuier, 20152).  Sau đó, khi biết được rằng Viện Nghiên cứu khoa học cao cấp (IHES) có nhận tài trợ của Bộ Quốc phòng và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – mặc dù không là bao nhiêu, chỉ khoảng 5% ngân sách của Viện – nhưng Grothendieck tỏ ra tức giận. Ông buộc Giám đốc sáng lập Viện là Motchane ngưng nhận khoảng trợ cấp ấy tức thì hoặc phải từ chức. Thái độ của ông được cho là không khoan nhượng. Một số đồng nghiệp của ông cũng phản đối nhưng với thái độ chừng mực. Người ta không hiểu được tại sao tính khí Grothendieck có nhiều thay đổi đến như vậy. Ông có thể có lập trường thân cộng sản sau lần đi Việt Nam trở về? Hay là cảm thấy đỉnh cao đã đạt được và thời kỳ vàng son của mình đã hết? Ông chỉ mới 42 tuổi ở thời điểm ấy mà thôi.  Ông từ bỏ Viện IHES ra đi vào tháng 9 năm 1970 cùng với một đồng viện, đó là nhà Toán học Claude Chevalley, một trong những sáng lập viên của nhóm Bourbaki. Và cũng chính vào năm 1970, ông từ bỏ việc nghiên cứu Toán học, ông từ bỏ sinh hoạt với nhóm Bourbaki và để lại đó một số phê bình với thái độ bất hòa.3  Quay lưng lại với thế giới Toán học, một bầu trời mới mở ra trước mặt ông. Ông ví ông như một người đi xe đạp lên đèo. “Lên đến đỉnh, một khung cảnh mênh mông chợt hiện ra trước mắt. Bây giờ tôi có cả một không gian rộng và có cả tự do nữa.” (Récoltes et Semailles).  Jean-Pierre Serre vẫn luôn là người bạn và người đàn anh tốt bụng của ông. Thấy Grothendieck rời khỏi Viện IHES, ông vận động đưa Grothendieck về Collège de France. Đây không hẳn là một viện nghiên cứu, cũng không phải là một trường đại học, Collège de France được thành lập từ năm 1530, đây là nơi các giáo sư uy tín nhất được mời đến để trình bày những kiến thức chuyên môn của mình cho một cử tọa có trình độ cao tự do tham dự. Collège de France là niềm tự hào của môi trường trí thức của nước Pháp. Nhưng thay vì thuyết trình về những chủ đề Toán học mới nhất và ưng ý nhất của mình, ông lại nói chuyện về chiến tranh và hòa bình. Ông lên án chính quyền và giới quân sự. Ông nêu vấn đề “có nên nghiên cứu khoa học không?” Lập trường của ông là không vì khoa học là phương tiện nguy hiểm cho những phe phái hiếu chiến, xâm lược. Hết hợp đồng hai năm, ông buộc phải rời nơi này vì ở đây không phải là nơi ông thuyết giảng chính trị.  Vào năm 1970, phong trào Hippy ở Mỹ lan rộng trong giới trẻ, nhất là ở các trường đại học. Họ chống chiến tranh, bảo vệ môi trường, cổ vũ cho một cuộc sống tự do gần với thiên nhiên. Theo ảnh hưởng này, Grothendieck khởi xướng tại một hội nghị Toán học ở Motréal, Canada, một nhóm hoạt động theo xu hướng sinh thái (ecology) mang tên là Survivre et vivre (Sống còn và sống), có sự tham dự của hai nhà Toán học tên tuổi là Claude Chevalley và Pierre Samuel.  Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1971, ông được một số trường đại học lớn ở Canada và Mỹ mời sang. Đầu tiên là Queen University ở Ontario, Canada. Ở đây ông giảng dạy Hình-Đại số, nhưng mục đích thầm kín là kiếm tiền nuôi nhóm Survivre et vivre. Mặc dù tên tuổi của ông rất lớn nhưng số sinh viên theo học ông không có là mấy. Ngoài ra do hoạt động chính trị của ông không phù hợp với mục đích của trường, ban Giám đốc nhà trường cho ông chấm dứt công việc (vẫn để ông cư ngụ trong trường). Người ta nói rằng ông bỏ ra đi ngay trong giá lạnh.  Rồi ông sang Mỹ. Ông đến Đại học Stanford, Berkeley, UCLA, New Jersey, New York. Ở Đại học Rutgers (vùng Tây-Nam New York) ông gặp cô sinh viên Toán tên là Justine Skalba. Hai người như bỗng nhiên như tìm được một nửa của mình. Justine theo Gothendieck về Pháp. Ông viết trong hồi ký rằng “Đó là kết quả quan trọng nhất trong chuyến đi Mỹ vừa qua.”  Ẩn sĩ trong rừng sâu  Một hôm khoảng giữa tháng 8 năm 1991, Grothendieck rời nhà đi đến vùng Carcassonne, một thị trấn cách Toulouse chừng 80 km về phía Đông Nam, tá túc nhà Malgoire, một người bạn gái cũ. Khi người bạn này trở về sau một vài ngày đi vắng, không thấy Grothendieck ở đó nữa, trong sân nhà có thấy một đống tro. Grothendieck đã đốt đi rất nhiều tài liệu cũ cũng như những tài liệu đã viết trong hơn mười năm qua. Tuy nhiên Malgoire cũng đã được ông thông báo đến nhận một số thùng giấy chứa vài chục ngàn trang tài liệu còn lại. Tất cả đều được viết tay trên loại giấy dùng cho máy tính thời thập niên 1980. Hai mươi năm sau, Malgoire tặng số tài liệu này lại cho Đại Học Montpellier. Người ta nói rằng muốn khai thác hết số tài liệu này phải cần vài chục năm, trừ khi có một Grothendieck khác xuất hiện.  Grothendieck lái chiếc Renault 4L về hướng làng Lasserre cách trại tù Le Vernet nổi tiếng chừng 10 km, trại này là nơi cha ông đã bị giam trong chiến tranh. Muốn tới làng ấy còn phải qua một con đường đất ngoằn ngoèo trong rừng rậm của dãy núi Pyrénée thuộc vùng Saint-Girons. Ở đây có chừng hai trăm cư dân sinh sống, xa hẳn thế giới bên ngoài. Căn nhà Grothendick nằm giữa làng, chung quanh phủ cây xanh như bất cứ căn nhà nào khác trong làng ấy. Hình như ông đã có chuẩn bị trước cho cuộc định cư lâu dài này.  Cha xứ làng Lasserre gửi đến Grothendieck một bức thư ngỏ ý muốn được gặp ông như một cư dân mới về làng, ông từ chối. Thái độ lạnh lùng xa cách này làm cho cha xứ nghĩ ngay đến một con người không bình thường, có vấn đề gì đó về tâm trí. Ông trưởng làng và một vài cư dân cũng ngạc nhiên khi thấy người mới đến tuy lịch sự hiền lành nhưng có một cái gì đó khó gần gũi. Grothendieck không để tên mình trước hộp thư gắn trước nhà, thay vào đó một hàng chữ “không tiếp người lạ và quảng cáo.”  Dân làng lo lắng khi thấy ông cho chở tới nhà vài chục lít cồn và vài mét khối củi. Ông giải thích là củi để nấu ăn và sưởi ấm, cồn dùng cho các thí nghiệm thực vật (cây cỏ). Một hôm thấy khói lên quá nhiều từ căn nhà của Grothendieck, người ta gọi xe cứu hỏa tới. Chủ nhà miễn cưỡng cho lính cứu hỏa vào. Không có đám cháy nào, chỉ có củi được đốt quá nhiều trong lò sưởi. Chủ nhà được yêu cầu tuân thủ một số biện pháp an toàn.  Tuy ở tận trong rừng nhưng ở đây vẫn có điện nước và điện thoại. Điện thoại nhà Grothendieck dùng để gọi đi, ít khi ông nhận điện thoại gọi đến. Ông sống thui thủi như một ẩn sĩ. Ngày cũng như đêm, người ta thấy ánh đèn dầu lúc nào cũng leo lét tỏa ánh sáng vàng qua khung cửa sổ. Ông Jean-Claude, người ở căn nhà bên cạnh, được ông nhờ cắt cỏ và chăm bón cây trồng trước nhà với tiền công hậu hĩnh, nhưng không được dùng máy cắt cỏ mà phải cắt bằng liềm. Ông nói ông không chịu được tiếng ồn.  Tuần lễ hoặc hai tuần một lần, ông lái xe xuống tận thị trấn mua thức ăn và vật dụng cần thiết. Năm 1996, ông bị tai nạn, tuy không thương tích gì nặng nhưng xe không sử dụng được nữa, ông chỉ đi bộ quanh quẩn trong làng. Rồi thưa dần, người ta không thấy ông xuống chợ nữa. Một người đàn bà tên là Lambert có cửa hàng ở chợ, mang những gì ông đặt trước đến để của nhà cho ông. Hai người chỉ giao thiệp qua thư từ. Thực phẩm gần như toàn rau củ và trái cây, rau củ được yêu cầu phải có đầy đủ lá và rễ. Tiền ông thanh toán rất hậu hĩnh. Ông đề nghị: 30% cộng thêm với giá tại chợ nếu hàng lấy từ địa phương, 50% cộng thêm nếu hàng lấy từ thị trấn Saint-Girons hoặc Toulouse. Bà Lambert là một người trung thực, bà chỉ lấy bằng giá tại chợ và tiền chuyên chở mà thôi.  Ông đi bộ ra bưu điện tuần hai lần. Cô Pascale, nhân viên bưu điện, là một trong số ít người ở đây tiếp xúc với ông. Cô nói rằng đó là một người tử tế, lịch sự nhưng khó tính. Hai tháng một lần, ông gửi một lá thư cho Tổng thống Pháp, thư được cô Pascale copy để cho ông giữ lại một bản, nếu bản copy ông không hài lòng, ông yêu cầu cô phải làm lại. Dần dần người ta ít thấy ông đi bộ qua làng nữa, thư gởi đi ông chỉ kẹp lại bên ngoài hộp thư thôi. Thỉnh thoảng có người đến làng tìm ông. Người ta thấy ông nói chuyện với người khách, cổng rào vẫn không mở. Một đôi lần con trai ông tìm đến thăm, ông chỉ yên lặng mở cổng. Sau này ông có giải thích trong hồi ký rằng quỉ Satan không cho ông tiếp xúc với ai cả. Từ năm 2006 trở đi, người ta gần như không thấy ông xuất hiện nữa.  Năm 2010, ông ra một bản tuyên bố, nhờ một người học trò cũ tên là Luc Illusie gửi đi các nơi. Dưới đây là bản dịch bản viết tay của ông:  Tuyên bố ý định không cho xuất bản viết bởi Alexandre Grothendieck.  Tôi không có ý định cho xuất bản hoặc tái bản bất cứ công trình hay bài viết mà tôi là tác giả, từ những bài khoa học đến thư từ cá nhân tôi gửi cho bất cứ ai, và bản dịch của tất cả các bài viết ấy, dưới bất kỳ dạng nào, in hoặc điện tử, toàn phần hay là một phần.  Tất cả những phát hành hoặc phân phối những bài viết của tôi trong quá khứ, trong hiện tại hoặc trong tương lai khi tôi không còn sống, trái với ý định tôi đã nói rõ ở trên, đều bị cấm chỉ. Trong khi tôi còn sáng suốt, tôi yêu cầu mọi xuất bản bài vở của tôi có tính cách ăn cướp (ngoại trừ vài hàng trích dẫn) phải có trách nhiệm ngưng và rút ra khỏi dịch vụ thương mại, và yêu cầu các người phụ trách ở thư viện cũng phải có trách nhiệm lấy tất cả tác phẩm của tôi ra khỏi thư viện.  Nếu ý định của tác giả được diễn tả rõ ràng ở đây bị xem thường thì sự xấu hổ và khinh bỉ sẽ đến với những người vẫn cho công bố những gì bị cấm, và cả những người chịu trách nhiệm ở các thư viện (khi mà mọi người được thông báo ý định của tôi).  Làm tại tư gia, ngày 3 tháng 1 năm 2010  Alexandre Grothendieck.  Hình như ông biết những ngày tháng của ông cạn dần. Ông sắp xếp lại nhà cửa gọn gàng ngăn nắp hơn. Những tháng cuối cùng, bên nhà thờ có cử một người qua giúp ông việc nhà. Họ ngạc nhiên thấy sách vở tài liệu của ông được xếp đặt khá ngăn nắp. Các con ông cũng ước tính được tình trạng sức khỏe của ông, chúng đến thăm ông thường hơn. (Quỉ Satan chắc là không ngăn cản nữa!). Chúng tôi mượn lời của hai nhà Toán học David Mumford và John Tate trong bài viết khi Grothendieck qua đời, đăng trong Notices of the AMS (Vol 63) thay cho lời kết:  Mặc dù thế kỷ 20 đã chứng kiến sự trừu tượng hóa và tổng quát hóa của Toán học, nhưng chính Alexandre Grothendieck mới là bậc thầy trong khuynh hướng này. Tài năng độc đáo của ông là loại bỏ tất cả những giả thuyết nào không cần thiết, đào bới vào bên trong vấn đề ở mức độ trừu tượng nhất, khi ấy, như một trò ảo thuật, lời giải những bài toán khó trước đây được làm lộ ra một cách tự nhiên. 4   Chú thích:  1. Từ Hà Nội trở về, Grothendieck mang theo một đôi “dép râu” (làm bằng bánh xe hơi cũ) đa số người Bắc Việt thời ấy vẫn thường mang. Thỉnh thoảng người ta thấy ông mang nó vào các seminar.  2. Georges Bringuier. Alexandre Grothendieck. Itinéraire d’un mathématicienhors normes. Editions Private. 2015.  3. Thật ra André Weil (trưởng nhóm, một trong những người sáng lập ra nhóm Bourbaki) và Grothendieck không thuận nhau từ lâu. Nếu cần trao đổi, tranh luận về một vấn đề Toán học nào đó cả hai cùng quan tâm thì chính Jean-Pierre Serre là người trung gian.  4. Ý của Mumford và Tate muốn nhắc tời hai bài Toán nổi tiếng mà lời giải dựa trên lý thuyết của Grothendieck: Dự đoán Mordell (do Gerd Faltings giải) và Định lý cuối cùng của Fermat (do Andrew Wiles giải).       Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Âm học: Bí mật của cây đàn violon Stradivarius      Hai nhà nghiên cứu Thụy Điển đang hy vọng sẽ vén bức màn bí mật về âm thanh đặc biệt của cây đàn Stradivarius gây mê mệt cho những người yêu âm nhạc và cuốn hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học trong nhiều thế kỷ qua. Hai nhà khoa học Mats Tinnsten và Peter Carlsson thuộc Đại học Mid-Sweden đang sử dụng những mô hình toán học tiên tiến nhất để phân tích âm thanh của những cây đàn violon nổi tiếng do một người Ý có tên Antoni Stradivari làm ra cách đây khoảng 300 năm.    Mục tiêu của nó là làm được một bản sao có thể cho ra các âm thanh như những chiếc đàn villon của Stradivari. “Công việc hiện đang tiến triển theo hướng tích cực và hy vọng rằng chúng tôi có thể có được các bản sao của cây đàn nổi tiếng này trong vòng vài ba năm tới”, Tinnsten nói.  Stradivari đã làm ra được khoảng 1.100 chiếc đàn violon và hiện chỉ khoảng 600 chiếc là còn có thể sử dụng được. Hàng ngàn chiếc đàn violon giả hiệu Stradivari đã được làm ra sau khi ông này qua đời nhưng chất lượng âm thanh của chúng không bao giờ bằng được những chiếc đàn thật. Nhiều người cho rằng sở dĩ những chiếc đàn violon do Stradivari làm ra có âm thanh đặc biệt là nhờ độ tuổi của loại gỗ làm ra đàn hoặc do phương pháp xử lý gỗ đặc biệt của nhà làm đàn tài hoa này.  P.V    Nguồn tin: AP      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấm lên toàn cầu: Giờ G đã điểm…      Trong thông điệp nhân Ngày Môi trường Thế giới 2007, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-Moon nói: “Bằng chứng đáng lo ngại nhất về sự biến đổi khí hậu là ở hai cực của Trái đất. Bắc cực đang nóng lên nhanh gấp hai lần so với mức trung bình toàn cầu. Tuy nhiên, đây không chỉ là vấn đề của vùng cực. Khi mực nước biển dâng lên, cư dân ở những hòn đảo nằm thấp và các thành phố duyên hải trên toàn thế giới sẽ phải đối mặt với nạn ngập lụt”.    Không chỉ là màn kịch  “Ấm lên toàn cầu” ám chỉ việc tăng lên từ từ nhiệt độ bề mặt Trái đất, phát sinh từ việc giải phóng không ngừng của khí nhà kính trong bầu khí quyển. Nhiệt độ trung bình toàn cầu hiện nay là 16.4oC. Một sự thực là, khi nhiệt độ Trái đất nóng lên, dù nước giàu hay nước nghèo đều phải gánh chịu những hậu quả thiên tai nghiêm trọng.                  Châu Âu, mùa hè 2003, những đợt nóng dữ dội chưa từng thấy trong lịch sử kể từ năm 1901 đã giết chết hàng chục nghìn người. Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, cơn bão Katrina đổ bộ vào miền Đông Nam nước Mỹ gây thiệt hại kỷ lục làm hơn 1300 người chết và thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 125 tỷ USD. Trong khi miền Đông Bắc Mỹ, những trận bão tuyết lớn, lạnh buốt trút xuống làm tê cứng các hoạt động của con người. Ngược lại nửa vòng Trái đất, những đợt hạn hán, nóng bất thường trên diện rộng tàn phá mùa màng của Trung Quốc và cả những nước Nam và Đông Nam Á, trong khi tần suất những cơn bão lớn đổ bộ vào bờ biển châu Á và hình thành trên Đại Tây Dương ngày càng tăng. Những nghiên cứu chỉ ra rằng, số lượng những trận bão cường độ mạnh tăng gấp đôi khi Trái đất nóng lên. Phát triển bền vững có nguy cơ bị phá vỡ bởi những diễn biến không theo quy luật của thời tiết. Hàng trăm loài động thực vật đối mặt với nguy cơ xóa sổ khỏi hành tinh. Những khối băng khổng lồ ở hai cực đang dần bị tước đi danh hiệu vĩnh cửu, số lượng chim cánh cụt giảm nhanh chóng. Băng tuyết trên những nóc nhà thế giới như Himalayas, Andes, Alps, Pyrenees… có dấu hiệu tan chảy. Mực nước biển dâng, nhiều khu dân cư, vùng sinh thái dọc bờ biển sẽ bị chìm sâu dưới nước biển.                  Những tác động của khí hậu gây thiệt hại vài chục tỷ USD mỗi năm và để lại phía sau nó là một loạt các hậu quả lâu dài không lường trước được: không khí, nguồn nước ô nhiễm, dịch bệnh lan tràn, tài nguyên bị thu hẹp… Theo TS.Nicholas Stern, chuyên gia hàng đầu của WB, trong 10 năm tới, hậu quả của ấm lên toàn cầu có thể gây thiệt hại cho toàn thế giới khoảng 7000 tỷ USD.    Bàn tay con người  Những hành động của con người là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thay đổi khí hậu toàn cầu trong suốt 50 năm qua và vẫn đang tiếp diễn với mức độ báo động.                  Giống như tất cả những động vật khác, con người tham gia và can thiệp vào chu trình cácbon tự nhiên. Bằng việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, dầu mỏ và khí thiên nhiên, chính con người đang phóng thích vào bầu khí quyển CO2 nhanh hơn rất nhiều những quá trình giải phóng cácbon từ đá và những quá trình tự nhiên khác. Đốt phá rừng để khai thác đất nông nghiệp đã biến cácbon hữu cơ thành CO2. Theo tổ chức ITTO, diện tích rừng thế giới mỗi năm bị thu hẹp khoảng 13 triệu ha. Dường như toàn bộ nền kinh tế toàn cầu đang lăn bánh trên “con đường cácbon”. Trong 20 năm qua, con người đã đốt cháy hàng tỷ tấn nhiên liệu hóa thạch. Những nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch giải phóng khoảng 66%, nông nghiệp 20% và thay đổi sử dụng đất 14% tổng lượng khí nhà kính trong khí quyển,  Có nhiều khí, cả thiên nhiên và nhân tạo, tham gia làm tăng hiệu ứng nhà kính gây nên sự nóng lên toàn cầu. Hơi nước đóng góp hai phần ba vào hiệu ứng nhà kính. Không chỉ có hơi nước, tiếp theo là CO2. Những khí khác như NO2, CH4, Halocácbon, HFC, CFC cũng tham gia vào hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, một số đối tượng khác phát sinh từ ô nhiễm đô thị cũng tham gia vào sự ấm lên toàn cầu như ozone tầng đối lưu, khói bụi được phóng thích vào không trung từ những thành phố ô nhiễm hoặc những thiên tai tự nhiên như núi lửa. Theo tính toán, CO2 là loại khí đóng góp nhiều nhất vào sự ấm lên toàn cầu với 1.4wat/m2.  Những cường quốc công nghiệp phát triển nhất như Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Trung Quốc là những nguồn thải CO2 và khí nhà kính chính. Đặc biệt là Mỹ, hàng năm nước này thải ra khoảng 25% lượng CO2 so với tổng lượng CO2 thải ra hàng năm trên toàn thế giới.                    Biển cả không hiền hòa  Đại dương đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự cân bằng CO2 trong khí quyển. Lượng CO2 trong khí quyển tăng lên không ngừng do những hoạt động công nghiệp của con người, trong khi đó, một lượng lớn CO2 được nước biển hòa tan và hấp thụ bởi những sinh vật phù du sống gần mặt đại dương. Bởi vậy, việc thay đổi thành phần hóa học, các dòng đại dương và sinh thái biển có thể dịch chuyển quá trình cân bằng này theo hướng bất lợi.                  Trong đại dương tồn tại những dòng hải lưu có tác dụng điều hòa nhiệt độ toàn cầu. Những dòng nước lạnh từ vùng cực chìm xuống, chảy xuyên suốt đại dương về phía xích đạo nơi có nhiệt độ cao hơn. Trong quá trình di chuyển, nó trở nên ấm và loãng hơn rồi sau nổi dần lên bề mặt. Khi đến vùng xích đạo, dòng hải lưu này đổi chiều, chuyển động ngược về vùng cực tạo thành một chu trình và mang theo nhiệt. Những dòng đại dương lưu thông như vậy tạo bởi sự khác nhau về nhiệt độ và độ mặn của nước biển. Nếu không có quá trình này, nhiệt độ ở vùng cực sẽ ngày càng lạnh dần, và vùng xích đạo sẽ trở lên nóng hơn.  Trong khí quyển, những dòng lưu thông khí quyển tạo ra gió, còn dưới đại dương, những dòng hải lưu mang nhiệt từ những vùng nhiệt đới tới vùng cực. Quá trình tương tác giữa khí quyển và đại dương tạo ra những hiện tượng như El Nino có chu kỳ từ 2 đến 7 năm. Trong thời kỳ El Nino, những dòng hải lưu ấm và gió ở Thái Bình Dương hướng về Nam Mỹ tạo ra những biến đổi khí hậu liên lục địa, gây nên nhiều hạn hán và nắng nóng ở những nước đông bán cầu như Philipines, Indonesia, Úc, Việt Nam… trong khi những quốc gia ở bờ biển Nam Mỹ lại hứng chịu những trận mưa dữ dội. Ngược lại với El Nino, La Nina lại mang theo dòng nước lạnh. Những năm La Nina xuất hiện, những trận mưa với lưu lượng lớn, kèm theo đó là những cơn bão và lốc xoáy có sức tàn phá ghê gớm hình thành, nhất là ở khu vực Đại Tây Dương. Cả El Nino và La Nina tạo ra sự thay đổi khí hậu toàn cầu và gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.  Do vậy, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ những dòng hải lưu cũng có thể tác động ghê gớm đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu.  Khi nước biển dâng cao                  Đại dương bao phủ 71% diện tích bề mặt Trái đất. Khi nhiệt độ Trái đất tăng, những dòng sông băng và cả những núi băng vùng cực tan chảy, nước ở những đại dương giãn nở là nguyên nhân làm mực nước biển tăng lên. Ở Bắc Cực, diện tích băng đã giảm 12% trong suốt 30 năm qua do nhiệt độ ở đây đã tăng lên khoảng gần 3oC. Còn ở Nam Cực, những bức ảnh vệ tinh mới đây chỉ ra rằng, diện tích những lớp băng vĩnh cửu đang dần thu hẹp lại cùng với sự tan chảy nhanh chóng của nhiều dòng sông băng. Một điều nguy hại nữa xảy ra bởi một lượng lớn khí CH4 được giải phóng bổ sung vào khí nhà kính khi những lớp băng bề mặt tan. Trong thế kỷ 20, nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái Đất tăng 0.6oC, nhưng theo những dự báo gần đây, nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái đẩt có thể tăng 1.4¬_5.8oC đến năm 2100. Theo IPCC, nếu nhiệt độ nước biển tăng từ 1.5-4.5oC sẽ làm cho mực nước biển dâng cao 15-90cm.  Những nghiên cứu mới đây cho thấy các đại dương đang ấm lên và sự ấm lên này tiếp tục xảy ra trong nhiều thế kỷ tới. Ngày nay, trung bình mỗi năm mực nước biển tăng lên khoảng 0.4cm. Những tác động của mực nước biển có thể làm biến mất nhiều vùng sinh thái ven biển, ngập lụt các thành phố, nhiều khu dân cư phải sơ tán… Những nước giàu có thể đối phó với tác động của đại dương, nhưng với những nước nghèo thì không có đủ điều kiện để xây dựng những hệ thống bảo vệ bờ biển và những cơ sở hạ tầng khác để đối phó.  Theo dự đoán, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, Bangladesh sẽ mất 17.5% diện tích, đe dọa đến những loài động thực vật ven biển và nguồn nước sạch. Hà Lan cũng sẽ hứng chịu một hậu quả tương tự với sự biến mất khoảng 6% diện tích. Ấn Độ và Trung Quốc cũng phải đối mặt với nguy cơ này trong 50 năm tới. Đáng lo ngại, theo thông báo của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi nước biển dâng cao. Cũng theo tổ chức này, 12.3% diện tích đất trồng trọt và kèm theo đó gần 1/5 dân số sẽ mất nhà cửa nếu mực nước biển dâng cao 1 mét. 80% diện tích của đảo Majuro Atoll ở Thái Bình Dương bị ngập chìm dưới nước nếu mực nước biển dâng cao 0.5 mét. Ngoài ra, rất nhiều hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương như Maldives và French Polynesia có nguy cơ biến mất nếu mực nước biển tiếp tục dâng cao.  Có khoảng 13 trong số 15 thành phố lớn nhất thế giới như New York, Tokyo… và rất nhiều thành phố nhỏ khác nằm dọc bờ biển có nguy cơ ngập lụt khi nước biển dâng. Hơn một thế kỷ qua, xấp xỉ 70% diện tích đất ven biển bị xâm thực do mực nước biển dâng cao và xói mòn.  Và…  Đối với sức khỏe con người, tác động của thay đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm cho mùa hè và mùa đông trở nên nóng hơn, tạo điều kiện cho nhiều bệnh mới phát sinh, dịch bệnh lan tràn, nhiều loại bệnh cũ bùng phát trở lại. Theo dự đoán, nếu nhiệt độ toàn cầu tăng 3-5oC, mỗi năm trên thế giới sẽ có khoảng từ 50-80 triệu người rơi vào tình trạng nguy hiểm của bệnh sốt rét. Chất lượng không khí, nguồn nước sinh hoạt giảm, những thành phố lớn với mức độ ô nhiễm đáng báo động sẽ là nguyên nhân cho những bệnh liên quan đến hô hấp và truyền nhiễm phát triển như SARS… Tổ chức Sức khỏe Thế giới cảnh báo, ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mỗi năm có khoảng 10,000 người chết dotác động của nóng lên toàn cầu và khoảng 800,000 người trên thế giới chết liên quan đến ô nhiễm.  Đối với hệ sinh thái biển, CO2 được hấp thụ bởi đại dương tạo thành axit loãng, và điều này gây nguy hại cho những dải san hô ngầm và những sinh vật biển vỏ cứng. Sự tăng hiệu ứng nhà kính trong cuộc cách mạng công nghiệp đã làm giảm nồng nộ PH của nước biển. Năm 1998 được ghi nhận là năm nóng nhất đã làm chết khoảng 16% san hồ ngầm trong các đại dương. Hiện tượng trắng hóa tăng nhanh đối với những dải san hô ngầm ở nhiều vùng biển trên thế giới là lời cảnh báo về sự thay đổi hệ sinh thái biển. Trên đất liền, vào nửa cuối của thế kỷ này, những hệ sinh thái trở thành một nguồn cácbon hơn là một nguồn hấp thụ. Các nhà nghiên cứu dự đoán, khoảng 20-30% số loài phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ Trái đất tăng lên 1.5-2.5oC so với năm 1990.  Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nguồn nước ô nhiễm, hạn hán và bão lụt tàn phá gây thiệt hại nghiêm trọng đối với vấn đề lương thực. Con đường xóa đói giảm nghèo bị cản trở. Những nước đang phát triển có thể bị thiệt hại hàng trăm triệu tấn lương thực. Nền nông nghiệp ở Brazil, Trung Quốc, những quốc gia Đông Nam Á, và một phần châu Phi được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.    “Giờ G” đã điểm  Công ước khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu kí kết năm 1992 và Nghị định thư Kyoto ra đời năm 1997 là điểm nhấn khởi đầu cho hành động của con người, trước khi thế giới chạm đến điểm không thể đảo ngược của sự ấm lên toàn cầu. Nghị đinh thư Kyoto đã bao phủ hơn 160 quốc gia với việc ban hành cắt giảm 7% khí nhà kính đến năm 2012 với mục tiêu hạn chế việc giải phóng một cách tối thiểu nhằm ổn định khí nhà kính. Đáng lo ngại, những nền kinh tế công nghiệp lớn ngày càng giải phóng lượng khí thải vào bầu khí quyển với mức độ báo động. Cũng theo nghị định này, những quốc gia công nghiệp phải giảm thiểu phát xạ khí nhà kính 5.2% so với năm 1990. Tuy nhiên, con số này có thể thay đổi tùy thuộc vào “khả năng” giải phóng khí nhà kính của từng quốc gia. Cơ chế phát triển sạch (CDM) trong Nghị định thư Kyoto tạo một chế tài mềm dẻo cho những nước công nghiệp phát triển. Theo đó, những quốc gia này có thể giữ nguyên lượng khí thải nhưng buộc họ phải đầu tư tài chính cho những nước nghèo để họ trồng rừng, phủ cây xanh sao cho lượng CO2 được hấp thụ bằng với lượng CO2 mà họ phải cắt giảm.  Theo các nhà nghiên cứu, các nước buộc phải ổn định lượng khí nhà kính trong vòng tám năm tới để hạn chế những tác động khôn lường của thay đổi khí hậu toàn cầu. Ban đầu, một số nước “chạy” trên nền kinh tế công nghiệp như Mỹ định bãi bỏ Nghị định thư Kyoto do lo sợ sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Theo thông báo mới đây, Trung Quốc đang vượt Mỹ trong việc thải ra CO2 và những khí nhà kính khác, bởi vì than đá vẫn là nguồn nguyên liệu chính của quốc gia này.  Tại hội nghị thượng đỉnh G8 lần thứ 33, có 8 nước thành viên và 5 quốc gia khác là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Mexico và Nam Phi đã đưa ra mục tiêu đến năm 2050 khí nhà kính phải được cắt giảm xuống 50% so với hiện nay để nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2oC. Nghị định thư Kyoto có hiệu lực đến năm 2012, vì vậy các nước thành viên đều mong muốn thiết lập một hiệp định mới thay thế. Các nhà lãnh đạo G8, đều nhấn mạnh rằng, năm 2008, những quốc gia giải phóng khí thải nhiều nhất phải ngồi lại cùng nhau để thống nhất mục tiêu chung, bởi vì nhiều thỏa thuận nhằm ổn định và kiểm soát sự nóng lên toàn cầu chưa được thống nhất. Đặc biệt, Trung Quốc và Ấn Độ được coi là chìa khóa để chữa trị căn bệnh nan y ấm lên toàn cầu và kêu gọi, cần đưa cho hai quốc gia này cơ hội để hướng tới một mục tiêu toàn cầu chung.  Để hạn chế sự ấm lên toàn cầu, các quốc gia cần phải hạn chế và quản lý chặt chẽ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và những khí nhà kính khác. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng những loại nhiên liệu sạch mới thân thiện môi trường như nhiên liệu hydrogen cũng như nhiều nhiên liệu xanh và nhiên liệu tái sinh khác. Quản lý và bảo tồn rừng, đất nông nghiệp, nguồn nước và những hệ sinh thái là động thái quan trọng cho phát triển bền vững bảo vệ hành tinh khỏi thảm họa thay đổi khí hậu.  Nguyễn Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn đậu chống được ung thư?      Các nhà khoa học Anh cho rằng một chế độ ăn uống bao gồm nhiều đậu, các loại hạt và ngũ cốc có thể giúp bạn chống được ung thư.      Các loại thức ăn này có chứa một hợp chất chống ung thư rất hiệu nghiệm và nó có thể chặn đứng được một loại enzyme chủ chốt trong quá trình phát triển các khối u. Đây là một khám phá vừa được các nhà khoa học thuộc trường Đại học College Luân Đôn công bố. Thử nghiệm ở chuột cho thấy ăn nhiều đậu, hạt và ngũ cốc giúp ngăn chặn được sự phát triển của các khối u buồng trứng và phổi.   Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng phát hiện mới này sẽ giúp con người điều chế được hợp chất để sản xuất ra các loại thuốc chống ung thư trong tương lai.   (BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ: Phát triển kinh tế trên nền tảng KH&CN      Ngày nay, Ấn Độ được xếp vào một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới với GDP đạt 8.8%. Chính phủ đất nước Nam Á này đang đẩy mạnh hợp tác khoa học và công nghệ như là hai công cụ giúp đem lại công bằng xã hội và phát triển kinh tế hiện thực hóa ước mơ trở thành nước phát triển vào năm 2020. Điều này thể hiện qua chính sách liên quan đến khoa học công nghệ ngay từ năm 1958 với định hướng chính là: Nuôi dưỡng, thúc đẩy và duy trì những hạt giống khoa học trong nước và bảo đảm đem lại cho người dân tất cả lợi ích thu được từ việc tiếp nhận và ứng dụng tri thức khoa học”.    Khoa học công nghệ là sức mạnh  Nhờ vào những chính sách và định hướng khoa học công nghệ đúng đắn, Ấn Độ đã trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ hai, sản xuất lúa mì và sữa lớn thứ tư trên thế giới. Bước đột phá trong công nghệ không gian và những ứng dụng rộng rãi của nó trong thông tin liên lạc, truyền hình, dự báo thời tiết, quản lý thiên tai và những nguồn tự nhiên đã trở thành sự thèm muốn của cả thế giới. Ngành công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm Ấn Độ đã nổi lên như một lĩnh vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất. Những tiến triển trong công nghệ hạt nhân cũng là một thành quả đầy ý nghĩa đối với quốc gia này. Gần đây, Ấn Độ cũng đã đạt được những dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực công nghệ sinh học, điện thoại di động, luyện thép và một vài lĩnh vực chế tạo lựa chọn khác. Chính vì vậy, đất nước Nam Á này đã và đang đầu tư mọi khả khăng vào nghiên cứu khoa học. Cụ thể, Ấn Độ đã tăng ngân sách cho nghiên cứu khoa học và công nghệ hàng năm lên 16%. Trong những năm qua, chính phủ đã đầu tư hỗ trợ nghiên cứu cơ bản cho 1280 dự án, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của 200 phòng thí nghiệm và 220 trường đại học cùng với việc xây dựng thêm 20 trung tâm nghiên cứu mới. Khoảng 85% ngân sách cho khoa học và công nghệ được cung cấp chủ yếu bởi Chính phủ dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.                   Những chương trình và chính sách nhằm gia tăng khả năng khoa học công nghệ của Ấn Độ được thực hiện thông qua 5 bước: Xây dựng cơ sở hạ tầng; Định hướng lại; Thúc đẩy công nghệ trong nước; Hướng tới sự tự do kinh tế; Khoa học và công nghệ trong tự do kinh tế. Để tạo mọi điều kiện cho phát triển khoa học và công nghệ, các thủ tục hành chính, quy định của Chính phủ được nới lỏng và trở nên linh động với mục đích mở ra một lộ trình mới cho nền khoa học của đất nước này đi lên, hỗ trợ một cách tối ưu nhất cho các nhà khoa học để họ có thể phát triển ở ngay tại đất nước thay vì theo đuổi sự nghiệp ở nước ngoài. Chảy máu chất xám không còn là vấn đề đáng lo ngại. Trong những năm qua, với những chính sách sử dụng nhân tài đúng đắn đã kéo hơn 30,000 nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu trở về quê hương. Những tài năng trẻ Ấn Độ đã chọn con đường trở về đại bản doanh công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm ngay trên quê hương mình và không hề có ý định quay trở lại theo đuổi sự nghiệp ở những nước phương Tây. Không chỉ có thế, nhiều sinh viên giỏi các nước đang theo học ở những trường đại học hàng đầu thế giới cũng đều muốn chọn Ấn Độ như là một nơi lý tưởng để thực tập và tích lũy kinh nghiệm.                     Chính phủ Ấn Độ đang ưu tiên và gia tăng tiềm lực tập trung vào những mũi nhọn chiến lược như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, nghiên cứu không gian, năng lượng hạt nhân để phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh, thực hiện hóa ước mơ trở thành một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2020.     Công nghệ thông tin Ấn Độ  Tương lai của Ấn Độ thuộc về công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất của nền công nghiệp Ấn Độ. Nó tăng trưởng với một nhịp độ ổn định từ vài năm trước và mang đến việc làm cho một lượng lớn lao động. Các lĩnh vực Ấn Độ tập trung làm tiền đề phát triển công nghệ thông tin là tin học sinh học, vi điện tử, công nghệ nano và quang tử.                     Nguồn lao động công nghệ thông tin dồi dào, giá rẻ, trình độ cao, thành thạo tiếng Anh đã thu hút giới đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá, các công ty đa quốc gia có thể tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí khi thuê các kỹ sư phần mềm ở Ấn Độ. Những công ty hàng đầu của Mỹ và châu Âu như Boeing, Daimler Chrysler, DuPont, General Electric, General Motors, Intel, IBM, Microsoft, Siemens, Unilever…đã xây dựng hàng loạt các trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D) ở quốc gia này, biến Ấn Độ trở thành một trong những trung tâm R&D lớn nhất thế giới. Đặc biệt, Bangalore được mệnh danh là “Thung lũng Silicon thứ hai” với sự có mặt của hơn 200 công ty đa quốc gia. Trung tâm công nghệ này đóng góp 36% tổng sản lượng công nghiệp phần mềm của Ấn Độ.  Ngành công nghiệp công nghệ thông tin tiếp tục đánh dấu mức tăng trưởng nổi bật trong suốt khoảng thời gian 2005-2006, ước tính  tăng từ 17 tỷ USD lên 23 tỷ USD (34.54%). Tính đến hết tháng 3 năm 2007, ngành công nghiệp này đạt tăng trưởng 30.7% với tổng giá trị 39.6 tỷ USD. Năm 2008, ước tính 35% xuất khẩu thuộc về lĩnh vực phần mềm và thu hút khoảng 600,000 lao động trẻ với độ tuổi chỉ khoảng 26. Ấn Độ đang nổi lên mạnh mẽ như một thị trường đầy tiềm năng của công nghệ phần mềm thế kỷ 21. Quốc gia này đã bắt đầu trở thành điểm đến đầy hấp dẫn của thế giới trong lĩnh vực công nghệ phần mềm và dịch vụ thông tin, là yếu tố then chốt thu hút giới đầu tư nước ngoài. Chính phủ và Bộ Công nghệ thông tin và Viễn thông Ấn Độ đóng vai trò tiên phong đảm bảo mức tăng trưởng phi thường của công nghiệp thông tin được duy trì. Hiện tại, hơn 100 nước trên thế giới nhập khẩu các phần mềm của Ấn Độ. 25 công ty phần mềm hàng đầu của Ấn Độ đã đạt được những thành quả to lớn xét trên phương diện doanh thu và tư bản hóa thị trường.  Công nghệ sinh học  Tiếp sau công nghệ thông tin, công nghệ sinh học cũng nằm trong lĩnh vực chiến lược mà Ấn Độ tập trung đầu tư phát triển với chủ chương “công nghệ sinh học giúp xoá đói giảm nghèo tiến bước hội nhập”. Lĩnh vực công nghiệp công nghệ sinh học Ấn Độ có được tốc độ tăng trưởng 35% trong suốt bốn năm liên tiếp vừa qua và hướng tới mục tiêu đạt tổng thu nhập 5 tỷ USD vào cuối năm 2010, kèm theo đó là cung cấp khoảng 1 triệu việc làm. Đất nước này đang nổi lên như một người chơi quan trọng trong thị trường công nghệ sinh học toàn cầu.  Đối mặt với nguy cơ thiếu lương thực do dân số ngày càng tăng nhanh, đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp cộng với những rủi ro thiên tai, công nghệ sinh học sẽ đem lại những giải pháp hiệu quả đối với vấn đề an ninh lương thực giúp ổn định và tăng sản lượng nông nghiệp cho khoảng 110 triệu hộ gia đình nông dân Ấn Độ. Một nền nông nghiệp lâu đời, vị trí địa lý có nhiều đặc trưng khí hậu là một lợi thế cho nghiên cứu và phát triển những sản phẩm nông nghiệp đa dạng áp dụng rộng khắp thế giới. Chính phủ Ấn Độ đang tăng cường đầu tư cho sinh học nông nghiệp và tập trung vào những nghiên cứu về cây trồng biến đổi gen.  Với lợi thế dân số, đất nước này ẩn chứa một tiềm năng cho những sản phẩm và dịch vụ công nghệ sinh học y tế. Ngành công nghệ sinh học y tế của Ấn Độ trong những năm gần đây phát triển đặc biệt nhanh chóng. Các nhà khoa học Ấn Độ, thông qua R&D, đã và đang phát triển những phương pháp điều trị mới theo hướng giảm thiểu tối đa chi phí điều trị và thuốc men cho người dân. Số lượng các công ty hoạt động trong lĩnh vực sinh học y tế được xây dựng tăng nhanh, cung cấp một lượng lớn dược phẩm giá rẻ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Quốc gia này đã trở thành nước sản xuất vacxin cho trẻ em lớn thứ hai thế giới và xuất khẩu tới hơn 100 nước. Ngành công nghiệp dược phẩm nước này cũng chiếm giữ khoảng 6 tỷ USD trong tổng tài sản 550 tỷ USD của thị trường công nghiệp dược phẩm toàn cầu.  Nguồn đa dạng sinh học phong phú đã thu hút nhiều công ty công nghệ sinh học. Hiện có khoảng 280 công ty công nghệ sinh học đang đóng đô ở Ấn Độ. Những công ty này có thể dễ dàng tìm kiếm các mẫu vật, tiến hành những nghiên cứu và thử nghiệm một cách hiệu quả. Thị trường thử nghiệm điều trị ở Ấn Độ đã đạt 140 triệu USD vào năm 2006. Những công ty và trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học có thể tạo ra những lợi ích kinh tế từ nguồn tài nguyên sinh học này góp phần phát triển thị trường kinh tế sinh học, đồng thời thu hút một lực lượng lớn lao động bản địa và nhiều tài năng trẻ trong lĩnh vực công nghệ sinh học ở khắp nơi trên đất nước Ấn Độ. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp dẫn đầu về công nghệ sinh học Ấn Độ, năm 2006, tổng giá trị xuất khẩu về công nghệ sinh học đạt 763 triệu USD.    Nghiên cứu không gian                     Nguyên thủ tướng Ấn Độ Atal Behari Vajpayee đã phát biểu “Các nhà khoa học của chúng ta ngày hôm nay đang bàn tới việc bay tới Mặt trăng, và nghiên cứu không gian sẽ trở thành một trong những lĩnh vực then chốt của quốc gia”. Tổ chức nghiên cứu không gian Ấn Độ (ISRO) đang phát triển sứ mệnh không gian hành tinh đầu tiên, tàu quỹ đạo mặt trăng Chandrayaan-1, sẽ được phóng tới Mặt trăng vào đầu năm 2008. Theo kế hoạch, quốc gia này dự tính sẽ phóng tàu không gian thám hiểm Mặt trăng thứ hai Chandrayaan-2 vào năm 2011, một sứ mệnh thám hiểm tiểu hành tinh và sao chổi vào năm 2015 và một sứ mệnh ngoạn mục khác bay tới sao Hỏa vào năm 2019. Những năm trước, cơ quan không gian Ấn Độ cũng đã tuyên bố sẽ đưa nhà du hành đầu tiên lên không gian vào năm 2014. Sứ mệnh này ước tính trị giá 2,2 tỷ USD. Một quan chức kỳ cựu  trong cơ quan này cũng nói, các nhà khoa học Ấn Độ đã thảo luận một sứ mệnh phóng tàu có người lái tới Mặt trăng vào năm 2020.       Ấn Độ đang cùng chạy đua với Trung Quốc trong lĩnh vực thám hiểm không gian. Năm 2003, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Nga, đưa người lên không gian bằng tên lửa đẩy riêng của họ, và Bắc Kinh có kế hoạch đi bộ trong không gian vào năm 2008. Để vươn lên trong cuộc đua này, Ấn Độ liên tục phát triển các tàu vận chuyển mới và phóng vào không gian nhiều vệ tinh đáp ứng các nhiệm vụ trọng yếu của đất nước. Nước này cũng đã gia nhập vào nhóm lựa chọn gồm 6 nước vào năm 1994 khi tàu vận chuyển PSLV hoàn thành sứ mệnh của mình bằng việc đưa vệ tinh IRS-P2 nặng 800 kg lên quỹ đạo. Hàng loạt tàu vận chuyển khác có khả năng mang những vệ tinh có khối lượng lớn hơn lên không gian cũng đã được phát triển như tàu vận chuyển GSLV có khả năng đưa một vệ tinh nặng 2000 kg vào không gian. Tính đến nay đã có rất nhiều vệ tinh cảm biến tầm xa của Ấn Độ đang hoạt động trên quỹ đạo cung cấp một kho tàng dữ liệu phong phú. Quốc gia này đang có ý định phát triển thị trường dữ liệu bán cho các nước. Với sự đầu tư vào phát triển công nghệ vũ trụ, Ấn Độ là quốc gia thứ ba trên thế giới phát triển vệ tinh cảm biến tầm xa riêng của mình.  Ngày nay, các tiện ích của công nghệ vũ trụ của Ấn Độ đã được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, môi trường, quân sự, quản lý tài nguyên, dự báo thời tiết… và trở thành công cụ chủ đạo đưa quốc gia Nam Á này phát triển và hội nhập.  Năng lượng hạt nhân  Là quốc gia châu Á đầu tiên có điện nguyên tử và trở thành thành viên thứ sáu trong Câu lạc bộ hạt nhân thế giới, Ấn Độ đang vững tin thực hiện tầm nhìn chiến lược của mình. Ngày nay Ấn Độ được ghi nhận là quốc gia tiên tiến nhất trong công nghệ hạt nhân và bao gồm cả việc tạo ra vật liệu nguồn. Mục tiêu cốt yếu của chương trình năng lượng hạt nhân của quốc gia này là phát triển và sử dụng nguồn năng lượng này vì mục đích hòa bình. Đặc biệt, để đáp ứng và phục vụ nhu cầu cuộc sống cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, Ấn Độ đã thực hiện tốt chương trình chiến lược sản xuất điện hạt nhân và coi nguồn năng lượng này đóng một vai trò chủ đạo trong vấn đề an ninh năng lượng lâu dài. Hiện quốc gia này có 15 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động trên toàn đất nước cung cấp khoảng 3360 MWe và 8 nhà máy điện hạt nhân khác đang được xây dựng nhằm tăng lượng điện hạt nhân trong những năm tới khoảng 2960 MWe, giảm dần nhập khẩu năng lượng. Thành công này mở ra ước mơ có thể cung cấp khoảng 20000 MWe điện hạt nhân vào năm 2020 bằng việc phát triển nhiều nhà máy điện hạt nhân mới. Theo dự đoán, điện hạt nhân sẽ chiếm khoảng 35% tổng nhu cầu tiêu dùng điện ở quốc gia này vào năm 2050.  Ngoài ra, chương trình năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình của Ấn Độ còn bao gồm việc tạo ra những đồng vị phóng xạ phục vụ cho nông nghiệp, y tế, công nghiệp và nghiên cứu. Ngày nay quốc gia này vững tin làm chủ được công nghệ hạt nhân từ việc tạo nguồn năng lượng bằng phản ứng hạt nhân trong lò đến quản lý rác thải phóng xạ. Các lò phản ứng và máy gia tốc nghiên cứu được thiết kế và xây dựng ngay tại trong nước thay vì phải nhập công nghệ của nước ngoài. Những máy gia tốc ở Calcutta và Mumbai là những phương tiện nghiên cứu quốc gia giúp các nhà khoa học Ấn Độ khám phá những chân trời mới của khoa học.    “Khoa học mang đến hai sự thay đổi lớn cho cuộc sống. Thứ nhất, khoa học là một cách tư duy cải hóa con người. Thứ hai, khi khoa học đã chuyển thành công nghệ, nó có thể mang đến một sự phát triển nhanh chóng cho quốc gia. Đó là lý do tại sao, kể từ năm 1947, khoa học và công nghệ luôn là ưu tiên hàng đầu của tất cả các Chính phủ”.  Thủ tướng Ấn Độ Abdul Kalam  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ: Quy định cải thiện việc nghiên cứu lâm sàng      Ấn Độ đã công bố các quy định mới về thử nghiệm lâm sàng nhằm tăng tốc độ phê duyệt thuốc và loại bỏ yêu cầu về những nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của các loại thuốc đã được các quốc gia khác phê duyệt.      Cơ quan quản lý dược Ấn Độ đã đưa vào áp dụng những quy định mới về thử nghiệm lâm sàng. Nguồn: Frédéric Soltan/Corbis via Getty.  Chính phủ Ấn Độ hy vọng các quy định này sẽ cải thiện lĩnh vực nghiên cứu lâm sàng bởi Ấn Độ là quốc gia có gánh nặng bệnh tật cao.  Vào năm 2013, Ấn Độ đã thắt chặt các quy định về thử nghiệm lâm sàng sau một loạt bê bối liên quan đến những cáo buộc về các thử nghiệm phi đạo đức. Sau khi số lượng nghiên cứu lâm sàng bị suy giảm, Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng một số quy định vào năm 2015. Tuy nhiên các quy định này lại trở nên rời rạc và khó hiểu, theo nhận định của Chirag Trivingi, chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu lâm sàng Ấn Độ – một tổ chức có thành viên là các công ty dược phẩm và các tổ chức nghiên cứu lâm sàng. Ông cho rằng, may mắn là các quy định mới mạch lạc và dễ hiểu hơn.   Các quy định mới cũng đặt ra thời hạn để Tổ chức kiểm soát tiêu chuẩn thuốc trung ương (CDSCO) – cơ quan phê duyệt thuốc, đưa ra quyết định về các thử nghiệm. Cơ quan này sẽ có 90 ngày để quyết định có chấp nhận các đề xuất ứng dụng lâm sàng toàn cầu mà Ấn Độ được chọn là một trong những địa điểm thử nghiệm và 30 ngày với các thử nghiệm trong phạm vi quốc gia. Trước đây, có thể phải chờ sáu tháng mới có được các quyết định như vậy.  Mặt khác, nếu một loại thuốc mới đã được phê duyệt và lưu hành ở Liên minh châu Âu, Anh, Úc, Canada, Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ thì không cần phải tiến hành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III để kiểm tra tính hiệu quả và an toàn của thuốc đối với người dân Ấn Độ. Tuy vậy các công ty dược phẩm vẫn phải tiến hành thử nghiệm sau khi thuốc đã được bán trên thị trường để đánh giá hiệu quả trong dài hạn, được gọi là thử nghiệm lâm sàng giai đoạn IV.  Cơ quan quản lý cũng đưa ra chính sách miễn trừ thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III và IV với các loại thuốc điều trị những bệnh hiếm gặp, có xác suất mắc bệnh cực thấp trong cộng đồng và phác đồ điều trị chưa rõ ràng, vốn đang được gần 500.000 người dân Ấn Độ sử dụng. Các bác sĩ cho rằng chính sách này sẽ cải thiện khả năng tiếp cận các loại thuốc của người dân. Dẫu vậy họ lo ngại: nếu không thực hiện thử nghiệm ở Ấn Độ một số thuốc, chẳng hạn như vaccine uống, thì sẽ không biết được liệu thuốc có hiệu quả với người dân trong nước hay không.  Anant Bhan, một nhà nghiên cứu chính sách y tế ở Đại học Yenepoya ở Mangalore cho biết, chính phủ cho phép các ủy ban đánh giá đạo đức thương mại thử nghiệm lâm sàng sẽ giám sát việc phát triển thuốc. Trước đó, các cơ quan quản lý hạn chế hoạt động giám sát các nghiên cứu tương đương sinh học của các ủy ban đánh giá thương mại. Bhan lo lắng, các ủy ban sẽ tập trung vào những vấn đề lợi ích riêng và sẽ không giám sát nghiêm ngặt các thử nghiệm – một thực tế đã từng diễn ra ở Hoa Kỳ.  Quy định mới cũng điều chỉnh các nghiên cứu liên quan đến con người được thực hiện ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Trước đó, chỉ có những nguyên tắc chung được đặt ra cho các nghiên cứu này.  Từ ngày 15/9/2019, một ủy ban đạo đức do Cục nghiên cứu y tế quản lý sẽ đánh giá các thử nghiệm. Roli Mathur, người phụ trách ủy ban đạo đức sinh học về nghiên cứu y tế thuộc Hội đồng Nghiên cứu y học Ấn Độ cho biết, trước đây, các nhà nghiên cứu không phải chịu sự giám sát này, công việc giám sát thuộc về ủy ban đạo đức mà các trường đại học lập ra. Mathur đánh giá, các quy định mới sẽ đảm bảo quyền lợi, an toàn và phúc lợi của người tham gia, “chất lượng nghiên cứu sẽ tăng lên, đồng nghĩa việc cộng đồng sẽ được hưởng lợi”.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01054-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ sẽ phóng phi thuyền tái sử dụng      Ấn Độ đang lên kế hoạch phóng một con tàu không gian có thể quay trở về Trái đất sau khi hoàn thành sứ mệnh, vào đầu năm 2009.      Tàu tái sử dụng (RLV) có mục đích thử nghiệm khí động học khi bay vượt âm thanh. RLV là nguyên mẫu đầu tiên của tàu con thoi Ấn Độ. Nó sẽ cất cánh giống như một tên lửa, trở về trái đất theo cách của phi thuyền và rơi xuống biển, sau đó có thể tái sử dung. Nó đối lập với các hệ thống phóng tàu đắt đỏ khác mà con tàu phóng đi chỉ một lần duy nhất sau đó sẽ bị hủy luôn.    T.An       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ sẽ trở thành một trung tâm R&D toàn cầu      Cái nắng gay gắt không cản được những dòng người tấp nập trên khắp những con đường. Những đèn hiệu giao thông, những biển báo chỉ đường có mặt ở mọi nơi. Bangalore giờ đây đã mang bộ mặt hoàn toàn mới so với hơn chục năm về trước. Thành phố lớn nhất nhì này của Ấn Độ được thế giới biết đến với một cái tên khác “Thung lũng Silicon thứ hai”.    Sở dĩ Bangalore có được sự phát triển ngoạn mục như vậy là bởi vì hàng trăm công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới đang đổ dồn về đây xây dựng những đại bản doanh thứ hai của mình. Phần lớn những công ty này hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm, còn lại chủ yếu hoạt động về công nghệ sinh học y tế, dược phẩm. Hầu hết những công ty đóng đô ở Bangalore đều xây dựng những trung tâm R&D như là chiến lược để phát huy mọi lợi thế sẵn có. Chỉ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và phần mềm, có thể điểm ra những “người khổng lồ” như Microsoft, IBM, Intel, Google, Yahoo, Adobe…                     Bangalore chỉ là một ví dụ điển hình, nhiều thành phố lớn khác như New Delhi, Hyderabad… cũng đang trở thành điểm dừng chân đầy tiềm năng cho R&D. Không nghi ngờ gì nữa, ngày nay, Ấn Độ đang nổi nên như là một trong những trung tâm R&D hàng đầu thế giới. Giáo sư R A Mashelkar, Tổng giám đốc CSIR, nói, “Chúng ta có thể dự đoán rằng, đến năm 2020, Ấn Độ sẽ trở thành trung tâm sản xuất tri thức số một thế giới”. Quốc gia này đang nỗ lực vươn tới mục tiêu trở thành tâm điểm của các hoạt động R&D toàn cầu và được ghi nhận như là một xã hội tập trung tri thức của thế giới. Sự phát triển nhanh chóng các trung tâm R&D của những công ty đa quốc và cả những công ty bản địa hàng đầu đã dần minh chứng cho nhận định đó. Theo dự đoán, các hoạt động R&D ở Ấn Độ được hy vọng tăng trưởng từ 3.1 tỷ USD năm 2005 lên 6.6 tỷ USD vào năm 2010.  Có nhiều “ông lớn” xây dựng không chỉ một mà nhiều hơn những cơ sở R&D của mình. Chẳng hạn, Microsoft hiện có hai trung tâm R&D là MSIDC ở Hyderabad và MRI ở Bangalore. MSIDC đang là trung tâm dẫn đầu trong việc tạo ta những tài sản trí tuệ từ Ấn Độ, và thực tế nó đã có được hơn 100 bằng sáng chế chỉ trong khoảng thời gian hơn hai năm trước. Những kỹ sư phần mềm trẻ Ấn Độ làm việc ở đây tạo ra nhiều chương trình phần mềm mới và thêm vào nhiều tính năng hiệu quả cho các chương trình phần mềm như Visual Studio, Visual Studio Team System, MS-CRM, Office Live… Giám đốc điều hành MRI P.Anandan nói, “Ấn Độ có một đội ngũ nghiên cứu tài năng hùng hậu và chúng tôi tạo cho họ những cơ hội được làm việc trên những vấn đề đầy hấp dẫn”. Kể từ tháng 3/2007, trung tâm R&D này đã công bố khoảng 60 bài báo trên những tạp chí chuyên ngành quốc tế hàng đầu. “Ấn Độ hiện còn thiếu nhiều tiến sỹ trong lĩnh vực khoa học máy tính và chúng tôi mong muốn làm tăng số lượng này, thúc đẩy tiến hành những nghiên cứu tiên tiến ngay tại Ấn Độ”, ông Ravi Venkatesan, chủ tịch Microsoft Ấn Độ cho biết. IBM cũng đã bắt đầu xây dựng những cơ sở nghiên cứu của mình ở Ấn Độ vào năm 1998. Hiện tại, công ty này có hai trung tâm R&D: một ở Bangalore và một ở Delhi. “Lĩnh vực công nghệ thông tin ở Ấn Độ đã bắt đầu cất cánh 10 năm trước. Chúng tôi hiểu rằng, R&D ở đây là khả năng sáng tạo, và Ấn Độ đang trao cho chúng tôi những tài năng để đổi mới”, Daniel Dias, giám đốc phòng thí nghiệm nghiên cứu IBM Ấn Độ thổ lộ. Những nghiên cứu của IBM tạo ra sự đột phá hơn bất cứ một công ty nào khác trong hoạt động công nghiệp, với trung bình 9.3 bằng sáng chế một ngày. Không chỉ có Microsoft và IBM, những người khổng lồ khác như Intel, GE, Motorola, Nokia, Sony Ericssion…cũng đã triển khai hàng loạt các trung tâm R&D ở khắp các thành phố lớn ở Ấn Độ.  Ngoài công nghệ thông tin, những trung tâm R&D trong lĩnh vực dược phẩm và công nghệ sinh học đang phát triển và mở rộng đặc biệt nhanh chóng. Rất nhiều công ty dược phẩm hàng đầu đã thiết lập các hoạt động nghiên cứu ở đây như Eli Lilly&Co, Merck&Co, GlaxoSmithKline, Novartis, Pfizer… Những công ty này nhận ra rằng, Ấn Độ không chỉ là nơi tiến hành những thử nghiệm lâm sàng, mà còn là nơi thực hiện những nghiên cứu cơ bản. Các hoạt động R&D ở đây vẫn còn mới và cần có thời gian để khai thác triệt để những lợi thế cũng như thúc đẩy thương mại hóa R&D trong lĩnh vực y tế. Các công ty dược phẩm của  Ấn Độ gần đây cũng nhận thấy cần phải tập trung vào R&D, trong đó nhiều công ty sử dụng hơn 8% tổng thu nhập cho nghiên cứu. Tuy nhiên, đầu tư ngân sách của Ấn Độ cho các công ty dược phẩm trong nước còn thấp hơn nhiều so với những công ty dược phẩm nước ngoài. Những công ty dược phẩm lớn của Ấn Độ đang hướng tới trở thành nhà đầu tư R&D chính trong lĩnh vực dược phẩm trong nước. Trong 2005-2006, chi phí cho R&D của 50 công ty dược phẩm lớn trong nước lên đến 495.19 triệu USD. Chính phủ Ấn Độ cũng đang huy động phát triển những nghiên cứu về sinh học y tế bằng việc tăng cường hệ thống pháp lý như bảo vệ quyền phát minh sáng chế và điều chỉnh cho hài hòa với những tiêu chuẩn quốc tế, hỗ trợ tài chính cho phát triển R&D trong công nghệ sinh học đồng thời tạo ra những khuyến khích về thuế trong các hoạt động R&D.  Hiện có hơn 150 công ty đa quốc gia đang tiến hành các hoạt động R&D ở Ấn Độ, đa phần những công ty này đến từ Mỹ và châu Âu. Theo một thông báo gần đây, khoảng 25% nguồn đầu tư toàn cầu của các công ty đa quốc gia đang đổ vào Ấn Độ. Tại sao hàng loạt công ty đa quốc gia lại đổ xô đầu tư vào R&D ở Ấn Độ nhiều như vậy? Lý do cốt lõi là bởi vì nguồn nhân lực. Ấn Độ có một nguồn nhân lực dồi dào, lực lượng lao động trẻ hùng hậu, thạo chuyên môn giỏi tay nghề, sử dụng tiếng Anh tốt. Hơn nữa, giá thuê nhân công ở đây tương đối rẻ. Chính điều này làm cho nhiều người Ấn Độ dễ dàng nhận được các chương trình đào tạo từ những công ty đa quốc gia này và có cơ hội lũy kinh nghiệm ở nước ngoài. Những người này sẽ trở về Ấn Độ, làm việc cho chính những công ty đó, và đây chính là một sự “hồi hương chất xám” thầm lặng. Điều kiện nghiên cứu trong những trung tâm R&D được đầu tư không thua kém những phòng thí nghiệm hàng đều thế giới, đó cũng là lý do thu hút nhiều tài năng của Ấn Độ “cắp sách bút” trở về quê nhà. Trong lĩnh vực xuất khẩu R&D thì Ấn Độ cũng có nhiều thuận lợi. Chẳng hạn, hầu hết các công ty của Mỹ sử dụng R&D ở Ấn Độ để tạo ra sản phẩm xuất khẩu rộng khắp thế giới. Ngược lại, do rào cản ngôn ngữ, nhiều hoạt động R&D ở Trung Quốc phần lớn tạo ra những sản phẩm cung cấp cho nhu cầu tiêu dung bản địa, đặc biệt là những sản phẩm phần mềm liên quan đến ngôn ngữ. Có lẽ vì vậy, phần lớn R&D ở Ấn Độ nhập khẩu từ Mỹ.  Sự phát triển R&D của Ấn Độ thực sự là những kinh nghiệm quý báu cho nhiều nước đang phát triển học hỏi, trong đó có Việt Nam.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ tiến nhanh trên con đường thám hiểm vũ trụ      Việc Ấn Độ phóng thành công tàu thăm dò sao Hỏa đầu tiên được thế giới đánh giá là&#160; bước nhảy vọt trên con đường thám  hiểm vũ trụ, thể hiện tham vọng cạnh tranh với Trung Quốc, đối thủ của họ.  Nhưng nước này cho rằng họ không ganh đua  với bất cứ ai mà chỉ ganh đua với chính mình.  &#160;    Ngày 5/11, Ấn Độ đã phóng thành công tàu thăm dò sao Hỏa đầu tiên có tên Mangalyaan. Do tên lửa đẩy yếu, chưa đạt vận tốc vũ trụ cấp hai (11,2 km/s), tức không thoát khỏi sức hút của Trái Đất, nên Mangalyaan phải tạm ghé 20-25 ngày trên quỹ đạo e-lip gần Trái đất để tăng tốc dần qua sáu lần thao tác nâng cao quỹ đạo, cuối cùng lên tới quỹ đạo bay đi sao Hỏa. Mỗi lần tăng tốc đều phải khởi động động cơ đốt bằng nhiên liệu mang theo tàu. Quỹ đạo đầu tiên có điểm gần Trái đất (perigee) là 248,4 km và điểm xa (apogee) là 23.550 km. Ngày 7/11 nâng quỹ đạo lần đầu, perigee và apogee đã tăng lên 252 và 28.825 km; dự kiến ngày 1/12 apogee sẽ đạt 192.000 km, tàu có tốc độ đủ nhanh để bay lên sao Hỏa. Mangalyaan sẽ tới đích ngày 24/9/2014 sau 300 ngày vượt chặng đường 200 triệu km.   Thông báo cuối cùng (cho tới 23/11) của Cơ quan Nghiên cứu Không gian Ấn Độ (ISRO) cho biết sáng 11/11, apogee của Mangalyaan đã nâng từ 71.623 km lên 78.276 km, dự kiến ngày 12 sẽ lên tới 100.000 km. Nếu mọi việc thuận lợi, Ấn Độ sẽ trở thành nước thứ tư sau Nga, Mỹ, EU vươn tay tới hành tinh Đỏ.   Hãng thông tấn BBC đánh giá đây là bước nhảy vọt của Ấn Độ trên con đường thám hiểm vũ trụ. Còn báo The Guardian viết: Mangalyaan của Ấn Độ không chỉ nhằm tìm kiếm dấu hiệu sự sống trên sao Hỏa, không đơn thuần trình diễn công nghệ mà còn nhằm lặng lẽ cạnh tranh với Trung Quốc, đối thủ của họ. Nhưng ông Radhakrishnan, Giám đốc ISRO nói “Chúng tôi không ganh đua với bất cứ ai mà chỉ ganh đua với chính mình”. Năm 2008, Ấn Độ đã hoàn thành chuyến bay thứ nhất lên Mặt trăng (tàu Chandrayaan-1), đem về chứng cớ đầu tiên chứng tỏ trên đó có tồn tại nước; việc thăm dò sao Hỏa chỉ là một “tiến trình tự nhiên” tiếp theo.  Mangalyaan nặng 1.350 kg, to như chiếc ô tô con, mang theo bộ truyền cảm, máy ảnh màu, phổ kế đo bề mặt sao Hỏa và khoáng sản, máy phân tích khí quyển. Nó có sứ mệnh đo lường khí quyển sao Hỏa, tìm dấu vết khí methane nhằm chứng minh trên đó đã hoặc đang tồn tại sự sống; nghiên cứu và vẽ bản đồ bề mặt sao Hỏa, đặc trưng khoáng sản. Thời hạn hoạt động là sáu tháng.  Dự án Mangalyaan rẻ nhất thế giới – chi phí có 73 triệu USD (tương đương 1/2 giá một chiếc Boeing 787), thua xa cái giá 671 triệu USD của tàu Maven mà Mỹ phóng lên sao Hỏa hôm 18/11 mới đây. Điều thú vị là Maven to như chiếc xe bus, nặng 2.450 kg, tuy phóng sau, nhưng sẽ đến đích trước Mangalyaan hai ngày, vì tên lửa Mỹ đủ mạnh để đi thẳng lên sao Hỏa. Hơn 500 nhà khoa học Ấn Độ hoàn thành dự án trên trong thời gian khó tưởng tượng – 15 tháng. Subbiah Arunan, Giám đốc dự án, nói suốt 15 tháng ấy ông ngủ tại nơi làm việc. Hoàn cầu Thời báo (Trung Quốc) cho rằng Ấn Độ làm gấp rút như vậy là để kịp phóng Mangalyaan trước thời điểm Bắc Kinh dự kiến đầu tháng 12/2013 phóng vệ tinh thứ ba lên Mặt trăng.   Ấn Độ mỗi năm chi 1,1 tỷ USD cho chương trình vũ trụ (Mỹ – 17 tỷ; Trung Quốc – ước vài tỷ USD), hiện có 20 vệ tinh viễn thông, từ tháng 7/2013 bắt đầu xây dựng hệ thống GPS riêng. Việc đầu tư nghiên cứu vũ trụ trong khi nhiều người dân Ấn Độ còn đói nghèo, 40% trẻ em suy dinh dưỡng đã gây ra tranh cãi. Nhưng ISRO cho rằng việc đó là cần thiết để giải quyết các vấn đề thực tế trong đời sống như cải thiện thông tin liên lạc, dự báo thời tiết, dự báo thu hoạch nông nghiệp, ngư nghiệp…  Lên sao Hỏa khó hơn lên Mặt trăng rất nhiều. Trái đất cách Mặt trăng 0,38 triệu km, nhưng cách sao Hỏa gần nhất 55 triệu km, xa nhất hơn 400 triệu km, yêu cầu tên lửa đẩy phải cực mạnh; cự ly ngắn nhất ấy cứ 25,7 tháng mới xuất hiện một lần, phải chờ hơn hai năm mới có một dịp lên sao Hỏa. Khoảng cách xa làm cho tín hiệu điều khiển từ mặt đất bị yếu và đến chậm (đi-về mất 45 phút), không thể điều khiển tức thời, vì thế con tàu cần có khả năng tự bay và tự thích ứng với môi trường biến đổi khi bị khuất Mặt trời. Cần phải có đài quan trắc lớn mới “nhìn” rõ được sao Hỏa và hệ thống đài quan trắc phải phân bố toàn cầu. Đường xa lắm trở ngại bất trắc như gặp mảnh vụn vũ trụ, bão Mặt trời v.v.. Điều kiện khí hậu trên sao Hỏa lúc khuất Mặt trời lạnh tới âm 200 độ C, hầu hết thiết bị không hoạt động được, đây là nguy hiểm lớn nhất.  Trong 53 năm qua loài người đã thám hiểm sao Hỏa 51 lần nhưng chỉ 21 lần thành công (15 lần của Mỹ); 20 năm gần đây Nga, Nhật, Anh, Trung Quốc đều thất bại, chỉ Mỹ và EU thành công. Hiện có ba vệ tinh đang bay quanh sao Hỏa (Mỹ – 2 ; EU – 1); và hai xe-robot của Mỹ đang làm việc trên thiên thể này. Các tàu thăm dò Nozomi của Nhật (phóng 1998), Yinghuo-1 của Trung Quốc (2011) đều không lên được sao Hỏa.   Một số đài báo Trung Quốc khi đưa tin phóng tàu Mangalyaan đều nhấn mạnh Ấn Độ không thể đuổi kịp Trung Quốc về công nghệ vũ trụ. Đúng là Trung Quốc từng phóng được vệ tinh, vệ tinh có người lái và tàu thăm dò Mặt trăng trước Ấn Độ; có tên lửa đẩy mạnh hơn bốn lần và tiềm lực kinh tế lớn hơn. Nhưng lần này có lẽ Trung Quốc bị Ấn Độ qua mặt.   Tháng 3/2007 Trung Quốc và Nga ký hiệp định hợp tác nghiên cứu vũ trụ, theo đó tàu thăm dò sao Hỏa đầu tiên của Trung Quốc Yinghuo-1 ghép vào tàu thăm dò sao Hỏa Phobos-Grunt của Nga dự kiến được phóng bằng tên lửa Nga vào năm 2009, về sau Nga lui lại tới năm 2011. Phobos-Grunt nặng 13,2 tấn, mua bảo hiểm 1,2 tỷ Rúp, bảo đảm tàu có mất cũng không thiệt (dự án này trị giá 163 triệu USD). Yinghuo-1 nặng 115 kg, dài, rộng, cao 75x75x60 cm, hai cánh pin mặt trời dài gần 8 m, chở bốn thiết bị khoa học, khi lên tới quỹ đạo sao Hỏa sẽ tách khỏi Phobos-Grunt và hoạt động riêng.   Hai tàu được phóng lên ngày 9/11/2011 từ sân bay vũ trụ Baikonur, nhưng sau khi tách khỏi tên lửa đẩy Zenit-2, do động cơ chính không khởi động Phobos-Grunt đã không thể thay đổi quỹ đạo. Kết quả cả hai tàu đều không vào được quỹ đạo lên sao Hỏa, Phobos-Grunt mang theo 11 tấn nhiên liệu độc rơi xuống, cháy và vỡ vụn. Yinghuo-1 chung số phận.   Như vậy thời điểm Trung Quốc thăm dò sao Hỏa sẽ phải lui lại tới cuối năm 2013; vì năm 2013 sắp hết nên sớm nhất sẽ là đầu năm 2016. Sau khi Mỹ phóng tàu Maven, các chuyên gia Trung Quốc nói hy vọng nước này muốn vượt trước Mỹ trong lĩnh vực thăm dò môi trường trên sao Hỏa đã tan thành mây khói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ xây nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới      Hầu như ngày nào trên thế giới cũng có những  nhà máy điện mặt trời đang được xây dựng. Tuy nhiên những gì đang diễn  ra ở bang Rajasthan, Ấn Độ, thì có thể nói là có một không hai trên thế  giới.    Một nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới đang được xây dựng giữa vùng sa mạc mênh mông ở phía tây nam bang này. Khi xây xong, nhà máy sẽ đạt công suất 4.000 Megawatt, bằng công suất của ba nhà máy điện hạt nhân cỡ lớn cộng lại. Khi hoàn tất giai đoạn 1 vào năm 2016 sẽ đạt công suất 1.000 Megawatt và vượt công suất những nhà máy điện mặt trời hiện có.  Một phần diện tích của Rajasthan là sa mạc. Mặt trời chiếu sáng 300 đến 330 ngày trong một năm, bầu trời hoàn toàn không có mây. Năng suất năng lượng bình quân của 1m2/ngày trong một năm có thể lên tới 7 kWh. Cao ít nhất gấp năm lần so với Đức.  Bang Rajasthan có khoảng 70 triệu dân và sẽ không tiêu thụ hết lượng điện khổng lồ này. Phần lớn người dân ở đây làm nghề trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất len nên tiêu thụ điện không nhiều. Vì thế cần phải có đường điện cao thế để đưa một phần điện đến các trung tâm xa xôi có nhu cầu cao về năng lượng điện.  Nhà máy điện mặt trời khổng lồ sẽ nằm trên diện tích rộng 93 km2, gần vùng hồ Sambhar. Diện tích đất thuộc doanh nghiệp nhà nước Sambhar Salts. Đối tác gồm Công ty xây dựng nhà máy điện Bharat Heavy Electricals, Công ty vận hành mạng lưới điện Power Grid và Viện nghiên cứu Corporation of India and Solar Energy Corporation of India.  Giá thành nhà máy điện khổng lồ này là bao nhiêu hiện vẫn là vấn đề bỏ ngỏ. Tuy nhiên các đối tác đã quy định giá điện, nếu tính theo đồng Euro, cao nhất khoảng 6,5 Cent/kWh. Trong khi đó giá bán điện ở Đức đối với hộ tư nhân là 25 Cent, còn điện mặt trời trên diện tích lớn là gần 10 Cent.  Việc chọn lựa công nghệ nào cũng chưa được xác định. Theo dự đoán, khoảng một nửa công suất sẽ do tế bào quang điện tạo ra, nửa còn lại tận dụng nguồn nhiệt mặt trời. Loại máng parabol và nhà máy tháp điện hiện đang hoạt động ở Tây Ban Nha và Mỹ.  Ở loại hình máng parabol, các tấm gương sẽ tập trung tia sáng mặt trời vào ống hấp thụ, bên trong ống có nước hay dầu nóng chảy qua. Nguồn nhiệt sẽ giúp vận hành turbine khí kết nối với máy phát điện để tạo ra điện năng.   Đối với nhà máy điện tháp, nhiệt sẽ được tập trung vào thiết bị nhận (Receiver) ở trên đỉnh tháp. Ở đây nhiệt cũng dùng để vận hành máy phát điện chạy bằng hơi nước.   Loại nhà máy nhiệt-quang điện này có thể hoạt động vào thời điểm thiếu ánh sáng mặt trời và có thể cung cấp điện vào ban đêm. Một phần lượng nhiệt tích lũy được sẽ được tạm trữ trong những thiết bị lưu nhiệt khổng lồ. Liệu ở đây người ta có định thiết kế bộ đệm hay không, điều này còn chưa rõ, nhưng khả năng lớn là có. Nếu không phải đấu mạng lới điện với các nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch để bù đắp cho lượng điện bị thiếu vào ban đêm.   Không rõ ở đây có đưa vào sử dụng bộ tập trung – tế bào quang điện kiểu mới hay không. Bộ tập trung này có hệ số tác dụng gần gấp đôi so với loại tế bào thông thường. Xét tình hình ở Rajasthan thì loại tế bào này là lý tưởng với nhà máy quang điện tại đây bởi nó chỉ phát huy tác dụng trong điều kiện bầu trời tuyệt đối không có mây, mà điều này diễn ra hằng ngày ở vùng tây bắc Ấn Độ.   Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn ít calo làm chậm lão hóa      Một công bố mới về việc tiêu thụ calo được xuất bản ngày 22/3/2018 trên tạp chí Cell Metabolism được đánh giá là nghiên cứu toàn diện nhất từ trước tới nay cho thấy việc cắt giảm năng lượng nạp vào cơ thể sẽ giúp làm chậm quá trình trao đổi chất.      Nhiều nghiên cứu đang  kiểm tra việc hạn chế calorie giúp giảm lão hóa.Nguồn ảnh: Nature.com  Kết quả nghiên cứu này tăng thêm hi vọng về một lối sống tiêu thụ ít calo – hoặc các phương pháp điều trị bắt chước những tác động sinh học của việc ăn uống cắt giảm lượng thức ăn, có thể làm duy trì sức khỏe ở người lớn tuổi hoặc thập chí kéo dài tuổi thọ.  Từ lâu phương pháp hạn chế calo đã được biết đến với tác dụng kéo dài tuổi thọ ở nhiều loài khác nhau như giun, chuột và khỉ – chuột ăn ít calo có thể sống lâu hơn 65% so với đồng loại được ăn tự do. Tuy nhiên các thí nghiệm trên người và các loài động vật linh trưởng có vòng đời dài hơn vẫn rất khó thực hiện, vì thế không thể đưa ra được kết luận rõ ràng về tác dụng của phương pháp này đối với con người.  Công bố trên Cell Metabolism là một phần của dự án CALERIE (Đánh giá toàn diện hiệu quả lâu dài của việc cắt giảm năng lượng) được Viện Y tế Quốc gia Mỹ tài trợ. Dự án đã tiến hành các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát để đánh giá tác động của việc hạn chế calo đối với quá trình trao đổi chất ở 200 người trưởng thành khỏe mạnh và không  bị chứng béo phì trong vòng 2 năm. Rozalyn Anderson – nhà nghiên cứu lão hóa ở trường Đại học Wisconsin-Madison cho biết, “CALERIE đóng vai trò quan trọng trong việc trả lời câu hỏi: liệu có thể thay đổi được quá trình lão hóa trên con người hay không”.  Nghiên cứu này của CALERIE đã được tiến hành trên cơ sở khảo sát 53 người, tuổi từ 21 đến 50 trong vòng hai năm. Những người tham gia được chia thành 2 nhóm ngẫu nhiên: 34 người trong nhóm thử nghiệm giảm lượng 15% lượng calorie so với trung bình còn 19 người trong nhóm đối chứng ăn như thường lệ. Vào thời điểm cuối năm, các nhà nghiên cứu thực hiện nhiều xét nghiệm liên quan đến toàn bộ quá trình trao đổi chất và các chỉ thị sinh học về lão hóa, bao gồm cả những tổn hại liên quan đến các gốc oxy tự do được phóng thích trong quá trình trao đổi chất.  Họ được đưa vào các buồng trao đổi chất (metabolic chamber) ở Trung tâm nghiên cứu Y sinh Pennington (Baton Rouge, Louisiana) trong 24 giờ. Trung tâm này có 4 trong số 20 buồng trao đổi chất tiên tiến nhất thế giới – đây là những phòng kín nhỏ, có thể đo lường lượng oxy và carbon mà đối tượng hít vào thở ra trong mỗi phút. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi cách người tham gia sử dụng năng lượng với độ chính xác chưa từng có. Chỉ số về tỷ lệ giữa hai khí cùng với việc kết hợp với những phân tích về lượng nitơ trong nước tiểu, cho biết liệu người đó đang đốt chất béo, carbohydrate hay protein.  Các nhà khoa học phát hiện rằng những người trong nhóm ăn kiêng sử dụng năng lượng trong lúc ngủ hiệu quả hơn so với nhóm đối chứng. Tốc độ trao đổi chất cơ bản giảm nhiều hơn so với dự kiến – trung bình mỗi người giảm gần 9kg. Tất cả các phép đo lâm sàng khác cũng cho thấy tốc độ trao đổi chất giảm, và đưa ra chỉ dấu giảm bớt sự lão hóa.  Trong thời gian tới, Leanne Redman – tác giả chính của nghiên cứu muốn lặp lại nghiên cứu, kết hợp phương pháp giới hạn calorie ít tham vọng hơn với một chế độ ăn chứa các chất chống oxy hóa, hoặc với một loại thuốc như resveratrol – có tác dụng bắt chước tác động sinh học của việc hạn chế calo. Ngoài ra, việc hạn chế calo trong vài ngày mỗi tháng thay vì liên tục cũng được thử nghiệm nhằm tìm ra cách ăn kiêng thoải mái hơn mà vẫn chống lại được các chứng bệnh lão hóa như tiểu đường hay thoái hóa thần kinh.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-03431-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ăn ít sống lâu?      Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng chỉ những ai  muốn giảm béo mới cần bớt khẩu phần ăn hằng ngày. Thế nhưng khoa học  ngày nay phát hiện, dường như giảm lượng calorie hấp thu thì có thể kéo  dài tuổi thọ của nhiều loài sinh vật, từ loài đơn giản như nấm men  (yeast) và giun cho tới các loài gặm nhấm như chuột, và có thể đối với  loài người cũng vậy.    Ngay từ năm 1713, một nhà khoa học Nhật đã lần đầu đưa ra thuyết ăn ít thì có lợi cho việc kéo dài tuổi thọ. Một năm sau, ông này qua đời ở tuổi 84 – ở thế kỷ XVIII như vậy là thọ lắm. Thế nhưng mãi cho đến gần đây, các nhà khoa học mới bắt đầu thấy rằng giảm lượng calorie hấp thu thì có thể kéo dài tuổi thọ con người, bởi lẽ điều đó làm thay đổi cơ cấu quần thể vi khuẩn trong đường ruột.  Có khoảng 100 tỷ vi khuẩn sống ký sinh trong đường ruột của ta, chúng có tác dụng phối hợp với nhau tiếp xúc với các chất dinh dưỡng, phân hủy thức ăn, giúp cơ thể con người dễ hấp thu dinh dưỡng.  Kết quả nghiên cứu công bố năm 2013 của một nhóm nhà khoa học Trung Quốc, đứng đầu là GS Triệu Lập Bình, ĐH Giao thông Thượng Hải, Viện sĩ Viện Khoa học Vi sinh vật Mỹ (Fellow of American Academy of Microbiology, AAM), cho thấy: giảm 1/3 lượng calorie hấp thu ở chuột thì có thể xúc tiến sự tăng trưởng loại vi khuẩn đường ruột liên quan tới việc kéo dài tuổi thọ của loài này. Nhóm nghiên cứu đã hạn chế lượng calorie cho chuột hấp thu trong thời gian sống của chúng và phát hiện thấy khi bớt khẩu phần cho chuột ăn thì số lượng vi khuẩn hữu ích tăng lên và số lượng vi khuẩn có liên quan tới giảm thọ thì giảm đi.  GS Triệu Lập Bình cho biết, giảm 30% lượng calorie hấp thu có thể thay đổi rõ rệt cơ cấu thành phần quần thể vi khuẩn đường ruột: làm tăng lượng vi khuẩn hữu ích (thí dụ khuẩn lactic acid), đồng thời làm giảm lượng vi khuẩn có thể gây bệnh. Khi đó mức độ kết hợp đường LPS (Lipopolysaccharide, là tác nhân gây ra chứng viêm) với protein sẽ bị hạ thấp. Ông giải thích: nếu biến đổi cơ cấu thành phần quần thể vi khuẩn đường ruột thành trạng thái lành mạnh hơn thì điều đó có nghĩa là lượng vật chất chế tạo ra nội độc tố (endotoxins) sẽ bị giảm bớt, vi khuẩn hữu ích tăng lên, lượng nội độc tố đi vào máu sẽ giảm đi. Hiện nay nhóm của ông đang nghiên cứu tiếp các loài vi khuẩn hữu ích.  Chứng viêm cấp thấp mãn tính bao giờ cũng gắn liền với các bệnh béo phì, tiểu đường và các bệnh tuổi già. Nói cách khác, việc hạ thấp lượng calorie hấp thu có ưu điểm là làm cho quần thể vi khuẩn trong ruột cân bằng hơn, nhờ đó hạ thấp tỷ lệ mắc chứng viêm.  Giảm lượng calorie hấp thu dường như cũng có lợi cho não. Các nhà khoa học ở Học viện Công nghệ Massachusetts cho biết việc đó giúp phòng ngừa sự thoái hóa não có liên quan tới các bệnh tuổi già như Alzheimer và Parkinson. Họ lấy chuột làm mô hình mô phỏng tình trạng thoái hóa não; sau khi giảm 30% lượng calorie cho chuột hấp thu, họ đã thành công trong việc làm chậm quá trình thoái hóa não, và lũ chuột này cũng không mắc các trở ngại về học tập và trí nhớ. Ngoài ra, họ còn tiêm thuốc cho chuột để kích hoạt một chất protein có tên là Sirt1; khi đó chức năng não được bảo toàn tốt hơn. Loại protein này có công hiệu như bộ truyền cảm dinh dưỡng trong tế bào của chúng ta; khi hạn chế lượng calorie hấp thu sẽ kích hoạt được chất Sirt1. Nói cách khác, chất Sirt1 có vai trò quan trọng trong việc giảm lượng calorie hấp thu để bảo vệ chức năng của não.  Một nhóm nhà khoa học ở Học viện Y khoa thuộc ĐH Washington đã nghiên cứu hoạt động của chất Sirt1 trong não, qua đó làm chậm quá trình lão hóa, kéo dài tuổi thọ. Họ tìm cách tạo ra một lượng quá mức chất protein Sirt1 trong não chuột, và phát hiện thấy chất Sirt1 đã kích thích hoạt động thần kinh não, làm cho cơ xương biến đổi mạnh về mặt vật lý. Chuột 20 tháng tuổi (tương đương con người ở tuổi 70) mà vẫn chạy nhảy nhanh nhẹn như chuột 5 tháng tuổi. Tuổi thọ chuột cái tăng 16%, chuột đực – 9%. Tính đổi cho loài người thì tuổi thọ của phụ nữ sẽ tăng 13-14 năm, bình quân bằng khoảng 100 tuổi, đàn ông – tăng 7 năm, bình quân thọ 85 tuổi.  Benjamin Lee, chuyên gia dinh dưỡng ở Cục Xúc tiến sức khỏe Singapore kiến nghị giảm cảm giác đói khi hạn chế lượng calorie hấp thu bằng cách không giảm lượng thực phẩm ăn vào nhưng chỉ ăn loại thực phẩm có mật độ năng lượng thấp. Ông nói, mật độ năng lượng là nhiệt lượng (lượng calorie) chứa trong một đơn vị trọng lượng thực phẩm. Nói chung những thực phẩm chứa nhiều chất béo và đường thì có mật độ năng lượng cao; thực phẩm chứa nhiều nước và xen-lu-lô thì có mật độ năng lượng thấp, như nước luộc rau, ngũ cốc, trái cây và rau; chưa kể chúng còn chứa nhiều vitamin và khoáng chất.   Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo bio360.net    Author                Quản trị        
__label__tiasang An Sinh Xanh với ba cái nhất      Trụ sở Công ty Cổ phần An Sinh Xanh chỉ là hai căn phòng nhỏ tại tòa nhà SPT trên đường Trần Hưng Đạo, TP Đà Nẵng, với không quá 10 nhân viên, nhưng nơi đây đã cho ra đời nhiều thiết bị chữa cháy với ba tính năng ưu việt: dập tắt ngọn lửa nhanh nhất, dễ sử dụng nhất và giá thành rẻ nhất, góp phần đáng kể cùng ngành PCCC chế ngự “bom xăng, bom ga, bom hóa chất”.    Thu hồi hơi xăng    Tháng 6/2013, cả nước bàng hoàng vì gần như mỗi ngày có một vụ cháy liên tiếp xảy ra tại các Khu Công nghiệp Sóng Thần, nổ bình gas Bắc Ninh, cháy ở Đà Nẵng, TP HCM và đặc biệt nhất là vụ cháy kinh hoàng tại Cửa hàng Xăng Dầu Trần Hưng Đạo Hà Nội phải huy động cả ngàn người với hàng chục xe chữa cháy và cả xe … ủi đất để dập lửa suốt 5 giờ với 9 chiến sĩ bị thương. Người dân càng thấy rõ mình đang thực sự sống chung với hàng ngàn quả “bom xăng” là các cửa hàng xăng dầu và hàng vạn quả “bom gas” là cửa hàng bán khí đốt rải đều khắp Thành phố. Nhưng không rải đều sao được khi mà chất đốt và nhiên liệu là nhu cầu thiết yếu của mọi người, mọi nhà, mọi hoạt động, mọi lúc, mọi nơi?!   Trước đòi hỏi của công luận cần phải dẹp bỏ bớt cây xăng ở gần khu vực dân cư để bảo đảm an toàn, các nhà quản lý PCCC đã có câu trả lời: Theo Quy phạm an toàn thì có tới 60% cây xăng của Hà Nội không đảm bảo phòng cháy phải di dời. Nhưng nếu vậy thì khi xe hết xăng, người dân sẽ mua xăng ở đâu? Chắc là phải tìm mua tại các “cửa hàng can chai cục gạch” cũng sẽ do dân tự rải khắp thành phố và nguy cơ cháy nổ cũng rải đều hơn và càng khó quản lý hơn nữa!  Nghịch lý này thực ra đã có giải pháp giải quyết thỏa đáng bằng công nghệ thu hồi hơi xăng do ông Tổng Giám đốc An Sinh Xanh Phan Đình Phương sáng chế từ năm 1998 (cách đây 15 năm). Ông Phương cho biết, khi bơm xăng vào bồn, hơi xăng nặng gấp đôi không khí, bay là là trên mặt đất, gặp tia lửa sẽ bắt cháy. Vì thế tôi chế tạo thiết bị thu hồi hơi xăng rồi bơm trả vào bồn, vừa trả lại chất lượng của xăng, vừa sạch môi trường. Với công nghệ này, cửa hàng xăng dầu ở gần nơi tụ họp đông người mà vẫn thực sự an toàn vì không còn hơi xăng bay ra nữa. Khoảng cách an toàn từ cửa hàng xăng dầu đến khu dân cư hay siêu thị được các quy chuẩn cho phép giảm xuống 30%, nghĩa là giảm được hàng chục mét. Như vậy đỡ phải di dời hàng trăm cây xăng trong các Thành phố; đồng thời sức khỏe nhân viên bán xăng dầu và người dân được cải thiện thấy rõ.  Thiết bị này đã được lắp đặt tại Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội và một số cửa hàng xăng dầu TP HCM từ nhiều năm trước.    Máy chữa cháy AN SINH   Được sự chỉ đạo, hỗ trợ của Cục Cảnh sát PCCC Bộ Công an và Sở CSPCC một số địa phương, sau 15 năm nghiên cứu, Công ty An sinh Xanh đã chế tạo và đưa vào sử dụng thành công “Máy chữa cháy AN SINH”.   Đây là các loại thiết bị và công nghệ hóa nước thành sương bay vào đám cháy tiếp tục hóa thành hơi nước để pha loãng oxy làm lửa tắt nhanh mà hoàn toàn không cần nguồn cung cấp năng lượng, không cần điện và máy nổ, máy bơm! Máy AN SINH có khả năng lập tức phun chữa cháy ngay sau khi nhận tín hiệu báo cháy thay vì máy bơm theo điểm 10.25 TCVN 2622: 1995 được phép khởi động trễ đến 3 phút. Đặc biệt trong quá trình chữa cháy, máy AN SINH không làm ướt hỏng tài sản, máy tính, thiết bị điện và chất tạo bọt chữa cháy AN SINH AS-B không độc hại và không gây hư hỏng xăng dầu như các hóa chất nước ngoài. Toàn bộ thiết bị và hóa chất do An Sinh Xanh chế tạo tại Việt Nam. Thiết bị này đã được lắp cố định tại Trạm Biến áp 220kV Tập đoàn Điện lực EVN, Tập đoàn Dầu Khí TTAGAS, Vũ trường MDM Hải Phòng, Khu Công nghiệp Morito và Daiku của Nhật bản tại TP Đà Nẵng.  Từ sáng chế này, Nhà nước đã chỉ đạo xây dựng thành Tiêu chuẩn Quốc gia về PCCC mới: TCVN7884: 2008.  Xe đẩy chữa cháy & cứu ngạt   Tháng 7/2012 AN SINH XANH chế tạo thành công “Xe đẩy chữa cháy & cứu ngạt”. Chiếc xe bé nhỏ này có khả năng dập tắt nhiều đám cháy hơn cả 1 chiếc ô tô chữa cháy truyền thống!  Trong ảnh là đám cháy xăng rộng 4,52m2 theo Tiêu chuẩn Quốc tế cho phép thời gian phun bọt để dập tắt kéo dài từ 3 đến 5 phút. Thực tế xe đẩy AN SINH chỉ dập tắt không quá 10 giây!    Xe chữa cháy & cứu hộ AN SINH XANH 1.500  Tháng 8/2012 AN SINH XANH 1.500 ra đời và được Cục Đăng kiểm VN kiểm định và Công an TP Đà Nẵng cấp phép lưu hành toàn quốc. Đây là chiếc xe chữa cháy mà khi chạy đến nơi xảy ra cháy là tắt máy nên bản thân xe không gây cháy nổ và ngạt khói cho con người, đồng thời mọi người dân đều có thể dễ dàng sử dụng thiết bị này để chữa cháy.  Trong xe chữa cháy AN SINH XANH chỉ bao hàm các chất chữa cháy với áp suất siêu cao (80– 250kg/cm2) nên phù hợp chữa cháy các tòa nhà siêu cao tầng, các công trình ngầm vượt sông núi biển, truyền tải điện, phát điện, thủy điện, các nhà máy lọc dầu, các giàn khoan dầu khí, tàu dầu, kho xăng, các kho vũ khí, thuốc nổ, v.v… Chữa cháy văn phòng, kho bạc Nhà nước không làm ướt tài liệu máy tính tiền bạc. Chữa cháy bệnh viện, trường học và nhanh chóng cứu được người.  Trung tâm Nghiên cứu KH và Tư vấn Chuyển giao CN PCCC&CNCH – Bộ Công an đã ký Hợp đồng Liên doanh với Công ty CP KHCN AN SINH XANH để nhân rộng ứng dụng.  Rồng thép phun nước hóa hơi sương  Tháng 3/2013 AN SINH XANH được Lãnh đạo TP Đà Nẵng chỉ định thầu và đã chế tạo thành công thiết bị phun nước hóa sương công suất khổng lồ đến 5.000m3 sương mỗi phút với độ cao 70m và xa 150m mà không cần dùng đến máy bơm, trên Cầu Rồng Đà Nẵng.  Những sáng chế, giải pháp công nghệ của Công ty An Sinh Xanh được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO công bố và nhận được sự đồng thuận của 147 nước và Cơ quan Sáng chế Quốc tế. Tháng 9 năm 2009, Viện Tiêu chuẩn Quốc gia HOA KỲ (ANSI) và Hiệp Hội PCCC HOA KỲ (NFPA) đã kết nạp ông Phan Đình Phương làm Hội viên chính thức.   Năm 2012 An Sinh Xanh được tặng Cúp Vàng Techmart, Cúp Vàng Sở hữu Trí tuệ.        Ưu việt của sáng chế An Sinh Xanh                Các xe chữa cháy của Mỹ và nhiều quốc gia tiên tiến nhất thế giới hiện nay vẫn phải phun nước trộn với 3-6% “bọt hòa không khí”, nghĩa là khi phun bọt đã cấp thêm oxy vào đám cháy (!); đồng thời không thể chữa cháy cho nhà siêu cao tầng.              Ngược lại, công nghệ AN SINH XANH độc đáo ở chỗ suốt quá trình chữa cháy xe không cần nổ máy nhưng lại biến 1m3 nước thành 1.500m3 hơi sương ngay ở nhiệt độ thường và áp suất thấp. Luồng hơi khổng lồ này rất nhẹ nên có thể đẩy lên mọi cao độ, bao trùm đám cháy, pha loãng oxy cho lửa tắt ngay và đảm bảo cho con người vẫn sống khỏe! Khi dùng bọt AN SINH chỉ cần pha 0,3% tức là thấp hơn 10-20 lần bọt nước ngoài nhưng lại hòa với khí CO2 nên lửa tắt cực nhanh!              Về kinh tế, một xe chữa cháy AN SINH có thể dập tắt đám cháy có diện tích rộng gấp 30 xe nước ngoài nhưng giá chỉ bằng một nửa!          —  TÀI LIỆU THAM KHẢO:  http://nguyentandung.org/phan-dinh-phuong-sang-tao-de-lam-nguoi-hanh-phuc.html.  http://nld.com.vn/20130603031045509p0c1002/ha-noi-kinh-hoang-vu-chay-cay-xang-suot-5-gio.htm     http://nld.com.vn/20130612013933832p0c1002/chay-no-dang-thach-thuc-quoc-hoi-khoa-xiii.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang An toàn là hàng đầu      Mối quan tâm phổ biến nhất của đông đảo các  tầng lớp trong xã hội của đất nước sau khi Quốc hội thông qua chủ trương  đầu tư Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận là các vấn đề liên quan đến an  toàn của bản thân công nghệ ĐHN và vấn đề đảm bảo an toàn cho vận hành,  khai thác sử dụng điện hạt nhân trong điều kiện thực tế của Việt Nam.    Sau hơn 50 năm phát triển và trưởng thành, điện hạt nhân đã chứng minh được tính khả thi về mặt kỹ thuật, tính cạnh tranh về mặt kinh tế và khả năng góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính vào môi trường. Qua đó, điện hạt nhân đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong cán cân cung cấp điện năng toàn cầu. Hiện nay, trên thế giới có 440 lò phản ứng năng lượng hạt nhân đang hoạt động tại 32 quốc gia và vùng lãnh thổ, đáp ứng hơn 15% tổng nhu cầu điện năng của nhân loại. Đối với một số quốc gia, điện hạt nhân đã trở thành cứu cánh và là một trong những nguồn điện chủ lực đảm bảo cung cấp năng lượng ổn định, rẻ tiền, thúc đẩy kinh tế các quốc gia này phát triển trong thời gian dài và có hiệu quả. Tuy nhiên, qua sự cố Three Mile Island ở Mỹ năm 1979, tai nạn Chernobyl ở Liên xô cũ năm 1986, đặc biệt là thảm hoạ Fukushima ở Nhật ngày 11/3/2011 vừa qua đã chứng tỏ rằng, điện hạt nhân chỉ hiệu quả khi nó được đảm bảo an toàn.          Để đảm bảo an toàn thì trước hết, bản thân  công nghệ điện hạt nhân phải được thiết kế sao cho trong mọi hoàn cảnh  khắc nghiệt nhất, tồi tệ nhất có thể xảy ra, nó phải tự động dừng lò và  giữ được trạng thái dừng lò an toàn mà không cần tới hành động của nhân  viên vận hành trong một khoảng thời gian đủ dài.         Cùng với các yêu cầu khác để đảm bảo an toàn thì trước hết, bản thân công nghệ điện hạt nhân phải được thiết kế sao cho trong mọi hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, tồi tệ nhất có thể xảy ra, nó phải tự động dừng lò và giữ được trạng thái dừng lò an toàn mà không cần tới hành động của nhân viên vận hành trong một khoảng thời gian đủ dài. Đó chính là yêu cầu đối với lựa chọn công nghệ cho chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam.  Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ điện hạt nhân  Công nghệ điện hạt nhân (ĐHN) đã được nghiên cứu, phát triển và khai thác, sử dụng trong suốt hơn một nửa thế kỷ qua kể từ ngày 27 tháng 6 năm 1954, khi Liên Xô (cũ) đã đưa vào vận hành thương mại thành công lò phản ứng hạt nhân năng lượng đầu tiên trên thế giới tại thành phố Obninsk.   Xét về mặt chủng loại, hiện nay, công nghệ lò phản ứng năng lượng phát triển rất phong phú và đa dạng. Hiện có trên 10 loại lò đang được sử dụng và nghiên cứu phát triển. Việc mỗi quốc gia sử dụng và phát triển loại lò nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là ý đồ chiến lược của mỗi quốc gia, sau đó là trình độ khoa học – công nghệ và khả năng tham gia của công nghiệp nội địa.           Các nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới (thế hệ  III và III+) tích hợp được đặc điểm an toàn thụ động nội tại, không đòi  hỏi sự kiểm soát chủ động của con người hay sự can thiệp của nhân viên  vận hành để tránh tai nạn khi có trục trặc.        Mặc dù số loại lò nhiều như vậy nhưng đa số hoặc đã bị loại bỏ khỏi xu hướng phát triển hoặc đang ở giai đoạn thử nghiệm. Cho đến nay, thực chất chỉ mới có ba loại được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực (Pressurired Water Reactor – PWR+VVER), lò phản ứng nước sôi (Boiling Water Reactor – BWR) và lò nước nặng kiểu CANDU (Pressurired Heavy Water Reactor – PHWR). Tỷ phần của các loại công nghệ này như sau: dẫn đầu là lò phản ứng nước áp lực: 61% , kế theo đó là lò phản ứng nước sôi: 21% và cuối cùng là lò nước nặng kiểu CANDU: 7%,  phần còn lại là các loại lò khác.      Hình 1. Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ lò  Xét về mặt thế hệ, cho đến nay, đã có 3 thế hệ công nghệ được xây dựng và khai thác sử dụng. Các nhà máy điện hạt nhân hiện đang hoạt động trên thế giới, tuyệt đại đa số thuộc thế hệ thứ II. Đối với các dự án ĐHN đang hoặc có kế hoạch xây dựng, hầu hết các quốc gia,  đặc điệt là các nước nhập công nghệ đều chọn giải pháp xây dựng các NMĐHN với lò thế hệ III hoặc thế hệ III+. Gần đây nhất, tại châu Âu, Phần Lan đã chọn và đang xây dựng lò EPR của Pháp, Ukraina và Bungari mới hoàn thành đấu thầu NMĐHN năm 2008 và đã chọn lò VVER-1000 thế hệ III của Nga. Tại châu Á, Ấn Độ, Iran cũng chọn VVER-1000 thế hệ III của Nga, Trung Quốc chọn EPR của Pháp và AP-1000 của Hoa Kỳ.   Các lò phản ứng thế hệ III và III+ đã kế thừa các đặc tính thiết kế ưu việt của thế hệ thứ II, vận dụng các kinh nghiệm vận hành và xây dựng các nhà máy điện hạt nhân hiện hành cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ trong các ngành mũi nhọn như công nghệ thông tin, điều khiển tự động, khoa học vật liệu .v.v. Khác biệt lớn nhất so với các thiết kế hiện thời (thế hệ II) là các nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới (thế hệ III và III+) tích hợp được đặc điểm an toàn thụ động nội tại, không đòi hỏi sự kiểm soát chủ động của con người hay sự can thiệp của nhân viên vận hành để tránh tai nạn khi có trục trặc.          Từ hoàn cảnh Việt Nam hiện nay còn quá non  yếu về năng lực quốc gia cần thiết cho chương trình điện hạt nhân và rút  kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể khẳng định Việt Nam chỉ nên  sử dụng một loại công nghệ.         Các loại lò thế hệ mới – thế hệ IV có tính cách mạng với mục tiêu: an toàn hơn, kinh tế hơn, giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và góp phần giải quyết vấn đề chất thải phóng xạ còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm. Chúng có thể được thương mại hoá vào những năm sau 2030.  Vai trò của những yếu tố phi công nghệ trong lựa chọn công nghệ điện hạt nhân  Lựa chọn công nghệ nhà máy điện hạt nhân là một vấn đề rất phức tạp bởi vì ngoài các yếu tố khoa học và công nghệ thuần tuý, lựa chọn loại lò còn bị ràng buộc bởi yếu tố kinh tế, tài chính và quan hệ chính trị. Khi xem xét lại toàn bộ quá trình phát triển điện hạt nhân ở các nước, ta có thể chia thành 3 nhóm nước như sau:  Nhóm thứ nhất: bao gồm các nước có sẵn tiềm lực hạt nhân, tự phát triển công nghệ ĐHN nhằm làm chủ công nghệ này. Nhóm nước này bao gồm: Mỹ, Nga, Anh và Canada. Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này xuất phát từ tiềm lực quốc phòng và năng lực công nghiệp sẵn có.  Nhóm thứ hai: bao gồm các nước muốn phát triển công nghệ ĐHN nhờ nội lực và ngoại lực để xây dựng tiềm lực của đất nước. Nhóm nước này bao gồm: Ấn Độ, Pakistan,… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này nhằm vào loại công nghệ có khả năng phục vụ mục tiêu quốc phòng nhanh nhất.  Nhóm thứ ba: bao gồm các nước phát triển công nghệ ĐHN trước hết nhằm giải thoát sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn năng lượng nhập ngoại. Nhóm nước này bao gồm: Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ chính trị, thương mại và khả năng thu xếp tài chính.  Đối với trường hợp của Việt Nam, một tháng sau khi Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Chính phủ, Nga đã được chọn làm đối tác cung cấp công nghệ cho nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và tháng 10/2010, Nhật Bản được chọn làm đối tác để xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Như vậy, cách thức lựa chọn đối tác của Việt Nam gần giống với cách tiếp cận của nhóm nước thứ ba.   Nhìn nhận trên khía cạnh công nghệ thuần túy  Ngoài những yếu tố phi công nghệ như đã nêu trên, Việt Nam vẫn phải đặc biệt chú trọng yêu cầu về công nghệ, theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội là chọn công nghệ lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Muốn làm được điều này, chúng ta phải thiết lập cho được các tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ điện hạt nhân.  Tuy nhiên, trước khi xem xét công nghệ nào cho các dự án ĐHN của Việt Nam, ta hãy luận bàn một vấn đề mang tính vĩ mô và dài hạn, đó là Việt Nam nên dùng đơn công nghệ hay đa công nghệ trong chương trình phát triển điện hạt nhân của mình?           Điều đặc biệt quan trọng là, ứng xử của mỗi con người, mỗi tổ chức trong lĩnh vực hạt nhân phải là ứng xử theo văn hóa an toàn.        Như chúng ta biết, trên thế giới, do những hoàn cảnh lịch sử và tình thế khác nhau, nhiều nước ban đầu đã từng sử dụng 2 hoặc 3 loại công nghệ. Do năng lực quốc gia ở giai đoạn ban đầu còn đang yếu kém lại phải phân chia nguồn nhân lực để đảm đương các công nghệ khác nhau nên đã phải trả giá. Cuối cùng, các nước này cũng phải định hướng và tập trung vào 1 loại công nghệ. Từ hoàn cảnh Việt Nam hiện nay còn quá non yếu về năng lực quốc gia cần thiết cho chương trình điện hạt nhân và rút kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể khẳng định Việt Nam chỉ nên sử dụng một loại công nghệ. Việc lựa chọn sử dụng đơn công nghệ trong Chương trình phát triển ĐHN của mình sẽ giúp Việt Nam không phải chia sẻ tiềm lực quốc gia còn đang rất yếu kém; thuận lợi trong đào tạo cán bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ xây dựng, vận hành, bảo dưỡng; thuận lợi trong công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; thuận lợi trong tiếp thu công nghệ, tiến tới thực hiện chương trình nội địa hoá…  Khi đã quyết định sử dụng đơn công nghệ thì xuất hiện vấn đề là chọn công nghệ nào trong lò nước nhẹ cải tiến? Lò nước áp lực cải tiến – APWR hay là lò nước sôi cải tiến ABWR?  Như đã nói ở trên, cho đến nay, thực chất chỉ mới có ba loại công nghệ được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực, lò phản ứng nước sôi và lò nước nặng kiểu CANDU, trong đó có trên 61% các lò đang vận hành thuộc loại lò nước áp lực – PWR và tuyệt đại đa số các lò đang xây dựng và có kế hoạch xây dựng thuộc loại lò nước áp lực cải tiến – APWR. Với xu thế áp đảo của loại công nghệ này và là loại công nghệ phổ biến nhất, có nhiều nước sử dụng, nhiều hãng cung cấp thiết bị công nghệ và nhiên liệu, có bề dày kinh nghiệm xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, có nhiều kết quả nghiên cứu và thử nghiệm, có đông đảo đội ngũ chuyên gia tầm quốc tế… và do đó, việc Việt Nam lựa chọn công nghệ lò nước áp lực cải tiến sẽ làm cho cơ hội hợp tác và phát triển của Việt Nam thuận lợi hơn rất nhiều. Như vậy, công nghệ lò APWR loại VVER1000/1200 mà dự kiến sẽ được Nga cung cấp là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu lựa chọn của Việt Nam.  Quay trở lại yêu cầu của Nghị quyết 41 là lựa chọn thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Có thể nói, đây là một yêu cầu rất cao nhưng đúng đắn và xác đáng xét trên quan điểm lợi ích quốc gia. Để đáp ứng yêu cầu này, đặc biệt là qua bài học từ sự cố Fukushima về xử lý sự cố nặng thì hiện nay chỉ có thể lựa chọn công nghệ lò thế hệ III, thậm chí là III+, trong đó có sự kết hợp hài hoà giữa các hệ thống an toàn chủ động (mang tính truyền thống) và an toàn thụ động (mang tính cách mạng), có khả năng chống chọi với tình huống xấu nhất có thể xảy ra, đó là sự cố mất chất tải nhiệt (LOCA) cùng với sự kiện mất điện hoàn toàn trong khu vực nhà máy (Station Black Out – SBO).   Công nghệ phải đồng bộ với chất lượng con người  Công nghệ không ngừng tiến bộ nhưng không bao giờ đạt được trạng thái hoàn hảo và an toàn tuyệt đối. Bởi vậy, ngoài thiết kế công nghệ, chế tạo thiết bị, việc đảm bảo an toàn phải được thực hiện trong quá trình lựa chọn địa điểm, thi công xây lắp, vận hành bảo dưỡng và tháo dỡ nhà máy khi hết thời gian sử dụng. Muốn vậy, con người trong ngành hạt nhân phải có kiến thức vững chắc và chuyên môn sâu, phải được đào tạo chính quy, bài bản và luôn luôn phải được đào tạo lại. Năng lực khoa học (R&D) của đất nước phải được ưu tiên tập trung xây dựng, hình thành đội ngũ chuyên gia với các nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ, an toàn…để hỗ trợ xây dựng, vận hành an toàn và kinh tế các nhà máy điện hạt nhân. Điều đặc biệt quan trọng là, ứng xử của mỗi con người, mỗi tổ chức trong lĩnh vực hạt nhân phải là ứng xử theo văn hóa an toàn.  Ngoài các giải pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn, công tác quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân phải được thực thi một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt. Cơ quan pháp quy hạt nhân phải đảm bảo có đủ quyền lực, nhân lực và vật lực, và đủ khả năng xây dựng hệ thống pháp quy hạt nhân đầy đủ, chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân.        Một số tiêu chí cốt lõi cho lựa chọn công nghệ điện hạt nhân ở Việt Nam   Với những yêu cầu nêu trong Nghị quyết của  Quốc hội, căn cứ vào các tài liệu hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng  nguyên tử quốc tế IAEA và các tài liệu liên quan khác, tác giả đề xuất  một số tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ cho các nhà máy ĐHN  của Việt Nam như sau:    a. Về đảm bảo an toàn hạt nhân    1.    Thực hiện thiết kế theo tiếp cận tất  định: tuân thủ nguyên lý “bảo vệ theo chiều sâu”, dự phòng và đa dạng  hóa hệ thống an toàn, có kết hợp an toàn chủ động và thụ động… các hệ  thống làm mát khẩn cấp, cấp điện khẩn cấp phải có ít nhất 4 hệ độc lập  100% công suất.   2.    Đảm bảo xác suất sự cố làm nóng chảy,  phá huỷ nghiêm trọng vùng hoạt: nhỏ hơn 10-6/lò năm; xác suất sự cố nặng  (thảm họa hạt nhân), kèm theo sự thoát xạ lớn, yêu cầu tới các biện  pháp khẩn cấp ngoài phạm vi nhà máy: nhỏ hơn 10-7/lò năm.   3.    Thiết kế hệ thống ứng phó với tai nạn  nóng chảy vùng hoạt, nếu giam giữ chất nóng chảy trong thùng lò (IVR):  phải chứng minh được khả năng làm mát bằng cách làm ngập bên ngoài, nếu  giam giữ chất nóng chảy bên ngoài thùng lò (EVR): phải lắp đặt bẫy thu  giữ chất nóng chảy (corium-catcher).   4.    Thiết kế hệ thống độc lập đảm bảo dừng  lò an toàn mà không cần đến nguồn năng lượng và hành động của nhân viên  trong 24/72 giờ đầu tiên sau tai nạn nghiêm trọng.   5.    Thiết kế boongke nhà lò 2 lớp, lớp bên  trong – phải đảm bảo độ kín để giam giữ chất phóng xạ; lớp bên ngoài –  phải vững chắc để chống các ngoại lực công kích, chống máy bay hạng nặng  đâm vào…   6.    Các thiết bị an toàn loại I, II và  boongke nhà lò phải thiết kế chống được động đất cấp 9, gia tốc 0,3 g,  chống lũ lụt, sóng thần.   b. Về đảm bảo an toàn bức xạ   1.    Phải thiết kế theo nguyên lý ALARA.  Khi vận hành bình thường, liều chiếu cá nhân và liều chiếu tập thể phải  là tối thiểu và nhỏ hơn mức cho phép. Không tác động hoặc tác động rất  thấp lên môi trường (phát thải thường xuyên).   2.    Khi có tai nạn nghiêm trọng, chỉ cần  áp dụng các biện pháp khẩn cấp tối thiểu trong vòng bán kính 1 km từ tâm  lò, không yêu cầu sơ tán quá 1năm đối với dân cư trong vòng bán kính 3  km từ tâm lò, không yêu cầu bất cứ hành động gì ngoài bán kính 3 km từ  tâm lò.   c. Về đặc tính nhà máy   1.    Thời gian vận hành theo thiết kế (đời sống nhà máy): 60 năm.   2.    Hệ thống đo lường, điều khiển và kiểm soát I&C: phải số hóa hoàn toàn.   3.    Hệ số sẵn sàng vận hành: phải trên 90%.   4.    Hiệu suất nhiệt của nhà máy: phải trên 33%.   5.    Thời gian dừng lò trong kế hoạch (tái nạp nhiên liệu và bảo trì): phải dưới 20 ngày.   6.    Thời gian dừng lò ngoài kế hoạch: phải dưới 1 lần/năm   7.    Chu trình sử dụng nhiên liệu: chu trình 12-18 tháng,  độ sâu cháy nhiên liệu: 60 GWngàyđêm/tấn.   8.    Tổng lượng thải rắn cuối cùng: phải nhỏ hơn 50 m3 trên 1000 MWe trong 1 năm vận hành.               Author                Quản trị        
__label__tiasang An toàn nhà máy điện hạt nhân: Phương pháp phân tích an toàn nào chuẩn xác?      Để phòng ngừa khả năng xảy ra sự cố trong quá trình vận hành nhà máy điện hạt nhân, các chuyên gia phải đánh giá được chính xác độ an toàn của lò phản ứng và những phương pháp phân tích an toàn dựa trên các bộ hồ sơ dữ liệu về công nghệ lò phản ứng… Tuy nhiên, họ vẫn còn tranh cãi về phương pháp phân tích an toàn.    GS Benjamin K. Sovacool và cộng sự muốn đưa ra quan điểm mới về phân tích an toàn nhà máy điện hạt nhân  Những tranh cãi này dấy lên sau thời điểm diễn ra tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi (tháng 3/2011). Nhiều chuyên gia hạt nhân đã tự hỏi: Tại sao lại xảy ra tai nạn này? Trước đó 25 năm, một thảm họa tương tự đã từng xuất hiện, vụ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, Ukraine. Trên lý thuyết, các tai họa hạt nhân Fukushima Daiichi và Chernobyl khó có thể xảy ra với mật độ dày như vậy. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến hai tai nạn này? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải hỏi các chuyên gia phân tích về an toàn nhà máy điện hạt nhân.  Các chuyên gia về hạt nhân trên thế giới áp dụng phương pháp mang tên Phân tích an toàn xác suất (Probabilistic risk assessment – PSA) để đưa ra các phỏng đoán về xác xuất xảy ra sự cố hạt nhân ở nhà máy điện hạt nhân. Ở đây họ bắt đầu bằng những vấn đề tưởng chừng như rất nhỏ: xác xuất xảy ra sự cố ngừng hoạt động của van A trong một nhà máy điện hạt nhân như thế nào? Xác suất xảy ra hiện tượng vỡ ống phía trước van đến đâu? Hoặc liệu dòng nước tải nhiệt có vì vậy mà chảy từ van A qua van B hay không? Nếu cả van này cũng gặp sự cố thì điều gì sẽ tiếp diễn?  Những giả định thiếu thực tế  Bằng cách đó, các chuyên gia phân tích an toàn có thể hình thành cả một hệ thống đầy ắp sự kiện phản ánh mọi sự cố hỏng hóc có thể xẩy ra trong quá trình vận hành nhà máy điện hạt nhân, qua đó tổng kết lại bằng những số liệu: trong x năm sẽ xảy ra sự cố hỏng hóc ở lõi lò phản ứng nhà máy điện hạt nhân. Nếu áp dụng phương pháp tính toán này thì có thể rút ra kết luận: đối với khoảng 500 lò phản ứng đang vận hành, khả năng xuất hiện sự cố hạt nhân chỉ có thể là một lần trong quãng vài trăm năm chứ không thể là 25 năm như giữa hai tai nạn Chernobyl và Fukushima Daiichi.  Nhiều chuyên gia phân tích an toàn không ngạc nhiên về kết quả này. Theo đánh giá của của họ, kết quả đó cũng hết sức logic vì phương  pháp PSA có xu hướng đánh giá thấp xác xuất xẩy ra sự cố – vì trên thực tế thì người ta không thể tính đến tất cả những khả năng có thể xảy ra. “Không có gì ngạc nhiên, lịch sử quá trình sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự từng ghi nhận một loạt sự cố mà phương pháp PSA cũng không tiên lượng được. Thực tế cho thấy, người ta thường dựa trên những giả định phi thực tế để đánh giá độ an toàn của nhà máy điện hạt nhân”, các chuyên gia Spencer Wheatley, Benjamin Sovacool và Didier Sornette viết trên tạp chí chuyên đề Phân tích an toàn (Risk Analysis).   Việc nghiên cứu kỹ lưỡng công nghệ là phản ứng cũng giúp đem lại những thông số chuẩn xác về tính an toàn nhà máy điện hạt nhân.   Vì lý do đó ba nhà nghiên cứu về an toàn nhà máy điện hạt nhân của Đại học Sussex (Anh) và  ETH Zürich (Thụy Sỹ) là Spencer Wheatley, Benjamin K. Sovacool, và Didier Sornette đã áp dụng một phương pháp khác để có thể tiên liệu thời điểm có khả năng xảy ra sự cố: họ rà soát lại trong quá khứ vận hành các nhà máy điện hạt nhân trên thế giới, sự cố thường xẩy ra ở mức độ nào,  độ nghiêm trọng của sự cố và với thời gian chúng tiến triển ra sao. Tuy nhiên, khó khăn đầu tiên mà họ phải đối mặt là khó thu thập được số liệu về các sự cố trong quá khứ. Không chỉ các tổ chức quốc tế mà cả Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đều không có được những bộ hồ sơ gồm đầy đủ những số liệu đáng tin cậy về các sự cố nhà máy điện hạt nhân đã từng xảy ra trước đây.  Rào cản bí mật thông tin  “Chắc chắn, bộ phần điều hành các nhà máy điện hạt nhân đều có một loạt dữ liệu liên quan đến các vụ trục trặc trong quá khứ của các nhà máy, tuy nhiên họ lại coi đó là bí mật và không muốn công khai với cả các nhà nghiên cứu”, Sovacool nói. Thậm chí đối với các cơ quan như IAEA, ông cũng thấy ở đây có sự xung đột về lợi ích: “Một trong những nhiệm vụ của IAEA là khuyến khích hỗ trợ sự phát triển của lĩnh vực năng lượng nguyên tử và những ứng dụng của nó trong đời sống xã hội. Vì vậy điều này có thể làm lu mờ vai trò giám sát của tổ chức này”.  Về phần mình IAEA cam kết, nhà điều hành và cơ quan giám sát đương nhiên sẽ trao đổi với nhau về các sự cố thông qua Hệ thống báo cáo quốc tế về kinh nghiệm vận hành (The International Reporting System for Operating Experience – IRS). Đây là nơi lưu giữ “Báo cáo về những hiện tượng bất thường nhưng có tầm quan trọng với vấn đề an toàn của nhà máy điện hạt nhân”, bà Susanna Lööf, phát ngôn viên của IAEA nói. Các báo cáo sẽ được phân tích và trên cơ sở đó, đưa ra những nhận thức mới về vấn đề an toàn để chuyển tới đại diện các quốc gia thành viên hay tới các viện nghiên cứu trong lĩnh vực có liên quan.  Đương nhiên, ngân hàng dữ liệu này sẽ không công khai: “Các dữ liệu IRS có thể chứa đựng cả những bí mật trong vận hành nhà máy điện hạt nhân. Do đó, chúng có thể sẽ bị bên thứ ba lạm dụng số liệu để lên kế hoạch gây nhiễu”, Anja Lutz, thành viên Cục An toàn bức xạ Đức (BfS) giải thích về lý do vì sao người ta phải giữ bí mật về các dữ liệu an toàn.  Tuy vậy các nhà nghiên cứu an toàn điện hạt nhân hoàn toàn không quan tâm đến các bí mật của doanh nghiệp, họ chỉ cần một danh sách đầy đủ về các sự cố nhà máy điện hạt nhân kèm theo các số liệu đáng tin cậy về mức độ thiệt hại mà sự cố gây ra.  INES chưa hẳn đã chuẩn xác  Tai nạn nhà máy điện hạt nhân đã được ghi rõ trong Kịch bản tai nạn hạt nhân và phóng xạ quốc tế (International Nuclear and Radiological Event Scale INES) do IAEA xây dựng năm 2000. Các kịch bản được tính điểm từ 0 đến 7 để phản ánh mức độ nghiêm trọng của các sự cố nhà máy điện hạt nhân. Cơ quan IAEA đã đưa vào áp dụng INES để có thể nắm bắt được mức độ nghiêm trọng của tai nạn nhà máy điện hạt nhân trong trường hợp không may xảy ra.  Thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi vào năm 2011 khiến IAEA phải bổ sung thêm những yếu tố mới về an toàn.  Bản thân IAEA cũng còn nhiều băn khoăn về INES và các kịch bản sự cố nhà máy điện hạt nhân: “Do INES được thiết kế để bảo đảm cung cấp thông tin nhanh chóng và chú trọng nhiều đến vấn đề an toàn nên các trị số mà INES đưa ra chỉ phù hợp ở một mức độ nào đó”, bà Lööf, phát ngôn viên của IAEA giải thích. Vì thế chỉ có thể lấy các trị số INES về các sự cố diễn ra trong 12 tháng gần nhất trên trang web của IAEA.  Đối với công việc phân tích thực nghiệm thì những số liệu này là quá ít. Vì thế, Wheatley, Sovacool và  Sornette đã cùng xây dựng một ngân hàng dữ liệu về các sự cố nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên có một hạn chế của ngân hàng này là một phần cơ sở tính toán phụ thuộc vào thông tin đăng tải trên báo chí. Họ cho rằng, việc che đậy,  giũ bí mật trong ngành công nghiệp hạt nhân và cơ quan giám sát khiến công chúng quá tin tưởng vào khả năng an toàn của các nhà máy điện hạt nhân. Wheatley đưa ra đánh giá hoàn toàn khác: “Theo phân tích của chúng tôi thì mức độ an toàn của năng lượng hạt nhân trên thực tế thấp hơn với những gì công chúng vẫn tin tưởng”.  Những quan điểm trái chiều  Các chuyên gia hạt nhân lại không đồng tình với đánh giá đó. Họ phê phán cách tiếp cận của ba nhà nghiên cứu về an toàn nhà máy điện hạt nhân khi chỉ chú trọng  nghiên cứu về tần suất xảy ra các sự cố trong khi với sự các nhà máy điện hạt nhân đang ngày càng an toàn hơn, họ lập luận; vì thế các sự cố xảy ra trong quá khứ hoàn toàn không thể nói lên điều gì cho tương lai.   Hơn nữa do sự khác biệt về công nghệ, việc vận hành các nhà máy điện hạt nhân cũng rất khác nhau. Vì vậy, Anja Lutz, thành viên của Cục An toàn bức xạ Đức (BfS) cho rằng, cách tiếp cận của Wheatley, Sovacool và Sornette là “rất đáng ngờ”.  Việc ngành công nghiệp hạt nhân khư khư giữ bằng được các dữ liệu PSA cũng đáng ngờ không kém. Xét cho cùng thì các dữ liệu này đâu có phù hợp với hai vụ tai nạn  ở Chernobyl và  Fukushima, hai vụ đó chỉ cách nhau một thời gian ngắn.  Vậy phải chăng đây chỉ là một sự trùng hợp tồi tệ?  Hiệp hội về an toàn công trình và an toàn lò phản ứng của thành phố Köln, Đức (GRS) cũng đặt dấu hỏi về phương pháp phân tích xác suất về an toàn. Sau thảm họa ở Fukushima, các chuyên gia GRS đã xem xét nguyên nhân và những gì xảy ra trong quá trình PSA đối với Fukushima. Kết thúc nghiên cứu tiến hành năm 2015, họ đi đến kết luận: “Trong PSA hiện nay ở các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành thiếu sự chú ý đến các sự kiện bất thường và ảnh hưởng của chúng lên quá trình vận hành nhà máy”.   Phương pháp luận của PSA phải chỉnh sửa và điều này không đơn giản: “Các nhà nghiên cứu PSA cho rằng họ phải đối mặt với những vấn đề rất phức tạp”.  Tuy nhiên kết quả mà bộ ba Wheatley, Sovacool và Sornette đã đạt được là theo thời gian, khả năng xảy ra các sự cố tầm trung ngày càng thấp hơn. Những phân tích xác suất về độ an toàn đã giúp nhận dạng được những điểm yếu ở lò phản ứng năng lượng để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục phù hợp.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Andrei Okunkov nói về toán học      Andrei Okunkov, Nhà toán học Nga đoạt giải Fields, GS Đại học Princeton – Hoa Kỳ, nói về vai trò Toán học trong đời sống xã hội, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Nga Olga Orlopva.      Kể từ khi ông bước vào con đường khoa học đến nay quan niệm của ông về tầm quan trọng của những gì ông thực hiện có thay đổi không?  Andrei Okunkov: Đúng ra thì tôi có thể nói rằng mới đầu tôi có sự đam mê một số thứ nhưng chưa có ý thức, thiên về bản năng, còn bây giờ tôi làm công việc của mình theo chủ ý; đối với tôi chúng có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, một trong những thành phần cơ bản của khoa học đấy là sự tò mò. Và đơn giản như thời kì Liên Xô có câu, khoa học-đấy là…  …thỏa mãn sự tò mò bằng kinh  phí Nhà nước.   Đúng vậy, và điều này thường được coi là cái gì đó tiêu cực. Tôi thì ngược lại, coi điều ấy như một hiện tượng tích cực. Người ta vẫn trả công cho nhà khoa học vì cái mà anh ta còn giữ được trong mình, đó là sự tò mò của trẻ thơ. Bởi phần lớn các phát minh con người thu được đều theo kiểu một người thông thái [trong trạng thái tò mò] nào đó nhìn vào một quả cầu tinh thể và nhận ra cái gì đó. Còn mọi người thì nghĩ [theo cách thực dụng], rằng người ta thu được các phát minh là do sự vật này hay sự vật kia xảy ra hoặc không xảy ra.  Ở đây có yếu tố trò chơi?  Vâng. Chắc chị đồng ý là một lượng rất lớn các phát minh thu được chính bằng cách đó.  Động cơ của ông giống với hồi tưởng của bất kì nhà bác học nào, của gần như bất kì thế hệ nào. Giống như bốn mươi năm trước, hay một trăm năm mươi năm trước – sự tò mò mang tính trực tiếp của tuổi thơ đã lôi cuốn con người vào khoa học. Nhưng mặt khác ngày nay rất nhiều nhà bác học khi giảng bài nói rằng ngày nay những người trẻ tuổi đã trở nên thực dụng hơn.  Tôi có cảm giác là bản chất con người không thay đổi nhanh đến thế. Nếu chúng ta lấy một người trung bình trong những thời điểm đặc biệt của xã hội, ví như  lịch sử mà đất nước chúng ta trải qua vào giữa thế kỷ hai mươi, khi đó con người có thể ít tính thực dụng hơn, thứ vốn đặc trưng cho bản chất con người. Nhưng trường hợp này rất hiếm. Còn nói chung buộc tội con người vào tính thực dụng thì hơi kì quặc.  Khi người ta hỏi một trong những giảng viên tuyệt vời của ngành hội họa rằng các học trò của ông ta khác gì với những người cùng thời, ông ta đã trả lời: “Các anh biết đấy tôi cảm thấy điều này rất rõ. Khi mới đến với nghệ thuật chúng tôi muốn làm đảo lộn nó, và chúng tôi không chấp nhận điều gì kém cao quý hơn. Nhưng trải qua thời gian, chúng tôi đã trở thành những họa sĩ chuyên nghiệp và giành được chỗ đứng của mình, chẳng hạn như tại các hãng quảng cáo v.v. Còn hôm nay đến học với tôi là những người ngay lập tức nghĩ làm thế nào vào được các hãng  quảng cáo tốt. Họ đã đặt ra những mục tiêu thiếu sáng suốt”. Liệu trong toán học có thể quan sát thấy cái gì tương tự không?  Có lẽ, chỉ ở thế hệ trước mới không hoàn toàn hiểu một cách rõ ràng rằng để hiểu được tất cả là không thể. Thậm chí toán học thuần túy, hay ngay cả một bộ phận nào đó của toán học thuần túy đã đơn giản là rộng lớn đến nỗi vượt quá khả năng thấu hiểu của con người. Có thể bốn mươi năm trước người ta chưa rõ nhưng bây giờ thì hoàn toàn rõ. Vấn đề về tính phức tạp trong khoa học là một trong những vấn đề trung tâm hiện nay. Bởi vì chị hãy xem quy mô của các dự án khoa học đã trở nên rộng lớn như thế nào, mức độ tập trung của những cố gắng về sức lực, vật chất và nhân lực đòi hỏi để thực hiện một bước ngoặt  trong khoa học là nhiều thế nào, thì chị sẽ hiểu rằng điều này từ lâu đã vượt qua khả năng của cá nhân nhà khoa học.  Ý ông muốn nói rằng nhiều dự án khoa học bây giờ mang tính tổng hợp nhiều nguồn lực. Rằng bên trong  một nước đã không thể tiến hành thí nghiệm ở nhiều lĩnh vực, ví dụ trong vật lý, thiên văn?  Vâng, tôi còn chưa nói đến những cái quá rõ ràng, kiểu như dự án LHC (Larg Hadron Collider-Máy gia tốc hạt lớn). Nhưng ngay trong toán học, để thật sự chứng minh những định lý quan trọng người ta thường phải tiến hành với việc huy động nhiều người khác nhau cùng kiểm định. Khoa học đã quá phức tạp đối với một người.   Nghĩa là đang xây dựng một hệ thống phức tạp các chứng minh mà việc kiểm tra tính đúng đắn của mỗi mắt xích cần thiết phải  có các chuyên gia hẹp?  Đúng vậy, hãy hình dung các anh đang xây một ngôi nhà. Có nghĩa sẽ cần tới thợ nề, thợ ống nước, thợ điện. Tất nhiên nếu để làm cái gì đơn giản cho một căn nhà nghỉ ngoại ô thì với kiến thức của những gì người ta đã dạy [trong các trường phổ thông] và một cuốn cẩm nang là các anh có thể tự làm lấy. Nhưng nếu nói đến làm cái gì đó ở trình độ cao nhất thì phải cần đến những người suốt đời nghiên cứu vấn đề đó. Sự hợp tác tương tự có thể xảy ra ở cùng một bài báo, hoặc có thể là khi một bài báo phải dựa trên kết quả của hàng chục bài khác mà ở đó những người khác đã chứng minh những định lý cần thiết. Tất nhiên trong toán học có những thiên tài khác nhau, họ có thể làm rất nhiều.  Nhưng người làm được tất cả thì không thể có. Theo nghĩa đó thì phải luôn tin vào sức mình, luôn phải hướng tới các ngôi sao nhưng mặt khác sự hiểu biết thực tế về khả năng của mình cũng rất cần. Một sự thực dụng nào đó cũng cần trong toán học.   Nói chung toán học là một khái niệm rất không rõ ràng. Vì rằng trong Toán có toán, giống như trong thể thao có dạng thể thao dành cho các thành tựu cao siêu, và có cả thể thao quần chúng. Về toán học của những thành tựu cao, tôi có cảm giác là nó sẽ sống được ở mức độ này hay mức độ kia. Hiện tại ở Moscow có một loạt các trung tâm khoa học cao cấp: Viện Các vấn đề truyền tin của chúng tôi, Viện Toán cao cấp Scheclop, Đại học Toán học Moscow,  và bây giờ lại mở thêm khoa mới ở Trường kinh tế cao cấp. Đồng thời cũng có kiểu toán học ở trình độ của các kĩ sư trung bình. Hoặc toán học cho các nhà khoa học trong các lĩnh vực ứng dụng toán học. (Nhưng người ta không thể gọi những nhà khoa học này là nhà toán học).   Ở Mỹ học vấn toán học trung bình đang giảm xuống?  Đúng vậy,  thậm chí ở cả những kỹ năng cơ bản cần thiết cho một phần của giấc mơ Mỹ. Ví dụ mỗi người Mỹ đều mơ trở nên giàu có khi về hưu. Nhưng có cảm giác là đa số người Mỹ đều không có những kỹ năng tối thiểu để thực hiện kế hoạch đó – ví dụ một số kĩ năng của lí thuyết xác suất để giúp đưa ra những quyết định tài chính có ý nghĩa. Thậm chí điều này xảy ra cả với những người học vấn tương đối.   Và tôi cũng lo lắng điều này cả ở Nga. Tôi có cảm giác trình độ phổ thông về toán học của Nga không tăng lên. Vinh dự và đáng khen cho những bạn đạt các giải Olimpic của chúng ta. Nhưng điều tôi lo lắng là [người ta không đủ khả năng để ứng dụng toán học, ví dụ như  để cải thiện] sức khỏe của dân chúng.  Vai trò của toán học trong các ngành khoa học xã hội ra sao?  Một câu hỏi phức tạp. Trong các ngành quản lý tài chính, hay quản lý một tài  nguyên nào đó, tất nhiên cần sử dụng toán học phức tạp. Nhưng tôi nghĩ, sẽ chưa có được những mô hình định lượng được những quá trình phức tạp hơn trong những năm tới. Tri thức toán học về các quá trình liên quan đến con người thực là rất phức tạp, tới mức chạm vào ranh giới của cái không thể. Có thể áp dụng toán học ở một số khía cạnh nào đó của cuộc sống ví dụ như dự đoán sự thay đổi tỉ suất hay cổ phiếu. Nhưng việc dự đoán cổ phiếu cũng rất phức tạp, và ai đó chỉ cần dự đoán được cổ phiếu là đã có thể trở nên hết sức giàu có. Bởi vậy ở các ngành khoa học xã hội, chỉ có thể ứng dụng toán học với những cái chỉ đòi hỏi dạng toán học đơn giản.   Toán học đơn giản?  Toán học tất nhiên là phức tạp nhưng toán học ở đây không ở mức phức tạp đòi  hỏi như trong vật lí – toán hiện đại. Toán học ở đây mô tả những quá trình có thể mô tả, chúng khá đơn giản và chúng được mô tả bằng loại toán học đơn giản.  Nếu tạm bỏ qua vấn đề sức khỏe dân chúng, thể xác cũng như trí óc và trở về với số phận khoa học thì xin hỏi một câu. Một trong những chuyên gia trong trường quay hôm nay, nhà vật lí Alekxander Panov, đã trình bày với chúng tôi một số kịch bản cáo chung cho khoa học trong nền văn minh của chúng ta. Ý tưởng cơ bản là khoa học cần phải chấm dứt vai trò thủ lĩnh của sự phát triển của chúng ta. Theo ông điều này có vẻ đúng không?  Một câu hỏi phức tạp. Luôn luôn khó nói về xã hội mà chúng ta đang đối mặt. Do một số nguyên nhân, xã hội theo nghĩa nào đó là đối tượng bị phân chia [thành các nhóm]. Và chừng nào lịch sử chưa kết thúc thì rất khó hiểu ai đúng ai sai, ai thắng ai thua. Đó là sự đối đầu của tất cả các lực lượng, trong đó mọi lí thuyết tất yếu được huy động. Bởi vậy nó bắt đầu tương tác với chính mình. Nhưng có một điều về xã hội chúng ta có thể hiểu rất rõ ràng là: chúng ta đang sống ở thời đại mà trong đó tuổi đời trung bình của một công nghệ tính tới khi nó bị thay thế, hay tuổi đời trung bình của một bước ngoặt khoa học trước khi nó bị thay thế bởi một bước ngoặt khác, đã trở nên ngắn hơn rõ rệt so với đời sống của con người.   Vậy điều này sẽ dẫn đến cái gì?  Đây là điều thú vị. Mặc dù tôi không thể trả lời câu hỏi này. Tôi hoàn toàn có thể hình dung ra tình huống khi phản ứng của xã hội đối với sự phức tạp này thể hiện ở chỗ một số người nghiên cứu khoa học trong khi một số khác không có một hình dung nào về khoa học. Đơn giản vì sự hình dung về khoa học của họ chỉ trong mười năm đã hoàn toàn không phù hợp.   Các nhà bác học, các kĩ sư, những nhà sáng chế công nghệ cao và những người sử dụng các công nghệ ấy – họ thuộc về những thái cực khác nhau. Trong đầu họ là những bức tranh tuyệt đối khác nhau hình dung về việc thế giới được tạo dựng ra sao, và  theo một nghĩa nào đó thì đó là những người nói những ngôn ngữ khác nhau. Liệu ông có cảm giác đấy là một tình huống bất ổn định và nguy hiểm?  Theo một nghĩa nào đó thì điều này là tất yếu. Trong mọi xã hội ở mọi mức độ phức tạp, tất yếu đều có sự phân công chuyên môn hóa, và sau đó người ta lại cố gắng bằng cách nào đó để không vì sự chuyên môn hóa mà mất đi nhận thức về bức tranh tổng thể. Điều thứ nhất là tất yếu, điều thứ hai là mong muốn nhưng không phải khi nào cũng đạt được.   Khi tôi nói rằng xã hội bị phân hóa dưới tác động của khoa học là tôi ngụ ý điều này. Và sự phân công chuyên môn hóa có thể xẩy ra bên trong một xã hội, hoặc có thể giữa các nước khác nhau. Ví dụ ở Hàn Quốc học sinh học từ 7 giờ sáng tới một giờ đêm. Chính xác hơn là tới 10 giờ tối, còn sau đó là các buổi học thêm mà tất cả mọi học sinh đều tham gia. Hình như những học sinh này cố gắng học thuộc các thiết bị được chế tạo như thế nào. Họ sẽ là các kĩ sư của những điện thoại di động mới mà chúng ta sẽ sử dụng.   Các tầng lớp xã hội khác nhau của những xã hội khác nhau, đều có những phản ứng khác nhau đối với điều này. Một số người cố gắng không bị lạc hậu khỏi sự phát triển hết sức nhanh chóng và năng động của khoa học, một số khác thì muốn đơn giản là bỏ qua (và điều này cũng dễ lý giải). Giống như người ta vẫn quan niệm bánh mì là máu của đời sống, nhưng các thợ bánh mì chỉ chiếm một phần nhỏ trong cộng đồng, và hoàn toàn không nhất thiết tất cả mọi người đều biết nướng bánh mì. Khoa học cũng vậy, cũng là một dạng bánh mì, máu của đời sống, và việc mọi người tham gia vào khoa học là điều quan trọng, nhưng không nhất thiết ai cũng phải trở thành nhà khoa học.                             Trần Đức Lịch dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Andrew Wiles – Nhà toán học nổi tiếng bậc nhất thế kỷ 20      Giải thưởng Abel 2016 được trao cho nhà lý thuyết số người Anh, Andrew Wiles với chứng minh cho Định lý cuối cùng của Fermat (còn được biết đến dưới tên gọi định lý lớn Fermat). Định lý này phát biểu rằng, với mọi n>2, phương trình xn+yn=zn không có nghiệm nguyên dương. Giải thưởng trao cho Wiles có giá trị 6 triệu kroner (tương đương 700.000$)    Andrew Wiles bên cạnh định lý cuối cùng của Fermat. Ảnh Charles Rex Arbogast/AP.  Giải thưởng được công bố vào ngày 15 tháng ba năm nay và Andrew Wiles đã hoàn toàn ngạc nhiên khi biết tin.  Việc giải quyết được một vấn đề mà nhiều người coi là vô cùng hóc búa – mà phát biểu lại quá đơn giản – đã đưa Wiles trở thành “nhà toán học nổi tiếng bậc nhất của thế kỷ 20”, giám đốc của Viện Toán học Oxford (vốn được đặt trong một tòa nhà mang tên Wiles), Martin Bridson phát biểu. Mặc dù Wiles đã đạt thành tựu này được hơn hai mươi năm, câu chuyện của ông vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho những người trẻ, điển hình là chuyện các học sinh trung học vẫn tới nghe bài giảng đại chúng của ông. “Chúng coi ông ấy như một ngôi sao nhạc rock”, “Chúng xếp hàng để chờ chụp ảnh cùng Wiles”, Bridson kể.  Câu chuyện của Wiles đã thành một truyện truyền kỳ về sự dẻo dai và bền bỉ. Khi còn ở trường Đại học Princeton vào thập niên 80 thế kỷ trước, ông bắt đầu một chuyến độc hành dài bảy năm, tìm kiếm lời giải cho vấn đề này, làm việc trên gác mái mà không ai khác biết ngoài vợ ông. Ông đã tiếp tục cho tới khi đưa ra một thông báo lịch sử tại một hội thảo ở quê nhà Cambridge, Anh vào tháng sáu năm 1993. Không may hai tháng sau, người ta phát hiện ra trong chứng minh của ông có một lỗi sai nghiêm trọng. Nhưng sau một năm làm việc điên cuồng cùng sự trợ giúp của một học trò cũ của mình là Richard Taylor – hiện đang là giáo sư tại Viện nghiên cứu cấp cao Princeton – ông đã có thể “vá” lại chứng minh. Khi kết quả là hai bài báo được công bố vào năm 1995, và chúng chiếm trọn một số của tờ Annals of Mathematics.  Nhưng sau khi khẳng định ban đầu của Wiles chiếm trọn trang nhất của báo chí trên khắp thế giới, áp lực cứu lấy công trình của mình gần như đã làm tê liệt nhà toán học nhút nhát. “Làm toán trong tình trạng phơi bày trước mắt mọi người thế này không phải phong cách của tôi, và tôi không mong muốn phải lặp lại nữa,” Wiles nói trong một bộ phim tài liệu của BBC năm 1996, vẫn còn run rẩy vì trải nghiệm đó. “Gần như không thể tin nổi rằng ông ấy lại có thể vá được chứng minh” ở thời điểm đó, John Rognes, nhà toán học ở trường Đại học Oslo, thành viên hội đồng giải thưởng Abel, cho biết.  “Đã rất, rất căng thẳng”, Wile nói. “Thật bất hạnh rằng con người chúng ta thành công từ những phép thử và những sai sót. Thất bại là mẹ thành công”.  Wiles biết đến nhà toán học Pháp Pierre de Fermat lần đầu tiên khi còn là một đứa trẻ ở Cambridge. Ông được kể lại rằng Fermat đã phát biểu định lý mang tên mình ở dạng viết tay trên lề của một cuốn sách vào năm 1637 (bằng tiếng Latin): “Tôi đã tìm ra một chứng minh tuyệt vời cho định lý này nhưng lề sách quá chật để ghi lại”.  “Tôi tin đây là một câu chuyện rất lãng mạn,” Wiles nói về ý tưởng của Fermat. “Mẫu câu chuyện này lôi cuốn trí tưởng tượng của người ta khi còn trẻ và muốn bước chân vào thế giới toán học.”  Mặc dù khi ấy Fermat đã nghĩ rằng ông chứng minh được nó, nhưng chỉ một chứng minh cho trường hợp đặc biệt n=4 là còn sót lại. Một thế kỷ sau, Leonhard Euler chứng minh nó cho trường hợp n=3 và công trình của Sophie Germain mang lại chứng minh cho vô hạn các lũy thừa, nhưng vẫn không phải cho tất cả. Các chuyên gia bắt đầu có ý cho rằng để giải quyết trường hợp tổng quát phát biểu trong định lý phải cần đến những công cụ toán học mà chỉ đến thế kỷ 20 mới xuất hiện.  Năm 1983, nhà toán học người Đức, Gerd Faltings, hiện đang làm việc tại Viện Toán học Max Planck ở Bonn, đã tiến một bước rất dài với chứng minh rằng phương trình Fermat cùng lắm chỉ có hữu hạn nghiệm, tuy nhiên ông vẫn chưa thể chỉ ra con số đó phải bằng 0. (Thực tế, ông đã chứng minh được một kết quả mà theo các chuyên gia nhận định là sâu sắc và thú vị hơn định lý cuối cùng của Fermat, nó chỉ ra rằng một lớp rộng hơn các phương trình, có cùng lắm là hữu hạn nghiệm).  Để đưa số nghiệm về không, Wiles đã tiếp cận vấn đề theo một hướng khác: ông chứng minh giả thuyết Shimura-Taniyama, một giả thuyết ra đời những năm 50 thế kỷ trước, miêu tả sự tương đương của hai khái niệm khác nhau của toán học, các đường cong elliptic và các dạng modular. Kết quả từ những nhà toán học khác cho thấy rằng chứng minh được tính tương đương này sẽ giúp suy ra định lý cuối cùng của Fermat – và giống như kết quả của Falting, hầu hết các nhà toán học coi kết quả này là sâu sắc và phong phú hơn chính định lý Fermat. (Toàn văn thông cáo giải thưởng Abel viết “giải thưởng trao cho Wiles vì chứng minh tuyệt diệu của ông cho định lý cuối cùng của Fermat bằng cách sử dụng giả thuyết modular cho các đường cong elliptic nửa ổn định, mở ra một kỷ nguyên mới trong lý thuyết số.”)  Mối liên hệ giữa giả thuyết Shimura-Taniyama và định lý cuối cùng của Fermat được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1984 bởi nhà toán học Gerhard Frey, hiện đang làm việc ở Đại học Duisburg-Essen, Đức. Ông đã khẳng định rằng bất kỳ phản ví dụ nào cho định lý cuối cùng của Fermat cũng sẽ dẫn tới một phản ví dụ cho giả thuyết Shimura-Taniyama.  Kenneth Ribet, nhà toán học ở Đại học California, Berkeley, đã nhanh chóng chứng minh được rằng khẳng định của Frey là chính xác và bởi vậy nếu ai đó chứng minh được giả thuyết này sẽ giải quyết được định lý cuối cùng của Fermat. Dẫu vậy, vấn đề vẫn không đơn giản hơn đi chút nào. “Andrew Wiles có lẽ là một trong số ít người trên Trái đất đủ can đảm để mơ ước rằng ông có thể tiến lên và chứng minh giả thuyết này, “ Ribet trả lời phỏng vấn trong bộ phim tài liệu của BBC vào năm 1996.   Định lý cuối cùng của Fermat cũng có liên hệ với một kết quả sâu sắc khác trong lý thuyết số, có tên gọi là giả thuyết abc, Rognes bình luận. Nhà toán học Shinichi Mochizuki ở Viện nghiên cứu Toán học, Đại học Kyoto, Nhật Bản đã khẳng định rằng ông đã chứng minh giả thuyết này vào năm 2012, mặc dù bản nháp chứng minh dài 500 trang của ông vẫn đang được bình duyệt bởi các đồng nghiệp. Một số nhà toán học nói rằng công trình của Mochizuki có thể cung cấp một cách thức khác để chứng minh định lý cuối cùng của Fermat, mặc dù Wiles nói rằng ông vẫn hoài nghi về kỳ vọng đó.  Wiles đã giúp tổ chức một hội thảo về công trình của Mochizuki ở Oxford, tháng 12 năm ngoái, mặc dù mối quan tâm trong nghiên cứu của ông tương đối khác. Gần đây, ông tập trung nỗ lực vào một giả thuyết mở quan trọng khác trong lý thuyết số, được liệt kê trong danh sách các vấn đề treo giải Thiên niên kỷ của Viện Toán học Clay tại Oxford, Anh. Ông vẫn tiếp tục làm việc chăm chỉ và tư duy về toán học trong hầu hết thời gian thức của mình, ngay cả khi đi bộ đến văn phòng vào buổi sáng. “Ông ấy không muốn đạp xe,” Bridson nói. “Ông nghĩ rằng sẽ tương đối nguy hiểm nếu vừa đạp xe vừa nghĩ về toán học.”Hoàng Mai tổng hợpPhùng Hồ Hải hiệu đính    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh “bật đèn xanh” cho trẻ sơ sinh được biến đổi gene      Theo quan điểm của Hội đồng đạo đức sinh học Nuffield (Anh), việc thay đổi DNA của phôi người có thể nằm “trong giới hạn của đạo đức” nếu nó có lợi cho trẻ em và không tạo thêm bất kỳ loại bất bình đẳng nào vốn đang chia rẽ xã hội.      Triển vọng chỉnh sửa gene trên phôi người từ lâu đã gây tranh cãi kịch liệt. Nguồn: Universal Life Church  Việc tạo ra những em bé với DNA đã được thay đổi nhằm đem lại cơ hội sống tốt nhất cho chúng đã được “bật đèn xanh” một cách thận trọng trong một báo cáo mang tính bước ngoặt từ một cơ quan đạo đức hàng đầu của Anh.  Hội đồng đạo đức sinh học Nuffield phát biểu rằng việc thay đổi DNA của phôi người có thể “trong giới hạn đạo đức” nếu có thuộc về lợi ích của đứa trẻ và không tạo thêm bất kỳ loại bất bình đẳng nào vốn đang chia rẽ xã hội.  Karen Young, chủ tịch hội đồng Nuffield, giáo sư luật, đạo đức và tin học tại ĐH Birmingham nói: “Qaun điểm của chúng tôi là bản thân việc chỉnh sửa gene không phải không thể chấp nhận về mặt đạo đức. Về nguyên tắc, không có lý do để loại trừ nó.”  Nhưng nhiều phe đã lập tức chỉ trích quan điểm này, trong đó có nhóm vận động hành lang cáo buộc các tác giả đã mở cửa cho việc sử dụng kỹ thuật gene vốn có ảnh hưởng đến thế hệ sau, và tạo ra một kỷ nguyên kẻ giàu, người nghèo về gene.  Những tiến bộ gần đây trong công nghệ di truyền đã cho các nhà khoa học nhiều công cụ để có thể “viết lại” DNA ràng buộc trong tế bào sống, lần lượt từng DNA một. Với các phương thức trong tay, về nguyên tắc các nhà khoa học có thể tinh chỉnh mã di truyền trong tinh trùng, trứng và phôi, và thay đổi một cách đáng kể cách trẻ phát triển trong tương lai.  Mặc dù luật pháp ở Vương quốc Anh và một số quốc gia khác cấm việc tạo ra các trẻ em biến đổi gene, một số thử nghiệm trên thế giới chỉ ra rằng về nguyên tắc chỉnh sửa gene có thể giúp trẻ em tránh mặc một số bệnh quan trọng do các gene lỗi.  Triển vọng chỉnh sửa gene trên phôi người từ lâu đã gây tranh cãi kịch liệt. Đầu tiên, quy trình này vẫn chưa được chứng minh là an toàn. Trong một công bố trên Nature Biotechnology, các nhà khoa học Anh đã phát hiện rằng công cụ chỉnh sửa gene phổ biến nhất hiện nay – CRISPR-Cas9 có thể hủy hoại DNA nhiều hơn so với suy nghĩ trước đây. Nếu họ, chỉnh sửa gene có thể làm hỏng nhiều gene khỏe mạnh chỉ để sửa duy nhất một gene lỗi.  Một cân nhắc khác là bất kỳ thay đổi nào thực hiện trên DNA của phôi sẽ ảnh hưởng đến tất cả tế bào của nó, bao gồm cả tinh trùng và trứng, nghĩa là những thay đổi này sẽ được truyền cho các thế hệ tương lai. Ngoài ra, trong phần lớn các quy trình thay thế, ví dụ như chẩn đoán gene tiền cấy phôi, có thể được sử dụng để sàng lọc DNA có hại. Chỉnh sửa DNA cũng làm tăng khả năng có “trẻ sơ sinh được thiết kế” với mã di truyền của phôi được tạo ra thông qua chuẩn IVF được viết lại để trẻ có những đặc điểm mà bố mẹ mong muốn.  Jackie Leach Scully, giáo sư về đạo đức xã hội và đạo đức sinh học tại Đại học Newcastle, và đồng tác giả của báo cáo cho biết, chỉnh sửa gene di truyền một ngày nào đó sẽ trở thành lựa chọn cho những bậc phụ huynh “muốn thử và đảm bảo những gì họ nghĩ là khởi đầu cuộc sống tốt nhất” cho đứa con tương lai.  Nhưng bà cảnh báo rằng có thể có những hậu quả không mong muốn nếu luật được thay đổi để cho phép chỉnh sửa gene của phôi người. Trong khi công nghệ này có khả năng làm giảm số lượng người bị ảnh hưởng bởi một số rối loạn di truyền nhất định, nó có thể khiến những người đang mắc bệnh cảm thấy bị thiệt thòi hơn và ít hỗ trợ y tế hơn.  Báo cáo thúc đẩy chính phủ Anh thiết lập một cách thức mới cho phép có càng nhiều tiếng nói phản biện tham gia vào thảo luận công khai về những gì có thể và không thể chấp nhận trẻ sơ sinh được thay đổi gene. “Chúng tôi trình bày rất rõ ràng là cần phải có là một cuộc thảo luận rộng rãi về vấn đề này,” Leach Scully nói. Trong trường hợp luật thay đổi, việc chỉnh sửa gene phôi người cần được Cơ quan điều chỉnh khả năng sinh sản, Cơ quan thụ tinh và Phôi người xem xét trên cơ sở từng trường hợp, báo cáo cho biết thêm.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/jul/17/genetically-modified-babies-given-go-ahead-by-uk-ethics-body       Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh bổ nhiệm Tân Bộ trưởng khoa học      Nghị sĩ Sam Gyimah đã trở thành Bộ trưởng Bộ Khoa học thay cho Jo Johnson trong cuộc cải tổ nội các mới nhất.      Vương quốc Anh đã bầu Bộ trưởng khoa học mới, một phần trong những thay đổi lớn trong các chức vụ chính phủ quốc gia này. Sam Gyimah, đã chuyển từ Bộ Tư pháp sang giữ chức Bộ trưởng Đại học và Khoa học vào ngày 9/1/2018, thay cho Jo Johnson.  Johnson, người giữ cương vị này từ tháng 5/2015, đã thực hiện nhiều thay đổi quan trọng khi đương chức, sẽ chuyển sang làm Bộ trưởng tại Bộ Giao thông vận tải.  Gyimah, năm nay 41 tuổi, gia nhập Nghị viện từ năm 2010 và được đánh giá là ngôi sao đang lên trong Đảng Bảo thủ. Ông đã vận động để Anh tiếp tục ở lại Liên minh Châu Âu thông qua cuộc trưng cầu dân ý 2016, nhắm đến nhóm cử tri trẻ. Ông cũng kêu gọi những cải cách trong chính sách di dân nhằm tạo thuận lợi cho những chuyên gia như các nhà khoa học máy tính có thể nhận được thị thực.  Theo bà Sarah Main – Giám đốc nhóm vận động hành lang cho Chiến dịch Khoa học và Kỹ thuật, Gyimah được ghi nhận là ít tham gia vào các vấn đề khoa học. Bà cho biết: “Nhưng sự quan tâm trong quá khứ không phải là yêu cầu đối với Bộ trưởng mới mà quan trọng là cần nắm được các yếu tố chính và sẵn lòng lao vào công việc.”  Do Anh đã rời khỏi Liên minh châu Âu nên ưu tiên hàng đầu của Gyimah là đảm bảo duy trì vị trí ưu tiên của khoa học trong suy nghĩ của các nhà đàm phán Brexit. Theo Main, “đây là thách thức lớn trong năm nay khi các cuộc đàm phán ngày càng đi xa hơn và trở nên căng thẳng hơn.”  Đặc biệt, Main hy vọng Gyimah sẽ tiếp tục duy trì tổ chức diễn đàn hàng tháng do Johnson khởi xướng từ cuối năm 2016 dành cho chính phủ, đại diện các trường đại học, cộng đồng đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học cùng thảo luận những chủ đề chung, nhằm thông báo các vị trí hiện tại của Vương quốc Anh trong đàm phán Brexit. Tại diễn đàn, các đại diện của cộng đồng khoa học và giáo dục đại học sẽ tham gia cuộc gặp gỡ cùng với Bộ trưởng Bộ Xuất cảnh Liên minh châu Âu (Anh). Theo Main, thông qua diễn đàn, việc kết nối với Văn phòng Chính phủ sẽ giúp ưu tiên lợi ích của cộng đồng khoa học được nêu trong dự luật xuất nhập cảnh mới.  Trọng tâm giáo dục  Mặc dù ít được biết đến trong cộng đồng nghiên cứu nhưng Gyimah cũng từng bày tỏ sự quan tâm đến giáo dục. Trên website vận đồng bầu cử của mình, ông đề cập đến yếu tố khiến ông gia nhập chính trường do do “thôi thúc từ vai trò tích cực của giáo dục trong cuộc đời tôi và những gì giáo dục có thể làm cho tất cả mọi người.”  Sinh ra ở Vương quốc Anh trong một gia đình có bố mẹ đều là người Ghana, Gyimah đã học tại các trường ở cả Ghana và Anh, và đã có bằng triết học, chính trị và kinh tế của ĐH Oxford (Anh). Ông cũng dành 5 năm làm việc tại ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, sau đó chuyển sang giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực đào tạo, tuyển dụng và Internet.  Trước khi phụ trách Tù nhân và Quản chế tại Bộ Tư pháp, Gyimah đã làm một năm tại vị trí Bộ trưởng phụ trách chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Giáo dục, nơi công việc chính của ông bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em và thanh thiếu niên.  Tranh đấu cho tài trợ  Từ thời Johnson, nhiệm vụ của Bộ trưởng Bộ Đại học và Khoa học vẫn liên quan với cả Bộ Giáo dục và Bộ Kinh doanh, Năng lượng và Chiến lược Công nghiệp.  Nick Hillman, Giám đốc Viện nghiên cứu chính sách giáo dục đại học – một think tank ở Oxford, và giữ chức cố vấn dưới thời Bộ trưởng Bộ Khoa học tiền nhiệm, nói rằng trong vai trò mới của mình, Gyimah sẽ phải làm quen và học hỏi cật lực, đồng thời thắt chặt “mối quan hệ với Bộ trưởng Bộ Tài chính để có điều kiện trao đổi kỹ hơn về ngân sách dành cho khoa học và giáo dục, đặc biệt là ngân sách dành cho R&D”.  Trong thời gian Johnson làm Bộ trưởng, Chính phủ đã cam kết thúc đẩy cả chi tiêu công và tư quốc gia dành cho nghiên cứu và phát triển, từ 1,7% GDP vào năm 2015 lên mức 2,4% GDP vào năm 2017. Việc  hỗ trợ cho khoa học từ các cơ quan cấp cao của chính phủ đồng nghĩa với việc ông phải tập trung vào khoa học, mặc dù phần lớn thời gian của Bộ trưởng mới cũng phải dành cho giáo dục đại học  Trong hơn hai năm đương nhiệm, Johnson đã thực hiện nhiều thay đổi gây tranh cãi trong hệ thống giáo dục đại học và tài trợ nghiên cứu của Anh, được Nghị viện thông qua từ tháng 4/2017. Những thay đổi lớn bao gồm việc thành lập Quỹ Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Anh (UK Research and Innovation), một cơ quan tài trợ cho khoa học với trách nhiệm phân bổ ngân sách nghiên cứu trị giá 6 tỷ bảng Anh (tương đương 7,8 tỷ USD). Johnson cũng chỉ đạo việc ra mắt “Khung xuất sắc trong giảng dạy và kết quả đào tạo sinh viên”, một hệ thống đánh giá chất lượng giảng dạy tại các trường đại học Anh. Main nói: “Chắc chắn Johnson đã làm xáo trộn nhiều thứ nhưng ông ấy cũng làm được rất nhiều việc trong hai năm rưỡi [đương nhiệm]”.   Minh Thuận dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-00396-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh cho phép hiến trứng cho nghiên cứu      Chính phủ Anh hôm 21-2 đã thông qua dự luật cho phép phụ nữ hiến trứng cho các nghiên cứu vô tính và tế bào mầm.    Theo nhà chức trách, những phụ nữ được điều trị vô sinh sẽ được giảm một phần chi phí nếu họ hiến trứng cho nghiên cứu, trong khi những người hiến trứng khác sẽ nhận được khoảng 500 USD cho mỗi lần mang thai để trang trải các chi phí như đi lại hoặc thời gian nghỉ việc.  Trứng được hiến sẽ được dùng để tạo ra các phôi thai vô tính, với hy vọng tạo ra các tế bào mầm. Tế bào mầm có thể trở thành bất cứ một tế bào nào trong cơ thể, và các nhà khoa học tin rằng việc nghiên cứu tế bào mầm có thể giúp chữa trị nhiều căn bệnh như Parkinson, Alzheimer hoặc những bệnh liên quan đến thần kinh vận động.  Tuy nhiên một số chuyên gia nghiên cứu tế bào mầm Anh lo ngại sự thay đổi trong chính sách nghiên cứu tế bào mầm này sẽ khuyến khích phụ nữ hiến tặng trứng chỉ vì lý do tài chính, trong khi các chuyên gia khác cáo buộc nhà cầm quyền xem nhẹ các nguy cơ sức khỏe đối với những người cho trứng.  TƯỜNG VY (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh Diệu      Xin được gọi anh là một hào kiệt và người anh cả của tin học Việt Nam.      Từ trái qua: Kỹ sư Alain Teisonnière, anh Diệu, giáo sư Henri van Regemortor, Đặng Văn Đức và Hồ Tú Bảo (hai cán bộ của Viện) tại hội chợ Báo Nhân Đạo (l’Humanité), Paris 1985. Nguồn: Hồ Tú Bảo.  Đúng nửa thế kỷ trước chúng tôi là những cô bé cậu bé lớp chuyên toán của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sơ tán ở làng Viên Nội bên bờ sông Đáy. Mỗi chiều muộn thứ bảy lại thấy một người đẹp trai đạp xe về Viên Nội thăm vợ là cán bộ đi học ở Khoa Toán mới sinh con. Mọi người bảo nhau đấy là nhà toán học Phan Đình Diệu, mới tốt nghiệp tiến sĩ khoa học ở Liên Xô về nước. Hồi ấy số tiến sĩ khoa học của cả nước chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sáng chủ nhật thấy nhà toán học mang một chậu quần áo tã lót đi giặt, rồi gánh nước từ giếng làng về đổ bể như lũ học trò chúng tôi.  Câu chuyện tuổi thơ ấy bẵng đi chục năm khi tôi đang học dở ngành toán thì đi lính,có những ngày Quảng Trị hè 1972, bị thương và về học tiếp chương trình đại học ngành toán ứng dụng. Ra trường, người bạn thân đang làm ở Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển của Viện Khoa học Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, rủ tôi xin về Viện và dẫn đến gặp Viện trưởng. Gặp lại anh, người gánh nước cùng chúng tôi năm xưa.  Xem tên các môn học rất mới của Khoa Toán-Lý Bách Khoa hồi đó, hỏi về luận án tốt nghiệp và khen học tốt, anh đồng ý nhận tôi về Viện. Ít ngày sau tôi thành một “viện sĩ” như tụi tôi vẫn đùa (cũng lúc ấy có chuyện một cô gái tốt nghiệp ở Đức về, mang lá thư của người bác đang làm Bộ trưởng đến đề nghị anh Diệu nhận về Viện, anh đã dứt khoát từ chối).  Có một thời gian dài là “quân anh Diệu”, nhớ và nghĩ về anh tôi thấy rõ mấy điều sau.  1. Sự dấn thân của anh Diệu vào lĩnh vực tin học (còn được gọi với các tên công nghệ thông tin hay khoa học máy tính). Theo quan sát của tôi, mỗi lĩnh vực khoa học ở mỗi quốc gia có những người vượt trội trong quãng thời gian một vài chục năm. Đó là những người có tài năng xuất chúng và có sự phấn đấu bền bỉ. Trong toán học Việt Nam đó là các giáo sư Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ, rồi nhiều năm sau là Ngô Bảo Châu… Trong tin học tôi nghĩ đấy là anh Diệu.  Trong những năm đầu nghiên cứu toán anh Diệu đã đạt những kết quả rất xuất sắc, và tôi tin anh sẽ làm được rất nhiều nữa nếu tiếp tục con đường này. Nhưng trong những năm tháng chiến tranh ấy chúng ta đã có những chiếc máy tính lớn Minsk 22 của Liên Xô, ODRA 1304 của Ba Lan… và cần dùng chúng cho các nhiệm vụ quốc gia. Được giao trọng trách xây dựng và phát triển ngành tin học, anh Diệu đã dành hầu hết thời gian để tự học và nghiên cứu về tin học, một lĩnh vực mới rất đa dạng và phong phú.  Khác với toán học nơi người làm toán thường nghiên cứu độc lập và có thể chỉ cần bút và giấy, tin học vừa có phần lý thuyết luôn thay đổi rất nhanh, vừa gắn với công nghiệp máy tính (phần cứng), vừa gắn với phát triển các thuật toán và chương trình (phần mềm), và vừa gắn với các hệ thống ứng dụng (ở ta hồi đó là những nhiệm vụ tính toán khoa học trong khí tượng và địa chất…). Dân tin học cũng thường không làm việc độc lập, mà phải liên kết trong cácnhóm. Người phụ trách tin học bắt buộc phải đọc và học nhiều kiến thức khác nhau, thường xuyên thay đổi. Phải có niềm ham mê đặc biệt và một trí lực phi thường mới có thể đọc và hiểu được nhiều thứ như vậy, để có thể dẫn dắt một tập thể, để có thể chia sẻ và thuyết phục một cộng đồng. Và anh Diệu đã làm như vậy.      Kiên định với những quan điểm riêng là điều luôn nhất quán ở anh Diệu.      Trong quỹ thời gian hạn chế, anh Diệu vẫn làm nghiên cứu về toán. Anh viết bài về mật mã, về lập luận xác suất… Anh viết sách về lý thuyết automat và thuật toán, sách về logic toán. Hơn mười năm trước tôi có dịp mời anh thăm Viện Khoa học và Tiên tiến Nhật Bản và trao đổi với giáo sư Ono, chuyên gia hàng đầu về logic toán của Nhật. Câu chuyện của hai vị giáo sư tuổi bảy mươi sôi nổi, sâu sắc, đầy thú vị và uyên bác.  Với anh Diệu, tôi hiểu việc gác lại con đường làm toán để dành tâm sức cho sự phát triển nền tin học nước nhà từ thuở sung sức của đời làm khoa học là một lựa chọn đúng đắn. Anh làm được nhiều hơn cho cộng đồng và đất nước.  2. Tầm nhìn sâu rộng của anh Diệu và những đóng góp của anh về chính sách phát triển tin học quốc gia. Tiêu biểu nhất là ba lần anh Diệu chủ trì việc xây dựng chương trình quốc gia về công nghệ thông tin.  Ngay từ khi mới đi làm tôi đã có dịp xem tập tài liệu rất dầy do anh Diệu và anh Trần Lưu Chương (khi đó phụ trách Cục máy tính của Bộ Khoa học và Công nghệ) viết xong vào năm 1976. Tài liệu này trình bày bức tranh tổng thể về tin học trên toàn thế giới và đề xuất kế hoạch phát triển ngành tin học Việt Nam. Vào năm 1976 sinh viên tụi tôi vẫn lập trình trên các băng từ đục lỗ, thì một chương trình chi tiết như vậy cho thấy người viết đã có tầm nhìn rất xa và cái nhìn đã rõ khi vạch con đường của tin học Việt Nam.  Nhưng đề xuất năm 1976 này đã chưa được phê duyệt. Trong các năm 1981 và 1982, dưới sự chỉ đạo tâm huyết của anh Diệu, nhóm các nhà khoa học trẻ của Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển đã thiết kế và chế tạo chiếc máy vi tính mẫu đầu tiên của Việt Nam, như một trong những chiếc máy vi tính được chế tạo sớm ở châu Á. Vào năm 1984 khi Việt Nam vẫn đang bị cấm vận, anh Diệu lại chủ trì đưa ra một bản mới của chương trình. Vẫn thường được xem là những chiếc máy và chương trình “đẻ non” khi xã hội chưa sẵn sàng, cácbước đi đầu này đã dẫn đến những bước đi tiếp theo.  Không nao núng với hai lần chưa thành công trước đó, anh Diệu- người chấp bút không mỏi mệt- đã có một bản dự thảo của chương trình được phê duyệt vào mùa hè 1994 theo Nghị định 49/CP, và từ đó một chương trình quốc gia về công nghệ thông tin đã được tiến hành.  Năm 1984 khi tôi học xong DEA (chương trình thạc sĩ ở Pháp) về xử lý ảnh và chuẩn bị tiếp tục làm luận án theo hướng này. Trong một bức thư gửi từ Việt Nam qua anh Diệu viết “nếu có thể Bảo nên chuyển qua làm về trí tuệ nhân tạo vì đấy là tương lai của tin học”. Theo lời anh tôi đã chuyển hướng, dù mất công hơn vì chưa biết gì về chuyện này. Bây giờ sau hơn ba chục năm, trí tuệ nhân tạo ngày càng có vai trò thiết yếu trong thời chuyển đổi số, càng thấy tầm nhìn của anh.  3. Những ý kiến đóng góp của anh Diệu về xây dựng đất nước. Là người luôn trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề của phát triển đất nước, anh Diệu đã luôn thẳng thắn nêu những chính kiến của mình.  Đấy là những ý kiến anh phát biểu tại Quốc hội, tại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi anh là thành viên của các tổ chức này. Đấy là các ý kiến khi anh gặp các lãnh đạo cấp cao của Đảng cộng sản và nhà nước. Đấy là các bài viết đầy tâm huyết và trăn trở về con đường phát triển đất nước. Kiên định với những quan điểm riêng là điều luôn nhất quán ở anh Diệu.  4. Mối quan hệ chân tình của anh Diệu với bạn bè và đồng nghiệp. Trong quan sát của tôi, bạn bè nước ngoài đến làm việc ở Việt Nam đều tỏ rõ sự quý trọng với anh. Đó là các nhà triết học của Viện Hàn lâm Nga khi đến Việt Nam đã duy nhất mời anh Diệu viết với họ về triết học trong khoa học, là giáo sư Henri van Regemorter và kỹ sư Alain Teissonnière từ Pháp khi giúp ta phát triển tin học, là vợ chồng nhà toán học Đức Klaus và Angela Krickerberg sang dạy về dịch tễ học, là giáo sư Judy Ladinsky giúp ta xây dựng hợp tác khoa học Mỹ-Việt từ khi đất nước bị cấm vận… Anh Diệu cũng được các anh chị Việt kiều rất quý trọng, và nhiều người đã về giúp Việt Nam theo lời mời của anh. Tôi thấy hầu hết những người làm việc cùng đều quý trọng anh. Anh Diệu không lấy lòng người khác, mà bằng trí tuệ và nhân cách, bằng công việc chung, bằng sự chân tình, anh thu phục lòng người. Với những người trẻ hơn như tụi tôi, anh còn có nhiều chia sẻ, chỉ dẫn ân cần.  Tôi tự hỏi nếu chỉ dùng một vài từ để nói về anh Diệu, sẽ là gì?  Hồi nhỏ tôi mê mẩn “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết về Trần Quốc Toản với hình ảnh của “sáu trăm gã hào kiệt”, và nhớ đến cả nước đã trân trọng gọi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “người anh cả của quân đội nhân dân Việt Nam”. Với anh Diệu, xin được gọi anh là một hào kiệt và người anh cả của tin học Việt Nam.  Năm 1954 sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, vừa học xong phổ thông ở quê Hà Tĩnh, như nhiều chàng trai trẻ miền Trung đầy nghị lực, anh Diệu đi bộ ra Hà Nội thi vào trường Đại học Khoa học, rồi theo học trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp thủ khoa ngành Toán, anh tham gia giảng dạy ở đây 5 năm cho đến 1962 được cử đi làm nghiên cứu sinh về Toán ở trường Đại học Tổng hợp Moscow. Lĩnh vực nghiên cứu lúc đó của anh Diệu là toán học kiến thiết. Nói nôm na, đây là lĩnh vực nhằm không những chỉ ra các sự “tồn tại” trong toán học mà còn chỉ ra liệu “ta có thể xây dựng” được chúng với các thuật toán. Luận án tiến sĩ khoa học của anh Diệu dựa trên sáu bài báo anh đăng trên tạp chí “Doklady Akademii Nauk” nổi tiếng ở Nga, sau được in trong cuốn sách “Một số câu hỏi về giải tích hàm kiến thiết” ở Nga và ở Mỹ. Năm 1967 sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học, anh Diệu về nước tham gia xây dựng Phòng Toán học Tính toán của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tiền thân của Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (cũng như các Phòng Toán học, Phòng Vật Lý… là tiền thân của Viện Toán học, Viện Vật lý… của Viện Khoa học Việt Nam).  Theo báo KH&PT    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Ảnh hưởng chưa biết của công nghệ nano      Những nghiên cứu gần đây đã ngụ ý rằng một số hạt nano có thể gây ung thư. Các hạt nano đủ nhỏ để bị bỏ qua khi đi qua màng tế bào nhưng cũng đủ lớn để mang theo các chất lạ bên ngoài vào giữa các sợi DNA.      Không có nghiên cứu dài hạn nào về vấn đề này, nhưng các nhà khoa học đã nhìn thấy ung thư não phát triển trong những con cá đã tiêu hóa một lượng nhỏ các hạt nano carbon. Những con chuột mà hít phải các ống nano carbon thì bị các vấn đề về phổi tương tự như các bệnh về phổi do amiăng gây ra.    Thanh Vân (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảnh hưởng của Darwin đối với lối suy nghĩ hiện đại      Con người của thế kỷ 21 tất nhiên là có cái nhìn khác xa so với con người của thế kỷ 19. Sự biến chuyển này có nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do sự phát triển chóng mặt của công nghệ. Nhưng có một phần quan trọng của sự biến chuyển này được bắt nguồn từ những ý tưởng của Darwin.    Vào năm 1850, hầu hết các nhà triết học và khoa học nổi tiếng nhất đều là những tín đồ Cơ-đốc giáo. Thế giới mà họ sống được tạo ra bởi Thượng đế. Và các nhà thần học vẫn tuyên bố một cách tự nhiên rằng, Thượng đế đã xây dựng những quy luật sâu sắc để đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo của các sinh vật đối với môi trường sống. Nhưng sự ra đời tác phẩm Nguồn gốc các Loài(1859) của Charles Robert Darwin đã hoàn toàn xung đột với tư tưởng phổ biến đó.  Thứ nhất, thuyết Darwin đã gạt bỏ tất cả những hiện tượng siêu nhiên. Thuyết tiến hoá bằng chọn lọc tự nhiên giải thích sự thích nghi và đa dạng của giới sinh vật chỉ theo chủ nghĩa duy vật. Nó không đòi hỏi Thượng đế như một đấng sáng tạo hay một nhà thiết kế nữa (mặc dù, nếu chấp nhận thuyết tiến hoá, chắc chắn là người ta tự do tin vào Thượng đế). Darwin đã chỉ ra rằng, sự sáng tạo đó như được mô tả trong Kinh thánh và trong thần thoại của các nền văn hoá khác bị mâu thuẫn với hầu hết các khía cạnh của giới tự nhiên. Việc tách Thượng đế ra khỏi khoa học đã tạo điều kiện cho sự giải thích một cách chặt chẽ các hiện tượng tự nhiên; mở đường cho chủ nghĩa thực chứng cũng như một cuộc cách mạng trí tuệ và tâm linh mạnh mẽ.  Thứ hai, Darwin đã chống lại khoa học kiểu hình (typology). Từ thời Pythagore và Plato, khái niệm tổng quát về sự đa dạng của thế giới đã nhấn mạnh sự bất biến và ổn định của nó. Quan điểm này được gọi là khoa học kiểu hình hay bản chất luận. Ngược lại, sự biến đổi là ngẫu nhiên và phi bản thể luận. Khoa học kiểu hình không có khả năng đem lại sự biến đổi cho nên nó đã dẫn đến một định kiến sai lệch về các dân tộc. Đối với các nhà kiểu hình học, những người Cáp-ca (da trắng), châu Phi, châu Á hay Eskimo là có nguồn gốc khác nhau, xuất phát từ những nhóm dân tộc khác nhau. Lối suy nghĩ này dẫn đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Darwin đã hoàn toàn gạt bỏ tư duy kiểu hình và đưa vào một khái niệm hoàn toàn khác được gọi là tư duy quần thể (population thinking). Tất cả các nhóm cơ thể sống, kể cả loài người là những quần thể bao gồm những cá thể và mỗi cá thể đều có sự khác biệt nhất định so với các cá thể còn lại. Chẳng hạn, trong số 6 tỷ người, không thể có hai người giống nhau hoàn toàn. Các quần thể biến đổi không phải do bản chất của chúng mà là do những sự khác nhau mang tính thống kê. Bằng việc gạt bỏ sự bất biến của quần thể Darwin đã thúc đẩy sự phát triển của một phương pháp diễn giải mới trong khoa học.                      Thứ ba, lý thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin đã khiến thuyết cứu cánh (teology, hay mục đích luận: cho rằng mọi sự vật đều có mục đích nội tại) trở nên không cần thiết. Kể từ thời Hy Lạp, đã có một niềm tin phổ biến về sự tồn tại của một nguyên nhân chi phối sự diễn biến của toàn thế giới. Cái “nguyên nhân cuối cùng” này là một trong những nguyên nhân được chỉ ra bởi Aristote. Sau khi không thành công khi cố gắng giải thích các hiện tượng sinh học, Kant cũng đã phải nhờ đến cái “nguyên nhân” của thuyết cứu cánh này. Thậm chí sau năm 1859, những giải thích dựa trên thuyết cứu cánh cũng vẫn tiếp tục được sử dụng khá phổ biến trong sinh học tiến hóa.  Thứ tư, Darwin đã thực sự tránh xa thuyết tiền định. Laplace đã nghĩ rằng, nếu có một sự hiểu biết hoàn toàn về thế giới hiện nay cũng như các quá trình của nó thì ông có thể tiên đoán được tương lai tới vô cùng. Trong khi đó, Darwin tin vào tính phổ quát của sự ngẫu nhiên và may rủi qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Việc sự may rủi đóng một vai trò quan trọng trong những quá trình tự nhiên đã là một suy nghĩ khó chịu đối với nhiều nhà vật lý. Mọi người vẫn biết câu nói phản đối của Einstein: “Thượng đế không chơi xúc sắc”. Dĩ nhiên, như đã nói từ trước, chỉ bước đầu tiên trong chọn lọc tự nhiên, sự tạo ra các biến đổi mới là vấn đề của sự ngẫu nhiên. Còn sang bước thứ hai, sự chọn lọc thực tế lại là có tính định hướng.  Nhiều nhà sinh học và triết học đã chối bỏ sự tồn tại của các định luật phổ quát trong sinh học và đề xuất rằng, tất cả những hiện tượng mang tính quy luật nên được phát biểu theo các thuật ngữ xác suất.  Thứ năm, Darwin đã phát triển một cái nhìn mới về loài người. Trong tất cả các đề xuất của Darwin, điều làm những người cùng thời với ông khó chấp nhận nhất chính là lý thuyết nguồn gốc chung được áp dụng cho cả Con Người. Đối với các nhà thần học và nhiều nhà triết học, Con Người là một sinh vật ở trên và tách hẳn ra khỏi những sinh vật khác. Aristote, Descartes và Kant đều đồng tình với quan niệm này. Nhưng các nhà sinh học Thomas Huxley và Ernst Haeckel, qua nghiên cứu kỹ lưỡng về giải phẫu đã thấy rằng, loài người và loài vượn rõ ràng là có chung tổ tiên. Nhận định này đã từng là một vấn đề nghiêm trọng chưa từng có trong khoa học.  Nói một cách chặt chẽ, cho dù như vậy nhưng những sự kiện này đã không dẫn đến sự kết thúc của luận thuyết coi con người là trung tâm (anthropocentrism). Nghiên cứu đã cho thấy rằng, bất kể vấn đề nguồn gốc thì con người vẫn là độc tôn trong giới hữu cơ. Trí thông minh của con người không hề nối kết với trí thông minh của bất cứ sinh vật nào khác. Con người là những sinh vật duy nhất có ngôn ngữ thực sự, bao gồm ngữ pháp và cú pháp. Chỉ có con người, như Darwin đã nhấn mạnh, mới phát triển được những hệ thống đạo đức thực sự và xây dựng được một nền văn hóa phong phú.  Thứ sáu, Darwin đã đặt ra một nền tảng khoa học về đạo đức. Một câu hỏi thường xuyên được đặt ra và thường xuyên bị tránh né là liệu sự tiến hóa có giải thích một cách xác đáng những đạo đức lành mạnh của con người hay không. Nhiều người băn khoăn là, nếu sự chọn lọc đem đến nhiều hơn cho một cá nhân khả năng tồn tại và phát triển thì sự ích kỷ thuần túy như vậy có dẫn đến bất cứ thứ đạo đức lành mạnh nào không. Có một học thuyết xã hội được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi Spencer đã cố gắng sử dụng sự chọn lọc tự nhiên nhưng vì đó là sự áp dụng không đến nơi đến chốn nên nó không đúng với thực tế và cũng  không ăn nhập với sự phát triển của đạo đức.    Tuy nhiên, hiện nay chúng ta biết được rằng, trong một loài có tổ chức xã hội thì không phải chỉ một cá nhân mà là toàn bộ nhóm xã hội cũng được xét đến như mục tiêu của sự chọn lọc. Darwin đã áp dụng sự giải thích này cho loài người trong tác phẩm Nguồn gốc loài Người (1871). Sự tồn tại và thịnh vượng của một nhóm xã hội phụ thuộc vào mức độ sự liên kết hòa hợp của các thành viên trong nhóm và đặc tính này phải được dựa trên chủ nghĩa vị tha (altruism). Với sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của nhóm, chủ nghĩa vị tha đó cũng gián tiếp tạo ra sự thích nghi phù hợp của các thành viên trong nhóm.  Trong những năm gần đây, những sự chọn lọc dựa trên chủ nghĩa vị tha như vậy đã được minh họa ở nhiều loài động vật có tổ chức xã hội. Có lẽ chúng ta có thể nói gọn lại về mối quan hệ giữa đạo đức và tiến hoá: một thiên hướng vị tha và sự gắn kết hoà hợp trong những tổ chức xã hội chính là tiêu chí của chọn lọc tự nhiên.  Ảnh 2  Những lối suy nghĩ mới đã và đang phát triển. Hầu như mọi thành tố trong hệ thống niềm tin của con người hiện đại, ở mức độ nào đó, đều chịu ảnh hưởng từ những nguyên lý Darwin.  Trung Trung (trích dịch từ Scientific American)       Ernst Mayr      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảnh hưởng của KHXH Xô viết tới KHXH Việt Nam: “Nửa vời” về lý thuyết      Khoa học xã hội (KHXH) Xô viết đã ảnh hưởng “bao trùm” lên KHXH Việt Nam trong giai đoạn 1950 – 1990 và còn nhiều dư âm cho tới tận ngày nay. Tuy nhiên, dấu ấn về lý thuyết lại không rõ ràng và “nửa vời”.      Sergei Aleksandrovich Tokarev, tác giả cuốn “Những hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng” đã được dịch ra tiếng Việt và có ảnh hưởng rất lớn tới giới KHXH Việt Nam. Nguồn ảnh: Wikipedia.  Đó là những nội dung chính được nhiều nhà nghiên cứu từ các chuyên ngành khác nhau như triết học, lịch sử, nhân học, khảo cổ, văn hóa học… thảo luận tại Hội thảo “Những ảnh hưởng và dấu ấn của Dân tộc học Xô-Viết trong nhân học ở Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XX” tại ĐH KHXH&NV Hà Nội ngày 21/6.  Những nhà KHXH tên tuổi như GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, GS Đặng Nghiêm Vạn… đều từng chịu ảnh hưởng nhiều hoặc ít từ học thuật Xô viết. KHXH Xô viết không chỉ ảnh hưởng lên KHXH Việt Nam mạnh mẽ trong giai đoạn từ 1950 – 1960 cho tới 1990, mà cho đến tận ngày nay vẫn dễ dàng tìm thấy dấu ấn của nền học thuật này. Học thuật Xô viết ảnh hưởng được lên KHXH Việt Nam thông qua hai con đường trực tiếp và gián tiếp: một số lượng lớn các nhà khoa học Việt Nam được đào tạo, truyền thụ bởi các nhà KHXH Xô Viết; còn lại là rất nhiều nhà khoa học chưa từng đặt chân tới Liên Xô nhưng lại được “truyền nghề” hoặc ngấm tư tưởng của nền học thuật đó một cách “thụ động” từ những người đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng học thuật Xô Viết.  Biểu hiện ảnh hưởng rõ ràng nhất của KHXH Xô viết thể hiện ở cơ cấu tổ chức của các viện chuyên ngành, định hướng chủ đề nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu, theo PGS.TS Vương Xuân Tình, nguyên viện trưởng Viện Dân tộc học (thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Ví dụ, mô hình của Viện Dân tộc học rất giống với Viện dân tộc học Liên Xô khi phân chia các phòng ban: Phòng địa lý học tộc người, xã hội học tộc người, các nhà khoa học được đào tạo ở Liên Xô cũng thường nắm vai trò lãnh đạo chủ chốt ở Viện. Những chủ đề nghiên cứu mà nhiều nhà dân tộc học Việt Nam theo đuổi là phân loại, xác định thành phần tộc người, lịch sử tộc người, các đặc điểm kinh tế văn hóa của tộc người… vốn là “truyền thống” của dân tộc học Xô viết. Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết của dân tộc học Xô viết lại “không rõ ràng lắm ngoài việc nói về nguyên tắc phải tuân thủ lý thuyết của Mác – Lê nin”. Tương tự, đối với ngành Khảo cổ học, theo PGS.TS Lâm Mỹ Dung, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử Đại học KHXH&NV: “Khảo cổ học Việt Nam chịu ảnh hưởng của khảo cổ học Xô viết nhưng điểm khác biệt căn bản là khảo cổ học Việt Nam không tiếp cận lý thuyết. Các GS Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng thường kiến giải các vấn đề bằng nền tảng kiến thức dày dặn của mình chứ không áp dụng ‘cứng nhắc’ ý thuyết Mác – Lênin”.  Lý giải về hiện tượng áp dụng lý thuyết trong KHXH Xô viết một cách “bối rối”, “nửa vời” hoặc “xanh vỏ, đỏ lòng”, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng, Phó chủ nhiệm khoa Triết học, ĐH KHXH&NV Hà Nội, người đã từng học tập, nghiên cứu ở Liên Xô và CHLB Đức cho rằng: “Rất nhiều cán bộ được cử đi học tại Liên Xô và các nước Đông Âu không nắm vững một cách bài bản lý thuyết. Thậm chí tài liệu dịch thuật về lý thuyết trong KHXH Xô viết có rất nhiều điểm không chính xác. Ngoài ra, các nhà KHXH Liên xô và Việt Nam rất ít khi có dự án hợp tác nghiên cứu chung”.  Ngày nay, giới KHXH Nga đã cất lời “ai điếu” cho những lý thuyết cũ không còn phù hợp trong thời kỳ Xô viết và cơ cấu lại các cơ quan nghiên cứu. Các lý thuyết lớn như lý thuyết về tộc người – Ethnos phát triển những năm 1960 gây được ảnh hưởng lớn nhằm phân loại các cộng đồng tộc người trong lịch sử đã “lùi vào lịch sử” chứ không còn được áp dụng trong thực tiễn. Còn ở Việt Nam, từ sau 1990, KHXH Việt Nam đã bước vào giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa và đang dần “giã từ” KHXH Xô viết, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV Hà Nội.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Ảnh hưởng từ chuyển giao quyền lực trên chính trường tới các cơ quan khoa học hàng đầu ở Mỹ      Bãi bỏ việc hợp pháp hóa nghiên cứu tế bào gốc, đảo ngược Đạo luật cải tổ Y tế Obamacare, nới lỏng các tiêu chuẩn phê duyệt an toàn thực phẩm của FDA, chuyển hướng nghiên cứu tập trung của NASA từ sao Hỏa sang Mặt trăng, đó là những hệ quả quan trọng có thể xảy ra do sự chuyển giao chính quyền vào tay vị Tổng thống Mỹ mới đắc cử Donald Trump, đặc biệt trong bối cảnh các nhà chính trị thuộc Đảng Cộng hòa chiếm vị thế áp đảo trên nghị trường. Tạp chí Nature đã điểm qua một số những biến động nhiều khả năng sẽ diễn ra tới đây tại các cơ quan khoa học trọng yếu của Mỹ.      Nhóm chuyển giao của ông Trump đã công bố lựa chọn Hạ nghị sĩ, bác sĩ Tom Price là người đứng đầu Bộ Y tế và Dịch vụ dân sinh Hoa Kỳ.  Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ  Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) từng có nhiều tham vọng dưới thời Tổng thống Barack Obama, nhưng nay, những chương trình lớn của Viện về nghiên cứu não người, cá thể hóa những phương pháp điều trị y tế1 và điều trị ung thư, đang đứng trước tương lai đầy bất định. Nghiên cứu não bộ thông qua những đột phá về công nghệ thần kinh (BRAIN) dường như có khả năng được tiếp tục do Quốc hội Mỹ đã tăng ngân sách hằng năm kể từ khi chương trình này được khởi xướng vào năm 2013. Tương lai của Sáng kiến y học chính xác (Precision Medicine Initiative), khởi xướng vào năm 2015, là không chắc chắn, còn sáng kiến Cancer Moonshot được đề xuất vào năm nay nhiều khả năng sẽ không được cấp nguồn kinh phí cần thiết.  Nghiên cứu tế bào gốc phôi và tế bào gốc mà NIH đã thiết lập cũng có thể một lần nữa trở thành điểm nóng. Ông Obama đã hợp pháp hóa nghiên cứu tế bào gốc do chính quyền liên bang tài trợ vào năm 2009 thông qua một sắc lệnh mà tới đây ông Trump có thể tùy ý bãi bỏ. Nghiên cứu liên quan đến các mô của bào thai cũng tiếp tục gây tranh cãi: ngày 16/11, Quốc hội Hoa Kỳ đã phê chuẩn 800.000 USD cho một nhóm tiếp tục tiến hành điều tra về việc liệu các nhà nghiên cứu, những người sử dụng mô này và những người cung cấp mô có vi phạm luật không.  Giám đốc NIH, Francis Collins, nói rằng ông có kế hoạch đệ đơn từ chức vào đầu tháng 12. Collins cũng không nói liệu ông Trump có đề nghị ông tiếp tục lãnh đạo, hay sẽ xem xét đơn từ chức. Vào ngày 29 tháng 11, nhóm chuyển giao của ông Trump đã công bố lựa chọn người đứng đầu Bộ Y tế và Dịch vụ dân sinh Hoa Kỳ, bao gồm cả NIH, là Hạ nghị sĩ, bác sĩ Tom Price (thuộc Đảng Cộng hòa, Georgia), một người ủng hộ bãi bỏ Đạo luật cải tổ Y tế Obamacare và phản đối sáng kiến Cancer Moonshot của ông Obama.  Cục quản lí dược phẩm và thực phẩm  Việc dư luận suy đoán rằng ông Trump sẽ đẩy mạnh nới lỏng các tiêu chuẩn phê duyệt tại Cục quản lí Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) đã đẩy cổ phiếu dược phẩm tăng lên và khiến tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng rất bất bình. Những người giám sát cơ quan này – nơi được xem là đang thiếu nguồn lực thực thi nhiệm vụ ban hành các văn bản pháp luật ngày càng tăng – cũng lo ngại về tuyên bố ngừng tuyển dụng nhân sự liên bang của ông Trump. Những phê phán ông Trump đưa ra trong chiến dịch tranh cử của mình về “cảnh sát thực phẩm FDA” cho thấy rằng những quy định an toàn thực phẩm cũng có thể bị đe dọa.  Ông Trump sẽ có thể bổ nhiệm một ủy viên FDA mới, nhưng cho đến giờ vẫn chưa rõ ông sẽ chọn ai. Một số nhà lập pháp Đảng Cộng hòa đã kêu gọi ông giữ nguyên ủy viên hiện tại, bác sĩ tim mạch Robert Califf, người có nhiều thập kỉ chạy các thử nghiệm lâm sàng, giúp ông có kinh nghiệm trong ngành.  Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh  Một trong những tuyên bố mạnh mẽ nhất mà ông Trump đã đưa ra về y tế công cộng là vào năm 2014, khi ông ủng hộ việc cấm người dân từ những vùng bị lây nhiễm Ebola vào Hoa Kỳ – một lập trường bị các quan chức và các nhà khoa học y tế công cộng phản đối. Vào tháng Tám, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) đã đề nghị thiết lập một quy định để cập nhật những chính sách về kiểm dịch sau khi bùng phát dịch bệnh. Tương lai của quy định đó là không chắc chắn.  CDC cũng có thể bị ảnh hưởng nếu ông Trump và Quốc hội Hoa Kỳ phản đối Đạo luật cải tổ Y tế Obamacare. Việc bác bỏ luật chăm sóc sức khỏe cũng có thể xóa bỏ Quỹ dự phòng và y tế công cộng. Quỹ này – gồm 1,4 tỉ USD vào năm 2016 – đã được sử dụng để phát triển một số chương trình tại CDC.  Cơ quan Bảo vệ môi trường  Ông Trump chỉ trích những chính sách môi trường “khắc nghiệt” của ông Obama và cam kết sẽ rút bỏ rất nhiều chính sách trong số này. Trong đó bao gồm các đạo luật về khí hậu được Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) xây dựng; trong số này là những quy định giảm phát thải khí nhà kính từ các nhà máy điện. Các đạo luật này cũng yêu cầu EPA đưa ra các quy định điều chỉnh carbon và các chất gây ô nhiễm không khí, trên cơ sở đó các nhà bảo vệ môi trường đang chuẩn bị tiến hành một số vụ kiện để đảm bảo các quy định này được thực thi. Nhưng chính quyền của ông Trump có thể cắt giảm ngân sách của EPA để cản trở việc xây những quy định mới hoặc thực thi quy định hiện có.  Bộ Năng lượng Hoa Kỳ  Ban Khoa học của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ chi tiêu hơn 5 tỉ USD cho nghiên cứu mỗi năm vào những lĩnh vực như vật lí năng lượng cao, năng lượng sạch, biến đổi khí hậu và sinh học. Cục An ninh hạt nhân Quốc gia của Bộ Năng lượng cũng giám sát chương trình vũ khí hạt nhân trị giá 8,8 tỉ USD của nước này. Chính quyền của ông Obama đã cố gắng tăng đầu tư trong nghiên cứu ứng dụng năng lượng sạch, nhưng ông Trump có thể chuyển sự tập trung này trở lại nhiên liệu hóa thạch và năng lượng hạt nhân tiên tiến.  Cục quản lí Đại dương và Khí quyển quốc gia Hoa Kỳ  Cục quản lí Đại dương và Khí quyển quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) theo dõi thời thiết, nghề cá của Hoa Kỳ và khí hậu Trái đất. Cơ quan này vận hành các tàu nghiên cứu, máy bay, vệ tinh và lực lượng vũ trang trong khi dành khoảng 490 triệu USD mỗi năm vào khoa học khí quyển, đại dương và hệ sinh thái.  Vào tháng 12 năm 2008, chỉ một tháng sau cuộc bầu cử, ông Obama đã khiến các nhà khoa học bất ngờ, khi tuyên bố ý định đề cử nhà sinh thái biển Jane Lubchenco đứng đầu NOAA – cơ quan này thông thường không nằm trong những ưu tiên hàng đầu của một người sắp làm Tổng thống. Trái lại, nó vẫn chưa rõ ràng khi nào thì nhóm chuyển giao của ông Trump sẽ xem xét những ứng viên đứng đầu NOAA.  Cục khảo sát địa chất Hoa Kỳ  Cơ quan này tiêu tốn 1 tỉ USD mỗi năm cho điều phối hoạt động nghiên cứu khoa học về thiên tai, các nguồn tài nguyên như nước, khoáng sản và môi trường. Những cắt giảm ngân sách trong thời chính quyền của ông Obama đã đe doạ đến các trạm thủy văn theo dõi lũ lụt, cũng như việc theo dõi núi lửa và động đất. Tới đây, dưới chính quyền của ông Trump, các chương trình về biến đổi khí hậu và thay đổi việc sử dụng đất của chương trình này có thể bị đe dọa.  Giám đốc hiện tại, Suzette Kimball, là một viên chức chính trị được bổ nhiệm, người gần như chắc chắn sẽ rời vị trí trước khi chính quyền mới nắm quyền. Phó giám đốc William Werkheiser sẽ có thể trở thành quyền giám đốc cho đến khi vị trí lãnh đạo thường trực được phê duyệt. Việc lựa chọn vị trí lãnh đạo của cơ quan này yêu cầu có sự thông qua của Thượng viện và vấn đề này có thể trở thành một cuộc tranh chấp chính trị.  NASA  Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ có thể phải chuyển hướng tập trung từ Trái đất và sao Hỏa sang Mặt trăng. Một số cố vấn của ông Trump như Hạ nghị sĩ Newt Gingrich, là một trong những người ủng hộ việc đưa các nhà du hành trở lại Mặt trăng. Hai cố vấn không gian của ông Trump đã đề xuất cắt giảm các chương trình quan sát Trái đất của NASA hoặc chuyển các chương trình này sang các cơ quan khác như NOAA. Và kế hoạch kéo một tiểu hành tinh vào quỹ đạo Mặt trăng để nghiên cứu sâu hơn của chính quyền ông Obama dường như sẽ phải đối mặt với viễn cảnh bị cắt giảm kinh phí.  Người quản lí hiện tại của NASA, Charlie Bolden, một nhà cựu du hành và là người trung thành với ông Obama, chắc chắn rời vị trí vào tháng Một khi ông Trump nhậm chức. Những cái tên được thảo luận có khả năng thay thế bao gồm cựu lãnh đạo NASA, Michael Griffin; Dân biểu Jim Bridenstine (Đảng Cộng hòa, Oklahoma), người rất tích cực trong các vấn đề về không gian; và nhà cựu du hành Eileen Collins, người đã phát biểu đề cử ông Trump tại đại hội Đảng Cộng hòa hồi tháng Bảy.  Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ  Quỹ khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF) tài trợ cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản khác nhau, với tổng số tiền khoảng 7,5 tỉ USD mỗi năm. Không rõ nguồn ngân sách này tới đây sẽ chịu ảnh hưởng ở mức độ nào khi mà trong các năm gần đây, các thành viên của Đảng Cộng hòa tại Quốc hội vẫn luôn đặt ra những câu hỏi về việc chi tiêu của quỹ này cho khoa học xã hội và khoa học địa chất, bao gồm nghiên cứu biến đổi khí hậu.  T.N.Vũ lược dịch theo Nature  http://www.nature.com/news/tracking-the-trump-transition-agency-by-agency-1.21032  ——-  1 Phương pháp điều trị y tế tùy biến với quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân dựa trên thông tin di truyền và đặc thù căn bệnh của họ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảnh Mặt Trăng thật hay giả?      Tiếp sau Mỹ, Liên Xô (Nga), EU và Nhật, Trung Quốc đã phóng vệ tinh Hằng Nga-1 lên quỹ đạo của Mặt trăng (MT). Báo chí TQ đánh giá đây là sự kiện lớn nhất năm 2007 của nước họ. Những bức ảnh đầu tiên do Hàng Nga-1 gửi về dấy lên một cuộc tranh luận: Ảnh Mặt trăng thật hay giả?        Chụp và làm ảnh MT    HN-1 chụp ảnh MT và gửi số liệu về Trái Đất để xử lý làm thành ảnh. Khi xử lý, TQ đã tham khảo số liệu ảnh ở vị trí tương ứng trong kho ảnh của Clementine Base Map (vệ tinh Clementine của Mỹ chụp năm 1994) làm ảnh gốc để định vị, vì thế ảnh của TQ giống ảnh của Mỹ. Máy chụp ảnh 3 chiều của HN-1 thu hình theo kiểu quét, mỗi lần chụp trải theo vệt ứng. Bức ảnh đầu tiên ghép bởi 19 vệt ảnh; vệ tinh bay hết 19 vòng quanh MT mới chụp xong một ảnh với tổng thời gian gần 48h. Ảnh chụp dưới ánh sáng Mặt Trời, trong khi HN-1 bay từ Nam lên Bắc.  Nhận xong số liệu ảnh đầu tiên và sau đó ghép xong ảnh 2D, độ phân giải đạt 120 m, tức cao hơn ảnh của Clementine (150m). Đích thân Thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo công bố bức ảnh MT đầu tiên của HN-1 (hình 1).  Tấm ảnh ghép đầu tiên chỉ lấy phần ảnh của vùng cao địa gần Nam Cực, phía Trái Đất có thể nhìn thấy bằng mắt thường.  Một vụ bịp bợm khoa học chăng ?  Ngay sau đó, một số cư dân mạng TQ tung ra nhận xét: bức ảnh MT đầu tiên giống hệt ảnh MT do vệ tinh Mỹ chụp đã công bố năm 2005. Do đó họ ngờ đây là bản copy ảnh của Mỹ; nói khác đi nghĩa là TQ chưa hề phóng HN-1 và chụp được ảnh MT.                               Một vụ bịp bợm khoa học nữa chăng? Thực ra, ảnh chụp cùng một vùng của MT thì phải giống hệt nhau, bởi MT hầu như không có biến đổi, vì trên đó không có không khí, nước và sinh vật. Lẽ ra giải thích như thế là đủ. Khi bác bỏ tin đồn ảnh MTTQ là ảnh giả, nhà khoa học đầu ngành của CTMTTQ, viện sĩ Âu Dương Tự Viễn, lại dựa vào phát hiện “ảnh MTTQ có thêm một hố thiên thạch (crater) nhỏ” (hình 2, chỗ có khuyên đỏ) để chứng minh ảnh này khác với ảnh của Mỹ, và nói sự khác biệt này có thể là do ảnh Mỹ có độ phân giải thấp, hoặc do từ 1994-2007 có một thiên thạch rơi xuống MT tạo ra hố này.  Lập tức, tin “HN-1 phát hiện hố crater mới” khiến các nhà khoa học nước ngoài quan tâm.  Phát hiện “ảnh MTTQ có thêm 1 crater” do Liu Jun (người Canada gốc Hoa) đưa ra, nhằm chứng minh ảnh MTTQ là ảnh thật. Tại Diễn đàn trên mạng do Đài Thiên văn Thượng Hải tổ chức, một cư dân mạng có biệt hiệu Mắt Đẹp cho biết 2 hố crater ấy thực ra chỉ là 1 nhưng do sai sót xử lý số liệu nên xuất hiện 2 lần! Còn trên Weblog cuả Planetary Society (Hội khoa học hành tinh) xuất hiện bài viết của nhà thiên văn Mỹ Emily Lakdawalla, đưa ra lập luận chứng minh ảnh MTTQ không phải là ảnh giả; đồng thời khẳng định HN-1 không phát hiện thêm crater nào cả. (hình 3: một hố rộng 4 km trên ảnh của Mỹ bên trái lại trở thành 2 hố trên ảnh TQ bên phải – xem www.planetary.org/blog/article). Phát hiện quan trọng của Mắt Đẹp và Emily khẳng định làm chuyển hướng cuộc tranh cãi và đòi hỏi cải chính tin “HN-1 phát hiện được một hố thiên thạch mới”.  Sai do đâu ?  Hai tác giả trên đã so sánh ảnh MTTQ với ảnh trong một trang web lấy nguồn từ 44 nghìn ảnh MT do vệ tinh Clementine của Mỹ chụp năm 1994 được NASA công bố. Mắt Đẹp dựa vào đặc trưng địa hình mà phát hiện 2 hố trong ảnh MTTQ thực ra là 1 hố trong ảnh của Google Moon, ngoài ra còn có thể thấy các hố nhỏ hơn xung quanh hố nói trên cũng có khác nhau rõ rệt. Emily Lakdawalla dựa vào sự khác nhau về góc chiếu của ánh nắng Mặt trời trong hai ảnh để chứng minh hai ảnh này khác nhau. Một số nhà khoa học khác cũng đồng tình với ý kiến này. Một số cư dân mạng còn phát hiện: ghép ảnh không chỉ sai một điểm mà sai cả một đường ghép; có chỗ hiệu chỉnh rất đạt, có chỗ lại xảy ra ảnh chồng lên nhau. Khi đối chiếu với ảnh lập thể một vùng MT do HN-1 chụp, TQ công bố hôm 2-12 (hình 4), cũng thấy cùng vị trí đó lại chỉ có một hố. Nói cách aSang/wp-content/uploads/old/Portals/0/VietTotal.Articles/KhoahocCongnkhác, bức ảnh MTTQ công bố lần đầu đúng có sai sót về xử lý số liệu.                 Tổng thiết kế sư Công trình HN-1, Lý Xuân Lai, cho biết: ảnh của mỗi vòng bay có chiều rộng 60 km, và khoảng cách giữa các vòng kề nhau thì nhỏ hơn 60 km, cho nên có khu vực mười mấy km bị chồng lên nhau, khi xử lý ảnh cần xóa phần trùng lặp ấy. Một nhà khoa học TQ cho biết: khi ghép ảnh vệ tinh Trái Đất chụp ảnh mặt đất cũng thường hay xuất hiện sự trệch vị trí, vì vệ tinh không thể lúc nào cũng giữ nguyên một tư thế; chỉ có tiến hành hiệu chỉnh hậu kỳ thì mới giải quyết được vấn đề trùng lặp. Lượng thông tin của ảnh chụp 19 vòng quay rất lớn, ít nhất cần một tuần lễ mới xử lý được tương đối tốt. Nhưng người TQ đã làm trong có 3 ngày !  Tóm lại, xảy ra sai sót là do thiếu thời gian xử lý số liệu ảnh; phải chăng đó là hậu quả của sự nóng vội ?  Giải thích lòng vòng  Việc cư dân mạng (chứ không phải các nhà khoa học) phát hiện ảnh MTTQ có khác với ảnh MT Mỹ một mặt đã bác bỏ tin đồn đây là ảnh giả, mặt khác cũng cho thấy ảnh MTTQ có những sai sót đáng tiếc, từ đó gây ra một cuộc tranh cãi không có lợi cho viện sỹ Âu Dương và đồng nghiệp. Có lẽ là do không chịu một sức ép nào nên cư dân mạng (có thể có các nhà thiên văn) đã nghiên cứu ảnh MTTQ một cách tỷ mỷ, phát hiện các chi tiết người trong cuộc không nhận thấy, từ đó họ đưa ra lắm chất vấn hóc búa, khiến cho ông Lý Xuân Lai “không thể chịu nổi” và không muốn giải thích gì thêm với họ (theo Tuần báo Nhân vật phương Nam TQ).                 Cái gọi là “hố mới thêm” trong ảnh MTTQ có đường kính khoảng 3 km; từ lý thuyết, có thể tính ra thiên thạch tạo nên hố ấy có đường kính cỡ 60 m, rơi với vận tốc 17 km/sec. Một vụ va chạm lớn như thế thì các đài thiên văn nhất định phải biết. Nhưng thời gian qua chưa có thiên thạch nào rơi xuống địa điểm đó. Nói cách khác, giải thích của viện sỹ Âu Dương thiếu thuyết phục.  Và sau đó Viện sỹ Âu Dương lại phát biểu: chỉ nên bàn chuyện ảnh thật hay giả, các chi tiết khác không đáng bàn; gần đây vẫn có tin đồn Chương trình Apollo là đại bịp nhưng NASA coi là không đáng để bác bỏ; thật giả là vấn đề nguyên tắc, không được nói bừa; nói ảnh MTTQ giả là xỉ nhục quốc gia và phủ nhận thành quả lao động của 17 nghìn cán bộ TQ; Mỹ hiệu chỉnh ảnh MT suốt 10 năm, TQ chỉ có 3 ngày, vả lại ảnh của TQ cũng chưa định hình cuối cùng; số liệu mới là quan trọng chứ không phải là ảnh. Không thấy ông nói gì về ý kiến thứ 2 của bà Emily.  Lãnh đạo chương trình thăm dò Mặt Trăng TQ  nói gì?  Ông Loan Ân Kiệt Tổng chỉ huy Công trình thăm dò bay vòng MT nói: tấm ảnh này là thành quả làm việc 4 năm của hơn 17000 người, mong rằng những người TQ chính trực phải biết tôn trọng lao động của họ. Nếu nói người Mỹ làm nhiều lần mới có được ảnh MT, thì câu nói ấy là sự biểu dương chúng ta: ảnh MT đầu tiên của TQ giống hệt ảnh của Mỹ. Bởi lẽ bản thể lấy ảnh là cùng một thiên thể. Nếu nói hai bức ảnh này có một hai điểm khác nhau gì đó, thì việc ấy cần được nghiên cứu. Từ số liệu của vệ tinh biến thành ảnh phải qua một quá trình phản diễn. Điều quan trọng với ta không phải là xem ảnh, mà là từ số liệu nhận được ta sẽ hiểu MT sâu sắc hơn.  Viện sĩ Tôn Gia Đống Tổng Thiết kế sư Công trình nói: tin đồn nhảm “copy ảnh MT” không đáng để phản bác. Trước khi phóng HN-1 đã công bố tất cả các tư liệu của vệ tinh. Trên vệ tinh thực sự có lắp chiếc máy ảnh do Viện Máy quang học Tây An chế tạo. Sau khi vệ tinh lên trời, đã hoàn toàn công khai quỹ đạo của nó. Ảnh này chụp vào thời gian, địa điểm nào đều có số liệu khoa học thực tế rõ ràng. Tất cả chứng tỏ đây là một việc không thể tranh cãi.     Nguyễn Hải Hoành    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ánh mắt trong tranh của Rembrandt      Các bức tranh của Rembrandt được kết hợp giữa các nét mờ và các chi tiết nhằm “hướng” ánh mắt về những khu vực dễ gây xúc động cho người xem.      Rembrandt (1606-1669), một trong những họa sĩ ấn tượng nhất của thế kỷ XVII, thuộc trường phái baroc châu Âu, thường vẽ các bức tranh thu hút người xem nhờ sự kết hợp giữa các nét mờ tại một số vị trí của khuôn mặt và các chi tiết rõ ở mắt hay khóe môi. Các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật và các chuyên gia về cảm nhận từ lâu đã đặt câu hỏi: điều gì đã làm nên sự thần kỳ của các bức tranh này và đi tìm câu trả lời.  Hiệu quả đặc biệt  Steve Di Paola và các cộng sự thuộc Đại học Simon Fraser và Đại học Colombia (Anh) đã nghiên cứu cách con mắt trong bức tranh thay đổi khi người xem tranh Rembrantd di chuyển. Để làm được điều này, họ đã sử dụng các máy quay có độ chính xác cao và các phần mềm đo thời gian nhìn, số điểm quan sát và tốc độ của ánh mắt người xem với con mắt trong tranh. Họ nhận ra rằng số lượng các điểm cố định mà mắt người xem nhìn tranh của Rembrandt ít hơn so với tranh của các họa sĩ thời trước ông cũng như các họa sĩ đương đại, những người thường có mức độ các chi tiết đồng đều hơn. Mắt người xem thường hướng về các khu vực chính của khuôn mặt, nơi tập trung các chi tiết biểu cảm hoặc tính cách của nhân vật, như mắt hay miệng và dừng lại ở đó lâu hơn. Ngược lại, ánh mắt thường lướt qua, hoặc dừng lại rất ít ở những khu vực mà người họa sĩ cho rằng quan trọng.            Bức Evangelist Mathaus and Angel, 1661      Portrait of Saskia as Flora, 1635          Các bức tranh của Rembrandt có tính cách tân cao và đến thời nay vẫn khiến chúng ta phải kinh ngạc, đặc biệt bởi khả năng tạo một bức hình với các điểm vẽ có chi tiết hoàn toàn đồng nhất: các vòng ngoài của khuôn mặt thường được làm mờ, làm giảm sự chú ý của mắt người xem vào đó. Ngược lại, ánh mắt của người xem sẽ tập trung vào chi tiết chính: các con mắt, đôi khi chỉ là một con mắt, thí dụ như trong bức tranh tự họa mà ông vẽ vào thời điểm cuối đời.  Các nhà tâm lý học đã tiến hành một thử nghiệm thú vị để khẳng định hiệu ứng này: họ dùng các phần mềm xử lý ảnh để thay đổi một số chi tiết trong tranh của Rembrandt, thí dụ như làm mờ ánh mắt của nhân vật trong tranh và đưa cho những người khác xem và đánh giá. Kết quả thu được là: mắt của người xem thường bị các con mắt có độ chi tiết lớn hơn ở trong tranh thu hút. Như vậy, Rembrandt có vẻ là người tiên phong trong việc đưa ra các nguyên tắc cơ bản về sự cảm nhận hội họa cho người thưởng thức.  Ngoài việc sáng tạo ra các hiệu quả đặc biệt này, kỹ thuật vẽ cơ bản của Rembrandt cũng giống như các họa sĩ khác cùng thời. Ánh sáng thường được vẽ mờ, sử dụng các điểm nhấn theo lối vẽ đắp dày. Các vùng bóng mờ thường được vẽ nhờ màu nhạt, nhưng có lớp vẽ mỏng hơn phần ánh sáng.   Vài nét về người nghệ sĩ tài ba  Rembrandt Harmenszoon van Rijn là họa sĩ người Hà Lan. Bên cạnh việc được coi là một trong những họa sĩ và người thợ khắc bản in vĩ đại nhất của châu Âu, ông cũng là họa sĩ có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nghệ thuật Hà Lan. Những đóng góp của ông cho nghệ thuật bắt đầu từ thời kỳ mà các nhà lịch sử bây giờ gọi là Thời kỳ Hoàng kim Hà Lan.          Bức Night Watch, vẽ năm 1642          Ngay từ hồi còn trẻ, Rembrandt đã là một họa sĩ thành danh trong các bức chân dung, những bức vẽ thể hiện bi kịch cuộc sống cá nhân và tình trạng nghèo khó về tiền bạc trong những năm sau này càng chứng tỏ tài năng thiên bẩm của ông. Những bức tranh nổi tiếng nhất của ông chính là các bức vẽ về các nhân vật thời đó, các bức tự họa và các hình minh họa trích đoạn của Kinh thánh. Chính các bức tranh tự họa của ông đã làm thành một “lý lịch” độc đáo và chân thật nhất về cuộc đời của ông, trong đó, người nghệ sĩ coi mình không phải là người thích hư danh và thành thật.   Trong hội họa cũng như tranh khắc gỗ, ông đã chứng tỏ mình làm chủ hoàn toàn các kỹ thuật mô tả hình tượng, trong đó không ít kỹ thuật được tạo ra bằng chính kinh nghiệm của bản thân. Chính vì vậy, các bức tranh về quang cảnh trong Kinh thánh được hình thành từ không chỉ kiến thức ông thu nạp được từ Kinh thánh, mà cả sự điêu luyện trong bố cục hội họa và sự quan sát tinh tế của ông với người Do Thái ở Amsterdam. Chính vì thiện cảm của ông đối với nhân tình thế thái mà ông được người đời sau gọi là “một trong những con người vĩ đại đã tạo ra nền văn minh cho nhân loại”.      Vương Tiến  (Theo Pour la Science,   cleagreengems.com và Wikipedia)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh: nhà máy nhiệt điện chuyển sang dùng nhiên liệu sinh học      TTO – Công ty điện lực Anh RWE Npower thông báo họ có thể sẽ chuyển đổi một nhà máy điện chạy bằng dầu đốt ở miền nam nước này sang sử dụng dầu cọ sau khi tính toán lại chi phí và các vấn đề kỹ thuật.    Giá dầu thô đã tăng 19% trong năm nay, đặt các công ty vào thế phải tìm kiếm các nguồn nhiên liệu rẻ hơn. Dầu cọ là một loại nhiên liệu sinh học bảo vệ môi trường, và RWE có thể sẽ chuyển sang dùng hẳn loại nhiên liệu này.  Leon Flexman, một phát ngôn viên của RWE Npower cho biết RWE đang xem xét đến các tác động môi trường của việc sản xuất dầu cọ để đưa ra quyết định thích hợp, bởi họ không muốn vì sử dụng dầu cọ mà làm mất đi diện tích rừng nhiệt đới.  Nếu được xác nhận, đây sẽ là dự án đầu tiên và lớn nhất của Anh về việc mở rộng khả năng sử dụng nhiên liệu sinh học chiết xuất từ các sản phẩm động thực vật.  (Theo Bloomberg)    T.VY      Author                Quản trị        
__label__tiasang Áo điều hòa nhiệt độ      Để tiết kiệm điện chạy hệ thống điều hòa  nhiệt độ ở văn phòng và nhà riêng, một công ty Nhật Bản đã có sáng kiến  sản xuất áo khoác điều hòa nhiệt độ (A/C Jacket).     Áo khoác có hai lớp vải, lắp hai chiếc quạt điện mini chạy bằng ắc-quy lithium-ion, một lần sạc điện có thể hoạt động 11 tiếng đồng hồ. Hai chiếc quạt ở sau lưng có chức năng bơm không khí từ ngoài vào trong thân áo và thoát ra ngoài qua đường cổ áo và ống tay. Mỗi giây đồng hồ có khoảng 20 lít không khí giữa hai lớp vải được rút ra và hút vào, làm cho không khí trong hai lớp áo luôn được lưu thông và do đó hạ nhiệt độ xung quanh cơ thể. Không những tiết kiệm điện mà khi mặc áo điều hòa nhiệt độ thì dù có phải ra ngoài vẫn thấy người mát mẻ.     Dĩ nhiên áo điều hòa nhiệt độ không được dẹp mắt, nhưng khi làm việc thì người Nhật chỉ lo hiệu quả, ít để ý đến chuyện xấu đẹp.    Công nhân 33 tuổi Ryo Igarashi nói: “Tôi làm việc tại một chỗ rất nóng mà lại yêu cầu phải mặc áo dài tay, vì thế tôi đã mua áo điều hòa nhiệt độ để tránh bị cảm nóng.”    Áo điều hòa nhiệt độ do Công ty Kuchofuku chế tạo đợt đầu có giá 11.000 yen (134 USD), khá đắt, nhưng sản xuất ra bao nhiêu cũng không đủ bán. Ngay lập tức hơn 1.000 công ty, chủ yếu là các công ty ô tô, luyện thép, chế biến thực phẩm và xây dựng, đã đặt mua loại áo này.    Ông Hiroshi Ichigaya, Giám đốc Công ty Kuchofuku, giải thích về ý tưởng “điều hòa nhiệt độ cá nhân” như sau: “Ý tưởng này đến với tôi khi tôi nhận thấy chúng ta chẳng cần thiết phải làm lạnh cả căn phòng mà chỉ cần mỗi người tự cảm thấy mát mẻ là đủ.”    Ngoài áo khoác điều hòa nhiệt độ, Công ty Kuchofuku còn sản xuất cả gối và đệm điều hòa nhiệt độ. Loại đệm A/C Cushion áp dụng sáng chế công nghệ chất dẻo chia ô của công ty, khiến cho không khí có thể lưu thông bên trong đệm. Ngoài đệm giường (A/C Bed Mat), còn có cả đệm lót ghế làm việc và đệm lót ghế trên xe.  Hải Hoành dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ảo vọng lỗ sâu đi qua được      Khó tìm được nhà vũ trụ học nào mà trí tưởng tượng không bị kích thích bởi lỗ sâu đi qua được (traversable wormhole).      Lỗ sâu đi qua được là những cánh cửa thông qua không thời gian có thể tạo ra những đường tắt cho những chuyến du hành khắp vũ trụ. Nguồn: sci-news.com    Hai đối tượng kỳ diệu nhất và kích thích nhiều trí tưởng tượng nhất của Thuyết tương đối rộng là lỗ đen và lỗ sâu. Có điều đáng chú ý là trong khi người ta đã phát hiện ra lỗ đen thông qua việc ghi được sóng hấp dẫn từ va chạm của hai lỗ đen thì lỗ sâu đang còn là ảo vọng.    Đây thực sự là một vấn đề lý thú, về lý thuyết nó là những cánh cửa thông qua không thời gian có thể tạo ra những đường tắt cho những chuyến du hành khắp vũ trụ. Từ quan điểm khoa học, sự tồn tại lỗ sâu ảnh hưởng đến các vấn đề nhân quả (causality), cấu trúc hình học, topo của vũ trụ, hấp dẫn lượng tử và các điều kiện về năng lượng.    Chúng ta đã hình dung được phần nào về lỗ đen thông qua bức ảnh lỗ đen do Mạng lưới toàn cầu của Kính viễn vọng Chân trời sự kiện tạo ra cách đây hai năm. Trên thực tế là một bức ảnh chân trời sự cố – phần rìa đầy nguy hiểm của một lỗ đen – trên cái nền xoáy của ánh sáng. Vậy còn lỗ sâu? Chúng ta hãy tạm bằng lòng với hình tượng sau của lỗ sâu.    Hình 1. Ta đã nối hai cuống (throat) (a) thành một cuống thông nhau của lỗ sâu (b). Cuống nối có hình học AdSxS2. Hai miệng lỗ sâu cách xa nhau một đoạn d.    Theo tính toán thì lỗ sâu có hai dạng:    Lỗ sâu không qua được     Nói chung thì lỗ sâu là không đi qua được. Trong thuyết tương đối rộng, người ta chứng minh được điều kiện năng lượng điểm không (Null Energy condition NEC). Nó buộc rằng Tμνlμlν ≥ 0 đối với tất cả vector không  (null vector)lμ.    Tensor Tμν lấy từ phương trình Einstein.    Điều kiện này làm cho tín hiệu từ miệng này không đến được miệng kia của lỗ sâu. Ngoài ra, lỗ sâu nói chúng không ổn định vì sẽ bị co sụp (collapse).    Lỗ sâu đi qua được    Nếu có lỗ sâu đi qua được thì đây là một điều kỳ diệu bậc nhất trong vũ trụ. Khi đó, tín hiệu hay các dạng vật chất khác có thể từ miệng này của lỗ sâu có thể thoát ra ngoài miệng kia. Hãy thử tưởng tượng, con người có thể dùng lỗ sâu đi qua được để tìm một con đường ngắn hơn nối liền hai vùng của một vũ trụ hoặc nối liền hai vũ trụ khác nhau. Điều này mở ra nhiều khả năng cho con người, ví dụ nhờ thế mà con người có thể khám phá (trong một thời đoạn tưởng tượng được trong khả năng của con người) vũ trụ chung quanh. Như thế, chúng ta có thể hiểu được thêm về kiến trúc của vũ trụ và xác định được vị trí con người trong vũ trụ, điều mà bấy lâu nay vẫn là dấu hỏi lớn với con người.    Nhưng vấn đề ở đây là làm thế nào để biến lỗ sâu thành đi qua được?      Với lỗ sâu đi qua được, con người thậm chí có thể đi lùi về quá khứ kiểm tra nghịch lý “ông nội”. nguồn: sci-news.com  Một phương pháp hữu hiệu là sử dụng hiệu ứng Casimir. Năm 1948, nhà vật lý Hà Lan Hendrik Casimir đã tìm ra hiệu ứng này trong lý thuyết điện từ và tính được tensor năng lượng.    TμνCasimir    Tensor Casimir (ngoài cách sử dụng hai đĩa như trong phòng thí nghiệm) có thể thu được nhờ hiệu ứng topo Casimir. Nếu chúng ta có một không thời gian hai chiều (t,r). Ta biến không gian đó thành có chu kỳ (chu kỳ là L). Ta tính {0L|Tμν|0L}.    Trong đó {0L| là chân kkhông của thời gian có chu kỳ. Còn |0} là chân không Minkovski khi L tiến đến vô cực. Từ đó có thể tính được:      Nhờ hiệu ứng Casimir mà chúng ta có được năng lượng âm (dẫn đến áp suất âm) để bảo đảm được sự ổn định bền vững của lỗ sâu và loại được các đối tượng khác như kỳ dị hoặc chân trời sự cố và làm cho lỗ sâu trở nên không đi qua được (intraversable).    Hiệu ứng Casimir chứng tỏ rằng Lý thuyết trường lượng tử cho phép hiện tượng trong một vùng nào đó mật độ năng lượng có thể âm so với năng lượng chân không của vật chất thường. Nhiều nhà vật lý như Stephen Hawking hay Kip Thorn chứng minh rằng những hiệu ứng như vậy có khả năng làm ổn định lỗ sâu (stabilize), tránh sự co sụp.    Hiện nay lỗ sâu đi qua được (traversable wormhole) đang còn là một ảo vọng và đang được tập trung nghiên cứu (Maldacena đã cùng đồng nghiệp nghiên cứu lỗ sâu đi qua được không chỉ bằng các đối tượng vi mô mà còn cho cả con người).    Sự phát hiện hoặc xây dựng nhân tạo được các lỗ sâu đi qua được có thể mở ra trang sử mới cho vũ trụ học. Con người có nhiều khả năng hơn để nắm bắt được kiến trúc vũ trụ chung quanh mình, thậm chí có thể đi lùi về quá khứ kiểm tra nghịch lý “ông nội” (Một người đi lùi về quá khứ và giết ông nội của mình thì người đó có thể tiếp tục tồn tại hay không?).    Nhưng trên hết, vấn đề lỗ sâu đi qua được có ảnh hưởng không những đến vấn đề du hành của con người trong vũ trụ mà còn ảnh hưởng đến vấn đề xây dựng lượng tử hấp dẫn (hiệu ứng Casimir là hiệu ứng lượng tử).     Tài liệu tham khảo   [1]Theodora Nikolakopoulou, Building traversable wormholes from Casimir energy and non-local couplings  [2] Juan Maldacena &Alexey Milekhin ,Humanly traversable wormholes, PhysRevD ,2021.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Apollo và cuộc chạy đua  vào vũ trụ      Ngày 20/7/1969, lần đầu tiên trong lịch sử con người đặt chân lên Mặt trăng. Đây là thành quả của chương trình không gian Apollo, sản phẩm của một thời kỳ khi người Mỹ còn đầy lạc quan và táo bạo, rất khác biệt với ngày nay, theo quan điểm của André Balogh.      Bước chân khổng lồ của nhân loại mà Neil Armstrong thực hiện đánh dấu thành công cho một chương trình không gian khổng lồ đầy tốn kém do Tổng thống John F. Kenedy phát động vào đầu thập niên 1960, và sau này kết thúc với chuyến bay Apollo 17 rời Mặt trăng ngày 14/12/1972. Trong vòng chưa đầy ba năm rưỡi tính từ khoảnh khắc lịch sử của Armstrong, đã có tất cả 12 phi hành gia người Mỹ đặt chân lên Mặt trăng. Hình ảnh của họ đi lại và lái những cỗ xe thám hiểm đã đem lại sự phấn khích cho mọi người xem qua TV ở khắp nơi trên Trái đất, nơi cách xa Mặt trăng 236 nghìn dặm.  Bối cảnh  Chương trình Apollo được sinh ra do Chiến tranh Lạnh, khi Liên Xô đặt Mỹ trước một thử thách về công nghệ với việc phóng Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái đất, vào tháng 10 năm 1957. Apollo là câu trả lời từ Mỹ, một quốc gia có nền công nghệ đang phát triển rất nhanh, đầy tự tin, cùng một nguồn tài lực to lớn. Apollo cũng có thể coi là biểu tượng của một tâm thế lạc quan, tự tin, không e ngại thử thách, như tuyên bố của Tổng thống Kennedy: “Chúng ta quyết định sẽ đến Mặt trăng ngay trong thập kỷ này bên cạnh những việc làm khác, không phải vì chúng là việc dễ dàng, mà vì chúng đầy khó khăn”.            6 tuần sau chuyến bay của Gagarin, Tổng thống Kennedy đọc bài diễn văn trước lưỡng viện Mỹ, tuyên bố khởi động chương trình Apollo          Việc Liên Xô đặt chân lên vũ trụ trước đã khiến nước Mỹ hốt hoảng vì nhận thức rằng mình đang “thua kém về [công nghệ] tên lửa”. Sự kiện Sputnik đã khai hỏa cho một cuộc chạy đua lên vũ trụ, khiến hai siêu cường bắt tay vào chế tạo và phóng thử nhiều loại tên lửa khác nhau với chức năng kép là có thể trở thành Tên lửa Đạn đạo Liên lục địa (ICBM). Nói là phóng thử vì trong giai đoạn sơ khai này tên lửa của hai nước vẫn chưa đạt được sự ổn định. Mỹ gặp phải những vụ trục trặc tai tiếng ngay tại bệ phóng hoặc không lâu sau khi tên lửa cất cánh từ sân bay vũ trụ Cape Kennedy, Florida (tới năm 1973 đổi về tên cũ là Cape Canaveral). Về phía Liên Xô, công chúng không biết nhiều về những trục trặc của chương trình không gian, do những gì xảy ra tại khu liên hợp vũ trụ Baikonur (ngày nay thuộc Kazakhstan) không được tiết lộ ra ngoài.   Nhưng không lâu sau các nhà khoa học Soviet đã đủ tự tin để đưa Yuri Gagarin vào vũ trụ, với một vòng quỹ đạo duy nhất bay quanh Trái đất trong phi thuyền Vostok vào ngày 12 tháng 4, 1961. Sự kiện này đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chạy đua vào không gian. Nó không chỉ thể hiện sự tự tin của Liên Xô mà còn đem đến sức hấp dẫn mạnh mẽ với công chúng trong việc đưa người lên không gian. Đối với NASA, cơ quan chủ trì chương trình không gian của Mỹ, khi đó vẫn còn đầy sức trẻ và tham vọng, trong nỗ lực tìm cách ghi điểm để cân bằng với chiến công của Gagarin đã thấy rõ rằng nước Mỹ chỉ có thể khẳng định sức mạnh của mình bằng một thành công lớn hơn cả về mặt định tính lẫn định lượng. Chỉ 6 tuần sau chuyến bay của Gagarin, Tổng thống Kennedy tuyên bố khởi động chương trình Apollo nhằm đưa người lên Mặt trăng, với mục tiêu nhằm vượt mặt thành công của Liên Xô.   Diễn văn của Kennedy trước đồng thời cả Thượng viện và Hạ viện, vốn luôn là một dịp trang trọng, đã khẳng định: “Thứ nhất, tôi tin rằng đất nước này cần cam kết đạt được thành công trước khi kết thúc thập kỷ, trong việc đưa người lên Mặt trăng và đem anh ta an toàn trở về Trái đất. Trong giai đoạn này, sẽ không có dự án vũ trụ nào gây ấn tượng đáng nể hơn cho loài người, hoặc có tầm quan trọng lớn hơn cho tương lai lâu dài của ngành thám hiểm vũ trụ; và cũng sẽ không có thử thách nào có thể coi là khó khăn hơn hoặc tốn kém hơn”.    Vào thời điểm này, Kennedy đã nhận ra rằng động lực quan trọng nhất, có sức ảnh hưởng lớn nhất tới chính trường quốc tế chính là ấn tượng về sự ưu việt. Một vòng quỹ đạo quanh Trái đất của Gagarin đã gây được ấn tượng vì nó thể hiện sự tự tin của nền công nghệ Soviet vào độ ổn định trong công nghệ tên lửa của họ. Điều đó cũng chắc chắn gây ấn tượng với người dân các nước phương Tây, làm gia tăng sự e sợ dành cho tiềm lực tên lửa của Liên Xô. Lợi thế này ngay lập tức được các lãnh đạo Liên Xô đem ra tận dụng vào năm sau, tạo ra thách thức cho nước Mỹ với sự kiện Liên Xô đặt tên lửa của họ tại Cuba.    Thử thách chưa từng có  Tuyên bố của Kennedy, rằng người Mỹ sẽ tới Mặt trăng và trở về, đã đặt ra cho nước Mỹ một nhiệm vụ đòi hỏi tiềm lực công nghệ to lớn hơn, trên diện rộng hơn so với những gì Liên Xô đã thể hiện qua chuyến bay đưa Gagarin lên vũ trụ. Việc đưa người lên Mặt trăng có thể coi là giới hạn cao nhất về công nghệ khi ấy trong lĩnh vực đưa người đi thám hiểm không gian. Kennedy đã khẳng định đây là mục tiêu khó khăn, một thử thách kỹ thuật lớn chưa từng có đối với loài người. Khi ông ta đưa ra tuyên bố này, NASA đã và đang làm việc cật lực để vượt qua những thử thách kỹ thuật trên diện rộng, nhằm xây dựng một chương trình không gian khả thi bắt đầu từ con số không chỉ trong vòng 3 năm.          Tàu vũ trụ Sao Thổ V có chiều dài lớn hơn tượng Nữ thần Tự do, biểu tượng của nước Mỹ          Đây là một thử thách lớn với nhiều công việc phức tạp khác nhau, như việc nghiên cứu và chế tạo các loại tên lửa khác nhau, từ những tên lửa loại nhỏ có khả năng đưa thiết bị khoa học đến rìa không gian nhưng chưa vào tới quỹ đạo, tới một số tên lửa cỡ trung có khả năng bay vào quỹ đạo Trái đất, và cuối cùng là tên lửa loại lớn có tên gọi Sao Thổ 1 được thiết kế dưới sự chỉ đạo của Werner von Braun, một trong những cựu lãnh đạo chương trình tên lửa V2 của Đức Quốc xã. Cũng trong giai đoạn này, những con tàu vũ trụ đã bắt đầu thám hiểm môi trường không gian của Trái đất, dẫn tới việc khám phá ra vành đai bức xạ mang tên nhà khoa học James van Allen, hay khám phá ra từ quyển, chiếc bong bóng từ trường bao bọc quanh hành tinh của chúng ta và bảo vệ nó khỏi những tác động trực tiếp từ gió Mặt trời. Những khám phá sơ khai này nhìn chung được hình thành song song từ cả phía các nhà khoa học Liên Xô cũng như phía các nhà khoa học Mỹ. Nhưng những khám phá từ các chuyên gia Mỹ thường được quốc tế biết đến nhiều hơn so với kết quả của những nhà khoa học Liên Xô do họ thường làm việc trong một hệ thống bí mật.   NASA bắt đầu tập trung vào việc tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật cho nhiệm vụ đưa người lên Mặt trăng và đưa trở về một cách an toàn. Có một số phương án khác nhau được đặt ra nhưng phương án cuối cùng được lựa chọn đòi hỏi một bệ phóng khổng lồ chưa từng có vào thời kỳ đầu dự án, với mục tiêu là đưa được tất cả mọi thiết bị cần thiết tới Mặt trăng, trong đó một phần thiết bị sẽ được hạ cánh xuống bề mặt Mặt trăng, sau đó được phóng lên tập kết trên quỹ đạo Mặt trăng trước khi đưa các nhà du hành trở về trong một khoang chứa, và hạ cánh an toàn xuống mặt biển của Trái đất. Phương án này có một rủi ro rất lớn là đòi hỏi các nhà du hành phải tập kết trên quỹ đạo Mặt trăng. Phương thức này khi ấy còn rất mới mẻ, thậm chí còn chưa từng được thử nghiệm trên quỹ đạo Trái đất. Tuy nhiên, những chuyên gia của NASA đã đúng khi cho rằng đây là phương án kỹ thuật duy nhất có thể khả thi trong thời hạn được giao.  Vậy là toàn bộ sức mạnh kỹ thuật của nước Mỹ được đưa vào guồng quay nhằm thiết kế, thử nghiệm, và triển khai dự án. Dựa trên thiết kế tên lửa Sao Thổ 1A, tên lửa Sao Thổ V được chế tạo, trở thành một tượng đài cho thành tựu công nghệ của loài người với chiều cao tương đương Thánh đường St. Paul1 của nước Anh. Module chỉ huy và module đổ bộ, hai thiết bị sẽ được phóng lên không gian cho các nhiệm vụ Apollo, được chế tạo và thử nghiệm từ cuối năm 1961, theo một lịch trình vô cùng khẩn trương. Đã có những bi kịch xảy ra trong quá trình thực hiện dự án, như tai nạn liên quan đến module chỉ huy của Apollo 1 xảy ra trong một thử nghiệm trước khi bay vào ngày 27 tháng 1, 1967, làm chết ba nhà du hành: Gus Grissom, Ed White (người Mỹ đầu tiên bước ra ngoài không gian) và Roger Chaffee. Sự kiện nay khiến người ta phải thay đổi thiết kế, và đến Giáng sinh năm 1968, nhiệm vụ Apollo 8 đã đưa được một con tàu bay vòng quanh Mặt trăng trước khi trở về Trái đất. Mặt dù chuyến bay này chưa cho hạ cánh thiết bị xuống Mặt trăng nhưng đã giúp thử nghiệm được nhiều khía cạnh cho chuyến bay chính thức mang tính quyết định sau này. Ba nhà du hành tham gia vào Apollo 8 đã bay trên quỹ đạo Mặt trăng đúng vào ngày Giáng sinh, đưa ra những thông điệp chào mừng đầy cảm xúc được phát qua sóng truyền hình tại Trái đất.          Phi hành đoàn Apollo 11, từ trái qua: Neil Armstrong, Michael Collins, Edwin E. Aldrin          Apollo 9 được thực hiện vào tháng 3 năm 1969 là chuyến bay đầu tiên đưa trọn gói trang thiết bị lên quỹ đạo Trái đất để thử nghiệm tất cả mọi chi tiết của chuyến bay chính thức, chỉ ngoại trừ việc hạ cánh xuống Mặt trăng. Tiếp theo đó là chuyến bay Apollo 10 vào tháng 5, 1969, có thể coi là một cuộc diễn tập hoàn chỉnh. Module đổ bộ được cho phép bay thử nghiệm xuống cách bề mặt Mặt trăng khoảng 15 km, sau đó quay về tập kết với module chỉ huy trên quỹ đạo Mặt trăng trước khi bay về Trái đất. Hai nhà du hành có cơ hội tới sát bề mặt Mặt trăng lần này là Thomas Stafford – sau này là người chỉ huy phi hành đoàn trong chuyến bay lịch sử Apollo – Soyuz2, một cuộc thử nghiệm phối hợp giữa Mỹ và Liên Xô – và Ed Cernan, người sau này chỉ huy chuyến bay Apollo 17, cũng là “con người cuối cùng có mặt trên Mặt trăng”. Hai phi hành gia này trong chuyến bay Apollo 10 trên quỹ đạo Mặt trăng đã chụp được bức ảnh mang tính biểu tượng lịch sử, ghi lại hình ảnh Trái đất mọc lên từ đường chân trời của Mặt trăng.  Apollo 11 được phóng lên vào ngày 16 tháng 7, 1969, cùng với ba nhà du hành, Neil Armstrong, Buzz Aldrin và Michael Collins, là phi hành đoàn đầu tiên có người đổ bộ xuống Mặt trăng. Armstrong và Aldrin đã đặt chân xuống và cắm cờ Mỹ lên lớp bề mặt regolith (lớp bề mặt trên cùng, bao gồm các vụn đá và bụi) của Mặt trăng. Apollo 11 chỉ mang theo một số ít dụng cụ khoa học, trong đó có tấm giấy nhôm dùng để thu thập các mẩu vụn từ gió Mặt Trời. Các nhà du hành sau đó đã tập kết thành công trên quỹ đạo Mặt trăng và trở về Trái đất an toàn. Tâm nguyện của Kennedy cuối cùng đã được hoàn thành.     Ý nghĩa và phí tổn  Có tất cả 6 lần hạ cánh thành công xuống Mặt trăng, trong đó lần sau thành công hơn lần trước, với chất lượng hình ảnh truyền qua vô tuyến được gia tăng, với các đoạn phim tài liệu không ngắt quãng quay lại cảnh những cỗ xe thám hiểm do người lái chạy trên bề mặt Mặt trăng. Thậm chí chuyến bay Apollo 13, được biết đến với trục trặc kỹ thuật cùng lời kêu cứu từ không gian “Houston, chúng tôi gặp phải một vấn đề”, cũng có thể được coi là một thành công đáng kể giúp khắc phục một tai nạn kỹ thuật trong một tình huống khẩn cấp, kịch tính như một bộ phim Hollywood, và thực tế là sau này đã được điện ảnh hóa thành một bộ phim cùng tên.  Tuy toàn bộ chương trình Apollo xuất phát từ những tính toán chiến lược mang tính chính trị nhưng những cuộc đổ bộ xuống Mặt trăng đã mang lại những kết quả khoa học quan trọng thông qua những quan sát trực tiếp từ bề mặt Mặt trăng, với tổng cộng khoảng 368 kg mẫu vật từ Mặt trăng. Từ những mẫu vật này mà các nhà khoa học bắt đầu hiểu được lịch sử quá khứ của Mặt trăng với những tri thức hoàn toàn chưa được biết đến trước đó, được khám phá bằng cách đo tuổi những mẫu vật thu được từ các miệng núi lửa và biển trên bề mặt của Mặt trăng.           Điều mà con người từng làm được trong thập kỷ 1960, do một thế hệ có trình độ công nghệ thấp hơn thực hiện, dường như lại trở thành quá sức cho những thế hệ của hôm nay và trong tương lai, đơn giản vì con người đã có những thay đổi trong thái độ và các mối ưu tiên. Những ngưỡng rủi ro trước kia được coi là chấp nhận được, thì ngày nay được coi là quá mạo hiểm.        Nhưng mức chi phí của Apollo thì sao? Kennedy không đưa ra con số cụ thể về chi phí khi tuyến bố về chương trình (có lẽ nó sẽ làm hỏng bài diễn văn của ông) nhưng cũng đã khẳng định rằng sẽ không có chương trình không gian nào khác “đắt đỏ tương đương”. Chi phí đúng là rất lớn: Ngân sách của NASA cho thấy mức chi phí hàng năm cao nhất là vào 1966, lên tới 4,5 tỷ USD (quy đổi ra đồng USD năm 1969), và những năm khác con số cũng cao ở mức gần tương đương, trong đó hai phần ba là dành riêng cho chương trình Apollo. Con số chính thức được công bố cho thấy tổng chi phí dự trù cho Apollo là 23 tỷ USD, và thực chi trong khoảng 20 – 25 tỷ USD. Việc giải ngân gần sát với dự trù này có lẽ là một thành công đáng kể nếu xét đến tính chất khổng lồ, phức tạp, và mạo hiểm của dự án. (mức chi phí của Apollo nếu tính theo giá trị đồng USD hiện nay sẽ vào khoảng hơn 160 tỷ USD3). Có một số khó khăn cho việc đánh giá đúng con số tổng chi phí cuối cùng, do có ba chuyến bay Apollo bị hủy, và các trung tâm điều hành trong NASA đã được mở rộng cơ sở hạ tầng trong thập kỷ 1960 nhằm phục vụ không chỉ nhu cầu của Apollo mà cả những chương trình khác sau này. Nỗ lực tài chính dành cho Apollo như vậy là rất lớn, nếu xét rằng ở thời điểm ấy Mỹ đang phải dồn tiền cho những mục tiêu trọng điểm khác, trong đó có cuộc chiến tại Đông Nam Á với lượng quân ngũ lên tới gần nửa triệu người.  Chương trình Apollo đã hoàn thành mục tiêu cơ bản mà Mỹ đặt ra: chứng tỏ sức mạnh của Mỹ trong ngành khoa học không gian, một lĩnh vực mà những tiến bộ về công nghệ có thể trực tiếp chuyển hóa thành sức mạnh vũ trang. Khả năng dễ dàng gánh vác những phí tổn to lớn cho chương trình Apollo, trong bối cảnh mức thu nhập của người Mỹ đạt tới đỉnh cao chưa từng có, hẳn đã gây được ấn tượng với Liên Xô cùng các đồng minh. Như vậy, dưới góc độ là một công cụ trong Chiến tranh Lạnh, Apollo là một thành công, thể hiện được sự vượt trội về tiềm lực của Mỹ. Có thể nói rằng cuộc chạy đua tới Mặt trăng (mà Liên Xô chưa bao giờ thực sự nghiêm túc theo đuổi) đã hầu như được định đoạt.  Thám hiểm vũ trụ thời kỳ hậu Apollo  Tới thời kỳ của chuyến bay Apollo 17, chuyến bay cuối cùng, được phóng ngày 7 tháng 12/1972, thì tầm quan trọng của công cuộc chinh phục vũ trụ trong vai trò là một mặt trận trong Chiến tranh Lạnh đã không còn đáng kể. Nhìn chung, các bên đều thấy rằng lượng đầu đạn hạt nhân mà mỗi bên sở hữu, cả Đông lẫn Tây, đều đủ sức hủy diệt thế giới tới vài lần, và chẳng quan trọng việc bên nào khai hỏa trước. Chương trình không gian “Chiến tranh giữa các vì sao” mà Tổng thống Reagan khởi động trong thập kỷ 1980 được giữ trong vòng bí mật thay vì mang tính phô trương ngoạn mục [nếu so với Apollo], thuần túy mang tính chất nghiên cứu công nghệ nhằm giúp Mỹ tiếp tục tiến lên trong cuộc chạy đua vũ trang. Ngân sách của NASA vì vậy bắt đầu bị thắt chặt lại, trong khi những chương trình khác – như chương trình Tàu Con thoi – đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, và hệ quả là ba nhiệm vụ Apollo 18, 19, 20 bị hủy bỏ.          Aldrin đặt chân xuống Mặt Trăng sau Neil Armstrong 15 phút, ảnh do Armstrong chụp. Trong khi bước xuống, Aldrin bảo, “tôi chỉ khép hờ cửa lại thôi, đề phòng nó khóa sập lại khi tôi đang xuống.” “Đó là ý hay”, Armstrong trả lời.           Một trong những tên lửa thế hệ Sao Thổ V sau này được dùng lại để đưa trạm vũ trụ đầu tiên, Skylab, lên không gian, theo đó là phi hành đoàn cùng rất nhiều trang thiết bị khoa học. Thành công này không nhỏ chút nào, nhưng chủ yếu thuộc về lĩnh vực khoa học. Nhờ vào chiếc kính thiên văn trên Skylab, con người đã khám phá thấy rằng những biến động tại các khu vực sẫm màu trong khí quyển Mặt trời gây ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu tại Trái đất.    Mặc dù chương trình Tàu Con thoi tiến triển chậm hơn và đắt đỏ hơn so với dự kiến, nhưng hoạt động ngoài không gian của Mỹ đã suy giảm dần. Không còn những nhiệm vụ đưa người đi thám hiểm vũ trụ, và càng không thể có những chương trình lớn tầm cỡ như Apollo. Ngay cả sự xuất hiện lần đầu tiên của Tàu Con thoi vào đầu thập kỷ 1980 cũng thiếu vắng những đón nhận hào hứng. Các thành tựu khoa học vũ trụ ngày càng có xu hướng ổn định hơn, liên quan tới một cộng đồng rộng lớn hơn của các nhà khoa học trên thế giới, trong đó có phần đóng góp đáng kể của module European Spacelab, một sản phẩm của châu Âu được Tàu Con thoi đưa lên không gian.  Sự kiện thảm kịch cho con tàu Challenger ngày 28/01/1986 đã khiến NASA phải xem lại chiến lược của mình, qua đó loại bỏ chức năng phóng vệ tinh của Tàu Con thoi. Tai nạn này cũng giúp con người nhận ra một thực tế rằng rủi ro cho những con Tàu Con thoi là cao hơn so với những gì người ta quảng bá trước đây tới công chúng và giới truyền thông, và thậm chí từng được một số lãnh đạo của NASA yên tâm tin tưởng, đặc biệt là ở những người không có chuyên môn sâu về khoa học hoặc kỹ thuật. (Nhận thức về nguy cơ rủi ro này càng được củng cố hơn sau thảm họa tháng 2 năm 2003, khi Tàu Con thoi Columbia bị nổ khi quay trở lại khí quyển Trái đất.)   Những chương trình đưa người lên không gian gần đây thì sao? Sự thành công một cách khá ổn định của Nga trong việc vận hành trạm không gian Mir, ngoại trừ một vài lần gặp sự cố, trong suốt 15 năm kể từ khi phóng lên không gian năm 1986, cho tới lúc quay trở về Trái đất vào 2001, đã đem lại cho con người những kinh nghiệm quý giá  về các nhiệm vụ dài hạn ngoài không gian. Trạm Không gian Quốc tế (ISS), hiện nay đang trên quỹ đạo, là phiên bản cao cấp hơn của trạm không gian Mir, với những phòng thí nghiệm rộng lớn cùng đầy đủ các trang thiết bị đắt tiền giúp khám phá ảnh hưởng của trọng lực tới những hiện tượng tự nhiên, như ảnh hưởng tới dòng chảy của máu, hay những nỗ lực nuôi trồng tinh thể protein trong không gian, đã dẫn tới những khám phá quan trọng, bổ sung cho hiểu biết của con người về các cấu trúc phân tử sinh học phức tạp.   Nhưng người ta đã phải tốn nhiều thời gian hơn so với dự kiến ban đầu trong việc phát triển ISS. Hoạt động của nó cũng bị hạn chế đáng kể do số lượng Tàu Con thoi của Mỹ bị giảm đi sau tai nạn với tàu Columbia, đồng thời mật độ hoạt động của ba con tàu còn lại (Discovery, Atlantis, và Endeavor) cũng bị cắt giảm. Nếu như không có sự hỗ trợ, hợp tác từ những tàu Soyuz của Nga thì con người không thể nào tiếp tục duy trì ISS. Thế giới ngày nay đã thực sự thay đổi nhiều so với thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thời kỳ của Apollo và cuộc chạy đua vào không gian.  Sau khi hạm đội Tàu Con thoi của Mỹ ngừng hoạt động, ISS hoàn toàn phụ thuộc vào những con tàu Soyuz của Nga, hay ATV của châu Âu, trong việc vận chuyển người và hàng hóa qua lại giữa trạm và Trái đất. Điều này làm hạn chế năng lực của ISS, đặc biệt là do hạn chế về số lượng người có thể được vận chuyển. Chi phí để duy trì ISS là rất lớn, trong khi tính hữu dụng vẫn chưa hoàn toàn thuyết phục. Nhiều khả năng chương trình này (có chi phí tương đương với Apollo) không lâu nữa sẽ phải ngừng lại. Vậy thì, điều gì sẽ đến tiếp theo?  Thế giới đã đổi thay  Liệu con người có quay lại Mặt trăng? Vốn từ lâu bị xao nhãng do người ta quan tâm nhiều hơn tới Sao hỏa, việc quay trở lại Mặt trăng nhiều khả năng không thể sớm hơn trong vòng một hoặc hai thập kỷ tới. Mỹ đã có những nghiên cứu khả thi cho một chương trình mới, với những thiết kế mới cho tàu phóng và tàu chở phi hành đoàn. Người ta cũng đã nghĩ đến việc đổ bộ xuống Sao hỏa, hoặc quay trở lại Mặt trăng với những kế hoạch đồn trú lâu dài hơn trước đây. Tuy nhiên, những kế hoạch dài hơi như vậy phụ thuộc rất nhiều vào ý chí và ưu tiên chính trị của các chính phủ, cũng như các điều kiện chính trị, kinh tế toàn cầu.   Ngoài nước Mỹ trên thế giới đang có những quốc gia tham vọng khác. Nước Nga có kinh nghiệm phong phú trong quá khứ cùng một tiềm lực dồi dào. Trung Quốc, Nhật Bản, và Ấn Độ, đều đang lên kế hoạch cho những dự án đưa tàu vũ trụ không mang theo người đến Mặt trăng. Có lẽ, những dự án đưa robot đổ bộ lên làm thí nghiệm và thu thập mẫu vật sẽ khả thi hơn là những nhiệm vụ trực tiếp mang theo người như chương trình Apollo.          Nhà du hành Ed Cernans và cỗ xe thám hiểm Mặt Trăng trong chuyến thám hiểm Apollo 17, chuyến thám hiểm cuối cùng của chương trình Apollo          Vậy khả năng con người chinh phục Sao Hỏa thì sao? Điều này thật khó xảy ra. Cho dù những nhân vật tầm cỡ như Neil Armstrong từng được trích dẫn nói rằng thách thức chinh phục Sao Hỏa ngày nay không khó khăn như những thử thách mà các nhà tiên phong thời Apollo phải đối diện, nhưng một nhiệm vụ đưa người lên Sao Hỏa vào lúc này đòi hỏi những công nghệ quá đắt đỏ, vượt quá ý chí chính trị của những chính phủ thời nay.  Điều mà con người từng làm được trong thập kỷ 1960, do một thế hệ có trình độ công nghệ thấp hơn thực hiện, dường như lại trở thành quá sức cho những thế hệ của hôm nay và trong tương lai, đơn giản vì con người đã có những thay đổi trong thái độ và các mối ưu tiên. Những ngưỡng rủi ro trước kia được coi là chấp nhận được, thì ngày nay được coi là quá mạo hiểm.  Đây chính là vấn đề mà chương trình Apollo xưa kia không gặp phải. Apollo không thể được tái hiện trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, đơn giản vì thế giới mà chúng ta đang sống đã hoàn toàn khác so với thời kỳ 40 – 50 năm trước; con người đặt tầm ngắm thấp hơn, vì sự e sợ lớn hơn.  Nhưng dù sao thì con người cũng đã làm được Apollo, đã thực sự đi bộ trên Mặt trăng, và lái những cỗ xe thám hiểm trên bề mặt tinh cầu này. Sau 4 thập kỷ, ngày nay chúng ta vẫn phải ghi nhận một thành tựu vinh quang, kết quả của những nỗ lực được cam kết thực thi trong một thế giới rất khác với ngày nay. Nó vẫn tiếp tục là niềm cảm hứng cho con người.   Thanh Xuân lược dịch theo History Today, các tít phụ được bổ sung theo ý người dịch  http://www.historytoday.com/andr%C3%A9-balogh/above-and-beyond-apollo-space-race-moon  ———  *André Balogh là Giáo sư Danh dự ngành Vật lý Vũ trụ của trường Imperial College London, và là Giám đốc Viện Khoa học Vũ trụ Quốc tế tại Bern, Thụy Sĩ.  1 Thánh đường St. Paul là một công trình kiến trúc lịch sử của Anh, có chiều cao 111 m; tên lửa Sao Thổ V của Mỹ có chiều cao 110,6 m.  2 Chuyến bay được thực hiện vào tháng 7, 1975, là chuyến bay vào không gian lần đầu tiên có sự phối hợp giữa Mỹ và Liên Xô, một biểu tượng cho sự kết thúc cuộc chạy đua vào không gian giữa hai cường quốc.  3 Nguyên văn trong bài báo là 150 tỷ USD, nhưng bài báo được viết vào năm 2009 nên người dịch đã quy đổi lại theo giá trị đồng USD hiện hành trong năm 2012    Author                Quản trị        
__label__tiasang Apple Campus 2 chưa phải là xanh nhất hành tinh      Apple tuyên bố trụ sở mới của công ty tại  California – Apple Campus 2 – sẽ là công trình xanh nhất hành tinh nhưng  dữ liệu về hoạt động của nó lại không cho thấy điều đó.      Mấy năm trước, Jerry Yudelson, Chủ tịch Viện Sáng kiến Công trình xanh (Green Building Initiative) ở Portland, Oregon, cùng với nhà phê bình kiến trúc người Đức Ulf Meyer đề nghị hàng trăm chủ sở hữu các công trình được đánh giá cao về độ thân thiện với môi trường khắp toàn cầu cung cấp dữ liệu về mức tiêu thụ điện năng và nước để so sánh với số liệu của các tòa nhà khác. Những thông tin này sau đó được hai ông công bố trong cuốn sách “Những tòa nhà xanh nhất thế giới”.  “Chúng tôi muốn chứng tỏ mức hiệu suất năng lượng, nước cao và tính thẩm mỹ cao trong thiết kế tòa nhà có thể đi đôi với nhau, giống như một hoa hậu giỏi toán vậy,” Yudelson cho biết.  Tuy có thói quen giữ bí mật mọi thông tin, tập đoàn Apple đã công khai rất nhiều chi tiết về Apple Campus 2 trong một báo cáo dài 650 trang theo quy định của luật môi trường ở California. Báo cáo nêu chi tiết từ chiến lược cung cấp 100% năng lượng tái tạo cho trụ sở đến những hứa hẹn sẽ trồng ít nhất 7.000 cây xanh và sử dụng vật liệu tái chế. Ví dụ, Apple dự kiến mức tối đa năng lượng sử dụng trong toàn bộ khuôn viên trụ sở 548.000 m2 vào khoảng 142.000.000 kWh/năm, tương đương khoảng 257 kWh/ m2/năm. Riêng điều đó cũng đã dễ dàng đánh bại những tòa nhà văn phòng điển hình ở Mỹ, thường sử dụng 500 kWh/ m2/năm và thậm chí đánh bại cả những cơ sở với những phòng thí nghiệm nghiên cứu năng lượng cao, chẳng hạn như Trung tâm Y tế và Điều trị tại Đại học Y và Khoa học Oregon ở Portland, một công trình xanh được xếp hạng cao.  Nhưng về mặt kỹ thuật, Apple Campus 2 còn phải nỗ lực nhiều mới đạt danh hiệu tòa nhà xanh nhất hành tinh, ít nhất về hiệu quả năng lượng. Trên thực tế, có tới 41 công trình trong cuốn sách của Yudelson và Meyer đủ sức đánh bại nó. Dẫu cho mức sử dụng năng lượng của có xuống thấp nữa, 200 kWh/ m2/năm hay ngay cả 100 kWh/ m2/năm, thì Apple Campus 2 vẫn thua sát nút nhiều công trình thương mại đã được đưa vào sử dụng và có dữ liệu hoạt động thực tế.  Công trình có mức sử dụng điện năng hiệu quả nhất theo Yudelson và Meyer là Trung tâm Nghiên cứu Xây dựng Xanh YS Sun tại ĐH Quốc gia Cheng Kung ở Đài Loan. Thường biết đến với tên gọi Ngôi trường Kỳ diệu của Công nghệ Xanh, nó sử dụng chỉ 40,43 kWh/m2/năm.  Trung tâm Bullitt, hoàn tất vào năm 2013, sau khi Yudelson and Meyer hoàn thành nghiên cứu, thậm chí còn là công trình xanh nhất. Công trình này, tọa lạc ở Capitol Hill, Seattle, chỉ dùng khoảng 32 kWh/m2 trong năm hoạt động đầu tiên.  Nhờ việc tiêu thụ ít điện năng đi kèm với sử dụng năng lượng mặt trời, công trình này đã tạo ra nhiều điện hơn mức tiêu thụ của mình.  “Hiện nay chúng tôi sản xuất nhiều hơn 70% mức điện chúng tôi sử dụng,” Denis Hayes, Chủ tịch Quỹ Bullitt và nhà sáng lập Ngày Trái đất, cho biết. “Khi tất cả các công ty thuê văn phòng đã có đầy đủ nhân viên và đi vào vận hành ổn định, tôi nghĩ là mức dư thừa mỗi năm sẽ khoảng từ 20% đến 30%.”  Trung tâm Bullitt là trường hợp độc nhất vô nhị trong số các công trình xanh nhất thế giới vì đã làm ra nhiều điện mặt trời hơn mức tiêu thụ mỗi năm.  Thanh Nhàn dịch   Nguồn: http://www.theguardian.com/sustainable-business/2014/dec/07/apple-campus-2-the-greenest-building-on-the-planet      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ardem Patapoutian và David Julius giành Giải Nobel Y sinh 2021      Giải Nobel Y sinh đã được trao cho hai nhà khoa học David Julius và Ardem Patapoutian “cho những khám phá về các thụ thể tương tác với nhiệt độ và va chạm”. Các thụ thể của tế bào biểu mô là điểm đầu tiên của tuyến đường truyền tín hiệu từ bên ngoài vào các tế bào.      Cảm nhận về với nhiệt và va chạm là yếu tố tối cần thiết để sinh tồn và là nền tảng cho các tương tác của chúng ta với thế giới bên ngoài. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta coi những cảm giác đó là đương nhiên nhưng làm thế nào các xung thần kinh được kích hoạt để từ đó thụ cảm được nhiệt độ và áp lực? David Julius và Ardem Patapoutian đã trả lời câu hỏi này.  David Julius đã lấy hợp chất cay capsaicin từ ớt để gây cảm giác nóng, và xác định được một “cảm biến”ở đầu tận sợi thần kinh trong da đáp ứng với nhiệt. Ardem Patpoutian đã dùng các tế bào nhạy với áp lực để phát hiện một nhóm các “cảm biến” đáp ứng với kích thích cơ học trong da và nội tạng. Những phát hiện đột phá này đã khởi đầu cho những hoạt động nghiên cứu tiếp theo, dẫn đến sự gia tăng hiểu biết của nhân loại về cách hệ thần kinh con người cảm nhận các kích thích nóng, lạnh và cơ học.  Các khôi nguyên giải Nobel đã xác định được các mối liên kết quan trọng còn thiếu để hoàn thiện hiểu biết của chúng ta về sự tương tác lẫn nhau phức tạp giữa các giác quan và môi trường xung quanh.  David Julius (sinh ngày 4/11/1955) là một nhà sinh lý học người Mỹ được biết đến nhiều về công trình nghiên cứu về các cơ chế phân tử của cảm giác đau. Ông là giáo sư trường đại học California ở San Francisco, từng giành giải Shaw về Khoa học sự sống và y học năm 2010, giải Breakthrough về Khoa học sự sống năm2020.  Ardem Patapoutian (sinh năm 1967) ở Beirut, Lebanon) là nhà sinh học phân tử và khoa học thần kinh Lebanese-American, làm việc tại Viện Scripps ở La Jolla, California.  Ủy ban giải thưởng cho biết, đây là nghiên cứu cơ bản sẽ đem lại nhiều lợi ích trong việc phát triển thuốc trong tương lai.    Cao Hồng Chiến tổng hợp  Nguồn: https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/2021/summary/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Argentina chế tạo thành công tên lửa chống mưa đá      Bằng nguyên vật liệu trong nước, mới đây một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ vũ trụ dân sự (ICTE) nước này đã chế tạo thành công loại tên lửa mang hóa chất có khả năng phá vỡ quá trình hình thành mây gây mưa đá, tiết kiệm hàng trăm triệu USD tiền nhập nguyên liệu từ nước ngoài và hoàn toàn chủ động trong công tác phòng chống mưa đá, bảo vệ mùa nho.    Viện trưởng ICTE Frank Agostino cho biết đầu tên lửa mang hóa chất đặc biệt trên được nối mạng với hệ thống ra-đa và phương tiện kỹ thuật số có khả năng phát hiện sự hình thành mây gây mưa đá trên không.  Một khi đài chỉ huy tiếp nhận được tín hiệu có nguy cơ mưa đá từ ra-đa, hệ thống tên lửa tự kích hoạt và được nổ tung trên không phá vỡ chu trình tụ mây gây mưa đá trong khoảng thời gian khá ngắn.  Điều quan trọng hơn là giá thành loại tên lửa do Argentina sản xuất chỉ bằng 75% giá tên lửa cùng loại nhập từ Ukraine, trong khi đó nó lại có tầm hoạt động cao gần 20 km, cao hơn 2 lần so với tầm 9 km của tên lửa nhập ngoại.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba chiều thời gian, một chiều không gian: Tương đối của các quan sát siêu sáng trong không thời gian 1+3      Thế giới của chúng ta có thể được thấy bằng những quan sát chuyển động nhanh hơn ánh sáng trong một chân không như thế nào? Vì một bức tranh có thể khác biệt rõ ràng với những gì chúng ta gặp hằng ngày. “Chúng ta có thể chờ đợi thấy không chỉ một hiện tượng xảy ra một cách tự động, không xác định được nguyên nhân mà còn là các hạt di chuyển một cách đồng thời theo những hướng khác nhau”, các nhà lý thuyết ở các trường đại học ở Warsaw và Oxford lập luận.    Dẫu khái niệm thời gian có thể chuyển đổi hoàn toàn khác biệt – một thế giới siêu sáng có thể phải được đặc trưng hóa với ba chiều thời gian và một chiều không gian và có thể phải được miêu tả bằng ngôn ngữ của lý thuyết trường. Nó cho thấy sự hiện diện của nhiều quan sát siêu sáng không dẫn đến bất cứ mâu thuẫn về mặt logic, hơn nữa, hoàn toàn có thể có các vật thể siêu sáng thực sự tồn tại.  Vào đầu thế kỷ 20, Albert Einstein đã tái định nghĩa cách chúng ta nghĩ về không gian và thời gian. Không gian ba chiều cộng thêm chiều thứ tư – thời gian, và các khái niệm không thời gian, vốn bị chia tách, bắt đầu được coi như một thể thống nhất. “Trong thuyết tương đối do Albert Einstein khám phá vào năm 1905, thời gian và không gian chỉ khác nhau về dấu trong một số phương trình”, giáo sư Andrzej Dragan, nhà vật lý của Khoa Vật lý của trường đại học Warsaw và Trung tâm Các công nghệ lượng tử ở ĐHQG Singapore.  Einstein đặt cơ sở cho thuyết tương đối của mình trên hai giả thuyết: nguyên lý tương đối của Galileo và hằng số của tốc độ ánh sáng. Andrzej Dragan lập luận, nguyên lý đầu tiên là cốt lõi khi giả định từng hệ quán tính, các lực vật lý đều như nhau và mọi quan sát quán tính đều bình đẳng. “Cụ thể, nguyên lý này ứng dụng cho những quan sát đang chuyển động tương đối với vật thể khác tại tốc độ thấp hơn tốc độ ánh sáng (c). Tuy nhiên, không có nguyên nhân cơ bản nào giải thích tại sao các quan sát chuyển động tương đối với các hệ vật lý được miêu tả với các tốc độ lớn hơn tốc độ ánh sáng phải không bị lệ thuộc vào nó”, Dragan nói.  Cái gì diễn ra khi chúng ta giả định – ít nhất về mặt lý thuyết – là thế giới này có thể được quan sát từ những khung tham chiếu siêu sáng? Đó là một cơ hội có thể cho phép sự tích hợp của các nguyên lý cơ bản của cơ học lượng tử vào thuyết tương đối hẹp. Giả thuyết mang tính cách mạng của giáo sư Artur Ekert trường đại học Oxford được trình bày đầu tiên trong bài báo “Quantum principle of relativity” (Nguyên lý lượng tử của tương đối), xuất bản hai năm trước ở tạp chí New Journal of Physics.  Do đó, họ xem xét trường hợp rút gọn của cả hai quan sát tương tự trong một không – thời gian bao gồm hai chiều: một chiều không gian và một chiều không gian. Trong xuất bản mới nhất của tạp chí Classical and Quantum Gravity, với bài báo “Relativity of superluminal observers in 1 + 3 spacetime” (Tương đối của các quan sát siêu sáng trong không thời gian 1+3), một nhóm năm nhà vật lý còn tiến xa hơn, trình bày những kết luận về không thời gian bốn chiều đầy đủ 1.  Các tác giả bắt đầu từ khái niệm sự phản hồi của không thời gian với thực tại vật lý của chúng ta: với ba chiều không gian và một chiều thời gian. Tuy nhiên từ góc nhìn của một quan sát siêu sáng, chỉ một chiều của thế giới chứa một đặc điểm không gian, cái duy nhất trong đó các hạt có thể di chuyển.  “Thứ khác ba chiều là những chiều thời gian”, giáo sư Andrzej Dragan nói. “Từ cái nhìn của một người quan sát, các tuổi của hạt độc lập với từng chiều trong ba chiều thời gian đó. Nhưng từ quan sát của chúng ta – những kẻ ăn bánh mì được chiếu sáng – nó giống như một chuyển động đồng thời trong tất cả các hướng không gian, ví dụ như sự lan rộng của sóng hình cầu cơ học lượng tử được liên kết với một hạt vậy”, giáo sư Krzysztof Turzyński, đồng tác giả bài báo, bình luận.  Đó là, như giải thích của giáo sư Andrzej Dragan, trong sự phù hợp với nguyên lý Huygens ở thế kỷ 18, theo đó mỗi điểm được chạm bởi sóng trở thành nguồn của một sóng hình cầu mới. Nguyên lý này ban đầu chỉ áp dụng cho sóng ánh sáng nhưng cho cơ học lượng tử mở rộng nó cho tất cả các hình thức khác của vật chất.  Khi các tác giả của công bố này chứng minh, sự boa gồm cả những người quan sát siêu sáng trong miêu tả đòi hỏi sự sáng tạo một định nghĩa mới về vận tốc và động học. “Định nghĩa mới này phải bảo toàn tiên đề về sự bất biến của tốc độ ánh sáng trong chân không của Einstein, ngay cả cho phía người quan sát siêu sáng”, họ viết. “Do đó, tương đối hẹp mở rộng của chúng tôi không là một ý tưởng ngông cuồng”, Dragan cho biết thêm.  Sự miêu tả thế giới mà trong đó chúng ra đưa các nguồn quan sát siêu sáng thay đổi như thế nào? Sau khi tính đến cả những giải pháp siêu sáng, thế giới trở thành không tất định, các hạt – thay vì là một hạt tại một thời gian – bắt đầu chuyển động dọc theo nhiều quỹ đạo trong cùng luscm theo nguyên lý chồng chập lượng tử.  “Với một quan sát siêu sáng, điểm hạt tuân theo quy luật Newton cổ điển không còn ý nghĩa, và trường trở thành đại lượng duy nhất có thể sử dụng để miêu tả thế giới vật lý này”, Andrzej Dragan lưu ý. “Cho đến hiện nay, nhìn chung nó được tin là tiên đề cho thuyết lượng tử đều là điều rất cơ bản và không thể có thứ gì cơ bản hơn thế. Trong công trình này, chúng tôi chứng tỏ là sự điều chỉnh lý thuyết lượng tử sử dụng tương đố mở rộng có thể tạo ra một cách tự nhiên không thời gian 1 + 3 và sự mở rộng dẫn đến các kết luận bởi thuyết trường lượng tử”, các nhà nghiên cứu viết.  Tất cả các hạt do đó dường như có những đặc tính kỳ lạ trong tương đối hẹp mở rộng. Nó sẽ vận hành theo cách khác không? Chúng ta có thể dò được những hạt thông thường bởi những nguồn siêu sáng, ví dụ như những hạt chuyển động tương đối với chúng ta tại tốc độ siêu sáng?  “Không hề đơn giản”, giáo sư Krzysztof Turzyński nói. “Khám phá thực nghiệm của một hạt cơ bản mới đáng giá bằng cả giải Nobel và đòi hỏi cả nhóm nghiên cứu lớn sử dụng những kỹ thuật tiên tiến. Tuy nhiên chúng tôi hi vọng sẽ áp dụng được các kết quả của chúng tôi để hiểu sâu sắc hơn hiện tượng đối xứng tự phát kết hợp với khối lượng hạt Higgs và các hạt khác trong Mô hình chuẩn, đặc biệt trong vũ trụ sớm”.  Andrzej Dragan cho biết thêm là thành phần quan trọng của bất cứ cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát nào cũng là một trường tachyon – một trường lượng tử có khối lượng tưởng tượng. Dường như hiện tượng siêu sáng có thể đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế Higgs.  Tô Vân  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-12-dimensions-space-dimension-superluminal-spacetime.html  https://www.eurekalert.org/news-releases/975238  ————————————–  1. https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1361-6382/acad60    Author                .        
__label__tiasang Ba giai đoạn biến cây thuốc thành tiền      Việc sở hữu những mỏ vàng dược liệu cùng nhiều phương thuốc bí truyền, giúp cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền núi có thể khai thác dược liệu thành những sản phẩm đại trà thiết thực cho đời sống. Đó là một trong những con đường đưa họ thoát khỏi bủa vây của đói nghèo.      Thu hái kim ngân hoa ở hợp tác xã Nậm Đăm. Ảnh: HTX Nậm Đăm  Những mỏ vàng bỏ quên  Dù từ lâu đã biết về Sapanapro như một tấm gương điển hình thoát nghèo nhờ vào văn hóa và tài nguyên bản địa nhưng khi đặt chân tới Tả Phìn, Sa Pa, Lào Cai, chúng tôi rất ngạc nhiên vì doanh nghiệp cộng đồng có đại bản doanh ở nơi hẻo lánh này, từ chỗ chỉ có 13 “cổ đông không đồng” góp vốn bằng từng gùi thuốc tắm, bằng tri thức nghề thuốc nay đã vươn xa 100 đại lý và bệnh viện khắp cả nước. Ngạc nhiên hơn, ngoài cơ ngơi khang trang đủ đón hàng chục khách tắm, ở lại, Sapanapro đủ vốn cùng lúc vừa mua đất (mà đất Sapa giờ đã đắt ngang Hà Nội) dựng thêm 5 căn homestay vừa đầu tư 5 tỉ đồng xây dựng một nhà máy chế biến tinh dầu, các loại thuốc ngâm, tắm chăm sóc sức khỏe đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt GMP-WHO.   Xây dựng công ty từ nguồn vốn tri thức nghề thuốc, gìn giữ được hệ thực vật bản địa, Lý Láo Lở, Giám đốc của Sapanapro cùng gần 120 cổ đông người Dao là một trường hợp rất khác biệt so với phần còn lại trong bức tranh nông thôn miền núi, khi tỷ lệ nghèo của dân tộc thiểu số cao hơn dân tộc Kinh gấp 15 lần. 45% người thuộc nhóm dân tộc thiểu số vẫn sống trong nghèo đói, thậm chí, có vùng nghèo lõi như các bản làng xa xôi nhất có tỷ lệ nghèo lên tới khoảng 80%.   Cũng vì bức tranh đói nghèo ấy phổ biến, bao trùm miền núi nên cả trong chính cộng đồng và bên ngoài nhìn vào, đều không để ý rằng: Một cộng đồng tồn tại được qua hàng ngàn thế hệ có nhiều tri thức quý báu. Đây là suy nghĩ của PGS.TS Trần Văn Ơn, nguyên trưởng Bộ môn Thực vật, Đại học Dược, khi anh đặt chân đến toàn bộ các cung đường hiểm trở, những vùng xa xôi nhất từ Tây Bắc sang Đông Bắc 20 năm trước. Cắm chốt nghiên cứu ở những nơi hệ thực vật phong phú như Tả Phìn, Y Tý (Bát Xát, Lào Cai) thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, Đồng Văn, Mèo Vạc của cao nguyên đá Hà Giang, dọc từ Đông Triều tới Bình Liêu, thuộc Quảng Ninh, vùng rừng núi Việt Bắc của Thái Nguyên và Trà My của Quảng Nam, anh nhận ra nguồn vốn quý nhất ở vùng đất này chính là tri thức– nhân lực – đất đai – cảnh quan – đa dạng sinh học bản địa. Nhưng làm sao đưa tri thức cộng đồng vô hình trở thành tài sản kinh tế ra “tiền tươi thóc thật” để “người dân tộc thiểu số đứng trên mảnh đất này, làm giàu và cảm thấy tự hào về tri thức của cha ông ngàn đời?”    “Các tầng tháp thảo dược không chỉ phù hợp với từng mô hình hợp tác xã: kết hợp giữa vùng trồng thảo dược, nghề thuốc với làm du lịch, sinh thái, ẩm thực… mà còn là mô hình giúp ích cho ngành công nghiệp dược liệu của Việt Nam”. PGS.TS Trần Văn Ơn.    Những người sống ở nơi đây, bao lâu nay dựa vào lá cây ngọn cỏ chứa dược chất, những phương thuốc bí truyền để chữa bệnh, gìn giữ sinh mạng của mình, gia đình mình, mà không ngờ rằng, đó là những mỏ vàng cha ông để lại. Các phương thức thực hành chữa bệnh mà các “ông lang, bà mế” truyền từ đời này sang đời khác là một phần của tri thức và văn hóa bản địa. Việc khai thác nó một cách đúng đắn và bền vững cũng là cách để gìn giữ nó, không chỉ để thoát nghèo.   Câu chuyện khai thác tri thức bản địa càng có ý nghĩa hơn khi đặt nó vào bối cảnh hiện tại: khoảng 80% dân số của một nước có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu liên quan đến y học cổ truyền1 – còn thị trường y học cổ truyền trên thế giới có trị giá gần 80 tỉ USD. Nhìn ở góc độ này, có thể thấy những mỏ vàng dược liệu không chỉ có ý nghĩa với các tộc người miền núi, mà còn rất quan trọng với công nghiệp dược ở Việt Nam – đến nay chưa thể tham gia thị trường tỉ đô mà gần như hoàn toàn dựa vào dược liệu nhập nội. “Đất nước ta giàu có về cây cỏ, tri thức, nếu ta khéo léo thừa kế lên thì đây là con đường tạo ra sản phẩm chăm sóc sức khỏe rẻ mà phù hợp với điều kiện Việt Nam, khả thi với điều kiện Việt Nam. Còn nếu ta phát triển ‘thuốc Tây’ thì chưa chắc đã tới lượt mình, đừng tưởng hiện đại hóa phương thuốc cổ truyền thành viên thuốc hiện đại dễ như ăn bánh, lúc làm thì mới thấy là mình không thể làm nổi vì mình không hề có công nghiệp hóa chất. Trong khi đó, người dân có rất nhiều kinh nghiệm, đa dạng thực vật thì tại sao ta không phát triển lên?”, PGS.TS Trần Văn Ơn nói. Tuy nói là mỏ vàng nhưng hàng trăm bài thuốc của các tộc người vẫn chỉ là tiềm năng ngủ yên, không dễ gì khai thác được nếu thiếu đi người thợ giỏi đủ khả năng tách chiết và đánh giá từng miligram dược chất của từng loại cây nhiều khi chưa hoặc mới được bổ sung vào danh lục thực vật Việt Nam. “Công thức” của anh là ba giai đoạn nghiên cứu phát triển cộng đồng và một tháp thảo dược.   Tuy nhiên, nếu không khai thác theo cách này, rất có thể tương lai của cả vùng miền núi phía Bắc sẽ còn tệ hơn, khi người dân khai thác cây thuốc theo kiểu tận diệt, bán sản vật sang Trung Quốc, thu được tiền ngay nhưng là thảm họa với môi trường và gây đứt đoạn hoàn toàn với văn hóa bản địa và tri thức tộc người. Hoặc cũng chỉ có thể “vào trong thị trấn Sa Pa đeo bám khách du lịch bán hàng rong”, như lời kể của Lý Láo Lở.  Công thức ba giai đoạn   Là một nhà dược học dân tộc học, PGS. TS Trần Văn Ơn đã hình dung ra con đường mà người dân miền núi có thể khai thác được giá trị của các cây dược liệu, bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn một gồm nghiên cứu về lịch sử và giá trị của thuốc dân gian để đưa thành các phương pháp chăm sóc sức khỏe hiện đại; giai đoạn hai là chuyển giao lại cho cộng đồng bản địa đồng thời hỗ trợ bản địa thành lập doanh nghiệp cộng đồng hoặc hợp tác xã để “biến cây thuốc thành tiền”; giai đoạn thứ ba là mỗi cộng đồng này xây dựng vườn thảo dược rộng lớn.    Con đường này không hề dễ dàng, cần có sự hỗ trợ của khoa học hiện đại mà kiến thức đầu tiên là phân loại thực vật (Plant taxonomy). Việc phân loại thực vật chính xác các loại cây, từ kim ngân Hy Mã Lạp Sơn, quỷ xuy tiêu, thanh anh, thu hải đường Vân Sơn, ngọc trúc, mao lương đất, quan thần hoa, thượng tiễn… từ núi Lảo Thẩn, Kỳ Quan San về xây dựng “vườn thảo dược trên mây” ở Y Tý mất cả chục năm nghiên cứu mà vẫn chưa đến điểm chót. Sau đó, những loại cây mà các “ông lang bà mế” vẫn dùng trong các bài thuốc nay được các nhà khoa học phân tích đánh giá khả năng chống viêm nhiễm trong cây “chùa dù”, chất chống ô xy hóa, giảm đau nhức xương trong cây “củ dòm”, chất giảm đau trong cây lanh… để có thể khai thác được thế mạnh của chúng tốt nhất và gợi mở cách dùng thuận tiện nhất. “Nếu không chúng ta muôn đời cũng chỉ băm chặt ngâm rượu hoặc cho vào nồi sắc cả ngày”, PGS. TS Trần Văn Ơn giải thích.   Con đường đưa một bài thuốc dân gian trở thành một sản phẩm dưới dạng điều chế hiện đại, như viên nang hoặc viên nén, cao lỏng… hoặc ở cấp độ thấp hơn như chiết xuất bài thuốc tắm người Dao trở thành chai thuốc sử dụng cho bà mẹ và trẻ em trong các bệnh viện phụ sản, trải qua rất nhiều bước gian nan, ngay cả khi các nhà khoa học đã có trong tay rất nhiều công cụ tiên tiến. “Rất khó chuyển hóa từ bài thuốc cổ truyền sang loại thuốc được bào chế như dạng Tây y, khâu khó nhất là chuẩn hóa để cho nó đạt được độ ổn định, độ rã, độ chảy, đảm bảo được khả năng giải phóng của thuốc…”, ThS Nghiêm Đức Trọng, một thành viên trong nhóm nghiên cứu của PGS. Trần Văn Ơn, trao đổi với phóng viên Tia Sáng khi nghiệm thu đề tài thuốc lợi gan lợi mật, kết hợp giữa nhóm nghiên cứu của GS. Phạm Hùng Việt (trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội) và PGS.TS Trần Văn Ơn vào tháng 12/2019. Đơn cử, với dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium), từ lúc phát hiện Acid gymnemic – một hoạt chất có tác dụng hạ đường huyết, ổn định đường huyết và ngăn ngừa biến chứng cũng như các hoạt chất Gymnema Sylvester giúp giảm mỡ thừa, Hentriacontane giảm biến chứng tiểu đường… cho tới ngày sản xuất thành viên nén thực phẩm chức năng, được cấp phép, anh cũng mất cả chục năm.  Trên con đường kiên trì áp dụng phương thức “ba giai đoạn”, 20 doanh nghiệp và hợp tác xã đã được thành lập trên vùng đất phía Bắc này. Tất cả nhờ vào sự tính toán và hiểu biết của PGS.TS Trần Văn Ơn. Từ kinh nghiệm của mình, sau khi nghiên cứu xong giai đoạn một để chuyển giao công nghệ cho cộng đồng, anh thấy có hai tình huống: tình huống thứ nhất là đã có hệ thống sẵn – là các công ty hoặc HTX đã sản xuất, và họ chỉ gặp vướng ở một vài vấn đề công nghệ, ví dụ như giống kém, cần chuyển giao giống mới, hoặc chiết xuất, chế biến, bảo quản gặp vấn đề cần đưa công nghệ vào xử lý. Vấn đề đặt ra lúc này chỉ là người dân có hấp thụ được công nghệ đó không, thực sự công nghệ của nhà khoa học, doanh nghiệp đưa ra có hiệu quả không, phù hợp và giải quyết được vấn đề mấu chốt mà người dân đang cần không.   Nhưng tình huống thứ hai là ở các cộng đồng chưa hề có công ty hay HTX nào cả. Khi đó “gói chuyển giao” không đơn thuần chỉ là công nghệ mà phải giúp xây dựng cộng đồng, hình thành ra các hợp tác xã, công ty ở địa phương để người dân tham gia vào chuỗi sản xuất, và đơn vị đó sẽ trở thành hạt nhân. Như vậy, không đơn giản chỉ là có công nghệ là được, mà cần tạo ra một chuỗi giá trị. Mà khâu này thì nhà khoa học lại “thua”. Trong một dự án, không chỉ có nhà khoa học, không thể chỉ “chăm chăm” vào công nghệ cụ thể, bởi trong rất nhiều tình huống, có thể sau khi chuyển giao cho người nông dân xong, khi hoàn tất thì nhà khoa học và người dân lại “ai về nhà nấy”. Do đó, ngoài vai của nhà khoa học am hiểu về khoa học, kỹ thuật, anh Ơn gánh thêm vai của nhà phát triển cộng đồng để chuyển giao công nghệ chế biến các bài thuốc, vị thuốc hiện đại hóa thành sản phẩm đại trà.    Một góc vườn thảo dược của Sapanapro, Sapanapro đang xây dựng vườn thảo dược 5ha.  Nhờ giải quyết được tình huống này, với việc lăn lộn tư vấn hỗ trợ người dân, 20 doanh nghiệp cộng đồng/hợp tác xã của các cộng đồng bản địa đã ra đời, như Sapanapro đặt giữa vùng văn hóa người Dao đỏ chuyên về thuốc tắm cho bà mẹ, trẻ em; Y Tý Farmstay đặt giữa vùng văn hóa Hà Nhì đen chuyên phân loại và trồng các loài cây thuốc đặc hữu của vùng cao nhất trên dãy Hoàng Liên Sơn, Nậm Đăm ở vùng văn hóa người H’Mông làm vườn cây thuốc đặc hữu của vùng cao nguyên đá Hà Giang…  Tháp thảo dược   Nhưng không phải hợp tác xã/ doanh nghiệp cộng đồng nào cũng đủ khả năng phát triển những bài thuốc trở thành sản phẩm thuốc/thực phẩm chức năng như cách anh Ơn làm với dây thìa canh lá to. Không phải hợp tác xã/doanh nghiệp cộng đồng nào cũng đủ khả năng theo đuổi việc phát triển vùng trồng, nhận chuyển giao/ liên kết với doanh nghiệp lớn, và nhà khoa học nghiên cứu được tới sản phẩm cuối cùng. Vì vậy, anh Ơn và các hợp tác xã nghĩ tới một mô hình “tháp thảo dược”: Thị trường thuốc chỉ ở trên đỉnh của tháp, rất bé và rất khó làm, chỉ dành cho những doanh nghiệp, hợp tác xã có công nghệ, có tổ chức sản xuất tốt, đáp ứng những tiêu chuẩn rất khắt khe. Các tầng chân tháp – sản phẩm phục vụ ăn uống, du lịch, mới là bệ đỡ, với thị trường là hàng chục triệu người mỗi năm mới đủ khả năng làm giàu từ nguồn vốn cây thuốc. Sapanapro, Y Tý Farmstay hay Nậm Đăm ở … đều đi theo mô hình tháp này: ở tầng chân tháp là thảo dược phục vụ du lịch gắn với văn hóa bản địa, các tầng trên cao gồm chiết xuất, thuốc, hẹp lại dần. Thực tế, trong số 20 hợp tác xã và doanh nghiệp cộng đồng chỉ có DK Natural gắn với dây thìa canh mới đủ sức đi tới đỉnh cao nhất của tháp – làm vùng trồng phối hợp, liên kết để với Công ty Dược DK Pharma để sản xuất thực phẩm chức năng trị tiểu đường.   “Các tầng tháp thảo dược không chỉ phù hợp với từng mô hình hợp tác xã: kết hợp giữa vùng trồng thảo dược, nghề thuốc với làm du lịch, sinh thái, ẩm thực… mà còn là mô hình giúp ích cho ngành công nghiệp dược liệu của Việt Nam”, PGS.TS Trần Văn Ơn cho biết. Đối với riêng ngành công nghiệp dược liệu, các tầng chân của tháp càng dày, phục vụ đa dạng nhu cầu khác nhau, càng mở rộng trồng trọt thì càng có điều kiện để cho tầng đỉnh của tháp có nhiều nguyên liệu cho sản xuất thuốc/ thực phẩm chức năng hoặc mỹ phẩm. Việc thay đổi quan điểm về thảo dược, mở rộng khái niệm dược liệu có thể giúp phát triển ngành này để phục vụ đa dạng nhiều nhu cầu: từ các loại rau ăn, đồ uống, lương thực, đến hương liệu, chất nhuộm màu thực phẩm,… để ăn, uống hằng ngày nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, đến các sản phẩm chuyên sâu hơn, như các sản phẩm thực phẩm chức năng/thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm và cuối cùng mới là thuốc, như thuốc Y học cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc “Tây”.   Trường hợp các doanh nghiệp cộng đồng như Sapanapro, DK Natural là “nguyên mẫu” để anh Ơn tư vấn thành công cho tỉnh Quảng Ninh xây dựng chương trình OCOP (mỗi xã phường một sản phẩm) ngay từ khi cả nước chưa biết đến chương trình này, và lồng ghép việc phát triển các vườn dược liệu dọc theo các hợp tác xã ở phía Tây của Quảng Ninh. Không dừng lại ở 20 hợp tác xã và doanh nghiệp cộng đồng, anh mơ tới ngày nhân rộng những mô hình này, xây dựng một cung đường thảo dược – áp dụng cách tiếp cận mới theo tháp thảo dược. Năm trục theo tháp thảo dược, đưa thảo dược vào hoạt động kinh tế du lịch, văn hóa, gồm Trục Văn hóa – thảo dược Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Trục Văn hóa – thảo dược Cao Nguyên Đá (Hà Giang), Thung lũng dược liệu Ngọa Vân – Yên Tử (Quảng Ninh), Trục Văn hóa thảo dược Việt Bắc (Thái Nguyên) và Trục Văn hóa – thảo dược Hội An – Trà My (Quảng Nam). Ở mỗi cung đường, anh đã gây dựng thành công hàng loạt các mô hình hợp tác xã hoặc công ty cộng đồng phát triển thảo dược gắn với văn hóa du lịch.   Thực ra anh Ơn tự nhận, con đường mình vạch ra không phải quá mới mẻ vì các nước đã đi cả rồi. Gần Việt Nam, Thái Lan thì đưa ra tầm nhìn đưa vùng Đông Bắc trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược và y học truyền thống Thái Lan và massage Thái. Và con đường xây “tháp thảo dược” này sẽ đưa Thái Lan sẽ trở thành nước dẫn đầu thế giới về mỹ phẩm thảo dược. Nếu Việt Nam không có hướng đi cụ thể, không quyết tâm phát triển thị trường thì vườn thảo dược Việt Nam liệu 20 – 30 năm nữa có hình thành hay mãi là tiềm năng? “Đây là con đường mà ta có lợi thế, có đa dạng văn hóa, đa dạng sinh học, cảnh quan tuyệt đẹp. Tại sao ta lại không dùng thế mạnh này mà cứ đi phụ thuộc vào tân dược?”, PGS.TS Trần Văn Ơn nói. Và dầu có phụ thuộc vào tân dược (cũng với nguồn nhập khẩu áp đảo), thì 60%  số thuốc tân dược hiện nay có xuất phát hoặc dựa trên các hợp chất tự nhiên. “Chỉ khi phát triển được các trục dược liệu: du lịch và “xuất khẩu dược liệu tại chỗ” mới tạo ra nền móng cho dược liệu cho y học cổ truyền, tạo dược liệu để xuất khẩu quốc tế”.□  Chú thích:   1)https://www.who.int/news/item/25-03-2022-who-establishes-the-global-centre-for-traditional-medicine-in-india     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Ba giải pháp thúc đẩy nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc      Trung Quốc đã phải trải qua một chặng đường dài với nỗ lực của cả cộng đồng khoa học, đặc biệt từ Quỹ KH&CN quốc gia nhằm xây dựng một môi trường nghiên cứu minh bạch, gia tăng đầu tư vào khoa học cơ bản và thúc đẩy ứng dụng của các nghiên cứu khoa học. Nhờ đó, khoa học Trung Quốc có thể tăng cường đóng góp vào sự phát triển dài hạn của nền kinh tế.      Kính viễn vọng vô tuyến hình cầu khẩu độ 500m ở Quý Châu là một trong những dự án khoa học lớn của Trung Quốc.  Mùa hè năm 1992, Xiaogang Peng là postdoc tại khoa Hóa học trường Đại học Cát Lâm ở Trường Xuân – một vùng hẻo lánh Nam Trung Quốc, và mơ ước có chân trong một phòng thí nghiệm hàng đầu của Mỹ. Vài năm sau, anh đạt được ước mơ đó, thậm chí còn đăng trên Nature một công trình nghiên cứu về công nghệ nano với các đồng nghiệp ở trường Đại học California ở Berkeley vào năm 1996. Năm 2005, anh trở thành giáo sư chính thức (tenured professor) của trường Đại học Arkansas. Tuy nhiên, Xiaogang Peng đã từ giã “giấc mơ Mỹ”, trở về Trung Quốc và chọn làm việc ở trường Đại học Chiết Giang, Hàng Châu – một trong những địa chỉ nghiên cứu khoa học hàng đầu quốc gia.  Không chỉ có Xiaogang Peng, nhiều nhà khoa học Trung Quốc xuất sắc khác cũng chọn cách quay về quê hương, trong số đó có nhà vật lý lượng tử Jian Wei Pan (trường Đại học KH&CN Hợp Phì) – người đưa Trung Quốc trở thành tiên phong trên thế giới về viễn tải truyền thông lượng tử (long-distance quantum communication): sử dụng các quy luật lượng tử để truyền tải thông tin trong trạng thái bảo mật. Vì sao họ lại trở về? Vì môi trường nghiên cứu Trung Quốc đã thực sự tạo điều kiện cho các nhà khoa học? Mu Ming Poo, nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học thần kinh (Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc) ở Thượng Hải cho biết: “Chính phủ đã bắt đầu nhận ra việc tăng đầu tư cho khoa học và kêu gọi tài năng ở nước ngoài về vẫn chưa đủ, cần xây dựng được cơ sở hạ tầng và cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo”.  Không dễ dàng thực hiện được điều này, trước hết về nhận thức. Trong nhiều thập kỷ ở Trung Quốc, hoạt động R&D chủ yếu là ngắn hạn và chỉ tập trung vào công nghệ. Phần lớn các khoản tài trợ công đều rót vào những lĩnh vực như động cơ turbine mới, tàu cao tốc, pin mặt trời hoặc các loại thuốc với tầm nhìn 5 đến 10 năm. Để tập trung vào những vấn đề gốc rễ khoa học của các công nghệ, Trung Quốc cần có cái nhìn bao quát và dài hơi trong đầu tư khoa học.  Họ cũng bắt đầu đầu tư lớn vào nghiên cứu cơ bản nhưng lại tạo ra một bức tranh tương phản: nếu năm 1997, tỷ lệ công bố quốc tế chiếm 2,5% so với tổng số công bố của thế giới thì tới năm 2015 đã là 18,8% (theo dữ liệu Scopus của Elsevier) – nhưng vẫn có nhiều chỉ trích về chất lượng công bố. Ví dụ, theo nhiều lời chỉ trích thì các trường đại học Trung Quốc đã trở thành “những công xưởng sản xuất giấy” do chạy theo số lượng hơn là chất lượng công bố. Hậu quả là tầm ảnh hưởng vẫn ở mức thấp: ví dụ trong lĩnh vực hóa học có ít phản ứng hoặc quy trình phản ứng gắn liền với tên tuổi các học giả Trung Quốc, dẫu cho họ xuất bản công trình nhiều hơn các quốc gia khác. Những hành vi sai trái trong nghiên cứu – bao gồm cả viết thuê công bố – cũng phát triển rầm rộ, bằng chứng là nhiều công trình của các nhà khoa học Trung Quốc bị rút lại từ hệ thống BioMed Central, Elsevier và Springer trong những năm 2013-2015.  Giới công nghiệp và một số quan chức chính phủ vẫn phàn nàn rằng nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực như toán thuần túy hoặc vật lý cơ bản đều không liên quan đến sự phát triển kinh tế hay đời sống xã hội. Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của khoa học Trung Quốc đạt 55% năm 2015, thấp hơn nhiều so với mức 88% của Mỹ cùng thời gian. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, ngân sách chi cho nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc chỉ 4,7% so với Đức 24,1% ở Pháp, 17,6% ở Mỹ hay 12,6% ở Nhật Bản năm 2013.  Do đó, họ nhận thấy để tạo ra một môi trường nghiên cứu lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cần tăng cường chất lượng và duy trì tính liêm chính trong nghiên cứu cơ bản. Chất lượng cần thiết hơn số lượng và sự liêm chính là cách tốt nhất để đảm bảo chất lượng. Khi có được những điều này, sự đầu tư cho khoa học sẽ tăng lên.  Áp dụng những tiêu chuẩn xác thực  Trung Quốc đang tăng trưởng nhanh trên tất cả các thứ bậc có thể đo đếm nhưng về tổng thể thì nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc vẫn phát triển chậm, ví dụ quốc gia này chỉ có một nhà khoa học đoạt giải Nobel và Trung Quốc vẫn đứng sau nhiều cường quốc khoa học về chỉ số trích dẫn – hệ số Field Weighted Citation Impact của Trung Quốc vẫn là 0,86 vào năm 2015, thấp hơn tỷ lệ trung bình của thế giới (1,0).  Vì thế cần phải nâng cao hơn tiêu chuẩn chất lượng với những bài báo được nhiều trích dẫn và tạo ra nhiều kết quả mang tính đột phá. Để làm được điều này, Trung Quốc hy vọng vào vai trò của Quỹ KH&CN Trung Quốc và Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc. Được thành lập vào năm 1986, đến năm 2016, Quỹ KH&CN Trung Quốc quản lý 24,8 tỷ NDT, gấp hơn 300 lần vốn khởi điểm (80 triệu NDT, tương đương 12,2 triệu USD). Các công bố từ đề tài do Quỹ tài trợ chiếm 62,1% tổng số công bố của Trung Quốc, chiếm 11,5% tổng số công bố của giới hàn lâm toàn cầu – theo số liệu năm 2015. Theo giáo sư Wei Yang, người được bổ nhiệm vào vị trí chủ tịch NSFC vào năm 2013, “nhiệm vụ của Quỹ là trở thành người bạn của các nhà khoa học: công bằng trong đánh giá; khuyến khích nghiên cứu dài hơi; hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu; hiệu quả trong quản lý; phong phú trong tài trợ…”  Cái khó đầu tiên đối với Quỹ KH&CN Trung Quốc là hệ thống các cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc rất đa dạng với hơn 1.000 viện nghiên cứu về khoa học cơ bản, mỗi nơi tập trung vào một trọng tâm phát triển khác nhau, và hơn 1.000 trường đại học, mỗi trường lại có một sự kết hợp khác biệt trong nghiên cứu và giảng dạy. Hơn nữa, mỗi nơi lại nhận được nguồn đầu tư khác nhau, ví dụ trường ĐH Thanh Hoa (Bắc Kinh) mỗi năm nhận được gần 5 tỷ NDT đầu tư cho nghiên cứu từ nhiều nguồn nhưng ngược lại cũng có những trường đại học vùng chỉ có ngân quỹ nghiên cứu vài triệu NDT mỗi năm. Việc đánh giá dựa vào số lượng công bố có thể phù hợp với một viện nghiên cứu mới thành lập với khoảng 10 công bố mỗi năm nhưng lại không tương thích với một trường đại học lớn có tới 10.000 công bố một năm.    Nhà vật lý lượng tử Jian Wei Pan – một trong 10 gương mặt xuất sắc năm 2017 của Nature đã rời châu Âu về Trung Quốc làm việc.  Vì vậy, mỗi viện nghiên cứu phải biết lựa chọn đầu tư trọng tâm trước nhiều cơ hội lựa chọn: một cá nhân có khả năng làm được nhiều công bố quốc tế, hay dự án có khả năng đem lại tầm ảnh hưởng lớn, hứa hẹn được trích dẫn cao, nếu dự án có ý nghĩa toàn cầu hoặc tạo ra một đột phá khoa học. Mỗi viện nghiên cứu phải lập được kế hoạch dài hạn phù hợp với truyền thống nghiên cứu, cơ sở vật chất và cả mục tiêu trong tương lai. Việc đánh giá trong các viện nghiên cứu cần phải được tiến hành mỗi khi có dự án kết thúc hoặc khi viện được đầu tư nâng cấp.  Một vấn đề khác là cách phân bổ kinh phí cơ bản nào là tốt nhất? Cần đầu tư vào những dự án khoa học nhằm giải quyết “những thách thức xã hội” hay cho những ý tưởng tiên phong? Ví dụ như Quỹ KH&CN Trung Quốc đầu tư 70% kinh phí cho nghiên cứu cơ bản, 10% cho những tài năng và 20% cho những dự án nghiên cứu lớn mang tính thách thức và rót vào những cơ sở nghiên cứu mới.  Tăng cường tính liêm chính học thuật  Trong thập kỷ vừa qua, Bộ Giáo dục và Quỹ KH&CN Trung Quốc, Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc đã thực hiện thành công cuộc vận động công khai chống hành vi gian dối trong xuất bản. Phần lớn các viện nghiên cứu đều có những biện pháp xử lý những trường hợp bị nghi ngờ là gian dối hoặc xác định là vi phạm đạo đức khoa học, thậm chí ở một số nơi như trường đại học Chiết Giang, Hàng Châu, còn thực hiện chính sách không khoan nhượng: giáo sư Wei Yang trong thời gian làm hiệu trưởng ĐH Chiết Giang đã phát hiện ra 40 trường hợp sai trái, hơn 20 nhà nghiên cứu liên quan bị kỷ luật, những công việc thực hiện trong quá trình gian lận đều bị rút lại, kể cả bằng cấp, 3 người bị thôi việc, 4 người bị cắt, giảm lương, số còn lại bị thông báo công khai hoặc cảnh cáo nội bộ, một vài người bị cấm nhận nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, Wei Yang cũng thừa nhận: “Thật khó khăn để xây dựng tính liêm chính học thuật nếu như trong những khía cạnh khác của cuộc sống vẫn còn nhiều điều đáng nghi ngờ về tính liêm chính”.  Kết quả là những hành vi gian dối đã giảm xuống, dẫu chưa thể dứt hẳn. Sự giống nhau giữa các bài báo gửi tới các nhà xuất bản và các bài báo đã được xuất bản cũng ít dần. Văn hóa của các nhà nghiên cứu trẻ cũng dần thay đổi từ “tại sao không gian dối” thành “không đáng để làm thế”.  Để đấu tranh với nạn gian dối trong khoa học, Quỹ KH&CN Trung Quốc đã làm những gì? Họ quyết tâm thay đổi ba điều là quan điểm, cơ cấu và phương pháp trong xét duyệt tài trợ.  Thay đổi quan điểm – từ giấu giếm bao che cho gian dối đến phơi bày nó – là điều cốt lõi. Quỹ KH&CN Trung Quốc đang thi hành việc kiểm tra tương tự với việc phân bổ tài trợ cho các đề xuất và hiện xuất bản thông cáo báo chí hằng năm một cách chi tiết về những trường hợp bị phát hiện gian dối học thuật. “Kể từ năm 2000, chúng tôi đã đưa thêm những thông tin mới vào chính sách tài trợ của Quỹ, từ việc bảo mật thông tin xét duyệt đề tài đến sự minh bạch trong đánh giá nghiên cứu. Ví dụ mỗi hội đồng khoa học đều được đòi hỏi phải giám sát việc xét duyệt của hội đồng khác bằng việc bỏ phiếu đánh giá quy trình xét duyệt của những đồng nghiệp khác”, Wei Yang – chủ tịch Quỹ KH&CN Trung Quốc, cho biết.  Thay đổi về cơ cấu trong các viện nghiên cứu là điều thiết yếu để tách quản lý hành chính với quản lý khoa học và ngăn chặn tham nhũng. Ví dụ, Quỹ KH&CN Trung Quốc đã áp dụng một số biện pháp có thể áp dụng rộng rãi với một số cơ quan quản lý quỹ khác: các nhà quản lý hành chính không tham gia vào xét duyệt học thuật. Các thành viên của Quỹ cũng không có quyền truy cập thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình và một hội đồng độc lập gồm các chuyên gia cao cấp đã được thành lập để tránh xảy ra xung đột về lợi ích, các hội đồng khoa học đều được trao quyền để có thể bảo vệ quan điểm khoa học và đạo đức học thuật.  Thay đổi về phương pháp đánh giá nghiên cứu giúp loại trừ gian dối trong nghiên cứu. Một cuộc vận động ở cấp quốc gia chống lại việc đánh giá nghiên cứu dựa trên số lượng công bố được tiến hành. Chi phí cho nhân lực đang được tháo gỡ. Một cấu trúc tài trợ hợp lý đang được tiến hành xây dựng với mục tiêu làm giảm bớt sự phân tán trong nguồn tài trợ và nhất thiết tất cả các xét duyệt tài trợ đều do một bộ phận chuyên nghiệp thực hiện. “Chúng ta cần quen với việc đánh giá ngoài bởi một hội đồng quốc tế và thanh toán cho các chi phí nghiên cứu một cách gián tiếp” – ông Wei Yang cho biết.  Thúc đẩy hệ sinh thái nghiên cứu – sản xuất  Để những đổi mới sáng tạo trong khoa học cơ bản đem lại lợi ích cho nền kinh tế, toàn bộ khâu phát triển – từ nghiên cứu ban đầu đến phát triển công nghệ, sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường – phải được chăm chút nuôi dưỡng.  Quỹ KH&CN Trung Quốc đang nuôi dưỡng nguồn lực khoa học cơ bản. Phần còn lại của chuỗi giá trị này đang được Bộ KH&CN Trung Quốc khuyến khích thông qua Các sáng kiến Công nghệ và kỹ thuật quốc gia (16 sáng kiến này sẽ được thực hiện đến năm 2020 và 15 dự án khác được mở rộng đến năm 2030) và Các dự án nghiên cứu trọng điểm quốc gia (36 dự án đã bắt đầu vào năm 2016). Các chương trình này đều kết nối với các nhà nghiên cứu, các nhà phát triển công nghệ và các nhà đầu tư mạo hiểm. Các ví dụ bao gồm dự án về xử lý ô nhiễm không khí, tăng cường sử dụng năng lượng carbon thấp trong kỹ thuật hóa học và các trạm nghiên cứu dưới đáy biển để khám phá đại dương.  Ông Wei Yang kết luận, có 4 điểm cần chú ý: 1. Không ngừng khuyến khích các nhà khoa học tạo ra những đột phá khoa học lớn. Với những lĩnh vực khoa học cơ bản như vật lý cơ bản và thiên văn cần phải có kế hoạch dài hạn bởi nghiên cứu trong lĩnh vực này đòi hỏi nhiều thời gian và sự kiên nhẫn như trường hợp phát hiện ra sóng hấp dẫn năm 2016; 2. Sử dụng các thước đo thích hợp để đánh giá nghiên cứu; 3. Xây dựng một hệ sinh thái học thuật lành mạnh và phù hợp để các nhà nghiên cứu có nhiều thời gian dành cho nghiên cứu hơn là chất thêm gáng nặng thủ tục giấy tờ hoặc khiến họ phải nghĩ cách “xử lý” vấn đề tài chính; 4. Thiết lập một mô hình kinh doanh cho riêng Trung Quốc để xác định đúng những nghiên cứu ứng dụng và nuôi dưỡng nó.  Thanh Nhàn tổng hợp từ Nature và The Guardian  Nguồn: https://www.nature.com/news/policy-boost-basic-research-in-china-1.20117  https://www.theguardian.com/science/2018/feb/18/china-great-leap-forward-science-research-innovation-investment-5g-genetics-quantum-internet       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba Kim- chỉ biết nói thật.      Trong cuộc cách mạng văn hóa (CMVH), là đại trí thức xuất thân gia đình địa chủ quan lại, Ba Kim (1904-2005) càng bị hành bạ sỉ nhục: ngày lao động cải tạo, tối đấu tố, đêm ngủ chuồng trâu. Vợ ông vì thương chồng già mà xin chịu các trận đòn roi thắt lưng da có khóa đồng của Hồng Vệ Binh thay ông, do đó ốm yếu rồi chết năm 1973, để lại ông sống nốt 32 năm cô đơn.     Như nhiều người khác, Ba Kim buộc phải giấu giếm suy nghĩ thực sự, phải phủ nhận chính mình, tiếp nhận sự đấu tố ấy là đúng và tự nguyện “cải tạo”. Quách Mạt Nhược, Chủ tịch Viện Khoa học Trung Quốc, viết trên báo: “Toàn bộ các sáng tác của tôi hơn 50 năm qua đều đáng vứt đi hết”. Đại trí thức mà còn không dám vạch cái sai của CMVH, nói gì dân thường?  Sau CMVH, trong khi hầu hết người Trung Quốc trút tất cả tội cho “Lũ 4 tên” thì Ba Kim bỏ hẳn 8 năm để chuyên viết về đề tài này với phương thức tự mổ xẻ bản thân, vạch ra sai lầm của mình và sám hối vì các sai lầm đó. 150 bài viết của ông với tổng số hơn 400 nghìn chữ được tập hợp lại và in thành 5 tập, gọi chung là Tùy Tưởng Lục (ghi chép tản mạn), xuất bản năm 1986.                     Hãy xem vài trích đoạn trong Tùy Tưởng Lục: “Năm 1978, khi đi lao động cải tạo, tôi bị lôi ra bờ ruộng cùng các địa chủ trong vùng chịu đấu tố, tôi đã cúi đầu nhận tội… Tôi hoàn toàn dùng đầu óc của kẻ khác để suy nghĩ. Họ thét lớn Đả đảo Ba Kim, tôi cũng giơ cao tay hét theo. Tôi đâu có giả vờ thế mà thật lòng tỏ ý tự nguyện để người ta đánh gục mình xuống đất đen, từ đó bắt đầu làm lại cuộc đời. Thậm chí tôi còn khổ tâm vì Phái Tạo Phản không thông cảm với nguyện vọng ấy của tôi…”. “Giờ đây trên giường bệnh, nhớ lại 10 năm thân trâu ngựa của mình, tôi luôn tự trách: chỉ có mù quáng sùng bái (lãnh tụ tối cao) thì mới có thể biến con người thành trâu ngựa, và bản thân tôi vẫn có trách nhiệm trong việc đó…”. “Hồi ấy cũng chỉ vì không có dịp mà tôi chưa phê đấu bất cứ ai thôi. Giả thử được phê đấu người khác thì có lẽ tôi sẽ coi đó là dịp may mắn nhường nào. Tôi thường nghĩ và nói: hồi ấy nếu (vì cải tạo tốt mà) tôi được giải phóng và trọng dụng thì có lẽ tôi cũng đã làm khối chuyện ngu xuẩn, thậm chí xấu xa… Tôi sở dĩ giữ được sự trong sạch của mình chỉ là do tôi bị cấp trên cho ra rìa mà thôi...”  Thật là những lời sám hối chân thành nhất, hiếm ai đủ dũng cảm viết như thế! Đó là sự tự mổ xẻ linh hồn mình, tự trách, tự phán xét, đạt tới cõi cao cả của Thận độc – một phép tu thân của người xưa: dù sống một mình cũng vẫn nghiêm túc. Ba Kim tự nhận đã xa rời các tiêu chuẩn đạo đức mình từng xác lập ngày còn trẻ, như chính nghĩa, hy sinh mình, giúp kẻ khác… Vì để bảo toàn bản thân mà ông đã nói những lời dối trá, đã phê phán người khác. Dám phơi bày trước công chúng kết quả mổ xẻ linh hồn mình và sự sám hối nhận lỗi – đây là một lần phục hồi và thăng hoa nhân cách Ba Kim, khiến người TQ rất kính phục.  Trong 8 năm viết và đăng báo các bài nói trên, không ít bạn bè khuyên ông: già yếu rồi, nên nghỉ thôi, chớ viết Tùy Tưởng Lục nữa. Nhưng ông nói: “Điều quan trọng nhất đối với một nhà văn là lương tâm nghệ thuật”. “Nếu tôi làm bản tổng kết cuộc sống đau khổ ấy, triệt để mổ xẻ bản thân để làm rõ mọi chuyện ngày ấy, thì chưa biết sẽ có một ngày nào đó tình hình thay đổi, tôi lại trúng phải thuật thôi miên, biến thành một kẻ khác. Điều đó đáng sợ quá! Đây là một món nợ về tâm linh mà tôi sớm trả hết. Nó như một cái roi quất vào trái tim tôi.” “Tôi phải viết tiếp Tùy Tưởng Lục bằng việc mổ xẻ, phê phán chính mình, Tôi viết cũng là tôi đào bới, khai quật linh hồn mình. Phải đào thật sâu nữa, nhìn thật rõ nữa. Nhưng càng đào sâu thì lại càng đau lòng và cũng càng khó. Viết tiếp chẳng phải là một việc dễ dàng gì. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải cố viết, cố đào. Tôi tin rằng cố gắng của mình không phải là vô ích”.  Tôi gọi Tùy Tưởng Lục là “bộ sách nói thật”, là lời sám hối, là di chúc để lại cho đời nhằm để sau này TQ mãi mãi sẽ không xảy ra tấn thảm kịch như CMVH nữa. Vì mục đích cao cả đó, khi đã 80 tuổi ông vẫn nằm trên giường bệnh đọc cho con gái chép các bài viết. Ông nói: “Tôi cho rằng Đại họa 10 năm ấy… nếu nó không xảy ra ở TQ hồi đó thì sau này có thể xảy ra ở nơi khác”.  Giới trí thức TQ đánh giá cao bộ sách này. Nhà văn Trần Hoang Môi nhận xét: Tùy Tưởng Lục quán triệt nguyên tắc “Nói Thật”, vừa thể hiện sự phản tỉnh và tổng kết (về CMVH) của Ba Kim đạt tới tầm cao lịch sử, vừa thể hiện tình yêu tổ quốc, nhân dân và lương tâm của một nghệ sĩ chân chính. Bà Trầm Dung nói: Sở dĩ Tùy Tưởng Lục được gọi là giai phẩm văn học và tư liệu lịch sử, tất cả là do tác giả đã nói sự thật. Bà Viên Ưng nói: Tùy Tưởng Lục thấm nhuần tinh thần trách nhiệm lịch sử sâu nặng của nhà văn hóa lớn đối với lịch sử, thời đại, dân tộc và đất nước. Trong bài “Lời kêu gọi thành khẩn nhất”, Vương Mông (nguyên Bộ trưởng Văn hóa) viết: Qua Tùy Tưởng Lục, có thể nghĩ tới việc văn học có nên vạch trần CMVH và “vết sẹo xã hội” hay không. Có người phản đối việc vạch vết sẹo, có người chỉ muốn làm một nhân vật vĩ đại chịu khổ mà không tố khổ, dường như thế mới là cách tốt nhất yêu quý bảo vệ nhà nước và sự nghiệp. Ba Kim không gây ra sẹo, mà qua việc mình “trả nợ” đã phản ánh trách nhiệm của một công dân và nhà văn chính trực đối với đất nước và lịch sử. Tùy Tưởng Lục là lời kêu gọi thành khẩn nhất, hô hào mọi người có thái độ trách nhiệm với lịch sử và tổ quốc. Nếu ai cũng làm được như thế này thì đất nước này sẽ có hi vọng. Trong bài “Chúng ta phải gánh lấy trách nhiệm”, nhà văn hóa Uông Tăng Kỳ nói: Ba Kim luôn luôn là một tâm hồn rỉ máu đau khổ; khác với những người che giấu lỗi lầm, khi nghĩ lại cuộc CMVH, ông coi mình là “chủ nợ”, tự mổ xẻ mình tới mức tàn khốc; đồng thời vượt qua đau khổ, lấy lại lòng tự tin, tràn đầy hi vọng vào tương lai. Lý Tồn Quang, nhà nghiên cứu tác phẩm Ba Kim nhận định Tùy Tưởng Lục là tác phẩm tiêu biểu có giá trị nhất của Ba Kim kể từ thập kỷ 50 trở lại. Trương Quang Niên viết: Đọc Tùy Tưởng Lục, bạn đọc TQ và nước ngoài cũng như con cháu đời sau sẽ hiểu được tư duy của người đại diện ưu tú nhất của giới trí thức TQ sau 10 năm loạn lạc. Ba Kim già yếu ốm đau lại hay bị kẻ khác vô tình hoặc cố ý hiểu nhầm và cản trở, thực ra chính ông mới là bạn chiến đấu thân thiết nhất của Đảng CSTQ; Đảng ta vô cùng cần có những người bạn dũng cảm và bộc trực khuyên bảo như vậy. Chúng ta học Ba Kim là phải đề xướng việc nhà văn bàn chuyện chính trị, chuyện xã hội. Nhiều nhà văn nhận xét: Tùy Tưởng Lục  đã phát hành, song thời gian xuất bản, chất lượng in ấn và số lượng phát hành cũng như bình luận tác phẩm đều không được như mong muốn của mọi người; các giới văn học, xuất bản và báo chí truyền thông có sứ mạng coi trọng và đánh giá đúng giá trị và ý nghĩa của tác phẩm này.  Từ nhỏ, ai cũng được dạy phải nói thật, nhưng nói dễ làm khó. Dám nói thật về một sự kiện xấu hầu hết mọi người muốn “ỉm” đi – điều đó chứng tỏ nhân cách cao cả của Ba Kim.  Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Bà lang” Trung Quốc 85 tuổi nhận một nửa giải Nobel Y học      Lần đầu tiên một công  dân nước CHND Trung Hoa được trao giải Nobel khoa học, hơn nữa người  đoạt giải thưởng khoa học cao quý này lại là phụ nữ.    Mùa giải Nobel năm nay mở đầu bằng việc công bố giải Nobel Y học vào 11h30 ngày 5/10/2015 tại thủ đô Stockholm, Thụy Điển, tức 16h30 cùng ngày giờ Hà Nội. Theo đó, bà Youyou Tu (Trung Quốc) nhận một nửa giải thưởng, phần còn lại chia đều cho hai ông William C. Campbell (Ireland) và Satoshi Ōmura (Nhật).     Ủy ban Nobel cho biết, Campbell và Omura được vinh danh nhờ các phát hiện liên quan tới phương pháp điều trị mới các bệnh nhiễm trùng gây ra bởi giun tròn ký sinh, trong khi bà Youyou Tu được tôn vinh nhờ những phát hiện liên quan tới một phương pháp điều trị mới bệnh sốt rét.    Tin này lập tức làm dư luận Trung Quốc dậy sóng, bởi lẽ đây là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, một công dân nước CHND Trung Hoa được trao giải Nobel khoa học, hơn nữa người đoạt giải thưởng khoa học cao quý nhất lại là phụ nữ.    Thảo dược Trung Y kết hợp công nghệ hiện đại    Điều thú vị chưa mấy người biết là nhà dược học Youyou Tu chưa hề có học vị tiến sĩ, mấy lần dự bỏ phiếu bầu làm viện sĩ đều bị trượt, và công trình nghiên cứu của bà hoàn toàn thực hiện trong nước, không có yếu tố nước ngoài.     Ủy ban Nobel cho biết những bệnh do ký sinh trùng gây ra đã gây khó khăn cho loài người suốt mấy nghìn năm qua, trở thành vấn đề sức khỏe lớn có tính toàn cầu.    Bà Juleen Zierath, Chủ tịch Ủy ban Nobel Y học, phát biểu: “Nhà khoa học nữ Trung Quốc Youyou Tu đã chiết xuất được chất Artemisinin dùng để điều trị bệnh sốt rét. Điều đó chứng tỏ thảo dược Trung Y truyền thống của Trung Quốc cũng có thể đem lại những gợi ý mới cho các nhà khoa học.” Bà Zierath nói, nhờ kết hợp công nghệ chiết xuất hiện đại với y học hiện đại, thảo dược Trung Y đã lập được thành tựu “rất xuất sắc” về chữa bệnh.    Thập niên 1960-1970, trong điều kiện cực kỳ gian khổ, nhóm nghiên cứu Youyou Tu đã nghiên cứu cách điều trị bệnh sốt rét. Họ lấy cảm hứng từ các thư tịch y dược cổ điển Trung Y, như “Trửu hậu bị cấp phương”, dẫn đầu phát hiện chất Thanh Hao (青蒿素, Artemisinin), sáng tạo phương pháp mới điều trị sốt rét. Hàng trăm triệu người dân trên thế giới đã được hưởng lợi ích từ “Thần dược Trung Quốc” này. Tổ chức Y tế thế giới WHO đã đưa Artemisinin và các dược phẩm liên quan vào danh mục dược phẩm cơ bản.    Youyou Tu có rất ít bài báo đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế. Luận văn gần đây nhất của bà là bài “Phát hiện chất Thanh Hao – món quà tặng của y dược Trung Hoa” đăng trên nguyệt san khoa học nổi tiếng “Nature”, hiện nay Trung Quốc vẫn chưa có bản dịch bài này.    Bài báo viết : “Tôi suốt đời tham gia nghiên cứu thảo dược Trung Quốc ở Viện Khoa học Y học Trung Quốc. Từ năm 1959 đến 1962, tôi tham gia lớp đào tạo Trung Y dành cho các bác sĩ biết Tây Y, điều đó đã dẫn tôi đến với kho tàng quý báu của thảo dược Trung Quốc.”    Năm 1967, Trung Quốc khởi động Dự án 523 toàn dân chống sốt rét. “Chúng tôi đã điều tra hơn 2.000 loại thuốc thảo dược, chọn ra 640 bài thuốc có thể chữa sốt rét. Cuối cùng, từ 200 loại thảo dược, đã chiết xuất được 380 chất dùng để thí nghiệm chống sốt rét trên chuột bạch, nhưng tiến triển không thuận lợi.”    “Bài thuốc của Cát Hồng葛洪 đời Tây Tấn [năm 265-317] đã đem lại cảm hứng cho tôi. Ngày 4/10/1971, lần đầu tiên tôi thành công dùng Ether có điểm sôi thấp chiết xuất được chất Thanh Hao, sau đó khi đưa vào làm thí nghiệm, chúng tôi quan sát thấy chất này có tỷ suất ức chế vi trùng sốt rét đạt 100%. Đây là bước ngoặt giải quyết vấn đề, nó chỉ xuất hiện sau 190 lần thất bại.”     “Chất Thanh Hao đã hoàn toàn thành công khi thí nghiệm điều trị sốt rét trên động vật, như vậy khi tác dụng lên cơ thể loài người, liệu có an toàn hay không ? Để xác định vấn đề này một cách nhanh nhất, tôi và các đồng nghiệp đã dũng cảm xung phong làm người tình nguyện đầu tiên thử nghiệm ngay trên cơ thể mình. Đây là biện pháp duy nhất để mọi người tin rằng dùng thảo dược có thể chữa được bệnh sốt rét, vì hồi ấy còn chưa có quy trình đánh giá hiệu quả lâm sàng và tính an toàn của dược phẩm.”    “Sau khi thí nghiệm thành công trên cơ thể mình, nhóm dự án chúng tôi xuống thâm nhập vùng Hải Nam làm khảo sát thực địa. Chúng tôi thử dùng thuốc cho 21 bệnh nhân sốt rét và phát hiện chất Thanh Hao có hiệu quả lâm sàng kỳ diệu bất ngờ trong điều trị bệnh này.”    “Nhà khoa học ba không”    Youyou Tu, chữ Hán viết là 屠呦呦, đọc theo âm Hán-Việt, tức âm chữ Nho, là Đồ U U. Cái tên U U có nguồn gốc từ câu “U U lộc minh, thực dã chi hao “呦呦鹿鸣，食野之蒿”“ trong sách “Kinh Thi 诗经» . Chữ Hao 蒿 chính là Thanh Hao 青蒿. Người cha đặt tên cho con gái mà đâu có nghĩ tới việc sau này con mình sẽ kết mối duyên bền chặt với cây Thanh Hao.     Đồ U U sinh ngày 30/12/1930, hiện là nhà dược học nổi tiếng Trung Quốc, Nghiên cứu viên suốt đời kiêm Nghiên cứu viên đứng đầu của Viện Nghiên cứu Trung Y Trung Quốc, Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu chất Thanh Hao. Năm 1980 bà được mời làm thầy hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, năm 2001 hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Cống hiến đột phá của bà là sáng chế ra loại thuốc mới chữa bệnh sốt rét – Artemisinin và Dihydroartemisinine 青蒿素和双氢青蒿素.    Tháng 9/2011, bà được trao Giải Nghiên cứu y học lâm sàng Lasker (Lasker~DeBakey Clinical Medical Research Award), giải thưởng được coi là cái “phong vũ biểu” của giải Nobel Y học tương lai. Đây là giải thưởng cao nhất cấp thế giới mà giới y học Trung Quốc từng giành được. Thông báo trao giải viết : Bà Youyou Tu được trao giải Lasker “vì đã phát hiện ra chất Thanh Hao, một dược phẩm điều trị sốt rét từng cứu được hàng triệu mạng người trên toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển”.    Vì không có học vị tiến sĩ cùng học hàm viện sĩ cũng như không nghiên cứu ở nước ngoài, báo chí Trung Quốc gọi đùa bà là “nhà khoa học ba không”. Từ trước tới nay, toàn bộ người Hoa từng được trao giải Nobel khoa học đều có quốc tịch nước ngoài, có học vị tiến sĩ trở lên và đều nghiên cứu ở phương Tây.    Nguồn :  – http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/medicine/laureates/2015/   The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2015  – http://society.huanqiu.com/shrd/2015-10/7694333.html 屠呦呦获诺奖：西晋葛洪的处方给了我灵感2015-10-06 02:55:00综合武汉晚报  – http://www.laskerfoundation.org/awards/2011_c_description.htm Lasker~DeBakey Clinical Medical Research Award    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba nhà khoa học Mỹ gốc Anh chia nhau giải Nobel Vật lý      Ba nhà khoa học Mỹ gốc Anh chia nhau giải Nobel Vật lý năm nay với những khám phá mở ra cánh cửa bước vào thế giới bí ẩn các trạng thái kỳ lạ của vật chất.          Ba nhà vật lý David Thouless, Duncan Haldane và Michael Kosterlitz   Ngày 4/10/2016, Viện Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển đã công bố giải Nobel Vật lý năm nay thuộc về ba nhà khoa học sinh ra ở Anh nhưng đều đang làm việc tại các trường đại học ở Mỹ, bao gồm David J. Thouless, Đại học Washington, Seattle, WA; F. Duncan M. Haldane, Đại học Princeton, NJ; và J. Michael Kosterlitz, Đại học Brown, Providence, RI, cho những khám phá về Tôpô và vật chất.  Tiết lộ những bí mật của vật chất lạ  Giải Nobel năm nay đã mở ra cánh cửa bước vào thế giới bí ẩn các trạng thái kỳ lạ của vật chất. Họ đã sử dụng các phương pháp toán học tiên tiến để nghiên cứu các giai đoạn khác thường, chẳng hạn như các chất siêu dẫn, siêu lỏng hoặc phim mỏng dính. Nhiều người hy vọng của các ứng dụng trong tương lai của nó trong khoa học vật liệu.  Nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các khái niệm của Tôpô vật lý. Trong thập niên 1970, Michael Kosterlitz và David Thouless lật ngược các lý thuyết đương thời siêu dẫn hoặc không thể xảy ra với lớp mỏng. Họ đã chứng minh rằng siêu dẫn có thể xảy ra ở nhiệt độ thấp và cũng giải thích về cơ chế, giai đoạn chuyển tiếp làm cho tính siêu dẫn ở nhiệt độ cao sẽ biến mất.  Trong những năm 1980, Thouless đã có thể giải thích một thí nghiệm với các lớp dẫn điện rất mỏng trong đó độ dẫn đo chính xác tới bước số nguyên. Vào khoảng thời gian đó, Duncan Haldane khám phá ra cách khái niệm tôpô có thể được sử dụng để hiểu các thuộc tính của chuỗi của các nam châm nhỏ được tìm thấy trong một số tài liệu.  Bây giờ chúng ta biết nhiều giai đoạn tô pô, không chỉ trong các lớp mỏng mà còn trong các vật liệu ba chiều thông thường. Trong thập kỷ qua, nhóm đã đẩy mạnh nghiên cứu tiên phong trong vật lý chất rắn, nhất là vì hy vọng rằng tôpô có thể được sử dụng trong thế hệ mới của điện tử và các chất siêu dẫn, hoặc trong các máy tính lượng tử trong tương lai. Nghiên cứu hiện nay được tiết lộ những bí mật của thế giới vật chất kỳ lạ được phát hiện bởi người đoạt giải Nobel năm nay.  Tiền thưởng 8.000.000 krona Thụy Điển, với một nửa để David Thouless và một nửa khác để được chia sẻ giữa Duncan Haldane và Michael Kosterlitz.        Author                Đức Hưng        
__label__tiasang Ba nhà vật lý nhận Giải thưởng Bell 2017      Giải thưởng John Stewart Bell, giải thưởng quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực cơ học lượng tử, vừa xướng tên ba nhà khoa học nhận giải năm nay, bao gồm Ronald Hanson (Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan), Sae-Woo Nam (Viện Tiêu chuẩn & Công nghệ Quốc gia, Mỹ) và Anton Zeilinger (Đại học Vienna, Áo). Đây là những người đã thách thức Albert Einstein bằng cách chứng minh bản chất không định xứ của sự rối lượng tử.      John Stewart Bell (1928 -1990).  Năm 2015, ba nhà khoa học kể trên [1] đã tiến hành một cách độc lập những thí nghiệm cho thấy hai hạt vi mô dù cách xa nhau đến nỗi không có tín hiệu nào, kể cả tín hiệu có tốc độ truyền nhanh như ánh sáng, có thể kết nối chúng với nhau, thì vẫn có thể có mối tương quan vô hình và tức thời giữa chúng.  Thế giới vi mô rất kỳ quái. Các hạt vi mô có thể rối với nhau theo cặp theo cách mà giữa chúng tồn tại một mối tương quan bất kể chúng cách nhau bao xa: nếu bạn đo được các thuộc tính của một hạt của cặp hai hạt rối đó thì bạn ngay lập tức biết chính xác các thuộc tính của hạt kia. Einstein đã không tin vào điều kỳ quái đó: vào những năm 1930, ông đã gọi đó là “tác động ma quỷ bất chấp khoảng cách” một cách mỉa mai.  Giáo sư Aephraim Steinberg, nhà vật lý lượng tử của Trung tâm Thông tin lượng tử và Kiểm soát lượng tử, Đại học Toronto, Canada, một trong những người sáng lập giải thưởng Bell cho biết: “Có nhiều thí nghiệm đã rất gần với việc chứng minh được sự hiện hữu của rối lượng tử, nhưng ba nhà khoa học được tôn vinh lần này đã vượt qua mọi sơ hở trước đó”. Ví dụ, các thí nghiệm trước đó đã gặp phải những khó khăn trong việc đảm bảo chắc chắn rằng không có tín hiệu nào có thể truyền qua lại giữa hai máy dò cũng như thực tế là có quá nhiều photon bị mất (do bị hấp thụ hoặc tán xạ bới môi trường xung quanh) trong quá trình thí nghiệm.  “Một cách đồng thuận, họ đã loại bỏ mọi nghi ngờ có lý về tính phi định xứ của rối lượng tử. Vì vậy họ cũng mở ra cánh cửa của những công nghệ mới đầy thú vị, bao gồm truyền thông siêu an toàn và khả năng thực hiện một số loại tính toán nhanh hơn nhiều (nhanh hơn theo cấp số nhân) so với bất kỳ máy tính cổ điển nào”, Steinberg nói.  Giải thưởng Bell năm nay sẽ được trao vào thứ Năm, ngày 31/8, tại Học viện Fields, Toronto, Canada. Những người nhận giải sẽ có bài phát biểu ngắn trong lễ trao giải.  John Stewart Bell và khám phá sâu sắc nhất kể từ Copernicus  John Stewart Bell (1928 -1990) là nhà vật lý Bắc Ireland, người năm 1964 đã dẫn ra một bất đẳng thức quan trọng (sau này gọi là bất đẳng thức Bell) [2], một khám phá sâu sắc nhất kể từ Copernicus. Ông đột ngột qua đời năm 1990 ở Geneva, Thụy Sĩ, vì xuất huyết não [3], khi không hề biết rằng năm đó ông được đề cử giải Nobel Vật lý!  Giải thưởng mang tên ông dành cho những nghiên cứu về các vấn đề cơ bản trong cơ học lượng tử và các ứng dụng, ra đời năm 2009 và được trao vào những năm lẻ cho những đóng góp đáng kể được công bố lần đầu tiên trong vòng sáu năm trước. Giải thưởng này vinh danh các tiến bộ lớn trong lĩnh vực cơ học lượng tử và ứng dụng, bao gồm lý thuyết thông tin lượng tử, tính toán lượng tử, cơ sở lượng tử, mật mã lượng tử, điều khiển lượng tử và những vấn đề liên quan khác. Đây không phải là giải thưởng kiểu “Thành tựu trọn đời”, mà nhằm làm nổi bật sự tiến bộ nhanh chóng của các nghiên cứu trong các lĩnh vực này cũng như sự tác động tương hỗ sinh động giữa nghiên cứu cơ bản và các ứng dụng tiềm năng.  Giải thưởng Bell được tài trợ và quản lý bởi Trung tâm Thông tin lượng tử và Kiểm soát lượng tử thuộc Đại học Toronto, Canada, nhưng việc lựa chọn giải thưởng sẽ do một ủy ban tuyển chọn quốc tế tiến hành, quay vòng theo chu kỳ bốn năm.  “Nâng cao sự hiểu biết về cơ học lượng tử cùng với các ứng dụng công nghệ của nó là điều xứng đáng được ghi nhận trên toàn thế giới. Chúng tôi hy vọng rằng, trong một số trường hợp, giải thưởng Bell sẽ dự báo sớm giải Nobel Vật lý”, Daniel James, giám đốc Trung tâm Thông tin lượng tử và Kiểm soát lượng tử, nhận xét.  Lịch sử trao giải  Năm 2009, Giải thưởng Bell được trao cho Nicolas Gisin (Đại học Geneva, Thụy Sĩ) bởi những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về nền tảng và ứng dụng của vật lý lượng tử, cụ thể là tính phi định xứ lượng tử, mật mã lượng tử và viễn chuyển lượng tử. Với các nguồn photon đơn và các photon rối có bước sóng viễn thông, ông đã hiện thực những hiệu ứng lượng tử này trên mạng cáp quang giữa các khoảng cách từ 10 đến 100 km.  Năm 2011, Giải thưởng Bell được trao cho Sandu Popescu (Đại học Bristol, Anh) bởi những khám phá về tương quan lượng tử đặc biệt và việc ứng dụng lý thuyết lượng tử vào nhiệt động lực học.  Năm 2013, Giải thưởng Bell được trao cho Michel Devoret và Robert Schoelkopf (Đại học Yale, Mỹ) bởi những tiến bộ thực nghiệm cơ bản và tiên phong trong việc tạo rối giữa các qubit siêu dẫn và photon vi sóng, cùng các ứng dụng của chúng trong xử lý thông tin lượng tử.  Năm 2015, giải thưởng Bell được trao cho Rainer Blatt (Đại học Innsbruck, Áo) bởi những nghiên cứu tiên phong về xử lý thông tin lượng tử với các ion bị bẫy, cụ thể hơn, nhờ các trình diễn gần đây về mô phỏng lượng tử tương tự và mô phỏng lượng tử số cũng như mô phỏng các cổng logic lượng tử trên một qubit được mã hoá theo kiểu topo.  Nguyễn Bá Ân dịch  [1] http://news.artsci.utoronto.ca/all-news/bell-prize-goes-scientists-proved-spooky-quantum-entanglement-real/  [2] J. S. Bell, “Speakable and Unspeakable in Quantum Mechanics”, Cambridge University Press. (1988)  [3] http://www.nytimes.com/1990/10/10/obituaries/john-stewart-bell-is-dead-at-62-physicist-tested-particle-actions.html  [4] https://cqiqc.physics.utoronto.ca/bell_prize/home.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba sáng chế mới tìm máy bay mất tích      Sau một tháng tốn nhiều công của mà vẫn  chẳng phát hiện được dấu vết nào của chuyến bay MH370 mất tích bí ẩn,  mọi người đều thấy cần đổi mới công nghệ tìm kiếm máy bay rơi. Dưới đây  xin giới thiệu ba sáng chế công nghệ mới nhất có thể giúp nâng tốc độ  tìm kiếm những chiếc máy bay rơi xuống biển.      1. Hộp đen nổi (Floating Black Box)   Sáng chế do công ty Lockheed Martin đăng ký xin cấp patent ngày 26/8/2010 và đến ngày 11/3/2014, – tức ba ngày sau khi chuyến bay MH370 mất tích – đã được cấp patent của Mỹ.  Các nhân viên điều tra Pháp phải mất hai năm mới tìm thấy chiếc hộp đen lưu giữ số liệu chuyến bay và các âm thanh ở cabin lái trên chuyến bay 447 của hãng Hàng không Pháp rơi xuống Đại Tây Dương trên đường bay từ Rio de Janeiro đi Paris ngày 1/6/2009 làm chết 228 người. Một năm sau khi xảy ra tai nạn nói trên, Marc T. Angelucci thiết kế Bộ ghi số liệu bay tự động bắn ra (Automatically Ejecting Flight Data Recorder); theo đó hộp đen được đặt trong một thiết bị nổi lắp bên ngoài máy bay; khi máy bay rơi xuống biển, nắp thiết bị tự động mở ra, một luồng khí nén đẩy hộp đen bắn ra ngoài, nó sẽ nổi lênh đênh trên mặt nước và phát tín hiệu báo địa điểm của mình.    2. Hệ thống bạn máy bay (Airplane Buddy System).   Ngày 21/3/2011 công ty Thales đăng ký xin cấp bằng phát minh; ngày 4/3/2014 – tức bốn ngày trước hôm chuyến bay MH370 mất tích – được cấp patent của Mỹ. Sáng chế có tên “Phương pháp và thiết bị hỗ trợ xác định vị trí máy bay” (Method and device for assisting in the locating of aircraft), do Laurence Mutuel và Benoît Couturier đề xuất nhằm giải quyết vấn đề tìm máy bay mất tích ở ngoài phạm vi phủ sóng radar – chuyện thường xảy ra khi máy bay đang bay trên biển. Hệ thống này lợi dụng thông tin đến từ các máy bay khác đang đồng thời bay khi xảy tai nạn, để tăng cường số liệu radar.  Nguyên lý làm việc như sau: máy bay mất tích (A) thường xuyên phát tín hiệu nhận dạng kèm tín hiệu xác định thời gian tức thời tới ít nhất một chiếc máy bay khác (B) đang bay trong phạm vi liên lạc được. Khi B hạ cánh, nó sẽ download tín hiệu nói trên vào Kho dữ liệu trung tâm để nhân viên điều tra sử dụng. Như vậy, nếu A mất tích thì B sẽ có một bản ghi vị trí của A trước khi nó biến mất. Nếu có càng nhiều máy bay nhận được tín hiệu của chiếc máy bay xấu số A thì càng có hiệu quả tốt hơn. Giả sử công nghệ nói trên được áp dụng với quy mô lớn thì mỗi chiếc máy bay đều sẽ thực hiện theo dõi các máy bay ở gần.    3. Thiết bị phản hồi âm thanh dưới nước (Underwater Echoes)  Phát minh của Christopher S. Huskamp và Bonnie L. Gorsic thuộc công ty Boeing. Ngày 21/8/2012, Boeing đăng ký xin cấp patent tại Canada; hiện vẫn chưa được cấp patent. Sáng chế này có tên là “Hệ thống xác định vị trí máy bay khi ở môi trường nước” (Aircraft location system for locating aircraft in water environments).  Sau khi máy bay rơi và vỡ thành nhiều mảnh, công nghệ nói trên sẽ giúp nhân viên điều tra tìm được các bộ phận chính của máy bay. Ở đây nhà phát minh sử dụng hệ thống phản xạ âm thanh: khi nhân viên điều tra dùng thiết bị Sonar (Sound Navigation and Ranging – Phương pháp định vị bằng âm thanh) dò tìm dưới nước, do hệ thống này có thể phản xạ sóng âm ở mọi tần số, nhờ thế nó giúp Sonar xác định được vị trí các bộ phận chính của máy bay. Theo thiết kế, các bộ phận đặc biệt quan trọng của máy bay như cánh, đuôi, cabin lái và động cơ đều sẽ được lắp bộ phản xạ sóng âm.    Nguyễn Hải Hoành dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắc Cực đang lâm nguy      Chịu từ những đám cháy dữ dội đến hiện tượng băng tan liên tiếp lập kỷ lục, Bắc Cực lâm vào nguy kịch và đang kêu cứu.         Băng biển đã thưa thớt hơn rất nhiều. Những con hải mã khó tìm các tảng băng lớn để nghỉ ngơi, sinh đẻ và chăm sóc con. Ảnh: oceana.ca    Trong hành trình nghiên cứu ở biển Bering và hạ cánh tại thành phố Anchorage thuộc bang Alaska vào tháng 7 vừa qua, Chelsea Wegner, một nhà sinh vật học biển tại Đại học Maryland ở Solomons đã rất sốc khi nhìn thấy những đám khói làm tối cả bầu trời và lần đầu tiên trong lịch sử nhiệt độ ở Anchorage vượt qua ngưỡng 32oC.  “Đây thực sự là một khoảnh khắc kỳ dị”, Wegner thốt lên và cho biết rằng khí hậu ấm lên bất thường đã làm tan chảy gần như toàn bộ băng biển ở biển Bering.  Sau đó, nhìn từ trên con tàu phá băng Canada ở ngoài khơi Alaska, Chelsea Wegner thấy không có một tảng băng nào để những con hải mã có thể vào nằm nghỉ ngơi, sinh đẻ và chăm sóc con trong mùa hè ở Bắc Cực.   Không chỉ một mình Wegner sốc, mà giờ đây mỗi ngày các nhà khoa học sẽ phải theo dõi những con số kỷ lục mới về quá trình tan băng ở đây – tình trạng hiện nay là một trong những viễn cảnh tồi tệ nhất kể từ năm 1979.  Trong bài viết dưới đây, Nature tổng kết một loạt những thách thức mà Bắc Cực đang phải đối mặt khi một mùa hè tới đây, với mức độ khắc nghiệt chưa từng có đang ngày càng đến gần.     Băng biển biến mất trong vòng 240 km từ Alaska     Chu trình băng biển ở Bắc Cực là đóng băng vào mùa đông và tan chảy vào mùa hè. Nhưng sự ấm lên đáng ngạc nhiên trong mùa đông và xuân hiện nay ở Bắc Cực đã cản trở quá trình đóng băng trên, và đó là dấu hiệu cho một thảm kịch băng tan sẽ diễn ra vào mùa hè tới.  Điều này thể hiện rõ nhất ở vùng biển Bering. Trong suốt mùa xuân và mùa hè, băng biển Bắc Cực tan chảy nhanh hơn bình thường ở các khu vực như biển Beaufort và trung tâm Bắc Cực. Phạm vi và khối lượng băng đạt mức thấp kỷ lục hằng tháng trong tháng 7 và đỉnh điểm là đến đầu tháng 8 vừa qua, băng biển đã biến mất trong phạm vi 240 km tính từ bờ biển Alaska. “Chúng tôi chưa từng chứng kiến hiện tượng này trước đây”, Alice Bradley, nhà khoa học chuyên nghiên cứu về vùng cực tại Đại học Williams ở Williamstown, Massachusetts nói.      Alaska đang trải qua một đợt nắng nóng từ tháng 4 – 8 năm 2019. Nhiệt độ ở  Anchorage lần đầu tiên vượt ngưỡng 32oC trong lịch sử. Ảnh: NOAA Climate/RTMA    Mặc dù lượng băng tan này vẫn chưa thể vượt qua mức kỉ lục là 3.387 triệu km2 vào ngày 17/9/2012 nhưng nó là bằng chứng cho thấy băng biển đang bị cuốn vào vòng tan rất nhanh. Lượng băng biển Bắc Cực sẽ vẫn còn tiếp tục chạm đáy trong năm nay.  Kể từ năm 1981 đến năm 2010, cứ mỗi năm năm một lần, các nhà khoa học theo dõi diện tích băng biển trung bình và ghi nhận thấy hiện tượng băng biển Bắc Cực đang suy giảm nhanh chóng. Mức được ghi nhận trong tháng 7 thấp hơn 47% so với mức trung bình trong suốt giai đoạn 1979-2018.  Còn ngay bây giờ là thời điểm bắt đầu đóng băng hằng năm nhưng phần lớn băng được hình thành là băng mỏng, rất dễ bị tan chảy vào năm tới.     Greenland “đang bị nướng”     Hậu quả của nhiệt độ cao là dải băng khổng lồ của Greenland, hòn đảo lạnh giá lớn nhất trên thế giới với 81% diện tích bị băng bao phủ, đã “bị nướng” vào mùa hè vừa qua: Nhiệt độ trên đảo tăng vọt lên tới 12oC so với mức trung bình vào cuối tháng 7. Tại trạm Summit Station, trạm nghiên cứu cao nhất trên băng, nhiệt độ đã vượt lên trên điểm đông của nước vào ngày 30 và 31 tháng 7. Các hồ sơ lưu trữ trước đây đã cho thấy mức độ hiếm có của hiện tượng này, bởi vì trong suốt khoảng thời gian từ những năm 500 cho tới 1994, hiện tượng này chỉ xảy ra tám lần.  Trong đợt nắng nóng đỉnh điểm kéo dài năm ngày, Greenland đã mất khoảng 55 tỷ tấn băng – trong đó, khoảng 13 tỷ tấn băng bị mất đi chỉ trong duy nhất một ngày 1/8. Đó là lượng băng lớn nhất ở đây biến mất trong vòng 24 giờ kể từ khi các nhà khoa học bắt đầu ghi nhận số liệu này kể từ năm 1950.  “Hiện tượng tan băng ở Greenland có thể đã khiến cho mực nước biển dâng trên toàn cầu tăng 1.5mm trong năm nay”, Xavier Fettweis, nhà khoa học chuyên nghiên cứu vùng cực, Đại học Liège ở Bỉ nói khi so sánh khối lượng băng bị mất vào mùa hè và khối lượng thu được từ tuyết rơi mùa đông, Greenland có thể đã mất – thậm chí nhiều hơn – so với năm thời tiết rất cực đoan là năm 2012.    Nhiệt độ tăng vọt ở các xứ tuyết     Tháng 7 năm nay là tháng nóng nhất từng được ghi nhận trên thế giới, theo dữ liệu của Cơ quan Biến đổi Khí hậu Copernicus của Liên minh châu Âu và Cơ quan Khí quyển và Hải dương học Quốc gia Hoa Kỳ.   Và ở các vùng cực Bắc của Alaska, miền Tây Canada và miền Trung nước Nga từ tháng 1 đến tháng 7 trung bình đều có nhiệt độ ấm hơn ít nhất 2°C. Hàng ngàn con chim biển chết trong tháng 7 và 8, chủ yếu do đói ở vùng biển bị nóng lên hơn bình thường, và đây là năm thứ năm liên tiếp điều này xảy ra. Alaska vẫn đang phá vỡ kỷ lục nhiệt độ vào đầu tháng 9.  Tại Thụy Điển, nhiệt độ ngôi làng Markusvinsa ở phía Bắc chạm ngưỡng nhiệt 34,8°C vào ngày 26 tháng 7 – nóng nhất từng được ghi nhận tại quốc gia nằm trên vùng Bắc Cực này. Cơn sóng nhiệt làm tan chảy Greenland vào cuối tháng 7 trước đó đã tàn phá miền Tây châu Âu rồi mới tràn tới Greenland, khiến nhiệt độ vượt quá 40°C ở Bỉ và Hà Lan – mức cao nhất từng được ghi nhận trong lịch sử châu Âu.    Rừng phía Bắc cháy triền miên     Tất cả sức nóng đó đã biến những khu rừng phía Bắc thành những mồi lửa sẵn sàng cháy bất kì lúc nào. Hơn 1 triệu ha rừng bị cháy ở Alaska vào mùa hè này, chủ yếu ở miền Nam và miền Trung của bang. Mùa cháy bắt đầu sớm bất thường và đã kéo dài lâu hơn bình thường khiến Chính phủ Hoa Kỳ phải cử lính cứu hỏa đến đây thêm thời gian từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 9 để khắc phục những vụ cháy rừng kinh hoàng.   Bên cạnh đó, hơn 2,6 triệu ha rừng ở Siberia đã bị cháy kể từ tháng 7, bao trùm các thành phố trên khắp các miền Đông nước Nga trong biển khói. Nhiệt độ cao, gió và giông bão đã làm châm ngòi và lây lan những vụ cháy rừng khiến Nga phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào cuối tháng 7 đối với một số khu vực ở Siberia.  Cháy rừng ở Alaska và Siberia đã bắt đầu giảm dần vào tháng 8 nhưng vẫn được xếp hạng là những vụ cháy rừng lâu nhất ở Bắc Cực từng được ghi nhận. Chỉ riêng trong tháng 6, cháy rừng đã thải ra 50 triệu tấn carbon dioxide – gần bằng lượng khí thải CO2 hằng năm của Thụy Điển và hơn tổng lượng khí thải ra từ tất cả các vụ cháy rừng ở Bắc Cực trong chín tháng gần đây nhất, theo Cơ quan giám sát khí quyển Copernicus của Ủy ban châu Âu .  Ngay cả Greenland, nơi hiếm khi thấy cháy rừng, cũng đã trải qua một số trận cháy rừng trong đợt nắng nóng kỷ lục vào mùa hè này. □      Đức Phát dịch  Nature 573, 320-321 (2019)doi: 10.1038/d41586-019-02653-x    Nguồn https://www.nature.com/articles d41586019 02653-x?fbclid=IwAR3_n_oFP1cSshl6m9m 48Olu     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bắc cực sẽ không còn băng vào năm 2040?      Một nghiên cứu mới nhất do các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu khí quyển Mỹ (NCAR), đại học Washington và đại học McGill tiến hành cho thấy băng ở bắc cực đang tan dần và sẽ biến mất vĩnh viễn sau 34 năm nữa!    Đây là cảnh báo nghiêm túc của các nhà khoa học. Theo các nhà khoa học nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do hiện tượng ấm dần lên của trái đất làm tan chảy các khối băng ở bắc cực. Nếu điều này xảy ra sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của các loại động vật sinh sống ở bắc cực trong đó gấu bắc cực sẽ là loài động vật bị ảnh hưởng nhiều nhất.  Các nhà khoa học ước tính, với lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do các nhà máy, xe cộ… thải ra như hiện nay thì “tốc độ” tan băng ở bắc cực sẽ diễn ra nhanh hơn và băng tại đây sẽ vĩnh viễn biến mất trong vài chục năm nữa.   Đ.H (Theo BBC, The New York Times)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài báo quốc tế từ một phòng thí nghiệm “secondhand”      Khác hẳn với những phòng thí nghiệm “triệu đô”, Phòng thí nghiệm tia vũ trụ (VATLY), Viện KH&amp;KT hạt nhân, Hà Nội, với những thiết bị tưởng như “vô dụng ”… “xin ” được, cơ sở vật chất thiếu thốn nhưng dưới sự dìu dắt của một nhà khoa học biết nhìn xa trông rộng đã vượt lên nghịch cảnh để có được nhiều bài báo công bố quốc tế uy tín.    Khởi động một phòng thí nghiệm  Tại một hội nghị quốc tế, TS.Võ Văn Thuận, lúc đó là viện trưởng Viện KH&KT hạt nhân, làm quen với một trong những nhà khoa học ưu tú nhất của nước Pháp, GS.Pierre Darriulat. Cũng thật là may mắn, trước đó, vị giáo sư của CERN-Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu-đã từng nghe kể về Việt Nam và ao ước một lần đến thăm đất nước xứ sở nhiệt đới này. Hai nhà khoa học đã “tâm đầu ý hợp” và TS.Võ Văn Thuận muốn “ngỏ lời” nhờ GS.Pierre giúp Việt Nam xây dựng một phòng thí nghiệm vật lý năng lượng cao. Trước đó cũng có nhiều ý tưởng được ấp ủ nhưng “thành phôi” chứ chưa…“thành hình”. Không chần chừ, vị giáo sư thuộc hàng “top” của châu Âu đã…gật đầu ngay tắp lự. Và đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, duyên phận với đất nước cách Paris hơn một phần từ vòng trái đất, GS.Pierre đã kịp “bén duyên” với một cô gái Việt và trở thành “chàng rể cưng” của Việt Nam. Từ đây, tình yêu với Việt Nam trong ông như được cộng hưởng.  Đặt chân đến Việt Nam, GS.Pierre đã xác định, “Nghiên cứu tia vũ trụ là lựa chọn”, bởi theo ông, “Một đất nước bao giờ cũng cần phải dành một không gian cho nghiên cứu cơ bản để phát triển nghiên cứu ứng dụng”. Là một nhà khoa học tài ba, đồng thời cũng là một nhà quản lý kỳ cựu của CERN, chỉ cần một khoảng thời gian ngắn ông đã tham mưu cho Bộ KH&CN “bài toán nghiên cứu cơ bản” của Việt Nam cần phải làm gì? Rồi bằng mối quan hệ của mình, GS.Pierre đã “xin” về những thiết bị cần thiết để xây dựng nên một phòng thí nghiệm tia vũ trụ hoạt động “bài bản” theo những nguyên tắc quốc tế. “Đây tuy là những thiết bị đã qua sử dụng nhưng vẫn có thể làm nên “chuyện” nếu biết cách làm”, ông nói.  Có thiết bị, có thầy, giờ chỉ còn thiếu…con người. Ban đầu với số thành viên chỉ lác đác vài ba người nhưng phòng thí nghiệm đã dần đi vào hoạt động một cách “êm đẹp”. Trước đó, năm 1994, trong buổi làm việc với cố GS.Nguyễn Đình Tứ (lúc đó nguyên là chủ tịch viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam), GS.Jim Cronin (giải Nobel Vật lý đồng thời cũng là người cùng với GS.Alan Watson sáng lập lên Dự án quốc tế mang tên nhà khoa học Pháp Pierre Victor Auger) trao đổi và đặt vấn đề giúp Việt Nam tham gia vào Dự án Auger quốc tế.  “Tôi làm việc là vì các bạn trẻ”  Trong một gian phòng nhỏ trên tầng ba của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, các bạn trẻ của Phòng thí nghiệm tia vũ trụ VATLY đang tất bật với công việc phân tích số liệu. Phạm Ngọc Điệp, một thành viên tích cực của nhóm, nhanh nhảu giải thích, “VATLY nếu hiểu theo tiếng Việt có nghĩa là VẬT LÝ, còn trong tiếng Anh là những chữ cái của Vietnam Auger Training LaboratorY”. Ngay cái tên cũng đủ hiểu đây là “một phòng thí nghiệm” có chức năng nghiên cứu nhưng lấy “đào tạo” làm mục tiêu nòng cốt.                  Phòng thí nghiệm này chỉ có 7 thành viên và mọi người coi nhau như một gia đình. Cái tên “GS.Pierre” được các bạn trẻ xưng hô một cách thân mật…“bác Pierre”. Hầu hết các thành viên của nhóm đều là những nghiên cứu sinh, mỗi người nghiên cứu một hướng khác nhau nhưng đều được hướng dẫn bởi một người thầy “đa năng”-GS.Pierre Darriulat.  Mỗi buổi sáng, các thành viên việc ai người đó làm và bác Pierre luôn có mặt ở bên cạnh để giải đáp mỗi câu hỏi được các bạn đặt ra. GS.Pierre tâm sự, “Mong muốn của tôi là đào tạo được một nhóm nghiên cứu trẻ có khả năng thực hiện các nghiên cứu đạt trình độ quốc tế”. Chính vì vậy, mỗi thành viên của nhóm trong quá trình làm nghiên cứu sinh đều được ông áp dụng mô hình “hợp tác hướng dẫn”, trong đó, mỗi bạn trẻ được chính ông trực tiếp hướng dẫn cùng với một giáo sư của một trường đại học ở nước ngoài. Ngoài ra, để giúp các học trò có kinh nghiệm cọ xát quốc tế, ông đã tạo điều kiện để các thành viên hằng năm sang học tập, làm việc và thăm quan các trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới như CERN, Đài quan sát Auger, các viện nghiên cứu hạt nhân ở Pháp, Nhật,…  Lo lắng trước tình trạng chảy máu chất xám nên ông không muốn gửi các sinh viên của mình ra nước ngoài. GS.Pierre thổ lộ, “Điều kiện làm việc trong nước thiếu thốn đủ thứ, không tạo được khuyến khích cho các nhà khoa học trẻ. Nếu gửi họ ra nước ngoài, khi tốt nghiệp, những bạn trẻ giỏi sẽ chọn con đường ở lại đó”. Do đó vị giáo sư này đã chọn hình thức “đào tạo và sử dụng ngay tại trong nước” bởi vì theo ông, “đào tạo hợp tác vừa để tiết kiệm tiền, vừa có kiến thức cập nhật quốc tế, lại tránh được tình trạng chảy máu chất xám”. Một chút suy tư nhưng không giấu nổi cảm giác lo lắng, ông tiếp lời, “Các nhà khoa học trẻ rời đất nước ra đi để tu nghiệp ở nước ngoài, nếu họ không trở về thì bao công sức bỏ ra đều không hiệu quả và những kế hoạch của tôi từ trước tới nay bị “phá sản””.  Khi chứng kiến các nhà khoa học phải “chạy xô” để lo “cơn áo gạo tiền”, ông vẫn nhắc nhở các học trò của mình như một nguyên tắc bất di bất dịch, “Research is a full job-Nghiên cứu là phải toàn tâm toàn ý”. Rồi những lúc thảnh thơi “bác cháu” ngồi với nhau, GS.Pierre thường nhắn nhủ, “Khi tôi không còn sức lực để tiếp tục làm việc và ở bên cạnh các bạn nữa, tôi mong các bạn hãy tự bay bằng đôi cánh của mình, tự các bạn phải làm chủ được một phòng thí nghiệm thực hiện các nghiên cứu đạt trình độ quốc tế”.  Giản dị, nhân hậu và tận tâm, GS.Pierre làm việc như một con ong vò võ xây tổ mà không đòi hỏi bất cứ một điều gì: lương không và ngay cả một góc nhỏ làm việc cho riêng mình cũng không có. Với chiếc xe đạp, mỗi sáng ông lọc cọc đạp xe trên những con phố Hà Nội đến cơ quan giống như một người đạp xích lô đón khách. Người đạp xích lô sau mỗi cuốc xe còn được “trả công”, còn ông thì không, như ông vẫn thường nói, “Tôi làm việc là vì các bạn trẻ”.  Nghe “nhịp đập” của vũ trụ…  “Cái tai” để nghe các tín hiệu từ vũ trụ của nhóm VATLY được đặt trên nóc nhà của Viện KH&KT hạt nhân với các detector và ống nhân quang điện. Mỗi khi các tia vũ trụ được ghi nhận, tín hiệu truyền tới các thiết bị phân tích và xử lý. Với hệ thống máy tính hoạt động 24/24 giờ, các số liệu được ghi lại hoàn toàn tự động. “VATLY có một hệ thống ghi nhận số liệu online CAMAC duy nhất ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Thảo, một thành viên của nhóm, phấn khởi “khoe”. Trong số đó có nhiều thiết bị được GS.Pierre mang từ CERN về. Đây tuy là những thiết bị thí nghiệm cũ nhưng vẫn hoạt động tốt như các bản detector nhấp nháy, các khối điện tử tương tự số ADC, TDC… Với khả năng sắp xếp tài ba của “bác” Pierre, tất cả đã tạo nên một hệ thống detector đồng bộ để, như ông nói, “có thể làm nên… chuyện”. Như để chứng minh cho “tuổi” của thiết bị, Điệp cho biết, “Nhiều thiết bị ở đây còn nhiều tuổi hơn các thành viên của nhóm”. Các thiết bị đều là… của hiếm nên “chắp vá” là chuyện dễ hiểu. “Cái khó ló cái khôn”, buộc các bạn trẻ phải sáng tạo tận dụng triệt để. Ngoại trừ một số trường hợp bất khả kháng không sửa chữa được ở Việt Nam đành phải gửi ra nước ngoài… “cầu cứu ”. Chẳng hạn, do thiếu dây cao áp truyền tín hiệu từ ống nhân quang điện nên các thành viên buộc phải chia làm đôi, việc làm này tuy có tiết kiệm nhưng lại giảm khả năng truyền tải. Thảo thở dài, “biết làm sao được?!”. Rồi chưa kể những đêm mưa bão, cả nhóm lo lắng sợ các thiết bị hư hại, và thở phào nhẹ nhõm khi trên màn hình máy tính vẫn nhận được… tín hiệu đẹp. Ai trong nhóm cũng phải trải qua nhiều cảm giác cho đến khi kết quả được xử lý hoàn chỉnh. “Detector ghi nhận các tia vũ trụ của nhóm VATLY là một phiên bản giống hệt với 1600 detector trải dài trên 3000 km2 của Đài quan sát Auger quốc tế trên cao nguyên Madoza, Argentina”, Phạm Ngọc Đồng, thành viên của nhóm, bật mí thêm.  Trong vai trò là thành viên châu Á duy nhất của Dự án Auger quốc tế, các thành viên của VATLY được quyền bình đẳng như bất kỳ thành viên nào khác trong khai thác và phân tích số liệu thu được từ Đài quan sát Auger ở Mendoza thông qua Internet. “Ở VATLY phân ra hai mảng: mảng khai thác số liệu thu được từ detector của nhóm còn mảng kia khai thác số liệu quốc tế”, Phạm Tuyết Nhung, thành viên của nhóm, cho biết.  Gần 7 năm hoạt động, dưới sự dìu dắt của GS.Pierre, nhóm VATLY đã cho “ra lò” nhiều bài báo công bố trên tác tạp chí khoa học quốc tế uy tín như Nuclear Physics B, Astroparticle Physics, Cộng đồng Khoa học quốc tế Auger,…Đặc biệt, vừa qua, các thành viên của VATLY trở thành đồng tác giả của phát hiện về mối tương quan giữa những tia vũ trụ năng lượng siêu cao với các thiên hà có nhân hoạt động (AGN) được công bố trên tạp chí Science. Đứng đằng sau những thành công của nhóm không ai khác là người thầy của họ, GS.Pierre Darriulat. Khi được hỏi tại sao ông từ chối đưa tên mình vào tập thể các tác giả bài báo, ông nói, “Điều quan trọng không phải là cá nhân tôi. Tôi mong muốn tạo cơ hội cho các bạn trẻ được khẳng định mình và nhận được những điều kiện thuận lợi cho công việc nghiên cứu của họ sau này”.  Vượt lên bao khó khăn bộn bề, nhóm VATLY đang dần khẳng định mình trên lộ trình tiếp cận đến những vấn đề nghiên cứu đẳng cấp quốc tế. Nhưng điều quan trong hơn cả đó là với những thiết bị tưởng như “vô dụng ”… xin được, cơ sở vật chất thiếu thốn, dưới sự dìu dắt của một nhà khoa học biết nhìn xa trông rộng họ đã vượt lên nghịch cảnh để có được nhiều bài báo công bố quốc tế uy tín.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bãi bồi, bãi giữa sông Hồng: Những “viên ngọc” sinh thái trong lòng Hà Nội      Giữa những tòa nhà cao ốc cứ không ngừng mọc lên, thật khó mà tin rằng vẫn còn những “ốc đảo” xanh cho các loài động thực vật quý hiếm quần hội ở Hà Nội.    Bỏ lại đằng sau nhịp sống tấp nập, chúng ta vẫn có thể ngắm nhìn những không gian, hệ sinh thái tự nhiên hoang dã ở một nơi vẫn thường được xem là “sân sau” của thủ đô: bãi bồi, bãi giữa sông Hồng.  Trong hình dung của nhiều người, bãi bồi, bãi giữa sông Hồng là nơi tụ hội những gì luộm thuộm, nhếch nhác nhất của thành phố, do đó việc những loài chim hoang dã, trong đó có nhiều loài di trú xem bãi bồi là điểm dừng chân lý tưởng quả thực là điều kỳ lạ. Song đối với những người làm trong lĩnh vực bảo tồn như TS. Vương Tiến Mạnh, Phó Giám đốc Cơ quan quản lý CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) ở Việt Nam, đó là lẽ đương nhiên.  Cá thể trưởng thành Dô nách nhỏ trong mùa sinh sản tại bãi Hồng Hà. Ảnh: Vương Tiến Mạnh  Những “ốc đảo” giữa thủ đô  “Năm 2016, chúng tôi ghi nhận được các khu vực bãi giữa sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội có khoảng 250 loài chim di trú, trong đó có nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, Danh mục Đỏ IUCN và danh mục các loài động vật hoang dã được bảo vệ theo quy định pháp luật Việt Nam như cú lợn lưng nâu (Tyto capensis), diều Ấn Độ (Butastur indicus), diều hoa miễn điện (Spilornis cheela), cắt lớn (Falco peregrinus), ưng lưng đen (Accipite soloensis), đại bàng đen (Aquila clanga), Vịt mỏ nhọn (Mergus squamatus), Đuôi cụt bụng đỏ (Pitta nympha)…”, TS. Mạnh tiết lộ con số do ông và các đồng nghiệp khảo sát.  Không chỉ một mình TS. Mạnh quan tâm đến sự đa dạng sinh học của bãi giữa sông Hồng. Cách đây một vài năm, PGS.TS. Hà Quý Quỳnh (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã thực hiện khảo sát bằng phương pháp tiếp cận khác, điều tra viễn thám và GIS về phân bố khu hệ chim tại Hà Nội, và bước đầu khẳng định khu vực bãi giữa sông Hồng nằm trên tuyến di cư Đông Á-Úc châu (EAAF), một trong những đường chim bay lớn nhất thế giới. Có thể nói bãi giữa là một địa chỉ hiếm hoi trong nội thành Hà Nội mà người ta có thể gặp gỡ hơn 100 loài chim hoang dã.  Diều trắng. Đây là loài định cư, nằm trong Sách Đỏ Việt Nam. Sinh cảnh sống ở vùng trống trải, khu canh tác nông nghiệp, vùng khô hạn bán sa mạc. Ảnh: Vì một Hà Nội đáng sống  Vì cớ gì các loài chim lại chọn nơi đây – chỉ cách hồ Hoàn Kiếm vài km – làm bến đỗ, thay vì những khác? Để giải đáp điều này, chúng ta cần truy về sự vận động của con sông Hồng – con sông chuyên chở đến hàng triệu tấn phù sa mỗi năm qua lòng Hà Nội. Sông Hồng, đoạn chảy qua khu vực Hà Nội, có chiều dài khoảng 120 km. Chính dòng chảy uốn khúc quanh co tạo ra đổi dòng liên tục đã gây bồi lắng, hình thành nên hàng trăm bãi bồi, bãi giữa lớn nhỏ giữa sông! Các phân tích ảnh vệ tinh cho thấy tổng diện tích các bãi giữa sông Hồng khoảng 5 km2. Qua nhiều năm diễn thế sinh thái tự nhiên, các bãi bồi, bãi giữa tạo thành các sinh cảnh độc đáo. “Ban đầu các bãi chỉ toàn là cát, dần dần hạt giống nương theo gió, theo làn nước phát tán đến, các loài chim ăn hạt rồi thả xuống. Cỏ dại, lau sậy đâm rễ, cố định đất cát.., từ đó mọc lên bụi, cây thân gỗ. Song song với sự hình thành của thực vật, một số loài động vật cũng kéo đến cư trú, dừng chân trên đường di trú”, Đây là quá trình diễn thế tự nhiên mà chúng ta có thể quan sát trong thời gian ngắn, TS. Vương Tiến Mạnh mô tả.  Diễn thế tự nhiên này hệt như cách vạn vật sinh sôi trong các truyền thuyết về loài người. Nó lặp lại gần như hoàn toàn quá trình hình thành đồng bằng, khi vật chất hữu cơ quần tụ lại và tạo ra hệ sinh thái đặc biệt giữa lòng sông Hồng, giữa lòng Hà Nội.  Cá thể Cú lợn lưng nâu (Tyto longimembris) trưởng thành tại khu vực nghiên cứu. Ảnh: Vương Tiến Mạnh  Các loại sinh cảnh khi tập hợp lại phù hợp với các loài chim với đặc tính khác nhau. Họ Chim chích sử dụng cây bụi tự nhiên, họ Vàng Anh thường ở các loại thân cây gỗ, còn họ Chìa Vôi hay có mặt tại sinh cảnh đất nông nghiệp. Dô nách cần nhiệt độ cao để đẻ trứng, vào mùa hè bãi cát nóng là địa điểm lý tưởng để loài chim này đến sinh sản. Cú cần cỏ tranh tự nhiên để làm tổ. Chim ăn thịt lại thích đậu trên những ngọn cây cao để kiếm ăn. Những yếu tố tự nhiên không có tác động của con người là nơi sinh sống và dừng chân di trú của những loài chim ấy.  Không chỉ có các loài chim, các bãi giữa, bãi bồi sông Hồng còn là “nhà” của một số loài thú gặm nhấm, bò sát, lưỡng cư, nhiều loài côn trùng và là bãi đẻ của một số loài cá nước ngọt. Trong đó, loài phổ biến là nhông hàng rào, ăn các loại côn trùng và động vật có xương nhỏ, bao gồm cả động vật gặm nhấm và thằn lằn. Do bị săn bắt để ngâm thuốc và chế biến các món ăn nên số lượng nhông hàng rào ngày càng bị suy giảm và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đáng chú ý, năm 2015, báo chí bất ngờ đưa tin về một loài thú hoang dã xuất hiện ở bãi nổi sông Hồng – đó là loài mèo gấm lông mềm màu vàng trắng, điểm nhiều đốm đen không đều, quanh các đốm đen có viền màu vàng nâu; bụng và chân của mèo gấm có màu xám trắng, đầu có sọc màu đen, trắng chạy dọc từ đỉnh đầu xuống mũi. Theo TS. Vương Tiến Mạnh, mèo gấm sống ở rừng thứ sinh nghèo, trên các cây bụi hay các bãi cây ven sông, không có nơi ở cố định. Đặc điểm đặc trưng của loài mèo này là vận động nhanh nhẹn, leo trèo và bơi lội. Ban ngày, mèo gấm ngủ ở trong các hốc cây, hang đá, bụi rậm hay trên cây to, ban đêm chúng bắt đầu đi kiếm ăn. Thức ăn chủ yếu của mèo gấm là chuột, sóc, chim, lưỡng cư và các loại côn trùng. Những đặc trưng kể trên hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tự nhiên tại khu vực này. Loài thú này có da, lông đẹp, cho nguyên dược liệu và có giá trị thương mại, vì bị săn bắt quá nhiều nên chúng nằm trong nhóm động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt.  Không chỉ phong phú về các loài động vật, khu bãi giữa sông Hồng còn là nơi có một số loài cây thuốc quý có giá trị kinh tế cao, trong đó phổ biến nhất là ngưu bàng. Theo Đông y, ngưu bàng có vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng trừ phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, thông phổi, làm mọc ban chẩn, tiêu thũng và sát khuẩn.  Thiên đường đuôi phướn. Là loài chim di cư, không phổ biến. Sinh cảnh sống ở các rừng lá kim, rừng lá rộng thường xanh, công viên, cây bụi. Mùa đông có thể thấy tại Hà Nội khi di trú xuống thấp ở các vùng trồng trọt dọc các bãi sông Hồng. Ảnh: Vì một Hà Nội đáng sống  Dòng chảy của sông đã hình thành nên những ốc đảo đặc biệt: không chỉ cách biệt với đời sống hiện đại mà còn biến động không ngừng theo thời gian và theo dòng chảy. Cần biết rằng tại Việt Nam, số lượng mèo gấm, đuôi cụt bụng đỏ, diều trắng, diều hoa Jerdon v.v. ghi nhận không còn nhiều. Chính quá trình đắp bồi thuận theo tự nhiên đã tạo ra đa dạng sinh thái loài, qua nhiều năm nơi đây trở thành một “khu rừng”, nhờ đó những loài động, thực vật hoang dã đã có được một vùng đất yên bình để trú ngụ.  Để tự nhiên như nó vốn thế  Tháng 8/2022, mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống đã kết hợp với ThS. Phạm Hồng Phương, cán bộ nghiên cứu Viện Sinh thái nhiệt đới (Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga), thực hiện bộ ảnh ghi lại “chân dung” của 12 loài chim, trong đó có hai loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Bộ ảnh đã phản chiếu một phần vẻ đẹp đa dạng sinh học tại bãi giữa và khiến không ít người sửng sốt về giá trị sinh thái nơi đây.  Song bên cạnh những bình luận xuýt xoa vì vẻ đẹp của các loài chim, nhiều người vẫn không khỏi lo sợ về số phận của chúng: “Nếu một ngày bãi giữa bị chiếm hữu làm nhà hàng, du lịch, rồi hai bên bờ mọc toàn cao ốc, thì sẽ sao đây nhỉ?”  Những lo ngại ấy hoàn toàn có cơ sở khi bãi giữa, bãi bồi hiện nay là nơi ở và sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương sau nhiều thế kỷ không người sinh sống. Ban đầu bãi bồi, bãi giữa chỉ toàn cát nên không thích hợp để canh tác; sau khi các loài thực vật giúp cố định cát, chất dinh dưỡng và hình thành lớp mùn thì người dân bắt đầu đốt cỏ, chặt cây để trồng chuối, rau, các loài cây họ đậu. “Chỉ trong vòng chưa đầy 20 năm, các bãi bồi đã hoàn toàn biến thành đất thổ cư “, TS. Vương Tiến Mạnh chỉ cho chúng tôi xem hình ảnh vệ sinh các bãi từ năm 2000 đến thời điểm hiện tại. Cứ sau mỗi năm, hình dáng của bãi bồi, bãi giữa lại thay đổi tuỳ theo dòng nước. Tuy nhiên, cho đến gần đây, càng ngày các bãi lại càng dính vào đất liền, trở thành đất canh tác nông nghiệp. “Bãi giữa đối diện Hồ Tây đã liền vào một khối với hai bên bờ. Không nói đâu xa, bãi giữa dưới chân cầu Long Biên độ chục năm trước toàn cát trắng, giờ đây đã thành đất trồng rau và chăn thả gia súc”.  Quá trình xâm lấn, chuyển đổi các sinh cảnh tự nhiên thành đất nông nghiệp và du lịch đã làm giảm đáng kể diện tích các bãi tự nhiên. Tại Hồng Hà, Trung Châu, trảng cỏ chiếm phần diện tích khá lớn thu hút dân địa phương chăn nuôi gia súc, gia cầm (trâu, bò, dê, gà, lợn) ảnh hưởng lớn đến các trảng cỏ, cây bụi tự nhiên, làm mất sinh cảnh, gây nhiễu loạn đời sống của các loài động vật hoang dã. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là các loại thuốc diệt cỏ, thuốc diệt ruồi đục quả kéo theo việc tiêu diện các loài côn trùng khác là thức ăn của hàng trăm loài chim trong khu vực. Thậm chí hoạt động xây dựng và phát triển các điểm du lịch cũng làm mất sinh cảnh của các loài chim hoang dã. So sánh bản đồ vệ tinh giai đoạn 2013 đến 2017, chỉ riêng khu vực Bãi Đá sông Hồng đã được mở rộng lên gấp đôi.  Không chỉ như vậy, con người bắt đầu đẩy những loài động vật ra khỏi đời sống yên bình vốn có. Thực trạng săn bắt chim, động vật hoang dã tại đây diễn ra khá phổ biến và không được kiểm soát, đặc biệt cao điểm ra vào mùa chim di cư. Quá trình khảo sát cũng ghi nhận thực trạng khai thác cá quanh các bãi. “Ngoài việc sử dụng lưới truyền thống, một số ngư dân địa phương còn dùng cả xung điện để khai thác tận diệt, đặc biệt là khu vực gần bờ nơi nhiều loài cá lựa chọn làm bãi đẻ. Mặt khác, việc khai thác thủy sản diễn ra mạnh vào mùa sinh sản khiến quần thể của các loài cá bị đe dọa nghiêm trọng”, TS. Mạnh nhận định.  Diều Ấn Độ (Butastur indicus) chụp tại bãi An Dương. Ảnh: Vương Tiến Mạnh  Còn nhớ thời điểm khi người dân phát hiện loài mèo gấm quý hiếm ở bãi Văn Khê và bãi Thạch Đà (Mê Linh, Hà Nội), họ không biết đây là con gì, liền mang đến vườn thú. Tuy nhiên, về sau khi phát hiện chúng có giá trị cao, họ liền bán chúng vào các quán nhậu. Hiện tại, cá thể mèo gấm đang dần biến mất khỏi những bãi đá nơi chúng từng được ghi nhận.  Hoạt động khai thác cát cũng như xói lở tự nhiên cũng tác động đến mất sinh cảnh của các loài động thực vật tại khu vực nghiên cứu. Quan sát ảnh vệ tinh cho thấy một số bãi bồi, bãi giữa đã, đang bị khai thác cát như bãi Liên Hồng, Thượng Cát. Các sà lan chở cát để xây dựng nên các tòa nhà, nhưng cũng từ đó mà các loài động vật không còn chốn dừng chân. Mới đây ngày 9/01/2023 UBND thành phố Hà Nội vừa ra thông báo tình trạng sạt lở khẩn cấp (khoảng 500m) bờ hữu sông Hồng đoạn qua phường Chương Dương, Hà Nội, đe doạ tính mạng, tài sản hàng chục hộ dân. Dù hiện tại vẫn chưa biết hiện tượng này xảy ra do nguyên nhân tự nhiên hay do tác động của con người, nhưng nó đã gióng hồi chuông cảnh báo cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu bảo tồn nguyên trạng các bãi bồi bãi giữa.  Dô nách nâu mùa sinh sản tại Hồng Hà. Ảnh: Vương Tiến Mạnh  Liệu có thể làm gì để cứu vãn? “Bãi bồi, bãi giữa hiện vẫn là khoảng xanh ít ỏi giữa lòng Hà Nội. Tôi nghĩ chỉ cần thiết kế đường mòn làm du lịch sinh thái, đó là cách hữu hiệu nhất nếu muốn giữ gìn đa dạng sinh học”, TS. Mạnh gợi ý. Kế hoạch xây dựng công viên hay địa điểm du lịch tâm linh sẽ dẫn đến hình thành nhiều hạ tầng, công trình, lượng người đổ về nhiều. Ông cũng cho rằng các cơ quan chuyên môn cần tiến hành nghiên cứu thêm để có cơ sở thiết lập Khu bảo vệ cảnh quan bãi bồi, bãi giữa sông Hồng theo quy định của Luật Đa dạng sinh học 2008, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2020.  Bên cạnh đó, cần quy hoạch, giám sát, quản lý sử dụng đất đai các khu vực bãi bồi, bãi giữa, ven sông Hồng một cách chặt chẽ. “Dọc sông Hồng vẫn còn một số bãi hoang sơ, vì quá trình hình thành bãi vẫn đang diễn ra. Một số bãi ở phía Đan Phương hoặc làng Chèm chưa bị canh tác nông nghiệp nhiều do nằm cách biệt xa bờ. Tôi nghĩ đó là những gì còn sót lại mà chúng ta nên bảo tồn quyết liệt ngay từ đầu”.  Giá trị sinh thái của các bãi bồi, bãi giữa sông Hồng đã cho chúng ta một gợi ý về công tác bảo tồn: hãy thuận theo tự nhiên, đừng can thiệp một cách thô bạo. Thiên nhiên tự thân nó đã là vẻ đẹp hài hòa. Đó dường như cũng là điều mà anh Hải, người lái thuyền đưa chúng tôi đến khu vực bãi giữa vào một buổi chiều cuối tuần, muốn nhắn nhủ: “Đố các bạn tìm ở đâu trong trung tâm Hà Nội một nơi có thể ngắm hoàng hôn đẹp như bãi giữa”.    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Bài học từ dịch SARS hỗ trợ cuộc chạy đua phát triển vaccine coronavirus      Các công ty đều hướng đến mục tiêu sản xuất được vaccine trong vòng 16 tuần trước khi bước vào giai đoạn kiểm nghiệm lâm sàng.      Hiện không có vaccine hay loại thuốc điều trị nào được chấp thuận dùng cho các bệnh nhân nhiễm chủng mới coronavirus nhưng các công ty và các nhà nghiên cứu đang trong cuộc đua phát triển một loại thuốc như vậy.  Trong tuần này, Liên minh Đổi mới sáng tạo Sẵn sàng cho dịch bệnh (Cepi) đã thông báo có thể cam kết tài trợ một khoản  trị giá 11 triệu USD (8,4 triệu bảng) cho ba chương trình do công ty Inovio Pharmaceuticals, Moderna và ĐH Queensland dẫn dắt.  Với tài trợ của nhiều quốc gia và nhiều nhà từ thiện, Cepi được thành tích từ ba năm trước nhằm  tìm giải pháp cho Ebola, bệnh dịch dẫn đến cái chết của 11.000 người. Dẫu có một loại vaccine Ebola được phát triển trong vòng một thập kỷ và đã chứng tỏ được 100% hiệu quả, tuy vậy vẫn chưa được triển khai cho đến năm diễn ra bệnh dịch.  Đây là thời điểm cần phải có một vaccine khả thi trong vòng ít nhất 16 tuần, dẫu cho cần mất nhiều thời gian hơn cho việc kiểm thử độ an toàn và hiệu quả của vaccine.  Một lợi thế trong quá trình phát triển thuốc là chủng coronavirus mới, 2019-nCoV, cùng họ với nhiều loại virus đã gây ra các dịch bệnh như SARS, và người ta đã phát triển một loại vaccine sau đó. “Dĩ nhiên là thông tin sẽ trao cho chúng ta một khởi đầu tốt,” giáo sư Brendan Wren, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới tại trường Y học nhiệt đới và vệ sinh dịch tễ London (LSHTM), nói.  Theo Wren, công nghệ sản xuất vaccine có lợi thế một cách đáng kể từ khi bùng phát dịch SARS. Các vaccine truyền thống được tạo ra dựa trên sự phát triển một phiên bản giảm dần độc lực của virus – đủ để hệ miễn dịch của cơ thể ghi nhận phiên bản thật của virus trong tương lai, khi nó xâm nghập vào cơ thể. Nhưng những nỗ lực mới nhất của các nhà nghiên cứu sẽ đem lại những cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt. “Họ có tất cả các công nghệ mới và có nhiều hứa hẹn cho khả năng làm được điều này một cách nhanh chóng,” Richard Hatchett, CEO of Cepi, nói.  Một trong các nhóm nghiên cứu này đang tập trung vào vaccine DNA với mục tiêu là tìm được đoạn DNA cụ thể mã hóa thụ thể trên bề mặt virus cho phép hệ miễn dịch để hướng đến. Về lý thuyết, nếu DNA này được đưa vào cơ thể, nó có thể gia nhập tế bào của cơ thể đó và vào cả protein giống như thụ thể trên bề mặt virus. Những thụ thể di động đó có thể kích hoạt hệ miễn dịch mà không gây ra bệnh.  Ngay cả việc có được một vaccine khả thi một cách nhanh chóng thì vẫn cần nhiều tháng để thử nghiệm vì các quyết định cần được cân nhắc cho những sản phẩm được tiêm chủng cho người – những nhân viên y tế sẽ là những người đầu tiên thử nghiệm. “Ngay cả nếu vaccine dân đến một tác dụng phụ tương đối hiếm nhưng vẫn phải lo ngại về diều đó bởi sẽ có hàng triệu người được tiêm chủng  vaccine,” giáo sư Peter Smith, một nhà dịch tễ học tại LSHTM, nhán mạnh.  Liệu một vaccine cần được triển khai là một vấn đề mở không. SARS đã được các biện pháp y tế công cộng kiểm soát, và có thể là nó cũng bị biến đổi thành chủng ít độc hơn. Vaccine phòng bệnh SARS sau đó đã bị xếp lại và chưa bao giờ được cấp phép. “Khi có một dịch bệnh lan truyền nhanh chóng như một bệnh dịch trước đó, anh không muốn chờ đợi cho đến khi lâm vào tình trạng cần một vaccine để bắt đầu làm một cái tương tự”, giáo sư Peter Smith, một nhà miễn dịch học tại LSHTM nhận xét về tình thế các nhà phát triển vaccine 2019-nCoV đang phải đối mặt.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/jan/24/lessons-from-sars-outbreak-help-in-race-for-coronavirus-vaccine    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học về quản lý Nhà nước từ Khu CNC Hòa Lạc      Qua Hội nghị tổng kết năm 2008 của Ban quản l&#253; Khu C&#244;ng nghệ cao H&#242;a Lạc (QL.KCNC) vừa qua (6/1/09), ch&#250;ng ta thấy được một số kết quả đ&#227; đạt được trong c&#244;ng t&#225;c quy hoạch, giải ph&#243;ng mặt bằng, v&#224; x&#226;y dựng hạ tầng kỹ thuật. Nhưng để trở th&#224;nh một th&#224;nh phố khoa học như mục ti&#234;u của dự &#225;n th&#236; c&#242;n rất nhiều kh&#243; khăn đ&#242;i hỏi những đổi mới cấp thiết v&#224; triệt để trong tư duy v&#224; biện ph&#225;p điều h&#224;nh của nhiều cấp l&#227;nh đạo, kể từ Ch&#237;nh phủ tới c&#225;c cơ quan chuy&#234;n ng&#224;nh v&#224; ch&#237;nh quyền địa phương.    Các kết quả đã đạt được  Năm 2008 Ban QL.KCNC Hòa Lạc đã phối hợp với tổ chức JICA Nhật Bản và Viện Quy hoạch Đô thị & Nông thôn để hoàn thiện việc điều chỉnh lại quy hoạch chung Khu CNC Hòa Lạc. Ban quản lý cũng đã chỉ đạo triển khai quy hoạch chi tiết các khu chức năng quan trọng: khu công nghiệp CNC, khu Giáo dục đào tạo, khu Trung tâm, …   Diện tích giải phóng mặt bằng trong năm 2008 là 161 ha, đưa tổng số diện tích đất đã giải phóng lên 826,5 ha (52%). Ngoài khu tái định cư đầu tiên tại phía Bắc đường 84 với diện tích 7,8 ha đã hoàn thành vào năm 2005, hiện nay đang triển khai khu tái định cư thứ hai, về cơ bản đã giải phóng mặt bằng, san nền xong được 27/36,4 ha, đang tổ chức đấu thầu hạ tầng kỹ thuật. Khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành trên công trường đạt 215,93 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch giao. Dự án xử lý nước thải đang trong giai đoạn hoàn thành (nhà máy đang chạy thử để nghiệm thu). Ban quản lý tiếp tục triển khai thi công các tuyến đường trục chính của giao thông nội khu và hệ thống xử lý nước thải, rà phá bom mìn. Về cơ bản đã có hệ thống trục đường vào các khu chức năng để có thể triển khai đầu tư và xây dựng trong từng khu.   Hiện đã có dịch vụ hải quan ngay tại khuôn viên KCNC. Đây là bước đi không thể thiếu, giúp tiết kiệm chi phí cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, trung tâm đào tạo (VITEC) trực thuộc Ban QL KCNC Hòa Lạc là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam phối hợp với các cơ quan hợp tác Nhật Bản, tiến hành xây dựng chuẩn kỹ năng kỹ sư CNTT được công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản. Năm 2008 đã sát hạch 673 thí sinh, tỉ lệ đạt 13,2%. Đây là nguồn nhân lực tuy còn hạn chế nhưng rất cần thiết cho hoạt động của Ban quản lý và các doanh nghiệp đang và sẽ đầu tư vào KCNC.    Những khó khăn không mới              Lãnh đạo Ban quản lý giới thiệu mô hình Khu CNC Hòa Lạc với đồng chí Trương Tấn Sang         Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đón dự án 100% vốn nước ngoài đầu tiên vào tháng 10 năm 2005, nhưng tới nay mới có 49,25 ha được tận dụng trong tổng số 549,5 ha quỹ đất của Khu dành cho công nghệ cao. Diện tích các khu Phần mềm, Nghiên cứu & Triển khai, Giáo dục & Đào tạo, và Dịch vụ, tới nay vẫn hầu như chưa được tận dụng, trước hết là do:  Công tác quản lý hành chính Nhà nước thiếu sự đồng bộ gây ra chậm trễ trong thủ tục, làm lãng phí thời gian và cơ hội của các nhà đầu tư. Vấn đề này càng trầm trọng khi Hà Tây sáp nhập về Hà Nội. Ông Cấn Hoàng Tung, Trưởng ban quản lý các cụm điểm tiểu thủ công nghiệp Hà Nội, cho biết:  “Những thủ tục, lẽ ra cơ chế một cửa chỉ mất 5 ngày lấy được văn bản nhưng đây cứ đóng khung đúng 30 ngày mới cho kết quả. Còn ông Đào Đức Bảy, Giám đốc của Vinaconex thì bức xúc về sự không thống nhất giữa đường lối trên và dưới trong công tác giải phóng mặt bằng: “Tướng thì đồng ý, tá không! Chịu, tôi cũng chả hiểu! Tôi cho quân ra thì úy ra đuổi”.   Sự chậm trễ triển khai các dự án còn do thiếu vốn Nhà nước cho đền bù đất để giải phóng mặt bằng. Nếu theo đúng đơn giá của Hà Nội là 1,5 tỉ/ha thì theo kế hoạch trong năm 2009, để đền bù cho 300 ha phải mất 450 tỉ (đất chứ chưa tính tài sản nhà cửa).  Đây là số tiền không nhỏ; đồng thời thời gian thu hồi vốn rất lâu nếu chỉ đầu tư phát triển CNC. Vì vậy nên chăng nghiên cứu ra một hướng đi, trong đó Nhà nước khoán cho các doanh nghiệp thực hiện chức năng đền bù để đổi lại một số quyền lợi thích hợp nhất định.   Khó khăn nhất đối với khu CNC Hòa Lạc hiện nay là cơ sở hạ tầng thiếu thốn. Không thể hình dung một khu công nghệ cao lại có thể thiếu điện. Vậy mà trong năm 2008 khu công nghệ cao Hòa Lạc nhiều lần bị cắt điện, trong đó chỉ có một lần được báo trước. Đại diện công ty Noble của Nhật Bản phàn nàn: “Năm 2007 họ cũng cắt điện nhưng dù sao họ cũng thường báo trước, còn năm nay thì không, gây cho chúng tôi nhiều thiệt hại“. Ngoài ra còn phải kể đến đường giao thông chưa thật tốt, khiến cho khu CNC Hòa Lạc bị cô lập khỏi các đô thị và cảng hàng không, cảng biển.   Trở ngại từ quản lý Nhà nước  Những bức xúc của Ban QL.KCNC, các nhà đầu tư cho thấy chưa có sự phối hợp thật nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành, sự tùy tiện trong công việc của một số công chức.  Đại diện công ty Noble cho biết: “Khi bị mất điện chúng tôi phải lên tận công ty Điện lực Hà Tây, bên điện lực giải thích là đang thiếu điện nên phải chọn lựa giữa cắt điện bên khu công nghệ cao, không thì phải cắt của trạm thông tin bên quốc phòng. Tôi cũng nói là, thế thì ông cắt điện của bên quốc phòng đi. Họ cấp điện lại cho khu CNC Hòa Lạc 30 phút. Chúng tôi chỉ vừa kịp quay về công ty thì điện lại bị mất. Nhưng điều rất lạ là khi khu công nghệ mất điện thì xung quanh nhà dân vẫn có điện hết”. Hành xử của trạm điện địa phương có thể là lạ lùng với các nhà đầu tư Nhật Bản, nhưng lại rất quen thuộc trong xã hội chúng ta. Sự thiếu quy chuẩn rạch ròi và tính không đồng bộ trong công việc của cơ quan Nhà nước dẫn đến lối hành xử mang tính đối phó, lảng tránh trách nhiệm. Chính vì thế mà đại diện công ty Oe-Tek của Đài Loan đòi hỏi: “Xin đừng bao giờ nói đây không phải việc của tôi (please do not say it is not my business). Việc của doanh nghiệp cũng chính là việc của cơ quan công quyền”.   Vì những tồn tại và khó khăn, mà gốc rễ ở sự quản lý Nhà nước đã khiến không ít nhà đầu tư Nhà nước đến tìm hiểu khu CNC Hòa Lạc nhưng không quyết định ở lại.   Phát triển theo hướng đa dạng hóa  Có thể so sánh khu CNC Hòa Lạc với hình ảnh một cao ốc cho thuê mà điện – nước không đều đặn, thang máy thì còn chưa xây lắp, nhưng tất cả những vướng mắc này người chủ cao ốc (tức Ban QL.KCNC) đều không có thẩm quyền xử lý. Như vậy mà lại tự trói buộc vào mục tiêu chỉ làm ăn với khách thật sang (doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao) thì thật không chút nào khả thi. Vì vậy cần phát triển khu CNC theo hướng đa dạng, phù hợp với những điều kiện khách quan, không thể đốt cháy giai đoạn, tự đóng khung mình vào mục tiêu phát triển công nghệ cao bằng mọi giá…     Trên tinh thần đó, chúng tôi cho rằng để đẩy mạnh phát triển khu CNC Hòa Lạc:  – Nên dành một số diện tích của khu công nghệ cho các doanh nghiệp (không nhất thiết là sử dụng công nghệ cao) đấu thầu quản lý và điều hành. Như vậy thì sự sinh sôi tự nhiên trong sản xuất và kinh doanh sẽ thúc đẩy nhu cầu và tạo ra lợi nhuận cho các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng và công ty cung cấp điện, nước. Nguồn thu của Nhà nước và ban quản lý khu CN từ các doanh nghiệp này sẽ giúp bổ sung cho chi tiêu vào công tác đền bù phát triển cơ sở hạ tầng (chưa kể trong điều kiện phù hợp thì các doanh nghiệp khi đầu tư kinh doanh ở khu CN sẽ tự mình đầu tư cải thiện về hạ tầng trên địa bàn).  – Ban quản lý khu CNC cũng cần được Nhà nước cấp cho những thẩm quyền cần thiết để thực thi hiệu quả trách nhiệm mang tính chiến lược tất yếu đối với tiến trình phát triển đất nước. Do vậy rất cần Chính phủ tạo cơ sở pháp lý để các ban Quản lý khu CNC có quyền được ký hợp đồng chặt chẽ, ràng buộc với các cơ quan, tổ chức hữu quan (công ty Nhà nước cung cấp điện, nước, viễn thông,…). Trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 10/2000/QĐ-TTg ngày 18/01/2000 có yêu cầu Ban quản lý “chủ trì” và “phối hợp” với các cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng, phát triển, vận hành khu CNC. Đây là những khái niệm mới mang giá trị tinh thần chứ chưa có cơ sở rõ ràng để xác định thẩm quyền cho Ban quản lý. Điều đó khiến tình thế của Ban quản lý như vậy giống một người chủ muốn làm một khu cao ốc cho thuê mà chỉ được thỏa thuận bằng lời nói chứ không được phép ký hợp đồng chặt chẽ đối với các dịch vụ căn bản (điện – nước – xây dựng)..   – Tổng công ty Đầu tư vốn Nhà nước (SCIC) hiện đang thoái vốn Nhà nước ra khỏi các doanh nghiệp. Hình thức đấu thầu PPP (Public-Private Partnership – kết hợp Nhà nước – Tư nhân) cũng đang được nghiên cứu để sớm triển khai để tận dụng tối đa sức mạnh của thị trường, giúp Nhà nước tập trung hơn nữa các nguồn lực vào công tác xây dựng pháp lý, quản lý hành chính, quy hoạch chiến lược, và giám định chất lượng phát triển trong xã hội. Nên chăng Ban QL.KCNC Hòa Lạc nghiên cứu đưa định hướng này vào thực thi, một mặt giúp tăng thêm nguồn lực cho mình, đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển không chỉ của một khu công nghệ mà cả các địa phương lân cận.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán mô phỏng khí hậu và biến đổi khí hậu trong Nobel Vật lý      Biến đổi khí hậu hiện là một trong những chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm nhất, và là một trong những mối đe dọa hiện hữu đối với nhân loại. Theo Báo cáo Đánh giá lần thứ 6 của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) mới công bố tháng 8/2021 [1], BĐKH diễn ra phổ biến, nhanh chóng và ngày càng khó lường, chưa từng có tiền lệ trong hàng nghìn năm gần đây.      Syukuro Manabe (giữa) trao đổi với các đồng nghiệp tại trường Đại học Princeton năm 1969. Nguồn: Phòng thí nghiệm Động lực Chất lưu Địa Vật lý GFDL.  Phát triển các mô hình khí hậu      Các kết quả tính toán sự gia tăng nhiệt độ tương lai và vai trò của khí nhà kính đối với nóng lên toàn cầu ngày nay sử dụng các mô hình khí hậu. Vào thời kỳ hơn 50 năm trước, khi Manabe bắt đầu tiến hành các nghiên cứu bản lề trong lĩnh vực này, việc lượng hóa vai trò của khí nhà kính và tác nhân con người lên khí hậu Trái đất còn rất mơ hồ. Syukuro Manabe và Klaus Hasselmann, 2 trên 3 tác giả đoạt giải thưởng Nobel Vật lý năm nay là những người đặt nền móng cho các hướng nghiên cứu này. Giải thưởng Nobel Vật lý 2021 vừa được trao đã vinh danh hai ông vì các đóng góp to lớn “trong lĩnh vực mô phỏng khí hậu Trái đất, lượng hóa sự biến động của nó và các dự báo tin cậy về nóng lên toàn cầu”.    Trong những năm 1950, việc dự báo thời tiết quy mô lớn được bắt đầu phát triển tại Viện Nghiên cứu Tiên tiến Princeton dưới sự dẫn dắt của Jule Charney và John von Neumann. Theo thời gian, dần dần có sự tách biệt giữa cộng đồng thiên làm về dự báo thời tiết và thiên về mô phỏng khí hậu, tuy nhiên vẫn có nhiều mục tiêu và cách tiếp cận tương đồng giữa họ. Phòng thí nghiệm Động lực Chất lưu Địa Vật lý GFDL (Geophysical Fluid Dynamics Laboratory), mà sau này người trong ngành gọi là “Ngôi đền của mô phỏng” (the Temple of Modelling) được thành lập. Năm 1959, Syukyro Manabe đã được tuyển dụng về đây.       Manabe và cộng sự đã thiết lập mô hình lan truyền bức xạ một chiều kèm với profile theo phương thẳng đứng của độ ẩm tương đối và nồng độ khí nhà kính cũng như mô hình cho thấy sự gia tăng mức độ phức tạp của mô hình chưa chắc đã làm tăng tính tin cậy của các kết quả tính toán.      Sự phát triển của các mô hình khí hậu bắt đầu từ các mô hình cân bằng năng lượng đơn giản đến các mô hình kết hợp hiện đại có khả năng mô tả chi tiết động lực và đặc điểm vật lý của các thành phần của hệ thống khí hậu và tương tác giữa chúng.     Mô hình khí hậu đơn giản nhất là mô hình cân bằng năng lượng 0-chiều (EBM-0D). Trái đất được coi như một điểm trong không gian, và biến tính toán cần tìm là nhiệt độ bề mặt. Khi đó nhiệt độ là nghiệm tính được từ phương trình cân bằng năng lượng: năng lượng từ bức xạ sóng ngắn mặt trời đi tới (tập trung trong vùng thị phổ 0,4–0,7 μm)  cân bằng với năng lượng bức xạ sóng dài phát ra từ Trái đất (tập trung trong vùng hồng ngoại nhiệt (10-12 μm). Khi đó, nếu như không xét đến vai trò của khí quyển, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất ước lượng là -18ºC (nếu xét giá trị albedo hành tinh là 0,3, nghĩa là bề mặt Trái đất phản xạ khoảng 30% bức xạ mặt trời đi tới).       Hình 1. Minh hoạ đơn giản mô hình lan truyền bức xạ 1 chiều trong khí quyển 2 lớp.   Việc xét đến vai trò của khí quyển được thực hiện với mô hình lan truyền bức xạ một chiều (Hình 1). Trái đất được xem như là một cột khí quyển thẳng đứng, mọi điểm trên bề mặt Trái đất là như nhau). Khí quyển được chia ra làm nhiều lớp theo độ cao và mô hình sẽ giải ra kết quả là giá trị nhiệt độ tại các lớp khí quyển đó. Bức xạ mặt trời và bức xạ sóng dài từ mặt đất và các lớp khí quyển được phát xạ, hấp thụ và truyền qua các lớp mô hình. Năng lượng trong từng lớp khí quyển được phân phối, tính toán thông qua sự kết hợp giữa các phương trình cân bằng bức xạ. Việc giải các phương trình này cho kết quả là nhiệt độ sẽ giảm theo độ cao, tương ứng với những gì quan sát được trong tầng đối lưu khí quyển. Tuy nhiên, kết quả tính toán ra thường cho nhiệt độ bề mặt đất cao hơn so với thực tế, và mức độ giảm nhiệt (lapse rate) ở các lớp dưới là cao, có thể lên tới ~-15ºC/km (mức độ giảm nhiệt trong không khí ẩm quan trắc được xấp xỉ -6,0ºC/km, nghĩa là cứ lên cao 1 km thì nhiệt độ không khí giảm 6,0ºC).       Hình 2. Kết quả trích từ Hình 16, công trình của Manabe và Wetherald về profile thẳng đứng của nhiệt độ khi mô hình ddatj cân bằng về bức xạ – đối lưu với các gái trị nồng độ CO2 khác nhau.    Manabe và Wetherald [2] đã thiết lập mô hình lan truyền bức xạ một chiều kèm với profile theo phương thẳng đứng của độ ẩm tương đối và nồng độ khí nhà kính. Mô hình đầu tiên tính toán sự lan truyền bức xạ và sau đó có một bước quan trọng là thực hiện hiệu chỉnh đối lưu. Mỗi khi có sự “quá nóng” tính toán được bởi lan truyền bức xạ, nghĩa là profile thẳng đứng của nhiệt độ lệch khỏi mức độ giảm nhiệt ẩm cho trước, mô hình sẽ sinh ra “đối lưu”; nhiệt lượng sẽ được chuyển lên các lớp trên thông qua ẩn nhiệt, và sau đó mô hình tính toán lại sự lan truyền bức xạ. Quá trình này, gọi là quá trình hồi tiếp hơi nước1, sẽ chỉ dừng lại khi profile nhiệt độ tính toán được đáp ứng được mức độ giảm nhiệt ẩm ban đầu. Sơ đồ này là sơ đồ hiệu chỉnh đối lưu, đề xuất đầu tiên bởi Manabe và Strickler [3]. Tuy nhiên khác với Manabe và Strickler sử dụng profile độ ẩm tuyệt đối, Manabe và Whetherald đã sử dụng profile độ ẩm tương đối do nhận ra rằng các quan trắc cho thấy chỉ có sự thay đổi nhỏ theo mùa đối với các profile độ ẩm tương đối ở Bắc Bán Cầu, trong khi độ ẩm tuyệt đối lại khá nhạy với nhiệt độ.       Mô hình ngẫu nhiên của Hasselmann đặc biệt ở chỗ các nhiễu “thời tiết” được giữ lại, từ đó xác định được phản ứng của các yếu tố khí hậu với các nhiễu “thời tiết” cũng ngẫu nhiên giống như quá trình tương tác của các hạt lớn với tập hợp các hạt nhỏ trong chuyển động Brown. Kết quả chỉ ra tính dự báo được của khí hậu, lý giải được tại sao các mô hình khí hậu cho kết quả tin cậy được mặc dù thời tiết thay đổi nhanh và bất định.      Kết quả quan trọng của Manabe và Wetherald là đã chỉ ra độ nhạy khí hậu, nghĩa là mức thay đổi nhiệt độ bề mặt khi nồng độ CO2 tăng gấp đôi, là 2,3ºC. Năm 1975, Manabe và Wetherald [4] đã cải tiến các tính toán một cách đáng kể sử dụng mô hình toàn cầu ba chiều chạy trên máy tính chỉ có 0.5MB RAM để giải hệ phương trình nguyên thủy của chuyển động chất lưu quanh trái đất. Kết quả là khi nồng độ CO2 tăng từ 300 ppm lên 600 ppm, nhiệt độ toàn cầu  tăng lên là 2,93ºC. Ở đây cũng phải kể đến Svante Arhenius (nhà hóa học vật lý học Thụy Điển đoạt giải Nobel hóa học năm 1903), trong một nghiên cứu tiên phong năm 1896 đã tiến hành xem xét khả năng hấp thụ của khí CO2 sẽ ảnh hưởng thế nào đến nhiệt độ bề mặt đất. Arrhenius đã ước lượng độ nhạy khí hậu là khoảng 6ºC. Các ước lượng mới nhất từ Báo cáo Đánh giá lần thứ 6 của IPCC công bố tháng 8/2021 sử dụng các mô hình phức tạp và hiện đại nhất cho kết quả độ nhạy khí hậu trong khoảng 1,5-4,5ºC [1]. Như vậy, các kết quả của Manabe và Wetherald [2,4] cho thấy sự gia tăng mức độ phức tạp của mô hình chưa chắc đã làm tăng tính tin cậy của các kết quả tính toán.      Mô hình ngẫu nhiên cho các bài toán dự báo      Trong những năm 1960, Edward Lorenz, được coi là người khai sinh của lý thuyết hỗn độn (chaos theory)2 đã chỉ ra, bài toán dự báo không phải lúc nào cũng là bài toán tất định (mọi trạng thái tương lai được xác định bởi các trạng thái trong quá khứ). Khi giải vi phân một hệ phương trình mô phỏng chuyển động đối lưu trong khí quyển, Lorenz nhận được kết quả rằng chỉ một thay đổi rất nhỏ trong điều kiện ban đầu có thể dẫn đến kết quả sai khác rất lớn của vị trí mô phỏng một phần tử khí trong khí quyển sau một số bước thời gian. Điều này đã dẫn đến câu nói nổi tiếng “Cái đập cánh của con bướm ở Brazil có thể gây nên một cơn lốc tại Texas”.       Hình 3. Minh họa cho lý thuyết hỗn độn: chuyển động của phần tử khí theo hệ 3 phương trình phi tuyến của Lorenz trong 10000 bước thời gian. Hình trái: chuyển động của phần tử khí với vị trí ban đầu tại điểm (1;1;1) và tại điểm (1,001; 1,001; 1,001). Hình phải: sự khác biệt của vị trí phần tử khí tại mỗi bước thời gian khi mô phỏng theo 2 vị trí ban đầu ở trên.  Lý thuyết hỗn độn cũng chỉ ra vì sao mặc dù khoa học và công cụ tính toán phát triển vượt bậc trong nửa thế kỷ qua, việc dự báo thời tiết chính xác trước 10 ngày hầu như là bất khả thi. Với kết quả bất định của bài toán dự báo thời tiết hạn dài, thường xuyên có người đặt câu hỏi: “Ta đã biết là không thể dự báo thời tiết quá 10 ngày, vậy thì làm thế nào để có thể tin được các kết quả tính toán khí hậu trong tương lai cả 100 năm tới?”. Mô hình ngẫu nhiên của Klaus Hasselmann phát triển năm 1976[5] đã góp phần giải quyết vấn đề khác biệt giữa khí hậu và thời tiết này.     Hasselmann đã đưa ra được một mô tả ngẫu nhiên tổng quát cho khí hậu trong đó các “nhiễu” (noise) được gắn với “thời tiết”. Hệ thống kết hợp gồm các thành phần đại dương, khí quyển, băng quyển và mặt đất được chia thành hệ “thời tiết” (chủ yếu là khí quyển) có sự thay đổi nhanh, và hệ “khí hậu” (gồm đại dương, băng quyển, thực vật, v.v.) có sự thay đổi chậm hơn. Các yếu tố được biểu diễn bởi các phương trình gồm các biến vector x, y, trong đó quy mô thời gian của x nhỏ hơn đáng kể so với y (y đại diện cho các yếu tố mang tính khí hậu). Trong các mô hình thống kê động lực phát triển trước Hasselmann, chỉ có giá trị trung bình của sự thay đổi của các thành phần thời tiết x (trung bình các nhiễu) được sử dụng trong quá trình tính toán y. Mô hình ngẫu nhiên của Hasselmann đặc biệt ở chỗ các nhiễu “thời tiết” được giữ lại, từ đó xác định được phản ứng của các yếu tố khí hậu với các nhiễu “thời tiết” cũng ngẫu nhiên giống như quá trình tương tác của các hạt lớn với tập hợp các hạt nhỏ trong chuyển động Brown. Kết quả chỉ ra tính dự báo được của khí hậu, lý giải được tại sao các mô hình khí hậu cho kết quả tin cậy được mặc dù thời tiết thay đổi nhanh và bất định.         Klaus Hasselmann, người tạo ra các mô hình khí hậu ngẫu nhiên. Nguồn: Reuters.  Hasselmann cũng đã có đóng góp to lớn trong việc phát triển phương pháp xác định phân tách vai trò của con người và của tự nhiên đến khí hậu, từ đó chứng minh mối quan hệ giữa sự gia tăng nhiệt độ khí quyển và sự phát thải CO2 do con người [6,7,8]. Trong công bố đầu tiên về chủ đề này [6], Hasselmann đã phân tích rằng cách tiếp cận trên từng điểm lưới là không phù hợp với các trường không gian khi phân tích hồi đáp khí hậu, từ đó ông đã đưa ra khung phân tích cho dữ liệu thuần túy theo không gian [6], và theo không – thời gian [7,8]. Hasselmann cũng đã chỉ  rằng việc phát hiện một tín hiệu không nhất thiết cần thực hiện ở phần dữ liệu có tín hiệu mạnh nhất, mà là ở nơi có nhiễu ít nhất. Phương pháp của Hasselmann, gọi là phương pháp “lấy dấu vân tay” (fingerprinting), là một tổng quát hóa theo không – thời gian của phép hồi quy đa biến được điều chỉnh nhằm phát hiện tín hiệu biến đổi khí hậu và quy nguyên nhân của biến đổi cho các tác nhân khác nhau.     Dựa trên các kết quả nghiên cứu về quy nguyên nhân của biến đổi khí hậu mà người đặt nền móng là Hasselmann, Báo cáo Đánh giá lần thứ 6 của IPCC đã đưa ra kết luận rằng vai trò của con người gây ra biến đổi khí hậu từ thời kỳ tiền công nghiệp đến nay là không thể chối cãi. Nhiệt độ giai đoạn 2010-2019 đã tăng so với thời kỳ 1850-1900 là 1,09ºC [0,95 đến 1,2ºC], trong đó mức tăng do phát thải khí nhà kính của con người là 1,07ºC [0,8 đến 1,3ºC].  Từ ngày 31/10 tới ngày 12/11 tới đây, Hội nghị các bên lần thứ 26 (COP26) của Liên Hợp Quốc sẽ được tổ chức tại Glasgow với sự tham gia của nhiều nguyên thủ quốc gia để bàn về việc đẩy nhanh các giải pháp ứng phó với BĐKH nhằm hiện thực hoá mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Lưu ý rằng Thỏa thuận Paris về BĐKH năm 2015 đã đặt ra mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu đến cuối thế kỷ 21 ở mức dưới 2ºC so với thời kỳ tiền công nghiệp, và một mục tiêu tham vọng hơn là tăng dưới 1,5ºC. Tuy nhiên các kết quả tính toán từ các mô hình khí hậu dựa trên các kịch bản phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí CO2 vào khí quyển chỉ ra rằng nếu như không có sự cắt giảm khí nhà kính mạnh mẽ và triệt để từ các quốc gia thì việc đạt được mục tiêu của Thỏa thuận Paris thực sự xa vời[1]□.   ——  * PGS. TS Ngô Đức Thành (trường Đại học KH&CN Hà Nội) là nhà nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Năm 2020, Ban soạn thảo Báo cáo Đánh giá biến đổi khí hậu của IPCC lần thứ sáu – một báo cáo thu hút hàng trăm chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau làm tác giả chính điều phối (Coordinating Lead Authors) và tác giả chính (Lead Authors), tác giả đóng góp (Contributing Authors) và chuyên gia bình duyệt (Expert Reviewers) – mời anh tham gia soạn thảo với vai trò là tác giả chính (lead author) của một chương.   Giải Nobel Vật lý 2021 dành cho Syukuro Manabe, Klaus Hasselmann và Giorgio Parisi bởi có những công trình miêu tả các hệ vật lý phức tạp – bao gồm nghiên cứu mang tính nền tảng tạo ra một mô hình toán học tiên phong về khí hậu trái đất và dự đoán sự gia tăng của các mức carbon dioxide trong bầu khí quyển trái đất có thể làm tăng nhiệt độ toàn cầu. Syukuro Manabe và Klaus Hasselmann cùng chia nhau một nửa trong số tiền thưởng trị giá 10 triệu kronor Thụy Điển (tương đương 1,15 triệu USD) cho việc nghiên cứu và phát triển mô hình này. Nhà vật lý lý thuyết Giorgio Parisi tại Sapienza trường Đại học Rome nhận phần còn lại của giải thưởng cho những đóng góp của ông về lý thuyết của các hệ phức hợp. Công trình của ông đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khoa học thần kinh đến cách các vật liệu dạng hạt sắp xếp. “Đây là hai giải thưởng khác nhau nhưng có một chủ đề chung là liên quan đến sự trật tự và những thăng giáng, có thể đem lại kết quả giúp chúng ta có thể hiểu được và dự đoán được [những điều có thể diễn ra], Thors Hans Hansson, chủ tịch Ủy ban Nobel Vật lý nói. “Chúng ta có thể dự đoán điều gì diễn ra với khí hậu trong tương lai nếu chúng ta biết cách mã hóa sự hỗn độn của thời tiết”.  Tài liệu tham khảo  [1] Arias, P. A., N. Bellouin, E. Coppola, et al. 2021. Technical Summary. In: Climate Change 2021: The Physical Science Basis. Contribution of Working Group I to the Sixth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Masson-Delmotte, V., P. Zhai, A. Pirani, S. L. Connors, C. Péan, S. Berger, N. Caud, Y. Chen, L. Goldfarb, M. I. Gomis, M. Huang, K. Leitzell, E. Lonnoy, J. B. R. Matthews, T. K. Maycock, T. Waterfield, O. Yelekçi, R. Yu and B. Zhou (eds.)]. Cambridge University Press.   [2] Manabe, S, Wetherald, RT. 1967. Thermal equilibrium of the atmosphere with a given distribution of relative humidity. J. Atmos. Sci. 24, 241–259.   [3] Manabe, S, Strickler, RF. 1964. Thermal equilibrium of the atmosphere with a convective adjustment J. Atmos. Sci. 21, 361–85.   [4] Manabe, S, Wetherald, RT. 1975. The Effects of Doubling the CO2 Concentration on the climate of a General Circulation Model. J. Atmos. Sci. 32, 3–15.   [5] Hasselmann K. 1976. Stochastic climate models part I. Theory. Tellus 28(6), 473-485.   [6] Hasselmann K. 1979. On the Signal-to-Noise Problem in Atmospheric Response Studies. In: Meteorology of Tropical Oceans. Ed. by D.B. Shaw. London: Roy Me- teorol Soc., pp. 251 − 259.   [7] Hasselmann K. 1993. Optimal Fingerprints for the Detection of Time-Dependent Climate Change. J. Climate 6, 1957-1971.  [8] Hasselmann K. 1997. Multi-Pattern Fingerprint Method for Detection and Attribution of Climate Change. Clim. Dyn. 13, 601-611.  [9] https://www.nobelprize.org/uploads/2021/10/sciback_fy_en_21.pdf  ————-  1. Một quá trình hồi tiếp được hiểu là một quá trình mà đầu ra của nó sẽ làm tăng cường (hồi tiếp dương) hoặc giảm nhẹ (hồi tiếp âm) đầu vào của quá trình đó. Các quá trình hồi tiếp là rất quan trọng đối với các nghiên cứu biến đổi khí hậu, vì một sự biến đổi ban đầu có thể kích hoạt liên tiếp các biến đổi khác với quy mô mạnh hơn rất nhiều. Quá trình hồi tiếp băng-albedo là một ví dụ: khi nhiệt độ tăng lên, băng tuyết tan ra, làm mức độ phản xạ ánh sáng mặt trời kém đi, dẫn tới lược bức xạ mặt trời hấp thụ được tăng lên làm nhiệt độ lại càng tăng lên cao hơn, và băng tuyết lại tan nhiều hơn, cứ thế quá trình này tiếp tục. Quá trình hồi tiếp băng-albedo lý giải vì sao trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, các khu vực vĩ độ cao lại có mức gia tăng nhiệt độ lớn hơn các khu vực khác.   2.  Ở đây, cũng cần vinh danh Henri Poincaré, một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết hỗn độn khi ông công bố lời giải của “Bài toán ba vật thể” vào năm 1890. Trong những năm này, Poincaré đã nhận thấy một sai lệch nhỏ ban đầu có thể gây nên một sự khác biệt khổng lồ trong kết quả tính toán.    Author                Ngô Đức Thành        
__label__tiasang Bài toán Pioneer      Trong cuộc tọa đàm về tính khả thi của Pioneer do Tia Sáng tổ chức, đa số ý kiến đều cho rằng mục tiêu của nó phù hợp với Việt Nam, tuy nhiên vẫn cần các “điều kiện biên” để “chạy” chương trình này.    Có thể nói điểm khác biệt cơ bản của Pioneer với khá nhiều chương trình, đề tài trọng điểm cấp nhà nước của VN là đưa ra được quy trình từ lựa chọn đến đánh giá các dự án nghiên cứu một cách – theo các chuyên gia Hàn Quốc – là “không thể chặt chẽ hơn”. Thực tế, chương trình Pioneer không phải do Hàn Quốc tự thiết kế mà đã học hỏi rất nhiều từ Mỹ, Pháp, Trung Quốc… Trong quá khứ, Hàn Quốc cũng từng có nhiều chương trình phát triển KH&CN không thành công. Thập kỷ 80, các chương trình quốc gia như “Chương trình quốc gia R&D”, “Học bổng nghiên cứu liên ngành”, “Các dự án nghiên cứu hợp tác quốc tế” mà Hàn Quốc đưa ra đã không thành công vì quản lý kém (giới quản lý không phải là các nhà khoa học thực thụ). Đầu thập kỷ 90, khi đã đào tạo được một đội ngũ quản lý khoa học mạnh, Hàn Quốc vẫn không thành công với “Các chương trình nghiên cứu hàng không và vũ trụ” hay “Dự án G7”, nguyên nhân lúc này lại do thiếu đội ngũ nghiên cứu thực sự giỏi. Dự án G7 từng đặt tham vọng trên 14 lĩnh vực công nghệ, song kết quả lại chủ yếu thành công trong… sản xuất rượu Soju! Chỉ đến gần đây, các chương trình KH&CN quốc gia của Hàn Quốc mới bắt đầu thành công (như chương trình “Các phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc gia”, “Động lực mới”), có được điều này là Hàn Quốc đã áp dụng những tiêu chuẩn, quy trình chặt chẽ giống như với Pioneer.              TS Phạm Đức Chính          TS Hoàng Ngọc Long     TS Nguyễn Ngọc Châu          GS Nguyễn Bá Ân           TS Nguyễn Văn Đức                Câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có nên áp dụng ngay Chương trình Pioneer, và nếu áp dụng thì cần những điều kiện gì và phải làm những gì? TS Nguyễn Ngọc Châu (Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật) cho rằng “rất cần thiết và triển khai càng sớm càng tốt”. TS Hoàng Ngọc Long (Viện Vật lý & Điện tử) cũng cho rằng nội dung của Pioneer thực chất là các chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu mà ta “nên cố làm theo”. Song TS Long cho rằng “đây chưa phải là thời điểm để tìm công nghệ mới”, vậy nên Pioneer chỉ nên đặt mục tiêu là “nuôi dưỡng những nhà khoa học giỏi”. Ông cũng nêu một thực tế: cũng với từng đấy thiết bị “cũ kỹ” ở Việt Nam, song GS Darriulat vẫn có thể có nghiên cứu công bố trên tạp chí “số một thế giới”, bởi vậy “đầu tư vào con người” vẫn là quan trọng nhất. Một khi có được những nhóm khoa học mạnh, nền kinh tế thực sự cần công nghệ thì mới tìm hướng nghiên cứu ưu tiên. Thời điểm này có thể là 5 năm sau. Không đồng ý với ý kiến “nuôi dưỡng nhà khoa học giỏi” của TS Hoàng Ngọc Long, GS  Nguyễn Bá Ân (Viện Vật lý & Điện tử) cho rằng “Việt Nam đã bồi dưỡng (đội ngũ làm khoa học) 30 năm nay rồi”. Vấn đề trước mắt chưa phải là “tìm đội ngũ giỏi” mà là “tìm người có trách nhiệm”: Cụ thể ai sẽ trả lời câu hỏi có nên tiến hành Pioneer hay không”. Nếu tiến hành thì cụ thể ai sẽ chịu trách nhiệm về chương trình này?  Một số ý kiến cũng lưu ý điểm khác biệt trong môi trường nghiên cứu giữa Hàn Quốc và Việt Nam khi “chạy” Pioneer. TS Phan Đức Chính cho rằng: “Hàn Quốc có thể chọn hàng trăm nhà khoa học ‘đầu tàu’ nhờ học đã có cái nền là không gian khoa học lành mạnh. Trong khi đó nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian trước mắt của ta là xây dựng một không gian văn hóa làm khoa học nghiêm túc”, song cũng nhận định: “Chương trình Pioneer có  nhiều ưu điểm hấp dẫn. Vấn đề là phải tìm phương thức phụ hợp với hoàn cảnh cụ thể với các giải pháp đồng bộ đi kèm”. Ông Hải Nam (ĐH Bách Khoa HN) cũng nêu kinh nghiệm: “Những ai từng ở Hàn Quốc đều thấy người Hàn rất cần cù. Một sinh viên master hay PhD ở Hàn Quốc làm việc qua đêm ở Lab là bình thường”.  Giải pháp đồng bộ  TS Nguyễn Văn Đức (ĐH Bách Khoa HN) cho rằng “bài toán Pioneer” có thể giải được nếu như giải được “bài toán gốc” là thành lập được một Hội đồng đánh giá chuyên môn tài năng và công tâm: “Nếu giải được ‘bài toán Hội đồng’ thì giải ‘bài toán Pioneer’ sẽ rất dễ dàng”. TS Nguyễn Ngọc Châu thì đề nghị, tiêu chí thành viên Hội đồng phải là những nhà khoa học đang công tác, có kinh nghiệm nghiên cứu-đào tạo và có công bố quốc tế (trong thời gian gần đây).  Bên cạnh “bài toán Hội đồng”, TS Nguyễn Ngọc Châu đề nghị một mô hình nghiên cứu theo tổ chức của các trường đại học Mỹ: Tổ chức mỗi nhóm nghiên cứu thành 1 “Lab”. Nhóm nghiên cứu này gồm 2-3 nghiên cứu viên chính, 3-5 trợ lý nghiên cứu là nghiên cứu sinh. Trưởng nhóm nghiên cứu này phải được tuyển chọn chặt chẽ theo các tiêu chí quốc tế. Các nhóm nghiên cứu này được giao quyền tự chủ sáng tạo và ràng buộc cơ bản là phải có sản phẩm KHCN: bằng sáng chế và công bố quốc tế.  Giải pháp trước mắt, theo TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học), là “giảm số lượng các nhóm nghiên cứu mạnh, nhưng tăng kinh phí cho từng nhóm, để có thể thuê chuyên gia quốc tế lãnh đạo các nhóm này, đặc biệt là ở các lĩnh vực gần gũi với ứng dụng và công nghệ thiết yếu cho nền kinh tế mà chúng ta còn yếu. Các chuyên gia quốc tế phải là các nhà khoa học có thành tích công bố quốc tế, có kinh nghiệm lãnh đạo các nhóm nghiên cứu khoa học công nghệ mà thường bao gồm cả các phần xây dựng mô hình lý thuyết, mô phỏng số, chế tác mẫu và phân tích thực nghiệm. Sau 4-5 năm các nhà khoa học Việt Nam (đã được lựa chọn là có đủ năng lực) trong nhóm sẽ phải học được các kinh nghiệm làm việc với chuẩn mực quốc tế, để có thể tiếp tục phát triển các nghiên cứu không có chuyên gia quốc tế dẫn dắt. Khi cử người đi du học, chúng ta cũng nên lưu tâm tới khả năng đào tạo cả một ê-kíp thực hiện các thành phần công việc khác nhau”.  “Các chuyên gia quốc tế có thể tham gia giảng dạy, nhưng nhiệm vụ chính của họ phải là lãnh đạo nghiên cứu theo chuẩn mực quốc tế, với hệ quả đào tạo được cả các tiến sĩ trình độ quốc tế. Như vậy kinh phí đào tạo từ Bộ GD&ĐT cũng có thể được bổ sung vào đây”.  “Các chương trình khoa học trọng điểm cấp nhà nước cũng nên mời chuyên gia nước ngoài tham gia, và cũng phải đòi hỏi công bố khoa học theo chuẩn mực quốc tế. Cái khác ở đây chỉ là đề tài cấp nhà nước phải tập trung giải quyết một vấn đề cụ thể của thực tế, còn đề tài Pioneer thì có định hướng khoa học tự do hơn. Các phòng thí nghiệm trọng điểm cũng nên ưu tiên phục vụ cho các chương trình này”.  Việc thuê chuyên gia nước ngoài, theo TS Chính là “không có gì lạ. Cũng như ta đã thuê các huấn luyện viên nước ngoài để cạnh tranh được với khu vực”.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài toán vệ tinh mất tích      Các mô phỏng trên máy tính cho thấy dải Ngân hà của chúng ta có thể có tới 500 thiên hà vệ tinh vây quanh. Nhưng vì sao sau nhiều năm quan sát trên thực tế, chúng ta mới chỉ thấy chưa được 1/10 trong số đó?     Đám mây Magellan Lớn, thiên hà vệ tinh lớn nhất của dải Ngân hà. Ảnh: ESO/VMC Survey.  Ngày nay, vũ trụ học giải thích sự hình thành thiên hà bằng mô hình Vật chất tối lạnh-Lambda (Lambda-CDM). Theo đó, vật chất tối ở vũ trụ sơ khai túm tụm thành các quầng (halo), rồi thông qua tương tác lực hấp dẫn mà kéo vật chất thông thường vào các quầng này, tạo ra các thiên hà đầu tiên. Các thiên hà đầu tiên vốn rất nhỏ và nhẹ; chúng phải va chạm, phải giằng xé, phải hợp vào với nhau thì mới làm nên các cấu trúc xoắn ốc đẹp tuyệt vời như dải Ngân hà của chúng ta.  Dựa trên lý thuyết đó, kể từ thập niên 1990, các nhà thiên văn học đã dùng máy tính để mô phỏng quá trình tiến hóa thiên hà và kiếm tìm bằng chứng ngoài vũ trụ chứng minh dự đoán của các mô phỏng trên. Song việc khớp mô phỏng với đời thực không phải là không gặp khó khăn. Ngay từ khi các mô phỏng lần đầu được đối chiếu với các quan sát quy mô lớn, đã xuất hiện một sự khác biệt đáng lo ngại mang tên “bài toán vệ tinh mất tích” (missing satellites problem).  Độ lệch giữa mô phỏng và thực tế?  Trước hết, thiên văn học dùng mô phỏng máy tính để làm gì? Những ai chưa biết có thể bảo rằng mô phỏng máy tính sẽ thiếu chính xác hơn là các quan sát thực thụ. Song sự thật là các vật thể như thiên hà phải mất hàng tỷ năm để tiến hóa, nghĩa là hiểu được lịch sử của chúng thông qua quan sát thuần túy sẽ mãi là một giấc mơ viển vông. Các mô phỏng khắc phục bất cập đó: chỉ cần biết và tính đến các điều kiện trước và trong khi hình thành thiên hà, ta có thể chạy mô phỏng vũ trụ học (cosmological simulation) mất vài ngày mà vẫn thu về dữ liệu cho thấy toàn bộ sự tiến hóa của một thiên hà. Ngoài ra, mô phỏng còn cho phép ta nghiên cứu vật chất tối dù chưa trực tiếp quan sát được nó. Theo mô hình Lambda-CDM, vật chất tối chỉ tương tác với chính nó và với vật chất thông thường – còn gọi là vật chất baryon (baryonic matter) – bằng lực hấp dẫn. Như vậy, chỉ cần kết hợp các phương trình chuyển động của lực hấp dẫn với các điều kiện thiên hà đã quan sát được, các nhà thiên văn có thể tái hiện chi tiết hàng tỷ năm lịch sử vũ trụ, từ các thiên hà nhỏ lẻ, tăm tối đầu tiên cho đến các đế quốc ánh sáng với hình thù rõ rệt như dải Ngân hà hay thiên hà Tiên Nữ (M31).  Mô phỏng quầng vật chất tối của một thiên hà có khối lượng bằng dải Ngân hà. Đường tròn nét đứt là giới hạn của quầng chính, vùng sáng ở trung tâm là nơi có thiên hà chính, còn các đốm sáng ở quanh là các quầng phụ nơi hình thành các thiên hà vệ tinh. Ảnh: F.S. Ling và cộng sự (2009).  Bài toán vệ tinh mất tích nổi lên vào thập niên 1990, khi các nhóm như Moore và cộng sự (1999) chạy mô phỏng máy tính và nhận thấy rằng một quầng vật chất tối có điều kiện tương tự như dải Ngân hà sẽ chứa các quầng phụ (subhalo) bên trong. Để hiểu hiện tượng này, hãy nhớ rằng theo mô hình Lambda-CDM thì ở vũ trụ sơ khai, vật chất tối tập trung thành các quầng (halo), và nhiều quầng có thể hợp thành một quầng nặng hơn do tác động của lực hấp dẫn. Nếu một quầng vật chất tối đủ nặng, nó sẽ kéo vật chất baryon về tâm của quầng và tạo ra thiên hà như đã thảo luận ở đầu bài viết. Song bản thân một quầng vật chất tối cũng không hề tĩnh: do vật chất tối có thể tự tương tác hấp dẫn với chính mình, một lượng nhỏ vật chất tối bên trong nội bộ một quầng lớn hơn cũng có thể túm tụm thành quầng phụ (subhalo), nơi lực hấp dẫn cũng có thể đủ mạnh để kéo vật chất baryon vào, sinh ra các thiên hà vệ tinh quanh thiên hà khổng lồ ở trung tâm của quầng chính.  Moore và cộng sự (1999) kết luận rằng một quầng vật chất tối tương tự như của dải Ngân hà sẽ có chứa 500 quầng phụ bên trong. Nếu mỗi quầng phụ đều có thể hút vật chất baryon và tạo nên một thiên hà vệ tinh, có thể suy ra rằng một thiên hà sinh ra trong quầng vật chất tối như của dải Ngân hà sẽ có 500 thiên hà vệ tinh vây quanh. Tuy nhiên, con số này lại khác xa khi quan sát trên thực tế: vào năm 1999, mới chỉ có 11 thiên hà vệ tinh được phát hiện quanh dải Ngân hà. Đến 2005, nhóm của Beth Willman tìm ra thêm một thiên hà vệ tinh nữa là Willman 1 – một thiên hà ở rìa dải Ngân hà có đến 99% là vật chất tối và chỉ chứa khoảng 1,000 ngôi sao, đòi hỏi giới thiên văn học phải xếp nó vào một loại riêng là “thiên hà lùn cực tối” (ultra-faint dwarf galaxy). Kể từ đó, các dự án tân tiến như Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số Sloan (SDSS) và Khảo sát Năng lượng Tối (DES) đã phát hiện thêm khoảng 40 thiên hà vệ tinh khác quanh dải Ngân hà, hầu hết thuộc loại lùn cực tối như Willman 1. Đến đầu năm 2023, các nhà quan sát đã ghi nhận tổng cộng 59 vệ tinh của dải Ngân hà – vẫn gần mười lần ít hơn con số do Moore và cộng sự (1999) dự đoán. Vậy lý do nào đã dẫn đến sự chênh lệch nghiêm trọng này?  Lý do 1: Các quan sát vẫn còn giới hạn  Thiên văn học, xét cho cùng, vẫn còn bị giới hạn bởi khả năng quan sát của những con mắt máy móc. Đến cả Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số Sloan (SDSS) – đi đầu trong công cuộc dò tìm thiên hà vệ tinh của dải Ngân hà – cũng chỉ bao quát được 25% bầu trời. Vì vậy, có thể lý giải bài toán vệ tinh mất tích một cách đơn giản bằng cách bảo rằng chúng ta vẫn chưa quan sát đủ.  Vậy thế nào mới là đủ? Một số tác giả đã ước tính số lượng thiên hà vệ tinh mà con người có thể tìm thấy bằng công cụ hiện có, trong đó phải kể đến Oliver Newton và cộng sự (2018). Đầu tiên, nhóm này thu gom số đo của các vệ tinh vốn đã được phát hiện bởi hai dự án SDSS và DES. Sau đó, họ dùng phép ngoại suy để ước tính xem có bao nhiêu vệ tinh với độ sáng tương tự có thể đang ở quanh dải Ngân hà. Nhóm nghiên cứu vay mượn mật độ thiên hà vệ tinh từ các mô phỏng dải Ngân hà, nhằm đảm bảo rằng số vệ tinh được ước tính bằng ngoại suy sẽ đồng nhất với mật độ phân bố vệ tinh quanh dải Ngân hà theo như ta đã biết. Kết quả cho thấy, một quầng vật chất tối có điều kiện như của dải Ngân hà sẽ chứa khoảng từ 97 đến 164 thiên hà vệ tinh. Trong số đó, 38-58 vệ tinh thuộc loại lùn cực tối, hầu hết nằm trong phạm vi độ sáng mà SDSS có thể dò được. Nói cách khác, Newton và cộng sự (2018) đã cho thấy rằng các thiết bị quan sát hiện có như SDSS hoàn toàn có thể tìm được thêm thiên hà vệ tinh – ngay cả những vệ tinh thuộc loại kém sáng nhất. Sắp tới đây, khi các thiết bị còn tân tiến hơn của Đài quan sát Vera C. Rubin chính thức đi vào hoạt động, việc phát hiện thêm nhiều vệ tinh của dải Ngân hà sẽ trở nên khả thi hơn bao giờ hết. Song liệu số vệ tinh quan sát được có thể sánh ngang với số vệ tinh do mô phỏng dự đoán hay không?  Bản đồ miêu tả một số thiên hà vệ tinh của dải Ngân hà. Khối cầu thể hiện quầng vật chất tối của dải Ngân hà. Ảnh: J. Bullock, M. Geha, R. Powell.  Lý do 2: Không phải quầng phụ nào cũng có thiên hà  Một số tác giả chỉ ra rằng hầu hết mô phỏng vũ trụ học chỉ dự đoán số quầng phụ, không dự đoán số thiên hà vệ tinh. Quả thật các quầng phụ có thể hút vật chất baryon vào trong, nhưng trong một số điều kiện, chỗ vật chất baryon ấy không thể sinh ra sao, hoặc có thể sinh ra sao nhưng không thể tạo nên thiên hà.  Ngay từ năm 2000, James Bullock và cộng sự đã đưa ra ý tưởng rằng có lẽ sự chênh lệnh giữa quan sát và mô phỏng sẽ không lớn đến thế nếu như các mô phỏng tính đến ảnh hưởng của quá trình quang ion hóa (photoionization). Quá trình này bắt đầu tầm 400 triệu năm kể từ Vụ nổ Lớn, khi các ngôi sao đầu tiên chào đời và phát ra các hạt photon xé toạc các nguyên tử hydro vốn dĩ trung hòa về điện tích. Trong vòng 600 triệu năm sau đó, các đám mây khí hydro liên tục bị quang ion hóa hun nóng. Tuy nhiên, để hình thành sao, sự sụp đám mây khí thành cấu trúc thiên hà, v.v… lại đòi hỏi các đám mây này phải lạnh. Bởi vậy, quá trình quang ion hóa bỗng dưng làm chậm hẳn sự hình thành thêm các thiên hà khác ở môi trường cận kề các ngôi sao và các thiên hà đầu tiên. Đấy là còn chưa kể đến chuyện hydro bị quang ion hóa có thể đạt vận tốc cao tới nỗi “tung cánh mà bay” khiến một quầng vật chất mất đi nhiên liệu để sinh sao và hình thành thiên hà. Vậy nên, dù một quầng phụ có hút được khí hydro, nó vẫn sẽ chẳng thể nuôi lớn một thiên hà nhỏ nếu như chịu ảnh hưởng từ lượng bức xạ bắn ra mãnh liệt từ các thiên hà lân cận – hay thậm chí là từ chính các ngôi sao trong quầng phụ đó – đã đốt nóng chỗ khí kia và làm chậm cả quá trình hình thành thiên hà.  Các bài viết sau Bullock và cộng sự (2000) đã chứng minh rằng quang ion hóa có ảnh hưởng tệ nhất ở các quầng vật chất tối nhẹ hơn dải Ngân hà khoảng 1000 lần, bởi với khối lượng mong manh như thế, chúng cũng chẳng hút được nhiều khí và chỗ khí ít ỏi đó cũng bị quá trình quang ion hóa hun nóng rất nhanh. Thế còn các quầng nặng hơn thì sao? Theo Governato và cộng sự (2008), một quầng vật chất tối nặng hơn có thể che chở cho khí của chúng phần nào khỏi quá trình quang ion hóa thông thường. Song, giả sử có một ngôi sao (hoặc là ở miền lân cận, hoặc là ở trong chính quầng đó) phát nổ thành siêu tân tinh, siêu tân tinh ấy có thể thổi bay hoặc làm nóng khối khí ngay lập tức.  Với ảnh hưởng của nhiều hiện tượng “bạo lực” khác nhau như vậy, một quầng vật chất tối hoàn toàn có thể sinh ra rất ít sao hoặc thậm chí không sinh sao, nghĩa là sẽ chẳng bao giờ tìm được thiên hà trong đó. Nếu các nhà thiên văn loại trừ những quầng không chứa thiên hà như vậy, sự chênh lệch giữa số quầng phụ trong mô phỏng và số vệ tinh của dải Ngân hà ngoài đời ắt sẽ giảm đi.  Lý do 3: Các mô phỏng ban đầu đã đếm thừa số quầng phụ  Cuối cùng, phải xem xét vai trò của nhân tố bí ẩn nhất trong bài toán này. Đến nay, chúng ta vẫn chưa biết được vật chất tối là gì. Phần đông các nhà thiên văn dựa vào các quan sát và tính toán mà kết luận rằng vật chất tối không những tương tác với chính nó và với vật chất baryon bằng lực hấp dẫn, mà còn chuyển động rất chậm so với vận tốc ánh sáng. Theo đó, họ đặt ra mô hình Vật chất tối lạnh-Lambda (chữ “lạnh” ngụ ý đến chuyển động chậm), rồi xây dựng mô phỏng nơi các loại vật chất – vật chất tối, khí, sao, v.v. – đều là các hạt có khối lượng.    Một số tác giả chỉ ra rằng hầu hết mô phỏng vũ trụ học chỉ dự đoán số quầng phụ, không dự đoán số thiên hà vệ tinh.    Mô phỏng thời kỳ đầu như của Moore và cộng sự (1999) chỉ bao gồm vật chất tối tương tác dưới dạng hạt có khối lượng. Adi Zolotov và cộng sự (2012) cho rằng điều này đã dẫn đến sai sót đáng kể. Nhóm của Adi Zolotov đã thiết kế một mô phỏng mới không chỉ gồm vật chất tối mà còn có cả các hạt khí và sao cùng tồn tại. Họ nhận ra rằng, các quầng phụ có khối lượng lớn, những siêu tân tinh có thể tác động đến mật độ vật chất tối.  Ở đoạn trước, nhờ phân tích của Governato và cộng sự (2008), ta đã biết rằng siêu tân tinh có thể hun nóng hoặc thổi bay khí trong một quầng phụ có khối lượng lớn. Zolotov và cộng sự (2012) bổ sung thêm rằng sức công phá của siêu tân tinh còn có thể làm xáo trộn sự phân bố vật chất tối trong các quầng phụ. Đấy là mới chỉ nói tới chuyện trong nội bộ quầng phụ. Khi một quầng phụ tương tác với một thiên hà đĩa đầy khí và sao (thường sẽ là thiên hà ở trung tâm quầng chính), thiên hà đĩa có thể “xé xác” quầng phụ và tước mất vật chất tối của nó. Nhóm của Zolotov cho rằng nếu một mô phỏng tính đến các sự xáo trộn và mất mát về vật chất tối như thế, số quầng phụ trong mô phỏng đó ắt sẽ giảm đáng kể. Họ kết luận: “Các mô phỏng chỉ chứa vật chất tối nên được dùng một cách thận trọng khi phân tích các quan sát chuyển động học của vệ tinh lùn quanh dải Ngân hà”.  Thiên hà lùn cực tối Mục Phu I (Boötes I), một vệ tinh của dải Ngân Hà. Không thể nhận ra thiên hà này bằng mắt thường bởi nó quá ít sao và khí. Ảnh: Sakurako Okamoto/NAOJ  Kết luận  Ngày nay, sau khi các nhà thiên văn đã thảo luận về thiếu sót của cả quan sát và mô phỏng, bài toán vệ tinh mất tích không còn là một chủ đề cấp thiết nữa. Trong tâm trí nhiều người, bài toán vệ tinh mất tích là sản phẩm của giai đoạn đầu áp dụng mô hình Lambda-CDM, khi các mô phỏng chưa lường trước được mọi tương tác có thể xảy ra giữa vật chất tối và vật chất baryon. Không những vậy, bài toán còn là hậu quả của việc thiếu quan sát chi tiết – một bất cập mà các nhà thiên văn học đang cố gắng khắc phục bằng việc cải tiến thiết bị của các dự án SDSS và DES, đồng thời đưa vào hoạt động Đài quan sát Vera C. Rubin tại Chile. Có lẽ trong tương lai gần, khi mà các mô phỏng đã được cải thiện và đối chiếu với các quan sát có tính bao quát chưa từng thấy, số quầng phụ trong mô phỏng và số vệ tinh của dải Ngân hà ngoài đời cũng sẽ đồng nhất với nhau, và các tranh cãi xoay quanh bài toán vệ tinh mất tích cũng sẽ đi vào dĩ vãng.  Tuy nhiên, gần đây cũng có vài vấn đề nảy sinh trong việc khớp mô phỏng với quan sát thực tế. Chẳng hạn, sau khi tính đến tác động của siêu tân tinh và quang ion hóa, nhiều mô phỏng lại cho ra các quầng phụ có khối lượng lớn đến nỗi chắc chắn đã phải giữ được khí và tạo ra được nhiều sao. Nói cách khác, các mô phỏng mới lại thể hiện rằng dải Ngân hà phải được bao bọc bởi các vệ tinh lớn và đầy sao, khác hẳn với thực tế nơi hầu hết vệ tinh của dải Ngân hà đều là các thiên hà nhẹ cân và ít sao. Bài toán mới này, cùng nhiều bí ẩn khác về sự hình thành và tiến hóa thiên hà, sẽ khơi mào thêm nhiều cuộc thảo luận sôi nổi trong tương lai, mở đường cho các hiểu biết mới và các lý thuyết thậm chí còn chính xác hơn về dải Ngân hà nói riêng và vũ trụ nói chung.□  ——-  Tài liệu tham khảo:  Bullock, J.S., Kravtsov, A.V. and Weinberg, D.H. (2000), “Reionization and the abundance of galactic satellites”, The Astrophysical Journal, 539(2), pp. 517.  Brooks, A.M., Kuhlen, M., Zolotov, A. and Hooper, D. (2013), “A baryonic solution to the missing satellites problem”, The Astrophysical Journal, 765(1), pp. 22.  Governato, F., Willman, B., Mayer, L., et al (2007), “Forming disc galaxies in ΛCDM simulations”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 374(4), pp. 1479-1494.  Moore, B., Ghigna, S., Governato, F., et al (1999), “Dark matter substructure within galactic halos”, The Astrophysical Journal, 524(1), pp. L19.  Newton, O., Cautun, M., Jenkins, A., et al (2018), “The total satellite population of the Milky Way”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 479(3), pp. 2853-2870.  Zolotov, A., Brooks, A.M., Willman, B., et al (2012), “Baryons matter: Why luminous satellite galaxies have reduced central masses”, The Astrophysical Journal, 761(1), pp. 71.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Bạn có cần là thiên tài để làm toán?      Anh bạn tôi, Terence Tao, cách đây mấy năm có viết một blog nhan đề: Does one have to be a genius to do maths?  Blog này có nhiều ý kiến hay, và tôi nghĩ nó bổ ích cho những bạn trẻ làm toán (hay khoa học cơ bản nói chung). Dưới đây tôi lược dịch bài này với một số thay đổi nhỏ.      Trước hết, toán học được đề cập đến ở đây là toán chuyên nghiệp (professional math). Nó rất khác với toán dành cho thanh thiếu niên mang tính thể thao như trong các cuộc thi kiểu IMO mà báo chí VN hay tuyên truyền và nhiều khi làm người đọc lẫn lộn hai khái niệm. Mục đích của việc làm toán không phải để giành huy chương hay giải thưởng cao nhất, mà để có hiểu biết sâu sắc về toán học và góp sức mình vào sự phát triển và ứng dụng của môn khoa học kỳ diệu này.   Câu hỏi Terry muốn trả lời là:  “Bạn có cần là thiên tài để làm toán ?”   Câu trả lời là “KHÔNG”. Để sáng tạo ra những công trình có giá trị, người nghiên cứu cần nắm vững lĩnh vực nhỏ của mình, biết quan tâm và tìm hiểu thêm những lĩnh vực liên quan, biết cách đặt câu hỏi, biết trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp, và biết quan tâm đến một “big picture”. Tất nhiên người làm khoa học (bất kỳ ngành nào) cần một sự thông minh nhất định, tính kiên nhẫn và độ chín cần thiết. Nhưng để thành một nhà toán học thành công, bạn không cần phải có một gene “thiên tài”, một khả năng đặc biệt nhìn xuyên thấu những vấn đề phức tạp trong khoảnh khắc.         Terence Tao tức Đào Triết Hiên (陶哲轩/軒) là nhà toán học người Úc chuyên về giải tích điều hòa, phương trình đạo hàm riêng, lí thuyết tổ hợp, lí thuyết số giải tích và lí thuyết biểu diễn. Ông hiện là giáo sư toán tại trường Đại học California, Los Angeles. Ông giữ chức này từ năm 24 tuổi. Tháng 8 năm 2006, ông được trao Huy chương Fields cho những đóng góp về Toán học. Và chỉ một tháng sau, tức là vào tháng 9 năm 2006, ông được trao học bổng MacArthur.        Các nhà toán học thường được mô tả như những thiên tài cô độc (và hơi điên điên–trong một số trường hợp ta thậm chí có thể bỏ chữ hơi). Họ ngồi một mình trong phòng, nhìn lên tường như đếm thạch sùng, không đoái hoài gì đến công trình của những người khác cũng như mọi việc xảy ra chung quanh. Và một ngày đẹp trời, bỗng nhiên họ mang cho nhân loại một lời giải bất ngờ không ai có thể tưởng tượng được của một bài toán tồn tại nhiều thế kỷ. Hình ảnh vô cùng lãng mạn này mang lại cho những nhà toán học đang tìm vợ những lợi thế không nhỏ cũng như Hollywood những khoản lợi nhuận kếch xù, nhưng nó cũng rất khác xa thực tế, ít nhất là trong toán học hiện đại.   Đúng là trong toán học (cũng như nhiều ngành khoa học khác), có những công trình nổi bật (chẳng hạn như lời giải bài toán Fermat của Wiles hay công trình của Perelman về giả thuyết Poincare). Nhưng những công trình này đều được dựa trên sự phát triển liên tục của toán học trong nhiều thập kỷ, đôi khi là nhiều thế kỷ, trên những sự đóng góp trước đó của hàng trăm người khác. Tất nhiên, để có một bước tiến trong những bài toán khó, bao giờ cũng cần có những ý tưởng mang tính đột phá, nhiều khi rất đáng ngạc nhiên, nhưng những ý tưởng đó vẫn cần phải dựa trên một nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ trước chứ không thể từ con số không.   Bản thân tôi (Terry) thấy rằng thực tế của việc nghiên cứu toán-nơi mà kết quả được đạt được bởi một quá trình tự nhiên phát triển một cách tuần tự, dựa trên sức lao động mệt mài, trực giác toán học, những kết quả đã có sẵn, và một chút may mắn – hay hơn rất nhiều hình ảnh lãng mạn mà tôi tưởng tượng khi còn là một học sinh rằng toán học được tạo ra bởi những cảm hứng bí ẩn từ một đội ngũ chọn lọc của các “thiên tài”. Khái niệm “thiên tài” này là mầm mống của rất nhiều rắc rối. Thứ nhất, không ai có thể có những ý tưởng đặc biệt một cách thường xuyên và chính xác. Nếu một ai đó tự khẳng định với bạn là có những khả năng đặc biệt này, thì bạn nên đề phòng một chút. Áp lực của việc cư xử theo phong cách “thiên tài” có thể làm cho người trong cuộc bị ám ảnh với hội chứng “big theorems, big theory” (chỉ làm việc với những vấn đề tối quan trọng). Một số người khác có thể bị mất sự đánh giá công bằng về công trình của họ hay những công cụ họ đang sử dụng. Một số người khác nữa có thể đánh mất sự dũng cảm để theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu. Mặt khác nữa, giải thích sự thành công bằng khả năng thiên phú cá nhân (là một thứ ta không thể control) thay bằng sự cố gắng, phương thức đào tạo và phác định tương lai (là những thứ ta có thể control) sẽ dẫn tới những vấn đề khác nữa.           Kết quả tụt hậu của nghiên cứu khoa học sẽ không thấy kết quả ngay được như đổ cầu, đổ nhà như bên xây dựng. Đúng là mục đích trước mắt của ta là cần có những nhà kinh tế, những kỹ sư giỏi để phát triển đất nước. Việc đào tạo những người nghiên cứu lý thuyết nghe hơi xa vời.  Nhưng những nhà kinh tế, kỹ sư giỏi phải là những người có tầm nhìn xa, biết khái quát vấn đề chứ không đi sâu vào chi tiết vụn vặt. Nếu vậy thì cần phải có tư duy toán học.              Tư duy toán học thì phải học ở trường đại học ra, phải được lĩnh hội từ những người thầy có tư duy toán học tốt. Người thầy có tư duy tốt, phải là người nghiên cứu chứ không phải là thầy giáo chỉ giở sách giáo khoa ra dạy một cách máy móc. Các trường đại học phải có đội ngũ giáo sư là những nhà nghiên cứu có khả năng. Tuy nhiên, không cần nhiều, mỗi trường chỉ cần khoảng 10 giáo sư như vậy và cần 10 trường đại học trọng điểm thì sẽ đào tạo ra đội ngũ kế cận tốt.   GS Vũ Hà Văn trả lời phỏng vấn của Dân trí            Tất nhiên, mặc dù ta giảm tầm quan trọng của khái niệm “thiên tài”, thì trong khoa học vẫn có những nhà nghiên cứu, tại một thời điểm nhất định nào đó, nhanh nhạy hơn, hiểu biết rộng hơn, cẩn thận hơn, nhiều ý tưởng hơn, những người khác. Điều đó không có nghĩa là chỉ những nhà toán học giỏi nhất mới nên làm toán. Số lượng những bài toán thú vị rất nhiều, nhiều hơn rất nhiều số lượng những bài toán mà những nhà toán học giỏi nhất có thể quan tâm. Cũng rất thường xuyên, những công cụ hay ý tưởng của bạn có thể ứng dụng ở một lĩnh vực mà những người khác chưa nghĩ tới; bởi vì ngay cả những nhà toán học giỏi nhất vẫn có những điểm yếu trong rất nhiều lĩnh vực. Nếu bạn có một sự đào tạo cơ bản, lòng say mê toán học và một chút năng khiếu, thì chắc chắn sẽ có những lĩnh vực mà bạn sẽ có những đóng góp đáng kể. Có thể đó không phải là những lĩnh vực đang “hot” nhất, nhưng bản thân điều này cũng có những lợi ích riêng của nó. Trong một số trường hợp, những ý tưởng cơ bản nhất lại quan trọng hơn các ứng dụng đặc biệt. Ngoài ra, mỗi người cần có những bước khởi động, trước khi bước vào tấn công những bài toán khó nhất trong một lĩnh vực nào đó. Bạn có thể thấy điều này qua những bài báo đầu tiên của rất nhiều nhà toán học nổi tiếng.   Trong một số trường hợp, một tài năng quá đặc biệt lại có thể không có lợi cho một quá trình phấn đấu lâu dài. Nếu lời giải đến một cách quá dễ dàng, người ta có thể đánh mất sự chăm chỉ, không đặt những câu hỏi mang tính sơ khai, quên đi việc mở rộng những lĩnh vực quan tâm, và những điều này sẽ khiến tài năng bị thui chột. Ngoài ra, nếu ai đã quen với những thành công dễ dàng, thì rất khó rèn luyện được tính kiên trì cần thiết để giải quyết những vấn đề thực sự khó.   Tài năng là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là việc phát triển và duy trì nó !!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản địa không chỉ là sản phẩm      Theo chuyên gia Nguyễn Phi Vân, người sáng lập công ty World Franchise Asia, chuyên về tư vấn nhượng quyền cho các thương hiệu toàn cầu ở khu vực Châu Á, bản địa là những giá trị vô hình nằm ngoài sản phẩm và để chuyển tải được điều đó đến người tiêu dùng, cần sự trở giúp của công nghệ.    Ngày 6/6 vừa qua, dưới sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Tạp chí Tia Sáng đã kết hợp với vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng DNES và Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA tổ chức buổi hội thảo: “Khởi nghiệp từ tài nguyên bản địa cần đến sức mạnh của công nghệ như thế nào?”. Đến dự buổi hội thảo có Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng.    Trò chuyện tại buổi hội thảo, có năm doanh nghiệp có sản phẩm xuất phát từ thế mạnh của địa phương. Đó là Natural Oil ở Bến Tre với các sản phẩm từ dừa, Khởi minh thành công ở Đồng Tháp với sản phẩm từ sen, Hợp tác xã H’Mông Cát Cát ở Sơn La với sản phẩm chủ đạo từ bài thuốc tắm và thảo dược của người dân tộc H’Mông, Hekate ở Đà Nẵng với nền tảng tạo lập trợ lý ảo Chatbot (trong đó, một Chatbot được tạo lập trên nền tảng của công ty này sẽ được sử dụng để trả lời hỏi đáp với những du khách đến Đà Nẵng nhân dịp APEC). Không chỉ đóng vai trò là các diễn giả chia sẻ câu chuyện của mình, các doanh nghiệp này còn có các quầy hàng trong phòng hội thảo gây tò mò và thu hút những người tham dự.    Ngô Chí Công (bìa phải) với các sản phẩm sử dụng nguyên liệu là lá và hoa sen sấy khô để trang trí như đĩa, nón và ví da. Nguồn ảnh: FB của Vũ Kim Anh, chủ chợ “Phiên chợ xanh tử tế”  Vừa vào tới phòng hội thảo, chị Nguyễn Phi Vân, đã sà vào mua sản phẩm của tất cả các công ty được bày bán vì “không kiềm được lòng mình trước tính bản địa của chúng”. Nhưng điều đó vẫn chưa làm chị thỏa mãn, chị hỏi Ngô Chí Công, người sáng lập công ty Khởi minh thành công: “Chị muốn đến Đồng Tháp, muốn tự tay làm ra cái túi nhỏ (từ lá sen) như vậy trong vòng hai tiếng đồng hồ, xong em dẫn chị đi chơi một vòng qua mấy đầm sen, xong rồi em nói cho chị nghe về sen có được không?”  Chị Phi Vân cho rằng: “Bản địa không phải là sản phẩm, bản địa là trải nghiệm, là cái hồn, là cảm xúc.” Theo chị, trong trường hợp của Ngô Chí Công, việc để khách hàng thấy hoa sen được trồng ra sao, phơi ra sao, làm màu ra sao, được thử làm giống như người địa phương, mới gọi là bản địa.  Tính bản địa chỉ có ý nghĩa với những khách hàng ở xa muốn tò mò và khám phá cái mới. Điều đó dẫn đến việc các công ty cần phải hướng đến người tiêu dùng toàn cầu và việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, để mang sản phẩm đến với họ, “bao trọn” trải nghiệm của họ từ lúc nghĩ về sản phẩm, tìm thông tin về sản phẩm, đặt hàng, đóng gói và sử dụng nó. “Công nghệ cho chúng ta cơ hội để thử thách các cách làm truyền thống và cạnh tranh với các doanh nghiệp trên thế giới dù họ có bề dày kinh nghiệm nhiều hơn chúng ta” – chị Phi Vân nhấn mạnh.  Tuy nhiên, dù khai thác tính bản địa hay áp dụng công nghệ, điều quan trọng nhất mà các doanh nghiệp cần phải ưu tiên hàng đầu đó là hiểu rõ về khách hàng và phân khúc khách hàng của mình: Phục vụ cho khách hàng cao cấp hay bình dân? Cá nhân hóa sản phẩm cho phép khách hàng biết rõ và có thể lựa chọn chi tiết đến nguồn gốc tại vườn và dinh dưỡng có trong sản phẩm và nhận được sản phẩm nhanh nhất có thể; Kết nối và “len lỏi” vào lối sống của khách hàng như giám đốc công nghệ của Google có nói: “từ nay về sau, chúng tôi luôn muốn vào phòng ngủ của bạn”; Tạo ra những sản phẩm vừa đủ cho một người dùng để phù hợp với các hộ gia đình solo hoặc những cá nhân di chuyển liên tục – đây là xu hướng ngày càng tăng hiện nay.  Cũng giống như nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp từ những sản phẩm của địa phương, đa số các doanh nghiệp tham dự buổi hội thảo mới chỉ áp dụng công nghệ vào giai đoạn sản xuất để tăng chất lượng và sản lượng sản phẩm. Chẳng hạn như công ty Natural Oil sử dụng công nghệ ly tâm để chiết tách dầu dừa, hợp tác xã H’Mông Cát Cát đặt hàng máy chiết xuất tinh dầu từ Đại học Bách Khoa Hà Nội và công ty Khởi minh Thành công dùng công nghệ sấy của Pháp để sấy khô hoa và lá sen, lưu giữ chúng trong vòng nhiều tháng. Tuy nhiên, điểm đáng nói là các doanh nghiệp này vẫn chưa áp dụng công nghệ thông tin để tăng trải nghiệm bản địa hay cá nhân hóa nhu cầu của khách hàng, họ cũng chưa thực sự xác định được phân khúc khách hàng của mình là cao cấp hay phổ thông và chưa biết cách tiếp cận với người tiêu dùng ngoài nước.                  Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Bản đồ hiện trạng PM2.5  ở Việt Nam: Nỗ lực đầu tiên      Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2020 vừa qua đã nhấn mạnh việc lãnh đạo tỉnh/thành phố ban bố tình trạng khẩn cấp khi ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Nhưng, để làm được việc này trước hết phải đo được chính xác chất lượng không khí ở từng vùng và phải hiểu được từng nguyên nhân của ô nhiễm không khí đã.        Vào tháng 11 vừa qua, trên các phương tiện đại chúng đều rầm rộ đưa tin chất lượng không khí Hà Nội ở mức “báo động”. Trên trang của Berkely Earth – một tổ chức độc lập về khoa học dữ liệu môi trường của Mỹ, cho thấy, trung bình nồng độ PM2.5 của Hà Nội trong tháng trước ở mức “gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhóm dân cư nhạy cảm”.    Nồng độ PM2.5 là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá chất lượng không khí. PM2.5– những hạt bụi mang theo các chất thải từ nơi nó sinh ra, có kích thước nhỏ tới mức có thể dễ dàng chui vào các phế nang, máu…của con người. Theo một báo cáo gần đây1, Hà Nội có gần 3000 người tử vong sớm vì ô nhiễm bụi PM22.5 vào năm 2019. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số ghi nhận trong hệ thống quản lý tử vong hành chính của thủ đô. Con số thực tế có thể cao hơn nhiều.    Sau Hà Nội, các tác giả của báo cáo trên tiếp tục đi đến việc “vẽ” một bức tranh tổng quan hơn trên cả nước. Từ trước đến nay, các nghiên cứu liên quan đến PM2.5 ở Việt Nam chủ yếu phản ánh hiện trạng ở một vài khu vực riêng lẻ. Điều đó cũng dễ hiểu, các trạm quan trắc không khí tiêu chuẩn của nhà nước có nhiều hạn chế: nơi thì không có, nơi thì tập trung quá nhiều, có trạm hỏng nhưng chưa có kinh phí sửa chữa nên dữ liệu “phập phù” nhiều tháng trời. Còn trạm cảm biến giá thấp của tư nhân có độ chính xác thấp và chất lượng không đồng đều.    Vào ngày 1/12 vừa qua, Tia Sáng đã phối hợp với Live & Learn tổ chức hội thảo công bố Báo cáo Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 20202. Đây có thể coi là báo cáo đầu tiên cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện về mức độ ô nhiễm bụi PM2.5 trên toàn quốc, cụ thể đến từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.    Các tác giả đã xây dựng bản đồ dữ liệu về hiện trạng bụi PM2.5 dựa vào mô hình thống kê MEM – Mixed Effect Model, hay còn gọi là mô hình ảnh hưởng hỗn hợp. Dữ liệu huấn luyện mô hình này đến từ: các trạm quan trắc tiêu chuẩn mặt đất, bản đồ khí tượng, bản đồ sử dụng đất và dữ liệu vệ tinh (AOD). AOD – Aerosol Optical Depth (độ sâu quang học sol khí) là dữ liệu ghi lại từ vệ tinh nồng độ của các phân tử trong không khí ngăn cản ánh sáng Mặt trời. AOD sẽ gồm tất cả các loại khói, bụi từ nhà máy, các đám cháy, sương mù,… chứ không chỉ riêng PM2.5. Sau đó, mô hình sẽ “trả về” dữ liệu của từng diện tích 9km2 trên cả nước.          Nói một cách nôm na, dữ liệu của mô hình là một nỗ lực “chắp nhặt” ghép những mảnh dữ liệu từ tất cả những gì có thể liên quan đến PM2.5 tại Việt Nam và “dệt” những lỗ hổng dữ liệu trên thực tế. Do hạn chế từ dữ liệu đầu vào, dữ liệu mô hình này không thể tránh khỏi sai số, đặc biệt là ở những địa điểm không có trạm quan trắc.      Tuy vậy, dù “tấm vải” hiện trạng bụi PM2.5 toàn quốc  có mỏng và thưa, nó vẫn khá hoàn chỉnh. Để người đọc tham khảo và so sánh với dữ liệu mô hình, các tác giả còn thu thập cả dữ liệu của các trạm cảm biến giá thấp và trạm quan trắc của Đại sứ quán và Lãnh sự quán Mỹ tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, các tác giả cũng cố gắng lí giải một phần nguyên nhân đằng sau mức độ phân bố và nguồn thải bụi PM2.5 trên cả nước và ở các đô thị đặc biệt bao gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh dựa trên những báo cáo và tài liệu trước đó.    Đi kèm với báo cáo này là một trang web minh họa dữ liệu, do Tia Sáng thiết kế và xây dựng. Chúng tôi sử dụng công cụ minh họa đơn giản có sẵn kết hợp với việc thiết kế, sắp xếp nội dung tương tác trên web để thể hiện nhiều lớp lang thông tin nhất trên mỗi đồ thị. Bản thân báo cáo đã là một nỗ lực để đưa những ngôn ngữ khoa học đến đại chúng. Nhưng chúng tôi cố gắng tiến thêm một bước đơn giản hơn và có thể là hấp dẫn hơn để người xem khám phá ra những góc nhìn mới từ dữ liệu trong báo cáo.    Trang web được cấu trúc theo ba phần từ khái quát đến cụ thể: toàn quốc, ba miền và cuối cùng là đi sâu vào tình trạng của hai đô thị đặc biệt: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong mỗi phần này, chúng tôi cũng dẫn người xem từ “nhìn qua” đến “nhìn kĩ” các dữ liệu.    Nhìn vào bản đồ hiện trạng bụi PM2.5 toàn quốc tương tác, người xem có thể thấy ngay khu vực Đồng bằng sông Hồng có nồng độ bụi PM2.5 lớn nhất cả nước. Họ cũng có thể khám phá dữ liệu chi tiết hơn khi rê chuột vào từng tỉnh thành hoặc bấm nút để so sánh giữa hai năm 2019 và 2020.    Có điều, cách minh họa bằng bản đồ sẽ khiến nhiều người chưa đủ thỏa mãn bởi không thể thấy rõ mức giảm nồng độ PM2.5 khoảng 10% của mỗi tỉnh/thành phố vào năm 2020 so với năm 2019. Chúng tôi minh họa thêm dữ liệu về nồng độ PM2.5 trung bình năm của mỗi tỉnh/thành phố bằng “biểu đồ bong bóng” (bubble chart). Mỗi tỉnh/thành phố là một chấm tròn, kích thước của hình tròn biểu diễn quy mô dân số của tỉnh đó còn sắc độ và độ cao của hình tròn biểu thị nồng độ PM2.5. Người xem có thể thấy các chấm tròn năm 2019 “bay lên cao” hơn so với năm 2020.    Vào hai năm 2020 và 2019, không có tỉnh thành nào ở khu vực miền Trung có nồng độ bụi PM2.5 vượt quy chuẩn quốc gia QCVN 5:2013/BTNMT – là 25µg/m3. Tuy nhiên, quy chuẩn này vẫn cao gấp năm lần khuyến nghị của WHO năm 2021 – là 5µg/m3. Không có tỉnh nào của Việt Nam đạt được khuyến nghị này. Theo dữ liệu mô hình, Kon Tum và Đắk Nông là hai tỉnh có nồng độ PM2.5 nhỏ nhất của Việt Nam với nồng độ bụi trung bình năm 2020 là 11µg/m3.      Bên cạnh bản đồ về hiện trạng PM2.5 toàn quốc dựa trên dữ liệu mô hình MEM, chúng tôi còn “sưu tập” được bản đồ phát thải PM2.5 đến từ nghiên cứu độc lập của GS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh và TS. Lại Nguyễn Huy của Học viện Công nghệ Thái Lan. Trên bản đồ phát thải này, chúng tôi chồng lên một lớp dữ liệu về vị trí của các nhà máy xi măng, thép và nhiệt điện than trên cả nước. Số liệu về vị trí và số lượng nhà máy được lấy từ thống kê của Mạng lưới không khí sạch Việt Nam – VCAP. Người xem có thể thấy các nhà máy tập trung dày đặc ở khu vực Đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, điều thú vị (hay ngạc nhiên) là Quảng Ninh, nơi có nhiều nhà máy điện than nhất cả nước (tám nhà máy) và có ba nhà máy xi măng lại có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm thấp hơn QCVN 5:2013/BTNMT. Tỉnh này phát thải rất thấp so với các tỉnh lân cận, chỉ khoảng trên dưới 1.5 tấn PM2.5/km2/năm trong khi tỉnh giáp ranh là Hải Phòng phát thải gấp 3-4 lần như vậy (tỉnh này có 2 nhà máy nhiệt điện than, 7 nhà máy thép và 2 xi măng). Bắc Ninh tuy không có bất kì một nhà máy điện than, xi măng và thép nào nhưng có nồng độ bụi PM2.5 cao nhất toàn quốc và lượng phát thải PM2.5 cũng cao.       Điểm đặc biệt của báo cáo cũng như ở trang web này là tiếp cận đa nguồn. Nói cách khác, là soi chiếu hiện trạng bụi PM2.5 của Việt Nam dưới nhiều góc độ. Tuy nhiên, những dữ liệu trên nhiều điểm ở toàn quốc là ngoại suy, các con số về phát thải bụi PM2.5 chỉ sẵn có đến năm 2018 và báo cáo không thể để xác định nguồn gốc cụ thể ở thời điểm hiện tại, cũng như lí giải đường đi và ảnh hưởng của bụi PM2.5 từ khu vực này sang khu vực khác.        Hà Nội là thành phố xếp thứ 4/63 tỉnh thành về nồng độ bụi PM2.5 và có lượng phát thải PM2.5 ở mức lớn nhất cả nước, khoảng 7-10 tấn PM2.5/m2/năm. Các tỉnh phía Đông Hà Nội như Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc cũng là những nơi phát thải lớn ở mức cao 5-6 tấn PM2.5/m2/năm. Riêng Hà Nam có sáu nhà máy xi măng và Hưng Yên có ba nhà máy thép.    Ở Hà Nội, dễ thấy là khu vực ngoại thành có nồng độ bụi thấp hơn nội thành. Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt như huyện Gia Lâm và Thường Tín là hai khu vực ngoại thành có nồng độ PM2.5 vượt trên tất cả các quận nội thành khác, trừ Long Biên.      Theo bản đồ phát thải, thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát thải PM2.5 lớn nhất cả nước, cùng với Hà Nội. Tuy nhiên, theo dữ liệu mô hình, nồng độ PM2.5 trung bình năm ở thành phố này chỉ xếp thứ 11 cả nước và ở mức quy chuẩn toàn quốc. Bản thân thành phố Hồ Chí Minh có một nhà máy thép và ba nhà máy xi măng. Tiếp giáp với thành phố này cũng là Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu, hai nơi có nhiều nhà máy công nghiệp nặng. Khác với Hà Nội, các quận/huyện/thành phố ở thành phố Hồ Chí Minh có nồng độ PM2.5 khá đồng đều, chỉ loanh quanh ở mức 25µg/m3. Riêng chỉ có huyện Cần Giờ là thấp hẳn ở mức 21µg/m3.          Trên lớp bản đồ về nồng độ bụi, chúng tôi còn đặt thêm lớp dữ liệu trạm cảm biến chi phí thấp. Khi đặt hai lớp này lồng ghép vào nhau như vậy, chúng ta vừa thấy sự tương đồng của đa số các trạm với dữ liệu mô hình, nhưng đồng thời cũng thấy sự tin cậy thấp của các trạm này. Chúng chỉ đo được không gian hẹp xung quanh, nên có trường hợp có hai trạm đặt gần nhau ở thị xã Sơn Tây: một trạm đo được nồng độ PM2.5 rất “đẹp”, dưới quy chuẩn, còn số liệu ở trạm còn lại lại ở mức rất cao, gấp đôi quy chuẩn.    Những gì đã nói ở trên, chỉ là bước đi chập chững đầu tiên để thúc đẩy các cơ quan nhà nước đầu tư bài bản cho dữ liệu về chất lượng không khí ở Việt Nam.□     Độc giả có thể ghé thăm trang web của bản đồ ô nhiễm không khí với hai phiên bản tại đây:  https://tiasangmagazine.github.io/hien-trang-bui-pm2.5-viet-nam/ (bản của Tia Sáng)  https://khisachtroixanh.com/hien-trang-bui-pm2.5-viet-nam/ (bản chúng tôi thiết kế cho đối tác Live&Learn)  —  1 Báo cáo Tác động ô nhiễm không khí do bụi PM2.5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội năm 2019 của Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn), trường Đại học Y tế Công cộng, trường Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-UET) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), 2021  2 VNU-UET, Live&Learn & USAID Hoa Kỳ. Báo cáo Hiện trạng bụi PM2.5 tại Việt Nam giai đoạn 2019-2020    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Bản đồ ô nhiễm SO2 và NO2 ở Hà Nội      Để đ&#225;nh gi&#225; &#244; nhiễm kh&#244;ng kh&#237;, người ta thường căn cứ tr&#234;n 5 ti&#234;u ch&#237; bao gồm bụi c&#243; k&#237;ch thước b&#233; hơn 10 micron (PM10), kh&#237; SO2, NO2, CO v&#224; O3 (&#244; z&#244;n). Ở th&#224;nh phố, SO2 thường ph&#225;t thải từ c&#225;c l&#242; đốt than v&#224; dầu chứa lưu huỳnh (như xe bu&#253;t), NO2 v&#224; CO phần lớn do động cơ &#244; t&#244; xe m&#225;y ph&#225;t ra, O3 do phản ứng h&#243;a học trong kh&#237; quyển bởi kh&#237; thải từ xe cộ, PM10 li&#234;n quan đến rất nhiều nguồn ph&#225;t thải giao th&#244;ng, c&#244;ng nghiệp v&#224; sinh hoạt. Ở gần trục giao th&#244;ng, PM10 chứa nhiều bụi đất do xe cộ tốc l&#234;n từ mặt đường.    Năm chất ô nhiễm nói trên đều tác hại đến sức khỏe. Minh chứng là hơn bốn nghìn người dân Luân Đôn tử vong bởi khói mù do nghịch nhiệt kéo dài nhiều ngày liền mùa đông năm 1954.  So với nhiều nơi khác trong vùng và trên thế giới, Hà Nội thuộc loại thành phố ô nhiễm không khí “có hạng”. Trầm trọng nhất là bụi PM10, hàm lượng thường vượt tiêu chuẩn cho phép, nhất là khu vực gần các trục giao thông và những nơi hay bị kẹt xe. Các chất khí ô nhiễm khác cũng khá trầm trọng, trên một vài địa bàn có thể vượt tiêu chuẩn.   Để có giải pháp cho tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội, cần biết khi nào, và trên địa bàn nào không khí bị ô nhiễm nặng nhất, và ô nhiễm bởi chất gì?   Về câu hỏi khi nào, chúng tôi đã có dịp trình bày nhiều lần trước đây. Đại khái, mùa đông ô nhiễm cao hơn mùa hè, nặng nhất vào tháng XI-XII, ít nhất vào tháng VII-VIII. Giữa trưa trời nắng và những hôm gió mạnh, mưa nhiều, chính là lúc không khí ít bị ô nhiễm nhất. Trong mùa khô, ô nhiễm nặng thường bắt đầu vài ngày sau khi gió mùa đông bắc tràn về và kéo dài trong nhiều ngày liền cho đến khi gió thịnh hành chuyển sang hướng đông nam trước khi xuất hiện đợt gió mùa mới. Trong thời gian này, hiện tượng nghịch nhiệt xảy ra sau khi mặt trời lặn khiến ô nhiễm tăng cao từ chập tối đến khuya.   Để trả lời câu hỏi thứ hai (trên địa bàn nào) cần phải lập bản đồ ô nhiễm không khí. Việc này đã được Chương trình Không khí Sạch Việt Nam – Thụy sĩ (SVCAP) phối hợp với Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường Sở TNMT Hà Nội (CENMA) tiến hành trong hai chiến dịch quan trắc SO2, NO2 và benzene tại hơn 100 vị trí khác nhau thuộc tám quận nội thành vào mùa đông (12/01 – 06/02) và mùa hè (17/08 – 11/9) năm 2007. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có quy mô lớn, nhiều người tham gia, hàng trăm đầu dò theo nguyên tắc khí thụ động được chế tạo bởi PASSAM Thụy Sĩ và được chuyển trở lại nơi sản xuất sau khi phơi mẫu để phân tích.   Bản đồ ô nhiễm không khí được chính thức đưa vào “Báo Cáo Môi Trường Quốc Gia – Môi Trường Không Khí Đô Thị Việt Nam” do Bộ TNMT công bố tháng 6/2008. Ở đây xin đưa lại bản đồ thu được trong chiến dịch mùa hè. Vòng tròn nhỏ màu xanh lục đánh dấu vị trí các điểm quan trắc, hàm lượng khí ô nhiễm tính bằng micro gram trên mét khối không khí (μg/m-3). Bản đồ SO2 (do đốt than dầu chứa lưu huỳnh) bên trái, bản đồ NO2 (do xe cộ) bên phải. Để hình dung mức độ ô nhiễm, ta có thể căn cứ trên tiêu chuẩn tính trung bình cho cả năm là 40 μg/m-3 cho NO2 và 50 μg/m-3 cho SO2.                                      Bản đồ SO2                                                      Bản đồ NO2      Hai giản đồ dưới đây so sánh mức độ ô nhiễm giữa tám quận nội thành về mùa đông (bên trái) và mùa hè (bên phải). Khí thải giao thông NO2 nhiều ở những quận có mật độ dân số cao, dân cư sống chen chúc, nhất là quận Hoàn Kiếm, sau đó đến Hai Bà và Ba Đình. Thanh Xuân và Hai Bà có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ sử dụng than là hai quận dẫn đầu về ô nhiễm SO2 Tây Hồ là một trong hai quận ít ô nhiễm nhất. Quận Hoàng Mai cũng ít ô nhiễm vì dân cư còn thưa thớt, nhiều ao hồ và đất nông nghiệp.                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Bán kim loại Weyl và lỗ đen      Giải Nobel Vật lý 2016 đã tặng thưởng cho sự phát hiện các vật liệu topo-các pha lượng tử với những tính chất lạ (exotic) có liên quan đến sự phát triển những thiết bị điện tử và máy tính lượng tử.      Lĩnh vực phôi thai này đang phát triển mạnh mẽ, các nhà vật lý tiếp tục truy tìm những pha topo mới. Về mặt lý thuyết nhiều kết quả lại thu được từ một lĩnh vực ít ai ngờ đến: Lý thuyết dây (LTD) và lý thuyết các lỗ đen trong không thời gian 5 chiều (Karl Landsteiner, Yan Liu, and Ya-Wen Sun, [1] và [2]).  Làm thế nào mà những mô hình chúng ta sử dụng để mô tả hấp dẫn và vật lý các hạt ở năng lượng cao lại có thể giúp chúng ta nghiên cứu lối hành xử của các electron trong các vật liệu?  Câu trả lời nằm trong “tính phổ quát” của vật lý: thường là những chi tiết liên quan đến các thành phần vi mô của một hệ và những tương tác của chúng lại không quan trọng bằng những ràng buộc áp đặt bởi đối xứng và topo.  Nếu phương trình cơ bản của hai hệ vật lý cùng chia sẻ những tính chất đối xứng và topo nào đó, thì cách hành xử của hai hệ này sẽ như nhau bất kể chúng ta đang nói đến lỗ đen, quark ở năng lượng cao hay electron trong tinh thể.  Trong một số công trình gần đây các tác giả [1] và [2] đã phân tích tính chất của một vật liệu topo phát hiện gần đây: đó là bán kim loại (semimetal) Weyl.  Đối xứng và topo  Trong CHLT (cơ học lượng tử) hàm sóng là một số phức như vậy có trị số tuyệt đối (absolute value) và một “pha” (hay góc) và có thể biểu diễn bằng một mũi tên (độ dài mũi tên → trị số tuyệt đối còn góc làm với hoành độ → pha). Thay đổi pha của một trạng thái lượng tử là làm quay mũi tên một góc nhất định.  Hãy hình dung ta đang di chuyển một electron trong tinh thể theo một đường kín nào đó về vị trí ban đầu, có thể sau quá trình này ta đã thực hiện một hay nhiều vòng kín quanh gốc tọa độ. Trong trường hợp này ta nói rằng ta có một chỉ số topo (index topo): đó là số vòng quay của pha hàm sóng quanh gốc.  Trong một số kim loại hàm sóng mô tả các giả hạt (quasiparticles – những kích thích tập thể của electron) sẽ được đặc trưng bởi những chỉ số topo.  Các fermion Weyl trong vật lý các hạt cơ bản              Fermion Weyl là những fermion không khối lượng có tính chiral – nghĩa là phân biệt hạt trái và hạt phải, các hạt fermion này đóng vai trò quan trọng trong vật lý các hạt cơ bản.  Bán kim loại Weyl  Trong bán kim loại Weyl hai giải (band) phổ chạm nhau 2 điểm là các fermion Weyl trái và phải (xem hình 1A và 1B). Thông thường các giải đó cách nhau một bước nhảy (gap-xem hình 1C).    Hình 1. Các giải phổ trong bán kim loại Weyl và kim loại thông thường.  Trong bán kim loại Weyl, ta có các giả hạt (quasiparticles) phân chia thành hai loại: trái và phải (“right-handed” or “left-handed”).  Những hạt này đã được Weyl (một nhà toán học Đức) nghiên cứu cách đây 90 năm nên chúng được gọi là hạt Weyl. Các hạt như electron hay quark không thuộc về loại hạt Weyl song chúng có thể được tích hợp nhờ hai hạt Weyl trái và phải.  Như vậy trong một lý thuyết chứa hạt Weyl chúng ta phải có hai đối xứng: các phép biến đổi pha của hạt trái và các phép biến đổi pha của hạt phải. Trong vật lý tính đối xứng liên quan đến định luật bảo toàn, ở đây đại lượng được bảo toàn là số fermion Weyl của mỗi loại.  Các dị thường  Song khi có sự xuất hiện của điện trường hay từ trường (làm mất đối xứng) thì có thể hạt Weyl trái biến mất còn hạt Weyl phải xuất hiện từ chân không. Sự vi phạm đối xứng đó là một hệ quả của lượng tử được gọi là một dị thường “anomaly”. Dị thường cũng có thể xuất hiện khi có mặt hấp dẫn, lúc này dị thường có tên là dị thường hấp dẫn (gravitational anomaly).  Holography  Đối ngẫu Maldacena đã cho phép thiết lập mối liên hệ giữa các hệ lượng tử (CFT) với vật lý hấp dẫn trong một không gian nhiều chiều hơn (AdS). Lối tiếp cận này đã được các tác giả [1] và [2] khai thác để khảo cứu các tính chất của bán kim loại Weyl, một vật liệu topo với những kích thích electron có hành xử của fermion Weyl, một loại hạt quan trọng trong vật lý lý thuyết.  Các tính chất toán học của lỗ đen trong một không gian d+1 chiều có thể “chiếu xuống” một không gian d chiều (xem hình 2). Động học của hấp dẫn trong d+1 chiều sẽ xác định các tính chất của những hệ lượng tử trong d chiều.       Hình 2. Từ lỗ đen đến các vật liệu topo.  Các nhà vật lý có một phương tiện để nghiên cứu các tính chất đó nhờ các tính chất toán học của một lỗ đen trong không thời gian 5-chiều vì vấn đề sau lại là một vấn đề dễ nghiên cứu hơn.  Đó là nhờ đối ngẫu AdS/ CFT phát hiện trong LTD bởi Maldacena (Viện các nghiên cứu tiên tiến, Princeton) cuối những năm 1990.  Theo đối ngẫu này một hệ lượng tử 4-chiều chấp nhận một cách mô tả đối ngẫu trong LTD 5-chiều (một chiều nhiều hơn). Vì sao cách mô tả đối ngẫu này liên quan đến lỗ đen, lý do là LTD là một lý thuyết của hấp dẫn lượng tử mà lỗ đen lại là đối tượng có cấu hình trường hấp dẫn tương đối đơn giản.  Đối ngẫu toán học này giữa lượng tử và hấp dẫn được gọi là đối ngẫu toàn ảnh (holographic) vì tương tự như hologram bình thường 2 chiều chứa mọi thông tin của một vật thể 3 chiêu (một chiều nhiều hơn).  Độ nhớt lượng tử  Khi khuấy chất lỏng lượng tử (màu xanh trên hình 3) theo chiều này hay chiều khác (mũi tên màu vàng), ngoài độ nhớt thông thường (màu đen) chúng ta sẽ có độ nhớt Hall (màu đỏ). Điều này có thể xảy ra nếu các fermion Weyl tương tác với hấp dẫn theo một cách nào đó.    Hình 3. Độ nhớt Hall (các mũi tên màu đỏ).  Phép đối ngẫu holographic cho phép chúng ta truy nhập được các thông tin về những tính chất của bán kim loại Weyl. Một thông số quan trọng để mô tả cách hành xử của những electron trong chất rắn là độ nhớt. Trong chất lỏng bình thường chúng ta có thể trải nghiệm hiện tượng này thường nhật: khi ta dùng một thìa để khuấy một tách cà phê điều này sẽ làm quay toàn chất cà phê trong tách chứ không riêng phần tiếp xúc với cái thìa. Điều này xảy ra vì giữa các phần của cà phê có ma sát: đấy là nguyên do của độ nhớt.  Điều gì xảy ra khi ta nếu chất lỏng trong tách nằm trong một trạng thái lượng tử topo?  Các tác giả [1] và [2] gợi ý rằng vấn đề này có thể giải quyết nếu sử dụng các phương pháp của LTD vì chúng ta đã có một kết quả tiền lệ về độ nhớt của một trạng thái lạ khác của vật chất: plasma của quark và gluon (kết quả thực nghiệm đã thu được tại LHC (Large Hadron Collider (LHC), CERN) xem các công trình của KSS (Pavel Kovtun, Đàm Thanh Sơn và Andrei Starinets) [3].  Những phương trình trong đối ngẫu holographic cho phép chúng ta mô tả các lỗ đen trong 5 – chiều với cùng những tính chất đối xứng và topo giống như của các electron trong bán kim loại Weyl. Trong mối tương ứng đó nhiệt độ lỗ đen xác định → nhiệt độ của tinh thể còn sự chuyển động trong chiều thứ năm lại tương ứng với biến đổi năng lượng của hệ lượng tử.  Trong công trình công bố trên Physical Review Letters, các tác giả [1] và [2] đã nghiên cứu lối hành xử của một hệ hấp dẫn và từ đó chứng minh được sự xuất hiện nhiều pha trong một hệ lượng tử.  Dưới một số điều kiện các vật liệu có lối hành xử giống như một bán kim loại với những kích thích loại Weyl, còn trong những điều kiện khác thì các vật liệu đó lại giống kim loại  hoặc cách điện bình thường. Các tác giả [1] và [2] đã tìm thấy một trạng thái mới khi các electron bắt đầu phát triển một cách hành xử đặc thù của Weyl. Trạng thái này nằm ở ranh giới giữa bán kim loại Weyl và kim loại thông thường.  Sau đó họ có thể tính độ nhớt khi có chuyển pha trạng thái sang bán kim loại Weyl (công bố trên PRL). Một kết quả bất ngờ là sự xuất hiện ngoài độ nhớt bình thường của chất lỏng một thành phần lạ được gọi là “độ nhớt Hall”.  Khi ta khuấy một tách với chất lỏng đó, chúng ta sẽ thấy rằng chất lỏng không những quay tròn mà còn có một chuyển động theo hướng thẳng góc với hướng chuyển động của cái thìa!  Khi ta khuấy một “chất lỏng cà phê lượng tử” ví dụ theo chiều kim đồng hồ ta sẽ thấy thành cốc chịu một áp suất bởi vì chất lỏng có một chuyển động hướng ra ngoài. Nếu khuấy theo chiều ngược lại thì áp suất sẽ hướng vào phía trong.  Ảnh hưởng từ hấp dẫn  Song điều lý thú hơn cả là khi ta có dị thường hấp dẫn. Trong trường hợp này khi đo đạc độ nhớt chúng ta sẽ phát hiện được ảnh hưởng của hấp dẫn lên các kích thích Weyl!  Và đúng như vậy các tác giả Karl Landsteiner, Yan Liu, and Ya-Wen Sun, [1] và [2] công bố trên Nature tháng 7/2017) đã chứng minh bằng thực nghiệm hệ quả dị thường hấp dẫn đối với các fermion Weyl của một chất liệu topo: đó là hệ quả dị thường hấp dẫn lên vận chuyển nhiệt của các electron (thermal transport of the electrons). Mối liên hệ giữa dị thường hấp dẫn và vận chuyển nhiệt đã thu được nhờ đối ngẫu holographic.  ———–                                                                TÀI LIỆU THAM KHẢO                [1] String theory as a tool to investigate topological states of matter, Karl Landsteiner, Investigación y Ciencia, September 2017).  Xin cám ơn GS Đàm Thanh Sơn đã gửi bản dịch tiếng Anh.    [2] Quantum phase transition between a topological and a trivial semimetal from holography Karl Landsteiner, * Yan Liu, y and Ya-Wen Sunz.  Instituto de F´ısica Te´orica UAM/CSIC, C/ Nicol´as Cabrera 13-15,  Universidad Aut´onoma de Madrid, Cantoblanco, 28049 Madrid, Spain  arXiv:1511.05505v3 [hep-th] 5 Apr 2016.  [3] Viscosity, Black Holes, and Quantum Field Theory, Dam T. Son  Institute for Nuclear Theory, University of Washington, Seattle, Washington 98195-1550, USA &Andrei O. Starinets, Perimeter Institute for Theoretical Physics, Waterloo, Ontario N2L 2Y5, Canada.  arXiv:0704.0240v2 [hep-th] 11 Jul 2007     Author                Cao Chi        
__label__tiasang Bắn phá thiên thạch cứu trái đất      Kế hoạch phóng một vật vào một khối thiên thạch để tìm hiểu xem thiên thạch được cấu tạo bằng những chất gì và liệu có thể làm chệch quĩ đạo bay của thiên thạch đang hướng tới trái đất sang một quĩ đạo an toàn hơn đang được các nhà thiên văn Châu Âu chuẩn bị.      Hai thiên thạch sẽ là mục tiêu thử nghiệm của dự án có tên Don Quijote này. Khi vật được phóng từ trái đất lên vũ trụ đâm vào thiên thạch, các phi thuyền không gian ở những cự ly an toàn sẽ quay hình gửi về trái đất phục vụ các nghiên cứu.  Sở dĩ người ta phải làm điều này vì trong vũ trụ có rất nhiều thiên thạch có các quĩ đạo bay cắt ngang trái đất và trong quá khứ đã có những vụ thiên thạch đâm vào trái đất đã gây những thiệt hại lớn, thậm chí đã làm cả loài khủng long tuyệt chủng cách đây khoảng 65 triệu năm. Cách đây vài tháng, NASA đã thực hiện việc đâm hơn 300 kg kim loại vào một sao chổi và một phi thuyền không gian gần đó đã ghi lại hình toàn bộ diễn biến của sự va chạm đó. Không chỉ có Mỹ và Châu Âu quan tâm tới thiên thạch, một vệ tinh của Nhật có tên Hayabusa hiện đang bay quanh quĩ đạo của thiên thạch Itokawa và sẽ mang mẫu vật về trái đất vào năm 2007.   (BBC và The Register)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản phim siêu dẫn      Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu thành công một loại phim cực mỏng, có thể được chèn vào giữa một thiết bị siêu dẫn.     Nhà vật lý học Ivan Bozovic thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven cho biết loại phim này có khả năng chịu nhiệt khá cao, với độ dày mỏng hơn 1 nanometer (bằng một phần tỉ của mét). Không giống như các loại dây dẫn điện khác, phim siêu dẫn không hề cản trở sự lưu thông của dòng điện và do đó tránh tình trạng quá nóng thường xảy ra ở các dây dẫn thông thường. Đây là một phát hiện có thể dẫn đến việc cho ra đời dòng thiết bị điện tử xử lý nhanh nhạy mà lại tiết kiệm năng lượng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản sử thi vĩ đại của Vũ trụ      Vũ trụ của chúng ta có một lịch sử, và lịch sử này liên quan chặt chẽ với chúng ta bởi vì nó kéo dài đến tận ngày nay. Sử thi của vũ trụ cũng là sử thi của chúng ta. Các tiến bộ khoa học của thế kỷ trước đã làm thay đổi một cách căn bản quan niệm về nguồn gốc của chúng ta. Ngày nay chúng ta có trong tay một bức bích họa khổng lồ về lịch sử, mãi mãi tráng lệ và không ngừng mê hoặc. Chưa bao giờ lịch sử về nguồn gốc của chúng ta lại trải trên một thời gian dài đến thế- khoảng 14 tỉ năm- và cũng chưa bao giờ trong một không gian rộng lớn đến thế- bán kính của vũ trụ quan sát được khoảng 14 tỉ năm ánh sáng.    Chưa bao giờ lịch sử này lại chân thực đến thế, bởi vì tất cả những môn khoa học, từ vật lý thiên văn đến sinh học thần kinh, từ vật lý đến hóa học, qua nhân chủng học, động vật học và địa chất học, đều không ngừng chạy đua tìm cách xây dựng nó và hoàn thiện nó. Vũ trụ không còn vĩnh hằng và bất biến nữa. Ngày hôm nay chúng ta biết rằng nó được sinh ra trong một vụ nổ kinh hoàng có tên là Big Bang. Nó đã sinh ra hàng trăm tỉ thiên hà, mỗi thiên hà chứa hàng trăm tỉ mặt trời. Và tại một trong các thiên hà này, gọi là dải Ngân hà, bên cạnh một ngôi sao, có tên là Mặt trời, con người- được tạo thành từ các hạt bụi của các vì sao- đã xuất hiện, có khả năng tự vấn về vũ trụ đã sinh ra mình.  Cuốn sách NGUỒN GỐC nỗi hoài niệm về những thuở ban đầu có mục đích kể lại bằng một ngôn ngữ giản dị và trong sáng bản sử thi vĩ đại đó. Nó cũng muốn là tấm gương trung thực, phản ánh câu chuyện thống nhất vĩ đại của tất cả các khoa học. Cuốn sách cũng nhằm giải thích nhiều biến cố, nhiều vấn đề chưa có hướng giải quyết, vô số ngõ cụt và vô vàn những vấn đề được lật đi lật lại của câu chuyện, không bao giờ buồn tẻ và luôn giàu chất thơ, về lịch sử các nguồn gốc của chúng ta. Cuốn sách cũng mong muốn phản ánh sự vô thường miên viễn, những thay đổi liên tục và sự tiến hóa không ngừng làm nên đặc tính của Vũ trụ, và lòng cảm phục sức sáng tạo, sự luôn luôn đổi mới của Vũ trụ.                  Lịch sử về những nguồn gốc của chúng ta được trình bày qua 7 chương. Chương I kể lại con người đã hình dung nguồn gốc của thế giới như thế nào qua các thời kỳ và các nền văn hóa, để đi đến lý thuyết Big Bang. Chương này cũng mô tả quá trình tạo ra món súp đầu tiên của Vũ trụ gồm các hạt cơ bản- những viên gạch của vật chất- xuất phát từ một chân không chứa đầy năng lượng như thế nào và bằng cách nào các hạt nhân hydro và hêli đầu tiên đã xuất hiện ở phút thứ ba. Nhưng, do sự giãn nở của Vũ trụ, những nguyên tử nặng cần thiết cho sự sống và ý thức đã không thể hình thành được trong Vũ trụ nguyên thủy. Để thoát khỏi sự cằn cỗi vô sinh, nó đã sáng tạo ra các thiên hà và các vì sao, lịch sử huy hoàng của quá trình đó được kể lại trong các Chương II và III.  Các thiên hà, tập hợp hàng trăm tỉ ngôi sao, các khí và bụi được gắn kết bởi lực hấp dẫn, được bao quanh bởi những quầng có khối lượng lớn tạo thành từ vật chất tối mà bản chất của chúng chúng ta còn hoàn toàn chưa biết đó là những hệ sinh thái khổng lồ cho phép các đám mây hydro và hêli khởi nguồn từ Big Bang thoát khỏi quá trình lạnh đi liên tục do sự giãn nở của vũ trụ gây ra và co lại dưới tác động của lực hấp dẫn để tạo thành các vì sao. Những ngôi sao này lại tiếp tục đóng một vai trò cơ bản trong sự tiến hóa của vũ trụ. Chính chúng, nhờ lò phản ứng hạt nhân tuyệt diệu của mình, đã tạo ra các nguyên tố hóa học cần thiết cho sự sống. Các sao siêu mới, những cơn hấp hối bùng nổ của các ngôi sao nặng, đã gieo vào không gian trong các thiên hà các nguyên tố nặng, từ đó nảy mầm các thế hệ tương lai của các sao và các hành tinh. Sự sáng tạo ra các hành tinh, được mô tả trong Chương IV, là giai đoạn cốt yếu tiếp sau. Một số trong các hành tinh đó có khả năng cung cấp môi trường thuận lợi cho sự sống- một bề mặt cứng, các đại dương nước lỏng và một khí quyển có khả năng bảo vệ- tất cả những thứ mà sự sống cần có để phát triển. Và tại một trong số những hành tinh quay xung quanh một ngôi sao được gọi là Mặt trời, ngôi sao ở gần ngoại vi của một thiên hà có tên Ngân hà, sự sống đã xuất hiện. Bước chuyển phi thường từ cái vô sinh sang cái hữu sinh này sẽ được kể lại trong Chương V, từ khi một phân tử acid kỳ lạ có hình xoắn kép bước lên sân khấu cách đây 4 tỉ năm biết sinh sản bằng cách tự phân chia, cho tới trò chơi đột biến gien và chọn lọc tự nhiên, tạo ra sự đa dạng kỳ diệu của các sinh vật sống trên Trái đất. Chương VI mô tả một giai đoạn cơ bản khác trong lịch sử tiến hóa của Vũ trụ, đó là sự phát triển của não bộ con người và sự xuất hiện ý thức và tư duy trừu tượng từ khi sáng chế ra công cụ lao động đầu tiên, cách đây 2,5 triệu năm, cho tới những bước chân đầu tiên của con người lên Mặt trăng, năm 1969. Nhưng trí tuệ và ý thức như con dao hai lưỡi. Con người không chỉ có thể vượt qua lực hút của Trái đất để đi chinh phục không gian, không chỉ bắt đầu tìm kiếm những trí tuệ bên ngoài Trái đất, mà con người còn có khả năng trở thành một mối đe dọa đối với chính mình, đối với hành tinh của mình và đối với tất cả các loài sinh vật. Chương VII mô tả những vết thương mà con người đang gây ra cho hệ sinh thái của mình và tương lai u ám đang chờ đợi chúng ta nếu chúng ta không lấy cảm hứng từ bức tranh vũ trụ lộng lẫy được mô tả ở đây để phát triển trong bản thân mỗi chúng ta mối quan hệ phụ thuộc với người khác, tình cảm vị tha và tinh thần trách nhiệm toàn nhân loại.   Tác phẩm này cũng muốn trở thành cuốn sách mà người ta lật giở vì vẻ đẹp của các hình ảnh trong đó. Nó có tham vọng làm độc giả phải sửng sốt trước vẻ đẹp của thế giới, một vẻ đẹp giúp chúng ta khuây khỏa và đôi khi cứu rỗi chúng ta. Ai trong số chúng ta chưa từng bị choáng ngợp trước vẻ lộng lẫy của cảnh hoàng hôn, trước vẻ đường bệ của những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng hay trước sự tinh tế của những đường cong tuyệt mỹ của một thân hình thiếu nữ? Thế giới của tự nhiên và sinh vật luôn làm phong phú trí tưởng tượng của con người. Tuy nhiên, con mắt của chúng ta không thể tiếp cận được mọi vẻ đẹp của thế giới, bởi lẽ con người nằm ở giữa hai cái vô cùng. Cho tới nay, chúng ta vẫn hoàn toàn chưa tiếp cận được những cái vô cùng lớn và vô cùng bé. Ngày nay sự phát triển của các kính thiên văn và kính hiển vi mạnh hơn và hoàn thiện hơn đã cho phép chúng ta tiếp cận được những vẻ đẹp bị che giấu này, tiếp cận được những khía cạnh khác mà trước kia đã từng bị che giấu của thế giới. Đặc biệt, kính thiên văn không gian Hubble, được trang bị một gương có đường kính tới 2,4m, đặt trên quỹ đạo cách Trái đất 600km, quay một vòng quanh Trái đất mất 97 phút với vận tốc 29.000km/h, không ngừng truyền về cho chúng ta những hình ảnh vừa lung linh vừa giàu thông tin khoa học. Những thông tin này, mà một số sẽ được giới thiệu ở đây, có độ chính xác đáng kinh ngạc, vì Hubble ở bên trên bầu khí quyển Trái đất, nên ánh sáng vũ trụ mà nó thu được không chịu những biến dạng do những chuyển động của các nguyên tử khí trong khí quyển gây ra.  Như vậy, cuốn sách này nhằm mở ra cho độc giả những cánh cửa bước vào thế giới vô cùng lớn- các thiên hà xa xôi, các tinh vân sặc sỡ và cả thế giới vô cùng nhỏ- các tế bào sống, các mạng nơron, chuỗi xoắn kép ADN- và tiết lộ cho độc giả những khía cạnh mới về vẻ đẹp tráng lệ của thế giới trước kia bị che giấu. Và sự mở rộng thế giới quan đến những lĩnh vực trước kia không tiếp cận được, chắc chắn sẽ làm thay đổi sâu sắc tâm lý con người và bắt nguồn cho các đột khởi sáng tạo.  Trịnh Xuân Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bản thân Chúng ta và các Tương tác của Chúng ta:  Vấn đề Vật lý Cuối cùng?      Với tài khoản trợ 3,6 triệu € từ Ủy Ban châu Âu, Holyst, nhà vật lý lý thuyết từ Đại học Kỹ Thuật Warsaw và tám cộng tác viên nhắm tới việc phát triển một chương trình máy tính có thể phân tích đối thoại từ các phòng chat Internet.    Holyst là một trong số ít nhưng ngày càng tăng các nhà vật lý học, những người chuyển từ các nguyên tử và điện tử sang nghiên cứu các hiện tượng xã hội như chủ nghĩa khủng bố, sự gia tăng của các thành phố, và tính đại chúng của các video Internet.  Hệ thống phức tạp  Kết giao với các nhà khoa học xã hội, họ coi các nhóm người như “các hệ thống xã hội-kinh tế phức tạp” của nhiều cá nhân tương tác với nhau và phân tích họ bằng cách dùng các công cụ khái niệm vay mượn từ vật lý học, toán học và khoa học máy tính. Vừa qua, 130 nhà nghiên cứu thuộc các đội khác nhau đã tụ tập tại đây để thảo luận những công việc như vậy.*   Các cuộc đột nhập vào “sociophysics-vật lý học xã hội” bắt đầu vào đầu các năm 1970. Các nhà vật lý học đã đề xuất, chẳng hạn, rằng các cá nhân tương tác để hình thành dư luận như các nguyên tử lân cận tạo thành một nam châm tinh thể bằng xếp cùng hàng từ trường của chúng; các nhà nghiên cứu đã phân tích hiện tượng xã hội bằng phỏng theo mô hình Ising được dùng để mô tả các tương tác từ tính như vậy. Trong các năm 1990, nhiều nhà vật lý học chuyển sang kinh tế học trong một lĩnh vực còn có thể gây tranh cãi của econophysics (vật lý học kinh tế). Bây giờ, phong trào có vẻ lấy được đà, khi các nhà nghiên cứu các hệ thống phức tạp đã có các đóng góp vững chắc trong nghiên cứu về giao thông, dịch tễ học, và kinh tế học. Một số hiện nay đang giải quyết các vấn đề gây nản chí hơn, như sự nổi lên của các chuẩn mực xã hội.   “Các vấn đề là phức tạp hơn mức hầu hết các nhà khoa học tự nhiên cho là, nhưng ít vô vọng hơn mức hầu hết các nhà khoa học xã hội nghĩ,” Dirk Helbing, một nhà vật lý-chuyển thành-nhà xã hội học tại Học Viện Công nghệ Zürich (ETHZ) Liên bang Thụy Sĩ nói. Đơn giản hóa quá là một rủi ro. “Trong một số lĩnh vực, các nhà vật lý đã mang tiếng xấu vì áp dụng mô hình Ising trực tiếp” cho các trường hợp mà nó có thể không khớp với các sự thực, Stephen Eubank nói, ông là nhà vật lý tại Virginia Polytechnic Institute and State University (Virginia Tech) ở Blacksburg người mô hình hóa các bệnh dịch.    Tuy nhiên, các nhà vật lý và các nhà khoa học xã hội làm việc cùng nhau về các mô hình ngày càng có sắc thái và thực tế, Helbing nói. Cách tiếp cận hệ thống phức tạp có thể giúp ngăn ngừa – hay chí ít giải thích – các khủng hoảng có tính hệ thống như sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện thời, ông nói. “Chúng ta tiêu hàng tỷ dollar để tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ,” Helbing nói, “trong khi chúng ta vẫn chưa hiểu các điều kiện cho một xã hội ổn định, một nền kinh tế hoạt động, hay hòa bình.”  Các nhà khoa học không thể nói chính xác một hệ thống phức tạp là cái gì theo cùng cách họ có thể định nghĩa một nguyên tử hay một gene.   Trước hết, một hệ thống phức tạp gồm nhiều yếu tố tương tác mạnh đến mức chúng có khuynh hướng tổ chức chính mình theo cách này hay cách khác. “Ứng xử hợp trội” này làm cho nhóm là nhiều hơn tổng các thành phần của nó. Một xe hơi có thể là phức tạp (complicated), nhưng nó không là một hệ thống phức tạp (complex system), vì mỗi phần của nó tương tác với vài phần khác theo cách có thể tiên đoán được. Nhưng những chiếc xe trong giao thông lại tạo thành một hệ thống phức tạp, vì việc lái xe lách lấy chỗ có thể dẫn tới những ngạc nhiên như các vụ tắc nghẽn “ma” mà nảy sinh chẳng vì lý do hiển nhiên nào; Các hệ thống phức tạp cũng có khuynh hướng trở nên khó tính. Một sự thay đổi chút xíu giữa các bộ phận có thể dẫn đến một sự thay đổi lớn trong ứng xử của toàn hệ thống – như, vào ngày 4-11-2006, khi sự đứt của một dây cáp điện duy nhất ở bắc nước Đức đã gây ra các sự cố mất điện khu vực lan xa ra đến tận Bồ Đào Nha.   Các hệ thống thường khó kiểm soát và có thể trở nên không thể “chỉnh” được cho ứng xử tối ưu. Đồng thời, lại “có rất nhiều cách để cho một hệ thống phức tạp bị hỏng mà là không thể để chuẩn bị cho tất cả các trường hợp đó,” Eubank nói.   Một số thành quả của nghiên cứu các hệ thống phức tạp  Suốt thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu các hệ thống phức tạp đã đạt một số tiến bộ đáng chú ý. Thí dụ như tắc nghẽn giao thông. Đối với một nhà vật lý, giao thông giống một chất lỏng chảy qua một cái ống. Tuy vậy, có những khác biệt quan trọng. Bởi vì các nguyên tử trong một chất lỏng chèn lên nhau, một chất lọc thường tăng tốc khi chảy qua một chỗ thắt. Các lái xe tránh va chạm bằng mọi giá, cho nên khi xa lộ thu hẹp, giao thông chắc chắn chậm lại. Để thâu tóm tinh chất của giao thông, các nhà khoa học phải tính đến “các lực” giữa các xe – thực tế, là các phản ứng của các lái xe với nhau. Trong các năm 1990, các nhà vật lý và những người khác đã phát triển các mô hình toán học làm điều đó và có thể mô phỏng chính xác sự đi lại trên xa lộ và trong thành phố, và các mô hình đó bây giờ được cấy vào các phần mềm thương mại được các nhà quy hoạch đô thị và những người khác dùng. Các nhà nghiên cứu cũng có thể giải thích các hiệu ứng gây ngạc nhiên, như những người đi bộ đi qua một hành lang như thế nào một cách tự phát từ hai làn đối diện nhau và làm sao việc đặt một chướng ngại trong đường đi của họ lại có thể thực sự đẩy nhanh lưu lượng.     Dịch tễ học. Năm 2001, Vespignani và các cộng sự đã chỉ ra rằng trong các loại nhất định của các mạng được kết nối cao, được gọi là các mạng “scale-free,” là không thể để chặn sự lan truyền của một bệnh dịch không quan trọng là bao nhiêu người được tiêm chủng. Ngược lại, năm 2003, Shlomo Havlin, một nhà vật lý tại Đại học Bar-Ilan ở Ramat Gan, Israel, và các cộng sự lại tìm ra một chiến lược đơn giản cho việc tiêm chủng chống lại một bệnh dịch tấn công các cá nhân được chọn một cách ngẫu nhiên. Đi thêm một bước và chọn một cách ngẫu nhiên các bạn được chọn của các cá nhân đó, các quan chức y tế có thể, về trung bình, tiêm chủng những người có các mối liên hệ xã hội nhiều hơn mà qua chúng [các mối quan hệ ấy] bệnh dịch lan truyền.   Một số công trình là kịp thời – thậm chí khẩn cấp. Tại hội thảo, Vespignani đã trình bày một mô hình chi tiết về sự lan truyền của cúm heo, H1N1, mô hình bao gồm mạng của tất cả các đường hàng không của thế giới và các bản đồ quá cảnh chi tiết của các vùng đô thị trung tâm chính. Đầu vào (input) như vậy cho phép các nhà nghiên cứu tiên đoán không chỉ sự lan khắp của một bệnh mà cả đường địa lý của sự lan truyền của nó, Vespignani nói. Các kết quả sơ bộ của ông gợi ý rằng 30% đến 60% người Úc có thể bị cúm H1N1 vào tháng Mười. Các nỗ lực như vậy đang tìm cách vào dịch tễ học dòng chủ lưu. Công trình của Vespignani được U.S. National Institutes of Health tài trợ, cũng như việc mô hình hóa của Eubank, và các quan chức liên bang đã tìm đầu vào của các nhà lập mô hình cho các vấn đề như sự lan truyền của H1N1. “Một số này là một nỗ lực đang tiếp diễn của những người cấp trung nhằm thuyết phục những người cấp cao hơn để cho khoa học đóng một vai trò nhiều hơn” trong ứng xử đối với các bệnh dịch, Eubank nói.    Các khoa học xã hội nghiêm khắc   Giao thông và các bệnh dịch có thể nhìn giống như các vấn đề vật lý, nhưng các nhà nghiên cứu cũng xử trí các vấn đề có vẻ thuần túy xã hội. Để thăm dò sự nổi lên của các chuẩn mực xã hội – các quy tắc bất thành văn mà (chẳng hạn) ngăn chúng ta đừng nói, hỏi những người khác kiếm được bao nhiêu (tiền) – một số người đang chuyển sang các mô phỏng máy tính của lý thuyết trò chơi tiến hóa, trong đó vô số các đấu thủ tham gia vào các cuộc thi logic. Trong một bố trí cổ điển, những người lân cận trong một lưới đối mặt với “thế khó xử của các phạm nhân’”: Cả hai được tưởng thưởng nếu họ hợp tác với nhau, và cả hai đều bị phạt nếu họ phản bội nhau, hay “đào ngũ.” Nhưng mỗi người lại hưởng phần thưởng lớn hơn do là kẻ đào ngũ duy nhất và một hình phạt nặng hơn cho việc là người hợp tác đơn độc. Logic tình thế đẩy cả hai đào ngũ.   Để khiến trò chơi trở nên lý thú hơn, tuy vậy, các chiến lược của những người chơi có thể tiến hóa. Những người chơi có thể bắt chước người bên cạnh thành công nhất, hay họ có thể đến gần hơn những người chơi thành công hơn. Trong cả hai trường hợp, những kẻ đào ngũ áp đảo sân chơi, Helbing thấy. Nhưng việc bắt chước và sự di trú cùng nhau dẫn đến sự gia tăng của các cụm những người hợp tác.    Hấp dẫn hơn, Helbing đã đưa hai quần thể đấu thủ chơi cùng trò chơi với các sơ đồ thưởng khác nhau và, như thế, các chiến lược áp đảo khác nhau. Tuy vậy, các tương tác có thể khiến các đấu thủ từ một nhóm làm theo chiến lược của nhóm kia. Điều đó giống sự nổi lên của một chuẩn mực, Helbing nói, như các tương tác khiến các đấu thủ thay đổi ứng xử của mình. Kết quả có thể có vẻ còn xa sự cấm việc ngoáy mũi, nhưng các chuẩn mực thường là tùy ý, Helbing lưu ý, “và vì lý do đó chúng tôi nghĩ là được để trừu tượng hóa chúng khỏi nội dung.”   Các nhà nghiên cứu khác phân tích các chuyển động lịch sử. Châu Âu trong thời Trung Cổ bao gồm các vương quốc, mỗi vương quốc được cai trị bởi một hệ thống thứ bậc của các chúa tể những người thu thuế từ những người dưới mình và nộp [một phần] cho những người ở trên. Hệ thống đó của việc cai trị gián tiếp dần dần nhường đường cho cách trong đó các vua cai trị các đất nước của mình một cách trực tiếp, và Lars-Erik Cederman, một nhà khoa học chính trị ở ETHZ, đã mô hình quá trình đó.   Cederman miêu tả mỗi chúa tể bằng một đốm trên một bản đồ và một nút trong một mạng giống gốc cây mà có thể sắp xếp lại để chuyển tiền lên phía trên hiệu quả nhất. Sự cai trị gián tiếp không hề nảy sinh, Cederman thấy, nếu sức mạnh của một chúa tể bắt đầu tàn ở ngưỡng cửa thái ấp. Nhưng nếu ảnh hưởng của chúa tể lan thêm ra miền quê – có thể đoán chừng là vì tiến bộ công nghệ – thì mạng của các chúa tể đơn giản đi và cuối cùng biến mất. “Mô hình này, chúng tôi cho rằng, là mô hình đầu tiên thâu tóm được xu hướng lịch sử này,” Cederman nói.   Còn tham vọng hơn, Jürgen Scheffran, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Hamburg ở Đức, hi vọng mô hình hóa tác động của biến đổi khí hậu lên các xung đột khu vực. Ông và các cộng sự của mình đang mô hình hóa xung đột sắc tộc ở vùng Darfur của Sudan, nơi sự bành trướng xuống phía nam của sa mạc đã lùa những người Arab chăn các bầy súc vật vào đất của các nông dân hạ-Sahara. “Đấy có thể là một trong những trường hợp đầu tiên nơi biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rồi đến một xung đột,” ông nói.   Trong 5 năm tới, Scheffran và các cộng sự nhắm tới việc tái tạo xung đột trong một mô hình máy tính dựa vào-tác nhân chi tiết. Nhiệm vụ gây nản chí đó đòi hỏi sự lượng hóa các tương tác giữa nhiều loại người, bao gồm các nông dân, những người chăn súc vật, phiến quân chiến đấu nhân danh các nông dân, dân quân Janjaweed chống phiến quân, chính phủ Sudan, các tổ chức cứu trợ, và những người khác. “Hi vọng, chúng tôi sẽ có được các chiến lược tốt hơn để hạn chế bạo lực,” Scheffran nói.   ***  Lĩnh vực các hệ thống phức tạp tiến hóa ra sao sẽ vẫn còn phải xem. Nó dường như tăng nhanh hơn ở Châu Âu, nơi Ủy Ban Âu Châu mới đây đã cam kết 20 triệu € cho nghiên cứu như vậy trong 4 năm tiếp. Các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ đối mặt với triển vọng tài trợ khó hơn, Neil Johnson, một nhà vật lý tại Đại học Miami ở Florida, nói, ông khớp việc lập mô hình các mạng khủng bố với công việc về sinh thái học toán học về cá, một hướng mạnh ở đại học đó.    Mặc dù vậy, với các thành công của việc nghiên cứu hệ thống phức tạp trong giải quyết các vấn đề mới, các nhà nghiên cứu tự tin rằng tới đây sẽ có thêm những kết quả quan trọng.  ———-  Ourselves and Our Interactions: The Ultimate Physics Problem?,   Science, 24 July, 2009, Vol. 325, pp. 406-408 (Nguyễn Quang A dịch)   * International Workshop on Coping with Crises in Complex Socio-Economic Systems, 8–12 June 2009.          Vật lý học kinh tế: Sau nhiều năm vẫn gây tranh cãi               Ồ, các biến động lớn của thị trường là không thể tránh khỏi, các nhà vật lý học kinh tế cảnh báo                      Năm 1997, các nhà vật lý học Kondor Imre của Collegium Budapest và Kertész János của Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest đã tổ chức một hội nghị về lĩnh vực đang nảy nở của vật lý học kinh tế. Nó là nhánh lớn nhất của sự nghiên cứu các hệ thống phức tạp, và các nhà vật lý đã lũ lượt vào ngành tài chính. Nhưng nhiều nhà kinh tế học coi các nhà vật lý học kinh tế là lũ tài tử. “Không lâu sau hội nghị này, tôi sang làm cho một ngân hàng, và tôi chẳng bao giờ thấy chút thù địch nào cả,” Kondor nói. “Phản ứng của cộng đồng hàn lâm đã khác rõ rệt so với phản ứng của những người thực hành.”              Lý thuyết kinh tế truyền thống sai một cách cơ bản, các nhà vật lý học kinh tế nói. Nó dựa vào “các mô hình tác nhân tiêu biểu” trong đó một ông Joe trung bình mang tính giả thuyết tương tác với các lực kinh tế chắc như đá nguyên khối. Các mô hình như vậy bỏ qua các tương quan mà chúng dẫn đến, chẳng hạn, các đợt hưng thịnh bột phát (boom) và các đợt suy sụp (bust). Để chứng minh các định lý nghiêm ngặt, các nhà kinh tế học cho rằng những biến động thị trường tuân theo “phân bố Gauss” có hình quả chuông, mà nó đánh giá thấp xác suất của các biến động lớn. “Kinh tế học truyền thống là về tạo ra các mô hình toán học hoàn toàn xác định, có thể dễ kiểm soát, và chẳng liên quan gì với thực tế,” Kertész nói.               Các nhà vật lý kinh tế cho là theo một cách tiếp cận được dữ liệu dẫn dắt hơn. Họ còn phải đạt được sự đột phá lớn, nhưng họ nói các đóng góp của họ đang nhận được sự chấp nhận rộng hơn. Thí dụ, các nhà vật lý học kinh tế đã đưa ra các công cụ mới để phân tích những tương quan giữa các cổ phiếu và tối ưu hóa hiệu quả hơn một danh mục đầu tư (portfolio), Kertész nói. Họ cũng đã khai thác các loại mới của dữ liệu, ông nói, như các bản ghi có độ phân giải cao của các biến động nhỏ nhất trên một thị trường và sổ lệnh giới hạn (limit order book) của thị trường, mà chúng ghi lại mọi chào mời để mua hay để bán một cổ phiếu bất luận nó dẫn đến một giao dịch hay không.   Các nhà vật lý cũng giúp để thay đổi sự nhấn mạnh trong nghiên cứu, Kondor nói. Các nhà kinh tế học đã biết từ lâu rằng, thí dụ, lợi tức trên các cổ phiếu không biến động lên và xuống ôn hòa như các mô hình của họ giả sử. Phân bố thực của lợi tức có “đuôi bẹt” tại các thái cực của nó, điều có nghĩa là các khoản lời và lỗ rất lớn là có khả năng hơn mức được giả sử rất nhiều. Nhưng hầu hết các nhà kinh tế học vẫn tiếp tục coi các sự kiện như vậy như những may rủi thay cho là những sự không thể tránh khỏi làm thay đổi trò chơi. “Các nhà vật lý đã là những người bắt đầu nghĩ thấu đáo một cách có hệ thống về các hệ quả của các đuôi bẹt này,” Kondor nói.               Mặc dù vậy, vật lý học kinh tế vẫn không gây ấn tượng cho một số nhà kinh tế học. “Theo ý tôi, nó không có ảnh hưởng và sẽ tiếp tục không có ảnh hưởng,” Ernst Fehr của Đại học Zürich ở Thụy Sỹ, nói. Các nhà vật lý áp dụng các mô hình của họ cho các vấn đề mà không nắm được các chi tiết, ông nói. “Một lần tôi đã dùng một nhà vật lý, và tôi đã thực sự thất vọng.”               Nhưng Thomas Lux, một nhà kinh tế học tại Đại học Kiel ở Đức, nói rằng, đặc biệt ở Châu Âu và Nhật, số ngày càng đông các nhà kinh tế học đang tìm kiếm các lựa chọn khả dĩ khác cho lý thuyết kinh tế chuẩn. “Các tương tác là cái tạo ra nền kinh tế, nhưng kinh tế học bỏ qua các tương tác,” ông nói. Ngược lại, các mô hình đa-tác nhân được các nhà vật lý học kinh tế ưa chuộng là các mô hình lý tưởng cho việc nghiên cứu cẩn thận các tương tác, Lux nói.               Với các đám đông các nhà vật lý trong ngành tài chính, một số nhà phê bình đã đổ lỗi cho họ vì sự tan chảy kinh tế toàn cầu hiện thời. Đó là điều không công bằng, các nhà vật lý học kinh tế nói: Hầu hết các nhà vật lý làm việc trong ngành tài chính đã được yêu cầu thiết kế và đánh giá các công cụ – như các khoản hoán đổi vỡ nợ tín dụng (credit default swaps) khét tiếng – với các công cụ được trao cho họ, chứ không phải để sáng chế ra các công cụ tốt hơn. Hơn nữa, Didier Sornette của Học Viện Công Nghệ Zürich Liên Bang Thụy Sỹ ở Zürich (ETHZ), nói “các nhà vật lý đã là những người chỉ trích nhiều nhất các tiên đề làm cơ sở cho sự định giá, phòng vệ (hedging), và phân tích rủi ro gắn với các công cụ này.” – A.C.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bàn thêm về nguồn gốc chữ Quốc ngữ      Được coi là đại diện cho ngôn ngữ, chữ viết in đậm dấu vết chặng đường một dân tộc đã đi qua. Vì thế cần nghiên cứu lịch sử các loại chữ viết dân tộc ta từng sử dụng trong hơn 2000 năm qua. Đó là chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Bài này sẽ bàn về nguồn gốc và mối tương quan của ba loại chữ viết đó.    Vào khoảng thế kỷ II trước CN, khi phong kiến Trung Quốc chiếm nước ta và bắt dân ta học chữ Hán, tổ tiên ta đã học theo cách đọc chữ bằng tiếng Việt mà không đọc bằng tiếng Hán, và gọi chữ Hán đã Việt hóa phần ngữ âm là chữ Nho. Mỗi chữ Nho ứng với một âm Hán – Việt. Như vậy, người Việt chỉ học chữ mà không học tiếng Hán, nhờ thế học chữ Hán dễ hơn và có chữ để dùng.     Nhờ có chữ viết, dân tộc ta thoát khỏi thời tiền sử lạc hậu, tiến sang thời đại văn minh có chữ để ghi lại lịch sử. Việc dùng chữ Hán mà không nói tiếng Hán còn giúp dân ta một mặt vẫn đạt yêu cầu học chữ của kẻ cai trị, mặt khác lại giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ, qua đó tránh được thảm họa ngôn ngữ bị Hán hóa, dân tộc bị Trung Quốc hóa sau nghìn năm Bắc thuộc. Rõ ràng, chữ Nho là một sáng tạo ngôn ngữ xuất sắc của người Việt.     Chữ Hán chủ yếu là loại chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), tương tự những chữ tượng hình vẽ con vật hoặc chữ số 1, 2, 3… , các dân tộc đều hiểu ý nghĩa của các ký hiệu biểu ý ấy nhưng đọc bằng tiếng của họ. Tổ tiên ta đã lợi dụng tính chất đó để đọc chữ Hán bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Nhưng vì là chữ Hán mượn về nên chữ Nho vẫn là chữ biểu ý và không ghi được hệ ngữ âm của tiếng Việt. Trên thực tế chữ Nho không ghi được được ngôn ngữ của tầng lớp bình dân, chỉ một số ít người trong giới quan lại và giới tinh hoa biết dùng, và chỉ dùng để viết (bút đàm), không dùng để nói.     Để sửa nhược điểm ấy, vào khoảng từ thế kỷ XII, tổ tiên ta đã dùng các ký tự vuông gốc chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, qua đó làm ra chữ Nôm. Đây là bước thử nghiệm tiến tới tạo một loại chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonograph) ghi được tất cả các âm tiếng Việt.    Sau mấy thế kỷ phát triển và hoàn thiện, chữ Nôm đã đạt mức ghi được hầu như gần hết âm tiếng Việt đã dùng. Có thể thấy điều đó từ các tác phẩm chữ Nôm như Truyện Kiều. Ảnh: Truyện Kiều bản Liễu Văn Đường 1866. Nguồn: Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm.     Chữ Nôm được xây dựng trên cơ sở chữ Hán đọc theo âm Hán-Việt, kết hợp cả hai yếu tố biểu ý và biểu âm. Ban đầu chữ Nôm mượn dạng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, dần dần ghép hai chữ Hán để tạo ra một chữ mới, một phần gợi âm, một phần gợi ý, được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn. Tương tự chữ Hán, mỗi chữ Nôm thể hiện một âm tiết. Vì tiếng Việt giàu âm tiết nên có rất nhiều chữ Nôm. “Từ điển Chữ Nôm dẫn giải” của GS Nguyễn Quang Hồng sưu tầm 9.450 chữ Nôm trong đó có gần 3.000 chữ Nôm tự tạo, ghi 14.519 âm tiết tiếng Việt.     Chữ Nôm từng có thời được gọi là “Quốc ngữ” hoặc “Quốc âm”, tức chữ của “tiếng nói nước ta”. Tuy không phải là chữ Hán nhưng do cấu tạo trên nền tảng chữ Hán nên chữ Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học (biết chữ Nho mới học được chữ Nôm), khó phổ cập, lại chưa được đông đảo giới trí thức và chính quyền phong kiến nước ta thừa nhận. Vì vậy việc phát triển và hoàn thiện chữ Nôm gặp nhiều khó khăn. Tuy thế, văn thơ chữ Nôm, tức văn thơ tiếng Việt, do nói lên được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã tỏ ra trội hơn hẳn văn thơ chữ Nho, từng làm nên nền văn học chữ Nôm tỏa sáng rực rỡ với những tác phẩm tiếng Việt của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI), Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII-XIX) v.v…     Sau mấy thế kỷ phát triển và hoàn thiện, chữ Nôm đã đạt mức ghi được hầu như gần hết âm tiếng Việt đã dùng. Có thể thấy điều đó từ các tác phẩm chữ Nôm như Truyện Kiều… và bản dịch chữ Nôm các tác phẩm chữ Hán như Truyền kỳ mạn lục, Chinh phụ ngâm khúc, v.v.. Trong 200 năm sau khi chữ Quốc ngữ đã ra đời nhưng chưa được sử dụng, các linh mục Công giáo đều dùng chữ Nôm để viết tài liệu giảng đạo.     Dù sao, vì các ký tự vuông trong chữ Nôm không phải là chữ cái có thể ghép vần cho nên mức độ ghi âm tiếng Việt còn kém chính xác, nhiều chữ phải đoán âm đọc.     Thế kỷ XVII, các giáo sĩ Dòng Tên Francisco de Pina, Antonio Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes, Alexandre de Rhodes v.v… đến nước ta truyền giáo. Dòng Tên mang tên Chúa Jesus cao cả, chỉ tuyển người có học vị tiến sĩ1, yêu cầu nhà truyền giáo phải thông thạo ngôn ngữ và tuân theo phong tục tập quán của dân bản xứ.     Như đã biết, cha Francisco de Pina đến Việt Nam năm 1617, chỉ ba năm sau đã cùng các giáo sĩ khác biên soạn tài liệu giáo lý bằng chữ Nôm. Giáo sĩ Girolamo Maiorica trong khoảng 1632-1656, đã viết 45 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm, nổi tiếng nhất là cuốn Các Thánh Truyện viết năm 16462. Kho lưu trữ thư tịch chữ Nôm hiện còn giữ được nhiều tài liệu của các giáo sĩ  Gaspar d’ Amaral, Antoine Barbosa…     Vì đối tượng truyền giáo là nông dân, ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi nên dĩ nhiên các tài liệu giảng đạo chữ Nôm phải dùng từ ngữ của dân thường. Từ đây có thể suy ra hai điểm:     – Thứ nhất, chữ Nôm thời đó đã ghi được phần lớn các âm “thuần Việt” dân dã;           – Thứ hai, các vị giáo sĩ rất giỏi chữ Nôm ấy không thể không nhận thấy đây thực sự là loại chữ có yếu tố biểu âm ghi được hệ thống ngữ âm của tiếng Việt; nhưng chỉ vì dùng ký tự vuông của Hán ngữ nên ghi âm chưa thật chính xác, và khó học, khó phổ cập. Họ cũng hiểu rằng việc chữ Nôm đã tồn tại 500 năm và từng làm nên những tuyệt tác văn thơ chứng tỏ tiếng Việt thích hợp với chữ biểu âm. Ngày nay, ngôn ngữ học hiện đại cho biết tiếng Việt và tiếng Hán tuy đều là ngôn ngữ đơn âm tiết nhưng chỉ tiếng Việt do giàu âm tiết nên mới thích hợp với chữ biểu âm.3     Với nhận thức như vậy, các giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học kể trên dĩ nhiên đã nảy ra ý tưởng dùng chữ cái La tinh để phiên âm chữ Nôm, biến thứ chữ có yếu tố biểu âm Hán hóa ấy thành thứ chữ biểu âm La tinh hóa dễ học dễ dùng cho việc truyền giáo của họ.      Các giáo sĩ Dòng Tên đã phiên âm và biến đổi chữ Nôm thành một thứ chữ biểu âm La tinh hóa về sau gọi là chữ Quốc ngữ. Như vậy chữ Quốc ngữ chính là chữ Nôm được La tinh hóa và hiện đại hóa.      Rõ ràng, phiên âm một thứ tiếng đã có chữ viết ghi lại âm của tiếng đó thì đơn giản nhiều so với việc phiên âm một thứ tiếng chưa có chữ viết – ở thời xưa, đó là một công trình lao động sáng tạo cực kỳ phức tạp, cần nhiều người làm trong hàng trăm năm.     Thực tế cho thấy, các giáo sĩ kể trên dù ít người và làm việc phân tán nhưng đã tạo ra chữ Quốc ngữ trong thời gian ngắn kỷ lục: từ năm 1617 đến 1649.4 Họ đã nhanh chóng tìm ra các chữ cái La tinh phù hợp thay cho các ký tự vuông ghi âm tiếng Việt trong chữ Nôm. Năm 1617 Francisco de Pina đến Đàng Trong, năm 1619 đã viết xong một bản từ vựng tiếng Việt bằng chữ La tinh. Năm 1631 Gaspar d’ Amaral đến Đàng Ngoài, năm sau đã ghi âm rất tốt tiếng Việt, đến năm 1634 đã làm xong một cuốn từ vựng tiếng Việt. Trong mấy cuộc gặp tại Macao (1630-1631), các giáo sĩ đã xác định được 6 thanh điệu và tính đơn âm tiết của tiếng Việt. Năm 1649 Rhodes rời Việt Nam mang theo bản thảo Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum). Năm 1651 Từ điển này được in và xuất bản tại Roma, đánh dấu chữ Quốc ngữ Việt Nam chính thức ra đời.     Trong mấy chục năm làm chữ Quốc ngữ, các giáo sĩ đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn, chủ yếu do hệ thống ngữ âm của tiếng Việt cực kỳ phong phú và mới lạ. Vấn đề phức tạp nhất là phải sáng tạo ra hệ thống ký hiệu thể hiện được các thanh điệu sắc, huyền, hỏi. ngã, nặng, và các con chữ thể hiện được các ngữ âm không có trong bộ chữ La tinh như ă, â, ê, ơ, ô, ư, đ. Bộ ký hiệu và con chữ ấy làm nên cái gọi là “giày và mũ” trong nhận xét của một học giả nổi tiếng Trung Quốc: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.”5. Thực ra “mũ, giày” ấy là những sáng tạo hợp lý tới mức người Việt xưa nay đều không chấp nhận bất cứ thứ chữ Quốc ngữ nào không có các ký hiệu và con chữ đó. Ngoài ra các giáo sĩ thông thái ấy đã hiệu chỉnh các âm tiếng Việt mà chữ Nôm chưa ghi được chính xác, và hiện đại hóa phần ngữ pháp của chữ viết, như áp dụng các dấu ngắt câu, ngắt đoạn, viết hoa v.v…       Các nhà nghiên cứu ở Viện Hán Nôm sưu tập tư liệu chữ Hán, Nôm trong các thư khố của Pháp. Ảnh: Fb Nguyễn Tuấn Cường.     Chữ Quốc ngữ có hình dạng khác xa chữ Nôm, nhưng về bản chất, cả hai đều là các hệ chữ viết ghi âm tiếng Việt; chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La thể hiện rất rõ mối tương quan với cấu tạo chữ Nôm 6.     Cuối cùng, các giáo sĩ Dòng Tên kể trên đã phiên âm và biến đổi chữ Nôm thành một thứ chữ biểu âm La tinh hóa về sau gọi là chữ Quốc ngữ. Như vậy chữ Quốc ngữ chính là chữ Nôm được La tinh hóa và hiện đại hóa.     Giả sử thời ấy chưa có chữ Nôm, chỉ có chữ Nho, thì việc làm chữ của các giáo sĩ sẽ vô cùng khó khăn vì chữ Nho vốn là chữ Hán. Thực tiễn cải cách chữ viết ở Trung Quốc đã chứng tỏ không thể dùng bất cứ bộ chữ cái nào để phiên âm chữ Hán thành chữ biểu âm.     Năm 1582 giáo sĩ Dòng Tên người Ý Matteo Ricci đến Trung Quốc truyền giáo. Ông rất giỏi Hán ngữ, đã dành nhiều năm nghiên cứu cách phiên âm chữ Hán. Năm 1605 Ricci đưa ra phương án phiên âm chữ Hán bằng chữ cái La tinh, nhưng phương án này chỉ giúp người Âu học chữ Hán dễ hơn, chứ chưa phải là một loại chữ viết mới. Về sau, giới trí thức Trung Quốc tiếp tục nghiên cứu theo phương hướng của Ricci nhằm mục tiêu tạo ra một thứ chữ biểu âm có thể thay thế chữ Hán mà họ muốn loại bỏ. Nhưng mọi cố gắng ấy đều bất thành. Năm 1958 Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc làm ra Phương án phiên âm (Pinyin) Hán ngữ dùng chữ cái La tinh, nhưng chỉ có tác dụng phụ trợ là ghi chú âm cho chữ Hán, không phải là một loại chữ viết. Từ đầu năm 1986 Nhà nước Trung Quốc không còn nhắc tới mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán.     Tóm lại, việc dùng chữ cái La tinh phiên âm chữ Nôm đã thành công ngay từ đầu thế kỷ XVII trong khi mọi cố gắng phiên âm chữ Hán cho tới nay vẫn chưa có kết quả. Vì sao vậy? Vì chữ Nôm có yếu tố biểu âm, chữ Hán không có yếu tố ấy. Nói cách khác, không có chữ Nôm thì các giáo sĩ đáng kính nói trên sẽ không làm được chữ Quốc ngữ. Đến đây có thể kết luận: Bằng việc sáng tạo chữ Nôm, tổ tiên ta đã góp phần quan trọng dẫn đến sự hình thành chữ Quốc ngữ.     ***  Đã hơn trăm năm nay nước ta chính thức sử dụng chữ Quốc ngữ, thứ chữ viết được các nhà trí thức tiên tiến đầu thế kỷ XX ca ngợi là Hồn của đất nước, công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt. Lẽ tự nhiên, dân tộc Việt Nam giàu truyền thống nhân văn uống nước nhớ nguồn không bao giờ quên công lao của những người đã góp phần làm ra loại chữ viết kỳ diệu ấy. Đáng tiếc là cho tới nay công luận trong nước vẫn chưa nhất trí chọn được các nhân vật tiêu biểu cần vinh danh, và cơ quan công quyền có trách nhiệm thay mặt dân giải quyết vấn đề này dường như cũng chưa tỏ thái độ rõ ràng. Đây không phải là công việc quá khó. Để tình trạng trên kéo dài sẽ không có lợi cho hình ảnh một dân tộc văn minh. Vấn đề này đã đến lúc cần bàn thảo rộng rãi và chính quyền cần sớm có kết luận cùng hành động tri ân.     Thời thuộc Pháp, có thể vì để đề cao “mẫu quốc” mà các sách giáo khoa ở ta đều quy công trạng làm ra chữ Quốc ngữ cho giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes. Quan điểm ấy trở thành chính thống trong một thời gian dài. Gần đây dư luận yêu cầu ghi công các giáo sĩ không phải người Pháp như Francisco de Pina, Antonio Barbosa, Gaspar d’Amaral, António de Fontes… và đóng góp của cộng đồng giáo dân miền Nam nước ta từng giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt, và đóng vai trò “thẩm định” trong quá trình thí điểm sử dụng chữ Quốc ngữ. Sự thay đổi quan điểm như vậy là hợp tình hợp lý.     Chúng tôi cho rằng dù thế nào cũng phải mãi mãi tôn vinh công trạng làm ra chữ Nôm của tổ tiên ta, một sáng tạo ngôn ngữ góp phần quyết định sự hình thành chữ Quốc ngữ  –– thành quả kết hợp trí tuệ của nền văn minh Việt với nền văn minh Ki Tô giáo. □     Tiếng nói của các dân tộc ở gần nhau thường ảnh hưởng lẫn nhau. Trong bốn nước từng sử dụng chữ Hán, tiếng Việt và tiếng Hán cùng là ngôn ngữ đơn âm tiết (còn gọi đơn lập, monosyllabic) cho nên tiếng Việt rất dễ chịu ảnh hưởng của tiếng Hán, dễ bị Hán hóa khi phong kiến Trung Quốc chiếm đóng nước ta hơn 10 thế kỷ. Tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên thuộc loại ngôn ngữ chắp dính nên không dễ bị Hán hóa. Thế nhưng Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc vẫn giữ được “Tiếng ta còn, nước ta còn”.     Ghi chú:  [1]  https://tuoitre.vn/chu-quoc-ngu-nhung-nguoi-dau-tien-khai-sang-20191206213804476.htm  [2]  https://vi.wikipedia.org/wiki/Girolamo_Maiorica . Lã Minh Hằng: “Đôi nét về thư tịch Hán Nôm Công giáo tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm”  [3]  Nguyễn Hải Hoành: “Một vài tìm tòi về ngôn ngữ”. TC Tia Sáng số 11 (5/6/2020)  [4]  Phạm Thị Kiều Ly: “Lịch sử chữ Quốc ngữ từ 1615 đến 1861: Quá trình La-tinh hóa tiếng Việt trong trào lưu ngữ học truyền giáo”. TC Tia Sáng số   (2019).  [5]  Nguyễn Hải Hoành: “Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam rất nực cười?”  [6]  Nguyễn Ngọc Quân: “Chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La trong tương quan với cấu tạo chữ Nôm đương thời”.    Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Bàn thêm về những “làng ung thư”      Ch&#250;ng ta vẫn ngạc nhi&#234;n tại sao c&#225;c tin tức về l&#224;ng ung thư lần lượt xuất hiện tr&#234;n b&#225;o ch&#237;, m&#224; ng&#224;nh y tế c&#243; vẻ qu&#225; dửng dưng, kh&#244;ng v&#224;o cuộc g&#236; cả. C&#226;u trả lời c&#243; thể l&#224;, họ cho rằng tử vong v&#236; ung thư ở c&#225;c l&#224;ng như thế l&#224; &#8230; b&#236;nh thường.     Trong bài viết mang tựa đề hoài nghi “Sự thật về làng ung thư Thạch Sơn” đăng trên trang nhà của Tổng cục Môi trường, trả lời phỏng vấn của báo chí về làng ung thư Thạch Sơn (Phú Thọ), Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Ngọc Trọng nói: “tỉ lệ ung thư tại Thạch Sơn tương đương các tỉnh thành phía Bắc. Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.” Một chuyên gia ung thư khác (giáo sư Phạm Duy Hiển của bệnh viện K) thì cho biết: “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”. Có lẽ xuất phát từ đánh giá như thế của các quan chức, dù các làng ung thư lần lượt xuất hiện mà ngành y tế chưa có động thái nào để kiểm soát tình hình.   Nhưng rất tiếc là dữ liệu thực tế không phù hợp với những đánh giá trên của các vị quan chức! Tôi đã thu thập một số dữ liệu về các làng ung thư và trình bày trong bảng dưới đây. Theo nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia, ở nước ta cứ 100.000 dân số thì có 106 nam và 59 nữ tử vong vì bệnh ung thư. Áp dụng tỉ lệ này cho làng Thạch Sơn với dân số khoảng 7.000, chúng ta kì vọng sẽ có khoảng 6 người tử vong vì bệnh ung thư, nhưng trong thực tế ở làng này mỗi năm có 15 người chết vì ung thư. Nói cách khác, tỉ lệ tử vong vì ung thư ở Thạch Sơn cao hơn tỉ lệ quốc gia đến 2,6 lần! Như vậy, không thể nói rằng “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”.   Thật ra, số liệu mà tôi thu thập trong bảng dưới đây (rất có thể chưa đầy đủ) cho thấy ở bất cứ làng ung thư nào mà báo chí nêu, tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư đều cao từ 3 đến 9 lần so với tỉ lệ tử vong của cả nước. Chẳng hạn như làng Kim Thành (Nghệ An) chỉ 1.900 dân số, mà trong thời gian 7 năm có đến khoảng 100 người tử vong vì ung thư, và tỉ lệ này cao gấp 9 lần so với tỉ lệ của toàn quốc.           Tỉ lệ tử vong vì ung thư tại một số làng xã           Làng / xã (tỉnh)       Dân số (ước tính)      Số tử vong do bệnh ung thư mỗi năm      Tỉ lệ tử vong tính trên 100.000 dân      So sánh với tỉ lệ trung bình toàn quốc (1)          Thạch Sơn (Phú Thọ)      7.000      15      214       2,6 lần          Đông Lỗ (Hà Tây)      5.800      22      379      4,6 lần          Minh Đức (Hải Phòng)      ?      67       ?      ?          Thổ Vị (Thanh Hóa)      1.700      80 (14 năm)      336      4,1 lần          Kim Thành (Nghệ An)      1.900      100 (7 năm)      752      9,1 lần          Khánh Sơn (Đà Nẵng)      760      10 (5 năm)      263      3,2 lần          Đại An (Quảng Nam)      1.140      33 (10 năm)      289      3,5 lần          (1) Tính trên tỉ lệ tử vong do nguyên nhân ung thư toàn quốc là 82.5 trên 100.000 dân số (nguồn: PH Anh, ND Duc. Jpn J Clin Oncol 2002;32:S92-S97).          Tôi cực kì kinh ngạc trước phát biểu “Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.” Trong vài thập niên qua, đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh ung thư. Chỉ lấy vài trường hợp tiêu biểu:   ·                     Nghiên cứu ở nước láng giềng Trung Quốc cho thấy những cư dân sống trong vùng phải dùng nước giếng (khoan từ lòng đất) có nguy cơ mắc bệnh ung thư đường ruột cao gấp 2 lần so với nguy cơ trung bình trong dân số.   ·                     Nghiên cứu ở Nhật cho thấy nồng độ NO2 và SO2 trong không khí có ảnh hưởng đến sự phát sinh ung thư phổi.   ·                     Ở Mĩ, có nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị phơi nhiễm diesel có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cao gấp 1,4 lần so với nguy cơ trong dân số.   Cái mẫu số chung của các “làng ung thư” này là sự hiện diện của các nhà máy kĩ nghệ và xuống cấp môi trường. Cho dù hiện nay chưa có dữ liệu để kết luận mối liên quan giữa sự hiện diện các nhà máy này và ung thư, các nghiên cứu từ các cụm/làng ung thư ở Mĩ cho chúng ta biết rằng các chất sau đây làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư trong cộng đồng: arsenic, cadmium, chronium, nickel, asbestos, và benzene. Các chất hóa học này cũng giải thích tại sao cư dân thành phố và cư dân sống trong vùng gần nhà máy kĩ nghệ có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn cư dân trong các vùng nông thôn.                 Ô nhiễm nước ở làng ung thư An Bình (Cam Thanh, Cam Lộ)        Nước ta đang trong quá trình độ thị hóa rất nhanh. Nhưng phát triển kinh tế nhanh thường kèm theo những hệ lụy về môi sinh và môi trường có ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Chúng ta nhìn sang Trung Quốc và đã thấy những tàn phá về môi trường, nhưng chúng ta chưa có giải pháp tránh những tàn phá như thế ở nước ta. Hệ quả là ngày nay rất nhiều sông rạch ở nước ta đang trong tình trạng ô nhiễm ở mức báo động. Chất lượng không khí ở những vùng kĩ nghệ và thành phố lớn cũng bị ô nhiễm ở mức báo động. Với những hóa chất có khả năng gây ung thư như vừa kể trên, không ai ngạc nhiên khi thấy tần suất bệnh ung thư trong cộng đồng càng ngày càng gia tăng. Hai thập niên phát triển kinh tế đã giúp nâng cao thu nhập cho người dân, nhưng e rằng cái giá về suy giảm chất lượng cuộc sống mà chúng ta phải trả vẫn chưa được cân đo đúng mức. Nếu không quan tâm ngay từ bây giờ, thu nhập kinh tế có thể sẽ không bù đấp được cho những hao hụt trong chi tiêu cho các dịch vụ sức khỏe.   Nền tảng của y tế dự phòng là: duy trì sức khỏe lành mạnh tốt hơn là mắc bệnh hay chết. Đó là tiền đề và cũng là cứu cánh của một nền y tế hiện đại. Phát biểu đó cần và đủ. Mỗi cái chết là một mất mát cho quốc gia. Sứ mệnh của ngành y tế là cứu người và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Nếu không hoàn thành sứ mệnh này thì không nên gọi là “y tế” làm gì.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Băng cháy – nguồn năng lượng mới  của thế giới      Nhiều người tin rằng băng cháy của châu Á sẽ gây ra cuộc cách mạng năng lượng sắp tới.    Mạng “Học giả Ngoại giao” của Nhật hôm 17/5/2013 đăng bài “Thu hoạch mới: cuộc Cách mạng Băng Cháy của châu Á”. Bài báo viết: Cách đây không lâu, dư luận bàn rất nhiều về dầu khí lấy từ đá phiến (diệp nham, shale), một nguồn năng lượng mới có thể làm thay đổi lớn bản đồ địa chính trị toàn cầu. Nhưng thông tin đó nay đã lỗi thời. Giờ đây nhiều người tin rằng băng cháy của châu Á sẽ gây ra cuộc cách mạng năng lượng sắp tới.  Tháng Ba năm nay, Cơ quan Dầu mỏ, Khí đốt và Kim loại Nhật Bản (JOGMEC – Japan Oil, Gas and Metals National Corporation, một cơ quan hành chính độc lập của nhà nước) đã khai thác được băng cháy ở dưới đáy biển gần Nhật. Loại tài nguyên năng lượng mới này sẽ làm thay đổi tình hình của các nước xưa nay nghèo năng lượng như Nhật Bản, Hàn Quốc và có khả năng làm suy yếu vị thế vốn có của một số nước lớn dầu mỏ. Trước đây khi khí đá phiến (shale gas) tham gia thị trường đã làm giá khí đốt giảm, vị thế của các nước đó đã bị đe dọa. Theo kế hoạch của JOGMEC, nước Nhật đã xác định đến năm 2018 sẽ thực hiện mục tiêu hùng vĩ là đưa việc sản xuất băng cháy tiến sang giai đoạn thương mại hóa.  Băng cháy, còn gọi là Methane Hydrate (tiếng Anh: Natural Gas Hydrate hoặc gọi tắt là Gas Hydrate), là một loại băng (nước đá) hình thành bởi khí metan dưới tác dụng của nhiệt độ 0 độ C và áp suất 30 atmosphere, thường tồn tại dưới lớp đất đóng băng vĩnh cửu hoặc ta-luy (mặt dốc) của rìa đại lục, nói chung nằm ở đáy biển có độ sâu quá 500 mét. Băng cháy khi được làm nóng hoặc giảm áp lực sẽ phân giải thành khí đốt và nước: 1m3 băng cháy khi phân giải cho ra 164m3 khí metan và 0,8m3 nước.  Bài báo viết, công nghệ khai thác băng cháy hiện nay chưa đạt tới trình độ khả thi về thương mại, giá thành khai thác còn quá cao do đó thiếu sức cạnh tranh. Ngoài ra, kỹ thuật chuyển hóa Methane Hydrate tồn tại trong vật chất dạng băng thành chất khí dễ khai thác đang gặp nhiều khó khăn.  Thế nhưng công nghệ đang dần dần được cái tiến, việc khai thác quặng băng cháy dưới đáy biển sâu đang nhanh chóng trở thành mặt trận mới trong khai thác khoáng sản và Methane Hydrate. Băng cháy sẽ có thể trở thành nguồn năng lượng mới cực kỳ quý giá cho nhiều nước châu Á và đem lại cho họ sự an ninh tài nguyên lâu nay đang tìm kiếm.   Trung Quốc đánh giá trữ lượng băng cháy ở biển Nam Hải (ta gọi là Biển Đông) tương đương 70 tỷ tấn dầu mỏ, bằng khoảng một nửa tổng số nguồn năng lượng dầu mỏ và khí đốt trên đại lục Trung Hoa.   Theo một ước tính, tổng trữ lượng băng cháy trên toàn thế giới có thể cung cấp năng lượng cho loài người dùng trong 1.000 năm. Hiện nay mới có bốn nước Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Trung Quốc có kế hoạch khai thác băng cháy ở cấp quốc gia.   NHH theo tài liệu trên mạng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng đầu tiên về công cụ của loài chim biển      Ba nhà nghiên cứu trường đại học Oxford và Trung tâm nghiên cứu tự nhiên Nam Iceland đã tìm thấy bằng chứng về công cụ của những con hải âu cổ rụt – bằng chứng về công cụ do bất kỳ loài chim biển nào sử dụng.      Trong công bố “Evidence of tool use in a seabird” xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, Annette Fayet, Erpur Snær Hansen và Dora Biro đã miêu tả bằng chứng của họ về việc những con hải âu cổ rụt sử dụng các que củi để cào lên cơ thể chúng.  Trong suốt nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều ví dụ về các loài động vật linh trưởng phi người sử dụng công cụ, tương tự nhiều loại chim sẻ đã bị “bắt gặp” sử dụng nhiều công cụ. Người ta đã quan sát nhiều con quạ sử dụng que cho nhiều mục đích khác nhau và vẹt từng làm vỡ sò biển bằng đá. Nhưng cho đến bây giờ, chưa có qua quan sát đượ loài hải âu cổ rụt sử dụng công cụ bởi vì bộ não của chúng quá nhỏ, và nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này tin là đơn giản, chúng không có năng lực làm việc đó. Tuy vậy, nỗ lực của các nhà nghiên cứu trên đã bác bỏ tin tưởng đó.  Các nhà nghiên cứu cho biết, một thành viên trong nhóm của họ đã chứng kiến một con hải âu cổ rụt gắp lấy và dùng một que nhỏ để cào lên lưng bốn năm trước. Nhưng bởi vì cô không có camera bên cạnh để quay nên không thể bắt được bằng chứng sử dụng công cụ của chim hải âu cổ rụt trong thực tế. Sau nhiều nỗ lực gần đây, họ mới có thể thu lại hình ảnh một con hải âu cổ rụt gắp một cái que nhỏ và dùng nó để cào lên phần bụng của mình. Bên cạnh việc trình bày về bằng chứng đầu tiên này, đoạn băng này cũng là quan sát đầu tiên về một con chim biết dùng công cụ để gào lên cơ thể chính mình. Do đã chứng kiến việc dùng công cụ của chim ở hai địa điểm khác biệt, cách nhau một phạm vi rộng nên hành động này của loài hải âu cổ rụt mang tính phổ biến.    Các nhà nghiên cứu lưu ý là loài chim trong đoạn video của họ sống tại đảo Grimsey ở Iceland, nơi chúng phải chịu đựng cảnh “sống chung với lũ” khi các động vật ký sinh trú ngụ trong bộ lông của chúng. Họ cũng cho biết thêm, năm ngoái là một năm tồi tệ với loài chim bởi loài bọ ve tràn ngập. Do đó, họ đề xuất là việc sử dụng một cái que sắc còn loại bỏ các loại bọ ve hiệu quả hơn dùng mỏ.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-evidence-tool-seabirds.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng đầu tiên về phản neutrino trong máy dò nước Cherenkov      Các hạt phản neutrino, bản sao phản vật chất của neutrino, hầu như không có khối lượng và điện tích, và hầu như không bao giờ tương tác với những hạt khác nên rất khó để dò được. Các nhà vật lý từng nghiên cứu về hạt neutrino từ các lò phản ứng hạt nhân trong nhiều năm, và sử dụng các máy dò nhấp nháy.    Các nỗ lực này dẫn đến các phát hiện vật lý đáng kể, từ cuộc dò hạt neutrino đầu tiên vào cuối những năm 1950 đo đạc được các tham số dao động neutrino. Vì các hạt neutrino rất khó tương tác với những hạt khác, về cơ bản cũng khó dò được chúng. Người ta dò các hạt neutrino được sinh ra trong lò phản ứng hạt nhân thông qua cơ chế phân rã beta nghịch đảo. Đây là một tín hiệu từ quá trình phản ứng hạt nhân, bao gồm một electron antineutrino với một proton, tạo ra một positron và một neutron.  Thực nghiệm SNO+, một nỗ lực nghiên cứu quy mô lớn để thu thập dữ liệu bằng việc sử dụng máy dò hạt đa mục tiêu tại SNOLAB, gần đây đã thu thập được bằng chứng đầu tiên về các phản neutrino từ lò phản ứng, bên trong một máy dò nước Cherenkov (một dạng máy dò hạt dò được bức xạ và tái cấu trúc thông tin về các hạt). Bài báo của họ, xuất bản trên Physical Review Letters, có thể tiến xa hơn trên con đường tìm các hạt phản neutrino bằng các máy dò nước Cherenkov 1.  “Mục tiêu chính của thực nghiệm SNO+ là thực hiện một cuộc tìm kiếm siêu nhạy cho phân rã beta kép không neutrino bằng một scintillator lỏng chứa tellurium”, Logan Lebanowski trao đổi với Phys.org về công việc của nhóm hợp tác SNO+. “Với máy dò hiện có scintillator, SNO+ đang tiến hành đo đạc sự phân tách khối lượng neutrino 𝚫m221 bằng các phản neutrino từ lò phản ứng. Trước khi làm điều này, nhóm hợp tác đã đổ vào máy dò nước để hiệu chuẩn các thành phần của máy dò và tính chất của phông phóng xạ bên trong”.  Để đem lại độ nhạy đủ tốt cho đo đạc các hạt phản neutrino lò phản ứng máy dò của SNO+ với scintillator lỏng, nhóm hợp tác SNO+ dự tính khả năng quan sát các phản neutrino bằng nước. Máy dò này có tỷ lệ muon cảm ứng nền từ khí quyển quanh các máy dò nước Cherenkov thấp nhất, nhờ đó cải thiện được đáng kể cơ hội dò các phản neutrino của nhóm nghiên cứu.  Máy dò SNO+ là một thùng acrylic lớn có đường kính 12m. Tại thời điểm diễn ra thực nghiệm, nó chứa đầy nước siêu tinh khiết. “Nó đem đến một khối lượng lớn các hạt để tương tác và tạo ra ánh sáng”, Christine Kraus giải thích. “Ánh sáng này sau đó có thể tái sắp xếp bằng các thiết bị nhân quang (Photomultipliers), chúng tôi có khoảng 9500 chiếc xung quanh thùng acrylic, được đặt trên đỉnh của một cấu trúc thép. Các thiết bị nhân quang này có thể chuyển các tín hiệu photon thành tín hiệu điện mà sau đó có thể xử lý được. Nhờ vậy chúng tôi có thể xác định mức năng lượng và vị trí của sự kiện đó”.  Khi cố gắng dò các phản neutrino từ lò phản ứng hạt nhân, các nhà vật lý tìm kiếm một tín hiệu độc nhất gọi là “tín hiệu trùng hợp”, chỉ dấu rõ ràng cho sự hiện diện của phản neutrino. Kraus và nhóm nghiên cứu SNO+ đã tìm tín hiệu này trong dữ liệu thu thập được trong giai đoạn 190 ngày thí nghiệm. Để trích xuất được dữ liệu, họ đã thực hiện hai phân tích độc lập và thu về nhiều kết quả thích hợp.  “Điều này có ý nghĩa với chúng tôi – và là nghiên cứu đầu tiên sử dụng máy dò nước – bởi vì hiệu quả dò neutron của chúng tôi rất cao”, Lebanowski nói. “Neutron được tạo ra trong một phân rã beta kép không neutrino beta bắt hydrogen trong nước và tạo ra 2.2-MeV 𝛄, bất chấp mức năng lượng của phản neutrino liên quan. Do đó, việc đạt được mức dò 2.2-MeV 𝛄 với hiệu suất cao hơn có thể tác động trên một phạm vi rộng tìm kiếm và đo đạc phản neutrino bằng các máy dò nước Cherenkov”.  Nhóm hợp tác SNO+ là nhóm đầu tiên dò được các phản neutrino trong máy dò nước Cherenkov. Họ đã làm được điều này bằng việc sử dụng nước siêu tinh khiết và tối thiểu bức xạ tự nhiên trong máy dò, vốn có thể tạo ra sự trùng hợp giữa các sự kiện nền tương đồng với tín hiệu mà họ đang tìm kiếm. Trong tương lai, kết quả của nghiên cứu và phương pháp nhóm hợp tác SNO+ áp dụng có thể cho thêm thông tin về các cuộc tìm kiếm và đo đạc phản neutrino bằng máy dò nước Cherenkov.  “Việc quan sát các phản hạt neutrino từ lò phản ứng với nước tinh khiết chứng tỏ là chúng có thể được quan sát với một môi trường đích không độc hại, an toàn, dễ dàng thao tác và giá thành rẻ, do đó phù hợp cho sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ và mọi thời điểm chúng ta cần”,  Lebanowski nói. “Phân tích này cũng chứng tỏ khả năng của các máy dò nước Cherenkov để tạo ra các đo đạc ở mức năng lượng thấp, và năng lực phân biệt tín hiệu cần từ phông phóng xạ hiện diện trong phần lớn các máy dò”.  Một nguyên nhân chính giúp giải thích tại sao các máy dò nước Cherenkov có thể phân biệt các tín hiệu trùng hợp với các tín hiệu nền không liên quan là chúng đem lại một hướng ước tính các hạt liên quan. Không thể có được điều này với các máy dò scintillator, dẫu nó là một phần trong nghiên cứu tương lai của nhóm hợp tác SNO+.  “Với scintillator lỏng, chúng tôi chờ đợi có một tín hiệu phản neutrino thậm chí còn tốt hơn, không chỉ từ các lò phản ứng mà còn từ phóng xạ tự nhiên ở chính trái đất – các hạt neutrino đất”, Kraus cho biết thêm. “Trước đây chỉ có hai lần đo đạc được chúng – một ở Nhật Bản với thực nghiệm KAMLAND và một ở châu Âu với thực nghiệm Borexino. Chúng tôi có thể là nhóm đầu tiên ở Bắc Mỹ thực hiện thí nghiệm dạng này, hiện đang được xác định địa điểm ở Canada. Điều này rất thú vị vì cấu trúc thí nghiệm này khác biệt với thí nghiệm ở hai địa điểm kia”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-sno-collaboration-evidence-antineutrinos-cherenkov.html  https://interestingengineering.com/science/detect-antineutrinos-using-water-only  ———————————————  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.130.091801    Author                .        
__label__tiasang Bằng chứng mới về thuyết tiến hóa loài linh trưởng      Các nhà khảo cổ học Nhật Bản và Kênia mới đây đã phát hiện hóa thạch bộ xương hàm một loài khỉ không đuôi mới, rất gần với tổ tiên chung gần nhất của khỉ đột, tinh tinh và loài người hiện đại.      Hóa thạch có niên đại 10 triệu năm với 11 chiếc răng hoàn chỉnh, được phát hiện trong lớp trầm tích núi lửa tại bờ Đông Thung lũng Rift, Kênia, và ngay lập tức bùng lên tranh cãi về tính xác thực của giả thuyết tiến hóa loài linh trưởng đã đặt ra từ lâu nay. Một số nghiên cứu về gen cho thấy loài người hiện đại và khỉ không đuôi lớn tách khỏi nguồn gốc chung khoảng 8 triệu năm trước, song nhiều nhà cổ sinh học lại cho rằng tổ tiên loài khỉ không đuôi lớn châu Phi hiện đại xuất hiện ở châu lục này 13 triệu năm về trước.   TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng tốt nhất cho sự tồn tại của các anyon      Một nhóm nghiên cứu nhỏ tại trường đại học Purdue đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục nhất về sự tồn tại của các hệ anyon Abe. Họ đã viết một bài báo miêu tả các thực nghiệm mà họ thiết kế thực hiện để tìm hiểu về sự tồn tại của các hạt quasi và đưa bài viết ở dạng tiền ấn phẩm lên arXiv trong khi chờ bình duyệt.      Bài báo mang tên “Direct observation of anyonic braiding statistics at the ν=1/3 fractional quantum Hall state”  Các anyon không phải là các hạt boson mà cũng không phải fermion – trên thực tế, chúng không hẳn là các hạt cơ bản. Thay vào đó, chúng được phân loại như những hạt quasi tồn tại trong không gian hai chiều. Người ta có thể quan sát chúng, về mặt lý thuyết là vậy, khi chúng xuất hiện như những bất cân bằng trong các phiến vật chất hai chiều. Các nhà vật lý lý thuyết từng đề xuất sự tồn tại của chúng vào cuối những năm 1970 và chúng được mang tên Frank Wilczek vào đầu những năm 1980. Lý thuyết đề xuất chúng bện vào nhau nhưng theo những cách khác biệt với boson hay fermion. Nếu một fermion hay một boson bị hút chuyển động quanh các hạt khác thì chuyển động này sẽ không được ghi lại. Nhưng vì các anyon có thể thay đổi những hàm sóng, nó có thể tạo ra được chuyển động có thể ghi lại. Quá trình này bao gồm việc chèn một pha vào hàm sóng của các hạt. Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu đã tạo được ra một thiết bị cho phép họ thấy được bằng chứng của một bản ghi như vậy.  Thiết bị họ tạo ra tham gia vào chuyển động của các anyon dọc theo một đường vật chất hai chiều; tại một điểm cho trước, con đường này tách ra. Một trong hai nhánh thắt lại quanh một anyon ở trung tâm của thiết bị. Anyon khác đặt vào một đường thẳng trước khi hai nhánh nhập trở lại. Nhóm nghiên cứu đã đo đạc dòng điện trong thiết bị để quan sát những bước nhảy. Theo lý thuyết, rất nhiều bước nhảy có thể hiện diện khi các anyon được tăng thêm và sau đó bị loại khỏi thiết bị, qua đó làm thay đổi pha này. Để có khả năng ghi nhận nhiều bước nhảy, thiết bị được thiết kế và lắp đặt trong những lớp vật liệu có thể lọc nhiễu ngẫu nhiên. Những kết quả đo đạc được đã chứng tỏ được bằng chứng thuyết phục nhất về sự tồn tại của các hạt quasi, và theo cách đó, ủng hộ các lý thuyết miêu tả cả sự tồn tại và hành xử của chúng. Kết quả nghiên cứu cũng tăng thêm hi vọng của một số nhà nghiên cứu, những người đã từng tìm kiếm cơ hội sử dụng các hạt anyon để tạo ra nhiều máy tính lượng tử có năng lực tính toán mạnh hơn.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-cooling-mechanism-solar-energy-harvesting.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng về con số kỳ diệu Z=6 trong các đồng vị carbon      Bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm, các nhà vật lý hạt nhân tại Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và các đồng nghiệp quốc tế tại trường đại học Osaka đã tìm được các bằng chứng về sự tồn tại của con số kỳ diệu Z=6 trong các đồng vị của nguyên tố carbon. Không chỉ có được công bố trên tạp chí Nature Communications, việc giải quyết bài toán này còn góp phần đào tạo một số gương mặt trẻ nhiều tiềm năng cho vật lý hạt nhân thực nghiệm Việt Nam.      GS I.Tanihata, GS Lê Hồng Khiêm (thứ 3 và 4 từ trái sang) và TS Trần Đình Trọng (ngồi) cùng các nhà nghiên cứu Nhật Bản trong phòng thí nghiệm tại Đại học Osaka.  Trong vật lý hạt nhân, việc tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của các con số kỳ diệu (magic number), hay con số “ma thuật”(số proton hoặc neutron trong hạt nhân) là điều thôi thúc nhiều nhà vật lý hạt nhân thực nghiệm trên thế giới nhiều năm qua. Theo lý giải trên Physicsworld của GS Yuri Litvinov (Trung tâm nghiên cứu Ion nặng Helmholtz GSI, Đức), việc nghiên cứu về các con số kỳ diệu này có thể làm tăng thêm hiểu biết của chúng ta về các lực tương tác hạt nhân và vật lý thiên văn hạt nhân (nuclear astrophysics), nơi sự tiến hóa của lớp vỏ hạt nhân có thể ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến quá trình tổng hợp hạt nhân trong các sao. Đặc biệt, việc hiểu về cấu trúc vỏ trong hạt nhân nhẹ có thể giúp các nhà nghiên cứu phát triển các mô hình cấu  trúc hạt nhân và hiểu hơn về hạt nhân nặng1.  “Bằng chứng về con số kỳ diệu Z=6 trong đồng vị carbon giàu neutron” (Evidence for prevalent Z = 6 magic number in neutron-rich carbon isotopes) mới được xuất bản trên Nature Communications – tạp chí chuyên về vật lý, hóa học, khoa học trái đất và sinh học có hệ số ảnh hưởng 12.124, là một công trình như vậy. Là kết quả của nhiều năm nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu hạt nhân (trường Đại học Osaka, Nhật Bản), công trình được đánh giá là đã đem lại “những kiến thức cơ bản về lực tương tác spin-quỹ đạo, từ đó cho phép giải thích được sự xuất hiện của các số magic trong hạt nhân và sự bền vững của hạt nhân, những yếu tố quan trọng để hiểu về hạt nhân nguyên tử” như trong thông cáo báo chí của trường Đại học Tổng hợp Osaka 2.  Truy tìm bằng chứng về con số kỳ diệu Z=6  Trong vật lý hạt nhân, các nhà lý thuyết đã đề xuất các con số kỳ diệu là 2, 8, 20, 28, 50, 82 hay 126. Sự bền vững trong kết cấu của các hạt nhân có số lượng proton (hoặc/và neutron) là một trong số các con số kỳ diệu khiến “muốn tách một neutron hoặc một proton ra khỏi hạt nhân hoặc đưa thêm vào hạt nhân cũng rất khó”, GS. TS Lê Hồng Khiêm – Viện trưởng Viện Vật lý và là một trong những tác giả của công bố, giải thích.  Được Mendeleev công bố vào năm 1869, bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học được dùng để minh họa tính tuần hoàn trong thuộc tính của các nguyên tố đã biết cũng như tiên đoán các thuộc tính của các nguyên tố chưa biết. Dù thấy các nguyên tử có số electron bằng một trong những số 2, 10, 18, 36, 54 và 86 rất bền vững về mặt hóa học nhưng với những hiểu biết lúc đó, người ta không thể giải thích được sự liên hệ của nó với tính chất hóa học của các nguyên tố tương ứng nên đã gọi là dãy số “kỳ diệu” của các nguyên tố hoá học. Chỉ đến khi cơ học lượng tử ra đời vào vào đầu thế kỷ 20, sự liên hệ này mới được giải thích dựa vào việc giải phương trình chuyển động (phương trình Schrodinger) của electron trong trường lực tĩnh điện (lực Coulomb).  Cùng khoảng thời gian đó các nhà khoa học cũng phát hiện ra dãy số tương tự cho các hạt nhân nguyên tử. Các hạt nhân có số proton hoặc neutron là một trong các số 2, 8, 20, 28, 50, 82, 126 sẽ trở nên bền vững hơn nhiều so với các hạt nhân lân cận. Với giả thuyết lực hạt nhân là lực điều hòa (harmonic ossilator) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách, các nhà khoa học giải thích được sự tồn tại của 2, 8,20 và dựa vào hiện tượng luận (phenomenological), Goeppert Mayer và J. Hans D. Jensen– hai nhà vật lý được trao giải Nobel 1963, đã đề xuất bổ sung lực tương tác spin quỹ đạo trong tương tác giữa các nucleon, nhờ đó giải thích về mặt lý thuyết sự tồn tại của 28, 50, 82 và 126, đồng thời tiên đoán, các số 6 và 14 cũng là các con số kỳ diệu, trong đó số 6 từ cấu trúc halo của các hạt nhân nhẹ.  Sau này, dù đã tìm được bằng chứng cho thấy 14 là con số “kỳ diệu” trong một số đồng vị của Silicon (Z=14) nhưng sự tồn tại của con số 6 vẫn là điều bí ẩn. “Đây là lý do vì sao GS I.Tanihata, nhà vật lý hạt nhân thực nghiệm xuất sắc của Nhật Bản từng khám phá ra cấu trúc halo và cấu trúc skin của các hạt nhân không bền giàu neutron, lại ấp ủ ý tưởng tìm câu trả lời. Chúng tôi may mắn có mối quan hệ thân thiết với ông từ năm 1989. Do đó, khi biết được ý định của ông, chúng tôi đã thảo luận với ông về kế hoạch thực hiện thí nghiệm về số 6 tại Đại học Tổng hợp Osaka, trong đó nhóm Việt Nam là nguồn nhân lực chính”, GS Lê Hồng Khiêm cho biết.  Để giải quyết được vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề theo hai hướng, lý thuyết và thực nghiệm, trong đó lý thuyết không chỉ để kiểm tra kết quả thực nghiệm mà còn đưa ra những tính toán mô phỏng để chuẩn bị cho việc thiết kế thí nghiệm, “yếu tố quan trọng đảm bảo thí nghiệm thành công” như nhận định của GS Lê Hồng Khiêm.    Bằng chứng về số magic proton bằng 6 (xem mũi tên màu xanh) thu được qua việc đánh giá một cách hệ thống các số liệu thực nghiệm. (a) Bán kính phân bố proton không phụ thuộc vào khối lượng hạt nhân. (b) Xác suất chuyển dời điện, (c) Khe vỏ proton (proton shell gap), (d) Sự phụ thuộc của khe vỏ proton vào số neutron và proton.  Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực nghiệm không hẳn dễ dàng. Để thiết kế được thí nghiệm cần có những hiểu biết sâu sắc về thực nghiệm và ngược lại, tiến hành thực nghiệm cũng cần có kiến thức về lý thuyết để nắm vững các bước, các quy trình cần thiết. Điều may mắn là từ TS. Hooi Jin Ong (Trung tâm nghiên cứu Vật lý hạt nhân) – tác giả chính, đến TS. Trần Đình Trọng (Viện Vật lý) – tác giả thứ nhất, hay các thành viên còn lại, cũng đều nắm khá vững yêu cầu, đặc biệt TS. Trần Đình Trọng là người có mặt trong hầu hết mọi công đoạn tính toán và thực nghiệm.  Trong thí nghiệm này, các nhà khoa học đã đo bán kính phân bố proton của các hạt nhân không bền được tạo ra trên tổ hợp gia tốc cyclotron và thiết bị tách hạt bằng từ trường tại Trung tâm nghiên cứu hạt nhân của Đại học Tổng hợp Osaka. Bán kính phân bố này được rút ra từ tiết diện phản ứng thay đổi điện tích. Đây là thí nghiệm rất phức tạp vì phải sử dụng nhiều detector – thiết bị dùng để ghi nhận sự hiện diện các hạt, hết sức hiện đại và đắt tiền, đồng thời đòi hỏi sự chuẩn bị phải kỹ đến từng chi tiết để đảm bảo sự thành công. Với sự hướng dẫn của GS I.Tanihata, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tính toán mô phỏng thiết kế detector MUSIC – thiết bị quan trọng đo quỹ đạo bay của các hạt, đặt hàng các nhà sản xuất Nhật Bản và tự tay lắp ráp thiết bị.  Thiết bị mới là một phần của thành công, phần công việc chính yếu của các nhà nghiên cứu là mô phỏng thiết kế thí nghiệm, viết các phần mềm phân tích số liệu on-line và off-line, tính toán lý thuyết dùng mô hình Glauber… để thực hiện nhiều thí nghiệm đo bán kính phân bố của các proton trong các đồng vị khác nhau của nguyên tố carbon (các đồng vị có cùng số proton nhưng có số neutron khác nhau) và tìm hiểu sự tách mức do tương tác spin – quỹ đạo đối với các đồng vị của carbon thông qua phân tích số liệu đo được.  TS. Trần Đình Trọng cho biết: “Việc kết hợp các kết quả đo bán kính phân bố proton với tốc độ chuyển dời tứ cực điện và số liệu về khối lượng nguyên tử đã cho phép chúng tôi đoán nhận rất có thể có một đồng vị của carbon với số magic bằng 6”. Trên thực tế, việc đoán nhận được số magic bằng 6 đã cho phép họ nghiên cứu nguồn gốc của việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo trong hạt nhân mà theo TS. Hooi Jin Ong,“việc tách mức tồn tại phổ biến ở tất cả các vùng hạt nhân”3.  Đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ  Trong một cuộc trao đổi vào tháng 1/2018, GS Lê Hồng Khiêm cho biết, để tiến hành những nghiên cứu vật lý hạt nhân hiện đại cần phải hội tụ rất nhiều yếu tố quan trọng, đó là: có đầy đủ trang thiết bị hệ máy gia tốc lớn, hệ điện tử ghi nhận…; lượng kinh phí đầu tư lớn; và nguồn nhân lực trình độ cao. “Hiện tại Việt Nam thiếu tất cả các yếu tố này, ví dụ về thiết bị tuy cũng đã có một số máy gia tốc nhưng các máy gia tốc này chưa đủ mạnh để nghiên cứu về hạt nhân không bền”, ông nhận xét. Đây cũng là lý do giải thích vì sao tất cả các thí nghiệm vật lý hạt nhân hiện đại của nhóm nghiên cứu của Viện Vật lý đều diễn ra tại các trung tâm nghiên cứu hạt nhân lớn trên thế giới, nơi có đầy đủ các thiết bị cần thiết. Thí nghiệm dẫn đến công bố này của chúng tôi cũng được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân của Đại học Tổng hợp Osaka và gần như toàn bộ kinh phí cần cho thí nghiệm cũng do Nhật Bản bỏ ra. “Nguồn lực đầu tư của Việt Nam chỉ hạn chế ở mức chi trả tiền vé máy bay đi lại và một phần kinh phí sinh hoạt cho một vài thành viên người Việt tham gia thí nghiệm” – ông nói.  Không thể so sánh về quy mô với những thí nghiệm vật lý năng lượng cao như ở Trung tâm hạt nhân châu Âu (CERN) thu hút cả nghìn người tham gia nhưng những thí nghiệm về vật lý hạt không bền cũng cần những tập thể khoa học khoảng vài chục người. GS Lê Hồng Khiêm cho biết, số lượng những nhà nghiên cứu Việt Nam có thể thực hiện được thí nghiệm này không nhiều nhưng công bố trên Nature Communications đã cho thấy: Việt Nam bắt đầu có những nhóm thực nghiệm có thể làm chủ và thực hiện được các thí nghiệm vật lý hạt nhân hiện đại, ví dụ “trong nghiên cứu này, nhóm Việt Nam đã tham gia gần như toàn bộ các công đoạn của thí nghiệm: tham gia thiết kế detector MUSIC, kiểm tra các detector, thiết kế lắp ráp thí nghiệm, đo on-line, phân tích số liệu thí nghiệm và tính toán lý thuyết… Đặc biệt, Trần Đình Trọng và Nguyễn Trần Thọ đã đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của thí nghiệm”.  Một điều đặc biệt là ngoại trừ GS Lê Hồng Khiêm, các thành viên còn lại đều rất trẻ và mới ở giai đoạn đầu của nghiên cứu, trong đó Trần Đình Trọng, Nguyễn Trần Thọ đều là các nghiên cứu sinh và kết quả của thí nghiệm này cũng là nội dung của hai luận án tiến sĩ của họ. “Việc tham gia những thí nghiệm như thế này đã đem lại cho các bạn trẻ những kiến thức mới, quan trọng hơn, họ nắm được toàn bộ quy trình thực hiện một thí nghiệm hạt nhân hiện đại. Đây là ‘thắng lợi’ lớn nhất mà chúng tôi có sau nghiên cứu này”, GS Lê Hồng Khiêm cho biết.  Vậy về lâu dài, vật lý hạt nhân Việt Nam cần làm những gì để có thêm những nhà nghiên cứu trẻ có trình độ cao? Theo quan điểm của GS Lê Hồng Khiêm, với những đặc thù riêng có của vật lý hạt nhân thực nghiệm, đặc biệt là nghiên cứu cấu trúc của các hạt nhân không bền, chỉ một số quốc gia trên thế giới đủ điều kiện đầu tư từ A đến Z cho các nghiên cứu như Nga, Mỹ, Nhật Bản, Pháp…, vì thế nhiều quốc gia cũng lựa chọn cách cử các nhóm nghiên cứu của họ tới các trung tâm lớn trên thế giới để tham gia thí nghiệm, qua đó đào tạo nhân lực và khi đủ người, tiến tới có thể thực hiện những thí nghiệm của riêng mình trên các thiết bị của họ. Việt Nam cũng áp dụng cách làm này của quốc tế và hi vọng khoảng 5-10 năm nữa sẽ đủ lực lượng trình độ cao để có thể tự thực hiện các thí nghiệm theo ý tưởng của mình tại các viện nghiên cứu lớn, ví dụ tại Viện Liên hợp hạt nhân Dubna mà Việt Nam là thành viên. Đây cũng là mục tiêu mà các nhà vật lý hạt nhân Việt Nam đặt ra trong tương lai gần.  ——-  1. https://physicsworld.com/a/neutron-rich-and-doubly-magic-nucleus-is-a-first/  2, 3. http://resou.osaka-u.ac.jp/en/research/2018/20180423_1       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Bằng chứng về cuộc sáp nhập ở Ngân hà cổ đại      Một phân tích dữ liệu từ đài quan sát vũ trụ Gaia nêu, các ngôi sao trong nội quầng của dải Ngân hà có nguồn gốc từ một thiên hà khác. Chính thiên hà này được cho là đã sáp nhập với Ngân hà khoảng 10 tỷ năm trước.      Dải Ngân hà từ dữ liệu của Đài quan sát Gaia. Nguồn ESA/Gaia/DPAC  Từ việc nghiên cứu những hình ảnh đẹp đẽ được thu thập từ các kính viễn vọng mặt đất và không gian thu được trong cả thế kỷ qua, các nhà thiên văn đã thấy các thiên hà có thể va chạm nhau. Trong bài báo “Cuộc sáp nhập dẫn đến sự hình thành của nội quầng sao và đĩa sao dày” (The merger that led to the formation of the Milky Way’s inner stellar halo and thick disk) xuất bản trên Nature, Helmi và đồng nghiệp đã dùng dữ liệu từ đài quan sát vũ trụ Gaia để xác định dải Ngân hà đã bị một thiên hà vệ tinh tấn công vào 10 tỷ năm trước. Vẫn còn ở quanh chúng ta đến tận ngày nay, các ngôi sao từ thiên hà vệ tinh đã kể lại cho chúng ta về câu chuyện cổ xưa này…  Được Cơ quan vũ trụ châu Âu lắp đặt vào năm 2013, Gaia thay thế cho Hipparcos – một vệ tinh năm đã đem đến những dữ liệu mang tính chính xác cao đầu tiên về những ngôi sao ở rìa Ngân hà. Gaia được thiết kế để có thể trực tiếp thực hiện những quan sát về đặc điểm, vị trí của những vật thể trong số một tỷ vật thể trên bầu trời. Nhiều bản đồ được tạo ra có thể được xem như một công việc tẻ nhạt nhưng việc Gaia lặp lại các phép đo đạc cũng có thể được dùng để xác định các khoảng cách và vận tốc chính xác trên bầu trời của 1% trong số tất cả các ngôi sao trong dải Ngân hà của chúng ta.  Thông tin từ Gaia này có thể được kết hợp với những phép đo quang phổ của vận tốc dọc theo tầm nhìn của người quan sát để làm ra những video cho thấy những chuyển động chính xác của các ngôi sao. Việc phát lại các video này giúp các nhà thiên văn học nghiên cứu cách Ngân hà của chúng ta được ráp nối và “tiến hóa” như thế nào.  Helmi và đồng nghiệp đã dùng dữ liệu thứ hai của sứ mệnh Gaia, vốn được công bố vào đầu năm nay, để phân tích chuyển động của các sao gần mặt trời (trong vòng khoảng cách 10 kiloparsecs. Các tác giả đã so sánh những quan sát với dự đoán từ các mô hình mô phỏng, trong đó dải Ngân hà và một thiên hà vệ tinh có khối lượng bằng 20% Ngân hà sáp nhập trong quá khứ. Những điểm tương đồng giữa chúng đều rõ nét, đặc biệt những chuyển động chi tiết của các ngôi sao tốc độ cao quay quanh trung tâm Ngân hà theo hướng ngược lại với mặt trời.    Với việc sử dụng các bộ dữ liệu thiên văn để tìm hiểu độ tuổi và các thành phần hóa học của các ngôi sao, Helmi và cộng sự đã xác định được nội quầng Ngân hà – một vùng bao quanh vùng đĩa sao dày này – đã được hình thành chủ yếu từ các ngôi sao ở thiên hà vệ tinh đó. Các ngôi sao này cung cấp cho họ một hồ sơ về cuộc va chạm thiên hà này và được ước lượng là diễn ra vào khoảng 10 tỷ năm trước.  Nhiều nhóm nghiên cứu khác đang làm việc với dữ liệu Gaia đã có được kết luận tương tự  với Helmi và đồng nghiệp, khi sử dụng những phương pháp phân tích hoặc những danh mục dữ liệu khác. Dẫu vậy, có những khác biệt nhỏ giữa kết quả của Helmi và cộng sự với các nhóm khác, như khối lượng của thiên hà vệ tinh, khi cuộc va chạm này xảy ra và liệu sự kiện này có sự tham gia của một thiên hà vệ tinh hay một vài thiên hà nhỏ.  Một kết luận mà tất cả các nhóm đều đồng ý là sự kiện này có thể đóng góp vào sự hình thành của đĩa sao dày của Ngân hà. Nếu một đĩa sao mỏng bao quanh trung tâm Ngân hà vào thời điểm sáp nhập, thì các quỹ đạo của những ngôi sao có thể bị gián đoạn. Về bản chất, các ngôi sao này có thể có một thành phần hóa học đặc biệt phản ánh thời kỳ trẻ của Ngân hà. Nhưng ngày nay, chúng có thể đã trở nên già và có mối liên hệ rất mờ nhạt trong các kim loại (các nguyên tố nặng hơn helium), và trong các quỹ đạo của một đĩa sao dày. Tất cả các nhóm nghiên cứu cho biết, có thể xác định các ngôi sao già trong dữ liệu của Gaia.    Thiên hà vệ tinh được đặt tên là Gaia – Enceladus. Nguồn: phys.org  Trong nhiều thập kỷ, các nhà thiên văn đã suy đoán về việc một thiên hà vệ tinh sáp nhập với Ngân hà trong quá khứ bởi nhiều sự kiện có thể giải thích về sự khác biệt trong những chuyển động và các chất hóa học của các ngôi sao trong khu vực gần mặt trời. Ví dụ, một trong những vật thể thông thường nhất của dải Ngân hà là Omega Centauri – một cụm sao rất đặc biệt và được cho là phần lõi của một thiên hà vệ tinh bị Ngân hà phá vỡ và hút lấy. Các nhà nghiên cứu đã đề xuất, một số ngôi sao được thấy trong dữ liệu Gaia có thể là mảnh vỡ của chính sự kiện này.  Bằng chứng một số ngôi sao được liên kết với một vụ sáp nhập đòi hỏi sự chính xác cao và vùng điều tra rộng của Gaia, trong sự kết hợp với những bộ dữ liệu lớn của các đặc tính quang phổ và hóa học của các ngôi sao. Suốt thập kỷ tới, hầu hết các đài quan sát quốc tế sẽ cung cấp cho chúng ta những cuộc điều tra lớn về quang phổ của các ngôi sao trong Ngân hà. Các điều tra này sẽ cung cấp dữ liệu mới để xác định các đặc điểm của nhiều ngôi sao trong thiên hà vệ tinh sáp nhập với Ngân hà.  Nhiệm vụ Gaia sẽ tiếp tục làm điều này trong vài năm nữa, làm tăng tầm nhìn của chúng ta về Ngân hà. Với việc dò tìm của Gaia để phát hiện thêm nhiều sao xuất phát từ thiên hà vệ tinh, các nhà thiên văn sẽ có khả năng tốt hơn để xác định khối lượng của thiên hà này và thời điểm cuộc sáp nhập diễn ra. Nó có thể giúp chúng ta nghiên cứu về lịch sử hình thành sao trong thiên hà vệ tinh trước lúc va chạm với Ngân hà.   Helmi và đồng nghiệp đặt tên cho thiên hà vệ tinh là Gaia – Enceladus nhằm để ghi nhớ đài quan sát vũ trụ cung cấp dữ liệu quan trọng. Enceladus cũng là tên một trong những người khổng lồ trong thần thoại Hi Lạp, con của nữ thần Gaia (Trái đất) và thần Uranus (vũ trụ). Theo thần thoại Hi lạp, ông được chôn cất tại núi Etna, Italia và là nguyên nhân gây ra các trận động đất ở khu vực này. Các tác giả đã đề xuất, đây là một cái tên phù hợp bởi Gaia–Enceladus thực sự là một gã khổng lồ, nếu so sánh với những thiên hà vệ tinh hiện nay và trong quá khứ của Ngân hà. Hơn thế, nó còn gây rung lắc dải thiên hà của chúng ta, dẫn đến sự hình thành của đĩa sao dày. Không kể đến cái tên này thì cũng rõ ràng là lịch sử của sự kiện sáp nhập đã được ghi lại trên những ngôi sao.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07193-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bằng chứng về sự tồn tại của hai hình thức chất lỏng của nước      Yoshiharu Suzuki, một nhà nghiên cứu ở Trung tâm Đo lường và đặc điểm tiên tiến, Viện nghiên cứu Khoa học vật liệu quốc gia (Nhật Bản), đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của hai hình thức chất lỏng của nước.      Trong bài báo xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, ông đã mô tả một thực nghiệm thực hiện với trehalose, một loại đường, và những gì ông có được từ đó 1.  Trong những năm 1970, một nhóm nghiên cứu ở trường đại học Boston đề xuất hai hình thức chất lỏng của nước – những lập luận của họ đủ thuyết phục nên nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều thí nghiệm để xác thực chúng. Sau đó trong năm 2014, Suzuki hợp tác với các đồng nghiệp ở Osamu Mishima, đã kiểm tra ý tưởng này bằng việc sử dụng một nhũ tương để phân tán những giọt nước nhỏ xíu khi nhiệt độ của một dung dịch thấp hơn mức nhiệt độ đóng băng. Các thực nghiệm cho thấy có những tín hiệu của một chuyển pha chất lỏng – chất lỏng nhưng không có bằng chứng trực tiếp. Trong các nỗ lực chứng minh này, họ sử dụng các dung dịch glycerol. Trong nghiên cứu mới, Suzuki đã thực hiện nhiều thí nghiệm tương tự nhưng lần này sử dụng trehalose cho chất hòa tan. Trehalose là một dạng đường được sản xuất tự nhiên như một hình thức chống đông đặc.  Thực nghiệm của Suzuki đã đặt áp suất lên chất hòa tan này một mức xấp xỉ 0,6 GPa và nhiệt độ thấp hơn 159 K. Sau đó ông đã đặt lại mức áp suất này lên dung dịch và nhận thấy nó chuyển sang pha thủy tinh, vốn ngăn dung dịch này khỏi phân tách thành các pha chất tan và đá tinh khiết. Khi nhiệt độ được giảm xuống, mật độ của dung dịch tăng lên trước khi chuyển thành thủy tinh và lại suy giảm khi nhiệt độ tăng. Do đó, ông đề xuất sự thay đổi về mật độ của dung dịch chứng tỏ chất lỏng tồn tại trong hai hình thức – và do dung dịch này chứa nước, thực nghiệm đã chứng tỏ nước có thể tồn tại ở hai hình thức.  Suzuki đề xuất sự thay đổi về mật độ là một ví dụ về một chuyển pha bậc một và nó cho thất nhiều chuyển pha lỏng phải bắt đầu với một hạt nhân mềm và sau đó gia tăng. Ông cũng đề xuất là chuyển pha trên thực tế xuất hiện để diễn ra bên trong một vòng trễ (hysteresis loop). Chiều rộng của vòng, ông lập luận, ‘nuôi lớn’ những hạt nhỏ hơn khi nhiệt độ gia tăng, và ngược lại – và có thể biến mất ở mức nhiệt độ là 170K – một điểm có thể tái hiện điểm chuyển pha. Ông cũng cho rằng cần nhiều thực nghiệm để chứng minh lý thuyết của mình nhưng vẫn tin tưởng lý thuyết mà mình đề ra đã chứng tỏ nước có hai hình thức chất lỏng.  Thanh Phương tổng  hợp  Nguồn bài và ảnh: https://phys.org/news/2022-02-evidence-liquid.html  https://www.chemistryworld.com/news/direct-evidence-emerges-for-the-existence-of-two-forms-of-liquid-water/4015144.article  —————–  1.https://www.pnas.org/content/119/5/e2113411119    Author                Quản trị        
__label__tiasang Băng hóa nhà máy điện nguyên tử Fukushima      Một vòng băng được hình thành trong lòng đất để bao bọc nhà máy điện nguyên tử Fukushima, ngăn không cho phóng xạ tràn ra ngoài. Chưa biết biện pháp này sẽ thành công đến đâu. Công nghệ đóng băng được biết đến trong ngành khai mỏ, tuy nhiên chưa bao giờ được áp dụng với quy mô như ở Nhật Bản.     Đối với Tepco, công ty điều hành nhà máy điện nguyên tử Fukushima bị hư hỏng, thì nước ngầm vẫn là một vấn đề lớn. Nước tiếp tục rò rỉ từ khu nhà máy hoang phế, tạo thành những dòng chảy không thể kiểm soát và gây nhiều khó khăn cho công tác khắc phục hậu quả. Hơn nữa, nước lại mang theo các nguyên tố nhiễm phóng xạ. Cùng với lượng nước mà Tepco bơm từ bên trên vào nhà máy để làm nguội lõi phản ứng, lượng nước bị nhiễm xạ hình thành hằng ngày, theo các nhà quan sát, có thể lên đến một ngàn tấn.   Tuy nước nhiễm xạ được bơm, lọc và tái sử dụng để làm lạnh nhưng mỗi ngày vẫn dư hơn 400 tấn. Lượng nước này được đưa vào những bể chứa nước mới. Tuy nhiên cuối tuần qua lại có hiện tượng nước nhiễm xạ bị rò rỉ từ đây. Hậu quả: nước ngầm ở khu vực bên ngoài nhà máy điện nguyên tử ngày càng bị nhiễm xạ nhiều hơn. Người ta còn lo ngại nước nhiễm xạ chảy ra biển ở gần đó và gây ô nhiễm. Một vòng băng trong lòng đất bao quanh các lò phản ứng từ số 1 đến số 4 được triển khai nhằm ngăn chặn vĩnh viễn sự rò rỉ này.   Cuối tuần qua, được biết mức độ nhiễm xạ ở khu vực nhà máy cao hơn nhiều so với thông tin đã được công bố, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe tuyên bố Chính phủ Nhật chi 47 tỷ Yên (360 triệu Euro) để khắc phục tình trạng này.   Theo kế hoạch, người ta sẽ băng hóa đất ở khu vực nhà máy. Những ống làm lạnh được tuồn xuống dưới lòng đất, dung dịch làm lạnh sẽ được bơm vào qua hệ thống ống dẫn này. Chất lỏng làm lạnh này thường là nước muối ở nhiệt độ âm 35 độ C, có khả năng làm lạnh đất ở gần miệng ống từ đó làm cho nước ngầm bị đóng băng. Một vòng băng được hình thành quanh khu vực lò phản ứng nên nước ở bên trong vòng băng không thể chảy ra ngoài, đồng thời nước ngầm ở bên ngoài cũng không thể ngấm vào bên trong.     Hiện có khoảng 1.000 thùng chứa nước trong khuôn viên   nhà máy điện nguyên tử với sức chứa khoảng 335.000 tấn nước    “Khi cần, người ta có thể duy trì tình trạng này trong một thời gian rất dài”, theo giáo sư cơ học Joachim Bluhm thuộc Đại học Duisburg (Đức). Giáo sư Bluhm nói, để hình thành được lớp băng, đòi hỏi một nguồn năng lượng rất lớn, nhưng để duy trì được tình trạng này thì tiêu hao năng lượng tương đối thấp.  Kỹ sư xây dựng Helmut Haß cũng nhận xét, việc băng hóa đất nền có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp khác như bơm hóa chất hay làm tường chắn bằng cát và sỏi với keo dính.    Haß nói: phương pháp này có thể áp dụng cả ở độ sâu tới 600 mét, hơn nữa lớp tường băng này bảo đảm bảo kín 100%.  Phương pháp băng hóa có từ thế kỷ 19 và được áp dụng trong lĩnh vực khai khoáng. Helmut Haß và doanh nghiệp của ông, CDM Smith, đã dùng phương pháp băng hóa để gia cố tháp nghiêng Pisa. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp băng hóa để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm đất ở Fukushima được coi là một tình huống ngoại lệ. Đầu tư cho biện pháp băng hóa lên đến nhiều triệu đôla. Tuy nhiên do không nắm được các điều kiện chi tiết ở Fukushima nên các chuyên gia không thể nêu các con số chính xác.    Tuy đã có kinh nghiệm và biết rõ về những ưu điểm của phương pháp này, ông Haß vẫn cho rằng, cần phải thận trọng khi đánh giá cơ hội thành công đối với biện pháp cứu nguy ở Fukushima vì đây là một dự án có quy mô khổng lồ chưa từng có từ trước đến nay.   Nguyễn Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Băng Nam Cực đang tan chảy từ bên dưới      Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa lý Mỹ, thềm băng ở Nam Cực đang tan chảy từ phía dưới mạnh mẽ hơn từ các cạnh.     Nam Cực chứa một lượng băng lớn nhất của thế giới. Nếu băng ở Nam Cực tan chảy hoàn toàn sẽ làm mực nước biển dâng lên 58 mét.   Trước đây người ta cho rằng, các thềm băng mất khối lượng chủ yếu bởi sự vỡ ra của các núi băng; và chỉ một lượng ít băng mất đi do sự tan chảy dưới đáy của thềm băng mà nguyên nhân là bởi nước biển ấm lên.   Eric Rignot và các nhà nghiên cứu ở trường ĐH California ở TP Irvine tính toán tỷ lệ tan chảy băng bằng cách sử dụng Radar, siêu âm, máy đo độ cao (cao kế) và một mô hình khí quyển. Kết quả đáng ngạc nhiên: 55% lượng băng bị mất, tức là 1.325 giga tấn băng, do tan chảy từ phía dưới lớp băng, chỉ có 45% bị mất do sự vỡ ra của các tảng băng.  Đông nam Thái Bình Dương ấm áp  Các thềm băng khổng lồ Ross, Filchner, Ronne chiếm hai phần ba diện tích băng Nam Cực nhưng lượng băng mất đi chỉ là 15%. Gần nửa lượng băng mất đi là từ 10 thềm băng nhỏ ở đông nam Thái Bình Dương, trong khi chúng chỉ chiếm 8% diện tích bề mặt băng Nam Cực.  Các nhà nghiên cứu cho hay, “Thềm băng dọc bờ biển Đông Nam Thái Bình Dương nhạy cảm với sự nóng lên của đại dương và các dòng chảy, nó mỏng đi và mất dần khối lượng nhanh chóng.” Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không nắm được sự cân bằng lượng băng tổng thể. Một số vùng băng giữ được cân bằng, ổn định, một số thì phát triển, số khác lại bị mất dần đi.  Nhà hải dương học Hartmut thuộc Viện Alfred-Wegener (AWI) ở Bremenhaven (Đức) trong một nghiên cứu cho hay: “Băng ở Nam Cực mất đi do tan chảy từ phía dưới nhiều hơn do sự vỡ ra của các tảng băng. Đáng ngạc nhiên là, những thềm băng nhỏ lại đóng vai trò lớn trong việc mất mát băng ở Nam Cực. Hiện tại, các thềm băng lớn không bị mất đi khối lượng, vì chúng không bị tan chảy từ phía dưới bởi sự nóng lên của nước biển.”     Diệu Hoa dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Băng ở Bắc cực đang tan nhanh hơn dự đoán      Các nhà nghiên cứu thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) cảnh báo như vậy và nhấn mạnh quá trình này dần tiến đến ngưỡng không thể quay trở lại như trước đây.      Lượng băng ở Greenland và ở biển Bắc cực chỉ còn khoảng 2,9 triệu m3 và 4,4 triệu m3, mức thấp nhất từ trước tới nay; lượng băng hiện nay đã bị thu hẹp tới 39% so với lượng băng trung bình giai đoạn 1979-2000. Cũng theo WWF, băng tan nhanh có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của loài gấu trắng Bắc cực ở Canada, nơi tập trung 2/3 số gấu trắng Bắc cực. “Các nhà khoa học trước đó dự báo băng tan đồng nghĩa với việc gấu trắng Bắc cực có thể tuyệt chủng vào năm 2050. Tuy nhiên, các bằng chứng mới đây cho thấy sự kiện này thậm chí sẽ diễn ra sớm hơn”-Peter Ewins, giám đốc phụ trách bảo tồn các loài của WWF tại Canada, cảnh báo.   Minh Anh (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bào chế Nano Curcumin chất lượng ngang của Mỹ      Ngày 29/10, Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam đã giới thiệu về  việc bào chế thành công Nano Curcumin từ nguồn Curcumin  chiết xuất từ cây nghệ vàng trồng trong nước tại một hội thảo khoa học.    Đây là đơn vị đầu tiên của Việt Nam chiết xuất thành công Nano Curcumin từ cây nghệ vàng, với kích thước tiểu phân nanno 50-70nm, độ tan trong nước đạt 10%, với tiêu chuẩn chất lượng tương đương chế phẩm Nano Curcumin của Mỹ, cao hơn chế phẩm của Ấn Độ, Trung Quốc…  Giáo sư Đào Văn Phan – Nguyên chủ nhiệm Bộ môn Dược lý Trường Đại học Y Hà Nội cho hay, trong y học cổ truyền, cây nghệ vàng được sử dụng như một vị thuốc với nhiều công dụng như liền vết thương, mờ sẹo, chữa đau dạ dày, giải độc gan, co hồi tử cung sau sinh… Nhiều nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng đã chứng minh Curcumin có nhiều hoạt tính sinh học quý như chống viêm, kháng khuẩn, chống ung thư, bảo vệ gan, thận…  Tuy nhiên, hạn chế chính giới hạn khả năng ứng dụng Curcumin trong điều trị là độ tan và hấp thu rất thấp. Hoạt chất đem lại tác dụng của nghệ vàng là Curcumin (chỉ chiếm 0,3%).  Vì vậy, Nano Curcumin được các nhà khoa học bào chế bằng công nghệ nano giúp tăng độ hấp thu lên 95% và hiệu quả điều trị gấp 40 lần so với Curcumin thông thường, trong khi Curcumin ít tan và gần như không có khả năng xâm nhập vào các tế bào và khối tế bào ung thư.  Tại hội thảo, GS Nguyễn Văn Hiệu – Chủ tịch Hội đồng khoa học ngành khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm và khoa học công nghệ Việt Nam khẳng định đây là bước tiến của ngành hóa dược Việt Nam trong việc đưa các sản phẩm nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn cuộc sống.  Theo GS Hiệu, hiện nay trên thế giới mới chỉ có gần chục sản phẩm được chiết xuất Curcumin từ cây nghệ vàng. Tại hội thảo, giáo sư Hiệu cũng chia sẻ việc chuyển giao Nano Curcumin cho Công ty Dược Mỹ phẩm CVI đưa ra thị trường với tên gọi CumarGold.  Cây nghệ vàng là cây thuốc quý, được đánh giá cao trong số rất nhiều các cây thuốc cổ truyền. Hoạt chất chính tạo nên màu vàng và tác dụng chữa bệnh của cây nghệ là Curcumin.  Với các dược chất ít tan của Curcumin, công nghệ nano giúp tăng độ tan tăng khả năng hấp thu, duy trì nồng độ cao trong máu, tăng hiệu quả điều trị.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bào chế vắc-xin ngừa sốt rét từ… muỗi!      Một nhóm chuyên gia quốc tế, dẫn đầu bởi Stephen Hoffman, đang phát triển một loại vắc-xin chống bệnh sốt rét được bào chế từ ký sinh trùng Plasmodium falciparum làm yếu đi.      Nhóm nghiên cứu đã dùng máu có nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum để nuôi muỗi có khả năng truyền bệnh sốt rét cho con người. Hai tuần sau, ký sinh trùng đã lan tràn trong ruột muỗi và di chuyển lên tuyến nước bọt của chúng. Sau đó, những con muỗi này được xử lý bằng phóng xạ để làm yếu ký sinh trùng trong cơ thể chúng. Và các chuyên gia đã xử lý những ký sinh trùng đã được làm yếu đó để bào chế vắc-xin. Mỗi con muỗi có thể cho ra 2 liều vắc-xin.   Minh Quang (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bão có xu hướng mạnh hơn, di chuyển chậm và đi xa hơn      Những xu hướng toàn cầu cho thấy các cơn bão đang mạnh dần lên, di chuyển chậm hơn trên đất liền và lệch xa hơn về phía bắc và phía nam đường xích đạo.      Hình ảnh vệ tinh cơn bão Katia, Irma và Jose vào tháng 9/2017. Nguồn: UW-Madison CIMSS  Với những thay đổi này, các đợt gió trở nên mạnh hơn, lũ lụt gia tăng và gây rủi ro cho những thành phố trước đây chưa từng phải hứng chịu những loại bão này.  Bão nhiệt đới, hay còn gọi là xoáy thuận nhiệt đới là hệ thống áp thấp nhiệt đới được hình thành trên mặt nước ấm của đại dương và có thể đạt tới kích thước khổng lồ, mang theo mưa lớn, gió giật dữ dội và bão dâng. Thậm chí, chúng có thể sinh ra lốc xoáy. James Kossin là một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm thông tin môi trường quốc gia của Cơ quan quản lý khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ. Công bố PNAS của ông dựa trên dữ liệu vệ tinh thời tiết về bão trong vòng hơn 40 năm từ 1979-2017, cho thấy xu hướng gia tăng sức gió tối đa trong các trận bão, nghĩa là các cơn bão đã mạnh dần lên. Kossin nói: “Trên toàn cầu, chúng tôi thấy mức thay đổi khoảng 6% mỗi thập kỷ. Những cơn bão hiện nay có nhiều khả năng có cường độ lớn hơn so với những cơn bão ở các thập kỷ trước”  Bão bắt đầu vòng đời của chúng dưới dạng áp thấp nhiệt đới nhỏ nhưng không được phân loại là bão lớn cho đến khi tốc độ gió vượt quá 111 dặm/giờ (tức trên 178km/h). Số lượng cơn bão trên toàn cầu hiện có khả năng đạt hoặc vượt qua ngưỡng tốc độ gió tối đa này tăng 25% so với 40 năm về trước.  Nghiên cứu về cường độ bão của Kossin bổ sung vào hệ thống các nghiên cứu ngày càng tăng về việc Trái đất ấm lên đã ảnh hưởng đến các thuộc tính của bão, như bão di chuyển chậm lại và xuất hiện ở các địa điểm mới. Trong khi gió lớn gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho các thành phố và cư dân, thì lũ lụt do bão gây ra lại là tác động chết người lớn nhất của chúng.  Trong một bài báo liên quan được xuất bản trên Nature năm 2018, Kossin đã so sánh dữ liệu theo dõi đường đi và cường độ bão trên toàn thế giới trong 68 năm (1949-2016). Đây được xem là dữ liệu theo dõi tốt nhất từ NOOA và các cơ quan khác để xác định những thay đổi về tốc độ di chuyển của bão. Kossin nhận thấy rằng, trên toàn thế giới, tốc độ di chuyển của bão đã chậm lại trung bình 10%. Kossin nói: “Chỉ cần giảm 10% tốc độ dịch chuyển của bão có thể tạo ra tổng lượng mưa gấp đôi so với khi nóng lên toàn cầu tăng thêm 1oC.”  Bão chậm lại có thể do hệ thống áp suất cao và áp suất thấp trở nên cân bằng hơn. Hành tinh ấm dần lên sẽ làm giảm bớt khác biệt giữa 2 hệ thống áp suất, dẫn đến ít động lực cần thiết để đẩy bão đi. Thêm vào đó, bầu khí quyển ấm hơn sẽ giữ nhiều hơi ẩm hơn, tạo điều kiện cho bão mang thêm hơi nước để trút xuống đất liền. Nói chung, chênh lệch 1oC trong khí quyển dẫn đến độ ẩm trong không khí nhiều hơn 7%.  Tuy nhiên, tốc độ di chuyển bão không giảm giống nhau ở mọi nơi. Có bốn vùng bão riêng biệt trên toàn cầu và mỗi vùng có tốc độ chậm lại khác nhau. Trong 68 năm qua, khu vực Bắc Đại Tây Dương đã chứng kiến ​​sự suy giảm 6%, trong khi khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (gồm Đông Nam Á) bão đã giảm 20% tốc độ. Khu vực gần Australia giảm khoảng 15% và khu vực Hoa kỳ đã chứng kiến ​​mức giảm 17% kể từ năm 1900.  Di chuyển về hai cực  Hầu hết các cơn bão hình thành và duy trì ở vùng biển ấm 80–89 độ F (tức 26,6 – 31,6oC). Những vùng nhiệt độ ấm áp này thường thấy ở khu vực phía bắc và phía nam đường xích đạo. Một nghiên cứu của Kossin được công bố trên Nature năm 2014 đã chỉ ra xu hướng những cơn bão đang vượt ra ngoài phạm vi thông thường, tiến xa hơn về phía bắc và phía nam.  Được gọi là hiện tượng di cư cực, phân tích này dựa trên dữ liệu bão trong 30 năm và xem xét nơi các cơn bão đạt sức gió duy trì tối đa. Kossin xác định rằng cứ mỗi thập kỷ, các cơn bão lại dịch chuyển thêm 32 dặm ở bán cầu bắc và 38 dặm ở bán cầu nam (tức lần lượt 51km và 61km). Nghiên cứu tiếp tục phân tích các khu vực bão cụ thể như Bắc Đại Tây Dương và Tây Bắc Thái Bình Dương. Kossin cho biết: “Điều này có thể gây ra những tác động lớn đến các thành phố không quen với việc ​​những cơn bão kiểu này đổ bộ. Kể từ khi nghiên cứu được đưa ra vào năm 2014, chúng tôi tiếp tục xem xét các xu hướng và giờ đây hoàn toàn tin rằng cuộc di cư vùng cực ở Tây Bắc Thái Bình Dương có dấu ấn của con người.”  Điều này nghĩa là biến đổi khí hậu do tác động của con người đã đóng góp phần khiến những cơn bão vượt ra khỏi ranh giới truyền thống của chúng, ít nhất là tại một số vùng đại dương. Trái đất ấm lên cũng ảnh hưởng đến những mô hình gió toàn cầu. Khi một cơn bão di chuyển xa hơn về phía bắc và nam so với vùng nhiệt đới, nó gặp phải sức cắt gió thẳng đứng mạnh hơn, có thể làm biến dạng cơn bão và khiến chúng suy yếu. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đang làm giảm sức cắt của gió ở các vĩ độ, tạo điều kiện cho bão dịch chuyển về phía cực.  Việc tiếp tục đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới bão là công cụ để bảo vệ các cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề do bão. Với dữ liệu mới về bão mỗi năm, Kossin có thể quan sát nhiều hơn để nghiên cứu và vạch ra các xu hướng — cho dù đó là cường độ hay chuyển động của bão theo thời gian. Đến nay, kết quả nghiên cứu của ông làm dấy lên nhiều lo ngại. Kossin nhận xét: “Hành vi của bão trên toàn cầu ngày càng thay đổi rõ ràng theo những hướng rất nguy hiểm khi hành tinh ấm lên”.  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-trends-hurricane-behavior-stronger-slower.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bao giờ có vacxin cúm gia cầm cho người?      Các thông tin về dịch cúm ngày càng trở nên nóng bỏng. Hàng ngày, hàng giờ đều có thêm thông tin mới về dịch bệnh. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm liên tục đưa ra những lời cảnh báo. Một đại dịch có thể giết chết hàng triệu người trên toàn thế giới dường như sẽ ào đến vào mùa đông này. Không có cách nào để kiểm soát những con chim di cư – nguồn gốc của sự phát tán virut H5N1 trên toàn thế giới – người ta đành cố gắng kiểm soát dịch ở đàn gia cầm và nhanh chóng sản xuất vacxin H5N1 cho người. Tuy nhiên, vacxin cho người mới chỉ trong giai đoạn thử nghiệm trên người hoặc được sản xuất với số lượng rất hạn chế    Tại hội nghị Ottawa diễn ra vào cuối tháng 10 vừa qua, Bộ trưởng Y tế nhiều nước kêu gọi các nước có kho dự trữ vacxin chia sẻ cho các nước nghèo từ  5–10%. Tuy nhiên, khả năng này là rất mong manh vì kho dự trữ này không nhiều và ngay nước Mỹ vào thời điểm đó cũng chỉ có 2 triệu liều dự trữ.  Ở Việt Nam, từ tháng 4 năm 2004, một nhóm các nhà khoa học ở Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương do GS Hoàng Thủy Nguyên, nguyên Viện trưởng Viện này đứng đầu đã bắt tay vào nghiên cứu chế tạo vacxin H5N1. Tháng 4 năm 2005, PGS Nguyễn Thu Vân, Giám đốc Công ty Vacxin và sinh phẩm 1, thành viên trong nhóm nghiên cứu cho biết kết quả thử nghiệm trên khỉ, loài động vật gần với người nhất đã cho kết quả rất tốt và nhóm nghiên cứu hy vọng tháng 9 sẽ thử nghiệm trên nhóm nhỏ (20 – 30) người tình nguyện. Nếu diễn tiến đúng như mong đợi, vào cuối năm 2005, Việt Nam sẽ có vacxin H5N1. Tuy nhiên, đến tháng 11 vừa qua, thử nghiệm thực địa lâm sàng vẫn chưa được tiến hành.  Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhóm các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trong điều kiện không đảm bảo đúng theo quy định của WHO về sản xuất vacxin. WHO cho rằng chủng vi rút do Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương sử dụng để sản xuất và việc sử dụng tế bào thận khỉ nguyên phát để nuôi cấy chủng vi rút không đảm bảo an toàn.  Trước tình hình đó, một cuộc họp giữa Bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Y tế đã được tiến hành vào ngày 26/10. Thứ trưởng của hai Bộ đã thảo luận xung quanh khả năng sản xuất vacxin H5N1 của Việt Nam. “Chúng tôi kỳ vọng cuộc họp sẽ thúc đẩy tiến trình sản xuất vacxin H5N1 nhưng kết quả không như mong đợi. Chúng tôi vẫn tiếp tục phải chờ” – PGS Nguyễn Thu Vân nói. Hiện Viện Vệ sinh dịch tễ đang chuẩn bị đệ trình lên Hội đồng khoa học của Bộ KH&CN, Bộ Y tế hồ sơ và các trình tự thủ tục về việc tiến hành thử nghiệm vacxin phòng cúm H5N1 trên người.  Theo nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học trên thì virut H5N1 hết độc lực sẽ được nuôi trên tế bào thận khỉ bởi vậy đảm bảo nguồn khỉ sạch (không có virut tiềm tàng) là rất quan trọng. Đề án nâng cấp đảo Rều (Quảng Ninh) để chăn nuôi khỉ sạch phục vụ công tác nghiên cứu đã được phê duyệt. Những khâu đầu tiên của dự án đang được tiến hành. Trước đó, Bộ Y tế đã trình Chính phủ phê duyệt việc xây dựng hai phòng thí nghiệm an toàn cấp độ III đặt tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ của Nhật Bản. Nhưng theo dự kiến thì đến cuối năm 2006 việc xây dựng mới hoàn tất. Giả sử nhóm nghiên cứu được phép tiến hành thử nghiệm thực địa và thử nghiệm thành công thì cũng còn rất nhiều việc phải làm như xây dựng dự án, đầu tư thiết bị, cơ sở…  Vấn đề quan trọng nhất, như Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo, là Việt Nam phải sớm có vacxin H5N1 cho người để chủ động đối phó với dịch cúm gia cầm.  Nguyễn Văn Vạn  Nguyễn Văn Vạn    Nguồn tin: Tia Sáng          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bao giờ đại dịch hạ màn?      Coronavirus vẫn sẽ tiếp tục tồn tại – đây là dự đoán của các nhà khoa học về tình hình thế giới trong nhiều năm tới.      Tháng 6 năm 2021. Đã một năm rưỡi trôi qua kể từ khi thế giới lao đao vì đại dịch. Virus vẫn tiếp tục lây lan một cách âm ỉ, tình trạng phong tỏa theo từng đợt trở thành trạng thái bình thường mới. Một loại vaccine đã được phê duyệt có thể bảo vệ con người trong sáu tháng, nhưng vì trục trặc trong thỏa thuận quốc tế mà việc phân phối vaccine cũng gián đoạn liên tục. Ước tính thế giới có 250 triệu ca nhiễm và 1.75 triệu ca tử vong.   Đó chỉ là một trong số những kịch bản có thể xảy ra trong tương lai. Trên khắp thế giới, các nhà dịch tễ học đang xây dựng những dự báo ngắn hạn và dài hạn như một cách để lên kế hoạch chuẩn bị nhằm giảm thiểu sự lây lan và tác động của SARS-CoV-2, loại virus gây ra Covid-19. Mặc dù các dự báo có những điểm khác nhau, nhưng các nhà lập mô hình về cơ bản đều thống nhất với nhau ở hai điều: Covid-19 vẫn sẽ tồn tại, rất khó để đoán định tương lai phía trước, bao gồm cả việc con người có thể phát triển khả năng miễn dịch lâu dài với virus hay không, liệu sự lây lan của nó có thay đổi theo mùa, và – có lẽ quan trọng nhất – lựa chọn của chính phủ và mỗi cá nhân. “Nhiều nơi đã tháo dỡ lệnh phong tỏa, nhiều nơi thì không. Chúng ta không thực sự biết được chuyện gì sẽ xảy ra”, Rosalind Eggo, nhà lập mô hình về bệnh truyền nhiễm tại Trường Y học Nhiệt đới và Vệ sinh dịch tễ London (LSHTM) cho biết.      Tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 sẽ cao hơn vào mùa đông. Không khí khô vào mùa đông khiến các loài virus gây bệnh hô hấp dễ dàng lây truyền hơn, và khả năng miễn dịch của đường hô hấp cũng có thể bị suy giảm khi hít phải không khí khô.” Akiko Iwasaki, nhà miễn dịch học tại ĐH Yale ở New Haven, Connecticut      Joseph Wu, nhà lập mô hình về dịch bệnh tại Đại học Hong Kong thì cho rằng: “Tương lai sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự gắn kết của xã hội và các cách thức mà chúng ta đưa ra để phòng ngừa dịch bệnh.” Các mô hình gần đây cũng như những đợt phong tỏa hiệu quả tại các nước là minh chứng cho thấy thay đổi hành vi có thể làm giảm sự lây lan của Covid-19 nếu hầu hết mọi người đều tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch.  Còn Yonatan Grad, nhà dịch tễ học tại Trường Y tế Công cộng Harvard T. H. Chan ở Boston, Massachusetts, cho biết nhiều nước đang nới lỏng lệnh phong tỏa, khiến một số người cho rằng đại dịch đang dần kết thúc. “Nhưng không phải thế. Chúng ta còn cả một chặng đường dài.”   Điều gì sẽ xảy ra trong tương lai gần?  Đại dịch không diễn ra theo cùng một cách từ nơi này sang nơi khác. Các quốc gia như Trung Quốc, New Zealand và Rwanda đã phần nào kiểm soát được dịch bệnh sau khi tiến hành phong tỏa đất nước, họ đang dần nới lỏng lệnh cấm trong khi vẫn theo dõi đề phòng các đợt bùng phát. Ở những nơi khác, chẳng hạn như Mỹ và Brazil, các ca mắc đang tăng nhanh sau khi chính phủ vội vàng gỡ bỏ lệnh cấm, hay thậm chí là chưa bao giờ đưa ra chính sách phong tỏa trên toàn quốc.   Tuy vậy, trong bối cảnh các nước đang nới dần lệnh phong tỏa, các nhà khoa học đã đưa ra một tín hiệu lạc quan. Các bằng chứng ban đầu cho thấy rằng những thay đổi trong hành vi cá nhân, chẳng hạn như rửa tay và đeo khẩu trang, có thể giúp ngăn chặn làn sóng lây lan của dịch bệnh. Tháng sáu vừa qua, một nhóm nghiên cứu tại Trung tâm MRC về Phân tích Bệnh Truyền nhiễm Toàn cầu tại Đại học Imperial College đã phát hiện ra rằng trong số 53 quốc gia bắt đầu mở cửa, không quốc gia nào bùng phát dịch bệnh trở lại như dự đoán trước đó. “Người ta đã đánh giá thấp mức độ thay đổi hành vi của mọi người trong việc đeo khẩu trang, rửa tay và giãn cách xã hội”, Samir Bhatt, nhà dịch tễ học về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Imperial London và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.  Các nhà nghiên cứu cũng đã tiến hành xem xét mức độ hữu ích của những hành vi này. Tại Đại học Anhembi Morumbi ở São Paulo, Brazil, nhà sinh vật học tính toán Osmar Pinto Neto và các đồng nghiệp đã thực hiện hơn 250.000 mô hình toán học về các chiến lược giãn cách xã hội, từ liên tục, gián đoạn, cho đến giảm dần các lệnh cấm – bên cạnh những can thiệp về hành vi như đeo khẩu trang và rửa tay. Họ kết luận: nếu 50–65% người dân thận trọng ở nơi công cộng thì mức độ lây nhiễm sẽ vẫn ở mức thấp dù chính phủ có bắt đầu nới lỏng các lệnh cấm hay không. “Chúng ta cần phải thay đổi cách tương tác với nhau. Nhìn chung, các hành vi có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể trong việc lây lan dịch bệnh”, ông nói thêm.     Jorge Velasco-Hernández, nhà lập mô hình về bệnh truyền nhiễm thuộc Đại học Tự trị Quốc gia Mexico ở Juriquilla, đã cùng các đồng nghiệp xem xét mối quan hệ giữa việc phong tỏa và các biện pháp bảo vệ cá nhân. Họ phát hiện ra rằng nếu 70% dân số Mexico cam kết thực hiện các biện pháp như rửa tay và đeo khẩu trang kể từ khi lệnh phong tỏa được ban hành từ cuối tháng ba, thì dịch bệnh sẽ giảm hẳn sau khi đạt đỉnh vào cuối tháng năm hoặc đầu tháng sáu. Tuy nhiên, khi chính phủ dỡ bỏ các biện pháp phong tỏa vào ngày 1 tháng 6, thay vì giảm, số ca tử vong hằng tuần do Covid-19 vẫn ở mức cao. Nhóm nghiên cứu của Velasco-Hernández cho rằng lượng người đổ ra đường vào hai ngày nghỉ lễ từ trước khi chính phủ tháo bỏ lệnh cấm đã khiến dịch bệnh lây lan nhanh chóng.   Cũng theo nhóm nghiên cứu của Trung tâm Mô hình Toán học về Các bệnh Truyền nhiễm tại LSHTM, việc truy vết phải được tiến hành nhanh chóng và rộng rãi – truy tìm 80% số người tiếp xúc gần trong vòng vài ngày – nếu muốn kiểm soát ổ dịch. 80% là một con số quá lớn, gần như không thể nào đạt được, nhất là tại các khu vực vẫn đang vật lộn với hàng ngàn ca nhiễm mới mỗi tuần, chưa kể số ca mắc trên thực tế còn nhiều hơn so với công bố. Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã tiến hành phân tích dữ liệu xét nghiệm Covid-19 từ 84 quốc gia và phát hiện ra rằng số ca dương tính trên thế giới cao gấp 12 lần và số ca tử vong cao hơn 50% so với báo cáo chính thức. “Do vậy, nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng cao hơn mức chúng ta có thể tưởng tượng rất nhiều”, John Sterman, đồng tác giả của nghiên cứu và là giám đốc của MIT System Dynamics Group, cho biết.  Hiện tại, các nỗ lực nhằm kiểm soát dịch bệnh, như giãn cách xã hội, cần phải tiếp tục càng lâu càng tốt để ngăn chặn một đợt bùng phát lớn thứ hai, Bhatt nói. “Thậm chí là cho đến mùa đông, khi tình hình một lần nữa trở nên khó kiểm soát.”  Điều gì sẽ xảy ra khi thời tiết chuyển lạnh?  Rõ ràng là mùa hè không giúp ngăn chặn virus hoàn toàn, nhưng thời tiết ấm áp có thể khiến virus trở nên yếu hơn. Ở những khu vực sẽ chuyển lạnh vào nửa cuối năm 2020, các chuyên gia ngờ rằng đây sẽ nơi dịch bệnh bắt đầu lây lan mạnh mẽ.   Nhiều loại virus gây bệnh hô hấp ở người – như cúm, virus hợp bào hô hấp (RSV) – có xu hướng bùng phát vào mùa đông, vì vậy khả năng cao là SARS-CoV-2 cũng sẽ tuân theo quy luật này. Akiko Iwasaki, nhà miễn dịch học tại ĐH Yale ở New Haven, Connecticut cho biết: “Tôi nghĩ tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 sẽ cao hơn vào mùa đông. Không khí khô vào mùa đông khiến các loài virus gây bệnh hô hấp dễ dàng lây truyền hơn, và khả năng miễn dịch của đường hô hấp cũng có thể bị suy giảm khi hít phải không khí khô.”   Ngoài ra, trong thời tiết lạnh, mọi người có xu hướng ở trong không gian kín nhiều hơn, đây là môi trường thuận lợi để virus lây lan, Richard Neher, nhà sinh học tính toán tại Đại học Basel ở Thụy Sĩ cho biết. Thông qua mô phỏng, nhóm nghiên cứu của Neher đã cho thấy sự thay đổi theo mùa có thể ảnh hưởng đến khả năng lây lan của virus, đồng thời có thể khiến việc ngăn chặn dịch bệnh ở Bắc bán cầu vào mùa đông này trở nên khó khăn hơn.  Trong tương lai, dịch bệnh có thể bùng phát theo từng đợt vào mùa đông. Người trưởng thành đã mắc Covid-19 từ trước có thể sẽ khó nhiễm lại lần nữa, nhưng điều này còn phụ thuộc vào khả năng miễn dịch của mỗi người, Neher cho biết. Thêm vào đó, sự kết hợp của Covid-19, cúm và RSV vào mùa thu và mùa đông sẽ là thách thức lớn với chính phủ các nước trên thế giới, Velasco-Hernández, người đang thiết lập một mô hình về cách thức các loại virus này có thể tương tác, chia sẻ thêm.   Hiện vẫn chưa rõ liệu việc nhiễm các loại virus khác trong nhóm coronavirus từ trước có thể giúp con người miễn nhiễm với chủng SARS-CoV-2 hay không. Trong một thí nghiệm nuôi cấy tế bào liên quan đến SARS-CoV-2 và các loại virus gần với SARS-CoV-2, các kháng thể từ coronavirus này có thể liên kết với các coronavirus khác, nhưng không thể ngăn chặn hoặc vô hiệu hóa nó.   Nếu muốn chấm dứt đại dịch, cần phải loại bỏ hoàn toàn virus này trên toàn thế giới – điều mà hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất là gần như không thể, bởi chúng đã qua phổ biến, một phương án khác là mọi người phải có khả năng miễn dịch thông qua việc đã mắc bệnh từ trước hoặc tiêm vaccine. Người ta ước tính, nếu muốn chấm dứt dịch bệnh, 55-80% dân số cần phải có khả năng miễn dịch, con số này tùy thuộc vào mỗi quốc gia.    Thật không may, các cuộc khảo sát ban đầu cho thấy chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phía trước. Các cuộc xét nghiệm kháng thể – xem xét liệu những người đã lây nhiễm virus có thể tạo kháng thể chống lại nó hay không – chỉ ra là chỉ có một số lượng nhỏ người bị nhiễm bệnh có được khả năng này. Tại Hoa Kỳ, nơi đã có hơn 150.000 ca tử vong do Covid-19, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc khảo sát trên hàng nghìn mẫu huyết thanh, cho thấy tỷ lệ lưu hành kháng thể chỉ dao động từ 1% đến 6,9%.   Điều gì sẽ xảy ra trong tương lai?  Tình hình đại dịch năm tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào sự xuất hiện của vaccine cũng như thời gian hệ thống miễn dịch bắt đầu hoạt động sau khi tiêm ngừa hoặc phục hồi sau khi nhiễm bệnh. Nhiều loại vaccine có thể bảo vệ cơ thể trong nhiều thập kỷ – chẳng hạn như vaccine ngừa sởi hoặc bại liệt – trong khi các loại khác, bao gồm ho gà và cúm, giảm dần hiệu lực theo thời gian. Tương tự, một số bệnh sau khi bị nhiễm sẽ giúp ta có khả năng miễn dịch lâu dài, số khác thì chỉ thoáng qua. “Tổng số ca mắc SARS-CoV-2 đến năm 2025 sẽ phụ thuộc rất nhiều vào thời gian miễn dịch này”.   Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thực sự biết rõ khả năng miễn dịch SARS-CoV-2 có thể kéo dài bao lâu. Một nghiên cứu tiến hành trên các bệnh nhân đang bình phục cho thấy cho thấy các kháng thể trung hòa tồn tại đến 40 ngày sau khi bị lây nhiễm; một số nghiên cứu khác cho thấy mức độ kháng thể giảm dần sau vài tuần hoặc vài tháng. Nếu Covid-19 hoạt động với mô hình tương tự SARS, kháng thể có thể tồn tại ở mức cao trong năm tháng, sau đó từ từ suy giảm trong vòng 2-3 năm. Tuy nhiên, sản xuất kháng thể không phải là hình thức miễn dịch duy nhất, các tế bào lympho B và T cũng đóng vai trò bảo vệ cơ thể trước sự lây nhiễm virus trong tương lai. Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa rõ vai trò của chúng trong việc ngăn ngừa SARS-CoV-2.   Nếu dịch bệnh tiếp tục lây lan mà chúng ta vẫn chưa có vaccine hoặc khả năng miễn dịch lây dài, “chúng ta sẽ chứng kiến các đợt bùng phát dịch bệnh liên tục”, Grad nói. Trong trường hợp đó, virus sẽ trở thành bệnh đặc hữu (căn bệnh thường hiện hữu và lây lan trong một quần thể người tại địa phương nhỏ), Pulliam bổ sung thêm. Nghe khá đau đớn, nhưng không phải là điều không thể xảy ra: sốt rét là một căn bệnh đặc hữu điển hình. Chúng ta có thể phòng ngừa và điều trị được bệnh sốt rét, nhưng hằng năm vẫn có 400.000 ca tử vong vì bệnh này.       Dự đoán số ca mắc bệnh và tử vong Mô hình hóa cách Covid-19 diễn ra ở 86 quốc gia, các nhà nghiên cứu phát hiện ra vẫn chưa đủ số liệu chính thức về các ca nhiễm bệnh và các ca tử vong. Họ cũng dự đoán đến tháng 5 năm 2021, các quốc gia sẽ có gần 300 triệu ca mắc và 2 triệu ca tử vong.      Nhóm nghiên cứu của Harvard cho biết, nếu virus gây ra miễn dịch ngắn hạn – tương tự như hai coronavirus khác ở người là OC43 và HKU1, có khả năng miễn dịch kéo dài khoảng 40 tuần – thì con người có thể bị tái nhiễm và dịch bệnh sẽ bùng phát liên tục mỗi năm. Thêm vào đó, dựa trên các xu hướng từ tám đại dịch cúm toàn cầu, báo cáo của CIDRAP chỉ ra trong ít nhất 18–24 tháng tới, Covid-19 vẫn sẽ tiếp tục lan truyền một cách thầm lặng nhưng nhanh chóng. Tuy nhiên, những kịch bản này vẫn chỉ là phỏng đoán, bởi đại dịch này cho đến nay không hoạt động theo mô hình của đại dịch cúm, Osterholm nói. “Chúng ta đang ở trong một đại dịch coronavirus chưa từng có trong tiền lệ.”  Hậu quả mà Covid-19 để lại ở mỗi vùng đất là khác nhau. Dù vậy, mọi quốc gia, thành phố và cộng đồng đều có thể bị ảnh hưởng bởi đại dịch. “Vẫn còn nhiều điều mà chúng ta chưa biết về loại virus này”, Pulliam nói. “Dù sau này khi đã có thêm nhiều dữ liệu, vẫn sẽ còn rất nhiều điều mà chúng ta chưa thể giải thích được.” □  Anh Thư dịch  Nature 584, 22-25 (2020)  doi: 10.1038/d41586-020-02278-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: “Hãy bắt đầu bằng việc nhỏ!”      “Hãy bắt đầu bằng việc nhỏ”! Đó là nguyên tắc mà Ủy ban Châu Âu đề xướng và đang nỗ lực thực hiện cùng đối tác Việt Nam trong vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Tại cuộc họp báo diễn ra cuối tháng 3 trong khuôn khổ Hội thảo “Sở hữu trí tuệ: tăng cường sức mạnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Đại sứ, Trưởng phái đoàn Châu Âu tại Việt Nam, ngài Markus Cornaro cho biết “hài lòng về hợp tác trong lĩnh vực SHTT giữa Châu Âu và Việt Nam” nhưng cần “tăng cường nhiều hoạt động hơn nữa để đẩy mạnh bảo hộ SHTT tại Việt Nam”.    Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Mạnh Hải cho biết VN cam kết thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động bảo hộ quyền SHTT thể hiện ở phối hợp xây dựng nghị định hướng dẫn thực thi quyền SHTT của nhiều bộ, ngành, dự kiến được ban hành trước ngày 1/7/2006.  Bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam phần lớn mới thành lập nên ít kinh nghiệm kinh doanh, năng suất lao động thấp, chi phí kinh doanh cao, năng lực cạnh tranh hạn chế, thiếu vốn, tài nguyên và phải hoạt động trong môi trường khó khăn, nhiều rào cản và ít được hỗ trợ. Ông Niclas G. Morey, Giám đốc ECAP II – Chương trình hợp tác về SHTT EC-ASEAN giai đoạn II-đưa ra lời khuyên: trước khi nghiên cứu, phát triển một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, các doanh nghiệp cần tra cứu thông tin để tìm hiểu tình hình trên thế giới, tránh lặp lại những nghiên cứu, sáng chế đã có. Cơ quan sáng chế Châu Âu có một cơ sở dữ liệu về patent lớn nhất thế giới với 57 triệu bản ghi và 1 triệu tư liệu cập nhật mỗi năm. Có thể truy cập dữ liệu này miễn phí qua internet tại địa chỉ: www.espacenet.com.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bạo lực gia đình làm thay đổi chức năng não của trẻ      Bạo lực gia đình tạo ra những thay đổi sâu sắc trong não của trẻ giống như những ảnh hưởng ở binh sĩ trở về sau chiến tranh.    Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy triệu chứng trầm cảm mãn tính của trẻ ảnh hưởng đến hệ thống phản ứng của chúng, đặc biệt là 2 khu vực của não: hạch hạnh nhân (HHN) và thùy trước. Thùy trước và HHN giúp cơ thể nhận biết cảm giác đau đớn để tự bảo vệ mình trước những hiểm hoạ tiềm tàng. Khi một người thường xuyên phải tiếp xúc với những tình huống căng thẳng như chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình thì HHN sẽ bị kích thích mạnh.  Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tờ Sinh vật học ngày nay (Current Biology) đã chỉ ra rằng trẻ em sống trong các gia đình có cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực hoặc to tiếng với nhau thường có những thay đổi bất thường trong HHN của chúng và thùy trước giống như những biểu hiện của binh sĩ trở về từ các vùng chiến sự, ngay cả khi những đứa trẻ này không hề có các biểu hiện ra bên ngoài về những mức độ trầm cảm hoặc lo âu bất thường.  Các nhà nghiên cứu quan sát trên 20 trẻ em thường xuyên chịu bạo hành gia đình và so sánh với 20 trẻ sống trong gia đình có bố mẹ thuận hoà. Họ cho trẻ xem những bức ảnh đặc tả cảm xúc và đo phản ứng thần kinh của chúng đối với các bức ảnh đó bằng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI).  Khi cho trẻ quan sát hình ảnh những khuôn mặt giận dữ, các nhà nghiên cứu thấy mức độ hoạt hóa tại các vùng HHN và thùy trước của những đứa trẻ sống trong gia đình hay bị bạo hành cao hơn so với những đứa trẻ có cha mẹ sống hoà thuận. Những đứa trẻ sống trong gia đình bạo hành thường không phản ứng với khuôn mặt buồn hay trung tính.  Các nhà nghiên cứu kết luận rằng trẻ em đã tiếp xúc với bạo hành gia đình vẫn phát tiết các phản ứng thần kinh căng thẳng cao ngay cả khi chúng không thể hiện các triệu chứng căng thẳng ra ngoài. Về lâu dài, điều này sẽ rất nguy hại. Trạng thái thần kinh quá căng thẳng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của một đứa trẻ theo nhiều cách khác nhau. Khi một đứa trẻ phải dành quá nhiều sức lực để ứng phó với các mối nguy hiển hiện hoặc mới chỉ cảm nhận sơ sơ, nó sẽ chỉ còn rất ít thời gian và năng lượng tinh thần để phát triển các kỹ năng xã hội và các kỹ năng tư duy phù hợp với lứa tuổi.   Nguyễn Thanh Hải lược dịch  Nguồn: http://www.theatlantic.com/health/archive/2012/01/how-family-violence-changes-the-way-childrens-brthùy trướcns-function/250571/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bão ngày càng hung bạo      Mùa hè 2004 mang đến một lời cảnh tỉnh: bốn cơn bão chưa từng thấy tàn phá Florida, và 10 cơn bão nhiệt đới đổ bộ vào Nhật Bản-lớn hơn bốn lần những ghi nhận trước đây ở đất nước này. Tiếp theo, năm 2005 đánh dấu sự ghi nhận đột phá với sự hoành hành điên khùng của hai cơn bão lịch sử kinh hoàng Katrina và Rita. Nhưng vào năm 2006, trong khi giá bảo hiểm ở miền Nam nước Mỹ tăng vọt thì số lượng những cơn bão xuất hiện trên Bắc Đại Tây Dương đột nhiên giảm một cách thất thường dưới mức dự đoán. Các nhà khoa học đã đưa ra những lời giải thích đối nghịch cho sự tăng lên của những cơn bão nhiệt đới, và đặc biệt, những lời giải thích đó tiết lộ có sự tham gia của quá trình ấm lên đột ngột nhiệt độ Trái đất. Nếu quả thực quá trình ấm lên toàn cầu đóng một vai trò nào đó trong việc tăng số lượng của những cơn bão thì tại sao mùa bão năm 2006 lại khá “yên lặng”?    Những phân tích chi tiết và cẩn thận các mô hình thời tiết đang mang về những lời giải nhất quán cho cả sự tăng bất thường năm 2004 và 2005 cũng như “sự yên lặng” kỳ lạ của những cơn bão vào 2006. Nhưng thật không may, những lời giải đó lại như một điềm báo cho những phiền muộn về mặt khí tượng học sẽ đeo đẳng loài người suốt cả một tương lai dài phía trước.  Công thức “nấu” thành bão          Bão Katrina nhìn từ vệ tinh.        Một cơn bão được hình thành bởi một quá trình rối loạn khí quyển rồi tiếp đó phát triển thành một hệ thống có tổ chức của những xoáy lốc kèm theo sấm chớp. Khi hệ thống này bắt đầu xoáy kèm theo sức gió vượt quá quá 39 dặm/giờ thì lúc đó cơn bão được đặt tên. Còn khi tốc độ gió vượt quá 74 dặm/giờ, hệ thống được gọi là những xoáy lốc nhiệt đới. Thuật ngữ “huricance” dùng để chỉ những cơn bão như thế xuất hiện trên Đại Tây Dương và Đông bắc Thái Bình Dương. Còn “typhoon” sử dụng cho những cơn bão xuất hiện ở vùng Tây bắc Thái Bình Dương, “cyclone” ám chỉ những cơn bão xuất hiện trong khu vực Ấn Độ Dương.        Katrina (2005) là cơn bão gây thiệt hại nhất trong lịch sử với 100 tỷ USD.   Bhola (1970) là cơn bão gây thiệt hại về người nhiều nhất: giết chết 300,000 người.   Camille (1969) là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào đất liền với tốc độ gió cực đại 190 dặm/giờ.   John (1994) là cơn bão kéo dài nhất trong lịch sử, hoành hành trên Thái Bình Dương suốt 31 ngày.   Tip (1979) là cơn bão trải rộng nhất (2,200 km), xuất hiện trên Thái Bình Dương.        Để tiên liệu quá trình ấm lên toàn cầu ảnh hưởng đến số lượng, kích thước và cường độ (tốc độ gió) của những cơn bão, đầu tiên các nhà khoa học cần phải biết “công thức” để “nấu” thành một cơn bão. Những năm về trước, các nhà khí tượng học đã đưa ra nhiều mô hình chi tiết mô tả cách thức những cơn bão hình thành. Các mô hình chỉ ra rằng, để hình thành những cơn bão yêu cầu phải có dòng nước ấm, và hầu hết xảy ra ở những vùng nhiệt đới nơi ánh sáng mặt trời chiếu vuông góc xuống mặt đất. Đại dương sẽ hấp thụ hầu hết năng lượng đến, sau đó lại tỏa lượng nhiệt “dư thừa” chủ yếu thông qua bốc hơi. Khi hơi nước đọng lại thành mưa, năng lượng lại được giải phóng một cách từ từ, và như vậy, góp phần “đốt nóng” bầu khí quyển. Vào mùa đông, những cơn gió mang lượng nhiệt này tới những vùng vĩ độ cao, nơi nhiệt có thể phát xạ trở lại không gian vũ trụ. Nhưng vào mùa hè, năng lượng chủ yếu tăng lên thông qua đối lưu, tới những nơi có vĩ độ cao trong dải nhiệt đới và tạo ra một loạt hiện tượng từ những đám mây tích đến những cơn giông mang theo sấm chớp. Trong những hoàn cảnh thích hợp, sự tích tụ những cơn giông kèm sấm chớp có thể tự tổ chức thành một cơn bão. Và cơn bão này sẽ “bơm” một lượng lớn nhiệt ra khỏi đại dương.  Ở Bắc Thái Bình Dương, những sự rối loạn khí quyển “trượt” khỏi bờ biển phía tây vùng trung tâm châu Phi, nơi chúng thường xuyên được hình thành do tương phản nhiệt độ giữa sa mạc trên lục địa với những vùng núi chạy dọc bờ biển bao phủ bởi rừng. Ngoài ra, một số điều kiện khác cũng cần thiết bao gồm: nhiệt độ bề mặt biển lớn hơn 26oC, một lượng lớn hơi nước bốc hơi, áp suất tại bề mặt đại dương thấp, những luồng gió nhẹ dịch chuyển giữa những vị độ thấp và vĩ độ cao. Cần lưu ý rằng sự dịch chuyển của những cơn gió mạnh có khuynh hướng xé tan những cơn lốc mới hình thành ra từng phần.    Đại dương ấm hơn, cơn bão trở nên hung bạo  Nhiệt độ nước biển bề mặt đóng vai trò then chốt cho quá trình hình thành những cơn bão. Các nhà khoa học đang tự hỏi nhiệt độ bề mặt nước biển đã thay đổi xuyên suốt những thập kỷ quá khứ như thế nào cũng như số lượng, kích thước và cường độ của những cơn bão đã thay đổi cùng với chúng. Nếu vậy, thì liệu quá trình ấm lên toàn cầu, mà chủ yếu gây bởi các hoạt động của con người, có phải là nguyên nhân chủ yếu không? Và những điều kiện duy nhất làm cho 2004 và 2005 ghi nhận với sự tăng bất thường của những cơn bão là gì? Từ lâu các nhà khoa học đã biết rằng khí nhà kính (như cacbondioxide, sản phẩm của việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch) làm ấm hành tinh của chúng ta và tăng nhiệt độ bề mặt nước biển cũng như sản phẩm của hơi nước, đẩy mạnh hoạt động đối lưu hình thành nên những cơn bão. Câu hỏi sau năm 2005 là, nhiệt độ bề mặt nước biển thực tế đã bắt đầu tăng và ảnh hưởng của nó tới sự ấm lên toàn cầu tới mức độ nào?  Các nhà khí hậu học không chắc chắn về số lượng những cơn bão đã xảy ra trên toàn thế giới kể từ năm 1970, khi những quan sát vệ tinh trở nên thường xuyên hơn. Mặt khác họ cũng coi những ghi nhận ở vùng Bắc Đại Tây Dương dải nhiệt đới kể từ năm 1944 là khá tin cậy, đây cũng là thời điểm những quan sát cẩn thận từ những trạm không gian về các cơn bão nhiệt đới được bắt đầu. Nhìn ngược lại lịch sử có thể nhận thấy rằng, số những cơn bão được đặt tên ở Bắc Đại Tây Dương đã tăng kể từ 1944, và đáng chú ý, sự tăng này xảy ra đồng thời với quá trình tăng lên của nhiệt độ bề mặt nước biển trong vùng vĩ độ từ 10 đến 20 độ Bắc. Dải nước nhiệt đới ở phía bắc xích đạo, kéo dài từ châu Phi tới trung tâm châu Mỹ, là vùng tới hạn cho việc hình thành những cơn bão.  Một số nhà khoa học than phiền rằng, sự tăng nhiệt độ bề mặt nước biển ở Bắc Đại Tây Dương kể từ năm 1944 chỉ đơn giản phản ánh cái gọi là sự dao động đa thập kỷ Đại Tây Dương AMO (Atlantic multidecadal oscillation). Hiện tượng này là một chu trình tự nhiên, trong đó, nhiệt độ nước biển Bắc Đại Tây Dương vẫn còn tương đối thấp trong vòng vài thập kỷ, và sau đó, chuyển tới thập kỷ của pha ấm hơn, rồi tiếp theo lại xuống thấp trở lại (sự khác nhau nhiệt độ cực đại là 0.5oC). Khoảng thời gian từ năm 1970 tới đầu những năm 1990, nhiệt độ bề mặt nước biển ở Bắc Đại Tây Dương tương đối thấp. Nhưng sau đó AMO đã trở lại mang theo những điều kiện làm cho bề mặt nước biển ấm hơn, và do vậy càng có nhiều cơn bão được hình thành hơn so với pha lạnh. Những mô hình máy tính lại chỉ ra rằng, nếu chỉ có chu trình AMO không thể giải thích được xu hướng tăng lên nhanh chóng số lượng những cơn bão xuất hiện kể từ năm 1995, hay những gì đã xảy ra trong năm 2005 và 2006.  Do hoạt động của những cơn bão nhiệt đới phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ bề mặt nước biển, chúng ta có thể kết luận rằng, quá trình ấm lên toàn cầu là nguyên nhân làm cho những cơn bão trở nên hung bạo hơn. Một nghiên cứu thực hiện bởi nhà khoa học Kerry Emanuel xuất bản trên Science và Nature dựa trên những bằng chứng số liệu quan sát trực tiếp chỉ ra rằng, sự tăng lên đáng kể cường độ của những cơn bão trong khoảng thời gian từ 1970 có liên hệ chặt chẽ tới sự tăng nhiệt độ bề mặt nước biển. Những nỗ lực của nhiều chuyên gia khác tuy có hiệu chỉnh lại mối đồng liên hệ này nhưng vẫn không làm thay đổi kết luận chung. Vào tháng 9 năm 2005, nhà khoa học Peter Webster ở Học viện Công nghệ Georgia và cộng sự xuất bản một bài báo trên Science, trong đó cũng đã kết luận rằng, số lượng những cơn bão tăng lên như dự đoán trùng với quá trình tăng lên của nhiệt độ bề mặt nước biển được quan sát.  Bàn tay con người…                  Những mô hình khí hậu cố gắng tái tạo những quá trình sinh học, hóa học và vật lý học có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các diễn biến phức tạp của thời tiết. Sau nhiều năm làm việc cật lực, các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia (NCAR) ở Boulder, Colorado, đã đưa ra những mô hình khí hậu toàn cầu có thể tái tạo thành công nhiệt độ nước biển bề mặt và không khí thực được ghi nhận trên toàn thế giới trong suốt hơn một thế kỷ qua. Những mô phỏng đề cập đến những thay đổi về thành phần hóa học, sự phát xạ năng lượng mặt trời ngược trở lại không gian, và những tác động của quá trình phun trào núi lửa có thể chặn đủ lượng bức xạ của Mặt trời làm lạnh hành tinh của chúng ta trong khoảng thời gian từ một đến hai năm.  Sử dụng những mô hình thời tiết, các nhà khoa học có thể phân lập những thay đổi gây bởi con người, chẳng hạn như khói thải và ô nhiễm phóng thích vào bầu khí quyển và từ đó đánh giá ước lượng hậu quả của những tác động đó. Làm như vậy rõ ràng chỉ ra rằng, sự ấm lên của Đại Tây Dương đã xảy ra và đều liên quan tới quá trình ấm lên của khí quyển do các hoạt động của con người. Một nghiên cứu gần đây, thực hiện bởi nhà khí hậu học Ben Santer ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore và các đồng sự kết luận rằng, hiện tượng ấm lên xảy ra ở cả Thái Bình Dương và Đại Tây Dương dải nhiệt đới là do khí nhà kính phóng thích bởi con người. Nghiên cứu này đã ước lượng nhiệt độ bề mặt nước biển toàn cầu tăng lên khoảng 0.6oC, chủ yếu bắt đầu từ những năm 1970. Mặc dù con số này có vẻ như khá nhỏ, không ảnh hưởng nhiều đối với sức mạnh của những cơn bão. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy, khi cơn bão Katrina quét dọc Vịnh Mexico, một sự tăng hay giảm nhiệt độ bề mặt nước biển chỉ khoảng một độ nhưng cũng đủ làm thay đổi cường độ của cơn bão.  Một cơn bão lớn có nhiều tác động hơn hai cơn bão nhỏ. Khi một cơn bão mạnh đi qua, nó sẽ để lại một đại dương lạnh hơn phía sau, làm giảm khả năng xuất hiện nhiều cơn bão, chí ít là ngay sau đó.    Sự yên lặng bất thường          Nỗi kinh hoàng trốn chạy thảm họa        Trong khi mùa bão 2004 và 2005 hoành hành dữ dội thì mùa bão 2006 lại “yên tĩnh” một cách đáng ngạc nhiên? Trong suốt mùa hè 2005, nhiệt độ nước biển bề mặt ở Bắc Đại Tây Dương dải nhiệt đới (dải từ 10 đến 20 độ Bắc) ở mức ghi nhận cao, cao hơn 0.92oC so với năm từ 1901 đến 1970. Vậy có điều gì sai ở đây? Yếu tố chính thêm vào chính là một “lực” hoạt động trong suốt mùa đông và mùa thu trước: El Nino. Hiện tượng này thực chất là sự ấm lên trong Thái Bình Dương ở dải nhiệt đới, và sẽ tăng lên khi một sự hợp lại xảy ra giữa những dòng hải dương và khí quyển.  Mùa đông ở Bắc bán cầu từ năm 2004 tới 2005, bầu trời chói chang ánh nắng và liên tục mang theo những cơn gió nhẹ ở những vùng Đại Tây Dương dải nhiệt đới, điều này có nghĩa quá trình lạnh đi do bốc hơi sẽ giảm, cho phép đại dương có thể ấm lên khoảng 0.2oC. Nhưng El Nino yếu dần đi vào mùa hè, cực tiểu hóa những cơn gió trên Đại Tây Dương, tạo điều kiện thích hợp cho việc hình thành những cơn bão. Trong 2005, El Nino làm một số lượng lớn những cơn bão hình thành.          Toàn bộ New Orleans ngập chìm trong nước sau thảm họa cơn bão Katrina        Ngược lại, La Nina-đánh dấu sự lạnh đi của Thái Bình Dương dải nhiệt đới-xảy ra trong suốt mùa đông từ 2005 đến 2006, tăng cường mạnh mẽ cường độ của những cơn gió mậu dịch ở Bắc Đại Tây Dương và mang nhiệt ra khỏi đại dương. Sự kiện này đã làm cho nhiệt độ bề mặt nước biển hơi thấp hơn hoặc gần bằng với cấp độ trong mùa bão 2006. Hơn nữa, trong suốt mùa hè 2006, El Nino bắt đầu hình thành, góp phần tăng cường những cơn gió di chuyển ở Đại Tây Dương. Nhiệt độ bề mặt nước biển xuống thấp hơn cộng với sự di chuyển của những cơn gió theo hướng bất lợi đã làm thay đổi những điều kiện ở Đại Tây Dương trong dải nhiệt đới, mà từ đó chúng ta đã chứng kiến một sự thay đổi từ mùa bão đầy biến động 2005 tới một mùa bão khá yên tĩnh 2006.  Dù gì đi chăng nữa số lượng những cơn bão xuất hiện trong năm có ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những hiện tượng thời tiết như El Nino và La Nina.  Kéo theo nhiều lụt lội  Ở NCAR, các nhà khoa học sử dụng mô hình gọi là Dự báo và Nghiên cứu thời tiết trong đó phân mảng các số liệu khí hậu thực thế giới thành một mạng lưới với mỗi ô có độ phân giải cao là 4 kilometers. Những mô phỏng toàn cầu tiến hành bởi Cơ quan Thời tiết Quốc gia (NWS) có độ phân giải là 35 kilometer, và những mô hình vùng của họ có độ phân giải từ 12 đến 8 kilometer. Việc tính toán với độ phân giải 4 kilometer đòi phải được trang bi một máy tính cực mạnh và chạy chương trình trong thời gian dài hơn. Những nhà dự báo thời tiết phải tự giới hạn tới một mạng lưới 8 kilometer để có thể dự đoán một cách đúng lúc.  Thực tế, các nhà khoa học đã tái tạo các đặc điểm của những cơn bão thực rất tốt khi những dữ liệu quan sát được đưa vào mô hình. Khi nhập dữ liệu về nhiệt độ bề mặt nước biển trong quãng thời gian cơn bão Katrina di chuyển trên Vịnh Mexico vào máy tính, thì đường đi của cơn bão được thiết lập trên mô hình khá trùng với đường đi của cơn bão thực.                  Với những kết quả như vậy, các nhà khoa học cũng đã cố gắng làm rõ nhiệt độ bề mặt nước biển tăng lên ảnh hưởng đến lượng mưa ở những cơn bão như thế nào. Đối với trường hợp bão Katrina, khi nhiệt độ bề mặt nước biển tăng 1oC đã làm tăng lượng hơi nước bốc hơi xung quanh lên 7%. Sự tăng những cơn gió cực đại cũng sẽ chuyển nhiều hơi ẩm hơn vào trong những cơn bão và đẩy mạnh quá trình bốc hơi. Cùng với những tác động của sự kiện tăng 1oC trong nhiệt độ bề mặt nước biển đã làm tăng lượng mưa lên khoảng 19% trong vòng 400 km của mắt bão.  Sự kiện ấm lên toàn cầu làm tăng lượng mưa của những cơn bão. Việc nhiệt độ bề mặt nước biển tăng lên 0.6oC đã xảy ra từ năm 1970 từ việc ấm lên toàn cầu có nghĩa là sự thay đổi khí hậu đã làm tăng hơi nước bốc hơi trong khí quyển lên 4% trong 37 năm qua. Phù hợp với việc tìm kiếm này, những thiết bị sóng ngắn trên vệ tinh đã quan sát được một sự tăng lên 2% chỉ kể từ năm 1988. Cần nhắc lại rằng, trong một cơn bão, lượng hơi nước đưa vào ngưng tụ lại, giữ lại lượng ẩn nhiệt. Lượng hơi nước tăng lên 4% sẽ dẫn đến lượng mưa tăng lên 8%. Lượng mưa tăng cũng đồng nghĩa với những thảm họa lũ lụt.  Lời kết  Dù gì đi chăng nữa, những khám phá khoa học đã khẳng định rằng, quá trình ấm lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ bề mặt nước biển, và chính việc tăng này lại tăng cường độ những cơn bão. Trong báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ về thay đổi khí hậu vào tháng 5 năm 2007 đã kết luận: Có những bằng chứng quan sát cho thấy hoạt động của những cơn bão nhiệt đới đang tăng lên ở Bắc Đại tây Dương kể từ 1970, và sự tăng này đồng liên hệ với việc tăng nhiệt độ bề mặt nước biển ở vùng nhiệt đới.  Trong khi nhân loại tiếp tục nỗ lực hoàn thiện những mô hình và quan sát, thì chúng ta phải thông minh ứng phó với những mối đe dọa khôn lường của những cơn bão.  Tham khảo: Scientific American, Science  Nguyễn Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn di sản các nhà khoa học:  Một việc làm cấp bách      Chỉ sau gần một năm hoạt động, Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn di sản Tiến sĩ và các nhà khoa học Việt Nam-một trung tâm tư nhân nghiên cứu lịch sử cuộc đời các nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam- đã tiếp cận ở mức độ khác nhau trên 100 nhà khoa học, thực hiện được gần 2.000 phút video, 10.000 phút ghi âm và hàng nghìn trang tư liệu. Trao đổi với phóng viên Tia Sáng, PGS. Nguyễn Văn Huy, Giám đốc chuyên môn của Trung tâm cho biết:        Trong bối cảnh từ nhiều năm nay chúng ta có không ít tiến sĩ rởm, nên cái tên Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn di sản Tiến sĩ Việt Nam của chúng tôi đã gây phản cảm, hiểu lầm trong dư luận xã hội về tôn chỉ mục đích hoạt động của Trung tâm. Nhiều nhà khoa học, văn hóa có uy tín lớn đã lên án, chỉ trích gay gắt tạo ra một lực cản lớn cho hoạt động của chúng tôi-một tổ chức mới hình thành. Vì vậy có thể nói thành quả lớn nhất trong năm vừa qua của Trung tâm là bằng việc làm và cái tâm của mình, chúng tôi đã vượt qua được những lực cản, dần dần lấy lại được lòng tin của các nhà khoa học và xã hội.   Ông có thể cho biết cái tâm và việc làm của Trung tâm đã được thể hiện như thế nào?   Vì mới hình thành, mọi việc còn mang tính thí điểm, bỡ ngỡ, phải vừa làm vừa điều chỉnh để tìm con đường đi cho đúng vì công việc như thế này chưa có tiền lệ ở nước ta, lại vừa quá ít người nên năm vừa qua chúng tôi chỉ mới tập trung được vào việc tìm hiểu cuộc đời của một số nhà khoa học. Lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn vì hầu hết các nhà khoa học hiểu lầm về mục đích hoạt động của trung tâm nên chúng tôi thường bị từ chối khi xin được gặp gỡ, làm việc với họ. Bằng cái tâm của mình và sự trân trọng đối với các nhà khoa học, chúng tôi đã kiên trì gặp và thuyết phục họ nhiều lần, nói rõ tôn chỉ mục đích của mình để họ thấy được hoạt động của Trung tâm là hữu ích, có ý nghĩa đối với đời sống khoa học của đất nước. Từ đó, dần dần họ đã tin chúng tôi, không những đã trò chuyện cởi mở mà còn sẵn sàng trao cho Trung tâm những kinh nghiệm, những vấn đề người ta nung nấu, những di sản tích lũy trong cả một cuộc đời hoạt động khoa học. Như trường hợp của GS. Lê Thế Trung, ông đã dành cho Trung tâm 20 cuộc gặp gỡ, phỏng vấn, tặng cho chúng tôi rất nhiều tài liệu, hiện vật liên quan tới cuộc đời hoạt động khoa học của ông trong đó có những hiện vật rất quý như cuốn sổ tay ghi chép tỉ mỉ những kiến thức y học, những kinh nghiệm trong chữa trị thương binh trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông nói, đó là một trong những cẩm nang để ông tra cứu, học tập và giải quyết các vấn đề chuyên môn khi ở chiến trường xa xôi không có thư viện. Hay như GS. Bùi Đại, GS. Nguyễn Văn Nhân đã tặng cho Trung tâm chúng tôi  hàng trăm bức thư hai ông viết cho vợ trong khi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Trong một bức thư, ông Nhân đã miêu tả sự hăm hở buổi ban đầu đi học, cùng với những gian khó của việc học hành như một người đã cưỡi lên lưng ngựa không thể xuống được thì chỉ còn một cách duy nhất là phi…           Thư GS. Nguyễn Văn Nhân gửi cho vợ          Trong quá trình tiếp cận, thu thập tư liệu của các nhà khoa học ông cảm nhận được những điều gì?  Qua những câu chuyện, tư liệu của một số nhà khoa học, trước hết tôi thấy họ đã kiên trì học tập và học suốt đời, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Sự đóng góp hết sức to lớn của họ đối với đất nước, nhất là trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Như GS. Nguyễn Văn Nhân, bác sĩ đầu ngành về phẫu thuật xương, đã thực hiện thành công hàng trăm ca mổ xương cho thương bệnh binh ở chiến trường chống Mỹ trong những điều kiện thiếu thốn về mọi mặt. Không những thế ông còn lưu trữ toàn bộ những hồ sơ, hiện vật liên quan những ca mổ đó để truyền dạy cho các học trò và đồng nghiệp. Hoặc như PGS. Lê Sỹ Toàn đã xây dựng cả một bệnh viện dã chiến trong hang đá rộng lớn, sắp đặt ngăn nắp, đủ tiện nghi để phục vụ, chữa trị thương binh đưa từ mặt trận ở chiến trường Lào về và ông có một mong ước thật lãng mạn được ghi lại trong một bức thư gửi về gia đình – muốn mời vợ con tới thăm bệnh viện trong hang đầy tự hào của mình. Và qua những chặng đường học tập, thành tựu, cống hiến của họ, chúng ta có thể thấy được chiến lược đào tạo, sử dụng người tài của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời với sự giúp đỡ hết sức quý báu của Liên Xô, Trung Quốc trong việc đào tạo những hạt nhân đầu tiên của nền khoa học Việt Nam.           GS.TSKH Lê Thế Trung và quyền sổ ghi chép từ thời chống Pháp          Điều thứ hai là nếu Trung tâm không tiến hành làm ngay, không làm một cách cấp bách, gấp gáp thì những di sản của các nhà khoa học đã cao tuổi sẽ mất đi theo thời gian. Kinh nghiệm nhãn tiền là GS. Nguyễn Văn Chiển đã nhận lời và hẹn cán bộ của Trung tâm đến làm việc với ông. Chúng tôi mới gặp ông một lần, nhưng chưa đến ngày hẹn lần thứ 2 để nghe ông kể về cuộc đời và những trăn trở khoa học của mình thì ông đã đột ngột qua đời. Người thứ hai là GS. Phạm Tử Dương, một chuyên gia đầu ngành về tim mạch trong quân đội. Chị Ngân – cán bộ của Trung tâm sau khi làm việc với ông 2 lần, ông rất nhiệt tình và tin tưởng vào hoạt động của Trung tâm, nên lần gặp thứ 3 ông bảo chưa làm việc vội để ông tự dẫn đi giới thiệu cho Trung tâm một vài nhà khoa học nữa mà theo ông  họ có những di sản cần được lưu giữ hơn, cấp bách hơn, sức khỏe yếu hơn ông. Nhưng sau lần đó GS Phạm Tử Dương cũng đã đột ngột qua đời.         Mỗi bức ảnh là một câu chuyện kể về nhà khoa học và nền khoa học Việt Nam.        Các nhà khoa học có hai luồng suy nghĩ về tư liệu, hiện vật liên quan tới cuộc đời hoạt động của họ. Một số thì cho rằng không có ý nghĩa, nên không có ý thức lưu trữ, thậm chí sẵn sàng vứt bỏ phần lớn những thứ không còn dùng nữa như bản thảo sau khi công trình đã được công bố, in ấn, sổ tay ghi chép, nhật ký, thư từ, các công cụ, dụng cụ gắn liền với công việc sáng tạo của mình… Trong khi đó, có một số người lại nhận thức được rằng đó là những tư liệu quý giá, được họ tích lũy giữ gìn cả đời. Nhưng điều họ trăn trở nhất là gìn giữ rồi không biết để làm gì, trao lại cho ai? Vì vậy, đang lâm bệnh nặng nhưng GS. Nguyễn Văn Nhân đã rất vui khi biết Trung tâm sẵn sàng bảo tồn các di sản khoa học của ông và đã tặng Trung tâm toàn bộ gia sản của mình được tích lũy suốt cuộc đời với hơn 4000 hạng mục gồm sách vở, tư liệu, hiện vật. Qua đó, chúng tôi thấy trách nhiệm của mình là làm thế nào để có thêm nhiều nguồn lực để bảo quản, khai thác tốt nhất các di sản mà các nhà khoa học tin tưởng giao cho.   Theo ông, điều quan trọng nhất của việc bảo tồn di sản của các nhà khoa học là gì?           Các GS Nguyễn Sĩ Quốc, Nguyễn Thúc Mậu, Bùi Đại, Hồ Văn Huy tại chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ          Nếu có thời gian, lực lượng để tổ chức nghiên cứu di sản của các nhà khoa học một cách quy mô, hệ thống, chúng ta sẽ hình dung, thấy được lịch sử các ngành khoa học Việt Nam dưới nhiều giác độ khác nhau theo trục dọc phát triển, đồng thời cũng có thể cắt theo trục ngang để hiểu các tầng lớp, thế hệ trí thức ở các giai đoạn khác nhau đã được đào tạo, rèn luyện và cống hiến như thế nào. Qua đó, chúng ta hiểu được bối cảnh lịch sử, chính sách, chiến lược đào tạo của Nhà nước. Từ cuộc đời của từng nhà khoa học mà như những sử liệu sống động ghép lại sẽ thành bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển của khoa học Việt Nam hay của từng lĩnh vực chuyên ngành từ những bước đi chập chững ban đầu, nhiều khi ấu trĩ cho đến sự phát triển, cập nhật được với thế giới khoa học trong nhiều lĩnh vực như ngày nay.           Bản thảo báo cáo khoa học của PGS. Lê Sỹ Toàn        Nếu bảo tồn, khai thác được di sản vật chất và tinh thần của hàng trăm, nghìn nhà khoa học thì Trung tâm sẽ là một địa chỉ hết sức giá trị cho các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu sinh đến tìm hiểu và làm đề tài nghiên cứu; đồng thời từ những di sản đó chúng ta có thể tổ chức những cuộc triển lãm giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về những tấm gương của các nhà khoa học và về vai trò của nền khoa học Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước trong những thời kỳ rất khác nhau qua chính những con người và di sản cụ thể của họ..   Dựa vào tiêu chí nào để Trung tâm lựa chọn việc bảo tồn di sản của một nhà khoa học nào đó?        Mỗi bức thư, mỗi trang nhật ký đều là một di sản giúp thế hệ sau hiểu cuộc sống và suy nghĩ của nhà khoa học.         Tiêu chí quan trọng nhất để chúng tôi lựa chọn là những thành tựu khoa học, những đóng góp của họ đối với sự phát triển của đất nước. Các nhà khoa học dù lỗi lạc nhất cũng là con người, cũng có những khiếm khuyết, cũng có những dư luận thậm chí đàm tiếu về họ. Công việc của Trung tâm không phải là để đánh giá họ mà cung cấp cho xã hội nguồn tư liệu một cách khách quan, trung thực về họ. Nhà khoa học nào cũng có những đóng góp cho xã hội, dù ít hay nhiều, dù lớn hay nhỏ, trong đó có những điều mà mình tâm huyết nhất. Trung tâm muốn lưu giữ và kể những câu chuyện như vậy cho thế hệ tương lai.  Qua những việc làm của Trung tâm trong năm vừa qua, dường như Trung tâm chỉ sưu tầm  di sản của các nhà khoa học ngành y. Vì sao?   Cũng không hẳn là như vậy. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu, sưu tầm di sản của một số nhà khoa học xã hội và  khoa học kỹ thuật nhưng hiện di sản của các nhà khoa học ngành y vẫn chiếm nhiều hơn. Lý do là vì nền y học của chúng ta có lớp lang, có truyền thống nhất trong số các ngành khoa học của Việt Nam từ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Trinh Cơ cho đến thế hệ các nhà khoa học được đào tạo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ… mặt khác chúng tôi có mối thân quen với giới y học, nên dễ tiếp cận, dễ được sự cảm thông của các nhà khoa học ngành y hơn. Những thế hệ các nhà y học thứ 2, thứ 3 đã vượt qua tuổi xưa nay hiếm từ lâu rồi, họ cần được “cấp cứu” ngay. Từ kinh nghiệm làm với giới y học, chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm, mở rộng ra các ngành khoa học khác.   Trung tâm đã nhận ra tính cấp bách của việc tiến hành sưu tầm, gìn giữ di sản của các nhà khoa học. Nhưng làm thế nào để giải bài toán cấp bách này?         Mỗi bản luận án, mỗi bằng phát minh sáng chế, mỗi phản biện… là một minh chứng về sự phát triển của không chỉ một cá nhân mà còn là của một ngành và một nền khoa học Việt Nam và là tài sản vô giá của cả dân tộc.        Có hai việc quan trọng. Thứ nhất qua hoạt động của mình làm cho giới khoa học hiểu được vấn đề, hiểu được ý nghĩa của việc chúng tôi đang làm để hợp tác với Trung tâm. Để làm được điều này, các phương tiện truyền thông có vai trò rất quan trọng. Trước hết, các cơ quan truyền thông cần tránh những bài viết gây hiểu lầm trong xã hội đối với hoạt động của chúng tôi như bài viết của anh Nguyên Ngọc trên Tia Sáng thực sự đã là bước cản lớn đối với Trung tâm. Chúng tôi cũng muốn các nhà báo phối hợp làm việc với chúng tôi phổ biến những tấm gương, những câu chuyện bình thường nhưng lại đáng ghi nhận như những dữ liệu lịch sử, những bài học của các nhà khoa học trong cộng đồng, các nhà khoa học lớp trước và cả các nhà khoa học đương thời, các nhà khoa học trẻ tuổi.   Việc thứ hai cần làm là phải tổ chức đào tạo lực lượng nghiên cứu và phát triển đội ngũ cộng tác viên để giúp kết nối với các nhà khoa học, vì dù có tăng thêm cán bộ của Trung tâm thì cũng không thể nào tiếp cận được tất cả các nhà khoa học. Trong cộng tác viên, chúng tôi quan tâm tới sự hợp tác của các sinh viên (cái khó đối với sinh viên là thiếu kiến thức, kinh nghiệm sống nên khó tiếp cận với các nhà khoa học, nhất là những “cây đa cây đề”), những nhà báo, cán bộ khoa học đã về hưu nhất là những người có kinh nghiệm nghiên cứu, kỹ năng phỏng vấn, những người làm công tác bảo tàng, lưu trữ.   Trung tâm có hình thức nào đó quảng bá công việc của mình?   Vừa rồi chúng tôi đã xây dựng website thử nghiệm như một trong những nội dung hoạt động chính của Trung tâm (http://www.cpd.vn/ cpd). Trên trang web này, chúng tôi đã bắt đầu đưa dữ liệu của một số nhà khoa học. Có nhiều hồ sơ khá đầy đủ như của Nguyễn Trinh Cơ, Lê Thế Trung, Bùi Đại, Lê Sỹ Toàn. Trong tương lai khi website có tính mở này hoàn chỉnh, được xã hội tin cậy, ủng hộ,chắc chắn sẽ có nhiều nhà khoa học có thể tự cập nhật đưa lý lịch khoa học với đầy đủ danh mục các công trình khoa học đã công bố, tư liệu, ảnh, video, thậm chí cả toàn văn các công trình  nghiên cứu của mình lên trang web của Trung tâm như một sự chia sẻ thông tin cho xã hội. Chúng tôi hy vọng trang web này sẽ trở thành một mạng xã hội tin cậy của các nhà khoa học Việt Nam.  Xin cám ơn ông!  NGỌC TÚ  thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn động vật hoang dã…trong nhà máy      Đổi mới kinh tế là động lực thúc đẩy gia tăng sản xuất và kéo theo đói là sự xuất hiện của hàng loạt các nhà máy mới ở Việt Nam. Vấn đề mới đặt ra là ô nhiễm môi trường do chất thải của các nhà máy. Tuy nhiên, bên cạnh đó người ta cũng thấy nhiều doanh nghiệp rất có ý thức bảo vệ môi trường. Công ty Ford Việt Nam là một trong số đó.    Ai đã từng đến thăm nhà máy của Ford Việt Nam nằm tại Hải Dương đều rất thú vị khi được giới thiệu về chương trình bảo vệ động vật hoang dã của nhà máy, đặc biệt là được nhìn thấy tận mắt cảnh những chú cá vàng tung tăng bơi lội dưới dòng mương nhỏ, đúng chỗ dòng nước thải từ nhà máy chảy ra. “Nhà máy được áp dụng các qui trình và công nghệ đặc biệt để có thể đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường khắt khe nhất liên quan tới chất lượng nước thải, chất lượng không khí và các yếu tố về môi trường khác như vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, điện từ trường công nghiệp”, ông Nguyễn Trung Hậu, Trưởng phòng An toàn và Môi trường của Ford Việt Nam cho biết. Những con cá vàng vốn rất khó nuôi và chỉ có thể sống trong một môi trường trong sạch. Để cá vàng sống ở đúng lòng mương nơi nước ô nhiễm chảy ra là một cách đánh giá tốt nhất về chất lượng nước thải đã qua xử lý của công ty.  Ngay từ những năm đầu chuẩn bị xây dựng nhà máy, lãnh đạo Ford Việt Nam đã chủ ý xây dựng một nhà máy “xanh, sạch, đẹp và thân thiện với môi trường”. Từ đó ra đời Dự án môi trường hoang dã xây dựng trên diện tích 10 hecta/tổng số 32 hecta của nhà máy. Với sự giúp đỡ của Giáo sư sinh vật học Nguyễn Cử và Tổ chức môi trường hoang dã WHC, dự án được tiến hành nhằm  xây dựng và phát triển đa dạng sinh học, tạo nên một hệ sinh thái bền vững và đa dạng ngay trong khuôn viên của nhà máy. Các công việc cụ thể của dự án là duy trì sự sinh sống của các loài chim, cá trong khu vực nhà máy giữa các nhà xưởng và phần đất chưa sử dụng. Ngay từ khi thực hiện, các nhân viên trong đội tình nguyện của nhà máy đã báo cáo thường xuyên thấy có trên 150 diệc xám theo bầy cùng 15 con diệc bạch Trung Quốc sống tại khu vực đầm lầy và vườn cây trong nhà máy. Công ty đã tiến hành trồng cây, đào mương dẫn nước trong khuôn viên của nhà máy, thả cá vào mương để tạo điều kiện thu hút các loài động vật hoang dã này về sinh sống. Nhờ việc cung cấp thêm thức ăn và bảo vệ nguồn sống tự nhiên cho các loài chim, nhiều loài chim khác như chim bói cá, vạc Von Schrenck hay vạc nâu vàng cũng đã về sinh sống tại khu vực này. Đội tình nguyện của công ty là những người thực hiện các công việc đào hệ thống mương duy trì nước cần thiết cho ao đầm vào mùa cạn, tổ chức trồng các vườn hoa trước cửa và xung quanh nhà máy… Không chỉ tạo điều kiện bảo vệ môi trường, hệ thống vườn cây, hoa và mương nước cũng khiến cảnh quan nhà máy đẹp hơn.  Khu bảo tồn các động vật hoang dã này đã được Tổ chức Bảo tồn Thế giới trao bằng khen vào năm 2002. “Nhà máy là một trong 130 điểm trên thế giới được tổ chức này trao giải thưởng vào năm đó”, ông Hậu nhớ lại. Ngoài việc quản lý chất thải của công ty sau khi xử lý, thực hiện chương trình bảo tồn động vật hoang dã, công ty còn áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 (từ năm 2001), kết hợp với các đơn vị xung quanh trong công tác bảo vệ môi trường. “Chính vì vậy, từ năm 1996 chúng tôi đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (giờ là Bộ Tài nguyên và Môi trường) cấp “Giấy xác nhận kiểm soát ô nhiễm” và được Sở Tài nguyên Môi trường Hải Dương đánh giá cao trong công tác bảo vệ môi trường”, ông Hậu nói. Không chỉ áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường trong và xung quanh nơi nhà máy hoạt động, công ty Ford từ hơn 5 năm nay đã tiến hành chương trình Ford Grands nhằm tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Cụ thể là mỗi năm Ford giành hàng chục nghìn đô la để tài trợ cho các dự án bảo tồn hệ động thực vật, bảo tồn di sản văn hoá dân tộc và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên.              Tổng giám đốc Ford Việt Nam Jim Jucker đang giới thiệu khu bảo tồn với Jim Padilla, Chủ tịch tập đoàn Ford khi ông này sang thăm Việt Nam. ảnh: Quốc Tâm        Trước tình hình môi trường ngày càng ngày càng xấu đi do tác hại của nền công nghiệp phát triển nhanh chóng, nạn khai thác tài nguyên, phá rừng bừa bãi…, ông Hậu trăn trở: “Vẫn còn có những doanh nghiệp vẫn chưa tuân thủ việc bảo vệ môi trường và vẫn xả chất thải độc hại vào môi trường”. Theo ông, các doanh nghiệp cần cố hết sức trong công  tác bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Những biện pháp cụ thể có thể thực hiện là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguyên liệu sản xuất, tái sử dụng và tái chế các chất thải, nguyên vật liệu, tăng cường sử dụng các chất không độc hại hoặc ít độc hại, không sử dụng hoặc hạn chế ở mức tối thiểu sử dụng chất có hại cho môi trường…  P.V    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn… nhầm      Các nỗ lực để bảo tồn một loài cá quý hiếm té ra lại công cốc khi các nhà khoa học Mỹ nhận ra họ đang di thực một loài cá khác trở lại các hồ và dòng sông. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Colorador đang cố gắng phục hồi loài cá hồi cutthroat, vốn sống ở bang Colorador, về nơi cư trú bản địa của chúng kể từ đầu thập kỷ 1970. Họ mô tả hậu quả của những nỗ lực đắt tiền và kéo dài nhiều thập kỷ này là một “bước thụt lùi”.    Cá hồi cutthroat lưng xanh, được tuyên bố là tuyệt chủng vào năm 1973. Khi kế hoạch khôi phục mới bắt đầu, người ta đã sử dụng trứng và tinh trùng của những con vật được xem là 9 quần thể còn sót lại để nhân giống. Tuy nhiên, khi phân tích ADN, các nhà nghiên cứu mới đây nhận ra 5 trong số 9 quần thể trên không phải là cá hồi cutthroat lưng xanh, mà là cutthroat sông Colorador.  T. An (theo Ananova)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo tồn và phát triển kinh tế trong các Khu dự trữ sinh quyển      Các nhà quản lý cần có sự tư vấn của giới khoa học để đưa ra được những quyết định hợp lý nhằm giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế.    Cuối tháng ba vừa qua, UBND tỉnh Bình Phước đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án xây dựng cầu Mã Đà và đường kết nối với tỉnh Đồng Nai. Theo UBND tỉnh Bình Phước, việc xây cầu Mã Đà và nâng cấp mở rộng tuyến đường ĐT.753 sẽ giúp kết nối các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước với Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng Cái Mép – Thị Vải, rút ngắn 60 km so với đi đường hiện tại, từ đó phát triển kinh tế liên tỉnh.  Bản đồ quy hoạch đề xuất mở đường xuyên rừng và xây cầu Mã Đà. Ảnh: Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai  Đề xuất tưởng chừng không có gì lạ, nhưng nó ngay lập tức đã vấp phải sự phản đối của tỉnh Đồng Nai và các nhà bảo vệ môi trường, bởi tuyến đường mới này sẽ kéo theo hình thành tuyến đường dài 40 km trực tiếp đi qua vùng lõi của rừng đặc dụng, gây ra những tác động nghiêm trọng tới vùng lõi của Khu DTSQ quốc tế Đồng Nai.  Thực chất, thế tranh chấp giữa hai tỉnh đã kéo dài rất nhiều năm. Dù chục năm qua Bình Phước tha thiết triển khai dự án, Đồng Nai vẫn cứng rắn phản đối đề xuất này nhằm bảo vệ Khu Dự trữ Sinh quyển (DTSQ) của tỉnh. Khu DTSQ có gì đặc biệt để tỉnh Đồng Nai quyết liệt bảo vệ đến vậy? Và liệu nó có xứng đáng để ta đánh đổi những lợi ích về phát triển kinh tế hay không?  “Bổ dọc” khu bảo tồn  Theo GS.TS Nguyễn Hoàng Trí (Chủ tịch UBQG Chương trình “Con người và Sinh quyển” thuộc UNESCO), sinh quyển là phần của Trái đất có các sinh vật sinh sống (biota), kể cả con người. Từ những loài sinh vật sống dưới đáy biển sâu đến những loài sinh vật trong không khí hoặc sâu trong lòng đất đều thuộc về sinh quyển. Sự vận động của các thành phần trong sinh quyển theo cơ chế “hệ thống” và “tự điều chỉnh” như một cơ thể sống. Khái niệm sinh quyển như một hệ thống sống trên Trái đất ra đời vào những năm 1920, nhưng cho mãi tới vài thập kỷ gần đây mới được chấp nhận rộng rãi. Trái đất không chỉ như một ngôi nhà chung mà nó còn vận động thông qua các mối tương tác hữu cơ giữa tất cả các loài thực vật và động vật với nhau, với môi trường và với con người [1].  Thực chất, Khu DTSQ thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng. Theo định nghĩa của UNESCO, Khu DTSQ thế giới là những khu vực hệ sinh thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, được quốc tế công nhận. Chia sẻ tại sự kiện “Ngày Khoa học Công nghệ: Khoa học Công nghệ bảo vệ môi trường” được tổ chức vào tuần qua, GS.TS Nguyễn Hoàng Trí nhấn mạnh: “Những Khu DTSQ dù chỉ nằm ở một số địa điểm nhất định, nhưng sự tồn tại của nó sẽ hỗ trợ cho quá trình sống của con người trên toàn Trái Đất”.  Hiện tại, Việt Nam đã có 11 Khu DTSQ quốc tế được UNESCO công nhận, trải dài khắp ba miền đất nước. Trong đó Khu DTSQ Đồng Nai được UNESCO công nhận vào cuối năm 2001, với tổng diện tích gần 970.000 ha. Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam (WCS), Khu DTSQ Đồng Nai không chỉ là nơi bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm thế giới như voi, bò tót, gấu chó, tê giác java, gà so cổ hung… mà còn lưu giữ các loại thực vật quý hiếm như: gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương, thủy tùng, căm xe, trắc.  Để dễ hình dung sự tồn tại của Khu DTSQ này sẽ “hỗ trợ cho quá trình sống của con người” – như lời của GS.TS Nguyễn Hoàng Trí – như thế nào, chúng ta có thể theo dõi bản đồ ô nhiễm không khí tại Việt Nam: khu vực phía Nam “xanh” hơn hẳn so với khu vực phía Bắc, bất chấp TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai đều là những tỉnh thành có nhiều cụm, khu công nghiệp hằng ngày vẫn ‘xả’ khí thải ra môi trường. Cùng với Khu DTSQ Cần Giờ, Khu DTSQ Đồng Nai chính là “lá phổi xanh” giúp điều hòa khí hậu, môi trường, cho toàn khu vực Đông Nam Bộ – bao gồm cả Bình Phước, tỉnh thành sát cạnh Đồng Nai.  Quay lại với câu chuyện về sự bất đồng giữa UBND tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai. UBND tỉnh Đồng Nai đã nhanh chóng có văn bản đề nghị Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam và Tổ chức UNESCO tại Việt Nam cho ý kiến về việc làm quốc lộ xuyên qua Khu DTSQ. Trong văn bản, tỉnh Đồng Nai cho rằng việc xây dựng cầu sẽ “gây chia cắt, phân mảnh hệ sinh thái, ảnh hưởng sinh cảnh của các loài động vật hoang dã” do xe cộ lưu thông. Chưa kể, việc làm cầu Mã Đà, đường xuyên khu DTSQ sẽ phá vỡ cảnh quan, ảnh hưởng công tác bảo tồn ba di tích lịch sử cấp quốc gia.  Nếu dự án cầu Mã Đà và tuyến đường xuyên Khu bảo tồn được hiện thực hóa, nó sẽ xáo trộn toàn bộ tập tính tự nhiên, đời sống của các loài động vật nơi đây, và xa hơn nữa là dẫn đến nguy cơ lấn và phá rừng, khai thác bừa bãi động thực vật hoang dã – kết cục là “lá phổi xanh” của cả vùng Đông Nam Bộ sẽ không còn nữa. Thật khó để tưởng tượng nổi những hệ lụy có thể xảy đến.  Nhà khoa học là người đứng giữa  Sự việc giữa tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai thực chất là mâu thuẫn muôn thuở giữa bảo tồn và phát triển, “đó là điều vẫn luôn xảy ra”, theo GS.TS Nguyễn Hoàng Trí. Điều quan trọng là để các nhà quản lý có thể đưa ra được quyết định chính xác, “cần phải có sự tư vấn hợp lý của các nhà khoa học”.  Dẫn chứng về một trường hợp giải quyết thất bại mâu thuẫn này, GS.TS Trí đề cập đến chính sách phá rừng khộp trồng điều, cao su, cà phê ở Tây Nguyên nhiều năm trước. Được mệnh danh là “rừng nghèo”, nhưng thực chất rừng khộp là loại rừng có độ đa dạng sinh học cao với nhiều động, thực vật quý hiếm sinh sống trong đó. “Vì không được tư vấn khoa học hiệu quả để thấy được đầy đủ giá trị của loại rừng này, nên các nhà quản lý đã đưa ra những chính sách không phù hợp. Cần phải có quy hoạch bài bản dựa trên nghiên cứu, chứ đừng chỉ làm theo suy nghĩ cảm quan của chúng ta.” Một số dự án chuyển đổi rừng khộp thành đất trồng cây công nghiệp thậm chí đã thất bại do thiếu nghiên cứu bài bản, dẫn đến cây trồng không sinh trưởng tốt ở điều kiện đất lạ, cho năng suất rất thấp.  Việc hiểu rõ về đặc tính, điều kiện đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học ở các Khu DTSQ lại càng quan trọng, đây là căn cứ để ban quản lý dự án đưa ra phương thức bảo tồn phù hợp. Là người đã thực hiện xây dựng đề xuất để UNESCO công nhận 11 khu DTSQ tại Việt Nam, GS.TS Nguyễn Hoàng Trí cho hay mỗi Khu sinh quyển phải có đặc trưng riêng, tiếng nói riêng, chẳng hạn Khu DTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ với hệ thực vật rừng ngập mặn phong phú, Khu DTSQ Langbiang bao gồm một vùng rừng nguyên sinh rộng lớn với vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, nơi được đánh giá là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam. Những đặc trưng này sẽ mang lại cho các Khu DTSQ lợi thế cạnh tranh lớn trong bối cảnh vừa bảo tồn vừa đảm bảo kế sinh nhai cho người dân trong khu vực.  Vùng đất ngập nước Bàu Sấu thuộc Khu DTSQ Đồng Nai có tác dụng điều tiết nguồn nước cho Hồ thuỷ điện Trị An, giữ các chất lắng đọng, chất độc và cung cấp nguồn nước cho hơn 15 triệu người dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp, thủy sản dọc lưu vực sông Đồng Nai. Ảnh: kinhtemoitruong  Bên cạnh đó, nó cũng giúp các nhà quản lý có căn cứ để ra quyết định dễ dàng hơn. Với trường hợp của Khu DTSQ Đồng Nai, một trong những nét đặc trưng của khu vực này là “quần thể loài voi châu Á (khoảng 20 con) và bò rừng (200 con). Hiện nay, Việt Nam chỉ có nơi này mới có thể dễ dàng quan sát đời sống hoang dã của các loài thú lớn trong tự nhiên như vậy”, TS. Vũ Ngọc Long, nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, chia sẻ trên Báo Đầu tư [2]. “Thế nhưng, ngay tại nơi mà người ta định xây dựng Quốc lộ 13C chạy xuyên qua cũng chính là nơi mà quần thể đàn voi châu Á và bò tót thường xuyên xuất hiện và hoạt động tích cực nhất so với những khu vực khác trong Khu bảo tồn”.  Nói cách khác, đề xuất xây dựng đường của tỉnh Bình Phước đã trực tiếp ảnh hưởng đến tập tính và thói quen di chuyển kiếm ăn của loài thú lớn này – một phản xạ tự nhiên rất khó thay đổi. Tương tự, các nhà quản lý cần có đầy đủ tài liệu, thông tin cần thiết từ giới khoa học để thống kê mặt lợi và hại giữa việc xây tuyến đường nối trực tiếp qua vùng lõi của khu bảo tồn với việc xây cắt qua vùng đệm, tránh đi vào những khu có độ đa dạng sinh học cao với những loài động thực vật quý hiếm.  Một trong những nỗ lực bồi đắp các khoảng trống còn thiếu trong nghiên cứu các Khu DTSQ là 16 đề tài nghiên cứu cơ bản thuộc Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học Trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017-2025 (Chương trình 562) do Bộ KH&CN chủ trì. Bên cạnh đó, nhiều phát hiện hay công trình nghiên cứu từ Khu DTSQ đã gây được sự chú ý của cộng đồng khoa học quốc tế, như với trường hợp tìm thấy thông hai lá dẹt, một loài cây xuất hiện cùng thời với khủng long và bị coi là đã tuyệt chủng, tại Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc Khu DTSQ Langbiang ở độ cao 1.600m, hay như nghiên cứu về “Sự biến đổi theo không gian và thời gian của các hệ sinh thái rừng ngập mặn trong Khu DTSQ Cù Lao Chàm-Hội An” được các nhà khoa học tại ĐH Huế công bố trên tạp chí Regional Studies in Marine Science, nghiên cứu về phương pháp tiếp cận nâng cao tính bền vững tại Khu DTSQ Cát Bà do các nhóm khoa học tại ĐH Adelaide, Nam Úc, thực hiện.  Vậy rốt cục Bình Phước và Đồng Nai sẽ giải quyết như thế nào để đảm bảo được mục tiêu phát triển kinh tế nhưng không xâm phạm khu vực cần bảo tồn? Câu chuyện có thể sẽ chưa vội ngã ngũ, nhưng theo GS. Trí, phải cân nhắc thật kĩ những thứ chúng ta có thể đánh đổi, và dù lựa chọn thế nào, cũng cần nhớ rằng “quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến thế hệ con cháu chúng ta”.  [1] Nguyễn Hoàng Trí (2011). Khu dự trữ sinh quyển – “phòng thí nghiệm học tập” cho phát triển bền vững. Đất ngập nước và biến đổi khí hậu, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia, tr. 45  [2] https://baodautu.vn/bao-ve-hay-pha-vo-khu-sinh-quyen-the-gioi-vi-sinh-ke-mo-xe-phan-bien-tan-cung-cua-chuyen-gia-d164561.html    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Báo tử một loài cá heo sông cực hiếm      Loài cá heo nước ngọt duy nhất tồn tại ở sông Dương Tử, Trung Quốc giờ đây “rất có thể đã tuyệt chủng”, một nhóm khoa học kết luận sau khi không tìm thấy dấu vết nào của chúng trong cuộc khảo sát 6 tuần qua.    Nhóm nghiên cứu cho biết loài cá heo mỏ này bị tuyệt diệt chủ yếu do sự đánh bắt vô tội vạ của con người. Đây có thể là sự tuyệt chủng đầu tiên của một loài động vật có xương sống lớn trong vòng 50 năm qua.  Sách đỏ của Tổ chức bảo tồn quốc tế hiện xếp chúng vào nhóm “cực kỳ nguy cấp”.  Sam Turvey, từ Hiệp hội động vật học London, đồng tác giả của nghiên cứu, mô tả phát hiện này là một “bi kịch gây sốc”.  “Cá heo mỏ sông Dương Tử là loài thú khác thường đã tách khỏi cây gia đình hơn 20 triệu năm trước”, Turvey giải thích.  “Tình trạng tuyệt chủng này đại diện cho sự biến mất của cả một nhánh cây tiến hóa và nhấn mạnh rằng chúng tôi chưa làm tròn trách nhiệm của mình trong vai trò người bảo vệ hành tinh”, ông nói.  Cá heo mỏ sông Dương tử (tên khoa học là Lipotes vexillifer) là thành viên duy nhất còn lại của họ Lipotidae – một họ thú cổ được xem là tách khỏi các loài thú khác, trong đó bao gồm cá voi, cá heo mỏ và cá heo, khoảng 40 đến 20 triệu năm trước.  Con vật có màu trắng, sống trong nước ngọt với cái mỏ dài, hẹp và vây lưng thấp, quần cư thành đàn từ 3 đến 4 con.  T. An (theo BBC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ học thuyết Darwin      Ngày mai 26.6, Hội đồng nhân quyền châu Âu dự kiến sẽ thông qua một nghị quyết bảo vệ thuyết Tiến hóa của Darwin, nhằm đối phó với làn sóng tuyên truyền phản khoa học của các nhóm tôn giáo.    Một báo cáo trước đó trình lên Hội đồng châu Âu chỉ rõ: “Ngày nay, những người theo thuyết Sáng thế thuộc mọi tôn giáo đang ra sức để tư tưởng của họ được chấp nhận ở châu Âu. Nếu chúng ta không cẩn thận, đó sẽ là một mối đe dọa đối với nhân quyền”.  Theo thuyết Sáng thế, Chúa trời đã sáng tạo ra thế giới, và tất cả bắt đầu từ đó, như Kinh thánh mô tả. Dự thảo nghị quyết kêu gọi (không bắt buộc) các nước thành viên “kiên quyết chống lại việc giảng dạy thuyết Sáng thế như một môn khoa học và ngang bằng với thuyết Tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên” trong trường công lập của 47 quốc gia thành viên.  Trường Khanh (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ môi trường ở Nam Kỳ trước 1945      Bảo vệ m&#244;i trường thực ra kh&#244;ng phải l&#224; vấn đề g&#236; mới. &#205;t nhất l&#224; kể từ khi lo&#224;i người chuyển x&#227; hội n&#244;ng nghiệp, nhiều d&#226;n tộc đ&#227; c&#243; &#253; thức về việc bảo vệ m&#244;i trường, trong đ&#243; đặc biệt ch&#250; trọng giữ g&#236;n sự c&#226;n bằng sinh th&#225;i của m&#244;i trường tự nhi&#234;n. Ai đọc quyển Lang đồ đằng (Totem S&#243;i) cũng thấy mục d&#226;n tr&#234;n thảo nguy&#234;n c&#243; kinh nghiệm kh&#244;ng tận diệt c&#225;c đ&#224;n s&#243;i để ch&#250;ng ti&#234;u diệt bớt những động vật ăn cỏ c&#243; thể đe dọa nguồn thức ăn của gia s&#250;c, s&#225;ch Lễ k&#253; của Trung Quốc, thi&#234;n Vương chế, phần Cấm lệnh trong chợ cũng n&#243;i &#8220;Ngũ cốc tr&#225;i m&#249;a v&#224; hoa quả chưa ch&#237;n kh&#244;ng được b&#225;n trong chợ, gỗ v&#225;n kh&#244;ng đ&#250;ng k&#237;ch thước kh&#244;ng được b&#225;n trong chợ, cầm th&#250; r&#249;a c&#225; chết kh&#244;ng b&#236;nh thường kh&#244;ng được b&#225;n trong chợ&#8221;, tức những h&#224;ng h&#243;a c&#243; hại cho sự an to&#224;n của tự nhi&#234;n, x&#227; hội v&#224; con người đều bị cấm trong quy phạm thị trường.    Ở Việt Nam, sau khi chiếm lại được Nam Bộ lần cuối năm 1788, năm 1789 Nguyễn Ánh đã ra lệnh bỏ thuế sân chim ở Hà Tiên, để người dân không khai thác các sân chim quá mức cho phép. Về việc này, các sử thần triều Nguyễn viết “Vua cho việc ấy có hại cho loài sinh vật nên bãi đi và cấm từ nay không được đánh lấy trộm nữa”. Nghị định nói trên cũng nại lý do có hơi hướm nhân đức “ơn cập cầm thú đặng sanh sản cho nhiều”, về bản chất chính là nhằm hướng tới quản lý tài nguyên thiên nhiên. Rõ ràng một trong những nguy cơ của kinh tế hàng hóa là hủy hoại môi trường tự nhiên vì chạy theo lợi ích trước mắt, nên các tổ chức quản lý xã hội trong lịch sử đều phải ít nhiều quan tâm tới việc bảo vệ môi trường.  Chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ trước 1945 cũng không nằm ngoài thông lệ đó. Với tư cách là thực dân thống trị, việc quản lý ấy thật ra cũng nhằm khai thác về lâu dài, nhưng việc hướng tới các mục tiêu lâu dài chính là một chỉ báo về nhãn quan cũng như thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của họ.          Ô nhiễm môi trường sông Thị Vải        Cảnh bán chim ở đường phố        Dưới đây là Nghị định có liên quan tới việc bảo vệ môi trường ở Nam Kỳ, đăng trên Nam Kỳ địa phận số 342, ngày 12/8/1915:  Quan Toàn quyền Tổng thống phủ vụ   Quan Tổng thống Toàn quyền Đông Dương thưởng thọ tứ đẳng bửu tinh,   Chiếu theo các chỉ dụ ngày 28/10/1911,    Nghĩ vì việc cấm săn bắn cò và già đãy là điều cần kíp, ấy là ơn cập cầm thú đặng sanh sản cho nhiều.   Cứ theo lời thanh tự của quan Nguyên soái Nam Kỳ và quan Chưởng lý Đề hình trong cõi Đông Dương,   Nghị định:   Điều thứ nhứt. Cấm không cho săn bắn hay là đánh bẫy già đãy và cò trong địa phận Nam Kỳ.   Điều thứ hai. Cấm không cho bán, mua, chở và bán dạo chim khô.   Điều thứ ba. Có các quan Tham biện chủ tỉnh, các quan chủ quận, quan kiểm lâm, quan Sở Thương chánh và sơn đầm coi các điều vi lệ mấy điều kể trong lời nghị này. Sẽ phạt vạ từ 1 quan đến 15 quan, và phạt tù từ 1 ngày cho đến 5 ngày, hay là phạt vạ không, cùng phạt tù không, kẻ nào bất tuân thể lệ này, như tái phạm thì Nhà nước cứ phạt tù mà thôi.   Những khí giái, đồ đánh bẫy và lưới dùng mà gài cò thì Nhà nước sẽ tịch ký và lại còn không kể phạt tạ riêng kẻ vi lệ về việc dùng khí giái.  Quan quyền Tổng thống Đông Dương   Bourcier Saint-Chaffray   Biên bản phiên họp Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ ngày 26 – 12 – 1884 đăng trên Gia Định báo số ra ngày 7 – 2 – 1885 có một đoạn rất đáng suy nghĩ. Lúc ấy, nạn đốn gỗ lậu ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia lan tràn, thậm chí những cây còn nhỏ cũng bị hạ. Vì Campuchia chưa có quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn khai thác nên những người đốn gỗ lậu bị kiểm lâm của chính quyền thuộc địa bắt được đều khai là gỗ từ Campuchia. Chính quyền thuộc địa muốn tăng thuế khai thác rừng để giảm bớt nạn đốn gỗ lậu bèn giao cho Hội đồng Quản hạt bàn, một ủy viên người Pháp đề nghị chờ sửa quy định khai thác rừng ở Campuchia cho thống nhất với Nam Kỳ xong sẽ tăng một lần cho khỏi phiền phức. Nhưng viên Giám đốc Nha Nội chính dự phiên họp không đồng ý, nói “Lấy theo ý tôi, bớt giá thuế nghĩa là muốn phá rừng. Ngày nào người ta không phải lãnh giấy phép, thì ai nấy đều đi đốn cây, thủng thẳng rừng rú phải hết cây. Chúng ta chẳng phải nghĩ về chúng ta mà thôi, chúng ta phải nghĩ về những người sau chúng ta sẽ lo mà giữ rừng bối cho sung túc mà giao lại cho các kẻ ấy”. Chưa cần nói tới “những người sau chúng ta” mà viên Giám đốc Nha Nội chính nói tới ở đây là những ai, tuy nhiên, ít nhất cách nghĩ ấy cũng giúp cộng đồng Việt Nam không mất đi một số điều kiện cần thiết để khai phá đồng bằng Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc, vì chính những dãy rừng nguyên sinh ở vùng biên giới Nam Kỳ – Campuchia thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã góp phần tạo ra một khối lượng tài nguyên nước ngầm rất lớn, đảm bảo cho chu kỳ sinh trưởng của hệ thực vật ở Nam Kỳ vào mùa khô.  Ngoài ra, nhiều người còn nhớ, ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc còn cấm bắt cá vào đầu mùa mưa, tức lúc cá sắp đẻ, cấm bắt cá ròng ròng, cấm cào ốc gạo trước và sau mùa thu hoạch tết Đoan Ngọ, làng nào cũng phân công hương chức kiểm tra việc này, và may mà các hương chức ngày xưa không nhậu “đặc sản” nhiều như hiện nay.   Vấn đề khai thác tài nguyên, ngoài khai thác gián tiếp (chẳng hạn thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp), người ta còn khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách trực tiếp. Loại hoạt động kinh tế này thường mang tính sản xuất hàng hóa cao nên cũng hàm chứa nhiều hơn những nguy cơ đối với môi trường. Tài nguyên thiên nhiên nói chung lại gồm hai loại, một loại có thể phục hồi (như động thực vật, độ màu mỡ của đất đai), một loại không thể phục hồi (như các mỏ khoáng sản), nên vấn đề bảo vệ môi trường đặt ra với việc khai thác trực tiếp có khác nhau. Với loại thứ nhất, vấn đề chủ yếu là tốc độ khai thác có vượt quá khả năng phục hồi, tức làm thay đổi cân bằng sinh thái hay không. Đối với loại thứ hai, vấn đề rất hệ trọng là việc khai thác sẽ tác động tới môi trường chung quanh như thế nào. Ở đây kiến thức khoa học và ý thức xã hội sẽ quyết định cách thức hành xử với môi trường của những người quản lý. Vì thế mà hiện nay, dễ hiểu vì sao nhiều người tỏ ra lo ngại về các thông tin chính thức nhưng chưa chính xác về nhiều vấn đề môi trường, từ sự hồi phục của sông Thị Vải cho đến mức độ an toàn về môi trường trong các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên…    Author                Quản trị        
__label__tiasang BARC: Nhân tố cốt lõi của khoa học hạt nhân Ấn Độ      Đằng sau thành công của nền KH&CN hạt nhân Ấn Độ là nỗ lực của các viện nghiên cứu và các công ty spinoff do Bộ Năng lượng nguyên tử (NLNT) Ấn Độ thiết lập, trong đó Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Bhabha (BARC) đóng vai trò cốt lõi.      Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới thăm và làm việc tại BARC. Nguồn: Business Standard.  Được Homi J Bhabha thành lập năm 1954 với tên gọi ban đầu Cơ sở nghiên cứu NLNT Trombay (AEET), Trung tâm đã tập hợp tất cả các nhà khoa học và kỹ sư trong lĩnh vực thiết kế và xây dựng lò phản ứng, thiết bị, luyện kim, khoa học vật liệu từ Viện nghiên cứu cơ bản Tata (TIFR) để trực tiếp hỗ trợ chương trình điện hạt nhân của đất nước. Một năm sau khi Homi J Bhabha qua đời vì tai nạn máy bay trên dãy Alps, Thủ tướng Indira Ganhdi đã đổi tên AEET thành Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Bhabha (BARC) để ghi nhớ công lao của người sáng lập.    Mang “cái mũ” khiêm tốn là trung tâm nhưng tổ chức nghiên cứu đa ngành về KH&CN hạt nhân và các lĩnh vực liên quan này lại là một viện nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Giáo sư Phạm Duy Hiển từng nhận xét trên Tia Sáng năm 2006: “Hai Viện nghiên cứu cơ bản Tata và Trung tâm nghiên cứu nguyên tử do Bhabha dựng lên ở Mumbai là sự tương phản kỳ lạ giữa hoạt động học thuật cao siêu với tình trạng nghèo khó lam lũ của đám dân sống nheo nhóc trong lều bạt dựng ngay trên đường phố. Đem mô hình phương Tây đặt lên một đất nước có mức sống ngót một trăm lần thấp hơn, các viện khoa học hàng đầu của Ấn Độ không hề nhân nhượng trước áp lực hạ thấp thang giá trị và chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu khoa học” 1.  Đầu tư đỉnh cao để làm khoa học  Với mục tiêu làm chủ công nghệ hạt nhân tiên tiến và thực hiện bằng được chu trình nhiên liệu hạt nhân kín, hằng năm Chính phủ Ấn Độ đã dành một khoản ngân sách lớn lên tới vài trăm triệu USD 2– tức là ở hàng top của các cơ sở nghiên cứu do Bộ NLNT Ấn Độ quản lý, để đầu tư cho hệ thống cơ sở vật chất, các dự án nghiên cứu cũng như chi thường xuyên cho BARC. “Tuy chưa thể so được với những quốc gia hàng đầu về KH&CN hạt nhân như Mỹ, Nga, nhưng Ấn Độ đã cố gắng hết mức có thể để đầu tư xứng đáng cho NLNT nói chung và Trung tâm BARC nói riêng”, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện NLNT Việt Nam, nói.  Với khoản đầu tư này, BARC có thể thực thi một chính sách đãi ngộ ở mức cao so với nhiều cơ sở nghiên cứu khác của chính phủ. Là một trong số các cán bộ Việt Nam sang Trung tâm BARC, Ấn Độ thực tập ngắn hạn vào năm 2000, TS. Lê Văn Hồng (Viện NLNT Việt Nam) cho biết, mức lương thời kỳ đó của các cán bộ BARC đã gấp 4, 5 lần so với mặt bằng chung và khi trở thành thành viên chính thức của Trung tâm (Scientific Officer) thì có thể yên tâm về chế độ đãi ngộ.  Tuy nhiên để được vào làm việc ở BARC cũng không phải đơn giản. Trước khi chính thức được vào làm việc tại đây, ai cũng phải trải qua khóa đào tạo kéo dài một năm – khóa đào tạo truyền thống Training School mà Homi J Bhabha đã từng áp dụng từ năm 1957 để đào tạo nhân lực cho chương trình điện hạt nhân (Viện NLNTVN cũng có Trung tâm đào tạo hạt nhân theo cách thức tương tự từ năm 2010), sau đó BARC sẽ tiếp tục tuyển chọn, sàng lọc. Vào tháng 4 hằng năm, thời điểm Trung tâm BARC tổ chức thi tuyển vào khóa đào tạo, có hàng nghìn hồ sơ đăng ký dự tuyển nhưng kết thúc khóa học, thông thường chỉ có khoảng hơn 100 người còn trụ lại. Đây là một trong những lý do khiến BARC có thể thu hút được những nhà nghiên cứu trẻ và tài năng để bổ sung vào đội ngũ nghiên cứu lên tới hàng nghìn người của mình. Và kết quả là “hầu hết các nhà nghiên cứu của BARC mà tôi tiếp xúc trong thời gian thực tập tại đây đều là những người giỏi về chuyên môn, nắm rất chắc kiến thức cơ bản và có tinh thần sáng tạo”, TS. Lê Văn Hồng – người từng được đào tạo về công nghệ nhà máy điện hạt nhân tại trường Đại học Năng lượng Moskva (MEI), Nga, nhận xét.      “Với nhiều nhà khoa học giỏi tầm cỡ thế giới về nhiên liệu hạt nhân, an toàn hạt nhân, điện tử hạt nhân, khoa học vật liệu, khoa học máy tính…, BARC đã trở thành một trung tâm nghiên cứu xuất sắc góp phần giải quyết được những vấn đề trọng yếu của ngành hạt nhân Ấn Độ, cũng như đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh cho đất nước” (TS. Trần Chí Thành)        Tương tự như Viện liên hợp hạt nhân Dubna (Nga), Trung tâm BARC không chỉ quy tụ những người làm khoa học xuất sắc trong lĩnh vực KH&CN hạt nhân mà còn có một hệ thống cơ sở vật chất tiên tiến được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nhận xét về hệ thống cơ sở vật chất của BARC trên Physies Today, nhà vật lý hạt nhân Siegfried Hecker, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos, nói một cách khách quan: “Quy mô và chức năng của các thiết bị thực nghiệm hạt nhân của họ không chỉ tương đương như những thiết bị hiện có ở Nga mà còn vượt qua cả nhiều thiết bị tương tự ở Mỹ” 3. Vì thế hầu như những vấn đề liên quan đến lò phản ứng nghiên cứu của BARC đều được quyết định một cách nhanh chóng. Trường hợp APSARA, lò phản ứng nghiên cứu đầu tiên của Ấn Độ, là một ví dụ: Homi J Bhabha đề xuất ý tưởng và được chính phủ phê duyệt vào tháng 3/1956, hai tháng sau đã lựa chọn được địa điểm xây lò, hai tháng tiếp hoàn thành thiết kế; tới tháng 7/1956, BARC khánh thành lò và tiến hành nạp nhiên liệu lần đầu. Việc đích thân Thủ tướng đương nhiệm lúc đó là Nehru tới dự lễ khánh thành cũng cho thấy Chính phủ Ấn Độ coi trọng việc đầu tư cho Trung tâm BARC như thế nào (ông đã ví những tia sáng xanh phản chiếu bức xạ Cherenkov từ lò phản ứng với vẻ đẹp của tiên nữ Apsara trong Ấn Độ giáo nên lò phản ứng đầu tiên của Ấn Độ đã được mang tên APSARA) 4.      Sau mốc khởi điểm APSARA, Trung tâm BARC đã tiếp tục có nhiều lò phản ứng nghiên cứu đa dạng về nhiên liệu sử dụng, chất làm mát và nhiều tính năng để phục vụ các mục tiêu khác nhau như đào tạo, phân tích kích hoạt neutron, chụp ảnh neutron, nghiên cứu đặc tính vật liệu, sản xuất đồng vị phóng xạ…, đó là lò nước nặng CIRUS (trên cơ sở thiết kế của Canada) năm 1960, lò neutron nhiệt ZERLINA năm 1961, lò neutron nhiệt DHRUVA năm 1970, lò neutron nhanh PURNIMA-I năm 1972, lò neutron nhiệt PURNIMA-II, III và KAMINI lần lượt năm 1984, 1990, 1993. Kinh phí xây dựng các lò phản ứng này không nhỏ, ví dụ theo số liệu của TS. K S Parthasarathy – cựu tổng thư ký Ban điều hành NLNT (Bộ NLNT Ấn Độ) thì giá thành CIRUS trong những năm 1960 vào khoảng 14,14 triệu USD nhưng theo nhận định của ông trên tờ The Hindu “những kinh nghiệm thu được trên lò phản ứng này là vô giá” 5. Ngay từ thời điểm lựa chọn công nghệ PHWR, Bhabha đã thấy đây là công cụ rất mạnh để Ấn Độ nghiên cứu về công nghệ hạt nhân. Ngày nay, PHWR là loại công nghệ chính của chương trình điện hạt nhân nước này.  Nghiên cứu ở tầm thế giới    Trong chương trình điện hạt nhân ba giai đoạn do Homi J Bhabha đề ra, vấn đề làm chủ công nghệ lò PHWR, chu trình nhiên liệu kín, thu hồi uranium đã qua sử dụng và nghiên cứu về thorium… – nguồn nguyên liệu cho PHWR mà Ấn Độ có trữ lượng lớn, đã được giao cho BARC. Những hiểu biết về PHWR không chỉ giúp Ấn Độ có thể thiết kế và vận hành trên hệ thống PHWR mà còn là cơ sở để cải tiến một loại lò mới – lò phản ứng nước áp lực cải tiến APHWR. Khi thiết kế loại lò này, BARC muốn chứng minh khả năng thương mại của nhiên liệu thorium, khả năng sử dụng nhiên liệu một cách hiệu quả và khả năng xử lý chất thải hạt nhân ở tiêu chuẩn cao dù điều kiện cơ sở hạ tầng còn thấp. Một trong những vấn đề trọng yếu của công nghệ lò APHWR là sử dụng nhiên liệu hỗn hợp với thorium-plutonium hoặc thorium-U233 (Ấn Độ đã thiết kế lò AHWR 300 MW sử dụng nhiên liệu có độ giàu thấp thorium-U233 để dành riêng cho mục tiêu xuất khẩu công nghệ).  Để giải quyết được vấn đề chu trình nhiên liệu cho các lò này, cũng như cho lò phản ứng tái sinh nhanh – FBR, Trung tâm BARC đã thực hiện nhiều nghiên cứu về thorium để có thể tận dụng tốt nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước, sản xuất nhiên liệu tại Tổ hợp Nhiên liệu hạt nhân (Nuclear Fuel Complex NFC) và tái chế trong Cơ sở tái chế thorium cho lò phản ứng năng lượng (PRTRF). Những dự án nghiên cứu này không chỉ đem lại cho Trung tâm BARC các sản phẩm công nghệ mà còn đi kèm công bố quốc tế – yếu tố quan trọng để đưa Ấn Độ vào top 5 quốc gia nghiên cứu về thorium hàng đầu thế giới. Theo công bố “Dữ liệu thế giới về nghiên cứu thorium: một nghiên cứu về trắc lượng khoa học trên cơ sở chỉ mục trích dẫn khoa học” (World literature on thorium research: A scientometric study based on Science Citation Index) trên tạp chí Scientometrics thì ở phương diện quốc gia, Ấn Độ đứng ở vị trí thứ hai thế giới sau Mỹ về số lượng công bố nhưng về đơn vị nghiên cứu, Ấn Độ là số một khi Trung tâm BARC vượt qua cả Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos (nơi có nguồn nhân lực trên 4000 người và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu 1,6 tỷ USD hằng năm) và dẫn đầu 2059 tổ chức nghiên cứu trên thế giới với 153 tác giả có công bố. Tác giả có nhiều công bố nhất giai đoạn này cũng là người Ấn Độ (39 bài) 6.    Một trong những vấn đề về công nghệ hạt nhân khác mà Trung tâm BARC giải quyết được là đảm bảo vận hành an toàn và hiệu quả hệ thống lò phản ứng năng lượng. Bằng chứng là trong suốt các năm quản lý và vận hành lò phản ứng năng lượng cũng như lò nghiên cứu, Ấn Độ chưa để xảy ra sai sót lớn nào. Trong công bố “An toàn trong các nhà máy điện hạt nhân Ấn Độ” (Safety in nuclear power plants in India) trên tạp chí Indian J Occup Environ Med năm 2008, R. Deolalikar nêu kỷ lục của Ấn Độ là 277 năm vận hành an toàn lò phản ứng năng lượng (reactor years of operation).  Ông S A Bhardwaj  – chủ tịch Cơ quan An toàn hạt nhân Ấn Độ và giám đốc kỹ thuật Công ty điện hạt nhân Ấn Độ (NPCIL) cho biết, trong thiết kế lò PHWR, việc làm mát lõi lò dựa vào dòng chảy đối lưu tự nhiên của chất làm mát thông qua các thiết bị sinh hơi và chế độ làm mát này vẫn có thể được duy trì ngay cả trong tình trạng sự cố mất điện toàn nhà máy (Station Black Out SBO). Hiệu quả của nó đã được chứng minh với trường hợp mất điện suốt 17 giờ dẫn đến phát hỏa trong phòng turbine (turbine hall) ở tổ máy số 1 của nhà máy điện hạt nhân Narora năm 1993 nhưng hệ thống làm mát vẫn được duy trì; cũng như trường hợp nhà máy điện hạt nhân MAPS tại Kalpakkam – khu vực bờ biển đông nam Ấn Độ, vẫn đứng vững trong đợt sóng thần năm 26/12/2004. Nhà máy tự động dừng hoạt động khi mực nước bắt đầu dâng cao trong khu vực dẫn nước vào (intake pump house) nên không xảy ra hiện tượng rò rỉ phóng xạ. Sáu ngày sau, nhà máy này đã có thể hoạt động trở lại.  Đội ngũ phân tích an toàn của Trung tâm BARC đều là những người có tầm nhìn rất rộng, không chỉ tập trung vào giải quyết những vấn đề của hệ thống các lò phản ứng năng lượng trong nước mà còn hướng đến những vấn đề xảy ra ở nước ngoài để mở rộng kinh nghiệm và hiểu biết của mình. Theo ông S A Bhardwaj, sau thảm họa động đất và sóng thần dẫn đến tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản vào tháng 3/2011, các chuyên gia BARC cũng đã phân tích sự cố trên nhiều hướng để giải đáp vấn đề: liệu một Fukushima như vậy có thể xảy ra ở Ấn Độ? Thông qua những nghiên cứu như vậy, họ cũng củng cố thêm năng lực phân tích an toàn và đáp ứng được các yêu cầu thực tế trong vận hành lò phản ứng năng lượng.  Trong thời gian 3 tháng thực tập về phân tích an toàn hạt nhân ở Trombay, TS. Lê Văn Hồng cho biết, các chuyên gia BARC “có nhiều chương trình tính toán rất hiện đại ở thời điểm đó mà Việt Nam mới chỉ biết qua sách báo chứ chưa được tiếp cận trực tiếp, trong đó có chương trình của Mỹ và các chương trình họ tự phát triển”. Tham gia vào nhóm phân tích an toàn của BARC, ông nhận thấy, họ sẵn sàng cung cấp thông tin, dữ liệu và cởi mở trong trao đổi chuyên môn, “dù trình độ của họ cao hơn mình rất nhiều”.     BARC là một trung tâm nghiên cứu đa ngành với nhiều hoạt động nghiên cứu triển khai trong nhiều lĩnh vực: công nghệ lò AHWR; công nghệ lò phản ứng cải tiến và điện hạt nhân; điện tử, thiết bị đo và máy tính; nhiên liệu hạt nhân; tái chế và quản lý chất thải hạt nhân; công nghệ và khoa học vật liệu; công nghệ và kỹ thuật hóa chất; vật lý; hóa học; y tế, thực phẩm và nông nghiệp. Nhiều sản phẩm nghiên cứu của BARC như vật liệu thép và hợp kim đã được ứng dụng ngoài lĩnh vực công nghệ hạt nhân, ví dụ các ống thép không rỉ Ti 316 để sản xuất thiết bị của lực lượng hải quân và ống thép không rỉ 321 để sản xuất máy bay chiến đấu hạng nhẹ.     —-  1. http://tiasang.com.vn/-dien-dan/khoa-hoc-la-van-hoa-van-hoa-lam-khoa-hoc-239  2. https://openbudgetsindia.org/ dataset/ atomic-energy-2018-19  3. http://www.barc.gov.in/publications/tb/apsara.pdfc  4.http://www.thehindu.com/sci-tech/50-years-of-CIRUS-some-unforgettable-memories/article15603073.ece    5. https://www.theguardian.com/environment/2011/nov/01/homi-bhabha-india-thorium-nuclear  6. https://link.springer.com/article/10 1007/s11192-006-0157-2       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang BASH: Một phép thử trong phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore      Mới khai trương chưa đầy một năm nhưng BASH đã làm xôn xao cộng đồng khởi nghiệp, khi phóng viên Tia Sáng tới Singapore tìm hiểu về hệ sinh thái khởi nghiệp, mọi người đều “gợi ý” nên tới BASH.      Sân khấu và khu vực tổ chức sự kiện tại Bash  BASH là gì?  BASH là viết tắt của cụm từ: Build Amazing Startups Here – Tạo nên những startup đáng kinh ngạc tại đây. Văn phòng của BASH chiếm trọn tầng ba của Blk 79 mới mở, cách Blk 71 – cộng đồng khởi nghiệp đông đúc nhất Singapore chỉ có vài bước chân. Đến thăm BASH, người ta sẽ thấy, đây là một không gian làm việc chung rộng hơn 2000 m3 đầy cảm hứng. “Xin lỗi nhé, chúng tôi không có trà nhưng mà cà phê thì rất rất ngon” – David Toh, quản lý BASH nói với phóng viên Tia Sáng tại điểm dừng chân đầu tiền ở đây – Brewry. Đây là không gian cho các hoạt động kết nối, ăn uống, tán gẫu. Bánh ngọt, bánh quy và cà phê ở đây được cung cấp miễn phí cho các startup. Ba khu vực khác tại BASH bao gồm: Hatchery – khu vực chiếm phần lớn diện tích của BASH, hiện nay là chỗ làm việc của các startup mới thành lập hoặc sản phẩm vẫn chưa thể thương mại hóa; Factory  – nơi các startup trưởng thành hơn, chuẩn bị gọi vốn cho vòng Series A và cuối cùng là Chill, một không gian nhỏ cho những cuộc đối thoại riêng tư hơn, thường là dành cho đối thoại giữa mentors và startup. Các startup gặp rắc rối với một vấn đề nào đó có thể đăng ký trên website và đội ngũ quản lý BASH (những người trẻ trung từng khởi nghiệp và có kinh nghiệm đầu tư) sẽ sắp xếp cho họ một mentor phù hợp. Vào thứ Ba hằng tuần, ở đây lại tổ chức một buổi chia sẻ kinh nghiệm của các quỹ đầu tư với startup. Bốn không gian trên được đánh dấu bằng tên của chúng – là những chữ cái bằng gỗ cỡ lớn và có thể di chuyển dễ dàng. Điều đó có nghĩa là vị trí và diện tích của bốn khu vực có thể biến đổi tùy ý: “Chúng tôi thay đổi liên tục để mọi người cảm thấy phải luôn đổi mới sáng tạo” – David Toh nói.    Nhìn vẻ ngoài năng động của BASH, người ta sẽ nghĩ đây là một dự án của tư nhân. Nhưng điều đó chỉ đúng…một nửa. BASH trực thuộc quỹ Infocomm Investment – một quỹ đầu tư mạo hiểm sở hữu 200 triệu SGD do nhà nước rót vốn nhưng lại được tư nhân điều hành. Infocomm Investment tập trung đầu tư vào các startup ở giai đoạn sau hạt giống và trước vòng Series A – giai đoạn mà các quỹ đầu tư tư nhân thường e ngại vì rủi ro quá cao. Về giai đoạn hạt giống, họ không đầu tư trực tiếp cho các startup mà đầu tư gián tiếp thông qua các vườn ươm và khóa tăng tốc khởi nghiệp. Nói cách khác, họ đầu tư cho chính các tổ chức hỗ trợ startup này và đương nhiên, khi các tổ chức này đầu tư vào startup thì họ phải chia cổ phần cho Inforcomm Investment. Các startup trong chương trình của các khóa tăng tốc khởi nghiệp và vườn ươm được đầu tư sẽ làm việc tại BASH, khu vực Hatchery. Về giai đoạn tiền Series A, sau khi tốt nghiệp từ các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, nếu tiềm năng, các startup sẽ được Infocomm Investment đầu tư tiếp vài trăm nghàn SGD. Các startup này sẽ tiếp tục làm việc tại BASH, khu vực Factory. Hiện nay, Infocomm Investment đã đầu tư cho 10 vườn ươm và khóa tăng tốc khởi nghiệp, trong đó có bốn tổ chức đang làm việc tại BASH với 40 startup. Các startup này đều được sử dụng miễn phí dịch vụ ở đây.   Một dự án trùng lặp của Chính phủ Singapore?    BASH “có vẻ mới” nhưng nếu để ý kĩ, các hoạt động của BASH đều quen thuộc. Không gian làm việc chung? Chúng đã có rất nhiều ở Blk 71 và bản thân Chính phủ Sing cũng tài trợ NUS Enterprise –hai tầng của Blk 71, gần 5000 m2 để làm co-working space và vườn ươm. Đơn vị tổ chức sự kiện? ACE – Action Community for Entrepreneurship do Chính phủ Singapore tài trợ và sáng lập cũng tổ chức đa dạng các sự kiện cho cộng đồng startup. Hoạt động ươm tạo, tăng tốc khởi nghiệp? Chiến lược đầu tư đối ứng của NRF và SPRING đã góp phần hình thành và làm tăng các tổ chức triển khai việc này ở khối tư nhân. Nếu thế, BASH và Infocomm Investment có gì khác? Có ý kiến cho rằng, BASH hiện nay chẳng có gì ngoài tiền.   Thực ra, BASH hé lộ bước tiếp theo của Chính phủ Singapore trong việc thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sau khi đã làm sinh sôi một loạt các quỹ đầu tư tư nhân, tạo ra một khu tổ hợp hệ sinh thái khởi nghiệp, có đầy đủ các thành tố, sau khi biến Singapore thành điểm đến đáng khao khát của những nhà đầu tư, nhà khởi nghiệp nếu muốn mở rộng thị trường ra Đông Nam Á. Bây giờ, họ cần thúc đẩy công nghệ mới và đưa startup ra toàn cầu.   Cách thức đầu tư của BASH khá mới so với hoạt động từ trước đến nay tại Singapore. Trước đây, chiến lược đầu tư đối ứng của Chính phủ Singapore vào các vườn ươm khởi nghiệp nhằm kích thích sự hình thành của các tổ chức này thì bây giờ Infocomm Investment chỉ đầu tư vào các vườn ươm đã hoạt động, có kết quả khả quan; có kiến thức sâu sắc về một lĩnh vực; có mạng lưới quan hệ với các công ty, tập đoàn lớn. Họ đầu tư 1-5 triệu SGD cho mỗi vườn ươm, khóa tăng tốc khởi nghiệp, David cho biết, các vườn ươm và khóa tăng tốc khởi nghiệp ở BASH là công cụ để họ đảm bảo tiếp cận với đủ nhiều startup có khả năng thành công.. Theo David, việc trải qua khóa tăng tốc khởi nghiệp khiến khả năng được mua lại của startup là 65-70%, trong khi nếu không, khả năng đấy chỉ còn 2-6%. Bên cạnh đó, việc để nhiều vườn ươm và khóa tăng tốc khởi nghiệp trong cùng một không gian sẽ thúc đẩy họ cạnh tranh lẫn nhau, buộc họ phải xem xét và thay đổi liên tục chương trình của mình sao cho phù hợp nhất với các startup. Những điều này sẽ nâng chất lượng của hệ sinh thái khởi nghiệp tại Singapore.  Các lĩnh vực Infocomm Investment đầu tư sẽ được Chính phủ Singapore tập trung sau khi họ kết thúc các chương trình hiện nay của NRF vào nửa cuối năm 2016. Phần lớn, nhiều người trong cộng đồng khởi nghiệp Singapore biết đến BASH như một nơi tập trung đầu tư cho các startup trong lĩnh vực fintech (công nghệ tài chính, Bitcoin và các dịch vụ quanh nó là một ví dụ). Họ đầu tư để kéo chương trình Startup Bootcamp Fintech của Anh và các startup làm việc tại đây về Singapore. Sắp tới, tại BASH sẽ có khóa tăng tốc khởi nghiệp Airmaker, tập trung vào các ứng dụng và dự án về Internet of Things và khóa tăng tốc khởi nghiệp Spark tìm kiếm các startups làm việc trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng, ô tô điện, an ninh mạng. Mục tiêu của BASH là tạo ra 500 startup trong vòng ba năm tới.   Trước đây, các startup của Singapore chủ yếu chỉ hướng đến thị trường Đông Nam Á là dừng lại, Infocomm Investment và BASH đang hướng tới thay đổi điều đó – đưa startup ra toàn cầu. Thông qua chương trình Global Startup Exchange, họ cho phép các startup và accelerators đối tác đến và làm việc tại BASH và tiếp cận với mọi nguồn lực tại Singapore và ngược lại. Hiện tại BASH đang có các startup đến từ Ấn Độ, Sri Lanka, Đài Loan làm việc tại đây.  BASH là một không gian làm việc chung lớn nhất Singapore hiện nay và có “tất cả trong một” (từ chỗ làm việc, nhà đầu tư, mentor cho tới sự kiện) giúp cho các startup làm việc tại đây luôn có được sự hỗ trợ nhanh nhất. Mới được một năm, khó mà có thể đánh giá được hiệu quả của BASH nhưng David cho rằng, BASH cũng góp phần thay đổi văn hóa khởi nghiệp ở Singapore “chúng tôi khiến việc startup dễ dàng hơn một chút xíu, ít nhất là các bạn có một văn phòng miễn phí” .    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Bất bình đẳng và dịch chuyển xã hội ở Việt Nam      Không tạo thành những “làn sóng” dễ nhận biết nhưng những dịch chuyển xã hội ở Việt Nam trong 10 năm qua đã có ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống, cơ hội thay đổi địa vị xã hội của nhiều nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số.      Một gia đình người Hmông đang đi bộ giữa những ngôi nhà bị phá hủy sau trận lũ quét tại Mù Cang Chải, Yên Bái, hôm 4 tháng 8 năm 2017. Ảnh: AFP.  Đầu năm 2018, tôi có dịp về Kiên Thành, một xã miền núi của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Khi còn chưa kịp vui mừng về việc xã cũng có cây chè hoa vàng cổ thụ, một loại dược liệu quý có mức giá gần chục triệu một kg hoa khô và được mệnh danh là “cây thoát nghèo” của người dân Ba Chẽ, Quảng Ninh thì tôi đã thấy một tốp bốn người đàn ông Hmông từ Đồng Song, thôn xa xôi nhất của xã vác những gốc chè hoa vàng với bộ rễ nguyên vẹn dài cồng kềnh mang bán cho thương lái. Lồng – một trong bốn người Hmông cho biết, “đào một gốc chè như vậy mất vài ngày, trèo đèo lội suối vào tầm khầm (rừng sâu), dùng thuổng đào thật khéo, thật nhẹ để tránh đứt từng sợi rễ, rồi còn phải trốn tránh kiểm lâm” mới bán được từ 5 đến 10 triệu tùy gốc to hay bé. Những người Hmông đó, đều sinh trong khoảng 1980 – 1985, người chưa học hết cấp 2, người thậm chí không biết mặt chữ, ở nơi từng hứng chịu những cơn lũ ống kinh hoàng nhất trong lịch sử, cuốn đi tất cả ruộng vườn, nhà cửa của những người dân tộc thiểu số vốn chỉ có gia sản rất ít ỏi, hầu như không có cơ hội tìm nghề nào khác ngoài việc tận diệt những cây dược liệu hoặc gỗ quý cuối cùng ở tận tầm khầm, làm nương trên những mảnh đồi ngày càng cằn cỗi, sạt lở, hoặc làm thuê ngắn ngày cho người Kinh. Với nền tảng học vấn thấp, hầu như không có gì hơn ngoài sức lao động, họ sao có thể tìm kiếm việc làm có thu nhập ổn định, có cơ hội thay đổi cuộc sống ngoài việc đào đẽo rừng đầu nguồn!  Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thực hiện nhiều nghiên cứu và khảo sát về dịch chuyển xã hội – thước đo sự bình đẳng về cơ hội, phản ánh các khả năng thay đổi địa vị xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân, với mong muốn lý giải thật cặn kẽ vấn đề. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ đề cập đến vấn đề phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội một cách định tính mà chưa có được đánh giá định lượng, đo lường một cách chính xác, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể.1  Đây là lý do khiến 10 năm qua Oxfam Việt Nam thực hiện nghiên cứu “Dịch chuyển xã hội và bình đẳng cơ hội tại Việt Nam: Xu hướng và các Yếu tố tác động”. Đây là nghiên cứu toàn diện đầu tiên về dịch chuyển xã hội tại Việt Nam, khắc họa sự thay đổi vị trí/vị thế xã hội của các nhóm dân cư đồng thời chỉ ra các yếu tố thúc đẩy và cản trở sự dịch chuyển xã hội. Bà Babeth Ngọc Hân Lefur, Giám đốc quốc gia của Oxfam cho biết: “Chúng tôi đã xây dựng một khung kỹ thuật theo dõi bất bình đẳng tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020, trong đó có chủ đề về dịch chuyển xã hội. Chúng tôi đã tích lũy được nhiều bằng chứng bao gồm nghiên cứu về dịch chuyển xã hội, giám sát đói nghèo và phân tích chính sách giảm nghèo để cung cấp thông tin cho khung theo dõi bất bình đẳng, là cơ sở trong việc thiết kế chương trình và vận động chính sách cũng như thiết lập quan hệ đối tác với các bên có cùng mối quan tâm”.  Những nhóm nào đang tụt lại?  Nghiên cứu này đã tập trung phân tích dịch chuyển xã hội thông qua dịch chuyển thu nhập, ngành nghề và kỹ năng ở nhóm thanh niên bắt đầu tham gia thị trường lao động (16 – 30 tuổi), trong đó tập trung vào so sánh cơ hội cuộc sống và nghề nghiệp của thanh niên thuộc các nhóm yếu thế như nghèo/cận nghèo, dân tộc thiểu số và di cư với thanh niên thuộc các nhóm trung bình và khá giả hơn. Để có được cái nhìn đa chiều, không chỉ dừng lại ở so sánh giữa những người thuộc các nhóm dân cư, có địa vị xã hội khác nhau, nghiên cứu còn đo lường dịch chuyển xã hội theo thời gian sống của một cá nhân (“dịch chuyển xã hội trong thế hệ”) hoặc của chính họ so với chính cha mẹ của họ (“dịch chuyển xã hội liên thế hệ”).  Kết quả cho thấy có hai vấn đề nổi lên: Dịch chuyển thu nhập trong một thế hệ ở Việt Nam đã chậm lại trong hơn một thập kỷ nay. Ví dụ trong giai đoạn 2004 – 2008, 45% hộ thuộc nhóm nghèo nhất của năm 2004 đã vươn lên các nhóm cao hơn sau 4 năm nhưng trong giai đoạn 2010 – 2014, tỷ lệ này đã giảm xuống chỉ còn 37%; dịch chuyển thu nhập trong thế hệ không đồng đều giữa các nhóm dân cư, chênh lệch về dịch chuyển thu nhập rõ nhất giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số. Trong khi 49% hộ người Kinh thuộc nhóm nghèo nhất vào năm 2010 đã vượt lên các nhóm có thu nhập cao hơn vào năm 2014 thì chỉ có 19% hộ người dân tộc thiểu số làm được điều tương tự. Điều đó cho thấy, hầu hết người nghèo hoặc cận nghèo dân tộc thiểu số ít có khả năng thay đổi địa vị xã hội của họ.    Bảng 1: Dịch chuyển liên thế hệ ra khỏi khu vực nông nghiệp, năm 2004 và 2014 (%). Nguồn: Nguyễn Việt Cường (2016). Ước tính từ số liệu VHLSS 2004-2014.  Những chênh lệch về thu nhập, mức sống, địa vị/vị thế xã hội của những nhóm dân cư thành thị – nông thôn, miền xuôi – miền núi còn thể hiện một cách rõ nét. Đó là khả năng chuyển đổi nghề của thế hệ con, cháu so với bố mẹ và ông bà (dịch chuyển ngành nghề liên thế hệ) ở từng nhóm xã hội cũng có nhiều khác biệt. Mặc dù tỉ lệ chuyển đổi nghề nghiệp này trên cả nước đang tăng như trong giai đoạn 2010 – 2014, có 42% người lao động có cha mẹ đang làm nông nghiệp đã chuyển sang làm việc phi nông nghiệp, tăng 10% so với giai đoạn 2004-2008 nhưng rất ít người dân tộc thiểu số có thể chuyển đổi nghề nghiệp so với cha mẹ của họ (tỉ lệ tương ứng chỉ dao động ở mức 9 – 10% trong cả hai giai đoạn) – xem Bảng 1. Các tác giả nghiên cứu cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này là do cơ cấu kinh tế còn đơn điệu khi chỉ phát triển được các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tại các địa bàn nông thôn, miền núi.  Tương tự, dịch chuyển thu nhập liên thế hệ ở nông thôn, miền núi đang chậm chạp hơn nhiều so với thành thị và miền xuôi. Đo lường dịch chuyển này bằng cách tính toán hệ số co giãn thu nhập liên thế hệ, nhóm tác giả nhận thấy trên cả nước, hệ số này là 0,36 – nghĩa là nếu thu nhập của cha mẹ tăng 1% thì thu nhập của con cái sẽ tăng 0,36%. Khi hệ số co giãn cao hơn, khả năng dịch chuyển thu nhập liên thế hệ thấp hơn. Trong khi hệ số co giãn liên thế hệ của khu vực đô thị là 0,23 thì của khu vực nông thôn là 0,38; của nhóm dân tộc Kinh và Hoa là 0,30 thì ở các nhóm dân tộc thiểu số là 0,47. Từ kết quả khảo sát thực địa ở ba tỉnh, nhóm nghiên cứu còn cảnh báo: “Nếu chỉ dựa vào nông nghiệp, không có những đột phá về dịch chuyển nghề nghiệp, kỹ năng trong thời gian tới, thu nhập của thanh niên sẽ khó vượt trội so với đời cha mẹ, bởi vì diện tích đất sản xuất bình quân đầu người đang ngày càng thu hẹp”.    Bảng 2: Tỷ lệ người đang đi học tiểu học, THCS, THPT, sau THPT của nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất. Nguồn: Nhóm tác giả báo cáo.   Đánh giá kết quả này của nhóm nghiên cứu, bà Lương Minh Ngọc, viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế, xã hội và môi trường (iSEE) cho rằng, tình trạng trên sẽ còn đáng báo động hơn nữa nếu có các nghiên cứu sâu hơn về tình trạng nợ ở người dân tộc thiểu số. Bởi chỉ riêng một khảo sát của viện iSEE thực hiện ở một số vùng dân tộc thiểu số đã cho thấy người dân tộc thiểu số đa phần đang vướng vào nợ nần (thống kê ở Tây Nguyên cho thấy hầu hết các hộ dân tộc thiểu số ở đây nợ khoảng 50 triệu/ năm) và không có khả năng trả nợ (hầu hết đều phải trả non nông sản hết năm này qua năm khác).  Những yếu tố thúc đẩy dịch chuyển xã hội  Những dịch chuyển xã hội chậm chạp này có thể đeo đẳng theo mỗi người đến hết cuộc đời? Những người sống trong những nhóm xã hội ít có cơ hội có thể thay đổi “vận mệnh” của mình?  Oxfam Việt Nam đã đưa ra những gợi ý về các yếu tố thúc đẩy dịch chuyển xã hội và giảm bất bình đẳng bằng chính nghiên cứu của mình. Trong các gợi ý của họ, yếu tố quan trọng nhất là học vấn. Bởi vì, hộ gia đình mà chủ hộ có học vấn cao hơn có xác suất dịch chuyển lên về thu nhập cao hơn và có xác suất dịch chuyển xuống về thu nhập thấp hơn. Cụ thể, 23% hộ gia đình có chủ hộ tốt nghiệp giáo dục sau THPT đã chuyển dịch từ nhóm 40% thu nhập thấp nhất lên các nhóm thu nhập cao hơn trong giai đoạn 2010-2014. Trong khi với hộ gia đình có chủ hộ tốt nghiệp tiểu học, tỷ lệ này chỉ là 8%. Đồng thời, trình độ học vấn liên quan mật thiết với khả năng tiếp cận việc làm, nhóm nghiên cứu chỉ ra, “cứ tăng thêm mỗi năm đi học sẽ có xác suất tăng thêm bình quân khoảng 5% tiền lương, tiền công”.  Tuy nhiên, chất lượng giáo dục thấp ở một số vùng đang là yếu tố cản trở lớn cho người dân dịch chuyển nghề nghiệp, tiếp cận được các công việc đòi hỏi có kỹ năng và nhìn chung ảnh hưởng bất lợi đến dịch chuyển xã hội của người nghèo. Vẫn còn khoảng cách lớn về tiếp cận giáo dục ở các bậc học THPT và cao đẳng, đại học (CĐ-ĐH) giữa người nghèo với người khá giả, giữa người Kinh và với người dân tộc thiểu số. Tỉ lệ người dân tộc thiểu số có bậc học cao nhất tốt nghiệp CĐ-ĐH năm 2004 và 2014 lần lượt là 0,9% và 3,1% trong khi đó tỉ lệ này của người Kinh (và Hoa) lần lượt là 5,1% (2004) và 11% (2014).  Bên cạnh giáo dục, việc triển khai chính sách nông nghiệp chưa đem lại hiệu quả cũng là một rào cản với dịch chuyển nghề nghiệp và thu nhập của người dân. Theo phản ánh của nhiều hộ gia đình, những chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất dường như chưa kết nối được với nhu cầu nâng cao thu nhập của nhóm dân cư có đời sống kém đi hoặc đang có nguy cơ bị kém đi. Những mô hình khuyến nông được cho là đang tạo cơ hội tiếp cận nhiều hơn cho nhóm khá giả hơn là nhóm nghèo.  Ngoài ra, định kiến xã hội đối với người dân tộc thiểu số cũng trở thành một rào cản khiến họ khó vươn lên tìm kiếm cơ hội chuyển đổi. Một hệ lụy được ghi nhận khá rõ ở các địa bàn khảo sát là: hạn chế về sự tham gia và tiếng nói trong các hoạt động tại địa phương ảnh hưởng bất lợi đến sự tiếp cận của người thiểu số với các dịch vụ xã hội và các chương trình, dự án nâng cao nghề nghiệp, thu nhập.  “Trước những rào cản đó, chúng tôi tin tưởng rằng quá trình thúc đẩy dịch chuyển xã hội chỉ có thể đạt được khi các nhà hoạch định chính sách quan tâm mạnh mẽ hơn đến vai trò của giáo dục, chất lượng giáo dục hướng nghiệp và đào tạo nghề, giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, cơ chế hỗ trợ lao động xa nhà, thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn, giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số”, bà Babeth Ngọc Hân Lefur khuyến nghị.  —-  Chú thích:  1 Trước đó, một số nghiên cứu về dịch chuyển xã hội đã được tiến hành (bởi: Tương Lai, 1995; Bùi Thế Cường, 2010; Đỗ Thiên Kính, 2003, 2012, 2014; Trịnh Duy Luân, 2004), tuy nhiên chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Bất bình đẳng về cơ hội lựa chọn nghề của lao động trẻ      Những người trẻ trong xã hội có bình đẳng trong lựa chọn nghề nghiệp? Khi đi tìm câu trả lời về cơ hội lựa chọn nghề nghiệp này và công bố trên “Children and Youth Services Review” *, nhóm nghiên cứu của TS. Trần Quang Tuyến (ĐH Kinh tế, ĐHQH Hà Nội) đã phát hiện ra một vấn đề thú vị: nghề của cha ảnh hưởng lớn đến khả năng, cơ hội chọn nghề của con.    Vấn đề việc làm của con cái luôn là mối bận tâm của cha mẹ. Họ lo lắng cũng phải bởi hiện tại, tỉ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 15-24 (7.3%) cao gấp ba lần so với tỉ lệ thất nghiệp trung bình trong cả nước (2.1%). Những con số thống kê khác cũng khiến người ta phải suy nghĩ: cứ 10 thanh niên trên thị trường lao động thì có 8 người làm những công việc không chính thức và một nửa trong số đó có việc làm không thường xuyên (hợp đồng tạm thời hoặc tự làm); cứ 10 thanh niên lại có 3 người có trình độ cao hơn yêu cầu của công việc, điều đó khiến thu nhập của họ thấp hơn mức có thể được hưởng và không thể tận dụng toàn bộ tiềm năng lao động của mình. Điều này phản ánh sự bất bình đẳng về cơ hội và nhiều khó khăn của lao động trẻ khi gia nhập thị trường lao động1.  Trước bối cảnh đó, TS. Trần Quang Tuyến đã thực hiện một nghiên cứu với mục tiêu xác định chính xác mức độ bất bình đẳng về cơ hội trong lựa chọn nghề nghiệp và những yếu tố nào có thể tác động tới cơ hội việc làm của lao động trẻ, từ đó có những khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy cơ hội việc làm cho lao động trẻ. Anh và cộng sự đã tìm hiểu sự tác động của các yếu tố: Đặc điểm gia đình; Đặc điểm cá nhân; Mặt bằng mức sống dân cư ở địa phương; Chất lượng đào tạo nghề ở địa phương; Mật độ doanh nghiệp ở cấp huyện tới cơ hội việc làm của lao động trẻ. “Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm chất lượng đào tạo nghề ở cấp tỉnh, muốn đo lường xem liệu lao động trẻ ở những tỉnh có đào tạo nghề tốt hơn thì có khả năng kiếm được công việc tốt hơn hay không?”, TS. Trần Quang Tuyến nói.      Người lao động trẻ có bố mẹ làm quản lý sẽ có cơ hội làm quản lý hoặc ít nhất là nhân viên văn phòng cao hơn hàng chục lần so với người lao động trẻ có bố mẹ làm công việc chân tay như nông dân hoặc ngư dân.        Để có thể so sánh cơ hội chọn nghề của thanh niên, nghiên cứu này đã phân loại lao động thành bốn nhóm: 1) lao động trực tiếp không có kỹ năng (chỉ tốt nghiệp tiểu học và làm các công việc “tay chân” trong nông lâm nghiệp – thủy sản), 2) lao động trực tiếp có kỹ năng (công nhân làm việc trong các nhà máy hoặc trong ngành nông lâm nghiệp – thủy sản nhưng cần có kỹ năng), 3) lao động gián tiếp kỹ năng thấp (người làm trong các ngành dịch vụ), 4) lao động gián tiếp kỹ năng cao (từ kỹ thuật viên trở lên, người làm các công việc có chuyên môn cao hoặc làm quản lý). Trên cơ sở dữ liệu của cuộc điều tra quốc gia “Chuyển tiếp từ trường học tới việc làm” (Shool-to-work transition surveys) do Tổ chức lao động quốc tế (ILO) phối hợp với Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2015, chỉ số thành phần về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2014, chỉ số về mật độ doanh nghiệp cấp huyện được tính từ dữ liệu tổng điều tra doanh nghiệp năm 2014, họ đã phân tích mô hình kinh tế lượng để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chọn nghề của lao động trẻ (trong đó, nhóm lao động trực tiếp không có kỹ năng được sử dụng làm nhóm so sánh).  Nghề cha ảnh hưởng nghề con  Câu ca dao quen thuộc “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” thường được dùng để nói đến mức độ ảnh hưởng của nghề nghiệp của cha mẹ cũng như hoàn cảnh gia đình tới nghề nghiệp của con cái. Quan niệm của dân gian này cũng trùng khớp với nhiều nhận định nghiên cứu trước đây: nền tảng kinh tế gia đình có ảnh hưởng tới công việc của người con, nhưng đều là suy đoán cảm tính. Tuy nhiên, theo TS. Trần Quang Tuyến, “chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa nghề của cha và nghề của con, nghiên cứu này lần đầu tiên có bằng chứng để khẳng định cho những nhận định đó”.    Bảng 1: Nghề của cha có ảnh hưởng rất lớn tới cơ hội chọn nghề của con. Nguồn: Số liệu từ nghiên cứu của nhóm tác giả.   Nhóm nghiên cứu phân tích mô hình kinh tế lượng trong trường hợp những lao động trẻ có trình độ học vấn như nhau, được đặt trong bối cảnh địa phương như nhau nhưng chỉ có nghề của cha khác, thì lựa chọn nghề nghiệp rất khác nhau. Cụ thể, khả năng chọn được công việc là lao động trực tiếp có kỹ năng của những người lao động có bố là lao động gián tiếp cao hơn 2,6 lần so với nhóm có bố là lao động trực tiếp. Tương tự, người lao động có bố là lao động gián tiếp sẽ có cơ hội lựa chọn công việc gián tiếp có kỹ năng thấp cao hơn khoảng 11 lần và công việc gián tiếp kỹ năng cao hơn khoảng 17 lần so với nhóm có bố là lao động trực tiếp. Ví dụ dễ hình dung là người lao động trẻ có bố mẹ làm quản lý sẽ có cơ hội làm quản lý hoặc ít nhất là nhân viên văn phòng cao hơn hàng chục lần so với người lao động trẻ có bố mẹ làm công việc chân tay như nông dân hoặc ngư dân.  Như vậy những người sinh ra trong gia đình có nền tảng thấp sẽ vào đời với ít cơ hội hơn và chu kỳ này lại càng được củng cố và tiếp diễn ở giai đoạn sau trong cuộc đời họ cũng như thế hệ con cái họ. Nhưng liệu có thể thay đổi được số phận? Nhóm nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu mối quan hệ của các yếu tố Chất lượng đào tạo nghề cấp tỉnh; Mật độ tập trung doanh nghiệp ở cấp huyện nơi người lao động sinh sống, Chất lượng sống (được đo bằng GDP bình quân đầu người) có tác động gì tới cơ hội công việc của người lao động trẻ. Kết quả cho thấy, các tỉnh có mức GDP bình quân đầu người càng cao thì càng đem lại cơ hội việc làm tốt hơn cho người trẻ. Đồng thời, lao động trẻ ở những nơi có mức độ tập trung doanh nghiệp cao đều có cơ hội tốt hơn trong việc tìm kiếm công việc gián tiếp. Hơn nữa, người lao động trẻ sinh sống ở thành thị cũng có cơ hội tìm công việc gián tiếp kỹ năng thấp cao hơn 3,47 lần và gián tiếp kỹ năng cao 1,78 lần so với người lao động ở nông thôn có các điều kiện tương đồng nhau về mặt bằng cấp, điều kiện gia đình, giới tính. Điều này cũng lý giải cho nguyên nhân tại sao lao động trẻ lại di cư đến các thành phố có mức sống cao hơn.    Bảng 2: So sánh cơ hội tìm kiếm việc làm giữa nông thôn và thành thị. Nguồn: Số liệu từ nghiên cứu của nhóm tác giả.   Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra,với các đặc điểm cá nhân, điều kiện gia đình và bối cảnh nơi sinh sống (GDP của tỉnh, mật động doanh nghiệp) như nhau thì lao động nữ có cơ hội cao hơn nam trong việc lựa chọn những công việc thuộc nhóm nghề trực tiếp có kỹ năng và nghề gián tiếp kỹ năng cao (cao hơn lần lượt tương ứng là 1,89 lần và 1,93 lần). Điều này cũng đã được lý giải phần nào qua các nghiên cứu về kỹ năng lao động của nữ, cho thấy nữ kiên trì và nhẫn nại hơn, phù hợp với công việc lao động trực tiếp có kỹ năng và gián tiếp có kỹ năng hơn nam giới. Tuy vậy, cơ hội thăng tiến vào các vị trí quản lý của lao động nữ lại không bằng nam, điều này đã được đề cập tới trong các nghiên cứu trước, tỉ lệ nam làm quản lý ở các cơ quan lớn cao hơn nữ tới 10 lần (ISDS, 2015).  Khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố chất lượng đào tạo nghề cấp tỉnh tới khả năng chọn nghề của thanh niên, nhóm tác giả nhận thấy một tín hiệu đáng mừng là “lao động trẻ ở những tỉnh có chất lượng đào tạo nghề tốt hơn thì có khả năng chọn công việc lao động gián tiếp (bao gồm cả kỹ năng thấp và cao) tốt hơn các tỉnh còn lại. “Do vậy, từ những phát hiện của nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị: một mặt chính quyền địa phương phải tập trung nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đồng thời liên tục cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư để tăng mật độ tập trung doanh nghiệp thì mới mang lại cơ hội công bằng hơn cho giới trẻ trong việc chọn nghề”, TS. Trần Quang Tuyến nói.  —-  Chú thích:  * https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0190740917310241?via%3Dihub  1 Báo cáo điều tra quốc gia chuyển tiếp từ trường học tới việc làm (school-to-work transition survey) của ILO. Nguồn: http://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/Pressreleases/WCMS_219594/lang—vi/index.htm     Các cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) do Tổng cục thống kê tiến hành cũng cho thấy, điều kiện kinh tế và trình độ học vấn của cha mẹ có ảnh hưởng lớn đến tiếp cận giáo dục của con cái, và mối tương quan này ngày càng tăng theo thời gian. Tỷ lệ con cái của nhóm giàu nhất tốt nghiệp cao đẳng và đại học (CĐ-ĐH) cao hơn rõ rệt so với các nhóm còn lại trong xã hội. Trình độ học vấn của bố mẹ có vai trò quan trọng đối với trình độ học vấn của con cái. Trong số những người bố chưa tốt nghiệp tiểu học năm 2014, chỉ có 15,5% và 2,2% con cái có trình độ học vấn THPT và CĐ-ĐH. Trong khi đó, trong số những người bố đã tốt nghiệp CĐ-ĐH, có đến 47,5% con cái có trình độ học vấn CĐ-ĐH. Xu hướng này ngày càng rõ ở năm 2014 so với năm 2004, và đây không phải là xu hướng có lợi cho nhóm nghèo.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Bắt các electron khi chúng thoát khỏi một chất lỏng      Một kỹ thuật mới cho phép thực hiện các đo đạc chính xác các electron thoát khỏi bề mặt một chất lỏng – thông tin quan trọng để hiểu các phản ứng hóa học trong các giọt nước trong bầu khí quyển.      Các giọt nước trong đám mây là nơi trú ngụ của các electron, vốn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hóa học khí quyển. Một kỹ thuật mới có khả năng đem lại những phép đô đạc chi tiết hơn các hạt này.  Các electron chuyển động qua các chất lỏng đóng một vai trò quan trọng trong hóa học của những đám mây và trong các hiệu ứng của bức xạ lên các mô sinh học. Tuy nhiên việc đo được các electron này vẫn là thách thức, đặc biệt với các electron chuyển động vô cùng chậm. Hiện tại các nhà nghiên cứu đã thực hiện một phương pháp giúp họ tiến gần hơn tới việc đo các năng lượng của electron bên trong một chất lỏng. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các photon để đẩy các electron từ các giọt nhỏ bé và sau đó đo các mức năng lượng electron, chứng tỏ sự thống nhất với mô hình lý thuyết của họ. Trong tương lai, kỹ thuật này có thể giúp làm sáng tỏ cách các electron tương tác với chất lỏng trong nhiều thí nghiệm quan trọng.  Trong bầu khí quyển, các phản ứng hóa học xảy ra giữa các phân tử và ion bị hòa tan các giọt nước. Các nhà khoa học nghi ngờ, nhiều phản ứng trong số này diễn ra trong một lớp vỏ mỏng gần với bề mặt chất lỏng. Các electron trong chất lỏng này, được biết là các electron sonvat, có thể kích hoạt các phản ứng này nếu như chúng giàu năng lượng. Vì vậy để hiểu một cách đầy đủ về loại hóa học này, các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu về các năng lượng của electron bên trong các giọt nước và đặc biệt là cách chúng khác biệt như thế nào tại bề mặt và trong lòng giọt nước. Các nhà sinh học có một mối quan tâm liên quan: bức xạ xuyên qua các mô sinh học tạo ra các electron chậm, vốn chứa các mức năng lượng khác nhau khi chúng di chuyển qua các tế bào. Hiểu về các biến đổi này có thể giúp các nhà nghiên cứu hiểu thêm về nơi có khả năng DNA bị tổn thương.  Nhưng việc đo sự khác biệt về năng lượng bên trong và bề mặt các electron trong một giọt chất lỏng không hề dễ dàng. Điểm khởi đầu thông thường là đẩy các electron ra khỏi chất lỏng bằng việc dùng tia laser và sau đó đo đạc sự phân bố của năng lượng electron. Phổ năng lượng này có thể có tiềm năng được sử dụng để hoạt động ngược trở lại và tái khám phá các biến thể của các mức năng lượng electron bên trong chất lỏng đó. Trong vòng 20 năm, các nhà nghiên cứu đã cố gắng làm sạch dữ liệu bằng việc nghiên cứu các electron bị đẩy khỏi các tia nhỏ chất lỏng. Nhưng các thí nghiệm đó đã gặp phải rất nhiều vấn đề, bao gồm độ nhạy cực cao để không hạn chế việc nạp điện của tia chất lỏng và sự khó khăn trong đo các electron chậm.  Hiện tại nhà hóa học Ruth Signorell và đồng nghiệp tại Viện công nghệ liên bang Thụy Sỹ (ETH) ở Zurich đã đi tiên phong với một cách tiếp cận khác biệt, sử dụng một chùm tia của các giọt chất lỏng phun vào một chân không ngay sau khi tạo ra được bằng một máy phun. Kỹ thuật mới cho phép điều chỉnh và kiểm soát hiện tượng nạp điện một cách chính xác lên các giọt chất lỏng và khiến họ có thể sử dụng các phương pháp dò với độ nhạy cao lên các electron chuyển động chậm.  Để thực hiện nguyên tắc này, Signorell và đồng nghiệp đã làm việc với các giọt chất lỏng dioctyl phthalate không bay hơi có đường kính 420 nano mét. Các giọt chất lỏng này bốc hơi đủ chậm để cho phép thực hiện thực nghiệm, trong đó nhóm nghiên cứu gia nhiệt bằng tia laser và đo đạc các hướng chuyển động và mức năng lượng cuối cùng của các electron bị đẩy. Họ có thể đặt các mức điện tích cụ thể ( +16,+8,0,−7+16,+8,0,−7, hoặc các khối nạp electron −15−15, trong nghiên cứu này) lên các giọt chất lỏng bằng việc phun lên chúng một lớp ion có kiểm soát. Họ thấy sự thống nhất giữa dữ liệu thực nghiệm và mô phỏng, bao gồm các kết quả về mức cao và thấp về năng lượng của các electron.  Với các electron năng lượng cao (chúng có mức năng lượng cuối trên 1 eV), các quang phổ electron từ những giọt chất lỏng mang điện tích âm chuyển sang năng lượng cao, so với phổ trung bình của giọt chất lỏng. Điện tích âm đã cung cấp một lực đẩy lớn hơn khi các electron rời khỏi các giọt chất lỏng. Hiệu ứng ngược lại xảy ra với các electron bị đẩy khỏi các giọt chất lỏng mang điện tích dương với các mức năng lượng thấp hơn so với phổ trung bình của những giọt chất lỏng.  Với các năng lượng trên dưới 1 eV, một hiệu ứng lượng tử giảm số lượng các electron năng lượng thấp di chuyển qua rào chắn năng lượng này bằng phần tiếp giáp (giữa) chân không (và) chất lỏng. Nhiều hạt electron trong số đó đủ năng lượng để vượt qua barrier đó nhưng sự đồng dạng/tương tự của các bước sóng lượng tử (de Broglie) của chúng với độ dày của barrier dẫn đến nhiễu sóng lượng tử và một xác suất phản xạ mạnh. Các mô phỏng cho thấy độ nhạy với độ cao và chiều rộng của barrier có thể cho phép thực hiện các thí nghiệm tương lai để xác định rõ đặc điểm các chi tiết của phần tiếp giáp (giữa) chân không (và) chất lỏng, thông tin hiện vẫn chưa có được.  Signorell thừa nhận, các thí nghiệm này vẫn chưa xác định được mức năng lượng của các electron tăng lên hay mất đi khi chúng chuyển động trong một giọt chất lỏng nhưng vẫn có thể chứng minh giá trị của kỹ thuật mới. “Sự độc đáo trong thí nghiệm về các giọt chất lỏng là độ nhạy cao với bản chất chính xác của các lực có xu hướng giữ những electron bên trong giọt chất lỏng”, bà nói. Nhà hóa học John Herbert của trường đại học Ohio tại Columbus cho biết, kỹ thuật mới rất quan trọng bởi nó đem lại một cách tiếp cận bổ sung cho các thí nghiệm về các tia chất lỏng mà các nhà nghiên cứu đã dựa vào trong quá khứ.  Công trình này mới được xuất bản trên Physical Review Letters.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v13/4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bật đèn xanh cho đài quan sát sóng hấp dẫn LIGO của Ấn Độ      Đài quan sát với tổng mức đầu tư 177 triệu USD của Ấn Độ sẽ tham gia mạng lưới cảm biến toàn cầu và được tăng cường khả năng dò của mình.      Máy dò của Ấn Độ sẽ tương tự như LIGO tại Mỹ. Nguồn: LIGO Laboratory  Ấn Độ sẽ bắt đầu xây dựng một bản sao LIGO của Mỹ, sau khi địa điểm xây dựng của dự án đã được chính thức thông qua.  Đài quan sát, có mức kinh phí 12,6 tỷ rupees (tương đương 177 triệu USD), được ấn định hoàn thành vào năm 2024, sẽ được xây dựng tại khu Hingoli, bang Maharashtra ở phía Tây Ấn Độ.  Cỗ máy dò sẽ giúp các nhà khoa học mở rộng khu vực quan sát sóng hấp dẫn trên bầu trời – những gợn sóng trên bề mặt không thời gian – để họ có thể có được dữ liệu. Một nhóm các nhà khoa học Ấn Độ đã từng hợp tác với các đồng nghiệp Mỹ lại LIGO từ năm 2016. Trước đó một năm, LIGO đã có khám phá đầu tiên về sóng hấp dẫn – năng lượng sinh và tỏa ra từ cuộc va chạm của hai lỗ đen – qua đó xác nhận dự đoán của Albert Einstein và mở ra một cách mới trong nghiên cứu vũ trụ.  Thiết bị dò sóng hấp dẫn của Ấn Độ sẽ là chiếc đài quan trắc thứ 6 trên thế giới và được thiết kế tương tự cỗ máy ở Hanford, Washington và Livingston, Louisiana. “Chúng ta có thể thấy sự hứng khởi của rất nhiều nhà thiên văn”, theo Tarun Souradeep – nhà vũ trụ học tại Trung tâm Thiên văn học và vật lý thiên văn Liên trường đại học (IUCAA) tại Pune và là người phụ trách dự án Khoa học sóng hấp dẫn và phân tích dữ liệu của cỗ máy dò mới.  Souradeep cho biết, LIOG tiên tiến của Ấn Độ (aLIGO) được chờ đợi sẽ giúp các nhà nghiên cứu thực hiện ba chủ đề chính: xác định nguồn của sóng hấp dẫn chính xác 5 đến 10 lần hơn hiện nay; thực hiện các tính toán chính xác về những kích thước của lỗ đen; khám phá thêm những thông tin quan trọng về tỷ lệ giãn nở của vũ trụ.  Ấn Độ vốn có truyền thống mạnh về mảng lý thuyết của vật lý thiên văn, Ashutosh Sharma – tổng thư ký Cục KH&CN (Bộ KH&CN Ấn Độ) nhận xét. “aLIGO sẽ đem lại cơ hội cho các nhà thiên văn Ấn Độ trở thành đối tác với cộng đồng nghiên cứu toàn cầu và mang những nhận thức mới về lĩnh vực đang có nhiều biến chuyển mạnh mẽ này,” ông nói.  Nỗ lực hợp tác     Ủy ban Năng lượng nguyên tử Ấn Độ và Cục KH&CN đã ký một biên bản ghi nhớ với Quỹ Khoa học Mỹ về dự án LIGO vào tháng 3/2016.  Với thỏa thuận này, Phòng thí nghiệm LIGO – được Viện Công nghệ California (Caltech) tại Pasadena và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge điều hành – sẽ cung cấp phần cứng cho một giao thoa kế hoàn chỉnh ở Ấn Độ, dữ liệu kỹ thuật và thiết kế cũng như tập huấn và hỗ trợ lắp đặt và những nhiệm vụ liên quan đến cơ sở hạ tầng hỗ trợ khác.  Ấn Độ sẽ cung cấp địa điểm, hệ thống phòng chân không và cơ sở hạ tầng cần thiết để lắp đặt và điều hành máy dò, cũng như các phòng thí nghiệm, vật liệu… và những trang thiết bị cho lắp đặt.  IUCAA được đặt kế hoạch sử dụng kinh phí từ chính phủ Ấn Độ, khoảng 1 tỷ rupees cho địa điểm và giải phóng mặt bằng, tăng cường kỹ năng sử dụng các thiết bị cho những nhà thiên văn Ấn Độ tham gia dự án. Viện nghiên cứu Vật lý plasma ở Gandhinagar và Trung tâm Công nghệ tiên tiến Raja Ramanna tại Indore sẽ là những đối tác của dự án.  Các nhà khoa học chờ đợi chính phủ Ấn Độ cấp toàn bộ kinh phí vào năm 2020, sau khi đệ trình một bản báo cáo chi tiết về dự án.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00184-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bầu cử điện tử – Tăng tính dân chủ bằng phương pháp mật mã      Một nhà nước dân chủ nhất thiết cần xây dựng các hệ thống bầu cử tốt để thực sự lựa chọn được người đứng đầu xứng đáng. Tuy nhiên, các hệ thống bầu cử đang được sử dụng đều chưa đạt được đồng thời hai yêu cầu quan trọng sau đây:    – Tính kiểm tra được: việc kiểm phiếu được kiểm tra một cách công khai và mỗi cử tri đều có thể kiểm tra chắc chắn rằng lá phiếu của mình đã được tính.  – Tính tự do trong lựa chọn: mỗi cử tri đều được đảm bảo tuyệt đối quyền lựa chọn lá phiếu của mình, không bị ai ép buộc và cũng không thể bán phiếu bầu của mình cho bất cứ bên nào.  Trong một số cuộc bầu cử, để đảm bảo yêu cầu thứ nhất thì người ta công khai danh sách ai đã bầu cho ai, và vì thế việc kiểm phiếu là hoàn toàn công khai và ai cũng có thể kiểm tra phiếu bầu của mình đã được tính. Tuy nhiên, điều đó lại không đảm bảo quyền hoàn toàn tự do lựa chọn của cử tri: người bầu có thể bị khống chế buộc phải bầu cho một ứng cử viên; hoặc người bầu có thể bán lá phiếu của mình vì chứng minh được cho người mua thấy mình đã bầu cho ai.  Để tránh những hạn chế của việc cử tri bị khống chế hoặc việc mua bán phiếu bầu, hầu hết các cuộc bầu cử hiện nay chọn việc đảm bảo yêu cầu thứ hai bằng cách ẩn danh lá phiều bầu: cử tri đến trung tâm bầu cử, được phát một lá phiếu bầu, chọn ứng cử phiên và cho lá phiếu ẩn danh vào thùng phiếu. Cử tri do vậy hoàn toàn tự do lựa chọn và bản thân họ khi ra khỏi phòng bỏ phiếu cũng không thể chứng minh là mình đã bỏ cho ai và do vậy cũng không bán được phiếu bầu. Cách làm này tuy vậy lại không thể đảm bảo yêu cầu thứ nhất: một khi lá phiếu đã cho vào hòm phiếu, cử tri buộc phải đặt tin tưởng vào người kiểm phiếu và không có cách nào chắc chắn được liệu lá phiếu của mình sẽ được tính và cũng không thể kiểm tra liệu lá phiếu của mình có bị thay đổi. Việc buộc phải đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào những người kiểm phiếu có thể làm nhiều cuộc bầu cử không có được lòng tin của cử tri. Điều này là tất yếu khi những người kiểm phiếu không ở những phe phái đối lập nhau và do vậy không có sự kiểm soát chặt chẽ lẫn nhau. Ngay cả trong các cuộc bầu cử ở những nước phát triển có các đảng phái đối lập, phương pháp ẩn danh này gần đây cũng có bị giảm lòng tin nơi cử tri do có những sai sót ở những mức độ lớn nhất: năm 2000, hơn 50.000 phiếu ở quận Brown bị bỏ sót và việc Bush thắng AlGore ở Florida với 537 phiếu chênh lệch (và dẫn tới thắng cuộc bầu cử Tổng thống) đã gây ra những cuộc tranh luận nảy lửa; mới đây năm 2012, trong cuộc bầu Chủ tịch Đảng Cộng hòa Pháp, Jean-François Copé được tuyên bố thắng cử với chênh lệch sít sao so với François Fillon nhưng cuối cùng trưởng ban kiểm phiếu đã phải thừa nhận có đến hơn 300 phiếu của một số vùng bị bỏ sót mà nếu tính những phiếu này thì kết quả bị đảo ngược và François Fillon lại vượt hơn 26 phiếu.  Cả hai tính chất kiểm tra được và tự do trong lựa chọn của một hệ thống bầu cử đều rất cơ bản nhưng luôn bị coi là đối ngược nhau và do vậy không thể cùng đạt được. Tuy nhiên, các phương pháp mật mã chứng tỏ rằng ta có thể xây dựng các hệ bầu cử đạt được cả hai yêu cầu trên. Người đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng các hệ bầu cử tích hợp các phương pháp mật mã là Chaum vào năm 1981[1]. Cũng tương tự như việc xây dựng các hệ mã hóa khóa công khai hay các chứng minh tương tác không để lộ tri thức, các phương pháp mật mã giúp chúng ta có thể đạt được những mục tiêu tưởng chừng như không thể. Bài viết này tập trung phân tích một số phương pháp toán học của mật mã trong một hệ bầu cử điện tử nhằm đạt đồng thời tính kiểm tra được và tính tự do trong lựa chọn.  I. Mã hóa khóa công khai để mã phiếu bầu   Để đồng thời đạt tính kiểm tra được và tính tự do trong lựa chọn, ta phải làm sao kết hợp được cả hai phương pháp bỏ phiếu nêu trên: vừa công bố danh sách các phiếu bầu để cử tri có thể kiểm tra phiếu của mình đã được tính, vừa đảm bảo sự ẩn danh cho cử tri trong lựa chọn. Một cách tự nhiên, các hàm mã hóa được sử dụng để mã lựa chọn của cử tri nhằm che giấu lựa chọn của cử tri trong phiếu bầu. Mặt khác, để đảm bảo tính bí mật cho việc kiểm phiếu, lẽ dĩ nhiên là chìa khóa giải mã phải được giữ kín và không thể chia sẻ với cử tri. Từ đó dẫn tới việc sử dụng các hệ mã hóa khóa công khai: khóa để mã hóa là công khai và việc mã hóa lựa chọn được thực hiện dễ dàng mà không cần biết thông tin bí mật nào; khóa để giải mã được giữ bí mật và vì vậy chỉ có những người có thẩm quyền mới có thể kiểm phiếu bầu.  Mật mã khóa công khai được biết đến cách đây chưa đầy bốn thập kỷ qua công trình khoa học của Diffie-Hellman nhưng nó đánh dấu bước khởi đầu cho các nghiên cứu sâu rộng của mật mã hiện đại. Để hiểu hơn về mật mã khóa công khai, bạn đọc có thể tìm đọc bài “Mật mã khóa công khai: hành trình 35 năm” trên Tia Sáng số 08 ngày 20.4.2011 (bản điện tử tại http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62& News=4003&CategoryID=2).   Với việc dùng một thuật toán mã hóa khóa công khai E với cặp khóa công khai pk và bí mật sk, một lựa chọn ứng cử viên X sẽ bị mã thành C = E(pk,X) một cách công khai nhưng bất kể ai không có khóa bí mật sk sẽ không thể biết được X từ C. Khi đó, ta vừa có thể công bố lá phiếu của A mà vẫn giữ cho lựa chọn của A được bí mật: trên bảng phiếu sẽ công bố (A, C).  II. Kiểm tra tổng các phiếu bầu thay vì kiểm tra từng lá phiếu  Tuy nhiên, việc sử dụng mã hóa khóa công khai một cách đơn giản như trên là chưa thể đủ để giải quyết vấn đề, nhất là trong việc đảm bảo tính chất ẩn danh của cử tri trong phiếu bầu. Trở ngại là nếu ta vẫn sử dụng phương pháp kiểm phiếu thông thường thì cần giải mã lá phiếu của A và do vậy lựa chọn của A không còn là bí mật với những người kiểm phiếu. Tính tự do trong lựa chọn yêu cầu sự lựa chọn của A được bí mật không chỉ với người quan sát mà ngay cả với người kiểm phiếu.  Giải quyết vấn đề bí mật phiếu bầu cho cử tri đã có một số phương án như việc dùng các hệ mix-net (xáo trộn phiếu) hay chữ ký mù (blind signature) nhưng có lẽ ý tưởng nổi bật nhất là phương pháp gộp phiếu bầu, được đề nghị lần đầu tiên bởi Cohen và Fischer[2]. Trái với phương pháp kiểm từng phiếu một, tất cả các phiếu bầu được gộp lại với nhau và việc kiểm phiếu sẽ được thực hiện duy nhất trên kết quả gộp. Kết quả là ta sẽ có trực tiếp tổng các phiếu bầu cho từng ứng cử viên mà không cần phải kiểm tra từng phiếu đơn lẻ. Đây là một ý tưởng trọng tâm cho việc tiến tới đảm bảo đồng thời tính kiểm tra được và tính tự do trong lựa chọn của cử tri.  Một cách khá bất ngờ, các hệ mã hóa đồng cấu (homomorphic encryption) giúp giải quyết vấn đề trên một cách tương đối đơn giản. Một hệ mã đồng cấu với phép cộng cho ta tính chất: gộp hai bản mã lại với nhau (phép gộp, ký hiệu là *, có thể là phép cộng, phép nhân hay một toán tử nào đó) sẽ cho ta bản mã có nội dung là tổng của hai bản rõ tương ứng: E(pk,x) * E(pk,y) = E(pk,x+y)  Với một hệ mã có tính chất như vậy, ta có thể dễ dàng hình dung một cuộc bỏ phiếu cho ứng cử viên 3 ứng cử viên X,Y,Z với số cử tri ít hơn 100 triệu như sau: một phiếu bầu cho X có thể như là mã của 1, một phiếu bầu cho Y có thể như là mã của 108, một phiếu bầu cho Z có thể như là mã của 1016:  Phiếu cho X là mã của 00000000 00000000 00000001  Phiếu cho Y là mã của 00000000 00000001 00000000  Phiếu cho Z là mã của 00000001 00000000 00000000  Sau khi gộp tất cả các phiếu (dùng phép tính gộp* tất cả các giá trị C trong tất cả các lá phiếu (A, C)) và giải mã lá phiếu gộp với khóa bí mật sk sẽ cho ta kết quả là M và tổng số phiếu bầu cho các ứng cử viên được xác định trong các khoảng số tương ứng. Chẳng hạn với M = 09670002 04823458 15712347 thì có nghĩa ứng cử viên X được 9670002 phiếu, ứng cử viên Y được 4823458 phiếu và ứng cử viên Z được 15712347 và thắng cử.  III. Mật mã ngưỡng giúp đạt tính phân quyền trong kiểm phiếu   Phương án sử dụng mật mã như mô tả phần trên vẫn sẽ gây cho ta một điều thắc mắc: đúng là việc kiểm phiếu chỉ cần thực hiện trên kết quả gộp của các phiếu bầu nhưng nếu người kiểm phiếu bất chấp quy tắc mà cố tình giải mã từng lá phiếu để phá tính ẩn danh của lá phiếu thì sao? Ý tưởng để giải quyết vấn đề này là hệ thống sẽ phải được xây dựng để quyền kiểm phiếu được phân ra cho nhiều bên và chỉ khi các bên hợp tác với nhau thì việc giải mã mới thực hiện được. Khi đó, một mặt việc tính tổng số phiếu bầu vẫn được đảm bảo khi tất cả cùng nhau hợp tác giải mã kết quả gộp của tất cả các phiếu bầu, mặt khác lựa chọn trong từng lá phiếu sẽ chỉ bị lộ khi tất cả các bên kiểm phiếu cùng cấu kết với nhau làm sai luật. Khi quyền kiểm phiếu được phân chia cho các bên có lợi ích đối lập thì việc cùng cấu kết với nhau là rất ít có khả năng xảy ra. Lấy ví dụ một cuộc bầu người đứng đầu ở một nước. Nếu nước đó có chế độ đa đảng thì mỗi ứng cử viên của một đảng có thể chỉ định một người trong ban kiểm phiếu và vì lợi ích đối nghịch giữa các bên nên người đi bầu có thể tin việc không thể có chuyện các bên cùng cấu kết với nhau để phá vỡ tính an toàn của hệ thống bầu cử. Nếu nước đó có chế độ một đảng, để đảm bảo sự tin tưởng vào hệ thống bầu cử, cần có sự tham gia của các bên giám sát thực sự độc lập để thuyết phục cử tri tin tưởng là khó có chuyện tất cả các bên cùng cấu kết phá vỡ tính an toàn của hệ thống.  Nói tóm lại, một hệ bầu cử tốt phải đảm bảo tính chất phân quyền kiểm phiếu: không thể có một phía (một người) nào có thể tự thực hiện việc kiểm phiếu; quá trình kiểm phiếu cần sự kết hợp của nhiều bên khác nhau. Tính chất phân quyền kiểm phiếu được thực hiện thông qua các hệ mã hóa với ngưỡng (threshold cryptosystems), được xem xét lần đầu bởi Desmedt và Frankel năm 1990[3]. Một hệ mã hóa với ngưỡng là một hệ thống gồm nhiều bên, mỗi bên tự thiết lập một cách độc lập một cặp khóa bí mật/khóa công khai riêng, sau đó khóa công khai cho hệ thống chung được tính thông qua các khóa công khai của các bên. Quá trình giải mã chỉ được thiết lập khi các bên cùng hợp tác lại với nhau: mỗi bên độc lập dùng khóa bí mật của mình để tính một kết quả trung gian trên bản mã; bản mã chỉ được giải hoàn toàn bởi sự kết hợp các kết quả trung gian đó.  Các hệ mã hóa ngưỡng có một đặc tính thú vị: các bên có thể cùng xây dựng một khóa công khai thực pk và một khóa bí mật ảo sk tương ứng. Tính chất ảo ở chỗ khóa bí mật sk tồn tại nhưng không một bên nào biết, và dù không bên nào biết khóa bí mật nhưng sự giải mã vẫn có thể thực hiện được thông qua sự hợp tác giữa các bên. Ví dụ trong hệ mã RSA thì thông thường người ta tìm 2 số nguyên tố lớn p,q rồi lấy khóa công khai N = pq là tích của hai số p và q, và khóa bí mật là cặp số sk = (p,q). Trong hệ mã ngưỡng, việc xây dựng khóa công khai N được chia sẻ giữa các bên sao cho không bên nào biết cụ thể giá trị khóa bí mật của (p,q) mà vẫn có thể biết chắc chắn N là tích của hai số nguyên tố lớn. Việc sinh khóa như vậy được thực hiện bởi Boneh – Franklin từ năm 1997[4]. Bản thân hệ mã RSA không có tính chất đồng cấu với phép cộng và không sử dụng được cho các hệ thống bầu cử nhưng cách xây dựng này cũng áp dụng trong việc sinh khóa cho hệ mã Paillier[5] – một hệ mã đồng cấu với phép cộng và có những tính chất phù hợp cho việc sử dụng trong các hệ bầu cử điện tử.  IV. Mã hóa xác suất giúp giữ vững tính ẩn danh của phiếu bầu  Hệ mã dùng trong bầu cử không thể là một hệ mã tất định ở đó tương ứng một bản rõ chỉ cho duy nhất một bản mã. Thực vậy, với một hệ mã tất định, mọi lá phiếu dành cho một ứng cử viên sẽ có mã giống nhau và tính ẩn danh dễ dàng bị phá vỡ. Do vậy, hệ mã sử dụng bắt buộc phải là một hệ mã xác suất và tương ứng với cùng một lựa chọn sẽ có một tập rất lớn các bản mã tương ứng. Các hệ mã xác suất được giới thiệu lần đầu bởi Goldwasser-Micali năm 1982[6] nhằm tăng cường tính an toàn cho các hệ mã (thực tế hiện nay, điều kiện cần để một hệ mã đạt an toàn theo mức chuẩn hóa là nó phải là một hệ mã xác suất). Trước đây, xác suất thường được sử dụng như một công cụ hiệu quả để giải quyết các bài toán thì nay xác suất được đưa vào ngay cả trong bước xây dựng hệ mã và đó cũng là một cột mốc đánh dấu thêm cho vài trò của ngẫu nhiên trong khoa học máy tính. Quay trở lại với hệ bầu cử, nay lá phiếu của A bầu cho ứng cử viên X sẽ có dạng (A, C = E(pk,X,r)) với r là một giá trị ngẫu nhiên đủ lớn để khả năng xảy ra đụng độ (một giá trị ngẫu nhiên trên hai lá phiếu khác nhau) là vô cùng nhỏ. Các hệ mã hiện dùng trong thực tế như mã ElGamal hay các phiên bản tang cường của RSA đều là các hệ mã xác suất. Hệ mã Paillier là một hệ mã xác suất và có tính chất đồng cầu với phép cộng, và do vậy nó được sử dụng trong các hệ bầu cử điện tử.  V. Chứng minh tương tác để chống việc bán phiếu bầu  Tính tự do trong lựa chọn thể hiện ở cả hai khía cạnh:  – cử tri được đảm bảo sự ẩn danh trong lá phiếu của mình nhằm tránh bị gây áp lực trong lựa chọn  – hệ thống phải đảm bảo là cử tri không có cách nào có thể chủ động để bán phiếu của mình  Khía cạnh thứ nhất được đảm bảo thông qua sự mã hóa của lá phiếu. Ngay cả với những người kiểm phiếu, thông qua giải mã với ngưỡng, cũng không biết lựa chọn của từng lá phiếu. Tuy nhiên, sự ẩn danh này chưa đủ để chống lại việc chủ động bán phiếu. Theo cách hình dung tự nhiên, cử tri A sẽ tự do tạo giá trị phiếu bầu cho mình bằng cách chọn r và tính mã từ khóa công khai của hệ thống C= E(pk,X,r). Tuy nhiên, khi đó A biết giá trị r thì sẽ có thể chứng minh là mình đã bầu cho X bằng cách đưa r và X cho bất kỳ ai kiểm tra quan hệ C= E(pk,X,r). Có khả năng chứng minh mình đã bầu cho ai sẽ dẫn tới có khả năng bán phiếu bầu của mình. Benaloh và Tuinstra[7] đã lần đầu nghiên cứu việc xem xét việc ngăn cản cử tri có khả năng bán phiếu bầu.  Điểm mấu chốt để ngăn việc bán phiếu bầu là không cho cử tri A toàn quyền tạo lập giá trị lá phiếu C = E(pk,X,r). Điều đó có nghĩa là phải làm sao để cử tri A có thể tính được giá trị C = E(pk,X,r) mà lại không biết giá trị ngẫu nhiên r. Các hệ mã ngẫu nhiên hóa được (randomizable encryption) cho phép ta thực hiện công việc này: cử tri A khởi đầu bằng việc tạo một giá trị mã C = E(pk,X,r) cho lựa chọn của mình và gửi cho hệ thống, hệ thống sẽ làm ngẫu nhiên hóa giá trị lá phiếu của A sang một bản mã ngẫu nhiên C+ = E(pk,X,r+) của cùng lựa chọn X và gửi lại cho A. Khi đó C+ sẽ là giá trị lá phiếu của A nhưng A không biết giá trị r+ và không chứng minh cho ai khác biết được rằng C+ là bản mã của lựa chọn X và vì thế không thể bán được phiếu bầu. Mặt khác, hệ thống nhận phiếu chỉ có khả năng làm ngẫu nhiên bản mã chứ không biết được nội dung lựa chọn X của cử tri A và tính ẩn danh trong lựa chọn vẫn được đảm bảo.  Điều thú vị là các hệ mã đồng cấu đều có tính chất ngẫu nhiên hóa được và do vậy có thể được sử dụng trực tiếp cho việc chống bán phiếu của cử tri. Tuy nhiên, phương án trên còn một trở ngại: làm thế nào để cử tri A biết được là hệ thống đã thực sự làm ngẫu nhiên hóa phiếu bầu của mình chứ không phải là thay phiếu bầu của mình bằng một phiếu bầu cho một lựa chọn khác? Rất may là ở đây các kết quả của chứng minh tương tác đã có thể áp dụng. Một chứng minh tương tác không để lộ tri thức (zero-knowledge proof), được giới thiệu lần đầu bởi Goldwasser, Micali và Rackoff vào năm 1985[8], là một chứng minh nơi người chứng minh hoàn toàn có thể thuyết phục người đối thoại về một quan hệ (ở đây là quan hệ C+ chính là một bản mã ngẫu nhiên hóa của bản mã gốc C) mà không để lộ một chút thông tin gì. Nói cách khác, A hoàn toàn có thể bị thuyết phục là C+ là giá trị mã của lựa chọn X nhưng bản thân A lại không có khả năng chứng minh điều đó vì không có thêm bất kể thông tin gì khác. Và do không thể chứng minh được mình đã bầu cho ai, A không thể bán phiếu bầu của mình.  Việc yêu cầu mọi cử tri có khả năng kiểm tra các chứng minh tương tác là không thể, nhất là trong các cuộc bầu cử có quy mô lớn. Cách thức hiện nay là cử tri ủy thác cho các chiếc máy đã lập trình sẵn thực hiện thay công việc này. Các chiếc máy này sẽ được kiểm định chặt chẽ bởi tất cả các bên và các chuyên gia trước khi bầu cử. Trong quá trình bầu cử, sự hoạt động của các chiếc máy này cũng được đảm bảo bằng sự kiểm tra ngẫu nhiên liên tục: một số nhà chuyên môn sẽ làm cử tri giả để xem chiếc máy có vận hành đúng hay không. Do việc kiểm tra là ngẫu nhiên và được lặp lại liên tục nhiều lần, xác suất để máy có thể chạy sai mà vẫn qua mắt các lần kiểm tra là vô cùng nhỏ. Cách thức trên cũng giống như việc ta tin tưởng vào những chiếc máy ATM làm công việc mã hóa hộ ta, hay các chương trình thiết lập giao dịch trên Internet.  Bên cạnh đó, hiện nay nhiều hướng nghiên cứu đang cố gắng giảm thiểu tối đa sự tin tưởng vào máy bằng cách kết hợp vài thao tác đơn giản của người và những tính toán quan trọng của một máy trợ giúp để cử tri vẫn được thuyết phục là lựa chọn của mình đã được tính mà máy trợ giúp vẫn không biết thông tin về lựa chọn đó (mô hình assited-human interactive proofs).  Lời kết: từ lý thuyết đến thực tế  Các hệ thống bầu cử tích hợp phương pháp mật mã cho phép tăng tính dân chủ trong bầu cử. Đây là một ứng dụng thú vị của mật mã khi những khái niệm hiện đại như mã hóa xác suất, mã hóa ngưỡng, mã hóa đồng cấu, chứng minh tương tác cùng được áp dụng. Tuy đẹp về lý thuyết nhưng để có thể áp dụng vào thực tế thì còn nhiều điều cần bàn:  – Khi sử dụng các sơ đồ mã để mã hóa sự lựa chọn của cử tri, tính ẩn danh được đảm bảo dựa trên sự an toàn của các sơ đồ mã. Tính khó phá vỡ của các sơ đồ này dựa trên độ khó của một số bài toán. Các bài toán này hiện tại đều rất khó giải nhưng không có gì đảm bảo nó sẽ đứng vững mãi trong tương lai. Chẳng hạn, một khi máy tính lượng tử được xây dựng để có thể tính toán trên các số lớn, bài toán phân tích (factorization) trở nên dễ giải và các hệ mã như RSA, Paillier sẽ bị phá vỡ. Khi đó tính ẩn danh cũng sẽ bị phá vỡ, và cho dù cuộc bầu cử đã ngã ngũ từ nhiều năm trước đó thì hậu quả cũng không phải là nhỏ.  – Khó thuyết phục tất cả người dân về tính ưu việt của bỏ phiếu điện tử nên hiện tại hầu hết các ứng dụng của bầu cử điện tử là ở quy mô hẹp. Một số ví dụ như : hội mật mã đã dùng bầu cử điện tử trong việc bầu các vị trí của hội và do tính nhanh gọn của nó mà số người bỏ phiếu tăng lên đáng kể; trường Université Catholique de Louvain của Bỉ cũng đã sử dụng bầu cử điện tử cho chức hiệu trưởng; ở quy mô lớn hơn, Thụy Sỹ cũng bước đầu cho phép sử dụng bầu cử điện tử như một lựa chọn bên cạnh hệ thống bầu cử truyền thống trong một số cuộc trưng cầu dân ý (http://www.cbsnews.com/stories/2004/09/25/ world/main645615.shtml). Với nước ta, một số cuộc bầu chẳng hạn trong Quốc hội hoàn toàn có thể thử nghiệm dùng bầu cử điện tử.  Khi mã hóa khóa công khai, chữ ký điện tử ra đời, nhiều người cũng cho rằng đó là những khái niệm toán học đẹp nhưng khó có ai hình dung nó lại có những ứng dụng rộng khắp vào cuộc sống như ngày nay: các mua bán trực tuyến sử dụng mã khóa công khai; chữ ký điện tử ở nhiều nước (ở Pháp là từ năm 2000) được chấp nhận là có giá trị pháp lý như chữ ký thường và được sử dụng trong việc trả thuế thu nhập qua Internet. Do sự quan trọng của các cuộc bầu cử, yêu cầu tin cậy cho các máy bầu cử là quan trọng hơn rất nhiều so với các chiếc máy dùng trong những giao dịch đơn lẻ thông thường. Các nghiên cứu hiện tại đang nhằm tăng cường tối đa tính tin cậy của các chiếc máy bầu cử và trong tương lai, việc có thể đặt lòng tin vào các chiếc máy đã được kiểm định chặt chẽ từ nhiều phía có lợi ích đối lập không phải là không thể chấp nhận. Và do vậy, với việc giúp tăng tính dân chủ và tính chính xác trong bầu cử, rất có thể trong một ngày không xa nhiều cuộc bầu cử sẽ được thực hiện qua hệ thống bầu cử dùng mật mã.  —  Tài liệu tham khảo   [1] D. Chaum. Untraceable electronic mail, return addresses, and digital pseudonyms. Communications of the ACM, 24(2):84–88, 1981.  [2] J. D. Cohen and M. J. Fischer. A robust and verifiable cryptographically secure election scheme. In FOCS ’85, pages 372–382, 1985.  [3] Y. Desmedt and Y. Frankel. Threshold cryptosystems. In CRYPTO ‘90, pages 307–315, 1990.  [4] D. Boneh and M.K. Franklin. Efficient Generation of Shared RSA Keys. In CRYPTO ’97, pages 425–439.  [5] P. Paillier. Public-key cryptosystems based on composite degree residuosity classes. In EUROCRYPT ‘99, pages 223–238.  [6] S. Goldwasser and S. Micali. Probabilistic encryption & how to play mental poker keeping secret all partial information. In STOC ’82, pages 365–377, 1982.  [7] J. Benaloh and D. Tuinstra. Receipt-free secret-ballot elections. In STOC ’94, pages 544–553, 1994.  [8] S. Goldwasser, S. Micali and C. Rackoff. The knowledge complexity of interactive proof systems. In STOC ‘85, pages 291-304    Author                Phan Dương Hiệu        
__label__tiasang Bầu trời có ngôi sao họ Lưu      Mỗi khi mọi người bắt đầu tắt đèn đi ngủ, cô gái trẻ Jane Lưu lại bắt đầu một ngày làm việc mới trên đỉnh núi cao, sau khi thấp thỏm chờ ánh hoàng hôn đã tắt hẳn ở phía đường chân trời.     Mái vòm của chiếc kính thiên văn rù rì mở  ra, và Jane Lưu lại ngồi trước máy tính điều khiển, cặm cụi lục tìm ở  mọi ngóc ngách của bầu trời những thiên thể chẳng ai biết đến, và thậm  chí các chuyên gia trong giới cũng coi là không tồn tại. Nhưng rồi một  hôm, tên tuổi người phụ nữ Á Đông ấy chợt bừng sáng, lưu danh cùng một  ngôi sao nhỏ lang thang trên bầu trời – tiểu hành tinh 5430 Luu.     Cơ duyên đến với thiên văn học  Thoạt nhìn dáng người nhỏ nhắn, tóc ngang vai, người ta dễ dàng nhận biết được Jane Lưu (hay Lưu Lệ Hằng) là một người hoạt bát, mạnh mẽ, có máu phiêu lưu mạo hiểm, và đầy quyết đoán. Là một nhà thiên viên văn xuất sắc nhưng cô không chỉ biết đến công việc mà còn dành nhiều thời gian đọc sách, nghe nhạc, và đặc biệt là chia sẻ quỹ thời gian quý báu của mình cho các hoạt động nhân đạo bảo vệ trẻ em.   Một mối duyên hoàn toàn tình cờ đã đưa cô đến với thiên văn học, và từ đó tạo thành một niềm đam mê thực sự, khiến quyết định dấn thân vào cái “nghiệp” nghiên cứu thiên văn học. “Một lần thăm quan Phòng thí nghiệm phản lực JPL ở Pasadena, tôi đã bị hút hồn bởi những hình ảnh mà các phi thuyền gửi về. Không chút lưỡng lự, từ đó tôi đã chọn thiên văn học”, cô chia sẻ.  Cú hích đó đã đưa cô đến giảng đường Đại học danh tiếng Stanford và nhận bằng cử nhân khoa học vào năm 1984. Tiếp đó, Jane Lưu theo học nghiên cứu sinh tại hai thánh đường khoa học là Đại học California ở Bekeley và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Một trong những may mắn lớn nhất của cô nữ nghiên cứu sinh này là đã được làm việc với người thầy cũng đồng thời là một trong những chuyên gia hàng đầu về vật lý học thiên thể, GS. David C. Jewit.  Giữa vô vàn ngã rẽ của thiên văn học, đặc biệt là ngành vũ trụ học như thỏi nam châm hút rất nhiều nhà nghiên cứu trẻ khắp thế giới, nhưng Jane Lưu lại chọn cho mình một con đường riêng ít được ai khác quan tâm. Cô cho biết, được làm việc với người thầy đáng kính, cộng với máu phiêu lưu, thích quan sát thực tế và nhất là muốn trải nghiệm trong một lĩnh vực mới mẻ nên đã chọn nghiên cứu các thiên thể trong Hệ Mặt trời.  Vành đai Kuiper  Vào thời kỳ đó, giả thuyết về sự tồn tại một vành đai tiểu hành tinh nằm ngoài quỹ đạo của Hải Vương tinh bị đa số coi là điên rồ. Ý tưởng này được khởi phát từ những năm 1930, khi một số nhà thiên văn tiên đoán về sự tồn tại của một khoảng không gian rộng lớn cách Mặt trời từ 30 đến 50 AU (đơn vị thiên văn), gồm vô số các thiên thể nhỏ và phần lớn là băng đá. Những thiên thể này, cũng như các hành tinh đều chuyển động trên những quỹ đạo khác nhau xung quanh Mặt trời. Đến năm 1951, nhà thiên văn Hà Lan Gerard Kuiper đã đưa ra một mô hình hoàn chỉnh và sau đó vành đai này được đặt tên là vành đai Kuiper.          GS. Jane Lưu (Lưu Lệ Hằng) sinh năm 1963.                Năm 1984 tốt nghiệp ngành vật lý tại Đại học Stanford. Học tiến sĩ ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT).               Từ năm 1994, làm giáo sư tại Đại học Harvard rồi chuyển sang Đại học  Leiden (Hà Lan). Sau đó cô trở về Mỹ làm việc tại Phòng thí nghiệm  Lincoln của MIT cho đến nay.        Khi ý tưởng về vành đai Kuiper đưa ra, rất nhiều nhà khoa học đã dị ứng đòi tẩy chay mô hình này và cho rằng, đó là một ý tưởng hão huyền. Họ khẳng định rằng ngoài rìa Hệ Mặt trời là khoảng trống, và không tin vào sự tồn tại của một vành đai gồm vô số các thiên thể như Kuiper đã dự đoán. Nhưng điều này không những không làm nhụt chí cô nghiên cứu sinh trẻ Jane Lưu, mà ngược lại, như một ngọn lửa thổi bùng lên niềm khao khát được khám phá những điều mới lạ bấy lâu ấp ủ. Bất chấp sự phản đối của mọi người, hai thầy trò quyết tâm chứng minh vành đai Kuiper là có thực.  “Lúc ấy, mọi người nói với chúng tôi vành đai Kuiper là một ý tưởng hoang đường, và chính vì thế, chúng tôi không được hỗ trợ, giúp đỡ cho việc tìm kiếm vành đai Kuiper”, Jane Lưu nhớ lại.  Do ít được sự ủng hộ của cộng đồng thiên văn nên hai thầy trò gặp không ít khó khăn trong việc tìm nguồn kinh phí hỗ trợ và đặc biệt là khó đặt lịch quan sát tại những đài thiên văn lớn. Jane Lưu cho biết, mặc dù việc sử dụng những kính thiên văn lớn là “mở” cho cộng đồng các nhà khoa học, nhưng lúc nào cũng có nhiều nhà thiên văn luôn “chầu trực” chờ đến lượt mình sử dụng kính thiên văn. Để vượt qua được những ứng viên nặng ký, nhà thiên văn phải có một ý tưởng nghiên cứu tốt, khả thi và thời gian quan sát phải hợp lý. Điều tất nhiên là khi hai thầy trò theo đuổi những điều mà người ta cho là “hoang tưởng” thì không tránh khỏi những khó khăn đáng kể. Do không xin được tài trợ nghiên cứu, Jane Lưu và người thầy của mình đã phải tự bỏ tiền túi để làm nghiên cứu.  Khẳng định một giả thuyết khoa học  Đối với các nhà nghiên cứu thiên văn lý thuyết thì có khi chỉ cần một cái bàn và một chiếc máy tính là đủ để làm việc, nhưng công việc của các nhà thiên văn quan sát thì khác. Để thu thập các dữ liệu họ phải lặn lội đến các đài thiên văn đặt rải rác ở khắp nơi trên thế giới, Jane Lưu cho biết. Những đài thiên văn này lại thường đặt ở những nơi hẻo lánh, cách xa ánh sáng văn minh thế giới, trên những đỉnh núi cao nơi mật độ không khí khô và loãng, hay những sa mạc rộng lớn với bầu trời lý tưởng cho quan sát các vì sao. Đối với một nam đồng nghiệp có sức khỏe tốt, sức chịu đựng dẻo dai thì làm việc trong điều kiện như vậy không phải là một thách thức lớn. Nhưng với Jane Lưu, một phụ nữ Á Đông nhỏ bé thì quả thực đây là một trải nghiệm không hề dễ dàng.  Jane Lưu cho biết chính vì máu mạo hiểm, đi đây đó nên “cái cực” của nghề lại là “sở thích” của cô. Vậy là liên tục kể từ năm 1987, năm nào Jane Lưu cũng khăn gói balô bay ra tận đảo Hawaii giữa Thái Bình Dương, nơi có kính thiên văn tối tân đặt trên đỉnh núi lửa đã tắt cao gần 4000 m ở Mauna Kea để quan sát và ghi chép. Ở đó, cô đã làm bạn với chiếc kính thiên văn đường kính 2,2 mét của Đại học Hawaii. Ở đây, Mỗi khi mọi người bắt đầu tắt đèn đi ngủ, cô gái trẻ Jane Lưu lại bắt đầu một ngày làm việc mới trên đỉnh núi cao, sau khi thấp thỏm chờ ánh hoàng hôn đã tắt hẳn ở phía đường chân trời. Mái vòm của chiếc kính thiên văn rù rì mở ra, và Jane Lưu lại ngồi trước máy tính điều khiển, cặm cụi lục tìm ở mọi ngóc ngách của bầu trời những thiên thể chẳng ai biết đến, và thậm chí ngay cả các chuyên gia trong giới cũng coi là không tồn tại.   Ở độ cao như vậy, không khí rất loãng, áp suất thấp sẽ khiến bất cứ ai cũng luôn cảm thấy nôn nao khó chịu, mất ngủ triển miên. Đồng thời ở độ cao như vậy, nhiệt độ cũng xuống thấp, càng thêm thách thức sức chịu đựng của Jane Lưu. Nhưng niềm đam mê khám phá và lòng kiên nhẫn đã giúp cô gái Việt nhỏ bé vượt qua sự cô đơn và lạnh lẽo của nghề “ngắm sao trời”. Cô luôn tự nhủ mình, “đức kiên nhẫn sẽ giúp bạn đi xa”. Ngày làm việc của Jane Lưu chỉ kết thúc khi ánh bình minh ló rạng.  Sau 7 năm ròng đánh vật với số lượng đồ sộ số liệu, một buổi tối đẹp trời ngày 30/8/1992, phân tích những hình ảnh mà kính thiên văn chụp được, sau khi tính toán cẩn thận, cô gái trẻ Jane Lưu như vỡ òa trong hạnh phúc khi phát hiện ra manh mối đầu tiên của vành đai Kuiper. Ban đầu, cô và GS. Jewit định đặt tên cho thiên thể này là Smiley – vốn là tên một điệp viên trong tiểu thuyết của nhà văn John Le Carre. Nhưng tên này đã được đặt cho một thiên thể khác nên cuối cùng Hiệp hội Thiên văn Quốc tế đặt cho thiên thể mà Jane Lưu tìm thấy là (15760) 1992 QB1.   Khám phá của Jane Lưu như tiếng chuông gióng lên trong đêm tối tĩnh lặng, đặt dấu chấm hết cho những nghi ngờ về sự tồn tại của vành đai Kuiper. Cũng trong năm 1992, cô nghiên cứu sinh trẻ nhận được học bổng Hubble của Đại học California ở Bekeley và nhận học vị tiến sĩ tại Viện Công nghệ Massachusetts.    … và Giải “Nobel” trong thiên văn học  Không chỉ dừng ở đó, Jane Lưu và cộng sự đã phát hiện thêm hàng chục thiên thể từ vành đai Kuiper trong những năm tiếp theo. Điều này càng củng cố niềm tin về sự hiện hữu của vành đai Kuiper là có thật.  “Chúng tôi đã phát hiện có hàng triệu thiên thạch ngoài đó, bên mép rìa Hệ Mặt trời, trong vành đai Kuiper giống như hành tinh Diêm Vương tinh vậy… Khám phá này làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về định nghĩa hành tinh là gì”, Jane Lưu nói.  Chứng minh sự tồn tại của vành đai Kuiper được đánh giá là một cuộc cách mạng trong thiên văn học nói chung và vũ trụ học nói riêng. Những thiên thể có kích thước khác nhau, trong đó có rất nhiều thiên thể nhỏ có cấu tạo từ băng đá, sẽ cung cấp những thông tin giá trị về lịch sử hình thành Hệ Mặt trời từ 5 tỉ năm về trước. Bởi những thiên thể này là những tàn tích cổ xưa nhất khi Hệ Mặt trời bắt đầu hình thành và là những chất liệu cơ bản cấu tạo nên các hành tinh thể rắn.   Đặc biệt, khám phá này cũng sẽ mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới về động lực học các hành tinh, sự hình thành của Hệ Mặt trời cũng như nguồn gốc sao chổi, sự sống trên Trái đất và các hành tinh trong Hệ Mặt trời. Các nhà khoa học ngày nay nhất trí rằng những sao chổi chu kỳ ngắn đều có nguồn gốc từ vành đai Kuiper. Nhân của những sao chổi này có đường kính từ vài km đến hơn một chục km, có khả năng chứa những chất liệu cần thiết cho sự sống. Khi sao chổi vao chạm vào một hình tinh, gặp các điều kiện thuận lợi thì có thể gieo mầm sự sống.   Những khám phá của Jane Lưu và đồng nghiệp đã giúp đưa ra cách phân loại mới các thiên thể trong Hệ Mặt trời. Sau những phát hiện của Jane Lưu và GS. David C. Jewit, giới khoa học đã đổ xô vào tìm kiếm những thiên thể mới. Và ngày nay, rất nhiều những thiên thể như vậy được phát hiện. Để vinh danh những đóng góp xuất sắc của Jane Lưu, tên của cô đã được đặt tên cho tiểu hành tinh 5430 Luu. Năm 1991, Hội Thiên văn Mỹ trao tặng cho nhà thiên văn trẻ này giải thưởng Annie J. Cannon trong Thiên văn học.  Đặc biệt, trong năm 2012, Jane Lưu vinh dự nhận được hai giải khoa học danh giá là giải thưởng Shaw Prize và giải thưởng Kavli Prize. Trong đó, giải thưởng  Kavli Prize được ví như “giải Nobel” trong thiên văn học. Giải thưởng Kavli Prize năm 2012 được trao cho ba nhà thiên văn học GS, David C. Jewitt (Đại học California – Los Angeles), Jane Lưu (Phòng thí nghiệm Lincoln, MIT) và Michael E. Brown (Viện Công nghệ California). Giải thưởng Kavli Prize 2012 trao cho ba nhà khoa học vì “Phát hiện và mô tả vành đai Kuiper và các thành viên lớn nhất của nó, công việc mà dẫn đến một bước tiến lớn trong sự hiểu biết về lịch sử của hệ thống hành tinh của chúng ta”.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bẫy điện tử có thể tính toán      Các nhà vật lý học tại ETH Zurich đã sử dụng vật liệu bán dẫn để tạo ra các chấm lượng tử nằm chồng lên nhau có thể “bẫy” hạt điện tử.    Bài báo công bố trên tờ Science. Những chấm này không những có thể được nghiên cứu bằng laze mà còn gây ảnh hưởng đến năng lượng của chính chúng. Bên cạnh đó, một chấm lượng tử có khả năng điều khiển chấm nằm phía trên nó. Điều này đã đưa các nhà nghiên cứu tiến một bước gần hơn với máy tính lượng tử. Các nhà vật lý học đã phát triển tinh thể acxênit gali. Phía trên, họ đặt hai lớp acxênit indi-gali mà từ đó hình thành chấm lượng tử trông như bong bóng và họ đã thành công trong việc phân phối chấm lượng tử với những hạt điện tử, điều khiển chúng bằng laze cũng như phân tích thuộc tính. Đồng thời họ xác định được chính xác bao nhiêu hạt điện tử có trong một chấm điện tử trong hệ thống bán dẫn. Nhưng hơn cả, các nhà vật lý có thể ghép những hạt mang điện vào chúng và cũng có thể ghép chấm lượng tử đơn lẻ với thiết bị cộng hưởng quang học nano.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bay tới rìa vũ trụ mà không cần động cơ      Ngày 23/9 vừa qua tại Redmond, Oregon, Mỹ,  Perlan 2 Glider – chiếc máy bay không động cơ nhỏ nhắn (đủ chỗ cho hai  phi công và một số dụng cụ khoa học) được thiết kế để bay tới rìa vũ trụ  bằng cách “lướt theo” những luồng không lưu mạnh trong lốc xoáy vùng  cực – đã hoàn thành cuộc bay thử nghiệm đầu tiên.    Chuyến bay với độ cao khiêm tốn 1.500m mới chỉ là bước khởi đầu. Mục tiêu tiếp theo của Perlan Glider là trở thành chiếc máy bay có cánh bay cao nhất ở độ cao 27.000m so với Trái đất, tức ở điểm tiếp giáp với vũ trụ. Dự kiến chuyến bay này sẽ được tiến hành vào tháng 7/2016.    Kỷ lục thế giới hiện nay là 26.000m do máy bay SR-71 Blackbird thực hiện vào tháng 7/1976. Máy bay do thám U-2 chỉ đạt được độ cao trên 21.000m. Một máy bay thương mại bình thường bay ở độ cao xấp xỉ 10.600m. Ở độ cao vượt quá 19.000m – hay còn gọi là Giới hạn Armstrong – một số chất lỏng trong cơ thể người sẽ sôi lên nếu không mặc quần áo chịu áp suất.    Giống như người lướt sóng cưỡi trên lưng các con sóng ở đại dương, Perlan Glider cũng cưỡi trên những con “sóng núi” xuất hiện ở một số khu vực trong tầng bình lưu của Trái đất. Giả thuyết về sự tồn tại của “sóng núi” ở các khu vực cận cực đã có từ khoảng thập niên 1930, song phải tới gần đây các nhà sáng chế trong ngành hàng không mới tìm được phương pháp biến lý thuyết thành thực tiễn để đạt tới những tầm cao ấn tượng.        Theo các lãnh đạo của Dự án Perlan, mục tiêu của dự án này là đóng góp vào việc tìm hiểu khoa học khí hậu hiện đại bằng cách nghiên cứu trái đất từ độ cao con người chưa từng đạt tới. Bên cạnh đó, máy bay Perlan Glider có thể sẽ làm thay đổi hoàn toàn nhận thức của chúng ta về di chuyển trong không gian, từ đó mở ra cánh cửa cơ hội giúp các nhà sáng tạo tận dụng được các nguồn năng lượng mới để vận hành máy bay.    Trang Bùi dịch theo washingtonpost.com     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bẫy tri thức      Các nước đang phát triển gặp trở ngại không phải chỉ vì ít hiểu biết mà có khi lại do biết “quá nhiều”: họ “mắc” vào những cái “Bẫy” Tri Thức (Knowledge Trap), đặc biệt trong việc tiếp thu tri thức khoa học-công nghệ, sáng tạo-đổi mới và kinh tế từ các nước phát triển. Điều này nghe tưởng chừng phi lý nhưng lại có thực và được một số học giả đề cập đến gần đây.         Tri thức và các ẩn số của nó  Các nước đi sau thường bị ảnh hưởng, tiếp thu những dữ liệu, thông tin và tri thức của các nước phát triển mà chưa hoặc không xác định rõ được các “ẩn số” (unknown) của chúng. Nói cách khác, họ tiếp thu tri thức mà chưa hay không biết thấu đáo về nguyên nhân, mục đích, lý do của các tri thức đó, điều mà các nước (hay người) phát minh ra tri thức đó đã phải trải nghiệm.  Tri thức, đặc biệt là tri thức trong lĩnh vực khoa học-công nghệ ứng dụng, được tạo ra để đạt được những mục đích cụ thể. Thường tri thức nhắm tới việc giải quyết một hay nhiều vấn đề trong cuộc sống, nhằm tìm ra các “ẩn số”-hay những vấn đề nan giải nhất định mà nếu không tìm tòi, trăn trở, suy nghĩ thì người ta không tìm ra cách giải. Tri thức luôn gắn với các “ẩn số” của nó.   Tri thức và các ẩn số của chúng luôn nằm trong những điều kiện cụ thể về lịch sử, địa điểm, mối tương quan với các sự kiện khác. Ví dụ, các chính sách công nghiệp (industrial policy) của Hàn Quốc trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ 20 đã đưa nước này thành một nước công nghiệp phát triển và nó gắn chặt với các điều kiện lịch sử, tình hình, kinh tế, văn hóa-xã hội, bối cảnh quan hệ kinh tế-thương mại,…thời kỳ đó.  Càng có nhiều tri thức thì chứng tỏ càng có nhiều  điều mình chưa biết. Tách rời tri thức ra khỏi các ẩn số của nó thì tri thức trở nên tri thức “chết”. Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó gắn với việc giải quyết một vấn đề thực tế của cuộc sống. Tri thức phải gắn với cuộc sống thì mới là tri thức “sống” và tích cực. Goethe – đại thi hào Đức – đã diễn đạt xuất thần điều này khi cho rằng “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”.   Trong trường hợp lý tưởng, người tạo ra tri thức, nhà nghiên cứu, phát minh cần phải xác định rõ điều mình cần tìm ra, cái mình chưa biết, việc mình cần giải quyết. Họ phải biết các ẩn số của tri thức mà họ muốn tìm tòi.     Ai có thể bị rơi vào bẫy tri thức  Các nước đi sau, dù muốn hay không, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi các nước đi trước với các tri thức mà họ tạo ta, đặc biệt là các tri thức đã mang lại thành công. Các nước đi sau thường có khuynh hướng học tập, áp dụng những tri thức quý báu của các nước tiên tiến để áp dụng cho mình. Những tri thức này nhiều khi đã được tạo ra từ cả hàng vài thế kỷ trước, với những bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế-xã hội,… hoàn toàn khác. Vì những thành công vang dội trước đây, người ta dễ bỏ qua không xem xét đến các ẩn số, những điều kiện để áp dụng thành công, những việc cụ thể mà nó cần giải quyết. Những tri thức này dễ được coi như những quy luật tất nhiên, bất biến, áp dụng cho mọi hoàn cảnh. Hậu quả là nhiều tri thức, nhất là về kinh tế-xã hội, khi đem áp dụng không những không đem lại kết quả tốt mà lại tác động xấu. Các tập đoàn, bảo hộ thị trường thông qua các chính sách công nghiệp và bao cấp đã có tác dụng tốt ở một số nước trong điều kiện kinh doanh, thương mại thế giới ở giai đoạn nhất định nhưng lại là tai họa khi được áp dụng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa như ngày nay. Công nghiệp hóa đã đem lại nền sản xuất đại công nghiệp, sự phồn thịnh vượt bậc cho nhiều nước từ những thế kỷ 17, 18 khi ngoại thương chưa mấy phát triển. Nhưng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa, chương trình này không còn mấy thích hợp, thậm chí là thảm họa, nếu cứ tiến hành theo như cách kinh điển. Hiện nay, ở những nước phát triển, một thực tế là các ngành dịch vụ phát triển nhanh và ngày càng tạo ra nhiều thu nhập so với các ngành sản xuất. Nhưng nếu các nước chậm phát triển tìm cách “ép” các ngành dịch vụ phát triển bằng những biện pháp khiên cưỡng, phi thị trường thì chưa chắc sẽ đem lại kết quả mong muốn. Những can thiệp thô bạo của “bàn tay hữu hình” ở nhiều nước đã làm cho các quan hệ, tỷ lệ giá trị của nền kinh tế bị “méo mó” (distorted) và rất khó áp dụng được các công cụ điều khiển kinh tế vĩ mô.   Cổ nhân cho rằng “Tận tín thư, bất như vô thư” (Tin hết vào sách thì cũng như không có sách). Thuốc tốt với người này, vào thời khắc này có khi lại độc với người khác, uống vào giờ khác.  Vì vậy không chạy theo “mốt” của người khác (dù họ có đẹp thế nào đi chăng nữa) mà điều cốt yếu là phải biết mình thực sự cần gì để từ đó xác định phương hướng mục tiêu nghiên cứu, tiếp thu những tri thức, công nghệ đáp ứng hiệu quả cho chiến lược CNH, HĐH của đất nước.    Đinh Thế Phong    Author                Quản trị        
__label__tiasang Beethoven chết là do nhiễm độc chì      Các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm Argonne National (Mỹ) cho biết họ đã có đủ các bằng chứng thuyết phục để khẳng định rằng nhà soạn nhạc cổ điển lừng danh Ludwig van Beethoven bị chết là do nhiễm độc chì.    Một lượng lớn chì đã được tìm thấy trong chiếc sọ của Beethoven, nghiên cứu nhấn mạnh.  Nghiên cứu này cũng khẳng định kết quả của các mẫu nghiên cứu tóc của Beetthoven trước đó cho rằng nhà soạn nhạc bị chết do nhiễm độc chì và trước khi chết, ông thường bị các cơn suy nhược triền miên.  Bill Walsh, Giám đốc phụ trách nghiên cứu cho biết sự có mặt của chì trong sọ của Beethoven chứng tỏ nhà soạn nhạc đã tiếp xúc với môi trường có chì trong nhiều năm nhưng nguồn gốc của chì ở đâu thì chưa được biết rõ.  Beethoven sinh ra ở Đức nhưng sống chủ yếu ở Áo, mất năm 1827 ở tuổi 56  P.V    Nguồn tin: VOA News      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bell Burnell và nhóm thiểu số trong khoa học      Bell Burnell đã dành toàn bộ 3 triệu USD tiền thưởng giải Breakthrough 2018 của mình để hỗ trợ phụ nữ, nhóm thiểu số và những người tị nạn có thêm cơ hội nghiên cứu vật lý. Bởi bản thân Bell cũng là một người thiểu số trong môi trường làm việc và đã phải vượt qua nhiều khó khăn để tiếp tục sự nghiệp khoa học.    Bell Burnell sinh năm 1943 tại Bắc Ireland (Anh) trong một gia đình có cha là kiến trúc sư của Đài thiên văn Armagh. Những cuốn sách thiên văn học của cha cùng những buổi trò chuyện với các nhân viên ở Đài thiên văn đã nuôi dưỡng cho Bell niềm yêu thích đối với thiên văn. Cô lần lượt đọc tất cả các sách thiên văn học của cha mình, tự học những thuật ngữ và “vật lộn” với những khái niệm phức tạp cho đến khi cảm thấy mình có thể hiểu được vũ trụ.  Bell bắt đầu ý thức rằng nữ giới phải đối mặt với nhiều định kiến khi theo đuổi sự nghiệp khoa học ngay từ năm 12 tuổi. Các giáo viên luôn chủ động chia nam sinh tới các lớp khoa học và nữ sinh về lớp nữ công mà không hỏi ý kiến đám trẻ.  Bell nhớ lại: “Mọi người đều cho rằng các chàng trai sẽ làm khoa học còn các cô gái sẽ nấu ăn và may vá. Niềm tin này chắc chắn đến nỗi không ai buồn thảo luận về nó.” Ý kiến phản đối của Bell không được ai đoái hoài, và chỉ đến khi cha mẹ của cô đến góp ý với trường, thì Bell, cùng hai nữ sinh khác, mới được tham gia phòng thí nghiệm. Và như để chứng minh “nữ giới cũng xuất sắc trong khoa học”, cuối học kỳ đó, Bell Burnell đã đứng hạng nhất trong lớp.  Đơn độc ở Cambridge  Kể từ đó trở đi, chặng đường đến với thiên văn học của Bell dường như đã định trước sẽ có nhiều chướng ngại. Khi theo học tại ĐH Glasgow, là nữ sinh duy nhất ghi danh vào ngành vật lý danh dự, Bell đã luôn phải chịu đựng những tràng huýt sáo và tiếng đập bàn khó chịu của các nam sinh mỗi khi bước vào giảng đường. Cô cũng phải làm việc rất vất vả, bởi những người cùng lớp dường như đều vô tình hay cố ý cô lập Bell.  Dù đã rèn luyện bản thân để trở nên cứng cỏi hơn trước những lời chế giễu, nhưng cô bắt đầu dần hoài nghi về năng lực của mình. Khi được nhận vào Cambridge làm nghiên cứu sinh, Bell thường xuyên bị ám ảnh bởi suy nghĩ “mình không xứng đáng có mặt ở đây” [sau này được nhà nghiên cứu Pauline R. Clance đặt tên là hội chứng kẻ mạo danh vào năm 1978]. Là người sinh ra và lớn lên ở Bắc Ireland, Bell không có ý thức gì về cái gọi là “sự tự tin tinh tế” mà mọi người ở Cambridge sở hữu.    Jocelyn Bell Burnell năm 1974 và hiện nay. Nguồn: Washingtonpost.com  Tuy nhiên, thay vì trốn tránh, Bell quyết định sẽ cố gắng nhiều hơn – “Tôi sẽ làm việc hết sức mình, để đến khi họ đuổi tôi [khỏi Cambridge], lương tâm tôi không thấy tội lỗi. Bởi tôi đã cố gắng hết sức.” Vì thế, Bell Burnell đã gia nhập phòng thiên văn vô tuyến của Cambridge, nơi Anthony Hewish – giảng viên hướng dẫn của cô, đang xây dựng một kính thiên văn vô tuyến mới để săn tìm sóng vô tuyến được tạo ra bởi các quasar (chuẩn tinh) – những vật thể cực kỳ sáng chói trong vũ trụ. Bell đã lao động trong thời tiết ẩm ướt và khắc nghiệt để cài đặt hơn 100 dặm cáp và dây đồng trên cánh đồng lộng gió gần Cambridge.  Nhờ làm việc chăm chỉ, sau khi hoàn thiện kính thiên văn vô tuyến, Bell là người duy nhất [trong nhóm 6 người hỗ trợ] được Hewish giữ lại để vận hành kính thiên văn. Trong suốt sáu tháng sau đó, Bell đã khám phá thêm hàng trăm quasar mới – bằng cách đọc cẩn thận 900 feet tài liệu mỗi ngày và phân tích hơn ba dặm đường mờ từ dữ liệu kính thiên văn.  Ngay trước bữa ăn trưa vào mùa hè năm 1967, Bell nhận thấy “những dòng nguệch ngoạc không thể phân biệt” trên những tờ dữ liệu. Thường thì những chi tiết này sẽ bị bỏ qua – kể cả Hewish ban đầu cũng chắc chắn đây chỉ đơn thuần do là nhiễu do hoạt động của con người. Nhưng với người luôn mang tâm lý mình là kẻ ngoài lề, Bell không muốn bỏ lỡ bất cứ chi tiết nào mà cô chưa hiểu rõ.  Bell chia sẻ: “Bởi tôi đã theo dõi thứ khốn khổ này trong nhiều tháng, nên tôi biết nó [xung nhòe] không phải là nhân tạo.” Các xung vô tuyến lặp đi lặp lại vô cùng đều đặn – không hề giống bất kỳ điều gì từng thấy trước đây. Liên tiếp sau đó, việc phát hiện thêm 3 vật thể phát xung tương tự, đã khiến nhà vật lý nữ trẻ tuổi nhận ra một điều quan trọng – cô đã khám phá ra những lõi quay nhanh của các ngôi sao bị sụp đổ – có từ trường mạnh tạo ra các tia phóng xạ giống như chùm tia quay của ngọn hải đăng.  Vào tháng Hai năm 1968, Bell và Hewish đã công bố những phát hiện này qua một bài báo trên tạp chí Nature. Theo lệ thường, Hewish được liệt kê là tác giả chính, và Bell Burnell đứng thứ hai – bởi khi đó, cô mới 24 tuổi và đang là nghiên cứu sinh.  Vào lúc này, tờ Nature đang thực hiện nhiều phóng sự để tuyên truyền cho các nhà khoa học. Khi họ tìm đến nhóm của Bell, thủ tục sẽ là: các nhà báo yêu cầu Hewish giải thích ý nghĩa khoa học của khám phá, sau đó chuyển sang Bell “vì những gì con người hứng thú” – ví dụ như kích cỡ ngực của cô hay lịch sử tình trường. Thậm chí có nhiếp ảnh gia còn yêu cầu cô mở thêm một nút áo. Bell nhớ lại: “Điều này thật là khó chịu, tôi rất muốn nói với họ rằng họ đang lạc đề. Nhưng tôi vẫn còn là sinh viên. Tôi cần thêm tài liệu từ phòng thí nghiệm, và thứ họ cần là sự tuyên truyền.” Vì thế Bell chỉ đơn giản là mỉm cười và từ chối khéo léo câu hỏi khiếm nhã.  Vào cuối năm 1968, một nhóm các nhà thiên văn học báo cáo đã phát hiện những tia vô tuyến đều đặn từ trung tâm của tinh vân Crab – đám mây khí bụi còn lại sau vụ nổ siêu tân tinh vào năm 1054. Điều này đã khẳng định một trong những lý thuyết của Bell và Hewish: Các tín hiệu đến từ các pulsar – một dạng sao neutron với từ trường mạnh gia tốc các hạt thành hai chùm mạnh mẽ phát ra từ hai cực. và khi pulsar quay, chùm ánh sáng trở nên dễ nhìn thấy được từ Trái đất, dẫn đến các xung định kỳ, khả đoán.  Phát hiện về pulsar đã mang đến cho Hewish giải Nobel Vật lý vào năm 1974, thế nhưng Bell Burnell – người duy nhất chú ý và lập luận rằng đây là một tín hiệu thực sự, lại không hề được nhắc đến. Trong khi nhiều nhà khoa học nổi tiếng lên tiếng phản đối sự thiếu sót này thì bản thân người trong cuộc – Bell, lại phản ứng rất bình tĩnh – “Tôi không hề trông đợi được công nhận – các sinh viên sau đại học hiếm khi được như vậy. Nhưng tôi vui mừng bởi đây là lần đầu tiên giải Nobel được trao cho người nghiên cứu các vì sao. Cuối cùng Ủy ban Nobel cũng nhận ra rằng vật lý cũng đóng vai trò quan trọng trong thiên văn học.”  Cuộc chiến không ngừng nghỉ  Ở giữa những tranh cãi về giải Nobel, Bell vẫn cặm cụi theo đuổi đam mê khám phá của mình, dù rằng đôi khi điều này bị những lề thói nghiêm ngặt trong thời đại mà cô đang sống, cản trở. Bell đính hôn vào khoảng thời gian giữa lúc cô khám phá pulsar thứ hai và thứ ba.  Bell chia sẻ: “Vào thời điểm đó ở Anh, phụ nữ đã lập gia đình sẽ không còn đi làm. Thật đáng xấu hổ nếu một phụ nữ đã lập gia đình làm việc, vì điều đó có nghĩa là chồng cô ấy không kiếm đủ tiền.” Áp lực xã hội để buộc Bell từ bỏ thiên văn học ngày càng trầm trọng hơn kể từ khi cô có con trai. Việc tìm kiếm một người chăm sóc trẻ rất khó, bởi phụ nữ vào lúc bấy giờ đều được dự kiến sẽ từ bỏ nghề nghiệp khi trở thành vợ và mẹ. Vì thế Bell đã phải từ bỏ công việc chính thức của mình để làm bán thời gian trong nhiều năm.    Bell Burnell bên kính thiên văn vô tuyến mà cô hỗ trợ xây dựng tại Cambridge. Nguồn: Arstechnica.com  Dù vậy, Bell vẫn không ngừng dành thời gian cho thiên văn học, cô tìm hiểu mọi bước sóng: tia X, tia gamma, sóng vô tuyến, hồng ngoại và có một bề dày kinh nghiệm đáng kể. Bell làm trợ giảng viên cấp cao ở ĐH Southampon từ năm 1970 – 1973, nơi cô đã phát triển và hiệu chỉnh kính viễn vọng tia gamma điện tử 1-10 triệu volt. Bell cũng đảm nhiệm các vị trí nghiên cứu và giảng dạy về thiên văn tia X tại Phòng thí nghiệm Khoa học Không gian Mullard ở London, và nghiên cứu thiên văn học hồng ngoại ở Edinburgh. Danh sách nơi Bell từng làm việc tương đối dài, bởi cô thường xuyên phải theo chồng, Martin Burnell – một nhân viên chính phủ, liên tục di chuyển khắp nước Anh theo yêu cầu công việc. Mỗi khi Bell xây dựng được một vị trí vững chắc trong tổ chức cô đang làm, thì Martin Burnell – chồng cô, lại di chuyển, và Bell phải bắt đầu lại từ đầu.  Bell cho rằng cuộc đời cô là một cuộc chiến không ngừng nghỉ để tiếp tục làm khoa học. Cô cũng không được các đồng nghiệp nam chào đón ở nơi làm việc – họ thường xuyên áp lời, hoặc gạt bỏ ý tưởng hay phủ nhận thành tựu của Bell. Nhưng Bell biết mình không phải trường hợp duy nhất – “Tôi biết một số phụ nữ khác trong khoa học cũng đang nản lòng hoặc e ngại.”  Vì thế năm 2005, Bell Burnell đã cùng các nhà khoa học nữ cấp cao thành lập giải thưởng Athena SWAN, ghi nhận các hành động thúc đẩy sự nghiệp của phụ nữ trong khoa học. Bell được biết đến như là thủ lĩnh trong phong trào khuyến khích phụ nữ nghiên cứu khoa học vật lý. Năm 2016, Giải thưởng Nhà Vật lý nữ trong thời gian đầu sự nghiệp của Nhóm IOP Phụ nữ trong Vật lý đã đổi tên thành giải thưởng Jocelyn Bell Burnell trong nỗ lực vinh danh bà.  Năm 2018, 51 năm kể từ lần đầu tiên tìm thấy những “vệt mờ khả nghi” trong tài liệu quan sát của mình, Bell Burnell đã được Ủy ban Breakthrough ghi nhận bằng một giải thưởng đặc biệt trong vật lý cơ bản cho những thành tựu khoa học và vai trò “tiên phong truyền cảm hứng” trong suốt hơn năm thập kỷ qua.  Người sáng lập giải thưởng Breakthrough, Yuri Milner phát biểu: “Giáo sư Bell Burnell hoàn toàn xứng đáng với sự ghi nhận này. Khám phá các pulsar của Jocelyn Bell Burnell sẽ luôn luôn là một trong những bất ngờ lớn trong lịch sử thiên văn học.” Pulsar được đánh giá là công cụ mạnh để thử nghiệm vật lý, thăm dò không-thời gian và điều tra các vùng tối của vũ trụ. Trong năm thập kỷ qua, một loạt các khám phá thiên văn phi thường được bắt đầu từ nghiên cứu về pulsar.  Janna Levin, nhà vật lý thiên văn tại Barnard College (ĐH Columbia) bày tỏ: “Cô ấy [Bell] đại diện cho một thứ gì đó rất quan trọng trong lịch sử gần đây của chúng tôi. Cô ấy có sự kiên trì, khéo léo và lối tư duy độc đáo, và một di sản lâu dài trong tư cách nhà thiên văn học.”  Với những người hâm mộ Bell Burnell, giải Breakthough dù đến với Bell một cách muộn màng nhưng đã góp phần “sửa đúng những bất công trong quá khứ và vinh danh xứng đáng những đóng góp tiên phong và quan trọng của một nhà khoa học đã mở ra cửa sổ mới trong vũ trụ.” – nhà vật lý thiên văn Brian Keating (ĐH California, San Diego) nhận xét.  Bell Burnell, hiện nay đã 75 tuổi, cho biết mình rất vui khi nhận được giải thưởng Breakthrough đặc biệt, nhưng cũng khẳng định mình sẽ không giữ một đồng nào trong khoản tiền thưởng trị giá 3 triệu USD. Bell đã làm việc với Hội Vật lý Anh và Ireland về việc chuyển tiền thưởng thành các học bổng tiến sĩ cho phụ nữ, những người thiểu số và dân tị nạn muốn học vật lý. Bell phát biểu: “Tôi nghĩ rằng mình phát hiện ra pulsar phần lớn là do tôi là một người thiểu số [tại Cambridge]. Và tôi có một niềm tin mạnh mẽ rằng những người thiểu số khác cũng có cùng cảm nhận và sẽ làm việc chăm chỉ và khám phá mọi thứ.”  Theo Khoa học và Phát triển    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Bell Labs – Viện nghiên cứu tư nhân độc nhất vô nhị      Bell Labs, với 8 giải Nobel và hàng ngàn phát minh khoa học, tạo nên thế giới công nghệ tương lai – cái mà bây giờ chúng ta gọi là hiện tại.      Eric Betzig được trao giải Nobel Hóa học năm 2014 cho phát minh ra kính hiển vi siêu phân giải tại Bell Labs vào năm 1993. Nguồn ảnh: Bell-labs.com  Thế giới công nghệ ngày nay có lẽ sẽ không như chúng ta biết nếu không nhờ vô số phát minh ra đời từ Bell Labs. Các nhà nghiên cứu làm việc tại Bell Labs đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của thiên văn học vô tuyến, transistor, laser, cảm biến CCD (linh kiện điện tích kép), lý thuyết thông tin, hệ điều hành Unix và các ngôn ngữ lập trình C, C ++ và S.  Bell Laboratories, trước đây là AT & T Bell Laboratories, Inc., thường được gọi bằng tên Bell Labs, từng là cánh tay nghiên cứu của Công ty Điện thoại và Điện thoại Mỹ (AT & T) – tập đoàn viễn thông lớn nhất thế giới cùng với Western Electrics (nhà cung cấp thiết bị chính của AT&T) trong nhiều thập kỉ từ 1925 – 1996. Sau nhiều vụ đổ vỡ, mua bán, sáp nhập của AT&T, hiện nay Bell Labs thuộc sở hữu của công ty Nokia.  Trung tâm sáng tạo nhất thế giới  Trong suốt thế kỉ 20, Bell Labs luôn được coi là tổ chức nghiên cứu khoa học đổi mới sáng tạo nhất thế giới. Trong danh sách các phát minh của phòng thí nghiệm này, đáng chú ý nhất có lẽ là transistor, được phát minh vào năm 1947, thành tố cốt lõi không chỉ của tất cả các thiết bị kĩ thuật số mà còn của cả đời sống đương đại. Chỉ cần một chút kích hoạt điện thế, transistor có thể bật tắt liên tục để thể hiện “bit” thông tin, biểu diễn dưới dạng số nhị phân mà ta đã quá quen thuộc là 0 và 1. Hiện nay, hàng tỉ các transitor đang nằm trong chip điện tử của tất cả các máy điện thoại và máy tính của con người.  Bell Labs là tác giả của một loạt các đột phá chấn động khác như: tế bào năng lượng mặt trời silicon, tiền thân của tất cả các thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời. Hai trong số các nhà nghiên cứu của Bell labs đã được trao bằng sáng chế đầu tiên về laser và các đồng nghiệp của họ sau đó đã tạo ra rất nhiều các sản phẩm laser mẫu. Giờ đây, mỗi đầu DVD đều có một laser với kích thước như một hạt gạo, giống như loại được phát minh tại Bell Labs thời đó.  Bell Labs cũng tạo ra và phát triển những vệ tinh truyền thông đầu tiên trên thế giới; đưa ra lý thuyết và đồng thời phát triển truyền thông kỹ thuật số và các hệ thống mạng di động đầu tiên. Chính cảm biến CCD giúp chuyển đổi hình ảnh quang học sang tín hiệu điện cũng được phát minh tại Bell Labs và tạo nên cơ sở cho nhiếp ảnh kĩ thuật số.  Bell Labs cũng đã xây dựng hệ thống cáp quang đầu tiên và ngay sau đó là tạo ra những phát minh cho phép hàng gigabytes dữ liệu được nén và truyền đi khắp toàn cầu. Phòng thí nghiệm này cũng không bỏ qua mảng lập trình. Các nhà khoa học máy tính của họ đã phát triển Unix là cơ sở hình thành những hệ điều hành thịnh hành mà chúng ta đang dùng hiện nay như Linux và MacOS và C, ngôn ngữ lập trình được sử dụng nhiều nhất mọi thời đại.  Đây chỉ là một vài trong số các công nghệ ứng dụng được phát minh tại Bell Labs. Một số nhà nghiên cứu của Bell Labs đã viết các bài báo giúp mở rộng đáng kể ranh giới của vật lý, hóa học, thiên văn học và toán học. Các kỹ sư khác của Bell Labs tập trung vào việc tạo ra các quy trình mới cho các nhà máy công nghiệp. Khái niệm “kiểm soát chất lượng” – là một phương pháp phân tích thống kê đang được sử dụng trên toàn thế giới để đảm bảo chất lượng sản phẩm – được áp dụng đầu tiên bởi các nhà toán học tại Bell Labs.  Sự tự do tối đa trong nghiên cứu    Tòa nhà của Bell Labs cũ đặt tại New Jersey, Mỹ trong thập niên 50s – 60s, thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng người Phần Lan Eero Saarinen. Hành lang, được chủ ý thiết kế “dài bất tận” khiến người ta không thể tránh được việc phải trao đổi với đồng nghiệp, nảy sinh ra những vấn đề, phát hiện những ý tưởng mới. Nguồn ảnh: Metropolis Magazine  Người có công đầu trong việc thúc đẩy văn hóa sáng tạo ở Bell Labs là Mervin Kelly. Sinh ra ở vùng nông thôn Missouri, xuất thân trong một gia đình ở tầng lớp lao động, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngành vật lý tại Đại học Chicago, ông tham gia vào nhóm nghiên cứu tại AT&T. Trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1959, Kelly đã làm việc tại Bell Labs, đi từ một nghiên cứu viên đến chủ tịch hội đồng quản trị của phòng thí nghiệm này. Mervin có niềm tin vững chắc rằng một “viện nghiên cứu của những công nghệ sáng tạo” như Bell Labs cần sự trao đổi trực tiếp và liên tục giữa những nhà tư tưởng và người thực hành.  Chẳng hạn như trong dự án transitor, các nhà vật lý, luyện kim và kỹ sư điện được sắp xếp làm việc cùng nhau một cách có chủ ý bởi đó là sự pha trộn các chuyên gia lý thuyết, thực nghiệm và sản xuất. Giống như một nhạc trưởng, Mervin Kelly tìm kiếm một sự hòa hợp và thi thoảng là cả sự xung đột giữa các ngành khoa học; giữa các nhà nghiên cứu và nhà phát triển; giữa những nhà nghiên cứu đơn độc và những người làm việc theo nhóm.  Một cách tiếp cận khác của Bell Labs là thôi thúc biến những ý thưởng thành hiện thực. Thi thoảng Bell Labs được khắc họa như một tháp ngà. Nhưng chính xác hơn, nó phải được mô tả là một tháp ngà với một nhà máy ở tầng dưới. Những nhà nghiên cứu và kĩ sư ở đây hiểu rõ ràng mục tiêu cuối cùng của tổ chức của họ là biến những tri thức mới thành những sản phẩm mới. Ở Bell Labs, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu theo đuổi nghiên cứu khoa học thuần túy, công trình của họ hoàn toàn vẫn có thể được sử dụng.  Một phương pháp khác mà Mervin Kelly thúc đẩy mạnh mẽ là phong cách tổ chức. Các cơ sở vệ tinh của Bell Labs được thiết lập trong các nhà máy sản xuất của công ty điện thoại, để giúp chuyển tất cả những ý tưởng mới thành sản phẩm. Việc trao đổi diễn ra theo hai chiều, với các kỹ sư cũng học hỏi từ các công nhân nhà máy. Giờ đây việc sản xuất đã ngày càng chuyển dịch ra khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ đã phá vỡ một hệ sinh thái toàn diện về kiến thức công nghiệp. Trong quá khứ, những kiến thức này có xu hướng thúc đẩy Bell Labs hướng tới những đột phá.  Mervin Kelly tin rằng sự tự do là điều thiết yếu trong nghiên cứu. Một số nhà khoa học của Bell Labs có nhiều quyền tự chủ đến mức nhà quản lý hầu như không được biết tiến độ thực hiện các dự án sau nhiều năm chúng được giao. Ông thành lập một nhóm nghiên cứu nhưng hai năm sau, chỉ khi phát minh được hình thành, ông mới biết nó là transistor. Sau đó, ông lại thiết lập một đội khác sản xuất hàng loạt phát minh này. Ông ném yêu cầu đó vào lòng của một kĩ sư và bảo anh ta tự lập kế hoạch, còn ông thì bỏ đi Châu Âu vào thời điểm đó. Nói chung, ông đặt hoàn toàn niềm tin vào năng lực sáng tạo cũng như năng lực giúp người khác sáng tạo của các thành viên trong Bell Labs.  Điều quan trọng hơn cả là thời gian dành cho nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu được cho rất nhiều thời gian, hàng năm trời để theo đuổi những gì họ cảm thấy là cần thiết. Ai đó có thể thấy điều này là không tưởng trong thế giới ngày nay. Hoặc người ta có thể cho rằng những điều này không thể ứng dụng cho các tổ chức khác vì Bell Labs có sự chu cấp của một công ty mẹ có thu nhập lớn và ổn định. Bell Labs không phải đáp ứng các chỉ tiêu để giúp đạt doanh thu hàng quý; không ai phải vội vàng đưa sản phẩm ra thị trường trước các đối thủ cạnh tranh.  Bell Labs đã lỗi thời?       Bjarne Stroustrup, người phát minh ra ngôn ngữ lập trình C+ Nguồn ảnh: Bell-labs.com  Tuy nhiên, được chu cấp bởi một công ty có nguồn tài chính dồi dào và có một văn hóa làm việc đáng ngưỡng mộ cũng không bảo đảm Bell Labs có thể duy trì sự tồn tại của mình như một viện nghiên cứu nuôi dưỡng cả khoa học cơ bản thuần túy lẫn khoa học ứng dụng với địa hạt nghiên cứu vượt ra ngoài khuôn khổ lĩnh vực của công ty mẹ. Sự thay đổi chóng mặt của luật pháp, công nghệ và mô hình kinh doanh trong lĩnh vực này đã khiến cho cả AT&T và Bell Labs buộc phải rời bỏ đỉnh cao của nó.  AT&T về sau phải từ bỏ quyền sở hữu một nửa của Bell Labs, cùng nhiều bộ phận kĩ thuật quan trọng khác khi bị kiện dựa trên luật chống độc quyền của Mỹ vào năm 1984. Trước kia, toàn bộ những gì mà Bell Labs tạo ra đều được AT&T chuyển thành kinh doanh độc quyền còn giờ đây họ phải học cách cạnh tranh khi tốc độ tung ra sản phẩm mới và khả năng bán hàng thay vì chất lượng của sản phẩm mới là yếu tố ưu tiên hàng đầu trên thị trường. Đây là một bước ngoặt đau đớn của cả AT&T và Bell Labs. Trong những năm sau đó, Bell Labs bị thu hẹp cả về mặt định hướng nghiên cứu lẫn nhân sự. Vào năm 1995, một nhà nghiên cứu của Bell Labs tên là Andrew Odlyzko đã xuất bản một bài báo phân tích những gì đang xảy ra với ngành công nghệ Mỹ và số phận của những viện nghiên cứu như Bell Labs. “Nghiên cứu không bị ràng buộc”, như Odlyzko gọi, là những nghiên cứu không bị thúc bách về mặt thời gian và đầu ra quá khắt khe, không còn là một khoản đầu tư hợp lý hay cần thiết cho một công ty nữa. Một mặt, những đột phá trong nghiên cứu mất quá nhiều thời gian và thậm chí không bao giờ mang lại giá trị thương mại. Mặc khác, với sự lớn mạnh của các trường đại học và các viện nghiên cứu công nghệ kiểu cũ, có rất nhiều kết quả nghiên cứu có sẵn đầy tiềm năng cho phép người ta chỉ cần tìm cách “ứng dụng những gì đã có” thay vì tạo ra cái mới.  Một công ty chỉ cần kiếm lợi nhuận bằng cách theo đuổi chiến lược phát triển kinh doanh thay vì đi tìm những bước đột phá khoa học. “Khoa học và công nghệ hiện nay là một dây chuyền sản xuất. Nếu muốn thực hiện một ý tưởng mới, bạn thuê một số người, cung cấp cho họ một ngân sách, và khả năng cao là bạn sẽ có những gì bạn yêu cầu. Nó giống như sản xuất tủ lạnh” – Odlyzko nói. Có lẽ hơi cường điệu, nhưng ý kiến này cũng có những điểm đúng đắn.  Thành công của Netscape là một ví dụ điển hình cho điều đó. Một công ty vừa ra mắt công chúng nhưng mang một mức định giá làm kinh ngạc giới kinh doanh. Sản phẩm sáng tạo của Netscape – một trình duyệt cho World Wide Web – chỉ đơn thuần là sự thụ hưởng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật đã được tích lũy đều đặn thông qua công việc học thuật, quân sự và chính phủ (đặc biệt trong chuyển đổi và mạng lưới) vài thập kỷ qua chứ không phải là một phát minh mới.  Nói một cách bi quan, tương lai đang được hình thành bởi tư duy ngắn hạn hơn là tầm nhìn dài hạn. Trong kinh doanh, sự phát triển của một công ty sẽ không được xây dựng bằng một bước nhảy vọt kỳ diệu; mà một loạt liên tục các bước chạy nước rút và tất cả đều chạy trong một đường đua hẹp. Vì vậy, “trong ngành công nghiệp Mỹ và châu Âu”, Odlyzko kết luận, “rất ít triển vọng cho sự trở lại của nghiên cứu không bị ràng buộc”.1  Nguyễn Hoàng Nam tổng hợp  Nguồn: Time, NYTimes    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bến Tre, nước biển dâng và nguy cơ bị lún chìm, xâm thực      Bến  Tre là một tỉnh gồm ba cù lao lớn, Cù Lao An Hóa, Cù Lao Bảo, và Cù Lao  Minh. Ba cù lao này được hình thành từ trầm tích sông Mekong đổ ra Biển  Đông trong quá trình tương tác giữa sông, biển và dòng chảy ven bờ từ  khoảng 3500 năm trở lại hiện tại (Hình 1, 2) 1.    1. Bến Tre rất mẫn cảm với nguồn nước Mekong và tác động của biển     Bốn trên sáu nhánh sông Tiền (Mekong) chảy qua Bến Tre trước khi trổ ra biển là sông Tiền qua Cửa Đại, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Do vậy, và từ quá trình hình thành, Bến Tre rất mẫn cảm với nguồn nước từ thượng nguồn đổ về và từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nhiều dự án đã và đang được các nhà tài trợ quốc tế dành cho Bến Tre cũng vì lẽ đó 2.    Hình 2. Quá trình hình thành và phát triển của các tỉnh      Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của tỉnh để Bến Tre phát triển bền vững đòi hỏi một hiểu biết am tường về địa mạo thỗ nhưỡng, chế độ thủy văn, truyền triều và xâm nhập mặn trong bốn nhánh sông Mekong vừa kể.     Ứng phó với biến đổi khí hậu yêu cầu phải biết nước biển đã dâng hay chưa, và như thế nào, trong thời gian qua tại vùng cửa các sông nói trên.     Trước tiên hãy xem xét sự biến động của các mức nước tại ba trạm ven biển Bình Đại (Cửa Tiểu), An Thuận (cửa Hàm Luông) và Bến Trại (cửa Cổ Chiên) (Hình 3) thông qua phân tích các chuỗi số liệu thủy văn tại ba trạm trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến năm 2013.    Hình 3. Ba trạm thủy văn ven biển của Bến Tre     2. Biến động mức nước tại các trạm thủy văn ven biển ĐBSCL     Các số liệu có được để phân tích là mức nước đỉnh triều max, chân triều min ngày và mức nước trung bình ngày, từ 01.01.1988 đến 31.12.2013 3 .     Sự biến động mức nước tại các trạm thủy văn ven biển đồng bằng sông Cửu Long đã được trình bày tại hội nghị thường niên lần thứ 78 của Ủy ban Quốc tế về các đập lớn tổ chức tại Hà Nội năm 2010 4 (Bảng 1).           Bảng 1. Biến động mức nước tại các trạm thủy văn ven biển ĐBSCL     Xu thế gia tăng bình quân năm trong 21 năm, từ 1988 đến 2008 của mức nước đỉnh triều cao nhất năm ở hai trạm Bình Đại và An Thuận thuộc loại cao nhất trong số 9 trạm ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, lần lượt là 18,21 và 14,16 mm/năm.         Mức nước trung bình ngày trong năm tại Bình Đại có xu thế tăng, bình quân 11,8 mm năm trong 21 năm (1988-2008). Ở hai trạm An Thuận và Bến Trại, mức nước này cũng tăng nhưng thấp hơn, lần lượt là 5,7 và 4.9 mm/năm.     3. Biến động mực nước tại ba cửa sông của Bến Tre đến năm 2013         Được sự hỗ trợ của tỉnh, việc theo dõi tiếp các biến động mức nước này tại ba trạm Bình Đại, An Thuận và Bến Trại đã được tiến hành từ 01.01.2009 đến 31.12.2013.         Sự biến động của ba mức nước, mực nước đỉnh triều cao nhất năm, mực nước chân triều thấp nhất năm, và mực nước trung bình ngày trong năm, được phân tích tại ba trạm, theo ba thời đoạn 21 năm (1988-2008), 26 năm (1988-2013) và trong 11 năm gần đây (2003-2013).         Kết quả phân tích được tổng hợp trong Bảng 2.           Bảng 2. Biến động mức nước tại ba trạm thủy văn ven biển của Bến Tre         Bảng 2 cho thấy:     (1) Xu thể tăng bình quân của mức nước đỉnh triều cao nhất năm trong các năm (1988 -2013) ở Bình Đại là 18,6 mm/năm, ở An Thuận là 13,5, ở Bến Trại  là  7,0. Trong 11 năm gần đây, (2003-2013), xu thế này tăng rất nhanh, tại trạm Bình Đại là 26,3 mm/năm.     (2) Mức nước trung bình năm có xu thế tăng ở cả ba trạm. Tốc độ tăng bình quân năm trong thời đoạn (1988 – 2013) ỏ 3 trạm lần lượt là 12,54, 6,54 và 5.93 mm. Trong 11 năm gần đây, tốc độ tăng bình quân năm ở ba trạm lần lượt là 16,8, 10,3 và 10,8 mm.     (3) Xu thế tăng bình quân năm của mức nước chân triều thấp nhất năm (1988 – 2013) lần lượt là 10,8, 2,7 và 9,8 mm. Trong 11 năm gần đây ở An Thuận và Bến Trại xu thế này tăng rất nhanh, 18,1 và 28,5 mm/năm.     4. Nhận xét và thảo luận         (1) Các bảng 1 và 2 chỉ ra rằng nước biển dâng đã là một thực tế ở đồng bằng sông Cửu Long. Điều này thể hiện rất rõ và khác nhau tại các trạm thủy văn ven biển của đồng bằng.     Sự khác nhau đến từ đặc điểm địa hình, địa mạo vùng bờ biển, vùng cửa sông và lòng sông tại cửa biển.     (2) Với xu thế mức nước đỉnh triều cao nhất năm và mực nước bình quân năm tại ba trạm tăng, lượng nước biển theo thủy triều đổ vào châu thổ qua Cửa Đại, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên gia tăng, nhất là ở Cửa Đại.      Một hệ lụy trực tiếp là các tuyến đê biển cần được thường xuyên duy tu và tôn tạo với cao trình tương ứng.     (3) Lượng nước theo triều rút ra ở ba cửa sông có xu thế khó khăn hơn do mực nước chân triều thấp nhất trong năm tăng. Ít khó nhất là ở cửa Hàm Luông cho đến năm 2013. Tuy nhiên trong thập niên (2003-2013) xu thế mức nước chân triều thấp nhất ở An Thuận và Bến Trại lại rất cao, 18,1 và 28,5 mm/năm, cao hơn cả ở trạm Bình Đại. Xu thế khó thoát nước trong 11 năm gần đây tăng dần từ Cửa Đại qua Hàm Luông đến Cổ Chiên cần được theo dõi và giải đáp.     (4) Hiện tượng khó thoát nước ở cửa sông sẽ làm thay đổi địa hình của lòng sông, cửa sông, và đến lượt nó sẽ ảnh hưởng trở lại các mức nước tại trạm dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.     (5) Sự thay đổi địa mạo các lòng sông, sự bồi tụ hay xói lở của đường bờ biển tùy thuộc rất nhiều vào lượng trầm tích được đưa về.      Ngoài việc xây dựng các đập thủy điện trong lưu vực sông Mekong, đặc biệt trên dòng chính, sẽ chận lại ở thượng nguồn một lượng trầm tích rất lớn, việc khai thác cuội, sỏi và cát trên dòng chính cũng sẽ làm giảm đáng kể lượng trầm tích đưa về hạ lưu các nhánh sông Tiền và sông Hậu.      Nếu việc xây đập là trong tương lai thì việc khai thác cát sạn lòng sông là điều đang diễn ra, làm tăng thêm sự thâm hụt bùn cát đối với đồng bằng nói chung, Bến Tre nói riêng.     Bảng 3 chỉ ra khối lượng khai thác cát, sỏi và đá cuội của các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Hình 4 chỉ ra vị trí và mức độ khai thác 5 .                         Bảng 3. Tình hình khai thác (2011) (trái) và Hình 4. Khai thác cát từ Kratié đến cửa biển châu thổ  Do vậy, sự biến động mức nước tại cửa biển của Bến Tre mà bài viết này phân tích, cần được xem xét, theo dõi không tách rời một thực tế rất đáng quan ngại: đó là việc khai thác cát trên các nhánh sông Tiền, khá quan trọng theo Hình 4.     (6) Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố các kịch bản của mức nước biển dâng. Thực tế sản xuất và đời sống liên quan mật thiết đến mức nước biển dâng thực tế.     Mức nước biển dâng thực tế của một địa bàn là mức nước biển dâng tương đối trừ đi độ nâng cao bề mặt (từ phù sa phủ lên hoặc từ nâng nền) cộng với độ sụt lún ở nơi đó.      Có sụt lún tự nhiên của mặt đất do quá trình đất nén dẽ, và sụt lún do tác động của con người (canh tác, khai thác nước ngầm, than bùn và các khoáng sản khác dưới lòng đất, do xây dựng cống đập, nhà máy, khu công nghiệp, phát triển đô thị, 6…) .     Sự sụt lún tự nhiên cộng với sự thâm hụt bùn cát kéo dài (do xây dựng các đập ở thương nguồn, và do khai thác cát trên các nhánh sông Tiền và sông Hậu) cộng với những tác động khác của con người sẽ làm cho đồng bằng sông Cửu Long, và Bến Tre nói riêng, đứng trước nguy cơ bị lún chìm dần và bờ biển bị xâm thực mạnh trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng 7.     ————————————————–     Chú thích:      1. Một trong những nghiên cứu được công bố gần đây là Origin and evolution of interdistributary delta plains; insights from Mekong River delta Toru Tamura, Yoshiki Saito, V. Lap Nguyen, T.K. Oanh Ta, Mark D. Bateman, Dan Matsumoto, Shota Yamashita, GEOLOGY, April 2 2012, vol. 40, no. 4; p. 303–306.  2. Hiện nay có ít nhất bốn dự án từ WB, JICA, IFAD và IUCN.  3. Nguồn số liệu: (1988-2008) từ Đài khí tượng thủy văn Nam bộ; (2009-2013) từ tỉnh Bến Tre.  4. Nguyễn Ngọc Trân, “ĐBSCL đối mặt với thách thức kép của biến đổi khí hậu”, Kỷ yếu Hội nghị thường niên lần thứ 78 của Ủy ban Quốc tế về các Đập Lớn, Hà Nội 25/5/2010.   5. J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.   6. J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck.  Effective sea-level rise  and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, p. 63-82, 2.2006.  7. Nguyễn Ngọc Trân, (a) Mức nước biển dâng nào tại đồng bằng sông Cửu Long, 02.2011, http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=74&NewsId=203697  http://www.vncold.vn/Web/Content.aspx?distid=2610  (b) Rất cần biết mức nước biển dâng thực tế, 8.2012, http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=254655  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=5479    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bên trọng, bên khinh      &#160;Nói chung, tối thiểu 70% số công ty dược phẩm ở Âu Mỹ tập trung vào thuốc sản xuất từ hóa chất tổng hợp. Thế mà theo cuộc thăm dò ý kiến gần đây của viện Emnid ở Berlin, gần 80% cư dân tại nước này lại mong muốn được điều trị bằng dược phẩm chế biến từ nguồn dược liệu thiên nhiên! Người tiêu dùng trên quê hương của Einstein, xứ sở được xem như biểu tượng của khoa học hiện đại ở Châu Âu, sở dĩ có quan điểm dứt khoát như thế là do nhận thức về hậu quả lâu dài của dược phẩm xây dựng trên hóa chất. Thái độ của người dân vì phản ứng phụ của thuốc là rất rõ ràng dù khiến ngành công nghiệp dược vốn có lợi nhuận hàng năm tính trên bạc tỷ Euro phải đau lòng. Tức nước phải có lúc vỡ bờ.    Ở nước mình thì dường như ngược lại. Số người muốn thuốc mạnh vẫn chiếm đa số, bất cần cấu trúc hóa học, bất cần phản ứng phụ, bất cần độc tính, miễn là có công hiệu ngay lập tức. Nguy hơn, điều này thông dụng ngay cả ở nhiều thầy thuốc, mặc dù thầy thuốc là những người được học hành để có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe người dân! Có lẽ vì quá vội vã với cuộc sống tranh đua nên ít ai thắc mắc, chất nào đúng nghĩa làm nên thuốc, hóa chất tổng hợp hay hoạt chất thiên nhiên? Mặc kệ, miễn hiệu quả nhanh là tốt!  Cách đặt vấn đề về nguồn gốc thuốc như trên là thừa! Không dưới 2/3 số dược phẩm đang lưu hành ở các quốc gia phương Tây, tuy được gọi thuốc tổng hợp, nhưng trên thực tế hoặc chỉ là hóa chất trích từ dược liệu thiên nhiên, hoặc tuy có thành phần đúng là hợp chất nhân tạo nhưng rập theo cấu trúc hóa học của một hoạt chất tự nhiên nào đó. Tuy vậy, vì lý do cạnh tranh nên dược phẩm từ cây cỏ, khoáng chất … vẫn thường bị chỉ trích dựa vào nhiều lý do, hoặc vì thiếu cơ sở khoa học, hoặc vì thiếu chứng minh trên lâm sàng! hoặc nếu có hiệu quả thì chỉ là tác dụng giả dược (placebo)! Cứ như dược liệu chưa hề được dùng từ nhiều ngàn năm nay. Chê thì chê nhưng đại gia nào trong ngành dược quốc tế cũng đầu tư hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm để nghiên cứu sản phẩm mới từ cây thuốc!  Cho dù bị công kích thế nào thì thuốc dược thảo vẫn tiếp tục “đi đúng thị hiếu” vì nhiều lý do:  1. Hơn 80% người đang dùng thuốc dược thảo hoàn toàn hài lòng với tác dụng. Tỷ lệ này cao hơn hiệu quả của nhiều loại thuốc tổng hợp!  2. Số người tin dùng dược phẩm với hoạt chất thiên nhiên càng lúc càng nhiều vì:  • Thuốc cây cỏ muốn được lưu hành cũng phải trải qua quy trình sản xuất và kiểm định gắt gao như với dược phẩm tổng hợp.  • Tác dụng của dược phẩm thảo mộc được chứng minh trên lâm sàng cũng như trong thực nghiệm trước khi đến tay người tiêu dùng.  • Thuốc dựa vào hoạt chất thiên nhiên rõ ràng ít có phản ứng phụ bất lợi hơn dược phẩm tổng hợp.  Hơn nữa, muốn chê thuốc dược thảo cũng không còn dễ dàng như xưa. Các nhà nghiên cứu kéo dài hơn 5 năm ở đại học Rostock đã chứng minh rằng dược thảo, nếu xét về mặt cơ chế tác dụng, có nhiều lợi điểm hơn hóa chất tổng hợp, nhờ tác dụng cộng hưởng của nhiều thành phần phân bố hài hòa trong cây thuốc. Một phác đồ điều trị với hoạt chất riêng biệt từ nhiều thành phẩm khác nhau khó tránh khỏi nhược điểm của phản ứng tương tác phức tạp. Ngược lại, việc kiểm soát phản ứng phụ sẽ đơn giản hơn nhiều nếu ứng dụng hoạt chất trong cùng một cây thuốc.  Mặt khác, không nên vì lời “đường mật” trong các đoạn trên mà vội vàng áp dụng cây thuốc một cách cường điệu. Khoa Dược của đại học Wiesbaden hoàn toàn có lý khi khuyến cáo người bệnh đừng quên:  • Chọn lọc dược phẩm bảo đảm về chất lượng qua nhà sản xuất có uy tín, có cơ sở đạt tiêu chuẩn quốc tế như ISO, GMP …  • Áp dụng thật đúng chỉ định điều trị dưới sự kiểm soát chặt chẽ của thầy thuốc. Nếu nhiều loại thuốc dược thảo rõ ràng hữu dụng trong lĩnh vực nhi khoa, niệu khoa, tiêu hóa, nội thần kinh, phụ khoa, đặc biệt để chống cảm cúm, để điều chỉnh rối loạn chức năng vì nguyên nhân thần kinh thực vật … thì dược phẩm với hoạt chất thiên nhiên cần được áp dụng dè dặt hơn trong trường hợp bệnh nghiêm trọng đòi hỏi phải có sự theo dõi chuyên khoa như suy tim, ung thư, bội nhiễm cấp tính …  • Tìm thầy thuốc biết cách phối hợp dược thảo đúng mức và đúng cách để giảm bớt gánh nặng hóa chất trong phác đồ điều trị. Giảm thiểu không đồng nghĩa với thay thế hoàn toàn khi chưa đúng lúc.  Giữ cho đúng lẽ công bằng? Nói nghe rất dễ. Khi nhập cuộc mới biết khó trăm bề. Trong nghề làm thuốc cũng thế. Đúng là không ít thầy thuốc vì quá coi trọng tác dụng nên lơ là tính an toàn của dược phẩm. Cũng không thiếu nhà điều trị vì thói quen đặt nặng hiệu quả trước mắt nên quên phản ứng phụ về lâu về  dài.  Nhưng thực trạng đó sẽ không thể nào tiếp tục đứng vững, khi cái giá phải trả của người bệnh vì độc tính của thuốc càng lúc càng cao. Đã đến lúc sức khỏe của người bệnh phải là bên trọng. Đã đến lúc quyền lợi của hãng thuốc, của thầy thuốc phải là bên khinh. Có thế mới đúng nghĩa công bằng.  Giáo Sư Bùi Chí Hiếu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bệnh án điện tử: Nguồn dữ liệu lớn vô giá của y học      Từ vài năm gần đây, bệnh án điện tử (BAĐT) được đề cập đến như nguồn dữ liệu quý báu, có khả năng dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu y học. Việc nghiên cứu BAĐT được đánh giá là cách làm hiệu quả để kết nối các nghiên cứu trong hai lĩnh vực Tin sinh học (Bioinformatics) với Tin y học (Biomedical Informatics).    Bệnh án điện tử là gì?  Mỗi người bệnh khi nằm viện đều bắt buộc phải có một bệnh án. Bệnh án ghi lại dữ liệu và thông tin về người bệnh, từ dữ liệu cơ bản như tên tuổi, giới tính, bệnh sử… đến dữ liệu lâm sàng (thu được qua “vọng văn vấn thiết” như lời khai bệnh, triệu chứng bác sĩ thấy khi khám bệnh, thuốc được chỉ định dùng…) và dữ liệu cận lâm sàng (như kết quả xét nghiệm, phim X-quang, chụp cắt lớp hay cộng hưởng từ MRI). Bệnh án cũng chứa các thông tin như chẩn đoán, xếp giai đoạn bệnh và phương án điều trị của bác sĩ khi người bệnh nhập viện, và diễn biến điều trị. Bệnh án được bổ sung hằng ngày và dùng để theo dõi suốt thời gian người bệnh nằm viện, cũng như lấy ra tham khảo khi người bệnh đến viện lần sau. Lâu nay các bệnh án được viết trên giấy, giữ trong kho, và chủ yếu dùng riêng cho từng người bệnh.  Từ vài năm gần đây, với tiến bộ của công nghệ thông tin (CNTT), các bệnh viện ở nhiều quốc gia đang dần tạo ra bệnh án điện tử (BAĐT). Nói nôm na đây là các bệnh án được số hóa. BAĐT chứa dữ liệu cơ bản về người bệnh như lâu nay vẫn có trong các hệ thông tin bệnh viện. Ngoài ra, dữ liệu và thông tin lâm sàng, cận lâm sàng được ghi chép, tạo trực tiếp bởi bác sĩ và y tá hoặc chuyển từ các máy đo chụp của bệnh viện vào máy tính, được tổ chức và lưu giữ theo các chuẩn CNTT của ngành y.  Tại sao bệnh án điện tử là nguồn dữ liệu lớn vô giá?  Bệnh án điện tử hiện là câu chuyện thời sự của y học, được xem là nguồn dữ liệu vô giá dẫn đến thay đổi trong chăm sóc sức khoẻ và nghiên cứu y học. Sở dĩ vậy vì từ cổ chí kim các tri thức y học phần lớn được con người tìm ra do phân tích và khái quát những gì thấy và thu thập khi khám chữa bệnh. Chính những gì các thầy thuốc ‘thấy và thu thập khi khám chữa bệnh’ ấy lâu nay được viết và lưu giữ trong các bệnh án. Bệnh án trên giấy giữ thông tin của từng người bệnh và chủ yếu dùng cho chính người bệnh đó. Ngược lại, bên cạnh việc được dùng như các bệnh án giấy một cách thuận tiện, BAĐT còn có giá trị rất lớn với y học. Khi rất nhiều BAĐT được phân tích và so sánh bằng máy tính, ta có thể phát hiện ra những tri thức y học mới cũng như kiểm nghiệm lại các tri thức y học đã có, vốn được tìm ra khi chưa ai quan sát được nhiều người bệnh như ngày nay với BAĐT. Đây là lý do để BAĐT được coi là nguồn tài nguyên vô giá cho sự phát triển của chăm sóc sức khoẻ và nghiên cứu y học.  Trong BAĐT, phần dữ liệu lâm sàng tức các văn bản lâm sàng, có giá trị đặc biệt. Văn bản lâm sàng ở đây gồm các phiếu điều trị (ghi chép các nhận định và y lệnh hàng ngày của bác sĩ), phiếu chăm sóc (ghi chép trong ngày của y tá về tình trạng người bệnh), và hồ sơ xuất viện (ghi chép tổng hợp thông tin khám và điều trị khi người bệnh ra viện).  Dữ liệu lớn là những tập dữ liệu rất lớn và phức tạp, đến mức các công nghệ đang có chưa đủ để khai thác được chúng1. Với cách hiểu như vậy ta có thể nói BAĐT là nguồn dữ liệu lớn vô giá. BAĐT là dữ liệu lớn vì trước hết dù sớm hay muộn rồi đây mọi bệnh án sẽ chỉ ở dạng điện tử và số BAĐT sẽ rất nhiều do được tích luỹ theo năm tháng và liên kết từ nhiều bệnh viện (sau khi lọc bỏ các thông tin cá nhân), và hơn nữa các văn bản lâm sàng rất phức tạp do sự phức tạp của ngôn ngữ con người, do gắn với tri thức y học ẩn trong các chẩn đoán và quyết định của bác sĩ, cũng như gắn với bí ẩn của sự sống.  Tạo ra bệnh án điện tử thế nào?  Ngay sau khi trở thành Tổng thống, năm 2009, Barack Obama đã yêu cầu nước Mỹ chuẩn hóa và số hóa mọi bệnh án trong bệnh viện, và yêu cầu “trong vòng 5 năm, mọi bệnh án của nước Mỹ phải được số hóa”.  Ở Nhật Bản, chính phủ có chính sách ưu tiên để xây dựng BAĐT tại các bệnh viện cỡ lớn và vừa. Tính đến năm 2011, 51,5% trong số 822 bệnh viện cỡ lớn (hơn 400 giường bệnh) ở Nhật đã xây dựng BAĐT; 27,3% trong số 1832 bệnh viện cỡ vừa (200-399 giường bệnh) đã có BAĐT; và 13,5% trong số 5951 bệnh viện cỡ nhỏ (dưới 200 giường bệnh) có BAĐT.  Hai yếu tố quan trọng đầu tiên của việc tạo BAĐT là chuẩn hoá ngôn ngữ khám chữa bệnh và thói quen ghi chép hàng ngày trên máy tính của các bác sỹ và y tá. Chuẩn hóa ngôn ngữ khám chữa bệnh có vai trò nền tảng cho BAĐT trong tương lai. Sở dĩ vậy vì khi đọc từng bệnh án trên giấy các bác sĩ có thể hiểu dù các triệu chứng được mô tả bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, nếu các văn bản lâm sàng được mô tả theo một ngôn ngữ được chuẩn hóa bởi các bác sĩ và ngành y, việc khai thác sử dụng BAĐT trong tương lai sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.  Việc xây dựng BAĐT dựa rất nhiều vào nhận thức của các cấp quản lý ngành y về tính tất yếu và vai trò của BAĐT trong tương lai, cũng như chủ trương, nỗ lực và đầu tư kinh phí của các bệnh viện để xây dựng hệ thông tin với BAĐT.  Theo chúng tôi biết, bệnh viện đa khoa Vân Đồn (Quảng Ninh) là cơ quan y tế đầu tiên ở ta có một hệ thông tin hiện đại với BAĐT hoàn chỉnh, xây dựng từ phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện MEDI SOLUTIONS của Công ty Công nghệ Phần mềm Hoa Sen (http://hoasensoft.com/). Từ đầu năm 2013 đến nay, tất cả bệnh án của Bệnh viện đa khoa Vân Đồn đều đã được tạo ra trên máy tính, với ghi chép lâm sàng chi tiết hằng ngày của bác sĩ và y tá về từng người bệnh. Một số bệnh viện khác cũng đang từng bước xây dựng hệ thông tin với BAĐT như Bệnh viện Phụ Sản-Nhi Đà Nẵng (9.2014), Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả (3.2014), Bệnh viện Sản-Nhi Hưng Yên (4.2104), Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM…  Khai thác bệnh án điện tử  Dù vô giá các BAĐT sẽ mãi vẫn chỉ là nguồn tài nguyên nếu không được khai thác và sử dụng. Dẫu là một việc khó, khai thác BAĐT chính là con đường quan trọng từ nay về sau trong nghiên cứu y học.  Nền tảng của khai thác BAĐT là khai thác các văn bản lâm sàng. Khi nói BAĐT được số hóa không có nghĩa văn bản trong BAĐT được chuyển thành các con số và có thể tính toán được trên chúng. Các con số này chỉ là mã của các chữ cái trong các văn bản và không tính toán được với chúng như những con số thông thường, trong khi đích của việc khai thác là máy tự động hiểu được nghĩa các văn bản này. Các ghi chép của bác sĩ và y tá trong các BAĐT, xét về phương diện ngôn ngữ, là một loại văn bản đặc biệt. Chúng thường ngắn gọn, mang tính trần thuật, không tuân theo các quy ước ngữ pháp và ngôn ngữ một cách chặt chẽ, và chứa rất nhiều thuật ngữ y học, tải theo nhiều tri thức của ngành y ẩn trong các nhận xét, quyết định của bác sĩ.  Việc phân tích văn bản lâm sàng của BAĐT ở mức cú pháp phải làm riêng cho từng ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nhật…). Có thể thấy điều này qua những bước đi đầu trong khai thác BAĐT tiếng Anh và tiếng Nhật. Các quốc gia đi trước này đều hiểu rằng để khai thác được nguồn BAĐT của mình, điều tiên quyết là phải xử lý và chuyển các văn bản lâm sàng về các dạng sẵn sàng cho nhiều người làm nghiên cứu khai thác.  Tại Mỹ, từ năm 2006, Trung tâm Quốc gia về Tính toán Y-Sinh I2B2 (https://www.i2b2.org) hàng năm tổ chức các cuộc thi tìm phương pháp phân tích văn bản lâm sàng của BAĐT tiếng Anh, gọi là các Thách-thức (Challenges). Mỗi Thách-thức cung cấp một số BAĐT và một nhiệm vụ phân tích cụ thể. Mỗi năm thường xuyên có trên dưới 100 nhóm nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới đăng ký tham gia đề xuất giải pháp và gửi kết quả phân tích, và những giải pháp tốt được chọn lọc để công bố rộng rãi và giới thiệu ở một hội thảo quốc tế.  Tại Nhật, Viện Tin học Quốc gia NII gần đây cũng chủ trì các hội thảo MedNLP nhằm tạo nền tảng cho nghiên cứu và khai thác BAĐT tiếng Nhật. Cuộc thi đầu tiên MedNLP1 năm 2013 đặt vấn đề phát hiện và lọc bỏ các thông tin riêng tư của người bệnh (về tuổi tác, giới tính, quê quán, tên…) trong BAĐT và MedNLP2 năm 2014 nhằm phân tích tự động mô tả bệnh của người bệnh cũng như nhận định của bác sĩ và chuẩn hoá chúng theo mã bệnh ICD10.  Khai thác bệnh án điện tử tiếng Việt  Cùng lúc các BAĐT tiếng Việt bắt đầu được xây dựng ở một số bệnh viện, từ giữa năm 2013, nhóm nghiên cứu về Học Máy và Ứng dụng của Viện John von Neumann (JVN) thuộc ĐHQG TP.HCM phối hợp với Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) tại Hà Nội, và các cộng tác viên từ một số bệnh viện, viện nghiên cứu và đại học đã xây dựng một chương trình nghiên cứu nhằm phát triển các phương pháp và phần mềm công cụ cơ bản cho việc khai thác BAĐT tiếng Việt.  Chương trình này gồm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 nhằm xây dựng một số công nghệ nền và thiết yếu để xử lý và chuyển BAĐT gốc tiếng Việt về các dạng trung gian và ứng dụng thử nghiệm. Giai đoạn 2 nhằm sử dụng BAĐT ở các dạng trung gian để tìm lời giải của một số bài toán quan trọng trong nghiên cứu y học và chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam. Chương trình BAĐT đã được ĐHQG TP.HCM tài trợ ở bước đầu, nhằm tạo ra những kết quả cần thiết cho những bước đi tiếp theo.  Hai vấn đề được chọn lọc để nghiên cứu thử nghiệm gồm hệ thống hỗ trợ chẩn đoán bệnh và nghiên cứu mối quan hệ bệnh – thuốc dựa vào BAĐT.  Hỗ trợ chẩn đoán bệnh bằng máy tính là một bài toán truyền thống của tin-y học (medical informatics) nhiều chục năm qua. Các hệ chuyên gia (expert systems) với kỹ thuật suy diễn (deduction) dựa vào tri thức y học của con người được kỳ vọng rất nhiều từ mấy chục năm qua đã không thành công, chủ yếu vì con người không biểu diễn được trong máy tính các tri thức y học phức tạp của con người vào. Ngược lại, khi dùng các kỹ thuật học máy (machine learning) theo quy nạp (induction) với BAĐT, máy tính có thể hỗ trợ hiệu quả con người trong công việc phức tạp này. Hình dung khi ta có rất nhiều BAĐT và cần chẩn bệnh cho một người bệnh mới, máy tính sẽ tìm ra một vài BAĐT của những người đã được khám chữa có triệu chứng giống nhất với người bệnh này. Những chẩn đoán (sai hoặc đúng) và phương pháp điều trị (thành công hay thất bại) từ các BAĐT đã biết sẽ gợi ý cho ta chẩn bệnh và cách chữa cho người bệnh mới.  BAĐT có triển vọng to lớn trong nghiên cứu quan hệ bệnh-thuốc. BAĐT là nguồn dữ liệu quý cho phép phân tích hiệu quả sử dụng thuốc để đánh giá phương pháp điều trị, mức độ tác dụng của thuốc trên các nhóm người bệnh, tương tác giữa các loại thuốc, phát hiện các hiệu ứng phụ khi dùng đồng thời nhiều loại thuốc, phát hiện các tác dụng mới từ các loại thuốc sẵn có…  Bệnh án điện tử và tin-y-sinh (biomedical informatics)  BAĐT đang trở thành một ‘hạ tầng cơ sở’ mới và tất yếu của ngành y. BAĐT có thể thay đổi hiệu quả việc khám chữa bệnh và nghiên cứu y học nếu ta xây dựng và khai thác được chúng. Ngoài hai hướng chọn lọc để nghiên cứu thử nghiệm kể trên, BAĐT còn có vai trò rất lớn trong nhiều vấn đề của y học như nghiên cứu các phương pháp điều trị can thiệp (intervention), hội chẩn từ xa qua mạng máy tính cho các trường hợp khó nhằm hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới, phát hiện các bệnh lạ hoặc dịch bệnh mới một cách nhanh chóng…  Khoa học và kỹ thuật tính toán là việc dùng toán học và tin học để giải quyết các bài toán trong các khoa học khác2. Cùng với lĩnh vực tin-sinh học đang được bàn luận và kỳ vọng, nghiên cứu xây dựng và khai thác BAĐT tiếng Việt là xây con đường dài tất yếu của y học Việt Nam. Đường tuy dài nhưng có khả năng sớm đi đến những ứng dụng thực tế trong khám chữa bệnh. Nghiên cứu BAĐT cũng mở một con đường kết nối tin-sinh học với tin-y học vì sinh học và y học hiện đại luôn gắn bó chặt chẽ với nhau như những gì ta thấy trong lĩnh vực tin-y-sinh (biomedical informatics).  ————————————————————-  Chú thích:  1.    Dữ liệu lớn: Cơ hội và thách thức lớn http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=2&News=6103  2.    Phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán ở Việt Nam: Bài học và ý kiến http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=2&News=5916       Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Bệnh dịch học: Mỹ không ngại cúm gia cầm? 10:12:32 27/04/2006      Các chuyên gia hàng đầu về bệnh dịch của Mỹ cho rằng virut cúm khó có thể xâm nhập dễ dàng vào Mỹ như trường hợp ở các nước đang phát triển. Mặc dù virut H5N1 có thể lây lan qua các biên giới quốc gia với những con chim di cư mang bệnh nhưng cho đến nay Mỹ vẫn được coi là địa điểm “tương đối an toàn” đối với bệnh dịch cúm gia cầm.    Mặc dù nhiều chuyên gia cho rằng virut H5N1 sẽ xâm nhập vào nước Mỹ trong năm nay nhưng Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ nhấn mạnh rằng: “Hệ thống theo dõi và kiểm soát bệnh dịch của Mỹ khá dày đặc, do đó tình trạng virut cúm gia cầm xâm nhập vào Mỹ không thể dễ dàng như vào Nigeria hay Indonesia”. Nông dân Mỹ thường chăn nuôi gia cầm trong các trang trại kín để tránh tiếp xúc với chim di cư. Điều này hạn chế khả năng truyền nhiễm virut H5N1 tới đàn gia cầm của Mỹ xuống mức thấp nhất.  Virut H5N1, thủ phạm chính gây ra dịch cúm gia cầm hiện đã có mặt trên hầu hết các đại lục và đã giết chết 109 người (tính đến đầu tháng 4/2006), phần lớn số nạn nhân thuộc Châu Á. Hơn 200 triệu gia cầm ở Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ như gà, vịt, gà tây… cũng đã bị tiêu diệt vì dịch cúm gia cầm. (AP)  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bệnh gian dối tràn lan trong giới nghiên cứu Trung Quốc      Nhà sinh học phân tử, nhà báo tự do Phương Thị Minh, với bút danh Phương Chu Tử, tự đặt cho mình nhiệm vụ chống tệ nạn “đạo văn” trong khoa học. Năm ngoái, khi săm soi hồ sơ khoa học của GS Lưu Huy, trợ lý trưởng khoa Y, ĐH Thanh Hoa, Phương để ý thấy trong đó có một nghiên cứu về sinh học phân tử của HIV – lĩnh vực không hề liên quan tới ngành phẫu thuật của Lưu Huy. Thực ra đó là công trình của một Hoa kiều ở Mỹ cũng có tên là Lưu Huy. Phát hiện của Phương được công bố lên internet. Vài tháng sau, trường ĐH Thanh Hoa lặng lẽ đuổi Lưu Huy.    Sự việc trên chỉ là một trong hàng loạt các vụ tai tiếng trong giới khoa học. Tháng 3 năm nay, hơn 100 nhà khoa học hàng đầu đã ký vào bức thư ngỏ thúc giục chính phủ đấu tranh với nạn gian dối trong khoa học. Cùng thời điểm đó, tờ Tuần tin tức Trung Quốc (Trung Quốc tân văn chu san) đăng chuyên đề 12 trang “Tiêu cực bất thường trong đào tạo sau đại học”, nêu hàng chục trường hợp đạo văn, quảng cáo bán luận văn trên mạng, trả tiền cho tạp chí chuyên ngành để đăng bài.  Vài tuần trước khi bức thư ngỏ của các nhà khoa học được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, ông Nhiệm Ngọc Linh, quan chức cấp cao của Quốc Vụ Viện và của chính phủ Trung Quốc cũng đã công bố một điều tra của chính phủ trên 180 tiến sĩ, trong đó có tới 60% nói đã từng trả tiền để tạp chí chuyên ngành đăng bài của mình. Số thú nhận từng copy công trình của người  khác cũng chiếm tỉ lệ tương tự.  Những nỗ lực chống gian dối trong khoa học đó đã thu được một số kết quả tích cực ban đầu. Bộ Giáo dục đã tuyên bố thành lập một ủy ban chống tiêu cực, quy định mức độ xử lý với những người vi phạm. Ngay sau đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng tuyên bố sẽ lập hồ sơ lưu trữ vĩnh viễn về những nhà khoa học “dởm”.  Vạch trần gian dối  Khi những nỗ lực chống gian dối trong khoa học của chính phủ Trung Quốc chưa mạnh, thì các “công dân mạng” đã vào cuộc. Đầu tiên phải kể đến website Phê bình học thuật, nơi tràn ngập những bài tố cáo gian dối trong giới khoa học Trung Quốc.  Trên website này, nhiều học giả, thậm chí cả sinh viên cao học đã xem việc “vạch trần” như một sở thích.  Phương Chu Tử thì cho rằng các trường đại học phản ứng rất chậm chạp hoặc bó tay trước tệ gian dối, và chỉ buộc hành động khi có một trường hợp nào bị “lật tẩy”. Phương tính rằng, 4 năm qua, mình đã vạch trần khoảng 500 trường hợp “trái đạo đức khoa học”. Theo Phương, trường hợp bị đuổi việc của Lưu Huy là ” một ngoại lệ”. ĐH Thanh Hoa đã không làm gì khi biết ông này gian dối, chỉ khi sức ép dư luận quá lớn, họ mới sa thải Lưu Huy. Ngược lại, một phó giáo sư khoa Sinh của ĐH Thanh Hoa, sau khi bị tố cáo đã liệt kê bảy công trình nghiên cứu ma trong hồ sơ  khoa học, thì không những không bị kỷ luật mà còn được đề bạt làm giáo sư chính thức.  “Thậm chí nếu có ai “bị lộ”, nhà trường thường cố gắng che dấu – đặc biệt cho những nhân vật lớn – để bảo vệ danh tiếng và nguồn thu cho trường mình” – Phương Chu Tử phát biểu – “Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc có quyền lực rất lớn. Họ có thể mang rất nhiều tiền về cho trường đại học, vì thế trường ra sức bảo vệ họ”. Phương đã vạch trần 20 viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc vì đạo văn hay trái đạo đức khoa học, song không một ai bị xử lý chính thức.  Nguồn gốc căn bệnh  Nhiều học giả cho rằng tệ gian dối trong giới nghiên cứu có gốc rễ sâu sa từ giáo dục phổ thông. Năm 1964, trong một buổi nói chuyện, người đứng đầu nước Trung Quốc thời bấy giờ đã phê phán chế độ thi cử và coi việc nhắc bài trong kỳ thi là “cũng có điểm tốt”. Mấy năm gần đây, trong giới sinh viên Trung Quốc còn rộ lên việc thuê “tay súng” (người thi hộ). “Tay súng” có mặt ở đủ mọi loại kì thi, kể cả các kì thi theo chuẩn quốc tế như IELTS hay GRE. Một trang web đưa nêu giá: 2.000 tệ thuê “tay súng”, 4.000 tệ cho đề trước khi thi, 1.200 tệ cho việc nhắc lời giải bằng một thiết bị không dây nhỏ xíu.  Nhà trường Trung Quốc không giáo dục học sinh ý thức về đạo văn. Học sinh phải mất quá nhiều thời gian để học thuộc, thay vì tìm hiểu. Học sinh phổ thông thì hoàn toàn không được đào tạo kĩ năng viết bài nghiên cứu. Thậm chí một số giáo sư còn khuyến khích sinh viên thực hiện một kiểu đạo văn trá hình. Một sinh viên khoa Ứng dụng Công nghệ của ĐH Bắc Kinh kể đã được giáo viên dạy cho cách copy sao cho người khác không nhận ra.  Nhiều người cũng lo lắng, việc chính phủ Trung Quốc nỗ lực tạo ra hàng loạt “trường đại học đẳng cấp quốc tế” sẽ khiến căn bệnh gian dối thêm lan tràn. Theo quy định, nghiên cứu sinh và giáo sư phải công bố một số lượng nhất định các nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành. Việc tăng lương, thăng chức của họ phụ thuộc vào số lượng các bài báo hơn là vào chất lượng. Vì thế mà đã có hàng loạt các nghiên cứu vội vã, hay nghiên cứu “bẩn” ra đời. Thậm chí có người trong một năm đã công bố mấy chục nghiên cứu. Đòi hỏi về số lượng công trình nghiên cứu đã hình thành nên một chợ đen các bài báo khoa học, các giáo sư có thể mua bài để đăng. Theo thông kê của tờ “Tuần tin tức Trung Quốc”, hằng năm các tạp chí khoa học của Trung Quốc chỉ có thể đăng được khoảng 300.000 bài, trong khi đó, các nhà nghiên cứu có thể sản xuất được tới 530.000 bài.  Có ý kiến cho rằng, nỗ lực tạo ra trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc hiện nay giống như cuộc “Đại nhảy vọt” hồi cuối năm 50, mà kết quả của nó không chỉ là những sản phẩm tồi, mà còn là thảm họa. “Không thể làm tăng số lượng nghiên cứu theo kiểu phong trào chỉ để giữ chỗ làm” – Ông Đường An Quốc, viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục sau đại học của ĐH Sư phạm Hoa Đông Thượng Hải phát biểu.  Một số trường hợp gian dối bị phát hiện gần đây  -Dương Kiệt, viện trưởng Viện khoa học Sự sống và Kỹ thuật thuộc ĐH Đồng Tế, bị cách chức viện trưởng vì ngụy tạo hồ sơ khoa học, nhưng vẫn giữ chức danh giáo sư.  -Thẩm Phú Vĩ, phó giáo sư ngữ văn của trường Ngoại ngữ Thiên Tân, bị đuổi việc vì “đạo” 10 bài báo trong sách của mình.  -Hồ Hưng Vinh, giáo sư khoa Báo chí của ĐH Sán Đầu, bị thôi việc năm 2005 vì “đạo” một bài báo.  -Chu Diệp Trung, giáo sư Luật ĐH Vũ Hán, năm 2005 bị tố cáo đã sao chép tác phẩm của học giả nổi tiếng Vương Thiên Thành. Vương Thiên Thành đã khởi kiện Chu, song vụ việc vẫn chưa ngã ngũ. ĐH Vũ Hán không có phản ứng gì.  -Khâu Tiểu Khánh, GS khoa Sinh, ĐH Tứ Xuyên, năm 2003 bị tố cáo đã đăng một nghiên cứu dởm trên tờ “Tự nhiên và Công nghệ sinh học”. Trường ĐH Tứ Xuyên vẫn đang điều tra.  -Hoàng Tôn Anh, GS khoa Anh ngữ, ĐH Bắc Kinh, bị đuổi việc vì xuất bản một cuốn sách có tới 2/3 là  “đạo” của T.S Eliot.  -Vương Minh Minh, GS khoa Nhân loại học của ĐH Bắc Kinh, năm 2004 bị điều chuyển khỏi vị trí công tác vì “đạo” vài phần trong cuốn sách nổi tiếng “Văn hóa nhân loại học” của W. A. Haviland.  Theo Chronicle of Higher Education  —————–  CHÚ THÍCH ẢNH: Phương Chu Tử  VIỆT ANH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bệnh truyền nhiễm gia tăng nhanh chóng: Nguy hại từ con người      Lịch sử vẫn in hằn dấu vết của những đợt bùng phát dịch bệnh từ động vật, với tần suất ngày càng dày hơn. Tại sao vậy? Và chúng ta học được gì để phòng tránh tốt hơn?      Bích họa “Chiến thắng tử thần” của họa sĩ vô danh tại Sicily năm 1445. Cái Chết Đen quét qua Âu châu, giết chết 34-50 triệu người, tức khoảng một phần ba đến một nửa dân số khi đó. Ảnh: Werner Forman, Universal/ Getty.  Khi hàng chục tàu buôn từ Biển Đen cập cảng Messina, Sicily vào tháng 10/1347, họ chở theo một thứ hàng hóa chết chóc sẽ đổi hướng bánh xe lịch sử  Hầu hết các thủy thủ trên tàu đều đã chết. Số ít còn sống sót nổi đầy những mụn mủ đen rỉ dịch khắp cơ thể. Mặc dù các nhà chức trách ra lệnh tất cả bọn họ ở lại trên thuyền, nhưng lũ chuột không phục tùng – chúng rời tàu lên đảo. Chúng đem theo những con bọ chét ký sinh nhiễm vi khuẩn Yersinia pestis gây bệnh dịch hạch.  Trong năm năm tiếp đó, Cái Chết Đen quét qua Âu châu, giết chết 34-50 triệu người, tức khoảng một phần ba đến một nửa dân số khi đó. Các học giả tại Đại học Paris khi đó đã đổ lỗi cho bộ ba chiêm tinh sao Thổ – sao Mộc – sao Hỏa.   Gần bảy thế kỷ sau, một đại dịch khác đang hoành hành. Lần này, các nhà khoa học biết được nguyên nhân của nó. Ngày nay, lý thuyết mầm bệnh hiện đại và công nghệ giải trình tự gene tiên tiến là các công cụ giúp con người tìm ra điểm yếu của virus gây đại dịch và hạn chế sự lây lan. Tuy vậy, COVID-19 vẫn giết chết 4.8 triệu người, và các chuyên gia tin rằng con số thực tế còn cao hơn nhiều.   Những căn bệnh mới xuất hiện và những đợt bùng phát chết người đã thách thức sự tồn tại của loài người trong suốt tiến trình lịch sử, tác động sâu sắc đến kinh tế, văn hóa và thương mại, giết chết các nhà lãnh đạo thế giới, hạ bệ các đế chế, theo David Morens, chuyên gia bệnh học trên động vật từ viện quốc gia về dị ứng và bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ NIAID. Nhiều loại virus và vi khuẩn đã tồn tại suốt hàng thiên niên kỷ mà không gây hại trên diện rộng. Nhưng hành vi của con người đã thay đổi điều đó. “Rất ít người biết được rằng bệnh sởi, dịch hạch và các bệnh khác đã có lịch sử hàng nghìn năm, từ thời đồ đá mới”, ông nói.  Các quy luật sinh học không thay đổi, nhưng sự gia tăng dân số, toàn cầu hóa và hủy hoại môi trường đều gia tăng nhanh chóng thúc đẩy các bệnh dịch phát triển.  Kết quả là các bệnh dịch nguy hiểm xuất hiện với tốc độ chưa từng thấy, bao gồm virus Marburg, cúm gia cầm, AIDS, SARS, virus Nipah, cúm lợn, Ebola, bệnh Lyme, chikungunya, Zika, sốt xuất huyết dengue, sốt Lassa, sốt vàng, và bây giờ là COVID-19. Khoảng 2.5 tỷ người nhiễm các bệnh từ động vật mỗi năm, và bởi vì nhiều căn bệnh chưa có thuốc điều trị, nên đã có 2.7 triệu người tử vong hằng năm, theo số liệu của CDC Hoa Kỳ.      Các quy luật sinh học không thay đổi, nhưng sự gia tăng dân số, toàn cầu hóa và hủy hoại môi trường đều gia tăng nhanh chóng thúc đẩy các bệnh dịch phát triển.      Không tốn nhiều thời gian để lan rộng như trong những thế kỷ trước, ngày nay, người nhiễm bệnh có thể lên máy bay rồi phát tán mầm bệnh khắp thế giới trước khi họ xuất hiện các triệu chứng. COVID-19 xuất phát từ Trung Quốc 21 tháng trước, và đã lan ra 223 quốc gia và vùng lãnh thổ. Con người cũng tạo điều kiện cho bọ ve và muỗi mang mầm bệnh mở rộng phạm vi sinh sôi vì đã gây ra biến đổi khí hậu. Khi hành tinh ấm lên, những loài côn trùng này di chuyển đến lãnh thổ mới.  “Hầu hết các chuyên gia mà tôi biết đều nghĩ rằng các dịch bệnh mới sẽ tiếp tục xảy ra lặp đi lặp lại, bởi vấn đề không nằm ở mầm bệnh. Vấn đề hẳn là hành vi của con người?” Morens nói.   Cách mạng đồ đá mới  Từ góc nhìn về mầm bệnh, con người bắt đầu trở thành các vật chủ dễ tổn thương từ 12,000 năm trước trong thời kỳ đồ đá mới. Những nhóm du mục nhỏ lẻ hiếm khi tiếp xúc với người khác sẽ không thể sinh ra đại dịch. Nhưng kể từ khi những người săn bắn hái lượm chuyển sang quần cư nông nghiệp, các vi khuẩn lây nhiễm có điều kiện sinh sôi.   Có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sự lây nhiễm. Người định cư chia sẻ lãnh thổ với các loài thú hoang dã. Họ thuần hóa sói, rồi thuần hóa cừu hoang, dê, bò để làm vật nuôi. Kho chứa ngũ cốc là nơi thu hút các loài gặm nhấm nhiễm và bọ chét. Nước giếng và hệ thống tưới tiêu cho phép muỗi sinh sôi.  Tiếp xúc gần là cơ hội cho hoán đổi mầm bệnh và ký sinh trùng, cho phép các bệnh truyền nhiễm nhảy qua sự ngăn cách loài giữa người và động vật. Khoảng 60% mầm bệnh nguy hiểm nhất cho loài người có nguồn gốc từ động vật, bao gồm đậu mùa, tả, cúm. Timothy Newfield, nhà lịch sử dịch tễ tại Đại học Georgetown cho biết: “Một số mầm bệnh có thể đã nhiều lần nhảy từ loài này sang loài khác trước khi lây nhiễm thành công cho con người”.  Một số mầm bệnh sử dụng các trung gian chuyển đổi. Vật nuôi thường đóng vai trò như vậy, giữa động vật hoang dã với con người. Virus Nipah đã nhảy từ dơi ăn quả sang lợn thuần hóa rồi sang người tại Malaysia năm 1998. Vật nuôi đôi khi cũng trở thành ổ chứa mầm bệnh: vi khuẩn lao từ người gặp nơi trú ẩn thích hợp trên bò, rồi tiếp tục lan truyền giữa các loài.     Khu điều trị cách ly, được gọi là “lazaretto” (được đặt theo tên của Thánh Lazarus, trong Kinh thánh, bảo trợ những người bị bệnh phong) ở Naples, Italy, thế kỷ 14. Ảnh: cbc.ca  Đó vẫn là một trò chơi xúc xắc với các yếu tố quyết định gồm mức độ lây, cách thức lây và vật chủ thích hợp sẽ quyết định liệu căn bệnh mới nổi đó có bùng phát mạnh hay như hầu hết các trường hợp, thường dẫn tới làm chết vật chủ truyền nhiễm và ngừng lây (dead-end infection).  Ngày càng bùng nổ các đợt bùng phát   Các tư liệu lịch sử cho chúng ta thấy những ký ức về các đại dịch thời cổ đại. Các bảng chữ hình nên tại Lưỡng Hà, là các văn bản cổ nhất còn tồn tại, đã mô tả các bệnh dịch như dịch hạch vào những năm 2000 trước Công nguyên. Troels Pank Arbøll, nhà sử học về vùng Assyria từ Đại học Oxford, cho biết người cổ đại cho rằng các vị thần giận dữ đã gây nên dịch bệnh, hoặc đôi khi là do ác quỷ mà họ triệu hồi, gọi là “bàn tay của hồn ma”. Các thiên thể như sao Hỏa, được liên hệ với thần chết của người Assyria, có thể cảnh báo một dịch bệnh.  Các văn bản tượng hình mô tả cách các lang y chẩn đoán bệnh. Các thầy thuốc hoặc thầy pháp trừ tà kết hợp giữa khám sức khỏe và quan sát môi trường, bất cứ thứ gì, từ cánh cửa kêu cót két đến sự xuất hiện của các động vật. Cách di chuyển của chúng là dấu hiệu gợi ý tác động của chúng: bên phải – thuận lợi, bên trái – không tốt. Sau đó, họ tham khảo các tài liệu ghi chép điềm báo để pha chế và kê các thảo dược dưới dạng thuốc đắp hoặc đổ vào các lỗ trên cơ thể (miệng, tai, hậu môn, …). Họ tụng những câu thần chú và cầu nguyện để xoa dịu các vị thần và xua tan các triệu chứng bằng nghi thức nung chảy một bức tượng nhỏ của bệnh nhân trong lửa hoặc ném nó xuống sông.  Cảnh báo về chó dại là bệnh từ động vật nuôi duy nhất được nhắc đến trong các bảng chữ tượng hình. Tuy nhiên, còn có các bằng chứng cổ địa khác. Trong các mô tả của Ấn Độ, Trung Quốc và Ai Cập cổ đại có mô tả bệnh đậu mùa. Các nhà khảo cổ phát hiện xác ướp Pharaoh Ramses V năm 1898 đã nhận thấy da của ông có những vết sẹo rỗ. Nhờ bằng chứng này cùng với các bằng chứng thu thập được ở hai xác uớp khác, các nhà khoa học xác định được bệnh đậu mùa đã tồn tại ít nhất 3,000 năm. Các nhà nghiên cứu lưu ý nó có thể đã nhảy từ một loại virus gây bệnh đậu mùa ở loài gặm nhấm, và loài này cũng chính là ổ chứa cho virus đậu mùa trên bò và lạc đà.  Một trong những bệnh dịch đầu tiên được ghi nhân trong lịch sử là đợt dịch hạch bạo phát tại Athens đã tàn phá Hy Lạp cổ đại từ năm 430 đến 425 trước Công nguyên. Khi các khu định cư và thành phố mọc lên tạo điều kiện cho sự lây nhiễm, con người đã phát triển miễn dịch với các bệnh bản địa. Sau đó, họ bắt đầu du hành và vô tình lây lan vi trùng khắp thế giới trong một quá trình mà Morens gọi là “ô nhiễm mầm bệnh”.       Thời đại khai phá thuộc địa cũng chính là thời đại vi sinh vật tàn phá toàn cầu.      Một bệnh dịch đã theo đường biển đến Athens, tàn phá thành phố vốn có sẵn mọi điều kiện cho nó lây lan. Khi đó, Athens đang sa vào cuộc chiến với nước láng giềng Sparta khiến thành phố tràn ngập người tị nạn.   Sử gia Thucydides của Athens thời kỳ này đã kể lại các triệu chứng rất sống động. Đầu mọi người bốc hỏa vì sốt, miệng chảy máu, mắt đỏ hoe, họ ho, nôn mửa, bị kiết lỵ và gặp những cơn khát không thể kìm chế. Làn da ửng đỏ nổi lên những vết loét. Hầu hết họ chết trong vòng một tuần. Viết trong “Lịch sử chiến tranh Eloponnesia”, ông mô tả bệnh dịch “dường như vượt quá khả năng chịu đựng của thể chất con người”.   Ngay cả động vật ăn xác thối còn phải tránh né những cái thi thể chưa được chôn cất. Bóng ma chết chóc bao trùm thành phố, “thảm họa gây ra tình trạng vô pháp luật, cư dân thờ ơ mọi quy định tôn giáo và pháp luật”.  Bệnh dịch bí ẩn này vẫn chưa được xác định rõ, có thể là bệnh than, đậu mùa, sốt phát ban hoặc bất kỳ thứ gì trong hai chục loại bệnh khác nhau. Dù đó là gì, nó cũng đã giết chết hàng chục nghìn người, đẩy Athens vào tỉnh cảnh suy yếu và rơi vào tay Sparta năm 404 trước Công nguyên.   Làn sóng bệnh tật thay đổi bánh xe lịch sử  Trong vài thế kỷ tiếp theo, những làn sóng tàn phá của dịch hạch, sởi và đậu mùa giết chết rất nhiều người trên khắp ba lục địa Á-Âu-Phi. Lucie Laumonier, nhà sử học, Đại học Concordia tại Montreal cho biết “nó cho thấy thế giới được kết nối với nhau thế nào cách đây 2,000 năm. Con đường tơ lụa và các tàu buôn đã kết nối châu Âu với Bắc Phi và châu Á, tạo cơ hội cho vi sinh vật gây lây nhiễm, mỗi đợt bùng phát dịch bệnh lại làm thay đổi lịch sử nhân loại theo một cách”.   Các nghiên cứu đã cho thấy, dịch hạch có thể đã đẩy nhanh sự sụp đổ của nhà Hán vào năm 160 sau Công nguyên. Chỉ năm năm sau, quân đội La Mã trở về từ Tây Á đã đem theo một căn bệnh chưa rõ nguyên nhân: Dịch hạch Antonius. Nó giết chết Hoàng đế Marcus Aurelius cùng 5 triệu người La Mã và tàn phá đế chế, tác động đến cả quân sự và nông nghiệp, khiến ngân khố trống rỗng.  Dịch hạch Justinian đã tấn công kinh đô Constantinople (Istanbul ngày nay), trong thế kỷ VI, là đại dịch đầu tiên trong ba đại dịch dịch hạch bẹn và phổi. Chúng nằm trong danh sách những sự kiện sinh học chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, theo Timothy Newfield.  Sử gia Procopius của triều đại Justinian đã ghi chép cẩn thận: “có một trận dịch khiến cả nhân loại gần như diệt vong”. Ông khẳng định nó xuất phát từ Ai Cập thông qua đường vận chuyển lúa mì đến Constantinople. Điều đó khá hợp lý: các chuyến hàng ngũ cốc có thể đem theo bọ chét và động vật gặm nhấm chứa đầy mầm bệnh dịch hạch.  Đội quân Mông Cổ có thể là nguyên nhân gây ra đại dịch dịch hạch tiếp theo khi vô tình đưa những con chuột nhiễm bọ chét từ Trung Á sang Ucraine vào năm 1346 trong trận vây hãm Kaffa. Thậm chí các nhà sử học còn cho rằng quân Mông Cổ áp dụng chiến tranh sinh học: ném những xác chết do bệnh qua tường thành để lây nhiễm cho người bên trong. Tuy nhiên, ý kiến này bị nghi vấn vì bằng chứng còn hạn chế.   Tiếp đó, những người sống sót đã theo thuyền trốn chạy từ Biển Đen đến Genoa và Messina, mang đến Cái Chết Đen. Trong vòng ba năm, căn bệnh đã lan sang Anh, Đức và Nga.  Năm 1348, nhà thơ người Ý Giovanni Boccaccio đã mô tả dịch hạch là căn bệnh ập đến với nạn nhân nhanh như lửa bén vào cỏ khô hoặc dầu… những nốt đậu sưng trên bẹn hoặc dưới nách, đóng vảy sáp to bằng quả táo, hoặc quả trứng. Chúng chuyển sang màu tím đen, rỉ máu và mủ. Nạn nhân run rẩy vì sốt, đau nhức và khó tiêu.  Để cố gắng chữa chúng, các bác sĩ dùng phương pháp truyền máu hoặc gây mê. Hầu hết những người nhiễm bệnh đều nhanh chóng bị đánh gục. Newfield cho biết “quy mô tử vong vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta”.  Chỉ còn lại sự mê tín ngự trị. Một số người tin sự chuyển động của các thiên thể, không khí xấu, nước nhiễm độc đã gây ra dịch bệnh. Nhiều người nghĩ đó là hình phạt của đức Chúa. Một số kỳ thị người nước ngoài. Nhiều nhóm thiểu số khác nhau bị xua đuổi, tra tấn hoặc giết hại. “Tìm dê tế thần để đổ lỗi và trừng phạt là cách thức rất lâu đời”, Newfield nói  Chuột và bọ chét lại tiếp tục phát triển mạnh ở các thành phố không được thu gom rác thường xuyên. Chúng trú ẩn ở nơi ẩm ướt và nhấm nháp thức ăn thừa bị ném cho chó mèo. Không ai chú ý rằng chúng, cùng với chấy rận, có thể là vật mang mầm bệnh.  Trở lại châu Á, dịch hạch giết chết khoảng 16 triệu người. Cũng vì đại dịch đã hạn chế đi lại và giao thương nên khiến người Mông Cổ mất quyền kiểm soát Ba Tư và Trung Quốc, cuối cùng khiến đế chế suy tàn.  Kinh nghiệm phòng dịch thời cổ đại  Nỗi sợ lây lan trong đợt bùng phát dịch hạch thứ hai đã thúc đẩy các biện pháp ứng phó vẫn được áp dụng đến ngày nay. Năm 1377, tại cảng Ragusa do Cộng hòa Venice kiểm soát (nay là Dubrovnik, Croatia), các quan chức đã thiết lập một cơ sở bên ngoài thành phố để chữa trị cho người dân bị bệnh của thị trấn. Họ cô lập tất cả các con tàu và lữ khách trên bộ trong 30 ngày trước khi cho phép họ vào thành phố, rồi nâng lên thành 40 ngày, và từ đó, “quarantino”, số 40 trong tiếng Ý, mang ý nghĩa mới là cách ly. Những biện pháp này đã tạo ra nền tảng của sự giãn cách xã hội nhằm mục đích phòng bệnh thời Trung cổ.  Tuy nhiên, bệnh dịch hạch vẫn bùng phát và tái phát trong 400 năm tiếp theo. Một trận bùng phát dữ dội năm 1664 ở London với hình ảnh những “xe đẩy xác chết” chạy rầm rập dọc theo các con phố lát đá cuội cùng tiếng rao “mang xác chết nhà bạn ra đây” đã lưu danh cùng tên tuổi của nhóm kịch nghệ Monty Python. Đợt cuối cùng trong ba đại dịch dịch hạch là tại Vân Nam, Trung Quốc vào khoảng năm 1855 kéo dài đến tận năm 1960. Chính trong đợt dịch này, nhà khoa học Thụy Sĩ Alexandre Yersin đã tìm ra vi khuẩn gây bệnh năm 1894. Bốn năm sau, Jean-Paul Simond lần ra được chuỗi lây truyền từ loài gặm nhấm sang bọ chét rồi sang người. Khi bệnh dịch vượt qua Thái Bình Dương đến San Francisco năm 1900, giới chức trách đã bỏ qua các phát kiến khoa học mới nhất để tiến hành cách ly hàng loạt người nhập cư châu Á.  Năm 1897, các nhà khoa học đã phát triển một loại vaccine sơ khởi, sau đó một phiên bản tốt hơn xuất hiện năm 1931, và việc điều trị bằng thuốc kháng sinh tỏ ra hiệu quả vào năm 1947. Với các công cụ trong tay, bệnh dịch hạch ở người có thể được kiểm soát và các vụ bùng phát lớn ít có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, vi khuẩn dịch hạch vẫn lưu hành ngoài tự nhiên, và được phát hiện trên sóc chuột ở hồ Tahoe, California, buộc một số điểm du lịch phải đóng cửa.   Sự bùng phát của virus hiện đại  Nhiều loại virus khác nhau ám ảnh nhân loại, trong đó đậu mùa cũng là một loài virus gây chết chóc. Từ thời Ai Cập cổ đại, “con quái vật lốm đốm” này đã lây lan đến Cựu Thế giới, khiến những người sống sót bị sẹo kinh khủng hoặc mù lòa, và giết chết 25-40% nạn nhân, bao gồm pharaoh, quý tộc, hoàng gia: Thuận Trị của triều Thanh (1661), Nữ hoàng Mary II của Anh (1694), Hoàng đế Joseph I nhà Habsburg (1711), Sa hoàng Peter II của Nga (1730), và Louis XV của Pháp (1774) và nhiều người khác. Người ta cho rằng Hoàng đế Komei của Nhật cũng chết vì đậu mùa năm 1867. Nữ hoàng Elizabeth I của Anh và Tổng thống Abraham Lincohn của Mỹ may mắn sống sót sau khi bị bệnh.  Ngược lại, Tân Thế giới tương đối yên ổn hơn, có thể vì người bản địa ít thuần hóa động vật, nên mầm bệnh ít có cơ hội lây lan. Điều này đã kết thúc khi những người chinh phục mang dịch bệnh từ lục địa Á-Âu qua bên kia bờ Đại Tây Dương. Hueyzahautal – “vụ phun trào lớn”- của bệnh đậu mùa đã bùng phát tại Mexico năm 1520 và lan xuống Nam Mỹ, giết chết 3.5 triệu người, bao gồm Vua Cuitláhuac của Aztec và Vua Huayna Capac của Inca. Nó làm tê liệt hai đế chế và tạo điều kiện cho cuộc chinh phạt của Tây Ban Nha.  Morens cho biết: thời đại khai phá thuộc địa cũng chính là thời đại vi sinh vật tàn phá toàn cầu. Đáng chú ý, sự gia tăng theo cấp số nhân của dân số từ đầu những năm 1500 đã kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ của các đợt dịch bệnh nguy hiểm.  Năm 1793, Tổng thống Hoa Kỳ George Washington phải đối mặt với căn bệnh sốt vàng – “Dịch hạch Mỹ”, bùng phát khắp cả nước trong suốt sáu năm. Năm 1832, dịch tả từ Ấn Độ lan đến châu Âu, giết chết 18,000 người. Đại dịch cúm kinh hoàng năm 1918 vào cuối Thế chiến I giết chết ít nhất 50 triệu người toàn cầu. Từ năm 1900 đến nay, thế giới đã đối mặt thêm nhiều mầm bệnh mới như HIV, cúm lợn H1N1, virus Zika, và coronavirus.  Vậy mà chúng ta vẫn chưa xây dựng được chiến lược ngăn chặn đại dịch toàn cầu. Morens lưu ý kể từ khi COVID-19 xuất hiện cuối năm 2019, ngày càng nhiều cuộc thảo luận về nhu cầu giám sát chặt chẽ hơn, truyền thông quốc tế và phát triển vaccine. Nhưng có rất ít đề cập đến việc giảm thiểu hoạt động nguy hại từ con người làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh bao gồm phá rừng, xâm hại hệ sinh thái hoang dã và buôn bán, tiêu thụ, nuôi nhốt động vật hoang dã.□  Cao Hồng Chiến dịch   Nguồn bài và ảnh:  https://www.nationalgeographic.com/science/article/spillover-diseases-are-emerging-faster-than-ever-beforethanks-to-humans?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bệnh viện 108: Chẩn đoán, phát hiện virus MERS-CoV trong 3-4 giờ      Từ năm 2014, Khoa Sinh học phân tử và Viện lâm sàng các bệnh nhiệt đới thuộc Bệnh viện TƯ Quân đội 108 đã tìm ra phương pháp xác định mẫu bệnh phẩm có bị lây nhiễm virus MERS-CoV với độ chuẩn xác gần như tuyệt đối chỉ sau từ ba đến bốn tiếng đồng hồ.    Như vậy, ngoài bệnh viện Nhiệt đới trung ương, Bệnh viện TƯ Quân đội 108 là đơn vị thứ hai tại  Việt Nam có khả năng chẩn đoán, phát hiện  virus MERS-CoV, nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp cấp Trung Đông  (Middle East respiratory syndrome).   Theo nhận định của các nhà nghiên cứu, MERS-CoV (Middle East respiratory syndrome coronavirus) là chủng virus có độc lực mạnh, có khả năng lây nhiễm theo nhiều cách như từ lạc đà hoặc dơi sang người, người sang người và có khả năng gây tỷ lệ tử vong cao. Đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm đường hô hấp cấp Trung Đông rất gần với hội chứng viêm đường hô hấp cấp (Severe acute respiratory syndrome – SARS).  Trung tâm lưu trữ virus châu Âu (European virus archieve – EVA) là tổ chức đầu tiên chuẩn hóa được phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác khả năng lây nhiễm virus MERS-CoV thông qua việc khuếch đại và phát hiện hai gene đích. Do MERS-CoV là một chủng virus mới bùng phát nên ngoài phương pháp do Trung tâm lưu trữ virus EVA đề xuất, các cơ quan kiểm dịch quan trọng khác trên thế giới khác như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Trung tâm kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) vẫn chưa có khuyến cáo chi tiết về một phương pháp xét nghiệm cụ thể ở mức độ phân tử cho chủng virus độc này.   Vì thế, chọn phương pháp do Trung tâm lưu trữ virus EVA đề xuất, các nhà nghiên cứu Bệnh viện TƯ Quân đội 108 đã tiến hành hợp tác với Trung tâm EVA và được Trung tâm gửi hai đoạn RNA mã hóa cho một phần bộ gene virus MERS-CoV được TS Ali Moh Zaki, nhà virus học người Ai Cập phân lập từ dịch phế quản bệnh nhân Ai Cập.  Hai gene đích này là cơ sở để tìm hiểu và xác định quy chế di truyền của loại virus nguy hiểm này.  Qua giải trình tự gene, các nhà nghiên cứu nhận thấy, bộ gene của virus MERS-CoV (còn được gọi với tên khác là HCoV-EMC/2012) bao gồm tới 30.119 nucleotides, những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất, phát tín hiệu di truyền, và chứa khoảng 10 khung đọc mở, vốn là đoạn trình tự nằm giữa bộ ba mã hóa mở đầu và bộ ba mã hóa kết thúc cùng khung đọc. Qua đó, các nhà nghiên cứu đã thiết kế và thử nghiệm hai cặp mồi khác nhau là SHPT108@MERS-CoV-L và SHPT108@MERS-CoV-S rồi đưa cả hai cặp mồi này thử bắt vào hai khu vực của virus HCoV-EMC/2012.   Tiến hành giải trình tự đoạn amplicon của RNA virus MERS-CoV do bộ mồi SHPT108@MERS-CoV-L khuếch đại lên, kết quả cho thấy, trình tự gene thu được có tính tương đồng gần như tuyệt đối so với thiết kế và trình tự gene của virus MERS-CoV đang được lưu trữ trên Ngân hàng gene Mỹ (NCBI).   Qua nhiều lần thử nghiệm, bộ mồi SHPT108@MERS-CoV-L đạt mức độ chính xác ở mức cao khi có khả năng phát hiện vật liệu di truyền RNA virus MERS-CoV ở mức 1/1000. Khi lặp lại thử nghiệm ở mức 91/95 trường hợp nhưng bộ mồi vẫn thể hiện được tính đặc hiệu cao một cách ổn định. Với bộ mồi này, chỉ sau từ ba đến bốn tiếng đồng hồ là có thể xác định được mẫu bệnh phẩm có bị lây nhiễm virus MERS-CoV với độ chuẩn xác gần như tuyệt đối  Với thành công thiết kế quy trình chẩn đoán, phát hiện virus MERS-CoV, Bệnh viện TƯ Quân đội 108 một lần nữa khẳng định được năng lực nghiên cứu khoa học của chính mình và tâm thế sẵn sàng ứng phó của những nhà nghiên cứu trước nguy cơ bệnh dịch ngay từ khi chúng chưa bước chân vào Việt Nam.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bernhard Riemann: Người xây nền hình học cho Lý thuyết tương đối của Einstein      Ngày 10 tháng 6 năm 1854, một số các giáo sư Toán của trường Đại học Göttingen, dưới sự chủ trì của Friedrich Gauss, nhà Toán học hàng đầu của Đức, tụ họp lại để nghe một giảng viên trẻ trình bày bài thuyết trình tập sự 1 “Về những giả thuyết làm nền tảng cho Hình học”. Hầu hết đều không hiểu những gì nhà Toán học trẻ tuổi nói, trừ Gauss tỏ ra rất ấn tượng và thích thú. Và một điều bất thường nữa là bài thuyết trình chỉ toàn bằng lời, không có một hình vẽ, không có một phương trình nào trên bảng cả. Một năm sau Gauss qua đời, còn giới Toán học thì mười năm sau mới bắt đầu hiểu dần ra nội dung của bài nói chuyện. Nội dung bài nói chuyện ấy sẽ mở ra một ngành Hình học mới – Hình học Riemann – làm nền tảng cho Lý thuyết tương đối của Einstein sau này.      Bernhard Riemann (1826 – 1866).  Người giảng viên trẻ ấy là Georg Friedrich Bernhard Riemann. Ông sinh ngày 17 tháng 9 năm 1826 tại Dannenberg thuộc vương quốc Hanover (ngày nay thuộc Liên Bang Đức). Bernhard Riemann là con thứ hai trong sáu người con của gia đình một mục sư Tin Lành nghèo thuộc nhánh Lutheran ở địa phận Breselenz. Bệnh lao lẩn quẩn trong dòng họ Riemann chực chờ mang tai họa đến cho gia đình này. Mẹ của Bernhard chết sớm, ba chị em gái cũng lần lượt qua đời khi còn rất trẻ. Bernhard không có sức khỏe tốt như những đứa trẻ cùng trang lứa, có thể do vậy nên cậu rụt rè nhút nhát và ít hòa nhập với những người xung quanh. Năm 14 tuổi, Bernhard Riemann mới được gửi tới trường Lyceum ở Hanover rồi sau đó được chuyển về trường Johanneum Gymnasium ở Lüneburg. Ở Trung học, Bernhard là một học sinh chăm học, giỏi các môn cổ ngữ (tiếng Hebrew) và Thần học, nhưng chưa tỏ ra xuất sắc ở môn nào cả. Tuy nhiên, Bernhard đặc biệt ưa thích Toán. Ông Hiệu trưởng nhận ra điều này và cho phép cậu học trò được đặc cách sử dụng sách trong thư viện riêng của ông. Có lần ông cho Bernhard mượn trọn bộ sách về Lý thuyết số của Legendre2 và Bernhard đã đọc hết 900 trang sách ấy trong sáu ngày3.    Mùa Xuân năm 1846, Bernhard Riemann vào Đại học Göttingen và trở thành học trò của Friedrich Gauss và Moritz Stern – người kế nhiệm trưởng khoa thay Gauss sau khi ông qua đời. Thời ấy, Göttingen chưa phải là trung tâm Toán nổi tiếng nhất mặc dù ở đó có Gauss. Hơn nữa Gauss cũng chỉ giảng dạy các lớp Toán căn bản và Gauss cũng chưa nhận biết Riemann là ai nên mùa Xuân năm 1847 Riemann chuyển về Đại học Berlin, ở đó có rất nhiều giáo sư nổi tiếng giảng dạy, như Jacob Steiner (1796 – 1863), Carl Gustave Jacobi (1804 – 1851), Peter Lejeune Dirichlet (1805 – 1859), Gotthold Eisenstein (1823 – 1852),…Những nhà Toán học này không những hấp dẫn sinh viên Đức mà họ còn thu hút nhiều sinh viên giỏi khắp châu Âu.    Đây là thời gian quan trọng nhất trong quá trình học tập của Riemann. Ông học được nhiều vấn đề mới về hàm phức nhiều biến và lý thuyết về hàm elliptic từ Eisenstein, nhưng người có ảnh hưởng đậm nét nhất lên sự nghiệp của Riemann chính là nhà Toán học Lejeune Dirichlet do cách diễn đạt, cách suy nghĩ và cách đặt vấn đề mang phong cách Pháp rất phù hợp với Riemann 4.    Năm 1849 Riemann trở về lại Göttingen để làm tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của Gauss và cũng chịu ảnh hưởng nhất định của hai người thầy khác Wilhelm  Eduard Weber5, Johann Listing6. Đề tài của Riemann liên quan đến lý thuyết hàm phức nhiều biến, và đặc biệt là các mặt mà nay ta gọi là mặt Riemann(Riemann surfaces). Qua đề tài này Riemann cũng giới thiệu phương pháp topo cho lý thuyết hàm phức. Công trình của Riemann được xây dựng trên những gì Cauchy đã làm nhiều năm trước. Tuy nhiên, Riemann có những nghiên cứu riêng, độc đáo hơn, về tính chất hình học của các hàm giải tích (analytic functions), các phép biến đổi bảo giác (conformal mappings) và sự liên thông giữa các mặt (connectivity of surfaces). Trong khi chứng minh một số kết quả, Riemann đã dùng nguyên lý biến phân (variational principal) mà ông ta gọi là nguyên lý Dirichlet (Dirichlet principle) bởi vì Riemann đã học được nó từ Dirichlet những ngày ở Berlin. Luận án của Riemann được trình vào 16/12/1851 và được Gauss cho là “phong phú một cách độc đáo”.      Friedrich Gauss (1777–1855), được mệnh danh là ông vua toán học thời bấy giờ.   Để được bổ nhiệm làm giảng viên tại Đại học Göttingen, Riemann cần phải hoàn tất chứng chỉ tập sự Habilitation, và dành 30 tháng để soạn ra ba đề tài cho chứng chỉ này. Hai đề tài đầu liên quan đến những vấn đề về Giải tích mà Riemann rất tâm đắc, là hàm số có thể biểu diễn bằng chuỗi lượng giác Fourier và điều kiện cho một hàm số có tích phân; đề tài thứ ba liên quan đến Hình học. Khi Riemann đệ trình đề tài, thông thường vị giám khảo chủ trì sẽ chọn bài thứ nhất, nhưng Gauss lại chọn bài thứ ba liên quan đến Hình học, trái với mong đợi của mọi người và của chính Riemann. Buổi thuyết trình Về những giả thuyết làm nền tảng cho Hình học của Riemann ngày 10/6/1854 hôm ấy là một trong những biến cố quan trọng trong Lịch sử Toán học.    Tại sao Gauss lại chọn bài thứ ba (thứ yếu) trong ba bài Riemann đệ trình? Làm sao ai biết được Gauss nghĩ gì. Chỉ có Dedekind, bạn và cũng là đồng nghiệp của Riemann viết: “Gauss đã phá vỡ truyền thống xưa nay là chủ khảo chọn bài thứ nhất của thí sinh. Có thể Gauss muốn biết xem nhà Toán học trẻ tuổi đối phó với vấn đề khó khăn này đến mức nào”.    Bài thuyết trình của Riemann chính là phác thảo cho bộ môn mà ngày nay chúng ta gọi là Hình học Riemann, và 60 năm sau trở thành khung sườn cho Lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein. Einstein từng viết rằng lý thuyết này là “thắng lợi thực sự” của hai nhà toán học Carl Friedrich Gauss và Bernhard Riemann và đã nhấn mạnh rằng thuyết tương đối tổng quát của ông được xây dựng dựa vào công trình của Gauss và Riemann, những người khổng lồ trong giới toán học.      Sơ lược những gì Riemann đã trình bày trong bài nói chuyện ấy:    Bài nói chuyện gồm có hai phần.    Trong phần đầu Riemann đặt vấn đề định nghĩa không gian n-chiều (nay chúng ta gọi là không gian Riemann), trong ấy có những đường ngắn nhất gọi là đường trắc địa (geodesic lines), giống như những đường thẳng trong không gian Euclid. Từ đó định ra hệ tọa độ trắc địa và một metric cho những mặt cong nhiều chiều, theo cách mà chúng ta hình dung những mặt phẳng tiếp xúc với mặt cong trong không gian Euclid. Rồi thì trên những mặt cong ấy sẽ xác định những độ cong, dương, âm, hoặc bằng không.    Trong phần thứ hai, Riemann đặt vấn đề về sự liên hệ giữa hình học và thế giới chúng ta sống. Ông ta hỏi rằng chiều của thế giới thật sự trong đó chúng ta sống là bao nhiêu và hình học nào có thể dùng để mô tả thế giới ấy?    Nội dung bài nói chuyện quá xa so với kiến thức của các nhà khoa học đương thời. Nhà toán học M. Monastyrsky nhận xét trong cuốn “Riemann, Topology and Physics”: “Trong số thính giả ở dưới, chỉ có một mình Gauss là có khả năng hiểu thấu và tán thưởng những ý nghĩ sâu sắc của Riemann. Bài nói chuyện của Riemann vượt xa mong đợi của Gauss và làm cho Gauss hết sức nhạc nhiên.”    Còn nhà toán học Hans Freudenthal viết trong cuốn Dictionary of Scientific Biography rằng: “Sáu mươi năm sau người ta mới thực sự hiểu hết những gì Riemann đã trình bày. Lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein đã kiểm chứng những gì Riemann đã nghĩ ra, một cách rực rỡ”.    Khi Gauss qua đời năm 1855, Đại học Göttingen trao trọng trách Trưởng Khoa Toán lại cho Lejeune Dirichlet. Bốn năm sau, năm 1859, Dirichlet mất, Riemann được bầu vào vị trí cao quí đó thay thế. Chỉ sau vài tuần, Riemann lại được vinh dự trở thành thành viên của Hàn lâm Viện Khoa học Berlin. Riemann đã được ba nhà Toán học tên tuổi lúc bấy giờ giới thiệu, đó là Ernst Kummer (1810 – 1893), Karl Wilhelm Borchardt (1817 – 1880), và Karl Weierstrass.    Dưới đây là trích đoạn bài diễn văn giới thiệu:“Chúng tôi có bổn phận phải lưu ý quí vị hãy chú ý tới, không phải là một tài năng trẻ nhiều triển vọng, mà là một nhà nghiên cứu độc lập, sâu sắc, với nhiều đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển lãnh vực Toán học của chúng ta”.    Như thông lệ, thành viên mới phải trình cho Hàn lâm Viện công trình nghiên cứu mới nhất của mình. Và Riemann đã giới thiệu công trình về Lý thuyết số – bài duy nhất thuộc lãnh vực này của Riemann – mang tựa đề (Về số những số nguyên tố nhỏ hơn một giá trị cho sẵn). Đây là một tuyệt tác của Riemann, chỉ dài chưa tới 10 trang nhưng nó đã làm thay đổi một cách có ý nghĩa hướng nghiên cứu Toán học thời kỳ tiếp sau đó và ảnh hưởng của nó vẫn còn cho tới ngày nay. Nó như một cơn sóng đập vào nhiều ngành của Toán học thuần lý (pure mathematics), thúc đẩy chúng phát triển. Điểm xuất phát của Riemann là một khám phá của Euler gần một thế kỷ trước, hằng đẳng thức. Riemann nhìn vấn đề xa hơn thế nữa.      Trong thư viện của Đại học Göttingen.  Ông nhìn ζ (s) như là một hàm phức (s = σ + it) chứ không phải một hàm thực. Trừ một số ít trường hợp tầm thường, Riemann phát biểu rằng hàm ζ (s) có vô số nghiệm không tầm thường mà phần thực là σ = ½. Phát biểu này được gọi là giả thuyết Riemann. Cho tới ngày nay, dự đoán này là một trong những bài toán chưa giải được quan trọng nhất của Toán học7. Đây là một trong 7 bài toán thiên niên kỷ mà viện Toán học Clay sẽ trao giải thưởng 1 triệu USD cho bất cứ ai giải được.  ***  Tháng 6/1862, Riemann kết hôn nhưng chỉ cuối thu năm ấy ông nhận ra sức khỏe mình không ổn và đã nhuốm căn bệnh lao hiểm nghèo giống như các thành viên khác trong gia đình. Họ có với nhau một đứa con gái. Mùa Đông năm 1862-1863, để tránh cái lạnh gay gắt ở quê nhà, Riemann qua tĩnh dưỡng ở Silicy, miền Nam nước Ý, ở đó ông có một số bạn cũng là những nhà Toán học từng làm việc với ông ở Göttingen. Khí hậu ấm áp làm cho ông cảm thấy khá hơn Cứ như thế, ông qua lại Đức-Ý nhiều lần, cho tới tháng 6 năm 1866, ông trở lại Selasca (Ý) nghỉ dưỡng bên bờ hồ Maggiore thơ mộng. Nhưng rồi sức khỏe ông xuống một cách nhanh chóng và tại đây ông đã ra đi mãi mãi. Khi ra đi, ông hãy còn đang làm dở dang công việc dưới gốc một cây sung ngọt.    Riemann mất ngày 20/7/1866, khi ấy ông chưa tròn tuổi 40.  ——-  Chú thích:   *Bài viết được BBT rút gọn lại so với toàn văn tác giả gửi cho Tia Sáng và lưu trữ tại Rosetta.vn/lequanganh.  1 Hôm đó Riemann trình bày bài Habilitation lecture. Trước Thế chiến thứ nhất, ở Đại học Đức, một Tiến sĩ phải làm một công trình nghiên cứu để có thể lấy chứng chỉ “Habilitation”, sau đó mới được tuyển vào làm “Privatdozent”, tức là giảng viên tập sự không lương. Một thời gian sau, khi được xác nhận khả năng, giảng viên này được chính thức tuyển dụng làm “Extraordinarius” (phó giáo sư), rồi sau cùng là “Ordinarius” (giáo sư).  2 Andrien-Marie Legendre (1752 – 1833) là một nhà Toán học Pháp, có nhiều đóng góp trong lãnh vực đa thức, các phép biến đổi, và lý thuyết số. Công trình của ông có nhiều ảnh hưởng lên Galois, Abel và cả Gauss nữa.  3 Theo J. J. O’Connor and E. F. Robertson.  4 Trong khoảng thời gian 1822-1826, Lejeune Dirichlet qua Paris, bấy giờ là trung tâm của Khoa học nói chung và Toán học nói riêng. Ông có dịp học tập và làm việc với các tên tuổi lớn của Pháp như Legendre, Fourier, Poisson,…Tháng 6 năm 1825, chỉ mới có 20 tuổi, ông được mời đến Viện Hàn lâm KH Paris để trình bày chứng minh định lý cuối cùng của Fermat với trường hợp n= 5.  5 Wilhelm Eduard Weber (1804 –1891), nhà Toán-Vật lý Đức, nghiên cứu về Từ và Điện từ học.  6 Johann Listing (1808 – 1882), nhà Toán học Đức, người đầu tiên dùng chữ Topology để chỉ một ngành của Hình học có từ trước Euler.  7 Đây cũng là một trong 23 bài toán của Hilbert đưa ra năm 1900.  Tài liệu tham khảo  1. H. Freudenthal, Biography in Dictionary of Scientific Biography (New York 1970-1990).  2. Biography in Encyclopaedia Britannica.  3. R Dedekind, Biography of Riemann, in H Weber and R Dedekind (eds.), The Collected Works of Riemann (New York, 1953).  4. F. Klein, Development of mathematics in the 19th century (Brookline, Mass., 1979).  5. M. Monastyrsky, Rieman, Topology and Physics (Boston-Basel, 1987).  6. J.J. O’connor and E.F. Robertsonn. Georg Friedrich Bernhard Riemann. (University of St Andrew, 1998).    Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Bê-tông sinh học tự hàn vết nứt      Bê-tông là một trong  những vật liệu xây dựng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, nhưng  các kết cấu bê-tông sau một thời gian sử dụng thường xuất hiện vết nứt  gây nguy hiểm cho sự vững bền của công trình. Việc hàn kín các vết nứt  đó là cần thiết nhưng rất phiền phức và tốn kém hàng tỷ USD mỗi năm,  tính trên phạm vi toàn thế giới.     Mới đây nhà vi sinh vật học Hendrik Jonkers ở trường Đại học Công nghệ Delft (Hà Lan) đã phát minh ra bê-tông vi khuẩn có thể tự động hàn kín các vết nứt mỗi khi chúng xuất hiện.  Ý tưởng phát minh nói trên nảy sinh khi Jonkers nghĩ tới vấn đề cơ thể động vật có thể dùng biện pháp khoáng hóa (mineralization) để tự hàn các chỗ xương bị gãy, như vậy phải chăng có thể áp dụng biện pháp này cho việc hàn gắn vết nứt trên khối bê-tông. Bằng cách trộn sữa calcium (calcium lactate) với loại vi khuẩn làm ra đá vôi, Jonkers thấy có thể hàn kín bất kỳ vết nứt nào trên kết cấu bê-tông, dù là tường bê-tông hay mặt đường bê-tông. “Loại bê-tông này hoàn hảo cho các cấu trúc vốn rất khó bảo dưỡng, chẳng hạn như các công trình ngầm dưới lòng đất, đường cao tốc hoặc các dàn khoan dầu,” Jonkers nói.  Với phát minh nói trên, Jonkers đã được trao Giải thưởng Nhà phát minh châu Âu năm 2015 (European Inventor Award 2015).  Loại vi khuẩn làm ra đá vôi được Jonkers lựa chọn tên là Bacillus pseudofirmus hoặc Sporosarcina pasteurii, chúng sống trong các hồ nước có độ kiềm cao ở gần các núi lửa đang hoạt động, như vùng Wadi Natrun ở Ai Cập. Loại vi khuẩn này chịu được nóng và lạnh, và có thể sống tới 200 năm mà không cần ô-xi và thức ăn. Khi gặp nước, chúng sẽ tỉnh dậy và hoạt động, sử dụng sữa calcium làm nguồn thức ăn, và tiết ra chất đá vôi, là chất sẽ tự lấp kín vết nứt.  Hendrik Jonkers gọi loại vật liệu hàn vết nứt này là bê-tông vi khuẩn (bioconcrete).  Để giữ cho vi khuẩn này ngủ đông cho tới lúc cần đến chúng, Jonkers chứa vi khuẩn vào trong các bao nang nhỏ, loại có thể phân hủy sinh học, bên trong chứa chất dinh dưỡng cho vi khuẩn. Trộn dung dịch chứa các bao nang đó vào dung dịch xi măng đổ bê-tông, khi kết cấu bê-tông xuất hiện vết nứt, nước mưa chảy vào vết nứt làm cho bao nang phân hủy, vi khuẩn gặp nước sẽ tỉnh dậy, bắt đầu sản xuất ra đá vôi và lấp kín vết nứt trong thời gian không quá ba tuần.   Cũng có thể bơm dung dịch chứa loại vi khuẩn này vào vết nứt trên kết cấu bê-tông sẵn có để chúng tự gắn kín vết nứt.   Loại vi khuẩn này có thể hàn kín các vết nứt có độ dài bất kỳ, nhưng chiều rộng của vết nứt không được quá 0,8 mm, nếu quá rộng thì tác dụng hàn gắn sẽ kém.  Jonkers dự định năm nay sẽ sản xuất loại dung dịch hàn gắn nói trên và năm 2016 sẽ sản xuất loại bê-tông tự hàn.   Vấn đề là bê-tông tự hàn có giá cao gấp đôi bê-tông thường, mà theo Jonker, chủ yếu do giá sữa calcium rất cao; nếu có thể làm cho vi khuẩn chịu ăn các dưỡng chất điều chế từ đường thì giá bê-tông sẽ giảm ngoạn mục.   Ng.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn bộ não và tâm trí      Ba vấn đề phức tạp nhất của khoa học l&#224; g&#236;? Đ&#243; l&#224; c&#225;i rất lớn (vũ trụ), c&#225;i rất nhỏ (thế giới vi m&#244;) v&#224; c&#225;i rất phức tạp (bộ n&#227;o v&#224; t&#226;m tr&#237;). Thật đ&#225;ng ngạc nhi&#234;n l&#224; con người kh&#225;m ph&#225; tự nhi&#234;n nhờ bộ n&#227;o v&#224; t&#226;m tr&#237;, nhưng lại chưa hiểu ch&#250;ng được bao nhi&#234;u. V&#224; c&#226;u hỏi bộ n&#227;o sinh ra t&#226;m tr&#237; như thế n&#224;o c&#243; lẽ l&#224; một th&#225;ch thức c&#242;n rất l&#226;u d&#224;i đối với khoa học.        Độ phức tạp không tưởng:    Có thể nói, bộ não là cấu trúc vật chất phức tạp nhất tự nhiên. Với khối lượng chỉ 1.4 kg, não chứa hàng trăm tỉ tế bào thần kinh hay nơ ron, kết nối với nhau qua các khớp thần kinh. Ngoài ra là hệ tế bào đệm, với số lượng lớn hơn khoảng 10 lần.  Độ phức tạp trong khả năng kết nối nơ ron của bộ não là nỗi kinh hoàng có thể của cả những máy tính lượng tử siêu việt tương lai. Vì có thể nhận tin từ 10 ngàn và truyền tin cho 10 ngàn nơ ron, nên mỗi nơ ron có thể liên kết với khoảng 100 triệu nơ ron khác (để so sánh, hãy nhớ rằng chúng ta chỉ có thể quan hệ với không quá vài ngàn người trong toàn xã hội). Vì thế số mạng nơ ron, yếu tố quyết định khả năng tư duy, nhận thức hay cảm xúc của bộ não, đạt tới con số khủng khiếp. Theo những tính toán giản lược nhất, nó bằng con số N = 10110 nhân với nhau 1017 (100 triệu tỉ) lần! Bản thân N cũng được gọi là số thiên văn, vì bằng tích của số hạt cơ bản trong vũ trụ nhìn thấy (1080) và tuổi vũ trụ (14 tỉ năm) tính ra pico giây (1030)!    Đồng thời với khoảng một triệu kết nối mới tạo thành trong một giây, với hình thái và trọng số kết nối luôn thay đổi, nên trên thực tế mỗi bộ não là một cấu trúc động duy nhất, theo nghĩa không thể có hai bộ não giống nhau. Chính nhờ các kết nối luôn thay đổi đó mà kí ức được ghi nhớ, hành vi được học tập hay nhân cách được hình thành, bằng cách tăng cường các kiểu kết nối này hay dập tắt các kiểu kết nối khác.  Xung thần kinh và chất truyền tin hóa học:  Các nơ ron truyền tin như thế nào? Xung điện là phương thức truyền tin nội nơ ron; trong khi chất truyền tin hóa học là cơ chế liên tế bào. Hai nơ ron truyền tin cho nhau bằng cách phóng thích và thu nhận các chất truyền đạt và điều biến thần kinh, như glutamate, dopamine, acetylcholine, noradrenalin, serotonin hay endorphins.     Một số chất hoạt động tại khớp thần kinh, truyền thông điệp từ vị trí giải phóng tới vị trí hấp thu, được gọi là thụ thể. Một số chất có tác dụng lan tỏa hơn, làm tăng hay giảm độ nhạy cảm cả một vùng não.     Không chỉ quan trọng trong các hoạt động tư duy, nhận thức hay cảm xúc, sự thiếu hụt các hóa chất nói trên liên quan với nhiều loại bệnh. Chẳng hạn thiếu dopamine ở vùng điều khiển vận động dẫn tới bệnh liệt rung (Parkinson). Nó cũng tăng khả năng nghiện ngập vì chức năng chuyển tải khoái cảm và cảm giác thưởng. Còn thiếu serotonin tại vùng điều khiển cảm xúc sẽ dẫn tới trầm cảm và các rối loạn cảm xúc, trong khi thiếu acetylcholine ở vỏ não là đặc trưng của Alzheimer, căn bệnh mất trí ở người già.  Các kĩ thuật quét não:  Trong một nơ ron, tín hiệu hình thành nhờ các xung điện. Hoạt tính điện của một nhóm nơ ron có thể ghi nhận ở ngoài hộp sọ nhờ máy đo điện não đồ EEG. Các tín hiệu đó có dạng sóng, được phân loại từ sóng Anpha (khi thư giãn hay đang ngủ) cho tới sóng gamma (đang suy nghĩ). Một số nhà khoa học, như Crick (cha đẻ của mô hình ADN), xem sự đồng bộ hóa hoạt động điện trong não là yếu tố quyết định cho nhận thức.              Máy đo nói dối trong ngành tội phạm        Các kĩ thuật tạo ảnh khác đều mang tính gián tiếp. Cộng hưởng từ chức năng (fMRI) hay tạo ảnh nhờ bức xạ positron (PET) theo dõi dòng máu tới các vùng não khác nhau. Các kĩ thuật cộng hưởng từ MRI và cắt lớp vi tính CT dùng đặc trưng từ và sự hấp thụ tia X của các tổ chức khác nhau để tạo ảnh não.     Các kĩ thuật đó được ứng dụng để theo dõi các vùng não liên quan với các chức năng khác nhau, như cảm giác, vận động, khoái cảm, lựa chọn, động cơ, thậm chí cả sự phân biệt chủng tộc. Vài năm nay, thậm chí một số kĩ thuật được dùng để phát hiện nói dối, với kết quả bước đầu khá hứa hẹn. Tuy nhiên một số chuyên gia cảnh báo rằng, không nên đặt quá nhiều niềm tin vào các kĩ thuật đó, cho dù chúng hiện đại đến mức nào, vì bộ não nằm ngoài tầm với của công nghệ; đồng thời chúng có thể vi phạm tính riêng tư của từng cá nhân được pháp luật bảo vệ hay gây ra nhiều vấn đề đạo lý khó giải quyết khác.  Trước khi các kĩ thuật tạo ảnh hay quét não trở nên phổ biến, các nhà khoa học đã nghiên cứu người bệnh với các tổn thương não do đột quỵ, chấn thương đầu hay bệnh thần kinh để xác định các vùng não liên quan với cảm xúc, giấc mơ, trí nhớ, ngôn ngữ hay tri giác, thậm chí cả các sự biến mang tính ẩn ngữ, như các kinh nghiệm tôn giáo, tâm linh hay dị thường.  Điển hình nhất là trường hợp Phineas Gage, một công nhân đường sắt thế kỷ XIX, mất phần não trước trán khi bị thanh sắt dài 1 mét xuyên qua đầu trong một vụ nổ. Khi thể chất phục hồi hoàn toàn, nhân cách của Gage biến đổi vĩnh viễn. Đó là lần đầu tiên người ta thấy, một hoạt động tinh thần cụ thể có thể gắn với một hay vài vùng não đặc trưng.     Cấu trúc bộ não:  Chiếm phần chủ yếu trong cấu trúc não là hai bán cầu đại não, nằm trên thân não giống như phần mũ của cây nấm. Đó là cấu trúc não được tiến hóa muộn nhất, liên quan với các hoạt động nhận thức phức tạp. Bao phủ phía ngoài đại não là vỏ não, liên quan nhiều với quá trình tạo các quyết định hữu thức.  Dường như có sự phân công chức năng tương đối rõ giữa hai bán cầu não (bảng minh họa). Theo đó, bán cầu phải giàu cảm xúc và sáng tạo hơn, trong lúc bán cầu trái gắn với logic hơn. Với đại đa số, bán cầu trái là bán cầu ưu thế, nên 90% dân số thuận tay phải. Trong số 10% người thuận tay trái còn lại, nhiều người có khả năng nghệ sĩ.          Bán    cầu trái  Bán cầu phải      Phát âm  Tuần tự  Phân tích  Tỉ lệ  Phân tích    theo thứ tự thời gian  Ngôn ngữ    Phi phát âm  Tổng thể  Tổng hợp  Toàn cục  Cảm nhận    mẫu dạng   Không gian           Giả định về phân công chức năng giữa hai bán cầu não.     Đó là căn nguyên của những lập luận kiểu văn minh phương Tây là văn minh não trái hay cần giáo dục cả hai bán cầu não cho học sinh. Đó là những lập luận không chỉnh, vì hai bán cầu luôn hành xử đồng bộ với nhau qua thể chai, là cầu nối giữa chúng (phụ nữ có thể chai lớn hơn nam giới, và đó có thể là lí do khiến họ nói nhiều!). Thiếu thể chai sẽ gây bệnh tâm thần, mà tuy một chức năng nào đó có thể trở nên siêu việt. Đó là hội chứng bác học, mà Kim Peek là trường hợp điển hình. Ông nhớ mã bưu điện của mọi thành phố Mỹ, chơi thành thạo hàng trăm bản nhạc cổ điển khi chỉ nghe qua một lần, nhớ chi tiết thời gian, địa điểm và số người tham dự buổi biểu diễn bản nhạc đó lần đầu tiên… Tuy nhiên ông không thể tự mặc quần áo và phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người thân.               Kim Peek, “nhà bác học” không biết mặc áo        Ngoài hai bán cầu não là thùy chẩm ở phía sau, liên quan với thị giác; thùy đỉnh phía trên chẩm, gắn với vận động, định vị không gian và tính toán.   Sau tai và thái dương là thùy thái dương, kết nối với âm thanh và tiếng nói và một số yếu tố kí ức. Phía trước là thùy trán và thùy trước trán, thường được xem là những cấu trúc phát triển và “con người” nhất, gắn bó với tư duy phức tạp, ra quyết định, lên kế hoạch, tạo quan niệm, điều khiển sự chú ý, và kí ức hoạt động. Chúng cũng liên quan với các cảm xúc xã hội phức tạp như sự hối tiếc, đạo đức và sự đồng cảm.     Cũng có thể chia não thành hai phần: phần cảm giác và phần vận động, với chức năng kiểm soát các thông tin đi vào và hành vi lối ra một cách tương ứng (tức cảm nhận và tác động môi trường).  Dưới hai bán cầu, nhưng vẫn thuộc phần não trước, là vỏ khứu hải mã điều khiển hành vi và cảm giác đau. Phía dưới là thể chai nối hai bán cầu. Ngoài ra là hạch nền, tương ứng với vận động, động cơ và hành vi thưởng.    Dưới nữa là các vùng não nguyên thủy hơn. Hệ viền, có ở mọi động vật có vú, liên quan với ham muốn và sự ngon miệng. Cảm xúc thì liên quan với các cấu trúc như hạch hạnh hay nhân đuôi. Trong hệ viền còn có hồi hải mã với vai trò sống còn trong tạo kí ức mới; đồi thị có chức năng xử lý (làm chậm) các tín hiệu cảm giác; và dưới đồi, điều khiển chức năng cơ thể bằng các nội tiết tố phóng thích từ tuyến yên.    Phía dưới đại não là tiểu não, nơi lưu giữ các hình thái vận động, thói quen và các nhiệm vụ tự động – những hoạt động ta có thể thực hiện mà không cần nghĩ về chúng.    Hai bộ phận nguyên thủy nhất, nằm giữa tiểu não và tủy sống, là trung não và thân não. Chúng điều khiển các chức năng tự động hay thực vật như hô hấp, nhịp tim, huyết áp, giấc ngủ…Chúng cũng điều khiển dòng tín hiệu hai chiều giữa não bộ và toàn bộ cơ thể thông qua tủy sống.      Nước và rượu vang:  Mặc dù khoa học đã khám phá nhiều bí ẩn của bộ não, nhưng những bí ẩn lớn vẫn còn nằm trong bóng tối. Trong đó căn bản nhất là bài toán bộ não và tâm trí. Nói cách khác, các hoạt tính khách quan của bộ não được biến thành các ý niệm chủ quan, nhất là các ý niệm hữu thức, như thế nào? Theo cách nói của nhà triết học Chammers người Úc, “nước biến thành rượu vang như thế nào?”. Đây là bài toán phức tạp đến mức, không ít nhà khoa học cho rằng, nó nằm ngoài khả năng nhận thức của con người.     Về mặt triết học, có thể giải quyết vấn đề đó bằng quan điểm hợp trội (hay đột phát, đột sinh, hợp nổi…). Cần lưu ý rằng đó cũng chính là quan điểm duy vật biện chứng. Tuy nhiên trên khía cạnh khoa học, đó là bài toán vô cùng nan giải. Như vị mặn của muối chẳng hạn, nó “đột sinh” như thế nào từ các nguyên tử Na và Cl? Chỉ với hạt muối cấu trúc từ hai loại nguyên tử mà còn vậy, nói gì đến bộ não với cấu trúc phức tạp nhất tự nhiên! Người viết bài này không thể nào quên giáo sư thần kinh học Jerome Lettvin, MIT, Mỹ, chuyên gia vị giác ếch tại khóa học về vật lý thần kinh tại Trieste, Italia, năm 1995. Khi được hỏi về bước chuyển từ tín hiệu thần kinh lên cảm giác vị giác, sau 2 giờ thuyết trình, ông kết luận: “Vì tôi không phải là ếch, nên tôi không biết”!    Tại sao chúng ta có thể không bao giờ biết bản chất thực sự của ý thức? Đó là hệ lụy của định lý không đầy đủ của Godel, nói rằng một hệ logic bất kì không thể tự hiểu bản thân. Muốn hiểu tâm trí, cần một hệ thống phức tạp hơn bộ não. Đó là điều không thể, vì bộ não chính là cấu trúc phức tạp nhất vũ trụ.     Hệ xử lý đối ngẫu:  Não xử lý các tín hiệu từ môi trường như thế nào? Năm 1981, nhà tâm lý Dixon đề xuất lý thuyết xử lý đối ngẫu. Theo đó bộ não có hai hệ xử lý tín hiệu, hệ tiềm thức và hệ ý thức. Hệ tiềm thức nằm ở các trung khu dưới vỏ, có nhiệm vụ xử lý sơ bộ các thông tin trước khi chuyển lên hệ ý thức vỏ não. Hệ tiềm thức xác định ý nghĩa cảm xúc của kích thích tốt hơn việc ra các quyết định hợp lý về chúng. Khi phát hiện thông tin quan trọng, nó chuyển ngay lên vỏ não để hệ ý thức xử lý. Khác với hệ ý thức có độ nhạy kém và chỉ xử lý từng thông tin một, hệ tiềm thức vận hành một cách tự động và có hai đặc trưng cơ bản. Đầu tiên, nó xử lý đồng thời các thông tin đến từ nhiều nguồn. Tiếp theo, và quan trọng hơn, nó có ngưỡng kích thích thấp hơn hệ ý thức nhiều. Nói cách khác, hệ tiềm thức có thể nắm bắt và giải mã các tín hiệu rất nhỏ yếu mà hệ xử lý ý thức không nắm bắt được. Con người có hệ ý thức phát triển như một đặc trưng “người” nhất nên hệ tiềm thức bị chèn ép và các bản năng sinh học suy thái dần. Tuy nhiên qua thiền, thôi miên hay qua luyện tập một số công phu đặc biệt, có thể khôi phục phần nào các bản năng đó. Động vật có hệ tiềm thức phát triển, nên có thể phát hiện sớm các tai biến như động đất hay sập nhà do ghi được các biến đổi vật lý cảnh báo rất nhỏ yếu từ môi trường (điện từ trường, hạ âm…).     Cần lưu ý rằng, phần lớn hoạt động tinh thần của con người nằm ở phần tiềm thức (và vô thức), giống như một chuyến bay vượt đại dương phần lớn nằm ở chế độ “bay tự động”. Tuy nhiên chế độ lái “bằng tay” khi cất và hạ cánh có vai trò quyết định. Sau gần một thế kỷ tranh cãi gay gắt kể từ Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, trường phái tư tưởng đề cao vô thức, cuối cùng khoa nhận thức học đi đến kết luận, tâm trí do cả ý thức và vô thức quyết định, với phần đóng góp mỗi bên một nửa. Có thể so sánh ý thức với bộ tư lệnh, còn vô thức với toàn bộ phần còn lại của một đạo quân. Khi đó xét về khối lượng công việc, đạo quân hoạt động chủ yếu ở mức vô thức; tuy nhiên vai trò của bộ tư lệnh không hề thua kém. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đội ngũ cán bộ chiến sĩ có phần đóng góp bằng nhau trong chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.  Liên quan trực tiếp với vô thức và tiềm thức là các hiện tượng dị thường, như ngoại cảm, viễn di sinh học và các hiện tượng liên quan với sự tồn tại sau cái chết – những chủ đề có sức lôi cuốn ghê gớm đối với dư luận (Định luật Blackmore thứ nhất phát biểu rằng, ước vọng muốn tin các hiện tượng dị thường của con người lớn hơn mọi chứng cớ phản bác!). Hầu hết, nếu không nói là tất cả các hiện tượng đó đều có thể giải thích bằng các đặc tính khá lạ lùng của vô thức, ít nhất là về nguyên lý.     Vô thức cũng có vai trò quyết định trong sự tự chữa bệnh. Đó là lý do trong các trị liệu thay thế và bổ sung (châm cứu, khí công, thiền, thôi miên…), niềm tin có phần đóng góp không nhỏ vào kết quả khỏi bệnh, nếu có.     Tập thể hay cá nhân?  Có những tế bào chuyên dụng để ghi nhớ hình ảnh của “linh miêu” Halle Bery hay cựu Tổng thống Bill Clinton? Ngớ ngẩn; và đó là suy nghĩ của hầu hết các nhà thần kinh học cho đến rất gần đây. Nhưng nay vấn đề có thể khác.  Bộ não nhận chân các hình ảnh như thế nào là một chủ đề gây tranh cãi trong khoa học thần kinh, với hai lý thuyết hoàn toàn ngược nhau. Lý thuyết mạng thần kinh cho rằng, hàng triệu nơ ron sẽ hành xử đồng điệu với nhau để tạo ra trong tâm trí hình ảnh về một đối tượng. Ở phía đối ngược là quan niệm, mỗi nơ ron (hoặc một số rất ít nơ ron) mã hóa hình ảnh về một đối tượng (người, động vật hay đồ vật). Jerome Lettvin đặt tên cho chúng là “tế bào bà”. Đến cuối những năm 1980, quan niệm mạng nơ ron thắng thế quan niệm “một nơron một hình ảnh”. Chủ nghĩa tập thể đã thắng chủ nghĩa cá nhân.  Mới đây, tình cờ qua nghiên cứu các bệnh nhân đột quị, kĩ sư y sinh học Rodrigo Quian Quiroga tại Đại học Leicester, Anh, đã ghi hoạt tính điện của từng tế bào thần kinh khi cho bệnh nhân xem các hình ảnh trên màn hình máy tính, với thời gian lưu hình là một giây.   Một trong những “tế bào bà” là tế bào Clinton, nằm sâu trong hạch hạnh của một nữ bệnh nhân. Nó đáp ứng với ba hình ảnh khác nhau của Clinton: một bức phác thảo, một bức tranh và một tấm ảnh chụp với một số nhà chính trị. Khi bệnh nhân quan sát hình ảnh các Tổng thống Mỹ khác, từ George Washington tới George H.W. Bush, tế bào đó luôn im lặng.              Hoạt tính điện của nơ ron Halle Berry        Nhiều nghiên cứu tiếp theo cho kết quả rất ấn tượng, chẳng hạn tế bào Halle Berry, “linh miêu” trong giới điện ảnh Hollywood. Không chỉ đáp ứng với những hình ảnh, ngay cả khi Berry mang mặt nạ như trong phim, tế bào này còn phóng điện cả khi tên cô xuất hiện trên màn hình, với cường độ thậm chí còn mạnh mẽ hơn!  Những thí nghiệm đó chứng tỏ điều gì? Đơn giản là bộ não có hai chiến lược lưu giữ hình ảnh: hoặc dùng mạng lưới nhiều nơ ron, hoặc dùng từng tế bào cho từng nhiệm vụ cụ thể. Trong cấu trúc vật chất phức tạp nhất vũ trụ này, cá nhân và tập thể hành xử hoàn toàn đồng điệu với nhau.  Những hiểu lầm thường gặp về bộ não:  Vì bộ não là bí ẩn lớn nhất tự nhiên, không lạ khi xuất hiện nhiều hiểu lầm về cấu trúc hóa và chức năng hóa của nó. Dưới đây là một số hiểu lầm thường thấy nhất, ngay cả trong giới trí thức tinh hoa.   1.                  Chúng ta mới chỉ dùng 10% năng lực của bộ não:    Huyền thoại 10% xuất hiện khắp nơi, từ giảng đường đại học cho tới sách vở hướng dẫn cách cải thiện năng lực tư duy.  Chứng cớ khoa học phản bác huyền thoại này không hề thiếu. Nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con người. Thêm nữa, nghiên cứu trên bệnh nhân tổn thương não cho thấy, chấn thương tại bất cứ vùng não nào cũng để lại những di chứng tâm lý dù ít dù nhiều. Nếu chúng ta chỉ mới dùng 1/10 bộ não, sẽ có đến 90% số tổn thương không hề ảnh hưởng tới các hoạt động tinh thần.  Huyền thoại 10% xuất phát từ đâu? Theo Barry Beyerstein thuộc đại học Simon Fraser, nó xuất phát một phần từ cách hiểu sai quan điểm của Williams James, một người cha của ngành tâm lý học Mỹ. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ông viết rằng, hầu hết chúng ta chưa khai thác hết khả năng trí tuệ bản thân. Những năm 1930, một số tác giả chuyên viết sách phổ biến khoa học, như Lowell Thomas, đưa ra con số cụ thể; và huyền thoại 10% ra đời.  Thực ra khi quét não bằng các kĩ thuật khác nhau, các nhà khoa học thấy nhiều vùng não “im lặng”. Tuy nhiên đó là các vùng liên hợp, có vai trò sống còn trong việc kết nối các cảm giác, tư duy và cảm xúc giữa các trung khu khác nhau trong não bộ.  2.                  Một số người thiên về não trái, một số thiên về não phải:  Như trên đã viết, dường như người não trái lý tính, logic, thiên về ngôn ngữ; trong khi người não phải được xem là sáng tạo, toàn cục, thiên về không gian. Trong cuốn Tâm lý học ý thức bán rất chạy năm 1972, nhà tâm lý Robert Ornstein, Đại học Stanford, xem các xã hội phương Tây quá nhấn mạnh tư duy logic não trái so với tư duy trực giác não phải. Năm 1979, trong cuốn sách phổ biến khoa học Vẽ trên phía phải của bộ não, nhà tâm lý và nghệ sĩ Betty Edwards cũng nhấn mạnh lợi ích của não phải trong sáng tạo nghệ thuật.  Tuy nhiên, xem hai bán cầu não ngược nhau là một quan niệm quá đơn giản. Chẳng hạn, nó hàm ý rằng người có khiếu ngôn ngữ phải kém nghệ thuật, trong khi thực tế có khi hoàn toàn ngược lại. Và như khoa học đã chỉ rõ, hai bán cầu não hành xử đồng bộ với nhau qua thể chai.  Giống như mọi huyền thoại khác, huyền thoại hai bán cầu cũng có một phần sự thật. Các kỹ thuật cắt thể chai để giảm thiểu cơn động kinh cho thấy, khi đó quả thật hai bán cầu não hành xử khác nhau. Tuy nhiên ở người bình thường, thể chai là cầu nối để bộ não thống nhất trong hành động.  3.      Có thể đạt thư giãn và cảm nhận ý thức sâu hơn nhờ tăng cường sóng Anpha:  Sóng Anpha với dải tần 8-13 Hz là loại sóng được bộ não tạo ra khi chúng ta ngủ hay thư giãn. Tuy nhiên nó không liên quan với các đặc trưng nhân cách dài hạn hay mức độ thoải mái ngắn hạn.  Huyền thoại sóng Anpha phản ánh sự không phân biệt giữa mối tương quan và quan hệ nhân quả. Quả thật bộ não tạo nhiều sóng Anpha khi đang thăng thiền hay thư giãn sâu; nhưng điều ngược lại không đúng: sóng Anpha không tạo ra thư giãn. Nói cách khác, sóng Anpha là hệ quả, chứ không phải là nguyên nhân của sự thư giãn.   Tạm thời kết luận:              Theo lời nhà triết học Chammers, bí ẩn bộ não và tâm trí được chia thành bài toán dễ và bài toán khó. Dễ là bài toán nghiên cứu cấu trúc hệ thần kinh và hệ tín hiệu khách quan đặc trưng cho mọi hoạt động tinh thần. Đó là một nhiệm vụ rất khó khăn nhưng vẫn còn hy vọng tìm được lời giải. Còn khó là bài toán hệ tín hiệu khách quan đó biến thành các ý niệm chủ quan như thế nào. Và theo Chammers, đó có thể là bí ẩn vĩnh viễn đối với khoa học. Dường như đó là sự thật, theo tinh thần định lý không đầy đủ, được nhà toán học và logic học người Áo Godel đưa ra năm 1931.     Tài liệu tham khảo:  1.      McConnell JV (1989), Understangding Human Behavior, 6th edition, Holt, Rinehart  & Winston,  NY  2.      Helen Philips (2006), The human brain, newscientist.com news service, on www. newscientist.com  3.      Gaschler K (2006), One person, one neuron?, Scientific American Mind, vol 17, 1: 77-82  4.      Lilienfeld SO, Arkowitz H (2008), Uncovering “brainscams”, Scientific American Mind, vol 19, 1: 80-81  5.      Dobbs D (2007), Eric Kandel: From mind to brain and back again, Scientific American Mind, vol 18, 5: 32-37    Đỗ Kiên Cường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn bom H Bắc Triều Tiên      Mới đây (3/9/2017), Bắc Triều Tiên (BTT) đã cho nổ dưới lòng đất quả bom mạnh ngót chục lần “Little Boy” Mỹ thả xuống Hiroshima (15 kiloton TNT), nhưng đủ nhỏ để có thể lắp lên tên lửa đạn đạo. Sau năm lần thử bom nguyên tử (bom A), sức nổ chưa bao giờ vượt quá 25 kiloton TNT, lần này BTT loan báo đã chế tạo thành công bom khinh khí (bom H) một cách “trọn vẹn”.      Bức ảnh cho thấy Kim Jong Un đang trao đổi với các cấp dưới bên cạnh thiết bị được cho là vũ khí hạt nhân mới. Ảnh: AFP/Getty.   Bom H hay bom A?  Cho đến nay, ngoài tín hiệu địa chấn 6,3 độ Richter, giới chuyên môn vẫn chưa có chỉ dấu nào để khẳng định vụ thử thứ sáu vừa qua là bom gì. Chỉ thấy tướng chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, John Hyten, tuyên bố: “Tôi không phải là chuyên gia hạt nhân, nên không thể mô tả quả bom ấy thuộc loại gì. Song những gì thấy được cho phép tôi, trên cương vị của mình, xác minh đó chính là bom H và hình dung Mỹ cùng các đồng minh phải làm gì trước sự kiện trên”.  Khẳng định vụ nổ vừa qua là bom H hay bom A, quả không dễ! Năng lượng trong bom A có được từ phản ứng phân hạch dây chuyền do neutron đập lên các hạt nhân rất nặng, 235U hoặc 239Pu, làm chúng vỡ ra hai mảnh phóng xạ kèm theo nhiều neutron thứ cấp. Nhưng năng lượng phân hạch không giải phóng từ từ như trong nhà máy điện hạt nhân, mà ngay tức thời, trong vài phần triệu giây. Bằng sức nổ, nhiệt, và tia phóng xạ, hai quả bom nguyên tử Mỹ đã hủy diệt hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, giết chết hàng trăm nghìn dân Nhật Bản. Chế tạo bom A bằng 235U hay 239Pu đều hết sức gian truân. Hai con đường hoàn toàn khác nhau, nên tùy hoàn cảnh, mỗi nước phải có quyết định thích hợp ngay từ đầu.       235U chỉ có 0,7% trong quặng urani, 99,3% còn lại là 238U. Muốn làm bom A phải xây nhà máy làm giàu, kết nối hàng nghìn máy siêu ly tâm để tách ly 235U ra khỏi 238U và nâng độ giàu lên trên 80%. 239Pu không tồn tại trong tự nhiên. Phải xây lò phản ứng chuyên dụng hoặc nhà máy điện hạt nhân dùng urani thiên nhiên làm nhiên liệu và biết cách tái chế các thanh nhiên liệu đã cháy đầy chất phóng xạ để tách ra 239Pu. Khi lò hoạt động, 238U trong các thanh nhiên liệu sẽ chuyển hóa ra 239Pu. Chọn con đường 239Pu, Ấn Độ đã xây lò phản ứng Dhruva và hàng loạt nhà máy điện hạt nhân bằng cách nội địa hóa công nghệ lò phản ứng CANDU của Canada. Cả Dhruva và CANDU đều dùng nước nặng vừa tải nhiệt vừa làm chậm neutron. Trong trường hợp BTT, họ tự xây lò phản ứng và nhà máy điện hạt nhân bắt chước kiểu lò Magnox của Anh dùng graphite làm chậm neutron và khí CO2 tải nhiệt.  Bom H, còn gọi là bom nhiệt hạch, có sức nổ gấp nghìn lần bom A, dựa trên phản ứng tổng hợp hai hạt nhân nhẹ, 2H và 3H, ở điều kiện nhiệt hạch với nhiệt độ và áp suất gấp triệu lần bình thường. Thực hiện được điều kiện nhiệt hạch này chẳng khác nào tạo ra mặt trời trên trái đất. 2H, hay D (deuterium) là hạt nhân đồng vị hydro trong nước nặng, chỉ chiếm 0,015% trong nước thường. Muốn có D phải lọc nước nặng, một công nghệ nhạy cảm bị nghiêm cấm chuyển giao. 3H, hay T (tritium) không tồn tại trong tự nhiên mà phải điều chế bằng cách bắn neutron lên 6Li trong lò phản ứng công suất rất lớn. Quá tốn kém và mất nhiều thời gian.  Nước Mỹ sau khi tích đủ lượng T đã cho nổ quả bom H đầu tiên nặng 82 tấn trên đảo san hô giữa Thái Bình Dương cuối năm 1952. Bom quá nặng, không máy bay nào mang nổi, vì giữa lòng nó là thiết bị điều lạnh sâu để giữ D và T trong trạng thái lỏng. Về sau, theo ý tưởng của Teller và Uma, bom H của Mỹ có kích thước gọn hơn rất nhiều nhờ sử dụng nhiên liệu rắn 6LiD. Tritium được điều chế ngay trong bom do neutron bắn lên 6Li. Liên Xô thử nghiệm những bom H đầu tiên dùng nhiên liệu rắn năm 1953-1954 theo ý tưởng của Sakharov. Các bom H của hai siêu cường đều có sức nổ hàng nghìn kiloton (megaton) TNT.     Bom H có hai tầng. Tầng một là cơ cấu phân hạch (bom A), tầng hai chứa cả nhiên liệu rắn 6LiD và nhiên liệu phân hạch. Tia X đậm đặc phát ra khi kích hoạt tầng một được dẫn đến tầng hai để nén nhiên liệu làm khởi phát cả phản ứng phân hạch và phản ứng tổng hợp nhiệt hạch. Phản ứng phân hạch đốt nóng trực tiếp nhiên liệu nhiệt hạch và phát ra phóng xạ cực mạnh. Đoạn đường từ tầng một đến tầng hai là hàng loạt bí mật mà các cường quốc hạt nhân đi trước đều mất công sức mày mò thử nghiệm nhiều lần trước khi chôn chặt kết quả trong những kho tuyệt mật quốc gia.  Nếu không vượt qua được những cửa ải này, cách đơn giản nhất là cho 2H và 3H vào một cái hốc giữa bom A, phản ứng tổng hợp nhiệt hạch sẽ xảy ra tại đây nhờ có nhiệt độ và áp suất cực cao khi bom nổ. Cơ chế này vừa tăng sức nổ vừa có neutron dôi ra để đốt cháy thêm nhiên liệu phân hạch, làm tăng hiệu suất và sức nổ của bom A. Loại bom này được gọi là phân hạch có tăng cường nhiệt hạch, sức nổ lớn hơn bom A thông thường, nhưng vẫn rất bé so với bom H. BTT tuyên bố đã sở hữu bom H sau vụ nổ 25 kiloton TNT lần thứ năm hồi năm ngoái, nhưng nhiều người cho rằng đó chỉ là bom A được tăng cường nhiệt hạch. Ấn Độ cũng chỉ mới chế tạo được loại bom này (40 kiloton TNT), Pakistan chưa có.  Nếu những gì BTT tuyên bố sau lần thử vừa qua là đúng, thì họ đã sở hữu được bom H thực thụ, có hai tầng và sử dụng nhiên liệu rắn 6LiD. Tuy sức nổ còn tương đối thấp, nhưng họ có thể nâng cấp lên nếu có đủ thời gian.  Một mục tiêu, ba đời lãnh đạo  Để có bom A bom H, ngay từ đầu BTT đã chọn phương án ưu tiên dùng 239Pu làm nhiên liệu phân hạch và đã vượt qua bao nhiêu cửa ải quan trọng trong suốt năm thập kỷ qua, bắt đầu từ xây dựng lò phản ứng nghiên cứu IRT do Liên Xô giúp (1965), tự nâng công suất lò lên gấp đôi (1974), tinh luyện quặng urani làm thanh nhiên liệu cho lò phản ứng (1984), tự xây lò phản ứng 5 MW và nhà máy điện hạt nhân 50 MWe để sản xuất 239Pu (1986), xây nhà máy tinh luyện 239Pu từ các thanh nhiên liệu đã cháy, xây nhà máy điện hạt nhân dùng urani giàu và nước thường tải nhiệt (2009), thử nghiệm ngòi nổ mồi bom A bằng thuốc nổ quy ước, và sáu lần thử nghiệm vũ khí hạt nhân dưới lòng đất.  BTT cũng đã đưa lên quỹ đạo phương án làm giàu 235U để sản xuất nhiên liệu có độ giàu vừa phải cho nhà máy điện hạt nhân. Đây là con đường dự phòng chế tạo vũ khí và các động cơ nguyên tử. Hecker, nguyên giám đốc Phòng thí nghiệm Los Alamos, sào huyệt vũ khí hạt nhân Mỹ, được mời đến thăm BTT đã quá choáng váng trước hơn 2000 máy siêu ly tâm lắp đặt tại nhà máy làm giàu urani trong quần thể hạt nhân Yongbyon. Theo Hecker, BTT sử dụng máy siêu ly tâm đời P-2 có hiệu suất gấp hai lần đời P-1 được sử dụng ở Iran.  Tóm lại, BTT đã phát triển chương trình hạt nhân lưỡng dụng, phục vụ cả hai mục tiêu quân sự lẫn dân sự, sở hữu đầy đủ các công đoạn trong chu trình nhiên liệu hạt nhân với cả hai phương án 235U và 239Pu. Mỗi công đoạn là một ngọn núi cao đầy hiểm trở, ít nước vượt qua được.     BTT đã tích lũy đủ lượng 239Pu để chế tạo hàng chục bom H song song với phát triển tên lửa đạn đạo trong hoàn cảnh bị cô lập và cấm vận tưởng chừng phải bó tay. Song họ vẫn quyết liệt theo đuổi những mục tiêu trên qua suốt ba đời lãnh đạo cha truyền con nối họ Kim. Toàn bộ những công trình then chốt được thiết kế và khởi động ở đời thứ nhất, “ỡm ờ” đàm phán sáu bên cốt câu giờ chờ tích cóp đủ 239Pu ở đời thứ hai, rồi lao thẳng đến đích bất chấp cấm vận, trừng phạt và phản đối của cộng đồng quốc tế ở đời thứ ba (từ 2012).  Về đích để được gì? Được công nhận là cường quốc hạt nhân (như họ tuyên bố), được trở thành hội viên thứ tám của câu lạc bộ hạt nhân? Không sao lý giải nổi! Khi chiến tranh lạnh lên đỉnh điểm vào đầu thập kỷ 1960, cả Mỹ và Liên Xô đều ý thức được ai ra tay trước sẽ không tránh khỏi bị hủy diệt. Tên lửa mang đầu đạn hạt nhân luôn trong tư thế sẵn sàng nhưng không bao giờ rời khỏi bệ phóng. Với hiệp ước SORT có hiệu lực từ 2003, mỗi nước Mỹ và Nga chỉ còn để lại khoảng 4000 đầu đạn hạt nhân. Hàng chục nghìn đầu đạn khác được tháo gỡ, nhiên liệu được tái sinh theo một thỏa thuận “chuyển megaton thành megawatt” để sử dụng trong các nhà máy điện hạt nhân. Kho vũ khí hạt nhân lại đầy thêm “không đáng kể” bởi các ông chủ Anh, Pháp, Trung Quốc, rồi đến Ấn Độ và Pakistan. “Dân Pakistan thà ăn cỏ vẫn phải làm bom nguyên tử! Đó là tuyên bố của Tổng thống Pakistan khi biết tin “ông Bụt đã mỉm cười”, mật tín báo cáo thử bom nguyên tử thành công ở Ấn Độ năm 1974. Song từ khi Pakistan có bom nguyên tử (1998), cả hai nước láng giềng Nam Á đều đủ tỉnh táo để tránh xa chiếc nút ấn đưa chúng lên quỹ đạo sang bên kia biên giới.  BTT và các bạn đồng hành  Iran giàu có gấp bội, dân số đông gấp hơn ba lần BTT, đội ngũ khoa học hùng hậu hàng đầu khối Ả Rập. Họ đã vượt qua quãng đường dài khiến thế giới phương Tây bất an, ra sức cấm vận. Song họ phải bỏ cuộc trước khi gần đến đích, chấp nhận thanh tra quốc tế toàn diện, dở bỏ nhà máy làm giàu urani, đổ bê tông lấp vùng hoạt lò phản ứng nước nặng đang xây dở dang, cay đắng giao nộp 9 tấn nhiên liệu giàu 20% 235U cho các cường quốc, thiệt hại tài sản lên đến 100 tỷ USD (The New York Times, 28/10/2015).    Bao nhiêu nước khác khá hùng mạnh còn phải bỏ cuộc sớm hơn. Yếu tố nào khiến BTT thua xa họ về mọi mặt và bị cô lập cấm vận ngặt nghèo hơn, lại về đến đích sau thời gian rất ngắn? “Bí mật nguyên tử bị tiết lộ” thường là cách lý giải đơn giản nhất. Gần đây câu chuyện BTT lấy được bản vẽ các máy siêu ly tâm qua trao đổi thiết bị tên lửa với Pakistan trở nên sôi nổi. Theo đó, Abdul Khan nắm được bí quyết này trong thời gian làm việc ở hãng Urenco (Hà Lan) trước khi về nước chỉ huy chương trình vũ khí hạt nhân Pakistan, chính Khan đã trao bản vẽ cho cả Iran và BTT. Chuyện này chắc có thật, song không phải nhờ các bản vẽ này BTT mới có bom nguyên tử. Bom của họ làm bằng 239Pu, không phải 235U.                BTT phải tự tìm ra các bí quyết công nghệ. Bằng con đường nội lực này, họ không chỉ có bom A, bom H và tên lửa đạn đạo, mà còn có tên lửa phóng từ tàu ngầm, hệ thống metro sang trọng, những khu cao ốc chọc trời…, tất cả đều là sản phẩm nội địa từ một nền khoa học công nghệ đạt đến mặt tiền thế giới xoay quanh quỹ đạo tên lửa hạt nhân.  Con người vẫn là nhân tố quyết định. Nhưng họ từ đâu ra, lớn lên bằng cách nào? Thử tìm cách giải mã, dù chỉ phần nào, điều kỳ diệu đầy bí ẩn này.   Ai chỉ huy cỗ máy hạt nhân tên lửa khổng lồ của BTT?  Trước khi bắt tay chế tạo vũ khí hạt nhân, Mỹ và Liên Xô đã có sẵn nền công nghiệp nặng hoàn chỉnh, từng sản xuất đủ loại phương tiện chiến tranh tối tân trong Thế chiến II, từng sở hữu nhiều nhà khoa học hạt nhân hàng đầu thế giới. Mỹ còn hưởng lợi nhờ làn sóng nhập cư chất xám lánh nạn phát xít Đức. Trong số người nhập cư có những nhà khoa học xuất chúng, ghi công đầu trong bom nguyên tử Mỹ.             Trung Quốc, Ấn Độ lạc hậu hơn, nhưng có lợi thế đất rộng người đông, lại tận dụng được những nhà khoa học thành danh từ phương Tây đưa lên vị trí lãnh đạo chương trình hạt nhân tên lửa. Trung Quốc còn được Liên Xô hỗ trợ kỹ thuật trong những năm đầu cho đến khi quan hệ Xô-Trung bắt đầu rạn nứt năm 1960. Bốn năm sau, Trung Quốc cho thử thành công bom nguyên tử.  BTT xây dựng cơ đồ từ số không, trên mảnh đất chật hẹp chưa đầy 25 triệu dân bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến liên Triều (1953). Vòng vây cấm vận quốc tế ngày càng siết chặt. Thiết bị vật tư, quy trình kỹ thuật, dù liên quan rất ít đến công nghệ vũ khí hạt nhân, đều không được trao đổi trên thị trường. Bằng cách nào, từ vài tốp sinh viên mới học qua giáo trình đại học tại Liên Xô đầu thập kỷ 1960, BTT có thể dựng lên đội ngũ hàng nghìn nhà nghiên cứu và công trình sư để vận hành cỗ máy tên lửa, hạt nhân khổng lồ hiện nay. Bên trên họ là hàng trăm chuyên gia tinh tường về mỏ, luyện kim, cơ khí, hóa chất, thủy khí động học, vật liệu cao cấp, công nghệ thông tin, viễn thám, siêu máy tính v.v… Trên cùng phải là những người xuất chúng nhất trong số họ.  Họ lớn lên bằng cách nào trong một thể chế khét tiếng chuyên chế toàn trị. Liệu các nhà lãnh đạo BTT có trực tiếp giao nhiệm vụ và quyền điều hành cho họ, như Stalin từng làm ở Liên Xô? Sách “100 năm nguyên tử Nga” mới xuất bản gần đây đã giải mật rất nhiều sắc lệnh do chính Stalin hoặc người kế cận ký giao nhiệm vụ trực tiếp cho Kurchatov, Alexendrov và nhiều nhà khoa học hàng đầu khác. Trong các sắc lệnh này không hề thấy tên các quan chức cao cấp, ngoại trừ một vị bộ trưởng nào đó lo công tác hậu cần.  Không có bất cứ thông tin nào lọt ra ngoài về những người hùng BTT. Họ không có mặt tại các hội thảo khoa học quốc tế, cũng không để lại dấu ấn nào trên các tạp chí chuyên ngành, nơi được xem là mặt tiền khoa học thế giới. Gần đây, G. H. Jeong và S. Huh, người Hàn Quốc (Sci Ed 2017; 4(1): 24-29. https://doi.org/10.6087/kcse.85) đã bỏ công lục lọi cơ sở dữ liệu Web of Science của Thomson-Reuters và phát hiện chỉ có 318 bài báo ISI mang địa chỉ BTT công bố trong hai thập kỷ gần đây. Số lượng tăng vọt trong hai năm 2015=16, trên 50 bài báo mỗi năm (vẫn chưa bằng số bài báo Việt Nam công bố hơn ba thập kỷ trước đây). Các công trình này chủ yếu làm ở nước ngoài, nhiều nhất là Trung Quốc, sau đó đến Đức. Trong số 318 bài, chỉ có 46 bài (14%) hoàn toàn do nội lực, không có đồng tác giả nước ngoài, gửi đăng nhiều nhất trong ba năm gần đây (37 bài), chủ yếu từ Đại học Kim Il Sung.  Nghĩa là những gì liên quan đến BTT mà Jeong và Huh tìm thấy trên mặt tiền khoa học công nghệ thế giới chẳng mấy liên quan đến lực lượng tên lửa, hạt nhân hùng hậu của họ. BTT đâu phải bận tâm đến công bố quốc tế. Đối với họ, tiêu chuẩn hàng đầu là chất lượng sản phẩm và chinh phục các bí quyết công nghệ.            Iran cho bức tranh khá tương phản. Họ công bố vài chục nghìn bài báo ISI hằng năm, bao quát đủ các lãnh vực (Kharabaf and Abdollah, Science growth in Iran over the past 35 years, http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.958.50). Vậy mà họ không thể biến năng lực nghiên cứu khoa học vượt trội thành sức mạnh công nghệ hạt nhân nguyên tử? Họ chưa dựng lên được nhiều công trình hạt nhân tầm cỡ như BTT. Nghiên cứu khoa học của Iran phải chăng quá nặng tính hàn lâm? Iran và BTT minh chứng bài báo ISI chưa đủ, thậm chí không nói lên sức mạnh của nền khoa học. Khi đất nước theo đuổi các mục tiêu tạo ra sản phẩm công nghệ thì thước đo hàng đầu là chất lượng sản phẩm và chinh phục bí quyết công nghệ, không phải bài báo quốc tế.       Nói theo lối phản đề chắc không sai. Quá lạm dụng công bố quốc tế, xem đây là tiêu chí bao trùm, tối thượng cho nền khoa học, chạy theo số bài báo bằng mọi giá, có thể dẫn đến tình trạng xem nhẹ những mục tiêu tạo ra sản phẩm cho quốc kế dân sinh nhằm có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nền khoa học lúc này chẳng những không mạnh mà còn bị méo mó, thậm chí vu vơ.       Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Bí ẩn của năng lượng tối      Hiện nay năng lượng tối là thành phần áp đảo trong vũ trụ (70% so với vật chất tối 25% và vật chất thông thường 5%), năng lượng tối đang làm vũ trụ dãn nở với gia tốc. Song bản chất năng lượng tối là gì? Hiện nay chưa có câu trả lời duy nhất. Sau đây là bài viết về vấn đề này của hai tác giả Adam G.Riess (Đại học Johns Hopkins – giải Nobel Vật lý năm 2011 vì phát hiện sự dãn nở nhanh dần của vũ trụ) và Mario Livio (Hubble Space Telescope – tác giả cuốn sách nổi tiếng Brilliant Blunders: From Darwin to Einstein: Colossal Mistakes by Great Scientists) đăng trên tạp chí Scientific American, số tháng 3/2016.      Vì sao vũ trụ dãn nở với gia tốc? Sau hai thập kỷ, câu hỏi đó vẫn còn là bí ẩn mặc dầu cũng có vài điều đã được làm sáng tỏ hơn. Theo các nhà vật lý, vũ trụ dãn nở là vì tồn tại năng lượng tối. Song năng lượng tối là gì? Vì sao năng lượng tối quá nhỏ so với các lý thuyết về nó? Năng lượng tối có ảnh hưởng thế nào đến tương lai của vũ trụ? Và cuối cùng những đặc trưng về năng lượng tối của vũ trụ chúng ta có phải là ngẫu nhiên hay không? Nếu các đặc trưng đó quả là ngẫu nhiên thì điều đó có nghĩa là vũ trụ chúng ta chỉ là một trong nhiều vũ trụ khác với nhiều đặc trưng năng lượng tối khác nhau? Sau đây là ba giả thuyết chính nhằm trả lời các câu hỏi trên.  Ba giả thuyết về năng lượng tối  1/ Giả thuyết thứ nhất   Giả thuyết thứ nhất gắn liền với chân không của không gian. Trong chân không các cặp hạt ảo sinh và hủy nhau liên tục trong tíc tắc. Chân không chứa năng lượng và năng lượng giống như khối lượng tạo ra hấp dẫn, song khác với khối lượng, năng lượng tối có thể gây nên lực đẩy hoặc lực hút tùy theo áp suất là âm hay dương. Theo lý thuyết thì áp suất của năng lượng tối phải là âm và đó là nguồn gốc của hiện tượng dãn nở có gia tốc của vũ trụ.  Ý tưởng trong giả thuyết này tương đương với ý tưởng về “hằng số vũ trụ λ – cosmological constant λ” của Einstein. Theo ý tưởng đó thì mật độ của năng lượng tối là constant (không thay đổi) theo không gian và thời gian.          Hình 1. Giả thuyết về hằng số vũ trụ          Hiện nay khi người ta ước tính tổng năng lượng tối theo các trạng thái lượng tử của chân không toàn vũ trụ người ta thu được một trị số lớn hơn trị số quan sát được đến 120 bậc.  Nếu đưa vào siêu đối xứng thì trị số lý thuyết vẫn còn cao hơn trị số quan sát đến 10 bậc. Do đó nếu giải thích năng lượng tối bằng năng lượng chân không thì tại sao năng lượng tối quan sát lại có trị số nhỏ đến như vậy?   Theo giả thuyết này thì vũ trụ sẽ dãn nở mãi làm cho các thiên hà sẽ càng tiến ra xa và trở nên càng khó quan sát được. Và ngay CMB (Cosmic Microwave Background – bức xạ nền vũ trụ) cũng sẽ trải rộng cho nên các bước sóng sẽ dần lớn hơn kích thước của vùng quan sát được và do đó chúng trở nên khó ghi đo được. Chúng ta may mắn ở vào thời đoạn khi còn ghi đo được CMB.  Năng lượng tối có trị số quan sát nhỏ. Các nhà vật lý đưa ra ý tưởng là trị số quan sát này là ngẫu nhiên trong số nhiều trị số thuộc về những vũ trụ khác của một đa vũ trụ. Steven Weinberg cho rằng chúng ta tồn tại vì chúng ta ở vào một vũ trụ với trị số năng lượng tối nhỏ thích hợp. Ý tưởng này được phát triển xa hơn bởi Alexander Vilenkin (Đại học Tuft), Martin Rees (Đại học Cambridge ), Mario Livio và được gọi là nguyên lý vị nhân (anthropic principle).  Vilenkin và Andrei Linde (Đại học Stanford) cho rằng lạm phát vũ trụ một khi đã xảy ra thì tiếp tục mãi và tạo ra nhiều bong bóng tách biệt nhau với nhiều đặc trưng và tính chất khác nhau. Giả thuyết đa vũ trụ cũng là hệ quả của Lý thuyết dây (LTD). Raphael Rousso và Joseph Polchinski trong lý thuyết M (mở rộng của LTD) gợi ý rằng có đến 10500 vũ trụ với các đặc trưng khác nhau và thậm chí với số chiều khác nhau. Các tác giả bài viết này (Riess & Livio) còn cho rằng CMB có thể chứa nhiều nếp nhăn kết quả của sự va chạm của vũ trụ chúng ta với các vũ trụ khác.  2/ Giả thuyết thứ hai.  Giả thuyết thứ hai gắn liền với một “nguyên tố thứ năm – quintessence” tràn ngập vũ trụ và tạo nên lực đẩy. Các nhà vật lý đã quen với khái niệm dạng này – tương tự như trong điện động lực học hoặc trong hấp dẫn – đó là một trường. Nếu năng lượng tối là một trường thì trường đó biến đổi trong không gian và thời gian. Trong trường hợp này năng lượng tối có thể mạnh hơn hoặc yếu hơn hiện nay và có thể tác động lên vũ trụ khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Như vậy năng lượng tối có thể có ảnh hưởng đến vũ trụ trong tương lai theo nhiều chiều hướng khác nhau.   Trong giả thuyết này các nhà lý thuyết giả định rằng cực tiểu của thế năng liên quan đến năng lượng tối là thấp vì thế nên chỉ một phần nhỏ năng lượng tối tràn ngoài không gian, ngoài ra họ còn giả định trường này tương tác rất ít với mọi vật khác (ngoại trừ sức đẩy hấp dẫn).          Hình 2. Giả thuyết năng lượng tối là một trường. Hai phương án có thể xảy ra cho tương lai xa của vũ trụ: A-Vụ xe rách lớn (Big Rip), B-Vụ co lớn (Big Crunch).          Trong giả thuyết này thì tương lai vũ trụ phụ thuộc vào sự biến thiên của trường giả định này: vũ trụ có thể tiến đến một Vụ Xé rách lớn (tiếng Anh là Big Rip)-mọi vật trong vũ trụ tách xa nhau như bị xé rách từng mảnh – hoặc ngừng dãn nở rồi tiến đến một Vụ Co lớn (tiếng Anh là Big Crunch) về một điểm như điểm thời Big Bang. Trong khả năng thứ nhất vũ trụ được gọi là rơi vào một cái chết lạnh.  3/ Giả thuyết thứ ba  Trong giả thuyết thứ ba không tồn tại năng lượng tối nào hết. Hiện tượng dãn nở có gia tốc có thể gợi ý rằng lý thuyết Einstein không đầy đủ đối với những vùng rộng lớn của vũ trụ. Song hiện nay chưa có một lý thuyết nào hiệu chỉnh được lý thuyết Einstein ở những kích thước lớn trong vũ trụ.          Hình 3. Không có năng lượng tối nào hết.Cần hiệu chỉnh lý thuyết Einstein.          Hãy tìm câu trả lời  Con đường tốt nhất dẫn đến câu trả lời là đo tỷ số w = tỷ số áp suất trên mật độ – đó là một đặc trưng của cái gọi là phương trình thông số trạng thái (equation of state parameter). Nếu năng lượng tối là năng lượng chân không (hằng số vũ trụ) thì w = constant = -1.   Nếu năng lượng tối gắn liền với một trường biến đổi theo thời gian thì w ≠ – 1 và tiến triển theo lịch sử của vũ trụ.  Nếu là trường hợp cần thay đổi lý thuyết Einstein ở những kích thước lớn ta sẽ thấy sự mất tương hợp (inconsistency) trong trị số của w ở các vùng kích thước khác nhau của vũ trụ.   Bằng cách nghiên cứu sự hình thành và lớn lên của các cụm thiên hà, các nhà vật lý có thể hình dung được năng lượng tối đã biến thiên như thế nào tại các thời điểm của lịch sử vũ trụ. Dùng hiệu ứng thấu kính hấp dẫn (gravitational lensing) chúng ta có thể biết được khối lượng các cụm thiên hà và khi nghiên cứu hiệu ứng đó ở nhiều khoảng cách ta có thể hình dung được sự lớn lên của các cụm thiên hà ở nhiều thời điểm.  Ta cũng có thể nghiên cứu tốc độ dãn nở của vũ trụ theo thời gian nhờ hiệu ứng lệch về phía đỏ (redshift) của các ánh sáng từ các thiên hà.          Hình 4. Mật độ năng lượng tối qua các thời kỳ.          Hiện nay phần lớn các dữ liệu quan sát cho trị số w = – 1 với sai số chừng 10 % và như thế dường như giả thuyết 1 về hằng số vũ trụ có vẻ là đúng trong hiện tại. Tác giả Riess với kính viễn vọng không gian Hubble đã nghiên cứu năng lượng tối ngược về quá khứ khoảng 10 tỷ năm (sử dụng các siêu tân tinh) và tìm thấy rằng không có biến thiên nào đặc biệt của w. Tuy nhiên gần đây một sự kết hợp giữa việc đo CMB (từ vệ tinh Planck) với các kết quả dùng thấu kính hấp dẫn lại cho thấy trị số w âm nhiều hơn là – 1. Nhiều kết quả khác cũng cho thấy, w có thay đổi. Song những kết quả sau này đều cần phải kiểm định lại. Nhiều dự án đã bắt đầu như DES (Dark Energy Survey), LSST (Large Synoptic Survey Telescope), WFIRST-AFTA (Wide Field Infrared Survey Telescope-Astrophysics  Focused Telescope Assets của NASA) được thực hiện nhằm tìm thêm độ chính xác của trị số w.  Ngoài ra hiện nay người ta cũng tiến hành nhiều thí nghiệm với hy vọng tìm những sai khác đối với lý thuyết Einstein (ở những kích thước lớn).  Vì thế, những năm tiếp theo sẽ là những năm bản lề về nghiên cứu năng lượng tối và người ta hy vọng điều đó đem lại nhiều câu trả lời cho bí ẩn năng lượng tối và từ đó hình dung được tương lai của vũ trụ.  CC. biên dịch  ————-  Tài liệu tham khảo  [1] Observational Evidence from Supernovae for an Accelerating Universe and a Cosmological Constant. Adam G. Riess et al. in Astronomical Journal, Vol. 116,   No. 3, pages 1009–1038; September 1998.   [2] The Accelerating Universe. Mario Livio. Wiley, 2000.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn của ‘Oumuamua      ‘Oumuamua có thể là tiểu hành tinh đầu tiên đến từ ngoài hệ Mặt trời sẽ hé lộ cho chúng ta phần nào câu hỏi “có tồn tại sự sống ngoài Trái đất hay không”?      Minh hoạ hình dạng kỳ dị của tiểu hành tinh ‘Oumumua đang bị bay hơi do bị bức xạ nhiệt của các sao đốt nóng. Nguồn NASA/JPL.   ‘Oumuamua, tiếng Hawaii có nghĩa là “người báo tin”, là vật thể đầu tiên đến từ môi trường liên sao, được phát hiện băng qua hệ Mặt trời vào năm 2017 bằng quan sát Pan-STARRS đặt tại Hawaii. Ở thời điểm gần nhất, ‘Oumuamua, với kích thước cỡ 200 m, chỉ cách chúng ta khoảng 24 triệu km (gần bằng 1/6 khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời). ‘Oumuamua đã thu hút sự quan tâm rất lớn của công chúng và các nhà thiên văn bởi đây là lần đầu tiên chúng ta phát hiện ra một tiểu hành tinh đến từ một hệ hành tinh khác ghé thăm. Việc phát hiện ra ‘Oumuamua đã mang đến cho các nhà thiên văn một cơ hội hiếm hoi để nghiên cứu về tính chất vật lý và hóa học và điều kiện hình thành các hệ Mặt trời xa xôi, từ đó trả lời câu hỏi liệu có tồn tại sự sống ngoài Trái đất hay không.   Tuy nhiên, ‘Oumuamua mang những tính chất dị thường mà giới khoa học chưa thể trả lời được. Thứ nhất, ‘Oumuamua có hình dạng vô cùng đặc biệt, dài như điếu thuốc cigar hoặc dẹt giống chiếc đĩa (Hình 1). Tỷ số bán trục dài lớn hơn bán trục ngắn hơn sáu lần, điều này không giống với bất cứ tiểu hành tình nào từng thấy trong hệ Mặt trời. Thứ hai, khi rời khỏi hệ Mặt trời, ‘Oumuamua chuyển động nhanh hơn so với dự đoán dựa trên tác dụng của lực hấp dẫn Mặt trời. Để giải thích cho tính chất này của ‘Oumuamua, người ta suy luận là ắt phải tồn tại một lực phi hấp dẫn nào đó đủ khả năng tạo ra một gia tốc trội (acceleration excess). Thông thường, nếu là sao chổi thì gia tốc trội được sinh ra từ sự bay hơi của băng phân tử. Tuy nhiên, sử dụng kính thiên văn hồng ngoại Spitzer, các nhà thiên văn không quan sát thấy ở ‘Oumuamua có sự bay hơi của khí và bụi giống như với các sao chổi. Vì vậy, nguyên nhân của gia tốc trội của tiểu hành tinh này vẫn là điều bi ẩn.  Các giả thuyết về nguồn gốc của ‘Oumuamua  Đến nay, nguồn gốc của ‘Oumuamua cũng như tính kỳ dị của nó vẫn còn là điều bí ẩn. Vì vậy, các nhà thiên văn học đã đưa ra nhiều các giả thuyết khác nhau về ‘Oumuamua, trong đó đáng chú ý là bốn giả thuyết sau:  1. ‘Oumuamua được hình thành trong đĩa tiền hành tinh và bị văng ra trong quá trình các tiểu hành tinh va chạm với nhau.  2. ‘Oumuamua ban đầu có hình dạng bình thường nhưng trở nên kỳ dị trong quá trình bào mòn do va chạm với khí và bụi của môi trường liên sao.  3. ‘Oumuamua là một mảnh vỡ của một hành tinh khi chúng bay gần một hệ sao và bị phá hủy do lực hấp dẫn thủy triều.  4. ‘Oumuamua có thể là phi thuyền của người ngoài hành tinh viếng thăm Trái đất.  Gần đây nhất, hai nhà khoa học Mỹ, Darryl Seligman và Gregory Laughlin từ Đại học Yale đã đề xuất ‘Oumuamua là một tảng băng phân tử hydro. Theo giả thuyết này thì băng hydro sẽ thăng hoa (sublimation) do bị bức xạ Mặt trời đốt nóng, tạo ra phản lực và gây ra gia tốc phi hấp dẫn. Trong khi đó, phân tử hydro không phát xạ mạnh ở vùng hồng ngoại do không có mô men lưỡng cực điện do đối xứng phân tử (chỉ có phát yếu ớt do dịch chuyển dao động-quay tứ cực), nên sự bay hơi của chúng không thể quan sát được thông qua phổ phát xạ. Ngoài ra, sự thăng hoa của băng hydro cũng có thể giải thích được hình dạng kỳ dị của ‘Oumuamua.   Đề xuất này rất thú vị vì trước đây, băng phân tử hydro đã được đề xuất để giải thích bản chất vật chất tối – một loại vật chất không quan sát thấy bằng bức xạ điện từ và chiếm tới 75% vật chất trong vũ trụ. Đi tìm bản chất của vật chất tối là một trong các vấn đề lớn nhất của vật lý thiên văn hiện nay.    Hình 1. Quỹ đạo hình hyperbol của tiểu hành tinh ‘Oumuamua khi bay qua hệt Mặt trời từ ngày 29/7/2017 đến 28/10/2017. Quỹ đạo của ‘Oumuamua gần như vuông góc với mặt phẳng hoàng đạo do các hành tinh trong hệ Mặt trời tạo ra. Nguồn: Wikipedia.  Hydro là nguyên tố hóa học chiếm tới 90% khối lượng của vật chất “nhìn thấy” trong vũ trụ. Các quan sát thiên văn học cho thấy hydro chủ yếu tồn tại ở trạng thái khí. Về mặt lý thuyết, khi nhiệt độ môi trường giảm sâu tới dưới ~14 K (-2590C), chẳng hạn như trong lõi các đám mây phân tử khổng lồ, phân tử hydro có thể dính vào trên bề mặt của hạt bụi và tạo thành hạt băng hydro do quá trình bồi tụ. Trong môi trường vũ trụ, băng hydro sẽ thăng hoa ở nhiệt độ rất thấp, chỉ vài độ K. Các quan sát thiên văn học đến nay chưa tìm thấy bằng chứng của băng hydro trong vũ trụ.   ‘Oumuamua có là “tảng băng phân tử hydro”?  Ý tưởng của Darryl Seligman và Gregory Laughlin về việc ‘Oumuamua là một tảng băng phân tử hydro dựa trên giả thiết là băng hydro được tạo thành ở trong lõi của các đám mây phân tử khổng lồ (Giant Molecular Clouds-GMCs), nơi nhiệt độ được giảm tới mức thấp nhất có thể, cỡ vài K, gần bằng nhiệt độ phông nền vi sóng vũ trụ (Cosmic Microwave Background Radiation). Vì vậy, nếu ‘Oumuamua thực sự là một tảng băng hydro, đầu tiên chúng phải được tạo thành trong lõi đám mây và phải bền vững trong quá trình di chuyển từ nơi sinh ra cho đến hệ Mặt trời.  Ý tưởng của họ đã gợi ý cho tôi và Abraham Loeb, giáo sư Frank B. Baird Jr. tại Đại học Harvard, cùng tập trung vào các câu hỏi căn bản: Liệu các tảng băng phân tử Hydro có thể hình thành được trong vũ trụ hay không? Băng hydro có thể bền vững trong quá trình chuyển động từ nơi nó hình thành đến hệ Mặt trời? Liệu vật chất tối có thể bao gồm băng phân tử hydro hay không? Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Astrophysical Journal Letters, “Destruction of molecular hydrogen ice and Implications for 1I/2017 U1 (‘Oumuamua)” (Sự phá hủy tảng băng phân tử hydro và những gợi ý cho 1I/2017 U1 (‘Oumuamua)).  Dựa trên các tính toán chi tiết, chúng tôi nhận thấy có bốn điểm quan trọng mà chúng tôi rút ra từ ‘Oumuamua: 1. Trong điều mật độ cao ở lõi các đám mây phân tử khổng lồ (GMCs), việc hình thành các hạt băng phân tử hydro (có bán kính cỡ micro mét) không thể diễn ra, bởi vì nhiệt sinh ra do va chạm của phân tử khí với hạt băng hydro dễ dàng đốt nóng băng hydro lên trên 3 K, làm chúng thăng hoa rất nhanh. Các hạt băng hydro bị phá hủy trước khi chúng có thể kết hợp với nhau để phát triển thành các khối băng có kích thước lớn; 2 Nếu các khối băng hydro có kích thước hàng trăm mét có thể được tạo thành trong đám mây bụi khí khổng lồ thông qua một quá trình vật lý nào đó chưa biết, thì các khối băng này sẽ bị quá trình thăng hoa do sự đốt nóng bởi va chạm khi di chuyển từ lõi đám mây khổng lồ ra môi trường liên sao phá hủy; 3. Khi di chuyển trong môi trường liên sao, bức xạ từ các ngôi sao sẽ đốt nóng bề mặt của khối băng hydro. Vì vậy tảng băng có kích thước ‘Oumuamua sẽ bị phá trước khi chúng có thể bay tới hệ Mặt trời; 4. Khối băng hydro có kích thước cỡ 200 m, bằng kích thước của ‘Oumuamua, dễ dàng bị phá hủy do quá trình thăng hoa nhiệt khi chúng đi vào hệ Mặt trời và bị phá hủy trước khi chúng có thể thoát ra khỏi hệ Mặt trời. Điều này không phù hợp với thực tế là ‘Oumuamua vẫn an toàn rời khỏi hệ Mặt trời chúng ta.   Những thông tin này có nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu bản chất của vật thể liên sao đầu tiên ‘Oumuamua, cũng như sự hình thành và tồn tại của một loại vật thể hoàn toàn mới trong vũ trụ-vật thể cấu tạo từ băng phân tử hydro. Thứ nhất, chúng tôi bác bỏ giả thuyết ‘Oumuamua là một tảng băng phân tử hydro” bởi vì các tảng băng này dễ dàng bị phá hủy do quá trình thăng hoa khi chúng di chuyển trong môi trường liên sao và hệ Mặt trời. Thứ hai, giả thuyết vật chất tối có nguồn gốc từ băng hydro nguyên thủy thật khó thuyết phục bởi vì băng phân tử hydro không thể được hình thành trong vũ trụ, ngay cả nơi lạnh lẽo nhất là lõi đám mây khổng lồ.   Kết quả này một lần nữa cho ta thấy bản chất của ‘Oumuamua vẫn còn là điều bí ẩn. Trong tương lai sẽ có thêm nhiều vật thể liên sao được các kính thiên văn tối tân phát hiện. Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc thêm về bản chất của ‘Oumuamua, về thành phần hóa học của các hệ Mặt trời xa xôi, từ đó cho chúng ta từng bước tìm ra lời giải cho câu hỏi “có tồn tại sự sống trong vũ trụ hay không”.□  Tài liệu tham khảo:  Seligman D; Laughlin G (2020). “Evidence that 1I/2017 U1 (‘Oumuamua) was Composed of Molecular Hydrogen Ice“, ApJL, 896L, 82  Hoang, T.; Loeb, A. (2020). “Destruction of molecular hydrogen ice and Implications for 1I/2017 U1 (‘Oumuamua)”. arXiv:2006.0808    Author                Hoàng Chí Thiêm        
__label__tiasang Bí ẩn đời sống của nô lệ châu Phi ở châu Mỹ      Trong giai đoạn từ năm 1500 đến năm 1875, khoảng 4.8 triệu nô lệ châu Phi được mang sang Caribbean, so với khoảng 389,000 người được bán sang Hoa Kỳ. Tuy niên đại không quá xa xôi nhưng đời sống của họ như thế nào vẫn còn là bí ẩn. Các cuộc khai quật trên một hòn đảo vùng Caribbean tiết lộ về cuộc sống của những nô lệ đến từ châu Phi, và họ đã lao động thế nào để xây dựng thế giới ngày nay.      Mua bán nô lệ ở Caribbean. Nguồn ảnh: www.sciencephoto.com  Justin Dunnavant cúi thấp cạnh một bức tường đổ nát, cẩn thận dùng cái bay cào bới một cái hố nông, dài 2m, hình chữ nhật. Phải vát thẳng các cạnh của hố trước khi đội khai quật gồm 19 học sinh trung học của quần đảo Virgin thuộc Mỹ tới đây. Anh đổ dồn đất vào một cái xô nhựa rồi nhẹ nhàng sàng qua một lưới thép để tách các vụn mẫu vật. Sau đó, anh đứng hướng dẫn các thiếu niên tình nguyện khai quật khoảnh đất mà xưa kia từng là một ngôi nhà nhỏ.  Các mẫu vật rất giản đơn: xương cá và xương lợn còn lại sau các bữa ăn, nút áo quần, mảnh gốm thô hoặc mảnh sứ mịn tráng men, tất cả đều cách đây hàng thế kỷ. Đối với Dunnavant, nhà khảo cổ từ Đại học Vanderbilt, chúng là những chìa khóa vàng mở ra những bí ẩn về đời sống của những nô lệ châu Phi ở đây. Nô lệ châu Phi sống và lao động ở Estate Little Princess từ khi những đồn điền được thành lập năm 1749 cho đến khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ tại St. Croix năm 1848. Tài liệu ghi nhận năm 1772 là thời điểm ở đây có nhiều nô lệ nhất, 141 người. Họ bị cưỡng ép trồng và thu hoạch mía, nấu mật mía và làm rượu rum. Lao động nặng nhọc của họ đem lại khối tài sản khổng lồ cho những chủ đồn điền cũng như mẫu quốc Đan Mạch, những kẻ cai trị hòn đảo từ năm 1672 mãi đến năm 1917.  Lịch sử thành văn về nơi này và hơn 1000 đồn điền tương tự trải khắp vùng Caribbean giúp ta thống kê được số lượng, giới tính, độ tuổi và gốc gác của những nô lệ này, nhưng hầu như không chép gì về đời sống hằng ngày của họ. Ở đây, những người châu Phi đã kết hôn, sinh con, xây dựng gia đình trong tình cảnh thường xuyên bị đe dọa giết và bán đi. Họ tự trồng cây lương thực, tìm nguồn nước, nặn và nung các loại gốm từ đất sét tại chỗ, chăn nuôi gia súc, bắt cá và bẫy thú rừng. Họ bán thực phẩm và hàng thủ công dôi dư ra các chợ mà họ tự tổ chức để kiếm tiền mua các mặt hàng khác cho gia đình.    Nhà khảo cổ Jusstin Dunnuvant, đồng tổ chức cuộc khai quật ở Estate Little Princess.  Để tìm hiểu điều này, dẫu chỉ là lướt qua, chúng ta cần đến khảo cổ học. Đó là lý do và Dunnavant và đồng nghiệp Ayana Omilade Flewellen từ Đại học UC Berkeley dành hẳn 4 tuần mùa hè để khai quật ở đây. Nhóm đang đi theo xu hướng nghiên cứu khảo cổ quanh vùng Caribbean: không chỉ nghiên cứu đơn thuần về thể chế nô lệ, mà còn khám phá đời sống hàng ngày của các nô lệ châu Phi trong tất cả mối liên hệ và bối cảnh lịch sử. Những mẫu vật nhỏ bé và đơn giản kể trên là manh mối quan trọng hàm chứa nét cá tính và nhân tính của những nô lệ châu Phi phải sống dưới một hệ thống được thiết kế để loại bỏ cả hai điều ấy. Và bằng cách nghiên cứu thảm thực vật, hệ thống cấp nước và các đặc tính môi trường khác tại đồn điền, các nhà khảo cổ đang phác thảo lại cách chế độ nô lệ đã định hình quần đảo và thế giới.  “Không thể chôn vùi mãi mãi, họ cần phải được tưởng nhớ”, Alicia Odewale, nhà khảo cổ về dân cư ở châu Phi thuộc Đại học  Tulsa, Oklahoma nói.  Đồn điền Estate Little Princess nằm trên đảo St. Coix đã từng đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế toàn cầu. Từ 300 năm trước, hàng ngàn thuyền buôn châu Âu giong buồm hướng về Caribbean, mang đến đây nô lệ châu Phi rồi chất đầy đường, cà phê và các nông sản khác chở về chính quốc. Chế độ nô lệ dẫn dắt kinh tế thế giới, nó len lỏi vào mọi ngóc ngách toàn cầu, và vùng Caribbean đóng vai trò then chốt trong đó”, Jilian Galle, giám đốc Kho lưu trữ khảo cổ số hóa về chế độ nô lệ (DAACS), đặt ngay tại khu nông trại Monticello từng thuộc về tổng thống Thomas Jefferson, nói.  “Hầu như mọi con tàu hoạt động trong thời kỳ này, bằng cách này hay cách khác, đều dính líu đến buôn bán nô lệ”, Dunnavant nói.  Trong giai đoạn từ năm 1500 đến năm 1875, khoảng 4.8 triệu nô lệ châu Phi được mang sang Caribbean, so với khoảng 389,000 người được bán sang Hoa Kỳ. Có lẽ một triệu người khác đã chết trong các chuyến hải trình.  Dunnavant và Flewellen lên kế hoạch lần theo dấu vết của những nô lệ châu Phi bắt đầu từ những con tàu đưa họ cập cảng Christiansted. Các nhà khảo cổ từ Ban quản lý Vườn quốc gia Hoa Kỳ đã xác định được các cổ vật từ các vụ đắm tàu gần một hòn đảo nhỏ ngoài khơi, nghi ngờ đây là các tàu chở nô lệ.    Những bức tường đổ nát của một ngôi nhà, có lẽ từng là của người quản đốc.  Nô lệ châu Phi bị bán đến nhiều địa điểm trên đảo St. Croix, gồm cả đồn điền Estate Little Princess, nơi cách hải cảng Christiansted và hiện nay trực thuộc Cơ quan bảo tồn tự nhiên. Các tài liệu về dân số ghi nhận có 38 ngôi nhà trong làng, nhưng nhiều ngôi nhà đã bị phá hủy, chỉ còn sót lại những bức tường bằng đá và san hô. Các nhà khảo cổ xác định niên đại của chúng nhờ vào thảm thực vật xung quanh. Họ cũng đào các hố cách mỗi 10 mét trong khu vực để tìm các cổ vật còn sót lại.  Tiếp đó, họ tiếp cận những ngôi nhà còn nguyên vẹn nhất. Tuy mái nhà biến mất từ lâu, nhưng các bức tường đủ cao để chỉ ra vị trí cửa chính và cửa sổ. Chúng khá chật với kích thước chỉ khoảng 6 mét x 3 mét, nên có lẽ cư dân nấu ăn bên ngoài. Đó là lý do cần các em học sinh trợ giúp khai quật ngay bên cạnh các bức tường. Các em đào và sàng lọc các cổ vật dưới sự hướng dẫn của Alexandrea Jones, người sáng lập tổ chức giáo dục phi lợi nhuận mang tên Khảo Cổ Học Cộng Đồng (Archaeology in the Community) ở Washington DC.   Phía kia bức tường, bên trong ngôi nhà, các sinh viên đại học ngành lịch sử cũng đang đào một hố rộng 1 mét vuông. Đây là trải nghiệm khảo cố thực tế đầu tiên trong đời họ, nhưng họ làm việc rất hiệu quả. Trong khi hai sinh viên cạo lớp đất mỏng đổ vào xô, các bạn khác sàng lọc chúng để giữ lại những mảnh cổ vật. Do niên đại của những đồn điền này còn quá ngắn để xác định bằng phương pháp carbon phóng xạ, các nhà khảo cổ đành phải phác thảo dòng thời gian bằng cách truy tìm sự thay đổi về hình thái của cổ vật, bao gồm đồ gốm và nút quần áo. Bỏ sót một vật thể dù bé nhỏ cũng đồng nghĩa với việc mất đi một thông tin vô giá.  Dunnavant cùng Flewellen, hai đồng sáng lập Hiệp hội các nhà khảo cổ Da Đen, định hướng giáo dục như mục tiêu ưu tiên của chương trình. Chỉ chưa đầy 1% các nhà khảo cổ Hoa Kỳ là người da đen, điều mà họ mong muốn thay đổi. “Từ cuối thập niên 1970, khảo cổ học đặt ra nhiều câu hỏi về sự hình thành bản sắc và văn hóa riêng của nhóm cư dân đến từ châu Phi, và giải đáp chúng thông qua các nghiên cứu thực địa tại đồn điền. Nhưng không có sự tiến bộ nào trong việc đào tạo những người hậu duệ da đen tham gia tìm hiểu về tổ tiên của họ,” Flewellen nói.  Các sinh viên ngồi bên những chiếc bàn gấp được kê ngay trước căn nhà đổ nát để cùng nhau phân loại cổ vật vừa được trải ra khay nhựa. Những mẫu vật 200 năm tuổi được Odewale hướng dẫn các học sinh phân loại thành các loại: thủy tinh, xương, kim loại, gốm sứ, và một loại đồ gốm được nặn từ đất sét thô, nung trong lò bằng cách đốt củi xung quanh, được gọi là đồ gốm Afro-Crucian. Tất cả mẫu vật sẽ được nhập dữ liệu vào DAACS, nơi lưu trữ kỹ thuật số về các di tích của chế độ nô lệ, gồm 53 địa điểm ở Mỹ và 24 đại điểm khác tại 6 đảo vùng Caribbean. Estate Little Princess là sự bổ sung giá trị vào tư liệu chung vì các nhà khảo cổ đã thu được ở đây một bộ sưu tập hiện vật đa dạng đáng kinh ngạc. Khadene Harris, nhà khảo cổ ở trường Cao đẳng Kenyon, Ohio trầm trồ rằng “họ có hầu như mọi thứ” mà bạn có thể tưởng tượng ở một đồn điền: chai thủy tinh đựng nước và thuốc, đồ gốm tự làm, xương động vật, nút và móc treo quần áo, móng tay, mảnh thân tẩu hút, thậm chí những đồ đắt tiền như đồ sứ hoặc một chiếc thìa bằng thiếc, có lẽ được nhập từ châu Âu. “St Croix là hòn đảo có kết nối tốt với thế giới bên ngoài,” theo lời Harris.  Nhưng trái với giả định trước đây, chủ đồn điền không mua chúng. Khi các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật tại các đồn điền vào thập niên 1970, họ tưởng rằng tất cả vật dụng trong nhà nô lệ là do chủ đồn điền cung cấp, theo Theresa Singleton từ Đại học Syracuse, NY. Tra cứu trong các tư liệu lưu trữ cho thấy nô lệ châu Phi ở Caribbean và đông nam Hoa Kỳ đều tự mua lấy vật phẩm của họ. Trên St. Croix và các đảo Caribbean khác, họ cùng những cư dân da màu tự do, những nhà mậu dịch cũng như cư dân nghèo và trung lưu da trắng đã mua vật phẩm ở các chợ được tổ chức bởi các phụ nữ da đen nô lệ và tự do. Ở đó, nô lệ bán hoa màu dư thừa hoặc hàng thủ công và mua các mặt hàng như đồ sứ và tẩu thuốc lá.  Mức độ tham gia vào nền kinh tế của các nô lệ khác nhau ở từng đảo và từng giai đoạn lịch sử, có nơi có lúc họ bị cấm đoán nghiêm ngặt. Trên một đồn điền ở thế kỷ 19 tại Cuba, nơi Singleton đã khai quật, các lao động nô lệ có rất ít tài sản. Họ sống trong ngôi làng có một bức tường cách ly. Singleton cho rằng đó là biện pháp đối phó với cuộc nổi loạn năm 1825 và những đợt cướp bóc liên tiếp của những người tẩu thoát.  Ngay cả trên St. Croix, nơi nô lệ mua bán dễ dàng hơn, các hiện vật còn lại vẫn rất ít ỏi và khiêm tốn, nhưng dầu sao chúng cũng là những manh mối kết nối những câu chuyện xa xưa. Các nhà khảo cổ học không tìm thấy mảnh xương phẳng nào đủ rộng để gọt dũa thành nút quần áo, nên nhiều khả năng họ không tự chế tác mà đã mua các nút này. Mỗi hiện vật đều toát lên lối sống và cách làm ăn của từng nô lệ, cách họ chi tiêu và thể hiện bản sắc của mình trong khi phải chịu nhiều ràng buộc của một hệ thống tàn bạo. Dựa vào đó, các nhà khảo cổ cố gắng tái hiện khung cảnh và đời sống của những nô lệ, họ đi đứng, ăn mặc ra sao.    Nhà khảo cổ Ayana Omilade Flewellen giúp các thực tập sinh sàng lọc mẫu vật.  Trong lúc phân loại, các em học sinh bối rối trước một mẫu vật hình cầu, kích thước bằng hạt đậu gà, dường như màu xám ẩn bên dưới lớp bụi đất. Odewale kinh ngạc: “Đó là đạn súng hỏa mai!” Sau đó, cô cẩn thận làm sạch bề mặt ‘viên đạn’ bằng bàn chải răng. Thì ra không phải màu đen của một viên đạn chì, mà là màu nâu của đất sét bản địa. Viên bi nhìn như cẩm thạch, rắn chắc, có lẽ là đồ chơi của trẻ em hoặc dùng trong trò đánh bạc. Nhưng cũng có thể nó có công dụng khác. Lịch sử truyền miệng kể rằng những nô lệ thả viên vị đất sét vào trong đường ống nước bằng gốm. Khi các viên bi kêu leng keng, thì đó là tín hiệu cho thấy mực nước đang thấp.   “Sáng tạo quá!” Cô bật khóc. “Thiên tài từ lao động mà ra. Chúng ta chỉ cần lắc và nghe là biết liền.” Những kinh nghiệm của người nô lệ châu Phi không chỉ được bảo tồn trong các mẫu vật, chúng còn hiện hữu trong khung cảnh của Estate Little Prince. Trồng mía và chế biến mật mía đòi hỏi công sức lao động rất nặng nhọc, trong khi chủ đồn điền luôn chạy theo lợi nhuận tối đa trong một thị trường toàn cầu hóa mới hình thành bằng cách giữ chi phí sản xuất càng thấp càng tốt. Trên nhiều hòn đảo, nô lệ châu Phi bị buộc phải phá những cánh rừng rộng lớn để lấy đất trồng mía. Cây mía tiêu thụ nước khủng khiếp, nên họ phải đào mương và chuyển dòng các con sông để lấy nước tưới tiêu. Để nấu mật, họ lại phải chặt nhiều cây để làm củi, đun cả ngày lẫn đêm. “Ép buộc nô lệ tàn phá môi trường mà họ đang nương tựa vào để sống quả thực là một chính sách dã man,” Harris nói.  Dunnavant thì cho rằng công cuộc cải tạo trên đảo St, Croix “đã tạo ra một môi trường hoàn toàn khác”-một hòn đảo hoàn toàn không có rừng hiện nay. Anh cố gắng nắm bắt các chi tiết về môi trường, như nơi cấp nước của Estate Little Princess và những loại cây mà nô lệ hay trồng. St. Croix và những hòn đảo thuộc địa khác đều có khu đất để nô lệ tự trồng lương thực cho họ,  chỗ cho họ sinh hoạt cá nhân. Trên đồn điền Morne Patate ở Dominica, nhà khảo cổ Mark Hauser từ Đại học Northwestern, IL khám phá ra một khu đất nằm dưới chân cánh đồng vẫn đang canh tác. Ở đó, ông và đồng nghiệp Sarah từ Đại học Bang Arizona Tempe tìm thấy các hạt giống và thực vật khác có nguồn gốc khắp nới trên thế giới: bắp ngô từ châu Mỹ, lúa mạch từ châu Âu, kê và lúa miếng từ châu Phi. Nguồn lương thực đa dạng đã dẫn đến kiểu nấu ăn Caribbean mới, được nêm nếm theo khẩu vị các nô lệ châu Phi. Các nhà nghiên cứu thậm chí đã tìm ra dấu vết của cà phê trong nhà của các nô lệ, mặc dù nó một loại cây giá trị cao được trồng ở đồn điền.  Dunnavant hy vọng sẽ khảo sát xong toàn bộ thực địa đồn điền vào năm tới, bao gồm các tàn tích của một nhà máy nghiền và một nhà máy rượu rum. Có lần Armstrong trượt xuống một rãnh nước thẳng đứng và phát hiện một hang động chứa đầy xương động vật, củi cháy và các mảnh sắt, có cả lưỡi dao. Có lẽ những nô lệ châu Phi đang lên kế hoạch trốn thoát hoặc nổi loạn, hoặc họ đã thực hành một nghi lễ nào đó được đem từ Tây Phi sang, nơi mà sắt mang ý nghĩa tôn giáo. “Dù là gì chăng nữa, đó cũng là một hình thức phản kháng,” Armstrong nói.    Di dân cưỡng bức diễn tra trong nhiều thế kỷ, những con tàu chở nô lệ từ châu Phi sang Caribbean, nơi họ bị ép buộc phải lao động trong các đồn điền cà phê và mía. Lao động của họ đã biến đổi hệ sinh thái các hòn đảo cũng như nền kinh tế thế giới, tạo ra khối tài sản khổng lồ cho các chủ đồn điền châu Âu.  Ngay cả khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ năm 1848 và hòn đảo được sáp nhập vào Hoa Kỳ năm 1917, đồn điền vẫn sản xuất mía đường đến tận thập niên 1960. Tài liệu ghi chép rằng những nô lệ vừa được giải phóng vẫn tiếp tục làm công việc cũ nhưng khác trước là họ được nhận lương. Một số ngôi nhà vẫn là nơi cư ngụ cho đến những năm 1960 hoặc muộn hơn, rồi sau đó bị bỏ hoang để tránh cướp bóc; các nhà khảo cổ thậm chí đã tìm thấy mảnh pin và các mảnh vỡ của đài radio. Họ đã được tự do, vậy tại sao không rời đi mà vẫn còn nán lại lâu như vậy? Theo nhà khảo cổ William White từ UC Berkeley, họ khó có thể tìm chân trời mới khi mà các đảo xung quanh vẫn chưa bãi bỏ chế độ nô lệ, mãi đến khi Cuba là nơi cuối cùng trong vùng Caribbean xóa luật nô lệ vào năm 1886.  Dĩ nhiên là họ luôn mong muốn thoát khỏi sự giám sát của chủ cũ. Khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ ở Dominica năm 1834, nhiều lao động vẫn ở lại đồn điền Bois Cotlette, nhưng họ rời bỏ ngôi làng cũ để dựng những ngôi nhà mới ngay giữa đồn điền, cách xa nhà của chủ đồn điền. Những ngôi nhà có thể được tháo rời dễ dàng để di chuyển và lắp ráp lại ở nơi khác khi họ muốn đổi chỗ hoặc bị đuổi. “Họ muốn có không gian rộng lớn hơn và tự chủ hơn,” Harris nói.  Trở lại với Estate Little Princess, các học sinh hoàn tất việc khai quật và sàng lọc trong ngày. Các mẫu vật sẽ được làm sạch, xếp vào cấc túi nhựa được dán nhãn cẩn thận. Chúng sẽ được lưu trữ tại văn phòng của Odewale ở Oklahoma cho đến khi một cơ sở lưu trữ được xây dựng ở St. Croix. Đây là một thách thức bởi các cơn bão thường tấn công St. Croix, chúng thường rất mạnh và làm hư hại các tòa nhà, như bão Irma và Maria năm 2017.   Gió bão quật ngã những cây xoài từng sừng sững một thời, những cây đu đủ mọc lên thế chỗ, cứ thế hệ sinh thái của đồn điền thay đổi. Những góc nhìn bi quan có thể cho rằng trên St. Croix chỉ có bi kịch chồng chất bi kịch. Còn các nhà khảo cổ lại bộc lộ niềm cảm phục trước sức sống kiên cường và khả năng hồi phục đáng kinh ngạc của một hòn đảo và cư dân nơi đây.  Cao Hồng Chiến dịch  Nguồn bài và ảnh: Science 366 (6466), 678-681. DOI: 10.1126/science.366.6466.678    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí ẩn thời kỳ thoái trào của người Neandertal      Các nhà cổ nhân chủng học biết nhiều về người Neandertal hơn bất cứ loài người đã bị tuyệt diệt nào khác.Tuy nhiên, câu hỏi tại sao người Neandertal biến mất hiện vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải, khiến nhiều người không khỏi tò mò.    Vào khoảng 28.000 năm về trước, tại khu vực giờ là Gibraltar (Anh Quốc), một nhóm người Neandertal đã cố gắng duy trì cuộc sống tại khu vực bờ biển đầy đá này. Họ rất có thể là những người Neandertal cuối cùng tồn tại trên Trái đất. Ở những khu vực khác thuộc châu Âu và Tây Á, người Neandertal thực ra đã biến mất từ hàng chục nghìn năm trước đó. Nhưng thời gian mà họ hiện diện trên Trái đất cũng kéo dài tới hơn 200.000 năm. Bán đảo Iberia (khu vực hiện là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay), nơi có khí hậu ôn hòa và đầy các loài thú vật, cây cỏ dường như là thành trì cuối cùng của người Neandertal. Sau đó ít lâu, người Neandertal ở Gilbratal cũng lần lượt chết đi, để lại cho hậu thế những võ đoán về những dụng cụ bằng đá, cũng như những tàn tích cháy thành than còn sót lại.  Trước khi hóa thạch đầu tiên của người Neandertal được tìm thấy vào năm 1856, các nhà khoa học chưa từng tranh luận về vị trí của họ trên cây phả hệ của loài người, cũng như là nghiên cứu xem họ xuất hiện từ đâu. Trong nhiều thập kỷ đã tồn tại hai thuyết trái ngược nhau về người Neandertal. Một thuyết cho rằng người Neandertal là một biến thể cổ của người Homo sapiens (người thông minh), loài người đã tạo ra chúng ta hiện nay. Họ người này dường như có liên quan hoặc bị đồng hóa bởi tổ tiên của người châu Âu hiện đại. Thuyết thứ hai cho rằng Neandertal là một loài người riêng rẽ, với cái tên H. neanderthalensis và bị loài người hiện đại nhanh chóng tuyệt diệt sau khi xâm lăng lãnh thổ.   Trong thập kỷ trước, hai phát hiện quan trọng đã chuyển những cuộc tranh luận về người Neandertal sang hướng khác, không còn ở việc họ là tổ tiên hay kẻ thù của loài người hiện đại nữa. Phát hiện thứ nhất, dựa trên việc phân tích ADN đã làm sáng tỏ những dấu hiệu về sự giao thoa giữa người Neandertal và người hiện đại, đây là câu trả lời mà nhiều nhà nghiên cứu thực sự muốn có nếu người Neandertal đã hòa huyết với tổ tiên của loài người hiện đại. Phát hiện thứ hai, dựa vào việc sử dụng những tiến bộ trong các phương pháp xác định niên đại cho thấy thay vì việc họ biến mất ngay lập tức sau khi người hiện đại xâm chiếm châu Âu, bắt đầu từ khoảng 40.000 năm trước đây, người Neandertal đã tiếp tục sống trong một thời kỳ khá dài, khoảng 15.000 năm sau đó.   Những phát hiện mới này đã làm gián đoạn công việc của nhiều nhà nghiên cứu, bởi giờ đây họ cần phải thận trọng hơn tới các yếu tố có thể cho rằng là nguyên nhân dẫn tới sự tuyệt diệt của người Neandertal. Những khám phá cho thấy rằng câu trả lời thực sự liên quan tới một tiến trình rất phức tạp.  Tác động của thời tiết thay đổi   Một trong những nguồn thông tin có thể chứa những bằng chứng về sự tuyệt diệt của người Neandertal chính là các dữ liệu thời tiết thời cổ đại. Các học giả giờ đã biết được rằng người Neandertal đã từng sống cả ở thời kỳ băng giá lẫn thời kỳ khí hậu ôn hòa giữa các đợt băng giá. Những năm gần đây, phân tích các chất đồng vị còn sót lại trong băng từ thời kỳ nguyên thủy, các trầm tích ở đại dương và phấn hoa ở những khu vực như Greenland, Venezuela hay Italia cho phép các nhà khoa học dựng lại được bức tranh khá rõ nét về tình hình khí hậu ở giai đoạn mà người ta gọi là Oxygen Isotope Stage 3 (OIS-3), hay tạm gọi là giai đoạn đồng vị oxy 3.   Trải dài trong giai đoạn từ khoảng 65.000 tới 25.000 năm trước đây, giai đoạn OIS-3  bắt đầu với điều kiện khí hậu ôn hòa nhưng lại thay đổi đến mức cực điểm khi các lớp băng bắt đầu bao phủ khu vực Bắc Âu.  Cứ cho là người Neandertal là họ người duy nhất sống ở châu Âu vào lúc bắt đầu thời kỳ OIS-3 và người hiện đại là họ người duy nhất sống vào cuối thời kỳ này, các chuyên gia đang tự hỏi liệu phải chăng chính thời tiết là nguyên nhân đã khiến người Neandertal đi đến tuyệt diệt, đơn giản bởi họ không thể tìm đủ nguồn thức ăn và không có đủ điều kiện để sưởi ấm cơ thể. Nhưng dù cái kịch bản này có được chứng minh là đúng thì nó lại dẫn tới một câu hỏi quan trọng khác: trước đó, người Neandertal cũng đã từng phải đối mặt với điều kiện sống cực kỳ lạnh giá mà tại sao họ vẫn tiếp tục duy trì được cuộc sống và tồn tại?  Trên thực tế, nhiều dấu hiệu về mặt sinh học và hành vi cho thấy người Neandertal hoàn toàn phù hợp với điều kiện sống ở thời tiết lạnh. Những bộ ngực tròn và các chi rắn chắc ở họ dường như được làm ra để có thể giữ được nhiệt trong cơ thể. Đấy là chưa kể tới việc có thể đã tạo được ra “quần áo” làm bằng da lông của các con thú để phòng ngừa giá lạnh. Và các chi rắn chắc của họ hoàn toàn phù hợp với lối săn bắt bằng cách rình mồi, đặc biệt đối các động vật hay hoạt động đơn lẻ, thí dụ như tê giác lông mịn từng sống ở khu vực Bắc và Trung Âu trong những giai đoạn giá rét. (Những đặc tính khác của người Neandertal như trán lồi, có thể được hình thành từ di truyền chứ không phải từ quá trình chọn lọc tự nhiên).  Nhưng những dữ liệu đồng vị cho thấy thời tiết không hoàn toàn chuyển từ giai đoạn ôn hòa sang giai đoạn khắc nghiệt, lúc đầu thời tiết trở nên không ổn định và tiến tới thời kỳ lạnh nhất, rồi bất ngờ chuyển sang giai đoạn khắc nghiệt. Xu hướng này đã khiến hệ sinh thái thay đổi hoàn toàn: những rừng cỏ thay thế cho rừng cây, loài tuần lộc sinh sôi nảy nở thay thế cho những con tê giác. Những thay đổi này diễn ra nhanh chóng và tác động đến cuộc sống của con người: những loài thú và thực vật mà họ quen thuộc nhanh chóng bị thay thế bởi những loài thú và thực vật hoàn toàn xa lạ. Không chỉ có thế, chẳng bao lâu môi trường lại thay đổi ngược trở lại.  Phải chăng chính điều kiện môi trường này-chứ không phải chỉ là bản thân giá lạnh-đã dần đẩy người Neandertal tới con đường cụt? Đây chính là kịch bản được nhiều chuyên gia đưa ra, trong đó có nhà sinh học tiến hóa Clive Finlayson thuộc Bảo tàng Gibraltar, người thực hiện các cuộc khai quật khảo cổ tại một số hang động ở Gibraltar. Chính sự thăng trầm này khiến người Neandertal đã phải thích nghi một cách thức sống mới trong một thời gian rất ngắn. Thí dụ như việc các cánh đồng cỏ thay thế cho những rừng cây khiến cách săn thú bằng rình mồi không còn phù hợp, bởi đâu còn cây to để nấp nữa, Finlayton cho biết. Để tồn tại, người Neandertal đã phải bỏ cách săn bằng việc rình mồi.  Một số người Neandertal nhanh chóng thích nghi với đời sống mới, bằng chứng là họ đã thay đổi dụng cụ và mồi săn. Nhưng rất nhiều người khác đã chết vì không thích nghi nổi với những biến động liên tục về thời tiết, để lại sau lưng họ những khoảng trống về mặt dân cư. Dưới những điều kiện bình thường, những người cổ này có thể quay lại thời kỳ trước đó mà họ sinh sống, vốn ít bị thay đổi và những thay đổi cũng có chu kỳ cách nhau xa hơn. Nhưng lần này, sự thay đổi quá nhanh về môi trường khiến họ không còn đủ thời gian để hồi phục lại được. Finlayson cũng cho rằng rất có thể chính sự thay đổi thời tiết liên tục này khiến dân số Neandertal ngày một ít đi khiến họ không còn khả năng đảm bảo thay thế số dân của chính mình nữa.  Kết quả của một nghiên cứu về di truyền được Virginie Fabre và cộng sự của bà (Đại học Địa Trung Hải, Marseille) công bố vào tháng 4 năm ngoái trên PLoS One đã củng cố cho ý kiến rằng dân cư Neandertal đã bị xé lẻ, Finlayson cho biết. Phân tích ADN của người Neandertal cho thấy người Neandertal chia ra thành 3 chi nhỏ: một chi sống ở phía Tây Âu, chi kia ở Nam Âu và chi cuối cùng ở Đông Á. Qui mô dân số ở các chi này cũng suy tàn hay phát triển tùy theo khu vực khác nhau.  Những kẻ xâm lăng   Đối với nhiều nhà nghiên cứu khác thì việc người Neandertal hoàn toàn biến mất sau khi người hiện đại tiến vào châu Âu chứng tỏ một cách rõ ràng rằng những kẻ xâm lăng đã góp bàn tay vào sự tuyệt diệt những người đến trước, dù những kẻ đến sau không giết ngay lập tức toàn bộ những người định cư trước đó. Theo những người suy nghĩ theo hướng này, người Neandertal đã cạnh tranh với những kẻ mới đến để có được thức ăn nhưng họ luôn là kẻ thua cuộc. Nhưng điều gì đã khiến những kẻ mới đến chiến thắng trong những cuộc chiến này thì vẫn còn là điều tranh cãi.  Cũng có thêm một khả năng là những người hiện đại vốn không phải là những kẻ khó tính trong ăn uống. Khi phân tích thành phần hóa học trong sọ của người Neandertal, Hervé Bocherens (ĐH Tubingen, Đức) cho rằng một số người Neandertal lại chuyên ăn thịt thú lớn kiểu như tê giác lông mịn. Khổ thay, loài thú này lại rất hiếm hoi. Còn loài người hiện đại lứa đầu thì lại ăn đủ mọi thứ, bất kể loài động vật hay thực vật nào. Do vậy, khi người hiện đại đến khu vực của người Neandertal sinh sống, và bắt đầu hạ một số thú lớn để ăn thì lượng thức ăn dự trữ trong thiên nhiên của người Neandertal rõ ràng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Trong khi đó, dù thiếu thịt thú lớn, người hiện đại vẫn có thể sống sót với việc giết những loài thú nhỏ hơn hoặc sử dụng các loại thực vật làm lương thực. “Người Neandertal có cách sử dụng lương thực riêng của mình và điều này hoàn toàn ổn thỏa vào thời kỳ trước khi có người hiện đại xuất hiện, bởi họ không phải cạnh tranh thức ăn với những kẻ mới đến”, nhà khảo cổ học Curtis W. Marean (ĐH bang Arizona) nhận xét. Ngược lại, Marean cũng cho biết người hiện đại, vốn đã từng sống trong những điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt ở châu Phi có khả năng thích nghi rất nhanh với môi trường khí hậu mới, vốn ôn hòa hơn và nhanh chóng tạo ra những cách thức sống phù hợp với điều kiện sống mà họ mới gặp. “Khác biệt nằm ở chỗ người Neandertal không có nhận thức cao như người hiện đại”, nhà khoa học này nói.   Không chỉ có Marean suy nghĩ theo cách này, nhiều nhà khoa học khác cho rằng người hiện đại hơn người Neandertal ở nhiều điểm, không chỉ ở công nghệ săn bắt cao hơn, với kỹ năng sống tốt hơn mà họ còn có khả năng thông tin với nhau tốt hơn, và điều này tạo ra cho họ các hệ thống xã hội rộng lớn và mạnh hơn. Còn người chậm tiến Neandertal, nếu nhìn theo hướng này thì rõ ràng có ít cơ hội để đối đầu với những kẻ mới đến. Nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy người Neandertal thực sự thông minh hơn là người ta tưởng. Trên thực tế, họ đã có nhiều nhận thức hành động mà nhiều người tưởng chỉ có ở người hiện đại. Theo nhà cổ sinh vật học Christopher B. Stringer thuộc Bảo tàng Tự nhiên London, “ranh giới giữa người Neandertal và người hiện đại rất mờ nhạt”.  Những phát hiện mới tại các khu vực khảo cổ ở Gibraltar cho thấy sự mù mờ về ranh giới giữa hai nhóm người này. Vào tháng 9 năm 2008, Stringer và các cộng sự của ông công bố tìm thấy bằng chứng về người Neandertal tại khu vực hang động Gorham cũng như khu hang động Vanguard ngay gần đó. Người Neandertal ở đây sống bằng việc săn bắt cá heo, hải cẩu và thu lượm các động vật có vỏ (trai, sò, vẹm, cua…). Một số nghiên cứu chưa công bố còn cho rằng người Neandertal còn ăn cả chim, thỏ nữa. Những khám phá ở Gibraltar cùng những phát hiện ở những khu vực khác đã lật ngược lại quan niệm có từ trước cho rằng người hiện đại là những người đầu tiên biết khai thác các nguồn lợi từ biển và săn thú nhỏ.  Nhiều bằng chứng khác nữa cũng làm lu mờ đi ranh giới về nhận thức giữa người Neandertal và người hiện đại. Thí dụ như những gì người ta thấy ở khu vực khảo cổ Hohle Fels ở Tây Nam nước Đức. Ở đó, nhà cổ sinh vật học Bruce Hardy (ĐH Kenyon) đã so sánh các dụng cụ của người Neandertal, vốn sống trong các hang động trong khoảng thời gian 36.000 tới 40.000 năm trước đây với các dụng cụ của người hiện đại sống trong khoảng 33.000 tới 36.000 năm trước đây với cùng một điều kiện khí hậu và môi trường giống nhau. Trong một bản báo cáo trước Hội Cổ sinh vật học Chicago vào tháng 4 năm ngoái, Hardy thông báo qua việc phân tích các thành phần bám bên ngoài các dụng cụ của hai nhóm người này, ông nhận thấy dù người hiện đại “sáng chế” ra nhiều dụng cụ săn bắt hơn người Neandertal nhưng tựu trung lại, hoạt động của hai nhóm người là gần như giống nhau, hệt như ở khu vực khảo cổ Hohle Fels.   Những hoạt động này bao gồm cả những cách thức tinh vi như sử dụng nhựa cây để dán gỗ vào chỗ tay cầm của các dụng cụ săn bắt, sử dụng các viên đá có đầu nhọn để đâm thú vật, hay dùng cho các dụng cụ ném từ xa, làm ra các vật dụng săn bằng xương hoặc gỗ. Lý giải tại sao các dụng cụ săn bắt thú của người Neandertal lại ít phong phú hơn người hiện đại, Hardy cho rằng với người Neandertal, chừng ấy dụng cụ săn bắt có lẽ đã đủ.   Những khám phá khảo cổ gần đây cho thấy cũng chưa đủ bằng chứng khẳng định rằng người Neandertal chưa từng sử dụng ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu dù gì cũng biết chắc chắn được rằng người Neandertal có khả năng trang trí cơ thể của họ bằng đồ trang sức hoặc có thể cả phẩm màu. Những dấu hiệu về hành vi cơ thể này thường là chỉ ra dấu để diễn đạt một loại hình ngôn ngữ nào đó. Trong năm 2007, nhóm các nhà nghiên cứu do Johanes Krause (Viện Nhân chủng học tiến hóa Leipzig, thuộc Viện Max Planck, Đức) dẫn đầu cho biết qua phân tích ADN của người Neandertal, họ phát hiện ra nhóm người này cũng mang trong người phiên bản gene FOXP2, loại gene cho phép phát âm ở người hiện đại.     Hình vẽ mô phỏng lại hoạt động của người Neandertal    Mặc dù đã chế tạo được các dụng cụ săn bắt thú, nhưng so với người hiện đại, số lượng dụng cụ săn bắt thú của người Neandertal ít hơn nhiều.    Một nhà khoa học thuộc Viện Nhân chủng học tiến hóa Leipzig (Đức) bên cạnh địa điểm khảo cổ di tích người Neandertal ở Pháp  Vẫn cần nhiều nghiên cứu    Khi khoảng cách về hành vi giữa người Neandertal và người hiện đại thu hẹp lại, nhiều nhà nghiên cứu giờ chuyển hướng nghiên cứu xem đâu là những khác biệt về văn hóa và sinh học để lý giải về nguyên nhân thực sự khiến người Neandertal biến mất. “Điều kiện khí hậu tồi tệ và hay thay đổi có thể đã khiến sự cạnh tranh giữa những nhóm người ngày càng ác liệt”, nhà nhân chủng học Katerinna Havarti, cũng thuộc Viện Max Planck phỏng đoán. Theo bà, trong bối cảnh như vậy, những ưu việt dù chỉ rất nhỏ cũng tạo ra sự khác biệt lớn cho cuộc chiến sinh tồn.   Stringer, về phần mình thì cho rằng chính khả năng thích nghi lớn hơn đối với thực vật đã khiến người hiện đại có lợi thế hơn trong những giai đoạn khí hậu khó khăn. Thí dụ, những loại lá hình kim tìm được ở những khu vực người hiện đại tiền sử từng ở đã cho thấy họ biết cách sử dụng các loại lá kim để làm “quần áo” che thân, hay làm các lán cư trú, nhằm tránh rét khi có giá lạnh. Còn đối với người Neandertal thì cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy bất cứ dấu vết gì về sự “khâu vá” và một số nhà nghiên cứu cho rằng họ tỏ ra vụng về hơn người hiện đại trong việc “chế tạo quần áo” hay lán, trại che thân.  Người Neandertal và người hiện đại cũng có những khác biệt trong việc phân chia công việc cho các thành viên trong mỗi nhóm. Trong một bài báo công bố trên tờ Current Anthropology (Nhân chủng học ngày nay) xuất bản năm 2006, các nhà khảo cổ Steven L. Kuhn và Mary C. Stiner (ĐH Arizona) đã đưa ra giả thiết rằng chế độ ăn đa dạng của những người châu Âu cổ đại đầu tiên cho thấy dường như đã có sự phân công lao động vào thời đó. Người đàn ông đi săn thú lớn, còn phụ nữ thì làm các công việc đơn giản hơn như thu lượm hạt, quả và trái cây. Ngược lại, người Neandertal thì khi đi săn thú lớn dường như có cả sự tham gia của phụ nữ và trẻ nhỏ. Những người này làm công việc xua đuổi thú vật vào nơi mà những người đàn ông đang rình sẵn. Nhờ tạo ra hệ thống phân phối thức ăn tin cậy hơn, và đặc biệt là có được môi trường an toàn hơn cho việc nuôi trẻ nhỏ, việc phân chia công việc đã khiến dân cư của người hiện đại phát triển nhanh hơn, trong khi người Neandertal lại trả giá bằng sinh mạng mình cho những sai lầm.  Hơn thế nữa, dù có kiếm được thức ăn thì người Neandertal lại cần nhiều thức ăn hơn nữa cho nhu cầu của mình. Nhiều nghiên cứu về trao đổi chất cho thấy người Neandertal, do thân hình vạm vỡ của mình cần nhiều năng lượng hơn người hiện đại, kẻ cạnh tranh với họ.  Thí dụ, chuyên gia về năng lượng Karen Steudel-Numbers thuộc ĐH Wiscosin-Medison đã xác định rằng chi phí năng lượng ở người Neandertal cao hơn người hiện đại tới 32%, chủ yếu do thân hình của họ người này lực lưỡng hơn trong khi xương ống chân của họ lại ngắn, đòi hỏi phải bước đi nhiều hơn. Nếu tính lượng calorie tiêu thụ hằng ngày, người Neandertal đòi hỏi nhiều hơn người hiện đại mỗi ngày khoảng 100-350 calorie, cho dù hai họ người này đều sống ở cùng một khu vực, với điều kiện khí hậu như nhau. Đây là phương pháp tính được Andrew W. Froehle (ĐH California) và Steven E. Churchill (ĐH Duke) xây dựng lên. Như vậy, có vẻ như là người hiện đại đã vượt lên trong cuộc đua sinh tồn với người Neandertal chính là nhờ khả năng sử dụng năng lượng hiệu quả hơn: việc sử dụng ít năng lượng hơn cho các chức năng cơ bản giúp cho người hiện đại dành năng lượng khác để đảm bảo việc sinh đẻ và nuôi nấng con cái.   Nghiên cứu của Rachel Caspari (ĐH miền Trung Michigan) cho thấy cách đây khoảng 30.000 năm, lượng người hiện đại sống đến tuổi làm ông, bà đột ngột tăng lên rất nhanh. Điều gì đã khiến tuổi thọ của họ tăng lên hiện vẫn là một bí ẩn, nhưng điều này đã dẫn đến hai hệ quả quan trọng. Trước hết, những người sống lâu hơn đồng nghĩa với việc họ có thời gian sinh sản lâu hơn, tức là khả năng sinh nhiều con lớn hơn. Thứ hai, họ có nhiều thời gian hơn để tích lũy kinh nghiệm, từ đó có được nhiều “kiến thức” hơn để truyền lại cho đời sau, thí dụ như cách tìm được nguồn nước khi xảy ra hạn hán. “Thời gian sống lâu hơn giúp họ tạo ra được một hệ thống xã hội lớn hơn và tích lũy được nhiều kiến thức tốt hơn”, Stringer nhận xét. Trong khi đó, do tuổi đời của người Neandertal ngắn do vậy nhiều khi kiến thức tích lũy được bị rơi rụng khi họ chết đi, chưa kịp truyền lại cho đời sau.  Những phát hiện chính yếu để xác định lý do tại sao người Neandertal thực sự biến mất có lẽ phải đợi đến lúc phân tích kết quả giải mã gene họ người này (để giải mã toàn bộ gene thì cần mất khoảng 1 năm). Nhưng những bí ẩn cũng đã dần dần sáng tỏ khi một phần gene của người Neandertal đã được giải mã. Điều quan trọng nhất đối với các nhà khoa học là trả lời câu hỏi: liệu thực sự đã có sự giao phối giữa người Neandertal và người hiện đại và sự hòa huyết này thực sự là bao nhiêu? Một phần của câu trả lời đã được thực hiện với phát hiện mới nhất của các nhà khoa học tại Viện Nhân chủng học tiến hóa Leipzig, thuộc Viện Max Planck, Đức (xem phần đóng khung). Tuy nhiên, để giải mã toàn bộ bí ẩn, công việc phía trước của các nhà nghiên cứu xem ra còn rất nhiều.          Chúng ta phải chăng là hậu duệ của người Neandertal?   Người Neandertal và người hiện đại liệu có phải là họ hàng. Nhưng nếu là họ hàng thì quan hệ giữa họ là như thế nào? Các nhà khoa học đang tái dựng lại bản đồ gene của người Neandertal cho rằng hai họ người này dường như đã có một hay hai thời kỳ có quan hệ giao phối với nhau tại Trung Đông vào khoảng thời gian từ 60.000 đến 100.000 năm trước đây. Theo nghiên cứu vừa được công bố vào đầu tháng 5 vừa qua của các nhà khoa học thuộc Viện Nhân chủng học tiến hóa Leipzig, thuộc Viện Max Planck (Đức), 1-4% bản đồ gene của người không phải gốc Phi hiện nay giống với gene của người Neandertal. Một số nhà khoa học khác đặt câu hỏi liệu đã có đủ bằng chứng khảo cổ để củng cố cho giả thuyết nói trên hay chưa? Tuy nhiên, Svante Paabo, trưởng nhóm nghiên cứu nói trên quả quyết: “Rất nhiều người sống ngoài châu Phi hiện đều mang ít nhiều ADN của người Neandertal”.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bị đột biến bao vây: Brazil đang hứng chịu điều tồi tệ nhất      Một đột biến của virus corona có khả năng lây lan mạnh hơn đang hoành hành ở Brazil. Khoa chăm sóc đặc biệt chật cứng bệnh nhân, kể cả trẻ em, các bệnh viện đều cạn kiệt khí oxy. Các chuyên gia cảnh báo về một nguy cơ lớn có thể ập đến.      Chôn cất bệnh nhân tử vong do Covid ở một nghĩa trang ở Manaus, nơi đột biến P1 xuất hiện và đang hoành hành.   Lời tiên đoán của David Almeida, thị trưởng thành phố Manaus đã đến nhanh hơn nhiều. Chỉ mới tuần trước ông cảnh báo “Chúng ta sẽ chứng kiến một điều tồi tệ nhất chưa hề trải qua. Trước đây người bệnh chỉ phải nằm viện 10 ngày thì bây giờ là 30 ngày. Các biến thể lây lan nhanh hơn, mạnh hơn trước. Người bệnh phải điều trị lâu hơn trong phòng chăm sóc đặc biệt và cần nhân viên phục vụ phải quan tâm nhiều hơn”.  Giờ đây, hệ thống y tế ở khu vực này đã hoàn toàn suy sụp, các bệnh viện công khai xin hiến tặng oxy vì trong kho đã cạn kiệt. Có những ngày Brazil có hơn 2000 ca tử vong. Tính ra thì cứ 5 phút lại có một người bị chết vì lây nhiễm Covid-19.   Chỉ sau khi xuất hiện vài tuần tại Manaus, đột biến P1 lây lan rất nhanh ra khỏi nơi này. Sao Paulo, bang đông dân nhất của Brazil đã sử dụng tới 80% số giường chăm sóc đặc biệt. Lần đầu tiên số bệnh nhân phải chăm sóc đặc biệt dưới 60 tuổi lại đông hơn bệnh nhân trên 60 tuổi.   Các chuyên gia ngày càng lo ngại rằng nếu không kiểm soát được đại dịch, Brazil sẽ trở thành hang ổ của các biến thể virus mới. Càng có nhiều ca lây nhiễm mới thì nguy cơ xuất hiện biến thể mới càng lớn hơn và chúng có thể lây lan ra khắp thế giới. Một khi các biến thể virus lẩn tránh được vaccine thì có thể vô hiệu chiến dịch tiêm chủng hiện thời. Trong khi đó nguy cơ không phát hiện các biến thể ở Brazil là có thật, Ethel Maciel thuộc Đại học UFES ở Espirito Santo đã trao đổi với tờ WELT của Đức trong một cuộc phỏng vấn về năng lực xét nghiệm ở Brazil, “Có những nước làm xét nghiệm đến 10.000 test mỗi ngày, còn Brazil thì chỉ được khoảng 3000 test”.   Hiện tại không ai biết rõ, và nếu có, có bao nhiêu đột biến nguy hiểm ẩn náu trong số gần 350.000 ca lây nhiễm mới trong tuần trước mà không bị phát hiện. Nên Maciel kêu gọi phải thay đổi chính sách khẩn cấp: “Chúng ta phải biết điều gì đang xảy ra. Những người bị bệnh, họ bị biến thể nào? Chúng ta cần câu trả lời”.   Tình hình tồi tệ của Brazil xuất phát từ chính sách chống dịch “chẳng giống ai” của nước ngày. Tổng thống Jair Bolsonaro rất coi thường virus corona trong một thời gian dài, thậm chí ông ta còn khích lệ người dân không thực hiện lời khuyên của giới khoa học, trì hoãn việc nhập khẩu vaccine. Cái giá phải trả là một làn sóng dịch dường như không thể khống chế nổi.  Roberto Gulart Menezes, 49 tuổi, thuộc Viện quan hệ quốc tế Đại học Brasilia cho rằng Chính phủ Brazil đang đơn độc vì chính sách với đại dịch này. Để chứng tỏ mình không bị quốc tế cô lập, Brazil liên kết chặt chẽ với Israel, ký kết thỏa thuận hợp tác song phương chống đại dịch Covid-19. Bộ Trưởng ngoại giao Brazil  Ernesto Araújo bay sang Trung Đông tham quan cơ sở sản xuất một loại thuốc xịt mũi có công dụng chống corona của một doanh nghiệp Israel, tuy nhiện sản phẩm này hiện còn trong giai đoạn thử nghiệm.  Gần đây Tổng thống Bolsonaro, vốn không ưa khẩu trang mới chịu xuất hiện trước ống kính truyền hình, đeo khẩu trang và tuyên bố phải khẩn trương nhập khẩu vaccine để phòng chống đại dịch.   Tuy nhiên các biện pháp này liệu đã muộn màng để có thể ngăn chặn làn sóng thứ ba của đại dịch? Uruguay, nước láng giềng ở phía Nam, đã vượt qua cuộc khủng hoảng corona tốt hơn Brazil một cách rõ ràng. Hiện nước này đẩy mạnh tiêm chủng ở vùng biên giới giáp Brazil để ngăn chặn lây lan các biến thể từ Brazil sang.   Một tin vui với Brazil mà mới đây các báo nước này đưa tin là vaccine Coronavac của Trung Quốc có hiệu quả đối với biến thể P1. Brazil đã đặt 100 triệu liều của hãng Sinovac, đặt của AstraZeneca 102 triệu liều. Giờ đây Brazil sẽ bắt đầu một cuộc chạy đua với thời gian để khống chế đại dịch, dù muộn màng. □  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/politik/ausland/plus228059893/Corona-in-Brasilien-Erwarten-Sie-was-Sie-noch-nie-gesehen-haben.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bi kịch nhị nguyên và số phận con người      Khái niệm Nhị nguyên luận (Dualisme) được dùng trong nhiều lĩnh vực của tri thức. Bất cứ một lý thuyết nào xác định sự phân ly không thể thu hẹp được giữa hai loại sự vật thì đều có thể gọi là thuyết nhị nguyên. Nhị nguyên Triết học xác định sự phân ly giữa thể xác và linh hồn với người khởi xướng là nhà triết học duy lý Descarte. Trong đạo đức học, thuyết nhị nguyên xác định sự tách biệt giữa Thiện và Ác. Trong tôn giáo thì thuyết nhị nguyên tách biệt cái Thiêng và cái Phàm, tồn tại song song và không phụ thuộc với nhau trong đời sống. Như vậy, ta phải lựa chọn ở đây một khái niệm nhị nguyên theo nhiều chiều kích để diễn giải vấn đề mấu chốt trong sự lý giải của tôn giáo về số phận con người.      Vấn đề ấy được đặt ra ngay từ sự hữu hạn của sinh mệnh con người, sự phân ly không thể lấp đầy giữa cái sống và cái chết. Đó là một bi kịch vĩnh hằng của nhân thế. Đó cũng là cái khả năng yếu ớt của con người trước sự giằng xé của cái Thiện và cái Ác. Rốt cuộc, con người cần đến sự cứu rỗi, sự giải tội, sự giải thoát nói chung. Và chừng nào còn có những trắc trở của mối bi kịch nhị nguyên đó, thì hầu như vẫn còn có mảnh đất cho mọi sự suy tư về tôn giáo. Có lẽ không có một lời nào diễn tả với tầm triết lý sâu xa về cái bi kịch nhị nguyên này hơn là lời của Pascal đã nói từ thế kỷ 17: “Tôi run sợ trước cái im lặng của vũ trụ, và sự lơ lửng của con người giữa hai cái vô hạn vi mô và vĩ mô”.  Câu nói này hẳn đã báo hiệu một trào lưu tư tưởng về sau này của nhiều nhà toán học, vật lý học, thiên văn học… nghĩa là các nhà khoa học tự nhiên, cùng với các triết gia, tạo ra một cuộc chuyển hướng chủ đề tranh luận về sự hiện hữu của Thượng đế và Thần linh, sang chiều kích tâm linh của con người, dù là người có tín ngưỡng hay không.  Có thể nêu một sự kiện gần đây hơn vào năm 1996 đã xuất hiện cuốn sách Dieu et La Sience (Thượng đế và khoa học), ghi lại cuộc đàm luận giữa một nhà Triết học viện sĩ Hàn lâm Pháp với hai nhà Vật lý lý thuyết và thiên văn học Nga.  Trong lời nói đầu cuốn sách đó, nhà Triết học Pháp Jean Guitton đã viết:  “Trong suốt cuộc đời mình, tôi nghĩ tới một vấn đề đặt ra cho tất cả mọi người: ý nghĩa của sự sống và cái chết. Xét đến cùng, đó là vấn đề duy nhất mà động vật biết suy nghĩ đụng phải từ buổi đầu: động vật biết suy nghĩ là động vật duy nhất nghĩ về cái chết, nghĩ về cái chết của mình. Và để soi sáng con đường của mình trong tăm tối, để thích nghi với cái chết, động vật rất thích nghi với sự sống ấy chỉ có hai ánh sáng: một gọi là tôn giáo, một gọi là khoa học”.  Rốt cuộc, chúng ta vẫn trở về với vấn đề muôn thuở mà ở phương Đông chúng ta quen diễn tả bằng hình ảnh hai cánh cửa của đời người, cửa sinh và cửa tử. Không ai thoát khỏi hai cánh cửa ấy: “sinh tử quan đầu mạc năng độ”. Sự khác nhau có lẽ tùy ở cách nhìn, và những người đạt đạo, chứ không nhất thiết là có tín ngưỡng, sẽ nhìn một cách nhẹ nhàng hơn là người “tham sinh úy tử”.  Cứ theo chiều hướng đó, thì cuộc thảo luận về tôn giáo sẽ hướng về vai trò, hoặc là hiệu năng của nó, đối với sinh hoạt của con người ở trần thế này, hơn là về những bí ẩn siêu nhiên. Đơn giản hơn, có lẽ con người có thái độ như thế nào với tôn giáo, không phải là do sự phán đoán rằng các tín điều là đúng hay sai, mà là suy nghĩ rằng tôn giáo đem lại điều gì cho con người ở đời này, về mặt cá nhân cũng như xã hội.  Ở đây, chúng ta chưa thảo luận về những điều có lợi hay bất lợi của các tôn giáo, nhất là các nghi thức, các qui tắc hành vi, tập tục đi kèm với các tín ngưỡng này hay khác. Phải mất cả mấy ngàn trang viết cũng không nói hết được khía cạnh này. Giữa các tôn giáo lại có rất nhiều cách khác nhau (ngay giữa Hòa Hảo và Cao Đài cũng khác nhau nhiều trong các nghi lễ về cái chết chẳng hạn).  Ta hãy thảo luận chủ đề này trên lĩnh vực thuần túy triết học để thấy rằng, cái bi kịch nhị nguyên rốt cuộc, đã bao trùm lên chính những tranh cãi bất tận về hữu thần hay vô thần, về Thiện và Ác, về cuộc sống là có nghĩa hay vô nghĩa… Ta có thể tóm tắt cuộc tranh cãi này như sau:  Những người đánh giá tôn giáo một cách tích cực thì nghiêng về chỗ cho rằng, tôn giáo thực sự là một nhu cầu do bản năng sinh tồn của nhân loại mà ra, nhu cầu khẳng định sự sống và ý nghĩa cuộc sống, dù rằng rốt cuộc vẫn có cái chết. Có lẽ H.Bergson là người nói rõ quan điểm này hơn cả khi ông nhấn mạnh rằng, nếu chỉ suy luận theo lý trí, thì một đầu óc sáng suốt sẽ thấy rằng, cuối cùng, vũ trụ, nhân sinh là một cái gì đó vô nghĩa. Nếu thế thì mỗi người nên tự hủy cuộc sống của mình, mà cũng nên chấm dứt sự tồn tại của nhân loại càng sớm càng hay. Không nên để cho cái bi kịch nhị nguyên đùa dai mãi.  Ví biết phù sinh đời có thế  Thông minh tài bộ thế gia chi  Công thành danh toại chung qui hão  Nhắm mắt buông tay giữ được gì.  Vấn đề không phải là được mất cái gì mà là một ý nghĩa nào đó để sống và nhất là để vượt lên cái bi kịch nhị nguyên của cuộc sống. Ý nghĩa ấy có thể là tình thương yêu, là tự giác giác tha, tự ngộ ngộ tha, là từ bi, là bất tranh, là bất hại, là vô vi trong cái thế giới hữu vi… Tóm lại, là sự lựa chọn một thái độ sống đến mức chí thiện, và bằng cách đó, đẩy lùi cái Ác trong chừng mực nào đó có thể, tuy không tiêu trừ được nó hoàn toàn, vì nó cũng là một phần của thân phận làm người.              Pascal, nhà toán học, người sáng lập ra Thuyết xác suất        Những người đánh giá tôn giáo một cách tiêu cực về mặt Triết học thì cho rằng, tôn giáo là sự phản ánh hư ảo trong đầu óc con người, những lực lượng bên ngoài thống trị họ trong cuộc sống, sự phản ảnh trong đó, các lực lượng trần thế mang hình thức các lực lượng siêu phàm. Thuyết vô thần là lập trường triết học của thái độ phê phán tôn giáo. Đặc biệt là trong xã hội có giai cấp, mà việc thờ tôn giáo gắn liền với sự bóc lột và cảnh bần cùng của quần chúng. Xóa bỏ được chế độ người bóc lột, áp bức người, thì tôn giáo mất đi một cơ sở quan trọng để đứng được trong lịch sử. Vậy tôn giáo rồi sẽ mất đi. Nhưng việc tôn giáo mất đi không phải là một quá trình tự động, mà phải trải qua quá trình giáo dục lâu dài cho quần chúng. Tác dụng tiêu cực của tôn giáo là ở chỗ nó làm phương hại cho việc tự thể hiện chính mình của con người, lại thêm cái tác hại là làm cho con người sao nhãng những việc đem lại hạnh phúc thiết thực bằng cuộc đấu tranh thực tế để đi tìm sự an ủi bằng ảo tưởng, nhất là ở các tầng lớp bị áp bức. “Hạnh phúc là đấu tranh” đó là một châm ngôn trang bị một nghị lực phi thường cho con người trong đời sống trần thế.  Thật ra, một đường lối “giải thoát” và một đường lối “giải phóng” không tự chúng là đối nghịch với nhau. Cả hai đều có một mục tiêu ít nhiều gặp nhau trong sự giảm thiểu những đau khổ, dù nhấn mạnh vào nguồn gốc tâm linh hay nguồn gốc xã hội của các đau khổ ấy. Chỗ khó khăn có thể là ở những khái niệm “hữu thần” và “vô thần”. Phần nào, khái niệm Thần luận mà chúng tôi đã cố ý bàn nhiều từ trước đến giờ, có thể là một quan điểm nhận thức luận giúp giải tỏa các khó khăn ấy.  Nhưng đến đây, chúng ta đã vượt khỏi ranh giới của nhận thức luận để bước qua ranh giới của Đức tin, mà với Đức tin thì không thể hoàn toàn lấy lý trí mà phán xét được. Sự thỏa thuận giữa tin và không tin, giữa các niềm tin khác nhau, nhiều lúc chỉ có thể là sự dung hòa, tôn trọng lẫn nhau và tránh mọi điều kì thị.  Thiết tưởng, cũng nên nhắc đến một tiếng nói rất đáng nể trong bất cứ cuộc tranh luận nào khi chứng minh cho sự tồn tại của Chúa-đó là tiếng nói của B. Pascal- nhà toán học và là một nhà sáng lập ra Thuyết xác suất. Trong cuốn “Những suy tưởng”, ông đưa ra một sự đánh cuộc nổi tiếng của mình khi chỉ ra rằng: nếu bạn không có khả năng giải quyết vấn đề tồn tại của Chúa, thì hãy xem xét thận trọng rằng, chúng ta có thể có lợi hay có hại gì nhờ niềm tin hay không có niềm tin.  -Nếu bạn tin vào Chúa và Chúa tồn tại, thì cái lợi của bạn sẽ là hạnh phúc vĩnh cửu.  -Nếu bạn tin vào Chúa, còn Chúa không tồn tại thì bạn không mất gì.  -Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa, và Chúa thật sự tồn tại thì bạn đánh mất khả năng có hạnh phúc vĩnh cửu.  -Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa và Chúa không tồn tại, bạn không có lợi gì.  Trong những lập luận hơi vẻ bông đùa của Pascal, ta có thể thấy rằng tự do đức tin là một vấn đề hoàn toàn của cá nhân, mỗi người tự quyết định lấy từ lợi ích thuần túy tâm lý của mình, mà không bắt buộc phải chứng minh theo bất cứ một nguồn tri thức nào.  Như vậy, gắn liền với Chúa, có nhiều cách thể hiện đức tin ấy trong hành động. Và ta không nên hỏi đâu là lôgíc trong đức tin mà cần hiểu hành động ấy thế nào.          Bích Hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật ánh mắt một bức tượng      Bức tượng nổi tiếng “Scribe accroupi” (Ông giáo ngồi) trong bảo tàng Louvre có một cái nhìn cuốn hút nhiều thế hệ khách thăm quan nơi đây. Nhưng tại sao người Ai Cập cổ lại có thể tạo ra được một ánh mắt kì lạ đến thế? Các nhà khoa học mới đây đã khám phá ra được bí mật này. Phân tích bức tượng này đã giúp các nhà khoa học không những hiểu được cách người ta làm ra bức tượng này như thế nào, mà còn cung cấp thêm những kiến thức mới về thành phần, cách chế tạo và bảo quản các tác phẩm nghệ thuật.      Tại thung lũng Saqqarah, vào năm 2600-2350 trước Công nguyên, một nhóm các nghệ sĩ đã được tập hợp lại để hoàn thiện một bức tượng điêu khắc làm bằng đá vôi, miêu tả một người đàn ông đang ngồi xổm. Nhẹ nhàng và khéo léo, các nghệ sĩ hoàn tất nốt công việc dát đá cho bức tượng. Những viên tinh thể đá núi đã được chọn để chế tác thành đôi mắt cho bức tượng. Họ đã khiến cho bức tượng Scribe, một tuyệt tác của Đế chế Ai Cập cổ đại có một cái nhìn bao la, thật một cách đáng kinh ngạc. Cái nhìn như từ bên trong của nhân vật nhưng lại giày vò những người ngoài khi họ bắt gặp ánh mắt đó, bằng những dữ liệu thị giác rõ ràng. “Chúng ta nhìn ông ta và điều kỳ lạ là chúng cảm thấy như đi cùng, hòa đồng với ông”, Maurice Merleau-Ponty, nhà triết học người Pháp từng nói về bức tượng như vậy.  Bức tượng Scribe là bằng chứng của một thời kỳ rực rỡ, thời kỳ mà các xưởng vẽ của các vị vua sáng lập ra Saqqarah, những phường hội nghề nghiệp cùng chung sống với nhau (hội họa và nghệ thuật có quan hệ mật thiết với những người thợ thủ công trong các lĩnh vực như mài đá, đào vàng, kim hoàn và chế tác đá quí).   Năm 1850, nhà Ai Cập học Auguste Édouard Mariette của bảo tàng Louvre phát hiện ra một lăng mộ ở Ai Cập bị vùi lấp dưới cát sa mạc, sau này lăng mộ đó đã trở nên nổi tiếng. Người ta kể lại rằng những công nhân Ai Cập được thuê khai thác kho báu đã rất sợ hãi khi mới nhìn thấy bức tượng và nói rằng ánh mắt của bức tượng luôn dõi theo họ. Đối với họ, đó là người thật chứ không phải là một bức tượng.  Quan sát bằng mắt thường  Cho tới năm 1997, bức tượng Scribe được bảo quản tại bảo tàng Louvre và ánh mắt của nó luôn được coi là bí ẩn đối với mọi người. “Tác phẩm nghệ thuật này là một thông điệp khá mơ hồ, trong đó tính đa nghĩa của cái được biểu đạt lại tồn tại với tính đơn nghĩa của cái biểu đạt”. Mỗi khách tham quan có thể có sự lựa chọn riêng của mình nhưng câu hỏi mà ánh mắt đưa ra đối với mọi người thì khó ai có thể giải đáp được chính xác.                Để lột bỏ bức màn bí hiểm che phủ bức tượng, vào năm 1997, các chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu và phục chế các bảo tàng của Pháp (C2RMF) và bảo tàng Louvre đã chụp, quét và phân tích bức tượng Scribe với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất, các thiết bị tinh vi nhất và các kiến thức khoa học cập nhật nhất.  Phòng thí nghiệm nằm dưới bảo tàng là nơi tiến hành các nghiên cứu vật lý và hóa học trên tác phẩm nghệ thuật. Để đảm bảo không ảnh hưởng tới bức tượng, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu không phá hủy (phân tích không cần lấy mẫu).  Nhờ phương pháp gia tốc phân tử, các nhà khoa học đã khám phá được bí mật chất liệu làm ra đôi mắt kỳ lạ của bức tượng. Sử dụng thêm phương pháp chiếu tia X, cấu trúc của bức tượng cũng đã được làm rõ. Con ngươi của cặp mắt được làm từ tinh thể đá núi cực kỳ thuần khiết. Được đẽo thành hình nón, con ngươi của bức tượng trông như một nhãn cầu thực sự. Bề mặt hình nón được làm mờ để tạo ra “ánh sáng” xung quanh con ngươi. Chúng được làm như một đồng tử của mắt thật. Những điều này cho thấy người Ai Cập cổ đã có một kiến thức đáng ngạc nhiên về giải phẫu mắt. Người nghệ sĩ đã tái tạo khá trung thành độ cong của giác mạc và đồng tử thì được đặt rất đúng chỗ, với một sự chính xác hiếm có. Dường như người nghệ sĩ muốn tạo ra bí ẩn thực sự cho cái nhìn của bức tượng. “Người ta đã cố tạo cho cái nhìn đó sống động hết mức có thể. Một ánh mắt bất diệt”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc C2RMF.  Anne Bouquillon, một kỹ sư và đồng tác giả của nghiên cứu bức tượng nhận xét rằng: dường như các nghệ sĩ Ai Cập đã quan sát rất kỹ mắt của người, phần trước của mắt dường như được làm để tiếp nhận mọi ánh mắt khác khi nhìn vào đó. Điều kỳ lạ là các nhà kim hoàn thời đó đã biết mài các thấu kính thành các hạt quartz. “Đây là điều chưa từng có trong lịch sử, theo những kiến thức mà chúng tôi có được”, bà nói. Liệu y học Ai Cập đã phát minh ra nhãn khoa trước khi phát minh ra bức thư? Cho đến ngày nay, người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khảo cổ nào chứng minh cho câu hỏi đó. Tuy nhiên, với những quan sát và phân tích mắt bằng mắt thường như vậy chứng tỏ người xưa đã có rất nhiều các kiến thức y học trong lĩnh vực này.   Men và ngọc rubis  Qua các nền văn minh và thời kỳ khác nhau, người ta đã biết đến rất nhiều bộ phận giả được làm ra và gắn trong các tác phẩm nghệ thuật. Bức tượng nữ thần Babylon Ishtar được làm ra từ hai thế kỷ trước Công nguyên, với đôi mắt không phải là những mảnh thủy tinh nhuộm, mà là những viên ngọc rubis có nguồn gốc từ Myanmar (Miến Điện cũ).                Nhiều tác phẩm nghệ thuật Ai Cập khác cũng vậy, thí dụ như chiếc mặt nạ bằng vàng của bức tượng Toutankhamon và những con mắt tráng men, hay những đồ vật bằng đá chạm trổ tuyệt mỹ, tượng trưng cho đầu của thần Horus. Người ta cũng thấy nhiều bộ phận giả trong các tác phẩm nghệ thuật Celtic, Hy Lạp (thí dụ trong mặt người đánh xe của Delphes) hay trong các tác phẩm thời Roman. Phải chăng chính là nhờ các nghệ sĩ Roman mà ngày nay chúng ta có được từ ocularii, một từ dùng để chỉ các nhà sản xuất mắt giả, chuyên dùng cho các bức tượng. Vào thời Trung cổ, con ngươi trong mặt người trên các cột kiến trúc Roman đều được làm bằng đá quí hoặc chì. Các bức tượng ở Đảo Pâques trước cũng có các con ngươi như vậy, nhưng sau đã bị đánh cắp hết.  “Ngày nay người ta đã nhận thức rõ ràng rằng một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra không chỉ để thỏa mãn thị giác của người xem mà còn kể lại cuộc sống của những con người đã sáng tạo ra nó”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc phòng nghiên cứu và phục chế các tác phẩm nghệ thuật của Louvre nói.   VƯƠNG TIẾN  Theo Cnrs    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật dòng họ vua Tut      Các bằng chứng ADN đã giúp các nhà khoa học làm sáng tỏ sự thật về dòng họ nhà vua trẻ tuổi Ai Cập Tutankhamun (vua Tut), cũng như đưa ra các đầu mối mới về cái chết của ông.        Những xác ướp đã cuốn hút trí tưởng tượng và tâm trí của chúng ta. Luôn được bao phủ bởi những bí mật và huyền thoại, các xác ướp chính là hiện thân của những con người từng sống và từng được yêu quí, như những anh hùng hiện hữu thời nay.  Có một số bí mật về các pharaon chỉ được lộ diện khi chúng ta nghiên cứu các xác ướp của họ. Bằng việc sử dụng các máy quét CT để nghiên cứu xác ướp của vị vua Tutankhamun, năm 2005, chúng tôi đã chứng minh được rằng ông ta không bị chết bởi vết thương đánh vào đầu như nhiều người tưởng. Phân tích của chúng tôi cho thấy vết vỡ ở phía sau sọ xác ướp do quá trình ướp xác gây ra. Nghiên cứu cũng cho thấy Tutankhamun chết khi ông mới 19 tuổi, có thể sau một thời gian phải chịu đau đớn vì vết thương gãy xương chân trái. Nhưng vẫn còn có nhiều bí hiểm bao quanh Tutankhamun mà ngay cả những chiếc máy chụp CT cũng không giúp làm sáng tỏ hơn được bao nhiêu. Nhờ những phân tích kỹ càng về xác ướp của ông, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều chi tiết mới về cuộc đời, sự sống và cái chết của ông.  Vở kịch nhiều hồi          Di hài xác ướp của vua Tut được tìm thấy trong quan tài làm từ vàng khối nặng 250 pound (113,4 kg) này    Những thông tin hoàng gia tìm thấy trong chiếc rương đã gợi ý rằng xác ướp đó có thể là Akhenaten. Các phân tích ADN giờ khẳng định xác ướp đó là con trai của Amenhotep III và Nữ hoàng Tiye, cha mẹ của Akhenaten. Như vậy, ông chính là cha của vua Tut.          Đối với tôi, câu chuyện về Tutankhamun vẫn chưa từng kết thúc và cần phải viết tiếp. Hồi 1 của vở kịch bắt đầu vào khoảng năm 1390 trước Công nguyên, tức là vào khoảng vài thập kỷ trước khi Tutankhamun được sinh ra, khi vị pharaon vĩ đại Amenhotep III vẫn đang trị vì Ai Cập. Kiểm soát một đế chế trải dài 1.200 dặm từ vùng Euphrate ở phía Bắc tới vùng Forth Cataract thuộc sông Nile ở phía Nam, vị vua của triều đại thứ 18 này giàu có đến mức khó thể tưởng tượng nổi. Cùng với hoàng hậu Tiye đầy quyền thế, Amenhotep III trị vì trong suốt 37 năm và rất tôn thờ các vị thần tổ tiên của mình, trong đó có thần Amun. Trong thời thịnh trị của ông, người dân rất giàu có và tiền bạc, của cải từ các vương quốc bị trị bên ngoài luôn tuôn chảy vào kho của quốc vương Ai Cập.  Nếu như Hồi 1 của câu chuyện gắn liền với truyền thống và ổn định thì Hồi II lại là thời kỳ bạo động. Khi Amenhotep III qua đời, người con thứ của ông lên ngôi với cái tên Amenhotep IV. Với tầm nhìn kỳ lạ, vị vua mới đã không còn tôn thờ vị thần Amun và các vị thần tổ tiên mà thay vào đó lại chỉ thờ duy nhất thần Aten. Lên ngôi được 5 năm, ông đổi tên của mình thành Akhenaten, tức là “người được hưởng lợi từ thần Aten”. Ông cho dựng tượng của mình như một vị thần sống và phế bỏ những tập tục tôn giáo truyền thống ở thủ phủ Thebes, cho xây dựng một thành phố nghi lễ tuyệt vời nằm cách Thebes 180 dặm, nơi hiện nay có tên là Amerna. Nơi đó, ông sống cùng vị hoàng hậu xinh đẹp của mình, Nefertiti và 6 người con gái yêu quí. Họ cùng thờ thần Aten. Toàn bộ quyền lực tôn giáo và của cải được chuyển từ các ngôi đền của Amun sang đền thờ Aten. Như vậy, vào thời kỳ này, đối với họ Aten mới là vị thần có quyền lực nhất. Nghệ thuật của thời kỳ này cũng được truyền thêm sinh khí với cuộc cách mạng của chủ nghĩa tự nhiên. Hình ảnh tượng trưng cho vị pharaon mới cũng không còn là khuôn mặt lý tưởng, trẻ trung, có thân hình cơ bắp như các vị pharaon trước đó, mà là một hình ảnh ẻo lả đến kỳ lạ, với cái bụng phệ, môi dày và khuôn mặt thuôn dài.  Kết cục của triều đại Akhenaten cũng rất bí hiểm với nhiều mơ hồ, một hành động dường như diễn ra trong những bức rèm kín. Đã có một hoặc thậm chí hai vị vua đã trị vì trong các thời kỳ ngắn, thậm chí cùng trị vì với Akhenaten, sau khi ông chết. Cũng như nhiều nhà Ai Cập học khác, tôi tin chắc rằng vị “vua” đầu tiên trong số đó chính là Hoàng hậu Nefertiti. Vị vua thứ hai là một khuôn mặt bí ẩn hơn có tên Smenkhkare, người mà đến nay chúng ta còn chưa biết được gì nhiều.          Biểu tượng của Ai Cập cổ đại, nhà vua trẻ sau khi chết được tái hiện bằng bức tượng làm từ vàng, thủy tinh và đá quí. Bức tượng này cũng như các đồ vật quí báu khác được tìm thấy trong mộ của ông giờ được trưng bày tại Bảo tàng Ai Cập ở Cairo, nơi thu hút rất đông khách tham quan.          Điều mà chúng ta chắc chắn là khi bức rèm Hồi III của màn kịch được kéo lên, ngôi vua được trao cho một cậu bé 9 tuổi có tên Tutankhaten (có nghĩa là: hiện thân của thần Aten). Trong hai năm đầu trị vì, ông và hoàng hậu của mình, Ankhesenpaaten (một trong những con gái của Akhennaten và Nefertiti) lại rời bỏ Amarna và trở về Thebes, cho mở cửa trở lại đền thờ các vị thần và hồi phục lại quyền năng và hào quang cho các vị thần này. Họ thay đổi tên của mình thành Tutankhamun và Ankhesenamun, tức là vứt bỏ di sản của Akhenaten và tái tục thờ thần Amun.  Khi màn hạ, tức là vào khoảng 10 năm sau khi lên ngôi, Tutankhamun qua đời, chưa kịp để lại người thừa tự. Ông nhanh chóng được chôn cất trong một ngôi mộ nhỏ, như một ngôi mộ tư chứ không phải một ngôi mộ bậc đế vương. Trong một hành động chống lại các tà thuyết của Akhenaten, vị vua kế vị Tutakhamun đã cho xóa khỏi lịch sử gần như hầu hết những dấu vết của các vị vua Amarna, trong đó có Tutankhamun.  Trớ trêu thay, chính hành động này đã xóa hết những lưu giữ về Tutankhamun cho muôn đời sau. Sau khi ông chết chưa đầy 1 thế kỷ, vị trí ngôi mộ của ông cũng đã bị lãng quên. Nhưng chính điều này đã giúp ngôi mộ thoát khỏi tay của những kẻ đào trộm. Ngôi mộ có cấu trúc xây nổi trực tiếp đã được tìm thấy gần như nguyên vẹn khi người ta phát hiện ra nó vào năm 1922. Hơn 5.000 hiện vật đã được tìm thấy bên trong ngôi mộ. Nhưng các báo cáo khảo cổ thu được đến nay vẫn chưa đủ để làm sáng tỏ các quan hệ huyết thống gần gũi nhất của vị vua. Ai là cha và mẹ của vị vua? Người vợ góa của ông, Ankhesenamun, sau khi ông chết sống thế nào? Hai bào thai xác ướp tìm thấy trong lăng mộ vua Tutankhamun phải chăng chính là hai đứa con chết yểu của ông, hay chỉ là những đứa trẻ đồng trinh bị giết để hiến tế, làm kẻ hầu hạ ông ở thế giới bên kia?  Tìm câu trả lời với khoa học hiện đại  Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi quyết định phân tích ADN của Tutankhamun, cùng với mười xác ướp khác nghi là thành viên trong gia đình của nhà vua. Trước đây, tôi đã từng chống lại việc các nghiên cứu di truyền của các xác ướp hoàng gia. Đơn giản vì cơ hội để có được mẫu phân tích khả thi tránh ô nhiễm từ ADN hiện đại là quá nhỏ, bên cạnh đó là lo ngại xâm phạm vào những điều thiêng liêng. Nhưng trong năm 2008, một số nhà di truyền học thuyết phục tôi rằng đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực này, mở ra cơ hội để nhận được những kết quả hữu ích. Chúng tôi thiết lập phòng thí nghiệm ADN hiện đại, một nằm trong tầng hầm của Bảo tàng Ai Cập ở Cairo và phòng thí nghiệm kia tại Khoa Y học thuộc Đại học Cairo. Nghiên cứu này được thực hiện bởi chính các nhà khoa học Ai Cập đến từ Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia ở Cairo: Yehia Gad và Somaia Ismail. Chúng tôi cũng quyết định tiến hành chụp quét CT tất cả các xác ướp, dưới sự chỉ đạo của Ashraf Selim và Sahar Saleem của Khoa Y, Đại học Cairo. Ba chuyên gia quốc tế làm nhiệm vụ tư vấn là Carsten Pusch thuộc Đại học Eberhard Karls, bang Tübingen, Đức; Albert thuộc Viện nghiên cứu xác ướp ZINK-EURAC, Bolzano, Italy và Paul Gostner của Bệnh viện Trung ương Bolzano.          Bên trong chiếc rương tìm thấy trong mộ của của Tut, người ta thấy có cả bộ tượng nhỏ ghi tên Nữ hoàng Tiye, một hộp đựng tóc, đây có thể là kỷ vật về người bà yêu quí của ông.          Đầu tiên là nhận dạng bốn trong số các xác ướp đã được biết đến. Đó là các xác ướp của Tutankhamun, vẫn nằm trong ngôi mộ của ông tại Thung lũng các vị vua, và ba xác ướp được trưng bày tại Bảo tàng Ai Cập: Amenhotep III, và Yuya – Tuyu, cha và mẹ của hoàng hậu vĩ đại Tiye. Trong số các xác ướp không xác định được là một xác ướp nam, được tìm thấy trong một ngôi mộ bí ẩn ở Thung lũng các vị vua, được đặt tên là KV55. Theo các di chỉ khảo cổ và các bằng chứng văn bản, xác ướp này rất có thể là Akhenaten hoặc Smenkhkare.  Việc tìm kiếm người mẹ và hoàng hậu của Tutankhamun tập trung vào bốn xác ướp nữ vẫn chưa xác định được rõ ràng thân thế. Hai trong số này, có biệt danh là “Elder Lady” (Quí bà lớn tuổi) và “Younger Lady“ (Quí bà trẻ tuổi), được phát hiện ra vào năm 1898. Những xác ướp này đã được mở ra và vô tình đặt trên sàn căn phòng bên cạnh lăng mộ vua Amenhotep II (KV35. Chúng dường như bị cố tình giấu đi bởi các linh mục sau khi Vương quốc mới kết thúc, khoảng năm 1000 trước Công nguyên. Hai xác ướp nữ vô danh khác được lấy từ một ngôi mộ nhỏ (KV21) tại Thung lũng các vị vua. Các kiến trúc của lăng mộ này cho thấy chúng thuộc triều đại thứ 18, và cả hai xác ướp đều có bàn tay trái chống nạnh, tư thế vốn có của các hoàng hậu.  Cuối cùng, chúng tôi cố lấy mẫu ADN từ các bào thai tìm thấy trong ngôi mộ của Tutankhamun. Đây là điều khó khăn bởi các xác ướp được bảo quản trong điều kiện khá nghèo nàn. Tuy nhiên, nếu thành công thì chúng tôi có thể điền vào các mảnh còn thiếu trong bức tranh phả hệ của gia đình hoàng tộc trị vì kéo dài tới năm thế hệ này.  Để có được các mẫu ADN khả thi, các nhà di truyền học chiết xuất tế bào từ các địa điểm khác nhau trong từng xác ướp, luôn luôn lấy từ sâu trong xương, nơi không có khả năng bị ô nhiễm bởi ADN của các nhà khảo cổ trước đây từng nghiên cứu xác ướp, hoặc ADN của các linh mục Ai Cập, những người đã tiến hành ướp xác. Các nhà khoa học cũng hết sức cẩn thận để tránh bất kỳ sự nhiễm bẩn ADN vào các xác ướp từ chính bản thân họ. Sau khi thu được các mẫu chiết xuất, ADN tiếp tục được tách ra từ các chất bao quanh, bao gồm các chất keo và nhựa mà các linh mục sử dụng để bảo quản các cơ quan xác ướp. Do các chất ướp xác khác nhau đối với từng xác ướp, các nhà khoa học đã tiến hành những động tác cần thiết để làm sạch ADN. Điều này không dễ dàng bởi các vật liệu bảo quản rất dễ bị phá hủy sau mỗi bước thí nghiệm.   Trung tâm của nghiên cứu là vẫn chính là vị vua Tutankhamun. Nếu việc chiết xuất và cô lập thành công, ADN của ông sẽ được đưa vào trong một dung dịch lỏng trong suốt để sẵn sàng phân tích. Dường như để làm mất tinh thần của chúng tôi, dung dịch thu được ban đầu lại là một màu đen u ám. Phải mất tới sáu tháng đầy khó khăn để hiểu được nguyên nhân tại sao nó lại như vậy, tìm ra cách để loại bỏ chất gây ô nhiễm (thậm chí đến nay một số hợp chất sử dụng trong quá trình ướp xác vẫn chưa thể được xác định) và thu được một mẫu chuẩn để tiến hành xác định trình tự ADN.   Sau khi thu được ADN từ các mẫu lấy từ ba xác ướp Yuya, Amenhotep III, và nhân vật bí ẩn KV55, chúng tôi đặt mục tiêu phải làm rõ danh tính người cha của Tutankhamun. Trong câu chuyện hệ trọng này, hồ sơ khảo cổ học thu được rất mơ hồ. Ở một dòng chữ khắc từ triều đại của ông, Tutankhamun coi Amenhotep III như cha mình. Nhưng điều này không thể coi là một kết luận vì các chữ khắc đó cũng có thể được hiểu với các nghĩa là “ông nội” hay “tổ tiên”. Ngoài ra, theo thứ tự niên đại chung đã được thừa nhận thì Amenhotep III qua đời khoảng một thập kỷ trước khi Tutankhamun được sinh ra.  Thay vì đó, nhiều học giả tin rằng cha ông là Akhenaten. Hỗ trợ cho quan điểm này là một khối đá vôi vỡ tìm thấy gần Amarna khắc những dòng chữ trong đó cả Tutankhaten và Ankhesenpaaten đều được gọi là những đứa con yêu dấu của nhà vua. Vì chúng ta biết rằng Ankhesenpaaten là con gái của Akhenaten, điều đó cho thấy Tutankhaten (sau này thành Tutankhamun) là con trai ông. Không phải tất cả các học giả cho rằng bằng chứng này là xác thực. Vả lại, một số người còn cho rằng cha của Tutankhamun chính là vị vua Smenkhkare bí ẩn. Tôi luôn luôn ủng hộ Akhenaten là cha của Tutankhaten, nhưng đó cũng chỉ là một giả thuyết.          Một tấm bia đá tìm thấy ở Amarna, trong đó vẽ vua pharaon Akhenaten, hoàng hậu Nefertiti và các con gái đang ngồi dưới các tia sáng Mặt trời, hình ảnh tượng trưng cho thần Aten. Người con lớn nhất, Meritaten, đứng giữa cha mẹ. Mekentaten thì dựa vào đùi của mẹ trong khi Ankhesenpaaten ngồi trên váy mẹ. Ankhesenpaaten sau này cưới vua Tut và đổi tên là Ankhesenamun.    Các dữ liệu lịch sử cho thấy Akhenaten có thể cưới đồng thời cả nữ hoàng nổi tiếng Nefertiti (trong hình) và một phụ nữ có tên Kiya, nhưng không ai trong số này được nói là em gái của ông ta.          Một khi cô lập được ADN của xác ướp thì công việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều, vì lúc đó chỉ cần so sánh các nhiễm sắc thể Y của Amenhotep III, KV55, và Tutankhamun, rồi xem liệu họ thực sự có mối liên hệ huyết thống với nhau hay không (những người đàn ông có quan hệ huyết thống thường có cùng kiểu ADN giống nhau trong nhiễm sắc thể Y của họ, vì đây là phần hệ gene nam giới được thừa hưởng trực tiếp từ người cha). Nhưng để làm rõ mối quan hệ chính xác của họ thì cần các dấu hiệu di truyền tinh vi hơn. Trong các nhiễm sắc thể hệ gene của chúng ta thường có khu vực đặc thù nơi các ký tự ADN-như A, T, G và C tạo ra mã di truyền. Chúng được sắp xếp rất khác nhau giữa người này với người khác. Số biến thể này dẫn đến một lượng rất khác nhau các trình tự của cùng một vài chữ cái. Thí dụ ở người này có thể có chuỗi ký tự lặp đi lặp lại mười lần, nhưng ở một người khác không có liên quan về huyết thống lại có cùng chuỗi ký tự nói trên nhưng số lượng lặp lại lên tới 15 lần, ở người thứ ba, số lần lặp lên tới 20 lần, và cứ như vậy. Chỉ cần sự trùng hợp của 10 trong số các khu vực cực kỳ đa dạng nói trên là có thể đủ để FBI kết luận rằng dấu vết ADN sót lại ở hiện trường và ADN của nghi can là một và chính người đó là thủ phạm.  Một gia đình hoàng tộc phức tạp  Kết nối lại các thành viên một gia đình bị chia lìa từ 3.300 năm trước đây chắc chắn ít đòi hỏi sự chính xác hơn cần thiết như khi phá một vụ trọng án. Chỉ cần so sánh 8 trong số các khu vực đa dạng này, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã có thể thiết lập được khả năng tới hơn 99,99% Amenhotep III là cha đẻ của nhân vật bí hiểm KV55, và người này lại chính là cha đẻ của Tutankhamun.  Giờ thì chúng tôi đã biết đâu là cơ thể của người cha vua Tut nhưng vẫn không chắc chắn được ông là ai. Mối nghi ngờ chính của chúng tôi vẫn rơi vào hai người: Akhenaten và Smenkhkare. Ngôi mộ KV55 có chứa các chất liệu được cho là của Tutankhamun mang về Thebes từ Amarna, nơi Akhenaten (và có thể là Smenkhkare) được chôn cất. Mặc dù các đai của quan tài – các vòng hình bầu dục mang tên pharaon – đã bị đục bỏ hết, bản thân chiếc quan tài chứng tỏ có liên quan tới Akhenaten. Nhưng không phải tất cả các bằng chứng đều cho thấy nó thuộc về Akhenaten. Hầu hết các phân tích pháp y đều kết luận rằng cơ thể bên trong quan tài là của một người đàn ông có tuổi không quá 25, quá trẻ để xác định được chính là Akhenaten, người dường như đã có hai con gái trước khi thời kỳ trị vì kéo dài 17 năm của mình. Hầu hết các học giả nghi ngờ xác ướp đó chính là pharaon Smenkhkare.   Bây giờ có thể nhờ tới một nhân chứng mới để giải quyết bí ẩn này. Xác ướp được gọi là Elder Lady (KV35EL) là một xác ướp đáng yêu, ngay cả khi đã chết, với mái tóc dài màu đỏ xõa trên vai. Phân tích tóc ở đây cho thấy chúng có hình thái hoàn toàn phù hợp với một lọn tóc tìm thấy trong một chiếc quan tài nhỏ trong lăng mộ của vua Tutankhamun, bên ngoài ghi tên Nữ hoàng Tiye, vợ của nhà vua Amenhotep III và là mẹ của Akhenaten. So sánh DNA của Lady Elder với ADN lấy từ các xác ướp đã biết của cha mẹ Tiye, của Yuya và của Tuyu, chúng tôi khẳng định rằng các Lady Elder chính là Tiye. Giờ thì bà ấy có thể xác nhận xem liệu xác ướp KV55 có phải là con trai của bà hay không.  Dường như để tăng thêm hứng khởi cho chúng tôi, việc so sánh DNA của họ cũng đã chứng minh được các mối quan hệ giữa họ. Tiếp tục chiếu và chụp xác ướp KV55 đã cho thấy thêm các chi tiết về sự thoái hóa do tuổi tác ở cột sống, dấu hiệu viêm khớp ở đầu gối và chân của xác ướp. Điều này chứng tỏ rằng ông đã qua đời ở tuổi gần 40 so với mức 25 tuổi như nhiều người nghĩ lúc ban đầu. Khi sự không nhất quán về tuổi tác đã được giải quyết, chúng tôi có thể kết luận rằng xác ướp KV55, người con trai của Amenhotep III và Tiye, người cha của Tutankhamun gần như chắc chắn chính là Akhenaten (Nhưng vì chúng ta biết quá ít về Smenkhkare, chúng tôi vẫn không thể hoàn toàn loại trừ ông ta).          Kiya cũng là một trong số người vợ của Akhenaten.          Việc nghiên cứu các hình chiếu và chụp các xác ướp cũng chứng minh được giả thuyết về các thành viên gia đình này đã mắc cùng các căn bệnh bẩm sinh như hội chứng Marfan, lý giải cho các biểu hiện bên ngoài như có khuôn mặt dài và bề ngoài nữ tính như đã thấy trong các tác phẩm nghệ thuật thuộc thời kỳ Amarna. Trước đây, người ta chưa từng phát hiện ra các yếu tố bệnh lý như vậy. Việc miêu tả tình trạng nửa nam nửa nữ của Akhenaten trong nghệ thuật ngược lại có thể chính là phản ánh sự hiện thân của thần Aten, người vốn mang biểu tượng của cả đàn ông và đàn bà, nguồn gốc của sự sống.   Thế còn vợ của Tutankhamun? Bất ngờ đối với chúng tôi là ADN lấy từ xác ướp có tên Quí bà trẻ tuổi (KV35YL), xác ướp được tìm thấy nằm cạnh Tiye (KV35) hoàn toàn trùng hợp với ADN của nhà vua trẻ tuổi. Kỳ lạ hơn, ADN của bà ta đã chứng tỏ rằng, giống như Akhenaten, bà là con gái của Amenhotep III và Tiye. Như vậy, Akhenaten đã có con với người em gái của mình. Người con trai đó sau chính là Tutankhamun.   Với phát hiện này, chúng tôi biết được rằng dường như các bà vợ đã biết đến của Akhenaten, như Nefertiti hay người vợ hai Kiya đều không phải là mẹ của Tutankhamun, bởi vì trong các dữ liệu lịch sử cũng không cho biết một trong hai người này chính là em gái ruột của nhà vua.   Chúng tôi biết được tên 5 người con gái của Amenhotep III và Tiye nhưng chúng tôi có thể chẳng bao giờ biết được người nào trong số các chị và em gái của Akhenaten đã sinh ra một đứa con trai cho ông. Tuy nhiên, với tôi, việc biết được tên của bà ta ít quan trọng hơn là chính quan hệ của bà với người anh trai. Sự loạn luân là điều hiếm thấy trong hoàng gia cổ đại của Ai Cập. Nhưng tôi tin rằng trong trường hợp này, chính điều đó đã là nguyên nhân khiến con trai của họ phải chết trẻ.   Kết quả phân tích DNA của chúng tôi, được xuất bản trong Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ số tháng 2 vừa qua, đã thuyết phục tôi rằng ngành di truyền học có thể chính là một công cụ mới rất mạnh để giúp chúng ta hiểu biết nhiều hơn về lịch sử Ai Cập, đặc biệt là khi nó được kết hợp với các nghiên cứu bức xạ của xác ướp và so sánh với các hồ sơ khảo cổ học đã thu được.  Điều gì khiến vua Tut chết?  Cho đến nay, vẫn chưa có gì rõ ràng hơn những thứ mà chúng tôi đã kiếm tìm được để hiểu rõ nguyên nhân gây ra cái chết của Tutankhamun. Khi chúng tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu mới, Ashraf Selim và đồng nghiệp đã phát hiện ra một điều gì đó trước đây không được chú ý trong những hình ảnh CT của xác ướp: chân trái của Tutankhamun bị bầm dập, một ngón chân bị mất xương, và một phần xương của bàn chân đã bị hủy hoại do hoại tử, theo đúng nghĩa đen của nó: “các mô đã chết”. Cả hai chi tiết chân bị bầm dập và bệnh xương có thể đã cản trở khả năng đi bộ của nhà vua. Các học giả đã tìm thấy 130 cây gậy đi bộ, còn một phần hoặc nguyên vẹn trong lăng mộ của Tutankhamun, một số chiếc gậy trong số đó có dấu hiệu rõ ràng đã được sử dụng.  Một số người cho rằng những cây gậy này là biểu tượng chung của quyền lực và các hư hại ở bàn chân của Tutankhamun có thể do quá trình ướp xác. Nhưng phân tích của chúng tôi cho thấy có sự tăng trưởng xương mới ở chân để thay thế các thành phần hoại tử, điều này thực sự chứng minh rõ những gì đã xảy ra đối với nhà vua. Và trong tất cả hình ảnh còn lại về các vị vua Ai Cập, chúng tôi chỉ thấy có Tutankhamun là ngồi khi thực hiện các hoạt động như bắn cung tên hay ném gậy. Điều này cho thấy không phải vị vua sử dụng cây gậy như một biểu hiện của quyền lực mà ngược lại, nó được người đàn ông trẻ sử dụng để hỗ trợ khi đi bộ.  Căn bệnh về xương của Tutankhamun đã khiến ông bị liệt bản thân nó không thể khiến ông tử vong. Để biết được nguyên nhân sâu xa gây ra cái chết của ông, chúng tôi phân tích xác ướp của ông để tìm ra các dấu vết di truyền của các bệnh truyền nhiễm khác nhau. Dựa trên sự hiện diện của DNA thuộc một số chủng ký sinh trùng được gọi là Plasmodium falciparum, có thể khẳng định rõ ràng rằng Tutankhamun đã bị nhiễm bệnh sốt rét. Không những thế, ông đã bị nhiễm căn bệnh nghiêm trọng này rất nhiều lần.  Liệu có phải chính căn bệnh sốt rét đã giết chết nhà vua? Có thể vậy. Căn bệnh này có thể kích hoạt một phản ứng miễn dịch trong cơ thể, gây sốc cho hệ thống tuần hoàn và dẫn tới xuất huyết, co giật, hôn mê và tử vong. Vả lại, một số nhà khoa học khác cũng đã chứng minh rằng sốt rét là căn bệnh khá phổ biến trong khu vực ở thời điểm đó, và cơ thể Tutankhamun đã có thể có phần nào miễn dịch trước căn bệnh này. Tuy nhiên, căn bệnh cũng có thể làm hệ miễn dịch của ông bị suy yếu làm cơ thể bị biến chứng khiến các vết thương ở chân của ông khó lành (vết thương này đã được chúng tôi phân tích và đánh giá vào năm 2005).          Cây phả hệ dòng họ vua Tut              Phân tích di truyền 11 xác ướp đã xác định được rõ đâu là ông, bà, cha mẹ và các chị, em của vua Tut. Cha của vua Tut có khả năng rất cao là Akhenaten. Tuy nhiên, xác định rõ được mẹ của ông giờ vẫn là ẩn số. Cách làm của các nhà khoa học là thu thập ADN, rồi so sánh 8 bộ gene đặc trưng (phần chữ trong ô vuông tô màu ở hình dưới) để tìm ra dấu hiệu di truyền riêng của mỗi xác ướp. Những dấu hiệu di truyền giống nhau là cơ sở để xác định các mối quan hệ huyết thống.              1. Vợ của vua Tut: trong số hai xác ướp được xét nghiệm ADN, xác ướp KV21A dường như chính là Ankhesenamun. Bà là vợ của vua Tut và mẹ của một trong hai xác ướp hài nhi.            Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, sức khỏe của Tutankhamun đã bị tổn hại ngay từ lúc ông được hình thành. Cha và mẹ của ông là hai anh em ruột. Xã hội Ai Cập thời các Pharaon không phải là xã hội duy nhất trong lịch sử có hiện tượng loạn luân trong hoàng gia. Bởi điều này về mặt chính trị có thể mang lại một số lợi ích nào đó, nhưng lại mang tới các hậu quả nguy hiểm về mặt sức khỏe con người. Kết hôn giữa những người cùng huyết thống anh chị em có nhiều khả năng dẫn tới các bản sao đôi của các gene có hại, khiến con cái của họ dễ bị một loạt các khiếm khuyết di truyền. Chiếc chân dị dạng của Tutankhamun có thể chính là một sai lầm của di truyền. Chúng tôi nghi ngờ ông cũng bị hở vòm miệng một phần, một khuyết tật bẩm sinh. Có lẽ ông cũng đã phải chiến đấu với những khuyết tật bẩm sinh khác cho đến khi một đợt bệnh sốt rét nghiêm trọng ập đến hoặc đến khi chân của ông bị gãy vì tai nạn, cơ thể của ông không thể chịu đựng thêm được nữa.  Rất có thể có một bản di chúc sâu sắc nào đó biện hộ cho sự loạn luân hoàng gia được chôn cùng với Tutankhamun trong mộ của ông. Trong khi dữ liệu vẫn còn chưa tìm được đầy đủ, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một trong các xác ướp bào thai tìm thấy ở đó là con gái của vua Tutankhamun, và rất có thể thai nhi kia cũng là con của ông ta. Cho đến nay, chúng tôi mới có được rất ít dữ liệu về hai xác ướp nữ có ký hiệu KV21. Theo đó, xác ướp KV21A có thể là vợ của Tutankhamun, tức là Ankhesenamun. Chúng ta biết từ các sách sử rằng cô là con gái của Akhenaten và Nefertiti, và do đó có khả năng là người con cùng cha khác mẹ với chồng của cô ta, tức là vua Tutankhamun.   Một hậu quả khác của giao phối cận huyết là những đứa trẻ khi sinh ra có các khuyết tật di truyền không cho phép chúng sống lâu. Vì vậy, có lẽ đây là kết cục của cuộc chơi, với việc một vị vua trẻ và nữ hoàng của mình cố gắng sinh ra một người con để thừa kế ngai vàng của Ai Cập.   Trong số các hiện vật tuyệt đẹp được chôn cùng với Tutankhamun, người ta thấy có một hộp nhỏ làm bằng ngà voi và bọc vải, chạm khắc hình ảnh vợ chồng nhà vua. Tutankhamun đang đứng dựa vào cây gậy của mình trong khi hoàng hậu đang chìa một bó hoa về phía ông. Trong hình ảnh này cũng như các hình ảnh miêu tả khác, hai vợ chồng nhà vua đều xuất hiện với những khuôn hình biểu hiện một tình yêu trong sáng. Sự thất bại của cuộc tình này đã dẫn tới sự kết thúc không chỉ một gia đình hoàng tộc mà cả một triều đại. Chúng tôi biết rằng sau khi Tutankhamun chết, một nữ hoàng Ai Cập, rất có thể Ankhesenamun, đã xin vua của Hittite, kẻ thù chính của Ai Cập kết hôn với một hoàng tử của ông, bởi vì “chồng tôi đã chết, và tôi không có con trai“. Vua Hittite gửi tới một người con trai, nhưng vị hoàng tử này đã chết trước khi đến Ai Cập. Tôi tin rằng ông này đã bị Horemheb, chỉ huy trưởng quân đội của Tutankhamun ám sát. Horemheb sau này đã chiếm ngôi vua, nhưng rồi cũng qua đời mà không có con, để lại ngôi cho một người bạn, cũng là một vị tướng.  Vị pharaon mới có tên là Ramses I. Ông ta bắt đầu một triều đại mới, trong đó, dưới thời cai trị của cháu nội ông, vị vua  Ramses Đại đế, Ai Cập đã phát triển lên một tầm cao mới đầy quyền lực. Hơn bất cứ ai hết, vị vua vĩ đại này đã làm tất cả để xóa khỏi lịch sử các dấu vết của Akhenaten, Tutankhamun, và “các nhà vua dị giáo “ của thời kỳ Amarna.   Với những điều tra mới này, chúng tôi tìm cách để vinh danh những vị vua bất tử và cố gắng giữ lại những ký ức về họ để chúng sống mãi theo thời gian.   ——————-  * Tiến sĩ Zahi Hawass là nhà khảo cổ học hàng đầu của Ai Cập, giữ chức vụ tương đương Thứ trưởng (Undersecretary) quản lý các tượng đài ở Giza, kiêm Giám đốc cơ quan quản lý các Kim tự tháp ở Ai Cập.              HOÀNG AN   dịch        Lợi ích và nguy cơ của sự loạn luân hoàng tộc              Dòng họ King Tut không phải là dòng họ hoàng tộc duy nhất có các mối quan hệ cận huyết   Khi nhà truyền giáo người Anh Hiram Bingham tới Hawai vào năm 1820, ông thực sự cảm thấy sốc khi phát hiện ra niềm đam mê của dân bản địa đối với tục thờ thần tượng, với các điệu múa hula và đặc biệt là sự loạn luân trong dòng tộc hoàng gia. Tuy nhiên, bản thân người Hawai thì lại bình thường trước điều này. Nhà sử học Joanne Carando đã viết: “Sự loạn luân trong hoàng tộc là điều được chấp nhận, dù cho nó không được khuyến khích” ở Hawai và đây được coi là một đặc quyền của hoàng gia.               Trên thực tế, trong khi hầu như mọi nền văn hóa trong lịch sử đã diễn ra tình trạng quan hệ cận huyết cấm kị giữa các anh chị em ruột hoặc cha mẹ với con, nhiều xã hội không coi điều này đáng bị trừng phạt, có thể kể ra như ở Ai Cập cổ đại, thời Inca Peru, và, nhiều thời điểm khác nhau được dung thứ trong lịch sử tại Trung Phi, Mexico, và Thái Lan. Và trong khi đa phần các hoàng gia ở châu Âu tránh  sự loạn luân giữa anh chị em thì một số hoàng gia khác, bao gồm dòng họ Hohenzollerns ở Phổ, dòng họ Bourbon ở Pháp, và hoàng gia Anh lại thường diễn ra việc kết hôn giữa các anh em họ với nhau. Dòng họ Habsburgs ở Tây Ban Nha, những người đã cai trị trong gần 200 năm, thường kết hôn với những người thân gần gũi. Triều đại của họ kết thúc vào năm 1700 với cái chết của Charles II, một vị vua có những vấn đề bí ẩn về sức khỏe và phát triển, thí dụ như lên 4 tuổi mới biết nói hoặc lên 8 tuổi mới biết đi. Ông cũng gặp khó khăn khi nhai thức ăn và không thể có con.              Những trục trặc xảy ra trong cơ thể của vua Charles và pharaon Tutankhamun chính là kết quả của các mối quan hệ cận huyết. Điều đó lý giải tại sao con người đã cấm sự loạn luân ở hầu hết các nơi trên thế giới. Sự trùng lặp gene có thể gây ra những tác dụng ngược. Những đứa con của các mối quan hệ cận huyết (giữa các anh, chị, em ruột hay giữa cha, mẹ và con ruột) đều được thừa hưởng trùng lặp trung bình nửa số gene của cha mẹ. Các quan hệ cận huyết xa hơn (thí dụ giữa chú-cháu, cậu-cháu…) thì sẽ bị trùng 12,5% số gene. Không những thế, các mối quan hệ cận huyết còn khiến gia tăng nguy cơ xuất hiện của các gene lặn, đặc biệt khi các mối quan hệ cận huyết được tiếp tục trong nhiều thế hệ, dẫn tới các khuyết tật về sức khỏe đối với những đứa con sau này được sinh ra. Rất có thể việc khiếm khuyết hàm ếch và khuyết tật ở chân của vua Tut cũng như thân hình nhỏ bé và sự vô sinh ở Charles II là kết quả của các mối quan hệ cận huyết kéo dài nhiều thế hệ.              Kể cả các hoàng gia biết được tác hại của quan hệ cận huyết, họ cũng sẽ lờ chuyện đó đi. Theo giáo sư  Walter Scheider, chuyên gia về Hy Lạp và La Mã cổ đại của Đại học Stanford, một trong các lý do khiến họ làm điều đó là “sự loạn luân dường như là được dành cho họ”. Sự loạn luân hoàng gia xảy ra chủ yếu trong các xã hội có nhiều quyền lực và không có đối thủ chính trị, ngoại trừ sự hiện diện của các thần thánh. Và họ suy nghĩ: bởi vì các vị thần có thể lấy lẫn nhau, do đó, các thành viên hoàng gia cũng có thể làm được điều đó.              Loạn luân cũng là cách để bảo vệ tài sản của hoàng gia. Lấy nhau giữa các thành viên trong gia đình đảm bảo là nhà vua sẽ chia sẻ sự giàu có, đặc quyền và quyền lực chỉ cho những người thân của họ. Ở các xã hội quyền lực tập trung tiêu biểu như Ai Cập cổ đại và  Inca Peru, điều này hạn chế vòng giao phối chỉ trong nội bộ các gia đình hoàng tộc. Ở các nền văn hóa kế tục, như ở châu Âu trong thiên niên kỷ thứ 2, người ta cho phép sự kết hôn ra bên ngoài các thành viên trong gia đình, với những người thuộc chế độ khác để hình thành các liên minh nhằm duy trì quyền lực giữa họ với nhau.              Và các mối nguy hiểm, trên thực tế, không phải hoàn toàn đã được loại bỏ tuyệt đối. Đối với các mối quan hệ cận huyết ở mức độ xa hơn cũng có thể gây ra các tác hại đối với sức khỏe của những đứa con sau này. Và sự giàu có của hoàng gia cũng có thể có tác dụng giúp những người thụ hưởng có điều kiện chăm sóc y tế tốt hơn. Vua Charles II chắc chắn đã có cuộc sống tốt hơn (và sống lâu hơn, ông chết ở tuổi 38) so với việc nếu ông chỉ là một người nông dân thời đó.               Một vị vua hay một vị pharaon cũng có thể tránh được sự rủi ro của các quan hệ loạn luân bằng cách có quan hệ với nhiều phụ nữ khác. Như nhà nghiên cứu Hy Lạp và La Mã cổ đại của Đại học Stanford Josiah Ober viết: “Ông ta có thể lấy bất cứ người con gái đẹp nào ông ta muốn”. Thí dụ như nhà vua trị vì Inca, Huayna Capac (1493-1527), người đã truyền lại quyền lực của mình không chỉ cho người con trai Huáscar, đứa con với người vợ, đồng thời là em gái của ông, Capac, mà còn cho cả Atahualpa, đứa con trai của ông với một nữ hoàng. Và nhà vua Rama V của Thái Lan (1873-1910) đã có tới 70 đứa con, trong đó một số đứa con là với những người em gái ruột, nhưng phần lớn là với các ái phi và cung tần mỹ nữ khác. Những nhà vua như vậy có thể mang lại sự thịnh vượng, an toàn, giáo dục và kể cả quyền lực chính trị cho nhiều đứa con của họ, mà không cần biết mẹ của chúng là ai. Như một nhà di truyền học nói: nhà vua đã để lại các gene của mình cho hậu thế theo nhiều cách thức khác nhau.              Bingham hiểu rằng ngay cả sau này, khi nhà vua Kamehameha III của Hawai theo đạo Thiên chúa giáo, ông vẫn cứ tiếp tục ngủ với em gái của mình, Nữ hoàng Nahi’ena’ena trong vòng vài năm sau đó. Điều này có thể khiến những người già của đất nước này vừa lòng nhưng lại làm phật lòng các nhà truyền giáo. Họ làm điều đó là bởi họ yêu nhau, nhà sử học Carando nói.                                        David Dobbs             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí mật ít biết về lò phản ứng Đà Lạt      45 năm sau ngày thống nhất đất nước, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt không chỉ vận hành một cách bền bỉ với khoảng 2.900 giờ/năm để tạo ra lượng dược chất phóng xạ cao gần gấp đôi những năm trước cho các cơ sở y tế mà còn đánh dấu một bước tiến mới, các kênh ngang được đưa vào sử dụng có hiệu quả, đem lại các công trình khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín. Mọi thứ diễn ra thông đồng bén giọt tới mức, dường như không ai biết rằng cuối tháng 3/1975 theo một bức điện tín mật, thiết bị nghiên cứu đặc biệt này từng đứng trước một hiểm nguy và những khó khăn cả về kỹ thuật và ngoại giao trước ngày khôi phục lò phản ứng.    Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là lò phản ứng độc nhất vô nhị trên thế giới “vỏ Mỹ, ruột Nga”.  Thông tin này đã được Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) giải mật và công khai một phần vào năm 1997. Tới năm 2015, đài truyền hình Nhật Bản NHK thực hiện một bộ phim tài liệu, phỏng vấn hai nhân chứng quan trọng thực hiện nhiệm vụ bí mật ở lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt năm đó và phục dựng lại toàn bộ diễn biến.  Ngược lại dòng thời gian, vào những năm 1960, trong khuôn khổ Chương trình Nguyên tử vì mục đích hòa bình, chính phủ Mỹ đã đầu tư xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu tại Việt Nam theo công nghệ TRIGA – MARK II của hãng General Atomics Corporation tại San Diego, California – từ thiết kế TRIGA của nhà vật lý lý thuyết Edward Teller và cộng sự. Sau hơn hơn hai năm xây dựng, lò phản ứng hạt nhân này đã đạt trạng thái tới hạn vào ngày 26/2/1963 và chính thức đi vào vận hành vào ngày 3/3/1963 với một đội ngũ gồm 48 thành viên, trong đó có 15 nhà nghiên cứu và 9 nhân viên kỹ thuật, thực hiện các mục tiêu như “sản xuất đồng vị và dược chất phóng xạ để nghiên cứu trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y tế… cũng như thực hiện các nghiên cứu cơ bản về vật lý lò phản ứng và an toàn bức xạ”, PGS. TS Nguyễn Nhị Điền, một trong những người gắn bó với Viện nghiên cứu Đà Lạt kể từ năm 1979 và chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng với lò phản ứng này, cho biết. Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là lò hạt nhân đầu tiên của khu vực Đông Nam Á nhưng ở thời điểm đó, không ai biết đến thông tin này. Theo lời của giáo sư Yuka Tsuchiya, trường đại học Ehime, Nhật Bản, trong cuộc trao đổi với NHK thì “phần lớn người Mỹ cũng như những người khác trên thế giới đều không hề biết đến chuyện là có một lò phản ứng do Mỹ thiết kế như thế tại miền Nam Việt Nam”.  Vì sao lò phản ứng này lại hoạt động một cách bí mật? Thuộc một phần của chương trình Nguyên tử vì mục đích hòa bình, nó lại là một hoạt động hỗ trợ của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Theo lý giải của giáo sư Yuka Tsuchiya, chương trình của tổng thống Eisenhower nhằm phổ biến thông tin về các hoạt động hạt nhân dân sự như sử dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp, y tế, công nghiệp. Chiến lược này cũng tạo điều kiện xuất khẩu công nghệ lò phản ứng hạt nhân và nhiên liệu hạt nhân Mỹ ra nước ngoài. Đằng sau đó là hai nguyên nhân chính: 1. Mỹ muốn chứng tỏ chính sách hạt nhân của mình không chỉ đầu tư vào phát triển bom hạt nhân mà còn vì sự thịnh vượng của con người; 2. Đây là cuộc cạnh tranh công nghệ giữa hai khối Đông và Tây, vì thế, xuất khẩu các lò phản ứng giống như việc xây dựng các ‘thuộc địa’ công nghệ ở nước ngoài bởi các quốc gia chấp nhận công nghệ Mỹ có thể giữ mối quan hệ hợp tác với Mỹ trong nhiều năm và không rời khỏi khối tư bản phương Tây.  Tuy nhiên những tính toán mà họ đặt ra đã không thể thực hiện được do những diễn biến trên chiến trường miền Nam: thất bại của chiến lược Chiến tranh cục bộ (1963-1969) báo hiệu một viễn cảnh tăm tối như lời thừa nhận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara trong cuốn Nhìn lại quá khứ – tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia, 1995) là “Chúng ta (Mỹ) đã thất bại”.  Do đó, người Mỹ đã cho dừng vận hành lò phản ứng vào năm 1968 nhưng các thanh nhiên liệu cháy dở vẫn còn lại trong lõi lò phản ứng. Các thanh nhiên liệu mà Mỹ cung cấp là nhiên liệu hợp kim hydride uranium-zirconium U-235 có độ giàu dưới 20%. Đây là một trong những thiết kế tiên tiến bậc nhất của Mỹ trong những năm 1960, thậm chí họ còn cho rằng ngay cả Xô viết lúc đó còn chưa có được công nghệ này. Họ sợ hãi khi nghĩ đến khả năng chính quyền Sài Gòn thua trận, Việt Nam thống nhất và do có mối quan hệ hợp tác với Việt Nam, có thể bí quyết công nghệ Mỹ sẽ lọt vào tay Liên Xô. Mặt khác, khi nhiên liệu U-235 tham gia vào phản ứng phân hạch dây chuyền trong lò phản ứng do tương tác của neutron chậm, cùng lúc đó các neutron nhanh sinh ra sẽ tương tác với U-238 để tạo thành Pu-239. Những quốc gia giỏi về công nghệ có thể tách chiết được Pu-239 ra khỏi thanh nhiên liệu và sử dụng vật liệu này để làm vũ khí hạt nhân.  Vào ngày 24/3/1975, ngoại trưởng Mỹ Henry Kissingger đã gửi một bức điện tín mật tới đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, ra lệnh lấy nhiên liệu ra khỏi lò phản ứng. Ở Mỹ, nhiệm vụ tối mật này đã được trao cho Wallu Hendrikson, một chuyên gia nhiên liệu hạt nhân của Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho, và John Horan, một chuyên gia về vật lý y sinh từng làm việc tại Nhà máy xử lý hóa chất Idaho, Cơ sở các lò phản ứng Naval, quản lý các chương trình môi trường, an toàn và sức khỏe tại Bộ Năng lượng Mỹ cũng như chuyên gia tại IAEA, phụ trách nhóm An toàn phóng xạ (John Horan qua đời năm 1999 trước thời điểm NHK thực hiện phim tài liệu).    Phòng điều khiển lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.  Mặc dù sẵn sàng thực hiện mệnh lệnh nhưng khi đến Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và thấy cảnh hỗn loạn ở thành phố này, Hendrikson mới nhận thấy đây là nhiệm vụ khó thực hiện như thế nào. Ông kể lại “Chúng tôi được thông báo là nếu không lấy được các thanh nhiên liệu khỏi lõi lò phản ứng và mang nó ra khỏi Việt Nam thì chúng tôi sẽ phải làm cách nào đó để không ai có thể vào được lò và đổ bê tông lên lò. Việc đưa bê tông và đưa nó lên cao 20 feet trong không trung rồi đổ nó vào lõi lò là điều không thể”.  Trong trường hợp các giải pháp này không thể thực hiện được, cần phải nổ tung lò phản ứng hạt nhân, và đó sẽ là một tội ác chiến tranh. Đối với hai nhà khoa học, về mặt nhân đạo thì không thể chấp nhận được phương án cuối cùng. Đại tá Rich Miller cũng tiết lộ với NHK “vào đầu cuộc thảo luận về ý tưởng nổ tung lò phản ứng đã được đề cập và tôi còn thực hiện một số tính toán về việc cần bao nhiêu thuốc nổ TNT…”  Theo thói quen, John Horan ghi chép cẩn thận chi tiết nhiệm vụ này trong một cuốn sổ công tác. Thông tin trong cuốn sổ cho biết, ông và Hendrikson đã hạ cánh xuống sân bay Cam Ly gần Đà Lạt vào 10giờ45 sáng ngày 30/3, trong cảnh hỗn loạn bởi lực lượng quân giải phóng Bắc Việt đang tiến gần đến thành phố.  Hai người và một nhóm hỗ trợ vào được lò phản ứng để thực hiện nhiệm vụ. Chuyến bay đưa họ trở về Sài Gòn sẽ cất cánh vào một giờ chiều hôm sau. Thật may mắn là ý tưởng nổ tung lò phản ứng đã bị loại bỏ. Đại tá Miller nói, các quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ đã quyết định như vậy sau khi nhận thấy, nếu vụ nổ lò phản ứng xảy ra sẽ dẫn đến “sự phát tán phóng xạ và đó không phải là một ý tưởng hay. Tôi nghĩ thậm chí nó sẽ là một công cụ tuyên truyền cho những người cộng sản. Ý tưởng đó đã bị loại vì không hợp lý”.  Tuy nhiên công việc của nhóm Hendrikson và Haron khá nguy hiểm vì các thanh nhiên liệu cháy dở trong lò phản ứng có phóng xạ. Những người trong nhóm đã phải tạo ra một bức tường bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng của phóng xạ. Để giới hạn phơi nhiễm, họ làm việc theo thành từng nhóm 4 người một kíp. Trong khi một thành viên  nhấc các thanh nhiên liệu khỏi lõi lò, những người khác nấp sau bức tường bảo vệ để che chắn bản thân trước phóng xạ. Thay vì một thiết bị chuyên dụng có thể mất thời gian, những người này phải sử dụng chính đôi tay mình. Từ đỉnh lò phản ứng, họ hạ một cái móc vào lõi lò và dùng nó nhấc các thanh nhiên liệu, từng thanh từng thanh một.  Trong buổi sáng hôm đó, quân đội miền Bắc chỉ còn cách Đà Lạt 8 dặm.  Cả nhóm làm việc đến tận đêm. Không rõ họ bị phơi nhiễm bao nhiêu lượng phóng xạ nữa. Rốt cuộc vào hai giờ sáng ngày 31/3, họ hoàn tất nhiệm vụ. Cùng ngày, một chuyến máy bay đã đưa hai chuyên gia hạt nhân rời Việt Nam như kế hoạch dự kiến. Họ có mang theo bó nhiên liệu không? Dường như là không bởi theo một nguồn tin khác thì sau đó, nhiên liệu được chuyển từ Việt Nam sang hạm đội Mỹ ở Philippines và sau hai tháng mới chuyển bằng tàu về đến Mỹ.  Khi quân giải phóng vào tới thành phố, lõi lò phản ứng hạt nhân đã trống rỗng. Tuy nhiên, đây không phải là điểm kết thúc vòng đời của lò phản ứng này mà lại là nơi bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp để trở thành lò phản ứng độc nhất vô nhị trên thế giới “vỏ Mỹ, ruột Nga”. Nhưng đó là câu chuyện của nhiều năm sau, với sự hỗ trợ của Liên Xô, các nhà khoa học Việt Nam đã chính thức tái vận hành lò phản ứng và đưa nó trở thành một trong những lò phản ứng nghiên cứu hoạt động hiệu quả nhất như lời nhận xét của đại sứ Nga tại Việt Nam Konstantin Vnukov tại hội thảo “Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia (CNEST): Các khía cạnh KT-XH và KH-KT” do Bộ KH&CN và Rosatom phối hợp tổ chức ngày 10/2/2017.□  ———————————————–  * Cám ơn PGS. TS Nguyễn Nhị Điền đã tư vấn và góp ý nhiều thông tin quý báu cho bài viết này.  Tài liệu tham khảo:  https://deepblue.lib.umich.edu/handle/2027.42/116113  https://www.tandfonline.com/doi/abs/ 10.1080/01402390600766148? journalCode=fjss20  https://rootsaction.org/news-a-views/962-vietnam-war-nuclear-missiona  https://www.vietnamfulldisclosure.org/us-almost-blew-up-a-nuclear-plant-in-vietnam/  https://www.nytimes.com/1997/01/16/world/now-it-can-be-told-plutonium-and- a-do-or-die-vietnam-foray.html       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Bí mật khả năng truyền âm kỳ diệu của nhà hát Hy Lạp      Âm thanh ở nhà hát cổ đại Hy Lạp danh tiếng Epidaurus thật tuyệt vời: Tiếng hát của một diễn viên đứng trên sân khấu mở có thể được nghe ở những hàng ghế cách đó 60 mét.    Các kiến trúc sư và khảo cổ gia từ lâu đã phỏng đoán về bí quyết làm nên sự truyền âm lạ lùng này. Mới đây, một nghiên cứu tiết lộ nó có được là nhờ việc khai thác đặc tính vật lý phức tạp của âm học.  Nhà hát Epidaurus được khám phá dưới một lớp đất trên bán đảo Peloponnese vào năm 1881, và được khai quật sau đó. Nó có hình bán nguyệt cổ điển của một nhà hát giảng đường Hy Lạp, với 34 hàng ghế ngồi bằng đá (sau được người La Mã bổ sung thêm 21 hàng).  Âm thanh ở đây được truyền cực tốt. Tiếng hát không micro của một diễn viên trên sân khấu thoáng có thể được thính giả ở những hàng ghế sau cách đó 60 mét nghe thấy.  Mới đây, Nico Declercq và Cindy Dekeyser từ Viện công nghệ Georgia ở Atlanta cho biết, chìa khóa của nó là sự xắp xếp các hàng ghế ngồi theo bậc thang. Theo tính toán của họ, cấu trúc này là hình dáng hoàn hảo cho việc lọc âm, khử nhiễu các âm thanh tần số thấp (là thành phần chính của tiếng ồn nền trong nhà hát) đồng thời khuếch đại giọng có tần số cao của diễn viên.  Declercq không biết liệu đặc tính này được tạo ra cố ý hay vô tình trong quá trình thiết kế. Nhưng dù thế nào, ông vẫn cho rằng người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã đánh giá đúng khả năng truyền âm của nhà hát Epidaurus và copy chúng cho những nơi khác.  T. An (theo Nature)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bí quyết chống lão hóa của loài kiến      Các nhà nghiên cứu đang tích cực tìm hiểu bí kíp trường thọ của loài kiến để giải thích cơ chế lão hóa trên những loài khác.     Hình ảnh hai cá thể kiến quân đội cùng loài, Dorylus molestus. Kiến chúa khổng lồ đẻ hàng triệu triệu trứng mỗi tháng và có tuổi thọ lên đến vài năm; kiến thợ nhỏ bé không có khả năng sinh sản chỉ sống vài tháng. Những nhà nghiên cứu đang tích cực khám phá bằng cách nào những cá thể kiến cùng đặc điểm di truyền lại có tuổi thọ linh động đáng kinh ngạc như vậy. Ảnh: Daniel Kronauer .  Động vật đẻ nhiều con có xu hướng tuổi thọ ngắn hơn trong khi những loài đẻ ít hơn lại sống lâu hơn. Loài gián đẻ hàng trăm trứng nhưng thường chỉ sống chưa đến một năm. Loài chuột có vài tá con non trong vòng đời từ một đến hai năm. Cá voi lưng gù chỉ đẻ mỗi hai đến ba năm một lần lại có tuổi thọ hàng thập kỷ. Kinh nghiệm cho thấy, các loài động vật có hai chiến lược tiến hóa: hoặc tập trung nguồn dinh dưỡng để sinh sản nhanh chóng hoặc phát triển khỏe mạnh để có lợi thế sinh tồn lâu dài.      Thế nhưng kiến chúa lại có cả hai. Với một số loài kiến, kiến chúa sống thọ hơn 30 năm trong khi vẫn đẻ hàng nghìn nghìn trứng – sau này nở thành kiến thợ tương lai. Trái lại, những kiến thợ cái không có khả năng sinh sản chỉ sống trong vòng vài tháng. Trong trường hợp cần thiết, một số loài kiến thợ có thể đứng ra trở thành “kiến chúa giả” vì lợi ích chung của tổ, đồng thời kéo dài một cách đáng kể tuổi thọ của bản thân.   Cơ chế tạo ra sự chênh lệch khổng lồ giữa tuổi thọ của các cá thể kiến vẫn chưa được giải đáp tường tận, cho đến gần đây có hai nghiên cứu tiết lộ những chi tiết quan trọng. Công bố trên tạp chí Science, hai nhà nghiên cứu tại Đại học New York cho rằng kiến chúa đã sản sinh một loại protein có khả năng ngăn chặn tác động lão hóa của insulin, từ đó cho phép tiêu thụ hoàn toàn lượng thức ăn bổ sung cần thiết cho việc đẻ trứng mà không phải rút ngắn tuổi thọ của bản thân. Trong một nghiên cứu khác, chưa qua bình duyệt được đăng gần đây trên biorxiv.org, những nhà nghiên cứu tại Đức đã mô tả một loài ký sinh trùng có khả năng kéo dài đáng kể tuổi thọ của vật chủ kiến bằng cách bơm hỗn hợp giàu chất chống oxy hóa và những hợp chất khác vào cơ thể vật chủ. Cả hai nghiên cứu đều đem lại bằng chứng cho thấy tuổi thọ của các sinh vật này ít bị những yếu tố di truyền hạn chế.     Nhà sinh vật học tiến hóa Daniel Kronauer tại Đại học Rockefeller chỉ ra insulin đã cưỡng bức những cá thể kiến (thợ) tiến hóa để hy sinh cho bầy, chỉ duy trì kiến chúa sinh sản còn kiến thợ mất khả năng sinh sản.    Laurent Keller, giáo sư sinh thái học và tiến hóa Đại học Lausanne, Thụy Sĩ cho biết: “Hầu hết các nghiên cứu về lão hóa được tiến hành trên sinh vật mẫu có tuổi thọ rất ngắn.” Ông giải thích rằng, những loài côn trùng có tập tính xã hội đem lại cơ hội tuyệt vời để nghiên cứu vai trò của các gene liên quan đến quá trình lão hóa, bởi kiến chúa và kiến thợ trong cùng một tổ thường có chung bộ gene di truyền, nhưng chênh lệch về tuổi thọ lại rất lớn. (Hai thập niên trước, Keller đã chỉ ra rằng kiến chúa đã tiến hóa để sống lâu gấp 100 lần tổ tiên của chúng là những loài côn trùng sống riêng lẻ).  Arjuna Rajakumar, nghiên cứu sinh sau tiến sỹ hiện nghiên cứu về những hạn chế sinh sản của kiến thợ tại Viện Công nghệ Whitehead thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts, có một khả năng thú vị là cơ chế trao đổi chất kéo dài tuổi thọ của côn trùng cũng có thể áp dụng cho những loài khác, bao gồm cả con người. “Chúng tôi muốn tìm cách làm cho một loài vật sống lâu hơn, chứ không (chỉ) đơn giản tìm hiểu tại sao chúng lại sống lâu vậy.”   Ăn nhiều hơn, lão hóa chậm hơn   Trong nhiều thập niên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng insulin đã kích hoạt hệ thống tín hiệu hóa sinh đóng vai trò chủ chốt trong quá trình lão hóa. Insulin tác động lên cách các tế bào trong cơ thể hấp thụ và chuyển hóa đường glucose, có ảnh hưởng cốt yếu đến tổng năng lượng sẵn có cho tế bào phát triển, sinh sản và sửa chữa. Trong quá trình này, insulin cũng điều hòa sự sản sinh các gốc tự do tiềm ẩn nguy cơ gây hại và những phân tử oxy hóa khác là sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất. Nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ đây chính là lý do chế độ ăn kiêng hạn chế calo, giữ lượng insulin ở mức thấp, dường như kéo dài tuổi thọ ở nhiều loài.      Một cá thể kiến Harpegnathos saltator đang đẻ trứng, tuy nhiên, cá thể này không phải là kiến chúa, danh vị chỉ dành cho cá thể kiến giữ vai trò sinh sản trong tổ. Thay vào đó là một “gamergate” – một kiến thợ có khả năng sinh sản ứng để ứng phó trong trường hợp vắng mặt kiến chúa. Ảnh: Clint Penick  Hơn nữa, insulin có ảnh hưởng quan trọng tới các hoạt động sinh lý của các loài kiến. Vài năm trước, nhà sinh vật học tiến hóa Daniel Kronauer tại Đại học Rockefeller chỉ ra rằng insulin đã cưỡng bức những cá thể kiến (thợ) tiến hóa để hy sinh cho bầy, chỉ duy trì kiến chúa sinh sản còn kiến thợ mất khả năng sinh sản.  Do vậy, bốn năm về trước, Vikram Chandra – học viên cao học tại Đại học Rockefeller nghiên cứu về những khác biệt giữa kiến chúa và kiến thợ, ý tưởng nghiên cứu về insulin luôn quẩn quanh trong đầu ông. Vikram Chandra cùng với cộng sự của mình Ingrid Fetter-Pruneda, một nghiên cứu sinh sau tiến sỹ, đồng hướng dẫn một nhóm nghiên cứu về các biểu hiện của gene trên bảy loài kiến, đã đưa ra kết luận rằng có nhiều tín hiệu dẫn truyền insulin ở não kiến chúa hơn ở kiến thợ. Khi kiến thợ được tiêm bổ sung insulin, buồng trứng đang ngủ đông được khởi động và kích hoạt trứng phát triển. Những khám phá này cho thấy tín hiệu dẫn truyền insulin đã kích hoạt khả năng sinh sản ở kiến.  Phát hiện này đã đặt nền móng cho nhiều nghiên cứu mới, một phần trong công cuộc hợp tác lâu dài giữa nhà sinh vật học Claude Desplan và Danny Reinberg tại Đại học New York. Họ đã chỉ ra trong quá trình tiến hóa, một số thành phần trong đường tín hiệu dẫn truyền insulin của kiến đã được “nối lại”, đưa đến đáp án cho câu hỏi tại sao kiến chúa lại sống lâu hơn. Desppllan và Reinberg nghiên cứu về kiến nhảy Ấn Độ (Harpegnathos saltator), kiến chúa loài này sống khoảng năm năm trong khi kiến thợ chỉ sống được khoảng bảy tháng. Nhưng ở loài này, khác biệt về tuổi thọ không cố định. Nếu nữ hoàng chết hoặc bị di dời khỏi đàn, kiến thợ sẽ cảm nhận được sự thay đổi gần như lập tức vì mùi của kiến chúa sẽ biến mất. Một số sau đó trở thành “gamergate” (kiến chúa giả) đấu tranh giành quyền thống trị đàn. Cuối cùng, một nhóm các “gamergate” chiến thắng – thường là từ ba đến năm cá thể – cùng đảm nhận vai trò kiến chúa duy trì nòi giống cho đàn. Những kiến thợ còn lại sẽ truy quét “gamergate” dư thừa và ngăn chặn không cho chúng đẻ trứng.    Các nhà nghiên cứu đã tìm ra câu trả lời ẩn sâu trong tín hiệu của quá trình truyền dẫn insulin. Khi insulin gắn vào thụ thể trên bề mặt tế bào, hàng loạt các phản ứng bên trong tế bào được kích hoạt, bao gồm hai trình tự phản ứng riêng biệt. Trình tự thứ nhất hoạt hóa một enzyme gọi là MAP kinase, rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất và phát triển buồng trứng. Trình tự còn lại ức chế yếu tố phiên mã và có khả năng thúc đẩy kéo dài tuổi thọ.    Tuy nhiên, không chỉ mỗi tập tính bị thay đổi, những gamergate cũng phát triển các buồng trứng chức năng để đẻ trứng và kéo dài tuổi thọ từ ba đến bốn năm. Vì gamergate không có khả năng sinh sản hiệu quả như kiến chúa thực thụ, cần từ ba đến năm năm để chúng có thể đạt được sản lượng trứng như của kiến chúa. Nếu một gamergate gia nhập đàn mới nơi kiến chúa vẫn đang trị vì, gamergate đó sẽ quay trở về làm kiến thợ và tuổi thọ cũng sẽ bị ngắn đi.      Khi kiến thợ trở thành một gamergate, hệ thống trao đổi chất sẽ thay đổi. Nó sẽ ăn nhiều hơn, khiến nồng độ insulin tăng cao kích thích buồng trứng phát triển đồng thời sử dụng thức ăn để sản sinh ra chất béo đóng gói trong trứng. Tuy nhiên, theo những nghiên cứu trước đó về insulin và quá trình lão hóa, những nhà nghiên cứu tại Đại học New York đã đưa ra nhận định rằng gia tăng dẫn truyền insulin không kéo dài mà khả năng cao sẽ rút ngắn tuổi thọ trung bình của cá thể.      Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã tìm ra câu trả lời ẩn sâu trong tín hiệu của quá trình truyền dẫn insulin. Khi insulin gắn vào thụ thể trên bề mặt tế bào, hàng loạt các phản ứng bên trong tế bào được kích hoạt, bao gồm hai trình tự phản ứng riêng biệt. Trình tự thứ nhất hoạt hóa một enzyme gọi là MAP kinase, rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất và phát triển buồng trứng. Trình tự còn lại ức chế yếu tố phiên mã và có khả năng thúc đẩy kéo dài tuổi thọ. Trước sự ngạc nhiên của các nhà nghiên cứu, khi xem xét buồng trứng và mỡ lưng (fat body) trong cơ thể gamergate (được cho là có chức năng tương đương với gan của động vật có vú), họ phát hiện rằng trình tự MAP kinase đã hoạt động nhưng trình tự còn lại thì không.   Trong hình bên phải, kiến chúa thuộc loài H. saltator đẻ tất cả trứng cần để duy trì đàn. Nếu kiến chúa chết, một nhóm kiến thợ sẽ trở thành những “gamergate” lo liệu trọng trách sinh sản. Hình bên trái là một nhóm kiến thợ đang buộc khống chế những “gamergate” không cần thiết đẻ trứng. Ảnh: Clint Penick  Nghiên cứu thêm cho thấy buồng trứng của các gamergate biểu hiện mạnh mẽ một loại protein gọi là Imp-L2, cho phép thông qua trình tự MAP kinase nhưng cản trở trình tự thứ hai trong phần mỡ lưng. Desplan cho biết: “Loại protein này có chức năng bảo vệ trình tự cho phép trao đổi chất, nhưng ngăn chặn trình tự gây ra lão hóa”.   Mặc dù chưa chắc chắn rằng Imp-L2 ảnh hưởng đến tuổi thọ vì Desplan và Reinberg đã không trực tiếp kiểm tra liệu kích hoạt protein trong kiến thợ có thể kéo dài tuổi thọ của chúng hay việc ức chế protein trong gamergates sẽ khiến chúng chết sớm hơn (thí nghiệm như vậy thường khó khăn vì cần tiêm ức chế insulin cho kiến trong nhiều tháng hoặc có thể là nhiều năm) nhưng các nhà khoa học không tham gia nghiên cứu đã đánh giá đây là một giả thuyết thực sự hợp lý và thú vị. Sẽ rất tuyệt vời nếu có thêm nhiều phòng thí nghiệm thử nghiệm giả thuyết này.  Vì tiến hành thí nghiệm di truyền trên ruồi giấm sẽ dễ dàng hơn trên kiến, nhóm của Desplan hiện thí nghiệm kéo dài tuổi thọ của loài ruồi Drosophila bằng cách kích hoạt biểu hiện gene Imp-L2. Desplan hy vọng sau này có thể tiếp tục thực hiện thử nghiệm trên chuột. Ông hào hứng: “Chúng tôi có rất nhiều việc thú vị phải làm”.  Loài ký sinh trùng kéo dài sự sống   Tại một diễn biến không ngờ, sinh giới cũng đã tự thực hiện phiên bản thí nghiệm tương tự. Gần đây các nhà nghiên cứu tại Đức đã phát hiện một loài sán dây ký sinh đã thúc đẩy khả năng tự gia tăng tuổi thọ của kiến để đem lại lợi ích riêng cho bản thân.  Sán dây dành hầu hết cuộc đời sống bên trong những con kiến sồi (Temnothorax nylanderi), loại kiến được đặt tên từ tập tính xây tổ bên trong những quả sồi. Khi kiến thợ ra ngoài tìm kiếm thức ăn, đôi lúc chúng ăn phải những con sán dây và bị nhiễm sán. Để hoàn thành vòng đời của mình, sán dây phải ký sinh vào chim gõ kiến và nó phải chờ đến khi chim gõ kiến vô tình ăn những tổ kiến sồi nhiễm sán này.   Vài năm về trước, Sara Beros, một sinh viên phòng thí nghiệm của Susanne Foitzik tại Đại học Johannes Gutenberg ở Mainz, Đức, đã mở một số tổ kiến sồi và phát hiện điều kỳ lạ rằng trong khi tất cả kiến thợ không nhiễm sán đều chết trong vòng vài tháng quan sát, những cá thể nhiễm sán vẫn sống sót. (Những con kiến bị ký sinh rất dễ nhận diện bởi màu cơ thể của chúng sẽ chuyển từ nâu sang vàng.) Khi Beros nói với Foitzik điều này, ông vẫn nhớ mình đã khẳng định, “Thật sự là không thể. Mọi cá thể đều phải chết.” Nhưng Beros vẫn khăng khăng “nên chúng tôi đã xem xét hiện tượng này kỹ càng hơn”.   Theo công trình báo cáo vào mùa hè năm ngoái tại buổi họp mặt Hiệp hội Nghiên cứu Côn trùng xã hội Quốc tế và đã được đăng chưa qua bình duyệt trên biorxiv.org ngay trước Giáng sinh, nhóm Foitzik đã chỉ ra trong giai đoạn còn là ấu trùng ký sinh trên kiến, sán dây tiết protein vào hemolymph (một chất lỏng tương tự như máu của côn trùng) giúp kéo dài đáng kể tuổi thọ của kiến thợ. Khác với kiến nhảy Ấn Độ, kiến sồi không phát triển trở thành gamergate, nên hiện tượng ký sinh trùng giúp kéo dài tuổi thọ của kiến là chưa từng có tiền lệ trong tự nhiên.      Trong suốt khoảng thời gian ba năm thử nghiệm, kiến thợ nhiễm sán sống lâu gấp năm lần những cá thể khỏe mạnh và cho thấy tỉ lệ tử vong thấp tương đương với kiến chúa. Khả năng điều khiển tuổi thọ kiến thợ của ký sinh trùng “Cực kỳ mạnh mẽ đến mức về cơ bản, không thể phân biệt giữa kiến chúa và kiến thợ.” Kronauer khẳng định.   Foitzik cho biết: “Mặc dù những cá thể kiến sồi nhiễm sán không phát triển khả năng sinh sản, chúng vẫn trở thành nữ hoàng ở một vài khía cạnh. Chúng làm việc ít hơn và nhận được nhiều chăm sóc chu đáo hơn từ những cá thể khỏe mạnh trong tổ. Nếu kiến chúa bị di dời khỏi tổ, kiến nhiễm sán sẽ là những kiến thợ đầu tiên kích hoạt phát triển buồng trứng”.  Foitzik và cộng sự đã phát hiện rằng ấu trùng sán dây tổng hợp và tiết ra hơn 250 loại protein vào hemolymph của ký chủ kiến – đủ để chiếm khoảng 7% tổng lượng protein tuần hoàn trong cơ thể. Hầu hết các loại protein này chưa được phân tích, nhưng hai trong số đó đã được nhận diện là chất chống oxy hóa. Foitzik cho biết thêm: “có vẻ như sán dây đang giải phóng những hợp chất chống oxy hóa vào cơ thể kiến, đồng thời cũng làm tăng tuổi thọ của vật chủ”.  Khi Foitzik cùng nhóm nghiên cứu đo lường những thay đổi trong biểu hiện gene của vật chủ kiến, họ phát hiện rằng kiến bị nhiễm sán cũng tự tổng hợp nhiều chất chống oxy hóa hơn. Hơn nữa, kiến chúa và kiến thợ nhiễm sán cùng biểu hiện nhiều hơn một loại gen gọi là silver, trong khi không có hiện tượng này ở kiến thợ không nhiễm sán. Các nhà nghiên cứu cũng đã liên kết với hiện tượng này trước đây xảy ra trên ruồi giấm.   Cho dù rõ ràng một loại thay đổi trong quá trình phát triển và trao đổi chất khi kiến thợ trở thành kiến chúa sẽ diễn ra, vẫn rất khó để chỉ đích danh thay đổi nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc kéo dài tuổi thọ. Insulin và những hợp chất chống oxy hóa hiển nhiên rất quan trọng, nhưng Keller nghĩ rằng những yếu tố khác cũng có thể đóng những vai trò nhất định. Ông nói; “Vì vậy không thể đơn giản giải thích sự khác biệt trong tuổi thọ này chỉ bằng một trình tự duy nhất – có lẽ, chúng ta cần phải thay đổi rất nhiều thứ”.  Keller cho rằng phát hiện này về ký sinh trùng rất kỳ diệu ký sinh trùng thường rút ngắn thay vì kéo dài tuổi thọ vật chủ. Nhưng trong trường hợp này, sự kéo dài tuổi thọ của kiến dường như là một phương án thích nghi với ký sinh trùng. Sán dây cần bám vào cá thể kiến bị nhiễm bệnh đủ lâu để chim gõ kiến có khả năng tìm thấy quả sồi đó và ăn nó. Nếu kiến thợ chết trước khi điều đó xảy ra, rõ ràng sán dây cũng sẽ chết theo. Bằng cách kéo dài tuổi thọ của kiến thợ thêm nhiều năm, phần trăm cơ hội xuất hiện một con chim gõ kiến sẽ được gia tăng. Đồng thời, số lượng dồi dào các chất chống oxy hóa trong hemolymph cũng giúp ấu trùng sán dây duy trì thời gian sống lâu như vật chủ của chúng.         Foitzik giải thích: “Trong trường hợp này, ký sinh trùng đang khai thác một vật chủ xã hội. Sẽ không có ý nghĩa gì khi ký sinh vào những loài côn trùng sống đơn lẻ vì chúng chẳng bao giờ sống đủ lâu. Nhưng đối với một loài côn trùng xã hội, nơi nữ hoàng đã sống an toàn trong tổ suốt 20 năm, bạn có thể đánh cược một phen” .□  Đoàn Lê Uyên Kha dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/ants-live-10-times-longer-by-altering-their-insulin-responses-20230110/?     Author                .        
__label__tiasang Bí quyết đằng sau sự hợp tác      Hầu hết chúng ta đều để bụng những gì người khác xì xầm về mình. Trong nhiều trường hợp, đó là động lực để mọi người chịu hợp tác vì lợi ích chung.     Tin đồn trở thành công cụ hiệu quả vì có thể giúp thực hiện nhiều chức năng xã hội. Nguồn: The Jerusalem Post  Đèn đỏ, người người đồng loạt bóp phanh. Trên xe buýt, tàu lửa, máy bay, những người xa lạ chen chúc nhau, nhưng chẳng mấy khi có tiếng cãi vã. Người đàn ông to con, lực lưỡng dạo bước ngang qua cậu bé nhỏ con, yếu đuối mà chẳng chặn đường cướp của.  Điều đó cũng diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội, ví dụ mọi người đóng thuế và tự nguyện quyên góp cho các cửa hàng 0 đồng lẫn tổ chức từ thiện. Chúng ta chẳng mấy khi để tâm đến những hợp tác ngầm định tưởng chừng nhỏ nhặt này; song đối với các nhà sinh vật học, đó là những hành vi đáng chú ý – bởi hầu hết các loài động vật không cư xử như vậy.  “Ngay cả những người yếu kỹ năng hợp tác nhất đi chăng nữa cũng còn hợp tác nhiều hơn so với họ hàng gần nhất của chúng ta – tinh tinh (chimpanzee) và tinh tinh lùn (bonobo)”, Michael Muthukrishna, nhà khoa học hành vi thuộc Trường Kinh tế London, cho biết tinh tinh không dung thứ cho kẻ lạ, ngay cả trẻ nhỏ còn rộng lượng hơn tinh tinh rất nhiều.  Vì sao con người cần phải hòa hợp với nhau? Xét cho cùng, những người hào sảng rất dễ bị người khác lợi dụng. Tuy nhiên, trong các cộng đồng trên thế giới, mọi người hợp tác vì lợi ích chung. Các nhà khoa học ngày càng hiểu hơn về các điều kiện giúp thúc đẩy hợp tác, đó là điều cần thiết trong một thế giới đang phải vật lộn với biến đổi khí hậu, mâu thuẫn đảng phái v.v. – những vấn đề chỉ có thể được giải quyết thông qua các dự án hợp tác quy mô lớn.    Khi một nhóm lớn đến mức mọi người khó có thể tin tưởng vào tiếng tăm của một ai đó, thì hợp tác không còn dựa vào đặc tính cá nhân nữa mà phụ thuộc vào các quy tắc ứng xử chung không chính thức được gọi là chuẩn mực.    Các nhà khoa học hành vi cho rằng định nghĩa của hợp tác bao gồm việc chi trả chi phí cá nhân (ví dụ như đóng góp cho tổ chức từ thiện) để đạt được lợi ích tập thể (một lưới an ninh xã hội). Nhưng sẽ có những cá nhân lợi dụng lòng tốt và sự hào phóng của người khác để vụ lợi cho bản thân, dù không đóng góp gì thì họ vẫn được hưởng lợi như những người khác – vậy thì cuối cùng chúng ta đều nên là những kẻ ăn bám, thay vì phải lao động vất vả và cống hiến cho xã hội.  Nhưng đừng lo lắng về điều này. Với tư cách là một đồng tác giả nghiên cứu về sự tiến hóa của hợp tác trên tạp chí Annual Review of Psychology vào năm 2021, Muthukrishna lưu ý hàng thiên niên kỷ tiến hóa – tác động lên cả gene và thực hành văn hóa của chúng ta – đã trang bị cho con người những cách vượt qua trở ngại đó. Sự đồng tiến hóa về mặt di truyền lẫn văn hóa này đã xếp chồng lên nhau trong xã hội loài người, biến hợp tác trở thành một nước đi thông minh chứ không phải là sự lựa chọn của những kẻ ngốc nghếch. Trải qua hàng nghìn năm, điều đó đã giúp chúng ta có thể cùng sinh sống trong các ngôi làng, thị trấn và thành phố; làm việc cùng nhau để xây dựng các trang trại, đường sắt và các công trình cộng đồng khác; thậm chí phát triển các hệ thống giáo dục và chính phủ.  Quá trình tiến hóa này đã định hình mọi thứ, khiến chúng ta coi trọng các quy tắc bất thành văn của xã hội, biết cảm thấy phẫn nộ khi có kẻ vi phạm các quy tắc đó, và đặc biệt là quan tâm đến những gì người khác nghĩ về mình. “Suốt một thời gian dài, tâm lý con người dần biến đổi để chúng ta có thể đồng lòng với mục tiêu chung của xã hội”, Rob Boyd, nhà nhân chủng học tiến hóa tại Viện Nguồn gốc loài người tại Đại học bang Arizona, phân tích.  Đường phố đông đúc nhưng đều có quy tắc ứng xử riêng. Nguồn: Business Insider.  Để chứng minh điều này, chúng ta chỉ cần thực hiện một thí nghiệm đơn giản mà các nhà tâm lý gọi là có tên là trò chơi trao quyền. Trong trò chơi này, các nhà nghiên cứu đưa một khoản tiền cho một người (người nắm quyền) và nói với họ rằng họ có thể chia số tiền theo bất kỳ cách nào họ muốn với một người khác mà họ không bao giờ gặp mặt. Mặc dù không có quy tắc nào cấm họ khư khư giữ về mình toàn bộ khoản tiền, nhưng cảm giác công bằng vốn có của nhiều người khiến họ quyết định chia 50:50 số tiền Tỷ lệ lựa chọn chia đều giữa các nền văn hóa sẽ khác nhau, nhưng ngay cả với những xã hội mà ý thức về sự công bằng không được đề cao, phần lớn người dân vẫn chọn cách chia đôi.  Những thí nghiệm như thế này cùng với các nghiên cứu thực địa giúp các nhà tâm lý học hiểu rõ hơn về các yếu tố tâm lý làm nền tảng cho câu hỏi tại sao và khi nào thì mọi người quyết định hợp tác. Dưới đây là một số thông tin quan trọng:  Nương theo tình huống để lựa ra cách thức hợp tác phù hợp  Đối với các nhóm rất nhỏ, tình thân và sự tương hỗ trực tiếp — tôi sẽ giúp bạn hôm nay, với kỳ vọng rằng bạn sẽ giúp tôi vào ngày mai — là những động lực để hợp tác. Nhưng nó chỉ hiệu quả nếu mọi người biết nhau và tương tác với nhau thường xuyên, Muthukrishna lưu ý. Khi một nhóm đủ lớn để mọi người dù có giao tiếp nhưng chưa từng giao dịch hay thỏa thuận với nhau, danh tiếng có thể là thước đo. Trong điều kiện này, các cá nhân khả năng cao sẽ mạo hiểm bắt tay với những người có tiếng là hợp tác hiệu quả.    “Phần thưởng vật chất làm vẩn đục động cơ hành động của mọi người. Nó hủy hoại lợi ích danh tiếng của họ khi tham gia hoạt động vì cộng đồng” (Nhà KH hành vi Erez Yoeli).    Tuy nhiên, khi một nhóm lớn đến mức mọi người khó có thể tin tưởng vào tiếng tăm của một ai đó, thì hợp tác không còn dựa vào đặc tính cá nhân nữa mà phụ thuộc vào các quy tắc ứng xử chung không chính thức được gọi là chuẩn mực. Các chuẩn mực thể hiện những kỳ vọng của một nền văn hóa về cách một người nên cư xử, cách một người nên và không nên hành động. Phá vỡ một quy tắc – cho dù bằng cách xả rác, trốn vé tàu hay có hành vi phân biệt chủng tộc công khai – đều sẽ khiến những người vi phạm phải chịu sự phản đối của xã hội, có thể bao gồm việc tặc lưỡi nhẹ nhàng cho đến tẩy chay trên diện rộng. Mọi người cũng có xu hướng chấp nhận các chuẩn mực văn hóa và thường tuân theo chúng ngay cả khi không có khả năng bị trừng phạt — như trong trò chơi trao quyền.  Nhưng cũng có thể có giới hạn đối với quyền lực của các chuẩn mực này, Erez Yoeli, nhà khoa học hành vi tại Trường Quản trị MIT Sloan. Việc thực thi các quy tắc phụ thuộc vào mức độ phản đối của xã hội đối với những người vi phạm, vì vậy chúng chỉ hiệu quả trong các nhóm xã hội. Vì quốc gia chính là các nhóm có quy mô lớn nhất nên sẽ tương đối khó để phát triển các quy tắc chung cho những hợp tác quốc tế về những vấn đề như biến đổi khí hậu.  Danh tiếng là động lực chính để mọi người sẵn lòng hợp tác  Gần một thập kỷ trước, Yoeli và các đồng nghiệp của ông đã lật từng trang các công bố trên toàn thế giới để xem cách thức nào hiệu quả trong việc khuyến khích hành vi vì xã hội. Họ nhận thấy các phần thưởng vật chất (như tiền mặt hoặc mức hưởng lương hưu tăng theo đóng góp khi còn làm việc) hoặc phần thưởng mang tính khích lệ vì đã tham gia vào phong trào xã hội (chẳng hạn như tặng áo phông cho người hiến máu), lúc hiệu quả lúc không. Ngược lại, phần thưởng danh tiếng – vinh danh công khai nỗ lực đóng góp của cá nhân – thúc đẩy sự tham gia một cách nhất quán. Kể từ đó, sự tham gia vẫn luôn được duy trì. “Nếu có điều gì khác, thì chẳng qua là sự tham gia thậm chí còn tích cực, đều đặn hơn”, Yoeli nhận định.  Sự đồng tiến hóa về mặt di truyền lẫn văn hóa này đã xếp chồng lên nhau trong xã hội loài người, biến hợp tác trở thành một nước đi thông minh. Nguồn: knowablemagazine.org  Yoeli lưu ý, phần thưởng vật chất vẫn sẽ hiệu quả nếu bạn trả đủ tiền cho mọi người – có điều số tiền cần trả quá cao. Ví dụ, một nghiên cứu trên 782 công dân Đức đã khảo sát xem việc thưởng tiền cho những người tiêm vaccine COVID-19 có làm tăng tỷ lệ tiêm vaccine hay không. Câu trả lời là có, nhưng các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sẽ cần phải tốn ít nhất 3.250 Euro – một mức giá quá cao – để tăng đáng kể tỷ lệ tiêm chủng.  Và việc thưởng tiền thực sự có thể hạ thấp phần thưởng về mặt danh tiếng, bởi mọi người nhìn vào sẽ băn khoăn không chắc liệu những cống hiến của một người thực sự xuất phát từ lòng tốt hay họ chỉ làm việc đó vì tiền. “Phần thưởng vật chất làm vẩn đục động cơ hành động của mọi người”, Yoeli nói. “Nó hủy hoại lợi ích danh tiếng của họ khi tham gia hoạt động vì cộng đồng”.  Không muốn trở thành đề tài buôn chuyện,chúng ta đành hợp tác  Catherine Molho, nhà tâm lý học tại Đại học VU Amsterdam, cho biết khi mọi người phát hiện ra ai đó vi phạm quy tắc – chẳng hạn như trục lợi từ lòng tốt của người khác – họ có ba cách để trừng phạt hành vi vi phạm đó: đối đầu trực tiếp để làm rõ hành vi, hoặc có thể tẩy chay người đó; hoặc có thể lan truyền cho những người xung quanh về hành vi xấu xa này. Phương án cuối – buôn chuyện hoặc rỉ tai nhau về một bên thứ ba vắng mặt – có vẻ mang lại hiệu quả.    Những lời bàn tán khiến những kẻ ích kỷ thay đổi, trở nên hợp tác hơn – trong khi phương án trả thù bằng cách phạt tiền trực tiếp lại không mang lại hiệu quả.    Có thể làm sáng tỏ lập luận này thông qua một thí nghiệm trực tuyến do Paul Van Lange, đồng nghiệp của Molho, một nhà khoa học hành vi cũng tại Đại học VU Amsterdam, dẫn đầu. Nghiên cứu đã sử dụng một quy trình thí nghiệm tiêu chuẩn được gọi là trò chơi lợi ích chung, trong đó mỗi người tham gia nhận được một khoản tiền và có thể chọn không đóng góp, đóng góp một phần hoặc đóng góp toàn bộ số tiền đó vào quỹ chung. Sau đó, các nhà khoa học sẽ nhân đôi số tiền trong quỹ chung và chia đều cho tất cả những người tham gia, bất kể họ có đóng góp hay không. Cả nhóm sẽ thu về gấp đôi khoản tiền vốn của họ nếu mọi người đều đặt tất cả số tiền của họ vào nhóm – đó là phương án lý tưởng. Nhưng một kẻ không đóng góp thậm chí còn có thể còn làm được tốt hơn, bằng việc ôm khư khư tiền vốn của mình nhưng vẫn thu về một khoản tiền từ đóng góp của những người khác.  Cả nhóm sẽ chơi trò này bốn lần, mỗi lần với các thành viên khác nhau. Giữa các vòng, một số người tham gia có cơ hội trừng phạt những kẻ ích kỷ trong vòng chơi chung gần nhất bằng cách tự rút một khoản trong hầu bao (tiền vốn ban đầu) của chính mình để đưa cho những người tổ chức, những người tổ chức sau đó sẽ phạt kẻ ích kỷ gấp ba lần số tiền đó. Một nhóm người khác thì được phép ngồi lê đôi mách với nhau – xì xào nói xấu với các thành viên sắp tới sẽ chơi cùng những kẻ ích kỷ rằng người đó đã bất hợp tác như thế nào. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những lời bàn tán khiến những kẻ ích kỷ thay đổi, trở nên hợp tác hơn – trong khi phương án trả thù bằng cách phạt tiền trực tiếp lại không mang lại hiệu quả.  Mọi người cũng sử dụng sức mạnh của tin đồn trong thế giới thực. Trong một nghiên cứu gần đây, Molho và các đồng nghiệp của cô đã nhắn tin cho 309 tình nguyện viên vào bốn thời điểm ngẫu nhiên trong ngày – đều đặn suốt 10 ngày – để hỏi xem họ có chia sẻ thông tin với những người khác trên mạng xã hội hoặc nhận thông tin từ những người khác về một ai đó hay không. Nếu có, nhóm nghiên cứu sẽ gửi một bảng câu hỏi khảo sát để thu thập thêm thông tin.  309 người tham gia đã báo cáo tổng cộng hơn 5.000 trường hợp ngồi lê đôi mách suổt thời gian đó và trong đó khoảng 15% là về các hành vi vi phạm quy tắc như vứt rác bừa bãi ngoài đường hoặc đưa ra nhận xét phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính. Mọi người có xu hướng buôn chuyện nhiều hơn với bạn thân về những người ít thân quen hơn. Những người tham gia chia sẻ rằng các thông tin tiêu cực này khiến họ có xu hướng tránh xa những người bị nói xấu, và ít có ý định giúp đỡ những người này. “Một lý do khiến tin đồn trở thành công cụ hiệu quả như vậy là vì bạn có thể thực hiện nhiều chức năng xã hội thông qua đó”, Molho lý giải. “Bạn cảm thấy gần gũi hơn với người đã chia sẻ thông tin cho bạn. Đồng thời nó cung cấp thông tin hữu ích về mặt tương tác xã hội – ta biết nên hợp tác với ai và nên né xa ai”.  Và việc ngồi lê đôi mách cũng hỗ trợ một chức năng khác, Van Lange cho rằng những người buôn chuyện có thể phân loại cảm xúc của họ về việc liệu một hành vi vi phạm quy tắc có trầm trọng hay không, liệu có những tình tiết nào giảm nhẹ hay không và phản ứng như thế nào là phù hợp. Điều này giúp củng cố các chuẩn mực xã hội và có thể giúp mọi người phối hợp để thống nhất cách hành xử chung với những kẻ vi phạm.  Chúng ta thích bắt kịp xu hướng  Không phải lúc nào những lời khuyên xuất phát từ lòng tốt nhằm khuyến khích hợp tác cũng hiệu quả – nếu không muốn nói có thể gây phản tác dụng. Kể với mọi người về những gì người khác làm (“Bây giờ ai cũng bay ít đi”) sẽ hiệu quả hơn là bảo họ nên làm gì (“Nên bay ít thôi, di chuyển bằng máy bay nhiều không tốt cho môi trường”). Trên thực tế, thông điệp “nên” đôi khi phản tác dụng. “Mọi người có thể ngầm hiểu thông điệp ẩn đằng sau lời khuyên: Nói với ai đó rằng họ nên làm điều gì, sẽ khiến người được khuyên ngầm hiểu rằng trên thực tế, mình hiện đang không làm vậy”, Cristina Bicchieri, nhà khoa học hành vi tại Đại học Pennsylvania, cho biết.  Bicchieri và đồng nghiệp của cô, Erte Xiao, đã thử nghiệm giả thuyết này thông qua một trò chơi trao quyền, trong đó một số người tham gia được thông báo rằng những người khác đã chia đều tiền cho nhau, trong khi những người còn lại thì được cho biết ai cũng nghĩ rằng mọi người nên chia đều tiền cho nhau. Họ nhận thấy chỉ có tin nhắn đầu tiên mới giúp tăng khả năng chia tiền bằng nhau. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng, Yoeli nhận định. “Nó gửi một thông điệp rất rõ ràng về những kỳ vọng của xã hội: Nếu mọi người đang làm điều này, vậy thì hẳn nhiên họ cũng mong đợi tôi làm vậy”.  Tất nhiên, điều này đặt ra một vấn đề, có phải lúc nào chúng ta cũng chọn một hành vi phổ biến về mặt xã hội hay không. Lấy việc lắp đặt các tấm pin mặt trời làm ví dụ, phần lớn người dân không lắp đặt nó, vậy nên nó không phải là một hành vi phổ biến về mặt xã hội. “Nếu ta nói rằng chỉ 15% người dân có lắp đặt, chúng ta lập tức hiểu ngay rằng 85% còn lại thì không”, Bicchieri nói. Dù vậy một nhóm thiểu số vẫn có thể thúc đẩy mọi người hướng tới một hành vi nếu số lượng tham gia ngày càng tăng, hình thành nên một làn sóng mới. Ví dụ, trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã đo lượng nước mà các tình nguyện viên sử dụng khi đánh răng. Những người được thông báo rằng một tỷ lệ nhỏ nhưng ngày càng tăng người dân đang tiết kiệm nước, họ sẽ lập tức sử dụng ít nước khi đánh răng hơn so với những người chỉ nghe nói rằng một tỷ lệ nhỏ người dân đang tiết kiệm nước.  Hãy còn nhiều điều chưa biết  Các nhà khoa học hành vi mới bắt đầu cào xới lên vấn đề của hợp tác. Còn nhiều câu hỏi mà họ phải đối diện. Đặc biệt, họ vẫn chưa hiểu rõ lý do tại sao các nền văn hóa  lại đóng đinh những chuẩn mực như vậy, hoặc các chuẩn mực thay đổi như thế nào theo thời gian. “Nhiều người đã đề xuất thay thế các quy tắc, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được sự đồng thuận”,  Boyd, người hiện đang giải quyết vấn đề này, cho biết.  Mọi người đều đồng ý rằng, cuối cùng, chọn lọc tự nhiên sẽ quyết định kết quả, vì các nền văn hóa sở hữu những quy tắc không giúp nâng cao khả năng sống sót sẽ lụi tàn dần và được thay thế bằng những nền văn hóa sở hữu những quy tắc làm được điều đó. Nhưng đấy không phải là một bài kiểm tra mà hầu hết chúng ta sẽ sẵn lòng thực hiện.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://knowablemagazine.org/article/society/2023/secrets-of-cooperation    Author                .        
__label__tiasang BICEP2: Nhìn lại thuở khai thiên lập địa      Ngày 17/3/2014, Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian đã công bố kết quả của trạm quan sát thiên văn BICEP2 về việc tìm ra sóng hấp dẫn nguyên thủy, qua đó xác nhận mô hình vũ trụ lạm phát là có thực. Kết quả này ngay lập tức làm chấn động giới khoa học và truyền thông đại chúng.  Nhân dịp này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với&#160; TS Nguyễn Trọng Hiền, thuộc Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (Jet Propulsion Laboratory – JPL) của NASA, một trong những thành viên chủ chốt của thí nghiệm này.    Thưa TS Nguyễn Trọng Hiền, được biết anh là người trình đề án BICEP2 của JPL lên ban lãnh đạo. Như vậy anh là chủ nhiệm đề tài (principal investigator) từ phía JPL. Anh có thể cho biết quá trình hình thành đề án này được không?      BICEP2 là thế hệ thứ hai của chuỗi các thí nghiệm được chế tạo để phát hiện mức phân cực trong bức xạ nền vi ba. Đứng đầu nhóm thí nghiệm này là GS Jamie Bock của JPL, và Viện Công nghệ Caltech. Jamie Bock là người đứng đầu nhóm chế tạo hệ cảm biến vi ba cực kỳ tinh nhạy cho các đài thiên văn không gian Herschel và Planck. Ông nghĩ đến việc sử dụng những hệ cảm biến này cho các thí nghiệm đo mức phân cực trong bức xạ nền (BXN) tại Nam cực. Và ông nhận ra rằng để làm thí nghiệm như vậy chỉ cần một thấu kính chừng 30 cm. Với kích cỡ nhỏ như thế, hệ thấu kính rất đơn giản và việc bảo đảm độ tinh nhạy của hệ cảm biến có thể đạt được nhờ giảm thiểu những ô nhiễm chung quanh. Một thiết bị như vậy có thể làm từng bước, với kinh phí tương đối thấp. Jamie đã bàn thảo điều này với tôi, và đề nghị tôi trình đề án BICEP2 với JPL. Chiều hướng đề án là phát triển kỹ thuật cảm biến siêu dẫn TES để trong tương lai sẽ dùng cho đài thiên văn không gian.      Thế hệ đầu tiên của chuỗi thí nghiệm này là BICEP hay còn gọi là BICEP1, bắt đầu đi vào quan sát tại Nam cực từ 2006 đến 2008.      Trong thời gian BICEP1 hoạt động, những thông tin mới từ các đài thiên văn DASI và WMAP cho biết rằng có khả năng là tín hiệu lạm phát sẽ rất nhỏ, có lẽ chừng một phần tỉ so với cường độ của BXN, và như thế thì BICEP1 sẽ không đạt đủ độ tinh nhạy để phát hiện ra chúng. Một số các nhà vật lý tại Caltech (Andrew Lange, Bill Jones) đã nghĩ đến việc sử dụng bóng thám không để vượt khỏi bầu khí quyển mà quan sát BXN.      John Kovac, lúc ấy là nghiên cứu viên hậu tiến sĩ (postdoc) tại Caltech và là thành viên của BICEP1, là người đề xuất ý tưởng hãy đừng nản lòng mà tiếp tục quan sát ở Nam cực lâu hơn. Đầu năm 2006, Chao-lin Kuo, postdoc tại JPL và là thành viên của BICEP1, thiết kế xong hệ cảm ứng siêu dẫn mới. Chúng tôi nhanh chóng triển khai cuộc chế tạo thí nghiệm BICEP2, dùng hệ cảm ứng siêu dẫn. Với hệ cảm ứng này, BICEP2 nhạy hơn BICEP1 đến 10 lần. BICEP2 được mang xuống Nam cực cuối năm 2009 và đi vào hoạt động cho đến năm 2012 thì ngưng để nhường cho một thế hệ tiếp theo, còn gọi là Keck, nhanh nhạy gấp năm lần BICEP2.      Bài học từ BICEP1, về cơ bản, là khi thiết bị chế tạo đạt mức tối ưu, chỉ cần gia tăng số đơn vị cảm ứng (từ 50 lên 2.500) để đạt được mức tinh nhạy cần thiết. Mục tiêu tối hậu của chúng tôi là thí nghiệm Keck, bao gồm năm thiết bị tương tự như BICEP2, để rút ngắn thời gian xuống 50 lần so với BICEP1. (Ước tính ba năm của Keck bằng 150 năm của BICEP1). BICEP2, dù tinh nhạy gấp 10 lần BICEP1, nhưng chúng tôi chỉ xem là thí nghiệm chuyển tiếp để thử nghiệm hệ cảm biến mới, với ý đồ là thử xem hệ cảm biến có điều gì cần cải thiện hay không. Không ngờ là BICEP2 làm nên chuyện, phần vì tín hiệu lạm phát, tức là cường độ sóng hấp dẫn thời ban sơ, lớn đủ để BICEP2 phát hiện được.      Qua những mô tả trên đây, đặc biệt là trong phần hình thành dự án, thì thấy rằng anh đóng một vai trò quan trọng hàng đầu trong dự án nghiên cứu này. Anh có thể chia sẻ cụ thể hơn một chút về vai trò của mình trong dự án BICEP1&2 được không?     Tôi đảm nhận vai trò thiết kế thiết bị BICEP2, bao gồm cryostat, các bộ phận nhiệt (làm lạnh), và thử nghiệm hệ cảm biến siêu dẫn TES. Trong nhóm thì Jamie Bock và tôi là thành viên thành lập ban đầu còn lại của chuỗi thí nghiệm này.      Những ngày qua, giới truyền thông như phát rồ về BICEP2. Đây là một ngoại lệ hiếm gặp. Nhưng cụ thể, BICEP2 đã tìm ra điều gì mà ấn tượng đến vậy? Với giới chuyên môn thì đó là di chỉ của sóng hấp dẫn nguyên thủy trong giai đoạn vũ trụ lạm phát lên BXN, dưới dạng các vặn xoắn trong định hướng phân cực của BXN ở cấu trúc B-mode. Nhưng với đại chúng thì đây là những thuật ngữ rất khó hiểu. Anh có thể diễn giải sơ bộ về kết quả của BICEP2?     Trên thực tế, BICEP2 chỉ xác định, tức là đo được, mức phân cực của BXN vi ba.     Bạn đọc còn nhớ là BXN thực chất chỉ là sóng điện từ. Sóng điện từ được truyền đi bằng hai luồng vuông góc với nhau, và sự khác biệt về cường độ ánh sáng giữa hai luồng này được gọi là “mức phân cực.” BICEP2 chỉ đơn thuần làm cái công việc là đo sự khác biệt này.       Điều gây ấn tượng mạnh mẽ là sự khác biệt này rất nhỏ: chỉ 10 phần tỉ mà BICEP2 lại đo được. Nếu nói ví von thì thế này: một mét khối cát mà lấy đi chỉ vài hạt cát thì BICEP2 cũng phát hiện được!     Trong các thiết bị để đo đạc BXN, BICEP2 đạt được độ tinh nhạy vào diện bậc nhất hiện nay. Để đạt được thành quả này, chúng tôi đã phải thực hiện nhiều công đoạn kỹ thuật, bao gồm chuyện đi đầu trong việc sở hữu được nền công nghệ cảm biến siêu dẫn, thiết kế thiết bị tối ưu để giảm thiểu các nhiễu loạn từ bên ngoài, rồi tổ chức thành công quá trình vận hành/quan trắc thiên văn ở Nam cực gần ba năm liền. Và sau cùng là phân tích một cách nghiêm túc, thấu đáo khối lượng dữ liệu thu thập được. Những điều này đã đem lại sự tin cậy cao trong cộng đồng khoa học. Đấy là nói về mặt thực nghiệm.                Ảnh hưởng của sóng hấp dẫn nguyên thủy lên định hướng phân cực của BXN. Hình: BICEP2.          Về mặt khoa học, có lẽ tôi nên để cho nhà vật lý Mike Turner đánh giá: “Chúng ta có được bằng chứng của BXN đi từ lạm phát… Đây là di chỉ cổ xưa nhất của vũ trụ; một phát hiện trực tiếp về sóng hấp dẫn, và bằng chứng là không thời gian đã được lượng tử hóa. Òa!”      BXN là sóng điện từ như ánh sáng, nên tất nhiên sẽ có các tính chất đặc trưng của sóng điện từ. Vậy tại sao các anh lại chọn đo đạc độ phân cực mà không phải là tính chất nào khác của BXN? Ngoài việc tín hiệu rất nhỏ so với nhiễu, thì có những khó khăn nào các anh gặp phải khi thực hiện dự án này?     Đúng vậy, sóng điện từ có bốn đặc điểm chính. Một là cường độ sóng. Hai là mức phân bổ sóng theo tần số hay bước sóng. Ba là mức phân bố sóng trong không gian (vị trí). Bốn là mức phân cực.      Đặc điểm đầu tiên, cường độ BXN, đã được xác định bởi Penzias và Wilson (Nobel 1978) khi họ lần đầu phát hiện ra BXN vào năm 1965. Đặc điểm thứ hai và thứ ba, đã được vệ tinh COBE, dẫn đầu bởi Mather và Smoot (Nobel 2006), xác định từ đầu thập niên 1990. Cả ba đại lượng này cung cấp thông tin cơ bản về bản chất của vũ trụ, vì thế những cố gắng của họ và đồng đội đã được ghi nhận xứng đáng.      Nếu bạn là người nhập cuộc chơi muộn màng, thì bạn sẽ chọn làm gì?     Tôi đoán rằng bạn sẽ chọn như chúng tôi: xác định đại lượng còn lại, tức là đo đạc mức phân cực trong BXN.      Chuyện này không dễ dàng vì như anh nói, là tín hiệu rất nhỏ so với nhiễu. Thêm vào đó còn nhiều thứ trong bầu trời lẫn tạp vào trong các dữ kiện nên phải chắt lọc, đối chiếu. Rất chi nhiễu nhương nên nhiều người đã nản lòng. Nhưng kết quả đo đạc lại hứa hẹn một ý nghĩa khoa học mang tính bứt phá nên chúng tôi đã theo đuổi đến cùng. Cá nhân tôi suy nghĩ, rằng nếu không phát hiện được sóng hấp dẫn, thì những thí nghiệm BICEP1/ BICEP2/ Keck sẽ lập được một giới hạn kỷ lục mà những thí nghiệm về sau phải mất thêm nhiều năm mới phá được.      Các nhóm nghiên cứu về BXN trước đây, thông qua việc đo đạc cường độ, tần số và vị trí của bức xạ, đều được ghi nhận bằng giải Nobel Vật lý. Nhưng tôi thấy kết quả của BICEP2 còn ấn tượng hơn nhiều. Lần đầu tiên sóng hấp dẫn, tiên đoán cuối cùng của thuyết tương đối chưa được kiểm chứng cho tới lúc đó, được xác nhận bởi BICEP2, và mô hình vũ trụ lạm phát được xác nhận. Vậy có phải đó là lý do để các nhà khoa học khẳng định BICEP2 xứng đáng được giải Nobel? Họ cũng đã bắt đầu bàn tán hậu trường, rằng với Ủy ban Nobel, giờ đây vấn đề không phải là trao giải hay không, mà là trao cho ai vì quá nhiều người xứng đáng trong thực nghiệm này.     Chuyện Nobel ư? Tôi chúc Ủy ban Nobel nhiều may mắn.      Trước hết cần phải ghi công các nhà lý thuyết. Mà họ là ai? Trước tiên là Grishchuk, người đã tiên đoán rằng cơ chế giãn nở tăng tốc sẽ sinh ra sóng hấp dẫn. Grishchuk đi trước lý thuyết lạm phát của Andrei Linde hơn bảy năm, từ 1975. Rồi phải nhắc đến Guth, người đề xuất cơ chế Lạm phát; Andrei Linde, Albreicht và thầy là Steinhardt, Mukhanov, Starobinsky… đã đề xuất mô hình đúng đắn sản sinh cấu trúc không thời gian và sóng hấp dẫn (1981,1982). Nhóm này tiên đoán là sẽ có sóng hấp dẫn ban sơ hay nguyên thủy, và chúng sẽ để lại dấu ấn trong BXN. Nhưng họ không chỉ ra làm sao để phân biệt hay phát hiện ra chúng.     Đến năm 1985, Polnarev chỉ ra rằng có thể phát hiện dựa vào mức phân cực trong BXN để tìm tín hiệu lạm phát nhưng không có đề xuất cụ thể.     Đến 1997, Seljak, Zaldarriaga, rồi Kamionkowski, Kakowski và Stebbins đồng loạt chỉ ra rằng mức phân cực theo B-mode là di chỉ đặc thù của sóng hấp dẫn. Họ còn chỉ ra cách phân tích dữ liệu. Nhưng họ không cho biết cường độ tín hiệu sóng hấp dẫn cỡ nào.     Một thập kỷ sau BICEP2 nhập cuộc, và hoàn thành công việc như ta biết.     Người ta thường không để ý đến nhóm thứ hai, Seljak và các cộng sự… Tôi cho rằng cống hiến của họ đóng vai trò quyết định trong thành công của BICEP2. (Ta để ý là trong lãnh vực này, các nhà vật lý Nga có vai trò tiên phong rõ rệt, và khá đông đảo. Có lẽ họ được học từ thầy của họ là Lifshitz, người đã có những nghiên cứu mở đường trong lý thuyết nhiễu loạn của thuyết tương đối rộng (perturbation theory for general relativity).     Tôi tin rằng những nhà khoa học đã đóng góp trên đây, dù có Nobel hay không, đã là những người khổng lồ trong lịch sử của vũ trụ học.     GS Đàm Thanh Sơn cho rằng phát hiện của BICEP2 mang tầm lịch sử. Tôi cho đó là ghi nhận cao nhất.      Kết quả của BICEP2 có độ khả tín rất cao, lên đến 5 sigma, tức là xác suất để có một tín hiệu tương tự từ nhiễu nền là cỡ 1 trong 10 triệu thực nghiệm. Tín hiệu xem ra cũng rất lớn, hơn cả mong đợi. Điều này có làm các anh bất ngờ, và đặc biệt có đảm bảo rằng kết quả về sóng hấp dẫn nguyên thủy là chính xác, hay chúng ta vẫn phải chờ đợi một kiểm chứng chéo nữa, như từ trạm Planck của châu Âu chẳng hạn?     Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào tính trung thực của các phân tích số liệu (the integrity of our data). Đây là kết quả mang tính bứt phá, và cần được kiểm chứng thấu đáo. Như Carl Sagan đã nói: kết quả ngoại hạng xứng đáng được kiểm chứng ngoại hạng – great results deserve great scrutiny. Mặc dầu Planck sẽ không đạt được độ tinh nhạy như BICEP (để đạt được độ tinh nhạy tương đương với BICEP2, Planck sẽ mất gần 30 năm nữa), vệ tinh này vẫn có thể kiểm chứng độc lập nhờ thu thập được dữ liệu toàn bầu trời. Thí nghiệm SPT (South Pole Telescope) có khả năng kiểm chứng kết quả của BICEP2. Ngoài ra chúng ta còn có Keck (tương đương với năm lần thí nghiệm BICEP2). Trong vòng một năm nữa chúng ta sẽ có câu trả lời thỏa đáng.     Với kết quả của BICEP2, mô hình vũ trụ lạm phát coi như được khẳng định là đúng. Nhưng một số nhà vật lý nổi tiếng vẫn không tin như vậy. Có thể do họ rất bảo thủ. Hoặc do các bằng chứng thực nghiệm chưa đủ mạnh dưới con mắt của họ. Anh có bình luận gì về điểm này?     Kết quả BICEP2 vẫn còn rất mới, nên các nhà vật lý có thái độ cẩn trọng. Hy vọng trong vài năm nữa, nếu kết quả của BICEP2 được kiểm chứng thỏa đáng, thái độ này sẽ thay đổi dần.      Khái niệm lạm phát không phải là điều dễ chấp nhận với nhiều nhà vật lý tên tuổi. Có thể một phần là do họ biết… nhiều quá. Trong kinh sách nhà Phật hình như còn gọi điều này là “sở tri chướng”.      Hôm họp báo ở Harvard, Bob Wilson, người đã phát hiện ra BXN cách đây 50 năm, kể với tôi rằng Hoyle, một nhà vũ trụ học hàng đầu trong thế kỷ trước và là người cổ xúy cho mô hình “vũ trụ hằng hữu”, cho đến cuối đời vẫn không tin vào Big Bang, mặc dù sự phát hiện BXN đã kiểm chứng điều này.       Khi nói đến nghiên cứu, thường xảy ra chuyện tranh luận xem nên ưu tiên nghiên cứu ứng dụng hay thực nghiệm, đặc biệt với những nước đang phát triển. Anh có cho rằng thành tựu của BICEP2 sẽ có ứng dụng cụ thể gì trong tương lai gần hay không? Hay đó chỉ là các nghiên cứu “trên trời” nhằm thỏa mãn sự tò mò của con người?      Với số đông chúng ta thì các công trình như BICEP2 có lẽ chỉ là những chuyện “trên trời”, như anh nói. (Hơn 10 năm qua, tôi đã giải thích công việc tôi làm ở nhiều nơi nhưng hầu như chẳng mấy ai quan tâm. Người đọc/nghe chỉ để ý đến chuyện tôi đi Nam cực có thấy chim cánh cụt, hay cắm cờ Việt Nam ở Nam cực… hi hi!).      Có khá nhiều “chuyện trên trời” trong nghiên cứu cơ bản. Điều cần thiết là mình nhận ra chuyện gì khả dĩ thực hiện được, và có tính ứng dụng cao hay không. Một công trình như BICEP2 qui mô tương đối gọn, và chi phí không cao. Và về mặt khoa học thì công trình hứa hẹn sẽ thay đổi nhận thức con người ở tầng mức cơ bản nhất. Đây là cơ hội hiếm hoi trong đời một nhà khoa học. Suy nghĩ như vậy nên chúng tôi bắt tay làm.     Con đường để đạt đến thành tựu của BICEP2 buộc chúng ta học và làm được nhiều điều. Như quá trình chế tạo cảm biến siêu dẫn TES, thiết kế hệ quang học, thiết kế thiết bị, phân tích dữ liệu, tìm hiểu về vật lý và vũ trụ học, v.v… đây là những kỹ năng có tính ứng dụng cao, nếu không nói là ưu việt, trong công nghệ và giáo dục.      “BICEP2 có ứng dụng cụ thể gì trong tương lai gần hay không?” Tôi muốn chia sẻ với anh chi tiết thú vị. Tính đến thời điểm này, chưa đầy bốn tuần từ khi công bố kết quả BICEP2 qua họp báo, và công trình của chúng tôi đã gửi đi nhưng đang còn trong giai đoạn xét duyệt nên vẫn chưa được chính thức công bố trên tạp chí khoa học truyền thống nào, thế nhưng đã có hơn 100 công trình nghiên cứu ra đời dựa trên kết quả của BICEP2. Con số này còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Trong sự nghiệp khoa học còn lại của đời mình, tôi nghĩ sẽ khó mà đạt được một ứng dụng cụ thể hơn như thế cho giới nghiên cứu cơ bản.      Trong số những người tham gia dự án BICEP, dường như GS Andrew Lange đóng vai trò rất quan trọng. Tên ông vẫn được nhắc đến ngay cả trong báo cáo công bố kết quả của BICEP vừa rồi. Nhưng thật tiếc ông đã không đươc chứng kiến thành quả này của BICEP2. Với tôi đó là một câu chuyện buồn. Có những lúc tôi tự hỏi phải chăng vì ông đã cơ bản thấu hiểu bí mật của vũ trụ, hay chỉ là do chán nản cuộc sống thường ngày, nên rời bỏ cõi tạm này. Là đồng nghiệp thân thiết của GS Andrew Lange, anh có thể kể cho chúng tôi nghe chút ít về câu chuyện này được không?     Cố giáo sư Andrew Lange, trên danh nghĩa, là người đứng đầu chuỗi thí nghiệm BICEP1/BICEP2/ Keck. Ông qui tụ được nhiều tài năng cho nhóm, và là người tìm được nguồn kinh phí chủ lực để hỗ trợ các thí nghiệm. Andrew, cùng với học trò là Jamie Bock, đã lập nên thành tích vang dội với thí nghiệm Boomerang – thí nghiệm thiết lập bằng chứng của một vũ trụ phẳng. Ông hiểu rất rõ những khó khăn của các thí nghiệm như BICEP, và vẫn thường ví công việc chúng tôi làm như chuyện “săn đuổi vịt trời,” như là để nhắc nhở chúng tôi về khả năng tín hiệu sóng hấp dẫn rất nhỏ, và rất có thể chúng tôi sẽ trở về tay không sau nhiều năm tháng vất vả ở Nam cực. Ông đã qua đời sau cơn trầm cảm kéo dài. Chúng tôi cảm tạ cộng đồng vật lý đã nhắc đến tên ông trong những ngày qua khi họ bàn thảo về thí nghiệm này. Đây là cách bày tỏ mối tri ân sâu sắc đến ông, rằng chúng ta luôn ghi nhớ vai trò của ông trong kỳ tích của BICEP2.                Nhóm BICEP2 – hình chụp tại Caltech, tháng 3, 2012. Ảnh: Tác giả gửi.           Theo dõi những diễn biến trong ngành vật lý thiên văn tôi nhận thấy, kiến thức của chúng ta về vũ trụ đã tăng đột biến trong khoảng thời gian rất ngắn, đặc biệt là trong khoảng 20 năm vừa qua. Anh có thể giải thích vì sao lại có hiện tượng này? Đó là do các nhà thiên văn may mắn hơn thế hệ trước, hay tìm ra hướng nghiên cứu đúng, hay do sự phát triển của các kỹ thuật đo đạc thực nghiệm?     Vật lý thiên văn đang bước vào kỷ nguyên vàng son. Một phần là do sự phát triển kỹ thuật, như hệ cảm biến, và máy vi tính cho phép xử liệu khối lượng dữ kiện khổng lồ. Một phần là chúng ta có những phát hiện đặt nền móng như năng lượng tối, vũ trụ phẳng, lạm phát… Đây là những cơ sở rất mới, tạo tiền đề để phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về vũ trụ học.      Càng tìm hiểu về sự hình thành vũ trụ, chúng ta càng thấy một sự kỳ bí. Chẳng hạn, Big Bang từ đâu ra? Rõ ràng chỉ có thể giải thích là từ “chân không”, hay “hư vô”. Mà điều này thì nghe lại kỳ bí mông lung như trong Thiền học vậy. Vậy theo anh, có điều gì đó mâu thuẫn hay kém rõ ràng ở đây không? Và liệu chúng ta có thể hiểu biết chút gì về giai đoạn trước lạm phát hay không?      Có lẽ điều không được rõ ràng ở đây là khái niệm “chân không” hay “hư vô”. Những từ này thường khiến chúng ta nghĩ về một cõi trống không, tức là không có chi cả, một con số không tuyệt đối. Trong thế giới chúng ta, tức là trong một thực thể vật lý (physical reality), không có tồn tại một cõi như thế. Cái gọi là chân không vật lý (physical vacuum), khác với chân không trong triết học hay trong ý niệm mơ hồ của số đông chúng ta, là môi trường luôn tồn tại các trường năng lượng hay hạt ảo (virtual particles/ fields) liên tục sinh ra và mất đi theo Nguyên lý Bất định, ΔE x Δt > ħ/2. Bất đẳng thức này cho thấy rằng năng lượng có thể sinh ra hay mất đi trong khoảng thời gian cực nhỏ mà không vi phạm các qui luật vật lý. Các nhà vật lý xem “môi trường chân không” như là một trạng thái vật chất. Chúng ta không nhận biết được “chân không” bằng những giác quan thông thường, nhưng sự tồn tại của chúng đã được kiểm chứng hơn 50 năm nay, nhờ các thí nghiệm vật lý năng lượng cao dùng máy gia tốc.     “Vũ trụ đã bắt đầu như thế nào?” Đây là một câu hỏi khó. Khó với cá nhân tôi thì đã đành – tôi chỉ biết làm các việc “cân đo đong đếm” – nhưng đây vẫn là câu hỏi khó cho các nhà chuyên môn. Nên ở đây tôi chỉ lặp lại những gì tôi nghe thấy từ họ. Và những gì tôi nghe thấy cho đến lúc này, thì câu trả lời là “khoa học còn đang nghiên cứu.” Tuy nhiên, chúng ta cũng đã nắm được vài điều sơ lược tối thiểu.     Bức tranh khái quát là thế này, lúc vũ trụ mới hình thành, tức là trước thời điểm ~ 10-36 giây (một phần tỉ tỉ tỉ tỉ giây), chỉ có chân không mà thôi và không có gì khác (không ánh sáng, không vật chất). Trường chân không này còn có tên gọi là “inflaton”, để phân biệt với các trường chân không mà chúng ta đã thấy qua các máy gia tốc. Đây là giai đoạn lạm phát, vũ trụ bùng nở cực nhanh, không gian trong vũ trụ được nới rộng theo cấp lũy thừa. Vũ trụ từ một chất điểm, nhỏ hơn proton nhiều lần (hạt proton có kích thước cỡ một phần triệu tỉ mét), to đùng lên gần bằng trái cam trong chỉ một phần tỉ tỉ tỉ tỉ giây. Nhắc lại là vũ trụ lúc bấy giờ chỉ có chân không lượng tử, nhắc lại lần nữa, “chân không lượng tử” là một trạng thái vật chất/năng lượng. Khi tuổi vũ trụ đạt đến một phần tỉ tỉ tỉ tỉ giây, tức là đã đi qua thời kỳ lạm phát, thì chân không lượng tử – tức là inflaton – phân rã và chuyển thành trường năng lượng thông thường, như năng lượng điện từ v.v… Vũ trụ tiếp tục giãn nở với tốc độ chậm lại, và chính sự giãn nở này đã làm cho ánh sáng (năng lượng điện từ) nguội đi, để vật chất được tạo thành (tức là các hạt cơ bản, như proton, electron, v.v…).                Sơ lược về sự diễn tiến của vũ trụ từ Big Bang.            Việc tìm thấy di chỉ của thời kỳ lạm phát, hay nói cách khác là tiếng vọng từ thuở khai thiên lập địa, sau 13,8 tỉ năm thực sự là điều kỳ diệu của trí tuệ con người. Anh có bình luận gì về điều này? Và theo anh, vũ trụ quan của chúng ta sẽ thay đổi như thế nào sau những nghiên cứu như thế này?     Khi nhìn thấy B-mode dựa trên kết quả phân tích ban đầu, bọn chúng tôi đã không mấy ai tin. Hơn một năm sau, tức là sau khi đã kiểm tra thấu đáo mọi ngõ ngách trong các qui trình phân tích, biết chắc là chúng không phải từ thiết bị sai lạc, và cũng không phải những pha lẫn từ những tín hiệu khác trên bầu trời, chúng tôi mới thật sự tin chúng thực chất là di chỉ của sóng hấp dẫn ban sơ. Tôi nhớ mình đã nghệch mặt ra nhìn rất lâu.     Sau đó tôi nhớ mình đã chia sẻ với những đồng đội về suy nghĩ của mình. Chúng tôi hầu như đã hết sức bất ngờ về một vũ trụ mà lại có thể… đơn giản đến thế được. Kết quả rất sát với hầu hết những ước đoán lý thuyết. Dĩ nhiên khi viết các đề án, chúng tôi đã luận cứ hùng hồn rằng có thể phát hiện được sóng hấp dẫn, nhưng không riêng gì tôi mà hết thảy bọn chúng tôi không trông chờ là một ngày sẽ trông thấy chúng. Bọn tôi chỉ chú tâm làm cho thật tốt những gì mình có thể làm được. Còn những suy luận lý thuyết thì chỉ là … suy luận mà thôi. “Thiên nhiên vốn đầy rẫy những bất ngờ”, chúng tôi vẫn hằng cảnh giác như thế. Mà thực tế như tôi vừa nói, kết quả lại khá gần với những tính toán lý thuyết. Điều kinh ngạc ở đây là dường như chúng ta có thể… thấu hiểu được bản chất của vũ trụ. Hệt như câu nói hồn nhiên của Einstein mà anh Nguyễn Xuân Xanh đã nhắc đến một cách thân tình sau khi nghe tôi báo về kết quả của BICEP2, rằng: “Điều quả không thể hiểu được ở vũ trụ là nó lại có thể hiểu được – The most incomprehensible thing about the world is that it is comprehensible”.     Một vũ trụ đồng nhất và đẳng hướng, có nghĩa là mọi nơi mọi hướng đồng đều như nhau sẽ không tạo được ngân hà hay các vì sao… Thực tế là tính đồng nhất và đẳng hướng bị phá vỡ ở mức rất nhỏ, nhưng đủ để gây nên chuyện, tức là làm nên cấu trúc trong không gian. Sự phá vỡ này, như BICEP2 đã chứng tỏ, được gây ra bởi những nhiễu loạn lượng tử trong chân không có sẵn từ thời kỳ ban sơ.     Ngày trước chúng ta nói “con người từ cát bụi mà ra” (“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…”). Gần đây chúng ta lại nói, cát bụi từ những vì sao mà ra, rồi những vì sao thì bắt nguồn từ cấu trúc ban đầu trong không thời gian. Và những cấu trúc ban đầu là do những nhiễu loạn lượng tử ban sơ tạo thành.     Có nghĩa là, nhiễu loạn lượng tử thông qua quá trình lạm phát là cội nguồn của hết thảy mọi sinh linh, kể cả những thiên hà, những vì sao, hành tinh, và ngay cả sự sống trong vũ trụ này. Khi ta nói kết quả của BICEP2 sẽ khiến nhận thức hay vũ trụ quan của chúng ta thay đổi một cách cơ bản, chính là nói đến điều này.      Vũ trụ sơ khai đã có thể hình dung rõ ràng hơn với các thực nghiệm về BXN. Đặc biệt là với BICEP2, lần đầu tiên chúng ta biết được chuyện gì xảy ra với vũ trụ chỉ sau một phần tỉ tỉ tỉ tỉ giây. Đó là một bài toán lớn mà vật lý thiên văn, cụ thể là chuỗi thực nghiệm BICEP, đã chinh phục được. Vậy theo anh, sau sóng hấp dẫn nguyên thủy và vũ trụ lạm phát, đâu là bài toán lớn tiếp theo mà ngành vật lý thiên văn cần giải quyết?     Cần phải nhấn mạnh, kết quả của BICEP2 chỉ là bước đầu. Nó mở ra một lãnh thổ mới cho vật lý cơ bản, và rất nhiều vấn đề tiếp theo trong đặc tính của B-mode mà các thế hệ thí nghiệm kế tiếp BICEP2 sẽ thực hiện trong vài năm tới.     Câu hỏi muôn thuở, “vũ trụ đã bắt nguồn từ đâu?”, vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Bước đầu thì BICEP2 cho thấy có lẽ vũ trụ đã bắt nguồn từ chân không lượng tử rồi đi qua thời kỳ lạm phát. Nhưng vẫn còn những câu hỏi lớn, những câu hỏi mà người ta rất ngại đề cập, như việc xác định trường chân không “inflaton”, rồi giai đoạn tái thăng nhiệt (reheating), bản chất và vai trò của năng lượng tối, vật chất tối, v.v… Đây chỉ là một số rất ít những nan đề cơ bản. Hãy ghi nhớ, thiên nhiên vốn đầy rẫy những bất ngờ.      Để triển khai thí nghiệm này, anh đã ở Nam cực trong bao lâu? Trong thời gian làm nghiên cứu ở đó, anh có kỷ niệm gì đặc biệt, về công việc, về đồng nghiệp, về nhân sinh, về hành trình khám phá tri thức? Và nếu trẻ lại, liệu anh có chọn lại ngành vật lý thiên văn như đã làm?     BICEP1 xuống Nam cực từ cuối năm 2005, tôi theo xuống vào đầu năm 2006. Từ ấy đến nay đã gần tám năm (“tám năm làm một BICEP2…”), tôi đi Nam cực cũng được gần năm lần. Những dịp như thế tôi chỉ ở chừng một tháng, rồi quay trở về với gia đình và những công việc tại JPL/Caltech. Hằng năm chúng tôi để lại một người ở quá mùa đông. Với thí nghiệm BICEP2, chúng tôi may mắn có Steffan Richter. Steffan đã ở suốt ba mùa đông liên tục cho BICEP2, từ 2010 đến 2012.      Thí nghiệm BICEP2 qui tụ được khá nhiều tài năng. Có đến bốn postdoc đi lên phó giáo sư từ thí nghiệm này. Brian Keating của Đại học UC San Diego, Bill Jones của Princeton, Chao-lin Kuo của Stanford và John Kovac của Harvard. Kể thêm Jamie Bock nay là giáo sư tại Caltech, thì thí nghiệm của chúng tôi đã đào tạo hàng loạt những nhà nghiên cứu xuất sắc cho những trường đại học hàng đầu của thế giới. (Tôi không biết có một nhóm nghiên cứu nào đạt được kỷ lục tương đương như thế!) Đối với cá nhân tôi, ngần này thôi đã là một kỳ tích của BICEP2. Và được làm việc với những tài năng lớn, được làm công việc mình say mê, đó có lẽ là phần thưởng cao quí nhất mà một nhà vật lý có thể mơ ước.      Trong thí nghiệm này, tôi làm việc gần gũi với Jamie Bock, lúc ấy còn là một thành viên trong nhóm Thiết bị Thiên văn tại JPL. Jamie Bock là nhà thực nghiệm tài ba, và là một con người sâu sắc, khiêm nhường, mà lại hết sức hào phóng với những ý tưởng của mình. Jamie có lẽ là một trong những nhà vật lý xuất sắc nhất trong thế hệ của chúng tôi mà tôi đã được may mắn cộng tác.     Để tôi kể một câu chuyện vui. Kết quả của BICEP2 được công bố vào ngày 17/3/ 2014. Nhưng từ tháng 8/2013 tôi đã hối thúc các thành viên trong nhóm phải sớm hoàn tất chuyện này. Tôi lo ngại rằng tín hiệu lạm phát lớn như thế sẽ nằm trong tầm ngắm của các thí nghiệm khác (SPT, Planck) và rất có thể là kết quả của BICEP2 đã lọt ra ngoài. Nếu chúng tôi không nhanh chóng thông báo thì sẽ mất cơ hội. Nên chi bọn tôi nhắc nhở là phải giữ tuyệt mật kết quả phân tích. Từ tháng 12/2013 trở đi, các qui trình phân tích đã chỉ giới hạn trong một nhóm nhỏ các thành viên của BICEP2 mà thôi. Thằng bạn thân trong nhóm Thiết bị Thiên văn ở JPL đã hỏi dò tôi nhiều lần, kết quả phân tích đến đâu rồi và khi nào sẽ công bố. Tôi tuân thủ luật của BICEP2 nên chỉ trả lời qua loa. Cuối tuần trước ngày 17/3, thế giới mạng bỗng ầm ĩ về chuyện họp báo Harvard vào ngày thứ hai sắp đến, dựa trên nguồn tin của tờ The Guardian bên Anh. Thằng này nhắn tin, “Hiền có trong lab thì làm giùm điều này…” Tôi trả lời tôi không làm được. Thằng này chột dạ hỏi, “Mày đang ở đâu đấy.” Tôi đành khai là “Harvard”. Nó không hỏi thêm vì đã đoán biết cơ sự. John Preskill, một nhà vật lý lý thuyết tên tuổi của Caltech, cũng không biết gì về kết quả của BICEP2 âm ỉ ngay trên sân nhà. Lần đầu ông thấy tin đồn là thứ bảy trước đó. Ông kể rằng lúc ấy đang nằm trên giường bắt gặp tin đồn về BICEP2 trên iPhone, ông ngồi bật dậy, lồm cồm nhìn quanh miệng không ngớt kêu, “holy shit! holy shit!!!”… Đến hôm họp báo, không chỉ các nhà vật lý trong ngành đã để ý theo dõi, mà ngay cả đại chúng cũng tò mò muốn biết. Nội trong ngày 17/3, trang mạng của BICEP2 tại Harvard đã có hơn 3 triệu lượt viếng thăm, đến 10 giờ sáng công bố kết quả thì trang mạng tường thuật tại chỗ buổi họp báo đã sụp đổ vì quá tải.         Trở lại việc bảo mật. Có vẻ như là kết quả của BICEP2 đã không lộ ra ngoài cho đến những ngày trước hôm họp báo. Tôi hơi ngạc nhiên về điều này. Cho đến hôm nay tôi vẫn nghĩ rằng các nhóm khác đã biết đến kết quả của chúng tôi từ trước nhưng vẫn kín tiếng. Có lẽ bởi họ không làm gì được. Có lẽ họ cần hẳn thêm một thời gian nữa mới đạt được đủ độ tinh nhạy.      Tôi đã rất vui khi thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi được biết đến rộng rãi. Điều tôi ngạc nhiên là tại sao quần chúng cũng quan tâm nhiều đến như thế. Tôi đoán có lẽ nhờ các mạng xã hội đồn đoán những ngày trước đó nên có sự chú ý cao độ.     Nhưng có thể có thêm một lý do khác.     Phải ghi nhận rằng thành tựu chúng tôi đạt được là nhờ đứng trên vai của những người khổng lồ. Tôi đã may mắn được gặp và làm việc với một số ít những người không lồ ấy. Từ đội ngũ các nhà vật lý lý thuyết mà tên tuổi họ đã trở thành biểu tượng tiên phong của vũ trụ học hiện đại, như Alan Guth, Andrei Linde, Grishchuk, v.v… những người này chỉ ra sự tồn tại của sóng hấp dẫn ban sơ từ thời lạm phát; cho đến thế hệ trẻ hơn như Seljak, Zaldarriaga, Kamionkowski, Kokowski, Stebbins… đã chỉ ra kỹ thuật quan sát và cách phân tích các dữ liệu để thấy được sóng hấp dẫn; rồi Jonas Zmuidzinas (JPL/Caltech), Peter Day (JPL), những người đã đi tiên phong trong những phát triển của hệ cảm ứng siêu dẫn. BICEP2 thừa hưởng một di sản sáng tạo vô giá. Thành công của BICEP2 vì thế cũng là thành công của nhiều thế hệ. Có lẽ vì thế mà thế giới đã chúc mừng và cùng chung vui với chúng tôi.      Đối với tôi, câu hỏi “nếu được bắt đầu trở lại, mình sẽ làm gì?” không phải là điều viển vông, mà là câu hỏi thiết thực. Bởi câu hỏi này sẽ giúp mình hướng dẫn các sinh viên.                 Nguyễn Trọng Hiền tại Nam cực, tháng 12, 2011. Đằng sau, từ xa là thí nghiệm BICEP2. Ảnh: Tác giả gửi.          Tiêu chí của tôi là chủ đề khoa học không nhất thiết phải lớn, mà cá nhân nhà nghiên cứu trẻ có cơ hội học được thêm, có trau dồi được thêm những kỹ năng thực nghiệm cần thiết hay không. Lấy ví dụ, các thí nghiệm về vật lý năng lượng cao ngày nay qui mô quá lớn, không còn cho những nhà nghiên cứu trẻ cơ hội như thế – và tôi nghĩ đây là một trong nhiều lý do mà địa hạt nghiên cứu này sẽ khó mà tồn tại thêm lâu. Các thí nghiệm về BXN vẫn còn cơ hội cho sinh viên học thêm về chế tạo cảm biến hay thiết bị, và bài toán phân tích dữ liệu là đặc biệt lý thú. Như tôi đã nói ở trên, vật lý thiên văn đang bước vào thời kỳ vàng son. Nếu là sinh viên cao học bây giờ, tôi sẽ vẫn chọn các nghiên cứu về BXN. BXN có lẽ còn sức sống chừng mười đến hai mươi năm nữa… Nhưng có lẽ tôi cũng sẽ để ý đến những lãnh vực khác, như quantum computing, atomic physics…      Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện cực kỳ thú vị này. Chúc anh cùng các đồng nghiệp tiếp tục có những thành công mới với Keck. Hy vọng một ngày nào đó, các bạn trẻ Việt Nam sẽ được trực tiếp tham gia những thực nghiệm thiên văn tầm cỡ như vậy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang BICEP2 và PLANCK cùng truy tìm sóng hấp dẫn lạm phát      BICEP2 (Background Imaging of Cosmic Extragalactic Polarization) là thí nghiệm đặt tại Nam cực thực hiện với kỳ vọng tìm sóng hấp dẫn nguyên thủy, PLANCK là dự án của ESA (European Space Agency) với thiết bị do hai tập đoàn của ESA và Đan Mạch cung cấp, có sự tham gia của NASA.  Như chúng ta biết ngày 17/03/2014 Bicep2 đã thông báo về việc tìm thấy những tín hiệu đầu tiên của sóng hấp dẫn SHD (và lạm phát vũ trụ). Song những dữ liệu do Planck cung cấp cho ta thấy rằng kết quả của Bicep2 đã gây nên nghi vấn: liệu tín hiệu ghi đo bởi Bicep2 có thật sự thuộc về CMB (background) hay đó là thuộc bụi thiên hà nằm trên phông (foreground) tức là thuộc về những giai đoạn sau trong lịch sử vũ trụ .  &#160;    Những kết quả của Bicep2  Thời  kỳ lạm phát  gây ra hai loại nhiễu loạn quan trọng: vô hướng (mật độ) và tensor (SHD). Nhiễu loạn vô hướng được cảm ứng bởi các bất đồng nhất năng lượng mật độ. Những nhiễu loạn này quan trọng vì đó sẽ là mầm của các cấu trúc vũ trụ trong tương lai.  Những nhiễu loạn tensor ứng với SHD.  Phát hiện những tín hiệu của SHD là mục tiêu quan trọng nhất của vũ trụ học hiện đại, GS John Kovac (Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian), lãnh đạo BICEP2 đã phát biểu như vậy. SHD có phân cực kiểu B (B-mode).   Người ta phân biệt hai kiểu phân cực E và B (E-mode và B-mode) như ở hình 1. Chữ E ứng với kiểu điện trường, chữ B ứng với kiểu từ truờng. Chỉ có SHD mới có phân cực kiểu B (thấu kính hấp dẫn-gravitational lensing- cũng có thể tạo nên kiểu phân cực B và các nhà thực nghiệm có phương pháp để tách riêng hiện tượng này).             Hình 1.  Bản đồ phân cực kiểu E và B. Chỉ SHD mới cho ta phân cực kiểu B                      Hình 2. Bản đồ phân cực kiểu B (B-mode) do BICEP2 ghi đo được            Nhìn một bản đồ phân cực ta sẽ thấy những đoạn thẳng trên bầu trời (hình 2). Phân cực kiểu B tạo nên những đoạn thẳng xoáy (curl) còn phân cực kiểu E chỉ tạo nên những đoạn thẳng không xoáy (grad).  Nhóm BICEP2 đã ghi đo được các dấu hiệu phân cực kiểu B của SHD (xem hình 2).  Tuy nhiên gần đây một số nhà vật lý  (https://www.math.columbia.edu/~woit/wordpress/) tỏ ý nghi ngờ rằng các dữ liệu do BICEP2 thu được có thể chưa phải là của bức xạ phông (Cosmic Microwave Background) từ lạm phát nguyên thủy mà chỉ là của bức xạ thiên hà gần đây hơn mà thôi (galactic foreground emission). Vì vậy các kết quả của Bicep2 đòi hỏi một thời gian nhất định cho quá trình kiểm nghiệm với độ chính xác cao hơn để chứng minh rằng kết quả thu được quả là sóng hấp dẫn từ lạm phát nguyên thủy.  Mặt khác nhóm Planck đã công bố dữ liệu chứng tỏ rằng kết quả của nhóm Bicep cần được kiểm  tra lại.   Những kết quả của nhóm Planck  Nhóm Planck đã đo phổ năng lượng góc của bụi phân cực E và B (polarized dust angular power spectra) CEEl và CBBl trong khoảng đa cực 40 <l<600.  Những phép đo này sẽ đem lại một cách nhìn mới đối với bụi trong thiên hà và cho phép xác định mức độ ô nhiễm bụi trong các thí nghiệm của Bicep2.  Nhóm Planck cũng xác định được tỷ số biên độ giữa phân cực kiểu B (B-mode) và  phân cực kiểu E (E-mode) CBBl /CEEl =0,5. Nhóm Planck cũng chứng tỏ rằng thậm chí trong những vùng ít ô nhiễm vì bụi thiên hà thì những cửa sổ sạch bụi cũng không tồn tại để chúng ta có thể thực hiện các phép đo CMB với kiểu phân cực B mà không cần loại bỏ những bức xạ phụ.  Phép ngoại suy của Planck từ 353 GHz xuống 150 GHz cho chúng ta năng lượng bụi (dust power) DBBl = l(l+1)CBBl / (2π) khoảng 1,32 x 10-2 µK2CMB.  Mức độ này tương đương với biên độ theo dữ liệu của Bicep2. Như thế cần phải làm sáng tỏ mức độ tín hiệu bụi phân cực ngay cả trong vùng được coi là sạch trên bầu trời.  Bản đồ bụi thiên hà    Trên hình 3, bên trái là bán cầu Bắc của Thiên hà bên phải là bán cầu Nam. Hình thang có biên giới viền đen phía bán cầu nam là vùng nghiên cứu của Bicep2. Các màu mô tả độ nhiễm bẩn vì bụi thiên hà.            Hình 3.  Bản đồ bụi thiên hà trên bầu trời theo Planck.            Các dữ liệu của nhóm Planck chứng tỏ rằng vùng trời quan sát bởi Bicep2 chứa nhiều bụi hơn dự đoán ban đầu. Các phân cực kiểu B (B-mode) quan sát được bởi Bicep2 có thể đó là một vùng nhiễm bẩn định xứ (local) hơn là dấu vết lưu lại từ thời lạm phát. Tuy dữ liệu mới của Planck không loại trừ hoàn toàn các kết quả của Bicep2 song đã chứng tỏ rằng bức xạ bụi (dust emission) có thể rất lớn trong các tín hiệu của Bicep2.  Những tín hiệu do Bicep2 ghi đo được có thể cấu tạo bởi những bức xạ mà chúng ta có thể nhầm với bức xạ các photon CMB (Cosmic Microwave Background) vì các bức xạ này cũng phát sinh từ kỷ tái hợp (epoch of recombination), khi mà các nguyên tử trung hòa được hình thành và sự phân chia vật chất với bức xạ đã cho phép các photon du hành tự do trong vũ trụ.    Khi nghiên cứu CMB các nhà khoa học phải chú ý đến hai nguồn bức xạ điện từ quan trọng trong thiên hà của chúng ta – đó là bức xạ synchrotron từ những electron chuyển động trong từ trường của thiên hà và bức xạ phân cực từ bụi (polarized emission from dust).  So sánh kết quả của Bicep2 với các dữ liệu của Planck  Như trên đã nói ngoại suy của nhóm Planck từ dữ liệu 353 GHz đến 150 GHz cho chúng ta năng lượng bụi (dust power) DBBl = l(l+1)CBBl / (2π) khoảng  1,32x 10-2 µK2CMB  (hình 4).  Trên hình 4 những hình chữ nhật là dữ liệu của nhóm Planck do bụi tạo nên. Đường cong đen là dự đoán lý thuyết theo mô hình Lambda-CDM dựa trên dữ liệu của Bicep2. Như vậy ta thấy có sự trùng nhau gần như tuyệt đối giữa Bicep2 và Planck. Điều đó có nghĩa là tín hiệu của Bicep2 có lẽ là từ bụi thiên hà chứ không phải từ lạm phát nguyên thủy.             Hình 4.  Sự trùng hợp gần tuyệt đối giữa các quan sát của Bicep2 với dữ liệu bụi của nhóm Planck.            Mặc dầu nhóm Bicep2 đã phát biểu rằng họ đã loại trừ các bức xạ synchrotron và bụi, song các đánh giá của Bicep2 về bụi là quá thấp. Ngoài ra Bicep2 chỉ thực hiện các ghi đo ở tần số 150 GHz.  Neil Turok (Viện Vật lý lý thuyết Perimeter, Canada) cho rằng như thế bản thân thí nghiệm Bicep2 cũng đã là hạn chế vì chỉ xét một tần số. Bicep2 không thể kiểm nghiệm xem các tín hiệu của họ có thể xảy ra ở các tần số khác hay không? Đây là một điều cần thiết phải có nếu đó quả là một hệ quả vũ trụ.  Peter Coles (Đại học Sussex) cho rằng bức xạ từ bụi thiên hà có thể có ý nghĩa nhiều hơn các nhà thiên văn nghĩ.   Subir Sarkar (Đại học Oxford) cũng cho rằng bức xạ từ bụi nhiễm từ trong những cấu trúc định xứ có thể gây nên những tín hiệu mà Bicep2 ghi đo được. Sarkar cho rằng chính bức xạ này là bức xạ trên phông (foreground) ở tần số vi sóng đã bị đoán nhầm bởi Bicep2 là tín hiệu B-mode của hấp dẫn nguyên thủy.  Các dữ liệu của nhóm Planck cũng chứng tỏ rằng tồn tại một bức xạ như thế trong Ngân hà.   Kết luận  Nhiều nhà thiên văn học tin rằng một nghiên cứu chéo giữa Bicep2 và Planck có thể dẫn đến một kết luận cuối cùng về hấp dẫn lạm phát. Kế hoạch hợp tác đã manh nha từ tháng 7/2014. Các nhà vật lý thiên văn hoan nghênh sự cộng tác vừa được hình thành giữa hai nhóm trên để cùng hóa giải vấn đề trong tương lai (có thể kéo dài từ ba đến năm năm).  Sự kết hợp giữa Bicep2 và Planck sẽ lợi dụng được ưu thế về tần số và dữ liệu về bụi toàn bầu trời của Planck với khả năng có độ nhạy cảm lớn các thiết bị của Bicep2. Thế giới thiên văn mong đợi kết quả từ sự hợp tác này giữa Bicep2 và Planck. Hiện nay vấn đề sóng hấp dẫn từ lạm phát đang còn bị bỏ ngỏ.1           —————–    Tài liệu tham khảo:                                                                             [1]  BICEP 2 : DETECTION OF B-mode POLARIZATION AT DEGREE ANGULAR SCALES, nhiều tác giả  nhóm Bicep2  [2] Planck intermediate results. XXX. The angular power spectrum of polarized dust emission at intermediate and high Galactic latitudes, nhiều tác giả nhóm Planck [astro-ph.CO] 19 Sept 2014  [3] Planck Speaks: Bad News for Primordial Gravitational Waves? Posted on September 21, 2014 by Sean Carroll  [4] Full-galaxy dust map muddles search for gravitational waves  Ron Cowen NATURE | BREAKING NEWS, 22 September 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu ảnh hưởng  đến tính cách con người      Lei Wang – nhà tâm lý học xã hội, văn hóa tại Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc), và các cộng sự đã phát hiện, tính cách của con người có thể được hình thành dưới tác động của nhiệt độ ở những nơi họ lớn lên.      Sáu tháng đầu năm của năm 2016 thiết lập một kỷ lục về những tháng nóng nhất toàn cầu.   Điều này nghĩa là hiện tượng biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nhiệt độ toàn cầu sẽ kéo theo sự thay đổi về mặt tính cách của con người. Kết quả nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Nature Human Behavior ngày 27/11.  Ý tưởng của nhóm nghiên cứu đưa ra không phải là mới, nhiều nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng nhiều khía cạnh của tính cách biến đổi theo khu vực địa lý sinh sống nhưng nguyên nhân của nó vẫn chưa rõ ràng.  Họ cho rằng, yếu tố nhiệt độ góp phần định hình tính cách bằng cách ảnh hưởng đến thói quen của con người. Ví dụ, nhiệt độ tác động đến việc con người thích khám phá môi trường xung quanh, tương tác với người khác, cố gắng thực hiện hoạt động mới hoặc tham gia vào hoạt động tập thể ngoài trời như trồng trọt.  Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu ở hai quốc gia, hai nền văn hóa khác nhau – Trung Quốc và Mỹ. Bằng việc phân tích dữ liệu thu được từ hơn 5.500 người dân thuộc 59 thành phố Trung Quốc và 1,66 triệu thuộc 12.500 mã bưu chính (ZIP code) của Mỹ, đồng thời xem xét cả dữ liệu từ các bảng điều tra cá nhân, nhiệt độ trung bình của những nơi những người cung cấp dữ liệu lớn lên. Kết quả cho thấy, những người lớn lên trong vùng khí hậu có nhiệt độ ôn hòa đều mang tính cách dễ chịu, tận tâm, ổn định về mặt cảm xúc, hướng ngoại và thích những trải nghiệm mới. Phát hiện này đúng cho người dân của cả hai quốc gia, bất kể giới tính, độ tuổi và mức thu nhập trung bình.  Theo nhóm nghiên cứu, nhiệt độ ôn hòa có thể ảnh hưởng đến tính cách của con người bằng cách khuyến khích các tương tác xã hội và hỗ trợ việc mở rộng phạm vi hoạt động. Evert Van de Vliert – nhà tâm lý học văn hóa so sánh tại Đại học Groningen (Hà Lan), nói: “Tôi sẽ thận trọng khi phản đối về việc tổ tiên của chúng ta và bản thân chúng ta là những sản phẩm thụ động của nơi chúng ta sống. Bởi với sự thông minh và sử dụng của cải, tiền bạc một cách tích cực, con người có thể tạo ra tính cách và số phận mình ngay cả khi sống ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt”.  Thực vậy, nghiên cứu cũng cho thấy, mặc dù sống trong những vùng khí hậu khắc nghiệt như nhau, người sống ở Trung Quốc có phần khác biệt – khôn ngoan hơn, so với những người sống ở các bang Bắc Mỹ. Điều đó cũng chỉ ra nhiều nguyên nhân khác bên cạnh nhiệt độ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tính cách con người,  Evert Van de Vliert giải thích.  Ví dụ, ở Trung Quốc, nơi con người tương đối nghèo hơn so với những người sống ở Mỹ, người sống trong vùng có khí hậu khắc nghiệt như Hắc Long Giang, Tân Cương và Sơn Đông lại có tính tập thể cao hơn so với người trong vùng khí hậu ôn đới ở Tứ Xuyên, Quảng Đông và Phúc Kiến. Ngược lại ở Mỹ, những người sống trong những vùng khí hậu khắc nghiệt tại Bắc và Nam Dakota, Montana, Minnesota, có tính cá nhân hơn so với đồng bào của họ ở những vùng có khí hậu ôn hòa của Hawaii, Louisiana, California và Florida.  Bản thân nhóm nghiên cứu cũng cho biết, cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để hiểu được những ảnh hưởng tiềm năng của khí hậu đối với tính cách con người.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://www.livescience.com/61033-climate-temperature-personality.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến đất đai      Biến đổi khí hậu tác động đến hệ sinh thái, thời tiết, đại dương, sức khỏe con người. Giờ đây, các nhà khoa học đã xác định thêm, đất cũng là yếu tố có thể bị ảnh hưởng.           Tại Trạm sinh học Konza Prairie ở Flint Hills ở phía đông bắc Kansas, tăng cường tưới tiêu bằng các vòi phun nước đã làm thay đổi hệ thống lỗ chân lông của đất thảo nguyên.  Theo công trình “Những thay đổi trên quy mô lớn trong hàng thập kỷ trong các đặc tính dẫn nước của đất vì lượng mưa thay đổi” (Decadal-scale shifts in soil hydraulic properties as induced by altered precipitation) của các nhà nghiên cứu trường Đại học Rutgers, được công bố trên tạp chí Science Advances, biến đổi khí hậu có thể làm đất giảm khả năng hấp thụ nước tại nhiều nơi trên thế giới – gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung cấp nước ngầm, lượng nước bề mặt, và do đó ảnh hưởng đến việc sản xuất và an ninh lương thực, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái.  “Các mô hình mưa và các điều kiện môi trường khác đang thay đổi trên phạm vi toàn cầu do biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc nước tương tác với đất ở nhiều nơi trên thế giới có thể thay đổi đáng kể (và khá nhanh chóng)”, đồng tác giả Daniel Giménez, một nhà khoa học về đất tại Khoa Khoa học Môi trường tại Đại học Rutgers – New Brunswick, cho biết. “Chúng tôi cho rằng, cần đo lường phương hướng, cường độ, tốc độ của những thay đổi này, sau đó tích hợp vào các dự đoán về phản ứng của hệ sinh thái đối với biến đổi khí hậu”.  Nước trong đất có vai trò quyết định đối với việc lưu trữ carbon và sự thay đổi của đất có thể ảnh hưởng đến nồng độ carbon dioxide trong không khí nhưng không ai có không thể đoán trước là chúng sẽ thay đổi như thế nào, theo Giménez. Carbon dioxide là một trong những khí nhà kính quan trọng liên quan đến biến đổi khí hậu.  Giménez cũng là đồng tác giả của một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature năm ngoái cho thấy lượng mưa gia tăng trong khu vực do biến đổi khí hậu có thể làm cho nước ít thẩm thấu vào đất hơn, tăng dòng chảy bề mặt và xói mòn, tăng nguy cơ lũ quét.  Việc nước mưa thẩm thấu vào trong hay chảy trên bề mặt đất sẽ quyết định tới lượng nước dành cho cây cối hoặc bay hơi vào trong không khí. Các nghiên cứu cho thấy, lượng nước thẩm thấu vào đất có thể thay đổi trong một đến hai thập kỷ, khi lượng mưa tăng lên và biến đổi khí hậu dự kiến sẽ làm tăng lượng mưa ở nhiều khu vực trên thế giới.  Trong một thí nghiệm kéo dài 25 năm ở Kansas về việc tưới tiêu trên đồng cỏ bằng vòi phun nước, một nhóm nghiên cứu của Đại học Rutgers đã phát hiện ra, khi lượng nước mưa tăng 35% thì tỷ lệ thẩm thấu nước giảm  từ 21% đến 33% và lượng nước giữ lại trong đất chỉ tăng rất ít.  Những thay đổi này xuất phát từ thay đổi của những lỗ rỗng, hay khoảng trống lớn trong đất, vốn có vai trò tích trữ nước cho thực vật và vi sinh vật sử dụng, góp phần tăng cường hoạt động sinh học và chu kỳ dinh dưỡng trong đất và giảm tổn thất đất do xói mòn. Khi lượng mưa tăng lên, các cộng đồng thực vật phát triển làm rễ dày hơn, do đó dây tắc nghẽn các lỗ rỗng và làm giảm các chu kỳ giãn nở và co bóp của đất.  Bước tiếp theo của các nhà nghiên cứu là điều tra các cơ chế đằng sau các thay đổi quan sát được này để ngoại suy ra kết quả ở các khu vực khác trên thế giới và tích hợp vào các dự báo về cách các hệ sinh thái phản ứng với biến đổi khí hậu. Họ cũng muốn nghiên cứu một loạt các yếu tố môi trường và loại đất khác nhau để xác định những thay đổi về đất có thể xảy ra do biến đổi khí hậu.¨  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-soils-affected-climate-impacting-food.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến bão xuất hiện liên tiếp      Dưới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, những cơn bão tấn công liên tiếp các khu vực ven biển sẽ ngày càng nhiều. Trong bài báo mới công bố trên tạp chí Nature Climate Change, các nhà nghiên cứu ở Trường Kỹ thuật Princeton cho biết ở một số nơi như vùng Vịnh, những “cú đúp” như vậy có thể xảy ra thường xuyên hơn – khoảng ba năm một lần.      “Những sự kiện cực kì hiếm gặp như vậy sẽ xuất hiện thường xuyên hơn rất nhiều”, Dazhi Xi, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ và là cựu sinh viên ngành kỹ thuật dân dụng và môi trường, đồng thời là tác giả chính của bài báo cho biết.  Nhóm nghiên cứu do PGS. Ning Lin tại ĐH Princeton dẫn dắt lần đầu tiên đặt ra câu hỏi về sự gia tăng tần suất các cơn bão liên tiếp sau mùa mưa bão có sức tàn phá đặc biệt vào năm 2017. Mùa hè năm đó, cơn bão Harvey tấn công Houston, sau đó là bão Irma ở Nam Florida và bão Maria ở Puerto Rico. Những thách thức trong việc lập kế hoạch khẩn cấp do ba cơn bão lớn khiến các nhà nghiên cứu thắc mắc liệu những cơn bão lớn liên tiếp có xảy ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu hay không, và chúng ta cần chuẩn bị những gì. Vào cuối mùa hè năm 2021, bão Ida tấn công Louisiana, ngay sau đó là bão Nicholas đổ bộ vào Texas.  Họ đã chạy các mô phỏng trên máy tính để xác định nguy cơ xuất hiện những cơn bão liên tục trên một khu vực trong khoảng thời gian ngắn, chẳng hạn như 15 ngày, trong suốt thế kỷ 21. Nhóm nghiên cứu sử dụng hai kịch bản: một kịch bản tương lai với lượng khí thải carbon vừa phải và một kịch bản với lượng phát thải cao hơn. Kết quả cho thấy nguy cơ xuất hiện các cơn bão lớn liên tiếp tăng lên đáng kể trong cả hai trường hợp.  Giới khoa học đều biết rằng biến đổi khí hậu sẽ làm tăng cường độ của các cơn bão Đại Tây Dương. Tuy nhiên, họ không chắc chắn về việc thay đổi số lượng các cơn bão. Mô hình của Lin và cộng sự cho thấy số lượng cơn bão tăng, nhưng các mô hình khác lại không. Nhóm nghiên cứu cho biết ngay cả khi tần suất không tăng, thì sự gia tăng cường độ bão sẽ khiến các khu vực dọc theo Bờ Đông và Bờ Vịnh sẽ hứng chịu các cơn bão liên tiếp ngày càng nhiều.  Sự gia tăng nguy cơ từ những cơn bão chủ yếu đến từ hai yếu tố: mực nước biển dâng và lượng mưa tăng do biến đổi khí hậu. Khi nước biển dâng cao, triều cường sẽ trở thành mối đe dọa nghiêm trọng hơn với các cộng đồng ven biển vì mực nước đường cơ sở (mức nước thủy triều thấp nhất) sẽ cao hơn. Nước dâng do bão cao 3m trên mực nước 0m (mực nước đường cơ sở) ít gây thiệt hại hơn so với mực nước 0,5m. Ngoài ra, cường độ bão tăng kết hợp với nhiệt độ cao hơn đồng nghĩa với việc các cơn bão mang theo nhiều nước hơn. Như vậy, lượng mưa và lũ lụt do bão sẽ ngày càng tăng.  Sự kết hợp của hai yếu tố sẽ khiến những cơn bão không đáng chú ý trước đây trở thành mối đe dọa, đặc biệt khi chúng xảy ra liên tiếp. Chẳng hạn vào năm 2021, bão Nicholas đổ bộ vào Louisiana tương đối yếu nhưng đã gây ra hậu quả ngoài dự kiến vì khu vực này vẫn chưa hồi phục sau sự tàn phá của bão Ida.  Các nhà nghiên cứu cho rằng điều quan trọng là các nhà hoạch định cộng đồng và các cơ quan khẩn cấp khu vực phải nhận ra mối đe dọa mới nổi này. Chúng ta cần phải cải thiện khả năng phục hồi và ứng phó trước nguy cơ ngày càng tăng, bao gồm việc củng cố các hệ thống thoát lũ, bảo vệ các cơ sở hạ tầng quan trọng như giao thông, hệ thống nước và lưới điện. Các đơn vị ứng phó khẩn cấp phải chuẩn bị sẵn sàng trước những cơn bão liên tiếp trong thời gian ngắn.  “Nếu một hệ thống điện cần 15 ngày để phục hồi sau một cơn bão lớn thì chúng ta không thể đợi lâu như vậy trong tương lai vì cơn bão tiếp theo có thể ập đến trước khi nguồn điện khôi phục, như trường hợp cơn bão Nicholas và Ida,” PGS. Ning Lin nói, “Chúng ta cần suy nghĩ về các kế hoạch, nhân viên cứu hộ, nguồn lực, và chúng ta sẽ lên kế hoạch ứng phó như thế nào?”□  Thanh An lược dịch   Nguồn: https://engineering.princeton.edu/news/2023/02/27/one-bad-enough-climate-change-raises-threat-multiple-hurricanes    Author                .        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến dịch châu chấu bùng phát dữ dội hơn      Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở Đại học bang Arizona (ASU) cho thấy biến đổi khí hậu sẽ khiến số lượng các đàn châu chấu gia tăng nhanh hơn, dẫn đến mất mùa nhiều hơn và đe dọa an ninh lương thực. Họ đã công bố kết quả này trên tạp chí Ecological Monographs.    Châu chấu phơi mình dưới ánh nắng để tăng nhiệt độ cơ thể khi đang tiêu hóa thức ăn. Ảnh: Jacob Youngblood  “Một khía cạnh độc đáo trong nghiên cứu này là chúng tôi đã kết hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm quan sát hiện trường, thực hiện thí nghiệm và sử dụng mô hình tính toán”, Jacob Youngblood, Tiến sĩ Sinh học ở ASU, tác giả thứ nhất của nghiên cứu cho biết.   Khoảng năm 3200 trước Công nguyên, châu chấu đã bùng phát thành từng đàn lớn tấn công mùa màng, tàn phá gần như toàn bộ cây cối.  Cũng giống như con người, châu chấu có thể nhút nhát hoặc hòa đồng. Phần lớn châu chấu sống trong quần thể mật độ thấp trong vài mùa, được gọi là giai đoạn đơn độc. Nhưng khi hoàn cảnh thuận lợi, số lượng châu chấu tăng lên quá nhanh, dẫn đến sự chuyển đổi mạnh mẽ sang giai đoạn sống bầy đàn – xã hội, có thể tạo thành đàn di cư với khoảng 80 triệu con châu chấu/km2.   Mỗi con châu chấu tiêu thụ tới 2g thực vật mỗi ngày, một đàn với kích thước này có thể di chuyển 90 dặm/ngày, tiêu thụ lượng thức ăn tương đương 35.000 người. Không có gì ngạc nhiên khi chúng được coi là loài địch hại tàn phá nhất thế giới.  Để làm sáng tỏ các động lực đằng sau bầy đàn châu chấu, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu đặc điểm sinh lý của châu chấu Nam Mỹ (Schistocerca cancellata). “Phần lớn nghiên cứu về châu chấu sử dụng các bầy châu chấu được nuôi trong phòng thí nghiệm, vì vậy công trình của chúng tôi là một cơ hội hiếm hoi để nghiên cứu dịch châu chấu bùng phát triển môi trường tự nhiên”, Youngblood cho biết.  Để dự đoán địa điểm di cư của đàn châu chấu và nơi cây trồng sẽ bị đe dọa, các nhà khoa học đã sử dụng mô hình phân bố loài – thuật toán máy tính dự đoán sự phân bố của loài trên một khu vực địa lý bằng cách sử dụng dữ liệu môi trường.  Kỹ thuật mô hình hóa phổ biến nhất là các mô hình tương quan. Tuy nhiên, các biến số chưa biết tồn tại trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến phương pháp này không còn hiệu quả.   Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình cơ học, thu thập dữ liệu sinh lý của châu chấu để cung cấp cho mô hình. Nhiệt độ là yếu tố chính trong dữ liệu môi trường cung cấp cho các mô hình tương quan truyền thống, có tác động lớn đến thói quen ăn uống của châu chấu.  Họ đã đo lường mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ ăn và tiêu hóa của châu chấu và sử dụng dữ liệu thu được để lập mô hình năng lượng thu được trong các kịch bản khí hậu hiện tại và tương lai. Sau đó, nhóm nghiên cứu thiết lập dữ liệu này trở thành một biến dự đoán cho mô hình phân bố loài nhằm dự đoán sự lây lan của các đợt bùng phát châu chấu trong nhiều kịch bản.  Kết quả cho thấy châu chấu có thể tiêu thụ nhiều năng lượng hơn ở các vùng khí hậu trong tương lai so với hiện tại – tiêu thụ năng lượng nhiều hơn 8-17% vào mỗi mùa mưa, tương ứng với mức độ nóng lên toàn cầu.   Thông thường, châu chấu Nam Mỹ chỉ tạo ra hai thế hệ trong mỗi mùa sinh trưởng. Nhưng khi năng lượng tăng lên vào mùa mưa sẽ rút ngắn thời gian giữa các thế hệ, dẫn đến tăng số lượng châu chấu hơn. Trong tương lai, khí hậu ấm hơn khiến các quần thể châu chấu sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, tạo ra ba thế hệ mỗi mùa và dễ bùng phát dịch hơn.   Các mô hình trước đây dự đoán mất mùa do côn trùng gây hại sẽ tăng 10-25% trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhưng các nhà khoa học không biết liệu những dự đoán này có liên quan đến châu chấu Nam Mỹ hay không. Mô hình mới của Youngblood cũng tương đồng với các mô hình trước đó, dự đoán thiệt hại mùa màng do châu chấu Nam Mỹ tăng 17%.  “Thông tin này sẽ giúp nông dân và chính phủ lên kế hoạch cho các đợt dịch châu chấu trong tương lai”, Youngblood nói. “Mặc dù cần nghiên cứu thêm, phương pháp mô hình sinh lý này cũng có thể hỗ trợ dự đoán sự bùng phát của các loài châu chấu khác”.□  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-09-climate-intense-locust-outbreaks-threaten.html    Author                .        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến gần một nửa quần thể cá chung của các quốc gia đang di chuyển      Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Global Change Biology của ĐH British Columbia (UBC, Canada), đến năm 2100, biến đổi khí hậu sẽ khiến 45% quần thể cá ở nhiều vùng đặc quyền kinh tế di chuyển xa khỏi môi trường sống cũ và thay đổi đường di cư.      Khi các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đạt được vào năm 2030, 23% những quần thể cá “xuyên biên giới” sẽ thay đổi phạm vi môi trường sống truyền thống. Nghiên cứu mô hình cũng dự đoán 78% các vùng đặc quyền kinh tế – nơi hoạt động đánh bắt diễn ra nhiều nhất – sẽ có ít nhất một quần thể cá di chuyển. Đến năm 2100, con số này sẽ tăng lên 45% quần thể, trong đó 81% các vùng đặc quyền kinh tế sẽ chứng kiến ít nhất một đợt thay đổi nếu không làm gì để ngăn chặn phát thải khí nhà kính.   “Đó không chỉ là việc quần thể cá rời đi hoặc đến các vùng đặc quyền kinh tế mới, vấn đề là nhiều quốc gia có chung các quần thể cá. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn động lực của họ”, tác giả chính của nghiên cứu TS. Juliano Palacios-Abrantes ở Viện Đại dương và Thủy sản (IOF-UBC) cho biết.  Ông cho biết dòng thời gian từ nghiên cứu cho thấy những thay đổi này đã diễn ra từ đầu thế kỷ 21. “Với tỷ lệ phát thải hiện tại, chúng ta sẽ thấy những thay đổi lớn hơn vào năm 2030 và trong tương lai. Nhiều thỏa thuận về quản lý nghề cá đã được thiết lập từ các thập kỷ trước để điều chỉnh các quần thể cá chung, tuy nhiên tình hình thế giới khi đó khác với hiện nay”.  Nghiên cứu đã theo dõi sự thay đổi phạm vi của 9132 quần thể cá xuyên biên giới, chiếm 80% sản lượng khai thác của các vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, bắt đầu từ năm 2006 và dự kiến đến năm 2100.   Những thay đổi trong phân bố các quần thể cá sẽ ảnh hưởng đến việc khai thác thủy sản. Đến năm 2030, lượng đánh bắt xuyên biên giới ở 85% các vùng đặc quyền kinh tế trên toàn cầu sẽ vượt quá mức biến động thông thường hàng năm. Sự thay đổi mà TS. Palacios-Abrantes dự đoán sẽ làm gia tăng căng thẳng về việc các quốc gia có thể yêu cầu nhiều quyền sở hữu hơn đối với một số quần thể cá nhất định. Đặc biệt là từ năm 2005-2010, hoạt động đánh bắt cá xuyên biên giới đã mang về cho Hoa Kỳ tổng doanh thu ước tính khoảng 76 tỷ USD.   Trong những năm 1980 và 1990, sự thay đổi phân bố các quần thể cá hồi đã phá vỡ các thỏa thuận đánh bắt giữa Canada và Hoa Kỳ, khiến hoạt động đánh bắt cá quá mức càng thêm trầm trọng. Những xung đột tương tự sẽ còn tiếp tục gia tăng trong tương lai, và có thể phá vỡ các thỏa thuận quốc tế, TS. Palacios-Abrantes cho biết.   Các quốc gia ở vùng nhiệt đới như Caribe và Nam Á sẽ chịu ảnh hưởng đầu tiên khi nhiệt độ nước biển tăng lên, tuy nhiên các quốc gia phía bắc cũng sẽ bị ảnh hưởng. Nhìn chung, 10 quần thể cá xuyên biên giới ở Canada và Hoa Kỳ trong khu vực Thái Bình Dương dự kiến sẽ thay đổi vào năm 2033.   “Thông qua việc dự báo thời gian và quy mô thay đổi của các quần thể cá, nghiên cứu của chúng tôi cung cấp các điểm tham chiếu hữu hình để xem xét tác động của biến đổi khí hậu và đàm phán các chính sách chính công bằng để quản lý bền vững”, TS. Colette Wabnitz ở Trung tâm Giải pháp đại dương (ĐH Stanford), đồng tác giả cho biết.   Nghiên cứu đưa ra một số đề xuất giúp tránh những hậu quả tệ nhất từ các tranh chấp tiềm ẩn, chẳng hạn như xây dựng các thỏa thuận cho phép các đội tàu đánh bắt cá hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng, đổi lại bằng cách chia sẻ một phần sản lượng đánh bắt hoặc lợi nhuận.   Ngoài ra, các quốc gia nên thỏa thuận lại nhiều hiệp định hạn ngạch khai thác đã có. Và bất kì hành động nào về giảm thiểu biến đổi khí hậu sẽ góp phần giảm bớt các thay đổi dự kiến.   “Chúng ta phải chấp nhận rằng biến đổi khí hậu đang xảy ra, và phải hành động nhanh chóng để thích ứng với các quy định quản lý nghề cá nhằm giải quyết vấn đề này”, TS. Gabriel Reygondeau, một nhà nghiên cứu ở IOF cho biết.  Điều này có nghĩa là các quốc gia phải sẵn sàng hợp tác với nhau để ngăn chặn xung đột tiềm ẩn xuất phát từ sự thay đổi của các loài cá do biến đổi khí hậu, và duy trì lợi ích cũng như sự bền vững của ngành công nghiệp đánh bắt cá.  TS. Reygondeau cho biết: “Chúng tôi đã đánh giá vị trí, thời gian thay đổi tiềm ẩn và xung đột có thể xảy ra dựa trên các mô hình và kịch bản khí hậu. Tuy nhiên, có một số điểm các nhà khoa học không thể giúp gì, và câu hỏi là: Liệu các nhà chính trị có muốn đối phó với những tác động của biến đổi khí hậu đối với các nguồn tài nguyên và ngành sản xuất cơ bản hiện nay?”   Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-countries-fish-stocks-due-climate.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến mùa đông nhiều muỗi hơn      Ở nhiều nơi trên thế giới, muỗi là nỗi phiền toái thường trực vào mùa hè. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới của Đại học Florida (Hoa Kỳ), tại những khu vực chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, những loài côn trùng truyền bệnh này có thể trở thành vấn đề quanh năm.    “Ở những vùng nhiệt đới, muỗi hoạt động quanh năm, nhưng phần còn lại thì khác. Ở những nơi lạnh hơn, nhiệt độ mùa đông khiến loài muỗi chuyển sang trạng thái ngủ đông (diapause). Chúng tôi gọi là muỗi “giới hạn lạnh” vì hoạt động của chúng bị hạn chế do nhiệt độ thấp”, Brett Scheffers, tác giả chính của nghiên cứu và là trợ lý giáo sư ở Phòng Bảo tồn và sinh thái động vật hoang dã ở Viện KH nông nghiệp và Thực phẩm của ĐH Florida (UF/IFAS) cho biết.  “Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu, chúng tôi dự đoán mùa hè sẽ kéo dài hơn và mùa đông ngắn hơn, ấm hơn. Điều này có ý nghĩa gì với những con muỗi ở những vùng lạnh giá kia? Chúng sẽ phản ứng như thế nào?” Scheffers đặt câu hỏi.  Để tìm câu trả lời, các tác giả nghiên cứu đã thực hiện các thí nghiệm với những con muỗi thu thập ở trong và quanh thành phố Gainesville, nằm ở trung tâm phía Đông của Florida, thuộc vùng ranh giới giữa khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới. Họ đã so sánh các con muỗi được thu thập ở các thời điểm khác nhau trong năm để xem chúng phản ứng với sự thay đổi nhiệt độ như thế nào.  Vào mùa xuân, khi nhiệt độ buổi tối vẫn còn lạnh và nhiệt độ ban ngày bắt đầu ấm lên, muỗi có thể chịu đựng được giới hạn nhiệt độ lớn hơn. Đến mùa hè, nhiệt độ hằng ngày ấm áp, giới hạn đó giảm xuống. Vào mùa thu, nhiệt độ lạnh dần, giới hạn này tăng trở lại, Scheffers giải thích.  “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy để hiểu rõ hơn về việc các quần thể và các loài có thể chịu được biến đổi khí hậu hiện nay như thế nào, chúng ta cần đánh giá phản ứng nhiệt của chúng tại các thời điểm khác nhau trong năm”, theo Brunno Oliveira, tác giả thứ nhất bài báo. “Thông tin này có thể giúp chúng tôi tìm ra khoảng giới hạn nhiệt độ mà mỗi loài có thể chịu đựng chính xác hơn”.  Trong thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã thu thập muỗi ở hơn 70 địa điểm xung quanh Gainesville và Trạm sinh học Ordway-Swisher (UF/IFAS) gần đó – một khu vực nghiên cứu và bảo tồn có diện tích 9500 mẫu Anh và nằm cách thành phố 20 dặm về phía Đông.  Họ dụ muỗi bằng những chiếc bẫy đặc biệt tỏa ra khí CO2, loại khí mà con người và động vật thải ra khi hít thở. Với loài muỗi, một luồng khí CO2 mạnh đồng nghĩa với việc có một bữa ăn ở gần đó. Họ đã bắt hơn 28 000 con muỗi đại diện cho 18 loài, trong số đó, họ đã lấy mẫu ngẫu nhiên khoảng 1000 con muỗi để kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Mỗi con muỗi được cho vào một lọ, sau đó đặt trong một chậu nước. Theo thời gian, các nhà nghiên cứu sẽ điều chỉnh nhiệt độ nước, nhằm tăng hoặc giảm nhiệt độ bên trong lọ. “Thật ngạc nhiên khi thấy những sinh vật bé nhỏ này có thể chịu đựng nhiệt độ cao như vậy trong suốt quá trình thí nghiệm, thường cao hơn nhiệt độ trung bình của môi trường xung quanh mà các trạm thời tiết đo được”, Gécica Yogo, một trong các tác giả nghiên cứu, cho biết  Những hiểu biết sâu sắc từ nghiên cứu này có thể giúp các cộng đồng chuẩn bị tốt hơn trước những tác động của biến đổi khí hậu, nhất là khi liên quan đến một loài có thể truyền nhiễm bệnh tật cho động vật và con người như muỗi.  Ngoài việc cung cấp thông tin phục vụ việc ra quyết định, các nghiên cứu như thế này còn tập trung vào một khía cạnh của biến đổi khí hậu hiện đang ngày càng được chú ý. “Khi chúng ta đề cập đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới động thực vật, chúng ta thường nói về việc các loài di cư đến các khu vực mới vì điều kiện môi trường đang thay đổi. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến những loài ngay cạnh chúng ta, giống như muỗi với độ linh hoạt cao, đây là khía cạnh cần xem xét”, Scheffers cho biết.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-climates-mosquitoes-winter.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu khiến mùa khô và mùa mưa cực đoan hơn      Theo một nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Communications, biến đổi khí hậu có thể khiến lượng mưa trên thế giới nhiều hơn và lượng nước bốc hơi cũng nhiều hơn. Do đó, việc quản lý các hồ chứa nước và việc tưới tiêu mùa màng để phục vụ một thế giới ngày một đông dân sẽ trở nên phức tạp hơn.      Ashok Mishra, nhà nghiên cứu tại trường đại học Clemson, tác giả chính của công trình “Climate change will affect global water availability through compounding changes in seasonal precipitation and evaporation”, cho biết những nghiên cứu trước đó chủ yếu đều tập trung vào việc biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lượng mưa. Nhưng đóng góp chính trong nghiên cứu của anh là kiểm tra xem tầm quan trọng và mức biến đổi của lượng mưa và khả năng bốc hơi nước và có bao nhiêu nước sẽ còn lại trong những tháng ẩm ướt nhất cũng như khô hạn nhất của năm.  Các nhà nghiên cứu tìm thấy là mùa khô sẽ trở nên khô hơn và mùa mưa sẽ trở nên ẩm ướt hơn, Ashok Mishra nói.  Phần lớn diện tích ở vùng đông nước Mỹ, bao gồm cả Nam Carolina, có lượng mưa cao và được phân phối đều trong suốt năm, các nhà nghiên cứu cho biết. Khu vực này và những khu vực khác dường như có thể có được lượng mưa và lượng nước bốc hơi lớn hơn vào cả mùa mưa và mùa khô. Lượng nước sẵn có đều phong phú hơn hiện nay.  Lo ngại lớn nhất cho các vùng sẽ là tình trạng ngập lụt nhiều hơn, Mishra trả lời phỏng vấn báo chí.  Những vùng này sẽ có thời tiết khắc nghiệt hơn bởi biến đổi khí hậu và cũng là một trong những nơi đón nhận lượng mưa rơi nhiều trong mùa mưa và cảnh hạn hán trong mùa hè. Những nơi cùng cảnh ngộ còn có Ấn Độ và vùng lân cận ở phía đông, bao gồm Bangladesh và Myanmar, cùng với một phần Brazil, phần đông  tây châu Phi và bắc Australia, theo kết quả nghiên cứu.  “Dù những khu vực này đã phải hứng chịu nhiều hạn hán và ngập lụt hơn so với những vùng khác nhưng nó sẽ còn phải chứng kiến những sự kiện cực đoan này gia tăng”, Mishra nói.  Là một phần của nghiên cứu, các nhà khoa học đã phân loại thế giới thành chín vùng, hoặc chín chế độ khí hậu. Họ thấy lượng mưa hàng năm và sự dao động của mưa thông qua các mùa ở mỗi vùng từ năm 1971 đến năm 2000. Sau đó các nhà nghiên cứu đã dùng dữ liệu để dự đoán tương lai về lượng nước sẵn có trong mỗi vùng với ba tháng mùa khô và ba tháng mùa mưa. Họ đánh giá ba kịch bản trên cơ sở cá mô hình khí hậu toàn cầu phức tạp.  Kịch bản tốt nhất về lượng nước sẵn có, bền vững trong mùa khô và mùa mưa khi nhiệt độ toàn cầu bền vững ở mức cao hơn 2 oC  so với thời kỳ tiền công nghiệp. Nhưng khi nhiệt độ tăng lên 3,5 oC  hoặc 5oC so với thời kỳ tiền công nghiệp vào cuối thế kỷ này, lượng nước sẵn có sẽ nhiều biến động hơn.  Mishra cho biết thông điệp của ông với thế giới này là nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng.  “Sự sẵn có của nguồn tài nguyên này là vấn đề mà mọi người đều cần phải chú ý”, ông nói. “Chúng ta cần phải có những biện pháp phòng bị để có thể sử dụng một cách tối ưu lượng nước chúng ta có. Trong trường hợp khí hậu thay đổi và dân số tăng lên,chúng ta nên chuẩn bị cho tương lai bằng việc cách cải tiến công nghệ để sử dụng nước hiệu quả cho trồng trọt”.  Jesus M. de la Garza, chủ tịch Khoa Kỹ thuật dân dụng Glenn, trường đại học Clemson, chúc mừng Mishra về công trình này: “Tiến sĩ Mishra và nhóm nghiên cứu của ông đã có một cách tiếp cận mới để nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Công trình của họ là một bước tiến tới phát triển các giải pháp bền vững để đảm bảo cho thế giới này có được một nguồn cung cấp nước phù hợp. Với bài báo này, tiến sĩ Mishra đang giúp nâng cao danh tiếng về chất lượng nghiên cứu của trường đại học Clemson”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-climate-extreme-seasons.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu là hiểm họa nhãn tiền      Biến đổi khí hậu là chuyện nhãn tiền ở ngay trên đất nước ta, trong cuộc sống của tất cả nhân dân ta, chứ không phải chỉ là những nội dung sáo mòn được lặp đi lặp lại nhiều lần trên sách báo hay trên diễn đàn các cuộc hội thảo khoa học.    Chúng ta thường nghe nói rất nhiều về hiểm họa của Biến đổi khí hậu (BĐKH): nhiệt độ trái đất tăng cao, băng tan ở hai địa cực và mực nước biển dâng lên, dân số tăng quá mức, các sinh cảnh bị thu hẹp, đa dạng sinh học suy thoái, sự xâm nhập có hại của các loài động thực vật ngoại lai, sức ép của công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ thông tin… Tất cả mọi người đã được nghe và hầu hết đều thản nhiên coi đó là chuyện xa xôi, chuyện của ai đó, chẳng liên quan gì đến mình. Đúng như câu ngạn ngữ Cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại.  Một thế giới đang thay đổi           Cây bẩy lá một hoa dần tuyệt chủng        BĐKH đang là hiểm họa nhãn tiền với mọi dân tộc trên thế giới và liên quan trực tiếp đến đời sống của mỗi chúng ta, cho các thế hệ con cháu chúng ta trên mảnh đất này.  Nhìn vào biểu đồ dưới đây ta thấy trong suốt 1800 năm nồng độ các khí nhà kính (CO2, CH4, N2O) hầu như không thay đổi. Nhưng do công nghiệp hóa mà các khí nhà kính đã tăng vọt trong 200 năm qua, CO2 đã tăng thêm tới trên 30% và đạt tới 372ppm (theo Nguyễn Hữu Ninh, 2008)  Nhiệt độ trung bình toàn cầu (a) đã tăng trung bình 0,740C so với năm 1850. Nhiệt độ ở hai cực tăng gấp đôi so với trung bình toàn cầu. Từ đó dẫn đến việc băng tan nhanh hơn làm cho diện tích Bắc cực thu hẹp lại (c) và làm cho mực nước biển dâng cao lên rõ rệt (b). Trong thập kỷ vừa qua mức nước biển ở Châu Á đã tăng thêm 3,1mm/năm (theo www.greenfacts.org):                     Trong thế kỷ 21 bão nhiệt đới sẽ tăng lên cả về số lượng và cường độ (10-20%), hiện tượng El Nino và La Nina tăng hơn cả về tần suất lẫn cường độ. Mưa nhiều hơn, bão lụt nhiều hơn, điều mà chúng ta đã tự nhận thấy trong suốt những năm gần đây. Trong khi đó mùa hè thường nóng gắt tại nhiều nơi trên Trái đất dẫn đến nạn hạn hán nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, trong đó có cả nước ta. Tầng ozôn- nơi hấp thụ tới 90% tia tử ngoại của bức xạ Mặt trời- bị bào mòn và phá thủng tại một số nơi (ở Nam cực và Bắc cực) làm cho các nước phát triển phải ký kết các hiệp ước cắt giảm phát thải khí nhà kính, nhất là phải thay thế CFC bằng các khí khác trong các thiết bị làm lạnh.  Người ta tiên lượng là năng suất cây trồng ở châu Á sẽ bị giảm 2,5-10% vào những năm 2020 và giảm 5-30% vào những năm 2050. Khoảng 450 triệu người dân ở các nước đang phát triển tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ ở tình trượng thiếu dinh dưỡng (FAO, 2005). Sẽ có khoảng từ 120 triệu đến 1,2 tỷ người thiếu nước dùng vào những năm 2020 (Nguyễn Hữu Ninh, 2008). Do tốc độ thoát hơi nước tăng nên chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng giảm đi. Nhiều cây gỗ quý do bị khai thác quá mức sẽ dẫn đến cạn kiệt (gụ, lim, lát, nghiến, pơmu, trắc…). Rất nhiều cây dược liệu quan trọng sẽ bị dân chúng nước ta và người nước ngoài đến khai thác đến tuyệt chủng (điển hình như cây Bảy lá một hoa -Paris polyphylla- có tác dụng chống ung thư và nhiều cây khác)           Hổ bị săn bắn để nấu cao        Việc đánh bắt hải sản quá mức dẫn đến suy giảm nghiêm trọng sản lượng đánh bắt. Hiện tượng El Nino làm giảm sút nhanh chóng số lượng ấu trùng cá. Chuỗi thức ăn trong nước biển bị rối loạn do BĐKH. Nhiệt độ bề mặt nước tăng lên làm hàm lượng ôxy trong nước hạ thấp xuống và làm quá mức chịu đựng của một số loài hải sản. Nước bẩn thài từ đất liền đã làm gây nhiễm bệnh virút cho hàng loạt hải trường nuôi tôm ở nước ta.    Cảnh báo cho Việt Nam  Việt Nam là quốc gia có đa dạng sinh học đứng thứ 16 trên thế giới, với trên 75 loài duy nhất chỉ Việt Nam mới có, nhưng thật đáng tiếc- theo nguồn tin từ một bản phúc trình của Cục Bảo vệ Môi trường thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới cho hay, chỉ trong vòng 10 năm, từ năm 1996 đến năm 2006, những loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam đã tăng đến mức báo động, từ 709 lên 857 loài. Một trong những nguyên nhân khiến nhiều loại động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng là do ô nhiễm môi trường, phá rừng, cháy rừng với mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng. Những loài như tê giác 2 sừng, heo vòi, cầy rái cá… đã bị tuyệt chủng hoàn toàn. Những loài hươu sao, cá chép gốc, cá sấu hoa cà… cũng tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên, chỉ tồn tại ở trạng thái nuôi dưỡng một vài cá thể. Mặc dù đa số biết đến khái niệm tuyệt chủng, song họ đều nghĩ rằng những loài động thực vật quý hiếm đang suy giảm là do bị săn bắn, bị mất nơi cư trú… chứ chẳng liên quan gì đến việc họ “ăn đặc sản” hay dùng chúng làm thuốc bổ, đồ trang sức…                     Trước mối đe dọa mất mùa, thiên tai, suy giảm đa dạng sinh học chúng ta cần có những giải pháp vĩ mô và vi mô. Giải pháp vĩ mô là thực hiện các cam kết quốc tế về Bảo vệ môi trường mà nước ta đã tham gia ký kết. Giải pháp vi mô gồm rất nhiều giải pháp cụ thể thích hợp cho từng lĩnh vực. Về nông lâm nghiệp đó là duy trì và bảo tồn các giống bản địa (ví dụ như giống ngô thích nghi với tình trạng ít nước, ít phân đang gieo trồng trên cao nguyên đá Đồng Văn), các giống động thực vật quý hiếm; bảo vệ nghiêm ngặt rừng và các Vườn Quốc gia, các Khu dự trữ sinh quyển, nghiêm cấm nuôi, săn bắt và tiêu thụ các động vật quý hiếm; thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch trồng mới 5 triệu ha rừng; lựa chọn hoặc nhập khẩu có chọn lọc các giống cây trồng vừa có năng suất cao, có phẩm chất tốt lại kháng sâu bệnh, kháng hạn, kháng úng…; nghiêm cấm sử dụng các thuốc trừ sâu nguy hiểm cho người, gia súc, gia cầm, thay thế bằng các trừ sâu sinh học; lựa chọn để ứng dụng một cách an toàn các sinh vật chuyển gen (GMO); tăng dự trữ thức ăn và chuẩn bị điều kiện chống rét, chống nóng cho gia súc, gia cầm; nhập có chọn lọc các giống gia súc ,gia cầm có hiệu quả kinh tế cao và thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu (ví dụ như nhập giống cá hồi cho Lâm Đồng, Lào Cai, Điện Biên…); chấm dứt việc nhập khẩu các nguyên liệu có thể sản xuất trong nước (ngô, bông, thuốc lá, đường, khô dầu đậu tương, hạt điều…). Về ngư nghiệp cần thực hiện các biện pháp nuôi thả bền vững đối với các thủy vực nuôi cá, nuôi tôm, tránh nhiễm thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh và các nguồn nước bẩn; sử dụng các chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu để tự làm trong sạch nước; sử dụng biện pháp nuôi hỗn hợp tại các tầng nước để tránh tồn đọng thức ăn dư thừa; tổ chức lại chương trình đánh bắt xa bờ để tránh khai thác cạn kiệt ven bờ; có kế hoạch mở rộng canh tác biển (trồng hải tảo trên các “luống” căng bằng dây thép)… Về xây dựng cơ bản cần thiết kế các nhà chống chịu được gió bão và lũ lụt (hiện đã có mô hình căn nhà hai tầng chịu được gió cấp 12 với giá khoảng 25 triệu đồng); cấm xây nhà tại các nơi có nguy cơ sụt lở đất (ven núi, ven sông, ven biển), trồng cỏ Vertiver  hoặc xây kè chống sụt lở (như ven các đường cao tốc ở Trung Quốc); xây dựng và kiên cố hóa các loại kênh mương tưới tiêu để chống úng chống hạn; tổ chức các khu tái định cư sao cho đúng với quy định để cho bà con có điều kiện sản xuất và sinh sống tốt hơn nơi ở cũ; hạn chế việc bê tông hóa để xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp trên các vùng đất trồng trọt mà cấu tượng đất phải qua hàng nghìn năm mới có được…           Lỗ thủng tầng ôzôn        Về công nghệ cần xây dựng tập trung cho ngành Công nghệ sinh học để nâng cao sản lượng và chất lượng giống cây trồng, vật nuôi; không xuất khẩu quá nhiều gạo nếu có thể thay thế bằng nông sản khác có giá trị cao hơn; chế biến ngô khoai sắn thành các sản phẩm lên men có giá trị kinh tế rất cao (dược phẩm, chất điều vị, enzim, axit hữu cơ, dung môi…); sử dụng kỹ thuật giải trình tự ADN để phát hiện nhanh hơn các loài vi sinh vật và động, thực vật mới đối với thế giới; chế biến cà phê, điều để tránh xuất thô; chế biến và bảo quản tốt các loại hoa và quả có khả năng xuất khẩu; phát triển cồn sinh học và diezen sinh học để thay thế dần các nhiên liệu hóa thạch; kiên quyết xử lý rác theo biện pháp tái chế để thay thế hoàn toàn cho phương pháp chôn lấp (như mô hình tái chế 90% rác tại Huế)…  Chúng ta đang đối mặt với BĐKH và phải khẩn trương tiến hành một cách bền vững và khoa học đối với hàng loạt các biện pháp trước mắt và lâu dài. Đây là chuyện nhãn tiền ở ngay trên đất nước ta, trong cuộc sống của tất cả nhân dân ta, chứ không phải chỉ là những nội dung sáo mòn được lặp đi lặp lại nhiều lần trên sách báo hay trên diễn đàn các cuộc hội thảo khoa học.  Nguyễn Lân Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu làm giảm nỗ lực bảo vệ đời sống biển      Nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc Đại học bang Oregon cho thấy, biến đổi khí hậu đang làm thay đổi trạng thái quen thuộc của các đại dương trên thế giới và tạo ra những môi trường mới có thể làm giảm nỗ lực bảo vệ sinh vật biển tại các khu bảo tồn biển lớn nhất thế giới.      Rùa biển ở Rạn san hô Great Barrier Reef. Ảnh: Michael Smith ITWP / Shutterstock.  “Chúng tôi đang xem xét khả năng tuyệt chủng của toàn bộ môi trường”, James Watson, phó giáo sư tại Trường Trái đất, Đại dương, và Khoa học Khí quyển thuộc Đại học bang Oregon và là đồng tác giả của bài báo mới công bố trên tạp chí One Earth, cho biết. “Ở một số nơi, môi trường mà chúng ta đang có ngày nay sẽ không còn tồn tại trong tương lai. Chúng ta sẽ không thể đến thăm hoặc trải nghiệm chúng. Đó là một tổn thất lớn về môi trường, văn hóa và kinh tế mà không gì có thể bù lại được”.  Phân tích của các nhà nghiên cứu về các kịch bản khí hậu cho thấy: 60% đến 87% đại dương dự kiến ​​sẽ trải qua các thay đổi sinh học và hóa học vào năm 2060, chẳng hạn như nhiệt độ nước tăng lên, nồng độ axit cao hơn và thay đổi nồng độ oxy; tỷ lệ biến đổi dự kiến ​​sẽ còn cao hơn, 76% đến 97%, ở các khu bảo tồn biển rất lớn như Công viên Rạn san hô Great Barrier Reef ở Australia và Khu bảo tồn biển Galapagos ở Ecuador; dự kiến độ pH sẽ sớm gia tăng vào năm 2030. Quá trình axit hóa đại dương sẽ làm giảm lượng carbonat trong nước biển – thứ cần thiết cho các sinh vật biển (chẳng hạn như san hô và động vật thân mềm như hàu) phát triển vỏ và bộ xương của chúng.  Các khu bảo tồn ‘đánh mất’ sinh vật cần bảo tồn  “Các đặc tính như nhiệt độ, nồng độ axit và oxy xác định một phần diện mạo nhất định của đại dương. Đối với cả tôi và James, đại dương nơi chúng tôi đã lớn lên có lẽ sẽ chỉ còn trong ký ức và không tồn tại nữa khi đến đời con cháu chúng tôi”, Steven Mana’oakamai Johnson, tác giả chính của nghiên cứu chia sẻ về ý tưởng bắt đầu bài báo.  Lấy trạng thái đại dương trong 50 năm qua làm thước đo độ ổn định, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một số mô hình khí hậu để xem sáu biến ảnh hưởng đến trạng thái đại dương có thể thay đổi như thế nào khi hành tinh ấm lên. Họ đã sử dụng ba kịch bản nóng lên với mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng. “Trong cả ba kịch bản, trạng thái ở hơn một nửa đại dương sẽ khác biệt đáng kể so với những trạng thái đã xảy ra trong 50 năm qua.”, Johnson cho biết.  Phần lớn sự thay đổi xảy ra ở hai thái cực của đại dương: vùng nhiệt đới và vùng Bắc Cực. Không chỉ những nơi ấm áp nhất mới xảy ra ​​tình trạng ấm lên, mà cả những nơi lạnh nhất, như Bắc Cực, cũng không còn lạnh như trước nữa. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng hầu hết những thay đổi đó sẽ xảy ra vào năm 2060, mặc dù hầu hết sự thay đổi về độ pH, hoặc nồng độ axit, dự kiến ​​sẽ xảy ra sớm hơn nhiều vào cuối thập kỷ này.  Các nhà khoa học cũng nhận thấy sự thay đổi rõ rệt hơn đối với các khu bảo tồn biển lớn (cụ thể là 28/29 khu) – nơi được thiết kế để bảo tồn các loài bị đe dọa và các môi trường sống quý hiếm như các rạn san hô trên khắp thế giới. Khi điều kiện đại dương thay đổi, các loài động vật trong các khu bảo tồn đó có khả năng tìm kiếm những địa điểm khác thuận lợi hơn cho việc sinh tồn của chúng.  Theo Johnson, phát hiện này đã vẽ ra bức tranh tương lai về những gì có thể xảy ra khi hành tinh tiếp tục ấm lên. Nghiên cứu cũng cung cấp thông tin quan trọng cho các cộng đồng, các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý khu bảo tồn về cách mà trạng thái đại dương có thể thay đổi và làm thế nào để giải quyết những thay đổi đó.  “Ví dụ, cá ngừ phát triển mạnh trong một số điều kiện đại dương. Nếu nước biển quá ấm, cá ngừ có thể di chuyển đến khu vực khác”, Johnson nói. “Nếu đất nước của bạn phụ thuộc vào cá ngừ để làm thực phẩm hoặc sinh kế, thì điều đó sẽ gây ra hậu quả gì? Hoặc nếu bạn là người quản lý một khu bảo tồn, và bạn đang bảo vệ một loài không còn trong khu vực đó, bạn sẽ làm gì?”□  Hà Trang dịch  https://phys.org/news/2021-11-climate-familiar-environments-undermine-efforts.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu: Mối đe dọa lớn nhất      Cả nhân loại đang tận mắt chứng kiến những tác động khốc liệt của ​​biến đổi khí hậu. Nhiệt độ trung bình tăng liên tục đã gây ra các vụ cháy rừng ngày càng dữ dội, chưa kể bão và các thảm họa khác mà giờ đây chúng ta không thể lơ là được nữa. Trong khi thế giới đang chìm trong một đại dịch chết người, các nhà khoa học lại gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng biến đổi khí hậu vẫn là mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe con người từ trước tới giờ.       Ở Chandigarh, Ấn Độ, công nhân đang cần mẫn phun thuốc diệt muỗi để ngăn ngừa sự lây lan bệnh của sốt xuất huyết, sốt rét. Nguồn ảnh: Ajay Verma/Reuters.  Gần đây nhất, vào tháng tám – khi cháy rừng hoành hành ở Hoa Kỳ, châu Âu và Siberia – Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới Tedros Adhanom Ghebreyesus cho biết: “Đứng cạnh những rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra, những nguy cơ do một bệnh đơn lẻ nào đó mang lại trông thật nhỏ bé”.  Ngay sau đó, ngày 5/9, hơn 200 tạp chí y khoa đã phát hành một bài xã luận chung chưa từng có nhằm thúc giục các nhà lãnh đạo thế giới hành động. “Bằng chứng khoa học là không thể chối cãi”. Họ viết. “Nhiệt độ toàn cầu tăng trên 1,5°C so với mức trung bình thời kỳ tiền Công nghiệp, cộng với sự mất mát liên tục của đa dạng sinh học sẽ có nguy cơ gây tác hại thảm khốc đối với sức khỏe, và điều này không thể đảo ngược được”.  Bất chấp những nguy hiểm cấp bách do COVID-19 gây ra, các tác giả của bài báo cho rằng các chính phủ thế giới “không thể đợi đại dịch qua đi để nhanh chóng giảm lượng khí thải”. Thay vào đó, họ lập luận rằng mọi người phải đối phó với biến đổi khí hậu với mức độ khẩn cấp giống như khi ứng phó với COVID-19.  Dưới đây là những cách mà biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn — bao gồm một số tác động ít rõ ràng hơn nhưng vẫn âm thầm xảy ra — và những lý do tại sao các nhà khoa học lại cho rằng vẫn chưa quá muộn để ngăn chặn thảm họa.  Ô nhiễm không khí  Biến đổi khí hậu là do sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong bầu khí quyển của Trái đất, chủ yếu là do khí thải nhiên liệu hóa thạch. Nhưng việc đốt nhiên liệu hóa thạch cũng có thể gây ra những hậu quả trực tiếp đối với sức khỏe con người. Thật vậy, không khí ô nhiễm có chứa các hạt nhỏ có thể gây đột quỵ và đau tim bằng cách xâm nhập vào phổi và tim, thậm chí đi vào máu. Những hạt này có thể gây hại trực tiếp đến các cơ quan hoặc gây ra phản ứng viêm, xảy ra khi hệ thống miễn dịch của chúng ta đang cố gắng chống lại chúng. Các ước tính cho thấy ô nhiễm không khí gây ra khoảng từ 3,6 triệu đến 9 triệu ca tử vong sớm mỗi năm.    Một gia đình đang ăn tối trong ngôi nhà ngập lụt của họ ở Trung Java, Indonesia. Trong hơn 40 năm, họ đã chứng kiến ​​ruộng đất sản xuất nông nghiệp của mình ngập dần dưới mực nước biển. Để đối phó, họ phải tự nâng cao dần mọi thứ trong nhà. Ảnh: National Geographic.   Andy Haines, giáo sư nghiên cứu về thay đổi môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Trường Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London, đồng thời là tác giả của cuốn sách Sức khỏe Hành tinh (Planetary Health) được xuất bản gần đây, cho biết: “Các con số có khác nhau. Nhưng tất cả đều cùng chỉ ra rằng (biến đổi khí hậu) là một gánh nặng lớn cho sức khỏe cộng đồng”.  Kari Nadeau, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dị ứng và Hen suyễn tại Đại học Stanford, cho biết: những người trên 65 tuổi dễ chịu tác động của ô nhiễm không khí nhất, nhưng những người khác cũng có nguy cơ mắc bệnh. Những người hút thuốc lá hoặc vape (thuốc lá điện tử) có nhiều nguy cơ hơn, và trẻ em mắc bệnh hen suyễn cũng vậy.  Ô nhiễm không khí cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho những người bị dị ứng. CO2 làm tăng tính axit của không khí, khiến cho phấn hoa từ thực vật thoát ra ngoài nhiều hơn. Đối với một số người, điều này có nghĩa là họ phải đối mặt với những cơn dị ứng theo mùa dai dẳng gây khó chịu. Nhưng đối với một số người khác, nó có thể nguy hiểm đến tính mạng.  Nadeau nói: “Đối với những người đã mắc bệnh đường hô hấp, đây thực sự là một vấn đề. Khi phấn hoa xâm nhập vào đường hô hấp, cơ thể sẽ tạo ra chất nhầy để tống khứ chúng ra ngoài, sau đó chất này có thể đầy và làm phổi bị ngạt thở.  Ngay cả những người khỏe mạnh cũng có thể phải chịu hậu quả tương tự nếu nồng độ phấn hoa đặc biệt cao. Vào năm 2016, tại bang Victoria của Úc, một cơn giông bão nghiêm trọng kết hợp với lượng phấn hoa lớn đã gây ra điều mà tờ báo The Lancet mô tả như “cơn dịch hen suyễn do giông bão lớn nhất và thảm khốc nhất trên thế giới.” Nhiều cư dân bị lên cơn suyễn đến nỗi các phòng cấp cứu bị quá tải – và kết quả là ít nhất 10 người đã chết.      Các tác động của biến đổi khí hậu không xảy ra riêng lẻ. Tại bất kỳ thời điểm nào, một cộng đồng có thể cùng một lúc phải đối mặt với ô nhiễm không khí, mất an ninh lương thực, dịch bệnh và nhiệt độ cực cao.      Biến đổi khí hậu cũng đang khiến các trận cháy rừng trở nên tồi tệ hơn, và khói thoát ra từ các trận cháy đó đặc biệt độc hại. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, hỏa hoạn có thể phải chịu trách nhiệm cho 25% sự ô nhiễm không khí nguy hiểm ở Hoa Kỳ. Nadeau giải thích rằng khói từ vụ cháy có mang theo mọi thứ mà ngọn lửa chạm vào trên đường đi của nó – từ lốp xe cao su đến các hóa chất độc hại. Những hạt này rất nhỏ và có thể thâm nhập sâu hơn vào phổi và các cơ quan trong cơ thể người.  Sóng nhiệt  Sóng nhiệt (sóng nhiệt là hiện tượng thời tiết nóng bất thường diễn ra trong một khoảng thời gian kéo dài, có thể đi kèm với độ ẩm cao) có thể gây tử vong, tuy nhiên ban đầu các nhà nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa biến đổi khí hậu và những tác động tiêu cực của sóng nhiệt, hay các hiện tượng thời tiết cực đoan khác. Giờ đây càng ngày chúng ta càng có thêm nhiều những bằng chứng, thông qua có một số nghiên cứu đáng tin cậy cho thấy đã có thể xác định được hệ quả sức khỏe khi biến đổi khí hậu xảy ra.    Những người lao động vất vả mưu sinh dưới cái nắng như thiêu đốt tại một cánh đồng cà chua ở Los Baños, California. Nhiệt độ tăng cao không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động của người dân, mà nền nông nghiệp ở California cũng đang trong tình trạng phải đối mặt với hạn hán. Ảnh: Sciencefile.   Gần đây, một nghiên cứu được công bố vào đầu năm nay trên tạp chí Nature Climate Change cho thấy hơn một phần ba số ca tử vong liên quan đến nhiệt độ là do biến đổi khí hậu. Tờ National Geographic đã báo cáo vào thời điểm đó, có nghiên cứu cho thấy số người tử vong thậm chí còn cao hơn ở một số quốc gia ít sử dụng điều hòa không khí hay những yếu tố khác khiến con người dễ bị ảnh hưởng bởi sức nóng. (Biến đổi khí hậu đang làm cho các đợt nắng nóng ngày càng nguy hiểm hơn).  “Đó là bởi vì cơ thể con người không được sinh ra để chống chọi với nhiệt độ trên 98,6°F (tương đương 370C)”, Nadeau nói. Nhiệt độ cao có thể làm suy nhược cơ bắp. Cơ thể có một số cách để đối phó với cái nóng – chẳng hạn như đổ mồ hôi. “Nhưng khi nhiệt độ ngoài trời tăng cao, cơ thể của bạn không thể chịu đựng được, khi đó các cơ và tế bào tim của bạn bắt đầu chết dần và thoái hóa theo đúng nghĩa đen,” cô giải thích.  Mất nước do tiếp xúc với nhiệt cũng có thể gây ra những thương tổn nghiêm trọng cho thận, cơ quan rất cần nước để hoạt động bình thường. Đối với những người đã bắt đầu suy thận – đặc biệt là người lớn tuổi – Nadeau nói rằng nhiệt độ quá cao có thể là một bản án tử hình. “Điều này đang xảy ra ngày một nhiều hơn,” cô cho biết.  Các nghiên cứu cũng rút ra được mối liên hệ giữa nhiệt độ cao, sinh non và cả các biến chứng thai kỳ khác. Nguyên nhân còn chưa rõ, nhưng theo Haines có một giả thuyết cho là nhiệt độ quá cao làm giảm lưu lượng máu đến thai nhi.  An ninh lương thực  Một trong những cách gián tiếp – nhưng không kém phần nguy hại – mà biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe là gây ra sự gián đoạn nguồn cung thực phẩm của thế giới.  Biến đổi khí hậu vừa làm giảm lượng thực phẩm sẵn có vừa làm cho thực phẩm suy giảm chất dinh dưỡng. Theo báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), năng suất cây trồng đã bắt đầu giảm do nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt khác. Trong khi đó, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lượng CO2 tăng lên trong khí quyển có thể làm mất đi các chất kẽm, sắt và protein của thực vật – những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người.    Bắc Kinh, Trung Quốc ngày càng phải đối mặt với ô nhiễm đến từ những cơn bão cát theo mùa. Các nhà khoa học tin rằng sa mạc hóa và biến đổi khí hậu đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới tần suất và mức độ của bão cát. Trung Quốc đang cố gắng phục hồi hệ sinh thái rừng để góp phần ngăn chặn các cơn gió bụi cát tràn vào thủ đô. Nguồn ảnh: Reuters.  Suy dinh dưỡng cũng liên quan đến nhiều loại bệnh tật, bao gồm bệnh tim, ung thư và tiểu đường. Nó cũng có thể làm tăng nguy cơ còi xương hoặc suy giảm tăng trưởng, thậm chí còn có thể gây hại cho chức năng nhận thức ở trẻ em.   Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến thủy hải sản. Các nghiên cứu mới đây nhất cho thấy, nhiệt độ đại dương tăng đã khiến nhiều loài cá di cư về hai cực của Trái đất để tìm kiếm vùng nước mát mẻ hơn, dẫn đến việc giảm trữ lượng cá ở các vùng cận nhiệt đới. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu của Đại học British Columbia phát hiện ra rằng số lượng lớn trong số 968 loài cá và động vật không xương sống mà họ khảo sát đã bỏ đi khỏi vùng nước ấm.   Tiff-Annie Kenny, giáo sư khoa y tại Đại học Laval ở Quebec, người nghiên cứu về biến đổi khí hậu và an ninh lương thực ở Bắc Cực thuộc Canada cho biết: tác động này có khả năng gây hại đặc biệt cho các cộng đồng cư dân bản địa. Vì những cộng đồng này khó khăn hơn nhiều để tìm các nguồn protein thay thế bởi vì ngày càng thiếu thốn hoặc mua thì lại quá đắt đỏ. Một câu hỏi được đặt ra “Vậy mọi người sẽ ăn gì để thay thế?”   Sức khỏe tâm thần  Một trong những kết quả thường thấy của bất kỳ thảm họa liên quan đến khí hậu nào chính là những ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Những vấn đề tâm lý liên quan đến sự thay đổi mạnh mẽ của môi trường đáng kể đến mức chúng đã được đặt tên riêng – solastalgia.  Nadeau cho rằng những ảnh hưởng đối với sức khỏe tâm thần đã được thể hiện rõ ràng trong các nghiên cứu của bà sau những lần vào phòng cấp cứu do cháy rừng ở miền Tây Hoa Kỳ. “Một trong những vấn đề cấp bách và đang phát triển nhanh nhất chính là tâm lý. Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như cháy rừng và bão gây ra rất nhiều căng thẳng và lo lắng, chúng có thể dẫn đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương và thậm chí tự tử sau này”.    Bức ảnh siêu thực này là trang trại diện mặt trời lớn nhất thế giới ở Mojave, California. Chính quyền Biden đã công bố kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất và lắp đặt các tấm pin mặt trời để đáp ứng năng lượng mặt trời góp phần từ 3% sản lượng điện của quốc gia sẽ lên 45% trong ba thập kỷ tới để giảm lượng khí thải carbon. Nguồn ảnh: energy.gov.  Một yếu tố phổ biến khác chính là việc biến đổi khí hậu gây ra tác hại không hề cân xứng: chính những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới là những người phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất. Vào ngày 2/9, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) đã đưa ra một phân tích cho thấy các cộng đồng thiểu số có nguy cơ bị ảnh hưởng đặc biệt. Theo báo cáo, nếu nhiệt độ tăng thêm 2°C (3,6° F), thì nguy cơ người da đen có khả năng sống ở những khu vực có số ca tử vong liên quan tới biến đổi khí hậu, tăng lên đến 40%, nguy cơ sống ở khu vực gia tăng đáng kể bệnh hen suyễn ở trẻ em tăng lên 34%.   Vấn đề là các tác động của biến đổi khí hậu không xảy ra riêng lẻ. Tại bất kỳ thời điểm nào, một cộng đồng có thể cùng một lúc phải đối mặt với ô nhiễm không khí, mất an ninh lương thực, dịch bệnh và nhiệt độ cực cao. Điều đó đặc biệt tàn khốc ở các cộng đồng nơi tỷ lệ mất an ninh lương thực và nghèo đói vốn đã ở mức cao. Tình huống này chưa được nghiên cứu đầy đủ bởi vì “rất khó để nắm bắt những cú sốc mà biến đổi khí hậu có thể mang lại”.  Vẫn còn lý do để hy vọng  Trong Thỏa thuận Paris, các quốc gia trên thế giới đã cam kết hạn chế sự nóng lên toàn cầu xuống dưới 2°C (3,6°F) —và tốt nhất là 1,5°C (2,7°F) —bằng cách cắt giảm lượng khí thải của họ. Haines khẳng định: “Khi bạn cắt giảm lượng khí thải, cả sức khỏe của chính bạn cũng như của hành tinh này sẽ được cải thiện”.  Trong khi đó, các nhà khoa học và các nhà hoạt động môi trường đã đưa ra các giải pháp có thể giúp con người thích ứng với những tác động xấu đến sức khỏe của biến đổi khí hậu. Chúng bao gồm cảnh báo nhiệt sớm, trung tâm làm mát chuyên dụng, chuỗi cung ứng linh hoạt hơn và cuối cùng là việc giải phóng các cơ sở y tế khỏi sự phụ thuộc vào lưới điện.  Nadeau cho rằng đại dịch COVID-19 cũng tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo thế giới suy nghĩ xa hơn, có chiến lược hơn. Ví dụ, đại dịch đã đặt ra các vấn đề vốn vô cùng phức tạp về hiệu quả và công bằng, khiến nhiều quốc gia phải tái cơ cấu các cơ sở chăm sóc sức khỏe của họ. Ngoài ra trong quá trình này, họ có thể tìm kiếm những cách mới để giảm thiểu chất thải và khí thải, chẳng hạn như việc khuyến khích nhiều bệnh viện sử dụng năng lượng tái tạo.  Nadeau kết luận: “Việc này hoàn toàn do chúng ta quyết định. Nếu chúng ta không làm bất cứ điều gì, đây thực sự sẽ trở thành một trận đại hồng thủy”.□  Hạnh Duyên dịch   Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/science/article/why-climate-change-is-still-the-greatest-threat-to-human-health    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu nghiêm trọng, giới chính trị hành động “như rùa”      Vừa qua, tại thủ đô nước Kênia, 6000 đại diện các chính phủ, các tổ chức kinh tế và bảo vệ môi trường, kể cả nhiều nhà khoa học, nhà báo từ mọi miền của hành tinh xanh đã đến dự Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu. Hội nghị này bao gồm mít tinh thứ 12 của 189 nước ký kết Hiệp định khung về Khí hậu (COP 12), phiên họp thứ hai của các bên tham gia Nghị định thư Kyôtô (COP/MOP 2) và nhiều phiên họp khác của các ủy ban phụ trách việc tư vấn khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng các điều khoản của hiệp định vào thực tế v.v.    Con đường chông gai của việc bảo vệ khí hậu  Từ mấy thập kỷ nay, nhiệt độ trung bình trên trái đất tăng lên, mang lại nhiều hậu quả hết sức tai hại: bão lụt, hạn hán xảy xa thường xuyên, các vùng khí hậu cũng như các mùa trong năm bị xô lệch, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp và đa dạng sinh học. Đại đa số các nhà khoa học đều nhất trí rằng các hiện tượng ấy có nguyên nhân là hiệu ứng nhà kính: khí cacbônic do con người thải ra ngày càng nhiều đã trở thành một lớp bao phủ trái đất; quang nhiệt khi đến mặt đất, bị lớp khí ấy giữ lại như trong nhà kính, không thể phản xạ trở lại vũ trụ, nên nhiệt độ không ngừng tăng trên phạm vi toàn cầu. Trước hiểm họa đối với môi trường và sự phát triển của loài người, năm 1992 đại diện các chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ đã họp hội nghị do Liên Hiệp Quốc (LHQ) triệu tập tại Rio de Janeiro để bàn luận phương cách phòng chống. Hội nghị đã thông qua một hiệp định khung và Chương trình Nghị sự 21 với các mục tiêu phát triển bền vững, nghĩa là có hiệu quả kinh tế lâu dài, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Hiệp định khung của LHQ về Thay đổi Khí hậu (UNFCCC) nêu mục tiêu: “ổn định nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính ở mức […] các hệ thống sinh thái có thể thích ứng với những thay đổi khí hậu một cách tự nhiên, sản xuất lương thực không bị đe dọa và kinh tế có thể tiếp tục phát triển theo phương hướng bền vững”. Chương trình Nghị sự 21 bao gồm 2.500 khuyến nghị hành động trong thế kỷ mới.  Những năm sau đó, thêm chín hội nghị khí hậu diễn ra với những cuộc thương lượng dai dẵng để cụ thể hóa hiệp định khung, qui định số lượng khí cacbônic (CO2) phải giảm cho từng quốc gia, từng vùng cũng như các biện pháp và phương thức giảm thải. Quan trọng nhất là hội nghị Kyôtô năm 1997. Theo Nghị định thư Kyôtô, tới năm 2012, có 35 nước công nghiệp phải hạ tổng cộng 5,2% lượng khí CO2 do họ thải ra so với năm 1990. Trong ba cơ chế của Nghị định thư, đặc biệt có Cơ chế Sản xuất sạch (Clean Development Mechanism, CDM) cho phép các doanh nghiệp ở các nước công nghiệp cân đối lượng khí thải phải giảm của mình bằng cách đầu tư vào các dự án phát triển bền vững của những nước nghèo. Điều kiện để Nghị định thư có hiệu lực không dễ đáp ứng vì Mỹ là nước thải nhiều C02 nhất (khoảng 24% tổng số lượng của toàn thế giới) lại không chịu thông qua, mặc dù chính quyền họ đã ký. Nga mặc cả kỳ kèo mãi tới tháng 11 năm 2004 mới phê chuẩn. Nhờ vậy, Nghị định thư Kyôtô bắt đầu có hiệu lực vào ngày 16/2/2005.  Nếu Hiệp định khung Rio với các khuyến nghị hành động chỉ có tính cách chính trị, Nghị định thư Kyôtô có thêm ràng buộc nói trên đối với 35 nước công nghiệp. Nhưng việc bảo vệ khí hậu sẽ ra sao sau khi Nghị định thư hết hiệu lực vào năm 2012? Liệu mức giảm khí CO2 do nó qui định trong khoảng thời gian tương đối ngắn ấy có làm cho khí hậu trái đất ổn định hơn chút nào hay không?  Thời gian sau đó, nhiều biến động thời tiết với cường độ chưa từng thấy đã xảy ra. Ngay cả ở vùng ôn đới, trong những năm gần đây, lũ lụt, bão tố cũng gây nên những thiệt hại vô cùng to lớn. Điển hình là cơn bão Katrina cuối tháng 8 năm 2005 đã tàn phá các bang New Orleans, Mississipi và Alabama, gây tổn thất nặng nề nhất từ trước đến nay trong lịch sử Hoa Kỳ: hơn 1.800 người thiệt mạng và thiệt hại vật chất lên tới 84 tỉ đô la Mỹ. Băng giá ở các vùng cực tan nhanh, đe dọa nhận chìm nhiều đảo Thái Bình Dương và các khu vực thấp ven biển. Đồng thời, một số công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học về môi trường, nhất là báo cáo thứ ba của Ủy ban liên chính phủ về Thay đổi khí hậu (IPCC) công bố năm 2001 đã cung cấp những bằng chứng về tác động nguy hiểm của hiệu ứng nhà kính do con người gây nên. Tại nước ta, hình như chưa có nghiên cứu đáng kể nào về thay đổi khí hậu, nhưng các trận lũ lụt năm 1999 ở miền Trung và năm 2000 ở đồng bằng sông Cửu Long cũng như các cơn bão năm 2003 và vừa mới đây (lại ở miền Trung!) có thể được xem là những hậu quả hiển nhiên.  Rõ ràng hệ thống khí hậu đã thay đổi nhanh hơn như người ta thường nghĩ trước đây. Vì vậy, thế giới cần nhiều hơn nhiều so với những gì đạt được qua Nghị định thư Kyôtô.  Tháng 12 năm 2005, sau cuộc thương thảo gay go kéo dài hai tuần lễ, 157 nước tham dự Hội nghị thượng đỉnh ở Montreal đã ra nghị quyết tiếp tục ứng dụng Nghị định thư Kyôtô trong giai đoạn sau năm 2012 (giai đoạn 2) và mở những cuộc thương lượng mới trong năm 2006 nhằm xác định các mục tiêu bảo vệ khí hậu trong tương lai. Hội nghị cũng nhất trí sẽ lập quĩ dành cho những biện pháp thích ứng, chẳng hạn như xây đắp đê phòng hộ, để giúp đỡ các nước phát triển khắc phục thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Tuy nhiên, các nước đang phát triển không chịu cam kết giảm bớt lượng khí CO2 của họ, bởi vì theo Nghị định thư Kyôtô, “phần lớn lượng khí gây hiệu ứng nhà kính thải ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại có nguồn gốc từ các nước phát triển, lượng khí thải tính theo đầu người ở các nước đang phát triển còn tương đối thấp và phần khí thải của các nước đang phát triển sẽ được tăng lên để đáp ứng các yêu cầu phát triển và xã hội của họ”. Còn Hoa Kỳ từ chối trách nhiệm giảm khí thải, vì theo quan điểm của họ, việc ấy có hại cho nền kinh tế, nhất là khi các nước đang phát triển cũng không cam kết giảm. Thật đúng là anh trọc phú lại so bì với bần cố nông! Dư luận cho rằng thái độ tiêu cực của Mỹ có liên quan đến một bộ phận lãnh đạo của họ vốn xuất thân từ ngành dầu khí. Ngược lại, Liên minh Châu Âu (LMCA) đã đưa ra nhiều sáng kiến đáng được thảo luận, chẳng hạn như đề nghị giới hạn mức tăng nhiệt độ trung bình trên thế giới dưới hai độ so với nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp (thế kỷ 19).    Những kẻ thừa cơ nước đục thả câu  Do hiểu biết về nguyên nhân của những hiện tượng thời tiết thái quá, người ta ngày càng thấy cần phải giảm thải các khí gây hiệu ứng nhà kính hơn, nhất là khí cacbônic. Khí này chủ yếu phát sinh từ quá trình sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch như dầu lửa, khí đốt, than đá cho việc vận chuyển, sản xuất điện và các hoạt động công nghiệp. Nguyên liệu hóa thạch lại sẽ cạn kiệt trong vòng 50-70 năm nữa. Lợi dụng tình trạng ấy, từ năm 2004 đến nay, ngành năng lượng nguyên tử cùng với các nhóm vận động đầy thế lực đã mở chiến dịch rộng khắp thế giới hầu khôi phục lại vị thế điện hạt nhân sau một thời gian trầm xuống. Cốt lõi của chiến dịch ấy là Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Ngay cả tại Hội nghị Montreal, người ta cũng viện lý do bảo vệ khí hậu để đưa năng lượng hạt nhân vào cuộc thảo luận. Và mới đây, vài ngày trước Hội nghị Nairôbi, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhân dịp phát hành cuốn “Triển vọng Năng lượng Thế giới 2006” đã tuyên bố rằng năng lượng nguyên tử có tiềm năng góp phần cơ bản vào việc bảo vệ khí hậu. Như vậy, trong bối cảnh khí hậu trái đất bắt đầu thay đổi, điện hạt nhân không những rẻ, an toàn mà còn sạch và có khả năng giải quyết vấn đề năng lượng nữa! Những điều sai sự thật đó đã bị phản bác bởi các chuyên gia hàng đầu trong ngành điện như Phạm Duy Hiển, Nguyễn Khắc Nhẫn hay chuyên gia môi trường Hermann Scheer và nhiều nhà khoa học khác.   Về lâu về dài, chúng ta chỉ có thể giải quyết vấn đề năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng các nguồn năng lượng tái tạo (còn gọi là năng lượng hoàn nguyên) kết hợp với việc sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Theo những người ủng hộ điện nguyên tử, năng lượng tái tạo không đủ để dùng, hoặc tốn kém quá, hoặc quá trình xây dựng dài quá. Những lời khẳng định ấy đều không đúng, nhưng tôi sẽ đào sâu ở một bài khác. Trong phạm vi bài này, chỉ xin lưu ý: cả trong lĩnh vực năng lượng hoàn nguyên cũng có chuyện vàng thau lẫn lộn. Chẳng hạn như công ty năng lượng khổng lồ RWE và một số nhà máy điện ở Châu Âu với các dự án sản xuất điện bằng diesel chế biến từ dầu cọ. Ai cũng biết rằng dầu cọ chủ yếu được nhập từ Malaixia và Inđônêxia, và cho tới nay, gần năm triệu hecta rừng nguyên sinh ở hai đảo Sumatra và Borneo đã bị thiêu hủy để trở thành những đồn điền trồng cọ khổng lồ. Không kể đến việc di dời hàng ngàn người dân bản địa và triệt tiêu đa dạng sinh học, những đồn điền độc canh như thế chỉ có sức hấp thụ CO2 bằng khoảng 1% sức hấp thụ của rừng nhiệt đới. Diesel qua quá trình sản xuất đó không được phép dán nhãn hiệu “diesel sinh học”. Ngược lại, là diesel chế biến từ dầu ăn cũ do nhà hàng và các hộ tư nhân thải ra.  Trong kho tàng sử thi của các dân tộc Tây Nguyên có chuyện anh hùng Đam San đi bắt nữ thần mặt trời để trở thành người tù trưởng giàu có. Tôi ước mong trong thời đại mới, ở nước ta sẽ xuất hiện nhiều Đam San có tâm hồn trẻ trung, trong sáng và tài ba, dùng khoa học kỹ thuật hiện đại “bắt” gió, mặt trời, thủy triều, địa nhiệt và sinh khối làm giàu cho bản thân và cho quê hương mình. Những dự án như chiếc xe điện chạy bằng năng lượng mặt trời do nhóm sinh viên khoa Cơ khí Đại học Cần Thơ chế tạo gần đây cho tôi niềm hy vọng mơ ước ấy sẽ có lúc trở thành hiện thực.  Diễn tiến tại Hội nghị Nairôbi  Trước thềm hội nghị, cố vấn chính phủ Anh Nicolas Stern, nguyên là chuyên gia kinh tế chính của Ngân hàng Thế giới, đã gây tiếng vang khi thông báo kết quả nghiên cứu của mình về phí tổn phải chi cho những thiệt hại do sự biến đổi khí hậu gây nên: trong vòng 10-15 năm nữa, nếu con người vẫn bó tay thụ động, khoảng 20% thành quả kinh tế toàn cầu sẽ tiêu tan, hơn cả thiệt hại do khủng hoảng kinh tế cuối những năm 20 của thế kỷ trước gây nên. Ngược lại, chỉ cần chi 1% tổng sản phẩm xã hội cho việc bảo vệ khí hậu, thế giới đã có thể tránh được điều xấu nhất. Nhiều chuyên gia môi trường cho rằng đánh giá của Stern còn quá thấp. Tuy nhiên, tỉ lệ giữa hai con số ấy đủ để bác bỏ luận điệu của chính quyền Bush, đồng thời khuyến cáo các nước công nghiệp hỗ trợ cho các nước nghèo trong việc phòng chống thiên tai và thích ứng với thực tế khí hậu đã bắt đầu thay đổi. Theo Ban Thư ký UNFCCC, các nước phát triển cần phải có năng lực thể chế và tiền viện trợ cần thiết để có thể tham gia vào việc bảo vệ khí hậu toàn cầu được.  Trong diễn văn khai mạc hội nghị, Chủ tịch Kivutha Kibwana, Bộ trưởng Bộ Môi trường Kênia, tuyên bố: “Sự thay đổi khí hậu đang nhanh chóng trở thành một trong những đe dọa nghiêm trọng nhất mà loài người đối đầu từ trước đến nay. […] Những thắng lợi gần đây trong việc giảm nghèo sẽ bị đảo ngược trong những thập kỷ sắp tới, nhất là đối với các cộng đồng nghèo nhất ở châu Phi”. Chủ tịch Kibwana kêu gọi các bên tham dự hội nghị cộng tác với nhau để bảo đảm có được hành động thật sự trong việc thích ứng với những thay đổi của khí hậu.  Nhiều sáng kiến, gợi ý được đưa ra thảo luận tại hội nghị. Đặc biệt có đề nghị đánh thuế cacbônic trên toàn cầu của cựu Tổng thư ký LHQ Kofi Annan. “Bằng cách ấy, chúng ta có thể giảm bớt sự bất công: những người cho tới nay ít góp phần làm biến đổi khí hậu nhất lại đang phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất”. Ông Annan cũng phê bình sự thiếu tận tâm của nhiều nhà chính trị và nhắc nhở các chính phủ đã đến lúc phải nghiêm túc trong cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu. Ông nói: “Sự thay đổi khí hậu trên toàn thế giới là một trong những thử thách lớn nhất ở thời đại của chúng ta.[…] Nếu chúng ta thất bại, con cháu chúng ta sẽ phải trả giá cho việc ấy”. Các đại biểu cũng đánh giá cao ý tưởng trồng một tỉ cây của bà Wangari Maathai, người đoạt giải Nobel Hòa bình 2004, và ý tưởng ấy đã được Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) biến thành cuộc vận động sâu rộng.  Cho tới giờ phút cuối, các đại biểu đã tranh luận gay gắt về những chi tiết ít nhiều quan trọng. Chẳng hạn như phải thẩm tra hiệu quả của Nghị định thư như thế nào, cho đến bao giờ thì kết thúc… Cũng như trong những hội nghị trước, các nước đang phát triển khước từ mọi cam kết giảm thải khí CO2. Thái độ ấy có thể hiểu được vì các nước công nghiệp phải chịu trách nhiệm cao nhất về hiệu ứng nhà kính chủ yếu do họ gây ra. Trong khi đó lại khó có thể đạt được thành quả đáng kể nào trong việc bảo vệ khí hậu nếu không có sự tham gia của Mỹ, nước đã thải gần một phần tư lượng cacbônic của cả thể giới. Sự thiếu đoàn kết ấy thật đáng tiếc vì biến đổi khí hậu đang đe doạ mọi quốc gia nên lẽ ra tất cả các nước đều phải góp phần đối phó theo khả năng của mình.  Cuối cùng, hội nghị Nairôbi đã đạt được các thành quả chính sau đây:  – Các đại biểu thống nhất ý kiến về một số bước đi dẫn đến một hiệp định nối tiếp Nghị định thư Kyôtô, với mục tiêu giảm phân nửa lượng khí thải so với năm 1990 nhưng chưa qui định rõ thời hạn để thực hiện mục tiêu ấy.  – Hội nghị thông qua đề nghị rà soát lại Nghị định thư và kết thúc việc này vào năm 2008.  – Nguồn lệ phí thu từ các dự án CDM sẽ được dùng cho Quỹ Thích ứng (khoảng 300 triệu Euro cho tới năm 2012). Tuy nhiên, hội nghị chưa quyết định cơ quan nào sẽ quản lý quỹ ấy.  – Hai cơ quan UNEP (Chương trình Môi trường LHQ) và UNDP (Chương trình Phát triển LHQ) sẵn sàng tư vấn miễn phí cho các nước nghèo, nhất là các nước Châu Phi (tới nay chỉ có vài dự án trong số 375 dự án CDM được đăng ký) trong việc tham gia chương trình Cơ chế Sản xuất sạch.  – Trong ngày cuối của Hội nghị Thượng đỉnh, Liên Minh Châu Âu đã lập thêm quỹ mới để giúp các nước châu Phi thực hiện những dự án bền vững, chẳng hạn như điện khí hoá những làng chưa có lưới điện hay cung cấp tín dụng vi mô cho các nhà doanh nghiệp châu Phi hoạt động trong ngành năng lượng tái tạo.  Như vậy, mục tiêu chính của hội nghị là lập thời gian biểu và xác định các chỉ tiêu giảm thải cho giai đoạn 2 của Nghị định thư Kyôtô chưa thực hiện được. Các nước phát triển chưa tham gia vào việc giảm khí thải, còn chờ xem các nước công nghiệp có đạt được chỉ tiêu của mình hay không. Đa số các nhà bảo vệ môi trường tỏ ra thất vọng về kết quả của hội nghị. Họ cho là giới chính trị hành động chậm như rùa trong khi mối đe dọa của biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, theo tôi, thành quả đạt được đã là một bước tiến theo đường hướng đúng. Và có lẽ mọi người đều hy vọng rằng: năm 2007, mọi sự sẽ tốt đẹp hơn tại hội nghị thượng đỉnh ở Inđônêxia.  Phạm Hải Hồ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu: Nhanh, rộng, mạnh và khó lường      Vào năm 1990, các nhà khoa học của Ủy ban liên quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC) cảnh báo rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất trung bình sẽ tăng lên từ 0.3 đến 0.60C trong vòng 100 năm tới. mười năm sau, IPCC dự báo trong Báo cáo đánh giá đầu tiên rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu sẽ tăng 10C vào năm 2025 và nước biển sẽ dâng thêm 20cm vào năm 2030. Giờ đây, tình hình còn tệ hơn những gì đã thông báo trước đó.       Băng tan ở phía Đông Nam Cực. Ảnh: Reuters/Pauline Askin  Báo cáo thứ sáu do nhóm công tác số I IPCC vừa xuất bản chỉ ra rằng khí thải nhà kính từ các hoạt động của con người khiến Trái Đất nóng lên 1.10C kể từ giai đoạn 1850 – 1900. Mỗi thập kỉ trong bốn mươi năm vừa qua đều lần lượt nóng hơn các thập kỉ trước nó kể từ năm 1950. So với năm 1901, mực nước biển trung bình đã tăng 20 cm vào năm 2018. Mức tăng trung bình mực nước biển là khoảng 3.7 mm mỗi năm từ năm 2006 đến 2018. Cộng đồng khoa học hiện nay nhìn chung đã thấy rằng “Những thay đổi khí hậu đang ngày càng lan rộng, nhanh chóng, mạnh mẽ và khó lường trong hàng nghìn năm tới”.    Như bất cứ khu vực nào trên thế giới, Đông Nam Á đã chứng kiến ngày càng nhiều đợt nắng nóng cực đoan kể từ những năm 1950. Nơi này cũng đang chứng kiến sự tăng lên của những đợt mưa lớn dù chưa thể đưa ra kết luận chắc chắn do vẫn có những đợt hạn hán vì những nguyên nhân sinh thái và nông nghiệp. Nhìn vào dữ liệu và các mùa, các xu hướng về lượng mưa không rõ ràng và nhất quán theo vùng. Tuy nhiên, dù chưa biết xu hướng dài hạn rõ rệt về số lượng các cơn bão lốc nhiệt đới trên khắp Đông Nam Á, có ít cơn bão lốc nhiệt đới hơn nhưng với cường độ khủng khiếp hơn càn quét qua Philippines từ năm 1951 đến 2013.    Ở thời điểm này, nhiều thay đổi khí hậu đã không còn có thể đảo ngược. Giờ ta đã nhìn thấy chắc chắn rằng mực nước biển toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trong suốt thế kỉ 21. Tương tự như giai đoạn 1995 – 2014, khả năng cao là mực nước biển trung bình vào năm 2100 sẽ tăng khoảng 32-62 cm trong kịch bản khí thải nhà kính là thấp nhất. Trong tương lai xa hơn, mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao hàng thế kỉ cho đến hàng thiên nhiên kỉ do đáy đại dương nóng lên và băng tan. Và nó sẽ tiếp tục như vậy đến hàng nghìn năm sau.    Tuy vậy, việc giảm thiểu nhiệt độ nóng lên của Trái đất vẫn có thể làm chậm hoặc ngừng một số quá trình biến đổi khí hậu. Nhìn về tương lai, những nhà khoa học biến đổi khí hậu đưa ra năm kịch bản trong đó có ba kịch bản chính là:    Kịch bản khí thải nhà kính thấp được gọi là SSP1-2.6. Theo đó, khí thải bắt đầu có xu hướng giảm dần trước năm 2025, và trở về 0 trước năm 2075 và sau đó là âm.    Kịch bản khí thải nhà kính ở mức trung bình gọi là SSP2-4.5. Mức khí thải bắt đầu được kìm hãm từ bây giờ và ngừng tăng vào năm 2035, bắt đầu giảm kể từ năm 2055 và đạt mức bằng 25% với mức khí thải hiện nay vào cuối thế kỉ 21.    Kịch bản khí thải nhà kính ở mức cao gọi là SSP3-7.0. Trong trường hợp này, lượng khí thải CO2 sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay vào năm 2100.          Mô phỏng của Interactive Atlas về số ngày nóng hơn 350C hằng năm ở Đông Nam Á.  Dưới tất cả các kịch bản này, nhiệt độ bề mặt Trái đất vẫn tiếp tục tăng cho đến giữa thế kỉ 21. Nhiệt độ Trái đất trung bình trong 20 năm mới được dự báo sẽ tăng hơn hoặc vượt quá 1.50C. Tuy nhiên, ước tính chính xác nhất về dài hạn là Trái đất sẽ nóng hơn 1.80C trong giai đoạn 2081-2100 trong kịch bản khí thải nhà kính thấp nhất, và con số đó sẽ là 2.70C trong kịch bản khí thải ở mức trung bình và 3.60C trong kịch bản khí thải ở mức cao.    Sự phát triển của con người hiện nay đang theo hướng kịch bản khí thải nhà kính ở mức cao SSP3-7.0. Không có dấu hiệu gì quan sát được cho thấy tốc độ tăng của nồng độ CO2 có xu hướng giảm, mặc dù lượng khí thải năm 2020 ít đi vì những biện pháp giãn cách xã hội phòng dịch COVID-19. Những biện pháp này đúng là đã giảm ô nhiễm không khí, giảm hiện tượng lạnh bất thường do các bụi khí công nghiệp gây ra. Nhưng dù vậy, những ảnh hưởng này gần như là không đáng kể.    Những nhà khoa học khí hậu ước tính một cách chắc chắn rằng sự nóng lên toàn cầu trong tương lai ở Đông Nam Á sẽ ít hơn so với mức trung bình toàn cầu. Tuy nhiên, ảnh hưởng cộng hợp của biến đổi khí hậu, của sạt lở đất và những hoạt động của con người sẽ dẫn đến lũ lụt nghiêm trọng hơn và kéo dài thời gian ngập úng ở Đồng bằng Sông Mekong.    Họ cũng khẳng định rằng mặc dù có tác động không đáng kể lên sự ấm lên của bề mặt Trái đất hằng năm, đô thị hóa khuếch đại ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu tới các thành phố. Chẳng hạn, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (hiện tượng mà đô thị ấm hơn hẳn so với các khu vực ngoại ô xung quanh) đã tăng nhiệt độ của thành phố Hồ Chí Minh lên thêm 0.410C so với các khu vực lân cận vốn đã chịu tác động của nóng lên toàn cầu. Đô thị hóa ảnh hưởng tới nhiệt độ trung bình ngày thấp nhất hằng năm hơn là nhiệt độ trung bình ngày cao nhất hằng năm. Những buổi đêm nóng kỉ lục sẽ xảy ra ngày một thường xuyên.      Ở những kịch bản lượng khí thải cao, trong giai đoạn 2081-2100, phần lớn các nước ASEAN sẽ trải qua hơn 130 ngày mỗi năm nóng trên 350C.      Lần đầu tiên, IPCC cho phép mọi người có thể truy cập online những quan sát và mô phỏng đằng sau báo cáo thông qua trang Interactive Atlas. Atlas này cho ta thấy những đánh giá chi tiết về biển đổi khí hậu trên từng vùng. Ví dụ, Ảnh 2 cho thấy tổng số ngày mỗi năm với nhiệt độ cao nhất trên 350C theo ba trường hợp khác nhau. Bảng trên cùng của bức ảnh cho thấy trong quá khứ (1961-1990), chỉ có một số ít vùng tại Việt Nam trải qua hơn 30 ngày mỗi năm trên 350C. Bảng giữa cho thấy mô phỏng của giai đoạn 2021-2040, chỉ ra rằng hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến trên khắp đất nước. Bảng cho thấy ở những kịch bản lượng khí thải cao, trong giai đoạn 2081-2100, phần lớn các nước ASEAN sẽ trải qua hơn 130 ngày mỗi năm nóng trên 350C.    Báo cáo này cũng nói rằng loài người vẫn có thể tránh được kịch bản tồi tệ nhất này. IPCC sẽ xuất bản hai tập nữa của Báo cáo đánh giá thứ Sáu vào tháng hai và tháng ba năm 2022. Báo cáo của Tổ công tác số 2 sẽ tổng quát khoa học đằng sau “Những ảnh hưởng, thích nghi và tổn thương”. Nói một cách khác, nó sẽ tiết lộ những chi tiết đau lòng về kịch bản tồi tệ nhất mà thế giới có thể sẽ trải qua. Báo cáo của Tổ công tác số 3 sẽ tập trung vào kiềm chế sự biến đổi khí hậu, đánh giá các giải pháp để giảm thiểu hoặc loại bỏ lượng khí thải nhà kính khỏi khí quyển. Nó sẽ đánh giá liệu những thay đổi hướng đến một xã hội trung hòa về carbon liệu đã đủ khẩn trương (câu trả lời là không hề) và thảo luận về những lựa chọn công nghệ, kinh tế – xã hội để thúc đẩy điều đó.    Các bằng chứng khoa học không có gì phải chối cãi. Không còn thời gian để chờ đợi hết báo cáo này đến báo cáo khác. Ngô Đức Thành, tác giả chính của báo cáo IPCC, nhấn mạnh rằng “Nếu không có những biện pháp giảm khí thải nhà kính ngay lập tức, khẩn trương và trên diện rộng, ngăn nhiệt độ nóng lên toàn cầu không vượt quá 1.50C sẽ nhanh chóng ngoài tầm với”.    Mục đích của Thỏa thuận Paris là giới hạn nhiệt độ nóng lên toàn cầu ở dưới mức 20C, tốt nhất là 1.50C, so với mức ở thời kì tiền cách mạng công nghiệp. Nhưng dưới kịch bản SSP2-4.5, có 50% khả năng là chúng ta sẽ vượt mức 20C vào khoảng năm 2050. Giờ đây ta chỉ có mỗi kịch bản SSP1-2.6 là còn ý nghĩa. Theo các tính toán khoa học, mục tiêu của Thỏa thuận Paris chỉ có thể đạt được nếu khí thải nhà kính toàn cầu bắt đầu giảm kể từ năm 2025.    Theo Báo cáo năng lượng toàn cầu của IEA năm 2021, lượng khí thải CO2 giảm 5.8% vào năm 2020 so với năm 2019, tương đương với hai tỉ tấn CO2 – mức giảm lớn nhất từ trước đến nay và gần gấp năm lần so với mức giảm của năm 2009 so với năm 2008, thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhưng không may mắn thay, IEA cũng ước tính rằng vào năm 2021, sự bùng dậy của nhu cầu đối với than, dầu và gas sẽ thúc đẩy lượng khí thải CO2 tăng 4.8% trở lại. “Đầu tư vào năng lượng sạch không chỉ đang ở mức vẫn còn xa so với những gì cần để kéo thế giới vào con đường đạt tổng lượng khí thải bằng 0 vào giữa thế kỉ. Nó còn không đủ để ngăn chặn mức phát thải toàn cầu tăng tới một mức kỉ lục mới”. – Fatih Birol, Giám đốc điều hành IEA cho biết.    Kế hoạch Khôi phục bền vững IEA 2020 tính toán rằng nếu các chính phủ huy động một nghìn tỉ USD đầu tư vào năng lượng sạch mỗi năm trong giai đoạn từ năm 2021 – 2023, họ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, tạo ra hàng triệu công việc mới và đồng thời điều khiển lượng khí thải theo con đường như cam kết của thỏa thuận khí hậu Paris: tổng khí thải bằng 0 vào năm 2050. Các chính phủ phải tăng gấp ba lần mức đầu tư hiện nay cho năng lượng sạch và mạng lưới điện. □     Hảo Linh dịch          Author                Minh Hà-Dương        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu sẽ tàn phá  thế giới ở mức độ chưa từng có      Theo báo cáo mới United in Science do các tổ chức khoa học quốc tế soạn thảo, các chính phủ và doanh nghiệp chưa thay đổi đủ nhanh để chống lại biến đổi khí hậu.     Hạn hán ở Trung Quốc, ảnh chụp vào tháng 8/2022. Ảnh: Reuters/Thomas Peter/File Photo  Các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới cho rằng chúng ta không còn nhiều cơ hội để tránh được những hiểm họa nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nhất là khi chúng ta đang thất bại trong việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và thực hiện các hành động cần thiết để ngăn chặn thảm họa toàn cầu.  Mặc dù đã liên tục tăng cường cảnh báo trong những năm gần đây, chính phủ các nước và doanh nghiệp vẫn chưa hành động đủ nhanh để giải quyết vấn đề, theo báo cáo mới được công bố của United in Science. Và hậu quả đã hiển hiện ngay trước mắt, khi số lượng những hiện tượng thời tiết cực đoan trên toàn thế giới liên tục tăng lên. Chúng ta cũng đang có nguy cơ kích hoạt các “điểm tới hạn” trong hệ thống khí hậu (đồng nghĩa với việc khí hậu sẽ biến đổi nhanh hơn, và trong một số trường hợp, sự biến đổi này không thể đảo ngược được nữa).  Trận lụt gần đây ở Pakistan – một sự kiện đã nhấn chìm một phần ba diện tích của quốc gia này trong nước – là một ví dụ mới nhất về những hiện tượng thời tiết cực đoan như vậy. Và không chỉ sự kiện này mà đợt nắng nóng trên khắp châu Âu vào mùa hè vừa qua, đợt hạn hán kéo dài ở Trung Quốc, đợt siêu hạn hán ở Mỹ và những nạn đói cận kề ở châu Phi cũng phản ánh sự gia tăng của những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt.  “Các thảm họa xảy ra với quy mô lớn như vậy không phải là một điều tự nhiên. Chúng là cái giá mà nhân loại phải trả cho ‘cơn nghiện’ nhiên liệu hóa thạch”, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres cho biết. “Báo cáo của United in Science năm nay cho thấy các tác động khí hậu đang tiến đến một mức độ chưa từng có trước đây”.  Theo báo cáo, nhiệt độ của thế giới có thể sẽ cao hơn 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp trong vòng năm năm tới. Dù tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26 của Liên Hợp Quốc tại Glasgow vào tháng 11 năm ngoái, các chính phủ đã nhất trí sẽ tập trung vào việc giữ nhiệt độ chỉ tăng trong giới hạn 1,5°C, tuy nhiên các cam kết và hành động cắt giảm khí thải của họ lại chưa đảm bảo được những gì cần thiết phải làm, báo cáo chỉ ra.   Kể từ COP26, giá khí đốt tăng vọt đã khiến cho một số chính phủ quay lại dùng nhiên liệu hóa thạch, bao gồm cả than. “Mỗi năm chúng ta lại tiếp tục sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, ngay cả khi vấn đề đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn”, Guterres cảnh báo về mối nguy hiểm.   Theo báo cáo, thế giới cũng thất bại trong việc thích ứng với những hậu quả của cuộc khủng hoảng khí hậu. Guterres lên án các nước giàu – những quốc gia đã hứa sẽ hỗ trợ các nước đang phát triển ứng phó với biến đổi khí hậu, song cuối cùng lại không thực hiện. Theo Guterres, các quốc gia phát triển nên cung cấp 40 tỷ USD mỗi năm để giúp các quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, và họ cần tăng con số đó lên 300 tỷ USD một năm vào năm 2030.  Vấn đề thích ứng với các tác động của thời tiết cực đoan, và sự “mất mát và thiệt hại” mà các quốc gia dễ bị tổn thương đang phải đối mặt, có thể sẽ là một trong những vấn đề quan trọng tại cuộc đàm phán sắp tới về khí hậu COP27 của Liên Hợp Quốc.   Tasneem Essop – giám đốc điều hành của Mạng lưới Hành động Khí hậu – cho biết, các chính phủ phải chuẩn bị cho COP27 với các kế hoạch hành động phản ánh đúng tính cấp bách của cuộc khủng hoảng. “Báo cáo của United in Science đã vẽ nên một bức tranh kinh hoàng về hiện thực cuộc sống của hàng triệu người – những người đang phải đối mặt với những thảm họa khí hậu liên tiếp. Các thông tin khoa học đã rất rõ ràng, nhưng ‘cơn nghiện’ nhiên liệu hóa thạch của các tập đoàn tham lam và các quốc gia giàu có đang dẫn đến tổn thất và thiệt hại cho những người vốn ít tác động nhất đến cuộc khủng hoảng khí hậu hiện nay”.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2022/sep/13/world-heading-into-uncharted-territory-of-destruction-says-climate-report    Author                .        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu tăng mật độ mây khí quyển      Theo các nhà nghiên cứu, tần suất xuất hiện những đám mây địa cực ngày càng dày đặc hơn và chúng thường xuất hiện ở các vĩ độ thấp hơn so với trước đây.      Hiện tượng những đám mây ngày càng dày đặc trong bầu khí quyển là bằng chứng rõ nhất cho thấy những ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học cho rằng, nhiều khả năng khí thải carbon dioxide (CO2) gây hiệu ứng nhà kính và khí mê-tan ở tầng khí quyển cao là thủ phạm gây ra những biến đổi ở các đám mây.   TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu toàn cầu  và nguy cơ chủ nghĩa thực dân mới      Mặc d&#249; được đề cập nhiều tr&#234;n c&#225;c diễn đ&#224;n quốc tế từ v&#224;i chục năm nay nhưng c&#226;u chuyện biến đổi kh&#237; hậu (BĐKH) vẫn l&#224; đề t&#224;i kh&#225; &#8220;tế nhị&#8221; đối với l&#227;nh đạo c&#225;c nước gi&#224;u v&#224; c&#225;c nước c&#243; nền kinh tế mới nổi. Một số c&#225;c nước lớn vẫn chưa ph&#234; chuẩn Nghị định thư Kyoto (sắp hết hạn v&#224;o năm 2012) v&#224; c&#242;n &#8220;l&#224;m lơ&#8221; trước ảnh hưởng của BĐKH to&#224;n cầu. Trong khi nhiều nước ngh&#232;o l&#224; nạn nh&#226;n chịu ảnh hưởng nặng nhất của BĐKH to&#224;n cầu th&#236; c&#225;c nước gi&#224;u vẫn cứ &#8220;b&#236;nh ch&#226;n như vại&#8221;. Phải chăng đ&#243; l&#224; c&#225;ch để xuất hiện một loại h&#236;nh chủ nghĩa thực d&#226;n mới, chủ nghĩa thực d&#226;n trong ph&#225;t thải?    Tác động toàn cầu nhưng lợi ích quốc giaBĐKH toàn cầu là vấn đề được đề cập đến trên các diễn đàn quốc tế từ ít nhất vài thập kỷ qua và sự nóng lên của khí hậu là biểu hiện được nói đến nhiều nhất. Tuy nhiên, lần đầu tiên, trong báo cáo 2007, Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) mới thừa nhận sự nóng lên của khí hậu là vấn đề không còn phải nghi ngờ (unequivocal) gì nữa. Mặc dù vậy, cũng chưa có báo cáo nào của IPCC cho rằng BĐKH toàn cầu là hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thời hậu hiện đại, giai đoạn mà sự phân dị giàu nghèo cũng như sự phân dị về lượng khí nhà kính phát thải giữa các quốc gia đang gia tăng.Trong khi các diễn đàn về phát triển bền vững lại luôn nói về mô hình “cùng thắng” (win-win) thì cũng chưa thấy IPCC nói về nguy cơ phân dị được-mất giữa các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia đang phát triển trong giảm thiểu phát thải khí nhà kính.Cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực để giảm thiểu tác động của BĐKH toàn cầu và UNFCCC (Chương trình khung về BĐKH của Liên Hợp Quốc), có hiệu lực từ tháng 3 năm 1994, là một biểu hiện. IPCC đã trở thành diễn đàn toàn cầu quan trọng trong đánh giá, ứng phó và thích nghi với tác động của BĐKH toàn cầu. Tuy nhiên, Báo cáo của Nhóm công tác III thuộc IPCC, 2007 cũng thừa nhận, với các chính sách giảm thiểu tác động của BĐKH hiện nay và với các hoạt động liên quan đến phát triển bền vững thì khí nhà kính sẽ còn tiếp tục tăng trong vài thập kỷ tới. Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn năm 1997, có hiệu lực năm 2005 và đã sắp hết hiệu lực nhưng vẫn còn tồn tại hàng loạt bất đồng giữa các quốc gia, đặc baiệt là giữa các quốc gia có nền công nghiệp phát triển và quốc gia đang phát triển. Tính đến tháng giêng 2007 đã có 168 quốc gia và Cộng đồng kinh tế châu Âu đã ký vào Nghị định thư này. Theo IPCC, ¾  lượng CO2 phát thải vào khí quyển là do việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phần còn lại là do việc chặt phá rừng. Theo Nghị định thư Kyoto, đến 2012, lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển phải giảm đi 5,2% so với mức phát thải năm 1990. Trên thực tế, chỉ riêng Hoa Kỳ và các quốc gia thuộc Cộng đồng châu Âu, với dân số chiếm 10% dân số toàn cầu, đã thải vào khí quyển 45% tổng lượng CO2 toàn cầu (Heidi Bachram, Climate Fraud and Carbon Colonialism: The New Trade in Greenhouse Gases. Capitalism Nature Socialism, Vol 15, No. 12/ 2004). Theo quan điểm của IPCC (Báo cáo 2007) sức mạnh của Nghị định thư nằm ở điều khoản về cơ chế thị trường trong thương mại phát thải khí nhà kính. Chính cơ chế mang tính khích lệ sự tái phân bố chỉ tiêu (quota) phát thải này lại hàm chứa nhiều thách thức và một trong số đó là nhiều nền kinh tế phát thải khí nhà kính lớn nhất vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto (Báo cáo của Nhóm công tác III IPCC). Với bối cảnh như vậy liệu có nên hiểu là đối với từng quốc gia biến đổi khí hậu thì mang tính toàn cầu nhưng lợi ích thì lại vẫn mang tính quốc gia.   Nước nghèo luôn bị thiệt thòi?Và có một câu hỏi cần được đặt ra: Liệu có nguy cơ xuất hiện chủ nghĩa thực dân mới trong việc giảm thiểu lượng khí nhà kính do con người thải vào khí quyển? Hãy xem xét một vài khía cạnh của các nỗ lực giảm thiểu và ứng phó với biến đổi khí hậu của các quốc gia.               Nhiều nước nghèo sẽ chịu nhiều tác động của BĐKH, đặc biệt là việc nước biển dâng cao gây lụt lội. Minh họa của em bé 11 tuổi người Bangladesh         Khía cạnh thứ nhất: Thông qua cơ chế phát triển sạch CDM (Clean Development Mechanism). Chương trình CDM, các nước có lượng khí nhà kính giảm thiểu sẽ được cấp Chứng chỉ xác nhận giảm phát thải (Certified Emission Reduction CER) hay còn được gọi là Chứng chỉ carbon. Một khi có được CER, nước này có thể chuyển nhượng quyền phát thải cho các nước khác để nhận được một hệ quả kép. Đó là có thu nhập từ việc chuyển nhượng CER và thực hiện được Phát triển sạch, phần nào đồng nghĩa với Phát triển bền vững. Có thể thấy ngay quyền phát thải đã trở thành một loại hình tài nguyên mới, hàm chứa nhiều ý nghĩa xã hội hơn bất cứ tài nguyên nào. Để tăng nguồn tài chính của mình, các nước kém phát triển sẽ phải bán tài nguyên này cho các nước phát triển hơn. Các nước tiêu thụ nhiều dầu nhất thế giới như Mỹ (20,6 triệu thùng/ngày), Trung Quốc (7,6 triệu thùng/ngày) và Nhật Bản (5,2 triệu thùng/ngày) chắc chắn thuộc nhóm phát thải lớn nhất và họ có nhu cầu mua tài nguyên phát thải của các nước khác, đặc biệt từ các nước có nền công nghiệp kém phát triển. Câu hỏi đặt ra là: Bao giờ thì tài nguyên đặc biệt này ở các nước nghèo sẽ cạn kiệt trước khi họ đạt được mục tiêu phát triển bền vững?Khía cạnh thứ hai: Đó là khuynh hướng xuất khẩu công nghệ “kém sạch”, thậm chí công nghệ ô nhiễm sang các nước nghèo và nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng được sản xuất tại các nước đang phát triển. Rất nhiều nước đang phát triển lấy xuất khẩu làm động lực kinh tế trong giai đoạn đầu. Hiện tượng tràn ngập hàng Trung Quốc trên thế giới là một minh chứng. Các nước đang phát triển thì lại có nhu cầu nhập khẩu công nghệ từ các nước giàu không loại trừ công nghệ gây ô nhiễm như dây chuyền lắp ráp xe hơi với chuẩn phát thải đã lỗi thời, như các công nghệ khai khoáng đã ngừng sử dụng ở các nước giàu v.v… Xuất khẩu rác thải từ các nước giàu sang các nước đang phát triển cũng là một khuynh hướng mà cộng đồng quốc tế đã cảnh báo.Khía cạnh thứ ba: Khuynh hướng phát triển nhiên liệu sinh học (biofuel) là loại nhiên liệu sử dụng ngũ cốc làm nguyên liệu. Các nước giàu, đi đầu là Mỹ, đang nỗ lực tìm cách thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng nhiên liệu sinh học. Chỉ riêng năm 2007, diện tích ngô ở Mỹ đã đạt trên 37 triệu ha, tăng 19% so với 2006. Tuy nhiên, lại xuất phát từ lợi ích kinh tế, lượng ethanol sản xuất từ ngũ cốc của Mỹ được dùng để xuất khẩu sang châu Âu là chính, nơi có giá cao hơn ở Mỹ. Mặt khác của vấn đề ở chỗ là tại nhiều quốc gia nghèo, đặc biệt ở châu Phi, nạn đói vẫn đang hoành hành, thì ngũ cốc ở các nước giàu có thể lại được dùng để sản xuất ethanol chạy xe hơi. Trong khi đó, vài thập kỷ trở lại đây chưa bao giờ quan sát thấy xu hướng giảm giá của lương thực và trên các diễn đàn về biến đổi toàn cầu người ta nói rất nhiều đến tác động của biến đổi khí hậu đến nguy cơ nghèo đói hoặc tái nghèo của nhiều quốc gia nghèo. Liên Hợp Quốc còn quan ngại là Mục tiêu thiên niên kỷ sẽ không đạt được do tác động của biến đổi khí hậu. Câu hỏi đặt ra là: Trong nỗ lực giảm thiểu phát thải khí nhà kính của toàn thế giới thì nỗ lực sản xuất nhiên liệu sạch ở các nước giàu và nỗ lực xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia nghèo liệu có thể song hành được với nhau không?Trong bối cảnh của biến đổi khí hậu, IPCC cũng nêu nguyên tắc đồng phát triển (co-development) như một trong các giải pháp nhằm đạt sự cân bằng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển để đảm bảo phát triển bền vững (Payne Anthony. 2005, The Global Politics of Unequal Development, New York, Palgrave Macmillan). Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trình độ phát triển như ngày nay, các nước phát triển đã trải qua ba giai đoạn: 1) Nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 là giai đoạn cách mạng công nghiệp với sự tăng trưởng hoang dã (wild growth), 2) Từ những năm 70 đến nay là giai đoạn thiết lập phúc lợi và 3) Từ những năm 70 trở lại đây là giai đoạn tăng sự quan tâm đến môi trường. Có điều gì đảm bảo để giảm thiểu sự khác biệt về phát triển giữa hai nhóm quốc gia: Nhóm phụ lục I và Nhóm phụ lục II của Nghị định thư Kyoto khi mà lịch sử phát triển kinh tế của hai Nhóm phụ lục này là rất khác nhau.Ý tưởng cho rằng việc biến đổi toàn cầu bao gồm toàn cầu hóa kinh tế và biến đổi khí hậu đang tạo ra “người thắng” (winners) “kẻ thua” (losers) là lẽ tự nhiên và không tránh khỏi đang được chấp nhận rộng rãi. Theo Kaye (Kaye, H. L. 1997. The social meaning of modern biology. New, Brunswick, NJ: Transaction Publishers), Mác là người đầu tiên cho rằng thuyết tiến hóa của Darwin phản ánh mạnh mẽ quan hệ cạnh tranh tư sản vào tự nhiên. Cũng theo Kaye trong tài liệu đã dẫn, Mác cũng phê phán những người theo thuyết Darwin xã hội (Social Darwinism) đã sử dụng học thuyết tiến hóa của Darwin như trụ cột về tư tưởng học để bao biện cho sự cạnh tranh tồn tại trong chủ nghĩa tư bản. Có những người khác cũng cho rằng sự hình thành “người thắng”, “kẻ thua” có nguồn gốc xã hội và chính trị và là hệ quả tiến hóa hoặc của các quá trình tự nhiên, hoặc của bàn tay vô hình trong thị trường tự do (Karen L. O’Brien  and Robin M. Leichenko, Annals of the Association of American Geographers, Volume 93, Issue 1 March 2003, pages 89 – 103). Liệu sự phê phán của Mác như đã nói ở trên có còn giá trị trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay không? Liệu với những gì đang diễn ra trong cuộc vận động giảm thiểu phát thải khí nhà kính vào khí quyển thì sự sử dụng sức mạnh kinh tế để giảm thiểu ô nhiễm cho quốc gia của mình, thôn tính quyền phát thải của các nước nghèo hơn có thể sẽ làm xuất hiện Chủ nghĩa thực dân mới trong phát thải hay không?—————–* Trung tâm Quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu. Đại học Quốc gia, Hà Nội      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến đổi nhịp độ nhanh trong lõi Trái đất      Theo nghiên cứu của DTU Space, phần chất lỏng trong lõi của Trái đất đang biến đổi nhanh đáng ngạc nhiên và có thể gây ảnh hưởng đến từ trường của Trái đất.      Các phương pháp đo từ trường Trái Đất rất chính xác của vệ tinh Ørsted  trong 9 năm qua đã giúp các nhà khoa học sơ đồ hóa những biến đổi diễn ra ở mức độ nhanh đáng kể trong phần lõi của Trái đất. Nhà khoa học Nils Olsen giải thích: “Điều này cho thấy những biến đổi bất ngờ tương tự xảy ra trong môi trường kim loại lỏng nằm sâu bên trong Trái Đất chính là nguyên nhân hình thành từ trường Trái Đất”.  Phần lõi của Trái Đất bao gồm lớp lõi rắn bên trong bao quanh bởi lớp lõi lỏng bên ngoài. Cả hai lớp lõi lỏng và rắn đều chứa chủ yếu là sắt và niken. Chính sự vận động của lớp lỏng bên ngoài của phần lõi Trái Đất đã tạo nên từ trường. Biến đổi trong sự vận động này gây ra biến đổi trong từ trường trái đất. Từ đó các nhà khoa học có thể sử dụng vệ tinh đo từ trường Trái đất nhằm phát hiện diễn biến đang xảy ra trong lớp lõi lỏng.   Trà Mi   (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến động ở giao điểm của ba sông Mekong, Tonle Sap và Bassac      Sông Mekong chảy đến Phnom Penh thì chia làm hai nhánh, Mekong sau Phnom Penh và Bassac. Cũng tại đây sông Mekong gặp sông Tonle Sap liên thông với Biển Hồ. Những biến đổi trong vùng giao điểm ảnh hưởng nhất định đến vùng hạ của châu thổ, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long, về các mặt thủy văn, trầm tích, cũng như về nguồn lợi thủy sản. Quan tâm đến sự biến động do vậy là cần thiết.    1. Ngã ba sông, yết hầu của hoạt động điều tiết của Biển Hồ  Theo các tài liệu [1, 2, 3], Biển Hồ là một vùng trũng tự nhiên có chiều dài khoảng 150 km. Hàng năm, mực nước Biển Hồ dao động từ cao trình 1 mét, với diện tích mặt thoáng tương ứng là 1400 km2, đến cao trình 11 mét với diện tích mặt thoáng và dung tích tương ứng là 13000 km2 và 71,8 tỷ m3. Trong lưu vực có 26 sông nhỏ đổ vào Biển Hồ.      Trên 70% lượng nước trong Biển Hồ do sông Mekong cung cấp. Phần còn lại nhận được từ lượng mưa trên lưu vực.  Sau khi lưu lượng tại trạm Phnom Penh chạm mức thấp nhất trong năm vào tháng 4 cuối mùa khô, mực nước sông Mekong lên nhanh hơn mực nước Biển Hồ vào mùa mưa. Cuối tháng 5, đầu tháng 6 hàng năm, nước từ sông Mekong theo sông Tonle Sap chảy vào Biển Hồ. Cuối mùa lũ, vào đầu tháng 11, khi mực nước sông Mekong bắt đầu rút xuống, nước từ Biển Hồ chảy ngược trở ra.  Vào mùa khô, Biển Hồ là nguồn bổ sung nước đáng kể cho sông Mekong. Theo số liệu trung bình nhiều năm, trong các tháng 1 và 2, Biển Hồ cung cấp xấp xỉ 50% nguồn nước của dòng chính Mekong sau Phnom Penh. Quá trình cung cấp nước này kéo dài đến cuối tháng 5.  Với quy trình điều tiết như mô tả, Biển Hồ làm lũ về chậm hơn và giảm nhẹ đỉnh lũ tại Phnom Penh và trên châu thổ sau Phnom Penh, nhưng lại kéo dài thời gian ngập nước trên địa bàn này.  Đối với đồng bằng sông Cửu Long, Biển Hồ hoạt động như là một bộ điều chỉnh tự nhiên các tranh chấp giữa lũ và kiệt, giữa sông và biển, giữa mặn và ngọt thông qua tổng lượng nước phân bổ về sông Tiền và sông Hậu trong năm. Biển Hồ với tính năng điều tiết của nó là một đặc trưng của châu thổ sông Mekong.  Điểm gút, yết hầu của bộ điều chỉnh chính là giao điểm giữa ba sông với bốn nhánh, Mekong trước và sau Phnom Penh, Tonle Sap và Bassac (hình 1).  Những biến đổi trong vùng giao điểm ảnh hưởng nhất định đến vùng hạ của châu thổ, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long, về các mặt thủy văn, trầm tích, cũng như về nguồn lợi thủy sản. Quan tâm đến sự biến động do vậy là cần thiết.    Hình 1. Châu thổ sông Mekong và lưu vực Biển Hồ  2. Biến động ở giao điểm ba sông  Tại Phnom Penh, trước Hoàng Cung là giao điểm ba sông. Các bản đồ năm 1922 và 1934 (hình 2a, b), cho thấy tại giao điểm, một phần nước sông Mekong được “rót” thẳng vào sông Bassac.    Trong cả hai giai đoạn chảy vào Biển Hồ và từ đây chảy trở ra, nước sông đều chứa phù sa. Một lượng vật liệu trầm tích quan trọng lắng đọng ở vùng giao điểm. Bản đồ địa hình đáy sông đo đạc năm 1876 chỉ ra các bãi và doi cát tại ngã ba sông (hình 3).    Hình 3. Địa hình đáy ở ngã ba sông (1876)  Trong giai đoạn chảy vào Biển Hồ, nước sông Mekong khi đến giao điểm, phần chảy vào Tonle Sap tạo ra một vùng xói lở bên bờ phải sông Tonle Sap, đối diện với mũi của bán đảo Chruy Changwa. Một bờ kè đã được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX (hình 3).  Các bản đồ về Phnom Penh không nhiều [4]. Bản đồ năm 1958 (hình 4) được sử dụng đến đầu thập niên 1970, cho thấy mũi Chruy Changwa đã được bồi thêm về phía Nam. Trên ảnh vệ tinh (Google Earth 2013) (hình 5) thấy rõ sự bồi tụ tại mũi, lấn vào bờ trái của sông Tonle Sap. Mặt khác, hai ốc đảo bùn cát ở đầu Mũi không còn thấy trên các ảnh vệ tinh kể từ năm 2012.  Việc xây dựng ở vùng bồi bờ phải sông Bassac cũng thể hiện trên hình 4.    Bài viết này khảo sát sự biến động của vùng giao điểm bằng ảnh vệ tinh Landsat (từ năm 1973 đến 2009) [5] và Google Earth (từ 2003 đến 2013) [6].    Đối chiếu với các bản đồ thiết lập đầu thế kỷ XX, ngoài những đổi thay ở mũi Chruy Changwa đã được đề cập trên đây, cửa sông Bassac, nhìn từ giao điểm, bị thu hẹp đáng kể bởi bờ phải liên tục được bồi, và một đảo, Koh Pich, được hình thành lấn dần ra giữa cửa sông.  Các ảnh vệ tinh từ năm 1973 đến năm 2009 còn cho thấy bờ trái của sông bị xói lở và cửa sông Bassac vừa bị hẹp lại, vừa lệch ngoặc về phía Đông Nam (hình 6). Xu hướng này diễn ra liên tục và ngày càng nhanh nhất là trong thập niên 2003-2013 (hình 7).    Hình 6. Biến động đường bờ sông ở vùng giao điểm năm 1973 (xanh)  và năm 2009 (đỏ). Cửa sông Bassac bị thu hẹp và ngoặc về Đông Nam    Hình 7. Xu hướng cửa sông Bassac bị thu hẹp và ngoặc về hướng Đông Nam  được xác nhận trong 10 năm gần đây. 2003 (xanh) và 2013 (đỏ)  Những cơi nới nhân tạo lấn sông gần đây trên đảo Koh Pich sẽ làm sâu sắc và nhanh hơn các biến đổi tại giao điểm, đặc biệt về dòng chảy và về bồi xói bờ sông (hình 8).    Màu nước sông trên bề mặt tại giao điểm trong cả hai mùa khô và mưa, qua ảnh vệ tinh (hình 9a, b, c, d), thể hiện sự giao thoa giữa hai dòng nước Mekong và Tonle Sap. Đây là những thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu nguồn gốc trầm tích ở phia Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau, và nguồn lợi thủy sản trến sông Hậu.      3. Dự báo hệ quả  Những nhận xét từ khảo sát ảnh vệ tinh và đối chiếu với bản đồ trên đây cần được kiểm tra, đo đạc trên hiện trường để xác nhận cụ thể và chính xác hơn, định lượng các biến động, và tìm hiểu nguyên nhân.  Có một số nội dung có liên quan đến dự báo hệ quả của sự biến động.  1. Có hay không, và đến chừng mực nào, sự thu hẹp và lệch ngoặc về phía Đông Nam của cửa sông Bassac làm suy giảm nhiệm vụ cung cấp nguồn nước cho vùng hạ của châu thổ theo nhánh sông Bassac – sông Hậu, và báo hiệu về lâu dài một sự “suy thoái” của con sông này?  2. Sự cơi nới trên đảo Koh Pich,việc xây dựng đê lấn sông trong những năm gần đây sẽ tác động như thế nào đến quá trình diễn động tại ngã ba sông?  3. Tốc độ mất rừng trong lưu vực của Biển Hồ từ thập niên 1970 trở lại đây là khá quan trọng, kéo theo xói mòn, rửa trôi trên lưu vực, và nâng cao đáy hồ khá nhanh. Liệu việc mất rừng trong lưu vực có thúc đẩy nhanh hơn những biến động tại vùng giao điểm?    4. Có một dự án chuyển nước từ sông Mekong ngay từ Kompong Cham trực tiếp vào Biển Hồ nhằm làm chậm quá trình lũ về Phnom Penh và giảm tần suất lũ tại đây. Tác động của việc chuyển nước này lên quá trình điều tiết của Biển Hồ ra sao và đến biến động ở vùng giao điểm ba sông như thế nào?  Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, và nhiều đập trên dòng chính sông Mekong dự kiến sẽ được xây dựng, những câu hỏi trên đây cho thấy sự bức thiết thành lập một mô hình toán để giúp mô phỏng và dự báo các tác động của các kịch bản.  Tài liệu tham khảo  1.  Lower Mekong Hydrologic Yearbook. Volumes 1, 2 (1969-1990). Commitee for coordination of investigations of the lower Mekong basin, Bangkok, Thailand.  2.  J. P. Carbonnel, J. Guiscafré. Le Grand Lac du Cambodge. Sédimentologie et Hydrologie. Publication de l’ORSTOM, Paris, 1965.  3. Les modèles mathématiques du Delta du Mekong, Sogreah. Publication de l’UNESCO, 1972, Paris.  4. Céline Pierdet. La cartographie de Phnom Penh Cambodge depuis les années 1860. Bilan d’une recherche. Siksacakr N. 10. 2008.  http://www.academia.edu/1117043/  5. Ảnh vệ tinh Landsat 1 1973-01-03, Landsat 4 1989-11-15, Landsat 7 2001-07-11, Landsat 7 2004-02-10, Landsat 5 2009-01-14.  6. Google Earth, Historical Imagery, © 2013 Google, Image © 2014 DigitalGlobe.  Từ khóa: Châu thổ sông Mekong, điều tiết của Biển Hồ, giao điểm ba sông Mekong, Tonle Sap, Bassac, đồng bằng sông Cửu Long.          * Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long.  1 Biển Hồ tiếng Anh là Great Lake, tiếng Pháp là Grand Lac. Mùa kiệt, nó như một hồ lớn, mùa lũ, nó mênh mông như biển cả, có lẽ từ đó mà hình thành nên tên gọi.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến nước biển thành nhiên liệu      Trang mạng ibtimes.com ngày 8/4/2014 đưa tin: Sau nhiều thập niên  triển khai một dự án nghiên cứu thí nghiệm, các nhà khoa học của Hải  quân Mỹ tin rằng có lẽ họ đã giải quyết được một trong các thách thức  lớn của thế giới: biến nước biển thành nhiên liệu.       Trong bài báo có tiêu đề “Tạm biệt dầu mỏ: Hải quân Mỹ  đột phá giải quyết được một công nghệ năng lượng tái sinh mới biến nước  biển thành nhiên liệu, cho phép các tàu chiến có thể ở trên biển lâu  hơn”, nữ Tiến sĩ hóa học Heather Willauer cho biết: “Lần đầu tiên chúng tôi đã thành công phát triển một công nghệ đồng thời lấy được CO2 và hydrogen từ nước biển rồi chuyển hóa thành một loại nhiên liệu hydrocarbon thể lỏng… Đây là một bước đột phá lớn.”  TS Heather Willauer đã có gần 10 năm tham gia làm dự án kể trên của Phòng Thí nghiệm Hải quân  (Navy Research Labolatoty, NRL).   Nồng độ CO2 trong nước biển cao gấp 140 lần trong không khí. Sử dụng thiết bị xúc tác có thể biến hai chất khí nói trên thành một hỗn hợp nhiên liệu thể lỏng không khác dầu diesel.   Mới đây, nhiên liệu do NRL chế tạo đã được trưng bày tại Triển lãm Biển, Hàng không và Vũ trụ 2014 ở National Harbor, bang Maryland (7-8/4/2014). Trang mạng nationaljournal.com ngày 10/4 cho biết, trong vòng một thập niên nữa Hải quân Mỹ có thể dùng loại hydrocarbon nói trên để sản xuất nhiên liệu phản lực (jet fuel).  Phó Đô đốc Philip Cullom, người phụ trách dự án nghiên cứu, nói: “Đây là sự kiện quan trọng đối với chúng tôi.” Ông cho rằng sẽ có một ngày máy bay cũng có thể sử dụng loại nhiên liệu mới này.  NRL cho biết giá thành chế tạo mỗi gallon nhiên liệu hydrocarbon nói trên vào khoảng từ 3 đến 6 USD và sẽ giảm dần.  Hiện nay trừ một số tàu sân bay và tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân, còn lại 289 tàu chiến Hải quân Mỹ đều chạy dầu và do đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu dầu. Việc tiếp tế nhiên liệu cho các tàu chiến chạy dầu hoạt động trên toàn cầu rất tốn kém và phức tạp: Hải quân Mỹ có riêng một hạm đội 15 tàu dầu (oil tankers), hằng năm cấp phát 1,25 tỷ gallon dầu cho các tàu chiến. Điều đó khiến cho khả năng hoạt động của các tàu chiến bị hạn chế nghiêm trọng, chưa kể còn có rủi ro ô nhiễm môi trường. Việc sản xuất một loại nhiên liệu hydrocarbon lỏng từ nước biển sẽ giúp hải quân thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu mỏ và sự lên xuống giá dầu, cho phép các tàu chiến có thể tự cung tự cấp nhiên liệu và do đó chúng có thể hoạt động trên biển 100% thời gian mà không cần tiếp tế nhiên liệu cũng như cần tới các kho chứa dầu.   Mạng N-TV của Đức (n-tv.de) ngày 9/4 bình luận: Loại nhiên liệu hydrocarbon này có thể gây ra sự biến đổi có tính cách mạng trong việc cung cấp năng lượng cho các tàu chiến, qua đó tạo ra ưu thế chiến lược quan trọng cho nước Mỹ.  Các nhà khoa học ở NRL đã dùng loại “nhiên liệu nước biển” ấy cho bay thành công một mô hình máy bay.  Thách thức tiếp theo đối với Hải quân Mỹ là sản xuất loại nhiên liệu nói trên với quy mô công nghiệp. Các nhà khoa học cho rằng ít nhất cần 10 năm nữa để đội tàu chiến Mỹ thực hiện tự cung tự cấp nhiên liệu.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến nước thải thành nước uống: Ủng hộ và phản đối      Singapore đi đầu trong lĩnh vực chế  biến nước thải thành nước uống. Mỹ và Australia cũng đang muốn áp dụng giải pháp này, mặc dù đã xuất hiện ý kiến chỉ trích đây là việc làm “vô trách nhiệm” vì nước thải chứa vô vàn mầm bệnh khác  nhau, không dễ gì loại bỏ.    Cô bé nhăn mặt, bịt mũi còn bà mẹ thì nhìn một cách ngờ vực: con gái bà chuẩn bị uống nước từ một cái chai có dòng chữ: nước tinh khiết, cho dù được chế biến từ nước thải từ nhà vệ sinh và các loại nước thải khác. Tại trung tâm tiếp khách hàng của Nhà máy nước Newater, Singapore, người hướng dẫn niềm nở giải thích về loại nước mới này.  Cuối cùng cô bé cũng uống và nhận xét hết sức nhẹ nhõm: “Chẳng có mùi vị gì cả”.    Nước đóng chau “Newater” được tái chế từ nước thải.     Hệ thống nhà máy nước quốc doanh của Singapore PUB đề ra câu khẩu hiệu “mỗi giọt nước cần phải được sử dụng nhiều hơn một lần”. Tiểu quốc Singapore đi đầu trong lĩnh vực chế biến nước thải thành nước ăn. Điều này có lý do của nó. Quốc gia tí hon này nằm xích đạo, tuy hàng năm có lượng mưa khá lớn nhưng lại thiếu chỗ để chứa nước. Vì vậy việc chế biến để tái sử dụng nước thải là điều dễ hiểu.   Người hướng dẫn tại Trung tâm khách hàng của Newater giải thích “Thực chất nước mưa cũng chỉ là một dạng nước được tái chế từ nước thải”. Tuy vậy tại Singapore, cái gọi là “Newater” – một kiểu chơi chữ kết hợp “New” và “Water” – chủ yếu để phục vụ sản xuất công nghiệp, còn nước đóng chai Newater chỉ có ở Trung tâm phục vụ khách hàng của Nhà máy.  Singapore bắt đầu tái chế nước thải từ năm 2003. Một phần ba lượng nước thải của 5,7 triệu dân Singapore hiện đã được tái chế. Nước thải từ các khu dân cư chảy qua một hệ thống đường ngầm dài 48 km đến nhà máy chế biến nước thải. Tại đây, nước được đi qua một màng lọc cực nhỏ (microfilter) và các màng mỏng (membrane) sau đó chiếu tia cực tím. Hướng dẫn viên ở Trung tâm khách hàng giới thiệu quá trình này qua sự so sánh như sau: “Ví thử phân tử nước chui qua màng mỏng to bằng quả bóng quần vợt, thì một hormon estrogen to như quả bóng đá, một virus to kềnh như cái xe ô tô tải và một con vi trùng to đùng như toà nhà. Tất cả những thứ đó không thể chui qua những tấm màng mỏng membrane.”  Hiện nay nhiều nơi trên thế giới bị khan hiếm nước, khoảng 4 tỷ dân không có đủ nước sinh hoạt. Một nhà máy khử muối trong nước biển tiêu hao năng lượng điện gấp ba lần so với việc tái chế nước thải thành nước ăn của Newater, tính theo đơn vị lít.  Quận Cam thuộc bang California của Mỹ đang tiến hành một dự án như Singapore. Australia cũng vận động cho phương án này nhưng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của người dân.  Ông Tim Fletcher, Giám đốc Viện Tài nguyên nước bền vững thuộc Đại học Monash ở Melbourne, nói với đài ABC: “Khi chúng ta uống nước đã được xử lý, chúng ra có thể tin chắc rằng, chất lượng của loại nước này ít nhất cũng bằng nước uống, loại nước mà hiện nay chúng ta đang sử dụng, nếu không nói là còn cao hơn.”  Tuy nhiên không phải chuyên gia nào cũng chia sẻ sự lạc quan với ông Tim Fletcher. Thí dụ, nhà vi sinh vật học đồng thời là chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm Peter Collignon thì coi giải pháp này là “vô trách nhiệm” khi trong nước thải có vô vàn mầm bệnh khác nhau.  Peter Collignon cảnh báo “khả năng tiềm ẩn về một hệ quả kinh hoàng đối với nền y tế công là hiện hữu. Thật nguy hiểm nếu như trong quá trình làm sạch đầy rủi ro này có điều gì đó không ổn xảy ra.”  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến nước thành nhiên liệu      Nước chiếm ba phần tư bề mặt trái đất, nếu  có cách nào đó biến nước thành nhiên liệu thì thế giới sẽ không còn tình  trạng vì tranh cướp nhiên liệu mà xảy ra biết bao cuộc xung đột, thậm  chí chiến tranh, giữa các nước khát năng lượng.    Mơ ước này sẽ có khả năng biến thành hiện thực, vì mới đây, một công ty Đức là Sunfire GmbH đã đưa ra phương án giải quyết vấn đề trên. Phương án không có gì bí ẩn mà rất đơn giản. Họ sử dụng phương pháp chế tạo nhiên liệu tổng hợp từ nước và CO2 – hai thứ có nhiều nhất trên thế giới – làm ra nhiên liệu hydrocarbon. Họ gọi nó là công nghệ Power–to–Liguid và nói nó có thể chế tạo ra các loại nhiên liệu như xăng, dầu diesel và dầu hỏa.   Phương án này dựa trên nguyên lý của công nghệ tổng hợp Fischer-Tropsch (Fischer-Tropsch synthesis), một trong các công nghệ gián tiếp hóa lỏng than, còn gọi là phản ứng FT. Nó dùng khí tổng hợp (CO và H2) làm nguyên liệu, chịu tác dụng của chất xúc tác và dưới điều kiện phản ứng thích hợp, tổng hợp thành nhiên liệu ở thể lỏng. Công nghệ này do Franz Fischer và Hans Tropsch sáng chế năm 1923.  Năng lượng mặt trời và gió là những nguồn năng lượng sạch nhưng lại rất không ổn định. Công ty Sunfire dùng điện mặt trời và điện gió để điện phân hơi nước, tách ra hydrogen và oxygien. Sau đó cho hydrogen và CO2 phản ứng với nhau, qua đấy thu được nhiên liệu chất lượng cao. Thực chất quá trình này là dùng phương pháp ổn định và hiệu suất cao để tồn trữ nguồn năng lượng kém ổn định (lả điện mặt trời và điện gió), mà nước là môi chất cực tốt trong quá trình đó. Nhiệt lượng dư thừa sinh ra trong quá trình này được dùng để làm ra hơi nước.   Thiết bị mẫu của Sunfire có giá thành khoảng 1 triệu Euro, hiện nay mỗi ngày sản xuất được 1 thùng nhiên liệu; đạt hiệu suất chuyển đổi 50% nhưng công ty cho biết trong tương lai sẽ có thể nâng lên 70%. Nếu giảm được giá thành thì phương pháp nói trên có thể sản xuất với quy mô công nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến phế thải thành nhiên liệu      Việc trồng cây làm nhiên liệu sinh học ở  khắp nơi trên thế giới đều gặp trở ngại do nó tranh giành đất nông  nghiệp quý giá, đe dọa an ninh lương thực. Nhưng thời gian gần đây, một  số công nghệ mới đã cho phép chế tạo nhiên liệu sinh học từ chất thải ở  các lò mổ, chất thải nông nghiệp và khí thải công nghiệp, hứa hẹn mở ra&#160;  bước đột phá trong lĩnh vực này.     Từ tháng 12/2011, Neste Oil, tập đoàn dầu mỏ nửa nhà nước của Phần Lan, thu gom mỗi ngày hàng nghìn tấn chất thải như mỡ, da lợn, xương, máu… từ các lò mổ ở khắp Châu Âu; chất thải của ngành chế biến thủy – hải sản; và dầu mỡ đã qua sử dụng ở các nhà bếp lớn đem về chế biến tại cơ sở lọc dầu lớn nhất của tập đoàn, ở cảng Rotterdam (Hà Lan). Sản phẩm cuối cùng là khoảng 1 tỷ lít dầu diesel sinh học (biodiesel) trong một năm.  Tập đoàn Neste Oil, chỉ là một ví dụ cho xu hướng ngày càng có nhiều doanh nghiệp chế biến chất thải như rơm rạ, gỗ đầu mẩu, cành cây, khí thải công nghiệp, rác thải gia đình và nhựa tổng hợp (plastic) thành nhiên liệu. Những thứ mà trước đây bị thiêu hủy phí phạm thì ngày nay trở thành một nguồn tài nguyên quý giá.   Theo Thomas Willner, Giáo sư về giải pháp công nghệ ở trường Cao đẳng khoa học thực nghiệm ở Hamburg, “hiện nay, khối lượng chất thải ở Đức có thể đáp ứng 50% nhu cầu về nhiên liệu của nước này”. Bản thân nhà khoa học này cũng đang nghiên cứu về việc biến dầu nặng và bùn lắng thành nhiên liệu.       Theo một nghiên cứu của Bloomberg New Energy Finance, với các phương pháp kỹ thuật mới, đến năm 2020, 27 nước EU có thể chế biến chất thải sinh học thành 90 tỷ lít ethanol – đáp ứng hơn 60% nhu cầu về xăng của mình.   Xu hướng mới này còn góp phần bảo vệ khí hậu, vì giảm tiêu thụ dầu mỏ cũng có nghĩa là giảm lượng khí thải CO2. Nhưng điều quan trọng nhất khi có thể biến chất thải trở thành nhiên liệu là những sản phẩm nông nghiệp như ngô hạt, đậu tương và cải dầu sẽ hoàn toàn được sử dụng để làm thực phẩm. Cho đến nay, thí dụ như ở Mỹ, một nửa sản lượng ngô hạt vẫn dùng để sản xuất xăng sinh thái.  Các nhà báo của tạp chí “Tuần kinh tế” (WirtschaftsWoche) của Đức đã tham quan nhiều doanh nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học ở Đức, Mỹ, Trung Quốc, Brazil và Ireland.  Đức  Một doanh nghiệp Đức ở Karlsruhe dùng máy băm nhỏ rơm rạ rồi cho vào lò phản ứng kín, không có không khí và nung ở nhiệt độ 500 độ C, từ đó tạo thành một dung dịch nhờn. Dung dịch này tiếp tục xử lý qua ba công đoạn thành xăng và dầu diesel.   Trong tương lai máy móc và rơm rạ sẽ tạo ra dầu, vì nhờ máy móc, những chất giàu năng lượng như lignin và cellulose thực vật sẽ được chế biến thành nhiên liệu.  Dự án của Đức không hề rẻ. Viện Công nghệ Karlsruher (KIT), Chính phủ Liên bang, Tập đoàn chế tạo thiết bị cỡ lớn Lurgi và doanh nghiệp hóa chất của Pháp Air Liquide, đã chi 60 triệu Euro để phát triển dự án. Tuy nhiên, sự đầu tư này hẳn không phải là uổng phí.   Rơm rạ lúa mì, lúa mạch, thân cây ngô không dùng làm thức ăn gia súc, phân bón, vốn bị coi là chất thải ở Đức, đủ để 4 triệu xe ô tô hoạt động trong một năm, theo tính toán của các nhà nghiên cứu ở KIT. Ông Peter Fritz, Phó chủ tịch KIT đồng thời là nhà điều phối nghiên cứu của dự án, nói: “Từ năm 2014, chúng tôi sẽ biến rơm thành nhiên liệu.” Chất thải lâm nghiệp, cành cây cũng sẽ được sử dụng vào quá trình mang tên Bioliq (sinh hóa lỏng). Ông Fritz chưa tiết lộ về giá cả, tuy nhiên ông cho rằng loại nhiên liệu này có thể cạnh tranh về giá với xăng, nếu được ưu đãi về thuế.  Hiện nay, trên thế giới có khoảng 60 doanh nghiệp đang tập trung phát triển các giải pháp biến rác thải và phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành nhiên liệu. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng áp dụng các giải pháp hóa học như Bioliq. Tập đoàn Hóa chất Clariant của Thụy Sĩ sử dụng vi sinh vật để chuyển hóa chất thải nông nghiệp thành ethanol. Cơ sở thực nghiệm của hãng sản xuất một năm khoảng 1.000 tấn cồn ethanol, loại cồn có thể pha trộn với xăng E10.   Trong quy trình công nghệ sinh học, người ta sử dụng enzyme (chất xúc tác sinh học) được hình thành từ nấm để chiết các phân tử đường quý giá từ rơm rạ và gỗ được băm vụn, rồi nấu trong lò phản ứng sinh học.   Việc xử lý các chất thải nông nghiệp trong sản xuất ngô hay mía đường, cũng diễn ra tương tự. Tập đoàn hóa chất Clariant, đang rao bán cho các doanh nghiệp trên thế giới hệ thống chế biến có tên là Sunliquid này.  Tuy nhiên, giá enzyme và hệ thống thiết bị chế biến đều khá cao. Vì vậy, doanh nghiệp startup Butalco của Thụy Sĩ đã sử dụng loại men thông thường được xử lý trong phòng thí nghiệm với một số gene nhất định, có khả năng chuyển hóa trực tiếp các loại chất thải như gỗ, lá xanh hay rơm rạ. Cha đẻ của ý tưởng này là nhà sinh hóa người Đức Eckhard Boles, cũng là người đồng sáng lập Butalco. Nhà sinh hóa này còn luyện men để tạo ra butanol thay vì ethanol. Các chuyên gia đánh giá, butanol sẽ là nhiên liệu sinh học trong tương lai vì nó có nhiệt lượng cao tương đương loại xăng thông thường hiện nay.   Mỹ  Nhà doanh nghiệp Mike Cheiky đề xướng một kế hoạch vĩ đại về “xăng phế thải” ở Mỹ. Cùng với doanh nghiệp startup Cool Planet của mình ở gần Los Angeles, ông dự kiến đến năm 2020, sẽ xây dựng ở Mỹ khoảng 400 nhà máy nhiên liệu sinh học cỡ nhỏ. Sau đó, sẽ xây dựng khoảng 1.600 nhà máy trên khắp thế giới. Cheiky hy vọng, mạng lưới này có thể đáp ứng 10% nhu cầu về nhiên liệu của thế giới.       Mike Rocke, Phó giám đốc Cool Planet, nói: “Chúng tôi sản xuất loại nhiên liệu bảo vệ khí hậu đầu tiên trên thế giới.” Ông gọi sản phẩm này là CO2 – negative và cho biết nó có thể trộn với xăng. Cơ sở thí điểm của Cool Planet đã sản xuất được 10.000 lít nhiên liệu sinh học từ tháng 12 đến nay.   Điểm đặc biệt của công nghệ này không phải là nhiên liệu, mà là sinh khối còn đọng lại trong quá trình sản xuất: cứ 1 lít nhiên liệu thì tồn đọng 200 gr sinh khối. Sinh khối này ở dạng rắn và được chế biến thành than sinh học. Nếu đem vùi dưới ruộng, chúng có khả năng tích cóp khoảng 1/3 lượng CO2 mà cây sinh khối lấy từ khí quyển trong quá trình phát triển, góp phần làm giảm sự nóng lên của trái đất.   Năm 2014, cơ sở thương mại đầu tiên sẽ đi vào hoạt động với công suất từ 40 đến 200 triệu lít nhiên liệu (khoảng 30 cent/lít) và khoảng 50 tấn than sinh học mỗi năm. Chi phí xây dựng công trình này khoảng 20 triệu USD.    Brazil      Tại Brazil, Hans-Jürgen Franke, nguyên là chuyên gia hợp tác phát triển của Đức, đã tìm thấy những thứ mà ông cần cho dự án của mình, đó là: khí thải CO2 từ nhà máy đường, ánh sáng mặt trời dư thừa và một đối tác sẵn sàng chịu rủi ro – doanh nghiệp chuyên về tảo See Algae Technology (SAT).      Franke đã lắp đặt một cơ sở sản xuất lớn dầu diesel sinh học từ tảo đầu tiên trên thế giới tại một địa điểm cách Recife, thủ phủ bang Pernambucos, 60 km.  Tảo ở đây phát triển rất nhanh trong những silo cao 5 mét. Sáng kiến có ý nghĩa quyết định ở đây là cho tảo ăn CO2 trực tiếp từ khí thải, do đó tảo phát triển rất nhanh. Cứ hai tấn CO2 thì sản xuất được 1 tấn tảo.  Sau khi thu hoạch sẽ dùng máy ép tảo lấy dầu, qua tinh luyện dầu tảo sẽ thành Biodiesel. Chất bã của tảo là thức ăn gia súc lý tưởng có hàm lượng protein cao gấp đôi so với ngô hạt.     Ưu thế của dự án này là giá thành chỉ khoảng 30 cent/1 lít dầu tảo. Chi phí để tinh luyện ra dầu diessel sinh học là 40 cent. Tại các doanh nghiệp tảo khác, với quy trình sản xuất khác giá thành lên tới vài Euro/lít. Sở dĩ dự án của Franke có mức giá rất thuận lợi là nhờ kỹ thuật thu gom ánh sáng mặt trời qua lăng kính, rồi dẫn bằng cáp quang vào thẳng silo. Tảo mọc đầy trong silo chứ không chỉ ở trên mặt nước như ở các giải pháp kỹ thuật khác.     Rafael Bianchini, lãnh đạo của SAT ở Brazil, nói: “Chúng tôi có thể tạo ra ở Brazil một vành đai xanh quanh các nhà máy nhiệt điện hay các nhà máy đường”. Đầu năm 2014, cơ sở nuôi trồng tảo của Franke ở gần Recife sẽ đi vào hoạt động.  Trung Quốc  Ngành sắt thép ở Trung Quốc ít thay đổi, quặng sắt vẫn được đổ vào lò để nung thành gang, sau đó luyện thành thép. Vấn đề lớn là, sự hình thành một khối lượng lớn khí miệng lò, một loại khí độc hại, ngoài Cacbon điôxit (CO2) còn chứa nitơ (N), Carbon mônôxit (CO) và hyđrô (H).   Cho đến nay, khí miệng lò thường được để thoát ra ngoài hoặc dùng để sản xuất điện – đều là những biện pháp kém hiệu quả và gây tổn hại đến môi trường.      Doanh nghiệp startup Lanza Tech của New Zealand đã hợp tác với tập đoàn Siemens của Đức, để tận dụng khí thải này. Khí miệng lò được dẫn vào một lò phản ứng sinh học và sẽ được một loại vi sinh vật chuyển hóa thành Ethanol. Jennifer Holmgren, nhà lãnh đạo của Lanza Tech tiết lộ, với công nghệ này, thế giới mỗi năm có thể sản xuất được hơn 100 tỷ lít nhiên liệu, nhiều hơn 15 tỷ so với sản lượng hiện nay.   Hai cơ sở sản xuất thực nghiệm đầu tiên mà Lanza Tech xây dựng tại các cơ cở của hai tập đoàn thép khổng lồ Baosteel và Shougang của Trung Quốc mỗi năm sản xuất được 300 tấn Ethanol từ khí miệng lò. Đến 2014, Lanza Tech sẽ xây dựng tiếp hai cơ sở nữa với quy mô thương mại. Đến 2015, Lanza Tech dự kiến sẽ sản xuất được 500 triệu lít nhiên liệu từ khí thải miệng lò.   Ireland  Jeremy Rowsell là một phi công nghiệp dư. Mỗi lần bay dọc bờ biển nước Úc, ông cảm thấy như bị sỉ nhục vì chất thải plastic chất cao như núi.     Cách đây ít tháng, ông đọc được về doanh nghiệp Cynar của Ireland, nơi đã phát triển giải pháp công nghệ nhằm biến nhựa phế thải thành dầu diesel và xăng máy bay. Bằng công nghệ này, chất dẻo chịu tác động của nhiệt và bước đầu chuyển hóa thành khí Pyrolyse, trước khi trở thành nhiên liệu. Cứ một tấn Plastic có thể chế tạo được 1.000 lít nhiên liệu. Rowsell đã bay từ Sydney tới London để quảng bá rộng rãi trước công chúng rằng: Plastic không phải là phế thải mà là tài nguyên quý giá.   Hiện Cynar đã nhận được đơn đặt hàng xây dựng 50 cơ sở chế biến từ một số nước châu Âu và Nam Mỹ.   Cơ sở đầu tiên sẽ được đưa vào vận hành trong tháng 8 ở gần London. Michael Murray, nhà sáng lập Cynar ở Dublin, cho hay: “Chúng tôi không cần loại nhựa tổng hợp còn mới, còn khả năng tái chế, mà chỉ xử lý những loại chất dẻo không thể tái chế được nữa”. Mỗi năm, các nước EU thải ra khoảng 15 triệu tấn plastic không còn giá trị tái chế, có thể mua với giá rất rẻ, bởi vậy giá một lít nhiên liệu diesel chế biến từ loại phế thải này chỉ khoảng 35 Euro-Cent. Thời gian khấu hao của các cơ sở sản xuất được tính là khoảng bốn năm.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến phim 2D thành 3D      Hãng Mitsubishi gần đây đã có một bước tiến mới trong công nghệ đầu đọc Blu-ray (một công nghệ đọc và ghi đĩa quang sử dụng laser xanh tím, có thể tạo ra các đĩa quang có dung lượng vài chục GB). Công nghệ mới của họ có thể chuyển đổi các phim 2D thành các phim 3D thời gian thực.    Để xem được phim 3D bằng thiết bị Blu-ray, người xem cần đeo một cặp kính đặc biệt. Sự chuyển đổi sẽ được thực hiện qua sự kết hợp cặp kính này với một thiết bị chiếu Xử lý Ánh sáng Số (DLP – Digital Light Processing). Thiết bị chiếu có vai trò chia tín hiệu đầu ra DLP 120 Hz thông thường thành hai tín hiệu 60 Hz để tạo ra hiệu ứng 3D.      Hiện thời, công nghệ này mới chỉ áp dụng cho các máy chiếu truyền hình DLP chứ chưa áp dụng cho LCD và plasma vì sự khác biệt về refresh rate của chúng.  Mặc dù 3D Bluray được dự định tung ra thị trường vào đầu 2008, nhưng Mitsubishi vẫn chưa cho biết giá thành của thiết bị này. Hãng chỉ tiết lộ rằng, họ sẽ hợp tác với một nhà sản xuất game để tích hợp công nghệ mới này vào game. Người ta đoán rằng, nhà sản xuất game đó có thể là Sony.  Theo Physorg      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến rác thành xăng dầu      Trong khi mọi người rên xiết vì giá xăng dầu cao vọt, tiến sĩ Christian Koch (55 tuổi) của thành phố Sachsen (Đức) tuyên bố có thể sản xuất xăng dầu trị giá chỉ có 23 cent/một lít (tức là khoảng 4.000 đồng/lít).    Từ hơn 30 năm nay, “phù thủy” Koch loay hoay tìm một phương pháp để có thể biến các phế thải “hữu cơ” thành xăng dầu và cuối cùng đã phát minh ra một chiếc máy tối tân để làm được điều này. Chiếc máy có tên này được đặt tên KDV 500. Tất cả những thứ phế thải hay rác rưởi như các vỏ hũ sữa chua, vỏ xe hơi cũ và cỏ dại… sẽ được cái máy kỳ quặc này nấu lên ở nhiệt độ 300 độ. Chất lỏng thu được sẽ được phân chất để sau đó biến thành xăng dầu. http://edition.cnn.com/2005/WORLD/europe/09/14/germany.catfuel.reut/     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến Sao Hỏa thành một Trái đất mới      Liệu chúng ta có thể biến Sao Hỏa thành một Trái đất, biến bầu khí quyển đóng băng, với không khí loãng trên bề mặt của Sao Hỏa trở thành một bầu khí quyển thân thiện với con người như ở Trái đất?       Câu trả lời là: hoàn toàn có thể. Các tàu vũ trụ, trong đó có cả các tàu thăm dò hiện vẫn đang hoạt động trên Sao Hỏa đã tìm ra được những bằng chứng cho thấy Sao Hỏa từng có không khí ấm vào thời hành tinh này mới hình thành, với những con sông chảy ra các biển lớn. Và cũng mới đây thôi ở trên Trái đất, chúng ta đã hiểu được cách làm thế nào một hành tinh có thể ấm lên: đó là thêm các chất khí gây hiệu ứng nhà kính vào tầng khí quyển của hành tinh đó.  Đa số lượng khí carbon dioxide vốn đã làm Sao Hỏa ấm lên giờ chắc vẫn còn ở đó, trong bụi băng, trong băng giá ở các vùng cực, và như vậy là ở trong nước. Hành tinh nào cũng vậy, thời kỳ đầu mới hình thành thường như một nồi súp loãng lổn nhổn, sau đó chuyển sang thời kỳ thứ hai, với việc tạo ra một khu vườn khổng lồ.  Phần lớn công việc hình thành vỏ hành tinh (kiểu như Trái đất) là do tự cuộc sống của hành tinh đó tạo ra. “Bạn không thể xây dựng được Sao Hỏa. Bạn chỉ có thể làm nó nóng lên và gieo vào đó một số hạt giống”, Chris McKay, nhà khoa học về hành tinh của NASA nói.   Perfluorocarbon, khí gây hiệu ứng nhà kính có thể được tổng hợp từ các thành phần có trong bụi và không khí ở Sao Hỏa sau đó được “thổi” ngược trở lại bầu khí quyển. Quá trình làm nóng hành tinh này có thể thải ra các khí CO2 lạnh, điều này có thể khiến đẩy nhanh quá trình làm nóng và gia tăng áp suất khí quyển tới mức nước bốc thành hơi.  Phần lớn khí cacbon dioxit đã từng làm nóng Sao Hỏa lên có thể vẫn còn ở đó, trong các bụi đóng băng và băng ở các cực của hành tinh này, và như vậy vẫn còn nước. Toàn bộ hành tinh cần được đưa trở lại những ngày hỗn mang từ thủa đầu mới hình thành và như vậy đòi hỏi kinh khí rất lớn.   Trong khi đó, theo nhà thực vật học James Graham thuộc Đại học Wisconsin, những người khai hoang từ Trái đất có thể tạo ra các hạt giống đá đỏ theo một tiến trình phát triển của hệ sinh thái-đầu tiên là tạo ra các vi khuẩn và địa y, như nó vẫn sống ở Nam cực của Trái đất hiện nay, rồi tới các loài rêu và khoảng một ngàn năm sau đó trở thành các loài cây.  Những người lạc quan như Robert Zubrin, Chủ tịch của Mars Society thì luôn mơ đến một ngày sẽ có các công dân Sao Hỏa. Vốn là một kỹ sư, Zubrin tin chắc rằng nền văn minh không thể phát triển được nếu không có sự mở rộng liên tục về mặt địa lý. Nhưng chỉ có những nghiên cứu cụ thể mới có thể thuyết phục được McKay. “Chúng ta sẽ tới Sao Hỏa sống như đã sống ở Bắc cực vậy. Tất nhiên, không có các trường tiểu học ở Bắc cực”. Tuy vậy, ông cũng nghĩ rằng những bài học thu được từ việc hình thành vỏ Sao Hỏa-một cảnh tượng khiến nhiều người kinh ngạc- có thể sẽ giúp con người quản lý tốt hơn cuộc sống vốn bị hạn chế trên Trái đất của chúng ta.  Không có nhiều thời gian để tranh luận luận điểm này nhưng Sao Hỏa rõ ràng là nơi trước mắt không có hiểm họa. Một ủy ban mới được thành lập của Nhà trắng cho rằng đầu tiên cần phải tới Mặt trăng hoặc một hành tinh nhỏ để tiến hành các thử nghiệm. Trước mắt, chúng ta vẫn chưa đủ kinh phí để có thể đi bất cứ đâu. Rõ ràng, việc ước tính kinh phí để xanh hóa một hành tinh chết hiện vẫn là điều chưa thể thực hiện được.   Kế hoạch cải tạo Sao Hỏa    1.    Năm đầu tiên: Dự án kéo dài hàng nghìn năm này có thể bắt đầu bằng các chuyến khảo sát, cỡ khoảng 18 tháng. Mỗi nhóm khảo sát sẽ tới Sao Hỏa trong vòng 6 tháng và mang lên đó một mô đun nhà ở loại nhỏ.   2.    100 năm sau: Tạo ra một tầng khí quyển nhờ việc tác động làm nóng chảy bụi và băng trên Sao Hỏa. Các nhà máy tạo khí gây hiệu ứng nhà kính và thậm chí các thiết bị gương hội tụ năng lượng Mặt trời có thể được xây dựng để làm tan chảy băng và bụi băng.   3.    200 năm sau: Mưa có thể rơi khi khí C02 được tích tụ đủ, khiến áp suất khí quyển tăng giúp không khí ấm lên, làm tan băng. Vi khuẩn, tảo và địa y bắt đầu xuất hiện để cải tạo hoang mạc đầy đá của Sao Hỏa.  4.    600 năm sau: Các loài cây có hoa có thể xuất hiện sau khi vi khuẩn đã tạo ra lớp đất và cung cấp oxy cho khí quyển, những khu rừng , thậm chí rừng ôn đới cuối cùng cũng hình thành.        5.    900 năm sau: Nhu cầu về năng lượng đối với các thành phố (nếu muốn thực sự xây dựng ở Sao Hỏa) bắt đầu xuất hiện, lúc đầu có thể thỏa mãn bằng năng lượng hạt nhân hoặc năng lượng gió. Tuy nhiên, giải pháp lâu dài vẫn là các năng lượng nhiệt hạch và cần xây dựng các trung tâm năng lượng nhiệt hạch để đáp ứng nhu cầu năng lượng của các thành phố trên Sao Hỏa.  6.    1.000 năm sau: Những cư dân đầu tiên của Sao Hỏa có thể ra ngoài, với điều kiện mang theo các bình sản sinh khí oxy có thể hoạt động cả ngàn năm. Qua thời kỳ địa chất, trước khi Trái đất trở thành nơi không thể tiếp tục sinh sống được nữa, Sao Hỏa có thể mất bầu khí quyển mới tạo ra và đóng băng trở lại.     Thông số chung:             Trái đất  Sao Hỏa      Chu kỳ quay (ngày):  23,9 giờ  24,6 giờ      Vòng quay (năm)     365,2 ngày  686,9 ngày      Nhiệt độ trung bình  59oF – 15oC  – 81oF (- 63oC)      Áp suất khí quyển  1.013 milibars    6 milibars      Khoảng cách trung bình tới Mặt trời  93 triệu dặm–150 triệu km         Trục nghiêng  23,5o  25o      Trọng lực  1 G  0,4G                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biển tăng nhiệt nhanh chóng      Các nhà khoa học Mỹ và Úc vừa kết luận: các đại dương trên thế giới đang ấm lên với tốc độ nhanh hơn 50% trong 40 năm qua so với dự kiến do khí hậu toàn cầu thay đổi nhanh chóng.      Nhiệt độ biển tăng cao góp phần làm cho mực nước biển dâng lên, nhấn chìm các đảo quốc nhỏ và đe dọa sẽ tàn phá các khu vực đồng bằng đông dân cư có vị trí thấp hơn mực nước biển. Có 2 nhân tố khiến mực nước biển dâng cao: biển tăng nhiệt và băng tan, đều do tình trạng ấm lên toàn cầu gây ra. Các nhà khoa học đã sử dụng các phương pháp hiện đại để đo nhiệt độ biển dưới độ sâu 700m từ 1961 đến 2003 và rút ra kết luận rằng biển ấm lên đã khiến mực nước biển dâng lên 0,53mm/năm chứ không phải 0,32mm như trước đó.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể coronavirus bị đột biến nghiêm trọng      Các nhà khoa học chạy đua để xác định xem liệu một biến thể SARS-CoV-2 đang lây lan nhanh ở Nam Phi có ảnh hưởng tới hiệu quả của vaccine COVID hay không. Biến thể này chứa một số lượng lớn các đột biến được tìm thấy trong các biến thể khác, bao gồm cả đột biến của biến thể Delta.      Giới chuyên môn ở Nam Phi đang theo dõi chặt chẽ biến thể này.   Kể từ lần đầu tiên được ghi nhận ở Botswana vào đầu tháng này, biến thể này đã được phát hiện trong khách du lịch đến Hồng Kông từ Nam Phi. Các nhà khoa học cũng đang cố gắng tìm hiểu các đặc tính của biến thể, chẳng hạn như liệu nó có thể né tránh các “hàng rào” miễn dịch do vaccine COVID mang lại hay không, liệu nó sẽ gây bệnh nặng hơn hay nhẹ hơn các biến thể khác. Đã có những “giai thoại” xung quanh việc tái nhiễm hoặc các ca nhiễm ở những người đã được tiêm chủng, nhưng hiện nay vẫn còn quá sớm để xác quyết được điều gì.   “Có rất nhiều điều chúng tôi chưa hiểu về biến thể này,” Richard Lessells, bác sĩ bệnh truyền nhiễm tại Đại học KwaZulu-Natal ở Durban, Nam Phi, cho biết tại một cuộc họp báo do Bộ Y tế Nam Phi tổ chức vào ngày 25/11 mới đây. “Thông tin về đột biến khiến chúng tôi lo ngại, nhưng điều cần phải làm bây giờ là hiểu tầm quan trọng của biến thể này và nó có ý nghĩa như thế nào trong phản ứng chống dịch.”  Một nhóm chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) họp vào ngày 26 tháng 11, dán nhãn chủng này (hiện được gọi là B.1.1.529) là một biến thể đáng quan tâm (concern or variant).  Thay đổi ở protein gai   Các nhà khoa học đã phát hiện ra B.1.1.529 trong dữ liệu giải trình tự bộ gene virus thu thập được từ Botswana. Biến thể này nổi bật vì nó chứa hơn 30 thay đổi ở protein gai – đặc trưng của SARS-CoV-2 và các thiết kế vaccine cũng phải căn cứ vào các đặc trưng này. Nhiều thay đổi trên protein gai virus ở biến thể B.1.1.529  đã được tìm thấy trong các biến thể như Delta và Alpha, và các thay đổi này liên quan đến khả năng lây nhiễm cao hơn và khả năng trốn các kháng thể.  Ở Nam Phi, các nhà khoa học ghi nhận thấy sự tăng lên rõ rệt của các ca nhiễm mang biến chủng này. Giải trình tự bộ gene virus của nhóm nghiên cứu ở Đại học KwaZulu-Natal đã phát hiện ra biến thể B.1.1.529 có mặt ở tất cả 77 mẫu virus mà họ thu thập ở Gauteng, từ ngày 12 đến ngày 20 tháng 11. Hàng trăm mẫu khác cũng đang được phân tích.   Để hiểu được nguy cơ mà B.1.1.529 gây ra, các nhà nghiên cứu sẽ theo dõi chặt chẽ chuỗi lây nhiễm của biến thể này ở Nam Phi và các khu vực khác. Trước đó, các nhà nghiên cứu ở Nam Phi đã nỗ lực để nhanh chóng nghiên cứu biến thể Beta, cũng được xác định ở nước này vào cuối năm 2020. Giờ đây một nỗ lực tương tự cũng đang bắt đầu với B.1.1.529.  Hiệu quả của vaccine?   Nhóm của Penny Moore, nhà virus học tại đại học Witwatersrand ở Johannesburg, South Africa đã cung cấp một số dữ liệu đầu tiên về khả năng né tránh kháng thể của Beta, giờ đây cũng đã bắt đầu nghiên cứu về khả năng né tránh của B.1.1.529. Họ sẽ xem xét khả năng virus có thể né tránh các kháng thể cũng như các phản ứng miễn dịch khác. Moore nói: “Nhiều đột biến mà chúng tôi biết là có vấn đề, nhưng nhiều đột biến khác có vẻ góp phần vào việc lẩn tránh tốt hơn”. Moore cho biết thậm chí một số mô hình tính toán còn cho thấy dấu hiệu là B.1.1.529 có thể tránh được miễn dịch của tế bào T. Hi vọng sẽ có kết quả sơ bộ trong hai tuần nữa.  Aris Katzourakis, nhà nghiên cứu tiến hóa virus tại Đại học Oxford, Anh cho biết: “Một câu hỏi cấp bách là liệu biến thể có làm giảm hiệu quả của vaccine không? vì nó có quá nhiều thay đổi”. Moore cho biết các ca nhiễm đột phá (nhiễm kể cả khi đã tiêm đủ 2 mũi vaccine) đã được ghi nhận ở Nam Phi, đối với những người đã tiêm bất kỳ loại vaccine nào trong số ba loại vaccine đang được sử dụng ở nước này, từ Johnson & Johnson, Pfizer – BioNTech cho đến AstraZeneca. Hai du khách Hồng Kông có kết quả xét nghiệm dương tính với biến thể này đã được tiêm vaccine Pfizer. Một người trong đó đã đi du lịch từ Nam Phi; người còn lại bị nhiễm trong quá trình cách ly.  Các nhà nghiên cứu Nam Phi cũng sẽ nghiên cứu xem B.1.1.529 có gây ra bệnh nặng hơn hay nhẹ hơn so với các biến thể khác hay không.  Cho đến nay, mối đe dọa do B.1.1.529 đặt ra bên ngoài Nam Phi vẫn chưa rõ ràng. Moore cho biết cũng không rõ liệu biến thể này có khả năng lây truyền cao hơn Delta hay không, vì hiện tại số ca nhiễm COVID-19 ở Nam Phi không cao. Aris Katzourakis cho biết, các nước đang có số ca nhiễm biến thể Delta phổ biến cao nên theo dõi các dấu hiệu của B.1.1.529. Cần xem loại biến thể này có cạnh tranh và trở nên phổ biến hơn so với biến chủng khác hay không.  Bảo Như lược dịch  Nguồn bài và ảnh: Nature doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-03552-w      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể Delta có nguy hiểm hơn với trẻ em?      Người bị lây nhiễm Delta có tải lượng virus cao bất bình thường ở đường hô hấp trên, vì vậy họ lây truyền virus dễ dàng hơn.      Nguồn ảnh: NBC news.  Hiện tại các nhà nghiên cứu Mỹ nói về biến thể delta đang hướng tới người “trẻ hơn, nhanh hơn và bệnh nhiều hơn”. Các phòng khám cho hay số bệnh nhân bị COVID-19 ngày càng ít tuổi hơn.  Có thêm tin tức về việc nhiều bệnh nhân dưới 30 tuổi phải thở máy hoặc bị tử vong. Bệnh nhân trẻ thường bị bệnh nặng hơn và diễn biến bệnh nhanh hơn so với mùa hè năm ngoái. Tại một số phòng khám nhi số giường điều trị tích cực đã phải tăng lên. Tuần trước cơ quan dịch bệnh Mỹ CDC đã thông báo biến thể delta “dễ lây lan như bệnh thủy đậu” và nó sẽ gây ra “các đợt bệnh nghiêm trọng hơn so với biến thể alpha hoặc các biến thể trước đó”.  Có phải delta không chỉ lây lan nhanh hơn mà còn nguy hiểm hơn không?   Hiện tại các nhà nghiên cứu cũng như các thầy thuốc trên thế giới đều đang cố làm rõ vấn đề này. Biến thể delta xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ, lây lan nhanh và gây ra nhiều ca tử vong hơn giờ đây lan tràn ra nhiều nơi trên thế giới. Rõ ràng có sự dịch chuyển về cơ cấu tuổi, số ca lây nhiễm mới thiên về phía người trẻ ngày một nhiều hơn.   Catherine O’Neal, bác sỹ tại Trung Tâm Y tế Our Lady of the Lake ở Baton Rouge, Louisiana, Mỹ còn đánh giá có thể “đó là một loại COVID mới” với tờ New York Times. Những đồn đại như vậy ngày càng nhiều. Có điều các nhà khoa học vẫn chưa thật sự chắc chắn về mức độ nguy hiểm đến như vậy của biến thể Delta. Đành rằng những nghiên cứu đầu tiên đã cho thấy điều đó: các nhà khoa học công bố trên tờ The Lancet, phân tích dữ liệu ở Scottland cho thấy Delta làm tăng nguy cơ điều trị tại bệnh viện lên gấp đôi so với biến thể Alpha B.1.1.7.  Theo các nhà khoa học, việc giới trẻ bị lây nhiễm Delta nhiều hơn có thể vì vào thời điểm này nhiều người cao tuổi đã được tiêm chủng. Theo một thông tin sơ bộ trong một nghiên cứu ở Canada, chưa được bình duyệt thì nguy cơ bị nhập viện ở giới trẻ khi lây nhiễm Delta so với trước đây thậm chí tăng gấp 4 lần. Nhưng đánh giá ở một số nước khác thì chưa rõ ràng.  Liệu biến thể này có thực sự nguy hiểm hơn các biến thể khác không và vì sao, điều này quả không dễ dàng gì. Bởi vì, thực ra con virus không làm cho tất cả mọi người đều phải trải qua giai đoạn bị bệnh nặng, tuy nhiên nó vẫn rất nguy hiểm với nhiều người.  Joachim Schultze, nhà miễn dịch học và nghiên cứu về gene thuộc Trung tâm Bệnh thoái hóa thần kinh tại Đại học Bonn ở Đức cho biết: “Chúng tôi thấy rằng Delta có khả năng lây nhiễm cao hơn đáng kể so với biến thể “tiền nhiệm” của nó: Một người bị lây nhiễm Alpha có thể lây lan tiếp cho từ hai đến ba người, một người bị nhiễm Delta thì lên đến năm đến sáu người. Đó là một khác biệt rất lớn. Delta lây lan rộng, đặc biệt là trong số những người chưa được tiêm chủng. Chúng tôi đã thấy điều này ở một số quốc gia”. Có thể giải thích số ca bệnh nặng ở trẻ em và thanh thiếu niên tăng vì sự lây nhiễm cao của biến thể này: số trẻ bị lây nhiễm càng nhiều thì số bị phát bệnh đương nhiên cũng sẽ tăng lên.  Người bị lây nhiễm Delta có tải lượng virus cao bất bình thường ở đường hô hấp trên, vì vậy họ lây truyền virus dễ dàng hơn. Schultze cho rằng: “Cũng có thể tải lượng virus cao này làm cho các ca lâm trọng bệnh tăng lên. Có thể giải thích cho giả thuyết này như sau: Nếu chỉ có một vài hạt virus trong màng nhầy khi bị lây nhiễm, hệ thống miễn dịch hoàn chỉnh có thể đánh chặn hầu hết các loại virus này”.   Ở những người đã tiêm chủng, các kháng thể chống lại SARS-CoV-2 cũng đóng một vai trò nhất định. Nếu số lượng các hạt virus tăng lên đáng kể, hệ thống miễn dịch bị thất thủ không thể làm chủ được tình hình, virus nhân lên nhanh chóng và người bị lây nhiễm sẽ phát bệnh.  Không rõ liệu những người trẻ tuổi có thực sự dễ mắc biến thể Delta hơn và có nguy cơ bị bệnh nặng hơn hay không. Tại Mỹ, các bác sĩ và nhà nghiên cứu rất quan tâm đến điều này. Terrence Coulter, giám đốc đơn vị chăm sóc đặc biệt tại Trung tâm Y tế CoxHealth ở Springfield, Missouri, cho biết: “Điều đó thực sự khiến tôi sợ hãi.” Anh ấy từng điều trị cho một số bệnh nhân COVID-19 trẻ tuổi trong khoa của mình.    Joachim Schultze nhìn nhận vấn đề có phần tỉnh táo hơn. “Do dễ bị lây nhiễm nên chúng ta phải tính đến việc, những người chưa tiêm chủng sẽ dễ bị lây nhiễm hơn. Do đó điều quan trọng là thực hiện các biện pháp đã có là giữ khoảng cách và đeo khẩu trang, qua đó làm cho sự lây lan chậm lại – để những người trẻ tuổi và trẻ em có nguy cơ  mắc bệnh nghiêm trọng có cơ hội được tiêm chủng”.  Xuân Hoài dịch   Nguồn: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fgesundheit%2Fdiagnose%2Fcoronavirus-delta-verursacht-mehr-krankenhausaufenthalte-bei-kindern-in-den-usa-a-c1545e99-0ff3-4a61-b1d8-76a9b436d415&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com%2F    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể Delta: Lây lan siêu nhanh, chưa rõ độc lực      Người nhiễm biến thể Delta mang tải lượng virus gấp 1200 lần so với người nhiễm biến thể gốc của SARS-CoV-2, theo một nghiên cứu mới đây tại Trung Quốc.        Người bệnh COVID-19 đang chờ được điều trị tại một bệnh viện ở Indonesia. Biến thể Delta đang hoành hành ở đây. Ảnh: Juni Kriswanto/AFP/Getty  Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ cuối năm 2020, biến thể Delta đã nhanh chóng chiếm ưu thế trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã giải thích được cho điều này: biến thể Delta siêu lây nhờ nhân bản nhanh hơn và nhiều hơn.  Nó đã đạt khả năng lây truyền gấp đôi biến thể gốc. Nhà dịch tễ học Jing Lu tại Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc cùng đồng nghiệp đã theo dõi 62 người bị cách ly sau khi phơi nhiễm với COVID-19 và những người đầu tiên nhiễm biến thể Delta tại Trung Quốc.  Các bệnh nhân được đo tải lượng virus (biểu thị mật độ virus trong cơ thể) hàng ngày trong suốt quá trình diễn tiến của COVID-19, rồi so sánh với 63 trường hợp nhiễm biến thể ban đầu của SARS-CoV-2 từ năm 2020.  Một ấn phẩm tiền xuất bản ngày 12/7 ghi nhận tải lượng virus đạt đến ngưỡng phát hiện sau 4 ngày phơi nhiễm, so với mức trung bình 6 ngày ở người nhiễm biến thể ban đầu, điều này chứng tỏ biến thể Delta nhân bản nhanh hơn rất nhiều. Tải lượng virus trên người nhiễm biến thể Delta cao gấp 1,260 lần trên người nhiễm biến thể gốc.  Nhà dịch tễ học Benjamin Cowling tại đại học Hồng Kông cho biết thời gian ủ bệnh ngắn và mật độ virus cao trong đường hô hấp giải thích cho khả năng siêu lây của biến thể Delta: lây sớm hơn từ lúc phơi nhiễm và lây cho nhiều người hơn.  Thời gian ủ bệnh ngắn cũng gây khó khăn cho y tế Trung Quốc, nơi áp dụng mô hình truy vết và cách ly người tiếp xúc với người nhiễm SARS-CoV-2.  Nhà nghiên cứu di truyền Emma Hodcroft tại đại học Bern, Thụy Sĩ, cũng cho rằng đây là cách giải thích hợp lý. Bà và Cowling đều cho rằng sự chênh lệch về tải lượng virus giữa biến thể Delta và biến thể gốc có thể khác biệt giữa các quần thể nghiên cứu khác nhau và cần được nghiên cứu thêm.  Một số câu hỏi khác về biến thể Delta còn chưa được giải đáp: liệu nó có gây bệnh nặng hơn hay không, và khả năng né tránh hệ miễn dịch của nó đến mức nào. Hodcroft hy vọng các nghiên cứu trên các quần thể rộng và đa dạng hơn sẽ cho biết nhiều thông tin mới.  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn: Nature, DOI: 10.1038/d41586-021-01986-w      Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể “đột biến kép”: Đổ thêm dầu vào khủng hoảng Covid-19 Ấn Độ      Hành vi của con người có lẽ là nguyên nhân chính gây ra làn sóng bùng phát Covid-19 thứ hai ở Ấn Độ hơn là các biến thể mới phát sinh như hiện nay. Nhưng sự kết hợp của hai yếu tố này đang dẫn tới hậu quả vô cùng thảm khốc. Mỗi ngày trong tuần, Ấn Độ đã ghi nhận trung bình 340.000 trường hợp nhiễm coronavirus mới; có những ngày lượng người chết vượt quá con số 3.300.      Người mẹ đang nhận được oxy miễn phí và Manoj Kumar ngồi cạnh bên trong chính chiếc xe của mình, ở đợt bùng phát Covid -19 tại Ghaziabad, Ấn Độ, ngày 24 tháng 4 năm 2021. Ảnh: Reuters   Các nghiên cứu sơ bộ cho thấy vaccine vẫn có hiệu quả.   Hành vi của con người có lẽ là nguyên nhân chính gây ra làn sóng bùng phát Covid-19 thứ hai ở Ấn Độ hơn là các biến thể mới phát sinh như hiện nay. Nhưng sự kết hợp của hai yếu tố này đang dẫn tới hậu quả vô cùng thảm khốc. Mỗi ngày trong tuần, Ấn Độ đã ghi nhận trung bình 340.000 trường hợp nhiễm coronavirus mới; có những ngày lượng người chết vượt quá con số 3.300.   Số ca Covid-19 tăng đột biến này diễn ra chỉ ba tháng sau khi Bộ trưởng Y tế Ấn Độ thông báo “Ấn Độ đã ngăn chặn thành công đại dịch.” Ông tin rằng các nghiên cứu dựa trên một mô hình toán học “Mẫu lớn Ấn Độ (Indian Supermodel)”, cho thấy đất nước “có thể đã đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng” thông qua việc lây nhiễm tự nhiên.   Nhưng mô hình có sai sót và kết quả bị sai lệch do thiếu dữ liệu chính xác. Hiện nay số ca nhiễm mới hằng ngày đã làm tê liệt hệ thống chăm sóc sức khỏe; Nguồn cung cấp oxy và phương tiện chăm sóc sức khỏe cá nhân đã hết, không còn giường bệnh. Đã xuất hiện những trường hợp chết trên vỉa hè và trên đường, khi họ chờ đợi bên ngoài bệnh viện.   Một biến thể trỗi dậy  Khi nhận thấy nguy cơ bùng phát lây nhiễm biến thể của B.1.1.7 – biến thể lần đầu tiên được phát hiện ở Vương quốc Anh, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập một mạng lưới đa phòng thí nghiệm có tên là Liên đoàn bộ gene SARS-CoV-2 Ấn Độ (INSACOG) để theo dõi sự tiến triển của SARS-CoV-2. Vào ngày 24/3, sau khi giải trình tự chưa đến 1% tổng số mẫu coronavirus được thu thập từ các phòng thí nghiệm thành viên trên toàn quốc, INSACOG thông báo họ đã tìm thấy “một biến thể đột biến kép mới”. Điều khiến các nhà khoa học cảnh báo là biến thể này mang các đặc điểm từ hai dòng họ đáng lo ngại: Biến thể B.1.617 Ấn Độ của SARS-CoV-2 mang hai đột biến: E484Q (tương tự như E484K, một đột biến được tìm thấy ở Vương quốc Anh (dòng B.1.1.7)) và L452R (được tìm thấy trong các biến thể lây lan nhanh ở California, Mỹ (B.1.427 và B.1.429). Trước đó, cả hai đột biến đều được tìm thấy riêng biệt trong nhiều mẫu coronavirus khác, nhưng chúng đã được ghi nhận cùng nhau lần đầu tiên ở Ấn Độ.  Nhưng thực tế thì đột biến đã được giải trình tự và mã di truyền của nó đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu toàn cầu vào tháng 10 năm 2020. Nhưng rồi “có vẻ như nó không được chú ý”, David Montefiori, nhà nghiên cứu miễn dịch virus và phát triển vaccine tại Viện vaccine cho người Duke nói. Biến thể mới này đã lây lan nhanh chóng, gây ra hơn 60% tổng số ca nhiễm coronavirus chỉ riêng ở bang Maharashtra, là nơi có báo cáo số lượng nhiễm lớn nhất ở Ấn Độ.  Biến thể mới B.1.617, mang hai đột biến đã biết: ở vị trí 452 của protein spike và ở vị trí 484, vẫn được gọi là “đột biến kép”. Nhưng trên thực tế, B.1.617 mang theo những 11 đột biến khác – như vậy là tổng cộng là 13 đột biến, trong đó có bảy đột biến nằm trong protein spike, tạo cho virus cấu trúc “vương miện” đặc trưng của nó. Virus sử dụng các protein spike để bám vào protein thụ thể ACE2 trên bề mặt của phổi và các tế bào khác của con người, sau đó lây nhiễm chúng. Một đột biến thứ tám trong B.1.617 nằm ở điểm giữa của protein spike chưa trưởng thành – và cũng được tìm thấy trong một số biến thể ở New York – có thể làm tăng khả năng lây truyền của virus, tạo cho nó một lợi thế thích nghi tốt hơn.  Vị trí quan trọng của đột biến  Grace Roberts, một nhà virus học tại Đại học Queen Belfast, cho biết: “Đó là thứ xảy ra khá nhiều ở virus. “Các protein bề mặt tiến hóa nhanh hơn, đặc biệt là với một loại virus mới, [vì] nó muốn tiến hóa để liên kết với các tế bào tốt hơn”.  Vì protein spike bao phủ bề mặt của virus SARS-CoV-2, nên nó là mục tiêu chính của hệ miễn dịch. Các tế bào miễn dịch tạo ra các kháng thể nhận biết, liên kết với virus và “vô hiệu hóa” nó. Đó là lý do tại sao, tất cả các vaccine Covid-19 hiện tại cũng sử dụng protein spike để đào tạo khả năng miễn dịch cơ thể.  Mặc dù là ngẫu nhiên, nhưng các đột biến trong protein spike thay đổi hình dạng và cấu trúc của nó có thể giúp virus tránh được các kháng thể. Những sự thích nghi này làm tăng khả năng tồn tại và tái tạo của virus. Bất kỳ đột biến nào trong protein spike đều có khả năng tác động đến kiểu hình trung hòa của virus và khả năng lây nhiễm, khả năng lây truyền của nó và khả năng gây bệnh. Chẳng hạn, trước đó, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng các biến thể California mang đột biến L452R ít chịu tác động từ các kháng thể sau khi tiêm vaccine hơn. Tương tự, các nghiên cứu cho thấy đột biến L452R có thể làm tăng số lượng virus có thể lây nhiễm sang một tế bào, có khả năng thúc đẩy sự nhân lên của virus và giúp virus liên kết chặt chẽ hơn với thụ thể ACE2 trên bề mặt tế bào.   Montefiori cho biết, chỉ cần một đột biến tại vị trí E484, như trường hợp của các biến thể B.1.351 và P.1, có thể giúp virus thoát khỏi các kháng thể trung hòa. Cùng với đột biến L452R, cũng có khả năng chịu trách nhiệm giúp virus trốn tránh các kháng thể, thì B.1.617 có thể là một biến thể rất rắc rối.  Đã “quá giang” đi khắp thế giới  B.1.617 đã nhanh chóng được quá giang trên toàn cầu và lan rộng ra toàn thế giới. Vào ngày 3/4, biến thể B.1.617 được xác định trên một bệnh nhân ở Mỹ. Giờ đây thì biến thể B.1.617 hiện đã được xác định ở 16 quốc gia trên tất cả các lục địa, ngoại trừ châu Phi.   Sự xuất hiện của nhiều biến thể lây truyền hơn cho thấy những hạn chế lớn trong hiện trạng giám sát toàn cầu không chỉ đối với SARS-CoV-2 mà còn tất cả các bệnh mới ở các khu vực xa xôi. INSACOG dự kiến ​​sẽ giải mã 5% các mẫu dương tính từ tất cả các tiểu bang nhưng điều đó vẫn còn rất xa vời. Họ mới chỉ giải trình tự được 13.614 mẫu vào ngày 15/4.  Ở ngay chính Ấn Độ, người ta áng khoảng 10% các ca mắc là nhiễm biến thể mới. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng lưu ý rằng số lượng chuỗi virus được phân tích ở Ấn Độ [khoảng 100 chuỗi mỗi ngày] nhỏ hơn nhiều so với số người bị nhiễm ở Ấn Độ [khoảng 300.000 mỗi ngày]. Do đó, họ vẫn không đủ dữ liệu để chắc chắn rằng sự gia tăng Covid khổng lồ hiện nay ở Ấn Độ là do B.1.617 hay không.   “Tôi thấy rất rõ ràng là Ấn Độ cần giải trình tự gene với một tỷ lệ cao hơn nhiều. Thường mọi người hỏi cụ thể là bao nhiêu? Vương quốc Anh là tiêu chuẩn vàng về việc này, có thể từ 5 đến 10%. Trong khi Ấn Độ mới chỉ đạt ít hơn 1%.” Tiến sĩ Ashish Jha, một chuyên gia về chính sách y tế cộng đồng tại Đại học Brown, cho biết. Việc Ấn Độ chưa đủ khả năng đánh giá giám sát không phải nỗi lo của riêng nước này mà thực ra chính là một vấn đề toàn cầu. Hiện nay nước này chiếm 1/3 tổng số ca nhiễm Covid được ghi nhận hằng ngày trên toàn thế giới (trong khi nhiều chuyên gia nghi ngờ rằng con số trong thực tế ở Ấn Độ có thể còn cao hơn).  Tiêm chủng là lối thoát  Mặc dù việc giám sát bộ gene của các biến thể là rất quan trọng, nhưng mỗi điều đó không thể ngăn chặn các đợt bùng phát mới, các sự kiện siêu lây lan hoặc ngăn chặn đại dịch. Giám sát bộ gene chỉ có thể giúp các nhà khoa học theo dõi nơi lây nhiễm, cách thức và vị trí virus lây lan. Trước tình hình hiện nay các nhà virus học như Benjamin Pinsky, Trung tâm Y khoa Đại học Standford tin vào một lối thoát: “Tiêm chủng càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng tốt, đó là chìa khóa để kiểm soát đại dịch này”.  Có một số bằng chứng sơ bộ cho thấy vaccine hiện có hiệu quả chống lại B.1.617 và các biến thể khác. “Và trong khi việc triển khai đó tiếp tục, điều quan trọng là mọi người phải tuân thủ tất cả các biện pháp can thiệp sức khỏe cộng đồng mà mọi người đã chán nghe về nó, nhưng vẫn có hiệu quả vượt trội trong việc chống lại sự lây lan của căn bệnh truyền nhiễm này,” Pinsky nói thêm. “Những biện pháp đó là đeo khẩu trang, giãn cách xã hội và rửa tay. Tất cả những điều đó vẫn hoạt động chống lại các biến thể và chúng ta nên tiếp tục làm điều đó cho đến khi, bạn biết đấy, nhiều cá thể được tiêm chủng hơn”.□  Hạ Nhiên lược thuật   https://www.nationalgeographic.com/science/article/this-double-mutant-variant-is-adding-fuel-to-indias-covid-19-crisis?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể Lambda có khả năng đề kháng với vaccine      Biến thể Lambda đang lây lan nhanh ở Nam Mỹ. Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy đột biến này có thể đề kháng các kháng thể, do đó các nhà nghiên cứu yêu cầu đưa biến thể Lambda vào diện “đáng lo ngại”.      Biến thể Lambda của virus corona có khả năng lây lan mạnh hơn hẳn virus gốc Sars-CoV-2. Đây là kết quả một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Nhật Bản. Cho đến nay các kết quả nghiên cứu này mới được đánh giá là kết quả sơ bộ và mới chỉ là bản in trước và chưa được các chuyên gia độc lập thẩm định.  Khả năng bảo vệ của vaccine kém  Các nhà khoa học đã nghiên cứu về các protein gai của biến thể Lambda, còn có tên là C.37. Trong loại protein này, người ta phát hiện ra ba đột biến với những cái tên là RSYLTPGD246-253N, 260 L452Q và  F490S. Ba đột biến này có thể làm cho virus ít có khả năng bị các kháng thể vô hiệu hóa. Điều này có nghĩa là tiêm chủng sẽ trở nên ít hiệu quả hơn trong việc bảo vệ cơ thể chống lại sự lây nhiễm.  Theo nghiên cứu, hai đột biến khác với cái tên T76I và L452Q có khả năng làm cho con người dễ bị lây nhiễm hơn với biến thể Lambda.  Có thuộc diện biến thể đáng lo ngại?   Cho đến nay, người ta mới biết rất ít về các đặc điểm của biến thể Lambda. Hiện tại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp loại biến thể này thuộc diện “đáng quan tâm” , tức là một biến thể cần được theo dõi. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu từ Nhật Bản đang kêu gọi đưa Lambda vào danh sách “biến thể đáng lo ngại”. Lambda đáp ứng các tiêu chí đối với bảng phân loại này: tăng khả năng lây nhiễm virus và khả năng chống  miễn dịch kháng virus. Có nhiều dấu hiệu cho thấy nó có thể trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng.  Hiện chưa thể nói biến thể Lambda nguy hiểm hơn biến thể Delta. Trưởng nhóm nghiên cứu, ông Kei Sato thuộc Đại học Tokyo cho hay: Lambda có thể trở thành “một mối đe dọa tiềm tàng với xã hội loài người”.  Lần lây nhiễm đầu tiên với biến thể Lambda của coronavirus được phát hiện ở Peru vào tháng 8 năm 2020. Hồi tháng 6, WHO đã xếp  biến thể này là “biến thể cần theo dõi”. Lây nhiễm Lambda hiện đã xuất  hiện ở gần 30 quốc gia, hầu hết ở Nam Mỹ. Và đột biến cũng đã xuất hiện ở châu Âu: các trường hợp lây nhiễm đã xảy ra ở Anh, Tây Ban Nha và Ý.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Coronavirus-Mutation: Ist die Lambda-Variante gegen Corona-Impfstoffe resistent? – DER SPIEGEL       Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến thể Omicron báo hiệu chấm dứt đại dịch?      Omicron đang lây lan cực kỳ nhanh chóng và gây bệnh nhẹ hơn Delta. Phải chăng biến thể này có thể là một món quà trời cho? Diễn biến ở các nước châu Âu cho thấy có thể Omicron sẽ mang tới dấu hiệu chấm dứt đại dịch.      Liệu rồi đây chúng ta lại có thể bỏ khẩu trang?  Một vài tuần trước nhiều nước châu Âu vô cùng lo lắng trước biến chủng mới vì nó lây lan nhanh hơn mọi biến thể trước đó, đến mức nhiều nước thi hành các biện pháp nghiêm ngặt chống biến thể Omicron. Ở Đức, ngay cả những người tiếp xúc với người mắc biến chủng Omicron cũng bị cách ly 14 ngày. Giờ đây thì các biện pháp phòng ngừa, kể cả tiêm đến ba mũi vẫn không giúp giảm lây lan được bao nhiêu. Số ca nhiễm mới vào đêm giao thừa cao hơn 19% so với một tuần trước đó. Theo Viện Robert Koch (RKI), Omicron đã chiếm hơn 17% trong các ca lây nhiễm ở Đức và thúc đẩy mạnh quá trình lây nhiễm.   Chính sự lây lan mạnh này làm nảy sinh câu hỏi liệu các biện pháp quyết liệt đang triển khai có thực sự còn hợp lý hay không. Nếu Omicron thắng thế, nếu các quy tắc chống dịch không thay đổi, hàng trăm nghìn người sẽ lâm vào tình trạng bị cách ly tại nhà. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hạ tầng cơ sở y tế vốn đã rất căng thẳng.  Chính do tình trạng này nên Hoa Kỳ và Israel đã thay đổi quy chế cách ly. Đức cũng dự định xem xét vấn đề này trong những ngày đầu năm. Xu hướng là nới lỏng quy chế cách ly.    Các đặc điểm dịch tễ của biến thể Omicron có thể gây ra sự thay đổi trong toàn bộ chính sách chống corona?   Trước hết phải khẳng định không thể ngăn chặn Omicron. Số liệu ở Pháp cho thấy có ngày ở nước này có tới 208.000 ca lây nhiễm, trong đó tỷ lệ nhiễm Omicron là 62%. Thứ hai, theo phát hiện ở Anh và Nam Phi thì biến thể này ít gây ra tình trạng bệnh nghiêm trọng hơn hẳn so với các biến thể trước đó.  Tại Israel, các quan chức chính phủ thậm chí đang thảo luận về việc có nên chuyển sang mô hình lây nhiễm hàng loạt, từ đó cho phép lây nhiễm tự nhiên. Tất nhiên, điều kiện để thực hiện được điều này là trước đó dân chúng đã được đảm bảo bằng cách tiêm chủng. Chiến dịch tiêm vaccine mũi thứ tư cho các nhóm nguy cơ cao ở Israel đã bắt đầu được triển khai.   Các nhà khoa học Đức tỏ ra nghi ngờ. Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở Đức (71%) và Israel (64%) là tương tự, ở Đức có nhiều lo lắng, nếu hủy bỏ các hạn chế thì những người chưa tiêm chủng sẽ nhanh chóng bị bệnh phải đến bệnh viện, gây quá tải cho hệ thống y tế.   Đó là lý do tại sao Đức vẫn đang thiên về chính sách hãy làm “phẳng đường cong”, các con số lây nhiễm nên được giữ ở mức vừa phải để các cơ sở y tế không bị quá tải. “Quá trình lây nhiễm Omicron diễn ra rất nhanh có khả năng gây ra các vấn đề lớn. Điều quan trọng là ít nhất hãy trì hoãn nó một chút”, nhà dịch tễ học Hajo Zeeb từ Viện Nghiên cứu Phòng ngừa và Dịch tễ học Leibniz ở Bremen, Đức cho biết.  Trước diễn biến mới, giới chuyên môn đang thảo luận liệu rằng Omicron có phải là một điềm may mắn với nhân loại. Ông Florian Klein, lãnh đạo Viện Virus học Đại học Köln, Đức cho rằng “lây nhiễm dẫn mà không gây ra các ca bệnh nặng thì thực sự rất có lợi. Tuy nhiên chúng ta phải tính đến chuyện sẽ có nhiều người bị lây nhiễm nhiều hơn đáng kể do đó sẽ có nhiều ca bị bệnh nặng”.  Chuyên gia dịch tễ học Gérard Krause thuộc Trung Tâm  Helmholtz về nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đức lại thận trọng hơn nhiều, vì Omicron chưa chắc là biến thể cuối cùng của đại dịch này. Có thể còn có các biến thể tiếp theo và các làn sóng dịch sẽ chồng đè lên nhau, nhưng nhìn chung do tiêm chủng tăng cường và lây nhiễm lặp đi lặp lại đã tạo được khả năng miễn dịch cơ bản nhất định, do đó, tình trạng quá tải các bệnh viện sẽ giảm đi.  Nhìn chung, các nhà chuyên môn đều đặt kỳ vọng Omicron sẽ khiến COVID trở thành bệnh đặc hữu, và không còn là mối đe dọa đến hệ thống y tế khi có quá nhiều người mắc bệnh. □  Xuân Hoài lược dịch   Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/politik/deutschland/plus235976346/Omikron-Bedeutet-dass-das-Virus-keine-relevante-Bedrohung-mehr-fuer-das-Gesundheitssystem-darstellt.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến tôm cái thành tôm đực để tăng sản lượng 60%      Các nhà nghiên cứu ở ĐH Ben  Gurion (Negev, Israel) biến tôm cái thành  tôm đực nhằm tăng sản lượng tôm lên 60%.     Trong các loại tôm nước ngọt thân to thì tôm càng xanh được người tiêu dùng ưa thích nhất.     Mới đây, các nhà nghiên cứu ở ĐH Ben Gurion (Negev, Israel) đã dùng một phương pháp để biến đổi tôm cái thành tôm đực, qua đó tăng sản lượng tôm, do tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, thể tích lớn hơn chừng 60%.     GS Amir Sagi, người phát triển công nghệ dùng can thiệp RNA làm cho gene tạm thời im lặng (temporal gene silencing through RNA Interference) để biến tôm cái thành tôm đực, cho biết, công nghệ này có ưu điểm là an toàn. “Chúng tôi không cần dùng bất cứ hóa chất hoặc hormone nào, đây cũng chẳng phải là biến đổi gene,” ông nói.    Theo phương pháp này, người ta tiêm vào tôm càng xanh cái một loại phân tử làm cho gene im lặng, nhờ đó tôm cái biến thành tôm đực.     Tôm sau khi được “chuyển giới” vẫn có thể giao phối với tôm đực nhưng các con chúng sẽ đều là tôm đực. Sự biến đổi giới tính chỉ phát sinh ở những con tôm bị tiêm mà không ảnh hưởng tới các thế hệ sau.     Sagi cho biết, mỗi ngày một công nhân chuyên nghiệp có thể tiêm cho khoảng 2.000 con tôm. Mỗi con tôm sau khi trải qua vài chu kỳ sinh nở có thể đẻ ra vài nghìn trứng.     Ng. H dịch    Nguồn:     http://www.pakistantelegraph.com/index.php/sid/237982309    Author                Quản trị        
__label__tiasang Biến tường chắn âm thanh thành truyền phát âm thanh      Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc và Nhật Bản vừa chế tạo ra một màng mỏng chất dẻo có khả năng biến những bức tường phản xạ âm thanh thành ra chuyển phát âm thanh  hoàn hảo.       Ai cũng biết là không  thể nói chuyện riêng với người khác khi giữa hai người bị một bức tường  đặc cứng ngăn cách. Ngay cả khi khoan những lỗ nhỏ trên tường thì cũng  không ăn thua. Bởi vì giống như nhiệt năng khó có thể truyền qua dây dẫn  mảnh, năng lượng âm thanh cũng truyền rất kém qua các lỗ bé tí. Ít ai  có thể ngờ được sự kỳ diệu của Vật lý, khi chỉ cần một thay đổi nhỏ là  bạn đã biến một tường phản xạ âm thanh thành ra chuyển phát âm thanh  hoàn hảo.   Công trình nghiên cứu vừa mới được thông báo do nhóm cộng tác của Sam Hyeon Lee thuộc Đại học Yonsei, Hàn Quốc, và Oliver Wright thuộc Đại học Hokkaido, Nhật Bản, thực hiện, đã cho thấy chỉ cần dùng một màng mỏng chất dẻo dán căng trên miệng lỗ khoan thì tình thế đảo ngược hoàn toàn. Khi kích thích màng mỏng bằng sóng lực (sóng âm thanh) có tần số gần cộng hưởng, màng mỏng tác động giống như màng loa và truyền sóng âm thanh xuyên qua bức tường ngăn. Bức hình dưới đây mô tả kết quả của một sóng phẳng được phát phóng qua vuông góc với một bức tường đặc dày 5mm bằng thủy tinh hữu cơ Acrylic (đường màu trắng đứt đoạn) có khoan bốn lỗ nhỏ.  Màu đỏ biểu diễn sóng nén, màu xanh da trời biểu thị sóng dãn nở. Màu vàng và xanh lá cây biểu diễn áp lực gần bằng không. Hàng trên cùng là sóng truyền khi không có tường chắn. Hàng giữa là tường chắn có lỗ nhưng không bịt màng. Rõ ràng là có rất ít sóng có thể truyền qua lỗ khoan. Nhưng khi lỗ khoan được bịt lại bằng màng mỏng, hàng dưới cùng, có đến 80% năng lượng sóng được truyền qua.   Bởi đường truyền là rất bé, thế có nghĩa là năng lượng sóng tới được tập trung lại rất lớn vào trong các đường truyền này-thí nghiệm đo được độ tập trung là 5.700 lần. Hơn nữa so với bước sóng thì đường kính lỗ khoan là vô cùng bé. Hai đặc tính này, theo các tác giả, là cơ sở để chế tạo ra những cảm biến âm thanh có độ phân giải nhỏ hơn kích thước bước sóng nhiều lần, đó là điều mà công nghệ âm thanh đang tìm kiếm. Còn đối với nhiều người, ứng dụng mẹo này để nghe lén qua tường là cũng khá thú vị!           XH, theo Physics Today       Author                Quản trị        
__label__tiasang Big Data: Tôi KHÔNG tư duy, vì vậy tôi tồn tại      Từ đầu thế kỷ 21, công nghệ Big Data mang  lại kết quả thật bất ngờ khi phát hiện ra các mối tương quan mới khi  ghép nối các mảng dữ liệu lớn không mấy liên quan (theo tư duy thông  thường). Hiện tượng ĐDL cho thấy: Tư-duy hay Trí-khôn của con người  không chỉ giúp ta mà cũng đánh lừa ta trên con đường nhận biết thế giới.      Đây là một phát hiện mới trong khoa học nhưng lại là điều tất nhiên, thậm chí là những điều cơ bản nhất trong một số nền văn hóa cổ, đặc biệt là đạo Phật.   Hiện tượng  Loài người thu thập ngày càng nhiều thông tin hay dữ liệu (DL). 90% DL ngày nay được tạo ra chỉ trong hai năm gần đây. Những khối DL khổng lồ vẫn đang bồng bềnh “trôi” trong các kho DL, trên internet và không gian ảo mà có thể chưa hay không bao giờ được sử dụng. Từ đầu thế kỷ 21, người ta thử “ghép nối” các mảng dữ liệu khổng lồ (Đại dữ liệu, Big Data, ĐDL), dường như không mấy liên quan đến nhau, và phát hiện ra những điều bất ngờ. Đầu 2009, Google gây chấn động giới y học khi cho thấy có thể dự báo với sác xuất cao về khả năng bùng phát dịch cúm dựa trên kho dữ liệu khổng lồ các tìm kiếm trên Google.  Phân tích ĐDL là nghiên cứu các khối DL lớn và từ nhiều định dạng khác nhau để tìm ra các dạng thức ẩn chứa (hidden patterns), các mối tương quan chưa được biết đến (unknown correlations) và các nhận biết mới về thế giới.   “Công nghệ” ĐDL đem lại rất nhiều ứng dụng trong quan sát, dự báo, tối ưu hóa, tìm giải pháp trong sản xuất, kinh doanh, phân phối, năng lượng, ngân hàng, chính phủ, giao thông, y tế, quản lý xã hội, vv.  Đặc điểm và bản chất của phương pháp Đại Dữ Liệu  Khi nghiên cứu ĐDL là người ta tìm hiểu mối quan hệ giữa các DL không mấy liên quan đến nhau (theo cách logic thông thường). ĐDL tránh dùng các số liệu đã qua hiệu chỉnh (hay tính toán lại) mà dùng các số liệu “thô”, sử dụng cả các DL không “hoàn hảo”, có thể sai chính tả, ngữ pháp, các số liệu “bất hợp lý” (outliners), vv. ĐDL không chỉ “đại” về khối lượng, mà còn cả đa dạng về chủng loại như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, DL vô lượng, DL đã lượng hóa, DL số hóa, DL tương tự, v.v.   ĐDL tương tự phương pháp chọn mẫu (sampling) nhưng với một kích thước mẫu (sample size) vô cùng lớn, tiến tới tổng thể (N). ĐDL quan sát thêm nhiều các tham số (Factor) dù chưa thấy sự liên quan. Họ không đặt “đầu bài” là phải tìm hiểu vấn đề gì, mà chỉ đơn giản là đặt các khối ĐDL này bên nhau, xem chúng có tương quan với nhau không và tương tác thế nào, vv. Họ không chú trọng việc “giải” các nhiệm xác định trước mà chủ yếu là phát hiện các mối tương quan ta chưa biết, các dạng thức (pattern) và xu hướng tương tác giữa chúng.   Khoa học phương Tây dựa trên quan điểm rằng cái gì cũng có nguyên nhân. ĐDL không theo cách tiếp cận Nhân-Quả theo trực giác, tức là không nhất thiết truy tìm nguyên nhân của hiện tượng. Đây là sự chuyển đổi từ bản năng tư duy theo trực giác (rất hạn hẹp của con người) sang quan điểm về một thể thống nhất không tách rời của bản thể. Nói cách khác là mọi hiện tượng đều liên quan đến nhau. Hiện tượng xảy ra không phải do một vài nguyên nhân mà do toàn bộ hệ thống nó như vậy. Càng mở rộng tầm quan sát, càng thấy thêm nhiều mối tương quan. Tương tự, đạo Phật quan niệm: thế giới (hay bản thể) là một thể thống nhất. Trong đó, mọi hiện tượng, cả vật chất và thời gian, hòa “đặc quánh” với nhau và sẽ không còn là chúng nếu được xem xét tách rời (sự tách bạch “vật chất” và “thời gian” có thể dựa trên trực giác hữu hạn của con người ở một giai đoạn nhất định). Trong khối hỗn mang không tách biệt nổi này, mọi thứ lệ thuộc vào nhau. Hiện tượng (hay sự cố, incident) sẽ (và nhất định sẽ) khởi sinh (emerge) khi tồn tại tổng thể đó (tức hội đủ duyên khởi). Như vậy, hiện tượng không phát sinh do một vài nguyên nhân mà sẽ xảy ra như là một sự tất nhiên, một điều cố hữu của hệ thống. “Cái này” tồn tại khi có những “cái kia” và không “cái nào” là nguyên nhân hay kết quả cả. Quan hệ Nhân-Quả chỉ là một ảo cảm mà tư duy logic hữu hạn của Con-người dễ chấp nhận và làm họ nhận biết phiến diện về thế giới.   Thay vì tìm Nguyên-Nhân, ĐDL hướng tới khám phá các Mối-Tương-Quan. ĐDL chuyển từ hỏi “Vì sao?” (“Why?”) sang hỏi “Cái gì?”, “Như thế nào?” (“What?”, “How?”), chuyển từ Giải-Thích sang Thông-Tin về hiện tượng.   Vì sao “Tôi KHÔNG tư duy, vì vậy tôi tồn tại”?  ĐDL tiến gần hơn tới bản thể do đã giảm bớt sự can thiệp của Tư-Duy Con-Người. Nói cách khác, Tư-Duy (đầy khiên cưỡng) ngăn trở ta nhận biết Tự-Nhiên. Con người luôn có xu hướng gán quan điểm chủ quan (Thức) của mình vào các hiện tượng vô thức. Càng ít để cảm nhận, quan điểm của mình can thiệp vào quá trình nhận biết, ta càng tiến gần đến bản thể. Phật pháp chủ trương “Tri kiến lập tri, tức vô minh bản; Tri kiến vô kiến, tức tư Niết Bàn” (dựa vào cái Nhận-Thức của mình để tạo ra Tri-Thức, đó là Vô-Minh; Dùng cái Nhận-Thức của mình để lập ra Vô-Thức, hay Vô-Chấp, là Giác-Ngộ). Đây là điểm khác cơ bản giữa phương Tây và phương Đông về Nhận-Thức (hay sự Học). Theo Phương Tây, Học là tạo ra Tri-thức, tạo ra Tư-Duy (tức sinh Chấp). Sự Học thượng thừa ở phương Đông lại là thoát khỏi Tư-Duy, thoát khỏi cái chủ quan của Con-Người và của chính mình (phá Chấp) để đến gần Tự-Nhiên. Schumpeter, cha đẻ của thuyết Sáng-tạo (Creativity, Innovation), cho rằng “Mọi Sáng-Tạo đều bắt đầu bằng sự Phá-Hủy”. Trong đó, cái cần phá hủy đầu tiên là những định kiến, những quan niệm lối mòn trong chính chúng ta. Phật-giáo chủ trương: Không phá chấp thì không thể đạt tới Giác-ngộ. Khoa-học, Tư-duy, các khái niệm (Danh)… đều mang tính tạm thời (phi thường hằng hay phi thường Đạo theo Lão Tử) và là những “chấp”, chứa các lỗi cố hữu ngăn ta chân nhận hiện tượng. Muốn tồn tại và sáng tạo, luôn phảỉ vượt qua các “chấp”, các Tư-duy đó. “Phá Chấp” trong Phật-Giáo trùng hợp với “Chuyển-Đổi-Mô-Thức” (Paradigm Shift) của Thomas Kuhn trong Khoa-học-luận phương Tây.  Lỗi “hệ thống” của Tư-duy là: nó phải dựa trên một cơ sở, một xuất phát điểm nhất định. Rất nhiều người nghiên cứu, sáng tạo dựa trên logic, tiên đề, đức tin, quan niệm, “chân lý” của mình (hay của xã hội), ví dụ: “trái đất là trung tâm và đứng yên”, hay “thời gian là tuyến tính và không liên quan đến không gian”, hay “ánh sáng là sóng (hay hạt)”, hay “tự-nhiên dứt khoát phải hài hòa, cân đối (thậm chí tuyệt mỹ)”, hay “sác xuất để có sự sống là vô cùng nhỏ, vì vậy sự sống dứt khoát phải có ý nghĩa gì đó”, vv. Những quan niệm về hài hòa, hỗn độn, cân đối, đẹp, xấu, vv. hoàn toàn mang tính chủ quan và không phổ quát, thường hằng.   Kinh Kim Cương – cột trụ của Phật giáo đại thừa – nêu triết lý cốt lõi nhất của Phật-pháp. Đó là “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (“Đừng trụ vào đâu để mà sinh Tâm-thức”). “Sinh Tâm-thức” là nhận biết, bước đầu của mọi khoa học. Nhận biết bản thể thông qua, hay “trụ” vào tư duy, quan điểm hay bất cứ một trung gian nào đều là “gò ép”, bóp méo cái nhìn của ta. Tối ưu là kết hợp cả hai cách tiếp cận của phương Tây (hữu thức) và phương Đông (vô thức). Để truyền bá khoa học-giáo dục hay để có giải pháp ngắn hạn, người ta cần phải dựa trên một số giả thuyết, cơ sở, khái niệm, tiên đề nhất định. Nhưng phải hiểu rằng: các “cơ sở” này chỉ dùng cho một (số) mục đích nhất định và sẽ luôn cần phải vượt qua, xóa bỏ, đặt mới, tùy theo cái ta muốn tiếp cận. Ngược lại, phương Đông đề cao trực cảm (intuition), tức cảm nhận bản thể một cách trực tiếp, không thông qua bất kỳ trung gian nào (thậm chí các giác quan của chính mình), một cách vô giác, vô tri, vô thức, vô chấp và vô ngã.   Con người cần luôn lập ra, rèn luyện thành bản năng những cách tiếp cận, tư duy mới, mở rộng các giác quan của mình và biết được khi nào sử dụng tư duy của mình và khi nào cần “đóng” tư duy của mình lại để bản thể “lên tiếng” hay đơn giản là biến mình thành bản thể.   Khoa học phương Tây đề cao Tri-thức, Tư-duy, coi đó là mục đích và cứu cánh của sự tồn tại và phát triển (Tôi tư duy, vì vậy tôi tồn tại). Nhưng họ cũng dần nhận ra rằng: chính điều ngược lại của Tư-duy (tức Vô-tri) mới đưa ta đến gần hơn với bản thể (Tôi không-tư-duy, vì vậy tôi tồn tại).   Tài liệu tham khảo  – Kenneth Neil Cukier and Viktor Mayer-Schoenberger, The Rise of Big Data, How It’s Changing the Way We Think About the World, Foreign Affairs, May/June 2013, http://www.foreignaffairs.com/articles/139104/kenneth-neil-cukier-and-viktor-mayer-schoenberger/the-rise-of-big-data  – Kenneth Neil Cukier and Viktor Mayer-Schoenberger, Big Data: A Revolution That Will Transform How We Live, Work, and Think, Houghton Mifflin Harcourt, 2013  – Think Again: Big Data, http://www.foreignpolicy.com/articles/2013/05/09/think_again_big_data  – Hồ Tú Bảo, Dữ liệu lớn: Cơ hội và thách thức lớn, Tia Sáng, 25-01-2013, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=6103  – Lê Đình Duy, Bàn về Big Data, Blog: http://ledduy.blogspot.com/2012/12/ban-ve-big-data.html  – McKinsey, Big data: The next frontier for innovation, competition, and productivity, http://www.mckinsey.com/insights/business_technology/big_data_the_next_frontier_for_innovation  – IBM, What is Big Data?, http://www.ibm.com/big-data/us/en/  – Google launches ‘big data’ analytics service, 15-11-2011, http://www.information-age.com/technology/information-management/1670768/google-launches-big-data-analytics-service  – Thư viện Hoa Sen, Kinh Kim Cương, http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-73_4-18095/y-nghia-cau-ung-vo-so-tru-nhi-sanh-ky-tam-trong-kinh-kim-cang-tue-dat.html  – Thích Giác Hoàng, giải thích Lục Tổ Huệ Năng, Kinh Kim Cương, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, http://www.buddhismtoday.com/viet/hopthu/ungvosotru.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bình minh của trí tuệ nhân tạo      Stephen Hawking từng lên tiếng cảnh báo rằng “Sự phát triển trí tuệ nhân tạo sẽ đánh dấu chấm hết cho nhân loại”. Còn Elon Musk quan ngại sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo, còn gọi là AI, sẽ trở thành mối đe dọa sự tồn vong lớn nhất mà con người phải đối mặt.    Nỗi sợ ám ảnh về những thứ đáng sợ do con người tạo ra, một ngày nào đó sẽ quay trở lại đối phó chính con người đã không còn mới mẻ. Nhưng khi một nhà khoa học vũ trụ hàng đầu, một doanh nhân tại thung lũng Silicon và nhà sáng lập Microsoft – những người chắc chắn không phải kẻ bài trừ công nghệ, giờ đây lại cùng chung tiếng nói phản đối các chính sách đầu tư vào AI mà các công ty lớn như Google hay Microsoft đang theo đuổi, thì có lẽ vấn đề đang trở nên nghiêm trọng. Câu hỏi lúc này là làm như thế nào để lo lắng một cách khôn ngoan nhất.  Ngài dạy ta ngôn ngữ và …  Đầu tiên chúng ta cần hiểu những gì máy tính có thể làm hiện tại và những gì nó có khả năng làm trong tương lai. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của sức mạnh xử lý và hệ thống dữ liệu sẵn có khổng lồ, AI đang thực sự bùng nổ hết công suất. Hệ thống “Deep learning” – bằng việc bắt chước cấu trúc các nơ-tron thần kinh trong não bộ và “nghiền” lượng dữ liệu lớn; đã có thể tự dạy chính nó thực hiện các công việc, từ nhận diện khuôn mặt đến dịch thuật – hầu hết những gì con người có thể làm. Và kết quả là, một thứ tương tự với trí thông minh – có thể phiên dịch hình ảnh đến chơi game – tồn tại ngay trong phạm vi một chương trình máy tính. DeepFace, một thuật toán của Facebook được lập trình năm 2014 có thể nhận diện chính xác gương mặt ngay lập tức với độ chính xác lên đến 97%.    Robot Sophia với quyền công dân Arab Saudi trong ngày hội Đổi mới Sáng tạo ở Nepal, 2018. Nguồn: Reuters  Ngày nay, AI đã đủ mạnh để tạo ra những khác biệt đáng kể trong cuộc sống nhân loại. Máy tính hiện nay có thể chơi cờ giỏi hơn con người. Kỳ thủ giỏi nhất thế giới được Garry Kasparov1 gọi là “Nhân mã” – một dạng tổ hợp “lai” giữa con người và các thuật toán. Và những tổ hợp như vậy sẽ có mặt trong tất cả các lĩnh vực, ví dụ các bác sĩ với sự trợ giúp của AI có thể chẩn đoán chính xác hơn bệnh ung thư qua hình ảnh y học; thuật toán nhận diện giọng nói tích hợp trong điện thoại thông minh sẽ mang internet tới cho hàng triệu người mù chữ ở các quốc gia đang phát triển; trợ lý kỹ thuật số sẽ là giả thuyết đầy hứa hẹn cho nghiên cứu khoa học;…  Nhìn vào thực tế thì dẫu là trong ngắn hạn, không phải mọi thứ AI đem tới đều tích cực. Hãy thử hình dung về sức mạnh mà AI mang lại cho hệ thống máy móc an ninh quốc gia: năng lực kiểm soát hàng tỷ cuộc hội thoại, khả năng nhận diện một cá nhân trong đám đông chỉ bằng giọng nói hoặc ảnh chụp chân dung họ. Đây thực sự là mối đe dọa đối với sự tự do.  Và kể cả khi mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, thì nhiều người khác cũng trở thành nạn nhân của AI. Từ “máy tính” ban đầu để là chỉ những nô bộc, thường là phụ nữ, thực hiện các công việc tính toán thay cho chủ của họ. Ngày nay, AI đang thay thế công việc của những người công nhân cổ trắng2. Giáo dục và đào tạo với sự trợ giúp của AI sẽ kiến tạo một trường phái giáo dục mới.  Tuy nhiên, sự giám sát hay xáo trộn lại không phải những gì mà Hawking, Musk hay Gates lo ngại, nó cũng không phải điều truyền cảm hứng cho các bộ phim về AI tương lai mà Hollywood vẫn trình chiếu. Những quan ngại của họ thực sự xa vời bởi những sinh vật với trí thông minh nhân tạo hãy còn cách chúng ta rất xa, và gần như là chúng ta vẫn chưa có khả năng tạo ra những sinh vật đầy quyền năng như vậy.  Trên thực tế, cho dù đang sống ở thế kỷ có nhiều công cụ để “xâm nhập” và tìm hiểu não bộ thì các nhà tâm lý học, thần kinh học, xã hội học và cả triết học vẫn cần đi cả chặng đường dài để hiểu được cách thức một trí tuệ được hình thành như thế nào. Và trong lĩnh vực kinh doanh thì cũng không có kỳ vọng mua bán những phiên bản AI có khả năng tự chủ và sở thích riêng biệt bởi mọi người có thể thích một chiếc xe tự lái tốt nhưng không chắc đã muốn sở hữu một chiếc xe tự quyết định nó muốn đi đâu.  … và ta biết cách nguyền rủa ngài 3  Dù viễn cảnh về dạng AI “trọn vẹn” theo cách gọi của Hawking vẫn còn cách chúng ta rất xa nhưng con người cũng cần chuẩn bị “đối phó” một cách khôn ngoan. Có thể là điều này sẽ diễn ra dễ dàng hơn chúng ta vẫn tưởng tượng, bởi ít nhất là chúng ta đã đủ khả năng tạo ra những thực thể biết tư duy một cách độc lập và quyền năng siêu hạng thì chúng ta cũng có thể có cách đối phó chúng. Điều đó xuất phát từ thực tế: các cơ quan chính phủ, lực lượng quân đội hay thậm chí cả thị trường đều có khả năng thực hiện rất nhiều việc mà các cá nhân đơn lẻ không thể làm được.  Những ưu việt về khả năng tổ chức, thiết lập mạng lưới cộng tác, đề ra những quy tắc vận hành bộ máy tổ chức có thể làm xoa dịu nỗi sợ hãi của chúng ta, qua đó hé lộ cách làm để chúng ta có thể phát triển AI một cách an toàn. Cũng giống như sự giám sát dân sự với quân đội, cần điều chỉnh bằng quy tắc với thị trường và đem lại sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý các tổ chức xã hội, chúng ta cần mở các hệ thống AI để có thể giám sát chúng.  Do người tạo ra AI không thể tiên đoán được mọi khả năng có thể xảy ra nên cần một quy tắc mang tính nền tảng để quản lý mà không kìm hãm sự sáng tạo của con người khi tạo ra chúng. Chúng ta đã có những bài học kinh nghiệm tương tự trong lịch sử, từ chế tạo bom hạt nhân đến các quy tắc giao thông, và chúng ta đã khéo léo áp dụng các biện pháp pháp lý để hạn chế những đổi mới có thể mang đến rủi ro.  Bóng ma về một trí tuệ phi nhân tính là có thật, nhưng không ai có thể phủ nhận những lợi ích to lớn đến từ bình minh của AI.     Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.economist.com/news/leaders/21650543-powerful-computers-will-reshape-humanitys-future-how-ensure-promise-outweighs     Chú thích  1 Garry Kimovich Kasparov là siêu đại kiện tướng cờ vua người Nga và là nhà vô địch thế giới giai đoạn 1985-2000 (Wikipedia).    2 “Công nhân cổ trắng” chủ yếu chỉ các nhân viên lao bằng bằng trí óc như nhân viên kỹ thuật, nhân viên y tế, nhân viên quản lý và những người nắm được kỹ thuật phức tạp thao tác trên nút bấm, bảng điều khiển,… (Wikipedia).    3 “You taught me language, and my profit on’t is Iknow how to curse”: Lời thoại của nhân vật Caliban nói với Prospero trong vở kịch The Tempest của Shakespeare. Caliban được Prospero dạy ngôn ngữ nhưng hắn lại mang ý đồ xấu xa muốn hại lại Prospero.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bisphenol A: Nhựa tổng hợp chảy trong máu của chúng ta      Con người hấp thụ ngày càng nhiều nhựa tổng  hợp qua không khí, qua da và nhất là qua thức ăn. Một số công trình  nghiên cứu cho thấy nhựa plastic là nguyên nhân dẫn đến các bệnh ung  thư, béo phì và vô sinh.     Con người đang bị “chất dẻo hóa“  Trong hơn sáu chục năm qua, trái đất của chúng ta đã thoái hóa thành hành tinh nhựa tổng hợp plastic. Mọi loại thực phẩm bán trong các siêu thị đều được đóng gói sạch sẽ hợp vệ sinh bằng giấy có lớp tráng đặc biệt hoặc đựng trong hộp plastic, ngay cả nước khoáng cũng đựng trong chai PET. Hiện tại có khoảng 80% hàng hóa bán trong các siêu thị tiếp xúc với plastic. Các loại nhựa tổng hợp đã có một chiến thắng ngoạn mục. Ngành công nghiệp đánh giá nhựa tổng hợp có độ bền cao, nhẹ và dễ sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Ở nhiệt độ tương đối thấp, người ta đã có thể tạo plastic thành nhiều hình dáng khác nhau. Vì vậy việc chế tạo vật liệu đóng gói tương đối ít tốn kém. Hàng năm thế giới sản xuất trên 250 triệu tấn plastic, riêng nước Đức sản xuất 65 triệu tấn. Lượng rác thải dạng plastic cũng tăng lên tương tự. Hiện nay số lượng chất thải plastic trong biển cả nhiều gấp sáu lần so với các loại phù du. Plastic cũng không từ cơ thể con người. Các nghiên cứu cho thấy trong máu và nước tiểu ở người đã xuất hiện các hợp chất của plastic.  Dieter Swandulla, giám đốc Viện Sinh lý học II thuộc Đại học Bonn, cho rằng „Hiện tại đã có hơn 90% người dân ở các nước công nghiệp bị nhiễm mãn tính Bisphenol A (BPA), có thể nói họ bị “chất dẻo hóa”. Hầu như trong tất cả các mẫu nước tiểu đều chứa một nồng độ đáng kể BPA.“ Chất Bisphenol A bị coi là độc hại đối với sức khỏe con người. „Đây là một loại hormone tổng hợp, tác động đến hormone động dục nữ. Người ta đã phát hiện, khi hấp thụ chất này có thể sẽ dẫn đến các căn bệnh như béo phì, tiểu đường và các bệnh về tim mạch“, Swandulla giải thích.  Những loại mỹ phẩm thường dùng hàng ngày chứa những chất có thể tác động đến hormone trong cơ thể con người và gây bệnh.  Quá trình hóa học làm cho plastic chứa BPA, chất này biến các phân tử dầu mỏ và khí đốt nhỏ li ti thành một chuỗi phân tử dài. Trong khi đó, ngành công nghiệp thường bổ sung một số chất nhất định (Monomer) để làm cho plastic có độ rắn cao hơn hẳn và Bisphenol A là một chất Monomer như vậy, Swandulla cho biết.  Không có BPA thì không thể có nhựa cứng. Đây là loại hóa chất được sản xuất nhiều nhất trên thế giới. Nó xuất hiện nhiều trên các sản phẩm thông dụng như trong đồ hộp, đĩa CD, thiết bị ở ô tô, chất trám răng, ống tiêm và đồ chơi trẻ em. Ngoài ra chất này còn có ở loại giấy chịu nhiệt, từ loại giấy này sản xuất ra các loại giấy dùng làm hóa đơn, giấy in vé tầu, xe. Và ở bất cứ loại hình nào, sản phẩm này luôn tìm cách để thâm nhập vào cơ thể con người.     Xâm nhập qua cả hơi thở  „BPA rất dễ hòa tan trong chất béo. Nó thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thức ăn và ngấm qua da. Thậm chí nó có mặt cùng với bụi trong nhà và qua việc hít thở, nó thâm nhập vào cơ thể chúng ta“, Swandulla lưu ý. Một số nghiên cứu gần đây nhất cho hay, chất này rất dễ thông qua niêm mạc để ngấm vào cơ thể con người. Và từ đó để lại những hệ lụy.   BPA với một liều lượng từ nhỏ đến trung bình đã có thể gây hại cho sức khỏe, điều này đã được nhà khoa học Frederick vom Saal chứng minh qua nghiên cứu của ông vào giữa những năm 90. Theo đó BPA làm giảm sản xuất tinh trùng, tác động đến sự phát triển của bộ não, tăng trọng lượng của tuyến tiền liệt và làm thay đổi bộ gien di truyền. Từ đó nhà nghiên cứu nghi ngờ một quy tắc khoa học đã được thừa nhận cho đến nay „Độc hay không độc là do liều lượng quyết định“. Khác với giả định cho đến thời kỳ này, BPA với liều lượng nhỏ lại tác động mạnh hơn so với liều lượng lớn.  Nhà nữ sinh vật học phân tử Patricia Hunt đã chỉ rõ, chất Bisphenol A có thể gây nhiễu loạn đối với hệ gien di truyền. Bà đã quan sát thấy hiện tượng này ở những con chuột bị nhốt trong những chuồng làm bằng nhựa plastic mới và uống nước đựng trong những chai nhựa làm từ Polykarbonat. Những thí nghiệm tiếp theo cho thấy, tổn thương tới nhiễm sắc thể ở con cái diễn ra trong nhiều thế hệ. Những khuyết tật này có thể là nguyên nhân gây đẻ non.   Ngoài ra Swandulla trong một nghiên cứu hồi tháng 12 vừa qua chỉ rõ chức năng của Enzyme và các protein-vận chuyển bị ảnh hưởng. Qua các thí nghiệm trên mô của chuột và của người, nhà nghiên cứu này và cộng sự phát hiện, chất BPA cản trở các kênh can-xi trong màng tế bào, các kênh này rất quan trọng đối với chức năng của tế bào. Thông qua các kênh này, chất Kalzium sẽ chẩy vào các tế bào sống, từ đó điều tiết sự co lại của tế bào cơ tim hay sự giao tiếp giữa các tế bào thần kinh với nhau.  Tổ chức Y tế thế giới WHO cũng có một nghiên cứu khái quát về tác dụng  của các chất hormone tổng hợp và thừa nhận các nhà khoa học có lý. Công trình nghiên cứu cho thấy số lượng các ca ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư tinh hoàn trong những thập niên vừa qua đã tăng rõ rệt. Tình trạng dậy thì ở các bé gái diễn ra sớm hơn và ngày càng nhiều. Chất lượng tinh trùng ở nam giới giảm (tới 40%) và tình trạng thừa cân. “Những hiện tượng này có thể liên quan đến rối loạn hormon, thí dụ do Bisphenol A gây ra“, theo ý kiến của TS Sarah Häuser.  Trong nghiên cứu của mình, WHO nêu rõ, sự tăng vọt các bệnh liên quan đến hormone không thể giải thích do các yếu tố di truyền mà do tác động từ bên ngoài. Vì thế WHO coi các hóa chất tác động đến hormone là “mối đe dọa toàn cầu”. Các số liệu có tiếng nói rất rõ ràng : Plastic là chất độc đối với con người ở các quốc gia công nghiệp.  “Những chất chứa hormone tổng hợp ở nồng độ cực kỳ thấp cũng vẫn gây tác động xấu, các quy định hiện hành không bảo vệ được con người“, Sarah Häuser cho hay. Bisphenol A tuy phân hủy và đào thải nhanh. Nhưng chất này hầu như có mặt ở mọi người, điều đó cho thấy trong cuộc sống hàng ngày con người đang bị chất plastic đe dọa. “Quan niệm về sử dụng trong phạm vi cho phép thực ra khó có thể đứng vững. Tốt nhất là nên cấm hẳn chất này“, theo Häuser.   Thứ nhất vì tác động mạnh mẽ của Bisphenol A gắn với quá trình phát triển của con người. Tác động của BPA đối với bào thai, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ hoàn toàn khác với tác động đối với người trưởng thành. Thứ hai là sự tích tụ các chỉ tiêu. Hàng ngày ta ăn xúp đóng hộp, tay đụng chạm đến các loại vé tầu, xe và ăn cá ở biển, cá ăn plastic thay vì ăn các loại sinh vật phù du. “Ngoài ra còn có tác động của chất Phthalaten – đây là chất làm mềm có trong các tấm PVC trải nền nhà, chúng cũng tác động đến hormon“, Häuser cho hay. Thậm chí các loại kem thoa trên da cũng có các chất này. Chuyên gia này cho rằng “cuối một ngày chúng ta tiếp cận không biết bao nhiêu thứ có chất gây hại mà không biết được mức độ là bao nhiêu, vả lại chúng ta cũng chưa biết tác động qua lại của các chất này ảnh hưởng đến con người như thế nào“.  Swandulla ở Đại học Bonn tiếp tục diễn giải: “Do có khả năng hòa tan trong chất béo nên có nguy cơ BPA tích tụ trong các mô khác nhau trong cơ thể và đạt tới một nồng độ cao ở đây.“ Quá trình này ở con người chưa được nghiên cứu đầy đủ. Còn thiếu quá nhiều sự hiểu biết về những nguyên tố tạo nên plastic. “Chai nhựa plastic đựng nước chứa tới trên 2.000 chất cấu thành khác nhau. Mỗi nhà sản xuất lại có một công thức chế tạo bí mật riêng mà không bị buộc phải công khai. Chỉ khoảng 20% các chất này mới được xem xét, đánh giá về mức độ nguy hại“, Swandulla bầy tỏ.  Pháp cấm BPA  Các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ còn phải tiếp cận với đề tài này trong một thời gian dài nữa. Một mặt, thời gian để chất nhựa plastic tan rã thành các chất tạo nên chúng mất khoảng 500 năm. Mặt khác, hiện còn thiếu các công trình nghiên cứu dài hơi. Theo Viện Liên bang về Nghiên cứu rủi ro thì “sự phát triển và đánh giá những lựa chọn thay thế BPA phải trải qua nhiều năm (khoảng 5 năm).“   Liên minh châu Âu cũng quan tâm đến vấn đề này. Hiện tại Ủy ban thảo luận về những quy chế mới trong việc tiếp cận với các hóa chất chứa hormone tổng hợp, thậm chí cả về việc cấm các loại hóa chất này. Ảnh hưởng của các quy chế này sẽ cực kỳ lớn vì tất cả các doanh nghiệp bán các sản phẩm ở châu Âu phải tuân thủ quy chế. Đồng thời cũng đã xuất hiện những ý kiến chỉ trích các dự định nói trên.   18 nhà khoa học đã có ý kiến trong một bài bình luận mang tính phê phán trên một tạp chí chuyên đề. Họ cho rằng “những vấn đề này thiếu cơ sở khoa học“. Nay người ta được biết, 17 trong số 18 nhà nghiên cứu này làm việc trong các ngành công nghiệp hóa chất, dược phẩm, công nghệ sinh học hoặc trong lĩnh vực sản xuất mỹ phẩm, thuốc lá và thuốc bảo vệ thực vật.   Hiện chưa rõ, đến khi nào thì sẽ có sự thống nhất quan điểm ở châu Âu. Tuy nhiên, một số nước đã có những hoạt động tích cực. Chính phủ Pháp dự định đến năm 2015 sẽ cấm sự có mặt của Bisphenol A trong tất cả đồ hộp thực phẩm. Quốc hội Thụy Điển hiện đang nỗ lực để ra quyết định tương tự. Riêng Đức cho đến nay chưa kế hoạch gì.   Có điều rõ ràng là: Sẽ không có một thế giới không có plastic. Vì thế điều có thể làm là, người tiêu dùng phải biết tự bảo vệ mình một cách tốt nhất. Chính vì vậy, giới bảo vệ người tiêu dùng khuyên tránh các loại thực phẩm đóng gói bằng đồ hộp hay plastic. Người ta có thể sử dụng sữa chua, xốt cà chua chứa trong chai thủy tinh. Người tiêu dùng cũng nên tránh các loại nước quả đóng hộp mà nên dùng nước quả đóng chai thủy tinh. Một lời khuyên nữa: tránh đựng thức ăn như xúc xích, phôma và bơ trong các hộp bằng nhựa và nên dùng đồ thủy tinh hay sành sứ.   Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Bkis trong hành trình thương hiệu hóa sản phẩm      Thời gian qua, c&#225;i t&#234;n Bkis được b&#225;o ch&#237; quốc tế v&#224; trong nước li&#234;n tục nhắc tới sau khi Bkis c&#244;ng bố t&#236;m ra nguồn gốc ph&#225;t động cuộc tấn c&#244;ng từ chối dịch vụ (DDoS) v&#224;o c&#225;c website của Ch&#237;nh phủ Mỹ v&#224; H&#224;n Quốc. Đ&#226;y kh&#244;ng phải lần đầu c&#225;i t&#234;n Bkis được thế giới nhắc đến. Trong năm 2008, c&#225;c kết quả nghi&#234;n cứu của Bkis như: Ph&#225;t hiện lỗ hổng nghi&#234;m trọng của tr&#236;nh duyệt Google Chrome, ph&#225;t hiện lỗ hổng trong phần mềm của Microsoft hay lỗ hổng trong c&#244;ng nghệ nhận dạng khu&#244;n mặt tr&#234;n c&#225;c m&#225;y t&#237;nh x&#225;ch tay của Toshiba, Lenovo&#8230; cũng đ&#227; tạo ấn tượng tốt với giới chuy&#234;n m&#244;n quốc tế. C&#242;n ở trong nước, Bkis được biết đến trước hết bởi sự quen thuộc của người sử dụng với phần mềm diệt virus Bkav. Chặng đường đưa một sản phẩm c&#244;ng nghệ miễn ph&#237; trở th&#224;nh một nh&#227;n h&#224;ng thương mại, cạnh tranh ngang ngửa với c&#225;c sản phẩm của nước ngo&#224;i v&#224; đang tr&#234;n đ&#224; tiến ra thị trường to&#224;n cầu l&#224; cả một c&#226;u chuyện d&#224;i, nhiều trăn trở v&#224; t&#226;m huyết của những người Bkis.  Tạp ch&#237; Tia s&#225;ng đ&#227; c&#243; buổi tr&#242; chuyện với Gi&#225;m đốc Nguyễn Tử Quảng về h&#224;nh tr&#236;nh thương hiệu h&#243;a sản phẩm Bkis.    P.V: Chào anh Quảng, Bkis cùng với phần mềm diệt virus BkavPro đã và đang có những bước tiến ấn tượng trong cả lĩnh vực thương mại lẫn nghiên cứu an ninh mạng. Để được như ngày hôm nay, câu chuyện hình thành và phát triển Bkis đã bắt đầu thế nào, thưa anh?  Nguyễn Tử Quảng: Từ năm 1995, khi đang là sinh viên năm thứ ba khoa Công nghệ thông tin, tôi đã bắt tay vào nghiên cứu về virus máy tính và sau đó thử viết chương trình diệt virus. Tại thời điểm đó, Internet còn chưa phát triển như bây giờ nên không có được nhiều tài liệu. Khi đó, thông qua bạn bè tôi có được 1 cuốn sách ở dạng photo của tác giả Ngô Anh Vũ nói về vấn đề này cùng với một số sách kĩ thuật của nước ngoài. Từ đây tôi có những kiến thức cơ sở đầu tiên trong lĩnh vực an ninh mạng. Virus máy tính biến đổi hằng ngày, theo từng giai đoạn, chúng tôi luôn phải bắt kịp với những công nghệ mới nhưng trong thâm tâm tôi luôn ghi nhớ tác giả Ngô Anh Vũ người đã giúp tôi trong những bước khởi đầu.   Năm 1997, sau khi tốt nghiệp, tôi ở lại công tác tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội và vẫn tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu, phát triển phần mềm diệt virus. Trong nhiều năm liền, Bkav được miễn phí cho tất cả mọi người.  Năm 2000, nhận thấy những nguy cơ về an ninh mạng trên thế giới, tôi đã nghĩ Việt Nam cũng cần phải được chuẩn bị để sẵn sàng làm chủ công nghệ, đối phó với những nguy cơ đó. Tôi đã đệ trình lên Nhà trường thành lập Trung tâm An ninh mạng và Bkis đã được thành lập.     Khi thành lập Bkis, ở Việt Nam khái niệm an ninh mạng vẫn còn khá mới mẻ, anh đã gặp những thuận lợi và khó khăn gì?   Tại thời điểm đó, thuận lợi lớn nhất mà Bkis có được là sự quyết đoán của thầy Hiệu trưởng Hoàng Văn Phong (nay là Bộ trưởng Bộ KH&CN) trong việc quyết định thành lập Trung tâm, mặc dù ở vào thời điểm đó phần lớn giới chuyên môn trong trường không thực sự ủng hộ  ý tưởng thành lập Trung tâm của tôi. Nhiều người nghĩ an ninh mạng và phần mềm diệt virus thì có gì để làm. Thầy Hoàng Văn Phong tin tưởng giao cho tôi làm Giám đốc, cho dù tôi mới chỉ ra trường được vài năm, chưa có nhiều kinh nghiệm về quản lý và theo thông lệ nhiệm vụ này thường phải do một đảng viên, một giáo sư, tiến sỹ đảm nhiệm. Gọi là Trung tâm nhưng thực ra lúc đó chỉ có một mình Giám đốc (cười).  Tôi đã lựa chọn lĩnh vực an ninh mạng trước tiên vì đam mê và sau đó thấy rằng sớm hay muộn ở Việt Nam cũng sẽ phát triển lĩnh vực này.   Vậy thì từ đâu, anh quyết định thương mại hóa sản phẩm Bkav, vốn được anh miễn phí nhiều năm?                Liên quan đến sự việc Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính VNCERT, Bộ Thông tin và Truyền thông gửi công văn “nhắc nhở” Bkis về việc hỗ trợ Hàn Quốc truy tìm nguồn phát động tấn công website chính phủ Mỹ và Hàn Quốc, Giám đốc Nguyễn Tử Quảng cho biết: “Bản chất vấn đề của sự việc này là sự phản ứng thái quá của KrCERT (Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Hàn Quốc) sau khi Bkis tìm ra nguồn phát động tấn công. KrCERT cảm thấy không vui khi họ phải nhờ đến sự trợ giúp của một đơn vị ở nước ngoài như Việt Nam. Sự việc cũng sẽ không có gì nếu như VNCERT của Việt Nam không vội vàng chuyển phản ánh của KrCERT thành công văn ‘nhắc nhở’ Bkis trong khi các bên chưa hề có các trao đổi làm rõ vấn đề. Thực tế trước đó, KrCERT đã khẩn thiết đề nghị các thành viên hiệp hội APCERT (trong đó Bkis là một đồng sáng lập viên) hỗ trợ điều tra. Phương pháp Bkis sử dụng để khống chế 2 server của Hacker cũng đã được các chuyên gia đại học Toronto, Canada sử dụng trước đó để nghiên cứu mạng GhostNet, và phương pháp này được thực hiện theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.”        Phần mềm diệt virus Bkav được ra đời và phát triển một cách miễn phí trong nhiều năm liền. Tuy nhiên, khi mạng Internet chính thức có mặt ở Việt Nam vào năm 1997, các vấn đề về virus trở nên nhiều và ngày càng phức tạp trong khi chúng tôi chỉ có 3 người vừa phát triển Bkav, vừa hỗ trợ người sử dụng. Mỗi ngày chúng tôi nhận tới hàng trăm cuộc gọi và email nhờ hỗ trợ diệt virus máy tính. Khi đó chúng tôi vừa lên lớp giảng dạy, vừa nghiên cứu, phát triển phần mềm, vừa trả lời mọi người trên khắp cả nước. Công việc thực sự quá tải khiến tôi trăn trở rất nhiều. Chúng tôi muốn hỗ trợ được nhiều người hơn nữa, hiệu quả hơn nữa nhưng không đủ người, không đủ thời gian… Chỉ có cách duy nhất là phải tăng thêm nhân lực, phải có cơ sở hạ tầng và có chi phí vận hành. Nhưng cho tới thời điểm đó, công việc hỗ trợ mọi người của chúng tôi là phi lợi nhuận, để tăng quy mô là một bài toán nan giải.  Năm 2000, Luật doanh nghiệp ra đời, toàn xã hội quan tâm nhiều hơn tới lĩnh vực thương mại. Tôi cũng nhờ đó mà thay đổi tư duy. Lời giải đã được tìm ra: Phải thương mại hóa Bkav. Chính nhờ quyết định đó mà Bkis có được sự phát triển như bây giờ, có tiền để thực hiện tái đầu tư. Thực tế là Trung tâm cũng nhận được đầu tư của Nhà nước, nhưng chỉ có đầu tư trang thiết bị chứ không có kinh phí vận hành thường xuyên. Nhận thấy rằng không thể chờ cơ chế thay đổi, tôi coi đó là khó khăn khách quan cần phải tự giải quyết. Đến bây giờ, tôi vẫn nghĩ thương mại hóa Bkav sớm hơn thì sẽ tốt hơn nữa.  Quá trình thương mại hóa sản phẩm diễn ra như thế nào và trong bao lâu thì có được sản phẩm cung cấp cho người sử dụng?  Khi quyết định thương mại hóa Bkav, nhìn lại thì thấy sản phẩm của mình chưa thể là sản phẩm thương mại được. Một sản phẩm thương mại đúng nghĩa thì cần phải có một đội ngũ phát triển, cập nhật, nâng cấp, phải có đội ngũ hỗ trợ khách hàng, đội ngũ phát triển kinh doanh… Vấn đề là khi sản phẩm miễn phí thì người sử dụng là người “nhờ vả” anh, còn khi là một sản phẩm thương mại thì mối quan hệ đó trở thành quan hệ giữa nhà sản xuất và khách hàng. Điều đó buộc sản phẩm phải là cả một hệ thống chứ không chỉ là một phần mềm như khi là sản phẩm miễn phí.   Với quan điểm như vậy, phải sau 5 năm, cho đến tận tháng 11 năm 2005, Bkis mới chính thức đưa ra thị trường sản phẩm thương mại đầu tiên.  Tại sao phải mất tới 5 năm để làm việc đó?   5 năm đó là thời gian để Bkis đào tạo nguồn nhân lực. Tại thời điểm đó và thậm chí tới tận bây giờ, chuyên ngành an ninh mạng tại các trường đại học chưa sẵn sàng, do đó kỹ sư an ninh mạng không thể tuyển sẵn. Nếu chờ đợi để tuyển sẵn thì có lẽ đến giờ Bkis cũng chưa có đủ kỹ sư để phát triển sản phẩm.   Với quan điểm phát triển bền vững và đã làm gì phải làm đến tận gốc, chúng tôi quyết định tuyển sinh viên từ năm thứ 2, tự đào tạo theo các chương trình riêng của mình. Sau 4 năm, ra trường các em đã trở thành các kỹ sư, chuyên gia an ninh mạng đầy đủ kinh nghiệm. Đó cũng là lý do chúng tôi đã phải mất tới 5 năm để chuẩn bị và đến bây giờ đã là 9 năm, bù lại chúng tôi có một nền móng vững chắc để có thể phát triển xa hơn thay vì không bao giờ.  Tuy nhiên, trong thời gian này, chúng tôi gặp không ít khó khăn. Năm đầu tiên sau khi các em sinh viên ra trường thì không có ai ở lại Trung tâm cả, lý do cơ bản là vì lương thấp. Tôi nhận ra rằng, phải nhìn thẳng vào sự thật là phải đảm bảo cuộc sống trước mắt của các em, ở đây không thể chỉ dựa vào tình thầy trò cũng như sự phát triển trong tương lai mà các em có thể chưa nhìn thấy ngay. Có thời điểm tôi đã phải vay tiền của gia đình, làm thêm các công việc khác để có đủ tiền thực hiện điều này. Đặc biệt, để làm sản phẩm đóng gói nhà sản xuất phải làm chủ công nghệ gốc, nhân lực phải có tính chuyên nghiệp cao. Để đào tạo được những con người như vậy, chúng tôi đã phải rất bền bỉ.  Lĩnh vực Công nghệ cao không phải là một lợi thế của Việt Nam, anh đã làm thế nào để Bkav có chỗ đứng như ngày hôm nay?  Trong lĩnh vực Công nghệ cao, giá trị của chất xám mới là cái lớn nhất làm nên thành công. Tôi tin, trí thông minh của người Việt Nam chẳng thua kém ai, cho dù có thể với nhiều người, niềm tin này đã lung lay. Thực tế là để làm công nghệ cao ở Việt Nam có rất nhiều khó khăn, nhưng tôi quan niệm những khó khăn đó là tất yếu khách quan và coi là các bài toán cần giải quyết. Với cách như vậy, tôi nghĩ không gì là không thể làm được.  Vừa làm công việc nghiên cứu, vừa phát triển sản phẩm lại vừa kinh doanh, liệu những yếu tố đó có mâu thuẫn không, thưa anh ?              Ủy ban KHCN&MT Quốc hội thăm và làm việc với Bkis        Công nghệ là một lĩnh vực đặc biệt. Thế giới có các tên tuổi như Microsoft, Google, Apple đều khởi thủy từ sản phẩm của những ý tưởng mang tính nghiên cứu, sáng tạo, công nghệ… Họ đã trở thành những người khổng lồ của nền kinh tế thế giới và không có ngành kinh doanh nào làm được như thế. Thậm chí, những người sáng tạo ra công nghệ cao còn có “quyền năng” định hướng thị trường. Bill Gates hay Steve Jobs, họ đều là những nhà kinh doanh tài ba và thành công, nhưng xuất phát điểm của họ đều từ những nhà nghiên cứu, nhà sáng chế, để ngày nay thế giới có được những sản phẩm như Windows, iPod, iPhone… Nếu họ chỉ làm nghiên cứu, rồi đợi ai đó kinh doanh hộ sản phẩm cho mình thì tôi tin thế giới đã không có các hãng công nghệ danh tiếng này.   Anh không giấu giếm tham vọng đưa sản phẩm BkavPro cũng như thương hiệu Bkis ra thị trường toàn cầu? Điều gì khiến anh vững tin vào sự thành công của mình?  Nếu 8 năm trước thì chắc tôi cũng chưa dám nghĩ tới điều này. Nhưng câu chuyện thực tế của chúng tôi là từ khi bắt đầu chỉ với 3 người, đến nay chúng tôi đã có hơn 500 nhân viên. Bkis có sản phẩm, có công nghệ gốc với những chuyên gia được rèn luyện bài bản và đầy nhiệt huyết. Vấn đề còn lại chỉ là tạo ra niềm tin cho khách hàng. Tôi hiểu là trong suy nghĩ của nhiều               Bkis công bố lỗ hổng nhận dạng khuôn mặt trên máy tính xách tay tại Mỹ        người vẫn có sự phân biệt đối xử giữa sản phẩm của Việt Nam với sản phẩm của nước ngoài. Và chúng tôi đang nỗ lực để xóa bỏ rào cản đó. Chúng tôi cũng đang trong quá trình tích lũy tài chính, kinh nghiệm về thị trường quốc tế để chuẩn bị cho giai đoạn 5 năm tiếp theo tiến ra thị trường khu vực và thế giới.  Tham vọng của tôi là BkavPro của người Việt Nam sẽ không chỉ được khẳng định tại thị trường Việt Nam, mà còn được khẳng định trên thị trường quốc tế. Hơn nữa, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một thương hiệu an ninh mạng toàn cầu. Chúng tôi đang nỗ lực để điều đó sớm thành hiện thực!  Xin cảm ơn anh và chúc Bkis sớm trở thành thương hiệu sản phẩm toàn cầu!  P.V  (thực hiện)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Blockchain: Sự hữu dụng và vô dụng      Tất cả những gì công chúng quan tâm tới Bitcoin, blockchain đang là mốt thời thượng trong giới kinh doanh công nghệ trên thế giới, tuy nhiên chưa có một ứng dụng nào của blockchain ngoài tiền mã hóa thực sự tạo ra lợi nhuận và lợi ích cho xã hội.      Scott Stornetta, một trong số những cha đẻ của blockchain.  Lịch sử và những chức năng cơ bản  Công nghệ Blockchain bắt nguồn từ nghiên cứu của Stuart Haber và Scott Stornetta vào những năm 1990 về “đóng tem thời gian” (timestamping), nghĩa là thiết lập ngày giờ của một tài liệu một cách bảo mật. Họ sử dụng bốn công cụ mật mã cơ bản để đạt được mục tiêu này: chữ kí số, hàm băm, cây Merkle và phương thức đồng thuận ngang hàng. Chữ kí số cho phép bất kỳ ai cũng có thể kiểm tra rằng tài liệu này đúng là do tác giả đã kí tạo ra. Giá trị hàm băm của một tài liệu, giống như dấu vân tay của một người, xác nhận rằng tài liệu đó có nội dung giống hệt với bản gốc lúc kí, không có bất kì một câu chữ nào bị sửa đổi. Cây Merkle giúp xác nhận một cách vô cùng hiệu quả các giá trị hàm băm của một lượng lớn tài liệu. Phương thức ngang hàng giúp chứng nhận tem thời gian dựa trên sự đồng thuận giữa các người dùng với nhau mà không cần thông qua bất kì tổ chức tập trung nào. Mặc dù những ý tưởng này của Haber và Stornetta rất thông minh và chính xác, chúng không hề nhận được sự quan tâm rộng rãi cho đến tận 15 năm sau, khi chúng được điều chỉnh để tạo ra tiền mã hóa.  Vào năm 2008, Satoshi Nakamoto (bí danh của một nhà mật mã học hoặc có thể là một nhóm các nhà nghiên cứu) phát minh ra blockchain và sử dụng nó cho đồng tiền mã hóa ngang hàng đầu tiên, Bitcoin. Việc Nakamoto dựa trên ý tưởng của đóng tem thời gian dường như hết sức tự nhiên, bởi vì thách thức lớn nhất của giao dịch tiền điện tử là làm sao để ngăn chặn việc tiêu một đồng tiền hai lần, nghĩa là, để xác nhận rằng đồng tiền vừa chuyển ra khỏi “ví” một ai đó chưa hề được tiêu trước đó.  Ý tưởng mới quan trọng nhất của Nakamoto là một chuỗi các khối. Một khối Bitcoin chứa một loạt các giao dịch diễn ra trong thời gian khoảng 10 phút. Một người dùng nào đó, gọi là “người đào”, kiểm tra tất cả các giao dịch này, và chỉ định đó là khối duy nhất nối tiếp khối ngay trước đó và nhận được một khoản trả công đáng kể bằng Bitcoin. Việc khối của ai trở thành khối tiếp theo trong chuỗi và ai nhận được tiền công được quyết định bởi một phương thức gọi là bằng chứng công việc – proof of work. Về cơ bản, điều này nghĩa là, để thành công, những người đào phải tính toán giá trị hàm băm của rất nhiều phương án khối khác nhau (mỗi phương án bắt đầu với chuỗi bit là giá trị hàm băm gốc của cây Merkle của khối) cho đến khi họ nhận được một kết quả có dạng rất đặc biệt (ví dụ như là bắt đầu bằng 30 bit 0).  Bởi vì phương thức proof of work vô cùng phí phạm năng lượng để tính toán, những kĩ sư phát triển blockchain đang cố thay thế nó với những cách thức hiệu quả hơn, chẳng hạn như bằng chứng cổ phần (proof of stake), theo đó, xác suất một người được lựa chọn kiểm tra khối và nhận tiền công tỉ lệ với khối lượng tiền mã hóa mà người đó sở hữu. Ý tưởng là người càng có nhiều tiền thì càng muốn duy trì hệ thống hoạt động ổn định.  Hợp đồng thông minh   Vào năm 2013, Vitalik Buterin, một thanh niên xuất sắc 19 tuổi người Canada sinh ra ở Nga, đề xuất một ứng dụng mới và đầy tham vọng cho blockchain, làm đảo lộn nhiều lĩnh vực và mở rộng mối quan tâm về chủ đề này. Ý tưởng của Buterin là những “giao dịch” trong khối có thể được viết bằng một ngôn ngữ máy tính tổng quát hơn rất nhiều so với trong Bitcoin – gọi là ngôn ngữ Turing hoàn thiện, một ngôn ngữ có thể diễn đạt được bất cứ thỏa thuận hợp đồng nào giữa người dùng. Buterin gọi hệ thống của mình là “Ethereum” và gọi đồng tiền của mình là “ether”. Một hợp đồng được ghi lại và thi hành bởi một blockchain như Ethereum được gọi là hợp đồng thông minh.  Đây là một ví dụ về “hợp đồng thông minh”: chẳng hạn như hai người muốn cá cược 100 USD về kết quả của World Cup. Không cần sự chứng nhận của người thứ ba, họ có thể cùng đồng ý về một chương trình máy tính nhỏ trên Ethereum và nó sẽ thực hiện những điều sau: Nó lấy từ ví ether của mỗi người một khoản tương đương 100 USD và giữ trong một ký quỹ cho đến khi World Cup kết thúc, sau đó kiểm tra trên một số website để xác định xem đội nào thắng, và cuối cùng chuyển 200 USD từ ký quỹ vào ví ether của người thắng cược. Không có khả năng nào để người thua thoái thác.  Blockchain không phải là thuốc chữa bách bệnh   Bởi vì tất cả những gì công chúng quan tâm tới Bitcoin– theo sau đó là sự ra mắt thành công Ethereum của Buterin, blockchain đang là mốt thời thượng trong giới kinh doanh công nghệ trên thế giới. Mặc dù theo hiểu biết của tôi, chưa có một ứng dụng nào của blockchain ngoài tiền mã hóa thực sự tạo ra lợi nhuận và lợi ích cho xã hội, có hàng trăm startup, theo nghĩa đen trên khắp thế giới đã và đang đề xuất những cách thức lạ thường để ứng dụng blockchain. Một số ý tưởng gần như là nực cười.  Gần đây, một nhà khởi nghiệp trẻ tới văn phòng của tôi để trao đổi về startup blockchain của anh ấy. Ý tưởng của anh ấy là tạo ra một hệ thống cho những đại gia đầu tư vào tương lai của những sinh viên đang gặp khó khăn trong việc chi trả học phí đắt đỏ ở đại học Mỹ. (Ngay cả ở trường đại học tôi đang giảng dạy, là một trường công, được nhà nước hỗ trợ một phần chi phí, nhưng học phí và các chi phí liên quan bây giờ là 53 nghìn USD mỗi năm). Đại gia sẽ trả các chi phí giáo dục và đổi lại, sinh viên sẽ đồng ý trả một phần thu nhập trong tương lai cho đại gia này.      Theo hiểu biết của tôi, chưa có một ứng dụng nào của blockchain ngoài tiền mã hóa thực sự tạo ra lợi nhuận và lợi ích cho xã hội. Có hàng trăm startup, theo nghĩa đen trên khắp thế giới đã và đang đề xuất những cách thức lạ thường để ứng dụng blockchain. Một số ý tưởng gần như là nực cười.      Tôi nghĩ đó là một ý tưởng cực kì tệ. Đầu tiên, có thể dễ dàng nhìn thấy nhiều cách nó sẽ bị lạm dụng. Khả năng cao là lợi ích dành cho sinh viên, nếu có chút nào, sẽ không đến với những người cần hỗ trợ tài chính nhất (và chắc chắn là không đến với những sinh viên học những ngành mà lương khá thấp như giáo viên, y tá hay báo chí). Chủ yếu là những người giàu có sẽ hưởng lợi. Cũng sẽ có rất nhiều tranh chấp trong việc thi hành điều khoản người sinh viên về sau trả một phần thu nhập cho người giàu.  Hơn nữa, chẳng có một lí do rõ ràng nào chứng tỏ rằng hệ thống kiểu này phải dùng đến blockchain. Điểm chính của blockchain – thiết lập thứ tự các sự kiện diễn ra theo thời gian dựa trên một phương thức đồng thuận và để thi hành các hợp đồng – không liên quan gì đến đến kế hoạch đầu tư vào thu nhập tương lai của một sinh viên. Blockchain không thể thi hành hợp đồng giữa đại gia và sinh viên bởi vì hệ thống của nó chưa tiếp cận được tới tiền lương hay tài khoản ngân hàng của người sinh viên trong tương lai.  Ý tưởng của người thanh niên này, mặc dù ngớ ngẩn, nhưng lại khá điển hình trong số những đề xuất mà các startup nghĩ ra trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm tìm ra những gì mới để ứng dụng blockchain.  Không dễ thương mại hóa các giải pháp blockchain  Ngay cả khi một ứng dụng blockchain có vẻ hợp lí, nó vẫn phải trải qua những thách thức cực to lớn để đạt được thành công về mặt ủng hộ của công chúng lẫn thành công về mặt thương mại. Sẽ phải thỏa mãn rất nhiều điều kiện. Thứ nhất, vấn đề mà blockchain giải quyết phải là một vấn đề vô cùng bức thiết và dường như không thể giải quyết nổi bằng các phương thức truyền thống khác. Thứ hai, những đặc trưng của blockchain – timestamp và chứng thực – phải là công cụ hợp lý để giải quyết vấn đề này. Thứ ba, phải vượt qua được tính dè dặt trong việc thay đổi những quy trình quen thuộc của mọi người. Số lượng những “người sớm chấp nhận sản phẩm” – những người thích thử cái mới phải đủ lớn để đảm bảo tính khả dụng của hệ thống và nhờ đó, có lẽ những người “bình thường” mới tham gia và hệ thống mới “cất cánh” – giống như những gì đã xảy ra với thương mại điện tử 20 năm trước.  Bởi vì blockchain vận hành dựa trên sự đồng thuận ngang hàng, nó phải thu hút được một lượng người dùng lớn một cách nhanh chóng, trước khi một hacker tấn công vào hệ thống bằng cách chiếm đa số quyền kiểm soát (gọi là tấn công 51%). Một ứng dụng blockchain mới có thể tránh nguy cơ này bằng cách lồng ghép những giao dịch của nó vào một blockchain lớn và ổn định như Ethereum thay vì tự tạo ra một blockchain mới và nhỏ hơn. Tuy nhiên, làm như vậy cũng không giải quyết được một vấn đề lớn khác, đó là hầu hết mọi người chỉ sẵn sàng đầu tư thời gian và tiền bạc vào một hệ thống mới chỉ khi họ được thuyết phục rằng đại chúng đã chấp nhận nó. Ngay cả một ý tưởng tốt về ứng dụng công nghệ blockchain cũng rất có khả năng thất bại nếu nó không vượt qua được rào cản cốt lõi này.  Sẽ thật tốt nếu như blockchain có thể giải quyết được đại dịch làm giả bằng cấp đang hoành hành ở Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia khác. Vấn đề này thu hút rất nhiều giấy mực của báo chí vào năm 2010 khi người ta phát hiện ra rằng bằng tiến sĩ từ Mỹ của Tang Jun, cựu chủ tịch Microsoft Trung Quốc là giả. Trên lý thuyết, một blockchain có thể cho phép bất cứ ai (miễn phí hoặc với một chi phí rất nhỏ) kiểm tra các bằng cấp online. Điều này không chỉ áp dụng đối với các bằng đại học mà cho rất nhiều lời khai trên sơ yếu lí lịch của các ứng cử viên – các giải thưởng, tài trợ, phần thưởng, chức danh trong các tổ chức. Ta có thể hi vọng rằng một ngày nào đó, tất cả các cơ sở trao các giấy chứng nhận có thể cùng đến với nhau trên một hệ thống blockchain để đảm bảo việc ngăn chặn sự lừa đảo. Nhưng đó là một hi vọng xa vời.  ***  Liệu Haber, Stornetta, Nakamoto, và Buterin có phải là những nhà phát minh xuất sắc? Đúng. Liệu ai đó có thể tưởng tượng ra những tiềm năng đầy thú vị của blockchain? Có. Liệu blockchain có sớm đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xã hội của chúng ta? Câu hỏi này khó trả lời hơn rất nhiều và nhiều người còn nghi ngờ điều đó.    Hảo Linh dịch  ——–  * GS Đại học Washington, Mỹ, cố vấn của Ethereum.       Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Bộ bách khoa khổng lồ về các loài sinh vật      Edward Osborne Wilson là nhà nghiên cứu về kiến nổi tiếng bậc nhất thế giới. Vị giáo sư tại trường Đại học Harvard này có một tham vọng lớn lao, đó là xây dựng những trang web riêng cho 1,8 triệu loài sinh vật mà con người đã biết đến. Giáo sư Wilson đã trao đổi với SPIEGEL-ONLINE về ý đồ to lớn này.      SPIEGEL ONLINE: Thưa giáo sư, sự kiện này sẽ diễn ra như thế nào: xây dựng 1,8  triệu trang web khoa học về tất cả các loài động vật, thực vật, các loài nấm và vi sinh vật nội trong mười năm trời?    Wilson: Một nhà khoa học người Anh rất nổi tiếng cũng từng nêu câu hỏi như thế này, ông ấy viết cho tôi: Này Wilson, ông bạn hút hít loại gì vậy? Ông bạn làm sao lại có thể nghĩ rằng chuyện đó có thể làm được? Nhưng tôi cho rằng đây là một công việc khả thi vả lại cần phải làm. Tri thức về đa dạng sinh học phân bổ rải rác trong các cơ quan nghiên cứu và các Viện bảo tàng tự nhiên trên khắp thế giới. Chúng ta cần phải sưu tầm những cái đó và làm sao để mọi người có thể tiếp cận được với những tri thức đã có mà không lệ thuộc vào nơi sinh sống của họ.  Thưa giáo sư, vậy dự án này sẽ được thực hiện như thế nào?                    Sau khi chúng tôi nhận được sự tán đồng của hai Quỹ công ích, từ đó chúng tôi sẽ có được khoản tiền cần thiết để bắt tay vào việc.Việc tập hợp các nhà khoa học và phân công công việc tương đối dễ dàng. Nhóm Tin học đóng vai trò then chốt, nhóm này phải phát triển các chương trình phần mềm cần thiết và xây dựng trang Web. Bản thân tôi sẽ triển khai công việc này đối với 14.000 loài kiến đã được biết đến trên thế giới. Cuối tháng 5 này tôi sẽ gặp 12 nhà nghiên cứu về kiến hàng đầu thế giới tại Đại học Harvard nhằm trao đổi với nhau nên làm như thế nào để có thể đưa toàn bộ thông tin một cách nhanh nhất vào cuốn “Bách khoa toàn thư của cuộc sống” (“Enzyklopädie des Lebens”).  Thưa giáo sư liệu bộ “Bách khoa toàn thư của cuộc sống” này đến một lúc nào đó sẽ được đầy đủ hoàn toàn?    hực ra thì cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn không biết trên trái đất này có bao nhiêu loài sinh vật. Theo ước đoán thì con số này dao động từ  3,6 đến 100 triệu loài, nhưng trên thực tế con số này có thể trên dưới mười triệu loài. Có vô vàn loài đang bị biến mất trước khi chúng ta biết đến chúng. Nhưng chí ít thì bộ “Bách khoa toàn thư của cuộc sống” sẽ cung cấp cho các nhà khoa học và các em sinh viên trên toàn thế giới  những công cụ cần thiết để nghiên cứu môi trường sống ở xung quanh mình. Chỉ cần nhấn chuột vài lần là có thể truy cập được thông tin ngay cả của các loài hiếm thấy nhất. Điều này sẽ làm cho việc phát hiện và mô tả các loài mới được triển khai nhanh hơn nhiều. Chúng tôi hy vọng trong tương lai những loài mới không chỉ được mô tả trong các tạp chí chuyên đề mà chủ yếu sẽ được cập nhật trong bộ “Bách khoa toàn thư của cuộc sống”. Đây quả là một cuộc cách mạng!  Nhưng thưa giáo sư, phải chăng những loài quan trọng nhất và lý thú nhất đã được phát hiện từ lâu rồi đó sao?    Bạn cũng có thể nói: chúng ta chỉ biết khoảng 10% các cơ quan trong cơ thể con người, đó là các cơ quan thú vị nhất, bộ não và trái tim, vậy chúng ta cần gì hơn? Mỗi một sinh vật, một cây nấm, một vi khuẩn tác động đến môi trường xung quanh chúng bằng cách riêng của mình, và chúng ta thì không biết, mức độ tác động đó như thế nào. Chừng nào chúng ta chỉ biết một phần nhỏ các loài thì chúng ta không thể hiểu nổi về sự hoạt động của hệ sinh thái. Và chúng ta phải giải quyết vấn đề môi trường như thế nào khi bản thân chúng ta không biết hết về môi trường xung quanh ta?           X.H Spiegel 5.2008       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bọ cạp cổ đại to hơn con người      Một chiếc càng hóa thạch khổng lồ của một con bọ cạp biển dài 2,5m mới được phát hiện ở một mỏ đá ở Đức. Sinh vật 390 triệu tuổi này từng sống ở một con sông hoặc đầm lầy.      Bọ cạp biển là tổ tiên đã bị tuyệt chủng của những con bọ cạp trên đất liền ngày nay và cả các động vật lớp nhện khác. Loài sinh vật này tồn tại vào thời kỳ Trái đất có hàm lượng oxy trong bầu khí quyển lớn hơn rất nhiều so với bây giờ. Và chính hàm lượng oxy cao như vậy đã khiến cho các loài không xương sống có kích cỡ khổng lồ, bao gồm cả gián, bướm và rết.   M.T (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ gene của ký sinh trùng sốt rét được giải mã      Nghiên cứu mới công bố trên Nature cho biết, một nhóm các nhà khoa học từ nhiều nơi trên thế giới đã giải mã gene của ký sinh vật Plasmodium vivax (P. vivax) gây ra 40% trong 515 triệu lây nhiễm sốt rét hằng năm trên thế giới.     Sốt rét vivax được cho là kiên cường và phục hồi nhanh hơn họ hàng của nó – ký sinh trùng sốt rét P. falciparum – và do đó khó tiêu diệt hơn. Cả P. vivax và P. falciparum vivax đều đang được nghiên cứu để tìm kiếm những mục tiêu vaccine tiềm tàng. Thực tế, P. vivax là loài ký sinh trùng sốt rét thứ hai được giải mã. Họ đã sử dụng phương pháp shotgun để tạo ra hình ảnh chất lượng cao cho phép các nhà nghiên cứu sốt rét trên toàn cầu thực hiện nghiên cứu sâu hơn về loài ký sinh này. Bước tiếp theo là giải mã 6 bộ gene khác của P. vivax – từ Brazil, Mauritania, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên và Indonesia – để tìm kiếm những vaccine mới và xây dựng sơ đồ tiến hóa cho sinh vật này. Việc giải mã này được xem là  một tiến bộ lớn trong sinh học ký sinh và trong cuộc chiến chống lại sốt rét. Theo ScienceDaily    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ kit xét nghiệm virus SARS-CoV-2: Thành công từ “nhiều mũi giáp công”      Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam cũng như thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, bộ kit xét nghiệm virus SARS-CoV-2 do Học viện Quân y và Công ty Công nghệ Việt Á phối hợp phát triển, sản xuất được coi là công cụ quan trọng và cần thiết để góp phần kiểm soát bệnh dịch do SARS-CoV-2 ở Việt Nam.      Thượng tá, phó giáo sư Hồ Anh Sơn (Phó giám đốc Viện nghiên cứu Y dược học quân sự) và các đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm.  Đó cũng là quan điểm chung của các nhà quản lý và các nhà khoa học tại cuộc họp báo ngày 5/3/2020 công bố kết quả nghiên cứu chế tạo bộ kit one step real-time RT – PCR phát hiện virus SARS-CoV-2, sản phẩm từ đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm RT – PCR và real-time RT-PCR phát hiện virus corona chủng mới (2019-nCoV)”. Trong suốt quá trình nghiên cứu và giảng dạy của mình, đã nhiều lần Trung tướng, giáo sư Đỗ Quyết, Giám đốc Học viện Quân y, chứng kiến thành công của các đề tài khoa học nhưng hiếm khi ông xúc động đến thế: “Có thể nói, ngày hôm nay chúng ta rất vui mừng vì lần đầu tiên có được bộ kit có thể ứng dụng trong chẩn đoán chủng virus corona mới (SARS – CoV-2), tác nhân gây ra dịch Covid-19. Với độ nhạy, đặc hiệu, tính ổn định, đây là bộ kit đảm bảo về chất lượng, có thể nói là tương đương với các bộ kit mà chúng ta đã nhập về”.  Trong cuộc trao đổi với báo chí bên lề cuộc họp báo, ông cũng nhấn mạnh đến ý nghĩa của “chiến công” này, “chúng ta có thể tự chủ trong cung cấp các bộ kit với giá thành rẻ hơn, có thể áp dụng rộng rãi hơn, qua đó có thể sàng lọc và chẩn đoán sớm ca bệnh, kịp thời hơn cho những người bị nghi nhiễm virus”.  Cập nhật thông tin quốc tế để có quy trình chuẩn  Trong bối cảnh cấp thiết mà theo ngôn ngữ của ngành y là “tình trạng khẩn cấp”, không chỉ các nhà quản lý mà các nhà nghiên cứu của Học viện Quân y cũng đẩy nhanh quá trình thực hiện đề tài. Thượng tá, phó giáo sư Hồ Anh Sơn (Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Y dược học quân sự) nhớ lại thời điểm dịch bệnh mới bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc: “Khi đó chúng tôi chưa có khái niệm thực hiện đề tài gì cả, đó chỉ là một phản xạ hết sức tự nhiên của nhà khoa học trước mầm bệnh mới nổi: tập trung tìm hiểu về chủng virus mới”. Cũng với “phản xạ tự nhiên” này mà bốn năm trước, dù dịch Ebola không xâm nhập vào Việt Nam, họ đã thực hiện thành công đề tài phát triển bộ kit phát hiện virus Ebola dựa trên quy trình one step real-time RT – PCR (phản ứng chuỗi trùng hợp thời gian thực một bước) với kết quả là bằng độc quyền giải pháp hữu ích do Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp.  Với tinh thần sẵn sàng đó, các nhà nghiên cứu của Học viện Quân y đã chủ động theo dõi những thông tin qua nhiều kênh chuyên ngành. Là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam đọc tài liệu liên quan đến virus SARS-CoV-2 từ ngày 13/1/2020, bài báo của giáo sư Christian Drosten, một nhà virus học tại Bệnh viện trường ĐH Charité Berlin, Thiếu tá tiến sĩ Hoàng Xuân Sử (Viện nghiên cứu Y dược học quân sự) có đủ nhạy cảm nghề nghiệp để nhận thấy sự nghiêm trọng của dịch bệnh, ngay cả khi chưa xuất hiện ca nào tại Việt Nam: “Viện Charité đã cung cấp cho WHO quy trình xét nghiệm đầu tiên dựa trên nguyên lý real-time RT-PCR dựa trên ba gene đích. Tôi đã đọc rất kỹ bài báo và được giáo sư Christian chia sẻ luôn bộ quy trình hướng dẫn (protocol)”.  Việc liên tục theo dõi diễn biến đã giúp anh và đồng nghiệp có thêm những hiểu biết mới về bệnh dịch, yếu tố rất quan trọng để nửa tháng sau có thể tự tin đón nhận nhiệm vụ do Bộ KH&CN giao. TS Hoàng Xuân Sử cho biết về quá trình cập nhật: “Lúc đầu, dữ liệu về trình tự gene rất thiếu, rất khó để tiếp cận nhưng sau khi có dữ liệu do các nhà khoa học Hồng Kông chia sẻ, giáo sư Christian đã thiết lập được quy trình xét nghiệm thứ hai chỉ dựa trên hai gene đích là E và RdRp vào ngày 17/1/2020. Đây cũng là quy trình tham chiếu của WHO và được WHO cập nhật rộng rãi. Hơn nữa tôi cũng nhận được ý kiến góp ý của GS Jonas Schmidt Chanasit (Viện Y học Nhiệt đới Bernhard Notch, Hamburg, Đức) về qui trình phát hiện SARS-CoV-2 đã được thẩm định tại viện”.      Bộ KH&CN ý thức được đây là vấn đề rất lớn mà giới khoa học Việt Nam, các nhà quản lý khoa học phải tham gia. Do đó chiều ngày 30/1/2020, chúng tôi đã mời các chuyên gia từ Bộ Y tế, các nhà khoa học liên quan đến truyền nhiễm, sinh học phân tử, virus học, vaccine, y học dự phòng… để xin ý kiến tư vấn. Căn cứ vào ý kiến tham mưu này, Bộ KH&CN đã triển khai một số hướng nghiên cứu rất cấp thiết và làm hết sức nhanh, trong đó có hướng nghiên cứu chế tạo và sản xuất được bộ kit ở quy mô lớn. Từ tư vấn của các nhà khoa học cho đến lúc thành công với các bộ kit đảm bảo, đủ tin cậy, đủ an toàn và có thể sản xuất hàng loạt là một chặng đường, trong đó có công sức rất lớn của tập thể các nhà khoa học và cán bộ công ty Việt Á. Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc         Cũng như câu chuyện “mất tết” vì virus tả lợn châu Phi của PGS Nguyễn Văn Phan (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) vào năm ngoái, các nhà nghiên cứu Học viện Quân y cũng không có tết. “Vào đúng ngày mồng một Tết Nguyên đán, tôi còn gọi điện thoại trao đổi với GS Nông Văn Hải (Viện nghiên cứu hệ Gene) về kết quả giải trình tự gene virus corona thu được từ Sáng kiến chia sẻ dữ liệu cúm toàn cầu GISAID”, TS Hoàng Xuân Sử nhớ lại. Thêm vào đó theo chỉ đạo của Trung tướng Đỗ Quyết ngày 22/1/2020, tổ nghiên cứu về SARS-CoV-2 được triệu tập do Thiếu tướng GS Hoàng Văn Lương chủ trì giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong tổ nghiên cứu.  Do vậy, đề tài đột xuất về sản xuất bộ sinh phẩm xét nghiệm SARS-CoV-2 do Bộ KH&CN giao ngay sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán đã được Học viện triển khai rất nhanh với việc hình thành nhóm nghiên cứu gồm 13 thành viên chủ chốt là các nhà sinh học phân tử, virus học, truyền nhiễm, miễn dịch học, bác sĩ lâm sàng và gần 50 người nữa là các kỹ thuật viên, học viên cao học. Một mặt, các nhà nghiên cứu thử nghiệm quy trình kỹ thuật real-time RT PCR trên hai gene đích do Charité Berlin chia sẻ và cập nhật các qui trình xét nghiệm của CDC-Hoa Kỳ công bố, mặt khác họ liên hệ với một số đồng nghiệp và công ty công nghệ sinh học ở Pháp, Đức, Singapore, Trung Quốc để có được các bộ kit tham chiếu và thử tối ưu nó trong điều kiện Việt Nam.  Thêm một thuận lợi cho nhóm nghiên cứu là vào đúng ngày nhận đề tài, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương (Bộ Y tế) đã nuôi cấy và phân lập được virus. “Con virus cũng xuất hiện ở bệnh nhân Việt Nam giúp nhóm phân tích sâu hơn về đặc điểm trình tự gene và so sánh với các trình tự gene do các nước đã công bố. Nếu không có mẫu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thì bộ kit khó có thể có thiết kế tối ưu hơn”, PGS Hồ Anh Sơn trao đổi sau buổi họp báo. Bộ kit đầu tiên của CDC Hoa Kỳ từng thất bại bởi phát triển và đánh giá trên mẫu bệnh phẩm giả định chứa tiểu phần virus để mô phỏng giống bệnh phẩm lâm sàng do lúc đầu ở Mỹ chưa có nhiều người mắc và chưa có nhiều mẫu bệnh phẩm.  Với nhiều “mũi giáp công” như vậy, chỉ sau hai tuần, họ đã có trong tay một quy trình thiết kế bộ kit dựa trên gene đích N – gene đích mà nhiều nơi trên thế giới như Singapore, Hongkong, CDC Trung Quốc lựa chọn bởi độ chuẩn xác. “Mỗi phòng thí nghiệm đều có sự lựa chọn của riêng mình, ví dụ như Đại học Y Timone, Aix-Marseille, Pháp chọn gene đích E của virus, công ty Altona Diagnostics, Hamburg, Đức là gene S mã hóa cho protein gai, CDC Trung Quốc chọn hai vùng gene đích là ORF1ab và gene N… Còn mình lựa chọn gene N là nơi có độ nhạy cao nhất”, TS. Hoàng Xuân Sử giải thích, và PGS Hồ Anh Sơn bổ sung “Nếu như mình tối ưu được những thông tin mà quốc tế cung cấp và chọn được vị trí để ‘bắt’ con virus tốt hơn thì bộ kit của mình hoàn toàn có thể tốt như quốc tế”.    Bộ kit do Học viện Quân y và Công ty Việt Á phát triển, sản xuất.  Chất lượng tương đương quốc tế  Niềm tin về một bộ kit “hoàn toàn có thể tốt như quốc tế” của PGS Hồ Anh Sơn và đồng nghiệp đã được chứng thực sau những ngày chờ đợi đánh giá của hội đồng nghiệm thu cũng như đánh giá độc lập từ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, nơi có phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp ba. Đó là ba ngày “chúng tôi nín thở chờ kết quả” như tiết lộ của phó giáo sư Hồ Anh Sơn, dù trước đó “toàn bộ mẫu RNA chuyển giao từ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đều đạt về đánh giá độ nhạy, độ đặc, độ chính xác và độ lặp lại tại phòng thí nghiệm, đã đủ khả năng phát hiện được ra mẫu nào chứa mầm bệnh, mẫu nào không”.  Kết quả đánh giá của các hội đồng và Viện Vệ sinh dịch tễ cho thấy, bộ kit của Học viện Quân y đạt độ chuẩn xác và đặc hiệu tương đương độ nhạy của bộ kit mà CDC phát triển sau bộ kit lỗi ban đầu: ngưỡng phát hiện ra 100% nhiễm virus ở mức 5 copy (bản sao chép) trên một phản ứng. Trung tướng Đỗ Quyết không khỏi tự hào: “Độ chính xác 5 copy trên một phản ứng của bộ kit này tương đương với mẫu lâm sàng là 400 copy trên một mililit mẫu bệnh phẩm, độ đặc hiệu là 100 %. Điều này rất quan trọng ở chỗ là khi chúng ta khẳng định bệnh nhân âm tính thì có nghĩa là 100% chính xác không bị nhiễm virus”. Phó giáo sư Hồ Anh Sơn cũng lưu ý một điểm nổi bật của bộ kit này: dù thời gian phát hiện của bộ kit Việt Nam tương đương với kit của CDC là trong vòng một giờ nhưng nhờ tối ưu quy trình thực hiện (one step) mà hiệu suất thực hiện trong một lần chạy máy PCR của Việt Nam gấp CDC 4 lần.  Với một bộ sinh phẩm, việc phát hiện chính xác khả năng âm tính hay dương tính cũng như độ ổn định là điều tối quan trọng. Trong việc khẳng định những đặc tính này của bộ kit do Học viện Quân y và Công ty Việt Á tạo ra, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đóng góp phần lớn. “Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã có thử nghiệm rất sáng tạo là chạy mẫu trên 5 hệ thống máy real-time PCR khác nhau và cũng phổ biến nhất ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, độ chính xác như nhau trên các hệ thống này. Nhờ vậy, chúng ta có thể yên tâm về việc thực hiện xét nghiệm và chẩn đoán nhanh trên các cơ sở y tế được Bộ Y tế cấp phép tại Việt Nam”, phó giáo sư Hồ Anh Sơn nhận xét.      “Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công này là vai trò của Bộ KH&CN và Bộ Y tế, cùng sự kết nối chặt giữa nhà khoa học, nhà sản xuất. Bộ Y tế chủ động cùng Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch để chỉ đạo trực tiếp việc chữa bệnh, cách ly đối tượng có yếu tố nguy cơ; Bộ KH&CN đã nhạy bén và sớm tập hợp, xin ý kiến các nhà khoa học, xác định 3 nhiệm vụ lớn: ngay lập tức làm bộ sinh phẩm chẩn đoán – cấp bách, bằng mọi giá phải thực hiện và hình thành nhiệm vụ khoa học, giao cho đơn vị nào có khả năng để thực hiện; giao cho đơn vị nghiên cứu về dịch tễ học, thậm chí là giao sản xuất vaccine; xây dựng kịch bản ứng phó trước mọi tình huống. Bên cạnh đó là trách nhiệm của các nhà khoa học. Trước tình trạng dịch xảy ra đột ngột và bất ngờ như vậy, các nhà khoa học đã sẵn sàng vào cuộc, đặc biệt nhóm nghiên cứu của Học viện Quân y hầu hết là các cán bộ trẻ, có trình độ cao”. Giáo sư Lê Bách Quang      Nhìn lại quá trình thực hiện nghiên cứu và phát triển bộ kit, anh cho rằng, “đi sau so với thế giới một thời gian ngắn thôi nhưng chúng ta đã tận dụng được kinh nghiệm của quốc tế để tối ưu hóa bộ kit của mình”.  Tuy nhiên với các nhà nghiên cứu, việc cho ra đời một quy trình công nghệ có thể sản xuất bộ kit trên diện rộng một cách kịp thời trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp vẫn còn chưa đủ. Anh nói, “Hiện nay ngưỡng phát hiện của bộ kit do WHO cung cấp là 3,8 copy/phản ứng. Nếu chúng ta tiếp tục phát triển bộ kit thì mới đạt được ngưỡng đó. Hiện nay, bộ kit của mình có thể phát hiện được mầm bệnh ở ngưỡng thấp nhưng chỉ đạt 95% với 3 copy, 30% với 2,5 copy, nghĩa là vẫn phát hiện được nhưng vẫn có vài chục % nó giảm dần”.  Đây là lý do mà các nhà nghiên cứu Học viện Quân y đều cho rằng cần phải đánh giá sản phẩm trên nhiều mẫu bệnh phẩm lâm sàng hơn nữa, đồng thời phải có những hướng nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm di truyền phân tử của SARS-Cov-2, sức đề kháng của virus ở các điều kiện môi trường khác nhau để có được cơ sở dữ liệu, sẵn sàng ứng phó và đưa ra các biện pháp can thiệp y tế công cộng kịp thời, hiệu quả để kiểm soát dịch. Theo nhận định của Trung tướng Đỗ Quyết, “Hiện nay Học viện Quân y cũng tiếp tục các hướng nghiên cứu khác tiếp tục về SARS-CoV-2 bởi nó đã tồn tại trong các loài động vật, đặc biệt là động vật hoang dã rất nhiều năm nay, và có nhiều đột biến dẫn đến gây bệnh cả cho con người. Tiếp theo, chúng tôi sẽ triển khai những hợp tác quốc tế sâu hơn nữa, có thể là cả nghiên cứu phát triển vaccine…”  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ máy của trí nhớ      Tr&#237; nhớ của ch&#250;ng ta được cấu tạo dưới h&#236;nh thức tập hợp c&#225;c tiểu hệ thống, trong đ&#243; mỗi tiểu hệ thống lưu trữ những k&#253; ức kh&#225;c nhau. C&#225;c nh&#224; khoa học đ&#227; ph&#226;n chia tr&#237; nhớ theo c&#225;c loại như dưới đ&#226;y.                         Trí nhớ tạm thời (ngắn hạn)  Còn được gọi là trí nhớ công việc, loại trí nhớ này có một khả năng hạn chế. Nó cho phép lưu giữ một số ít các thứ trong đầu trong thời gian chỉ khoảng vài chục giây. Hình thức trí nhớ này cho phép lặp lại ngay lập tức một thông tin, thí dụ như số điện thoại, và nó có thể được “luyện tập” để làm các phép tính.  Trí nhớ dài hạn  Nó cho phép lưu giữ thông tin trong nhiều ngày, thậm chí nhiều năm. Loại trí nhớ này được chia làm 4 loại: Trí nhớ phụ, trí nhớ ngữ nghĩa, trí nhớ tiếp nhận và trí nhớ tiến trình                    1. Trí nhớ phụ: Lưu giữ các sự kiện cá nhân trong cuộc đời của mỗi con người, thí dụ như hoàn cảnh của họ (ngày tháng, tình cảm…). Loại trí nhớ này làm sống lại các sự kiện diễn ra trước đó.                    2. Trí nhớ ngữ nghĩa: Nó cho phép lưu giữ các kiến thức chung về thế giới và bản thân (nghề nghiệp, thân thể, tuổi tác…). Nó cũng lưu giữ lại tất cả những gì liên quan tới ngôn ngữ.                    3. Trí nhớ tiếp nhận: Lưu trữ các thông tin theo nghĩa của các hình dạng đồ vật, chữ nghĩa, mùi vị và thường được liên tưởng tự động tới cái chưa biết của vật nói đến.                    4. Trí nhớ tiến trình: Ghi nhận những hành động thường dùng hằng ngày trở thành những động tác tự động theo thời gian (thí dụ như buộc dây giày, lái xe…), cũng như các tiến trình trí tuệ (như cách giải một bài toán).     Một cách phân chia khác  Một mô hình phân chia khác chia các loại trí nhớ dài hạn theo tính năng vô thức hay ý thức. Theo cách này, người ta chia ra trí nhớ hiện: Gồm các thông tin mà người ta có thể định ra (nói ra) được, và trí nhớ ẩn: Gồm các thông tin thu được theo cách vô thức trong các hoạt động thường ngày. Còn trí nhớ liên quan tới ngôn ngữ thì lại thuộc đồng thời cả hai hệ thống này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ não chuộng sách giấy hơn?      Đa phần các nghiên cứu được công bố từ đầu  thập niên 1990 trở lại đây đều khẳng định một kết luận không mới: với tư  cách là phương tiện đọc, giấy vẫn có những ưu điểm so với màn hình số.       Tạp chí chỉ là chiếc iPad hỏng  (A Magazine Is an iPad That Does Not Work). Đó là một trong những video  gây xôn xao nhất trên YouTube trong hai năm qua, với mở đầu bằng hình  ảnh quen thuộc: một bé gái một tuổi đang nghịch chiếc iPad, đôi tay nhỏ  xíu chạm vào màn hình, và thế là những hình ảnh sinh động thay nhau xuất  hiện trước mắt em. Ở cảnh sau, em cầm một tờ tạp chí giấy, nhưng lại  loay hoay tìm cách điều khiển nó như thể nó cũng có màn hình cảm ứng  vậy. Và người cha của bé gái cho rằng “đối với con gái tôi, tạp chí chỉ  là chiếc iPad hỏng – và nó sẽ luôn nghĩ như thế”.   Nhưng,  liệu có quá sớm khi khẳng định rằng thế hệ các công dân số (tức những  người làm quen với các công nghệ số từ nhỏ) sẽ đoạn tuyệt với những  trang giấy?     Từ thập niên 1980 tới nay đã có hơn 100 nghiên cứu ra đời nhằm tìm hiểu sự khác biệt giữa việc đọc trên giấy và đọc trên màn hình. Trước năm 1992, hầu hết các thí nghiệm đều đi đến một kết luận rằng khi đọc trên màn hình, thì tốc độ đọc chậm hơn và lượng thông tin ghi nhớ được ít hơn. Tuy nhiên, khi máy tính bảng và công nghệ đọc sách điện tử đang ngày một cải thiện cũng như việc đọc thông tin trên những văn bản số đang ngày một phổ dụng, thì các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy những thay đổi trong cách nhìn nhận công nghệ đọc mới. Ở Mỹ, sách điện tử hiện chiếm hơn 20% tổng lượng sách bán ra.   Dầu vậy, đa phần các nghiên cứu được công bố từ đầu thập niên 1990 trở lại đây đều khẳng định một kết luận không mới: với tư cách là phương tiện đọc, giấy vẫn có những ưu điểm so với màn hình số.   Địa hình chữ nghĩa  Mặc dù chữ viết là biểu tượng đại diện cho âm thanh và ý nghĩ, nhưng não bộ cũng coi chúng là các vật thể. Con người bẩm sinh vốn không có não mạch chuyên trách việc đọc, bởi chữ viết chỉ mới được khai sinh gần đây trong lịch sử tiến hóa của loài người (khoảng thiên niên kỷ thứ tư trước công nguyên). Do vậy, khi con người bước vào giai đoạn ấu thơ, bằng cách đan kết nhiều dải mô thần kinh khác nhau vốn được dùng cho những khả năng khác – như nói, điều hòa vận động và thị giác – não bộ đã tạo ra một mạch não mới đảm nhận việc nhận dạng vật thể: chẳng hạn, chúng giúp chúng ta, dựa vào những đặc điểm khác biệt của mỗi loại, phân biệt tức thời quả táo với quả cam trong khi vẫn xếp hai quả đó vào loại trái cây. Tương tự, khi học đọc, học viết, chúng ta nhận dạng mẫu tự qua các đường nét, đường cong, và khoảng rỗng của chúng – đây là một quá trình học bằng xúc giác cần sự phối hợp của cả mắt và tay. Nghiên cứu gần đây của Tiến sĩ Karin James, trường Đại học Indiana trên trẻ năm tuổi cho thấy, não mạch chuyên trách việc đọc hoạt động khi trẻ tập viết bằng tay, nhưng lại không hoạt động khi trẻ gõ chữ trên bàn phím. Và khi đọc chữ viết hay các kí tự phức tạp, chẳng hạn chữ kanji của Nhật, thì não bộ vẫn mường tượng ra những động tác viết, mặc dù người ta không cầm bút trên tay.  Ngoài việc coi mẫu tự là vật thể, não bộ còn tri giác văn bản theo một khối toàn thể, giống như phong cảnh của tấm bản đồ địa hình vậy. Và khi đọc sách giấy  những chi tiết địa hình được thể hiện rõ hơn văn bản số.   Mở một cuốn sách giấy ra, độc giả có thể thấy hai địa hạt được phân định rõ ràng – trang giấy bên trái và trang giấy bên phải – và tám góc định hướng. Ta có thể đọc ở một trang trong khi vẫn nhận thức đầy đủ về toàn bộ văn bản. Bằng tay, ta thậm chí còn có thể cảm nhận được độ dày mỏng của những trang sách mình đã đọc xong và chưa đọc tới. Việc lật giở từng trang sách giấy cũng giống như việc ta để lại dấu chân trên con đường mòn vậy – có nhịp điệu, và có bằng chứng hiển hiện về quãng đường mà ta đã đi. Tất cả những đặc điểm này không chỉ giúp ta dễ dàng định hướng mà còn giúp ta nhanh chóng hình dung ra một tấm bản đồ gắn liền với văn bản trong đó.  Ngược lại, đa phần các thiết bị số lại can thiệp vào quá trình định vị văn bản bằng trực giác này, khiến độc giả không tạo được tấm bản đồ về hành trình của họ. Với văn bản số, ta có thể dùng trỏ chuột di chuyển lên xuống trong một dòng chảy vô tận của con chữ, khi hết trang thì nhấn chuột để sang trang mới. Ta có thể sử dụng tính năng tìm kiếm để nhanh chóng định vị được cụm từ nào đó – nhưng thật khó mà thấy được một đoạn văn trong bối cảnh bao quát của toàn bộ văn bản. Thanh cuộn định vị trên màn hình đem lại cảm giác về vị trí mơ hồ hơn hẳn so với việc cảm nhận sức nặng của những trang giấy đã đọc xong. Và mặc dù máy đọc sách mô phỏng việc phân trang, nhưng những trang sách đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, bởi chúng biến mất sau khi ta đọc xong. Tức là, thay vì tự mình bước đi và để lại dấu chân trên con đường mòn, ta chỉ thụ động quan sát phong cảnh thay đổi trước mắt, mà không có lấy một dấu vết nào của những gì đã diễn ra, và cũng khó mà đoán được điều gì sẽ tới.     Đọc hiểu nội dung  Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng màn hình số đôi khi cản trở việc đọc hiểu bởi chúng làm sai lệch cảm giác định vị của người đọc trong văn bản. Tiến sĩ Anne Mangen, trường Đại học Stavanger, cho biết, “Nếu bạn có thể dễ dàng nhận biết đâu là phần đầu hay phần cuối văn bản, và luôn luôn ý thức được tiến độ đọc của mình, thì việc đọc có thể sẽ phần nào khiến não bộ bớt mệt mỏi hơn, và não bạn cũng có thêm năng lực hấp thụ thông tin.”   Các nhà nghiên cứu khác thì cho rằng việc đọc trên màn hình có thể làm chúng ta khó lĩnh hội thông tin hơn bởi vì nó khiến trí não – và thậm chí là cả cơ thể – mệt mỏi hơn. Mực điện tử phản chiếu ánh sáng môi trường tương tự như mực giấy in, nhưng màn hình máy tính, điện thoại thông minh và máy tính bảng lại chiếu ánh sáng trực tiếp vào mắt người dùng. Ngày nay, màn hình tinh thể lỏng đã đem lại cảm giác êm dịu hơn cho mắt so với thế hệ tiền thân là màn hình huỳnh quang; tuy nhiên, việc đọc lâu trên các màn hình bóng loáng tự phát sáng vẫn có thể gây mỏi mắt, nhức đầu, thị lực giảm. Trong một thí nghiệm của Tiến sĩ Erik Wästlund, khi đó thuộc trường Đại học Karlstad ở Thụy Điển, những người làm bài kiểm tra đọc hiểu trên máy tính đạt điểm thấp hơn và có mức độ căng thẳng và mệt mỏi cao hơn những người làm trên giấy.  Màn hình số cũng ảnh hưởng tới khả năng tập trung và trí nhớ ngắn hạn của người đọc. Vì vừa đọc vừa phải điều khiển thanh cuộn lên xuống, nên họ phải tập trung vào cả văn bản đang đọc cũng như cách dịch chuyển nó – và điều này khiến não phải làm việc nhiều hơn so với việc lật trang sách, vốn là động tác đơn giản và mang tính tự động hơn. Càng để tư tưởng bị phân tán vào việc di chuyển trên văn bản, thì càng khó tập trung đọc hiểu được.   Không chỉ có thế, người ta còn tiếp cận văn bản số với một tâm trí hời hợt. Họ chọn những con đường tắt – họ đọc lướt, đọc hiểu qua từ khóa nhiều hơn so với người đọc trên giấy – và họ có xu hướng chỉ đọc văn bản một lần rồi thôi. Quá trình mà các nhà tâm lý học gọi là sự điều tiết quá trình học siêu nhận thức – tức thiết lập những mục tiêu cụ thể, đọc lại những phần khó và vừa đọc vừa tự kiểm tra xem mình đã hiểu được bao nhiêu – cũng thường không xuất hiện ở những người đọc trên màn hình.   Mà dẫu không có sự khác biệt trong việc lĩnh hội thông tin khi đọc trên màn hình và trên giấy đi chăng nữa, thì những độc giả số cũng khó có thể ghi nhớ lâu dài những gì họ đã hấp thụ được. Theo các nhà tâm lí học, có sự khác nhau giữa việc nhớ và biết thứ gì đó: nhớ là một hình thức trí nhớ tương đối yếu ớt, theo đó người ta hồi tưởng lại một thông tin, cùng với những chi tiết về bối cảnh, chẳng hạn như địa điểm và thời điểm họ biết được thông tin đó là gì; còn biết là một hình thức trí nhớ mạnh mẽ hơn, giúp người ta xác định chắc chắn về điều gì đó. Trong một nghiên cứu thực hiện năm 2003, Tiến sĩ Kate Garland, khi đó thuộc trường Đại học Leicester, đã yêu cầu 50 sinh viên đọc một tài liệu về kinh tế trên sách giấy hoặc trên phiên bản sách điện tử. Sau 20 phút, bà kiểm tra họ; trong bài kiểm tra, các sinh viên phải đánh dấu vào cả ô trả lời và ô hỏi họ “biết” hay “nhớ” câu trả lời đó. Kết quả cho thấy, những sinh viên đọc trên màn hình dựa vào việc nhớ hơn là việc biết; trong khi các sinh viên đọc trên sách giấy lại sử dụng đồng đều cả hai hình thức trí nhớ trên.  Đọc – không chỉ là con chữ  Cũng phải thừa nhận rằng văn bản số cũng có nhiều lợi thế rõ rệt. Khi bạn phải làm việc gấp rút để kịp thời hạn, thì cái tiện lợi của việc dùng từ khóa để tìm kiếm tức thời hàng trăm tài liệu tham khảo trực tuyến sẽ bỏ xa những lợi ích của việc cặm cụi đọc hiểu và ghi nhớ từng cuốn sách giấy trong thư viện. Còn với người có thị lực kém, thì font chữ dễ tùy chỉnh cũng như màn hình LCD có độ tương phản cao quả là của hiếm trời cho. Nhưng, như những nghiên cứu trên các độc giả nhỏ tuổi đã chỉ ra, một điểm mạnh của sách giấy – có thể nói là điểm mạnh nhất của nó với tư cách phương tiện đọc – nằm ở chính sự khiêm nhường của nó. Khác màn hình số, nó không thu hút sự chú ý vào mình, hay khiến độc giả phân tán tư tưởng. Nhờ đức tính giản dị của mình, sách giấy “vẫn là một điểm lặng, một chiếc mỏ neo cho nhận thức” – theo cách viết của Williams Powers trong bài viết năm 2006 của ông, “Chiếc Blackberry của Hoàng tử Hamlet: Tại sao sách giấy là vĩnh cửu.”  Ngoài những suy xét thực dụng, thì cảm nhận của chúng ta về một quyển sách giấy hoặc một chiếc máy đọc sách – và cái cảm giác khi cầm nó trên tay – cũng quyết định việc liệu chúng ta sẽ mua sách giấy hay sách điện tử. Những khía cạnh nhận cảm khi đọc sách giấy có ý nghĩa với chúng ta hơn chúng ta vẫn tưởng: nào mặt giấy, nào mùi mực, lại cả cái thú của việc ta có quyền dùng tay mà là phẳng hay gấp lại một trang giấy, và cả cái âm thanh không lẫn đâu được khi ta lật giở từng trang. Cho đến nay những văn bản số vẫn chưa thể tái dựng được đầy đủ những cảm giác đó.   Sách giấy còn có kích cỡ, hình dáng và trọng lượng có thể nhận biết tức thời. Ngược lại, một cuốn sách điện tử – mặc dầu có thể lấy thanh cuộn mà tượng trưng cho độ dài của nó – lại chẳng có hình dáng hay độ dày mỏng nào rõ ràng cả. Chiếc máy đọc sách vẫn giữ nguyên trọng lượng đó, dù là khi bạn đọc một trường thiên tiểu thuyết hay một đoản văn vài dòng. Một số nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những khác nhau này tạo ra cái gọi là sự bất hài hòa về xúc giác (haptic dissonance) khiến cho một số người không muốn dùng máy đọc sách.  Công nghệ đọc hướng tới một giai đoạn khác  Để khắc phục sự không tương thích về mặt giác quan này, nhiều nhà thiết kế đã nỗ lực đưa những trải nghiệm đọc số tiệm cận với những trải nghiệm đọc trên giấy. Mực điện tử giống với loại mực hóa học bình thường, và thiết kế giản đơn của màn hình Kindle trông giống trang sách giấy đến kinh ngạc. Tương tự, ứng dụng iBook của Apple cũng cố gắng mô phỏng cách lật trang giống như thật. Tuy nhiên, cho tới nay, những động thái như vậy thiên về thẩm mĩ hơn là thực dụng. E-book vẫn không giúp chúng ta đọc lướt lên phần trước hay giở nhanh tới chương sau khi chợt nhớ ra điều vừa mới đọc.  Trong khi đó, một số nhà cải cách trong lĩnh vực công nghệ số lại không muốn tự giới hạn mình ở việc mô phỏng sách giấy. Thay vào đó, họ đang đưa công nghệ đọc tiến hóa lên một giai đoạn hoàn toàn khác. Thanh cuộn có thể không phải là thiết bị định vị lý tưởng đối với một cuốn tiểu thuyết dài và đậm đặc chi tiết, nhưng những tờ tạp chí như New York Times, Washington Post, ESPN và những trang truyền thông khác đã và đang đem đến cho độc giả những bài viết đẹp đẽ, sinh động vốn không thể có ở bản in, bởi chúng kết hợp văn bản với những đoạn phim và các clip âm thanh – và tất cả đều nhờ con trỏ chuột để có thể tạo ra những hiệu ứng điện ảnh. Nhà văn Robin Sloan là người tiên phong ở mảng “truyện đọc bằng tay” – đây là hình thức đọc truyện dựa vào tương tác vật lý để xác định nhịp văn và giọng văn; các từ mới, câu mới và hình ảnh mới chỉ xuất hiện khi có người chạm tay vào màn hình số. Một số nhà văn khác thì đang hợp tác với các lập trình viên máy tính để tạo ra những cuốn tiểu thuyết có độ tương tác phức tạp hơn, theo đó người đọc có thể quyết định mình sẽ đọc, nghe, hay nhìn cái gì tiếp theo.  Rõ ràng, với những văn bản dài, dày đặc chữ nghĩa, thì giấy vẫn là sự lựa chọn lý tưởng.   Đoàn Khương Duy lược dịch   Nguồn: Ferris Jabr; “Why the Brain Prefers Paper;” Scientific American, số tháng 11/2013: tr. 49-53.  http://www.scientificamerican.com/article.cfm?id=the-reading-brain-in-the-digital-age-why-paper-still-beats-screens    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ nhớ từ không cần… từ trường.      Những công nghệ lưu trữ dữ liệu của tương lai có thể sẽ phải trông cậy nhiều vào một loại cấu trúc từ nano có dạng xoắn, được gọi là “xoáy từ”. Cấu trúc này là cơ sở cho việc chế tạo các đĩa từ có kích cỡ một phần triệu mét. Hiểu được đặc tính của loại cấu trúc này là một yêu cầu tối quan trọng cho việc phát triển một thế hệ mới của công nghệ lưu trữ dữ liệu dùng từ trường.    Nhóm các nhà khoa học ở Đại học Kyoto (Nhật Bản) đã tìm ra cách để điều khiển sự từ hóa của nhân xoáy từ mà không cần đặt từ trường ngoài lên đĩa từ. Thay vào đó, họ đưa vào đĩa từ một dòng điện.   “Chúng tôi đã đạt được một bước tiến quan trong khi sử dụng dòng điện. Một dòng điện có cường độ thích hợp sẽ cộng hưởng với xoáy và khiến nó quay với tốc độ cao – vận tốc dài có thể lên tới vài trăm mét mỗi giây. Chuyển động này tạo ra một từ trường mạnh chống lại sự từ hóa của chính cấu trúc xoáy và đảo ngược sự từ hóa của nó,” Teruo Ono (thuộc nhóm nghiên cứu) nói.  Dòng điện được sử dụng thực ra không phải dòng các electron mà một “dòng spin” – dòng các spin chuyển động. (một trạng thái spin có thể lan truyền theo một đường, nhiều sự lan truyền đó sẽ tạo ra dòng spin).  Các nhà nghiên cứu ở khắp nơi đang đua nhau chế tạo những thiết bị điện tử sử dụng các dòng spin (spintronics). Nghiên cứu của nhóm Kyoto đã mở ra khả năng chế tạo những đĩa từ đơn giản làm cơ sở cho các thiết bị spintronic giống như các tế bào nhớ, nơi mà mỗi bit thông tin được lưu trữ theo hướng từ trường của nhân xoáy. Nghiên cứu này cũng minh họa một cách viết dữ liệu vào bộ nhớ rất hiệu quả.  “Hiệu ứng lan truyền spin cho phép chúng ta không cần phải sử dụng các từ trường lớn để điều khiển các thiết bị từ, tức là chúng ta cũng không phải tốn chí phí và công thiết kế để duy trì những từ trường lớn như vậy”, Ono nói.  Theo Nature Materials (DOI 10.1038/nmat1867)/vatlyvietnam.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ nhớ từ ưu việt      Một vi mạch có thể lưu trữ thông tin giống như một ổ cứng đã được công ty Freescale của Mỹ phát triển. Vi mạch này được gọi là bộ nhớ từ trở truy nhập ngẫu nhiên (Mram), nó duy trì dữ liệu dựa trên các đặc trưng từ tính chứ không phải trạng thái tích điện. Một nhà phân tích đã cho rằng, vi mạch này sẽ là một sự phát triển về bộ nhớ máy tính có giá trị nhất trong vòng một thập kỷ tới. Mram sẽ có khả năng được sử dụng trong nhiều thiết bị điện tử tân tiến. Ưu điểm nổi trội của loại vi mạch nhớ này là nó có thể giữ được thông tin ngay cả khi tắt nguồn cung cấp.    Các bộ nhớ flash cũng có thể giữ được dữ liệu mà không cần nguồn, nhưng chúng không thể ưu việt như Mram bởi vì Mram đọc và ghi nhanh hơn, đặc biệt là chất lượng của Mram không bị thoái hóa theo thời gian sử dụng.     Các vi mạch Mram có thể sẽ sớm được sử dụng trong các máy tính cá nhân để lưu trữ hệ điều hành, khi ấy các máy tính sẽ khởi động nhanh hơn nhiều.  Nhà phân tích Bob Merrit cho rằng, với Mram chúng ta có thể tiến đến một công nghệ nhanh hơn, nhỏ hơn và rẻ hơn, “Đây là một bước tiến cực kỳ quan trọng đưa chúng ta đến thế giới của những thiết bị tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp nhỏ bé hơn”.  Theo BBC News    P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ phim phân tử      Các nhà khoa học đã làm được “bộ phim phân tử” đầu tiên về tương tác giữa ánh sáng và vật chất. Một nhóm hợp tác khoa học giữa Đại học Oxford, Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley và Viện Công nghệ Massachusetts đã đo được những hiện tượng vi mô xảy ra khi ánh sáng đi qua một môi trường.      Tiến sỹ Andrea Cavalleri, tác giả đứng đầu công trình đăng trên Nature nói: “Một cái que trên mặt hồ dường như sẽ có nhưng góc nghiêng khác nhau tùy thuộc vào việc chúng tôi nhìn nó từ bên ngoài mặt nước hay từ bên dưới mặt nước. Ở mức vi mô, hiệu ứng này phụ thuộc vào mức độ của kiên kết nguyên tử và việc các nguyên tử cũng như các electron phản ứng chậm tới mức nào khi đặt chúng trong một điện trường biến đổi nhanh của ánh sáng.”  Nếu bạn muốn hiểu về sự truyền của ánh sáng ở mức vi mô và làm được một “bộ phim phân tử” về các nguyên tử và electron đang ngọ nguậy trong trường ánh sáng, bạn phải có một chiếc camera tốc độ cực kỳ nhanh, có khả năng xử lý tới từng femto-giây (nhỏ hơn một phần nghìn tỷ của một giây). Khả năng đó có thể đạt được bằng công nghệ laser hiện đại – nhưng laser lại có bước sóng không đủ ngắn để có thể nhìn đến nguyên tử. Nếu sử dụng tia X thì có thể thấy được “hình ảnh” của một phân tử, song  hiện nay vẫn chưa có những xung tia X đủ ngắn để có thể chụp được chuyển động nguyên tử.      Các nhà khoa học đã cố gắng vượt qua những trở ngại này bằng việc kết hợp các xung laser cực nhanh với các chùm electron lấy ra từ một máy gia tốc hạt. Các electron này sẽ phát ra những xung tia X đủ ngắn để đo được các chuyển động nguyên tử ở thang thời gian cỡ femto-giây. Từ đó các nhà khoa học đã ghi lại được chuyển động của các nguyên tử tích điện với độ chính xác nhỏ hơn một phần nghìn tỷ mét. Công nghệ này cũng có thể được áp dụng cho các quá trình khác ở mức vi mô.                                                                                                                                                     Nguồn: University of Oxford   P.V          Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ sách về vật lý hiện đại của giáo sư Cao Chi      Trong khoảng hơn 20 năm gần đây, giáo sư Cao Chi đã tâm huyết hoàn thành và cho xuất bản một bộ sách lớn về vật lý hiện đại gồm 6 tập để phổ biến, chuyển tải những vấn đề thời sự trong nhiều hướng chuyên môn khác nhau từ vũ trụ học, lỗ đen, hạt cơ bản, các lý thuyết thống nhất, lý thuyết tai biến, hạt nhân, môi trường đông đặc, cơ học lượng tử, toán học sinh học trong vật lý… đến các vấn đề triết học, lý thuyết hiện sinh, phân tâm học…       Giáo sư Cao Chi là một trong những nhà vật lý đầu đàn của Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ 20 với nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển ngành năng lượng nguyên tử của Việt Nam. Trong khoảng hơn 20 năm gần đây, giáo sư Cao Chi đã tâm huyết hoàn thành và cho xuất bản một bộ sách lớn về vật lý hiện đại gồm 6 tập để phổ biến, chuyển tải những vấn đề thời sự trong nhiều hướng chuyên môn khác nhau từ vũ trụ học, lỗ đen, hạt cơ bản, các lý thuyết thống nhất, lý thuyết tai biến, hạt nhân, môi trường đông đặc, cơ học lượng tử, toán học sinh học trong vật lý… đến các vấn đề triết học, lý thuyết hiện sinh, phân tâm học… Có thể nói đa số các vấn đề thời sự quan trọng của nhiều lĩnh vực vật lý đã được bộ sách đề cập đến, cùng những thông tin tài liệu tham khảo rất có ích đối với bất kỳ ai muốn học nhập môn vật lý hay chuẩn bị bước vào tham gia nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực khác nhau của vật lý.  Cuốn 1: VẬT LÝ HIÊN ĐẠI – NHỮNG VẤN ĐỀ THỜI SỰ TỪ BIGBOUNCE ĐẾN VŨ TRỤ TOÀN ẢNH. NXB TRI THỨC in năm 2011, 416 trang  Tập 1 được trình bày theo bố cục của 9 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Einstein và vũ trụ toàn ảnh: Ở đây bạn đọc được làm quen với khái niệm Vũ trụ lượng tử. Để hiểu được cấu trúc và quá trình tiến triển của Vũ trụ người ta phải nghiên cứu thuyết lượng tử vốn là lý thuyết điều khiển hành vi của những hạt cơ bản, những thực thể vi mô, bởi vì những hiện tượng vĩ mô luôn quyện cùng với những hiện tượng vi mô thành một thực tế thống nhất. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng của thuyết lượng tử, của vật lý các hạt cơ bản khi đã thực hiện một bước nhảy trong nhận thức của chúng ta về sự bí ẩn và vẻ đẹp của vũ trụ. Hơn lúc nào hết các nhà vật lý hiện đang ra sức tìm sự thống nhất giữa lý thuyết lượng tử (điều khiển thế giới vi mô) với lý thuyết hấp dẫn (điều khiển thế giới vĩ mô). Vũ trụ lượng tử có thể hiểu là thực thể thống nhất giữa vi mô và vĩ mô, đặc trưng cho một giai đoạn mới của vật lý, trong đó lý thuyết lượng tử và lý thuyết hấp dẫn được kỳ vọng sẽ hòa mình với nhau thành một lý thuyết thống nhất, Lý thuyết của tất cả (TOE – Theory of Everything). Chúng ta sẽ thấy rằng trên đường nghiên cứu Vũ trụ lượng tử, những ý tưởng của Einstein luôn là những ý tưởng kim chỉ nam cho các nhà vật lý. Các ý tưởng đó làm thành giấc mơ xây dựng một lý thuyết thống nhất của Einstein, một di sản vô giá cho vật lý hiện đại.  * Năng lượng tối: Sự tồn tại của năng lượng tối đã đặt ra câu hỏi nền tảng cho vật lý mà đến nay vẫn chưa có câu trả lời: liệu có cần một lý thuyết vật lý mới cho vũ trụ? Nhớ lại một phát hiện cách đây hơn chục năm đã làm kinh ngạc các nhà vũ trụ học: nhiều số liệu quan trắc thiên văn đã chứng tỏ rằng quá trình giãn nở vũ trụ thay vì chậm lại thì càng gia tăng. Để giải thích hiện tượng khó hiểu này, các nhà vũ trụ học đã đưa ra kết luận về sự tồn tại của một dạng năng lượng bí ẩn – năng lượng tối. Hiện nay bản chất của dạng năng lượng này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Công cuộc truy tầm năng lượng tối hiện đang tiếp diễn quyết liệt trong các nghiên cứu thực nghiệm cũng như lý thuyết.  * Vật chất tối: Mặc dù sự tồn tại của vật chất tối đã được khẳng định từ cách đây gần 70 năm, đến nay bài toán về vật chất tối vẫn chưa có lời giải. Ngoài các mô hình lý thuyết, người ta cũng đang tìm cách quan sát vật chất tối trong phòng thí nghiệm. Chúng ta biết rằng phần lớn vật chất trong vũ trụ là vật chất tối và không có vật chất tối thì không có sao, có thiên hà và đương nhiên không có sự sống. Vật chất tối đã và đang giữ chặt vũ trụ lại. Liệu vật chất tối có thể được chế tạo trong các máy gia tốc? Siêu hạt nhẹ nhất trong siêu đối xứng, hạt nhẹ nhất chuyển động trong các chiều dư, hạt axion  trong lý thuyết QCD, có thể thuộc về vật chất tối?  * Bất đẳng thức Bell: Trong những năm gần đây, tính không định xứ (non-locality) đã được khẳng định như một tinh chất bao trùm của các thực thể vật lý. Bản chất toán học của tính không định xứ được thể hiện qua bất đẳng thức Bell: Không có một lý thuyết định xứ với biến số ẩn (local hidden variables theory) nào có thể cung cấp được các tiên đoán (predictions) của cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử khác với Cơ học cổ điển như thế nào? Chính bất đẳng thức Bell giúp ta làm rõ phân biệt đó.  * Bigbounce – một giả thuyết mới: Vũ trụ có thể được xét đễn như một thực tại tổng quát được sinh ra từ một Big Bounce (vụ bật lớn), một giả thuyết mới được đề xuất thay thế mô hình Big Bang (vụ nổ lớn) với yếu điểm là điểm kỳ dị không thời gian tại thời điểm t=0 mà không thể có một giải thích vật lý nào.    * Các lỗ đen –Viễn tải lượng tử.   * Lý thuyết dây, Khoa học phức hợp.  * Nguyên lý toàn ảnh.   * Đối xứng và phá vỡ đối xứng.  * Nghệ thuật và khoa học.  Cuốn 2: VẬT LÝ HIÊN ĐẠI – NHỮNG VẤN ĐỀ THỜI SỰ. NXB TRI THỨC in năm 2015, 512 trang  Tập 2 cũng được trình bày trong 9 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Topo của vũ trụ: Vấn đề nghiên cứu topo của vũ trụ đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà vũ trụ học. Nhiều vũ trụ xét về mặt hình học là một vũ trụ vô hạn (infinite) song nếu chú ý đến topo (tức đến toàn cục) thì lại là một vũ trụ hữu hạn (finite). Nhiều số liệu quan sát CMB (Cosmic Microwave Background – Bức xạ Phông Vũ trụ) cũng có thể được chính xác hóa thêm nhờ những chi tiết phát sinh từ những hệ quả topo. Sách giới thiệu với bạn đọc những nét tổng quát về ảnh hưởng của topo đến vũ trụ học.  * Giới thiệu số p-adic: Mô hình được kỳ vọng sẽ là một công cụ toán học cho lý thuyết thống nhất (TOE). Các số p-adic được nhà toán học Kurt Hensen tìm ra từ cuối thế kỷ 19 (năm 1897) để bổ sung cho tập các số thực, hữu tỷ và số phức. Tập các số p-adic dẫn đến metric không – Archimedean thích hợp cho sự mô tả không thời gian gián đoạn. Cùng với vẻ đẹp toán học, các số p-adic có thể trở thành một công cụ hữu hiệu giúp các nhà vật lý mô tả chính xác hơn thế giới khách quan trong nhiều lĩnh vực từ vi mô đến vĩ mô: cơ học lượng tử, lý thuyết dây, môi trường đông đặc, vũ trụ học,.. và  khoa học nhận thức, có thể được sắp xếp theo hình cây sau đây:    * Vũ trụ, hạt nhân, hạt cơ bản, môi trường đông đặc, máy tính lượng tử.  * Toán và vật lý, các lý thuyết thống nhất, sóng hấp dẫn.   * Xích Markov, Giả tinh thể.   Cuốn 3: VẬT LÝ NGÀY NAY. NXB TRI THỨC in năm 2016, 440 trang  Tập 3 cũng được trình bày trong 9 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Tính không định xứ và không hiện hữu:  Tính không định xứ (non-locality), thể hiện qua bất đẳng thức Bell giới thiệu ở trên, được bàn đến trong song hành với tính không hiện hữu (non-realism) như hai tính chất quan trọng của thế giới khách quan. Quan điểm “không định xứ và không hiện hữu” được cho là phù hợp với thực nghiệm và chống lại quan điểm “định xứ và hiện hữu”. Tập 3 của bộ sách giúp bạn đọc làm quen với những thông tin về vấn đề lý thú này.  * Một số thông tinh ban đầu từ các quan điểm vật lý về vấn đề vật chất sống (living) và không sống (non-living): Liệu có thể dung hòa các nhận thức của chúng ta đối với hai vương quốc vật chất sống và không sống? Nhiều thế kỷ đã phân chia hai vương quốc này. Các nhà khoa học theo thuyết sức sống tin rằng tồn tại một lực sống đã tổ chức nên các cơ thể sống và điều hành mọi hành xử của chúng. Hiện nay các nhà vật lý và hóa học dường như không tin vào thuyết sức sống và đưa ra cách tiếp cận để tìm hiểu sơ bộ về quá trình tự tổ chức quan sát được trong vương quốc của sự sống dựa trên những cấu trúc phát tán phát hiện bởi Prigogine (Nobel 1977) và trên hiện tượng đột sinh trong lý thuyết phức hợp phát triển bởi Laughlin (Nobel 1998) và nhiều người khác. Các nhà vật lý (Schroedinger, Penrose,…) đã từng nhấn mạnh vai trò của lý thuyết lượng tử trong sinh học. Thêm vào đấy vũ trụ toàn ảnh xây dựng bởi Bohm và Pribram lại cho thấy rằng có mối liên thông giữa hai vương quốc vật chất sống và không sống.  * Sóng hấp dẫn, lỗ đen vi mô, QBism, ER=EPR.  * Du hành về tương lai và quá khứ, hạt nhân.   * Máy tính lượng tử, Vật lý và sinh học.  * Cơ học Bayesianism, Máy tính lượng tử topo.  * Xu hướng hạt nhân tiền tiến.  * Lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng (LQG).  Cuốn 4: NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG VẬT LÝ HIỆN ĐẠI. NXB TRI THỨC in năm 2018, 430 trang  Tập 4 được trình bày theo bố cục 3 phần trong 7 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Các lý thuyết đồng điều (homology) và đối đồng điều (cohomology):   Các lý thuyết đồng điều và đối đồng điều có nhiều ứng dụng trong vật lý như nghiên cứu các tích phân Feynman và nghiên cứu các trạng thái topo trong môi trường đông đặc. Một số nhà vật lý cho rằng muốn tìm hiểu được mọi trạng thái khả dĩ của vật chất nhất thiết phải sử dụng đến các lý thuyết đồng điều và đối đồng điều.  * AdS/CFT và các ứng dụng:   AdS/CFT là một đối ngẫu – duality (hay còn được gọi là hệ thức tương đương – correspondence) giữa hấp dẫn (nằm trên không gian AdS) và một lớp lý thuyết trường gọi là conformal (CFT) nằm trên biên của AdS. Đây là một đối ngẫu kỳ thú do Maldacena tìm ra năm 2005 thu được số lượng tham khảo và trích dẫn kỷ lục từ cộng đồng vật lý quốc tế vì sự quan trọng và tính mới lạ của nó đối với vật lý hiện đại.  * Meson sắc đẹp, ER=EPR, Lý thuyết dây, Đại số và lý thuyết số.  * Vũ trụ lượng tử, hiệu ứng Casimir, hấp dẫn entropic, cách mạng nhiệt động học.  * Triết học vật lý, Pha topo và dịch chuyển pha topo.  * Trường chuẩn và không gian phân thớ, Hạt ma Fadeev-Popov.  * Hội thảo Vật lý – Triết học Munich.  * Các lý thuyết chuẩn tương tác mạnh.  * Vật lý các môi trường đông đặc.  * Lỗ đen và hấp dẫn lượng tử, Thủy động học tương đối.  * Hiện sinh, phân tâm học.  Cuốn 5: VẬT LÝ HIỆN ĐẠI ± MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI SỰ. NXB Khoa học và Kỹ thuật in năm 2020, 312 trang  Tập 5 được trình bày trong 7 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Va chạm kilonova của hai sao neutron: Ngày 17/08/2017 hai trạm giao thoa laser LIGO (ở Mỹ) và Virgo (ở Italy) đã cùng quan sát và ghi đo được tín hiệu sóng hấp dẫn lần đầu tiên từ một vụ va chạm cuộn hút vào nhau của hai sao neutron với khối lượng tổng gần băng ba lần khối lượng mặt trời, nay được gọi là GW170817. Chỉ khoảng 2 giây sau tín hiệu sóng hấp dẫn, các trạm quan sát bức xạ gamma trong không gian Fermi và Integral đã ghi nhận được bùng chớp tia gamma siêu mạnh, gọi là GRB 170817 phát ra từ sự kiện này. Siêu lóe chớp gamma như vậy phát ra năng lượng tương đương hàng tỷ lần tổng năng lượng mặt trời được biết đến như kilonova. Ngoài ra, bức xạ điện từ của GW170817 với tần số trải rộng từ tia X cho đến sóng radio đã được hơn 70 đài thiên văn trên thế giới ghi đo lại. Cùng với tín hiệu sóng hấp dẫn, dữ liệu bức xạ gamma GRB 170817 đã giúp cộng đồng vật lý hạt nhân thiên văn khẳng định được những vụ va chạm sao neutron như vậy là chính nguồn sinh tạo ra các nguyên tố nặng trong vũ trụ, Sự kiện GW170817 cũng là khởi đầu của thiên văn học đa tín hiệu (multi-messenger astronomy), một lĩnh vực vật lý đa ngành rất thời sự từ năm 2017 đến nay.        * Định lý Noether:   Emmy Noether (23/3/1882 – 14/4/1935), một nhà nữ toán học Đức đã được sinh ra trong thành phố này và ở đấy đến năm 1925 khi bà rời thành phố để đến Goettingen theo lời mời của David Hilbert và Felix Klein. Đến nay đã hơn 100 năm kể từ năm 1918 khi Emmy Noether công bố công trình “Invariante Variationsprobleme – Các bài toán biến phân bất biến”, khi bà vừa tròn 36 tuổi. Công trình với các định lý trong đó hiện nay được xem là cơ sở toán học chặt chẽ cho các dạng đối xứng và định luật bảo toàn quan trọng nhất trong vật lý, góp phần xây dựng lên nền tảng của vật lý hiện đại trong thế kỷ 20.  * QCD: Quantum Chromodynamics – Sắc động học lượng tử  Lý thuyết QCD được xem là lý thuyết cơ bản về tương tác mạnh. Chúng ta biết trong thiên nhiên có 4 loại tương tác:hấp dẫn, mạnh, yếu, điện từ.  QCD mô tả tương tác mạnh nên là một bộ phận lý thuyết lớn của thiên nhiên. Nhờ có QCD + với các lý thuyết khác mà chúng ta đã quét được mọi khoảng cách từ vi mô đến vĩ mô của vũ trụ.  * Entropy – động lực vũ trụ.   * Lỗ đen và lỗ trắng, Tương tự quang học của bức xạ Hawking.   * Lý thuyết nút, Cách điện topo.  * Fractal, Hai bài toán thiên niên kỷ.  * Không thời gain được dệt bằng các liên đới, Entanglement.  * Thi sĩ William Blake và truyền thuyết Tăng Tử, Trang Tử.  Cuốn 6: VẬT LÝ HIỆN ĐẠI.NXB TRI THỨC in năm 2021, 356 trang  Tập 6, tập cuối của bộ sách, được trình bày trong 7 chương sách, với những nội dung chính sau đây:  * Pha Berry và số Chern:  Ta đã biết về hình học của không thời gian, vậy nếu xét không phải không thời gian mà xét ngay tập các hàm sóng lượng tử mô tả các hạt thì có thể đưa các khái niệm hình học vào tập này hay không? Tập này có liên thông (connection) và có độ cong không? Bạn đọc sẽ thấy tập này thực sự có liên thông và độ cong, đó là được gọi là độ cong Berry (mang tên nhà vật lý Michael Victor Berry).  * Ghép đôi:   DOUBLE COPY (GRAVITY ~ GAUGE x GAUGE )  Các nhà vật lý lý thuyết vừa phát hiện ra một đối ngẫu mới giữa màu sắc và động học (new duality between color and kinematics). Đối ngẫu này cho phép xây dựng một biên độ tán xạ hấp dẫn bằng cách thay thừa số màu bằng một thừa số động học. Khi đó ta có sơ đồ sau:  GRAVITY = KINEMATIC CỦA GAUGE x KINEMATIC CỦA GAUGE  Đây là một kết quả quan trọng: có được sự tương hợp tử ngoại (ultraviolet compatibility) của các phương án đối xứng (version symmetric) của lý thuyết hấp dẫn Einstein. Phát hiện này cho ta thấy được mối liên hệ kỳ diệu giữa lý thuyết chuẩn và hấp dẫn (surprising relation). Do ở đây không còn xuất hiện các vô cực tử ngoại (UV infinities) nên hấp dẫn trở thành một lý thuyết thích hợp.  * Khủng hoảng hằng số Hubble, Tam giác vũ trụ, Lỗ đen âm thanh.  * Nghịch lý Hawking, Đồng điều và topo.  * Cơ học lượng tử Bayes, Giản đồ Quigg, Hạt fracton.  * Hạt nhân thế kỷ 21, Xoắn tử, Homo và Topo.  * Collapsar, Lỗ sâu đi qua được, Lỗ đen có tóc.   * Cô học dBB, Dây và Môi trường đông đặc  * Hạt skyrmion, Hạt dilaton, Hạt axion, Hạt fracton.   LỜI KẾT  Bộ sách về Vật Lý Hiện Đại giới thiệu ở trên là một công trình đồ sộ được tác giả Cao Chi thực hiện trong hơn 20 năm qua, trình bày theo phong cách bách khoa toàn thư ngắn gọn nhưng rất sư phạm về nhiều vấn đề thời sự cùng những thành tựu phát minh, khám phá gần đây của vật lý hiện đại.  Chúng tôi hy vọng bộ sách 6 tập này sẽ được chỉnh sửa, bổ sung và tái bản trong những năm tới. □    Author                Cao Chi, Đào Tiến Khoa        
__label__tiasang Bộ trưởng khoa học Iran đạo văn ?      Ngay sau khi ông Kamran Daneshjou được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Khoa học Iran, hàng ngàn email và blog liên tục chất vấn văn bằng tiến sĩ và uy tín khoa học của ông và theo website của trường Đại học Khoa học và Công nghệ Iran thì trong số 8 bài báo khoa học ông công bố, có bằng chứng cho thấy một trong số những bài đó là đạo văn. Từ chuyện này nghĩ về việc đạo văn ở nước ta.  &#160;    Theo lí lịch chính thức do Chính phủ Iran công bố, Kamran Daneshjou có bằng tiến sĩ về kĩ thuật hàng không từ “College of London”. Nhưng vấn đề là ở Anh không có trường nào với cái tên đó.  (Có lẽ do cách dịch từ tiếng Anh sang tiếng Iran chăng?). Vào tháng 8 vừa qua, tờ Los Angeles Times nêu lên những câu hỏi chung quanh luận án tiến sĩ của ông. Theo trang web của Đại học Khoa học và Công nghệ Iran vào lúc đó (tháng 8), học vị tiến sĩ của ông được “Manchester Imperial Institute of Science and Technology” cấp. Nhưng sau khi bài báo đăng thì thông tin trên đã được sửa lại và cho biết bằng tiến sĩ của ông được cấp vào năm 1989 sau khi ông làm nghiên cứu tại Imperial College (London), nhưng bảo vệ luận án thì được tổ chức tại Đại học Công nghệ Amirkabir ở Iran!   Theo website của trường Đại học Khoa học và Công nghệ Iran thì ông công bố khoảng 8 bài báo khoa học. Nhưng trong đó có bằng chứng cho thấy một trong số những bài này là đạo văn.  Trong bài báo có tựa đề là “Analysis of critical ricochet angle using two space discretization methods” mà ông và Majid Shahravi đứng tên đồng tác giả được công bố trên tập san Engineering with Computers vào năm 2009, có nhiều đoạn văn, biểu đồ, và bảng số liệu trùng hợp với bài báo “Ricochet of a tungsten heavy alloy long-rod projectile from deformable steel plates“, do Woong Lee, Heon-Joo Lee và Hyunho Shin (thuộc một Trung tâm nghiên cứu quân sự ở Hàn Quốc) công bố trên tập san Journal of Physics D: Applied Physics vào năm 2002. Có thể xem qua vài đoạn mà tôi trích dưới đây để thấy sự đạo văn quá trắng trợn.  Ngoài ra, một số câu văn trong bài báo của Daneshjou cũng trùng hợp với những câu văn trong một bài báo của các nhà nghiên cứu Mỹ công bố vào năm 2003 tại một hội nghị chuyên ngành.  Về phần tập san Engineering with Computers, Tổng biên tập đã tuyên bố rút bài báo ra khỏi tập san và sẽ đề “retracted” trong phiên bản online.  Những sự thật trên đây làm xôn xao giới khoa học Iran, với hàng ngàn email và blog liên tục bàn về vấn đề mà họ cho là một xì căng đan, một sỉ nhục cho khoa học Iran, nước đang có tham vọng bước chân vào câu lạc bộ các nước có nền khoa học tiên tiến. Một nhà khoa học Iran trấn an dư luận quốc tế rằng: “Tôi muốn cam đoan với cộng đồng khoa học quốc tế rằng các nhà khoa học Iran là những người thành thật và có đạo đức, và hành động ngu xuẩn này làm cho họ cảm thấy xúc phạm”. Một nhóm khoa học khác tuyên bố rằng họ sẽ gây áp lực để Chính phủ điều tra cho ra việc, và nếu bằng chứng đạo văn là đúng thì họ sẽ yêu cầu ông từ chức bộ trưởng.  Ông Daneshjou từng là Chủ nhiệm văn phòng Bộ Nội vụ Iran, nơi điều hành cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 6 vừa qua. Cuộc bầu cử đầy tai tiếng này đã đưa Mahmoud Ahmadinejad trở lại quyền lực. Do đó, người ta nghi ngờ rằng việc bổ nhiệm Daneshjou làm Bộ trưởng Bộ Khoa học Iran chỉ là một cách trả ơn của Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad. Thật vậy, giới khoa học Iran không đồng tình với sự bổ nhiệm này.  Nhìn người lại nghĩ đến ta. Năm 2007 tôi có nêu một trường hợp đạo văn ở nước ta, mà theo đó một bài do một nhóm nghiên cứu ở trong nước công bố năm 2004 với nội dung, (kể cả số liệu và biểu đồ, thậm chí hình ảnh) trùng hợp với một bài báo do một nghiên cứu sinh Việt Nam công bố vào năm 2000. Sự việc được nêu lên trên Tia Sáng, rồi cũng chìm vào quên lãng.  Không ai trong giới khoa học có phản ứng. Càng ngạc nhiên hơn, không ai trong Bộ Khoa học và Công nghệ có động thái gì! Chắc chắn đó không phải là trường hợp đầu tiên, và càng chắc chắn không phải là trường hợp sau cùng, về tình trạng đạo văn và gian lận khoa học ở nước ta.    Trường hợp một Bộ trưởng Iran đạo văn là một cảnh báo cho chúng ta thấy đạo văn có thể xảy ra ở những người có quyền cao chức trọng, chứ không phải chỉ ở những nhà khoa học “vô danh”.  Giới khoa học Iran cảm thấy xấu hổ vì một đồng nghiệp của họ đạo văn, nhưng ở nước ta hình như giới khoa học chẳng ai quan tâm hay cảm thấy xấu hổ khi có đồng nghiệp phạm phải lỗi lầm như thế.  Có lẽ cộng đồng khoa học quốc tế chẳng mấy quan tâm đến khoa học Việt Nam, nên chúng ta chẳng cần ồn ào.  Nhưng dù sao đi nữa, những sự cố như thế này cho thấy chúng ta rất cần một cơ chế để giảm thiểu tình trạng gian dối trong khoa học.   TB. Vài trích đoạn văn cho thấy đạo văn của Kamran Daneshjou và Majid Shahravi:                  Bài báo của Lee et al, J Phys D: Appl Phys 2002; 35:2676-86      Bài báo của Daneshjou và Shahravi, Engineering with Computers 2009; 25:191-206          It is well known that a projectile impacting on a suitably inclined surface can bounce back from the surface or partially penetrate it (without perforating it and being stopped by it) along a curved trajectory on the impacted surface with a reduced velocity [1].      It is well known that a projectile impacting on a suitably inclined surface can bounce back from the surface or partially penetrate it (without perforating it and being stopped by it) along a curved trajectory on the impacted surface with a reduced velocity [1].          Exploitation of ricochet to implement mass efficient means of armour protection is common in many military applications [2]. Despite numerous researches on ricochet of various types of projectiles from various types of surfaces [3–13], critical conditions for the ricochet of long-rod type projectiles has not been completely established yet.      Exploitation of ricochet to implement mass efficient means of armor protection is common in many military applications [2]. Despite numerous researches on ricochet of various types of projectiles from various types of surfaces [3–13], critical conditions for the ricochet of long-rod type projectiles has not been completely established yet.          On the extension of the series of investigations on the impact of long-rods on targets [14–16], Tate first described ricochet using a simplified two-dimensional hydrodynamic model [6].      On the extension of the series of investigations on the impact of long-rods on targets [14–16], Tate first described ricochet using a simplified two-dimensional hydrodynamic model [6].          On the extension of the series of investigations on the impact of long-rods on targets [14–16], Tate first described ricochet using a simplified two-dimensional hydrodynamic model [6].      On the extension of the series of investigations on the impact of long-rods on targets [14–16], Tate first described ricochet using a simplified two-dimensional hydrodynamic model [6].          However, in the derivation of equation (1), it was assumed that the projectile is a rigid body and that ricochet occurs due to the rotation of the projectile around its mass centre caused by the asymmetric reaction force exerted on its front from the impacted surface.      However, in the derivation of Eq. (1), it was assumed that the projectile is a rigid body and that ricochet occurs due to the rotation of the projectile around its mass centre caused by the asymmetric reaction force exerted on its front from the impacted surface.          Rosenberg et al [7] supplemented some of these shortcomings by further including the effect of target strength and bending of the projectile.      Rosenberg et al. [7] supplemented some of these shortcomings by further including the effect of target strength and bending of the projectile.               Và sau đây là những biểu đồ, bảng số liệu trùng hợp nhau:                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ Y tế Anh cấp chứng nhận đạt chuẩn châu Âu cho bộ kit SARS-CoV-2 của Việt Nam      Bộ xét nghiệm phát hiện SARS-CoV-2 do Bộ KH&CN giao cho Học viện Quân y nghiên cứu phát triển, Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á sản xuất vừa được Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh (Department of Health and Social Care) cấp phép đạt tiêu chuẩn châu Âu (CE).      Bộ sinh phẩm xét nghiệm SARS-CoV-2 của Công ty Việt Á sản xuất.  Được phép lưu hành toàn châu Âu     Ông Phan Quốc Việt, Tổng giám đốc công ty Việt Á cho biết, Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh đã cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn châu Âu (CE) và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) cho bộ sản phẩm xét nghiệm COVID-19 do Bộ KH&CN giao Học viện Quân y và Công ty Việt Á phối hợp nghiên cứu, sản xuất.      Hiện nay nhiều tổ chức độc lập khác cũng có thể thẩm định chất lượng sản phẩm và cấp CE, nhưng CE của Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh được coi là một trong những CE có uy tín, đáng tin cậy hàng đầu. Cơ quan Quản lý Thuốc và các Sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe Anh (Medicines and Healthcare products Regulatory Agency) đã trao đổi và gửi chứng nhận cho công ty Việt Á tới Đại sứ quán Anh tại Việt Nam.     Để được cấp CE, ngay sau khi Bộ Y tế Việt Nam cấp phép cho bộ sinh phẩm xét nghiệm này, công ty Việt Á đã liên hệ với đại diện ủy quyền để làm các thủ tục xin cấp phép tại Anh. Sau khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thủ lục pháp lý, bộ sinh phẩm này đã được phía Anh kiểm định chất lượng, thử nghiệm trong thực tế và cuối cùng cấp phép. Lý giải về việc được cấp CE nhanh chóng, ông Phan Quốc Việt cho biết “vì từ trước đó, Việt Á đã có chứng chỉ ISO 9001:2015 và ISO13485:2016 do Bureau Veritas, Italia cấp cho hệ thống quản lý chất lượng trang thiết bị y tế, bảo hộ y tế, nên Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh thấy ngay rằng quy trình sản xuất của công ty đảm bảo chuẩn quốc tế”.       Anh đã rời EU vào ngày 31/1/2020, nhưng Luật Dược phẩm của EU vẫn được áp dụng cho Anh đến hết 31/12/2020. Theo quy định của EU, bất kỳ thành viên nào của liên minh này cấp CE thì cũng được lưu hành toàn châu Âu.       Ông Phan Quốc Việt, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần công nghệ Việt Á phát biểu tại buổi Họp báo giới thiệu bộ kit tại Bộ KH&CN ngày 5/3/2020.  Công ty Việt Á cho biết, việc xuất khẩu bộ sinh phẩm đi nước ngoài sẽ thuận lợi hơn rất nhiều sau khi được Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh cấp CE. Trước đó đã có 20 quốc gia đàm phán mua bộ sinh phẩm này và trước mắt, Việt Á sẽ xuất khẩu sang Iran, Phần Lan, Malaysia, Ukraine.      Ưu điểm “ready to use” và dễ dàng sử dụng     Bộ sinh phẩm xét nghiệm SARS-CoV-2 do công ty Việt Á sản xuất, Học viện Quân y nghiên cứu phát triển là sản phẩm của đề tài “Nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm real-time RT-PCR và RT PCR phát hiện vi rút corona chủng mới (nCoV)”. Đây là một trong các đề tài KH&CN cấp quốc gia đột xuất do Bộ KH&CN giao cho các đơn vị nhằm kịp thời chủ động sản xuất sinh phẩm phòng chống dịch bệnh COVID-19 vào ngày 02/03. Chỉ ngay sau một tháng, hai đơn vị đã cho ra đời bộ kit và được Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương ngoại kiểm chất lượng. Trên cơ sở đó, Bộ Y tế cấp phép ban hành và đưa bộ sinh phẩm vào sử dụng (theo Quyết định số 774/QĐ-BYT, ngày 04/03).     Các tiêu chí độ nhạy, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác 100% và độ lặp lại của bộ kit này tương đương các bộ sinh phẩm do CDC Mỹ và WHO hướng dẫn. Trong 1 test của Việt Á có đủ 3 bộ primer – probe cho phát hiện SARS-like coronaviruses, SARS-CoV-2 và gene keeping house RNAse P trong tế bào người làm chứng nội (IC). Việc kết hợp các primer – probe chung lại trong 1 phản ứng đòi hỏi có sự tinh chỉnh các primer – probe này cũng như thành phần phản ứng RT-PCR để tránh việc cạnh tranh cũng như việc bắt cặp chéo của các primer – probe làm giảm hiệu quả phản ứng.     Giấy chứng nhận do Bộ Y tế và chăm sóc xã hội Anh cấp.      Đặc biệt, kit của Việt Á có điểm nổi trội là ở dạng “ready to use”, nghĩa là sẵn sàng sử dụng, không phải pha chế, tránh tối đa can thiệp, tăng độ chính xác, tương tự với kit của hãng Roche (Mỹ), điều mà chưa nhiều công ty trên thế giới làm được. Ưu điểm này khắc phục được một hạn chế của các bộ kit ở dạng “nguyên liệu rời” – là khi cần sử dụng phải pha chế các nguyên liệu rời này lại thành một bộ kit thì mới có thể test, và việc người sử dụng tự pha chế rất dễ xảy ra sai sót. Còn khi nhà sản xuất chuyên nghiệp có đủ công cụ và kinh nghiệm pha chế ngay từ đầu thì sai sót gần như bằng 0. Công ty Việt Á cho biết, để pha chế kit “ready to use” (với hạn sử dụng lên đến 12 tháng), nhà sản xuất phải chuẩn bị công thức chất bảo quản tốt và đảm bảo quá trình kiểm tra chất lượng (KCS) nghiêm ngặt với ít nhất 3 bước: KCS nguyên liệu, KCS bán thành phẩm, KCS thành phẩm trước khi đóng gói.      Bên cạnh đó, đơn vị sử dụng chỉ cần dùng 1 test duy nhất cho 1 mẫu bệnh phẩm thay vì 2 test như của Hàn Quốc hay 4 test như quy trình của CDC, Mỹ. Một máy real-time PCR thông dụng có 96 giếng, với kit Việt Á sẽ chạy được tối đa 96 mẫu, với CDC – Mỹ chỉ được 24 mẫu. Do đó, sử dụng kit của Việt Á sẽ rút ngắn thời gian thao tác tới 2-4 lần so với thời gian thao tác bộ kit của Hàn Quốc hay CDC, Mỹ.      Chi phí sản xuất bộ kit xét nghiệm do Việt Á sản xuất có khoảng 400.000-600.000 đồng/test. Một bộ kit gồm 50 test, dùng 50 lần, theo lý thuyết có thể dùng cho 50 bệnh nhân.     Công ty Việt Á và Học Viện Quân y đã có nền tảng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu và sản xuất từ nhiều năm nay, đặc biệt là trong việc phát triển và sản xuất các bộ sinh phẩm xét nghiệm. GS Lê Bách Quang, Ban chủ nhiệm Chương trình KC.10 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng” cho biết, trước khi sản xuất bộ kit SARS-CoV-2 thì Việt Á đã chiếm 70% thị trường cung cấp các bộ sinh phẩm ở Việt Nam và đã có sản phẩm xuất sang nước ngoài như Lào, Campuchia và Trung Quốc. Một kit thử khó là kit thử vi khuẩn lao kháng thuốc cũng đã từng được công ty này sản xuất thành công.  Những nỗ lực của hai đơn vị đã cho thấy năng lực nghiên cứu và ứng dụng trong công nghệ sinh học của Việt Nam hoàn toàn có thể đạt các chuẩn mực quốc tế ngặt nghèo nhất và kịp thời chủ động góp phần ứng phó nhanh chóng trước đại dịch này.   Nguồn: Bảo Như/ Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Boeing trình làng máy bay “xanh”      Ngày 8-7, hãng Boeing đã giới thiệu chiếc 787 Dreamliner, máy bay mới đầu tiên của hãng kể từ năm 1995 và thân thiện với môi trường.    Máy bay mới của Boeing được trình làng tại nhà máy ở Everett, gần Seattle. Đây là máy bay thương mại cỡ lớn duy nhất được chế tạo với thành phần hầu hết là sợi carbon với trọng lượng nhẹ hơn, bền hơn, chở được nhiều hành khách hơn và được xem là máy bay thân thiện nhất với môi trường từ trước đến nay.  Máy bay được thiết kế với các cửa sổ lớn hơn, chỗ ngồi rộng hơn và không gian dễ chịu hơn so với các máy bay hiện nay.  Theo Boeing, 787 Dreamliner sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn so với các máy bay khác, ít gây tiếng ồn hơn và thải khí CO2 ít hơn máy bay thông thường đến 20%.  Hãng cũng cho biết đã nhận được hơn 600 đơn đặt hàng trị giá hơn 100 tỷ USD, riêng hãng hàng không Úc và Qantas đặt hàng 115 chiếc. Chuyến bay thử đầu tiên dự kiến sẽ được tiến hành vào tháng 8 hoặc tháng 9.  Máy bay mới của Boeing được trình làng tại nhà máy ở Everett, gần Seattle. Đây là máy bay thương mại cỡ lớn duy nhất được chế tạo với thành phần hầu hết là sợi carbon với trọng lượng nhẹ hơn, bền hơn, chở được nhiều hành khách hơn và được xem là máy bay thân thiện nhất với môi trường từ trước đến nay.  Máy bay được thiết kế với các cửa sổ lớn hơn, chỗ ngồi rộng hơn và không gian dễ chịu hơn so với các máy bay hiện nay.  Theo Boeing, 787 Dreamliner sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn so với các máy bay khác, ít gây tiếng ồn hơn và thải khí CO2 ít hơn máy bay thông thường đến 20%.  Hãng cũng cho biết đã nhận được hơn 600 đơn đặt hàng trị giá hơn 100 tỷ USD, riêng hãng hàng không Úc và Qantas đặt hàng 115 chiếc. Chuyến bay thử đầu tiên dự kiến sẽ được tiến hành vào tháng 8 hoặc tháng 9.    TƯỜNG VY (Theo BBC, Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn nhà toán học đoạt giải thưởng Fields 2018      Huy chương Field 2018 đã được trao cho bốn nhà nghiên cứu lý thuyết số, hình học và phân tích mạng lưới.      Những nhà toán học đoạt giải Fields 2018 (từ trái sang phải): Caucher Birkar, Alessio Figalli, Akshay Venkatesh, Peter Scholze. Ảnh: Handout/TheGuardian  Nhà lý thuyết số Peter Scholze, người từng được phong giáo sư ở tuổi 24 và hiện là giáo sư trẻ nhất Đức; nhà hình học Caucher Birkar – một người tị nạn người Kurd, Alessio Figalli – nhà nghiên cứu phân tích mạng lưới và Akshay Venkatesh – nhà lý thuyết số, đã được trao Giải thưởng Fields 2018 tại đại hội của Hội Toán học quốc tế, diễn ra ở Rio de Janeiro, Braxin.  Huy chương Fields – giải thưởng uy tín nhất trong lĩnh vực toán học, được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học dưới 40 tuổi. Lần đầu tiên trong lịch sử 82 năm của huy chương Fields, không ai trong số những người thắng giải là công dân Hoa Kỳ hoặc Pháp, hai quốc gia có “truyền thống” với giải thưởng này khi chiếm gần một nửa số huy chương Fields được trao từ trước tới nay. Maryam Mirzakhani, người chiến thắng năm 2014, vẫn là người phụ nữ duy nhất đã từng nhận giải thưởng này (năm 2017, chị đã qua đời vì ung thư).  Trong cộng đồng toán học, người ta đã gần như mặc định Scholze sẽ giành giải thưởng Fields năm nay, tới mức mà người ta thường hỏi nhau: “Còn ai có thể giành giải thưởng nữa, ngoài Scholze?” Anh từng nổi tiếng ở tuổi 22 vì đã tìm ra cách để rút ngắn đáng kể một phương thức chứng minh trong hình học đại số.  Hầu hết nghiên cứu của Scholze đều kết nối với “các trường p-adic”, các phần mở rộng kỳ lạ của hệ thống số thông thường, vốn là các công cụ hữu ích cho nghiên cứu về các số nguyên tố. Trên các p-adics, anh đã xây dựng không gian Perfectoid – những cấu trúc kiểu fratal, giúp anh và nhiều nhà nghiên cứu khác giải quyết những bài toán trên nhiều lĩnh vực toán học, bao gồm hình học và topology.  Trong một hồ sơ năm 2016, một đồng nghiệp đã mô tả khả năng tập trung vào bản chất vấn đề của Scholze là “một hỗn hợp của sợ hãi và phấn khởi”. Trong những tháng gần đây, Scholze đang kiểm tra một bằng chứng lớn về Giả thuyết abc, một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất trong lý thuyết số. Vào năm 2012, Shinichi Mochizuki (một nhà toán học Nhật Bản bí ẩn) đã đăng trực tuyến một chứng minh nhưng không ai có thể nói dứt khoát liệu nó có chính xác hay không. Bây giờ Scholze và một đồng nghiệp được cho là đã tìm thấy một lỗ hổng đáng kể trong chứng minh này. Scholze là một giáo sư tại Đại học Bonn và cả Viện Toán học Max-Planck.  Caucher Birkar, 40 tuổi, đã tạo ra những đột phá trong việc phân loại các đa tạp đại số – các đối tượng hình học phát sinh từ các phương trình đa thức, chẳng hạn như y = x2. Anh sinh năm 1978 tại một vùng dân tộc Kurd ở miền nam Iran. Trong một số video của Quỹ Simons – quỹ tài trợ cho toán học và nghiên cứu khoa học cơ bản, Birkar có kể về thời thơ ấu của mình: “Bố mẹ tôi là nông dân, vì vậy tôi đã dành rất nhiều thời gian để làm ruộng. Đây không phải là nơi lý tưởng cho một đứa trẻ quan tâm đến thứ gì đó như toán học chẳng hạn”.  Sau khi theo học tại Đại học Tehran, năm 2000, Birkar chuyển đến Anh với tư cách người tị nạn và sau đó được trao quốc tịch Anh. Trong video, Birkar nói anh hy vọng Huy chương Fields sẽ đem lại “nụ cười trên môi” 40 triệu người Kurd trên khắp thế giới.  Akshay Venkatesh, 36 tuổi, làm việc về các bài toán cổ điển trong lý thuyết số, bao gồm các hệ thống số hữu tỉ của các số nguyên và các căn bậc như √2. Anh là một trong số ít các nhà toán học đã có có bước tiến trong giải quyết một câu hỏi do Carl Friedrich Gauss đặt ra trong những năm 1800. Venkatesh sinh ra ở New Delhi, lớn lên ở Úc, và hiện đang ở Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey.  Alessio Figalli 34 tuổi, nghiên cứu về vận chuyển tối ưu nhằm tìm phương thức hiệu quả nhất để phân phối các phần tử trong mạng lưới, một lĩnh vực cận kề hơn thế giới thực. Figalli áp dụng nó cho các phương trình đạo hàm riêng – các phương trình với một vài biến thường xuất hiện trong vật lý. Figalli là người Ý và làm việc tại Viện Công nghệ Thụy Sĩ (ETH) ở Zurich.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05864-w       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bóng bán dẫn nhiệt      Theo Hãng tin ANI, các nhà vật lý học thuộc Phòng thí nghiệm Low Temperature ở Helsinki (Phần Lan) đã chế tạo được bóng bán dẫn nhiệt đầu tiên trên thế giới. Bóng bán dẫn này có kích cỡ chỉ vài phần triệu của mét, sử dụng tín hiệu điện tử để kiểm soát dòng nhiệt.    Theo các nhà khoa học, bóng bán dẫn nhiệt này cũng có công dụng làm nguội. Nó có thể trở thành những thành phần quan trọng trong tủ lạnh và bếp lò cũng như được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị mới dùng để đo nhiệt độ và dòng chảy nhiệt… Các chuyên gia tin rằng sản phẩm mới có thể cách mạng hóa ngành điện tử.  H.Y (theo ANI)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bóng bán dẫn nhỏ nhất thế giới      Các nhà khoa học thuộc Đại học Manchester (Anh) đã tạo ra một chiếc bóng bán dẫn nhỏ nhất thế giới. Các chuyên gia cho biết phát minh này giúp mở ra hướng phát triển con chip vi tính cực nhanh trong tương lai.      Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một loại vật liệu mỏng nhất thế giới tên là Graphene, để tạo ra chiếc bóng bán dẫn trên. Graphene được xem là một siêu nguyên liệu vì nó có tính ổn định và dẫn điện cao. Nó có thể truyền điện nhanh hơn và xa hơn so với silicon. Với những tính năng ưu việt kể trên của graphene, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc ứng dụng vật liệu này vào ngành điện tử.   H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bong bóng tài chính Biển Nam: Thất bại cay đắng nhất của Newton      Trong lịch sử, không ít nhà khoa học xuất sắc đã từng làm những điều sai lầm và dại dột ở những lĩnh vực ngoài phạm vi nghiên cứu của mình. Quyết định đầu tư tài chính của Isaac Newton trong vụ Bong bóng Biển Nam năm 1720 cho thấy bộ não thiên tài cũng không thể cứu ông thoát khỏi cảnh thua lỗ tài chính.      Tháp London, nơi đặt Kho bạc Hoàng gia trong thời kỳ của Newton. Nguồn: wikipedia  Câu chuyện về sự mất mát của Newton trong Bong bóng Biển Nam đã trở thành một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong lịch sử tài chính; người ta cho rằng Newton đã nói một câu về mất mát của mình, ông “tôi có thể tính toán chuyển động của các thiên thể nhưng bất lực trước sự điên rồ của con người”.  Nổi tiếng như vậy nhưng trong một thời gian dài, chỉ có rất ít thông tin tin cậy về các khoản đầu tư của Newton. Phát hiện gần đây về nhiều tài liệu trong kho lưu trữ của Ngân hàng Anh đã cung cấp nhiều chi tiết hơn về các cuộc phiêu lưu tài chính của Newton. Không giống như nhiều giai thoại khác về các nhân vật nổi tiếng, câu chuyện đầy màu sắc của Newton và Bong bóng Biển Nam phần lớn là chính xác. Thậm chí theo một cách nào đó, nó còn cho thấy mức độ trầm trọng của các sai lầm mà nhà bác học lỗi lạc đã gặp phải không như người ta nghĩ.   Những điều cơ bản về Bong bóng tài chính Biển Nam  Dù rất phong phú và đồ sộ nhưng các tài liệu về Bong bóng Biển Nam lại có nhiều ghi chép không chính xác. Ví dụ, một số người cho rằng ngay từ đầu thì Công ty Biển Nam đã là một doanh nghiệp lừa đảo hoặc bị sụp đổ sau vụ đổ vỡ bong bóng vào mùa thu năm 1720. Sự thật, như thường lệ, phức tạp hơn nhiều. Công ty được thành lập vào năm 1711 chỉ để giải quyết những vấn đề tài chính cấp bách do một lượng lớn các hóa đơn của Chính phủ Anh bị tồn đọng, chưa được thanh toán, phần lớn là từ các nhà thầu cung cấp cho quân đội trong Chiến tranh kế vị Tây Ban Nha. Chính phủ cung cấp chứng khoán Biển Nam cho các chủ nợ, một sản phẩm tương tự như cổ phần của các công ty ngày nay. Các cổ phiếu không đảm bảo trả nợ đầy đủ cho các chủ nợ, nhưng nó đảm bảo trả lãi thường xuyên.   Không chỉ nhận tiền từ chính phủ để trả lãi cho các chủ nợ, Công ty Biển Nam còn độc quyền về thương mại của Anh với bờ biển phía Tây châu Mỹ và một phần bờ biển phía Đông Nam Mỹ. Công ty thu lợi nhuận từ việc bán một số hàng hóa của Anh và, đáng kể hơn và nghiệt ngã hơn, nô lệ người châu Phi. Họ lôi kéo các nhà đầu tư với lời hứa lợi nhuận từ thương mại ở Biển Nam sẽ bổ sung vào các khoản thanh toán lãi của họ.     Isaac Newton trên tờ một bảng Anh, phát hành từ năm 1978 đến 1988. Nguồn: Janusz Piekowski/Alamy Stock.  Vào cuối những năm 1710, Công ty South Sea hoạt động khá buồn tẻ, đơn giản là chuyển các khoản thanh toán của chính phủ cho các nhà đầu tư. Các học giả không có thông tin chắc chắn về lợi nhuận của các hoạt động giao dịch của mình trong giai đoạn đó; bằng chứng quan trọng cho thấy công ty thua lỗ ngay trong những năm đầu tiên. Tuy nhiên, sự độc quyền thương mại đã dệt nên giấc mơ về sự giàu có trong tương lai của công chúng. Newton, người cũng sở hữu trái phiếu chính phủ và một số khoản đầu tư vào Ngân hàng Anh, đã đầu tư ngay từ đầu và sau còn mua thêm cổ phần. Vụ đầu tư vào Biển Nam của ông ban đầu khá có lãi; giá của chứng khoán tăng lên khi chiến tranh đi vào giai đoạn kết thúc và các hoạt động kinh tế thời bình bắt đầu phát triển.   Sự phục hồi kinh tế vào cuối những năm 1710 đã đem đến tầm nhìn mới cho Công ty Biển Nam. Chính phủ Anh tuyên bố, công ty sẽ tiếp quản phần lớn nợ quốc gia của Anh vào năm 1720. Điều đó dẫn đến Bong bóng Biển Nam với việc giá cổ phiếu tăng đột biến trong mùa hè năm 1720, và sau đó nó đã trải qua một sự sụp đổ nhanh chóng vào tháng chín, rất có thể là do các nhà đầu tư bắt đầu nhận ra kỳ vọng lợi nhuận của họ không thực tế. Đến tháng 10, cổ phiếu có giá trị chưa đến một phần tư giá của nó ở thời đỉnh điểm.  Những vấn đề về tài chính của Newton  Năm 1720, Newton đã gần 80. Thành tựu khoa học quan trọng của ông đã cách đó hàng thập kỷ và từ lâu ông không còn thực hiện bất kỳ nghiên cứu đột phá nào. Mặc dù vậy, ông vẫn còn rất năng động. Newton rời Đại học Cambridge để trở thành người giám sát Kho bạc Hoàng gia Anh (Royal Mint) vào năm 1696, nơi ông đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện cuộc đổi tiền vĩ đại của thập niên 1690. Năm 1699, ông trở thành người quản lý chính của kho bạc, và giữ vị trí đó cho đến khi qua đời vào năm 1727. Tiếp tục là chủ tịch Hội Khoa học Hoàng gia Anh, ông là người nổi tiếng mà các chức sắc nước ngoài đến thăm London rất muốn gặp. Nhiều cá nhân và cả Chính phủ Anh đã đều nhờ cậy ông tư vấn kỹ thuật về nhiều vấn đề khác nhau, chẳng hạn như tìm kinh độ trên biển. Sự suy giảm về cả thể chất và tinh thần của ông rõ ràng bắt đầu sau năm 1720, điều này được Richard Westfall ghi rất chi tiết trong tiểu sử.  Theo tiêu chuẩn thời đó thì Newton được coi là giàu có. Quản lý kho bạc là một vị trí béo bở. Công việc của ông tại Cambridge đem lại mức thù lao 100 bảng mỗi năm; ngược lại, thu nhập tại kho bạc, bao gồm cả tiền lương và một phần từ công việc sản xuất tiền xu của Kho bạc, lên tới trung bình gần 2000 bảng mỗi năm. Đến năm 1720, ông cũng kiếm được hơn 1000 bảng cổ tức mỗi năm từ các khoản đầu tư của mình. Tổng thu nhập hằng năm khoảng hơn 3000 bảng Anh đã đưa ông vào top 1% dân số, với mức chênh không quá xa so với top 0,1%. Ông được công nhận là một thành viên của giới thượng lưu Anh và có một cuộc sống sung túc với một người huấn luyện ngựa và một vài người hầu. Nhưng ông không hề chi tiêu quá mức, hay làm từ thiện và tiết kiệm một phần đáng kể thu nhập của mình.  Quyền sở hữu đất đai vốn được coi là biểu tượng của sự giàu có và địa vị xã hội của Anh nhưng Newton lại không bao giờ mua bất kỳ bất động sản lớn nào. Ông là một trong những người đầu tiên chủ yếu đầu tư vào các công cụ tài chính, một lựa chọn tương đối mới vào thời điểm đó. Các khoản đầu tư của ông chủ yếu vào trái phiếu chính phủ và chứng khoán của các công ty cổ phần lớn như Ngân hàng Anh và Công ty Biển Nam. Giá trị tài sản ròng của Newton ngay trước khi Bong bóng Biển Nam bắt đầu chỉ hơn 30.000 bảng. Đó cũng là giá trị gần đúng của tài sản của ông khi qua đời vào năm 1727, vì vậy bong bóng thực ra không hề hủy hoại ông về mặt tài chính. Tuy nhiên, Newton đã mất một khoản có giá trị đáng kể.    Sau khi kiếm được khoản lãi khoảng 20.000 bảng trong giai đoạn đầu của bong bóng, Newton đã bỏ gần như toàn bộ số tiền của mình vào phi vụ đầy rủi ro này. Đến giữa năm 1721, giá trị tài sản ròng của ông đã giảm xuống còn khoảng 20.000 bảng; ông đã mất tất cả lợi nhuận ban đầu của mình và một chút gì hơn thế.  Quyết định tài chính của Newton trong khủng hoảng  Những gì chúng ta biết về tình hình tài chính của Newton dường như khá đầy đủ trong giai đoạn sau vụ sụp đổ của Bong bóng Biển Nam song những gì Newton đã làm trong giai đoạn quan trọng của năm 1720 lại có cả những suy luận từ dữ liệu không đầy đủ. Dưới đây tóm tắt những gì chúng ta biết về các khoản đầu tư của Newton vào Công ty Biển Nam trong suốt năm 1720.   Vào đầu cái năm thảm họa đó, chưa đến một nửa tài sản của nhà khoa học nằm ở cổ phiếu Biển Nam; phần còn lại là trái phiếu chính phủ.   Chúng ta có thể theo dõi quyết định tài chính của ông trong biểu đồ theo dõi giá cổ phiếu Biển Nam với giá điều chỉnh cho cổ tức. Các đường ngang biểu thị phạm vi ngày gần đúng cho các giao dịch mua và bán, và các đường thẳng đứng đánh dấu ngày ghi lại các giao dịch thực tế hoặc hướng dẫn cho các giao dịch. Ghi chú “Newton mua cho Hall” thể hiện cho một số giao dịch mua chứng khoán Biển Đông của bất động sản Hall, trong đó Newton là giám đốc điều hành. Dòng hóa đơn Biển Nam được đánh dấu vào ngày 7/ 4, ngày luật cho phép thực hiện kế hoạch Biển Nam chính thức được thông qua và “cuộc họp của Công ty Biển Nam” biểu thị một cuộc họp của các nhà đầu tư vào ngày 21/4. Khoảng cách về giá vào cuối tháng sáu là do sự thay đổi từ các giao dịch thanh toán tiền mặt ngay lập tức mà ngày nay được gọi là “quyền chọn”.  Hai hàng dọc được đánh dấu là tượng trưng cho hai lệnh bán mà ông đưa ra vào tháng tư năm 1720 để bán cổ phiếu Biển Nam của mình; đường ngang thể hiện một giai đoạn mà Newton đã mua một lượng lớn trái phiếu chính phủ Anh. Dựa trên mức độ giàu có của ông, chúng ta có thể cho rằng chủ yếu tài sản đến từ việc thanh lý cổ phiếu Biển Nam.  Có vẻ như vào tháng sáu năm đó, Newton đã thanh lý gần như toàn bộ cổ phần mới mua của mình trong trái phiếu chính phủ và sử dụng số tiền thu được để mua cổ phiếu Biển Nam. Động thái đó được thể hiện ở hàng đầu tiên trong bốn hàng dọc được đánh dấu là “Newton mua”; ba hàng dọc khác biểu thị các trường hợp được ghi lại khi Newton mua trực tiếp cổ phiếu Biển Nam hoặc chuyển đổi một số trái phiếu chính phủ khác sang cổ phiếu đó. Chúng ta thấy rõ rằng ông tiếp tục rót tiền vào cổ phiếu Biển Nam ngay cả khi giá của nó bắt đầu trượt dốc, trước khi sụp đổ vào tháng 9/1720. Vào thời điểm đó, về cơ bản, toàn bộ tài sản của ông đã được đầu tư vào Biển Nam.    Một bản in châm biếm năm 1720 về sự hỗn loạn của bong bóng tài chính, bao gồm Bong bóng Biển Nam. (Hình ảnh từ Bộ sưu tập Wellcome, CC BY 4.0.)  Thật không may, chúng ta không có bằng chứng trực tiếp về nguyên nhân của các quyết định tài chính của Newton. Tuy nhiên, chúng ta có thể biết được một chút những gì đã xảy ra bằng cách xem xét sự tham gia của Newton vào công ty bất động sản của người bạn Thomas Hall, một công chức giàu có khác, người đã thuê Newton như một trong những người quản lý tài sản. Newton không phải là người duy nhất đưa ra quyết định thay cho công ty bất động sản Hall; ông đã phải làm việc với ba giám đốc điều hành khác và tham khảo ý kiến của Francis Hall, con trai của Thomas, và người thụ hưởng chính của tài sản. Mặc dù các quyết định của công ty không phản ánh một mình quan điểm của Newton, nhưng ông phải có sự đồng thuận lớn với các quyết định chung, và chắc chắn các cuộc thảo luận đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của ông.   Những hoài nghi   Bây giờ chúng ta hãy xem xét chi tiết hơn về bối cảnh đầu tư vào tháng 4/1720, khi Newton đưa ra quyết định bán cổ phiếu từ sớm của mình. Dự án để Công ty Biển Nam tiếp quản gần như toàn bộ khoản nợ quốc gia của Anh đã được trình lên Quốc hội vào cuối tháng 1/1720 và, sau cuộc tranh luận sôi nổi, đã được chấp nhận vào đầu tháng hai. Tuy nhiên, giá cổ phiếu của công ty không thay đổi nhiều từ cuối tháng ba đến cuối tháng năm. Điều gì có thể đã khiến Newton bán hết vào giữa thời kỳ đó? Phân tích về các tài liệu tài chính cho thấy, Newton đã quyết định thanh lý toàn bộ cổ phần của mình ở liên doanh Biển Nam trong vòng chưa đầy một tuần, vào ngày 19 và 23/4. Hai ngày đó trùng hoàn toàn với thời điểm trước và sau một cuộc họp của các nhà đầu tư Biển Nam vào ngày 21/4. Chúng ta không biết nhiều về những gì đã diễn ra tại cuộc họp đó, nhưng theo các báo cáo, nhiều người đã tham dự các cuộc thảo luận và thuyết trình khá dài. Có thể cuộc họp đã khiến Newton thêm hoài nghi, dẫn đến việc muốn bán tháo. Cần phải nói thêm là Thomas Guy, một nhà đầu tư lập dị nổi tiếng vì đã kiếm được khối tài sản khổng lồ trong bong bóng tài chính, đã bắt đầu thanh lý cổ phần của mình ngay sau cuộc họp cổ đông. Không giống như Newton, Guy không bị dụ dỗ mua lại, ông dùng số tiền kiếm được để thành lập Bệnh viện Guy và trở nên nổi tiếng với những đóng góp cho y học trong suốt ba thế kỷ qua.       Trong Bong bóng tài chính Biển Nam, Newton đang đứng trong một vũng lầy, và vì vậy ngay cả sự sáng chói của ông cũng không cứu mình khỏi vụ thua lỗ cay đắng nhất trong cuộc đời.      Tháng 4/1720 cũng chứng kiến sự xuất hiện của một số lượng lớn tờ rơi và bài báo bất thường về các nguyên tắc kinh tế của dự án Biển Nam, Newton đã thấy hoặc thảo luận với những người đương thời về một số nội dung đó. Vào ngày 14/4, một tuần sau khi Đạo luật Biển Nam được thông qua, Công ty Biển Nam đã chào bán một số cổ phần mới của mình cho công chúng lần đầu tiên trong bốn lần bán. Để khuấy động sự nhiệt tình cho lần bán hàng đầu tiên, các nhà quản lý của công ty có vẻ như đã sắp xếp cho việc xuất bản một bài báo nặc danh trên tờ Flying-Post vào ngày 9/4, đưa ra một tầm nhìn cho lợi nhuận của nhà đầu tư gần như vô hạn: giá cổ phiếu mới của công ty càng cao, nhà đầu tư càng có lợi.  Bài báo của Flying-Post đã đi đến kết luận đáng kinh ngạc bởi điều mà ngày nay sẽ được gọi là “sự sai lầm trong việc sử dụng toán để phân tích kinh tế”, hay những lập luận mang tính định lượng lại gây ra nhầm lẫn vấn đề thay vì làm rõ nó. Nếu bạn sở hữu tất cả 500 cổ phiếu của một công ty có tài sản trị giá 100.000USD, mỗi cổ phiếu trị giá 200USD. Nếu sau đó bạn bán 2.000 cổ phiếu mới với giá 400USD một cổ phiếu, thì công ty của bạn hiện có tài sản là 900000USD và 2500 cổ phiếu, vì vậy mỗi cổ phiếu trị giá 360USD. Các công ty khởi nghiệp hiện nay thường thu hút các nhà đầu tư mới với những lời hứa tương tự. Nhưng một startup hợp pháp sẽ đưa ra một số biện minh cho mức giá tăng mà các nhà đầu tư mới phải trả, chẳng hạn như một sự đột phá công nghệ mới đạt được từ việc tài trợ của các nhà đầu tư ban đầu. Bài báo Flying-Post không đưa ra bằng chứng về bất kỳ thành phần mới nào sẽ tạo ra lợi nhuận tăng. Trong thực tế, những gì nó mô tả chỉ là một kế hoạch Ponzi thế kỷ 18.  Ba phản bác thuyết phục của bài báo Flying-Post đã tồn tại từ thời kỳ đó. Một là từ tác giả Archibald Hutcheson, người nghi ngờ nổi tiếng nhất của dự án Biển Nam. Bài báo của ông xuất hiện vào ngày 21/4, ngày diễn ra cuộc họp cổ đông của Công ty Biển Nam. Có thể Newton bị ảnh hưởng bởi những lời bác bỏ đó, hoặc chính ông có thể đã đi đến kết luận tương tự. Nhưng phần lớn các nhà đầu tư Anh đã không thoái vốn. Làm thế nào mọi người có thể bỏ qua những lời bác bỏ bài báo của Flying-Post? Một lá thư từ một nhân viên của một ngân hàng tư nhân nổi tiếng ở London, được viết vào tháng 6/1720, minh họa một cách độc đáo nỗi sợ bị bỏ lỡ mà các nhà đầu tư thường gặp phải trong một cơn hưng phấn: Mặc dù có sự hoài nghi từ lâu về dự án Biển Nam, khi phần còn lại của thế giới cư xử một cách điên rồ, chúng ta phải bắt chước họ theo một số cách nào đó. Kể cả những tính toán đằng sau bài báo trên Flying-Post là dựa trên những suy đoán sai lầm, độc quyền thương mai của công ty Biển Nam có vẻ vẫn đầy tiềm năng kiếm lời.  Điều đáng chú ý nhất là ngoài bài báo của Flying-Post, các nhà quản lý của Công ty Biển Nam chưa bao giờ trình bày cho công chúng được một kế hoạch kinh doanh giải thích cặn kẽ cách họ sẽ tạo ra lợi nhuận đáng kể cho các cổ đông của họ. Trên thực tế, những người đằng sau Công ty Biển Nam thiếu một kế hoạch kinh doanh hợp lý dù chỉ nửa vời. Báo cáo mà họ buộc phải trình lên Quốc hội sau khi bong bóng vỡ cho thấy dự định trả cổ tức cao như đã hứa chủ yếu là từ các khoản tiền dự kiến sẽ nhận được từ việc bán cổ phiếu. Nói cách khác, họ không có kế hoạch nào ngoài việc kế hoạch quá lạc quan và dễ gây hiểu lầm, theo một người bạn hoặc một người đại diện ẩn danh của họ cho biết trên Flying-Post. Nhưng điều đó không được công chúng biết đến trước khi sụp đổ. Cơn “say sưa” đã đạt đến mức mới vào tháng sáu, và Newton bị cuốn vào nhóm đang thống trị suy nghĩ của công chúng đầu tư tại Anh.  Nhà đầu tư Newton  Đáng chú ý là khi quyết định quay trở lại đầu tư vào chứng khoán Biển Nam, Newton đã chuyển gần như toàn bộ tất cả tài sản tài chính của mình vào đó với một loạt các khoản đầu tư vào giữa tháng sáu. Có vẻ như ông đã bị thuyết phục rằng việc mua cổ phiếu lúc bấy giờ đầy hứa hẹn mang lại một món lợi hấp dẫn. Ngược lại, công ty bất động sản Hall để lại phần lớn tài sản của mình trong cổ phiếu Ngân hàng Anh (Bank of England). Phó giám đốc Kho bạc, John Francis Fauquier, cũng đã đi theo một con đường khác: không để tất cả các khoản tiền của mình cho Công ty Biển Nam mà đầu tư theo một hướng khác với Newton. Newton rõ ràng đã đưa ra quyết định đầu tư của riêng mình mà không chỉ đơn giản là làm theo lời khuyên của người khác. Điều đó cũng hợp lý vì ông phụ trách Kho bạc, và điều đó đòi hỏi ông phải đưa ra nhiều quyết định phụ thuộc vào giá cả và điều kiện thị trường.   Chúng ta có bằng chứng về việc Newton chú ý đến hoạt động của các công ty riêng lẻ. Trong một lá thư gửi cho bạn mình là nhà toán học Nicolas Fatio de Duillier, Newton đã từ chối đầu tư vào một công ty mà Fatio đang quảng bá. Không chỉ nêu mức giá thấp của cổ phiếu của công ty đó, ông còn viết rằng các phân tích cơ bản của nó là không tốt, vì ông đã biết rằng công ty cho thuê với giá thấp ở Scotland và khá khó đòi. Lá thư ông viết cho Fatio cũng nói rằng do ông đã mất rất nhiều trong vụ đầu tư vào công ty Biển Nam đến mức rỗng túi, cộng với “tâm trí của tôi không thích hợp để quan tâm đến những vấn đề này”. (Tuyên bố của Newton là một sự cường điệu, vì túi của ông không trống rỗng, ông vẫn còn khá giàu. Nhưng những mất mát gần đây là một cái cớ hữu ích).   Newton, tài chính và tâm lý đám đông  Số lượng các nhà đầu tư trong vụ Bong bóng Biển Nam đã phản ánh ở một mức độ nào đó hiểu biết về tài chính còn tương đối thấp trong xã hội lúc đó. Các nhà đầu tư được coi là có kinh nghiệm như Newton cũng chỉ được giới thiệu về các tổ chức tài chính và các sản phẩm mới của họ. Tuy nhiên, kết nối với những gì đang diễn ra hiện nay, chúng ta thấy vẫn còn rất nhiều các đầu tư bị xáo trộn bởi cái nhìn về lợi nhuận đầu tư có thể kéo dài vô hạn. Không có mấy dấu hiệu cho thấy điều này đã thay đổi qua các thời đại.    Một cuộc tranh luận sôi nổi của các chủ nợ trong vụ Bong bóng Biển Nam. Nguồn:  www.wsj.com/  Trong thời kì của Newton, đã có các chuyên gia đánh giá giá trị của các sản phẩm tài chính thông thường. Trong số đó có người bạn của Newton, ông Abraham de Moivre, một nhà toán học quan trọng, người đi đầu trong việc phát triển lý thuyết xác suất và khoa học tính toán. De Moivre kiếm được một phần thu nhập của mình bằng cách đưa ra lời khuyên về cá cược cờ bạc và định giá hợp đồng thuê và niên kim.   Bong bóng Biển Nam đặt ra một vấn đề khó khăn hơn. Không có dòng tiền được xác định rõ, hoặc thậm chí không có nổi một phân phối xác suất tồn tại. Bên cạnh việc những lập luận kiểu mô hình Ponzi (vay tiền của người này để trả người khác) đã lừa dối nhiều người, tất cả các loại tin đồn mơ hồ về thương mại hưng thịnh, các liên minh chiến lược, và những thứ tương tự lan truyền rộng rãi. Một số nhà quan sát, chẳng hạn như Hutcheson đã thấy rằng điều này không thực tế, nhưng hầu hết công chúng, bao gồm cả Newton, vẫn tin vào trò lừa bịp.  Thất bại của Newton trong vụ Bong bóng Biển Nam minh họa cho một thực tế đôi khi bị lãng quên: Ông là một người xuất sắc, nhưng không phải là một thiên tài vạn năng. Ông đã làm nhiều việc để cải thiện hiệu quả của Kho bạc Hoàng gia bằng cách giảm sự chênh lệch về trọng lượng và tuổi nguyên liệu làm đồng tiền vàng, và ông xây dựng định luật làm lạnh mang tên mình. Ông đã hỗ trợ thiết lập Giải thưởng Kinh độ (Longitude Prize) và loại đi bài dự thi không có giá trị, nhưng ông đã sai khi hoài nghi về tính khả thi của việc sử dụng đồng hồ trong bối cảnh đó. Và, tất nhiên, ông đã dành nhiều năm cho thuật giả kim và thần học. Newton có thể đạt được rất nhiều thành tựu về thiên văn học, toán học và vật lý không chỉ nhờ vào khả năng thiên tài của mình mà còn vì ông bắt đầu công việc đó vào đúng thời điểm, khi Tycho Brahe, René Descartes, Galileo Galilei, Christiaan Huygens, Johannes Kepler và Blaise Pascal đã đặt ra nền tảng vững chắc. Ở những lĩnh vực đó, ông thực sự đã có thể đứng trên vai những người khổng lồ. Trong Bong bóng tài chính Biển Nam, Newton đang đứng trong một vũng lầy, và vì vậy ngay cả sự sáng chói của ông cũng không cứu mình khỏi vụ thua lỗ cay đắng nhất trong cuộc đời.□  Hạnh Duyên dịch  TS.Hoàng Xuân Trung hiệu đính  * Bài viết này dựa trên bài báo “Những sai lầm tài chính của Newton trong Bong bóng Biển Nam”,Tạp chí Xã hội Hoàng gia về Lịch sử Khoa học, tập 73, số 1.   https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.452    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bóng đá: Cái đẹp của sự may rủi      Tôi đã từng có cơ hội ngồi xem World Cup cùng với một số nhà khoa học xã hội người Mỹ. Khi chứng kiến một đối thủ yếu thế lội ngược dòng kỳ diệu và chiến thắng hay thực hiện thành công một quả penalty, họ không nhảy lên reo mừng “Vàoooooo!” mà chỉ lắc đầu và lẩm bẩm: “Sai số”.       Bóng đá: Cái đẹp của sự may rủi  Tôi đã từng có cơ hội ngồi xem World Cup cùng với một số nhà khoa học xã hội người Mỹ. Khi chứng kiến một đối thủ yếu thế lội ngược dòng kỳ diệu và chiến thắng hay thực hiện thành công một quả penalty, họ không nhảy lên reo mừng “Vàoooooo!” mà chỉ lắc đầu và lẩm bẩm: “Sai số”.   Nếu bạn coi một trận đấu bóng đá như một cuộc thí nghiệm để xác định xem đội nào giỏi hơn thì đó là một thí nghiệm không hề hiệu quả. Một trận bóng có liên quan đến hàng trăm các động tác và tình huống di chuyển khéo léo và mưu mẹo, nhưng mỗi đội trung bình chỉ thực hiện được vài chục cú sút trong khi đó kết quả được quyết định bởi một số diễn biến nhanh chóng và thường là ngẫu nhiên. Không có quá ba bàn thắng được ghi trong hầu hết mỗi trận đấu và chiến thắng thường có cách biệt rất suýt soát chỉ chênh lệch một bàn thắng.   Đối với một nhà khoa học, các chỉ số này là chưa đủ làm cơ sở để có thể đưa ra một kết luận đáng tin cậy về mặt thống kê xem đội nào giỏi hơn. Thay vào đó, tỷ số sẽ phản ánh kết quả của những sai số, hay còn gọi là may mắn.  Điều này có thể khiến bóng đá có vẻ rất không công bằng, ít nhất là đối với nhiều người Mỹ đã quen với các môn thể thao có điểm số cao hơn. Họ không hiểu tại sao phần còn lại của thế giới không kêu gọi mở rộng cầu môn hoặc nới lỏng các quy định phạt việt vị hay đưa ra những biện pháp để khuyến khích trận đấu có nhiều bàn thắng hơn.   Nhưng nếu phần còn lại của thế giới làm như vậy, liệu bóng đá có thực sự trở nên công bằng hơn? Theo các nhà kinh tế và thống kê, những người đã phân tích sự cân bằng giữa kỹ năng và may mắn trong thể thao và trong những lĩnh vực khác của cuộc sống, câu trả lời là không hẳn như vậy.  Do có ít bàn thắng, tỉ số thấp và rất nhiều trận đấu kết thúc với tỉ số hòa, nên bóng đá là môn thể thao khó dự đoán hơn các môn thể thao khác, Chris Anderson và David Sally, giáo sư ở Đại học Cornell và Darthmouth, giải thích trong cuốn sách viết về bóng đá của họ có tên “The Numbers Game”.   Hai tác giả này cùng với các chuyên gia tư vấn của các đội bóng đã phát hiện ra rằng những câu lạc bộ bóng đá được dân cá cược chuyên nghiệp ưa thích chỉ giành chiến thắng một nửa trong tổng số các trận thi đấu, trong khi tỉ lệ tương đương với bóng chày là ¾ và bóng rổ là 2/3. Sau khi khảo sát các tài liệu nghiên cứu, họ kết luận rằng kết quả một trận đấu bóng đá phụ thuộc khoảng một nửa vào kỹ thuật và một nửa vào may mắn.  Tuy nhiên, một trận bóng đá có thể được quyết định bởi khả năng lội ngược dòng may mắn không có nghĩa là môn thể thao này ít công bằng hơn các môn khác.   Kẻ mạnh chưa chắc đã thắng trong bóng đá  Còn một yếu tố nữa để xem xét đó là “nghịch lý về kỹ năng”, như được đặt tên là bởi Michael Mauboussin, một chiến lược gia đầu tư và là giáo sư tại Columbia, trong cuốn sách “The Success Equation.”   Giả sử người chơi giỏi nhất của trò ghép chữ Scrabble, có thể là một máy tính, thi đấu với một người mới chơi. Kỹ năng của máy tính sẽ đảm bảo chiến thắng thường xuyên ngay cả khi người chơi có lợi thế hơn khi xếp chữ. Nhưng nếu máy tính này đối đấu với một đối thủ có trình độ tương đương (một máy tính giống hệt chạy cùng một chương trình), khi đó kết quả sẽ được quyết định hoàn toàn do may mắn khi xếp chữ.   Đó chính là nghịch lý của kỹ năng trong thể thao, kinh doanh và hầu hết các cuộc thi đấu khác: Khi kỹ năng của các bên cùng tăng lên và ngày càng trở nên thống nhất, yếu tố may mắn càng đóng vai trò quan trọng hơn trong thành công. Ông Mauboussin đã tính toán rằng yếu tố may mắn trong giải bóng đá Ngoại hạng Anh đóng vai trò ít quan trọng hơn so với giải bóng bầu dục chuyên nghiệp (N.F.L) và giải bóng chày của Mỹ (Major League Baseball) bởi vì các giải đấu của Mỹ đã làm cho kỹ thuật giữa các đội ngang bằng nhau bằng cách chia sẻ doanh thu, áp mức lương trần và đưa ra nhiều ưu tiên cho các đội bóng yếu hơn.  Ở những nơi khác trên thế giới, bóng đá không có những hạn chế này, vì vậy có sự chênh lệch rất lớn về kỹ năng giữa các đội. Ở các giải vô địch, những câu lạc bộ giàu có như Manchester United, Real Madrid và Bayern Munich mua được những cầu thủ tài năng nhất. Tại World Cup, các nước lớn và giàu có hơn có thể thu hút các huấn luyện viên tốt nhất và từ đó tạo ra nhiều tài năng hơn.  “Trong số tất cả các môn thể thao đồng đội, bóng đá là môn bất bình đẳng nhất xét ở khía cạnh là các đội với những dàn cầu thủ khác nhau thường cạnh tranh trong cùng các giải đấu hàng đầu”, theo Stefan Szymanski, nhà kinh tế học tại Đại học Michigan và là đồng tác giả của cuốn “Soccernomics”. Nếu những trận đấu chỉ đơn giản là những cuộc thi kỹ năng thì phần lớn các trận đấu bóng đá giữa kẻ mạnh và người yếu chắc hẳn sẽ rất nhàm chán – và có vẻ như bất công theo cách khác.  “Nếu bạn tăng kích thước của cầu môn lên gấp đôi, bóng đá khi đó sẽ giống như bóng rổ, và trong một trò chơi có điểm số cao, các đội giàu sẽ hầu như luôn luôn giành chiến thắng”, tiến sĩ Szymanski nói. “Sự ngẫu nhiên luôn ủng hộ các đội yếu thế. Chúng ta đã bao giờ muốn giảm bớt vai trò của may mắn trong bóng đá? Không bao giờ!”  Mặc dù vậy, một số kiểu may mắn trong bóng đá có vẻ rất ngớ ngẩn, giống như mặt trái của một đồng xu trước một loạt sút luân lưu để xác định đội đi tiếp. Cầu thủ thực hiện cú penalty đầu tiên có tỉ lệ thành công là khoảng 75%. Điều này tạo ra áp lực lên các chân sút của đối phương vì phải san bằng điểm số.  Áp lực đó có lẽ là lý do giải thích tại sao đội bóng sút luân lưu sau chỉ có 39% cơ hội thành công, theo Ignacio Palacios-Huerta, một nhà lý luận trò chơi tại Trường Kinh tế London và là tác giả của “Lý thuyết Trò chơi Đẹp: Làm thế nào bóng đá có thể giúp phát triển kinh tế “.   Trong các thử nghiệm được tiến hành với các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, Tiến sĩ Palacios-Huerta thấy rằng tỷ lệ này trở nên cân bằng trong loạt đá luân lưu nếu một đội đá trước ở loạt luân lưu đầu tiên và thứ tư, và đối thủ của họ thực hiện cú sút đầu tiên trong ba loạt còn lại. Tiến sĩ Szymanski muốn có sự thay đổi trong loạt đá luân lưu để tiếp tục giúp đỡ đội yếu thế hơn: Hãy để đội yếu thế hơn sút penalty đầu tiên. Thay đổi này có vẻ là một ý tưởng tốt.   Tương tự như vậy, người ta cũng có thể áp dụng một cải tiến khá phổ biến với các môn thể thao của Mỹ: kiểm tra băng ghi hình quay chậm. Điều này có thể làm giảm tính may rủi gây ra sự bực mình trong bóng đá xảy ra khi một đội được hưởng penalty sau khi một cầu thủ đối phương giả vờ ngã trong khu cấm địa. Không có môn thể thao khác có thể khiến người chơi lừa được trọng tài như vậy. Trước khi cho phép một đội được hưởng phạt đền có thể quyết định số phận một trận đấu, các trọng tài ít nhất phải xem lại băng ghi hình quay chậm để đảm bảo đó là một pha phạm lỗi chứ không phải một pha ngã giả vờ.   Không thể dự đoán kết quả từng trận riêng lẻ  Về lâu dài, trong số các chiến thuật áp dụng trong khoảng thời gian một mùa giải hoặc một kỳ World Cup, kỹ năng vẫn là yếu tố mang lại thắng lợi. Quy tắc về số đông làm hạn chế may mắn của những đội yếu thế. Chức vô địch các giải đấu bóng đá lớn, đặc biệt là World Cup, thường thuộc về  các cường quốc bóng đá, bởi vì họ có kỹ năng để duy trì phong độ lâu dài.   Tuy nhiên, người ta vẫn không thể đoán trước được kết quả của bất kỳ một trận đấu nào. Điều này làm bối rối các chuyên gia giỏi nhất về xây dựng mô hình tính toán trên máy tính, như Roger Pielke Jr của Đại học Colorado đã chứng minh trong đánh giá của ông về hàng loạt dự đoán kết quả của World Cup 2014. Ông phát hiện ra rằng “mô hình stochastic” của các nhà kinh tế của tập đoàn Goldman Sachs hay Chỉ số Năng lực Bóng đá được xây dựng một cách tinh vi bởi FiveThirtyEight, website thể thao mới của Nate Silver, mang lại những dự đoán kết quả các trận đấu ở vòng bảng ít chính xác hơn so với các mô hình tính toán đơn giản thuần túy dựa trên giá trị tính bằng tiền của các cầu thủ hoặc dựa trên thứ hạng FIFA của các đội.   Những người dự đoán giỏi nhất hóa ra lại ở cùng một nhóm ở Ngân hàng Danske ở Copenhagen và một kỹ sư phần mềm có tên Andrew Yuan. Tuy nhiên họ đã dự đoán sai 16 trận trên tổng số 48 trận đấu và chỉ xác định được 11 trên tổng số 16 đội tuyển vượt qua được vòng bảng.   Cho dù huấn luyện viên đội bóng đó có áp dụng bao nhiêu chiến thuật hay đội bóng đó có kỹ năng tốt đến đâu, không có cách nào để dự đoán các sai số trong mỗi trận đấu. Giống như các cầu thủ, các nhà dự báo có quyền phàn nàn về sự thiếu may mắn của họ, nhưng lại là sự may mắn đối với người hâm mộ, đặc biệt là những ủng hộ các đội chiếu dưới như Mỹ.  Nguyễn Thị Ngọc dịch  Nguồn:  http://www.nytimes.com/2014/07/08/science/soccer-a-beautiful-game-of-chance.html?ref=science&_r=0           Author                Quản trị        
__label__tiasang Boris Chertok – kĩ sư vũ trụ hàng đầu người Nga qua đời      Boris Chertok, kĩ sư tên lửa của Nga đã qua  đời hôm 14/12 tại Moscow ở tuổi 99. Ông là người giữ vai trò quan trọng  trong việc thiết kế các hệ thống định vị cho tàu vũ trụ của Liên Xô cũ  trong cuộc chạy đua lên Mặt Trăng, trong đó có một tàu đã đưa người đầu  tiên vào vũ trụ.    RKK Energiya, Công ty sản xuất tàu vũ trụ của Nga – nơi ông Chertok từng làm tư vấn trong những năm sau này – cho biết nguyên nhân cái chết của ông là do viêm phổi.  Ông từng làm phó cho Sergei Pavlovich Korolev – người được cho là cha đẻ của chương trình vũ trụ Liên Xô cũ – trong hơn 20 năm. Theo ông Korolev thì ông Chertok là nhà thiết kế chính của hệ thống điều khiển cho R-7, một trong những loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa đầu tiên trên thế giới, và là nhà thiết kế tàu vũ trụ có người lái đầu tiên của Liên Xô cũ – Vostok, Voskhod và Soyuz.   Liên bang Xô Viết đã từng chiếm thế thượng phong trong thời kỳ đầu của cuộc chạy đua lên vũ trụ. Hệ thống điều khiển do Chertok thiết kế đã hướng dẫn cho tên lửa đẩy Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên xoay quanh quỹ đạo trái đất, vào không gian ngày 04/10/1957. Chertok cũng là người thiết kế hệ thống điều khiển hướng dẫn cho tên lửa đưa người lần đầu tiên vào không gian, Yuri Gagarin, vào ngày 12/04/1961.   “Thật khó để tìm ra một sự kiện lớn trong chương trình vũ trụ Xô Viết mà ông không tham gia” – ông Asif Siddiqi, giáo sư lịch sử của ĐH Fordham và cũng là người biên dịch chính cuốn hồi kí của ông Chertok cho hay.  Ông Boris Yevseyevich Chertok sinh ra ở Lodz, nay thuộc Ba Lan, vào ngày 1/3/1912, là con trai của một kế toán viên. Sau đó, gia đình ông chuyển tới Moscow.   Năm 17 tuổi, Chertok trở thành một thợ điện, và tới năm 1930 bắt đầu làm việc trong một nhà máy sản xuất máy bay. Ông tốt nghiệp Viện Năng lượng Moscow vào năm 1940. Sau Thế Chiến thứ 2, ông là thành viên của một nhóm các chuyên gia được gửi đi Đức để khai thác hồ sơ chương trình tên lửa của Đức. Ông mang về Liên Xô những bản thiết kế tên lửa V-2 của Đức, làm cơ sở cho những tên lửa của Liên Xô và các chương trình vũ trụ.  Ông Chertok luôn mong được bước chân vào vũ trụ. Năm 2001, tên lửa đẩy Soyuz-U đã đưa 2 phi hành gia người Nga và triệu phú người Mỹ Dennis A. Tito vào quỹ đạo. Ông Tito đã phải trả 20 triệu USD cho chuyến đi này. Trả lời phỏng vấn ở một trung tâm kiểm soát chuyến đi của Nga vào thời điểm đó, ông Chertok nói rằng: “Tôi đã gần 90 tuổi và nếu có ai đó tặng tôi 20 triệu USD, tôi sẽ sẵn sàng mua một vé vào vũ trụ”.  Nguyễn Thảo dịch từ  http://www.nytimes.com/2011/12/15/world/europe/boris-chertok-russian-rocket-engineer-dies-at-99.html?_r=3&ref=science        Author                Quản trị        
__label__tiasang Brussels đề xuất gắn nhãn “xanh” cho hạt nhân và khí đốt tự nhiên      Ủy ban Châu Âu mở đường cho các khoản đầu tư vào năng lượng hạt nhân và khí đốt, bất chấp những lo ngại về chất thải độc hại và phát thải khí mê-tan.      Brussels muốn công nhận năng lượng hạt nhân và khí đốt tự nhiên là hoạt động đầu tư “xanh” – đây là một phần trong hệ thống phân loại năng lượng mang tính bước ngoặt của Liên minh châu Âu (EU), nhằm giúp các thị trường tài chính quyết định xem đâu là đầu tư bền vững. Trong số các kế hoạch được chờ đợi từ lâu, Ủy ban Châu Âu vừa mở đường cho đầu tư vào các nhà máy điện hạt nhân mới trong ít nhất hai thập kỷ tới và khí đốt tự nhiên trong ít nhất một thập kỷ, theo một hệ thống có gắn nhãn xanh (green labelling system) có tên là “phân loại tài chính bền vững” (taxonomy for sustainable finance). Hệ thống gắn nhãn, sẽ gồm các ngành tạo ra khoảng 80% tổng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ở EU, đây cũng là nỗ lực đầu tiên của một cơ quan pháp quy tầm cỡ toàn cầu, nhắm vào các hoạt động kinh tế thực sự bền vững, đồng thời loại bỏ những hành vi “tấy xanh” (greenwashing) trong lĩnh vực tài chính.   Theo những gì Financial Times ghi nhận từ dự thảo của một văn bản pháp lý, EU nên gắn nhãn “xanh” cho các nguồn năng lượng hiện đang gây tranh cãi như năng lượng hạt nhân và khí tự nhiên trong một số trường hợp nhất định. Quyết định này được đưa ra sau khi một nhóm các quốc gia lên tiếng ủng hộ hạt nhân, dẫn đầu là Pháp và các chính phủ ủng hộ khí đốt ở Nam và Đông Âu, yêu cầu hệ thống phân loại không nên trừng phạt các nguồn năng lượng cung cấp phần lớn sản lượng điện của họ. Điện hạt nhân không thải ra khí nhà kính nhưng tạo ra chất thải độc hại cần được xử lý an toàn và có thể gây ra rủi ro bức xạ. Khí tự nhiên chủ yếu được tạo thành từ khí mê-tan, có đặc tính làm ấm toàn cầu mạnh hơn khí cacbonic trong thời gian ngắn, có thể bị rò rỉ trong quá trình sản xuất và phân phối. Nhưng những người ủng hộ cho rằng vẫn cần phải đến ha loại năng lượng này trong quá trình chuyển đổi để giảm lượng khí thải carbon. Vào đầu năm nay, Brussels đã buộc phải trì hoãn quyết định về cách phân loại sau những tranh cãi giữa các ủy viên về việc liệu có nên gắn nhãn xanh cho hạt nhân và khí đốt hay không. Cuộc chiến hướng đến công nhận điện hạt nhân và khí tự nhiên là “xanh” đã thêm phần dữ dội trong những tháng gần đây khi các nước EU phải đối mặt với giá điện kỷ lục trong mùa đông, do nhu cầu nhập khẩu khí đốt tự nhiên tăng cao.  Dự thảo văn bản phân loại cho rằng, điện hạt nhân nên được coi là một hoạt động kinh tế bền vững miễn là các nước EU có các nhà máy điện có thể xử lý chất thải độc hại một cách an toàn và đáp ứng tiêu chí “không gây hại đáng kể” cho môi trường. Văn bản có viết, việc xây dựng các nhà máy hạt nhân mới sẽ được công nhận là “xanh” đối với các giấy phép cấp đến năm 2045.  Đầu tư vào khí tự nhiên cũng được gắn nhãn xanh như một loại năng lượng “chuyển tiếp” nhưng phải đáp ứng một loạt các điều kiện chi tiết hơn, bao gồm tạo ra lượng khí thải dưới 270g CO2 mỗi kilowatt giờ – đối với các nhà máy khí mới được phê duyệt trước khi năm 2030 kết thúc – và nếu nó thay thế dần các nhiên liệu hóa thạch truyền thống dùng để phát điện như than đá.  EU nhập khẩu khoảng 3/4 nhu cầu khí đốt tự nhiên, hầu hết do Nga cung cấp. Cuộc khủng hoảng năng lượng của toàn khối đã làm dấy lên những chỉ trích từ một số quốc gia thành viên rằng Moscow đang lèo lái, tăng giá khí đốt một cách giả tạo và EU nên tăng tốc, thoát khỏi việc nhập khẩu khí đốt để chuyển sang năng lượng tái tạo.  Văn bản phân loại sẽ cần đa số các quốc gia thành viên EU và các thành viên Nghị viện Châu Âu chấp thuận. Các nhà ngoại giao EU cho biết, văn bản này có khả năng nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các chính phủ, tuy nhiên, các nhóm môi trường vẫn chỉ trích việc phân loại xanh cho khí đốt và hạt nhân.  Ủy viên EU của Pháp, ông Thierry Breton cho biết ủng hộ gắn nhãn “xanh” cho cả hai công nghệ, vì nó sẽ giúp EU đạt được mục tiêu cắt giảm lượng khí thải CO2 xuống mức 0 ròng vào năm 2050, so với mức năm 1990.  Trao đổi với các phóng viên vào tháng trước, ông Breton cho rằng, khí đốt không phải là phương án tốt nhất để đạt được mục tiêu của chúng ta bởi vì sẽ tạo ra lượng CO2 nhất định, nhưng ít nhất cũng khá khẩm hơn than đá trong quá trình chuyển đổi. Chúng ta cần cấp vốn đúng đắn, phù hợp cho các ngành trong hệ thống phân loại, bao gồm cho cả năng lượng hạt nhân.  Phạm Thị Thu Trang dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/brussels-de-xuat-gan-nhan-xanh-cho-hat-nhan-va-khi-dot-tu-nhien/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức ảnh đầu tiên từ Hằng Nga 1      TQ vừa công bố bức ảnh đầu tiên chụp bề mặt Mặt trăng của vệ tinh thăm dò Hằng Nga 1 sau khi vào quỹ đạo cách Mặt trăng 200 km.      Đây là thành công mỹ mãn của TQ với chương trình phóng vệ tinh thám hiểm Mặt trăng của mình. Bức ảnh đen trắng cho thấy những cái hố với kích thước khác nhau, phân bố không đều trên bề mặt Mặt trăng trong khu vực có chiều dài 460 km, chiều rộng 280 km. Hằng Nga 1 sẽ bay quanh Mặt trăng trong khoảng 1 năm để thực hiện các nhiệm vụ chính là ghi lại hình ảnh 3D bề mặt Mặt trăng, xác định độ dày, thổ nhưỡng và sự phân bố 14 nguyên tố của Mặt trăng, nghiên cứu môi trường không gian giữa Mặt trăng và Trái đất.   D.B  (AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức ảnh đầu tiên về các dòng plasma Mặt trời      Với sự trợ giúp của kính thiên văn “Hinode” được phóng lên quỹ đạo Trái đất năm 2006, các nhà khoa học Nhật Bản vừa quan sát thấy hiện tượng bề mặt Mặt trời phun ra các tia plasma dài 2-5 nghìn km, chuyển động với vận tốc 140 km/giây.    Các tia này tạo thành một số dòng plasma đi vào khoảng không vũ trụ giữa các hành tinh dọc theo các đường sức từ trường của Mặt trời. Mỗi giờ trên Mặt trời xuất hiện khoảng 50-60 nguồn bức xạ plasma như vậy. Những bức ảnh chụp được sẽ cho phép các nhà khoa học trả lời câu hỏi tại sao bầu khí quyển xung quanh Mặt trời lại có nhiệt độ cao hơn lớp bề mặt dưới sâu.   TTXVN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức ảnh Hố đen: Một nỗ lực tuyệt vọng      Ngày 10 tháng 4, 2019, nhóm thiên văn EHT (Event Horizon Telescope) công bố bức ảnh của hố đen ở trung tâm thiên hà M87. Đây là bức ảnh kỳ công, khép lại cuộc truy lùng gần một thể kỷ. Thành quả này đi lên từ di sản thiên văn mà con người đã dày công xây dựng suốt 250 năm. Để giúp bạn đọc Tia Sáng phần nào đánh giá được tầm quan trọng của sự kiện này, bài viết sẽ nhắc lại những mốc nổi bật trong quá trình quan sát hố đen xét đến thời điểm EHT công bố, và những nét chuyên môn cơ bản EHT đã sử dụng để thực hiện việc chụp ảnh trực tiếp hố đen M87. Nhóm EHT thừa hưởng những cơ sở hạ tầng đồ sộ nhất, sử dụng kỹ thật cảm biến tối tân nhất với phương thức quan trắc hiệu quả nhất. Chừng này “cái nhất” vẫn chưa đủ để làm cho công việc chụp ảnh hố đen khả thi. Các nhà thiên văn trong nhóm EHT ý thức rất rõ, rằng họ phải đi đến tận cùng giới hạn của mỗi trang thiết bị mới đạt được kết quả mong muốn. Để thấy được cái nhỏ nhất có thể, họ cần dùng hệ thống kính thiên văn với đường kính lớn nhất có thể: đường kính Trái đất.    Black hole hay Hố đen là tên gọi vùng không-thời gian với sức hấp dẫn vô cùng lớn, đến nỗi ánh sáng không thoát ra được. Vùng không-thời gian này còn gọi là chân trời sự kiện.  Chandrasekhar, nhà vật lý Ấn độ, là người đầu tiên đặt vấn đề này dựa trên các tính toán lý thuyết.  Ông cho thấy rằng các ngôi sao với khối lượng lớn hơn 1.4 khối lượng mặt trời sau khi cháy gần hết khí hydro sẽ sụp đổ – hay thu nhỏ lại vì sức hấp dẫn từ khối lượng của chính những ngôi sao này –  và trở thành hố đen.  Đây là phát hiện gây nhiều tranh cãi.   Eddington, người đã đo độ lệch của ánh sáng khi đi vào vùng hấp dẫn của mặt trời (với hiện tượng nhật thực toàn phần 1919) và kiểm chứng lý thuyết Tương Đối, không tin.  Lev Landau, nhà vật lý Nga, cũng không tin.  Họ tin rằng phải có một cơ chế [như thế nào đấy] sẽ ngăn chặn được sự sụp đổ do sức hấp dẫn này.   Einstein cũng thế, ông không tin có hố đen tồn tại trong vũ trụ.  Hố đen, mãi đến thập niên sáu mươi, vì thế chỉ là một nghi vấn toán học, và chỉ lởn vởn trong tâm trí của một thiểu số các nhà vật lý lý thuyết, rất ít người quen thuộc với khái niệm sụp đổ hấp dẫn (gravitational collapse).  Các cơ sở quan trắc hay thực nghiệm bấy giờ vẫn còn phôi thai: kính thiên văn chưa đủ mạnh, cảm biến chưa đủ hiệu lực quan sát, và các dữ liệu thiên văn vẫn còn rời rạc.   Không ai biết làm sao để có thể phát hiện hố đen.  Quan sát hố đen là điều hết sức xa vời và không tưởng.    Tình huống này bắt đầu thay đổi bởi những biến cố … rất tình cờ.  Năm 1963 Maarten Schmidt phát hiện ra quasar mà ông phân số hiệu 3C 273, ở bước sóng khả kiến (Hình 1a,b).  Quasar rất sáng, sáng như các vì sao, nhưng lại có biểu hiện là ở cách xa chúng ta.  (Vì thế nên có tên là quasar hay QSO, rút ngắn của quasi-stellar object tức là vật thể có vẻ như sao.)  Theo Hoyle & Fowler, điều này đòi hỏi quasar phải có khối lượng cực kỳ lớn, lớn hơn nhưng những vì sao bình thường hàng triệu lần – tương đương với khối lượng của cả hệ thiên hà. Feynman chỉ ra ngay trong hôm Fowler báo cáo, rằng với khối lượng cực lớn như thế thì những quasar này chỉ có thể là hố đen vì sụp đổ hấp dẫn.  Năm 1967, Joycelyn Bell Burnell tình cờ phát hiện pulsar ở bước sóng radio trong khi cô còn là sinh viên làm luận án tiến sĩ.   Người ta thắc mắc cái gì mà có thể phát từng nhịp sóng radio, và những nhịp sóng này lại có chu kỳ vô cùng ổn định đến thế.  Một nhà báo khi ấy phóng vấn Burnell, đề nghị lấy tên gọi “pulsar” để đặt cho những thiên thể này.  Pulsar là chữ rút ngắn của pulsing star, tức là sao [phát] từng nhịp.  Burnell kể lại, rằng Hoyle – lại cũng chính là Hoyle – đã chỉ ra rằng pulsar có lẽ liên hệ đến supernova, ông chỉ ra điều này ngay trong buổi báo cáo đầu tiên về pulsar của Hewish, thầy của Burnell.   Các quan sát sau này cho thấy pulsar có lẽ là sao neutron, là cái “xác” còn lại của ngôi sao sau khi chết, tức là sau cơn sụp đổ hấp dẫn.       Hình 1a.  Quasar 3C 273, Maarten Schmidt phát hiện vào năm 1963.  Có thể thấy vệch sáng (jet) từ quasar trải về góc dưới bên phải. Các vạch phổ mà Schmidt đo từ 3C 273 bị lệch về đỏ quá lớn. “Đấy là một phát hiện kinh ngạc bởi vì sao không thể làm được thế,” Schmidt nói. Sông Ngân trải dài chừng 100,000 năm ánh sáng, trong khi 3C 273 ở cách 2 tỉ năm ánh sáng, không thể là sao trong Ngân Hà của chúng ta.  Một vì sao đơn lẻ mà ở cách 2 tỉ năm ánh sáng sẽ lu mờ khó thấy được.  Có nghĩa là nguồn ánh sáng của quasar phải cực kỳ mạnh mới xuất hiện được một cách “bình thường” như thế. (Ảnh của SSDS.)    Hình 1b.  Minh hoạ một quasar điển hình, với nguồn ánh sáng cực mạnh từ hố đen ở trung tâm quasar.   John Wheeler, nhà vật lý lý thuyết của Princeton,  kể lại rằng trong một bài giảng vật lý hồi cuối năm 1967, một sinh viên đề nghị lấy “black hole” làm tên gọi những vật thể có khối lượng vô cùng lớn này, và ông đồng ý – và từ ấy black hole, cũng như big bang trước đấy, đi vào trí tưởng tượng của quần chúng, đi vào nền văn hoá phổ thông.   Đến đầu thập niên 70, những nghiên cứu lý thuyết về hố đen bước vào thời kỳ hồi sinh, với những tính toán của Bekenstein (học trò của Wheeler) ở Princeton và Hawkings ở Cambridge về entropy và bức xạ hố đen.  Đây là kết quả đầy sức tưởng tượng, và mang tính thúc đẩy rất lớn trong những nghiên cứu hố đen về sau,  cả lý thuyết lẫn thực nghiệm/quan sát.  Hố đen bắt đầu được dùng như một công cụ lý thuyết để kiểm tra những ý tưởng mới về những vấn đề hấp dẫn lượng tử (quantum gravity),  soi sáng thêm về bản chất của không thời gian, và gần đây nhất mà cũng bất ngờ nhất, là có liên hệ đến điện toán lượng tử (quantum computing).    Những phát triển lý thuyết này cùng với sự xuất hiện của quasar và pulsar khiến những chối bỏ về sự tồn tại của hố đen trở nên lỗi thời.   Và buộc các nhà thực nghiệm phải đối diện với sứ mệnh tưởng chừng như bất khả: phát hiện ra hố đen.   Có lẽ đây là một trong những thử thách lớn nhất của vật lý thiên văn.  Họ cần một hệ kính thiên văn cực lớn, và cảm biến tinh nhạy với tốc độ dữ liệu cực cao.  Công việc này đòi hỏi sự kiên trì của nhiều thế hệ khoa học.  Tính đến đầu thập niên 80, hết thảy các phần kỹ thuật cơ bản mà EHT sẽ sử dụng sau này như hệ kính thiên văn rộng lớn hay cảm biến vi ba tinh nhạy vẫn còn chưa định hình, và phương thức giao thoa VLBI còn trong giai đoạn sơ khai.  Họ bắt đầu nỗ lực thực nghiệm với lòng kiên trì của những kẻ ở bến bờ tuyệt vọng.  Quả thực đây là những nỗ lực tuyệt vọng, bởi họ phải dùng hết toàn bộ vốn liếng mà vật lý cho phép mà chỉ mấp mé được bờ của tính khả thi, không chắc chắn sẽ thấy được kết quả trong cuộc đời của họ. Từ đầu 1980, các nhà vật lý đã khởi công xây dựng thí nghiệm LIGO, với hy vọng sẽ phát hiện được sóng hấp dẫn từ những hố đen, như sao neutron hay pulsar, rơi vào nhau.  Hy vọng của LIGO đã được đền đáp vào cuối năm 2016, khi hai lỗ đen nặng ký rơi vào nhau.  TiaSáng đã có bài giới thiệu về LIGO trong những năm trước, và  trong bài viết này ta sẽ chú trọng đến thiên văn cổ điển.  Các nhà lãnh đạo khoa học lập dự án cho những đài quan sát thiên văn không gian, như Hubble hay COBE.  Họ đầu tư mạnh vào phát triển cơ sở hạ tầng và thiết bị, như đài thiên văn Keck, để mở đường cho những quan sát đạt mức tinh nhạy vượt xa thế hệ đi trước.     Và các nhà thiên văn bắt đầu mở những cuộc “thâm nhập” vào vùng trung tâm các quasar và những hệ thiên hà.  Trung tâm Ngân Hà. Từ định luật Kepler ta biết quĩ đạo của một hành tinh quanh mặt trời tuỳ thuộc vào khối lượng của mặt trời.  Tương tự vậy, để biết khối lượng của hố đen thì ta hãy xác định quĩ đạo những vì sao gần quanh hố đen.   Hình số 2a cho thấy Sông Ngân và vùng trung tâm.  Đây là một trong những bức ảnh đầu tiên của Sông Ngân, chụp từ thập niên 1950.  Bên dưới là Sông Ngân nhìn từ Nam cực.  Vùng trung tâm có mật độ sao đông đảo, và đầy bụi.  Để thấy xuyên bụi, người ta phải dùng các thiết bị hồng ngoại hay các bước sóng dài hơn.   Bước sóng càng dài thì kính thiên văn càng lớn, mới có được cái nhìn phóng đại từ vùng trung tâm.      Hình 2a.  Bức ảnh Sông Ngân sớm nhất, trong thập niên 1950 (Lund Observatory).  Vùng trung tâm nghi là có chứa hố đen, nhưng đầy bụi nên khó thấy.    Hình 2b.  Sông Ngân nhìn từ Nam cực (Jason Gallicchio, 2014)  Vùng trung tâm Ngân hà được nghi là có chứa hố đen siêu nặng.  Hình 3a cho thấy vùng trung tâm 1parsec (3,26 năm ánh sáng), tương đương với góc chắn 1 giây hay 1/3.600 độ.  (Nhớ rằng mặt trăng chắn 0,5 độ hay 1.800 giây.)   Năm 2000, kính thiên văn Keck 10 mét đi vào hoạt động cùng với những máy chụp ảnh hồng ngoại.  Bức hình 3a cho thấy vùng trung tâm những vì sao chung quanh Sagitarius A*, được nghi là hố đen.  Và quĩ đạo của chúng (trong hình 3b) cho thấy Sgr A* có khối lượng chừng 5 triệu khối lượng mặt trời.    Vậy là đã rõ, ở vùng trung tâm của những hệ thiên hà hay quasar chắc chắn có hố đen lẩn khuất.  Bước kế tiếp là làm sao để “lôi nó ra ánh sáng.”    Hình 3a – Vùng trung tâm, với góc chắn 1” (1/3600 độ, từ Gillessen et al.  2009)    Hình 3b – Qũi đạo những vì sao trong vùng trung tâm 1” của Ngân hà.  ​  Thiên hà M87. Việc trước tiên là xác định ứng viên hố đen nặng ký nhất; hố đen càng nặng thì càng lớn, và càng dễ quan sát.  Và ứng viên này phải nằm ở nơi thích hợp – không quá lệch về phương bắc mà cũng không quá lệch về hướng nam – như thế thì các kính thiên văn ở gần cả hai cực bắc và nam bán cầu mới có thể thấy được.  Thiên hà M87 thoả mãn điều kiện này.  M87 là vật thể mang số 87 trong catalog của Messier(1781).   Charles Messier, nhà thiên văn học người Pháp, vốn đam mê quan sát sao chổi.  Đây là khoảng nữa cuối thế kỷ 18, thời buổi khoa học còn tranh tối tranh sáng.  Messier dùng kính thiên văn đường kính chỉ độ 100mm.  Ông tìm thấy 103 vật thể mà ông gọi là những “đám lờ mờ” (nebulous cloud) mà ông lưu ý với những nhà quan sát thời ấy, rằng mới trông qua thì tưởng là sao chổi, nhưng chúng không phải sao chổi.   Từ cách đây trăm năm, người ta đã nhận thấy có M87 có phát vệch sáng như quasar 3C 273 mà Schmidt đã phát hiện.  Đến 1922, Hubble phân loại M87 không thuộc Ngân hà chúng ta, mà là một là thiên hà riêng biệt.   Đến 1978, người xác định M87 có hố đen nặng 5 tỉ khối lượng mặt trời, tức là hơn ngàn lần hố đen Sgr A* trong Ngân hà chúng ta.      Hình 4a. M87 là thiên hà sáng nhất ở gần trung tâm, ở cách xa chúng ta 50 triệu năm ánh sáng.    Hình 4b.  M87 ở mức phân giải cao hơn.   Phương thức quan sát, kính thiên văn, và bước sóng quan sát   Tìm được hố đen khủng, việc kế tiếp là chọn hệ kính thiên văn sao cho việc quan sát được hiệu quả cao nhất.  Trong phần cuối bài viết này, ta sẽ điểm qua phần chuyên môn mà EHT đã thực hiện, bao gồm phương thức quan sát, sắp đặt hệ kính thiên văn, và bước sóng quan sát .  Như đã thấy trong các Hình 3a va 3b, các hố đen có kích cỡ rất nhỏ, chừng vài chục micro giây. Nhớ lại, 60 giây là 1 phút, và 60 phút là 1o. 1micro giây là 1 phần triệu của 1giây.  Nếu ta đặt trái cam trên mặt trăng, thì khi nhìn từ mặt đất trái cam sẽ chỉ chừng cỡ vài micro giây (và mặt trăng thì 0,5o).   Làm sao để có thể thấy được trái cam từ mặt đất?  Mức “phân giải” R của một kính thiên văn tuỳ vào đường kính D và bước sóng quan sát λ, với công thức là R = λ/D.  Công thức này bắt nguồn từ tính nhiễu xạ của sóng điện từ.   D càng lớn thì R càng nhỏ, ta gọi là mức phân giải “cao.”  Nếu thay vì dùng một kính đơn lẻ, ta dùng hai kính và để cho ánh sáng từ hai kính giao thoa, D trở thành khoảng cách giữa hai kính và đạt được độ phân giải cao hơn kính đơn rất nhiều.  Vì lẽ này, nên nhóm EHT chọn D là đường kính của trái đất.  Đây là đường kính lớn nhất có thể cho những đài thiên văn trên mặt đất.  Hình 5a cho thấy toàn bộ sự xếp đặt của hệ các đài thiên văn radio của EHT trên mặt đất, và 5b cho thấy cá nhân kính thiên văn radio ở 8 nơi mà EHT đã sử dụng.  Trong phép giao thoa thông thường, người ta để ánh sáng từ hai nguồn giao thoa trực tiếp.  Giao thoa, cơ bản, là kết hợp của sóng điện từ.  Đơn thuần là cộng lại những vector điện từ  các nguồn.  Và tổng vector tuỳ thuộc vào pha của vector cá thể1.   Khi giao thoa trực tiếp, hệ cảm biến đo năng lượng của trường điện từ (bình phương của biên độ sóng).   Phương thức giao thoa cho độ phân giải cao mà hiệu quả nhất ở những bước sóng radio và viba, tính đến thời điểm hiện nay, là VLBI (Very Long Baseline Interferometry: Giao thoa Khoảng cách Xa).  Để quan sát vật thể nhỏ, cần kính thiên văn lớn.  Nhưng nếu 2 kính ở cách xa, việc giao thoa trực tiếp không khả thi.  Ở đây hệ cảm biến đo trường điện từ: cả biên độ lẫn pha của sóng.  Sau đó ta dùng phần mềm để xử lý phép giao thoa.     Hình 5a.  Tám đài thiên văn của EHT trong chiến dịch 2017 ở 6 địa điểm trên mặt đất, nhìn từ mặt phẳng xích đạo.      Hình 5b.  Những đài thiên văn tham dự quan sát với Event Horizon Telescope (theo chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái) Atacama Large Millimeter/submillimeter Array (ALMA) ở Chile; SubMillimeter Array (SMA) in Hawaii; South Pole Telescope (SPT) ở châu Nam cực; Submillimeter Telescope (SMT) ở Arizona; Atacama Pathfinder Experiment (APEX) ở Chile; Large Millimeter Telescope (LMT) ở Mexico; James Clerk Maxwell Telescope (JCMT) ở Hawaii; và Institut de Radioastronomie Millimétrique (IRAM 30m) ở Tây Ban Nha.  (Nguồn: Iztok Bončina/ESO; Steven H. Keys; University of Arizona/Junhan Kim; Dave Harvey; Juan de Dios Santander Vela; A. Woodcraft; Luyten; ESO/B. Tafreshi/TWAN)  Bước sóng quan sát cũng rất quan trọng.  Bước sóng góp phần trong mức phân giải.  Bước sóng càng ngắn độ phân giải càng cao (tốt), và tốc độ dữ liệu cũng cao (không tốt) nên cần phải có sự chọn lựa để đạt mức tối ưu.  Một yếu tố quyết định nữa là bước sóng được chọn phải cho thấy được vùng chân trời sự kiện rõ nhất.  Các quan sát trước đó cho thấy là bước sóng viba (vài millimet) thích hợp hơn cho việc chụp ảnh hơn là radio (vài centimet).  Hình 5c minh hoạ chi tiết những quan sát này.  Các bước sóng quá ngắn, như sóng khả kiến, hay quá dài như radio, không đi xuyên vào vùng chân trời sự kiện được.  Nhóm ETH chọn 1.3 mm hay 230 GHz.  Ở tần số này, bầu khí quyển hấp thụ tối thiểu, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc quan sát.       Hình 5c.  M87 và vùng trung tâm ở các bước sóng radio và viba.  Bên trái là ảnh từ đài thiên văn LOFAR ở bước sóng 6 mét.  Hai vệch sáng trắng phun từ trung tâm ra hai phía, mỗi bên dài hơn 50.000 năm ánh sáng (tương đương với bán kính của Ngân hà chúng ta).  Tâm của M87 là hố đen.  Bên phải là phần trung tâm được phóng đại theo từng bước.  Các ảnh vùng trung tâm từ đài thiên văn VLA (Very Large Array) và VLBA (Very Large Baseline Array) chụp ở bước sóng 20cm và 7mm. Hình góc bên phải cho thấy ảnh chân trời sự kiện của hố đen M87, chụp bởi EHT ở bước sóng 1.3mm (230 GHz).  (https://www.glowconsortium.de/index.php/en/2015-04-29-07-49-43/blog-glow/172-m87-black-hole)  Xin thay lời kết bằng những dòng chữ của nhà vật lý thiên văn Janna Levin thuật lại cảm tưởng của chị tại buổi EHT họp báo.  “Chúng ta về đây, các nhà lý thuyết và quan sát hố đen, các nhà báo cùng bạn hữu, trong phòng này để cùng chia sẻ một bức ảnh mà chúng ta đã cũng đã tưởng tượng ra rồi và vui mừng phấn khởi.  Nhưng ngạc nhiên khi nghe công bố: không phải Sagittarius A*.  Không phải hố đen của chúng ta.  Nó là M87!  Bức ảnh không thể lẫn vào đâu được – một cái bóng đen huyền lớn cỡ hệ mặt trời chúng ta, được bao quanh bởi một vệch sáng rất đẹp.  Trong khi ảnh hưởng khoa học còn phải chờ, sức dội nhân bản có thể cảm được ngay.  Ánh sáng mà EHT thu thập từ M87 đi về chúng ta từ 55 triệu năm trước.  Nhiều niên đại trôi qua, chúng ta xuất hiện trên mặt đất cùng với những truyền thuyết, văn hoá, lý tưởng và ngôn ngữ dị biệt.  Chúng ta hết thảy cùng dưới một vòm trời, hết thảy chúng ta gắn bó với một dấu chấm xanh dương, lơ lửng theo những thiên thể lấm tấm quanh đây, dưới hơi ấm của ánh mặt trời, trong một bể những ngôi sao rời rạc, trong quĩ đạo vòng quanh một hố đen cực nặng ở tâm Ngân hà sáng rỡ.  Khi được hỏi về cảm nghĩ lúc anh mới thấy bức ảnh của hố đen M87 lần đầu, Shep2  trả lời, “Mình thấy điều gì đó rất đỗi chân thật.”  Và điều này cũng đúng với mỗi chúng ta.”  …nhớ buổi sáng với Trác ở DC, 10/4/2019   1Sóng điện từ có thể biểu thị bằng hàm số lượng giác cos a(t), với a(t) chỉ là hàm tuyến tính với thời gian, t.  Khi ta lấy tích của cos a(t) x cos b(t) rồi lấy trung bình, tích này bằng 0 nếu a(t) ≠ b(t), và khác 0 nếu a(t) = b(t).  Trong quan sát, nếu hai tia sáng cùng xuất phát một nơi, a(t) sẽ bằng b(t), và lúc ấy ta xác định được mức năng lượng.  Nếu khác nơi, a(t) ≠ b(t), và như thế ta loại bỏ được những nguồn khác.  Đây là nguyên tắc của correlator trong VLBI.   2  Shep Doeleman là người đứng đầu nhóm EHT.  Tài liệu tham khảo  1.  “First M87 Event Horizon Telescope Results. I. The Shadow of the Supermassive Black Hole,” The Event Horizon Telescope Collaboration, ApJ, 875 (2019)  2.  “Monitoring Stellar Orbits Around The Massive Black Hole in the Galactic Center,” S. Gillessen, F. Eisenhauer, S. Trippe, T. Alexander, R. Genzel, F. Martins, and T. Ott, ApJ, 692 (2009)  3.  “What the Sight of a Black Hole Means to a Black Hole Physicist,” J. Levin, Quanta Magazine (https://www.quantamagazine.org/what-the-sight-of-a-black-hole-means-to-a-black-hole-physicist-20190410/)  4.  Wiki pages –   Quasar, https://en.wikipedia.org/wiki/Quasar,   Pulsar, https://en.wikipedia.org/wiki/Pulsar,   Supermassive Black hole, https://en.wikipedia.org/wiki/Supermassive_black_hole,   Supernova, https://en.wikipedia.org/wiki/Supernova  5. Caltech 21st Annual Greenstein Lecture (Apr 10, 2019), Joycelyn Bell Burnell –  Webcast: https://echo360.org/lesson/G_202b13ee-2172-44ea-956c-eb166f7686f8_21d894a4-e167-447d-a6d8-86af0eda1b88_2019-04-10T15:50:00.000_2019-04-10T17:15:00.000/classroom#sortDirection=desc  5. Blog: “Shadow from central black hole in M87 imaged”    https://www.glowconsortium.de/index.php/en/2015-04-29-07-49-43/blog-glow/172-m87-black-hole                     Author                Nguyễn Trọng Hiền        
__label__tiasang Bức ảnh Hố đen ở trung tâm dải Ngân hà      Hệ thống kính thiên văn EHT (Event Horizon Telescope hay Chân trời Sự kiện) tuần này đã công bố bức ảnh hố đen ở trung tâm dải Ngân hà, còn có tên là Saggitarius A* (SgrA*).    Hệ thống kính thiên văn EHT (Event Horizon Telescope) kết hợp tín hiệu từ tám đài thiên văn radio trải quanh mặt đất. Sự gắn kết này cần thiết để đạt được độ phân giải tương đương với một kính thiên văn có đường kính của Trái đất. Với độ phân giải này, từ mặt đất ta có thể chụp ảnh được các vật thể nhỏ cỡ trái cam trên Mặt trăng.   Đây là bức ảnh hố đen thứ hai.  Năm 2019, Đài thiên văn Chân trời Sự kiện (EHT) đã công bố bức ảnh hố đen đầu tiên – có tên gọi là M87. Đây là sự kiện mang tầm lịch sử trong phát triển thiên văn (xem Tia Sáng, số tháng 5/2019). Thời điểm đó, nhiều người đã tưởng rằng đấy là bức ảnh của SgrA* – đây là ứng cử viên nặng ký, nặng bằng 4 triệu lần khối lượng Mặt trời. Và là ứng cử viên gần nhất chúng ta – ở ngay trong ngân hà nhà mình.  Nhưng hóa ra không phải, bức ảnh hố đen đầu tiên mà EHT công bố là hố đen từ vùng trung tâm của M87 – một dãy thiên hà riêng biệt, cách xa hơn cả ngàn lần khoảng cách đến SgrA*.  Chính xác hơn thì M87*xa hơn gần 2.000 lần, và nặng hơn gần 1.600 lần.  Hố đen M87* lớn cỡ gần hệ mặt trời chúng ta.  Nhìn trên trời thì SgrA* và M87* cùng kích thước như nhau. Nhưng dữ liệu quan sát về Sagittarius A* khó phân tích hơn.  Nếu có vật thể nào đó bị cuốn xoáy vào M87* thì bức xạ chúng phát ra thực chất khá đồng bộ trong khoảng thời gian ngắn. Nhưng Sagittarius A* có thể thay đổi khá nhanh, có khi chỉ trong vòng vài giờ quan sát. Tạp chí Nature thuật lại lời của Heino Falcke, nhà vật lý thiên văn ở Radboud Univerisity in Nijmegen, Hà Lan và là người đồng sáng lập Nhóm EHT, “Với M87*, ưchúng tôi thấy cả tuần chả có gì thay đổi.  Sagittarius A* thì thay đổi chỉ nội trong vòng 5 đến 15 phút”.  Quan sát: Cuộc quan sát được thực hiện trong năm ngày, vào tháng 4/2017.  Nhóm EHT dùng hệ thiên văn nằm rải trên toàn cầu để thu thập dữ liệu từ hố đen ở Ngân hà chúng ta, và hố đen M87* ở trung tâm thiên hà M87. Hệ thiên văn radio toàn cầu này đi từ miền cực Bắc ở Greenland xuống đến tận Nam cực, và từ vùng sa mạc Altacama ở Nam Mỹ đến Hawaii giữa Thái Bình Dương. Cả thảy là 8 đài thiên văn. Trong khi bức ảnh hố đen M87* được công bố hồi tháng 5/2019, bức ảnh SgrA* thì mất nhiều thời gian phân tích hơn và đến nay mới xuất hiện.  Bức ảnh:  EHT công bố bức ảnh hố đen Sagittarius A* vào hôm 12/5 cùng với 10 bài báo. Bức ảnh cho thấy một vòng ánh sáng bao bọc một vòm bóng đen. Vòm bóng tối này xác định chân trời sự kiện của hố đen. Những phân tích chi tiết đã kiểm chứng nhiều mô hình bằng điện toán. Khi vật chất rơi vào hố đen như cơn lốc xoáy ở tốc độ ánh sáng, chúng tạo nên một đĩa accretion (accretion disk) phát ra bức xạ điện từ, với bức xạ ở bước sóng vô tuyến mà EHT phát hiện được. Dữ liệu của họ cho thấy đĩa accretion nhìn phồng như bánh donut chứ không phẳng dẹt như bánh xèo. Điều này cũng có nghĩa là lượng vật chất mà đĩa accretion đưa vào hố đen ở mức chừng mực, nên chúng hơi mờ so với những hố đen “háu ăn” khác.  Bức ảnh SgrA* nhìn rất giống với M87*.  M87* và SgrA* là hai hố đen chênh lệch nhau cả ngàn lần về khối lượng. Nhưng ở vùng chân trời sự kiện, cả hai nhìn gần y hệt như nhau. Nét đơn giản này là một đặc điểm chung của các hố đen – chúng chỉ mang có ba điểm đặc trưng: khối lượng, điện tích và xung lương góc (và là hệ quả của cái gọi là định lý “hố đen không có tóc”, tức là chẳng có đặc điểm “râu ria” nào khác để phân biệt hố đen nữa cả). Có vẻ như hố đen cũng giống như các hạt cơ bản.  Ba bài học. Có nhiều điều để người ta có thể rút ra được từ bức ảnh này.  Ở đây ta sẽ tóm tắt ba kết luận chính.  Một là, đường kính của chân trời sự kiện xác định bởi khối lượng của hố đen.  Khối lượng của SgrA* được xác định bởi những quĩ đạo của các ngôi sao quanh SgrA* (Ghez et al, Genzel et al.), và sau đó đạt độ chính xác cao bởi những phép đo độc lập của Tuấn Đỗ và các cộng sự. (Tuấn Đỗ là học trò của Ghez, nhà khoa học nhận giải Nobel 2020 cùng với Genzel và Penrose). Từ khối lượng của  ta có thể tính bán kính của chân trời sự kiện của SgrA theo công thức, r = 2GM/c2 (G là hằng số hấp dẫn, M là khối lượng, và c là vận tốc ánh sáng). Bức ảnh của SgrA* đã kiểm chứng các thông số này. SgrA* cùng với M87 cho thấy những vòng sáng là những nét phổ biến của các hố đen, và điều này cho thấy lý thuyết tương đối đã được kiểm chứng cho những hố đen có khối lượng cách biệt đến cả ngàn lần.  Hai là, SrgA* xoay quanh chính nó – như Trái đất, Mặt trăng hay Mặt trời và những thiên thể khác trong vũ trụ cũng xoay quanh chính nó. Điều mà người ta ngạc nhiên là trục quay của SgrA* không vuông góc với mặt phẳng của Ngân hà. Ví dụ trục quay của Mặt trời vuông góc với mặt hoàng đạo. Điều này thống nhất với xung lượng góc của các thiên thể trong hệ mặt trời. Hố đen SgrA* “nắm” vai trò chủ đạo trong Ngân hà của chúng ta – và mọi thứ dường như đều quay cùng một hướng, nên người ta đã tưởng rằng rằng SgrA* cũng thế. Nhưng bức ảnh của EHT đã cho thấy điều này không đúng.  Ba là, các chỉ dấu cho thấy hố đen SgrA* có thể được miêu tả bằng Kerr metric, một trong những lời giải của phương trình Einstein. Karl Schwarzschild là người đầu tiên chỉ ra hố đen sẽ uốn cong không thời gian gần nó. Roy Kerr, cha đẻ của Kerr metric, chỉ thêm rằng nếu hố đen mà xoay quanh chính nó, thì sẽ thay đổi kích cỡ của chân trời sự kiện và đặc điểm hình học chung quanh nó.  Phía trước. Từ tháng 4/2017 đã bắt đầu thu thập dữ liệu của cả hai nơi M87* và SgrA*. Một đội ngũ quốc tế có trên 300 nhà nghiên cứu cùng tham gia phân tích các dữ liệu. Những cuộc quan sát vẫn còn tiếp diễn sau đó, với sự tham gia của nhiều đài thiên văn mới với những phát triển mới, như sự tham gia của đài thiên văn từ Greenland (của Harvard và Đài Loan chủ trì) và thiết bị quan sát ở bước sóng ngắn hơn.     Quan sát ở bước sóng ngắn hơn sẽ đạt được độ phân giảỉ cao hơn, và sẽ thấy được nhiều chi tiết hơn.  Người ta muốn thấy những chi tiết khác từ vòng ánh sáng bao quanh để kiểm chứng lý thuyết tương đối xa hơn.  Giáo sư Paul Ho, nhà vật lý thiên văn từ Harvard và là thành viên của EHT, “Chúng tôi kỳ vọng sẽ thấy được hố đen nếu có của thiên hà M31, [dãy thiên hà gần nhất chúng ta]”.  Ta hãy kết thúc câu chuyện này với diễn tả của giáo sư Paul Ho.  Ông tóm tắt các phương thức cơ bản để nghiên cứu hố đen, “một là bằng ‘thính giác’ như LIGO đã nghe sóng hấp dẫn, hai là bằng ‘xúc giác’ như các vì sao di chuyển quanh hố đen Sagittarius A*, ba là bằng “thị giác” như thấy cái bóng của hố đen mà EHT đã chụp được”.□  2/6/2022 – Pasadena, California    Author                Nguyễn Trọng Hiền        
__label__tiasang Bức ảnh vũ trụ sớm nhận Giải Breakthrough 2017      Ngày 3/12 vừa qua, một trong mười bốn Giải thưởng Breakthrough 2017 trị giá ba triệu USD đã được trao cho các nhà thiên văn học – vì đã chụp được hình ảnh các nhiệt bức xạ còn sót lại sau vụ nổ Big Bang, từ đó khẳng định Mô hình Chuẩn của vũ trụ học.      Hình ảnh chi tiết về vũ trụ sớm được xây dựng dựa trên dữ liệu thu thập trong vòng 9 năm của nhóm WMAP. Nguồn: NASA/WMAP Science Team  Nhóm nghiên cứu Tàu Thăm dò Bất đẳng hướng Vi sóng Wilkinson (Wilkinson Microwave Anisotropy Probe WMAP) của NASA đã được trao giải nhờ việc cung cấp các bằng chứng chủ chốt ủng hộ lý thuyết cho rằng vũ trụ bao gồm hầu hết là năng lượng tối và vật chất tối, cùng một lượng nhỏ các vật chất thông thường.  Nhà thiên văn học Andrew Jaffe (Học viện Hoàng gia London) – thành viên nhóm nghiên cứu Vệ tinh Planck (Cơ quan Vũ trụ Châu Âu), nhận xét: “Đây là giải thưởng xứng đáng dành cho một cuộc thí nghiệm tuyệt vời. Thí nghiệm WMAP là một trong những bằng chứng của chúng ta về mô hình vũ trụ hiện tại là chính xác.”  Nhóm nghiên cứu WMAP đã thiết lập được bản đồ về các khác biệt nhiệt độ ở mức độ hết sức tinh tế trong bức xạ nền vi sóng của vũ trụ, đã lan tỏa khắp vũ trụ khoảng 380.000 năm sau vụ nổ Big Bang. Check Bennett (ĐH John Hopkins) – một trong năm trưởng nhóm của WMAP, chia sẻ rằng ông rất vui mừng vì giải thưởng ghi nhận cả 27 thành viên của WMAP – thay vì chỉ giới hạn ở ba cá nhân như Nobel. “Tất cả mọi người đều đóng vai trò quan trọng trong thành công của cuộc thử nghiệm.”  Cuộc thăm dò đã giúp hạ tuổi vũ trụ xuống 13,8 tỷ năm và minh họa chi tiết cách vũ trụ được tạo nên bởi chỉ gần 5% vật chất thông thường, khoảng 25% vật chất tối và hơn 70% năng lượng tối – đã đẩy vũ trụ giãn nở với tốc độ gia tốc. Cùng với nhau, các thông số này đã xác định mô hình vũ trụ hiện tại được thiết lập bởi mô hình chuẩn của vũ trụ học. Nhưng thật đáng ngạc nhiên là dữ liệu mới có được từ Vệ tinh Planck lại đem đến những kết quả có phần khác biệt.  Jaffe nhận xét: “Các khác biệt này là có thật và nghiêm trọng.” Theo ông, cách giải thích thông thường nhất là lỗi hệ thống ở một hoặc cả hai thí nghiệm, hoặc cũng có thể sự khác biệt từ việc phân tích dữ liệu của hai thí nghiệm. Nhưng nếu không phải như vậy thì những dị thường này có thể là dấu hiệu của một độ lệch từ Mô hình Chuẩn.  Các công trình có tầm ảnh hưởng  Giải thưởng trị giá 22 triệu đô la đã được thông báo trong buổi lễ tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu Ames của NASA tại Moffett Field, California, Mỹ. Những giải thưởng khác được trao cho công trình ở lĩnh vực khoa học sự sống và toán học. Giải thưởng Breakthrough được bắt đầu từ sáu năm trước bởi Sergey Brin – nhà sáng lập Google, Yuri Milner – doanh nhân công nghệ Nga, nữ nghệ sỹ Julia Milner, Mark Zuckerberg – nhà sáng lập Facebook, Priscilla Chan – bác sỹ nhi và nhà từ thiện, Anne Wojcicki – người thành lập công ty về gene 23andMe. Previous.  Nhà di truyền học Joanne Chory (Viện Nghiên cứu Sinh học Salk, California) đã giành được một trong năm giải Breakthrough về khoa học xã hội trị giá ba triệu USD. Chory là người đã xác định cơ chế phát tín hiệu di truyền (genetic signalling mechanism) cho quang hợp bằng cách nghiên cứu các giống mù tạt Arabidopsis thaliana đột biến phản ứng với các điều kiện ánh sáng khác nhau. Ông kỳ vọng có thể góp phần giải quyết biến đổi khí hậu bằng cách lai tạo các giống cây có thể làm giảm lượng CO2 trong không khí nhiều gấp 20 lần cây thông thường, và có thể lưu trữ trong lòng đất sâu.  Các công trình khoa học sự sống khác chiến thắng năm nay thuộc về Don Cleveland tại ĐH California (San Diego), người đã phát triển liệu pháp và thuốc DNA ức chế gene để điều trị bệnh não và hệ thần kinh; Kim Nasmyth (ĐH Oxford, Anh) – người đã khám phá cách DNA gắn vào tế bào mà không bị rối như thế nào; Peter Walter (ĐH California, San Francisco) và Kazutoshi Mori (ĐH Kyoto, Nhật Bản) đã làm rõ hệ thống kiểm soát chất lượng trong tế bào để dò các protein không gấp (unfolded protein) có khả năng gây bệnh.  Nhà toán học James McKernan (ĐH California, San Diego) và Christopher Hacon (ĐH Utah, Salt Lake City) cùng chia nhau giải thưởng toán học trị giá ba triệu USD cho công trình về hình học đại số – giải các phương trình bằng dựng hình khối đa chiều (higher-dimensional geometric shapes). Cả hai được ghi nhận vì đã đóng góp cho “Chương trình mô hình tối giản” – với mục đích tình ra các lời giải hình học đơn giản nhất.  Sáu giải thưởng khác, mỗi giải trị giá 100.000 USD được trao cho các nhà khoa học trẻ ở giai đoạn đầu sự nghiệp, trong đó có một giải thiếu niên dành cho video khoa học cơ bản và toán học xuất sắc nhất.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-017-07759-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức xạ Hawking giả lập      Có rất nhiều lý do giải thích tại sao chúng ta chưa tìm ra, ví dụ lỗ đen thật sự ở quá xa trái đất, không có cách nào tới gần được mà đo.    Lý do nữa có thể mang tính bản chất hơn là bức xạ Hawking từ các lỗ đen ngoài vũ trụ có năng lượng vô cùng thấp, thậm chí còn thấp hơn cả bức xạ nền. Hawking từng chỉ ra bức xạ Hawking tương đương với bức xạ Planck cho vật thể có nhiệt độ cho bởi công thức:    là khối lượng mặt trời, M là khối lượng lỗ đen. Với lỗ đen hình thành dựa trên sự suy sụp hấp dẫn, khối lượng nhỏ nhất tầm 2-3 lần khối lượng mặt trời, thì nhiệt độ lỗ đen vào khoảng 10-7oK, quá nhỏ so với nhiệt độ bức xạ nền vũ trụ là 2.725oK.  Với trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện tại, quá khó để chúng ta đưa ra được một giải pháp kỹ thuật cho việc phát hiện bức xạ Hawking từ một lỗ đen trong vũ trụ. May mắn là chúng ta có thể giả lập được lỗ đen trong phòng thí nghiệm, tuy không phải tạo điểm kỳ dị tại tâm lỗ đen mà tạo đường chân trời sự kiện, khi một loại sóng không thể thoát ra khỏi một ranh giới không gian cố định. Ví dụ đơn giản nhất là sóng âm truyền trong một dòng chất lỏng. Khi vận tốc dòng chất lỏng tiến tới giá trị vận tốc của sóng âm, và xét theo hướng ngược chiều này, sóng âm sẽ không thể di chuyển qua một ranh giới so với hệ quy chiếu phòng thí nghiệm tương tự như việc sóng ánh sáng không thể thoát ra ngoài đường chân trời sự kiện. Khi hiện tượng này xảy ra, mối tương quan giữa năng lượng sóng và số sóng của sóng âm sẽ biến đổi và có mối liên hệ mật thiết với gốc rễ vật lý của bức xạ Hawking. Dòng chất lỏng được sử dụng trong phòng thí nghiệm có thể là dòng nước, hoặc dòng các chuẩn hạt mang tính boson kết hợp giữa ánh sáng và kích thích trong bán dẫn, hay dòng các nguyên tử được làm lạnh để đạt được trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein. Điểm hay của trạng thái ngưng tụ này nằm ở chỗ vận tốc sóng âm tương đối thấp, do đó rất dễ để tạo được một dòng chất lỏng với tốc độ thấp trong một không gian hạn chế của phòng thí nghiệm.  Tìm thông tin bị mất từ bức xạ Hawking giả lập  Trong một báo cáo ở hội nghị Hiệp hội vật lý Mỹ năm 2018, Manikandan và Jordan đã đưa ra một mối tương đồng giữa bức xạ Hawking tại lân cận đường chân trời sự kiện với bức xạ Andreev, tại lân cận ranh giới giữa trạng thái kim loại thông thường và trạng thái siêu dẫn. Lý thuyết vi mô về trạng thái siêu dẫn là một trong những lý thuyết đẹp nhất của Vật lý chất rắn, tại đó các điện tử bắt cặp với nhau tạo thành một cặp mang tên Cooper. Khi tồn tại trong trạng thái liên kết này, các điện tử có spin đối ngược nhau và có năng lượng đối xứng so với mức Fermi. Cặp Cooper có nhiều tính chất thú vị như cả một cặp tồn tại như một hạt có spin bằng 0, tức là các hạt boson, và do đó trạng thái siêu dẫn tương đương với sự siêu chảy của trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein của các cặp Cooper.  Quay trở lại sự tương đương giữa đường chân trời sự kiện và ranh giới kim loại thường và siêu dẫn, có ba trường hợp có thể xảy ra, trong đó trường hợp thứ ba là đặc biệt nhất: vùng siêu dẫn bị “kẹp bánh mì” giữa hai vùng kim loại thường, một điện tử đi từ vùng kim loại thường thứ nhất vào vùng siêu dẫn. Điện tử này sẽ tạo cặp Cooper, tuy nhiên thay vì để lại một phản xạ Andreev là một lỗ trống quay trở lại vùng kim loại thứ nhất, nó tạo ra một lỗ trống tại vùng kim loại thường thứ hai tách biệt với vùng thứ nhất. Hiện tượng này gọi là phản xạ Andreev chéo, xảy ra khi kích thước vùng siêu dẫn nhỏ hơn khoảng cách di chuyển tự do của cặp Cooper. Lỗ trống đem toàn bộ thông tin của điện tử tới từ vùng kim loại thứ nhất một cách tức thời (như độn thổ) sang vùng kim loại thứ hai. Tổng thông tin cả hai vùng không đổi nhưng thông tin của vùng thứ nhất ít hơn một đơn vị, tạm gọi là bit, thông tin vùng thứ hai nhiều hơn một bit. Hiện tượng phản xạ Andreev chéo này, tuy không tương đương với bất kỳ bức xạ Hawking nào, nhưng lại tương đương với hiện tượng cầu Einstein-Rosen giữa hai vũ trụ khác nhau thông qua điểm kỳ dị của lỗ đen khi hạt đã vượt qua đường chân trời sự kiện của vụ trụ thứ nhất và “độn không gian” sang vũ trụ thứ hai, một cách tức thời. Điều thú vị của sự tương đương này còn nằm ở chỗ lực hút tạo cặp Cooper của trạng thái siêu dẫn tương đồng với lực hút hấp dẫn tạo cặp giữa hai hạt fermion nằm ở bên trong bán kính Schwarzschild. Mặc dù Susskind đã từng nói các bức xạ Hawking giả lập không liên quan gì tới việc “biến mất thông tin” do đó dù có phát hiện được cũng không thể giải quyết được nghịch lý thông tin, tuy nhiên với trạng thái siêu dẫn, nếu các tương đương trên được ánh sáng thực nghiệm rọi tới thì có thể sẽ đưa ra được một số kết quả thú vị.    Sự tương đương của hiện tượng phản xạ Andreev tại ranh giới kim loại/siêu dẫn và phản xạ thông tin tại chân trời sự kiện.    Sự tương đương của hiện tượng phản xạ Andreev chéo từ vùng kim loại 1 sang vùng kim loại 2 thông qua siêu dẫn và truyền thông tin từ vũ trụ 1 sang vũ trụ 2 thông qua lỗ đen.  Trên hành trình tìm kiếm bức xạ Hawking, các thí nghiệm giả lập đường chân trời sự kiện không phải là ứng cử viên duy nhất mà còn tồn tại một hiện tượng gọi là các lỗ đen mini, có thể được hình thành từ quá trình kết tụ vật chất và suy sụp do sức hút hấp dẫn, hoặc từ việc gia tốc hai hạt cơ bản tới một năng lượng đủ lớn. Đặc điểm dễ nhận dạng nhất của lỗ đen mini là thời gian sống (từ lúc hình thành tới lúc bốc hơi hết nhờ bức xạ Hawking) ngắn hơn tuổi của vũ trụ. Nhờ công thức tính tuổi lỗ đen    M là khối lượng lỗ đen tính theo đơn vị gam. Nếu khối lượng lỗ đen khoảng 1015g, thì các lỗ đen này chắc chắn đã bốc hơi hết, vì tuổi của chúng vào khoảng 10 tỉ năm, ít hơn tuổi của vũ trụ là 15 tỉ năm. Các lỗ đen này được Hawking gọi là các lỗ đen “nguyên thủy”. Năng lượng bức xạ Hawking của các lỗ đen này vào khoảng 100 MeV, được tính theo công thức    Do đó tìm kiếm các hạt có vùng năng lượng trong khoảng 100 MeV có thể cũng là một cách để chúng ta tìm thấy bức xạ Hawking.  Theo thuyết tương đối của Einstein, vật chuyển động càng lớn thì có năng lượng tổng cộng càng lớn. Năng lượng này được chuyển thành giá trị khối lượng chuyển động của vật. Như vậy liệu có thể vật chuyển động với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng thì bản thân nó sẽ tạo thành lỗ đen? Câu trả lời tương đối đơn giản là không thể. Theo nguyên lý tương đương thì mọi hệ quy chiếu có kết quả giống nhau, nên khi ta xét trong hệ quy chiếu gắn với khối tâm hạt chuyển động, không bao giờ xuất hiện lỗ đen với mọi giá trị vận tốc của hạt nhỏ hơn vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên kết luận sẽ không đúng với trường hợp hai hạt giống nhau, được gia tốc ngược chiều nhau, cùng giá trị vận tốc và va chạm nhau. Với trường hợp này, hệ quy chiếu khối tâm của hai hạt cũng là hệ quy chiếu đứng yên của người quan sát, năng lượng của hai hạt chính là tổng năng lượng được gia tốc. Do đó với giá trị năng lượng gia tốc đủ lớn, một lỗ đen mini có thể hình thành nhờ va chạm. Thí nghiệm này hoàn toàn có khả năng làm được tại LHC, với điều kiện hệ được nâng cấp lên những giá trị năng lượng cỡ 10-100 TeV. Đây là cơ hội rõ ràng nhất để có thể quan sát và kiểm chứng được bức xạ Hawking. Nhưng trước khi con người có thể làm được điều này, các nhà khoa học tại CERN đã phải toát mồ hôi giải thích với những ý kiến chỉ trích rằng lỗ đen do LHC tạo ra có thể gây nguy hại và nuốt trọn trái đất như những gì một lỗ đen thực sự trong vũ trụ có thể làm.  Chờ các phương án giải thích bức xạ Hawking  Kể từ khi khái niệm bức xạ Hawking được khám phá, khá nhiều phương án được đưa ra để cứu vãn việc vi phạm các nền tảng vật lý. Nhưng có vẻ phương án này cứu được một điểm thì lại bị phương án khác chỉ ra vi phạm chỗ khác, chưa biết lúc nào là kết thúc. Tuy nhiên nhờ những thành tựu đột phá trong việc đo được sóng hấp dẫn khi hai lỗ đen sáp nhập, nếu “tường lửa lỗ đen” tồn tại thật, các sóng hấp dẫn sẽ bị phản xạ khi tới tường lửa. Điều đó có nghĩa, tiếng “bụp” đo được từ sóng hấp dẫn khi hai lỗ đen sáp nhập sẽ có tiếng vọng, nếu đo được tiếng vọng với mức độ tin cậy đủ lớn sẽ khẳng định “tường lửa lỗ đen” có thật. Có lẽ các nhà thiên văn học đang chờ các kết quả mới nhất từ các vụ sáp nhập lỗ đen vũ trụ tiếp theo, giống như các nhà vật lý năng lượng cao gia tốc proton cũng đang chờ phát hiện ra lỗ đen mini tại LHC, nhằm đưa ra những kết luận có tính ảnh hưởng tới nền tảng vật lý.  Khi việc quan sát và kiểm chứng các phương án giải thích bức xạ Hawking từ các lỗ đen tương tác hấp dẫn cần thêm nhiều thời gian thì việc tìm thấy bức xạ Hawking tại các giả lập đường chân trời của sóng âm lại được công bố liên tiếp. Tuy nhiên vấn đề bản chất nhằm chấm dứt các tranh cãi liên quan đến nghịch lý thông tin của bức xạ Hawking lại không được các thí nghiệm giả lập này khẳng định. Bởi các lỗ đen giả lập không bốc hơi, do đó chẳng có nghịch lý thông tin nào được rút ra, ngoại trừ trường hợp tương đương giữa lỗ đen và trạng thái siêu dẫn của vật lý chất rắn. Con đường tìm ra bức xạ Hawking vẫn còn rất dài, và chúng ta cũng hy vọng một ngày nào đó các phương án lý thuyết và kiểm chứng thực nghiệm sẽ hội tụ tại một điểm, giúp chúng ta có được một cách hiểu đúng nhất, bản chất nhất để bảo vệ, hoặc thậm chí xây dựng lại các nền tảng vật lý đang bị bức xạ Hawking thách thức.  —-  1. Với công thức này ta có thể đưa ra một tình huống hài hước khác, tuân theo các quy luật vật lý, cho bộ phim nổi tiếng “Người kiến”. Khi anh chàng, nặng khoảng 80 Kg, bị thu nhỏ tới kích thước cỡ hạ nguyên tử như trong một cảnh của bộ phim, anh sẽ trở thành một lỗ đen mini. “Lỗ đen người kiến” này sẽ bốc hơi chỉ trong vòng 10 ps (10-11 s). Năng lượng của 80 Kg vật chất, bốc hơi trong vòng 10 ps, tương đương với một vụ nổ lớn gấp 30 lần trái bom lớn nhất mà con người từng tạo ra (Tsar Bomba 50 MT).    Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Bức xạ Hawking và “cuộc chiến lỗ đen”      Qua đời vào tháng 3/2018 vừa qua, Stephen Hawking đã để lại một thách thức chưa thể giải đáp cho các nhà Vật lý cả lý thuyết lẫn thực nghiệm: “Bức xạ Hawking”. Chủ đề này đã tốn rất nhiều giấy mực trong cộng đồng Vật lý lý thuyết kể từ ngày được công bố, bao gồm một “cuộc chiến lỗ đen” kéo dài gần hai mươi năm giữa những người ủng hộ thuyết lượng tử và những người ủng hộ thuyết tương đối rộng.      Hình ảnh mô phỏng lỗ đen trong phim “Giữa các vì sao” Nguồn  Vậy “bức xạ Hawking” có ảnh hưởng thế nào tới các nền tảng Vật lý hiện đại, con người đang ở đâu trong việc tìm ra bức xạ này một cách thực nghiệm, và nếu tìm ra thì sẽ có tác động gì tới sự phát triển của Vật lý trong tương lai?  Hiện tượng bức xạ Hawking  Năm 1974, Hawking làm kinh ngạc cộng đồng khoa học bằng việc đưa ra kết luận lỗ đen thật ra không phải “đen tuyệt đối” mà vẫn phát ra bức xạ trong bài báo nổi tiếng có tên “Hạt tạo bởi các lỗ đen – Particle creation by black holes” .  Khi lỗ đen được tạo ra, không gian hiểu theo nghĩa đơn giản được tách thành hai phần. Phần thứ nhất bên trong, có khoảng cách đến tâm lỗ đen (tâm lỗ đen có thể hiểu là một điểm kỳ dị tại đó có sự suy biến của không thời gian) nhỏ hơn bán kính Schwarzschild, ánh sáng xuất phát từ phần này bị trọng trường hút quay ngược trở lại lỗ đen. Phần thứ hai bên ngoài, có khoảng cách tới tâm lỗ đen lớn hơn bán kính Schwarzschild, ánh sáng có thể thoát ra khỏi lỗ đen nếu xuất phát từ đây. Do tồn tại việc tạo và hủy cặp hạt do hiện tượng bong bóng chân không nên tại bất kỳ điểm nào xung quanh lỗ đen, cả trong và ngoài đường chân trời sự kiện, đều có hiện tượng này. Nếu cặp hạt và phản hạt được tạo khá xa bên ngoài đường chân trời, chúng không bị lỗ đen hút vào, nên năng lượng ban đầu vay từ chân không bên ngoài lỗ đen sẽ được trả sau tái hợp. Chỉ có những cặp hạt và phản hạt được tạo tại vùng không gian bên ngoài lỗ đen nhưng rất gần đường chân trời sự kiện mới tạo ra điều kỳ diệu: nếu một trong hai hạt sẽ đi qua chân trời sự kiện vào sâu trong lỗ đen và tắc ở đó, hạt kia chắc chắn sẽ đi ra bên ngoài, thoát khỏi lỗ đen.  Đối với trường hợp thứ hai này, dưới tác dụng của trường tĩnh điện lớn, ngay sau sự kiện tạo cặp, điện tử tích điện âm đi về một hướng, phản điện tử (positron) tích điện dương sẽ đi về hướng ngược lại, và chúng không có cơ hội để tái hợp trả lại năng lượng đã vay trước đó. Năng lượng này thực tế được lấy từ trường tĩnh điện cực mạnh chứ không phải lấy từ chân không. Năng lượng vay để tạo ra cặp hạt phản hạt được lấy từ trọng trường rất mạnh tạo ra bởi lỗ đen, hay lấy từ chính lỗ đen chứ không thể từ không gian bên ngoài lỗ đen được, vì không gian bên ngoài này không tạo ra trọng trường. Bản chất cơ chế tại sao lỗ đen bị lấy năng lượng và tạo ra cặp hạt thật sự là một bí hiểm lượng tử, tuy nhiên miễn là sự thăng giáng năng lượng này diễn ra trong một khoảng thời gian đủ ngắn và tuân theo nguyên lý bất định Heisenberg (nguyên lý bất định Heisenberg cho năng lượng và thời gian được viết dưới dạng ) thì sẽ có xác suất xảy ra. Bong bóng chân không đã được thực nghiệm khẳng định tồn tại, do đó đến đây ta có thể nhìn thấy một bức tranh vật lý tương đối rõ ràng, bong bóng chân không lấy năng lượng từ lỗ đen để tạo bức xạ ra bên ngoài, hay cách khác lỗ đen thật sự có bức xạ và mất dần năng lượng.  Cuộc tranh cãi gần 30 năm giữa hai trường phái  Lỗ đen có lẽ chỉ là một điểm suy biến bí ẩn của vũ trụ nếu không có bức xạ Hawking và không bị mất năng lượng. Hiện tượng này được gọi một cách hình ảnh là các lỗ đen bị bốc hơi và kết quả là lỗ đen sẽ biến mất. Ngay cả việc này cũng sẽ rất logic bởi đơn giản đó là hệ quả của việc Hawking đã sử dụng những nền tảng Vật lý cơ bản nhất để rút ra kết luận. Tuy nhiên nếu xét trường hợp một quyển sách bay tới và bị hút vào lỗ đen. Theo giải thích của bức xạ Hawking, các thông tin viết trên các trang sách hoàn toàn biến mất, hay cuốn sách bị bốc hơi! Về mặt toán học, lý thuyết thông tin của Shannon định lượng giá trị thông tin bằng công thức. Tuy nhiên, có một đại lượng Vật lý cũng được cho bởi công thức tương tự như công thức Shannon trong lý thuyết thống kê nhiệt động lực học. Đại lượng đó chính là Entropy.  Thay vì nói lượng thông tin chứa trong các trang sách bị biến mất, ta nói Entropy của quyển sách biến mất, vì Entropy và thông tin là một! Điều đó có nghĩa Entropy của hệ lỗ đen + quyển sách trước khi quyển sách bị nuốt lại lớn hơn Entropy của hệ lỗ đen + quyển sách sau khi bốc hơi. Tức là hiện tượng bức xạ Hawking làm giảm Entropy của một hệ! Nếu thay vì quyển sách bị lỗ đen nuốt, mà là các vật thể lớn hơn, như hành tinh, thậm chí cả mặt trời bị lỗ đen nuốt, sau khi bay hơi, toàn bộ Entropy của các vật bị nuốt cũng biết mất! Nghĩa là nguyên lý hai nhiệt động lực học không còn đúng! Khi dùng trường lượng tử cộng với tương đối rộng và tương tác hấp dẫn thì có khả năng vi phạm nguyên lý hai nhiệt động lực học (nếu ta xét Entropy), cũng đồng nghĩa với vi phạm thuyết lượng tử (nếu ta xét thông tin)! Giá mà lỗ đen không “bức xạ Hawking”; vì không bức xạ thông tin của các vật bị lỗ đen nuốt vẫn nằm vĩnh viễn trong lỗ đen mới, bảo toàn, và ai cũng hạnh phúc.  Nghịch lý do “bức xạ Hawking” gây ra chính là “nghịch lý thông tin” nổi tiếng, là chủ đề của một cuộc tranh cãi kéo dài gần 30 năm giữa hai trường phái vật lý lý thuyết, tạm gọi là trường phái lượng tử do Leonard Susskind và Gerard t’Hooft dẫn đầu bảo vệ quan điểm thông tin không bị mất, và trường phái tương đối rộng do Hawking dẫn đầu bảo vệ quan điểm thông tin bị bốc hơi. Để củng cố quan điểm của mình, Susskind đã đưa ra một khái niệm “bù trừ lỗ đen” (black hole complementarity) và phân tích hiện tượng một vật, hay lấy ví dụ trực tiếp là một người, rơi vào lỗ đen cần được nhìn theo hai hệ quy chiếu. Tại hệ quy chiếu thứ nhất gắn với người rơi vào, anh ta sẽ không phát hiện ra điều gì khác biệt khi đi qua đường chân trời sự kiện (nếu bán kính đường này là đủ lớn), và cuối cùng là bị kéo dài khi tiếp cận điểm suy biến. Một khi đã qua đường này, anh ta không còn cách nào để liên lạc với người bên ngoài để miêu tả những gì nhìn thấy trong lỗ đen, tuy nhiên thông tin của người rơi vào được bảo toàn. Tại hệ quy chiếu thứ hai, do đứng bên ngoài quan sát người thứ nhất bị rơi vào lỗ đen, người thứ hai sẽ thấy người thứ nhất càng tiến tới đường chân trời sự kiện thì tốc độ càng chậm, nhưng không bao giờ có thể qua được (có thể tưởng tượng hình ảnh người di chuyển càng gần với vận tốc ánh sáng thì thời gian họ trải qua càng chậm so với người đứng yên bên ngoài). Toàn bộ thông tin của người thứ nhất được gửi gắm trong các hạt bức xạ Hawking quay trở lại, khi đó thông tin của người rơi vào cũng được bảo toàn. Trong cả hai hệ quy chiếu, thông tin đều bảo toàn, tuy nhiên ta không có cách nào kiểm chứng đồng thời hai kết quả vì hai hệ quy chiếu ta xét bị phân cách bởi đường chân trời sự kiện. Và vì không có cách nào kiểm chứng đồng thời hai cách nhìn một sự kiện, Susskind đề xuất chấp nhận đúng cả hai, giống như chúng ta đã từng chấp nhận lưỡng tính sóng hạt trong vật lý lượng tử1!  Cách nhìn của hệ quy chiếu người thứ nhất sâu xa hơn là để đảm bảo “nguyên lý tương đương”2  và bảo toàn thông tin, cách nhìn của hệ quy chiếu người thứ hai là để đảm bảo bức xạ Hawking không phá hủy thông tin. Và điều quan trọng hơn, kết quả của cả hai hệ quy chiếu đều đúng. Việc chấp nhận nguyên lý “bù trừ lỗ đen” ngoài việc giải quyết nghịch lý thông tin của bức xạ Hawking còn đưa tới một thứ bất ngờ hơn: đó là có một sự tương đồng vật lý diễn ra trong không gian ba chiều ở bên trong đường chân trời sự kiện và những gì diễn ra tại lớp “cháo” hai chiều nằm ngay sát bên ngoài đường chân trời.  Năm 2004, Hawking đã nhượng bộ, thừa nhận entropy của một vật rơi vào lỗ đen không thể biến mất, tức là các giải thích “bù trừ lỗ đen” là hợp lý cho hiện tượng lỗ đen bay hơi do bức xạ Hawking. Trong quyển sách cuộc chiến lỗ đen của mình, Susskind miêu tả đây không phải là một chiến thắng, mà chỉ là một phương án hợp lý bảo vệ tính đúng đắn của vật lý lượng tử, và giúp chúng ta hiểu rõ hơn một trong những bí ẩn lớn nhất của vũ trụ. Cũng rất hài hước, Susskind cũng dành hẳn một trang trong sách của mình chỉ để viết lại lời bài hát, phóng tác từ điệu nhảy “Macarena” nổi tiếng, để tôn vinh nhà vật lý lý thuyết Maldacena về việc đã toán học hoá một cách chặt chẽ luận điểm về sự tương đương giữa những gì diễn ra trong không gian khối (ví dụ 3D) và các quy luật lượng tử trong không gian ít hơn một chiều (ví dụ 2D).  Tuy nhiên đến năm 2012, một nhóm bốn tác giả của ĐH California tại Santa Barbara, trong đó có Polchinski, đã lý luận rằng, chính vì để bảo toàn thông tin trong cả hai hệ quy chiếu nói trên, sẽ tồn tại trường hợp các hạt nằm trong bắt rối lượng tử3 cùng với các hạt rơi vào trong lỗ đen và cả cùng với các bức xạ Hawking đã quay trở lại không gian bên ngoài. Việc bắt rối lượng tử với hạt bên trong lỗ đen chính là do nguyên lý toàn ảnh ta vừa nói ở trên và đảm bảo thông tin đi vào bên trong lỗ đen được bảo toàn. Việc bắt rối lượng tử với các hạt đã bức xạ Hawking là để đảm bảo người quan sát bên ngoài có thể dựng lại được thông tin mà người đi vào lỗ đen phát lại thông qua bức xạ Hawking. Như vậy sẽ dẫn đến tình huống một hạt bắt rối lượng tử với hai hạt hoàn toàn độc lập (một bên trong, và một bên ngoài lỗ đen). Điều này cũng vi phạm thuyết lượng tử4! Từ đó Polchinski đề xuất cắt rối lượng tử giữa các hạt nằm tại lớp “cháo” và các hạt bay vào bên trong. Đây chính là bản chất của đề xuất có tên “tường lửa lỗ đen”, tức là tồn tại một bức tường Vật lý tại đường chân trời sự kiện, mọi vật tới đây sẽ bị xóa sổ! Tuy nhiên khái niệm tưởng lửa này lại vi phạm một trong những nguyên lý nền tảng nhất của tương đối rộng, nguyên lý tương đương, mà ta đã nói ở trên. Polchinski cũng phải thành thật xin lỗi nếu một thứ “nghịch lý” như vậy đã được đưa, đi ngược lại nguyên lý toàn ảnh của Maldacena, mà đến giờ vẫn chưa ai bác bỏ được.  Susskind thì thành thật thú nhận, lúc đầu thì nói ngay luận điểm của Polchinski sai, sau đó thì lại thấy đúng, rồi lại thấy sai, và lại thấy đúng… cứ như thể chúng ta đang làm dự báo thời tiết, đúng đấy mà lại sai ngay, rồi bất ngờ lại đúng, theo cách nhìn của Hawking.  Tới thời điểm này, ngoại trừ Hawking thiên tài của nhân loại đã mất, tất cả những người trong cuộc đều ở trạng thái “hoang mang”: nửa “dè dặt” về những điều người khác nói nửa “tự tin” về những gì mình đưa ra, và đều cần thực nghiệm kiểm chứng!  —-  Chú thích:  1 Trong thí nghiệm hai khe Young của điện tử, nếu ta muốn biết điện tử đi qua khe nào thì cấu trúc giao thoa trên màn hình quan sát sẽ biến mất. Nếu muốn có cấu trúc giao thoa, ta không thể biết điện tử đi qua khe nào, nên có thể nói “điện tử đi qua cả hai khe”. Tuy nhiên có thể đưa ra nhận định, nếu ta đã không có cách nào để xác định điện tử đi qua khe nào (vì muốn giữ cấu trúc giao thoa), thì chẳng có lý do gì để tìm hệ quả của việc muốn biết khe nào điện tử đi qua.  2 Nguyên lý tương đương, một trong những nền tảng của thuyết tương đối được phát biểu như sau “Các kết quả của thí nghiệm tại một hệ quy chiếu chuyển động tự do sẽ độc lập với vận tốc và vị trí của hệ quy chiếu đó”.  3 Rối lượng tử là một trạng thái kết nối lượng tử giữa hai hạt mặc dù ở cách rất xa nhau về mặt không gian. Nếu có một tác động tới hạt thứ nhất, thì tác động này sẽ ảnh hưởng tức thời tới hạt thứ hai. Tác động tức thời này không tuân theo nguyên lý nhân quả, tức là thời gian giữa hai sự kiện có liên hệ với nhau phải nhỏ hơn thương số giữa khoảng cách của hai sự kiện chia cho tốc độ ánh sáng. Hai hạt được nói “bắt rối lượng tử” nếu chúng tạo thành một trạng thái rối lượng tử.  4 Hạt thứ nhất không thể cùng lúc bắt rối lượng tử với hạt thứ hai và hạt thứ ba nếu hạt thứ hai và hạt thứ ba độc lập lượng tử với nhau.    Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Bụi có thể chi phối nền văn minh cổ đại của con người      Khoảng 100 ngàn năm trước, khi con người bắt đầu di chuyển từ châu Phi sang lục địa Á – Âu, vùng đất màu mỡ ở phía đông Địa Trung Hải Levant đóng vai trò cửa ngõ quan trọng giữa hai khu vực này. Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Geology cho thấy sự xuất hiện của vùng đất Levant phụ thuộc hoàn toàn vào thứ chúng ta gần như chưa bao giờ nghĩ đến: đó là bụi.      Những mũi tên từ phía sa mạc Sahara và Negev cho thấy mô hình vận chuyển bụi, độ dày mũi tên thể hiện kích thước các hạt bụi được vận chuyển. Nguồn: Phys.org  TS. Rivka Amit, Cơ quan Điều tra Địa chất Israel (GSI) đã bắt đầu với một câu hỏi đơn giản: vì sao đất nền ở một số vùng xung quanh Địa Trung Hải lại có độ dày khác nhau? Nghiên cứu này không chỉ giúp họ khám phá rằng sự lắng đọng bụi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lớp đất dày ở Levant, mà còn cho thấy nếu nguồn bụi không thay đổi vào thời điểm 200 000 năm trước thì những người thủa ban đầu có lẽ sẽ khó có thể rời khỏi châu Phi và phần vùng đất Lưỡi liềm màu mỡ [ở khu vực Lưỡng Hà, Levant, và Ai Cập] sẽ không thể là nơi để nền văn minh bám rễ thuận lợi đến thế.  Thông thường, lớp đất dày sẽ hình thành ở những vùng đất ẩm ướt có khí hậu nhiệt đới, trong khi lớp đất mỏng hình thành ở môi trường khô cằn với tỉ lệ phong hóa thấp hơn. Nhưng Địa Trung Hải, nơi phần lớn lớp đá móng (bedrock) là carbonat hòa tan, thì ngược lại, những vùng phía bắc ẩm ướt hơn có lớp đất mỏng, khó canh tác; những vùng khô cằn phía nam có lớp đất dày màu mỡ hơn. Một số nhà khoa học cho rằng đây là do những khác biệt về tốc độ xói mòn mà hoạt động của con người gây ra nhưng theo Amit, người đã nghiên cứu về vùng đất này trong nhiều năm, tốc độ xói mòn cao không có ý nghĩa gì. Theo bà, còn một yếu tố khác là bụi lắng đọng có thể đã đóng vai trò quan trọng khi tốc độ phong hóa xảy ra quá chậm để hình thành được đất từ đá móng.  Nhằm đánh giá ảnh hưởng của bụi tới lớp đất ở vùng Địa Trung Hải, nhóm nghiên cứu của Amit thu thập các mẫu bụi từ lớp đất trong khu vực, đất ở các vùng lân cận và xa hơn, sau đó so sánh phân bố kích thước hạt bụi trong những mẫu này. Họ đã xác định sự khác biệt cơ bản giữa các vùng đất dày và mỏng. Vùng đất mỏng chỉ chứa các hạt bụi mịn nhất bắt nguồn từ những sa mạc xa xôi như Sahara. Trái lại vùng đất dày màu mỡ hơn có bụi hoàng thổ, bắt nguồn từ những cánh đồng cồn cát lớn ở sa mạc Negev gần đó. Lớp đất dày phía đông Địa Trung Hải được hình thành cách đây 200.000 năm khi các sông băng bao phủ những dải đất rộng lớn mài mòn đá móng và tạo ra vô số trầm tích dạng hạt mịn.  “Toàn bộ hành tinh đã từng bụi hơn”, Amit nhận xét. Điều này khiến các đồng cồn cát lớn như ở Negev mọc lên, tạo ra nguồn bụi mới và cuối cùng sẽ tạo thành lớp đất dày ở những nơi như Levant.  TS. Amit đã có câu trả lời: những nơi có lớp đất mỏng chỉ đơn giản là không tiếp nhận đủ hoàng thổ để hình thành lớp đất dày màu mỡ, ngược lại với phía đông nam Địa Trung Hải. “Xói mòn không chiếm vai trò quan trọng ở đây. Điều quan trọng là lớp đất có nhận được luồng bụi thô đến hay không, nếu không, lớp đất đó sẽ mỏng và kém màu mỡ”, bà nhận xét. Những lớp đất dày nhất đã nhận được lượng bụi thô lớn nên chúng được mệnh danh là “vùng đất của sữa và mật ong”.  Câu hỏi tiếp theo bà đặt ra là: liệu có phải điều này luôn diễn ra như vậy? Kết quả khiến Amit ngạc nhiên. Khi nghiên cứu về lớp hoàng thổ trong cấu trúc đất, họ thấy một lượng nhỏ trầm tích hạt mịn. “Những lớp đất rất mỏng đã lắng đọng trước cả hoàng thổ”, bà cho biết. “Đây là một bất ngờ lớn… Cảnh quan trước đó hoàn toàn khác biệt, tôi không chắc rằng con người có chọn nơi này để sinh sống hay không vì nó là môi trường khắc nghiệt, gần như trơ trụi, không có nhiều đất”. Nếu không có sự thay đổi hướng gió và hình thành cánh đồng cồn cát Negev thì con người thuở sơ khai có thể rất khó vượt qua và sinh tồn ở vùng đất “cửa ngõ” này.  Ở Địa Trung Hải hiện đại, quá trình tích tụ bụi đất không còn diễn ra nữa. Nguồn bụi đã bị cắt đứt kể từ khi các sông băng tan chảy trong thế Holocene, bây giờ chúng ta chỉ sử dụng lớp hoàng thổ cũ, Amit giải thích. Kể cả khi có nguồn bụi, cũng phải mất hàng chục ngàn năm để tạo lại lớp đất ở đây. Do đó, người dân cần phải cân bằng giữa việc bảo vệ môi trường với canh tác nông nghiệp, sử dụng đất trồng trọt một cách hợp lý như làm ruộng bậc thang nếu muốn tiếp tục phát triển nông nghiệp.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-ancient-human-civilization.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bùng phát dịch bệnh ở Trung Quốc: Virus có thể lây từ người sang người      Các quan chức Bộ Y tế Trung Quốc đã loan báo một sự gia tăng đột ngột về số lượng bệnh nhân được phát hiện mắc căn bệnh do chủng mới nổi của coronavirus gây ra. Họ đã xác nhận hai trường hợp người lây sang người loại virus này.      Các nhân viên sân bay ở Trung Quốc đều tăng cường biện pháp bảo vệ  Cơ quan y tế Trung Quốc đã loan báo tổng số bệnh nhân mắc chủng mới của coronavirus ở Trung Quốc là 217 người, trong đó có bốn trường hợp ở ngoài đất nước.  Cácquan chức ở thành phố Vũ Hán ở miền trung Trung Quốc mới xác nhận vào đầu tuần là có 198 trường hợp, còn 5 trường hợp mới mắc ở Bắc Kinh, 14 ở Quảng Đông và mọt tại Thượng Hải. Ít nhất có ba người chết vì những biến chứng từ lây nhiễm.  Người lây sang người  Bộ Y tế Trung Quốc đã xác nhận loài virus này có thể được lây lan từ người sang người thông qua tiếp xúc, và cho biết là hai người ở phía nam Quảng Đông đã lây virus này từ những người thân trong gia đình, theo thông tin từ Tân hoa zã. Sự lây lan người sang người có thể khiến virus dễ lây lan nhanh hơn so với việc nó lây từ những nguồn khác.  Tổ chức Y tế thế giới (WHO) kêu gọi một cuộc họp đột xuất để thảo luận về sự lan truyền nhanh chóng của virus, sau khi xác nhận khả năng người lây sang người. Ban chuyên môn mà WHO đã thiết lập để tổ chức phiên họp ở Geneva để quyết định liệu có tuyên bố dịch bệnh này ở tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế hay không.  “Mạng sống và sức khỏe của con người phải được ưu tiên ở mức cao nhất và sự lan truyền dịch bệnh phải được kiềm chế một cách kiên quyết”, truyền hình quốc gia Trung Quốc dẫn lời chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.  Chiến dịch ngăn chặn    Nhật Bản thông báo phát hiện trường hợp đầu tiên mắc bệnh do virus này gây ra  Chính quyền Trung Quốc đã phải tìm cách ngăn chặn dịch bệnh sau khi Thái Lan và Nhật Bản tường thuật về các trường hợp mắc bệnh. Hàn Quốc cũng xác nhận ca đầu tiên vào thứ hai vừa qua. Bệnh nhân này là trường hợp thứ 4 được phát hiện mắc bệnh ngoài Trung Quốc là một người 35 tuổi mang quốc tịch Trung Quốc và tới từ Vũ Hán.   Tại Mỹ, các sân bay ở San Francisco, New York và Los Angeles đã thực iện một số biện pháp để đảm bảo ngăn ngừa dịch bệnh khỏi lan truyền, bao gồm thiết bị sàng lọc nhiệt độ để phát hiện người có thân nhiệt cao quá mức bình thường.  Bắc Kinh đang hi vọng ngăn ngừa sự lặp lại của cơn bùng phát dịch SARS đã gây ra cái chết của hơn 700 người và  lây nhiễm hơn 8.000 người.  Các biện pháp được thực thi   WHO đã nhận diện virus này là một chủng coronavirus mới.  Nhìn chung, coronavirus lan truyền thông qua các tương tác người – người, bao gồm ho, hắt hơi hoặc chạm vào người đã bị lây nhiễm.  WHO nói “một nguồn lây nhiễm từ động vật dường như là nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh coronavirus mới, với một số lây truyền từ người sang người xuất hiện giữa những tiếp xúc gần”.  Cơ quan y tế Liên hợp quốc đề xuất tránh các tiếp xúc không được bảo vệ với động vật nuôi và động vật hoang dã, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/china-outbreak-over-200-cases-of-deadly-virus/a-52064053    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đầu xây dựng máy tính cơ nano      Các nhà nghiên cứu Nhật Bản vừa đặt chân lên những bậc thang đầu tiên để tạo ra một loại máy tính cơ nano mới.      Imran Mahboob và Yamaguchi vừa đề xuất một giải pháp để xây dựng và xử lý các thuật toán logic bằng cách sử dụng hệ vi cơ điện tử. Bộ phận quan trọng nhất của hệ xử lý Parametron là một bộ dao động điện được lắp ráp bởi các cuộn dây, tụ điện và các điện trở mà ở đó tần số cộng hưởng có thể điều khiển từ bên ngoài, gọi là hệ dao động thông số. Nhóm nghiên cứu cũng cho biết rằng vẫn cần phải tiến hành nhiều khảo sát linh kiện làm việc ra sao trước khi nói về vấn đề đưa vào ứng dụng. “Chúng tôi đang có kế hoạch nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của các hệ hai bit, và từ hai bit sẽ tiến lên 8 bit trong ba năm tới” – Yamaguchi cho biết – “Bởi vì đây vẫn còn là các nghiên cứu rất cơ bản nên chúng tôi cần phải đánh giá định lượng ý tưởng hoàn toàn mới này một cách hết sức cẩn thận trước khi phát triển chúng lên các hệ lớn và phức tạp hơn”.   Vạn lý Độc hành (Theo Nanotechweb.org)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước đột phá về nghiên cứu tổn thương nhãn cầu      Chuỗi đề tài nghiên cứu về sử dụng tế bào  gốc vùng rìa giác mạc và niêm mạc miệng điều trị tổn thương bề mặt nhãn  cầu của các nhà khoa học nữ thuộc Bộ môn Mô – phôi, ĐH Y Hà Nội và khoa  Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương đã đem lại cơ hội điều trị đạt tỷ  lệ thành công cao, giá thành thấp cho người bệnh Việt Nam.  &#160;    Với thành  tựu này, vào đầu tháng ba vừa  qua, họ đã được trao giải thưởng  Kovakevkaia 2014 dành cho tập thể  nghiên cứu khoa học xuất sắc.  Vạn sự khởi đầu nan  Ý tưởng chọn hướng nghiên cứu phương pháp dùng tế bào gốc (stem cell) điều trị tổn thương bề mặt nhãn cầu đến với PGS. TS Nguyễn Thị Bình, phó trưởng Bộ môn Mô phôi, Đại học Y Hà Nội, khi nhận được tập tài liệu về phương pháp điều trị này từ PGS. TS Hoàng Minh Châu, trưởng khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương. Nhận thấy những ưu điểm nổi trội của phương pháp này so với các phương pháp hiện hành, PGS Nguyễn Thị Bình đã đề nghị với trưởng bộ môn lúc đó là GS.TS Trịnh Bình tập trung nhân lực nghiên cứu.  Giải thích về hội chứng suy giảm tế bào gốc vùng rìa giác mạc (limbal stem cell deficiency – LSCD), PGS Bình cho biết: “Đây là bệnh lý có thể làm giảm thị lực, thậm chí dẫn đến mù lòa. Nguyên nhân là những tế bào gốc vùng rìa giác mạc, vốn có vai trò tái tạo và chữa lành tổn thương lớp ngoài giác mạc, bị mất do bị bỏng hóa chất, bỏng cơ học, di truyền…, dẫn đến việc hình thành các vết sẹo. Lớp sẹo này theo mô liên kết củng mạc (tròng trắng) bò vào đem theo mô xơ tràn trên giác mạc (tròng đen), làm mất độ trong của giác mạc”.    Vào thời điểm bắt đầu, “trở ngại lớn nhất là lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam”, PGS Nguyễn Thị Bình nhớ lại. “Chúng tôi chỉ còn cách liên tục cập nhật thông tin, cố gắng tìm đọc thêm nhiều tài liệu quốc tế về hội chứng suy giảm tế bào gốc vùng rìa trên các tạp chí chuyên ngành”. Không chỉ có vậy, nhóm nghiên cứu còn vấp phải khó khăn về nhân sự. “Chúng tôi chỉ có tám người, trong đó có hai kỹ thuật viên, một y công. Tất cả mới chỉ có kiến thức ban đầu về nuôi cấy phôi, thao tác trên kính…”, PGS Bình chia sẻ. Do thiếu kinh nghiệm nên khi nhóm bắt tay vào thực tế “đã mắc nhiều sai lầm hết sức… ngớ ngẩn, thậm chí có lúc phải đổ cả mẻ nuôi cấy vì lỗi một công đoạn. Mọi vấn đề đều ‘vỡ’ ra từ thực tế như thế”.          Giữa những khó khăn này, nhóm đã nhận được hỗ trợ từ Bộ Y tế khi được giao đảm trách đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu nuôi cấy tế bào rìa giác mạc và ứng dụng trong điều trị một số tổn thương giác mạc”. PGS Bình đã mời thêm các đồng nghiệp Khoa Kết giác mạc cùng tham gia. Với liên kết này, một vòng tròn khám và điều trị đã được thiết lập: bệnh nhân sẽ được khám, trích mô của chính mình ở Khoa Kết giác mạc và chuyển mô sang phòng thí nghiệm Bộ môn Mô phôi nuôi cấy để sau đó ghép trở lại cho bệnh nhân.  Kinh phí được cấp theo đề tài cấp Bộ còn ở mức khiêm tốn, chừng 370 triệu đồng, nhưng là khích lệ lớn với nhóm nghiên cứu. Bằng khoản kinh phí này, họ có thể mua sắm thêm trang thiết bị và tiến hành nuôi, theo dõi hàng chục con thỏ thí nghiệm. Khi thỏ bị gây bỏng kiềm mắt và tạo sẹo giác mạc, các nhà nghiên cứu tiến hành gây mê, lấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc mắt lành ra nuôi cấy thành tấm biểu mô. “Việc gây mê thỏ cũng không phải đơn giản vì chưa xác định được chính xác lượng thuốc cần dùng. Nếu dùng quá liều, thỏ dễ bị ngừng tim, còn chưa đủ thỏ sẽ tỉnh sớm, giãy giụa làm rách tấm biểu mô, như vậy mọi cố gắng đều thành công cốc”, PGS Bình kể.  Việc nuôi cấy tế bào không phải đơn giản bởi dù được nuôi trong lồng nuôi cấy với đầy đủ yếu tố tăng trưởng nhưng nhiều lúc tế bào vẫn không mọc. Mỗi lần như vậy, cả nhóm cùng ngồi lại họp rút kinh nghiệm, không chỉ để lần sau làm tốt hơn mà còn “do hầu hết dụng cụ, hóa chất đều phải nhập ngoại, giá mỗi lồng nuôi cấy đều hơn một trăm nghìn, dùng một lần là vất đi, hóa chất tăng trưởng thì hàng chục triệu một tube chừng 20 microliter. Xót xa vô cùng!”, PGS Bình giải thích.  Sau bốn năm miệt mài, nhóm cũng đã thành công vào năm 2007, khi nuôi cấy thành công tấm biểu mô vùng rìa giác mạc mắt lành của thỏ và ghép vào mắt hỏng đạt kết quả tốt. Việc sinh thiết mảnh mô vùng rìa được tiến hành trên bệnh nhân bị bỏng vôi tại bệnh viện Mắt Trung ương rồi chuyển tới phòng thí nghiệm Bộ môn Mô – phôi. 14 ngày nuôi cấy trong ống nghiệm, tấm biểu mô phát triển tốt để có thể ghép tự thân cho bệnh nhân vào tháng 1/2008. Cả nhóm vỡ òa trong vui sướng khi sau ba tháng theo dõi, tấm biểu mô phẳng, áp vào giác mạc tốt, không tăng sinh xơ, bệnh nhân cải thiện thị lực.  Chuẩn hóa phương pháp nuôi tạo tấm biểu mô tế bào gốc niêm mạc miệng  Trong quá trình thực hiện đề tài nhánh thuộc đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu qui trình công nghệ tạo tấm biểu mô giác mạc người để điều trị tổn thương bề mặt giác mạc do bỏng”, năm bệnh nhân bị tổn thương một mắt được ứng dụng điều trị tế bào gốc mảnh mô vùng rìa giác mạc từ mắt lành. Sau phẫu thuật ghép mảnh, các bệnh nhân bình phục nhanh và sau từ sáu đến tám tháng, mắt đã ổn định và cải thiện thị lực.   Tự tin với năng lực nghiên cứu, nhóm đã gửi hồ sơ “đấu thầu” tới Bộ KH&CN và được giao thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu quy trình sử dụng tế bào gốc để điều trị một số bệnh của bề mặt nhãn cầu”. Với kinh phí gần bốn tỷ đồng, nhóm đã có khả năng mua sắm thêm trang thiết bị hiện đại, cử thành viên xuất sắc đi học hỏi nâng cao trình độ tại Trung tâm giải phẫu giác mạc Cornea Center thuộc bệnh viện Dental College Ichikawa General Hospital, Chiba, Nhật Bản. Trải qua mày mò nhiều thử nghiệm, nhóm đã nghiên cứu ra một phương pháp hoàn toàn mới và tự đặt tên là “Phương pháp nuôi tạo tấm biểu mô bằng mảnh biểu mô niêm mạc miệng”. Trong phương pháp này, lớp tế bào nuôi 3T3 của chuột được thay bằng những tế bào tương tự của chính bệnh nhân, qua đó tránh hiện tượng nhiễm protein của chuột. Khi đưa sang Cornea Center kiểm tra, các chuyên gia Nhật Bản cũng phải khen ngợi về độ trong, phẳng, nhẵn bóng của tấm biểu mô.   Tối ưu hóa toàn bộ quy trình thực hiện phương pháp nuôi tạo và ghép tự thân tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng đạt tỷ lệ thành công 65 đến 70%, nhóm đã quyết định đăng ký quyền sở hữu trí tuệ với Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN và hiện đã hoàn thành thủ tục giấy tờ để chờ cấp phép. Ưu điểm của quy trình này là không phải dùng máy móc đắt tiền, thời gian thực hiện ngắn và không phải sử dụng nguyên liệu từ động vật. Nhờ vậy, một ca điều trị bằng phương pháp tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng chỉ mất từ khoảng 10 đến 15 triệu đồng, trong khi ở Nhật Bản lên tới 5.000 USD.   Khi được hỏi về bí quyết dẫn nhóm đến thành công, PGS Bình trả lời ngắn gọn, quan trọng là biết cách “giữ lửa trong mỗi thành viên và tạo điều kiện cho mỗi người phát huy đúng khả năng của mình”. Nói thì đơn giản nhưng để duy trì được niềm say mê gắn bó của ngần ấy con người trong suốt 10 năm trời không phải dễ. PGS Bình và PGS Châu thấy bản thân mình phải có trách nhiệm hơn với công việc cũng như sát sao với tâm tư tình cảm của từng thành viên trong nhóm, “tôi vẫn tranh thủ trò chuyện với các em để giải đáp kịp thời thắc mắc, băn khoăn”.   Niềm say mê nghiên cứu khoa học đã được duy trì suốt những năm tháng theo đuổi hướng nghiên cứu, có những ngày tới tám giờ tối nhóm mới rời phòng thí nghiệm về nhà. Vào dịp lễ tết, các thành viên đều được phân công trực phòng, đảm bảo việc theo dõi hằng ngày thỏ thí nghiệm. “Bệnh nhân giai đoạn hậu phẫu có người nhà chăm sóc, còn thỏ thì phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật viên… Vì vậy thành công của phương pháp mới này có sự đóng góp không nhỏ của các em”, TS Thu Thủy, một thành viên cho biết.                 Phương pháp nuôi tạo và ghép tự thân tế bào gốc mảnh mô vùng rìa giác mạc và phương pháp nuôi tạo và ghép tự thân tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng giúp bệnh nhân tăng thị lực một đến hai dòng so với trước cấy ghép. Đặc biệt phương pháp thứ hai không phải dùng máy móc đắt tiền, quá trình thực hiện ngắn ngày và không phải sử dụng nguyên liệu từ động vật. Một ca điều trị sử dụng phương pháp tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng chỉ mất từ khoảng 10 đến 15 triệu đồng, trong khi ở Nhật Bản phương pháp tế bào gốc lên tới 5.000 USD.            Để duy trì lực lượng và nâng cao năng lực nghiên cứu, PGS Bình đã thiết lập kế hoạch đào tạo, trao cho các thành viên xuất sắc thực hiện những đề tài nhỏ, như TS chuyên ngành mắt Vũ Tuệ Khanh đề tài “Ghép tấm biểu mô vùng rìa”, TS chuyên ngành mắt Nguyễn Thu Thủy “Ghép tấm biểu mô niêm mạc miệng”, TS ngành mô phôi Đào Thúy Phượng “Nuôi tấm biểu mô niêm mạc miệng”… Ngoài ra, nhóm cũng  có thêm một Ths, hai bác sỹ nội trú ngành mô phôi. PGS Bình tự hào: “Chúng tôi đã có một đội ngũ tinh nhuệ, tâm huyết đảm trách được nhiều công đoạn như khám lâm sàng, nuôi cấy tế bào, phẫu thuật ghép… nên không sợ bị ‘thủng’ lực lượng.”  Hiện tại, nhóm nghiên cứu đã bước vào một hướng đi mới, nghiên cứu quy trình tế bào gốc để điều trị bệnh Parkinson, một đề tài cấp Nhà nước có tổng kinh phí sáu tỷ đồng. “Chúng tôi đã bước vào giai đoạn nghiên cứu đầu tiên trên thỏ. Hy vọng sẽ tìm ra được phương pháp tốt góp phần chữa trị căn bệnh này”, PGS Bình tiết lộ.  Box:   Phương pháp nuôi tạo và ghép tự thân tế bào gốc mảnh mô vùng rìa giác mạc và phương pháp nuôi tạo và ghép tự thân tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng giúp bệnh nhân tăng thị lực một đến hai dòng so với trước cấy ghép. Đặc biệt phương pháp thứ hai không phải dùng máy móc đắt tiền, quá trình thực hiện ngắn ngày và không phải sử dụng nguyên liệu từ động vật. Một ca điều trị sử dụng phương pháp tế bào gốc biểu mô niêm mạc miệng chỉ mất từ khoảng 10 đến 15 triệu đồng, trong khi ở Nhật Bản phương pháp tế bào gốc lên tới 5.000 USD.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước khởi đầu sản xuất vaccine Sputnik V của Việt Nam      Từ tham gia đóng ống, đóng gói cho Sputnik V, Vabiotech có thể sẽ trở thành trường hợp đầu tiên tại Việt Nam nhận chuyển giao công nghệ để gia công, sản xuất một vaccine COVID-19 cho khu vực và thế giới, mặc dù, đó sẽ không phải là một chặng đường dễ dàng.      Sputnik V sản xuất tại một nhà máy gần St Petersburg, Nga. Hiện nay Sputnik V có 5 nhà máy sản xuất ở Nga nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Ảnh: Olga Maltseva/AFP via Getty Images.  Vào tháng 3/2021, Việt Nam đã phê duyệt vaccine Sputnik V của Nga sau khi nước này tặng Việt Nam 1.000 liều nhân chuyến làm việc của Thư ký Hội đồng An ninh Liên bang Nga Nikolai Patrushev. Đây là vaccine Covid-19 thứ hai được cấp phép khẩn cấp ở Việt Nam sau vaccine Oxford/Astrazeneca. Kể từ đó, Sputnik V là một trong số những vaccine mà Việt Nam nỗ lực đàm phán để mua nhằm phục vụ mục tiêu miễn dịch cộng đồng.    Trong thời điểm vaccine COVID-19 khan hiếm, Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm tất cả các nguồn vaccine có thể để đạt miễn dịch cộng đồng càng nhanh càng tốt. Trong đó, Sputnik V cũng là một loại vaccine đáng lưu tâm, nhất là khi nó đã được tiêm trên cả chục triệu người và kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của Sputnik V đăng trên tạp chí Lancet cho thấy hiệu quả bảo vệ hơn 90%.       Rất may là đến đầu tháng sáu, qua trao đổi với Quỹ đầu tư trực tiếp Liên bang Nga (RDFI) – nơi “rót vốn” nghiên cứu và sản xuất Sputnik V, họ đã đồng ý bán cho Việt Nam 20 triệu liều vaccine này. Đến đầu tháng bảy, Chính phủ Việt Nam còn giới thiệu để tập đoàn bất động sản T&T tự đàm phán mua thêm 40 triệu liều.    20 triệu liều chính phủ đặt bao giờ sẽ về tới Việt Nam? Liệu T&T đàm phán có thành công? Và về theo bao nhiêu đợt? – là những câu hỏi chưa có câu trả lời chắc chắn. Tính đến đầu tháng bảy năm nay, đã có 67 quốc gia phê duyệt khẩn cấp vaccine Sputnik V. Nga đã hứa bán cho những nước này khoảng gần 900 triệu liều, nhưng số lượng vaccine gửi đi không đáng kể. Guatemala đã trả trước Nga 80 triệu USD để mua 8 triệu liều, nhưng tính đến cuối tháng sáu vừa qua, nước này mới chỉ nhận được 150.000 liều và đang yêu cầu phía Nga trả lại tiền1. Ngoài Guatemala, Argentina, Mexico, Philippines cũng than phiền về tình trạng vaccine Sputnik V chậm trễ tương tự. Nhu cầu vaccine trong nước của Nga cũng bất ngờ “đổi chiều”, sự e ngại vaccine của người dân ban đầu giờ đã nhường chỗ cho tình trạng cung không đáp ứng nổi cầu. Do sự nổi lên của biến chủng Delta, số người mắc và các ca tử vong vì COVID-19 tăng vọt ở nước này, người dân phải “chạy vội” đi tiêm.     Giải quyết một điểm nghẽn của sản xuất vaccine Sputnik V     Hãy đừng vội bi quan. Việt Nam cũng tham gia sản xuất vaccine Sputnik V, cụ thể là ở công đoạn gia công đóng ống, đóng gói. Anh Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Vabiotech, công ty chịu trách nhiệm khâu này ở Việt Nam, cho biết đó là cơ sở để “tăng phía chủ động của mình trong việc đàm phán với đối tác.”, giữ lại số liều sản xuất được tối đa trong nước.    Ai đó sẽ nghi ngờ, cho rằng Việt Nam làm gì có nhiều tự tin đến vậy: gia công đóng ống, đóng gói không phải là công đoạn đòi hỏi công nghệ gì “ghê gớm”, và quyền quyết định phân bố vaccine sản xuất  tại Việt Nam đến nước nào hoàn toàn nằm ở phía Nga. Điều đó có lẽ đúng trong điều kiện bình thường, nhưng đặt trong bối cảnh đại dịch, Vabiotech thực sự đã giải quyết một điểm nghẽn trong sản xuất vaccine, thậm chí là một điểm nghẽn quan trọng đối với riêng vaccine của Nga.    Khi nguyên liệu được chuyển về Việt Nam, vaccine Sputnik V chỉ là một công thức bao gồm các hoạt chất (Active pharmaceutical ingredient – API) được đóng gói trong các túi silicon lớn vài lít. Chỉ sau bước đóng ống, đóng gói, các API mới được bơm vào các lọ thủy tinh, đóng nắp, dán nhãn theo các yêu cầu của nhà sản xuất, trở thành vaccine hoàn chỉnh. Riêng với vaccine của Sputnik V, thành phẩm sẽ được bảo quản ở nhiệt độ đông băng -200C và trải qua một số bước kiểm định để đánh giá chất lượng sơ bộ. Nếu đạt, lô vaccine sẽ được chuyển vào kho, chờ được chuyển đi phân phối và sử dụng.  Khi cả thế giới đang trong cuộc chạy đua sản xuất vaccine và trong chiến dịch tiêm chủng thần tốc, nhu cầu vaccine tăng vọt, các chính phủ đòi hỏi các công ty làm vaccine phải tăng năng suất càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, việc mở rộng và nâng cấp nhà xưởng không thể triển khai trong một thời gian ngắn, bao gồm cả thệ thống đóng ống đóng gói. Với Nga, họ còn khó tiếp cận nguồn nguyên liệu như lọ thủy tinh, nút với số lượng lớn và ổn định do chịu một số cấm vận. Đóng ống, đóng gói, quy trình cuối cùng của sản xuất vaccine, còn gắn liền với việc bảo quản và vận chuyển phức tạp phía sau. Trong khi điều kiện bảo quản và vận chuyển API đơn giản thì vaccine thành phẩm lại đòi hỏi quy trình ngặt nghèo hơn do nó chính là sản phẩm cuối cùng tới tay người sử dụng.    Thời điểm này, bất kì các nhà sản xuất vaccine nào cũng kì vọng có thể tìm một đối tác đủ điều kiện để gia công một hoặc toàn bộ khâu sản xuất để gánh đỡ các đơn hàng đang liên tục bị trễ hẹn. Hãng dược Sanofi cũng phải giúp hai kình địch của mình là Moderna và Pfizer trong công đoạn đóng ống và đóng gói tại châu Âu. “Họ [nhà sản xuất vaccine] có khách hàng ở khu vực nào thì nên đặt một nhà máy đóng ống đóng gói ở đó là chủ động nhất” – Anh Đạt cho biết. Vabiotech trong trường hợp này có thể giúp Sputnik V trong việc phân phối vaccine ở Đông Nam Á.    Trong một báo cáo của WHO về các nhà sản xuất vaccine tại Việt Nam vào năm 2016, Vabiotech được nhận định là nhà sản xuất và cung cấp vaccine lớn nhất trong Chương trình tiêm chủng mở rộng của Việt Nam. Họ sản xuất bốn loại vaccine đạt tiêu chuẩn GMP bao gồm vaccine viêm gan B, viêm gan A, viêm não Nhật Bản và vaccine tả uống với tổng công suất khoảng 40 triệu liều/năm. Tuy nhiên, các vaccine này đều được bảo quản ở nhiệt độ 2-80C. Để chuẩn bị cho sự hợp tác với phía Nga, Vabiotech đã bổ sung máy móc bảo quản ở nhiệt độ -200C. (Khi ở nhiệt độ này, Sputnik V có thể bảo quản trong thời hạn sáu tháng, khi triển khai tiêm chủng trên diện rộng ở nhiệt độ 2-80C thì “tuổi thọ” của vaccine sẽ giảm xuống còn hai tháng). Vabiotech đặt kế hoạch sẽ đóng ống đóng gói với công suất 5 triệu liều/tháng (tương đương với 1 triệu lọ/tháng). Trong tương lai, họ đang tính tới việc tăng lên gần gấp đôi con số này (100 triệu liều/năm).      Vabiotech nhận ba lô vaccine Sputnik V để gia công đóng ống, đóng gói cuối tháng 6 vừa qua.     Cuối tháng sáu vừa qua, Vabiotech đã nhận được lô bán thành phẩm đầu tiên. Sản phẩm đóng ống mẫu đã được gửi lại phía Nga để đánh giá chất lượng. Sớm nhất là đến cuối tháng bảy phía Nga sẽ phản hồi liệu Vabiotech có đáp ứng đủ yêu cầu tham gia hệ thống đóng ống đóng gói của mình hay không. Nếu được công nhận, Vabiotech mới chính thức trở thành một trong những địa chỉ đóng, ống đóng gói của Sputnik V trên thế giới.     Chặng đường phía trước     Đây là cơ hội để Vabiotech sẽ đặt một chân vào con đường nhận chuyển giao công nghệ để sản xuất vaccine cho thế giới. Trong tương lai, Vabiotech kì vọng có thể được nhận chuyển giao toàn phần, nghĩa là sản xuất Sputnik V từ những hoạt chất ban đầu.    Vaccine Sputnik V được làm theo công nghệ vector virus. Công nghệ này cấy gene của kháng nguyên vào một virus vô hại và tiêm virus được chỉnh sửa gene này vào cơ thể người. Vector virus có thể là công nghệ chuyển giao nhanh nhất cho Việt Nam hiện nay. Lí do là bởi công đoạn sản xuất chính của công nghệ này dựa trên việc nhân – nuôi virus – điều đa số các nhà sản xuất vaccine hiện nay tại Việt Nam vẫn làm khi sản xuất các vaccine bất hoạt và sống giảm độc lực. Chính vì vậy, các nhà máy hiện tại sản xuất vaccine hiện tại vẫn có thể tận dụng được phần lớn quy trình và điều kiện sản xuất sẵn có. Bản thân Vabiotech cũng đang nghiên cứu và phát triển vaccine COVID-19, đã kết thúc giai đoạn tiền lâm sàng dựa trên công nghệ vector virus (nhưng virus vector là baculo virus, một loại virus gây bệnh trên côn trùng). Một cơ sở sản xuất vaccine khác của Việt Nam là IVAC (Nha Trang) cũng sử dụng công nghệ này. Họ chỉ mất hơn ba tháng để cho ra đời vaccine mới đưa vào thử nghiệm lâm sàng, dựa trên công nghệ nuôi virus cúm trên trứng gà của họ (virus vector của họ là virus gây bệnh gà rù Newcastle).    Hiện nay, Sputnik V tuyên bố họ sẽ có 15 cơ sở sản xuất (bao gồm cả đóng ống, đóng gói) trên thế giới để sản xuất 1.4 tỉ liều/năm. Trong đó, Quỹ đầu tư phát triển Nga mới ký hợp đồng với tập đoàn dược phẩm Huons Global, Hàn Quốc vào tháng năm vừa qua và với Viện Huyết thanh Ấn Độ trong tháng bảy này để sản xuất vaccine này từ khâu đầu tiên. Viện Huyết thanh Ấn Độ cũng là nơi sản xuất vaccine Oxford/AstraZeneca. Theo đó, phía Hàn Quốc sẽ sản xuất giúp phía Nga lên đến một tỉ liều/năm còn phía Ấn Độ là 300 triệu liều/năm.    Nhưng không có nhiều nước có thể nhận chuyển giao công nghệ toàn phần gần như ngay lập tức như Hàn Quốc và Ấn Độ. Hai nước này là một trong số ít quốc gia cung cấp các hoạt chất (API) vaccine cho toàn thế giới, bao gồm cả Mỹ và các nước Châu Âu hàng chục năm nay. Chính vì vậy, ngoài kinh nghiệm, chuyên môn và trang thiết bị tương đối cập nhật, họ còn có khả năng cung ứng sản lượng vaccine lớn trong đại dịch. “Thời điểm này, tất cả nhà sản xuất họ cần số lượng lớn, họ không ‘chơi’ với các cơ sở nhỏ lẻ. Họ có rất nhiều bạn hàng, cần hàng. Họ phải thăm dò nhà sản xuất khác xem cơ sở vật chất có đáp ứng tối thiểu năng suất họ cần hay không” – Anh Đạt nói. Quan trọng hơn, do đã có nhiều năm gia công, những nước này dễ lấy được niềm tin của đối tác về mặt đáp ứng các yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng. Một nhà sản xuất không phải lúc nào cũng hào hứng chia sẻ những bí mật công nghệ, kỹ thuật, chuyên môn của mình với những nhà sản xuất khác. Việc Vabiotech đóng ống, đóng gói cho Sputnik V là trường hợp gia công vaccine đầu tiên của Việt Nam cho nước ngoài.    Cho đến đợt dịch COVID-19 lần này, Chính phủ Việt Nam mới bắt đầu thúc đẩy việc tìm kiếm đối tác chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine. Thủ tướng Phạm Minh Chính liên tục yêu cầu Bộ Y tế phải tích cực đẩy mạnh việc này hơn nữa. Quả thật, sản xuất vaccine thông qua chuyển giao công nghệ sẽ ngắn hơn là nghiên cứu và phát triển từ đầu, nhưng không có nghĩa là không cần thời gian và không cần đầu tư rủi ro. Nhà nước sẽ không chỉ cần kết nối mà cũng cần giảm bớt gánh nặng đầu tư cho doanh nghiệp, bởi vaccine có lẽ là một trong những dược phẩm ít có lãi nhất khi mỗi người chỉ dùng một vài liều trong cả cuộc đời.    Có người nói rằng, việc chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine từ một cơ sở sản xuất này sang cơ sở khác cũng giống như nhân rộng một mô hình nhà hàng Michellin ba sao. Nghĩa là rất khó. Cùng một loại nguyên liệu, cùng một công thức nhưng kết quả lại không được như ý. Nắm được những kĩ thuật, bí quyết, hiểu biết của nhà sản xuất khác cần thời gian và có cả những thất bại. Chẳng hạn gần đây, một nhà sản xuất vaccine Johnson & Johnson tại châu Âu (cũng dựa trên công nghệ virus vector và cũng sử dụng vector là virus adeno, gần tương tự như Sputnik V) không tài nào tăng được sản lượng virus như ở Mỹ, dù cùng một điều kiện nuôi cấy2.    Đó còn chưa kể, để tiếp nhận công nghệ từ phía đối tác, các cơ sở sản xuất vaccine cũng sẽ cần nâng cấp, bổ sung máy móc, dây chuyền thiết bị. Cần nhớ rằng trước khi nhận lời gia công cho Sputnik V, Viện Huyết thanh Ấn Độ đã sản xuất vaccine AstraZeneca, và để sản xuất được AstraZeneca, họ đã chuẩn bị cơ sở vật chất từ khi vaccine này vẫn còn đang ở bước thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I3.  Vậy nên để tiếp nhận chuyển giao toàn phần, “năng lực là một phần, nhưng phần quan trọng hơn và khó hơn ở thời điểm này là thiết bị máy móc và nhà xưởng. Có đặt mua thì cũng phải ít nhất sáu tháng mới về đến nơi”. – anh Đạt nói.    Nhưng dù thế nào, nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine COVID-19 vẫn là điều đáng để theo đuổi, ít nhất là để Việt Nam chủ động được vaccine trong nhiều năm tới và sau đó là tham gia cùng với thế giới đối phó với những dịch bệnh mới sẽ nổi lên trong tương lai.□     —  1 https://fortune.com/2021/06/30/russias-sputnik-v-vaccine-delivery-production-guatemala-philippines-mexico-argentina-putin/  2https://www.chemistryworld.com/news/why-manufacturing-covid-vaccines-at-scale-is-hard/4013429.article  3https://www.bloomberg.com/features/2020-covid-vaccine-serum-india/           Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Bước mở đầu kỷ nguyên đưa người lên sao Hỏa      Ngày 5/12, Orion đã trở thành tàu vũ trụ có  khả năng chở người được đưa lên độ cao lớn hơn quỹ đạo thấp quanh Trái  đất, rồi an toàn trở về trong vòng 42 năm qua. Đây là chuyến bay thử như  một phần của chuyến bay lên sao Hỏa do NASA tiến hành.     Theo bản tin của www.nasa.gov, hồi 7h05 giờ địa phương (tức 19h05 giờ Hà Nội) ngày 5/12/2014, từ căn cứ không quân Cape Canaveral ở bang Florida, NASA đã phóng thành công tàu vũ trụ Orion lên không gian. Đây là loại tàu chở người có thể bay vượt qua quỹ đạo Trái đất thấp (Low Earth Orbit, LEO) để tới Mặt trăng, các tiểu hành tinh và sao Hỏa.  Sau đó, vào 9h10, tầng tên lửa thứ hai đã tái điểm hỏa, đưa Orion tới độ cao cách mặt đất khoảng 5.800 km, tức gấp 15 lần độ cao của Trạm ISS. Khi bay lên rồi bay xuống, con tàu hai lần xuyên qua vùng bức xạ cao trong vành đai Van Allen – vùng nguy hiểm đối với sức khỏe con người. Đây là độ cao lớn nhất mà Orion đạt được; nên nhớ rằng kể từ sau chương trình Apollo, các phi hành gia mới chỉ bay tới độ cao vài trăm km của LEO.  Vào 11h29 cùng ngày, theo đúng kế hoạch, sau quá trình bay kéo dài 4 giờ và 24 phút, trong đó có bay hai vòng quanh Trái đất, Orion đã trở về, dùng ba chiếc dù chính hạ cánh an toàn xuống Thái Bình Dương tại một địa điểm cách bờ biển phía Tây nước Mỹ khoảng 1000 km. Sau đó nó được tàu Hải quân Mỹ thu hồi rồi chở về Trung tâm Vũ trụ Kennedy.  Bản tin của NASA viết: Đây là lần đầu tiên trong 42 năm qua, một tàu vũ trụ có khả năng chở người được đưa lên độ cao lớn hơn quỹ đạo thấp quanh Trái đất, rồi an toàn trở về, thực hiện một chuyến bay thử hoàn hảo như một phần của chuyến bay lên sao Hỏa do NASA tiến hành.   “Tôi nghĩ rằng đây là một ngày quan trọng với thế giới, với những người am hiểu và yêu thích không gian vũ trụ. Tôi có thể diễn tả đây là sự khởi đầu của kỷ nguyên sao Hỏa”, Tổng Giám đốc NASA Charles Bolden nói sau khi Orion được phóng thành công nhưng chưa trở về.  Hãng AP bình luận: kể từ dự án Apollo tới nay, đây là lần đầu tiên NASA phóng tàu vũ trụ có thể chở người để bay sâu vào không gian.  Vụ bay thử phí tổn 375 triệu USD này nằm trong kế hoạch đưa người lên thăm dò không gian ngoại tầng sau khi dự án Apollo đưa người lên Mặt trăng kết thúc vào tháng 12/1972. Nó đánh dấu một bước tiến của NASA tới gần mục tiêu một lần nữa có được năng lực thực thi sứ mệnh đưa người lên các thiên thể.   Trong chuyến bay thử này, Orion không chở người. Hiện nay hệ thống bảo đảm sự sống, các thiết bị hiển thị và những thiết bị khác cần dùng cho phi hành gia vẫn còn ở trong giai đoạn nghiên cứu triển khai.   Orion được phóng từ bệ phóng đã dùng để phóng máy bay vũ trụ 37B. Vụ phóng này sử dụng tên lửa Delta IV – loại tên lửa mạnh nhất nước Mỹ hiện nay, do công ty tư nhân ULA (United Launch Alliance) thiết kế chế tạo. NASA hiện đang nghiên cứu triển khai một loại tên lửa mạnh chuyên dùng để phóng Orion.  Con tàu gồm khoang chỉ huy do hãng Lockheed Martin chế tạo, và khoang phục vụ do Airbus Defence and Space chế tạo, Cơ quan vũ trụ Châu Âu (ESA) cung cấp. NASA hy vọng có thể tái sử dụng Orion nhiều lần.   Nhìn bề ngoài, tàu Orion như một tháp nhọn, gồm một khoang hình nón chở người và một khoang phục vụ hình ống, đều chế tạo bằng hợp kim nhôm. Con tàu có đường kính khoảng 5 m, tổng trọng lượng chừng 25 T, chở được 4 người, đủ khả năng làm nhiệm vụ 21 ngày trên vũ trụ. Nếu rút ngắn thời gian làm việc thì sức chở có thể tăng tới 6 người.  Trên tàu có đặt hơn 1.200 bộ truyền cảm nhằm thu thập các số liệu về mặt an toàn của con tàu khi phóng, khi bay, khi trở về bầu khí quyển và hạ cánh. Trong lần thử này đã đo lường kiểm nghiệm trạng thái môi trường của phi hành gia có thể gặp phải trong khoang chở người.  Khi trở về bầu khí quyển, do tốc độ lên đến 32.000 km/h, Orion bị đốt nóng tới 2.200 độ C, vì thế một trong các mục tiêu chính của lần phóng này là thử nghiệm khả năng cách nhiệt của vỏ tàu. Một thử thách nữa là liệu 11 chiếc dù trên tàu có thể giảm vận tốc rơi của nó xuống mức 32 km/h hay không – đây là vận tốc bảo đảm con tàu nhẹ nhàng rơi xuống biển.  Ngoài ra còn thử nghiệm hệ thống thoát hiểm cho phi hành gia và phân tích dữ liệu do các bộ truyền cảm thu được trong quá trình bay, kể cả phản ứng đối với môi trường bức xạ mạnh, qua đó dự kiến được những vấn đề phi hành gia có thể gặp phải.  Tàu vũ trụ Orion có mấy điểm độc đáo như sau:  1- Không gian sống bên trong tàu là 8,9 mét khối, tương đương gấp đôi không gian toa ngủ kéo theo ô tô; 2- Nhiệt độ Orion phải chịu khi đi vào bầu khí quyển cao hơn nhiệt độ dung nham núi lửa nhưng thấp hơn nhiệt độ bề mặt Mặt Trời; 3- Vận tốc Orion đi vào bầu khí quyển nhanh tới mức nếu dùng vận tốc đó để đi từ New York đến Tokyo chỉ mất 20 phút; 4- Orion có thể bảo vệ phi hành gia không bị tổn thương bởi bức xạ vũ trụ. Lượng bức xạ mà phi hành gia phải chịu trong 3 ngày trên sao Hỏa thì bằng 1 năm trên Trái đất; 5- Chỗ nằm, ngồi trên Orion được thiết kế để chở phi hành gia có chiều cao từ 1,47 đến 2 mét; 6- Hệ thống bảo đảm sự sống trên Orion phải bảo đảm phi hành gia không phải trải qua những nỗi khổ do chuyến bay dài ngày gây ra như mờ mắt, mỏi gân cốt, loãng xương.   Theo kế hoạch của NASA, tới năm 2015 Orion sẽ được chính thức đưa vào sử dụng, năm 2021 đưa phi hành gia lên Trạm ISS, trước hoặc sau năm 2030 đưa người lên thăm dò sao Hỏa và các tiểu hành tinh. Chuyến bay thử Orion đầu tiên lẽ ra tiến hành vào năm 2017, khi NASA hoàn tất hệ thống tên lửa mạnh của mình, nhưng rốt cuộc họ thực hiện sớm vào năm nay với hy vọng có được các dữ liệu về sự trở về Trái đất và cách thu hồi con tàu, nhằm hoàn thiện thiết kế.  Tiến sĩ Robert Zubrin Tổng Giám đốc công ty Pioneer Astronautics, Chủ tịch Hội Sao Hỏa (Mỹ) nói: Việc thực thi dự án Orion phản ánh sự bất đồng sâu sắc về đường lối thám hiểm vũ trụ xa giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa cũng như nội bộ ngành du hành vũ trụ Mỹ. Hiện nay một số nghị sĩ Cộng hòa đang tìm cách phục hồi dự án đưa người trở lại Mặt trăng, vì vậy không loại trừ khả năng nếu chính phủ đảng Dân chủ bị hạ bệ trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2016 thì chính phủ mới sẽ lật đổ dự án thăm dò sao Hỏa của Tổng thống Obama.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước ngoặt tìm thuốc chữa Alzheimer, Parkinson, CJK?      Alzheimer, Parkinson và các bệnh Prion1 đều  có một điểm chung: các protein bị khuyết tật tập trung trong tế bào thần  kinh, Neuron bị chết. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã có một loại thuốc  bảo vệ về lâu dài tế bào thần kinh ở chuột. Tuy nhiên những con chuột  được điều trị bằng loại thuốc này phải trả giá do những phản ứng phụ của  thuốc.     Xin nói ngay: Giovanna Mallucci và các cộng sự chưa tìm ra loại thuốc để điều trị bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson hay bệnh bò điên BSE và bệnh tương tự Creutzfeldt-Jakob (CJK). Tuy nhiên các nhà khoa học Anh đã tìm ra chìa khóa để từ đó, sau nhiều năm tiếp tục nghiên cứu với kết quả tích cực, sẽ có thể tìm ra loại thuốc điều trị những căn bệnh này.   Nhà nghiên cứu Giovanna Mallucci thuộc ĐH Leicester (Anh) và các đồng nghiệp đã công bố trên tạp chí chuyên đề “Science Translational Medicine”, về việc điều trị cái gọi là bệnh Prion ở chuột. Loại chất hữu hiệu được sử dụng đã bảo vệ tế bào não của chuột giúp chúng thoát chết, các triệu chứng bệnh không xuất hiện hoặc nếu có thì mất dần. Tuy nhiên cách điều trị này gây ra một số phản ứng phụ: lượng đường huyết ở chuột tăng nhẹ, và những con chuột đều bị giảm thể trọng tới 20%.   Loại chất hữu hiệu được sử dụng nói trên mang tên GSK2606416 là do tập đoàn dược phẩm GlaxoSmithKline (GSK) phát triển, và giữ bản quyền với sự tài trợ của Medical Research Council, Anh.  Dùng thuốc mỗi ngày hai lần   Các nhà nghiên cứu đã điều trị cho một nhóm chuột non sau khi chúng bị nhiễm bệnh Prion bảy tuần. Vào thời điểm đó, bệnh đã phát tán trong não của chuột, tuy nhiên lúc này chuột chưa thể hiện các triệu chứng bệnh. Một nhóm chuột khác được điều trị muộn hơn, tức chín tuần sau khi nhiễm bệnh và chuột đã có những biểu hiện như rối loại trí nhớ và rối loạn hành vi. Chuột uống thuốc hai lần trong ngày.  Mọi con chuột được uống thuốc 12 tuần sau khi nhiễm bệnh về cơ bản đều không còn các biểu hiện bệnh – chỉ có những vấn đề về trí nhớ thì không thể chữa khỏi. Loại thuốc được sử dụng đã tái khởi động sự sản xuất protein, điều này có ý nghĩa sống còn đối với chuột. Tất cả chuột ở nhóm đối chứng, tức không dùng thuốc, đều bị bệnh nặng.   Tuy nhiên các nhà nghiên cứu không được tiếp tục thử nghiệm vì mọi con chuột đang điều trị cho đến thời điểm đó đều bị giảm thể trọng khoảng 20%. Theo quy chế về thí nghiệm ở động vật, khi thể trọng giảm ở mức độ đó thì con vật buộc phải thủ tiêu để tránh không làm chúng đau đớn. “Tuy giảm thể trọng nhưng các con chuột vẫn còn hoạt động và khá nhanh nhẹn”, theo ghi chép của các nhà nghiên cứu. Một số con chuột già, trên sáu tháng tuổi và được điều trị bằng loại thuốc này bẩy tuần liền thì không bị sụt cân.  Không phải chỉ Prion gây bệnh CJK, mà cả các bệnh Alzheimer và Parkinson đều do tích tụ protein bị tổn hại chức năng nên các nhà khoa học hy vọng, loại chất hữu hiệu này cũng có thể dùng để điều trị hai căn bệnh trên. Tuy nhiên họ cũng viết, cần tiếp tục phát triển việc điều trị trước khi ứng dụng vào việc chữa bệnh cho con người. Vả lại người bệnh phải dùng thuốc trong một thời gian dài, có khi tới hàng chục năm trời.   Một vấn đề liên quan đến mục đích điều trị, đó là enzym Perk – loại emzym là trung gian dẫn đến việc ngưng sản xuất protein và nó không chỉ có ở các neuron, mà ở khắp nơi trong cơ thể. Vì thế chất hữu hiệu này không chỉ có tác dụng ở trong bộ não, mà cả ở trong tuyến tụy, qua đó có thể gây rối loạn trong việc điều tiết đường máu. Những người bị tổn thương enzym Perk thì bị cái gọi là hội chứng Wolcott-Rallision: trước khi chào đời đã bị bệnh tiểu đường, chức năng gan và sự phát triển của cơ thể đều bị tổn thương.   Báo cáo về công trình nghiên cứu này được nhiều nhà nghiên cứu không tham gia công trình hoan nghênh nhiệt liệt, nhưng cũng có không ít nhà khoa học tỏ ra dè dặt. “Tôi đoán rằng công trình nghiên cứu này là một bước ngoặt trong việc tìm kiếm thuốc chữa bệnh Alzheimer”, phát biểu của Roger Morris thuộc King’s College London trước báo giới Anh. Đồng thời ông lưu ý, đây là một công trình nghiên cứu đối với chuột về tác động đối với bệnh Prion chứ không phải bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu khác như Eric Karran thuộc tổ chức Alzheimer’s Research của Anh, thì lạc quan có mức độ: “Điều ổn đối với động vật không phải lúc nào cũng ổn đối với con người.” Cuối cùng cần phải chờ xem liệu thuốc có an toàn và có hiệu nghiệm đối với con người hay không.  Xuân Hoài dịch   1 Prion là phân tử protein và không chứa một loại axit nucleic nào hoặc nếu có thì cũng quá ngắn để mã hóa bất kì một prôtêin nào mà prion có. Trong cơ thể bình thường có thể có sẵn prion nhưng chúng không gây bệnh. Trong một điều kiện nào đó prion có thể thay đổi cấu trúc và gây bệnh. Prion gây nhiều bệnh nguy hiểm ở động vật và người, gây thoái hóa hệ thần kinh trung ương và giảm sút trí tuệ như bệnh bò điên, bệnh kuru ở người.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước thử nghiệm cho “Hệ tri thức Việt số hóa”      Không đơn giản là việc số hóa các văn bản khoa học sẵn có, việc xây dựng đề án “Phát triển hệ tri thức  Việt số hóa” còn liên quan đến rất nhiều vấn đề chuyên môn hết sức phức tạp của ngành Công nghệ thông tin, đặc biệt là lĩnh vực Khoa học máy tính. Vì vậy, trước khi xây dựng kho dữ liệu tri thức ở nhiều lĩnh vực cho đề án này, một đề tài mang tính thử nghiệm đã được bắt đầu tiến hành ở Viện Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội), “Phát triển dịch vụ hỏi đáp về văn hóa Việt Nam và tri thức KHCN dựa trên bộ tích lũy – khởi tạo tri thức phục vụ cho các trợ lý ảo trong đề án ‘Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa’” do TS. Lê Quang Minh làm chủ nhiệm.        Kho dữ liệu tri thức đặt tại hệ thống máy chủ của Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: ĐHQGHN.  Hai lĩnh vực khoa học đề tài lựa chọn là văn hóa, ngôn ngữ dân tộcViệt Nam và địa chất, tài nguyên môi trường, “những lĩnh vực mà Đại học Quốc gia Hà Nội đã sẵn có sách chuyên khảo giống như bách khoa thư trong lĩnh vực này, có thể trước đây chỉ có những nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực mới biết hoặc mới quan tâm đến nó.” TS. Lê Quang Minh giải thích. Tuy nhiên để đưa các văn bản thành dữ liệu phù hợp với việc tra cứu theo kiểu dịch vụ hỏi đáp, sẽ phải “cô đọng và sắp xếp lại kiến thức theo từng đơn vị thông tin, theo từng câu hỏi và thiết lập cây tri thức cho từng lĩnh vực”, TS. Lê Quang Minh khái quát về công việc mà nhóm bắt đầu thực hiện.  Dự kiến, vào đầu năm 2018 khi tổ chức lễ công bố đề án “Phát triển hệ tri thức Việt số hóa” thì đề tài đã hoàn thành được ít nhất 1.000 đề mục, tương ứng ít nhất 4.000 đơn vị thông tin và một cộng đồng sử dụng dịch vụ hỏi đáp gồm khoảng 1.200 đến 1500 sinh viên, trong đó có khoảng 300 đến 500 sinh viên đăng ký đóng góp tri thức bằng các hoạt động tích lũy, xử lý, Việt hóa tri thức cùng nhóm chuyên gia thường trực giải đáp trực tuyến và chuẩn hóa tri thức đã tích lũy.  Phong phú như Wikipedia và tiện lợi như Google  Một trong những mơ ước tưởng chừng viển vông của những người làm đề tài là tạo ra được một kho dữ liệu tri thức “phong phú như Wikipedia và tiện lợi như Google”, nghĩa là không chỉ đầy đủ về nội dung mà còn thuận tiện để người dùng có thể tìm kiếm, khai thác thông tin một cách nhanh nhất theo đơn vị thời gian được tính bằng giây, dù bằng phương thức đặt câu hỏi dưới dạng văn bản hay tiếng nói qua ứng dụng trợ lý ảo (chatbot – phần mềm để người sử dụng có thể giao tiếp với máy). Đúng là có vẻ viển vông bởi họ chỉ là những nhà nghiên cứu bình thường và kinh phí đầu tư cho đề tài cũng chỉ ở mức khiêm tốn, trong khi trang web chuyên cung cấp thông tin theo kiểu bách khoa toàn thư mở như Wikipedia tập hợp được một đội ngũ những tình nguyện viên trên khắp thế giới, tích lũy được một lượng thông tin khổng lồ về nhiều lĩnh vực của khoa học, đời sống, xã hội, nghệ thuật… qua quá trình hoạt động từ năm 2000 (trang tiếng Việt có từ quãng năm 2002-2003); Google là một công ty công nghệ toàn cầu chuyên về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến internet, tập hợp những chuyên gia hàng đầu thế giới về điện toán đám mây, học máy, trí tuệ nhân tạo, big data…  TS. Lê Quang Minh chia sẻ, “khi bắt tay vào xây dựng đề tài, chúng tôi cũng đã hình dung sẽ có người đặt câu hỏi: hệ thống này có gì khác biệt với Wikipedia? Nếu không hơn thì làm [để] làm gì? Tuy nhiên cứ so đo như thế, chúng ta sẽ còn rất lâu nữa mới có được những kho dữ liệu bằng tiếng Việt, nơi không chỉ tập hợp những tri thức truyền thống mà còn cả những tri thức mới của chính người Việt làm ra và cập nhật cả tri thức quốc tế”.  Kho dữ liệu tri thức được xây dựng trên nền tảng kiến thức đã được chuẩn hóa từ những bộ sách chuyên khảo. “Chúng tôi nghĩ đến việc người ta có thể khai thác được nhiều thông tin thú vị từ kho dữ liệu sau này, ví dụ như chỉ cần gõ hoặc nói vào ứng dụng chatbot được cài trên điện thoại thông minh từ khóa ‘cao nguyên đá Đồng Văn’ hay chỉ đơn giản là ‘Đồng Văn’, lập tức sẽ có ngay hàng loạt gợi ý về nội dung liên quan như đặc điểm địa lý, lịch sử hình thành, nguồn tài nguyên bản địa, những sản vật bản địa, những cây thuốc bản địa… Nếu chọn một trong số những gợi ý này, người truy cập có thể nhận được những thông tin sâu hơn, ví dụ như danh sách những cây thuốc quý chỉ có tại Đồng Văn, nó được dùng để chữa trị những bệnh gì, cách thức sử dụng ra sao, có thể mua những dược liệu đó được ở đâu… Đấy, mục tiêu lâu dài của chúng tôi là thế”, TS. Lê Quang Minh cho biết.    Quá trình hình thành, đóng góp tri thức trong hệ thống.  Dĩ nhiên, ban đầu kho dữ liệu này sẽ mới chỉ có những nội dung cơ bản được rút trích từ sách, từ các nguồn tài liệu tham khảo mà nhóm chủ trì khai thác được. Theo thời gian, dữ liệu sẽ phong phú hơn qua sự bồi đắp, chung tay của cộng đồng cũng như việc tự cập nhật thông tin từ nhiều trang web khác. Đây cũng là quy luật phát triển mà giới công nghệ thông tin rút ra từ quá trình hoạt động của nhiều hệ thống dữ liệu lớn trên thế giới như Google, Wikipedia, Baidu, Bing, Yandex…, ví dụ sau 16 năm tích lũy, hiện Wikipedia có tới 4,3 triệu bài viết ở phiên bản tiếng Anh, hơn 1,1 triệu bài viết tiếng Việt 1. Trong tương lai, việc có được kho dữ liệu lớn không chỉ là tập hợp lại những kiến thức đã có và làm phong phú thêm hiểu biết của cộng đồng người Việt mà thậm chí còn đem lại cơ hội phát triển các ứng dụng công nghệ thông minh hữu ích cho xã hội.  Hình thành cây tri thức  Để đạt được những mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã hình dung ra khối lượng công việc sẽ phải hoàn thành, bao gồm việc xây dựng cơ sở tri thức về tài nguyên môi trường và văn hóa, ngôn ngữ dân tộc  Việt Nam; giao diện hỏi đáp tự động với sự hỗ trợ online của các chuyên gia; cơ sở dữ liệu cho hai lĩnh vực trên giao diện đóng góp dữ liệu cho những người tình nguyện. Tất cả công việc được gói gọn trong vòng một năm, từ tháng 9/2017 đến tháng 8/2018.    Vậy cái khó nhất mà các nhà nghiên cứu sẽ gặp phải là gì, có phải là thời gian? “Thời gian cũng là một vấn đề với chúng tôi, ví dụ trong ngần ấy thời gian phải nhập thành công 1.250 đơn vị tri thức, tính ra khoảng 4.000 đến 5.000 từ mục ở hai lĩnh vực. Muốn giải quyết được vấn đề, mọi thứ cần được chuẩn hóa từ khâu đầu vào”, TS. Lê Quang Minh cho biết. Chuẩn hóa ở đây nghĩa là cần tuân theo các tiêu chuẩn nhất định, bởi nhập dữ liệu không phải là “khuân vác” nội dung có trong sách chuyên khảo về, dữ liệu ấy cần được chọn lọc, hiệu đính, sắp xếp thứ tự theo chủ đề, mục từ, khái niệm… và tách thành các đơn vị thông tin (information units) dài từ 5 đến 10 dòng, mỗi đơn vị này sẽ tương ứng với một câu hỏi hoặc từ khóa – yếu tố cần thiết để sau này, người dùng có thể tìm kiếm thông tin một cách nhanh nhất qua ứng dụng chatbot.  Dữ liệu nền này sẽ được nhóm nghiên cứu sẽ đưa vào “cây tri thức” theo cách: mỗi cây tri thức là một lĩnh vực, trong đó mỗi cây có chừng 10 đến 20 nhánh là các đề tài, từng nhánh sẽ tách ra thành 25 đến 30 cành – đề mục và trên mỗi cành có từ 4 đến 10 lá – đơn vị tri thức đi kèm với khoảng 2 đến 10 từ khóa – chỉ mục. Tại sao lại là cây tri thức? TS. Lê Quang Minh giải thích: “Các đơn vị thông tin được phân bổ rất khoa học theo cấp độ dữ liệu, cấu trúc theo dạng cây và đi kèm với các câu hỏi, từ khóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công cụ khai thác tìm kiếm”.  Việc quản lý dữ liệu theo kiểu cây tri thức hiện là giải pháp hữu hiệu để lưu trữ và bổ sung thông tin, vốn được Wikipedia cũng nhiều hệ thống khác trên thế giới áp dụng thành công. Khả năng bổ sung thông tin để làm giàu cho kho dữ liệu đã được tính đến khi người sử dụng và truy cập vào hệ thống tăng dần. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã chuẩn bị sẵn về cơ sở dữ liệu với việc thiết lập giao diện có chức năng xây dựng, bổ sung và mở rộng cây tri thức, đồng thời có chức năng tải dữ liệu thô từ các nguồn trên mạng internet để tự sắp xếp vào cây tri thức.  Để hệ thống ngày càng thông minh hơn  Một hệ thống dữ liệu “thuần Việt” như vậy được dự đoán là sẽ phải cạnh tranh với những “ông lớn” đã được Việt hóa và có đông đảo người Việt yêu chuộng như Google, Wikipedia… Vậy làm thế nào để hệ thống này không bị lép vế ngay trên sân nhà? Câu trả lời của hầu hết các nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học máy tính là cần phải để hệ thống đó trở nên thông minh hơn, tức là có khả năng tìm kiếm nhanh, thuận lợi và thủ pháp đơn giản.  Đằng sau những yêu cầu đó là cả vấn đề lớn về công nghệ. TS. Lưu Vĩnh Toàn (Công ty chuyên về dữ liệu lớn Squirro, Thụy Sĩ) nhận xét, “để khai thác thông tin, một trang web về dữ liệu thì cần có thuật toán thu thập (crawl), đánh chỉ số (index) và xếp hạng (ranking). Rất cần các bước này trong hệ thống vì nó phải thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn (module 1), bóc tách, chuẩn hóa nguồn dữ liệu này (module 2), index dữ liệu (module 3), phục vụ việc tìm kiếm, lựa chọn thông tin phù hợp và xếp hạng dữ liệu khi có truy vấn (module 4), trong đó module 2 vẫn là khó khăn nhất vì phải xử lý nhiều loại dữ liệu khác nhau để chuẩn hóa nó”. Nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ thông tin cho biết, họ đang tiến hành xây dựng một bộ công cụ tích hợp nhiều tính năng như vậy nhưng mới chỉ ở mức thử nghiệm. “Đây sẽ là đóng góp lớn nhất của nhóm cho đề tài nói riêng và đề án ‘Phát triển hệ tri thức Việt số hóa’ nói chung”, TS. Lê Quang Minh nói.    Công việc xây dựng bộ công cụ đó có nhiều thách thức vì nó liên quan đến nhiều bài toán phức tạp của ngành Khoa học máy tính, đặc biệt về xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt (Vietnamese natural language processing). GS. TS Hồ Tú Bảo (Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản) nhận định, “xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt trên máy tính là một trong những vấn đề khó nhất của công nghệ thông tin. Cái khó nằm ở chỗ làm sao cho máy hiểu được ngôn ngữ con người, từ việc hiểu nghĩa từng từ trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, đến việc hiểu nghĩa một câu, rồi hiểu cả văn bản. Mấu chốt ở đây là bản chất phức tạp của ngôn ngữ của con người, đặc biệt là sự đa nghĩa và nhập nhằng nghĩa của ngôn ngữ.”2  Là người đảm trách phần xây dựng và phát triển thử nghiệm bộ công cụ, TS. Lê Quang Minh cho biết, đơn giản như sửa lỗi chính tả cũng là một bài toán khá phức tạp với máy, ví dụ việc xác định được đâu là từ đúng giữa “vô hình trung”, “vô hình chung”, “vô hình dung”… phải dựa trên bài toán thống kê xác suất n-gram. Máy vốn đã “hiểu” và nhận định được những lỗi về từ – phi từ (từ không có trong từ điển tiếng Việt) nhưng sai về mặt ngữ pháp thì cần phải được “học thêm” bằng kỹ thuật n-gram. Bên cạnh đó, cần giải quyết những vấn đề như tách từ, sửa lỗi chính tả, chuẩn hóa từ… để máy có thể “hiểu” được những từ, cụm từ, câu hỏi không đủ nghĩa hoặc gõ bằng tiếng Việt không dấu, qua đó kịp thời đưa ra những gợi ý tương đương về nghĩa cho người truy cập lựa chọn. “Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên thế giới hiện nay bởi nó đã giải quyết rất tốt vấn đề này trên nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt”, TS. Lê Quang Minh giải thích.  Để nâng cao tính năng của bộ công cụ, nhóm nghiên cứu còn ứng dụng một sản phẩm nghiên cứu từ đề tài cấp Bộ Công Thương của PGS. TS Nguyễn Ái Việt – một thành viên của nhóm nghiên cứu: VIEGRID, công cụ dịch thuật API (application programming interface – giao diện lập trình ứng dụng) tự động chuyển ngữ Anh, Nga, Trung sang tiếng Việt rồi tự sửa lỗi và cung cấp các đơn vị thông tin để sẵn sàng nhập vào kho dữ liệu.  Những công việc “phía sau hậu trường” như vậy đang được giải quyết dần dần. Khi có kho dữ liệu tri thức này, các doanh nghiệp sẽ cùng nhau phát triển các chatbot hỏi đáp trên các thiết bị di động và cung cấp đến người dân. Bộ công cụ mà nhóm nghiên cứu phát triển sẽ đảm trách việc kết nối với chatbot để trả lời các câu hỏi theo từ khóa hoặc theo câu hỏi mà chatbot đã xử lý từ người hỏi.    Nhóm nghiên cứu hy vọng, trong quá trình hoạt động, kho dữ liệu và các tính năng của bộ công cụ sẽ có điều kiện hoàn thiện và sẽ làm cho hệ thống ngày càng thông minh, tiệm cận với nhu cầu của người dùng. “Đây cũng là cơ hội để các nhà nghiên cứu phát triển công nghệ mới và nâng cấp hệ thống”, TS Lê Quang Minh dự đoán.  ——-  1https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Gi%E1%BB%9Bi_thi%E1%BB%87u  2 http://www.jaist.ac.jp/~bao/Writings/VLSPwhitepaper%20-%20Final.pdf       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Bước tiến lớn trong thiết kế Lò phản ứng tổng hợp hạt nhân      Các nhà khoa học ở Học viện Công nghệ  Massachusetts (MIT) vừa tuyên bố họ đã thiết kế được một loại lò phản  ứng tổng hợp hạt nhân (fusion reactor) kiểu mới mang tính cách mạng,  trong vòng không đầy một thập niên có thể sử dụng với quy mô thương mại  để cung cấp một nguồn năng lượng vô tận.       Bài viết về loại lò phản ứng có tên là ARC này đăng trên tạp chí Fusion Engineering and Design. Đồng tác giả bài viết gồm Dennis Whyte, Brandon Sorbom và 11 người ở MIT.   ARC có một Tokamak hình dạng giống chiếc bánh mỳ vòng, nó tạo ra từ trường hình xuyến [để giam cầm được plasma cực nóng bên trong từ trường đó]. Lò phản ứng ARC hiện nay sẽ nhỏ hơn nhiều so với các lò phản ứng trong kế hoạch hoặc lò phản ứng thực tế sử dụng hoặc các lò phản ứng hiện có, nhưng nó sẽ sản xuất ra cùng một lượng điện. Nó tương tự như lò phản ứng hạt nhân mà Tony Stark sử dụng trong phim Iron Man.  Lò phản ứng nhiệt hạch ARC sử dụng hai đồng vị của hydrogen là deuterium và tritium. Trước tiên các nhà khoa học cho chúng vào bên trong lớp vỏ an toàn của lò phản ứng, sau đó bóc hết electron ra khỏi các nguyên tử, hình thành plasma. Quá trình đó giải phóng ra một năng lượng lớn. Nếu công nghệ này được hoàn thiện thì sẽ cung cấp một nguồn năng lượng vô tận, giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng năng lượng của toàn thế giới.  Lò phản ứng Tokamak là loại lò có triển vọng nhất. Nó gồm một buồng chân không hình vòng xuyến, nhiên liệu trong đó được nung nóng tới trên 150 triệu độ C, hình thành plasma cực nóng. Sau đó dùng từ trường cực mạnh để đưa plasma ra khỏi vỏ an toàn. Xung quanh vỏ an toàn có một cuộn dây siêu dẫn dùng để tạo ra từ trường cực mạnh. Công nghệ làm cuộn dây siêu dẫn này là công nghệ khó nhất trong phương án thiết kế Lò phản ứng nhiệt hạch.  Lò ARC không giống với các hệ thống Tokamak ở chỗ nó sử dụng một loại vật liệu siêu dẫn mới có thể dùng trong thương mại, được chế tạo từ oxide đồng-barium đất hiếm (rare-earth barium copper oxide, REBCO). Cuộn dây siêu dẫn dùng vật liệu mới có khả năng sinh ra từ trường mạnh hơn, do đó có thể giam giữ tốt plasma cực nóng, nhờ thế giảm được thể tích lò phản ứng, hạ giá thành chế tạo và dễ xây dựng hơn. Tiến bộ công nghệ này “làm thay đổi tất cả mọi chuyện” – Dennis Whyte, giáo sư KH&CN hạt nhân tại Trung tâm Khoa học Plasma và Lò phản ứng nhiệt hạch của MIT nói.  Lò phản ứng nhiệt hạch ARC có thể dùng cho việc nghiên cứu cơ bản về phản ứng nhiệt hạch, cũng có thể dùng làm nguyên mẫu cho nhà máy điện nhiệt hạch.   Theo giới thiệu, nhờ tăng được cường độ từ trường mà năng lượng do Lò phản ứng nhiệt hạch ARC tạo ra sẽ tăng theo số mũ 4. Nghĩa là khi tăng gấp hai cường độ từ trường thì năng lượng do lò phản ứng tạo ra sẽ tăng 16 lần. “Bất cứ sự tăng nào về cường độ từ trường đều sẽ đem lại cho ta một lợi ích lớn,” – Sorbom nói.   Thành viên nhóm nghiên cứu MIT giải thích: tuy vật liệu siêu dẫn mới này chưa thể tăng gấp đôi cường độ từ trường nhưng từ trường ấy đủ để làm cho năng lượng do phản ứng tổng hợp nhiệt hạch sinh ra tăng gấp 10 lần so với công nghệ siêu dẫn tiêu chuẩn. Bước tiến khả quan này sẽ xúc tiến việc cải tiến hoàn thiện phương án thiết kế lò phản ứng.  Hiện nay Lò phản ứng nhiệt hạch lớn nhất thế giới là lò ITER (Lò phản ứng nhiệt hạch thí nghiệm quốc tế) đang xây dựng tại Pháp, có chi phí dự tính khoảng 40 tỷ USD.  Nhóm nghiên cứu dự kiến lò phản ứng nhiệt hạch ARC có công suất 500 MW, đường kính bằng một nửa lò ITER (ITER được thiết kế trước khi công nghệ siêu dẫn mới trở thành hiện thực). Đường kính lớn của ARC bằng 3,3 m, đường kính nhỏ bằng 1,1 m. Tuy khác kích thước và cường độ từ trường nhưng ARC có cùng nguyên lý vật lý như ITER.   Theo phương án thiết kế hiện nay, Lò phản ứng nhiệt hạch ARC tạo ra được một năng lượng lớn gấp ba lần năng lượng cần dùng để vận hành nó. Nhưng Sorbom cho rằng cùng với việc cải tiến ARC, bội số trên sẽ nâng lên tới năm hoặc sáu. Cho tới nay, chưa có bất kỳ lò phản ứng nhiệt hạch nào tạo ra được một năng lượng cao như vậy. Vì thế nhóm nghiên cứu cho rằng Lò phản ứng nhiệt hạch ARC sẽ là một đột phá lớn về công nghệ tổng hợp nhiệt hạch. Một Lò ARC có thể sản xuất đủ điện đáp ứng nhu cầu sử dụng của 100 nghìn người. Nhóm nghiên cứu tin rằng trong vòng năm năm tới sẽ xuất hiện những loại thiết bị tương tự ARC.  David Kingham, Giám đốc công ty năng lượng Tokamak (Anh Quốc), nói: “Năng lượng nhiệt hạch sẽ trở thành một trong những nguồn điện quan trọng nhất trên trái đất trong thế kỷ XXII.”   Dự án nghiên cứu nói trên được Bộ Năng lượng Mỹ và Quỹ Khoa học quốc gia tài trợ.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước tiến mới chứng minh bài toán số nguyên tố cặp đôi      Một kiểm chứng toán học vừa được công bố trong tuần này cho biết tồn tại một số lượng vô hạn các số nguyên tố có một người hàng xóm gần đó cũng là một số nguyên tố, – mặc dù ” hàng xóm gần nhất” cách số nguyên tố đó trong thực tế có thể lên đến 70 triệu con số.    Đây là một kiểm chứng động chạm tới một trong những bài toán chưa giải được nổi tiếng lâu nhất của lý thuyết số, được gọi là phỏng đoán số nguyên tố cặp đôi (the twin prime conjecture).      Một số nguyên tố là số chỉ chia hết cho chính nó và 1 mà thôi. Số nguyên tố cặp đôi là số nguyên tố mà chỉ cách nhau hai số – như 3 và 5, 5 và 7, 11 và 13… Các số nguyên tố cặp đôi lớn nhất được phát hiện năm 2011 là 3.756.801.695.685 × 2666.669 + 1 và 3.756.801.695.685 × 2666.669 – 1.      Phỏng đoán số nguyên tố cặp đôi chỉ đơn giản nói rằng có tồn tại một số lượng vô hạn các số nguyên tố cặp đôi. Mặc dù chỉ đơn giản vậy thôi nhưng các nhà toán học đành chịu chết không kiểm chứng được kể từ khi ý tưởng đã được phát biểu vào năm 1849 bởi nhà toán học người Pháp Alphonse de Polignac. Trong lý thuyết số nói riêng, phỏng đoán là khá dễ hiểu, nhưng chứng minh là chuyện khác, không dễ chút nào.      Để cho dễ giải bài toán này hơn một chút, các nhà toán học đã đặt lại đầu bài hơi khác đi: Liệu có tồn tại một số lượng vô hạn các số nguyên tố nằm cách một số nguyên tố láng giềng một khoảng cách cố định nào đó, có thể khoảng cách đó là lớn hơn 2?      Tại một seminar của Đại học Harvard hôm 13 /5/ 2013, Yitang Zhang thuộc Đại học New Hampshire ở Durham đã khẳng định là “có”.      Zhang dựa trên một công bố vào năm 2005 của Daniel Goldston và đồng nghiệp thuộc Đại học công lập San Jose ở California. Theo đó, khoảng cách giữa các số nguyên tố tăng lên khi các số nguyên tố lớn hơn. Nhưng nhóm Goldston chứng minh rằng luôn luôn tồn tại một vài số nguyên tố nằm rất gần với nhau ngay cả khi chúng là những con số rất lớn. Tuy nhiên, theo Zhang phương pháp của nhóm Goldston khó sử dụng trực tiếp vào bài toán số nguyên tố cặp đôi. Nhưng vào tháng Bảy năm ngoái, trong khi đang ở nhà nghỉ của một người bạn, Zhang kể, đột nhiên có một “sóng não” bùng phát làm cho anh ta bỗng ngộ ra cách giải. Anh đã có thể khai thác một chi tiết kỹ thuật để tìm ra rằng có tồn tại một lượng vô hạn các cặp số nguyên tố nằm cách nhau ở một khoảng cách hữu hạn, xác định được. Thật không may cho các số nguyên tố, khoảng cách vẫn còn khá lớn: 70 triệu số. Nói một cách hình ảnh là các số nguyên tố chỉ bớt cô đơn thôi. Nhưng Zhang nhấn mạnh rằng đó là giới hạn trên. “Tôi nghĩ rằng để giảm chúng đến dưới một triệu hoặc thậm chí nhỏ hơn là rất có thể” – mặc dù các nhà toán học có thể cần bước đột phá khác để giảm khoảng cách xuống chỉ còn hai và cuối cùng chứng minh được phỏng đoán số nguyên tố cặp đôi.      Henryk Iwaniec của Đại học Rutgers ở Piscataway, New Jersey, cho rằng “Con số 70 triệu không phải là rất quan trọng. Điều quan trọng là Zhang đã có thể cho thấy rằng khoảng cách giữa các số nguyên tố lân cận không được vượt quá một giá trị nhất định. Mọi người sẽ choáng bởi kết quả này. Tôi chắc chắn mọi người sẽ còn phải cày xới trong nhiều năm để rút giảm xuống con số cuối cùng.”      Henryk Iwaniec,người đã có nhiều đóng góp cho bài toán số nguyên tố cặp đôi,nhưng không tham gia vào công trình mới này, chính là người thẩm định bài báo trình bày chứng minh của Zhang và không tìm thấy một sai sót nào trong bài đó. Công trình của Zhang vì vậy đã được chấp nhận sẽ cho công bố trong Annals of Mathematics.      Một tin vui khác nữa về số nguyên tố là đã có một số tiến bộ trong việc giải bài toán    Goldbach. Đây là phỏng đoán do Christian Goldbach đề ra vào năm 1742. Theo đó tất cả các số chẵn lớn hơn 2 là tổng của hai số nguyên tố. Vừa rồi Harald Helfgott thuộc École Normale Supérieure Paris, Pháp, đã chứng minh được một bài toán liên đới gọi là phỏng đoán Goldbach về số lẻ, nói rằng tất cả các số lẻ trên 5 là tổng của ba số nguyên tố.      Nếu chứng minh được về phỏng đoán Goldbach cũng sẽ chứng minh được phỏng đoán Goldbach về số lẻ, bởi vì lấy một số chẵn hình thành bởi tổng hai số nguyên tố và cộng thêm 3 thì sẽ được một số lẻ là tổng của ba số nguyên tố. Nhưng chứng minh của Helfgott không thể giúp các nhà toán học chứng minh theo hướng đi ngược lại, tức từ số lẻ sang số chẵn, theo đánh giá của Terence Tao (giải thưởng Fields) thuộc Đại học California, Los Angeles – vì vậy bài toán ban đầu của Goldbach vẫn chưa được giải quyết.      XH lược thuật theo New Scientist    http://www.newscientist.com/article/dn23535-proof-that-an-infinite-number-of-primes-are-paired.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước tiến quan trọng trong chẩn đoán bệnh Alzheimer      Các nhà khoa học Anh Quốc vừa đạt được “một  bước tiến quan trọng” trong việc dùng biện pháp thử máu để chẩn đoán sớm  khả năng mắc bệnh Alzheimer [1].    Kết quả nghiên cứu tiến hành đối với hơn 1.000 bệnh nhân cho thấy biện pháp sử dụng một nhóm protein trong máu để chẩn đoán khả năng mắc bệnh sa sút trí tuệ ở tuổi già – tức bệnh Dementia, [2] đạt độ chính xác tới 87%.  Phát hiện này được công bố trên tạp chí Bệnh Alzheimer và bệnh Dementia («Alzheimer’s &Dementia», xuất bản ở Anh Quốc), sẽ được giới y học sử dụng để cải tiến các dược phẩm thử dùng cho người mắc bệnh Dementia.  Cho tới nay mọi nghiên cứu về điều trị bệnh Alzheimer đều chưa có tiến bộ. Trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2012, tỷ lệ thất bại của các thí nghiệm khoa học nhằm đề phòng và điều trị bệnh Alzheimer lên tới 99,6%.  Giới y học tin rằng trên thực tế các triệu chứng bệnh Alzheimer đã xuất hiện từ khoảng 10 năm trước khi phát bệnh; các thí nghiệm sở dĩ thất bại là do đối tượng nghiên cứu đều là những bệnh nhân đã phát bệnh, khi họ được điều trị thì đã quá muộn. Bởi lẽ đó, sớm chẩn đoán bệnh sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết quan trọng để ngăn ngừa bệnh Dementia.  Một nhóm nhà khoa học ở các trường đại học kết hợp với các chuyên gia ngành công nghiệp đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt về chất protein trong máu của hơn 1.000 đối tượng điều tra. Số này gồm 452 người khỏe mạnh không có trở ngại về trí tuệ, 220 người có trở ngại về trí tuệ ở mức độ nhẹ và 476 người mắc chứng Alzheimer.   Căn cứ theo kết quả thử máu, nhóm nghiên cứu đã chẩn đoán chính xác 87% số người gặp trở ngại trí tuệ mức độ nhẹ sang năm thứ hai phát triển thành mắc bệnh Alzheimer.   Người phụ trách nhóm nghiên cứu là Giáo sư Simon Lovestone của Đại học Oxford nói, mục đích của nghiên cứu này nhằm có thể sớm chẩn đoán người mắc bệnh Alzheimer.  Hiện nay toàn thế giới còn chưa có kỹ thuật chẩn đoán sớm bệnh Alzheimer. Một số người thấy mình gặp trở ngại về trí tuệ bèn đến khám bệnh ở bệnh viện, song vì chưa có biện pháp chẩn đoán nên bác sĩ chỉ có thể dặn họ năm sau đến khám lại, nhưng khi đến khám lần thứ hai thì họ đã mắc thứ bệnh bất trị này rồi.  Bác sĩ Ian Pike, chuyên viên trưởng tại cơ quan Proteome Sciences nói: Xác định chỉ tiêu protein trong máu thực sự là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán bệnh Alzheimer; công việc đó cần tiếp tục tiến hành trong vài năm nữa và cần thực hiện đối với càng nhiều bệnh nhân thì mới có thể thực sự khẳng định khả năng sử dụng biện pháp này trong lâm sàng; hiện nay chúng ta có thể tiến nhanh tới mục tiêu đó.  Bác sĩ Eric Karran Giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Alzheimer Anh Quốc (Alzheimer’s Research UK) nói, đây là một bước quan trọng tiến theo hướng chứng minh có thể đề phòng và điều trị được bệnh Alzheimer; dĩ nhiên điều đó chưa thể lập tức làm được ngay. Ông cho rằng hiện nay ít nhất đã tìm được một biện pháp chẩn đoán sớm người mắc bệnh và nhờ đó bệnh nhân có thể được tham gia các thí nghiệm điều trị lâm sàng một cách sớm nhất, tạo điều kiện để các thầy thuốc thử nghiệm các loại thuốc điều trị hữu hiệu.   Nhưng bác sĩ Karran nói, xét nghiệm chất protein trong máu chưa có khả năng quá lớn dùng làm biện pháp duy nhất để chẩn đoán bệnh Alzheimer; trong sử dụng lâm sàng còn phải kết hợp với việc xét nghiệm các chỉ tiêu khác, kể cả làm scan não hoặc xét nghiệm tủy sống (spinal fluid).  Trên toàn thế giới hiện nay có 44 triệu người mắc chứng sa sút trí tuệ; đến năm 2050 con số đó sẽ lên tới 135 triệu người – một tỷ lệ cao đáng sợ! Khi ấy 71% số người này là người nghèo hoặc thu nhập trung bình; phí tổn toàn cầu chi cho việc chữa bệnh sa sút trí tuệ sẽ lên tới 600 tỷ USD.  Hải Hoành dịch theo bbc.com  —  [1] Lấy tên theo Alois Alzheimer, vị bác sĩ đã phát hiện bệnh này năm 1906; còn gọi là bệnh AD (Alzheimer disease), tức bệnh mất trí nhớ ở tuổi già; bệnh này chưa có cách chẩn đoán, đề phòng và điều trị; người bệnh thường chết khoảng bảy năm sau khi phát hiện bệnh.   [2] Còn gọi là bệnh đần độn; dạng thông thường nhất của Dementia là Alzheimer.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo   – http://www.bbc.com/news/health-28198510. Alzheimer’s research in ‘major step’ towards blood test    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bước tiếp theo trong mô phỏng vũ trụ      Dù hữu dụng nhưng các mô phỏng trên máy tính vẫn còn khó nắm bắt được tác động của những hạt neutrino trong quá trình hình thành và giãn nở về cấu trúc ở quy mô lớn của vũ trụ. Nhưng hiện tại, một nhóm nghiên cứu Nhật Bản đã phát triển được một phương pháp vượt qua rào cản đó.      Các nhà nghiên cứu Nhật Bản nêu một cách tiếp cận mới chứng tỏ cách các hạt neutrino “ma” giúp định hình vũ trụ. Nguồn: University of Tsukuba  Trong một nghiên cứu xuất bản trên Astrophysical Journal với tiêu đề “Cosmological Vlasov – Poisson Simulations of Structure Formation with Relic Neutrinos: Nonlinear Clustering and the Neutrino Mass” (Các mô phỏng vũ trụ Vlasov – Poisson về hình thành cấu trúc với neutrino tàn tích: phân cụm phi tuyến và khối lượng hạt neutrino), một  nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học trường đại học Tsukuba đã trình bày các mô phỏng có thể mô tả một cách chính xác vai trò của các hạt neutrino trong quá trình tiến hóa của vũ trụ.  Tại sao các mô phỏng này lại quan trọng? Một nguyên nhân chính là do chúng có thể đặt những ràng buộc lên một đại lượng chưa biết  nhưng đang hiện hữu: khối lượng hạt neutrino. Nếu đại lượng này được đặt vào một giá trị riêng trong các mô phỏng và các kết quả mô phỏng khác với quan sát, điều đó cho thấy giá trị có thể bị loại bỏ. Dẫu sao các ràng buộc này có thể chỉ đáng tin cậy khi các mô phỏng là chính xác, điều vẫn chưa được xác định trong nghiên cứu trước đây. Nhóm nghiên cứu Nhật Bản đã đặt mục tiêu giải quyết những giới hạn đó.  “Những mô phỏng trước đều sử dụng những xấp xỉ đã biết nhưng có thể không thực sự hiệu quả”, Kohji Yoshikawa, tác giả chính của nghiên cứu, nhận xét. “Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tránh các xấp xỉ đó bằng việc sử dụng một kỹ thuật thể hiện độ chính xác bằng hàm phân phối vận tốc của các hạt neutrino và theo sát sự tiến hóa của chúng”.    Phân bố đậm đặc của các hạt (trái) và vật chất tối (phải) trong cấu trúc vũ trụ ở quy mô lớn. Trong khi các hạt neutrino chuyển động nhanh và khuếch tán, sự phân bố vật chất tối tạo ra mạng vũ trụ theo cấu trúc dạng sợi. Nguồn: University of Tsukuba  Để làm được điều đó, nhóm nghiên cứu đã trực tiếp giải quyết một hệ các phương trình là các phương trình Vlasov–Poisson, vốn dùng để mô tả cách các hạt chuyển động trong vũ trụ. Sau đó họ đem các mô phỏng về các giá trị khác nhau của khối lượng hạt neutrino và kiểm tra một cách có hệ thống những tác động của hạt neutrino lên cấu trúc quy mô lớn của vũ trụ.  Các kết quả mô phỏng thể hiện là các hạt neutrino có thể triệt tiêu cụm vật chất tối – khối lượng “bị mất” trong vũ trụ – và trong các thiên hà. Chúng cũng cho thấy là các vùng giàu neutrino có liên kết một cách chặt chẽ với các cụm thiên hà lớn và nhiệt độ hiệu nghiệm của các hạt neutrino biến đổi một cách bền vững phụ thuộc vào khối lượng của hạt neutrino.    Mô phỏng Vlasov-Poisson của các nhà nghiên cứu (trái) dự đoán một mức phân bố mật độ ít nhiễu và đều đặn của các hạt neutrinos so với mô phỏng tương tác hấp dẫn Newton truyền thống (phải). Credit: University of Tsukuba  “Về tổng thể, phát hiện của chúng tôi cho thấy các hạt neutrino ảnh hưởng một cách đáng kể đến sự hình thành cấu trúc ở quy mô lớn và các mô phỏng của chúng tôi cũng đem lại một giải thích chính xác về vai trò quan trọng của các hạt neutrino”, Yoshikawa giải thích. “Nó cũng giúp củng cố niềm tin là kết quả mới của chúng tôi phù hợp một cách hoàn toàn với những nghiên cứu từ những cách tiếp cận mô phỏng khác”.  Công trình của các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nêu ra một cột mốc trong mô phỏng vũ trụ và tiến theo con đường khám phá xa hơn về việc các hạt neutrino ảnh hưởng đến sự hình thành và tăng trưởng của cấu trúc ở quy mô lớn. Ví dụ, cách tiếp cận mô phỏng mới có thể được sử dụng là nghiên cứu động lực của các hạt neutrino và những dạng vật chất tối độc đáo. Cuối cùng, nó có thể dẫn đến việc xác định khối lượng hạt neutrino.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-simulating-universe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Buổi sáng là thời điểm tốt nhất cho các ca phẫu thuật      TTXVN dẫn kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại trường đại học Đu-cơ (Mỹ) cho biết buổi sáng được xem là thời gian thích hợp nhất để tiến hành các ca phẫu thuật. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu 90.000 ca phẫu thuật và đưa ra kết luận các ca phẫu thuật kết quả thấp thường xảy ra vào thời điểm từ 3 giờ đến 4 giờ chiều trong ngày, trong khi các ca diễn ra vào 9 giờ sáng thường có kết quả tốt.    Các nhà khoa học cho rằng kết luận trên liên quan đến khả năng chịu đau của cơ thể con người và sự mệt mỏi của các nhân viên tham gia phẫu thuật. Lý do thứ nhất là vì đa phần bệnh nhân cảm thấy dễ bị đau hơn hoặc có triệu chứng buồn nôn, sức đề kháng suy giảm vào cuối buổi trưa đồng thời lại phải chịu áp lực khi chờ đợi được phẫu thuật. Lý do thứ hai liên quan khả năng của nhân viên tham gia phẫu thuật.  Kết luận của các nhà khoa học đang được xem xét làm cơ sở để điều chỉnh thời gian biểu hợp lý cho các hoạt động y tế. Các nhà khoa học còn dự định sẽ tiến hành một nghiên cứu khác nhằm so sánh hiệu quả từng hoạt động chăm sóc sức khỏe riêng biệt đối với các bệnh nhân được phẫu thuật trong hai thời điểm kết thúc vào 9 giờ sáng và từ 3 giờ đến 6 giờ chiều hằng ngày.    TTXVN  P.V    Author                Quản trị        
__label__tiasang Buôn bán động vật hoang dã: Nguy cơ bùng phát một đại dịch khác      Các nhà nghiên cứu đã phát triển một công cụ đánh giá các chợ bán động vật hoang dã nhằm tìm hiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm từ động vật, qua đó có thể giúp chính phủ đưa ra những chương trình hành động với yêu cầu nghiêm ngặt về thú y và hiệu quả hơn các lệnh cấm vẫn áp dụng.    Ngày Bệnh truyền nhiễm thế giới, ngày 6/7 hằng năm, là ngày kỉ niệm Louis Pasteur lần đầu tiên thử nghiệm thành công vaccine phòng bệnh dại trên người. Khi đại dịch COVID-19 tiếp tục hoành hành trên toàn cầu, chúng ta cần có các biện pháp tích cực hơn để dập tắt các đợt bùng dịch truyền nhiễm từ động vật sang người trong tương lai.  Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học đã cảnh báo về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm giữa con người và động vật. Từ SARS, MERS đến Ebola, rất nhiều dịch bệnh do virus lan truyền có nguồn gốc từ động vật. Theo một báo cáo của Hội đồng Đa dạng sinh học thế giới, có tới 1,7 triệu virus chưa được phát hiện trong thế giới động vật, 827.000 trong số đó có thể lây nhiễm sang người. Khi con người ngày càng tiếp xúc gần hơn với động vật hoang dã thì COVID-19 có lẽ không phải là đại dịch cuối cùng ở thế giới toàn cầu hóa này.     Một đứa trẻ theo cha mẹ đến chợ bán động vật hoang dã. Nguồn: DW  Kể từ khi bắt đầu đại dịch COVID-19, nhiều người đã kêu gọi quản lý chặt chẽ hoặc cấm hoàn toàn việc buôn bán động vật hoang dã. Các chợ bán động vật hoang dã được coi là điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh vì nhiều loài động vật khác nhau được nuôi nhốt gần nhau, tạo điều kiện cho các loại virus nguy hiểm dễ dàng lây lan. Khi xác định rõ virus SARS CoV-2 có nguồn gốc từ động vật, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã kêu gọi đóng cửa các chợ động vật hoang dã, đặc biệt phổ biến ở châu Á và châu Phi.  Trung Quốc, quốc gia đang phải đối mặt với những lời chỉ trích đặc biệt, đã tạm thời cấm toàn bộ hoạt động buôn bán động vật hoang dã từ tháng 1/2020 đến khi đại dịch COVID-19 kết thúc. Cuối cùng, lệnh cấm này đã không kéo dài quá lâu. Hiện nay các chợ đã mở cửa trở lại một phần tuy nhiên, hoạt động buôn bán thực phẩm và động vật hoang dã đã giảm đáng kể.  Các loài động vật hoang dã đóng vai trò quan trọng về mặt văn hóa, truyền thống và thậm chí là dinh dưỡng với nhiều người. Nhìn chung, các kế hoạch cấm buôn bán hoặc tiêu thụ động vật hoang dã không đi vào thực tế. Bên cạnh đó, rất khó để giám sát việc thực thi các lệnh cấm nghiêm ngặt, đặc biệt là ở những vùng có cơ sở hạ tầng hoặc quản trị yếu kém.  Việc đưa ra các yêu cầu vệ sinh, hoặc các tiêu chuẩn thú y trong buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã có thể là một chiến lược hiệu quả hơn. Nó cũng mang đến cái nhìn sâu sắc hơn về những nguồn nguy cơ tiềm ẩn. Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) đã làm việc với các nhà khoa học từ Hồng Kông để phát triển một công cụ đánh giá các chợ động vật hoang dã nhằm tìm hiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm từ động vật trong tương lai. Nhóm tác giả đã công bố một ma trận rủi ro trên tạp chí One Health để phân tích các chợ động vật hoang dã ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Họ đã tìm hiểu tình trạng buôn bán ở từng chợ, số lượng loài hoặc số lượng động vật hoang dã.  Họ đã khảo sát 46 chợ động vật hoang dã ở Lào và Myanmar  trong một khoảng thời gian dài và thấy rằng nguy cơ về các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người ở các khu chợ này đều ở mức cao.  Theo WWF, hằng năm khu vực này buôn bán hàng triệu động vật hoang dã để làm thực phẩm hoặc sử dụng trong y học cổ truyền, bao gồm lợn rừng, hươu, các loài gặm nhấm và dơi – vốn được coi là ổ chứa nhiều loại mầm bệnh. Mặc dù lợn rừng và hươu cũng được tiêu thụ ở Đức, nhưng Stefan Ziegler, cố vấn bảo tồn cao cấp khu vực châu Á của WWF và là một trong những tác giả của nghiên cứu, cho biết “việc buôn bán những sản phẩm này phải tuân theo các quy định thú y nghiêm ngặt” . □  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/how-identifying-hotspots-of-zoonotic-disease-could-prevent-another-pandemic/a-58167867    Author                Quản trị        
__label__tiasang C60 và triển vọng thay thế nhiên liệu hóa thạch      Gần đây, trên tạp chí của Hội hóa học Mỹ, tiến sỹ Puru Jena và nhóm nghiên cứu của ông đã mô tả một cấu trúc lý thuyết của một loại vật liệu – buckyball phủ liti – có khả năng đóng vai trò như những bình chứa các các nguyên tử hydro.    Buckyball (C60) chính là cấu trúc nano nổi tiếng có dạng quả bóng đá chứa 60 nguyên tử carbon. Mỗi nguyên tử liti có thể chứa 5 phân tử hydro, từ đó các buckyball liti có thể hấp thụ hydro rất hiệu quả. Theo Jena, một buckyball trên lý thuyết có 12 nguyên tử liti thì có thể chứa đến 60 phân tử hydro.   “Trở ngại lớn nhất trong nền kinh tế hydro chính là việc tìm ra các vật liệu để chứa loại nhiên liệu này”, Jena nói, “các vật liệu đó vừa phải chứa được hydro vừa phải cho phép chúng ta lấy hydro ra, tức là hệ phải thuận nghịch, cũng như hoạt động ở nhiệt độ và áp suất vừa phải”.  Những nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết khác cũng đã cho thấy một mô hình các bucky phủ titan có thể chứa hydro. Tuy nhiên, người ta lại thấy rằng các nguyên tử titan có xu hướng tương tác với nhau để tạo thành các cụm nguyên tử trên bề mặt buckyball, điều đó làm giảm đi rất nhiều hiệu suất chứa hydro của loại vật liệu này.   “Mô hình vật liệu của chúng tôi cho thấy khả năng trữ được hydro với tỷ lệ 13% về khối lượng – trên cả đòi hỏi của ứng dụng công nghiệp. Thêm vào đó, thể tích cũng chỉ lớn hơn khoảng 2 lần so với hydro lỏng. Nghiên cứu lý thuyết của chúng tôi là rất triển vọng”, Jena nói.       Jena và các cộng sự hiện đang tiến hành các thí nghiệm để chứng minh rằng hydro có thể được lưu trữ trong các buckyball liti. Hơn nữa, nhóm nghiên cứu này sẽ xác định các điều kiện nhiệt độ và áp suất cần thiết để lưu trữ và lấy ra hydro, cũng như phát triển một công nghệ để sản xuất loại vật liệu này trên diện rộng.  Nguồn: Virginia Commonwealth University      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá biển có thể thay đổi giới tính      Những con cá biển đầu xanh nhỏ tuổi sống trong các rặng san hô có thể thay đổi giới tính tuỳ theo bầy đàn mà chúng chung sống.    “Rõ ràng ảnh hưởng xã hội quan trọng với cá biển đầu xanh khi chúng quyết định trở thành đực hay cái từ khi còn nhỏ”, Philip Munday, tại Trung tâm nghiên cứu rặng san hô tại Đại học James Cook ở Australia, cho biết.  Loài cá đã phát triển một cấu trúc giới tính linh hoạt để gia tăng cơ hội sinh sản của chúng. Ban đầu chúng chỉ là những ấu trùng không có giới tính xác định, khi phát triển chúng sẽ trở thành con đực hay con cái.  Những con non sẽ dễ chuyển thành cái hơn khi chỉ có một ít con khác trong khu vực bởi chúng sẽ có cơ hội giao phối nhiều hơn. Còn nếu có nhiều con cá cái trong cộng đồng, chúng sẽ chuyển sang thành đực.  “Điều này cho thấy giới tính không hề được xác định trước như ở động vật có vú và chim”, Munday giải thích.  Ngoài ra, một số con cá có thể chuyển đổi giới tính cho dù đã lớn, phụ thuộc vào môi trường sinh sản.  “Khi cá chuyển từ con cái trưởng thành sang con đực trưởng thành, cuộc thay đổi rất khốc liệt. Chúng sẽ trông hoàn toàn khác, bộ phận sinh dục thay đổi, hành vi thay đổi và toàn bộ cuộc sống cũng đổi khác”, Munday nói.  (theo AFP)  M.T      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ca bin cứu nạn trên máy bay: Khi hệ thống cứu nạn trở thành yếu tố gây rủi ro      Kỹ sư Vladimir Tatarenko người Ukraina đã ba năm trời tìm cách tiếp tục giảm rủi ro tai nạn hng không bằng việc nghiên cứu phát triển ca bin cứu nạn lắp trên máy bay.       Khi gặp nạn khoang tách ra khỏi phần còn lại của máy bay và rớt xuống mặt đất hoặc mặt nước nhờ có dù. Các phương tiện truyền thông coi ca bin thoát hiểm của kỹ sư Tatarenko là một sự đột phá về kỹ thuật, tuy nhiên các chuyên gia lại tỏ ra nghi ngờ về khả năng những cabin cứu nạn sẽ được lắp đặt trong máy bay trong tương lai. “Về kỹ thuật thì có thể tạo cabin cứu nạn trên máy bay” Andreas Bardenhagen, một trưởng ban thuộc Viện Hàng không và Du hành vũ trụ Berlin, cho hay. “Tuy nhiên cái khoang này sẽ tạo ra một loạt vấn đề và cực kỳ tốn kém.”   Theo ông, trọng lượng máy bay sẽ tăng khoảng 15% khi lắp cabin so với trước đó. Cũng vì trọng lượng tăng nên tiêu hao nhiên liệu của máy bay cũng tăng từ 10 đến 15%, đồng thời để thiết kế, lắp đặt khoang cứu nạn  nhà chế tạo máy bay phải phát triển một loại máy bay hoàn toàn mới – cho đến nay khi triển khai một loại máy bay mới có thể  mất khoảng 10 năm. “Chi phí để cho ra đời một mẫu máy bay mới cỡ bạc tỷ USD” chuyên gia này cho hay. Khoản chi phí này tất nhiên sẽ phải tính vào giá vé máy bay.   Ngoài ra, việc kỹ sư Tatarenko dự định dùng thuốc nổ để tách ca bin cứu nạn ra khỏi máy bay  – đây là điều không được phép vì sẽ trở thành yếu tố rủi ra đối với hệ thống an toàn bay. Vì vậy vị chuyên gia này cho rằng, ý tưởng về một khoang cứu nạn có thể bật, tách  khỏi máy bay là không thực tế. Theo ông “cần phải ý thức rằng, với chi phí vừa phải vẫn có thể tăng đáng kể các tiêu chuẩn về an toàn bay và từ đó cứu được nhiều sinh mạng hơn.”     Xuân Hoài dịch “Tuần kinh tế” 25.1.2016        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ca cao có tác dụng bảo vệ trí nhớ      Một nghiên cứu mới cho thấy, một số chất trong ca cao có thể giúp cải  thiện trí nhớ: những người tham gia làm thí nghiệm đã nhiều tuổi có trí  nhớ tốt như những người trẻ hơn họ ba chục tuổi.     Loại sô-cô-la sẫm mầu được coi là có lợi cho sức khoẻ. Thí dụ đó là những chất làm cho con người hưng phấn, vui sướng; những chất chống stress hoặc những chất có tác dụng chống lại các bệnh về tim mạch. Một nghiên cứu mới đây của Trung tâm Y học thuộc ĐH Columbia công bố trên tạp chí chuyên đề “Nature Neuroscience” cho thấy ca cao cũng có khả năng cải thiện trí nhớ.  Đã có 37 người khoẻ mạnh ở độ tuổi từ 50 đến 69 tham gia thí nghiệm. Trong ba tháng liền, họ được uống mỗi ngày một cốc ca cao pha chế đặc biệt, hạt ca cao có chứa chất Flavonoide. Một nửa số người tham gia thí nghiệm uống mỗi ngày 10 milligramm, nửa còn lại uống lượng Flavonoide lên tới 900 milligramm.  Sau đó các nhà khoa học quan sát một vùng não đặc biệt ở những người tham gia thí nghiệm, vùng có vai trò đáng kể đối với khả năng của bộ nhớ có tên là Gyrus dentatus. Kết quả cho thấy một nửa số người nhận được liều lượng Flavonoide cực lớn thì lưu thông máu ở khu vực này tăng lên. Trong việc thực hiện các bài tập về luyện trí nhớ, những người tham gia thí nghiệm cũng thu được kết quả cao hơn rõ rệt.  Khi có tuổi thì năng lực trí tuệ của con người thường giảm đi rõ rệt. Những nghiên cứu thời gian qua đã cho thấy những thay đổi trong Gyrus dentatus thường liên quan đến sự giảm năng lực trí tuệ. Thí nghiệm ở chuột cho thấy Flavonoide chiết xuất từ hạt ca cao đã cải thiện sự kết nối thần kinh ở vùng Gyrus dentatus.   Nhóm các nhà khoa học dưới sự chủ trì của nhà nghiên cứu Scott Small đã thẩm tra điều này ở những người tham gia thí nghiệm. Small bình luận, “Nếu người tham gia ở giai đoạn đầu cuộc thí nghiệm có trí nhớ phổ biến của những người ở tuổi 60 thì sau ba tháng, năng lực trí nhớ của họ tương đương với những người ở độ tuổi tà 30 đến 40.” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này cũng cho rằng cần kiểm tra thử nghiệm này với một nhóm đông người hơn. Ông và các đồng nghiệp dự định sẽ thực hiện ý đồ này.   Trong một công trình nghiên cứu tiếp theo, mới thực hiện gần đây, với sự tham gia của 18.000 người cả nam và nữ tại Brigham and Women’s Hospital ở Boston người ta sẽ xem xét tác động của loại nước cacao đặc biệt này đến hệ thống tuần hoàn tim mạch. Các nhà nghiên cứu muốn làm rõ về khả năng làm giảm bệnh nhồi máu cơ tim và đột quỵ thông qua Flavonoide.   Tuy nhiên kết quả này rất tiếc không có nghĩa là người ta có thể ăn uống thả phanh sô-cô-la và ca cao: các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đây là một loại Flavonoid liều lượng lớn được pha chế đặc biệt. Người ta không nên tìm cách phát huy tác động tích cực này bằng cách tiêu thụ một lượng lớn Sô-cô-la.  Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cà chua có mùi chanh      Các nhà nghiên cứu Israel vừa lai tạo được loại cà chua biến đổi gen có hương hoa hồng và hương chanh. 82 người đã tham gia kiểm nghiệm những quả này so với những quả cà chua truyền thống.  Trong đó, 49 người tỏ ra rất thích loại quả cà chua mới.    Nhóm khoa học gia thuộc trung tâm nghiên cứu Newe Yaar của Israel đã tạo ra quả cà chua biến đổi gen có sắc hồng hơn loại quả bình thường. Tỉ lệ chất lycopène, chất chống oxy hóa cho ra màu đỏ của quả ít hơn hai lần so với quả thường. Ngược lại, chúng có nhiều chất terpénoide hơn, đây là các thành phần cho phép quả tươi mới lâu hơn.  Quả cà chua biến đổi gen đầu tiên được bán ra thị trường Mỹ vào năm 1994, nhưng đã bị rút khỏi thị trường do không thu hút được người tiêu dùng.  ĐỨC TRƯỜNG (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời gian thiên thạch tiêu diệt loài khủng long      Tiểu hành tinh tiêu diệt loài khủng long đâm vào Trái đất vào thời điểm Bắc bán cầu đang là mùa xuân, gây ra mùa đông toàn cầu tàn khốc – theo các nghiên cứu về hóa thạch ở Tanis, Bắc Dakota, Mỹ.    Tanis là một khu vực địa chất kỳ lạ ở Bắc Dakota, Mỹ. Đã từng có một phát hiện dựa trên hóa thạch ở Tanis, đăng trên tạp chí The New Yorker vào năm 2019. Nhóm nghiên cứu do Robert DePalma, hiện là nghiên cứu sinh tại Đại học Manchester, Vương quốc Anh, đứng đầu, khi đó cho biết, Tanis lưu lại những gì xảy ra chỉ vài phút đến vài giờ sau khi tiểu hành tinh đâm vào khu vực bán đảo Yucatán của Mexico ngày nay ở thời điểm khoảng 66 triệu năm trước.        Theo bài báo, vụ va chạm đã tạo ra những con sóng cao 10 mét ở một vùng biển nông thuộc miền nam và miền đông nước Mỹ ngày nay, cuốn theo các sinh vật trên đường đi và để lại tất cả khối vật chất này ở thung lũng sông thuộc khu vực Bắc Dakota ngày nay – chính là Tanis. Sau bài đăng trên The New Yorker, nhóm DePalma còn báo cáo về Tanis trên Scientific Reports vào tháng 12 năm ngoái.    Nhiều nhà nghiên cứu lưu ý rằng bài báo năm 2019 không mô tả chi tiết địa chất của khu vực, khiến không thể kết luậnliệu Tanis có liên quan đến vụ va chạm thiên thạch tiêu diệt loài khủng long hay không, hay liên quan đến một thảm họa khác chưa xác định trong quá khứ.    Một nhà nghiên cứu khác, Melanie During, hiện đang theo học Tiến sĩ về cổ sinh vật học tại Đại học Uppsala, Thụy Điển, đã từng đến Tanis và cho rằng, mẫu hình phát triển của một số xương cá hóa thạch ở đây có thể tiết lộ thời điểm cơn sóng và vụ va chạm xảy ra thuộc mùa nào. (Xương phát triển nhanh chóng vào mùa xuân khi thức ăn dồi dào, phát triển chậm vào mùa đông khi thức ăn khan hiếm và để lại những dấu hiệu trong mô xương.)    During thu thập các mẫu cá hóa thạch từ Tanis, tạo ra các mô hình chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao của ba xương hàm cá mái chèo và ba xương sống cá tầm. Dấu hiệu tăng trưởng ở các mẫu cho thấy cả sáu con cá đã chết ngay sau khi bắt đầu một giai đoạn tăng trưởng mới, có nghĩa là vào mùa xuân.    Phát hiện này, đã được công bố trên tạp chí Nature ngày 23/2, giúp giải thích tại sao đợt tuyệt chủng do tiểu hành tinh gây ra đã xóa sổ một số loài động vật, bao gồm các loài khủng long, nhưng lại không xóa sổ những loài khác. During đoán rằng vụ va chạm ảnh hưởng nhiều hơn đến các loài ở Bắc bán cầu khi đó đang trong mùa sinh nở và chăm sóc con nhỏ; và đã có một số bằng chứng cho thấy các hệ sinh thái Nam bán cầu phục hồi nhanh gấp đôi sau đợt tuyệt chủng.    “Tôi nghĩ lập luận của họ về thời điểm tuyệt chủng là thuyết phục,” Michael Newbrey, nhà sinh vật học tại Đại học Bang Columbus, Georgia, người đã quen với việc sử dụng dấu hiệu tăng trưởng để nghiên cứu cá, cho biết. Theo Newbrey, phát hiện sẽ thuyết phục hơn nếu kích thước mẫu lớn hơn, nhưng lưu ý việc khai quật và phân tích mẫu hóa thạch không phải dễ dàng.    Một số nhà khoa học chỉ ra, nghiên cứu mới của nhóm During khá giống với nghiên cứu của nhóm DePalma. Nhóm DePalma cũng kiểm tra dấu hiệu tăng trưởng trong hóa thạch cá từ Tanis, và dựa vào đó để kết luận tiểu hành tinh đâm vào Trái đất vào mùa xuân hoặc mùa hè.    Nhóm During cho biết nghiên cứu của họ không dựa trên bất kỳ dữ liệu hoặc kết luận nào của nhóm DePalma, tuy nhiên thừa nhận được DePalma hướng dẫn và hỗ trợ tiếp cận các mẫu vật.    “Không bất ngờ khi có các điểm tương đồng trong hai nghiên cứu sinh ra từ cùng một địa điểm, và nghiên cứu kia sử dụng các mẫu vật mượn từ khu vực nghiên cứu của chúng tôi,” DePalma nói và cho rằng hai nghiên cứu “bổ sung” và “củng cố cho nhau”.    Hồng Minh    Author                .        
__label__tiasang Cá mập đầu búa sinh sản đơn tính      Các nhà khoa học vừa xác nhận thông tin rằng những con cá mập đầu búa mái có thể sinh sản mà không cần đến những con cá trống. Bằng chứng đầu tiên là một con cá mập đầu búa mái tại sở thú Henry Doorly tại Nebraska đã sinh ra những con cá con vào năm 2001 mà không hề có tiếp xúc với những con cá trống.    Báo cáo đăng trên Biology Letters của các nhà khoa học từ Belfast, Nebraska và Florida đều chứng minh rằng những con cá mập con được sinh ra trong năm 2001 tại sở thú Henry Doorly đều không có thành phần DNA từ con trống.  Các nhà khoa học ngạc nhiên ở chỗ đây là lần đầu họ phát hiện ra hiện tượng sinh sản đơn tính ở một loài cá sụn như cá mập (trước đó các nhà khoa học biết rằng có hiện tượng sinh sản đơn tính ở loài cá có xương).  Trước hiện tượng sinh sản đơn tính của cá mập, các nhà khoa học vừa mừng vừa lo. Họ mừng vì loài cá mập hiện đang đứng trước nguy cơ bị giảm số lượng rất lớn và đây là giải pháp để số lượng loài cá mập được đảm bảo. Tuy nhiên điều làm họ lo lắng là hiện tượng sinh sản đơn tính sẽ làm giảm sự đa dạng gene của cá mập và vì vậy những thế hệ cá mập sau sẽ khó thích nghi với môi trường.  Hiện nay trong tự nhiên, một con cá mập mái rất khó tìm được một con trống vì trong đại dương bao la mà số lượng của chúng đang giảm nên hiện tượng sinh sản đơn tính có khả năng sẽ xảy ra nhiều.  Đ.K.L. (Theo BBC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá mòi sẽ gần như biến mất nếu nhiệt độ đại dương ấm lên 2°C      Cá mòi, nguồn dinh dưỡng quan trọng cho thủy sản chăn nuôi và nhiều động vật biển, sẽ gần như biến mất nếu nhiệt độ đại dương ấm lên 2°C.    Cá mòi Peru là một loài cá nhỏ chỉ bằng ngón tay nhưng góp phần lớn nhất vào tổng sản lượng đánh bắt cá toàn cầu – chiếm tới 15%. Đây là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao và thường được dùng làm thức ăn cho cá hồi và các loài thủy sản khác. Mới đây, các nhà khoa học nghiên cứu trầm tích và hóa thạch cổ đại đã chỉ ra rằng: trong quá khứ, nước biển nóng lên gần như xóa sổ loài cá này, và biến đổi khí hậu ngày nay có thể gây thảm họa tương tự.        Các nhà nghiên cứu từ lâu đã lo ngại về tác động của biến đổi khí hậu đối với các quần thể cá, vì một số loài cá chỉ có thể sinh sản trong một khoảng nhiệt độ hẹp. Hơn nữa, nước biển ấm chứa ít oxy hơn, khiến các loài cá với kích thước như cá mòi cũng khó sống sót, và chỉ phù hợp cho các loài cá rất nhỏ. Các nhà nghiên cứu dự đoán, các loài cá siêu nhỏ sẽ thống trị khi đại dương ấm lên, và ngành đánh bắt cá sẽ mất nguồn hải sản.    Nhưng đến nay, vẫn chưa thể chắc chắn liệu biến đổi khí hậu có phải nguyên nhân dẫn đến sự thống trị của các loài cá siêu nhỏ hay không, vì có một yếu tố gây nhiễu: đánh bắt. Việc đánh bắt cá quá mức làm cho đại dương chỉ còn các loài cá siêu nhỏ, vì chúng dễ dàng lọt lưới.    Renato Salvatteci, nhà sinh học thủy sản tại Đại học Kiel Christian-Albrecht, quay ngược thời gian về thời điểm trước khi ngành đánh bắt cá phát triển mạnh để xác định tác động của riêng khí hậu. Vùng biển ngoài khơi Peru là một khu vực lý tưởng vì có lượng cá dồi dào và đáy biển đã lưu giữ được nhiều lớp trầm tích hóa thạch chi tiết.    Salvatteci nghiên cứu một lõi đá dưới đáy biển, dài 14 mét, do một tàu nghiên cứu thu thập vào năm 2008. Trong lõi đá này có các lớp trầm tích lắng đọng từ 116.000 đến 130.000 năm trước, khi khí hậu Trái đất ấm hơn ngày nay. Để xác định nhiệt độ và nồng độ oxy của nước biển khi trầm tích hình thành, nhóm Salvatteci phân tích các dấu ấn sinh học của hóa thạch và đo các đồng vị nitơ. Kết quả, vào thời điểm trầm tích hình thành, nước biển ấm hơn ngày nay khoảng 2°C và chứa ít oxy hơn.    Sau đó, nhóm Salvatteci mất 2 năm để đếm và thống kê hơn 100.000 đốt sống và xác cá có trong trầm tích thu được. Trầm tích lắng đọng trong 100 năm qua chủ yếu là xương cá mòi. Nhưng trong khoảng thời gian nước biển ấm hơn ngày nay 2°C, khoảng 60% số cá là các loài khác còn nhỏ hơn nữa. Số lượng cá mòi sụt giảm nghiêm trọng vào thời điểm nhiệt độ nước biển ấm lên – nhóm nghiên cứu công bố trên tạp chí Science ngày 6/1. Khi nước biển ấm lên, thay thế cho cá mòi là các loài cá gần giống cá bống, có kích thước bằng một nửa cá mòi và thích nghi tốt hơn với điều kiện nhiệt độ cao, oxy thấp.    So với cá mòi, những loài này không mang lại lợi ích cho ngành khai thác thủy sản. Rất khó bắt được chúng do kích thước quá nhỏ; và chúng cũng không tập hợp thành các nhóm dày đặc như cá mòi, do đó để bắt được cùng một lượng cá, các tàu kéo lưới bắt cá bống sẽ phải đi những hải trình dài hơn, mất nhiều nhiên liệu và thời gian hơn. Các loài cá này cũng ít dinh dưỡng hơn cá mòi. Khi đại dương ấm lên, lượng cá mòi suy giảm sẽ làm tăng giá thành thức ăn thủy sản, kéo theo giá cá hồi và tôm tăng.    Các quần thể cá mòi còn là nguồn thức ăn cho cá thu và các loài khác – chúng ăn cá mòi trong môi trường tự nhiên và lớn lên trở thành sản phẩm đánh bắt giá trị cho ngư dân. Số lượng cá mòi giảm đồng nghĩa với việc những loài này cũng trở nên khan hiếm hơn và khó đánh bắt, kéo theo tăng giá.    Trước đây, khi nước trở biển ấm lên, một số loài cá mòi có thể bơi về phía nam đến vùng nước mát hơn để sinh sản. Nhưng những vùng biển phía nam này không giàu dinh dưỡng như vùng ngoài khơi bờ biển Peru để có thể nuôi dưỡng quần thể cá mòi trong thời gian dài.    Theo William Cheung, nhà sinh thái học biển tại Đại học British Columbia, Vancouver, khi một quần thể cá bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu, cần bắt đầu quản lý khai thác thủy sản thận trọng hơn và giảm sản lượng đánh bắt cho phép.    Salvatteci lưu ý rằng quần thể cá mòi ở Peru đã được quản lý hiệu quả, nhưng có thể cải thiện hơn nữa bằng cách khuyến khích người dân ăn trực tiếp nhiều cá mòi hơn, thay vì dùng cho chăn nuôi thủy sản. Cách tiêu thụ này có thể tạo ra hiệu suất sinh thái – tỉ lệ phần trăm chuyển hóa năng lượng giữa các bậc dinh dưỡng trong hệ sinh thái – cao hơn, do tận dụng trực tiếp nguồn dinh dưỡng từ cá mòi.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Ca phẫu thuật không trọng lượng thành công      Nhóm các bác sĩ Pháp tuyên bố họ đã thực hiện thành công ca phẫu thuật đầu tiên trên cánh tay người trong điều kiện không trọng lượng, trên một chiếc Airbus được thiết kế đặc biệt.    Các bác sĩ đã loại bỏ được khối u lành khỏi cánh tay của một tình nguyện viên, trong khi chiếc máy bay nhào lộn theo hình parabol để tạo ra môi trường không có trọng lượng.  Cuộc phẫu thuật diễn ra chưa đầy 11 phút, với 31 khoảng thời gian có trọng lực bằng không, mỗi lần kéo dài 22 giây.  Trưởng nhóm phẫu thuật Dominique Martin cho biết ca mổ “đã tiến triển mà không gặp trở ngại đặc biệt nào”.  “Giờ đây chúng tôi biết rằng có thể phẫu thuật cho con người trong vũ trụ mà không quá khó khăn”.  Trong 2 giờ liên tiếp trong điều kiện không trọng lượng, các bác sĩ phẫu thuật có thể tiến hành một ca mổ ruột thừa, Martin bổ sung. Đầu năm nay, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm giải phẫu động mạch trên đuôi một con chuột trong tình trạng chân không.  Giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu là thực hiện phẫu thuật bằng một cánh tay robot, điều khiển từ mặt đất thông qua vệ tinh. Thí nghiệm này có thể diễn ra trong năm tới, Martin nói.  (theo BBC)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cà phê có thể làm giảm các bệnh thoái hóa thần kinh      Một nghiên cứu mới cho thấy rằng việc uống cà phê có thể giúp bảo vệ bạn chống lại cả hai bệnh thoái hóa thần kinh gồm Alzheimer và Parkinson.        Nghiên cứu nói trên của Viện Nghiên cứu não bộ Krembil, trực thuộc Viện Nghiên cứu Krembill, Canada đã đưa ra gợi ý rằng uống một cốc cà phê buổi sáng hơn không chỉ dừng lại ở mức giúp thúc đẩy năng lượng và sự tập trung trong công việc và cuộc sống mà cũng có thể giúp bảo vệ bạn khỏi việc phát triển cả hai loại bệnh Alzheimer và Parkinson.    Tiến sĩ Donald Weaver, giám đốc của Viện Krembil cho biết “Dường như việc uống cà phê có một vài mối tương quan với giảm nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer và Parkinson. Nhưng chúng tôi muốn nghiên cứu tại sao lại như vậy? Những phức hợp nào liên quan đến điều đó cũng như bằng cách nào cà phê có tác động đến việc suy giảm nhận thức liên quan đến tuổi tác”.  TS.Weaver đã liên hệ với TS. Ross Mancini nghiên cứu mời (research fellow) tại Viện và nhà sinh học Yanfei Wang để cùng nghiên cứu tìm ra điều đó. Nhóm nghiên cứu chọn tìm hiểu trên 3 loại cà phê khác nhau bao gồm cà phê rang nhạt, cà phê rang đậm và cà phê rang đậm loại bỏ caffein.     TS. Mancini cho biết “Trong những thử nghiệm ban đầu của chúng tôi, cả hai loại cà phê rang đậm có caffein và khử caffein đều có tiềm năng như nhau. Điều này cho thấy tác động phòng ngừa các bệnh thoái hóa thần kinh của cà phê không có liên quan đến hàm lượng caffein”.    Sau đó, TS.Mancini đã xác định được một nhóm các hợp chất gọi là phenylindane, xuất hiện từ quá trình rang để chế biến hạt cà phê. Phenylindane là một chất ức chế kép vì chúng là hợp chất duy nhất trong số các hợp chất sử dụng nghiên cứu có tác dụng trong việc ngăn chặn và ức chế sự cộng gộp của cả hai loại protein beta amyloid và tau, hai mảnh protein phổ biến liên quan trong bệnh Alzheimer và Parkinson. Quá trình rang cà phê làm lượng phenylindane cao hơn, do đó hạt cà phê rang đậm dường như có tác dụng bảo vệ tốt hơn so với cà phê rang nhạt.    TS. Mancini cho biết “Đây là lần đầu tiên có nhóm nghiên cứu tương tác của phenylindane với các protein gây ra bệnh Alzheimer và Parkinson. Bước tiếp theo sẽ phải nghiên cứu xem lợi ích của những hợp chất này như thế nào và liệu chúng có khả năng xâm nhập vào dòng máu hoặc vượt qua hàng rào máu não hay không?”    Nhóm nghiên cứu cũng lưu ý rằng sử dụng hợp chất tự nhiên mang lại nhiều lợi ích hơn việc nghiên cứu tổng hợp ra hợp chất đó. Vì Mẹ thiên nhiên là một nhà hóa học tuyệt vời hơn nhiều so với chúng ta và Mẹ thiên nhiên đã làm ra những hợp chất phenylindane. Theo ý kiến của TS. Weaver, nếu bạn cần một hợp chất phức tạp như vậy, tốt hơn là nên trồng nó trong những mùa vụ, thu hoạch, xay vụn và trích xuất ra nó còn tốt hơn là cố gắng để thử nghiên cứu và chế tạo ra nó. Tuy nhiên, ông thừa nhận rằng cần có nhiều nghiên cứu cần thiết trước khi chuyển hợp chất phenylindane này thành các liệu pháp điều trị tiềm năng.    Những gì nghiên cứu này làm là lấy bằng chứng dịch tễ học và cố gắng tinh chỉnh nó và chứng minh rằng thực sự có những thành phần trong cà phê có lợi trong việc ngăn chặn sự suy giảm nhận thức. Điều này rất thú vị, nhưng việc sử dụng cà phê làm một liệu pháp điều trị y tế thì tuyệt đối không.    Kiều Oanh dịch     Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/11/181105160825.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cá sấu đầu khủng long      Một loài cá sấu kỳ dị với chiếc đầu giống khủng long sống cách đây khoảng 135 triệu năm vừa được tìm thấy ở Argentina.    Khám phá này đã được công bố trên tờ Science trong đó nhấn mạnh loài động vật này đã thống trị các đại dương trên Trái đất trong vòng hàng triệu năm. Được đặt tên “Godzilla” (), loài động vật này sẽ là chủ đề chính của tạp chí National Geographic số ra tháng 12 tới.  “Đây là loài cá sấu kỳ lạ nhất được biết đến từ trước tới nay”, Diego Pol, nhà nghiên cứu thuộc Đại học bang Ohio cho biết.  Được một nhóm nông dân thông báo, một nhóm các nhà cổ sinh vật học đứng đầu là Zulma Gasparini thuộc Đại học La Plata, Argentina đã thu thập được bộ xương và các mảnh hóa thạch của động vật này ở tỉnh Neuquen từ năm 1996. “Khám phá này rất thú vị bởi nó chứng tỏ đã có rất nhiều loại cá sấu từng sinh sống ở kỷ Jura hơn là chúng ta tưởng”, Pol nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cả thế giới tiến lên… Mặt Trăng      Ngày 16/8/2007, Cơ quan thám hiểm Không gian Nhật Bản (JAXA) và Mitsubishi Heavy Industries, Ltd. thông báo: vệ tinh Mặt Trăng đầu tiên của Nhật Bản có tên Kaguya sẽ được phóng đi vào 10 giờ 35 phút 47 giây sáng 13/9/2007.  Ngày 10/8, Bộ Chỉ huy dự án vệ tinh Mặt Trăng Hằng Nga -1 của Trung Quốc (TQ) nói dự án này đã chuyển sang giai đoạn sẵn sàng phóng. Đại Công Báo của Hong Kong nói Hằng Nga-1 sẽ “thăng thiên” ngay sau Đại hội lần thứ XVII Đảng cộng sản TQ. Rất tiếc là chưa thấy công bố chi tiết kỹ thuật cụ thể nào về Hằng Nga-1, tuy các tin tức tuyên truyền rất ồn ào.  Một cuộc chạy đua mới trên con đường chinh phục Mặt Trăng đã chính thức bắt đầu.    Cuộc chạy đua thám hiểm Mặt Trăng lần thứ nhất  Trong cuộc chạy đua chinh phục vũ trụ nhằm phục vụ chiến tranh lạnh, từ năm 1959, Mỹ và Liên Xô bắt đầu phóng các thiết bị thăm dò tới gần Mặt Trăng để quan sát, chụp ảnh, thu được rất nhiều số liệu quý báu về thiên thể này. Cho tới năm 1976, họ đã phóng 108 thiết bị thăm dò Mặt Trăng, trong đó 48 lần thành công. Liên Xô còn cho tàu vũ trụ không người lái hạ cánh xuống Mặt Trăng lấy được mẫu đất đá đem về. Sáu tuần sau khi Gagarin bay lên vũ trụ, Tổng thống Kennedy công bố kế hoạch đưa người lên Mặt Trăng vào cuối thập niên 60 theo Chương trình Apollo. Trong thời gian 1969-1972, Mỹ đã 6 lần đưa cả thảy 12 người lên Mặt Trăng, đem về 382 kg đất. Đây là một thành công vẻ vang của trí tuệ con người, một thể hiện tập trung tiến bộ KHKT của nhân loại, đánh dấu cao trào đầu tiên trong công cuộc nghiên cứu vũ trụ. Ngoài kết quả tìm hiểu Mặt Trăng ra, chương trình Apollo đã kéo theo sự nhảy vọt của công nghệ cao, hình thành nhiều ngành công nghiệp mới ở Mỹ, làm cho sức mạnh tổng hợp của Mỹ tăng lên rất mạnh. Sau đó, Liên Xô bỏ dở cuộc đua đưa người lên Mặt Trăng; thất bại này đã tác động nặng nề tới sự phát triển của Liên Xô, thậm chí góp phần đưa tới sự tan rã của chế độ XHCN ở nước này.               Mặt Trăng phần hướng về Trái Đất          TT Kennedy tuyên bố chương trình Apollo;              Trong lần cuối cùng đổ bộ lên Mặt Trăng (12/1972), hai nhà du hành vũ trụ đã ở lại trên đó 75 giờ. Sau chuyến bay này Mỹ tuyên bố chấm dứt Chương trình Apollo; chủ yếu vì họ đã đạt mục đích diễu võ dương oai cho thế giới, nhất là cho Liên Xô, thấy rằng Mỹ mới là siêu cường số 1 toàn cầu; mặt khác cũng do Apollo tốn quá nhiều tiền: 26,5 tỷ USD (hơn 200 tỷ USD thời giá hiện nay).  Năm 1984, Liên Hợp Quốc thông qua “Hiệp ước chỉ dẫn hoạt động trên Mặt Trăng và các thiên thể khác” (gọi tắt là Hiệp ước Mặt Trăng), quy định mọi tài nguyên trên Mặt Trăng và các thiên thể khác đều là tài sản chung của nhân loại, không một quốc gia, đoàn thể hoặc cá nhân nào được chiếm làm của riêng. Năm 1989, Tổng thống Bush (cha) tuyên bố Mỹ phải trở lại Mặt Trăng.  Đầu năm 1990, Nhật Bản phóng vệ tinh MUSES-A nặng 11 kg lên Mặt Trăng.     Bốn năm sau, Mỹ tiến hành dự án Clementine phóng vệ tinh bay vòng Mặt Trăng 71 ngày, lập bản đồ 38 triệu km2 bề mặt thiên thể này, thăm dò sự phân bố của nhiều nguyên tố trên đó và bất ngờ phát hiện có dấu hiệu tồn tại nước trên Mặt Trăng. Đầu năm 1998, Mỹ phóng Lunar Prospector bay vòng Mặt Trăng 19 tháng, lập bản đồ phân bố 11 nguyên tố, phát hiện trữ lượng khổng lồ của nhiều nguyên tố có rất ít trên Trái Đất. Thành tựu này đã kích thích mạnh mẽ nhiều nước quan tâm tới việc thăm dò Mặt Trăng, trong đó hăng hái nhất là châu Á.  Cuộc chạy đua  thám hiểm Mặt Trăng lần thứ hai  Cuộc đua này bắt đầu với việc Cơ quan Không gian châu Âu ESA phóng tàu thăm dò SMART-1 (Small Mission Advanced Research in Techonoly, 9/2003) do Thụy Điển thiết kế, áp dụng công nghệ năng lượng hoàn toàn mới. Trong 3 năm hoạt động, SMART-1 gửi về rất nhiều ảnh chụp Mặt Trăng giúp ESA vẽ bản đồ ba chiều và phân tích đất Mặt Trăng.               Tổ hợp 3 vệ tinh Kaguya;             Đầu năm 2004, Tổng thống Bush công bố chiến lược mới về nghiên cứu vũ trụ, đề xuất lấy việc thăm dò Mặt Trăng và sao Hỏa làm nội dung chính để tìm hiểu toàn diện hệ Mặt Trời. Sau đó các nước liên quan đều điều chỉnh lại chiến lược nghiên cứu vũ trụ của mình; nhiều nước đặt vấn đề thăm dò Mặt Trăng và đưa người lên đó. Tháng 9/2005, NASA đưa ra Constellation Program, kéo dài 13 năm, chi phí 104 tỷ USD (tương đương 55% chương trình Apollo) nhằm đưa người trở lại Mặt Trăng năm 2018. Sở dĩ cần lâu thế, một phần là do phải chờ đến năm 2010 (khi chấm dứt khai thác tàu con thoi quá tốn kém) thì mới có tiền. Cuối 2006, NASA công bố kế hoạch: năm 2008 phóng vệ tinh Lunar Reconnaissance Orbiter (LRO) vẽ bản đồ toàn bộ Mặt Trăng; năm 2018 đưa người lên đó xây dựng căn cứ lắp ráp tàu vũ trụ để từ đây bay lên sao Hỏa; năm 2020 thám hiểm sao Hỏa. Khó khăn chính của NASA là thiếu kinh phí. Mới đây giám đốc NASA nói có thể người TQ sẽ lên Mặt Trăng trước Mỹ.               Sơ đồ quỹ đạo của Kaguya            Cuộc chạy đua lên Mặt Trăng lần này khác với lần trước ở chỗ không mang tính chất chính trị mà chủ yếu nhằm mục đích dùng Mặt Trăng để quan sát nghiên cứu Trái Đất và làm nơi phóng tàu vũ trụ lên sao Hỏa; mặt khác có rất nhiều nước tham gia, hợp tác quốc tế rộng rãi. Nga, EU, Nhật Bản, Brazil, Ấn Độ, Anh, Đức, Ukraine, Áo đều đã đưa ra kế hoạch thăm dò Mặt Trăng. Từ năm 1999 tới nay, “Đại hội quốc tế thăm dò và sử dụng Mặt Trăng” được tổ chức mỗi năm một kỳ luân phiên tại các nước. Đại hội VIII họp tại Bắc Kinh (7/2006) có 240 nhà khoa học từ 18 nước tới dự đã ra Tuyên ngôn Bắc Kinh Mặt Trăng, đưa ra 13 điểm đạt được đồng thuận, trong đó có điểm “các tài liệu khảo sát được đều phải cung cấp nhanh nhất trong phạm vi rộng nhất (cho các nước)”. Đại hội VII họp tại Canada (9/2005) kêu gọi lập “Làng Mặt Trăng toàn cầu”. Tháng 4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Mỹ có bàn với Tổng thống Bush việc hợp tác nghiên cứu vũ trụ; tiếp đó tháng 9 Giám đốc NASA Michael Griffin sang thăm TQ. Ngoài ra còn có tổ chức IADC (Inter-Agency Space Debris Coordination Committee), mỗi năm họp một lần, gồm 11 nước thành viên; năm nay đã họp tới phiên thứ 25. Sự hợp tác chặt chẽ và chia xẻ lẫn nhau các kết quả khảo sát được sẽ thúc đẩy công tác thăm dò Mặt Trăng tiến nhanh hơn trước. Các website công bố hàng ngàn bức ảnh quan sát Mặt Trăng, không chỉ đưa ra vài bức tượng trưng như hồi chiến tranh lạnh.    Điểm mặt một số anh hào  Tuy bắt đầu muộn và bị nhiều ràng buộc do các quy ước hạn chế phát triển vũ khí nặng, nhưng Nhật Bản nhanh chóng vươn lên dẫn đầu châu Á về công nghệ vũ trụ. Năm 1972, Nhật phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất (sau TQ 2 năm). Đầu năm 1990 Nhật phóng vệ tinh thăm dò Mặt Trăng Hagomoro (khi lên quỹ đạo đã đổi tên là Hiten) nặng 197,3kg; trở thành quốc gia thứ 3 phóng được vệ tinh Mặt Trăng. Sau chiến tranh lạnh, công tác nghiên cứu vũ trụ của Nhật được đẩy mạnh trên tất cả các mặt: tàu vũ trụ, vệ tinh gián điệp, tên lửa mạnh, đưa người lên vũ trụ, và tích cực tham gia hợp tác quốc tế. Năm 2003, Nhật hợp nhất 3 cơ quan nghiên cứu vũ trụ vào một tổ chức chung là JAXA (Giám đốc: ông Keiji Tachikawa). Năm 2005, một nhà du hành vũ trụ Nhật đã lên trạm ISS bằng tàu con thoi Discovery.            Sơ đồ quỹ đạo của Hằng Nga-1          Từ năm 1991, Nhật bắt đầu chương trình Lunar-A dự kiến phóng vệ tinh hạ cánh xuống Mặt Trăng vào năm 1995, nhưng do chưa giải quyết tốt công nghệ hạ cánh nên chương trình này sau phải bỏ. Dự án SELENE, còn gọi là Kaguya (Nữ thần Mặt Trăng) với chi phí 269 triệu USD sau 4 năm trì hoãn nay đã xác định ngày 13/9 sẽ phóng vệ tinh bằng tên lửa H-IIA từ Trung tâm Vũ trụ Tanegashima. Vào www. jaxa.jp bạn sẽ thấy mọi chi tiết cụ thể về dự án này. Khi tới gần Mặt Trăng, tên lửa sẽ phóng ra một vệ tinh mẹ nặng gần 3 tấn và hai vệ tinh con mỗi cái 50 kg, mang theo 15 thiết bị đo đạc. Một vệ tinh con chuyên trung chuyển tín hiệu giữa vệ tinh mẹ với mặt đất; một cái khác đo trọng trường Mặt Trăng. Vệ tinh mẹ bay trên quỹ đạo tròn cách Mặt Trăng 100km, tiến hành quan trắc toàn diện trong thời gian 1 năm, tiến hành phân tích thành phần hóa học, sự phân bố các khoáng sản, đặc điểm bề mặt Mặt Trăng. Hai vệ tinh con bay trên quỹ đạo e-lip. Dự án Kaguya được các nhà khoa học Mỹ đánh giá là chương trình thăm dò Mặt Trăng lớn nhất sau Apollo. Nhật còn dự định năm 2020 sẽ đưa người lên xây dựng, năm 2030 hoàn tất căn cứ địa trên Mặt Trăng.   Từ năm 2003, Trung Quốc bắt đầu thực thi Chương trình thăm dò Mặt Trăng chia ba giai đoạn: 1) Thăm dò Mặt Trăng bằng thiết bị không người lái; 2) Đưa người lên Mặt Trăng. 3) Xây dựng căn cứ địa trên Mặt Trăng. Giai đoạn I chia 3 bước. Bước một: phóng vệ tinh bay quanh Mặt Trăng chừng một năm nhằm tìm hiểu thiên thể này một cách toàn diện, hệ thống. Bước hai: đổ bộ xe tự hành lên Mặt Trăng, thực hiện thăm dò cả một vùng. Bước ba: đưa robot lên Mặt Trăng lấy mẫu đất đá mang về Trái Đất. Bước 2 và 3 sẽ bắt đầu vào năm 2012 và 2017; thời điểm cụ thể sẽ xác định tùy theo kết quả bước trước. Nếu thuận lợi thì năm 2024 đưa người lên Mặt Trăng.  TQ hiện đang thực thi bước 1 của giai đoạn I, tức dùng tên lửa CZ3 phóng vệ tinh Hằng Nga-1 (Chang’e-1); trước định vào tháng 4/2007, sau lại hoãn tới nửa cuối năm nay. Kinh phí đã duyệt cho bước 1 là 1,36 tỷ NDT (hơn 175 triệu USD, nhỏ hơn kinh phí xây dựng sân vận động Bắc Kinh Olympic 2008). Trước đó, TQ đã thực hiện chương trình đưa người lên vũ trụ kéo dài 11 năm, chi phí hết 18 tỷ NDT.  Chương trình Hằng Nga nhằm 4 mục tiêu: (1) Vẽ bản đồ lập thể 3 chiều của toàn bộ Mặt Trăng với tỷ lệ xích khá lớn (Mỹ đã vẽ nhưng bỏ trống vùng 2 cực, độ chính xác thấp). (2) Thăm dò 14 loại nguyên tố và lập bản đồ phân bố trên toàn bộ Mặt Trăng. (Mỹ đã thăm dò được 5 loại sắt, titanium, uranium, thorium, potassium). (3) Đo độ dày lớp đất trên Mặt Trăng, nhằm ước tính chính xác các tài nguyên trong đó – việc này chưa nước nào làm. Đất Mặt Trăng chứa nhiều Helium-3, nhưng cần biết chiều dày của tầng đất thì mới ước tính được chính xác trữ lượng. Ngoài ra, qua độ dày của lớp đất có thể nghiên cứu lịch sử hình thành Mặt Trăng. (4) Thăm dò các đặc trưng cơ bản của không gian hệ Mặt Trời ở độ cao 400 nghìn km giữa Mặt Trăng với Trái Đất. TQ hiện mới phóng được vệ tinh tới độ cao 60 nghìn km nên còn thiếu nhiều số liệu.   Ấn Độ đang bắt đầu một chương trình thăm dò Mặt Trăng đầy tham vọng tuy gặp khó khăn là thiếu kinh phí. Theo kế hoạch của Cơ quan nghiên cứu Không gian Ấn Độ (ISRO), vệ tinh Chandrayaan-1 tức “Thuyền Mặt Trăng” nặng 525kg sẽ được phóng lên trong năm 2008 (kế hoạch cũ là 2007) nhằm vẽ bản đồ ba chiều của Mặt Trăng. Vệ tinh này sử dụng 4 thiết bị của EU và 2 của Mỹ.  Cơ quan Không gian Đức (DLR) cho biết ngoài việc tham gia nghiên cứu với ESA, nước này sẽ tự tiến hành thăm dò Mặt Trăng, vì đây là lĩnh vực họ có ưu thế – ngay từ năm 1942 Đức đã phóng thành công tên lửa A4 (tiền thân của V2) lên cao 100km. DLR dự kiến năm 2013 phóng vệ tinh khảo sát cấu tạo bề mặt và vẽ bản đồ 3 chiều Mặt Trăng, với chi phí 300 triệu Euro/năm. Hiện Đức chưa có dự định đưa người lên thiên thể này; nhưng do họ cấp nhiều kinh phí nhất cho chương trình đưa người lên Mặt Trăng của ESA, nên chắc hẳn người Đức sẽ được ESA đưa lên đầu tiên.  Trung tâm Không gian quốc gia Anh (BNSC) dự kiến trước năm 2010 sẽ phóng 2 vệ tinh Mặt Trăng. Anh đang phối hợp với Mỹ khảo sát khả năng có nước đá ở hai cực Mặt Trăng; đây là vấn đề rất quan trọng, vì không có nước thì khó có thể cho người ở lại Mặt Trăng để làm việc.  Cường quốc vũ trụ Nga 30 năm qua ngừng nghiên cứu Mặt Trăng; trong kế hoạch vũ trụ 2006-2015 của ROSCOSMOS không đặt vấn đề lên Mặt Trăng, nay lại thấy nói có thể trong năm 2007 sẽ sửa đổi kế hoạch này và trình chính phủ duyệt. Tổng Giám đốc công ty Energia (đơn vị thầu chế tạo tên lửa và vệ tinh) thì nói có thể năm 2009 Nga sẽ phóng tàu Phobos lấy mẫu đất Mặt Trăng về nghiên cứu, năm 2012 phóng tàu Luna-Glob; sau năm 2025 đưa người lên sao Hỏa.  Chính phủ Hàn quốc mới đây tuyên bố bắt đầu kế hoạch 10 năm 2007-2016 thăm dò Mặt Trăng và các hành tinh trong hệ Mặt Trời, với kinh phí 4,1 tỷ USD. Hiện đang hợp tác với Nga và Israel về công nghệ tên lửa. Malaysia cùng một số nước khác cũng đã đưa ra các dự án thăm dò nghiên cứu Mặt Trăng.  Vì sao các nước đều muốn lên Mặt Trăng?  Chương trình Apollo trước đây bỏ sót nhiều vấn đề chưa khảo sát; hơn nữa Mỹ giữ bí mật kết quả thăm dò được (chẳng hạn họ chỉ biếu TQ đúng một gam đất Mặt Trăng). Vì vậy còn rất nhiều điều cần tìm hiểu về Mặt Trăng. Thí dụ vùng hai cực có thể có băng nhưng chưa được thăm dò kỹ, mà nước là thứ quan trọng nhất cho sự sống; hoặc chưa vẽ được bản đồ ba chiều chính xác cho toàn bộ Mặt Trăng, chưa khảo sát kỹ trữ lượng các nguyên tố, nhất là Helium-3 – nhiên liệu lý tưởng của các nhà máy phát điện nhiệt hạch mà trong dăm chục năm nữa sẽ là nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng cho nhân loại. Ước tính mỗi năm toàn thế giới cần 100 tấn Helium-3, nhưng Trái Đất chỉ có 15 tấn, còn trên Mặt Trăng có trữ lượng đủ dùng vài chục nghìn năm cho toàn nhân loại. Mặt Trăng còn có trữ lượng lớn các khoáng sản khác như titan, sắt… Từ Mặt Trăng có thể dễ dàng nghiên cứu về nguồn gốc của Trái Đất, vì Mặt Trăng không có không khí, gió bão, mưa… làm môi trường bị biến đổi, cho nên còn giữ được tình trạng nguyên khai. Nhiều nước còn đặt mục tiêu lập căn cứ trên Mặt Trăng để chế tạo một số vật liệu cần điều kiện chân không…, và làm nơi cư trú lâu dài nhằm khai thác khoáng sản và lắp ráp tên lửa phóng lên sao Hỏa – vì từ đây đi sao Hỏa sẽ đỡ tốn kém rất nhiều. Từ trên Mặt Trăng quan sát sự biến đổi của Trái Đất sẽ rất thuận tiện vì có thể bao quát toàn Trái Đất, nhất là sự ấm lên của khí hậu, lỗ thủng tầng ô-zôn, khả năng các tiểu hành tinh va chạm với Trái Đất….    Sân bay vũ trụ Tây Sương (TQ)    Người khai sinh ngành Vũ trụ học                     Nhà vật lí người Mĩ Ralph Alpher, người đã đi tiên phong trong việc tính toán sự tàn dư của các nguyên tố (elements) được tạo ra trong thời kì đầu của vũ trụ cũng như tiên đoán nhiệt độ của bức xạ tàn dư còn lại sau vụ nổ Big Bang đã từ trần ở tuổi 86.  Sinh ra trong một gia đình Do thái ở Washington DC ngày 3 tháng 2 năm 1921, Ralph Alpher đã theo học tại trường Đại học George Washington. Tại đây ông đã gặp Gamow người sau đó đã nhận ông vào làm nghiên cứu sinh. Alpher cùng với Gamow bắt đầu tính toán sự tàn dư tương đối của các nguyên tố mà chúng có thể được sinh ra từ vụ nổ Big Bang cực nóng.  Hai ông đã giả thiết rằng vũ trụ ban đầu rất nóng và chứa đầy các neutrons. Hạt nhân nguyên tử được tạo thành bằng việc cùng lúc bắt giữ nhiều neutrons, với việc phân rã hạt nhân không liên tục để tạo ra một hạt nhân nặng hơn cộng với một electron và một neutrino. Các tính toán của họ đã chỉ ra một cách đúng đắn là sự bức xạ tàn dư của các nguyên tố cơ bản trong vũ trụ phải giảm dần theo khối lượng của nguyên tử.  Tuy nhiên, phiên bản đầu tiên của “Sự tổng hợp hạt nhân Big Bang” (Big Bang nucleosynthesis) đã không thể giải thích được nguồn gốc của các yếu tố cơ bản như Alpher và Gamow đã từng hy vọng – Ngày nay chúng ta biết rằng các nguyên tố nặng hơn lithium được tạo ra bên trong những ngôi sao. Tuy thế, những tính toán của họ đã đánh dấu sự bắt đầu của ngành Vũ trụ học như là một nhánh mới của Vât lí bằng việc ước tính sự tàn dư của các hạt nhân nguyên tử mà có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm.  Alpher và Gamow đã công bố những tính toán của họ trong một bài báo vào năm 1948 trên tạp chí Physical Review. Vài tháng sau, Alpher cùng với Robert Herman, người đến từ Đại học Johns Hopkins, đã công bố một bài viết tiên đoán rằng nhiệt độ của bức xạ tàn dư sau vụ nổ Big Bang có thể là vào khoảng 5 độ Kelvil (K). (Arno Penzias và Robert Wilson ở phòng thí nghiệm Bell sau này đã chia sẻ giải thưởng Nobel dành cho Vật lí năm 1978 cho việc phát hiện ra nhiệt độ bức xạ nền của vũ trụ là 2,7 K).  Tuy nhiên, đóng góp của Alpher đã gần như bị lãng quên, một phần vì vào năm 1955 ông đã rời bỏ khỏi lĩnh vực Vũ trụ học mà gia nhập vào trung tâm nghiên cứu General Electric ở Schenectady, New York. Sau đó chuyển đến trường Union College năm 1986, ở đó ông trở thành giáo sư danh dự của trường.  Ông đã được trao giải thưởng US National Medal of Science năm 2005.  Van-Nam Do (lược dịch theo Physics World)  Hồ Anh Hải       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các cấu trúc bị quên lãng trong tế bào trở lại trong cuộc chiến chống virus      Nghiên cứu mới của Đại học Arizona đã tiết lộ cấu trúc và chức năng của một trong những chiến lược mới nhất của vi khuẩn trong cuộc chiến chống lại virus: một nhóm các enzyme được tổ chức chặt chẽ, cung cấp khả năng phản ứng miễn dịch nhanh chóng trong việc phá vỡ DNA có hại của virus xâm nhập.      Một bức ảnh chụp từ kính hiển vi điện tử hiển thị các cấu trúc sợi SgrAI/DNA. Nguồn: Nancy Horton  “Đây là một phần của cuộc chiến lâu đời nhất từ trước đến nay”, bà Nancy Horton, phó giáo sư sinh học phân tử và tế bào, người phụ trách phòng thí nghiệm thực hiện nghiên cứu được công bố vào tháng trước trên tạp chí Structure. “Cuộc chiến này diễn ra ở khắp mọi nơi — từ các đại dương đến đất liền rồi đến trong ruột của chính chúng ta.”  Enzyme là các protein trong tế bào sống, xúc tác các phản ứng hóa học. Một số enzyme có thể mang nhiều hình dạng, mỗi hình dạng có một chức năng khác nhau và có thể đảo chiều qua lại giữa hình dạng đó. Trong trường hợp này, một loại enzyme cụ thể là SgrAI có hình dạng có thể dần dần cắt DNA xâm nhập. Tuy nhiên, khi nhiều enzyme như vậy liên kết và quấn quanh chiều dài DNA, chúng tạo ra một sợi có thể tăng khả năng phân cắt DNA lên gấp 200 lần.  “Enzyme SgrAI chứa hai nguyên tử kim loại và chúng phải đặt những nguyên tử này ngay bên cạnh nơi DNA sẽ bị phân cắt”, Horton cho biết. “Cấu trúc enzyme ở dạng phi sợi đặt một trong hai nguyên tử kim loại ở sai vị trí. Trong cấu trúc dạng sợi, chúng ta thấy được sự thay đổi hình dạng enzyme để đặt nguyên tử đó vào đúng vị trí”.  Khả năng phản ứng miễn dịch tức thời vô cùng quan trọng, vì những loại virus tấn công vi khuẩn, còn được gọi là thể thực khuẩn, gắn bên ngoài tế bào vi khuẩn trước khi xâm nhập vào tế bào cùng vật liệu di truyền của chúng. Một khi đã vào bên trong tế bào, thể thực khuẩn chiếm quyền điều khiển cơ chế nhân đôi của vi khuẩn để tổng hợp, tạo ra các bản sao của chính chúng. Cuối cùng, các virus vừa được tạo ra từ những tế bào bị chiếm quyền điều khiển đã bùng phát, lây nhiễm sang các vi khuẩn khác.  “Đây là nghiên cứu thực sự cơ bản,” Horton nói. “Nhưng bạn cần phải biết rõ mọi thứ hoạt động như thế nào trước khi bạn có thể tìm ra phương án khắc phục chúng. Và có rất nhiều enzyme quan trọng khác sử dụng cơ chế này. Khi chúng không hoạt động, đó là những dấu hiệu của bệnh ung thư, các bệnh tự miễn dịch, bệnh tiểu đường và nhiều bệnh khác — đây là những nguyên tắc cơ bản của sinh học tế bào.”  Những phát hiện này chỉ là một phần trong nghiên cứu lớn hơn của Horton về sự tồn tại của các enzyme dạng sợi.  Phát hiện các cấu trúc dạng sợi  Các cấu trúc dạng sợi được phát hiện lần đầu tiên vào khoảng 50 năm trước, trước khi bị rơi vào quên lãng bởi chính các phương pháp nhằm tiết lộ hoạt động bên trong của tế bào.  Vào những năm 1960, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kính hiển vi nhằm đẩy các electron ra khỏi vật thể của chúng để hiển thị các chi tiết nhỏ hơn mà bước sóng ánh sáng có thể nhìn thấy được. Nhưng sau đó, tinh thể học tia X – kỹ thuật dẫn đến việc phát hiện ra cấu trúc của DNA – đã xuất hiện và giúp các nhà nghiên cứu có thể thu được hình ảnh có độ phân giải cao hơn. Tinh thể học tia X đã được sử dụng trong các phòng thí nghiệm trong những thập kỷ tiếp theo và các cấu trúc dạng sợi không bị phát hiện vì chúng không ở dưới dạng mà các cấu trúc tinh thể có thể phát hiện được.  Các cấu trúc dạng sợi đã bị giới khoa học lãng quên cho đến khoảng năm 2010, khi một số phòng thí nghiệm trên khắp thế giới, bao gồm cả phòng thí nghiệm của Horton, bắt đầu khảo sát nghiên cứu cấu trúc tế bào một lần nữa bằng kính hiển vi điện tử tối tân hơn, với độ phân giải cao hơn.  “Khi phòng thí nghiệm của tôi lần đầu tiên công bố một bài báo về sự tồn tại của những cấu trúc dạng sợi (vào năm 2010), công bố này đã vấp phải rất nhiều tranh cãi,” Horton nói. “Trong khoảng thời gian tôi phát hiện ra nó, tôi nhận thấy một số phòng thí nghiệm khác cũng có phát hiện tương tự. Sau khi lật lại các tài liệu khoa học, tôi nhận ra rằng chúng ta đã biết về điều này từ nhiều thập kỷ trước, nhưng chúng ta đã quên nó đi. Đó là lý do tại sao tôi gọi nó là sự phục hưng — đó là một sự tái khám phá. Nhưng sau đó chúng tôi không biết tại sao và làm thế nào các sợi này hình thành. Vì vậy, công việc gần đây chúng tôi đã làm là xem xét tại sao các sợi được hình thành, chúng mang lại những lợi ích gì, và để làm gì. “  Trong tháng này, Horton đã công bố một bản tóm tắt trên tạp chí Nature, mục Reviews Molecular and Cellular Biology về những khám phá độc lập liên quan đến các cấu trúc dạng sợi. Trong bản tóm tắt này, bà xác định những khám phá này về cơ bản là giống nhau.  Hiện tại bà là người đứng đầu trong một lĩnh vực nghiên cứu mới – sự hình thành sợi ở enzyme. Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ đã tài trợ tổng cộng hơn 2,3 triệu USD để bà tiến hành nghiên cứu cấu trúc và cơ chế hình thành dạng sợi ở SgrAI và phosphofructokinase – một loại enzyme chuyển hóa của con người, còn được gọi là PFK – để tìm hiểu về lợi ích của sự hình thành cấu trúc dạng sợi nhằm điều chỉnh hoạt động của enzyme.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-hidden-cellular-emerge-viruses.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các cơ chế sửa lỗi DNA      Như chúng ta đã biết, Tomas Lindahl, Paul Modrich và Aziz Sancar, giải Nobel Hóa học 2015, phát hiện những điều cơ bản và có tính đột phá trong cơ chế enzyme sửa lỗi DNA. Bài viết sau đây nhằm cung cấp thông tin cho những bạn đọc muốn hiểu thêm các cơ chế sửa lỗi DNA.       DNA (Deoxyribonucleic acid) là phân tử mã hóa các thông tin di truyền. DNA gồm hai dãy nucleotide kéo dài xoắn nhau.  Mỗi nucleotide gồm một base (guanine G, adeline A, thymine T, cytosine C) chứa nitrogen + một đường + một nhóm phosphate. Giữa hai dãy xoắn nhau là các cặp base ghép đôi với nhau.  Trên hình 1 ta thấy các base được ghép đôi với nhau: C màu đỏ ghép đôi với G màu xanh lá cây và A màu vàng ghép đôi với T màu xanh.  Trong tế bào, DNA được tổ chức thành những cấu trúc dài gọi là nhiễm sắc thể. Nhiễm sắc thể sẽ được sao bản khi tế bào phân chia, quá trình này gọi là quá trình tái tạo DNA.  Nhiễm sắc thể chứa DNA nằm trong nhân tế bào dễ nhìn thấy khi tế bào phân chia; DNA chứa gene (gene là một phần của DNA). Các nhiễm sắc thể hợp thành genome, tức chất liệu di truyền.  Khi các tế bào phân chia thì các phân tử DNA được sao lại. Sự nhiễu loạn DNA trong quá trình tái tạo có thể dẫn đến nhiều bệnh di truyền, hiện tượng lão hóa và các bệnh ung thư. Các thông tin di truyền điều khiển hình dạng con người đã chảy qua thân thể chúng ta nhiều trăm ngàn năm. Song thông tin đó dễ bị nhiễu loạn bởi nhiều yếu tố. Tomas Lindahl, Aziz Sancar và Paul Modrich (Nobel Hóa học 2015) đã phát hiện và giải thích tế bào đã sửa chữa DNA và bảo toàn thông tin di truyền như thế nào. Ba ông đã tiến đến mô tả quá trình sửa chữa đó ở mức phân tử.  Thế nào là lỗi của DNA  Lỗi của DNA xảy ra khi quy luật ghép đôi các base (C-G) và (A-T) bị vi phạm. Có ba loại lỗi và ba cơ chế sửa chữa.  1/ Loại lỗi thứ nhất (xem hình 2)           Hình 2. Cơ chế cắt và sửa base          Lỗi này xảy ra khi một trong các base A, T, C, G vì một lý do nào đó biến thành một chất khác. Ví dụ:   Cytosine C thường đánh mất nhóm amino và biến thành uracine U làm sai hỏng thông tin di truyền. Cytosine C luôn ghép đôi với guanine G, còn uracine U không thể ghép đôi với G. Nếu lỗi này cứ tiếp tục thì xuất hiện đột biến (mutation) khi DNA được nhân lên (duplicated).  Muốn sửa lỗi này, ta cần cắt U và thay vào đó C. Đây cơ chế sửa lỗi có tên là cắt và sửa base (base excision repair).   Từ năm 1974, Lindahl đã phát hiện một enzyme vi khuẩn có khả năng sửa chữa lỗi này, đó là enzyme glycosylase. Năm 1996, ông thực hiện việc sửa chữa này in vitro.  Lindahl chứng minh rằng DNA là những phân tử không bền vững nội tại. DNA có thể phân rã ngay trong những điều kiện sinh học. Nhờ ý tưởng đó mà Lindahl có thể định dạng được glycosylase và mô tả tác động của chúng trong cơ chế cắt và sửa base.  2/ Loại lỗi thứ hai (xem hình 3)           Hình 3. Cơ chế cắt và sửa nucleotide          Loại lỗi này xảy ra khi trong một dãy nucleotide (DNA có hai dãy nucleotide xoắn vào nhau) có một base lại ghép nối với chính nó. Ví dụ T lại rời A mà tự ghép nối với mình (dưới tác động của bức xạ UV). Điều này làm nhiễu loạn thông tin di truyền. Cần cắt bỏ đoạn nucleotide chứa sai hỏng đó.   Cơ chế sửa chữa này có tên là cắt và sửa nucleotide (nucleotide excision repair).  Sancar đã nghiên cứu vấn đề này. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cơ chế photoreactivation (một dạng sửa chữa tế bào đầu tiên). Năm 1973, Sancar bắt đầu nghiên cứu môn hóa sinh. Ông phát hiện khi một vi khuẩn bị phơi nhiễm bức xạ UV thì sau đó sẽ được phục hồi do ánh sáng xanh. Sancar muốn tìm hiểu điều này từ quan điểm hóa học.  Sancar nghiên cứu bằng cách nào tế bào sửa chữa các hư hỏng do UV.  Ông và cộng sự tìm ra hai cách phục hồi hư hỏng: 1/ nhờ enzyme phụ thuộc ánh sáng (photolyase à photoreactivation), 2/ enzyme tối không phụ thuộc ánh sáng. Các enzyme này có khả năng nhận biết các hư hỏng do UV và sau đó thực hiện hai vết rạch để cắt đoạn (12 đến 13 nucleotide) có chứa hư hỏng.  3/ Loại lỗi thứ ba (xem hình 4)                        Hình 4. Cơ chế sửa lỗi ghép đôi nhầm          Trong trường hợp này mới trông dường như không có vấn đề gì đối với DNA nhưng nhìn kỹ ta thấy xuất hiện những chỗ ghép đôi không đúng.  Ví dụ trên hình 4 ta thấy có một chỗ T màu xanh lại ghép đôi với C màu đỏ (đáng lẽ T phải được ghép đôi với A), vậy là có vi phạm quy luật ghép đôi của DNA. Cần sửa chữa lỗi này bằng cách thay đoạn chứa lỗi bằng một đoạn sao cho các cặp base được ghép đôi đúng quy luật. Cơ chế sửa chữa này có tên là sửa chữa ghép đôi nhầm (mismatch repair).  Đây là phạm vi nghiên cứu của Modrich. Trước tiên ông dùng enzyme Dam methylase gắn methyl vào một đoạn của DNA. Đoạn này sẽ dùng làm bản gốc khi cần sao chép. Trong sao chép có thể xảy ra sai hỏng vì ghép đôi nhầm.  Có hai enzyme là MutS, MutL nhận dạng được sai hỏng ghép đôi. Còn có enzyme MutH nhận dạng được đoạn DNA nào không chứa methyl và việc cắt bỏ đoạn đó được thực hiện. Tiếp theo DNA polymerase sẽ tìm cách làm lấp đầy đoạn bị cắt và tiếp đến DNA ligase sẽ hàn lại.  Kết luận  Những sai hỏng DNA gây nên bởi mặt trời, hút thuốc, các loại chất gây ung thư,… và nhiều nguyên nhân không ngờ khác. Bộ gene của chúng ta có thể bị sụp đổ nếu không có các cơ chế sửa chữa sai hỏng. Nếu một trong ba cơ chế nói trên không làm việc thông tin di truyền thay đổi và phát sinh bệnh và làm tăng nguy cơ bị ung thư.  Có thể nói thành tích này của ngành hóa sinh quả là thành tích của một thần y thông tuệ. Nhân loại có lẽ phải mãi nhớ ơn những nhà khoa học Tomas Lindahl, Paul Modrich và Aziz Sancar vì đã đột phá lĩnh vực sửa chữa các lỗi của DNA, mở đường nghiên cứu những phương pháp chữa những bệnh nan y.  —————–  Tài liệu tham khảo: Nobelprize.org, Chemistry prize-2015,Popular & Advanced Information    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các công thức chống lại đại dịch      Tại sao bệnh máu trắng và bệnh bại liệt lại là những kỷ niệm xấu đối với người Pháp? Điều gì có thể khiến người ta hy vọng các bệnh dịch như sốt rét và ho lao có thể bị ngăn chặn trên qui mô toàn cầu? Có thể đó là những chính sách y tế công cộng hoặc các hành động của các cơ sở y tế, các cơ quan vệ sinh y tế. Tuy nhiên, nếu thế thì vẫn chưa đủ.      Một khi bệnh dịch đã lan ở tầm toàn cầu, một chiến dịch tiêm chủng thể nào cũng để sót một vài bệnh nhân, và họ sẽ lọt lưới, đem nguy hiểm tới những người khác. Trên thực tế, đồng minh vô hình của các chiến dịch tiêm chủng chính là kết quả toán học, thường xuất hiện trong tất cả các mô hình phát triển của các căn bệnh lây nhiễm: để lan truyền, tất cả các dịch bệnh đều cần phải có một số lượng bệnh nhân tối thiểu nào đó. Dưới ngưỡng này, căn bệnh tự triệt tiêu giống như một đốm lửa nhỏ tự tắt khi thiếu oxy.  Trong nghiên cứu bệnh dịch học, từ thí dụ ở trên, các nhà toán học xiết dần và thu hẹp lại các cơ chế gây lây nhiễm. Tại sao một số dịch bệnh lại có tính chu kỳ? Tại sao cúm A lại biến đổi ngay trong khi lan tỏa dịch bệnh đi khắp thế giới như một ngọn lửa rơm? Nếu không sử dụng đến toán học, chúng ta sẽ không thể trả lời những câu hỏi như vậy. Năm 2008, một nhóm nghiên cứu quốc tế làm việc tại Phòng thí nghiệm Vật lý lý thuyết ở Orsay (thuộc Phòng thí nghiệm CNRS/Đại học Paris XI) đã dùng một mô hình toán và chứng minh được rằng hệ thống vận chuyển hàng không quốc tế, trong một chừng mực nào đó chính là con đường gieo rắc và lan tỏa các bệnh dịch thành qui mô toàn cầu.   Nếu không có các nhà toán học, chúng ta sẽ không truy nguyên được gốc rễ của các căn bệnh không truyền nhiễm, thí dụ như ung thư chẳng hạn. Ở lĩnh vực này, những con số thống kê chính là mấu chốt của vấn đề. “Bệnh ung thư phổi chính là một loại bệnh ung thư được phát hiện nhờ phương pháp thống kê”, Jacques Istas, Giáo sư thuộc Phòng thí nghiệm Jean-Kuntzmann (thuộc Phòng thí nghiệm CNRS, Đại học Grenoble I và II) miêu tả. “Trong những năm 1930, các bác sĩ người Đức đã quan sát thấy có sự liên hệ giữa bệnh ung thư phổi và việc tiêu thụ thuốc lá, mặc dù họ chưa hiểu tại sao lại như vậy”, vị giáo sư này nói. Theo ông, một mô hình toán học tốt hoàn toàn có khả năng miêu tả được các sự di chuyển lưu lượng trên Internet hoặc sự lan tràn của bệnh dịch. Các căn bệnh như Creutzfeld-Jacob và bệnh béo phì hoàn toàn không phải là các bệnh lây lan, và chúng cũng được phát hiện nhờ các nghiên cứu thống kê trước khi các nguyên nhân cụ thể gây bệnh được tìm ra ở các phòng thí nghiệm sinh học.          Một nhóm nghiên cứu đã dùng các mô hình toán nghiên cứu và đưa ra kết luận là chính hàng không là thủ phạm khiến các bệnh dịch lan tỏa ở mức độ toàn cầu          Những con số thống kê đầy sức mạnh  Việc sử dụng thường xuyên các con số thống kê không có nghĩa là các con số thống kê này thoát hoàn toàn khỏi sự liên quan tới toán học. Cũng may, bởi “các con số thống kê là một nguồn chứa đầy bẫy”, Bernard Prum thuộc Phòng thí nghiệm Thống kê và bản đồ gene (một đơn vị của CNRS, Đại học Évry), chuyên gia di truyền về các bệnh dịch cảnh báo. Hãy tưởng tượng là bạn bị nghi là mắc một căn bệnh chết người hiếm khi gặp, có tỉ lệ mắc bệnh 1/10.000 dân. Bạn được làm xét nghiệm nhưng xét nghiệm nào cũng vậy, chúng đều có một tỉ lệ sai sót và chỉ có mức chính xác là 99%. Xét nghiệm cho kết quả dương tính. Như vậy bạn có mắc bệnh hay không? Câu trả lời có thể là: 99% bạn mắc bệnh. Hoàn toàn sai. Trên thực tế, câu trả lời (không cảm tính) là chỉ dưới 1% bạn mắc bệnh đó (liên quan đến cách thống kê đối với các chi tiết của các phép tính). Việc phân tích các dữ liệu dịch bệnh thường gặp rất nhiều các bẫy kiểu này.  Tệ hơn, sự phức tạp trong phân tích thống kê còn nhân lên nhiều lần kể từ khi người ta có khả năng tiến hành các nghiên cứu tận bên trong bản đồ gene để tìm các yếu tố khiến cho bệnh nặng hơn. Trên thực tế, cần biết rằng các căn bệnh gây ra bởi đơn gene (các triệu chứng cho thấy bệnh tạo ra từ sự đột biến của một gene), nhưng phần lớn các căn bệnh, đặc biệt là ung thư là do khoảng cả tá gene gây ra. Do vậy cần nghiên cứu chúng trong số 30.000 gene trong bản đồ gene của bệnh nhân.   Lẫn lộn cái đúng với cái sai  “Khi người ta xem xét tới các biểu hiện của gene, người ta dễ đưa ra hàng chục nghìn tiêu chí”. Philippe Besse thuộc Viện Toán Toulouse (đơn vị trực thuộc CNRS, Đại học Toulouse I và II), chuyên gia về thống kê ứng dụng cho sinh học, nói. “Cái khó ở trong những trường hợp này là người ta luôn tìm thấy sự liên hệ giữa các triệu chứng và các gene được coi là thủ phạm gây bệnh, mà không biết được các liên hệ này có thích đáng hay không.   Chính vì vậy, sự phát triển trong những năm gần đây của các thuật toán trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo cho phép phân biệt một quan hệ đáng chú ý trong các mối quan hệ dễ gây hiểu lầm. Được đặt tên là boosting hay bagging, các thuật toán này “cho phép đưa ra các mô hình toán có tính dự báo chính xác cao”, nhà nghiên cứu tiếp tục nói. Bản thân ông cũng phát triển các công cụ toán để giúp đỡ các nhà sinh học hiểu được vai trò bên trong các tế bào gene hoặc của các protein cụ thể nào đó. Các công cụ toán do Philippe Besse và cộng sự đã cho phép nghiên cứu sự ảnh hưởng về cơ chế của bisphenol A, hợp chất hóa học có trong thành phần sữa tự nhiên của các bà mẹ, nhưng nó bị nghi ngờ là một chất có hại. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng bisphenol A làm đảo lộn hệ thống tiết hóc môn của chuột khi người ta tiêm vào chúng một lượng nhỏ chất này.   Trên tổng thể, các nhà toán học làm việc trong lĩnh vực sinh học đồng ý rằng khoa học sự sống tiếp tục chiếm một phần quan trọng trong công việc của các nhà toán học và vật lý như nó đã từng có trong thế kỷ vừa qua.       Hoàng An  dịch và giới thiệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các đàn ong mất tích      Không biết vì lý do gì, các đàn ong trên khắp nước Đức đang dần biến mất trong những tháng vừa qua. Tại Mỹ, ong cũng đang chết hàng loạt không rõ nguyên nhân, đến mức có thể gây ra những hậu quả về kinh tế. Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là “rối loạn vỡ đàn” (CCD), và cảnh báo nó có thể biến thành một thảm họa quốc gia.    Điều kỳ lạ là hàng triệu con ong biến mất mà không để lại xác, không thấy ở trong tổ ong, cũng không thấy ở bất cứ đâu. Sau khi hầu như cả đàn ong biến mất, xác một số cá thể ong tìm thấy trong tổ có dấu hiệu bị nhiễm nhiều loại nấm – điều cho thấy hệ miễn dịch của ong bị suy giảm. Lạ lùng hơn, những tổ ong bỏ hoang này không hề bị các đàn ong lân cận hay côn trùng chiếm đoạt như vẫn thường xảy ra trong các mùa đông quá rét, khi một tổ ong bị chết sạch. Phải chăng những côn trùng còn sống sót “biết” trong tổ có chất độc?  Theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Đức, CCD có liên quan đến một gene của vi khuẩn trong đất được biến đổi và đưa vào giống cây ngô để có tác dụng kháng côn trùng. Các nghiên cứu cho thấy giống ngô này không gây hại cho ong thụ phấn. Nhưng nếu gây nhiễm một loại ký sinh trùng vào những con ong được thí nghiệm nói trên, số ong chết sẽ tăng đột ngột. Kết luận cuối cùng về nguyên nhân gây bệnh CCD chưa được đưa ra vì cần thêm thực nghiệm xác nhận các kết quả nói trên.  V.L (Theo Spiegel)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các dự án đập thủy điện tiếp tục bị lên án      Quĩ Hoang dã Thế giới WWF tiếp tục lên án việc xây dựng các đập thủy điện lớn trên toàn thế giới và cho rằng mặc dù có nhiều tiến bộ về mặt công nghệ xây dựng, các đập thủy điện này vẫn hủy hoạt nghiêm trọng môi trường và gây ra các hậu quả về mặt xã hội.      Hơn 400 chiếc đập lớn hiện đang được xây dựng trên toàn thế giới trong khi khoảng hơn 100 chiếc đập khác đang tiếp tục được thiết kế. Phần lớn những chiếc đập thủy điện này hiện đang được xây dựng ở Trung Quốc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản. “Cùng với nguy cơ hiện hữu về khủng hoảng nước và năng lượng, chúng ta phải lựa chọn những giải pháp phù hợp nhất để ít làm hại môi trường và không gây xáo trộn cho xã hội”, báo cáo của WWF nhấn mạnh.  6 dự án đập nước lớn nhất hiện đang bị WWF chỉ trích nhiều nhất là Chalillo Dam ở Belize, Ermenek Dam ở Thổ Nhĩ Kỳ, dự án Nam Theun 2 ở Lào, Melonares Dam ở Tây Ban Nha, Burnett Dam ở Úc và Karahnjukar ở Ai Len.   (AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các dự án nhà nước “thiết kế”  vùng hạ lưu Mekong      Bởi Hạ lưu Mekong có địa hình đa dạng, chia cắt bởi rừng rậm, đầm lầy, sông ngòi, đất ngập úng nhiễm mặn… vì thế cần nhiều nhân lực để xây dựng hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc, khu định cư, xác lập chủ quyền lãnh thổ. Do vậy, vùng đất này chỉ có thể được thiết lập dựa trên các nhà nước tập quyền mạnh với nguồn lực phong phú. Chính vì thế, trong hơn ba thế kỷ qua, bàn tay sắp đặt của các dự án nhà nước đã góp phần “thiết kế” hình hài mới của vùng châu thổ, cho đến khi trở thành Nam Bộ của Việt Nam.      Bản đồ hệ thống kênh đào hạ lưu Mekong cho đến đầu thế kỷ 20 (David Bigg 2010)  Lịch sử xác lập nhà nước trên vùng hạ lưu Mekong không gì khác hơn là quản lí dòng di cư tự do của di dân và gắn họ vào các không gian chính trị-xã hội-lãnh thổ. Đầu tiên là dòng di cư người Việt mà theo Lê Quý Đôn và Trịnh Hoài Đức thì đến giữa thế kỷ XVIII có khoảng 40,000 hộ. Sau đó là những nhóm người Hoa khác nhau từ Minh Hương như Mạc Cửu (Hà Tiên), hay các nhóm quân nhà Minh ở Đồng Nai, Mỹ Tho. Khi các nhóm này đánh nhau, tranh giành địa bàn, liên kết với bên ngoài, lũng đoạn kinh tế, thuế khóa, kiểm soát quân sự, cướp biển, các chúa Nguyễn đã phải có cuộc đánh dẹp không hề dễ dàng (Yumio Sakurai 2004). Những nhóm người Hoa này còn tham gia liên kết, cạnh tranh với Cambodia, Thailand, tham gia cuộc chiến tranh với các nhóm người Hoa khác trong vùng vịnh Thailand và bán đảo Malay. Ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là các nhóm Thanh nhân, coolie, các hội kín từ Nam Trung Hoa bắt đầu tràn về miền Tây sông Hậu (Engelbert 2007). Cùng lúc đó là sự bùng phát của nhiều phong trào tôn giáo và dân tộc chủ nghĩa xuất phát từ vùng đất này như Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Hòa Hảo…  Sự đan xen dân tộc đó cũng là vấn đề thách thức sự mở rộng của nhà nước, và việc giải quyết các xung đột sắc tộc cũng là một phần trong quá trình xác lập quyền kiểm soát của chính quyền trung ương.  Thế kỷ XVII-XVIII: Phát hiện tiềm năng  Quá trình khai phá, xác lập lãnh thổ diễn ra ở Nam Bộ cho đến nửa đầu thế kỷ XVIII vẫn còn là một ẩn dấu. Ngay cả sự kiện năm 1620 và quận chúa Ngọc Vạn, khi đối chiếu với các biên niên sử Cambodia, cũng cho thấy màu sắc huyền thoại của nó (Vickery 2011). Mặc dù vậy, sự tham gia của người Việt, Hoa, Chăm, Khmer là nhân tố quyết định  công cuộc chinh phục tự nhiên miền hạ lưu Mekong. Bắt đầu với các cù lao và phố ven sông ở Mỹ Tho, Đồng Nai, hệ thống lũy quân sự, ruộng lúa, đồn điền, khu định cư được mở rộng theo các cuộc hành quân ngược dòng sông của Nguyễn Cư Trinh, theo cách mà ông mô tả như là “tằm ăn” (tàm thực). Canh tác nông nghiệp nhanh chóng được mở rộng và đa dạng hóa ở cuối thế kỷ XVIII, nơi mà Nguyễn Ánh muốn thúc đẩy trao đổi hàng hóa với bên ngoài để tăng chi phí cho cuộc chiến, đã đẩy mạnh khai thác tài nguyên thiên nhiên cho thị trường khu vực với mía đường, hồ tiêu, gỗ, sáp ong, mật ong, lúa gạo… từ U Minh, Hà Tiên, bán đảo Cà Mau, Quang Hóa, Đồng Nai…  Lịch sử tự nhiên hạ lưu Mekong là quá trình chinh phục của con người đối với một nhóm các địa hình tự nhiên phức hợp:  Vùng đất cao ở Đồng Nai và Tây Ninh trải dài từ phía Nam của Đà Lạt đến Vũng Tàu, chạy về phía Tây đến Kompong Cham (Cambodia). Vào thế kỷ XVIII, vùng này bao trùm bởi rừng rậm, nơi cung cấp lâm sản và gỗ đóng tàu cho toàn khu vực. Phía Tây của cao nguyên Đồng Nai là Bình Dương, Tây Ninh nơi có độ cao khoảng 10-30m trên mực nước biển. Vùng rìa của nó, trên bờ đông của sông Vàm Cỏ Đông có dấu tích nhiều khu cư trú sớm của người Khmer.  Vùng đồng bằng Tân An, Mỹ Tho chủ yếu là đất phù sa chạy dọc từ Gia Định tới Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ. Ngược dòng sông, dải địa hình này kéo dài Phnom Penh. Như ghi chép ở thế kỷ XIII, vùng này không hề có bóng người, đất canh tác mà chủ yếu là rừng rậm và các sông nhỏ. Đến thế kỷ XVII-XVIII, khu vực này trở thành vùng đất nông nghiệp chủ đạo của di dân Việt và Hoa.  Hai vùng ngập lụt là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên là trở ngại thật sự cho bất cứ dự án nhà nước nào. Hai vùng này còn là vật cản tự nhiên làm giảm bước tiến của người Việt sang Phía Tây, người Khmer xuống phía Nam, và người Thái sang phía Đông. Đồng Tháp Mười ngày nay có diện tích khoảng 500,000 ha, ở thế kỷ XVIII, vùng này khoảng 1 triệu ha. Sông Vàm Cỏ có thể đã từng được nối với nhánh chính của sông Mekong trên vùng đầm lầy này cho đến khi bị sình lầy bồi lấp, và dân cư cũng bắt đầu rời đi. Tứ Giác Long Xuyên (tên gọi Tầm Phong Long ở thế kỷ XVIII) có diện tích khoảng 400,000 ha, là trở ngại chính ngăn cách Hà Tiên với trung tâm của vùng châu thổ tại Sài Gòn.  Vùng ngập duyên hải từ phía Nam Sài Gòn ra duyên hải và xuống bán đảo Cà Mau, chạy dài như một vành đai qua Rạch Giá, Hà Tiên. Nằm xen giữa các vùng cửa sông này là các địa bàn cư trú của người Khmer ở Sóc Trăng, Trà Vinh.  Nguyễn Ánh là người đầu tiên nhìn thấy tiềm lực của vùng đất này và biến nơi đây thành căn cứ cho dự án chính trị của mình. Ông cũng là người đầu tiên thành công từ vùng đất này thống nhất toàn bộ lãnh thổ phía Đông của Đông Nam Á lục địa thành nước Việt Nam hiện đại. Bằng việc xây dựng hệ thống liên lạc, giao thông kết nối các trung tâm dân cư, đồn điền quân sự với các vùng sản xuất gỗ, lâm sản, lúa gạo.  Một ví dụ là việc khai thác gỗ đóng thuyền chiến, thuyền vận tải, thuyền thương mại. Từ 1778 đến 1819, Nguyễn Ánh đã huy động đóng 1,482 tàu thuyền các loại, nguồn gỗ lấy chủ yếu từ  duyên hải dọc Hà Tiên, An Giang, Tân Châu, và Tây Ninh. Mang thuyền và lúa gạo đổi lấy sắt, lưu huỳnh, thuốc súng của Thailand và phương Tây. Phần lớn số gỗ này vận chuyển dọc theo Vàm Cỏ Tây tới các xưởng đóng tàu dài hơn 1,5km ở dọc sông Sài Gòn, Thị Nghè. Các xưởng khác được xây dựng ở Sa Khê (Mỹ Tho) và dọc sông Cái Bè.  Đầu thế kỷ XIX: Định hình nên khung cảnh của vùng đất Nam Bộ  Đặt cơ sở bởi nhà Nguyễn      Các dự án thời Nguyễn và thời thuộc địa Pháp cho thấy cách thức con người tác động vào các vùng đất ngập nước và rừng rậm. Đầu thế kỷ XIX là giai đoạn quan trọng định hình nên khung cảnh của vùng đất Nam Bộ. Đó là lần đầu tiên người Việt chính thức xác lập chủ quyền lãnh thổ ở hạ lưu Mekong, đưa vào “đồ bản”.  Tiếp nối con kênh cổ dài 90 km từ Rạch Giá đến Ba Thê, dự án quy mô đầu tiên của nhà Nguyễn là xây dựng một loạt các kênh đào xuyên qua các vùng ngập lụt và kết nối với các dòng chảy tự nhiên. Kênh Thoại Hà (1817) nối Long Xuyên với Rạch Giá, dựa trên việc mở rộng sông Tam Khế. Kênh Vĩnh Tế dài 67 km, từ Hà Tiên đến Châu Đốc, đào trong 5 năm, bao gồm cả người Việt và Khmer. Ước tính số lượng thường trực lao động là 5,000 người, và tổng số được huy động là từ 50,000 đến 80,000 người. Các con kênh này nhắm đến việc khai phá Tứ giác Long Xuyên và kết nối dải đất phía tây với Gia Định. Các dòng sông theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, các con kênh này được đào theo hướng Đông Bắc-Tây Nam nhằm kết nối các dòng chảy tự nhiên và đưa nước ra biển, đồng thời cũng tạo ra địa hình chiến lược cho thiết kế chính trị và quân sự dọc theo không gian biên giới với Cambodia.  Khi các khu định cư mới lan đến bờ đông, Vĩnh Tế và Châu Đốc trở thành thành trì quân sự quan trọng nhất tại cửa ngõ vùng hạ lưu Mekong, hệ thống kênh đào được kéo dài qua Tân Châu, Hồng Ngự… bảo trợ cho sự xác lập chính trị và dân cư tại vùng hạ lưu.  Tầm quan trọng của các dự án thủy lợi, dân cư, xây dựng đơn vị hành chính, khảo sát địa bạ (1836), hộ khẩu, lập hàng loạt tỉnh mới, xây dựng hệ thống quân sự bảo vệ vùng đất mới được khai phá, và từ đó góp phần định hình nên những cơ sở ban đầu của đường biên giới hiện đại giữa Việt Nam và Cambodia. Những công trình như thế làm thay đổi bộ mặt vùng hạ lưu Mekong và ghi dấu ấn của vương triều Nguyễn. Khi 6 tỉnh Nam Kỳ ra đời với hệ thống thông tin liên lạc, về cơ bản, nhà Nguyễn đã giúp định ra hình hài và cấu trúc cư trú của cư dân trên vùng đất này.  Những dự án của người Pháp  “Từ năm 1880 đến năm 1930, các dự án kênh đào của người Pháp ở hạ lưu Mekong đào đắp khối lượng 165 triệu m3 đất, so với 210 triệu m3 đào kênh Panama và 260 triệu m3 đào kênh Suez.”    Các dự án kênh đào của người Pháp từ 1880, 1900, 1915, và 1930. Inspection des travaux publics, Gouvernement générale de l’Indochine, Dragages de Cochinchine: Canal Rachgia-Hatien (Saigon: n.p., 1930), 87–90; in lại bởi David Biggs 2010.  Từ năm 1859, Sài Gòn trở thành thủ phủ của vùng đất mà sau này gọi là Nam Kỳ thuộc Pháp. Từ đây, người Pháp bắt đầu phác thảo các dự án thực dân đối với châu thổ Mekong. Bắt đầu với hệ thống điện tín kết nối Sài Gòn với phần còn lại của châu thổ. Tiếp đến là đường giao thông thủy bộ kết hợp giúp quân Pháp có thể cơ động trên khắp khu vực. Dự án năm 1875 của đô đốc Victor-Auguste Duperré giúp các tàu hải quân nhỏ (gunboat) của Pháp có thể cơ động đến bất cứ đâu trên vùng châu thổ mà không phải vòng dọc theo duyên hải. Khi đó, từ Sài Gòn có thể đi Chợ Lớn qua kênh Bến Lức, đến kênh Bà Bèo, hoặc qua kênh Bảo Định (đào năm 1816). Để nối với Mỹ Tho, trung tâm dân cư lớn nhất ở vùng hạ lưu Mekong, kênh Chợ Gạo (kênh Duperré) được thi công với thiết kế rộng 100m và sâu 5-6m.  Tháng 10 năm 1879, giữa các đợt lụt lớn nhất trong năm cũng các cuộc phục kích của người Việt và người Khmer, một nhóm người Pháp do sĩ quan hải quân-nhà thủy văn học Jacques Rénaud dẫn đầu có cuộc khảo sát đầu tiên kéo dài 16 ngày dọc theo kênh Vĩnh Tế. Khảo sát thổ nhưỡng, độ sâu, dòng chảy, lưu lượng nước… của nhóm được xuất bản như là một khảo sát khoa học công phu đầu tiên về hệ thống sinh thái của vùng hạ lưu Mekong.  Dừng chân trên bờ Vĩnh Tế, qua những ngôi mộ của những người bỏ mạng để xây dựng con kênh đào hơn nửa thế kỷ trước, Rénaud hình dung cho sứ mạng của mình: rằng dự án của người Việt là một công trình dang dở, và người Pháp sẽ “tiếp tục sứ mệnh khai hóa được bắt đầu bởi người Việt”. Từ đó cho đến năm 1930, khi toàn quyền Pierre Pasquier, khánh thành con kênh đào mới ở phía tây Nam Bộ, dọc theo vịnh Thái Lan, kết nối Rạch Giá với Kiên Giang, vùng châu thổ này đã được thiết kế thêm với một cấu trúc đa dạng hệ thống kênh đào, đồn điền, đất trồng trọt…  Nỗ lực của người Pháp đã giúp kết nối sông Vàm Cỏ với sông Tiền, và sông Tiền với sông Hậu qua một loạt các con kênh như Trà Ôn (1876), Chợ Gạo (1877), Sét Nay (1878), Phụ Tục (1878), Xanhta (1879), Saintard (1879) và Mirador (1879). Trong khi các dự án sau đó phát triển thêm nhiều kênh đào ở Hậu Giang và Long Xuyên: Xà No (1903), Ô Môn (1908), Bassac-Cái Lớn (1908), và Quản Lộ-Phụng Hiệp (1918)… Hệ quả quan trọng nhất của chúng là từ năm 1879 đến năm 1929, đất canh tác đã tăng từ  200,000 ha lên 2,4 triệu ha, chiếm tỉ lệ từ 5% diện tích đất đai lên đến 60% diện tích khu vực (Võ Tòng Xuân and Shigeo Matsui 1998: 18).  Mặc dù vậy, các dự án này không phải lúc nào cũng thành công như mong đợi của  nhà nước. Đồng Tháp Mười là ví dụ cho sự “thất bại” đó (so với thành quả đạt được ở Tứ Giác Long Xuyên). Thất bại trong việc kiểm soát khu vực này của người Pháp, và sau này là chính quyền Sài Gòn đã biến vùng ngập nước này thành căn cứ quan trọng của những người cộng sản từ những năm 1940.    Cuối cùng, lịch sử tự nhiên vùng châu thổ Mekong mang theo một diễn ngôn phức tạp trong sự tương tác đối với con người. Đó là nơi “cuốc cày đi trước nhà nước đi sau”. Sự phức tạp và đa dạng tự nhiên của nó đã giúp cho Nguyễn Ánh tạo dựng căn cứ và thành công trong công cuộc thống nhất Việt Nam, và sau này là chiến tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX.   Sự thay đổi của Tứ Giác Long Xuyên là bằng chứng sống động cho thấy sự can thiệp của con người làm thay đổi địa hình tự nhiên và không gian văn hóa-chính trị-xã hội được tạo dựng trên khung cảnh tự nhiên đó. Toàn vùng chỉ cao hơn mực nước biển 0.5 m, bị kẹp giữa sông Mekong và vịnh Thailand. Các dãy núi đá vôi và granite cao khoảng 200-300 m nổi lên như những hòn đảo, kéo dài từ núi Voi (Cambodia) xuống tận Phú Quốc và lên phía Bắc ở Ba Thê, Núi Sập, Thất Sơn trở thành các không gian tụ cư quan trọng. Do ngập từ tháng 8 đến tháng 11, có nơi như Châu Đốc, tới tận 3 m, nên các cư dân ban đầu xây dựng làng mạc dọc theo các sườn núi. Sự xác lập của Hà Tiên đầu thế kỷ XVIII phát triển thêm nhiều khu định cư ở phía Tây Nam của vùng ngập lụt này. Năm 1757, vua Cambodia cắt thêm các vùng đất mới nằm cả phía Đông và Tây của Hà Tiên cho chính quyền Đàng Trong. Người Việt vì thế xây dựng được các căn cứ quân sự mới bao quanh vùng đất ngập lụt này như Vĩnh Thanh (Vĩnh Long), Châu Đốc, Tân Châu, Đông Khẩu. Dưới thời Nguyễn Ánh (và sau đó là hoàng đế Gia Long), Tứ giác Long Xuyên không chỉ được tăng cường kết nối với Phú Quốc và duyên hải vịnh Thailand mà còn phụ thuộc vào hệ thống quân sự-hành chính điều hành từ Gia Định. Kênh Thoại Hà và Vĩnh Tế được xây dựng giúp đẩy nhanh lượng nước thoát ra biển và làm giảm ngập lụt cho khu vực. Dọc theo các bờ kênh bắt đầu xuất hiện đất canh tác, làng mạc, đồn lũy quân sự, và xác lập của chính quyền người Việt. Như thế, các con kênh không chỉ giúp tái định vị cấu trúc tự nhiên, mà còn “dán nhãn” chính trị-văn hóa mới cho không gian tự nhiên đó (xem thêm Tia Sáng số 1 tháng 9 năm 2017). Kênh Vĩnh Tế đã trở thành đặc điển tự nhiên quan trọng giúp định hình nên không gian lãnh thổ Việt Nam và Cambodia. Nó cũng góp phần quan trọng các dự án đánh dẹp và bình định của triều Nguyễn đối với các nhóm cư dân bản địa và những người chống đối.  Tham khảo:  Biggs, David. 2010. Quagmire: Nation-Building and Nature in the Mekong Delta. Seattle: University of Washington Press.  Boüinais, A., and A. Paulus. 1884. La Cochinchine Contemporaine. Paris: Librairie algérienne et coloniale.  Choi, Byung Wook. 2004. Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng (1820-1841): Central Policies and Local Response. Ithaca, NY: Cornell University Southeast Asia Program Publications.  Engelbert, Thomas. 2007. “Go West”; in Cochinchina. Chinese and Vietnamese Illicit Activities in the Transbassac (C. 1860-1920s).” Chinese Southern Diaspora Studies 1: 56–82.  Mchale, Shawn. 2013. “Ethnicity, Violence, and Khmer-Vietnamese Relations: The Significance of the Lower Mekong Delta, 1757–1954.” The Journal of Asian Studies 72 (2): 367–390.  Nguyễn, Hiến Lê. 1971. Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười: Du Kí và Biên Khảo. Saigon: Trí Đăng.  Rénaud, J. 1879. “Étude Sur L’approfondissement Du Canal de Vinh-Té et L’amélioration Du Port d’Hatien.” Excursions et Reconnaissances 1.  Sơn Nam. 1970. Đồng Bằng Sông Cửu Long Hay Là Văn Minh Miệt Vườn [The Mekong Delta or the Orchard Civilisation]. Saigon: An Tiên.  Vickery, Michael. 2011. “1620, A Cautionary Tale.” In New Perspectives on the History and Historiography of Southeast Asia, Continuing Explorations, edited by Michael Arthur Aung-Thwin and Kenneth R. Hall, 157–66. London: Routledge.       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Các giải pháp đẩy mạnh hội nhập khoa học và công nghệ      Đẩy mạnh hội nhập quốc tế là một trong những biện pháp nhằm xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ của Việt Nam. Điều này đòi hỏi hàng loạt các biện pháp, giải pháp đồng bộ và khả thi của nhiều ngành, nhiều cơ quan khác nhau. Về phần mình, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&amp;CN) hiện đang xây dựng đề án “Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về KH&amp;CN giai đoạn 2006-2010”. Tia Sáng đã phỏng vấn ông Thạch Cần, Vụ trưởng Vụ Quan hệ quốc tế, Bộ KH&amp;CN về dự thảo đề án này.    P.V: Nội dung đầu tiên được đề cập tới trong dự thảo đề án là tìm kiếm, lựa chọn và chuyển giao các giải pháp, bí quyết công nghệ, đặc biệt là công nghệ nguồn, công nghệ cao phục vụ cho việc đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của các ngành kinh tế-kỹ thuật, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Để thực hiện nhanh chóng và hiệu quả nội dung này, chúng ta phải làm những gì?  Ông Thạch Cần: Đây là nội dung quan trọng của hội nhập quốc tế về KH&CN. Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ trình Chính phủ ban hành. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã xây dựng đề án về cơ chế, chính sách và giải pháp đồng bộ thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, để thực hiện nội dung này một cách có hiệu quả và nhanh là một việc không dễ dàng.  Theo tôi, cần tranh thủ lợi thế của nước đi sau để nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đã thành công trong lĩnh vực này như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan v.v… Một số giải pháp khác cần được tích cực triển khai như: phát triển hệ thống các tổ chức dịch vụ, môi giới hỗ trợ chuyển giao công nghệ; hoàn thiện hệ thống thông tin công nghệ (trong nước và ngoài nước); củng cố và tăng cường hệ thống các đại diện KH&CN ở nước ngoài…  Thu hút Việt kiều về là nhiệm vụ của Bộ KH&CN và nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau như Bộ Ngoại giao, Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam… Vậy, vai trò của Bộ KH&CN, cụ thể là Vụ Hợp tác quốc tế là như thế nào?  Bộ KH&CN (trong đó có sự tham gia của Vụ hợp tác Quốc tế) đang phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút các trí thức Việt kiều về nước tham gia các hoạt động KH&CN. Bộ cũng đang phối hợp với Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài xây dựng đề án về một số chính sách, biện pháp khuyến khích chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước trình Thủ tướng ban hành.  Ngoài ra, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, Vụ Hợp tác Quốc tế đã và đang triển khai một số hoạt động cụ thể như: tạo các điều kiện thuận lợi về các thủ tục (xin visa, hỗ trợ liên hệ xây dựng chương trình làm việc…) cho các trí thức Việt kiều về nước tham gia các hoạt động nghiên cứu phát triển, đào tạo; hỗ trợ các thông tin cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức KH&CN trong nước có thể mời trí thức Việt Kiều về nước tham gia các hoạt động KH&CN…  Theo Báo cáo đầu tư thế giới 2005 của UNCTAD (United Nation Conference on Trade and Development), Việt Nam được nằm trong top 20 địa điểm có triển vọng hấp dẫn các đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) trên thế giới. Theo ông, chúng ta phải làm gì để biến các “triển vọng” này thành lợi thế thực sự?  Đây là thông tin đáng mừng và chúng ta cần triển khai các biện pháp để “triển vọng” này thành hiện thực như: bên cạnh các giải pháp tạo cơ chế chính sách thông thoáng, chúng ta cần xây dựng các nội dung (cụ thể là các đề án) ưu tiên để kêu gọi đấu tư; Các hoạt động xúc tiến đầu tư cho R&D cần được sớm tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là ở các địa bàn có tiềm năng lớn; Cần có sự phối hợp hỗ trợ của các cơ quan chức năng khác như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ ngoại giao… Ngoài ra, cũng cần phải vận động để có thể hình thành nhóm các nhà tài trợ, đầu tư cho R&D ở nước ta. Trước mắt là cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư nước ngoài.   Làm thế nào để thu hút được các tập đoàn xuyên quốc gia, vốn có lượng đầu tư cho R&D rất lớn (chiếm tới 50% tổng mức đầu tư cho R&D của toàn thế giới) bỏ tiền để phát triển các cơ sở R&D ở Việt Nam, như cách họ đã từng làm hiện nay đối với Trung Quốc hoặc Ấn Độ?  Như tôi hiểu thì việc các tập đoàn xuyên quốc gia bỏ vốn để phát triển các cơ sở R&D tại một số nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: triển vọng to lớn và lâu dài của thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn lực về R&D của nước sở tại, các điều kiện thuận lợi cho đầu tư và đặc biệt là chính sách bắt buộc của nước sở tại (có nước đặt điều kiện phải đầu tư phát triển cơ sở R&D nếu muốn thâm nhập thị trường của họ)… Trước đây, công ty Ericsson có ý định phát triển cơ sở R&D ở Việt Nam, nhưng lúc đó thủ tục xin phép đầu tư quá phức tạp nên ý định đó không được thực hiện. Theo tôi, để có thể thu hút đầu tư của họ cho phát triển các cơ sở R&D ở nước ta, ngoài việc tạo các điều kiện ưu đãi, thuận lợi về thủ tục, thị trường , nguồn lực R&D, chúng ta cần xây dựng các quan hệ tốt và có chính sách vận động thích hợp đối với từng đối tác cụ thể, đảm bảo lợi ích của cả hai bên: các nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam.  Trong dự thảo đề án có nhắc tới việc “xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học công nghệ” đủ sức giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng phục vụ cho đất nước phát triển. Có thể hiểu việc này cụ thể như thế nào?  Các trung tâm xuất sắc thực chất là một hình thức hoặc một phương tiện để vận hành các Sáng kiến khoa học thiên niên kỷ ( The Millennium Science Initiative – MSI) ra đời từ năm 1998 nhằm xây dựng và tăng cường năng lực KH&CN, thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu KH&CN cho các nước đang phát triển. Các trung tâm này được đặt trong các tổ chức nghiên cứu hoặc trường đại học. Hiện có một nhóm sáng kiến khoa học ( Science Initiative Group- SIG) đang đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ trong việc thiết kế, tư vấn khoa học và giám sát hoạt động MSI.  Sáng kiến này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới như Brazin, Chi-lê, Mê-hi-cô…. Chúng tôi nhận thấy việc áp dụng sáng kiến này ở nước ta là phù hợp. Hiện một đề án liên quan đến vấn đề này đang được chuẩn bị và sẽ trình Chính phủ xem xét phê duyệt thời gian tới.              Tăng cường hoạt động của mạng lưới các đại diện khoa học và công nghệ của Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh hội nhập KHCN của Việt Nam đối với thế giới? Nhiệm vụ cụ thể của mạng lưới này trong thời gian tới là thế nào?  Từ đầu những năm 1980, các bộ phận KH&CN trực thuộc Đại sứ quán Việt Nam đã được triển khai ở các nước XHCN và Pháp. Tuy nhiên, hiện bộ phận này chỉ còn ở Nga, Trung Quốc, Pháp và Ấn Độ. Trong tình hình mới với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng phát triển và để đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước thì việc củng cố và tăng cường mạng lưới đại diện KH&CN ở nước ngoài đang trở nên cấp thiết. Nhiệm vụ chung của mạng lưới này là tạo dựng, củng cố và phát triển các mối quan hệ hợp tác về KH&CN giữa Việt Nam và nước sở tại, làm cầu nối hỗ trợ hợp tác trong nước với nước ngoài. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta thực sự quan tâm, có sự đầu tư thích đáng, chuẩn bị chu đáo về nguồn nhân lực và cơ sở vật chất thì chắc chắn mạng lưới này thực sự đóng góp có hiệu quả cho việc đẩy mạnh hội nhập quốc tế về KH&CN.  Một trong những lĩnh vực mà quốc tế, cụ thể là các nước có quan hệ thương mại và hợp tác mạnh với Việt Nam hiện đang rất quan tâm là việc “thực hiện công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”. Làm thế nào để chúng ta thực sự “hội nhập” được với thế giới mà không bị thua thiệt trong điều kiện chúng ta còn nghèo?  Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đang được các nước trên thế giới quan tâm nhiều và đặt ra như một điều kiện để chúng ta tham gia vào tiển trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN. Luật sở hữu trí tuệ đã được ban hành và tôi cho rằng để thực sự hội nhập quốc tế, một mặt chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ và các cam kết quốc tế, mặt khác phải đảm bảo sự phù hợp với hoàn cảnh và lợi ích lâu dài của Việt Nam, đặc biệt là trong một số lĩnh vực “nhạy cảm” như bảo vệ sức khoẻ cộng đồng…Các giải pháp về vấn đề trên cũng đã được nêu rõ trong luật sở hữu trí tuệ như: cho phép nhập khẩu song song, giới hạn độc quyền của chủ sở hữu, bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế, sử dụng sáng chế nhân danh nhà nước, hạn chế độc quyền đối với dữ liệu thử nghiệm, v.v…    Xin cám ơn ông.    Thanh Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hạt graviton có khối lượng là ứng viên vật chất tối?      Ngày nay, nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới đang cố gắng dò vật chất tối, một loại vật chất chưa từng quan sát được nhưng được tin là chiếm phần lớn lượng vật chất trong vũ trụ. Không phản xạ ánh sáng, người ta chỉ có thể thấy sự hiện diện của nó một cách gián tiếp thông qua các tương tác hấp dẫn với vật chất thông thường.      Các ứng viên hứa hẹn của vật chất tối là các axion, neutrino, và những hạt có khối lượng tương tác yếu. Gần đây, một số nhà vật lý đã bắt đầu tìm hiểu khả năng có thể của các dạng hạt giả thuyết khác, các hạt graviton có khối lượng, có thể là những ứng viên.  Lý thuyết đề xuất là các hạt graviton có khối lượng được tạo ra trong các va chạm giữa vật chất thông thường trong môi trường nóng và đặc của vũ trụ sớm, trong khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi sau Big Bang. Dù các lý thuyết dự đoán sự tồn tại của chúng nhưng người ta chưa bao giờ quan sát một cách trực tiếp các hạt đó.  Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Hàn Quốc và Lyon gần đây đã đưa ra một nghiên cứu lý thuyết khám phá khả năng có thể về các hạt graviton có khối lượng có thể là ứng viên tốt cho vật chất tối. Kết quả từ những lý thuyết tính toán của họ mới được xuất bản trong một bài báo trên Physical Review Letters 1.  “Nghiên cứu của chúng tôi được bắt đầu bằng việc xem xét các chiều dư, cụ thể là các chiều dư biến dạng, vốn đã được nghiên cứu ngót 20 năm qua”, Giacomo Cacciapaglia, một trong những nhà nghiên cứu tham gia thực hiện công trình này, nói với Phys.org. “Khi hấp dẫn được lan truyền trong vũ trụ không thể quan sát đó, nó vật chất hóa các hạt graviton có khối lượng. Việc kết cặp của chúng với vật chất thông thường rất yếu, đã hình thành nên nguồn gốc của hấp dẫn.”  Quá trình mà qua đó tạo ra các hạt graviton có khối lượng về mặt lý thuyết này rất hiếm khi xảy ra. Vì vậy, mức các hạt đó được tạo ra thấp hơn hẳn so với mức các hạt thông thường. Cacciapaglia và cộng sự là Haiying Cai và Seung Lee tự hỏi liệu có đủ các hạt graviton được tạo ra trong vũ trụ sớm để họ xem xét nó như một ứng cử viên sáng giá cho vật chất tối không.  “Bằng việc tính toán tốc độ sinh của các hạt đó, chúng tôi tìm thấy một vài quá trình tăng cường dưới thang nơi các hạt Higgs boson sinh khối lượng cho các hạt thông thường cỡ một picosecond (tương đương 10⁻¹² giây) sau Big Bang”, Cacciapaglia nói. “Chúng tôi đã chứng tỏ sự tăng cường này đủ để tạo ra một lượng đúng về vật chất tối dưới dạng các hạt graviton có khối lượng dưới mức MeV”.  Các tính toán do Cai, Lee và Cacciapaglia thực hiện đã chứng tỏ thay cho được liên kết với thứ vật lý mà chúng ta còn chưa biết xuất hiện ngay sau Big Bang, việc tạo ra các hạt graviton có khối lượng có hiệu quả nhất ở dưới thang năng lượng, trong đó có các hạt Higgs bosons. Higgs bosons là những hạt cơ bản mang trường Higgs, trường đem khối lượng cho các hạt cơ bản như electron và quark.  “Nó được rút ra từ một kết nối trực tiếp giữa vật lý được nghiên cứu tại Máy gia tốc hạt lớn LHC ở Geneva và vật lý của hấp dẫn và vật chất tối trong Vũ trụ sớm”, Cacciapaglia nói. “Kết quả của chúng tôi chỉ dấu rằng vật chất tối có hấp dẫn được sinh ra ở thời gian một picosecond sau Big Bang, tại thời điểm mà các lý thuyết hiện hành có thể miêu tả tốt vật lý hạt”.  Trong tương lai, những kết quả được nhóm nghiên cứu thu thập được này có thể truyền cảm hứng cho những nghiên cứu mới và những tính toán khám phá việc tạo ra các hạt graviton có khối lượng trong vũ trụ này. Cacciapaglia và cộng sự đã lập kế hoạch xây dựng mô hình lý thuyết được giới thiệu trong công trình của họ và đánh giá các ứng viên vật chất tối khác.  “Hiện tại chúng tôi đang lên kế hoạch tìm hiểu những đặc điểm khác của một mô hình cụ thể trong chiều dư biến dạng mà chúng tôi đã phác thảo trong bài báo này”, Cacciapaglia cho biết thêm. “Chúng tôi quan tâm một cách cụ thể đến vai trò của một hạt vô hướng được gọi là radion và về khả năng kiểm nghiệm tiềm năng trên các vành va chạm hiện tại cũng như tương lai”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-massive-gravitons-viable-dark-candidates.html  https://phys.org/news/2022-02-axion-dark.html  —————————————-  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.128.081806    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các học giả da đen xuất bản một phần năm số nghiên cứu của Nam Phi      Tỷ lệ các bài báo khoa học có tác giả là người da đen, da màu hoặc gốc Ấn Độ trong giới học thuật Nam Phi đã tăng gần gấp 10 lần kể từ khi kết thúc chế độ apartheid, lên khoảng một phần ba, theo một báo cáo về xuất bản học thuật ở nước này.      Các nhà khoa học ở Đại học Cape Town ở Nam Phi. Ảnh: Nic Bothma/EPA/Shutterstock  Năm 2014, các học giả da đen là tác giả của 18% tài liệu nghiên cứu, học giả Ấn Độ chiếm 10% và học giả da màu chiếm 4%. Trong khi đó vào năm 1990, tất cả học giả của các nhóm trên chỉ đóng góp 3.5% tổng nghiên cứu của Nam Phi.  Nhưng lượng xuất bản học thuật của các học giả gia trắng vẫn áp đảo, vì Nam Phi vẫn đang vật lộn với những di sản của chính sách phân biệt chủng tộc Apartheid đã tước quyền của hầu hết công dân nước này mà chỉ vừa kết thúc vào năm 1994. Mặc dù người da trắng chỉ chiếm 8% trong số 54 triệu dân trong nước, nhưng họ chiếm khoảng một nửa số bài đăng của các trường đại học.  Hệ thống này đang có sự thay đổi như kì vọng khi số lượng học giả trung bình khoảng hơn 1%/năm trong thập kỷ qua, theo Johann Mouton, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đánh giá, Khoa học và Công nghệ tại Đại học Stellenbosch, Nam Phi và cũng là người tham gia báo cáo được xuất bản bởi Viện Hàn lâm Khoa học Nam Phi.  John Mugabe, một chuyên gia về chính sách khoa học ở châu Phi và đang làm tại Đại học Pretoria tỏ ra tương đối lạc quan về sự gia tăng này. Ông cho rằng một phần là do sau năm 1994, các nhà khoa học Nam Phi da đen trở về sau một thời gian dài lưu vong ở nước ngoài, cũng như các trường đại học và hội đồng khoa học thu hút các nhà nghiên cứu da đen từ các quốc gia châu Phi khác. Số người Nam Phi da đen nhận bằng tiến sĩ và ở lại làm việc trong môi trường học thuật cũng đang tăng lên.  Nhưng Mugabe cũng lưu ý một xu hướng đáng lo ngại được tiết lộ trong báo cáo: tỉ lệ số công bố của các học giả trên 50 tuổi có xu hướng tăng lên – từ mức 18% năm 1990 lên 45% vào năm 2014. Số lượng các bài báo của những học giả dưới 40 tuổi chiếm ít hơn 1/3 số bài báo, và tỉ lệ này đã không tăng nhiều kể từ năm 2005. Nhìn chung, “nhiều tiến sĩ trẻ không làm công việc nghiên cứu mà đi đến khu vực doanh nghiệp và các cơ quan công”, ông Mugabe nói.  Tổng số công trình xuất bản có tác giả là các nhà khoa học Nam Phi đã tăng gấp đôi từ 7,230 năm 2005 lên 15,542 vào năm 2014; phần lớn là do một hệ thống khuyến khích được chính phủ đưa ra năm 2005, báo cáo này cho biết. Hệ thống này trao thưởng khoảng 7.000 usd cho các học giả hoặc các cơ sở nghiên cứu cho mỗi công trình đăng trên một tạp chí uy tín. Vài trường đại học trong số đó còn trả trực tiếp tới 50% số tiền đó cho tác giả.  Báo cáo cho thấy hệ thống trợ cấp này có thể trở thành một kiểu “khuyến khích ngược”, bởi nó thúc đẩy các học giả xuất bản càng nhiều báo cáo càng tốt, và thúc đẩy các hoạt động xuất bản “đáng nghi vấn” ở Nam Phi, chẳng hạn như xuất bản trên các tạp chí ngụy tạo – chỉ cần tác giả trả phí để được đăng bài mà không thực hành các thể lệ xuất bản thông thường như chế độ bình duyệt và ngày càng nhiều các biên tập viên và thành viên hội đồng biên tập tự xuất bản một loạt các công trình trên chính các tạp chí của mình, đặt ra vấn đề về xung đột lợi ích.    Trong một ví dụ của báo cáo, một học giả (giấu tên vì lý do pháp lý) đã xuất bản 113 bài báo trong một tạp chí từ năm 2005 đến 2014 mà chính học giả này là thành viên hội đồng biên tập và các công trình của ông còn được nhận tài trợ của chính phủ. Thậm chí chỉ trong một ấn phẩm, học giả này xuất bản tới 11 trên tổng số 15 bài báo.  Mouton nói rằng có thể hạn chế những cách làm này thông qua việc kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, các tổ chức học thuật ở Nam Phi từ lâu đã phải vật lộn với tình trạng thiếu hụt vốn kinh niên và càng ngày càng trầm trọng hơn do tăng trưởng kinh tế trì trệ. Mouton nhận xét rằng cho dù hệ thống trợ cấp chịu chỉ trích, nhưng vào thời điểm ngân sách nghiên cứu eo hẹp như vậy thì các trường đại học vẫn rất cần khoản tiền trợ cấp xuất bản lên tới 1,5 tỷ rand (100 triệu USD) này. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-019-01446-6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các kết quả thúc đẩy bằng chứng cho vật lý cơ bản mới      Các kết quả từ thực nghiệm LHCb tại CERN cho thấy những gợi ý về hiện tượng mà hiện nay chưa thể giải thích được bằng lý thuyết của chúng ta về vật lý cơ bản.      Trong tháng 3/2020, thực nghiệm tương tự đã tiết lộ bằng chứng về các hạt phá vỡ một trong những nguyên lý mang tính bản chất của Mô hình Chuẩn – lý thuyết thuyết phục bậc nhất của chúng ta về các hạt và các lực tương tác, qua đó đề xuất sự tồn tại có thể của các hạt cơ bản mới và lực mới.  Hiện tại, những đo đạc mới do các nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm  Cavendish ở Cambridge thực hiện đã tìm thấy những hiệu ứng tương tự, thúc đẩy khả năng xác định đó là một dạng vật lý mới 1.  Như chúng ta đã biết, Mô hình Chuẩn mô tả tất cả các hạt đã biết tạo ra vũ trụ này và các lực mà chúng tương tác với nhau. Qua các thực nghiệm đã thực hiện, các nhà vật lý đã nhận thấy phải có cái gì đó chưa hoàn thiện trong mô hình này. Nó không bao gồm lực hấp dẫn hay có thể không tính đến vật chất đã được tạo ra như thế nào trong Big Bang, và không chứa bất cứ hạt nào có đủ khả năng giải thích về vật chất tối bí ẩn mà thiên văn học nói với chúng ta là có số lượng lớn gấp năm lần vật chất tạo nên thế giới mà chúng ta đang thấy xung quanh mình.  Trong một thời gian dài, các nhà vật lý đã săn tìm các tín hiệu của vật lý nằm ngoài Mô hình Chuẩn với mong muốn giúp chúng ta giải quyết một số bí ẩn đó.  Một trong những cách tốt nhất để tìm kiếm các hạt mới và lực mới là nghiên cứu về những hạt đã biết như các hạt quark đẹp. Đây là những “họ hàng” kỳ lạ của quark lên và quark xuống tạo ra các hạt nhân trong từng nguyên tử.    Các quark đẹp không tồn tại với số lượng lớn trong thế giới này vì chúng chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi – thời gian sống trung bình là phần nghìn tỉ một giây trước khi chuyển đổi hoặc phân rã thành hạt khác. Tuy nhiên, hàng tỉ hạt quark đã được tạo ra hằng năm ở máy gia tốc hạt lớn LHC ở CERN và được LHCb ghi nhận – một máy dò được thiết kế cho mục tiêu này.  Quá trình các hạt quark đẹp phân rã có thể bị sự tồn tại của các lực hoặc các hạt chưa được khám phá tác động đến. Vào tháng ba vừa qua, một nhóm các nhà vật lý tại LHCb đã thông báo các kết quả chứng tỏ bằng chứng là các hạt quark đẹp đang phân rã thành các hạt muon ít hơn so với người “họ hàng” nhẹ hơn của nó, các electron. Không thể giải thích được điều này bằng Mô hình Chuẩn, vốn hành xử với các hạt electron và các hạt muon tương tự nhau, trong khi trên thực tế thì các hạt electron nhẹ hơn các hạt muon 200 lần. Do đó, các hạt quark đẹp hẳn là sẽ phân rã thành các muon và các electron với tỉ lệ ngang bằng nhau. Nhưng các nhà vật lý tham gia thực nghiệm LHCb tìm thấy là sự phân rã của hạt muon chỉ diễn ra với tỉ lệ 85% so với sự phân rã của các electron.  Sự khác biệt giữa kết quả thực nghiệm LHCb và Mô hình Chuẩn là ba đơn vị sai lệch, hoặc ‘3 sigma’ trong vật lý hạt. Điều đó có nghĩa là chỉ có một phần một ngàn cơ hội để kết quả này là do thống kê.  Giả định kết quả này là đúng, phần lớn giải thích đây là một lực mới đẩy các electron và muon với cường độ khác biệt đang ảnh hưởng đến sự phân rã của các hạt quark đẹp. Tuy nhiên, để đảm bảo cho hiện tượng này là thật thì cần nhiều dữ liệu hơn để giảm thiểu độ sai lệch trong thực nghiệm. Chỉ khi một kết quả đạt đến ngưỡng ‘5 sigma’, khi có ít hơn một trong một triệu cơ hội hình thành tùy thuộc vào cơ hội ngẫu nhiên, các nhà hạt vật lý hạt sẽ phải bắt đầu xem xét lại việc đó là một phát hiện thực sự.  “Sự thật là chúng tôi đã xem xét các hiện tượng tương tự khi các đồng nghiệp của chúng tôi làm vào tháng ba để thúc đẩy các cơ hội mà chúng tôi có thể xác thực chắc chắn là phát hiện ra cái mới”, tiến sĩ Harry Cliff của Phòng thí nghiệm Cavendish nói. “Thật thú vị để rọi thêm chút ít ánh sáng nữa vào câu đố này”.  Các nhà vật lý đã kiểm tra lại hai quá trình phân rã của các hạt quark đẹp mới từ cùng sự phân rã ở kết quả tháng ba. Nhóm nghiên cứu tìm thấy cùng một hiệu ứng – các phân rã muon chỉ xảy ra với tỉ lệ 70% so với các phân rã electron. Đây là thời điểm độ sai lệch lớn hơn, điều đó có nghĩa là độ lệch vào khoảng ‘2 sigma’ và chỉ có khoảng 2% cơ hội của sự hình thành đó do sự trùng hợp thống kê trong dữ liệu. Dù kết quả này không được dùng để xác quyết kết quả cuối cùng nhưng nó cũng hỗ trợ cho một dấu mốc bằng chứng đang ngày một gia tăng về việc có những lực cơ bản mới đang chờ chúng ta khám phá.  Thực nghiệm tại Large Hadron Collider đang gia tăng khi máy dò ở LHCb được nâng cấp và cung cấp nhiều dữ liệu hơn cho việc thống kê cần thiết, đủ dẫn dến một tuyên bố hoặc bác bỏ một phát hiện lớn”, giáo sư Val Gibson, cũng từ Phòng thí nghiệm Cavendish, nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-physicists-results-boost-evidence-fundamental.html  https://scitechdaily.com/new-fundamental-physics-unexplainable-phenomena-from-large-hadron-collider-experiment/  ———————————  1.https://arxiv.org/abs/2110.09501    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các lỗ đen dịch chuyển      Người ta tin rằng, mỗi thiên hà lớn đều có một lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm của nó. Khối lượng của lỗ đen tương quan với khối lượng của những vùng bên trong của thiên hà (cũng như một số đặc tính khác), hầu như chắc chắn là như vậy bởi vì lỗ đen siêu khối lượng gia tăng khối lượng và tiến hóa theo đúng cách của thiên hà vật chủ, thông qua các vụ sáp nhập với những thiên hà khác và những vật chất bên trong từ những liên thiên hà trung gian.      Khi vật chất dịch chuyển vào trung tâm thiên hà và tích lũy vào lỗ đen siêu khối lượng, nó tạo ra một nhân thiên hà hoạt động (AGN); sau đó, các dòng chảy hướng ra ngoài hoặc những phản hồi từ nhân thiên hà hoạt động tương tác để dập tắt sự hình thành sao trong thiên hà. Các mô phỏng vũ trụ học hiện đại có thể tự truy dấu một cách nhất quán sự hình thành sao và sự lớn lên của các lỗ đen siêu khối lượng trong các thiên hà từ vũ trụ sớm đến ngày nay, đồng thời xác nhận các ý tưởng đó.  Quá trình sáp nhập này có thể dẫn đến sự lệch tâm của một số lỗ đen siêu khối lượng khỏi trung tâm thiên hà đang ngày một mở rộng. Con đường dẫn đến một lỗ đen siêu khối lượng được tích hợp theo cách này hết sức phức tạp. Đôi khi, một lỗ đen siêu khối lượng kép được tạo ra đầu tiên, sau đó chúng sáp nhập làm một. Quá trình này tạo ra sóng hấp dẫn mà các nhà khoa học có thể dò được. Tuy nhiên sự sáp nhập này đôi khi có thể bị ngưng lại hoặc bị phá vỡ – hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân của hiện tượng này là một trong những câu đố quan trọng về sự tiến hóa của lỗ đen siêu khối lượng. Các mô phỏng vũ trụ học mới với mã ROMULUS dự đoán là thậm chí sau hàng tỉ năm tiến hóa thì một số lỗ đen siêu khối lượng cũng không hợp nhất với các nhân thiên hà hoạt động mà kết thúc bằng việc dịch chuyển trong thiên hà chủ.  Nhà thiên văn học Angelo Ricarte của CfA đã dẫn dắt một nhóm nghiên cứu phân tích đặc điểm của sự dịch chuyển của các lỗ đen. Sử dụng các mô phỏng ROMULUS, nhóm nghiên cứu phát hiện ra là vũ trụ ngày nay (khoảng 13,7 tỉ năm sau Big bang) chỉ bằng khoảng 10% khối lượng của các lỗ đen dịch chuyển theo cách như thế. Tại thời điểm đầu tiên của vũ trụ sớm, hai tỉ năm sau Big bang hoặc ít hơn, những lỗ đen “lang thang” đó thậm chí xuất hiện ngày một đáng kể hơn và chứa phần lớn các khối lượng của các lỗ đen. Các nhà khoa học còn phát hiện ra trong những giai đoạn sớm, những lỗ đen này còn tạo ra phần lớn các bức xạ từ tập hợp các lỗ đen siêu khối lượng. Trong một bài báo liên quan, các nhà thiên văn học cũng khám phá ra các tín hiệu quan sát được từ tập hợp các lỗ đen siêu khối lượng dịch chuyển.  Nghiên cứu này được xuất bản trên tạp chí Monthly Notices of the Royal Astronomical Society “Origins and demographics of wandering black holes” (Những nguồn gốc và nhân khẩu học của các lỗ đen dịch chuyển) 1.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-black-holes.html  https://www.sciencealert.com/there-could-be-a-huge-number-of-wandering-supermassive-black-holes-out-there  ——————————-  1. https://academic.oup.com/mnras/article-abstract/503/4/6098/6189716?redirectedFrom=fulltext    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các lỗ đen siêu khối lượng hình thành từ vật chất tối?      Một nghiên cứu lý thuyết đã đề xuất một cơ chế mới để tạo ra các lỗ đen siêu khối lượng từ vật chất tối.      Bức vẽ về một thiên hà xoắn được bao bọc trong một vùng quầng vật chất tối rộng lớn. Nguồn: ESO/L. Calçada, CC BY 4.0  Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã tìm ra các kịch bản tiêu chuẩn hình thành lỗ đen siêu khối lượng, bao gồm cả vật chất thông thường, các lỗ đen đó có thể hình thành một cách trực tiếp từ vật chất tối trong các vùng có mật độ cao ở trung tâm các thiên hà. Kết quả có những gợi ý quan trọng cho vũ trụ trong thời kỳ vũ trụ sớm và xuất bản trên tạp chí Monthly Notices of the Royal Astronomical Society “On the formation and stability of fermionic dark matter haloes in a cosmological framework” (Về sự hình thành và tính ổn định của các quầng vật chất tối ferrmion trong một khung vũ trụ).  Việc ban đầu các lỗ đen siêu khối lượng được hình thành chính xác như thế nào là một trong những vấn đề lớn nhất của nghiên cứu về tiến hóa thiên hà ngày nay. Các lỗ đen siêu khối lượng từng được quan sát ở vào khoảng 800 triệu năm sau Big Bang, và cách chúng có thể phát triển hơn nữa vẫn còn là điều chưa thể giải thích được.  Các mô hình hình thành tiêu chuẩn bao gồm vật chất baryon thông thường – những nguyên tử và nguyên tố tạo thành các ngôi sao, các hành tinh và tất cả những vật thể hữu hình – suy sụp dưới tác động của hấp dẫn để hình thành những lỗ đen, vốn lớn lên theo thời gian. Tuy nhiên nghiên cứu mới đã tìm hiểu sự tồn tại có thể ở các lõi hành tinh được tạo thành từ  vật chất tối, và được một quầng vật chất tối loãng bao quanh, tìm ra là những trung tâm của các cấu trúc đó có thể trở nên đậm đặc đến mức chúng có thể suy sụp thành các lỗ đen siêu khối lượng một khi chạm tới ngưỡng tới hạn.  Theo mô hình mà họ sử dụng, điều này có thể xảy ra nhanh hơn nhiều so với những cơ chế hình thành khác, và có thể cho phép các lỗ đen siêu khối lượng trong thời kỳ vũ trụ sớm hình thành trước cả các thiên hà bao bọc chúng, đối lập với cách hiểu hiện nay.  Carlos R. Argüelles, một nhà nghiên cứu tại trường đại học quốc gia de La Plata và ICRANet, người phụ trách nghiên cứu, bình luận: “Kịch bản hình thành này có thể đề xuất một cách giải thích tự nhiên về cách các lỗ đen siêu khối lượng trong thời kỳ vũ trụ sớm, không cần đòi hỏi sự hình thành sao trước đó hoặc cần đến việc ‘ươm mầm’ các lỗ đen trong vũ trụ sớm với những tốc độ bồi đắp không thực tế”.  Một kết quả hấp dẫn khác của mô hình mới là kích thước tới hạn để suy sụp thành lỗ đen có thể không chạm đến các quầng vật chất tối nhỏ nhất, ví dụ những thứ bao quanh một số thiên hà lùn. Các tác giả đề xuất là nó sau đó có thể rời các thiên hà lùn nhỏ hơn với một hạt nhân vật chất tối trung tâm hơn là lỗ đen được chờ đợi. Như một lõi vật chất tối có thể bắt chước các tín hiệu hấp dẫn của một lỗ đen trung tâm thông thường, trong khi vật chất tối bên ngoài quầng có thể giải thích đường cong quay của thiên hà quan sát được.  “Mô hình đó chứng tỏ cách các quầng vật chất tối có thể là nơi tập hợp những thứ đậm đặc trong trung tâm của chúng, vốn có thể đóng một vai trò chủ đạo trong việc giúp hiểu về sự hình thành của các lỗ đen siêu khối lượng”, Argüelles nói.  “Lần đầu tiên chúng tôi đã chứng minh được những phân bố vật chất tối lõi quầng có thể thậm chí hình thành trong một khung vũ trụ và vẫn còn ổn định trong suốt thời gian tồn tại của vũ trụ này”.  Các tác giả hi vọng là các nghiên cứu tiếp theo sẽ rọi ánh sáng vào sự hình thành lỗ đen siêu khối lượng trong những ngày ban đầu của vũ trụ chúng ta cũng như tìm hiểu liệu những trung tâm của các thiên hà không hoạt động, bao gồm cả dải Ngân hà của chúng ta, có thể đóng vai trò vật chủ với các lõi vật chất tối đậm đặc không.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-supermassive-black-holes-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các lỗ đen và sao neutron sáp nhập trong những cụm sao có mật độ dày      Những vụ sáp nhập giữa những lỗ đen và sao neutron trong những cụm sao có mật độ dày là điều hoàn toàn không giống như những thứ được hình thành từ những vụ cô lập, nơi thưa thớt những ngôi sao. Những đặc điểm liên kết của chúng có thể đóng vai trò thiết yếu trong việc nghiên cứu về sóng hấp dẫn và nguồn phát của chúng.      Những cuộc sáp nhập lỗ đen – sao neutron không thể quan sát được, những vụ nổ không có phát xạ bức xạ điện từ, diễn ra trong các môi trường sao đậm đặc như cụm sao hình cầu NGC 3201 mà chúng ta thấy ở đây. Nguồn: Đài quan sát Nam Âu (ESO).  Tiến sĩ Manuel Arca Sedda ở Viện nghiên cứu thiên văn tính toán tại trường đại học Heidelberg đã rút ra kết luận này trong một nghiên cứu sử dụng các mô phỏng trên máy tính. Nghiên cứu này có thể đưa ra những cái nhìn cốt lõi vào sự nóng chảy của hai vật thể sao có khối lượng cực lớn mà các nhà thiên văn quan sát được vào năm 2019. Những phát hiện này được xuất bản trên tạp chí Communications Physics qua bài báo “Dissecting the properties of neutron star–black hole mergers originating in dense star clusters”.  Khi kết thúc vòng đời của mình, thông thường những ngôi sao có khối lượng lớn gấp nhiều lần mặt trời của chúng ta sẽ suy sụp thành một ngôi sao neutron hoặc lỗ đen. Các ngôi sao neutronphát xạ các xung bức xạ  đều đặn, nhờ đó chúng ta có thể dò được chúng. Ví dụ vào tháng 8/2017, khi cuộc sáp nhập ngôi sao đôi neutron đầu tiên được quan sát, các nhà khoa học trên toàn cầu đã dò theo ánh sáng từ vụ nổ bằng các kính thiên văn của mình. Mặt khác, các lỗ đen thường được giữ kín hơn bởi lực hấp dẫn của chúng quá mạnh đến mức không có ánh sáng nào có thể thoát được, điều đó khiến cho chúng “vô hình” với các máy dò điện từ.  Nếu hai lỗ đen sáp nhập, sự kiện này có thể không quan sát được nhưng vẫn có thể dò được qua những gợn sóng không thời gian dưới hình thức của sóng hấp dẫn. Các máy dò hiện nay như Đài quan sát giao thoa kế sóng hấp dẫn LIGO tại Mỹ, có khả năng dò được các sóng này. Quan sát trực tiếp thành công đầu tiên là vào năm 2015. Tín hiệu được sinh ra từ vụ nổ của hai lỗ đen nhưng sự kiện là nguồn duy nhất của sóng hấp dẫn này có thể đến từ sự sáp nhập của hai ngôi sao neutron hoặc một lỗ đen với một sao neutron. Khám phá những khác bietj là một trong những thách thức chính trong quan sát các sự kiện vũ trụ này, theo lời tiến sĩ Arca Sedda.  Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu Heidelberg đã phân tích vụ nổ của các cặp lỗ đen và sao neutron. Tiến sĩ Arca Sedda đã dùng các mô phỏng tính toán chi tiết để nghiên cứu về những tương tác trong một hệ được tạo từ một ngôi sao và một vật thể compact như một lỗ đen, và một vật thể bất định có khối lượng lớn thể mô hình hóa một vụ nổ. Các kết quả thu được chỉ dấu có rất nhiều tương tác ba vật thể có thể đóng góp vào thực tế những sáp nhập lỗ đen- sao neutron trong những vùng sao có mật độ dày như các cụm sao hình cầu. “Một dạng đặc biệt của các sáp nhập khác biệt một cách rõ ràng với những sáp nhập trong những vùng cô lập đã được xác định”, Manuel Arca Sedda giải thích.  Vụ nổ một lỗ đen với một sao neutron đã được quan sát lần đầu tiên bằng các đài quan sát sóng hấp dẫn vào tháng 8/2019. Tuy vậy các đài quan sát quang học trên khắp thế giới đã không thể định vị được phần tương phản điện từ trong khu vực xuất phát của tín hiệu sóng hấp dẫn, điều đó cho thấy lỗ đen đã hoàn toàn “nuốt” ngôi sao neutron mà không cần phá hủy nó. Nếu được xác nhận, nó có thể là sự sáp nhập lỗ đen – sao neutron đầu tiên được quan sát trong môi trường sao đậm đặc, như miểu tả của tiến sĩ Arca Sedda.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-black-holes-neutron-stars-merge.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các loài dã thú đã trở về vùng Chernobyl      Hiện nay số lượng thú rừng sống tại Chernobyl đã “vượt xa thời gian trước khi xảy ra vụ rò rỉ phóng xạ ở đây”, nơi từng xảy ra thảm họa hạt nhân vào năm 1986 với lượng phóng xạ gây ra lớn gấp 400 lần lượng phóng xạ từ quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima năm 1945.      Căn cứ theo kết quả  điều tra lâu dài đối với các loài động vật có vú sống trong vùng cách ly  ở Chernobyl, các nhà nghiên cứu cho biết hiện nay số lượng thú rừng  sống tại vùng này đã “vượt xa thời gian trước khi xảy ra vụ rò rỉ phóng  xạ ở đây”. Vùng cách ly này bao quanh nhà máy điện hạt nhân Chernobyt 30  km. Tại đây ngày 26/4/1986 từng xảy ra thảm họa hạt nhân lớn nhất thế  giới khi lượng phóng xạ gây ra lớn gấp 400 lần lượng phóng xạ từ quả bom  nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima năm 1945.       Kết quả tổng kiểm kê động vật nói trên được đăng trên tạp chí Sinh vật hiện đại (Current Biology).       Giáo sư Jim Smith của Đại học Portsmouth (Anh quốc) phụ trách công tác nghiên cứu nhấn mạnh, kết quả này “hoàn toàn không nói lên rằng bức xạ hạt nhân là có ích cho động vật hoang dã”.     “Điều đó chỉ cho thấy việc săn bắt thú rừng, chăn thả gia súc và chặt cây rừng sau khi con người định cư đem lại sự phá hoại càng lớn”.          Sự xuất hiện của các loài động vật có vú lớn tại Chernobyl      Dưới sự giúp đỡ của các nhà khoa học ở Khu bảo vệ sinh thái phóng xạ nhà nước Polesky (Polesky State Radioecological Reserve) của Belarus, các nhà nghiên cứu đã xem xét kỹ số liệu điều tra bằng máy bay về các loài động vật có vú thân lớn như hươu, nai, lợn rừng, chó sói v.v… Họ còn tổ chức theo dõi về mùa đông, lợi dụng vết chân thú rừng trên tuyết để tính ra số lượng các loài thú khác nhau, ngoài ra còn ước tính mức độ ô nhiễm phóng xạ tại các địa điểm có thú rừng hoạt động.     GS Smith nói: “Số lượng động vật chúng tôi thấy có ở Chernobyl thì tương đương với số lượng động vật ở các khu bảo vệ thiên nhiên chưa bị ô nhiễm”.        Trong đó số lượng chó sói nhiều đến ngạc nhiên, gấp bảy lần số lượng sói trong các khu bảo vệ thiên nhiên chưa bị ô nhiễm có cùng diện tích.     GS Smith cho rằng đó là do trong vùng cách ly này về cơ bản không có hoạt động săn bắt của con người. Điều đó chứng tỏ sự săn bắt thú rừng do con người tiến hành đem lại tai hại như thế nào đối với đời sống của thú rừng.      Nguyên Hải dịch       Nguồn: http://www.bbc.com/news/science-environment-34414914                                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các loài di cư do tác động biến đổi khí hậu như thế nào?      Hai nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học tại ĐH  California (UC) đã cho thấy một lý giải rõ ràng hơn về việc tại sao một  số loài lại di chuyển để ứng phó với biến đổi khí hậu và chúng di cư đi  đâu.        Một nghiên cứu được công bố trực tuyến vào ngày 06 tháng 8 trên tạo chí Global Change Biology cho thấy, sự đổi thay về lượng mưa đã không được chú trọng đúng mức như là một yếu tố đẩy loài chim ra khỏi khu vực sinh sống bình thường của chúng. Trong một nghiên cứu khác được công bố vào ngày 15 tháng 8 trên Kỷ yếu Proceedings of the Royal Society B, các nhà khoa học đã thấy một sự thu hẹp rõ ràng khu vực sống của loài sóc chuột Belding.  Đó là hai nghiên cứu trong các nghiên cứu đang được thực hiện bởi Sáng kiến Berkeley về biến đổi sinh học toàn cầu (BiGCB) với một tham vọng nhằm cố gắng nâng cao hiểu biết và khả năg dự đoán về việc các loài động, thực vật sẽ ứng phó với các điều kiện biến đổi môi trường sống như thế nào, bằng cách nghiên cứu về quá trình thích nghi của chúng với các giai đoạn biến đổi khí hậu trước đây.    Di chuyển – dấu hiệu của thích nghi  Những phát hiện của nghiên cứu thứ nhất thách thức lối suy nghĩ trước đây rằng nhiệt độ là tác nhân duy nhất có liên quan tới khí hậu tác động tới lựa chọn nơi sinh sống của các loài. Các tác giả của nghiên cứu lưu ý rằng có khoảng 25% số loài do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã dịch chuyển theo những hướng khác với dự đoán trước đây của con người, nhưng tới nay mới có rất ít nghiên cứu về hiện tượng này.  “Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi định nghĩa lại mô hình cơ bản về cách thức các loài ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai như thế nào”, Morgan Tingley, trưởng nhóm nghiên cứu nói. “Chúng tôi thấy rằng sự thay đổi lượng mưa có thể gây ra tác động lớn lên sự dịch chuyển khu vực sinh sống của các loài, theo hướng trái ngược với tác động của nhiệt độ. Trong thực tế, biến đổi khí hậu có thể sẽ phá vỡ quần thể sinh vật”.  Những phát hiện này dựa trên dữ liệu được thu thập từ dự án “Khảo sát lại Grinnell”, dự án này khảo sát theo các bước trước đây của Josep Grinnell (người sáng lập Bảo tàng Berkeley về động vật có xương sống) trong nghiên cứu của ông về đời sống hoang dã ở Sierra Nevada từ đầu những năm 1900. Dự án “Khảo sát lại Grinnell” bắt đầu từ năm 2003, đứng đầu bởi Craig Moritz, nguyên giáo sư của UC về tích hợp sinh học cùng các đồng nghiệp tại Bảo tàng về động vật có xương sống.  Để nghiên cứu về loài chim, các nhà nghiên cứu khảo sát 99 loài ở 77 địa điểm khảo sát ở các khu vực núi lửa Lassen và công viên quốc gia Yosemite & Sequoia cũng như một số rừng quốc gia khác. Trong vòng một thế kỷ kể từ khi Grinnell tiến hành khảo sát, nhiệt độ mùa đông và mùa hè đã tăng lên trung bình 1 – 2 độ C tại Sierra Nevada. Vùng Yosemite đã tăng ở mức báo động nhất – trung bình nhiệt độ tăng thêm 3 độ C; trong khi đó một số khu vực ở Lassen hiện nay lại mát mẻ và ẩm ướt hơn.  Trong số các loài di chuyển lên vùng cao hơn có loài chim sẻ Savannah di chuyển lên độ cao 2.503 mét và một số loài sống ở đồng cỏ như chim đen cánh đỏ và chiền chiện miền Tây. Một số loài chuyển xuống khu vực thấp bao gồm cả hai loài sống ở khu vực thấp như chim ăn mật họng đỏ, chim giẻ cùi miền Tây và một số loài sống ở khu vực cao như chim họ sẻ Cassin và chim họ sẻ ngực đỏ.  “Yếu tố nhiệt độ không thể giải thích được đa số những cuộc di chuyển này”, Tingley nói, “Chỉ khi nào chúng ta tính đến cả lượng mưa như một tác nhân thì mới có một mô hình giải thích thỏa đáng những kiểu dịch chuyển mà chúng ta đã quan sát”.  Các nhà nghiên cứu thấy rằng, trong khi nhiệt độ gia tăng có khuynh hướng đẩy các loài chim tới các khu vực mát mẻ hơn, thì việc gia tăng lượng mưa lại là yếu tố phổ biến kéo các loài ở phía cao xuống thấp. “Chúng tôi tin rằng nhiều loài có thể cảm nhận được những áp lực trái ngược từ nhiệt độ và lượng mưa, và cuối cùng, một trong hai yếu tố sẽ thắng thế”, Tingley nói.  Đáng chú ý là hơn nửa số loài chim ở một trong 3 khu vực nghiên cứu lại không di chuyển khu vực sinh sống mặc dù chịu áp lực từ biến đổi khí hậu. “Di chuyển như là một dấu hiệu của sự thích nghi mà trên quan điểm bảo tồn, sự thích nghi ấy là tốt”, Tingley nói. “Nhưng đáng lo là có những loài không di chuyển. Vậy chúng sẽ thích ứng như thế nào? Có  phải chúng đang di chuyển nhưng chỉ là chúng ta không thể phát hiện ra điều đó? Hay chúng đang mất dần khi mà các điều kiện về môi trường dần dần không còn lý tưởng cho chúng nữa?”.  Suy giảm phân bố  Câu trả lời cho vấn đề này thật phức tạp, như chúng ta đã thấy qua nghiên cứu thứ hai của Đại học Berkeley về thay đổi khu vực sinh sống của một số loài sóc được tìm thấy ở khu vực vùng núi phía Tây nước Mỹ.   Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thông tin thu được từ dự án “Khảo sát lại Grinnell”. Bằng việc tiến hành các quan sát trực quan và đặt bẫy khảo sát suốt các dải núi của California, họ đã phát hiện ra rằng loài sóc chuột Belding đã giảm khoảng 42% ở những địa điểm trước đây đã ghi nhận thấy chúng từ đầu những năm 1900. Sự tuyệt chủng là đặc trưng thường thấy ở những địa điểm có nhiệt độ trung bình ở mùa đông cao và lượng mưa tăng lên mạnh mẽ ở cuối thế kỷ 20.    Loài sóc chuột Belding đã biến mất khoảng 42% tại các địa điểm   ở vùng núi của California, nơi trước đây đã ghi nhận thấy   chúng từ đầu những năm 1900 (Ảnh: Toni Lyn Morelli)  “Chúng tôi đã ngạc nhiên khi thấy sự suy giảm đáng kể ở loài này, vốn rất quen thuộc với những người leo núi và người ta cứ nghĩ rằng sự tồn tại của chúng là khá phổ biến”, Toni Lyn Morelli, trưởng nhóm nghiên cứu nói. “Và thật ra, tỉ lệ suy giảm loài pika ở cùng khu vực này thậm chí còn lớn hơn, đây là một loài động vật sống trong núi có họ hàng với loài thỏ đã trở thành biểu tượng của cảnh báo về tác động của khí hậu trong các khu vực biên giới nước Mỹ.  Morelli nói thêm rằng loài sóc vẫn đang sinh sôi ở những khu vực đã có sự tác động của con người. Ví dụ như, vùng công viên hồ Mono được con người tưới tiêu thường xuyên đã trở thành một ốc đảo nhân tạo giúp duy trì được số lượng sóc trong điều kiện ngày càng nóng và khô ở phía Tây nước Mỹ.  “Trong bối cảnh một chỉ số dự báo rằng khu vực sinh sống của loài sóc chuột Belding ở California có thể biến mất vào cuối thế kỷ, có thể những khu vực này sẽ trở nên rất quan trọng với loài sóc chuột và một số loài khác cũng bị tác động bởi khí hậu”, Morelli nói.  Mặc dù loài sóc chuột Belding vẫn còn phổ biến, nhưng sự suy giảm phân bố của loài này là rất đáng quan tâm bởi vì chúng là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài chim và động vật ăn thịt. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng khuyến nghị rằng kể cả khi biến đổi khí hậu là nguyên nhân làm giảm diện tích sinh sống, thì một số loài vẫn có thể tồn tại được ở những khu vực do con người tạo ra.  “Tóm lại, đây là hai nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều loài đang phản ứng lại với tình hình biến đổi khí hậu vừa qua, tuy nhiên, tính phức tạp trong những nhu cầu sinh thái của các loài và khả năng thích ứng của chúng ở khu vực môi trường sống do con người tạo ra có thể tạo nên những cách thích nghi không lường trước được”, Steven Beissinger nói. Ông là giáo sư tại Bộ môn Khoa học môi trường, Chính sách và Quản lý của UC, đồng thời là nhà nghiên cứu chính của cả hai nghiên cứu này. “Điều đó tạo ra một thách thức rất lớn cho các nhà khoa học khi nghiên cứu xem các loài sẽ thích ứng như thế nào với biến đổi khí hậu trong tương lai”.  Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF), Công viên quốc gia và Sở bảo tồn phong cảnh California cùng hỗ trợ chương trình nghiên cứu này.  Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://newscenter.berkeley.edu/2012/08/15/climate-change-range-shift/  —  * Các tít phụ do người dịch đặt        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các loài thụ phấn trên đà tuyệt chủng      Theo một báo cáo mới công bố của Liên Hiệp Quốc, nhiều loài sinh vật thụ phấn không xương sống như ong, bướm và các loài thụ phấn có xương sống như chim ruồi, dơi trong tự nhiên đang trên đà tuyệt chủng.       Báo cáo này chỉ ra một số “thủ phạm” như: phương pháp làm nông nghiệp thay đổi nên các loài thụ phấn không còn đủ hoa dại cũng như sự đa dạng sinh học để dùng làm nguồn thức ăn; việc sử dụng thuốc trừ sâu gây tổn thương cho hệ thần kinh của chúng; đất tự nhiên bị lấy mất dần để xây dựng đô thị; dịch bệnh, giun sán cùng các tác nhân gây bệnh khác; và sự ấm lên toàn cầu.   “Các loài thụ phấn đang gặp rất nhiều mối đe dọa, gây ảnh hưởng tới hoạt động thụ phấn, từ đó đặt ra những nguy cơ cho con người và cuộc sống. Những mối đe dọa này chủ yếu xuất phát từ những thay đổi trên bề mặt đất và hệ thống quản lý nông nghiệp, trong đó bao gồm việc sử dụng thuốc trừ sâu,” báo cáo viết.  Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra ở đây hoàn toàn có thể xử lý được, và khác với vấn đề ấm lên toàn cầu, các giải pháp không đòi hỏi mọi quốc gia cùng phải thống nhất theo một lộ trình hành động chung trên toàn cầu. Các quốc gia có thể tự xử lý trong nội bộ đất nước mình, bởi các giải pháp ở đây chủ yếu xoay quanh việc thay đổi cung cách quản lý đất đai và hoạt động canh tác. Tuy vậy, báo cáo cũng lên tiếng cảnh báo và kiến nghị các quốc gia sớm bắt tay vào hành động bởi hiện tượng này có thể sẽ ảnh hưởng tới nguồn cung thực phẩm trên thế giới.   Báo cáo này là kết quả của hơn hai năm làm việc của các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới thuộc nhiều tổ chức khác nhau của Liên Hiệp Quốc nhằm đánh giá về sự đa dạng sinh học trên Trái đất, bắt đầu từ các loài thụ phấn. Cùng với những báo cáo về tình trạng ấm lên toàn cầu, nỗ lực này cũng nằm trong mục tiêu của Liên Hiệp Quốc nhằm cung cấp cho các lãnh đạo thế giới một bản báo cáo toàn thư về những gì đang diễn ra trên Trái đất và đưa ra những đề xuất cho họ.   Thu Trang dịch   Nguồn: http://time.com/4238464/bee-butterfly-pollinator-extinction/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các luồng tia lỗ đen tiết lộ các bí mật phản vật chất      Những mô phỏng đầu tiên của các hạt vật chất và phản vật chất xoáy xung quanh một lỗ đen quay gợi ý về nguồn gốc của các luồng tia bí ẩn.      Các nhà khoa học mới có một bước tiến gần hơn để hiểu thêm về động lực học của luồng tia lỗ đen. Nguồn: Kyle Parfrey et al./Phys. Rev. Lett.  Lần đầu tiên, một nhóm các nhà vật lý thiên văn đã tính toán được cách các đơn hạt vật chất và phản vật chất xoay xung quanh một lỗ đen quay như thế nào.  Các mô phỏng trên máy tính này cung cấp cái nhìn mang tính quyết định về cách các lỗ đen bắn ra các luồng tia vật chất với vận tốc gần vận tốc ánh sáng, và kết quả của nhóm nghiên cứu đã góp phần bổ sung cho hai cơ chế đề xuất trước đây về lực của các dòng hạt bí ẩn.  Kỹ thuật mô phỏng mới có thể giúp các nhà vật lý thiên văn giải thích dữ liệu từ các kính viễn vọng sóng radio trên thế giới, vốn đang quan sát lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của dải Ngân hà.  Các kết quả của nhóm nghiên cứu – mới được xuất bản vào ngày 23/1/2019 “Các mô phỏng plasma về mặt nguyên lý đầu tiên về sự khởi chạy của luồng tia lỗ đen” (First-Principles Plasma Simulations of Black-Hole Jet Launching) trên Phys. Rev. Lett, là một “mốc quan trọng” trong nghiên cứu về lỗ đen, Serguei Komissarov – một nhà vật lý thiên văn tại trường đại học Leeds, Anh.  Các luồng tia vật chất năng lượng cao thường băng qua vũ trụ và dường như được tỏa ra từ nhiều nguồn hết sức đa dạng, dẫu cho các nhà khoa học chưa có bằng chứng trực tiếp về cách chúng hình thành như thế nào. Trong thiên hà của chúng ta, nhiều sao neutron là nguồn tạo ra các luồng tia, cũng như tạo ra một số lỗ đen nhỏ – chúng thường có khối lượng bằng hoặc hơn mặt trời – đây là quá trình hấp thụ vật chất. Và các nhà vật lý thiên văn nghĩ rằng một số lỗ đen siêu khối lượng tại các trung tâm của những thiên hà là kẻ đứng đằng sau những luồng tia đẹp kỳ vĩ trải rộng tới hàng trăm năm ánh sáng, nhiều luồng tia như vậy đã được thấy quanh thiên hà Messier 87.    Các mô phỏng mới tính toán các đơn hạt trong luồng tia. Nguồn: Nature  Trong nhiều trường hợp, và đặc biệt là với các lỗ đen nhỏ, các luồng tia này dường như chứa cả một lớp bụi electron mỏng và các positron – những bản sao phản vật chất của chúng – thoát ra ngoài như plasma với tốc độ cao.  Những mô hình về tính chất lỗ đen hiện nay nêu các cặp hạt – phản hạt đã sản xuất ra điện trường và từ trường rất lớn bên trong, và cuộn xoắn ở gần chân trời sự kiện của một lỗ đen – không gì có thể thoát khỏi lỗ đen khi băng qua bề mặt hình cầu này. Phần lớn những hạt vật chất đều rơi vào bên trong lỗ đen.  Các luồng tia hình thành gần các cực từ của lỗ đen, nơi các dải từ trường xoắn hỗn loạn bắn ra ngoài không gian liên sao. Theo giải thích của các nhà vật lý thiên văn, các trường này có thể mang ra ngoài một số năng lượng và moment quay của lỗ đen, cũng như tạp ra nhiều electron và positron.  Trong quá khứ, các mô phỏng 3D của động lực học lỗ đen đã mô hình hóa được plasma vốn tạo ra các electron và các positron như một thể liên tục. Nhưng trong nghiên cứu này, Parfrey và cộng sự đã đưa cả các đơn hạt vào mô phỏng của mình và xem cách chuyển động của chúng quấn và tạo ra năng lượng, từ trường, điện trường như thế nào.  Kết quả cho thấy dòng điện chảy rối của các positron và electron vừa chuyển động về hướng ngược lại với nhau, vừa xoáy trong một đĩa quanh đường xích đạo của lỗ đen. Các dòng điện này là nguyên nhân khiến năng lượng bắn ra ngoài các vùng cực.  “Điều quan trọng nhất về các luồng tia này là về tổng thể không chỉ là plasma mà còn có rất nhiều năng lượng thoát ra khỏi điện từ trường”, Kyle Parfrey – một nhà vật lý thiên văn tại Trung tâm Bay không gian Goddard NASA tại Greenbelt, Maryland và là đồng tác giả nghiên cứu – nói. “Chúng tôi thấy điều đó xảy ra.”  Hiệu ứng này đã được các nhà vật lý thiên văn Roger Blandford and Roman Znayek dự đoán vào những năm 1970. Họ đã đề xuất một cơ chế giải thích cách các luồng tia có thể hút năng lượng khỏi spin của lỗ đen và cách nó góp phần làm spin chậm lại (Lý thuyết của Einstein làm cân bằng năng lượng với khối lượng; spin của một lỗ đen chậm lại thì nó sẽ trở nên nhẹ hơn).  Nghiên cứu này đã hỗ trợ cho cơ chế thứ hai giải thích cách năng lượng bị chiết xuất khỏi một lỗ đen quay – một cơ chế do nhà vật lý toán người Anh Roger Penrose đề xuất lần đầu tiên vào những năm 1960. Theo mô hình của Penrose, một số hạt được tạo ra gần đường xích đạo lỗ đen có năng lượng âm – vì vậy khi chúng rơi vào lỗ đen này, chúng làm chậm chuyển động quay của nó. Hiệu ứng mang tính giả thuyết này được được gợi lại trong “bức xạ Hawking” do Stephen Hawking đề xuất, trong đó các hạt mang năng lượng âm góp phần làm co ngót khối lượng của một lỗ đen.  Các mô phỏng mới vẫn còn cần được hoàn thiện, Parfrey nói. Đặc biệt, họ không đưa cách các hạt và phản hạt được tạo ra như thế nào hay đĩa– dòng chảy vật liệu quanh lỗ đen – được bồi đắp thông qua lực của các trường điện từ trong vị trí đầu tiên. Một lỗ đen sau khi cô lập vật chất sẽ tiêu tán các trường này và chuyển nó sang trạng thái tối câm lặng với những luồng tia phi plasma bắn ra.  Đồng tác giả Benoît Cerutti của trường đại học Grenoble Alpes tại Pháp cho biết Kính viễn vọng chân trời sự kiện – một mạng lưới ăng ten radio mở rộng trên toàn cầu đã đưa ra những kết quả đầu tiên trong năm nay, có thể đem lại một số chi tiết thú vị về cách plasma chuyển động quanh lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của dải Ngân hà cũng như một lỗ đen siêu khối lượng khác lại trung tâm Messier 87. “Hy vọng của tôi là chúng tôi sẽ sớm quan sát được những mối liên hệ ở các luồng tia lỗ đen nhiều hơn nữa,” Cerutti nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00347-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các mô phỏng trên siêu máy tính tiết lộ tập hợp của protein tác động đến tương tác      Các mô phỏng trên siêu máy tính của các nhà nghiên cứu RIKEN đã tiết lộ liên kết của thuốc với một đích đến protein thay đổi khi môi trường xung quanh bị cản trở do có nhiều protein khác xuất hiện. Các mô phỏng này có thể giúp cải thiện việc phát triển thuốc kể từ khi chúng cho thấy nguyên nhân vì sao một số thuốc được thiết kế đúng lý thuyết nhưng lại thất bại trên thực tế.      Các giai đoạn đầu của phát triển thuốc thường sử dụng việc mô phỏng các tương tác giữa một phân tử với protein đích của nó. Dẫu các mô phỏng đó có thể đề xuất thuốc nào là hiệu quả, tương tác đó vẫn có thể  không diễn ra đúng ý muốn như hứa hẹn lý thuyết của nó khi thử nghiệm trên tế bào sống. Nhà lý sinh tính toán Yuji Sugita của Trung tâm nghiên cứu động lực học của các hệ sinh học  RIKEN (BDR) và đồng nghiệp của anh muốn làm cho các mô phỏng này trở nên chính xác hơn bằng việc giải thích các tế bào tụ tập trong các môi trường thông thường.  “Nhiều loại protein và các phân tử lớn đang hiện diện trong các tế bào, tạo ra một môi trường đông đúc”, Sugita nói. “Trên thực tế, các phân tử lớn chiếm tới một phần tư hay một nửa số lượng bào chất trong một tế bào. Chúng tôi muốn khám phá kiểu môi trường có nhiều protein ảnh hưởng như thế nào đến liên kết với thuốc để hướng đích các protein”.  Để làm được điều này, họ đã phát triển một chương trình phần mềm tối ưu cao mang tên GENESIS cho các siêu máy tính ở Nhật Bản. Sau đó họ thực hiện các mô phỏng các tương tác của enzyme (c-Src kinase) với một thụ thể (PP1) ở thời gian cỡ micro giây trong các nồng độ albumin huyết thanh bò (BSA) khác nhau. Cộng sự của Sugita là Michael Feig, một giáo sư của trường đại học Michigan, đã thực hiện các mô phỏng trong cùng một hệ sử dụng siêu máy tính động lực học phân tử tại Mĩ. Nhóm nghiên cưu đã chọn kinase c-Src – một enzyme xúc tác cho việc chuyển các nhóm phosphate từ các phân tử năng lượng cao, cung cấp phosphate đến các phân tử đích cụ thể, bởi enzyme này điều chỉnh các con đường truyền tính trạng và những rối loạn điều tiết của nó liên quan đến nhiều loại bệnh tật, bao gồm cả nhiều bệnh ung thư.  Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự tụ tập do BSA gây ra làm giảm thiểu lượng PP1 có thể chạm tới enzyme c-Src kinase khi ngăn cản việc nó đến gần enzyme này cũng như làm tương tác đó yếu đi.  Do đó, chỉ một lượng nhỏ PP1 có thể đi qua đám đông này. Tuy nhiên các mô phỏng cũng chứng tỏ việc đám đông BSA bao quanh một số vị trí liên kết trên c-Src kinase và thay đổi hình dạng của nó, dẫn đến thay đổi các đường sẵn có để chạm vào các vị trí liên kết.    Nhà lý sinh tính toán Yuji Sugita của Trung tâm nghiên cứu động lực học của các hệ sinh học  RIKEN (BDR). Nguồn: RIKEN  Nhóm nghiên cứu đã đánh giá các kết quả của mình bằng việc thực hiện một số thử nghiệm trong phòng thí nghiệm bằng việc sử dụng các protein thông thường trong những điều kiện thông thường. Mikako Shirouzu và đồng nghiệp trong RIKEN BDR đã thực hiện các thí nghiệm này, qua đó chứng tỏ là hiệu quả của PP1 trong việc ức chế c-Src kinase giảm khi nồng độ BSA tăng.  Công bố “Reduced efficacy of a Src kinase inhibitor in crowded protein solution” được xuất bản trên tạp chí Nature Communications 1.   Nhóm nghiên cứu còn muốn kiểm tra thí nghiệm này trên những protein khác và các loại thuốc khác. Họ muốn hướng tới việc sử dụng các siêu máy tính để nghiên cứu chức năng của. “Những môi trường khác nhau đó có thể ảnh hưởng đến các chức năng của protein một cách tương tự nhau hay khác nhau, chúng ta vẫn còn chưa rõ”, Sugita nói.  Nguyễn Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-supercomputer-simulations-reveal-protein-crowding.html  https://www.riken.jp/en/news_pubs/research_news/rr/20211021_1/index.html  ———————————  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-24349-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Ấn Độ lập bản đồ 3D sông Hằng      Các mô hình số dòng sông Hằng và những khu định cư xung quanh sẽ giúp các nhà chức trách quản lý và giảm thiểu chất thải.      Sông Hằng là một trong những con sông ô nhiễm nhất trên thế giới. nguồn: Nature  Các nhà khoa học và kỹ sư đã bắt đầu thực hiện một nhiệm vụ lớn về việc vẽ bản đồ sông Hằng chảy trên đất nước Ấn Độ chi tiết chưa từng có. Họ hi vọng sẽ bắt đầu công việc trước khi mùa mưa đến, có thể làm dự án phải trì hoãn.  Mục tiêu của họ là tạo ra một bức tranh toàn diện về địa hình của dòng sông này và khu định cư xung quanh để theo dấu nguồn chất thải và hỗ trợ các nhà quản lý làm sạch một trong những dòng sông ô nhiễm trên thế giới.  “Đây là một cuộc chạy đua với thời gian”, Girish Kumar – người phụ trách cơ quan điều tra quốc gia Ấn Độ tại Dehradun ở chân núi Himalaya, đơn vị phụ trách dự án này.  Dẫu cho việc lập bản đồ được chờ đợi sẽ hoàn thành trong 8 tháng nhưng nhóm thực hiện muốn bắt đầu trước mùa mưa, điều đó có nghĩa là cần phải làm rất nhiều việc.  Một đội máy bay cỡ nhỏ được trang bị thiết bị lidar – kỹ thuật tương tự radar, trong đó có các thiết bị đón các tia laser nảy lại khỏi mặt đất, sẽ bắt đầu quét sớm dòng sông dài 2.525 km, đi qua 5 bang của Ấn Độ. Các nhà nghiên cứu sẽ dùng nó để tạo ra các mô hình số của nguồn nước và hàng trăm nghìn tòa nhà cách hai bờ sông 10km.  Nếu kế hoạch này được thực hiện theo đúng kế hoạch đã định, những bản đồ 3D sông Hằng có thể sẽ hình thành vào cuối năm tới.  Xác định ô nhiễm  Dự án này sẽ đem lại những bản đồ có độ phân giải cao của các hệ thống thoát nước của các thành phố dọc sông Hằng – mạng lưới thoát nước này phóng thích chất thải và nước thải công nghiệp vào dòng sông. Ước tính 600 triệu người sống ở lưu vực sông Hằng và thường lấy nước sông để ăn uống, tắm giặt. Với người dân Ấn Độ, sông Hằng hết sức linh thiêng và được coi là nữ thần Hằng hà, vì vậy họ thường lấy nước sông để làm các nghi lễ tôn giáo.  Dẫu cho sông Hằng đã được biết đến với một số chất thải nhưng những mô hình chi tiết về những nơi chất thải xâm nhập và di chuyển dọc sông sẽ giúp các nhà quản lý hoạch định các chiến lược giảm thiểu ảnh hưởng của chất thải. Kỹ sư môi trường Vinod Tare của Viện Công nghệ Ấn Độ ở Kanpur cho biết, rất nhiều sự can thiệp của chính phủ hiện nay như tách chất thải công nghiệp chưa qua xử lý khỏi dòng sông, đang được thực hiện mà không có thông tin chuẩn để đánh giá là liệu chúng có hiệu quả không. “Hiện tại, chúng tôi thậm chí còn không có cả địa hình dạng đơn giản của lưu vực sông”. Tare cho biết. Anh là người tham gia thực hiện các nghiên cứu quản lý sông Hằng trong vòng 3 thập kỷ qua.  Các quan chức chính phủ cũng hi vọng các bản đồ này sẽ tăng cường hiểu biết về các thành phố phát triển dọc hai bờ sông như thế nào, và bờ sông đang bị xói mòn ra sao. Điều này sẽ giúp các chính quyền địa phương quản lý rủi ro thiên tai như lũ lụt. “Chúng tôi sẽ có ý tưởng tốt nhất về những ảnh hưởng của ngành công nghiệp và dân cư dọc sông ảnh hưởng như thế nào tới môi trường sông”, Kumar cho biết.  Dự án lập bản đồ sông Hằng dự kiến sẽ mất khoảng 870 triệu rupi, tương đương 12,7 triệu USD. “Quá đắt đỏ nhưng so với những gì chúng tôi sẽ đầu tư để giải quyết các vấn đề ô nhiễm thì nó vẫn chưa là gì,” Tare nhận xét.  Truy cập dữ liệu  Nhưng nhà nghiên cứu về chất lượng nước Abed Hossain cho biết, những lợi ích từ những dữ liệu sẽ không nhận được nếu các nhà nghiên cứu không thể truy cập được tất cả các thông tin và dùng nó để phát triển mô hình và các giải pháp. Nếu dự án này không diễn ra đúng kế hoạch, dữ liệu không đầy đủ thì chính phủ có thể không công khai hết dữ liệu và hạn chế quyền truy cập vào một số dữ liệu thô, theo nhận định của Hossain – hiện làm việc tại trường đại học kỹ thuật và công nghệ Bangladesh tại Dhaka. Ông cho rằng, tại Nam Á, “các chính quyền từng nếm trải nhiều kinh nghiệm thất bại trong quản lý các dòng sông”. Hossain hi vọng các viện nghiên cứu độc lập sẽ được quyền truy cập toàn bộ kết quả của cuộc điều tra.  Kumar cho biết, chính phủ Ấn Độ đã công bố các bản hướng dẫn về chia sẻ dữ liệu và sẽ tiếp tục chia sẻ thông tin thu thập được từ việc thực hiện dự án này.  Việc lập bản đồ sông Hằng là một phần trong nỗ lực thúc đẩy của chính phủ Ấn Độ trong việc dùng công nghệ để giám sát và làm sạch sông Hằng. Vào năm 2015, chính phủ đã chấp thuận dự án quốc gia trị giá 200 tỷ rupee để làm sạch sông Hằng – một nỗ lực trên diện rộng để cải thiện việc xử lý chất thải, giảm bớt ô nhiễm công nghiệp và giải quyết sự thiếu hụt của hệ thống vệ sinh ở khu vực nông thôn. Chính phủ cũng hứa xây dựng cả nơi hỏa táng để ngăn nước từ các hoạt động tang lễ trôi ra sông.  Nhưng với thời hạn năm 2020, chính phủ Ấn Độ vẫn còn một chặng đường dài để đạt được các mục tiêu của mình. Năm 2017, một báo cáo từ một cơ quan độc lập với chính phủ đã cho thấy, nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện như hạn chế trong năng lực quản lý tài chính, lập kế hoạch và cả năng lực thực hiện.  Một số nghiên cứu đã cho thấy nước sông Hằng vẫn còn không đạt tiêu chuẩn để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người. Một báo cáo của Ban kiểm soát ô nhiễm trung ương năm 2013 đã tìm thấy nước ở một khúc sông lớn từ Kanpur ở phía bắc bang Uttarakhand đến vịnh Diamond gần cửa sông, không đạt tiêu chuẩn để sử dụng.  Việc quản lý sông Hằng sẽ trở thành một vấn đề trọng tâm trong cuộc bầu cử vào năm tới ở Ấn Độ. Kumar cho biết, các bản đồ sông Hằng sẽ trở thành một trong những cơ sở quan trọng cho những biện pháp quản lý trong tương lai. “Trước khi lập kế hoạch cho bất kỳ vấn đề gì thì chúng tôi cần có một bản đồ trong tay”, anh nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05872-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Ấn Độ phản đối các tuyên bố phản khoa học      Lần thứ hai trong vòng 4 năm, hội nghị Khoa học Ấn Độ được tổ chức như một cơ hội để đưa ra những niềm tin lạ lùng.      Các nhà khoa học Kolkata cầm trên tay những tấm biển thể hiện thông điệp phản đối những lời tuyên bố phản khoa học. Nguồn: Nature  Các nhà khoa học Ấn Độ đã chỉ trích hai diễn giả tại một hội nghị lớn bởi họ đưa ra những lời tuyên bố phản khoa học và kỳ quái, trong đó có cả việc đưa ra nhận định người Hindu cổ xưa đã phát minh ra khoa học về tế bào gốc. Các nhóm nhà khoa học đã xuống đường phản đối tại Bangalore, Kochi, Kolkata và Thiruvananthapuram vào ngày 6/1/2019 vừa qua, kêu gọi hãy chấm dứt việc trình bày những niềm tin phản khoa học của các cá nhân tại Hội nghị Khoa học Ấn Độ.  “Bất cứ lý thuyết nào trên cơ sở niềm tin cá nhân và không được khoa học xác nhận không thể có chỗ tại một hội nghị khoa học”, nhà vật lý Soumitro Banerjee, tổng thư ký Breakthrough Science Society – một tổ chức phi lợi nhuận tại Kolkata và là nơi tổ chức, thúc đẩy các cuộc phản đối.  Phản hồi quan điểm của các nhà khoa học, các nhà tổ chức hội nghị cho biết từ năm tới, họ sẽ đòi hỏi các diễn giả gửi bản tóm tắt báo cáo của họ. “Chúng tôi sẽ đảm bảo những người tham gia điều hành tại các phiên thảo luận sẽ phải nắm được nội dung khoa học của các báo cáo đó”, nhà hóa sinh Premendu Mathur – tổng thư ký Hiệp hội khoa học Ấn Độ có trụ sở tại Kolkata, cho biết.  Hội nghị này là cuộc gặp gỡ thường niên lớn nhất của các nhà khoa học Ấn Độ, tuy nhiên lại trở này cơ hội để đem đến những ý tưởng phản khoa học: năm 2015, một diễn giả tại một phiên thảo luận chuyên đề đã tuyên bố là người Ấn Độ cổ đại là những người đầu tiên tạo ra được máy bay. Năm nay, nó được tổ chức tại Jalandhar ở phía Bắc Ấn Độ từ ngày 3 đến 7/1/2019.  Trong một cuộc trao đổi tại hội thảo vào ngày 4/1, nhà hóa học Gollapalli Nageswara Rao, phó hiệu trưởng trường đại học Andhra ở Visakhapatnam, đã trích dẫn sử thi Ấn Độ Mahabharata như bằng chứng cho thấy việc thụ tinh trong ống nghiệm in vitro và tế bào gốc đã tồn tại ở quốc gia này hàng ngàn năm trước đây. Ông Rao đã không phản hồi gì về những câu hỏi của Nature về vấn đề mà ông đã nêu.  Krishnaswamy VijayRaghavan, cố vấn khoa học chính của chính phủ Ấn Độ, đã viết trên blogpost rằng thật không may là một hiệu phó của một trường đại học liên bang lại có thể nói ra những điều “hoàn toàn không thể chấp nhận được về mặt khoa học”.  Một diễn giả khác thì tranh luận về Thuyết tương đối của Albert Einstein và Thuyết vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton trong phiên về trẻ em của hội thảo khoa học này.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00073-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học bác bỏ tin đồn COVID-19 là virus nhân tạo      Trước tình hình tin giả về COVID-19 ngày càng lan rộng gây hoang mang trong dư luận xã hội, tạp chí Y học Lancet đã đăng tải thư của các nhà nghiên cứu về việc bác bỏ tin đồn COVID-19 là virus nhân tạo và thúc đẩy các thông tin khoa học đúng đắn xung quanh dịch bệnh này.      Nhiều khả năng tê tê là nguồn gây phát virus này. Tạp chí Nature công bố giả thiết này hôm 7/2: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00364-2  Bức thư, do tác giả liên hệ là GS Charles Calisher, chuyên nghiên cứu về virus và các bệnh truyền nhiễm, ĐH Colorado, Mỹ và nhiều nhà nghiên cứu về virus và bệnh truyền nhiễm từ Anh, Mỹ, Hà Lan… viết trên tạp chí Lancet:   “Chúng tôi là các nhà khoa học về y tế công cộng đã theo dõi sát sao về bệnh do chủng mới của coronavirus năm 2019 (COVID-19) và rất quan tâm tới tác động của nó lên sức khỏe và chất lượng sống trên toàn cầu. Chúng tôi đã dõi theo các nhà khoa học, chuyên gia y tế công cộng và chuyên gia y tế Trung Quốc, những người làm việc hiệu quả và nhanh chóng để xác định mầm bệnh đằng sau ổ dịch này, [từ đó] đưa ra các biện pháp quan trọng để giảm tác động của bệnh dịch và chia sẻ kết quả đó với cộng đồng y tế toàn cầu một cách minh bạch. Đây là nỗ lực đáng ghi nhận.  Chúng tôi cùng tham gia ký kết tuyên bố này để đoàn kết với tất cả các nhà khoa học và chuyên gia y tế tại Trung Quốc, những người tiếp tục bảo vệ sức khỏe toàn cầu trong thử thách bùng phát COVID-19. Tất cả chúng tôi bên nhau, cùng với các đồng nghiệp ở Trung Quốc chống lại mối đe dọa do chủng virus mới này.  Nhưng việc chia sẻ dữ liệu nhanh chóng, công khai và minh bạch về dịch bệnh đang bị đe dọa bởi những tin đồn và thông tin sai lệch xung quanh nguồn gốc của virus này. Chúng tôi cùng đấu tranh để kiên quyết lên án các thuyết âm mưu cho rằng COVID-19 không có nguồn gốc tự nhiên.  Các nhà khoa học từ nhiều quốc gia đã công bố và phân tích bộ gene của tác nhân gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nặng (hội chứng SARS-CoV-2) và họ kết luận một cách chắc chắn là coronavirus này có nguồn gốc từ động vật hoang dã, cũng như là có rất nhiều mầm bệnh mới nổi. Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Hoa Kỳ và các đồng nghiệp ở đây cũng đã viết một lá thư lên tiếng về vấn đề này. Các thuyết âm mưu không gây ra gì khác hơn việc tạo ra sự hoang mang, tin đồn và định kiến gây nguy hiểm cho hợp tác toàn cầu của chúng ta trong cuộc chiến chống lại virus này.  Chúng tôi ủng hộ lời kêu gọi của Tổng giám đốc WHO về việc đẩy mạnh các bằng chứng khoa học và thống nhất để đối chọi lại các thông tin sai lệch và phỏng đoán. Chúng tôi muốn các bạn, các nhà khoa học và các chuyên gia y tế của Trung Quốc biết rằng chúng tôi sẽ cùng bạn chống lại virus này.  Chúng tôi mời những người khác cùng tham gia hỗ trợ các nhà khoa học, chuyên gia y tế công cộng và chuyên gia y tế của Vũ Hán và trên khắp Trung Quốc. Hãy cùng ủng hộ các đồng nghiệp của chúng tôi nơi tuyến đầu!”  Lá thư cũng trích dẫn đầy đủ các nghiên cứu, công bố của các nhà khoa học về nguồn gốc của COVID-19 cũng như giải trình tự gene của virus này trong mục tài liệu tham khảo.   Bảo Như dịch  Nguồn: https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30418-9/fulltext?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học đã xây dựng “thư viện” hạt nano đầu tiên      Gần đây, các nhà nghiên cứu đã thông báo trên tạp chí Science về công trình xây dựng một tập hợp của các hạt nano được làm từ sự kết hợp của năm kim loại khác nhau.    Các phân tử nano được kết hợp theo nhiều cách  Trong nhiều thập kỷ qua, giới khoa học đã biết rằng các cụm nhỏ nguyên tử, gọi là các hạt nano (nanoparticles), thường có những đặc tính khác thường so với khi chúng tập hợp thành khối lớn. Chẳng hạn, các hạt nano vàng có thể xúc tác trong các phản ứng hóa học khi một lượng lớn các nguyên tử vàng thì không thể làm được điều đó. Vì vậy, các nhà hóa học đã đưa ra rất nhiều phương pháp tổng hợp các hạt nano. Tuy nhiên, cho đến nay họ vẫn chưa có cách nào kết hợp một cách hệ thống các nguyên tố khác nhau theo cấu trúc nano và thử nghiệm các kết quả thu được.Trong nghiên cứu mới này, các nhà khoa học sử dụng chấm nano làm ống để nhúng vào năm chất lỏng polymer khác nhau, mỗi chất lỏng có chứa nồng độ lớn các ion kim loại gồm vàng, bạc, đồng, niken và coban. Sau khi thực hiện kết hợp các chất lỏng này theo nhiều cách khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cô đặc các phân tử bằng cách sử dụng hai phương pháp nhiệt luyện khác nhau. Trước tiên, họ kéo các ion kim loại lại gần nhau ở nhiệt độ thấp; tiếp đó, họ đốt nóng chúng lên và gắn kết các kim loại với nhau thành dạng hạt rắn. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã tạo ra 31 loại hạt nano kết hợp từ năm kim loại này.Hiện tại, nhóm nghiên cứu đang tiến hành một loạt kiểm tra các hạt này trên nhiều lĩnh vực như quang học, điện tử, và hi vọng đặc tính xúc tác này sẽ giúp tìm ra bước đột phá lớn trong công nghệ nano.  Phương Thảo dịch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học đồng ý với việc xả một triệu tấn nước thải từ Fukushima      Trong khi các quốc gia láng giềng đang lên án Nhật Bản trong việc lên kế hoạch xả nước đã sử dụng để làm mát các lò phản ứng nóng chảy của nhà máy điện hạt nhân Fukushima ra biển, thì các nhà nghiên cứu dường như lại đồng tình với quyết định này.      Hơn 1.000 bể chứa nước bị ô nhiễm nằm rải rác xung quanh khu vực của nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi ở Okuma, Nhật Bản  Đề xuất xả hơn một triệu tấn nước bị ô nhiễm từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi ra bờ biển phía đông của của Nhật Bản đã bị các nước láng giềng bao gồm cả Trung Quốc và Hàn Quốc phản đối mạnh mẽ. Nhưng các nhà khoa học cho rằng rủi ro có thể sẽ giảm thiểu nếu việc xả thải được thực hiện theo kế hoạch.  Nhật Bản đã tiết lộ đề xuất vào tháng 4, khiến ngoại trưởng Hàn Quốc bày tỏ quan ngại. Theo hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa xã của Trung Quốc, các nhà khoa học Trung Quốc cực lực phản đối đề xuất này, trong đó ông Liu Senlin tại Viện Năng lượng Nguyên tử Trung Quốc (Bắc Kinh) từng mô tả đây là hành động “cực kỳ vô trách nhiệm”.  Tuy nhiên, các nhà khoa học khác bao gồm cả tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) lại phản bác ý kiến này bởi cho rằng hàm lượng bức xạ trong nước thải đã qua xử lý là rất thấp và lượng nước sẽ được thải ra dần trong vài năm để giảm thiểu mọi rủi ro.  Ông Jordi Vives I Batlle, nhà khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ đối với các hệ sinh thái biển tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân của Bỉ (Mol) nhận định: “Là một nhà khoa học, tôi buộc phải giữ một đầu thật tỉnh táo để đánh giá mọi vấn đề và nhìn thẳng vào sự thật. Và sự thật cho tôi biết đây không phải là điều mà chúng ta cần phải lo lắng”.  Làm mát lò phản ứng nóng chảy  Trận động đất và sóng thần tấn công bờ biển phía đông Nhật Bản vào ngày 11 tháng 3 năm 2011 là nguyên nhân dẫn đến sự cố của hệ thống làm mát tại nhà máy điện. Trong suốt thập kỷ qua, 1,25 triệu tấn nước biển đã được bơm vào các tổ máy bị hư hỏng để ngăn quá trình nóng chảy các mảnh vụn nhiên liệu. Nước bị ô nhiễm đã được xử lý để loại bỏ chất phóng xạ và được trữ trong hơn 1.000 bể xung quanh khu vực nhà máy.  Việc xả nước thải đã qua xử lý là một phần trong chuỗi các hoạt động tiêu chuẩn của nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên, theo ông Vives I Batlle, người đã tiến hành nghiên cứu ở Fukushima kể từ sau trận sóng thần xảy ra cho rằng một lượng nước khổng lồ ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima và nồng độ phóng xạ cao tích tụ trong nước qua quá trình tiếp xúc trực tiếp với lò phản ứng tan chảy là điều đáng lưu tâm.  Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy nước đã qua xử lý tồn tại mức phóng xạ lớn hơn mức nền hiện có trong môi trường.  Ông Vives I Batlle nhấn mạnh thêm việc công ty Điện lực Tokyo, đơn vị vận hành nhà máy điện Fukushima tiết lộ việc xử lý đã loại bỏ hầu hết các hạt nhân phóng xạ bao gồm cesium và stronti, và chỉ còn lại triti – chất phát ra liều bức xạ thấp nhất so với bất kỳ hạt nhân phóng xạ nào.  Bà Deborah Oughton, giám đốc Trung tâm Phóng xạ Môi trường tại Đại học Khoa học Đời sống Na Uy (Oslo) khẳng định tritium là một hạt nhân phóng xạ tự nhiên được tìm thấy trong môi trường và trong các sinh vật sống, bao gồm cả con người.  Bà Oughton cho rằng quá trình xả thải của Nhật Bản sẽ diễn ra trong khoảng từ hai đến ba năm. Điều đó cho thấy rằng mức độ bức xạ trong nước uống sẽ luôn ở “mức cho phép”. Do đó, tác động trực tiếp đến môi trường và sức khỏe con người sẽ là rất thấp.    Các nhà hoạt động môi trường phản đối kế hoạch xử lý nước thải Fukushima trước đại sứ quán Nhật Bản ở Seoul  Ngay cả trong tình huống xấu nhất được chuyên gia Vives I Batlle mô tả là khi tất cả nước được giải phóng cùng một lúc trước được xử lý hoàn toàn, thì mức độ bức xạ trong môi trường biển lúc đó chắc chắn vẫn sẽ “ít độc hại hơn 100 lần” so với bức xạ nền.  Sự tham gia của IAEA  Trong một động thái nhằm làm giảm bớt nỗi sợ hãi của các nhà phê bình, IAEA đang làm việc với chính phủ Nhật Bản trong việc lập kế hoạch, thực hiện và giám sát việc xả thải.  Ông Rafael Grossi, Tổng giám đốc của IAEA, tại Vienna khẳng định Cơ quan Nguyên tử Quốc tế sẽ đến tận nơi trước khi hoạt động lập kế hoạch được diễn ra (giai đoạn hiệu chuẩn) và sẽ ở đó khi diễn ra hoạt động, đồng thời tiến hành kiểm tra sau khi đã hoàn tất toàn bộ quá trình.  Ông Shigeyoshi Otosaka, nhà hải dương học và nhà hóa học biển tại Đại học Tokyo, người đã nghiên cứu các mô hình phân tán hạt nhân phóng xạ sau trận sóng thần cho biết việc truyền đạt thông tin khoa học sau khi việc xả thải được tiến hành phải được thực hiện cẩn thận để tránh những hiểu lầm không đáng có. Ông nhấn mạnh: “Việc phát hiện các hạt nhân phóng xạ sẽ dẫn đến những hiểu lầm hoặc tổn hại danh tiếng dù cho lượng phóng xạ ở mức rất thấp”.  Bà Oughton cũng nhấn mạnh tác động tiềm tàng đối với ngành đánh bắt cá của Nhật Bản nếu việc xả thải không được xử lý dựa trên lòng tin của công chúng. Bà khẳng định: Việc giám sát phải được theo dõi một cách nghiêm ngặt và cẩn thận để trấn an mọi người rằng hàm lượng phóng xạ trong hải sản không gây hại cho sức khỏe con người.  Trần Thiện Phương Anh dịch từ Nature  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/cac-nha-khoa-hoc-dong-y-voi-ke-hoach-xa-mot-trieu-tan-nuoc-thai-tu-nha-may-dien-hat-nhan-fukushima/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học giải quyết bài toán hóc búa về lá cỏ      Dù thường bị những người thợ cắt cỏ cắt hay các chú bò, cừu gặm thì cỏ vẫn cứ tiếp tục lên xanh. Bí mật về sức mạnh tái sinh đáng kinh ngạc đó nằm ở hình dạng của lá cỏ nhưng hình dạng đó được hình thành như thế nào vẫn là một chủ đề tranh cãi qua nhiều năm.      Cuộc tranh luận này liên quan đến các mùa vụ lúa mì, lúc gạo, ngô bởi chúng đều là cây thuộc họ Hòa thảo hay họ Lúa hoặc họ Cỏ với cùng một hình dạng lá.  Bí ẩn về sự hình thành của lá cỏ hiện giờ đã được một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu John Innes (Anh) cùng với các nhà khoa học trường đại học Cornell và trường đại học California, Berkley, trường đại học Edinburgh phát hiện khi sử dụng những mô hình tính toán tiên tiến và các kỹ thuật di truyền thực nghiệm.  Công trình “Evolution of the grass leaf by primordium extension and petiole-lamina remodeling” được xuất bản trên tạp chí Science. Giáo sư Enrico Coen, một trong những tác giả chính của công trình, nói: “Lá cỏ ẩn chứa một bài toán hóc búa 1. Bằng việc hình thành và thử nghiệm các mô hình khác nhau về quá trình tiến hóa và phát triển của nó, chúng tôi đã chứng tỏ là các lý thuyết hiện hành dường như đều sai, và một ý tưởng được đề xuất từ thế kỷ 19 nhưng sau bị bác bỏ lại gần với phát hiện này của chúng tôi”.  Các thực vật có hoa thường được phân loại vào nhóm một lá mầm hay hai lá mầm. Thực vật một lá mầm, vốn bao gồm họ cỏ, có lá mọc vòng quanh gốc và những đường gân lá song song. Thực vật hai lá mần, bao gồm chi cải, cây họ đậu và phần lớn cây bụi cũng như cây thân gỗ hay được trồng trong vườn, có lá không mọc liền thân mà có cuống và gân tỏa theo hình mạng nhện.  Trong họ cỏ, lá hình thành một cấu trúc hình ống, gọi là màng. Màng này cho phép cây gia tăng chiều cao trong khi vẫn giữ được chóp lá tăng trưởng sát mặt đất, bảo vệ nó khỏi sự đe dọa của lưỡi liềm hoặc những bộ răng của động vật ăn cỏ.  Trong thế kỷ 19, các nhà thực vật học đề xuất là màng lá cỏ tương đương với cuống lá của cây hai lá mầm. Nhưng quan điểm này đã bị nghi ngờ vào thế kỷ 20, khi các nhà giải phẫu thực vật lưu ý là các cuống lá cũng có những gân chạy song song như lá cỏ, và kết luận là toàn bộ lá cỏ (ngoại trừ một vùng rất nhỏ ở chóp lá) có nguồn gốc từ cuống lá.  Sử dụng những mô hình tính toán và các kỹ thuật di truyền thực nghiệm tiên tiến, nhóm nghiên cứu đã tái lập lại bài toán về sự phát triển của lá cỏ. Họ mô hình hóa các giả thuyết khác nhau về cách phát triển của lá cỏ, và thử nghiệm các dự đoán từ mỗi mô hình với các kết quả thực nghiệm. Thật ngạc nhiên là họ tìm ra mô hình dựa trên ý tưởng của thế kỷ 19 về sự tương đương của màng – cuống lại phù hợp nhất với thực nghiệm hơn quan điểm hiện đại.  Những phát hiện nhỏ về sự phát triển của động vật nơi một lý thuyết bị bác bỏ đã được “minh oan” dưới ánh sáng của nghiên cứu di truyền mới.  Nghiên cứu về lá cỏ cho thấy cách những biến điệu đơn giản của những quy tắc sinh trưởng, trên cơ sở của một mẫu hình chung của các hoạt động gene, có thể tạo ra một sự đa dạng đáng chú ý về những hình dạng khác biệt của lá, nếu không có nó thì những khu vườn và những bàn ăn của chúng ta sẽ trở nên nghèo nàn hơn nhiều.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-scientists-grass-leaf-conundrum.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2021/12/211209142548.htm  —————————————–  1 https://www.science.org/doi/10.1126/science.abf9407    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm sự sống thông minh ngoài Trái đất      Một nhóm các nhà khoa học quốc tế do NASA dẫn đầu đã phát triển một tín hiệu, và đang đề xuất gửi tín hiệu này đi khắp thiên hà để tìm sự sống thông minh ngoài Trái đất.    Tín hiệu mới được gọi là Beacon in the Galaxy, bao gồm các phương thức giao tiếp cơ bản, một số khái niệm toán học và vật lý, DNA, thông tin về con người và cuối cùng là vị trí của Trái đất để bất kỳ loài nào ngoài Trái đất (nếu có và nhận được tín hiệu) có thể gửi tín hiệu hồi đáp.        Nhóm các nhà nghiên cứu, đứng đầu là Tiến sĩ Jonathan Jiang tại Phòng thí nghiệm Lực đẩy Phản lực của NASA ở California, nói rằng với những cải tiến kỹ thuật ngày nay, họ có thể phát tín hiệu nhị phân này vào trung tâm của Dải Ngân hà, sử dụng Hệ thống kính viễn vọng Allen của Viện Seti ở California và Kính viễn vọng vô tuyến hình cầu ở Trung Quốc.    Trong một bài báo khoa học, nhóm nghiên cứu đề xuất gửi tín hiệu đến một khu vực dày đặc các ngôi sao gần trung tâm của Dải Ngân hà – khu vực được cho là nhiều khả năng tồn tại sự sống nhất. “Nhân loại có một câu chuyện hấp dẫn để chia sẻ, và mong muốn được biết về các loài khác, và bây giờ chúng ta có đủ phương tiện để làm điều đó,” nhóm nghiên cứu viết.    Đây không phải tín hiệu tìm kiếm sự sống ngoài hành tinh đầu tiên. Ý tưởng Beacon in the Galaxy dựa trên thông điệp Arecibo được gửi vào năm 1974 từ đài quan sát Arecibo ở Puerto Rico. Tín hiệu Arecibo nhắm vào một cụm sao cách chúng ta khoảng 25.000 năm ánh sáng, và hiện vẫn chưa gửi đến nơi.    Không dễ để thiết lập liên lạc giữa các vì sao. Thứ nhất, tỷ lệ một nền văn minh nhận được tín hiệu là cực kỳ thấp. Thứ hai, kể cả khi đã có liên lạc, rất khó để trò chuyện một cách hiệu quả (ít nhất là với công nghệ của con người ngày nay) vì một tín hiệu phản hồi có thể mất hàng nghìn năm mới tới nơi. Ngoài ra, các nền văn minh ngoài hành tinh có thể sẽ không thể hiểu được tín hiệu của con người. Trong quá trình thử nghiệm thông điệp Arecibo, Frank Drake, nhà thiết kế đã thử gửi tín hiệu này đến một số đồng nghiệp khoa học, bao gồm một số người đoạt giải Nobel. Không ai hiểu được tín hiệu.    Thậm chí còn có một số lo ngại. Hơn một thập kỷ trước, nhà vật lý Stephen Hawking đã cảnh báo con người nên hạn chế gửi thông điệp vào không gian. “Nếu người ngoài hành tinh đến thăm chúng ta, kết quả sẽ giống như khi Columbus đến Châu Mỹ – không tốt cho người Mỹ bản địa,” Hawking nói trong một bộ phim tài liệu trên kênh Discovery.    Nhưng Jiang và các đồng nghiệp cho rằng nếu có một loài ngoài hành tinh có khả năng giao tiếp xuyên vũ trụ thì họ sẽ hiểu giá trị của hòa bình và hợp tác, và nhân loại có thể học hỏi được nhiều điều từ loài đó. “Chúng tôi tin rằng những tiến bộ khoa học mà nhiệm vụ này mang lại, nếu thiết lập được liên lạc, sẽ vượt trội hơn rất nhiều so với những rủi ro,” theo nhóm Jiang.    Rủi ro và lợi ích tổng thể của việc gửi tin nhắn đều nhỏ, theo Anders Sandberg, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Tương lai của Nhân loại tại Đại học Oxford. “Cách tốt hơn và an toàn hơn là tìm ra các loài khác khi di chuyển ra ngoài không gian, khi chúng ta và đối tác đều là các loài đã trưởng thành,” Sandberg nói.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Các nhà khoa học Nga quan sát sự hình thành các giọt nhỏ từ vật chất tối      Các nhà nghiên cứu Nga đã phát triển một mô hình toán học có khả năng miêu tả hoạt động của các hạt vật chất tối bên trong các quầng thiên hà nhỏ. Họ quan sát thấy theo thời gian, vật chất tối này có thể hình thành nên các giọt nhỏ của trạng thái ngưng tụ lượng tử. Trước đây điều này được coi là không thể, vì sự giao động của trường hấp dẫn do các hạt vật chất tối tạo ra bị bỏ qua. Nghiên cứu này được xuất bản trên Physical Review Letters.      Bức ảnh bên trái miêu tả khoảng khắc ban đầu, khi khí được hòa trộn, bức ảnh bên phải miêu tả khoảng khắc ngay sau khi hình thành ngôi sao Bose. Màu sắc hiển thị mức độ đậm đặc: trắng-xanh da trời – xanh lá cây – vàng, từ thưa thớt đến dày đặc. Nguồn: nhóm tác giả công trình.  Vật chất tối là một hình thức giả định của vật chất trong vũ trụ mà không phát ra bức xạ điện từ. Tính chất này khiến các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm về vật chất tối và chứng minh sự tồn tại của nó. Các hạt vật chất tối di chuyển rất chậm, điều đó giải thích tại sao chúng bị giữ lại trong các thiên hà. Chúng tương tác với nhau và với những vật chất thông thường khác một cách yếu ớt  nên chỉ có thể thấy được trường hấp dẫn của chúng, nói cách khác vật chất tối không biểu thị sự tồn tại của mình theo bất cứ cách nào khác. Mỗi thiên hà được một lớp vỏ (quầng) vật chất tối có kích thước và khối lượng cực lớn bao quanh.  Trước đây hầu hết nhà vũ trụ học đều tin là các hạt vật chất tối đều có khối lượng lớn, vì thế tốc độ của chúng rất cao. Nhưng đến những năm 1980, họ mới biết dưới những điều kiện đặc biệt, các hạt này có thể được sinh ra trong vũ trụ sớm với tốc độ hầu như bằng không, bất kể khối lượng. Chúng cũng có thể rất nhẹ. Kết quả là các khoảng cách mà tại đó trạng thái lượng tử tự nhiên của các hạt này trở nên rõ ràng có thể rất lớn. Thay vì quy mô nano mét thông thường để quan sát hiện tượng lượng tử trong các phòng thí nghiệm, quy mô “lượng tử” này cho các hạt có thể so sánh được với kích thước của phần trung tâm dải Ngân hà.  Quan sát các hạt vật chất tối này, các nhà nghiên cứu thấy nếu chúng là các hạt boson với khối lượng nhỏ vừa đủ, có thể hình thành một trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein trong các quầng thiên hà nhỏ hay thậm chí các cấu trúc nhỏ hơn tùy thuộc những tương tác hấp dẫn của chúng. Nhiều cấu trúc ngầm bao gồm các quầng của các thiên hà lùn – hệ thống gồm hàng tỉ ngôi sao liên kết với nhau bởi các lực hấp dẫn, và các cụm nhỏ – các hệ thống nhỏ được hình thành chỉ từ vật chất tối. Trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein là một trạng thái của các hạt lượng tử có mức năng lượng thấp nhất nên cũng có năng lượng nhỏ nhất. Trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein có thể được tạo ra trong phòng thí nghiệm tại nhiệt độ thấp từ các hạt nhân thông thường. Trạng thái này của vật chất biểu hiện các đặc tính cân bằng như hiện tượng siêu lỏng: khả năng vượt qua các vết nứt hoặc ống mao dẫn không ma sát. Vật chất tối nhẹ trong thiên hà có tốc độ thấp và sự tập trung lớn. Trong những điều kiện này, nó có thể tạo ra một trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein. Nhưng trong khi để điều đó diễn ra, các hạt vật chất tối phải tương tác với nhau, và như chúng ta đã biết, chúng chỉ tương tác ở khía cạnh lực hấp dẫn.  “Trong công trình nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi mô phỏng hoạt động khí lượng tử của các hạt vật chất tối có tương tác tạo ra lực hấp dẫn nhẹ. Chúng tôi bắt đầu từ một trạng thái với sự hòa trộn cực lớn, đối nghịch với trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein. Sau một thời gian dài, 100.000 lần nhiều hơn thời gian cần thiết cho một hạt đi qua khối mô phỏng này, các hạt này hình thành trạng thái ngưng tụ một cách tự phát, sau đó tự nó tạo thành một giọt nhỏ hình cầu – một ngôi sao Bose, dưới ảnh hưởng của lực hấp dẫn”, TS vật lý Dmitry Levkov, nhà nghiên cứu chính tại Viện nghiên cứu hạt nhân của Viện Hàn lâm Khoa học Nga và là một trong số các tác giả, cho biết.  TS. Levkov và đồng nghiệp là Alexander Panin và Igor Tkachov cũng từ Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân, kết luận là trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein có thể hình thành trong các trung tâm của những quầng của các thiên hà lùn trong một khoảng thời gian nhỏ hơn vòng đời của vũ trụ. Điều đó có nghĩa là bây giờ các ngôi sao Bose có thể gắn chúng vào.  Các tác giả nghiên cứu này là những người đầu tiên chứng kiến sự hình thành của trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein từ những vật chất tối nhẹ trong các mô phỏng trên máy tính. Trong nhiều nghiên cứu trước, trạng thái ngưng tụ này đã được hiển hiện trong trạng thái ban đầu, và các ngôi sao Bose xuất hiện từ đó. Theo nhiều giả thuyết, trạng thái ngưng tụ Bose có thể hình thành trong thời kỳ vũ trụ sớm trước khi hình thành các thiên hà hoặc các cụm nhỏ, nhưng hiện còn thiếu bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh điều đó. Các tác giả đã chứng tỏ rằng trạng thái ngưng tụ này được hình thành ở các trung tâm của các quầng nhỏ và họ lập kế hoạch để điều tra sự tập trung của vật chất tối trong các nghiên cứu tiếp theo.  Các nhà khoa học chỉ ra, hiện nay việc các ngôi sao Bose có thể tạo ra các bùng phát sóng vô tuyến nhanh (Fast Radio Bursts) vẫn chưa thể giải thích một cách thuyết phục. Các axion – những hạt vật chất tối nhẹ tương tác với trường điện từ yếu và có thể phân rã thành các radiophoton. Hiệu ứng này nhỏ ở mức gần như bị triệt tiêu nhưng bên trong ngôi sao Bose có thể được khuếch đại cộng hưởng như một tia laser và có thể dẫn đến các bùng phát sóng vô tuyến lớn.  “Bước tiếp theo rõ ràng là dự đoán số lượng của các ngôi sao Bose trong vũ trụ và tính toán khối lượng của chúng trong các mô hình với vật chất tối nhẹ”, Dmitry Levkov kết luận.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2018-10/arsc-rpo102218.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học nghiên cứu quá trình nói.      Sử dụng công nghệ đo từ trường sinh ra do hoạt động của các neuron trong bộ não, các nhà nghiên cứu ở Đại học Washington nói rằng họ đã tìm thấy điều gì đó có vẻ như là một sự liên hệ giữa các vùng nghe và nói trong bộ não của những đứa trẻ 6 tháng hoặc 1 năm tuổi. Giáo sư Toshiaki Imada, người đứng đầu nghiên cứu này cho rằng vùng Broca, nằm ở phần trước của bán cầu não trái được kích hoạt dần dần trong suốt những năm đầu đời của đứa trẻ.    “Công nghệ sử dụng từ trường để chụp não đã đo được từ trường sinh ra bởi các neuron khi chúng phát sinh những thông tin cảm giác trong bộ não”, Imada nói.  “Chúng tôi nghĩ rằng mối liên hệ giữa nhận thức và quá trình nói được định hình bởi sự trải nghiệm, và chúng tôi đang cố gắng xác định xem khi nào và làm thế nào mà những đứa trẻ có thể nói được”, đồng tác giả của nghiên cứu, Patricia Kuhl nói.     Theo http://www.sciencedaily.com  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Pháp chế tạo thành công chiếc hộp Einstein.      Từ năm 1927, Albert Einstein đã từng nghĩ ra một chiếc hộp dùng để bẫy ánh sáng. Khi ấy, ý tưởng của ông vẫn còn là một thí nghiệm giả tưởng được đề xuất để kiểm nghiệm mối quan hệ giữa khối lượng và năng lượng.    Tám mươi năm sau, các nhà vật lý Pháp tuyên bố rằng họ đã tọa ra được chiếc hộp Einstein: một chiếc hộp có kích thước 2,7cm, dùng để bẫy một photon để quan sát nó từ lúc sinh ra đến lúc chết đi.  “Hầu như lúc nào bạn cũng nhìn thấy các photon, chẳng hạn như bạn đang nhìn thấy rất nhiều photon trước màn hình máy tính,” Jean-Michel Raimond ở Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) nói. “Bạn chỉ nhìn thấy mỗi photon một lần duy nhất. Nhưng hiện nay chúng tôi đã có thể phân tích được các photon khi chúng vẫn còn sống.”  Chiếc hộp Einstein gồm một hốc và những vách ngăn có tính chất siêu phản xạ. Những chiếc gương siêu dẫn có khả năng bẫy một photon trong 1/7 của giây. Trong thời gian như vậy, một photon tự do có thể di chuyển được mười lần khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trăng.  Cách thức thông thường để đếm các photon là cho các hạt va chạm với chúng để hấp thụ năng lượng của chúng. Nhưng cách này hiển nhiên là phá hủy photon. Do đó, cái chúng ta cần là một máy đếm “trong suốt”. Nhóm nghiên cứu của Pháp đã công bố trên  British journal Nature, rằng họ đã giải quyết được vấn đề bằng việc sử dụng một dòng các nguyên tử rubidium chạy ngang qua cái hộp dùng để bẫy photon. Điện trường của các photon hơi làm thay đổi các mức năng lượng của các nguyên tử, nhưng trong trường hợp này, cơ cấu các mức năng lượng không cho phép các nguyên tử hấp thụ năng lượng của trường photon.  Khi một nguyên tử đi vào trường photon, các electron của nó sẽ bị làm trễ lại một chút. Sự trễ này là đo được bằng kỹ thuật đồng hồ nguyên tử hiện đại. Ở đây, các electron giống như các “con lắc” của đồng hồ quả lắc.  Trong một bình luận đăng trên Nature, Ferdinand Schmidt-Kaler, một nhà vật lý lượng tử Đại học Ulm (Đức) đã gọi thành tựu của các nhà khoa học Pháp là một “kiệt tác thực nghiệm”, tạo ra khả năng ứng dụng cho tính toán lượng tử, một lĩnh vực tiền tuyến của nghiên cứu công nghệ hiện nay.  Thí nghiệm đã cho thấy rằng, “một dòng các qubit (đơn vị thông tin lượng tử) nguyên tử có thể được hoàn toàn điều khiển bởi trạng thái qubit của một photon bị bẫy,” Schmidt-Kaler nói.  TTD (theo AFP/www.vatlyvietnam.org)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học rọi ánh sáng vào vật chất tối bí ẩn      Các nhà đã xác định một hạt hạ nguyên tử có thể hình thành “vật chất tối” trong vũ trụ trong suốt thời kỳ diễn ra Big Bang.      Dù dự đoán hơn 80% vật chất tồn tại trong vũ trụ có thể là vật chất tối nhưng trong nhiều thập kỷ nghiên cứu, nguồn gốc vật lý của nó vẫn còn là một bí ẩn. Ngay cả khi chưa nhìn thấy vật chất tối một cách trực tiếp thì các nhà khoa học vẫn biết đến sự tồn tại của chúng nhờ vào tương tác của chúng thông qua lực hấp dẫn với vật chất hữu hình như các ngôi sao và các hành tinh. Vật chất tối bao gồm các hạt không hấp thụ và phản chiếu hoặc phát xạ ánh sáng.  Hiện tại các nhà vật lý hạt nhân của trường đại học York đang đặt một ứng cử viên mới cho vật chất bí ẩn này – một hạt mà họ mới phát hiện gần đây mang tên hexaquark.  Hạt này bao gồm sáu hạt quark—các hạt cơ bản thường kết hợp thành những bộ ba để tạo thành các proton và neutron. Quan trọng hơn, sáu hạt quark trong một hexaquark đưa đến kết quả là một hạt boson, điều đó nghĩa là khi có nhiều hexaquark, chúng có thể kết hợp lại theo nhiều cách khác nhau để tạo thành các proton và neutron.  Nhóm nghiên cứu tại trường đại học York đề xuất, trong những điều kiện được hình thành ngay sau Big Bang, nhiều hexaquark có thể nhóm lại với nhau khi vũ trụ đang lạnh dần và mở rộng để hình thành trạng thái thứ năm của vật chất – ngưng tụ Bose-Einstein.  TS. MIkhail Bashkanov và giáo sư Daniel Watts của khoa Vật lý của trường đại học York mới xuất bản đánh giá đầu tiên về khả năng tồn tại của ứng cử viên vật chất tối mới.  Giáo sư Daniel Watts nhận xét: “Nguồn gốc của vật chất tối trong vũ trụ là một trong những câu hỏi lớncủa khoa học và cho đến bây giờ vẫn còn là một khoảng trắng. Những tính toán ban đầu của chúng tôi là các trạng thái đậm đặc của những hexaquark có thể là một ứng cử viên mới của vật chất tối. Kết quả mới này đặc biệt thú vị ở chỗ nó không đòi hỏi bất kỳ các ý tưởng vật lý mới nào”.  Đồng tác giả của bài báo, tiến sĩ Mikhail Bashkanov bổ sung thêm: “Bước tiếp theo của chúng tôi để thiết lập cho ứng cử viên mới của vật chất tối sẽ là có được hiểu biết sâu sắc hơn về cách các hexaquark tương tác như thế nào – khi chúng hút nhau và cả khi chúng đẩy nhau nữa.  Chúng tôi đang nghiên cứu các phép đo đạc mới để tạo ra các hexaquark bên trong một hạt nhân nguyên tử và quan sát xem liệu chúng có khác biệt so với khi ở trong một không gian tự do hay không”.  Bài báo “A new possibility for light-quark dark matter” (Một khả năng mói cho vật chất tối quark nhẹ) được xuất bản trên tạp chí Journal of Physics G Letters.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-scientists-mystery-dark.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Trung Quốc ở MIT phản đối sự kì thị của Mỹ      Với sự ủng hộ của MIT, các nhà nghiên cứu bắt đầu lên tiếng về chính sách hạn sự chế ảnh hưởng từ nước ngoài của chính phủ Mỹ.      Shuquang Zhang, một nhà hóa sinh về protein ở MIT đã lên tiếng về mối lo ngại cho các nhà khoa học gốc Trung Quốc.  Trong bối cảnh ngày càng nhiều các tuyên bố cho rằng chinh sách này của  chính phủ Mỹ đang nhắm đến các nhà khoa học gốc Hoa làm việc ở các tổ chức của Mỹ một cách bất công, MIT đã cùng với các trường đại học nổi tiếng khác lên tiếng ủng hộ các nhà khoa học Trung Quốc. “Chúng ta phải hết sức thận trọng để không tạo ra môi trường làm việc đầy rẫy nghi ngờ và sợ hãi vô căn cứ”, Rafael Reif, Chủ tịch MIT đã bày tỏ qua một lá thư ngỏ vào ngày 25/6. “Các giảng viên, postdoc, nhà nghiên cứu và sinh viên nói với tôi rằng khi làm việc với các cơ quan chính quyền đều cảm thấy bị xoi mói và kì thị chỉ vì là người Trung Quốc”.  Bức thư phản ánh sự căng thẳng ngày càng gia tăng ở MIT. Các nhà khoa học gốc Hoa ở đây nói với Nature ba vấn đề: quá trình xin visa chậm trễ bất thường; hải quan tra hỏi khắt khe khi nhập cảnh vào Mỹ; các cơ quan hành pháp bất ngờ tới trường đại học.  Bác bỏ cáo buộc, các cơ quan chính phủ nhấn mạnh đến việc phải ngăn chặn những ảnh hưởng từ nước ngoài không đáng có ở các trường đại học nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng trong khoa học và hợp tác quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cơ quan trong Chính phủ Mỹ đã gia tăng áp lực lên các viện nghiên cứu như Viện Y tế quốc gia (NIH) nhằm ngăn chặn nguy cơ bị quốc gia khác đánh cắp những tài sản trí tuệ có giá trị.   Các nhà khoa học gốc Hoa bao gồm cả công dân Mỹ và thường trú nhân, thường là đối tượng chính trong các cuộc điều tra của chính phủ. Chẳng hạn, các viện nghiên cứu ở Mỹ đã sa thải ít nhất 5 nhà nghiên cứu Trung Quốc do NIH tài trợ sau khi nhận được thông báo từ cơ quan này – một phần của sáng kiến “dọn dẹp” bắt đầu từ tháng 8/2018. Họ bị cáo buộc không báo cáo về các khoản tài trợ của Trung Quốc hoặc vi phạm các quy tắc bảo mật liên quan đến các dự án do chính phủ tài trợ.   NIH đã bác bỏ cáo buộc thiên kiến chủng tộc trong các cuộc điều tra. “Chúng tôi không nhắm vào đối tượng cụ thể nào cả mà chỉ tập trung vào hành vi”, Michael Lauer, Phó giám đốc quản lý nghiên cứu ngoài NIH cho biết, đặc biệt là hành vi không giải trình nguồn gốc tài trợ hoặc thỏa thuận làm việc với các tổ chức nước ngoài. “Trong số quy định này chẳng có gì liên quan đến nguồn gốc chủng tộc”, ông khẳng định. “Tất cả đều là những hành vi cụ thể có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc đưa ra các quyết định tài trợ công bằng của NIH”.  Trả lời Nature, Lauer cho biết, các trường đại học đã âm thầm sa thải nhiều nhà khoa học hơn sau vụ xử phạt của NIH. Từ tháng 8, NIH đã gửi hơn 100 lá thư tới 61 viện nghiên cứu về lỗi không giải trình tài trợ nước ngoài, và phần lớn sai phạm từ các nhà nghiên cứu người Trung Quốc.  Phát ngôn viên của FBI từ chối bình luận về lá thư của MIT, chỉ nhấn mạnh rằng họ không thể tiến hành cuộc điều tra chỉ dựa trên nguồn gốc cá nhân, chủng tộc hay quốc tịch. Tuy nhiên FBI đã công khai tuyên bố “Kế hoạch ngàn nhân tài” là cách thức đánh cắp thông tin độc quyền và bí quyết từ nước ngoài. Vào tháng trước, Bộ Năng lượng (DOE) đã cấm nhân viên tham gia các chương trình tuyển dụng nhân tài của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Nga và Iran. “Chúng tôi nhắm đến chương trình đó chứ không phải là người dân hay quốc tịch của họ”, Kelly Love, phát ngôn viên của DOE cho biết.  Bức thư ngỏ của MIT tiếp nối các tuyên bố tương tự của ít nhất 10 tổ chức khác, bao gồm Đại học Yale ở New Haven, Connecticut và Đại học Stanford ở California. Shuquang Zhang, nhà hóa sinh protein ở Media Lab của MIT đã nhập quốc tịch Mỹ khoảng hơn 30 năm nay, đã liên hệ với những người điều hành của hơn chục trường đại học và các tổ chức xã hội ở Mỹ và trên toàn thế giới, với hi vọng tạo ra một lập trường thống nhất chống lại sự đối xử bất công với các nhà khoa học Trung Quốc hiện nay.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02063-z       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản giải mã hệ gene cá tra      Trong công bố xuất bản trên tạp chí BMC Genomics, các nhà nghiên cứu Việt Nam và Nhật Bản đã giải mã hệ gene cá tra châu Á (Pangasianodon hypophthalmus), qua đó có thể giúp những người nuôi cá nhận diện được những gene quan trọng để có thể góp phần thúc đẩy khả năng tăng trưởng và tăng cường khả năng kháng bệnh của loài cá này.      Ước tính Việt Nam thu hoạch 1,1 triệu tấn cá tra mỗi năm. Loài P. Hypophthalmus được tìm thấy ở sông Mekong, con sông dài nhất Đông Nam Á và là một trong những vựa cá lớn nhất thế giới. Là nhà nuôi và xuất khẩu các loài cá da trơn lớn nhất khu vực, ước tính Việt Nam thu hoạch 1,1 triệu tấn cá mỗi năm. Không giống như nhiều loài cá thương mại khác như cá tuyết Đại tây dương hay cá nheo Mỹ, chúng ta còn có quá ít dữ liệu hệ gene về cá tra để có được những hướng dẫn về phương pháp nuôi trồng tốt. Trong nghiên cứu “Một phác thảo hệ gene cá tra sọc Pangasianodon hypophthalmus cho phân tích so sánh các gene thích hợp để phát triển và là nguồn cải thiện việc nuôi trồng thủy sản” (A draft genome of the striped catfish, Pangasianodon hypophthalmus, for comparative analysis of genes relevant to development and a resource for aquaculture improvement), các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã cùng với các đồng nghiệp ở Viện nghiên cứu KH&CN Okinawa, Nhật Bản giải mã toàn bộ hệ gene cá tra sọc. Sử dụng các kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới, các nhà khoa học đã tập hợp được dữ liệu hệ gene chất lượng cao và lắp ráp vào một hệ gene hoàn chỉnh. Họ đã so sánh hệ gene mới với dữ liệu hệ gene cũ đã được công bố trước đó của cá nheo Mỹ và cá ngựa vằn – một mẫu hình sinh học liên quan đến cá tra về mặt tiến hóa. Các nhà khoa học tìm thấy những khác biệt rõ ràng giữa cá tra châu Á và họ hàng châu Mỹ của chúng, cũng như nêu rõ những khác biệt giữa cá tra châu Á và cá ngựa vằn.  Đặc biệt, họ còn xác định được sự suy giảm hai gene trong gene cá tra châu Á nhưng vẫn còn nguyên trong gene cá ngựa vằn. Các gene này đã được tiến hóa trong quá trình sàng lọc tự nhiên của các loài cá. Bởi vì cá tra sống ở đáy sông, không bị ảnh hưởng của tia UV, chúng dường như không cần đến ánh sáng mặt trời, do đó các gene cuối cùng đã biết mất khỏi hệ gene cá tra. Các nhà khoa học cũng thấy rằng cá tra sọc có nhiều gene chứa yếu tố tăng trưởng giống insulin hơn cá ngựa vằn – đây có thể là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của cá tra một cách lành mạnh. Các nhà nghiên cứu cũng lắp ráp một bản đồ hệ gene có thể mở đường cho những nghiên cứu so sánh tiếp theo về các loài cá tra, theo dấu nòi giống và điều tra chức năng gene của chúng. Do đã được giải mã, các nhà sinh học tiến hóa và các nhà nuôi trồng thủy sản sẽ có thể cùng nghiên cứu về hệ gene cá tra vằn.Trong tương lai gần, các nhà nuôi trồng thủy sản có thể bắt đầu tìm kiếm và lựa chọn để tối ưu các mảnh DNA, vốn được biết như các marker phân tử, trong cá tra sọc của mình, GS. Kim Thị Phương Oanh – trưởng Phòng Hệ gen học môi trường, Viện nghiên cứu hệ gene và là đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu, cho biết. “Dữ liệu hệ gene này có thể giúp kiểm tra sự đa dạng sinh học hiện nay trong tập hợp cá tra”, TS. Eiichi Shoguchi, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Bộ phận Hệ gene sinh vật biển tại Viện nghiên cứu KH&CN Okinawa và đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu, giải thích. “Ví dụ trong nuôi trồng thủy sản, một cá thể cá có thể có nhiều khả năng kháng bệnh hơn những cá thể khác. Hiện tại, anh có thể kiểm tra hệ gene của từng cá thể và tìm ra gene có liên hệ với khả năng kháng bệnh”. Anh Vũ dịchNguồn: https://www.asianscientist.com/2018/10/in-the-lab/asian-catfish-genome-sequence/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà miễn dịch học ung thư giành giải Nobel Y học      James Allison và Tasuku Honjo đã đi tiên phong trong việc theo đuổi nghiên cứu về hệ miễn dịch trong cơ thể con người để tấn công các tế bào ung thư.      Buổi họp báo thông báo giải Nobel Y học 2018. Nguồn: The Guardian  Hai nhà khoa học đi tiên phong trong việc tìm ra một con đường hoàn toàn mới để điều trị ung thư đã giành giải Nobek Y học 2018.  James Allison (Trung tâm nghiên cứu ung thư MD Anderson, trường đại học Texas ở Houston, Texas) và Tasuku Honjo từ trường đại học Kyoto Nhật Bản sẽ cùng chia nhau 9 triệu Thụy Điển (tương đương 1 triệu USD) tiền thưởng.  Họ đã chứng tỏ cách thức các protein trong các tế bào miễn dịch có thể được dùng để điều khiển hệ miễn dịch và tấn công các tế bào ung thư. Cách tiếp cận này đã dẫn đến các phương pháp điều trị góp phần kéo dài sự sống ở một số bệnh nhân ung thư trong nhiều năm, và thậm chí còn làm thuyên giảm hoàn toàn một số trường hợp bệnh ung thư đã tiến triển. Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào phương pháp tiếp cận này, và hiện nay liệu pháp miễn dịch là một trong những vấn đề “nóng” nhất trong nghiên cứu ung thư.  Hai nghiên cứu độc lập về các “phanh hãm”  Allison tham gia một hội nghị quốc tế về miễn dịch ở New York, và thức giấc sớm lúc 5h30 bởi một cuộc gọi sớm của con trai mình. Vào lúc 6h30, đồng nghiệp gõ cửa phòng khách sạn ầm ầm và mang champagne cho bữa tiệc bất ngờ. Sau đó, Hội đồng Nobel mới liên lạc với ông.  Allison  nói trong buổi họp báo: “ Điều đó vẫn làm tôi ngạc nhiên. Tôi chỉ là một nhà nghiên cứu cơ bản. Tôi có một công trình có tác động thực sự tới cộng đồng là một trong những điều tuyệt vời nhất mà tôi có thể nghĩ tới. Đó là giấc mơ của mọi nhà khoa học”.  Vào những năm 1990, Allison – sau đó tại trường đại học California ở Berkeley, là một trong số vài nhà khoa học nghiên cứu về CTLA-4 – protein “điểm kiểm soát” – đóng vai trò như một “phanh hãm” các tế bào miễn dịch gọi là tế bào T. Năm 1997, Allison và đồng nghiệp đã tạo ra một kháng thể có thể liên kết với CTLA-4, loại bỏ các phanh hãm trên hoạt động của tế bào T và giải phóng chúng để tấn công các tế bào ung thư trên chuột. Một nghiên cứu lâm sàng công bố vào năm 2010 đã cho thấy kháng thể này đã có hiệu quả đáng chú ý trên bệnh nhân đang trong giai đoạn tiến triển của ung thư hắc tố.  Nghiên cứu một cách độc lập với Allison, vào năm 1992, Honjo đã phát hiện ra PD-1 – một protein khác của tế bào T, cũng đóng vai trò như một phanh hãm trong hệ miễn dịch nhưng theo một cơ chế hoạt động hoàn toàn khác. PD-1 tiếp tục trở thành mục tiêu trong nghiên cứu điều trị ung thư. Vào năm 2012, nghiên cứu trên cơ thể con người cho thấy protein này hiệu quả trong việc “đối đầu” với một số loại ung thư khác nhau, bao gồm ung thư phổi – một trong những thủ phạm hàng đầu dẫn tới tử vong. Các kết quả thật ấn tượng – một số bệnh nhân ung thư di căn đã thuyên giảm và tăng khả năng điều trị. Ở thời điểm đó thì ung thư di căn được coi là không thể điều trị được nữa.  Giải phóng các “phanh hãm”    “Những khám phá của Allison và Honjo đã đem lại một trụ cột mới trong liệu pháp điều trị ung thư. Đây là một nền tảng cơ bản toàn hoàn mới, bởi không như những chiến lược điều trị trước đó, nó không nhắm đến các tế bào ung thư mà là các bộ hãm  – kiểm soát điểm – của hệ miễn dịch chủ”, Klas Kärre, một thành viên của Ủy ban Nobel và là một nhà miễn dịch học tại Viện Karolinska ở Stockholm nói và miêu tả nghiên cứu của những người thắng giải Nobel là “những khám phá có tầm ảnh hưởng, đã tạo thành một sự chuyển đổi mang tính đánh dấu bước ngoặt trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư”.  Kể từ những nghiên cứu này, công việc điều trị lâm sàng trên các cơ chế CTLA-4 và PD-1 – được biết như liệu pháp kiểm soát điểm miễn dịch – đã được phát triển nhanh chóng. Việc điều trị để loại PD-1 đã chứng tỏ được hiệu quả trong ung thư phổi và thận, u lympho và u hắc tố. Việc điều trị lâm sàng hiện nay kết hợp các liệu pháp nhắm đích CTLA -4 và PD-1 trên các bệnh nhân ung thư hắc tố đã chứng tỏ rằng nó có thể hiệu quả hơn chỉ dùng liệu pháp CTLA-4. Nhiều ca điều trị sử dụng liệu pháp kiểm soát điểm để chống lại nhiều kiểu ung thư đang được thực hiện và các nhà khoa học đang thử nghiệm nhiều loại protein kiểm soát điểm khác để tìm hiểu liệu chúng có đóng vai trò như các đích không.  Nhưng Allison và Honjo cũng không đơn độc. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có đóng góp quan trọng trong những khám phá sớm như các chất ức chế kiểm soát điểm, như Gordon Freeman – một nhà miễn dịch học tại Viện nghiên cứu ung thư Dana-Farber ở Boston, Massachusetts và cũng đã từng thất vọng vì đóng góp của mình không được ghi nhận. Freeman đã cùng với các nhà miễn dịch học khác là Arlene Sharpe của trường y khoa Harvard ở Boston và Lieping Chen của trường Yale ở New Haven, Connecticut, đã nghiên cứu về PD-1 và một phân tử liên kết với nó là PD-L1.  Thuốc ﻿ipilimumab, một kháng thể ức chế CTLA-4 và được Cục FDA Mỹ chấp thuận vào năm 2011, là chất ức chế kiểm soát điểm đầu tiên mà các bệnh nhân được sử dụng. Tuy nhiên Freeman lưu ý, các chất ức chế CTLA-4 mới chỉ chứng tỏ là có tác dụng với u hắc tố. Và FDA đã chấp thuận nhiều loại thuốc nhắm đích PD-1 và PD-L1 để điều trị 13 loại ung thư khác nhau. “PD-1 và PDL-1 đã có tác dụng thực sự với nhiều người. Và những khám phá của chúng tôi đã đặt nền tảng [cho nhiều liệu pháp điều trị khác”, ông nói.  Freeman còn cho rằng, CTLA-4 đóng vai trò mở đường và Allison đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy lĩnh vực này phát triển: “Jim Allison là người ủng hộ và có vô vàn ý tưởng về liệu pháp miễn dịch. Và CTLA-4 là thành công đầu tiên”.  Những sự lựa chọn rõ ràng  Nhà miễn dịch học Jerome Galon của INSERM, một cơ quan nghiên cứu y sinh ở Paris – thì ại không ngạc nhiên về quyết định của Ủy ban Nobel khi trao giải cho Honjo và Allison: “Tôi nghĩ, họ thực sự xứng đáng với nó. Có thể có nhiều người khác nhưng hai người là sự lựa chọn đầu tiên.”  Ông cho biết thêm, giải thưởng đã phản ánh cách tiếp cận miễn dịch để chống lại ung thư đã đi xa như thế nào. Khi chất ức chế PD – 1 chứng tỏ có tác dụng với ung thư phổi năm 2012, lĩnh vực này đã được khơi mào, các nhà nghiên cứu trong giới hàn lâm và ngành công nghiệp cùng chạy đua để tìm cách cứu sống thêm nhiều bênh nhân bằng các loại thuốc điều trị này. “10 năm trước, còn chưa ai mấy quan tâm, ngoại trừ một vài nhà miễn dịch học. Đây thực sự là một cuộc thay đổi lớn”, ông nhận xét.  Trong một cuộc phỏng vấn trên Nature năm 2013, Alison đã miêu tả các công ty dược phẩm đã phản ứng lại khi ông giới thiệu liệu pháp của mình. “Thật vô cùng bực bội. Họ nói ‘nó có thể có tác dụng trên chuột nhưng không bao giờ có tác dụng trên cơ thể con người’. Ý tưởng này mới và quá khác thường.”  Khi đó, Allison đã ròng rã đi từ công ty này đến công ty khác để tìm kiếm lấy một nơi có thể đón nhận dự án. Cuối cùng, Bristol-Myers Squibb của New York City là nơi duy nhất thúc đẩy sản xuất thuốc ipilimumab. Kể từ đó, nhiều công ty dược khác đã phát triển những chất ức chế kiểm soát điểm được Cục FDA chấp thuận cho sử dụng trên người.  Liệu pháp kết hợp  Galon cho biết, một điều rút ra là tiềm năng của các loại thuốc này là kéo dài cuộc sống của bệnh nhân trong nhiều năm thay vì một vài tuần hoặc một vài tháng. Nhưng chỉ một lượng bệnh nhân có khả năng đáp ứng thuốc, do đó các nhà nghiên cứu đang chạy đua để thúc đẩy việc kết hợp các chất ức chế kiểm soát điểm với nhau hoặc các phương pháp điều trị khác. “Lợi ích to lớn của liệu pháp điều trị này so với phương pháp điều trị khác là thời gian sống sót của bệnh nhân. Thật không may là chỉ một nhóm bệnh nhân là đáp ứng thuốc”, Galon nói.  Vào năm Allison được nhận giải uy tín khác là giải Lasker cho nghiên cứu về liệu pháp điều trị miễn dịch chống ung thư. Vào năm 2016, Honjo cũng nhận giải Kyoto trong khoa học cơ bản là một giải thưởng toàn cầu do quỹ Inamori Foundation trao tặng.  Thanh Nhàn (dịch)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà mô hình hóa khí hậu và lý thuyết về các hệ phức hợp giành giải Nobel vật lý      Syukuro Manabe, Klaus Hasselmann và Giorgio Parisi cùng được trao giải thưởng cho công trình nghiên cứu về các hệ phức tạp – bao gồm mô hình hóa khí hậu trái đất và ấm lên toàn cầu.      Ba nhà nghiên cứu thắng giải Nobel Vật lý 2021 cho công trình miêu tả các hệ vật lý phức tạp – bao gồm nghiên cứu mang tính nền tảng tạo ra một mô hình toán học tiên phong về khí hậu trái đất và dự đoán sự gia tăng của các mức carbon dioxide trong bầu khí quyển trái đất có thể làm tăng nhiệt độ toàn cầu.  Syukuro Manabe và Klaus Hasselmann cùng chia nhau một nửa trong số tiền thưởng trị giá 10 triệu kronor Thụy Điển (tương đương 1,15 triệu USD) cho việc nghiên cứu và phát triển mô hình này. Nhà vật lý lý thuyết Giorgio Parisi tại Sapienza trường đại học Rome nhận phần còn lại của giải thưởng cho những đóng góp của ông về lý thuyết của các hệ phức hợp. Công trình của ông đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khoa học thần kinh đến cách các vật liệu dạng hạt được đóng gói, Ủy ban giải thưởng Nobel cho biết trong buổi họp báo về giải thưởng vào ngày 5/10/2021.  “Đây là hai giải thưởng khác nhau nhưng có một chủ đề chung là liên quan đến sự trật tự và những thăng giáng, có thể đem lại kết quả giúp chúng ta có thể hiểu được và dự đoán được [những điều có thể diễn ra], Thors Hans Hansson, chủ tịch Ủy ban Nobel vật lý nói. “Chúng ta có thể dự đoán điều gì diễn ra với khí hậu trong tương lai nếu chúng ta biết cách mã hóa sự hỗn độn của thời tiết”.  Các mô hình khí hậu  Manabe, hiện tại làm việc ở trường đại học Princeton ở New Jersey, đã chứng minh vào những năm 1960 cách các mức gia tăng của carbon dioxide trong bầu khí quyển thế giới có thể dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ trên bề mặt, và phát triển các mô hình toán học ban đầu của khí hậu hành tinh. Khoảng một thập kỷ sau đó, Hasselmann, làm việc tại Viện nghiên cứu Khí tượng Max Planck ở Hamburg, Đức, tạo ra một mô hình liên kết thời tiết và khí hậu.  “Manabe chứng tỏ với chúng ta sự gia tăng CO2 có thể dẫn đến sự ấm lên toàn cầu như thế nào và vì sao. Hasselmann chứng tỏ rằng điều đó đang diễn ra,” nhà khoa học khí hậu Bjorn Stevens, cũng làm việc tại Viện nghiên cứu Khí tượng Max Planck, giải thích. Ông cho biết thêm là viện nghiên cứu này đang “vô cùng xúc động” vì cả hai nhà khoa học này được trao “giải Nobel đầu tiên cho khoa học đặt nền móng cho hiểu biết của chúng ta về biến đổi khí hậu”.  Jürgen Kurths tại Viện nghiên cứu Tác động của khí hậu ở Potsdam cho biết “đóng góp thiên tài” của Hasselman là sự khởi đầu về “mô hình khái niệm” cho khí hậu trái đất đầu tiên trong những năm 1970 – một tập hợp đơn giản những phương trình nắm bắt hiện tượng toàn cầu chỉ với một vài biến. Cách tiếp cận này đã đem lại những cái nhìn sâu sắc hơn vào những mô hình hoàn lưu toàn cầu, vốn đòi hỏi những tính toán chi tiết về mặt địa lý. “Thông thường anh cần một máy tính để mô phỏng các mô hình khái niệm, nó nhanh hơn và dễ thực hiện hơn nhiều”, Kurths nói.  Bất chấp tuổi tác – Hasselman đã ở tuổi 89 – ông vẫn tiếp tục theo đuổi lĩnh vực này và khuyến khích các nhà nghiên cứu cố gắng thử nghiệm các cách tiếp cận phi truyền thống, Kurths nói thêm.  Gabriele Hegerl, một nhà mô hình hóa khí hậu tại trường đại học Edinburgh, Anh và từng làm việc với Hasselman khi làm postdoc, cho biết ông là một cố vấn “thú vị” và người giám sát “tràn đầy ý tưởng và nhiệt huyết”.  “Tôi cảm thấy thực sự vui khi Suki và Klaus đều được xướng tên vì họ đều có đóng góp lớn lao theo nhiều cách khác nhau và cả hai đều là những người khổng lồ của khoa học khí hậu,” chị cho biết thêm. “Tôi vẫn thường dùng những hình mẫu cũ về sự hấp thụ và vật lý khí quyển từ những công trình thời kỳ đầu của Suki trong lớp học của mình, công trình của ông ấy là điều cơ bản để hiểu về khí hậu và biến đổi khí hậu.”  Manabe ngạc nhiên khi ông nghe thấy là mình đoạt giải Nobel, John Wettlaufer, một nhà khoa học trái đất và hành tinh tại trường đại học Yale ở New Haven, Connecticut và là thành viên của ủy ban Nobel vật lý, kể. “Ông ấy nói ‘nhưng tôi chỉ là một nhà khí hậu học thôi mà’”.  Trật tự bị giấu kín  Parisi bắt đầu sự nghiệp trong lĩnh vực vật lý hạt nhưng nghiên cứu của ông đã chạm đến nhiều chuyên ngành khác. Vào cuối những năm 1970, ông chuyển mối quan tâm của mình sang lý thuyế các hệ phức hợp, nơi ông khám phá ra một dạng trật tự ẩn và phản trực giác trong các tương tác của nhiều vật thể. Trong các hệ đơn giản hơn – ví dụ như các vật liệu từ – các nguyên tử có xu hướng dóng hàng song song với hàng xóm của mình, nhưng hệ phức hợp thì khó dự đoán. Tuy nhiên Parisi đã khám phá ra là chúng thu hút một dạng đối xứng, vốn chỉ được chú ý khi so sánh các nguyên tử sắp hàng theo những cấp độ khác nhau, nhà vật lý Federico Ricci-Tersenghi tại Sapienza, giải thích.  “Ông ấy đã mở ra một con đường để thấy và giải thích hiện tượng cho đến khi chúng biến mất,” Ricci-Tersenghi, một cựu sinh viên của Parisi và có thời gian nghiên cứu lâu dài cùng ông, nhận xét. Lý thuyết mà ông tìm ra hữu dụng ngay cả với các hệ mà ngay từ lúc xuất hiện đầu tiên hoàn toàn ngẫu nhiên, như cấu trúc của một thủy tinh, anh cho biết thêm.  Nghiên cứu của Parisi tìm hiểu vào sự hỗn độn bên dưới và các thăng giáng, dự đoán hành vi đột sinh, Wettlaufer nó. Mối liên hệ giữa công trình của ông, Manabe và Hasselmann là những thăng giáng là yếu tố chính cho dự đoán, anh nói. “Chúng ta đang ghi nhận là hiện tượng đột sinh thi thoảng lại đòi hỏi anh nhìn vào từng cơ chế vật lý phức tạp và kết chúng lại cùng nhau để có thể tạo ra một dự đoán”.  Kurths nói anh cảm thấy vui sướng khi Parisi nhận được ghi nhận của Ủy ban Nobel – và với anh nghiên cứu về hệ phức hợp là điều tối quan trọng để hiểu về khí hậu.  Parisi cũng thúc đẩy một “miền khí hậu vui vẻ” trong nhóm nghiên cứu của mình, Ricci-Tersenghi nói, và luôn luôn khuyến khích học trò theo đuổi sự tò mò và mối quan tâm trí tuệ của mình.  Khi nhận được tin mình đoạt giải, Parisi đã nói với các nhà báo “Tôi vô cùng hạnh phúc và tôi không thực sự chờ đợi nó”, “Nhưng tôi cũng biết là mình cũng có một vài cơ hội – vì vậy tôi giữ điện thoại cạnh mình.”  Giải thưởng đến trước thời điểm một hội nghị quan trọng về khí hậu – Hội nghị Biến đổi khí hậu Liên hợp quốc lần thứ 26 ở Glasgow, Anh vào tháng 11 tới. “Tình thế khẩn cấp khiến chúng ta cần phải đưa ra một quyết định và hành động ngay,” Parisi nói. “Với thế hệ tương lai, chúng ta phải hành động ngay từ bây giờ”.  Khi được hỏi liệu có phải Ủy ban Nobel đã gửi một thông điệp tới các nhà lãnh đạo quốc tế bằng giải thưởng này không, Göran Hansson, tổng thư ký của Viện Hàn lâm Khoa học hoàng gia Thụy Điển, nói: “Những gì chúng tôi đang nói là khí hậu mô hình hóa là đặt trên cơ sở lý thuyết vật lý và vật lý chất đậm đặc. Sự ấm lên toàn cầu thuộc về khoa học chất đậm đặc. Đó là một thông điệp”.  “Giorgio Parisi (Italia) làm việc trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực vật lý năng lượng cao với phương trinh Alrarelli-Parissi nổi tiếng trong Sắc động lực học lượng tử. Tương tự như vấn đề ‘tự do tiệm cận’ (asymptotic freedom), một phiên bản của phương trình Alrarelli-Parissi này cũng được các nhà khoa học Liên Xô/Nga công bố độc lập trên tạp chí Liên Xô (nhưng rất có thể ban đầu không được để ý ở phương Tây)”. (PGS. TS Nguyễn Anh Kỳ (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam).  Nguyễn Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-02703-3  https://www.theguardian.com/books/2021/oct/05/nobel-prize-physics-scientists-sykuro-manabe-klaus-hasselmann-giorgio-parisi-win-climate      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu CRISPR tại ĐH California hợp tác với “gã khổng lồ” ngành dược      Các nhà nghiên cứu CRISPR hàng đầu tại Đại học California (UC) đã cùng với GlaxoSmithKline (GSK), công ty dược phẩm khổng lồ, thành lập Phòng thí nghiệm nghiên cứu gene (Laboratory for Genomics Research – LGR) mới ở khuôn viên Đại học California San Francisco, tập trung khai thác công nghệ chỉnh sửa gene để sàng lọc, tìm kiếm các loại thuốc mới. Hiện LGR  đã đi vào hoạt động.      Các nhà nghiên cứu ĐH California hợp tác với GlaxoSmithKline để dùng công cụ CRISPR (màu đỏ) chỉnh sửa DNA (chuỗi màu xanh và màu vàng) trong quá trình sáng tạo thuốc mới.  Theo thỏa thuận, GSK, công ty có trụ sở tại London, sẽ tài trợ cho 24 nhà nghiên cứu ở Đại học California – chỉ một phần trong số họ sẽ làm việc tại các phòng thí nghiệm của Doudna và Weissman, bên cạnh 14 nhân viên của GSK. Dự kiến, Đại học California sẽ sở hữu tài sản trí tuệ (IP) từ các công cụ mới được phát minh còn GSK sẽ giữ bằng sáng chế của các loại thuốc mới được phát minh. Đại học California sẽ nhận được “lợi nhuận nếu loại thuốc đó được làm ra từ việc sử dụng các công cụ chỉnh sửa gene do họ sở hữu và được bán trên thị trường”, một phát ngôn viên của GSK nói, đồng thời cho biết các điều khoản cụ thể là “tuyệt mật”.  Dựa trên cam kết của GSK về việc đầu tư 67 triệu USD trong vòng 5 năm, Jennifer Doudna (Đại học California-Berkeley), đồng phát minh công cụ CRISPR, và Jonathan Weissman (Đại học California San Francisco) sẽ chọn ra các nhà nghiên cứu tài năng để làm việc trong phòng thí nghiệm này. “Với các nhà nghiên cứu như chúng tôi, giấc mơ đã trở thành hiện thực “, Doudna nói.  Doudna là nhà đồng sáng lập hai công ty liên quan đến CRISPR và điều hành Viện Hệ Gene đổi mới sáng tạo (Innovative Genomics Institute) cùng Weissman. Cô cho rằng LGR sẽ góp phần “loại bỏ những phần không thú vị trong quá trình nghiên cứu gene”. Cách đây vài năm, một người bạn của Doudna đến thăm và mô tả phòng thí nghiệm của cô lúc đó là “thủ công”, cô nhớ lại và tự hỏi tại sao mình không tự động hóa nhiều hơn. “Thủ công là cách nói tránh là phòng thí nghiệm đã quá lạc hậu”, Doudna nói. Cô hy vọng LGR sẽ cho phép họ sử dụng “kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene, đặc biệt là CRISPR để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh theo một phương pháp mới”.  Weissman, một nhà vật lý và đồng thời là chuyên gia về quá trình cuộn gập protein, sử dụng CRISPR để cấu trúc các thí nghiệm trên quy mô lớn về những chức năng của gene, nói: “Hiện chúng tôi chưa có đủ khả năng, hiểu biết hoặc nguồn lực để phát triển thuốc. Tôi đang cố gắng hiểu những vấn đề GSK đang gặp phải và tìm cách giải quyết. Là một người thiết lập công cụ, nỗi sợ lớn nhất của tôi là mình làm điều đó mà không có mục đích”.  Hal Barron, giám đốc khoa học của GSK, cho biết, chúng ta chưa hiểu rõ chức năng của 90% gene. Vì thế, ông hy vọng bằng việc sử dụng CRISPR để loại bỏ hoặc kích hoạt gene trong tế bào và mô hình trên động vật, LGR có thể tìm ra chức năng của các gene gấp đôi hiện nay, qua đó “có thể phát triển gấp đôi lượng thuốc đang lưu hành”, Barron nói.  Theo các học giả từng hợp tác với các doanh nghiệp dược phẩm, dù rất hữu ích  nhưng việc hợp tác cũng có thể đáng nghi ngờ. “Nói chung, mô hình này rất tuyệt và công nghệ CRISPR đã chín muồi để tạo ra đổi mới về mặt kỹ thuật”, Jeffrey Bluestone, một nhà miễn dịch học đã tham gia cộng tác giữa Đại học California San Francisco và công ty Pfizer cho biết. Với ông, thách thức là “sự mất kết nối” giữa 2 bên khi phát minh ra một loại thuốc tiềm năng nhưng lại dành cho một căn bệnh không có trong danh mục đầu tư của công ty.  Tuy nhiên, từ góc nhìn của một người từng tham gia hợp tác với GSK để phát triển các thuốc mới cho y học tái tạo, David Scadden, nhà sinh học tế bào gốc tại Harvard cho biết, việc hợp tác thực sự tuyệt vời và chương trình này kết thúc sau 5 năm vì GSK đã từ bỏ kinh doanh thuốc tái tạo. “Các học giả cũng nên hiểu cách suy nghĩ của một công ty khi họ phát triển các sản phẩm”, ông nói.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/06/university-california-crispr-researchers-form-drug-discovery-alliance-pharma-giant    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu đưa ra khối cơ bản mới cho tính toán lượng tử      Các nhà nghiên cứu của Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (ORNL) thuộc Bộ Năng lượng Mỹ đã minh chứng được một cấp độ kiểm soát mới đối với các photon được mã hóa bởi thông tin lượng tử. Nghiên cứu của họ đã được công bố trên tạp chí Optica.      Brian Williams, Joseph Lukens, Pavel Lougovski, và Nicholas Peters (từ trái sang), cùng các nhà nghiên cứu thuộc nhóm  Khoa học Thông tin Lượng tử thuộc ORNL đã thực hiện các tác động độc lập và riêng biệt đồng thời lên hai qubit được mã hóa bởi các photon có tần số khác nhau. Ảnh: Carlos Jones/Oak Ridge National Laboratory, US Department of Energy  Joseph Lukens, Brian Williams, Nicholas Peters và Pavel Lougovski, các nhà khoa học của nhóm nghiên cứu Khoa học Thông tin Lượng tử thuộc ORNL, đã thực hiện các tác động độc lập và riêng biệt đồng thời lên hai qubit được mã hóa bởi các photon có tần số khác nhau, một công đoạn quan trọng trong tính toán lượng tử dựa trên các thiết bị quang học tuyến tính. Qubits là đơn vị nhỏ nhất của thông tin lượng tử.  Các nhà khoa học làm việc với các qubit được mã hóa theo tần số đã có thể thực hiện từng tác động đơn lẻ trên mỗi trong hai qubit một cách độc lập, nhưng điều đó không đủ để thực hiện các tính toán lượng tử.  “Để thực hiện tính toán lượng tử vạn năng, bạn cần có khả năng thực hiện đồng thời các tác động khác nhau trên các qubit khác nhau, và đó là những gì chúng tôi đã làm được ở đây”, Lougovski nói.  Theo Lougovski, hệ lượng tử mà nhóm đã dùng để làm thí nghiệm gồm hai photon được làm rối với nhau trong một sợi cáp quang – được xem như là mô hình của một “máy tính lượng tử nhỏ nhất mà bạn có thể tưởng tượng. Bài báo này đánh dấu minh chứng đầu tiên về cách tiếp cận dựa trên tần số của chúng tôi đối với tính toán lượng tử vạn năng.”  “Nhiều nhà nghiên cứu đang nói về xử lý thông tin lượng tử bằng photon và thậm chí sử dụng cả tần số của photon”, ông Lukens nói. “Nhưng đã không ai nghĩ về việc truyền  nhiều photon qua cùng một sợi quang, trong cùng một không gian và tác động lên các photon theo những cách khác nhau.”  Bộ xử lý tần số lượng tử của nhóm cho phép điều chỉnh tần số của các photon để tạo ra trạng thái chồng chập, là trạng thái cần thiết để có thể thực hiện các tác động lượng tử và tính toán lượng tử.  Khác với các bit dữ liệu được mã hóa cho tính toán cổ điển, các qubit được mã hóa theo tần số của photon có giá trị 0 và 1, thay vì 0 hoặc 1. Khả năng này cho phép các máy tính lượng tử thực hiện đồng thời các tác  động trên các bộ dữ liệu lớn hơn so với các siêu máy tính hiện hành.  Sử dụng bộ xử lý của mình, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ được rằng độ hiển thị giao thoa – một thước đo về mức độ giống nhau giữa hai photon – đạt tới 97% so với chỉ 70% trong nghiên cứu tương tự. Kết quả của họ chỉ ra rằng các trạng thái lượng tử của photon hầu như giống hệt nhau.  Các nhà nghiên cứu cũng áp dụng một phương pháp thống kê liên kết với học máy để chứng minh rằng các tác động đã được thực hiện với độ tin cậy rất cao và hoàn toàn kiểm soát được.  “Lượng thông tin về trạng thái lượng tử của hệ thực nghiệm mà chúng tôi đã có thể trích xuất bằng suy luận Bayes lớn hơn so với lượng thông tin thu được nếu chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê phổ biến hơn”, Williams nói.  “Công việc này lần đầu tiên cho thấy rằng quá trình thực nghiệm của nhóm chúng tôi đã cho một kết quả lượng tử thực thụ.”  Williams chỉ ra rằng thiết kế thí nghiệm của họ đảm bảo sự ổn định và kiểm soát được. “Khi các photon truyền theo các lộ trình khác nhau trong thiết bị, chúng chịu những sự thay đổi pha khác nhau, và điều đó dẫn đến sự mất ổn định”, ông nói. “Khi các photon truyền qua cùng một thiết bị (trong trường hợp này là sợi quang) sự kiểm soát sẽ tốt hơn.”  Sự ổn định và khả năng kiểm soát cho phép các tác động lượng tử bảo tồn được thông tin, giảm thời gian xử lý thông tin và tăng hiệu quả năng lượng. Các nhà nghiên cứu đã so sánh các dự án đang thực hiện của họ, bắt đầu từ năm 2016, như các khối cơ bản sẽ được kết nối với nhau sao cho các tính toán lượng tử quy mô lớn trở thành có thể.  “Có những bước bạn phải thực hiện trước khi bạn thực hiện bước tiếp theo phức tạp hơn”, Peters nói. “Các dự án trước đây của chúng tôi tập trung phát triển các khả năng cơ bản và hiện cho phép chúng tôi làm việc trong miền hoàn toàn lượng tử với các trạng thái đầu vào hoàn toàn lượng tử.”  Lukens nói các kết quả của nhóm cho thấy rằng “chúng tôi có thể kiểm soát các trạng thái lượng tử của qubit, thay đổi mức độ tương quan giữa chúng và biến đổi chúng bằng công nghệ viễn thông tiêu chuẩn theo các cách có thể áp dụng để thúc đẩy sự tiến bộ trong tính toán lượng tử.”  Một khi tất cả các khối cơ bản của máy tính lượng tử được đặt đúng chỗ, ông nói thêm, “chúng ta có thể bắt đầu kết nối các thiết bị lượng tử để xây dựng internet lượng tử, đó là bước thú vị tiếp theo.”  Nhiều phần giống như việc thông tin được xử lý khác nhau bới các siêu máy tính khác nhau, tùy thuộc vào các nhà phát triển và các ưu tiên của quy trình công việc, các thiết bị lượng tử sẽ hoạt động theo các tần số khác nhau. Điều này là một thách thức trong việc kết nối các thiết bị lượng tử để chúng có thể hoạt động cùng nhau theo cách mà các máy tính ngày nay tương tác trên internet.  Công trình này là một mở rộng của các nghiên cứu trước đây của nhóm về khả năng xử lý thông tin lượng tử trên công nghệ viễn thông tiêu chuẩn. Hơn nữa, họ cho biết, tận dụng cơ sở hạ tầng mạng cáp quang hiện có cho tính toán lượng tử là thực tế: hàng tỷ đô la đã được đầu tư và xử lý thông tin lượng tử là một ứng dụng mới mẻ.  Các nhà nghiên cứu cho biết cách tiếp cận “vòng tròn kín” trong công việc của họ là rất thỏa đáng. “Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu cùng nhau với mong muốn khám phá việc áp dụng công nghệ viễn thông tiêu chuẩn để xử lý thông tin lượng tử, và chúng tôi đã phát hiện ra rằng chúng tôi có thể quay ngược lại miền cổ điển và cải tiến nó”, Lukens nói  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://eurekalert.org/pub_releases/2018-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu làm nhiễu xạ một chùm các phân tử hữu cơ      Một nhóm các nhà nghiên cứu Áo, Đức và Anh đã thành công trong việc làm nhiễu xạ một chùm tia các phân tử hữu cơ. Trong công trình xuất bản trên Physical Review Letters, họ đã miêu tả việc thực hiện nhiễu xạ Bragg của các phân tử ciprofloxacin và phthalocyanine.      Trong lịch sử nghiên cứu dài về sóng – hạt, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy ánh sáng gồm cả sóng và hạt. Họ cũng chứng tỏ các electron cũng có tính đối ngẫu sóng – hạt tương tự. Các nhà vật lý đã miêu tả bằng lý thuyết đối ngẫu sóng – hạt là một đặc điểm cơ bản của vũ trụ này, qua đó đề xuất là mọi loại vật chất đều phải có hiện tượng sóng, điều ngụ ý là vật chất có thể hành xử theo những cách tương tự với ánh sáng và electron. Do đó có thể chứng minh được sự giao thoa và nhiễu xạ của vật chất trên các phân tử.  Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu đã thực hiện chính xác điều đó bằng việc thực nghiệm một dạng mẫu hình nhiễu xạ với các phân tử ciprofloxacin (một loại kháng sinh) và phthalocyanine (một loại chất nhuộm màu).  Nghiên cứu bao gồm việc bắn một chùm tia laser vào một phiến thủy tinh có gắn các phân tử ciprofloxacin và and phthalocyanine, đẩy chúng bay khỏi phiến này với tốc độ cực nhanh. Các phân tử bay về phía một barrier với một khe hở dọc cho phép các phân tử đó chỉ di chuyển theo hướng họ mong muốn khi vượt qua barrier. Sau đó, các phân tử lại gặp một chùm tia laser khác hội tụ với một mẫu sóng cố định. Những phần có mật độ cao của chùm tia đã làm chệch hướng các phân tử theo cách gần giống như cách nó vượt qua barrier bằng việc luồn qua lỗ trống, dẫn đến việc tạo ra một mẫu hình nhiễu xạ. Các phân tử sau đó lại xuyên thẳng qua một khe hở và ngay lập tức bám chặt lấy một màn hình phẳng. Và vì vậy các dạng phân tử mà các nhà nghiên cứu lựa chọn cho thực nghiệm này sáng lên khi phơi lộ trước tia UV hoặc ánh sáng xanh để họ có thể quan sát được chúng. Với việc thực hiện thí nghiệm trong khoảng thời gian ngắn, các nhà nghiên cứu đã quan sát được một mẫu hình xuất hiện  trên màn hình – bằng chứng của một mẫu hình nhiễu xạ.  Như vậy các nhà nghiên cứu đã có thể tạo ra các mẫu hình nhiễu xạ bằng việc sử dụng các tốc độ laser ban đầu khác nhau và các góc đến khác biệt. Họ lưu ý là các mẫu hình này rất yếu, dẫu vẫn có thể quan sát được, và phù hợp với lý thuyết.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-diffract-molecules.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu loan báo đột phá photon-phonon      Nghiên cứu mới của một nhóm nghiên cứu trường City College của New York đã khám phá ra một cách kết hợp mới hai trạng thái khác biệt của vật chất. Lần đầu tiên, các photon topo – các hạt ánh sáng – đã kết hợp với các dao động mạng tinh thể – hay còn gọi là các phonon, để điều khiển sự lan truyền của chúng theo một cách có thể kiểm soát.      Nghiên cứu này sử dụng photon topo, một hướng mới xuất hiện trong photon học dựa trên đòn bẩy là các ý tưởng cơ bản của trường toán học topo về các đại lượng được bảo toàn – những bất biến topo – vẫn không đổi ngay cả khi thay đổi các phần của một vật thể hình học dưới những biến dạng liên tục. Một trong những ví dụ đơn giản nhất của nhiều bất biến topo là số các lỗ khiến cho cái bánh rán donut và cái cốc tương đương nhau, nếu nhìn từ quan điểm topo.   Các đặc tính topo truyền cho các photon tính xoắn, khi các photon spin trong lan truyền, dẫn đến những đặc tính độc đáo không ngờ tới như độ cứng và độ lan truyền theo một hướng duy nhất dọc theo các phân giới giữa các vật liệu riêng biệt về mặt topo. Nhờ có những tương tác với các dao động trong các tinh thể, những photon xoắn đó có thể sử dụng được làm kênh ánh sáng hồng ngoại dọc theo các dao động.  Các chỉ dấu tác động của công trình này rất rộng, cụ thể nó cho phép các nhà nghiên cứu cải tiến quang phổ Raman, vốn được dùng để xác định các phương thức dao động của phân tử. Nghiên cứu này hứa hẹn  về khả năng có quang phổ dao động – còn được biết đến với tên gọi quang phổ hồng ngoại – dùng để đo đạc tương tác của bức xạ hồng ngoại với vật chất thông qua hấp thụ, phát xạ và phản xạ. Điều này có thể hữu dụng trong nghiên cứu và nhận diện, tìm hiểu đặc tính của các vật chất hóa học.  “Chúng tôi kết cặp các photon xoắn với các dao động tinh thể trong bor nitride lục giác, tạo ra một kiểu vật chất lai mới như các phonon-polariton”, Alexander Khanikaev, tác giả chính và là nhà vật lý ở trường Kỹ thuật Grove của CCNY, nói. “Nó có tính chất nửa ánh sáng và nửa dao động. Kể từ khi ánh sáng hồng ngoại và dao động tinh thể được liên kết với nhiệt, chúng tôi đã tạo được ra các kênh cho lan truyền ánh sáng và nhiệt cùng lúc. Trên thực tế rất khó kiểm soát các dao động tinh thể và dẫn chúng quanh các độ hụt và các góc nhọn, điều không thể làm được trước đây”.  Phương pháp mới có thể thực hiện được các chuyển dịch nhiệt phát xạ có định hướng, một hình thức của truyền năng lượng trong suốt thời điểm nhiệt bị hao tán thông qua các sóng điện từ.  “Chúng tôi có thể tạo ra các kênh theo hình dạng tùy ý cho hình thức các mức kích thích của ánh sáng và vật chất lai được hướng dẫn bên trong vật liệu hai chiều mà chúng tôi tạo ra”, tiến sĩ Sriram Guddala, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Khanikaev và là tác giả thứ nhất của công trình, nói. “Phương pháp này cho phép chúng tôi chuyển hướng của lan truyền các dao động dọc theo các kênh, thẳng hướng hoặc quay ngược trở lại một cách đơn giản bằng việc chuyển các phân cực thuận tay của chùm tia laser tới. Thú vị hơn, khi các phonon-polariton lan truyền, các dao động cũng quay theo từ trường. Đây là một cách hoàn toàn mới để hướng dẫn và quay các dao động tinh thể, điều khiến cho chúng trở nên xoắn”.  Công trình “Topological phonon-polariton funneling in midinfrared metasurfaces” được xuất bản trên tạp chí Science 1.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-photon-phonon-breakthrough.html  https://www.photonics.com/Articles/Photon-Phonon_Combination_Will_Enable/a67431  ———————————————–  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abj5488       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm các nhà nghiên cứu gặp nhiều trở ngại trong sự nghiệp      Họ có nguy cơ bị quấy rối tại nơi làm việc cao hơn 31% so với các đồng nghiệp không thuộc giới LGBTQ.  Đây là kết quả của nghiên cứu mới được công bố trên Science Advances.    Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2017 đến năm 2019, khảo sát hơn 25.000 người Mỹ làm việc trong các lĩnh vực STEM – khoảng 1.000 người trong số này tự xác định bản thân thuộc giới LGBTQ – về giới tính, khả năng tiếp cận các nguồn lực nghề nghiệp, cách đối xử của đồng nghiệp, sức khỏe thể chất và tinh thần, và ý định rời bỏ lĩnh vực STEM.        Câu trả lời của nhóm LGBTQ cho thấy trải nghiệm sự nghiệp tệ hơn so với nhóm không phải LGBTQ. Ví dụ, nhóm LGBTQ có nguy cơ cảm thấy lo lắng hoặc căng thẳng vì công việc cao hơn 22% và có khả năng đã từng nghĩ đến bỏ việc cao hơn 32%. Các kết quả tương tự nhau giữa các khu vực nhà nước, nghiên cứu, doanh nghiệp hay các ngành STEM khác nhau.    Ngoài ra, những người nhìn nhận bản thân thuộc về một giới tính khác với giới tính của cơ thể và những người nhìn nhận bản thân không hoàn toàn là nam hay nữ còn thường gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất và tinh thần trong sự nghiệp hơn nữa.    Tác giả chính Erin Cech, giáo sư tại Đại học Michigan, hy vọng nghiên cứu mới sẽ cho thấy các lĩnh vực STEM cần phải thay đổi. “Tại nhiều tổ chức, có những người không cảm thấy đây là vấn đề cần được coi trọng – một phần vì chưa có dữ liệu nào cho thấy đây là vấn đề mang tính hệ thống,” Cech nói.    Cho đến nay, đây là dữ liệu quy mô nhất về LGBTQ ở các lĩnh vực STEM.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Các nhà nghiên cứu tìm kiếm vật chất tối tiến gần tới phát hiện mới      85% vật chất trong vũ trụ do vật chất tối tạo ra nhưng chúng ta không biết chúng chính xác là gì.      Sự phân rã vật chất tối có thể tạo ra một quầng sáng của phát xạ tia X quanh trung tâm của Ngân hà, có thể dò được khi nhìn vào các vùng tối của Ngân hà. Credit: Artistic rendering by Christopher Dessert, Nicholas L. Rodd, Benjamin R. Safdi, Zosia Rostomian (Berkeley Lab)   Nghiên cứu mới “The dark matter interpretation of the 3.5-keV line is inconsistent with blank-sky observations” trên Science của các nhà nghiên cứu trường đại học Michigan, Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Berkeley Lab) và trường đại học California ở Berkeley đã loại trừ vật chất tối liên quan đến các tín hiệu điện từ bí ẩn mà các quan sát trước đây thấy từ các thiên hà gần kề.  Trước công trình này có những hi vọng rất lớn rằng các tín hiệu đó có thể đem lại cho các nhà vật lý bằng chứng để giúp nhận diện vật chất tối.  Người ta không thể quan sát vật chất tối một cách trực tiếp bởi nó không hấp thụ, phản xạ hay phát ra ánh sáng nhưng các nhà nghiên cứu đã biết sự tồn tại của nó thông qua tương tác của nó với vật chất khác. Chúng ta cần vật chất tối để giải thích các lực hấp dẫn vẫn giữ các thiên hà lại với nhau.  Các nhà vật lý đã đề xuất vật chất tối là một “anh em họ” gần với hạt neutrino, hay còn gọi là sterile neutrino. Các neutrino – các hạt hạ nguyên tử không mang điện tích và hiếm khi tương tác với vật chất – đã thoát ra từ những phản ứng hạt nhân bên trong mặt trời. Chúng có khối lượng rất nhỏ nhưng khối lượng này không thể giải thích được bằng Mô hình chuẩn của vật lý hạt. Các nhà vật lý đề xuất thêm hạt sterile neutrino, một hạt giả thiết, có thể chiếm khối lượng này và cũng là vật chất tối.  Các nhà nghiên cứu có thể được hạt sterile neutrino bởi vì nó không bền, Ben Safdi, đồng tác giả, nói. Nó phân rã thành các neutrino thông thường và bức xạ điện từ. Để dò được vật chất tối, các nhà vật lý có thể quét các thiên hà để tìm bức xạ điện từ dưới hình thức phát xạ tia X.  Trong năm 2014, một công trình có nhiều ảnh hưởng khám phá sự vượt quá của phát xạ tia X từ các thiên hà và các cụm thiên hà gần dải Ngân hà. Sự phát xạ này xuất hiện có vẻ phù hợp với khả năng phát sinh từ phân rã sterile neutrino vật chất tối, Safdi nói.  Hiện tại, một phân tích khối dữ liệu thô từ Kính thiên văn tia X XMM-Newton quan sát các vật thể trong dải Ngân hà trong suốt 20 năm đã không thấy bằng chứng là sterile neutrino bao gồm vật chất tối. Nhóm nghiên cứu bao gồm nghiên cứu sinh Christopher Dessert, Nicholas Rodd, một nhà vật lý với nhóm nghiên cứu vật lý lý thuyết ở Berkley Lab và Trung tâm vật lý lý thuyết Berkley.  “Bài báo năm 2014 và những công trình tiếp theo xác nhận tín hiệu này đã tạo ra mối quan tâm lớn trong cộng đồng vật lý thiên văn và vật lý hạt bởi vì nó đem lại khả năng hiểu biết, lần đầu tiên, một cách chính xác vật chất tối là gì ở cấp độ vi mô”, Safdi nói. “Phát hiện của chúng tôi không có nghĩa là bác bỏ vật chất tối không phải là một sterile neutrino, mà ở chỗ – tương phản với bài báo năm 2014 – nó cho thấy không có bằng chứng thực nghiệm nào để chỉ ra sự tồn tại của nó cả”.  Kính thiên văn vũ trụ tia X như XMM-Newton đã chỉ ra các môi trường giàu vật chất tối để tìm kiếm bức xạ điện từ mờ nhạt từ việc hình thành các tín hiệu tia X. Phát hiện năm 2014 đặt tên phát xạ tia X này là “3.5 keV line” bởi nơi tín hiệu xuất hiện trên các máy dò tia X.  Nhóm nghiên cứu tìm tuyến này trong dải Ngân hà bằng việc sử dụng kho dữ liệu 20 năm của XMM-Newton. Các nhà vật lý biết vật chất tối được thu thập quanh các thiên hà, vì vậy khi các phân tích trước nhing vào các thiên hà và các cụm thiên hà gần đó, mỗi hình ảnh của chúng có thể bắt được một số cột của quầng vật chất tối thuộc Ngân hà.  Họ đã dùng những hình ảnh đó để nhìn vào phần tối nhất của Ngân hà. Nó đã cải thiện một cách đáng kể độ nhạy của các nghiên cứu tìm vật chất tối sterile neutrino trước đây, Safdi nói.  “Mỗi nơi chúng tôi nhìn vào, đều có thể có một vài luồng vật chất tối từ quầng Ngân hà, Rodd của Berkeley Lab cho biết, bởi vị trí của hệ mặt trời của chúng ta trong thiên hà này. “Chúng tôi đã khai thác yếu tố này bởi chúng ta đang sống trong một quầng vật chất tối”.  Christopher Dessert, một đồng tác giả nghiên cứu, cho rằng các cụm thiên hà nơi dòng 3.5 keV được quan sát đã có các tín hiệu nền lớn – những dạng nhiễu trong các quan sát và có thể làm các nhà nghiên cứu khó khăn hơn để chọn ra được tín hiệu cụ thể có thể liên quan đến vật chất tối.  “Nguyên nhân này giải thích tại sao chúng ta nhìn qua được quầng vật chất tối thiên hà của dải Ngân hà, vốn có nền thấp hơn nhiều”, Dessert giải thích.  Ví dụ, XMM-Newton đã chụp được những ảnh các vật thể bị cô kaapj giống như những ngôi sao đơn lẻ trong dải Ngân hà. Các nhà nghiên cứu đã đưa những hình ảnh đó và lọc ra những vật thể theo từng chủ đề quan tâm, để lại những môi trường tối và ban sơ để tìm kiếm tín hiệu của phân rã vật chất tối. Việc kết hợp với các quan sát trong 20 năm qua cho phép một chứng minh chưa từng thấy về vật chất tối sterile neutrino.  Nếu sterile neutrino là vật chất tối và nếu sự phân rã của chúng dẫn đến một phát xạ của đường 3.5 keV, Safdi và đồng nghiệp có thể đã quan sát nó trong phân tích của mình. Nhưng họ đã không tìm thấy bằng chứng nào cho vật chất tối sterile neutrino.  “Khi công trình này được tiến hành, thật không may đã dội nước lạnh vào những gì vẫn từng được trông chờ là bằng chứng đầu tiên về vật chất tối trong tự nhiên ở cấp độ vi mô, nhưng nó cũng mở ra một cách tiếp cận hoàn toàn mới để tìm kiếm vật chất tối và có thể dẫn đến một phát hiện trong tương lai gần”, Safdi nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-dark-home.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà toán học tiên phong tìm thấy trật tự trong hỗn độn đoạt giải Abel 2020      Hai nhà toán học Hillel Furstenberg và Gregory Margulis đã sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên để thấy được ánh sáng mới về tính chắc chắn của toán học sẽ cùng nhận được giải Abel 2020 – một trong những giải thưởng danh giá bậc nhất của lĩnh vực nghiên cứu này.      Hillel Furstenberg và Gregory Margulis được đánh giá là đã ứng dụng các lý thuyết về xác suất, ngẫu nhiên và các hệ động lực vào nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học.   Nhà toán học Israel Hillel Furstenberg nhà toán học Mỹ gốc Nga Gregory Margulis đã giành giải thưởng “cho sự tiên phong trong việc sử dụng các phương pháp từ xác suất và động lực vào lý thuyết nhóm, lý thuyết số và tổ hợp”, Viện Hàn lâm Khoa học Nauy đã loan báo thông tin vào ngày 18/3/2020. Mỗi người đều thu hẹp khoảng cách giữa những lĩnh vực khác biệt của toán học, giải được các vấn đề dường như vượt quá tầm với.  Furstenberg cho biết, ông đã “thực sự hoài nghi” khi ông biết rằng mình đã giành giải thưởng. “Tôi biết đến sự uy tín của giải Abel và biết danh sách những người đoạt giải”, ông nói với người thông báo thông tin. “Đơn giản là tôi cảm thấy có một số người trong cuộc đua khu biệt này và tôi thấy không có mình trong cuộc đua đó”. Ông cho biết thêm là ban đầu, mình không thấy trước tác động của những ý tưởng của mình, và nói một cách hài hước “giống như bất kỳ nhà toán học nào, tôi chỉ ‘đi theo cái mũi của mình’ và tìm kiếm những gì mà mình thấy là thú vị”.    Margulis thì cho biết ông cũng cảm thấy tự hào khi nhận được sự ghi nhận từ cộng đồng toán học.  Các hệ hỗn độn    Một ví dụ về hệ hỗn độn  Một chủ đề chung của hai nhà toán học là việc sử dụng các kỹ thuật từ lý thuyết ergodic, một lĩnh vực của toán học sinh ra từ nghiên cứu các bài toán vật lý như chuyển động của các quả bóng billiard hay các hệ hành tinh. Lý thuyết ergodic nghiên cứu các hệ tiến hóa theo thời gian, cuối cùng khám phá ra một cách chính thức tất cả các hình trạng có thể của chúng. Các hệ này đều hỗn độn một cách đặc trưng, nghĩa là chỉ có thể đoán được hành xử tương lai của chúng thông qua việc sử dụng lý thuyết xác suất.  Nhưng lý thuyết ngẫu nhiên có thể đóng vai trò quan trọng khi ứng dụng lên các bài toán khác. “Nếu anh muốn hiểu về một vũ trụ lớn, một cách để làm với nó là khám phá chính tính ngẫu nhiên của nó,” Terence Tao, một nhà toán học tại trường đại học California, Los Angeles, giải thích.  Nhà toán học này đã giới thiệu về Margulis trong suốt lễ trao giải thưởng Fields của mình khi nói “nhiều lúc, ông làm các chuyên gia bối rối khi giải quyết được những vấn đề dường như nằm ngoài tầm với tại thời điểm đó”. Một vài kết quả nghiên cứu của ông đã đem lại nền tảng cho công trình của ít nhất ba người giành giải thưởng Field sau đó, theo Viện Hàn lâm Nauy.  “Giải thưởng năm nay kết nối với nhiều người từng đoạt giải trước đó,” Hans Munthe-Kaas, một nhà toán học tại trường đại học Bergen ở Nauy và là chủ tịch ủy ban giải thưởng Abel, nhận xét. “Hoàn toàn ngạc nhiên về cách những nhà toán học này đã vượt qua các biên giới.” Cụ thể, người giành giải thưởng năm 2014, Yakov Sinai phát triển các kỹ thuật ergodic trong lý thuyết hỗn độn (và là thầy hướng dẫn tiến sĩ của Margulis), và Endre Szemerédi giành giải năm 2012 bởi công trình nghiên cứu của ông (trong số những nghiên cứu khác) liên kết lý thuyết ergodic với lý thuyết số nguyên.  Được thành lập từ năm 2003, giải Abel mang tên nhà toán học Nauy Niels Henrik Abel (1802–1829), tổng trị giá giải thưởng là 7,5 triệu kroner, tương đương 834.000 USD.  Do đại dịch coronavirus đang diễn ra nên Viện Hàn lâm Khoa học Nauy quyết định hoãn lễ trao giải, thông thường sẽ diễn ra vào tháng 6 hàng năm ở Oslo. Thay vào đó, lễ trao giải năm 2021 sẽ vinh danh những người giành giải thưởng của năm 2020 và 2021.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00799-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý dò được các tín hiệu của hạt neutrino tại LHC      Nhóm thực nghiệm tìm kiếm về phía trước (FASER), do các nhà vật lý tại trường đại học California, Irvine, dẫn dắt, đã lần đầu tiên dò dược các ứng viên neutrino trên LHC đặtt tại CERN gần Geneva, Thụy Sĩ.      Trong công bố xuất bản trên tạp chí Physical Review D, các nhà nghiên cứu đã miêu tả cách họ quan sát sáu tương tác của hạt neutrino trong một thực nghiệm được thực hiện bằng máy dò nhũ tương compact được lắp đặt tại LHC vào năm 2018.  “Trước khi dự án này thực hiện, không hề phát hiện ra tín hiệu nào của các hạt neutrino trên một máy gia tốc hạt”, đồng tác giả Jonathan Feng, giáo sư vật lý thiên văn UCI và là đồng dẫn dắt Nhóm hợp tác FASER, nói. “Đột phá đáng kể này là một bước tiến tới một hiểu biết sâu sắc hơn về các hạt khó nắm bắt và vai trò của chúng trong vũ trụ”.  Ông nói, khám phá này được thực hiện trong thực nghiệm mà nhóm nghiên cứu của ông đã có được hai phần thông tin quan trọng. “Thứ nhất, nó xác định vị trí của điểm tương tác ATLAS là địa điểm đúng cho việc dò các hạt neutrino”, Feng nói. “Thứ hai, nỗ lựa của chúng tôi trong việc thể hiện được sự hiểu quả của việc dùng máy dò nhu tương để quan sát các loại tương tác neutrino đó”.  Thiết bị thực nghiệm đã được làm bằng các tấm chì và tungsten đặt xen kẽ với các lớp nhũ tương. Trong suốt quá trình va chạm hạt tại LHC, một số hạt neutrino đã tạo ra sự va chạm vào các hạt nhân trong các kim loại, qua đó tạo thành các hạt di chuyển qua lớp nhũ tương và tạo ra các dấu vết có thể thấy trong quá trình xử lý. Các khắc vết đó cung cấp những manh mối về năng lượng của các hạt, các hương của chúng -tau, muon hay electron – và liệu chúng là các hạt neutrino hay phản neutrino.  Theo Feng, nhũ tương này được “trưng dụng” trong một cách tương tự như kỹ thuật chụp ảnh trong thời kỳ camera tiền số hóa. Khi tấm phim dày 35-millimeter được phơi sáng, các photon rời đi, tiết lộ như các mẫu hình. Các nhà nghiên cứu FASER đã có thể thấy các tương tác neutrino sau khi loại bỏ và phát triển các lớp nhũ tương trong máy dò.    Thực nghiệm FASER đã đặt vị trí 480 mét cách điểm đặt ATLAS ở LHC. Theo Jonathan Feng,đây là một địa điểm hợp lý cho dò neutrino, vốn là kết quả thu được từ những va chạm hạt tại LHC. Nguồn: CERN  “Để đạt được hiệu quả từ cách tiếp cận trên máy dò nhũ tương để quan sát những tương tác của các hạt neutrino được tạo ra trên một máy gia tốc hạt, nhóm nghiên cứu FASER hiện đang chuẩn bị một loạt thực nghiệm mới với một thiết bị hoàn thiện, không chỉ lớn hơn mà còn nhạy hơn một cách đáng kể”, Feng nói.  Kể từ năm 2019, anh và đồng nghiệp của mình đã sẵn sàng thực hiện một thực nghiệm với các công cụ của FASER để tìm hiểu về vật chất tối tại LHC. Họ đang hi vọng dò được các hạt photon tối, vốn có tể trao cho các nhà nghiên cứu cơ hội lần đầu tiên nhìn vào cách vật chất tối tương tác với các nguyên tử thông thường và những vật chất khác trong vũ trụ thông qua các lực phi hấp dẫn.  Với thành công của công trình về các hạt neutrino của mình trong vài năm trở lại đây, nhóm FASER  – bao gồm 76 nhà vật lý ở 21 viện nghiên cứu từ chín quốc gia – đang kết hợp một máy dò nhũ tương mới với máy móc của FASER. Trong khi máy dò thử nghiệm nặng khoảng 64 pound thì thiết bị FASERnu sẽ vào khoảng trên 2.400 pound, và nó sẽ thêm phản ứng mạnh hơn và có khả năng phân biệt giữa các hạt neutrino.  “Được trao máy dò và địa điểm đặt đúng tại CERN, chúng tôi chơ đợi có thể ghi nhận hơn 10.000 tương tác neutrino trong lần thực hiện thí nghiệm mới tại LHC, bắt đầu vào năm 2022”, đồng tác giả David Casper, đồng dẫn dắt dự án FASER  và là phó giáo sư vật lý và thiên văn tại UCI, nói. “Chúng tôi sẽ dò được những hạt neutrino có mức năng lượng lớn nhất từng được sinh ra từ một nguồn do con người tạo ra”.  Điều khiến cho FASERnu trở nên độc nhất vô nhị, ông nói, là trong khi các thực nghiệm khác đều có khả năng phân biệt giữa hai hoặc ba loại neutrino, nó sẽ có khả năng quan sát tất cả ba loại hương thêm vào các phản hạt của chúng – phản neutrino. Casper cho biết, trong lịch sử loài người thì chỉ có khoảng 10 lần quan sát được các hạt tau neutrino nhưng ông hi vọng, nhóm nghiên cứu của mình sẽ có thể nahan gấp đôi hoặc gấp ba con số này trong vài ba năm tới.  “Đây là mối liên hệ vô cùng tốt đẹp với truyền thống tại khoa vật lý tại UCI” Feng nói, “bởi vì nó liền mạch với di sản của Frederick Reines, một giảng viên sáng lập UCI và từng giành được giải Nobel vật lý do khám phá ra hạt neutrino”.  “Chúng tôi đã thực hiện một thí nghiệm đẳng cấp thế giới tại phòng thí nghiệm vật lý hạt tiên phong của thế giới trong thời gian kỷ lục và với những nguồn phi truyền thống”, Casper nói. “Chúng tôi đã nhận được khoản tài trơ lớn từ Quỹ Heising-Simons, Quỹ Simons, cũng như Hội Xúc tiến khoa học Nhật Bản và CERN”.  Savannah Shively và Jason Arakawa, nghiên cứu sinh vật lý và thiên văn học UCI cùng đóng góp vào công trình này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-physicists-neutrinos-large-hadron-collider.html  https://phys.org/news/2021-05-faser-born-particles-interact-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý khám phá bí ẩn lỗ đen thắng giải Nobel 2020      Nhà vật lý toán Roger Penrose chia sẻ giải thưởng danh giá này với Andrea Ghez và Reinhard Genzel, người phát hiện ra một lỗ đen khổng lồ ở trung tâm của dải Ngân hà.      Một nhà vật lý toán và hai nhà thiên văn học thắng giải Nobel Vật lý 2020 cho những khám phá liên quan đến những vật thể có khối lượng lớn nhất và bí ẩn nhất vũ trụ – các lỗ đen.  Nhà vật lý toán người Anh Roger Penrose, 89 tuổi, nhận một nửa giải thưởng cho công trình lý thuyết công bố năm 1965, chứng tỏ cách thuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein đã dẫn đến sự hình thành của các lỗ đen, những nơi có lực hấp dẫn mạnh đến mức thậm chí cả ánh sáng cũng không thể vượt qua, như thế nào. Tuy nhiên trong nhiều năm, lỗ đen chỉ được coi là những kỳ quặc toán học. Penrose đã chứng tỏ là lỗ đen có thể có thật khi phát triển các công cụ để giúp giải quyết các đặc tính kỳ lạ của chúng. “Penrose đã đặt một nền tảng lý thuyết để qua đó, chúng ta có thể nói ‘đúng, các vật thể đó có tồn tại, chúng ta có thể trông chờ vào việc tìm ra chúng nếu chúng ta vươn ra ngoài trái đất và tìm kiếm chúng’”, thành viên Ủy ban Nobel vật lý, nhà nghiên cứu Ulf Danielsson của trường đại học Uppsala nói.  Nhà thiên văn học Mỹ Andrea Ghez, 55 tuổi, và nhà thiên văn học Đức Reinhard Genzel, 68 tuổi, đã giành một nửa còn lại của giải thưởng cho phát hiện của họ về lỗ đen nổi tiếng nhất vũ trụ – vật thể compact siêu khối lượng tại trung tâm của Ngân hà.  Từ những năm 1990, Ghez và Genzel đều dẫn dắt một nhóm nghiên cứu riêng với mục tiêu vẽ bản đồ các quỹ đạo của những ngôi sao gần với trung tâm Ngân hà. Những nghiên cứu đó đã dẫn họ đến với kết luận là một vật thể không thể quan sát được và có khối lượng cực lớn đã điều khiển các chuyển động khác thường của các ngôi sao. Vật thể này được gọi là Sagittarius A* (Sgr A*), một bằng chứng thuyết phục bậc nhất về lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm của Ngân hà, Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển đánh giá.  Nhà vật lý thiên văn Monica Colpi tại trường đại học Bicocca Milan ở Italy cho rằng, những người nhận giải năm nay hết sức xứng đáng. “Dữ liệu quan sát của Genzel và Ghez thật sự đẹp đẽ và độc đáo, nó thể hiện năng lực của họ trong việc theo dõi chuyển động của các ngôi sao xung quanh vật thể đó.” Dữ liệu của họ chứng tỏ Sgr A* có một khối vật chất đậm đặc với việc hình thành một lỗ đen siêu khối lượng.  Nhà vật lý thiên văn Heino Falcke, nhà nghiên cứu tại trường đại học Radboud ở Nijmegen, Hà Lan, đồng ý với quan điểm này. “Họ đã có những đóng góp cơ bản để hình thành bằng chứng cho thấy phần tâm điểm đen và đậm đặc tồn tại trong thiên hà này. Họ thực sự đo đạc được chi tiết khối lượng của lỗ đen tại dải Ngân hà. Và Penrose cũng chứng tỏ về mặt toán học là các lỗ đen có thể tồn tại”.  Năm 2019, Kính thiên văn Chân trời sự kiện (EHT), một nỗ lực toan cầu để chụp ảnh bóng của những lỗ đen siêu khối lượng (SMBHs), tiết lộ một “con quỷ” thậm chí còn lớn hơn tại trung tâm của M87, một thiên hà “hàng xóm” của Ngân hà. Lỗ đen này còn có khối lượng gấp hàng tỉ lần mặt trời. Nhóm hợp tác EHT đã cố gắng chụp ảnh Sagittarius A* nhưng chưa thành công.    Ghez, tại trường đại học California, Los Angeles, là người phụ nữ thứ 4 giành giải Nobel vật lý – lĩnh vực ít nhà khoa học nữ đoạt giải nhất. Donna Strickland, nhà vật lý laser ở trường đại học Waterloo, Canada, năm 2018 đã kết thúc “cơn khát” kéo dài 55 năm khi trở thành người phụ nữ thứ ba giành giải Vật lý.  “Tôi thực sự vui mừng khi nhận được giải thưởng này và tôi đã nhận lấy trách nhiệm lớn lao trở thành người phụ nữ tư thắng giải Nobel vật lý,” Ghez nói trong cuộc họp báo. “Tôi hi vọng mình có thể truyền cảm hứng cho những người phụ nữ trẻ khác bước vào lĩnh vực này, một lĩnh vực ẩn chứa nhiều niềm vui.”  Ghez và Genzel, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu vật lý ngoài trái đất Max Planck ở Garching, Đức và trường đại học California ở Berkeley, chia nhau một nửa giải thưởng trị giá 10 triệu kronor Thụy Điển (tương đương1, 1 triệu USD).  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: Nature, Science    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý lên kế hoạch tìm kiếm phản vật chất      Các nhà nghiên cứu đang tập trung chuyển loại vật liệu khó nắm bắt này giữa các phòng thí nghiệm và dùng nó để nghiên cứu tác động kỳ lạ của hạt nhân phóng xạ hiếm.      Các phản hạt proton xuất hiện theo cách độc nhất vô nhị để nghiên cứu về các nguyên tố phóng xạ được làm tại thí nghiệm ISOLDE, CERN.  Phản vật chất là một chất hết sức khó nắm bắt nhưng các nhà vật lý đã học được cách kiểm soát nó bằng một công cụ lần đầu tiên được sử dụng. Trong dự án PUMA (anti-Proton Unstable Matter Annihilation)  bắt đầu từ tháng 1/2018 tại CERN, các nhà nghiên cứu đã chuyển phản vật chất trong một xe tải và dùng nó để nghiên cứu tác động kỳ lạ của hạt nhân phóng xạ hiếm. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về các quá trình cơ bản bên trong hạt nhân nguyên tử và để giúp các nhà vật lý thiên văn nghiên cứu về những phần bên trong của các ngôi sao neutron, vốn là trạng thái đậm đặc nhất trong vũ trụ.  “Người ta đã từng nghiên cứu về phản vật chất từ khá lâu và giờ thì cũng đủ để có thể bắt đầu dùng những hiểu biết về nó [trong] một thiết bị dò vật chất”, nhà vật lý Alexandre Obertelli (trường đại học Kỹ thuật Darmstadt, Đức) và phụ trách dự án cho biết.  CERN đã tạo ra các phản hạt proton – một hình ảnh phản chiếu của các hạt proton – bằng việc bắn một chùm proton vào một tấm bia kim loại, sau đó các phản hạt xuất hiện chậm chạp và có thể dùng chúng cho các thí nghiệm. Obertelli và các đồng nghiệp của ông lập kế hoạch dùng từ trường và điện trường để bẫy một đám mây các phản hạt proton trong một thiết bị chân không. Tiếp theo họ sẽ đưa “cái bẫy” đó lên một xe tải và chở nó đến một địa điểm thực hiện thí nghiệm khác cách đó vài trăm mét mang tên ISOLDE, nhằm sản xuất nguyên tử hạt nhân phóng xạ hiếm mà quá trình phân rã thường diễn ra rất nhanh để có thể vận chuyển chúng đi bất cứ đâu. “Chuyên chở phản hạt bằng một xe tải thực sự là một câu chuyện khoa học viễn tưởng”, Charles Horowitz, nhà vật lý lý thuyết hạt nhân tại trường ĐH Indiana, Bloomington, cho biết, “đây là ý tưởng tuyệt vời”.    Để tìm ra cấu trúc bề mặt của các hạt nhân nguyên tử, các nhà vật lý đã chuyển chùm ion của chất đồng vị phóng xạ hiếm vào một thiết bị hình ống có chiều dài 700milimet, nơi chúng bị hủy cùng các phản hạt proton bị bẫy.   Máy dò độc nhất vô nhị  Bởi vì thời gian sống của các phản hạt proton rất ngắn, với cả protons và neutrons, nên chỉ có một cách độc nhất để nghiên cứu các hình dạng không thường thấy của hạt nhân phóng xạ. Trong khi hạt nhân nguyên tử giữ các proton và neutron ở mức gần tương đương nhau, các đồng vị phóng xạ được nạp thêm nhiều neutron. Sự thiếu cân bằng này có thể dẫn đến những tác động kỳ lạ, bao gồm một bề mặt “da” được làm dầy lên bằng neutron hơn là proton. Bằng việc quan sát các phản hạt proton hủy cặp cùng một proton và một neutron như thế nào, nhóm nghiên cứu sẽ có khả năng hiểu được mật độ có tính liên hệ giữa các hạt ở bề mặt các hạt nhân. Và bởi quá trình hủy này diễn ra rất nhanh nên thời gian đo đạc thí nghiệm phải đủ nhanh để quan sát được hiện tượng, dẫu cho thời gian sống của hạt nhân rất ngắn. “Đây là một loại thí nghiệm mà chúng tôi chưa từng có khả năng thực hiện được trước đây để ghi nhận những vấn đề mới, nhiều hạt nhân kỳ lạ có những cấu trúc hết sức thú vị”, Horowitz nói.  Hạt nhân phóng xạ đóng vai trò như một thế giới vi mô để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các ngôi sao neutron, những vật thể mà khối lượng được nén chặt tương đương với khối lượng mặt trời nhưng kích thước chỉ tương đương một thành phố. Những kiến thức này sẽ là yếu tố chính để hiểu các nguyên tố nặng trong vũ trụ được hình thành như thế nào. Không chỉ lõi của những ngôi sao siêu đặc này vẫn còn chứa nhiều bí ẩn mà cấu trúc của nó còn được định hình từ những tác động còn ít được biết đến và tạo ra những hiện tượng kỳ dị trong hạt nhân giàu neutron. “Việc hiểu được các bề mặt và các vầng hào quang neutron là rất quan trọng vì qua đó có thể thực hiện được phần lớn những quan sát vật lý thiên văn”, Panagiota Papakonstantinou, nhà vật lý hạt nhân tại Viện nghiên cứu khoa học cơ bản ở Daejeon (Hàn Quốc) cho biết.  Obertelli và các cộng sự đã tạo ra một cái bẫy có thể chứa 1 tỷ phản hạt proton – một kỷ lục mới, nhiều hơn 100 lần so với lượng phản hạt proton được chứa trong bất kỳ thí nghiệm nào đã thực hiện trước đó. Một khó khăn khác là mỗi lần thực hiện thí nghiệm sẽ phải giữ chúng trong bẫy trong nhiều tuần, trong khi việc giữ vài chục phản hạt một lúc còn xa mới thực hiện được. Điều đó có nghĩa là giữ chúng tại mức 4 độ C và trong một môi trường chân không tương tự như không gian liên sao. “Đây là dự án đầy thách thức nhưng tôi nghĩ nó khả thi”, Chloé Malbrunot, nhà vật lý nghiên cứu về phản vật chất tại CERN, nhận xét.  Phát triển và thử nghiệm công nghệ để tạo ra cái bẫy có thể mang theo được sẽ mất khoảng 4 năm với những lần đo đầu được ấn định vào năm 2022. Nếu phương pháp này được triển khai thì các nhà vật lý có thể chuyển các phản hạt ra ngoài nhiều hơn, qua đó cho phép những nhà nghiên cứu khác dù không tham gia vào sáu thực nghiệm được thực hiện tại nguồn phản hạt proton cũng có thể nghiên cứu và sử dụng loại vật chất khó nắm bắt này.  “Họ có thể thực hiện thí nghiệm một tỷ hạt proton và giữ chúng trong vài tuần càng sớm càng tốt vì nhờ vậy có thêm nhiều thí nghiệm như thế sẽ được triển khai và sẽ có thêm những nhà nghiên cứu với nhữn ý tưởng mới tham gia. Tôi nghĩ điều đó có thể giúp mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới”, Malbrunot dự đoán.  Thanh Nhàn dịch  TS. Lê Xuân Chung (Viện KH&KT hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-02221-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý tạo ra một dạng ánh sáng mới      Các nhà vật lý đã tạo ra một dạng ánh sáng mới cho tính toán lượng tử bằng các hạt photon.      Các nhà khoa học từ MIT, Harvard và các nơi khác đã chứng minh rằng thực sự có thể tạo ra các hạt photon để tương tác – một thành tựu mở ra hướng sử dụng photon trong tính toán lượng tử. Nguồn: MIT  Hãy thử thực hiện nhanh một thí nghiệm: bật hai đèn chớp trong phòng tối và để chúng giao nhau. Liệu có điều gì đặc biệt xảy ra không? Câu trả lời tối giản nhất là có thể là không. Bởi những photon riêng biệt tạo ra ánh sáng sẽ không tương tác với nhau. Thay vào đó, chúng chỉ đơn giản là vượt qua nhau giống như những linh hồn thờ ơ trong đêm đen.  Nhưng nếu chúng ta tạo ra những hạt ánh sáng có thể tương tác, hút hoặc đẩy nhau như các nguyên tử trong vật chất thông thường? Một khả năng kỳ diệu, mang hơi hướng khoa học viễn tưởng: những thanh gươm ánh sáng – các chùm sáng có thể kéo và đẩy nhau, tạo ra những cuộc đối đầu chói mắt và hùng vĩ. Hoặc, một kịch bản có thể dễ tưởng tượng hơn là hai chùm sáng có thể gặp nhau và hợp thành một luồng sáng duy nhất.  Có vẻ như trạng thái về quang học như vậy của các hạt photon có thể sẽ “bẻ cong” các quy tắc vật lý nhưng trong thực tế, các nhà khoa học từ MIT, Harvard và các nơi khác đã chứng minh rằng thực sự có thể tạo ra các hạt photon có tương tác – một thành tựu mở ra hướng sử dụng photon trong tính toán lượng tử.  Theo một bài báo đăng trên Science, nhóm nghiên cứu do Vladan Vuletic, GS Lester Wolfe về vật lý và GS Mikhail Lukin tại MIT dẫn dắt, công bố rằng họ đã quan sát được các nhóm gồm ba hạt photon tương tác và kết hợp với nhau để tạo ra một dạng vật chất photon hoàn toàn mới.  Trong các thí nghiệm được điều khiển, các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng khi họ chiếu một chùm tia laser cực yếu qua một đám mây dày đặc các nguyên tử rubidium ở trạng thái siêu lạnh, thay vì tồn tại trong đám mây như các photon đơn lẻ ngẫu nhiên mà chúng ta vẫn biết, các photon đã liên kết với nhau theo cặp hai hoặc ba photon, nó dẫn đến một vài loại tương tác – trong trường hợp này là lực hấp dẫn – được tạo ra tại chỗ giữa các hạt.  Trong khi thông thường các hạt photon không có khối lượng và đi chuyển 300.000 km mỗi giây (tốc độ ánh sáng), các nhà nghiên cứu phát hiện, trên thực tế thì sự liên kết giữa các photon đã đem lại cho chúng một phần khối lượng của electron. Những hạt ánh sáng mang khối lượng mới này đã di chuyển chậm chạp hơn và di chuyển chậm hơn 100.000 lần so với các hạt photon thông thường không tương tác  Vuletic nói rằng kết quả này cho thấy, các photon có thể có [lực] hấp dẫn, hoặc ở trạng thái rối với nhau. Nếu có thể tạo ra tương tác photon theo những cách khác, chúng ta có thể khai thác các photon để thực hiện những tính toán lượng tử phức tạp với tốc độ siêu nhanh.  “Trong hàng thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã mơ ước về việc tạo ra tương tác của các hạt photon đơn lẻ này”, Vuletic cho biết.  Đồng tác giả với Vuletic trong công trình này là Qi-Yung Liang, Sergio Cantu và Travis Nicholson (MIT), Lukin và Aditya Venkatramani (trường Harvard), Michael Gullans và Alexey Gorshkov (trường đại học Maryland), Jeff Thompson (trường đại học Princeton) và Cheng Ching (trường đại học Chicago).  Lớn và lớn hơn nữa  Vuletic và Lukin phụ trách Trung tâm liên kết MIT- Harvard về các nguyên tử siêu lạnh, họ đã tìm kiếm các cách thức về cả lý thuyết và thực nghiệm, để thúc đẩy tương tác giữa photon. Vào năm 2013, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên quan sát được các cặp photon tương tác và kết lại với nhau, tạo ra một trạng thái hoàn toàn mới của vật chất.  Trong công trình mới này, họ cân nhắc rằng liệu có thể tạo ra tương tác giữa không chỉ 2 photon mà còn nhiều hơn nữa hay không. Vuletic nói: “Ví dụ bạn có thể kết hợp nhiều phân tử oxy để hình thành O2 và O3 (ozone) không chỉ O4 và một số phân tử mà bạn không thể tạo ra phân tử gồm ba hạt cơ bản hay không. Vì vậy có thể có một câu hỏi mở: bạn có thể cho thêm nhiều hạt photon vào một phân tử để tạo ra những thứ lớn hơn nữa không?”  Để tìm câu trả lời, nhóm nghiên cứu đã dùng cách tiếp cận bằng phương pháp thực nghiệm giống họ đã dùng để quan sát tương tác của 2 photon: quá trình bắt đầu bằng việc làm lạnh một đám mây nguyên tử rubidium tới nhiệt độ siêu lạnh, chỉ 1 phần triệu của nhiệt độ gần độ 0 tuyệt đối. Việc làm lạnh các nguyên tử khiến chúng chuyển động chậm đến mức gần như dừng lại.  Xuyên qua đám mây các nguyên tử bất động này, các nhà nghiên cứu chiếu một chùm tia laser cực yếu – yếu tới mức chỉ có một số ít các photon đi qua đám mây tại một thời điểm nhất định.  Sau đó các nhà nghiên cứu đo đạc số photon đã đi xuyên đám mây nguyên tử. Trong thí nghiệm mới nhất, họ đã tìm thấy các photon luôn chảy thành dòng theo cặp gồm hai hoặc ba hạt thay vì thoát khỏi đám mây ở các khoảng ngẫu nhiên như photon đơn lẻ không kết nối với nhau.  Để dò thêm số lượng và tốc độ của các photon, nhóm nghiên cứu đã đo đạc pha trước và sau khi di chuyển qua đám mây nguyên tử của các hạt photon. Pha của một hạt photon cho thấy tần suất dao động tự do của chúng.  Vuletic giải thích: “Pha này cho chúng ta biết chúng tương tác mạnh như thế nào, và pha càng lớn có nghĩa là chúng liên kết càng mạnh với nhau”. Nhóm nghiên cứu quan sát thấy các hạt gồm ba photon thoát ra khỏi đám mây hạt nhân cùng lúc, pha của chúng đã di chuyển so với chính các hạt photon không tương tác, và lớn hơn ba lần so với pha di chuyển của các phân tử gồm hai hạt photon. “Điều đó có nghĩa là những photon này không chỉ gồm từng photon tương tác độc lập mà về tổng thể thì chúng tương tác với nhau một cách mạnh mẽ.”  Các cuộc đụng độ đáng nhớ  Sau đó, các nhà nghiên cứu đã phát triển một giả thuyết để giải thích nguyên nhân dẫn đến sự tương tác của các photon tại điểm đầu tiên. Được xây dựng trên các nguyên tắc vật lý, mô hình của họ đã đưa ra một kịch bản: Khi một photon đơn lẻ đi qua đám mây nguyên tử rubidium, nó gần như đáp xuống nguyên tử gần đó trước khi nhảy sang nguyên tử khác, giống như con ong đậu vào giữa các bông hoa, cho tới khi photon đó đến điểm cuối khác.  Nếu một photon khác di chuyển cùng lúc qua đám mây, nó cũng có thể kết hợp với nguyên tử rubidium nhiều lần để tạo ra polariton – một loại giả hạt (quasiparticle) lai giữa nguyên tử và photon. Sau đó hai polariton có thể tương tác với nhau qua thành phần nguyên tử của nó. Ở phần rìa đám mây, các nguyên tử ở lại trong khi các photon thoát ra nhưng chúng vẫn liên kết với nhau. Các nhà nghiên cứu thấy hiện tượng tương tự này có thể xảy ra với 3 photon và tạo ra một liên kết còn mạnh hơn những tương tác giữa 2 photon.  Vuletic nói: “Điều thú vị là những vật chất gồm ba hạt photon hình thành ở khắp mọi nơi. Chúng ta vẫn chưa rõ là liệu chúng có liên kết một cách cân bằng, hay mạnh hơn so với các cặp hai photon.”  Toàn bộ tương tác này trong đám mây nguyên tử chỉ xảy ra trong 1 phần triệu giây. Và chính tương tác này kích hoạt photon để duy trì sự liên kết với nhau, ngay cả khi chúng đã rời khỏi đám mây. Sergio Cantu (MIT) – đồng tác giả của Vuletic nói: “Nói một cách ngắn gọn là khi photon đi qua vật trung gian này, chúng sẽ “nhớ” bất kỳ điều gì xảy ra ở môi trường trung gian.”  Điều đó có nghĩa là các photon tương tác với nhau, lực hấp dẫn giữa chúng, có thể coi là tương tác mạnh, hay trạng thái rối – một thuộc tính quan trọng cho bất kỳ bit tính toán lượng tử nào.  Vuletic nói: “Các photon có thể di chuyển rất nhanh qua những khoảng cách dài, và con người đã dùng ánh sáng để truyền tải thông tin, ví dụ như cáp quang. Nếu các photon có thể ảnh hưởng lẫn nhau, và nếu bạn có thể tạo trạng thái rối cho các photon này (chúng ta đã làm được điều đó), bạn có thể dùng chúng để phân phối thông tin lượng tử một cách thú vị và hữu ích.”  Xa hơn nữa, nhóm nghiên cứu sẽ tìm cách để cưỡng bức tạo ra các tương tác khác như lực đẩy – nơi các photon có thể sẽ rời xa nhau như các quả bóng billiard.  Vuletic nói: “Nó hoàn toàn mới lạ theo nghĩa thi thoảng chúng ta thậm chí còn không thể biết mình chờ đợi cái gì. Với lực đẩy của các photon, có thể chúng tạo ra khuôn mẫu đều đặn như tinh thể ánh sáng? Hoặc một điều gì khác sẽ xảy ra? Đây là địa phận chưa từng được khám phá.”  Thanh Trúc dịch  TS. Ngô Đức Thế (Trung tâm Hiển vi Điện tử, Đại học Manchester, Vương quốc Anh) hiệu đính  Nguồn: http://news.mit.edu/2018/physicists-create-new-form-light-0215    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà vật lý Trung Quốc thách thức “lợi thế lượng tử” của Google      Máy tính lượng tử được xây dựng trên các photon đã thực hiện một phép tính mà máy tính thông thường có thể không bao giờ có khả năng làm được.      Một nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc mới đây tuyên bố đã có được minh chứng thực sự đầu tiên về “lợi thế lượng tử” – thành công về hoạt động khác thường của cơ học lượng tử trong việc thực hiện các phép tính siêu nhanh so với máy tính cổ điển.  Họ đã sử dụng những chùm tia ánh sáng để thực hiện một phép tính đã được chứng minh về mặt toán học là không thể thực hiện trên những máy tính thông thường. Nhóm nghiên cứu này đạt được điều này chỉ trong vài phút, điều mà ngay cả những siêu máy tính hàng đầu thế giới hiện nay cũng phải mất quãng thời gian bằng nửa độ tuổi trái đất. Tương phản minh chứng đầu tiên về lợi thế lượng tử của Google vào năm ngoái, phiên bản của họ không thể bị bất kỳ máy tính cổ điển nào bác bỏ. Kết quả nghiên cứu của họ đã được xuất bản trên Science vào ngày 3/12/2020 vừa qua với tiêu đề “Quantum computational advantage using photons”.  “Chúng tôi đã chứng tỏ là chúng tôi có thể sử dụng các photo, đơn vị cơ bản của ánh sáng, để thực hiện quyền năng tính toán lượng tử tốt vượt quá khả năng của các bản sao cổ điển,” Jian-Wei Pan tại trường đại học KH&CN Trung Quốc ở Hợp Phì. Ông đã cho biết thêm là phép tính mà họ thực hiện – vấn đề lấy mẫu boson – không chỉ là một cách thức phổ biến để chứng minh lợi thế lượng tử mà còn có tiềm năng ứng dụng thực tế trong lý thuyết đồ thị, hóa lượng tử và học máy.  “Dĩ nhiên đây là một thực nghiệm xuất sắc và là một cột mốc quan trọng”, nhà vật lý Ian Walmsley tại Imperial College London, đánh giá.  Lợi thế lượng tử thách thức   Các nhóm nghiên cứu ở cả các phòng thí nghiệm hàn lâm hoặc liên kết với giới công nghệ đều ganh đua đạt được lợi thế lượng tử (một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi để thay thế cho cụm từ ‘uy quyền lượng tử’ trước đây).   Năm ngoái, các nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm Máy tính lượng tử Google ở Santa Barbara, California, đã loan báo thực hiện thành công lợi thế lượng tử đầu tiên. Họ sử dụng thiết bị Sycamore vô cùng tối tân của mình gồm 53 bit lượng tử (qubit) được làm từ các mạch siêu dẫn để giữ ổn định các mức nhiệt độ siêu lạnh.  Nhưng một số nhà nghiên cứu lượng tử lại bài xích tuyên bố này khi dựa trên cơ sở là một thuật toán cổ điển có thể còn làm tốt hơn trên một máy tính lượng tử khác. Và các nhà nghiên cứu tại IBM tuyên bố là về nguyên tắc các siêu máy tính cổ điển có thể chạy được các thuật toán này để thực hiện các tính toán tương tự trong vòng 2,5 ngày.  Để chứng minh được một cách thuyết phục lợi thế lượng tử, đó phải là một phương pháp cỏ điển nhanh hơn đáng kể có thể cho nhiệm vụ đang được thử nghiệm.  Nhóm nghiên cứu ở Hợp Phì do Pan và Chao-Yang Lu, lựa chọn một vấn đề khác biệt cho chứng minh của họ, gọi là mẫu boson. Vào năm 2011, hai nhà khoa học máy tính, Scott Aaronson và Alex Arkhipov tại Viện công nghệ Massachusetts đề xuất bài toán này. Nó tập trung vào tính toán xác suất phân bố của nhiều hạt boson – một loại hạt cơ bản bao gồm cả các hạt photon, các sóng lượng tử của nó về cơ bản ngẫu nhiên làm nhiễu vị trí của các hạt khác. Xác suất của việc dò được một hạt boson tại điểm cho trước có thể được tính từ một phương trình có nhiều thành phần chưa biết.  200 giây.  Nhưng phép tính trong trường hợp này là một “bài toán #P’ (P time) – là một bài toán mà có thể giải với thời gian cỡ đa thức – vốn thậm chí còn khó hơn cả các bài toán NP (nondeterministic polynomial time thuật toán bất định trong thời gian đa thức) – một tập hợp các bài toán quyết định giải được trong thời gian đa thức, bởi con số các lời giải tăng lên theo hàm mũ theo số lượng các biến. Với hàng chục hạt boson, Aaronson và Arkhipov chứng tỏ là không có lối tắt cổ điển nào có thể thực hiện được với một phép tính dài tưởng chừng bất tận này.  Tuy nhiên một máy tính lượng tử có thể gia tốc được phép tính này bằng mô phỏng xử lý lượng tử một cách trực tiếp – cho phép các hạt boson giao thoa và lấy mẫu phân bố kết quả. Để làm được điều này, Pan và cộng sự chọn lấy các hạt photon làm các qubit. Họ đặt nó vào một máy tính lượng tử photon hoạt động ở nhiệt độ phòng.  Bắt đầu với những xung laser, các nhà nghiên cứu đã mã hóa thông tin theo vị trí không gian và phân cực các trạng thái photon cụ thể – định hướng điện từ trường của những hạt  photon. Các trạng thái này sau đó được đưa lại gần nhau để giao thoa với nhau và tạo ra phân bố photon, kết quả mà họ mong muốn. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các máy dò photon có năng lực ghi được các photon đơn lẻ để đo lường mức phân bố, vốn ảnh hưởng đến việc mã hóa các tính toán khó có thể thực hiện theo cách giải thông thường.  Theo cách đó, Pan và cộng sự có thể tìm thấy các lời giải cho bài toán lấy mẫu boson trong vòng 200 giây. Họ ước tính có thể mất 2,5 tỉ năm để làm được bài toán tương tự trên siêu máy tính TaihuLight.  Những bài toán cụ thể  “Đây là lần đầu tiên lợi thế lượng tử sử dụng ánh sáng hay các hạt photon,” Christian Weedbrook, giám đốc điều hành startup lượng tử Xanadu ở Toronto, Canada, vốn đang thiết kế các máy tính lượng tử trên cơ sở các hạt photon, nhận xét.  Walmsley cho biết, tuyên bố về lợi thế lượng tử này rất thuyết phục. “Bởi vì thực nghiệm này ở mức rất gần với sơ đồ Aaronson–Arkiphov ban đầu mà một thuật toán cổ điển không thể thực hiện được”, ông nói.  Tuy vậy, Weedbrook chỉ ra là tương phản với Sycamore của Google, mạch photon của nhóm nghiên cứu Trung Quốc không lập trình được, vì vậy điểm này “không thể được sử dụng để giải quyết những bài toán cụ thể”.   Nhưng ông cũng cho biết thêm là nếu nhóm nghiên cứu này có khả năng xây dựng một chip lập trình được đủ hiệu quả thì phần nhiều những bài toán quan trọng trên máy tính có thể vẫn giải quyết được. Giữa những dự doán về cách các protein kết nối với nhau và cách các phân tử dao động, Lu nói.  Weedbrook lưu ý, các tính toán lượng tử photon bắt đầu muộn hơn các cách tiếp cận khác nhưng hiện giờ nó có thể nhảy vọt so với phần còn lại. Với bất cứ tốc độ nào thì “việc máy tính lượng tử cho các máy tính cổ điển tụt hậu chỉ còn là vấn đề thời gian”, ông cho biết.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03434-7  https://science.sciencemag.org/content/early/2020/12/02/science.abe8770       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà virus học khám phá viêm gan C giành giải Nobel y sinh 2020      Harvey Alter, Michael Houghton và Charles Rice đã cùng chia sẻ giải thưởng cho nghiên cứu về một loại bệnh là nguyên nhân dẫn đến hàng trăm nghìn cái chết mỗi năm.      Bộ ba các nhà khoa học, những người đã nhận diện và xác định được đặc điểm của virus hepatitis dẫn đến nhiều trường hợp mắc bệnh gan — Virus viêm gan C — là chủ nhân của giải Nobel y sinh 2020.  Những người thắng giải là Harvey Alter, làm việc tại Viện Y học Mỹ ở Bethesda, Maryland; Michael Houghton, hiện tại làm việc tại trường đại học Alberta ở Canada, và Charles Rice, hiện làm việc tại trường đại học Rockefeller ở New York. Những công trình nghiên cứu của họ về virus viêm gan C đã dẫn đến những điều trị hiệu quả chống lại sự lây nhiễm tại gan.  Tổ chức Y tế thế giới ước tính, 71 triệu người trên toàn thế giới đã bị lây nhiễm viêm gan C mãn tính, đây vốn là nguyên nhân dẫn đến gần 400.000 cái chết mỗi năm, phần lớn là bệnh xơ gan và ung thư gan.  Giải thưởng năm nay vô cùng xứng đáng, Ellie Barnes – nhà nghiên cứu về thuốc điều trị gan và miễn dịch học tại trường đại học Oxford, Anh, nhận xét. “Nó nổi bật như một thành quả khoa học lớn lao. Chúng ta có một điểm tựa để điều trị cho những người bị nhiễm bệnh”, bà nói.  Mầm bệnh từ máu  Trong những năm 1970, Alter nghiên cứu về sự lây truyền virus hepatitis là kết quả của việc truyền máu. Các công trình trước đó đã nhận diện được các virus hepatitis A và B nhưng Alter đã phát hiện được một loại thứ ba, cũng gây bệnh qua đường máu – có thể làm lây nhiễm bệnh cho các con tinh tinh.  Houghton, sau đó làm việc tại Chiron Corporation ở Emeryville, California và đồng nghiệp đã nhận diện được con virus nhờ vào nghiên cứu vật liệu di truyền từ những con tinh tinh bị nhiễm, chứng tỏ đó là một dạng mới của RNA trong virus thuộc về họ Flavivirus. Chúng có tên là virus hepatitis C.  Một nhóm nghiên cứu do Rice dẫn dắt tại trường đại học Washington ở St. Louis, Missouri đã sử dụng các kỹ thuật di truyền để phân định đặc điểm phân chia của hệ gene hepatitis C, vốn có vai trò sao chép virus, làm thấy rõ vai trò của nó trong việc gây ra bệnh gan.  Trong thập kỷ qua, những phương pháp điều trị virus này kém hiệu quả đã được thay thế bằng những loại thuốc hiệu quả trong việc trực tiếp kiềm chế nó. Các loại thuốc này có hiệu quả trong việc chữa trị phần lớn trường hợp lây nhiễm virus viêm gan C nhưng chi phí cao khiến chưa thể áp dụng rộng rãi những loại thuốc này tại nhiều quốc gia thu thập thấp và trung bình.  Điều trị đòi hỏi cần có một phác đồ thuốc trong vòng 8 đến 12 tuần, Barnes cho biết.     Virus viêm gan C virus qua kính hiển vi điện tử. Nguồn: Cavallini James/BSIP/SPL  Những khó khăn về vaccine  WHO đã đề ra một mục tiêu để loại trừ virus viêm gan C vào năm 2030, điều mà theo Barnes thì có thể đạt được. Nhưng để thành hiện thực, bà cho biết thêm là có thể cần một loại vaccine.  Quá trình phát triển một vaccine rất chậm chạp, một phần do nỗ lực này ít nhận được đầu tư và cũng do bản chất phức tạp của loài virus này. Di truyền của mỗi dòng virus viêm gan C khác nhau một cách kỳ lạ: Barnes ước tính, virus viêm gan C có sự đa dạng gấp 10 lần HIV, và “tăng vô hạn” hơn nhiều so với coronavirus SARS-CoV-2. Và thật khó để trông nom các ca điều trị lâm sàng trong số đông người bị nhiễm virus viêm gan C virus nặng nhất.  Không vấn đề nào là không thể vượt qua, Barnes lưu ý. “Con virus này đã được khám phá 30 năm trước và chúng ta vẫn chưa có được vaccine,” bà nói. “Chúng ta vẫn có những người bị lây nhiễm và chết vì viêm gan C. Từ góc nhìn này, có thể thấy là câu chuyện vẫn chưa kết thúc.”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02763-x       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nước cam kết chống biến đổi khí hậu      Ngày 22 tháng Tư vừa qua, các nhà ngoại giao từ 167 quốc gia đã tập trung tại New York để bàn thảo cho một bản cam kết về hạn chế biến đổi khí hậu vào tháng 12 tới tại Paris. Việc họ sẽ thực hiện tốt hay không các cam kết này phụ thuộc vào hành động của các quốc gia gây biến đổi khí hậu nhiều nhất trong thống kê dưới đây:      Trung Quốc: Đây là nước phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới, đã cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí carbon dioxide và 20% năng lượng hoá thạch vào “khoảng năm 2030”. Trung Quốc cũng cam kết hạn chế đầu tư công vào các dự án gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí carbon cả ở trong nước và các quốc gia khác. Tuy nhiên, các chuyên gia môi trường nghi ngờ về khả năng thực hiện những lời hứa này.   Mỹ: Mỹ cam kết sẽ cắt giảm lượng khí thải nhà kính 25% vào năm 2025 so với mức phát thải năm 2005. Tuy nhiên, các nhà khoa học và công luận Mỹ đang nghi ngờ về tính pháp lý khi thực hiện cam kết này. Tháng hai vừa qua, toà án tối cao Mỹ đã phải xem xét lại những quy định pháp lý về việc cắt giảm lượng khí phát thải thông qua việc hạn chế các nhà máy nhiệt điện sử dụng than. Trong cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ, các ứng viên Đảng Cộng hoà đã mạnh mẽ chỉ trích bản thoả thuận Paris về cắt giảm phát thải. Theo cuộc thăm dò ý kiến của Gallup vào tháng ba, có 64% người Mỹ rất lo lắng về cách quản lý nguồn tài chính một cách hợp lý trong các dự án giảm sự nóng lên toàn cầu.    Liên minh châu Âu: EU cam kết đầy tham vọng khi hứa giảm ít nhất 40% lượng khí thải vào năm 2030 và hỗ trợ tài chính cho các nước nghèo hơn chống biến đổi khí hậu nhưng thực tế lãnh đạo châu Âu đang bị chia rẽ bởi cuộc khủng hoảng di cư, nước Anh có nguy cơ rời khỏi liên minh và cuộc khủng hoảng tài chính của Hy Lạp.   Ấn Độ: Nước này cam kết tăng lượng phát điện năng lượng Mặt trời lên tới 100GW vào năm 2022 (năm 2015 mới dừng lại ở 3GW). Đồng thời Ấn Độ cũng thoả thuận tăng độ che phủ rừng với một dự án trồng rừng khoảng 6 tỉ USD và đánh thuế gấp đôi lên than đá.   Nga: Trong khi đó, Nga chưa thực hiện bất kỳ một cam kết nào để giảm lượng phát thải. Tổng thống Nga Putin đã đưa ra một bản kế hoạch sẽ giảm 70% lượng khí thải so với năm 1990. Tuy nhiên trên thực tế, nếu so với mốc 1990, chỉ cần duy trì mức phát thải hiện tại thì nước Nga cũng gần đạt được mục tiêu trên. Thách thức lớn nhất với nước Nga lúc này là chưa có các quy định về mặt luật pháp một cách chặt chẽ để giảm phát thải và cần phải hiện đại hoá những công nghệ đã lạc hậu. Mặt khác, rất đông người Nga phản đối kế hoạch này, đặc biệt là người dân ở các khu vực sản xuất than vì họ lo sợ sẽ mất việc khi giảm sản xuất.  Brazil: Quốc gia này cam kết giảm 43% lượng phát thải vào năm 2030 so với mức của năm 2005 và nỗ lực chống phá rừng để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, chính giới Brazil không đạt được sự thống nhất trong thực hiện cam kết này và nước này đang bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế tồi tệ nhất trong vòng 25 năm qua. Suy thoái kinh tế có nghĩa rằng chính phủ sẽ thiếu tiền để đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo để thay thế cho nguồn năng lượng hoá thạch.  Indonesia: Quốc gia được xếp là một trong những quốc gia gây ô nhiễm môi trường lớn nhất thế giới này cam kết cắt giảm 29% khí thải hoặc có thể lên tới 42% vào năm 2030 nếu nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ các nước phát triển đồng thời sẽ ban lệnh cấm chặt phá rừng để lấy đất sản xuất cây cọ dầu vào năm 2017. Các nhà hoạt động môi trường đang chờ đợi thông tin thêm và lo lắng rằng có thể Indonesia sẽ vi phạm những cam kết này như đã từng xảy ra trong quá khứ.   Bảo Như lược dịch theo Nytimes   http://www.nytimes.com/interactive/2016/04/21    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nước phản ứng như thế nào khi số ca lây nhiễm Omicron tăng vọt?      Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu tổng quan tình hình và cách thức ứng phó của các nước từ Đan Mạch đến Hàn Quốc.      Biến thể Omicron đang khiến nhiều quốc gia trên toàn thế giới phải “đau đầu”. Ảnh minh họa: Kim Hong-Ji/Reuters  Để kiểm soát sự lây nhiễm của biến thể Delta thì tiêm phòng vẫn là biện pháp chủ đạo, do đó người ta từng hy vọng tình hình sẽ khá lên vào mùa hè. Tuy nhiên, thực tế lại không như kỳ vọng. Theo các chuyên gia, tỷ lệ tiêm chủng quá thấp, cộng với tính dễ lây lan của biến thể Omicron đang làm thay đổi tình hình đại dịch. Điều này đã thể hiện rõ ở những gì đang diễn ra ở Bắc Âu, khi biến thể Omicron lây lan nhanh chóng ở Na Uy và Đan Mạch. Còn Hàn Quốc, quốc gia vốn từ lâu là hình mẫu trong việc chống dịch, hiện cũng đang phải vật lộn với rất nhiều vấn đề.   Dưới đây là một bức tranh tổng quan về tình hình COVID-19 hiện tại ở một số nước trên thế giới.  Omicron lan rộng ở Bắc Âu  Tại Đan Mạch, số ca lây nhiễm mới do biến thể Omicron đang tăng lên từng ngày, và ngày hôm sau luôn cao hơn ngày hôm trước, mặc dù tỷ lệ tiêm đủ liều vaccine ở nước này đã đạt 81%. Theo cơ quan y tế Đan Mạch, số ca lây nhiễm mới trong hôm thứ ba vừa qua là 8314, tại nhiều địa phương và ngay cả ở thủ đô Kopenhagen số ca mắc mới bình quân 7 ngày đã đạt hơn 1000 ca.   Theo Viện huyết thanh quốc gia Đan Mạch (SSI), ngay trong tuần này Omicron có thể sẽ trở thành biến thể virus chủ đạo. Quốc gia này đã kiểm tra mọi ca dương tính đối với Omicron nên có đầy đủ số liệu, và từ đó có thể giám sát được sự lây lan của biến thể này (truy vết).   Ngay trong tuần trước, chính phủ Đan Mạch đã tăng cường một số biện pháp chống corona, chẳng hạn như các quán ăn, nhậu phải đóng cửa trước nửa đêm, còn các trường học phải thực hiện việc giảng dạy trực tuyến.  Tại Na Uy, số ca lây nhiễm mới hàng ngày còn cao hơn nữa, do đó chính phủ Na Uy đã quyết định thắt chặt các biện pháp phòng chống dịch. Ngành dịch vụ nhà hàng và đồ uống bị cấm bán rượu bia, và những nơi có điều kiện, cần tổ chức làm việc tại nhà. Nhiều người có cảm giác như họ lại đang sống trong một đợt phong tỏa mới. Na Uy ý thức rõ rằng Omicron sẽ còn tăng mạnh, do đó cần thiết phải tăng cường các biện pháp phòng chống dịch.  Trong khi đó, Thụy Điển đi theo một con đường riêng trong cách chống dịch COVID-19 như không thi hành lệnh phong tỏa, do đó hiện số ca lây nhiễm biến thể Omicron cũng đang tăng nhanh.   Số ca mắc mới tăng vọt tại Nam Âu  Biến thể Delta vẫn còn lây lan ở một số nước Nam Âu. Tây Ban Nha và Ý đã phát hiện biến thể Omicron ở mức hai con số, song số lượng mắc chưa nhiều. Tuy nhiên, những quốc gia này thực hiện ít các xét nghiệm hơn, do đó số ca lây nhiễm trong thực tế chắc chắn còn cao hơn nhiều và có lẽ cũng không thua kém Đan Mạch. Số ca lây nhiễm bình quân 7 ngày cũng đang bắt đầu tăng ở Tây Ban Nha.  Trong khi đó, Hy Lạp đã trải qua làn sóng COVID-19 thứ tư từ tháng 11 vừa qua, và từ hai tuần nay số lây nhiễm bình quân trong 7 ngày đã giảm. Tuy nhiên, quốc gia này cũng đã phát hiện biến thể Omicron, trong đó 5 ca nhiễm đầu tiên là những người đã tiêm chủng và ban đầu không có triệu chứng bệnh nặng. Song, số ca tử vong vì COVID-19 ở quốc gia này vẫn cao: mới đây có ngày số ca tử vong lên tới 130 ca – một điều chưa từng có trước đây.  Còn tại Rumani, tình hình lây nhiễm COVID-19 đã giảm nhiều. Trong hai tháng qua, có thời kỳ, Rumani từng điêu đứng vì số ca mắc COVID-19 thuộc vào loại cao nhất thế giới. Hồi cuối tháng 10, mỗi ngày quốc gia này có tới 400 ca tử vong, trong khi tổng dân số của Rumani chỉ khoảng dưới 20 triệu người. Do dịch bệnh, tuổi thọ bình quân ở nước này giảm đi 1,4 năm – mức cao gấp đôi bình quân của 26 quốc gia Châu Âu khác. Hiện tại, số ca tử vong ở Rumani đã giảm còn khoảng 100 ca mỗi ngày và số lây nhiễm mới cũng thấp hơn 1000 ca. Tuy nhiên, Rumani đang chuẩn bị đối phó với làn sóng COVID-19 thứ năm. Các chuyên gia cho rằng thời kỳ tạm lắng hiện nay rồi sẽ qua đi  và có thể dịch sẽ bùng phát trở lại. Nguyên nhân là bởi, tỷ lệ tiêm chủng ở Rumani vẫn còn rất thấp, mới chỉ đạt 40%, và tỉ lệ tiêm đủ liều mới là 25%, thấp nhất châu Âu bên cạnh Bungari.  Hàn Quốc nguy kịch  Trong khi đó tại châu Á, Hàn Quốc đang có nguy cơ bị mất danh hiệu “điển hình tiên tiến” trong chống dịch COVID-19. Thời gian vừa qua, Hàn Quốc đã thực hiện hiệu quả các biện pháp hạn chế lây lan dịch bệnh khi tiến hành truy vết nghiêm ngặt ngay cả khi mới có dấu hiệu của các đợt bùng phát nhỏ lẻ. Nhờ đó, với số dân là 52 triệu người, số ca tử vong vì COVID-19 cho đến nay chỉ khoảng 5000.  Tuy nhiên, tình hình ở Hàn Quốc đang có nguy cơ bị đảo ngược: hiện nay, mỗi ngày nước này có khoảng 100 ca tử vong và có thể còn tiếp tục tăng. Theo đài NHK, hiện tại có khoảng 964 bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch. Đến cuối tuần này, các khoa chăm sóc đặc biệt sẽ đầy kín chỗ. Và mỗi ngày Hàn Quốc vẫn có thêm hàng nghìn ca nhiễm mới.  Trong khi đó, tỷ lệ tiêm chủng ở Hàn Quốc đã đạt trên 80%, dù có sự chênh lệch khá lớn ở các độ tuổi khác nhau. Hiện nay, chính phủ Hàn Quốc đã cho thi hành các biện pháp hạn chế tiếp xúc và tiến hành xét nghiệm nhanh đối với khách hàng tại các quán ăn nhậu và tắm hơi.  Hoa Kỳ dựa vào thuốc chống COVID-19 mới   Tại Hoa Kỳ, số ca mắc mới vẫn tiếp tục tăng cao (hơn 100,000 ca mỗi ngày) và số ca tử vong vì COVID-19 từ đầu dịch đến giờ đã vượt 800.000 người. Tuy nhiên, quốc gia này mới chỉ phát hiện lẻ tẻ một số ca lây nhiễm biến thể Omicron.  Hoa Kỳ chủ trương dựa vào một chế phẩm mới chống corona của hãng dược phẩm Pfizer. Chính phủ Mỹ đã đặt mua 10 triệu liều thuốc này và cho rằng, một khi thuốc được phê duyệt và cung cấp rộng rãi thì quốc gia này có thể đạt một bước tiến quan trọng trong chiến dịch chống COVID-19.  Không có kháng thể bảo vệ  Đã có một số phát hiện mới về nguyên nhân gây ra sự lây lan nhanh chóng của Omicron. Một loạt phòng thí nghiệm ở châu Âu, đã tiến hành các xét nghiệm kháng thể ở trong máu của những người đã được tiêm chủng để xem liệu việc tiêm vaccine có thể “vô hiệu hóa” biến thể mới này hay không. Và kết quả khá đáng buồn, người tiêm hầu như không có kháng thể để chống lại Omicron sau sáu tháng kể từ lần tiêm chủng cuối cùng. Do đó, biến thể mới có thể dễ dàng lây lan ra phần lớn dân chúng.   Dù vậy, mũi tiêm tăng cường vẫn góp phần hạn chế lây nhiễm, do đó việc tiêm mũi nhắc lại vẫn là điều cần thiết và vẫn có tác dụng kiềm chế sự lây lan của Omicron. Đồng thời, những người có nguy cơ chuyển nặng và tử vong cao cũng cần hạn chế các tiếp xúc với người khác. Tuy nhiên, nhà virus học Sandra Ciesek cũng cảnh báo: không nên phụ thuộc quá nhiều vào việc tiêm mũi vaccine tăng cường.  Omicron đã lan rộng và không thể ngặn chặn được nữa  Những ca lây nhiễm đầu tiên của biến thể Omicron ở Nam Phi được biến đến cách đây chưa đầy một tháng, song virus hiện đang lây lan trên toàn thế giới với một tốc độ đáng kinh ngạc. Hôm thứ Hai, các nhà khoa học Anh ước tính số ca nhiễm Omicron mới mỗi ngày là 200.000. Bộ trưởng Y tế Anh Sajid Javid cho biết: “Ở London, đã có 44% tổng số ca bệnh là do biến thể Omicron và chúng tôi lo ngại rằng Omicron sẽ trở thành biến thể thống trị ở thủ đô”.  Cứ hai đến ba ngày số ca lây nhiễm mới ở Anh lại tăng gấp đôi, và số liệu thu thập ở Đan Mạch cũng cho kết quả tương tự. Cho đến nay, Đức chưa có đầy đủ dữ liệu để có thể dự đoán khi nào thì biến thể Omicron sẽ lan rộng tại quốc gia này. Tuy nhiên giới chuyên gia cho rằng, trên cơ sở các dữ liệu của Anh và Đan Mạch thì kết quả này sớm muộn cũng sẽ diễn ra ở Đức.   Theo tính toán mô hình của Anh, khoảng một nửa dân số sẽ bị nhiễm biến thể Omicron trong những tháng tới. Ngay cả khi áp dụg các biện pháp ngăn chặn, các nhà khoa học Anh ước tính sẽ có tới 700.000 ca nhiễm hàng ngày vào thời kỳ cao điểm của làn sóng Omicron.  Đức đang phải đối mặt với làn sóng lây nhiễm lớn nhất tính đến thời điểm hiện tại (khoảng 50,000 ca nhiễm mới một ngày). Đối với Đức, nguy cơ xuất hiện một làn sóng nhiễm biến thể Omicron đang hiện hữu và có thể sẽ còn cao hơn cả các đợt lây nhiễm trước đó.   Trong khi đó, hệ thống miễn dịch của con người dựa trên hai trụ cột: ngoài các kháng thể ngăn virus xâm nhập, còn có các tế bào T có thể giúp con người chống lại việc chuyển. Christoph Neumann-Haefelin, người đứng đầu nhóm Miễn dịch Virus tại Bệnh viện Đại học Freiburg, cho biết: “Điều đáng mừng là phản ứng của tế bào T có thể không bị ảnh hưởng bởi Omicron. Thực tế ở Nam Phi dường như đã khẳng định điều này: so với những đợt lây nhiễm trước, các trường hợp chuyển nặng ít hơn nhiều”, ông nói.  Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo, không thể áp dụng kết quả ở Nam Phi vào hoàn cảnh ở châu Âu bởi dân chúng Nam Phi trẻ hơn nhiều so với Châu Âu, đồng thời số người bị lây nhiễm các biến thể virus corona trước đó ở Nam Phi cũng cao hơn so với Châu Âu. Hiện nay, chúng ta chỉ có thể hi vọng rằng tỷ lệ các ca bệnh nặng khi mắc Omicron sẽ thấp hơn so với trước đây.  Ở Anh cũng đã có các ca chuyển nặng do lây nhiễm biến thể Omicron, tuy nhiên vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá. Người ta cũng chưa biết đối với những người hoàn toàn chưa tiêm vaccine hoặc những người đã khỏi bệnh thì tác động của biến thể Omicron sẽ như thế nào.  Theo chuyên gia Dirk Brockmann, giờ đây không thể chặn đứng sự lây lan của biến thể Omicron được nữa mà chỉ có thể trì hoãn sự lây lan của chúng, và nếu chỉ áp dụng các biện pháp thông thường thì sẽ không thể đánh bại được biến thể Omicron. Do đó, ông kêu gọi, “nếu không muốn bị bất ngờ, chính phủ cần phải đi trước một bước, ngay lúc này phải xây dựng các kế hoạch khẩn cấp cụ thể ngay lập tức”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn:   Corona: So reagieren andere Staaten auf steigende Fallzahlen und Omikron  Omikron-Welle in Deutschland: „Zu stoppen ist das nicht mehr“     Author                Quản trị        
__label__tiasang Các phương hướng công nghệ điện hạt nhân trong tương lai đến (kỳ 1)      Đối với một quốc gia bắt đầu sử dụng điện  hạt nhân (ĐHN) thì thông tin trong bài viết này về những phương hướng  phát triển của ĐHN có thể sẽ có ích cho việc nhận định và phác họa một  kế hoạch dài hạn&#160; về RD và nhất là về đào tạo cán bộ.      Bài viết  này dựa trên tài liệu: Nuclear energy of the future: what research for which objectives? – Năng lượng của tương lai: nghiên cứu gì cho những mục tiêu nào? Commissariat à l’énergie atomique, CEA, Pháp.  Quá trình phát triển công nghệ LPU (Lò phản ứng hạt nhân)  Trên hình 1 là một cây thế hệ (phylum-giống như trong sinh học) biểu diễn mối quan hệ họ hàng giữa các loại LPU dọc theo quá trình phát triển từ thời phôi thai Fermi-Joliot-Curie tại gốc đến những LPU hiện đại của năm 2040.    Hình 1 . Tại gốc ta có hai nhánh chính :các LPU sử dụng uranium thiên nhiên và uranium làm giàu. Sự phối hợp giữa hai nhánh LPU làm chậm bằng chì và tải nhiệt bằng khí mở đường cho các LPU nhiệt độ cao. Một vài nhánh đã « tuyệt chủng »: NUGG vì lý do kinh tế, RBMK vì lý do an toàn.  Lịch sử phát triển LPU     Quá trình phát triển các LPU đi qua 4 thế hệ. Trên hình 2 ta có thể đối chiếu các loại lò tiêu biểu với những năm tương ứng của biên niên sử LPU (hình 2).                Hình 2 . Quá trình phát triển LPU từ những năm đầu tiên đến những năm sau 2030.   Thế hệ IV gồm những năm  sau 2030 đòi hỏi những công nghệ hoàn toàn mới, những ý tưởng mới.Có thể gọi đó là giai đoạn của những bước tiến “cách mạng” đòi hỏi vài thập kỷ để phát triển.  Sáu loại lò mới trong tương lai gần  Năm 2001 Diễn đàn GIF  hay còn được gọi là GEN IV gồm các nước :Argentina, Brazil, Canada, Pháp, Nhật, Hàn quốc, Nam Phi, Thụy sĩ , Anh, Mỹ, the European Union,…đã đề ra ý tưởng về 6 loại LPU cho tương lai đến: SFR, LFR, SCWR, VHTR,GFR &MSR.  Sau đây là sơ đồ của 6 loại lò đó (hình 3, 4, 5).       Hình 3.  Hệ SFR gồm một LPU neutron nhanh (hình bên trái) kết hợp với một chu trình kín để tái xử lý các artinide và tái tạo plutonium.Hệ LFR cũng gồm một LPU neutron nhanh (hình bên phải) kết hợp với một chu trình nhiên liệu kín cho khả năng sử dụng tối ưu uranium     Hình 4. Hai chu trình nhiên liệu được nghiên cứu cho hệ SCWR tương ứng với 2 phương án của hệ: một LPU neutron nhanh (hình bên trái) và chu trình kín để tái xử lý các artinide, một LPU neutron chậm và chu trình nhiên liệu hở. Cả hai đều sử dụng nước trên tới hạn.  VHTR là một hệ làm lạnh bằng khí với một tâm có phổ neutron nhiệt và một chu trình nhiên liệu hở. Hoạt động ở nhiệt độ rất cao (>1000 độ C) (hình bên phải).    Hình 5.  GFR là một hệ với LPU phổ nhanh (hình bên trái) và chu trình tái xử lý artinide. MSR là một hệ có neutron trên nhiệt (epithermal-0,02 đến 100 eV) sử dụng một loại dung dịch muối nấu chảy (UF trong muối) vừa làm nhiên liệu vừa làm chất làm nguội.Hệ GFR có chu trình nhiên liệu kín. Hệ MSR trong phương án MSFR cũng có chu trình nhiên liệu kín.  Những nghiên cứu cho các hệ (LPU và chu trình nhiên liệu) trong tương lai  Những nghiên cứu trong tương lai sẽ dựa trên phương pháp mô hình. Những nguyên lý vật lý có thể là đã biết song điều đó không có nghĩa là vấn đề mô hình là dễ dàng.  Những tiến bộ của các công cụ máy tính có thể giúp thực hiện quá trình này. Đó phải là những chương trình “đa kích thước (multiscale)-từ vi mô đến vĩ mô” giao diện của nhiều lĩnh vực vật lý neutron +thủy nhiệt động học (neutronics và thermohydraulics).  Trong những LPU tương lai vấn đề vật liệu và nhiên liệu là quan trọng vì sẽ gặp phải những điều kiện nghiêm khắc do nhiệt độ cao trong một số thiết kế, do chiếu xạ bởi thông lượng lớn của các neutron nhanh.  Hiện tượng ăn mòn thường bị gia tốc bởi nhiệt độ cao. Riêng vấn đề ăn mòn cũng hình thành một chuyên đề nghiên cứu rất lớn.  Các hư hỏng chiếu xạ trong vật liệu do neutron nhanh khác với hư hỏng chiếu xạ do neutron chậm vì neutron nhanh có thể gây nên những phản ứng hạt nhân.  Những hợp kim chịu nhiệt (refractory) như sứ, composite là những vật liệu ứng viên tốt cho năng lượng hạt nhân.  Vấn đề nhiên liệu cũng sẽ gây nhiều khó khăn vì phải kết hợp các ưu điểm cơ học và nhiệt học dưới tác động chiếu xạ +các ràng buộc hình học (do neutronics quyết định).  Tổ chức Gen IV không những đưa ra những thiết kế tương lai về LPU mà còn lưu ý đến chu trình nhiên liệu. Quá trình tái xử lý và tái sử dụng nhiên liệu phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu.   Vì thế đôi khi ở đây không dùng từ LPU riêng lẻ mà nói đến những hệ (system) để bao gồm cả các LPU lẫn chu trình nhiên liệu. Cho nên các quá trình tách chiết (partitioning – xem chú thích), lưu trữ và chuyển hóa (transmutation – xem chú thích) nhiên liệu trở thành những khâu quan trọng trong R&D.  Chế tạo Hydrogen  Ngoài việc cung cấp điện năng các LPU tương lai sẽ chế tao hydrogen dùng trong công nghiệp, trong sưởi ấm, trong vận tải (thay nhiên liệu xăng dầu).Sử dụng các LPU trong việc song song tạo ra điện năng và hydrogen được mô tả trên hình 6.       Hình 6. Sơ đồ sử dụng các LPU trong việc tạo ra điện năng và hydrogen                                                                                                            (Còn tiếp)          Bảng các chữ viết tắt   ACR = Advanced CANDU reactor  ADS = ADS (Accelerator-driven system), Hybrid spallation-fission system-Hệ lai phá vỡ-phân hạch  AGR = Graphite-gas reactor – LPU graphite-khí   BWR = Lò nước sôi  EPR = European Pressurized Reactor – Lò áp lực châu Âu   FR = Fast reactor – LPU nhanh  GFR = Gas-cooled Fast Reactor – LPU nhanh tải nhiệt khí  GIF = Generation IV International Forum (nuclear reactors) – Diễn đàn quốc tế về các LPU thế hệ IV hay còn được gọi là GEN IV   ITER = International Thermonuclear Experimental Reactor – Tổ chức quốc tế LPU nhiệt hạch  LFR = Lead-cooled Fast Reactor – LPU nhanh tải nhiệt chì  MOX = (Mixed Oxide) Hỗn hợp các oxides U và Pu  MSR = Molten Salt reactor – LPU muối nấu chảy  MSFR = Molten salt fast reactor – LPU nhanh muối nấu chảy  NUGG = Uranium Natural Graphite Gas – LPU U graphite  thiên nhiên-khí  PWR = Pressurized Water reactor – Lò nước áp lực  RBMK=  ”(các chữ cái đầu của tiếng Nga) Reaktor bolchoi mochnosti  kanalnyi-Реактор Большой Мощности Канальный – LPU kênh công suất lớn Nga  (Chernobyl)  SFR = Sodium-cooled fast reactor – LPU nhanh tải nhiệt Na  SCWR = Super Critical Water reactor – LPU nước trên tới hạn  SGHWR = Steam generating Heavy Water reactor – LPU nước nặng tạo hơi  Tokamak”  ( các chữ cái đầu của tiếng Nga) тороидальная камера  магнитными  катушками,Toroidalnaia kamera s magnitnymi katushkami) – Camera hình xuyến  với các cuộn từ   UNGG = Uranium Natural Graphite Gaz – LPU  uranium graphite thiên nhiên              Author                Quản trị        
__label__tiasang Các phương hướng công nghệ điện hạt nhân trong tương lai đến (kỳ cuối)      Trong phần hai của bài viết, chúng tôi đề cập đến những phương hướng phát triển của điện hạt nhân  trong tương lai xa theo các chu trình thorium, hệ lai (hybrid system), tổng hợp nhiệt hạch.     1/ Chu trình Thorium  Thorium (Th232) là một vật liệu cung cấp các hạt nhân phân rã (fertile) rất nhiều trong thiên nhiên.Khi hấp thụ một neutron và sau phân rã phóng xạ sẽ cho Pa 233 sau đó U 233-một đồng vị phân rã (fissile).Hạt nhân sau khi phân hạch tạo ra nhiều neutron hơn U 235 và Pu 239 trong phổ nhiệt.Hệ sử dụng Thorium ít sản xuất ra các nguyên tố siêu-uranium tạo nên chất thải hoạt độ cao.  2/ ADS (Accelerator-driven system) – hệ điều khiển bởi máy gia tốc để chuyển hóa (xem chú thích) chất thải  Trong quá trình sản xuất năng lượng một LPU sản ra nhiều đồng vị nặng (các nguyên tố siêu-uranium nặng hơn uranium) nhiều đồng vị đó có hoạt độ phóng xạ cao và  sống rất lâu.Trong số đó có plutonium có thể tách chiết ra từ các nhiên liệu đã cháy để tái xử lý trong các LPU (chế nhiên liệu MOX). Các nguyên tố khác như neptunium (Np), americium (Am) và curium (Cm) là những chất thải hoạt độ cao và sống lâu  (HLLL-High level long lived waste).  Những đồng vị đó (được gọi là minor actinide-xem chú thích) có thể chuyển hóa trong một LPU gọi là ADS còn được gọi là LPU lai (hybrid reactor). Trong hệ này sự cân bằng neutron trong LPU-một cơ cấu dưới tới hạn được bảo đảm bởi một một nguồn neutron ngoài. Nguyên lý ADS đơn giản:một máy gia tốc cung cấp proton bắn vào bia nằm trong tâm LPU tạo ra những neutron phụ để duy trì cân bằng neutron trong tâm lò dưới tới hạn. Sự sản sinh neutron xuất hiện trong quá trình phá vỡ (spallation).                                          Hình 7.Sơ đồ hoạt động của một ADS và quá trình phá vỡ  3/ Nhiệt hạch  và  ITER   Trong tương lai năng lượng nhiệt hạch là năng lượng lý tưởng nhất vì những lý do sau đây:  –   Không có vấn đề về trữ lượng ( năng lượng này sử dụng deuterium và lithium để tạo ra tritium;các nguyên tố này vô cùng nhiều trong thiên nhiên),  –   Không tạo ra bã thải hoạt độ cao và sống lâu,  –   Không tạo ra khí nhà kính,  –   Một lò nhiệt hạch là an toàn nội tại (plasma sẽ biến mất khi lò làm việc có sai lầm) và không có vấn đề về vật liệu hạt nhân.  Song công nghệ sử dụng nhiệt hạch đối diện với nhiều vấn đề công nghệ đòi hỏi nhiều RD quan trọng để đạt đến sản xuất công nghiệp điện năng.  Nguyên lý sản năng lượng nhiệt hạch là phản ứng tổng hợp hạt nhân (ở nhiệt độ cao,109độ K=1.000.000.000 độ C+273,5):  Trong đó  = deuterium D – một đồng vị của hydrogen, còn  = tritium T – một đồng vị khác của hydrogen. Chú ý =  helium là một hạt nhân bền không phóng xạ.Muốn có phản ứng nhiệt hạch cần có nhiệt độ cao tạo nên plasma của D, T và electron. Cần giam giữ plasma nhờ từ trường trong một khoảng không gian. Hiện nay thiết bị được nghiên cứu nhiều nhất có tên là “tokamak” (Xem hình 8). Tokamak được sáng chế trong những năm 1950 bởi các nhà vật lý Xô viết cũ Igor Tamm và Andrei Sakharov dựa trên ý tưởng của Oleg Lavrentiev.  Dự án ITER nhằm mục đích nghiên cứu về khoa học và công nghệ năng lượng nhiệt hạch (European Union, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc…) để chứng minh rằng có thể dùng phản ứng nhiệt hạch để tạo năng lượng công nghiệp.     Hình 8. Các ion D & T được chuyển động theo các đường của trường (hình bên trái)  Một tổ hợp các cuộn dây tạo ra từ trường mạnh giam giữ plasma D,T&electron (hình bên phải).  Việc chế tạo Tokamak đối diện với những vấn đề R&D lớn trong khoa học và công nghệ. Người ta hy vọng Tokamak sẽ cung cấp năng lượng vào nửa sau thế kỷ 21.  Kết luận  Trong tương lai người ta mong đợi những tiến bộ cơ bản về công nghệ. Cần tiến hành công tác R&D về những LPU loại mới. Sự nghiên cứu các LPU không thể tách rời với việc nghiên cứu các chu trình nhiên liệu. Sự sử dụng năng lượng hạt nhân chỉ bền vững nếu nguyên liệu hạt nhân được tái xử lý- tái chế.  Diễn đàn GEN IV như trên đã nói đã đưa ra 6 ý tưởng về các hệ (LPU) cho công cuộc RD lâu dài trong đó có 4 ý tưởng về hệ chứa “chu trình nhiên liệu kín” (GFR, LFR, MSR & SFR trong đó MSR và SCWR có 2 phương án với chu trình nghiên liệu kín và hở) Vấn đề xử lý chất thải được công chúng rộng rãi quan tâm cũng là một vấn đề nhạy cảm cần được phát triển lên một tầm mức mới với quy mô toàn cầu trong tương lai.    Phòng chân không của LPU Tokamak  Chú thích:  Tách chiết (partitioning) = quá trình hóa học dùng tách chiết các nguyên tố từ các nhiên liệu đã cháy  Actinide = các hạt nhân nặng (với nguyên tử số từ 89 đến 104 đứng sau actinium và có các tính chất giống actinium) hình thành do sự bắt liên tiếp neutron xuất phát từ các đồng vị 235, 238 .Gồm actinides majeurs: U & Pu & actinides mineurs:Np, Am, Cm.  Chuyển hóa (transmutation) = biến một đồng vị phóng xạ sống lâu thành một đồng vị sống ngắn hoặc đồng vị bền          Author                Quản trị        
__label__tiasang Các quốc gia không cắt giảm phát thải  theo mục tiêu Thỏa thuận Paris      Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc vừa công bố một báo cáo cho thấy các nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn sẽ không hoàn thành mục tiêu đề ra trong Thỏa thuận Paris nếu không thực hiện các biện pháp tích cực trong việc cắt giảm phát thải.    Báo cáo chỉ ra rằng, sau 3 năm ổn định, lượng phát thải carbon toàn cầu lại đang gia tăng, khiến mức phát thải dự kiến vào năm 2030 sẽ cao hơn đáng kể so với mức phát thải phù hợp để hạn chế sự nóng lên toàn cầu từ 2oC đến 1.5oC.  Báo cáo chỉ ra, vẫn có một chút cơ hội để thế giới giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2oC còn cơ hội để giữ mục tiêu 1,5oC là rất thấp. Tuy nhiên, nếu không giải quyết được vấn đề “chênh lệch phát thải” thì đến năm 2030, nhiệt độ Trái đất nhiều khả năng sẽ tăng trên 2oC.  Những phát hiện này được công bố ngay sau báo cáo chính của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc, trong đó có cảnh báo về những hậu quả nặng nề do biến đổi khí hậu gây ra trong hàng thập kỷ.  Bà Joyce Msuya, giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc nhận xét, “Báo cáo của IPCC là bước điều tra đột phá mô tả một hiện trạng đáng báo động toàn cầu. Các bằng chứng khoa học cho thấy, để đạt được tham vọng của chúng ta trong mục tiêu khí hậu, chính phủ cần nhanh chóng thực hiện các biện pháp khẩn cấp hơn nữa.”  Báo cáo kêu gọi các quốc gia G-20 nâng mục tiêu giảm phát thải ban đầu của mình gấp 3 lần để đáp ứng mốc 2oC và gấp 5 lần để đáp ứng mốc 1.5oC.  Trong một thông báo báo chí về báo cáo này, nhóm tác giả nhấn mạnh là hiện chưa một biện pháp quyết liệt nào được thực hiện trên quy mô lớn, dù lượng phát thải toàn cầu đã đạt tới mức 53.5 tỉ tấn vào năm 2017 mà không có dấu hiệu suy giảm.   Theo báo cáo, thế giới cần giảm lượng phát thải CO2 xuống mức 19 tỉ tấn vào năm 2030 để loại bỏ mức tăng 2oC. Do đó, tất cả các quốc gia phải giảm mức phát thải, nhưng tác động đáng kể nhất phải đến từ 4 đối tượng có lượng phát thải lớn nhất – Trung Quốc, Mỹ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ, có lượng phát thải khí nhà kính tổng cộng chiếm hơn 56% trong 10 năm qua.  Trung Quốc vẫn đang là nước có lượng phát thải lớn nhất – chiếm 27%, mặc dù có những tín hiệu cho thấy quốc gia này có thể đã gần đạt tới đỉnh điểm phát thải. Trong khi đó, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu chịu trách nhiệm cho hơn một phần năm lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu.  “Nếu có những hành động tích cực, chúng ta có thể đạt được cao hơn mục tiêu đề ra trong Thỏa thuận Paris về mức nhiệt độ 1.5oC”, báo cáo nhấn mạnh. Các chính quyền địa phương, các tổ chức và các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận khác là những đơn vị thích hợp nhất để thực hiện các chương trình hiểu về chống lại biến đổi khí hậu.   Frank Pallone (D – NJ), người đứng đầu Đảng Dân chủ về Ủy ban Năng lượng và Thương mại (Mỹ), tuyên bố, chính quyền Tổng thống Donald Trump đang phá hoại các nỗ lực của Mỹ để chống lại biến đổi khí hậu và giảm lượng khí thải carbon.  Ông cho biết: “Nếu không kiểm soát lượng khí thải carbon, chúng ta sẽ phải chịu đựng những hậu quả khí hậu nặng nề hơn nữa so đang phải gánh chịu.” và cũng bổ sung thêm “Mỹ có khả năng và nên trở thành nước đi đầu trong việc phát triển nền kinh tế theo hướng sạch hơn, bền vững hơn.” ¨  Cẩm Tú dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2018/11/nations-falling-short-emissions-cuts-set-paris-climate-pact-analysis-finds     Author                Quản trị        
__label__tiasang Các quốc gia mở đều  có nền khoa học mạnh      Điều gì làm nên sức mạnh khoa học của một quốc gia? Caroline S. Wagner và Koen Jonkers đã tìm thấy mối tương quan rõ ràng giữa tầm ảnh hưởng khoa học của một quốc gia và các mối liên kết mà nó tạo ra với các nhà nghiên cứu quốc tế.      Anh là một trong số những quốc gia có tính mở cao và có nhiều nghiên cứu có ảnh hưởng cao. Nguồn: Weizmann UK.  Signe Ratso, phó tổng giám đốc Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Hội đồng châu Âu còn đi xa hơn khi trả lời Science|Business trong hội nghị thường niên vào ngày 4/6/2018, ông gọi hợp tác quốc tế trong nghiên cứu là “một công cụ của quyền lực mềm”, ví dụ việc châu Âu thiết lập chương trình nghiên cứu châu Âu Horizon cũng là cách ủng hộ chính sách thương mại và phát triển của châu Âu.  Tăng cường đầu tư cho R&D có phải là tất cả?  Các dự án quốc tế chiếm ít nhất 20% kinh phí đầu tư cho khoa học của một quốc gia, ở một số quốc gia, con số này lên tới 50%. Số lượng các bài báo có đồng tác giả là những nhà nghiên cứu quốc tế tăng nhanh trong những năm gần đây. Theo tính toán của hai nhà nghiên cứu Caroline S. Wagner và Koen Jonkers, trong vòng 20 năm, số lượng này đã tăng gấp đôi. Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều quốc gia đang tham gia thiết lập các mối quan hệ quốc tế. Bằng chứng là các công trình nghiên cứu có thêm nhiều địa chỉ của các tác giả thuộc ít nhất hai quốc gia. Với những quốc gia hàng đầu thế giới, phần các công trình “chỉ dựa vào nội lực” đang suy giảm.  Vậy điều này đã đủ căn cứ chứng minh tác động của hợp tác quốc tế với nghiên cứu khoa học? Để làm rõ hơn vấn đề này, Caroline S. Wagner và Koen Jonkers đã phân tích dữ liệu về công bố và trích dẫn cũng như mức đầu tư cho khoa học của 36 quốc gia.  Vào năm 2016, họ đã hợp tác với Jeroen Baas, nhà khoa học phụ trách về dữ liệu của Elsevier, nhà xuất bản điều hành cơ sở dữ liệu trích dẫn Scopus, để kiểm tra gần 2,5 triệu công trình quốc tế đã được xuất bản vào năm 2013 trên mọi lĩnh vực và có giá trị trích dẫn trong vòng ba năm. Họ phân tích dữ liệu này dựa trên số lượng công bố quốc tế và chỉ số trích dẫn có trọng số riêng theo  từng ngành (field-weighted citation index) – tỷ lệ giữa các trích dẫn trên thực tế từ các công bố quốc tế và số lượng trích dẫn trung bình từ toàn bộ công trình quốc tế tương tự khác – được phân bổ cho các quốc gia dựa trên vị trí của tác giả trong công trình (vì vậy trong trường hợp 2/3 tác giả trên một công bố thuộc Anh hoặc 1/3 thuộc Singapore thì tỷ lệ này được áp dụng để xác định sự đóng góp của hai quốc gia với bài báo).  Ngoài yếu tố hợp tác quốc tế, các nhà nghiên cứu cho rằng tính cơ động của các nhà khoa học cũng là yếu tố ảnh hưởng. Ví dụ một nhóm tác giả trên Nature đã phân tích số liệu từ 14 triệu bài báo của gần 16 triệu nhà khoa học xuất bản từ năm 2008 đến năm 2015 và nhận thấy, dù làm việc ở vùng đất hay quốc gia nào thì các nhà khoa học có nhiều mối quan hệ quốc tế đều có xu hướng được trích dẫn nhiều hơn so với đồng nghiệp không cơ động của họ. Vì thế, Caroline S. Wagner và Koen Jonkers đã xem xét cả những nhà nghiên cứu mới đến, các nhà nghiên cứu di cư và những người trở về quê hương trong tài liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Các yếu tố này cũng chứng tỏ giữ một vị trí quan trọng trong mối quan hệ với độ mở trong khoa học của một quốc gia.    Việc phân tích dữ liệu này đem lại một số kết quả thú vị: Nếu xét về số lượng các bài báo thì Mỹ và Trung Quốc hoàn toàn chiếm ưu thế nhưng nếu xét về số lượng “những bài báo quốc tế” – bài báo có tác giả đa quốc gia, thì Mỹ vẫn dẫn đầu, tiếp theo là Anh, thứ ba mới là Trung Quốc, và tiếp sau là những quốc gia khác như Đức, Pháp và Canada. Khi xét đến tỷ lệ phần trăm đóng góp của các quốc gia trong những bài báo có tác giả thuộc nhiều quốc gia thì Thụy Sĩ là nơi có nhiều kết nối khoa học với nhiều quốc gia nhất với tỷ lệ 42%, tiếp theo là Bỉ 38%, Singapore 37%, Áo 36% và Đan Mạch, Hà Lan và Thụy Điển cùng 34%. Nếu xét đến tác động của các bài báo “đa quốc gia” thì Singapore vượt qua cả Mỹ, sau hai quốc gia này lần lượt là Thụy Điển, Bỉ, Thụy Sĩ và Hà Lan (Trước đó, trong một công bố dựa trên dữ liệu xuất bản trong vòng 20 năm từ 1990 đến 2011 trên PLOS năm 2015, Caroline S. Wagner và đồng nghiệp cũng phát hiện ra xu hướng: các bài báo “đa quốc gia” được trích dẫn nhiều hơn các bài báo có tác giả  từ một quốc gia).  Khi đánh giá mối tương quan giữa việc đầu tư cho R&D của chính phủ (theo dữ liệu của OECD và Eurostat – văn phòng thống kê của EU) và độ mở của nền khoa học của các quốc gia nhỏ, Caroline S. Wagner và Koen Jonkers đã sử dụng các phân tích về hệ số tương quan Pearson (Pearson correlation) để so sánh định lượng trên diện rộng, như so sánh công bố quốc tế của Mỹ với Singapore. Họ nhận thấy ngân sách chi cho R&D có mối quan hệ chặt chẽ với số lượng công bố: kinh phí đầu tư càng lớn thì số bài báo càng nhiều (tính cả bài báo một tác giả, đồng tác giả và có tác giả quốc tế), tuy nhiên mối liên quan giữa đầu tư ngân sách và ảnh hưởng của bài báo lại ở mức thấp. Điều đó cho thấy, việc đầu tư cho R&D của chính phủ chưa chắc đã đem đến những bài báo được nhiều trích dẫn hơn.  Mối tương quan giữa tính mở và trích dẫn của các công trình hết sức chặt chẽ, điều này không phụ thuộc kinh phí đầu tư cho R&D hay tổng số bài báo được xuất bản. Singapore, Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển và Đan Mạch là những quốc gia có tính mở cao và có nhiều nghiên cứu có ảnh hưởng cao. Họ dường như được “hưởng lợi” nhiều nhất từ việc có thêm nhiều nhà khoa học ngoài quốc gia tham gia nghiên cứu thông qua việc thiết lập mối hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó thì Nga, Thổ Nhĩ Kỳ hay Ba Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Latvia, Lithuania, Czech và Hàn Quốc – trái ngược với chờ đợi bởi tỷ lệ đầu tư cho R&D tính theo GDP của Hàn Quốc cao hơn hầu hết các quốc gia khác, trong đó có cả Mỹ – lại là những quốc gia có tính mở thấp và ảnh hưởng thấp.  Trong số 33 quốc gia mà các nhà nghiên cứu khảo sát thì chỉ có 4 quốc gia tuy có điểm số cao về ảnh hưởng khoa học nhưng lại có độ mở thấp hơn nhiều quốc gia khác, như Mỹ, Ý, Tây Ban Nha và Phần Lan và chỉ có hai quốc gia là Hungary và Mexico là ngược lại, độ mở cao và ảnh hưởng thấp.  Độ mở trong chính sách khoa học  Nghiên cứu của Caroline S. Wagner và Koen Jonkers cho thấy độ mở của quốc gia liên quan chặt chẽ đến ảnh hưởng khoa học. Ví dụ châu Âu là nơi có nhiều học bổng và có chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế. Các quốc gia EU đều triển khai các biện pháp tăng cường hệ thống nghiên cứu trong nước cùng với việc thúc đẩy mối hợp tác quốc tế. Các chương trình Khung EU được thiết lập cũng vì mục tiêu đó và một trong những mục đích hiện nay trong chính sách nghiên cứu của EU là tạo điều kiện để “mở với thế giới” nhiều hơn.  Việc phân tích trích dẫn trong công trình khoa học của các quốc gia EU cho thấy họ mở rộng ảnh hưởng của mình nhiều hơn Mỹ và cùng với Mỹ, ảnh hưởng về khoa học của họ lớn hơn Trung Quốc, dẫu cho các bài báo có sức ảnh hưởng cao của cường quốc khoa học châu Á này đang tăng lên nhanh chóng. Một số quốc gia khác có chính sách khuyến khích độ mở trong nghiên cứu cũng có được sự ảnh hưởng cao, ví dụ như Singapore và Australia.  Mặc dù có một số ý kiến cho rằng bài báo được trích dẫn nhiều không đồng nghĩa với chất lượng hay tầm quan trọng nhưng nó cũng cho thấy sự ghi nhận và bắt nhịp với đời sống nghiên cứu quốc tế. Nhờ đó, những quốc gia có công trình được nhiều trích dẫn cũng thấy được sự chú ý của cộng đồng khoa học quốc tế với nghiên cứu của mình.  Vậy làm gì để các quốc gia có thể duy trì độ mở trong chính sách khoa học và khuyến khích hợp tác quốc tế? Jonathan Adams, cựu giám đốc đánh giá nghiên cứu của Thomson Reuters và cố vấn quản lý nghiên cứu của  thành phố Leeds, Anh cho rằng, các chính phủ có thể tập trung vào ba vấn đề:  Thứ nhất, trong thời đại Dữ liệu lớn được chia sẻ rộng rãi, lợi thế thuộc về ai có đủ kỹ năng để khai thác tri thức chứ không phải là ai sở hữu chúng. Và sự khan hiếm các nhà nghiên cứu có thể dẫn đến “cuộc chiến toàn cầu để tranh giành tài năng”. Vì vậy các chính phủ cần cung cấp và bảo đảm các điều kiện tốt nhất để thu hút và hỗ trợ các nhà khoa học xuất sắc, nếu không các tài năng khoa học sẽ tìm đến những nơi biết trọng dụng họ.  Thứ hai, ưu đãi của chính phủ phải đủ khả năng đưa các trường đại học gia nhập các mạng lưới hợp tác quốc tế. Ví dụ các dự án cần nhiều tổ chức tham gia có thể được công nhận trong các hệ thống đánh giá chất lượng nghiên cứu (như Khung Nghiên cứu xuất sắc của Anh-UK Research Excellence Framework). Việc hiểu thấu đáo nghiên cứu đang triển khai của các nền kinh tế mới nổi sẽ bị hạn chế nêu thiếu sự gắn kết và hợp tác thiết thực. Từ lâu, chúng ta đã biết, chỉ trông cậy vào việc hợp tác làm ra những bài báo sẽ không tạo ra hiệu quả trong chuyển giao tri thức.  Thứ ba, hợp tác cần được thực hiện giữa các nhà khoa học châu Âu, Mỹ với các đồng nghiệp ở các phòng thí nghiệm châu Á và Nam Mỹ. Các nền kinh tế già cỗi không chỉ phụ thuộc vào việc chào đón các nhà khoa học nước ngoài xuất sắc đến phòng thí nghiệm của mình nữa. Việc duy trì một lượng nhà khoa học tài năng là cần thiết nhưng chưa đủ, cần phải có nhiều chương trình trao đổi học giả. Hà Lan đã đạt được thành công là nhờ tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu của họ cơ động hơn, dù nguồn kinh phí đầu tư cho nghiên cứu thấp hơn Anh và Mỹ.     Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn:  https://www.nature.com/news/open-countries-have-strong-science-1.22754#/graph2  http://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0131816#pone-0131816-t001  https://www.nature.com/articles/497557a  https://www.nature.com/news/scientists-have-most-impact-when-they-re-free-to-move-1.22730#/b2  http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20180622142453538  Lo ngại về tính mở thay đổi   Tiêu chí “Mở với thế giới”, một trong ba trụ cột của chương trình nghiên cứu châu Âu Horizon Europe trong 4 năm qua đã bị thay đổi (hai trụ cột còn lại là Khoa học mở và Đổi mới mở). Theo quy định mới, từ năm 2021, “các quốc gia thứ 3” không thuộc EU như Canada, Nhật Bản và Nam Phi sẽ phải có đóng góp để được tham gia Horizon Europe, ngược lại họ sẽ có một thỏa thuận tự do thương mại với châu Âu và một thỏa thuận theo chương trình đặc biệt (programme-specific agreement). Vì thế, với lợi thế thu được tương đương với những gì phải đóng góp, các quốc gia này sẽ giữ được sự cân bằng về kinh phí.  Khoản ngân sách dành cho những nghiên cứu giữa các quốc gia EU với các quốc gia ngoài EU đang sụt giảm khi chỉ còn 2,5% ngân sách chung trong Horizon 2020, trong khi Chương trình Khung 7 trước đây ghi là 4.3 %. Thay đổi này khiến các nhà khoa học châu Âu lo ngại sẽ làm giảm sự kết nối với các nhà khoa học tài năng ngoài EU. Hiện nay, 73% công bố quốc tế, 70% bằng phát minh, sáng chế đều thuộc về các tác giả ngoài EU.  Maryline Maillard, cố vấn KH&CN của Thụy Sĩ tại EU cho rằng nếu EU quyết định áp dụng các quy định mới thì “tiêu chí phải rõ ràng, minh bạch và công bằng” và “chỉ nên áp dụng trong các trường hợp đặc biệt.” Theo quan điểm của bà, không nên hạn chế sự tham gia của những quốc gia khác, ví dụ nhiều nước châu Phi hay châu Á mong muốn tham gia vào các chương trình nghiên cứu của EU nhưng bị hạn chế bởi nguồn lực đầu tư và vì vậy EU sẽ lỡ cơ hội kết nối với nhiều nhà khoa học tài năng. Alexander Cooke – cố vấn Khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghiệp của Australia tại EU, quốc gia bị ảnh hưởng vì quy định mới, nhấn mạnh đến việc EU cần nhận thấy sự tham gia của họ là cần thiết cho một dự án khoa học, do đó cần phải xác định tiêu chí là “quốc gia có khả năng xuất sắc trong khoa học” hoặc “nền khoa học có nhiều ảnh hưởng”…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các sao Maia xuất hiện trở lại      Các nhà thiên văn học Thụy Sĩ cho rằng họ đã quan sát  thấy những đại diện của “sao Maia”, vốn chỉ được biết đến trên giả  thuyết từ trước đến nay.      Trong quần tinh mở (hay còn gọi cụm sao mở) NGC 3766 thuộc chòm sao Bán Nhân Mã (tiếng La tinh: Centaurus), một nhóm các nhà thiên văn học Thụy Sĩ đã phát hiện ra các sao có độ sáng giao động với mức độ vài phần nghìn, theo chu kỳ từ 2 đến 20 giờ. Những đối tượng mới quan sát được này không thuộc lớp những sao có độ sáng biến đổi nào đã biết từ trước đến nay. Có thể phỏng đoán rằng, chúng thuộc các sao Maia, đến nay mới chỉ được biết đến trên lý thuyết.  Ngay từ những năm 1950, nhà thiên văn học Otto Struve đã phỏng đoán về một lớp các sao biến đổi độ sáng mà giao động độ sáng của chúng rất nhỏ, với chu kỳ vài giờ đồng hồ. Những quan sát về sao Maia trong quần tinh mở của chòm sao Tua rua cho thấy cơ sở của giả thuyết này. Những phép đo phổ trên Maia và một ứng viên khác trong quần tinh mở của chòm Tiểu hung tinh chứng tỏ có một sự nhấp nháy với chu kỳ vài tiếng đồng hồ. Nhưng chỉ hai năm sau, năm 1957, Struve đã tự bác bỏ học thuyết của chính mình – nhưng câu hỏi liệu có tồn tại ngôi sao Maia hay không vẫn còn bỏ ngỏ. Các nghiên cứu trong những thập kỷ sau đó vẫn không đưa ra được câu trả lời dứt khoát.  Nami Mowlavi cùng nhóm nghiên cứu của mình ở trường Đại học Geneva (Thụy Sĩ) đã đo đạc một cách hệ thống tính chất của sự biến đổi độ sáng trên chùm NGC3776 này. Họ đã sử dụng kính viễn vọng Euler của Thụy Sĩ tại đài quan sát La Silla của đài thiên văn Châu Âu ở bán cầu Nam đặt tại Chile. Các nhà nghiên cứu đã đo độ sáng của hơn 3.000 ngôi sao trong thời gian bảy năm. Nhờ độ nhạy cao của các phép đo và với sự trợ giúp của các phép phân tích dữ liệu phức tạp, các nhà khoa học đã lọc ra được 36 sao có sự giao động độ sáng rất nhỏ.  “Liệu những sao này có đúng là các sao Maia không?”, nhóm nghiên cứu tỏ ra thận trọng: “Chúng tôi nghĩ rằng, một lớp mới các sao có độ sáng biến đổi đã được phát hiện và ít nhất một vài sao trong số đó đã được bàn thảo trong các tài liệu trước đây.”  Các nhà khoa học giờ còn cần phải trả lời những câu hỏi mới về cơ chế nào tạo nên sự nhấp nháy yếu của những ngôi sao này. Một ý kiến cho rằng, có một vài nhôi sao quay nhanh hơn tốc độ quay trung bình: Tốc độ quay của chúng đạt gần đến mức giới cho phép, mà ở đó chúng vẫn còn có thể ổn định, tức là vật chất của chúng không bị mất đi. Mowlavi phỏng đoán rằng, sự quay nhanh của các các hành tinh này ảnh hưởng đến trạng thái bên trong nó. Nhưng mối liên hệ giữa sự quay nhanh và biến đổi độ sáng của các hành tinh này vẫn chưa được giải quyết.  Diệu Hoa dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Các siêu dây có thể gây ra những tạp âm cho bản giao hưởng vũ trụ      Các nhà nghiên cứu Đại học Washington (UW) tin rằng họ có khả năng phát hiện ra các sóng phát ra từ những cấu trúc kỳ lạ được gọi là các siêu dây vũ trụ. Các lý thuyết dây đôi khi vẫn bị phê phán là không thể kiểm nghiệm được hoặc thậm chí là phi khoa học nhưng một số phiên bản được “nâng cấp” của chúng bây giờ đã có thể tiên đoán được những đặc tính đáng chú ý với những hiệu ứng quan sát được.    Đó là sự tạo thành các siêu dây vũ trụ, chúng là những “ống nhỏ” năng lượng sinh ra từ thời điểm ban đầu của vũ trụ và dãn nở thành những chiều dài khổng lồ cùng với sự dãn nở của vũ trụ, nhà vũ trụ học Craig Hogan của UW nói.  Nếu những lý thuyết này là đúng, sẽ có vô số những siêu dây vũ trụ tạo nên các “màng cao su” có kích cỡ một thiên hà. Các dây này có thể tạo thành các vòng “lắc lư”, chúng phát ra các sóng hấp dẫn khi phân rã, và cuối cùng chúng biến mất.      “Chúng quá nhẹ để có thể ảnh ưởng đến cấu trúc vũ trụ, nhưng chúng tạo ra các sóng hấp dẫn khi phân rã”, Hogan nói. Trong khi một số loại sóng hấp dẫn có tần số cao đến mức mà về lý thuyết con người không thể “nghe” được thì lại có nhiều nguồn hấp dẫn có tần số rất thấp, dưới ngưỡng nghe của con người khoảng từ 10 đến 20 quãng tám.  “Những khối lượng lớn thường di chuyển chậm nên chúng là những nguồn có tần số thấp,” ông nói. “Nếu thu được những dao động này, chúng ta sẽ có thêm âm thanh cho những hình ảnh thiên văn đẹp đẽ. Từ trước tới giờ, chúng ta vẫn chỉ xem một bộ phim câm”.  Một thiết bị quan sát gọi là  Laser Interferometer Space Antenna (Antenna Không gian Giao thoa Laser) đang được xây dựng, dùng để thực hiện những phép đo đầu tiên đối với các sóng hấp dẫn tần số cực thấp. Ngoài các nguồn được mong đợi như các sao đôi và các lỗ đen, những tín hiệu thu được có thể bao gồm cả bằng chứng đầu tiên về các siêu dây vũ trụ…”. Như vậy, chúng ta sẽ có bằng chứng thực sự về sự tồn tại của những siêu dây”, Hogan nói.  Một chương trình trên mặt đất tên là Laser Interferometer Gravitational-Wave Observatory cũng đang nỗ lực để quan sát sóng hấp dẫn, nhưng nó đang tìm ở những tần số cao hơn mà Hogan tin là của các siêu dây. Chúng khó phát hiện hơn nhiều vì bị lẫn trong tiếng ồn của nền vũ trụ. “Những cái dây, nếu chúng tồn tại, chúng sẽ là một phần của tiếng ồn đó, nhưng chúng tôi muốn nghe ở những tần số thấp hơn và sẽ cố gắng phát hiện ra chúng”, Hogan nói.  Nguồn: University of Washington      Author                Quản trị        
__label__tiasang Các siêu dự án của Ấn Độ: Tham vọng và những rào cản      Bộ Năng lượng nguyên tử Ấn Độ (DAE) và Bộ KH&CN Ấn Độ mới đây đã triệu tập 70 nhà khoa học để bàn bạc về 10 siêu dự án khoa học đa quốc gia mà quốc gia này sẽ tham gia.      Dự án LIGo Ấn Độ sẽ đi vào hoạt động vào năm 2030. Nguồn: The Hindu  Những tham vọng lớn  Suốt thập kỷ qua, chính phủ quốc gia này ngày càng đặt cược vào những siêu dự án đa quốc gia. Họ muốn có một chỗ ngồi ở “chiếu trên” của khoa học toàn cầu. mặc dù chính quyền của ông Narendra Modi đã nhận được những ồn ào không cần thiết về vụ ghép đầu của Ganesha và Pushpak Viman nhưng trên thực tế, họ cũng có một số bước tiến quan trọng trong việc đưa Ấn Độ lên bản đồ thế giới.  Năm 2017, Ấn Độ đồng ý xây dựng một đài quan sát Sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế (LIGO) tại Ấn Độ và tham gia vào dự án LIGO toàn cầu. Trước đó năm 2016, Ấn Độ trở thành thành viên liên kết của dự án CERN – phòng thí nghiệm về vật lý hạt và vật lý hạt nhân lớn nhất thế giới đặt tại Thụy Sĩ. Năm 2015, họ trở thành thành viên chính thức của SKA – dự án xây dựng kính viễn vọng vô tuyến lớn nhất thế giới. Từ dự án nhiệt hạch ITER ở Pháp đến dự án FAIR (để nghiên cứu tiến hóa của vũ trụ), từ dự án hệ gene ung thư đến khám phá đại dương, họ đang gia tăng tầm quan trọng của mình khi xuất hiện trong những dự án khoa học đầy tham vọng của thế giới.  Tham vọng khoa học của Ấn Độ được tiếp sức bởi hai xu hướng – một từ bên ngoài và một từ thôi thúc của chính họ. Các siêu dự án khoa học ngày nay nhằm mở rộng biên giới của khoa học đã trở nên tốn kém, đòi hỏi sự đầu tư về nguồn nhân lực, kinh phí… – điều đó gây khó khăn cho bất cứ cường quốc khoa học nào.  Ví dụ dự án Global Virome mới được loan báo vào đầu năm nay phải quy tụ các nhà khoa học từ khắp thế giới để cùng hợp tác nghiên cứu về các virus gây chết người và dẫn đến sự bùng phát của các đại dịch như Ebola, SARS và Zik. Việc thiết lập các siêu dự án với sự tham gia của nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu sẽ hạn chế được rủi ro và những kết quả không xác định cho bất cứ quốc gia đơn lẻ nào.  Xu hướng thứ hai là sự chuyển hướng của những tham vọng từ Ấn Độ. Nền kinh tế Ấn Độ trị giá 2,6 nghìn tỷ USD giờ đây đứng ở hạng 6 thế giới đang mơ ước vươn đến những vì sao, bất kể một số vấn đề còn tồn tại như đói nghèo, suy dinh dưỡng và một số vấn đề xã hội khác. Họ muốn đưa con người lên các chuyến bay vào không gian và nghiên cứu vũ trụ và thúc đẩy sáng tạo, trong khi một số dự án không gian chỉ cho phép sử dụng miễn phí các vệ tinh truyền thông với các quốc gia thuộc khối SAARC. “Nhiều thách thức lớn (những dự án khoa học lớn) mang đến cả danh tiếng và sự thịnh vượng cho quốc gia. Với một quốc gia, cả hai yếu tố này đều rất quan trọng”, Mashelkar nhấn mạnh.  Sự tụt hậu của các viện nghiên cứu  Các giấc mơ siêu dự án của Ấn Độ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản. Các dự án khoa học thường đòi hỏi tư duy dài hạn với ít kết quả phía trước trong khi các viện nghiên cứu Ấn Độ và các nhà nghiên cứu của nó vẫn có độ trễ so với những viện nghiên cứu hàng đầu thế giới như MIT và Caltech về năng lực. Sự thiếu hụt của tư duy phản biện và một nền văn hóa nhiều giai tầng là vấn đề chính.  “Các giấc mơ ngày một lớn hơn nhưng con người và cơ chế vận hành các viện nghiên cứu vẫn còn nhiều cái cũ”, một nhà nghiên cứu ẩn danh cho biết. Nó giống như việc gắn các giấc mơ lớn ở quy mô toàn cầu ở thế kỷ 21 vào các viện nghiên cứu vẫn còn ở trong thế kỷ 20 và đã quen với tư duy nhỏ hẹp và bị các quan điểm quan liêu dẫn dắt.  Phần lớn các dự án như vậy ở các quốc gia phát triển như Mỹ đều được một đội ngũ quản lý riêng của dự án và do một CEO toàn tâm toàn ý thực hiện. Trong khi đó ở Ấn Độ, dự án được một ủy ban điều hành gồm những người được lựa chọn từ các viện nghiên cứu và các vị giám đốc sắp đến tuổi nghỉ hưu sẽ đảm trách các dự án có thời hạn 10 đến 15 năm.  Phần lớn các siêu dự án do DAE và ISRO (Tổ chức nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ) quản lý hoặc cấp vốn còn gặp phải các rào cản ngoại giao và visa. Nhãn hiệu năng lượng nguyên tử trên các dự án này đã làm gia tăng những vấn đề về mặt an ninh cho các thành viên của dự án khi di chuyển trong và ngoài nước. Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân lớn nhất của khó khăn mà dự án đài quan sát neutrino (INO) ở Tamil Nadu gặp phải là do DAE phụ trách chứ nó không liên quan gì đến năng lượng hạt nhân. Tại Mỹ, kinh phí được cấp thông qua Quỹ khoa học quốc gia NSF.  Hiệu ứng đa chiều    Phần đóng góp của Ấn Độ chiếm 3,5% trong số 2 tỷ USD của dự án FAIR. Nguồn: indiatimes  Với một quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, các siêu dự án này giúp nhiều cho các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và toàn bộ nền sinh thái vươn tới một quỹ đạo cao hơn. Hãy nhìn vào dự án Kính viễn vọng sóng vô tuyến GMRT, nó đã giúp các nhà khoa học Ấn Độ khám phá ra các ngôi sao pulsar mới và xuất bản 40 bài báo trên các tạp chí danh tiếng.  “Nó làm tăng chất lượng khoa học trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Ấn Độ”, Gupta của Viện nghiên cứu khoa học cơ bản Tata (TIFR) cho biết. Làm việc với các đồng nghiệp xuất sắc nhất thế giới trong các dự án tiên tiến đem lại cơ hội thúc đẩy các nhà khoa học Ấn Độ bước vào mạng lưới toàn cầu. Nó giúp nâng cấp các phòng thí nghiệm, đem họ đến với những công nghệ mới và trao cơ hội truy cập vào các bộ dữ liệu có giá trị.  Các công ty spinoff về công nghệ và thương mại là điều dễ nhận thấy từ hiệu quả của các dự án này. “Các dự án nghiên cứu không chỉ tốt cho các thành viên mà còn mang lại lợi nhuận và sinh lời”, Anand Deshpande chủ tịch Persistent Systems – một công ty về dịch vụ IT của Ấn Độ, đã tham gia nhiều dự án về thiên văn nhận xét. Một khoản kinh phí lớn – trong trường hợp dự án SKA, lên tới 70% sẽ được giải ngân ở Ấn Độ.  Bên cạnh những bằng sáng chế mới, các dự án như vậy sẽ đem lại cơ hội tập huấn và cả cơ hội thể hiện mình của các nhà khoa học. “Khoa học thường xuyên là một cuộc cạnh tranh của các bộ óc muốn chinh phục các vùng đất mới”, Anurag Agrawal – giám đốc Viện nghiên cứu Sinh học hệ thống và hệ gene quốc gia, nhận xét.  Các siêu dự án nghiên cứu Ấn Độ tham gia: 1. LIGO: 1.200 nhà khoa học trên toàn thế giới tham gia, Ấn Độ có 91 người, trong đó 40 là đồng tác giả của công trình gồm 1.000 người, giúp đem lại giải Nobel Vật lý 2017.Ấn Độ đóng góp triệu USD trong tổng kinh phí 950 triệu USD; 2. SKA: 12 quốc gia tham gia. Nhiều nhà khoa học nhiều công ty Ấn Độ đã tham gia thiết kế hệ quản lý – bộ não và trung tâm thân kinh của đài quan sát này. Ngoài ra, Ấn Độ đóng góp 6 đến 10% trong tổng số 700 triệu bảng Anh; 3. ITER: gồm 7 quốc gia tham gia, kinh phí từ chỗ dự kiến 5 tỷ USD đến 40 tỷ USD và dự kiến kết thúc vào năm 2030. Ấn Độ đóng góp 9,1%; 4. Kính thiên văn TMT 30m, Ấn Độ đóng góp 213 triệu USD vào tổng kinh phí 1,47 tỷ USD. Nhiều công ty Ấn Độ, bao gồm General Optics, Avasarala Technologies và Godrej tham gia; 5. FAIR: Phần đóng góp của Ấn Độ chiếm 3,5% trong số 2 tỷ USD.  Thanh Nhàn dịch từ https://economictimes.indiatimes.com/articleshow/65545547.cms?utm_source=contentofinterest&utm_medium=text&utm_campaign=cppst  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các “siêu tạp chí” mất động lực tăng trưởng      Mới xuất hiện chỉ trong khoảng mười lăm năm qua nhưng các “siêu tạp chí” (mega journal) đa ngành có số lượng xuất bản lớn từng cho rằng sẽ làm thay đổi thị trường xuất bản khoa học. Tuy vậy, căn cứ trên ba khía cạnh chính: số lượng xuất bản, mối liên kết tới những kết quả đột phá trong khoa học và tốc độ xuất bản một số nghiên cứu về xuất bản trên các tạp chí này lại cho thấy các “siêu tạp chí” đang mất đi đà phát triển như lúc đầu kỳ vọng.      Khi PLOS ONE ra mắt vào năm 2006, những người sáng lập tuyên bố nó sẽ thay đổi ngành xuất bản ấn phẩm khoa học. Đây là siêu tạp chí đa ngành, số lượng xuất bản lớn và truy cập mở đầu tiên giúp công bố các công trình khoa học mà không quá đặt nặng tính mới. Năm năm sau, Peter Binfield, ông chủ tờ báo dự báo: năm 2016, 50% tổng số bài báo khoa học sẽ xuất hiện trong 100 siêu tạp chí như vậy.  Đặt trụ sở tại thành phố San Francisco, bang California (Mỹ), PLOS ONE đã phát triển trở thành tạp chí lớn nhất thế giới, ở thời kỳ đỉnh cao vào năm 2013 đây là nơi công bố của hơn 30.000 bài báo và kéo theo sự ra đời của hơn một chục tạp chí “ăn theo”. Nhưng các siêu tạp chí này đã không đạt được mục tiêu của Binfield. Từ năm 2013 đến năm 2018, số lượng ấn phẩm của PLOS ONE đã giảm 44% và đã bị Scientific Reports, một siêu tạp chí khác vượt qua về quy mô vào năm 2017 (nhưng chính Scientific Reports cũng phải chịu mức giảm ​​số lượng bài báo lên tới 30% trong năm sau đó, theo một phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus của nhà xuất bản Elsevier). Dù các siêu tạp chí mới khác cũng ra đời nhưng thực ra số lượng ấn phẩm của các siêu tạp chí này ngày càng sụt giảm. Đến năm 2018, PLOS ONE, Scientific Reports và 11 siêu tạp chí lớn nhỏ khác chỉ là nơi công bố của chừng 3% tổng số bài báo khoa học toàn cầu.  Yếu tố dẫn tới sự sụt giảm về số công bố trên các siêu tạp chí là lượng bản thảo gửi đến ít đi. James Butcher, phó chủ tịch phụ trách các tạp chí của công ty chủ quản có trụ sở tại London là Nature Research cho biết: với Scientific Reports các tác giả gửi ít bản thảo hơn sau khi thấy chỉ số ảnh hưởng (impact factor, thước đo số lần trích dẫn trên mỗi bài báo) của tạp chí giảm xuống. Thước đo này thường được các tác giả theo dõi chặt chẽ và sẽ giảm khi một tạp chí mở rộng quá nhanh, điều mà Scientific Reports đã làm trong thời gian gần đây.  Joerg Heber, Tổng biên tập của PLOS ONE, cho biết sự sụt giảm số lượng bài gửi đến bắt nguồn từ xu hướng cạnh tranh ngày càng gia tăng do có thêm các tạp chí truy cập mở ra đời sau. “Chúng tôi từng có lợi thế là người đi trước, giờ không còn nữa”. Hiện nay PLOS ONE cũng đã bổ sung dịch vụ mới, bao gồm công bố cả nhận xét của người bình duyệt để thu hút thêm tác giả gửi bài.  Các siêu tạp chí dường như cũng mất dần đi yếu tố làm nên sự hấp dẫn của mình là, tốc độ xuất bản nhanh. Thời gian đầu, các tác giả bài báo trên PLOS ONE và Scientific Reports mất trung bình ba tháng sau khi nộp để được công bố (so với mức trung bình của các tạp chí truyền thống là khoảng năm tháng). Nhưng đến năm 2018, độ trễ của PLOS ONE đã tăng lên sáu tháng và Scientific Reports là năm tháng, theo một nghiên cứu năm 2018 trên Online Information Review. Cả Joerg Heber và James Butcher đều đổ lỗi cho những khó khăn về hậu cần khi phải xử lý khối lượng lớn công việc và nói rằng họ đã cải thiện đội ngũ nhân viên cũng như việc vận hành để giảm bớt sự chậm trễ.   Một vấn đề khác nữa đặt ra đối với các siêu tạp chí này là mối liên kết giữa các tạp chí này với những đột phá trong khoa học đã trở nên mờ nhạt, theo một công bố dựa trên việc đo lường các trích dẫn và công bố vào tháng 8/2019 đã chỉ ra. “Đối với nhiều nhà nghiên cứu, rõ ràng các siêu tạp chí vẫn chưa chứng tỏ rằng cách tiếp cận của họ bổ sung giá trị thực sự đáng kể cho hệ sinh thái truyền bá tri thức khoa học”, nhà khoa học về thông tin Stephen Pinfield thuộc Đại học Sheffield ở Vương quốc Anh và các đồng nghiệp viết trong nghiên cứu đăng trên Journal of Documentation hồi tháng 7/2019.    Sau một thời gian tăng trưởng nhanh, lượng xuất bản trên PLOS ONE và Scienctific Reports đang giảm xuống.   Theo một nghiên cứu khác do Petr Heneberg, Đại học Charles ở Prague thực hiện thì thực trạng có lẽ còn đáng quan ngại hơn – khi số lượng công bố giảm thì mối liên kết giữa các siêu tạp chí này với các tạp chí danh tiếng hàng đầu cũng giảm theo. Heneberg xem xét mối quan hệ này dựa trên hai thước đo: Một là số lượt các bài báo công bố gần đây trong 11 siêu tạp chí trích dẫn ba tạp chí hàng đầu là Nature, PNAS và Science; hai là ở chiều ngược lại – số lượt các bài báo trong ba tạp chí Nature, PNAS, Science trích dẫn lại các siêu tạp chí. Kết quả phân tích của Heneberg, được công bố trên Scientometrics số ra tháng 8/2019, cho thấy cả hai thước đo trên đều giảm đáng kể từ năm 2008 đến năm 2016. Chẳng hạn như, số lượt các bài của Nature, PNAS và Science trích dẫn các bài trên PLOS ONE và ngược lại đều tiến gần tới 0 – nghĩa là PLOS ONE và ba tạp chí hàng đầu kể trên gần như không còn trích dẫn gì của nhau nữa; còn các trích dẫn từ các siêu tạp chí khác đến ba tạp chí hàng đầu trên cũng giảm mạnh.  Tuy vậy, Joerg Heber cũng vẫn cho rằng nghiên cứu của Heneberg chưa đủ ý nghĩa vì quá hẹp. Ví dụ, ông cho biết PLOS ONE gần đây đã xuất bản nhiều nghiên cứu lâm sàng hơn, một chủ đề không thường xuyên xuất hiện trên ba tạp chí hàng đầu trên.  Theo một số nhà phân tích, các siêu tạp chí vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong xuất bản khoa học. Do tỷ lệ chấp nhận bài cao (khoảng 50% bản thảo được gửi đến) và không nhấn mạnh vào tính mới, các tạp chí này cho phép các tác giả công bố những phát hiện vẫn có giá trị nào đó, chẳng hạn như nghiên cứu lặp lại hoặc có kết quả không rõ ràng, các yếu tố khiến bài báo bị các tạp chí chọn lọc truyền thống từ chối. Chúng vẫn được xem như là một lựa chọn cho các tác giả châu Âu – thường nhận được yêu cầu từ phía cơ quan tài trợ là các bài báo phải cho phép đọc miễn phí sau khi xuất bản. Và phí xuất bản của các siêu tạp chí — lấy ví dụ 1.595 USD Mỹ mỗi bài báo tại PLOS ONE — vẫn còn thấp hơn so với các tạp chí truy cập mở sàng lọc kỹ càng hơn, chẳng hạn như Nature Communications, hay tạp chí cạnh tranh trực tiếp với nó là Science Advances của nhà xuất bản Science với mức phí 4.500USD.   Mặc dù các siêu tạp đời đầu đã mất đi đà phát triển nhưng các tạp chí khác có quá trình bình duyệt kỹ lưỡng hoặc có chuyên môn sâu hơn vẫn đang tăng trưởng. Ba siêu tạp chí chuyên ngành hẹp có sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây là: Medicine của nhà xuất bản Wolters Kluwer; BMJ Open và IEEE Access. Các tạp chí đa ngành truy cập mở như Nature Communications và Science Advances chú trọng vào tính mới vẫn trên đang tăng trưởng, Cassidy Sugimoto của Đại học Indiana ở Bloomington, đồng tác giả của một nghiên cứu sắp công bố trên các tạp chí này lưu ý. “Đối với tôi, điều đó không có nghĩa các siêu tạp chí đang chết dần”, cô nói, mà thay vào đó cho thấy sự ra đời của chúng cho phép các tùy chọn xuất bản trở nên đa dạng hơn.□  Lưu Đức Khoa lược thuật  Theo Science số 10/9/2019 doi:10.1126/science.aaz4585   “Siêu tạp chí” (mega journal) có các đặc điểm sau:   – Đa ngành với nội dung bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau;  – Chấp nhận đăng bài khi chúng được thực hiện đúng kỹ thuật, cho dù kết quả không có nhiều đột phá;  – Thu phí đăng bài báo để trang trải chi phí xuất bản (thay vì thu phí từ người đọc).    Author                Jeffrey Brainard        
__label__tiasang Các sự kiện khoa học định hình năm 2017      Một tảng băng trôi khổng lồ, một thí nghiệm lượng tử ở trạng thái rối và “cái chết” của một tàu vũ trụ là những câu chuyện được quan tâm nhiều nhất năm 2017.      Thành công trong thí nghiệm rối lượng tử đã đưa Trung Quốc lên mặt tiền lĩnh vực truyền thông lượng tử. .   Đây là một năm nhiều khó khăn với các nhà khoa học nhưng cũng có nhiều điểm sáng, trong đó có việc thông qua phương pháp điều trị ung thư mới và phát hiện sóng hấp dẫn từ vụ va chạm hai sao neutron.  Khi các ngôi sao va chạm  Năm nay đánh dấu sự bắt đầu một kỷ nguyên mới của thiên văn học: một trong số đó là việc các nhà khoa học có thể nghiên cứu các hiện tượng vũ trụ thông qua bức xạ mà các hiện tượng này phát ra cũng như thông qua các gợn sóng lăn tăn mà nó tạo ra trong không – thời gian. Ngày 16/10, các nhà khoa học đã thông báo những quan sát đầu tiên về vụ va chạm giữa hai ngôi sao neutron. Điều này đã khẳng định dự đoán hết sức chi tiết về cách những vụ va chạm tạo ra những vụ nổ tia γ kỳ bí và tạo ra những nguyên tố nặng trong vũ trụ như vàng và uranium.  Các nhà vật lý đã phát hiện những gợn sóng lăn tăn từ vụ va chạm trong hình thái sóng hấp dẫn. Và hơn 70 nhóm thiên văn đã sử dụng kính thiên văn và quan sát những diễn biến sau đó để kiểm soát mọi thứ từ tia γ tới quang phổ tần số vô tuyến điện.  Đài quan sát sóng hấp dẫn Giao thoa kế (LIGO) của Mỹ và đối tác của nó ở Ý – Virgo, đều đóng vai trò quan trọng trong những khám phá này. Virgo mới hoạt động trở lại vào ngày 1/8/2017 sau năm năm tạm dừng vận hành để nâng cấp: nó đã giúp cải thiện mạnh mẽ năng lực của nhà nghiên cứu để xác định nguồn phát sóng hấp dẫn cũng như quan sát chúng.  Truyền thông lượng tử cũng có những tiến bộ rõ rệt trong năm 2017. Ngày 15/6, các nhà nghiên cứu Trung Quốc công bố việc bắn các cặp photon từ vệ tinh Mặc Tử (Micius) tới hai trạm mặt đất cách nhau 1.200 km. Thí nghiệm này phá vỡ kỷ lục về khoảng cách mà các hạt có thể duy trì liên kết trong trạng thái rối – nghĩa là việc chạm vào một hạt sẽ gây ảnh hưởng đến hạt khác. Nó là cơ sở để phát triển các ứng dụng phức tạp hơn như viễn tải lượng tử, và có thể cung cấp những cơ sở để xây dựng internet lượng tử,…  Và trong năm mà khủng hoảng chính trị đe dọa chia rẽ thế giới, một hoạt động hợp tác khoa học chưa từng có đã diễn ra ở Trung Đông. SESAME (Phòng thí nghiệm máy gia tốc Synchroton cho khoa học thực nghiệm và ứng dụng Trung Đông) đã được khánh thành vào ngày 16/5. Thành viên dự án nguồn tia X đầu tiên của khu vực này bao gồm các quốc gia Jordan, Palestine, Israel, Ai Cập, Síp, Iran, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. SESAME bắt đầu hoạt động từ tháng 11, chùm tia đầu tiên của nó được dùng để kiểm tra các tính chất của vật liệu và hiện vật khảo cổ. Ba chùm tia tiếp theo dự kiến sẽ triển khai vào cuối năm 2018.  Cú sốc chính trị  Tổng thống Mỹ Donald Trump mới chỉ nhậm chức vào ngày 20/1/2017 nhưng ngay lập tức đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ của mình tới môi trường khoa học. Ngày 17/1, ông đã ký một sắc lệnh cấm nhập cảnh tạm thời trong vòng 90 ngày đối với công dân bảy nước Hồi giáo – bao gồm cả các nhà nghiên cứu quá cảnh. Việc này đã khiến cho những nhà khoa học khác lo ngại rằng họ sẽ phải từ bỏ hoạt động học tập và làm việc tại Mỹ.  Vào tháng Ba, tổng thống Trump lại trình dự thảo ngân sách cho năm 2018, trong đó cắt giảm kinh phí cho Viện Y tế Quốc gia NIH (18%) và Cơ quan bảo vệ môi trường EPA (31%).  Donald Trump cũng lập kỷ lục về việc điều hành lâu nhất mà không có cố vấn khoa học so với bất kỳ tổng thống đắc cử lần đầu nào từ năm 1976. Tại thời điểm 19/12 (ngày Nature xuất bản bài báo), ông vẫn chưa bổ nhiệm vị trí lãnh đạo Văn phòng Chính sách KH&CN của Nhà Trắng. Văn phòng hiện chỉ có một phần ba nhân viên so với thời Barack Obama.  Năm đầu tiên cầm quyền đầy xáo trộn của tổng thống Trump đã khiến các nhà khoa học tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội. Trong tháng 1`/2017, nhiều nhà khoa học đã tham gia cuộc Tuần hành Vì Phụ nữ 2017 (Women’s March) ở Washington D.C. Ba tháng sau, họ lại tập trung ở thủ đô để góp mặt trong Tuần hành vì Khoa học, một trong hàng trăm cuộc biểu tình tương tự trên khắp thế giới. Do đó năm 2017 chứng kiến số lượng lớn các nhà khoa học tham gia vào các hoạt động xã hội tại Mỹ.  Lo lắng vì chia rẽ  Quyết định rời Liên minh châu Âu của Anh đã và đang phủ bóng lên nền khoa học nước này. Vào tháng Ba, Chính phủ Anh đã gây sốc cho các nhà khoa học khi xác nhận rằng nước này sẽ rời Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom) dẫn đến việc cắt giảm các dự án hợp tác hay đứt đoạn liên kết với đồng nghiệp của các quốc gia EU khác. Trong tháng 9/2017, chính phủ Anh đã tiết lộ chính sách về khoa học và Brexit với những mục tiêu đàm phán nhưng vẫn không có gì cụ thể. Dù vậy, những nhà vận động vẫn hoan nghênh quyết định cho phép công dân các nước EU tiếp tục ở lại Anh kể cả sau Brexit và cam kết tăng chi cho khoa học tăng từ mức 1,7% GDP (2015) lên 2,4% GDP (2017). Ngày 20/11, chính phủ Anh đã tiến thêm một bước để đạt tới mục tiêu khi tuyên bố tăng chi thường niên cho khoa học tới năm 2021 – 2022.  Môi trường cho nghiên cứu ở châu Âu, Nam Mỹ và Đông Á cũng trong tình cảnh tranh tối tranh sáng. Lãnh đạo Pháp cam kết tăng chi cho khoa học và Canada đã phục hồi chức vụ cố vấn khoa học sau gần một thập kỷ loại bỏ. Các nhà khoa học đang tận hưởng hỗ trợ toàn diện của Đức nhưng bắt đầu lo lắng khi đàm phán thành lập chính phủ liên minh thất bại vào tháng 11/2017 đã khiến bầu không khí chính trị nước này vào tình trạng bất ổn. Hỗn loạn về chính trị và kinh tế ở Brazil đã khiến ngân sách chi cho khoa học nước này thấp nhất trong vòng mười hai năm trở lạiđây.  Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại lo lắng trước sự đình trệ của tài trợ cho nghiên cứu, điều đó có thể ảnh hưởng xấu đến tương lai khoa học của đất nước, bất chấp những nỗ lực đổi mới của chính phủ. Tại một quốc gia Đông Á khác là Trung Quốc, chủ tịch Trung Quốc đang hứa hẹn đưa đất nước này trở thành “quốc gia của những nhà cách tân”. Chính phủ Trung Quốc đã quyết định giảm tải các quy trình thử nghiệm lâm sàng để đưa thuốc mới tới thị trường nhanh và dễ dàng hơn cũng như đề ra các hình phạt cứng rắn – bao gồm cả bỏ tù – đối với những ai dám giả mạo dữ liệu lâm sàng.  Ra tới biển    Larsen C đã bị tách ra khỏi Nam Cực  Ngày 12/7, một tảng băng trôi có kích thước gấp đôi thành phố Luxembourg đã tách khỏi bán đảo Nam Cực. Tảng băng này chiếm khoảng 12% diện tích của Larsen C – thềm băng lớn thứ tư tại Nam Cực. Số phận của thềm băng vẫn chưa còn rõ ràng nhưng nếu bị vỡ thì Larsen C có thể giải phóng các sông băng và làm mực nước biển toàn cầu tăng thêm một cm.  Tổng thống Trump hiện đã điều chỉnh các chính sách môi trường của Mỹ. Vào tháng Bảy, ông tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp định khí hậu Paris 2015. Đến cuối năm, EPA đã tiến hành hủy bỏ các quy định có từ thời Obama về giảm thiểu phát thải nhà kính từ các nhà máy điện. Cơ quan này cũng không cho phép các nhà khoa học hiện đang nhận tài trợ từ EPA tham gia vào hội đồng cố vấn của cơ quan này.  Tháng T8/2017, chính quyền của ông Trump đã giải thể một ủy ban cố vấn liên bang – được thành lập để hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp, các chính quyền bang và chính quyền địa phương nhằm xây dựng một đánh giá về khí hậu quốc gia sẽ phải công bố vào năm 2018. Phần đầu của báo cáo này – một phân tích dài 477 trang về khoa học khí hậu, mới được công bố vào tháng 11/2017, trong đó kết luận rằng con người là nguyên nhân chính dẫn tới sự nóng lên toàn cầu.  Ở châu Âu, một cuộc chiến chống lại nạn phá rừng đã nổ ra ở Bialowieza (Ba Lan). Vào tháng Bảy, Tòa án Tư pháp châu Âu (ECJ) đã ban hành phán quyết yêu cầu chính phủ Ba Lan lập tức chấm dứt các hoạt động quản lý rừng – bao gồm cả chặt cây – trong khu vực, trừ khi đó là hành động đe dọa đến sự an toàn cộng đồng. Chính phủ Ba Lan vẫn tiếp tục đốn gỗ bất chấp phán quyết của tòa vì cho rằng việc chặt bỏ và dọn dẹp cây chết là cần thiết để chống lại sự bùng phát của bọ cánh cứng. Ngày 20/11/2017, ECJ tuyên bố sẽ áp mức phạt ít nhất 100.000 Euro/ngày, bắt đầu từ tháng 12/2017 nếu nước này không tuân thủ lệnh cấm.  Sự phát triển của di truyền học  Năm 2017 đã chứng kiến việc lần đầu tiên phương pháp điều trị ung thư phức tạp – liệu pháp tế bào CAR-T8, kỹ thuật về gene cho phép các tế bào miễn dịch của chính bệnh nhân để phát hiện và tiêu diệt tế bào ung thư được chấp thuận. Mặc dù còn một số quan ngại về an toàn [ví dụ như hội chứng phóng thích cytokine] nhưng Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ FDA đã chấp nhận liệu pháp này vào tháng 8/2017 để áp dụng điều trị trên trẻ em và thanh thiếu niên bị mắc bệnh tăng tế bào bạch huyết cấp tính.  Tháng 1/2017 đã xuất hiện báo cáo về bào thai chứa cả tế bào lợn và người mới trải qua quá trình bình duyệt vòng một. Các giống lai có thể mở đường cho khả năng tạo ra các giống động vật với nội tạng có thể cấy ghép cho người.  Kỹ thuật chỉnh sửa gen được phép cho sử dụng lâm sàng trong hỗ trợ sinh sản đã nhảy vọt trong năm 2017, với sáu nghiên cứu làm tăng gần gấp bốn số công bố về chủ đề này so với năm ngoái. Tháng 8/2017, một nhóm nghiên cứu đã thông báo việc lần đầu tiên áp dụng hệ thống kỹ thuật chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9 để sửa chữa lại các đột biến gây bệnh ở phôi người. Các nhà nghiên cứu mô tả kỹ thuật này an toàn và cho biết thêm là không thấy các bằng chứng về những ảnh hưởng phụ như đột biến không mong đợi. Tuy nhiên kết quả mà họ trình bày đã làm dấy lên quan ngại về việc giải thích số liệu. Và, trong tháng 9/2017, một nhóm khác báo cáo việc chỉnh sửa phôi người mang gene lặn gây bệnh về máu, trong đó cả hai bản sao đều có vấn đề về đột biến. Nhóm nghiên cứu này đã nhân bản phôi từ tế bào da người và sau đó chỉnh sửa một lần trên DNA để hiệu chỉnh các khuyết tật về gene.  Năm nay cũng chứng kiến cuộc tranh luận về chỉnh sửa gene kéo dài 15 tháng mới đi đến hồi kết. Vào tháng 5/2016, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã mô tả một phương pháp chỉnh sửa gene mới sử dụng enzyme NgAgo, và nói rằng kỹ thuật này có nhiều ưu điểm hơn so với CRISPR-Cas9. Nhưng ngay sau đó, nhiều ý kiến cho rằng không thewer thực hiện được phương pháp này. Rút cục tác giả của nghiên cứu đã rút lại bài báo của họ vào tháng 8/2017.  Trong khi đó, cuộc chiến về bằng sáng chế CRISPR-Cas9 chưa đi đến hồi kết. Vào tháng 2/107, phán quyết tại Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ đã xác định Broad Institute của MIT và Havard có thể giữ bằng sáng chế về việc áp dụng kỹ thuật CRISPR-Cas9 để biến đổi hệ gene ở một số tế bào. Nhưng phe đối đầu – bao gồm hệ thống các trường đại học ở California – đã nhanh chóng nộp đơn khiếu nại để kéo dài cuộc bàn cãi sang năm 2018.  Vào tháng 7/2017, các nhà nghiên cứu cuối cùng đã có một kho dữ liệu di truyền lớn nhất từ trước đến nay. Ngân hàng Biobank Anh Quốc đã thông báo về dữ liệu gene của 500.000 người tham gia, cùng với thông tin về sức khỏe và đặc điểm của mỗi người như lực bóp tay, trình độ học vấn. Ở trạng thái sẵn sàng cho các nhà khoa học truy cập, dữ liệu này sẽ tạo cơ hội cho một nhóm nghiên cứu  kết nối với hơn 2000 nghiên cứu về hệ gene để đánh giá tính di truyền trong các đặc tính của gene và bệnh tật.  Một năm giữa các vì sao    Các thành viên nhóm nghiên cứu Cassini an ủi lẫn nhau sau khi Cassini kết thúc sứ mệnh.  Tàu vũ trụ Cassini của NASA đã kết thúc sứ mệnh của mình vào ngày 15/9/2017. Các nhà khoa học và kỹ sư tại Phòng thí nghiệm động cơ phản lực (Pasadena, California, Mỹ) đã theo dõi tín hiệu vô tuyến suy yếu và tắt dần trên màn hình máy tính khi Cassini bị đốt cháy trong bầu khí quyển sao Thổ.  Sau mười ba năm khám phá vành đai hành tinh này, tàu vũ trụ đã gần hết nhiên liệu. Vì thế NASA quyết định phá hủy con tàu thay vì để nó gây ra rủi ro nếu va chạm với một trong các mặt trăng [của sao Thổ] như Enceladus, có thể dẫn đến những đe dọa đến sự sống ngoài hành tinh. Cassini đã điều tra những cơn bão cực mạnh trên sao Thổ và các vành đai bao quanh, đồng thời khám phá biển các hợp chất hydrocascbon trên mặt trăng Titan hay luồng phun muối trên Enceladus.  Chẳng bao lâu sau khúc hát thiên nga của Cassini, một vị khách bất ngờ đã ghé thăm Hệ Mặt trời. Vào giữa tháng 10/2017, các nhà thiên văn học ở Hawaii đã phát hiện ra một vật thể giống như tiểu hành tinh chuyển động nhanh11 với quỹ đạo kỳ dị chưa từng có. Được mệnh danh là ‘Oumuamua, thiên thể dài 400m này đến từ không gian liên sao, đây là ghi nhận đầu tiên của các nhà khoa học về dạng vật thể này. ‘Oumuamua đến nhanh và cũng biến mất nhanh, nó lướt qua Mặt trời và biến mất vào không gian sâu thẳm của vũ trụ.  Đầu năm nay, cộng đồng thiên văn  phát hiện ngày càng nhiều tín hiệu của các vật thể xa xôi. Vào tháng 2/107, các nhà khoa học báo cáo về khám phá bảy hành tinh có kích thước tương đương Trái đất quay quanh vì sao12 có tên gọi là TRAPPIST-1, chỉ cách 12,5 parsec (41 năm ánh sáng) từ Mặt trời.  Hệ TRAPPIST-1 nổi bật với số lượng các hành tinh nhỏ, tất cả đều có những quỹ đạo liên kết với nhau tương đối ôn hòa. Điều này khiến chúng trở thành một thế giới hấp dẫn để nghiên cứu kỹ lưỡng qua các kính thiên văn trong những năm tới – và để các nhà thiên văn học mơ tới những chuyến viếng thăm liên hành tinh.  Lộ sáng những xung đột ngầm  Từ nhà sản xuất Hollywood Harvey Weinstein tới nhà báo Mỹ Charlie Rose, những bí mật của các vụ quấy rối đã liên tục bị hé lộ trong năm 2017, gây ra những cuộc thảo luận và chiến dịch nâng cao nhận thức toàn cầu. Khoa học cũng không phải ngoại lệ.  Tháng 8/2017, ĐH Washington (Seattle) đã sa thải nhà sinh vật học nổi tiếng Michael Katze vì vi phạm nội quy trường đại học, bao gồm quấy rối và xung đột lợi ích. Vào đầu cuộc tranh luận năm 2015, Katze đã kiện lãnh đạo trường vì loại ông ta khỏi phòng thí nghiệm. Đến cuối cùng, cuộc điều tra của trường đại học đã kết luận rằng Katze đã quấy rối hai nhân viên dưới quyền và cuộc điều tra thứ hai tiếp tục phát hiện rằng ông ta cũng yêu cầu nhân việc thực hiện các công việc cá nhân cho ông, liên quan đến xung đột lợi ích. Katze sau đó đã không trả lời các yêu cầu bình luận.  Vào tháng 9/2017, ĐH Rochester (New York) đã phải đối mặt với những lời phản đối khi công bố thông tin về nhà khoa học nhận thức Florian Jaeger. Trường đã mở hai cuộc điều tra về việc Jaeger bị cáo buộc  quấy rối sinh viên và postdoc cũng như tạo ra môi trường làm việc kém thân thiện và đi đến kết luận là ông không vi phạm nội quy. Bảy thành viên đương nhiệm và tiền nhiệm của khoa đã khiếu nại thay mặt sinh viên và postdoc. Không hài lòng với kết luận của trường đại học, họ đã đưa các cáo buộc tới phương tiện truyền thông và đệ đơn kiện liên bang chống lại trường vào ngày 8/12/2017. Lãnh đạo trường đã thành lập một ủy ban điều tra và kết quả dự kiến sẽ có vào ngày 12/1/2018. Hiện trường và Jaeger đều từ chối bình luận về vụ việc.  Vào tháng 11/2017, sau 13 tháng điều tra, ĐH Boston (Massachusetts) đã phát hiện rằng giáo sư địa chất David Marchant đã quấy rối một nữ sinh viên sau đại học trong một cuộc thám hiểm thực địa tới Nam Cực vào năm 1999 – 2000 (cựu sinh viên này đã chờ cho đến khi  chuyển sang trường khác mới dám nộp đơn kiện). Ủy ban KH&CN và Không gian thuộc Hạ viện Mỹ cũng đã điều tra các báo cáo bởi Marchant hiện đang nhận các tài trợ cho nghiên cứu của liên bang. Theo luật sư, Marchant đã phủ nhận các cáo buộc và kháng cáo, hiện ông này đã rời trường.  Tự học  Không còn là chuyện đánh bại những người chơi cờ vây giỏi nhất thế giới như năm 2016, nhà sản xuất trí tuệ nhân tạo DeepMind đã vượt qua chính mình trong năm 2017. Ngày 18/10/2017, công ty có trụ sở ở London và sở hữu bởi Google này đã tiết lộ, phiên bản mới nhất của máy chơi cờ vây – AlphaGo Zero đã có thể đánh bại phiên bản tiền nhiệm của nó 100% về mặt thời gian. Bản cũ được huấn luyện bằng cách học các chiến thuật từ những người chơi chuyên nghiệp, nhưng AlphaGo Zero đã học bằng cách đấu với chính mình. Phương pháp này mất thời gian ít hơn – chỉ 40 ngày so với nhiều tháng, và chỉ cần 1/10 sức mạnh tính toán để tự xử lý. DeepMind cho biết, những công nghệ tương tự có thể giúp các nhà nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ tính toán như dự đoán cách các protein tự gấp.  Các máy tính lượng tử cũng có những tiến bộ trong năm nay. IBM, Google, các công ty khởi nghiệp và phòng thí nghiệm cùng chạy đua để xây dựng một cỗ máy đủ lớn để thực hiện những tính toán mà các máy tính thông thường chịu thua. Vào tháng 3/2017, IBM đã thông báo, dịch vụ tính toán lượng tử thương mại đầu tiên cho phép khách hàng thực hành trên máy tính lượng tử đang hoạt động. Công ty này nói, họ có sẵn hệ thống 20-qubit phục vụ khách hàng tới cuối năm 2017.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-017-08493-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các sự kiện khoa học năm 2018      Năm 2018 là một năm đầy biến động với nhiều trận cháy rừng dữ dội và những lời chỉ trích về chỉnh sửa gene người. Tuy nhiên, giới khoa học cũng đạt được một số thành tựu mới, bao gồm việc lập bản đồ chính xác nhất các ngôi sao trong dải Ngân hà và sự kiện khám phá một người phụ nữ sống cách đây 90.000 năm là con lai của hai chủng người cổ đại.      Biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán tại Australia. Ảnh: Brook Mitchell  Thách thức về biến đổi khí hậu  Có nhiều bằng chứng cho thấy tình trạng biến đổi khí hậu tiếp tục gia tăng vào năm 2018. Hơn 50 đám cháy rừng đã hoành hành trên khắp Thụy Điển vào tháng 7. Nguyên nhân là do đất nước này phải hứng chịu nhiệt độ cao và tình trạng khô hạn nghiên trọng nhất trong hơn một thế kỷ. Tháng 8, khu vực British Columbia ở Canada trải qua mùa cháy rừng tồi tệ nhất trong lịch sử. Đến tháng 11, bang California (Mỹ) đối mặt với một đám cháy rừng kinh hoàng, giết chết ít nhất 85 người.  Trong tương lai, tình hình có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) công bố một báo cáo vào tháng 10 nói rằng, nhiệt độ trung bình toàn cầu có thể vượt qua mức 1,5oC so với thời kỳ tiền công nghiệp trong ít nhất là một thập kỷ tới. Hiện nay, có rất ít bằng chứng cho thấy các chính phủ đang hành động quyết liệt để chống lại sự nóng lên toàn cầu.  Scott Morrison, Thủ tướng mới của Australia, đã từ bỏ một chính sách vào tháng 9 giúp hạn chế lượng khí thải từ ngành điện. Các nhà khoa học cho biết, sự thay đổi này sẽ khiến Australia không thể thực hiện được cam kết quốc gia đối với Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015. Trong khi đó, Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) nới lỏng các quy định nhằm hạn chế khí thải từ phương tiện giao thông và nhà máy điện.  Trong một động thái tích cực hơn, Tổng thống Mỹ Donald Trump – người thiếu cố vấn khoa học lâu nhất so với các tổng thống tiền nhiệm kể từ năm 1976 – cuối cùng đã đề cử nhà khí tượng học Kelvin Droegemeier vào tháng 7. “Tôi tin chắc với kinh nghiệm của mình, Droegemeier sẽ có nhiều đóng góp tích cực trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu”, Rosina Bierbaum, chuyên gia chính sách môi trường tại Đại học Michigan, nhận định. Tại Trung Quốc, chính phủ thành lập Bộ Môi trường Sinh thái để theo dõi ô nhiễm và thực thi các quy tắc môi trường, cũng như một tổ chức để bảo vệ các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.  Ngoài ra, năm 2018 có hai vụ kiện mang tính đột phá, cáo buộc các chính phủ không có những hành động mạnh mẽ để chống lại biến đổi khí hậu. Một tòa phúc thẩm ở The Hague đã giữ nguyên phán quyết năm 2015 đối với vụ kiện của các nhà môi trường, buộc Chính phủ Hà Lan phải có biện pháp cắt giảm phát thải khí nhà kính xuống ít nhất 25% vào năm 2020 so với mức năm 1990. Vào tháng 11, Tòa án Tối cao Mỹ cho phép vụ kiện của 21 người trẻ tuổi chống lại Chính phủ Mỹ có thể được tiến hành. Các nguyên đơn cho rằng Chính phủ Mỹ đã vi phạm quyền sống, quyền tự do và tài sản của họ bằng cách không ngăn chặn biến đổi khí hậu nguy hiểm.  Phát triển vật liệu tiên tiến và công nghệ cao  Quay trở lại phòng thí nghiệm, một tính chất đáng ngạc nhiên của graphene có thể giúp giải quyết một bí ẩn vật lý 30 năm tuổi. Hai lớp cấu trúc carbon dày bằng một nguyên tử khi được xếp chồng lên nhau lệch một góc bằng 1,1° có thể bắt chước hành vi siêu dẫn của một số vật liệu chứa đồng gọi là cuprates. Các nhà vật lý hy vọng rằng, họ có thể sử dụng graphene để tìm hiểu lý do tại sao cuprates dẫn điện mà không có điện trở ở nhiệt độ tương đối ấm. Phát hiện này, được công bố vào tháng Ba, có thể hỗ trợ việc tìm kiếm các chất siêu dẫn hoạt động không cần làm lạnh xuống gần độ không tuyệt đối (-273°C).  Những người nghiên cứu vật liệu siêu dẫn không phải là các nhà vật lý duy nhất có một năm tốt đẹp. Vào tháng 10, Ủy ban châu Âu đã công bố những người đầu tiên nhận được khoản tiền tài trợ trị giá 1,1 tỷ USD để phát triển công nghệ lượng tử trong 10 năm. Họ sẽ thực hiện 20 dự án với nhiều ứng dụng khác nhau như đồng hồ lượng tử và thông tin liên lạc an toàn. Trong khi đó, Vương Quốc Anh đầu tư thêm 235 triệu bảng để hỗ trợ phát triển và thương mại hóa các công nghệ lượng tử. Đức cũng cam kết tài trợ 650 triệu euro cho nghiên cứu lượng tử trong bốn năm tới.  Cuối năm 2018 đã chứng kiến sự cải tổ đáng kể nhất về các đơn vị đo lường tiêu chuẩn từ năm 1875. Vào tháng 11, đại diện hơn 60 quốc gia tại Hội nghị Cân nặng và Đo lường (CGPM) tổ chức ở Versailles, Pháp, đã phê duyệt một kế hoạch định nghĩa lại tất cả các đơn vị đo lường thông qua những hằng số cơ bản của tự nhiên. Ví dụ, trước đây giới khoa học định nghĩa kilogram là cân nặng của một khối hình trụ tiêu chuẩn làm từ bạch kim và iridium được Văn phòng Cân đo quốc tế (BIPM) bảo quản tại thủ đô nước Pháp. Tên gọi của khối kim loại này là Le Grand K. Định nghĩa kilogram mới sẽ dựa trên hằng số Planck, vốn là hằng số cơ bản trong vật lý xuất hiện trong các bài toán vật lý lượng tử.  Chỉnh sửa gene gây tranh cãi  Năm nay có những sự kiện gây ra nhiều tranh cãi trong lĩnh vực di truyền. Tháng 11, He Jiankui (Hạ Kiến Khuê), nhà nghiên cứu tại Đại học Khoa học và Công nghệ miền Nam (Trung Quốc), đã khiến thế giới phải kinh ngạc khi tuyên bố sự ra đời của hai bé gái sinh đôi được chỉnh sửa gene đầu tiên có khả năng miễn dịch với virus HIV. Nhóm của ông sử dụng công nghệ CRISPRTHER Cas9 để thay đổi gene CCR5, có nhiệm vụ mã hóa một loại protein cho phép virus HIV xâm nhập vào tế bào.  Giới khoa học chỉ trích nghiên cứu của He. Họ cảnh báo rằng kỹ thuật này chưa sẵn sàng để sử dụng trên cơ thể người. Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc đã yêu cầu các cơ quan chức năng nghiêm túc điều tra và xác minh tuyên bố của He, cũng như xem xét toàn bộ quy trình nghiên cứu của ông. Không lâu sau đó, Chính phủ Trung Quốc ra lệnh tạm dừng tất cả các hoạt động nghiên cứu liên quan đến chỉnh sửa gene trên cơ thể người.  Trước đó, thế giới cũng chứng kiến nhiều thành tựu di truyền khác. Vào tháng 1, các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố lần đầu tiên nhân bản thành công động vật linh trưởng [cụ thể là hai con khỉ] bằng kỹ thuật chuyển nhân tế bào sinh dưỡng (SCNT) – tương tự như phương pháp được sử dụng để cho ra đời cừu Dolly năm 1996.  Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature vào tháng 8, các nhà khoa học phát hiện mảnh xương của một thiếu nữ thời tiền sử có mẹ là người Neanderthal và cha là người Denisovan trong một hang động trên dãy núi Altai, Siberia. Đây là lần đầu tiên con lai giữa hai chủng người này được phát hiện sau quá trình xét nghiệm DNA mảnh xương có niên đại cách đây 90.000 năm.  Cũng trong tháng 8, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) lần đầu tiên phê chuẩn liệu pháp điều trị dựa trên sự can thiệp RNA (RNAi) – một kỹ thuật có thể “tắt” một số gene cụ thể liên quan đến bệnh tật. Phương pháp này được dùng để chữa trị một số căn bệnh hiếm gặp làm suy giảm chức năng tim và thần kinh.  Về mặt pháp lý, một cuộc chiến về bằng sáng chế đi đến hồi kết vào tháng 9, khi Tòa án phúc thẩm Liên bang Mỹ xác nhận quyền sở hữu trí tuệ công nghệ chỉnh sửa gene CRISPRIP Cas9 thuộc về Viện Broad của MIT và Đại học Harvard – giữ nguyên quyết định trước đây của Văn phòng Sáng chế và Thương hiệu Mỹ. Quyết định này đánh dấu sự cạnh tranh thất bại của một nhóm các nhà phát minh thuộc Đại học California, Berkeley (UC), do nhà sinh học phân tử Jennifer Doudna dẫn dắt.  Vào tháng 7, tòa án tối cao của châu Âu đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt cho cây trồng chỉnh sửa gene tương tự như sinh vật biến đổi gene (GMO), gây ra nhiều trở ngại tiềm năng cho các nhà nghiên cứu.  Dỡ bỏ bức tường phí ấn phẩm học thuật  Sự ra đời của Kế hoạch S, một chiến lược cấp tiến giúp đưa các ấn phẩm học thuật sang mô hình truy cập mở hoàn toàn, có thể đặt dấu chấm hết cho những bức tường phí (paywall) trong xuất bản khoa học. Đứng đầu sáng kiến này là Robert-Jan Smits, đặc phái viên của Ủy ban châu Âu về tiếp cận mở. Kế hoạch S nhận được sự ủng hộ của 11 quỹ tài trợ nghiên cứu quốc gia ở châu Âu, bao gồm Vương quốc Anh, Pháp và Hà Lan.  Kể từ năm 2020, kết quả của bất kỳ nghiên cứu nào nhận tài trợ từ Kế hoạch S – chẳng hạn như nhận tài trợ của Hội đồng nghiên cứu Na Uy và Quỹ khoa học Áo – sẽ được phép đọc miễn phí sau khi xuất bản, cũng như người khác có thể sử dụng lại.  Phần Lan tham gia Kế hoạch S ngay sau khi nó ra mắt vào tháng 9. Các tổ chức từ thiện như Wellcome Trust và Quỹ Bill & Melinda Gates tại Seattle, Washington, đã đăng ký tham gia vào tháng 11. Trung Quốc cũng ủng hộ kế hoạch vào tháng 12.  Thám hiểm vũ trụ  Năm 2018 là năm bắt đầu cũng như kết thúc một số sứ mệnh của các cơ quan vũ trụ trên thế giới. Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) bắt đầu phát triển ý tưởng xây dựng một trạm vũ trụ gần Mặt trăng trong năm nay, sau khi Tổng thống Donald Trump ký một chỉ thị vào năm 2017 nhằm đưa các phi hành gia quay lại Mặt trăng trong tương lai. Cơ quan này cũng đang hợp tác với các công ty để chế tạo tàu đổ bộ lên Mặt trăng có kích thước nhỏ. Tháng 12, Trung Quốc đã phóng tàu vũ trụ Hằng Nga 4 để thám hiểm nửa tối của Mặt trăng, khu vực không thể nhìn thấy trực tiếp từ Trái đất.  Tàu vũ trụ BepiColombo là dự án chung giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Cơ quan Vũ trụ Nhật Bản (JAXA). Con tàu này được phóng vào tháng 10 và nó sẽ bắt đầu cuộc hành trình kéo dài 7 năm để khám phá sao Thủy. Trong tháng 8, tàu thăm dò Mặt trời Parker của NASA bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tiếp cận Mặt trời ở khoảng cách gần nhất. Trong khi đó, hai tàu thăm dò di chuyển vào vùng không gian liên hành tinh để thu thập bụi bẩn vũ trụ có nguồn gốc từ các tiểu hành tinh gần Trái đất. Tàu vũ trụ Hayabusa 2 của JAXA thả hai robot nhỏ xuống tiểu hành tinh Ryugu. Tháng 12, tàu vũ trụ OSIRIS-Rex của NASA tiếp cận thành công tiểu hành tinh Bennu.  Tuy nhiên, NASA đã phải chia tay với tàu vũ trụ Dawn. Nó hết nhiên liệu vào tháng 10 sau khi ghé thăm các tiểu hành tinh lớn Vesta và Ceres. Trong cùng khoảng thời gian này, NASA cho dừng hoạt động Kính thiên văn vũ trụ Kepler.  Trên sao Hỏa, một cơn bão bụi trong tháng 6 đã cắt đứt liên lạc giữa tàu tự hành Opportunity của NASA với Trái đất. Vào tháng 7, các nhà nghiên cứu tuyên bố tàu vũ trụ Mars Express của ESA phát hiện một hồ nước nằm sâu bên dưới lớp băng ở cực nam của sao Hỏa.  Quay trở lại Trái đất, hai ăng-ten radio tại vùng hẻo lánh của Australia phát hiện bằng chứng gián tiếp về những ngôi sao đầu tiên trong vũ trụ, khi chúng bắt đầu tỏa sáng khoảng 180 triệu năm sau vụ nổ Big Bang.  Dữ liệu từ tàu vũ trụ Gaia của ESA đã giúp các nhà khoa học tạo ra một bản đồ 3D về dải Ngân hà với độ chính xác chưa từng có. Bản đồ – được được công bố trong tháng 4 – thể hiện vị trí, khoảng cách, màu sắc, tốc độ và hướng chuyển động của 1,3 tỷ ngôi sao.  Lần đầu tiên, các nhà vật lý thiên văn phát hiện nguồn gốc các hạt neutrino mang năng lượng cao đến từ một lỗ đen siêu lớn nằm ở trung tâm của một thiên hà xa xôi. Kết quả nghiên cứu được công bố vào tháng 7 có thể giúp các nhà khoa học xác định nguồn gốc tia vũ trụ, bởi vì họ nghĩ rằng tia vũ trụ và hạt neutrino năng lượng cao được tạo ra theo cùng một cách.  Quốc Hùng lược dịch từ Nature  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/cac-su-kien-khoa-hoc-nam-2018/20181227111155280p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tác nhân môi trường gây ung thư thực quản vẫn còn là ẩn số      Nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí Nature Genetics đã cho thấy rằng các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ lý do thực sự gây ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản.      Phẫu thuật thực quản được thực hiện bằng cách sử dụng máy tăng cường ảnh. Ảnh: Getty Images  Mới đây, Michael Stratton – một trong những chuyên gia hàng đầu về ung thư tại Anh, giám đốc của Viện Wellcome Sanger, cho biết một nghiên cứu quốc tế gần đây về ung thư – nhằm xác định chính xác các yếu tố kích hoạt môi trường liên quan đến ung thư thực quản – đã chứng minh rằng hiểu biết hiện tại của khoa học về sự hình thành khối u vẫn còn nhiều thiếu sót. Các nhà khoa học giờ đây sẽ phải suy nghĩ lại về cách mà các tác nhân từ môi trường tạo điều kiện cho các khối u hình thành và phát triển.  Nghiên cứu nhằm tìm hiểu lý do tại sao một số khu vực trên thế giới có tỷ lệ người dân mắc phải ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản rất cao. Những khu vực này bao gồm các vùng của Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Kenya và Trung Quốc, nơi căn bệnh này là dạng ung thư phổ biến nhất. Ở nhiều nơi khác trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tương đối thấp.  “Tất cả những yếu tố ngoại cảnh khác nhau đã được nêu ra nhằm tìm kiếm lời giải thích cho việc vì sao tỷ lệ ở những khu vực đó lại cao”, Stratton cho biết. “Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất rằng có thể nó liên quan đến mức độ tiêu thụ rượu cao chẳng hạn. Nhưng mức độ uống rượu ở Iran rất thấp. Nhiều người khác thì cho rằng nguyên nhân có thể liên quan đến khói dầu từ quá trình nấu nướng. Tuy nhiên, dường như không có mẫu số chung nào giữa các vùng khác nhau này có thể giải thích được câu hỏi mà chúng tôi gặp phải. Đó thực sự là một câu đố.”    Ung thư thực quản là căn bệnh khó điều trị, bởi chúng ta thường chỉ phát hiện ra khối u sau khi nó đã bắt đầu hình thành bên trong cổ họng của người bệnh. “Tỷ lệ người mắc bệnh đặc biệt cao ở Kenya. Và do niềm tin địa phương, nhiều bệnh nhân đã không đến thẳng bác sĩ hoặc bệnh viện mà lại tìm đến những người chữa bệnh bằng đức tin hoặc các thầy lang”, Mimi McCord, người đã tham gia vào nghiên cứu, cho biết.  “Tình trạng bệnh của họ ngày càng xấu đi và người thân phải đưa họ đến các bệnh viện trung ương trong nước. Đến lúc đó thì thường đã là quá muộn.”   Để xác định chính xác các yếu tố môi trường có thể liên quan đến những trường hợp này và ở các ‘điểm nóng’ ung thư thực quản khác, các nhà khoa học tiến hành lấy mô và máu của khối u từ những người mắc bệnh. “Chúng tôi đã lấy mẫu của vài trăm người ở Kenya, Iran và các khu vực khác,” Paul Brennan, từ Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế ở Lyon, Pháp, cũng tham gia vào dự án, cho biết. “Mỗi người cung cấp một mẫu khối u và máu của họ.”  Với mẫu vật liệu này, các nhà nghiên cứu sau đó bắt đầu tìm kiếm “một dấu hiệu đột biến” trong bộ gen của khối u. “Dấu hiệu đột biến là một dạng đột biến cụ thể trong DNA của một số bệnh ung thư. Nếu xem xét bộ gen ung thư và từ các dấu hiệu đột biến hiện có, chúng ta có thể nhận ra nguyên nhân gây ra bệnh ung thư đó”.  Mục đích của nghiên cứu là phát hiện ra một dấu hiệu đột biến tương tự đối với bệnh ung thư thực quản – dấu hiệu sẽ chỉ ra nguyên nhân từ môi trường khiến tỷ lệ mắc bệnh ở Kenya và một số quốc gia cao hơn những khu vực khác. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã không thể xác định được bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một chất hóa học hoặc yếu tố nào khác đã kích hoạt các đột biến khiến một tế bào thực quản trở thành tế bào ung thư.  “Đó là một bước thụt lùi, bởi vì nếu chúng tôi tìm thấy bất kỳ dấu hiệu đột biến đặc biệt nào, chúng tôi đã có thể đưa ra giả thuyết về nguyên nhân của nó – chẳng hạn như do chế độ ăn uống hoặc thói quen sinh hoạt. “Sau đó, chúng tôi sẽ theo dõi để xác định nguyên nhân và tìm ra các giải pháp sức khỏe cộng đồng cho vấn đề. Đáng buồn là chúng tôi vẫn chưa thể làm được điều đó,” Stratton cho biết.  Hà Trang dịch  https://www.theguardian.com/science/2021/oct/24/mystery-of-the-environmental-triggers-for-cancer-deepens       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thành phố lớn chuẩn bị thích ứng với biến đổi khí hậu như thế nào      Một quan điểm đã được thừa nhận: con người  phải thích nghi với thời tiết khắc nghiệt như gió nóng, hạn hán, lũ lụt.  Một số dự án thí điểm đã được thực hiện để chứng minh điều này.       Cơn bão Sandy là cơn bão tồi tệ nhất trong lịch sử New York. Cách đây hai năm, một cơn bão khủng khiếp đã đổ bộ vào thành phố này, đường phố bị ngập nước, dây cáp điện bị đứt làm cho nhiều vùng của New York phải sống trong cảnh tăm tối. Chứng kiến mức độ tàn phá ghê gớm của thiên tai, thị trưởng thành phố lúc bấy giờ là ông Michael Bloomberg đã nhận thức được rằng New York phải làm gì đó để thích ứng với biến đổi khí hậu.   Trái đất nóng lên không phải là nguyên nhân gây ra cơn bão Sandy, nhưng nó đã làm cho sức tàn phá của cơn bão trở nên vô cùng tai hại – đây là điều mà các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng đi đến đồng thuận. Bloomberg rút ra kết luận: “Các thành phố trên thế giới đang tiếp tục phát triển nhanh chóng, vì vậy phải khẩn trương thích nghi với biến đổi khí hậu ngay tại địa bàn sinh sống của mình.”  Trong khi công tác thu dọn sau bão còn đang tiếp diễn thì thị trưởng Bloomberg đã đưa ra kế hoạch của mình: trong tương lai, Big Apple sẽ được giao trách nhiệm xây những con đê và cửa cống mới cũng như phải thiết lập mạng lưới điện chịu được bão và lũ lụt. Đối với New York, thành phố có tới 850 km bờ biển, đây là một nhiệm vụ cực kỳ to lớn. Chi phí cho dự án lên tới 20 tỷ đôla.  Thích nghi và tăng trưởng kinh tế để hạn chế hậu quả của biến đổi khí hậu  Không chỉ mình New York phải chuẩn bị ứng phó với thời tiết tồi tệ trong tương lai. Ngay cả chuyên gia của 48 quốc gia nghèo nhất thế giới cũng đang soạn thảo những “chiến lược thích nghi với biến đổi khí hậu”.  Những dự án này đánh dấu một bước ngoặt trong việc ứng xử với tình trạng trái đất nóng lên. Nó được thúc đẩy bởi nhận thức mà nhà kinh tế Richard Tol thuộc Đại học Sussex của Anh và từng là chuyên viên của Hội đồng Khí hậu thế giới của Liên hiệp quốc (IPCC) đã phát biểu: “Không chỉ có việc giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính mà cả việc thích nghi và tăng trưởng kinh tế cũng có thể hạn chế hậu quả của biến đổi khí hậu.”  Cho đến nay những nhà bảo vệ môi trường và các chính khách chủ yếu quan niệm, cơ hội duy nhất trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu là giảm mạnh mẽ lượng khí thải carbondioxide (CO2). Giờ đây người ta nhất trí với quan niệm: hầu như không thể chặn đứng việc trái đất nóng lên, cũng nghĩa là con người phải thích nghi với nó – điều này đã được thể hiện trong bản báo cáo lần thứ ba của IPCC mới đây.  Còn có một vấn đề về nhận thức cần bổ sung, cũng được thể hiện trong báo cáo của IPCC hồi cuối tháng Ba vừa qua về việc ứng xử với việc trái đất nóng lên: “Hậu quả của biến đổi khí hậu không phải là một vấn đề riêng biệt, phải chống lại hậu quả này cùng với cuộc đấu tranh chống đói nghèo, tình trạng kém phát triển và chính sách tồi tệ.” Bởi tình trạng đói nghèo càng trầm trọng và sự kém cỏi của các chính trị gia càng lớn bao nhiêu thì tác động của trái đất nóng lên càng bộc lộ rõ rệt hơn bấy nhiêu.     Chống nóng cho thành phố  Chiến lược thích nghi thành công như thế nào giờ đây thể hiện qua nhiều dự án được triển khai trên khắp thế giới. Chúng ta hãy cùng nhau dạo một vòng đến những điểm nóng của biến đổi khí hậu để xem những gì người ta đang làm.  London bắt đầu tìm cách thích nghi với biến đổi khí hậu ngay từ khi trong IPCC hầu như chưa ai đề cập đến vấn đề này: Năm 2004 cơ quan quản lý công viên đã cho trồng thêm nhiều cây xanh, mở rộng diện tích bãi cỏ và để cho các con suối trở lại với dòng chảy vốn có của chúng. Thành phố đã đầu tư 24 triệu Euro cho dự án “East London Green Grid”. Giờ đây chủ trương này được mở rộng cho thành phố London kể cả vùng ngoại vi. Đến năm 2025, London sẽ có một mạng lưới diện tích xanh che phủ rộng khắp trong đó diện tích trồng cây chiếm 25% diện tích thành phố, hiện tại tỷ lệ này là 20%.  Kết quả, thảm thực vật sẽ giúp hạn chế hiệu ứng hòn đảo nhiệt. Tại trung tâm London, nhiệt độ có thể cao hơn 7 độ so với vùng lân cận nhưng việc bổ sung sự xanh hoá nhằm cho thành phố này không bị nóng lên trong những năm tới.   Các thành phố còn có một loạt giải pháp khác để phản ứng trước việc nhiệt độ tăng lên. Thành phố Doha (Qatar) đang áp dụng một biện pháp xử dụng năng lượng rất hiệu quả. Tại đây có hai khu vực các công trình xây dựng không được làm mát bằng máy điều hoà nhiệt độ thông thường, mà dùng bơm nước lạnh 5,5 độ C dẫn vào các toà nhà. So với sử dụng điều hoà nhiệt độ thông thường, phương án này giảm tới 40% nhu cầu về năng lượng.   Các thành phố của Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thực sự là một tấm gương tốt. Tại dự án khu dân cư Masdar với khoảng 40 nghìn người và chừng 50 nghìn khách vãng lai, các toà nhà được bố trí thích hợp để luôn hút gió và không khí luôn thông thoáng – không khí thoáng đãng mát mẻ làm cho nhiệt độ mùa hè ở Masdar giảm khoảng 20 độ C so với vùng sa mạc cát ở xung quanh.  Tại những thành phố đã hình thành, nhiều khi có thể cải thiện tình hình qua việc cải thiện công tác tổ chức. Thí dụ sau mùa hè khắc nghiệt năm 2003 làm nhiều người chết, chính quyền thành phố Paris đã phát triển một kế hoạch khẩn cấp. Trong tương lai, khi xẩy ra các đợt nắng nóng gay gắt, những người cần sự hỗ trợ có thể đăng ký với cơ quan chính quyền để được bố trí chỗ ở thích hợp.   Mùa hè 2011, một nhà báo của hãng Thông tấn Ả rập Al Jazeera đã có một phát hiện gây chấn động dư luận: Tại vùng Lakonia, vùng ven biển ở phía nam Hy Lạp, nhiều công nhân làm việc trong các trang trại trồng cam, chanh đã bị bệnh sốt rét, trong khi đó căn bệnh này được coi là đã bị tuyệt diệt ở châu Âu từ năm 1970. Trong bài phát biểu trên đài truyền hình, bác sĩ Apostolos Veiziz làm việc cho tổ chức thiện nguyện Bác sĩ không biên giới đã nêu những lý do về việc trở lại của căn bệnh nhiệt đới này: “Do khủng hoảng tài chính, chính phủ không có tiền để tiến hành phun thuốc trừ muỗi”. Đồng thời nhiệt độ tăng làm cho muỗi phát triển một cách bột phát.  Nhà chức trách Hy Lạp đã điều xe của cơ quan phòng dịch tiến hành thử máu cho công nhân nông nghiệp đồng thời phát thuốc cho họ. Ngoài ra, họ cũng tiến hành phun thuốc trừ muỗi. Việc làm này thu được kết quả, hai năm sau, người ta chỉ ghi nhận được ba ca sốt rét ở Hy Lạp.  Biến đổi khi hậu không chỉ làm cho bệnh sốt rét mà nhiều bệnh truyền nhiễm khác trở nên trầm trọng hơn, trong đó có bệnh sốt xuất huyết và bệnh gây sốt hồi quy do bọ chét truyền, bệnh viêm màng não, bệnh sốt ở thung lũng Rif (châu Phi) và bệnh tả. Vì thế các chuyên gia y tế ở Senegal, Malawi và Ghana được sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu khí hậu ở châu Âu đang xây dựng một hệ thống dự báo dịch bệnh.  Trong dự án mang tên Qweci, các bệnh viện thông báo qua vô tuyến một số loại bệnh, trong đó có các trường hợp bị bệnh sốt rét, tới Trung tâm thu nhận thông tin. Đồng thời các vệ tinh cung cấp dữ liệu về thời tiết đối với tất cả các vùng. Khi số ca bệnh tăng lên và thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của côn trùng thì các thầy thuốc ở các khu vực sẽ được báo động. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc kịp thời và cảnh báo người dân tại khu vực có nguy cơ phát bệnh. Các nhà nghiên cứu đang hoàn thiện hệ thống này để có thể dự báo phát sinh dịch bệnh trước sáu tháng.  Thay đổi phương pháp canh tác  Cách đây ít lâu, nếu nói đến “Pink Lady”, có lẽ nhiều người Đức không biết đây là tên một loại táo. Ngày nay người trồng táo ở Đức cũng trồng loại táo này do trái đất nóng lên. Pink Lady chịu được các đợt nắng nóng tốt hơn so với nhiều giống táo khác, vì vậy trước đây giống táo này chủ yếu chỉ được trồng ở nam Châu Âu như Pháp và Italia.  Do biến đổi khí hậu và do ảnh hưởng của các đợt nắng nóng gay gắt, các chuyên gia dự báo từ năm 2050 năng suất nhiều loại cây trồng sẽ bị giảm tới 25%, đặc biệt là với ngô và lúa mì. Vì vậy cần có những giải pháp thích ứng nếu không trong tương lai sẽ bị thiếu hụt lương thực, thực phẩm vì dân số thế giới vẫn tiếp tục tăng lên.   Tuy nhiên ngay cả ở Đức, người nông dân cũng có cơ hội để thích nghi – thí dụ họ có thể thay đổi phương pháp canh tác, cải thiện công tác thuỷ lợi hoặc trồng các loại cây khác. Điều hết sức quan trọng là việc chọn những giống cây trồng chịu được sự thay đổi khí hậu.   Các nhà nghiên cứu về giống cây trồng cho rằng cây kê có tính chịu hạn cao, có thể thay thế ngô, điều này có tầm quan trọng đặc biệt. Những loại cây trồng có bộ rễ sâu có sức chịu hạn tốt hơn. Những giống cây trồng có khả năng chịu hạn hán cao có thể có năng suất cao hơn so với các giống bình thường tới 15% – nhờ đó bù đắp được cho việc giảm sản lượng do biến đổi khí hậu gây ra.  Theo IPCC, đến năm 2100, mực nước biển có thể tăng từ 30 đến 100 cm. Hiện tại quá trình này còn diễn ra chậm chạp. Vì vậy London dự định sẽ tôn cao hệ thống chống lũ lụt – Thames Barrier – sớm nhất vào năm 2070. Ở Vịnh Đức (Deutsche Bucht), đến giữa thế kỷ này, con đê ở đây vẫn còn chắc chắn. Nhưng theo Ngân hàng Thế giới, giá trị tài sản ở các thành phố ven biển bị đe doạ đến năm 2050 tăng lên gấp mười lần.  Với những vùng đồng bằng dân cư đông đúc bị lún do khai thác nước quá nhiều, mực nước biển dâng lên 1 cm cũng trở thành vấn đề – do đó việc thích nghi là hết sức cần thiết.   Ngay cả quần thể sinh vật biển cũng có phản ứng với việc biến đổi khí hậu. Các đàn cá cũng tiến ra vùng nước mát hơn. Theo Viện Alfred-Wegener ở Bremerhaven thì tại vùng Biển Bắc trong mấy thập niên qua đã có khoảng 40 loài cá mới di cư đến đây, trong đó có loài cá sác đin và cá rô, trong khi loài cá dorsch lại tiến dần lên phía bắc. Những người đánh cá cũng cảm nhận được tình hình này: Ở vùng vĩ độ cao sản lượng đánh bắt cá tăng; nhưng ở vùng biển nhiệt đới sản lượng đánh bắt đến năm 2050 có nguy cơ giảm một nửa, đây là cảnh báo của IPCC. Để thích ứng, người ta buộc phải đánh bắt những loài cá khác.  Việc nuôi trồng thuỷ sản cũng có thể góp phần bảo đảm cung cấp chất đạm cho con người. Trước đây việc nuôi trồng hải sản thường tập trung ở miền duyên hải – và đẩy lùi rừng ngập mặn có tác dụng bảo vệ, chống xâm lấn. Hiện nay có những cách tiếp cận ít gây tổn hại hơn – nuôi cá ở nội địa: thí dụ một số doanh nghiệp ở Đức như Neomar nuôi cá biển như loài cá doraden. Hàn Quốc hiện cũng tiến hành các dự án nuôi trồng hải sản tương tự.  Biết đâu người kế tục ông Bloomberg, ông Bill de Blasio, sẽ phát hiện ra việc câu cá đại dương ngay trong vùng nội địa của New York – và coi đây cũng là một cách để thành phố của ông chuẩn bị ứng phó với biến đổi khí hậu.  Xuân Hoài lược dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các thiên hà vệ tinh của dải Ngân hà giúp kiểm tra lý thuyết vật chất tối      Một nhóm các nhà nghiên cứu do các nhà vật lý tại trường đại học California, Riverside, đã nêu có thể sử dụng những thiên hà vệ tinh bé nhỏ của dải Ngân Hà để kiểm tra những đặc tính cơ bản của vật chất tối – loại vật chất không phát sáng nhưng được nghĩ là chiếm tới 85% vật chất trong vũ trụ này.      Sử dụng các mô phỏng phức tạp, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ một lý thuyết mang tên vật chất tối tự tương tác (SIDM) có thể giải thích một cách thuyết phục về những phân bố đa dạng của vật chất tối trong Draco và Fornax, hai trong số hơn 50 thiên hà vệ tinh của dải Ngân hà.  Vật chất tối lạnh (Cold Dark Matter CDM), một thuyết về vật chất tối đang thịnh hành, giải thích về vũ trụ, bao gồm các cấu trúc xuất hiện trong đó như thế nào. Nhưng một thách thức tồn tại CDM là giải thích những phân bố vật chất tối đa dạng trong các thiên hà.  Nhóm nghiên cứu, do Hai-Bo Yu và Laura V. Sales của UC Riverside dẫn dắt, đã tìm hiểu sự tiến hóa của các “hạ quầng” SIDM trong trường thủy triều dải Ngân hà, gradient trong trường hấp dẫn của dải Ngân hà mà một thiên hà cảm thấy trong quá trình hình thành một lực thủy triều. Các hạ quầng là các cụm vật chất tối của các thiên hà  vệ tinh.  “Chúng tôi thấy SIDM có thể tạo ra sự đa dạng trong phân bố của vật chất tôi ở các quầng của Draco và Fornax, theo như các quan sát của chúng tôi”, Yu, một phó giáo sư vật lý và thiên văn học và là một nhà vật lý lý thuyết về các đặc tính của vật chất tôi, nhận xét. “Trong SIDM, sự tương tác giữa các hạ quầng và thủy triều Ngân hà dẫn đến những phân bố vật chất tối đa dạng hơn trong các nội vùng của hạ quầng, khi so sánh các bản sao CDM”.  Draco và Fornax đều có sự cực đoan đối xứng về vật chất tối của chúng. Draco có độ đậm đặc vật chất tôi cao nhất trong số 9 thiên hà vệ tinh sáng nhất của Ngân hà còn Fornax ngược lại. Sử dụng những đo đạc thiên văn tiên tiến, các nhà vật lý thiên văn đã tái cấu trúc các hành trình quỹ đạo của chúng trong trường thủy triều Ngân hà.  “Thách thức của chúng tôi là hiểu nguồn gốc của những đa dạng trong phân bố vật chất tối của Draco and Fornax dựa theo các hành trình quỹ đạo mới được đo đạc”, Yu giải thích. “Chúng tôi tìm thấy là SIDM có thể đem lại lời giải thích sau khi đưa vào cả các hiệu ứng thủy triều và những tương tác của chính vật chất tối”.  Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên Physical Review Letters.  Việc hiểu được bản chất của vật chất tối là nhiệm vụ trong tâm của vật lý hạt và vật lý thiên văn. Bản chất của vật chất tối vẫn còn chưa được rõ. Không như vật chất thông thường, nó không tự hấp thụ, phản chiếu hay phát xạ ánh sáng, điều đó khiến cho việc dò vật chất tối hết sức khó khăn.  Trong CDM, các hạt vật chất tối được giả định là ít va chạm nhất, và mọi thiên hà đều có bên trong một quầng vật chất tối hình thành hấp dẫn, lực cơ bản để gắn kết vật chất lại với nhau. Trong SIDM, người ta đề xuất vật chất tối tự tương tác thông qua một lực tối mới. Các hạt vật chất tôi được giả định va chạm mạnh với một vật chất khác trong nội quầng, gần với trung tâm thiên hà – một quá trình mà người ta vẫn gọi là sự tự tương tác của vật chất tối.  “Nghiên cứu của chúng tôi chứng tỏ các thiên hà vệ tinh của dải Ngân hà có thể đem lại những thử nghiệm quan trọng về các thuyết vật chất tối khác nhau”, Sales, một trợ lý giáo sư vật lý thiên văn và chuyên gia  về các mô phỏng số sự hình thành của thiên hà, nói. “Chúng tôi chứng tỏ sự tương tác lẫn nhau giữa những tự tương tác vật chất tối với tương tác thủy triều có thể tạo ra những ký hiệu mới trong SIDM mà khó có thể thấy trong thuyết CDM hiện hành”.  Trong công trình này, các nhà nghiên cứu chủ yếu dùng các mô phỏng số “các mô phỏng N vật chất”, và nhận biết thông tin bằng trực giác thông qua mô hinhg hóa phâ tích trước khi vận hành các mô phỏng của mình.  Các mô phỏng của chúng tôi tiết lộ động lực mới khi một hạ quầng SIDM tiến hóa trong trường thủy triều”, Omid Sameie, một cựu nghiên cứu sinh UCR, nghiên cứu cùng Yu – Sales và hiện là một postdoctại trường đại học Công nghệ Texas ở Austin, nghiên cứu các mô phỏng số về sự hình thành của thiên hà. “Chúng tôi tìm thấy một hạ quầng trong SIDM có thể tạo ra một lượng vật chất tối đậm đặc ở mức cao và giải thích được về điều diễn ra ở Draco”.  Sales giải thích thêm, SIDM dự đoán một hiện tượng độc đáo mang tên “sự suy sụp lõi”. Trong các tình trạng nhất định, phần nội quầng suy sụp dưới sự ảnh hưởng của hấp dẫn và tạo ra một lượng đậm đặc. Điều này trái ngược với sự dự đoán thông thường là các tự tương tác vật chất tối dẫn đến quầng có độ đậm đặc thấp. Sales còn cho rằng các mô phỏng của nhóm nghiên cứu nhận ra các điều kiện cho sự suy sụp lõi xuất hiện trong các hạ quầng.  “Để giải thích mức độ đậm đặc của vật chất tối cao ở Draco, sự tập trung quầng ban đầu của nó cần ở mức cao”, bà nói. “Khối lượng vật chất tối cần được phân bố nhiều hơn trong nội quầng. Với SIDM, hiện tượng suy sụp lõi có thể chỉ xuất hiện nếu sự tập trung này ở mức cao hơn vì thang độ thời gian suy sụp thấp hơn tuổi vũ trụ. Nói cách khác, Fornax có một hạ quầng tập trung thấp hơn và gần đây độ đậm đặc của nó vẫn còn rất thấp”.  Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là nghiên cứu của họ vẫn mới chỉ tập trung vào SIDM và không đem lai một đánh giá cực đoan nào vào cách CDM có thể giải thích cho cả Draco lẫn Fornax.  Sau khi nhóm nghiên cứu sử dụng các mô phỏng số để đưa vào tính toán ảnh hưởng về động lực giữa các tự tương tác vật chất tối và các tương tác thủy triều, các nhà nghiên cứu quan sát thấy một kết quả đáng chú ý.  “Vật chất tối trung tâm của hạ quầng SIDM có thể được gia tăng, tương phản với những suy đoán thông thường”, Sameie nói. “Quan trọng là các mô phỏng của chúng tôi nhận biết được các điều kiện cho chính hiện tượng này để xuất hiện trong SIDM, và chúng tôi chứng tỏ có thể giải thích những quan sát về Draco”.  Nhóm nghiên cứu đang lập kế hoạch mở rộng nghiên cứu này trên các thiên hà vệ tinh khác, bao gồm các thiên hà có tín hiệu siêu mờ nhạt.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-satellite-galaxies-milky-dark-theory.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các triệu phú cần giảm phát thải carbon      Theo một nghiên cứu mới của GS. Stefan Gössling, ngành du lịch tại Đại học Linnaeus, chỉ trong vài thập kỷ tới, các triệu phú là nhóm phát thải gần ba phần tư lượng khí thải CO2 trên toàn cầu.     Các triệu phú thường mua sắm nhiều, sử dụng du thuyền, chuyên cơ… gây phát thải carbon gấp nhiều lần người bình thường.  Kết quả này được công bố trên tạp chí Cleaner Production Letters vào tháng 11/2022. GS. Gössling đã xác định rằng 1% dân số thế giới đang phát thải 50% tổng lượng khí thải từ việc di chuyển hàng không thương mại, phần lớn là khách hàng bay hạng phổ thông đặc biệt (premium class, tức cấp độ ở giữa hạng phổ thông và hạng thương gia). Đó là những khách hàng giàu có, bay thường xuyên.  GS. Gössling và đồng nghiệp Andreas Humpe tại Đại học Khoa học Ứng dụng München (Đức) đã phát triển một mô hình để tính toán sẽ có bao nhiêu triệu phú trên thế giới vào năm 2050 và lượng khí thải mà họ sẽ tạo ra.  Kết quả cho thấy tỷ lệ triệu phú trên thế giới sẽ tăng từ 0,7% hiện nay lên 3,3% vào năm 2050. Theo mô hình, lượng khí thải của họ sẽ tương đương với 72% hạn mức khí thải cho phép còn lại. Điều này làm giảm đáng kể khả năng duy trì biến đổi khí hậu ở mức 1,5oC.  Sự gia tăng khí thải liên tục của những người giàu có top đầu sẽ khiến quá trình chuyển đổi carbon thấp khó xảy ra hơn, vì mức tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng của những người giàu nhất này có thể vượt quá khả năng loại bỏ nhiên liệu hóa thạch của hệ thống. Nhóm của ông đặt câu hỏi liệu các biện pháp chính sách có đủ để đáp ứng các mục tiêu khí hậu?  Một trong những câu hỏi cụ thể mà Gössling và Andreas đặt ra liên quan đến luật buộc những người giàu có phải đưa vào những công nghệ không tạo ra khí thải CO2. Điều này sẽ đòi hỏi một lượng lớn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng để sản xuất nhiên liệu. Nhưng ngay cả ở mức độ sử dụng năng lượng như hiện nay thì cũng khó đạt được mục tiêu đó.  GS. Gössling dẫn chứng rằng: “Để loại bỏ sự phụ thuộc vào nhập khẩu than, dầu và khí đốt của Nga và để giảm phát thải khí nhà kính, các quốc gia như Đức, Bỉ, Hà Lan và Đan Mạch đã tuyên bố sẽ tăng cường đầu tư vào năng lượng gió ngoài khơi. Điều này sẽ đặt thêm áp lực lên các kế hoạch vốn đã đầy tham vọng của châu Âu nhằm sản xuất một nửa lượng điện từ năng lượng gió vào giữa thế kỷ”.  Một vấn đề quan trọng khác là liệu có thể sản xuất đủ nhiên liệu hàng không bền vững cho phần nhỏ dân số này không, hoặc liệu nhu cầu năng lượng của những người giàu có nhất sẽ buộc các nhà quản lý phải đưa ra những chính sách quản trị và kiểm soát để cấm việc di chuyển hàng không hạng đặc biệt và sử dụng máy bay tư nhân?  Ba rào cản lớn  Tuy nhiên, GS. Gössling nhấn mạnh rằng ngay cả khi các biện pháp chính sách hạn chế nguồn phát thải cao là bắt buộc và cần thiết (chẳng hạn như thuế lũy tiến đối với khí thải) thì chúng vẫn khó thực hiện bởi ba rào cản.  Rào cản đầu tiên là sự nhận thức giữa các nhà hoạch định chính sách về việc những người giàu có phải bị hạn chế trong việc sử dụng năng lượng và thể hiện trong các quyết định đầu tư của họ. Ở hầu hết các quốc gia, việc tích lũy của cải vẫn luôn được coi là mong muốn của mọi người và có lợi cho tăng trưởng kinh tế nói chung.  Rào cản thứ hai là môi trường chính trị ngày càng phân cực. Trong đó, các chính trị gia không có can đảm để đề xuất, chứ chưa nói đến việc thực hiện các chính sách giảm thiểu phát thải. Ở nhiều quốc gia đã từng gọi mình là người tiên phong về biến đổi khí hậu, việc lật ngược các chính sách đã ban hành trước đó đang diễn ra (ví dụ như Thụy Điển).  Rào cản thứ ba là thiết kế các chính sách giúp giảm lượng khí thải của những người giàu có một cách đáng tin cậy. Những cuộc thảo luận về việc đóng góp khí thải của những người giàu có nhất đã xuất hiện nổi bật trên các phương tiện truyền thông toàn cầu, nhưng có rất ít bằng chứng về việc các chính trị gia đưa vấn đề này vào hệ thống hoặc vượt ra ngoài những biện pháp can thiệp dựa trên thị trường như tăng thuế carbon (với mức tăng tương đối nhỏ). Chính vì thế, việc giải quyết với những người giàu có sẽ là một công việc phức tạp.□  Trang Linh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-strong-political-action-millionaires-enormous.html    Author                .        
__label__tiasang Các va chạm lỗ đen – sao neutron có thể làm giảm tranh cãi về sự dãn nở của vũ trụ      Nghiên cứu về những va chạm lớn giữa các lỗ đen và sao neutron có thể sớm đem lại một đo đạc về vận tốc dãn nở của vũ trụ, qua đó giúp giải quyết một tranh cãi trong thời gian dài. Một trong số đó là nghiên cứu mô phỏng do các nhà nghiên cứu tại UCL (University College London) dẫn dắt.      Các cách hiện hành hiệu quả nhất trong việc ước tính vận tốc dãn nở của vũ trụ – đo đạc độ sáng và tốc độ của các sao quay và phát nổ, và theo dõi những dao động trong phát xạ từ vũ trụ sớm – đều đem lại những câu trả lời khác nhau. Nó cho thấy có thể là lý thuyết của chúng ta về vũ trụ có thể sai.  Kiểu thứ ba trong đo đạc là theo dõi những phát nổ của ánh sáng và những gợn sóng trong không gian từ các vụ va chạm của lỗ đen – sao neutron, có thể giúp giải quyết bất đồng này và làm rõ là liệu lý thuyết của chúng ta về vũ trụ có cần viết lại hay không.  Nghiên cứu mới, được xuất bản trên Physical Review Letters, mô phỏng 25.000 kịch bản va chạm lỗ đen và sao neutron nhằm mục tiêu thấy có bao nhiều vụ dò được bằng các thiết bị trên trái đất vào nửa cuối những năm 2020 1.  Các nhà nghiên cứu đã tìm ra, vào năm 2030, các thiết bị trên trái đất có thể bắt được những gợn sóng trong không – thời gian do khoảng 3.000 vụ va chạm gây ra, và khoảng 100 sự kiện trong đó thì kính viễn vọng có thể quan sát đồng thời các bùng phát ánh sáng.  Họ đi đến kết luận là có thể đủ dữ liệu để đem lại một đo đạc mới, hoàn toàn độc lập về vận tốc giãn nở của vũ trụ, đủ chính xác và tin cậy để xác nhận hoặc bác bỏ về sự cần thiết của một loại vật lý mới.  Tác giả thứ nhất, tiến sĩ Stephen Feeney (Vật lý và thiên văn UCL) cho biết: “Một ngôi sao neutron là một ngôi sao chết, được tạo ra khi một ngôi sao cực lớn phát nổ, sau đó co sụp và khi mật độ đạt đến mức đáng kinh ngạc – cụ thể là đường kính khoảng 10 dặm nhưng với khối lượng gấp hai mặt trời của chúng ta. Sự va chạm của nó với một lỗ đen do đó là một sự kiện mang tính biến động lớn, nguyên nhân gây ra những gợn sóng trong không – thời gian, hay còn gọi là sóng hấp dẫn, nhờ đó chúng ta có thể dò được nó trên trái đất với những đài quan sát như LIGO và Virgo.  “Chúng ta vẫn còn chưa dò được ánh sáng từ những va chạm đó. Nhưng những thành tựu về độ nhạy của thiết bị dò sóng hấp dẫn, cùng với những máy dò mới ở Ấn Độ và Nhật Bản, sẽ dẫn đến một bước nhảy vọt lớn theo cách có nhiều dạng sự kiện mà chúng ta có thể dò. Đó là một sự kích thích đáng kinh ngạc và có thể mở ra một kỷ nguyên mới về vật lý thiên văn”.  Để tính toán sự gia tốc giãn nở của vũ trụ, được biết đến như hằng số Hubble, các nhà vật lý thiên văn cần biết khoảng cách giữa các vật thể thiên văn với trái đất cũng như tốc độ khi chúng chuyển động ra xa. Việc phân tích sóng hấp dẫn cho chúng ta thấy một cuộc va chạm ở bao xa, không chỉ xác định được tốc độ di chuyển.  Để nói một cuộc va chạm trong một thiên hà đang di chuyển nhanh như thế nào, chúng ta nhìn vào “chuyển động đỏ” của ánh sáng – đó là cách chiều dài bước sóng ánh sáng tạo ra từ một nguồn đã bị chuyển động của nó kéo giãn. Các bùng phát ánh sáng có thể đi kèm các vụ va chạm đó, giúp chúng ta định vị được thiên hà, nơi diễn ra cuộc va chạm, cho phép các nhà nghiên cứu kết hợp các đo đạc khoảng cách và đo đạc ánh sáng đỏ trong thiên hà đó.  Tiến sĩ Feeney cho biết thêm: “Các mô hình máy tính của những sự kiện mang tính biến động lớn đó vẫn chưa hoàn thiện và nghiên cứu này có thể đem lại một động lực thúc đẩy để cải thiện chúng. Nếu giả định của chúng ta là đúng thì nhiều cuộc va chạm trong số đó sẽ không tạo ra những phát nổi mà chúng ta có thể dò được – lỗ đen sẽ nuốt chửng một ngôi sao mà không để lại gì cho truy dấu. Nhưng trong một số trường hợp một lỗ đen nhỏ có thể ban đầu xé rách một ngôi sao neutron trước khi nuốt chửng nó, có tiềm năng để lại vật chất bên ngoài lỗ đen, phát xạ bức xạ điện từ”.  Đồng tác giả là  giáo sư Hiranya Peiris (Vật lý và vật lý thiên văn UCL và trường đại học Stockholm) nói: “Sự bất đồng về hằng số Hubble là một trong những bí ẩn lớn nhất vũ trụ. Thêm vào đó để giúp chúng ta giải được mảng ghép này, các gợn sóng không thời gian từ những sự kiện mang tính biến động lớn mở ra một cánh cửa mới cho vũ trụ này. Chúng tôi dự báo là có thể sẽ có nhiều khám phá thú bị trong thập kỷ đến”.  Sóng hấp dẫn đã được dò tại hai đài quan sát ở Mỹ (LIGO Labs), một ở Italy (Virgo), và một ở Nhật Bản (KAGRA). Đài quan sát thứ năm, LIGO-India, hiện đang được xây dựng.  Hai ước tính tốt nhất hiện nay của họ về sự dãn nở của vũ trụ là 67 km mỗi giây mỗi megaparsec (tương đương 3,26 triệu năm ánh sáng) và 74 km mỗi giây mỗi megaparsec.  Kết quả đầu tiên được suy ra từ việc phân tích bức xạ nền vi sóng vũ trụ, bức xạ sót lại từ vụ nổ lớn Big Bang, còn kết quả thứ hai từ so sánh các khoảng cách khác nhau giữa các ngôi sao với trái đất – đặc biệt là các biến quang Cepheid, vốn có độ sáng khác nhau, và sự phát nổ các ngôi sao gọi là siêu tân tinh.  Tiến sĩ Feeney giải thích: “Khi đo đạc nền vi sóng vũ trụ cần một lý thuyết hoàn chỉnh về vũ trụ nhưng phương pháp dựa trên khoảng cách các ngôi sao thì không, sự bất đồng này đòi hỏi bằng chứng vật lý mới nằm ngoài hiểu biết của chúng ta. Trước khi chúng ta có thể có được nhiều xác quyết thì chúng ta cần xác nhận về sự bất đồng này từ những quan sát hoàn toàn độc lập – chúng tôi tin tưởng là những vụ va chạm lỗ đen – sao neutron có thể đem lại những quan sát đó”.  Nghiên cứu này do các nhà nghiên cứu tại UCL, Imperial College London, ĐH Stockholm và ĐH Amsterdam thực hiện với sự hỗ trợ của Hội khoa học hoàng gia Anh, Hội đồng nghiên cứu Thụy Điển, Quỹ Knut& Alice Wallenberg, và Tổ chức nghiên cứu khoa học Hà Lan (NWO).  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-black-hole-neutron-star-collisions-dispute.html  http://www.sci-news.com/astronomy/black-hole-neutron-star-mergers-universes-expansion-rate-09605.html  ———————————-  1. ‘Prospects for measuring the Hubble constant with neutron-star–black-hole mergers”. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.126.171102    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các vi nhựa trên khắp đại dương cận nhiệt đới của Nhật Bản      Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Science of the Total Environment được thực hiện tại Bộ phận Tương tác vật chất ánh sáng về công nghệ lượng tử, thuộc Viện KH&CN Okinawa (OIST) đã tiết lộ sự hiện diện của các vi nhựa trong đại dương xung quanh vùng biển Okinawa.      Christina Ripken, nghiên cứu sinh và là tác giả chính của bài báo cho biết: “Dù có rất nhiều nghiên cứu về các mảnh nhựa lớn hơn trong đại dương nhưng các mảnh nhỏ hơn, có kích thước dưới 5mm vẫn chưa được chú ý, vì vậy điều quan trọng là xác định xem chúng có hiện diện hay không và tác động của chúng đối với sinh vật sống.”  Okinawa là một nơi thú vị để thực hiện nghiên cứu này. Là một hòn đảo nhỏ, có khí hậu cận nhiệt đới ở miền nam Nhật Bản, bao quanh nơi đây là các rạn san hô viền bờ, đồng nghĩa với việc đại dương xung quanh các bãi biển phụ thuộc vào nước mặt và gió. Okinawa cũng được coi là một “vùng xanh” nơi người dân có tuổi thọ rất cao. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng điều quan trọng là phải theo dõi ô nhiễm đại dương vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến những cư dân này.  Christina tiến hành lấy mẫu vào tháng 9/2018. Họ đã chọn 6 địa điểm gần bờ biển của hòn đảo. Để xem xét một loạt các khu vực khác nhau, hai địa điểm trong số này nằm ở phía nam hòn đảo, hai địa điểm khác ở quanh khu trung tâm và hai địa điểm ở phía bắc. Tại Naha, thủ phủ của tỉnh Okinawa, các mẫu được lấy cạnh cảng công nghiệp và sân bay. Dân số của Naha khoảng hơn 300.000 người, chiếm 1/4 dân số hòn đảo. Ngược lại, vùng Cape Hedo ở cực bắc hòn đảo có dân số rất thấp và ít đô thị hóa hơn đáng kể.  Tại mỗi khu vực, vùng nước mặt được chọn kéo dài khoảng 1 km để lọc ra khoảng 800 lít nước và các hạt nhỏ. Các hạt này sau đó được mang đến phân tích ở phòng thí nghiệm tại OIST.  Christina và TS. Domna Kotsifaki, một nhân viên khoa học thuộc bộ phận này, đã kết hợp hai phương pháp – kỹ thuật nhíp quang học và kỹ thuật Raman vi mô – để cung cấp cách phân tích vi hạt mới. Kỹ thuật nhíp quang học sử dụng tia laser để giữ hạt trong chất lỏng, trong khi kỹ thuật Raman vi mô xác định dấu vân tay phân tử duy nhất của mỗi hạt. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu nhìn thấy chính xác những gì hiện diện trong mẫu, dù là vật liệu hữu cơ, vết kim loại hay các loại nhựa khác nhau như polyethylene hoặc polystyrene.  “Phương pháp này khiến nghiên cứu của chúng tôi khác biệt với những nghiên cứu đã có về vi nhựa biển”, TS. Kotsifaki cho biết. “Chúng tôi không cần phải lọc nhựa ra trước, vì vậy chúng tôi có thể xem liệu nhựa có dính trong vật liệu hữu cơ hay không, có vết kim loại hay không và mật độ nhựa trong nước biển được lấy mẫu”. Như dự đoán, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy vùng nước phía nam hòn đảo có nhiều nhựa hơn phía bắc. Điều ngạc nhiên là họ phát hiện ra rằng mối tương quan của nhựa với khu vực con người đang sinh sống nhiều hơn là với khu vực công nghiệp. Nhìn chung, các nhà khoa học đã tìm thấy nhựa trong tất cả các mẫu.  Hơn 75% nhựa trong các mẫu là polyetylen. Theo giả thuyết của các nhà nghiên cứu, chúng có thể đến từ ngư cụ hỏng, nắp chai, đồ dùng gia đình, túi nhựa, hộp nhựa và bao bì. “Trong cộng đồng ngư dân, tại các cảng và bãi biển nơi tàu cá cập bến, công nhân sử dụng bao tải dệt từ polyme để chứa và vận chuyển các mặt hàng, bao gồm cá”, Christina cho biết. “Đây là ví dụ việc các mảnh nhựa nhỏ có thể đi vào đại dương như thế  nào”.  Một con đường khác là nhựa đến từ bụi đường. Nghiên cứu gần đây cho thấy hàm lượng vi nhựa cao trong các mẫu bụi lấy từ các con đường ở khu vực đô thị hóa mạnh mẽ của Okinawa, nơi có lượng xe cộ qua lại đáng kể. “Chúng tôi tìm thấy nhiều nhựa quanh khu vực đô thị hóa mạnh ở phía nam hòn đảo hơn là trung tâm công nghiệp hóa hay vùng nông thôn phía bắc, nhưng chúng tôi tìm thấy nhựa ở khắp nơi”, Christina cho biết.  “Phương pháp này giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về sự phổ biến của vi nhựa xung quanh Okinawa, từ đó có thể đi đến phân tích rủi ro và chính sách ảnh hưởng. Chúng tôi hy vọng nó sẽ góp phần thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu môi trường”.  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-method-reveals-small-microplastics-japan.html  https://www.newsbreak.com/news/2133379042389/novel-method-reveals-small-microplastics-throughout-japans-subtropical-ocean    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các xét nghiệm kháng thể mới có thể tiết lộ quy mô thật về đại dịch coronavirus      Bao nhiêu ca COVID-19 không thể dò được? Và có những ca nào có triệu chứng không rõ rệt về bệnh tật – có lẽ quá nhẹ đến mức họ coi đó là cảm lạnh hoặc các chứng dị ứng – được miễn dịch với những lây nhiễm mới? Nếu vậy thì họ có thể làm chậm sự lây lan của đại dịch không?        Một nhân viên kỹ thuật đang chuẩn bị các mẫu xét nghiệm COVID-19 cho việc xét nghiệm bán tự động tại Phòng thí nghiệm Y tế Northwell ở Lake Success, New York. (John Minchillo/AP Photo)  Trả lời những câu hỏi này là vấn đề mấu chốt để quản lý đại dịch và dự đoán tiến trình của nó. Nhưng các câu trả lời này không đến từ các xét nghiệm bệnh dựa trên RNA. Các nhà khoa học đang tìm hiểu sự hiện diện của các gene virus trong gạc chứa dịch mũi hoặc dịch hầu họng, một tín hiệu của lây nhiễm thực sự. Nhưng các nhà khoa học cần xét nghiệm máu hoặc các kháng thể của một cá nhân với virus SARS-CoV-2. Rất nhiều xét nghiệm có thể dò được tình trạng nhiễm bệnh nhưng quan trọng hơn, chúng có thể nói là liệu hay không một cá nhân bị nhiễm bệnh trong quá khứ bởi cơ thể vẫn còn lưu giữ các kháng thể chống lại từng chống lại thành công các mầm bệnh.  Các phòng thí nghiệm và các công ty trên khắp thế giới đang chạy đua phát triển các xét nghệm kháng thể. và một số đã được sử dụng trong các nghiên cứu nhỏ và bắt đầu được chấp thuận thương mại hóa, trong đó có một số của Trung Quốc. Tuy nhiên thì các dữ liệu quy mô lớn của các xét nghiệm – ví dụ cho thấy một phần nhỏ những người nhiễm bệnh ở Vũ Hán, có thể giờ được miễn dịch – vẫn còn thiếu hoặc ít nhất là không công khai. Các nhà khoa học hi vọng sẽ sớm thay đổi khi nhiều ca xét nghiệm hơn được công khai.  Một đơn hàng khác có thể đặt các phòng thí nghiệm một phương án là chờ đợi hoặc mua các xét nghiệm khi chúng được thương mại hóa. Florian Krammer, một nhà vi trùng học tại trường Y Icahn tại Mount Sinai, và đồng nghiệp đã đưa một tiền ấn phẩm của mình lên một trang web miêu tả một xét nghiệm kháng thể SARS-CoV-2 mà họ vừa phát triển, và những cách để sao chép nó. Đó là một trong nhiều quy trình chi tiết đầu tiên được công bố rộng rãi, và việc sản xuất nó cũng đủ đơn giản, ông nói, để các phòng thí nghiệm khác có thể dễ dàng nâng quy mô lên “để sàng lọc hàng trăm người một ngày” và nhanh chóng có được nhiều dữ liệu về sự chính xác và đặc trưng của xét nghiệm kiểu này. Cùng với sự sẵn sàng của các xét nghiệm đã được thương mại hóa, điều đó nghĩa là thêm một số trả lời quan trọng về sự miễn dịch với COVID-19 có thể sớm có được, ông cho biết thêm.  Để tạo ra xét nghiệm này, các nhà nghiên cứu bắt đầu thiết kế một phiên bản được biến đổi đôi chút của protein gai trên lớp vỏ ngoài SARS-CoV-2. Protein này giúp cho virus xâm nhập vào các tế bào và đó là một đích chính để hệ miễn dịch phản hồi lại virus này, khi cơ thể “khuấy” các kháng thể ghi nhận được protein và bắt virus này để triệt hạ nó. Họ cũng cô lập phần này của protein gai, hay còn được gọi là miền liên kết thụ thể (receptor-binding domain RBD), vốn được virus sử dụng để tấn công các tế bào và giành quyền kiểm soát. Sau đó, họ sử dụng các dòng tế bào để tạo ra một lượng lớn các protein gai được biến đổi và các miền liên kết thụ thể.  Các phân tử được làm trong phòng thí nghiệm giúp cung cấp những yếu tố cơ quản cho một xét nghiệm ELISA, trong đó các kháng thể trong một mẫu má hoặc trigơ plasma thay đổi màu sắc khi chúng ghi nhận một protein đích – ở đây là một miền liên kết thụ thể hoặc protein gai. Các xét nghiệm ban đầu của bốn mẫu máu từ ba bệnh nhân được xác định là nhiễm coronavirus mới và từ 59 mẫu huyết thanh được lưu trữ trước khi bệnh dịch khởi phát chứng tỏ xét nghiệm này hiệu quả, vì các kháng thể đã ghi nhận được protein gai của SARS-CoV-2. Nó chỉ cho kết quả dương tính đối với bệnh nhân nhiễm bệnh COVID-19 chứ không phải cho bất kỳ virus đã được kiểm soát nào.  Các mẫu máu được kiểm soáy này được lấy từ những người trong độ tuổi 20 đến 70, nhiều người từng phơi nhiễm với những virus khác. Họ có chung một coronavirus khác là NL63, vốn là nguyên nhân gây ra các triệu chứng cảm lạnh. Protein gai của nó được sử dụng như thụ thể trên tế bào người để lây nhiễm, vì vậy các nhà khoa học đã lo ngại rằng các kháng thể với virus có thể có phản ứng chéo và là nguyên nhân dẫn đến các xét nghiệm dương tính giả. “Nhìn toàn thể thì nó âm tính”, Krammer nói.    Sự thật về việc các kháng thể với NL63 không phản ứng với các protein của SARS-CoV-2 đang gợi mở nguyên nhân khác, ông cho biết thêm. Một số dịch bệnh do virus khác gây ra, như sốt xuất huyết, có thể là nguyên nhân nhiều triệu chứng nghiêm trọng nếu một người từng bị phơi nhiễm với một chủng họ hàng gần của virus này và sẵn sàng có miễn dịch một phần. Sự tồn tại của các kháng thể có thể phản ứng với kẻ xâm nhập hàng gần và kích hoạt một phản ứng quá mạnh và nguy hiểm, hiện tượng tăng cường kháng thể phụ thuộc (antibody-dependent enhancement ADE). Một vài nhà nghiên cứu đã đề xuất là tăng cường kháng thể phụ thuộc có thể giải thích tại sao virus lại trở nên độc hơn với người lớn tuổi và ít độc hơn vơi trẻ em, những người bị phơi nhiễm ít hơn với các coronaviruse khác.  Krammer cho biết ông và đồng nghiệp đang sẵn sàng sử dụng xét nghiệm của mình tại bệnh viện New York để hiểu rõ hơn về cách bệnh nhân COVID-19 bắt đầu phát triển các kháng thể với virus. Trogn tương lai, nó có thể giúp nhận diện được những bệnh nhân phục hồi để họ có thể đóng góp huyết thanh giàu kháng thể SARS-CoV-2 để giúp điều trị các bệnh nhân nhiễm nặng. Theo Krammer thì một ứng dụng quan trọng khác là có thể nhận diện được người đã phát triển miễn dịch với virus. Họ có thể có khả năng điều trị bệnh nhân một cách an toàn hơn hoặc đảm trách những việc nguy hiểm trong suốt thời gian diễn ra đại dịch.  Việc xét nghiệm bằng kháng thể trên diện rộng có thể cung cấp dữ liệu quan trọng cho những nỗ lực về mô hình hóa quá trình bệnh dịch. Các dự đoán hiện nay kháu nhau quá lớn, dẫn đến việc một số nhà khoa học đặt câu hỏi về sự cần thiết của các phương pháp khoanh vùng bệnh dịch như đóng cửa khu vực có bệnh hoặc cách ly xã hội. Bằng việc chỉ ra bao nhiêu người dân đã được miễn dịch bởi chỉ lây nhiễm nhẹ, dữ liệu về kháng thể có thể đề xuất ra một cách thức kiểm soát tình hình lây truyền virus hiện nay.  Dữ liệu được  bổ sung có thể hình thành các vấn đề thiết thực như liệu có cần mở cửa trường học hoặc mở lại như thế nào. Một số ca nhiễm bệnh ở trẻ em nhưng vẫn còn chưa rõ là liệu chúng không bị lây nhiễm hay vì các lây nhiễm của chúng về tổng thể quá nhẹ đến mức bị bỏ qua? Xét nghiệm trẻ em bằng các kháng thể SARS-CoV-2 có thể giải quyết được vấn đề này.  Các xét nghiệm kháng thể về dài hạn sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu khả năng miễn dịch với virus kso dài trong bao lâu, một vấn đề quan trọng với bất kỳ loại vaccine tương lai nào. Với các loại virus của họ corona khác, Krammer lưu ý, sự miễn dịch sau một lần lây nhiễm vẫn còn mạnh trong vài tháng nhưng sau đó bắt đầu yếu đi. Các bác sĩ ở Đức đang thử nghiệm trên các bệnh nhân COVID-19 từ một nhóm nhỏ ở Bavaria nhiễm bệnh vào tháng 1/2020. Một tháng sau khi lây nhiễm, các mức kháng thể vẫn còn ở mức cao, Clemens Wendtner, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Schwabing Clinic, nói.  Nhóm nghiên cứu của Krammer đang sốt sắng muốn xét nghiệm càng nhiều mẫu máu càng tốt nhưng khi bệnh dịch đang có ở New York thì nó cũng khiến công việc của phòng thí nghiệm chậm thêm một chút. Ông nói với các thành viên của phòng thí nghiệm là tránh di chuyển. “Mọi người không thuộc diện đi bộ hoặc đi xe đạp đều ở nhà.”  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/03/new-blood-tests-antibodies-could-show-true-scale-coronavirus-pandemic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng trong nhiều sự kiện thời tiết khắc nghiệt      Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Environmental Research: Climate, biến đổi khí hậu được cho là nguyên nhân gây ra phần lớn các đợt nắng nóng, nhưng mối liên hệ của nó với các sự kiện cực đoan khác, cũng như tác động với xã hội lại ít được xem xét.    Một đám cháy rừng ở vùng núi Kyrenia, phía Bắc đảo Síp. Ảnh: AFP/Getty Images  GS. Friederike Otto, người chuyên nghiên cứu về môi trường và biến đổi khí hậu tại Viện Nghiên cứu Grantham thuộc Đại học Hoàng gia London và là một trong những tác giả chính của nghiên cứu, nhận xét: “Một điều khá phổ biến hiện nay là khi xảy ra một sự kiện thời tiết cực đoan, một giả định quan trọng là biến đổi khí hậu đóng vai trò chính. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng”.  Trong nghiên cứu, nhóm của GS. Otto đã sử dụng “khoa học phân bổ” để xem xét các dữ liệu sẵn có, các tài liệu và nhiều mô hình khí hậu – cũng như các báo cáo mới nhất của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), từ đó tính toán xem biến đổi khí hậu do con người gây ra đang ảnh hưởng như thế nào đến tác động của năm loại sự kiện thời tiết cực đoan là sóng nhiệt (hay còn gọi là đợt nắng nóng), mưa lớn, hạn hán, cháy rừng và bão nhiệt đới.  Họ cho biết trong trường hợp sóng nhiệt, biến đổi khí hậu thể hiện vai trò rất rõ ràng. Mức nhiệt trung bình và mức nhiệt khắc nghiệt ở mọi châu lục trên toàn cầu đều đang gia tăng, đặc biệt vì biến đổi khí hậu do con người gây ra. Theo một báo cáo của IPCC, một đợt nắng nóng có 1/50 khả năng xảy ra trong thời kỳ tiền công nghiệp hiện có khả năng xảy ra cao hơn gần 5 lần và nóng hơn 1,2oC. Dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thảm họa EMDAT cho thấy, trong 20 năm qua, đã có 157.000 người chết vì 34 đợt nắng nóng. Tuy nhiên, tác động của biến đổi khí hậu tới các đợt nắng nóng và hậu quả của chúng vẫn đang bị đánh giá thấp.  “Một lý do quan trọng khiến chúng ta đánh giá thấp các đợt nắng nóng là vì không ai đột tử trên đường trong đợt nắng nóng, hoặc rất ít người bị như vậy”, GS. Otto nói. Bà cho biết, hầu hết mọi người chết vì các tình trạng bệnh tật có từ trước đột nhiên chuyển thành cấp tính và điều này thường không hiển thị trong dữ liệu.   “Khi tập trung quá nhiều vào biến đổi khí hậu, chúng ta sẽ bỏ quên những yếu tố địa phương như tỷ lệ nghèo đói cao, thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu đầu tư, thiếu hệ thống chăm sóc sức khỏe … Tất cả những khía cạnh yếu ớt được phơi bày này đang biến mọi trận hạn hán trở thành một thảm họa”, GS. Otto nói.  GS. Otto cho biết, vấn đề chính của việc tìm hiểu biến đổi khí hậu chịu trách nhiệm đến đâu trước những tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan, nằm ở chỗ thiếu dữ liệu đáng tin vậy trên toàn cầu. Chúng ta không có đủ thông tin từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, mặc dù đây là những nơi có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng từ hậu quả của biến đổi khí hậu do con người gây ra.  GS. Frances Moore về kinh tế môi trường tại Đại học California, Davis, người không tham gia vào nghiên cứu, cho biết trong vài năm qua, đã có những tiến bộ khoa học đáng kể trong việc quy kết các sự kiện cực đoan và hậu quả của chúng tới hiện tượng biến đổi khí hậu do con người tạo ra.   “Nhưng một cảnh báo quan trọng là hậu quả của biến đổi khí hậu không chỉ dừng lại ở các hiện tượng thời tiết cực đoan”, GS. Moore nói. Những thay đổi trong “điều kiện thời tiết thông thường” cũng có thể gây ra hậu quả lớn về tỷ lệ tử vong, nông nghiệp, năng suất và an toàn của người lao động. “Đó có thể là hậu quả tổng hợp của những biến đổi, trong đó những điều kiện thời tiết ‘không khắc nghiệt’ lại chiếm một phần lớn trong tổng số tác động của biến đổi khí hậu”.  GS. Otto kêu gọi một định nghĩa rộng hơn về những gì được coi là “rủi ro” trong mô hình biến đổi khí hậu thay vì chỉ đơn giản là bám vào các mối nguy và tác động của chúng. Theo bà, các yếu tố khác như ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt lên cá thể, năng suất lao động, cơ sở hạ tầng, hệ thống nông nghiệp và tài sản cũng cần được tính đến.□  Trang Linh lược dịch  https://www.theguardian.com/environment/2022/jun/28/climate-change-heatwaves-droughts-study-weather     Author                .        
__label__tiasang Cách chống kháng kháng sinh?      LTS: GS. Klaus Krickeberg, người đã có 40 năm giúp xây dựng ngành y tế công cộng của Việt Nam, cho rằng kháng kháng sinh là tội ác lớn nhất trong lịch sử y học vì nó bị “che giấu” hơn nửa thế kỉ vì lợi nhuận của ngành công nghiệp dược phẩm và sự thiếu đạo đức của thầy thuốc. Ông cho rằng, điều này chỉ có thể giải quyết bằng sự quyết liệt của các giải pháp chính trị.    Lao và sốt rét là hai trong số những bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở Việt Nam. Với sốt rét, theo Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng thì có 30.000 người mắc mỗi năm. Với bệnh lao, Việt Nam nằm trong top 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới với 124.000 người mắc mới vào 2017    Tuần lễ nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề xướng nhằm thu thập 1000 cam kết sử dụng kháng sinh hợp lý tại Việt Nam.   Trường hợp 1: Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, những người xét nghiệm dương tính với lao thông thường được điều trị theo phác đồ chuẩn gọi là “Phác đồ điều trị thuốc ngắn ngày có giám sát trực tiếp” (DOTS). Dây cũng là phác đồ điều trị được sử dụng trong “Chương trình phòng chống Lao quốc gia”. Đôi khi, phác đồ điều trị này thất bại; khi đó sẽ áp dụng phác đồ điều trị bậc hai; tuy nhiên phác đồ điều trị này đắt tiền hơn và có những tác dụng phụ nặng. Yếu tố chính làm cho phác đồ điều trị đầu tiên thất bại là tình trạng kháng nhiều thuốc của vi khuẩn lao mycobacterium (M.) tuberculosis đối với các thuốc chính được sử dụng để điều trị, cụ thể là sự hiện diện của một genotip “Bắc Kinh” mới của M.tuberculosis.  Gần đây, các nhà dịch tễ học Việt Nam và Hà Lan đã tiến hành một nghiên cứu ở tỉnh Tiền Giang để điều tra vấn đề này sâu hơn. Sau đây là các điểm chính về nghiên cứu này.  Các nhà điều tra ghi chép dữ liệu về tất cả các bệnh nhân dương tính với phản ứng smear trong số những người đến khám ở một trong ba đơn vị điều trị lao của huyện được lựa chọn hoặc ở bệnh viện lao tỉnh từ ngày 1 tháng 7 năm 2003 đến ngày 30 tháng 6 năm 2007. Ngoài dữ liệu cá nhân, có các dữ liệu về genotip tác nhân gây bệnh, tình trạng kháng thuốc, bệnh nhân mới được điều trị hoặc đã được điều trị trước đó, và sự tuân thủ điều trị (tuân thủ). Sau khi loại trừ một vài người vì các lí do khác nhau, 1.106 bệnh nhân còn lại hình thành nên “quần thể nghiên cứu”.  Bây giờ, genotip tác nhân gây bệnh xác định nên hai “thuần tập” người. Thuần tập thứ nhất bao gồm tất cả các bệnh nhân có tác nhân gây bệnh là genotip Bắc Kinh, là 380 người. Thuần tập thứ hai gồm những người bị nhiễm genotip không phải là genotip Bắc Kinh là 726 người. Trong bối cảnh này, sự hiện diện hoặc không hiện diện của Genotip Bắc Kinh là “biến phơi nhiễm”.  Các nhà điều tra theo dõi tất cả các đối tượng ở hai thuần tập cho đến khi biết kết quả của phác đồ điều trị bậc một: hoặc là thất bại hoặc là thành công. Đây là “biến hậu quả”. Kết quả chỉ ra rằng, nguy cơ điều trị thất bại trong “thuần tập Bắc Kinh” cao gấp ba lần thuần tập còn lại, tức là kháng thuốc cao hơn nhiều ở thuần tập có tác nhân gây bệnh là genotip bắc kinh.  Trường hợp 2: Một căn bệnh nhiễm khuẩn mãn tính ít phổ biến hơn ở Việt Nam, sốt rét, theo Niên giám thống kê y tế năm 2007 của Bộ Y tế Việt Nam đưa ra thì số hiện mắc là 83.27 và số tử vong là 0.02 trên 100 nghìn dân cũng đã ghi nhận tình trạng kháng kháng sinh. Năm 1955, Tổ chức Y tế thế giới đã phát động “Chương trình thanh toán bệnh sốt rét toàn cầu”, dựa trên việc kiểm soát véc tơ truyền bệnh bằng cách phun thuốc DDT và điều trị hàng loạt bằng thuốc chloroquine. Chương trình này được thực hiện chủ yếu tại Nam Mỹ và Châu Á và trên quy mô rất hạn chế ở một vài quốc gia Châu Phi cận Sahara. Trong nhiều thập kỉ, phác đồ điều trị chuẩn là sử dụng chloroquine. Tuy nhiên, chương trình này đã thất bại và đến năm 1972, mục tiêu thanh toán bệnh sốt rét đã chính thức bị từ bỏ. Lí do chính là sự xuất hiện của chủng Plasmodia và nó đã khác chloroquine, đồng thời với việc kháng kháng sinh của muỗi Anopheles. Sau đó, người ta đã đưa ra một phác đồ điều trị chuẩn mới có tên là “liệu pháp dựa vào Arteminisin”. Nhưng gần đây, người ta đã phát hiện thấy các chủng Plasmodium falciparum kháng artemisinin ở vùng biên giới giữa thái Lan và Campuchia.  Cần các quyết định chính trị mạnh mẽ    Poster về kháng kháng sinh của WHO (Đã được chuyển ngữ sang Tiếng Việt bởi Tia Sáng)   Hiện tượng kháng kháng sinh lần đầu tiên được quan sát từ năm 1947; nó liên quan đến sự kháng penicillin. Trong gần 70 năm qua, ngày càng có nhiều quan sát tương tự. Dù vậy, cuộc thảo luận rộng rãi và nghiêm túc về vấn đề này chỉ bắt đầu khoảng 20 năm trước; các nghiên cứu nghiêm ngặt diễn ra khá chậm, và hậu quả là việc quản lý nguy cơ vẫn còn ở mức sơ đẳng. Tuy nhiên, kháng kháng sinh hiện đã được một số nhà hoạt động y tế công cộng và một số ít chính trị gia quan tâm như một trong những vấn đề rất nghiêm trọng của nhân loại trong tương lai gần.  Cơ chế tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc được gọi là “áp lực chọn lọc” trong di truyền học cổ điển. Những vi khuẩn kháng thuốc sinh ra do dột biến sống sót qua một cuộc điều trị, trong khi các vi khuẩn khác bị tiêu diệt. Vì vậy, có hai cách gây ra những sự kháng kháng sinh trên diện rộng khác nhau.  Cách đầu tiên là lạm dụng thuốc kháng sinh. Thầy thuốc kê thuốc kháng sinh một cách tự động mỗi khi nghi ngờ bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, kể cả bị nhẹ và thường không có xét nghiệm khẳng định. Việc sử dụng kháng sinh phổ rộng (loại kháng sinh nhằm tiêu diệt nhiều hơn một nhóm vi khuẩn – ND) chính là một hình thức cực đoan của thực hành này. Kể từ khi bắt đầu đưa thuốc điều trị chính xác vào sử dụng từ nhiều thế kỉ trước, việc chuẩn đoán trở thành một trong những bước cơ bản để quản lý trường hợp bệnh. Tuy nhiên, ngày nay thầy thuốc thường bỏ qua bước này mà kê ngay thuốc kháng sinh. Họ làm như vậy để tiện cho họ, nhưng còn hơn thế là do áp lực mạnh từ ngành công nghiệp dược phẩm. Hành động chống lại việc này đòi hỏi các quyết định chính trị từ phía chính quyền: giáo dục người dân từ chối sử dụng thuốc kháng sinh khi chúng rõ ràng là không hiệu quả; đầu tư nhiều hơn vào các quy trình chẩn đoán bệnh; hệ thống bảo hiểm y tế chung không trả tiền cho những điều trị vô ích; ngăn không cho ngành công nghiệp dược phẩm gây ảnh hưởng tới cộng đồng y khoa theo hướng lạm dụng thuốc kháng sinh.  Ở một số quốc gia trong đó có Việt Nam, có một nguồn thứ hai gây ra lạm dụng kháng sinh ngoài thầy thuốc: người dân có thể tự do mua mà không cần đơn thuốc. Việc cấm bán thuốc không theo đơn có thể tạo một số áp lực lên hệ thống y tế và đòi hỏi thêm nguồn lực, nhưng cần phải làm; đây là một quyết định mang tính chính trị.  Cách thứ hai gây ra kháng thuốc diện rộng là điều trị không triệt để. Một liệu trình điều gì một nhiễm khuẩn nếu để cho một số vi khuẩn còn sống sẽ làm tăng khả năng sót lại đặc biệt là những cá thể đã đột biến kháng điều trị. Một lần nữa, việc quản lý rủi ro tất yếu cần dựa trên một quyết định chính trị, cụ thể là đầu tư vào hệ thống y tế nhằm đảm bảo việc giáo dục cả cán bộ y tế lẫn người dân tránh điều trị không triệt để.  Hai cách tạo ra các vi khuẩn kháng kháng sinh kể trên đều thông qua thầy thuốc. Tuy nhiên, còn có hai cách khác nữa xuất phát từ những kháng sinh có trong môi trường của chúng ta. Đầu tiên, kháng sinh thường được tìm thấy trong rác thải. Ở một số quốc gia, chúng có thể xuất phát từ các bệnh viện, nhưng trong đa số các trường hợp là từ việc các cá nhân vứt bỏ thuốc không sử dụng. Thứ hai, và quan trọng hơn nhiều, là sự hiện diện của kháng sinh trong thịt và cá. Người ta cho gia súc và cá nuôi sử dụng một lượng lớn kháng sinh, ví dụ như cá hồi, chủ yếu để phòng nhiễm vi khuẩn. Cần đưa ra một quyết định chính trị về việc có nên tiếp tục cho phép việc làm này hay không, nhằm lựa chọn giữa việc thúc đẩy sản xuất thịt và cá hay giảm những nguy cơ có hại cho sức khoẻ cộng đồng trong tương lai.  *Bài viết được biên tập và trích đăng từ hai quyển sách Dịch tễ học: Chìa khóa của Y tế dự phòng (Epidemiology – Key to Prevention) và Sức khỏe môi trường các nguyên lý cơ bản (Environmental Health: Basic Principles) của NXB Y học, 2016 trong bộ sách về Y tế công cộng của GS. Klaus Krickbeberg       Author                Klaus Krickeberg        
__label__tiasang Cách mạng công nghệ và sự thay đổi địa chính trị thế giới      Sự phát triển của khoa học công nghệ với tốc độ không tưởng hiện nay, buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi là tương lai sẽ bị chi phối bởi máy móc như thế nào? Bản đồ địa chính trị thế giới liệu có bị vẽ lại hay không?    Nếu dự đoán tương lai là việc quá khó khăn, có lẽ chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nhìn lại quá khứ. Một trong những thời điểm có thể coi là tương đồng nhất với chúng ta bây giờ là những năm đầu thế kỷ XIX – khi con người chưa biết rằng động cơ hơi nước sẽ thay đổi thế giới như thế nào, cũng như chúng ta không biết công nghệ hiện đại với trí thông minh nhân tạo sẽ định hình lại thế giới tương lai ra sao?    Robot YuMi diễn tập tại Nhà hát Verdi (Pisa, Italy) ngày 12 tháng Chín, 2017. Nguồn: Foreign Affairs.com   Chìa khóa của thế kỷ XIX  Nhắc đến thế kỷ XIX, chúng ta thường nhắc đến bình minh của dân chủ tự do – người Pháp đã chém đầu vua của họ và khai sinh một nền cộng hòa. Tại Vương quốc Anh, nhà triết học John Stuart Mill đã đấu tranh cho chế độ quân chủ lập hiến ngày nay. Các nhà kinh tế học như Thomas Malthus và David Ricardo đã khởi động nền kinh tế thị trường.  Thế kỷ XIX cũng là thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa đế quốc và thuộc địa, và khởi đầu cho các cuộc đại chiến. Nó cũng đánh dấu sự suy giảm niềm tin tôn giáo và quyền lực chính trị tuyệt đối, đồng thời chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và quyền bình đẳng giữa người với người. Phụ nữ ở Seneca Falls, New York biểu tình đòi quyền bình đẳng và bầu cử, Anh tuyên bố buôn bán nô lệ là phi pháp, Mỹ đã giải phóng nô lệ còn Nga trả tự do cho giai cấp nông nô.  Như vậy: dân chủ, tư bản, thực dân, chủ nghĩa dân tộc và bình đẳng con người – đây là những từ khóa của thế kỷ XIX, là đặc điểm địa chính trị quan trọng nhất của giai đoạn này. Tuy nhiên, tất cả mọi thứ trên sẽ đều không quan trọng, thậm chí không xảy ra, nếu không có sự xuất hiện của Cách mạng Công nghiệp. Không có CMCN sẽ không có sự trỗi dậy của giai cấp trung lưu và không có áp lực thực sự tới dân chủ. Sẽ không có cách mạng tư bản bởi một quốc gia nông nghiệp không cần điều này, đồng thời không có chủ nghĩa thuộc địa trên quy mô toàn cầu bởi các quốc gia không gặp áp lực về thiếu tài nguyên cho sản xuất. Các cuộc đại chiến sẽ không xảy ra nếu thiếu thép giá rẻ và công nghiệp sản xuất vũ khí chính xác. Và khi phần nhiều thế giới vẫn còn mắc kẹt trong nền văn hóa và kinh tế dựa vào nông nghiệp, sẽ chẳng có kết thúc cho chế độ nô lệ và khởi đầu của nữ quyền.   Vậy nên, thực tế là địa chính trị của cả thế kỷ XIX không phải chờ đến khi bước vào những năm 1800 mới bắt đầu được định hình mà đã được quyết định từ trước đó 90 năm – vào giây phút Thomas Newcomen phát minh ra động cơ hơi nước đầu tiên.   Thông minh hơn  Các sự kiện diễn ra trong thế kỷ XXI không thể giống với thế kỷ XIX, nhưng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại, chúng ta có thể khẳng định rằng thế giới đang chuẩn bị bước vào một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai – lần này là một cuộc cách mạng kỹ thuật số.  Nhiều người cho rằng cuộc cách mạng này đã diễn ra, nhưng thực tế là chưa. Bởi về nguyên tắc, một cuộc cách mạng công nghệ thực sự sẽ gia tăng năng suất tổng thể toàn cầu – giống như trong cách mạng công nghiệp, khi máy móc cho phép các công ty sản xuất được khối lượng sản phẩm lớn hơn nhiều với cùng số công nhân như cũ. Còn hiện tại, năng suất lao động chưa có nhiều thay đổi đáng kể. Dù trong giai đoạn 1970 – 2007, năng suất lao động tăng đều đặn nhưng đó không phải là do tiến bộ công nghệ mà là nhờ việc áp dụng chuỗi cung ứng toàn cầu và tiến bộ trong công tác hậu cần, kho bãi. Sau năm 2007, năng suất lao động chỉ tăng chậm chạp, bất chấp nhiều phát minh, sáng chế đột phá được ra đời.  Vì vậy, điều gì thực sự sẽ đến khi thế giới sẽ “chạm ngõ” cách mạng kỹ thuật số? Câu trả lời là những tiến bộ ngày càng mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI). Trong khoảng hai, ba thập niên qua, sức mạnh máy tính đã tăng gấp đôi sau mỗi một, hai năm và tạo ra bước tiến đáng kể trong AI. Mạng thần kinh đã được thay bởi hệ chuyên gia và rồi thay thế tiếp bởi học máy, nhờ vậy máy tính đã trở nên “thông minh hơn” và có thể đọc văn bản hay tìm kiếm trên internet. Hiện nay, sức mạnh tính toán của máy tính mạnh nhất thế giới đã tương đương năng lực con người (rơi vào khoảng 10 đến 100 petaflops) và trong một cuộc khảo sát vào năm 2017, khoảng 50% các chuyên gia AI phản hồi rằng họ tin rằng AI sẽ có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ của con người vào năm 2060. Thêm vào đó, chúng ngày càng nhanh hơn, không bao giờ thấy mệt mỏi, có quyền truy cập nhanh vào tất cả các kiến thức nhân loại và có khả năng phân tích cao hơn nhiều bất kỳ con người nào. Trong vài thập niên tới, những tiến bộ này sẽ thay đổi thế giới theo những hướng mà chúng ta không thể tưởng tượng được.  Kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo  Cuộc cách mạng kỹ thuật số dựa trên AI sẽ là cuộc cách mạng địa chính trị lớn nhất trong lịch sử loài người. Trung Quốc đang trỗi dậy với sự phát triển kinh tế, bành trướng chính trị hay truyền bá lịch sử, văn hóa mạnh mẽ và sẽ còn tiếp diễn trong khoảng 20 năm nữa. Nhưng để có thể trở thành bá chủ thế giới, họ phải có công nghệ AI tốt nhất thế giới, nếu không, giấc mộng Trung Hoa sẽ chẳng bao giờ thực hiện được – như Tổng thống Nga Putin đã nói: bất kỳ quốc gia nào trở thành lãnh đạo trong lĩnh vực AI sẽ thống lĩnh thế giới. Người Trung Quốc hiểu điều này và đặt mục tiêu sẽ trở thành dẫn đầu về AI vào năm 2030. Trong khi đó, các quốc gia như Nga, Pháp,… cũng đang tích cực chạy đua khi tăng ngân sách cho nghiên cứu AI.  Chủ nghĩa khủng bố Thánh chiến vốn là nỗi ám ảnh trong thế kỷ hiện đại, cũng sẽ suy giảm đáng kể và “sa lưới” bởi AI. Máy bay không người lái kết hợp với sức mạnh phân tích dữ liệu khổng lồ về tín hiệu trí tuệ, giúp theo dõi và xử lý bất kỳ đối tượng nào. Trong khi đó, ở lĩnh vực phòng chống tội phạm, AI ngày càng đóng vai trò như một cảnh sát mạng cho phép bắt giữ tội phạm từ “mạng tối”.  Còn nền dân chủ tự do – vốn đang bị đe dọa bởi những lo lắng về nhập cư và mất việc làm trong cộng đồng, sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn bởi sự góp mặt của AI. Trong vòng một thập kỷ tới, nhiều khả năng là các tài xế xe tải đường dài sẽ bị thay thế bởi công nghệ tự lái. Tại Mỹ, con số này là hai triệu việc làm, và một khi AI đủ tốt để lái một chiếc xe tải, có lẽ nó cũng đủ tốt để làm các nhiệm vụ nào khác mà người lái xe tải có thể chuyển sang.  Câu hỏi là có bao nhiêu công việc sẽ bị mất và điều này diễn ra trong bao lâu? Phân tích năm 2017 của công ty kiểm toán PwC dự báo rằng khoảng 38% tất cả các công việc ở Mỹ sẽ “có nguy cơ cao bị tự động hóa vào đầu những năm 2030”, hầu hết trong số đó là các công việc thường xuyên lặp lại như điều hành pít tông nâng xe, công nhân lắp ráp hay thanh toán bán hàng. Đến những năm 2040, các nhà nghiên cứu AI dự đoán, máy móc đã có thể tiến hành nghiên cứu bài toán gốc, thực hiện phẫu thuật, viết các tiểu thuyết bán chạy hàng đầu và thực hiện bất kỳ công việc nào khác có đòi hỏi kỹ năng nhận thức cao tương tự. AI làm tăng nguy cơ thất nghiệp hàng loạt, dẫn tới sự trỗi dậy của làn sóng dân túy và đe dọa đến chủ nghĩa dân chủ. Tôn giáo cũng sẽ gặp một số khó khăn, bởi tương tác giữa con người với thế giới ngày càng thông qua các phương tiện trung gian phi tự nhiên, và dường như không có nhu cầu nào hướng đến một sức mạnh cao hơn.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn:  https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2018-06-14/tech-world  https://www.redanalysis.org/2017/11/27/artificial-intelligence-will-power-geopolitics-presenting-ai-open-access/  https://www.huffingtonpost.com/david-gosset/artificial-intelligence-a_2_b_10710612.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cách mới nhận diện ứng suất trong dòng chảy phức hợp      Các nhà nghiên cứu động lực học dòng chảy thường sử dụng nhiều kỹ thuật để nghiên cứu về những dòng chảy rối như các dòng chảy đại dương hoặc khí quyển xoáy của các hành tinh. Nhóm nghiên cứu của Arezoo Adrekani mới khám phá ra một cấu trúc toán học được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau có thể đem lại thông tin có giá trị về ứng suất trong các hình học dòng chảy phức hợp.    Các cấu trúc tương quan Lagrange (LCS) là các cấu trúc toán học được sử dụng để dự đoán động lực của các dòng chảy, từ các dòng chảy đại dương đến các đám mây chảy rối trên các hành tinh. Arezoo Ardekani khám phá ra là LCSs có thể ứng dụng với các dòng chảy nhớt đàn hồi. Nguồn: NASA/JPL-Caltech/SwRI/MSSS  Ardekani, một giáo sư kỹ thuật cơ học của ĐH Purdue, đã nghiên cứu về nhiều dạng dòng chảy phức hợp: từ các quá trình vận chuyển liên quan  tới dược phẩm sinh học, đến hành xử của các vi sinh vật trong dầu. “Chất lưu Newton như nước thì dễ hiểu bởi chúng không có cấu trúc vi mô”, bà nói. “Nhưng chất lỏng phức hợp lại có các đại phân tử có thể kéo giãn và nhiều thay đổi của các đặc tính của chất lỏng dẫn đến rất nhiều động lực học chất lỏng thú vị”.  Các chất lỏng dạng nhớt đàn hồi/đàn nhớt xuất hiện một cách thường xuyên trong tự nhiên, trong các thiết kế sinh dược và trong nhiều ứng dụng công nghiệp – như các dung dịch sử dụng trong thẩm thấu nước ngầm. “Khi các dung dịch chứa polymer dùng để phân tán hóa chất được thiết kế để phá vỡ các chất ô nhiễm”, Ardekani nói. “Nhưng loại nào của polymer được sử dụng, dung lượng là bao nhiêu, nơi nào chúng có thể được đưa vào? Chỉ có một cách để trả lời những câu hỏi này là hiểu được hành xử của các dòng chảy đó và cụ thể hơn là đo đạc các ứng suất của nó”.  Hiện tại, chỉ có một cách để định lượng ứng suất của dòng chảy chứa polymer là một kỹ thuật gọi là birefringence có thể đo đạc được các đặc tính quang cụ thể của dòng chảy. Nhưng rất khó để thực hiện nó, thông thường ít chính xác và thường không ứng dụng trên nhiều dạng đại phân tử.  Nhóm nghiên cứu của Ardekani đã khám phá ra một kỹ thuật mới. Họ đã tạo ra một khung toán học tính toán thông số đầu vào từ vận tốc chất lỏng, thu được từ vận tốc hình ảnh hạt (một kỹ thuật chung của động lực học chất lỏng), và các thông số đầu ra ứng suất và topo trường kéo bởi các chất lỏng phức hợp. Bài báo công bố kết quả nghiên cứu của họ trở thành bài “đinh” trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS).  Trong vận tốc hình ảnh hạt (PIV), các hạt được theo đuổi được tiêm vào một chất lỏng. Bằng việc sử dụng chuyển động của các hạt đó, các nhà nghiên cứu có thể ngoại suy ra thông tin về toàn bộ chuyển động học của chất lỏng. Mặc dù có thể sử dụng cách này để đánh giá ứng suất của các dòng chất lỏng Newton nhưng nhóm nghiên cứu của Ardekani vẫn đi tìm một cách khác: khám phá ra một sự tương quan toán học giữa những kết quả đo đạc và ứng suất trong các dòng chảy nhớt đàn hồi.  Tất cả những kết nối thông qua các cấu trúc tương quan Lagrange (LCSs). “Các cấu trúc tương quan Lagrange là các cấu trúc toán học được dùng để dự đoán động lực học của dòng chảy chất lỏng”, Ardekani nói. “Chúng cũng được các nhà đại dương học dùng để dự đoán các dòng chảy đại dương sẽ chuyển động như thế nào; các nhà sinh học sẽ dò theo các vi sinh vật; và ngay cả các nhà vật lý thiên văn đang quan sát các đám mây rối trên những không gian như sao Jupiter”.  Trong khi các nhà nghiên cứu về chảy rối thường sử dụng LCSs nhưng cho đến nay thì họ vẫn chưa từng áp dụng ứng suất polymer. “Chúng tôi có hai nhánh cơ học trong môi trường liên tục khác nhau”, Ardekani nói. “Sử dụng lực kéo Lagrange, và áp dụng nó vào trường ứng suất Euler. Và ứng dụng nó với một phạm vi rộng ở nhiều qui mô khác nhau, từ đo đạc  ở quy mô trung bình đến ở quy mô công nghiệp”.  Bài báo này là sự hợp tác giữa Ardekani, nghiên cứu sinh của bà là Manish Kumar và Jeffrey Guasto, phó giáo sư kỹ thuật cơ học tại ĐH Tufts. Họ trình bày kết quả vào tháng 11 tại Hội nghị thường niên lần thứ 75của Hội Vật lý Mỹ APS, phân ban động lực học dòng chảy ở Indianapolis do Ardekani đồng tổ chức.  Dù nghiên cứu này chủ yếu là nằm ở phần toán học nhưng Ardekani rất hào hứng muốn chứng kiến các nhà thực nghiệm sử dụng kỹ thuật của mình trong phòng thí nghiệm và áp dụng trong cả thế giới thực. “Ví dụ như để sử dụng trong thẩm thấu nước ngầm”, Ardekani nói. “Các nhà nghiên cứu thường sử dụng phân tích chất đánh dấu trên các chất lỏng thẩm thấu để đo đạc trường vận tốc. Nhưng giờ đây, họ có thể nhận diện được các trường ứng suất, nhờ đó có thể dự đoán chính xác hơn sự vận chuyển của chất lỏng”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-stresses-complex-fluids.html  https://engineering.purdue.edu/ME/News/2023/a-new-way-to-identify-stresses-in-complex-fluids    Author                .        
__label__tiasang Cách ta tự nhận ra mình: Ảnh hưởng của khoa học thần kinh      Trong thập kỷ qua, mười bốn giải Nobel được chia đều giữa Hóa học và Y-dược học, tôn vinh những nghiên cứu trong các lĩnh vực sinh học phân tử và tế bào, cho thấy sự phát triển ngoạn mục của các lĩnh vực khoa học sự sống này.      Một lần nữa, hai giải Nobel được trao cho các ngành khoa học sự sống, Svante Pääbo của ngành Y học với thành tựu giải mã gene người Neanderthal, và Carolyn Bertozzi của ngành Hóa học với thành tựu phát triển các phản ứng sinh trực giao để nhận ra các phân tử sinh học glycan trên bề mặt tế bào. Trong thập kỷ qua, mười bốn giải Nobel được chia đều giữa Hóa học và Y-dược học1, tôn vinh những nghiên cứu trong các lĩnh vực sinh học phân tử và tế bào, cho thấy sự phát triển ngoạn mục của các lĩnh vực khoa học sự sống này. Bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ trước, khi ngành sinh học phân tử đã phát triển chín muồi để tiếp cận một góc nhìn mới về các cơ chế hoạt động quan trọng trong các sinh thể. Điều đó thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các ngành sinh học tế bào và di truyền học, thúc đẩy thuyết tiến hóa của Darwin thành công cụ căn bản cho những nghiên cứu này. Đa số nội dung các ngành khoa học sự sống nhằm đánh giá ở cấp độ phân tử và tế bào trên các quan sát được tiến hành từ hàng thế kỷ qua, một cách ngày càng sắc bén và chuẩn xác nhờ những phương pháp và công cụ thí nghiệm mới. Các định luật vật lý cổ điển, đôi khi bao gồm cả những hiệu chỉnh lượng tử cũng có thể được coi là cổ điển, nhìn chung đủ để làm điểm tựa cho các đánh giá này: trái ngược với ngành vật lý, sự phát triển của ngành sinh học phân tử không đòi hỏi phát kiến ra lý thuyết mới, chỉ phải đối diện thách thức là tìm hiểu các cơ chế sinh học vô cùng phức tạp. Vì vậy, có thể đoán trước đà tiến triển của ngành này sẽ còn nối dài vài thập kỷ, thậm chí vài thế kỷ nữa. Những cân nhắc như vậy hẳn là cần thiết đối với các nhà quản lý khoa học, chịu trách nhiệm phân bổ các nguồn lực tương lai cho các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, vốn cần tầm nhìn rất rõ ràng về các xu hướng phát triển khoa học trong tương lai. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của ngành sinh học phân tử có ảnh hưởng đáng kể tới cách chúng ta tự nhìn nhận bản thân, những thành công của nó ngày càng ủng hộ niềm tin của các nhà duy vật về một kịch bản thế giới trong đó tất cả chúng ta thuần túy được tạo thành bởi các nguyên tử, tuân thủ các định luật vật lý, và không gì khác.  Liên quan trực tiếp tới câu chuyện này là thành công xuất sắc của các ngành khoa học thần kinh, đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu não bộ trong ít thập kỷ gần đây2. Chúng có tham vọng lý giải ở cấp độ phân tử và tế bào đối với các khái niệm phức tạp như tri thức, nhận biết, học hỏi, ghi nhớ, hành vi, nhận thức, ý thức và cảm xúc. Theo đó, đã tập hợp các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm sinh học, hóa học, y học, tâm thần học và dược học. Qua thời gian, họ đã xây dựng một bức tranh vô cùng đa dạng và chi tiết về các neuron và tế bào thần kinh đệm (glia)3, các cấu phần cơ bản của hệ thần kinh trung ương, não bộ và tủy sống. Họ hé mở hiện trạng bên trong các cấu trúc phức tạp của bộ não, sự tương tác giữa chúng, chẳng hạn như sáu lớp vỏ não suy nghĩ (neocortex), hồi hải mã, các hạch nền, pallium, các cầu não, đồi thị và vùng dưới đồi, tiểu não, hạch hạnh nhân, mái thị giác và hành khứu giác, tất cả đều có những chức năng được phân định rõ ràng. Những ai không quen thuộc với các kết quả nghiên cứu gần đây về khoa học thần kinh có thể vẫn nghĩ rằng bộ não chỉ đơn giản là một mớ tế bào thần kinh chứa các mạch điện và hoạt động tương tự như một siêu máy tính; sai lệch đó khiến chúng ta không thể nhìn nhận đúng về các cơ chế hoạt động của não bộ và gây ra những nhầm lẫn. Bộ não là một thứ có sức sống, có khả năng xử lý đồng thời nhiều thông tin, tương tác với các tín hiệu tiếp nhận được, tạo ra những hình ảnh để dùng về sau như những dẫn chiếu, đó là một số trong những phẩm chất đáng kinh ngạc của bộ não.  Một trong những cách hiểu sai nghiêm trọng về chủ nghĩa duy vật là mô tả ý chí tự do như một bản ngã tự quyết định theo ý mình làm gì và nghĩ gì.  Bước tiến ngoạn mục của khoa học thần kinh và sự ủng hộ nó dành cho chủ nghĩa duy vật, bị nhiều người coi là mối nguy đe dọa hình ảnh truyền thống về con người, dường như biến chúng ta thành những robot. Mười hai năm trước, từ một số suy nghĩ về những nghiên cứu khoa học mà bản thân mình được tham gia4, tôi viết một bài luận về tác động của chúng đối với triết học siêu hình5. Tôi đã mời gọi các độc giả cùng nghĩ về ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật nơi tất cả mọi thứ bị chi phối bởi các định luật vật lý. Đến nay, sẽ hữu ích nếu chúng ta cùng nhìn nhận lại một cách cập nhật. Từ tiến trình phát triển kỳ diệu của các ngành khoa học sự sống, đặc biệt là khoa học thần kinh, chúng ta thử đối chiếu với những khó khăn dai dẳng đang phải đối diện, để đưa ra những ý tưởng mới.  Cụ thể, tôi suy nghĩ về tự do ý chí và bình luận về những suy luận từ góc nhìn duy vật về cách chúng ta tự nhìn nhận bản thân mình. Trong mười năm qua, ý chí tự do là điều ngày càng được các nhà thần kinh học quan tâm, mặc dù cách nhìn duy vật tiếp tục gây ra nhiều tranh cãi, khuôn khổ mà nó đưa ra để chúng ta suy nghiệm ngày càng sáng tỏ hơn. Đồng thời, công chúng ngày càng quan tâm tới thông điệp đưa ra từ các nhà thần kinh học. Rất nhiều bài báo xuất bản trên các tạp chí dành cho độc giả đại chúng, vốn luôn tìm những góc nhìn mới để tự nhìn nhận về bản thân và thế giới họ đang sống. Trong số nhiều bài báo đó, có những sự hiểu sai nghiêm trọng về cách nhìn duy vật.  Nói một cách ngắn gọn, họ mô tả ý chí tự do như một bản ngã tự quyết định theo ý thích mình làm gì và nghĩ gì. Họ coi chủ nghĩa duy vật là tước đoạt đi quyền tự do của bản ngã, rằng bản ngã bị thay thế bởi các định luật vật lý trong việc xác định bản thân làm gì và suy nghĩ gì. Nhưng chủ nghĩa duy vật không hề nói vậy. Nó chỉ yêu cầu chúng ta điều chỉnh lại nhận thức về bản ngã mà chúng ta vẫn tự dành cho mình. Về hoạt động của não bộ, cách nhìn duy vật nói rằng bản ngã không chỉ bao gồm những gì ta trực tiếp nhận biết thấy, mà cả những thứ của quá khứ: thừa hưởng di truyền, tri thức thu được, kinh nghiệm, những suy nghĩ, các tương tác với môi trường. Các lựa chọn và quyết định của ta phải tuân theo thế giới của các định luật vật lý, nhưng mỗi người vẫn có quyền nói rằng ta tự lựa chọn và quyết định, tuy các khái niệm “ta”, “lựa chọn”, “quyết định” không còn tính chất tự phụ như trước đây. Chủ nghĩa duy vật tôn trọng bản ngã, rằng chẳng có ai khác ngoài chính chúng ta khi đưa ra các lựa chọn và quyết định. Nó chỉ đơn giản lý giải “theo cách nào”. Tất cả chúng ta thấy hoàn toàn hợp lý, chẳng có gì đáng phàn nàn khi chủ nghĩa duy vật lý giải các cơ bắp và ruột hoạt động tuân thủ các định luật vật lý ra sao; nhưng khi nó lý giải cách hoạt động của não bộ tuân thủ các định luật vật lý theo cách nào, bỗng dưng trong chúng ta có người thấy bị xúc phạm. Nó đòi hỏi mọi người vứt bỏ ý niệm về một bản ngã siêu nhiên, phần nào mang tính linh thánh, có khả năng can thiệp vào tiến trình sự sống từ bên ngoài (bên ngoài nào?): ý niệm đó chỉ là huyễn hoặc.    Chủ nghĩa duy vật của khoa học thần kinh dường như xóa sạch các câu hỏi mà bản thể học đặt ra.    Theo cách nhìn duy vật, việc bản ngã tuân theo các định luật vật lý không biến chúng ta thành vô can trong trách nhiệm với xã hội. Xã hội được cấu thành bởi những cá nhân có suy nghĩ và hành động tuân theo các định luật vật lý, nhưng cứ nghĩ rằng mình thoát khỏi sự ràng buộc của chúng khi đưa ra các lựa chọn và quyết định. Bởi tất cả chúng ta đều có cùng ảo giác đó, ta cần một đạo đức phù hợp. Chủ nghĩa duy vật không dẫn tới thứ đạo đức vô trách nhiệm. Nó khiến chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về các hành động và quyết định của mình. Nó chỉ khiến mỗi người có chừng mực và khiêm nhường hơn khi nghĩ về thứ bản ngã mà ta từng tự cho là mình.  Tất nhiên, có nhiều lý do để cảm thấy khó nhất trí với cách nhìn duy vật. Nó cho rằng các định luật vật lý chi phối các suy nghĩ, hành động, các giấc mơ, ước vọng, niềm tin, lý tưởng, cảm nhận và cảm xúc. Điều đó thật khó chấp nhận. Các định luật vật lý về cơ bản là bất định, nên chủ nghĩa duy vật hàm ý rằng mọi thứ xảy ra với ta và sẽ xảy đến đều được xác định từ trước và không thể thoát khỏi6. Chẳng ngạc nhiên nếu ta thấy khó chịu, thậm chí bực bội với những ý tưởng như vậy. Chúng ta dễ cao ngạo nhìn xuống những người dám nghĩ theo cách nhìn duy vật: sao anh chị có thể bỏ qua những điều quan trọng đến thế với tất cả mọi người, vẻ đẹp của sáng tạo nghệ thuật, những cảm xúc mà tình yêu hay nỗi đau truyền trong chúng ta, sự phong phú và chiều sâu của những ý nghĩ; làm sao các định luật vật lý có thể chi phối tất cả những điều ấy? Nhưng sự cao ngạo ấy đặt ở sai chỗ. Thay vào đó, chúng ta hãy nhận thức rằng ai cũng đều biết rõ vì sao chủ nghĩa duy vật gây ức chế như vậy, chẳng cần phải nói thêm, nhưng hãy khám phá một cách khách quan nhất có thể tất cả những hàm ý nó đưa đến.  Dù sao, khi phải đưa ra quyết định trong cuộc sống, điều quan trọng là cảm nhận của ta chứ không phải những lý thuyết vật lý. Chủ nghĩa duy vật yêu cầu bỏ đi ý niệm rằng những gì có vẻ rất quan trọng và đầy bí ẩn là những thứ siêu nhiên, thậm chí linh thánh với những ai tin vào Thượng đế. Thật khó để đặt ra yêu cầu như vậy với những ai dành cả đời phụng sự cho đức tin ấy. Khi họ cho rằng cuộc sống không còn đức tin thì chẳng có gì hợp lý, không mục đích, không ý nghĩa, thậm chí họ có thể tự vẫn. May thay, đa số mọi người không như vậy, và cũng như Camus, chúng ta ưa nghĩ rằng “hạnh phúc và sự kỳ quặc là con đẻ của cùng một trái đất” và ta cùng chia sẻ một nền tảng đạo đức hợp lý chung, độc lập với cách ta tự nhìn nhận bản thân mình, là cơ sở cho những giá trị siêu hình mà ta cùng hướng tới: trí tuệ, nghiêm cẩn, bình đẳng, nhân ái, can đảm và liêm chính. Như ta thấy, tự do ý chí chỉ là một trong các giá trị. Hàm ý của chủ nghĩa duy vật về tự do ý chí là hãy bỏ đi ý niệm về một thứ bản ngã siêu nhiên; nó lý giải “theo cách nào” nhưng không hề can thiệp vào ứng xử của chúng ta trong cuộc sống. Điều đó cũng đúng cả với những khái niệm thường được coi là phi vật chất, mà Descartes gọi chung là “chất liệu tinh thần”. Chủ nghĩa duy vật khuyên ta chấp nhận rằng những thứ đó cũng tuân theo các định luật vật lý, nhưng sự lý giải “theo cách nào” mà nó đưa ra vẫn không ảnh hưởng tới cách ta ứng xử trong đời sống.    Cùng với ác cảm về chủ nghĩa duy vật, một ngộ nhận phổ biến khác cho rằng chủ nghĩa duy vật đặt dấu chấm hết cho điều khiến ta cảm thấy nhân bản về con người. Nhưng làm sao sự thấu cảm, lòng can đảm và nhân ái mất đi vẻ đẹp khi được mô tả dưới dạng những tương tác lý hóa giữa các neuron? Liệu thành tích của một vận động viên chạy một trăm mét trong thời gian dưới mười giây bị suy giảm khi ta biết rằng acetylcholine là tác nhân làm co lại chuỗi sarcomere trong cơ anh ta? Làm sao kiến giải về cách các neuron tương tác trong não bộ của Beethoven có thể làm suy giảm sự vĩ đại và mê hoặc của các bản giao hưởng ông từng viết? Tuy nhiên, trên thực tế, đòi hỏi mọi người chấp nhận chủ nghĩa duy vật thường là điều quá khó. Tôi xin vẽ ra một bức tranh biếm họa về cách họ vẫn thường phản ứng.  Với những người bình dân, thuyết sáng tạo dễ chấp nhận hơn nhiều so với thuyết tiến hóa của Darwin, thứ dễ gây khó chịu với cảm giác trực quan: việc chấp nhận thuyết tiến hóa đòi hỏi sự quen thuộc với các ngành khoa học sự sống, điều ít người ngoại đạo thấy hứng thú. Với người bình dân, việc thiếu các tri thức cơ bản về phân tử và tế bào mà con người mới thu được trong vài thập kỷ gần đây sẽ khiến họ không thể hiểu các kết luận của khoa học thần kinh. Đối với họ, chủ nghĩa duy vật đơn giản là không thể chấp nhận được.  Với các triết gia, những người có tri thức sâu sắc về lịch sử tư tưởng nhân loại, rất khó để tách tâm trí họ khỏi các hệ thống siêu hình quen thuộc để chuyển nhận thức sang một cách nhìn duy vật về thế giới. Các triết gia phương Tây đã học được từ Plato, Aristotle, Descartes, Spinoza và Kant những tri thức quá hàm súc, hấp dẫn và sâu sắc, họ thấy khó có thể nghĩ theo khái niệm và khuôn khổ khác. Điều đó cũng đúng với các tri thức triết học phương Đông từ Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử và Mạnh Tử. Họ cảm thấy báng bổ khi ai đó nói rằng các nhà tư tưởng này do thiếu am hiểu về khoa học thần kinh hiện đại nên đều thiếu cái nhìn sáng tỏ về bản thể và triết học siêu hình. Họ hiểu rõ rằng đề cao chủ nghĩa duy vật nghĩa là hạ thấp các tư tưởng tiền bối xuống thành các mảnh thông tin rời rạc, và họ không thể nào chấp nhận một sự phủ định như vậy với những gì họ luôn tôn thờ.    Làm sao sự kiến giải về cách các neuron tương tác trong não bộ của Beethoven có thể làm giảm đi sự vĩ đại và mê hoặc của các bản giao hưởng ông từng viết?    Với các nghệ sỹ, sao họ có thể quan tâm đến chủ nghĩa duy vật? Điều họ theo đuổi chính là đưa mọi người thoát khỏi cách nhìn duy vật về thế giới ta đang sống, khám phá những lãnh địa mới nơi trí tưởng tượng vượt thoát khỏi các định luật vật lý, mang lại sự thưởng thức và ngưỡng mộ.  Với các nhà vật lý, từ lâu họ đã để lại phía sau các định luật vật lý cần thiết cho khoa học sự sống. Họ đã khám phá những lãnh địa vượt xa khỏi thứ được gọi là các cơ chế cổ điển. Họ đã nghiên cứu vật lý lượng tử, thuyết tương đối rộng và hẹp. Họ đã nghiên cứu Mô hình Chuẩn về các hạt cơ bản. Họ đã nghiên cứu sự giãn nở của Vũ trụ, khám phá các lỗ đen, và đang đối diện các thử thách từ năng lượng tối, sự giãn nở và tính không tương thích giữa vật lý lượng tử với trọng lực ở thang đo Planck. Họ cảm thấy mình phát hiện, thay vì phát minh, về hiện trạng thế giới. Khi đưa ra một lý thuyết sai, có gì đó bảo họ rằng “không7” và tính nhất của các lý thuyết hiện đang được thống nhất khiến họ cho là các thuyết ấy hẳn đúng với “thực tại” trong chừng mực nào đó. Với Chandrasekhar, họ tự hỏi “làm sao tâm trí con người có thể hình dung ra những khái niệm trừu tượng và cảm thấy vẻ đẹp từ chúng; và vì sao những khái niệm ấy tương thích chính xác đến vậy với tự nhiên” 8. Thành công khiến họ tham vọng và họ thường làm rối trí công chúng khi nói về một “Lý thuyết của Mọi thứ” hay khi nhận định rằng Vũ trụ sinh ra từ sự “trống rỗng”, với sự hỗ trợ của một dao động lượng tử, mà chẳng hề nói cho đúng rằng sự trống rỗng ấy rất khác với thứ “trống rỗng” [tuyệt đối] từng khiến Leibniz phiền lòng, rằng thực ra nó bao gồm cả không-thời gian cùng một mớ lý thuyết trường lượng tử. Đó mới là thứ họ bận tâm và thật khó để họ chú ý tới tác động của khoa học thần kinh tới các vấn đề truyền thống của triết học siêu hình và bản thể học.  Bức tranh châm biếm này có thể là sự phóng đại, nhưng nó điểm danh khác công bằng những trở ngại chính mà các nhà khoa học sự sống cần vượt qua khi cố gắng khiến chúng ta đồng cảm về những thành tựu đáng ngưỡng mộ mà ngành khoa học thần kinh đạt được. Gần đây, họ đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả về các cơ chế thần kinh quan trọng mà họ nghiên cứu. Nhưng còn rất xa trước khi các thông điệp của họ được lan tỏa rộng rãi và được hiểu đúng.  Với các nghệ sĩ, sao họ có thể quan tâm đến chủ nghĩa duy vật?  Đặc biệt khó để truyền đạt là khái niệm tính vòng lặp của tri thức mà chủ nghĩa duy vật trong khoa học thần kinh chỉ ra. Họ nói rằng mọi thứ chúng ta biết, cảm thấy, hình dung và mơ thấy, đều là những tương tác thần kinh trong não bộ. Điều này đặc biệt áp dụng với khái niệm não bộ và những ý tưởng của con người về cách nó vận hành. Một bộ não nghĩ ra ý tưởng về một bộ não nghĩ ra ý tưởng về một bộ não nghĩ ra… một vòng lặp tự dẫn chiếu khép kín. Khoa học chẳng qua là một câu chuyện chúng ta kể cho nhau, nằm trong phạm vi tối thiểu các khái niệm, bao hàm tối đa lượng thông tin thu lượm được bởi các bộ não của chúng ta và cả các vị tổ tiên. Trong câu chuyện ấy, sự hiện hữu chỉ có nghĩa là trở thành một phần trong nó, và không có ý nghĩa gì sâu xa hơn. Tất cả những gì chúng ta biết chỉ là những gì não bộ giống loài mình học được, không gì khác. Ta nói rằng họ học được bằng cách sắp xếp trật tự cho những thông tin thu được từ thế giới; nhưng một phát biểu như vậy cũng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi câu chuyện được kể; đó là câu chuyện về các bộ não, về một thế giới và những thông tin thu được; những khái niệm hoàn toàn chỉ hiện hữu trong câu chuyện. Ta chỉ đang kể câu chuyện về cách ta kể câu chuyện về cách ta kể câu chuyện… Một vòng lặp tự dẫn chiếu khép kín mà chúng ta bị giam cầm không thể thoát ra, khiến mọi phát biểu rằng ta thoát ra bên ngoài đều vô nghĩa. Câu chuyện mà ta kể quá đơn giản và mạch lạc khiến ta quên đi bản chất tự dẫn chiếu và có ảo giác rằng những bóng hắt trên tường hang động của Plato hẳn chỉ là hình ảnh minh họa cho một thứ thực tại nào khác. Thế giới thực hẳn phải có trước thế giới được kể trong câu chuyện. Nhưng sự hiện hữu và thực tại chẳng có ý nghĩa nào khác ngoài là một phần trong câu chuyện được kể. Sự bất lực bị giam hãm trong một vòng lặp khép kín không chỉ ứng với khoa học. Não bộ chúng ta là nơi chứa nhiều thứ ngoài khoa học, bao gồm các huyền thoại, truyền thuyết, tôn giáo và các sáng tạo khoa học. Ta rất muốn khoác lên chúng lớp hào quang siêu nhiên, siêu việt để khiến mình thoát khỏi nhà tù của vòng lặp. Nhưng chủ nghĩa duy vật ngăn cấm điều ấy: giống như khoa học, chúng không là gì khác hơn những tương tác trong não bộ. Chủ nghĩa duy vật của khoa học thần kinh dường như xóa sạch các câu hỏi mà bản thể học đặt ra.  Nhưng chưa phải tất cả. Gần giống với câu nói của Descartes, người đời có thể nói “tôi biết rõ mình là một thực thể biết tư duy, biết tự nhận thức bản thân”. Khi ta nghĩ về thế giới mình đang sống, ta nghĩ đến nụ cười trẻ thơ, tình yêu của một phụ nữ, cảnh hoàng hôn trên đại dương, khu rừng tuyết thinh lặng, những vần thơ và âm nhạc khiến ta xúc động, bật cười và bật khóc, nỗi đau và niềm vui. Và chúng ta biết rõ rằng tất cả những thứ đó không trống rỗng. Dù khoa học thần kinh có nói gì, dù họ cứ giả vờ độc quyền được khái niệm hiện hữu và thực tại, họ chẳng thể tước bỏ khỏi bản thể học câu hỏi cơ bản nhất: “Vì sao thế giới hiện hữu chứ không phải trống rỗng?” Dù không thể trao cho câu hỏi ấy một ý nghĩa, chưa nói đến trả lời nó, chúng ta không thể giả vờ lờ đi nhận xét gây bối rối của Leibniz9 rằng “có một lý do trong Tự nhiên khiến có gì đó hiện hữu thay vì không có gì hiện hữu”. Một lý do, quả là đòi hỏi quá nhiều; nhưng chúng ta không thể hưởng ứng ý tưởng rằng không có gì hiện hữu. Và chúng ta dễ thấy Wittgenstein có tầm nhìn đi trước khi viết rằng “Điều bí ẩn không phải là thế giới như thế nào, mà đơn giản chỉ là nó hiện hữu. […] Phương pháp phù hợp cho triết học nên là không nói gì về những gì có thể nói, cụ thể là những sự quả quyết của khoa học tự nhiên – thứ, bởi vậy, chẳng liên quan gì tới triết học […] Về những gì ta chẳng thể nói, ta phải giữ im lặng”?   Đồng thời với giải thiêng tri thức, chủ nghĩa duy vật cũng tự làm nổi bật những giới hạn của mình. Vì sao thế giới này thay vì chẳng có gì cả? Chúng ta bị ám ảnh bởi câu hỏi ấy và thậm chí chẳng thể trao cho nó một ý nghĩa. Ta chỉ có thể cho nó một tên gọi: bí ẩn.  Hơn bao giờ hết, chúng ta cần học hỏi từ nhau, giải phóng nhau khỏi tác hại của sự thiếu hiểu biết và quyền năng của những khái niệm được sử dụng từ quá lâu đến mức nay được coi như là “thực tại”. Chúng ta chẳng thể tiếp tục lờ đi những gì người khác có thể dạy mình. Đã đến lúc lên án sự chia tách giữa hai văn hóa, khoa học và nhân văn, và khiến chúng chia sẻ những gì ta có thể học được. Điều đó cần nhiều nỗ lực, nhưng nếu tự bịt mắt, ta sẽ chẳng thể nhìn rõ hơn. Khó khăn tự nhiên khi tiếp nhận những ý tưởng mới không nên khiến ta tự đeo chiếc mặt nạ của chủ nghĩa hoài nghi khai sáng nhằm che đi sự thiếu hiểu biết. Hãy cởi mở trước những gì người khác có thể chỉ dạy thay vì nhìn tất cả xung quanh qua lăng kính của riêng ngành mình. Sự tiến bộ tri thức dạy chúng ta biết cảnh giác trước những ngôn từ che đậy sự dốt nát của bản thân. Họ buộc ta thay đổi triệt để những khái niệm thường dùng để kể câu chuyện của mình: bản ngã, tâm trí và cơ thể, chủ thể và khách thể, hữu hình và vô hình, thực tế và lý tưởng, có ý thức và vô thức, và nhiều nữa. Phải như vậy ta mới có thể hi vọng “khám phá lại tâm trí” như John Searle từng khuyên10 và thấy được thêm những nhận thức đúng đắn bung nở hai bên bờ mương ngăn cách giữa tri thức và sự bí ẩn. □  Thanh Xuân dịch  —–  1 Giải Nobel Hóa học: 2022, 2020, 2018 (2), 2017, 2016, 2015; Giải Nobel cho ngành Y và Dược: 2022, 2021, 2019, 2017, 2016, 2014, 2013.  2 Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không đưa danh sách chi tiết các dẫn chiếu, chỉ đưa ra hai ví dụ điển hình nơi có thể tìm thấy các dẫn chiếu khác: Eric R. Kandel, James H. Schwartz and Thomas M. Jessell, 2021, Principles of Neural Science, McGraw-Hill. Michael S. Gazzaniga, 2011, Who is in charge? Free Will and the Science of the Brain, ecco, ấn hiệu của nhà xuất bản Harper Collins.  3 https://en.wikipedia.org/wiki/Neuron. https://en.wikipedia.org/wiki/Glia.  4 Pierre Darriulat, Réflexions sur la Science Contemporaine, EDP Sciences, Les Ulis, 2007.  5 Pierre Darriulat, Knowledge and Mystery: The Impact of Contemporary Science on Metaphysics, Journal of Philosophy, Science and Law, Vol. 10, 2010, University of Miami, Florida, USA, www.miami.edu/ethics/jpsl.  6 Vật lý lượng tử không tất định, nhưng điều đó không thay đổi điều chúng ta đang bàn. Nó có ảnh hưởng tới quá trình tiến hóa Vũ trụ, với ví dụ điển hình là các dao động lượng tử, và cụ thể với loài người là các đột biến gene do tương tác với các hạt muon vũ trụ, những sản phẩm phân rã của các pion, một sự kiện lượng tử xảy ra vào những thời điểm không thể biết trước; nhưng chúng ta có thể an toàn bỏ qua những lập luận như vậy trong cuộc thảo luận này.  7 Bernard d’Espagnat, Le Réel Voilé, Fayard, 1994.  8 S. Chandrasekhar, Truth and Beauty, Aesthetics and Motivations in Science, University of Chicago Press, 1987.  9 G.W. Leibniz, Principes de la Nature et de la Grâce Fondés en Raison, 1718.  10 J. R. Searle, The Rediscovery of the Mind, MIT Press, Cambridge, 1992.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Cải cách quản lý nước: Trọng tâm của phát triển bền vững      Xếp thứ 8 trên thế giới về độ dồi dào của các nguồn nước tự nhiên nhưng Việt Nam vẫn nằm trong số những quốc gia chịu nhiều sức ép nhất do vấn đề thiếu nước sạch và ngày càng đối diện với những thách thức to lớn, đặc biệt là những tác động từ biến đổi khí hậu.       Trong Hội thảo “Ứng dụng các giải pháp ngành  nước tại Việt Nam” do Đại sứ quán Israel và Ngân hàng Thế giới tổ chức  trong cuối tháng 8 vừa qua, các chuyên gia cao cấp trong và ngoài nước  đã trao đổi, chia sẻ nhiều ý kiến đánh giá, và đưa ra các khuyến nghị  đối với các nhà quản lý và làm chính sách về cải cách thể chế quản lý  nước hiện hành.   Đến năm 2020, nhu cầu nước của Việt Nam dự kiến lên tới hàng trăm tỷ m3 mỗi năm, nhưng các hồ trữ nước chỉ đảm bảo cung cấp được khoảng 30%. Do điều kiện quỹ đất hạn hẹp, địa hình dốc, chúng ta không thể xây thêm nhiều hồ chứa và phần lớn nhu cầu nước sẽ phải được đáp ứng từ các trạm bơm, cống lấy nước từ sông, giếng nước ngầm, và nước mưa do người dân tự tích trữ. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là các nguồn nước này dễ bị gây ô nhiễm trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, và “Việt Nam chưa thực sự quản lý được chất lượng nước”, như lời cảnh báo của GS.Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam. Ông cho biết hầu hết trong số 1 tỷ m3 nước thải hằng năm ở Việt Nam không được xử lý. Nước thải hóa chất từ các ngành công nghiệp và nước thải sinh hoạt gây suy giảm chất lượng nước, bên cạnh đó là các vấn đề ô nhiễm thạch tín trong nước ngầm và ô nhiễm do phân bón, thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật, v.v.    Tình trạng này sẽ tác động tiêu cực không nhỏ tới đời sống, sức khỏe người dân, sự phát triển của các ngành kinh tế và xã hội, môi trường, đặc biệt trong bối cảnh dân số vẫn tiếp tục gia tăng. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, nhu cầu tiêu thụ nước của Việt Nam đã liên tục tăng rất mạnh trong những thập kỷ gần đây. Theo ThS. Trần Hùng, Giám đốc Trung tâm Thủy lợi Miền núi phía Bắc, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, nhu cầu nước tưới trong nông nghiệp ở nước ta tăng từ 41 tỷ m3 năm 1985 lên 46,9 tỷ m3 năm 1990, 60 tỷ m3 năm 2000, và hiện nay ước tính trên 80 tỷ m3.   Thiếu nước sạch phục vụ nông nghiệp đang là xu hướng chung và đã dần trở nên cấp bách trên quy mô toàn cầu. Bà Jenifer Sara, Giám đốc Bộ phận Phát triển Bền vững, Ngân hàng Thế giới, đánh giá với xu hướng phát triển hiện nay, trong vòng 40 năm tới nhu cầu thế giới sẽ cần tăng sản lượng nông nghiệp thêm 70%, đòi hỏi lượng nước cho nông nghiệp tăng thêm 45%. Không chỉ nông nghiệp mà các ngành kinh tế khác trên thế giới cũng đang thiếu nước. Trong giai đoạn 2007 tới 2035, nhu cầu năng lượng của thế giới sẽ tăng khoảng 50%, trong khi 90% sản lượng điện được cung cấp từ thủy điện và các loại nhà máy điện sử dụng nhiều nước. Hiện nay, nhiều quốc gia đang gặp hạn chế về sản xuất điện do thiếu nguồn nước làm nguội. Nhìn chung, tình trạng thiếu nước sạch có thể gây thiệt hại cho các quốc gia tới 6% GDP, bà Sarar đánh giá.  Biến đổi khí hậu: nước biển ven ĐBSCL có thể sẽ dâng tới 30 cm          Theo các nhà khoa học và chuyên gia quốc tế, trong giai đoạn trước mắt Việt Nam cần ưu tiên cho việc xây dựng và củng cố thể chế quản lý nước mang tính liên ngành, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng; tập trung cải thiện hệ thống đo lường, các tiêu chuẩn và dữ liệu về chất lượng nước; tích cực thực thi và hoàn thiện chương trình hành động quốc gia về quản lý tài nguyên nước, trong đó đặc biệt chú trọng vấn đề quản lý tài nguyên nước tại đồng bằng sông Cửu Long để kịp thời ứng phó với những tác động từ biến đổi khí hậu.           Cùng với tình trạng dân số gia tăng, tác động từ biến đổi khí hậu khiến tình trạng thiếu nước càng trở nên trầm trọng. Theo chuyên gia Anjali Acharya, chuyên gia cao cấp về môi trường của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam nằm trong số những nước dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, với những tác động tiêu cực như khô hạn kéo dài hơn, nhiều thiên tai, và tình trạng ngập mặn sẽ thêm trầm trọng bởi mực nước biển dâng. Thành phố Hồ Chí Minh cùng Jakarta, Yangon, Manila, và Bangkok dự kiến sẽ là những thành phố ở Đông Nam Á bị thiệt hại nhiều nhất bởi nước biển dâng, với khoảng 60% diện tích xây dựng bị ảnh hưởng. Đến năm 2040, mực nước biển ven đồng bằng sông Cửu Long dự kiến có thể dâng tới 30 cm, sản lượng nông nghiệp có thể giảm tới 12% do lụt lội và ngập mặn. Ngành nuôi trồng thủy hải sản cũng sẽ bị ảnh hưởng, với chi phí để thích nghi hằng năm từ 130-190 triệu USD. Đến 2050, tổng thiệt hại hằng năm từ biến đổi khí hậu đối với Việt Nam vào khoảng 1-3% GDP, Acharya đánh giá.  Tuy nhiên, ngay trong hiện tại biến đổi khí hậu đã khiến Việt Nam phải đối diện với tình trạng thiếu nước sạch, và cùng với Trung Quốc, Indonesia, các nước ở Trung và Nam Mỹ, châu Phi là những vùng lãnh thổ bị sức ép lớn nhất do thiếu nước. Tổng nguồn nước ngọt của Việt Nam đang có xu hướng suy giảm. Theo GS. Vũ Trọng Hồng, nguồn nước của Việt Nam năm 2010 có 843 tỷ m3, dự kiến đến năm 2025 sẽ giảm còn 807 tỷ m. Dòng chảy kiệt ở sông Hồng đã giảm từ 10-15%, sông Cửu Long mùa kiệt giảm 16-24%, chưa kể tình trạng ngập mặn ăn sâu vào nội đồng châu thổ sông Cửu Long.    Con người vẫn là tác nhân chính gây suy giảm nguồn nước  Bên cạnh tác động do biến đổi khí hậu, con người chính là tác nhân chủ yếu gây suy giảm tài nguyên nước ở Việt Nam, một đất nước vốn có nguồn nước tự nhiên khá dồi dào (xếp thứ 8 trên thế giới). Theo Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tác động của phát triển ở thượng nguồn đang gây nguy cơ suy thoái cho hệ thống sông ngòi của Việt Nam, làm suy giảm lượng bùn cát về hạ lưu, trong khi tình trạng khai thác cát diễn ra quá mức cùng những hoạt động kinh tế khác của con người làm trầm trọng thêm tình trạng xói mòn bờ, lún đất, và ngập mặn. Một số vấn đề đã trở nên bức xúc như quản lý thượng và hạ lưu ở các lưu vực sông, chống ngập cho các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau và đặc biệt tác động của việc phát triển lún đất hạ và sông ngập mặn của đồng bằng Sông Cửu Long, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng nhận định.  Theo GS. Vũ Trọng Hồng, sự suy giảm tài nguyên nước ở Việt Nam gắn liền với sự buông lỏng trong quản lý đất đai, mà một nguyên nhân quan trọng là sự chú trọng quá mức cho phát triển kinh tế. Nhiều dự án đô thị mọc lên làm lấp kín các mặt ao, hồ, đầm lầy là những nơi trữ nước và thoát nước tự nhiên. Vẫn đang tồn tại tình trạng khai thác khoảng sản tràn lan làm mất nước của người dân một số tỉnh, hay khai thác đại trà nước ngầm cho nuôi tôm ở Cà Mau. Các hoạt động kinh tế của con người từ lâu nay đã gây tàn phá rừng và các thảm thực vật, khiến nguồn nước trong tự nhiên bị suy giảm. Điển hình là việc mọc lên quá nhiều dự án thủy điện, thậm chí có dự án công suất hằng năm chỉ có 5 MW cũng được phê duyệt, làm suy giảm tới 30 vạn ha rừng – trung bình 10 – 30 ha rừng bị mất cho mỗi MW điện, GS. Vũ Trọng Hồng cho biết. Cũng không kém phần nguy hại là việc tiêu diệt thảm thực vật để trồng cao su – người ta phải đốt toàn bộ thảm thực vật trước khi trồng những cánh rừng cao su – đã khiến cả nước mất đi tới 20 vạn ha thảm thực vật. Bên cạnh đó, ở nhiều nơi rừng bị mất để phục vụ cho các khu định cư, di dân, và vẫn tồn tại tình trạng người dân đốt rừng trồng cây lương thực nhằm xóa đói.    Trách nhiệm cơ quan quản lý?  Lĩnh vực quản lý nước ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực thủy lợi, góp phần quan trọng phục vụ chính sách phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội của quốc gia. Theo ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Tổng Cục trưởng  Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nay Nhà nước đã đầu tư xây dựng hàng nghìn hồ chứa, cống, hàng vạn trạm bơm, và 255 nghìn km kênh mương, qua đó giúp tưới nước cho 7,3 triệu ha lúa cùng 1,5 triệu ha màu, tiêu nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp.   Tuy nhiên, nhìn nhận về thực trạng quản lý nước ở Việt Nam, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng thẳng thắn cho rằng dù đã đạt được những thành tựu trong xây dựng công trình, Nhà nước vẫn đứng trước nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực thể chế cho việc phát triển bền vững tài nguyên nước, và trong thời gian tới cần đẩy mạnh triệt để nguyên tắc quản lý tổng hợp và quản lý theo đối tượng sử dụng.  Trở ngại lớn nhất trong quản lý tài nguyên nước là thiếu sự phối hợp linh hoạt và đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, và vẫn tồn tại những lối tư duy bất cập theo lối ai đi trước thì được ưu tiên, ngành sử dụng nước nhiều cũng được ưu tiên, GS. Vũ Trọng Hồng đánh giá. Hiện nay, hệ thống thủy lợi thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phụ trách, hệ thống sông ngòi thuộc thẩm quyền Bộ Giao thông Vận tải, các thủy điện thuộc thẩm quyền Bộ Công thương, nước đô thị thuộc thẩm quyền Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, do chức năng quản lý không được phân định không rõ ràng nên giữa các cơ quan thiếu sự phối hợp, dễ lấn sân nhau, và mỗi ngành thường bị chi phối bởi mục tiêu và quyền lợi riêng.   Tình trạng thiếu sự phối hợp giữa các ngành Trung ương càng trở nên phổ biến hơn khi xuống tới các Sở, ngành ở địa phương. Mỗi Sở thường phải chờ nghe ý kiến từ vụ quản lý về nước ở Bộ chủ quản của mình trong quá trình phối hợp với các cơ quan liên quan khi giải quyết những vấn đề nước tại địa phương, và có những vấn đề mà người ta khó xác định được Sở nào có thẩm quyền và chịu trách nhiệm chính.  Theo chuyên gia Jenifer Sara, quản lý nước ở Việt Nam lâu nay vẫn tồn tại phương thức tiếp cận riêng rẽ theo từng ngành, và chủ yếu thông qua hoạt động đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng về nước. Cách tiếp cận này không gặp phải nhiều trở ngại trong quá khứ, nhưng ngày nay Việt Nam đang phải đối diện với những vấn đề nan giải rõ rệt: sự gia tăng mâu thuẫn về nhu cầu nước giữa các ngành, nguy cơ thiên tai và tác động biến đổi khí hậu, sự suy giảm chất lượng nước, đòi hỏi cam kết đối với tăng trưởng xanh, và nhu cầu thỏa thuận, hợp tác giữa các quốc gia trên cùng lưu vực. Những thách thức này đòi hỏi một phương thức tiếp cận các vấn đề quản lý nước một cách liên ngành, và sự linh hoạt để sẵn sàng đối phó với những diễn biến bất ổn định của biến đổi khí hậu. Các quyết định của từng ngành không thể đưa ra một cách cục bộ, mà cần trải qua một quy trình tham vấn có tính ổn định và rõ ràng giữa các ngành, để đưa ra những lựa chọn thông minh phục vụ cho lợi ích lâu dài.    Vấn đề nguồn lực, giải pháp công nghệ          Quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) về những vấn đề cần ưu tiên trong hoạt động quản lý nước tại các quốc gia được điều chỉnh theo từng giai đoạn:               Từ năm 1993, WB đã nhận thấy phương thức quản lý nước theo từng ngành độc lập ở các quốc gia là không phù hợp. Nhà nước cần coi trọng sự tham gia của các bên có quyền lợi liên quan trong quản lý nước, vận dụng nhu cầu của họ và những động lực kinh tế nhằm cải thiện hiệu quả phân phối và chất lượng nước.              Đến năm 2003, WB thấy rằng quản lý tài nguyên nước là vấn đề trọng tâm trong tăng trưởng bền vững, trong đó cần đặc biệt chú trọng vào tính hiệu quả trên toàn châu thổ của các hệ thống thủy lợi. Hệ thống cung cấp nước cần tiếp tục được cải tổ, trong đó chú trọng nhiều vào vấn đề định giá nước – giá cả cần phản ánh đầy đủ mức chi phí sản xuất và tái tạo phục hồi nguồn nước nhằm đảm bảo tính bền vững.              Từ năm 2010 đến nay, WB chú trọng khuyến nghị về tăng cường năng lực phối hợp liên ngành trong mỗi quốc gia nhằm thích nghi và giảm nhẹ tác hại biến đổi khí hậu. Nhà nước cần áp dụng cơ chế đầu tư dựa trên kết quả mục tiêu về số lượng và chất lượng nước, chú trọng việc cải thiện tính hiệu quả trong hệ thống cung cấp nước, và chú trọng tài trợ cho những hệ thống vệ sinh tại chỗ với mức chi phí thấp cho các cộng đồng.   (Lược ghi từ bài trình bày của Jenifer Sarar, Giám đốc Phát triển Bền vững của Ngân hàng Thế giới)        Để đáp ứng nhu cầu nước phục vụ nhu cầu dân sinh và phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời đối phó với những tác động khó lường của biến đổi khí hậu, Việt Nam sẽ cần sự nỗ lực toàn diện từ nhiều ngành và sự tham gia tích cực của toàn xã hội, trong đó đặc biệt khuyến khích các dự án đầu tư căn cứ theo kết quả và các mối quan hệ công – tư hợp tác. Phương thức đầu tư này những năm gần đây đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Năm 2008, TP. Hồ Chí Minh từng giao thầu cho công ty Manila Water trong một dự án giảm thất thoát nước, trong đó kinh phí thanh toán được ràng buộc với kết quả là số lượng đồng hồ tổng (DMA) và lượng nước tiết kiệm được. Kết quả là sau 5 năm thực hiện, dự án đã lắp đặt được 110 DMA (chậm mất 9 DMA so với mục tiêu yêu cầu là 119 DMA) và tiết kiệm tới 91.726 m3 nước mỗi ngày (mục tiêu yêu cầu trong hợp đồng là tiết kiệm tối thiểu 37.500 m3/ngày), đủ để cung cấp thêm cho 500 nghìn hộ tiêu dùng mỗi năm, tương đương với nguồn thu có giá trị 7,7 triệu USD/năm, theo tính toán của Ian Menzies, chuyên gia cao cấp về Nước và Vệ sinh Vùng của Ngân hàng Thế giới. Phương thức đầu tư theo kết quả hiện đang được mở rộng tại Việt Nam, trong năm 2013 đã bắt đầu được triển khai trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu Quốc gia đầu tư cho nước sạch và vệ sinh môi trường tại 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng, theo thông tin từ bà Hạ Thanh Hằng, Chánh Văn phòng của chương trình này.   Việc sử dụng nguồn lực của Nhà nước và xã hội một cách khôn ngoan đòi hỏi lựa chọn các giải pháp công nghệ đúng đắn, yếu tố vô cùng quan trọng quyết định tính hiệu quả của những khoản đầu tư cải thiện số lượng và chất lượng nước. Do sức ép từ nhu cầu của xã hội và các ngành kinh tế, người ta thường lựa chọn đầu tư cho các giải pháp công nghệ mang tính tức thời, trong khi nguồn lực của Nhà nước và xã hội là có hạn, và những công nghệ sẵn có sẽ không thể đảm bảo tính hiệu quả cao như những công nghệ trong tương lai. Vì vậy nhà đầu tư (công hoặc tư) phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định để tránh sa vào những phương án đầu tư tốn kém, thiếu khả năng điều chỉnh linh hoạt phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ của thế giới, hoặc không phù hợp với đặc thù phát triển và điều kiện tự nhiên của địa phương/đất nước1.  Bên cạnh đó, tầm nhìn về cải tổ công nghệ phục vụ mục tiêu cải thiện nguồn nước cho quốc gia không nên chỉ tập trung vào một vài ngành mà cần được cân nhắc và chú trọng một cách toàn diện trên nhiều ngành. Ví dụ trong lĩnh vực năng lượng, cần hướng tới những công nghệ làm mát tiết kiệm nước cho các nhà máy điện. Hoặc trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ chống hư hoại sau thu hoạch sẽ giúp tăng sản lượng cung cấp cho thị trường, qua đó tiết kiệm lượng nước dùng trong sản xuất. Cứ 25% giảm hư hoại sau thu hoạch sẽ giúp giảm lượng nước tưới tiêu trong sản xuất tới 10%, bà Sara cho biết.    Cơ chế định giá nước theo thị trường  Việt Nam hầu như chưa có cơ chế định giá nước theo thị trường, mặc dù đây là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp thúc đẩy việc lựa chọn những giải pháp công nghệ đúng đắn và sử dụng nguồn lực của Nhà nước một cách hiệu quả. TS. Sinaia Netanyahu, Nhà khoa học trưởng, Bộ Bảo vệ Môi trường Israel khuyến nghị rằng việc áp dụng mức giá nước theo giá thị trường, trong đó phản ánh đầy đủ những chi phí sản xuất và tái xử lý nước, không chỉ giúp các nhà sản xuất nước có nguồn thu cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm nước được sản xuất và tái chế, mà còn giúp người tiêu dùng nước có ý thức cao hơn, sử dụng nước một cách tiết kiệm hơn. Nhờ đó, các đối tượng sử dụng nhiều nước là các ngành công nghiệp và các nông trại mới có đủ động lực để đầu tư cho những giải pháp đổi mới công nghệ giúp dùng nước một cách hiệu quả và bền vững hơn.  Theo Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng, Việt Nam hiện nay vẫn áp dụng cơ chế bao cấp, giao kế hoạch cho các nhà sản xuất nước, và nhiều đối tượng được sử dụng nước miễn phí – như nước thủy lợi phục vụ nông dân – hoặc được sự hỗ trợ quá nhiều từ Nhà nước. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải từng bước tiến tới cơ chế định giá nước theo thị trường để cải thiện tính hiệu quả và thúc đẩy những giải pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong khai thác, sản xuất và sử dụng nước. “Nếu không cải cách thể chế thì không cách gì chúng ta làm được”, ông nhận định. Ông cho biết tiến trình cải cách sẽ được bắt đầu từ cơ chế Nhà nước đặt hàng theo các chỉ tiêu sản phẩm, sau đó tiến tới cơ chế đấu thầu công khai minh bạch. Mặc dù vậy, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng cho rằng tiến trình cải cách này vẫn cần đảm bảo sự hài hòa trong phát triển kinh tế – xã hội, và những người sử dụng nước ở các địa phương khó khăn vẫn cần được Nhà nước trợ cấp trong sử dụng nước với mức ưu đãi cao hơn.   Đọc thêm:   Tác động môi trường từ hệ thống thủy lợi ĐBSCL   http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=2&News=6695                 ——  1 Đơn cử như công nghệ tưới tiết kiệm nước của Israel mặc dù rất phù hợp với nhiều nơi trên thế giới nhưng chỉ áp dụng được đối với trồng trọt hoa màu, không thể áp dụng cho lúa nước, và khó dùng cho điều kiện đất bãi vì có thể gây rửa trôi chất màu trong đất, theo đánh giá của GS. Vũ Trọng Hồng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái đẹp do sinh học quyết định      Vẻ đẹp nội tâm là quan trọng, nhưng cái để phân biệt một cá thể này với cá thể khác lại chính là dáng vẻ bề ngoài, nhất là khi cá thể đó không có đặc điểm gì nổi bật. Đây không phải là câu chuyện sở thích mà chính là sự khác biệt về mặt sinh học.      Cái đẹp để làm gì? Trong sinh học, nó giúp cho việc tái tạo (sinh sản) được dễ dàng hơn. Bởi bắt đầu từ các tiêu chí về vẻ đẹp, một cá thể cái sẽ quyết định xem liệu một cá thể đực có ở trong tình trạng sức khỏe tốt, nghĩa là cá thể đực đó có mang các gene tốt trong người hay không. Từ các xem xét này, cá thể cái mới chấp nhận, hoặc không, việc sinh sản với cá thể đực kia. Ví dụ điển hình nhất là hình ảnh con công đực thường xòe bộ lông sặc sỡ và đẹp đẽ của nó, dấu hiệu chứng tỏ nó có sức khỏe tốt và có các gene chất lượng, để quyến rũ các con công cái ở xung quanh.  Cái đẹp, chỉ dấu của các gene tốt  Ở người cũng vậy, các khuôn mẫu thường không chỉ mang yếu tố văn hóa mà cả yếu tố di truyền. Từ hơn 20 năm nay, các nhà khoa học đã cố gắng đi tìm vai trò của cái đẹp trong cuộc sống con người.                    Trong các thực nghiệm được tiến hành tại Lousiana, Mỹ vào năm 2006, các nhà khoa học đã cho những đứa trẻ còn đang trong thời kỳ ăn sữa xem các bức hình khuôn mặt khác nhau. Ở lứa tuổi này, chúng hoàn toàn chưa bị ảnh hưởng bởi các thông tin truyền thông như các tờ tạp chí hay các khuôn mẫu thời trang. Nhưng điều thú vị là những đứa trẻ mới 2 tháng tuổi đã để mắt lâu hơn đối với các bức hình có khuôn mặt đẹp, cân đối, trẻ và tràn đầy sinh lực, thí dụ như hình ảnh các minh tinh, người mẫu nổi tiếng như Bratt Pitt hay Adriana Karembeu, so với các khuôn mặt bình thường khác. Và điều này hoàn toàn độc lập với giới tính, lứa tuổi hay chủng tộc của người có trong ảnh.   Nhưng giải thích tại sao bộ não người mới sinh ra lại có thể xác định đâu là khuôn mặt “hấp dẫn” hay không chẳng phải là điều dễ dàng? Theo một số nhà khoa học, sự sinh sản liên quan mật thiết với cái đẹp. Trong một số nền văn hóa, cái đẹp gắn liền với sức khỏe và khả năng sinh sản. Đó chính là lý do tại sao người ta lại đưa ra các tiêu chí về cái đẹp gắn với cặp nhũ hoa của người phụ nữ, vẻ đẹp cơ bắp ở người đàn ông và sự cân đối ở cả hai giống. Đây cũng là điều lý giải khả năng thiên bẩm ở người phụ nữ trong việc phát hiện và lựa chọn những cá thể tốt nhất trong một nhóm hay tập hợp người khác nhau.  Cái đẹp, thói quen của não bộ  Một nghiên cứu khác, lần này được thực hiện ở California, lại giải thích sự việc một cách hoàn toàn khác: một khuôn mặt được coi là hấp dẫn khi hình ảnh đó ít nhất ở mức trung bình so với cảm nhận thông thường của não bộ. Đơn giản bởi những hình ảnh “đã xem” thường dễ được xử lý bởi não hơn. Thí dụ, một khuôn mặt có các nét đẹp “chuẩn”, lấy từ 16 khuôn mặt khác nhau bao giờ cũng hấp dẫn hơn bất kỳ các khuôn mặt gốc trong số 16 khuôn mặt đó.                   Thói quen cũng đồng hành với các động cơ về hình học: trong một cuộc thực nghiệm, các nhà nghiên cứu California tìm cách cho những người tham gia thực nghiệm làm quen với các hình ảnh nguyên mẫu. Rồi, họ được cho xem các hình ảnh khác. Kết quả là khi người thực nghiệm càng được tiếp cận với hình ảnh nguyên mẫu một cách dễ dàng và nhanh chóng thì trong não họ càng xuất hiện các khoái cảm hoặc sự hài lòng, thể hiện ở các biểu đồ điện não của những người tham gia thử nghiệm.  Như vậy có thể nói cái đẹp rất gần với những cái mà người ta đã từng xem (chứng kiến). Vì vậy, câu hỏi kế tiếp được đưa ra: cái đẹp xuất hiện nhờ bản năng sinh sản hay thói quen của con người? Và điều đó liệu có đúng khi chúng ta đôi lúc bảo vệ, về mặt sinh học, cái đẹp có nghĩa là chúng ta trở thành nô lệ của cái đẹp?  Vương Tiến (theo Interrnaute)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cái đẹp trong khoa học      Cái đẹp là gì? Chúng ta chưa có một ý niệm nào về cách thức mà bộ não của chúng ta nhận biết cái đẹp của tạo hóa. Chẳng những thế, chúng ta còn ít có khả năng hơn khi nói đến cái đẹp bằng từ ngữ thật chính xác. Và vì thế cũng thật là mạo hiểm khi nói đến cái đẹp trong lĩnh vực khoa học. Nhưng đó lại chính là điều tôi muốn nói ở đây.    Thiên nhiên rất đẹp  Người ta thường coi hoạt động khoa học là một công việc thuần túy lý tính. Nó loại trừ mọi cảm xúc. Vật lý là một môn khoa học cụ thể và chính xác, ở đó mọi tình cảm thẩm mỹ đều bị loại trừ. Những phán xét về giá trị đều không có chỗ đứng. Chỉ có những sự kiện lạnh lùng và khách quan mà thôi. Tuy vậy, nhà khoa học cũng như người nghệ sĩ đều nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhiều cuộc công du đến các đài thiên văn đã không hề làm suy giảm sự thích thú luôn luôn mới lạ của tôi khi đứng trước những thắng cảnh với một vẻ đẹp kỳ vĩ, cách rất xa ánh sáng của nền văn minh. Tôi cũng luôn cảm thấy choáng ngợp trước cảnh tượng lộng lẫy, khô cằn mà hoành tráng của hoang mạc Arizona, ở đó, trên ngọn núi lửa Mauna Kea (Hawai) đã tắt, nơi mà những ống kính thiên văn cỡ lớn mọc lên như nấm, đài thiên văn Kit Peak hiện lên sừng sững giữa một cảnh tượng như trên cung trăng, trơ trụi chẳng có một loài cây cỏ nào. Tôi luôn cảm thấy hồi hộp khi thấy những cánh tay hình xoắn ốc của một thiên hà nào đó, ở cách xa hàng tỉ năm ánh sáng, hiện trên màn hình nối với ống kính thiên văn.  Những bức ảnh về khoa học nhưng không kém phần nghệ thuật của Giải thưởng Wellcome Image          Mạch máu trong mắt lợn.    Những lối mòn ngôn ngữ của bộ não.          Nếu thiên nhiên rất đẹp thì lý gì các lý thuyết diễn tả nó lại không đẹp như thế? Nhà khoa học cũng như nhà thơ, tại sao họ lại không thể để cho các cảm xúc về cái đẹp bổ sung cho những nhận xét lý tính của mình? Các nhà bác học vĩ đại nhất đã trả lời rất rõ ràng câu hỏi này. Nhà toán học Pháp H.Poincaré (1854-1912) nói: “Nhà khoa học không nghiên cứu Tự nhiên vì mục đích vị lợi. Ông ta nghiên cứu vì tìm thấy trong công việc sự thích thú và tìm thấy sự thích thú bởi Tự nhiên rất đẹp. Nếu Tự nhiên không đẹp thì nó không đáng được nghiên cứu, và cuộc sống cũng không đáng để sống nữa”. Poincaré còn bổ sung cho định nghĩa về cái đẹp như sau: tôi nói đến cái đẹp thầm kín nảy sinh từ sự hài hòa giữa các bộ phận mà một trí tuệ thuần khiết có thể cảm nhận được”. Nhà vật lý người Đức Werner Heisenberg (1901-1976), một trong những cha đẻ của môn vật lý lượng tử, đã đáp lại tiếng nói từ đáy lòng của Poincarré, ông nói: “Nếu Tự nhiên dẫn dắt chúng ta đến các hình thức toán học hết sức đơn giản và đẹp đẽ – bằng từ “hình thức” tôi muốn nói đến các hệ thống nhất quán các giả thuyết, các tiên đề… – mà trước đó chưa có một ai nhận thấy, thì chúng ta không thể không nghĩ rằng đó là những cái có thực, rằng chúng hé lộ khía cạnh hiện thực của Tự nhiên… Bạn chắc cũng đã cảm thấy điều đó: tính đơn giản đáng kinh ngạc và toàn bộ mối liên hệ chằng chịt mà Tự nhiên đột nhiên bày ra trước mắt chúng ta, và đối với những cái đó chúng ta chưa thật sẵn sàng”. Chính Albert Einstein (1879-1955) cũng đã ít ở đoạn cuối bài báo về Thuyết tương đối rộng rằng: “Tất cả những ai hiểu về lý thuyết này sẽ không thoát khỏi ma lực của nó”. “Trật tự hài hòa”, “Tính đơn giản”, “Sự nhất quán”, “Ma lực”. Đó tất cả những gì để định nghĩa “cái đẹp” trong khoa học.  Tính tương đối của cái đẹp  Cái đẹp mà nhà vật lý nói đến rất khác với cái đẹp mà người nhạc sĩ cảm nhận khi nghe bản sonata của Mozart hay bản fuga của Bach, hoặc cái đẹp mà người yêu nghệ thuật tìm thấy… – đứng trước các bức họa: Những vũ nữ của Degas (1834 – 1917), Những quả táo của Cézanne (1839-1906) hay Những cây hoa súng của Monet (1840 -1926). Cái đẹp đó cũng không giống và cái đẹp mà người đàn ông cảm nhận ở người đàn bà ngồi cạnh.   Những cảm nhận về cái đẹp cũng rất khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau. Những quy ước của hội họa thể hiện qua bức tranh của Hokusai (1760 – 1849) về núi Phú Sĩ không giống với các quy ước của Cézanne khi ông vẽ núi Saint-Victoire. Vẻ đẹp khôn tả của ngôi đền Taj Mahal (Ấn Độ) hoàn toàn khác với vẻ đẹp lộng lẫy của nhà thờ Chartres. Vì vậy, nếu ai đó muốn định nghĩa thế nào là cái đẹp thì thật là táo gan. Giống như tình yêu và sự căm ghét, người ta chỉ cảm nhận được nó khi mà những tình cảm ấy xâm chiếm tâm hồn bạn, song cũng khó có thể mô tả bằng lời.  Nếu như không có những tiêu chí khách quan để đánh giá cái đẹp trong sự sáng tạo của con người, thì liệu chúng ta có thể hy vọng nêu ra được một tiêu chí về cái đẹp trong các công trình khoa học hay không? Liệu chúng ta có thể xây dựng một hệ thống mỹ học trong khoa học để đánh giá cái đẹp của tự nhiên, của sự xếp đặt có tổ chức của nó? Có thể đưa ra một câu trả lời khẳng định bởi vì trái ngược với vẻ đẹp của phụ nữ và của đồ vật, vẻ đẹp của một lý thuyết vật lý không phải là tương đối mà mang tính phổ quát. Vẻ đẹp đó có thể được đánh giá bởi một nhà khoa học ở bất cứ đâu, thuộc bất kỳ nền văn hóa nào. Một nhà vật lý học Việt Nam có thể ca ngợi giá trị của thuyết tương đối rộng cũng sắc sảo như một nhà vật lý người Pháp vậy.      Albert Einstein cũng đã ít ở đoạn cuối bài báo về Thuyết tương đối rộng rằng: “Tất cả những ai hiểu về lý thuyết này sẽ không thoát khỏi ma lực của nó”. “Trật tự hài hòa”, “Tính đơn giản”, “Sự nhất quán”, “Ma lực”. Đó tất cả những gì để định nghĩa “cái đẹp” trong khoa học.      Mặc dù đã có những lời khích lệ của triết gia Schopenhauer (1788-l860) nói rằng hãy gạt lý lẽ sang một bên và để mặc cho trực giác nắm bắt cái đẹp, tôi sẽ thử thực hiện cái việc khá nguy hiểm là khoanh khái niệm về cái đẹp trong một lý thuyết vật lý. Tôi sẽ không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào vì việc làm đó chắc chắn sẽ thất bại. Tôi chỉ xin liệt kê và minh họa một danh mục những đặc tính mà một lý thuyết khoa học đẹp cần phải có.  Cái đẹp trong khoa học  Trước hết từ “Đẹp” ở đây không hề liên quan với cái đẹp tạo hình của dãy các phương trình được viết ra bởi một bàn tay nắn nót trên trang giấy trắng. Phải thú nhận rằng tôi chỉ nhìn thấy ở đó một cái đẹp trừu tượng, cũng hệt như khi đứng trước những trang giấy đầy ắp chữ Hán do một nhà thư pháp Trung Hoa viết lên một cách tài hoa. Nhà thơ và cũng là họa sĩ Henri Michaux (1899- 1984) đã sử dụng một cách có ý thức vẻ đẹp tạo hình ấy của chữ Hán trong thư pháp của mình. Cái đẹp ở đây cũng không liên quan với khái niệm “tao nhã” mà các nhà vật lý và toán học thường nói tới. Một chứng minh toán học hoặc một kết quả vật lý là tao nhã bởi vì chúng đã đạt được qua một số tối thiểu các bước… Một lý thuyết có thể rất đẹp mà không còn có những lời giải tao nhã. Lý thuyết tương đối rộng của Einstein, theo ý kiến của tất cả các chuyên gia, là một tòa lâu đài trí tuệ hài hòa nhất mà trí tuệ con người đã xây dựng nên. Lý thuyết đó không có những lời giải tao nhã, ngoại trừ những trường hợp đơn giản nhất. Trong lý thuyết đó, toán học hết sức phức tạp. Tuy nhiên, đó là lý thuyết đẹp nhất.          Bề mặt võng mạc của chuột.                  Một lý thuyết được gọi là đẹp bởi vì nó có vẻ không thể nào khác được. Đó cũng là cảm giác mà bạn nhận thấy khi nghe một bản fuga của Bach, trong đó không có một nốt nhạc nào có thể thay thế được, bởi vì nếu thay thế dù chỉ một nốt thôi, thì sự hài hòa của bản nhạc sẽ bị phá vỡ. Hoặc khi nhìn bức họa La Joconde của Leonard de Vinci (1452-1519) thì không một nhát cọ nào có thể quệt khác được, nếu không sự cân bằng của bức tranh sẽ không còn nữa. Đối với một lý thuyết đẹp cũng vậy. Chính Einstein đã viết về Thuyết tương đối rộng: “Sức hấp dẫn chủ yếu của lý thuyết là ở chỗ nó đủ cho chính nó. Chỉ cần một trong số những kết luận của nó không đúng là toàn bộ lý thuyết sẽ bị vứt bỏ. Làm thay đổi nó mà không phá hủy toàn bộ cấu trúc là không thể được”.   Đặc tính không thể khác được và tính tất yếu của một lý thuyết đẹp thể hiện ở chỗ, khi nó ra đời, các nhà vật lý thường rất ngạc nhiên không hiểu sao nó hiển nhiên như thế mà lại không xuất hiện sớm hơn.      Trái ngược với vẻ đẹp của phụ nữ và của đồ vật, vẻ đẹp của một lý thuyết vật lý không phải là tương đối mà mang tính phổ quát. Vẻ đẹp đó có thể được đánh giá bởi một nhà khoa học ở bất cứ đâu, thuộc bất kỳ nền văn hóa nào.      Đặc tính thứ hai của một lý thuyết đẹp là ở chỗ nó rất đơn giản. Ở đây không phải là sự đơn giản của các phương trình trong lý thuyết được đo bằng số lượng của các ký hiệu, mà là số lượng các ý tưởng làm cơ sở cho lý thuyết đó. Ví dụ, để xây dựng lý thuyết hấp dẫn của mình, Isaac Newton (1642-1727) chỉ cần 3 phương trình tương ứng với ba chiều không gian, trong khi lý thuyết tương đối rộng cần đến 14 phương trình. Tuy nhiên, lý thuyết đẹp nhất là lý thuyết của Einstein, bởi vì nó dựa trên những ý tưởng cơ bản đơn giản hơn. Vũ trụ Copecnic lấy Mặt trời làm trung tâm, trong đó các hành tinh cần mẫn đi theo các quỹ đạo hình elip xung quanh Mặt trời, đơn giản hơn vũ trụ lấy Trái đất làm trung tâm của Ptoleme, trong đó Trái đất là trung tâm và các hành tinh di chuyển theo đường tròn mà tâm của các đường tròn ấy lại chuyển động trên các đường tròn khác. Một lý thuyết đơn giản chỉ cần một số lượng tối thiểu giả thuyết mà thôi. Nó không bị vướng vào các thứ điểm tô vô bổ. Nó thỏa mãn tiên đề về tính đơn giản của Occam (1349): “Tất cả những thứ không cần đều vô ích”.  Sự tương hợp với cái toàn thể  Đặc tính cuối cùng của một lý thuyết và theo tôi cũng là đặc tính quan trọng nhất, là nó phải thích ứng với những đường viền quanh co của Tự nhiên và làm cho cái đẹp trùng khớp với chân lý. Thực tế, một lý thuyết vật lý không có chỗ đứng, nếu không hé mở cho chúng ta thấy những mối liên hệ mới trong Tự nhiên, mà ta có thể kiểm chứng được bằng những quan sát hoặc thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, nếu nó không phơi bày trước mắt chúng ta “sự đơn giản đáng kinh ngạc và toàn bộ mối quan hệ chằng chịt của Tự nhiên”, như Wamer Heisenberg đã từng nói. Một lý thuyết mà người ta không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm thì không thuộc lĩnh vực khoa học mà thuộc lĩnh vực siêu hình. Những tư biện trí tuệ đều là vô bổ chừng nào chúng không dựa vào các Hình thái của Tự nhiên. Heisenberg đã định nghĩa cái đẹp như nó đã được cảm nhận trong nền văn minh cổ đại như sau: “Cái đẹp là sự tương hợp của các bộ phận, giữa bộ phận này với bộ phận kia và với toàn thể. Thuyết tương đối rất đẹp bởi vì nó đã kết nối và thống nhất được cái khái niệm cơ bản của vật lý mà cho đến lúc đó vẫn hoàn toàn tách rời nhau: thời gian, không gian, vật chất và chuyển động. Vật chất làm cong không gian, và sự cong của không gian quy định chuyển động. Mặt trăng đi theo một quỹ đạo cong (hình elip) xung quanh Trái đất bởi vì khối lượng của Trái đất làm cong không gian bao quanh nó. Đến lượt mình chuyển động lại kiểm soát sự hoạt động của cặp thời gian- không gian. Một hạt cơ bản chuyển động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng sẽ thấy thời gian dài ra và không gian co lại. Sự chậm lại của thời gian – cái phép mầu cải lão hoàn đồng tưởng như vô vọng – thì bây giờ không còn là một điều không tưởng nữa: các hạt được phóng hết tốc lực trong các máy gia tốc hạt, như máy gia tốc của CERN (Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu) đặt tại Geneve, sống lâu hơn là các hạt đứng yên. Còn về sự cong của không gian do vật chất tạo ra, thì những quan sát cho thấy ánh sáng của các vì sao đều bị lệch hướng khi đi qua gần Mặt trời, đúng như Mặt trời đã làm cong không gian bao quanh nó.  Một lý thuyết sẽ càng đẹp nếu nó phát hiện ra những mối liên hệ bất ngờ ở mỗi một bước ngoặt mới, trong quá trình các nhà nghiên cứu khám phá ngày một sâu hơn cấu trúc của nó. Thuyết tương đối rộng thỏa mãn đến độ cao nhất các chuẩn mực ấy. Lý thuyết này không ngừng làm cho chúng ta phải ngạc nhiên bởi sự phong phú không lường trước được của nó. Einstein là người đầu tiên bị bất ngờ khi ông phát hiện ra rằng các phương trình của ông đã áp đặt một vũ trụ đang vận động. Giống như một hòn đá khi ném ra không thể đứng lại trong không khí, vũ trụ không thể ở trạng thái tĩnh: nó phải hoặc là giãn nở hoặc là tự nó co nhỏ lại. Thế nhưng những quan sát thiên văn ở vào thời của ông (1915) lại chỉ ra rằng vũ trụ là tĩnh. Và Einstein đã điều chỉnh các phương trình của mình để phù hợp với trạng thái tĩnh này một hành động mà Einstein xem là “sai lầm lớn nhất trong cuộc đời ông”, khi biết nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble (1889-1953) phát hiện ra sự giãn nở của vũ trụ vào năm 1929.  Einstein đã không có đủ niềm tin vào vẻ đẹp và sức sống của chính các phương trình của mình. Từ đó Thuyết tương đối rộng đã không ngừng phát hiện ra những kho báu đến lạ lùng. Nó đã trở thành trụ cột của lý thuyết Big-Bang. Nó đã cho phép các nhà vũ trụ học đi ngược dòng thời gian và mô tả các bước tiến hóa của vũ trụ, bắt đầu từ một vụ nổ lớn- vụ nổ đã sinh ra cả không-thời gian. Nó cũng đã thúc đẩy chúng ta nghĩ đến các vùng trong không gian có lực hấp dẫn rất mạnh và không gian cong lại tới mức mà ánh sáng cũng không thể thoát ra được: đó là những lỗ đen. Chưa hết. Lý thuyết đó còn nói rằng có những vùng, ở đó các thiên hà có khối lượng cực lớn làm cong không gian và làm lệch hướng đi của ánh sáng phát ra từ các thiên thể ở xa, tạo ra các ảo ảnh vũ trụ. Các nhà thiên văn gọi các thiên hà này là những “thấu kính hấp dẫn”, bởi vì giống như thủy tinh thể của mắt, chúng làm lệch hướng và tụ tiêu ánh sáng.  Không thể khác, đơn giản và tương hợp với toàn thể- đó là những nét đặc trưng của một lý thuyết đẹp. Chính sự thích thú vẻ đẹp của sự tương hợp với cái toàn thể đã kích thích những cố gắng của các nhà vật lý trong suốt hai thế kỷ qua để tìm ra một Lý thuyết của Tất cả, một lý thuyết có khả năng liên kết tất cả các hiện tượng vật lý của vũ trụ và thống nhất bốn lực cơ bản của Tự nhiên thành một lực duy nhất.     Author                Trịnh Xuân Thuận        
__label__tiasang Cái sướng của các nhà văn      Mình nghe một nhà văn rất nổi tiếng than thở: Gửi bản thảo đi cả năm, bây giờ họ lại bắt kiểm duyệt mấy chỗ, chán quá, chẳng muốn in nữa.      Văn sĩ thức khuya dậy sớm, lao tâm khổ tứ, trà thuốc tốn kém, quát tháo vợ (chồng) con, mới nghĩ ra được câu đắc ý, nay lại bị cắt xoẹt cái, ai mà không tức. Xét cho kỹ, thì kiểm duyệt bây giờ cũng đỡ hơn cách đây 30 năm, nhiều khi bản thảo chưa kịp gửi đi toà soạn, cán bộ ban văn hoá tư tưởng đã qua chơi, nhân tiện nhờ nhà thơ giải nghĩa cho mấy chữ. Các bài cần giải thích, thường là từ từ xếp lại, cho vào ngăn kéo, để độ chục năm sau đăng vẫn kịp, hay như mới.  Để an ủi bạn văn sĩ, mình nói rằng là với cái sự xuất bản, khổ nhất vẫn là các nhà toán học. Cũng chẳng biết là than thở rằng mình khổ hơn bạn có phải là phương pháp an ủi hiệu quả không, nhưng các nhà toán học khổ như bò thì là điều chắc chắn. Cũng thức khuya dậy sớm như ai, nhưng viết ra đọc trong nhà ngoài ngõ không ai thèm hiểu. Và tới khi gửi đi, thì cái đau đầu nó mới bắt đầu.  Phàm là bản thảo tới tòa soạn, nó sẽ nằm yên đó chừng vài ba tháng, vì ông thư ký tòa soạn vô cùng bận. Cái này dĩ nhiên, phải thông cảm, vì tất cả những người làm editor cho các báo toán học, hay khoa học nói chung, đều là tự nguyện, làm ngoài giờ giảng dạy nghiên cứu bình thường của họ. Tất nhiên ở đây mình muốn nói tới các tạp chí tương đối uy tín. Ngoài ra tất nhiên có rất nhiều tạp chí sẽ in bài của bạn trong vòng hai tuần, hoặc ba nếu thay cho bản thảo, bạn gửi nhầm giấy hóa đơn thanh toán tiền nước.  Sau mấy tháng bình yên ấy, bài của bạn sẽ được gửi đến các phản biện, chừng 2-4 người. Các anh phản biện cũng không công nốt, nên các anh có nhận đọc hay không tùy thuộc vào trạng thái tâm lý trong ngày. Chẳng hạn nếu sáng bị vợ mắng vì đánh đổ sữa ra bàn thì quên ngay chuyện ấy đi, nhanh và luôn. Mà bình thường các anh bị mắng với xác suất khá cao, nên tìm ra được 2-4 anh dễ tính, khéo cũng mất vài tháng nữa.  Phản biện nhận rồi, công trình mồ hôi nước mắt của bạn sẽ được lên list “những việc cần làm ngay” của anh ấy, xếp hạng quãng từ 85 đến 125. Tất nhiên, như tất cả chúng ta, anh chẳng bao giờ sờ đến việc nào có hai chữ số cả.  Thế nhưng rồi công trình của bạn, nhờ một phép màu nào đó, vẫn được đọc. Có thể phản biện khoái chí vì thấy công trình của bản thân xuất hiện trong bài báo, có thể một ngày đẹp trời anh quyết định chơi đem lại niềm vui cho nhân loại bằng một cống hiến mang tính ngẫu nhiên. Hoặc đơn giản là anh đã rất rất chán cái thư thứ 22 của toà soạn gửi đến hỏi khi nào quí giáo sư có thể cho ý kiến về công trình X.  Nếu may mắn, sau chín tháng đến một năm, bạn sẽ nhận được phản hồi từ tòa soạn, với các ý kiến của phản biện. Các ý kiến này có thể rất vắn tắt (phản ảnh đúng tâm trạng của phản biện trong ngày) như:    “The author may want to prove a different theorem, and correctly !”  cho đến những ý kiến mang tính kỹ thuật  “I think the lemma used in page 25 was first proved by my student”  “The two epsilons in the last paragraph of page 34 seem to be  two different quantities”  “If I were the author, I would keep the references  and rewrite the rest of the paper”  “I would try to avoid the using the word “very”  very often”…  Tóm lại sẽ có hai trường hợp. Thứ nhất là bạn sẽ nhận được một bức thư với những lời lẽ ngọt ngào âu yếm từ tòa soạn, nói rằng báo của họ quá nhiều ấn bản rồi, không thể in nổi cái bản thảo của bạn, mặc dầu nó rất có giá trị. Trong trường hợp này, bạn chỉ cần đơn giản mua một quyển lịch cho năm mới, và bắt đầu lại cái quá trình bản thảo với một tòa soạn khác.  Trường hợp thứ hai khá hơn. Tòa soạn thông báo họ có thể đăng bài của bạn, nếu bạn đồng ý sửa chữa bài theo ý của các phản biện đáng kính, chẳng hạn các ý kiến trên.  Tất nhiên là sau một năm, bạn đã gần quên béng những chi tiết của cái bài báo quái quỉ đó rồi, và có trời biết được tại sao hai cái epsilon ở trang 34 nó lại phải khác nhau. Vậy nên bạn sẽ ngồi thêm một tháng nữa, tốn vô số trà thuốc, để đọc hiểu công trình của chính mình và thỏa mãn ý kiến của các phản biện, như đã nhấn mạnh, rất là đáng kính.  Giả sử bạn đã qua được bước đường đau khổ này, và các phản biện hạnh phúc vì những ý kiến quí báu của họ được tôn trọng, bài của bạn sẽ được chuyển sang khâu in ấn. Bạn sẽ xoa tay, mỉm cười hạnh phúc, tưởng tượng cầm trên tay quyển tạp chí mới in thơm màu mực, với tên bạn ở trang đầu….  Ha ha, bạn cứ mơ đi nhé!  Phần lớn các tạp chí tương đối tốt bị chậm từ một đến ha năm. Nghĩa là số bài họ có trong tay trước bài của bạn đủ in cho một đến hai năm nữa. Nụ cười hạnh phúc của bạn cũng sẽ đến, nhưng nó sẽ đến muộn hai năm, trong thời gian đó con bạn sẽ cần mua một đống giấy mới.  Nụ cười hạnh phúc hiếm hoi đến sau 2-3 năm chờ đợi là sự mở đầu cho cái khổ sở thực sự của bạn. Vì người ta bảo: bài in ra có lẽ cần có người đọc, người dùng! Cũng như phim làm ra phải có người xem. Vô lý!! Về cái đòi hỏi rất quá đáng này, mình rất muốn chia sẻ sự cảm thông với một số đạo diễn điện ảnh.  Các nhà toán học, để cho cuộc sống của mình (hay của đồng nghiêp đáng kính phòng bên cạnh) thú vị hơn, thống kê rất chặt số trích dẫn của các bài báo (số lần bài báo được nhắc hay dùng tới trong một bài báo khác). Công bằng mà nói, trích dẫn nhiều chưa chắc bài báo đã hay. Nhưng mà không có trích dẫn, thì e hèm, có thể chắc chắn là nó tương đối dở. Cái trò này mới hiểm, vì bụp một cái, một số cây đa cây đề tự nhiên tán lá lại bớt sum suê.  Cho nên mình thấy các nhà văn vô cùng là sung sướng!       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện sức khỏe trong vòng chín ngày nhờ giảm hấp thụ đường      Theo một nghiên cứu mới được thực hiện với thanh thiếu niên mắc bệnh béo phì tại Bệnh viện Nhi Benioff, California, không cần phải giảm mức tiêu thụ calorie hay áp dụng các phương pháp giảm cân, chỉ cần giảm lượng đường trong khẩu phần ăn cũng đủ giúp các em cải thiện sức khỏe sau chín ngày.    Nghiên cứu nói trên cho thấy đường có hại cho sức khỏe không phải vì nó chứa nhiều calorie hay tác động của nó đối với cân nặng mà vì nó cung cấp loại calorie xấu nhất – loại sẽ biến thành mỡ trong gan, dẫn đến tình trạng kháng insulin và nguy cơ tiểu đường, tim mạch, và bệnh gan.      Nghiên cứu được thực hiện với 43 thanh thiếu niên tuổi từ 9 – 18, tất cả đều mắc chứng béo phì và mắc ít nhất một chứng rối loạn mãn tính như huyết áp cao, glucose trong máu cao, dư thừa mỡ quanh vùng bụng, hay cholesterol vượt mức bình thường.     Trong chín ngày, các thanh thiếu niên này theo một chế độ ăn vẫn có đầy đủ các lượng chất béo, protein, carbohydrate và cholesterol với mức độ tương đương chế độ ăn bình thường tại nhà; duy chỉ có các loại thực phẩm có bổ sung đường được thay thế bằng những loại thực phẩm như bánh sừng bò, ngũ cốc, và mỳ sợi. Trong suốt thời gian nghiên cứu, em nào giảm cân sẽ được ăn thêm một số thực phẩm chứa lượng đường thấp để giữ trọng lượng cơ thể ổn định.     Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn mới đã đem lại những cải thiện đáng kể về sức khỏe chỉ trong một thời gian ngắn: huyết áp giảm, nồng độ các chất béo chính trong máu giảm, lượng cholesterol xấu LDL cũng giảm, chức năng gan được cải thiện tích cực. Đồng thời, khi giảm bớt các loại thực phẩm được bổ sung đường, các em cũng có cảm giác chóng no hơn khi ăn.      Trang Bùi dịch     Nguồn:  http://www.telegraph.co.uk/news/ health/news/11956249/Cutting-sugar-can-improve-health-in-nine-days.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc uống hằng tuần giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái      Thuốc uống hằng tuần giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái và dễ tuân thủ hơn, đồng thời đảm bảo nồng độ thuốc trong cơ thể luôn ổn định.    Công nghệ thuốc mới, uống một lần mỗi tuần và nằm trong dạ dày sau đó từ từ giải phóng các hợp chất bên trong, sẽ được áp dụng đầu tiên đối với một loại thuốc tránh thai và một loại thuốc tâm thần. Các loại thuốc công nghệ mới này đều có dạng viên nang như thuốc thông thường.    Lyndra, công ty đang phát triển công nghệ này – được tài trợ bởi Quỹ Bill và Melinda Gates – cũng sẽ ứng dụng công nghệ trên một loạt các loại thuốc khác, bao gồm cả ivermectin điều trị sốt rét, thuốc tiểu đường, tim mạch, v.v…        Viên thuốc công nghệ mới được tạo thành từ 6 cánh nhỏ nối vào một lõi tròn, 6 cánh gập lại thành hình một viên nang. Viên nang sẽ duy trì hình dạng gập khi uống và chỉ bung ra sau khi xuống đến dạ dày. Ở dạng mở 6 cánh, thuốc sẽ nằm lại trong dạ dày mà không bị trôi xuống ruột non. Lõi được thiết kế để tan rã dần dần trong một khoảng thời gian nhất định, giải phóng dần từng cánh. Mỗi cánh đơn lẻ sau khi tách ra sẽ giải phóng thuốc chứa bên trong, rồi trôi xuống ruột non và bị đào thải.    Thuốc tránh thai uống hằng tuần đang được thử nghiệm trên lợn và sẽ bắt đầu thử nghiệm trên người vào cuối năm nay. Risperidone, một loại thuốc chống loạn thần được sử dụng cho những người bị tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực, nhưng dưới dạng uống hằng tuần thay vì hằng ngày như hiện nay, cũng sẽ được thử nghiệm trên người trong năm nay. Lyndra dự kiến nộp đơn xin chấp thuận các ​​thuốc mới cho Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) trong năm sau, và hy vọng được phê duyệt vào cuối năm 2024.    Việc giảm tần suất sử dụng thuốc mang lại nhiều lợi ích về y tế và tinh thần cho bệnh nhân.    Chẳng hạn, đối với bệnh tâm thần phân liệt, để thuốc có hiệu quả, bệnh nhân cần tuân thủ liệu trình một cách nghiêm ngặt. Chỉ cần một vài lần bỏ lỡ lịch uống thuốc, bệnh sẽ tái phát và dẫn đến nhập viện. Thuốc uống hằng tuần giúp giảm áp lực “phải uống thuốc mỗi ngày” đối với nhiều bệnh nhân, do đó họ cảm thấy thoải mái và dễ tuân thủ hơn, theo Lyndra.    Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra có tới 50% phụ nữ sử dụng viên uống tránh thai hằng ngày bỏ lỡ ít nhất một liều trong khoảng thời gian ba tháng, khiến họ có nguy cơ mang thai. Uống thuốc hằng tuần giảm thiểu sai sót trong quá trình sử dụng, làm giảm số trường hợp mang thai ngoài ý muốn.    Các thử nghiệm ban đầu cho thấy thuốc công nghệ mới liên tục cung cấp một lượng hợp chất thuốc ổn định. Trong khi đó, đối với thuốc uống hằng ngày, nồng độ thuốc trong cơ thể sẽ liên tục lên xuống theo thời điểm uống. Ví dụ, nếu bệnh nhân uống vào đầu ngày, nồng độ thuốc trong cơ thể khi đó có thể rất cao, gây ra các tác dụng phụ, trong khi vào cuối ngày nồng độ lại quá thấp để phát huy tác dụng.    Lyndra còn thử nghiệm levomethadone uống hằng tuần. Đây là thuốc được dùng trong điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện. Hiện nay bệnh nhân dùng levomethadone phải đến phòng khám mỗi ngày để uống thuốc, vì thuốc này yêu cầu liều lượng cực kỳ chặt chẽ. Công ty cũng có kế hoạch áp dụng công nghệ mới đối với các loại thuốc tiểu đường và tim mạch, những bệnh tạo ra gánh nặng phải uống thuốc liên tục cho bệnh nhân.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Cảm biến mới nghiên cứu não dễ dàng hơn      Các nhà vật lý Mỹ đã phát triển một cảm biến với độ nhạy đủ để ghi nhận từ trường từ các tín hiệu điện trong não.      Với một tế bào nhỏ được bao phủ bởi các đám hơi nguyên tử Rubidium, cảm biến có thể ghi nhận được từ trường nhỏ tới 70 fT (nhỏ hơn một tỉ lần từ trường Trái đất) và hoạt động ở ngay nhiệt độ phòng. Ứng dụng triển khai lập tức là vẽ biểu đồ tín hiệu điện sản sinh bởi não mà không cần tác động, thậm chí các tín hiệu đến từ tim của thai nhi còn chưa sản sinh. Nhóm nghiên cứu của NIST hy vọng có thể cải thiện độ nhạy thiết bị tới 10 fT, cho phép nghiên cứu não tốt hơn.   Theo Vật lý Việt Nam      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm hứng khám phá      Những câu chuyện kể về sự trải nghiệm hay những thành tựu khoa học của nhà vật lý Richard Feymann thường hết sức sâu sắc. Những đối thoại rất chân thật và đậm nét cá nhân về nhiều chủ đề xuất phát từ đáy lòng ông – cái gì mà chúng ta chỉ biết đúng cái tên gọi của nó, thì cũng coi như không biết gì về nó cả. Dưới đây, chúng tôi lược dịch đoạn phỏng vấn giáo sư Feynman trên chương trình Horizon – đài BBC vào năm 1981, sau đó được chiếu lại ở Hoa Kỳ trong chương trình truyền hình khoa học Nova. Năm đó, Feymann đã trải qua gần hết cuộc đời (ông đã mất năm 1988) thế nên những chuyện ông kể đều ẩn chứa rất nhiều tâm sự của ông mà người ta khó thể nhìn ra hết.      Nhà vật lý Richard Feymann  Nét đẹp của bông hoa  Một anh bạn nghệ sỹ của tôi thường có suy nghĩ mà tôi không đồng tình chút nào. Anh ta đưa tôi xem một bông hoa và nói, “nhìn xem nó đẹp không này”. Tôi hoàn toàn đồng ý. Nhưng anh ta lại nói, “Ông xem, nghệ sỹ người ta nhìn bông hoa đẹp thế này, chứ mấy nhà khoa học như ông chỉ săm soi xem các nguyên tử của nó ra sao, nên nó thành một đống bùng nhùng gớm ghiếc phải không?” Tôi nghĩ anh ta sai. Trước hết, cái đẹp mà anh ta thấy thì hầu hết mọi người cũng cảm nhận được, có chăng là không được tinh tế hết mức như một nghệ sỹ, nhưng cũng đủ để thưởng thức vẻ đẹp của một bông hoa. Và bên cạnh cái đẹp “đến từng centimet” đó thì còn có một vẻ đẹp khác, ở kích thước khác, bên trong nó. Hơn thế nữa, còn có những chuyển động, biến đổi của bông hoa để thay đổi màu sắc (cái mà chúng ta thấy), nhưng với nó là để thu hút những con côn trùng đến thụ phấn thôi. Và vậy đó, thẩm mỹ tồn tại ở mọi góc độ. Và tại sao nó lại đẹp đến thế? Bởi những gì mà khoa học trả lời thêm cho chúng ta về bông hoa đã góp phần tăng thêm vẻ đẹp huyền bí và phấn khích của nó, cả sự hãi hùng nữa. Khoa học chỉ mang lại thêm vẻ đẹp chứ chằng làm giảm đi chút nào, thật đấy.  Khủng long bạo chúa bên cửa sổ  Nhà tôi có một cuốn Bách khoa Anh quốc (“Encyclopaedia Britannica”). Hồi nhỏ tôi thường ngồi trên lòng bố để nghe ông đọc. Chúng tôi đọc phần về khủng long ví dụ như “brontosaurus” hay “tynanosaurus rex”, sách nói kiểu như “con này cao 25 feet và riêng cái đầu là 6 feet”. Bố tôi dừng lại và giải thích, “Con tưởng tượng xem, nếu nó đứng dưới sân thì đầu nó sẽ vươn tới cửa sổ trên này và chui vào nhà mình. Mà không, đầu nó to lắm, nó mà chui qua thì sẽ phá vỡ banh cái cửa sổ nhà mình.”  Tôi luôn cố gắng tưởng tượng ra những điều thực tế trong khi đọc, hay ít nhất cái gì tương tự. Sau này cũng vậy, khi đọc tôi luôn cố vẽ ra một cái hình ảnh nào đó để tưởng tượng xem thực sự nó thế nào. Anh thấy đấy, người ta đọc Bách khoa để biết thì tôi đọc Bách khoa kèm một từ điển (hay cái gì tương tự, hay trong trí tưởng tượng) để diễn giải những gì viết trong Bách khoa (cười lớn). Từ nhỏ tôi đã rất phấn khích với những điều mới lạ như những con vật khổng lồ như thế – tôi không hề sợ thậm chí là nghĩ mà nếu nó có chui vào cửa sổ nhà tôi thì sẽ vui lắm đấy. Vậy mà chúng chết mất rồi, mấy chục triệu năm trước, không ai biết vì sao.  Chúng tôi thường đi lên khu núi “Catskill”, người New York thường hay lên đó vào mùa hè. Các ông bố thì lên vào cuối tuần rồi quay trở lại New York làm việc trong tuần, rồi lại lên. Bố tôi hay dẫn tôi đi dạo trong rừng và kể rất nhiều điều diễn ra trong từng đám cây cỏ – tôi sẽ nói rõ sau. Các bà mẹ khác thấy thế cũng thích lắm và muốn những ông bố kia cũng phải dẫn con họ vào rừng như tôi. Họ đã thử nhưng thất bại, và bọn trẻ nhào vào bố tôi và muốn ông dẫn tất cả đi. Nhưng bố tôi không muốn vì ông chỉ thích đi với tôi – ông ích kỷ. Rốt cuộc thì chúng tôi đi riêng và đến thứ Hai chúng tôi ngồi lại trên sân, một đứa hỏi – “Tụi mày có biết con chim kia tên là gì không?” Tôi nói – “Tao không biết”. Nó liền nói – “Đó là con sơn ca màu nâu.” – đại loại thế – “Thế bố mày không chỉ cho mày biết à?”. Thực ra là có: bố tôi có kể chứ. Ông ấy chỉ vào con chim và nói – “Con có biết con chim này tên là gì không? Nó là con sơn ca màu nâu, nhưng trong tiếng Bồ Đào Nha tên là …, tiếng Italia thì tên là …,” – ông ấy nói tiếp – “tiếng Trung Quốc thì là…, tiếng Nhật thì là …”, vân vân nhiều lắm. Cuối cùng ông nói – “Con xem, giờ thì con đã biết tên của con chim ở tất cả các thứ tiếng rồi đó. Nhưng thực chất thì con chả biết gì về nó cả, cái con biết chỉ là cái chữ mà con người chúng ta gọi nó ở những vùng đất khác nhau thôi.”  Ông đã dạy tôi nhận biết mọi thứ như vậy. Một hôm tôi đang chơi đoàn tàu trên đường ray đồ chơi, trẻ con mà, rất thích kéo toa tàu vòng vòng. Tôi nhớ bên trong toa tàu có một quả bóng nhỏ – và nhớ nó chạy thế nào khi kéo toa tàu đi. Tôi kể lại cho bố tôi – “Bố ơi: con thấy là nếu mình kéo toa tàu đi thì quả bóng lăn về phía sau toa tàu, còn nếu mình đang kéo nó nhanh và đột ngột dừng lại thì nó lại lăn về phía trước” – tôi hỏi – “tại sao vậy bố?” Bố tôi trả lời, “Không ai biết đâu con,” – “Nguyên tắc là nếu cái gì đang chuyển động thì sẽ tiếp tục chuyển động, như khi con dừng toa tàu thì quả bóng vẫn tiếp tục chuyển động lên phía trước toa, còn những gì đang đứng yên thì sẽ tiếp tục đứng yên trừ khi con đẩy nó thật mạnh, như khi con kéo toa tàu đi nhưng quả bóng đang đứng yên trước đó, nó vẫn “muốn” đứng yên nên lăn lại phía sau toa tàu vậy thôi.” Ông nói tiếp, “Cái này gọi là quán tính nhưng thực sự không ai biết vì sao nó lại như vậy.” Đó là một cách nhìn rất sâu sắc mà tôi học được từ rất sớm – Ông ấy không giải thích bằng một cái tên, bởi ông ấy biết sự khác nhau giữa việc biết tên gọi và biết thực sự một vật thể là gì. Ông nói tiếp, “Nếu con nhìn gần vào thì sẽ thấy thực ra trái bóng không lăn về phía sau toa tàu mà thực chất là đứng yên. Chỉ vì ma sát với sàn toa mà nó lăn lên trước một chút, chứ không phải là đi ngược về sau.” Tôi chạy lại toa tàu và làm lại, kéo toa tàu thật chậm với trái bóng ở trong. Đúng là nhìn từ bên cạnh thì như ông nói, trái bóng không hề lăn về phía sau khi ta kéo toa tàu lên trước, nó chỉ lăn về phía sau so với toa tàu. Còn nếu so với mình đang đứng yên thì nó nhích lên trước một chút đó, chính là do ma sát với toa tàu kéo nó theo. Từ nhỏ tôi đã luôn được dạy theo cách như vậy, rất nhiều ví dụ và tranh luận, không áp lực, và tranh luận rất là thú vị.  Đại số thực dụng  Anh họ tôi lớn hơn 3 buổi. Lúc đó ông ấy học trung học và có nhiều bài đại số khó lắm, phải mời gia sư đến kèm. Và tôi tranh thủ ngồi gần (cười lớn) xem sao, kiểu những bài như 2 nhân x cộng cái gì đó. Tôi hỏi anh họ tôi, “Anh đang làm gì vậy?” Anh biết sao không, ông ấy nói về cách tìm x: “Mày có biết cách tìm x nếu biết 2x + 7 bằng 15 không?” Tôi nhẩm và nói “4”. Ông ấy bảo “Ê, nhưng cách đó là số học, mày phải tính bằng đại số”. Thế là đủ hiểu vì sao ông ấy kém đại số đến thế, ông ấy không hiểu cần phải làm gì. Tôi đã học đại số không phải ở trường và bằng những bước người ta chỉ ra cần phải làm gì để tìm x. Có quan trọng gì nếu bạn tìm ra x bằng số học hay bằng đại số? Thậm chí là không hề có những khái niệm đó. Đó đơn giản chỉ là những tên gọi mà người ra đặt ra ở trường, và học sinh muốn qua môn đại số phải làm theo cách đó. Họ đã đặt ra một tập hợp các quy tắc để tìm ra x, ví dụ như trừ đi 7 ở cả hai vế phương trình, sau đó nếu có một nhân tử trước x thì chia cho nhân tử đó, vân vân. Các bài khác lại là một “series” các quy tắc khác và rốt cuộc thì học sinh chả hiểu là chúng đang làm cái gì.  Có một series các sách toán dạng Số học thực hành, Đại số thực hành rồi Lượng giác thực hành. Tôi đã học lượng giác theo cách đó nhưng rồi tôi quên ngay lập tức vì chả hiểu bản chất là gì. Sau đó có ra quyển Giải thích thực hành, tôi đến thư viện tìm. Tôi biết môn này vì đọc trong Bách khoa thư rằng giải tích là một môn rất quan trọng, hấp dẫn và tôi quyết định phải học. Lúc đó tôi lớn hơn một chút, hình như là 13 tuổi. Và lúc mà tôi đang phấn khích mượn quyển giải tích thì cô thủ thư nhíu mày hỏi – “Cháu còn bé mà đã đọc sách này à, đây là sách trung học mà.” Và tôi đã buộc phải nói dối, vâng một trong số ít lần nói dối của tôi, là tôi mượn cho bố tôi. Tôi mang sách về nhà và tự học. Lần này thì tôi bắt đầu giảng lại cho bố và ông cũng đọc cùng. Ông ấy không thích quyển này lắm, chắc là vì ông ấy không hiểu bằng tôi. Ngại quá, lần đầu tiên tôi thấy mình thông minh hơn bố. □  Nguyễn Quang dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm nghĩ trước thềm Năm Mới 2006      Năm 2005 Liên Hiệp Quốc tuyên bố là năm Vật lý Quốc tế để tôn vinh nhà bác học Einstein và cũng là năm có nhiều tai họa thiên nhiên gây ra tổn thất nặng nề về người và của. Trước thềm Năm mới, chúng ta hãy điểm lại một số sự kiện có thể coi là nổi bật đã xẩy ra trong năm vừa qua.    Einstein dấu ấn trăm năm  Một trăm năm trước đây, Einstein bắt đầu đề xuất những lý thuyết đã để lại dấu ấn sâu sắc, không những trong ngành vật lý cơ bản, mà còn cả trong lĩnh vực công nghệ hiện đại. Nhiều quốc gia đã cử hành trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm ngày Einstein công bố những công trình khoa học độc đáo của ông. Tháng 8 vừa qua, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tổ chức tại Hội An một hội thảo với chủ đề: “Einstein Dấu ấn trăm năm”.  Thuyết tương đối của Einstein đã giúp các nhà thiên văn giải thích được nhiều hiện tượng xẩy ra trên bầu trời, đặc biệt là sự tiến hoá của Vũ trụ. Hiệu ứng quang điện mà Einstein đã phát hiện,  được áp dụng trong công nghiệp để đáp ứng những nhu cầu thường ngày, như sự chế tạo những tế bào quang điện dùng trong máy ảnh số để ghi hình, thay thế cho phim ảnh. Thiết bị điện tử này nhạy hơn phim tới 30 lần. Ngày nay, máy định vị toàn cầu bằng vệ tinh là thiết bị cần thiết để quản lý sự giao thông trên không và trên biển. Máy định vị cũng bắt đầu được lắp đặt trong xe hơi để chỉ đường, người lái xe không cần nhìn bản đồ. Máy định vị có thể xác định vị trí với độ chính xác chỉ bằng vài centimet, nếu kỹ thuật dựa trên lý thuyết tương đối được áp dụng.    Chinh phục Vũ trụ  Năm 2005  cũng  có  nhiều thành tựu trong công cuộc chinh phục Vũ trụ. Sau cuộc hành trình dài 7  năm trời, con tàu vũ trụ Cassini đã bay qua hành tinh Thổ và thả trạm tự động Huygens đổ bộ xuống Titan ngày 14 tháng Giêng năm 2005. Titan là vệ tinh lớn nhất của Thổ với kích thước bằng khoảng nửa Trái đất. Thiên thể này hãy còn bí hiểm đối với các nhà thiên văn, có tầng khí quyển chứa đầy nitơ và khí đốt mêtan. Nghiên cứu thành phần hóa học của Titan giúp các nhà khoa học tìm hiểu sự tiến hoá của môi trường Trái đất.  Lần đầu tiên, máy rađa trên con tàu vũ trụ của Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) đã phát hiện được nước đóng băng ở sâu dưới bề mặt hành tinh Hỏa. Mặt khác, trạm tự động của Cơ quan Hàng không và Không gian Quốc gia Mỹ (NASA) đổ bộ hẳn lên hành tinh Hỏa để nghiên cứu trực tiếp bề mặt hành tinh, nhằm tìm thấy vết tích của sông ngòi và biển. Sự hiện diện của nước dưới dạng chất lỏng là yếu tố cần thiết cho sự sống. Hiện nay, sự tìm kiếm dấu vết của sự sống trên những hành tinh trong Hệ Mặt trời  là một trong những đề tài ưa chuộng của các nhà thiên văn.   Đầu tháng 7 vừa qua, Cơ quan NASA của Mỹ đã phóng một trạm tự động lao thẳng vào sao chổi Temple 1 và bới vật chất từ bên trong lõi sao, nhằm quan sát những loại vật chất nguyên thủy chưa bị biến dạng từ khi hệ Mặt trời, kể cả Trái đất, vừa mới  ra đời. Những kết quả quan sát sẽ giúp các nhà thiên văn tìm hiểu được sự tiến hóa của Trái đất trong vòng 4 tỷ năm nay. Có giả thuyết cho rằng vật chất bốc ra từ sao chổi có thể là những mầm mống gieo rắc sự sống trên hành tinh Trái đất từ thời xa xưa.  Trung Quốc cũng vừa phóng vệ tinh Thần Châu chở hai phi hành gia bay lượn quanh Trái đất trong năm ngày. Trung Quốc đã trở thành cường quốc thứ 3 có khả năng kỹ thuật chở người lên không gian vũ trụ. Công nghệ phóng tên lửa đang là một dịch vụ thương mại, sử dụng những vệ tinh dân sự chở khách du ngoạn trong không gian.  Cuối tháng 12, Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) cũng đã bắt đầu phóng vệ tinh để chuẩn bị triển khai một chùm 30 vệ tinh của hệ thống định vị toàn cầu dân sự Galileo. Hệ Galileo sẽ được đưa vào hoạt động vào năm 2010. Sự kiện này sẽ chấm dứt sự hoạt động độc quyền của hệ định vị GPS của Mỹ. Nhờ có kỹ thuật hiện đại và số vệ tinh tương đối cao, nên hầu như ở bất cứ địa điểm nào trên Trái đất và ở bất cứ thời điểm nào cũng có thể bắt được tín hiệu của Galileo, làm cho công việc định vị chính xác và dễ dàng hơn.  Khí hậu toàn cầu bị đảo lộn?                   Từ khi nền văn minh khoa học-kỹ thuật bắt đầu phát triển, nhân loại sử dụng ngày càng nhiều nhiên liệu để đáp ứng nhu cầu công  nghiệp. Những khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân của sự gia tăng nhiệt độ trên Trái đất, có khả năng làm đảo lộn khí hậu toàn cầu. Trong những năm gần đây,  chúng ta đã chứng kiến những mùa hè nóng nực không bình thường và những trận bão lớn, như trận bão Katrina ở vùng Vịnh Mexico gây ra  tai họa nặng nề cho dân cư.  Nhờ có những mô hình  khí hậu học chạy trên những máy tính có khả năng tính toán ngày càng lớn  mà các chuyên gia đã tiên đoán được tác động của hiệu ứng nhà kính hâm nóng khí quyển Trái đất. Trong khi chờ đợi sự triển khai trên quy mô lớn các năng lượng không ô nhiễm, chúng ta chỉ có cách hạn chế sự tiêu thụ năng lượng hoá thạch, theo lời kêu gọi của Nghị định thư Kyoto. Đầu tháng 12 vừa qua, một hội thảo về diễn biến khí hậu họp tại Montréal đã triệu tập đại diện của hơn 150 quốc gia trên thế giới. Phần đông đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto và cam kết sẽ cố gắng thi hành chỉ thị của Nghị định.    Đạo lý khoa học                  Đạo lý là một yếu tố cần được tôn trọng trong khoa học. Những sự sai lầm vô tình hay hữu ý trong nghiên cứu khoa học có thể xẩy ra, nhưng phải không được che đậy và phải được sửa chữa kịp thời. Những gian lận khoa học trái đạo lý đã từng xẩy ra trong quá khứ. Ngoài chuyện phi đạo lý trong sự chế ra tế bào gốc của nhà khoa học Hàn Quốc Hwang Woo-suk (xem ảnh), có triển vọng chữa những bệnh kinh niên hiểm nghèo vừa được phát hiện mới đây, còn có vụ dùng sơn quét lên những con chuột để chứng minh là công trình ghép tạng giữa những loài khác nhau là thành công. Những nhà khoa học này bị sức ép của tham vọng, muốn nhanh chóng tìm ra những kết quả quan trọng phi thường và đôi khi họ còn muốn chạy đua để đoạt giải Nobel. Tuy nhiên, những kết quả khoa học không lọt qua được sự  kiểm tra khắt khe của những nhà khoa học công tác tại các phòng thí nghiệm khác nhau trên toàn cầu. Đa số các nhà khoa học thường rất thận trọng khi công bố công trình, nhằm tránh những sai lầm làm mất uy tín cá nhân và toàn bộ cơ quan nghiên cứu của họ.    Năm 2006 dài thêm 1 giây đồng hồ                  Năm 2006 dài thêm 1 giây đồng hồ. Ngay sau khi năm 2005 vừa mới kết thúc, các đồng hồ trên toàn cầu  phải được điều chỉnh để chạy chậm lại 1 giây. Ngày 1/1/2006, khi đồng hồ chỉ đúng 0 giờ quốc tế GMT, tức là 7 giờ sáng giờ Việt Nam, thì thực ra mới chỉ là 23 giờ 59 phút 59 giây GMT ngày 31 tháng 12 năm 2005. Sự chậm lại 1 giây đồng hồ tuy có vẻ là không đáng kể và không có ảnh hưởng đến công việc thường ngày, nhưng trở nên rất quan trọng trong công việc sử dụng giờ chính xác, chẳng hạn như công việc của các nhà thiên văn quan sát các thiên thể. Động tác  tự quay của Trái đất là đồng hồ xác định thời gian của ngày và đêm trong 24 tiếng đồng hồ. Lý do của sự thay đổi giờ là vì Trái đất tự quay chậm dần do sức hút của Mặt trăng và Mặt trời và do sự ma sát với khí quyển và với những đại dương và cả với vật chất trong lòng Trái đất. Hiện nay, nhờ có hệ 250 đồng hồ nguyên tử đặt rải rác trên toàn cầu mà thời gian mới được đo cực kỳ chính xác và do đó các nhà thiên văn phát hiện là Trái đất quay không đồng đều. Các nhà thiên văn đã chọn giây phút đầu tiên của năm 2006 để điều chỉnh lại giờ toàn cầu. Đài thiên văn Paris đã được trao trách nhiệm quản lý giờ cho cộng đồng các nhà khoa học trên thế giới.  Nguyễn Quang Riệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảm nhận về những chuyện buồn năm cũ      Ngày Tết không ai nói chuyện buồn. Báo Xuân cũng vậy, toàn chuyện vui… như Tết! Có lẽ vì vậy mà tôi không còn có “ngách” nào để chen vào góp vui nữa, đành phải tự “gây ấn tượng” bằng cách nói chuyên buồn trên báo Xuân của Tia Sáng vậy!      Công bằng mà nói, năm 2007 đi qua, Việt Nam chúng ta chuyện vui cũng nhiều mà chuyện buồn cũng lắm. Những niềm vui từ thành quả hội nhập và phát triển kinh tế…, ai ai cũng cảm nhận được và đều thấy vui mừng, phấn chấn! Còn chuyện buồn từ những thảm họa do thiên tai hoặc do chính bản thân con người gây ra, từ “quốc nạn” tham nhũng, từ lạm phát và giá cả phi mã…, cả xã hội đều đã thấm, đã đau. Nhưng tất cả những niềm vui, nỗi buồn lớn lao đó đã được báo chí trong năm nói đến quá nhiều rồi. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này tôi chỉ muốn chia sẻ những cảm nhận cá nhân từ một vài chuyện không vui gần gũi với công việc của mình.    Chuyện buồn thứ nhất: Phản biện hay “ném đá ao bèo”?  Lần giở những số Tia Sáng trong năm 2007, tôi tần ngần lướt qua hàng loạt các bài viết về những vấn đề “nóng” nhất của xã hội với sự góp mặt của nhiều thế hệ trí thức Việt, cả trong và ngoài nước. Bao nhiêu là tâm huyết, bao nhiêu là “chất xám” đã thấm đẫm trong những trang viết có tính phản biện sâu sắc đó! Và một câu hỏi nảy sinh rất tự nhiên: đã có bao nhiêu phần trăm những ý kiến phản biện đó đã được những người có trách nhiệm (cả lập pháp lẫn hành pháp) ở các cấp xem xét, thừa nhận và áp dụng vào các chủ trương, chính sách, quy định hiện hành? Có lẽ không ai đo đếm được tỷ lệ chính xác để trả lời cho câu hỏi đó, nhưng cảm nhận của riêng tôi là ít, rất ít! Lẽ dĩ nhiên, không phải tất cả các ý kiến phản biện đều đúng và đều khả thi. Nhưng ngay cả những ý kiến mà những người trong cuộc đều thấy vừa đúng đắn, vừa khả thi (và hơn nữa còn nhận được sự đồng thuận của dư luận xã hội) hình như cũng chẳng có tác dụng gì? Rất nhiều minh chứng, chỉ xin kể ra đây một vài ví dụ gần gũi liên quan đến GD&ĐT và KH&CN:            Diễn đàn nghiên cứu khoa học: Thực trạng và Giải pháp của Tia Sáng            Ví dụ đầu tiên là chuyện đánh giá nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản. Diễn đàn do Tia Sáng tổ chức đã thu hút rất nhiều ý kiến của các nhà khoa học. Dĩ nhiên không phải tất cả các ý kiến đều đúng, thậm chí có một số ý kiến còn khá cực đoan và xa rời thực tiễn Việt Nam. Giáo sư Hoàng Tụy là người rất tâm huyết và có bề dày kinh nghiệm quản lý và trực tiếp nghiên cứu cơ bản nên đã góp rất nhiều ý kiến xác đáng. Cá nhân tôi, và chắc chắn tất cả những ai đã và đang tham gia một cách nghiêm túc các đề tài nghiên cứu cơ bản với sự tài trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đều bức xúc với các quy định về tài chính và đánh giá nghiệm thu hiện hành. Tất nhiên, ai cũng có cách “đối phó” với cơ chế, nhưng hậu quả là các bài báo khoa học được sản xuất và công bố theo kiểu “bán lúa non” của nhà nông. Đã có quá nhiều người nói về những chuyện “dở khóc, dở cười” này rồi. Cứ nghĩ rằng việc thay đổi cơ chế tuyển chọn và đánh giá các đề tài nghiên cứu cơ bản là không còn gì phải bàn nữa, và ý kiến của Giáo sư Hoàng Tụy về chuyện này là rất hợp lý và khả thi. Vậy mà trong bài viết “Có nên nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản” (Tia Sáng điện tử, 04/10/2007), Giáo sư Hoàng Tụy đã phải kêu lên: “Ngày 18/9 vừa qua, Bộ KH&CN đã ban hành Quy định đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên. Theo tôi không ở đâu trên thế giới có chuyện nghiệm thu các đề tài khoa học theo như các điều trong quy định đó”. Và ông nhận xét thêm: “Tóm lại, nghiệm thu chỉ là sáng tác của riêng Việt Nam ta!”.  Ví dụ thứ hai là chuyện chương trình và sách giáo khoa cho các trường phổ thông ở nước ta. Có thể nói các diễn đàn về vấn đề này sôi động và “xã hội hóa” hơn nhiều so với vấn đề trên. Đã có không ít trận “bút chiến” nẩy lửa, thậm chí đến mức mất bình tĩnh giữa các nhà giáo dục đủ loại (có các nhà giáo dục thực sự đã hoặc đang đứng lớp và các nhà giáo dục salon rất uyên bác nhưng chưa bao giờ trực tiếp dạy học trò). Ý kiến trái chiều không ít, nhưng có lẽ chuyện mà ai cũng thấy đúng và khả thi là phải xóa bỏ độc quyền sách giáo khoa. Vì lâu nay không theo dõi chuyện này nữa nên tôi cứ yên chí là Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đã có một cuộc “cách mạng” về chuyện này. Vậy mà mới đây đọc bài của tác giả Hiền Lê (VTC News) phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Lân Dũng (xem Dân Trí điện tử ngày 03/01/2008) tôi mới “té ngửa” khi thấy GS Dũng tự đánh giá kết quả đóng góp của mình với tư cách đại biểu của 3 khóa Quốc hội liên tiếp: “Còn nhiều vấn đề tôi không đấu tranh được. Cái thứ hai (cái thứ nhất, theo người viết thì GS Dũng muốn nói đến các góp ý về giải pháp “2 không” của ngành giáo dục) tôi thất bại là chương trình và sách giáo khoa. Quốc hội nghĩ đơn giản là: một cuốn còn chẳng ra gì nữa là nhiều cuốn!” và ông dự định trong năm 2008 “vẫn tiếp tục nói để Quốc hội hiểu rằng chương trình và sách giáo khoa của nước mình chẳng giống ai ”! (GS Nguyễn Lân Dũng được mọi người đánh giá là một trong những đại biểu “nói nhiều” của Quốc hội mấy khóa gần đây. Ông đăng đàn tham luận, chất vấn các Bộ trưởng, viết báo, trả lời phỏng vấn…, về rất nhiều vấn đề, đặc biệt là về GD&ĐT. Và tôi cứ đinh ninh rằng nhiều ý kiến xác đáng của ông đã được ghi nhận và sử dụng. Nhưng đọc bài viết nói trên tôi mới biết là mình đã nhầm! Ông đã không che giấu nỗi buồn vì sự bất lực của mình ở chốn Nghị trường).  Thật trùng hợp, hai giáo sư nói về hai chuyện khác nhau nhưng đều có nhận xét chung là Việt Nam đều “làm chẳng giống ai”! Điều đáng nói là cái cần giống người ta để hội nhập (như GD&ĐT, KH&CN) thì chúng ta lại làm khác người, còn cái cần khác người để giữ gìn bản sắc dân tộc (như Văn hóa) thì lại cứ muốn bắt chước người ta! Nghe nói Bộ KH&CN đang tiến hành lựa chọn các sản phẩm để tôn vinh là “sản phẩm KHCN quốc gia”! Không biết đây có phải lại là một chuyện “làm chẳng giống ai” nữa không?  Một ví dụ nữa là chuyện mâu thuẫn của các nhà quản lý giáo dục đại học VN khi vừa muốn nâng cao chất lượng, muốn đào tạo đạt “chuẩn”, muốn có nhiều trường đại học “đẳng cấp quốc tế”, lọt vào các top bình chọn các trường đại học trên thế giới, vừa cho mở trường đại học tràn lan với lý do “xã hội hóa”! Xung quanh chuyện này và nhiều vấn đề cốt lõi khác của GD&ĐT cũng đã có quá nhiều ý kiến mà bài viết “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” (Tia Sáng điện tử, 01/11/2007) của nhà nghiên cứu Nguyễn Trung đã tổng hợp và bình luận một cách hệ thống. Tuy nhiên, đọc xong bài viết, tôi có cảm nhận (nếu không đúng thì thành thật xin lỗi, còn nếu đúng thì tôi hoàn toàn chia sẻ) là tác giả Nguyễn Trung không mấy tự tin với tác động tích cực của các ý kiến mang tính phản biện của mình nên gần cuối bài viết ông đã phải “kéo” Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào cuộc với hy vọng chúng có thêm trọng lượng?  Vậy là, các nhà trí thức ơi! Các vị cứ việc nói thoải mái để cho nhau nghe là chính, còn những người cần nghe có nghe không hoặc nghe rồi để đấy thì không phải là việc của các vị! Đá cứ ném, ném nhiều và liên tục đi nữa thì cũng đến lúc người ném mỏi tay và ao bèo lại vẫn cứ là ao bèo muôn thuở chẳng đổi thay!  Chuyện buồn thứ hai: Thân phận những người thực thi quốc sách!  GD&ĐT cũng như KH&CN đều được coi là “quốc sách” thì dĩ nhiên các nhà giáo, nhà khoa học sẽ là những người “thực thi quốc sách”! Nghe thật là oai, nhưng có là người trong cuộc mới thực sự “biết thân, biết phận”!  Đã qua rồi thời bao cấp, đến hẹn lại lên lương, được phân nhà, cấp đất. Đã qua rồi cái thời, cứ chịu khó “thập diện mai phục” để kiếm một suất thực tập hay nghiên cứu sinh ở nước ngoài, chịu khó tằn tiện ở xứ người để về làm thượng lưu xứ ta. Giờ đây, các nhà giáo và nhà khoa học hoàn toàn đối mặt với sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường. Trừ một số người thế hệ trước có tài năng và vị trí vẫn còn “của để dành” từ thời bao cấp, đối với các nhà giáo, nhà khoa học ngày ngay, đặc biệt là lớp trẻ, đây thực sự là một cuộc chiến đấu để tồn tại. Thực tế là họ vẫn tồn tại và có không ít người sống sung túc. Nhưng số người tồn tại chỉ bằng đồng lương công chức là rất ít. Và số lượng những người sống sung túc hoàn toàn bằng nghề (giảng dạy, nghiên cứu) cũng rất ít. Đa phần trong số đó là có “tay trái dài hơn tay phải”, thậm chí có “nhiều tay trái”. Hậu quả đương nhiên là chất lượng làm việc của tay phải sút kém! Tôi đã đọc một bài viết nhan đề “Bi kịch giảng viên trẻ” đăng trên báo Sinh viên của Hội Sinh viên Việt Nam cách đây vài tháng, trong đó tác giả (tôi không nhớ tên) vì muốn nhấn mạnh tính “bi kịch” nên có làm một sự so sánh, đại ý: trong khi các giảng viên trẻ mới ở lại trường nhận lương còm hơn 1 triệu đồng/tháng, thì các Phó Giáo sư trở lên dạy 300 tiết/học kỳ và được trường thanh toán 100.000 đồng/tiết, vị chi mỗi học kỳ mỗi vị đút túi ngon ơ 30 triệu đồng!?. (Tôi đã định đến Tòa soạn Sinh viên để xin gặp tác giả hỏi xem trường nào mà ưu ái với PGS, GS như vậy để tìm cách xin về!) Đáng tiếc là một bài báo đưa tin “thất thiệt” như vậy lại đăng trang trọng trên báo của sinh viên làm cho các bạn trẻ nghĩ rằng tồn tại một sự bất công ghê gớm trong các trường đại học của ta. Nếu giáo viên mà sống “ngon lành” như vậy thì Giáo sư Hoàng Tụy đã chẳng mất công “khản cổ” nhiều lần đề nghị tăng lương cho ngành giáo dục. Và thực sự nếu có giáo viên nào sống sung túc được chỉ bằng nghề “bán cháo phổi” thì bi kịch của sự trả giá bằng sức khoẻ và mạng sống của mình trong tương lai gần đã được báo trước! Các nhà nghiên cứu cũng vậy thôi, cứ “thâm nhập” vào Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là thấy ngay nội tình. Nghề tay trái khá phổ biến là “chạy sô” dạy cho các trường đại học dân lập hoặc công lập mới mở. Kiếm sống vất vả như vậy nhưng các nhà giáo, nhà khoa học (cũng như phần đông các công chức khác) lại là đối tượng được cơ quan thuế “nắm tóc” dễ nhất để đóng góp thuế thu nhập cá nhân. Mức lương bình quân của các Giáo sư cũng chỉ mới vượt “đỉnh” 4 triệu đồng/tháng nên cứ thêm được đồng nào là bị đưa vào diện “cắt ngọn” ngay! Có chạy ra ngoài dạy thêm thì cũng không “thoát” vì trường nào cũng trừ luôn 10% khi thanh toán cho chắc ăn. Cho dù sự so sánh là khập khiễng nhưng cứ đọc báo thấy ca sĩ này, người mẫu nọ đóng thuế thu nhập đến hàng trăm triệu/năm mà thấy cám cảnh cho các giáo sư trong nước.  Vật chất là vậy, còn tinh thần thì sao? Lỡ mang nghiệp “sĩ” nên nhiều nhà giáo, nhà khoa học chẳng khác nào “người ngoài hành tinh” trong cơ chế thị trường. Làm thế nào để vẫn giữ được “đạo cao, đức trọng” mà không nghèo, không khổ? Hành động “phá rào” dễ chấp nhận nhất là “dạy thêm” nhưng không phải ai cũng có được sự thanh thản. Cơn lốc thương mại hóa giáo dục đã và đang cuốn nhà giáo vào dòng xoáy trong, đục khôn lường. Ngày 20/11 hằng năm vẫn có meeting đầy hoa và khẩu hiệu, vẫn có nhiều bài báo tôn vinh nhà giáo. Vẫn có hàng loạt nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân. Nhưng có là nhà giáo thực sự mới thấm nỗi đau khi thấy ý nghĩa cao đẹp của cụm từ “tôn sư trọng đạo” đang mất mát dần theo thời gian. Phải chăng, cố gắng níu kéo một truyền thống như vậy cũng là một việc làm “chẳng giống ai ?”. Tôi không thể trả lời được, và có lẽ rất nhiều người cũng không trả lời một cách thuyết phục được. Nếu không thì đã không có chuyện “chất xám” tích lũy bao năm của các trường đại học và viện nghiên cứu công lập đang chảy ra các doanh nghiệp (bao gồm cả các trường đại học của doanh nghiệp), trong khi “chất xám trẻ” rất khó bổ sung.  Chuyện buồn thay cho lời kết: Hậu Đề án 112  Kết thúc buồn của Đề án 112 đã được xếp vào một trong những sự kiện nổi bật về Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) trong năm 2007. Những công việc dở dang của 112 được chuyển về cho Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), chịu trách nhiệm trực tiếp là Cục ứng dụng Công nghệ Thông tin. Về mặt quản lý Nhà nước thì sự chuyển giao đó là hợp lý, nhưng nếu xét về nguyên nhân thất bại chủ yếu của 112 (theo sự phân tích của nhiều chuyên gia) xuất phát từ “lỗi hệ thống”, thì bức tranh toàn cảnh của ICT Việt Nam hiện tại chưa cho ta những tín hiệu đáng tin cậy về sự thành công của Hậu 112 trong tương lai. Tôi đã từng muốn viết một bài báo để thử phác thảo một bức tranh toàn cảnh ICT Việt Nam 2007 theo cảm nhận của riêng mình, nhưng rồi đã từ bỏ ý định đó sau khi đọc bài viết nhan đề “Thị trường ICT 2007: Những hệ lụy từ được và mất” của tác giả Hàn Phi (An ninh cuối tháng, 12/2007). Tác giả Hàn Phi đã vẽ được bức tranh như vậy, dù chưa phải là hoàn toàn đầy đủ nhưng rất thực và khách quan, đặc biệt ở nhận xét cuối cùng, đại ý “ICT Việt Nam 2007 đã khép lại xoay quanh 2 thái cực Được và Mất, trong đó cái Được cái Mất gần như song hành với nhau và những hệ lụy của nó chưa dừng lại mà sẽ là những vấn đề cần phải giải quyết vào những năm sắp tới”.            Dự án 112 thất bại do “lỗi hệ thống”.            Đề án 112 thất bại, chúng ta mất nhiều thứ. Nhưng từ “một góc nhìn của trí thức”, có cái mất vô hình không phải ai cũng cảm nhận được, đó là sự mất mát về lòng tin của xã hội vào những người trí thức, bởi “góp phần” vào sự thất bại và tai tiếng của 112 còn có cả sự thỏa hiệp (nếu không muốn nói là đồng lõa) của cả một số người trong giới trí thức. Thế mới thấy trí thức của chúng ta thời buổi này “giữ mình” không dễ! Thật buồn, nhưng cũng có cái vui trong đó từ sự cảnh báo!  Ngày Xuân nói chuyện buồn cũng là để sòng phẳng trong suy nghĩ của mình khi giã từ năm cũ. Được-Mất, Vui-Buồn (cùng với những hệ lụy của chúng) càng rạch ròi sẽ càng giúp ta luôn “biết mình là ai” và “đang đứng ở đâu ?”, từ đó thêm tự tin để bước vào một Năm Mới dự báo sẽ có nhiều khó khăn, thách thức.  Nguyễn Thúc Hải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Camera giám sát xe hơi      Đi xe trên đường, bạn không tránh khỏi bị va quẹt. Đậu xe ở một nơi nào đó, bạn cũng đâu chắc chắn rằng không có kẻ nghịch phá làm trầy xước hay thậm chí làm lõm vài chỗ trên chiếc xe “cưng” của mình.    TruScene TS-1L – một camera đặc biệt – sẽ giúp bạn để mắt tới những rắc rối này. Nó cũng là một “nhân chứng” tin cậy trong trường hợp có xảy ra tranh cãi.  Được gắn vào kính chắn gió xe, ở điều kiện bình thường, TruScene TS-1L có thể quay hình trong 30 giây, sau đó lại quay chồng hình ảnh khác lên nếu không có gì xảy ra. Tuy nhiên, khi có sự cố với chiếc xe, nó sẽ quay ngay những hình ảnh đó và truyền đến đầu video gắn bên trong để lưu trữ.  Những hình ảnh này được ghi lại thành mật mã và thiết bị định vị toàn cầu (GPS) được tích hợp trong TS-1L sẽ giúp xác định thời gian và địa điểm chính xác của chiếc xe khi xảy ra sự cố. Các đặc điểm khác của TS-1L: hình ảnh màu, độ phân giải VGA, màn hình màu OLED 2,54cm, có khả năng chống nước, cổng USB… Tuy nhiên TS-1L có giá hơi cao, khoảng 1.000 USD/chiếc.  T.VY  Nguồn tin: (http://www.engadget.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cán bộ tốt và cán bộ xoàng *      Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc rất phát triển. Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm.    Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ.  Đi đến nơi nào có cán bộ tốt, thì cảnh tượng tốt bày ngay ra trước mắt:  Đồng bào tản cư đi qua đó, đều được giúp đỡ.  Bộ đội đóng ở đó hoặc đi qua đó, được úy lạo.  Ngày nào cũng thấy dân quân và tự vệ tập tành.  Chiều tối xóm này một lớp bình dân học vụ, xóm kia một lớp bình dân học vụ.  Các đình chùa và nơi đông người qua lại, đều thấy dán đầy những khẩu hiểu kháng chiến.  Canh gác thì cẩn thận.  Nhà nào cũng thực hành tăng gia sản xuất.  Các đoàn thể thường khai hội, đọc báo, giải thích tin tức kháng chiến.  Nói tóm lại: nơi nào có cán bộ tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy. Và cả vùng đó tỏ ra một bầu không khí hăng say, vui vẻ.  Nơi nào cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say. Trên giấy thì cái gì cũng có. Nhưng sự thật, thì việc gì cũng uể oải, lùi xùi.  Một thí dụ đơn giản, rõ rệt về cán bộ tốt và cán bộ xoàng:  Xã A và xã B phải phụ trách phá hoại một đoạn đường. Trước ngày đi phá, xã A họp mít tinh, cán bộ giải thích vì sao phải phá. Toàn thể dân chúng hăng hái tán thành. Các cụ già, các chị em phụ nữ, và các em nhi đồng cũng đòi đi phá. Sau đó, toàn xã cử 60 người trai tráng khỏe mạnh đi xung phong. Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký cũng vác cuốc xẻng đi làm. Đến chỗ phá, cán bộ đề nghị chia làm 3 tốp, mỗi tốp 20 người đua nhau xem tốp nào phá khéo hơn, mau hơn. Sau vài giờ đồng hồ, các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, và các em nhi đồng đưa cơm nước đến. Nhưng tốp nào cũng đòi phá xong mới ăn cơm. Các cụ đi tốp này đến tốp khác nói chuyện, khuyến khích, chị em phụ nữ rót nước cho anh em uống. Các em nhi đồng ca hát.  Ai cũng vui vẻ hăng hái, cố làm hơn tốp kia. Kết quả chỉ 7 tiếng đồng hồ, mà đoạn đường thành một cái hố. Lúc phá xong, cán bộ kiểm điểm lại công tác, đọc thư của Hồ Chủ tịch và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Toàn thể hoan hô. Ăn uống xong, cán bộ đi trước, dân chúng đi sau vui vẻ ra về, vừa đi vừa hát.  Còn xã B thì thế nào?  Không mít tinh, không giải thích. Chủ tịch xã ra lệnh bắt phá. Cán bộ nằm ở nhà, không tham gia công việc. Hơn 100 dân đi phá hoại. Ỳ ạch đến hai ngày mới phá xong, mà lại phá không sâu, không khéo bằng đoạn xã A.  Kết luận: Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng mỹ mãn.  Những đồng chí cán bộ phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau mau sửa đổi.  • Báo Sự thật  (1-6-1947)    ảnh: Bác Hồ đi thăm bệnh viện Bạch Mai năm 1960  A.G      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có Ban Chỉ đạo quốc gia chương trình hạt nhân      Theo tác giả CAO CHI, muốn làm điện hạt nhân phải có sự cam kết của Nhà nước, đây là khuyến cáo đầu tiên của IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế). Có được cam kết của Nhà nước chúng ta mới có cơ sở, có khả năng huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc hạt nhân, mới có đủ tư cách pháp nhân trên trường quốc tế. Cùng với đó, việc đào tạo nhân lực phải đi trước so với trang bị cơ sở vật chất ít nhất từ 10 đến 15 năm.    Chọn con đường phát triển năng lượng hạt nhân là việc làm đúng đắn. Thật vậy, nếu xét từ 3 góc độ: vĩ mô, dài hạn và ngoại giá (externalities) thì hạt nhân vẫn là chiếm ưu thế cho ngành năng lượng tương lai của Việt Nam.  Trong vận hội WTO, Đảng và Chính phủ sẽ đưa nước ta hòa nhập vào cộng đồng những nước có điện hạt nhân. Điều này làm nức lòng các nhà khoa học và các nhà năng lượng.  Song chúng ta phải ý thức được rằng điện hạt nhân sẽ đặt chúng ta trước nhiều thách thức vô cùng lớn lao. Năng lượng hạt nhân không thuộc về năng lượng cổ điển và đòi hỏi những tri thức đặc thù mà chúng ta chưa có nhiều và cũng đòi hỏi những cơ cấu tổ chức thích hợp.  Muốn làm được việc đó, không một Bộ nào có thể đứng riêng lẻ làm được mà cần sự hợp lực của nhiều Bộ, và muốn điều hành được công việc của nhiều Bộ cần thành lập một Ban Chỉ đạo quốc gia (hoặc liên Bộ) chương trình hạt nhân.  Trong hội thảo do IAEA tổ chức tại Hà Nội tháng 6/2007 về hạ tầng cơ sở cho ngành hạt nhân, GS. R I Facer đã nhấn mạnh sự cần thiết của một ban chỉ đạo quốc gia để điều hành mọi công việc (NEPIO-Nuclear Energy Program Implementation Organisation)  Theo kinh nghiệm nhiều nước, chỉ đạo chương trình hạt nhân là một cán bộ quản lý cao cấp có quyền lực (ở một số nước là quyền lực rất lớn), hoặc một nhà khoa học có tài đức được trao đủ quyền, có khả năng điều hành và thực hiện một chương trình lớn như chương trình hạt nhân, là một nhạc trưởng lớn (theo cách phát biểu của Bộ trưởng Bộ KH&CN), đứng đầu một Ban chỉ đạo quốc gia (hoặc Ban chỉ đạo liên Bộ) Chương trình hạt nhân để điều hành mọi công việc.  Tại nhiều nước, Ủy ban Năng Lượng Nguyên tử Quốc gia, hoặc Cục Năng lượng Nguyên tử, đóng vai trò Ban chỉ đạo quốc gia. Vì BCĐQG/LBCTHN nằm ở mức Chính phủ  nên có thể điều hành được công việc, vốn liên quan đến nhiều Bộ, nhiều ngành. Nhiều nước lấy các  Bộ quan trọng sau đây (hoặc các Bộ tương đương) làm hạt nhân trong Ban chỉ đạo quốc gia gồm: Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Tài nguyên & Môi trường. Hiện chúng ta đang có Tổ chỉ đạo quốc gia chương trình hạt nhân, đây là một yếu tố thuận lợi. Ngoài ra chúng ta có thể huy động sự tham gia của những chuyên gia Việt kiều trong ngành hạt nhân vào Ban chỉ đạo quốc gia.  Dưới Ban chỉ đạo quốc gia (hoặc Ban chỉ đạo liên Bộ) là các chuyên ngành. Như chúng ta biết chương trình hạt nhân gồm hai phần mà người ta thường ví như hai bánh của cỗ xe hạt nhân: phi năng lượng (non power), sử dụng khoa học & kỹ thuật hạt nhân vào các ngành kinh tế quốc dân và năng lượng (power) tức điện hạt nhân  Không có một Ban chỉ đạo quốc gia hoặc Ban chỉ đạo liên Bộ về đào tạo nhân lực (gồm các Bộ: Công Thương + Khoa học&Công nghệ +  Giáo dục&Đào tạo) chúng ta không thể thi hành được nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho chương trình hạt nhân. Điều này đã được khẳng định trong “Chiến lược ứng dụng Năng lượng Nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. BCĐQG về đào tạo nhân lực sẽ hoạt động với đầy đủ điều kiện về tổ chức, kinh phí với một kế hoạch khẩn trương, chi tiết, chuyên nghiệp. Cần tổng hợp đề án đào tạo nhân lực của 3 Bộ nói trên  để có một chương trình hành động mạnh mẽ và hiệu lực, nhất quán và  thống nhất.  Đối diện với điện hạt nhân, chúng ta cần một đội ngũ cán bộ có trình độ cao về khoa học cũng như về công nghệ. Đội ngũ đó hiện nay chúng ta chưa có đủ, hay nói thẳng là chúng ta chưa có. Và muốn đào tạo được một đội ngũ như vậy phải có một chiến lược quốc gia lâu dài, sâu rộng. Nhiều nước đi theo con đường hạt nhân đã tung ra đào tạo trong nước và nước ngoài hàng trăm cán bộ ưu tú trong vòng 10-15 năm trước khi chế ngự được ngành điện hạt nhân theo đúng ý nghĩa của vấn đề: du nhập điện hạt nhân và nội địa hóa, tiến đến làm chủ hầu hết các công đoạn.  ———-  ảnh:  Đoàn cán bộ Bộ KH&CN Việt Nam tại cơ sở ứng dụng năng lượng nguyên tử của Hàn Quốc.  Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có nhiều công bố quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông      Năm qua, chủ quyền của từng quốc gia ở  Biển Đông trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng của khu vực và thế  giới. Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học về chủ quyền  biển đảo đã trở nên sôi động hơn và đạt được một số thành tựu dù chưa  đáp ứng được kỳ vọng của nhiều người. Tia Sáng đã có cuộc  trao đổi với TS Lê Vĩnh Trương và nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc về vấn đề này.    * Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương (thành viên Quỹ nghiên cứu Biển  Đông)  Xin ông cho biết một cách khái quát hoạt động nghiên cứu chủ quyền Biển Đông trong năm 2011?   Hoạt động nghiên cứu biển đảo trong năm 2011 đã có bước chuyển biến rất lớn trong phạm vi Quỹ nghiên cứu Biển Đông (QNCBĐ) cũng như trong cộng đồng các giới Việt Nam. Riêng QNCBĐ đã có trên 100 bài viết trên các báo trong nước và một số bài báo trên các báo Asia Times, Asia Sentinel, Diplomat, Manila Times. Cùng với sự có mặt mạnh mẽ của các trang nghiencuubiendong.vn thuộc Học viện Ngoại giao, VietNamNet, biengioilanhtho.vn,… đã mang lại nhiều thông tin bổ ích cho độc giả quan tâm trên báo mạng.   Ngoài ra những ngày cuối năm 2011, những trí thức Việt kiều như TS Lê Văn Út (Phần Lan), GS Phạm Quang Tuấn và GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) cũng đã có những thư phản kháng khiến các tạp chí Nature và Science (có uy tín lớn) đã bác bỏ việc ngầm phổ biến đường chữ U trên tạp chí quốc tế. Song việc này cần tiếp nối bền bỉ và vĩnh viễn, không thể ngày một ngày hai được.         Có ý kiến cho rằng sự tham gia của các trí thức Việt Nam trong và ngoài nước trên các tạp chí khoa học quốc tế là khá đáng kể, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phản đối các thông tin sai trái về chủ quyền của chúng ta. Ý kiến của ông về vấn đề này?   Trong thời gian qua, vài trí thức Việt đã có những phản biện kịp thời đối với các giọng điệu tuyên truyền sai trái của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa. Trí thức Việt trong và ngoài nước đã gửi thư phản đối những nơi có “đường lưỡi bò” xuất hiện và đã mang lại một số kết quả to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có nhiều công bố khoa học hay bài viết về chủ quyền trên Biển Đông trên các tạp chí khoa học hay báo quốc tế. Rất mong các cơ quan khoa học cũng như các nhà khoa học trong nước lưu tâm hơn về vấn đề này.      Theo ông, hoạt động nghiên cứu về chủ quyền Biển Đông năm 2011 có điểm gì nổi bật?   Mạnh mẽ hơn, lan tỏa hơn và nhiều người góp mặt hơn so với năm 2010, đặc biệt sau sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh 2 (26/5/2011) và Viking II (9/6/2011). Giới nghiên cứu trong và ngoài nước từ bấy lâu nay âm thầm làm việc đã viết và đăng nhiều bài có tính khoa học cao, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức và kiến thức cho đông đảo người đọc.  Hoạt động nghiên cứu đã khởi sắc hơn với nhiều cuộc hội thảo được tổ chức bên ngoài nước, quy tụ được đông đảo các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia khác nhau có quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Tại các cuộc hội thảo này học giả Trung Quốc không còn nêu lên quan điểm “lợi ích cốt lõi” mà chuyển hướng trọng tâm sang bàn về khía cạnh cùng hợp tác khai thác tài nguyên tại khu vực như đánh bắt cá, quan điểm của Trung Quốc vẫn là song phương bẻ gãy từng chiếc đũa trong bó đũa.   Các nhà xuất bản trong nước như NXB Lao Động, NXB Trẻ đã có nhiều đầu sách hay giúp cho độc giả tìm hiểu thêm về kiến thức đặc biệt trong hoàn cảnh này. Chúng tôi cho rằng cần phải có thêm nhiều sách giấy hơn nữa, viết phổ thông hơn nữa để nhân dân Việt Nam ở các vùng sâu vùng xa đều có kiến thức và tự hào về công cuộc khai khẩn và bảo vệ biển đảo Việt Nam.      Năm 2012, chúng ta cần tập trung vào nghiên cứu những vấn đề gì?   Trong khuôn khổ QNCBĐ, chúng tôi được đề nghị tìm viết và nghiên cứu các án lệ của tòa án quốc tế về các tranh chấp biển, đảo và đất, các cách thức đấu tranh bằng biện pháp hòa bình.   Chúng tôi cũng cố gắng xuất bản một số đầu sách giấy và điện tử, gia tăng tham dự các hội thảo để tìm kiếm thông tin và nâng cao sức mạnh mềm cho Việt Nam.    Nhóm bút chiến Trúc Nam Sơn của QNCBĐ vẫn làm công việc bền bỉ là comment (bình luận) trên các diễn đàn tiếng Anh để đưa ra cái nhìn khoa học, duy lý, bảo vệ chính nghĩa Việt Nam.    Ngoài ra, viết bài cho báo tiếng Anh và dịch các bài có giá trị học thuật cao sang tiếng Anh cũng là một ưu tiên của chúng tôi.   Chúng tôi cũng nỗ lực kết hợp với các trí thức Việt kiều uy tín ngoài nước để có những hoạt động bảo vệ chủ quyền Việt Nam bằng các bài phản biện với các trí thức phương Tây vẫn còn đang mù mờ trước làn sóng phủ thông tin một chiều rộng rãi nhưng sai lệch của trí thức và chính giới Trung Quốc.     Xin cảm ơn ông!      * Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á,  Trường  Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh)     Ông đánh giá như thế nào về các cuộc hội thảo về Biển Đông được tổ chức trong và ngoài nước trong năm 2011?   Tháng 10/2011, Hội thảo quốc tế về tranh chấp ở Biển Đông với chủ đề “Con đường tiến tới hòa bình, ổn định và phát triển” đã diễn ra tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, hay trước đó vào tháng 5/2011, Hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” tại Jakarta (Indonesia) do Trung tâm Habibie của Indonesia và Trung tâm nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ phối hợp tổ chức…   Nhìn chung, phần lớn trọng tâm của các cuộc hội thảo này là nhằm khẳng định việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải với “Đường 9 điểm” trên bản đồ (đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích chứ tôi chưa thấy có nhiều những phát hiện mới trong việc củng cố chứng cứ cho chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.   Nếu nội dung thứ nhất đã được đề cập là thắng lợi của giới ngoại giao thì nội dung thứ hai theo tôi là sự giậm chân tại chỗ của giới sử học Việt Nam.       Theo ông, các kết quả nghiên cứu khoa học về chủ quyền Biển Đông hiện nay đã đủ để Việt Nam bảo vệ được lập trường của mình trong các tranh chấp chưa?   Tài liệu lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thiếu nhưng nó đã được chuyển hóa thành hồ sơ pháp lý chưa thì đây mới là một vấn đề quan trọng. Vì vậy, theo tôi việc xây dựng một bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thể chậm trễ.    Xin cảm ơn ông!                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Căn cứ từ gene cho thấy mối liên quan  giữa thổ dân Úc và người Ấn Độ      Dấu vết pha trộn gene cho thấy bốn nghìn năm trước Châu Úc không bị cô lập.    Một số thổ dân Úc có tới 11% gene có nguồn gốc từ những người di cư đến từ Ấn Độ trong khoảng 4000 năm trước, theo nghiên cứu mới đây cho biết. Bên cạnh nguồn gene, những người di cư còn mang theo những kỹ thuật chế tác công cụ khác nhau, và mang theo cả những tổ tiên của giống chó dingo, các nhà nghiên cứu khẳng định.  Kết luận này là kết quả của một nghiên cứu phân tích gene quy mô lớn được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences hôm 14/1. Nó trái ngược với quan điểm phổ biến cho rằng châu Úc không hề có sự liên lạc với phần còn lại của thế giới kể từ lần con người đặt chân đến đây lần đầu tiên vào 45 nghìn năm trước cho tới khi người châu Âu tìm đến vào thế kỷ 18.  “Châu Úc được coi là đại diện cho một trong những nơi di cư sớm nhất sau khi loài người tản đi từ châu Phi, nhưng kể từ đó dường như nó khá bị cô lập”, nhận định từ Mark Stoneking, nhà di truyền học từ Viện Tiến hóa Nhân loại của Viện Max Planck tại Leipzig, Đức, đồng thời là chủ nhiệm của đề tài.  Irina Pugach, nhà nghiên cứu đang làm postdoc tại phòng thí nghiệm của Stoneking, đã phát hiện ra những dấu hiệu của cuộc di cư từ Ấn Độ sau khi so sánh những biến thể gene trên 344 cá thể, trong đó có người là thổ dân Úc từ Northern Territory, những người sống ở cao nguyên từ Papua New Guines, một số khác từ các nước Đông Nam Á và Ấn Độ, với một số ít từ Mỹ và Trung Quốc.  Pugach đã xác minh có sự liên quan giữa gene của thổ dân Úc, New Guines, và Mamanwa – một nhóm sắc dân Negrito từ Philippines. Những cộng đồng dân cư này phân tán trong khoảng 36 nghìn năm trước, cho thấy họ đều là con cháu của một nhóm di cư từ châu Phi.  Nhưng Pugach cũng tìm thấy bằng chứng về một đợt pha trộn gần đây hơn, hoặc là một lần di chuyển nguồn gene, giữa Ấn Độ và cộng đồng thổ dân phía Bắc của châu Úc – diễn ra trong khoảng 141 thế hệ trước. Dòng di chuyển gene này không thể xảy ra trong lần di cư đầu tiên tới Úc, vì nó không có mặt trong gene người New Guines và Mamanwa, và nó phân bổ quá đồng đều trên gene những người thổ dân phương Bắc để có thể coi là xảy ra vào thời kỳ thực dân châu Âu.  Thời gian pha trộn nguồn gene cũng trùng hợp với sự xuất hiện của microlith ở châu Úc – một loại công cụ đồ đá giúp mài lưỡi vũ khí – và sự xuất hiện lần đầu những dấu vết hóa thạch của loài chó dingo, vốn rất giống với các loài chó của Ấn Độ. Tất cả những thay đổi này có thể đều liên quan tới cùng một đợt di cư, các nhà nghiên cứu nói.  “Có rất ít nghiên cứu về gene thổ dân châu Úc”, Stoneking nói, “và chưa có nghiên cứu nào quy mô như của chúng tôi”. Một số ít nghiên cứu quy mô nhỏ hơn về DNA mitochondrial và nhiễm sắc thể Y đã gợi ý rằng có dòng chảy gene giữa Ấn Độ và châu Úc, và đã có một dự án nghiên cứu hoàn chỉnh về gene thổ dân châu Úc đã phủ nhận dấu hiệu liên quan với Ấn Độ, coi đó là kết quả giả mạo.  Nguồn:  http://www.nature.com/news/genomes-link-aboriginal-australians-to-indians-1.12219    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đầu tư vào các nhóm nghiên cứu trẻ      Những nhóm nghiên cứu trẻ, được đào tạo bài bản ở nước ngoài trong lĩnh vực Tin sinh học sẽ phát huy tốt tiềm lực của mình nếu được tham gia những chương trình nghiên cứu trọng điểm và dài hạn.      Trong điều kiện khó khăn về thiết bị, vật chất, các trường đại học, viện nghiên cứu có định hướng phát triển Tin sinh học nên đầu tư kinh phí vào việc tổ chức hội nghị quốc tế, hội thảo (workshop), trường hè (summer school), tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu trong nước được gặp gỡ, trao đổi thông tin và học hỏi những đồng nghiệp quốc tế nhằm cập nhật những hướng nghiên cứu mới và tìm cơ hội hợp tác nghiên cứu.  Trong chương trình đào tạo tiến sĩ Tin sinh học tại các trường đại học, viện nghiên cứu cũng nên có học bổng để thu hút người tài, mở rộng phạm vi tuyển chọn cho các nghiên cứu sinh đến từ các ngành về lý, hóa, sinh, toán, công nghệ thông tin, y học, dược, nông lâm… vì bản chất Tin sinh học ứng dụng là khoa học liên ngành, đồng thời cử các nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc sang học tập, nghiên cứu chuyên sâu tại các trung tâm lớn của thế giới.  Việt Nam đang có những nhóm nghiên cứu trẻ trong lĩnh vực Tin sinh học, trong đó có một số người được đào tạo bài bản ở nước ngoài. Vì vậy cần ưu tiên các nhóm nghiên cứu này tham gia những chương trình trọng điểm, kinh phí nghiên cứu lớn với thời gian dài và có định hướng ứng dụng (hiện giờ các đề tài từ Quỹ NAFOSTED cho hướng này chỉ được kéo dài hai năm, áp lực về tiêu chuẩn bài báo quốc tế cũng lớn nên ít có nghiên cứu ứng dụng).  Mặt khác, chúng ta cần mời những chuyên gia quốc tế giỏi tham gia làm việc, hợp tác với các nhà nghiên cứu trong nước. Hiện nay có một số chuyên gia giỏi về Tin sinh học người Việt Nam làm việc ở nước ngoài với mức lương vô cùng hấp dẫn nên tôi nghĩ sẽ khó mời họ về Việt Nam làm việc tại thời điểm này. Giải pháp khả thi là mời các chuyên gia Việt kiều cũng như chuyên gia nước ngoài làm việc dưới hình thức ngắn hạn hoặc từ xa theo mô hình của Viện Khoa học công nghệ tính toán của TP.HCM hay Viện Toán cao cấp của GS. Ngô Bảo Châu.      Tin sinh học là một ngành mới và khó xuất bản các công trình nghiên cứu. Chỉ số ảnh hưởng IF của các tạp chí chuyên ngành trong lĩnh vực này cũng chưa cao so với các ngành khoa học cổ điển có liên quan đến khoa học sự sống. Do đó, nếu người làm quản lý không nhìn vào bản chất khoa học và tiềm năng ứng dụng của nghiên cứu mà chỉ dựa trên số lượng bài báo và chỉ số ảnh hưởng IF để tính thành tích thì vô hình trung sẽ gây áp lực rất lớn lên các nhóm nghiên cứu trẻ.      Về cơ sở vật chất, bên cạnh việc trang bị máy tính để xử lý các dữ liệu y sinh học của thế giới, một số trung tâm nghiên cứu, trường đại học và bệnh viện ở trong nước cũng nên trang bị các thiết bị giải trình tự thế hệ mới (NGS) để phục vụ việc phân tích bộ gene của các giống cây trồng, vật nuôi, các chủng virus, vi khuẩn gây bệnh, và bộ gene của người nhằm phục vụ các nghiên cứu ứng dụng trong nước. Tuy nhiên việc đầu tư vào các thiết bị NGS cũng nên thận trọng. Ở Việt Nam hiện nay đã có đại diện của hai công ty chuyên về sản xuất và thương mại hóa các hệ thống tích hợp cho phân tích các biến dị di truyền và chức năng sinh học, Illumina và PacBio. Khi làm việc với họ để mua sắm máy móc, trang thiết bị cần thiết cho nghiên cứu cần đảm bảo ba yếu tố sau: 1) Đề nghị họ trao những sản phẩm công nghệ mới nhất, không phải các máy thế hệ cũ có thời gian giải mã quá lâu; 2) Không đội giá thiết bị lên gấp đôi ba lần so với giá chính hãng; 3) Chú trọng đến vấn đề hỗ trợ kỹ thuật và bảo trì vì đây là các thiết bị phức tạp.  Về lâu dài, do dữ liệu sinh học ngày càng nhiều, nhu cầu về các chuyên gia giỏi của Tin sinh học thế giới rất lớn, ngay cả ở Mỹ, việc tìm chuyên gia có khả năng phân tích, xử lý dữ liệu tham gia các dự án đa ngành cũng gặp phải khó khăn1. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Việc đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này không đơn giản nên để có được thành công, Nhà nước cần có chính sách phù hợp để khuyến khích, thu hút các bạn trẻ tham gia. Trong nghiên cứu, để bài toán của mình có ý nghĩa hơn, các nhóm Tin sinh học cũng nên làm việc chung với các nhóm thực nghiệm. Trong các trung tâm Tin sinh học cũng nên có những thiết bị phục vụ nghiên cứu thực nghiệm để sẵn sàng cho hướng này, đây cũng là mô hình mà Trung tâm Tin sinh học ASTAR (Singapore) đang thực hiện.  Nhóm nghiên cứu của PGS. TS Lê Thị Lý tập trung vào ứng dụng của Tin sinh học trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm và đã có những công bố liên quan đến việc theo dõi tiến hóa của virus cúm A và các họ protein liên quan đến bệnh đái tháo đường loại II cho định hướng phát triển thuốc. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã cộng tác với nhiều nhóm nghiên cứu của Mỹ, Nhật Bản và Singapore. Hiện nhóm đang tham gia dự án nhánh nghiên cứu về thuốc từ dự án Bệnh án điện tử. PGS Lê Thị Lý giải thích về dự án này: “Một loại thuốc có thể có tác dụng tốt cho một nhóm bệnh nhân nhưng ít tác dụng với một nhóm bệnh nhân khác, thậm chí gây ra tác dụng phụ nguy hiểm. Khi sử dụng nhiều thuốc cùng một lúc, việc phân tích tác dụng của thuốc càng phức tạp hơn. Nếu hiểu rõ bộ gene của bệnh nhân bằng phân tích tin sinh học thì việc dự đoán bệnh, cũng như phân tích và lựa chọn thuốc sẽ dễ dàng hơn. Mỹ đã bắt đầu thử nghiệm đưa dữ liệu bộ gene vào bệnh án điện tử. Tuy nhiên từ nghiên cứu về bộ gene đến các ứng dụng trong y khoa vẫn cần rất nhiều thời gian.”  .——————————————————————————————-  1. Tham khảo từ bài báo trên Nature: http://www.nature.com/news/core-services-reward-bioinformaticians-1.17251?WT.mc_id=FBK_NatureNews       Author                Lê Thị Lý        
__label__tiasang Cần điện hạt nhân để phát triển      Bài báo của GS Pierre Darriulat ‘Đằng sau sự cố Fukushima’ đăng trên báo Tia Sáng đã trình bày một số nhận định hết sức quan trọng về vấn đề hạt nhân (của thế giới và của Việt nam). Sau đây xin nêu một số suy nghĩ từ cuộc đời bình nhật nhân đọc bài báo của GS Darriulat.    Sau vụ Fukushima việc công kích năng lượng hạt nhân đã lên đến đỉnh điểm. Những  người VN ủng hộ năng lượng hạt nhân đều bị các bạn bè đồng nghiệp VN buộc tội oan là những nhà “kỹ phiệt (technocrat)”.   Thực ra họ cũng chỉ là những ngưởi mong muốn tìm một giải pháp năng lượng tối ưu có lợi cho VN. Theo họ nếu từ bỏ năng lượng hạt nhân liệu chúng ta có khả năng sử dụng năng lượng tái tạo như mặt trời và gió để bù lấp một lượng thiếu hụt điện năng là vào khoảng 36 đến 65 tỷ kWh (phương án cơ sở và phương án cao) vào  năm 2020 chăng, trong lúc mức nước trong các hồ thủy điện càng ngày càng có nguy cơ thấp dần và nhiên liệu hóa thạch thì cũng đang suy giảm, còn bạn thì không chịu rời chiếc TV, chiếc máy tính và thất vọng rồi phản đối ai đó khi điện bị cắt (ai sống ở các nước phát triển không biết khổ nạn này).   Trong một buổi tọa đàm (nhân sự kiện Fukushima) tại Viện Năng lượng Nguyên tử VN các nhà năng lượng  từ EVN cho biết rằng “một khả năng thay thế bằng mặt trời và gió ở kích thước vĩ mô như thế chúng ta chưa có được ở giai đoạn này”. Muốn làm được việc này chúng ta đã phải có một nền tảng công nghệ cao ở mức vĩ mô. Song muốn có được một nền tảng công nghệ cao thì trước hết phải có năng lượng để nghiên cứu phát triển và xây dựng được nền tảng đó. Đây đúng là một vòng tròn nhân quả tai hại.     Vì sao VN cần năng lượng hạt nhân?  Tại sao một nước  nghèo như VN lại cần năng lượng nhiều đến thế, tại sao các sơ đồ tổng (master plan) đưa ra những con số khủng khiếp như vậy. Tại sao ngay cả những nước phát triển họ cũng không đòi hỏi nhiều năng lượng đến như vậy. Lý do: VN là một nước nghèo, thiếu thốn mọi bề và đang muốn vươn lên. Một ví dụ trong đời sống hằng ngày: nếu bạn là một người có đầy đủ mọi tiện nghi thì bạn không đòi hỏi thêm điều gì nữa, nếu cần điều gì thêm thì cũng không phải nhiều gì lắm. Song một người nghèo thì mong muốn có đủ mọi thứ, cho nên đòi hỏi rất nhiều năng lượng.   Về vấn đề này GS. Darriulat viết:  “Các nước đang phát triển rất cần các nguồn năng lượng mới để có thể bắt kịp sự chậm trễ của họ và để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Vì thế năng lượng hạt nhân, ít nhất trong một vài thập kỷ tới, sẽ là giải pháp khả thi duy nhất.”           …muốn tăng hiệu suất một kWh phải có công nghệ cao, điều mà chúng ta chưa có. Song muốn có công nghệ cao chúng ta phải cần năng lượng trước mắt cho quá trình học tập nghiên cứu gian khổ để xây dựng nền tảng công nghệ cao. Đây lại là một vòng tròn nhân quả tai hại        Tiếp đến là một vấn đề quan trọng: Tại sao hiệu suất một kWh điện của chúng ta thấp đến thế? Với một kWh điện người ta làm được bao nhiêu của cải mà ta không làm được như thế, có phải vì đó mà dự báo nhu cầu năng lượng lên quá cao? Lý do là trình độ công nghệ của ta quá thấp. Lấy một ví dụ  đơn giản. Ta cần tính một tích phân, nếu đưa bài toán đó cho một học sinh thì em đó khó lòng giải nhanh với hiệu suất cao được nhưng nếu đưa bài toán đó cho bạn thì bạn có thể giải quyết trong nháy mắt vì bạn có trình độ toán (công nghệ) cao. Muốn tính được tích phân đó em học sinh phải bỏ công sức học hỏi tìm tài liệu đây đó một cách mò mẫm để có một trình độ toán học, em học sinh cần nhiều năng lượng tích lũy trong học tập để làm được việc đó và  như thế trong quá trình lao động này sự lãng phí tất yêu năng lượng là khó lòng tránh khỏi. Suy rộng ra muốn tiết kiệm và muốn tăng hiệu suất của một kWh ở mức vĩ mô cũng cần có công nghệ cao. Như vậy muốn tăng hiệu suất một kWh phải có công nghệ cao, điều mà chúng ta chưa có. Song muốn có công nghệ cao chúng ta phải cần năng lượng trước mắt cho quá trình học tập nghiên cứu gian khổ để xây dựng nền tảng công nghệ cao. Đây lại là một vòng tròn nhân quả tai hại thứ hai.    Mặt trái vấn đề: VN chưa đủ điều kiện làm điện hạt nhân   Điện hạt nhân là thuộc công nghệ cao. Nhân lực của chúng ta phải nói rằng chưa đáp ứng kịp với tiên độ du nhập năng lượng hạt nhân. Người ta thường nói con người quyết định mọi việc. Câu nói đó đúng cho  ngành năng lượng hạt nhân hơn bất cứ ở chỗ nào khác. Ta cần nhiều chuyên gia có kiến thức khoa học và công nghệ hạt nhân, có kinh nghiệm, đã trải qua công việc trong các nhà máy điện hạt nhân, biết xử lý công việc trong những trường hợp bất thường. Tương tự như một phi đội trong không gian khi gặp sự cố cần sự giúp đỡ của hệ thống chuyên gia điều khiển từ mặt đất thì kíp vận hành lò phản ứng cũng phải cần đến sự can thiệp của những chuyên gia có trình độ cao đứng sau lưng họ. Hiện nay có thể nói chúng ta chưa có số nhân lực này. Điều bây giờ chúng ta cần làm không phải là đào tạo theo một kế hoạch cổ điển nào mà phải mở một chiến dịch đào tạo ở cấp quốc gia, gửi đi cấp tốc hàng trăm cán bộ ngay ngày mai mới hy vọng bắt nhịp với tiến độ (như nhiều nước khác đã làm trong quá khứ trước lúc hạt nhân lên đường). Một kiểu đào tạo theo chiến dịch này chúng ta đã làm được trong thời kỳ bao cấp trước đây (có lẽ theo phương thức của GS Tạ Quang Bửu). Không có số nhân lực cao cấp này thì không vận hành an toàn và kinh tế nhà máy và khi xảy ra sự cố  thì không đủ sức giải quyết.  Về vấn đề này GS Darriulat viết:   “Phải đánh giá cẩn thận đội ngũ nhân viên có tài, có chuyên môn về công nghệ hạt nhân để xác định không chậm trễ quy mô của việc đào tạo tăng cường rõ rằng là rất cần thiết.  Để đào tạo ra các nhà vật lý, kỹ sư và nhà quản lý cần cho sự thành công của dự án đầy tham vọng như vậy là một thách thức lớn của đất nước.”          Ta cần nhiều chuyên gia có kiến thức khoa học và công nghệ hạt nhân, có kinh nghiệm, đã trải qua công việc trong các nhà máy điện hạt nhân, biết xử lý công việc trong những trường hợp bất thường.        Hạt nhân là một vấn đề phải tiếp cận theo quan điểm phức hợp (complexity)  nói cách khác phải tiếp cận năng lượng hạt nhân bằng cách xét vấn đề trong phức hợp của nhiều ngành khác như giáo dục, công nghiệp, kinh tế, văn hóa. Như vậy làm hạt nhân không phải là một điều đơn giản. Làm điện hạt nhân đòi hỏi  sự quyết tâm, sự huy động nhân-vật-tài lực của toàn thể quốc gia và đòi hỏi một sự cẩn trọng tối đa, một sự chỉ đạo chuyên nghiệp sáng suốt. Mỗi bước đi là một quyết định khó khăn.   Về vấn đề này GS Darriulat viết:   “Những người chịu trách nhiệm cho lĩnh vực này phải nhận thức được các vấn đề hiện hữu và phải có kiến thức sâu, hiểu biết rõ về tình hình.   Việc quy hoạch dự án phải được đặt dưới điều kiện rằng mỗi bước thực hiện phải được bảo đảm rằng đất nước đã sẵn sàng đạt được nó một cách thành công.  Các quyết định không được sao chép từ các nước khác. Mỗi vấn đề phải được đánh giá và thấu hiểu trong điều kiện và đặc trưng riêng của Việt Nam. Sẽ có nhiều lựa chọn khó khăn. Sẽ không luôn rõ ràng lựa chọn nào là đúng. Chỉ cần tráo đổi hai chữ cái đầu tiên của từ hạt nhân (nuclear) là bạn nhận được từ không rõ ràng (unclear) …”  Những nhận định sâu sắc trên đây của GS Pierre Darriulat có thể làm kim chỉ nam cho VN trong vấn đề năng lượng hạt nhân. Đó là những nhận định minh triết và chí tình của một nhà khoa học lớn với tấm lòng đầy nhiệt huyết với VN. Các nhà quản lý và chuyên gia năng lượng VN  nghiên cứu kỹ lưỡng các nhận định này (trong bài Đằng sau sự cố Fukushima đăng trên Tia Sáng, số ra ngày 20/05/2011) để tự mình tìm ra những bước đi tiếp theo đúng đắn nhất, tối ưu nhất phù hợp với tình hình đất nước.                                                                                                     GS Pierre Darriulat – người bạn tốt của Việt Nam – là nhà vật lý lớn của Thế giới. Ông  là người Pháp, Viện sĩ Thông tấn Pháp, nguyên Giám đốc Khoa học Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu CERN. Vì cảm tình với Việt nam ông đã đóng góp nhiều ý kiến xác dáng về giáo dục, khoa học và công nghệ cho Việt Nam.              Giới vật lý xếp tên ông Pierre Darriulat  cùng với tên của 12 nhà vật lý lớn (xem hình 1). Đó là top 13 nhân vật  vật lý đầu bảng trên thế giới (top physicists in the world), 13 siêu sao khoa học dám thách thức vũ trụ (13 science superstars who dare to challenge the universe) .                                                                                                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần góc nhìn toàn diện trong đánh giá ô nhiễm không khí      Để đánh giá chính xác chất lượng không khí Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác, cần một góc nhìn toàn diện về nguyên nhân, sự tương tác giữa các yếu tố liên quan, mối liên hệ giữa phát triển năng lượng và ô nhiễm không khí…      Ô nhiễm không khí ở Hà Nội chủ yếu là ô nhiễm bụi còn các hợp chất khác như SO2, Nox, CO, O3,… Nguồn: tienphong.vn  Điều đó đã được thảo luận trong hội thảo “Đồng lợi ích của phát triển năng lượng bền vững đối với chất lượng không khí và sức khỏe cộng đồng” được tổ chức vào ngày 13/6/2019 do Trung tâm Phát triển sáng tạo Xanh (GreenID) phối hợp với Viện độc lập về các vấn đề môi trường (UfU).  Theo báo cáo của ThS. Lê Hoàng Anh, Phó Giám đốc Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc (Tổng cục Môi trường, Bộ NN&PTNT), dù Hà Nội và một số thành phố khác ở Việt Nam đều trong tình trạng ô nhiễm bụi ở các mức độ khác nhau nhưng “không thể vì vậy mà cho rằng không khí ở Việt Nam ô nhiễm như Bắc Kinh hay các thành phố khác vì ngoài ô nhiễm bụi, các thành phố này còn vướng phải các vấn đề nghiêm trọng về nồng độ khí SO2 và O3”. Nguyên nhân dẫn đến hiểu lầm này là do “thông tin từ cơ quan quản lý đến với công chúng tương đối chậm nên gây ra nhiều vấn đề trong quan niệm về chất lượng không khí của Hà Nội và Việt Nam”, ông nói.  Hiện nay, ô nhiễm không khí ở Hà Nội chủ yếu là ô nhiễm bụi còn các hợp chất khác như SO2, Nox, CO, O3,… đều có giá trị khá thấp và nằm ở trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2013/BTNMT. Bên cạnh đó, mức độ ô nhiễm bụi có sự thay đổi theo không gian và thời gian chứ không cố định. ThS. Lê Hoàng Anh cho biết, địa hình Việt Nam kéo dài qua nhiều vĩ tuyến, miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa nên có sự biến động lớn hơn về các thành phần trong không khí, có những thời điểm bụi mịn PM2.5  tăng cao đột biến như trước khi mỗi đợt gió mùa về, nền nhiệt trong không khí cao kết hợp với sự di chuyển của các khối khí tầng trên đã nén khí tầng thấp, khiến lượng bụi mịn không thể khuếch tán.   Sự thay đổi về nồng độ bụi trong không khí cũng phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau. Số liệu thống kê cho thấy hàm lượng bụi ở một số điểm như trạm quan trắc Nguyễn Văn Cừ hoặc Đại sứ quán Mỹ ở Láng Hạ đang có xu hướng giảm, đặc biệt là giai đoạn 2015-2017 giảm hẳn so với 2013-2015. “Việc tăng hoặc giảm lượng bụi phụ thuộc vào những nguồn phát thải tại chỗ như giao thông, xây dựng,… Vì vậy, có những địa điểm hàm lượng bụi tăng lên nhưng có những nơi có xu hướng giảm đi”, ThS. Lê Hoàng Anh lý giải.  Theo số liệu từ các trạm quan trắc của Đại sứ quán/Lãnh sự quán Mỹ đặt tại 15 thành phố ở châu Á (Trung Quốc, Mông Cổ, Ấn Độ, Indonesia,…), tỷ lệ ô nhiễm bụi mịn PM2.5  ở Hà Nội và TP HCM ở mứctrung bình, TP HCM có mức ô nhiễm thấp nhất trong số 15 thành phố được đánh giá.  Tuy nhiên, nhiều đại biểu lo ngại về vấn đề mạng lưới quan trắc ở Việt Nam còn thưa nên chưa thu thập được đầy đủ số liệu. Như vậy, những số liệu chúng ta đưa ra có độ tin cậy đến đâu? Theo giải đáp của ThS Lê Hoàng Anh, mạng lưới quan trắc của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng còn rất mỏng, do đó, việc tăng cường mạng lưới quan trắc trong thời gian tới là việc làm hết sức cần thiết. Tuy nhiên, để có được một mạng lưới quan trắc có mật độ lắp đặt đủ dày, có khả năng cung cấp số liệu tương đối chính xác, cần có sự đầu tư trong thời gian dài của các cơ quan quản lý nhà nước. Trước mắt, để bổ trợ cho số liệu của các trạm này, Bộ TN&MT đã triển khai các chương trình quan trắc định kì, “tuy số liệu không thể đầy đủ và chất lượng như các trạm quan trắc tự động nhưng cũng giúp chúng tôi xây dựng được bức tranh toàn thể về chất lượng không khí Việt Nam”, ThS. Lê Hoàng Anh khẳng định.             Author                Thanh An        
__label__tiasang Cần một chương trình nghiên cứu tiếp theo cho nghiên cứu sinh      Khoa học mang tính tiếp nối, và do đó, việc nuôi dưỡng và nâng đỡ thế hệ khoa học trẻ là một điều đương nhiên và một việc làm mang tính liên tục, chứ không có gì phải bàn cãi. Ở một số nước phương Tây mà người viết có kinh nghiệm qua, các nhà khoa học có tuổi hay đã thành danh thường tìm cách thu hút các nhà khoa học trẻ có triển vọng để mong họ sẽ nối nghiệp sau này. Một trong những chương trình để nuôi dưỡng và nâng đỡ nhân tài là chương trình nghiên cứu, đúng ra là một học bổng (fellowship) dành cho những người bảo vệ thành công tiến sĩ trong vòng 3-4 năm có triển vọng trong nghiên cứu, nghĩa là quá 5 năm có thể không được xét (tạm gọi là chương trình nghiên cứu sau tiến sĩ).     Chương trình này ở nước ngoài không có gì là mới, nhưng ở nước ta nó còn là một chương trình tương đối xa lạ. Vì phần lớn nghiên cứu sinh nước ta khi xong luận án tiến sĩ ở nước ngoài đều về nước.  Thông thường, ở các nước Âu Mĩ nói chung, khi nghiên cứu sinh sắp hay hoàn tất luận văn (hay thậm chí còn trong quá trình viết luận án tiến sĩ), người giáo sư hướng dẫn phải có trách nhiệm tìm cơ sở và điều kiện để gửi nghiên cứu sinh sang một trung tâm nghiên cứu khác, thường là ở nước ngoài, để họ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu sau tiến sỹ dưới sự hướng dẫn của một giáo sư khác, và dần dần huấn luyện họ trở thành những nhà nghiên cứu độc lập, tức có thể tổ chức và thực hiện một công trình nghiên cứu từ A đến Z.                      Ở giai đoạn này nghiên cứu trong các bộ môn khoa học thực nghiệm, có không ít người phải tiêu ra cả 5 năm trời để có thể tự khẳng định mình và chuẩn bị cho một sự nghiệp tương lai.   Ở các nước Âu Mĩ, chỉ có khoảng 40% tiến sĩ chọn con đường tiến sĩ à sau tiến sĩ à giáo sư đại học, và trong số này chỉ có một phần ba là tiến tới thang bậc giáo sư đại học.  Phần còn lại thì quyết định tham gia nghiên cứu trong các công ty kĩ nghệ hay chính phủ.  Ở Mĩ một cuộc điều tra vào thập niên 1990 cho thấy khoảng 51% người tốt nghiệp tiến sĩ làm việc ngoài khoa bảng, tức làm các chức vụ quản lí, lãnh đạo, cố vấn, thậm chí truyền thông khoa học! Ở một số ngành, tỉ lệ làm việc ngoài khoa bảng lên đến con số 60% (xem Bảng 2). Ở nước ta tuy chưa có điều tra chính thức, nhưng một số người cho rằng con số tiến sĩ làm ngoài khoa học là 70%; nếu đây là con số thật thì đây là một tần số quá cao so với quốc tế.  Sự chuyển tiếp từ giai đoạn tiến sĩ sang giai đoạn nghiên cứu tiếp theo không xảy ra như là một dây chuyền tự động. Trong thực tế họ phải trải qua một qui trình tuyển chọn có khi khá gắt gao. Hàng năm, có hàng chục ngàn tiến sĩ trong các ngành khoa học thực nghiệm khắp thế giới tìm cơ hội ở nước ngoài để hoàn tất chương trình nghiên cứu sau tiến sỹ. Do đó, các nghiên cứu sinh cần phải chuẩn bị tinh thần để “dấn thân” vào một cuộc cạnh tranh toàn cầu, và muốn nâng cao xác suất thành công trong cuộc cạnh tranh này, nghiên cứu sinh phải có bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế trước hay trong khi viết luận án tiến sĩ. Không có công bố quốc tế, xác suất xin được học bổng nghiên cứu tiếp gần như zero. Đó cũng chính là lí do tại sao tôi thường viết rằng cần phải khuyến khích người nghiên cứu công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trong khi làm nghiên cứu cấp tiến sĩ.                     Một hình thức khác để nâng đỡ giới trẻ là tạo điều kiện cho các nghiên cứu sinh tiến sĩ có cơ hội đi dự các hội nghị chuyên môn quốc tế ít nhất là một lần trong thời gian đào tạo tiến sĩ. Các hội nghị chuyên môn là các diễn đàn lí tưởng để sinh viên có cơ hội trình bày nghiên cứu của mình trực tiếp với đồng nghiệp trên thế giới, và qua tiếp xúc trực tiếp, các sinh viên có cơ hội gặp và bàn thảo với những người mà trong tương lai có thể là người hướng dẫn mình trong các nghiên cứu hậu tiến sĩ.  Các diễn đàn này còn là nơi lí tưởng để các sinh viên học hỏi và làm quen với “nghệ thuật” thuyết trình khoa học bằng ngoại ngữ trước đồng nghiệp nước ngoài.  Ngoài ra, nếu có thể, tạo điều kiện cho một giáo sư từ một trung tâm nghiên cứu ngoài Việt Nam tham gia vào ban giáo sư hướng dẫn luận án. Sự có mặt của một nhà khoa học nước ngoài có thể dưới hình thức cộng tác trong nghiên cứu, hay qua trao đổi thường xuyên giữa sinh viên và ban hướng dẫn. Sự có mặt của một giáo sư hay một nhà khoa học uy tín trên thế giới ngoài Việt Nam (nhưng có thể là người gốc Việt Nam) trong ban hướng dẫn luận án không những đảm bảo tính quốc tế của luận án, mà còn là một cách phát biểu gián tiếp giới thiệu các công trình nghiên cứu của Việt Nam cho các đồng nghiệp trên thế giới.   Văn hóa kế thừa                     Cũng như bất cứ ngành nghề nào, khoa học mang tính kế thừa. Những người được đào tạo thành tiến sĩ tiếp nối hay mở rộng công trình nghiên cứu từ người thầy, và  trong nhiều trường hợp phát triển thêm ý tưởng mới và công trình mới. Nếu không có kế thừa, khoa học sẽ đi vào bế tắc rất nhanh.  Ở các nước phương Tây, người ta có những kế hoạch cụ thể, kể lập ra những ngân sách đặc biệt, để nuôi dưỡng thế hệ nghiên cứu khoa học trẻ, những người đã có học vị tiến sĩ và đang làm nghiên cứu sau tiến sỹ.  Ngân sách này được phân phối cho các trung tâm nghiên cứu có điều kiện và cơ sở vật chất để sử dụng các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ và từng bước đào tạo họ thành những nhà nghiên cứu độc lập, những con chim đầu đàn.  Ở Úc, trong tài khóa 2006-2007, Chính phủ cung cấp khoảng 1,25 tỉ AUD cho nghiên cứu khoa học; trong số này, khoảng 15% (tức khoảng 187 triệu AUD) chỉ dành cho việc cấp học bổng cấp tiến sĩ, tiến sỹ nghiêncứu giai đoạn tiếp theo, và chương trình “fellow” (chỉ dành cho các nhà khoa học đã “thành danh”).  Ngoài ra, trong các hội nghị quốc gia, những “cây đa cây đề” thậm chí nhường những chức vụ và vai trò quan trọng cho giới trẻ đảm trách để chuẩn bị cho họ một tương lai kế thừa sự nghiệp của những người đang sắp nghỉ hưu. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ở các nước phương Tây, các nhà khoa học thành công khá nhanh và trẻ tuổi hơn ở các nước châu Á, nơi mà văn hóa kế thừa vẫn chưa được xem trọng.  Nhưng ở nước ta, việc chuẩn bị cho thế hệ kế tiếp vẫn còn là một ý nguyện.  Nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản từ trong và ngoài nước vẫn chỉ là những cái bóng bên cạnh các “cây đa cây đề”, chưa được giao những trọng trách. Có người chờ đợi mòn mỏi, và không đủ kiên nhẫn (cũng không thể trách họ) nên đành phải tìm cách ra nước ngoài và khả năng quay về nước thật thấp. Hệ quả là ngày nay, chúng ta thường nghe đến tình trạng “lão hóa” trong đội ngũ nghiên cứu khoa học nước nhà: trong khi những nhà khoa học lớn sắp về hưu chúng ta vẫn chưa có một đội ngũ xứng đáng kế thừa.   Nước ta có chính sách đào tạo hai vạn tiến sĩ trong tương lai, nhưng chúng ta chưa nói đến chương trình để tiến sỹ bước sang giai đoạn nghiên cứu tiếp, một chương trình rất quan trọng cho việc nuôi dưỡng và nâng đỡ nhân tài. Do đó, theo tôi thấy, Nhà nước cần thiết lập những chương trình này ở trong nước, kể cả việc cung cấp học bổng để nghiên cứu sinh tiến sĩ nước ta có thể thực tập nghiên cứu ở nước ngoài, và qua đó mà có thể tạo cho nhà khoa học còn trẻ tuổi một sự nghiệp vững vàng.  Trong hoạt động khoa học người ta có câu “khoa học là trò chơi của tuổi trẻ”.   Paul Dirac và James Watson cũng từng nói như thế.  Điều này đúng, bởi vì phần lớn những khám phá quan trọng trong lịch sử khoa học đều một phần lớn do các nhà khoa học trẻ tuổi thực hiện (xem Bảng 1).  Phân tích các khám phá quan trọng người ta ghi nhận rằng năng suất và sự sáng tạo khoa học cao nhất thường ở độ tuổi trung bình 37.  Thật vậy, nhìn qua lí lịch khoa học của các nhà khoa học danh tiếng, chúng ta dễ nhận ra rằng khoảng thời gian mà họ công bố nhiều bài báo khoa học nhất và sáng tạo nhất là ở độ tuổi 30-40.  Năng suất khoa học trong giai đoạn này cũng là tín hiệu quan trọng cho biết tương lai của một nhà khoa học.  BOX: Theo thống kê năm 2000, chỉ có 15% thầy cô đại học có học vị tiến sĩ (một học vị cần thiết cho nghiên cứu khoa học độc lập), và trong số mang hàm giáo sư, phần lớn ở độ tuổi 60 – 65.  Với một lực lượng yếu như thế, không ngạc nhiên chúng ta chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên trường quốc tế như là một tập thể.  Sự hụt hẫng này xảy ra vì văn hóa kế thừa trong khoa học ở nước ta chưa được hình thành.  Nguyễn Văn Tuấn       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một khung đánh giá chính sách dân tộc      Chính sách phát triển vùng các dân tộc thiểu số, dù có nhiều nỗ lực, nhưng vẫn chưa đảm bảo được “tính tham gia” của người dân – chủ thể của chính sách. Vì vậy, cần thiết phải rà soát toàn diện với một khung đánh giá có tính đo lường được.      Anh Má A Pho (bìa trái) và người dân xã Sa Pả đứng tại kênh mương nước được xây dựng với nguồn vốn từ Chương trình giảm nghèo 135. Ảnh: Mạng lưới tiên phong.  Người dân không được tham gia vào các “thiết kế từ trên xuống”  Đầu năm 2018, người dân thôn Má Tra, xã Sa Pả, huyện Sa Pa, Lào Cai nhận dự án kênh mương nước – được triển khai với nguồn vốn từ Chương trình giảm nghèo 135 (thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo 2016 – 2018) nhưng người dân đều trả lời không biết vật liệu xây dựng là gì, thiết kế ra sao, thậm chí không biết kênh mương dài bao nhiêu mét. Kênh nước của người dân trước đây vốn chia làm hai đường riêng biệt, phục vụ hai nhóm hộ khác nhau trong thôn nhưng kể từ khi được bê tông hóa thì chủ đầu tư chỉ xây duy nhất một đường nước. Mỗi khi cần dẫn nước, một trong hai nhóm hộ này sẽ phải lần lượt chặn kênh để hướng dòng chảy vào nhánh nhà mình, nên có khi còn xảy ra tranh chấp nguồn nước giữa hai nhóm hộ.  Câu chuyện làm kênh mương nước mà anh Má A Pho, thôn Má Tra kể không phải là trường hợp cá biệt. Chị Trương Thị Thủy ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa cũng cho biết, con đường liên thôn ở thôn Đồi Công, xã Lương Ngoại, huyện Bá Thước có nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình 135 được xây dựng nhưng không có cống thoát nước. Con đường được xây dựng vào mùa khô nên người dân không phát hiện thấy sự bất hợp lý trong xây dựng, chỉ đến khi vào mùa mưa, nước từ đường đổ vào các hộ dân sinh sống hai bên, họ mới kiến nghị cần phải xây cống thoát nước thì nhận được câu trả lời của Bí thư chi bộ thôn: “thiết kế từ trên xuống rồi”.  Không chỉ ở hai thôn đó, mà nhìn chung, các chuyên gia cũng đánh giá, tính “tham gia” của những người dân tộc thiểu số tại địa phương vào quá trình lập kế hoạch, thực hiện, giám sát dự án giảm nghèo còn yếu. Theo TS Lương Minh Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội, Môi trường (iSEE), hầu như người dân tộc thiểu số mới chỉ có tư cách “phát biểu ý kiến” thay vì “tham gia”.      Cách đặt vấn đề “cho” (dù đó là cần câu hay con cá) liệu có còn phù hợp, hay nó đại diện cho một tư duy mang tính áp đặt của “người bên ngoài”, chưa tôn trọng tính tự chủ của “người trong cuộc”?      Với một cái nhìn bao quát qua quá trình nghiên cứu “Tổng kết các phương pháp phát triển và tìm kiếm cơ chế nhằm nâng cao tiếng nói của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình ra quyết định” (Nhóm Công tác dân tộc thiểu số – EMWG), TS. Mai Thanh Sơn, từ Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, là trưởng nhóm nghiên cứu đánh giá rằng, một trong những nguyên tắc căn bản trong xây dựng và tổ chức chính sách dân tộc thiểu số là  Người dân phải là chủ thể trong thực hiện chính sách dân tộc và cần phát huy tính chủ động, sáng tạo và nội lực của đồng bào các dân tộc. Nhưng trên thực tế, nghiên cứu này chỉ ra, còn rất nhiều rào cản về pháp lý, năng lực và quan điểm của chính quyền địa phương, thiếu các hình thức tuyên truyền và kêu gọi tham gia hiệu quả, các tổ chức hội đoàn hoạt động không hiệu quả khiến người dân chưa thực sự được tham vấn ý kiến, chứ chưa nói tới việc phát huy khả năng tự chủ, sáng tạo trong việc lập kế hoạch.  Xây dựng chính sách trên quan điểm của ai?  Một câu hỏi lớn đặt ra với các chính sách dân tộc thiểu số trước đây là đã được xây dựng trên quan điểm của ai?”. Cho đến gần đây, chính sách phát triển vùng các dân tộc thiểu số vẫn đang được các cơ quan làm chính sách này hô hào phải sửa đổi, chuyển từ “cho con cá sang cho cần câu”. Nhưng cách đặt vấn đề “cho” (dù đó là cần câu hay con cá) liệu có còn phù hợp, hay nó đại diện cho một tư duy mang tính áp đặt của “người bên ngoài”, chưa tôn trọng tính tự chủ của “người trong cuộc”?  Lược lại quá trình ra chính sách dân tộc thiểu số kể từ sau Đổi mới đến nay, TS Mai Thanh Sơn cho rằng, quan điểm định hướng của Đảng và nhà nước về chính sách dân tộc xuyên suốt và cơ bản vẫn là “xóa đói giảm nghèo, gần như là cứu nguy, với quan điểm cho không” cho mọi vùng dân tộc thiểu số. Ở giai đoạn đầu, trong bối cảnh tình trạng nghèo đói rất trầm trọng, thậm chí rất nhiều bộ phận dân tộc thiểu số ở trong tình trạng nghèo cùng cực kinh niên, thì quan điểm đó là phù hợp (như pha i  và ii từ năm 2000 đến 2010 của Chương trình 135 được đánh giá rất thành công). Nhưng đến hiện nay, tình hình dân tộc thiểu số không còn như bối cảnh 30 năm trước nữa. Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hân, Chuyên gia phòng Tăng trưởng bao trùm và công bằng của UNDP, các nhóm dân tộc thiểu số hiện nay đã rất khác nhau, hay thậm chí trong cùng một xã, cùng một dân tộc đã có sự khác biệt giàu nghèo rõ rệt – như chia sẻ của anh Má A Pho. Do đó, một tư tưởng “cào bằng”, nhìn các dân tộc thiểu số như một khối nghèo đói đồng nhất trong xây dựng chính sách sẽ không còn phù hợp. Điều đó sẽ dẫn tới kiểu “chính sách gia trưởng nhà nước” – nghĩa là cứ cho mà không cần biết họ có cần hay không, có tác động như thế nào.    Xây dựng đường giao thông ở xã Hà Lâu, huyện Tiên Yên, từ nguồn vốn đầu tư của Chương trình 135. Ảnh: Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh.  Định hướng chính sách cần phải có sự thay đổi, dựa trên quan điểm của “người trong cuộc”. “Tất nhiên tỉ lệ nghèo đói ở một số vùng còn cao, nhưng đó không phải là căn cứ duy nhất để đưa ra quan điểm định hướng chính sách. Theo tôi, quan điểm định hướng mới là cần phải dựa trên quan điểm của người dân, nâng cao tính chủ động sáng tạo. Họ phải có nhiều quyền hơn nữa đối với các nguồn lực tự nhiên, được tự chủ về sinh kế, được tự chủ trong cách thức tổ chức và quản lý xã hội.”, TS Mai Thanh Sơn nói.  Một khung đánh giá với các tiêu chí đo lường được  Vừa qua Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khi thẩm tra kết quả ba năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2016-2018 tại Quốc hội ngày 15/10 cũng có đánh giá, mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhưng việc ban hành các chính sách còn mang tính ngắn hạn, thiếu tính chiến lược (Vneconomy ngày 16/101).  Do vậy, việc rà soát lại toàn bộ các chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số là yêu cầu bắt buộc, để nhằm nhìn nhận lại hiệu quả chính sách, tác động chính sách và xây dựng quan điểm chính sách cho thời gian tới.  Ủy ban Dân tộc đã phối hợp với nhóm nghiên cứu của TS. Trần Công Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành nghiên cứu và công bố Dự thảo báo cáo “Rà soát chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2018 và định hướng giai đoạn 2021-2025” tại hội thảo “Tham vấn dự thảo báo cáo thực trạng chính sách dân tộc và định hướng chính sách giai đoạn 2021 – 2025” ngày 5 tháng 10 tại Hà Nội. Đây là một trong những nghiên cứu thuộc chuỗi báo cáo hỗ trợ cho Ủy ban dân tộc trong việc định hướng chính sách dân tộc và tổ chức thi hành trong thời gian tới. Mặc dù Báo cáo được đánh giá là đã nỗ lực rà soát 7 nhóm chính sách gồm: cơ sở hạ tầng; sản xuất, tín dụng; giảm nghèo; y tế cơ sở; giáo dục đào tạo; văn hóa xã hội và an ninh-quốc phòng với lượng dữ liệu thống kê phong phú nhưng lại… thiếu một khung phân tích chính sách rõ ràng.  Đây không chỉ là điểm yếu riêng có của dự thảo báo cáo này, mà nhiều chính sách dân tộc thiểu số vẫn được đưa ra thực hiện mà thiếu khung phân tích chính sách cũng như công cụ phân tích phù hợp. Mặc dù Ủy ban Dân tộc đề ra Khung hệ thống chính sách dân tộc giai đoạn 2016 – 2020 trong “Báo cáo tổng kết chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015”, nhưng trên thực tế các chính sách mới chỉ được gom vào năm nhóm lớn với sự phân loại các nhóm dựa trên nội dung (gồm: Chính sách phát triển kinh tế, Nhóm Chính sách xã hội, Nhóm Phát triển nguồn nhân lực, Nhóm Chương trình 135, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội 16 DTTS rất ít người; Nhóm Chính sách đảm bảo an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế).  “Cái mà các anh chị gọi là ‘khung phân tích’, thực ra chỉ là một thao tác ‘nhặt’ các chính sách vào từng ‘giỏ’ khác nhau mà thôi. Đáng lẽ trong khung đó phải đưa ra tiêu chí đánh giá, thang đo, cách thức đánh giá thì chưa làm được”, TS. Mai Thanh Sơn nhận xét.  Vì vậy, các nhóm thực hiện rà soát cho Ủy ban Dân tộc “nhất thiết cần có một khung phân tích để đánh giá chính sách dân tộc thiểu số trong giai đoạn vừa qua”, TS. Mai Thanh Sơn nói. Ông cũng cho biết, lý tưởng nhất, việc xây dựng một khung đánh giá chính sách sẽ phải bám sát quá trình ban hành chính sách trước đó – cần phải tuân thủ “quy trình chính sách” gồm các bước: 1) Đánh giá hệ thống chính sách đã được thực hiện; 2) Phân tích hiện trạng và xác định vấn đề ưu tiên; 3) Xác định mục tiêu, phân tích các phương án chính sách, dự báo tác động chính sách; 4) Đưa ra các quyết định chính sách; 5) Theo dõi/giám sát quá trình thực hiện chính sách. Để đánh giá được một chính sách cần phải thực hiện rà soát lại theo đúng trình tự này. Chẳng hạn, ở bước 1, cần làm rõ bối cảnh, sự cần thiết ra đời chính sách, lịch sử hình thành chính sách (các lần sửa đổi, bổ sung), các chính sách liên quan, mục tiêu của chính sách, các giải pháp thực hiện mục tiêu, việc tổ chức thực hiện và những qui định đặc thù tại địa phương. Đánh giá chung phải đo lường được tính phù hợp, tính hệ thống, tính khả thi của chính sách, đánh giá chi tiết cần phải đo lường được tính công bằng, hiệu quả, hiệu suất của chính sách. Ở bước hai, các nhà quản lý phải xác định được mâu thuẫn, nhu cầu của đời sống xã hội cần được giải quyết bằng chính sách và các căn cứ lựa chọn cần ưu tiên. Tuần tự như vậy, mỗi giai đoạn ra chính sách đều có hệ thống các công cụ kinh tế, kỹ thuật, chế tài, thông tin… để đảm bảo khi đưa chính sách vào phải “có thể đạt được mục tiêu, phù hợp với bối cảnh cụ thể”.  Điều đáng lưu ý ở đây là “không được nhầm lẫn giữa “thống kê” thuần túy với “đo lường hiệu quả”, “chứng minh được kết quả cụ thể của các chính sách”, theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hân. “Chẳng hạn, thống kê mô tả của việc thực hiện các chương trình/chính sách chỉ đưa ra các số liệu, cho thấy số người được cấp Bảo hiểm y tế hay số hộ gia đình được hỗ trợ giảm nghèo. Nhưng đó chỉ là đầu ra của các hoạt động chính sách. Câu hỏi mà Đảng và Chính phủ cần được hồi đáp là: có bao nhiêu phần trăm số người được phát thẻ đó đã sử dụng thẻ, và có thái độ hài lòng với sự phục vụ của bệnh viện? Và có bao nhiêu phần trăm số hộ gia đình được hỗ trợ đã thoát nghèo bền vững? Đó mới là kết quả.”, TS. Mai Thanh Sơn lấy ví dụ.    ———–  Chú thích  [1] http://vneconomy.vn/chinh-sach-vung-dan-toc-thieu-so-mien-nui-con-tu-duy-nhiem-ky-20181015135136579.htm#      Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cần những mô hình mã nguồn mở, liên kết và vấn đề về số liệu cho ĐBSCL      Dưới tác động từ phía nguồn và từ phía biển ngày càng đa dạng và mạnh mẽ, mô phỏng và định lượng được hệ quả của các tác động lên ĐBSCL là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của một nước nằm ở tận cùng của lưu vực, để dự báo và ứng phó tốt nhất với các tác động nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đồng bằng. Sau phần tổng quan những tác động quan trọng đang diễn ra, bài viết đề cập đến sự cần thiết có những phần mềm mã nguồn mở, liên kết và sau cùng là vấn đề số liệu.      Tác động ngày càng nhiều và mạnh lên châu thổ  Từ hai thập kỷ trở lại đây, châu thổ sông Mekong, trong đó có ĐBSCL, chịu nhiều tác động mạnh mẽ và đa dạng đến nay chưa bao giờ thấy. Dưới đây là một số tác động chi phối sự phát triển bền vững của vùng đất này.  Các đập thủy điện bẫy một lượng lớn trầm tích  Cho đến nay chúng ta vẫn nghe báo cáo “hàng năm 160 triệu tấn trầm tích được sông Mekong tải về ĐBSCL”. Đó chỉ còn là quá khứ. Từ những năm 1980, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng ít nhất 19 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trên lãnh thổ Trung Quốc. Đến tháng 5.2013, sáu đập đã đi vào hoạt động với tổng công suất thiết kế là 14900 MW 1.   Theo tính toán của Colin Thorne và cộng sự, “tác động của các đập Trung Quốc lên hàm lượng trầm tích của sông Mekong là rất lớn, trong hàng trăm năm, một khi tất cả các đập này đi vào hoạt động. Lượng trầm tích dự kiến sẽ bị các đập của Trung Quốc chận lại xấp xỉ một phần ba đến phân nửa tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong” 2.   Trên dòng chính sông Mekong ở hạ lưu vực, từ năm 2006, 11 dự án đập được dự kiến xây dựng 3. Cũng theo tính toán của Colin Thorne và cộng sự, khi 11 đập này đi vào hoạt động, lượng trầm tích bị bẫy lại lũy tích thêm sẽ vào khoảng 20,7 triệu tấn năm. Riêng đập Sambor là 16,4 triệu tấn năm.  Theo lịch trình đi vào hoạt động của các đập trên lãnh thổ Trung Quốc, và sắp tới trên hạ lưu vực, con số “160 triệu tấn/năm” từng bước giảm dần, và sự thâm hụt trầm tích so với trước ở ĐBSCL ngày càng tăng.  Tác động của con người tại châu thổ cũng rất mãnh liệt   So với năm 1973, cửa sông Bassac tại ngã ba các sông Mekong, Tonle Sap và Bassac có xu hướng hẹp lại và ngoặc về hướng Đông Nam. Sự tôn tạo Đảo Koh Pich ở Phnom Penh từ năm 2003 và nhất là từ năm 2010 với cát khai thác tại ngã ba sông này càng góp phần làm cho xu hướng này càng nhanh hơn 4.   Một nghiên cứu đã đánh giá sự biến động của đường thủy trực của một đoạn nhánh sông Tiền và của một đoạn sông Hậu giữa hai thời điểm 1998 và 2008 5. Trong 11 năm, lượng trầm tích chênh lệch âm trên nhánh sông Tiền là 0.09 km3 và trên nhánh sông Hậu là 0.11 km3. Riêng Việt Nam, năm 2012, đã khai thác 7.750.000 tấn cát trên sông Hậu và các nhánh sông Tiền 6.   Sự sụt giảm trầm tích, do bị các đập giữ lại và do khai thác tại chỗ, ngày càng trầm trọng, dẫn đến sự thay đổi dòng chảy các nhánh sông Tiền, sông Hậu, địa mạo lòng sông, cửa sông và đường bờ biển theo hướng bất lợi cho châu thổ.   Theo Liên đoàn Quy hoạch và Ðiều tra nguồn tài nguyên nước, năm 2012, tại tỉnh Cà Mau có tổng cộng 109.096 giếng khai thác nước ngầm, và tổng lượng nước được bơm lên là 373.000 m3/ngày. Cơ quan này đã đo tốc độ hạ thấp của nước ngầm qua khảo sát ba giếng khoan vào tầng nước ngầm Pleistocene giữa – trên và Pleistocene dưới. Số liệu cho thấy mực nước trong các giếng đã hạ thấp liên tục trong 15 năm qua và mức hạ thấp hiện tại nằm trong khoảng từ 10 đến 19 mét7.   Do đất đai được canh tác liên tục, do lượng phù sa bồi lắng giảm, và do khai thác nước ngầm, và có thể còn do những nguyên khác, mặt đất ở đồng bằng sông Cửu Long bị lún là một thực tê. Chỉ trên cơ sở mức độ khai thác nước ngầm ở Cà Mau, tốc độ lún đất được ước tính sơ bộ nằm trong khoảng 1,9 – 2,8 cm/năm. Nghiên cứu của Erban và cộng sự 8 đề xuất sơ đồ hạ thấp mực nước trong các giếng và sơ đồ lún đất trong hình dưới đây.     Rõ ràng lún đất là một thách thức lớn không kém gì nước biển dâng đối với các vùng trũng thấp và các tỉnh ven biển ở ĐBSCL.   Nước biển dâng cũng đã tác động mạnh mẽ lên châu thổ    Phân tích số liệu thủy văn các trạm ven biển từ năm 1988 đến năm 2008, cho thấy xu thế mực nước đỉnh triều cao nhất năm và mực nước bình quân năm tại các trạm đều tăng 9. Ở ba trạm Bình Đại, An Thuận và Bến Trại, tỉnh Bên Tre, tăng nhanh hơn, đặc biệt từ 2003 đến 2013. Xu thế mực nước chân triều thấp nhất năm ở các trạm cũng tăng. Tại các cửa Hàm Luông và Cổ Chiên tăng rất cao, 18,1 và 28,5 mm/năm, cao hơn cả ở Cửa Đại trong 11 năm này.   Các phân tích trên chỉ ra xu thế lượng nước biển theo thủy triều chảy vào châu thổ qua Cửa Đại, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên gia tăng, nhất là ở Cửa Đại, trong khi đó lượng nước theo thủy triều rút ra ở ba cửa sông có xu thế khó khăn hơn, nhất là ở cửa sông Cổ Chiên 10.   Cần những phần mềm mã nguồn mở, liên kết    Các tác động trên đây, ảnh hưởng lớn đến an ninh lương thực quốc gia, kim ngạch xuất khẩu nông thủy hải sản, sinh kế của người dân, đa dạng sinh học và sự phát triển bền vững của đồng bằng sông Cửu Long, đặt ra một cách bức thiết cần phải có một công cụ mô phỏng các tác động, từ thượng nguồn và từ biển, lên địa bàn.   Mô phỏng vật lý là cần thiết. Rất chi ly, tốn kém và cần nhiều thời gian để thực hiện, mô phỏng vật lý nên dùng trong những trường hợp phức tạp, cục bộ mà lời giải của mô hình toán cần được kiểm định.    Mô hình toán cung cấp lời giải nhanh hơn, không chỉ cho một kịch bản mà cho những kịch bản khác nhau. Tuy nhiên các số liệu ở đầu ra chỉ đáng tin cậy khi mô hình được xây dựng trên cơ sở nhận biết đầy đủ về các tác nhân và giữa các tác động, và các quan hệ hệ thống này phải được thể hiện tường minh trong thuật giải của mô hình.   Chất lượng của kết quả của mô hình tùy thuộc vào số liệu đầu vào. Hiện nay tình trạng số liệu nói chung là  thiếu, không liên tục, không đồng bộ về thời gian và không gian, và  khó tiếp cận.   Nhận biết đầy đủ có được là một quá trình. Khắc phục nhược điểm về số liệu đòi hỏi những thử nghiệm thay thế số liệu thiếu bằng cách tổ hợp các số liệu có, có liên quan, được kiểm chứng.   Một mô hình cho phép có sự tương tác với người sử dụng do đó là cần thiết cho các quá trình đó. Muốn vậy, phần mềm của mô hình phải sử dụng mã nguồn mở.    Người viết, hay sử dụng, các phần mềm mã nguồn mở đưa ra được kết quả một cách tường minh và hiểu rõ hơn tác động qua lại giữa các yếu tố trong tự nhiên, đồng thời có thể cải tiến, phát triển thêm mô hình khi có yêu cầu từ thực tiễn.   Tại ĐBSCL, hệ quả của các tác động mang tính hệ thống. Mở ra Biển Đông và Vịnh Thái Lan, đồng bằng là địa bàn giao thoa giữa sông, sóng và triều. Do đó các phần mềm mã nguồn mở phải được liên kết với nhau.   Hiện nay, các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường tại các nước tiên tiến trên thế giới đều khuyến cáo nên sử dụng các phần mềm mã nguồn mở đã được xây dựng và kiểm chứng. Trang web của Cục Bảo vệ Môi Trường của Hoa Kỳ đưa ra danh sách các mô hình mã nguồn mở nên được sử dụng cho từng bài toán khác nhau 11.    Đã có nhiều phần mềm được sử dụng trên địa bàn ĐBSCL cho những bài toán từng phần. Các phần mềm này hầu hết đều là phần mềm thương mại, không sử dụng mã nguồn mở, được mua hoặc được cung cấp theo dự án. Người sử dụng không thể tìm hiểu các lỗi, xử lý các trường hợp không ổn định và nhất là cải tiến độ chính xác kết quả tính toán, tốc độ hội tụ, … . Họ “lệ thuộc” vào công ty sở hữu phần mềm.   Chính phủ Việt Nam đang cho triển khai, từ giữa năm 2013, dự án Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông. Như tên gọi, dự án sẽ mô phỏng các tác động của các đập thủy điện.    Vì những lý do đã nêu trên đây, chúng tôi đã góp một số ý với các cơ quan chức năng Việt Nam về Báo cáo giai đoạn (I) của dự án, trong đó nhấn mạnh kiến nghị phần mềm sản phẩm của dự án phải là một bộ phần mềm mã nguồn mở, liên kết.   Những vấn đề về số liệu cần giải quyết    Để mô phỏng các tác động, cần rất nhiều số liệu, hiện chưa có hoặc có nhưng được lưu giữ ở các Bộ, ngành. Ảnh vệ tinh, số liệu khí tượng thủy văn, … ngân sách nhà nước chi để mua, chụp và đo đạc, nhưng theo quy định của Bộ Tài chính phải trả tiền mới được cung cấp. Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu tin học hóa, có thể đặt ở nhiều nơi, với quy chế sử dụng mở cho đồng bằng sông Cửu Long.  Rất cấp bách và thường xuyên phải cập nhập lại tình hình số liệu (thủy văn, trầm tích, địa hình lòng sông, cửa sông, …) ở hạ lưu vực. Cần quản lý nhà nước tốt và đo đạc số liệu về việc khai thác cát trên các sông, về việc khai thác nước ngầm ở các tỉnh. Theo dõi và đo đạc tình hình lún đất, trước nhất ở các địa bàn xung yếu.    Một khó khăn rất lớn là các quốc gia ở hạ lưu vực không có thông tin gì về cơ chế vận hành của các đập trên thượng lưu vực. Số liệu thủy văn và trầm tích tại các trạm của Trung Quốc cũng không được phía Trung Quốc chia sẻ với các quốc gia trong lưu vực. Rất cấp bách Việt Nam và các quốc gia trong hạ lưu vực phải yêu cầu được cung cấp các số liệu cơ bản này, đặc biệt để có thể quản lý những tình huống cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu.   Xây dựng được cơ sở dữ liệu đầy đủ, liên tục được bổ sung, tin học hóa, và được chia sẻ cho cộng đồng khoa học cũng là phục vụ cho ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và cho sự phát triển bền vững đất nước.    * GS. TSKH, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Chương trình nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long”.  Chú thích:   1. 8 đập được Ủy hội sông Mekong nêu tên là Xiaowan, Manwan, Dachaoshan, Nuozhadu, Jinghong, Gongguoqiao (đã đi vào hoạt động), và Galanba, và Mengsong. 11 đập khác trên thượng lưu vực là Miaowei, Huangdeng, Tuoba, Lidi, Wunonglong, Jiabi, Gushui, Guxue, Rumei, Kamadu và Jinhe.   2. Colin Thorne, George Annandale and Jorgen Jensen et al. 2011, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.   3. Theo thứ tự từ thượng nguồn ra biển: Pak Beng, Luang Prabang, Xayaburi, Paklay, Sanakham, Sangthong-Pakchom, Bankoum, Latsua, Don Sahong, StungTreng, Sambor.  4. Nguyễn Ngọc Trân (2014), Biến động ở giao điểm ba sông Mekong, Tonle Sap và Bassac, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=7209   5. G. Brunier, Evolution de la morphologie des chenaux fluviaux du Mékong dans le delta: fonctionnement naturel ou perturbé? Mémoire de Mastère en Environnement Terrestre, Université Aix Marseille, 2012.   6. J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.   7. Assessment of apparent land loss in the province of Ca Mau, Vietnam, Phase 1 Report 2012, Norwegian Geotechnical Institute, Communication at the Workshop “Outcome of Research Project Phase 1 Assessment Land Loss in Ca Mau”, Can Tho, 17.06.2013    8.  Laura E Erban et al 2014, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta, Vietnam, Environ. Res. Lett. 9 084010 doi:10.1088/1748-9326/9/8/084010.   9. Nguyễn Ngọc Trân, The Vietnamese Mekong Delta facing the double Challenge of the Climate Change, in Proceedings of the 78th Annual Meeting, International Symposium of the International Commission on Large Dams, Hà Nội 25/5/2010.   10. Nguyễn Ngọc Trân (2014), Bến Tre, nước biển dâng và nguy cơ bị lún chìm dần và xâm thực,  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8218  11.  http://www.epa.gov/athens/wwqtsc/index.html                Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần phát triển khoa học thống kê      Nói đến hai chữ “thống kê” có lẽ nhiều người nghĩ ngay đến những hoạt động mang tính “truyền thống” dưới hình thức như cân, đo, đong, đếm. Ngày xưa ở Âu Châu, giới vua chúa, tu sĩ và các gia đình hoàng tộc sử dụng thống kê như là một công cụ quản lí tài sản, đất đai, nhân sự và dân số. Trong xã hội hiện đại, chính quyền cũng sử dụng thống kê như là một phương tiện quản lí kinh tế – xã hội.    Bất cứ chính quyền nào cũng có các cơ quan thống kê chuyên thu thập và xử lí các thông tin về dân số, giáo dục, tình hình phát triển kinh tế…  Nhà nước dựa vào những thông tin đó để vạch ra chính sách.  Không có thông tin thống kê, nhà nước như người mù và điếc. Chính vì thế mà Lenin từng ví von rằng thống kê là tai, là mắt của nhà nước.  Khoa học thống kê  Nhưng bộ môn thống kê mà tôi muốn bàn ở đây không phải là các hoạt động truyền thống như mô tả trên, mà là khoa học thống kê (statistical science), tức là một bộ môn khoa học thực nghiệm: phát triển giả thiết khoa học, tiến hành thí nghiệm, phân tích dữ liệu, và diễn dịch dữ liệu. Có người thường nghĩ rằng thống kê là một công cụ của khoa học, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm đó không chính xác, vì trong thực tế, nhà thống kê học là không chỉ là người đơn thuần làm phân tích dữ liệu, mà là một nhà khoa học, một nhà suy nghĩ (“thinker”) về nghiên cứu khoa học.   Khoa học thống kê đóng một vai trò cực kì quan trọng, một vai trò không thể thiếu được trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm như y khoa, sinh học, nông nghiệp, hóa học, và ngay cả xã hội học. Thí nghiệm dựa vào các phương pháp thống kê học có thể cung cấp cho khoa học những câu trả lời khách quan nhất cho những vấn đề khó khăn nhất.  Làm sao chúng ta biết phẫu thuật A có hiệu quả tốt hơn phẫu thuật B? Làm sao chúng ta biết aspirin có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân? Trong số 25 ngàn gen trong cơ thể con người, gen nào có khả năng gây ra ung thư, tiểu đường, loãng xương?  Làm sao chúng ta biết một giống lúa mới có sản lượng cao hơn giống lúa cũ?  Làm sao chúng ta biết được quá trình học vấn ở cấp phổ thông có ảnh hưởng đến kết quả học tập ở bậc đại học? Tại sao học sinh tiểu học ở nông thôn hay bỏ học? Làm sao chúng ta biết những đặc tính nào của cà phê được người tiêu thụ ưa chuộng, và có sự khác biệt về sở thích giữa nam và nữ hay không? Một số du khách vào Việt Nam có xu hướng “một đi không trở lại”, vậy yếu tố nào đã làm cho họ có xu hướng đó? Làm sao chúng ta biết người dân ủng hộ chính sách A mà không là chính sách B?… Đó là những vấn đề mà thống kê học có thể cung cấp câu trả lời khách quan và đáng tin cậy nhất.   Chẳng hạn như vấn đề bệnh teo cơ delta (có khi gọi là bệnh “chim sệ cánh”) mà ngành y tế nước ta đang đương đầu hiện nay. Cho đến nay dù đã xảy ra hơn 2000 trường hợp trên toàn quốc, mà các chuyên gia vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân hay các yếu tố nguy cơ nào gây nên bệnh! Chính vì không có dữ liệu trong tay, cho nên có khá nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành đề xuất nhiều yếu tố nguy cơ dựa vào những phát biểu cá nhân và chung chung như “theo ý kiến của tôi”, hay “qua kinh nghiệm 50 năm hành nghề của tôi”, hay “tôi nghĩ rằng”. Nhưng trong khoa học, không có cái gọi là “theo ý kiến của tôi” hay “theo kinh nghiệm của tôi”, vì khoa học dựa vào dữ liệu thực tế được quan sát và đo lường chính xác (hay ít ra là khá chính xác) để phát hiện một yếu tố nguy cơ cho bệnh tật, hay nói chung là để phát biểu một định đề. Và, để có những dữ liệu đó, nhà khoa học phải tiến hành thí nghiệm. Một thí nghiệm khoa học được bắt đầu bằng một ý tưởng, một giả thiết, và để thử nghiệm giả thiết đó, một qui trình khảo sát phải được tiến hành theo các bước chung như: thiết kế, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, và diễn dịch ý nghĩa của dữ liệu. Mỗi một bước trong qui trình đó đều có sự cống hiến quan trọng của thống kê học.  Trong khoa học thống kê, có hai trường phái “cạnh tranh” song song với nhau, đó là trường phái tần số (frequentist school) và trường phái Bayes (Bayesian school). Phần lớn các phương pháp thống kê đang sử dụng ngày nay được phát triển từ trường phái tần số, nhưng hiện nay, trường phái Bayes đang trên đà “chinh phục” khoa học bằng một suy nghĩ “mới” về khoa học và suy luận khoa học. Phương pháp thống kê thuộc trường phái tần số thường đơn giản hơn các phương pháp thuộc trường phái Bayes. Có người từng ví von rằng những ai làm thống kê theo trường phái Bayes là những thiên tài!   Để hiểu sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái này, có lẽ cần phải nói đôi qua vài dòng về triết lí khoa học thống kê bằng một ví dụ về nghiên cứu y khoa. Để biết hai thuật điều trị có hiệu quả giống nhau hay không, nhà nghiên cứu phải thu thập dữ liệu trong hai nhóm bệnh nhân (một nhóm được điều trị bằng phương pháp A, và một nhóm được điều trị bằng phương pháp B). Trường phái tần số đặt câu hỏi rằng “nếu hai thuật điều trị có hiệu quả như nhau, xác suất mà dữ liệu quan sát là bao nhiêu?”, nhưng trường phái Bayes hỏi khác: “Với dữ liệu quan sát được, xác suất mà thuật điều trị A có hiệu quả cao hơn thuật điều trị B là bao nhiêu?”. Tuy hai cách hỏi thoạt đầu mới đọc qua thì chẳng có gì khác nhau, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ thấy đó là sự khác biệt mang tính triết lí khoa học và ý nghĩa của nó rất quan trọng. Đối với người bác sĩ (hay nhà khoa học nói chung), suy luận theo trường phái Bayes là rất tự nhiên, rất hợp với thực tế. Trong y khoa lâm sàng, người bác sĩ phải sử dụng kết quả xét nghiệm để phán đoán bệnh nhân mắc hay không mắc ung thư (cũng giống như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta phải sử dụng số liệu để suy luận về khả năng của một giả thiết).   Khoa học thống kê ở Việt Nam  Trong vòng trên dưới 100 năm qua, thống kê học đã nhanh chóng tiến vào tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, và trong quá trình chinh phục, thống kê học tạo nên những bộ môn nghiên cứu mới. Các bộ môn đó có thể kể đến như biometry (sinh trắc học), technometrics (kĩ thuật trắc học), bioinformatics (thông tin học), psychometry (tâm lí trắc học), anthropometry (nhân trắc học)… Thật vậy, khoa học thống kê đã chi phối đến tất cả các bộ môn khoa học, và ảnh hưởng của các nhà thống kê đã lan tràn đến mọi bộ môn khoa học với sự chinh phục nhanh chóng sánh ngang hàng với Attila, Mohammed, và loài bọ Colorado” (“Statisticians have already over-run every branch of science with a rapidity of conquest rivalled by Attila, Mohammed, and the Colorado beetle” (Maurice Kendall, 1942)).  Tuy khoa học thống kê đã góp phần tạo nên diện mạo khoa học hiện đại ngày nay, nhưng ở nước ta, khoa học thống kê còn rất kém. Trong khi bất cứ đại học nào ở các nước tiên tiến đều có một bộ môn thống kê học, một bộ môn chuyên cung cấp tư vấn về thống kê học cho các nhà khoa học thực nghiệm, thì ở nước ta, các bộ môn khoa học vẫn còn giới hạn ở khoa toán, và chỉ xoay quanh một vài vấn đề căn bản thống kê.     Sự “lạc hậu” về khoa học thống kê ở nước ta đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khoa học nước nhà.  Vì các bộ môn khoa học thực nghiệm ở nước ta chưa được sự hỗ trợ từ khoa học thống kê, cho nên rất nhiều nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa có chất lượng cao, và chưa thể công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Người viết bài này biết rất nhiều trường hợp nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chỉ vì không được thiết kế đúng phương pháp, hay việc phân tích dữ liệu chưa đúng tiêu chuẩn khoa học nên bị các tập san khoa học từ chối công bố. Hệ quả là sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Chỉ tính trong ngành y sinh học mà thôi, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300. Con số này cực kì khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore.  Như đã đề cập phần trên, một công trình nghiên cứu dù có tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu năm tháng, mà không được thiết kế đúng và không được phân tích đúng phương pháp thì không thể xem là “khoa học”.  Muốn thiết kế nghiên cứu đúng và phân tích dữ liệu đúng tiêu chuẩn, cần phải có sự đóng góp của khoa học thống kê và nhà thống kê học. Nhưng Việt Nam thiếu các nhà khoa học thống kê. Tuy nước ta có một viện toán học bề thế và có uy tín trên trường quốc tế, thì những môn học thiết thực nhất và căn bản nhất về thống kê ứng dụng lại nhờ các chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy ngắn hạn. Mấy năm gần đây, trong quá trình hội nhập với thế giới, chúng ta phát hiện rằng khoa học nước ta còn kém về thống kê ứng dụng, và các cơ quan tài trợ học bổng phải gửi sinh viên ta đi học ở nước ngoài, kể cả… Thái Lan!  Do đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta, một chiến lược quan trọng cần đặt ra là phát triển khoa học thống kê trong các trường đại học. Chúng ta cần rất nhiều nhà khoa học thống kê trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào. Ở nước ta, để phát triển khoa học nói chung và công nghệ sinh học nói riêng, chúng ta cần một đội ngũ nhà khoa học thống kê hơn là cần một đội ngũ nhà toán học. Người viết bài này tin rằng cùng với thế mạnh của toán học Việt Nam hiện nay, đội ngũ các nhà khoa học thống kê gốc Việt ở nước ngoài có thể và có khả năng đóng góp một phần công sức cho chiến lược phát triển khoa học nước nhà.  Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần quy hoạch lại diện tích trồng lúa và diện tích canh tác, nuôi trồng giống cây, vật nuôi phù hợp      Trước thực trạng đồng bằng sông Cửu Long  đang đối mặt với đợt hạn và mặn lịch sử trong vòng 100 năm qua, nhiều  câu hỏi đặt ra về việc ngành khoa học sẽ vào cuộc như thế nào để giúp  người dân “sống chung với mặn.”  Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đã có cuộc trao đổi với báo chí về vấn đề này.    – Thưa Bộ trưởng, trước tình trạng biến đổi khí hậu, xâm ngập mặn diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Theo Bộ trưởng, để chống ngập mặn, chúng ta phải làm gì?  Một là chúng ta phải nghiên cứu những giống cây chịu mặn cho năng suất và chất lượng tốt và thực tế, tại Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu được giống lúa chịu mặn, năng suất cao nhưng chất lượng của loại gạo này lại có vấn đề. Tuy nhiên, đây cũng là giải pháp sau này chúng ta có thể phát triển để đảm bảo an ninh lương thực.  Hướng thứ hai là cần quy hoạch lại diện tích để những đất trồng lúa tốt thì giữ cho mặn không xâm nhập. Còn những vùng đất đã bị nhập mặn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ đưa giống cây, vật nuôi phù hợp.  Về thủy lợi, ngoài biện pháp làm đê ngăn mặn, tạm thời chúng ta có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu của ngành thủy lợi về đập sà lan. Khi mực nước xuống thấp thì dùng đập chắn để dâng cao mực nước ngọt. Như vậy có thể giảm bớt việc xâm ngập mặn và giữ được nước ngọt cho cây lúa.  Tuy nhiên, đây là giải pháp tạm thời và phải nghiên cứu để đảm bảo nước ngọt cho cả vùng đồng bằng rộng lớn, chống xói lở khi phù sa không về.  – Với tình hình biến đổi khí hậu, có ý kiến cho rằng nên sử dụng cây trồng biến đổi gene. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này thế nào?  Ở Việt Nam, nghiên cứu cây trồng biến đổi gene không phải là ít và cũng không mới.  Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học có 2 quan điểm trái ngược. Một là mong muốn phát triển loại cây trồng này để thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh… Ở chiều ngược lại, người ta cho rằng cây trồng biến đổi gene vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Ngay cả nghiên cứu khoa học của thế giới cũng chưa có ai khẳng định tác hại về lâu dài của công nghệ này thế nào.  Hiện, có nhiều quốc gia trên thế giới cấm, nhưng cũng có những nước khác lại ủng hộ, phát triển mạnh loại cây trồng này. Hiện, có nhiều công trình nghiên cứu, giống cây biến đổi gene tại Việt Nam, có giống cây do Việt Nam tạo ra nhưng đưa nó trở thành cây trồng chính trên diện tích rộng thì phải rất cẩn trọng.   Thưa Bộ trưởng, về việc giúp nông dân chống hạn, mặn, Bộ Khoa học và Công nghệ có chỉ đạo gì cho các đơn vị trực thuộc tập trung vào nghiên cứu, giải quyết vấn đề này?  Thực ra các đơn vị nghiên cứu không trực thuộc Bộ KH&CN nên chúng tôi không chỉ đạo trực tiếp. Tuy nhiên, qua làm việc với các đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài Nguyên và Môi trường…, chúng tôi đưa ra khuyến cáo. Từ đó, các cơ quan này sẽ đưa ra định hướng để các đơn vị, tập đoàn tập trung nghiên cứu định hướng mà chúng tôi khuyến cáo.  Về phía mình, chúng tôi lo bố trí kinh phí và tìm cách phối hợp các đơn vị nghiên cứu của các bộ ngành với nhau để các kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng một cách hiệu quả hơn.  – Xin cảm ơn Bộ trưởng!   Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/phai-nghien-cuu-giong-cay-chiu-man-cho-dong-bang-song-cuu-long/378472.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thành lập Ban Cố vấn Khoa học của Thủ tướng      Nhân dịp về nước tham dự Ban giám khảo cuộc thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 48, GS.Đàm Thanh Sơn-Đại học Washington, Mỹ đã đến thăm tòa soạn Tia Sáng. Nhỏ nhẹ, điềm đạm nhưng thật cởi mở, thẳng thắn và sâu sắc, GS đã chia sẻ với phóng viên Tia Sáng những ưu tư trăn trở và kiến nghị của mình về sự phát triển KH và GD của đất nước.    Với những cơ chế thông thoáng theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà khoa học, trong đó có Nghị định 115, được coi là “khoán 10” trong hoạt động KH&CN và nhiều chính sách ưu đãi khác do Bộ KH&CN trình Chính phủ ban hành trong những năm gần đây, GS có thấy được những chuyển biến tích cực trong hoạt động KH&CN?  Cảm giác chủ quan của tôi là khoa học và công nghệ ở Việt Nam phát triển chậm hơn nhiều so với sự phát triển kinh tế. Mặc dù cơ sở vật chất của các cơ quan nghiên cứu khoa học có thể khang trang hơn, các phòng máy tính có thể hiện đại hơn… nhưng số lượng các công trình nghiên cứu của Việt Nam được công bố trên các tạp chí quốc tế là một đại lượng vô cùng bé. Theo một thống kê tôi nhìn thấy thì số bài báo đăng trong năm 2006 trên các tạp chí quốc tế từ ĐHQG Hà Nội chưa bằng một phần trăm của Đại học Quốc gia Singapore (34 so với 3700).  Tại cuộc họp của Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia, một vị TS “trách” dư luận xã hội thiếu công tâm khi cho rằng hiệu quả hoạt động KHCN của ta thấp, lãng phí tiền của. Trong khi đó nhiều thành quả nghiên cứu của chúng ta lại được các nhà khoa học nước ngoài “rất ca ngợi”. Một vị GS. TSKH khác thì khẳng định là rất nhiều bài báo khoa học ở các tạp chí trong nước có chất lượng cao, nếu dịch ra tiếng nước ngoài thì đều có thể công bố quốc tế! Đó là hai ví dụ trong nhiều ví dụ có thể kể ra, chứng tỏ không như GS, nhiều nhà quản lý khoa học lại nhận định khá “lạc quan”?  Nếu quả thật các thành quả nghiên cứu của chúng ta được nước ngoài ca ngợi thì điều đó phải được phản ánh qua thống kê về số lần các bài báo từ Vịệt Nam được trích dẫn. Nếu quả thật có những công trình nếu dịch ra tiếng nước ngoài có thể được công bố trên các tạp chí quốc tế thì ta nên làm ngay việc dịch này. Chỉ trên cơ sở những thông tin hiện nay thì khó có thể đánh giá lạc quan về tình trạng KH&CN của nước ta.  Vậy, theo GS làm thế nào để có thể thay đổi thực trạng đó?  Việc đề ra các giải pháp để phát triển KHCN của nước ta không thể thực hiện được trong khuôn khổ một bài báo, mà phải thực hiện trên cơ sở một nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng có một điều chắc chắn là việc phát triển khoa học phải gắn liền với việc nâng cấp giáo dục đại học, trong đó có việc xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế.  Có nhiều ý kiến khác nhau về tính khả thi của mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ có một trường đại học lọt vào top 200 mà  Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đưa ra. Ý kiến của GS?  Tôi chưa thể bình luận gì vì chưa được biết Chính phủ sẽ có những giải pháp gì để mục tiêu đó thành hiện thực.  Ta nên hiểu rằng không phải cứ có kinh tế mạnh thì tự khắc sẽ có những trường đại học tốt. Nhiều nước có nền kinh tế mạnh hơn Việt Nam nhưng vẫn không có được một trường đại học tốt, ví dụ như các nước láng giềng của ta trong ASEAN (trừ Singapore). Tuy vậy, ta phải chú ý rằng các “con rồng” châu Á đều là những nước có nền giáo dục tốt.  Các chuyên gia về giáo dục mà tôi đã tiếp xúc cho rằng, để xây dựng một trường đại học có khả năng cạnh tranh quốc tể ở Việt Nam, điều quan trọng nhất không phải là tiền, mà là làm sao có được một cơ chế quản lý đúng ngay từ đầu. Các trường đại học thành công trên thế giới đều tuân thủ một số nguyên tắc nhất định:  Tự chủ: Trường đại học phải được tự chủ trong các lĩnh vực như quản lý, tuyển giáo sư, tuyển sinh viên, đặt chương trình giảng dạy, nghiên cứu. Ban lãnh đạo của trường có quyền lực rộng rãi, chịu trách nhiệm về công việc của mình, nhưng không bị quản lý chi tiết trong công việc hàng ngày.  Dựa vào tài năng: Các giáo sư trong trường được tuyển chọn và trả lương theo tài năng. Các giáo sư có thực quyền trong trường. Việc người giỏi được trả lương cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều, so với những người khác phải là nguyên tắc.  Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu: Trường đại học phải vừa là cơ sở đào tạo, vừa là trung tâm nghiên cứu.  Tự do học thuật: Các giáo sư, từng cá nhân hoặc qua tập thể, quyết định cách giảng dạy tốt nhất cho các môn học. Họ được tự do nghiên cứu.  Như vậy phải chăng chưa có một trường đại học nào của Việt Nam đạt tất cả các tiêu chuẩn trên. Ví dụ không trường nào tự tuyển sinh theo tiêu chuẩn của mình?  Đúng vậy. Nhưng đó cũng chỉ là một vấn đề nhỏ trong rất nhiều vấn đề khác, mà, theo tôi, nổi bật nhất (cũng là  khó khăn nhất trong cơ chế GD-ĐT hiện nay) là việc tài năng không cảm thấy được đãi ngộ đúng đắn và có điều kiện phát triển.  Không ít người cho rằng trong bối cảnh hiện nay của nước ta, để KHCN sớm thực sự trở thành động lực của sự phát triển, chúng ta cần tập trung nguồn lực vào các nghiên cứu ứng dụng. Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là việc làm xa xỉ?  Phải nhấn mạnh một điều rằng không có khoa học cơ bản thì không thể có công nghệ mới. Tôi xin minh họa cho nhận định này qua ví dụ về nghiên cứu công nghệ nano ở các trường đại học ở Mỹ. Rất nhiều trường ở Mỹ có trung tâm nghiên cứu công nghệ nano (trường của tôi cũng có một trung tâm này, nhưng hoạt động chưa thật sự thành công). Những nhà nghiên cứu chính trong các trung tâm này đều lấy ở các khoa có sẵn, như khoa vật lý (chủ yếu từ ngành vật lý chất rắn), khoa hóa học, khoa kỹ thuật cơ khí, khoa sinh vật, và một số khoa khác. Như vậy mỗi trung tâm nghiên cứu này không phải một khoa riêng biệt, mà là một tổ chức lập ra để lôi kéo các nhà nghiên cứu cơ bản ở các khoa khác nhau hợp tác làm chung một vấn đề công nghệ ứng dụng.  Thực ra hiện nay, ranh giới giữa khoa học cơ bản và ứng dụng thì tuỳ ngành. Có ngành thì ranh giới rất rõ ràng, có những ngành thì các nghiên cứu cơ bản có thể được ứng dụng rất nhanh chóng. Chẳng hạn trong ngành vật lý hạt cơ bản thì các nghiên cứu cơ bản đi xa ứng dụng rất nhiều, trong khi trong một số hướng của ngành sinh vật học thì nghiên cứu cơ bản và ứng dụng lại rất gần gũi.  Vì vậy, không nên đặt vấn đề ưu tiên lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng mà điều quan trọng hơn hết là chọn hướng đi nào cho sự phát triển KHCN thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.  Vậy theo GS, chúng ta nên chọn hướng đi nào?  Đã có nhiều ý kiến bàn về vấn đề hết sức hệ trọng này. Ở đây tôi chỉ muốn đưa ra một ý kiến là, việc vạch định ra phương hướng phát triển khoa học là một vấn đề đòi hỏi một tầm nhìn xa trông rộng mà phải các nhà khoa học lớn mới có được. Do vậy, Chính phủ nên lập một ban cố vấn về khoa học của Thủ tướng, bao gồm các nhà khoa học có uy tín trên thế giới, cộng với một số các nhà khoa học trong nước, để vạch định ra đường lối chính sách khoa học của Việt Nam. Thậm chí có thể để các nhà khoa học ở nước ngoài chiếm đa số trong ban này. Ở Việt Nam hiện có một nhà khoa học nổi tiếng thế giới là GS Pierre Darriulat. Thật đáng tiếc là các ý kiến của ông ta không được mấy người chú ý tới. Tôi chắc là nếu Hàn Quốc hay Đài Loan có một nhà khoa học như vậy ở nước họ thì người này sẽ thường xuyên được mời ra cố vấn về các vấn đề chiến lược.  Khi Trung Quốc bắt đầu cải tổ, họ chủ động tìm đến các giáo sư gốc Hoa ở Mỹ là T.D. Lee và C.N. Yang (giải Nobel về Vật lý) để cố vấn cho họ. Một đồng nghiệp của tôi, cùng làm việc với giáo sư T.D. Lee, kể rằng (tôi không được chứng kiến) nhiều lần có các quan chức Trung Quốc, mặc com-lê, xách cặp, đúng giờ thì đi vào trong phòng làm việc của giáo sư T.D. Lee ở trường Columbia, hết giờ thì lại đi ra. GS T.D. Lee và C.N.Yang có “đường dây nóng” đến Đặng Tiểu Bình. Chính quyền Trung Quốc đã phải tự chủ động xin ý kiến các giáo sư này.  Chẳng lẽ GS không biết, gần chục năm nay, để tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về khoa học chúng ta đã có Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia với những thành viên “là những nhà khoa học lớn” (theo tin một số báo)?  Ý kiến của tôi là ban cố vấn phải gồm các nhà khoa học có uy tín trên thế giới. Ở các nước phát triển, thông thường thành viên của Ban cố vấn này hoạt động độc lập. Họ không đại diện cho ai, cho một tổ chức nào; không là cấp dưới và cũng không là cấp trên của ai. Họ trực tiếp tư vấn cho Thủ tướng những vấn đề Thủ tướng đề nghị, yêu cầu, không qua trung gian.  Trong mô hình phát triển KHCN của các nước phương Tây, của Nhật, Hàn Quốc, Singgapore… mô hình nào theo GS chúng ta có thể học tập, vận dụng?  Vấn đề thiết yếu hiện nay không phải là chọn mô hình phát triển KHCN của một nước nào đó để học tập, noi theo. Sự lựa chọn này không có ý nghĩa vì Việt Nam chưa thể áp dụng mô hình đó  trong khuôn khổ tổ chức hoạt động KHCN như hiện nay. Vấn đề cấp thiết nhất (và khó nhất) là làm thế nào đổi mới được cơ chế quản lý giáo dục, KHCN theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.  Đã đến lúc việc học hỏi kinh nghiệm các nước để tiến dần đến, thay vì tách xa ra, các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đó là tiền đề tối quan trọng để thành công trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập vì trong nghiên cứu khoa học, hơn bao giờ hết, biệt lập và đứng ngoài trào lưu chung là con đường tụt hậu nhanh nhất, đối với từng cá nhân cũng như đối với cả cộng đồng – GS. Hoàng Tụy.                     GS.Đàm Thanh Sơn, Huy chương vàng Olympic toán quốc tế năm 1984 khi mới 15 tuổi. Khác với đại đa số các anh chị trước đó, anh chọn vật lý làm nghề của mình. Tốt nghiệp ĐHTH Matxcơva năm 1991 và bảo vệ TS vật lý năm 1995. Từ năm 1995, anh làm việc ở Mỹ. Hiện nay anh là giáo sư tại Đại học Washington ở Seattle, Mỹ. Anh nghiên cứu về vật lý lý thuyết. Anh đã công bố trên 60 bài báo trên các tạp chí quốc tế có uy tín về vật lý.  Văn Thành (thực hiện)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Càng bị côn trùng đốt, hệ miễn dịch càng tốt?      Bị côn trùng đốt nhiều chưa hẳn đã xấu. Nước bọt của chúng có thể bảo vệ con người trước những bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng mà chúng mang theo.    Thậm chí, các nhà khoa học đã tính tới việc phân lập thứ nước bọt có khả năng bảo vệ này để tăng cường sức mạnh của hệ miễn dịch trước những bệnh như sốt rét hoặc các bệnh chết người khác.  Viễn cảnh này được đưa ra sau khi một nghiên cứu mới đây trên chuột cho thấy nước bọt của muỗi có thể giúp con người chống lại bệnh sốt rét.  Giới khoa học từ lâu đã nhận thấy người dân ở những vùng mà các bệnh do ký sinh trùng (sống trên côn trùng) hoành hành như châu Phi và Trung Đông có khả năng chống chọi tốt hơn với bệnh truyền nhiễm so với dân ở các vùng khác trên thế giới.  Có ý kiến cho rằng khả năng tự vệ này là do cơ thể đã “dạn dày” với ký sinh trùng trong đời. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây cho thấy dường như chính sự tiếp xúc với nước bọt của các con côn trùng lành (không mang ký sinh trùng) mới giúp tăng sức đề kháng của hệ miễn dịch.  “Ở một số vùng, người ta có thể bị hàng nghìn con muỗi đốt mỗi ngày”, Mary Ann McDowell, một nhà miễn dịch học ký sinh trùng tại Đại học Notre Dame ở bang Indiana, Mỹ, cho biết. “Như thế, họ nhận được rất nhiều nước bọt của muỗi”.  Nhóm của McDowell đã cho những con chuột tiếp xúc với muỗi mang ký sinh trùng sốt rét. Tuy nhiên, một số con trước đó đã bị những con muỗi lành (không mang ký sinh trùng) cắn.  Kết quả là, nhóm chuột từng tiếp xúc với nước bọt của muỗi lành có hàm lượng ký sinh trùng trong máu và gan thấp hơn. Đó là bởi thứ nước bọt này đã kích thích hệ miễn dịch tiết ra các hóa chất chống nhiễm trùng.  Nhóm nghiên cứu của McDowell đang tìm hiểu xem có thể tìm kiếm một thứ văcxin sốt rét cho người từ nước bọt muỗi hay không.  T. An (theo Discovery)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Càng nghèo càng thích may rủi      Theo một nghiên cứu của ĐH Carnegie Mellon, ở Pittsburgh, những người có thu nhập thấp thích chơi hơn những người có thu nhập cao hơn ở thành phố, một hành động góp phần làm họ ngày càng nghèo đi thay vì giàu lên.      Trong Journal of Behavioral Decision Making, các nhà nghiên cứu mô tả một loạt các thí nghiệm nhằm giải thích hiện tượng này. Theo họ, sự nghèo khó đóng vai trò trung tâm trong quyết định chơi lôtô hay xổ số. Trên thực tế, chính cảm giác nghèo đã thúc đẩy người ta tham gia trò chơi. Những người nghèo chơi xổ số thường coi trò may rủi này là cơ hội tốt nhất để thay đổi nhanh chóng cuộc đời. Trong các thí nghiệm, các nhà khoa học Mỹ đã tác động đến những người chơi để một nhóm có cảm giác giàu và nhóm kia nghèo và đã quan sát được những khác biệt lớn. Thật vậy, nhóm “nghèo” đã mua nhiều xổ số hơn gấp gần hai lần nhóm “giàu”  (1.27 so với 0.67 trung bình).    Theo Nouvel obs      Author                Quản trị        
__label__tiasang Căng thẳng, cô độc và bực bội – sức chịu đựng của trái tim chúng ta đến đâu?      Stress, sự bực bội và suy nghĩ tiêu cực làm tổn hại đến trái tim, còn cảm giác thoải mái, tích cực làm giảm nguy cơ xảy ra các cơn đau tim và rối loạn nhịp tim. Tuy nhiên không phải bất cứ gánh nặng nào cũng gây nguy hiểm cho trái tim. Nguy cơ còn lệ thuộc vào thái độ, lối sống và gene của mỗi người.      Người Nhật thậm chí đã phát minh ra một từ riêng để chỉ hiện tượng này: đó là  karoshi, khi áp lực công việc nặng nề khiến ai đó đến mức phải lìa đời. Khi người ta làm việc 80 giờ một tuần liên tục sẽ gây quá tải với trái tim, đặc biệt là khi công việc đó lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán. Ở Nhật, 25% lao động lâm vào tình trạng này.  Ở Đức mỗi năm có khoảng 65.000 ca đột tử vì bệnh tim mạch. Nguyên nhân thường là rối loạn nhịp tim đột ngột hoặc một cơn đau tim. Đã có thời những nhà quản lý bị chết do đột quỵ được tôn vinh là chái chết “anh hùng” thể hiện tinh thần hết lòng vì nhiệm vụ. May mắn thay giờ đây đã có sự thay đổi về sự đánh giá đối với cái chết này.   Mạch máu bị tắc nghẽn vì cuộc sống căng thẳng  Mạch máu có thể bị tắc nghẽn khi căng thẳng. Điều may mắn là điều ngược lại có thể xảy ra: cuộc sống thanh thản, thoải mái và lạc quan có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim. Thậm chí có thể làm cho các động mạch khỏe mạnh hơn.  Christoph Herrmann-Lingen, Giám đốc phòng khám Y học tâm lý và trị liệu tâm lý tại Đại học Goettingen đã chứng minh căng thẳng có thể tác động mạnh mẽ như thế nào đến tim. “Tôi rất phấn khích khi trình bầy bài giảng đẩu tiên của mình trước một cử tọa quan trọng, đây là một điển hình về stress”. Nhà nghiên cứu 63 tuổi cho biết, cách đây 17 năm khi trình bày bài giảng ông đã kết nối tim mình với thiết bị EKG và phát hiện ra ông phát hiện bị rối loạn nhịp tim. Điều chưa hề xẩy ra trước đó.  Hormone có thể kích thích tim quá mức  Khi căng thẳng hoặc phấn khích, não bộ sẽ làm cho cơ thể lâm vào tình trạng báo động. Nhịp tim cũng như huyết áp đều tăng lên, các chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể được huy động. Trái tim đôi khi bị kích thích quá mức bởi các dây thần kinh và hormone và có thể lâm vào tình trạng lỡ nhịp.  Trong những tháng sau vụ tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới, việc xem tin tức có thể gây ra chứng rối loạn nhịp tim ở một số người Mỹ mắc bệnh tim. Với những người phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự kiện này, những ký ức căng thẳng cũng có thể dẫn đến các bệnh tim khác và tăng huyết áp.  Theo Herrmann-Lingen, căng thẳng trở nên đặc biệt nguy hiểm nếu bạn không để cho tim được nghỉ ngơi lâu. Khi đó chỉ số huyết áp và nồng độ hormon vẫn ở mức cao nhất thúc đẩy quá trình vôi hóa mạch máu.  Nỗi cô đơn và sự tức giận thường xuyên làm tổn thương tim  Căng thẳng trong công việc có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch tới 40%. Sự cô đơn làm tăng lên 50%, tức giận thường xuyên làm tăng 20%. Khảo sát ở Phần Lam cho thấy những người tâm trạng cực kỳ bi quan có nguy cơ mắc các vấn đề về tim cao gấp đôi so với những người đồng hương của họ, những người sống lạc quan, yêu đời.  Những cảm giác tiêu cực cũng gián tiếp làm cho nguy cơ bị bệnh tim mạch tăng lên vì chúng có thể “lôi kéo” con người sống kém lành mạnh. Ví dụ như càng dành nhiều thì giờ cho công việc thì càng có ít thì giờ để vào bếp nấu các món ăn có lợi cho sức khỏe cũng như ít chịu tập thể dục, thể thao.   Nguy cơ đau tim giảm bao nhiêu tùy thuộc vào khuynh hướng của từng cá nhân đối với các vấn đề về tim. Song chuyên gia khoa tâm lý học Đại học Cologne cho rằng, nếu có chỉ số mỡ máu cực kỳ bất lợi vì lý do di truyền, thì ngay cả việc thực hiện một lối sống thích hợp nhất cũng sẽ chẳng có ích gì nếu không có các liệu pháp y tế tối ưu.  Cảm xúc tích cực có thể làm cho khí huyết lưu thông?  Trung bình, nguy cơ đau tim của những người lạc quan thấp hơn khoảng 30%. Những người muốn sống một cuộc sống có ý nghĩa hoặc hạnh phúc có thể giảm nguy cơ tim mạch từ 12% đến 17%. Khoa học vẫn chưa tìm ra chính xác nguyên nhân gì mang lại điều này. Những người vui vẻ, thoải mái và lạc quan chắc chắn được hưởng lợi từ việc họ ít phải dằn vặt bởi những cảm xúc tiêu cực có hại. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa chứng minh được rằng cảm giác tích cực có thể trực tiếp làm sạch động mạch vành, chuyên gia tâm lý Albus tại Đại học Cologne nhận xét.  Một vài năm trước các nhà khoa học tại đại học Cologne đã chỉ ra rằng những bệnh nhân tim chịu khó vận động nhiều hơn, ăn uống lành mạnh hơn và làm điều gì đó tốt cho tinh thần của họ thông qua các phương pháp thư giãn và trò chuyện không chỉ có mạch máu khỏe mạnh hơn so với những người cùng mắc bệnh, họ cũng ít bị các cơn đau tim hơn.  Sự hài lòng với cuộc sống sẽ tốt cho trái tim  Nếu chỉ đơn thuần có các hormon hạnh phúc không thôi thì chưa chắc có thể có  một trái tim lành mạnh. Điều quan trọng là người ta phải biết tận hưởng cuộc sống của mình như thế nào. Hạnh phúc theo chủ nghĩa hưởng thụ là sự gia tăng nội tiết tố cá nhân trong một thời gian ngắn, chẳng hạn như trải nghiệm của người ta trong một bữa tiệc tùng , khi người ta được ăn uống xả láng. Eudaemonic có tác dụng lâu dài hơn, đó là cảm giác hài lòng, mãn nguyện với cuộc sống mà mình cho là có ý nghĩa. Nếu ai đó được tiệc tùng nhậu nhẹt xả láng triền miên thì điều này không chắc sẽ làm cho tim mạch được khỏe mạnh. Cảm giác lạc quan và tính cộng đồng là điều mà eudaemonic mang lại và điều này có tác dụng tăng cường sức khỏe cho tim.  Căng thẳng tích cực có thể tăng cường sức khỏe  Nhưng cũng có một vấn đề khá phức tạp khi thực tế cho thấy một số người thậm chí còn cảm thấy hạnh phúc, thỏa mãn hơn khi họ gặp phải căng thẳng. Ví dụ vận động viên nhảy dù hoặc bác sỹ trực cấp cứu, khi chuẩn bị nhẩy dù hoặc thực hiện cấp cứu người bệnh nhịp tim và huyết áp của họ tăng mạnh; sự gia tăng nhịp tim và huyết áp, nhất là khi tập thể thao đều không  làm tổn thương tim mạch. Theo chuyên gia tâm lý, những căng thẳng dạng này ở một mức độ nhất định nó thậm chí có thể tăng cường sức khỏe.  Luôn cố gắng giảm bớt căng thẳng  Những người luôn đặt cho mình mục tiêu phải đạt được một kết quả hoàn hảo; phải làm hài lòng mọi  người; hoặc nhất thiết mình phải hơn mọi người, tất cả các mong muốn đó đều là gánh nặng về thể chất và tinh thần cho bản thân mình.  Lời khuyên của các thầy thuốc: Nếu bạn không thể giải tỏa căng thẳng cho bản thân, ít nhất bạn nên học cách đối phó với nó một cách lành mạnh hơn, lời khuyên sức khỏe số hai: Luôn cố gắng giảm bớt căng thẳng. Tập thể dục, giao du với bạn bè hoặc phát triển các sở thích cá nhân  đều có thể giúp người ta đối phó tốt hơn với sự căng thẳng. Và nếu tất cả những điều đó vẫn chưa đủ: thì đừng bỏ lỡ việc tìm kiếm sự giúp đỡ vào thời điểm thích hợp. Có thể là một bác sĩ, một nhà trị liệu tâm lý hoặc chỉ là một khóa đào tạo quản lý căng thẳng.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus234899072/Stress-und-Herz-So-laesst-sich-das-Herztod-Risiko-verringern.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo khả năng lan rộng của virus mới giống SARS ở Trung Quốc      Ác mộng sẽ trở lại? Đó là câu hỏi mà nhiều người đặt ra trong 10 ngày đầu tiên của năm 2020, sau khi một dạng viêm phổi mới xuất hiện ở Vũ Hán, một siêu đô thị ở miền Trung Trung Quốc. Cơn bùng phát này làm thức dậy ký ức về căn bệnh khủng khiếp SARS, một  căn bệnh xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 2002 và làm 8098 người tại 37 quốc gia bị ốm và chỉ bị dập tắt vào mùa hè năm 2003.        Chợ hải sản Hoa Nam, điểm xuất phát căn bệnh  bí hiểm này. Nguồn; Sciencemag  Giống như SARS, các trường hợp mắc căn bệnh ở Vũ Hán có mối liên hệ với một khu chợ bán các loài sinh vật sống, và căn bệnh này xuất hiện vì một loài virus thuộc gia đình coronavirus có mối liên hệ gần gũi với virus SARS. Và một lần nữa, lại hiếm hoi thông tin về căn bệnh này ở Trung Quốc.  Ngày nay, các chuyên gia sức khỏe toàn cầu dường như có chút thoải mái hơn trước đây. Chỉ một trong số 42 người lây nhiễm bị chết: một người đàn ông 61 tuổi có khối u ở bụng và gan mãn tính (tỷ lệ tử vong ở SARS là 9,6%). Không có bằng chứng nào cho thấy virus này có thể dễ dàng bị nhiễm từ người sang người, vốn là yếu tố có thể đưa một vấn đề sức khỏe ở cấp địa phương sang toàn cầu. Và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chia sẻ kết quả giải trình tự 6 hệ gene của virus chưa xác định tên này với thế giới.  Các nhà khoa học ở những người khác đều đã sử dụng dữ liệu này. WHO đã lập kế hoạch công bố càng sớm càng tốt một cuộc chẩn đoán virus mới này do Christian Drosten, một nhà virus học tại Bệnh viện trường đại học Charité ở Berlin, và những nhà nghiên cứu khác phát triển dựa trên kết qảu giải trình tự gene của các nhà nghiên cứu Trung quốc. Nó đã dò được các mảnh vỡ từ ba gene khác nhau trong con coronavirus mới cũng có trong virus SARS virus. “Chúng tôi muốn sử dụng SARS như một nền tảng bởi từng phòng thí nghiệm y tế công cộng đều có RNA của SARS như một công cụ kiểm soát dương tính, vì vậy, họ có thể khởi động chương trình này ngay lập tức”, Drosten nói và lưu ý không dò được SARS trên người trong 15 năm qua. Ralph Baric, một nhà nghiên cứu về coronavirus tại trường đại học North Carolina, Chapel Hill đang cố gắng tổng hợp virus sống từ dữ liệu bởi ông có thể nghiên cứu trên động vật và phát triển test kháng thể dễ thực hiện.  Dẫu vậy, còn có nhiều câu hỏi chưa dễ trả lời. Các nhà nghiên cứu không nhận diện được các loài động vật tại khu chợ chứa loài virus này. Khi nào nó xuất hiện và số lượng người thực sự bị nhiễm vẫn còn là một bí ẩn. Tuy vậy một trường hợp ở Thái Lan, được biết đến vào ngày 13/1/2020, một du khách bay từ Vũ Hán tới Bangkok, nạn nhân không hề tới chợ Vũ Hán tại tâm điểm dịch bệnh nhưng lại nhiễm ở một khu chợ bán động vật khác. WHO thông báo trường hợp này vào ngày 14/1/2020.    Trường hợp đầu tiên phát triển thành triệu chứng, vốn có thể gồm khó thở và sốt- vào ngày 8/12/2010. Giới chức đã phải đóng cửa chợ hải sản vào ngày tết dương lịch và không phát hiện thêm bệnh nhân nào ở Vũ Hán kể từ ngày 3/1/2020. Virus này cũng không được tìm thấy trong 763 trường hợp ở gần những người lây nhiễm, hay những y tá, bác sĩ, những người thường ốm trong dịp bùng phát bệnh tật nếu nó có thể truyền từ người sang người. “Đây là một cơn bùng phát bị giới hạn,” Xu Jianguo, người phụ trách một phòng thí nghiệm về bệnh lây nhiễm tại Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Trung Quốc và phụ trách một ủy ban đánh giá để tư vấn cho  chính phủ Trung Quốc, nói. “Nếu không có thêm bệnh nhân nào xuất hiện vào tuần tới thì có thể nói là nó đã kết thúc.”  Trong một thông báo ngày 12/1/2020, WHO “cam kết về chất lượng của cuộc điều tra bệnh dịch đang tiến hành và các biện pháp ứng phó đang hoàn thành ở Vũ Hán, đồng thời cam kết chia sẻ thông tin.”  Tuy nhiên vẫn còn những người khác chỉ trích cách thông tin được đưa ra. Thông tin về việc các nhà nghiên cứu phát hiện ra một loại coronavirus mới xuất hiện vào ngày 8/1/2020 trên The Wall Street Journal; Xu thông báo kết quả trên một kênh truyền hình trung ương nhiều giờ sau đó. “Thật không hay khi The Wall Street Journal tường thuật về một loại coronavirus giống SARS  trước chính quyền Trung Quốc,” Baric nói. Vào ngày 10/1/2020, Jeremy Farrar, một chuyên gia về dịch bệnh lây nhiễm và là người phụ trách Quỹ Wellcome Trust, đã viết lo ngại về tin đồn tài khoản Twitter của mình về việc chính phủ Trung quốc không chia sẻ “thông tin về sức khỏe công cộng” vì các nhà nghiên cứu Trung Quốc muốn xuất bản phát hiện của họ trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao.  12 giờ sau đó, nhà sinh học tiến hóa Edward Holmes của trường đại học Sydney công bố một trình tự gene “đầu tiên”của loài coronavirus mới trên virological.org, thay mặt một nhóm nghiên cứu do Zhang Yong-Zhen ở trường đại học Phúc Đán Thượng Hải dẫn dắt. Ngày tiếp theo, ba nhóm làm việc dưới sự quản lý của Hội đồng Y tế quốc gia Trung Quốc đã công bố 5 trình tự gene khác của virus này, được lấy từ những bệnh nhân khác nhau trên GISAID, một cơ sở dữ liệu chuyên để chia sẻ dữ liệu về các loài virus cúm.  Sáu trình tự gene này khác nhau chút ít, nhà sinh học tiến hóa Andrew Rambaut của trường đại học Edinburgh nói “nó phù hợp với một nguồn” – nghĩa là chúng dường như đến từ cùng đợt lây nhiễm, xuất phát từ các loài động vật ở Chợ hải sản Hoa Nam, nơi bán chim, rắn và thịt thỏ. (không loài coronaviruses nào từng được phát hiện ở cá). Nhưng sự thật là các trường hợp nhiễm bệnh trong vòng 1 tháng cho thấy nguồn này có hơn một nhóm các loài động vật ở một địa phương, Farrar nói: “Nó khiến tôi lo ngại bởi dẫu nguồn phơi nhiễm là gì thì nó đã tồn tại trong một thời gian dài.” Nhà vi trùng học Guan Yi của trường đại học Hong Kong đồng ý là cơn bùng phát ở Vũ Hán là do nhiều loại động vật lây cho người “một cách riêng rẽ và độc lập”.    Bất cứ loài vật nào phát tán virus tại khu vực này đều có thể xuất phát từ thiên nhiên. Nhiều loài coronavirus có từ loài dơi, và loài virus mới có nhiều điểm gần gũi với 4 loài virus trên dơi khi có các protein có khả năng lây nhiễm sang tế bào người. Rambaut cảnh báo còn có thể có những “vật chủ” khác trong tự nhiên. “Nó tương tự như virus trên dơi về hệ gene nhưng không nhiều nét tương đồng với các loài khác,” ông nói.    Farrar lưu ý rằng phần lớn các trường hợp được phát hiện đều nhẹ, vốn có ý nghĩa là trước khi các nhân viên y tế ghi nhận dịch bệnh bùng phát thì virus này có thể lây nhiễn cho nhiều người khác mà không biết. Điều này có thể khiến người ta kết luận là căn bệnh này không lây từ người sang người. Y tá và bác sĩ có thể bị nhiễm mà không ai nhận biết được, ông cho biết thêm: “Với một con coronavirus, tôi sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu như không thấy có sự lây nhiễm từ người sang người”. Dẫu vậy người ra đã phát hiện ra virus bằng việc dò nucleic acid của virus và sau khi bệnh nhân khỏi bệnh thì không phát hiện ra nucleic acid nữa. Hiện tại virus này đã bị cô lập, các nhà nghiên cứu có thể phát triển các thử nghiệm về kháng thể để nhận biết các dấu hiệu lây nhiễm trong quá khứ.  Farrar và đồng nghiệp lo ngại việc hàng triệu người di chuyển nhân dịp năm mới, bắt đầu vào ngày 25/1/2020 tới có thể sẽ làm lây lan virus này từ Vũ Hán, một điểm trung chuyển tới những thành phố khác, “với sự di chuyển của người, thực phẩm và động vật,” Farrar lo ngại dịch bệnh “sẽ sớm quay trở lại bất cứ lúc nào.”  Thanh Phương  dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/01/world-alert-potential-spread-new-sars-virus-found-china    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo nạn đói trên toàn thế giới      GS. Tyler Cowen của ĐH George Mason, Mỹ đưa ra những cảnh báo về an ninh lương thực toàn cầu.    Nông nghiệp vẫn bị lãng quên  Nạn hạn hán đẩy giá ngô lên cao đã cho thấy gần như chúng ta không có cách nào giải quyết vấn đề lương thực cho toàn cầu. Cơn bão giá lương thực lần thứ ba chỉ trong vòng 5 năm qua đã càng làm dấy lên nghi ngờ rằng liệu việc phát triển kinh tế rộng khắp toàn cầu có đem lại sự phát triển tương xứng về nông nghiệp hay không.  Cuộc cách mạng xanh đã bị chậm lại từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, và việc gia tăng sản lượng lương thực đã trở nên khó hơn, như tôi đã thảo luận trong cuốn sách “Một nhà kinh tế kiếm bữa ăn trưa” của mình. Hay một nghiên cứu mới đây của Dani Rodrik, giáo sư về kinh tế chính trị học toàn cầu tại ĐH Harvard đã chỉ ra rằng năng suất nông nghiệp là yếu tố khó lan truyền nhất từ quốc gia này sang quốc gia khác.  Dường như nông nghiệp là một trong những khu vực kinh tế bị lãng quên trong suốt hai thập kỷ vừa qua. Nghĩa là nạn đói đã được châm ngòi trở lại, như lời cảnh báo vừa qua của Ngân hàng Thế giới và các cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc.  Trong một nghiên cứu mới, giáo sư kinh tế học Michael Lipton tại ĐH Sussex, Anh đã đem tới một cái nhìn tỉnh táo về năng suất nông nghiệp châu Phi. Ông chỉ ra rằng Rwanda và Ghana đang gia tăng năng suất nông nghiệp nhưng hầu hết các quốc gia khác của lục địa này lại không làm được như vậy. Sản lượng và lượng calo bình quân đầu người hiện nay dường như không cao hơn so với đầu những năm 1960. Thách thức cho châu Phi là làm sao nuôi được dân số vẫn đang ngày càng tăng.  Một vấn đề lớn là giá phân bón ở châu Phi thường bằng 2 – 4 lần so với giá thế giới. Nói cách khác, khu vực cần phân bón nhất phải trả tiền nhiều nhất cho phân bón. Giá cao do phần lớn mạng lưới cơ sở hạ tầng và thương mại không thể phát triển đủ để tạo ra một thị trường cạnh tranh với chi phí thấp. Điều này sẽ còn tồi tệ hơn nữa nếu các vấn đề rắc rối từ kinh tế của Trung Quốc làm phân tán nguồn lực của nước này đầu tư vào đường xá và cảng biển ở Châu Phi.  Nghiêm trọng hơn, nhiều nước châu Phi thực thi những chính sách không có lợi cho nông nghiệp. Ví dụ, Malawi xuất khẩu ngô định kỳ và hạn chế nhập khẩu cũng như kiểm soát giá cả, khiến thị trường không thể vận hành lành mạnh. Các nhà đầu tư tích trữ ngô để dành khi khan hiếm có thể sẽ bị pháp luật trừng phạt. Tất cả những hạn chế này đối với các động lực của thị trường càng làm vấn đề nguồn cung lương thực thêm trầm trọng.  Trong khi đó, phần lớn tăng trưởng châu Phi đã xuất phát từ nguồn tài nguyên giàu có như dầu mỏ, kim cương, vàng hay các khoáng sản chiến lược. Nguồn tài nguyên này lại không tạo điều kiện để hỗ trợ nền dân chủ bền vững do có nhiều nhóm nhận đặc quyền từ nhà nước.  Những trở ngại như vậy là một thách thức cho tương lai của các nền kinh tế châu Phi.  Chúng ta phải làm gì?  Trước tiên, phải nâng tầm quan trọng của vấn đề lương thực trong chương trình nghị sự. Ở Mỹ, người ta không có nhận thức chiến lược về nông nghiệp toàn cầu và thường coi nông nghiệp là thứ yếu.  Thứ hai, Chính phủ Mỹ nên ngừng trợ cấp sản xuất nhiên liệu sinh học, chủ yếu là ethanol từ ngô. Hiện nay, khoảng 40% sản lượng ngô của Mỹ cung cấp cho nhiên liệu sinh học. Các chuyên gia chỉ trích khoản trợ cấp hằng năm cho nhiên liệu sinh học từ 2005 đã làm tăng giá lương thực, gây bất lợi cho việc sử dụng đất và ảnh hưởng tới tiền thuế. Khi tính toán các chi phí năng lượng của sản xuất nhiên liệu sinh học, người ta thấy thậm chí chính sách đó còn không giúp gì cho việc làm chậm quá trình biến đổi khí hậu.  Thu Quỳnh lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo về các tiểu hành tinh ở gần Trái Đất      Số lượng tiểu hành  tinh đường kính 10-50 m có khả năng va chạm Trái đất nhiều gấp 10 lần  con số trước đây các nhà khoa học đã dự kiến, một số bài viết trên Science và Nature mới đây cảnh báo.     Hai tạp chí Science (Mỹ) và Nature (Anh) số ra ngày 6 và 7/11 mới đây có đăng mấy bài viết công bố những số liệu chi tiết về vụ thiên thạch rơi xuống và nổ trên bầu trời vùng Chelyabinsk (Nga) ngày 15/2 năm nay. Đây là vụ tiểu hành tinh va chạm Trái đất lớn nhất kể từ vụ Tunguska ở Siberia năm 1908. Các tác giả cảnh báo: số lượng tiểu hành tinh đường kính 10-50 m có khả năng va chạm Trái đất nhiều gấp 10 lần con số trước đây các nhà khoa học đã dự kiến. Cho dù các tiểu hành tinh đó chưa thể mang lại tai họa hủy diệt Trái đất nhưng các quốc gia nên sớm xây dựng cơ chế khẩn cấp đề phòng tiểu hành tinh.  Tạp chí Science cho biết, một nhóm 59 nhà khoa học của chín nước đã đến khảo sát 50 làng ở vùng Chelyabinsk, nghiên cứu kỹ những video và ảnh do dân địa phương chụp dấu vết hành trình của tảng thiên thạch, họ đã phân tích kỹ các thiệt hại gây ra bởi vụ này. Sau khi đi vào khí quyển với vận tốc hơn 40 nghìn dặm/giờ, tiểu hành tinh ấy đã lần lượt nổ bốn lần. Tại độ cao 19 dặm so với mặt đất, nó bị đốt nóng, nổ và phát sáng. Người ở cách xa 62 dặm cảm thấy ánh sáng của vụ nổ ấy sáng hơn Mặt trời. Sóng xung kích (shockwave) do vụ nổ phát ra đủ để quật ngã những người đi dưới mặt đất. Các vụ nổ ấy có năng lượng hơn 500-600 kiloton thuốc nổ TNT, tương đương hơn 60 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima.   Tiểu hành tinh này có đường kính khoảng 19m, nặng 12-13 nghìn tấn. Ba phần tư vật chất của nó đã bốc hơi trong khí quyển, hầu hết phần còn lại tan thành bụi, vì thế các mảnh thiên thạch còn sót lại rơi xuống mặt đất không gây thiệt hại lớn. Thiệt hại lớn nhất là do các vụ nổ không khí (air blast) gây ra, làm cho hơn 1.000 người bị thương. Tảng thiên thạch còn lại cuối cùng rơi xuống đất nặng chừng 4-6 tấn. Mảnh vụn nặng nhất khoảng 650 kg. Tiểu hành tinh đó thuộc loại thiên thạch hình cầu thông thường nhất, hình thành cách đây 4,4 tỷ năm.  Hai bài báo đăng trên Nature phát hiện: Đối với những người quan sát trên mặt đất, quả cầu lửa hình thành khi tiểu hành tinh nổ lúc sáng nhất có độ sáng cao gấp hơn 30 lần ánh sáng Mặt Trời. Tại nơi cách điểm sáng nhất của quả cầu lửa 30 km, phản xạ trên cánh đồng tuyết của luồng tia cực tím do quả cầu lửa phát ra đã làm tăng thiệt hại cho con người như gây bỏng da, làm rách da. Trong vòng 100 km ở hai bên quỹ tích tiểu hành tinh có thể cảm nhận được tác dụng của sóng xung kích do vụ nổ gây ra.  Hiện nay người ta mới ghi chép được chưa đến 1% các thiên thể đại loại như tiểu hành tinh Chelyabinsk, nghĩa là còn hơn 99% thiên thể như vậy vẫn chưa được phát hiện. Vì vậy vụ Chelyabinsk là một tiếng chuông báo động: những vụ tiểu hành tinh va chạm Trái đất có thể sẽ xảy ra thường xuyên hơn, khoa học cần nghiên cứu kỹ loại thiên thể này và tìm cách đề phòng.  Các nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học CH Czech viết trên Nature cho biết trong khoảng không vũ trụ gần Trái đất tồn tại vài triệu tiểu hành tinh đường kính cỡ 20m, chúng ta không có cách nào kiểm kê được từng cái. Trong 100 năm tới, sẽ thường xuyên xảy ra sự việc chúng va chạm với Trái đất. Rất may là do kích thước nhỏ nên chúng chỉ có thể gây ra thiệt hại cục bộ.   Các quốc gia trên thế giới nên cố gắng lập các cơ chế khẩn cấp dự báo sớm khả năng tiểu hành tinh đâm vào Trái đất của chúng ta. Peter Brown, giáo sư ĐH Western Ontario, Canada nói: “Trong trường hợp Chelyabinsk, lẽ ra một cảnh bảo sớm vài ngày cho đến 1 tuần sẽ có giá trị.”  Theo một nguồn tin khác, mới đây sau khi các nhà khoa học phát hiện tiểu hành tinh (được đặt tên là 2013 TV135), có 1/63.000 cơ hội va chạm với Trái đất vào ngày 26/8/2032, Cơ quan Vũ trụ liên bang Nga Roscosmos đã đặt vấn đề tổ chức chiến đấu chống lại các tiểu hành tinh.   Nguyễn Hải Hoành lược thuật    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo về chất bảo quản trong nước ngọt      Theo một nghiên cứu vừa được công bố tại Đại học Sheffield (Anh), một chất bảo quản thường được sử dụng trong các loại nước ngọt như Coca Cola và Pepsi có thể làm vô hiệu một số chức năng quan trọng của DNA. Tình trạng này – thường thấy ở người già và người nghiện rượu – có thể dẫn tới chứng xơ gan và các căn bệnh thoái hóa như Parkinson.    Chất bảo quản bị nghi ngờ có mã số E211, tên khoa học là sodium benzoate, đã được sử dụng từ hàng chục năm nay trong các loại nước ngọt như Sprite, Oasis và Dr Peper để chống mốc. Nó cũng được tìm thấy ở các loại dưa góp và sốt công nghiệp. Trước đây đã có ý kiến lo ngại rằng sodium benzoate có thể gây ung thư, bởi khi kết hợp với vitamin C trong nước ngọt, nó sẽ tạo ra benzen, một chất gây ung thư. Nghiên cứu vấn đề này từ năm 1999 đến nay, giáo sư Peter Piper khẳng định đã có đủ bằng chứng cho thấy sodium benzoate gây tổn hại nghiêm trọng đến một bộ phận của DNA gọi là ti thể, được ví như “nhà máy điện” của tế bào. Ti thể tiêu thụ oxy để cấp năng lượng cho cơ thể, nếu nó bị trục trặc thì một loạt trạng thái bệnh lý sẽ xuất hiện, như bệnh Parkinson và các bệnh thoái hóa thần kinh khác, và nghiêm trọng nhất là làm khởi phát quá trình lão hóa.  Năm 2000, Tổ chức Y tế thế giới đã công bố một nghiên cứu về sodium benzoate nhưng kết luận rằng chất này an toàn, dù thừa nhận các nghiên cứu còn rất hạn chế. Giáo sư Piper cho rằng nguyên nhân là do các phương pháp xét nghiệm của WHO còn lạc hậu.  Vạn Lý  (theo The Independent)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo về hiểm họa nguyên tử cho tương lai (kỳ 1)      Việc đưa ra những cảnh báo về sự nguy hiểm  của chất thải phóng xạ đã khiến Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế  (IAEA) cũng như chính phủ Mỹ phải đau đầu từ nhiều thập kỷ qua. Vấn đề  là bằng cách nào để đưa ra những bảng hiệu “chết chóc” đủ sức gây ấn  tượng cho con người sau… 10.000 năm nữa.    Nhờ cậy chuyên gia về ký hiệu học  Khi học giả người Mỹ Thomas Sebeok dạo trong vườn nhà ở North Carolina thì nhận được một cú điện thoại của chính quyền tiểu bang. Do đang chuẩn bị viết một trong những cuốn sách của mình nên tiếng chuông điện thoại khiến ông cảm thấy khó chịu. Nhiều năm sau, Sebeok đã nhớ lại thời điểm đó.  Sebeok hơi bực mình, cầm ống nghe. Ở đầu dây bên kia là bà phó chủ tịch Bechtel Corporation, một công ty xây dựng vào loại lớn nhất nước Mỹ. Với giọng nói nhỏ nhẹ, bà ngỏ ý muốn gặp gỡ để trao đổi về một dự án mật liên quan đến chất thải phóng xạ của Bechtel do bà điều phối. Chính phủ Mỹ cũng quan tâm đến dự án này. “Tôi không thể nói rõ hơn qua điện thoại. Chỉ đề nghị giáo sư, hãy mau tới San Francisco một cách sớm nhất”, bà nói.  Sebeok là giáo sư về ký hiệu học (Semiotics) tại ĐH Indiana ở Bloomington. Ông là nhà lý luận về biểu tượng, chuyên sâu vê lĩnh vực làm sao để các bảng hiệu, bảng hướng dẫn dễ hiểu, dễ nhớ và ngoài ra còn nghiên cứu về những loại thông điệp không lời khác. Trong suốt cuộc đời mình, giáo sư chưa hề đụng chạm đến rác thải nguyên tử. Nhưng điều đó sắp thay đổi.  Cuộc tìm kiếm kho tàng trữ cuối cùng ở Mỹ  Đó là năm 1981, Ronald Reagan vừa mới trở thành vị tổng thống thứ 40 của Mỹ – trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, một trong những mục tiêu về chính sách đối nội là phải xác định được địa điểm làm kho lưu trữ nguyên tử cuối cùng.  Cho đến lúc đó ở Mỹ, việc lưu trữ hàng tấn rác thải từ năng lượng nguyên tử sử dụng vì mục đích quân sự và dân sự hầu như không được chú ý. Hải quân Mỹ thường đổ loại rác thải nguy hiểm chết người này vào can đựng xăng rồi vứt xuống biển, vốn được tích tụ từ cuộc chạy đua vũ trang trong chiến tranh lạnh. Một số chuyên gia còn nghĩ tới phương án dùng tên lửa bắn rác thải nguyên tử… lên vũ trụ bằng tên lửa nhưng may mắn là kế hoạch này chưa bao giờ được thực hiện do lo sợ việc phóng tên lửa không thành công.  Đến đầu những năm 1980, các chuyên gia cũng như chính phủ Mỹ nhất trí phương án cất giữ rác thải nguyên tử trong lòng đất. Năm 1982, chín địa điểm thuộc sáu tiểu bang đã được đưa vào danh sách. Trên thực tế, chính phủ Mỹ đã chọn Yucca Mountain, vùng cao nguyên đá rộng mênh mông ở sa mạc Nevada. Để đề nghị này được thông qua cần phải khiến người Mỹ an tâm về cái mộ đá chôn nguyên tử này. Và Thomas Sebeok đã được lôi vào cuộc.  Khi Thomas Sebeok tới San Francisco thì đã có một nhóm các nhà khoa học gồm các chuyên gia vật lý, kỹ sư, nhà địa chất và nhân chủng học ngồi đợi nhà lý thuyết về ký hiệu học. Họ có tổng cộng 12 người – tên mật của nhóm đặc nhiệm là Human Interference Task Force (Sự can thiệp của con người).  Ngay từ năm 1980, những lãnh đạo chủ chốt của Bechtel có quan hệ rất mật thiết với giới chính khách Washington đã cùng với chính phủ Mỹ thành lập ra “đội đặc nhiệm” này. Cho đến lúc đó, dấu hiệu cảnh báo nguyên tử thường là những tia phóng xạ có hình rotor. Nhiệm vụ của nhóm là tiếp tục phát triển ngôn ngữ ký hiệu hạt nhân để trong tương lai xa, người ta vẫn có thể hiểu chúng và quan trọng hơn, các ký hiệu đó có sơ sở để tồn tại – đại thể là một dạng ký hiệu cảnh báo phóng xạ 2.0.  Để làm được điều đó, nhóm cần phải có người am hiểu về các biểu tượng – và Sebeok chính là người am hiểu nhất lĩnh vực này.  Ông hỏi: “Thời gian mà chúng ta phải tiên lượng trước là bao nhiêu lâu?”  “Chỉ thị của nhà chức trách ở Washington là chúng ta phải tiên lượng trước khoảng 10.000 năm”.  Nguy cơ phóng xạ hàng triệu năm    Việc lưu trữ chất thải phóng xạ mới được chú ý trong những thập kỷ gần đây  Đối với rác thải hạt nhân bị con người cách ly, thì khoảng thời gian 10.000 năm, thực ra chỉ là một chỉ tiêu thời gian hoàn toàn mang tính tùy hứng: thí dụ chất đồng vị phóng xạ Strontium-90 phân hủy một nửa lượng phóng xạ gây chết người sau 29 năm, đối với Plutonium-239 là 24.100 năm, thời gian bán hủy của iốt -129 là 15,7 triệu năm.  10.000 năm – đây là khoảng thời gian từ thời đồ đá mới kéo dài cho đến thời điểm mà Sebeok nhận được cú điện thoại của bà phó chủ tịch tập đoàn Bechtel. Nhà nghiên cứu thầm nghĩ, có thể sau 10.000 năm nữa sẽ không còn ai hiểu nổi những ngôn ngữ mà nhân loại đã biết đến từ vài trăm năm nay.  Nhóm nghiên cứu nhanh chóng nhận ra rằng: phải có biện pháp để những con người trong tương lai, vào năm 11981 biết được rằng, ở bên trong lòng đất, nơi họ ở, có một kho chứa rác nguyên tử cuối cùng (và người ta nhất thiết không được nghĩ tới chuyện đào bới ở đây!). Như vậy nhóm nghiên cứu phải kết hợp nhiều thông điệp với nhau. Họ phát triển một ý tưởng lớm, một kế hoạch chi tiết về một Stonehenge hạt nhân.                                                                                                            (Còn tiếp)    Xuân Hoài          Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo về thay đổi khí hậu      Sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu do việc tăng trưởng khí lồng kính sẽ dẫn đến những nguy cơ lớn. Các tổ chức khoa học đã nhiều thập kỷ phác thảo một viễn cảnh ngày càng rõ nét và cảnh báo vấn đề đến mọi người.            CHƯƠNG TRÌNH: “Bốn yếu tố: những vấn đề của toàn cầu hoá và phát triển”    L’ Espace, từ 10 đến 16 tháng 12 năm 2007, vào hồi 18h30    Thứ hai ngày 10 tháng 12 năm 2007, 18h30.   ” Thay đổi khí hậu : các mô hình cho ta biết điều gì? “,   Ông Hervé Le Treut, Giám đốc Nghiên cứu của CNRS, Giám đốc Phòng thí nghiệm Khí tượng học Động lực (CNRS/Đại học Bách Khoa) trình bày.    Thứ ba ngày 11 tháng 12 năm 2007, 18h30.   “Những vấn đề về nước”,   Ông Jean-Franỗois Donzier, Tổng giám đốc Cơ quan Quốc tế về Nước trình bày.    Thứ tư ngày 12 tháng 12 năm 2007, 18h30.   “Giám sát vệ sịnh y tế và dịch bệnh “,   Ông Franỗois Bricare, Trưởng khoa các bệnh nhiềm trùng và nhiệt đới thuộc Bệnh viện Salpêtrière, Paris trình bày.    Thứ năm ngày 13 tháng 12 năm 2007, 18h30.   “Nông nghiệp và Phát triển”,   Ông Marcel Mazoyer, Kỹ sư nông nghiệp, Giáo sư danh dự của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Paris-Grignon trình bày.    Thứ sáu ngày 14 tháng 12 năm 2007, 18h30.   “Du lịch và văn hoá”,   Nhà triết học Yves Michaud trình bày.    Thứ bảy ngày 15 tháng 12 năm 2007, 18h30.   “Các bài hát Pháp trước nguy cơ của toàn cầu hoá”   Nhà xã hội học, nhà bình luận Philippe Meyer trình bày.        Cần phải nêu lên tính cấp bách của vấn đề mà vẫn phải giữ được những điều chính xác lẫn những điều còn nghi hoặc trong việc tiên đoán thay đổi khí hậu một cách định lượng. Làm thế nào biểu hiện được sự đồng thuận của các nhà khoa học song đồng thời vẫn dành chỗ cho những điều nhạy cảm khi xác định sự quan trọng của những nhiễu loạn đối với khí hậu? Để làm đựơc điều đó cần nhắc lại rằng cách đơn giản và thực tiễn nhất là nêu lên các kết quả chính từ những hồ sơ khoa học và những điều kiện trong đó các hồ sơ được hoàn thành.  Khí quyển, đại dương, các băng hà lớn là những môi trường phức tạp (tương tác lẫn nhau trong các quá trình cơ học, vật lý, hóa học hoặc sinh học) tạo nên cách gọi là hệ khí hậu (système climatique). Trong nhiều tỷ năm các điều kiện khí hậu đã biến động nhiều.  Trong hai triệu năm gần đây loài người đã phát triển trong một khí hậu dao động giữa các điều kiện băng hà và gian băng(interglacière). Những dao động này có nguyên nhân nguồn gốc vũ trụ.  Văn minh loài người được phát triển trong vòng 10.000 năm trong điều kiện của kỷ gian băng (interglacière). Đã 5000 năm khí hậu trái đất tương đối ổn định. Theo các số liệu của M.Le Roy Ladurie những thăng giáng khí hậu chỉ biểu hiện ở những thăng giáng nhiệt độ trong khoảng vài phần mười độ, so với sự gia tăng nhiệt độ mà chúng ta dự báo cho tương lai vì hiệu ứng lồng kính, hoặc so với sự thăng giáng 5 đến 6 độ khi bước khỏi một kỷ gian băng. Kỷ gian băng tương đối dài và ổn định: lượng CO2 có hằng số gần bằng 280 ppm (phần trên triệu).  Đã hơn một thế kỷ các hoạt động của con người gây nguy cơ phá vỡ hằng số đó. Lượng CO2 đã đạt lên đến 370 ppm. Lượng CO2 này phát sinh do đốt dầu, than và khí. Hiện tượng này không xảy ra trước 1850. Hiện nay CO2 đạt đến mức 2 tỷ tấn cacbon/năm. Nhiều loại khí khác (như méthane, fréon-liên quan đến tầng ozone) cũng gia tăng đáng kể.  Hiện tượng này có tính tích lũy (cumulatif), toàn cầu (global) và không đảo ngược (irréversible) và có ảnh hưởng đến những thế kỷ sau. Do đó chúng ta cần có những hành động toàn diện.  Hiệu ứng nhà kính sẽ làm nóng các hạ tầng của khí quyển, hiệu ứng này có mặt tích cực là làm cho khí quyển ấm lên tạo điều kiện sống cho nhiều loài song cũng có thể dẫn đến nhiều nguy cơ. Hiệu ứng nhà kính đã được nghiên cứu trong nhiều năm. Các nhà khoa học đã sử dụng nhiều mô hình số, càng ngày càng phản ánh được thực tế khách quan của khí hậu. Các mô hình này có quy mô rất lớn, sử dụng các phương trình cơ học, vật lý cho phép chúng ta xác định được những đặc trưng của nhiều đối tượng: gió, hải lưu, sa mạc, băng hà… Sau 30 năm hoạt động của hàng nghìn nhà khoa học, chúng ta đã có một câu trả lời rõ ràng: có thể số hóa các mô hình của hành tinh chúng ta (lẽ dĩ nhiên chưa hoàn hảo). Các mô hình có ứng dụng rộng rãi: dự báo khí hậu, dự báo biển, dự báo các thăng giáng khí hậu trong nhiều điều kiện khác nhau, như trong kỷ băng hà chẳng hạn. Như vậy chúng ta có trong tay nhiều công cụ hữu hiệu (mặc dầu chưa hoàn chỉnh) đã được kiểm nghiệm để nghiên cứu hiệu ứng nhà kính nói riêng.  Công việc sử dụng các mô hình được tổ chức liên chính phủ GIEC (Groupe intergouvernemental pour l’évolution des climats, tiếng Anh là  IPCC-Intergovernmental Panel on Climate Change) tổng kết thường xuyên để đạt trình độ quốc tế cao nhất. Báo cáo đầu tiên của GIEC dựa trên mô hình tương đối đơn giản cho thấy rằng nhiệt độ sẽ tăng chừng 2 đến 5 độ nếu lượng CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi. Hai báo cáo khác (1995&2001) và báo cáo thứ tư (tháng hai/2007) đã tổng kết khối lượng công việc rất lớn, phân tích kết quả các mô phỏng số hiện đại nhất( khoảng 200 công trình dựa trên 15 mô hình). Các kết quả lẽ dĩ nhiên phụ thuộc vào dữ liệu về phát thải khí lồng kính và tính hoàn thiện của mô hình vì hệ khí hậu là một hệ rất phức tạp. Những mô phỏng phức tạp hơn, hiện đại hơn thực hiện trên các siêu máy tính như chương trình Earth Simulator(Mô phỏng Trái đất) của Nhật cho những kết quả về hiệu ứng lồng kính xét (về cấp độ các trị số) trùng với các kết quả trước đây. Trong kỷ nguyên công nghiệp nhiệt độ đã gia tăng 0,80C, sự gia tăng nhiệt độ này đã đẩy lùi băng trên các núi, làm giảm khối lượng băng hà và nâng cao mức nước biển lên 3mm/năm so với 1mm/năm trong thế kỷ 20. Những kịch bản mới đưa ra kết quả gia tăng nhiệt độ bằng  2 đến 6 độ vào năm 2100 (gần tương tự sự gia tăng nhiệt độ khi bước khỏi một kỷ gian băng). Một sự gia tăng nhiệt độ như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không đảo ngược: các hải lưu thay đổi, các băng cực tan dần, hệ sinh thái thay đổi và tất cả những thay đổi này lại ảnh hưởng ngược lại đến khí hậu. Những thay đổi này sẽ gây nên tình trạng những hệ sinh thái và những xã hội khó thích ứng với môi trường.                     Sự cảnh báo về thay đổi khí hậu phải được đi kèm theo một chính sách về môi trường. Chúng ta phải có một chính sách thể hiện trách nhiệm của những nước phát thải nhiều khí lồng kính đối với những nước chịu nhiều tác động của khí hậu. Vấn đề khí hậu là không riêng cho các giới khoa học mà đòi hỏi một sự thảo luận rộng rãi trên các phương diện đạo đức, chính trị và trách nhiệm.     CC. lược dịch  M.Hervé Le Treut      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh báo về tồn dư 19 loại hóa chất  trong cơ thể người      Đầu tháng năm, một nghiên cứu đột phá từ Đại học California, San Francisco trên 171 thai phụ phát hiện trong cơ thể của hơn 90% người tham gia nghiên cứu tồn dư 19 loại hóa chất và thuốc trừ sâu khác nhau. Các nhà nghiên cứu cho biết nhiều chất đi qua nhau thai và nhiễm vào bào thai đang phát triển. Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng cho báo cáo của Viện Y tế quốc gia, cảnh báo trẻ sơ sinh “bị ô nhiễm từ trước” do hóa chất.    Vẫn chưa biết được toàn bộ mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi tiếp xúc với hóa chất từ sớm như vậy, nhưng các nhà khoa học lo ngại chúng sẽ góp phần gia tăng tỷ lệ nhiễm bệnh tự miễn, các rối loạn phát triển như tự kỷ, cùng những tác hại đến sinh sản ở người dân Mỹ.  Nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet gia tăng mối lo ngại về ô nhiễm trên toàn cầu, nó tiết lộ cứ 6 người lại có 1 người tử vong có liên quan đến ô nhiễm không khí và nước. Hằng năm có hơn 9 triệu người chết do hai loại ô nhiễm này, nhiều hơn số người chết do suy dinh dưỡng, tai nạn giao thông, sử dụng chất kích thích và đồ uống có cồn cộng lại.  Không khí ô nhiễm gây ra cái chết cho khoảng 6,5 triệu người hằng năm. Khí thải này thường từ nhà máy ở các nước đang phát triển xuất khẩu hàng hóa cho đối tác thương mại giàu có. Các quốc gia đang phát triển ở Đông và Đông Nam Á là nơi chịu nhiều tổn hại nhất do có mức độ bảo vệ môi trường thấp. Thế nhưng, không quốc gia nào có thể thoát khỏi tác hại do mình gây ra, bởi khí thải từ hoạt động sản xuất và giao thông trên khắp thế giới góp phần gây nên tình trạng ấm lên toàn cầu.  Các nhà nghiên cứu cảnh báo tình trạng ô nhiễm này sẽ gây ra các thảm họa sinh thái và con người, mức độ trầm trọng tương tự như biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh thái.  Vào năm 2017, nhà nghiên cứu sinh thái học công nghiệp Roland Geyer tại Đại học California, Santa Barbara, phát hiện ra kể từ khi việc sản xuất nhựa hàng loạt bắt đầu vào những năm 1950, thì số lượng sản phẩm là hơn 8,3 tỷ tấn, 79% trong số đó bị thải ra môi trường hay các bãi chôn lấp. Một nửa số đó được tạo ra chỉ trong 13 năm trước và dự kiến sẽ gấp đôi số lượng vào năm 2050. Nhiều nghiên cứu phát hiện hạt vi nhựa xuất hiện trong thực phẩm và cơ thể người, gây rối loạn nội tiết tố, tổn hại hệ miễn dịch và tăng rủi ro mắc bệnh mãn tính.  Trong hơn năm mươi năm qua, nhiều chất độc trong môi trường đã giảm nhờ luật môi trường như Đạo luật không khí sạch và Đạo luật nước sạch. Thế nhưng, chuyên gia cho rằng các nhà quản lý còn xa mới bắt kịp những mối đe dọa trong thời hiện đại, cụ thể là các loại hóa chất mới.  Trong hơn 40.000 hóa chất được sử dụng trong thương mại, chỉ có một phần nhỏ được nghiên cứu hiệu quả để biết được những ảnh hưởng tiềm tàng tới sức khỏe con người. Trong những hóa chất gây lo ngại nhất có PFAS, hay “hóa chất vĩnh cửu”, thường được dùng trong sản phẩm chống nước hay chảo chống dính. Các nghiên cứu cho thấy hơn 96% người Mỹ có ít nhất một chất PFAS trong máu, một số chất có liên quan đến ung thư, cholesterol cao và những ảnh hưởng khác tới sức khỏe.  Nỗ lực cắt giảm ô nhiễm thường tập trung vào “số phận cuối cùng” của vật liệu, như tái chế nhựa hay tái sử dụng vật liệu với mục đích khác, và đa phần đều không hiệu quả. Nghiên cứu của Geyer cho thấy chỉ 9% tổng số nhựa được tái chế thành công. Ở Mỹ con số này chỉ có 6%, ngay cả những nước châu Âu đầu tư nhiều vào tái chế cũng chỉ đạt mức cao nhất là 40%. Trên toàn cầu, số phận của nhựa đa phần là trôi nổi trong môi trường hay ở các bãi chôn lấp.  Bà Stephanie Wein, từ tổ chức phi lợi nhuận PennEnvironment, cho biết những giải pháp đó đặt trách nhiệm sai chỗ. Theo bà, “Chính quyền địa phương hay người tiêu dùng không có trọng trách giải quyết chất thải này. Mà các công ty tạo ra nó phải lãnh trách nhiệm”.  Mức độ nghiêm trọng của vấn đề này đòi hỏi các chính phủ phải quyết định xem số lượng sản phẩm nhựa và hóa chất đủ cho mỗi năm là bao nhiêu, sau đó giảm thiểu công nghiệp tới những mức đó. □  Phương Anh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-05-polluted-babies-millions-dead-scientists.html    Author                .        
__label__tiasang Cánh cụt cổ đại từng sống ở xứ nóng      Những anh em họ xa với chim cánh cụt ngày nay có kích thước khổng lồ và sống ở vùng khí hậu ấm áp thuộc Peru cách đây 30 triệu năm.    Một trong những con chim cổ đại có chiếc mỏ dài 17,7 cm và cao tới 1,5 m.  Bộ xương và 2 chiếc sọ hoàn chỉnh cho thấy những con chim sống ở vùng khí hậu nóng ấm này là những thợ lặn cừ khôi và có thể “bay” trong nước và săn cá trên đường đi.  “Chúng ta thường nghĩ rằng chim cánh cụt là những kẻ sống ở xứ lạnh. Nhưng hóa thạch mới lại có từ giai đoạn ấm nhất trong 65 triệu năm qua của lịch sử trái đất. Bằng chứng cho thấy cánh cụt đã di chuyển tới vùng khí hậu ấm áp sớm hơn 30 triệu năm so với suy nghĩ trước đây”, nhà nghiên cứu đứng đầu Julia Clarke tại Bảo tàng khoa học tự nhiên North Carolina, Mỹ, nói.  Clarke và cộng sự đã nghiên cứu xác của 2 con cánh cụt bị tuyệt chủng được phát hiện vào năm 2005 ở bờ biển phía nam Peru. Loài cánh cụt khổng lồ Icadyptes salasi sống cách đây 36 triệu năm. Loài thứ 2 Perudyptes devriesi, cao khoảng 0,7 – 0,9 m, đại diện cho loài cánh cụt cổ nhất được biết đến, sống cách đây khoảng 42 triệu năm.  Không giống như cánh cụt ngày nay, loài chim quá khổ cổ đại có chiếc mỏ nhọn và dài, trong đó loài Perudyptes có chiếc mỏ dài và nhọn đặc biệt, giúp chúng xơi được những con mồi lớn.  Hiện thế giới có 17 loài cánh cụt bao gồm loài nhỏ nhắn như cánh cụt xanh nặng 0,9 kg, cao 0,4 m tới loài cánh cụt hoàng đế nặng 38 kg và cao 1,3 m.  M.T. (theo Livescience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cánh đồng năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới      Một công ty tại San Francisco nói hôm thứ sáu tuần trước rằng họ đang có kế họach xây dựng nông trại sản xuất điện từ năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới gần thành phố Fresno, bang California với sản lượng 80 megawatt và chiếm diện tích 640 hecta.    Sau khi hoàn thành vào năm 2011, nông trại này sẽ có kích thước rộng gấp 17 lần diện tích của nông trại sản xuất điện từ năng lượng mặt trời lớn nhất hiện nay ở Mỹ theo thông tin từ công ty Cleantech America. Nông trại này cũng sẽ có kích thước lớn gấp bảy lần nông trại sản xuất điện từ năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới hiện tại ở Đức.  Công ty Cleantech vừa thông báo sẽ phối hợp với Sở Xây dựng California để xây dựng hai nông trại loại này. Điện sản xuất từ năng lượng mặt trời tại đây sẽ đủ cung ứng cho 21.000 hộ gia đình. Ngoài ra, cơ quan quản lý nước Kings River thuộc sở điện lực San Joaquin Valley được thành lập vào tháng 11.2006 sẽ mua điện sản xuất ra từ hai nông trại đề cập ở trên để bán cho 12 thành phố và hai thị trấn hiện đang mua điện từ công ty Pacific Gas and Electric là một nhánh của công ty Edison International.  Nông trại sản xuất điện từ năng lượng mặt trời lớn nhất hiện nay đang hoạt động ở Mỹ có công suất 4,6 megawatt ở gần thành phố Tucson, bang Arizona.  Vĩnh Bảo (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Canh tác nông nghiệp dẫn đến sự lan truyền của ngữ hệ Altai      Một nghiên cứu kết hợp bằng chứng về ngôn ngữ, di truyền và khảo cổ đã truy dấu được nguồn gốc của một ngữ hệ bao gồm các ngôn ngữ Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Mông Cổ ngày nay và những người dùng các ngôn ngữ này với những người nông dân trồng kê ở đông bắc Trung Quốc cách ngày nay khoảng 9000 năm.      Các nhà khoa học đã vẽ ra con đường lan truyền ngôn ngữ thông qua nông nghiệp ở ngữ hệ Altai. Nguồn: Nature  Nguồn gốc và sự lan truyền sớm của nhóm ngữ hệ Altai là một trong những vấn đề gây tranh cãi bậc nhất của thời kỳ Tiền sử châu Á. Mặc dù giữa các ngôn ngữ này có nhiều điểm tương đồng do vay mượn [của nhau], thì những nghiên cứu gần đây đã cho thấy bằng chứng đáng tin cậy ủng hộ cho việc phân loại ngữ hệ Altai như một nhóm nhôn ngữ có một gốc chung. Tuy vậy việc chấp nhận sự liên quan về nguồn gốc của các ngôn ngữ và văn hóa này đã làm dấy lên những câu hỏi về những người đầu tiên nói các ngôn ngữ này sống vào thời điểm nào và ở đâu? các nền văn hóa hậu duệ duy trì văn hóa và các ngôn ngữ này một cách bền vững và tương tác với nhau như thế nào? các tuyến lan truyền của ngôn ngữ và văn hóa như thế nào qua suốt nhiều thiên niên kỷ?     Một công trình mới xuất bản trên Nature của một nhóm nghiên cứu liên ngành bao gồm các nhà nghiên cứu châu Á, châu Âu, New Zealand, Nga và Mỹ đã đem đến bằng chứng hỗ trợ liên ngành cho “giả thuyết nông nghiệp” của việc lan truyền ngôn ngữ, theo dấu nhóm ngữ hệ Altai đến với những người trồng trọt hái lượm đầu tiên di chuyển khắp Đông Bắc Á bắt đầu từ thời kỳ đầu Đồ đá mới 1. Bằng việc sử dụng công nghệ giải trình tự hệ gene thế hệ mới, một cơ sở dữ liệu khảo cổ lớn và một bộ dữ liệu mới về các khái niệm từ vựng của 98 ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã lập sơ đồ các tuyến đường lan truyền, vị trí và có độ dài thời gian của các cộng đồng nói ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai.    Nhà di truyền học Ning Chao lấy mẫu tại di chỉ khảo cổ Banlashan ở Liêu Ninh, Trung Quốc. Nguồn: Viện nghiên cứu Khoa học về lịch sử loài người Max Planck  Bên cạnh việc tìm hiểu bộ dữ liệu về các khái niệm từ của 98 ngôn ngữ nhằm nhận diện cái lõi của những từ được thừa hưởng liên quan đến nông nghiệp và được tạo hình một cây ngữ hệ, họ còn kiểm tra dữ liệu từ 255 di chỉ khảo cổ ở Trung Quốc, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, đánh giá những điểm tương đồng của các hiện vật bao gồm đồ gốm, công cụ đá, những dấu tích cây trồng, vật nuôi. Họ cũng xem xét niên đại của 269 dấu tích vụ mùa ở nhiều di chỉ khác nhau.  Bằng chứng từ các nguồn ngôn ngữ, khảo cổ và di truyền này cho thấy điểm khởi đầu của ngữ hệ Altai này là từ những người trồng kê thời kỳ Đồ đá mới ở lưu vực sông Liêu Hà, ngày nay bao gồm nhiều phần của các tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm và Nội Mông. Vì những người nông dân đầu tiên đó đã di chuyển khắp đông bắc châu Á trong hàng trăm năm, các ngôn ngữ hậu duệ đã được lan truyền theo hướng bắc và tây vào Siberia và qua các thảo nguyên và hướng đông vào bán đảo Triều Tiên và qua biển để vào Nhật Bản.  Do đó, nghiên cứu này đã nhấn mạnh đến những khởi nguồn phức tạp của con người và các nền văn hóa hiện đại. “Việc chấp nhận các cội rễ ngôn ngữ, văn hóa hay con người của một quốc gia nằm ngoài các biên giới quốc gia là một dạng từ bỏ tính đồng nhất/nhận diện/bản sắc, điều mà một số người còn chưa sẵn sàng chấp nhận”, nhà ngôn ngữ so sánh Martine Robbeets, người dẫn dắt nhóm nghiên cứu Khảo cổ – Ngôn ngữ tại Viện nghiên cứu Khoa học về lịch sử loài người Max Planck và là một trong ba tác giả chính của công trình xuất bản trên Nature, cho biết.  “Những cường quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc thường được mô tả tiêu biểu cho một ngôn ngữ, một văn hóa và một lịch sử di truyền. Nhưng tất cả các ngôn ngữ, văn hóa và con người, bao gồm cả châu Á, đều giao thoa. Sự thật mà chúng tôi khám phá ra này có thể khiến những người theo chủ nghĩa dân tộc không thích lắm” Robbeets cho biết thêm.    Nhà khảo cổ học Mark Hudson (giữa) tại di chỉ Nagabaka trên đảo Miyako. Nguồn: Viện nghiên cứu Khoa học về lịch sử loài người Max Planck  “Một ngành tự tiến hành nghiên cứu thì không thể giải quyết được những câu hỏi lớn xung quanh vấn đề lan truyền ngôn ngữ nhưng nếu kết hợp cả ba chuyên ngành có thể làm tăng tính khả tín và giá trị của giả thuyết này. Bằng việc kết hợp bằng chứng từ ba chuyên ngành mang lại, chúng tôi đã có được hiểu biết tốt hơn và cân bằng hơn về quá trình di cư của cư dân thuộc ngữ hệ Altai hơn là từng ngành đem lại”.  Phát hiện này đã làm sáng tỏ quá trình canh tác của con người sau kỷ băng hà đã thúc đẩy sự lan truyền của một trong số những ngữ hệ lớn trên thế giới như thế nào.  Kê là một cây trồng quan trọng đầu tiên khi con người chuyển từ người săn bắt – hái lượm sang làm nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã xác định rằng những cư dân nông nghiệp ở Đông Bắc Trung Quốc cuối cùng đã bổ sung gạo và lúa mì vào kê để hình thành một “gói” nông nghiệp theo chân họ di cư đến vùng bán đảo Triều Tiên vào năm 1.300 năm trước Công nguyên và từ đó tới Nhật Bản sau năm 1000 trước Công nguyên.  Các nhà nghiên cứu cũng phân tích hệ gene hài cốt 23 người cổ đại và kiểm tra những dữ liệu hiện có về những người sống ở Đông và Bắc Á khoảng 9.500 năm trước.  Nguồn gốc của ngôn ngữ Trung Quốc hiện đại bắt đầu một cách độc lập, thông qua một khuôn thức tương tự, có cả kê trong quá trình trồng trọt. Trong khi những tổ tiên của người sử dụng ngữ hệ Altai trồng trọt cao lương kê ở thung lũng sông Liêu Hà, những người khởi thủy nhóm ngữ hệ Hán – Tạng trồng kê vàng tại vùng sông Hoàng Hà, Trung Quốc, tiến theo cách lan truyền một ngôn ngữ khác biệt, Robbeets nói.  Nghiên cứu này đã chứng tỏ sự kết hợp của ba phương pháp ngôn ngữ, khảo cổ và di truyền có thể đem lại sự khả tín và giá trị của giả thuyết nhưng các tác giả đều nhanh chóng nhận ra cần có thêm nghiên cứu sâu hơn nữa. Sẽ cần nhiều nghiên cứu về DNA cổ xưa, nghiên cứu về từ nguyên và nghiên cứu về cổ thực vật học nhiều hơn nữa để đem lại hiểu biết sâu sắc hơn về các cuộc di cư của loài người ở Đông Bắc Á thời kỳ Đồ đá mới và làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của những chuyến di cư muộn hơn của con người, của những người chăn nuôi gia súc trong tự nhiên.   Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2021/nov/10/origins-of-transeurasian-languages-traced-to-neolithic-millet-farmers  https://www.shh.mpg.de/2071364/robbeets-transeurasian-agriculture?c=1935799#:~:text=Interdisciplinary%20Research%20Shows%20the%20Spread%20of%20Transeurasian%20Languages%20Was%20Due%20to%20Agriculture&text=The%20origin%20and%20early%20dispersal,disputed%20issues%20of%20Asian%20prehistory.  ————————–  1. “Triangulation supports agricultural spread of the Transeurasian languages”. https://www.nature.com/articles/s41586-021-04108-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cao ốc ở Đài Bắc có thể gây động đất?      Nghiên cứu mới đây của một chuyên gia địa chấn học ở Đài Loan cho thấy toà cao ốc cao nhất thế giới Đài Bắc101 (Đài Loan) có thể gây ra những trận động đất làm thiệt hại cho những căn nhà thấp hơn ở gần nó.    Thú vị là ở chỗ toà nhà cao 101 tầng (512 mét), nặng khoảng 700.000 tấn này được thiết kế để chống lại động đất.  Chuyên gia địa ốc Lin Cheng-horng, Đại học Quốc gia Đài Loan cho rằng cao ốc Đài Bắc 101 có thể tạo ra các cơn địa chấn ở nhiều cấp độ không thể lường trước được, ảnh hưởng tới các khu vực xung quanh. Sở dĩ ông Lin đã phải mất tới 1 năm để nghiên cứu điều này là vì người ta đã ghi nhận được một vài cơn địa chấn nhẹ xảy ra ở khu vực quanh toà nhà cao nhất thế giới này.  P.V    Nguồn tin: AP      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cao su dẫn điện      Các nhà khoa học thuộc ĐH Tokyo (Nhật Bản) đã chế tạo thành công một loại vật liệu cao su có khả năng dẫn điện, một phát hiện có thể được sử dụng để tạo các thiết bị có khả năng co giãn cao.      Nhóm nghiên cứu đã trộn ống nanô cacbon, một loại phân tử cacbon co giãn có thể dẫn điện, vào hỗn hợp cao su để tạo thành vật liệu mới trên. Sau đó, họ gắn một mạng lưới các thiết bị bán dẫn nhỏ và tiến hành thử nghiệm. Kết quả là vật liệu trên có thể được kéo giãn gần gấp đôi kích thước ban đầu của chúng nhưng lại không làm ngắt mạch các thiết bị bán dẫn hoặc làm mất khả năng dẫn điện của vật liệu. Những đặc tính của loại vật liệu mới này cho phép người ta gắn mạch điện tại những nơi khó gắn, trong đó bao gồm các bề mặt cong bất kỳ và những phần di động, như khớp cánh tay robot chẳng hạn.  T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấp phép khẩn cấp vaccine: Tính khả thi giữa đại dịch      Có lẽ, vào thời điểm này, nhiều người Việt Nam vẫn cứ đặt câu hỏi “tại sao nước mình vẫn chưa có vaccine?”, “vaccine của mình có vấn đề ư?”      Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đi thăm và làm việc với công ty Nanogen. Ảnh: Việt Dũng/SGGP.  Nếu không đặt vào bối cảnh COVID-19 thì những câu hỏi về vaccine này thật sự kỳ lạ. Bởi lẽ trong lịch sử phát triển vaccine Việt Nam, việc nghiên cứu hay tiếp nhận một công nghệ mới vẫn diễn ra một cách thầm lặng trong phạm vi khu biệt của những người làm nghề. COVID-19 đã làm thay đổi mọi thứ. Giờ đây dường như người ta quan tâm đến vaccine nhiều hơn, tỏ tường về những thông tin quanh chuyện nền tảng công nghệ, thử nghiệm lâm sàng vaccine nhiều hơn so với trước đây. Chưa có sản phẩm nào trong quá khứ, bất kể nội hay ngoại, nhận được sự quan tâm và soi chiếu của mọi người theo một cách đặc biệt như vậy.    Việc soi chiếu vào từng công đoạn phát triển và so sánh các loại vaccine trong những làn sóng dịch bệnh đã đặt ra trước mắt mọi người một hiện thực tưởng chừng như nghịch lý: trong khi nhiều vaccine ngoại đã được cấp phép và lan tỏa đi nhiều nơi trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, thì sản phẩm của Việt Nam vẫn còn là ứng viên có tiềm năng, dẫu tất cả gần như xuất phát cùng thời điểm.    Tại sao vậy? Có phải đương nhiên hàng nội vẫn thua hàng ngoại, và vaccine cũng không ngoại lệ? Câu hỏi thì thật dễ bật ra nhưng câu trả lời thì không phải lúc nào cũng sẵn có… Muốn đi tìm câu trả lời, ắt hẳn chúng ta phải nhìn sâu hơn vào con đường mà mọi vaccine phải đi qua.      Bộ Y tế đã cùng các chuyên gia của WHO xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để hướng dẫn đánh giá cấp phép khẩn cấp vaccine. Có lẽ, do tính chất phức tạp và quan trọng nên đến giờ, bộ tiêu chí được nhiều mong đợi, không chỉ của giới quản lý mà còn của cả các nhà sản xuất, vẫn còn chưa lộ diện.      Cấp phép giữa đại dịch     Nếu không có đại dịch, ắt hẳn việc phát triển vaccine, dù ở bất cứ quốc gia nào, sẽ đều tuần tự đi theo một đường ray quy trình sẵn có là ba giai đoạn thử nghiệm lâm sàng trước khi hoàn thiện hồ sơ đệ trình lên các cơ quan quản lý dược để xin cấp phép lưu hành. Dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài thì nhà sản xuất vaccine nào cũng phải đi trên đường ray đã vạch sẵn này. “Thông thường, để được Bộ Y tế cấp phép cho một sản phẩm mới, chúng tôi sẽ phải thực hiện đầy đủ ba giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, trong đó giai đoạn một là đánh giá an toàn (trên lượng mẫu nhỏ); giai đoạn hai đánh giá độ an toàn và tính sinh miễn dịch mà chúng tôi vẫn hay gọi là giai đoạn dò liều vì xem xét khả năng sinh kháng thể của sản phẩm nghiên cứu; giai đoạn ba là 1) đánh giá hiệu quả bảo vệ, tức là khả năng bảo vệ đối tượng trước tác nhân gây bệnh – giảm nguy cơ mắc, vào viện, tử vong…, và xem xét tính an toàn trên lượng mẫu lớn hoặc 2) so sánh tính sinh miễn dịch với một vaccine thương mại đã được đánh giá hiệu quả bảo vệ”, TS. Dương Hữu Thái, Viện trưởng Viện Vaccine và sinh phẩm Y tế (IVAC), cho biết như vậy về cách để IVAC có được vaccine cúm mùa đa giá ba chủng, vaccine uốn ván – bạch hầu…    Với những người làm nghề vaccine, giai đoạn ba sẽ là giai đoạn mang tính quyết định để được xem xét cấp phép hay không. Khi đó, “không chỉ đòi hỏi số lượng người tham gia đông, có thể lên tới hàng chục ngàn người mà thời gian theo dõi cũng phải dài, thường thì phải 12 tháng hoặc hơn, mới phát hiện ra được các dấu hiệu của các biến cố bất lợi nghiêm trọng mà hiếm gặp”, PGS. TS Lê Văn Bé, người tham gia phát triển cúm mùa và cúm đại dịch ở IVAC, từng trao đổi với Tia Sáng như vậy về quy trình thử nghiệm vaccine vào đầu năm 2021.    Theo quy trình ấy, việc có được một vaccine mới sau khoảng thời gian vỏn vẹn một năm là điều không tưởng. “Trong lịch sử, chưa bao giờ sau tám tháng, chín tháng đã có được vaccine cả, ngay cả tôi ban đầu cũng nghĩ như vậy”, tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, một chuyên gia về miễn dịch học, vaccine, hiện là Giám đốc Khoa học Công ty IGY Life Sciences và giáo sư ĐH Arizona (Mỹ), cho biết.    Tuy nhiên, đại dịch đến như dòng thác lũ khiến mọi chống đỡ phải xoay theo những hướng khác và giải pháp khác để rút ngắn “thời gian chết”. Cơ quan Dược và thực phẩm Mỹ (FDA), nơi nghiêm khắc và cẩn trọng bậc nhất trong ngành dược thế giới, phải tính đến chuyện cấp phép khẩn cấp (EUA) cho vaccine mới, điều mà trong lịch sử, FDA mới sử dụng một lần để vượt qua đại dịch cúm A H1N1 vào năm 2009. Sự khác biệt về tình thế đã buộc FDA sử dụng “lá bài” EUA cho các vaccine của Pfizer, Moderna, Johnson & Johnson khi chưa hoàn tất pha ba thử nghiệm lâm sàng. Giải thích trên trang web của mình về căn cứ để cấp phép khẩn cấp, FDA cho rằng, ít nhất một nửa những người tham gia thử nghiệm đã được theo dõi ít nhất hai tháng sau tiêm nhằm kiểm tra những tác dụng phụ liên quan đến vaccine có thể xuất hiện. Trong trường hợp các vaccine COVID này, dữ liệu mà nhà sản xuất  cung cấp đã cho thấy bằng chứng rõ ràng về việc vaccine có thể hiệu quả trong việc ngăn ngừa COVID-19.      Việt Nam có hai dự tuyển vaccine COVID nội địa tự phát triển và sản xuất. Nguồn: baochinhphu.vn  Đó là giải pháp tối ưu trong tình thế cần kíp một liều vaccine để thoát đại dịch. “Họ không chờ có kết quả cuối cùng của giai đoạn ba mà dựa trên bằng chứng tốt nhất hiện có lúc đó. Thực ra, tình thế khiến không cần chờ đợi tất cả bằng chứng cần thiết thì FDA mới chấp thuận hoặc thông qua. Trong tình huống này, quan điểm của FDA là cân đối một cách cẩn trọng giữa hai vấn đề là rủi ro tiềm ẩn và lợi ích của sản phẩm dựa trên dữ liệu hiện có”, tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân nhận xét. “Nhìn chung, việc đánh giá dựa trên cơ sở khoa học, cân nhắc lợi ích và rủi ro trong hoàn cảnh của từng quốc gia”.    Khi áp dụng cơ chế EUA cho một vaccine không có nghĩa là FDA hay bất kỳ cơ quan cấp phép nào sẽ bỏ lửng trách nhiệm của mình ở đó. Theo kinh nghiệm của PGS. TS Lê Văn Bé, “sau khi được cấp phép khẩn cấp rồi, nhà sản xuất vẫn phải tiếp tục theo dõi thử nghiệm lâm sàng của mình cho đến hết thời gian quy định và cứ ba tháng một, tiếp tục báo cáo kết quả theo dõi với nhà quản lý”. Trên thực tế thì FDA còn chặt chẽ hơn khi yêu cầu nhà sản xuất đã được cấp EUA báo cáo sau hai tháng một.     Căn cứ gì để cấp phép?     Những vaccine COVID đầu tiên của thế giới, ngay cả vaccine được xây dựng trên nền tảng công nghệ thế hệ mới mRNA, cũng đã “qua cổng” khẩn cấp của FDA theo cách như vậy. Thậm chí, trong tháng tám vừa qua, vaccine của Pfizer đã đường hoàng ra thị trường thế giới dưới “mũ” đã được cấp phép đầy đủ.      Các vaccine hiện đang lưu hành lúc đầu cũng chỉ thử với chủng gốc nhưng kết quả sau này cho thấy một điều là nếu vaccine chống được chủng gốc thì có khả năng chống được cả các biến chủng khác, mặc dù hiệu lực thấp hơn, và quan trọng là giảm được những ca bệnh nặng hay tử vong” (TS. Nguyễn Hữu Huân)      Còn ở Việt Nam? Nếu nhìn vào hiện tại, Việt Nam có ba vaccine đã và đang thử nghiệm lâm sàng, đó là Nanocovax của Nanogen – đang trong giai đoạn thứ ba; COVIVAC của IVAC – đang trong giai đoạn hai; ARCT-154 từ chuyển giao công nghệ của VinBioCare (Tập đoàn Vingroup) – đã kết thúc việc tiêm mũi hai của giai đoạn một.    Đây cũng là thời điểm Bộ Y tế ban hành Thông tư số 11/2021/TT-BYT hướng dẫn đăng ký lưu hành vaccine phòng COVID – 19 trong trường hợp cấp bách, trong đó đề cập đến quy định về dữ liệu lâm sàng trong hồ sơ đăng ký lưu hành là có kết quả đánh giá giữa kỳ giai đoạn ba về tính an toàn và hiệu quả bảo vệ của vaccine dựa trên dữ liệu về tính sinh miễn dịch trên cơ sở ý kiến tư vấn của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học cấp quốc gia và ý kiến tư vấn của Hội đồng tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc, có tham khảo hướng dẫn hoặc khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)…1    Tưởng chừng như kịp thời nhưng những tiêu chí mà Thông tư 11 đề cập đến còn chưa hẳn đã cụ thể và rõ ràng để cơ quan cấp phép có thể lấy đó làm căn cứ đánh giá trong trường hợp cấp bách như hiện nay thì một vaccine dự tuyển có đạt tiêu chuẩn hay không. Một nhà quan sát cho biết, “để được cấp phép khẩn cấp thì vaccine dự tuyển phải đạt được các yêu cầu cụ thể của quốc gia và khuyến cáo của quốc tế – với trường hợp cấp phép trên phạm vi quốc tế, trong điều kiện khẩn cấp – định nghĩa khẩn cấp như thế nào là do cơ quan quản lý xác định”.    Bộ Y tế cũng cảm nhận được tính phức tạp của vấn đề chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam nên kể từ đầu tháng tám, họ đã bắt đầu phối hợp WHO tổ chức hội thảo trực tuyến tham vấn chuyên gia về thẩm định dữ liệu nghiên cứu lâm sàng và phê duyệt vaccine COVID-19 trong trường hợp khẩn cấp hai. Từ đó đến nay, Bộ Y tế đã cùng các chuyên gia của WHO xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để hướng dẫn đánh giá cấp phép khẩn cấp vaccine. Có lẽ, do tính chất phức tạp và quan trọng nên đến giờ, bộ tiêu chí được nhiều mong đợi, không chỉ của giới quản lý mà còn của cả các nhà sản xuất, vẫn còn chưa lộ diện, dù ít nhất trên bàn chờ phê duyệt đã có bộ hồ sơ Nanocovax đang chờ.      Để tránh những hiểu lầm đáng tiếc của công chúng về một quyết định cấp phép khẩn cấp vaccine, trong quá trình đánh giá, FDA cũng sẽ chuẩn bị cho một phiên họp công khai của Ủy ban tư vấn về vaccine và các sản phẩm sinh học liên quan (FDA) – bao gồm các chuyên gia khoa học của FDA và chuyên gia sức khỏe cộng đồng ngoài FDA. Trong buổi họp công khai, các chuyên gia này sẽ thảo luận về dữ liệu an toàn và hiệu quả để cả cộng đồng khoa học lẫn công chúng hiểu rõ ràng hơn về dữ liệu và thông tin mà FDA đang đánh giá và cân nhắc quyết định liệu có cho phép sử dụng vaccine COVID-19 trong trường hợp khẩn cấp hay không.      Không ai rõ có phải chưa có những tiêu chí phù hợp để xác định đạt hay không đạt mà vào cuối tháng tám vừa qua, trường hợp hồ sơ xin phê duyệt khẩn cấp của Nanogen sau khi “qua cửa” Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh dược học quốc gia thì được Hội đồng tư vấn cấp phép (Bộ Y tế) đề nghị bổ sung dữ liệu về tính an toàn của tất cả các đối tượng tiêm, các trường hợp sự cố và bất lợi nghiêm trọng; tính sinh miễn dịch trên các biến chủng mới theo đúng đề cương nghiên cứu đã ban hành; tính bảo vệ, phân tích và bàn luận mối liên quan tính sinh miễn dịch của vaccine và tính bảo vệ3.    Vậy Nanocovax chưa hội tụ đủ yêu cầu của vaccine? Từ góc độ của người chuyên về thiết kế vaccine, TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng “quan điểm của tôi là trước tiên tính đến chuyện an toàn, đó là điều quan trọng nhất. Còn việc sản phẩm có tác dụng hay không thì vô cùng lắm, chỉ cần qua kháng thể trung hòa là được rồi”. Nghĩa là chỉ cần kháng thể ức chế sự xâm nhập vào tế bào phổi của người do gắn kết lên miền kháng nguyên trên gai của virus Covid-19 là đủ? “Trong trường hợp khẩn cấp, mình có thể linh hoạt dùng phương pháp thay thế (surrogate) trong đánh giá, đó là khả năng sinh kháng thể trung hòa (nAbs)”, tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân cho biết và lý giải nguyên nhân dẫn đến lựa chọn này “Tất cả các vaccine được thiết kế từ trước đến nay để chống virus corona đều dựa vào tiêu chí tạo được kháng thể đặc hiệu kháng cấu trúc gai hay một đoạn của cấu trúc gai (có chức năng gắn với thụ thể tế bào chủ), và có tác dụng trung hòa SARS-CoV-2, tức là bất hoạt, vô hiệu hóa con virus này. Hiện tại, tất cả các vaccine COVID đều cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa kháng thể trung hòa và miễn dịch bảo vệ”.    Khi đề cập đến kháng thể trung hòa, TS. Nguyễn Hữu Huân không chỉ đề cập đến vấn đề mang tính bản chất của một, hai loại vaccine mà muốn nói đến toàn bộ vaccine chống COVID hiện nay của thế giới, trong đó có Việt Nam. Anh cho rằng, vaccine nào cũng có thể tạo ra tế bào nhớ miễn dịch T và B – hai “cánh quân” chủ yếu của hệ miễn dịch, ở mức độ khác nhau, trong đó quan trọng là tế bào miễn dịch T hỗ trợ tế bào miễn dịch B để sản sinh ra kháng thể. Khi bị nhiễm virus, các tế bào nhớ miễn dịch được kích hoạt tức thì để tế bào miễn dịch B tạo ra kháng thể trung hòa virus. Vi vậy, sau khi khỏi bệnh hoặc sau tiêm vaccine một thời gian, cơ thể chỉ cần duy trì một lượng nhỏ kháng thể trung hòa. “Trong lịch sử vaccine chống nhiễm trùng, chưa có vaccine nào chỉ dựa trên miễn dịch tế bào (T-cell mediated) – thông qua tế bào miễn dịch hiệu quả T (effector cells) có khả năng loại bỏ tế bào bị nhiễm virus. Thậm chí các tế bào miễn dịch hiệu quả T này còn có thể tác dụng không có lợi cho cơ thể như gây viêm hệ thống khi bị nhiễm virus”, anh phân tích sâu hơn về vai trò của kháng thể trung hòa.    Đó cũng là cách mà các nhà thiết kế vaccine học hỏi từ tự nhiên: khi tế bào bị nhiễm virus, kháng thể sẽ đóng vai trò bảo vệ tế bào khỏi virus, mầm bệnh bằng việc trung hòa bất kỳ ảnh hưởng nào của nó, khi đó virus không nhân lên được nữa và tế bào cũng không chết đi.    Trong quá trình tham khảo và cập nhật những công bố khoa học của đồng nghiệp, TS. Nguyễn Hữu Huân cũng ghi nhận được sự đồng tình rộng rãi về vai trò quyết định của kháng thể trung hòa trong việc tạo ra miễn dịch bảo vệ. Ví dụ, theo quan điểm của Peter Gilbert, nhà thống kê sinh học tại Trung tâm nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson, tác giả chính của nghiên cứu “Immune Correlates Analysis of the mRNA-1273 COVID-19 Vaccine Efficacy Trial” (Miễn dịch liên quan đến phân tích thử nghiệm lâm sàng về hiệu quả vaccine mRNA-1273 COVID-19): “Có thể sử dụng điều này làm cơ sở để cấp phép và phê duyệt các vaccine mà không cần đến những thử nghiệm lâm sàng với 40.000 người vừa tốn thời gian lẫn tiền bạc để hoàn thành”4. Do đó, TS. Nguyễn Hữu Huân cảm thấy việc linh hoạt sử dụng yếu tố kháng thể trung hòa có ý nghĩa lớn, “đặc biệt là trong trường hợp khẩn cấp như thế này, thiệt hại kinh tế lớn như thế này, ảnh hưởng đến đời sống của người dân như thế này…”.    Vấn đề của một vaccine đại dịch ngày một phức tạp khi các biến chủng mới tiếp tục xuất hiện trong quá trình thiết kế, sản xuất và thử nghiệm lâm sàng. Với tâm lý thông thường, thông tin về những vaccine đã được cấp phép có hiệu lực trên chủng Delta, Alpha, Beta, Gamma… đã trở thành cơ sở để đánh giá, lựa chọn vaccine. Nhưng việc đưa ra yêu cầu về tính sinh miễn dịch trên các biến chủng mới của một vaccine có thật sự đúng, khi vaccine được phát triển để chống chủng gốc? “Tôi thấy rằng, nếu chúng ta cứ chờ thêm số liệu thử lâm sàng chống các biến thể khác nữa [mới cấp phép] thì phải cần thêm rất nhiều thời gian. Tình hình hiện tại cho thấy khả năng cao sẽ tiếp tục xuất hiện các biến thể SARS-CoV-2 mới, nên nếu tiếp tục chờ kết quả bảo vệ chống tất cả các chủng là không khả thi. Các vaccine hiện đang lưu hành lúc đầu cũng chỉ thử với chủng gốc nhưng kết quả sau này cho thấy một điều là nếu vaccine chống được chủng gốc thì có khả năng chống được cả các biến chủng khác, mặc dù hiệu lực thấp hơn, và quan trọng là giảm được những ca bệnh nặng hay tử vong”, TS. Nguyễn Hữu Huân nhận xét.     Ai đủ năng lực ra quyết định?     Cũng như vấn đề của các hội đồng phê duyệt khác, hội đồng phê duyệt sản phẩm đặc biệt trong hoàn cảnh đặc biệt không chỉ cần dựa trên tiêu chí rõ ràng mà cần cả sự thấu suốt, công bằng và bản lĩnh của các thành viên trong hội đồng. Vậy những ai đủ tiêu chuẩn để có thể đánh giá để cấp phép khẩn cấp cho các vaccine như vậy? Theo quan điểm của FDA, các thành viên mà họ chọn lựa đều là những nhà khoa học và bác sĩ, những người có chuyên môn được công nhận trên toàn cầu, có thể hiểu rõ được sự phức tạp trong phát triển vaccine và trong việc đánh giá về an toàn và hiệu lực của tất cả các loại vaccine có mục đích ngăn ngừa các bệnh dịch truyền nhiễm. Những người được lựa chọn sẽ phải cam kết đưa ra quyết định trên cơ sở đánh giá dữ liệu một cách khoa học.    “Tôi cũng cho rằng hội đồng xét duyệt của FDA đều gồm những chuyên gia kì cựu, trực tiếp làm vaccine nên tôi tin tưởng vào lựa chọn của họ, TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết. “Không có lý do gì để mời người chẳng làm gì về miễn dịch và vaccine cả”.    Một trong những tiêu chí hàng đầu của FDA là những người được chọn lựa làm thành viên Hội đồng xét duyệt phải có quá trình làm việc liên tục trong ngành vaccine, chứ không phải người tốt nghiệp hoặc hoạt động cách đây 20-30 năm. “FDA phải tìm hiểu xem lí lịch khoa học của những ứng viên, lựa chọn những người trong vòng một, hai năm hoạt động tích cực trong lĩnh vực vaccine. Còn nếu ai đó đã ngưng làm việc trên năm năm thì họ sẽ quyết định không mời, vì những kiến thức mới trong ngành vaccine nó cập nhật và thay đổi rất nhanh, khi không đọc tài liệu hoặc không làm trong lĩnh vực một vài năm trở nên lạc hậu rồi”, anh giải thích.    Do đó, TS. Nguyễn Hữu Huân mong muốn hội đồng đánh giá của Việt Nam trong đánh giá cấp phép khẩn cấp “cần dựa trên cơ sở khoa học, cân nhắc lợi ích và rủi ro trong hoàn cảnh của quốc gia”.□  ——————–  Tham khảo:  https://www.fda.gov/vaccines-blood-biologics/vaccines/emergency-use-authorization-vaccines-explained  Chú thích:  1. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/the-thao-y-te/thong-tu-11-2021-tt-byt-huong-dan-dang-ky-luu-hanh-vac-xin-covid19-truong-hop-cap-bach-485321.aspx?v=d  2. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/bo-y-te-hop-tham-van-chuyen-gia-quoc-te-nham-som-phat-trien-thanh-cong-vaccine-covid-19-made-in-viet-nam-  3.https://tuoitre.vn/vi-sao-bo-y-te-chua-phe-duyet-khan-cap-vac-xin-nano-covax-20210906190020205.htm  4. https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.09.21261290v1  https://www.npr.org/sections/health-shots/2021/08/23/1029827996/new-evidence-points-to-antibodies-as-a-reliable-indicator-of-vaccine-protection    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Carl Linnaeus – nhà thơ của Tự nhiên      Jean-Jacques Rousseau viết về Linnaeus: “Tôi không biết con người nào trên trái đất này lại vĩ đại hơn ông.” Johann Wolfgang von Goethe thì viết: “Ngoại trừ Shakespeare và Spinoza, tôi không biết còn ai khác có thể ảnh hưởng đến tôi sâu sắc hơn ông.” Và nhà văn Thụy Điển August Strindberg nhận định: “Thực ra Linnaeus là một nhà thơ, ông chỉ tình cờ trở thành một nhà tự nhiên học”.    Ở Thụy Điển, mùa xuân thường đến muộn. Chính vì vậy mà lúc cậu bé Carl Linnaeus ra đời vào ngày 23 tháng 5 năm 1707 cũng là lúc mùa xuân tràn về ngôi làng nhỏ Stenbrohult. Cha của cậu là Nils Linnaeus, một người rất yêu cây cối và cũng là một nhà thực vật học nghiệp dư. Mẹ của cậu, Christina, mới chỉ 18 tuổi, vốn là con gái của một vị hiệu trưởng.  Khi Carl quấy khóc, mọi người thường đặt vào tay cậu một bông hoa để dỗ cậu nín. Hoa chính là ngưỡng cửa để Carl bước vào thế giới tự nhiên đẹp đẽ và đa dạng. Ngay từ khi còn nhỏ, Carl đã cảm nhận được rằng, những bông hoa không chỉ đẹp và đa dạng, chúng còn ẩn chứa một ý nghĩa nào đó.                Carl Linnaeus được coi là “người sáng lập ngành phân loại học,” chính ông đã xây dựng hệ thống tên kép bằng tiếng Latin để gọi tên các loài, vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Cũng chính ông đã nghĩ ra cái tên Homo sapiens để chỉ loài người chúng ta và đưa vào một danh mục các loài có vú bao gồm cả khỉ và vượn. Trong bối cảnh lịch sử thời đó, Linnaeus vẫn chưa phải là một nhà tiến hóa triệt để, ông vẫn chịu ảnh hưởng chủ yếu của thuyết Sáng thế – coi việc nghiên cứu tự nhiên chỉ là đi tìm những bằng chứng minh họa cho sức mạnh sáng tạo và bí ẩn của Thượng đế. Mặc dù vậy, một tiến bộ mang tính cách mạng mà Linnaeus đạt được là ông đã coi tính đa dạng của tự nhiên là một đặc điểm tự thân của nó chứ không bị chi phối hoàn toàn bởi thần học. Ông tin rằng, nhiệm vụ của loài người là  phải khám phá, đặt tên, phân loại, tìm hiểu và nhận thức được tất cả các sinh vật trên Trái đất.      Cuốn sách Systema Naturae (Hệ thống Tự nhiên) nổi tiếng của Linnaeus  được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1735 chỉ có hơn chục trang. Trong đó ông đã chỉ ra một hệ thống tự nhiên bao gồm ba giới: giới thực vật, giới động vật và giới khoáng vật. Đến năm 1770, trong lần xuất bản thứ 15, cuốn sách này đã có nội dung lên tới ba nghìn trang với rất nhiều sự chỉnh, mở rộng và bổ sung quan trọng. Sự phân loại giới thực vật của Linnaeus là một công trình đặc biệt xuất sắc, với tính sáng tạo và tính hệ thống cao. Khi nhận ra rằng, các bông hoa chính là những cấu trúc sinh sản của thực vật, ông đã sử dụng nhị và nhụy của chúng để làm đặc trưng cho các nhóm phân loại. Ông đã phân ra được 23 lớp cây có hoa (lớp thứ 24 là các cây không nở hoa) dựa trên số lượng, kích cỡ và sự sắp xếp các nhị của chúng. Trong mỗi lớp đó, ông lại thực hiện sự phân chia  theo các trật tự dựa trên đặc điểm nhụy của mỗi loài.     Sau Systema Naturae, Linnaeus còn xuất bản thêm nhiều cuốn sách nổi tiếng nữa như Flora Suecica (1745), Philosophia Botanica (1751) và Species Plantarum (1753). Đối với Linnaeus, nếu ta có thể tìm ra một phương pháp nào đó để phân loại thực vật thành các nhóm thì khi đó ta có thể khám phá ra được “những quy luật bí mật của Thượng đế” trong việc sáng tạo ra các loài, cũng giống như Newton đã khám phá ra “toán học và vật lý của Thượng đế”. Mặc dù, Linnaeus đã chưa thể tưởng tượng được rằng, sự phân loại các loài một cách tự nhiên nhất là phải dựa trên nguồn gốc tiến hóa của chúng nhưng niềm say mê của ông – đi tìm trật tự của tự nhiên – đã tạo dựng nền tảng phân loại học cho những tư tưởng cách mạng sau này của Charles Darwin.  Ngôn ngữ của Linnaeus  Những công trình khoa học của Linnaeus đã tạo nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà thơ viết thơ để mô tả tự nhiên. Cũng có nhiều bài thơ viết về ông và dành tặng cho ông. Điều thú vị là, khi đọc những bài thơ đó, người ta sẽ có thể tiếp xúc với lịch sử của khoa học về tự nhiên qua hàng trăm năm.   Bản thân những ghi chép nghiên cứu hàng ngày cũng được Linnaeus viết bằng một phong cách ngôn ngữ giống như thơ, thậm chí nhiều người đã khẳng định rằng đó thực sự là thơ – “những bài thơ về nghiên cứu tự nhiên.” Một trong những người đầu tiên chú ý đến ngôn ngữ của Linnaeus là nhà văn August Strindberg, người mà trong những năm 1880 đã hết lời ca ngợi “ngôn ngữ thơ ca” của Linnaeus. Đến đầu thế kỷ 20, ngôn ngữ của Linnaeus bắt đầu được phổ biến và yêu thích rộng rãi, các nhà nghiên cứu văn học cho rằng, phong cách ngôn ngữ đó không chỉ trong sáng, súc tích mà còn hay và truyền cảm. Tình yêu và cách tiếp cận thiên nhiên của Linnaeus đã trở thành một truyền thống tốt đẹp trong đời sống văn hóa giáo dục ở Thụy Điển cũng như ở các nước châu Âu khác.   Eramus Darwin (ông của Charles Robert Darwin vĩ đại) vì rất say mê ngôn ngữ thơ ca khoa học của Linnaeus nên đã dịch lại những công trình phân loại học quan trọng của ông. Eramus còn tích cực nghiên cứu và phát triển thêm phương pháp phân loại học Linnaeus và cố gắng áp dụng nó cho ngành y dược. Trong quá trình theo đuổi phương pháp Linnaeus, Eramus Darwin cũng chính là một trong những người đầu tiên, độc lập với Jean-Baptiste Lamarck, đưa ra ý tưởng cho rằng tiến hóa là một quá trình lịch sử và ngẫu nhiên.   Linnaeus và Goethe  Trong những bài nghiên cứu về thực vật học của mình, Johann Wolfgang von Goethe vẫn thường nhắc đến Linnaeus một cách đầy ngưỡng mộ. Thậm chí Goethe còn thừa nhận rằng, cùng với Shakespeare và Spinoza, Linnaeus chính là một trong ba người thầy lớn nhất của ông.  Sinh ra ở Frankfurt, Goethe đã được học nhiều về văn học và xã hội ngay từ nhỏ. Sau khi chuyển đến Weimar, nhà thơ mới trở nên quan tâm đến giới tự nhiên. Và chính những cuốn sách Termini botanici, Fundamenta botanica và Philosophia botanica của Linnaeus đã đem đến cho Goethe những nền tảng đầu tiên của khoa học về thực vật.      Goethe đã thực hiện những quan sát đối với các loài nấm, rêu, địa y và tảo. Sách của Linnaeus đã “khai sáng” cho ông những phương pháp tuyệt vời để phục vụ cho nghiên cứu. “Sách của Linnaeus không phải chỉ để đọc, chúng còn dạy cho tôi phải thường xuyên thực hành, quan sát, kiểm nghiệm. Và từ đó tôi tìm thấy ở tự nhiên những điều kỳ diệu,” Goethe viết.    TT lược thuật       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cắt giảm phát thải ammonia có thể làm giảm hiệu quả mức tử vong vì ô nhiễm không khí      Giải quyết vấn đề ô nhiễm các hợp chất nitrogen trong không khí, cụ thể là ammonia, có thể làm giảm đi con số 23,3 triệu năm sống mà người dân sống trên khắp thế giới vào năm 2013 bị mất liên quan đến nguyên nhân này, theo một nghiên cứu do các nhà khoa học Trung Quốc thực hiện khi sử dụng một khung mô hình, trong đó có mô hình GAINS IIASA.      Nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học của trường đại học Chiết Giang, Trung Quốc, dẫn dắt đã sử dụng mô hình GAINS IIASA, cùng với những công cụ khác, để phát triển một trắc lượng mới mang tên “chia sẻ nitrogen” (N-share) để ước tính sự đóng góp của các hợp phần nitrogen vào hạt bụi PM2.5 trong không khí ô nhiễm liên quan đến các tác hại về sức khỏe.  Sự chia sẻ nitrogen biểu hiện ở sự đóng góp của một hợp chất chứa nitrogen nhất định bị nghi ngờ ảnh hưởng đến sức khỏe.  Ô nhiễm không khí với bụi PM2.5 là một nhân tố rủi ro lớn nhất về môi trường cho sức khỏe con người trên toàn thế giới. Các hợp chất sulfur dioxide và nitrogen như  nitrogen oxide (NOx), phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy nhiệt điện, lò đốt công nghiệp hoặc nồi hơi cũng như phát thải từ xe cộ, và phát thải ammonia (NH3) chủ yếu từ các nguồn nông nghiệp và tự nhiên cũng là những nguồn quan trọng liên quan đến sự hình thành của PM2.5 trong khí quyển.  Nghiên cứu này, được xuất bản trên Science, tiết lộ, thông qua một phân tích chi phí lợi ích, sự giảm thiểu ammonia là một trong những cách hiệu quả nhất về chi phí để cải thiện chất lượng không khí và sức khỏe công cộng 1.  Nhóm nghiên cứu này đã sử dụng ba mô hình vận chuyển hóa học khí quyển để mô phỏng toàn bộ nồng độ PM2.5 với những phát thải chứa thành phần nitrogen hoặc không có thành phần nitrogen. Họ tìm thấy các phát thải NH3 có đóng góp lớn hơn vào hạt bụi PM2.5 hơn là phát thải NOx. Sử dụng mô hình GAINS do IIASA phát triển, họ đã có thể định lượng được tiềm năng giảm thiểu phát thải và các chi phí tài chính.  Họ đã so sánh các chi phí của việc giảm bớt thành phần nitrogen khắp các lĩnh vực và các quốc gia với những lợi ích của việc giảm sự tử vong để ước tính tác động của những chương trình giảm thiểu và những gợi ý từ các kết luận liên quan đến chính sách.  Nghiên cứu đã phát hiện ra:  – Trên phạm vi toàn cầu, sự đóng góp của NH3 vào bụi PM2.5 lớn hơn NOx, và trong phần lớn các quốc gia, đều cho thấy, sự hình thành của bụi PM2.5  bị NH3 ảnh hưởng lớn hơn NOx.  – Giữa năm 1990 đến năm 2013, trên toàn cầu, những năm bị ô nhiễm bụi PM2.5 “lấy mất” do có thành phần nitrogen trong đó gia tăng từ 19,5 triệu năm đến 23,3 triệu năm.  – Chi phí biên về mức tử vong sớm trung bình trên toàn cầu do phát thải thành phần nitrogen trong năm 2013 cao hơn 33% so với năm 1990 do phát thải gia tăng và do mức tự nguyện đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cao hơn.  Nghiên cứu đánh giá các chi phí và lợi ích của các hoạt động giảm thiểu phát thải NH3 và NOx và tìm thấy chi phí trung bình trên toàn cầu để giảm thiểu phát thải NH3 (1,5 USD mỗi kg NH3-N) thấp hơn bốn lần so với những lợi ích sức khỏe toàn cầu (6,9 USD mỗi kg NH3-N). Điều này có nghĩa là chi phí biên toàn cầu về giảm thiểu phát thải ammonia chỉ là giảm thiểu 10% phát thải nitrogen oxide, nó cho thấy việc giảm thiểu ammonia rẻ hơn và hiệu quả hơn. “Mô hình GAINS là công cụ hoàn hảo để đánh giá chi phí giảm thiểu và ảnh hưởng của ô nhiễm không khí, cho phép đưa ra những khuyến nghị và chính sách rất thực chất”, nhà nghiên cứu Shaohui Zhang ở IIASA, nói.  Một nhà nghiên cứu của IIASA là Wilfried Winiwarter cho biết thêm là cách tiếp cận chia sẻ N có giá trị rất lớn bởi vì ứng dụng rộng rãi của nó trong các nghiên cứu về tác động của ô nhiễm. “Chúng tôi đã bắt đầu tìm hiểu về các thành phần nitrogen bởi vì chúng cho phép chúng tôi có cái nhìn mới để nhận diện những đo lường lợi ích môi trường trong nhiều khía cạnh”, ông nói. “Chúng tôi giờ có thể tìm kiếm một cách dễ dàng hơn về ô nhiễm liên quan đến những tác động lên cả hệ sinh thái hay biến đổi khí hậu đang bị ảnh hưởng của những thành phần nitrogen”.  Các hoạt động nghiên cứu của IIASA đã tập trung vào các chu trình nitrogen ở các mức khác nhau, vì việc tìm hiểu các hợp chất cho phép lĩnh hội những vấn đề khác nhau tưởng chừng như không liên quan, và nhận diện được các cách giải quyết có thể tác động đồng thời lên môi trường.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-ammonia-emissions-cost-effective-air-pollution.html  https://www.newscientist.com/article/2296406-cutting-ammonia-emissions-may-be-the-best-way-to-reduce-air-pollution/  ——————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abf8623       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cát sa mạc Sahara có thể kiềm chế bão ở Đại Tây Dương      Có một mối liên quan đáng ngạc nhiên giữa tần số xuất hiện các cơn bão ở Đại Tây Dương và bão cát từ sa mạc Sahara: cát sa mạc có thể giảm tần số xuất hiện cũng như ảnh hưởng lên hướng đi của các cơn bão, nghiên cứu được công bố ngày 10-10.    Trong thời gian các cơn bão hoạt động mạnh ở Đại tây dương, cát xuất hiện tương đối ít trong khí quyển Sahara, trong khi vào những năm bão cát Sahara mạnh hơn, số cơn bão quét qua Đại tây dương lại ít hơn. Các nhà khoa học Trường ĐH Wisconsin-Madison (Mỹ) đã đưa ra kết luận gây thích thú này sau khi nghiên cứu cơ sở dữ liệu từ vệ tinh trong thời gian 1981-2006.  Cát sa mạc Sahara tăng lên khi không khí nóng của sa mạc va chạm với không khí mát mẻ hơn và khô hơn ở khu vực phía nam và hình thành gió, khi gió xoáy đi lên, gió mậu dịch (gió mạnh thổi liên tục từ Đông Nam hoặc Đông Bắc về hướng xích đạo) bắt đầu thổi chúng về phía tây ở bắc Đại tây dương.  Theo các nhà nghiên cứu, có thể các tầng gió cát khô của không khí đã giúp làm cản trở sự tụ tập của các cơn bão, vốn cần hơi ẩm và sức nóng, nhờ đó hạn chế được tần số xuất hiện của các cơn bão cũng như ảnh hưởng lên hướng đi của chúng.  (Theo Xinhua)  T.VY      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cậu bé” chơi xếp hình ở cấp độ nano      Ben Feringa (Hà Lan) là một trong ba nhà khoa học được trao giải Nobel Hóa học. Trong cuộc trả lời phỏng vấn độc quyền với DW, ông nói về cảm giác khi nhận được điện thoại thông báo của Ủy ban giải thưởng Nobel và ý nghĩa của những nghiên cứu mà mình đã thực hiện.      Kể từ khi có thông báo của Ủy ban giải thưởng về giải Nobel Hóa học, có thể ông đã được hỏi cả nghìn lần: ông cảm giác như thế nào khi nhận được tin này?  Tôi không biết phải nói thế nào nữa. Tôi đã lặng đi một lúc rồi sau đó tôi nói với chủ tịch Ủy ban giải thưởng rằng mình bị sốc và rất xúc động, bởi vì điều đó đến thật bất ngờ. Là nhà khoa học, thi thoảng bạn cũng mơ mình được nhận giải thưởng cao nhất này nhưng dĩ nhiên bạn không thật sự hình dung điều đó xảy ra. Tôi vẫn còn cảm thấy khó tin về điều đó.  Về cái ngày được thông báo giành giải thưởng mà ông nói rằng mình đã từng mơ về nó trước đây, nó thật sự là một giấc mơ rất xa xôi ư?  Là một nhà khoa học, người ta có thể mơ về điều đó, nhưng chúng tôi mơ nhiều thứ: phát minh, khám phá v.v… Nhưng khoa học cơ bản là một công việc rất vất vả, bạn có nhiều ý tưởng nhưng nhiều ý tưởng trong số đó sẽ thất bại. Nó cũng lên xuống như cuộc đời vậy. Nhưng thật tuyệt vời khi tìm ra một khám phá nào đó. Và rồi anh nhận được một giải thưởng cho những nghiên cứu mà anh đã thực hiện 30 năm trước và những khám phá mà anh đã tạo ra– tôi không biết nói gì nữa về điều này.  Dĩ nhiên đây là tin vui đối với tất cả sinh viên, các nhà nghiên cứu và những ai đã tham gia hỗ trợ để làm nên thành quả này tại viện nghiên cứu của chúng tôi và các đơn vị hợp tác với chúng tôi trên toàn thế giới, bởi vì anh không thể tự mình làm tất cả mọi công đoạn khi nghiên cứu trong lĩnh vực nano. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, tôi thấy rất vinh dự khi làm việc trong môi trường hàn lâm, trong lĩnh vực khoa học rất mới với những con người trẻ tuổi tài năng nhất trong cộng đồng khoa học.  Ông hiện được coi là người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Vậy hóa học luôn là niềm đam mê của ông?  Khi còn học phổ thông, tôi đã là một nhà khoa học nhí: tôi thích toán, vật lý và hóa học, thích hơn cả các môn ngoại ngữ. Nguyên nhân khiến tôi say mê hóa là do môn khoa học này đem lại cho tôi khả năng tạo ra được nhiều sản phẩm, ví dụ với lĩnh vực hóa tổng hợp, tôi có thể xây dựng nên những phân tử mới và vật liệu mới. Chúng đều là các chất xúc tác mới dùng trong ngành công nghiệp hoặc trong trường hợp này [Ben Feringa muốn ám chỉ các công trình giúp ông giành giải Nobel] là các động cơ phân tử dành cho công nghệ nano trong tương lai. Sự thật là từ những sản phẩm nghiên cứu này, người ta có thể tạo ra những vật chất chưa từng có, chúng tôi sắp xếp lại những kiến trúc đẹp đẽ của Mẹ thiên nhiên – những phân tử – để tạo ra sản phẩm mới, cảm giác như là một nghệ sỹ vậy. Bạn có thể kiến tạo ra những thứ chưa từng tồn tại trước đó. Đó là những điều khiến tôi thích ở công việc của mình.  Nhiều người đã so sánh công việc nghiên cứu của ông và công trình của ông với trò chơi Lego khi cho rằng ông đang xây dựng các cỗ máy phân tử với những mẩu Lego bé tí. Vậy ông nhìn nhận điều đó như thế nào?  Cách chơi Lego đúng là giống cách mà chúng tôi sử dụng các thành phần phân tử để làm ra những cỗ máy và vật liệu mới và đem lại hi vọng cho sản xuất thuốc trong tương lai. Tôi vẫn thường cảm thấy mình như cậu bé con chơi trò Lego, nhưng ở cấp độ nano.    Khi nào chúng ta có thể nhìn thấy những kết quả thực tiễn từ nghiên cứu của ông và những lợi ích mà chúng đem lại cho xã hội?  Với những người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản thì đây luôn là một câu hỏi khó. Tôi thường so sánh điều đó với việc anh em nhà Wright, những người đã mạo hiểm bay lần đầu tiên cách đây 100 năm trên chiếc máy bay hết sức thô sơ cách mặt đất có vài mét. Ở thời điểm đó không ai ngờ rằng một trăm năm sau con ngườilại làm ra những chiếc Airbus hay Boeing 747 với khoang hành khách chứa được 400 người có thể bay vượt đại dương.  Là những nhà hóa học, chúng tôi có thể làm ra nhiều loại vật liệu hữu dụng trong cuộc sống, từ nhiên liệu cho ô tô đến những vật liệu cho đồ gia dụng, các loại thuốc mà chúng ta vẫn thường dùng để chữa trị trong bệnh viện. Sự thực là chúng ta có thể tạo ra một kỷ nguyên mới – thời của những thiết bị phân tử trong lĩnh vực y học. Hãy nghĩ đến những cỗ máy robot tí hon được đưa vào trong mạch máu để tìm các tế bào ung thư hoặc tiểu phẫu.    Giải Nobel đã khiến ông được rất nhiều người chú ý đến, vậy ông có nghĩ rằng điều đó sẽ giúp ích gì cho mình trong nghiên cứu?  Tôi hy vọng nó sẽ khuyến khích những người trẻ mơ về việc họ có thể làm được những điều còn hơn cả thứ mà tôi đã làm được ở thời điểm này, khuyến khích họ tìm ra những phát minh, khám phá mới để làm nên những đột phá mà tôi đã từng nhắc đến: chúng ta sẽ lưu giữ điện năng trong tương lai như thế nào? Chúng ta tiếp tục làm ra những vật liệu có khả năng tự sửa lỗi như thế nào? Ví dụ như chiếc xe của anh – nếu bị xước thì sẽ có chức năng tự liền lại như mới. Trong tương lai, tất cả mọi điều đều có thể xảy ra nhưng cần phải có những nghiên cứu mang tính chất đột phá. Tôi hy vọng rằng giải thưởng sẽ tạo ra sự khuyến khích cho cộng đồng và đặc biệt là những nhà nghiên cứu trẻ tài năng mà chúng tôi đang hướng dẫn để họ tiếp tục thực hiện những nghiên cứu này.  Việc giành giải thưởng có giá trị như thế nào với cá nhân ông?  Nó giống như giành một huy chương vàng Olympic. Nó làm tôi sửng sốt bởi nó tạo cảm giác giống như trên một tàu lượn cao tốc vậy. Tôi chỉ mới bước khỏi tàu lượn cao tốc và trở lại mặt đất, nhưng điều đó cũng thật thú vị. Hành trình 30 năm cuộc đời tôi cũng trải qua những thời kỳ khó khăn. Khi anh có nhiều ý tưởng nhưng thi thoảng đơn giản là không thể hiện thực hóa nó một cách hiệu quả, anh chết dí một chỗ và phải tìm ra một vài hướng nghiên cứu mới. Anh cũng phải cân bằng giữa việc tìm kinh phí cho nghiên cứu với đảm bảo cho công việc nghiên cứu được chạy tốt, bởi vì chúng tôi làm trong lĩnh vực thực nghiệm: chúng tôi điều hành một phòng thí nghiệm lớn và cần rất nhiều tiền. Anh cũng phải nhớ rằng trong suốt 30 năm nghiên cứu ở đó, bên cạnh nhiều điểm nhấn thành công là những thời khắc khó khăn. Nhưng dĩ nhiên là tôi vẫn cảm thấy say mê khoa học và niềm đam mê ấy khuyến khích tôi vững bước trên con đường nghiên cứu.  Ông đã nói nhiều về các nhà nghiên cứu trẻ, đặc biệt những người trong nhóm nghiên cứu của ông ở Hà Lan. Vậy ông có thể nói gì về thế hệ các nhà nghiên cứu trẻ ở đó?  Chúng tôi mới chỉ cào xới phần bề mặt trong lĩnh vực nghiên cứu của mình – hóa học còn ẩn chứa rất nhiều triển vọng. Vì vậy với thế hệ nghiên cứu trẻ, tôi chỉ có thể nói rằng: hãy tiến lên phía trước với một chút liều lĩnh, tìm kiếm những giải pháp độc đáo và tập trung nghiên cứu về nó – về năng lượng, thực phẩm, vật liệu mới cần thiết cho xã hội. Đừng sợ hãi và hãy tìm cách ứng dụng những hiểu biết đó để làm nên những đột phá đích thực. Rồi chúng sẽ trở thành những ứng dụng mới và đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta.  Và hãy thưởng thức vẻ đẹp của thế giới hóa học, thế giới phân tử và vẻ đẹp của khoa học, bởi vì có rất nhiều điều thú vị ở đó. Chúng ta có thể đem lại nhiều giải pháp cho nhiều vấn đề của cuộc sống như việc chữa trị ung thư trong tương lai.  Hiện chúng tôi đang nghiên cứu về các loại kháng sinh thông minh – loại thuốc mà người ta có thể sử dụng mà không bị kháng kháng sinh. Các thuốc này chỉ có tác dụng tại những điểm nhiễm khuẩn mà không gây ra bất kỳ tác hại nào cho vùng xung quanh. Vì vậy sẽ có rất nhiều thách thức ở phía trước và tôi rất mong các nhà nghiên cứu trẻ đảm nhiệm công việc này.  Ben Feringa chuyên nghiên cứu về công nghệ nano phân tử và là giáo sư tại trường ĐH Groningen. Ông nhận giải Nobel hóa học 2016 cùng với Sir J. Fraser Stoddart, Jean-Pierre Sauvage, “cho việc thiết kế và chế tạo những cỗ máy phân tử”. Bernard Feringa là người đầu tiên phát triển một động cơ phân tử; vào năm 1999, ông đã chế tạo được một cánh quạt rotor phân tử có thể quay liên tục cùng hướng. Bằng các động cơ phân tử, ông đã quay một xi lanh thủy tinh có kích thước lớn hơn động cơ 10.000 lần và ông cũng đã thiết kế được một xe hơi nano.    Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/when-the-nobel-prize-committee-calls/a-36002933    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Câu chuyện Minamata      Tôi muốn kể câu chuyện về Minamata (Nhật Bản), xảy ra cách đây 60 năm, không chỉ là chuyện những con cá, tôm cua nghêu sò ốc hến nhiễm thủy ngân độc hại cỡ nào, mà còn muốn nói về hành trình đi tìm chân lý khoa học đã bị trắc trở ra sao bởi kim tiền thế lực, cùng với những nỗi đau mà nạn nhân phải chịu đựng. Câu chuyện bắt đầu thế này…      Những bức ảnh nạn nhân vụ Niigata Minamata được trưng bày trong một sự kiện tưởng niệm được tổ chức tại Niigata vào ngày 31/5 hằng năm. Nguồn: Japan Times.  Từ em bé đến vũ điệu của mèo  Một ngày tháng tư năm 1956, một bé gái năm tuổi được đưa tới bệnh xá của nhà máy Chisso ở Minamata, thành phố nằm trên hòn đảo cực nam của Nhật Bản. Bé đi đứng run rẩy, ăn nói khó khăn, và bị co giật liên tục. Hai ngày sau, em gái của bé cũng nhập viện với triệu chứng tương tự. Mẹ của hai bé cho biết, nhiều trẻ em láng giềng cũng bị như thế. Bác sĩ cho rằng các biểu hiện này đều liên quan đến hệ thần kinh trung ương, và có thể đó là nạn dịch truyền nhiễm. Các bệnh nhân lập tức bị cô lập, buồn tủi và mặc cảm do sự phân biệt đối xử và xa lánh của cộng đồng địa phương.  Chưa hết, những con mèo bỗng lên cơn, múa may quay cuồng rồi chết. Trên trời quạ rơi xuống đất, mặt biển cá chết nổi lềnh bềnh, dưới biển rong tảo không thể sống…  Sự việc không còn đơn giản nữa. Trường Đại học Kumamoto được mời nhập cuộc. Kumamoto là tỉnh mà thành phố Minamata trực thuộc. Nhóm nghiên cứu nhận thấy, ngoài các triệu chứng kể trên, nhiều người còn bị tê tay, tê chân, không tự cài được nút áo, mắt mờ, tai lãng, khó nuốt, co giật, hôn mê sâu và sau cùng tử vong. Vài tháng sau đó, 40 bệnh nhân được ghi nhận, 14 người trong số đó đã chết.  Kim loại nặng bị tình nghi  Nhóm nghiên cứu nhận thấy bệnh nhân đều là những người dân sống ở làng chài ven vịnh Minamata, và đều ăn cá, tôm cua sò ốc hến ở đó. Họ cho rằng, có thể là do ngộ độc thực phẩm, và có lẽ là do kim loại nặng.  Nhưng kim loại nặng thì nhiều loại lắm: đồng, chì, thủy ngân, mangan, arsenic, selenium, thallium. Trong đó mangan bị “chiếu tướng” kỹ nhất vì dư lượng khá cao được tìm thấy trong cá. Tuy nhiên, triệu chứng do ngộ độc các kim loại nặng nêu trên (trừ thủy ngân), không giống với những gì quan sát được nơi những bệnh nhân ở Minamata.  Sự việc cứ lình xình như thế, hết giả thuyết này đến giả thuyết nọ, chẳng đi đến đâu. Gần hai năm sau, tháng ba năm 1958, một nhà thần kinh học người Anh, Douglas McAlpine sau chuyến viếng thăm Minamata, mới nêu ý kiến, các triệu chứng của Minamata rất giống với ngộ độc thủy ngân hữu cơ, và cho lời khuyên, nên hướng nghiên cứu tập trung vào thủ phạm này.  Mẫu tóc của bệnh nhân và cư dân vùng Minamata được đem đi xét nghiệm. Mức thủy ngân ở bệnh nhân là 705 ppm max, và cư dân (chưa phát bệnh) là 191 ppm. Trong khi mức trung bình của cư dân ngoài vùng Minamata chỉ có 4 ppm. Một sự chênh lệch khủng khiếp!  Nghêu sò ốc hến tôm cua cá biển ở vùng vịnh Minamata cũng được đem xét nghiệm. Bùn cặn nơi đây có mức thủy ngân rất cao, nhưng cao nhất là ở vùng xả thải của nhà máy Chisso, và giảm dần khi đổ ra biển. Ở gần miệng cống thải, không thể tưởng tượng nổi, mức thủy ngân tìm thấy trong bùn cặn lên tới 2 kg/tấn. Đây phải xem là “mỏ thủy ngân” rồi chứ đâu còn là chất thải. Chuyện thật như đùa, sau này công ty Chisso cho tái chế đống bùn này để lấy thủy ngân đem bán.  Lãnh chúa Chisso là ai?  Chisso là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản, thành lập năm 1908, và có nhà máy đặt tại Minamata. Ban đầu, Chisso chỉ sản xuất phân bón, sau mới sản xuất thêm nhiều loại hóa chất khác, trong đó có chất acetaldehyde, liên quan tới thủy ngân.  Năm 1932, Chisso mới bắt đầu sản xuất acetaldehyde ở mức 210 tấn/năm, và tăng dần lên tới 45.245 tấn vào năm 1960. Công nghệ sản xuất acetaldehyde đòi hỏi phải dùng nhiều loại chất xúc tác, trong đó có sulfate thủy ngân và ôxít mangan. Năm 1951, Chisso đã thay ôxít mangan bằng sulfur sắt (III) để có giá thành rẻ hơn. Tuy nhiên phản ứng phụ trong chuỗi xúc tác này tạo ra methyl thủy ngân, một dạng thuỷ ngân hữu cơ độc hại nhất, độc hơn sulfate thủy ngân nhiều.  Như vậy, Chisso đã bắt xả đầu thải thủy ngân ra vịnh Minamata từ năm 1932. Cùng với sản lượng tăng dần, và tai hại nhất là năm 1951 xả thêm methyl thủy ngân, và cho mãi đến năm 1968 mới ngưng công nghệ “đổi chất xúc tác” này. Thảm họa Minamata bùng nổ từ năm 1956.  Vào thập niên 1950, hiểu biết của khoa học về ngộ độc của thủy ngân và những hợp chất của nó còn hạn chế nhiều, chỉ luẩn quẩn trong phòng thí nghiệm hoặc ở quy mô nhỏ, chứ còn ô nhiễm do xả thải công nghiệp ở diện rộng, rồi ngộ độc qua tôm cá, và chỉ đích danh được methyl thủy ngân là thủ phạm là điều không dễ dàng. Và cũng vì không dễ dàng, nên khoa học mới bị nhập nhằng đổi trắng thay đen.  Và cũng nên biết rằng, những năm 1950, 1960, dân Nhật đang nỗ lực rất nhiều để xây dựng lại công nghiệp và phát triển kinh tế gần như từ zero sau khi thất trận ở thế chiến II. Thế nên thành công của Chisso là niềm tự hào của cả dân tộc Nhật lúc đó. Những nạn nhân đòi hỏi bồi thường và những người liên quan đều bị dư luận Nhật xem là những kẻ phá rối.  Những con tim chân chính vì chân lý  Khi nhóm nghiên cứu của đại học Kumamoto đến làm việc, Chisso đã bỏ mặc họ muốn làm gì thì làm, muốn đoán sao thì đoán, chứ không cho biết công nghệ ra sao, đã sử dụng những chất gì, hay chất nào đáng ngờ nhất. Lý do đây là bí mật công nghệ, mà niềm tự hào dân tộc đã nâng cấp thành “bí mật quốc gia”. Tất cả công nhân viên Chisso đều nhiệt tình che đậy sự thật.  Bác sĩ Hosokawa, giám đốc bệnh xá nhà máy đã làm thí nghiệm bằng cách cho những con mèo lành mạnh ăn thức ăn có trộn nước thải từ Chisso. Hơn 70 ngày sau, những con mèo này biểu hiện triệu chứng múa may cuồng loạn và chết. Chisso ra lệnh ngưng thí nghiệm và không được phép tiết lộ ra ngoài. Thực nghiệm của Hosokawa tuy không chỉ được đích danh thủ phạm là methyl thủy ngân, nhưng cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa chất xả thải của Chisso và thảm họa đang xảy ra.      Ô nhiễm thuỷ ngân do con người gây ra: Các nhà máy nhiệt điện (đốt than) chiếm nhiều nhất (65%), khai thác vàng (11%), luyện sắt thép, xi măng, pin, đèn huỳnh quang,… thải thủy ngân ra không khí, ao hồ, sông biển… Thủy ngân dù ở dạng nguyên tố (Hg), hay dạng muối vô cơ, khi đi vào nguồn nước đa số đều bị các vi sinh vật chuyển hoá thành methyl thủy ngân, tích tụ trong rong tảo. Đây là dạng độc hại nhất của thuỷ ngân trong thực phẩm.        Sau này, bác sĩ Hosokawa, trước khi chết vì ung thư đã ra làm chứng trước tòa, và là nhân chứng sáng giá nhất trong vụ kiện đòi đền bù.  Khi biết nhóm nghiên cứu của Đại học Kumamoto sẽ tập trung khảo sát và lấy mẫu ở khu vực cảng Hyakkken, nơi Chisso xả thải. Chisso ngưng xả theo hướng đó, mà cho xả trực tiếp xuống sông Minamata luôn. Hậu quả là ô nhiễm lan rộng hơn đến các khu vực lân cận. Cá chết, người bệnh tràn lan thêm. Chơi ngông đến thế là cùng!  Tìm cách đánh lạc hướng khảo sát của Đại học Kumamoto đang nhắm vào methyl thủy ngân, Chisso đã  “móc ngoéo” với Bộ Ngoại thương và Kỹ nghệ và Hiệp hội Kỹ nghệ hóa chất Nhật Bản để tài trợ cho những nghiên cứu khác, nhằm chứng tỏ căn bệnh thần kinh đó là do nguyên nhân khác chứ không phải do nước thải của Chisso, và rằng nhà máy Chisso “cương quyết” tiếp tục hoạt động.  Chưa hết, Chisso còn vận động để chính phủ cắt luôn tài trợ nghiên cứu về bệnh Minamata của Đại học Kumamoto, nhưng nhóm khoa học gia “ngoan cố” của Kumamoto vẫn âm thầm đi tiếp công việc của mình. Năm 1962, giáo sư Irigayama đã tách được methyl thủy ngân từ trong hệ xúc tác thải ra của Chisso khi sản xuất acetaldehyde. Chân lý đã sáng tỏ, nhưng là thứ chân lý hẩm hiu, vùi dập. Cộng đồng khoa học Nhật hồi đó đã nhắm mắt làm ngơ với chân lý methyl thủy ngân.  Chỉ đến tháng sáu năm 1965, một thảm họa tương tự như Mianmata xảy ra ở thành phố Niigata (cách xa Minamata). Hai nhà máy sản xuất acetaldehyde ở đây đã xả thải ra thượng nguồn sông Agano. Hậu quả là cư dân và động vật ở hạ nguồn Agano mắc bệnh và có những triệu chứng tương tự như ở Minamata. Chân lý ngộ độc methyl thủy ngân không thể bị vùi dập được nữa.  Đã 60 năm kể từ khi những nạn nhân đầu tiên về ngộ độc thủy ngân được phát hiện ở Minamata do xả thải công nghiệp. Nhìn lại để thấy, chân lý khoa học không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đôi khi nó cũng chịu chung số phận bầm dập như nạn nhân ô nhiễm.  —  Bài đã được biên tập cắt bỏ một đoạn vào lúc 10:21 sáng 23/3/2017 theo tư vấn của GS.TS ngành hóa phân tích Phạm Hùng Việt (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội).       Author                Vũ Thế Thành        
__label__tiasang Câu chuyện về khoa học dữ liệu: Chỉ vài kẻ thắng cuộc?      Vừa qua tại hội nghị châu Á – Thái Bình Dương về Khai phá Dữ liệu (PAKDD) ở Hàn Quốc, giáo sư Sang Kyun Cha (Viện trưởng Viện Dữ liệu lớn Hàn Quốc) – người có uy tín trong cả hai giới hàn lâm và công nghiệp nước này, đã nói về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4), và một nhận định của ông đã ám ảnh tôi suốt hội nghị: “Mối đe doạ là chỉ một số ít quốc gia thắng cuộc sẽ lấy tất”(“Threat: A small number of winners take all”).      Việt Nam cần xây dựng được nguồn dữ liệu của các ngành nghề. Nguồn: taichinhdientu.vn  Nếu nhận định này là đúng, thì một số ít quốc gia thắng cuộc trong CMCN4 sẽ là ai? Vì sao họ thắng cuộc? Việt Nam có nằm trong số đông các nước sẽ thua cuộc không? Nếu có thì làm sao vượt ra để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước ?  Cốt lõi của CMCN4 là sản xuất thông minh dựa trên các đột phá của công nghệ số. Có thể hiểu công nghệ số gồm hai nội dung chính: số hóa và dùng dữ liệu số hóa. Tiến bộ của khoa học đã cho phép con người dần số hóa được hầu hết mọi thực thể trên đời (hệ gien người, cây lúa, chiếc ô-tô, khách sạn, doanh nghiệp, cơ quan công quyền…), và hầu hết mọi thực thể trong thế giới thực của chúng ta có thể được kết nối với nhau qua các phiên bản số của chúng trong không gian internet (internet vạn vật). Việc kết nối này thực chất là kết nối dữ liệu số hóa của các thực thể và do đó tạo ra một không gian số hoá rất lớn và rất phức tạp, gọi là dữ liệu lớn (big data), hiện đang vượt quá khả năng xử lý của con người. Những điều trên đang dẫn đến sự thay đổi phương thức sản xuất của con người: Hoạt động sản xuất trong thế giới thực được điều hành và quyết định một cách thông minh từ không gian số các kết nối kể trên.  Có thể nói, về bản chất, quốc gia nào thắng cuộc trong CMCN4 là quốc gia làm chủ được các nguồn dữ liệu lớn và phức tạp này, đưa chúng vào mọi lĩnh vực của sản xuất và cuộc sống, làm cho sản xuất và cuộc sống thông minhvà hiệu quả hơn qua các phương pháp của trí tuệ nhân tạo. Mối đe dọa giáo sư Sang Kyun Cha nói đến chính là chỉ một số ít quốc gia nắm được, phát triển và dùng được công nghệ số hiệu quả, và do đó sẽ thắng trong CMCN4.  Ý thức được điều này, trong vòng vài năm qua các nước phát triển đều xây dựng chương trình chiến lược quốc gia của mình cho thời gian tới. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” cho ba thập kỷ. Nước Đức có “Công nghiệp 4.0”. Nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp Pháp”. Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai”. Trung Quốc có “Sản xuất tại Trung Quốc năm 2025”. Nhật Bản có “Xã hội thông minh” (Smart society). Singapore có “Quốc gia thông minh” (Smart nation)… Cốt lõi của các chương trình đó chính là câu chuyện của số hóa, kết nối và phân tích dữ liệu lớn. Và xuyên suốt ba khía cạnh công nghệ này chính là khoa học dữ liệu (KHDL).      Quốc gia nào thắng cuộc trong CMCN4 là quốc gia làm chủ được các nguồn dữ liệu lớn và phức tạp này, đưa chúng vào mọi lĩnh vực của sản xuất và cuộc sống, làm cho sản xuất và cuộc sống thông minh và hiệu quả hơn qua các phương pháp của trí tuệ nhân tạo.      Đại thể KHDL là khoa học về việc quản trị và phân tích dữ liệu để tìm ra các hiểu biết, các tri thức hành động, các quyết định dẫn dắt hành động. KHDL gồm ba phần chính: Tạo ra và quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu, và chuyển kết quả phân tích thành giá trị của hành động. Nôm na bước thứ nhất là về số hóa và bước thứ hai là về dùng dữ liệu. Việc phân tích và dùng dữ liệu lại dựa vào ba nguồn tri thức: toán học (thống kê toán học), công nghệ thông tin (học máy) và tri thức của lĩnh vực ứng dụng cụ thể.  Nếu phân tích dữ liệu về nhu cầu thị trường ta có thể quyết định cần nuôi bao nhiêu lợn mỗi nơi mỗi lúc. Nếu có và phân tích được dữ liệu mô phỏng các phương án xả lũ vào mùa mưa ta có thể chọn được cách xả lũ ít thiệt hại nhất. Nếu có và phân tích được các bệnh án điện tử của người bệnh ta có thể tìm ra được phác đồ thích hợp hơn cả cho người bệnh. Amazon đã phân tích các lần mua hàng trước của bạn để dự đoán những món đồ bạn có thể sẽ thích mua và gửi quảng cáo tới, v.v. Khi nghe nói về các thành tựu đột phá gần đây của Trí tuệ nhân tạo người nghe có thể cũng chưa biết rằng phần lớn chúng đều dựa vào các phương pháp và đột phá của KHDL.  Để thực hiện chương trình của mình, một trong các việc Hàn Quốc đã làm là lập ra Viện Dữ liệu Lớn (Big Data Institute) trong Đại học Quốc gia Seoul (SNU) vào tháng 4/2014. Tuy nằm trong SNU, Viện này mang sứ mạng quốc gia, liên kết khoảng 220 giáo sư người Hàn Quốc hoạt động cho lĩnh vực liên ngành này, nhằm dẫn dắt sự dịch chuyển quốc gia về giáo dục và nghiên cứu với KHDL. Viện được đầu tư rất lớn, như phòng thí nghiệm về KHDL đô thị của Viện đã nhận được kinh phí 9 triệu USD của thành phố Seoul vào tháng 4 năm nay cho giai đoạn 3 năm.  Trung Quốc đã sớm đẩy mạnh KHDL trên toàn quốc. Tháng 8/2012 quốc gia này đã khởi động chương trình hoa tiêu về dữ liệu lớn với kinh phí 1,3 tỷ nhân dân tệ. Vào tháng 10/2015, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra “Chiến lược quốc gia về dữ liệu lớn”. Các viện về khoa học dữ liệu, về dữ liệu lớn được thành lập ở Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Thâm Quyến… và nhiều đại học trên cả nước cũng như ở nhiều tỉnh thành. Cơ sở của những quyết sách như vậy là một sinh hoạt thường kỳ về khoa học và công nghệ với tên gọi “học tập theo nhóm” (group study) của Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong các buổi này, họ mời các nhà khoa học uy tín giới thiệu về các tiến bộ quan trọng của khoa học và công nghệ.      Có thể nói Việt Nam hầu như không thể nằm trong số ít thắng cuộc, theo nghĩa thắng ở việc làm ra các sản phẩm của công nghệ cao cho thiên hạ. Tuy nhiên, với các mục tiêu phát triển của mình, phải chăng ta có những cơ hội để thắng chính mình, để làm được và dùng được KHDL một cách hiệu quả, rộng hơn là công nghệ số, cho những mục tiêu phát triển của đất nước?      Mục tiêu của Singapore là trở thành một quốc gia thông minh dựa trên làm chủ nguồn dữ liệu lớn. Gần đây, Singapore lập ra một tổ hợp về khoa học dữ liệu (data science consortium) gồm Đại học quốc gia Singapore (NUS), Đại học kỹ thuật Nanyang (NTU), Đại học Quản lý Singapore (SMU) và Trung tâm nghiên cứu A*STAR để thúc đẩy hợp tác giữa công nghiệp và trường viện để phát triển KHDL. Không có thế mạnh chế tạo máy móc như nhiều cường quốc khác, Singapore chọn con đường riêng của mình trong CMCN4.  Con đường phát triển và cách đi của mỗi quốc gia tất nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đó là thể chế chính trị với các chính sách phát triển, là tình trạng kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ… Tuy nhiên khi CMCN4 bùng nổ, mọi quốc gia muốn phát triển đều phải dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ, vào các nguồn dữ liệu thay cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đương nhiên các quốc gia đang sản xuất với nhiều công nghệ cao cũng như có nền khoa học phát triển sẽ có nhiều cơ hội thắng cuộc. Câu hỏi là có cơ hội nào cho các nước đang phát triển vươn lên trong CMCN4 không? Đâu sẽ là con đường và cách chúng ta đi trong CMCN4?   Nhìn vào bức tranh toàn cầu và các yếu tố kể trên, có thể nói Việt Nam hầu như không thể nằm trong số ít thắng cuộc, theo nghĩa thắng ở việc làm ra các sản phẩm của công nghệ cao cho thiên hạ. Tuy nhiên, với các mục tiêu phát triển của mình, phải chăng ta có những cơ hội để thắng chính mình, để làm được và dùng được KHDL một cách hiệu quả, rộng hơn là công nghệ số, cho những mục tiêu phát triển của đất nước?  Giáo dục toán học của ta có truyền thống. Ta có lực lượng làm về công nghệ thông tin khá đông đảo và có kỹ năng tốt. Quan trọng hơn cả, ta có những thế hệ người trẻ tuổi thông minh, khát vọng vươn lên cho đời mình và cho đất nước. Trong khoá học ngắn hạn về KHDL do Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức giữa tháng 5 vừa qua ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đã có hơn một nghìn người đăng ký và tham gia, hầu hết còn trẻ. Có thể cảm nhận được khát khao hiểu biết và mong muốn vươn lên trên từng khuôn mặt và trong từng câu hỏi của người học.  Để phát huy được sức mạnh của KHDL ta phải có chính sách và nỗ lực xây dựng nguồn tài nguyên dữ liệu, về công cuộc số hóa. Ngoài dữ liệu do máy móc đo đạc đưa lại (thí dụ từ các thiết bị đo trong y học, trong giao thông vận tải, khí tượng thời tiết…) hay nguồn dữ liệu từ các mạng xã hội, ta phải xây dựng được nguồn dữ liệu của các ngành nghề (kinh tế, nông nghiệp, du lịch, tài chính, thương mại, giáo dục…), nguồn dữ liệu của xã hội dân sự từ các hệ thống chính phủ điện tử… và các nguồn dữ liệu về thế giới quanh ta.      Theo nhận định chủ quan của tôi, nếu như về sản xuất ô-tô, đồ điện tử… ta có thể sau Hàn Quốc nhiều chục năm, nhưng nếu kết hợp tốt các nhà khoa học trong và ngoài nước ta cũng sẽ không sau Hàn Quốc bao nhiêu về KHDL      Kỹ thuật phân tích dữ liệu phát triển rất nhanh trong những năm vừa qua. Trong quãng thời gian ấy, một số nhà nghiên cứu người Việt làm việc ở đại học và các công ty lớn trên thế giới đã và đang nắm bắt được cũng như tham gia vào giải quyết những bài toán thời sự nhất, khó khăn nhất của KHDL. Phần lớn trong số họ đều sẵn sàng và mong muốn được học hỏi cũng như chia sẻ kinh nghiệm và hiểu biết của mình với đồng nghiệp trong nước.  Theo nhận định chủ quan của tôi, nếu như về sản xuất ô-tô, đồ điện tử… ta có thể sau Hàn Quốc nhiều chục năm, nhưng nếu kết hợp tốt các nhà khoa học trong và ngoài nước, ta cũng sẽ không sau Hàn Quốc bao nhiêu về KHDL.  KHDL mới là một yếu tố cần của sự phát triển trong CMCN4, nhưng là yếu tố cần ta có thể đạt được. Để KHDL có thể là một mũi đột phá trong sự phát triển, những yếu tố cần khác là sự mạnh mẽ của các quyết tâm chính trị, sự sáng suốt của các chính sách, sự cách tân của các doanh nghiệp…  Với nhu cầu phát triển của đất nước khi một cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đang bắt đầu, với khao khát vươn lên của những người trẻ tuổi, trách nhiệm của những người giữ trọng trách, nỗ lực kết nối lực lượng khoa học và công nghệ trong và ngoài nước… liệu chúng ta có thể thay đổi được cách nghĩ, cách làm, tìm ra được đường đi để “thắng chính mình” trong các mục tiêu phát triển ? Và để không là người thua cuộc?    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Cầu làm bằng giấy      Một cây cầu bằng giấy cactông (ảnh) có thể đưa 20 người qua sông cùng lúc là công trình của kiến trúc sư Nhật Shigeru Ban, người đã thực hiện nhiều căn nhà bằng giấy cactông cho các trại tị nạn động đất ở Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ hay cho người tị nạn Rwanda.    Ông cũng là đồng tác giả của Trung tâm Pompidou ở Metz (Pháp), một công trình nổi tiếng được xây bằng gỗ, bêtông, thép và thủy tinh.  Cây cầu giấy vừa được khánh thành cuối tuần qua bắc ngang kênh dẫn nước Pont-du-Gard nằm ở Lyon, Pháp. Cầu dài 20m. Giấy cactông xây cầu gồm nhiều khúc hình ống với đường kính 11,5cm, độ dày của giấy 11,9mm, bên trong có lót vải quấn tròn. Toàn bộ công trình nặng 7,5 tấn với tải trọng tối đa 1,5 tấn. Khách qua cầu sẽ giẫm lên các thanh nằm ngang làm bằng một hỗn hợp giấy và nhựa tái sinh. Móng cầu là những thùng gỗ đựng đầy cát và sỏi. Ông Shigeru Ban giải thích: “Để dựng cầu cho nhanh. Vả lại, ximăng rất khó tái sinh”.  TH.TU. (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cầu sập vì… chim      Lưu lượng quá tải, sắt thép gỉ và những mấu chốt bị mất khiến cây cầu bắc qua sông Mississippi ở Mỹ bị gãy. Nhưng nay người ta đã tìm ra một thủ phạm mới: đó là những con chim bồ câu.Các chuyên gia cho biết hàng đống chất thải của chim rải rác trên khắp cây cầu nối liền liên bang đã khiến cho các thanh sắt bị gỉ nhanh hơn.    Mặc dù các nhà điều tra vẫn chưa có kết luận chính thức về nguyên nhân gây sập cầu vào ngày 1/8, giết chết 13 người và làm 100 người bị thương, thì chim bồ câu là một trong nhiều yếu tố làm hư hỏng cấu trúc cây cầu.  “Có một lớp phân bồ câu phủ đầy trên sắt và những chiếc tổ chim nặng trĩu trong các hộp rỗng của cây cầu”, các nhà điều tra đã viết trong bản báo cáo năm 1987-1989.  Vào năm 1996, các màn hình được gắn trên các thanh xà lan để ngăn không cho bồ câu làm tổ ở đó, nhưng nó vẫn không ngăn phân chim rải rác khắp nơi.  Phân chim chứa ammonia và axit. Nếu không được rửa sạch, nó sẽ khô lại và kết đặc thành muối. Khi nước mưa rơi xuống, kết hợp với muối và ammonia, sẽ tạo nên phản ứng điện hóa làm gỉ thép ở bên dưới.  “Cứ mỗi lần có một lớp chất nhày ở đó, lại có một phản ứng hoá học xảy ra và dần dẫn tới sự bào mòn phân huỷ. Cuối cùng qua một thời gian dài nó làm cho công trình yếu hẳn đi”, Neal Langerman, nhân viên sức khoẻ và an ninh tại tổ chức American Chemical Society, cho biết.  Vấn đề này xảy ra ở nhiều cây cầu tại những nơi khác. Tuy nhiên việc đuổi chim ra khỏi cầu đòi hỏi một chiến lược phức tạp, bao gồm giăng lưới chặn các lỗ hổng trên cầu, gắn mũi nhọn để không cho chúng hạ cánh, và đôi khi còn phải bắn hay đặt bẫy chim.  Vấn đề là chim bồ câu rất thích những cây cầu và các toà nhà cao tầng bởi tổ tiên của chúng là những kẻ sống cheo leo trên vách núi, Karen Purcell, người đứng đầu dự án PigeonWatch của Phòng thí nghiệm điểu học Cornell, cho biết. Cây cầu là một nơi trú ngụ tốt để tránh kẻ thù và có bề mặt lý tưởng để làm tổ và qua đêm.  M.T. (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Câu trả lời bên ngoài Trái đất      Liệu rằng, bằng việc nghiên cứu những sa mạc đỏ quạch, khô cằn trên Sao Hỏa, bầu khí quyển đậm đặc của Sao Kim, và cả những biển khí methane của Titan có thể giúp chúng ta vén lên bức màn bí mật để tiên đoán tương lai khí hậu của Trái Đất? Khoa học hành tinh sẽ mở ra chân trời mới để loài người có thể đoán nhận và dự liệu tương lai của chính mình.    Cách nhìn mới về khí hậu Trái đất  Trái đất đang nóng lên. Đó là sự thật không phủ nhận. Nhưng không một ai biết chính xác những tác động của quá trình thay đổi khí hậu đang diễn ra một cách từ từ này lên hành tinh của chúng ta. Như vậy không có nghĩa là nhân loại đành ngồi bó tay mà không thể tìm ra con đường dẫn đến một sự hiểu biết tường minh. Trên thực tế, có thể tìm một vài nơi thích hợp để đoán nhận được những điều có thể xảy ra trong kết cục cuối cùng của ấm lên toàn cầu, cũng như tương lai của cả hành tinh. Những điều định tìm kiếm không phải hiện diện ở chính hành tinh thân yêu này, mà xa hơn thế nữa, trên Mặt trăng hay một hành tinh nào đó trong Hệ mặt trời.             Sao Hỏa chỉ là một sa mạc lạnh lẽo và khô cằn (JPL,NASA)        Trong quá khứ, những hành tinh này đã từng “dung dưỡng” những điều kiện lý hóa giống Trái đất. Nhưng rồi, tất cả đã phải trải qua một sự thay đổi khí hậu không thể tránh khỏi, để rồi sau đó, sự sống bị diệt vong. Những khám phá về bầu trời đã giúp các nhà khoa học biết được những chuẩn mực cần thiết để một hành tinh có thể tồn tại sự sống. Một khi chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử của những hành tinh và khi chúng ta kết hợp chặt chẽ những thông tin khám phá không gian gần đây nhất thì sự ổn định khí hậu tương đối của Trái đất xuyên suốt hàng tỷ năm sẽ được làm sáng tỏ.  Mặt trời đã phát sáng một cách ổn định hơn so với 4.6 tỷ năm về trước. Không giống như vô vàn các ngôi sao khác trong vũ trụ, Mặt trời thật hiền hòa. Những hoạt động của nó không phát ra một lượng lớn bức xạ và những  “cơn gió” chứa các ion năng lượng cao đủ để hủy diệt sự sống trên quả đất. Ngoài ra, để có được một Trái đất ngày nay thì bản thân Trái đất cũng đã nhận được những điều kỳ diệu. Thứ nhất, kích thước và khối lượng của Trái đất phải “điều độ”, không quá nhỏ và cũng không quá lớn để có thể giữ được một bầu khí quyển không quá loãng như sao Hỏa và không quá đậm đặc như Sao Mộc. Thứ hai, vị trí của Trái đất cũng phải khá “hoàn hảo”. Nếu gần Mặt trời quá, Trái đất sẽ biến thành một lò thiêu, nhưng xa quá sẽ trở thành địa ngục lạnh lẽo. Và thứ ba, tốc độ quay của Trái đất xung quanh Mặt trời và cả chuyển động tự quay của nó cũng phải hợp lý, không quá nhanh để một ngày chỉ kéo dài trong tích tắc như những sao neutron trong Dải Ngân hà. Ngoài ra, chúng ta cũng phải lưu ý rằng, Mặt trăng đóng một vai trò quan trọng giữ chuyển động quay của Trái đất ổn định, thăng bằng, và hơn nữa, nó giống như một “chiến sỹ quyết tử” che chắn Trái đất khỏi sự bắn phá của những thiên thạch và sao chổi từ vũ trụ.  “Lò nướng” và “chiếc tủ lạnh” xưa cũ          Sao Kim với bầu khí quyển dày đặc CO2 và nhiệt độ bề mặt trên 450oC        Rất nhiều những hiểu biết của chúng ta về khí hậu và những tác động lên sự ổn định hay thay đổi thời tiết đến từ việc nghiên cứu và so sánh với những thành viên trong Hệ mặt trời. Các nhà sinh vật học vũ trụ đang tập trung nghiên cứu những khả năng cho phép một hành tinh có thể duy trì được những điều kiện thời tiết thích hợp cho sự sống trong hàng tỷ năm. Những phi thuyền không người lái đã và đang nghiên cứu những “người láng giềng” của Trái đất trong Hệ mặt trời, và đã tiết lộ những điều thú vị nhất về hai “người anh em” gần gũi, Kim tinh và Hỏa tinh.  Trong quá khứ, hai hành tinh này cũng có thể bắt đầu với những đại dương ấm áp, những núi lửa hoạt động và cả những quá trình điều hòa nhiệt giống Trái đất, mà ở đó, cho phép chính hành tinh tiến hóa theo hướng có lợi cho sự sống phát triển. Nhưng tất cả đã chấm dứt, các quá trình đã đảo ngược hoàn toàn và cả hai “người láng giềng” này chỉ còn lại một bầu khí quyển khước từ sự sống.  Bức tranh Sao Kim cho chúng ta thấy những gì sẽ xảy ra nếu Trái đất quá gần một ngôi sao. Nếu Sao kim có nước, sức nóng của Mặt trời hun ấm các đại dương làm nước bốc hơi. Và chính hơi nước lại là khí nhà kính đáng lo ngại nhất. Nhiệt độ càng cao sẽ càng tăng tốc quá trình bốc hơi của nước. Một khi tất cả nước đại dương bị “đun sôi”, hydrogen trong khí quyển của hành tinh này sẽ “chốn thoát” vào không gian liên hành tinh. Những tảng đá cacbonate không thể tiếp tục hình thành. Do vậy, không gì có thể “giải thoát” CO2 khỏi bầu khí quyển, trong khí đó, những núi lửa đáng gờm lại “bơm” thêm loại khí nhà kính này. Đó là lý do giải thích tại sao ngày nay Sao Kim có một bầu khí quyển thuần CO2 và dầy hơn bầu khí quyển Trái đất 100 lần với nhiệt độ trên 450oC. Với sức nóng như vậy đủ để “nướng chín” các phi thuyền thám hiểm không gian và hủy diệt bất cứ dạng sự sống nào trên quả đất.               Sao Thổ và các vệ tinh của nó          Điều gì xảy ra đối với những hành tinh tương đối nhỏ? Sao Hỏa là trường hợp đáng lưu tâm nhất. Trong quá khứ, hành tinh mang tên vị thần chiến tranh này đã từng tồn tại những dòng sông, thác nước, chan hòa bởi một loại khí hậu ấm áp, và thậm chí, cả sự sống cũng đã từng sinh sôi nảy nở. Nhưng tất cả đã kết thúc một cách đột ngột. Điều gì đã xảy ra? Với lực hấp dẫn chỉ bằng một phần ba Trái đất, Sao Hỏa không thể giữ riêng cho mình bầu khí quyển “dồi dào”. Những thiên thạch và cả các sao chổi liên tục bắn phá hành tinh đỏ, “thổi” bầu khí quyển ra khỏi hành tinh, đồng thời làm lạnh nó. Lượng nước còn lại bị đóng băng nằm sâu trong lòng đất. Thậm chí trong trường hợp xấu hơn, do kích thước nhỏ, Sao Hỏa bị mất đi lượng nhiệt nội tại, những núi lửa cũng vĩnh viễn ngừng hoạt động. Một Sao Hỏa nhỏ bé chỉ còn là một sa mạc khô cằn lạnh giá. Những nỗ lực của các trạm đổ bộ cũng như những Robot tự hành, gần đây nhất là hai sứ mệnh Spirit và Oportunity của NASA, đều không phát hiện bất cứ dấu vết sự sống nào từng tồn tại.  Sao Kim trở thành một chiếc “lò nướng” trong khi Sao Hỏa lại là một chiếc “tủ lạnh” xưa cũ. Ngành khoa học về hành tinh chỉ cho chúng ta một Trái đất thân yêu nằm giữa hai định mệnh này. Như vậy, một khí hậu ổn định, thuận lợi cho sự sống không phải là những gì có được hiển nhiên. Và khi so sánh Trái đất với những hành tinh khác, chúng ta có thể nhận ra rằng, một hành tinh có thể dễ dàng mất đi vĩnh viễn bầu khí quyển mà ở đó sự sống có điều kiện tồn tại như thế nào.  Titan-Trái đất tương lai hay quá khứ?               Bề mặt vệ tinh Titan (trái) so sánh với Mặt trăng (phải) với bước chân đầu tiên của loài người.          Bức tranh khí hậu của Trái đất đã trở nên rõ ràng từ việc so sánh với những “người anh em” trong Hệ mặt trời. Vươn xa hơn, các nhà khoa học đang nhìn sâu vào không gian vô tận để tìm kiếm những thiên thể có những điều kiện khí hậu tương đồng với Trái đất. Và gần đây là Titan, một Mặt trăng lạnh giá quay quanh Sao Thổ. Titan là thiên thể duy nhất trong Hệ mặt trời có những đặc điểm giống Trái đất nhất với một bầu khí quyển được cấu tạo chủ yếu là nitrogen. Vệ tinh này có nhiệt độ bề mặt là -180oC. Đây được cho là một nhiệt độ “ấm” nếu so sánh với khoảng cách vời vợi của nó tính từ Mặt trời (khoảng 1.4 tỷ kilomet). Bầu khí quyển của Mặt trăng này cũng chứa đến 5% Methane, một loại khí nhà kính đầy hiệu lực. Toàn bộ bề mặt của Titan bị bao phủ bởi một lớp sương mù màu nâu dày đặc với các phân tử hữu cơ tạo bởi sự tương tác của ánh sáng Mặt trời và khí methane. Những “lớp bùn hữu cơ” rơi xuống bề mặt giống như những cơn mưa, gợi lên hình ảnh về một Trái đất non trẻ trong quá khứ. Và chính những “lớp mùn” hữu cơ này lại là “tổ tiên” nguyên thủy của tất cả chúng ta.  Nhưng có một điều càng làm cho Titan mang dáng dấp Trái đất nhiều hơn, và có vẻ như đó cũng là điềm báo hiệu định mệnh hành tinh thân yêu của chúng ta. Trên Trái đất, nhiệt độ và áp suất ở bề mặt làm cho nước có thể tồn tại ở ba thể: rắn, lỏng và hơi. Và điều này cũng xảy ra tuơng tự với khí methane trên Titan. Sự giống nhau kỳ lạ này đã dẫn đến một tiên đoán quan trọng: những đại dương hay hồ methane lỏng có thể được tìm thấy trên bề mặt của Titan khi sứ mệnh của tàu thám hiểm Cassini-Huygen bay tới Sao Thổ vào năm 2004. Thực tế Cassini đã 27 lần tiếp cận đến gần Titan và đã thực hiện hàng loạt các thao tác chụp cắt lớp bầu khí quyển và bề mặt vệ tinh này qua sóng radar và hồng ngoại. Đặc biệt, vào 14/1/2005, khi bay trên bầu khí quyển, Huygen đã liên tiếp chụp hàng loạt bức ảnh đồng thời thu thập thành phần không khí trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi lao xuống bề mặt lạnh giá của vệ tinh này. Trạm đổ bộ này thậm chí đã được thiết kế để có thể nổi được trong trường hợp “hạ cánh” xuống một biển hồ methane lỏng. Nhưng kết cục, vụ hạ cánh này thay vì tiếng “bùm…” lại là tiếng “bịch”, trên một đụm cát ẩm ướt tạo bởi băng đá, các chất hữu cơ và tràn ngập methane và rthane. Huygen đã quan sát thấy các vách đá tạo bởi những thung lũng trông giống như những dòng sông. Cả Cassini và Huygen đã khám phá ra những quá trình và đặc điểm tương tự như trên Trái đất của chúng ta: những dòng sông, hồ, đám mây và cả những cơn bão. Nhưng thay vì nước, ở đây lại là methane. Liệu có tồn tại những sinh vật sơ khởi, những quá trình trao đổi chất của sinh vật trong bầu khí quyển của Titan? Đây vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ, mà câu trả lời đang chờ đợi ở những sứ mệnh thám hiểm tương lai. Nhưng có một điều rõ ràng rằng, những hiểu biết về khí hậu của Titan cũng như sự tiến hóa của nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá khứ cũng như tương lai khí hậu của Trái đất.  Tuy mang nhiều đặc điểm tự nhiên khá giống Trái đất, Titan vẫn có một sự khác biệt điển hình. Vệ tinh này không có những đại dương lớn mà chỉ tồn tại rải rác những hồ methane. Và vì vậy, Titan chỉ cho chúng ta tương lai của quả đất hơn là một bức tranh về Trái đất nguyên thủy xa xưa. Xét về mặt hóa học, thiên thể nhỏ bé này mở cho chúng ta một cửa sổ nhìn về nguồn gốc nguyên thuỷ của loài người tiến hóa từ những phân tử hữu cơ. Nhưng bàn về khía cạnh khí hậu học, Titan lại phác họa về một định mệnh tối hậu của Trái đất. Một đến hai tỷ năm nữa, khi Mặt trời trương nở, Trái đất sẽ bị hun nóng và quá trình ổn định nhiệt bị phá vỡ. Quy luật của tiến hóa trong vũ trụ làm cho Trái đất lăn bánh trên con đường dẫn tới số phận của Sao Kim.  Lời kết  Chúng ta có thể tự hỏi những mô hình khí hậu hoạt động như thế nào?  Đây thực sự không phải là một loại hình khoa học mà ở đó bạn có thể điều khiển các thí nghiệm, thay đổi một thông số nào đó tại một thời điểm nhất định, và càng không thể ngồi chờ quan sát kết quả nếu những điều tiên đoán vượt ra ngoài sự chính xác. Tìm kiếm những hiểu biết mới trong Hệ mặt trời, chúng ta sẽ nhìn thấy sức mạnh phản hồi của khí hậu. Nó vừa có thể duy trì nhưng đồng thời cũng có thể phá hủy sự ổn định thời tiết. Khi chúng ta nỗ lực để có được những hiểu biết tốt hơn về sự cân bằng của những quá trình này trên quả đất, và cách mà những hành động của chúng ta đang làm xáo trộn chúng, chúng ta phải lưu tâm đến những dấu vết về những “người láng giềng” của Trái đất. Và hiện tại, đó là con đường duy nhất giúp loài người có thể nhìn và dự liệu được tương lai của chính mình.  Đức Phường (tổng hợp)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Caucher Birkar, người tị nạn đem lại trật tự cho vô hạn phương trình      Nhà toán học Caucher Birkar sinh ra ở một trang trại tự cung tự cấp và lớn lên trong cuộc chiến tranh khốc liệt giữa Iran và Iraq. Sau khi tới Anh, anh tìm cách áp đặt một trật tự cho sự hỗn loạn của các phương trình toán học.      Caucher ngồi trong vườn nhà anh gần Cambridge, Anh.  Mùa xuân này, không lâu sau khi Caucher Birkar biết rằng mình sẽ được trao Huân chương Fields, giải thưởng danh giá bậc nhất trong toán học, anh đã chia sẻ một kỷ niệm từ thời còn là sinh viên. Ngay cả khi ấy anh cũng đã trải qua một quãng đường dài. Sinh ra và lớn lên ở một vùng ngoại ô của một làng nông nghiệp tự cung tự cấp ở vùng người Kurd ở Tây Iran, Birkar thi đỗ vào Đại học Tehran, một trong những đại học lớn nhất của đất nước anh. Ở đó, tại câu lạc bộ toán học, anh hồi tưởng lại lúc nhìn ảnh các nhà toán học được giải thưởng Fields treo trên tường. “Tôi nhìn vào họ và tự nói với mình, ‘Có khi nào mình được gặp một trong số họ không nhỉ?’ Khi đó ở Iran, tôi thậm chí còn không biết được rằng mình có thể tới được phương Tây”.  Có nhiều chuyện trong tương lai của mình mà Birkar đã không thể dự đoán vào thời điểm đó: chuyến bay của anh rời khỏi Iran, lời thỉnh cầu xin tị nạn chính trị của anh, nỗ lực thắp lại một ngành toán học gần như bị bỏ quên. Và hôm nay, trong một buổi lễ ở Rio de Janeiro, anh vinh dự được lựa chọn là một trong bốn người được trao Huân chương Fields, một giải thưởng được Hội Toán học Quốc tế trao bốn năm một lần cho các nhà toán học tài năng nhất trên thế giới chưa quá 40 tuổi vào đầu năm trao giải. “Để đi từ điểm mà tôi không tưởng tượng nổi, là được gặp những người đó rồi tới một ngày cầm huy chương này trên tay – tôi chỉ không thể tin nổi đó lại là sự thật”, Birkar, người tròn 40 tuổi vào tháng 7 này, nói.  Là một nhà toán học, Birkar đã giúp mang lại trật tự cho họ vô hạn các phương trình đa thức – những phương trình nhiều biến với bậc đa dạng. Không có hai phương trình nào giống hệt nhau, nhưng Birkar đã khám phá ra rằng có thể phân loại nhiều phương trình trong số đó vào các họ nhỏ hơn. Trong hai bài báo công bố năm 2016, anh đã chỉ ra rằng có thể xác định một số vô hạn các phương trình bằng một số đặc trưng hữu hạn – một kết quả đã chứng tỏ rằng mảng rối rắm các phương trình đại số dường như chẳng liên quan gì tới nhau lại có một số điểm chung.  Công  trình gần đây của Birkar về các đa tạp Fano là một trong những kết quả toán học giàu sức ảnh hưởng nhất của anh, nhưng nó nảy sinh từ một niềm thôi thúc đã chi phối anh kể từ khi bắt đầu tự học toán ba thập kỷ trước: mong muốn thôi thúc tạo ra thứ gì đó mới mẻ.  Cuộc cách mạng đầu tiên  Khi Birkar còn rất nhỏ, anh thích ở gần mẹ, Sakina, trong khi bà nướng bánh mỳ. Bà còn nhớ một lần khi Birkar lên ba. “Nó ngồi cạnh tôi, cố gắng lại thật gần, cố gắng để chạm chân vào chân tôi”, bà kể.  Mẹ của Birkar đã kể tôi nghe câu chuyện này qua Skype. Khi đó, anh ta và tôi đang ngồi trong phòng khách của căn nhà nhỏ của anh ở Cambourne, một khu dân cư cách Cambridge, Anh, 10 dặm, được xây từ hai thập kỷ trước. Mẹ anh đang sống ở Marivan, một làng người Kurd trong một vùng núi gần biên giới Iran-Iraq nơi nhiều thế hệ gia đình Birkar đã sống. Bà đội một chiếc mũ len trắng và đang ngồi trên trường kỷ bên cạnh anh cả và cha của Birka, Majid.  Caucher Birkar sinh năm 1978, là con thứ ba trong sáu người con. Gia đình anh sống ở một trang trại gia đình, trồng lúa nước, lúa mỳ và rau củ. Họ cũng nuôi cừu và đôi khi cả ngựa. Gia đình đã tự cung tự cấp theo một cái cách giúp che chở cho Birkar khỏi những điều tồi tệ nhất của những ầm ĩ đã nhấn chìm cả khu vực trong suốt thời thơ ấu của anh– Cuộc Cách mạng Hồi giáo vào năm 1979 và 8 năm chiến tranh khốc liệt với Iraq không lâu sau đó.  “Không lâu sau khi tôi sinh ra đã có một cuộc cách mạng và chiến tranh, nhưng sự thật là chúng tôi đã sản xuất ra mọi thứ mình cần, nghĩa là chúng tôi có thể sống sót”, anh nói.    Văn phòng của Birkar ở Đại học Cambridge treo hình Alexander Grothedieck đang ngồi với một nhóm các nhà hoạt động. Nguồn: Kevin Hartnett   Cha của Birkar chỉ đến trường học trong vài năm. Mẹ anh không được chính thức theo học ở đâu cả. Nhưng Birkar và anh em ruột thì được theo học ở trường làng. Tới khoảng lớp 5, Birkar đã bắt đầu chú ý tới toán học. “Tôi có cảm nhận gì đó. Không có gì nghiêm túc, đó chỉ là một cảm nhận thoáng qua rằng tôi học tốt toán”, anh kể lại.  Ngay từ buổi đầu, người nắm giữ niềm ưa thích toán học của Birkar là Haidar, anh cả của anh, người đã giới thiệu cho Birkar các khái niệm cơ sở của giải tích. “Cậu ấy rất tò mò với những vấn đề toán học và vật lý”. Haidar nói qua Skype. “Tôi còn nhớ cậu ấy đã cầm sách bài tập của tôi và cố gắng giải các bài toán trong đó”.  Birkar nhớ rằng người anh trai còn dạy anh điều gì đó khác nữa, là: hiểu biết có thể rất tinh tế.  “Anh ấy có lẽ là người duy nhất tôi biết, người theo đuổi đam mê của mình, không chỉ để có điểm cao ở trường. Anh ấy còn giỏi hơn thế nhiều, anh ấy thực sự ưa thích một số thứ nhất định”, Birkar kể lại. “Anh ấy đã làm những điều mà không ai dám làm ở môi trường đó”.  Tới phổ thông, Birkar đã có kiến thức toán học vượt trội hơn anh trai mình và tự học toán một mình. Anh mượn các cuốn sách từ thư viện địa phương với tựa đề như Những con người của toán học và Toán học là gì. Gia đình anh còn nhớ anh đã đọc sách tới khuya trong khi nghe nhạc – một thói quen mà tới nay anh vẫn còn giữ.  Ngay từ những tiếp xúc thoáng qua đầu tiên với toán học chuyên nghiệp, Birkar đã muốn làm nhiều hơn là chỉ ngưỡng mộ những khám phá của người khác. “Tôi đã đọc tất cả các cuốn sách và có được cảm nhận rằng chỉ đọc thôi thì không đủ. Tôi cũng muốn tạo ra những thứ của riêng mình, tạo ra cái gì đó mới”, anh kể.  Từ khi còn là một học sinh cấp ba anh đã bắt đầu viết ra những chứng minh toán học của riêng mình. Thời đại học, anh đã bắt đầu gửi chúng cho các tạp chí toán học. Về sau, khi đã được rèn luyện bài bản đôi chút, anh đã nhận ra các chứng minh mình tìm ra đã được khám phá từ rất lâu rồi. “Có lẽ tôi đã không chứng minh được cái gì đáng chú ý, nhưng kinh nghiệm và thái độ làm việc đó, đã cho thấy sự hữu ích trong những bước đường học tập sau này của tôi”, anh nói.  Birkar thi vào Đại học Tehran. Năm cuối đại học, anh tới Anh. Trong khi ở đó, anh xin tị nạn chính trị để tránh “các vấn đề chính trị ở Iran đối với những người như tôi”, anh kể lại, nhắc tới đặc tính Kurd của mình, một dân tộc thiểu số thường phải chịu sự đàn áp của các tổ chức mà nhà nước đỡ đầu. Chính phủ Anh đã cho anh tới Nottingham, một thành phố ở trung tâm nước Anh. Trong suốt một năm chính phủ xử lý trường hợp của anh, Birkar đã gặp các giáo sư khoa toán ở Đại học Nottingham, nơi anh theo học sau khi yêu cầu tị nạn được thông qua.  Không có ai ở Đại học Nottingham chuyên về hình học đại số, lĩnh vực mà Birkar muốn bước vào. Nhưng thầy hướng dẫn chính thức của Birkar ở đó, một nhà lý thuyết số tên là Ivan Fesenko, đã động viên anh tới tham dự các sự kiện toán học bên ngoài trường đại học. Trong một cuộc hội thảo năm 2002 ở Cambridge, Birkar đã gặp Vyacheslav Shokurov, một nhà toán học ở Đại học John Hopkins. Không lâu sau khi quen nhau, Shokurov đã đưa Birkar đi trượt tuyết vài giờ ở Baltimore. Shokurov ngạc nhiên trước tốc độ học môn thể thao này của Birkar và khả năng chịu đựng của anh.    “Cậu ấy là một người nhút nhát và lịch sự, có lẽ, bởi vì cậu ấy lớn lên từ làng và trong một gia đình truyền thống”, Shokurov viết trong thư điện tử.  Khi gặp Birkar, Shokurov đã nghiên cứu nhiều năm ròng trong một ngành hẹp của hình học đại số gần như đã bị lãng quên gọi là hình học song hữu tỷ. Hình học song hữu tỷ đã có vài bước tiến quan trọng trong hơn một thập kỷ trước, nhưng ngành này đã dần chìm lắng vì thiếu vắng các ý tưởng mới. “Toàn bộ ngành này gần như đã chững lại. Hầu hết mọi người đều từ bỏ”, Birkar nói.  Shokurov là một trong một số rất ít nhà toán học không bỏ cuộc. Ở Birkar ông thấy một nhà toán học trẻ tuổi có khả năng tiếp thêm sinh khí cho ngành này.  Ba kiểu vô hạn  Tại phòng làm việc ở Đại học Cambridge, Birkar trưng hai bức ảnh của nhà toán học Alexander Grothendieck. Grothendieck là một người tị nạn – ông đã trốn chạy Đức Quốc xã – và cũng là một người được trao huân chương Fields, giống như Birkar. Ông cũng được coi là nhà toán học có ảnh hưởng nhất nửa sau thế kỷ 20. Trong một bức ảnh, Grothendieck ngồi với một nhóm các nhà hoạt động khác nhau tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường ở Pháp vào đầu những năm 1970. Birkar, một người Kurd lớn lên ở Iran và giờ đây sống ở Anh, nơi anh cưới một phụ nữ Thái Lan, ngưỡng mộ cả hai khía cạnh của Grothendieck: tầm nhìn toán học của ông và cách ông hòa đồng với những người có gốc gác khác nhau.  “Tất cả những nền văn hóa này khiến tôi thấy mọi thứ thú vị hơn. Tất cả những nền văn hóa này mang lại cho bạn cảm nhận về sự viên mãn”, anh nói. Con trai bốn tuổi của anh, Zanko, là phản chiếu sống động của sự đa dạng này: cháu nói tiếng Thái gốc của mẹ, tiếng Kurd gốc của bố và tiếng Anh của nơi cháu sinh ra.  Hình học đại số cũng là một hỗn hợp của các nền văn hóa. Một mặt nó là đại số, lĩnh vực nghiên cứu các phương trình, và mặt khác nó lại là hình học, ngành nghiên cứu các hình dạng. Hai cách nhìn khác nhau cho cùng các vấn đề. Hãy xét phương trình đại số y=2x-3. Nếu vẽ đồ thị nghiệm của nó, bạn sẽ có một đối tượng hình học– một đường thẳng. Hai khía cạnh này bổ sung cho nhau. Nếu bạn muốn tìm nghiệm chung của hai phương trình, chẳng hạn y=2x-3 và y=3x+5, bạn có thể tìm nhờ đại số, hoặc bạn có thể vẽ đồ thị của hai phương trình và xem chúng cắt nhau ở đâu.    “Đôi khi một câu hỏi hình học có thể được giải quyết bằng các phương pháp đại số và đôi khi một câu hỏi đại số có thể được giải quyết bằng các phương pháp hình học”, János Kollár, nhà toán học ở Đại học Princeton nói. “Bạn có thể dịch chuyển giữa hai đối tượng này và giúp cho chúng trở nên phong phú hơn”.  Các phương trình tuyến tính là những phương trình đại số đơn giản nhất. Ngoài ra, có rất nhiều kiểu phương trình đại số khác. Chúng có thể có nhiều biến hơn và những biến này có bậc khác nhau. Bạn cũng có thể nghĩ về tập hợp các nghiệm chung cho một nhóm các phương trình. Tập hợp này được gọi là một “đa tạp đại số”. Tồn tại vô hạn các đa tạp đại số; mỗi đa tạp lại có một biểu diễn hình học độc nhất.  “Điều quan trọng nhất là hình dạng, cấu trúc của tập nghiệm”, Birkar nói. “Tập nghiệm chính là cái chúng tôi đại khái gọi là đa tạp đại số”.    Các đa tạp đại số là một tập lỏng lẻo. Các nhà toán học muốn thiết lập trật tự cho chúng. Điều này cũng tương tự như việc chúng ta mong muốn phân loại các dạng sống sinh học – trí tuệ của chúng ta dường như dễ nhận biết thế giới sống hơn, và thấy hình dạng của nó có ý nghĩa hơn, nếu ta có thể xếp chúng theo từng ngành và họ thay vì gọi tên riêng của từng cá thể một.  Hình học song hữu tỷ là một cách biến đổi các đa tạp sao cho người ta có thể phân loại chúng. Đó là một kiểu phẫu thuật: Bạn bắt đầu với một đa tạp, vốn có kiểu bất thường riêng, sau đó cắt bỏ những khối lồi lõm của nó và làm phẳng các nếp nhăn, cho tới cuối cùng bạn có một dạng tổng quát hơn. Có một số giới hạn nghiêm ngặt cho những gì bạn được phép cắt bỏ, để đảm bảo rằng bạn không hoàn toàn xóa bỏ đa tạp ban đầu. Sau khi phẫu thuật, rất nhiều các đa tạp khác biệt trước đây giờ trông giống hệt; chúng được coi là cùng thuộc “lớp tương đương song hữu tỷ”.  “Chúng tôi đang tập trung vào bức tranh tổng thể và không bận tâm về sự khác biệt ở một tập hợp con nhỏ các điểm trên các đa tạp”, Christopher Hacon, nhà toán học ở Đại học Utah và một người dẫn đầu trong lĩnh vực hình học song hữu tỷ sẽ trình bày về công trình của Birkar tại lễ trao Huân chương Fields ở Rio, nói.  Có ba lớp tương đương song hữu tỷ rộng: các đa tạp Fano, đa tạp Calabi-Yau, và các đa tạp dạng tổng quát. Ba lớp này đều là các dạng tổng quát, giống y như thuật ngữ “côn trùng” là tổng quát so với các sinh vật cụ thể nằm dưới nó. Mỗi lớp lại có một độ cong nhất định (hoặc đều dương, hoặc đều âm, hoặc đều phẳng, tương ứng). Các nhà toán học hi vọng họ có thể chỉ ra rằng mỗi đa tạp có thể được giản lược về một trong ba dạng tổng quát này qua các phép biến đổi song hữu tỷ.  “Chúng tôi hi vọng tìm thấy các đối tượng có cùng kiểu độ cong ở khắp mọi nơi”, Kollár nói. “Chúng tôi không muốn một thứ, lúc thì giống mặt cầu, lúc thì giống mặt yên ngựa, lúc thì phẳng. Như thế thì quá phức tạp”.  Các điểm mang tới trật tự  Birkar đã tự mình hoàn thành những công trình toán học quan trọng nhất của bản thân trong phòng ăn. Một ngày bình thường, anh sẽ làm việc bên bàn, khởi động và suy nghĩ, pha trà, hay bật nhạc, thường là nhạc cổ điển hoặc các bài hát Kurd đương đại. “Rất nhiều bài hát đi vào tâm trí tôi. Đôi khi cả ngày tôi chỉ viết có một trang thôi”, anh nói. Sau vài giờ suy nghĩ anh thích thư giãn tâm trí bằng cách đạp xe dọc theo đường mòn quanh khu nhà mình.  Với người xa lạ, thật khó để có thể xác định được hoạt động trí tuệ mạnh mẽ vốn là đặc trưng hằng ngày của Birkar. Vài năm trước, anh ở Thái Lan, tới thăm gia đình vợ mình. Một buổi chiều, ông của vợ anh hỏi cô, “Chồng cháu làm cái nghề gì vậy? Nó cứ đứng yên trong vườn nhìn chằm chằm lên cây xoài ấy”.  Nhưng với các nhà toán học, Birkar được biết đến nhờ cường độ anh tấn công các vấn đề. “Ấn tượng của tôi là anh ấy có vẻ hơi cô đơn, tập trung và kiên định với các vấn đề mà mình đang nghiên cứu”, Hacon nói. “Anh ấy thực sự yêu thích việc làm chủ những chi tiết kỹ thuật của vấn đề đang nghiên cứu, và đạt thành công lớn”.  Công trình của Birkar về các đa tạp đại số là một phần trong những nỗ lực nghiên cứu lâu nay về cái gọi là chương trình mô hình tối tiểu. Mục tiêu của nó là chứng minh rằng tất cả các đa tạp đại số có thể được giản lược về một trong ba dạng cơ sở thông qua các phép biến đổi song hữu tỷ. Chương trình mô hình tối tiểu đã khởi đầu từ hơn 100 năm trước với các nhà toán học người Ý, những người đầu tiên phân loại các đa tạp đại số hai chiều (các đa tạp đại số ba biến). Gần đây hơn, trong thập niên 1980, Shigefumi Mori đã chứng minh rằng tất cả các đa tạp đại số ba chiều (các đa tạp đại số bốn biến) giản lược về một trong ba dạng này. Mori, nhà toán học ở Đại học Kyoto và hiện là chủ tịch của Hiệp hội Toán học Thế giới, đã được trao Huân chương Fields vào năm 1990 cho công trình này.  Nhưng sau kết quả của Mori, lĩnh vực hình học song hữu tỷ trở nên trầm lặng. “Có những thách thức khổng lồ để mở rộng kết quả này lên các chiều cao hơn”, Birkar nói.  Shokurov là một trong số ít người gặp trở ngại trong lĩnh vực này vào thập niên 1990. Nhờ phần lớn những nỗ lực của ông mà hình học song hữu tỷ đã sống lại vào đầu thập niên 2000. Kể từ đó, các nhà toán học đã tiến những bước lớn trong việc phân loại các đa tạp đại số trong mọi chiều, và Birkar là một trong số nhỏ những nhà toán học ở trung tâm của chương trình này. Năm 2006, cùng với Hacon, James McKernan ở Đại học California, San Diego, và Paolo Cascini ở Đại học Hoàng gia London, anh là đồng tác giả của bài báo khám phá ra cấu trúc phân loại cho các đa tạp dạng tổng quát. Hacon và McKernan sau đó đã được trao giải thưởng Đột phá trị giá 3 triệu USD cho một phần của công trình đó.  Birkar đã có được đóng góp cá nhân lớn lao nhất cho toán học vào năm 2016. Năm đó, anh đã công bố hai bài báo đặt nền móng cho một trong những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến bản chất của một số dạng đa tạp Fano cụ thể. Các bài báo đã chứng minh rằng qua những phép biến đổi song hữu tỷ, các đa tạp Fano tạo thành một tập hợp gọn gàng, có thể được định nghĩa bằng một số nhỏ các đặc trưng.  Để hiểu điều này có nghĩa là gì, đầu tiên hãy hình dung về mặt phẳng. Giờ hãy tưởng tượng tất cả các đường thẳng đi qua một điểm trên mặt phẳng. Tồn tại vô hạn các đường thẳng này. Giờ hãy vẽ một hình tròn có tâm là điểm đó. Mỗi đường thẳng kia đều cắt đường tròn ở hai điểm. Bởi thế, mỗi đường thẳng có thể được xác định, hay “tham số hóa” bằng các điểm này (hay chỉ một trong hai điểm này). Thực tế rằng tất cả các đường thẳng có thể được tham số hóa bằng các điểm trên cùng một đối tượng hình học gọn gàng – đường tròn – gợi ra rằng họ các đường thẳng của chúng ta có một trật tự nào đó. Nếu thay vào đó các đường thẳng nằm ngẫu nhiên lung tung trên mặt phẳng, bạn sẽ không thể đưa ra bất cứ khẳng định minh giản nào về chúng.  Trong các bài báo năm 2016, Birkar đã tạo ra một kiểu tham số tương tự cho một số dạng đa tạp Fano cụ thể (những dạng có chiều lẫn lộn với những “kỳ dị nhẹ nhàng”). Anh đã chứng minh rằng, nhờ phép biến đổi song hữu tỷ, các đa tạp Fano trở nên giống như các đường thẳng đi qua một điểm: chúng có quan hệ với nhau đủ trật tự để có thể được tham số bằng một đối tượng hình học gọn gàng. Birkar đã chứng minh rằng tất cả các đa tạp Fano với chiều bất kỳ đều có thể được xác định bằng một số hữu hạn các tham số.  Số vô hạn các đa tạp đại số có thể được xác định bằng một tập hữu hạn các đặc trưng có nghĩa là chúng có chung đặc điểm căn bản nào đó. Nếu bạn tạo ra một phạm trù cho các sinh vật, và bạn cần vô hạn các đặc điểm cho tất cả các động vật trong phạm trù đó, thì phạm trù của bạn sẽ trở nên vô nghĩa. Nhưng nếu bạn có thể dùng một tập hợp hữu hạn các đặc tính để định nghĩa một tập hợp các đối tượng có vẻ như hỗn tạp thì bạn đã tạo ra sự tiến bộ.  “Khi bạn phân loại các thứ với hữu hạn tham số, điều đó có nghĩa rằng chúng chia sẻ rất nhiều tính chất chung”, Birkar nói. “Điều đó giải thích vì sao tính hữu hạn lại quan trọng, bởi vì theo một cách nào đấy thì bạn có thể mô tả điều gì đó về tất cả chúng cùng một lúc”.  Birkar đã chứng minh rằng có một số hữu hạn các đặc trưng xác định các đa tạp Fano, nhưng anh còn muốn biết nhiều hơn thế về họ khổng lồ các phương trình đại số. Khi trở về nhà từ Rio tháng này, anh sẽ có cơ hội khám phá thêm những đặc điểm hình học cụ thể về chúng. Anh sẽ làm điều này với một vị thế mới được khẳng định trong giới toán học và ý thức về sự phi thường khi một người như anh lại có được nó. Cùng lúc đó, anh sẽ vẫn giữ được nguồn động lực theo đuổi toán học từ thuở ban đầu khi anh mới tìm đến lĩnh vực này ở Marivan.  “Bạn có một ý tưởng từ ai đó, nơi nào đó, và bạn tạo ra một thứ mới mẻ”, anh nói. “Bạn đóng góp thứ mới mẻ đó cho cộng đồng và nhờ đó lại tạo ra thêm nhiều thứ đẹp đẽ”.  Hoàng Mai dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/caucher-birkar-who-fled-war-and-found-asylum-wins-fields-medal-20180801/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây biến đổi gien chịu hạn hán      Quá trình lão hoá do sự kích hoạt của “chương trình chết” ở một số tế bào. Chương trình này có thể được kích hoạt ở một số loài cây trong mùa khô.      Hủy bỏ chương trình này có thể giúp cây chịu được hạn hán. Dựa vào nghiên cứu ở cây thuốc lá biến đổi gien, các nhà khoa học Mỹ và Nhật đã bổ sung gien IPT (isopentenyl transferase) sản xuất enzym tạo hoóc-môn cytokinin (CK). Cytokinin giúp lá giữ màu xanh kể cả trong mùa khô. Các nhà nghiên cứu hy vọng phát hiện này sẽ giúp giảm những thiệt hại về mùa màng do hạn hán và cho phép sản xuất lương thực tại các vùng thiếu nước.   V.S (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy chip trí tuệ nhân tạo vào não để chữa chứng rối loạn tâm thần      Cơ quan Nghiên cứu Các dự án phòng thủ Tiên tiến (DARPA) của Bộ Quốc phòng Mỹ đang tài trợ cho các nhà khoa học tại Đại học California và Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (MGH) ở Boston (Mỹ) phát triển một số loại chip điện tử “kiểm soát tâm trí”, có thể cấy vào não người để điều trị chứng rối loạn tâm thần. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature hôm 22/11.      Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu, họ bắt đầu thử nghiệm thiết bị cấy ghép não mạch kín (closed-loop) sử dụng thuật toán trí thông minh nhân tạo (AI) để phát hiện các biểu hiện rối loạn tâm trạng khác nhau, đồng thời tạo ra những cú sốc điện khiến não người trở lại trạng thái khỏe mạnh một cách tự động.  Thiết bị cấy ghép thần kinh này – thứ tạo ra xung điện để kiểm soát cảm giác và hành vi của con người – có thể kích thích não điều trị bệnh rối loạn tâm trạng, bao gồm chứng mất trí nhớ và bệnh Alzheimer.  Các con chip đã được thử nghiệm trên 6 tình nguyện viên mắc bệnh động kinh. Họ đều có điện cực được cấy vào não, giúp nhóm nghiên cứu theo dõi điều gì đang xảy ra bên trong não của họ suốt cả ngày, liên tục trong 1 đến 3 tuần, và cuối cùng tạo ra một thuật toán để “giải mã” tâm trạng thay đổi của họ.  Phân tích sâu hơn giúp các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng, những cú sốc điện tại khu vực não liên quan đến cảm xúc và quá trình ra quyết định có thể cải thiện đáng kể thành tích của tình nguyện viên khi họ thực hiện nhiệm vụ cho trước. Nhóm nghiên cứu tin rằng, con chip cũng giúp khắc phục nhiều vấn đề sức khỏe khác như bệnh Parkinson và trầm cảm mãn tính. Mục tiêu cuối cùng của DARPA là điều trị cho những người lính và cựu chiến binh bị trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau chấn thương.  Mặc dù cái gọi là chip kiểm soát tâm trí không đọc được ý nghĩ của con người, nhưng nó làm tăng mối lo ngại về mặt đạo đức. Bởi vì công nghệ mới có thể giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận với cảm xúc bên trong của một người theo thời gian thực.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: http://www.ibtimes.co.in/mind-control-chips-us-military-tests-ai-brain-implants-humans-that-can-change-someones-mood-750977       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy gene giúp chuột có thị lực như người      Nhờ bổ sung gene vào mã di truyền, những con chuột đã nhìn được thế giới với đầy đủ sắc màu giống như người, thay cho quang cảnh xám xịt quen thuộc trong mắt chúng.    Ba màu cơ bản của thế giới (xanh dương, xanh lục và đỏ) phụ thuộc vào 3 loại tế bào cảm quang trong mắt, hấp thụ ánh sáng ở các bước sóng khác nhau. Chẳng hạn, tế bào cảm quang sóng ngắn nhạy nhất với ánh sáng xanh dương, cảm quang sóng trung nhạy cảm với màu xanh lục, và cảm quang sóng dài hấp thụ ánh sáng đỏ.  Khi những loại ánh sáng này chiếu đến mắt, não sẽ đối chiếu phản ứng của nó với các màu nhận được.  Thông thường, các loại thú không phải là linh trưởng chỉ nhìn được hai màu, vì não chỉ có các tế bào cảm quang với sóng ngắn và sóng trung. Điều này khiến cho hầu hết các loài thú trở nên gần như mù màu, so với linh trưởng.  Gerald Jacobs từ Đại học California và cộng sự đã thử nghiệm cấy gene sản sinh loại cảm thụ quang thứ ba cho những con chuột trong phòng thí nghiệm.  Kết quả là, với gene mới, một vài con chuột đã chứng tỏ nhìn được “màu sắc đầy đủ” với 3 màu cơ bản của tự nhiên. Thông thường, thế giới trong mắt chúng rất ảm đạm với các màu xám, xanh dương và vàng.  T. An (theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấy ghép khối u của người trên chuột      Các nhà nghiên cứu đã từng đặt nhiều hy vọng vào phương pháp cấy ghép ngoại lai được lấy từ người bệnh (PDX). Nhưng giờ đây phương pháp này đang xuất hiện những hạn chế trong nghiên cứu và lâm sàng.      Mẫu PDX được cấy ghép trên chuột. Nguồn: Nature.  Lindsey Abel tiêm tế bào ung thư dạng lỏng vào một con chuột được gây mê, đây là những tế bào được lấy từ một người nghiện thuốc lá mắc bệnh ung thư lưỡi bị tái phát dù đã trải qua xạ trị và phẫu thuật. Con chuột này là loài gặm nhấm thứ hai được nuôi nhằm tạo ra mẫu ung thư – mẫu cấy ghép ngoại lai được lấy từ bệnh nhân (patient-derived xenograft – PDX) – mẫu PDX. Với phương pháp này, các tế bào ở khối u được lấy trực tiếp từ bệnh nhân thay vì các tế bào nuôi cấy trong đĩa Petri (một loại đĩa dùng để nuôi cấy tế bào). Khối u phát triển trong con chuột này sẽ được cấy ghép sang nhiều con chuột khác.  Quy trình này đã được Abel công bố nhiều lần kể từ khi bà làm việc tại phòng thí nghiệm của Randall Kimple tại Đại học Wisconsin–Madison . Kimple, bác sĩ chuyên điều trị ung thư bằng phương pháp xạ trị, dùng mẫu chuột PDX để tiến hành các thí nghiệm không thể thực hiện trên người như thử nghiệm các loại thuốc mới và xác định những phản ứng tích cực đối với phương pháp điều trị. Từ năm 2011, phòng thí nghiệm của ông đã tạo ra hơn 50 mẫu chuột PDX.  Phòng thí nghiệm của Kimple không phải nơi duy nhất thực hiện cấy ghép này; mẫu chuột PDX được thực hiện ngày càng nhiều trong suốt thập kỷ vừa qua và bắt đầu thay thế những kỹ thuật tạo mẫu ung thư khác trong nghiên cứu và phát triển thuốc, chẳng hạn như cấy ghép các dòng tế bào ung thư trên chuột. Từ lâu, các nhà khoa học đã hy vọng các mẫu PDX có thể định hình trạng thái của các khối u một chính xác hơn, thậm chí có thể dựa vào đó để đưa ra phác đồ điều trị cho bệnh nhân hoặc khám phá được nhiều loại khối u ở người. Danh mục PDXFinder được công bố đầu năm nay đã liệt kê hơn 1900 mẫu chuột PDX. Khoảng hơn 50 năm về trước, các nhà khoa học đã tiến hành cấy ghép tế bào ung thư ở người lên chuột. Tới đầu những năm 2000, các nhà nghiên cứu bắt đầu lo lắng các tế bào ung thư trong các mẫu cấy ghép ngoại lai bằng dòng tế bào (cell-line xenograft models) không tương đồng với tế bào ung thư ở người. Họ nhận thấy hầu hết các loại thuốc có tác dụng ở chuột không hiệu quả đối với con người, một phần nguyên nhân là do sự thay đổi của các tế bào trong thời gian nuôi cấy. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu đã quay lại với mẫu PDX.  Các nhà khoa học bắt đầu nhận ra những hạn chế và sự phức tạp của các mẫu PDX. Trong kỹ thuật nuôi cấy này, các khối u có thể được nhân lên từ mẫu gốc hoặc có những mẫu PDX không thể sử dụng trong kiểm chứng các liệu pháp miễn dịch.  Một trong những nhược điểm thực sự của những mẫu chuột PDX là để nuôi được các khối u, các nhà nghiên cứu phải sử dụng những con vật thiếu hụt hệ miễn dịch. Nhiều nhóm nghiên cứu hiện nay đang cố gắng khắc phục hạn chế này, ví dụ, phòng thí nghiệm Jackson tại Bar Harbor, Maine, đã tiêm các tế bào gốc từ dây rốn của con người vào những con chuột vài tuần tuổi, sau đó chuyển khối u của người vào chuột. Do khối u có cơ chế bảo vệ để vô hiệu hóa hệ thống miễn dịch nên các nhà khoa học có thể thử nghiệm liệu pháp miễn dịch trên mẫu chuột có chứa tế bào miễn dịch của con người.  Nhưng các mẫu mới này cũng có hạn chế. Chẳng hạn khi cấy các khối u vào chuột, các liên kết và mạch máu trong khối u của người sẽ dần dần bị thay thế bởi những mô tương tự của chuột. Dù vậy, James Keck, nhà nghiên cứu ung thư tại phòng thí nghiệm Jackson tại Bar Harbor, Maine, vẫn rất lạc quan. Ông cho biết: “Đây là những mẫu cấy ghép phức tạp và hoàn toàn mới. Chúng ta đã đạt một một bước tiến lớn trong nghiên cứu về ung thư”.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05890-8       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây nhắc nhở khi bị khát      Một loại sensor cảm ứng có kích cỡ bằng cánh ruồi sẽ giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho nông dân, bằng cách báo cho chủ vườn biết khi nào cây cần nước.  Các sensor làm việc trong một hệ thống không dây và sẽ báo động khi cây cần nước và thậm chí tự động kích hoạt hệ thống tưới tiêu.    “Chúng tôi đang nói tới việc tiết kiệm 30 đến 40% nước sử dụng”, nhà phát minh công nghệ, tiến sĩ Hans Seelig tại Trung tâm công nghệ vũ trụ BioServe của Đại học Colorado, Mỹ cho biết.  Nguyên mẫu hiện tại của thiết bị sử dụng hệ thống dây dẫn thông thường. Tuy nhiên, Seelig và cộng sự đang hướng tới một phiên bản không dây, sử dụng kỹ thuật định dạng tần số radio. Công nghệ này cho phép không chỉ dữ liệu, mà cả năng lượng cũng được truyền không dây, loại bỏ nhu cầu sử dụng pin.  Các sensor sẽ được gài vĩnh viễn vào một cái lá trong mùa tăng trưởng, nhằm theo dõi độ ẩm và các tín hiệu hoá học có thể chỉ thị cho việc cây đang trải qua giai đoạn thiếu nước.  Các tín hiệu hoá học này, có thể là sự tăng hàm lượng đường và muối trong tế bào, xảy ra sớm hơn nhiều so với các tín hiệu vật lý, như lá héo, mà các nông dân vẫn quen nhìn thấy.  Vì mỗi sensor chỉ có thể truyền tín hiệu đi xa khoảng nửa mét, nên chúng phải truyền sang sensor bên cạnh và cứ thế cho đến khi dữ liệu về đến trạm xử lý.  Phần mềm máy tính sau đó sẽ phân tích dữ liệu và cảnh báo người chủ vườn bằng email hoặc bằng thông điệp text.  Nông dân Mỹ thường tưới ruộng hằng ngày. Nhưng với một hệ thống sensor hiệu quả, họ có thể tưới vườn cứ sau 30 đến 40 giờ, tiết kiệm nước hơn. Ngoài ra, nó còn giúp tiết kiệm nhân công.  T. An (theo Discovery)      Author                Quản trị        
__label__tiasang CCAP – “doanh nghiệp mũ đỏ” trong hệ thống nghiên cứu Trung Quốc      Những năm đầu của thập kỷ 80, sự thần kỳ của Trung Quốc (TQ) bắt đầu với công cuộc cải tổ trong khu vực nông thôn. Sự bùng nổ doanh nghiệp Hương trấn hay còn gọi là các “doanh nghiệp mũ đỏ” (một sự kết hợp giữa quản lý nhà nước và điều hành tư nhân) hoạt động theo cơ chế thị trường đã giúp nông thôn TQ giải được bài toán dư thừa lao động và thu nhập thấp.      Hai mươi năm sau, những dấu hiệu cho một công cuộc cải cách tương tự trong hệ thống nghiên cứu đang bắt đầu nhen nhóm. Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp TQ (CCAP) thuộc Viện Hàn lâm TQ đang đi tiên phong trong tiến trình này. “Chúng tôi đang làm những chuyện mà 10 năm nữa sẽ là tất yếu ở đất nước này”, Ji Kun Huang- Giám đốc CCAP khẳng định một cách tự tin. Huang hoàn toàn có cơ sở để chứng tỏ một xu thế không thể đảo ngược.     Những ngày đầu khó khăn          CAAP thời kỳ đầu        Tốt nghiệp Tiến sĩ ở Đại học Nông lâm UPI (Philipin) năm 1990, trở về nước Huang công tác ở Viện Kinh tế Nông nghiệp thuộc Học Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp). Giai đoạn 1992- 1995, Huang sang làm nghiên cứu cho Viện Lúa Quốc tế- IRRI (Philippin); trường đại học Stanford (Mỹ) và Viện Chính sách Lương thực Quốc tế- IFPRI (Washington DC). Tham gia các hoạt động nghiên cứu ở các Viện và trường danh tiếng đã giúp Huang học hỏi rất nhiều về cơ chế quản lý hiệu quả, những phương pháp phân tích hiện đại, công cụ hữu hiệu hỗ trợ ra quyết định chính sách. Huang nhận thấy những mô hình kinh tế với nhiều kịch bản, lựa chọn chính sách và dự báo sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học để đưa ra các lựa chọn sát với thực tiễn và có cơ sở khoa học.  Là một người đã nhiều năm làm việc trong hệ thống nghiên cứu trong nước và quốc tế, Huang thấu hiểu một khoảng cách về nghiên cứu giữa trong nước và quốc tế. Một điều có vẻ nghịch lý là, những chuyên gia nước ngoài đến làm nghiên cứu về TQ mang theo những kỹ năng phân tích hiện đại, thường đưa ra những gợi ý chính sách hợp lý hơn cả những chuyên gia trong nước. Tuy nhiên, các chuyên gia này chỉ đến theo thời vụ, theo những đơn đặt hàng của các tổ chức quốc tế hay các chương trình. Hết thời hạn họ lại rời TQ và trở về nước. Rõ ràng những nghiên cứu như vậy không hẳn xuất phát từ bản thân yêu cầu của thực tiễn, của nhu cầu phát triển hay đáp ứng những bức xúc mà Chính phủ đang đặt ra. Ý tưởng về xây dựng một mô hình nghiên cứu quy chuẩn quốc tế ngay trên đất TQ, do chính người TQ thực hiện bắt đầu nhen nhóm trong Huang.        Nếu như thập kỷ 80 chứng kiến sự phá rào của nông dân làm nên sự kiện khoán hộ vĩ đại, mở ra đổi mới của kinh tế Trung Quốc và thập kỷ 90 chứng kiến sự phá rào của tiểu chủ làm nên phong trào công nghiệp Hương trấn, những năm đầu của thế kỷ 21 này có lẽ sẽ chứng kiến sự vượt rào mới của đội ngũ nhân tài trẻ, làm nên cuộc Cách mạng Khoa học công nghệ, đưa Trung Quốc bước vào cửa ngõ của nền kinh tế tri thức.           Năm 1995, được sự chấp thuận của Học viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Huang đã thành lập và trở thành Giám đốc CCAP. Trong thời gian này, nhờ có cuộc hội ngộ với Linxiu Zhang- Phó giám đốc CCAP, ý tưởng của Huang về phát triển một viện nghiên cứu độc lập ngày càng được nung nấu. Huang đến từ Hàng Châu và Linxiu đến từ Bắc Kinh; một người tu nghiệp từ Mỹ về và một người từ Anh về đều có chung quyết tâm muốn tập hợp lực lượng xây dựng một cách thức làm khoa học kiểu mới, một mô hình nghiên cứu khác với những gì đã và đang có ở TQ. Tuy nhiên, cả hai nhận thấy dưới cơ chế cứng nhắc, bó buộc của Học viện Khoa học Nông nghiệp TQ, những ý tưởng về một mô hình nghiên cứu mới không thể trở thành hiện thực. Có 3 lý do cơ bản ngăn cản CCAP phát triển: Ở các Viện thuộc Học viện khoa học TQ, người điều hành không có toàn quyền trong lựa chọn tuyển dụng, không có quyền sa thải cán bộ yếu kém; các viện của Học viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp  hiện còn dư thừa một lực lượng cán bộ năng lực kém, trở thành gánh nặng cho ngân sách nghiên cứu; Ngoài ra cơ chế quản lý quan liêu đã cản trở công tác nghiên cứu như: các thủ tục đệ trình lên các cấp để phê chuẩn hoạt động nghiên cứu hợp tác với quốc tế mất rất nhiều thời gian.  Được sự ủng hộ của một số lãnh đạo của Học viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, năm 2000, Huang cùng với các đồng nghiệp trẻ thành lập một trung tâm mới (vẫn mang tên CCAP).  Những ngày đầu Huang và Linxiu đã phải tốn rất nhiều công sức để gây dựng cơ sở vật chất và con người. Linxiu kể lại: “Thậm chí Huang đã phải bỏ tiền túi ra để mua sắm các trang thiết bị cho Trung tâm”. Trung tâm đã thực sự cất cánh khi được quỹ FORD tài trợ 200 ngàn USD. Đây không phải là một khoản tiền lớn song cho phép Huang có nguồn vốn đầu tư vào phát triển con người, nhắm tới một tương lai dài hơi. Chỉ hơn hai năm sau, CCAP đã trở thành một Viện nghiên cứu chính sách nổi tiếng trong nước và quốc tế, hoàn thành các nghiên cứu trong các lĩnh vực quan trọng như doanh nghiệp Hương trấn, hội nhập WTO, cung cầu gạo, nước cho sản xuất nông nghiệp… Tại các hội thảo trong nước cũng như quốc tế về TQ, thính giả luôn có ấn tượng về một diễn giả có cặp kính trắng dày, dáng người nhỏ gầy nhưng có một giọng nói tự tin và những ý tưởng sắc bén. Đó chính là Huang- Giám đốc CCAP. Đối với trong nước, CCAP trở thành một địa chỉ tin cậy để các nhà hoạch định chính sách tìm kiếm những kết quả phân tích, dự báo, ra các lựa chọn chính sách và chiến lược cho đất nước. Đối với nước ngoài, CCAP trở thành một đối tác chiến lược trong hoạt động nghiên cứu. CCAP đã trở thành nơi tiếp nhận những dự án viện trợ nghiên cứu quốc tế để hỗ trợ cho các nhu cầu hoạch định chiến lược, chính sách của các cơ quan Chính phủ TQ.   Cơ chế gọn nhẹ, hiệu quả                  CAAP ngày nay          Những năm qua, nền kinh tế TQ đã thực hiện những bước chuyển mình mạnh mẽ từ kế hoạch sang thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh về cơ bản đã hoạt động dựa trên tín hiệu thị trường và ngày càng sôi động, đặc biệt là ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, bộ máy hành chính vẫn còn khá trì trệ, đi sau thực tiễn và nhiều khi trở thành rào cản của thực tiễn. Như vậy, vô hình trung, ở TQ tồn tại hai hệ thống đối lập nhau: một bên là khu vực kinh doanh bên ngoài (thu nhập cao, năng động) và một bên là cơ quan Nhà nước (thu nhập thấp, trì trệ). Kết quả là những cán bộ trẻ có năng lực, có ý chí vươn lên bị hút vào các hoạt động kinh doanh chỉ còn lại những cán bộ năng lực yếu, an phận thủ thường vào các cơ quan Nhà nước. Nghịch lý này đã trở thành xu hướng, ngày càng gây ra những hậu quả tiêu cực.   Trong bộ máy Nhà nước, khu vực nghiên cứu lại là nơi bảo thủ và chậm đổi mới nhất. Bộ máy nghiên cứu phình to, nhiều cán bộ chỉ có kiến thức cũ, quen với nếp tư duy cũ nên khi chuyển sang cơ chế thị trường, đòi hỏi ứng dụng phương pháp nghiên cứu mới, công nghệ hiện đại, đã không còn thích hợp, làm việc không hiệu quả. Ở rất nhiều viện nghiên cứu của TQ, cơ chế cũ như: hệ thống lương bổng thấp, chế độ công chức suốt đời đã không kích thích người làm nghiên cứu có động lực để phát huy tài năng, công tác nghiên cứu dựa trên phân bổ hơn là đấu thầu, các sản phẩm nghiên cứu làm ra không có khả năng áp dụng cao, chưa đi theo sát những yêu cầu thực tiễn và hỗ trợ các công tác hoạch định chiến lược và chính sách quốc gia, điều hành vĩ mô, trợ giúp thị trường hoạt động thông suốt.  Trong bối cảnh như vậy, CCAP của Học viện Hàn lâm Khoa học TQ là đơn vị nghiên cứu tiên phong của TQ áp dụng một hệ thống nghiên cứu cạnh tranh. CCAP không cần bất cứ một sự giúp đỡ tài chính nào từ Chính phủ, kể cả lương bổng và các khoản phúc lợi, tuy nhiên đổi lại Huang có được các điều kiện thuận lợi về quản lý và hoạt động tài chính.   Về cơ cấu tổ chức, CCAP có 7 bộ phận nghiên cứu và 3 bộ phận hỗ trợ, chỉ với 13 tiến sỹ và 5 thạc sỹ là thành viên chính thức còn lại hoạt động theo hình thức liên kết. Việc tuyển dụng cán bộ của CCAP phải dựa trên nhu cầu và tính cạnh tranh thực tế tại Trung tâm. Có hai ủy ban tư vấn quốc tế và trong nước tư vấn về các quyết định quan trọng cho sự phát triển của CCAP như: tuyển dụng cán bộ, tăng lương, lập kế hoạch chiến lược. Tuy nhiên, Giám đốc của CCAP là người quyết định cuối cùng đối với mọi chính sách lớn. Các phòng ban của CCAP không cứng nhắc, dập khuôn theo những kế hoạch phát triển định trước mà hết sức mềm dẻo, chủ động thay đổi theo nhu cầu phát triển.        Tuy tổng số cán bộ nghiên cứu chính của CCAP chỉ vẻn vẹn dưới 20 người nhưng hoạt động rất hiệu quả. Chỉ trong vòng hơn 5 năm, CCAP đã xuất bản một số lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế: có 87 bài nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế và 169 bài nghiên cứu trên tạp chí trong nước; 17 cuốn sách xuất bản.        Tuy tổng số cán bộ nghiên cứu chính của CCAP chỉ vẻn vẹn dưới 20 người nhưng hoạt động rất hiệu quả. Chỉ trong vòng hơn 5 năm, CCAP đã xuất bản một số lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế: có 87 bài nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế và 169 bài nghiên cứu trên tạp chí trong nước; 17 cuốn sách xuất bản.  Giúp việc và phối hợp với các tiến sỹ đóng vai trò nghiên cứu viên đầu đàn là hàng chục nghiên cứu sinh, sinh viên công tác ở Trung tâm từ vài tháng đến một năm dưới dạng vừa học vừa làm. Họ là các tài năng được chọn lọc, có khả năng nghiên cứu và học tập tốt. Trung tâm cấp học bổng, trả lương khá cao cho đội ngũ trợ giúp nghiên cứu này và coi họ như cán bộ của mình.    Kết nối nghiên cứu và hoạch định chính sách                  Chiến lược nghiên cứu của CCAP là phân tích và đưa ra các dự báo về kinh tế vĩ mô, thương mại, phát triển của ngành nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc, cung cấp thông tin thích hợp, kịp thời cho các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách. Chiến lược nghiên cứu nhắm vào những mục tiêu: Thực hiện nghiên cứu và phân tích chính sách thực tiễn và kịp thời; tạo ra một môi trường mở và sáng tạo cho các cuộc tranh luận chính sách và xây dựng năng lực nghiên cứu và đào tạo thế hệ nghiên cứu tương lai của TQ.  Những cuộc thảo luận mở cũng là một trong những chiến lược chính của CCAP để khuấy động môi trường tranh luận học thuật và chính trị. CCAP đã mở đều đặn một loạt các diễn đàn tranh luận chính sách nhằm chuyển tải và truyền đạt những khám phá nghiên cứu thành các thông tin có ý nghĩa dành cho các nhà hoạch định chính sách.  Sau 5 năm nỗ lực hoạt động, CCAP đã và đang nổi lên là một trong những địa chỉ tư vấn và tham khảo chính sách uy tín mà cho các nhà hoạch định chính sách TQ. Hiện CCAP là một trong những nơi tư vấn chính sách chính cho Bộ Nông nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Kế hoạch Phát triển Nhà nước, Vụ Thống kê Nhà nước, và một số cơ quan trung ương dưới Hội đồng Nhà nước, Bộ Thủy lợi, Nhóm lãnh đạo xóa đói giảm nghèo và các nhà lãnh đạo chính quyền các cấp, các địa phương.  Các nguyên tắc để thành công  Vậy đâu là các nguyên nhân dẫn đến sự thành công của CCAP? Theo cô LinXiu thì  những yếu tố nền tảng của CCAP là: tạo nên một mạng lưới nghiên cứu rộng, huy động sức sáng tạo của tri thức, đầu tư vào con người và tạo một cơ chế về thu nhập đảm bảo động lực cho chuyên gia dồn tâm lực vào công tác nghiên cứu.        Về người đã xây dựng nên CCAP TS. Jikun Huang, cá nhân tôi đã biết tên tuổi của anh từ lâu trong các dịp hội thảo quốc tế ở Philippin, Bangkok, Seoul hay ở  Hà Nội. Năm ngoái, anh có tham dự hội thảo ở khách sạn Sofitel Hà Nội, sau đó chúng tôi có mời anh bữa ăn tối thân mật. Buối tối hôm đó thật vui vì những câu chuyện chân tình về học thuật và những ý kiến về sự phát triển bền vững của TQ. Anh kể rằng, anh có một kỷ niệm đáng nhớ với Thủ tướng Chu Dung Cơ (trong một cuộc Hội nghị của Chính phủ do ông chủ trì với giới khoa học về phát triển nông nghiệp Trung Quốc). Giữa hội nghị anh đã đứng lên phản đối quan điểm của Thủ tướng, bảo vệ quan điểm riêng về chiến lược phát triển thuỷ lợi. Sau đó, quan điểm này của anh đã được chấp thuận. Bản lĩnh của nhà khoa học làm chúng tôi thấy nể trọng anh hơn.        Tuy số lượng cán bộ nghiên cứu ít nhưng CCAP đã áp dụng một phương thức làm việc hiệu quả là liên kết và huy động mọi nguồn lực vào công tác nghiên cứu. Khi có các hoạt động nghiên cứu lớn, CAAP sẽ ký hợp đồng ngắn hạn với các chuyên gia, và các sinh viên sắp tốt nghiệp ra trường. Các sinh viên và nghiên cứu sinh được huy động vào các hoạt động nghiên cứu, cùng với các chuyên gia xuống địa phương điều tra, thu thập số liệu, nhập số liệu và chạy mô hình dự báo.  Sự công khai cởi mở về thông tin, công nghệ, công việc… đã khuyến khích các cán bộ chuyên môn học hỏi, chia sẻ kiến thức lẫn nhau để có thể tham gia phối hợp thực hiện những qui trình công nghệ nghiên cứu phức tạp có liên quan đến nhiều đơn vị, nhiều địa phương.  Trung Quốc có hàng trăm ngàn nhân tài được cử ra nước ngoài học tập. Trước đây, 80%- 90% các nhà khoa học sau khi tốt nghiệp thường ở lại làm việc ở nước ngoài. Hiện nay, với các chính sách “chiêu hiền, đãi sĩ” mới, tỷ lệ cán bộ trở về nước công tác đã cao hơn đáng kể. Trở ngại chính gây nên tình trạng chảy máu chất xám nghiêm trọng ở TQ là mức thu nhập quá chênh lệch trong và ngoài nước, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, điều kiện sống, cản trở thông tin, khó khăn trong hợp tác và giao tiếp quốc tế. Một thực tế đang tồn tại ở TQ là có một khoảng cách khá lớn giữa thu nhập ở khu vực Nhà nước và kinh doanh bên ngoài, cho dù Chính phủ đã có rất nhiều nỗ lực cải cách hệ thống tiền lương. Thông thường ở Bắc Kinh, lương của cán bộ làm Nhà nước trung bình ở mức 600 USD/tháng, chưa kể các khoản phúc lợi khác như bảo hiểm, tiền hỗ trợ thuê nhà, còn ở khu vực kinh doanh là trên dưới 1000 USD/tháng. Vì vậy, chế độ đãi ngộ của CCAP đã mở ra giải pháp mới, xóa đi khoảng cách giữa làm việc trong Nhà nước và ngoài thị trường, giữa làm việc trong nước và làm ở nước ngoài, tạo động lực đưa người TQ giỏi về nước, gắn công nghệ quốc tế với thực tiễn trong nước.  Những người như Huang có rất nhiều trong các Viện nghiên cứu hay các cơ quan hành chính sự nghiệp ở TQ. Sau khi tu nghiệp nước ngoài về họ có hai lựa chọn: Ở lại các viện nghiên cứu hoặc đi làm cho các tổ chức quốc tế. Trong các cơ quan Nhà nước, dưới cơ chế bó buộc và còn nhiều cản trở, năng lực của họ không được phát huy, không đóng góp hiệu quả vào công cuộc phát triển đất nước. Làm cho các tổ chức quốc tế, tuy hưởng đời sống cao nhưng chỉ làm các dự án hay chương trình dưới sự chỉ đạo và ý tưởng của bên ngoài, không đóng góp hiệu quả cho các nhu cầu thiết thân của thực tế, hỗ trợ công cuộc hoạch định chính sách quốc gia. Trong khi nhu cầu nghiên cứu phục vụ phát triển trong nước rất lớn song khả năng đáp ứng lại thiếu và lãng phí. Nếu như thập kỷ 80 chứng kiến sự phá rào của nông dân làm nên sự kiện khoán hộ vĩ đại, mở ra đổi mới của kinh tế Trung Quốc và thập kỷ 90 chứng kiến sự phá rào của tiểu chủ làm nên phong trào công nghiệp Hương trấn, những năm đầu của thế kỷ 21 này có lẽ sẽ chứng kiến sự vượt rào mới của đội ngũ nhân tài trẻ, làm nên cuộc Cách mạng Khoa học công nghệ, đưa Trung Quốc bước vào cửa ngõ của nền kinh tế tri thức.    Phạm Quang Diệu      Author                Quản trị        
__label__tiasang CERN sẽ xây dựng siêu vành va chạm 21 tỷ euro      CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt châu Âu sẽ theo đuổi việc xây dựng một cỗ máy gia tốc có độ dài 100km để khám phá những bí mật của hạt Higgs boson nhưng chưa đủ kinh phí.      Quyết định này đã được Hội đồng CERN đồng lòng nhất trí vào ngày 19/6/2020, sau khi một hội đồng độc lập chấp thuận vào tháng 3/2020. Tổ chức tiên phong bậc nhất về vật lý hạt châu Âu sẽ cần sự hỗ trợ của toàn cầu về kinh phí cho dự án này, vốn được dự đoán là cần một khoản kinh phí ít nhất vào khoảng 21 tỷ euro và có thể sẽ trở thành thiết bị theo sau cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC. Cỗ máy mới có thể sẽ để các electron va chạm với positron, những phản hạt của chúng. Thiết kế này – cỗ máy được đặt tại một đường hầm dưới lòng đất gần địa điểm CERN ở Geneva, Thụy Sĩ – sẽ cho phép các nhà vật lý nghiên cứu về các đặc tính của hạt Higgs boson và sau đó là một cỗ máy có chùm tia mạnh hơn để tạo sự va chạm giữa các proton, và có thể hoạt động tốt trong nửa sau thế kỷ 21.  Sự chấp thuận này vẫn không hẳn là một quyết định cuối cùng nhưng điều đó có nghĩa là CERN có thể đặt nỗ lực thiết kế một vành va chạm và nghiên cứu về tính khả thi của nó, trong khi thúc đẩy những nỗ lực R&D để có những thiết kế cho thiết bị mới như vành va chạm tuyến tính eletron-positron hoặc một thiết bị có thể gia tốc các hạt muon. “Tôi nghĩ đấy là ngày lịch sử của CERN và vật lý hạt trong và ngoài phạm vi châu Âu,” tổng giám đốc điều hành CERN Fabiola Gianotti nói với hội đồng sau cuộc bỏ phiếu.  “Đây rõ ràng là một điểm đáng nhớ” với CERN, cựu tổng giám đốc CERN Chris Llewellyn-Smith, nói. “Đây là một bước tiến quan trọng, cho phép các quốc gia châu Âu nói ‘đúng, đây là những gì chúng tôi muốn theo đuổi’.” Llewellyn-Smith là một nhà vật lý tại trường đại học Oxford, Anh.  Hai giai đoạn  Quyết định này đã được nêu trong một bản tài liệu mang tên Chiến lược châu Âu để cập nhật về vật lý hạt (European Strategy for Particle Physics Update). Tài liệu này đưa ra hai giai đoạn phát triển: Đầu tiên, CERN có thể xây dựng một vành va chạm electron-positron với các mức năng lượng va chạm có thể đạt tới cực đại, đảm bảo cho việc tạo ra các hạt Higgs bosons và hiểu được chi tiết những đặc tính của nó.  Vào nửa sau thế kỷ này, thiết bị đầu tiên có thể được tháo dỡ và thay thế bằng một máy gia tốc proton-proton nhanh hơn, có thể đạt tới mức năng lượng va chạm 100 teraelectronvolts (TeV) – LHC đạt mức năng lượng 16 TeV, hiện tại là máy gia tốc có mức năng lượng cao nhất thế giới. Mục tiêu của thiết bị mới là tìm kiếm các hạt mới hoặc lực tự nhiên và mở rộng hoặc thay thế Mô hình chuẩn hiện thời của vật lý hạt. Rất nhiều công nghệ mà việc phát triển cỗ máy này đòi hỏi và sẽ là chủ đề của nghiên cứu một cách chuyên sâu trong vài thập kỷ đến. “Đây là một chiến lược đầy tham vọng với việc phác thảo một tương lai tươi sáng cho châu Âu và CERN với một cách tiếp cận theo từng bước đầy khôn ngoan,” Gianotti nói.    “Tôi nghĩ dĩ nhiên đây là định hướng đúng để theo đuổi”, Yifang Wang, giám đốc Viện nghiên cứu vật lý năng lượng cao (IHEP) của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh, nói. Cỗ máy mới đề xuất của CERN tương tự về ý tưởng với thiết bị đề xuất của Wang về một vành va chạm của Trung Quốc, noi theo khám phá hạt Higgs boson trên LHC vào năm 2012. Giống như chiến lược chính thức hiện thời ở CERN, đề xuất của Wang còn bao gồm cả triển vọng có thêm một vành va chạm proton trong giai đoạn tiếp theo, tiếp theo mô hình LHC (vòng tròn có đường kính 27 km được đặt trong đường hầm của LHC trong những năm 1990). Quyết định của CERN “là sự xác nhận cho sự lựa chọn của chúng tôi là đúng”, Wang nói.  Trong khi tán thành hoàn toàn với vành va chạm hình tròn của CERN, Trung Quốc kêu gọi CERN tìm hiểu sự tham gia của Vành va chạm tuyến tính quốc tế (International Linear Collider), một ý tưởng cũ vẫn còn hoạt động với nỗ lực của các nhà vật lý Nhật Bản. Hitoshi Yamamoto, một nhà vật lý ở trường đại học Tohoku tại Sendai, Nhật Bản, cho biết việc xác nhận cho kế hoạch mới của CERN đáng khuyến khích. “Tôi tin tưởng những điều kiện để ILC tiến bước tiếp theo tại Nhât Bản và toàn cầu hiện giờ đã được xác nhận đúng lúc, đúng chỗ”.  Tìm nguồn đầu tư  Chiến lược đã hình dung ra công việc đến năm 2038 của CERN như bắt đầu xây dựng đường hầm 100 km và vành va chạm electron-positron. Cho đến khi đó, CERN sẽ tiếp tục vận hành một phiên bản nâng cấp vành va chạm mang tên High Luminosity LHC, vốn đang được xây dựng.  Nhưng trước khi CERN có thể bắt đầu công việc về cỗ máy mới, nó cần phải tìm thêm nguồn kinh phí mới bởi kinh phí vượt qua mức đóng góp thông thường của các quốc gia thành viên. Llewellyn-Smith cho rằng các quốc gia ngoài châu Âu, bao gồm Mĩ, Trung Quốc và Nhật Bản có thể cần tham gia CERN để hình thành một tổ chức mới mang tính toàn cầu. “Và tất nhiên cần một cấu trúc mới,” ông nói.  Kế hoạch mới nặng về chi phí này đã bị gièm pha – ngay cả trong cộng đồng vật lý. Sabine Hossenfelder, một nhà vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu tiên tiến Frankfurt ở Đức, đã chỉ trích cho việc theo đuổi ý tưởng năng lượng cao này khi cho rằng sự “hoàn vốn” khoa học – một phần của việc đo đạc các tính chất của những hạt đã biết – còn lâu mới được đảm bảo. “Tôi vẫn nghĩ đây không phải ý tưởng đúng. Chúng ta đang nói về hàng chục tỷ euro đấy. Tôi chỉ nghĩ là ý tưởng này không đủ tiềm năng khoa học để làm được nghiên cứu đúng đắn nào ngay được.”  Vành va chạm mới sẽ mở ra một phạm vi chưa từng được biết đến trước đây. Tara Shears, một nhà vật lý tại trường đại học Liverpool, Anh, nhận xét. Trong khi LHC có một mục tiêu rõ ràng là để tìm kiếm hạt Higgs boson cũng như các nguyên nhân mang tính gợi mở cho các nhà lý thuyết để tin rằng có thể một hạt mới trong phạm vi khối lượng đó cũng được khai phá, tình huống hiện nay hoàn toàn khác. “Chúng ta không có một dự đoán tương đương nào – nó khiến cho việc nhận thức được nơi nào và bằng cách nào có thể tìm kiếm những câu hỏi thách thức và rủi ro hơn””.    Dẫu vậy, bà nói “chúng ta biết chỉ một con đường tìm những câu trả lời là bằng thực nghiệm và chỉ một nơi có thể tìm ra chúng là nơi chúng ta chưa từng có khả năng tìm thấy.”  Trong phần cuối của cuộc họp với sự tham gia của các thành viên từ nhiều nơi qua mạng internet, Chủ tịch Hội đồng CERN Ursula Bassler nói, “nhiệm vụ lớn hiện nay đang ở trước mắt chúng ta, đặt chiến lược này vào thực tế.” Sau đó, bà mở một chai champagne kết thúc phiên họp đặc biệt này.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-01866-9       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cha đẻ của những cảng biển nước sâu miền Trung      Mùa hè năm 1992, trong một chuyến đi khảo sát, sau khi vất vả vượt qua một rặng núi cát ở Dung Quất, Tiến sĩ Trương Đình Hiển gặp một nông dân đang làm vườn. Sau một lúc nghỉ ngơi trò chuyện ông mới biết nông dân này đã từng là một người lính thuộc Đại đội 21 bộ đội địa phương Quảng Ngãi từng tham gia trận chiến đấu đánh bại chiến dịch Ánh sáng sao, một trận Ấp Bắc của miền Trung, do quân đội Mỹ thực hiện ở Vạn Tường (xã Bình Hải, huyện Bình Sơn). Khi biết Tiến sĩ Hiển đang nghiên cứu về Dung Quất, anh nông dân này liền góp ý: Dung Quất hay đấy, nhưng phải nhiều người làm, phải lâu dài, và đừng sợ khổ.    Anh nông dân Quảng Ngãi đã nói đúng tất cả, trừ một điểm: Tiến sĩ Hiển không sợ khổ. Tám tháng ròng rã lặn lội trên những nỗng cát, với sự giúp đỡ đắc lực của đồng nghiệp và những người dân địa phương, những cơ sở khoa học chắc chắn nhất cho việc lập dự án lựa chọn địa điểm cho cảng nước sâu và khu công nghiệp Dung Quất đã được hoàn thành. Đây cũng là một kỷ lục về thời gian đối với một chương trình nghiên cứu động lực học ven biển cũng như những điều kiện tự nhiên khác cho đến thời điểm này. Và chi phí cho toàn bộ chương trình khảo sát nghiên cứu này (bao gồm cả việc mua sắm một số trang thiết bị đo đạc), trị giá khoảng 20 lượng vàng, do Tiến sĩ Hiển tự đi vay mượn để thực hiện.  Ở thời điểm cuối năm 1992 đó, nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Hiển đã kết luận rằng có hai vị trí thích hợp tại miền Trung để xây dựng cảng biển nước sâu. Điều đó có nghĩa là nhóm nghiên cứu cùng lúc khảo sát thực tế cho cả dự án cảng nước sâu Chân Mây (Thừa Thiên Huế). Tuy nhiên nhóm nghiên cứu quyết định chỉ trình dự án Dung Quất vì sợ giới thiệu cả hai cùng một lúc, có thể chính phủ sẽ làm theo thói quen là chọn một bỏ một.  Sinh ra ở Hội An (Quảng Nam) năm 1941, trong kháng chiến chống Pháp Tiến sĩ Hiển theo cha mẹ vào sống và học tập trong vùng giải phóng Liên khu 5. Năm 1954 ông theo gia đình tập kết ra bắc và học cùng lớp với những con người nổi tiếng như Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong, Lâm Quang Nho, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Minh Nhân… Sau khi tốt nghiệp khoa Vật lý Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông được chọn làm nghiên cứu sinh tại Viện Hải dương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Có lẽ do sự sắp đặt may mắn của số phận, ngay từ những ngày đầu tiên ông đã được gặp gỡ Giáo sư V.B. Stockman, một nhà khoa học hàng đầu thế giới về động lực học biển và là một người thầy vĩ đại. Năm 1967, khi nghe Tiến sĩ Hiển chọn lựa cho mình đề tài Giải bài toán phi tuyến về dòng chảy biển, Giáo sư Stockman đã góp ý với ông rằng : nếu đi theo hướng này anh có thể nổi tiếng về mặt lý thuyết. Nhưng VN đang rất cần những nhà khoa học giỏi giải quyết các vấn đề thực tiễn. Những lời tâm huyết đó đã làm thay đổi con đường nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Hiển. Với đề tài Cấu trúc cở trung bình của dòng chảy trong đại dương, Tiến sĩ Hiển đã xác lập cho mình một nền tảng ban đầu cho 140 công trình nghiên cứu về động lực học biển sau này.  Và Tiến sĩ Hiển đã trung thành với con đường đã chọn của mình. Trước năm 1992, trong lúc đang có một công việc ổn định với mức thu nhập khá cao trong Liên doanh dầu khí Việt Xô, ông đã nói lời chia tay để về làm việc tại Phân viện Vật lý Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ đây, cùng với những cộng sự đầy nhiệt huyết của mình như Bùi Quốc Nghĩa, Trần Văn Sâm, Tiến sĩ Hiển đã lặng lẽ tiến hành những chuyến khảo sát dọc ven biển miền Trung với một câu hỏi day dứt : miền Trung của mình sẽ còn loay hoay với cái nghèo đến bao giờ ?  Ban đầu, bản tóm tắt dự án nghiên cứu sơ bộ về cảng nước sâu Dung Quất do Tiến sĩ Hiển gửi đến UBND tỉnh Quảng Ngãi đã nhận được rất nhiều sự nghi ngờ, phân vân. Ngày xưa, thời Pháp và Mỹ chiếm đóng rồi cả sau này đã có hàng chục đoàn chuyên gia khảo sát thuộc nhiều cơ quan đơn vị khác nhau “quần nát” dải bờ biển miền Trung nhưng tuyệt nhiên chưa có một nhận định nào cho rằng Quảng Ngãi có điều kiện và có chỗ để xây dựng cảng biển nước sâu. Phải đến khi dự án được thẩm định bởi các công ty tư vấn nổi tiếng của Nhật Bản và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1994, mọi nghi ngờ mới tan biến. Lập luận của Tiến sĩ Hiển và các cộng sự của ông rất dứt khoát : cảng biển nước sâu và khu công nghiệp Dung Quất không chỉ tạo ra bước phát triển chiến lược trong việc hình thành nhanh chóng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mà còn thúc đẩy sự phát triển của vùng kinh tế này về phía bắc đến đường 9 Quảng Trị, về phía nam đến đường 19 Quy Nhơn, tiếp sức cho Hành lang Kinh tế Đông Tây đồng thời mở ra khả năng hội nhập cho Tây Nguyên, kể cả trong chiến lược bảo vệ tổ quốc.            Tàu du lịch tới cảng Đà Nẵng đầu năm 2008          Theo yêu cầu của ông Võ Văn Kiệt, Thủ tướng đương nhiệm lúc đó, mùa xuân năm 1996 Tiến sĩ Hiển đã trình bày dự án Chân Mây. Ngay trong năm đó dự án này được Chính phủ phê duyệt. Lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế lúc đó đã đánh giá dự án Chân Mây do Tiến sĩ Hiển thực hiện là đã đặt nền móng cho sự ra đời đô thị Chân Mây, với tính chất là thành phố cảng thương mại và du lịch dịch vụ. Chính dự án này đã góp phần tác động đến chủ trương của Chính phủ xếp Thừa Thiên Huế là một trong những hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đồng thời thay đổi một cách sâu sắc đến phương hướng phát triển KT-XH của địa phương này. Hai năm sau, Tập đoàn đầu tư quốc tế Scott (Hoa Kỳ) chính thức đăng ký được lập luận chứng khả thi xây dựng cảng biển nước sâu theo hình thức BOT. Đến giữa năm 1999, Tập đoàn này có công văn bổ sung xin được đầu tư Chân Mây thành cảng thương mại tổng hợp phục vụ công nghiệp địa phương cũng như tham gia trung chuyển hàng hóa quốc tế.  Công trình tiếp theo của Tiến sĩ Hiển và các cộng sự sau Dung Quất và Chân Mây là dự án cảng biển nước sâu và khu công nghiệp Nhơn Hội, để hoàn tất điểm phía nam của trục phát triển công nghiệp tổng hợp dọc duyên hải miền Trung (gồm Chân Mây – Đà Nẵng – Dung Quất – Nhơn Hội).  Trả lời câu hỏi vì sao miền Trung lại cần nhiều cảng biển nước sâu như thế, Tiến sĩ Hiển cho rằng hàng hóa qua các cảng miền Trung là hàng hóa quốc tế, hàng trung chuyển, không phải hàng khai thác tại chỗ. Trước mặt các tỉnh duyên hải miền Trung là đại dương nối liền Việt Nam với Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Philippines… Còn sau lưng là một kênh đào trên bộ để dẫn đến Lào, Myanmar, Ấ Độ, Pakistan. Nói đến dải đất hẹp miền Trung, nhiều người cứ nghĩ đó là vùng đất nghèo. Nhưng nếu có những cảng biển nước sâu để hình thành những trung tâm xuất nhập khẩu, những khu công nghiệp và dịch vụ, chắc chắn sẽ tạo ra sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Những cảng biển nước sâu của Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông là những minh chứng điển hình.  Và ông nói thêm: Tôi nghĩ rằng việc tìm ra những cảng biển nước sâu cho miền Trung là một mục tiêu hết sức có ý nghĩa đối với những người nghiên cứu khoa học. Điều đó cũng chứng tỏ những người làm khoa học của Việt Nam có đủ khả năng giải quyết những vấn đề chiến lược và những yêu cầu thực tiễn cấp bách của đất nước, nếu được tin tưởng trao trọng trách đó.  Hải Văn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cha tôi      Lòng thương yêu vô bờ bến đối với con người, sự gắn bó máu thịt với số phận của Đất nước, của Nhân dân… là những di sản tinh thần mà cha tôi đã để lại cho con cháu trong gia đình, ngoài ra không có gì khác.      GS Đặng Văn Ngữ (1910 – 1967). Ảnh: Gia đình cung cấp.  Vậy là đã hơn 50 năm từ ngày cha tôi ra đi vào cõi Vĩnh hằng. Hình ảnh cuối cùng mà tôi còn giữ lại trong ký ức về cha tôi đó là một buổi chiều giáp Tết Đinh Mùi, cách đây đã hơn 50 năm… Trước khi lên đường đi vào Nam cha tôi hẹn đến thăm bố vợ tôi, Luật sư Nguyễn Quế. Sau bữa cơm đạm bạc với gia đình bên vợ tôi, cha tôi chia tay với tất cả mọi người rồi bế cháu Đặng Nhật Tân, đứa cháu đích tôn duy nhất từ gác hai xuống đến tận cửa xe com-măng-ca đỗ bên đường, trước khi trao nó lại cho tôi. Rồi cha tôi bước lên xe, ngồi vào ghế trước. Chiếc xe nổ máy chuyển bánh… Tôi bế con nhìn hút theo hai chiếc đèn đỏ sau xe cho đến khi chiếc xe đi khuất vào phố đêm… Tôi không hề có linh cảm rằng đó là cuộc chia tay cuối cùng với cha mình. Cha tôi thường hay đi công tác xa về các địa phương để chỉ đạo công tác phòng chống sốt rét. Những cuộc ra đi như vậy đã trở thành quá quen thuộc với gia đình chúng tôi. Nhưng hai tháng sau, tôi và em gái tôi là Đặng Nguyệt Ánh được bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế, báo tin cha tôi đã hy sinh trong một trận bom B52 vào hồi 2 giờ trưa ngày 1 tháng 4 năm 1967 tại chiến khu Trị Thiên- Huế. Tôi không còn nhớ đã đón nhận cái tin sửng sốt kia như thế nào. Chỉ biết rằng từ giây phút đó cho đến tân bây giờ tôi vẫn còn bàng hoàng nghe văng vẳng bên tai câu nói của bác Thạch: Các cháu hãy can đảm đón nhận cài tin đau đớn này: Ba các cháu đã hy sinh… Báo xong cái tin đau đớn đó, bác nói tiếp sau vài giây im lặng: Đến bây giờ bác mới hiểu hết ba các cháu.  Trước khi cha tôi lên đường sang Nhật Bản nghiên cứu về y khoa, cha tôi đã đưa mẹ và ba anh em chúng tôi từ Hà Nội về Huế gửi cho ông bà nội chúng tôi. Suốt bảy năm dài mẹ tôi đã phải chịu cảnh đơn chiếc, hầu hạ chăm sóc bố mẹ chồng, hy sinh tất cả vì sự nghiệp khoa học của chồng. Cho đến năm 1949 cha tôi về nước tham gia Kháng chiến, mẹ tôi và ba anh em chúng tôi đã làm một cuộc trường chinh suốt ba tháng trời đi bộ từ Huế ra Khu 4, rồi từ Khu 4 lên Việt Bắc để sum họp với cha tôi. Nhưng cuộc hội ngộ ấy kéo dài vẻn vẹn chưa đầy bốn năm thì mẹ tôi qua đời sau một cơn tai biến.  Những năm sau hòa bình lập lại, công cuộc tiêu diệt sốt rét trên miền Bắc là công việc chiếm nhiều sức lực và trí tuệ nhất của cha tôi. Đó là lẽ sống và là niềm say mê lớn nhất của cha tôi khi không còn mẹ tôi ở bên cạnh. Tôi nhớ có lần cha tôi bỏ ra một ngày chủ nhật để ngồi viết một truyện thiếu nhi nhằm giáo dục cách phòng chống sốt rét, rồi đọc cho tôi nghe. Một truyện ngắn giản dị có nhân vật chính là hai ông cháu. Có lẽ đó là truyện ngắn duy nhất mà ông viết trong đời. Cha tôi đã làm tất cả những gì có thể làm chỉ vì một mục tiêu duy nhất là tiêu diệt bệnh sốt rét và ông đã làm được điều đó trên toàn miền Bắc nước ta trong một thời gian dài. Có một vật có thể nói là gần gũi nhất với cha tôi đó là chiếc kính hiển vi. Nó có mặt thường xuyên ngay cả trong phòng ngủ của cha tôi ở khu tập thể của Viện Sốt rét tại Mễ Trì. Trước đó khi còn ở trong căn hộ được phân trên phố Hàn Thuyên, cứ cơm tối xong là cha tôi đi bộ vào Trường Y trên đường Lê Thánh Tông, cách nhà chừng 300 mét, làm việc trong phòng thí nghiệm cho đến 10 giờ tối. Ngày cha tôi trở về nước tham gia kháng chiến, suốt chặng đường dài từ Nhật Bản qua Thái Lan, từ Thái Lan đi bộ băng qua Lào về Nghệ An , rồi từ Nghệ An lên Việt Bắc, trong hành trang của cha tôi ngoài hai bộ quần áo kaki có một lọ đựng một thứ nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh, mà từ đó cha tôi đã chiết xuất ra nước lọc Penicilline để cứu chữa các vết thương cho bộ đội. Trong hành trang của cha tôi mang từ Nhật về còn có một chiếc kính hiển vi nho nhỏ chỉ bằng một gang tay nhưng có đủ cả ống kính, gương phản chiếu và bộ phận điều chỉnh tiêu cự. Đó là món quà cha tôi đem về cho tôi. Tôi biết cha tôi muốn con mình sau này đi vào con đường nghiên cứu y học nối nghiêp cha tôi.&nb      Cha tôi ra đi cách đây đã hơn 50 năm. Thời gian càng làm chúng tôi nhận thức rõ hơn mọi chiều sâu xa của mất mát lớn lao này. Không chỉ đối với chúng tôi, con cháu trong gia đình mà còn đối với nền Y học nói chung. Những gì ông cống hiến cho đất nước mới chỉ là một phần rất nhỏ trong kiến thức bao la mà ông tích lũy được trong quãng đời nghiên cứu khoa học của mình trên các lĩnh vực ký sinh trùng, côn trùng, vi trùng, các bệnh truyền nhiễm và nhất là trong lĩnh vực còn mới mẻ ở ta hiện nay: lĩnh vực Hóa vi sinh. Ông còn có thể làm được rất nhiều nhiều nữa cho đất nước. Tiếc rằng ông đã ra đi ở tuổi 57!      Niềm say mê lớn nhất của cha tôi là nghiên cứu khoa học và phòng thí nghiệm là thánh đường. Kể cả những lúc làm việc một mình trong phòng thí nghiệm cha tôi cũng đeo cravatte chỉnh tề. Nhưng không phải vì vậy mà cha tôi không quan tâm đến những chuyện đời thường của những người sống quanh mình.. Nhiều năm liền cha tôi là Thư ký Công đoàn của trường Đại học Y Hà Nội. Một thời gian cha tôi là Chủ tịch Ban liên lạc Hội đồng hương Thừa Thiên-Huế ở Hà Nội. Thú vui giải trí mà cha tôi ưa thích là xem bóng đá. Cha tôi không vắng mặt bất kỳ trận đá bóng quan trọng nào đặc biệt các trận có đội Thể Công. Cha tôi ít khi xem phim, xem kịch. Thời giờ rỗi rãi ông chỉ thích nghe ca Huế qua đài đặc biệt với giọng ngâm của nghệ sỹ Châu Loan. Những lúc ấy tôi biết cha tôi rất nhớ Huế, nơi có bà nội tôi lúc đó đã ở cái tuổi gần đất xa trời. Kể từ ngày cha tôi sang Nhật cho đến khi về lại Hà nội tổng cộng cha tôi đã xa Huế hơn 20 năm. Trong chuyến đi vào chiến trường năm ấy ngoài việc nghiên cứu vắc xin chống sốt rét cho bộ đội, tôi biết cha tôi còn ấp ủ một hy vọng nữa là được gặp lại bà nội tôi. Bà tôi chắc cũng mong điều đó nên cố sống để chờ ngày gặp con. Nhưng rồi không gặp được nên bà tôi cũng ra đi ngay sau khi cha tôi mất chỉ mấy tháng. Tại nơi tập trung ở Hòa Bình để luyện tập trước khi vào chiến trường, cha tôi viết thư về dặn vợ chồng tôi:   “Thỉnh thoảng các con xuống Viện Sốt rét, vào căn phòng của Ba, lau chùi dọn dẹp trong phòng. Đồ đạc cứ để nguyên như cũ… như khi Ba đi công tác xa”. Cuối thư cha tôi còn dặn thêm: “Có đôi bít tất để trong tủ Ba chưa kịp giặt, các con giặt giùm”. Căn phòng ở của cha tôi tại Viện Sốt rét là một căn phòng rộng 15m2 ở tầng hai khu tập thể của Viện. Giữa phòng kê một chiếc giường đệm cỏ phủ khăn trải giường trắng, cạnh đó một bộ sa lông gỗ gồm hai ghế và một bàn tròn đặt gần cửa sổ. Ở một góc là chiếc bàn làm việc với sách vở và chiếc kính hiển vi, một góc khác là chiếc tủ đựng quần áo. Đồ đạc riêng đáng giá nhất có lẽ là chiếc đài điện tử nhãn hiệu TESLA của Tiệp Khắc màu cánh gián. Đó là toàn bộ tài sản riêng của cha tôi. Tiếc rằng năm tháng sau khi cha tôi mất thì căn phòng đó cũng bị bom Mỹ đánh sập không còn lại bất cứ kỷ vật gì. Sau đó Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng đã phục hồi lại nguyên trạng căn phòng đó với đủ đồ đạc bên trong như hồi cha tôi còn sống. Khác chăng là có thêm chiếc bàn thờ có di ảnh cha tôi mà mỗi rằm, mồng một hay ngày giỗ cha tôi các anh chị em trong Viện vẫn thường hương khói. Mỗi lần đọc lại bức thư cuối cùng của cha tôi, tôi thấy ông không hề linh cảm rằng mình ra đi vĩnh viễn, còn đối với chúng tôi con cái trong gia đình thì cho đến bây giờ cha tôi vẫn còn đó, đang đi công tác xa… Làm gì, ở đâu, chúng tôi đều cảm thấy ông luôn ở bên cạnh. Năm 1991 tôi có dịp đến Nhật Bản. Theo lời giới thiệu của GS Nguyễn Lân Dũng, tôi liên lạc được với bà Seino, người trước kia có một thời gian làm phụ tá cho cha tôi tại phòng thí nghiệm trường Đại học Y khoa Tokyo. Bà cùng chồng mình đón tôi như người thân trong gia đình, đưa tôi đi thăm lại những nơi cha tôi từng sống và làm việc. Tại Đông kinh học xá nơi các sinh viên nước ngoài trước đây cư trú, người ta cho tôi biết địa chỉ của một người Việt Nam trước kia cùng sống chung với cha tôi trong một căn phòng. Người đó là Kỹ sư Lê Văn Quý, hiện sống ở thành phố Atami cách Tokyo hơn 100 km. Tôi liền đến thăm bác Quý và được bác kể về quãng thời gian cùng sống với cha tôi tại Nhật Bản.        GS Đặng Văn Ngữ khám bệnh cho một em bé người dân tộc trên Chiêm hóa,  Tuyên Quang.  Bác Quý chỉ cho tôi xem một tấm bằng lồng trong khung kính treo trang trọng trên bức tường giữa phòng khách rồi nói: “ Đây là kỷ niệm quý giá nhất của bác trên đất Nhật. Đó là tấm bằng của Thị trưởng thành phố Tokyo trao cho bác cuối năm 1945 ghi nhận công lao vì đã cứu giúp người Nhật trong thời gian chiến tranh. Ba cháu cũng có một tấm bằng như thế này. Hồi chiến tranh Tokyo bị ném bom dữ lắm. Ba cháu đã tập hợp các sinh viên Việt Nam và nước ngoài ở Đông kinh học xá thành lập các đội cứu thương để cứu chữa cho nhân dân trong khu phố. Ba cháu hướng dẫn nghiệp vụ cấp cứu cho mọi người và đã cứu chữa cho biết bao nhiêu trường hợp bị thương, đặc biệt các ca bị bỏng vì bom. Ba cháu chữa các vết bỏng giỏi lắm. Sau khi chiến tranh kết thúc, Tòa thị chính Tokyo đã tặng cho mỗi người trong đội cứu thương một tấm bằng như thế này để ghi công”. Ấn tượng của Bác Quý về cha tôi là suốt ngày ông chỉ biết học, miệt mài nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ngoài ra không quan tâm đến chuyện gì khác. Tuy vậy khi nước nhà giành được Độc lập thì cha tôi luôn theo dõi tin tức về cuộc kháng chiến đang diễn ra trong nước rồi thông tin lại cho anh chị em sinh viên Việt Nam. Cha tôi được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội người Việt Nam tại Nhật Bản. Chính ngọn lửa của lòng yêu nước ấy đã thôi thúc cha tôi từ giã nước Nhật, trở về với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Bà Seino còn liên hệ cho tôi được gặp Giáo sư Tomio Takeuchi. Giám đốc Viện Hóa vi sinh Tokyo (Institute of Microbial Chemistry). Trên đường đi tới Viện, bà Seino cho biết Giáo sư Tomio là một trong những nhà bác học nổi tiếng của Nhật Bản. Người Nhật thường gọi họ là những người bất tử vì được mời làm việc cho đến trọn đời, không phải về hưu. Giáo sư hẹn tiếp tôi trong 30 phút vì ông còn bận lên lớp. Ông nói với tôi: Tôi có làm việc chung với cha anh tại trường Đại học Y khoa Tokyo trong một thời gian. Cha anh lúc đó là đàn anh của tôi. Các công trình nghiên cứu, các bài báo đăng trên các tạp chí Y khoa chúng tôi đều viết chung và tên cha anh bao giờ cũng đứng trước tên tôi. Con đường khoa học của cha anh lúc bấy giờ đang rộng mở, nhất là sau khi ông phát hiện lần đầu tiên tại Nhật một giống nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh Penicilline. Rồi nước Nhật bại trận. Công cuộc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn. Tôi biết người Mỹ đã nhiều lần tìm đến gặp cha anh để mời làm việc. Nhưng cha anh đã từ chối để trở về nước”. Rồi giáo sư sai người đem ra những tập san Y học chỉ cho tôi xem những bài viết mà cha tôi và ông cùng đứng tên chung. Chia tay giáo sư Tomio trên đường về tôi thầm nghĩ: Nếu ngày đó cha tôi ở lại Nhật để tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học, hẳn ông cũng sẽ trở thành một nhà bác học lớn như Giáo sư Tomio Takeuchi, hẳn ông sẽ còn có những đóng góp giá trị cho nền y học của nhân loại, nhưng ông sẽ không được chia sẻ những vinh quang cũng như những khổ đau của đất nước mình, của dân tộc mình. Trong con người của cha tôi niềm say mê khoa học và lòng yêu nước là những phẩm chất không thể tách rời.Thật vậy, cha tôi đã chia sẻ đến tận cùng số phận của đất nước, của nhân dân mình cho đến khi ông ngã xuống trên rừng Trường Sơn trong một trận bom B52 như bất cứ một người lính nào đã ngã xuống trên suốt dải đất này vì sự nghiệp cao cả và thiêng liêng của Tổ quốc.  Cha tôi nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một người lính vô danh. Trong gói vải dù bọc một ít di hài của ông chỉ có một tấm biển nhôm khắc vẻn vẹn mấy chữ: Đặng Văn Ngữ. 1-4-1967. Người ta nghĩ rằng đó là hài cốt của một chiến sĩ nào đó chưa rõ tông tích nên đã quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Cha tôi còn nằm đó thêm 5 năm nữa cho đến khi anh em chúng tôi dò tìm ra được. Suốt 5 năm đó người chăm sóc hương khói cho cha tôi là các thầy cô giáo cùng các em học sinh truờng Tiểu học xã Phong Mỹ. Ngôi trường nằm ngay cạnh nghĩa trang chỉ cách một con đường. Hằng năm cứ đến Ngày Thương binh Liệt sỹ, ngày Quốc khánh, ngày Tết thầy trò của trường sang quét dọn nghĩa trang, cắm những bó hoa và thắp hương trên những ngôi mộ. □       Author                Đặng Nhật Minh        
__label__tiasang Cha tôi – Giáo sư Đặng Văn Ngữ      Để có ngày 30/4/1975, còn có sự hy sinh thầm lặng và vô cùng lớn lao của những trí thức Việt Nam. Nhân kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27-7, chúng tôi xin trích đăng một đoạn hồi ký của nghệ sĩ nhân dân Đặng Nhật Minh về gia đình, thay cho lời tưởng nhớ tới GS Đặng Văn Ngữ – người đã hy sinh tại chiến trường Trị – Thiên khi đang nghiên cứu một thứ vắc xin miễn dịch sốt rét rồi ứng dụng ngay tại chỗ cho bộ đội.                    …Cha tôi là người Huế, thành phần tiểu tư sản trí thức. Mẹ tôi là người Huế, thành phần quan lại phong kiến. Cả hai đều đi theo Cách mạng. Khởi đầu do cha tôi trong những ngày du học ở Nhật tình cờ đọc được lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bèn từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học để về nước tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc. Cha tôi đã từ Nhật Bản đáp tầu thuỷ về Thái Lan, tìm gặp đại diện của Chính phủ ta ỏ Bangkok để xin về nước tham gia Kháng chiến, chẳng có một tổ chức nào giới thiệu, móc nối. Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên, chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước.  Biết bao vinh quang và khổ ải trên con đường đi theo lý tưởng của một người trí thức yêu nước. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người như cha mẹ tôi đã phải tự kiểm điểm những gì trong những cuộc chỉnh huấn trên Việt Bắc vào năm 1953? Không biết họ có phải ân hận về xuất thân thành phần giai cấp của mình và điều đó có nhọc nhằn lắm đối với cha mẹ tôi không? Tôi chỉ được nghe kể rằng mẹ tôi chỉnh huấn rất thành khẩn, được biểu dương trong lớp, còn cha tôi thì chỉ im lặng, ít nói. Không lâu sau khi tham dự lớp chỉnh huấn đợt một thì mẹ tôi đột ngột qua đời. Khi bà hôn mê, cha tôi đang tham dự lớp chỉnh huấn đợt hai. Mẹ tôi hôn mê ba ngay ba đêm liền, chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Là bác sĩ nhưng ông đành bó tay bất lực vì đã quá muộn. Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm, rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt Bắc để về tiếp quản thủ đô.  Những ngày sau Hoà bình lập lại ở Miền Bắc công việc chính của cha tôi là tiêu diệt bệnh sốt rét. Cha tôi lại lặn lội trở về với những khu căn cứ địa cũ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai… để thực hiện một chương trình chống sốt rét toàn diện và quy mô chưa từng có. Sau 10 năm thực hiện chương trình, bệnh sốt rét căn bản đã bị đẩy lùi trên miền Bắc nước ta.  Trong những ngày chiến tranh leo thang ra miền Bắc cha tôi vẫn tiếp tục đi về các địa phương chỉ đạo công tác tiêu diệt sốt rét. Nhưng ông nhanh chóng nhận ra rằng nếu không ngăn chặn căn bệnh này từ bên kia giới tuyến 17 thì không thể nào giữ dược thành quả của công cuộc chống sốt rét ở Miền Bắc. Những tin tức về con số thương vong to lớn do sốt rét gây ra cho bộ đội ta ở chiến trường càng làm cha tôi ngày đêm day dứt không yên. Cuối cùng ông đã đi đến một quyết định không gì lay chuyển được: vào chiến trường Trị Thiên để nghiên cứu tại chỗ một thứ vắc xin miễn dịch sốt rét rồi ứng dụng ngay tại chỗ cho bộ đội.  Sau nhiều lần đề đạt nguyện vọng của mình lên trên cuối cùng ông đã được toại nguyện. Tôi biết trong quyết định này của cha tôi còn có một sự thôi thúc khác nữa. Cha tôi luôn mang trong lòng một nỗi nhớ không nguôi về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình – xứ Huế. Ông hy vọng trong chuyến đi này có thể trở về gặp lại bà nội tôi, lúc đó đã cao tuổi lắm rồi, dù chỉ một lần. Nhưng đến ngày đất nước thống nhất có thể về Huế được thì ông đã không còn. Ông đã mất trước đó 8 năm trong một trận bom B52 ở phía Tây Phong điền Tỉnh Thừa thiên. Mơ ước của ông là tìm mọi cách giảm tử vong vì sốt rét cho bộ đội. Ông chưa tìm ra được vac xin miễn dịch sốt rét cho họ thì ông đã chia xẻ với họ cái chết. Đó là nỗi đau thứ hai trong đời tôi, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ sáng tác của tôi sau này trong điện ảnh.  Người đầu tiên báo cho tôi và em gái tôi Đặng Nguyệt Ánh cái tin này là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế hồi đó. Tôi còn nhớ đinh ninh lời ông nói như sau: “Các cháu phải can đảm để đón nhận cái tin đau đớn này: Ba các cháu đã hy sinh tại chiến trương Trị thiên vào lúc 2 giờ ngày 1 tháng 4 năm 1967.” Sau đó bác Thạch nói với chúng tôi: Lúc ba các cháu còn sống, bác không hiểu hết ba các cháu. Tôi biết ông rất ân hận về điều đó và tôi cũng hình dung được phần nào những khó khăn mà cha tôi đã gặp phải trên bước đường công tác của mình.  Không lâu sau bác Thạch cũng đi vào chiến trường miền Tây Nam bộ rồi mất tại đó vì bệnh. Tôi không nghĩ chiến trường cần sự có mặt của ông đến như vậy. Việc ra đi của ông có lẽ còn do một sự hối thúc nào đó của lương tâm sau cái chết của cha tôi.  Cha tôi nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông với gói vải dù bọc hài cốt cùng một tấm biển nhôm khắc vẻn vẹn mấy chữ: Đặng văn Ngữ 1- 4 -1967. Người ta nghĩ rằng đó là hài cốt của một chiến sĩ vô danh nào đó nên đã đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, huyện Phong điềnTỉnh Thừa thiên. Mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới tìm được để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chấm lượng tử và que lượng tử giúp điều trị ung thư      Những chấm lượng tử và những que lượng tử phát quang đang trở thành những công cụ quan trọng trong việc nhận diện các phân tử và tế bào trong những hệ vật chất sống. Trong hai báo cáo khoa học mới đây, các nhà nghiên cứu ung thư đã minh họa những khả năng ứng dụng các đối tượng có kích cỡ nano này vào việc điều trị bệnh.    Hideo Higuchi và các cộng sự  ở Đại học Tohoku, Nhật Bản đã sử dụng những chấm lượng tử được gắn với những nhân tố kháng thể và một kính hiển vi cảm quang độ nhạy cao. Một máy quay video để ghi lại những đoạn phim về các hạt nano này khi chúng di chuyển trong mạch máu tới các khối u của những con chuột thí nghiệm. Trong một công trình xuất bản trên tạp chí Cancer Research (Nghiên cứu Ung thư), các nhà nghiên cứu đã nhận diện được sáu giai đoạn trong quá trình mà các chấm lượng tử được gắn với kháng thể HER2 di chuyển từ vùng tiêm đến vùng xung quanh nhân tế bào. Kháng thể HER2 gắn kết với một protein có trong bề mặt một số tế bào vú và các khối u khác.  Sử dụng những chấm lượng tử như vậy, các nhà nghiên cứu đã thu được những phép đo định lượng về sáu giai đoạn này. Họ đã nhấn mạnh rằng, việc hiểu rõ về các giai đoạn này sẽ đem lại cho chúng ta khả năng sử dụng các hạt nano để vận chuyển các chất thuốc tiêm thích hợp đến chính xác vị trí của các khối u ung thư.      Trong một nghiên cứu khác, Paras Prasad và các cộng sự ở Đại học Bang New York đã chỉ ra rằng, họ có thể tạo ra những chiếc que lượng tử hòa tan được trong nước và chúng có thể được sử dụng như những đầu dò để định vị các tế bào ung thư. Các que lượng tử cũng có thể được làm cho phát quang nhiều màu sắc, giống như các chấm lượng tử hình cầu. Nhưng do kích thước lớn hơn các chấm lượng tử nên chúng dễ được kích thích bằng ánh sáng tới hơn. Nghiên cứu này đã được xuất bản trên tạp chí Nano Letters. Nhóm của Prasad cũng đã lần đầu tiên phát triển một phương pháp mới để chế tạo các que lượng tử thích hợp với chức năng đầu dò. Trong báo cáo thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã gắn được một loại protein gọi là transferrin (protein này có liên quan đến nhiều loại tế bào ung thư) lên các que lượng tử.  Các thí nghiệm đã cho thấy rằng, các que lượng tử này chỉ được thu nhận bởi các tế bào bị bệnh, và chúng tích tụ trong các tế bào này. Các que lượng tử trong tế bào sẽ được hiển thị bằng việc sử dụng ánh sáng gần vùng hồng ngoại cường độ thấp. Và như vậy, ở đâu có sự phát sáng của những que lượng tử, ở đó sẽ là vị trí của các tế bào ung thư.  Nguồn:  National Cancer Institute/vatlyvietnam.org       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chẩn bệnh cho Beethoven (Kỳ 2): Bí mật sức khỏe và bí mật gia đình      Vượt qua rất nhiều thách thức, nhóm nghiên cứu quốc tế liên ngành gồm 30 thành viên đã có trong tay điều mình muốn là bộ gene của Beethoven. Vậy nó có giúp họ tìm ra căn nguyên gây ra các bệnh mà nhà soạn nhạc phải chịu đựng suốt cuộc đời, đặc biệt là bệnh điếc, hay không?    Nhóm nghiên cứu tái cấu trúc được 55% hệ gene của nhà soạn nhạc Beethoven. Nguồn: ĐH Oxford  Những câu chuyện mang tính lịch sử về cả tám món tóc đã được Christine Siegert và cộng sự tái hiện đầy đủ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra, nếu như kết quả giải trình tự gene ở các nắm tóc không trùng khớp nhau? Bí mật di truyền của Beethoven sẽ vĩnh viễn là bí ẩn? Thật may mắn là điều này đã không xảy ra với năm mẫu còn lại, khi cùng cho kết quả tương đồng đáng ngạc nhiên.  Việc tái cấu trúc hệ gene thu được từ các mẫu tóc đã giúp các nhà nghiên cứu phát hiện ra năm mẫu, trong đó có mẫu Stumpff, cùng có một bộ gene ty thể đơn bội với một đột biến riêng và kiểu hình nhân XY nam. Sau đó, việc kiểm tra mức độ liên quan của DNA nhiễm sắc thể định hình và DNA nhiễm sắc thể X cho thấy cả năm mẫu đều thuộc về một người nam với 99% tổ tiên là người châu Âu – một tín hiệu thuyết phục cho thấy chúng từ Beethoven. Một hệ gene được cấu trúc từ các sợi tóc này khớp với những người sống ở bang NorthRhine-Westphalia ở Đức. Tất cả thuyết phục các nhà nghiên cứu là họ có trong tay năm mẫu tóc của Beethoven. Ed Green, một chuyên gia về DNA cổ tại ĐH California, Santa Cruz, đồng ý với lập luận của nhóm nghiên cứu “Sự thật là họ có nhiều món tóc khác nhau, với những lịch sử khác nhau, và tất cả đều khớp với nhau để đem lại bằng chứng về Beethoven”.  Mặc dù đã được các thuật toán hỗ trợ tái cấu trúc bộ gene nhưng do sự thiếu hoàn hảo của mẫu, công việc lắp ráp và chú giải bộ gene mất rất nhiều thời gian, kết quả cũng không như kỳ vọng. “Chúng tôi hiện mới chỉ có được khoảng 55% bộ gene của nhà soạn nhạc, dù đã phải sử dụng cả phương pháp thống kê để ngoại suy ra một số vùng lân cận của các vùng gene đã được giải trình tự. Tuy nhiên, về tổng thể nó vẫn còn quá nhiều điểm khuyết thiếu so với kết quả lấy từ máu của một bệnh nhân hiện nay”, theo nhận xét của giáo sư Nöthen, người phụ trách nhóm phân tích những diễn giải y học từ dữ liệu bộ gene. Viện của ông nổi tiếng về những nghiên cứu vào toàn bộ các yếu tố di truyền, từ các đột biến hiếm gặp với các hiệu ứng gây bệnh di truyền cổ điển đến các đột biến chung với các hiệu ứng nhỏ được xác định là nguy cơ rủi ro bệnh tật chung. “Thách thức tìm nguyên nhân di truyền trong dữ liệu bộ gene dựa trên những triệu chứng bệnh tật phức tạp nên ngoài một số chuyên gia trong nhóm, chúng tôi phải mời thêm chuyên gia về gan Christian Strassburg ở ĐH Bệnh viện Bonn. Diễn giải y học từ dữ liệu bộ gene vô cùng phức tạp và đòi hỏi kỹ năng của nhiều chuyên ngành khác nhau”, ông nói.  Đó là lý do vì sao Christian Reiter lưu ý trên Washingtonpost, nếu tham gia nghiên cứu này, ông sẽ cẩn trọng hơn trong diễn giải từ gene ra bệnh. Trong lĩnh vực di truyền, mối quan hệ từ kiểu gene ra kiểu hình không phải lúc nào cũng là ánh xạ 1-1. Sinh giới vẫn còn quá nhiều điểm kỳ lạ nằm ngoài vùng hiểu biết của con người. “Từ vài thập kỷ trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã có thể từ gene suy ra bệnh nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Có nhiều đặc trưng rõ ràng hoặc đã được nghiên cứu đủ tốt có thể giúp kết luận được từ gene ra bệnh nhưng với những bệnh mới, chưa được nghiên cứu nhiều hoặc quá phức tạp, người ta cần thêm nhiều bằng chứng khác”. TS. Dương Quốc Chính (Viện Huyết học truyền máu TƯ) nhận xét.    Phân tích tóc cho thấy vô số nguyên nhân gây xơ gan và “sự thật gây bệnh có thể nằm trong sự tương tác giữa rất nhiều yếu tố trong đó”. TS. Ian Gilmore, ĐH Liverpool     Đó cũng là nhận định chung của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực này. Tại hội thảo “Sự kết hợp của giải mã gene và trí tuệ nhân tạo: Một cách tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe” do Bộ KH&CN tổ chức ngày 28/5/2019, giáo sư Roy Perlis – Giám đốc Trung tâm Xuất sắc về Khoa học Di truyền, trường Y ĐH Harvard đã trao đổi “Khác với mô hình truyền thống ‘một gene, một bệnh’ trước kia (mỗi biến dị di truyền hiếm gặp sẽ gây ra một loại bệnh), thực tế cấu trúc gene liên quan đến những căn bệnh rất phức tạp và do nhiều vùng gene khác nhau quy định”.  Hạn chế trong tìm kiếm các nguyên nhân di truyền trong DNA của Beethoven khiến các nhà nghiên cứu không tìm thấy điều mình muốn nên cuối cùng đành sử dụng “các điểm rủi ro đa gene” (polygenic risk scores) – phương pháp kiểm tra nguy cơ bệnh tật của một cá nhân so với những người khác với cấu tạo di truyền khác biệt. Theo cách này thì Beethoven có hai bản sao của một biến thể của gene PNPLA3 liên quan đến xơ gan và một bản sao của hai biến thể gene HFE là nguyên nhân dẫn đến Haemochromatosis di truyền – một rối loạn di truyền đặc trưng bởi sự tích tụ sắt quá nhiều dẫn đến tổn thương mô, một điều kiện làm tổn thương gan. “Những phát hiện này thật sự quan trọng”, Begg nói, bởi vì các ghi chép hồ sơ cho thấy Beethoven uống nhiều rượu, nhất là vào năm trước khi qua đời, có thể làm gia tăng nguy cơ phá hủy gan. “Tất cả kết hợp lại thành cơn bão hoàn hảo”.  Các nhà nghiên cứu đành sử dụng “các điểm rủi ro đa gene” để suy ra bệnh của nhà soạn nhạc. Nguồn: Tristan Begg và cộng sự.  DNA của nhà soạn nhạc cũng chứa các mảnh virus viêm gan B, vốn là nguyên nhân gây bệnh gan. “Chúng tôi không rõ ông ấy mắc virus này từ lúc nào và vì sao lại có nó”, Begg lưu ý và cho biết thêm là Beethoven đã bị nhiễm bệnh trong vài tháng trước khi qua đời. Vào tháng 12/1826, sức khỏe của nhà soạn nhạc bị suy giảm nhanh chóng, da vàng, chân bị sưng phù – các dấu hiệu của bệnh gan. Ông nằm liệt giường cho đến khi qua đời vào tháng 3/1827. Ian Gilmore, một chuyên gia về gan tại ĐH Liverpool, cho biết phân tích tóc cho thấy vô số nguyên nhân gây xơ gan và “sự thật gây bệnh có thể nằm trong sự tương tác giữa rất nhiều yếu tố trong đó”.  Nhưng Beethoven bị nhiễm virus này trong trường hợp nào? Virus viêm gan B dễ bị lây qua quan hệ tình dục, dùng chung kim tiêm, truyền từ mẹ sang con. Beethoven không dùng các loại thuốc tiêm qua tĩnh mạch, TS. Meredith nói. Arthur Kocher, nhà di truyền học tại Viện Nhân học tiến hóa Max Planck, đề xuất một cách giải thích: nhà soạn nhạc có thể bị nhiễm từ mẹ vì thông thường, nếu bị nhiễm từ lúc sơ sinh thì khi trưởng thành cũng có thể mang bệnh đến cuối đời. Một phần tư người nhiễm có thể mắc xơ gan hoặc ung thư gan.  Beethoven không lập gia đình, dẫu có mối quan hệ lãng mạn với một vài phụ nữ. Ông đã viết một bức thư – dẫu không bao giờ gửi nó – cho “người yêu dấu bất tử” mà việc nhận diện danh tính bà cũng đủ gây tranh cãi giữa các học giả. Thông tin chi tiết về đời sống tình dục của ông vẫn còn là điều bí ẩn.  Tương tự, câu hỏi vì sao ông bị điếc vẫn chưa được trả lời. Các nhà nghiên cứu đã quét hệ gene để tìm các nguyên nhân dẫn đến chứng điếc, với một số giả thuyết bệnh Paget – một rối loạn về xương lành tính do sự bất thường trong quá trình hủy và tái tạo xương – và bệnh lupus ban đỏ. Beethoven có một số chỉ thị di truyền liên quan đến sự phát triển bệnh lupus nhưng không phải bao giờ lupus cũng dẫn đến điếc. Walther Parson, một nhà sinh học phân tử pháp y tại ĐH Y Innsbruck từng nhận diện được hai người con của Sa hoàng Nicholas II từ những mảnh xương được khám phá vào năm 2007, nhận xét “Hiện tại thì di truyền y học cũng phải vật lộn với vấn đề y như vậy. Trình tự DNA không phải lúc nào cũng đem lại được mọi thông tin để hiểu về cơ chế bệnh tật”.  Tuy nhiên, ở thời điểm này có thể khẳng định là Beethoven không bị điếc và chết vì nhiễm độc chì. Trước đây, đã có diễn giải là có thể ông mắc bệnh giang mai nên phải viện đến chì, phương thuốc chữa bệnh giang mai ở thời kỳ đó. Một phân tích do Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Argonne vào năm 2000 cho thấy nồng độ chì trong tóc nhà soạn nhạc cao gấp 100 lần cho phép trong khi một phân tích trên mảnh sọ do trường Y Mount Sinai thì lại cho là nồng độ này ở mức quá thấp để nhiễm độc đến chết. Nghiên cứu của Begg và cộng sự đã loại đi tranh cãi này bởi phân tích năm 2000 dựa trên mẫu Hiller – mẫu không phải của Beethoven.    Phép đo tam giác địa di truyền (Geo-Genetic Triangulation GGT) chỉ dấu là có thể có một mối quan hệ bí mật trong về dòng cha trực hệ của Beethoven, một người nam thuộc dòng từ năm 1572 đến 1700 giữa cụ cố Aert và Ludwig van Beethoven. Các nhà di truyền gọi là sự kiện cha con ngoại cặp (extra-pair-paternity event).    “Tôi yêu bài báo này. Hành trình từ số không trong việc tìm hiểu về một cá nhân kiệt xuất trong lịch sử – nó gợi cảm giác như một chuyến du hành ngược thời gian vậy”, Robert Green, một chuyên gia di truyền y tế ở Boston, nói.  Không ai tưởng tượng ra là kết quả của nghiên cứu này còn góp phần làm sáng tỏ cả một phần nghiên cứu khác về nhà soạn nhạc. Năm ngày sau bài báo trên Current Biology được xuất bản, TS. Andrew Todd của trường Y Mount Sinai, phát hiện ra mảnh sọ Beethoven mà ông có được từ hậu duệ của bác sĩ Romeo Seligmann, người có được phần xương này từ đợt khai quật thi hài Beethoven 36 năm sau khi ông qua đời, có thể không phải của nhà soạn nhạc. TS. Meredith cho rằng chỉ có thể rút ra câu trả lời từ những lần xét nghiệm sau. “Bây giờ thì hệ gene chuẩn là từ năm món tóc, có thể cần xét nghiệm lại mảnh sọ và so sánh DNA với nhau. Với tôi, đây vẫn là cách làm cho kết quả đẹp nhất, rõ ràng nhất”.  Gene không biết nói dối  Đó không phải là điều cuối cùng của nghiên cứu. Những manh mối về di truyền và cây phả hệ di truyền đã bất ngờ mở một cánh cửa khác vào bí mật gia đình: nhiễm sắc thể Y của Beethoven không khớp với năm hậu duệ còn sống của ông – năm người mang họ van Beethoven hiện sống ở Bỉ, cùng chung cụ cố thế kỷ 16 với nhà soạn nhạc là ông Aert van Beethoven (1535-1609). “Thông thường, việc lập cây phả hệ sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích hệ gene ty thể (mtDNA), tức là di truyền theo dòng mẹ, bổ sung nhiễm sắc thể Y là di truyền theo dòng bố, đa hình di truyền nucleotide đơn (SNP)… Đa dòng di truyền (polygenetics polymorphism) trong bộ gene của con người nó khác nhau ở tất cả mọi người, ví dụ như giữa hai người xa lạ thì có sự khác nhau rất lớn nhưng giữa những người có cùng huyết thống tỉ lệ giống nhau nhiều hơn”, TS. Dương Quốc Chính giải thích.  Bằng chứng về sự kiện cha con ngoại cặp (extra-pair-paternity event) trong dòng cha trực hệ của Beethoven. Nguồn: Tristan Begg và cộng sự.  Câu chuyện ngược dòng để tìm về tổ tiên chung một cách chính xác của một nhóm người thông qua các chỉ thị di truyền bao giờ cũng vô cùng phức tạp và rắc rối. Nó như thể việc đổ một lượng màu nhất định xuống dòng chảy, các tia màu sẽ lan ra nhiều hướng, càng bị pha loãng thì màu càng nhạt, chưa kể có những tia màu còn tiếp nhận thêm những màu mới trong quá trình chảy… “Càng xa nhau thì sự tương đồng về đa hình di truyền càng ít, ngược lại càng gần nhau thì càng có nhiều sự tương đồng. Điều này thể hiện rất rõ trong bộ gene”, TS, Dương Quốc Chính nói.  Ở đây, để xác định mối liên quan trong cây phả hệ, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phương pháp mới là Phép đo tam giác địa di truyền (Geo-Genetic Triangulation GGT), trong đó xác định các đoạn trùng khớp giữa Beethoven và những người thử nghiệm di truyền; kiểm tra chéo di truyền giữa ba hoặc nhiều người để xác định các đoạn di truyền giống hệt nhau theo dòng từ một tổ tiên chung gần; sàng lọc để tìm các vị trí tổ tiên trùng khớp để tăng độ tin cậy về tổ tiên và làm giảm đáng kể nhiễu của các vị trí tổ tiên không liên quan. Kết quả là năm người được chọn và Beethoven chỉ có chung tổ tiên là cụ cố Aert van Beethoven. Ngoài ra không có liên quan.  Tại sao lại như vậy? Nó chỉ dấu là có thể có một mối quan hệ bí mật về dòng cha trực hệ của Beethoven, một người nam thuộc dòng từ năm 1572 đến 1700 giữa cụ cố Aert và Ludwig van Beethoven. Các nhà di truyền gọi là sự kiện cha con ngoại cặp (extra-pair-paternity event). Nhưng cụ thể như thế nào? Giáo sư phả hệ di truyền Maarten Larmuseau ở ĐH Leuven, nghi ngờ cha của Ludwig van Beethoven là kết quả của cuộc tình bí mật giữa bà nội ông và người đàn ông khác ngoài chồng mình. “Tại Tây Âu trong 400 năm qua, những sự kiện cha con ngoại cặp tuy không phổ biến nhưng cũng có với tỷ lệ 1%–2% mỗi thế hệ”, công bố trên Current Biology viết. “Điều này cũng khá phổ biến thời hiện tại”, giáo sư Vanessa Hayes, người phụ trách Phòng thí nghiệm Tổ tiên và hệ gene học sức khỏe tại ĐH Sydney, nhận xét trên abc.net.au: “Một trong những phát hiện lớn nhất mà những người gửi mẫu gene đến phòng thí nghiệm là tìm thấy cha họ thực chất không phải là cha ruột, hoặc có điều gì đó không chính xác trong dòng cha mẹ”.  Không có nhiều manh mối về điều này ở dòng cha Beethoven, ngoại trừ việc không có ghi chép về lễ rửa tội của cha Beethoven và bà nội ông được biết là một người nghiện rượu. Người ta biết là cha và ông nội Beethoven tồn tại một mối quan hệ “cơm không lành canh chẳng ngọt”. Các yếu tố đó có thể là dấu hiệu của một đứa trẻ ngoại hôn, giáo sư Larmuseau đề xuất một cách lý giải.  Beethoven cũng xung khắc cha mình, TS. Meredith nói và cho biết thêm là có tin đồn Beethoven trên thực tế là con riêng của vua Phổ Friedrich Wilhelm II hoặc thậm chí là vua Phổ Frederick Đại đế. Beethoven chưa bao giờ phủ nhận tin đồn. Trong công bố, các nhà nghiên cứu nhắc đến “một cuốn tiểu sử về Beethoven xuất bản năm 1992 cũng nêu đề xuất dựa trên tin đồn là ông Johann van Beethoven không phải là cha đẻ của nhà soạn nhạc. Tuy nhiên, phát hiện của chúng tôi không cho phép đem đến một xác nhận thêm về một sự kiện cha con ngoại cặp khác”.  Vào buổi tối ngày 15/3/2023, GS. Larmuseau gặp cả năm hậu duệ ở Bỉ, những người cung cấp DNA cho nghiên cứu này, và thông báo sự thật là họ không có mối liên hệ di truyền với Ludwig van Beethoven. “Họ sốc đến mức không nói nên lời. Hằng ngày họ vẫn nhớ mình có cái họ đặc biệt và nghe thấy mọi người nói ‘ồ, anh liên quan đến Ludwig van Beethoven à?’. Sự liên hệ này đã là một phần nhận diện của họ”. Nhưng giờ thì tất cả đã không còn…    Người ta vẫn chưa rõ bằng cách nào, một người bị điếc ở độ tuổi ngoài 20 lại có sức sáng tạo phi thường và bền bỉ sau đó tới ba thập niên. Dù phải “sớm tự cô lập mình, sống cô đơn và cố gắng quên đi bệnh điếc” và tự tồn tại giữa sự bủa vây của kham khổ, thiếu thốn và bệnh tật, Beethoven vẫn có được những tác phẩm đủ sức làm thay đổi lịch sử âm nhạc cổ điển.    Chờ bổ khuyết ở tương lai  Mặc dù còn một số điểm không rõ ràng trong nghiên cứu này nhưng ít nhất với các nhà nghiên cứu, đây là một câu chuyện trinh thám cuốn hút. “Từ góc nhìn y học, tôi thấy vô cùng thú vị về cách Beethoven trở thành một ca về xơ gan như một hệ quả giữa di truyền và các yếu tố khác. Cả khuynh hướng di truyền, rượu và lây nhiễm virus cùng tập hợp theo một cách cổ điển để phát triển bệnh đa nguyên nhân. Tôi nghĩ vô cùng thành công với một nghiên cứu về một triệu chứng phức tạp như thế này”, GS Krause nhận xét. Nhưng điều đó có làm ảnh hưởng đến hình ảnh Beethoven? “Sự kết nối giữa thể chất và nghệ thuật là một câu hỏi về âm nhạc học rất thú vị, tuy nhiên nó chạm đến giới hạn nghề nghiệp của tôi. Vì vậy việc hợp tác xuyên ngành tiếp tục là mục tiêu để chúng ta giải đáp những câu hỏi sau này”, ông cho biết thêm.  Hiện giờ các nhà khoa học rất phấn chấn. Dữ liệu về hệ gene Beethoven đã được mở để các nhóm nghiên cứu khác có thể sử dụng. “Hiểu biết về nguyên nhân di truyền của bệnh tật sẽ tiếp tục được tiếp nối và các gene mới liên quan đến bệnh sẽ được nhận diện. ít nhất là nguyên nhân di truyền dẫn đến bệnh của Beethoven sẽ được tìm thấy theo cách này ở tương lai”, GS Krause hy vọng.  Jeremy Yudkin, một nhà âm nhạc học và đồng giám đốc Trung tâm nghiên cứu Beethoven ở Boston, cho rằng bài báo này đã nêu bằng chứng về việc sức khỏe thể chất của nhà soạn nhạc cũng góp phần định hình âm nhạc. Ông chỉ ra một tứ tấu đàn dây cuối đời, trong đó chương ba thay đổi giữa các đoạn chậm kiểu hợp xướng và những đoạn hợp âm trưởng mang nhiều sự lạc quan hơn, thể hiện tinh thần từ “một khúc ca thể hiện lòng biết ơn của một người đã được phục hồi thể chất tới đấng thiêng liêng”. Beethoven sáng tác tác phẩm này vào năm 1825 sau khi an dưỡng ở vùng quê. Tuy nhiên Yudkin cũng thừa nhận là có nhiều cách sâu sắc hơn để hiểu về Beethoven hơn là chỉ dựa vào sự mã hóa di truyền và cơ chế bệnh tật của ông. “Nhà âm nhạc học trong tôi nói rằng điều quan trọng nhất là hàng trăm tác phẩm do ông sáng tác đều thâm sâu và siêu việt, bất chấp cái bụng không khỏe”.  Beethoven từng sáng tác một tứ tấu đàn dây vào năm 1825 sau khi an dưỡng ở vùng quê. Nguồn: Beethoven-Haus  Bí mật của Beethoven vẫn còn chưa được làm sáng tỏ. Rõ ràng, các nhà khoa học đã nỗ lực để hiểu về bệnh điếc của nhà soạn nhạc thiên tài nhưng họ vẫn chưa đi được quá xa. Và người ta vẫn chưa rõ bằng cách nào, một người bị điếc ở độ tuổi ngoài 20 lại có sức sáng tạo phi thường và bền bỉ tới ba thập niên sau. Trong một cuộc đời không chỉ “sớm tự cô lập mình, sống cô đơn và cố gắng quên đi bệnh điếc” như trong Chúc thư Heiligenstädter mà còn phải tự tồn tại giữa sự bủa vây của kham khổ, thiếu thốn và bệnh tật, Beethoven vẫn có được những tác phẩm đủ sức làm thay đổi lịch sử âm nhạc cổ điển.  Có lẽ, một trong những điều hạnh phúc nhất của Beethoven là lúc sinh thời, ông đã nhận được tình yêu thương và ngưỡng mộ của mọi người và ngược lại, đem đến sự hàn gắn cho con người. Anton Halm, người đã nhận được món tóc tạ lỗi của Beethoven – “một món tóc ông vòng tay cắt ở phía sau đầu vì phía trước đã bạc trắng” – viết thư cho một người bạn “Một hay hai năm sau sự kiện đó, vợ tôi đứng phía trước mộ phần của Beethoven, vào ngày 29/3/1827, và cô ấy nhìn thấy Holz nước mắt ròng ròng ở phía bên kia. Tuy Holz thấy vợ tôi nhưng vì còn xấu hổ nên không dám nhìn thẳng vào cô ấy. Xúc động tình cảm chân thành của Holz với Beethoven, cô ấy đã chìa tay với anh như một cử chỉ hàn gắn”.  Do vậy, nếu một ngày nào đó, khoa học có thể tái cấu trúc toàn vẹn bộ gene của ông, người ta có thể tìm thấy rất nhiều thông tin hữu ích bên trong. Chắc hẳn lúc đó, người ta sẽ thấy cả tình yêu thương con người vô bờ bến giữa những vật chất định hình con người sinh học Beethoven, như ông thổ lộ trong Chúc thư Heiligenstädter “Ôi Đấng thiêng liêng, Người hãy nhìn thấu tận đáy tâm can con, Người sẽ thấy trong đó tình yêu với con người và niềm khao khát được sống tốt… Hai em Carl và [Johann]… anh tuyên bố là hai em sẽ được thừa kế gia tài nhỏ bé của anh (nếu gọi nó là như vậy), hãy phân chia một cách công bằng, hãy đùm bọc lẫn nhau, những tổn thương mà các em gây ra cho anh, các em biết là anh đã tha thứ từ lâu… Anh mong cuộc đời của các em sẽ tốt đẹp hơn, không muộn phiền như anh, hãy hướng con cái của các em tới sự đức hạnh, chỉ điều đó mới đem lại hạnh phúc cho chúng chứ không phải tiền bạc, anh nói điều này từ trải nghiệm của mình. Chính đức hạnh đã nâng đỡ anh trong nỗi thống khổ, bên cạnh nghệ thuật của chính mình, điều khiến anh không thể tự kết liễu đời mình – Vĩnh biệt và hãy thương yêu lẫn nhau”.□  ———————  Tài liệu tham khảo  https://www.cell.com/current-biology/fulltext/S0960-9822(23)00181-1#%20  https://link.springer.com/article/10.1007/s10354-021-00833-x  https://www.smithsonianmag.com/smart-news/dna-from-beethovens-hair-reveals-clues-about-his-death-180981870/  https://www.washingtonpost.com/science/2023/03/22/beethoven-genome-hair/    https://www.dw.com/en/unlocking-the-code-to-beethovens-life-through-his-hair/a-65168322  https://www.mpg.de/9754825/krause-human-history    Author                Tô Vân        
__label__tiasang Chẩn bệnh cho Beethoven: Những câu hỏi về sức khỏe và bệnh điếc      Những tiên tiến trong phương pháp giải trình tự DNA cổ, bị xuống cấp theo thời gian cho phép một nhóm nghiên cứu quốc tế “chạm” đến những bí ẩn sinh học của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven gần hai thế kỷ sau khi ông qua đời. Phát hiện đột phá này đã mở ra rất nhiều manh mối mới cho những nghiên cứu tương lai.    Tượng Beethoven ở Bonn, nơi nhà soạn nhạc được sinh ra. Nguồn: Beethoven-Haus  Khó có thể kể hết sức sáng tạo đặc biệt của Ludwig van Beethoven (1770–1827), ông luôn khiến người ta kinh ngạc bởi mỗi khi chạm vào một thể loại âm nhạc nào đó, ông lại làm cho nó trở nên khác thường. Đó cũng là một điều lạ lùng, với cả người cùng thời với ông, và cả với người yêu nhạc cổ điển mọi thời, bởi ông vốn bị điếc từ lúc còn rất trẻ.  Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra trong giới học thuật về tình trạng sức khỏe, bệnh điếc và nguyên nhân cái chết ở tuổi 56 của ông: vì sao ông mắc bệnh điếc? Nó có xuất phát từ căn nguyên di truyền? ngoài ra, có thể ông còn mắc những chứng nào khác? liệu hồ sơ bệnh án còn sót lại có nêu đủ tình trạng sức khỏe của Beethoven không? và đích thực thì căn bệnh nào khiến nhà soạn nhạc qua đời? Vô vàn câu hỏi như vậy đặt ra khiến các nhà khoa học, trong cả thế kỷ qua, cố gắng đào xới đủ loại tư liệu để mong có thể giải đáp được đôi phần.  Dẫu vậy thì những kết quả đạt được chưa nhiều. May thay, những tiên tiến trong hai thập kỷ qua trong các phương pháp giải trình tự DNA từ những mẫu vật đã bị xuống cấp do có tuổi đời hàng thế kỷ đã trao cơ hội khám phá cho một nhóm 33 nhà khoa học thuộc 10 trường đại học, viện nghiên cứu, công ty công nghệ sinh học, hội Beethoven ở Anh, Đức, Mỹ, Bỉ. Thật bất ngờ khi giải đáp một số câu hỏi về tình trạng sức khỏe Beethoven thì một số câu hỏi mới về các hậu duệ hiện tại của ông và nguyên nhân cái chết của ông lại được phô bày.  Khám phá mới của họ được nêu trong “Genomic analyses of hair from Ludwig van Beethoven” (Phân tích hệ gene từ tóc của Ludwig van Beethoven), xuất bản trên tạp chí Current Biology, một công bố mà theo Christian Reiter, một chuyên gia về bệnh lý pháp y tại Vienna, là “một bước tiến đáng kể trong quá trình khám phá nỗi thống khổ của nhà soạn nhạc thiên tài với những phương pháp hiện đại nhất”, dẫu lưu ý trên Washingtonpost nếu là mình sẽ cẩn trọng hơn trong diễn giải từ gene ra bệnh.  Từ hồ sơ y tế: Beethoven thực sự mắc bệnh gì?  Vào ngày 27/3/1827, một ngày sau khi Beethoven qua đời, người ta đã khám phá ra rất nhiều tài liệu được cất trong một ngăn kín trong bàn làm việc của ông, bao gồm một tài liệu khác thường ghi mốc thời gian 1802, gửi Carl và Johahn, hai người em trai của mình. Trong đó, Beethoven thừa nhận là ông đã từng “đau đớn đến vô vọng” với chứng điếc ngày một nặng thêm. Chỉ có trách nhiệm với nghệ thuật mới ngăn ông khỏi tự tử, ông giải thích là không thể rời khỏi thế giới này “trước khi anh viết ra mọi tác phẩm mà anh cảm thấy sự thôi thúc phải sáng tác”. Beethoven sau đó đã yêu cầu, sau khi mình chết, vị bác sĩ mà ông yêu quý là Johann Adam Schmidt sẽ được phép khám và miêu tả căn bệnh của mình và thông báo với công chúng. Tuy nhiên, Beethoven đã sống lâu hơn bác sĩ Schmidt tới 18 năm nên chúng ta không có cơ hội đọc hồ sơ từ ông.    Rất nhiều nghiên cứu đã dựa vào những tài liệu văn bản, bao gồm các bức thư, nhật ký và các cuốn sổ ghi lại những cuộc đàm thoại của Beethoven, và cả các giấy tờ lưu trữ, phiếu khám của các bác sĩ, một báo cáo khám nghiệm tử thi, những miêu tả về vật liệu trích xuất từ xương của Beethoven.    Những người quan tâm đến Beethoven, kể từ đó, đã nỗ lực xác định những nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe này. Rất nhiều nghiên cứu đã dựa vào những tài liệu văn bản, bao gồm các bức thư, nhật ký và các cuốn sổ ghi lại những cuộc đàm thoại của Beethoven (trong thập niên cuối đời, Beethoven phải giao tiếp bằng bút và sổ), và cả các giấy tờ lưu trữ, phiếu khám của các bác sĩ, một báo cáo khám nghiệm tử thi, những miêu tả về vật liệu trích xuất từ xương của Beethoven sau các lần khai quật từ năm 1863 đến năm 1888. Thêm vào đó, các phân tích mô được cho là được lấy từ chính thi thể Beethoven, bao gồm phân tích về độc tính trong tóc từ một nguồn chưa được xác thực và các kiểm tra về mặt độc tính ở các mảnh xương sọ của ông mà ít nhất hai trong số đó, cũng cho những thông tin còn mơ hồ.  Tuy vậy ở chừng mực nào đó thì các nguồn này cũng xác thực một số vấn đề sức khỏe của Beethoven, ví dụ như ảnh hưởng của hình thức mất thính lực giác quan cũng như các vấn đề dạ dày kinh niên và ở cuối đời là bệnh gan. Theo một công bố của chính Christian Reiter trên tạp chí Wiener Medizinische Wochenschrift vào năm 2021 thì những vết rỗ trên mặt Beethoven cho thấy di chứng của căn bệnh thủy đậu mắc lúc còn nhỏ. Về chứng điếc thì ở tuổi 16 (năm 1786), Beethoven bắt đầu có dấu hiệu cho thấy sự sút kém về thính lực trong các buổi biểu diễn trước công chúng, đến giữa những năm ngoài tuổi đôi mươi, với đặc điểm ban đầu là ù tai, mất âm lượng ở các tần số cao, có thể là nguyên nhân khiến ông phải dừng sự nghiệp biểu diễn piano khi mới ngoài 40 tuổi. Vào năm 1818, ở tuổi 48, Beethoven bị điếc hoàn toàn, đây là thời điểm ông buộc phải dùng “sổ hội thoại” dù không thích thú gì. “Dẫu đã có nhiều cuốn bị thất lạc”, nhưng những cuốn còn sót lại cũng đủ đem lại cho chúng ta những cái nhìn sâu hơn vào trải nghiệm của ông trong những năm cuối đời, ví dụ trong một ghi chép trong sổ hội thoại vào năm 1821 thì ông bị ‘một cơn thấp khớp’ tấn công, đi kèm với chứng vàng da và khó tiêu”, Christian Reiter nêu trong công bố của mình.  Beethoven trên bàn làm việc. Năm 1890. Carl Schlösser  Sức khỏe của nhà soạn nhạc ngày một yếu đến mức khó thể tưởng tượng được. Vào năm 1825, ông bị chảy máu mũi, nôn ra máu và tiêu chảy. Tháng giêng năm sau, ông tiếp tục bị tiêu chảy dai dẳng, co cứng tay chân, chóng mặt, đau lưng và đắng miệng. Cho đến tháng chín, ông phải lui về nhà của em trai là Johann ở Gneixendorf, Bắc Krems (Hạ Áo) nghỉ ngơi do mắc nhiều chứng bệnh khác nhau, trong đó có sưng phù chân.  Tình trạng lên tới đỉnh điểm vào mùa đông năm 1826/1827 khi Beethoven quyết định trở lại Vienna trên một chiếc xe ngựa không mui, chủ yếu là do tiết kiệm. Quãng đường khá dài nên bất cứ ai đi tuyến đường này cũng cần phải dừng chân để trú qua đêm. Việc ngồi trên một chiếc xe không che chắn trong điều kiện thời tiết mùa đông tồi tệ, không khí ẩm ướt và lạnh giá đã tàn phá sức khỏe của nhà soạn nhạc nhưng ông lại chọn nghỉ ngơi trong phòng trọ địa phương không có lò sưởi, Christian Reiter miêu tả khá kỹ trong công bố của mình.  Hậu quả của chuyến đi này là bệnh phổi, một căn bệnh mà ngày nay vẫn đủ sức gây chết người, nếu không kịp thời được cứu chữa. Trên báo Sức khỏe đời sống vào ngày 126/2/2023, dược sĩ Nguyễn Thị Trang cho rằng, mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm phổi tùy thuộc vào độ tuổi, sức khỏe tổng thể và nguyên nhân gây nhiễm trùng, “một số người có nhiều nguy cơ mắc bệnh cao hơn hoặc nghiêm trọng hơn khi mắc các bệnh lý khác, ví dụ như tim, gan, thận; thường xuyên uống rượu, hệ thống miễn dịch suy yếu…”.  Có rất nhiều bằng chứng cho thấy Beethoven đã sống phụ thuộc vào rượu, vốn là một nguyên nhân rủi ro dẫn đến xơ gan. Trong khi nhiều người quen của Beethoven cho là ông uống rượu ở mức độ trung bình thì một người bạn thân đã dẫn ra là bắt đầu vào quãng 1825 – 1826, mỗi ngày Beethoven đã uống ít nhất một lít rượu vang khi ăn trưa. Dẫu biết rất ít về lịch sử bệnh tật của gia đình Beethoven nhưng người ta đã ghi nhận lịch sử nghiện rượu và bệnh gan của gia đình. TS. Tristan Begg, một nhà nghiên cứu về hệ gene cổ của trường ĐH Cambridge và là một trong ba tác giả chính của công bố trên Current Biology, nhận xét “Chúng tôi có thể phỏng đoán từ những cuốn sổ ghi các cuộc hội thoại mà Beethoven dùng trong thập kỷ cuối của cuộc đời, là việc uống rượu của ông diễn ra rất thường xuyên, dẫu khó ước tính được lượng rượu ông uống. Phần lớn người cùng thời của ông đều nói là mức uống của ông cũng điều độ so với tiêu chuẩn thành Vienna đầu thế kỷ 19 nhưng cũng có người không đồng ý, và dường như lượng rượu ông uống tương đương mức có thể gây rủi ro cho gan theo tiêu chuẩn ngày nay”.  Rõ ràng, Beethoven đã lâm vào tình trạng nguy hiểm nhưng việc tìm kiếm bác sĩ lại lâu hơn dự kiến bởi nhà soạn nhạc rất kén chọn và đòi hỏi lựa chọn bác sĩ mình ưa thích. Do đó, phải mất nhiều ngày mới tìm được một người như vậy, ông Wawruch – bác sĩ nội khoa tại Bệnh viện Garnisonsspital. Trong một báo cáo của Wawruch đề ngày 20/5/1827 – được công khai sau khi bác sĩ qua đời, ông kê đơn cho Beethoven một liệu trình điều trị “chống viêm nghiêm trọng”. Đợt điều trị này cũng cải thiện sức khỏe của Beethoven trong những ngày tiếp theo (ngày 10 đến 12/12), tuy nhiên tình trạng của nhà soạn nhạc ngày một xấu đi với chứng vàng da, tiêu chảy, nôn cũng như bí tiểu, cổ trướng. Bác sĩ Wawruch đã viện đến hỗ trợ của nhà phẫu thuật Seibert để trích khối chất lỏng ở khoang bụng Beethoven vào ngày 20/12. Tuy nhiên, quá trình này lại khiến ông bị nhiễm khuẩn bệnh viêm quầng ở da và mô xung quanh chỗ trích (erysipelas).  Mọi nỗ lực đã quá muộn. Theo một tài liệu mà Bảo tàng Beethoven ở Bonn còn lưu trữ thì Anton Felix Schindler, một luật sư và người viết tiểu sử đầu tiên về Beethoven, đã miêu tả những ngày cuối cùng của cuộc đời Beethoven qua một bức thư đề ngày 12/4/1827, “Lúc đó là khoảng một giờ kém [ngày 24/12]. Tôi đặt chai rượu Rüdesheimer lên cái bàn cạnh giường. Ông ấy nhìn chai rượu và yếu ớt nói “Thật đáng tiếc!”. Đến tối, ông ấy đã mất tỉnh táo và bắt đầu mê sảng. Tình trạng này diễn ra cho đến tối ngày 25, khi các dấu hiệu rõ ràng của chết chóc đã lảng vảng; cho đến ngày 26 lúc hơn sáu rưỡi chiều, cái chết đã thực sự mang Beethoven đi”. Trong bức thư gửi cho Ignaz Moscheles, một nghệ sĩ và là bạn của Beethoven ở London, Anton Schindler, người viết tiểu sử đầu tiên về Beethoven, “ánh sáng vĩ đại đã lịm tắt mãi mãi…”.  Nhà nghiên cứu xử lý mẫu từ lọn tóc Moscheles tại phòng thí nghiệm trường ĐH Tübingen, Đức. Ảnh: Susanna Sabin  Tóc giả, tóc thật  Thông thường, các nhà cổ di truyền (Paleogenetics) ưa thích phân tích vật liệu di truyền từ xương hoặc răng hơn nhưng đây là điều không thể với Beethoven. “Không thể khai quật thi hài Beethoven chỉ để phân tích di truyền trên xương. Chúng tôi đã đề nghị Nghĩa trang Trung tâm Vienna nhưng họ đã quyết định không ủng hộ dự án”, giáo sư Johannes Krause, học trò của nhà di truyền học đoạt giải Nobel Y sinh 2022 Svante Pääbo và hiện là Viện trưởng Viện Nhân học tiến hóa Max Planck ở Jena, nói với DW.  Vậy các nhà nghiên cứu dựa vào đâu để tìm vật chất di truyền của nhà soạn nhạc sống cách đây trên hai thế kỷ? Họ đã dựa vào các nắm tóc được cho là của Beethoven. Đây là một thách thức lớn bởi “dù hầu hết các bộ phận trên cơ thể con người đều chứa vật chất di truyền nhưng ở một số bộ phận thì rất khó tách được nó, ví dụ như tóc, răng, móng chân, móng tay… Bởi vì ở những bộ phận này, tế bào đã được phát triển biệt hóa nên không chứa ADN ở đó, hoặc nếu có thì không nhiều”, TS. Dương Quốc Chính, trưởng Khoa Sinh học phân tử và di truyền, Viện Huyết học truyền máu TƯ, giải thích. “Ngay cả ở tóc thì chân tóc có nhiều hơn thân tóc, ngọn tóc còn răng thì tủy răng chứ không phải toàn răng”.  Đây không phải thách thức duy nhất. Các mẫu tóc của Beethoven đã tồn tại được cả hai thế kỷ, và không chắc là mẫu nào cũng được bảo quản ở điều kiện lý tưởng. Giáo sư Trương Nam Hải, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), một trong những người tham gia xây dựng dự án Trung tâm Giám định ADN ở Viện Hàn lâm, cho biết “Chất lượng ADN của mẫu phụ thuộc rất lớn vào điều kiện bảo quản, nguồn mẫu (xương, mô, tóc, máu…) và dạng ADN (ADN nhân hay ty thể). Thời gian tồn tại của ADN trong cơ thể người sau khi chết rất khác nhau, từ vài ngày cho đển hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm, tùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm thì ADN có thể bị phân rã sau thời gian ngắn, còn trong điều kiện lạnh, tối thì có thể được bảo quản tốt hơn. Nói chung, môi trường có điều kiện lạnh khô và không có nhiều vi sinh vật như châu Âu thì sau vài chục năm hoặc cả trăm năm, mẫu sẽ vẫn còn đủ chất lượng cho tách chiết vật liệu di truyền”. Từ kinh nghiệm nghiên cứu, ông cũng bổ sung “Thông thường, mẫu ADN ở trong xương thường được bảo quản lâu hơn trong tự nhiên vì nó tồn tại ở dạng khoáng hóa với ion Ca”.    “Chúng tôi có thể phỏng đoán từ những cuốn sổ ghi các cuộc hội thoại mà Beethoven dùng trong thập kỷ cuối của cuộc đời, là việc uống rượu của ông diễn ra rất thường xuyên, dẫu khó ước tính được lượng rượu ông uống. Phần lớn người cùng thời của ông đều nói là mức uống của ông cũng điều độ so với tiêu chuẩn thành Vienna đầu thế kỷ 19 nhưng cũng có người không đồng ý, và dường như lượng rượu ông uống tương đương mức có thể gây rủi ro cho gan theo tiêu chuẩn ngày nay” (TS. Tristan Begg).    Tuy không biết rõ tình trạng của các mẫu tóc được nghiên cứu nhưng theo TS. Dương Quốc Chính, dù giữa chân tóc và thân tóc khác nhau về độ giàu vật chất di truyền nhưng chí ít thì người ta vẫn có thể tách chiết lấy một lượng rất nhỏ vật chất di truyền rồi làm giàu mẫu để nghiên cứu bằng giải trình tự gene đoạn ngắn (shotgun DNA sequencing), kỹ thuật được hình thành trong quá trình các nhà khoa học triển khai Dự án Bộ Gene người từ những năm 1970, và được nâng cấp theo thời gian. Trong nghiên cứu này, việc phụ trách phần giải trình tự gene từ tóc nhà soạn nhạc là cơ hội để giáo sư Krause áp dụng kỹ thuật mà giáo sư Svante Pääbo và mình phát triển trong quá trình tái cấu trúc bộ gene người Neanderthal. Khoa học đã đủ tiên tiến để có thể chạm vào vật liệu di truyền của Beethoven qua tóc.  Nhưng làm thế nào để có được các mẫu tóc Beethoven và làm thế nào xác định được nó đích thực của nhà soạn nhạc? Quá nhiều nhiễu loạn ở trong đó. Christine Siegert, người phụ trách Bảo tàng Beethoven ở Bonn, cho biết hiện trên thế giới có khoảng 32 món tóc của nhà soạn nhạc. Bà và đồng nghiệp đã tập hợp các thông tin lịch sử làm nền cho nghiên cứu công bố trên Current Biology và cung cấp một món tóc của Beethoven cho phân tích – món tóc mà Beethoven trao cho gia đình người thợ làm đàn piano Streicher vào năm 1820. Với thời nay, việc lưu giữ tóc người khác là một hành động kỳ lạ. “Văn hóa của thế kỷ 19 rất khác biệt so với ngày nay, khi bất cứ ai cũng selfie, chụp ảnh làm kỷ niệm”, Siegert nói với DW. “Ngày đó, mọi người thích cất giữ một lọn tóc như một kỷ vật của tình thân”.  Trong ngày Beethoven qua đời, một số bạn bè và người thân đã tới bên giường ông, một vài người trong số đó đã xin phép cắt lấy một món tóc của ông làm kỷ niệm. Có vẻ như nhiều người đã làm điều này, đến nỗi trong vòng mấy ngày sau khi Beethoven qua đời, trên đầu ông không còn một sợi tóc nào. Đây không phải là lời thêm thắt cho thêm phần kịch tính. Christine Siegert hé lộ, Gerhard von Breuning, con trai của người bạn thân từ thời niên thiếu của Beethoven, đã không còn cơ hội do tới quá muộn “Khi Gerhard tới, đầu Beethoven đã không còn sót lại một món tóc nào”.  Hiller, lọn tóc nổi tiếng bậc nhất trong 8 mẫu phân tích rút cục lại là tóc của một người phụ nữ Do Thái. Nguồn: NYT  Vào ngày 1/12/1994, một lọn tóc được cho là của Beethoven đã được Sotheby’s bán đấu giá và bốn thành viên của Hội Beethoven Mỹ, đã bỏ ra một khoản tiền là 7.300 USD để có được nó rồi tự hào trưng bày ở Trung tâm nghiên cứu Beethoven ở ĐH San Jose California. Người ta kể đây là lọn tóc được Ferdinand Hiller, một nhà soạn nhạc Đức là học trò của Beethoven khi đó ở tuổi 15, đã tới nhìn Beethoven lần cuối, ngày 27/3/1827. Sau này, Hiller trao cho con trai mình như một món quà sinh nhật: lọn tóc ở bên trong một khung ảnh nhỏ. Đó là chủ đề cho sự ra đời của cuốn sách bán chạy Beethoven’s Hair (Tóc của Beethoven) của Russell Martin, xuất bản năm 2000, và được chuyển thành phim tài liệu vào năm 2005.  Beethoven là nhà soạn nhạc được nhiều người ngưỡng mộ nên tóc và những vật dụng của ông đều được bán đấu giá với mức rất cao. Ví dụ vào tháng 6/2019, một lọn tóc mang tên Halm-Thayer ban đầu ước tính là có giá 22.000 đến 27.500 USD nhưng cuối cùng bán được với giá gấp đôi, hay lọn tócramolini-Brown từng được đấu giá với vào tháng 10/2012 với giá 35.000 Euro (khoảng 45.600 USD vào thời điểm đó), nghĩa là tương đương tóc Mozart, gần gấp ba tóc Chopin. Thật may mắn là Tristan Begg, Johannes Krause hay Christine Siegert đã vượt được khó khăn này trong sự kết hợp với mạng lưới nghiên cứu về Beethoven ở khắp châu Âu và Mỹ, đặc biệt Hội Beethoven Mỹ. Ở đó, William Meredith, một học giả về Beethoven, với sự hỗ trợ tài chính của Hội đã bắt đầu mua các lọn tóc của Beethoven. Cuối cùng họp nhau lại, họ đã có trong tay tám lọn, trong đó có lọn từ Ferdinand Hiller. Khi biết nghiên cứu này được tiến hành, Christian Reiter đã thốt lên “chỉ riêng việc mua được các vật liệu di truyền đã đủ để ngưỡng mộ”.  Vì các mẫu vật thuộc về Beethoven đều đắt nên dễ xảy ra tình trạng giả mạo. Do vậy, để tiến hành nghiên cứu sâu hơn, họ phải xác thực được mấy món tóc mình có trong tay thực sự là của Beethoven. Đây là một chuyện khá thú vị bởi bản thân bạn bè nhà soạn nhạc cũng gây rắc rối. Một năm trước khi Beethoven qua đời, nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc Anton Halm đã tha thiết có một lọn tóc của nhà soạn nhạc để làm quà tặng vợ mình nhưng lại trở thành nạn nhân của một trò đùa. Thay vì tóc Beethoven, nghệ sĩ vĩ cầm và nhà soạn nhạc Karl Holz – một thư ký không lương cho Beethoven, lại gửi đến Halm một nắm râu dê, thoạt nhìn có màu sắc và kết cấu tương tự tóc ông. “Người phụ nữ đáng thương đã vui sướng khoe vật kỷ niệm của người mình ngưỡng mộ cho đến khi Karl Gross, một nghệ sĩ cello nghiệp dư nhún vai mà rằng ‘ai biết được sợi tóc đó có thật hay không?’ rồi tiết lộ cho bà chân tướng sự thật”, theo một tiểu sử viết năm 1840 của Anton Schindler. Khi biết có người bị ê mặt vì trò đùa, Beethoven gửi một món tóc của mình kèm bức thư “Món tóc của anh đây! Anh thấy đấy, có những sinh vật ở xung quanh tôi khủng khiếp khiến những người đứng đắn phải cảm thấy xấu hổ khi ở cùng” – sau người ta gọi đó là món tóc Halm-Thayer. Món tóc này đã ở lại với gia đình Halm cho đến khi được tặng lại Alexander Wheelock Thayer, tác giả của cuốn tiểu sử học thuật đầu tiên về Ludwig van Beethoven mà sau được coi là tác phẩm tiêu chuẩn để tham khảo về nhà soạn nhạc, rồi không rõ bằng cách nào đó lọt vào tay nhà đấu giá Sotheby’s vào những năm 1920.  Một lọn tóc khác mang tên Stumpff, đã được gắn vào một bức thư từ Johann Andreas Stumpff, một người thợ làm đàn harp, piano và bạn của Beethoven, đề ngày 7/5/1827 – chỉ vài tháng sau khi Beethoven qua đời. Nhà đấu giá Sotheby’s cho biết, Stumpff hầu như có được lọn tóc này qua Anselm Hüttenbrenner, một học trò của Beethoven, người có mặt bên nhà soạn nhạc vào lúc ông qua đời.  Không chỉ có các món tóc, các nhà khoa học còn có một yếu tố quan trọng thứ hai để được đảm bảo về mặt đạo đức nghiên cứu, đó là được sự đồng ý từ chính Beethoven, trong bức thư mà sau mang tên Chúc thư Heiligenstadt. “Thật tốt, sự đồng ý từ một người trong quá khứ cho tiến hành nghiên cứu”, giáo sư Johannes Krause bình luận.  Có trong tay lượng tóc đủ nhiều để làm nghiên cứu, các nhà phân tích biết rõ thiệt hại của những người chủ lọn tóc. “Để có được DNA, phải phân hủy cả nắm tóc, điều đó có nghĩa là món tóc sẽ không còn tồn tại nữa”, Krause nói. Rất may là Kevin Brown, chủ nhân của lọn tóc Stumpff (sau được phát hiện là được bảo quản tốt nhất trong số các mẫu nghiên cứu), đã vui vẻ hiến đồ sưu tập của mình cho khoa học.  Dĩ nhiên, phải nói thêm là Krause và cộng sự còn được sự hỗ trợ của cả một hệ thống thiết bị tiên tiến. “15 năm trước, các cỗ máy giải trình tự mã hóa khoảng 100 đến 200 trình tự DNA mỗi ngày, ngày nay chúng ta có những cỗ máy có thể giải mã 20 tỉ trình tự DNA mỗi ngày”, Krause cho biết.  Những gì còn lại là một hành trình không dễ dàng. Giáo sư Markus Nöthen, giám đốc Viện Nghiên cứu Gene người và tham gia chú giải dữ liệu hệ gene Beethoven, trong một cuộc phỏng vấn đã nhấn mạnh vào thách thức “theo thời gian, không chỉ DNA bị xuống cấp mà vật liệu di truyền trong tóc còn rất ít so với chân tóc. Tuy nhiên nhóm của Johannes Krause đã áp dụng phương pháp giải trình tự DNA đoạn ngắn tiên tiến nhất, độ nhạy cao nhất rồi bằng các thuật toán, lắp ráp các đoạn ngắn thành trình tự bộ gene lớn hơn, qua đó tái cấu trúc bộ gene. Giống hệt như một trò chơi xếp hình vậy”.  Kết quả thu được thật thú vị: mẫu tóc nổi tiếng nhất là mẫu Hiller hóa ra là của một người phụ nữ mang gene người Do Thái Ashkenazi. TS. Meredith cho là món tóc nguyên thủy của Beethoven có thể bị mất mát, hư hỏng… nên được thay thế bằng tóc của Sophie Lion, vợ của con trai Ferdinand Hiller, một người Do Thái. Một mẫu khác không cho kết quả, còn một mẫu được xác nhận là giả mạo.  Nhưng đó chỉ là phần đầu của một câu chuyện đầy kịch tính với những kết quả ngoài dự kiến.□  (Còn tiếp)  ————  Tài liệu tham khảo   https://www.cell.com/current-biology/fulltext/S0960-9822(23)00181-1#%20  https://link.springer.com/article/10.1007/s10354-021-00833-x  https://www.washingtonpost.com/science/2023/03/22/beethoven-genome-hair/    https://www.dw.com/en/unlocking-the-code-to-beethovens-life-through-his-hair/a-65168322  https://www.mpg.de/9754825/krause-human-history    Author                Tô Vân        
__label__tiasang Chân đất bước vào lâu đài khoa học      Tự cho mình là người tỉnh lẻ, học vị tối thiểu, trong điều kiện rất hạn chế về thông tin, phương tiện, và người đồng sự, trong suốt 20 năm kỹ sư Hồ Quang Cua đã bỏ qua những cơ hội khác – du học Mỹ theo chương trình Fulbright, từ chối về Cục Trồng trọt (Bộ NN&amp;PTNT) – để miệt mài kiên định với công việc tổ chức nghiên cứu lai tạo lúa thơm, và đến nay đã tạo dựng được một nhóm chuyên gia lành nghề, với những sản phẩm là các giống lúa đang giúp hàng vạn hộ nông dân mưu sinh.     Dưới đây là những chia sẻ mà ông dành cho nhóm phóng viên tạp chí Tia Sáng.  Ý tưởng ban đầu nào đã đưa ông và các cộng sự đến với công việc nghiên cứu lai tạo các giống lúa?  Đó là thời điểm sau hai năm kể từ khi nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Năm 1991, TS Huỳnh Quang Tín, Viện Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác, trường Đại học Cần Thơ, đã hợp tác với Phòng nông nghiệp Huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) thực hiện thí điểm so sánh các giống lúa thơm sưu tập ở ĐBSCL. Cũng ở Mỹ Xuyên, nơi tôi làm việc, rất may ở giai đoạn ban đầu các thầy đã chuyển giao cho giống Khao Dawk Mali, giống lúa nổi tiếng nhất thế giới của Thái Lan. Ý tưởng chọn tạo giống của chúng tôi có từ đấy.  Nhưng từ ý tưởng đến sản phẩm nghiên cứu sáng tạo là một chặng đường dài. Chúng tôi phải mất tới 10 năm để tạo dựng được về cơ bản một nền móng khoa học công nghệ, địa bàn sản xuất, và hình thành thị trường cho sản phẩm của mình. Đó là một quá trình không đơn giản do chúng tôi rất thiếu nhân lực KH&CN.     Thành quả sau khi vượt qua những khó khăn đầu tiên đó là gì thưa ông?  Chúng tôi khởi đầu với một giống lúa thơm ngon vào bậc nhất của thế giới (Khao Dawk Mali) nhưng không dừng lại mà tiếp tục nghiên cứu sáng tạo, cho ra những giống mới phù hợp với điều kiện đất chật người đông ở Việt Nam. Giống lúa Sóc Trăng ngày nay cho ra một lượng gạo thơm nhiều hơn đến 3 – 4 lần Khao Dawk Mali. Đó là lý do để xã hội chấp nhận sản phẩm của chúng tôi.  Sau 10 năm đầu tiên, chúng tôi lai tạo được một số giống mới, đáng kể đầu tiên là giống lúa ST3 đã được đưa đi phát triển ở mọi miền đất nước và được công nhận là giống quốc gia. Đây chính là nền tảng để trong giai đoạn phát triển tiếp theo chúng tôi tiếp tục lai tạo được một loạt giống lúa từ ST5 (giải thưởng Bông lúa vàng năm 2012 do Bộ NN&PTNT cấp) đến ST20. Đặc biệt là giống lúa ST20 đã đoạt giải phẩm chất hạng nhất trong Festival lúa gạo Việt Nam năm 2011 và đến nay gạo sản xuất từ giống này được tiêu thụ ở khắp các miền đất nước và xuất khẩu với giá cao. Từ những thành quả đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi được Nhà nước trao tặng năm Huân chương lao động, và được cộng đồng quốc tế thừa nhận, mời tham gia mạng lưới chọn tạo giống toàn cầu của IAEA và JICA.  Làm cách nào nhóm đạt được những thành công này trong điều kiện hạn chế về nhân lực KH&CN?   Trong suốt 10 năm đầu tiên, nhóm nghiên cứu của chúng tôi chỉ vẻn vẹn có 3 thạc sĩ. Với điều kiện hạn chế như vậy, bước đầu chúng tôi tập trung vào thanh lọc các giống có sẵn, với các giống cổ truyền địa phương và giống nhập khẩu như Khao Dawk Mali, Tsengtao, VĐ20, v.v, từ đó tiến hành lai tạo giống. ThS. Nguyễn Thị Thu Hương là người phụ trách công nghệ phát triển hạt giống, trong khi công nghệ lai tạo được thực hiện bởi ThS. Trần Tấn Phương – đến nay anh đã nhận được bằng Tiến sĩ Nông nghiệp chuyên ngành Di truyền và chọn giống cây trồng. Vì có ít người nên chúng tôi phải mời đến cả những học sinh cấp II tham gia thực hiện lai tạo giống, giờ đây đã có những em trưởng thành, trở thành kỹ sư nông học. Bên cạnh đó, chúng tôi phải luôn tích cực tìm cách tự học hỏi kinh nghiệm cả trong và ngoài nước, và đào tạo người qua những mối quan hệ này.   Các mối hợp tác liên kết với các cá nhân và tổ chức nghiên cứu bên ngoài có ý nghĩa ra sao đối với thành công của nhóm?  Điểm xuất phát của chúng tôi rất thấp cho nên việc học hỏi để lĩnh hội các tri thức, hợp tác để kế thừa và nâng cao là hết sức cần thiết. Từ hơn thập niên trước chúng tôi đã lĩnh hội kiến thức về lúa thơm qua các cuốn cẩm nang nhỏ của GS.TS Bùi Chí Bửu. Nhóm cũng được sự hỗ trợ hợp tác từ phòng phân tích phẩm chất của TS. Phạm Văn Ro, và hỗ trợ đào tạo nhân lực từ  TS. Võ Công Thành ở đại học Cần Thơ, người đào tạo nhiều Thạc sĩ và quản lý phòng phân tích phẩm chất gạo sau này.  Tuy nhiên, mặc dù giới nghiên cứu hàn lâm có thể dễ dàng cho chúng tôi học hỏi những kiến thức mang tính nền tảng, nhưng họ ít khi chia sẻ các sáng tạo mới. Ngược lại, có những chuyên gia tuy không thuộc giới hàn lâm, thậm chí không chuyên về cây lúa, nhưng lại hỗ trợ chúng tôi đáng kể, ví dụ như TS. Lê Xuân Thám (hiện là giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng), người giúp nhóm tiếp cận các vật liệu tạo đột biến bằng phóng xạ và đem lại những giống lúa thơm rất thành công. TS. Lê Xuân Thám đồng thời là người bắc nhịp cầu đưa nhóm đến với bộ phận lương thực của Viện Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đây cũng là đơn vị phối hợp với JICA giúp nhóm nghiên cứu có được Trạm Nghiên cứu lúa tại Sóc Trăng hiện nay.  Vì sao sự hỗ trợ từ các nhà khoa học dành cho nhóm chỉ mới dừng lại ở mức chia sẻ kiến thức nền tảng và đào tạo nhân lực, mà ít có những người cùng nghiên cứu để tạo ra các giống lúa Việt Nam chất lượng cao đủ sức cạnh tranh với thế giới?    Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều nhà khoa học đầu đàn ở Việt Nam đã thực hiện các hoạt động về phát triển các giống gạo thơm cổ truyền ở trong nước cũng như các giống nhập khẩu chất lượng cao. Tuy nhiên vì các lý do khác nhau như tuổi tác, hay theo đuổi công việc quản lý và các công tác khác, nên đã không theo đuổi được đến cùng trong công việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa chất lượng cao. Đến đầu thế kỷ 21 lại có một số tác giả khác nghiên cứu theo hướng đa mục tiêu như ngắn ngày, năng suất cao, thơm, mềm v.v, nhưng họ chỉ mới làm theo đặt hàng của nhà sản xuất, mà không nghiên cứu kỹ về thị trường nên kết quả bị giới hạn.  Nhóm nghiên cứu lúa Sóc Trăng của chúng tôi thành công là nhờ được tiếp thu kiến thức từ các bậc tiền bối, dần dần hình thành các ý tưởng của riêng mình, và kiên định đi theo mục tiêu mà mình đặt ra, đó là phải chọn tạo lúa thơm theo yêu cầu của thị trường lấy tín hiệu của thị trường làm định hướng chọn tạo.  Vậy đâu là bí quyết để sản phẩm của nhóm đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường?   Muốn có gạo thơm ngon thì phải có vật liệu lai tạo tốt chứ không thể lấy một giống lúa thơm phẩm chất thường thường bậc trung lai với lúa cao sản thông thường. Đồng thời cần phải đặt ra những tiêu chí thật cụ thể mà sản phẩm đầu ra cần đáp ứng. Thật may mắn là từ 15 năm trước, ông Bjarne Christensen Cố vấn trưởng dự án Sau thu hoạch của DANIDA ở Sóc Trăng thời kỳ 1996 – 2003 dự hội nghị quốc tế đã mang về cho chúng tôi một chồng tài liệu trong đó có các tiêu chí về gạo của Thái Lan. Đây chính là những tiêu chuẩn giúp chúng tôi bước đầu chọn lựa giống lúa thơm phục vụ nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, nhóm cũng phải liên tục tìm hiểu và nghiên cứu nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới mẻ mà thị trường đặt ra cho sản phẩm.  Ông có thể cho một vài ví dụ về các nghiên cứu đột phá của nhóm nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng những đòi hỏi từ thị trường?  Qua khảo sát, chúng tôi nhận ra rằng không phải ai cũng thích gạo thơm dài, có ngườ̀i thích gạo mẳn, gạo tròn, chưa kể trong xã hội có những khách hàng cần những loại gạo làm thực phẩm chức năng như gạo đỏ, gạo tím. Vì vậy khi phát hiện một hạt gạo đỏ là kết quả sau khi chiếu xạ lên giống ST3, ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền thông báo cho cả nhóm và ngay lập tức anh Trần Tấn Phương đã tiến hành lập trình lai tạo. Sản phẩm chúng tôi đạt được là giống lúa cho ra gạo đỏ như hiện nay, với lớp vỏ cám bên ngoài chứa nhiều chất xơ, chất sắt, còn bên trong nội nhũ là phần cơm thơm, mềm đáp ứng nhu cầu sử dụng gạo làm thực phẩm chức năng của người tiêu dùng. Tương tự như vậy là giống lúa cho ra gạo tím giàu hàm lượng anthocyanin mà chúng tôi nghiên cứu lai tạo ra chỉ vài năm sau khi giới khoa học quốc tế chỉ rõ công dụng của anthocyanin giúp chống oxy hóa – nguyên nhân gây ra lão hóa, ung thư, tiểu đường, v.v. Từ những sản phẩm gạo của chúng tôi, có những nhà sản xuất khác chế biến ra cốm, bột dinh dưỡng .v.v, qua đó đóng góp cho xã hội thêm nhiều sản phẩm, và người tiêu dùng lại tiếp tục có được thêm nhiều lựa chọn hơn. Tuy nhiên, cũng không phải tất cả mọi giống lúa cho gạo thơm ngon đều phù hợp với thị trường. Có những giống không phù hợp, ví dụ như ST19, do canh tác không hiệu quả, quá tốn công chăm sóc, và thiếu sức đề kháng trước một số loại sâu bệnh.  Để thâm nhập và chinh phục thị trường, nhóm nghiên cứu đã tổ chức hoạt động quảng bá với công chúng ra sao?  Để quảng bá sản phẩm của mình, chúng tôi tổ chức những sự kiện nấu cơm đãi khách hoặc nấu cơm cho các giám khảo đánh giá. Tôi còn nhớ buổi đầu tiên khi chúng tôi giới thiệu giống gạo ngon bậc nhất của thế giới (Khao Dawk Mali) với một đầu bếp có hạng, và sự kiện đã tạo ấn tượng tốt cho thực khách ngay từ đầu – khách nhiều đến nỗi Giáo sư Võ Tòng Xuân từ Cần Thơ lo sợ chúng tôi chà hết lúa giống. Cứ như vậy, liên tục trong suốt 20 năm qua, chúng tôi thường xuyên tổ chức những bữa cơm giới thiệu với công chúng các giống gạo do chúng tôi nghiên cứu ra.   Tuy nhiên, doanh nghiệp mới là cầu nối thực sự đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng?    Hiếm có doanh nghiệp nào sẵn sàng tiếp nhận giống lúa – gạo ngay, bản thân họ cũng phải lắng nghe tín hiệu của thị trường. Vì vậy, những bữa cơm chúng tôi tổ chức nhằm giới thiệu sản phẩm với công chúng là rất quan trọng. Tín hiệu từ những bữa cơm như vậy lại được tiếp tục chuyển tải qua các túi gạo làm quà tặng hoặc ký gửi ở các sạp gạo bán lẻ. Song khi thông tin về sản phẩm còn chưa được phổ biến nhiều thì các túi gạo có địa chỉ đó lại không được bày bán, bởi người bán hàng sợ khách hàng bỏ họ mà tìm đến người trực tiếp nuôi trồng. Chỉ khi chúng tôi giải được bài toán khó này các túi gạo Sóc Trăng có tên tuổi, địa chỉ rõ ràng mới được rải đều khắp các chợ Sóc Trăng, và khi đó các doanh nghiệp kinh doanh có tên tuổi mới tìm đến.   Nhưng vẫn còn vướng mắc ở chỗ doanh nghiệp chỉ biết tìm đến chợ mà không biết ruộng. Vì vậy, một lần nữa đội ngũ chuyên viên kỹ thuật của chúng tôi lại phải cùng nông dân trồng lúa cho doanh nghiệp (qua hợp đồng) chứng nghiệm. Đến đây chúng tôi đã giải được bài toán sơ khởi cho doanh nghiệp là nguyên liệu. Với phương thức này chúng tôi đã kết nối được 4 nhà trong cánh đồng mẫu (được DANIDA tài trợ từ năm 2001 – 2003), và đến nay hạt gạo Sóc Trăng không chỉ chinh phục thị trường trong nước mà đã dần thâm nhập vào các thị trường nước ngoài.  Một vấn đề cơ bản cho các thương hiệu Việt là làm sao đảm bảo uy tín lâu dài. Trong nông nghiệp vấn đề này càng khó khăn vì sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào nhà cung cấp giống mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi người trồng trọt?  Đúng vậy, chúng tôi đã nhiều lần phối hợp với doanh nghiệp tổ chức “Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt” (G.A.P) được chứng nhận quốc tế, giấy thông hành để đưa sản phẩm vào các thị trường ở nước ngoài. Hiện nay với sự giúp đỡ của QUACERT1 chúng tôi đã khởi động lại chương trình hợp tác với GlobalGAP2 để tương lai gạo thơm Sóc Trăng sẽ đi vào các kệ bày sản phẩm gạo chất lượng cao ở các siêu thị nước ngoài.  Nhưng có làm mới thấy sự giới hạn về trình độ của nông dân, cả về nền tảng học vấn lẫn ý thức chấp hành qui trình. Vì vậy, mong muốn người sản xuất tạo ra những sản phẩm chất lượng ổn định, an toàn cho môi trường, an toàn cho người tiêu dùng, và an toàn cho chính bản thân người trồng trọt, vẫn còn là một ước mơ xa vời với nông nghiệp Việt Nam.  Giải pháp cho vấn đề này là gì thưa ông?  Ngoài giống lúa tốt còn cần có những giải pháp bổ sung để đảm bảo quy trình trồng trọt cho ra sản phẩm có chất lượng phù hợp. Ví dụ như hỗ trợ huấn luyện nông dân tự sản xuất nấm xanh để khống chế rầy nâu phát triển thành dịch. Đây là một quy trình thực sự có hiệu quả, đã nhận được sự công nhận và ủng hộ từ Bộ NN&PTNT từ rất sớm. Chúng tôi cũng hướng dẫn bà con sử dụng những chất hóa học bảo vệ thực vật có độ an toàn cao, vì để kết tinh mùi thơm trong hạt gạo đòi hỏi một quá trình tổng hợp rất ổn định từ lá, trong đó tác động từ hóa chất phải rất hạn chế – bởi vậy với giống lúa thơm, hạt gạo càng thơm lại càng thể hiện độ an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.  Để có thể triển khai hoạt động nghiên cứu từ lý thuyết tới thử nghiệm trên đồng ruộng như trên đòi hỏi nhiều kinh phí, chưa kể đến những rủi ro. Vậy nhóm nghiên cứu có được hỗ trợ thông qua các dự án KH&CN của Nhà nước?  Chúng tôi chỉ một nhóm cán bộ ở tỉnh, ban đầu chỉ gồm những kỹ sư ít kinh nghiệm, vì vậy ban đầu hầu như không thể xin dự án KH&CN của Nhà nước, và buộc phải chấp nhận chi tiêu dè sẻn để thực hiện công việc của mình. Trong 15 năm vừa qua, dù được sự hỗ trợ nhiệt tình từ các cấp chính quyền địa phương, tổng số tiền chúng tôi được nhận từ Ngân sách Nhà nước cho việc nghiên cứu của mình chỉ khoảng vài ba tỷ đồng, nhưng khoảng một nửa trong số đó là chi lót đường bởi vì kết quả hoặc là không ra giống mới, hoặc cho giống kém chất lượng.   Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu nhận được những sự hỗ trợ khác. Ví dụ, gần đây sau khi trường đại học Nông nghiệp Hà Nội chia sẻ kinh phí từ nguồn hợp tác với JICA để cùng chúng tôi xây dựng Trạm Nghiên cứu lúa tại Sóc Trăng, UBND tỉnh đã hỗ trợ mở đường để xe ô tô vào được đến Trạm Nghiên cứu.  Như vậy, có thể thấy rằng nguồn kinh phí và những hỗ trợ của Nhà nước không phải là quan trọng nhất đối với thành công của nhóm nghiên cứu trong giai đoạn vừa qua?  Ai cũng nói rằng sự thành công của đề tài nghiên cứu lúa đặc sản bao gồm: (1) Định hướng đúng; (2) Vật liệu di truyền tốt; (3) Chuyên gia di truyền giỏi; (4) Có kinh phí. Bốn yếu tố trên chúng tôi có đủ, mặc dù kinh phí thấp. Ngoài ra, sau quá trình tự đào tạo một cách kiên trì, ngày nay nhóm chúng tôi có một đội ngũ công nhân kỹ năng cao, yêu nghề được điều hành bởi một nhà hàn lâm đúng nghĩa: Tiến sỹ Di truyền học Trần Tấn Phương. Chúng tôi cũng có một mạng lưới khảo nghiệm tuy đơn giản nhưng hiệu quả, có lòng tin từ những nông dân cộng tác, chính họ giúp chúng tôi tiếp thị sản phẩm và đạt kết quả rất tốt. Vì vậy thành công đối với chúng tôi chỉ là vấn đề thời gian.  Trong suốt 20 năm nhóm nghiên cứu hoạt động trong điều kiện không có trại giống, không có phòng Lab, kinh phí hạn chế. Vì sao nhóm không nhờ cậy một trại giống có sẵn hay ‘ghép’ với một dự án nghiên cứu nào khác của Nhà nước?  Vì mục đích và phương pháp thực hiện công việc của chúng tôi khác với giới hàn lâm nên chúng tôi phải bằng lòng với những gì mình có. Thực tiễn đòi hỏi chúng tôi phải tự lực chủ động. Ví dụ như khi đã hiểu rành rọt về các chỉ tiêu phẩm chất mà sản phẩm cần đạt được thì việ̣c tự nâng cao năng lực phân tích mùi thơm sản phẩm là một yêu cầu mang tính sống còn, cho dù điều kiện cho phép còn rất sơ khai.   Dạo các chuyên gia IAEA vào thăm, họ hỏi phòng thí nghiệm ở đâu, tôi chỉ vào bụi tre râm mát nơi các “chuyên gia nông dân” đang ngồi đánh giá mùi thơm của gạo, họ cười! Rồi khi các đoàn cán bộ của Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long do TS. Phạm Văn Ro dẫn đầu, hay đoàn công tác của Trạm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Nam bộ do ThS. Nguyễn Quốc Lý dẫn đầu đến khảo sát, chúng tôi tổ chức biểu diễn cho họ xem một chuỗi đánh giá mùi thơm gồm 11 người, có thể hoàn tất mỗi ngày 800 mẫu thử thơm, tức là nhanh gấp mấy chục lần so với tốc độ trả kết quả từ phòng thí nghiệm trị giá cả triệu đô của Tiến sĩ Ro. Đó là do những đòi hỏi của thực tế buộc chúng tôi phải giản lược quy trình, chẳng hạn nếu làm đúng theo quy trình của IRRI3 thì phải chà trắng rồi nghiền hạt gạo thành bột, còn chúng tôi đơn giản chỉ thử trên hạt gạo lức.   Sau những thành quả đã đạt được, đâu là triển vọng và mục tiêu tiếp theo mà nhóm nghiên cứu đặt ra?    Có thể nói triển vọng phía trước chúng tôi đang hết sức sáng sủa: diện tích canh tác sử dụng giống do chúng tôi cung cấp ngày một tăng, thu nhập đem lại cho người dân qua từng chuỗi trồng trọt, chế biến cũng gia tăng. Đồng thời, nhóm ngày càng nhận nhiều sự ủng hộ từ các nhà làm quản lý.   Việc khủng hoảng thừa lương thực hiện nay cho thấy rằng định hướng nghiên cứu từ đầu của chúng tôi là đúng: chúng ta cần phải tạo ra nhiều loại gạo đáp ứng những phân khúc thị trường khác nhau thì sẽ tránh được khủng hoảng thiếu thừa như hiện nay.  Sau khi Bộ NN&PTNT đưa giống lúa Sóc Trăng vào cơ cấu giống, nhóm đã ký kết với trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội để thành lập Trạm Nghiên cứu lúa tại Sóc Trăng với nguồn vốn từ dự án JICA hợp tác với nhà trường. Đây là cơ hội để thế hệ nối tiếp có điều kiện làm việc tốt hơn. Thông qua dự án này, với những nguyên liệu giống quý hiếm sẵn có, nhóm kỳ vọng sẽ sử dụng những công nghệ và thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu tạo ra giống lúa thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu (chịu mặn), hợp với yêu cầu môi trường (kháng sâu bệnh), đồng thời cho năng suất cao, không cần nhiều đất trồng, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đời sống trong bối cảnh dân số tăng cao.   Xin cảm ơn ông!  —  1 Tổ chức chứng nhận của Việt Nam trực thuộc Tổng cục TCĐLCL do Bộ KHCN&MT  2 Một tổ chức phi chính phủ nơi đặt ra các tiêu chuẩn tự nguyện để chứng nhận cho các sản phẩm nông nghiệp trên toàn cầu.   3 Viện Nghiên cứu Gạo Quốc tế, là một tổ chức phi chính phủ với mục tiêu giảm nghèo đói trên toàn cầu bằng cách giúp nông dân sản xuất gạo theo những phương thức xanh và sạch, đạt sản lượng cao hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chẩn đoán sớm nguy cơ mắc bệnh tim mạch với công nghệ scan      Các nhà khoa học tại Đại học Edinburgh (Anh  Quốc) vừa hoàn thành một thí nghiệm cho thấy có thể áp dụng công nghệ  quét (scan) kiểu mới để phát hiện sớm triệu chứng của căn bệnh nhồi máu  cơ tim.     Khi dùng công nghệ scan này, thầy thuốc có thể nhận dạng những mảng xơ vữa (plaques) nguy hiểm bám trên thành bên trong động mạch vành, tức động mạch có nhiệm vụ cung cấp máu nuôi dưỡng trái tim. Nếu mảng xơ vữa đó bị vỡ, các mảnh vụn của nó có thể làm tắc dòng máu chảy qua động mạch vành, gây ra chứng nhồi máu cơ tim.   Các nhà khoa học đã dùng máy theo dõi phóng xạ (radioactive tracer) để nhận dạng các mảng vữa nguy hiểm và có tính hoạt động, đồng thời kết hợp với việc chụp ảnh có độ nét cao thể hiện rõ tim và mạch máu. Kết quả họ thu được bức ảnh chi tiết trái tim có thể hiện các khu vực nguy hiểm. Công nghệ này đã được dùng để thăm dò khối u (tumours) ở bệnh nhân ung thư.   Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí y học The Lancet, công nghệ scan đã thể hiện với độ nét cao mảng xơ vữa gây ra nhồi máu cơ tim tại 37 bệnh nhân.  Thí nghiệm nói trên lần đầu tiên chứng minh công nghệ quét có thể nhận dạng được khu vực nguy hiểm trong mạch máu. Nhưng các chuyên gia cho rằng họ còn cần tiếp tục làm thêm các xét nghiệm để chứng minh khám phá nói trên đúng là giúp ích cho việc cấp cứu các bệnh nhân mắc bệnh tim mạch.  Chuyên gia tim mạch Marc Dweck nói không phải tất cả các mảng xơ vữa trong động mạch vành đều sẽ gây ra nhồi máu cơ tim, nhưng công nghệ mới này là một biện pháp hữu hiệu để chẩn đoán những người có nguy cơ mắc bệnh cao cần phải áp dụng liệu pháp tích cực như dùng thuốc statins hoặc aspirin, quyết liệt thay đổi lối sống hoặc thậm chí đặt stent vào động mạch vành để mở cho mạch được thông suốt. Ông cho biết bệnh tim mạch là sát thủ lớn nhất trong xã hội phương Tây, nó xảy ra mà không có các triệu chứng báo trước; khi bị nhồi máu cơ tim rồi người ta mới biết tim mình có vấn đề. Nếu có cách phát hiện trước mảng xơ vữa nguy hiểm trong động mạch vành và làm cho nó ổn định thì có thể phòng ngừa được nguy cơ xảy ra nhồi máu cơ tim, qua đó cứu được tính mạng bệnh nhân.  Hằng năm tại Anh Quốc có hơn 100.000 người bị bệnh tim; tắc động mạch vành bao quanh tim là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở các bệnh nhân đó.  Các thầy thuốc nhận định công nghệ scan mới này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bệnh nhân tim mạch.  NHH lược dịch theo BBC    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chẩn đoán ung thư sớm bằng xét nghiệm máu      Một công ty y tế Hoa Kỳ cho biết họ đã nắm được “bí quyết” xét nghiệm máu chẩn đoán bệnh ung thư ngay cả trước khi bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng.      Illumina, công ty giải mã trình tự gene đã tuyên bố thành lập một công ty spin-off chuyên tập trung vào phát hiện sớm ung thư thông qua xét nghiệm máu.Và Grail, công ty spin-off này được cấp 100 triệu USD để nghiên cứu ADN của tế bào ung thư có trong máu và sử dụng phương pháp sắp xếp chuỗi AND để phát hiện các mô hình bệnh tật trong tế bào máu.  Mặc dù các công ty khác đã áp dụng “sinh thiết lỏng” nhưng họ mới chỉ sử dụng phương pháp này sau khi bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư bởi chưa thể giải quyết một vấn đề, đó là một số tế bào ung thư không thực sự gây nguy hiểm cho con người và điều trị sớm chỉ khiến bệnh nhân gặp tác dụng phụ nguy hiểm.  Nhưng các nhà khoa học của công ty Grail tin rằng họ sẽ giải quyết được tồn tại này bằng cách thực hiện sắp xếp chuyên sâu và kiểm tra trình tự ADN của khoảng 50.000 người.“Chúng tôi cho rằng cần khẩn trương nghiên cứu và đưa ra thị trường cách chẩn đoán ung thư này, vì nếu thành công, nó sẽ cứu mạng hàng triệu người”, Jay T. Flatley, giám đốc công ty Illumina nói.  Bảo Như dịch theo Sciencetimes  http://www.sciencetimes.com/articles/8120/20160111/company-develop-gene-based-cancer-blood-test.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chân lý      Để tìm chân lý người ta phải độc lập, hoàn toàn độc lập. Nếu, ngược lại, chúng ta hành động, nếu muốn mạnh, chúng ta phải đoàn kết. Đó là điều khiến cho nhiều người trong chúng ta sợ hãi trước chân lý; họ xem chân lý như nguồn gốc của sự yếu đuối. Tuy nhiên chúng ta không được sợ hãi sự thật, bởi vì sự thật đẹp tự nó.    Nếu tôi nói chân lý ở đây, dĩ nhiên trước hết nói đến chân lý khoa học; nhưng tôi cũng nói đến chân lý đạo đức, trong đó cái người ta có thể gọi là công lý chỉ là một mặt. Có thể nói, nếu người ta muốn, tôi chơi chữ, rằng có phải cùng một tên mà tôi đã ghép lại hai nội dung không có gì liên quan nhau; rằng chân lý khoa học, điều người ta có thể chứng minh, không hề giống chân lý đạo đức, cái người ta phải cảm nhận.  Nhưng tôi không thể tách rời hai thứ, cái mà người này có thể yêu thì người khác lại không yêu. Để tìm ra chân lý này hay chân lý kia, người ta phải nỗ lực làm cho tâm hồn hoàn toàn tự do khỏi thành kiến và đam mê; chúng ta phải có sự thành thật vô điều kiện. Hai loại chân lý này, một khi được khám phá, sẽ gây cho ta niềm vui; từ giây phút chúng ta nhận ra chúng, chân lý này hay chân lý kia sáng tỏ ra cùng một ánh hào quang, hệ quả là chúng ta phải nhìn nhận nó hay nhắm mắt lại. Cả hai lôi cuốn ta cũng như trốn bỏ ta; chúng không bao giờ đứng yên cố định; nếu ta tin đã đạt được chúng, thì sẽ thấy ta còn phải đi xa hơn nữa, và ai theo đuổi chúng sẽ bị “đọa đày” chẳng bao giờ được sống yên tĩnh nữa.  Nhưng tôi muốn nói rằng, ai sợ hãi chân lý này thì cũng sợ hãi chân lý kia;…nói ngắn gọn: tôi kết hợp lại hai chân lý bởi lẽ sự yêu thương hay trốn chạy đều có cùng những lý do như nhau.  Nếu ta không lo ngại chân lý đạo đức thì chúng ta lại càng không có lý do sợ hãi chân lý khoa học. Và nhất là chân lý khoa học không tranh chấp với đạo đức. Khoa học và đạo đức có những lãnh vực riêng của chúng, hai lãnh vực tiếp xúc nhau nhưng không đan xen nhau. Cái này chỉ ta mục đích để ta vươn tới, cái kia chỉ ta các phương tiện để ta đạt tới mục đích đã định. Do đó chúng không bao giờ mâu thuẩn nhau, vì chúng không bao giờ gặp nhau. Không thể có một khoa học đạo đức, cũng như không thể có một đạo đức khoa học. […]  Vì thế, con người tuy không hạnh phúc bằng khoa học, nhưng ngày nay con người lại càng không hạnh phúc nếu không có khoa học.  Tôi từng có dịp nhấn mạnh rằng trực giác cần có vị trí trong toán học. Nếu không, các mái đầu xanh sẽ không tìm thấy ý nghĩa của toán học, chúng sẽ không biết yêu nó và chỉ nhìn thấy trong đó chỉ là một mớ hỗn độn chữ nghĩa. Đặc biệt chúng sẽ không bao giờ có khả năng ứng dụng toán học.  Tôi không muốn nói rằng khoa học được làm ra cho các ứng dụng; không chút nào như thế; người ta phải học khoa học vì khoa học. Nhưng một cái nhìn vào lãnh vực ứng dụng sẽ bảo vệ chúng ta khỏi chủ nghĩa hoài nghi.  Sự phát triển công nghệ hiện đại, nhìn chung, sẽ không khả thi nếu không có tiến bộ của khoa học. Một người thiếu hiểu biết hôm nay sống trong một môi trường đang được khoa học kiến thiết lại và nhận lấy ảnh hưởng của khoa học một cách không ý thức. Chính khoa học đã đem lại một kiến trúc cho các giấc mơ mà trong những thế kỷ khác có thể hoàn toàn khác.  (Từ Giá trị của Khoa học)  Nguyễn Xuân Xanh trích dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chanda Prescod-Weinstein: Một “lực” trong vật lý      Một nhà vũ trụ học theo đuổi bản chất của vật chất tối trong khi đương đầu với tình trạng phân biệt chủng tộc trong khoa học và xã hội.      Đây là một năm vô cùng bận rộn với nhà vũ trụ học Chanda Prescod-Weinstein. Chị giành được hai tài trợ mới, tuyển nhà nghiên cứu postdoc cho nhóm nghiên cứu của mình và bắt đầu đồng chỉ đạo một nhóm lớn về việc lập kế hoạch cho hai thập kỷ tiếp theo cho nghiên cứu về vật chất tối dựa trên các quan sát vật lý thiên văn. Chị cũng mới hoàn toàn cuốn sách đầu tiên của mình, bắt đầu với một cuốn khác, hàng tháng tham gia viết một  mục cho tạp chí New Scientist, xuất bản hai chương trong các cuốn sách trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục và hướng dẫn hai nghiên cứu sinh thông qua những xuất bản khoa học đầu tiên trong chương trình của họ. Chị làm những điều này khi bước vào năm thứ hai sau khi đảm trách vị trí giáo sư suốt đời tại trường đại học New Hampshire ở Durham.  Nhưng đó không phải là tất cả. Vào đầu tháng 6, chị và các nhà khoa học khác đã tổ chức The Strike for Black Lives, một cuộc vận động online nổi tiếng yêu cầu các tổ chức đối đầu với nạn phân  biệt chủng tộc trong khoa học và phân biệt đối xử với người da đen trong xã hội. Ý tưởng này lan tỏa từ một cuộc trò chuyện online giữa chị và Brian Nord, một nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Fermi tại Batavia, Illinois. Trong cùng thời điểm, Brittany Kamai – một nhà vật lý tại trường đại học California, Santa Cruz, đã gửi thư cho Prescod-Weinstein để hỏi chị về kế hoạch của chị trong việc kêu gọi một đợt tạm dừng hoạt động để thúc đẩy sự thay đổi. Các nỗ lực thúc đẩy lớn dần lên và hai nhóm đã hợp tác để đưa cuộc vận động ra thế giới bên ngoài.  “Tôi thực sự mệt mỏi về việc nhìn thấy sự tồn tại của nó trong cộng đồng vật lý,” Prescod-Weinstein nói.  Không thể ngờ được sự lan tỏa của phản hồi, Raychelle Burks, một nhà hóa phân tích tại trường đại học Mỹ ở Washington DC, người thường xuyên sử dụng tài khoản Twitter để đấu tranh cho khoa học, nhận xét. “Tôi cũng từng chưa bao giờ nghĩ rằng mình có cơ hội nhìn thấy điều này trong đời mình”, chị viết trong một e-mail gửi Nature. Đó là khoảnh khắc thay đổi quan niệm của nhiều nhà khoa học da trắng, Nord nói. “Tôi đã thấy nhiều đồng nghiệp thay đổi quan điểm khi họ thấy phản hồi của họ góp phần đem lại sự công bằng về chủng tộc trong hoạt động STEM.”  Cuộc vận động đã thu hút được nhiều chú ý bởi các nhà khoa học đã thành danh ký tên tham gia và Prescod-Weinstein không ngoại lệ. Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp, chị đã tỏ rõ niềm đam mê với khoa học và toán học. Được truyền cảm hứng từ A Brief History of Time (Lược sử thời gian), bộ phim tài liệu năm 1991 về nhà khoa học Stephen Hawking do Errol Morris đạo diễn, Prescod-Weinstein quyết định chọ nghề vật lý.  Chị nghiên cứu vật lý tại trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, và thiên văn học tại trường đại học California, Santa Cruz, sau đó giành được học bổng tiến sĩ tại trường đại học Waterloo và Viện nghiên cứu Vật lý lý thuyết Perimeter tại Canada và học bổng ở Viện Công nghệ Massachusetts tại Cambridge… Chị hiện là thành viên của Khoa Vật lý và Thiên văn học tại trường đại học New Hampshire và trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên nắm giữ vị trí giáo sư suốt đời trong vũ trụ học lý thuyết hay lý thuyết hạt tại Mỹ. Chị cũng được bổ nhiệm tại Khoa nghiên cứu về giới và phụ nữ cũng tại trường này.  Khi theo đuổi niềm đam mê vật lý trong vũ trụ sớm, cuối cùng nghiên cứu về vật chất tối và các hạt phỏng thuyết như các axion, chị thấy mình luôn luôn là nhà vật lý da đen duy nhất trong mọi hội thảo. Vì vậy chị thường xuyên đấu tranh đòi sự công bằng trong lĩnh vực này. Được các kinh nghiệm của chính mình và cảm giác về bổn phận đối với thế hệ tiếp theo của vật lý định hướng, chị đã tiếp tục kêu gọi việc chống lại sự phân biệt chủng tộc và giới tính trong khoa học. “Nếu cứ im lặng mãi thì chúng ta không thể sống được,” chị nói.  Cuộc kêu gọi vào tháng sáu để phản kháng và tạm dừng hoạt động đến sau những cái chết của Breonna Taylor, George Floyd, Ahmaud Arbery và những người khác, phần nhiều liên quan đến cảnh sát. Cái chết của họ “chỉ là một vài ví dụ về bạo lực và phân biệt chủng tộc mà người da đen phải đối mặt mỗi ngày” –  và trong hàng thế kỷ – tại Mỹ, Canada và khắp thế giới”, theo lời kêu gọi hành động của Các hạt vì công bằng (Particles for Justice), một nhóm các nhà vật lý từng lên tiếng về nạn phân biệt giới tính trong khoa học. Prescod-Weinstein chỉ ra là dù chị hay bất cứ ai thúc đẩy Particles for Justice thì đó vẫn thực sự là một nỗ lực chung, một ‘gia đình’.  “Là các nhà vật lý, chúng tôi tin tưởng là một cú ‘tấn công’ của giới hàn lâm là điều cần thiết: để dừng lại tình trạng bất bình đẳng, để trao cho nhà nghiên cứu da đen một sự thay đổi và trao cho những người khác cơ hội ngẫm nghĩ về sự đồng lõa của họ về tình trạng phân biệt chủng tộc trong học thuật, địa phương và cộng đồng trên toàn cầ’u”, Particles for Justice tuyên bố.  Nhóm này cũng thách thức các cơ quan nghiên cứu khoa học cam kết hành động để các tổ chức của họ có thêm các hoạt động chống phân biệt chủng tộc, sử dụng các thẻ gắn trên mạng xã hội #ShutDownSTEM, #ShutDownAcademia và #StrikeForBlackLives.  Vào ngày diễn ra sự kiện này, 10/6/2020, các nhóm học thuật lớn với hàng trăm nghìn thành viên đã cam kết tham gia vào việc phản đối. Tham gia cùng họ có Liên hiệp Địa  vật lý Mỹ (American Geophysical Union), Hội Vật lý Mỹ (American Physical Society) và Hội Hóa học Mỹ (American Chemical Society). Các nhà xuất bản cũng vào cuộc, bao gồm Hiệp hội Khoa học tiên tiến Mỹ (American Association for the Advancement of Science) – nơi xuất bản tạp chí Science. (Nature cũng loan báo có thể dùng ngày này để phản ánh và  soạn thảo các phương pháp để loại trừ sự phân biệt chủng tộc).  Công việc của Prescod-Weinstein mở rộng ra từ vật lý thiên văn và vật lý hạt, ví dụ chị quan tâm đến cách các hạt axion có thể ảnh hưởng đến sự hình thành của các thiên hà và những cấu trúc khác. Chị cũng đang bắt đầu sử dụng các quan sát vật lý thiên văn để khám phá các đặc tính của axion có thể là gì và liệu các hạt này có thể là vật chất tối của vũ trụ không, vốn là thứ mà hàng thập kỷ qua các nhà nghiên cứu đang còn tìm hiểu. “Sự quan tâm của tôi với chúng còn vượt quá cả câu hỏi về vật chất tối chỉ là liệu chúng có tồn tại, và nếu chúng có tồn tại thì chúng hành xử như thế nào?” chị nói.  Chị đã nhận được những tưởng thưởng về những gì mình đã làm được và cả cho những gì chị dự định trong năm tới: Hội Vật lý Mỹ đã vinh danh Prescod-Weinstein cho công trình của chị về vũ trụ học và vật lý hạt và cho những nỗ lực của chị làm tăng thêm hiểu biết trong vật lý. Và tháng ba tới, chị sẽ xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình “The Disordered Cosmos”, một cuốn sách về vật lý và thiên văn học, và những vấn đề tiếp cận và nhận diện trong không gian khoa học.  Công việc bao phủ nhiều khía cạnh khác biệt trong sự nghiệp và cuộc sống của chị thật khó để hoàn thành. Dẫu cho vào ngày 10/62020 có thể đem lại nhiều thông điệp về cách thức có thể làm để cải thiện các điều kiện cho nhà khoa học da đen thì chỉ có một thông điệp về những vấn đề họ cần hành động. “Cuộc cách mạng không diễn ra trong một ngày nhưng tôi hi vọng có thể chúng tôi gieo xuống nhiều hạt giống cho mọi người để họ có thể ngẫm nghĩ về điều cần thiết phải làm để cứu những cuộc đời của người da đen”, Prescod‑Weinstein nói.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-03435-6/index.html  https://physicstoday.scitation.org/do/10.1063/PT.6.4.20201030a/full/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chandrasekhar và Eddington: Cuộc đổ vỡ của thiên văn học đầu thế kỷ XX      Ngày 19/10 là sinh nhật của Subrahmanyan Chandrasekhar (1910-1995), một nhà thiên văn lỗi lạc người Mỹ gốc Ấn Độ đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 1983. Trong và ngoài cộng đồng thiên văn học, ông được biết đến nhiều nhất nhờ phát hiện ra giới hạn Chandrasekhar (Chandrasekhar limit), một phép quy định mức khối lượng tối đa mà một sao lùn trắng có thể đạt được trước khi trở nên không ổn định và sụp đổ hoàn toàn. Tuy nhiên, hiếm ai biết được các khó khăn mà Chandrasekhar gặp phải xung quanh phát hiện này, bao gồm cả việc ông bị đồng nghiệp xa lánh sau khi ý tưởng giới hạn khối lượng gặp phải sự chỉ trích bất ngờ từ bậc tiền bối là Arthur Eddington (1882-1944).     Subrahmanyan Chandrasekhar, chụp năm 1990. Ảnh: University of Chicago Library, Special Collections Research Center.  Lý tưởng hay thoái hóa?  Để thảo luận về cuộc tranh cãi giữa Chandrasekhar và Eddington về giới hạn khối lượng của sao lùn trắng, trước tiên phải hiểu xem sao lùn trắng là gì. Khác với các ngôi sao thường thấy trong vũ trụ, sao lùn trắng (white dwarf) rất nhỏ và đặc: một sao lùn trắng thông thường có thể nặng bằng Mặt trời, song kích cỡ thì chỉ bằng Trái đất. Sao lùn trắng thể hiện số phận của một ngôi sao khối lượng lớn khi các nguyên tử hydro, heli, v.v. – những thứ khí từng khiến ngôi sao phổng phao – đều đã bị đốt cạn. Nếu như một ngôi sao thông thường là cuộc kéo co bền bỉ giữa trọng lực hướng nội và áp suất hướng ngoại đến từ quá trình đốt nguyên tử (nuclear burning), thì ở một ngôi sao lùn trắng, do chẳng còn nhiên liệu để mà đốt nữa, ngôi sao tàn phế này buộc phải sử dụng các hạt electron để tạo áp suất hướng ngoại chống lại trọng lực.  Nhưng các hạt electron tạo áp suất hướng ngoại thế nào? Câu hỏi này đã ám ảnh nhà khoa học người Anh Arthur Eddington, chuyên gia hàng đầu về sao trời ở đầu thế kỷ XX. Khi ấy, Eddington đã nổi danh như một nhà tiên phong, sẵn sàng mở đường cho những chuyển biến lớn trong kiến thức thiên văn học. Cuối thập niên 1910, ông đã hào hứng đón nhận thuyết tương đối rộng của Einstein, rồi mò mẫm đến đảo Principe ở Tây Phi để quan sát nhật thực và chứng minh rằng trọng lực của Mặt trời có thể bẻ cong ánh sáng như Einstein đã dự đoán. Năm 1920, Eddington trở thành người đầu tiên cho rằng các ngôi sao có năng lượng là nhờ tổng hợp hạt nhân – một phát kiến đã giúp tên ông in hằn trong các cuốn sách lịch sử thiên văn học đến tận ngày nay. Ngay sau đó, Eddington cũng cố gắng lý giải các sao lùn trắng bằng kiến thức về tổng hợp hạt nhân, và kết luận rằng các hạt electron đang đóng vai trò chống đỡ các thiên thể này. Theo ông, ở điều kiện của sao lùn trắng, electron có thể túm tụm với nhau và vận hành như một chất khí lý tưởng (ideal gas), sinh ra áp suất hướng ngoại chống lại trọng lực hướng nội. Ông tin rằng sao lùn trắng là chặng cuối cùng trong chu trình tiến hóa sao, tức là bất cứ ý tưởng nào cho rằng sao lùn trắng có thể tiến hóa thành “một cái gì khác” thì cũng đều dẫn đến nghịch lý.  Sau khi Eddington đưa ra ý tưởng rằng các hạt electron có thể hoạt động như một chất khí lý tưởng, cũng có nhiều nhà thiên văn bất đồng với ông, tiêu biểu là Ralph H. Fowler và Edward Arthur Milne. Fowler và Milne cho rằng Eddington chưa tính đến các thay đổi ở bên trong một ngôi sao khi nó chuyển từ trạng thái đốt khí sang trạng thái phụ thuộc vào sự chống đỡ của electron. Theo họ, không thể coi các hạt electron là một thứ khí lý tưởng, mà thay vào đó là một thứ khí thoái hóa (degenerate gas), sản sinh ra áp suất thoái hóa điện tử (electron degeneracy pressure) giúp sao lùn trắng chống chọi với trọng lực hướng nội dựa trên thuyết tương đối của Einstein. Đến đầu năm 1930, Eddington cũng nói rằng Fowler và Milne đã đúng ở một số khía cạnh, song nhìn chung thì ông vẫn không chịu chấp nhận vai trò trọng yếu của áp suất thoái hóa điện tử bởi chưa có đủ bằng chứng. Thậm chí, một số nghiên cứu sinh của Milne cũng phản đối chính thầy hướng dẫn của mình, gây ra căng thẳng tại trường Cambridge nơi tất cả các nhân vật này sinh sống và làm việc cùng nhau. Đây chính là bầu không khí trong cộng đồng thiên văn Anh khi Chandrasekhar lên tàu rời thuộc địa Ấn Độ vào tháng 7/1930.  1.44 lần khối lượng Mặt Trời  Subrahmanyan Chandrasekhar – hay như bạn bè gọi thân mật là Chandra – sinh  ra ở vùng Punjab thuộc Pakistan ngày nay. Mẹ của Chandra là Sita Balakrishnan, người dịch kịch Ibsen sang tiếng Tamil, còn chú ruột là C. V. Raman, người đoạt giải Nobel Vật lý vào đúng năm Chandra lên tàu sang Anh. Sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân tại Đại học Madras vào tháng 6/1930, Chandra được học bổng của chính quyền thuộc địa Ấn Độ để theo học thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Trinity thuộc trường Cambridge, dưới sự hướng dẫn của Ralph H. Fowler. Tháng bay, Chandra lên đường rời quê hương. Trên con tàu vòng qua mũi Hảo Vọng, chàng trai 19 tuổi say sưa đọc các bài viết của Eddington, Fowler và Einstein, rồi suy ngẫm về bản chất của sao lùn trắng. Giữa cảnh bồng bềnh sóng nước như vậy, anh đã có một ý tưởng để đời.  Năm 2017, Google tôn vinh ngày sinh nhật lần thứ 107 và công trình về giới hạn trên khối lượng sao lùn trắng của Chandrasekhar. Ảnh: Google Doodle  Khi Fowler và Milne gọi các hạt electron trong một sao lùn trắng là khí thoái hóa, họ đang nhắc tới một hiện tượng cụ thể. Trong cơ học lượng tử, một ngành mới chớm phát triển ở thập niên 1920, các hạt trong một thể tích nhất định chỉ có thể ở các trạng thái lượng tử (quantum state) nhất định. Theo Wolfgang Pauli, hai hạt electron không thể chiếm hữu cùng một trạng thái lượng tử. Do đó, trong một môi trường dày đặc electron như sao lùn trắng, một số hạt ắt sẽ bị đẩy khỏi các trạng thái năng lượng (energy state) thấp để lên các trạng thái cao hơn, sinh ra cái gọi là “áp suất thoái hóa điện tử”. Trên chiếc tàu thủy đi vòng qua châu Phi, chàng trai Chandra trẻ tuổi nhận ra rằng một khi đã đạt tới trạng thái năng lượng cao, electron ắt sẽ phải di chuyển ở tốc độ ánh sáng, nghĩa là phải tính đến tác động của thuyết tương đối. Một khi tính đến các tác động này, anh kết luận rằng sao lùn trắng buộc phải có một mức giới hạn trên về khối lượng. Nếu sao lùn trắng vượt quá giới hạn khối lượng này, các hạt electron sẽ không thể nào cung cấp đủ áp suất thoái hóa điện tử, cho phép trọng lực thắng thế và làm sụp cả ngôi sao. Quả thật, ý tưởng giới hạn khối lượng của sao lùn trắng cũng đã được đưa ra vào năm 1928 và 1929 bởi nhiều nhà vật lý đương thời như E. C. Stoner, Wilhelm Anderson và Yakov Frenkel, song Chandra là người xem xét tất cả các tác nhân liên quan và cho ra kết quả chính xác nhất là 1.44 lần khối lượng Mặt Trời. Ngày nay, chúng ta gọi con số này là giới hạn Chandrasekhar.  Đến Cambridge, Chandra ngay lập tức nghiên cứu sâu hơn về ý tưởng của mình dưới sự hướng dẫn của Fowler. Sự kỳ thị ở chính quốc Anh đối với những người nhập cư từ thuộc địa có thể cũng đã xảy đến với Chandra, nhưng chúng ta không thể biết chắc được vì không có một bức thư nào của anh miêu tả điều này, mà thay vào đó thì anh hết lòng ca ngợi các bậc tiền bối mà mình được gặp, bao gồm cả Eddington. Theo lời kể của chính Chandra và bè bạn, anh thường xuyên đến nói chuyện và uống trà với Eddington trong phòng làm việc của ông. Đến năm 1933, khi anh bảo vệ luận án tiến sĩ về sao lùn trắng, Eddington cũng ở trong hội đồng và đã đánh giá anh rất cao. Lấy bằng tiến sĩ xong, anh quyết định ở lại Cambridge và hòa mình vào với cộng đồng thiên văn học tại đây. Đích thân Eddington đã thuyết phục anh trình bày kết quả nghiên cứu về giới hạn khối lượng sao lùn trắng của mình tại cuộc họp của Hội Thiên văn Hoàng gia Anh ngày 11/1/1935. Chandra nhanh chóng nhận lời, hoàn toàn không lường trước được vụ việc sẽ diễn ra tại buổi họp này.    Ý tưởng giới hạn khối lượng của sao lùn trắng cũng đã được đưa ra vào năm 1928 và 1929 bởi nhiều nhà vật lý đương thời như E. C. Stoner, Wilhelm Anderson và Yakov Frenkel, song Chandra là người xem xét tất cả các tác nhân liên quan và cho ra kết quả chính xác nhất là 1.44 lần khối lượng Mặt trời. Ngày nay, chúng ta gọi con số này là giới hạn Chandrasekhar.    Đổi trắng thay đen  Trong một bài phỏng vấn với Kameshwar C. Wali in năm 1982 trên báo Physics Today, Chandrasekhar đã thuật lại vụ việc một cách chi tiết. Vào buổi tối trước cuộc họp, chàng trai Chandra 24 tuổi đang trò chuyện và uống cà phê cùng đồng nghiệp trước khi rời Cambridge thì bậc tiền bối Eddington 53 tuổi bước tới bảo: “Cậu biết đấy, bài nghiên cứu của cậu khá dài. Thế nên tôi đã bảo Smart [thư ký của Hội Thiên văn Hoàng gia Anh] cho cậu nửa tiếng thuyết trình thay vì 15 phút như bình thường.” Chandra vừa dứt lời cảm ơn thì Eddington bỏ đi. Ngày hôm sau trong hội trường ở London, Chandra đang đứng cùng với đồng nghiệp là McCrea thì Eddington lại đến. McCrea hỏi Eddington: “Thưa giáo sư Eddington, thế hôm nay chúng tôi sẽ hiểu được gì về ‘Thoái hóa Tương đối’ [tên bài nghiên cứu của Chandra]?” Eddington quay sang Chandra và nói: “Đấy là bất ngờ dành cho cậu” rồi lại bỏ đi. Chandra không hề biết rằng trước khi nói với anh câu đó, Eddington đã xin Hội Thiên văn Hoàng gia cho mình được lên phát biểu ngay sau khi bài thuyết trình của Chandra kết thúc.  Arthur Eddington, chụp năm 1932. Ảnh: Encyclopædia Britannica, Inc.  Buổi thuyết trình của Chandra diễn ra như thường lệ. Đứng trước một khán phòng đầy những nhà thiên văn học lớn tuổi, anh tiến sĩ trẻ giải thích cặn kẽ nghiên cứu của mình, đi từ phương trình này đến phương trình khác để cho thấy rằng về mặt lý thuyết, các sao lùn trắng ắt phải có giới hạn về khối lượng. Sau khi anh nói xong, Edward Arthur Milne bình luận một vài câu, rồi bục diễn thuyết được trao cho Eddington. Trước sự bàng hoàng của Chandra, nhà thiên văn học tiền bối phủ nhận hoàn toàn ý tưởng của anh. Ông cho rằng không có chuyện một ngôi sao phải nhờ đến cái thứ “áp suất thoái hóa” như vậy để sống sót, hay trích y nguyên lời ông: “Tôi nghĩ phải có một định luật tự nhiên ngăn cản không cho một ngôi sao hoạt động một cách kỳ quặc như thế chứ!” Ông nói tiếp: “Công thức [của Chandra] dựa trên một sự kết hợp cơ học tương đối và lý thuyết lượng tử phi tương đối, và tôi không coi đứa con của một cuộc hôn nhân như vậy là sinh ra trong giá thú.” Eddington kết thúc bài nói của mình bằng một vài câu chế giễu khiến nhiều người rộ lên cười, rồi nhường bục diễn thuyết cho nhà nghiên cứu tiếp theo.  Những giờ phút sau đó của Chandra tưởng chừng như địa ngục trần gian. Anh cố nói chuyện cùng một số người mà anh cho rằng sẽ đồng ý với mình như Edward Arthur Milne, song Milne thì lại tỏ ra khoái chí, bởi ông vốn dĩ đã có một ý tưởng khác về các ngôi sao thoái hóa, và việc Eddington chỉ trích không thương tiếc nghiên cứu của Chandra khiến Milne tin vào ý tưởng của chính mình hơn. Chandra trở về Cambridge lúc một giờ sáng, rồi gặp thầy hướng dẫn là Fowler khi ngày làm việc bắt đầu trở lại. Fowler, cùng nhiều đồng nghiệp và bậc tiền bối khác, chỉ biết nói lời thương tiếc và động viên. Nghe tin về vụ việc ở London, nhiều nhà vật lý lượng tử như Niels Bohr, Wolfgang Pauli và Paul Dirac đều gửi lời hỏi thăm, rồi khẳng định rằng các phép tính và lý thuyết của họ đồng tình với nghiên cứu của Chandra. Tuy nhiên, khi Chandra nhờ họ lên tiếng ủng hộ mình, tất cả đều từ chối. Do họ chỉ có chuyên môn về vật lý lượng tử, họ không dám động chạm tới thiên văn học, nhất là Eddington có tầm ảnh hưởng áp đảo trong ngành như thế. Cùng lúc ấy, Eddington tham gia từ hội thảo này đến hội thảo khác, chỉ trích nghiên cứu của Chandra hết ở khán phòng này đến khán phòng khác. Chandra cũng tỏ ý muốn tranh cãi “đơn thương độc mã” với Eddington trước công chúng, song bạn thân của anh là Léon Rosenfeld – một nghiên cứu sinh của Niels Bohr – đã can ngăn ngay lập tức. Trong thư gửi bạn mình từ Đan Mạch, Rosenfeld viết: “Chẳng phải cách sử xự tốt hơn sẽ là mặc kệ ông ta, thay vì mất thời gian và mất bình tĩnh trong các cuộc tranh biện không kết quả?”    Arthur Eddington tin rằng sao lùn trắng là chặng cuối cùng trong chu trình tiến hóa sao, tức là bất cứ ý tưởng nào cho rằng sao lùn trắng có thể tiến hóa thành “một cái gì khác” thì cũng đều dẫn đến nghịch lý.    Người ra đi đầu không ngoảnh lại  Tháng 12/1935, theo lời mời của giám đốc đài thiên văn Harvard là Harlow Shapley, Chandra sang Hoa Kỳ giảng dạy trong vòng ba tháng. Ngưỡng mộ tài năng của chàng trai trẻ, Shapley mời anh ở lại Harvard dạy học, nhưng anh từ chối. Cùng lúc đó, các đại diện của trường Đại học Chicago cũng đến nói chuyện và mời anh sang chỗ mình dạy, nhưng anh từ chối tất cả và lên tàu về Cambridge. Song, trên chuyến tàu trở về, giám đốc Hutchins của trường Đại học Chicago lại gửi điện tín mời anh lần nữa, và cuối cùng, Chandra về Cambridge gói ghém đồ đạc, rồi quay lại Hoa Kỳ vào tháng 12/1936. Khi ban điều hành của trường Đại học Chicago từ chối cho Chandra giảng dạy vì thái độ phân biệt chủng tộc của họ, đích thân Hutchins đã đề nghị: “Hãy để ông Chandrasekhar dạy bằng mọi giá.” Chandra trở thành Phó Giáo sư năm 31 tuổi, và lên làm Giáo sư hai năm sau đó.  Trong nhiều thập kỷ kế tiếp, Chandra không tiếp tục nghiên cứu về áp suất thoái hóa điện tử hay là tiến hóa sao nữa, mà thay vào đó tập trung vào quỹ đạo của các ngôi sao, bức xạ, động lực học chất lưu, v.v. Tại một cuộc hội thảo ở Paris năm 1939, Chandra đã gặp Eddington, và hai người tiếp tục tranh cãi nảy lửa. Nhưng sau buổi họp, bỗng nhiên Eddington đến chỗ anh đang đứng và bảo: “Tôi xin lỗi nếu như sáng nay tôi đã làm cậu tổn thương. Tôi hy vọng rằng cậu không bực mình với những gì tôi nói.” Chandra bảo: “Ông vẫn chưa đổi ý, phải không?” Eddington chỉ nói: “Không.” Chandra tức giận hỏi: “Vậy ông xin lỗi về cái gì?” rồi bỏ đi. Eddington đứng một hồi lâu rồi cũng đi mất. Sau đó, họ bắt đầu viết thư cho nhau, kể chuyện và bông đùa về cuộc sống thường ngày ở hai bờ Đại Tây Dương cho tới khi mất liên lạc vào 1943 do Thế chiến thứ Hai. Một năm sau, Eddington mất. Trong cuộc phỏng vấn với Kameshwar C. Wali năm 1982, Chandrasekhar đã nói một cách đầy luyến tiếc về cuộc gặp mặt cuối cùng đó: “Tôi đã phũ phàng, đã không chịu tha thứ khi ông ấy đến chỗ tôi, cốt là để nói lời xin lỗi”.  Ảnh minh họa Đài quan sát Tia X Chandra, đặt tên theo Chandrasekhar. Ảnh: NASA/CXC & J.Vaughan.  Chandrasekhar tiếp tục có các phát hiện lớn, từ phương pháp Chandrasekhar-Fermi để tính cường độ từ trường liên sao cho đến hiện tượng ma sát động học (dynamical friction) khi một ngôi sao di chuyển trong nội bộ thiên hà. Ông dạy và làm thầy hướng dẫn cho nhiều nhà vật lý, nhà thiên văn trẻ tuổi khác nhau với một quy tắc ứng xử đặc biệt: sinh viên chỉ được phép gọi ông là Giáo sư Chandrasekhar, rồi lấy bằng Tiến sĩ xong thì họ được ông khuyến khích gọi mình là Chandra. Trong thời gian làm biên tập ở tạp chí Vật lý Thiên văn (The Astrophysical Journal) từ 1952 đến 1971, Chandrasekhar ủng hộ nhiều tác giả có ý tưởng mới: khi Eugene Parker gửi tới tòa soạn một bài nghiên cứu về việc phát hiện gió mặt trời, nhiều nhà thẩm định đã không nhận bài viết này, song chính Chandrasekhar đã cho xuất bản vì ông không tìm thấy lỗi tính toán trong bài. Năm 1972, các nhà thiên văn tìm thấy bằng chứng gián tiếp đầu tiên về hố đen, và các mô hình máy tính cũng chỉ ra rằng khi một ngôi sao lùn trắng vượt quá ngưỡng 1.44 lần khối lượng Mặt trời, nó sẽ trở nên bất ổn và tiến hóa thành sao neutron hoặc hố đen. Lý thuyết của Chandrasekhar nhận được sự chú ý rộng rãi, cùng với đó là sai lầm của Eddington và cách ông đã đối xử với Chandrasekhar. Cho dù Chandrasekhar sẵn lòng thuật lại mối quan hệ của mình với Eddington, ông chưa từng một lần chỉ trích con người của nhà thiên văn quá cố. Trước báo giới, ông phủ nhận mọi nghi đoán rằng Eddington nhắm vào ông bởi ông là người Ấn Độ, rồi nhấn mạnh vào các đóng góp, các lời khuyên của Eddington, hay là việc hai người vẫn giữ hòa hiếu trước khi Chandrasekhar nhập cư sang Mỹ.    Chuyện của Chandrasekhar và Eddington có thể khiến chúng ta suy nghĩ về vị thế của chuyên gia trong một ngành nghề, hay nguy hiểm tiềm tàng trong sự mất cân bằng quyền lực ở môi trường cao học.    Chuyện của Chandrasekhar và Eddington có thể khiến chúng ta suy nghĩ về vị thế của chuyên gia trong một ngành nghề, hay nguy hiểm tiềm tàng trong sự mất cân bằng quyền lực ở môi trường cao học. Cũng có thể coi cuộc đổ vỡ này như minh chứng rằng ngay cả những người có tư tưởng tiến bộ nhất, những người đi tiên phong trong một lĩnh vực cũng hoàn toàn có thể trở nên bảo thủ và tìm mọi cách để phủ nhận ý tưởng đi ngược lại với thiên kiến của bản thân. Đó là lí do mà một lần nữa ta phải công nhận tài năng và nghị lực của Subrahmanyan Chandrasekhar. Từ một chàng cử nhân trẻ suy ngẫm trên chuyến tàu sang Anh, Chandrasekhar đã trở thành một cây đại thụ trong ngành thiên văn học, với những phát hiện đi trước thời đại và sự cố gắng bền bỉ ở cả việc nghiên cứu vũ trụ bất chấp thái độ bảo thủ của tiền bối lẫn việc khích lệ và truyền cảm hứng cho các thế hệ nhà thiên văn theo sau.□  —  Gooneratne, S. (2005), The White Dwarf Affair: Chandrasekhar, Eddington and the Limiting Mass (Doctoral thesis).  Miller, A. I. (2007), Empire of the Stars: Friendship, Obsession and Betrayal in the Quest for Black Holes  Wali, K. C. (1982), “Chandrasekhar vs. Eddington—an unanticipated confrontation”, Physics Today 35(10), pp. 33-40.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Chất bán dẫn từ pha trộn Carbon đầu tiên      Các nhà nghiên cứu tại Singapore đã tạo được tính sắt từ ở nhiệt độ phòng bằng cách trộn một lượng nhỏ carbon với oxit kẽm có tính chất bán dẫn.      Mặc dù có nhiều loại chất bán dẫn từ pha loãng ở nhiệt độ phòng giống như vậy được tạo ra trước đó nhưng chúng đều là các chất bán dẫn pha trộn đồng. Loại DMS mới pha trộn carbon này một ngày nào đó có thể sử dụng để tạo ra các mạch điện tử spintronic để thực hiện và lưu trữ thông tin bằng cách sử dụng cả điện tích và spin của electron.   Damap (Theo physicsweb)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất dẻo thế hệ mới      Các nhà khoa học Mỹ đã tạo ra một loại vật liệu mang tính đột phá, có khả năng thay đổi tình trạng khi tiếp xúc với chất lỏng trong vòng vài giây. Loại chất này có thể chuyển từ dạng cứng sang mềm và sau đó trở lại với trạng thái cứng trong tích tắc.      Theo Hãng tin AFP, các chuyên gia tại Đại học Case Western Reserve và Trung tâm Y tế cựu chiến binh đã mô phỏng theo cấu trúc da của hải sâm để tạo ra vật liệu đặc biệt trên. Phạm vi ứng dụng loại chất dẻo mới rất rộng, có thể dùng để chế tạo hệ thống thần kinh nhân tạo cho các bệnh nhân Parkinson, bị đột qụy hoặc chấn thương cột sống.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất liệu thông minh giúp hàn gắn vết nứt máy bay      Các nhà khoa học đã phát triển một loại vật liệu tổng hợp thông minh có khả năng cảm nhận những vết nứt xảy ra trên máy bay và sau đó sửa chữa chúng.      Đó là sớ carbon tổng hợp được kỹ sư Nikhil Koratkar, Viện Kỹ thuật Rensselaer (Mỹ), chế tạo. Trong thử nghiệm, vật liệu này tỏ ra có khả năng tự sửa chữa trong vòng vài giây khi các vết nứt xuất hiện. Vật liệu này hoạt động bằng cách nung nóng và sau đó làm tan chảy một loại bột đặc biệt khi một vết nứt xuất hiện, làm đầy khe hở và cứng lại khi nguội tạo nên ít nhất ½ độ cứng của vật liệu nguyên thủy.   Q.Hương (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chất lỏng cầm máu nhanh      Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ) và Đại học Hồng Kông đã tìm ra chất mới giúp ngăn không cho máu chảy trong lúc phẫu thuật.    Nhóm nghiên cứu phát hiện nếu đắp peptide, một chất lỏng hợp thành từ protein, lên vết thương đang chảy máu có thể cầm máu trong vòng vài giây. Lý do là peptide kết dính lại thành một chất gel bảo vệ giúp bịt miệng vết thương và ngăn máu chảy hầu như tức thời. Sau khi vết thương lành, chất gel này vỡ ra thành các phân tử nhỏ và được các tế bào sử dụng trong việc làm lành mô. Phương pháp này có thể giúp giảm 50% thời gian phẫu thuật.  (Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Chật vật” do giá điện gió quá thấp      Tháng 11 năm 2016, dự án Nhà máy điện gió Phú Lạc giai đoạn một (do Công ty Cổ phần Phong điện Thuận Bình đầu tư) với tổng công suất 24MW tại xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận được khánh thành đã đi vào hoạt động sau hơn tám năm chuẩn bị và thi công.      Các tuốc bin gió của nhà máy Phú Lạc. Nguồn ảnh: EVN.  Nhà máy có tổng vốn đầu tư gần 1.100 tỷ đồng, với quy mô 12 trụ turbine gió, sử dụng công nghệ tiên tiến nhất của hãng Vestas Đan Mạch. Đây là dự án điện gió đầu tiên của cả nước sử dụng vốn vay của Cộng hòa Liên bang Đức (85% vốn vay từ Chính phủ Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức) và là nhà máy điện gió thứ ba tại tỉnh Bình Thuận được đưa vào vận hành cho đến thời điểm hiện nay trong tổng số 19 dự án điện gió được chấp thuận đầu tư tại tỉnh này.  Trên thực tế, dù dự án được tối ưu hóa thông qua đấu thầu cạnh tranh quốc tế và tiết kiệm nhiều chi phí, nhưng nhà máy điện gió Phú Lạc khi đi vào hoạt động cũng chưa thể sinh lãi, toàn bộ chi phí hoạt động vẫn do các cổ đông góp vốn để “nuôi”. Bởi giá điện gió trên đất liền ở Việt Nam hiện nay là 7,8 US cent/ kWh, chưa đủ bù chi phí đầu tư. Do vậy công ty phải đặt mục tiêu “tiết kiệm” lên hàng đầu và triển khai một loạt các loại hình dịch vụ kinh doanh khác để “trang trải” chi phí hoạt động. Ông Bùi Văn Thịnh, giám đốc Công ty Phong điện Thuận Bình, cho biết công ty cũng lập dự án phát triển mô hình trồng rau sạch, trang trại chăn nuôi gia súc trong khuôn viên dự án để phát triển du lịch sinh thái kết hợp tham quan điện gió, điện mặt trời.  Đến đây, hẳn nhiều người sẽ đặt câu hỏi tại sao công ty Thuận Bình vẫn quyết định đầu tư “mạo hiểm” vào một lĩnh vực cần nhiều vốn (chủ yếu là vốn vay ODA), thời gian thu hồi vốn lâu như vậy. Quay trở lại thời điểm năm 2009, khi công ty Thuận Bình chuẩn bị hồ sơ xây dựng dự án điện gió Phú Lạc, ông Thịnh nói: “khi đó chúng tôi đã quá lạc quan và tin tưởng rằng điện gió sẽ được ưu đãi phát triển, chi phí đầu tư ngày một rẻ hơn, giá mua điện gió sẽ ngang tầm các nước trong khu vực, vv… Nhưng thực tế là giá điện hiện nay gần như ‘dậm chân tại chỗ’”. “Sau chúng tôi, đến nay chưa có ngân hàng nào ‘dám’ cho vay làm điện gió, tất cả là do giá mua điện gió ở ta quá thấp”, ông Thịnh nói thêm.  Tới đây Công ty Phong điện Thuận Bình đang phải “tập trung toàn lực” để trả nợ và lãi đã đến hạn với hai kỳ/năm vào tháng sáu và tháng 12 hằng năm, và việc cân đối tài chính để trả nợ thực tế là “rất khó khăn”. Mặc dù đang phải “gỡ rối” về tài chính như vậy, nhưng công ty Phong điện Thuận Bình vẫn tiếp tục chuẩn bị đầu tư vào nhà máy điện gió thứ hai là Lợi Hải (Ninh Thuận) vì công ty này “đã đăng ký, khảo sát và phát triển dự án với chi phí đã bỏ ra khá lớn, nếu không triển khai thì khả năng sẽ bị thu hồi dự án và mất trắng”, theo ông Thịnh. Mặt khác, công ty cũng rất trông đợi vào các cam kết của chính phủ và các bộ ngành về việc sẽ tăng giá mua điện gió. Ông Thịnh tiếp tục kiến nghị: “Chính phủ nên đưa ra mức giá hấp dẫn ngay lúc này và sau đó giảm dần mới thực sự khuyến khích nhà đầu tư. Bởi vì các nước khác cũng áp dụng mô hình này. Nếu Việt Nam vẫn tiếp tục đưa ra giá điện thấp sau đó mới tăng dần thì các nhà đầu tư vẫn tiếp tục có xu hướng ‘ngồi chờ’ giá tăng mới triển khai các dự án điện tái tạo”.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang ChatGPT tạo ra công cụ phát hiện văn bản do AI viết      Trong một bài đăng trên blog, các nhà nghiên cứu tại OpenAI – phòng thí nghiệm nghiên cứu phát triển ChatGPT đã giới thiệu với một công cụ phân loại văn bản mới giúp phân biệt giữa văn bản do con người viết và văn bản được viết bởi AI.    Các nhà nghiên cứu của OpenAI cho biết rằng mặc dù “không thể phát hiện tất cả văn bản do AI viết một cách chắc chắn”, nhưng các công cụ phân loại tốt có thể nhận ra các dấu hiệu cho thấy văn bản được viết bởi AI. Họ cho biết công cụ này có thể hữu ích để ngăn ngừa trường hợp dùng AI để “gian dối trong học thuật”.    Nhưng họ thừa nhận công cụ phân loại “không hoàn toàn đáng tin cậy” và chỉ xác định được 26% văn bản tiếng Anh do AI viết. Trong 9% số trường hợp, công cụ xác định nhầm các văn bản do con người viết.        “Độ chính xác của công cụ thường được cải thiện khi độ dài của văn bản đầu vào tăng lên. So với các công cụ phân loại đã phát hành trước đây của chúng tôi, công cụ phân loại mới này đáng tin cậy hơn đáng kể trong việc xác định văn bản từ các hệ thống AI mới hơn”, OpenAI cho biết.    Kể từ khi ChatGPT được mở cho công chúng truy cập, AI này đã làm dấy lên làn sóng lo ngại trong các tổ chức giáo dục trên toàn thế giới rằng nó có thể dẫn đến gian lận trong các kỳ thi hoặc đánh giá. Các giảng viên ở Vương quốc Anh đang được khuyến khích xem xét lại cách thức chấm điểm, trong khi một số trường đại học đã cấm hoàn toàn công nghệ AI và quay trở lại các kỳ thi sử dụng giấy bút để ngăn sinh viên sử dụng AI.    Một giảng viên tại trường đại học Deakin của Úc cho biết khoảng 1/5 bài thi mà cô ấy chấm trong kỳ hè ở Úc đã sử dụng sự hỗ trợ của AI.    Một số tạp chí khoa học cũng đã cấm sử dụng ChatGPT trong các bài báo khoa học.    OpenAI cho biết công cụ phân loại có một số hạn chế, bao gồm tính không đáng tin cậy đối với văn bản dưới 1.000 ký tự, cũng như việc xác định nhầm một số văn bản do con người viết thành văn bản do AI viết. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết công cụ chỉ nên được sử dụng cho văn bản tiếng Anh, vì nó hoạt động “tệ hơn đáng kể” trong các ngôn ngữ khác.    OpenAI cho biết: “Công cụ này không nên được sử dụng như một công cụ ra quyết định chính, thay vào đó là một phần bổ sung cho các phương pháp xác định nguồn gốc của một đoạn văn bản”.    OpenAI hiện đã kêu gọi các tổ chức giáo dục chia sẻ kinh nghiệm của họ với việc sử dụng ChatGPT trong lớp học. Trong khi hầu hết đã phản ứng với AI bằng các lệnh cấm, một số cơ sở giáo dục đón nhận làn sóng AI. 3 trường đại học lớn ở Nam Úc vào tháng trước đã cập nhật chính sách của họ để nói rằng AI như ChatGPT được phép sử dụng trong học tập, với điều kiện người dùng phải minh bạch về việc đã sử dụng AI.    Phạm Nhung    Author                .        
__label__tiasang Châu Á đang sử dụng nước dành cho tương lai      GS Brahma Chellaney (Trung tâm Nghiên  cứu chính sách, Ấn Độ), trong báo cáo tại hội thảo ASEM về quản lý nước ở  Cần Thơ hôm 22-3, đã cảnh báo: “Cuộc khủng hoảng về nước ở châu Á sẽ đe  dọa phát triển kinh tế, chính trị và môi trường”. Ông cho rằng, châu Á đang là nơi đứng đầu thế giới về suy giảm nước sạch và là nơi xài nước với hiệu quả thấp nhất thế giới.    “Hiện nay châu Á đang sử dụng nước dành cho tương lai”, ông nhấn mạnh và dự báo: “Châu lục khô nhất trên thế giới sẽ không phải là châu Phi mà là châu Á, nơi có khả năng nước sạch thậm chí không bằng một nửa mức trung bình hàng năm của thế giới, là 6.380 mét khối/người”.  Theo GS Brahma, hiện nay các nền kinh tế của châu Á đang chịu áp lực về nước có Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản – dù ba thập kỷ qua, chuyện này chưa xảy ra. Không chỉ là nước sông hồ mà cả với nước ngầm; ông nói: “Ở nhiều thành phố, nguồn nước này có nguy cơ cạn kiệt trong vài năm tới” và: “Những nơi tìm được nước ở tầng sâu hơn, hàng triệu giếng khoan sẽ hút cạn những tầng trữ nước cuối cùng ở châu Á”.   Lý do, vẫn theo GS Brahma, có bảy yếu tố: kinh tế tăng quá nhanh; mức tiêu thụ trên đầu người tăng vọt; mở rộng tưới tiêu; nhu cầu xài nước của đô thị và công nghiệp tăng; quá tải trong việc xây đập ngăn sông; gia tăng tác động môi trường; thiếu cơ chế ngăn ngừa xung đột. Về kinh tế, ông cho biết với mức tăng trưởng 7% vào năm 2000, châu Á đã sử dụng tới 92% tổng lượng nước thế giới mỗi năm. Về xây đập, là “nguồn gốc tranh cãi” của những nước ở thượng và hạ lưu, GS Brahma nói: “Chỉ một nước Trung Quốc, tính sơ đã chiếm hơn một nửa trong số gần 50.000 đập lớn trên hành tinh chúng ta”. Ông cho rằng châu Á không chỉ là trung tâm tưới tiêu của thế giới mà còn là trung tâm đập của toàn cầu. “Đây là châu lục có nhiều đập nhất thế giới và như vậy chỉ làm tồi tệ thêm những thách thức về nước ở nơi này”, ông nhấn mạnh.  GS Brahma nói nhiều tới yếu tố “thiếu cơ chế ngăn ngừa xung đột”, một nguyên nhân làm mất an ninh nguồn nước. Mới chỉ có 4/57 lưu vực sông ở châu Á có sự chia sẻ nguồn nước hoặc thỏa thuận hợp tác; đó là sông Mekong, sông Ganges, sông Indus và sông Jordan. Nhưng ở lưu vực Mekong thì: “Sự không tham gia của Trung Quốc, quốc gia chiếm ưu thế ven sông, đã gây cản trở nghiêm trọng đến thể chế hợp tác”, ông nhấn mạnh và dự báo việc quản lý cạnh tranh nguồn nước ở châu Á sẽ càng trở nên khó khăn: “Tiềm năng của các cuộc xung đột về nước giữa các quốc gia châu Á được nhấn mạnh bởi việc đơn phương đắp đập ngăn dòng các con sông quốc tế và sự chia sẻ nguồn nước thiếu phù hợp trong hầu hết các lưu vực xuyên quốc gia. Căng thẳng lâu dài giữa các quốc gia và bất ổn nội bộ, cùng với nhu cầu về nước tăng cao trong một thời đại suy thoái môi trường, tạo ra điểm nóng tiềm ẩn cho các cuộc xung đột nguồn nước nghiêm trọng ở một số lưu vực xuyên quốc gia ở châu Á”.  Dẫn kinh nghiệm hợp tác của châu Âu về xây dựng thể chế nguồn nước, GS Brahma cho biết châu Âu dẫn đầu trong việc phát triển công nghệ nước sạch và “nắm giữ chìa khóa cho một tương lai an toàn hơn cho thế giới”. Từ kinh nghiệm này, ông đặt câu hỏi: “Làm thế nào các quốc gia châu Á có thể ngăn chặn các cuộc tranh giành quyết liệt về nguồn nước để dẫn tới các cuộc xung đột công khai?” và tự trả lời: “Để ngăn chặn các nguy cơ an ninh, các nước châu Á phải đầu tư nhiều hơn về việc thể chế hóa hợp tác về tài nguyên lưu vực sông xuyên biên giới nhằm củng cố sự ổn định chiến lược, tiếp tục bảo vệ tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững môi trường”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Á sẽ trở thành trung tâm của vật lý năng lượng cao ?      Trung tâm của vật lý năng lượng cao có thể chuyển về châu Á nếu cả hai dự án lớn của Trung Quốc và Nhật Bản được thông qua.      Máy va chạm positron điện tử vòng tròn (CEPC) của Trung Quốc có thể được xây dựng trong đường hầm đường kính 100 km tại một địa điểm còn chưa được xác định. Nguồn: IHEP  Tại một hội thảo mới diễn ra, các nhà khoa học Trung Quốc đã tiết lộ thiết kế ý tưởng về Máy va chạm positron điện tử vòng tròn (CEPC) – một cỗ máy gia tốc hạt trị giá 5 tỷ USD, để giải quyết thách thức lớn tiếp theo trong nghiên cứu vật lý hạt: nghiên cứu về hạt Higgs boson. Hiện giờ, họ đã sẵn sàng để phát triển những kế hoạch chi tiết, dự kiến xây dựng vào năm 2022 và vận hành vào năm 2030 – nếu chính phủ Trung Quốc đồng ý đầu tư.  Trong khi đó, trước đề xuất Máy gia tốc tuyến tính quốc tế (ILC), chính phủ Nhật Bản vào cuối tháng 12/2018 sẽ quyết định là liệu có đầu tư một cỗ máy đắt tiền như thế để nghiên cứu hạt Higgs không. Vậy quyết định của Nhật Bản có thể ảnh hưởng đến Trung Quốc như thế nào vẫn còn chưa rõ ràng nhưng dường như tương lai của các hoạt động nghiên cứu về hạt Higgs vẫn ở châu Á. Đề xuất “Các công xưởng Higgs” tại châu Âu hàng thập kỷ qua vẫn chỉ là đề xuất và Mỹ thì không có những kế hoạch như vậy.  Higgs boson, yếu tố quan trọng để giải thích các hạt khác gia tăng khối lượng như thế nào, đã được các nhà khoa học ở CERN – phòng thí nghiệm máy gia tốc hạt lớn nhất châu Âu – khám phá vào năm 2012, sau khi lý thuyết dự đoán về sự tồn tại của nó đã ra đời hơn 40 năm trước. Giờ đây, các nhà khoa học muốn xác nhận các đặc tính của hạt này, nó tương tác với các hạt khác như thế nào, và liệu nó có “đóng góp” gì vào vật chất tối không. Chỉ có khối lượng nhưng không có spin và không mang điện tích, Higgs thực sự là “một kiểu hạt cơ bản mới” và là “một phần đặc biệt của Mô hình chuẩn”, một “người báo hiệu về những nguyên tắc mới sâu sắc”, Nima Arkani-Hamed – một nhà vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu tiên tiến ở Princeton, New Jersey, cho biết. Đồng thời, ông cũng nêu thêm, việc trả lời phần lớn các câu hỏi quan trọng về vật lý hạt ngày nay đều liên quan đến việc nghiên cứu về Higgs,” ông nói.  “Các nhà vật lý muốn có ít nhất một cỗ máy”, Joao Guimaraes da Costa – một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu vật lý năng lượng cao (IHEP) của Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc, cho biết. “Một cách lý tưởng, cả hai cần được xây dựng,” bởi vì mỗi thiết bị đều có một giá trị riêng biệt, theo Hitoshi Murayama – một nhà vật lý lý thuyết làm việc tại trường đại học California ở Berkeley và Viện nghiên cứu Vật lý và Toán Kavli của trường đại học Tokyo, Nhật Bản.  Khám phá ở CERN phụ thuộc vào cỗ gia tốc hạt LHC với đường kính vành va chạm 27 km trong đó các proton năng lượng cao di chuyển theo hướng ngược lại được điều khiển hướng vào các vành va chạm. Điều đó tạo ra những cơn mưa của nhiều loại hạt cơ bản, vì thế các nhà vật lý buộc phải sàng lọc qua hàng tỷ sự kiện để điểm được phát hiện tín hiệu ‘lộ tẩy chân tướng” của một hạt Higgs. Giống như ăn bánh anh đào, Murayama so sánh, “một đống kem lỏng tràn ra trong khi bạn thực sự chỉ mong chờ tiếng leng keng nho nhỏ của đồng xu may mắn bên trong bánh.”  Sự va đập các eletron thành các positron – những bản sao phản vật chất của chúng, các kết quả trong những vành va chạm rõ ràng có thể tạo ra một hạt Z và một Higgs boson tại một thời điểm, Bill Murray tại  Đại học Warwick ở Coventry, cho biết. Sự phân rã của các hạt Z như thế nào đã được hiểu rõ, nên những tín hiệu khác có thể được quy cho các hạt Higgs “và chúng ta có thể xem những gì diễn ra”, Murray nói.  Kế hoạch xây dựng máy gia tốc electron-positron của Nhật Bản xuất hiện từ những dự án nghiên cứu quốc tế trong những năm 1990. Các nhà vật lý ủng hộ một máy gia tốc tuyến tính, trong đó các hạt được chuyển xuống hai rãnh đối lập, va chạm như những viên đạn trên họng súng. Thiết kế kiểu này hứa hẹn vào khả năng có được những nguồn năng lượng cao hơn bởi vì tránh cho việc tổn thất năng lượng khi các hạt mang điện tích được chuyển vào vòng tròn, nguyên nhân khiến chúng tạo ra năng lượng dưới hình thức các tia X. Nhược điểm của chúng là các hạt không va chạm có thể bị mất; trong một thiết kế hình tròn, chúng tiếp tục vòng quanh vòng tròn để cho một cơ hội va chạm khác.   Theo cách này, Nhật Bản cho thấy có thể đầu tư cho máy collider và ủng hộ việc chia sẻ chi phí đầu tư với những quốc gia khác đóng góp kinh phí làm các máy gia tốc thành phần, các hợp phần khác và phần tư vấn chuyên môn. Năm 2013 thiết kế cơ bản một collider tuyến tính 500GeV với đường hầm dài 31 km trị giá 8 tỷ USD được hình dung. Nhưng đến lúc đó, CERN đã quyết định truy tìm khối lượng hạt Higgs trên cỗ máy 125 GeV. Vì vậy họ đã sửa đổi kế hoạch với mục tiêu xây dựng một máy gia tốc 250 GeV đặt trong một đường hầm dài 20 km với kinh phí 5 tỉ đô la, Murayama cho biết. Ông cũng là phó giám đốc của Khối Hợp tác collider tuyến tính, trong đó cùng triển khai R&D trên phạm vi toàn cầu về các collide trong tương lai.  Các nhà khoa học của IHEP đã xây dựng đề xuất của mình chỉ hai tháng sau khi có loan báo về hạt Higgs. Họ thấy năng lượng cần cho “công xưởng hạt Higgs” này “tốt hơn là nằm trong một phạm vi đường tròn”, Murray nói. Với những chùm tia nằm trong một đường hầm có đường tròn 100 km tại địa điểm được chọn, CEPC có thể tạo ra va chạm các hạt electron và positron tới mức 240 GeV.  Cả hai cách tiếp cận này đều rất tiên tiến. CEPC sẽ tạo ra Higgs gấp gần 5 lần với tỷ lệ của ILC, cho phép đẩy nhanh công việc nghiên cứu nhưng Murayama lưu ý ILC có thể được nâng cấp một cách dễ dàng để đạt tới mức năng lượng cao hơn bằng việc mở rộng đường hầm tới vài km nữa. Phần lớn các nhà vật lý không muốn lựa chọn cái nào hơn cái nào bởi cả hai “đều hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau,” Murray nói.  Mọi việc vẫn còn phải chờ các nhà quản lý và cơ quan cấp quỹ. Việc xây dựng CEPC phụ thuộc vào kế hoạch 5 năm tới của Trung Quốc, sẽ bắt đầu vào năm 2021, theo Wang Yifang- giám đốc IHEP. IHEP có thể sẽ tìm kiếm những đóng góp quốc tế vào dự án này. Murayama cho rằng Nhật Bản cần phê chuẩn dự án ILC đúng lúc để điều đình nhận hỗ trợ từ Liên minh châu Âu đang có kế hoạch đầu tư cho máy gia tốc hạt vào năm 2019. Việc để lỡ cơ hội cũng có thể trì hoãn kế hoạch collider tới 20 năm nữa và điều đó có nghĩa là có thể nhường lĩnh vực này vào tay Trung Quốc.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2018/11/china-unveils-design-5-billion-particle-smasher    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu có gấu trúc con đầu tiên sau 25 năm      Lần đầu tiên sau 25 năm, một chú gấu trúc con đã chào đời hoàn toàn tự nhiên tại một vườn thú ở Vienna, Áo.    Đa số các gấu trúc con chào đời tại châu Âu trong thời gian qua đều phải nhờ tới kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, tuy nhiên, các quan chức vườn thú Schoenbrunn ở Vienna nói họ muốn có một gấu trúc con được thụ tinh tự nhiên. Và hiện nay họ đã được như ý.  Chú gấu trúc con dài 10 cm, nặng chỉ 100 g, được phát hiện sáng sớm hôm qua (23-8). Lúc chú chào đời, các nhân viên vườn thú không hề hay biết. Bố mẹ chú là Yang Yang và Long Hui, cả hai đều 7 tuổi, chúng được vườn thú Schoenbrunn mượn từ Trung Quốc vào năm 2003.  Tại một cuộc họp báo, bà Dagmar Schratter, giám đốc vườn thú cho biết trước đó nhóm của bà gần như đã bỏ cuộc sau khi kết quả siêu âm vào ngày 6-8 không phát hiện Yang Yang mang thai.  Gấu trúc là một trong những loài động vật quý của thế giới. Theo ước tính, hiện chỉ còn 1.590 cá thể sống trong thế giới tự nhiên.  T.VY (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu gia tăng sử dụng thiên địch      Nhiều năm qua, các tập đoàn sản xuất thuốc  bảo vệ thực vật có xu hướng coi nhẹ biện pháp phòng trừ sinh học đối với  cây trồng, cho rằng nó kém hiệu quả. Tuy nhiên, gần đây nhu cầu sử dụng  các loài côn trùng có ích (thiên địch)… của các chủ trang trại ở châu Âu ngày  một tăng.     Năm 2011, doanh thu từ việc cung cấp thiên địch trong khối EU đạt 200 triệu USD, tăng gấp bốn lần so với năm 2000, theo số liệu của International Biocontrol Manufacturers Association.  Bên cạnh đó, doanh thu từ việc kinh doanh các loại vi sinh vật hữu ích, thí dụ như các vi khuẩn có tác dụng diệt côn trùng gây hại, cũng đạt 70 triệu USD. Tuy nhiên bảo vệ thực vật bằng phương pháp sinh học hiện chỉ chiếm một tỷ trọng còn quá khiêm tốn so với thị trường bảo vệ thực vật nói chung là 10,2 tỷ USD trên phạm vi EU.             Ruồi lưng vàng (Phasia aurigera) được một hội đồng gồm những nhà côn trùng học có tên tuổi bình chọn là Côn trùng của năm 2014. Phát ngôn viên của Hội đồng, ông Wohlert Wohlers thuộc Viện Julius-Kühn, cho hay, “Ruồi lưng vàng sống chủ yếu nhờ mật hoa, con cái đẻ trứng vào bọ xít. Thời gian đầu, ấu trùng sống nhờ dịch cơ thể và mỡ tế bào của ký chủ, sau đó tấn công các cơ quan nội tạng làm cho ký chủ không còn đường sống. Đến nay vẫn chưa biết ấu trùng trở thành ruồi như thế nào và ở đâu. Tóm lại vòng đời của loài ruồi này còn là một điều bí ẩn cần nghiên cứu để làm rõ.”         Việc dùng thuốc hoá học để diệt trừ sâu bọ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn vì sức kháng thuốc của côn trùng ngày càng cao trong khi nhu cầu của người tiêu dùng về những sản phẩm “sạch” ngày một lớn, và quy định về lượng tàn dư chất độc hại trên sản phẩm nông nghiệp ngày càng nghiêm ngặt hơn.  Trước tình hình này, một số hãng chuyên sản xuất thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới như BASF, Bayer, và Syngenta chuyển hướng sang nuôi một số loại côn trùng có ích để diệt côn trùng gây hại, thí dụ họ nuôi bọ rùa để diệt rệp muội hại cây cà chua, nuôi loại ruồi hổ để tấn công châu chấu đàn hoặc nuôi một loại nhện dữ thuộc họ Phytoseiidae (Typhlodromus pyri, Amblyseius andersoni) hay Stigmaeidae (Zetzella mali) để tiêu diệt loại rệp sáp hại cây trồng.  Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như áp lực thị trường về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng, những quy định nghiêm ngặt của các chính phủ về việc sử dụng thuốc trừ sâu an toàn, hay xu hướng kháng thuốc của sâu bệnh, thì bản thân phương pháp sử dụng thiên địch cũng có những lợi ích không thể phủ nhận. Chẳng hạn, phương pháp này giúp làm giảm lao động và tiết kiệm chi phí. Khi thả thiên địch vào nhà kính, chúng sẽ tự động thực hiện công việc của mình, thậm chí còn ăn bằng sạch côn trùng gây hại còn rơi rớt lại từ các vụ mùa trước.   Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thiên địch chỉ phát huy tối đa hiệu quả trong môi trường nhà kính vì khi bị thả trên đồng ruộng, chúng sẽ nhanh chóng phát tán đi khắp nơi. Theo các phân tích, từ nay đến năm 2016, doanh thu đối với sản phẩm trồng trong nhà kính tăng bình quân mỗi năm 10%. Đối với một số loại cây trồng, việc trồng trọt trên cánh đồng đang có xu hướng giảm. Ví dụ, ở Mỹ cà chua trồng trong nhà kính không lâu nữa sẽ có sản lượng cao hơn so với cà chua trồng rộng rãi trên cánh đồng. Bởi vậy các biện pháp phòng trừ sinh học trong nông nghiệp được đánh giá là có triển vọng phát triển sáng sủa.    Thế nhưng người nông dân vẫn không thể đoạn tuyệt hoàn toàn với các loại hoá chất. Ví dụ, cho đến nay hầu như chỉ có rất ít sản phẩm sinh học có khả năng diệt nấm, và để phòng trừ cỏ dại, không thể không dùng hoá chất diệt cỏ. Vì vậy các chuyên gia và các nhà sản xuất các sản phẩm sinh học cho rằng hai phương pháp sử dụng sinh học và hóa chất mang tính bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu muốn thay đổi IP      IPv4 cho phép gán một địa chỉ cho mỗi máy tính kết nối Internet đã đạt đến giới hạn của nó. Trên khoảng bốn tỉ địa chỉ, hiện chỉ còn 700 triệu địa chỉ trống. Nếu xu hướng này tiếp diễn, thì đến năm 2011 Internet có nguy cơ thiếu không gian.      Chính vì thế, Ủy ban châu Âu đã kêu gọi các doanh nghiệp, các cơ quan công quyền và các hộ gia đình sử dụng IPv6 thay vì IPv4. Thay vì sử dụng 32 bit như đối với IPv4, IPv6 sử dụng 128 bit, loại này cung cấp một lượng gần như vô hạn các địa chỉ : 3,4 × 1038, tức nhiều địa chỉ IP trong l’IPv6 hơn cả số hạt cát trên tất cả các bãi biển trên toàn thế giới. Trong một thông cáo báo chí, Ủy ban châu Âu am kết hợp tác với các quốc gia thành viên để cho phép lĩnh vực công và các dịch vụ chính phủ điện tử mở các địa chỉ web của mình trên IPv6 thông qua phương pháp đấu thầu. Ở Pháp, nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet (FAI) đã sẵn sàng thực hiện việc chuyển đổi này. Hiện nay mới chỉ Free et Nerim (dành cho các doanh nghiệp) đề xuất với khách hàng của mình IPv6. Một số còn nghi ngờ các khó khăn trong việc chuyển đổi sang IPv6 : các bộ chia phải tương thích, hệ khai thác các máy tính mới (Windows Vista, Mac OS X, Linux) và một số ứng dụng và dịch vụ Internet đòi hỏi phải được chỉnh mới có thể thích ứng đối với IP mới này.   Bạch Dương (Theo Sciences et Avenir)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu phóng “xe tải vũ trụ” cỡ lớn      Tàu vận tải tự động ATV đầu tiên của Cơ quan vũ trụ châu Âu đã khởi hành lên Trạm Quốc tế, mang theo thực phẩm, nước, nhiên liệu và tư trang cho các phi hành gia trên trạm.      Phi thuyền này, còn được gọi là “Jules Verne”, theo tên nhà văn viễn tưởng lừng danh của Pháp, là chiếc ATV đầu tiên mà châu Âu tham gia vào chương trình của Trạm vũ trụ quốc tế. Đây cũng là phi thuyền lớn nhất và phức tạp nhất mà châu Âu từng đưa lên quỹ đạo. Tàu sẽ tách khỏi ISS 6 tháng sau đó hoặc lâu hơn, mang theo rác tích luỹ lâu ngày trên trạm vũ trụ. Rác này sẽ được phân huỷ an toàn cùng với con tàu hàng trên vùng biển Thái Bình Dương.   T. An (Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu và các quốc gia thành viên cần liên kết các công ty lượng tử      Châu Âu đang dẫn đầu thế giới trong nghiên cứu về lượng tử nhưng các công ty mới được thành lập để khai thác những kết quả nghiên cứu này lại đang gặp nhiều khó khăn về tài chính. Vì vậy, các chuyên gia cho rằng, châu Âu và các quốc gia thành viên cần liên kết các nỗ lực lại và cùng thúc đẩy các nguồn đầu tư cho các công ty đó.    Các nhà tư vấn của McKinsey mới công bố báo cáo “The 2022 Quantum Technology Monitor” (Giám sát Công nghệ lượng tử 2022), trong đó nêu: vào năm 2019, châu Âu là nơi tập trung cao nhất thông tin chuyên môn và bài báo khoa học về công nghệ lượng tử của thế giới. Điều tương tự cũng xuất hiện ở các doanh nghiệp về công nghệ lượng tử ở châu Âu, vốn dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học.  Châu Âu là nơi có ngành công nghiệp lớn nhất thế giới về công nghệ lượng tử với khoảng 150 doanh nghiệp và hơn 100 công ty khởi nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực này.        Nhưng các công ty này đang phải nỗ lực nâng cấp quy mô trong khi phải đối diện với một thực tại là thiếu vốn đầu tư. Như dữ liệu của McKinsey, nếu xét về lượng đầu tư vào các công ty khởi nghiệp về công nghệ lượng tử, châu Âu chỉ mới đầu tư 294 triệu USD từ năm 2001 đến năm 2021, trong khi Mỹ dẫn đầu danh sách này với 2.164 tỉ USD, Anh thứ hai với 979 triệu USD và hạng ba là Canada với 658 triệu USD.    Tìm kiếm đầu tư tư nhân    Trong khi máy tính lượng tử còn chưa sẵn sàng cho thương mại hóa, các mẫu thử của nhiều loại công nghệ lượng tử khác như cảm biến lượng tử đang sẵn sàng chờ thử nghiệm trong nhiều ứng dụng khác nhau. Một ví dụ cho khả năng ứng dụng của cảm biến lượng tử là trong chẩn đoán y học, nơi có thể phóng to “nhìn vào tận quy mô từng neuron một”, Tommaso Calarco, giám đốc Viện Kiểm soát lượng tử ở Viện Nghiên cứu Jülich, Đức, cho biết. Tuy nhiên trong đo đạc và định vị vệ tinh, nó còn có thể cho phép chạm tới “độ chính xác từng cen ti met hoặc mi li mét”, ông nói thêm.    Các nhà đầu tư Mỹ đang chứng tỏ sự khao khát công nghệ này nhưng theo đánh giá của Enrique Lizaso Olmos, nhà sáng lập và CEO của Multiverse Computing, một công ty phần mềm lượng tử có trụ sở tại San Sebastian, Tây Ban Nha, họ có thể “có chính sách chặt chẽ trong đầu tư” và có thể có nhiều mặt giới hạn, như không cho phép theo đuổi việc đầu tư vào các quốc gia châu Âu.    Bên cạnh đó, có một ý tưởng chung là châu Âu là một nơi toàn rủi ro. Và như Lizaso nói, lĩnh vực lượng tử có thể không phải là trường hợp đầu tiên châu Âu thất bại khi xây dựng trên nền tảng khoa học tiên tiến của mình. Trong lĩnh vực điện thoại di động, các công ty châu Âu không có được những đại diện cạnh tranh nổi các hãng khổng lồ như Apple, Android hay Huawei.    Nhưng lập luận sợ rủi ro không thuyết phục được tất cả mọi người. Calarco tin rằng vấn đề không phải là các nhà đầu tư EU có “ít có can đảm hoặc thiếu tầm nhìn” mà là họ không được hưởng lợi ích từ “lợi nhuận khổng lồ của cuộc cách mạng Internet”.    Những biện pháp    Châu Âu đang thực hiện một số biện pháp để thúc đẩy đầu tư tư nhân vào giúp các công ty lượng tử châu Âu mở rộng quy mô. Cụ thể, một quan chức Ủy ban châu Âu cho rằng, châu lục này đang trên đường thiết lập những đầu tư dành riêng cho lượng tử, trong đó có khá nhiều giải pháp thi hành.    Một là cho phép các công ty khởi nghiệp công nghệ lượng tử nộp hồ sơ vào hạng mục Tăng tốc của Hội đồng Đổi mới sáng tạo châu Âu, Một hướng khác là chương trình InvestEU do Quỹ đầu tư châu Âu giám sát, hiện đang quản lý 10 tỷ euro, đang lựa chọn các đối tác trung gian để đầu tư vào các công ty công nghệ lượng tử. Mục tiêu là khiến các nhà đầu tư cảm thấy ít bị rủi ro hơn khi đồng hành cùng “ngân sách của châu Âu”, vị quan chức Ủy ban châu Âu nói.    Một con đường khác cho đầu tư đến với công nghệ lượng tử là Đạo luật Chip châu Âu, do Ủy ban châu Âu đề xuất vào tháng hai vừa qua nhằm huy động 43 tỉ Euro để gia tăng sự chia sẻ của nền sản xuất bán dẫn toàn cầu với châu Âu. Đạo luật này được chờ đợi sẽ ủng hộ các công ty mở rộng quy mô và điều này sẽ bao gồm một số khía cạnh của các công nghệ lượng tử.    Thêm vào đó, châu Âu sẽ cung cấp cho các công ty công nghệ lượng tử với những cơ hội đặt cược cho các ứng dụng mới, trong khung đối tác Thử nghiệm Mở của Horizon Europe dành cho công nghệ lượng tử. Đây là một dự án tiêu tốn hàng triệu Euro nên hiện Ủy ban châu Âu lựa chọn các công ty “sẽ nhận được ngân sách đầu tư và khả năng truy cập vào cơ sở hạ tầng”, theo tin từ Ủy ban châu Âu.    Châu Âu cũng khuyến khích các quốc gia thành viên gia tăng đầu tư quốc gia vào công nghệ lượng tử. Pháp và Đức mới loan báo các kế hoạch đầu tư lần lượt khoảng 1,8 và 2 tỉ Euro vào R&D lượng tử, Italy đang tiến bước tiếp theo nhưng sử dụng tiền từ quỹ Phục hồi đại dịch.    Đầu tư nhiều hơn, liên kết nhiều hơn    Bất chấp các sáng kiến của châu Âu và một số quốc gia thành viên, giới công nghiệp và các nhà khoa học vẫn cho rằng điều cần thiết nhất là phải loại bỏ những ràng buộc về mặt pháp lý khiến cho các công ty khởi nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận các chương trình đầu tư, làm “bùng nổ các hệ sinh thái khởi nghiệp”. Tương tự, những ràng buộc về các biện pháp được chính quyền đảm bảo phải được coi là dành riêng cho công nghệ lượng tử, qua đó đem lại những cú thúc đẩy cho lĩnh vực này.    Lizaso đề xuất, châu Âu phải có khả năng trở thành một nhà đầu tư hàng đầu về đầu tư mạo hiểm, như trường hợp ở Canada. Lizaso cho rằng, ngưỡng dành cho các công ty lượng tử ở chương trình EIC Accelerator phải đạt mức 50 triệu Euro; đồng thời phải hoàn thiện nhanh hơn các sáng kiến của mình bởi tốc độ thay đổi của các lĩnh vực công nghệ chuyên sâu “rất khủng khiếp”.    Ở mức độ quốc gia, Calarco đề xuất việc tạo ra một “cấu trúc toàn thể” cho công nghệ lượng tử, với sự tham gia của tất cả các bộ cho phép ngân sách và khung chính sách được thực thi.  Việc hợp lực giữa các quốc gia thành viên cũng hết sức quan trọng. Eijkel nói nỗ lực quốc gia phải được điều phối và thực hiện ở cấp độ châu Âu’ cho phép các nhà đầu tư mạo hiểm hình thành tổ chức lớn và làm việc ở quy mô lớn hơn.    Anh Tú    Author                .        
__label__tiasang “Cháy” giống vì thiếu vùng sản xuất      Sản lượng hạt lai F1 sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 20-25% nhu cầu trong khi nguồn giống nhập khẩu đang chững lại. Giá hạt giống lên cơn sốt làm cho thị trường giống bất ổn khiến người nông dân hoang mang. Chúng ta cháy giống vì thiếu vùng sản xuất hạt lai F1 ổn định.    “Cơn đói” giống…  “Chúng ta đang thiếu giống lúa lai trầm trọng”, ông Vũ Hồng Quảng-Viện nghiên cứu lúa, ĐHNN I-cho biết. Nhận định của ông Quảng cũng như nhiều nhà khoa học, và chính những người nông dân đã phản ánh một thực tế rằng, mặc dù được Nhà nước đầu tư hỗ trợ hàng chục tỷ đồng nhưng “cơn đói giống” đang đeo đẳng người nông dân và lời giải cho bài toán lúa lai vẫn còn treo lơ lửng đâu đó. Cơn đói này lại càng lao đao khi Trung Quốc, cái nôi của lúa lai, quyết định không xuất khẩu giống ra ngoài vì chính nước này cũng đang trong thời điểm “cháy” giống do mất mùa triền miên, cung không đủ cầu.  Nhìn qua thị trường giống ở một số tỉnh phía Bắc trong thời điểm này dễ dàng nhận thấy giá thành lúa lai của Trung Quốc tăng vọt như Bắc ưu 903 (53000đồng/kg-tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái), trong khi đó những giống lúa lai “made in Việt Nam” như VL20 hay TH3-3 hầu như cháy hàng, khiến bà con đổ xô đến các trung tâm giống mà vẫn…công cốc. Nhiều trung tâm giống cây trồng lo xa kịp “gom” trước nhưng tình trạng khan hiếm vẫn xảy ra, đẩy giá hạt giống lên cơn sốt. Thị trường hạt giống bất ổn khiến người nông dân trở nên hoang mang. “Nhu cầu hạt giống trở lên bức xúc hơn bao giờ hết vào vụ mùa 2008 vừa rồi”, ông Quảng than thở. Trong khi chúng ta chủ trương phát triển diện tích trồng lúa lai quy mô toàn quốc thì hiện tượng khan hiếm hạt giống ở thời điểm hiện nay đã gióng lên hồi chuông buộc các nhà khoa học nhảy vào cuộc. “Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng hiện nay chúng ta mới chỉ cung cấp được khoảng 20-25% hạt giống, còn lại 75% vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc”, PGS.Nguyễn Văn Hoan-Viện nghiên cứu lúa ĐHNN I nhận định.  Những tổ hợp lúa lai mới với nhiều ưu thế vượt trội được các nhà khoa học chọn tạo gặp nhiều khó khăn khi triển khai tổ chức sản xuất hạt giống diện rộng, và thực tế, từ phòng thí nghiệm đến các thửa ruộng vẫn còn một khoảng cách lớn. Những khó khăn tạo nên sức ì trong quá trình đưa cây lúa lai ra đồng ruộng được nhận định là do các khâu trung gian còn yếu. Các công ty sản xuất giống vẫn nơm nớp sợ mạo hiểm. “Những tổ hợp lúa lai mới vẫn chủ yếu được sản xuất trên quy mô thử nghiệm của một số trường đại học hoặc viện nghiên cứu”, ông Quảng cho biết.    Thiếu vùng sản xuất hạt lai F1 ổn định  “Chủ trương phát triển diện tích lúa lai lên 1 triệu ha vào năm 2010 là cần thiết nhưng có vẻ quá tham vọng”, ông Quảng nhận định. Để có đủ hạt lai F1 cho 1 triệu ha sẽ phải cần khoảng 16.000 ha diện tích sản xuất, trong khi hiện tại chúng ta mới chỉ đạt xấp xỉ 1500 ha, và cũng sau bao năm vật lộn, diện tích trồng lúa lai thương phẩm đã mở rộng 600.000 ha. Như vậy, với thực lực hiện có, con số đặt ra quả thực là xa vời, và theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, khó trở thành hiện thực. Lý giải tại sao, theo ông Vũ Hồng Quảng, vấn đề cấp bách nhất vẫn là thiếu vùng sản xuất hạt giống F1 ổn định. “Hiện nay Việt Nam có hai vùng sản xuất hạt lai F1 là ĐBBB sản xuất vụ mùa và Quảng Nam Đà Nẵng sản xuất vụ xuân. Tuy nhiên hai vùng này vẫn chưa ổn định do diện tích sản xuất hạt lai F1 còn manh mún”, ông Quảng nói. Bên cạnh đó người nông dân của ta vẫn làm theo kiểu tự cung tự cấp nên khi tổ chức quy hoạch vùng sản xuất chung gặp nhiều khó khăn. Cho nên khi các nhà khoa học có ý định mở rộng diện tích thì xuất hiện phản ứng khác nhau từ người nông dân: người vỗ tay, người phản đối. Những người phản đối cho rằng, “khẩu phẩn lương thực” của họ trong 6 tháng trời chỉ trông chờ vào mảnh ruộng đó nên không thể “mạo hiểm” giao phó. Mặt khác, do bản tính làm ăn nhỏ lẻ nên chỉ một người không đồng ý là ngay lập tức “phản ứng dây chuyền” lan rộng sang các hộ gia đình khác. Ngoài ra, yếu tố thời tiết cũng đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hạt lai. “Đặc biệt là ở Quảng Nam, điều kiện nhiệt độ cho cây lúa bất dục hoàn toàn không ổn định. Trong 7 năm thử nghiệm thì mất 2 năm vẫn xảy ra hiện tượng cây lúa không bất dục hoàn toàn”, ông Quảng cho biết.          Mở rộng vùng sản xuất hạt lai F1 đang trở thành trăn trở lớn nhất đối với nhà sản xuất.          Những yếu tố trên hạn chế các nhà khoa học chỉ duy trì diện tích sản xuất hạt lai ở hai vùng này trên quy mô vừa, cho nên bài toán đặt ra phải tìm một vùng sản xuất hạt lai quốc gia. Lặn lội khắp trong Nam ngoài Bắc để rồi các nhà khoa học cũng vỗ tay mãn nguyện chọn vùng ĐBSCL, đại diện là Sóc Trăng, để mở rộng thành vùng sản xuất hạt lai quốc gia. “Ở Sóc Trăng sử dụng vụ thu đông để sản xuất hạt lai F1 là an toàn nhất, chất lượng cao mà giá thành hạt giống rẻ và có thể tổ chức gieo xạ trên quy mô lớn. Chúng tôi đang thử nghiệm và đã có kết quả tốt. Dự kiến đến 2009 sẽ mở rộng diện tích hạt lai F1 từ 600-1000 ha” – ông Quảng phấn khởi – “Trung Quốc có đảo Hải Nam là vùng sản xuất hạt lai quốc gia thì Việt Nam sẽ có Sóc Trăng”.    Doanh nghiệp phải vào cuộc  Mặc dù đang đói giống nhưng có vẻ như người nông dân vẫn thấp thỏm tâm lý ngại xài hàng nội. Người nông dân vốn coi trọng sản lượng, miễn sao có nhiều thóc vào bồ nên những giống lúa lai nhập từ Trung Quốc được bà con ưa chuộng. “Các giống lúa của Trung Quốc chỉ coi trọng sản lượng mà chất lượng gạo còn thấp nên nhiều nơi, gạo sản xuất ra bán với giá rẻ, thậm chí chỉ sử dụng cho chăn nuôi, nấu rượu. Còn gạo ăn  từ giống sản xuất trong nước thì bà con lại nhập quay vòng từ nơi khác với giá đắt đỏ. Tính ra lại thiệt…”, ông Quảng cho biết. Đã bao phen các nhà khoa học vất vả đánh cược với người nông dân, “thuê” ruộng trình diễn đứa con đẻ của mình để thuyết phục bà con. Những gian khổ không ai nói ra đó cuối cùng cũng được đáp trả khi 3 năm đổ lại đây, người nông dân đã có niềm tin vào cây lúa Việt và dần sính hàng nội.  Tuy nhiên, giá trị kinh tế của ngành nông nghiệp thấp nên nhiều nơi làm nông nghiệp… lỗ. Ngay cả những vùng có truyền thống trồng lúa nước bao đời nay người nông dân cũng ngắc ngứ vì cảnh “một tiền gà ba tiền thóc”. Một người nông dân ở Thái Bình than thở, “Giá đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu đều tăng. Nếu được mùa thì hòa vốn, còn chẳng may không mưa thuận gió hòa đành trắng tay. Chúng tôi ngoài thửa ruộng còn biết làm gì khác?!”. Cùng với đó người nông dân giờ đây có trình độ cao hơn nên nhiều người bỏ lại đồng áng để tổ chức sản xuất hàng hóa. Bởi vậy, theo PGS.Nguyễn Thị Trâm – Viện Sinh học Nông nghiệp – ĐHNNI, để đảm bảo an ninh, an toàn lương thực, Nhà nước phải là “mạnh thường quân” hỗ trợ đầu vào cho bà con, chứ như hiện nay “đặc ân” mà người nông dân nhận được chẳng bao nhiêu.  Làm thế nào để nguời nông dân trong vùng sản xuất hạt lai bám trụ đồng ruộng, sống được nhờ sản xuất hạt lai? Giải pháp được các nhà khoa học thấy hợp lý là thuyết phục người nông dân sản xuất lớn. Theo ông Quảng, do diện tích còn manh mún, nên chăng chúng ta dồn điền đổi thửa, tập trung giao cho một số người nông dân có tiềm lực tiến hành tổ chức sản xuất hạt lai tập trung, còn những người nông dân yếu thế hơn sẽ… làm thuê cho chính những người này. Như vậy, người nông dân trong vùng sản xuất hạt giống bố mẹ và F1 vừa có thu, còn người nông dân sản xuất thóc thương phẩm sẽ mua được giống với giá rẻ trong khi chúng ta lại tăng cường được sản lượng hạt lai F1. Do đó chúng ta có trong tay một lời giải cho hai bài toán. “Đối với những vùng nhân dòng mẹ, sau 7 năm thử nghiệm đã khẳng định hoàn toàn có thể cung cấp cho các vùng sản xuất hạt lai F1. Nhưng quan trọng các nhà khoa học phải xây dựng được những bộ giống trở thành hàng hóa – như những bộ giống chất lượng cao bán cho người giàu – để người nông dân là người sản xuất”, ông Quảng cho biết thêm.  Nhưng để tháo gỡ bài toán khan hiếm giống thì điều cần thiết hơn cả là cần sự phối hợp của 3 nhà -Nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp. Đặc biệt, nhà doanh nghiệp phải “nhảy” vào cuộc, tham gia vào sản xuất hạt giống, vì theo ông Quảng, yếu tố doanh nghiệp rất quan trọng vì vừa tổ chức sản xuất rộng vừa thương mại hóa hạt lai. Rồi ông làm một phép tính: 16.000 ha chỉ cần 15 doanh nghiệp lớn vào cuộc tổ chức sản xuất lớn hạt lai F1 là đủ cho 1 triệu ha vào 2010.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cháy rừng “chủ động” lưu giữ phát thải carbon trong đất      Việc trồng thêm cây và dập tắt các đám cháy trong tự nhiên chưa hẳn đã là biện pháp tốt nhất để tối ưu hóa khả năng lưu trữ carbon của hệ sinh thái. Mới đây, một nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Geoscience đã cho thấy, việc chủ động tạo ra đám cháy một cách có kiểm soát thực sự có thể giúp lưu giữ hoặc tăng lượng carbon trong đất ở các khu rừng ôn đới, đồng cỏ và xavan.      Việc chủ động tạo ra đám cháy một cách có kiểm soát thực sự có thể giúp lưu giữ hoặc tăng lượng carbon trong đất ở các khu rừng ôn đới, đồng cỏ và xavan. Ảnh: Adam Pellegrini  Phát hiện này đã cho thấy tính khả thi của một phương pháp mới trong việc điều chỉnh khả năng thu nhận và lưu trữ carbon tự nhiên, đồng thời có thể giúp duy trì các chu trình của hệ sinh thái.   “Việc chủ động tạo ra các đám cháy rừng một cách có kiểm soát để giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của các vụ cháy rừng trong tương lai là một phương pháp đã tương đối nổi tiếng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu mới, chúng tôi phát hiện ra rằng các đám cháy ở khu vực rừng ôn đới, xavan và đồng cỏ có thể giúp giữ ổn định và thậm chí là làm tăng lượng carbon trong đất”, tiến sỹ Adam Pellegrini ở khoa Khoa học Thực vật của Đại học Cambridge, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết.  “Hầu hết các đám cháy trong hệ sinh thái tự nhiên trên toàn thế giới đều là các đám cháy được kiểm soát, do đó chúng ta nên xem đó là một cơ hội và tìm ra cách vận dụng để tối đa hóa lượng carbon lưu trữ trong đất”, ông nói thêm.   Nghiên cứu mới của nhóm tập trung vào lượng carbon được lưu trữ trong lớp đất mặt – lớp đất không sâu quá 30cm.   Chúng ta đã biết, các đám cháy sẽ thiêu rụi lớp phủ thực vật và các lớp hữu cơ ở trong đất. Khi các đám cháy xảy ra quá thường xuyên hoặc quá dữ dội – giống như các vụ cháy ở những khu rừng được trồng dày đặc – chúng sẽ đốt cháy tất cả các vật liệu từ thực vật mà đáng nhẽ ra sẽ phân hủy và giải phóng carbon vào đất. Các vụ cháy lớn và nghiêm trọng cũng có thể làm đất mất đi sự ổn định, lấy đi các chất hữu cơ gốc carbon khỏi các khoáng chất, làm xói mòn và rửa trôi carbon, đồng thời tiêu diệt vi khuẩn và nấm có trong đất. Sẽ phải mất hàng năm hoặc thậm chí là hàng thập kỷ để đất có thể tích tụ lại được lượng carbon đã mất.   Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, cháy rừng cũng có thể khiến cho đất biến đổi và có khả năng bù đắp lại lượng carbon vừa thất thoát, đồng thời giúp ổn định lượng carbon của hệ sinh thái theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, các đám cháy nhẹ hơn và ít thường xuyên hơn có thể làm tăng khả năng giữ carbon trong đất thông qua việc tạo ra than củi – chất có khả năng chống phân hủy rất tốt, và tạo thành tập hợp các khối đất để bảo vệ các chất hữu cơ giàu carbon ở bên trong. Đám cháy cũng có thể làm tăng lượng carbon liên kết chặt chẽ với các khoáng chất trong đất.  “Khi các đám cháy diễn ra với mức độ và tần suất phù hợp, hệ sinh thái có thể lưu trữ được một lượng lớn carbon. Điều quan trọng ở đây là sự cân bằng giữa lượng carbon đi vào trong đất từ sinh khối, và lượng carbon thoát ra khỏi đất từ các quá trình phân hủy, xói mòn và rửa trôi”, Pellegrini cho biết.  Theo các nhà khoa học, chúng ta có thể kiểm soát hệ sinh thái để tăng lượng carbon lưu trữ trong đất. Phần lớn carbon trong các đồng cỏ được lưu trữ ở dưới mặt đất, trong rễ của cây. Do đó, các đám cháy có kiểm soát sẽ khuyến khích cỏ phát triển, làm tăng sinh khối rễ và từ đó giúp tăng lượng carbon được lưu trữ.   “Khi nói đến cách thức quản lý hệ sinh thái để thu giữ và lưu trữ carbon từ khí quyển, thì các đám cháy thường bị xem là một yếu tố tiêu cực. Chúng tôi hy vọng rằng qua nghiên cứu mới, mọi người sẽ thấy hỏa hoạn trong tự nhiên cũng có thể đem lại lợi ích – cả trong việc duy trì đa dạng sinh học và lưu trữ carbon”, Pellegrini nói.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-natural-environments-offset-carbon-emissions.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế độ ăn kiêng không thịt sẽ không giúp giải quyết khủng hoảng khí hậu      Con người ở những vùng công nghiệp hóa như Mỹ hoặc châu Âu nhìn chung thường nỗ lực thúc đẩy ăn ít thịt và các thức ăn có nguồn gốc từ động vật như một phần của chế độ ăn kiêng lành mạnh hơn và liên quan ít phát thải hơn. Nhưng rất nhiều khuyến nghị như vậy không phải là những giải pháp phổ biến ở những quốc gia thu nhập thấp hoặc thu nhập trung bình, nơi gia súc đem lại nguồn thu nhập và thức ăn, các nhà khoa học cho biết như vậy trong một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Environmental Research Letters.      “Các kết luận rút ra từ các báo cáo được coi là giải pháp chính cho khủng hoảng khí hậu và khủng hoảng y tế toàn cầu là không ăn hoặc ăn ít thịt nhưng những quan điểm đó bị thiên kiến theo các hệ thống công nghiệp hóa phương Tây”, Birthe Paul, tác giả chính va là nhà khoa học môi trường tại Liên minh Quốc tế về Đa dạng sinh học và Trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT), cho biết.  Ví dụ, trong tất cả các tài liệu khoa học về gia súc xuất bản từ năm 1945, chỉ có 13% là thực hiện ở châu Phi trong khi châu Phi là mái nhà của 20%, 27% và 32% lượng trâu bò, cừu và dê toàn cầu. Tám trong số 10 viện nghiên cứu có xuất bản quốc tế hàng đầu thế giới đều Mỹ, Pháp, Anh và Hà Lan. Chỉ có hai, bao gồm Viện nghiên cứu gia súc quốc tế (ILRI), đặt trụ sở ở châu Phi, nơi lĩnh vực chăn nuôi gia cầm là xương sống của nền kinh tế và là nơi chỉ có ít dữ liệu có thể sẵn sàng sử dụng được.  Các tác giả còn lập luận là việc tập trung vào những tác động môi trường liên quan đến chăn nuôi gia súc đã bỏ qua sự quan trọng này nhưng vai trò tích cực của chăn nuôi gia súc cũng là một phần trong các dịch vụ sinh thái, thu nhập và đem lại tài sản và sự bảo đảm cho người dân ở các quốc gia thu nhập trung bình và thấp. Nó cũng bỏ qua những vấn đề hệ thống về cách đông vật được nuôi dưỡng.  “Các hệ phức hợp trong các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, nơi việc chăn nuôi liên kết chặt chẽ với vụ mùa, có thể trên thực tế lại bền vững về mặt môi trường hơn”, An Notenbaert từ Liên minh đa dạng sinh học quốc tế và CIAT nói. “Tại vùng Hạ Sahara châu Phi, phân gia súc là nguồn dinh dưỡng có khả năng giúp đất đai thêm màu mỡ và đem lại bội thu; trong khi ở châu Âu, một số lượng lớn phân gia súc từ quá trình chăn nuôi kiểu công nghiệp hóa lại đang xâm chiếm đất trồng và trở thành nguyên nhân của nhiều vấn đề môi trường”.  Khắp vùng đồng cỏ savanna châu Phi, những người dân thường quây đàn gia súc của mình lại vào ban đêm, một cách được biết là làm gia tăng sự đa dạng dinh dưỡng và các “điểm nóng” sinh học, làm giàu thêm cảnh quan. Việc tạo ra thực phẩm cũng có thể nhờ vậy là mang tính địa phương trong khi các hệ thống công nghiệp hóa thường chủ yếu nhập khẩu. Ví dụ tại Brazil, đậu tương – một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc phá rừng ở Amazon – được chế biến chủ yếu để thành thức ăn và xuất khẩu làm thức ăn chăn nuôi ở những nơi như Việt Nam cũng như châu Âu.  “Việc chăn nuôi và tạo ra thịt tự nó không phải là vấn đề. Như bất kỳ thứ thực phẩm nào khác, khi được sản xuất với số lượng lớn, tăng cường và thương mại hóa, tác động của nó lên môi trường của chúng ta hết sức đa dạng”, Polly Ericksen, phụ trách chương trình Các hệ chăn nuôi gia súc bền vững tại Viện nghiên cứu gia súc quốc tế, nói. “Giảm bớt thịt từ chế độ ăn uống sẽ không giải quyết được vấn đề. Dù ủng hộ chế độ ăn ít thịt có ý nghĩa trong các hệ thống công nghiệp hóa nhưng giải pháp này không là một giải pháp khí hậu mang tính rộng khắp và cũng không thể áp dụng ở mọi nơi”.  Theo Tổ chức Nông lương quốc tế, việc tiêu thụ thịt ở vùng Hạ Sahara châu Phi sẽ thấp khoảng trung bình 12,9 kg/người vào năm 2028, tùy thuộc vào tình trạng thu nhập và stress nhiệt ảnh hưởng đến khí hậu ở động vật bên cạnh các yếu tố khác, với những liên quan đến sức khỏe con người như suy dinh dưỡng, thấp còi. Có thể so sánh, việc tiêu thụ thịt ở Mỹ được chờ đợi sẽ tăng lên 100 kg/người – mức cao nhất thế giới.  Các tác giả cũng biết, các hệ động vật là một nguồn chính phát thải khí nhà kinh vào khi quyển nhưng cần nhiều dữ liệu cho các quốc gia thu nhâp trung bình và thấp phát triển các chiến lược quốc gia về giảm thiểu phát thải. Họ cũng cho biết cần phải nhìn xa hơn việc nuôi nhiều động vật và hướng đến các hệ thống môi trường có khả năng tăng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải trong nông nghiệp.  Họ cũng chỉ ra những giải pháp có tác động lớn đến môi trưỡng, trong đó, cải thiện việc nuôi dưỡng động vật ít phát thải khí nhà kính như methane trên mỗi kg thịt hoặc sữa. Quản lý tốt hơn các vùng đồng cỏ, đa dạng các loại cây trồng và chăn nuôi, nơi phân được đưa trở lại bón cho đồng ruộng có thể đem lại lợi ích cho cả nông dân và môi trường.  “Việc có dữ liệu tốt hơn có thể là cách duy nhất để đem lại các quyết định đúng đắn hơn về cách giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi và nông nghiệp ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp”, Klaus Butterbach-Bahl tại Viện nghiên cứu Khí tượng khí hậu và nghiên cứu môi trường khí quyển (IMK-IFU), Viện nghiên cứu Công nghệ Karlsruhe (KIT) và ILRI, nhấn mạnh. “Vì vậy chúng ta cần nhiều hơn sự hợp tác trong nghiên cứu đa ngành với những người ở các quốc gia thu nhập trung bình và thấp về phát triển chăn nuôi bền vững, với tất cả những ủng hộ, về tài chính, chính sách và năng lực tại chỗ để đưa việc chăn nuôi gia súc đi theo con đường bền vững hơn, trên quy mô lớn hơn”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-no-meat-diet-climate-crisis.html  https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1748-9326/abc278    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thành công máy cấp nhiệt công nghiệp      Với chiếc máy cấp nhiệt công nghiệp “Green Flame” (ngọn lửa xanh) do Giám đốc Công ty chè Tùng Lâm ông Vũ Kiên Chỉnh và kỹ sư Vũ Ngọc Thủy chế tạo, các chủ trang trại trồng trọt, chăn nuôi có thể tăng nhiệt độ bảo đảm cho cây con phát triển bình thường và ngược lại, mùa hè có thể làm mát.    Máy có cấu tạo gồm hai phần, một thùng chứa nước có lắp các ống thép rỗng và buồng đốt nhiên liệu. Thùng còn lại là hệ thống bơm, quạt hút và đẩy khí. Nước trong bồn được đun nóng bằng các loại củi, than, rơm rạ… đến nhiệt độ cần thiết để cấp khí nóng. Quá trình làm mát cũng diễn ra theo chu trình như vậy. Nguyên lý của máy đơn giản, không tốn nhiên liệu, trong khi đó một máy cấp nhiệt cho diện tích nhà kín rộng khoảng 480 m2 chạy dầu của Nhật Bản có giá khoảng 20.000 USD.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tạo thiết bị y sinh của Việt Nam      Bằng lòng nhiệt tình và sự sáng tạo nhóm nghiên cứu trẻ của trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc chế tạo ra thiết bị y sinh đo và tách các phân tử sinh học đặc hiệu (kháng nguyên, kháng thể hoặc protein/AND).    Phương pháp ELISA được biết đến là một trong những kỹ thuật hiện đại dùng trong y học và sinh học để phát hiện những tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh, v.v… Mặc dù được dùng khá phổ biến nhưng kỹ thuật này vẫn còn những nhược điểm chính như: thời gian cho kết quả lâu, độ nhạy thấp, thiếu chức năng tách các phân tử đã được đo và đặc biệt là các máy đo ELISA rất đắt tiền. Ý tưởng tạo ra một thiết bị rẻ tiền hơn, đo hàm lượng và tách được các phân tử sinh học đặc hiệu, khắc phục được những nhược điểm của máy đo ELISA đã được TS. Cao Xuân Hữu nung nấu từ khi còn đang làm nghiên cứu sinh tại Hàn Quốc. Ý tưởng này ban đầu có vẻ như rất “phiêu lưu”. Nhưng với sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình, TS. Cao xuân Hữu và nhóm nghiên cứu trẻ đã thuyết phục được hội đồng khoa học cho thực hiện đề tài tiềm năng “Nghiên cứu chế tạo hệ thống đo đạc và phân tách các phân tử sinh học đặc hiệu protein/ADN”.  Về nguyên lý, thiết bị đo sử dụng các hạt nano từ tính (có kính thước từ 5 đến 100nM) như là một tác nhân trung gian phục vụ đo đạc. Quy trình sử dụng dự kiến được thực hiện theo 3 bước: (i) gắn các phân tử sinh học đặc hiệu lên các hạt nano từ tính; (ii) đo hàm lượng của của các phân tử sinh học thông qua các hạt nano; (iii) tách các phân tử sinh học ra khỏi các hạt nano. Việc lựa chọn lớp bọc tạo liên kết trên bề mặt (lớp hoạt hóa bề mặt) của hạt nano phù hợp với các phân tử sinh học đặc hiệu (các kháng thể, kháng nguyên hoặc protein/AND) và kỹ thuật gắn các phân tử sinh học này lên các hạt nano đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới. Công đoạn tách các phân tử sinh học được gắn ra khỏi các hạt nano từ tính cũng có thể tham khảo được từ nhiều nghiên cứu trước. Vấn đề mấu chốt mà nhóm nghiên cứu cần giải quyết là tạo ra được bộ cảm biến từ sinh học siêu nhạy và hệ thống xử lý tín hiệu điện tử để cho ra số liệu chính xác về hàm lượng các phân tử sinh học đã được gắn lên các hạt nano.   Việc thiết kế chế tạo hệ nam châm điện có điều khiển cũng như mạch điện tử xử lý thông tin tín hiệu đo không khó đối với các nhà nghiên cứu trẻ. Tuy nhiên, việc tạo ra đầu thu tín hiệu (sensor) siêu nhạy cho bộ cảm biến từ sinh học là một thách thức đối với nhóm nghiên cứu. Đây là loại sensor chưa có trên thị trường và Việt Nam cũng chưa có khả năng chế tạo được. Để giải quyết khó khăn này, sau khi thiết kế được cấu hình của sensor đích thân chủ trì Đề tài, TS. Cao Xuân Hữu, phải sang tận Hàn Quốc phối hợp với các đồng nghiệp cũ của mình để chế tạo.  Một vấn đề khác được đặt ra là: để có thể đo được từ trường siêu nhỏ (khoảng 10-5 so với từ trường trái đất) của các hạt nano, hệ thống đo cần được đặt trong hộp chắn từ để hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của từ trường trái đất. Tuy nhiên, việc tạo ra hộp chắn từ sẽ làm cho giá thành thiết bị cao lên và chất lượng của việc đo có thể cũng bị ảnh hưởng. Sau một thời gian tìm tòi và sáng tạo, nhóm đã chế tạo và thử nghiệm thành công một nguyên lý mới để đo từ trường siêu nhỏ mà không cần phải dùng đến màn chắn từ. Chi phí dùng cho các thiết bị dùng theo nguyên lý này chỉ bằng 1/3 so với việc chế tạo màn chắn từ. Đối với nguyên lý mới này, Nhóm đang hoàn thiện hồ sơ xin được cấp bằng giải pháp hữu ích. Đây là một kết quả đáng khích lệ đối với nhóm nghiên cứu.  Để có được hệ thống thiết bị hoàn chỉnh có thể đưa vào sử dụng, nhóm nghiên cứu còn nhiều việc phải làm như thu nhỏ kích thước của hệ thống, hiệu chỉnh các thông số và nâng cao độ tin cậy của hệ thống v.v. Tuy nhiên, với những gì mà nhóm nghiên cứu đã đạt được trong thời gian qua và đặc biệt là sự say mê và tinh thần sáng tạo của họ hoàn toàn có thể hy vọng rằng trong một tương lai gần một thiết bị y sinh học dùng để đo các tác nhân sinh học một cách nhanh chóng, chính xác và thuận tiện để phục vụ việc chẩn đoán y học, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra môi trường do Việt Nam sản xuất sẽ có mặt trong các bệnh viện, các phòng thí nghiệm y sinh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chernobyl sẽ được bịt kín bằng thép      Ukraina vừa phê chuẩn phương án tạo một lớp vỏ thép khổng lồ bít kín lò phản ứng Chernobyl, nơi xảy ra thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất thế giới năm 1986, thay cho lớp vỏ bê tông đang bị huỷ hoại.      Đây sẽ là một kết cấu thép hình vòm che phủ nơi xảy ra vụ nổ là lò phản ứng số 4, với tổng chi phí khoảng 1,4 tỷ USD. Theo tính toán phải mất 5 năm dự án này mới khánh thành và khi đó việc tháo dỡ lò phản ứng sẽ có thể bắt đầu. Ngoài ra, Ukraina còn ký hợp đồng khác để xây một nhà kho chứa chất thải hạt nhân do nhà máy Chernobyl tạo ra trước đây. Vào thời điểm xảy ra tai nạn ngày 26/4/1986, trong lò phản ứng Chernobyl đang có tới 200 tấn uranium và hiện vẫn còn 95%.    Đình Chính  (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chernobyl – từ thảm họa đến thiên đường tự nhiên      Từ sau thảm họa hạt nhân Chernobyl, vùng đất  cấm quanh lò phản ứng hạt nhân của Ucraine đã trở thành một trong những  vùng hoang dã rộng lớn nhất châu Âu.    Theo hợp đồng với Hiệp hội Vườn thú Frankfurt, nhà sinh thái học Michael Brombacher đã đi khảo sát khu vực cấm xung quanh lò phản ứng đã bị phá hủy này. Và trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí tin tức Focus, ông cho biết, 27 năm sau thảm họa hạt nhân ở Chernobyl vùng đất cấm xung quanh lò phản ứng tai họa này là một thiên đường của các loài động vật như hươu, nai, sói, gấu và các loài thú lớn khác, trải rộng trên 4.300 km2, rộng gấp gần 20 lần khu rừng của Công viên Quốc gia Bayer. Trung tâm của khu vực là một vùng được rào chắn với bán kính khoảng 30 km với những đồng hoang, rừng, đất ngập nước, đầm lầy và đồng cỏ.   “Chernobyl đầy muông thú, vào ngày nắng đẹp chúng xuất hiện trông như ở các Công viên Quốc gia lớn của Bắc Mỹ,” ông nói, “Vì không có thợ săn, nên động vật ở đây mất hết sự e dè.”  Quần thể của nhiều loài phát triển tốt  Brombacher đã không quan sát thấy có dị tật nào trên các con vật. “Mức độ ô nhiễm phóng xạ đo được trên những cá thể động vật đã giảm mạnh trong các thập kỷ qua. Các quần thể của nhiều loài phát triển tốt. Tuy nhiên, có những nghiên cứu riêng cho từng loài, ví dụ trên loài chuột đồng, đã khẳng định có sự biến đổi gen ở loài này. Nhiều động vật lai vãng từ bên ngoài vào khu vực cấm này, qua đó dẫn đến việc cải tạo di truyền.”  Vùng đất cấm xung quanh nhà máy hạt nhân đã hư hỏng sau một thời gian qua đã trở thành một trong những vùng hoang dã lớn nhất châu Âu. Ngay sau thảm họa, các khu dân cư đã được sơ tán và đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Săn bắt và lâm nghiệp cũng không còn. Sự can thiệp duy nhất của con người là cứu hỏa, vì cháy rừng có thể sẽ giải phóng phóng xạ.  Trả lời câu hỏi ông đã bị mức bức xạ là bao nhiêu, Brombacher nói: “Giữa ba và sáu micro sievert, gần bằng liều bức xạ như khi người ta bay từ Frankfurt đến Rome.”  Về câu hỏi liệu khi nào có thể có du lịch thiên nhiên ở Chernobyl thì nhà khoa học này không dám dự đoán. Tuy nhiên, ông mong ước rằng, sẽ có thêm nhiều người chiêm ngưỡng những đầm lầy cửa sông và các cánh rừng ở châu Âu mà không chỉ ở Bắc Mỹ hay châu Phi.  Nguyễn Diệu Hoa dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ số ĐMST tại Việt Nam: Tăng 29 bậc sau 5 năm      Sau gần năm năm tham gia xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo (ĐMST) toàn cầu, chỉ số ĐMST của Việt Nam đã tăng 29 bậc so với 2012. Tuy nhiên, việc triển khai bộ chỉ số này vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định do công tác phân công đầu mối còn chưa phù hợp giữa các bộ ngành và chưa thống nhất ở địa phương.      TS. Nguyễn Thanh Mỹ giới thiệu sản phẩm của tập đoàn Mỹ Lan. Mỹ Lan một trong những đơn vị có nhiều nghiên cứu, hoạt động đổi mới sáng tạo.  Đó là những nội dung chính được thảo luận tại Hội nghị tổng kết triển khai thực hiện nghị quyết 19-2017/NQ-CP về chỉ số Đổi mới sáng tạo năm 2017 do Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học Công nghệ (Nistpass) đã tổ chức ngày 20/12 vừa qua.  Lần đầu tiên Việt Nam được xếp hạng là năm 2012, xếp thứ 76 trên tổng số 141 quốc gia. Đến năm 2017, Việt Nam đã vươn lên vị trí 47/127 nước, trong đó chỉ số đầu vào xếp thứ 71 và chỉ số đầu ra xếp thứ 38, tỷ lệ hiệu quả (đầu ra/đầu vào) xếp thứ 10. Tuy có những bước cải thiện đáng kể, nhưng một số chỉ số thành phần của Việt Nam còn thấp, thiếu số liệu và số liệu thiếu tính cập nhật. Vì vậy Chính phủ đã ra nghị quyết 19-2017/NQ-CP, chỉ đạo sát sao các bộ, ban ngành và địa phương thực hiện xây dựng và cải thiện chỉ số ĐMST với mục tiêu đạt mức trung bình của nhóm ASEAN 4. Trong đó, Bộ KH&CN có nhiệm vụ hướng dẫn các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh tìm hiểu phương pháp, cách tính toán và ý nghĩa các chỉ số ĐMST, đồng thời có trách nhiệm đôn đốc, tổng hợp kết quả về tình hình cải thiện các chỉ số để báo cáo Chính phủ. Triển khai Nghị quyết 19 từ tháng 2/2017 đến nay, Bộ KH&CN đã tổ chức 2 hội thảo hướng dẫn cho 18 cơ quan bộ, ngang bộ; 4 hội thảo cho 88 địa phương; bổ sung dữ liệu của 3/10 chỉ số còn thiếu, cập nhật dữ liệu cho 08/09 chỉ số chưa được cập nhật trong báo cáo năm 2016. Việc cập nhật số liệu đã góp phần giúp phản ánh đầy đủ và chính xác hơn thực trạng, nhờ đó nâng hạng Việt Nam (ví dụ trụ cột “Nghiên cứu và phát triển” đã tăng 19 bậc (từ bậc 99 – năm 2016 lên bậc 80 – năm 2017).  Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, nhiều ý kiến của các đại biểu tham dự Hội nghị cho rằng, quá trình thúc đẩy cải thiện bộ chỉ số ĐMST còn gặp một số khó khăn, chủ yếu do đây là bộ chỉ số mới, đòi hỏi chuyên môn sâu nên các cơ quan và địa phương nhưng chưa thể nắm chắc để thực hiện tính toán và cải thiện chỉ số. Trong khi đó, việc phân công đầu mối quản lý các chỉ số còn một số bất cập chính như: phân phối các chỉ số chưa đúng với chức năng của bộ hoặc phân công quá chung chung; Đầu mối quản lý ở các địa phương chưa thống nhất, đồng bộ…  Hiện nay 82/84 chỉ số đã được phân công tới các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý, chịu trách nhiệm làm đầu mối thu thập dữ liệu cũng như cung cấp thông tin chính thức. Tuy nhiên, theo ý kiến của đại diện Bộ Công Thương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Hội nghị, việc phân bổ các chỉ số còn chưa hợp lý. Mỗi chỉ số đơn lẻ khi tính toán lại bao gồm nhiều chỉ tiêu nhỏ khác, và các chỉ tiêu này ít liên quan tới bộ đầu mối. Ví dụ như, Bộ KH&CN kiến nghị chuyển chỉ số Xuất khẩu hàng hóa sáng tạo hiện đang do mình phụ trách sang cho Bộ Công Thương. Đại diện Bộ Công Thương lại cho rằng lĩnh vực này nên đưa về cho Tổng cục Hải quan vì ít liên quan tới Bộ Công thương. Ngoài ra, một số chỉ số đòi hỏi sự hợp tác giữa nhiều bộ, ban ngành tuy nhiên do không được giao đích danh cơ quan mình phụ trách nên các đơn vị này còn chưa phối hợp tích cực. Cụ thể, có bốn chỉ số không được phân công cho một đơn vị đầu mối nhất định mà giao chung nên cuối cùng, chưa thống nhất một đơn vị cụ thể nào chịu trách nhiệm về các chỉ số này.  Trong khi đó, ở địa phương, việc phân công cho các đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, tính toán các chỉ số này vẫn chưa thống nhất. Mỗi tỉnh lại giao cho một cơ quan khác nhau, ví dụ như, một số tỉnh giao cho Sở KH&CN chịu trách nhiệm nhưng một số nơi khác lại đưa về cho Sở KH&ĐT. Việc không thống nhất đầu mối này đã dẫn tới sự không đồng đều trong công tác triển khai giữa các địa phương. Bởi vì ngoài ngành ngang thì sự chỉ đạo còn lan tỏa theo ngành dọc – trong khi đó hầu như chưa có hướng dẫn theo ngành dọc. Ngoài ra vì do đây là vấn đề mới nhưng thời gian chuẩn bị lại ngắn, hầu hết các bộ, ban ngành mới chỉ đề xuất kế hoạch chung, chưa có kế hoạch cụ thể.     Chỉ số Đổi mới sáng tạo (Global Innovation Index – GII) do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với Trường ĐH Cornell (Hoa Kỳ) và Học viện Kinh doanh INSEAD (Pháp) thực hiện. GII gồm hai nhóm chỉ số, bảy trụ cột và 86 chỉ số lẻ, trong đó, nhóm chỉ số đầu vào có 5 trụ cột: Thể chế; Nghiên cứu và phát triển; Cơ sở hạ tầng; Trình độ phát triển thị trường; Trình độ phát triển kinh doanh và Nhóm chỉ số đầu ra gồm 2 trụ cột: Đầu ra công nghệ và tri thức; Đầu ra sáng tạo.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Chìa khóa hiểu rõ bệnh hiểm nghèo      Giáo sư y học tế bào và phân tử Jamey Marth tại UC San Diego, đã nhận thấy rằng chỉ có 68 cấu trúc phân tử được sử dụng để xây dựng 4 thành phần cơ bản của tế bào: axit nucleic (AND và RNA), protein, polisacarit và lipit.    68 cấu trúc phân tử này cung cấp cơ sở cho việc bố trí phân tử hình thành nên toàn bộ sự sống của một tế bào. 2 trong 4 thành phần tế bào được tạo từ những cấu trúc đó từ quá trình mà gen không thể mã hóa. Hai thành phần tế bào–polisacarit và lipit–có thể nắm giữ chìa khóa khám phá nguồn gốc của nhiều bệnh hiểm nghèo vẫn chưa được hiểu rõ. Marth cho biết: “Chúng tôi đã tìm thấy những trường hợp mà sinh bệnh học của những bệnh kinh niên và phổ biến được quy cho sự thay đổi ở glycome (tập hợp các polisacarit), trong khi không có các thay đổi ở hệ gen hoặc hệ protein”. Ông cũng nhận đỉnh rằng, với tư cách những nhà nghiên cứu y sinh “chúng ta cần bắt đầu trau dồi kiến thức tổng hợp của nhiều bộ môn một cách chính thức và nghiêm túc để có thể lĩnh hội và điều khiến một cách hiệu quả nhất những cơ chế sinh học của sức khỏe và bệnh tật”.     Trà Mi (Theo ScienceDaily)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chia múi giờ để tiết kiệm năng lượng      Nam Phi có thể sẽ sớm được chia thành hai múi giờ để vượt qua cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay. Đây là ý tưởng của Portia Molefe, Tổng giám đốc Cơ quan phụ trách các công ty công ích của Nam Phi.      Theo bà Molefe, giải pháp trên sẽ giúp Nam Phi tiết kiệm một lượng điện đáng kể vào giờ cao điểm. Biện pháp hai múi giờ sẽ dẫn đến việc thay đổi giờ làm việc, do đó giảm nhu cầu điện vào giờ cao điểm. Giải pháp hai múi giờ hiện cần thiết hơn bao giờ hết vì nền kinh tế Nam Phi đã thay đổi. Nền kinh tế ở vùng Western Cape đã mạnh lên khi so sánh với vùng Gauteng. Trước đó, giải pháp hai múi giờ cũng đã được bàn tính đến, nhưng sau đó đã bị loại bỏ vì hầu hết các ngành công nghiệp ở Nam Phi đều tập trung tại vùng Gauteng.   H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chia tay John Sulston, nhà khoa học giải mã bộ gene người      Một tin buồn với các nhà y-sinh học trong tuần qua: John Sulston, nhà sinh học người Anh vừa qua đời ở tuổi 75 do bệnh ung thư dạ dày. John Sulston, người được trao giải Nobel Y, Sinh lý học năm 2002 và được biết đến như những nhà nghiên cứu tiên phong trong việc giải mã bộ gene người, quyết liệt ủng hộ việc truy cập mở miễn phí toàn bộ dữ liệu bộ gene.      Ảnh chụp John Sulston trong phòng thí nghiệm của ông ở Cambridge (Chris Yong/The Guardian)  John Sulston qua đời một cách đột ngột như gây sốc cộng đồng khoa học chỉ sau khoảng một tháng sau khi được chẩn đoán bị mắc ung thư dạ dày.  Giải mã bộ gene giun tròn  John Sulston, sinh ngày 27/3/1942 ở Fulmer, Buckinghamshire (Anh), là con của một mục sư. Sulston được mẹ dạy tại nhà cho đến 5 tuổi mới bắt đầu đến trường và sớm bộc lộ niềm say mê khoa học khi ngày ngày khám phá việc mổ xẻ các con vật và cắt lát các cây cỏ để quan sát cấu trúc. Vì thế, ngay từ khi còn niên thiếu, ông trở nên “trơ” với niềm tin tôn giáo đến từ cha mình, một mục sư Anh giáo (dù ông cũng là một người theo Kito giáo). Ông từng thuật lại cảm nhận của mình về những kiến thức khoa học mà ông đang tiếp nhận “như một sức mạnh áp đảo của bộ óc con người ập đến một cách bất ngờ”. Sulston tốt nghiệp cử nhân hóa ở Pembroke College (Cambridge) và sau đó tiếp tục làm nghiên cứu sinh tại Khoa Hóa học, Đại học Cambridge sau khi vượt qua cuộc phỏng vấn của Alexander R. Todd (nhà hóa học người Anh người từng được trao giải Nobel Hóa học năm 1957). Đề tài nghiên cứu sinh của Sulston tập trung vào cấu trúc của nucleotide và ông nhận bằng tiến sĩ hóa năm 1966.  Sau khi tốt nghiệp, John Sulston đã làm postdoc ở Mỹ (1966-1969) rồi trở lại Cambridge gia nhập Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử MRC (Medical Research Council Laboratory of Molecular Biology – MRC LMB), Viện nghiên cứu sinh học phân tử nổi tiếng tại Đại học Cambridge. Sếp của Sulston ở Mỹ là Leslie Eleazer Orgel (cũng là một nhà hóa học nổi tiếng người Anh) khi đó rất muốn giữ Sulston ở lại tiếp tục làm việc với mình, nhưng Sydney Brenner (một nhà sinh học người Anh, sau này đã cùng Sulston chia giải Nobel Sinh lý học 2002), giám đốc của MRC-LMB khi đó, đã cố gắng thuyết phục ông trở lại Cambridge làm việc trong đề tài nghiên cứu về cấu trúc thần kinh của giun tròn (Caenorhabditis elegans). Sulston đóng vai trò chủ chốt các nghiên cứu này để đi đến lời giải cho các cơ chế di truyền trong quá trình phát triển cơ phận con người và tử bào (programmed cell death, hay là apoptosis). Họ chọn giun làm đối tượng nghiên cứu vì: a) không dễ dàng dùng chính người làm đối tượng nghiên cứu, b) giun là sinh vật phức tạp hơn vi khuẩn, nhưng lại dễ dàng trở thành đối tượng dùng làm nghiên cứu (Brenner vốn là người tiên phong trong việc dùng giun cho nghiên cứu tử bào). Nhờ phát triển các kỹ thuật phân tích trình tự gene, họ đã tìm ra rằng quá trình chết (hay chính xác là “tự tử”) của tế bào được điều khiển bởi một số gene (được đặt tên là ced-3, ced-4, và ced-9). Quá trình sinh, tử của tế bào là cần thiết cho sự phát triển của con người.  Giải mã bộ gene người và đấu tranh cho truy cập mở   Những thành công trong việc giải trình tự gene của giun là kết quả tiền khả thi cho việc xây dựng các dự án giải trình tự gene ở cấp độ lớn hơn, là giải mã bộ gene người. Thành công của Sulston đã thuyết phục được Quỹ Welcome Trust tài trợ một số tiền lớn để thành lập Viện Nghiên cứu Wellcome Sanger (đặt theo tên nhà sinh hóa người Anh Frederick Sanger, người được trao giải Nobel Hóa học năm 1958 cho các nghiên cứu về nucleotide). John Sulston trở thành giám đốc đầu tiên của Welcome Sanger Institute từ năm 1992 và lãnh đạo dự án giải mã bộ gene người (Human Genome Project HGP). Dự án này của John Sulston được coi là cạnh tranh với một dự án tư nhân khác đang được phát triển ở Mỹ bởi nhà di truyền học Craig Venter (công ty Celera Genomics do chính Craig Venter là người thành lập). John Sulston theo đuổi một mục tiêu dựa trên cả đạo đức và nền tảng khoa học rằng các dữ liệu về bộ gene người cần được mở miễn phí, và nó trở thành đối thủ cạnh tranh của Venter, những người theo đổi dự án này cho mục đích thương mại hóa. Những tiếng nói mạnh mẽ từ Sulston đã thuyết phục được hai nhà tài trợ của dự án HGP là Quỹ Welcome Trust (Anh) và Viện Nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia (Hoa Kỳ) tăng thêm ủng hộ thành một dự án quốc tế (International Human Genome Sequencing Consortium), mặc dù công ty của Venter khẳng định rằng họ có thể làm với chi phí rẻ hơn và nhanh hơn trong một nửa thời gian.      Sulston sống theo nguyên tắc của riêng mình – không bao giờ làm bất cứ điều gì vì tiền, và cho đi một cách lặng lẽ phần lớn những gì mà ông nhận được      Cả hai nhóm đều công bố các kết quả thành công và đều tuyên bố chiến thắng (thực tế thì hai nhóm đi đến kết quả theo các phương pháp khác nhau), và sự tranh cãi nảy lửa giữa hai bên dẫn tới cuộc họp báo công bố bởi Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Anh Tony Blair (6/2000) đã phải tuyên bố một kết quả hòa cho cả hai bên, khi cả hai đều hoàn thành hai phần của “bản nháp trình tự”. Vào năm 2003, dự án quốc tế của John Sulston đã công bố toàn văn kết quả trình tự gen với chất lượng cao vào đúng ngày kỷ niệm 50 năm James Watson và Francis Crick phát hiện ra cấu trúc xoắn kép của DNA. Toàn bộ trình tự gene, đúng như tranh đấu của Sulston được mở hoàn toàn, trở thành tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học tiếp tục đi tìm hiểu sâu hơn về sinh học người ở cấp độ phân tử.  Vinh danh và qua đời  John Sulston (cùng với Sydney Brenner và Howard Robert Horvitz) được trao giải Nobel Sinh lý học năm 2002 cho những đóng góp vĩ đại của họ cho nghiên cứu giải mã gene giun tròn để từ đó hiểu được cơ chế sinh học tế bào trong con người. John Sulston được biết đến như một nhà nghiên cứu tiên phong trong việc giải mã bộ gene người, và đấu tranh cho việc truy cập mở đối với các dữ liệu khoa học. Năm 2008, Sulston đã cùng với John Harris thành lập Viện Khoa học, Đạo đức và Sáng tạo tại Đại học Manchester.  John Sulston được phong tước hiệp sĩ năm 2001 và là một trong số 65 người được Nữ hoàng Anh vinh danh năm 2017 cho những đóng góp vĩ đại cho khoa học và cộng đồng. Sulston từng băn khoăn khi mình được phong tước hiệp sĩ vì muốn dành những vinh danh đó cho toàn nhóm nghiên cứu về gene của ông ở Viện Sanger. Sulston là người sống rất giản dị với một chiếc áo thun quen thuộc và bữa trưa tự làm với bánh sandwich kẹp phô mai hàng ngày luôn là câu chuyện vui cho đồng nghiệp ở Viện Sanger. Ông thích đi bộ, làm vườn và thư giãn bên gia đình ở Stapleford (một ngôi làng nhỏ ở phía nam Cambridge), hoặc uống một vài ly bia với bạn bè, đồng thời rất ủng hộ và hay tham gia các hoạt động từ thiện, tình nguyện của cộng đồng. Báo The Guardian của Anh đã dành một lời kết để nói về John Sulston: “Sulston sống theo nguyên tắc của riêng mình – không bao giờ làm bất cứ điều gì vì tiền, và cho đi một cách lặng lẽ phần lớn những gì mà ông nhận được”.  Tham khảo:  https://www.theguardian.com/science/2018/mar/11/sir-john-sulston-obituary  https://www.theguardian.com/science/2002/oct/09/genetics.science  http://vietsciences.free.fr/nobel/medecine/nobelyhoc2002.htm  https://en.wikipedia.org/wiki/John_Sulston    Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Chiến binh sao Hỏa hồi sinh      Hai robot Spirit và Opportunity đang làm nhiệm vụ thám hiểm sao Hỏa đã hoạt động trở lại sau khi bị “trọng thương” do bão trên bề mặt hành tinh đỏ.    Hãng tin Tân Hoa xã đã dẫn thông cáo của trung tâm nghiên cứu JPL của NASA cho biết hai robot này gần như bị hư hoàn toàn vì trận bão hồi mùa hè vừa qua và người ta lo ngại rằng, chúng sẽ không thể tiếp tục sứ mệnh. Tuy nhiên, vào cuối tuần qua thì cả hai robot đã hoạt động trở lại, dù một số chức năng không thể phục hồi được.  JPL cho biết đến nay Spirit và Opportunity đã hoạt động tới tháng thứ 43, như vậy là các nhà khoa học đã “lời” tới 40 tháng bởi ban đầu họ cho rằng hai các robot chỉ đủ sức “sống” trên sao Hỏa trong 3 tháng.  C.M.L       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược phát triển công nghệ cao ở Trung Quốc      Kế hoạch 863  Nổi bật trong hệ thống chính sách khoa học công nghệ Trung Quốc là \”Kế hoạch nghiên cứu phát triển công nghệ cao\”, do chính phủ Trung Quốc ban hành tháng 3/1986 nên gọi tắt là Kế hoạch 863. Đây là một kế hoạch quốc gia đồ sộ với mục tiêu nắm bắt những công nghệ cơ bản về công nghệ thông tin; phát triển những công nghệ then chốt về y học, sinh học, nông nghiệp…    Qua 20 năm, Kế hoạch 863 vẫn được thực hiện, song với thêm mục tiêu mới là nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc nắm bắt và sáng tạo những công nghệ then chốt. Cùng với việc tài nguyên ngày càng khan hiếm và môi trường ngày càng ô nhiễm, Kế hoạch 863 còn chú trọng vào những nghiên cứu công nghệ trọng điểm sau khi cạn tài nguyên và cải thiện môi trường, như công nghệ dùng tài nguyên biển, v.v…  Một trong những trọng điểm của Kế hoạch 863 là các khu công nghệ cao cấp quốc gia, hiện trên toàn Trung Quốc đại lục có 53 khu công nghệ cao như vậy. Nằm trong các khu công nghệ cao là trường đại học, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp R&D, trung tâm công nghệ, doanh nghiệp vườn ươm, v.v.  Ông Tô Tĩnh, vụ phó Vụ chính sách Bộ KH&CN Trung Quốc cho biết: Năm 2005, giá trị công nghiệp của các khu công nghệ cao Trung Quốc đạt hơn 680 tỷ NDT, chiếm 9% giá trị công nghiệp Trung Quốc; các doanh nghiệp quy mô lớn trong khu công nghệ cao chiếm 40% các doanh nghiệp quy mô lớn trên toàn Trung Quốc. Hiện có 870.000 người hoạt động trên lĩnh vực khoa học công nghệ tại khu công nghệ cao.  Doanh nghiệp tại khu công nghệ cao được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ, chủ yếu là miễn giảm thuế, hoàn trả thuế giá trị gia tăng từ các hoạt động sản xuất, xuất khẩu, giao dịch công nghệ. Năm 2005, doanh nghiệp công nghệ cao tại khu công nghệ cao được miễn gần 16 tỷ NDT thuế, trong đó nhận gần 8,7 tỷ NDT hoàn thuế, chiếm gần 56% tổng số thuế được miễn của Trung Quốc.  “Thực địa” ở Thượng Hải  Tại Thượng Hải, phía Trung Quốc giới thiệu với đoàn Việt Nam một mô hình doanh nghiệp khoa học mới ở Thượng Hải: Công ty R&D Phục vụ Công cộng Thượng Hải. Bằng hệ thống thông tin tiên tiến, công ty đã nổi lên trong nhiều lĩnh vực dịch vụ: tổ chức tài liệu khoa học, tư vấn nguồn lực, tư vấn quản lý.  Đến tháng 7/2006, chỉ sau 2 năm thành lập, Công ty đã trang bị hơn 1.000 máy chủ chuyên dụng, cung cấp 47 ngân hàng dữ liệu số hóa, 300 phần mềm phân tích chuyên dụng và tiến hành tra cứu trên hơn 10.000 loại báo nước ngoài. Công ty cung cấp, phân tích thông tin cho khách hàng  là các phòng thí nghiệm trọng điểm của quốc gia và Thượng Hải trên đủ các lĩnh vực sinh vật, y học, tin tức, tài liệu mới. Cũng đến tháng 7/2006, đã có gần 3 triệu lượt tư vấn công ty, và khoảng 1/10 số này được công ty cung cấp dịch vụ.  Tương phản với sự linh động của Công ty R&D Phục vụ Công cộng là sự “đồ sộ” của Công ty cơ khí cảng Chấn Hoa Thượng Hải. Công ty nổi tiếng thế giới trên lĩnh vực dàn cẩu và cấu trúc thép cỡ lớn. Chấn Hoa đã cung cấp số lượng kỷ lục 1.000 dàn cẩu bờ cảng, 1.500 dàn cẩu di động (RTGs) và một lượng lớn máy vận tải cảng ngoại cỡ. Theo thống kê của tờ “World Cargo News” ở Anh, Chấn Hoa là công ty được đặt hàng làm dàn cẩu cảng nhiều nhất thế giới trong bảy năm qua. Chấn Hoa đã thiết kế và lắp đặt dàn cẩu cảng đầu tiên trên thế giới vận chuyển được 40 cặp container một lúc.  Vị  tổng công trình sư của Công ty Chấn Hoa cho biết, bộ phận Nghiên cứu và triển khai của công ty luôn hợp tác chặt chẽ với các viện nghiên cứu và trường đại học ở Thượng Hải cũng như toàn Trung Quốc. Đây chính là nơi dành được sự tín nhiệm của khách hàng với những sản phẩm thiết kế chuyên biệt như hệt thống GPS, Hệ thống thông minh nâng và định vị container chống sốc, v.v.  Là công ty đa chức năng, Chấn Hoa có thể thiết kế, chế tạo, lắp đặt và sáng tạo sản phẩm mới. Chấn Hoa đã thành công trong việc biến mười xà lan chở hàng thành một tàu thiết kế đặc biệt để chuyên cẩu container và các thiết bị cực nặng. Trên thị trường chứng khoán Thượng Hải, Chấn Hoa có cả cổ phần bằng nhân dân NDT và USD. Tài sản ròng của Chấn Hoa hiện vào khoảng 450 triệu USD.  Quỹ hỗ trợ cho các doanh nghiệp khoa học công nghệ vừa và nhỏ   -Năm 1998, chính phủ Trung Quốc quyết định thành lập Quỹ sáng tạo khoa học công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, gọi tắt  là Quỹ sáng tạo   -Bắt đầu từ tháng 5/1999 tới nay, quỹ đã có những tác động quan trọng, tạo ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế.   -Đến hết năm 2005, quỹ đã duyệt chi cho 7962 hạng mục với tổng số tiền 4,4 tỷ NDT.    P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến thắng đầy bất ngờ của khủng long      Khủng long đã phải trải qua hàng chục triệu năm nhọc nhằn mới có thể thống trị Trái đất. Những nghiên cứu mới dựa trên hóa thạch đã chứng minh cho điều đó.       Chiến thắng bất ngờ: Dromomeron, một loài tiền khủng long, mon men uống nước ở một vùng đất trù phú giờ là Ghost Ranch ở New Mexico cách đây 212 triệu năm. Koskinomodon, một loài lưỡng cư khổng lồ đang nằm đợi. Minh họa: James Gurney.  Khi tôi mới chỉ là một cậu bé, vào thời điểm chuyển giao của thiên niên kỷ, đúng lúc tôi đang bắt đầu hứng thú với hóa thạch, bảo tàng Field ở Chicago dỡ bỏ bộ xương của khung long Brachiosaurus và thay bằng Tyrannosaurus Rex. Thật vậy, họ đã đánh đổi bộ xương của một huyền thoại khủng long cho một huyền thoại khác. Một bên là Brachiosaurus, khủng long ăn lá khổng lồ, nặng hơn 10 con voi, cái cổ duyên dáng vượt khỏi khu trưng bày lên đến tận tầng 2 của bảo tàng. Một bên là loài săn mồi to nhất và xấu xa nhất trong lịch sử: một con khủng long với kích thước bằng một cái xe buýt, cùng với những chiếc răng nhọn như đường sắt, có thể nhai tan xương con mồi.  Tôi luôn bị những con khủng long đó thu hút, khi tôi mới chỉ là một cậu bé sống cách đó 75 dặm, giữa những cánh đồng ngô và đậu ở Midwestern. Tôi đến thăm chúng thường xuyên hết mức có thể, bất cứ khi nào tôi thuyết phục cha mẹ tôi lái xe đưa tôi đến. Đứng dưới bộ xương vĩ đại của chúng, tôi cảm thấy như bị thôi miên bởi kích thước và sức mạnh của bất cứ con thú nào từng có bộ xương đó. Nó quá khác biệt với bất cứ con vật nào còn sống hiện nay, và chẳng có gì lạ khi chúng đã cai trị thế giới suốt hơn 150 triệu năm. Ở chúng toát lên một vẻ tráng lệ, khiến chúng ta phải ngưỡng mộ.   Nhưng chúng đã làm thế nào để được như vậy? Đó là một câu hỏi ít khi hiện lên trong tâm trí tôi trong suốt những năm tôi bị ám ảnh bởi chúng. Cũng giống như việc thật khó để tưởng tượng bố mẹ đã từng ở cùng tuổi với tôi, tôi tự cho rằng có lẽ khủng long xuất hiện vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, sở hữu hoàn toàn những chiếc cổ dài, cơ thể khổng lồ và hàm răng sắc nhọn. Và ý nghĩ này cũng không quá xa rời những ý kiến được cả giới khoa học đồng thuận trong phần lớn của nửa cuối thế kỉ 20. Khủng long rất đặc biệt: chúng có tốc độ, sự khéo léo và khả năng trao đổi chất vượt trội, đến mức chúng dễ dàng và nhanh chóng vượt qua những đối thủ trong thời gian đầu mới xuất hiện và rồi nhanh chóng sinh sôi, lan rộng khắp hành tinh và thành lập một đế chế như chúng ta đã biết. Tuy nhiên, trong 15 năm qua, vô số những mảnh vỡ hóa thạch mới được tìm thấy trên toàn cầu đã mở ra những hiểu biết mới về thế giới vật chất của những con khủng long đầu tiên sinh sống trên Trái đất. Điều đó đã đưa đến những cách tiếp cận mới lạ để xây dựng lại cây gia phả và phân tích xu hướng tiến hóa của chúng, đồng thời thách thức quan điểm lâu đời về thế giới khủng long. Từ những phát hiện này, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên kể một câu chuyện khác về một trong những loài vật bí ẩn và hấp dẫn nhất trong lịch sử Trái đất: sự trỗi dậy của khủng long khá từ từ, và trong suốt 30 triệu năm đầu tiên, chúng bị giới hạn ở một số vùng nhỏ trên thế giới, lép vế với các sinh vật khác. Chỉ sau một vài sự kiện may mắn, chúng mới vươn lên và trở thành bá chủ của cả hành tinh.   Nguồn gốc khiêm tốn  Như rất nhiều các loài sinh vật thành công khác, khủng long sinh ra từ thảm họa. Khoảng 252 triệu năm trước, vào cuối kỷ Permi, một bể Mắc-ma (magma) bắt đầu cuộn trào ầm ầm bên dưới Siberia. Các động vật sống ở bề mặt, một nhóm kỳ lạ gồm các loài lưỡng cư lớn, bò sát da có lông và động vật có vú ăn thịt – không hề hay biết về hiểm họa đang tới. Những dòng đá lỏng chảy qua lớp manti (mantle) và sau đó là lớp vỏ, trước khi tràn ra ngoài qua những vết nứt rộng hàng dặm trên mặt đất. Trong hàng trăm ngàn, hay có lẽ hàng triệu năm, các vụ phun trào tiếp tục, khiến hơi nóng, bụi, khí độc và dung nham nhấn chìm hàng triệu dặm vuông của khu vực châu Á. Nhiệt độ tăng vọt, đại dương bị axit hóa, hệ sinh thái sụp đổ và có tới 95% các loài ở kỷ Permi đã bị tuyệt chủng. Đó là sự tuyệt chủng hàng loạt tồi tệ nhất trong lịch sử hành tinh của chúng ta. Nhưng rồi những kẻ sống sót đã loạng choạng bước vào thời kỳ địa chất tiếp theo, Tam Điệp (Triassic). Khi các ngọn núi lửa im lặng và hệ sinh thái ổn định, những sinh vật gan góc này sinh sôi trong một thế giới trống rỗng. Trong số đó có nhiều loài lưỡng cư nhỏ và bò sát, và chúng trở nên đa dạng hơn khi Trái đất hồi phục: ếch, kỳ nhông, rùa, thằn lằn và động vật có vú ngày nay xuất hiện. Các nhà khoa học biết đến những con vật này từ dấu tay và dấu chân chúng để lại dưới lớp trầm tích sông và hồ phơi bày ở dãy núi Holy Cross ở Ba Lan. Trong hơn 20 năm, Grzegorz Niediwiedzki, người lớn lên ở những ngọn đồi này và hiện là một nhà cổ sinh vật học ở Đại học Uppsala ở Thụy Điển, đã tỉ mỉ thu thập những dấu vết hóa thạch này. Vào năm 2005, trong khi đang thu lượm hóa thạch gần làng Stryczowice, dọc theo một con suối hẹp với đầy những lùm cây, ông tìm thấy dấu vết của một loài sinh vật kì lạ, dường như không khớp với bất kỳ dấu vết của một loài bò sát hoặc lưỡng cư phổ biến nào. Các dấu vết kỳ lạ có kích thước bằng bàn chân mèo, tạo thành lối đi hẹp, với các dấu tay năm ngón và phía trước và dấu chân lớn hơn phía sau với ba ngón chân giữa và hai ngón chân cái tõe ra. Người ta gọi chúng là Prorotodactylus. Tất cả những gì chúng ta biết về sinh vật này đều đến từ những dấu chân của chúng, bởi không có hóa thạch nào được tìm ra.     Vết chân hóa thạch của Protodactylus chỉ ra rằng 250 năm triệu năm trước, một loài tiền khủng long là dinosauromorphs xuất hiện ở nơi giờ đây là Núi Thập Giá (Holy Cross) tại Ba Lan.  Prorotodactylus có niên đại khoảng 250 triệu năm trước, chỉ một hoặc hai triệu năm sau khi núi lửa phun trào. Ban đầu, khi nhìn vào khoảng cách hẹp giữa các chân bên trái và bên phải, rõ ràng chúng thuộc về một nhóm bò sát gọi là bò sát cổ (archosaurs), xuất hiện sau sự tuyệt chủng Permi. Với tư thế thẳng đứng mới phát triển, chúng chạy nhanh hơn với khoảng cách dài hơn và theo dõi con mồi dễ dàng hơn. Từ những dấu vết của loài bò sát cổ này, rất có thể chúng ta sẽ suy ra được nguồn gốc của khủng long. Ngay khi bò sát cổ xuất hiện, chúng chia thành hai nhánh chính, cạnh tranh nhau trong suốt phần còn lại của kỷ Tam Điệp (Triassic): Pseudosuchia, tổ tiên của cá sấu ngày nay và Avemetatarsalia mà sau đó đã phát triển thành khủng long. Liệu Prorotodactylus thuộc chi nhánh nào?     Mâu thuẫn gia đình khủng long   Có lẽ cuộc tranh luận sôi nổi nhất trong giới nghiên cứu khủng long đương đại là về việc làm thế nào mà khủng long chân thú (Theropod), Sauricomom và Ornithischia có thể được sắp xếp trên cây phả hệ. Năm 1887, nhà cổ sinh vật học người Anh Harry Govier Seeley đã khảo sát một loạt các hóa thạch mới từ châu Âu và miền Tây nước Mỹ, sau đó lập luận rằng khủng long có thể được tách thành hai loại khác nhau dựa trên cấu trúc xương hông của chúng. Cả Therind và Saurepadomor đều có mào lược xương mu (pubic bone) hướng ra trước như thằn lằn hiện đại. Vì vậy, chúng có thể được đặt trong một nhóm với tên gọi là Saurischia (nhánh khủng long có xương như thằn lằn. Loài Ornithischian, với xương mu hướng ra phía sau như chim của thời hiện đại, được coi là một nhánh riêng (nhánh khủng long có hông như chim). Sự phân đôi cơ bản này vẫn tồn tại đến ngày nay, được coi như sơ đồ phân loại khủng long tiêu chuẩn mà tôi và tất cả các đồng nghiệp được học từ thời sinh viên. Tuy nhiên có thể không chính xác. Tuy nhiên. Trong một nghiên cứu gây chấn động được công bố trong tờ Nature năm ngoái, nghiên cứu sinh tiến sĩ Matthew Baron của đại học Cambridge và các đồng nghiệp đã trình bày một phả hệ khủng long mới dựa trên phân tích một bộ dữ liệu mở rộng của khủng long sơ khai và các đặc điểm giải phẫu của chúng. Ở cây của họ, cả theropod và ornithischia được gộp thành một nhóm mà họ gọi là Omithoscelida, trong khi saurepadomor nằm bên ngoài, trên một chi riêng biệt. Thay vì saurischia và ornithischia, sự phân loại mới này chia ra làm hai nhóm gồm ornithoscelida so với saurepadomorph.  Để tìm ra câu trả lời, tôi đã thực hiện một nghiên cứu với Niedgwiedzki và Richard J. Butler tại Đại học Birmingham ở Anh. Phân tích của chúng tôi về các dấu vết của chúng, được công bố vào năm 2011, đã tiết lộ sự dị biệt của các dấu chân này giống với đặc trưng của chân khủng long: xương ngón chân sắp xếp giống như là đi nhón gót, nên khi bước đi chỉ có đầu ngón chân chạm đất với lòng bàn chân rất nhỏ với ba ngón chân chính lớn. Từ đó có thể suy ra Prorotodactylus là một loài khủng long: chúng thực ra không hẳn có thể gọi là khủng long, mà là một thành viên nguyên thủy của phân nhóm Avroatarsalia, bao gồm khủng long và những họ hàng rất gần nhất của chúng. Các thành viên của nhóm này có đuôi dài, cơ bắp chân to và hông có thêm xương liên kết chân với thân, cho phép chúng di chuyển thậm chí nhanh hơn và hiệu quả hơn so với các bò sát cổ khác. Những con khủng long đầu tiên này hầu như không hề đáng sợ. Hóa thạch chỉ ra rằng chúng chỉ có kích thước của một con mèo nhà, với đôi chân dài và gầy. Và chúng cũng không đông lắm: chỉ có 5% tất cả các dấu vết từ Stryczowice là thuộc về Prorotodactylus, lép vế hoàn toàn so với dấu vết của các loài bò sát nhỏ, động vật lưỡng cư và thậm chí cả các loài săn mồi khác. Tức là đến tận lúc đó, thời đại khủng long vẫn chưa bắt đầu.  Những con khủng long đầu tiên  Trong vòng 15 triệu năm tiếp theo, khủng long tiếp tục đa dạng hóa. Hóa thạch từ khoảng thời gian này cho thấy số lượng các loài ở Ba Lan và sau đó trên khắp thế giới ngày càng tăng. Các dấu vết trở nên lớn hơn và phát triển nhiều hình dạng hơn. Thậm chí, dấu tay đã biến mất ở một số nơi, tức là rất có thể chúng chỉ đi trên hai chân sau thay vì bốn chân như trước, Bộ xương cũng lớn dần lên. Rồi sau đó, tại một số thời điểm giữa khoảng 240 triệu và 230 triệu năm trước, một trong những dòng dõi khủng long nguyên thủy này đã phát triển thành khủng long thực sự. Nhưng thật ra, sự thay đổi là không nhiều, chỉ dừng lại ở một vài biến đổi nhỏ trong giải phẫu: một vết sẹo dài ở cánh tay trên chỉ ra rằng cơ bắp đã lớn hơn, cấu tạo của đốt sống cổ cho thấy dây chằng trở nên mạnh hơn và khớp nơi xương đùi gặp xương chậu đã mở hơn, cấu trúc như cánh cửa, cho thấy tư thế đứng thẳng vững chãi hơn. Tuy nhiên, chính những sự thay đổi khiêm tốn đó đang đánh dấu sự khởi đầu của một cái gì đó lớn hơn.     Cuộc đua sát sao: Trong phần lớn kỷ Tam Điệp, khủng long là một nhóm động vật “bên lề”, bị áp đảo bởi những loài cùng họ cá sấu như Saurosuchus (1) và lưỡng cư khổng lồ như Metoposaurus (2).  Hóa thạch khủng long lâu đời nhất, có niên đại khoảng 230 triệu năm trước, đến từ những vùng có cảnh quan ngoạn mục của Công viên tỉnh Ischigualasto ở Argentina. Các nhà khoa học đã thu thập ở đó trong nhiều thập kỷ, bắt đầu với nhà cổ sinh vật học huyền thoại người Mỹ Alfred Romer vào những năm 1950 và tiếp tục với các nhà nghiên cứu người Argentina Osvaldo Reig và Jose Bonaparte vào những năm 1960. Gần đây, Paul Sereno của Đại học Chicago và Ricardo N. Martinez của Đại học Quốc gia San Juan ở Argentina đã dẫn đầu các cuộc thám hiểm đến Ischigualasto trong những năm 1980 và 1990. Trong số các hóa thạch mà họ tìm thấy có những hóa thạch thuộc về Herrerasaurus, Eoraptor và các sinh vật khác đại diện cho cả ba nhánh chính của khủng long: những con khủng long chân thú ăn thịt (Theropoda); những con khủng long cổ dài, ăn thực vật (sauropodomorph) và những con khủng long hông chim (Ornithischia) có mỏ.  Vào khoảng giữa của kỷ Tam Điệp, khoảng 230 triệu đến 220 triệu năm trước, ba nhóm khủng long chính này ngày càng sinh sôi nảy nở, trong một thế giới mà chúng ta khó có thể nhận ra được. Thời điểm đó chỉ có một châu lục duy nhất được gọi là Pangea, trải dài từ cực này sang cực khác, được bao quanh bởi một đại dương toàn cầu có tên là Panthalassa. Nhưng đó không phải là ngôi nhà an toàn mà chúng ta vẫn biết. Trái đất ấm hơn nhiều, và vì Pangea tập trung chủ yếu ở xích đạo, một nửa vùng đất luôn nóng như thiêu đốt vào mùa hè trong khi nửa còn lại mát hơn vào mùa đông. Những khác biệt về nhiệt độ đã thúc đẩy những mùa mưa bão dữ dội, chia cắt Pangea thành các vùng đặc trưng bởi các mức độ mưa và gió khác nhau. Vùng xích đạo nóng đến mức không thể chịu được và rất oi bức, hai bên là các sa mạc cận nhiệt đới. Các khu vực vĩ độ trung bình khá mát và ẩm ướt hơn nhiều. Khủng long Herrerasaurus, Eoraptor và Ischigualasto sống tập trung ở vùng vĩ độ trung bình với khí hậu tương đối ôn hòa này. Ngoài ra, ở đây còn có những loài khác đến từ Brazil và Ấn Độ, mới được các nhà khoa học biết đến từ những khám phá hóa thạch thú vị gần đây. Nhưng phần còn lại của siêu lục địa thì sao? Liệu những con khủng long thời kỳ đầu có bắt đầu chinh phục những vùng đất khắc nghiệt khác một cách dễ dàng, như những gì chúng ta vẫn thường ca ngợi về khả năng của chúng?   Vào năm 2009, một vài tháng sau cuộc thám hiểm đầu tiên của chúng tôi ở Ba Lan, Butler và tôi đã hợp tác với Octavio Mateus của Bảo tàng Lourinha ở Bồ Đào Nha. Chúng tôi muốn kiểm tra giả thuyết này bằng cách khám phá một vành đai khô cằn cận nhiệt đới ở phía Bắc Pangea Bồ Đào Nha. Chúng tôi hy vọng tìm thấy khủng long, nhưng thay vào đó lại tìm thấy một nghĩa địa khổng lồ gồm hàng trăm loài lưỡng cư thông minh với kích thước bằng một chiếc xe hơi. Chúng tôi gọi chúng là Metoposaurus Algarvensis . Chúng là những loài cai trị hồ và sông ở kỷ Tam Điệp, tuy nhiên vẫn không thoát khỏi số phận là nạn nhân của sự thay đổi kỳ lạ trong thời tiết. Chính sự thất thường trong thời tiết ở Pangean đã khiến sông và hồ cạn kiệt. Tiếp tục khai quật, chúng tôi bắt đầu tìm thấy hóa thạch của nhiều loài cá, bò sát cỡ chó poodle và tổ tiên của cá sấu. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, chúng tôi vẫn chưa bắt gặp ngay cả chỉ một mẩu xương khủng long. Và có lẽ điều này sẽ không bao giờ xảy ra.  Ma-rốc và vùng biển phía Đông Bắc Mỹ là nơi có thể tìm thấy những khu vực với nhiều hóa thạch quý giá trong khoảng từ 230 triệu đến 220 triệu năm trước. Và ở đây, điều tương tự như những gì chúng ta đã thấy ở Bồ Đào Nha lại lặp lại: rất nhiều động vật lưỡng cư và bò sát nhưng không có khủng long. Tất cả những nơi này nằm trong khu vực khô cằn của Pangea. Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, trong thời kì sơ khai của quá trình tiến hóa, khủng long đa dạng hóa khá chậm, chủ yếu tập trung ở những khu vực ôn hòa ẩm ướt, chứ không thể tiến ra sa mạc. Đó chẳng phải là một câu chuyện dễ tin: thay vì một sinh vật vượt trội, sinh sổi nảy nở khắp Pangea ngay thời điểm bắt đầu, khủng long chẳng thể chống lại được cái nóng. Vậy nhưng, ngay tại thời điểm chúng ta nghĩ rằng khủng long không bao giờ có thể thoát khỏi số phận ấy, hai điều may mắn bất ngờ xảy đến. Đầu tiên là, trong khu vực ẩm ướt, loài động vật ăn cỏ lớn và chiếm ưu thế lúc bấy giờ – một loại bò sát tên là rhynchizards và anh em họ có vú của chúng được gọi là dicynodont đi vào suy tàn rồi biến mất hoàn toàn ở một số khu vực chưa rõ lí do. Việc chúng suy yếu vào khoảng 225 triệu đến 215 triệu năm trước đã tạo cơ hội cho các loài sauricomom nguyên thủy ăn thực vật như Saturnalia, một loài khủng long cổ với kích thước chỉ bằng con chó và chiếc cổ hơi dài, nắm lấy một vị trí quan trọng. Trước đó, các tiền thân của loài khủng long này là động vật ăn cỏ ở các khu vực ẩm ướt trên Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Cơ may thứ hai chính là việc vào khoảng 215 triệu năm trước, khủng long cuối cùng đã xâm nhập vào các sa mạc ở Bắc bán cầu. Điều này có lẽ là do sự dịch chuyển của gió mùa và lượng carbon dioxide trong khí quyển làm giảm bớt sự khác biệt giữa ẩm ướt và các khu vực khác, khiến cho khủng long di cư giữa các khu vực địa lý một cách dễ dàng hơn.Tuy nhiên, chúng vẫn còn một chặng đường dài phía trước.  Những bằng chứng tốt nhất về những con khủng long sống ở sa mạc đầu tiên này được tìm thấy từ các khu vực một lần nữa bị bỏ hoang ngày nay, ở vùng đất đầy màu sắc của miền Tây Nam nước Mỹ.   Trong hơn một thập kỷ, một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ đã khai quật khu vực Hayden Quary, một khu vực giàu hóa thạch ở Ghost Ranch ở New Mexico. họ đã tìm thấy rất nhiều xương động vật lưỡng cư có liên quan chặt chẽ với Metoposaurus, cá sấu nguyên thủy, và một loạt các loài bò sát có thể bơi và leo cây. Ngoài ra còn có hóa thạch của khủng long trong mỏ đá Hayden, mặc dù không nhiều: chỉ có một vài khủng long chân thú săn mồi (theropod), mỗi loài được đại diện bởi một vài hóa thạch. Không có loài ăn thực vật: không có loài nào có cổ dài – mặc dù tổ tiên của chúng rất phổ biến ở các khu vực ẩm ướt, không có loài nào là tổ tiên của loài chim ăn thịt (Ornithischia). Nhóm nghiên cứu lập luận rằng, một lần nữa, khủng long lại hứng chịu sự khắc nghiệt của thời tiết: sa mạc là một môi trường không ổn định với nhiệt độ và lượng mưa dao động lớn, với những trận cháy rừng dữ dội trong một số thời điểm trong năm và những đợt ẩm ướt ở những khoảng thời gian khác. Thực vật gặp khó khăn trong việc tạo ra các cộng đồng ổn định, điều đó có nghĩa là khủng long ăn thực vật không có nguồn thức ăn ổn định. Do đó, khoảng 20 triệu năm sau khi chúng bắt đầu xuất hiện và thậm chí sau khi chúng đã đảm nhận vai trò động vật ăn cỏ lớn trong hệ sinh thái ẩm ướt, chuyển hướng di cư sang các sa mạc nhiệt đới, khủng long vẫn chưa tiến hành một cuộc cách mạng toàn cầu.  Sự cạnh tranh khốc liệt  Bất cứ khi nào bạn nhìn vào kỉ Tam Điệp, từ khi con khủng long đầu tiên xuất hiện khoảng 230 triệu năm trước cho đến giai đoạn kết thúc của chúng vào 201 triệu năm trước, câu chuyện vẫn như vậy. Chỉ có một vài loài khủng long có thể sống ở một số nơi thế giới, và bất cứ nơi nào chúng có mặt, dù trong rừng ẩm ướt hay sa mạc khô cằn, chúng đều được bao quanh bởi những loài động vật lớn hơn, phổ biến hơn và đa dạng hơn. Ví dụ, những con khủng long thời kì đầu chỉ chiếm khoảng 10 đến 20% tổng hệ sinh thái. Tình hình tương tự được tìm thấy ở Brazil và, hàng triệu năm sau, tại mỏ đá Hayden. Trong mọi trường hợp, khủng long đã bị áp đảo bởi động vật có vú, động vật lưỡng cư khổng lồ và bò sát. Hơn cả, chúng còn bị những người anh em họ thân thiết tên gọi là pseudosuchia, lấn át. Tuy nhiên, nhiều cây đại thụ trong lĩnh vực cổ sinh vật học, bao gồm Robert Bakker và Alan Charig, lại lập luận rằng khủng long rất dễ thích nghi, với tốc độ, sức chịu đựng và sự thông minh của chúng, đã nhanh chóng hạ gục anh em họ cá sấu cổ và các đối thủ khác trong kỷ Tam Điệp. Nhưng ý tưởng này dường như không đồng nhất với các bằng chứng hóa thạch. Có cách nào tôi có thể kiểm chứng chúng hay không?  Sau khi đắm mình vào các tài liệu thống kê, tôi nhận ra rằng hai thập kỷ trước các nhà cổ sinh vật học nghiên cứu động vật không xương sống đã đưa ra một phương pháp đo lường sự đa dạng giải phẫu trong một nhóm các loài mà đến nay đã bị các nhà nghiên cứu khủng long bỏ qua. Phép đo này được gọi là chênh lệch hình thái. Nếu tôi có thể theo dõi sự chênh lệch trong sự đa dạng của khủng long và cá sấu cổ ở kỷ Tam Điệp,  tôi có thể biết liệu chúng có trở nên đa dạng hơn hay không và với tốc độ như thế nào, từ đó suy ra chúng thành công một cách dần dần hay đột ngột trong cuộc chiến sinh tồn, và liệu một nhóm có chiếm ưu thế so với nhóm còn lại. Và kết quả là trong suốt thời kì Tam Điệp, pseudosuchia, hay cá sấu cổ, đa dạng về mặt giải phẫu hơn, điều cho cho biết chúng có chế độ ăn đa dạng hơn và nhiều cách kiếm ăn hơn. Dù cả hai đều phát triển và trở nên đa dạng, cá sấu cổ luôn vượt xa khủng long. Vậy là trái ngược với quan điểm phổ biến rằng khủng long là động vật siêu hạng vượt trội lấn át hết đối thủ, chúng thực sự đã thua những con cá sấu cổ trong phần lớn thời gian chung sống lâu dài.  Kẻ biết nắm bắt cơ hội  Những phân tích thống kê đã đưa chúng tôi đến một kết luận mang tính đột phá: những con khủng long đầu tiên không hề đặc biệt, ít nhất là so với sự đa dạng của các loài động vật khác cùng thời kỳ. Nếu bạn sống và khảo sát quang cảnh Pangea vào thời điểm đó, có lẽ bạn còn coi khủng long là một loài khá yếu. Và trong một cuộc cá cược, bạn sẽ đặt vào một loài động vật nào khác, ví dụ như những con cá sấu cổ với sự đa dạng sinh học đáng nể, để chiếm ưu thế, trở nên khổng lồ và rồi chinh phục thế giới. Nhưng tất nhiên, chúng ta biết rằng chính loài khủng long mới là kẻ thắng cuộc, phát triển vượt trội và thậm chí hậu duệ của chúng còn tồn tại đến tận ngày nay với hơn 10.000 loài chim. Ngược lại, chỉ có hai chục loài cá sấu hiện đại ở thời kì của chúng ta.   Vậy làm thế nào mà khủng long cuối cùng đã giành lấy vương miện từ anh em họ cá sấu? Yếu tố lớn nhất dường như là một sự may mắn khác, và hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của khủng long. Tới cuối của kỉ Tam Điệp, những lực địa chất lớn đã kéo Pangea từ cả phía Đông và phía Tây, khiến siêu lục địa này bị nứt gãy. Ngày nay, Đại Tây Dương đã lấp đầy khoảng trống đó, nhưng vào thời điểm bấy giờ,  nó biến thành một ống dẫn cho mắc-ma (magma). Trong hơn nửa triệu năm, sóng thần dung nham tràn ngập trên phần lớn vùng trung tâm của Pangea, tương tự như các vụ phun trào núi lửa khổng lồ đã đóng cửa Permi 50 triệu năm trước. Giống như những lần phun trào trước đó, điều này cuối cũng gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt. Các con cá mập thuộc dòng cá sấu đã bị tiêu diệt, chỉ có một vài loài bao gồm tổ tiên của cá sấu và cá sấu ngày nay có thể chịu đựng được. Khủng long, mặt khác, dường như không cảm nhận được sự ảnh hưởng của thảm họa này. Tất cả các chi chính của khủng long đều đã đi vào giai đoạn tiếp theo của các kỷ địa chất, Thời kỳ kỷ Jura. Khi thế giới đang đi xuống địa ngục, khủng long lại phát triển mạnh, tận dụng bằng một cách nào đó sự hỗn loạn xung quanh chúng. Tôi ước mình có một câu trả lời hợp lý cho câu hỏi: Điều gì đặc biệt ở khủng long đã khiến chúng có một lợi thế so với cá sấu cổ, hay chúng chỉ đơn giản là vô tình thoát khỏi vụ tai nạn máy bay, được cứu bởi sự may mắn tuyệt đối khi rất nhiều người khác thiệt mạng? Đây là một câu đố cho các thế hệ nhà cổ sinh vật học tiếp theo tiếp tục mày mò giải quyết. Dù lý do là gì, kết quả đối với khủng long cũng thật viên mãn: được giải thoát bởi sự thống trị của cá sấu cổ, những con khủng long này đã có cơ hội phát triển thịnh vượng trong kỷ Jura. Chúng trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn và lớn hơn bao giờ hết. Các loài khủng long hoàn toàn mới đã tiến hóa và di cư rộng rãi, có một vị trí tự hào trong hệ sinh thái trên cạn trên toàn thế giới. Và cả thế giới đã được chiêm ngưỡng những con khủng long chân thằn lằn (sauropod) khổng lồ làm rung chuyển Trái đất khi chúng bước đi, tổ tiên ăn thịt của T-rex bắt đầu phát triển kích cỡ, và rồi một loạt các con khủng long chân thú (theropod) trở nên nhỏ hơn, cánh tay dài hơn và bắt đầu có những bộ lông để che phủ cơ thể – tổ tiên của loài chim sau này. Khủng long cuối cùng đã trở thành những kẻ thống trị. Mặc dù phải chờ sau 30 triệu năm đằng đẵng, nhưng cuối cùng, chúng cũng chiến thắng.□  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: Scientific American số ra vào tháng 5/2019    Ngay sau khi nghiên cứu đó được công bố, tôi đã được Max C. Langer, một nhà cổ sinh vật học người Brazil tiếp cận. Ông đã hoài nghi về phả hệ mới và tuyển dụng một nhóm các chuyên gia về khủng long sơ khai để tìm hiểu về bộ dữ liệu của Baron. Vì tôi đã nghiên cứu các dấu vết tại Ba Lan và các hóa thạch quan trọng khác từ kỉ Tam Điệp nên Langer yêu cầu tôi trở thành một phần của nhóm. Trong vòng một tháng, chúng tôi cẩn thận xem xét bộ dữ liệu và ghi nhận những bất đồng của chúng tôi đối với việc cách các nhóm khác mô tả các tính năng nhất định. Sau đó chúng tôi phân tích các đặc điểm với những điểm mà chúng tôi đã sửa chữa. Kết quả của cây phả hệ lại trở về với saurischia và ornithischia, mặc dù các thử nghiệm thống kê cho thấy rằng sự sắp xếp này không phải hẳn là vượt trội so với cây phả hệ của Baron. Chúng tôi đã trình bày kết quả của mình trong một bài báo trên tờ Nature vào mùa thu năm 2017. Những kết quả này chỉ ra rằng các nhà khoa học không có một hiểu biết đủ rõ ràng về hình dạng của cây phả hệ khủng long. Dường như sự vội vã của những khám phá mới ở Argentina, Brazil, Ba Lan và những nơi khác trong 15 năm qua đã khiến cho bức tranh bị vấy bẩn. Chúng tôi thực sự tin rằng các thành viên đầu tiên của ba dòng dõi khủng long lớn có sự tương đồng đáng kể về kích thước cơ thể và giải phẫu. Điều này làm cho việc xác định các mối quan hệ của chúng trở nên khó khăn. Có lẽ điều này sẽ được các nhà cổ sinh vật học thế hệ tiếp theo giải đáp, và rất có thể, chúng ta sẽ lại dựa vào những hóa thạch mới được tìm thấy để giải quyết.     Author                Stephen Brusatte        
__label__tiasang Chiến tranh tài năng      Năm 1943, nói chuyện tại Đại học Harvard, cựu thủ tướng Anh Winston Churchill nhận định: “Các đế quốc tương lai sẽ là đế quốc trí tuệ”. Hàm ý của ông có thể là, các cuộc chiến tranh tương lai sẽ là chiến tranh giành giật tài năng. Và điều đó nay đã trở thành hiện thực sinh động. Hiểu thấu đáo xu thế mới mẻ này của thế giới và có chính sách ứng xử phù hợp là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà nước hiện nay.    Ngày nay, bên cạnh các cuộc chiến tranh giành tài nguyên thiên nhiên, còn có những cuộc chiến tranh giành nhân tài, không chỉ giữa các công ty mà giữa các quốc gia; bên cạnh “sự cân bằng quyền lực” đã hình thành “sự cân bằng trí tuệ” giống như bên cạnh nền kinh tế hàng hóa truyền thống đã hình thành nền kinh tế tri thức.            Khu công nghệ cao Quan Trung Thôn, nơi thu hút nhân tài của Trung Quốc        Nhân tài như lá mùa thu  Mới đây CEB – một tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo và nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp có trụ sở tại Washington DC, tiến hành một cuộc thăm dò quốc tế các giám đốc nhân sự và ghi nhận rằng có ¾ những người được hỏi ý kiến cho rằng “thu hút và giữ chân” nhân tài là ưu tiên số một của họ; 62% thường xuyên lo lắng về tình trạng thiếu người tài. Hỏi ý kiến 4.000 nhà tuyển dụng ở 30 tập đoàn công ty, CEB ghi nhận rằng chất lượng bình quân của các ứng viên vào các vị trí được tuyển dụng đã giảm 10% so với năm 2004; thời gian cần thiết để tuyển người tăng từ 37 ngày lên 51 ngày và 1/3 số nhà tuyển dụng thú nhận phải tuyển người chưa đạt yêu cầu để lấp chỗ trống.  Từ sản xuất hàng hóa sang kinh tế tri thức, thế giới đang trải qua nhiều sự thay đổi về cơ cấu khiến cho vấn đề tài năng ngày càng trở nên quan trọng. Thay đổi quan trọng nhất là sự gia tăng tài sản vô hình – loại tài sản được tạo ra từ tài năng và trí tuệ. Bên cạnh các hoạt động sản xuất thâm dụng vốn (capital-intensive), thâm dụng lao động (labour-intensive) đã xuất hiện những hoạt động thâm dụng tài năng (talent-intensive) mà công nghệ thông tin là lĩnh vực tiêu biểu. Theo một số nhà kinh tế, tài sản vô hình của doanh nghiệp – từ lực lượng lao động lành nghề đến bằng sáng chế, bí quyết công nghệ và giá trị thương hiệu –  hiện chiếm hơn 50% tổng vốn thị trường của các công ty Mỹ có niêm yết trên thị trường chứng khoán; còn theo công ty tư vấn Accenture, tỷ lệ tài sản vô hình trong danh sách 500 công ty hàng đầu thế giới Standard&Poor đã tăng từ 20% năm 1980 đến 70% hiện nay.  Sự già đi của dân số ở nhiều nước làm giảm sút nhanh chóng đội ngũ quản lý cấp cao ở các doanh nghiệp, nhất là ở Châu Âu và Nhật Bản: đến năm 2025, số người trong độ tuổi lao động sẽ giảm 7% ở Đức, 9% ở Ý và 14% ở Nhật. Trung Quốc đang nhìn thấy hậu quả nặng nề của chính sách mỗi gia đình một con và Mỹ chứng kiến cuộc về hưu hàng loạt của những “baby-boomers” khiến cho một nửa số cán bộ quản lý cấp cao của 500 công ty Mỹ hàng đầu sẽ nghỉ việc trong vòng 5 năm tới mà chưa có nguồn thay thế. Nhu cầu nhân tài vì vậy đang là nỗi ám ảnh các nhà quản trị doanh nghiệp khắp thế giới. Khi không còn cơ hội tìm kiếm tài năng trong nước, các công ty phải vươn ra hải ngoại, cuộc “săn đầu người” hiện đang diễn ra trên quy mô toàn cầu.  Khắp nơi trải thảm đỏ  Ngay cả các chính phủ cũng bức xúc không kém và mỗi nước đều lặng lẽ tiến hành các chiến lược riêng để thu hút nhân tài từ các nguồn khác nhau vào công cuộc phát triển đất nước.  Nghiên cứu phong trào di dân trong thế giới hiện nay, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, những người thường di chuyển từ nước này sang nước khác không phải là người nghèo, người ưa lãng du mà là những người có trình độ cao, thường được các chính phủ, các công ty mồi chài hoặc săn đón. Có lẽ quốc gia có chiến lược rõ ràng (và hiệu quả) nhất trong việc thu hút nhân tài chính là Singapore. Nhà chính trị lão thành Lý Quang Diệu từng nói “nhân tài được đào luyện chính là chất men làm xã hội chuyển hóa và thăng hoa”. Lúc đầu, Singapore tập trung thu hút kiều dân Singapore từ nước ngoài trở về; bây giờ thì họ phải “nhập khẩu” tài năng nước ngoài khi nguồn tài năng trong kiều dân đã cạn. Chỉ có 3% số công ty Singapore gặp khó khăn với thủ tục nhập cư khi tuyển dụng nhân viên là người nước ngoài, trong khi con số này ở Trung Quốc là 24%, còn ở Mỹ là 46%. Đặc biệt Singapore rất quan tâm tới tài năng khoa học, nhất là y-sinh học. Viện nghiên cứu Gen của Singapore có 170 cán bộ khoa học, trong đó 120 người nước ngoài.  Đại học là con đường chiêu mộ nhân tài có hiệu quả nhất. Singapore đầu tư rất mạnh vào 4 đại học hàng đầu của quốc gia, 2 trong số đó (NUS và NTU) xếp hạng rất cao trong danh sách các đại học hàng đầu Châu Á. Những khoản tài trợ lớn của chính phủ Singapore đã giúp các đại học này khuyến dụ những học sinh giỏi nhất khu vực Châu Á đến học tập và làm việc “trả nợ”, trong đó Việt Nam góp phần không nhỏ. Pháp, Đức và Nhật đang xây dựng các chương trình giảng dạy đại học và sau đại học bằng tiếng Anh để thu hút sinh viên nước ngoài; Pháp quyết nâng tỷ lệ sinh viên nước ngoài từ 7% hiện nay lên 20% vào cuối thập niên này. Australia thì vạch ra một lộ trình cho sinh viên nước ngoài, từ học tập đến làm việc rồi nhập tịch thành công dân xứ sở kangooroo.  Hai nền kinh tế đang nổi lên của Châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ có con đường riêng để giải bài toán thiếu hụt nhân tài: thu hút kiều bào. Trung Quốc và Ấn Độ đều có lượng kiều dân đông đảo và thành đạt ở hầu khắp các nước trên thế giới. Trước khi Trung Quốc đổi mới năm 1978, chỉ có rất ít Hoa kiều hồi hương nhưng sau đó phong trào Hoa kiều quay về đầu tư làm ăn tại quê hương đã bùng nổ cùng với đà mở cửa và hội nhập kinh tế của Trung Quốc. Các nhà đầu tư gốc Hoa từ Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc và các nước Châu Á khác chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Hiện nay số sinh viên Trung Quốc du học tại các nước phát triển đang được nhà nước khuyến khích quay về, mang theo kiến thức công nghệ tiên tiến tích lũy được ở Mỹ, Nhật, Đức. Chính họ, chứ không phải là các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, là người chuyển giao công nghệ hiện đại vào nền kinh tế Trung Quốc. Công viên khoa học Trung Quan Thôn ở ngoại ô Bắc Kinh, các khu công nghiệp ở Thượng Hải và Thâm Quyến trải thảm đó đón các nhân tài này. Họ đang làm điều mà cựu tổng bí thư Triệu Tử Dương nói năm 1987: “tích lũy sức mạnh trí tuệ ở nước ngoài”.  Chính phủ Trung Quốc có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với nhân tài hồi hương, từ việc tạo điều kiện sống và làm việc tốt nhất cho đến đứng ra bảo lãnh cho họ vay vốn đầu tư kinh doanh hoặc bố trí cho họ những chức trách rất cao trong bộ máy nhà nước. Bắc Kinh lập văn phòng đại diện ở thung lũng Silicon để làm cầu nối với giới công nghệ Hoa kiều ở Mỹ; Thượng Hải thì có hẳn “sàn giao dịch nhân tài” bên cạnh sàn giao dịch chứng khoán. Cao trào công ty dotcom ở Mỹ sụp đổ năm 2000 đúng lúc nền kinh tế Trung Quốc cất cánh, hàng loạt tài năng tin học gốc Hoa kéo nhau về nước, trở thành lực lượng thúc đẩy công nghệ cao của Trung Quốc. Từ năm 2000 đến nay mỗi năm có khoảng 20.000 người Hoa, phần lớn là giới trẻ có trình độ cao, hồi hương theo lời mời gọi của chính quyền. Cũng nên lưu ý rằng trước đó vài thập niên Hàn Quốc và Đài Loan cũng có những chính sách tương tự; một phần ba số doanh nghiệp của Đài Loan là do những người Hoa trở về từ Mỹ và Nhật Bản sáng lập và điều hành.  Cũng vào thời điểm 2000, có khoảng 25.000 chuyên gia tin học Ấn Độ rời thung lũng Silicon ở California trở về xây dựng Thành phố Điện tử ở Bangalore. Chính phủ Ấn áp dụng một loại thị thực (visa) đặc biệt cho giới này. Các nhà kinh tế tính ra rằng hiện thời 20 triệu Ấn kiều khắp thế giới tạo ra một sản lượng tương đương 35% GDP của Ấn Độ và nhà nước Ấn Độ có tham vọng huy động tối đa trí tuệ và tài sản của cộng đồng Ấn kiều này vào công cuộc xây dựng đất nước.  Vũ khí để chiến thắng  Mỗi cuộc chiến tranh đòi hỏi chiến lược chiến thuật riêng, vũ khí riêng phù hợp với nó và cho đến nay Mỹ vẫn là cường quốc số 1 trong cuộc chiến tranh tài năng này. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng cuộc hồi hương ồ ạt của những chuyên gia Hoa kiều và Ấn kiều từ năm 2000 đến nay sẽ làm trầm trọng tình trạng thiếu hụt nhân tài của Mỹ. Sau vụ khủng bố 11-9 và nỗi lo an ninh thường trực đã khiến Mỹ siết chặt các thủ tục nhập cư, kể cả đối với sinh viên du học và làm chậm tiến trình nhập cư vào Mỹ của những thành phần tài năng khắp thế giới. Thời tổng thống Bill Clinton, mỗi năm Mỹ cấp gần 200.000 visa loại H1B cho người lao động có trình độ cao vào Mỹ làm việc; song từ 2001 đến nay, số visa này chỉ còn khoảng 70.000 mỗi năm và thường cấp hết ngay trong tuần đầu tiên phát hành. Quả là nước Mỹ đang thiếu trầm trọng chuyên gia trình độ cao như kết quả khảo sát ở trên; một nửa số doanh nghiệp Mỹ gặp khó khăn lớn về thủ tục khi tuyển nhân sự trình độ cao ở nước ngoài đưa vào Mỹ làm việc; ngay cả sinh viên nước ngoài tốt nghiệp ở Mỹ cũng khó xin ở lại làm việc vì chính sách của Mỹ buộc các công ty ưu tiên công việc cho người bản xứ.  Ấy thế nhưng Mỹ vẫn là “nam châm” thu hút nhân tài từ khắp thế giới, nhờ hai yếu tố cốt lõi: một hệ thống giáo dục đại học chất lượng cao, một môi trường kinh doanh hết sức thuận lợi cho các ý tưởng sáng tạo. Bình đẳng về cơ hội và đãi ngộ tài năng ở mọi lĩnh vực là điểm sáng nhất của xã hội Mỹ.  Cho đến nay bất chấp những khó khăn về thủ tục visa và chi phí cao ngất trời, vẫn có khoảng 30% số sinh viên du học nước ngoài chọn đại học Mỹ làm nơi dùi mài kinh sử và số lượng này sẽ ngày càng tăng khi các nước đang phát triển ngày một giàu thêm. Một năm đại học ở Mỹ tốn gấp đôi ở Nhật Bản, gấp ba ở Châu Âu song đại học Mỹ vẫn rất hấp dẫn bởi điều kiện học tập-nghiên cứu, tự do tư tưởng và phát huy sáng tạo không nơi nào sánh kịp. Tất nhiên không phải trường đại học nào của Mỹ cũng tốt nhưng phần lớn các trường tốt nhất đều nằm ở Mỹ.  Doanh nghiệp Mỹ đầu tư cho nghiên cứu phát triển nhiều hơn đồng sự ở Châu Âu 30%, sẵn sàng “tài trợ” cho các ý tưởng mới bằng các quỹ đầu tư mạo hiểm, và cũng sẵn sàng trả thù lao rất cao cho những ai thật sự có tài. Mối liên kết chặt chẽ giữa trường đại học- tập đoàn kinh tế để thúc đẩy nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài xứng đáng là mẫu mực để các hệ thống giáo dục khắp thế giới phải học tập. Nhờ những yếu tố này, Mỹ chưa cần phải áp dụng các biện pháp hành chính như ưu đãi vật chất, cải tiến thủ tục visa song vẫn thu hút mạnh mẽ các nhân tài từ khắp các châu lục đến góp phần vào sức mạnh kinh tế và khoa học của Mỹ. Có chi tiết đáng chú ý là một nửa số nhà khoa học Mỹ nhận giải Nobel Vật lý trong 8 năm qua là người nhập cư, hơn một nửa tiến sĩ khoa học đang làm việc ở Mỹ đã được sinh ra ở nước ngoài.  Con đường nào cho Việt Nam?  Trên bia đá ở Văn Miếu Hà Nội, tiền nhân đã viết “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” – lời dạy đó càng thấm thía trong thời đại mà tri thức đã trở thành tư liệu sản xuất hàng đầu. Nhưng rất tiếc hình như Việt Nam chưa sẵn sàng cho cuộc chiến tranh tài năng, chưa có chiến lược hợp lý trong việc thu hút, sử dụng và bồi bổ nhân tài.  Qua nhiều năm chiến tranh cách mạng đã hình thành chủ trương tin cậy người “trung thành” hơn người tài; dù rằng tài năng có thể “thi thố” được một cách khách quan còn lòng “trung thành” thì gần như không thể “đo” được. Vả lại, cổ nhân cũng nói “tài sinh tật”; hậu quả là người có tài năng, có phẩm hạnh hoặc bị gạt ra rìa, hoặc tự chọn lối sống “đắp tai ngoảnh mặt” rất thiệt thòi cho đất nước – “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Thời bao cấp cơ chế “bình quân” khiến cho đôi lúc các trí thức, giáo sư, bác sĩ được đối đãi không hơn gì cô mậu dịch viên và tình trạng đó đã nêu một tấm gương rất xấu cho sự phấn đấu của lớp trẻ.  Tâm lý học để làm quan, làm cán bộ có từ thời xa xưa có môi trường nảy nở trong xã hội phong kiến mới. Một hệ thống giáo dục đại học cổ lỗ đầy khuyết tật đã không bồi bổ được nhân tài trong nước, làm sao thu hút được tài năng kiệt xuất của nước ngoài? Người Việt ở nước ngoài, tuy không đông đảo bằng người Hoa, không giàu có và thành đạt như người Ấn, tuy nặng lòng với quê cha đất tổ song đóng góp rất hạn chế, ngoài việc gửi tiền cho thân nhân sinh sống thì vẫn chưa có sự đầu tư nào đáng kể. Nguyên nhân có lẽ từ cả hai phía, song tiên trách kỷ, những chính sách đối với kiều bào vẫn chưa đủ liều lượng, chưa tạo được lòng tin cậy để dấy lên cao trào Việt kiều đem vốn liếng, tài năng, tri thức quay về phát triển quê hương như hiện tượng đang diễn ra tại Trung Quốc và Ấn Độ.  Nhà văn Lev Tolstoi nhận xét: “Nhân tài tồn tại trong nhân dân như tia lửa trong hòn đá lửa” – vấn đề là cơ chế như thế nào để hòn đá lửa bắn ra tia lửa, thắp sáng con đường đi lên của dân tộc trong cuộc cạnh tranh toàn cầu khốc liệt hôm nay.  Huỳnh Hoa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến tranh thời công nghệ cao      Chiến tranh hiện đại không chỉ xảy ra trên  mặt đất, trên và dưới mặt nước, trên bầu trời, mà cả trong không gian  ảo. Cyber war – chiến tranh trên không gian mạng – đã trở thành một mặt  trận quan trọng. Đó là do toàn bộ hệ thống tác chiến hiện đại đều xây  dựng trên cơ sở máy tính và mạng, hệ thống vệ tinh.     Vệ tinh dẫn đường cho tất cả các máy bay và tên lửa đạn đạo. Một tướng lĩnh Trung Quốc nói: Cả thế giới hiện nay chỉ có Mỹ, Nga, Trung Quốc sở hữu hệ thống định vị toàn cầu; nước khác muốn bắn tên lửa tới tầu sân bay đối phương mà không được một trong ba nước đó giúp mở hệ thống định vị thì không thể bắn trúng mục tiêu. Vì vậy khi có chiến tranh, trước hết phải diệt hệ thống vệ tinh và làm tê liệt mạng máy tính đối phương. Nhiều năm trước, Trung Quốc đã thử dùng tên lửa hạ một vệ tinh hết thời hạn của họ. Vài năm nay, Mỹ liên tục thử thành công máy bay vũ trụ không người lái X-37B có thể bay liền 290 ngày không hạ cánh, với vận tốc tối đa 30.000 km/h ở độ cao 60 km và khi cần có thể bay lên quỹ đạo trái đất ở độ cao 203-926 km (như tàu con thoi). Nó có thể bắn hạ hoặc bắt giữ vệ tinh, tiêu diệt các mục tiêu trên trái đất, trong vũ trụ; trong vòng 1-2 giờ có thể bay tới bất kỳ mục tiêu nào trên trái đất khiến đối phương chưa kịp trở tay đã bị tiêu diệt.  Ấn Độ đang gấp rút xây dựng hệ thống định vị toàn cầu của riêng nước họ cũng là để phục vụ nhiệm vụ kinh tế, quân sự, v.v… Dĩ nhiên đây là một hệ thống vô cùng tốn kém và đòi hỏi có trình độ cao về khoa học công nghệ.  Cách thông thường làm tê liệt hệ thống máy tính-mạng của đối phương là dùng virus xâm nhập hệ thống đó. Virus W32 Flamer của Israel từng làm cho công nghiệp dầu mỏ và hạt nhân của Iran bị trục trặc một thời gian dài. Các máy tính nhiễm virus sẽ tự phân tích quy luật hoạt động của mình, tự động ghi chép mật mã và quy luật gõ bàn phím… rồi phát mọi thông tin cần thiết về máy chủ điều khiển virus đó. Nhờ thế Israel có thể đưa ra đối sách kịp thời đối phó Iran.   Các cường quốc đều xây dựng hệ thống theo dõi lén điện thoại và e-mail của người dân và của các nước khác, kể cả đồng minh. Năm 1967, tình báo Israel nghe lén được cuộc điện thoại giữa Tổng thống Ai Cập với vua Jordan, nhờ thế ngày 5/6/1967 Israel bất ngờ tấn công Ai Cập, Jordan, Syria, và chỉ sau sáu ngày đã hoàn toàn áp đảo ba nước này. Năm 1985, Israel nghe trộm được cú điện thoại giữa lãnh tụ Arafat của Mặt trận Giải phóng Palestin (PLO) với một đơn vị bộ đội PLO, nhờ vậy ngăn chặn được cuộc tấn công của PLO.   Đơn vị 8200 thuộc Bộ Quốc phòng Israel được giao nhiệm vụ nghe lén và tiến hành chiến tranh trên mạng. Nó hoạt động tương tự Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA, nơi vừa xảy ra vụ Snowden tiết lộ bí mật hệ thống nghe lén của Mỹ) hoặc GCHQ của Anh.   Unit 8200 tập trung những nhân tài điện toán giỏi nhất, chủ yếu là các hacker trẻ. Họ tạo ra sâu máy tính Stuxnet năm 2010 xâm nhập mạng máy tính của Iran và làm cho các thiết bị hạt nhân Iran bị trục trặc nặng. Các thành viên Unit 8200 khi giải ngũ đều lập công ty, một số trở thành tỷ phú công nghệ máy tính. Ông Martens Đại sứ Israel tại Trung Quốc hiện nay nguyên là chỉ huy đơn vị 8200. Dư luận cho rằng Tổng thống Obama vì không muốn để Israel đánh bom cơ sở công nghiệp hạt nhân Iran nên đã khuyến khích Israel phát triển chiến tranh mạng, vì cách này cũng đạt được công hiệu tương tự.  “Nói một cách đơn giản, yếu tố quyết định thắng thua trong cuộc chiến tranh tương lai sẽ không dựa vào máy bay và trọng pháo, mà dựa vào thao tác trên bàn phím máy tính, dựa vào bàn phím để điều khiển hệ thống mạng và các trang bị tác chiến hiện đại, qua đó thực hiện cú tấn công hủy diệt hệ thống tác chiến và trận địa tác chiến của đối phương” – tướng Yair Cohen chỉ huy đơn vị 8.200 nói tại hội nghị Tổng thống Israel (19/6/2013).   Báo Trung Quốc đưa tin Mỹ là nước đầu tiên thành lập các đơn vị kỹ thuật số (digitalized units) năm 2001. Trong đơn vị kiểu mới này, mọi người lính và sĩ quan đều nhận được nhanh nhất các thông tin về chiến đấu, chi viện chiến đấu và bảo đảm hậu cần, giúp nâng cao khả năng xử lý tình huống. Hỏa lực pháo phát bắn đầu tiên của đơn vị số hóa có hiệu suất trúng đích đạt 73%, gấp chín lần đơn vị phi số hóa. Đơn vị cơ giới sau khi được số hóa, sức chiến đấu tăng gấp ba lần.   Tiếp đó Anh, Pháp, Đức, Nhật, Israel cũng làm theo Mỹ. Năm 2007, không quân Mỹ lập Bộ Tư lệnh chiến tranh mạng. Tháng 6/2013, quân đội Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức diễn tập chiến tranh mạng (“digital technology” military exercise). Trung Quốc nói cuộc diễn tập này mới đạt trình độ cuộc diễn tập năm 1994 của quân đội Mỹ.  Mỹ cho rằng Trung Quốc đã xâm nhập hệ thống máy tính của họ, lấy cắp dữ liệu của 40 dự án vũ khí công nghệ cao như máy bay F-35, FA-18, tên lửa Patriots và Aegis v.v…   Các chiến lược gia cho rằng trước năm 2018, không quân phương Tây sẽ tiến sang thời đại sử dụng máy bay không người lái là chính, máy bay có người lái là phụ (tỷ lệ 3:2). Muốn vậy phải xây dựng được hệ thống mạng mặt đất tiên tiến. Ngày 10/7 năm nay, Mỹ lần đầu thực hiện thành công hạ cánh máy bay không người lái X-47B trên tàu sân bay George H.W. Bush. Giám đốc dự án máy bay không người lái của Hải quân Mỹ nói đây là một sự kiện mang tính lịch sử.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến tranh thương mại ảnh hưởng tới hệ sinh thái rừng Amazon      “Chúng tôi e ngại rằng cuộc chiến tranh thương mại Mỹ Trung sẽ khiến nạn phá rừng phục vụ cho nông nghiệp ở Brazil gia tăng trên diện rộng”, nhà nghiên cứu về khí hậu học Richard Fuchs nhận định.      Những cánh rừng bị thu hẹp lại nhường chỗ cho những cánh đồng đậu tương.   Do tác động từ cuộc chiến tranh thương mại với Hoa kỳ, Trung Quốc phải gia tăng mạnh nhập khẩu đậu tương từ Brazil. Năm 2018 hai nước đã tiến hành các biện pháp trừng phạt bằng thuế quan lên tới 25%. Điều này làm cho giá đậu tương của Hoa Kỳ xuất khẩu sang Trung Quốc tăng cao và Trung Quốc phải tìm các nhà cung cấp khác. Năm 2018 xuất khẩu đậu tương của Hoa kỳ sang Trung Quốc giảm một nửa. Giải pháp để giải quyết vấn đề này có nhiều khó khăn bởi lẽ cuộc chiến tranh thương mại đang leo thang. Thay vì giảm thuế tổng thống Hoa kỳ Donald Trump doạ sẽ mở rộng các lĩnh vực tăng thuế.  Brazil là nhà sản xuất đậu tương đứng thứ hai trên thế giới. Năm vừa qua đất nước Nam Mỹ này có sản lượng đậu tương lên tới 117 triệu tấn. Tới đây các doanh nghiệp nông nghiệp ở nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ sẽ đẩy mạnh sản xuất đậu tương, một ngành kinh doanh vô cùng béo bở và mang lại lợi nhuận to lớn.   Brazil có thể nhập cuộc để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu đậu tương gia tăng từ Trung Quốc, và hệ quả là sẽ tác động nghiêm trọng tới hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới. “Chúng tôi e ngại rừng ở Brazil sẽ bị chặt phá trên diện rộng do cuộc chiến tranh thương mại này”, theo nhà nghiên cứu khí hậu học Richard Fuchs thuộc Viện Công nghệ Karlruhe (KIT, Đức). “Trong quá khứ, mỗi khi cầu đối với đậu tương tăng thì thường xảy ra nạn phá rừng để lấy diện tích trồng cây đậu tương”.  Các nhà khoa học Đức đã nghiên cứu về tác động của sự biến động trong ngành đậu tương trên thế giới. Cuộc chiến tranh thương mại thực sự là một mối hiểm hoạ đối với vùng rừng mưa nhiệt đới Amazon, một nghiên cứu trên Nature cũng đưa ra cảnh báo. Trong trường hợp xấu nhất, để thoả mãn cơn đói đậu tương của Trung Quốc, Brazil sẽ biến 12,9 triệu ha rừng thành đất nông nghiệp – tương đương với diện tích Hy lạp.  Hiện tại Trung Quốc nhập khẩu 75% đậu tương từ Brazil. Gần đây nhất Trung Quốc nhập 37,6 triệu tấn đậu tương từ Hoa kỳ, Nếu Trung Quốc nhập khối lượng đó từ Brazil thì nước này phải mở rộng diện tích trồng đậu tương thêm 39%. “Brazil là nước duy nhất có thể tăng rất nhanh sản lượng đậu tương”, Fuchs nói. “Thông thường người ta biến bãi chăn thả gia súc thành đất canh tác rồi sau đó phá rừng để lấy đất phục vụ chăn nuôi”.  Việc tranh dành đất đai diễn ra khá thô bạo: các chủ đồn điền thường không quan tâm đến quyền lợi của dân địa phương. Không hiếm trường hợp cư dân bị đuổi khỏi địa bàn của họ vì chủ đồn điền dùng hồ sơ, giấy tờ giả. Nếu việc không thành thì thậm chí dùng súng ống để “nói chuyện”. Theo Uỷ ban quản lý điền địa Brazil thì từ đầu năm đến nay đã có ít nhất 11 người bị giết vì tranh giành ruộng đất.  Theo các nhà khoa học, để góp phần chống nạn triệt phá rừng nhiệt đới thì cần đánh vào túi tiền của người tiêu dùng. Ông Fuchs cho rằng “các nước EU cần đánh thuế cao đối với thịt các loại súc vật được nuôi bằng đậu tương trồng ở những vùng đất do phá rừng amazon. Khoản tiền này dùng để khắc phục phần nào hậu quả huỷ hoại sinh thái”.  Tuy nhiên cần phải khẩn trương. Bởi vì hai năm 1995 và 2004  đã diễn ra nạn phá rừng tồi tệ nhất ở Brazil, mỗi năm có tới 3 triệu ha rừng bị triệt hạ. Nếu lấy con số này làm cơ sở thì sau bốn năm Brazil sẽ khai hoang đủ số diện tích cần thiết để thoả mãn nhu cầu đậu tương của Trung Quốc. Cho dù các nhà sản xuất đậu tương lớn trên thế giới tăng cường sản xuất để phục vụ xuất khẩu, như Argentina chẳng hạn, hay dù Trung Quốc đẩy mạnh sản xuất đậu tương trong nước, thì theo tính toán của các nhà khoa học làm việc tại KIT Brazil vẫn phải khai phá khoảng 5,7 triệu ha, bằng diện tích Croatia.  Chính phủ Brazil dường như vui mừng khi nhu cầu về đậu tương của Trung Quốc tăng cao. Tổng thống dân tuý thiên hữu Jair Bolsonaro lại coi vùng rừng già Amazon cần được tăng cường khai thác trong tương lai. Ngay sau khi nhậm chức hồi đầu năm ông đã giao bộ Nông nghiệp quản lý  địa bàn khu vực rừng cần bảo vệ vốn thuộc cộng đồng dân bản địa và người Brazil gốc Phi. Ông cử nhà vận động hành lang cho nông nghiệp và có ảnh hưởng lớn là bà Tereza Cristina phụ trách lĩnh vực này. Bolsonaro từng nói “Sự thịnh vượng nằm dưới lòng đất bản địa”.  Đối với thổ dân bản địa ở Açaizal thì cây đậu tương ảnh hưởng không tốt đến sinh kế truyền thống của họ.  Ngay sau vùng Açaizal, trước kia là rừng rậm thì nay cánh đồng trồng đậu tương rộng mênh mông kéo dài đến tận chân trời.. “Giờ thì người ta triệt hạ những cánh rừng rộng lớn, chúng tôi không thể tự nuôi bản thân mình”, ông trưởng làng Josenildo thuộc bộ lạc Munduruku, những cư dân sinh sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ rừng, nói.   “Trước kia vùng đất này chỉ là rừng rậm, chúng tôi có nhiều hoa quả và tôm cá”, ông  Paulo da Silva Biseira kể và nhìn cánh đồng đậu tương bao la bát ngát chỉ cách ngôi nhà của mình mươi mét và kéo dài đến tận chân trời. “Thuốc bảo vệ thực vật ngấm vào sông, suối làm cho nước, tôm cá và đất đai cả vùng này bị nhiễm độc”.  Xuân Hoài dịch, theo “Tuần kinh tế”  Nguồn bài và ảnh: https://www.wiwo.de/technologie/green/soja-nachfrage-wie-der-us-handelskrieg-brasiliens-regenwald-in-gefahr-bringt/24308066.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến tranh và hòa bình trên không gian ảo      Hai năm trước một đoạn mã máy tính sai đã thâm nhập vào chương trình hạt nhân của Iran và phá hủy nhiều máy li tâm chuyên dùng cho việc làm giàu uranium. Một số nhà quan sát tuyên bố rằng vụ phá hoại hiển nhiên này là điềm báo của một hình thức chiến tranh mới.     Leon Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ,  đã cảnh báo về nguy cơ của một cuộc tấn công “Trân Châu Cảng không gian  ảo” vào nước Mỹ. Vậy xung đột không gian ảo là gì?    Không gian ảo của máy tính và những hoạt động liên quan đến lĩnh vực điện tử là môi trường phức tạp do con người tạo ra, trong khi kẻ thù trên mạng là những người thông minh và hoạt động một cách có chủ đích. Dời non và lấp biển ngoài đời thực là việc khó, nhưng những mảng không gian ảo có thể bị dập đi hoặc dựng lên qua một thao tác bật công tắc. Người ta có thể chuyển mấy hạt điện tử chạy vòng quanh Trái đất với chi phí rẻ hơn rất nhiều so với những chuyến đi đường dài bằng tàu biển.   Giá thành sản xuất của những con tàu đó – những chiếc hàng không mẫu hạm và hạm đội tàu ngầm đa chức năng – rất cao, gây ra những rào cản đáng kể mà không phải nước nào cũng đủ sức vượt qua, tạo điều kiện cho Mỹ giữ địa vị thống trị trong lĩnh vực này. Nhưng rào cản đối với không gian ảo quá thấp; với chi phí không đáng kể, khiến những kẻ hoạt động phi chính phủ và các quốc gia nhỏ cũng có thể giữ vai trò quan trọng.   Trong tác phẩm Tương lai của quyền lực, tôi khẳng định rằng việc các chính phủ mất dần quyền lực là một trong những thay đổi lớn nhất về mặt chính trị trong thế kỉ này. Không gian ảo là thí dụ tuyệt vời minh họa cho điều đó. Những nước lớn như Mỹ, Nga, Anh, Pháp và Trung Quốc có nhiều khả năng kiểm soát biển, trời và vũ trụ hơn so với những nước nhỏ và các đối tượng hoạt động bên ngoài nhà nước, nhưng trong không gian ảo thì bá quyền không còn là khái niệm có ý nghĩa. Thậm chí, những quốc gia lớn phải dùng những hệ thống hạ tầng ảo phức tạp để hỗ trợ các hoạt động quân sự, kinh tế và điều này tạo ra những chỗ dễ bị tổn thương mà những đối tượng hoạt động bên ngoài nhà nước có thể lợi dụng khai thác.           Trong giai đoạn công nghệ phát triển như hiện nay, kĩ thuật tấn công đang áp đảo kĩ thuật phòng vệ.   Joseph S. Nye, cựu trợ lí của Bộ trưởng Quốc phòng và chủ tịch Hội đồng  Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, giáo sư đại học Harvard và là một trong những  học giả nổi bật nhất về quan  hệ quốc tế.        Bộ Quốc phòng Mỹ tạo ra Internet cách đây bốn mươi năm và đến nay đa số các đánh giá đều cho rằng Mỹ vẫn là nước dẫn đầu trong việc sử dụng Internet cho nhu cầu quân sự và xã hội. Nhưng việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống máy tính nối mạng và thông tin trên mạng làm cho Mỹ dễ bị tấn công hơn nhiều nước khác và không gian ảo trở thành nguồn gốc nguy hiểm lớn nhất vì trong giai đoạn công nghệ phát triển như hiện nay, kĩ thuật tấn công đang áp đảo kĩ thuật phòng vệ.  Thuật ngữ “tấn công trên không gian ảo” bao gồm nhiều hoạt động đa dạng, từ đơn giản là tìm cách thay đổi giao diện của Websites, đến từ chối dịch vụ, hoạt động gián điệp và phá hoại. Tương tự như thế, thuật ngữ “chiến tranh trên không gian ảo” được dùng một cách linh hoạt để nói về nhiều hành vi đa dạng, phản ánh trong những định nghĩa từ điển về chiến tranh, từ xung đột vũ trang đến những cuộc tương tranh căng thẳng khác (thí dụ, “chiến tranh giới (nam-nữ)” hay “chiến tranh chống tệ nạn buôn lậu ma túy”).  Nhưng một số chuyên gia lại có quan điểm khác hẳn, họ sử dụng định nghĩa hẹp về chiến tranh trên không gian ảo: đấy là “cuộc chiến không có đổ máu” giữa các quốc gia, chỉ hoàn toàn giới hạn trong phạm vi xung đột điện tử trên không gian ảo. Nhưng định nghĩa này đã bỏ qua những tương tác quan trọng giữa phần ảo và phần vật chất trong không gian kĩ thuật số. Con virus Stuxnet – virus nhiễm vào chương trình hạt nhân của Iran – cho thấy rằng những cuộc tấn công vào phần mềm có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề về mặt vật chất.   Như vậy, sẽ có ích hơn nếu ta định nghĩa chiến tranh trên không gian ảo là: hành động thù địch tạo ra tác động khuếch đại hoặc tương đương với một vụ tấn công gây thiệt hại về vật chất.  Trong thế giới vật chất, hầu như chỉ có các chính phủ là có khả năng huy động được những nguồn lực trên quy mô lớn. Họ có lợi thế khi phòng thủ do am hiểu sâu sắc về địa hình, và có khả năng dập tắt các cuộc tấn công do đối phương bị yếu thế hơn về tài lực, khi mà. việc huy động tài lực và di chuyển trong thế giới thực đều gây ra những phí tổn.   Nhưng ngược lại, trong không gian ảo các đối tượng tham gia rất đa dạng (đôi khi còn ẩn danh nữa), khoảng cách địa lý không còn là vấn đề khó khăn, và một số hình thức tấn công lại rất rẻ. Mạng Internet được thiết kế với mục đích dễ dàng cho người dùng chứ không phải vì mục đích an toàn, nên những kẻ tấn công có lợi thế hơn bên phòng thủ. Sự phát triển về công nghệ, trong đó có những cố gắng “làm lại” một số hệ thống nhằm gia tăng mức độ an toàn, cuối cùng có thể giúp thay đổi được thực tế này, nhưng đến nay thực trạng chung vẫn chưa có gì thay đổi. Các cơ quan chức năng có khả năng rất hạn chế trong các việc giải giới, tiêu diệt đối phương, chiếm cứ các vị trí, và khó có thể áp dụng các chiến thuật phản công hữu hiệu.   Mặc dù mới ở dạng phôi thai, nhưng chiến tranh trên không gian ảo là một trong những mối đe dọa tiềm tàng nguy hiểm nhất. Về nguyên tắc, bằng những cuộc tấn công trên không gian ảo nhắm vào những mục tiêu quân sự và dân sự, những nước lớn với nguồn nhân lực và trình độ kĩ thuật tinh xảo có thể tạo ra những vụ gián đoạn [kinh doanh, sản xuất, sinh hoạt, …] trên diện rộng và gây thiệt hại nặng nề về vật chất. Họ cũng có thể phòng vệ chống chiến tranh trên không gian ảo bằng những biện pháp phòng thủ liên quốc gia như cấm đoán và cản trở, tăng cường khả năng tấn công, và khi phòng vệ thất bại thì có phương tiện phục hồi mạng lưới và cơ sở hạ tầng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, thế giới hiện mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của tiến trình tăng cường những giải pháp này.   Người ta có thể không lưu tâm lắm đến những hoạt động tin tặc của những nhóm theo tư tưởng quá khích, coi đó đơn thuần chỉ là những hoạt động gây gián đoạn phiền toái, nhưng đối với an ninh của các quốc gia, có bốn mối nguy cơ mà mức độ nguy hiểm sẽ thay đổi theo thời gian: chiến tranh không gian ảo và gián điệp kinh tế – liên quan đến nhà nước – tội phạm và khủng bố trên không gian ảo – liên quan chủ yếu đến những đối tượng bên ngoài nhà nước. Mỹ bị thiệt hại nhiều nhất từ hoạt động gián điệp và tội phạm, nhưng trong khoảng thập niên tới, chiến tranh và khủng bố có thể trở thành mối đe dọa lớn hơn so với hiện nay.   Ngoài ra, khi các liên minh và chiến thuật phát triển thêm thì những mối đe dọa trên sẽ có sự giao thoa lẫn nhau. Theo Đô đốc Mike McConnell, cựu giám đốc tình báo quốc gia, “sớm muộn thì những nhóm khủng bố cũng sẽ thành thạo kĩ thuật mạng. Nó cũng giống như việc phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới, nhưng dễ dàng hơn nhiều”.   Thế giới mới chỉ nhìn thấy những nét lờ mờ của chiến tranh không gian ảo – ví dụ như những cuộc tấn công gây ra phản ứng từ chối dịch vụ diễn ra song song với cuộc chiến theo quy ước thông thường diễn ra ở Georgia vào năm 2008, hay vụ phá hoại máy li tâm tại Iran trong thời gian gần đây. Các chính phủ là những đối tượng được có năng lực cao nhất trong chiến tranh mạng, nhưng những thảm họa lớn sẽ dễ xảy ra do bàn tay của những đối tượng hoạt động bên ngoài nhà nước. Một cuộc tấn công dạng “khủng bố 11/9 không gian ảo” có vẻ như dễ xảy ra hơn là một “Trân Châu Cảng không gian ảo” mà người ta vẫn thường đề cập. Đây là lúc các nước phải ngồi lại và thảo luận những biện pháp nhằm làm giảm thiểu mối đe dọa này đối với hòa bình thế giới.     Phạm Xuân Trường dịch từ  http://www.project-syndicate.org/commentary/cyber-war-and-peace    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiết xuất thành công dầu diesel từ cây dầu mè      TS Thái Xuân Du – Trưởng phòng công nghệ tế bào thực vật (Viện Sinh học nhiệt đới) đã thử nghiệm thành công chiết xuất dầu diesel từ cây dầu mè (tỷ lệ dầu chiếm tới 32 – 37%).    Đây không phải là công nghệ mới nhưng nó phù hợp với xu thế “xanh” hóa nguồn năng lượng (biofuel) trên thế giới hiện nay và mở ra một hướng đầu tư mới cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo TS Du, việc chiết xuất dầu diesel từ cây dầu mè không khó, công nghệ đầu tư cũng rất đơn giản. Nếu có chính sách hợp lý và được đầu tư đúng mức, hoàn toàn có thể cạnh tranh được với sản phẩm dầu diesel hiện nay, thậm chí có thể xuất khẩu. Tại Ấn Độ – cái nôi của công nghệ này, chính phủ đề ra mục tiêu sản xuất 40 triệu tấn dầu diesel từ cây dầu mè.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiết xuất vàng bạc từ chất thải của con người      Mỗi năm hơn 4 tỷ USD của nước Mỹ bị trôi đi qua toilet. Các nhà khoa học Mỹ đang tìm cách để chống lại sự lãng phí này.    Theo báo cáo do TS Kathleen Smith trình bày tại Hội nghị lần thứ 249 của Hội Hóa học Mỹ vào cuối tháng 3/2015, trong chất thải từ cơ thể con người chứa các kim loại quý như vàng, bạc cũng như các nguyên tố hiếm như palladium và vanadium là những thứ được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị điện tử và sản xuất hợp kim, bởi vậy nếu có thể khai thác thì đây đích thực là một tài sản quý giá.   Lượng phân, nước tiểu và nước xả từ toilet làm thành một thứ bùn sinh học chảy qua đường cống tới các nhà máy xử lý nước thải; tại đây, chúng được xử lý bằng một loạt quá trình vật lý, sinh học và hóa học, cuối cùng biến thành nước đã xử lý và chất thải sinh học cô đặc (biosolids). Khoảng 60% chất thải cô đặc ấy được dùng làm phân sinh học để bón cho đồng ruộng và rừng, phần còn lại được đem đốt hoặc chôn. Chất thải-phân bón sinh học này thường chứa các kim loại nặng độc hại như chì, arsenic, cadmium, là những chất không có lợi cho việc bón cây, đồng thời cũng chứa cả vàng hoặc bạch kim (platinum), như các nghiên cứu cho thấy. Số liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ và của Cục Điều tra địa chất Mỹ cho thấy mỗi kg chất thải sinh học cô đặc chứa 28-30 mg bạc, khoảng 638 mg đồng và 36-49 mg vanadium (chất thường dùng để cho thêm vào sắt thép).  Đầu năm nay, một nghiên cứu do Paul Westerhoff ở Đại học bang Arizona chủ trì đã phân tích hơn 50 kim loại trong các mẫu chất thải cô đặc lấy từ 94 nhà máy xử lý nước thải trên toàn nước Mỹ. Hầu hết các mẫu có chứa nhiều kim loại quý hiếm thuộc nhóm bạch kim, bạc, và vàng. Từ số liệu, dùng phép ngoại suy, các tác giả tính ra rằng, cứ một triệu người Mỹ thải ra một lượng kim loại trị giá 13 triệu USD mỗi năm. Như vậy nghĩa là 320 triệu dân Mỹ hằng năm thải vào toilet một lượng vật chất trị giá trên 4 tỷ USD.  Nhưng tình trạng lãng phí chất thải nói trên sắp được thay đổi. Cục Điều tra Địa chất Mỹ đang tiến hành một dự án nghiên cứu tính khả thi của việc chiết xuất kim loại quý từ chất thải của con người. Dự án này do TS Kathleen Smith phụ trách. Tại cuộc họp báo hôm 24/3 trong hội nghị thường niên của Hội Hóa học Mỹ, bà nói, việc thu hồi kim loại từ phân và nước tiểu sẽ có thể góp phần giảm nhu cầu khai thác khoáng sản tại các hầm mỏ – một việc gây hủy hoại môi trường – và có thể biến chất thải sinh học cô đặc thành một nguồn phân bón nông nghiệp.  Các kim loại chứa trong chất thải từ con người có loại bất lợi cho việc bón cây và có loại có thể đem bán lấy tiền. Dự án nghiên cứu của TS Smith và đồng nghiệp nhằm khử bỏ các kim loại bất lợi và thu hồi các kim loại hữu dụng đó. “Ở đâu cũng có kim loại. Nếu có cách khử bỏ được những kim loại đáng ghét hạn chế việc sử dụng khối lượng chất thải sinh học cô đặc bón cho rừng và đồng ruộng, đồng thời thu hồi các kim loại quý và các nguyên tố khác thì chúng ta sẽ thu được hiệu ứng đôi bên cùng có lợi,” TS Smith nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiếu sáng thân thiện với môi trường      Theo tính toán của các chuyên gia, điện chiếu sáng trong các tòa nhà chiếm 20%-40% tổng điện năng sử dụng và chiếm 30% – 35% chi phí vận hành tòa nhà. Với tốc độ tăng trưởng diện tích sàn của các tòa nhà thương mại và nhà ở cao tầng ở Việt Nam từ 6-7%/năm thì tiềm năng và nhu cầu tiết kiệm điện trong các tòa nhà công trình xây dựng là rất lớn.    Để giải quyết vấn đề này, Tổng Hội xây dựng Việt Nam, Hội chiếu sáng Việt Nam, Hiệp Hội Tư vấn xây dựng đã phối hợp với Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông để nghiên cứu và xây dựng Hệ thống và Giải pháp chiếu sáng trong các công trình xây dựng xanh (Giải pháp). Giải pháp này ra đời đã đáp ứng được mong mỏi của các nhà tư vấn thiết kế trong xây dựng và được đánh giá cao bởi các nhà chuyên môn, giải quyết được các vấn đề trong chiếu sáng hiệu suất cao. Đặc biệt đây là giải pháp hoàn toàn dựa trên những sản phẩm hiệu suất cao của Việt Nam tự sản xuất chế tạo và được tính toán thiết kế bởi các chuyên gia chiếu sáng đầu ngành Việt Nam và của Trung tâm R&D Rạng Đông.           Sử dụng đèn LED trong trường học vừa tiết kiệm được 50% điện năng so với sử dụng đèn huỳnh quang. Đồng thời ánh sáng đen LED đồng đều, dàn trải khắp phòng giúp cho học sinh cảm thấy rất dễ chịu, nhìn bảng không bị chói lóa.                      Ông Nguyễn Ngọc Thức – Phó Hiệu trưởng trường CĐ Xây dựng số.         Hai yêu cầu đặt ra cho một giải pháp xanh là: 1. Sử dụng các thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, tiết kiệm điện, an toàn cho người sử dụng, và thân thiện với môi trường, trong đó hàm lượng các chất độc hại (như chì, thủy ngân, cd) sử dụng ít nhất; 2. Được thiết kế tích hợp sử dụng các thiết bị chiếu sáng được lựa chọn thích hợp với đối tượng và bố trí chiếu sáng một cách khoa học, hợp lý đảm bảo các chỉ tiêu về chất lượng, định lượng theo tiêu chuẩn chiếu sáng TCVN 7114:2008 và Quy chuẩn QCXDVN 09:2005.   Các sản phẩm của Rạng Đông như các chủng loại đèn LED, đèn Compact hiệu suất cao, đèn Metal halide, đèn cao áp Natri thế hệ mới, các bộ đèn chiếu sáng đồng bộ sử dụng ballast điện tử tiết kiệm điện v.v., hoàn toàn đáp ứng được cả hai yêu cầu này sau khi được các chuyên gia của Ban Khoa học công nghệ, Hội chiếu sáng Việt Nam đo đạc kỹ lưỡng, và được Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường 1 (Quatest 1) thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng kiểm tra đánh giá và cấp chứng chỉ.   Cụ thể như đèn LED panel của Rạng Đông có công suất tiêu thụ chỉ 50W nhưng cho quang thông tới 4400 lm, hiệu suất sáng của cả bộ đèn lên tới trên 90 lm/w (kết quả đo của Quatest 1), là sản phẩm được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn IEC và tiêu chuẩn Việt Nam. Các sản phẩm compact hiệu suất cao của Rạng Đông đều sử dụng thủy tinh không chì, loại vật liệu thân thiện với môi trường mới được phát triển trên thế giới hơn 10 năm nay, có tác dụng ngăn chặn các tia tử ngoại, và có độ trong suốt cao không ảnh hưởng đến phát quang của đèn. Bên cạnh đó, đèn compact Rạng Đông còn sử dụng công nghệ viên thủy ngân Amalgam thay thế cho thủy ngân lỏng giúp kiểm soát tốt lượng thủy ngân trong đèn, bảo vệ môi trường, dễ dàng thu hồi khi bóng bị vỡ.   Một số công nghệ ứng dụng trong sản xuất một số loại đèn khác như sử dụng bột huỳnh quang đất hiếm cho hiệu suất phát sáng cao, ánh sáng trung thực, tự nhiên, chỉ số hoàn màu đạt Ra trên 80; hay công nghệ tráng dây tóc xoắn 3 tăng trữ lượng điện tử, nâng cao tuổi thọ của đèn. Ví dụ như đèn huỳnh quang Deluxe của Rạng Đông sử dụng bột huỳnh quang 3 phổ, hiệu suất đạt trên 80lm/w, chỉ số hoàn màu trên 80. Bóng đèn metal halide thế hệ mới của Rạng Đông cũng cho hiệu suất phát quang lên tới 100 lm/w, chỉ số hoàn màu đạt trên 90.  Thiết kế chiếu sáng là một khâu quan trọng của các nhà thiết kế xây dựng góp phần tạo nên tính thẩm mỹ, tính tiện nghi của một công trình, đảm bảo tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, do không được quan tâm chú ý, hay hạn chế trong hiểu biết các tính năng công nghệ sản xuất của nguồn sáng, thiếu các cơ sở dữ liệu trong thiết kế cho nên phần lớn các nhà thiết kế gặp khó khăn trong thiết kế, đo đạc, đánh giá hiệu quả của chiếu sáng. Để giải quyết vấn đề này Bộ môn Kỹ thuật chiếu sáng của Trung tâm nghiên cứu phát triển R&D Rạng Đông đã phối hợp với Ban Khoa học công nghệ, Hội Chiếu sáng Việt Nam xây dựng các giải pháp thiết kế chiếu sáng cho các lĩnh vực chiếu sáng như chiếu sáng cho văn phòng công sở; chiếu sáng tòa nhà, chung cư; chiếu sáng công nghiệp; chiếu sáng trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn; chiếu sáng bệnh viện; chiếu sáng đèn đường; chiếu sáng nông thôn mới, v.v.  Với mỗi một giải pháp chiếu sáng đều xây dựng các mô hình thiết kế chiếu sáng cụ thể, như chiếu sáng phòng làm việc, hành lang cầu thang, nhà vệ sinh, sảnh, tầng hầm, v.v., với yêu cầu đặt ra là đáp ứng các tiêu chuẩn chiếu sáng TCVN 7114:2008 hay qui chuẩn QCXDVN 09:2005; đảm bảo các điều kiện tiện nghi, không có hiện tượng nhấp nháy ánh sáng, không gây chói lóa, không bị sấp bóng khi làm việc. Giải pháp thiết kế sử dụng sản phẩm hiệu suất cao của Rạng Đông đạt khả năng tiết kiệm điện cao, mật độ công suất thấp dưới mức tiêu chuẩn qui định là 20%- 30%, góp phần tiết kiệm năng lượng đáng kể.  Các nhà khoa học và chuyên gia đánh giá cao, Hệ thống và Giải pháp chiếu sáng trong những công trình xây dựng xanh của Rạng Đông, coi đây là một công cụ giúp ích cho các nhà tư vấn thiết kế chiếu sáng Việt Nam, và là cơ sở bước đầu để tin tưởng rằng thương hiệu “Made in Viet Nam” có thể làm chủ ở các công trình chiếu sáng hiện đại, hiệu quả cao.   —-  *Trưởng Ban KH&CN của Hội Chiếu sáng VN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiếu xạ chọn tạo giống cây trồng      Trong hơn 30 năm qua, với việc tạo giống cây trồng bằng một số phương pháp hiện đại, đặc biệt là phương pháp chiếu xạ, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tạo ra 40 giống đột biến, trong đó nhiều giống lúa đột biến với ưu điểm về khả năng thích nghi rộng, năng suất cao, chống chịu tốt với các yếu tố sinh học và phi sinh học.        Viện Di truyền nông nghiệp kiểm tra mô hình trồng giống lúa và đậu tương đột biến bằng phương pháp chiếu xạ kết hợp công nghệ sinh học   Trong sản xuất nông nghiệp, công tác chọn tạo giống cây trồng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là khâu đầu tiên quyết định đến năng suất và chất lượng của cây trồng. Trong việc chọn tạo giống, các nhà chọn giống cần phải có nguồn vật liệu khởi đầu, là các biến dị di truyền được tạo ra bằng lai hữu tính, chuyển gene, đột biến… Trong đó sử dụng năng lượng nguyên tử (tia gamma, tia X…) tác động vào nguồn vật liệu ban đầu (hạt, chồi…) tạo ra những biến đổi ở cấp độ phân tử (ADN, gene) là phương pháp tạo ra nguồn biến dị di truyền phong phú. Ngoài ra, phương pháp này còn có ưu điểm không yêu cầu đầu tư cao, sản phẩm tạo ra không ảnh hưởng đến sức khỏe con người.  Để tạo ra giống cây trồng đột biến thì các nhà khoa học phải mất ít nhất bảy năm, với nhiều bước nghiên cứu khác nhau:  Xử lý đột biến: Trước khi xử lý chiếu xạ, nhà chọn giống cần có định hướng chọn giống. Vật liệu nghiên cứu (hạt khô, hạt nảy mầm, hoa, callus, đỉnh chồi…) được xử lý bằng chiếu xạ tia gamma (nguồn Co60), nhằm tạo ra các biến dị di truyền mới. Mỗi một loại cây trồng, mỗi giống, tùy theo vật liệu nghiên cứu sẽ được chiếu xạ ở các liều lượng khác nhau như chiếu xạ callus (hoa cúc, đồng tiền) chỉ từ 10 – 50Gy nhưng chiếu xạ hạt khô (đậu tương, lúa) có thể lên tới 250, 300 Gy. Ở Việt Nam hiện nay, chưa có bất cứ một cơ sở chiếu xạ nào phục vụ cho chọn giống cây trồng, các nhà khoa học thường phải đưa vật liệu nghiên cứu đi chiếu xạ tại các bệnh viện, trung tâm chiếu xạ công nghiệp,… nên gặp nhiều khó khăn, không chủ động được thời gian và phương pháp chiếu xạ, hiệu quả thấp.  Sàng lọc các biến dị di truyền: Vật liệu sau chiếu xạ được gieo trồng trên đồng ruộng (như lúa, đậu tương) hoặc nhân và cấy chuyển trong nuôi cấy mô trong phòng thí nghiệm (hoa cúc, đồng tiền) sau đó đưa ra đồng ruộng. Các nhà khoa học sẽ tiến hành sàng lọc các biến dị di truyền mới như năng suất cao, chất lượng tốt, chín sớm, chống chịu sâu bệnh hại, hạn, mặn,…có lợi cho công tác chọn tạo giống cây trồng. Đây là quá trình vất vả nhất của nhà chọn tạo giống, đòi hỏi trình độ, kinh nghiệm của nhà khoa học.  Chọn lọc và nhân nhanh, làm thuần dòng đột biến: Các cá thể mang các biến dị di truyền mới có lợi được nhân lên, làm thuần, kết hợp so sánh đánh giá các đặc điểm sinh trưởng phát triển để chọn ra dòng đột biến tốt, ổn định.  Khảo  nghiệm và công nhận giống: Dòng đột biến mới sẽ được gửi khảo nghiệm quốc gia, đồng thời khảo nghiệm sản xuất tại các địa phương khác nhau nhằm đánh giá tính khác biệt và ổn định di truyền, về sinh trưởng phát triển và năng suất,… so với giống đối chứng. Sau đó, mới được công nhận và đưa vào sản xuất.  Tuy Việt Nam đã là thành viên chính thức của FNCA (Forum for Nuclear Cooperation in Asia) từ năm 1995 song đến nay nước ta vẫn chưa có trung tâm nghiên cứu về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân nhằm cải tiến giống cây trồng, các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này mang tính tự phát, rời rạc, thiếu định hướng, thiếu cơ sở hạ tầng như cơ sở chiếu xạ và phòng thí nghiệm công nghệ sinh học hỗ trợ, thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực đào tạo bài bản… Nhưng trong hơn 30 năm qua, với việc tạo giống cây trồng bằng một số phương pháp hiện đại, trong đó có phương pháp chiếu xạ, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tạo ra 40 giống đột biến, trong đó nhiều giống lúa đột biến với ưu điểm về khả năng thích nghi rộng, năng suất cao, chống chịu tốt với các yếu tố sinh học và phi sinh học, nổi bật nhất là hai giống DT10 và Khang Dân đột biến. Giống lúa DT10 đưa vào sản xuất năm 1990, có khả năng thích ứng rộng, năng suất cao (6 – 8 tấn/ha, cao hơn 40% so với năng suất trung bình), đặc biệt với khả năng chịu lạnh, nhanh chóng trở thành giống chủ lực trong sản xuất ở các tỉnh phía Bắc thời gian đó, góp phần đưa tăng năng suất lúa cả nước. Giống Khang Dân đột biến được công nhận năm 2007, năng suất cao, chống chịu tốt với chất lượng gạo phù hợp nhu cầu, thị hiếu của người dân, diện tích gieo trồng khoảng 200.000 ha/năm… Riêng trong năm 2015, Viện đã tạo ra được một số giống đột biến triển vọng mới như lúa DT80, hoa cúc, hoa đồng tiền đột biến, đậu tương DT96ĐB, đặc biệt là giống đậu tương hạt đen DT2008ĐB có hàm lượng dinh dưỡng, Omega3, Omega6 cao, phục vụ nhu cầu chế biến thực phẩm.             Năm ứng dụng NLNT chủ yếu trong nông nghiệp:   • Chọn tạo giống cây trồng và vi sinh vật;     • Nghiên cứu sinh lý, dinh dưỡng cây trồng và vật nuôi;     • Sử dụng đồng vị phóng xạ trong nghiên cứu bảo vệ tài nguyên đất, môi trường;     • Chiếu xạ tiệt sinh côn trùng trong bảo vệ thực vật;     • Chiếu xạ nông sản, thực phẩm trong bảo quản chế biến.           *  TS. Trưởng bộ môn Đột biến và Ưu thế lai, Viện Di truyền Nông nghiệp.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim bồ câu có thể dự đoán ô nhiễm môi trường      Một nghiên cứu mới đây cho thấy mối liên hệ giữa nồng độ chì trong máu chim bồ câu, một loài chim lý tưởng để so sánh với con người bởi chúng sống gần người và ăn thức ăn gần như tương tự thức ăn của con người, và nồng độ chì trong máu trẻ nhỏ, qua đó gợi ra khả năng dùng loài chim này để phát hiện những khu vực bị ô nhiễm, đặc biệt là tại các khu vực thành thị.      Tiến sĩ Rebecca Calisi, trưởng nhóm nghiên cứu tại Đại học Barnard, đã thực hiện kiểm tra dữ liệu trên 825 con chim bồ câu đến từ nhiều khu vực trong bang Manhattan từ năm 2010-2015 và nhận thấy những con chim bồ câu có nồng độ chì cao thuộc các vùng như Greenwich Village và SoHo cũng có mối tương quan với nồng độ chì trong trẻ nhỏ ở các khu vực này. Từ những phát hiện đó, phòng thí nghiệm của bà tại California đang lên kế hoạch sử dụng bồ câu để theo dõi sự xuất hiện của các kim loại nặng khác ngoài chì cũng như các chất trừ sâu và các chất ức chế lửa khác tại các khu vực thành thị trên thế giới.  Giáo sư Marc A. Edwards tại Đại học Bách khoa Virginia, thanh tra trưởng trong cuộc khủng hoảng chì tại Flint, Michigan, cho rằng: “Đây có thể là một phương pháp mới và kỳ lạ, giúp chúng ta xác định được những khu vực bị ô nhiễm để từ đó có định hướng xử lý hiệu quả. Hơn nữa, nghiên cứu này còn cho thấy mức độ thâm nhập của những độc tố này trong môi trường.”  Đăng Quang dịch theo New York Times    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim cổ đại bay bằng 4 cánh      Loài chim cổ nhất mà con người biết tới có những chiếc lông ở chân, cho phép nó sử dụng đôi chân này như một đôi cánh phụ, một nghiên cứu mới đây tiết lộ điều đó.    Phát hiện, công bố trên tạp chí Paleobiology, ủng hộ giả thuyết rằng những loài chim cổ đại học cách lượn và ‘nhảy dù’ từ trên cây xuống trước khi thực hiện các chuyến bay thực thụ.  “Bài báo đã nêu ra một vài bằng chứng mạnh mẽ nhất rằng chim là hậu duệ của những kẻ biết lượn và liệng từ trên cây xuống, tương tự như những con sóc biết bay”, tác giả nghiên cứu Nick Longrich, một nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Đại học Calgary ở Canada cho biết.  Archaeopteryx là một sinh vật cỡ con quạ, sống khoảng 150 triệu năm trước và có vẻ ngoài như là sự chuyển tiếp giữa chim và khủng long. Nó vừa có cánh và xương đòn giống như chim nhưng lại mang đặc điểm của bò sát như cái đuôi dài có xương, vuốt và răng.  Khi hoá thạch Archaeopteryx đầu tiên được tìm thấy năm 1861, nó gây ra xôn xao trong giới khoa học vì đây là một dạng động vật chuyển tiếp mà nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin chỉ ra trong học thuyết tiến hoá của ông chỉ vài năm trước đó.  Năm 1877, mẫu vật Archaeopteryx thứ hai được tìm thấy ở Đức, cho thấy một đặc điểm kỳ lạ: những sợi lông dài trên chân sau của nó. Trong một thế kỷ sau đó, những chiếc lông này bị hầu hết các nhà khoa học bỏ qua, chỉ xem nó như là lông “viền” – loại lông không có vai trò gì trong sự bay của con vật.  Nhưng khi đào bới năm 2002, các nhà khảo cổ bắt đầu tìm thấy những con khủng long 4 cánh ở Trung Quốc với lông trên chân sau đóng vai trò quan trọng cho việc lượn, thậm chí cả bay. Trước những phát hiện mới này, Longrich quyết định đã đến lúc xem xét lại Archaeopteryx.  Longrich đã kiểm tra những chiếc lông trên chân sau của 5 mẫu hoá thạch Archaeopteryx và phát hiện thấy những chiếc lông này có đặc điểm của những chiếc lông bay điển hình ở chim hiện đại, như các cuống cong, kiểu chồng lên nhau tự ổn định và tính không đối xứng (với những hàng lông tơ song song khiến cho một nửa của sợi lông trông dài hơn nửa bên kia).  Tiếp đó, Longrich sử dụng các mô hình toán học tiêu chuẩn cho hành động bay để tính toán xem một đôi cánh phụ sẽ ảnh hưởng thế nào đến việc bay của Archaeopteryx. Ông tìm thấy rằng lông trên chân sau cho phép Archaeopteryx bay chậm lại và đổi hướng đột ngột hơn.  Khả năng đổi hướng mạnh này sẽ nâng cao hiệu quả của con vật khi đuổi theo con mồi, khi trốn kẻ thù hoặc bay qua các nhánh cây rậm rạp. Trong khi đó, khả năng bay chậm lại đồng nghĩa với việc Archaeopteryx có thêm thời gian để tránh vật cản và thực hiện những cú hạ cánh an toàn hơn.  Longrich phỏng đoán rằng lông chân sau có thể đã đóng vai trò khác bổ sung cho hoạt động bay. Giống như ở chim bồ câu, mòng biển xira và kền kền hiện đại, lông chân sau của Archaeopteryx có thể là chiếc phanh, là bộ phận ổn định, bề mặt kiểm soát hoặc vỗ cánh.  (theo LiveScience)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim đầu to sống lâu hơn      Những con chim có hộp sọ lớn như vẹt và quạ sống sót tốt hơn những anh bạn nhỏ bé khác. Đó là do chúng có khả năng điều chỉnh hành vi và thích nghi với sự thay đổi môi trường tốt hơn.    “Chúng tôi đã kiểm chứng giả thuyết rằng não có thể bảo vệ động vật và giúp chúng sống sót trước những thay đổi tự nhiên”, Daniel Sol tại Trung tâm nghiên cứu hệ sinh thái và ứng dụng lâm nghiệp ở Barcelona, Tây Ban Nha, cho biết.  Sau khi so sánh tỷ lệ tử vong, kích cỡ bộ não và khối lượng cơ thể của 236 loài chim ở các vùng khác nhau trên thế giới, Sol và cộng sự đã phát hiện thấy bộ não chim càng lớn thì chúng càng sống tốt.  Quạ và vẹt là những loài có não lớn nhất trong khi gà lôi lại có bộ não khá nhỏ so với cơ thể. Nghiên cứu trên động vật cũng cho kết quả tương tự.  “Vấn đề là nếu bạn có não to, bạn sẽ biết cách điều chỉnh hành vi và thích nghi với sự thay đổi môi trường tốt hơn. Điều này sẽ giúp bạn sống sót”, Sol nói.  M.T. (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim hải âu: thủ phạm chính gây ô nhiễm biển      Loài chim hải âu Bắc Cực gây ô nhiễm sinh thái biển nặng nề nhất. Đây là kết luận của các nhà sinh vật học của trường đại học Ottawa sau khi đo nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển tại Devon Island, nơi sinh sống tập trung của 10.000 đôi chim hải âu.    Kết quả là nồng độ DDT cao hơn 60 lần so với các khu vực khác, nồng độ thủy nhân và nồng độ HCB (hexacholorobenzene) cũng lần lượt cao hơn 25 và 10 lần. Tại sao lại như vậy? Số là các chất gây ô nhiễm như DDT, thủy ngân có trong thức ăn mà loài hải âu kiếm được khắp nơi trong biển (cá, thực vật, rác thải các loại…) bị loài chim thải ra tập trung vào một chỗ. Khi các chất độc hại này nằm rải rác trong biển với nồng độ thấp thì không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái biển. Tuy nhiên, chim kiếm ăn khắp nơi nhưng chúng lại ngủ tập trung một nơi và đêm về là lúc chúng thải ra những thứ không cần thiết, gây ô nhiễm nặng nề khu vực mà chúng sống.  P.V    Nguồn tin: J.M.Blais et al., Science, 309, 445, 2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chim nặng nhất thế giới đẻ trứng tại Anh sau gần 2 thế kỷ      Loài chim biết bay nặng nhất thế giới – Great Bustard – đã đẻ những quả trứng đầu tiên tại Anh trong 175 năm qua, nhờ những nỗ lực tái bảo tồn loài động vật này.    Great Bustard có thể nặng tới 18 kg và sải cánh lên đến 2,4 mét. Một con cái của loài này đã đẻ hai quả trứng đầu năm nay tại Wiltshire, tây nam nước Anh.  Mặc dù chúng được ấp, bị bỏ rơi và sau đó tìm thấy trong tình trạng đã hỏng, song giám đốc tổ chức bảo tồn loài chim này David Walters cho biết đó là một thành tựu lớn và là tín hiệu cho thấy chương trình nhân giống, bắt đầu từ 9 năm trước, đã bắt đầu vận hành.  Những quả trứng bị hỏng được cho là do các con đực chưa đến tuổi thành thục.  Great Bustard, còn được gọi là chim xấu hổ, đã tuyệt chủng khỏi nước Anh vào những năm 1840 do săn bắn. Dân số của chúng ước tính chỉ còn khoảng 35.000 con trên toàn thế giới.  Năm 2004, người ta đã đưa những con chim đang sống ở Nga tới Anh nhằm nhân giống chúng trong điều kiện nuôi nhốt và thả lại vào tự nhiên, nhưng đã thất bại. Một số con khác đã được thả trên đồng bằng Salisbury ở Wiltshire, tây nam nước Anh.  T. An (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chín bí ẩn lớn chưa có lời giải đáp trong ngành vật lý      Natalie Wolchover, phóng viên trụ cột của Tạp chí Life’s Little Mysteries đưa ra chín bí ấn lớn chưa được giải đáp trong ngành vật lý.    Năm 1900, nhà vật lý học người Anh Lord Kelvin được cho là đã tuyên bố “Giờ chẳng còn gì mới trong Vật lý để khám phá nữa. Tất cả những gì còn lại chỉ là phép đo chính xác hơn mà thôi”. Trong vòng ba thập kỷ, cơ học lượng tử và thuyết tương đối của Anhxtanh đã tạo nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực này. Ngày nay, không nhà vật lý nào dám khẳng định rằng kiến thức của nhân loại về lĩnh vực vật lý đã gần hoàn thiện. Ngược lại, mỗi khám phá mới có vẻ lại mở ra một Chiếc hộp Pandora  với những câu hỏi về vật lý thậm chí còn lớn hơn và sâu hơn.   Sự kiện các nhà khoa học mới đây đã phát hiện ra hạt Higgs, hay còn gọi là “Hạt của Chúa” đã khiến một số nhà vật lý một lần nữa đứng trước câu hỏi: còn gì để nghiên cứu ở ngành vật lý học?   Trước băn khoăn này, Natalie Wolchover, phóng viên trụ cột của Tạp chí Life’s Little Mysteries đã đưa ra 9 bí ấn lớn chưa được giải đáp trong ngành Vật lý.  9. Năng lượng tối là gì?  Cho dù các nhà vật lý thiên văn có thực hiện nhiều phép tính toán thì vũ trụ cũng không tăng thêm. Dù lực hấp dẫn đang hút vào trong kết cấu của vũ trụ trong không-thời gian–vũ trụ tiếp tục giãn nở càng nhanh hơn. Xét đến vấn đề này, các nhà vật lý thiên văn đã đưa ra đề xuất về một loại chất vô hình có thể chống lại lực hấp dẫn bằng cách đẩy rời không-thời gian. Họ gọi nó là năng lượng tối. Theo dạng thức được thừa nhận rộng rãi nhất của năng lượng tối, nó là một “hằng số vũ trụ”: một đặc tính vốn có của bản thân không gian, có “áp suất âm” tách rời không gian. Khi không gian mở rộng, có nhiều khoảng không được tạo ra, và theo đó có thể có nhiều năng lượng tối. Dựa trên tỉ lệ giãn nở quan sát được, các nhà khoa học biết rằng tổng của toàn bộ năng lượng tối phải chiếm hơn 70% tổng thể tích của vũ trụ. Nhưng chưa ai biết cách tìm được năng lượng tối.     8. Vật chất tối là gì?  Rõ ràng, khoảng 84% vật chất trong vũ trụ không hấp thụ hoặc phát ra ánh sáng. “Vật chất tối”, như người ta vẫn gọi, không thể nhìn thấy trực tiếp được, và cũng chưa từng được phát hiện bằng các cách thức gián tiếp. Thay vào đó, sự tồn tại và các đặc tính của vật chất tối được suy ra từ các tác dụng lực hút trên vật chất hữu hình, vật được bức xạ và cấu trúc của vũ trụ. Vật chất mờ ảo này được cho là đã tràn ngập vùng ngoài của thiên hà, và có thể bao gồm “các hạt lớn tương tác yếu”, viết tắt là WIMP. Trên khắp thế giới, đã có một số dấu hiệu của WIMP được phát hiện, nhưng cho đến nay, chưa vật chất tối nào được tìm thấy.  7. Tại sao lại có mũi tên thời gian?  Thời gian trôi về phía trước do sự tăng lên của một đại lượng đặc trưng của vũ trụ gọi là “entropi”, được định nghĩa như là mức độ hỗn độn, và không có cách gì để thay đổi sự tăng lên entropi sau khi việc đó đã xảy ra. Thực tế entrôpi tăng lên là một vấn đề về logic. Số hạt sắp xếp lộn xộn nhiều hơn số hạt được sắp xếp theo trật tự, và khi mọi thứ thay đổi, chúng có xu hướng rơi vào sự lộn xộn. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là, tại sao trong quá khứ số lượng entrôpi lại thấp như vậy? Hay nói cách khác, tại sao lúc đầu vũ trụ vẫn được sắp xếp theo trật tự khi một lượng lớn năng lượng bị nhồi vào với nhau trong một khoảng không gian nhỏ hẹp như vậy?    6. Có các vũ trụ song song không?  Tài liệu về vật lý thiên văn cho thấy không-thời gian có thể “phẳng”, chứ không cong, và do đó nó sẽ tồn tại mãi mãi. Nếu thế thì vùng mà chúng ta có thể thấy được (mà chúng ta nghĩ là “vũ trụ”) chỉ là một mảnh trong “đa vũ trụ hợp lại” rộng lớn vô định. Đồng thời, các luật cơ học lượng tử công bố rằng chỉ có một số lượng nhất định các hình dạng hạt có thể tồn tại trong mỗi mảnh vũ vụ (10^10^122 khả năng rõ ràng). Như vậy, với một số lượng vô hạn các mảnh vũ trụ thì sự sắp xếp các hạt trong vũ trụ bị buộc phải lặp lại – với số lần vô hạn. Điều này có nghĩa là có một số lượng vô hạn các vũ trụ tồn tại song song: các mảnh vũ trụ giống y hệt vũ trụ của chúng ta (trong đó cũng có một người giống y hệt bạn), cũng có các mảnh chỉ khác vũ trụ của chúng ta ở vị trí của một hạt, có các mảnh khác vũ trụ của chúng ta ở vị trí của hai hạt, v.v và có các mảnh khác hoàn toàn so với vũ trụ của chúng ta.  Có gì sai với phép logic này không, hay kết quả kỳ lạ của phép logic này là đúng? Và nếu đúng thì làm sao chúng ta có thể phát hiện ra sự tồn tại của các vũ trụ song song?  5. Tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất?  Câu hỏi tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất (anh em song sinh có điện tích và spin hoàn toàn ngược với vật chất) thực ra là câu hỏi tại sao có sự tồn tại của vạn vật. Có giả định rằng, vũ trụ sắp xếp vật chất và phi vật chất một cách đối xứng, và như vậy tại thời điểm xảy ra vụ nổ Big Bang, một lượng vật chất và phi vật chất bằng nhau sẽ được sản sinh. Nhưng nếu điều đó xảy ra thì đã dẫn đến hiện tượng hủy diệt cả hai: Proton hủy các phản proton, các electron hủy các phản electron (pozitron), nơtron hủy các phản nơtron, v.v, để lại phía sau một biển photon mờ nhạt trong một dải các phi vật chất. Vì một lý do nào đó, có một lượng vật chất thừa ra không bị phá hủy, và thế là có nhiều vật chất hơn phản vật chất. Về vấn đề này, chưa có lời giải nào được chấp nhận.    4. Số phận của vũ trụ thế nào?  Số phận của vũ trụ phụ thuộc nhiều vào một hệ số với giá trị chưa biết Ω, một ước số của mật độ vật chất và năng lượng trong vũ trụ. Nếu Ω lớn hơn 1 thì không-thời gian sẽ bị “đóng lại” giống như bề mặt của một khối cầu khổng lồ. Nếu không có năng lượng tối thì vũ trụ cuối cùng cũng sẽ ngừng giản nở và thay vào đó lại bắt đầu co lại, cuối cùng là tự sụp đổ với một sự kiện gọi là Vụ Co Lớn (the “Big Crunch”). Nếu vũ trụ bị đóng lại nhưng có tồn tại năng lượng tối thì vũ trụ hình cầu sẽ giãn nở mãi mãi.  Ngoài ra, nếu Ω nhỏ hơn 1 thì hình dạng của không gian sẽ “mở” giống như bề mặt của cái yên ngựa. Trong trường hợp này, số phận cuối cùng của nó là một Vụ Rách Lớn (the “Big Rip”), tiếp theo là một Vụ Đóng Băng Lớn (the “Big Freeze”): đầu tiên, sự tăng tốc bên ngoài của vũ trụ sẽ xé toạc các thiên hà và các ngôi sao, để lại các vật chất lạnh lẽo và đơn độc. Tiếp theo, sự tăng tốc sẽ phát triển mạnh đến mức nó sẽ lấn át các tác động của các lực giữ nguyên tử gắn kết với nhau, và mọi thứ sẽ bị tách rời ra.  Nếu Ω bằng 1, vũ trụ sẽ phẳng, mở rộng giống một mặt phẳng vô định theo mọi hướng. Nếu không có năng lượng tối, thì vũ trụ phẳng đó sẽ giản nỡ mãi mãi nhưng với tốc độ giảm dần, tiệm cận trạng thái dừng lại. Nếu có năng lượng tối, vũ trụ phẳng cuối cùng sẽ trải qua quá trình giãn nở rất nhanh, dẫn đến Vụ Rách Lớn (the “Big Rip”).  Điều gì xảy ra sẽ xảy ra.  3. Bằng cách nào mà việc đo lường có thể khiến các hàm sóng lượng tử co lại?  Trong vùng kỳ lạ của các electron, photon và các hạt cơ bản khác, cơ học lượng tử là luật được áp dụng. Các hạt không hành xử giống những quả bóng nhỏ, mà giống các đợt sóng tràn qua một khu vực rộng lớn. Mỗi hạt được xác định bởi một “hàm sóng”, hoặc phân bố xác suất, tại đó cho thấy vị trí, vận tốc và các đặc tính khác mà nó có thể có, nhưng không phải giá trị xác định của các đặc tính đó. Hạt thực chất có một miền giá trị cho tất cả các đặc tính, cho đến khi bạn đo được một trong số các đặc tính đó bằng thực nghiệm – ví dụ như vị trí của nó mà tại đó hàm sóng của hạt “co lại” và nó chỉ nhận một vị trí.  Nhưng bằng cách nào và tại sao việc đo lường một hạt khiến hàm sóng của nó bị co lại, tạo ra thực tế cụ thể mà chúng ta thấy là đang tồn tại? Vấn đề này, vấn đề của sự đo lường, có vẻ là không phổ biến, mà sự hiểu biết của chúng ta về thực tế, hoặc nếu có tồn tại sự hiểu biết này đi chăng nữa, cũng chỉ xoay quanh câu trả lời cho câu hỏi này.  2. Lý thuyết dây có chính xác không?  Khi các nhà vật lý giả định tất cả các hạt cơ bản thực chất là các vòng lặp một chiều, hoặc ‘các dây’, mỗi dây dao động ở một tần số khác nhau, thì môn vật lý học trở nên dễ dàng hơn. Lý thuyết dây cho phép các nhà vật lý hài hòa các luật điều khiển các hạt, gọi là cơ học lượng tử, với các luật điều khiển không-thời gian, gọi là lý thuyết tương đối tổng quát, và để hợp nhất bốn lực cơ bản của tự nhiên thành một khung đơn. Nhưng vấn đề là, lý thuyết dây chỉ có thể hoạt động trong một vũ trụ với 10 hoặc 11 chiều : 3 chiều không gian lớn, 6 hoặc b7 chiều không gian nén, và 1 chiều thời gian. Các chiều không gian nén – cũng như bản thân các dây rung động – bằng khoảng một tỷ phần một tỷ tỷ kích thước của một hạt nhân nguyên tử. Không có cách gì có thể phát hiện ra vật gì nhỏ đến thế, và vì thế không có cách gì để kiểm chứng xem lý thuyết dây có chính xác hay không.      1. Liệu có trật tự trong sự hỗn loạn không?      Các nhà vật lý không thể giải chính xác các hệ phương trình mô tả tính chất của chất lưu, từ nước đến không khí đến toàn bộ các chất lỏng và khí khác. Trên thực tế, người ta không thể biết được có thực sự tồn tại một nghiệm tổng quát của cái được gọi là các phương trình Navier-Stokes hay không, hoặc nếu có một phương trình như vậy, dù nó mô tả chất lưu ở mọi nơi, hoặc chứa các điểm vốn không thể nhận ra – được gọi là các điểm kỳ dị. Kết quả là, bản chất của sự hỗn loạn không được hiểu rõ ràng. Các nhà vật lý và các nhà toán học tự hỏi, phải chăng thời tiết chỉ đơn giản là khó dự đoán, hay vốn đã không thể dự đoán? Phải chăng sự hỗn loạn vượt ra ngoài những thuyết minh toán học, hay tất cả đều có nghĩa khi bạn giải quyết bằng toán học chính xác.   Hồng Việt biên dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chín nhà khoa học nhận giải thưởng Kavli 2014      Ngày 29/5, Quỹ Kavli tuyên bố, giải thưởng  Kavli năm 2014 được trao cho chín nhà khoa học nhằm tuyên dương những  thành tựu có tính khai phá của họ trên ba lĩnh vực vật lý thiên văn,  khoa học nano và khoa học thần kinh. Những người được trao giải bao gồm công dân Mỹ (3 người), Anh (2), Pháp (1), Đức (1), Nga (1) và  Canada (1).      Giải thưởng Kavli do Viện Khoa học Na Uy (Norwegian Academy of Science and Letters) trao tặng, mỗi lĩnh vực một giải, mỗi giải trị giá 1 triệu USD. Ngoài ra người nhận giải còn được tặng một huy chương vàng và một bằng chứng nhận.  Giải thưởng Kavli về vật lý thiên văn được trao cho Alan H. Guth của Học viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge, Mỹ; Andrei Linde của Đại học Standford ở Palo Alto, bang California, Mỹ; và Alexei A. Starobinsky của Viện Vật lý lý thuyết Landau thuộc Viện Khoa học Nga ở ngoại thành Moskva. Ba người này được trao giải “vì những công trình tiên phong của họ về lý thuyết dãn nở vũ trụ”. Lý thuyết do ba vị nói trên đề xuất và phát triển đã làm thay đổi tận gốc suy nghĩ của chúng ta về vũ trụ.  Giải thưởng Kavli về khoa học nano được trao cho Thomas W. Ebbsen của Đại học Louis Pasteur, Đại học Strasbourg, CH Pháp; Stefan W. Hell của Viện Nghiên cứu sinh hóa Max Planck ở Göttingen, CHLB Đức và Ngài (Sir) John B. Pendry của Học viện Đế quốc London (Imperial College London), Anh Quốc. Họ được trao giải “vì những cống hiến có tính thay đổi trong lĩnh vực quang học nano, qua đó đã phá bỏ quan niệm tồn tại lâu nay về tính hạn chế của các giới hạn phân giải của kính hiển vi quang học”.  Giải thưởng Kavli về khoa học thần kinh được trao cho Brenda Milner của Viện Thần kinh học Montreal, Đại học McGill, Canada, John O’Keefe của Đại học London (University College London) Anh Quốc và Marcus E. Raichle của Học viện Y Đại học Washington ở St Louis, Missouri, Mỹ. Họ được trao giải này “vì những khám phá về mạng thần kinh não chuyên ghi nhớ và nhận thức”.  Giải thưởng Kavli là sự hợp tác giữa Viện Khoa học Na Uy, Quỹ Kavli (Mỹ) và Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Na Uy. Giải này do ông Fred Kavli ( người Na Uy, 1927-2013) đề xuất và được đặt tên theo tên ông, chỉ tặng cho những thành tựu thuộc ba lĩnh vực vật lý thiên văn, khoa học nano và khoa học thần kinh. Những người nhận giải được lựa chọn hai năm một lần bởi ba ủy ban giải thưởng thuộc ba lĩnh vực; thành viên ủy ban là các nhà khoa học quốc tế nổi tiếng được Viện Khoa học Trung Quốc, Viện Khoa học Pháp, Hội Max Planck, Viện Khoa học Nhà nước Mỹ và Hội Khoa học Hoàng gia (Anh) giới thiệu. Viện Khoa học Na Uy phê chuẩn danh sách người được trao giải theo kiến nghị của ba ủy ban.   Giải Kavli đầu tiên được trao vào năm 2008. Trong số người được tặng giải Kavli về vật lý thiên văn năm 2012 có một nhà khoa học nữ người Mỹ gốc Việt Nam – Giáo sư Jane X.Lưu của Học viện Công nghệ Massachusetts.   Quỹ Kavli do Fred Kavli thành lập năm 2000, trụ sở Quỹ đặt tại Oxnard, California, Mỹ. Quỹ này tài trợ cho hơn một tá Viện Kavli trên toàn thế giới.   Lễ trao giải sẽ được tổ chức tại thủ đô Oslo của Na Uy ngày 9 tháng 9 năm nay. Vua Na Uy Harald sẽ đích thân trao giải cho từng ứng viên. Nghi lễ này là một phần của Tuần lễ Giải thưởng Kavli – tuần các chương trình chào mừng những thành tựu xuất sắc về khoa học, giáo dục.  Nguyễn Hải Hoành dịch  Nguồn:    – http://www.kavlifoundation.org/2014-kavli-prize-press-release. 2014 Kavli Prize Press Release. May 29, 2014  – http://www.scientificamerican.com/article/9-exceptional-scientists-receive-the-2014-kavli-prizes/  Exceptional Scientists Receive the 2014 Kavli Prizes      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ Ấn Độ phát triển điện hạt nhân dù bị phản đối      Jaitapur được chọn làm địa phương thí điểm trong công cuộc phục hưng năng lượng nguyên tử của Ấn Độ vốn được đề ra sau một hiệp ước nhằm chấm dứt sự lạc hậu về công nghệ của đất nước khát năng lượng này. Chính quyền của tổng thống Mỹ George W. Bush đã tập trung nỗ lực ngoại giao để mở đường cho Ấn Độ mua công nghệ hạt nhân dân sự và uranium từ các nước phương Tây dù quốc gia này đã từ chối ký Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân. Nhưng tiến trình triển khai dự án hợp tác hạt nhân dân sự của Ấn Độ đang gặp phải một rào cản lớn là sự thiếu lòng tin và chống đối từ công chúng.        Theo A. Gopalakhrishnan, cựu chủ tịch Ủy ban Điện Nguyên tử Ấn Độ, “Mỹ muốn phổ biến điện hạt nhân ở Ấn Độ chỉ đơn giản là vì họ muốn thiết lập một thị trường cực lớn cho các công ty năng lượng của mình chứ không phải để làm từ thiện cho nhiều triệu người Ấn đang thiếu điện”, nhận định đó không phải chỉ những cựu quan chức chính phủ như Gopalakhrishnan mà cả ngư dân, nông dân và nhiều ngàn thường dân khác cũng đang quyết tâm cản trở chương trình phát triển điện hạt nhân ở Ấn Độ – điều này được thể hiện qua những cuộc biểu tình đã bắt đầu mang tính bạo lực ở Jaitapur mùa xuân vừa qua.  Chống đối chuyển thành bạo lực  Dự án điện hạt nhân trị giá 9,3 tỷ USD ở Jaitapur, cách thủ đô tài chính Mumbai khoảng 400km về phía Nam, có thể trở thành cột mốc không chỉ của Ấn Độ mà còn của cả thế giới. Với sáu lò phản ứng, mỗi lò có công suất 1.650 megawatt, nó sẽ sản xuất lượng điện nhiều hơn 25% so với nhà máy điện nguyên tử lớn nhất đang hoạt động hiện nay – đó là nhà máy Kashiwazaki-Kariwa nằm trên bờ biển phía Tây Nhật Bản. Điện sẽ được cung cấp không chỉ cho cộng đồng nông nghiệp lân cận mà cho toàn bang Maharashtra, bang phát triển công nghiệp mạnh nhất Ấn Độ.  Điều mỉa mai là, mặc dù Hoa Kỳ mở đường cho những nỗ lực hợp tác quốc tế cần thiết để xây nhà máy nhưng dự án lại dùng công nghệ của Pháp.  Đây là một trong những dự án đầu tiên mà công ty AREVA (đóng trụ sở tại Paris) có kế hoạch giới thiệu thế hệ lò phản ứng điều áp mới của họ, mang tên Evolutionary Power Reactors (EPR). Buồng chứa và hệ thống làm mát độc lập dự phòng được xem là bước tiến quan trọng về an toàn, theo một báo cáo từ vài năm trước của Liên minh Những nhà khoa học quan tâm (Union of Concerned Scientists – tổ chức khoa học phi lợi nhuận hàng đầu về an toàn môi trường, đóng tại Mỹ), nhưng các nhà quan sát Ấn Độ vẫn tỏ ra quan ngại. Họ lấy trường hợp một dự án EPR khác tại Phần Lan nơi phát sinh vấn đề chi phí vượt quá kế hoạch cùng những tồn tại khác, để chất vấn việc đưa thiết kế chưa được kiểm chứng này vào sử dụng.  Nhà máy sẽ rộng khoảng 162 hécta, nằm trên một cao nguyên giữa hai con lạch mà ven bờ là rừng đước. Phía Đông là rặng núi Sahyadri, vốn được coi là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh vật của thế giới. Với người dân địa phương thì vấn đề là nhà máy – với diện tích rộng và làm thay đổi hệ sinh thái, nhất là việc thải nước nóng – sẽ gây ảnh hưởng ra sao đến hệ thủy sinh và đến cuộc sống của chính họ. Đã có những báo cáo về việc nông dân vẫn tiếp tục hái xoài và trồng lúa gạo trên khu vực đã thu hồi cho dự án.  Sự chống đối lan rộng sau sự kiện Fukushima, các nhà hoạt động môi trường từ khắp nơi trên đất nước Ấn Độ chỉ ra rằng vùng duyên hải nước này nằm ở mức thứ ba trên thang đo năm độ về nguy cơ địa chấn. Một ngư dân thiệt mạng trong cuộc xô xát giữa người biểu tình với cảnh sát hồi tháng Tư, nhiều người khác bị thương.  “Chính phủ Ấn Độ thậm chí chẳng thèm cân nhắc rằng những rủi ro khi xây dựng một nhà máy điện nguyên tử như ở Jaitapur lớn hơn rất nhiều so với lợi ích nó đem lại,” nhận định từ nhà hoạt động chống điện nguyên tử Priful Bidwai đến từ Delhi. “Fukushima là hồi kết của điện hạt nhân ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng ở Ấn Độ thì mọi chuyện mới chỉ bắt đầu.”    Động lực cho năng lượng sạch  Lý do để Ấn Độ muốn mở rộng điện nguyên tử rất đơn giản. Trong khi nền kinh tế nước này tăng trưởng với tốc độ trung bình 9%/năm thì 56% số gia đình ở nông thôn Ấn Độ – tức khoảng 400 triệu người – hoàn toàn không có điện. Ngay cả những thành phố lớn nhất, phát triển nhất cũng thiếu điện và phải trang bị máy phát chạy xăng cỡ lớn để đề phòng. Với mức tiêu thụ điện bình quân đầu người được dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020, Chính phủ nói rằng điện hạt nhân – có thể cung cấp một lượng điện lớn mà không thải ra khí carbon – là cần thiết.  “Năng lượng hạt nhân là con đường rẻ nhất và sạch nhất để kết nối các thành phố Ấn Độ vào lưới điện,” khẳng định từ Jairaim Ramesh, cựu bộ trưởng Bộ Môi trường vừa chuyển sang lãnh đạo bộ Phát triển Nông thôn sau cuộc tái cơ cấu nội các trong tháng Bảy.  Thực ra, Ấn Độ bắt đầu chương trình điện hạt nhân từ thập niên 1950, nhưng rồi họ bị cấm mua bán công nghệ và nguyên liệu cho điện nguyên tử trong suốt gần 30 năm. Ấn Độ chính thức bị cấm vận vì vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1974 và vì họ từ chối ký Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân. Kết quả là các lò phản ứng chỉ đóng góp 3% sản lượng điện ở Ấn Độ. Nhưng Ấn Độ hy vọng đến năm 2050, họ sẽ nâng tỷ lệ này lên 25%.          Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton gặp Ngoại trưởng Ấn Độ S.M. Krishna tại New Delhi hôm 19/07.          Chính quyền Bush tìm cách giúp Ấn Độ giành quyền tiếp cận các công nghệ có thể giải quyết phần nào tình trạng thiếu điện thông qua một hiệp ước hợp tác về hạt nhân dân sự. “Một trong những lợi ích của hiệp định hạt nhân là nó có thể giúp Ấn Độ sản xuất điện hạt nhân hiệu quả hơn,” theo lời Anja Manuel, một luận sư làm việc với chính quyền Bush trong quá trình đàm phán việc hợp tác và đạt sự thông qua từ quốc hội.  Nhưng các đạo luật về trách nhiệm do Quốc hội Ấn Độ ban hành trước thềm cuộc thỏa thuận đã ngăn các công ty của Mỹ khai thác thị trường giàu có này. Các công ty [năng lượng] hạt nhân của Pháp và Nga, do thuộc sở hữu của Nhà nước một phần hay toàn bộ nên có một sự bảo lãnh cao hơn về trách nhiệm, vì vậy có lợi thế hơn các công ty Mỹ trong việc hợp tác làm ăn với Ấn Độ.  Trong chuyến thăm cuối tháng 7, bà Clinton khuyên Ấn Độ sửa đổi luật trách nhiệm của họ cho phù hợp với các quy tắc quốc tế bằng cách cam kết với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế một khuôn khổ pháp lý mới. Nhưng vấn đề trách nhiệm của các công ty tư nhân lại là một vấn đề chính trị ở Ấn Độ từ sau vụ tai nạn công nghiệp thảm khốc nhất thế giới ở Bhopal 1984. Hãng sản xuất hóa chất Union Carbide của Mỹ đã không phải chịu trách nhiệm gì nhiều vì luật pháp lỏng lẻo lúc ấy. [1]  Nhìn lại sai lầm, tìm kiếm giải pháp  Những người phản đối điện nguyên tử ở Ấn Độ cũng lo lắng về lịch sử công nghệ hạt nhân của chính nước họ, trong đó có vụ tai nạn nghiêm trọng hồi tháng Ba năm 1993 ở nhà máy Narora trên bờ sông Ganges – khi đó, ngọn lửa bùng lên sau khi một cánh quạt gãy rời khỏi tua-bin hơi nước đang quay với tốc độ cao. Tai nạn đó làm cho nhà máy bị mất điện, và cũng giống như ở Fukushima, khiến lò phản ứng quá nóng (do hệ thống làm mát ngừng hoạt động) và các thanh nhiên liệu suýt bị nóng chảy trước khi có điện trở lại, theo lời ông Gopalakhrishnan, người cho rằng tai nạn trên “hoàn toàn có thể tránh được,”  Ông cũng cho biết rằng vụ tòa nhà bê tông bao bọc lò phản ứng của nhà máy Kaiga ở gần sống Kali đổ sập hồi năm 1994 là do Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Ấn Độ (NPCIL) khảo sát địa hình và giám sát chất lượng quá kém. Việc quản lý xây dựng nhà máy Jaitapur và mọi nhà máy điện nguyên tử khác tại Ấn Độ đều do tập đoàn này tiến hành.  Gopalakhrishnan lập luận rằng chưa từng có cuộc thanh tra đáng tin cậy nào về độ an toàn của 20 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động tại Ấn Độ và ông cũng chế giễu bản đánh giá mà NPCIL đưa sau thảm họa Fukushima.  Ronen Sen, Đại sứ Ấn Độ tại Mỹ trong thời gian diễn ra đàm phán, không đồng tình với Gopalkhrishnan và ủng hộ các dự án điện nguyên tử của Ấn Độ. Nhưng ông nói rằng điện hạt nhân chỉ là một phần của giải pháp và nước ông phải giảm dần sự lệ thuộc vào năng lượng hóa thạch đồng thời đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, bao gồm cả việc đầu tư cho năng lượng tái sinh.  Nhưng theo Avinash Patkar – giám đốc phát triển bền vững của tập đoàn Tata Group, công ty tư nhân lớn nhất Ấn Độ – năng lượng tái sinh đang phải cạnh tranh với than, vốn có lợi thế là đầu tư ban đầu ít mà lợi nhuận cao.  Ông này cho biết than cung cấp hơn 50% năng lượng cho Tata nhưng họ cũng có kế hoạch nâng tỷ lệ năng lượng tái sinh lên 25% vào cuối thập kỷ này.  Cũng theo ông, để năng lượng tái sinh trở nên hiệu quả thì Chính phủ Ấn Độ phải tập trung vào việc phân tán nguồn cấp điện. Thay vì dựa vào một lưới điện khổng lồ, theo ông, thì mấy chục nghìn làng mạc chưa có điện ở Ấn Độ phải tự xây dựng hệ thống cấp điện cho riêng mình. “Chúng tôi cần các doanh nghiệp mạnh dạn xây dựng hệ thống cấp điện cho các làng, có thể là điện nhiên liệu sinh học, năng lượng mặt trời, điện gió, hoặc thủy điện,” Patkar nói.  Gopalakhrishnan cho rằng Chính phủ cũng cần phải tập trung vào việc thu hồi lượng điện bị mất do truyền tải kém và do nạn ăn cắp điện, tổng cộng ước tính lên tới 30% tổng lượng điện. Nạn ăn cắp điện ở Ấn Độ được cho là tồi tệ hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.  Bidwai, một nhà hoạt động chống điện nguyên tử, nói rằng tính cấp thiết của điện hạt nhân sẽ giảm đi nếu Chính phủ nỗ lực giảm áp lực lên lưới điện bằng cách khuyến khích sử dụng năng lượng tái sinh ở quy mô từ nhỏ tới lớn và tăng hiệu quả sử dụng.  Ông Ramesh, vị bộ trưởng trong nội các, đồng tình với Bidwai rằng kiểm soát tiêu thụ là một phần của giải pháp. “Vì dân số sẽ còn tăng nên chúng ta phải tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu năng lượng và lượng điện sản xuất được,” ông nói.  “Một mô hình sử dụng điện mới sẽ phát triển từ Ấn Độ.”  Nhưng khó khăn thì rất lớn, nhất là nếu Ấn Độ muốn kiềm chế khí nhà kính. Lượng phát thải carbon của nước này ở trong nhóm thấp nhất thế giới, chỉ 1,2 tấn mỗi người, so với mức trung bình thế giới là 5 tấn và của Mỹ là tới 19 tấn.  Dù vậy, dân số đông đồng nghĩa với việc Ấn Độ là mộ trong những nước đóng góp nhiều khí thải nhất, và vấn đề sẽ còn trầm trọng hơn khi nước này vượt qua Trung Quốc để trở thành nước đông dân nhất vào năm 2025. Chính phủ Ấn Độ đã ước tính rằng khí nhà kính của họ sẽ tăng gấp ba lần trong vòng 20 năm.  Với mục tiêu kép là vừa gia tăng nguồn cung cấp điện và giữ mức phát thải thấp, Chính phủ Ấn Độ khẳng định rằng họ cần các nhà máy điện nguyên tử như ở Jaitapur. “Chúng tôi đang khám phá năng lượng tái sinh,” ông Ramesh nói, “nhưng điện hạt nhân vẫn là phần chính trong giải pháp, trừ khi có một chuyển biến lớn ở [công nghệ] năng lượng mặt trời hoặc năng lượng gió.”  (Hoàng Minh dịch từ bài viết của Rebecca Byerly, online trên trang web của National Geographic ngày 22/07/2011)          [1] Thảm họa Bhopal được ước tính là đã làm chết ít nhất 8000 người, trong đó có khoảng 3000 người chết ngay trong tuần đầu tiên sau khi nhà máy của Union Carbide bị rò rỉ nhiều chất khí độc hại          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính Phủ cần được thường xuyên tư vấn về khoa học      Trả lời phỏng vấn báo “Die Welt” (CHLB Đức) của Sir David King, cố vấn khoa học của Thủ tướng Anh Tony Blair.    Die Welt: Thưa giáo sư, Chính phủ Anh dường như rất quan tâm tới vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và có những nỗ lực lớn về vấn đề này, mong giáo sư cho biết lý do?  Sir David King: Có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất vì Công đảng ngay trước cuộc bầu cử năm 1997 đã cam kết thực hiện chương trình-Kyoto. Một số thành viên nội các có vai trò quyết định như bà Bộ trưởng Môi trường Margaret Beckett và Bộ trưởng Tài chính Gordon Brown đang thúc đẩy quá trình này. Thứ hai, khi tôi được đề cử làm công tác này, tôi đã tiến hành phân tích hết sức sâu rộng những vấn đề khoa học liên quan đến biến đổi khí hậu và đi đến nhận định vấn đề nóng lên trên toàn cầu sẽ là một thách thức nghiêm trọng nhất đối với chúng ta trong thế kỷ 21. Nhận thức này tác động mạnh mẽ cả ở trong và ngoài chính phủ. Một cuộc thăm dò dư luận gần đây ở Anh cho thấy rất rõ dư luận chung ở Anh đối với vấn đề này. Khi được hỏi “Sự nóng lên trên toàn cầu có phải là một vấn đề nghiêm trọng không?” thì 92 % số người được hỏi trả lời là “có” và chỉ có 4% trả lời là “không”.   Welt: Thưa giáo sư, nền khoa học Anh đặc biệt mạnh ở lĩnh vực nào?  King: Năm 2004 tôi đã tiến hành phân tích so sánh về sức mạnh khoa học của các quốc gia khác nhau dựa trên cơ sở số bài báo được công bố trên tạp chí khoa học “Nature”. Nếu xét theo tiêu chí đó thì  nước Anh đứng ở vị trí thứ hai sau Mỹ. Nước Anh mạnh nhất ở lĩnh vực y học lâm sàng và tiền lâm sàng, các ngành khoa học về cuộc sống, khoa học môi trường và toán học. Ngược lại về vật lý và các ngành khoa học kỹ thuật, chúng tôi chỉ xếp hạng thứ tư sau Mỹ, Đức và Nhật Bản.   Welt: Trong các ấn phẩm khoa học, các nhà khoa học Anh thường được trích dẫn nhiều hơn so với các nhà khoa học Đức, thưa giáo sư, tại sao lại như vậy?    King: Khó có thể giải thích được điều này bằng một số lý do đơn giản. Tôi nghĩ ở đây thể hiện khá rõ các di sản của quá khứ và một truyền thống khoa học lâu đời của các quốc gia. Hiện nay Trung Quốc công bố rất nhiều kết quả nghiên cứu và nếu nói về số lượng ấn phẩm được đăng tải thì ngay từ năm 2004 họ đã vượt Canada và đang chuẩn bị vượt Pháp. Nhưng nếu so sánh về số lần được trích dẫn thì Trung Quốc còn đứng khá xa sau hai nước này.   Welt: Thưa giáo sư nước so với Đức, Anh đầu tư tiền của cho nghiên cứu khoa học ít hơn. Nhưng tại sao nền khoa học Anh lại vẫn đạt được thành tựu to lớn như vậy?  King: Có thể có hai nguyên nhân. Một là, mặc dù số tiền đầu tư cho nghiên cứu cơ bản bị giảm sút và sự hỗ trợ của nhà nước trong thời gian từ 1980 đến 1995, tính theo tỷ lệ phần trăm trên tổng sản phẩm quốc nội, đã bị giảm một nửa, nhưng nền khoa học Anh đã có nhiều ý tưởng mới, đầy sáng tạo và tiếp tục giành được những thành tựu tốt đẹp nhờ khai thác được nguồn kinh phí từ Liên minh Châu Âu hoặc từ lĩnh vực công nghiệp. Nguyên nhân thứ hai, các tổ chức tài trợ lớn như Research Councils đã hướng cho khoa học phát triển có mục đích, tập trung mạnh vào các lĩnh vực nghiên cứu phục vụ sản xuất.      Welt: Mật độ các doanh nghiệp – công nghệ cao ở Anh rất dày đặc. Thưa giáo sư, liệu có bí mật gì chăng?  King: Đúng là chúng tôi có mật độ rất cao các doanh nghiệp công nghệ cao cỡ nhỏ ở xung quanh các trường đại học. Thí dụ xung quanh Cambridge hiện có tới khoảng 900 doanh nghiệp High-Tech cỡ nhỏ ngoài ra còn có 600 hãng dịch vụ loại nhỏ. Chúng ta cũng thấy hiện tượng này ở xung quanh một số trung tâm công nghệ cao khác. Quá trình này ban đầu diễn ra tự phát có lẽ vào đúng thời kỳ kinh phí hạn hẹp không đáp ứng được nhu cầu và các nhà khoa học phải tự tìm các nguồn tài chính thay thế khác. Giờ đây với sự trợ giúp của chính phủ và của Quỹ Higher Education Innovation Fund (HEIF) sự phát triển này đã vươn tới đỉnh cao. Nhưng theo tôi, nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phát triển này là nền văn hóa khoa học tại các trường đại học ở Anh đã hoàn toàn thay đổi, không còn là một tháp ngà xa rời thực tế mà gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, nghiên cứu khoa học  phải tạo ra giá trị phục vụ cuộc sống.    Welt: Là cố vấn khoa học của ông Tony Blair, trong những tháng qua giáo sư đã thảo luận với Thủ tướng Anh về những chủ đề gì? Theo giáo sư, một vị cố vấn khoa học bên cạnh bà Thủ tướng Đức Angela Merkel có là điều nước Đức cần không?    King: Trong mấy tháng qua tôi trao đổi với thủ tướng về nhiều chủ đề, trong đó có vấn đề tăng giá trị nghiên cứu cơ bản hay cả về nguy cơ về một dịch cúm nguy hiểm đối với con người bắt nguồn từ cúm gia cầm. Tôi tin rằng, khoa học và công nghệ liên quan đến mọi khía cạnh trong việc điều hành đất nước, nó là một vấn đề trọng tâm vì thế các chính phủ đều cần có một đội ngũ cố vấn mạnh, gần với chính phủ và sâu sát với các lĩnh vực khoa học. Tất nhiên không cần có sự tư vấn thường xuyên của giới khoa học, các nhà lãnh đạo vẫn có thể điều hành đất nước. Nhưng tôi không tin rằng một nhà lãnh đạo quốc gia, không có tư vấn khoa học, lại có thể điều hành tốt đất nước mình.  Welt, 24. 4. 2006      Xuân Hoài       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ số: không chỉ là công nghệ      Các sáng kiến về chính phủ điện tử có thể giúp việc vận hành quốc gia trở nên tốt hơn, tuy nhiên để làm được việc đó trước tiên cần bảo mật dữ liệu cá nhân.    Những người làm cho chính phủ thường xuyên lưỡng lự trước việc thay đổi cách họ đang vận hành công việc – thi thoảng các điều luật và các quy định loại bỏ yêu cầu  xử lý thông tin nhưng phần lớn đơn giản là thiếu ý chí chính trị để thay đổi. Sandoval-Almazán nói: “Nhiều nhà quản lý công không muốn mất quyền lực của mình, và họ nhìn công nghệ như một thứ đe dọa điều đó”. Tham nhũng có thể là vấn đề ở một vài nơi, ông cũng chỉ ra. Một chính phủ điện tử vận hành tốt không tương thích với một hệ thống tràn lan nạn hối lộ và kết nối vì mục đích cá nhân.  Các hệ thống thực thi nhiệm vụ không đơn giản là việc đáp ứng yêu cầu công nghệ để phù hợp với công việc của chính phủ mà nói đòi hỏi phải chuyển đổi chính phủ theo cách phù hợp hơn với bản chất công nghệ của thế kỷ 21. Theo Greenway, các cơ quan của chính phủ cần kết nối với nhau nhiều hơn và sẵn sàng hơn để đáp ứng yêu cầu mới, đồng thời phải tập trung nhiều hơn vào những gì các công dân cần. Theo cách đó, chính phủ điện tử không chỉ tạo ra một trải nghiệm dịch vụ khách hàng tốt hơn “mà cần cải cách bộ máy quan liêu và các thể chế chính trị, thay đổi một số điều cơ bản trong dịch vụ dân sự,” ông nói. Kỹ thuật số có khả năng chuyển đổi cách các công dân kết nối với chính phủ nhưng cũng có thể thay đổi cả cách chính phủ nhìn nhận chính mình.¨    Estonia cho phép các công dân của mình thực hiện toàn bộ tương tác với chính phủ qua mạng internet. Nguồn: Nature.  Các phòng ban của Văn phòng đăng ký xe cơ giới Massachusetts luôn đầy ắp những người bực bội do phải xếp hàng chờ đợi tới 5 tiếng đồng hồ để gia hạn giấy phép lái xe. Vào tháng 3/2018, Văn phòng đã đổi mới bằng việc cài dặt một phần mềm mới và đưa ra những yêu cầu mới về nhận diện để hoàn tất Chương trình ID thực – một điều luật liên bang nhằm cải tiến việc xác thực và an ninh của giấy phép.   Theo yêu cầu này, những người nộp hồ sơ phải mang đến văn phòng một số giấy tờ để chứng minh danh tính và xác nhận nơi cư trú: một thẻ an ninh xã hội hoặc chứng từ thuế, giấy khai sinh, hộ chiếu hoặc giấy tờ cư trú, hóa đơn sử dụng dịch vụ gần nhất và bản kê ngân hàng. Nhưng về phía các nhân viên của Văn phòng, họ phải vất vả khi sử dụng phần mềm mới: kiểm tra mọi người đã có đủ giấy tờ đúng yêu cầu chưa, nhập dữ liệu vào hệ thống để có được một giấy phép mới cũng mất nhiều thời gian hơn dự kiến. Công việc như thế này cũng diễn ra trong nhiều tuần ở nhiều bang khác của Mỹ.   Đó chỉ là một phần của câu chuyện về chính phủ số, nơi rất có thể phải đối mặt với những vấn đề như khiếm khuyết dữ liệu, mất thời gian nhập liệu khi chuyển tải thông tin từ các hồ sơ giấy tờ sang hồ sơ số hóa. Nhưng người đề xướng đều lý luận rằng trong thời đại số hóa, việc giao dịch giữa người dân với chính phủ có thể trở nên dễ dàng như mua bán hàng hóa qua mạng. Chính phủ số, hay còn được gọi là chính phủ điện tử (e-government) có thể góp phần làm giảm tình trạng quan liêu giấy tờ và giúp các dịch vụ công trở nên hiệu quả hơn, tiết kiệm kinh phí hơn. Nó cũng góp phần đem lại sự minh bạch cho chính phủ thông qua việc trao cho công dân quyền truy cập dữ liệu chính phủ và cái nhìn thấu suốt hơn theo cách “dân biết, dân bàn dân kiểm tra” các hoạt động của chính phủ. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để các dữ liệu của chính phủ có thể hỗ trợ việc giải quyết tình trạng tội phạm, khủng bố, cải thiện việc ra các quyết sách kinh tế và cắt giảm chi phí kinh doanh.      Sức mạnh của chính phủ số nằm trong chính bộ dữ liệu mà các chính phủ thu thập và tạo ra. Do đó, Các công dân không chỉ tìm thấy các thông tin hữu ích mà còn có khả năng hiểu hơn về việc các cơ quan chính phủ làm việc như thế nào.      Estonia thường được nhắc đến như một hình mẫu về chính phủ điện tử. Người dân có thể nộp các bản khai thuế, bỏ phiếu bầu cử, đăng ký một công ty mới qua mạng internet. Hầu như bất cứ mọi thứ thủ tục đều có thể được thực hiện ở bất cứ nơi nào có kết nối internet, ngoại trừ mua nhà hoặc kết hôn. Một thẻ ID được mã hóa có thể truy cập vào mọi thứ, từ các trang web chính phủ đến tài khoản ngân hàng. Đất nước này đã có “công dân điện tử”, cho phép mọi người từ khắp mọi nơi trên thế giới đăng ký một ID (có tính phí), đăng ký một doanh nghiệp ở Estonia. Hơn 46.000 người đã trở thành “công dân ảo” của Estonian theo cách này – tương đương với 3% dân số thực của đất nước.  Nhiều quốc gia khác cũng đang nỗ lực thúc đẩy việc áp dụng các dịch vụ công số hóa. Theo Bộ phận Kinh tế và xã hội Liên Hợp Quốc, trong năm 2018, Đan Mạch là quốc gia dẫn đầu về sử dụng các công nghệ internet để cung cấp các dịch vụ công, theo sau là Australia, Hàn Quốc và Anh. Mỹ xếp thứ 11, sau Nhật Bản. Chót bảng là các quốc gia châu Phi – nơi còn trong cảnh thiếu điện và truy cập internet còn chưa được phổ biến khiến việc hình thành và triển khai chính phủ điện tử còn gặp khó khăn.     Chính phủ số không chỉ cắt giảm chi phí dịch vụ công mà còn làm cho chúng hiệu quả hơn. Tổ chức Treasury (Anh) đã ước tính nếu hoàn thiện trang web www.gov.uk – được bắt đầu lập vào năm 2012 để sáp nhập các trang web của 25 cơ quan cấp bộ và 385 tổ chức công khác thành một cổng thông tin, sẽ tiết kiệm 3,6 tỷ bảng (4,7 tỷ USD) ngay trong ba năm vận hành.  Sức mạnh của chính phủ số nằm trong chính bộ dữ liệu mà các chính phủ thu thập và tạo ra, như dữ liệu về tỷ lệ tội phạm, chi tiêu cho giáo dục, luôn có sẵn để các quan chức chính phủ và công chúng sử dụng. Theo cách này, các công dân không chỉ tìm thấy các thông tin hữu ích mà còn có khả năng hiểu hơn về việc các cơ quan chính phủ làm việc như thế nào.  Các công dân có thể tìm bất cứ thứ gì họ muốn qua internet, Rodrigo Sandoval-Almazán – một nhà khoa học chính trị tại trường Đại học Tự trị ở Mexico và đang hợp tác với Chính phủ Mexico để soạn thảo các quy định về dịch vụ số. Tuy luật pháp Mexico yêu cầu các công chức phải trả lời các câu hỏi của công dân nhưng ông muốn mọi người có thể nhận được câu trả lời họ cần ngay từ các cơ sở dữ liệu hơn là chờ đợi điều đó từ một công chức. “Công nghệ có thể đưa ra câu trả lời chính xác nếu nhận được câu hỏi về chi phí đào tạo trong các trường công trong lĩnh vực nào đó hoặc ngôi trường nào là tốt nhất cho con cái của tôi,” ông lấy ví dụ.  Những giải pháp thông minh   Chính quyền có thể nhận được lợi ích từ việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên các dữ liệu của mình, theo Jaideep Vaidya – một nhà khoa học máy tính tại Rutgers Business School ở Newark, New Jersey. Ông đang phát triển phần mềm phân tích dữ liệu cho Newark nhằm hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định dựa trên phản ánh của công dân. Ví dụ khi người ta phàn nàn trên các trang mạng xã hội về chuyện đường xấu, nhiều ổ gà, đèn đường hỏng hóc thì một thuật toán cài đặt sẵn sẽ làm chuyện đối chiếu, thu thập thông tin rồi tự đề xuất cách giải quyết vấn đề như cử một đội làm đường tới xử lý trong thời gian ngắn nhất.   Newark – một thành phố đông dân cư với 30% la người nghèo – có một lượng lớn các lô đất bỏ hoang vừa không thu được thuế vừa thu hút tội phạm. Vaidya cho biết, trên cơ sở các phân tích dự đoán, các mô hình máy tính có thể đưa ra gợi ý về việc khuyến khích các doanh nghiệp tiếp quản các lô đất đó. Các quan chức chính phủ cũng có thể dùng các phân tích dự đoán để tìm cách tốt nhất để mang lại doanh thu, “cho phép giảm đi gánh nặng thuế má”, ông nói.  Việc ứng dụng các phân tích dự đoán trên dữ liệu của chính phủ cũng có thể giúp các cơ quan an ninh tối ưu nguồn lực thông qua việc dò tìm các điểm tội phạm khủng bố hoặc các hiểm họa an ninh. Nhưng cứ trông chờ vào trí tuệ nhân tạo để đem đến các quyết định hành chính mà không có sự giám sát cẩn trọng thì có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, Vaidya cảnh báo. Ví dụ một thuật toán học máy có thể tạo ra một mô hình phụ thuộc vào các đặc điểm là đối tượng của luật chống phân biệt đối xử, chẳng hạn như chủng tộc, tuổi tác cũng có thể đem lại sự bất bình đẳng.   “Mọi người giờ đang phát cuồng về deep learning (học sâu)”, Vaidya nói, đây là một kỹ thuật bắt chước cách bộ não hoạt động bằng việc “chạy” qua nhiều lớp tính toán. Nó giúp các trợ lý số như Siri của Apple, Alexa của Amazon có khả năng nhận diện được giọng nói. “Vấn đề lớn nhất với deep learning là anh chưa thể có một mô hình giải thích vì về cơ bản anh không hiểu được tạo sao thuật toán đó lại có những lựa chọn cụ thể,” ông cho biết thêm.  Việc tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập dễ dàng các thông tin về thuế, tuyển dụng, y tế trên trang web cũng là “cơ hội” tạo điểm ngắm cho các hacker. Vì thế, các nhà khoa học máy tính đang phát triển các kỹ thuật mật mã để đảm bảo tính an toàn của dữ liệu. Sự riêng tư khác biệt – một cách tiếp cận cho phép người ta có thể truy cập dữ liệu nhưng vẫn bảo vệ được danh tính, đang được phổ biến. Với ưu điểm của cách tiếp cận này, một cá nhân có thể khai thác thông tin từ một bộ sưu tập hồ sơ mà không phải nêu sự khác biệt giữa các hồ sơ cá nhân. Về bản chất, máy tính có thể sắp xếp được một câu trả lời, và sau đó đưa thêm một ít nhiễu thống kê để che độ chính xác của kết quả. Dẫu sao, nó chỉ hoạt động tốt khi tập hợp được số lượng lớn hồ sơ và điều đó sẽ giúp giảm thiểu độ chính xác – yếu tố giúp tin tặc tìm ra danh tính. Cục Điều tra dân số Mỹ đã lên kế hoạch sử dụng cách tiếp cận riêng tư khác biệt này để bảo vệ dữ liệu được thu thập trong cuộc điều tra dân số vào năm 2020.  Không chỉ là vấn đề công nghệ   Trong quá trình thực hiện chính phủ số, có một số vấn đề đặt ra là chỉ có ít việc cần phải làm để phát triển công nghệ nhưng lại phải đối mặt với những vấn đề quan trọng như chi phí, thiết bị lạc hậu, thói quan liêu và ít ý chí chính trị. Ví dụ, nhiều hệ thống số vẫn còn phụ thuộc vào những ngôn ngữ máy tính cũ như COBOL, từng được viết ra từ năm 1959. “Một số cơ sở dữ liệu như hệ thống thuế được lập trên cơ sở những mảnh vỡ của COBOL đã có mặt hơn 40 năm. Chúng được gá lắp với nhau một cách thô sơ nhưng giờ đây lại là cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia,” Greenway – một đối tác của Public Digital – một tổ chức tư vấn của Anh để hỗ trợ các chính phủ thiết kế các hệ thống số, nói.   Theo Spafford nhà khoa học máy tính tại trường Đại học Purdue ở Tây Lafayette, bang Indiana, Mỹ, một vài cơ quan Mỹ đang sử dụng các máy tính đã trên 30 năm tuổi. Năm 2015, Văn phòng Quản lý nhân sự Mỹ (Office of Personnel Management) đã bị tin tặc tấn công, dẫn đến lộ hồ sơ của 4,2 triệu nhân viên liên bang cũng như số thẻ an ninh xã hội của 21,5 triệu người. Lỗ thủng dữ liệu này cho thấy hệ thống quản lý dữ liệu của OPM đã sử dụng phần cứng lạc hậu và phần mềm dễ bị tấn công mà thiết bị hiện hành không mắc phải. “Chi phí để sửa chữa tốn nhiều triệu đô la”, ông nói.       Việc số hóa khiến các công dân có thể tìm bất cứ thứ gì họ muốn qua internet. Nguồn: madison.co.nz  Những người làm cho chính phủ thường xuyên lưỡng lự trước việc thay đổi cách họ đang vận hành công việc – thi thoảng các điều luật và các quy định loại bỏ yêu cầu  xử lý thông tin nhưng phần lớn đơn giản là thiếu ý chí chính trị để thay đổi. Sandoval-Almazán nói: “Nhiều nhà quản lý công không muốn mất quyền lực của mình, và họ nhìn công nghệ như một thứ đe dọa điều đó”. Tham nhũng có thể là vấn đề ở một vài nơi, ông cũng chỉ ra. Một chính phủ điện tử vận hành tốt không tương thích với một hệ thống tràn lan nạn hối lộ và kết nối vì mục đích cá nhân.  Các hệ thống thực thi nhiệm vụ không đơn giản là việc đáp ứng yêu cầu công nghệ để phù hợp với công việc của chính phủ mà nói đòi hỏi phải chuyển đổi chính phủ theo cách phù hợp hơn với bản chất công nghệ của thế kỷ 21. Theo Greenway, các cơ quan của chính phủ cần kết nối với nhau nhiều hơn và sẵn sàng hơn để đáp ứng yêu cầu mới, đồng thời phải tập trung nhiều hơn vào những gì các công dân cần. Theo cách đó, chính phủ điện tử không chỉ tạo ra một trải nghiệm dịch vụ khách hàng tốt hơn “mà cần cải cách bộ máy quan liêu và các thể chế chính trị, thay đổi một số điều cơ bản trong dịch vụ dân sự,” ông nói. Kỹ thuật số có khả năng chuyển đổi cách các công dân kết nối với chính phủ nhưng cũng có thể thay đổi cả cách chính phủ nhìn nhận chính mình.¨  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07502-x          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách năng lượng mới của Đức      Theo quyết định mới nhất của Chính phủ, sau ba tháng tạm dừng, 8 trong số 17 nhà máy điện hạt nhân sẽ ngừng hoạt động vĩnh viễn. Nước Đức đang hướng tới phát triển năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, thay thế dần điện hạt nhân, nhằm đạt được phát triển bền vững, đảm bảo môi trường sống của con người.       Những ngày cuối tháng 5/2011, chủ đề về chính sách năng lượng của Đức thu được sự quan tâm cao độ của dư luận; các tin tức về chủ đề này luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong mục điểm tin của các báo điện tử. Những cuộc họp của Chính phủ và các bên liên quan được giới báo chí theo dõi và cập nhật liên tục nhằm cung cấp cho công chúng những tin tức mới nhất về chính sách năng lượng.  Theo đúng lộ trình đã định hồi tháng 3, ngày 30/5, Chính phủ Đức đã họp và ra quyết định về thời gian hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN). Theo quyết định mới nhất của Chính phủ, sau ba tháng tạm dừng, 8 trong số 17 NMĐHN sẽ ngừng hoạt động vĩnh viễn. Với 9 nhà máy còn lại, 6 trong số đó sẽ hoạt động đến hết năn 2021, ba nhà máy mới đưa vào sử dụng gần đây nhất sẽ tiếp tục phát điện đến hết năm 2022 [8],[11],[12]. Như vậy Chính phủ Đức đã quyết định tiến đến dừng hẳn việc sử dụng điện hạt nhân sớm hơn so với dự định trước đây. Thời hạn cuối cùng cho thời gian hoạt động của các NMĐHN muộn nhất là đến năm 2022 thay vì năm 2036 như các kế hoạch cũ.   Thủ tướng Merkel cho biết các quyết định được đưa ra là phản ứng của hệ thống chính trị với với sự cố nhà máy điện ở Fukushima, Nhật Bản [9]. Nước Đức đang hướng tới phát triển năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, thay thế dần điện hạt nhân, nhằm đạt được phát triển bền vững, đảm bảo môi trường sống của con người. Nói về chính sách năng lượng mới, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế, ông Philipp Rösler cho biết: “đây là một ngày tốt cho nền năng lượng của Đức” [9].  Chính sách mới về năng lượng được đưa ra dựa trên ba tiêu chí cơ bản: An ninh năng lượng, Khả năng chi trả được, và Sự thân thiện với môi trường [9]. Để đi đến một quyết định cuối cùng, Chính phủ đã huy động một lực lượng đông đảo các nhà khoa học và các chuyên gia tư vấn vào cuộc.   Theo lịch trình làm việc, hai ủy ban độc lập là Ủy ban về nguyên tắc hành xử và Ủy ban an toàn các lò phản ứng sẽ tư vấn cho Chính phủ về lộ trình thay thế điện hạt nhân. Ủy ban về nguyên tắc hành xử do cựu Bộ trưởng môi trường Klaus Töpfer là Chủ tịch và Matthias Kleiner – Chủ tịch Quỹ nghiên cứu khoa học liên bang (DFG) – là đồng chủ tịch.   Các thành viên của Ủy ban gồm các nhà khoa học hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, môi trường, khoa học về phát triển bền vững, UNESCO, ngoài ra còn có các đại diện của nhà thờ. Ủy ban này đảm nhận nhiệm vụ tổ chức các cuộc đối thoại giữa nhiều lực lượng trong xã hội; vấn đề thảo luận sẽ xoay quanh các khía cạnh xã hội và kinh tế, những yếu tố có liên quan đến quá trình chuyển đổi cơ cấu năng lượng.   Trong cùng thời gian đó, Ủy ban an toàn các lò phản ứng sẽ đúc rút kinh nghiệm từ sự cố Fukushima, soạn thảo các điều kiện để kiểm tra các lò phản ứng và thực hiện kiểm tra toàn diện nhằm đánh giá độ bền vững của các NMĐHN với các sự cố khác nhau [3].   Sau nhiều ngày làm việc, Ủy ban về nguyên tắc hành xử đã ra khuyến nghị nên dừng hẳn hoạt động của các NMĐHN đã tạm dừng trong 3 tháng vừa qua [3]. Thời gian dừng tạm thời các nhà máy cho thấy năng lượng điện do các nhà máy này sản sinh ra là hoàn toàn có thể bù đắp được. Trong một bản báo cáo dài 28 trang, Ủy ban này đưa ra lời khuyên nên dừng hẳn việc dùng điện hạt nhân, đồng thời cũng đưa ra các giải pháp năng lượng thay thế với ít rủi ro khi vận hành.   Các thành viên của Ủy ban cũng cho biết, mọi giải pháp đưa ra là nhằm mục đích giảm gánh nặng cho môi trường. Các loại năng lượng thay thế sẽ dựa trên nhiệt điện, quang điện, và phong điện. Theo đánh giá của các chuyên gia, đến năm 2022, đóng góp của năng lượng tái tạo sẽ tăng gấp đôi và điện hạt nhân sẽ được thay thế hoàn toàn. Với việc dùng năng lượng tái tạo, tới năm 2020 lượng khí nhà kính sẽ giảm 40% so với năm 1990.   Bên cạnh đó, các đánh giá của Ủy ban an toàn các lò phản ứng cũng cho thấy, các nhà máy điện hạt nhân đều không đáp ứng được một số tiêu chí về an toàn trong những điều kiện cụ thể.   Dựa vào ‎ý kiến tư vấn của chuyên gia của hai ủy ban nói trên, Chính phủ Đức đã họp và ra quyết định về chính sách năng lượng mới, trong đó chỉ rõ thời hạn cuối cùng để dừng hoạt động hoàn toàn các NMĐHN. Để đi đến được một quyết định như vậy không phải là điều dễ dàng. Điện hạt nhân chiếm khoảng 20% tổng sản lượng điện của Đức, vì vậy để đảm bảo an ninh năng lượng, cần có các loại hình năng lượng khác bù lại lượng điện bị thiếu hụt. Đó không phải là một bài toán có thể giải được trong thời gian ngắn.   Khi đưa ra quyết định nói trên, Chính phủ phải tính đến các biện pháp đảm bảo an ninh cấp điện cho cả nước, đặc biệt vào mùa đông, khi lượng điện cần thiết cho việc sưởi ấm tăng cao. Chính phủ đã dự liệu, trong trường hợp thiếu hụt, có thể dùng năng lượng hóa thạch để tạo sinh điện năng. Trong kế hoạch dài hạn, các dự án về năng lượng thay thế là phong điện, thủy điện và quang điện sẽ được tăng tốc độ triển khai để đảm bảo an ninh lưới điện [10]. Dự án triển khai các chong chóng phát điện trên biển sẽ được đầu tư nhiều hơn để đẩy nhanh tiến độ đưa vào sử dụng. Thêm vào đó hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng được nâng cấp để đảm bảo khả năng cung cấp điện cho cả nước.  Chỉ trong vòng 3 tháng, quan điểm về cơ cấu năng lượng của Đức đã thay đổi hoàn toàn, chính sách năng lượng chuyển sang trang mới. Với việc ra quyết định về chính sách năng lượng mới, bà Merkel cho biết, Đức muốn đi đầu trong phong trào thay thế hoàn toàn điện hạt nhân. Việc dùng các loại năng lượng tái tạo thay thế năng lượng hạt nhân sẽ tạo cơ hội lớn cho các thế hệ sau, cụ thể là tạo cơ hội về xuất khẩu, phát triển, công nghệ, và việc làm cho nhiều người [9]. Chính sách năng lượng mới đã có ảnh hưởng tức thì đến thị trường chứng khoán, ngay sau khi quyết định được đưa ra, cổ phiếu của các hãng hoạt động trong lĩnh vực liên quan năng lượng tái tạo như phong điện và quang điện đã tăng nhẹ [6].  Chính sách năng lượng mới của Đức nhận được nhiều lời khen chê khác nhau từ các quốc gia láng giềng. Pháp và Thụy Điển có chung quan điểm rằng Đức mắc sai lầm khi quyết định từ bỏ năng lượng hạt nhân sớm. Séc cho rằng với việc thay thế điện hạt nhân thì Đức sẽ phải lệ thuộc nhiều hơn vào than và gas. Tuy nhiên, nước Áo – vốn hoàn toàn không dùng điện hạt nhân – ủng hộ quyết định của nước láng giềng, cho đó là một quyết định đúng đắn [7].  Lợi ích của việc sử dụng năng lượng tái tạo đã được biết đến từ lâu, đó là sự phát triển bền vững, đảm bảo môi trường sống trong sạch. Nhưng để có được một nền năng lượng sạch, đòi hỏi một quá trình đầu tư nhiều công sức và tiền bạc. Sự thay đổi trong chính sách năng lượng của Đức chính là quyết định về việc tăng tốc để rút ngắn thời gian đưa vào sử dụng năng lượng tái tạo, đẩy nhanh tiến độ thay thế điện hạt nhân. Từ đó người dân Đức có thể yên tâm với một nền năng lượng sạch của đất nước.  Các nhà phân tích cho rằng, việc thay đổi chính sách của Nội các chính phủ của bà Merkel đã làm tăng uy tín của liên minh cầm quyền [10]. Rõ ràng, với những việc làm hợp lòng dân, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của số đông thì chắc chắn là Chính phủ sẽ thu được sự ủng hộ của dư luận. Chính sách mới ra đời cũng có tác động kìm hãm quá trình thăng tiến của đảng Xanh, một đảng đối lập đã thu được nhiều thắng lợi trong các cuộc bầu cử gần đây ở nhiều bang do xu hướng phản đối năng lượng hạt nhân lên cao. Chính sách năng lượng mới cho thấy Chính phủ Đức có phản ứng hết sức linh hoạt trước thực tế khách quan và nguyện vọng của người dân. Bên cạnh đó quyết định này thể hiện sự tôn trọng của Chính phủ với ý kiến đóng góp của giới trí thức. Chính phủ coi khuyến nghị của các nhà khoa học là căn cứ quan trọng cho quá trình ra quyết định. Có thể thấy rằng, quyết định nói trên là do kết quả tác động của các ủy ban tư vấn, cụ thể là của các nhà khoa học.    Tài liệu tham khảo:  1.    „Die Pläne sind ambitioniert, aber machbar“  http://www.br-online.de/aktuell/energiekonzept-csu-claudia-kemfert-ID1305891201077.xml   2.    CSU legt sich fest: Atomausstieg bis 2022   http://www.tagesschau.de/inland/csuenergiekonzept104.html   3.    Ethikkommission für Atomausstieg bis 2021  http://www.tagesschau.de/inland/atomausstieg138.html   4.    Wer berät die Regierung in Atomfragen?  http://www.tagesschau.de/inland/faqatomkommission100.html   5.    Wie lange bleibt welches AKW noch am Netz?  http://www.tagesschau.de/wirtschaft/reststrommengen102.html   6.    Öko-Aktien gesucht  http://www.boerse.ard.de/content.jsp?key=dokument_537304  7.    „Deutschland hat einen Fehler gemacht“  http://www.tagesschau.de/ausland/ausstiegreaktionen100.html       8.    Wie lange bleibt welches AKW noch am Netz?  http://www.tagesschau.de/wirtschaft/reststrommengen104.html       9.    Merkel sieht Energiewende als „riesige Chance“  http://www.tagesschau.de/inland/atomausstieg176.html   10.    Wie soll der Atomausstieg funktionieren?  http://www.tagesschau.de/inland/atomausstieg184.html       11.    Germany: Nuclear power plants to close by 2022  http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-13592208   12.    Schwarz-Gelb-Rot bringt die Grünen in Not  http://www.spiegel.de/politik/deutschland/0,1518,765729,00.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách phát triển công nghệ cao tại một số nước      Dù chưa có đạo luật riêng quy định về công nghệ cao (CNC), song các nước gần Việt Nam đều rất chú trọng xây dựng các chính sách ưu tiên phát triển CNC, đồng thời quy định các tiêu chí xác định ngành, sản phẩm có hàm lượng CNC để từ đó có những chính sách ưu đãi cụ thể.        Tập trung vào hệ thống R&D  Hàn Quốc là nước điển hình trong thúc đẩy phát triển CNC bằng các chính sách Nhà nước. Các biện pháp chính sách của Hàn Quốc tập trung vào đầu tư cho hệ thống R&D và các đối tác của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (bao gồm các doanh nghiệp tư nhân địa phương, các doanh nghiệp quốc gia, phòng thí nghiệm nghiên cứu trong các trường đại học và các viện nghiên cứu do Chính phủ tài trợ kể cả các cộng tác viên nước ngoài). Hệ thống này hợp tác với nhau trong quá trình phát triển các CNC chiến lược.  Các chính sách về phát triển CNC được Chính phủ Hàn Quốc đưa ra gồm “Phát triển tầm nhìn CNC”, “Xây dựng kế hoạch tổng thể và chính sách cho các chương trình công nghệ chiến lược”, “Điều phối việc đầu tư, các chương trình và các dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ quốc gia”, “Huy động và phát triển các chuyên gia và các tổ chức công nghệ”, v.v… Cùng với ngân sách của Chính phủ chi cho R&D là việc hình thành các quỹ cho các chương trình công nghệ quốc gia. Chính phủ đã hình thành cơ chế chia lợi nhuận đối với sở hữu trí tuệ (IPR) xuất phát từ các kết quả nghiên cứu của các chương trình nghiên cứu và phát triển KH&CN trước đây. Các quỹ công xuất phát từ tiền góp ban đầu của Chính phủ, lãi suất từ việc cho vay tiền của quỹ, tiền từ việc bán cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước.  Có thể nói, các chương trình phát triển công nghệ của Hàn Quốc phụ thuộc mạnh mẽ vào chính sách và sự hỗ trợ từ chính quyền trung ương.    Hoạch định chiến lược và dự báo                 Do phải đối mặt với giá lao động tăng cao, ô nhiễm môi trường và những khó khăn trong mối quan hệ với Trung Quốc, sự cạnh tranh của các nước trong khu vực Đông Nam Á với giá lao động rẻ hơn, chính quyền Đài Loan buộc phải tài trợ nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển KH&CN, đào tạo công nhân, tự động hóa sản xuất và các dự án CNC. Vì thế, các ngành CNC giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Đài Loan và đóng góp tới 40% giá trị xuất khẩu của Đài Loan sang Mỹ và 13% sang Nhật Bản.   Bằng việc sử dụng các công nghệ đã được phát triển ở nước ngoài và sản xuất các dây chuyền sản xuất rẻ đến mức thấp nhất có thể, Đài Loan có khả năng sản xuất một số lượng lớn các sản phẩm CNC rất cạnh tranh như thiết bị máy tính (màn hình và mainboard), ngành bán dẫn của Đài Loan phát triển rất mạnh trong khi ngành công nghệ môi trường và công nghệ sinh học (CNSH) chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn.  Đài Loan đã và đang thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp dựa trên CNC thông qua các mục tiêu chiến lược, dự báo và đồng thời đã hoạch định chiến lược các ngành công nghiệp. Từ năm 2006 đến năm 2010, gần 1 tỷ USD (32 tỷ đô la Đài Loan) sẽ được phân bổ để phát triển ngành điện tử mềm, thiết bị phát hiện tần số radio, công nghệ nano, rô-bốt thông minh, xe cộ thông minh và nhà ở thông minh. Sáu ngành công nghiệp quan trọng này sẽ giúp Đài Loan đạt được những tầm nhìn hiện đại về “các công nghệ mới thuận tiện” và “cuộc sống thông minh” vì lợi ích của tất cả công dân Đài Loan.   Khuyến khích đầu tư từ các công ty tư nhân  Để khuyến khích các công ty tư nhân đầu tư vào CNC, Chính phủ Malaysia ưu đãi giảm 100% thuế theo nhóm hoặc giảm tiêu chuẩn đầu tư vào CNSH. Các doanh nghiệp CNSH có thể có lợi từ những ưu đãi thuế như miễn thuế 10 năm cho những doanh nghiệp tiên phong, giảm thuế nhập khẩu cho những thiết bị và vật liệu được duyệt, giảm thuế hai lần cho các chi phí và đầu tư hạn định cho R&Dv.v…   Malaysia cũng xác định CNSH là một trong những công nghệ then chốt để đưa Malaysia trở thành một quốc gia công nghiệp CNC vào năm 2020. Việc thành lập Ban Quản lý CNSH Quốc gia (National Biotech Directorat) và Thung lũng Sinh học (BioValley) cho thấy nghiên cứu sinh học và phát triển ngành CNSH được chú trọng rất nhiều ở Malaysia. Cam kết của Chính phủ: Hình thành cơ quan chuyên trách giám sát quá trình phát triển của ngành CNSH của Malaysia, dưới sự bảo hộ của Thủ tướng và các Bộ trực thuộc Chính phủ.  Bên cạnh CNSH, công nghệ nano là một trong những ngành nóng ở Malaysia. Nhận thức được sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nano toàn cầu, trong kế hoạch lần thứ 9 của Malaysia được khởi động vào năm 2006, công nghệ nano được đưa vào kế hoạch 5 năm và là một trong 10 ngành ưu tiên.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách về đất của Brazil ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và văn hóa bản địa      Trong công bố “Rapidly escalating threats to the biodiversity and ethnocultural capital of Brazilian Indigenous Lands” đăng trên tạp chí Land Use Policy, các nhà nghiên cứu của Đại học East Anglia (UEA) tại Vương quốc Anh đã chỉ ra, một số thay đổi về lập pháp đang được quốc hội Brazil cân nhắc và nhận được sự ủng hộ từ các nhóm vận động hành lang về khai thác mỏ và nông nghiệp, cùng với chính sách chống bản địa của cơ quan hành chính tối cao, sẽ tác động đến sự tồn tại lâu dài của môi trường và văn hóa dân tộc ở những vùng đất bản địa.      Các vùng đất rừng ở Brazil là nơi cư trú của gần 1/5 động thực vật vùng Amazon. Nguồn: laselvajunglelodge.com  Các vùng đất bản địa ở Brazil chiếm 13,5% diện tích lãnh thổ quốc gia và có khoảng 515.000 người Anh điêng nói 280 ngôn ngữ khác nhau đang sinh sống tại đây. Đây cũng là nơi cư trú của gần 1/5 động thực vật vùng Amazon, đồng thời cũng là nơi lưu giữ khoảng 25,5% tổng trữ lượng carbon của Brazil và có vai trò then chốt trong giảm thiểu biến đổi khí hậu.  Gần 90% các vùng lãnh thổ bản địa đều có tỉ lệ che phủ thực vật tự nhiên lớn hơn các vùng lân cận, đây là nơi bảo vệ khoảng 100 triệu hecta rừng, thảo nguyên và đồng cỏ. Không chỉ vậy, những vùng đất tương đối nguyên sơ này còn là nơi sinh sống của gần 54% dân tộc Anh điêng.  Tuy nhiên, theo Rodrigo Begotti và Carlos Peres ở Trường Khoa học môi trường UAE, ngay cả trước khi dịch Covid-19 nguy hiểm lây lan đến những vùng đất này thì họ cũng đã phải đối mặt với những áp lực chưa từng có trước đây. Đó là sự xâm phạm đất đai của những kẻ khai thác vàng, khai thác gỗ và cư trú bất hợp pháp. Mức độ nghiêm trọng và tần suất diễn ra của những xâm phạm này ngày càng tăng lên, tuy nhiên chúng lại liên tục bị các cơ quan chính phủ bỏ qua, theo một cách mà các tác giả gọi là “sự bành trướng ranh giới bừa bãi” và “sử dụng đất có được bằng thủ đoạn hèn hạ”.  Bình luận về những kết quả nghiên cứu được công bố, giáo sư Peres nói: “Các kết quả đã chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo vệ các vùng lãnh thổ bản địa rộng lớn bằng luật pháp. Ngoài việc là nơi sinh sống chủ yếu của cư dân Anh điêng, các vùng đất này còn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các cam kết quốc tế của Brazil về bảo vệ đa dạng sinh học nhiệt đới và giảm thiểu biến đổi khí hậu.  “Các phát hiện của chúng tôi bác bỏ lập luận ‘số đất như thế là quá nhiều với số lượng người bản địa ít ỏi’ vốn được nhiều người sử dụng như một cách biện hộ nhằm chống lại sự phân chia ranh giới mới ở các vùng đất bản địa. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng những sinh kế truyền thống của người Brazil bản địa có liên quan sâu sắc với điều kiện môi trường lành mạnh. Và những vùng đất này cũng vẫn hiệu quả trong việc ngăn chặn nạn phá rừng”.  Khi so sánh mật độ dân số bên trong và bên ngoài các vùng bản địa, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra gần một nửa các vùng lãnh thổ có phân chia ranh giới tự nhiên (295 vùng) có mật độ dân số ở bên trong cao hơn so với ở bên ngoài. Các kết quả cũng cho thấy chỉ có 208 vùng đất bản địa Brazil có mật độ dân số tương đối thấp, tuy nhiên những vùng này là nơi sống của những người săn bắt – hái lượm truyền thống và các cộng đồng bán du mục và làm vườn.  Mật độ dân cư bản địa Anh điêng hơn 50 lần ở những nơi có độ che phủ thực vật giảm khoảng 30% diện tích lãnh thổ trở xuống. Bởi vậy, để duy trì được sự đa dạng các văn hóa dân tộc của tất cả gần 300 nhóm bản địa ở Brazil sẽ cần phải có các vùng đất rộng lớn và thưa thớt người, được chính phủ liên bang phân định ranh giới và phê chuẩn.  Các tác giả cũng bày tỏ sự lo ngại về hiệu quả của Fundação Nacional do Índio (FUNAI), cơ quan liên bang chịu trách nhiệm phân chia ranh giới mới và bảo vệ các vùng đất bản địa (bao gồm các nhóm cách biệt và hoàn toàn cô lập). Tổ chức này đã trải qua những đợt cắt giảm ngân sách nghiêm trọng và gần đây còn dỡ bỏ những hoạt động quản lý của mình như một sự thay đổi ý thức hệ để chuyển sang chính sách chống bản địa.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-rights-essential-biodiversity-indigenous-cultures.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách về nước thiếu nhạy cảm giới: Bỏ qua tác động bất công với phụ nữ      Trong khi việc thảo luận về các giải pháp quản lý nước để giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng này là điều quan trọng, chúng ta cũng rất cần phải tính đến các yếu tố về giới và phụ nữ trong các cuộc thảo luận ấy để có thể đưa ra các giải pháp toàn diện mang lại lợi ích cho những người bị ảnh hưởng nhiều nhất.    Trung bình, phụ nữ dành nhiều thời gian hơn nam giới để lấy và vận chuyển nước. Ảnh: theconversation.com  Nhu cầu về tài nguyên nước đang ngày càng bức thiết hơn bao giờ hết. Khủng hoảng dân số toàn cầu, sự phát triển bành trướng của các ngành công nghiệp và tác động của biến đổi khí hậu đang làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng nước này.  Báo cáo gần đây của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã nhấn mạnh các mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với an ninh nguồn nước và những tổn thất không thể đảo ngược đối với hệ sinh thái nước ngọt khi tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trở nên trầm trọng hơn.  Các nhà khoa học cũng như các tổ chức chính phủ và phi chính phủ đang thực hiện các nghiên cứu và tổ chức các hội thảo để tìm ra các giải pháp đáp ứng nhu cầu tiếp cận nước sạch ngày càng gia tăng.  Trong khi việc thảo luận về các giải pháp quản lý nước để giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng này là điều quan trọng, chúng ta cũng rất cần phải tính đến các yếu tố về giới và phụ nữ trong các cuộc thảo luận ấy để có thể đưa ra các giải pháp toàn diện mang lại lợi ích cho những người bị ảnh hưởng nhiều nhất.  Phụ nữ và nước  Trung bình, phụ nữ phải dành ra nhiều thời gian hơn nam giới để đi lấy và vận chuyển nước. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, phụ nữ ở Malawi dành 54 phút để lấy nước trong khi con số này ở nam giới chỉ là 6 phút.  Phụ nữ cũng có nhiều khả năng chịu ảnh hưởng của thiên tai và ô nhiễm nguồn nước nặng nề hơn. Tình trạng ô nhiễm hữu cơ (xảy ra khi một lượng lớn chất hữu cơ được thải vào các vùng nước) tại các con sông ở châu Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á đã gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng, an ninh lương thực và nền kinh tế.  Nó cũng tạo ra sự bất bình đẳng khi chủ yếu tác động đến người nghèo, phụ nữ và trẻ em. Lý do là bởi, việc thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường gây ảnh hưởng lớn đến phụ nữ và trẻ em gái – những người cần nguồn nước vệ sinh để tránh bị nhiễm trùng và đảm bảo an toàn thể chất.  Báo cáo Khả năng phục hồi của phụ nữ ở Mông Cổ cũng nêu bật những bất bình đẳng tương tự trong việc tiếp cận các nguồn lực, giáo dục và trách nhiệm gia đình đối với phụ nữ ở Mông Cổ.  Những khác biệt có tính hệ thống này gây bất lợi cho phụ nữ và trẻ em gái, khiến họ dễ bị tổn thương hơn trước tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai. Phụ nữ có thu nhập thấp hơn và cơ hội giáo dục ít hơn thường phải gánh vác hầu hết các công việc gia đình, cũng như phải đi xa hơn để lấy nước trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như hạn hán.  Vô hình trong việc quản lý nước  Dù phụ nữ dễ bị tổn thương như vậy trước cuộc khủng hoảng về nước, các chính sách quản lý nước và môi trường từ trước đến nay vẫn rất thiếu nhạy cảm giới. Việc hoạch định chính sách đã không tính đến những ảnh hưởng khác biệt của sự khan hiếm nước đối với phụ nữ. Nó cũng đã thất bại trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào quá trình đưa ra các giải pháp.  Chẳng hạn, báo cáo thường niên gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới về Chương trình Nước và Năng lượng Trung Á không đề cập đến bất kỳ cam kết cụ thể hoặc giải pháp về giới nào đối với khả năng tiếp cận tài nguyên nước của phụ nữ.  Các chính sách về nước bỏ qua thực tế là phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các vấn đề về nước. Trên khắp thế giới, phụ nữ đảm nhiệm các hoạt động sử dụng nhiều nước hơn như nấu ăn và dọn dẹp. Theo ước tính, phụ nữ và trẻ em trên khắp thế giới dành 200 triệu giờ mỗi ngày để lấy nước – số giờ đáng lẽ ra nên được dành ở trường học hoặc nơi làm việc. Điều này càng góp phần gây ra sự bất bình đẳng giới.  Việc thiếu thông tin bối cảnh cụ thể về các mối quan hệ về giới và nước ở hầu hết các quốc gia là rào cản lớn nhất để giải quyết việc thiếu đại diện và sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực nước. Thu hẹp khoảng cách dữ liệu này là điều cần thiết để đạt được các cam kết mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến giới.  Kim Dung lược dịch  Nguồn: Gender-blind policies ignore the disproportionate effects of water crisis on women      Author                .        
__label__tiasang Chip bán dẫn mô phỏng chức năng của bộ não người      Báo Wall street Journalmới đây đưa  tin: hãng IBM tuyên bố đã nghiên cứu thành công một loại microchip bán  dẫn có thể mô phỏng chức năng của bộ não người, xử lý được những nhiệm  vụ tính toán có độ phức tạp cao như các loại siêu máy tính truyền thống,  đồng thời tiêu thụ năng lượng cực kỳ nhỏ.       Thành công này đã được công bố trên tạp chí Science.  Loại chip nói trên có tên là TrueNorth, có khả năng mô phỏng chức năng của neuron (tức tế bào thần kinh), chức năng của synapse1 và các chức năng khác của não để tiến hành tính toán. Chip TrueNorth do công ty Samsung chế tạo cho IBM, sử dụng công nghệ đã dùng để làm các bộ vi xử lý cho điện thoại thông minh và các thiết bị di động khác. Trong công trình nghiên cứu nói trên, IBM đã hợp tác với Đại học Cornell. Công trình này được Cơ quan Các dự án nghiên cứu cấp cao thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ (DARPA) tài trợ 53 triệu USD từ năm 2008.   Chip TrueNorth chứa 5,4 tỷ transitor, gấp bốn lần bộ xử lý của máy tính cá nhân tiêu chuẩn, đem lại hiệu quả tương đương 1 triệu neuron và 256 triệu synape. Hiện nay IBM đã sử dụng 16 chip để hoàn thành một siêu máy tính thần kinh synapse.  Loại chip này của IBM cấu tạo bởi 4.096 cấu trúc được gọi là “Lõi neuron-synapse”, mỗi lõi đều có khả năng chứa, xử lý và chuyển dữ liệu. Loại chip này rất tiết kiệm năng lượng, bởi lẽ nó sử dụng thiết kế khởi động theo sự việc (event-driven), tức chỉ vận hành khi nào hệ thống cần, những thời gian khác thì nó tự ngắt mạch, tiêu hao năng lượng chỉ có 20 miliwatt hay 1 phần nghìn của một watt cho mỗi centimet vuông, trong khi bộ vi xử lý tiêu chuẩn tiêu thụ từ 50 đến 100 watt.  So với loại chip thông thường thì TrueNorth đã thực hiện một bước đột phá mới về công nghệ thiết kế chip. Nó tích hợp 1 triệu neuron, mỗi giây mỗi watt có thể thực hiện 46 tỷ thao tác synapse thần kinh, có thể hiểu được hàm nghĩa của nội dung được tính toán ở một mức độ nhất định.   IBM tiết lộ: họ đã bước đầu bàn bạc với các đối tác về phương thức thương mại hóa chip TrueNorth.  Ông Dharmendra Modha, nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Almaden thuộc IBM, chuyên gia đầu ngành tính toán linh cảm não (brain-inspired computing), cho biết: “Chúng tôi ôm ấp một tham vọng thương mại hóa cực lớn, nhưng TrueNorth sẽ không thay cho chip điện toán truyền thống, chúng chỉ có quan hệ bổ sung lẫn nhau.”  Khi đưa tin nói trên, nhật báo Nihon Keizai Shimbun của Nhật cho rằng sử dụng chip TrueNorth sẽ có thể chế tạo được loại máy tính thực hiện mọi công việc mà bộ óc con người làm được. Tất cả các loại máy tính từ trước đến nay đều là máy tính kiểu Neumann2 và đã đạt giới hạn về tốc độ xử lý. IBM đã cố gắng vượt qua giới hạn đó, họ tập trung nghiên cứu làm loại máy tính “phi Neumann” theo cách mô phỏng bộ não người và ứng dụng cơ học lượng tử. IBM cho rằng nếu ghép nối được nhiều chip thì có thể tạo ra hệ thống gồm vài trăm tỷ synapse. Tháng 7 năm nay, IBM tuyên bố trong năm năm tới sẽ đầu tư 3 tỷ USD để nghiên cứu loại bán dẫn thế hệ mới.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  —  1 Synapse là cấu trúc liên kết giữa hai neuron hoặc giữa neuron với tế bào cơ và có thể cho xung động thần kinh đi qua. Một neuron có thể có nhiều synapse với các neuron khác. Synapse có thể truyền thông tin và ghi nhớ.  2 John von Neumann (1903-1957), người Mỹ gốc Do Thái, sinh ở Hungary, là nhà toán học nổi tiếng có nhiều đóng góp về vật lý lượng tử, khoa học máy tính v.v…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chip máy tính làm bằng gỗ      Tạp chí Nature Communications số ra ngày  26/5 vừa qua có đăng bài của một nhóm nhà khoa học ở Đại học Wisconsin  (Mỹ), tuyên bố họ đã thành công trong việc chế tạo một chip máy tính bán  dẫn hoàn toàn làm bằng vật liệu gỗ.    Loại chip máy tính công nghệ cao làm bằng gỗ này có thể sẽ được dùng cho điện thoại thông minh.   Trang điện tử popsci.com ngày 28/5 cũng đưa tin: Tuy vậy bạn chớ nên hy vọng là sẽ thấy các chàng trai ăn vận lịch sự đi khắp nơi chào hàng loại chip máy tính gỗ làm theo phương pháp thủ công này. Vật liệu gỗ mà các nhà khoa học sử dụng ở đây là loại giấy cellulose nanofibril (CNF) có thể bị phân hủy bởi sinh vật. Nó rất mỏng và dễ uốn, sau khi phủ một lớp màng mỏng epoxy thì nó không còn nở và hút khí ẩm như gỗ thường nữa. Trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu dùng sợi nano chất CNF làm tầng nền mạch điện, họ mong rằng phát minh này sẽ là giải pháp bảo vệ môi trường đối với tình trạng rác điện tử hiện đang tăng lên không ngừng.  Khác với rất nhiều vật liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ – thứ vật liệu được các nhà sản xuất hàng điện tử hiện đang dùng để chế tạo tầng đáy của chip máy tính hiện đại -, gỗ là loại vật liệu có thể tái sinh, hơn nữa còn có một ưu điểm: nó có thể phân hủy được.  Zhenqiang “Jack” Ma, người đứng đầu nhóm nghiên cứu nói: “Chip máy tính gỗ hiện nay rất an toàn, bạn có thể quẳng chúng vào rừng để cho lũ vi khuẩn phân hủy chúng và sau đấy chúng trở nên an toàn như phân bón.”  Cho dù phải vài năm nữa máy tính dùng chip gỗ mới có thể được thị trường tiêu thụ nhưng biến máy tính thành phân bón quả thực là một ý tưởng kỳ diệu.   Thiết bị điện tử tiêu dùng ngày nay, như điện thoại di động, máy tính bảng và các thiết bị điện tử cầm tay khác, thường được làm bằng vật liệu không tái tạo, không phân hủy, và đôi khi có khả năng độc hại (thí dụ gallium arsenide).  Người ta thường coi đồ điện tử là loại hàng hóa dùng một lần là vứt đi. Nhưng khác với chai lọ thủy tinh có thể tái sử dụng hoặc thực phẩm có thể biến thành phân bón, một chiếc laptop hỏng tuy có thể bị vứt vào sọt rác nhưng nó sẽ không biến mất, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.  Riêng nước Mỹ hằng năm quẳng đi khoảng 3,2 triệu tấn rác thải điện tử. Người ta đang cố gắng tái chế các chất thải hoặc thu hồi các tài nguyên giá trị (như vàng) trong rác thải điện tử, nhưng vẫn còn một tấn hàng điện tử (thực ra là vài triệu tấn) chất đầy các bãi rác.  Bằng cách thay đổi các vật liệu dùng để làm ra hàng điện tử, Ma và những người như ông (một nhóm khác đang tạo ra mạch điện hòa tan) đang cố gắng sớm giải quyết vấn đề rác thải điện tử, trước khi bạn quẳng điện thoại di động hoặc máy tính vào thùng rác. Thay vì chờ đợi sau khi đồ điện tử bị vứt đi rồi mới tìm cách xử lý chỗ rác thải ấy, chẳng thà bắt tay giải quyết vấn đề này ngay từ đầu vào của dây chuyền cung ứng hàng điện tử.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chip “nghe” bệnh ung thư      Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Georgia (Mỹ) đã tạo ra một con chip cảm biến có thể phát hiện mesothelin, một phân tử có liên quan đến một loạt bệnh ung thư như: ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tụy…      Con chip có tên gọi ACuRay này có một loạt điện cực được bố trí trên bề mặt một tấm ô-xít kẽm cực mỏng được bao phủ bằng các kháng thể đối với mesothelin. Khi phân tử mesothelin gắn với một kháng thể, nó sẽ làm thay đổi tần suất sóng âm thanh giữa các điện cực và con chip trên có thể “nghe” được âm thanh này. Loại chip này có tác dụng rất lớn trong việc phát hiện, điều trị và theo dõi bệnh ung thư.     T.Q      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chợ công nghệ chuyên ngành đầu tiên ở Hà Nội      Chợ Công nghệ và Thiết bị Thủ đô (Techmart Hanoi 2006) do Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của QH, Bộ KH&amp;CN, Bộ BC-VT, UBND TP Hà Nội phối hợp tổ chức    sẽ diễn ra từ 22 tới 25/9 tại Triển lãm Giảng Võ, Hà Nội. Techmart Hanoi 2006 tập trung vào các lĩnh vực Công nghệ viễn thông, Điện, Điện tử, Tự động hóa. Dự kiến có  khoảng 200 đơn vị trong nước, 30 đơn vị nước ngoài sẽ giới thiệu, chuyển giao khoảng 1.000 công nghệ, thiết bị và giải pháp phần mềm.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chớ để chocolat trong tầm với… của chó      Loài chó cũng rất thích ăn chocolat, tuy nhiên đây lại là một loại thuốc độc đối với chúng. Tờ British Medical Journal đã khẳng định rằng chocolat, đặc biệt là chocolat đen, chứa một chất gọi là théobromine rất độc hại đối với chó.    Hai giờ sau khi ăn chocolat, chó sẽ bị rối loạn thần kinh, hô hấp và loạn nhịp tim. Một chú chó 10kg có thể bị ngộ độc sau khi ăn 100gr chocolat đen. Chocolat sữa và chocolat trắng ít độc hơn vì nồng độ théobromine thấp hơn, lần lượt 2mg/g và 0,1mg/g so với 15mg/g của chocolat đen và 20mg/g của bột cacao.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chờ được công bố quốc tế: Không thể sốt ruột      Từ khi gửi bài tới lúc được công bố trên các tạp chí khoa học “tử tế” thường đòi hỏi các nhà nghiên cứu một chặng đường dài nhọc nhằn, một bài viết trên Tạp chí Nature cho biết*.&#160;       Sau 18 tháng nghiên cứu hàng nghìn loài động vật hóa thạch từ 36 triệu năm trước trên khắp Bắc Mỹ, Danielle Fraser rút ra một kết luận lý thú: các quần thể động vật phân bố rộng nhất trên các vĩ độ ở những vùng có khí hậu ấm và ẩm ướt. Phát hiện này có thể giúp dự đoán về phản ứng của các loài động vật có vú trước hiện tượng biến đổi khí hậu, và đây cũng đồng thời là một công trình quan trọng giúp Fraser giành học vị tiến sĩ tại trường Đại học Carleton, Ottawa, Canada. Và thế là, được sự khích lệ của giáo sư hướng dẫn, cô viết bài gửi tạp chí Science vào tháng 10/2012.   10 ngày sau, cô nhận được một lá thư từ chối soạn sẵn theo mẫu. Cô tiếp tục liên hệ với Proceedings of the National Academy of Sciences, rồi đến Ecology Letters. Tất cả đều từ chối mà không hề cho cô biết lý do.   Tháng 5/2013, Fraser thử vận may với Proceedings of the Royal Society B, một tạp chí được coi là khá có ảnh hưởng trong ngành, và cô thở phào khi họ đồng ý gửi bài báo đi bình duyệt. Nhưng sau này cô mới biết đó chỉ là khởi đầu cho chặng đường gian nan tiếp theo. Sau hai tháng gửi đi bình duyệt và nhận về những kết quả không thống nhất, bài báo của cô bị từ chối. Fraser tiếp tục gửi bài đi và bị từ chối thêm hai lần nữa, bài báo phải sửa toàn diện thêm hai lần, thay đổi qua vô số phiên bản khác nhau, khiến cô mệt mỏi tới mức không muốn nhìn lại nó nữa.  Tháng 10/ 2013, Fraser thử sức với PLoS ONE, một tạp chí có hệ số ảnh hưởng thấp (3) nhưng xuất bản nhanh có tiếng. PLoS ONE gửi bài viết của cô cho một người bình duyệt. Hai tháng sau, Fraser nhận được thông báo từ chối nhưng nếu cô hiệu chỉnh theo gợi ý của họ thì họ có thể bình duyệt lại. Cô sửa sang, bổ sung thêm một chút rồi gửi lại để họ chuyển cho một người bình duyệt khác. Hai tháng nữa trôi qua, cô nhận về một tin: hãy tiếp tục “đại tu” thêm nữa. Fraser kiên nhẫn đáp ứng những yêu cầu của người bình duyệt, và tới tháng 6/2014, cô gửi lại bài viết cho PLoS ONE lần thứ ba. Thành công!   Vậy là, sau 23 tháng kể từ lần đầu tiên cô liên hệ với Science, công trình của cô mới được công bố. Quá trình bình duyệt tới 200 lần và vô số các hiệu chỉnh quả là giúp cải thiện bài viết hơn. Nhưng kết luận chính của nghiên cứu có gì thay đổi không? – “Không hề”, Fraser nói.  Trường hợp của Fraser không phải là cá biệt. Các nhà nghiên cứu ngày càng mệt mỏi vì sự tốn thời gian của quy trình xuất bản công trình nghiên cứu. Đối với nhiều người, đó là một vòng luẩn quẩn kéo dài hàng tháng trời, gây ảnh hưởng không nhỏ tới công việc và những đề xuất xin tài trợ hay xin việc của họ, đồng thời làm chậm lại thời gian công bố kết quả. Sau khi tốn 317 ngày theo đuổi với vô vàn lần bị từ chối để rồi cuối cùng xuất bản được công trình của mình, Stephen Royle, một nhà sinh học tế bào tại trường Đại học Warwick, Anh, đã lật lại quá khứ để tìm hiểu về 28 công trình mà phòng thí nghiệm của anh đã công bố trong 12 năm qua. Kết quả cho thấy, thời gian tính từ khi các công trình được gửi đi lần đầu cho tới ngày đăng tải kéo dài ngang ngửa với thời gian thai nghén của một sản phụ – khoảng chín tháng.   Theo một số dữ liệu, thời gian chờ đợi gia tăng trong một số nhóm đặc thù như nhóm các tạp chí nguồn mở hoặc các đề tài được tìm kiếm nhiều. Quy trình xuất bản và thời gian chờ đợi cũng có sự chênh lệch đáng kể theo từng lĩnh vực, trong đó các ngành khoa học xã hội nổi tiếng là chậm chạp. Trong ngành vật lý, áp lực xuất bản được giảm tải nhờ vào việc đăng tải bản in trước – tức những phiên bản ban đầu của một công trình trước khi gửi bình duyệt – trên server arXiv. Các ngành sinh học nhận được nhiều lời than phiền nhất vì những trì hoãn trong quy trình xuất bản, bởi ngành này mang tính cạnh tranh cao và có bài đăng trên các tạp chí uy tín là yêu cầu bắt buộc để các nhà khoa học phát triển sự nghiệp.  Vậy do đâu mà có những sự trì hoãn?  Vì hoa nên bướm lượn vòng  Khi có công trình muốn xuất bản, giới khoa học lâu nay vẫn đi theo con đường sau: trước tiên là liên hệ với các tạp chí uy tín hàng đầu trong ngành (thường là những tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao), sau đó là tìm đến những tạp chí hạng sau. Giới khoa học và các ủy ban phê duyệt tài trợ/ tuyển dụng vẫn thường coi hệ số ảnh hưởng hay uy tín của tạp chí làm thước đo chất lượng công trình được đăng tải. Nhưng theo ý kiến của giới phê bình, biên tập viên các tạp chí lại chỉ chú ý đến những công trình hấp dẫn, có khả năng thu hút sự chú ý để qua đó làm tăng hệ số ảnh hưởng của tạp chí mình, và điều này khiến các nhà nghiên cứu phải đi lòng vòng liên hệ với nhiều tạp chí hơn, gia tăng tỉ lệ từ chối và khiến thời gian chờ đợi kéo dài hơn.   Trong số 28 công trình mà Royle tìm hiểu, hơn nửa đều từng được gửi đi “lòng vòng”, và thời gian “lòng vòng” này chiếm từ vài ngày cho tới hơn tám tháng. Anh phân tích tất cả các công trình công bố năm 2013 được lưu tại PubMed để tìm hiểu xem liệu có mối tương quan nào giữa hệ số ảnh hưởng của các tạp chí với thời gian xuất bản nghiên cứu hay không. Kết quả anh thu về là một hình chuông ngược – những tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao và thấp nhất có thời gian bình duyệt dài hơn so với những tạp chí xếp hạng giữa. Đối với phần lớn các tạp chí tầm trung, thời gian bình duyệt trung bình là khoảng 100 ngày. Những tạp chí có hệ số ảnh hưởng rất cao (30–50) có thời gian bình duyệt trung bình là 150 ngày. Như vậy, kết quả này hậu thuẫn cho quan điểm rằng việc gửi bài cho các tạp chí hàng đầu có thể dẫn tới những trì hoãn đáng kể trong việc xuất bản công trình.  Nhà bình duyệt ngày càng khó tính  Phân tích về các tạp chí trực thuộc hệ thống PLOS (Thư viện Khoa học Công cộng) cho thấy, thời gian chờ đợi trung bình ở các tạp chí này đã tăng gần gấp đôi trong thập kỷ qua, từ 50-130 ngày lên đến 150-250 ngày. Còn khi Royle tìm hiểu tám tạp chí xuất bản các công trình nghiên cứu về sinh học tế bào trong thập kỷ qua, anh nhận thấy thời gian công bố ở bảy tạp chí trong số đó cũng bị kéo dài hơn, nguyên nhân chủ yếu là do thời gian bình duyệt bị kéo dài.  Trong một phân tích thực hiện năm 2015 nhằm xếp hạng thời gian bình duyệt trung bình cho tổng số 3.482 tạp chí có công trình đăng tải từ tháng 1/2014 tới tháng 6/2015 theo cơ sở dữ liệu của PubMed, kết quả cho thấy: PeerJ có thời gian bình duyệt tương đối nhanh: 74 ngày sau khi công trình được gửi đến. eLife cần 108 ngày, PLoS ONE 117 ngày, Cell 127 ngày, Nature 173 ngày, PLoS Medicine 177 ngày; Developmental Cell nằm trong số những tạp chí uy tín trong ngành y sinh học có thời gian bình duyệt lâu nhất với 194 ngày. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng khó có thể thực hiện so sánh trực tiếp như vậy bởi các tạp chí có những định nghĩa khác nhau về ngày nhận, ngày hiệu chỉnh và ngày chấp nhận công trình, và có những tạp chí đặt ưu tiên cao cho việc bình duyệt đúng thời hạn.  Một nguyên nhân được đưa ra ở đây là các nhà bình duyệt ngày nay đòi hỏi nhiều hơn. Ron Vale, một nhà sinh học tế bào tại trường Đại học California, San Francisco, đã đối chiếu các công trình sinh học được xuất bản trên các tạp chí Cell, Nature và Journal of Cell Biology trong sáu tháng đầu năm 1984 với thời điểm sáu tháng đầu năm 2014. Kết quả cho thấy, số lượng người thực hiện cũng như số lượng các bảng dữ liệu thí nghiệm đều tăng từ 2-4 lần. Theo anh, hiện tượng này cho thấy yêu cầu về số lượng dữ liệu đặt ra cho mỗi công trình muốn xuất bản ngày một tăng – theo đó đòi hỏi số lượng người tham gia thu thập, xử lý dữ liệu cũng tăng theo – và anh đoán rằng phần lớn những dữ liệu thêm này đều xuất phát từ yêu cầu của người bình duyệt. Dường như những người bình duyệt ngày nay lúc nào cũng muốn có thêm nhiều thí nghiệm hơn nữa để đi tới một kết luận thuyết phục. “Nhưng những sự hiệu chỉnh đó rất hiếm khi mang lại điểm thay đổi cơ bản nào trong các nghiên cứu – ngay cả tựa đề của bài viết cũng không hề thay đổi,” Royle nói. Theo tìm hiểu của anh đối với 28 công trình mà phòng thí nghiệm của anh đã công bố, trong thời gian chín tháng chờ đợi, phải mất tới bốn tháng cho công việc hiệu chỉnh các công trình này.  Nhiều nhà khoa học cũng quy trách nhiệm cho biên tập viên các tạp chí bởi họ dùng dằng, không đưa ra những hướng dẫn và quyết định rõ ràng khi tiếp nhận những ý kiến bình duyệt mâu thuẫn nhau, từ đó kéo dài không cần thiết quá trình bình duyệt và hiệu chỉnh. Về phía mình, các biên tập viên cho rằng bản thân khoa học đang ngày một dồi dào dữ liệu hơn, rằng họ nỗ lực để duy trì những tiêu chuẩn cao trong biên tập và bình duyệt, và rằng họ cũng đang phải chật vật với số lượng các bài viết đổ về ngày một nhiều hơn. Theo ước tính, số lượng các công trình trong PubMed đã tăng gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2000 tới 2015, đạt tới xấp xỉ ngưỡng một triệu công trình. Còn tại PLOS, số lượng các công trình gửi tới họ đã tăng từ 200 năm 2006 tới 30.000 mỗi năm như hiện nay – và điều đó đòi hỏi họ phải có thời gian tìm kiếm và phân bổ công việc cho các biên tập viên và người bình duyệt. (Năm 2015 PLOS làm việc với 76.000 người bình duyệt). Các biên tập viên cũng nhận thấy ngày càng khó tìm người bình duyệt hơn so với trước đây, “có lẽ là do ngày càng có thêm nhiều công trình cần bình duyệt”, một người chia sẻ.  Một nguyên nhân khác, theo ý kiến lãnh đạo các tạp chí, là số lượng những điểm cần kiểm tra kỹ lưỡng – chẳng hạn như những nghiên cứu mang tính xung đột lợi ích, những báo cáo về quyền lợi động vật, và những biện pháp ngăn chặn nạn đạo văn – đã gia tăng trong thập kỷ qua.   Những nỗ lực thay đổi  Theo các biên tập viên, những tiến bộ công nghệ ngày nay khiến cho hoạt động nghiên cứu ngày càng phải liên quan đến nhiều dữ liệu hơn, và cộng đồng nghiên cứu cần phải nhận thức được điều này. Tuy vậy, những tiến bộ công nghệ cũng đang giúp giảm bớt thời gian ở các khâu trong quá trình xuất bản. Chẳng hạn, nhờ xuất bản điện tử, thời gian xuất bản nghiên cứu đã giảm đi một nửa kể từ đầu những năm 2000 và hiện nay đang giữ ở mức khá ổn định là khoảng 25 ngày.  Một số tạp chí và nền tảng xuất bản online mới xuất hiện cũng đã đưa ra những cam kết về việc thúc đẩy quá trình xuất bản nhanh hơn nữa. PeerJ, một tổ hợp tạp chí thành lập từ năm 2013, là một trong số những tổ chức hiện đang khuyến khích hình thức bình duyệt mở, trong đó tên tuổi và các nhận xét của người bình duyệt được đăng tải ngay bên cạnh các công trình nghiên cứu. Họ làm thế với hy vọng rằng sự minh bạch sẽ giúp ngăn chặn những trì hoãn không cần thiết hoặc những yêu cầu hiệu chỉnh rắc rối từ các nhà bình duyệt.  Tạp chí khoa học đời sống và y sinh học eLife ra mắt năm 2012 đưa ra cam kết sẽ gói gọn thời gian ra quyết định ban đầu của biên tập viên trong vài ngày và thực hiện bình duyệt nhanh chóng. Các nhà bình duyệt sẽ không được yêu cầu nhà khoa học phải thực hiện những “thí nghiệm hoàn hảo”, và họ chỉ có thể yêu cầu phân tích bổ sung nếu như việc đó có thể hoàn thành trong thời hạn hai tháng. Trong trường hợp khác, công trình được gửi đến sẽ bị từ chối. Theo Randy Schekman, Tổng biên tập tờ eLife, những chính sách trên sẽ giúp cho khoảng trên hai phần ba các công trình được tạp chí này chấp thuận chỉ phải trải qua một đợt bình duyệt.  Ngoài ra, các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau cũng có thể áp dụng hình thức xuất bản bản in trước để đẩy nhanh thời gian công bố nghiên cứu của mình. Một bản in trước khi được gửi đến bioRxiv – một server do Phòng thí nghiệm Cold Spring vận hành tại New York – sẽ được đăng tải trên mạng trong vòng 24 giờ sau đó đồng thời được cấp một mã số DOI; những lần hiệu chỉnh về sau đều được ghi rõ thời gian và bất kỳ ai cũng có thể đọc và nhận xét trên công trình đó. “Khi một nghiên cứu được đăng tải trên một miền công cộng, nó sẽ nhận được một lợi ích cụ thể là nó sẽ nhận được sức mạnh từ tập thể, nhiều người cùng bình luận về chủ đề mà nó nêu ra,” Vale nói. Hơn nữa, theo quan điểm của những người ủng hộ phương pháp này, việc xuất bản bản in trước có thể dễ dàng được bổ sung vào quy trình công bố nghiên cứu truyền thống. F1000Research, nền tảng xuất bản công trình nghiên cứu trực tuyến ra mắt năm 2012, cũng áp dụng phương thức này bằng cách trước tiên đăng tải các công trình rồi mời gọi các nhà khoa học tham gia bình duyệt và hiệu chỉnh công khai.  Một số nhà khoa học còn sử dụng những nền tảng xuất bản trực tuyến như GitHub, Zenodo và Figshare để đăng tải từng luận điểm, từng dữ liệu mà họ vừa thực hiện được. Mỗi tệp thông tin đều có một mã số DOI riêng nên dễ trích dẫn và theo dõi.   Nhưng những bản in trước và việc xuất bản online trực tiếp không phải là thuốc trị bách bệnh. Nhiều nhà khoa học “sợ” các bản in thử, bởi họ sợ rằng ý tưởng của mình sẽ bị người khác “nẫng tay trên” hoặc họ không giữ được quyền sở hữu trí tuệ đối với các ý tưởng của mình. Hơn nữa, tuy đã đăng tải các bản in thử nhưng các nhà khoa học có thể vẫn phải trải qua quá trình bình duyệt đầy gian nan, và họ vẫn phải theo đuổi những tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao để làm đẹp cho CV của mình. Fraser cho rằng cộng đồng khoa học vẫn phải dựa vào những tạp chí truyền thống, lấy đó làm “bộ lọc uy tín” để sao cho những công trình quan trọng có thể thu hút được sự chú ý của đúng đối tượng độc giả. Dẫu vậy, cô vẫn không muốn đi lại con đường trên nữa. Vì thế giờ đây cô sẽ gửi các công trình mới của mình cho các tạp chí tầm trung, bởi họ thường có thời gian công bố nhanh hơn. “Nếu mục tiêu cuối cùng của tôi là được một viện nghiên cứu tuyển dụng, tôi sẽ không thể chờ tới hai năm để xuất bản một công trình,” cô nói.   Thu Trang lược dịch  ————  *  Bài báo Does it take too long to publish research của Kendall Powell  Nguồn:http://www.nature.com/news/does-it-take-too-long-to-publish-research-1.19320      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chớ mắc sai lầm như Chile      Cách đây hai tháng, khi cả thế giới khâm phục Chile vì họ đã tiến hành tiêm chủng nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác, thì ngay ở thời điểm đó chuyên gia y tế cộng đồng Soledad Martínez (Chile) đã cảnh báo mọi người chớ quá chủ quan vì đã tiêm chủng mà quên đi yêu cầu 5 K. Giờ đây, Giờ đây, nỗi lo sợ lớn nhất của bà đã trở thành hiện thực khi dịch bệnh đã quay trở lại và liên tục tăng dù đến nay đã có tới 60% dân số Chile đã được tiêm chủng một lần và trên 40% đã tiêm chủng đầy đủ. Do vậy, Martínez mong muốn cảnh tỉnh các nước khác chớ mắc phải sai lầm như Chile.      Việc tiêm chủng ở Chile đã diễn ra nhanh chóng. Nguồn: The Conversation.  Thưa bà Martínez, tháng ba vừa qua, Chile mới vui mừng đón danh hiệu vô địch thế giới về tiêm chủng. Vì sao dịch bệnh corona ở Chile đã lan nhanh trở lại?    Tôi phải nói thật là tình hình rất bi đát. Ở ngoài kia, virus đang quay vòng lây nhiễm điên đảo. Khoa Chăm sóc đặc biệt đã lâm vào trạng thái quá tải hoàn toàn, do đó có thể nói là hệ thống y tế Chile đã bị sụp đổ. Các phòng khám giờ đây cũng nhận điều trị bệnh nhân, thậm chí điều trị tại nhà luôn. Nhưng điều đáng nói là điều trị ở nhà hay phòng khám thì không đủ điều kiện để bác sĩ có thể đặt nội khí quản cho bệnh nhân nặng được. Bạn biết đấy, những nơi có đủ điều kiện như các khoa điều trị đặc biệt lại không còn chỗ nữa. Tỷ lệ tử vong của người nhiễm bệnh cao, trong đó có nhiều thanh niên và đau đớn nhất là có cả phụ nữ mang thai.     Virus lây lan mạnh hơn có phải là do biến thể – P1 nguy hiểm chết người từ Brazil lan truyền sang?    Hiện nay chúng tôi không biết biến thể  P1 phân bố nhiều đến mức nào ở Chile. Về điều này thì hiện giờ thực sự chúng tôi chưa có số liệu. Tuy nhiên, do nhiều người trẻ và phụ nữ có thai cũng bị lây nhiễm cho nên có thể họ bị lây nhiễm biến thể P1.     Hiện ở Chile, những người 20 tuổi cũng được tiêm chủng, điều đó có tương ứng với tốc độ tiêm chủng đầy ấn tượng ở Chile không?    Chúng tôi biết từ lâu loại vaccine mà chúng tôi đang dùng là vaccine của nhà sản xuất Sinovac (Trung Quốc). Ưu điểm của vaccine này là giúp người tiêm tránh được các trường hợp bị nhiễm Covid-19 nặng, tuy nhiên nó lại không hoàn hảo trong việc hạn chế lây nhiễm virus, điều đó có nghĩa là con virus vẫn có thể tiếp tục lây lan sang người khác (leaky vaccine). Nếu không tuân thủ tốt các quy định phòng chống thì virus có thể lây lan nhanh chóng như ở Chile– và những người chưa tiêm chủng có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Chúng tôi, các chuyên gia về y tế cộng đồng, đã cảnh báo về điều này nhưng người ta không chịu nghe.     Từ cuối tuần trước tại thủ đô Santiago de Chile đã phải thi hành một lần nữa lệnh phong tỏa. Tại sao người ta lại chờ đợi lâu như vậy mới ra quyết định?    Chính quyền còn bận ăn mừng về thành công trong chiến dịch tiêm chủng, đây là một thảm họa về truyền thông đối với khủng hoảng. Người ta phớt lờ các nguy cơ. Mới đây, những người đã tiêm chủng đủ hai mũi đã nhận được giấy thông hành đi lại tự do. Nhưng làm sao có thể kiểm soát được tất cả những người đang đi lại như mắc cửi trên đường phố. Mọi người thật sự đã oải lắm rồi sau quãng thời gian chống dịch. Do đó, tôi thấy biện pháp phong tỏa cũng không thực sự có hiệu quả lắm.  Soledad Martínez là chuyên gia về y tế cộng đồng và hiện đang giảng dạy tại Đại học Chile. Bà làm luận án tiến sỹ tại Đại học California ở Berkeley về chủ đề chính sách y tế và là cố vấn của chính phủ Chile về số hóa Hệ thống Y tế công cộng. Trong đại dịch corona, bà đã tổ chức các khóa đào tạo về chủ đề theo dõi truy vết kỹ thuật số.     Theo bà, vấn đề sau tiêm chủng có ý nghĩa như thế nào đối với Mỹ La tinh và thế giới?    Tại đây, nhiều nước dùng chủ yếu vaccine Sinovac, tại Brazil cũng vậy. Việc tiêm chủng này bảo vệ được đối với mỗi cá nhân, điều đó chúng tôi biết ơn. Nhưng chúng tôi đã tính toán lại, với  Sinovac thì không thể đạt được miễn dịch cộng đồng trong dân chúng, ngay cả khi mọi người đều tiêm chủng đầy đủ thì cũng không thể. Về lý thuyết, người ta phải tiến hành xác minh ai không tạo ra được đầy đủ kháng thể thì sẽ phải tiêm chủng với một loại vaccine khác. Nhưng điều này phi thực tế.    Do đó, tình trạng này có nghĩa là chúng tôi ở lục địa này sẽ còn khốn khổ chống chọi với con virus này nhiều năm nữa. Tôi hy vọng ba năm tới, Chile đạt được cái mà hiện nay Australia hay New Zealand đã đạt được, nghĩa là người ta phát hiện sớm các ca lây nhiễm lẻ tẻ để rồi chặn đứng được chuỗi lây lan.     Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc chiến chống đại dịch trên toàn cầu?    Điều đầu tiên mà thế giới phải thừa nhận rằng, không phải cứ tiêm chủng là thật sự hiệu quả, ở đây cũng có vấn đề về công nghệ. Các loại vaccine virus vector và vaccine mRNA có khả năng ngăn ngừa virus lây lan tốt hơn, điều này tạo ra một sự khác biệt lớn. Loại vaccine được phát triển trên công nghệ sau đặc biệt dễ thích ứng với các biến thể mới. Do đó, cả thế giới cần công nghệ mRNA. Vấn đề là phải làm sao để mọi người tiếp cận được với nó. Chống dịch là vấn đề toàn cầu. Trên bình diện thế giới hiện quá thiếu vaccine. Điều này càng khẩn thiết hơn nếu chúng ta nghĩ tới tình trạng vaccine chưa đủ hạn chế virus lây nhiễm.    Các nước khác có thể học được gì từ Chile?     Chuyện xảy ra ở Chile thực sự là một ví dụ tiêu cực, xin đừng ai làm như Chile. Do đó tôi chỉ có thể cảnh báo, mong rằng không một nước nào trên thế giới còn nghĩ là mọi chuyện đã tai qua nạn khỏi mà xao nhãng các biện pháp đề phòng, ví dụ xin đừng bỏ khẩu trang. Do luôn hình thành các biến thể mới cho nên miễn dịch cộng đồng cũng có giới hạn về thời gian và không gian. Tôi cũng chưa rõ là liệu Mỹ hay châu Âu có đạt được điều đó hay không. Ngay cả nước Anh giờ đây lại bị tràn lan lây nhiễm biến thể delta của Ấn Độ đây là một minh chứng để tôi không dám quá lạc quan.     Mọi người đều muốn trở lại cuộc sống bình thường. Nhiều người hy vọng với việc tiêm phòng, họ sẽ lại được sống như trước đây.    Điều đó rất dễ hiểu. Tuy nhiên, chúng ta phải thông báo rõ ràng rằng chỉ tiêm vaccine không thôi thì chưa đủ. Đây là mô hình như pho mát Thụy Sĩ với nhiều lỗ, thuốc tiêm chủng là một lớp pho mát, chúng che được một số lỗ nhưng để bịt được càng nhiều kẽ hở càng tốt để ngăn chặn lây lan cần phải có các biện pháp khác về ngăn cách xã hội, cách ly, theo dõi các chuỗi lây nhiễm và giám sát toàn cầu đối với các đột biến mới. Trên hết, trong tương lai, chúng ta phải có khả năng phản ứng rất nhanh nếu một nguồn lây nhiễm phát sinh ở đâu đó hoặc một biến thể mới xuất hiện. □     Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/ausland/chile-corona-desaster-trotz-impfungen-a-0db0e48b-4894-43f4-923e-544809be382a    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cho muỗi nhiễm vi khuẩn để chặn sốt xuất huyết      Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm  trên diện rộng ở Brazil để chống lại bệnh sốt xuất huyết Dengue. Họ cho  muỗi lây nhiễm một loại vi khuẩn làm cho muỗi không còn khả năng lây lan  bệnh sốt xuất huyết nữa.    Muỗi truyền virus sốt xuất huyết (Dengue) sang người. Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO thì mỗi năm trên thế giới có hàng triệu người bị nhiễm căn bệnh này, khoảng nửa triệu người phải đến bệnh viện điều trị và ít nhất mỗi năm có khoảng 12.000 người chết vì sốt xuất huyết. Hiện chưa có thuốc tiêm phòng thậm chí còn thiếu cả liệu pháp điều trị hữu hiệu.   Trong cuộc chiến chống lại căn bệnh này các nhà nghiên cứu ở Brazil đã áp dụng một biện pháp trị bệnh đó là làm lây nhiễm vi khuẩn đối với loại muỗi gây bệnh sốt vàng da có tên khoa học là Aedes aegypti, loại vi khuẩn này giúp vô hiệu hoá khả năng truyền virus Dengue của muỗi. Trong một thí nghiệm ngoài tự nhiên trong khuôn khổ chương trình “Eliminate Dengue” người ta đã thả ra ngoài tự nhiên khoảng 10.000 con muỗi đã bị nhiễm virus.   Vi khuẩn Wolbachia không phải là sinh vật được nuôi cấy trong các phòng thí nghiệm gen. Chúng là sản phẩm trong tự nhiên và hiện diện trong hơn 60% các loài côn trùng. Muỗi gây sốt vàng da là loài muỗi lây lan bệnh sốt xuất huyết Dengue, tuy nhiên chúng không phải là ký chủ của loại vi khuẩn này. Ít ra cho đến nay là như vậy. Tuy nhiên cách đây ít lâu các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc cấy vi khuẩn Wolbachia vào phôi của muỗi. Loại muỗi được cấy vi khuẩn mất khả năng lây lan virus. Tại sao lại như vậy? Cho đến nay vấn đề này vẫn chưa được làm sáng tỏ.   Những con muỗi cái của loài muỗi này đặc biệt quan trọng đối với thử nghiệm này – chúng truyền vi khuẩn cho các thế hệ sau ngay cả khi chúng giao phối với những con muỗi đực không chứa loại vi khuẩn này trong cơ thể. Và cứ như vậy loài vi khuẩn này sinh sôi nẩy nở trong toàn bộ quần thể muỗi và cản trở sự lây lan bệnh.   Biện pháp phòng trừ sinh học   Một thí nghiệm tương tự diễn ra ở Australia năm 2011 cho thấy khi loại muỗi này được cấy vi khuẩn và giao cấu với một loại muỗi khác chúng tiếp tục phát triển và nhân rộng. “Liệu việc định cư loại muỗi nhiễm virus Wolbachia có tác động đến việc lây lan bệnh sốt xuất huyết hay không, điều này chỉ có thể sáng tỏ thông qua những thí nghiệm dài hơi”, phát biểu của bà Stefanie Becker, giám đốc Viện Y học truyền nhiễm Friedrich-Löffler trên đảo Riems. “Thời gian từ lúc thả loài muỗi này vào năm 2011 cho đến nay còn quá ngắn để có thể có một đánh giá thoả đáng.”   Cuộc thí nghiệm trên diện rộng ở Brazil sẽ giúp làm sáng tỏ hiệu quả của biện pháp phòng trừ sinh học này. Giám đốc nghiên cứu Luciano Moreira tỏ ra lạc quan: “Tôi dự đoán sau hai đến năm năm chúng tôi sẽ giảm được số ca sốt xuất huyết. Và sau năm đến mười năm chúng tôi có thể kiểm tra cụ thể về việc lây lan bệnh sốt xuất huyết trên cả nước Brazil.”   Cho dù các nhà nghiên cứu chưa biết chắc chắn liệu những con muỗi này có tồn tại lâu dài trong tư nhiên hay không, nhưng giới chuyên môn tỏ ra tin tưởng vào phương pháp này: “Đây là một hướng tiếp cận rất tốt trong cuộc đấu tranh chống bệnh sốt xuất huyết Dengue”, Jonas Schmidt-Chanasit, người phụ trách về chẩn đoán virus học thuộc Viện Bernhard-Nocht về Bệnh nhiệt đới ở Hamburg nhận định. “Đặc biệt đây là một kỹ thuật hoàn toàn tự nhiên đối với việc diệt trừ căn bệnh này – so với phương pháp công nghệ gen thì phương pháp này tốt hơn nhiều.”  Bệnh sốt xuất huyết đe dọa tính mạng người dân ở châu Phi, châu Á, vùng Caribe và khu vực Trung, Nam Mỹ. Năm 2013 ở Đức 800 ca sốt xuất huyết. Loại muỗi vằn châu Á từ lâu đã có mặt ở Italia, Pháp, Tây Ban Nha và vài năm gần đây ở cả miền nam nước Đức. Tuy nhiên ở Đức chưa phát hiện muỗi vằn mang virus Dengue.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chọn đồ chơi an toàn cho trẻ em như thế nào?      Chì, thuỷ ngân hay thạch tín có thể gây độc  hại đối với sức khoẻ con người về lâu dài hoặc trực tiếp. Những kim loại  nặng này có thể gây hại như thế nào và khi mua đồ chơi cho trẻ&#160; cần chú  ý điều gì?    Có thể nhận biết trong đồ chơi có kim loại nặng hay không?     Theo Wolfgang Döring, chuyên gia khảo sát các chất có hại trong đồ chơi, các kim loại nặng như chì, thạch tín hay thuỷ ngân là những chất không dễ nhận biết. Ông khuyên các phụ huynh khi mua đồ chơi nên chú ý đến xuất xứ của nhà sản xuất. Theo kinh nghiệm, những mặt hàng xuất xứ từ châu Á thường có nhiều chất độc hại hơn so với các sản phẩm từ các thị trường khác. Tuy nhiên trong một thứ đồ chơi có nhiều bộ phận khác nhau và người mua khó có thể biết chúng được sản xuất ở đâu. Hơn nữa, cho đến nay chưa thực sự có một loại tem hay chứng chỉ đảm bảo an toàn thống nhất nào.    ‘Đồ chơi sinh thái’ có an toàn hơn không?   Thường khái niệm “sinh thái” ở đây chỉ nguyên liệu sản xuất có phải là nguyên liệu có khả năng tái sinh hay không, thí dụ như gỗ. Nhưng người ta cũng có thể phủ lên gỗ nước sơn có chứa kim loại nặng nên khái niệm “sinh thái” cũng không giúp ích gì nhiều cho các bậc phụ huynh khi chọn lựa đồ chơi cho con cái.  Vậy cha mẹ cần chú ý đến điều gì?     Döring khuyên tốt nhất vẫn là phương pháp kiểm tra mùi.  Nói chung không nên dùng những thứ bốc mùi hoá chất. Điều cần chú ý là các loại đồ chơi, kể cả thú nhồi bông, đều có thể rửa, giặt được.   Các bậc phụ huynh không chỉ cần cẩn trọng khi mua sắm đồ chơi mà nên nhớ rằng trẻ em còn tiếp cận hàng ngày với các sản phẩm khác như  thảm, quần áo, bàn ghế và các loại đồ gỗ gia dụng khác. Ai muốn tránh không để con cái tiếp xúc với chất độc thì cũng phải chú ý đến những sản phẩm nói trên.  Các nguy cơ ngộ độc   Chì: Chì và các hợp chất của chì thường có trong các loại mầu và nhựa tổng hợp. Chúng còn được sử dụng trong pin, ắc-quy và còn là kim loại để hàn. Chì là kim loại nặng độc hại, thâm nhập qua đường miệng, đường hô hấp hay thấm qua da vào cơ thể.  Người tiếp xúc với chì trong một thời gian dài thường xanh xao, mệt mỏi, uể oải và biếng ăn. Nhiễm độc chì cấp tính thường hiếm xẩy ra, gây đau bụng, nôn mửa và có thể dẫn đến tử vong. Những tác hại lâu dài và tiềm ẩn thường phổ biến hơn, gây tình trạng chậm phát triển về trí tuệ ở trẻ em. Một số hợp chất chì có thể gây ung thư.  Thuỷ ngân: Ngộ độc thuỷ ngân có thể dẫn đến đau bụng và tiêu chảy. Tiếp xúc lâu dài với thuỷ ngân có thể dẫn đến rối loạn thị giác và rối loạn trí nhớ.  Khi kim loại nặng độc hại này bị thải ra môi trường, nó có thể bị các vi sinh vật chuyển hoá thành những hợp chất làm tổn thương hệ thần kinh trung ương và trong trường hợp xấu  nhất có thể gây tử vong.  Thuỷ ngân được dùng để sản xuất đèn nê-ông, đèn tiết kiệm năng lượng và pin. Hợp chất thuỷ ngân clorid có trong chất mầu trang trí đồ sứ và còn được dùng để sản xuất chất khử trùng.  Thạch tín: Thạch tín được dùng để sản xuất một số hợp kim trong công nghiệp hoá chất và để sản xuất thuỷ tinh chuyên dụng và chất bán dẫn.  Ngộ độc cấp tính thạch tín có thể dẫn đến miệng nôn trôn tháo và xuất huyết, truỵ tim mạch và tê liệt đường hô hấp. Khi thạch tín thâm nhập vào có thể trong một thời gian dài với liều lượng thấp có thể dẫn đến rối loạn hệ thần kinh và gây ung thư.   Antimon: Antimon bị coi là có thể gây ung thư. Ngộ độc Antimon biểu hiện qua sự dị ứng trên da, đau quặn bụng, tiêu chảy và gây ra các vấn đề liên quan đến tim mạch tương tự như các triệu chứng về ngộ độc thạch tín. Trẻ em có thể tiếp xúc với Antimon thông qua các chất chống cháy hay đồ chơi sản xuất từ Polyester.  Barium: Barium có thể xuất hiện trên đồ chơi trẻ em trong các chất lỏng như các chất mầu. Ngộ độc Barium có thể dẫn đến áp huyết cao và tác động xấu đến chức năng của  thận. Khi tiêu thụ một lượng lớn Barium có thể dẫn đến nôn mửa, chóng mặt, đau bụng và rối loạn nhịp tim.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chọn mục tiêu “thực tế một chút” và theo đuổi đến cùng      Theo đuổi đến cùng đề tài nghiên cứu để có công bố trên tạp chí có hệ số IF cao và từng bước xây dựng phòng thí nghiệm tốt ngay tại Việt Nam là những gì TS. Trần Đình Phong (Đại học Khoa học và Công nghệ – USTH) làm được trong quá trình thực hiện đề tài “Xác định cấu trúc phức polymer và cơ chế hoạt động tạo H2 của xúc tác molybden sulfide vô định hình” (Coordination polymer structure and revisited hydrogen evolution catalytic mechanism for amorphous molybdenum sulfide).    TS. Trần Đình Phong  Xây dựng phòng thí nghiệm để tự chủ trong nghiên cứu  Dù công việc đang “chạy” tốt tại Singapore, TS. Phong vẫn quyết định về nước và từ cuối năm 2014, anh tới gõ cửa nhiều trường đại học lớn tại TPHCM, Hà Nội và Đà Nẵng. Anh muốn tới “cơ sở nghiên cứu nào đó ủng hộ nhiệt thành nguyện vọng của mình” cho phép anh không chỉ tiếp tục thực hiện hướng nghiên cứu đã theo đuổi ở Singapore mà còn hướng đến mục tiêu dài hơi là có được “một phòng thí nghiệm tử tế để có thể dần dần tiến hành công việc nghiên cứu một cách lâu dài, qua đó tiến tới khả năng thực hiện được 70% thí nghiệm của các nghiên cứu về vật liệu tiên tiến và chỉ phụ thuộc 30% vào các phòng thí nghiệm quốc tế”. Theo quan điểm của anh, nếu công việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mục tiêu duy trì mối liên kết hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài và sau đó trở thành đồng tác giả công bố với tiêu chuẩn một năm từ một đến hai bài báo trên tạp chí quốc tế chuyên ngành thì “không quá khó và có thể làm được ở nhiều nơi nhưng điều nguy hiểm là sẽ không thể làm được cái gì ‘ra tấm ra món’”. Và nếu mọi chuyện diễn ra như vậy thì anh thấy việc trở về Việt Nam thực sự không còn ý nghĩa. Điều TS. Phong băn khoăn là tình trạng thiếu thốn trang thiết bị rất phổ biến ở nhiều cơ sở nghiên cứu khiến nhiều nhà nghiên cứu phải tìm cách “lách” bằng cách chuyển sang nghiên cứu mô phỏng. “Nếu một khoa có một, hai nhóm làm mô phỏng thì rất tốt, rất hữu ích nhưng nếu nó phổ biến trong một khoa, một trường/viện nghiên cứu thì về lâu dài sẽ không ổn”, TS. Phong nhận định.  Vì vậy, giữa lời mời hấp dẫn của các trường ĐH ở TPHCM, Đà Nẵng, TS. Phong đã chọn USTH với cảm nhận sẽ có được sự ủng hộ tốt nhất cho ý tưởng của anh về việc xây dựng phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu. Khi về USTH, anh mới thấy sự lựa chọn của mình là đúng đắn. Do trường đang trong quá trình xây dựng, anh và đồng nghiệp mới gia nhập môi trường nghiên cứu của trường đều không bị quá gò bó bởi những khuôn mẫu có sẵn mà có thể thoải mái đề xuất ý tưởng nghiên cứu, hình thành nhóm nghiên cứu, thành lập phòng thí nghiệm và mua sắm máy móc. Điều thuận lợi là “hầu như bất cứ lúc nào, tôi cũng có thể leo lên tầng bảy, tầng tám gặp gỡ ban giám hiệu để trao đổi về kế hoạch của mình”, TS. Phong cho biết. Một thuận lợi khác là người đóng vai trò cố vấn khoa học của USTH là một giáo sư từng giữ cương vị hiệu trưởng trường Paris 7, đã nghiên cứu về vật liệu tiên tiến nên việc trao đổi yêu cầu công việc giữa hai bên diễn ra rất dễ dàng, “ông ấy nắm bắt rất nhanh những gì tôi đề đạt mà không hề đắn đo, thậm chí còn gợi ý thêm những máy móc nào cần mua”.  Sau vài tháng vất vả ban đầu, với sự hỗ trợ của trường, TS. Phong đã mua đủ máy móc cần thiết, “tuy ít nhưng hiện đại và chất lượng tốt” cho phòng thí nghiệm. Trong thời gian tới, TS. Phong kỳ vọng phòng thí nghiệm sẽ được bổ sung thêm một số trang thiết bị nữa từ kinh phí của dự án USTH, kinh phí tài trợ của đại sứ quán Pháp, để đảm bảo tính đồng bộ giữa các loại máy móc, tương tự như phòng thí nghiệm mà anh đã làm việc tại Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore trước đây. Việc mua sắm máy móc đồng bộ và đúng tiêu chuẩn không chỉ tạo điều kiện cho nhà nghiên cứu làm thí nghiệm tốt mà còn góp phần quan trọng vào việc tạo độ tin cậy về kết quả thí nghiệm khi gửi bài đi đăng ở các tạp chí quốc tế. Theo TS. Phong, “độ tin cậy của kết quả nhiều khi quan trọng hơn cả việc nhà nghiên cứu giải thích nó như thế nào”.  Công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu  Dù mất rất nhiều thời gian và công sức vào việc gây dựng phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu, TS. Phong vẫn cố gắng duy trì tiếp mạch nghiên cứu về chất xúc tác vô định hình MoSx mà anh đang thực hiện dở ở Singapore. “Mọi chuyện không đơn giản bởi tôi vẫn phải đảm bảo giữ mối liên hệ thông suốt với các đồng nghiệp ở nước ngoài, qua đó các bên có thể liên tục trao đổi cùng nhau về tiến trình thực hiện nghiên cứu và kết quả nghiên cứu”.  Không chỉ có TS. Phong và cộng sự mà rất nhiều nhà khoa học quốc tế nghiên cứu về MoSx vì dự đoán nó có khả năng thay thế platin (bạch kim), loại vật liệu xúc tác tốt nhưng có nhược điểm là giá thành cao, tuy nhiên chưa ai xác định được một cách đầy đủ cấu trúc và cơ chế hoạt động của nó. Vậy bằng cách nào, TS. Phong có thể chạy đua với đồng nghiệp quốc tế ngay cả khi đã trở về Việt Nam và chỉ có thể thực hiện nghiên cứu trong điều kiện không phải là tối ưu? Cách giải quyết của TS. Phong là vẫn tiếp tục thiết kế thí nghiệm và kết nối những phần thí nghiệm khác nhau về MoSx. Khi còn làm việc ở phòng thí nghiệm của GS James Baber (Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore), anh đã thực hiện một số thí nghiệm điều chế MoSx ở các điều kiện hoạt động khác nhau rồi gửi mẫu đi phân tích theo nhiều phương pháp khác nhau tại các phòng thí nghiệm ở Nhật, Pháp và Singapore, nơi các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế mà anh quen biết đang làm việc. “Mọi chuyện không diễn ra một cách đơn giản như kiểu phân công từng việc cho mọi người mà phải tự trao đổi với từng người là mình muốn tìm hiểu MoSx ở khía cạnh nào, dự đoán gì về nó, sau đó cùng họ theo dõi quá trình phân tích mẫu và xem xét kết quả thu được”, TS. Phong cho biết.  Sau một năm làm việc ở USTH, TS. Phong cho biết, điều anh rút ra trong quá trình xây dựng phòng thí nghiệm và đảm bảo giữ mạch nghiên cứu về chất xúc tác MoSx là “cần thực tế một chút để nhận ra rằng mình có thể làm được cái gì hay không làm được cái gì và sau đó là cố gắng theo đuổi nó đến cùng”.  Từ Việt Nam, TS. Phong theo dõi và cùng các đồng nghiệp phân tích kết quả thí nghiệm mẫu MoSx theo nhiều phương pháp phân tích khác nhau: TS. Thứ ở Nhật Bản với phương pháp quang phổ Raman; nhóm của TS. Vincent Artero ở Trung tâm năng lượng nguyên tử và năng lượng thay thế CEA Grenoble (Pháp) với phương pháp phổ cộng hưởng từ electron (Electron Paramagnetic Resonance EPR); nhóm của TS. Sing Yang Chiam tại Cơ quan KH, CN và nghiên cứu ASTAR (Singapore) với phương pháp phân tích phổ XPS (X ray Photoelectron spectroscopy) và TS. Trương Quang Đức (Đại học Tohoku, Nhật Bản) với phương pháp phân tích kính hiển vi điện tử truyền qua quét (Scanning Transmission Electron Microscopy STEM). Về phần mình, TS. Phong thực hiện các phân tích điện hóa và hóa học để tìm ra những bằng chứng về cấu trúc và cơ chế hoạt động của xúc tác MoSx. Khi được hỏi tại sao phải tiến hành phân tích mẫu bằng nhiều phương pháp, không những mất nhiều thời gian thực hiện mà còn phức tạp hơn vì liên quan đến nhiều nhánh nghiên cứu khác nhau, TS. Phong lý giải đó là nhằm khẳng định sự đúng đắn của kết quả phân tích cấu trúc và cơ chế hoạt động của MoSx, đồng thời các phương pháp cũng hỗ trợ nhau làm rõ kết quả này. Ví dụ, phương pháp STEM của TS. Đức cho thấy cách sắp xếp các nguyên tử MoSx nhưng lại chưa thể xác định được trạng thái oxy hóa của nó là gì nên cần phải chờ thêm kết quả phân tích bằng phương pháp EPR và phổ XPS của các đồng nghiệp Pháp, Singapore. Cuối cùng với sự hỗ trợ từ phương pháp tính toán DFT giúp khẳng định cơ chế hoạt động của xúc tác MoSx của các đồng nghiệp Pháp, TS. Phong đã đủ tự tin để lên khung bài viết, sau đó gửi đi xuất bản trên tạp chí Nature Materials với vai trò là tác giả liên hệ.  Niềm vui hướng dẫn các cộng sự trẻ  Dù có được sự ủng hộ của các nhà quản lý thì việc xây dựng nhóm nghiên cứu và thiết lập phòng thí nghiệm của TS. Phong không khỏi vấp phải một số khó khăn nhất định. Do chưa có đầy đủ máy móc, TS. Phong và một vài học trò trong những tháng đầu tiên, có lúc phải “mua cả máy bơm Trung Quốc ở chợ giời” phục vụ việc nghiên cứu hoặc “cứ phải chạy chỗ này một tí, chỗ kia một tí”, mượn tạm phòng thí nghiệm của khoa khác trong trường để làm thí nghiệm. Về nhân lực, không phải lúc nào anh cũng có được một đội ngũ giỏi chuyên môn cùng thực hiện các thí nghiệm như ở Singapore hay Pháp. “Khi về nước, tôi mới thấy không chỉ ở lĩnh vực vật liệu tiên tiến của mình mà với nhiều lĩnh vực khác, lực lượng nghiên cứu có trình độ chuyên môn tốt khá mỏng”, TS. Phong kể. Vì vậy, anh đã bằng lòng với những ứng viên đầu tiên, một vài sinh viên đại học và thạc sỹ của trường, tình nguyện tham gia nhóm nghiên cứu của mình. Làm việc và hướng dẫn các sinh viên đại học, những người mới có kiến thức cơ bản, cùng tham gia nghiên cứu khoa học với mình không phải là điều dễ dàng, nó đòi hỏi sự kiên nhẫn và tận tình của người thầy. Các thành viên trẻ thường thiếu những kiến thức cần thiết cho việc nghiên cứu, TS. Phong yêu cầu họ tự đọc sách để bổ sung, đồng thời sẵn sàng giải đáp những thắc mắc đặt ra. Khi thấy các họ bắt đầu nắm bắt được kiến thức, TS. Phong khuyến khích họ thực hành thông qua những nhiệm vụ nghiên cứu nho nhỏ. Khi giao nhiệm vụ, bao giờ anh cũng giải thích rất cặn kẽ cho từng người nội dung, mục tiêu nhiệm vụ mà họ được giao đồng thời đưa ra một vài gợi ý về cách giải quyết, “tuy nhiên tôi luôn đề cao sự sáng tạo nên khuyến khích họ tìm hướng xử lý mới và mạnh dạn thử nghiệm”, TS. Phong kể. Việc hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu với anh cũng có nghĩa là cùng họ đọc, phân tích kết quả thí nghiệm, sau đó đặt ra những câu hỏi và gợi ý hoặc tìm câu trả lời từ thí nghiệm hoặc từ tài liệu tham khảo. Anh đặt mục tiêu tạo điều kiện cho họ có khả năng thực hiện những công việc cụ thể của quá trình nghiên cứu, vừa hình thành tư duy về hướng nghiên cứu…  Chính qua quá trình hướng dẫn như vậy, anh từng bước phát hiện ra rằng mình quá may mắn khi có được những thành viên sẵn sàng bám phòng thí nghiệm, “coi cái phòng nho nhỏ này như một thứ tài sản hết sức đáng giá” và có tinh thần học hỏi rất cao, “ví dụ các sinh viên năm cuối chỉ cần thực tập ở phòng thí nghiệm của tôi ba tháng là đạt yêu cầu để tốt nghiệp nhưng trên thực tế, họ đã bắt đầu nghiên cứu với tôi từ trước và khi bảo vệ luận án tốt nghiệp rồi vẫn tiếp tục ở lại thực hiện các thí nghiệm của mình. Tính ra, thời gian họ làm với tôi cũng gần cả năm trời”.  Sau những trải nghiệm đó, đến một thời điểm anh chợt nhận ra rằng, việc hướng dẫn những thành viên của phòng thí nghiệm tuy mới chỉ là sinh viên đại học nhưng đã có khả năng thực hiện được nghiên cứu có thể công bố quốc tế cũng đem lại niềm vui không kém so với việc đăng công trình trên các tạp chí có hệ số IF cao như Nature Materials.  Hợp tác để chia sẻ kinh nghiệm và tận dụng cơ sở vật chất tiên tiến  Trong lĩnh vực KH&CN, hiện nay các nghiên cứu đa ngành thường được đánh giá cao vì phát huy lợi thế kiến thức của nhiều ngành, kết quả thu được thường phổ quát, có độ tin cậy và có ứng dụng nhiều hơn. Nhìn chung, trong nhiều dự án nghiên cứu, sự hợp tác giữa các nhà khoa học ở các cơ sở khác nhau với các thiết bị nghiên cứu tiên tiến khác nhau là cần thiết để đạt được mục tiêu nghiên cứu cũng như tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn. Vì tốc độ phát triển của khoa học ngày nay rất nhanh, do đó các thiết bị luôn được đổi mới liên tục. Thông thường, các cơ sở khoa học dù rất lớn mạnh nhưng cũng không thể trang bị đủ tất cả các thiết bị tiên tiến. Do đó sự hợp tác giữa các nhà khoa học là cần thiết nhằm chia sẻ nguồn lực thiết bị tiên tiến sẵn có ở các cơ sở. Ví dụ, trong nghiên cứu mới đây của TS Phong “Xác định cấu trúc phức polymer và cơ chế hoạt động tạo H2 của xúc tác molybden sulfide vô định hình”, chúng tôi đã hợp tác với JEOL, Tokyo Nhật Bản, công ty hàng đầu thế giới về kính hiển vi điện tử, để quan sát vật liệu của chúng tôi ở độ phân giải cỡ nguyên tử. Thiết bị này hiện tại mới có mặt một số ít viện nghiên cứu trên thế giới.  Về vấn đề con người, sự hợp tác giữa các nhà khoa học đem lại cái nhìn đa chiều, đầy đủ hơn về một vấn đề khoa học do có sự đóng góp trí tuệ của nhiều nhà khoa học. Những khó khăn về mặt địa lý khi các nhà khoa học không ở cùng một nơi, theo tôi nghĩ là không đáng kể. Ngày nay, công nghệ liên lạc đã phát triển nên các nhà khoa học có thể dễ dàng trao đổi với nhau dù cách nhau hàng ngàn km.  Theo quan điểm của tôi, Việt Nam nên đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác giữa các nhà khoa học ở Việt Nam cũng như toàn thế giới, nhằm kết nối chuyên gia KH&CN người Việt trong việc giải quyết những vấn đề khoa học nói chung cũng như những vấn đề bức thiết của VN hiện nay trong y tế môi trường nông nghiệp. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các công bố quốc tế trên các tạp chí chuyên ngành uy tín do người Việt nghiên cứu cho thấy năng lực trí tuệ của các nhà khoa học Việt Nam không thua kém đồng nghiệp quốc tế. Điểm còn yếu làm hạn chế phần nào sức sáng tạo trong nghiên cứu của họ là trang thiết bị, điều này có thể giải quyết bằng cách hợp tác với chuyên gia người Việt ở nước ngoài nhằm chia sẻ nguồn lực cơ sở vật chất tiên tiến ở các cơ sở này. Hơn nữa sự hợp tác với các chuyên gia ở nước ngoài còn giúp nâng cao năng lực nghiên cứu của cơ sở trong nước thông qua việc trao đổi, phản biện, đồng thời thu hút được các dự án, nguồn vốn của các tổ chức ở các nước phát triển dành cho Việt Nam.  TS Trương Quang Đức (Nghiên cứu viên tại Đại học Tohoku và Cơ quan Phát triển Khoa học Nhật Bản, JSPS)      Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Chống biến đổi khí hậu:  Cuộc chiến vì tương lai của nhân loại      Một hiến chương mới của Li&#234;n Hiệp Quốc về Biến đổi kh&#237; hậu (BĐKH) dự kiến sẽ được k&#253; kết v&#224;o th&#225;ng 12 tới tại Copenhagen (Đan Mạch). Đ&#226;y sẽ l&#224; &#8220;liều thuốc thử&#8221; những nước gi&#224;u nhất tr&#234;n thế giới trong việc đưa ra những cam kết cụ thể để giảm nhẹ t&#236;nh trạng biến đổi kh&#237; hậu tr&#234;n thế giới. Những nghi&#234;n cứu mới đ&#226;y nhất đều chỉ ra rằng ch&#237;nh những nước gi&#224;u l&#224; thủ phạm ch&#237;nh của t&#236;nh trạng biến đổi kh&#237; hậu tr&#234;n to&#224;n cầu.    Trách nhiệm của các nước giàu  Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến tiến triển trong việc đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) chậm lại, nhưng lãnh đạo (các nước giàu) cần phải chống lại tình trạng hoài nghi và thúc đẩy tiến trình lên phía trước”, Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu tại Hội nghị G8 diễn ra trong tháng 7 vừa rồi tại Aquila (Ý).                Một số các tiến bộ liên quan tới BĐKH đã đạt được trong Hội nghị Thượng đỉnh G8 vừa diễn ra ở Ý vào tháng trước        Tám nước giàu nhất thế giới: Mỹ, Anh, Canada, Nhật, Đức, Ý,  Pháp và Nga đã đưa ra mục tiêu giảm lượng khí thải nhà kính xuống còn 80% vào năm 2050, trong khi mục tiêu này của cả thế giới là 50%.  Cuộc họp Thượng đỉnh cũng đã yêu cầu các nước mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Mêhicô và  Nam Phi cam kết tham gia Hiệp định thư, giảm các hiệu ứng tiêu cực để nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2oC. “Sẽ không thực sự có hiệu quả tốt nếu các nước giàu như châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canada chấp nhận giảm các chất gây hại, tức là sẽ bị thiệt thòi về kinh tế nếu như hơn 5 tỉ người ở các nước đông dân và các nền kinh tế mới nổi khác lại không tham gia vào việc này trước”, Thủ tướng Ý Silvio Berlusoni nói.   Tuy nhiên, trước đó, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban-Ki-moon lại chỉ trích kế hoạch của các nước G8 về biến đổi khí hậu, cho rằng là không công bằng nếu các nước giàu không giúp đỡ các nước nghèo trong việc cắt giảm khí thải ở những nước này.  Ông Ban gợi ý rằng G8 cần phải tìm cách để tài trợ cho những nước nghèo nhất, giúp họ thay đổi các tác nhân gây ô nhiễm và thay đổi công nghệ phù hợp nhằm giảm các chất thải gây hiệu ứng nhà kính. “Những chính sách mà họ bắt đầu còn lâu mới đủ với yêu cầu”, ông nói.  “Đây là khoa học và chúng ta phải làm việc theo khoa học. Đây cũng là đòi hỏi cấp bách không chỉ về chính trị, đạo đức và cả trách nhiệm lịch sử đối với các nhà lãnh đạo (G8) vì tương lai của nhân loại, thậm chí tương lai của cả Trái đất”.  Các nền kinh tế mới nổi cho tới nay vẫn từ chối đưa ra cam kết cụ thể về cắt giảm khí thải. Một số nước còn lẩn tránh đưa ra những cam kết trước Hội nghị của Liên Hiệp Quốc sắp tới.  Các nước này sợ quá trình công nghiệp hóa của nước họ sẽ không đạt được mục tiêu nếu cam kết cắt giảm các chất gây thải.  Một số nước cũng nói họ muốn thấy các nước giàu cung cấp trợ giúp tài chính và công nghệ cho các nước đang phát triển để chiến đấu chống lại biến đổi khí hậu. Trong khi đó các nhà nghiên cứu cho rằng việc Chủ tịch Hồ Cẩm Đào rời hội nghị sớm sẽ khiến các cơ may tiến triển trong các cuộc hội đàm về biến đổi khí hậu không còn nữa. Ông Hồ rời khỏi hội nghị vì tình trạng bạo loạn diễn ra tại tỉnh miền Tây Tân Cương của nước này.                Nông dân Úc ngày càng phải đối mặt với tình trạng hạn hán do BĐKH         Những bước đi ban đầu  “Trợ giúp của các nước G8 chỉ là bước đi ban đầu trong một tiến trình dự kiến sẽ diễn ra rất lâu dài và khó khăn”, Guy Caruso, nhà tư vấn cao cấp về năng lượng và chương trình an ninh quốc gia của Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế tại Washington.  Thủ tướng Stephen Harper của Canada kêu gọi giải pháp cần “mạnh mẽ hơn ở cấp quốc gia” hơn chỉ là những thông cáo báo chí của Hội nghị G8 năm ngoái, trong khi Thủ tướng Anh Gordon Brown lại gọi Hội nghị G8 lần này là cuộc gặp gỡ lịch sử và Thủ tướng Đức Angela Merkel thì cho rằng đó thực sự là một “bước tiến rõ ràng lên phía trước”.  Phát biểu với báo giới sau bài diễn văn của Tổng thống Obama, Thủ tướng Harper nói “một bước tiến quan trọng là chúng ta đã đồng thuận về các mục tiêu đối với các nước phát triển”.  Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng: “Vẫn còn một con đường quá xa đối với mọi người, trong đó có cả một số lượng lớn các nước đang phát triển cũng cần phải có mục tiêu cắt giảm. Đó sẽ là bước đi tiếp”.                      Kịch bản BĐKH ở Việt Nam  Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), đến nay, một trong những nội dung quan trọng và cấp bách nhất của Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu đã được hoàn thành theo tiến độ. Đó là xây dựng và cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu.               Theo kịch bản Bộ TN&MT xây dựng, trong vòng 100 năm tới, mực nước biển có thể dâng lên từ 0,75 đến 1,15 m. Ở mức thấp nhất, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập khoảng 76.000 km2, chiếm gần 20% diện tích của đồng bằng. Nếu mực nước biển dâng 1 m thì diện tích ngập là vào khoảng 15.000 km2, chiếm 38 % diện tích của đồng bằng.               Các kịch bản biến đổi khí hậu sẽ là cơ sở, định hướng để các Bộ, ngành, địa phương đánh giá phạm vi, mức độ của tác động do biến đổi khí hậu, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu. Bộ TN&MT đang khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương triển khai chương trình.               Còn theo báo cáo “Việt Nam-Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và người nghèo” của Oxfarm Hong Kong thì Việt Nam sẽ có thêm rủi ro về thiên tai khi Trái đất nóng lên. Cụ thể là nhiệt độ trung bình sẽ tăng thêm từ 1-2oC vào năm 2050 và tăng thêm 2-3oC vào năm 2100; Biểu đồ lượng mưa ở từng khu vực sẽ khác nhau và hạn hán sẽ tăng lên cả về cường độ và tác động, sẽ khó dự đoán được lượng mưa; Bão sẽ tăng lên về cường độ khó có thể dự báo trước, có thể sẽ tiếp tục xu hướng ảnh hưởng nhiều đến miền Nam. Chiều cao của các cơn sóng từng được dự đoán sẽ tăng lên trên vùng bờ; Mực nước biển sẽ tăng thêm 30-35 cm vào năm 2050, 40-50 cm vào năm 2070 và 60-70 cm vào năm 2100; Vào năm 2070, lưu lượng trong mùa lũ của hai con sông chính là sông Hồng và sông Cửu Long sẽ tăng lên từ 7-15%, dẫn đến nhiều lũ lớn hơn, và sẽ giảm bớt vào mùa khô từ 2-15%.              Những thay đổi trên sẽ gây ra những tác động lớn đối với hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, nhưng đặc biệt là nông nghiệp, với mức độ khác nhau đối với các khu vực khác nhau trên toàn quốc…           Bộ trưởng Môi trường Canada Jim Prentice nói, nước này sẽ đạt được mức khí thải thấp nhất vào năm 2050 và đây sẽ là tấm gương cho các nước phát triển khác. Nhưng cũng sẽ là khó khăn đối với đất nước khi đưa ra kế hoạch giảm chất thải xuống còn 70% vào năm 2050, ông nói.   Ông cho rằng Canada không cần phải thay đổi chiến lược để đạt được mục tiêu này. “Chúng tôi đang trong tiến trình giảm 20% khí thải cho tới năm 2020 và 60-70% vào năm 2050”, ông cho biết.  Nhà lãnh đạo phái tự do Micheal Ignatiff chỉ trích các tiến bộ và các nhà bảo thủ đạt được trong vấn đề này. “Chúng ta quả là những người lạc hậu trong vấn đề này”, Ignatieff đã nói tại London. “Chúng ta phải là những nhà lãnh đạo, những người đi đầu trong việc này”.  Trong khi mục tiêu 2050 của G8 đang trên đúng con đường cần đi thì nhà lãnh đạo NDP Jack Layton nói ông hy vọng Harper không chỉ nói về vấn đề mà cần phải hành động. “Chúng tôi biết chắc rằng các nước như Đức và Bắc Âu đã đi được rất xa so với vị trí mà chúng ta đang đứng. Họ hiểu các cơ hội để tạo ra các công việc sạch nhằm thay đổi triệt để cách sống của chúng ta”, Layton nói.  Tuyên bố của các nước nghèo  Ngày 29/7 vừa qua, tại Dhaka (Bangladesh), Tổ chức dân sự quốc tế (International Civil Society-ICS) của những nước dễ bị tổn thương nhất bởi BĐKH đã ra tuyên bố sau hai ngày tiến hành hội thảo: Các quyền của những nước dễ bị tổn thương nhất trong các cuộc hội đàm về BĐKH.   Tuyên bố này kêu gọi Chính phủ của toàn bộ các nước trên thế giới thừa nhận sự đe dọa của BĐKH đặt ra đối với sự sinh tồn và phát triển của loài người đối với các nước dễ bị tổn thương nhất, trong đó các nước kém phát triển nhất, các hòn đảo nhỏ và các nước châu Phi. Tuyên bố cũng kêu gọi Chính phủ của các nước thành viên ICS cùng kết hợp với nhau để nâng cao tiếng nói trong các cuộc thảo luận quốc tế. Tuyên bố cũng đề nghị toàn bộ các bên có tên trong Hiệp định khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (UNFCCC) thừa nhận các nước dễ bị tổn thương nhất (MVCs) là một thực thể có tiếng nói chung trong toàn bộ các cuộc thương thảo về BĐKH. Theo đánh giá của ICS, các nước MVCs hiện có số dân lên tới hơn 1 tỉ người.  “MVCs cần phải được nhanh chóng trợ giúp để có thể thích nghi với tình trạng BĐKH, vốn không thể tránh được đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu”, tuyên bố nói rõ.  Các nước tham gia bản tuyên bố cũng yêu cầu mỗi năm có khoảng ít nhất 150 tỉ USD được cung cấp cho UNFCCC để giải quyết các vấn đề về BĐKH tại các nước đang phát triển, trong đó có ít nhất 50 tỉ USD dành cho việc thích nghi với BĐKH và các nước MVCs phải là những nước được ưu tiên.  Việc cung cấp tài chính cho các nước đang phát triển, vẫn theo bản tuyên bố cần là nguồn vốn phụ, nhưng độc lập với vốn dành cho tài trợ phát triển (ODA), với mục tiêu vào khoảng 0,7% tổng sản phẩm quốc nội (GNI).  Hy vọng ở tương lai  Chưa biết kết cục sẽ như thế nào ở Hội nghị về BĐKH của Liên Hiệp Quốc tại Copenhagen vào tháng 12 tới, nhưng rõ ràng động thái của các nước trước vấn đề này trên thế giới vẫn khá khác biệt nhau.  Dù cho có những tiến bộ về chính trị (có thể dẫn tới chính sách) trước tình trạng BĐKH ở các nước lớn và các nền kinh tế mới nổi, khả năng đi tới những thay đổi ngoạn mục tại Copenhagen là chưa chắc chắn.  Trong khi đó, các nước nghèo đang tìm cách liên kết, tập hợp nhau lại để đòi quyền lợi trước các nước giàu, những nước có khả năng đảm bảo tài chính cho một chiến lược nhằm hạn chế tác hại của BĐKH trên phạm vi toàn thế giới.  Mặc dù các cuộc đàm phán vẫn còn đang tiếp diễn nhưng người ta vẫn kỳ vọng vào tương lai, bởi ít nhất nhận thức về BĐKH cũng đã thay đổi ở nhiều người, trong đó có những người lãnh đạo cao nhất ở các nước giàu.    Hoàng An (tổng hợp)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống chất độc sarin bằng sữa dê      Các chuyên gia tại Viện Hàn lâm khoa học Mỹ đã biến đổi gien các con dê để tạo ra một loại thuốc trong sữa của chúng có khả năng chống lại chất gây tác động đến thần kinh thuộc nhóm có tên gọi organophosphates, chẳng hạn như khí độc sarin và VX.    Các nhà nghiên cứu đã “chêm” DNA dùng để tạo ra một dạng chất butyrylcholinesterase có khả năng vô hiệu hóa các organophosphates và biến chúng thành một chỉ thị phân tử.  Chỉ thị phân tử này sau đó được đưa vào phôi dê. Việc này cho phép DNA trên kết hợp với chuỗi DNA của dê. Kết quả là dê sản sinh được một lượng đáng kể sữa chứa chất butyrylcholinesterase.    T.Q (theo BBC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống lão hóa – xu hướng lớn của y học thế giới      Chưa bao giờ các nhà nghiên cứu lại hiểu rõ  vì sao cơ thể chúng ta bị lão hóa hơn ngày nay. Lần đầu tiên các nhà  nghiên cứu đã phát hiện ra các loại thuốc kéo dài quá trình lão hóa và  cắt các cơn đau ở bệnh nhân Alzheimer và ung thư.     Mới đây, Viện Max-Plank (Max Planck Institut – MPI) ở Köln, Đức, đã thành công trong việc kéo dài tuổi thọ của ruổi giấm lên 3,5 lần. Ruồi giấm thông thường chỉ sống được không quá 50 tới 60 ngày, nhưng sau khi nhà nghiên cứu Sebastian Grönke và cộng sự của ông cố tình loại bỏ ba trong số các loại gien của ruồi giấm, chúng đã sống được lâu hơn. Ngoài ra, nhà sinh học này còn thử nghiệm độ tinh tường của loại ruồi Methusalem và thấy tuy sống lâu nhưng đầu óc của chúng vẫn rất minh mẫn.   Những điều mà các nhà nghiên cứu như Grönke rút ra được từ mô hình cấu trúc của ruồi giấm, giun đũa, chuột, cá và khỉ không lâu nữa sẽ có thể được ứng dụng ở con người.   Một tuổi già khỏe mạnh  Trước hết vấn đề không chỉ là kéo dài tuổi thọ. Cái mà các nhà khoa học quan tâm hàng đầu là làm sao có được một tuổi già không ung thư, đái đường, Alzheimer và nhồi máu cơ tim. Bà giám đốc MPI đồng thời là nhà nghiên cứu về lão khoa Linda Partridge cho hay, Viện đã tiến hành thử nghiệm những loại thuốc chống lão hóa đầu tiên.   Một sự thật rõ ràng là khi số người già bị bệnh tật tăng lên thì thách thức với hệ thống xã hội cũng tăng theo. Trên thế giới nghiên cứu về tuổi thọ đang là một xu hướng lớn của y học. Thí dụ với ngành công nghiệp dược phẩm. “Chúng tôi phải phát triển những loại thuốc mới giúp người già khỏe mạnh tỉnh táo cho đến giây phút cuối đời,” phát biểu của ông Elias Zerhouni, giám đốc nghiên cứu của liên doanh sản xuất dược phẩm Đức-Pháp Sanofi.   Các trung tâm nghiên cứu về tuổi già trên thế giới  Ông Peter Thiel, nhà đồng sáng lập và trước đây là giám đốc của Online-Zahl-Systems PayPal là người đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu. Ông đã dành 3,5 triệu đôla cho Methuselah Foundation, quỹ do nhà toán-sinh học và nhà nghiên cứu về lão khoa Aubrey de Grey đồng sáng lập. Từ nhiều năm qua, nhà khoa học này luôn khẳng định, về di truyền không có giới hạn tối đa đối với tuổi thọ của con người. Ông tin rằng, sự lão hóa là một căn bệnh “mà chúng ta có thể trị được”.  Điều này có đúng hay không, đây là vấn đề đang được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới tìm hiểu. Bên cạnh các cơ sở nghiên cứu tầm cỡ ở Mỹ và Anh, Đức cũng là một trong những trung tâm nghiên cứu về lão khoa có hạng trên thế giới. Các cơ sở nghiên cứu ở thành phố Köln thuộc diện đi tiên phong.   Bộ phận nghiên cứu lão khoa thuộc MPI do bà Linda Partridge thành lập cách đây năm năm có 75 nhà khoa học. Cạnh đó còn có 280 chuyên gia về y học, di truyền học và sinh hóa học làm việc tại CECAD – một trung tâm nghiên cứu cao cấp về lão hóa – thuộc Đại học Köln chuyên nghiên cứu về tuổi già. Cách MPI bao xa, có một cơ sở chuyên nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm trí tuệ, bệnh demenz ở người già với 50 nhà khoa học về thần kinh.  “Cho đến nay, các chuyên gia về thần kinh tập trung nghiên cứu về bệnh Demenz, các chuyên gia tim mạch thì chuyên tìm hiểu, nghiên cứu sâu về các bệnh tim mạch còn các chuyên gia về ung thư lại chỉ đi sâu vào ung thư. Nay cần đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành để tìm ra được những nguyên nhân chung dẫn đến các căn bệnh ở người già,” đó là ý kiến của Thomas Benzing, đồng sáng lập CECAD và chủ nhiệm Khoa Nội – Đại học Köln.   Hy vọng lớn nhất của Benzing là “tìm ra được một cơ chế then chốt của quá trình lão hóa và biến nó thành mục tiêu để tấn công”. Chưa bao giờ các nhà nghiên cứu lại tiến gần cái mục tiêu này như hiện nay.   Khâu then chốt này là một loại protein của cơ thể có tên là TOR – Target of  Rapamycin. Rampamycin là một loại thuốc chống ung thư. Năm 2009, ba nhóm nghiên cứu của Mỹ, hoàn toàn độc lập với nhau, đã công bố kết quả nghiên cứu của họ về việc Rapamycin có thể kéo dài đáng kể tuổi thọ của chuột thí nghiệm.   Khi chuột thí nghiệm nhận được thuốc ung thư thì tuổi thọ của chúng tăng 10%, đồng thời chúng khỏe mạnh cho đến khi tuổi cao. Chúng không bị ung thư cũng không bị các bệnh thần kinh như Alzheimer hay Parkinson. Các bệnh như đái tháo đường, bệnh loãng xương và tổn thương võng mạc cũng không xuất hiện.  Việc một loại thuốc duy nhất mang lại kết quả có tính đột phá đã gây phấn chấn trong giới nghiên cứu.   Rapamycin chắc chắn không thể là thuốc cải lão hoàn đồng đối với con người vì loại thuốc này có nhiều tác dụng phụ bất lợi như làm tăng Cholesterol, gây tổn thương tới quá trình chữa lành vết thương và có thể gây bệnh thiếu máu. Nhưng giờ đây các nhà nghiên cứu biết rằng có một trung tâm điều khiển liên quan đến sự lão hóa ở trong cơ thể con người và có thể dùng thuốc để lèo lái và điều khiển trung tâm này.   Cảm biến  Qua nghiên cứu, người ta càng hiểu rõ vì sao TOR lại có vai trò to lớn trong quá trình lão hóa ở con người.   Có thể giải thích một cách đơn giản như sau: TOR trước hết là một cảm biến đối với các chất dinh dưỡng. Khi có đủ chất dinh dưỡng thì TOR kích thích các tế bào tăng trưởng và sinh sản. Nó can thiệp vào sự trao đổi chất đường và ảnh hưởng tới chất điều tiết Insulin.   Khi thiếu thức ăn thì TOR tác động đến tế bào, buộc những bộ phận dư thừa của tế bào phải phân hủy và tiêu hóa chúng, một dạng tổng vệ sinh cơ thể và cuối cùng là sự tái chế các nguyên vật liệu.   Khi còn trẻ, cơ thể còn ở giai đoạn phát triển, chức năng của TOR được coi là phước lành: khi đủ thức ăn thì phát triển, vào thời kỳ đói kém thì tổng vệ sinh. Nhưng khi tuổi đã cao, thức ăn dư thừa thì TOR lại kích thích tế bào phát triển, đây là một hiện tượng xấu, có hại. Đồng thời nó làm cho tế bào mất sự nhạy cảm đối với insulin, do đó tạo nên bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi. Hệ quả của căn bệnh này là suy thận và các bệnh về tim mạch. Hơn nữa không có sự tổng vệ sinh trong các tế bào, từ đó dẫn đến sự tích lũy có hại làm tổn thương đến tế bào thần kinh.  Ngược lại, một khi tín hiệu tăng trưởng TOR bị phong tỏa bởi Rapamycin thì cơ thể như lâm vào tình trạng đói ăn, suy dinh dưỡng. Điều này giải thích vì sao Rapamycin lại có tác dụng như cuộc điều trị bằng một đợt nhịn ăn triệt để.   Được biết đến từ những năm ba mươi  Ngay từ những năm ba mươi, người ta đã biết cái đói là sự bảo vệ trước quá trình lão hóa. Những thí nghiệm mới có tính hệ thống của các nhà nghiên cứu trên thế giới những năm qua cho thấy: con giun đũa Ceanorhabditis elegans có cấu trúc rất đơn giản, sống với lượng thức ăn hạn chế có thể sống lâu thêm tới hai, ba lần. Ruồi giấm Drosophila melanogaster  cũng có cuộc sống dài gấp đôi khi cho ăn một cách thanh đạm. Những con chuột giảm lượng calorie có thể tăng tuổi thọ từ 30 đến 50% và giảm hẳn nguy cơ bị ung thư. Và một nghiên cứu mới kết thúc tại National Institute on Aging ở Mỹ cho thấy: khỉ Rhesus Macaca mulatta khi thực hiện các đợt nhịn ăn có cuộc sống khỏe mạnh hơn cho đến lúc tuổi rất cao, tuy nhiên không nhờ nhịn ăn mà tuổi thọ của loài khỉ này tăng lên.  Một số người áp dụng phương pháp nhịn ăn nhưng chỉ có rất ít người có thể chịu đựng được sự nhịn ăn kéo dài để có thể đánh giá kết quả một cách khoa học. Nguyên nhân vì chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt gần như sát với ranh giới của suy dinh dưỡng. Vì thế chế độ nhịn ăn này khó có thể được coi là một tiêu chuẩn dinh dưỡng để tăng tuổi thọ.   Ngoài ra còn có vấn đề sự nhịn ăn chỉ đem lại kết quả rõ rệt khi người ta thực hiện chế độ ăn này sớm. Chí ít thì thí nghiệm ở chuột cho thấy rõ điều này. Từ đó quy ra ở con người, chế độ ăn giảm calorie phải bắt đầu từ tuổi 30. Nếu thực hiện điều này thì còn đâu cái bánh ngọt to đùng nhân ngày sinh nhật cũng như còn đâu những lạc thú trên đời!   Chính vì thế các nhà nghiên cứu ở Köln đã tìm hiểu về chế độ nhịn ăn một lần mỗi tuần để tăng tuổi thọ. Họ đã áp dụng chế độ nhịn ăn này đối với các bệnh nhân cao tuổi trước khi được phẫu thuật. Thí nghiệm đợt đầu ở 20 người bệnh cho thấy, cái mẹo này đưa cơ thể vào tình trạng có báo động, nhờ đó cơ thể được bảo vệ trước những tổn thương thường xẩy ra. Nhờ phương pháp này tổn thương đối với thận ở người già không xuất hiện khi họ tiếp xúc với các chất gây mê hay chất gây tương phản.   Dùng protein để kích thích các ty lạp thể   Bernhard Schermer còn cho rằng những tổn thương đối với các cơ quan khác trong cơ thể như với bộ não, cũng đã không xẩy ra. Thí nghiệm này hiện đang được nhân rộng và được nhắc lại ở các cơ quan đối tác khác nhau. Tuy nhiên theo các chuyên gia ở Köln, đây mới chỉ là sự khởi đầu. Ông Schermer với tư cách là bác sỹ cho rằng, nhịn đói chỉ là khả năng tốt hàng thứ hai: “Tất nhiên trong tương lai chúng tôi muốn phát triển được các loại thuốc để áp dụng cho người bệnh.”  Hiện nay ở Köln người ta đang thử nghiệm một phương pháp hoàn toàn khác để ngăn chặn tình trạng lão hóa: chuyên gia di truyền học Tina Wenz cung cấp một liều lượng protein nhất định cho các “nhà máy điện” của tế bào, tức các ty lạp thể, để kích thích hoạt động của chúng. Khi tuổi cao, các trung tâm cung cấp năng lượng này cũng bắt đầu rệu rã, gây tổn thương trước hết đến các tế bào và bộ não. Cũng có một số người ty lạp thể không vận hành đúng do lỗi di truyền bẩm sinh.  Những người bị loại bệnh này thường rất hiếm gặp, bà Wenz đã thử nghiệm phương pháp điều trị của mình với người bị tổn thương ty lạp thể và từng được trao giải thưởng về thành tích nghiên cứu nói trên. Bà Wenz phát biểu, “Một khi ty lạp thể ở các bệnh nhân này có thể điều trị thì đây sẽ là một cú hích quan trọng trong nghiên cứu về lão khoa.”  Hệ thống miễn dịch  Một vấn đề lớn ở người già là cơ chế tự vệ của cơ thể không còn phát huy tác dụng đúng đắn. Đây là một điều bất hạnh vì hệ thống miễn dịch rất quan trọng, nó không những bảo vệ cơ thể con người trước các tác nhân gây bệnh mà còn ngăn chặn tác động xấu, có hại của các chất độc hoặc ánh sáng mặt trời đối với cơ thể.   Nhà khoa học Beatrix Grubeck-Loebenstein, Giám đốc Viện nghiên cứu Y – Sinh học về lão khoa (Áo) cho rằng, khi tuổi cao tế bào T [một dạng quân tự vệ của bạch huyết cầu, chúng được tạo ra ở tủy xương, nhưng chỉ thực sự chín hoàn toàn trong mô cơ tuyến ức ở phía trên trái tim] bị suy yếu. Khi có mặt trong tuyến ức, tế bào T nhận diện kẻ thù của chúng – thí dụ một số tác nhân gây bệnh nhất định như vi khuẩn hay siêu vi trùng.   Tuy nhiên tuyến ức ở người sau khi đến tuổi dậy thì sẽ phát triển chậm lại và đến tuổi 50 thì ngừng hoạt động. Sau đó các tế bào T không còn phát hiện được kẻ thù mới của chúng. Hệ quả là khi tiêm chủng cho những người nhiều tuổi thường khó hoặc hoàn toàn không phát huy tác dụng.   Gien bị khuyết tật  Hiện nay có thể dùng thuốc để ngăn ngừa viêm nhiễm, thí dụ dùng Cortison. Nhưng theo nhà khoa học Christian Reinhardt làm việc tại CECAD, “khi phản ứng viêm nhiễm bị nén xuống thì có nguy cơ không phát hiện được các tác nhân gây hại mới”.  Trong khi đó, với cách nhìn của một nhà nghiên cứu về ung thư, tuyệt đối cần thiết phải tống khứ những sự viêm nhiễm tiềm ẩn trong cơ thể con người bởi lẽ chúng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến ung thư.   Một lý do quan trọng khác là tại sao ung thư lại phát triển trước hết ở những người có tuổi: Những khuyết tật gien, mỗi ngày hình thành gấp hàng nghìn lần trong cơ thể, sẽ không còn được chữa chạy – bản thân bộ máy kiểm tra và sửa chữa đối với sản phẩm di truyền này cũng bị già cỗi và trở nên xộc xệch, chúng không nhìn thấy lỗi ở các gien. Khi lỗi tích tụ nhiều ở một tế bào, chúng sẽ phát triển thành tầng tầng lớp lớp tế bào ung thư.   “Khi tuổi đã cao, nhiều cơ chế khác nhau có nguy cơ bị trật đường ray vì sự tiến hóa không có chỗ bấu víu để chọn lọc – và cũng vì khi tuổi đã cao chúng ta không còn khả năng sinh sản”, theo lời nhà nghiên cứu về gien Björn Schumacher ở Köln. Nguyên tắc hoạt động của tiến hóa là, chọn lọc những cá thể tốt nhất, thành công nhất để truyền gien của chúng cho các thế hệ kế tiếp. Còn tại sao chúng ta bị ốm và chúng ta chết do nguyên nhân gì, điều này sự tiến hóa hoàn toàn không quan tâm.   Khi không có sự tối ưu hóa tự nhiên đối với gien thì các nhà nghiên cứu phải ra tay. Nhà nghiên cứu Maria Blasco thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư CNIO ở Madrid (Tây Ban Nha) mới đây đã tiến hành một liệu pháp điều trị gien chống lại sự lão hóa. Trước mắt, bà đã thực hiện liệu pháp này ở chuột.   Năm ngoái, Maria Blasco đã thành công trong việc ổn định cái gọi là Telomere. Chúng như những cái mũ bảo vệ đặt trên các nhiễm sắc thể, bên trong đó là gien di truyền. Cứ mỗi lần phân chia tế bào, chúng lại ngắn đi một chút, đến một lúc nào đó ngắn đến mức cơ thể coi những tế bào này là có hại và đào thải chúng. Đây thực chất là vấn đề của cơ chế lão hóa sinh học. Bằng cách đưa một gien vào, nhà nghiên cứu đã chặn lại quá trình này và điều chỉnh lại đồng hồ. Kết quả là: sự lão hóa ở bầy chuột diễn ra chậm lại so với những con chuột cùng loại và không được điều trị, và nếu có mắc các bệnh như đái tháo đường và loãng xương thì cũng chậm mắc hơn nhiều.         Trong 130 năm qua, tuổi thọ bình quân của  con người đã tăng hơn gấp đôi. Tuy nhiên từ sau tuổi 40, các bệnh của  tuổi già như tim mạch, đái tháo đường, đãng trí và thoái hóa xương khớp  bắt đầu xuất hiện.           Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống sốt rét: Đông Nam Á đạt được bước tiến lớn      Theo Báo cáo Sốt rét Thế giới do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố vào ngày 4/12 năm ngoái, lần đầu tiên sau vài năm, số ca nhiễm sốt rét được ghi nhận trên toàn thế giới đã giảm.      Một nhân viên y tế công cộng lấy mẫu máu của một phụ nữ để xét nghiệm bệnh sốt rét ở huyện Bo Rai, tỉnh Trat, Thái Lan. Ảnh: voanews  Trước đó, việc số ca sốt rét gia tăng liên tục trong hai năm 2016 và 2017 đã làm dấy lên lo ngại rằng chúng ta đang chững lại trong cuộc chiến chống lại căn bệnh do muỗi Anophele lây truyền. Nhưng sau đó WHO ước tính rằng có 228 triệu ca mắc trong năm 2018, giảm hơn 3 triệu so với năm trước đó.   Sự sụt giảm này phần lớn có thể bắt nguồn từ việc số ca mắc ở Đông Nam Á đã giảm hẳn. WHO nhận thấy rằng, trong thập kỷ qua, các ca sốt rét giảm rõ rệt nhất ở sáu quốc gia trên lưu vực sông Mekong – Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.   Từ năm 2010 đến năm 2018, số ca mắc bệnh sốt rét và số ca tử vong do sốt rét ở các quốc gia này đã lần lượt giảm 76% và 95%. Năm 2018, Campuchia cho biết, lần đầu tiên trong lịch sử nước này, họ không ghi nhận bất kỳ trường hợp tử vong nào liên quan đến sốt rét. Ấn Độ cũng báo cáo số ca mắc bệnh trong nước giảm đáng kể, số ca mắc năm 2018 ít hơn 2,6 triệu ca so với năm 2017.    Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng dữ liệu về bệnh sốt rét có thể sẽ không chính xác ở các quốc gia có hệ thống giám sát [y tế] còn chưa phát triển. Arjen Dondorp, Phó giám đốc Đơn vị Nghiên cứu Y học Nhiệt đới Mahidol Oxford ở Bangkok, cho rằng ngay cả khi số liệu chính thức không ghi nhận bất cứ ca tử vong nào, điều này không có nghĩa là không có thương vong liên quan đến sốt rét. Tuy nhiên, “số ca mắc sốt rét chắc chắn đang giảm” ở những nước như Campuchia, ông nhận xét.   Abdourahmane Diallo, Giám đốc điều hành của RBM Partnership to End Malari, một tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ, với sứ mệnh hỗ trợ những hoạt động kiểm soát và loại bỏ căn bệnh sốt rét, cho biết những quốc gia ở khu vực sông Mekong đã đạt được “tiến bộ to lớn” trong việc giải quyết căn bệnh này. Những quốc gia đó đã tài trợ cho các chương trình kiểm soát bệnh sốt rét, cũng như điều động, triển khai lực lượng nhân viên y tế đến các khu vực vùng sâu vùng xa để điều trị và báo cáo các trường hợp mới.   Ông chia sẻ thêm rằng những bước tiến trong việc giảm thiểu lây truyền sốt rét còn là kết quả của những chiến lược ngăn chặn sự kháng thuốc của các chủng Plasmodium falciparum, loại ký sinh trùng sốt rét nguy hiểm nhất đã lan ra khắp khu vực.   Ở những khu vực khác trên thế giới, số ca mắc sốt rét vẫn đang gia tăng. Ví dụ, các quốc gia ở châu Phi ghi nhận số ca mắc vào năm 2018 đã tăng thêm 1 triệu ca so với năm 2017. Năm 2018, châu lục này chiếm gần 94% số ca mắc và tử vong do căn bệnh này trên toàn thế giới. Diallo cho biết, hệ thống chăm sóc sức khỏe yếu kém, thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và kinh phí là những yếu tố đe dọa đến nỗ lực chống lại căn bệnh sốt rét ở nhiều khu vực.   Pedro Aloson, Giám đốc Chương trình Sốt rét Toàn cầu của WHO tại Geneva, nhận định, mặc dù năm 2018 ghi nhận sự sụt giảm về số ca mắc sốt rét trên toàn cầu, nhưng các ca bệnh vẫn ổn định ở “những con số cao đến nỗi không thể chấp nhận được” trong vài năm qua. “Nhưng đây không phải là tình thế không thể cứu vãn được”, ông nói, và lưu ý rằng những nỗ lực nhằm cải thiện các biện pháp ngăn ngừa, phát hiện và điều trị bệnh đã giúp một số quốc gia loại bỏ thành công bệnh sốt rét. Báo cáo cho biết Algeria và Argentina đều đạt chứng nhận không có ca bệnh sốt rét nào vào năm 2019.   Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-03746-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống xói lở bằng thảm bê tông tự chèn đan lưới      Để phòng chống xói lở cho các công trình, Công ty TNHH Tư vấn công nghệ kè bờ Minh Tác, TP HCM đã cho ra đời thảm bê tông tự chèn đan lưới, có thể bảo vệ mái sông và các công trình thủy lợi, giao thông, chống xói lở bờ do dòng chảy.    So với thảm đá rọ thép, thảm bê tông liên kết bulông, thảm bê tông xâu dây cáp Betomat… thì thảm bê tông tự chèn đan lưới có nhiều ưu điểm. Thảm được thi công trên dây chuyền công nghệ mới, đảm bảo chất lượng, giá thành phù hợp. Chiều dài tuỳ thuộc vào chiều dài mái bờ cần bảo vệ (có thể từ 10 đến 100 m), được lắp ghép liên tục trên cạn hoặc trên bè, sau đó nâng đặt xuống vị trí cần thiết nên rất thuận tiện cho việc thi công. Công nghệ này đã được triển khai thử nghiệm thành công tại Long Xuyên, An Giang, TP HCM, Tiền Giang… Theo đánh giá của các chuyên gia, công nghệ mới này có uổi thọ cao, giá thành đầu tư giảm 25-30% so với phương án kết cấu khác.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chớp mắt làm giảm khả năng hoạt động của não      Theo các nhà thần kinh học người Anh, chớp mắt làm ngừng hoạt động của một số khu vực của não.    Nghiên cứu của họ chứng tỏ rằng mỗi một cái chớp mắt làm ngừng trong thời gian ngắn hoạt động thần kinh trong vỏ não thị giác cũng như trong một số vùng của đỉnh não và tiền đình, những vùng được kích hoạt khi chúng ta nhìn thế giới xung quanh. Vậy mà chúng ta lại liên tục chớp mắt: mỗi phút trung bình chúng ta chớp mắt 15 lần, mỗi một cái chớp mắt kéo dài khoảng từ 100-150 phần nghìn giây, tức là mỗi năm chúng ta phải dành ra 9 ngày để chớp mắt!  Current Biology, 15, 1296, 2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ nghĩa vị tha      Đọc “Our Inner Ape”, Richard Books, 2005 Một con khỉ cái dòng bonobo có tên Kuni nhìn thấy một con chim sáo lao đầu vào bức tường kính và rơi xuống đất. Nó nhẹ nhàng đỡ lấy chú chim tội nghiệp đang bất tỉnh và đặt chú chim đứng lên. Tuy nhiên, do vẫn yếu vì cú va đập mạnh, chú chim không thể cất cánh và cô phải tung chim lên để lấy đà nhưng chú chim vẫn chưa thể vỗ cánh bay lên. Kuni trèo lên một cây cao nhất quanh đó, nhẹ nhàng mở cánh chim ra rồi tung chim lên, như một đứa trẻ tung nhẹ một chiếc máy bay giấy. Chú chim tội nghiệp vẫn rớt xuống đất. Kuni lại trèo xuống và chăm sóc cho chú chim. Tới đêm, chú chim tự bay được và tiếp tục cuộc hành trình của nó.    Frans de Waal đã kể câu chuyện này trong cuốn sách tuyệt vời mà ông viết dành cho loài khỉ bonobo. Người ta tưởng như ông hóa thân trong lốt của loài vượn người gần gũi với tinh tinh này. Trong suốt cuốn sách, nhà nghiên cứu về họ khỉ dường như chỉ nuôi dưỡng và trau chuốt ý tưởng chủ đạo mà ông lấy từ cuốn sách “Tính khôn khéo của loài tinh tinh” (La Politique du chimpanzé): những nét cơ bản nhất trong nhận thức riêng hoặc chung của con người dường như hiển hiện ở mỗi chi tiết của những người thân nhất.  Đứng ở vị trí gần như ngang hàng với chúng ta trên cây phả hệ tiến hóa, tinh tinh và khỉ bonobo lại khác nhau như “ngày và đêm”, Frans de Waal viết. Chúng là hiện thân của hai cực trong một cá thể khỉ lưỡng cực như chính bản thân con người. Ở tinh tinh, đó là những xung lực của sự ngự trị nam tính, sự tôn thờ cạnh tranh, niềm đam mê bạo lực nhưng cũng là nghệ thuật của sự thỏa hiệp chính trị. Ở bonobo, đó là cái văn hóa của chủ nghĩa hoan lạc, của tình yêu và hòa bình (và rất có thể, một khát vọng phá bỏ sự thống trị nam giới).  De Waal đã giữ được cái gốc khiêm nhường và đơn giản vốn có của một người Hà Lan. Ông giải quyết các vấn đề khó khăn nhất bằng sự lịch thiệp của một người dạo chơi nhàn tản với khứu giác nhạy bén. Bằng ngôn ngữ đối thoại, bốn phần của con khỉ nội tâm (quyền lực, tình dục, bạo lực và lòng nhân từ) cùng đưa đến một kiến thức tổng hợp về hai họ hàng gần nhất của con người và cái nhìn tổng thể về thế giới đương đại.  Một trong những giả thuyết thú vị nhất mà ông đưa ra là chủ nghĩa tư bản phát triển đã khiến người phương Tây chú ý nhiều hơn tới chủ nghĩa Darwin mới mà sao nhãng hoặc đánh giá thấp giá trị và sức mạnh của lòng vị tha, những thứ mà con người đã cố gắng rèn giũa từ thời xa xưa.  Từ rất nhiều thí dụ quan sát trên bonobo và tinh tinh,  Frans de Waal chứng tỏ một cách thuyết phục rằng chủ nghĩa vị tha nằm sâu trong di sản sinh học của con người như một bản năng sống luôn trỗi dậy khi gặp hiểm nguy. Có mặt trong những loài khỉ xa xưa nhất và trong cả những động vật có vú khác như voi và cá heo, thiên hướng này dường như đã thuần hơn ở các loài khỉ lớn nhờ khả năng nhận biết mình trong gương (dường như cá heo cũng có khả năng này).  Lòng thiện cảm cũng có ở loài chó nhưng khả năng tự nhận thức-hình thành từ phần vỏ não phát triển của con người đã mở ra con đường tới khả năng giúp chúng ta phán đoán những gì đang diễn ra trong đầu của người khác…  P.V    Nguồn tin: O.P.V (La Recherche 1.2006)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ tịch nước tiếp đoàn các nhà khoa học dự”Gặp gỡ Việt Nam”      Trong buổi tiếp đoàn đại diện các nhà khoa học nước ngoài đến Việt Nam dự Hội nghị quốc tế về vật lý nano và vật lý vũ trụ ngày 7/8, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hy vọng Hội nghị sẽ mang đến cho những kiến thức thiết thực cho các nhà khoa học Việt Nam.    Hội nghị quốc tế về vật lý “Gặp gỡ Việt Nam” do Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu và GS Nguyễn Thanh Vân khởi xướng năm 1993, nay là lần tổ chức thứ 6. Ngoài sự tham gia của nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý James Cronin (Mỹ), còn có 200 nhà khoa học đến từ 17 nước. Phía Việt Nam có khoảng 100 đại biểu, trong đó hơn 70 là nhà khoa học trẻ.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa bắt đúng mạch cuộc sống      Hội nghị giao ban KH&amp;CN các tỉnh Vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) đã diễn ra từ 18 đến 19/10/2007 với mục tiêu “tăng cường” hoạt động KHCN trong vùng, với sự tham gia “tương đối đầy đủ” các vị “chức sắc” chính quyền và các sở KH&amp;CN. Nhiều vấn đề đưa ra đều không mới khiến một số đại biểu phải thốt ra “khổ lắm nói mãi”, “nói dài, nói dai, nói…”, rồi ngay trong cuối buổi ngày họp đầu tiên cũng chỉ còn lác đác vài đại biểu “bám trụ”-phần lớn là cánh phóng viên. Như thế cũng đủ để hiểu thực trạng KH&amp;CN ở các địa phương đang… có vấn đề.    ĐBSH gồm 12 tỉnh, thành phố tạo ra 25% GDP toàn quốc. Với nhiều lợi thế cả về tự nhiên và con người nên được coi là đầu tàu cả nước về phát triển mọi mặt kinh tế xã hội. Tuy nhiên, chỉ số năng lực cạnh tranh của nhiều tỉnh trong vùng còn thấp (6/12 tỉnh có mức cạnh tranh dưới trung bình), trình độ kỹ thuật-công nghệ bị bỏ xa các nước trong khu vực, khả năng cạnh tranh yếu, sản phẩm công nghiệp chủ yếu thuộc nhóm thay thế nhập khẩu. Trong khi đó, mục tiêu đến năm 2020, toàn vùng phấn đấu có công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp phát triển trình độ cao, hiện đại, đi đầu và thành công sớm trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thúc đẩy hỗ trợ các vùng khác phát triển. Nhưng để đạt được mục tiêu trên là một nhiệm vụ hết sức khó khăn nếu toàn vùng không liên kết cùng nhau đưa ra những phương cách hữu hiệu và đồng bộ, lấy KHCN làm bàn đạp để thúc đẩy phát triển.  Nhìn lại 5 năm qua có thể thấy một vài vấn để nổi cộm cần “chữa trị”.  KHCN chưa xuất phát từ cuộc sống               Bà Nhữ Thị hồng Liên-Phó chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ninh        Ông Nguyễn Huy Lâm-Giám đốc Sở KHCN Hà Tĩnh            TS.Võ Ngọc Anh-Giám đốc Sở KH&CN Bình Định        Ông Trần Văn Minh-Giám đốc Sở KHCN Quảng Ninh           Có thể thấy rằng trong khoảng thời gian vài năm qua, tuy đã đã đạt được một số thành công đáng ghi nhận, nhưng có vẻ như KHCN trong vùng chưa thúc đẩy hiệu quả phát triển kinh tế xã hội như đúng tiềm năng sẵn có: Về nhân lực, dân số chiếm 23% toàn quốc trong khi diện tích chỉ chiếm 6.3%; Về điều kiện tự nhiên xã hội: có vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có các sân bay, cảng lớn, các trung tâm kinh tế chính trị và khoa học đầu não. Để tìm nguyên nhân sâu xa vì sao, ông Ngô Anh Văn-Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ-cho rằng, “Trước nay chúng ta định hướng “đưa KHCN vào cuộc sống”, nhưng thực ra phải là “KHCN bắt nguồn từ cuộc sống””. Nhận định của ông Văn có thể lý giải tại sao nhiều đề tài khoa học khi đã kết thúc nhưng vẫn “đắp chiếu” vì không thích hợp hoặc không mang lại hiệu quả tương xứng với đầu tư từ ngân sách Nhà nước.          Các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel không xa cách với nông dân, gần gũi với đồng ruộng, và đặc biệt, luôn coi trọng những kinh nghiệm trong sản xuất của họ. Từ viện nghiên cứu hay trường đại học, họ có thể “đi vèo” tới các cánh đồng. Không bao giờ các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel có thái độ kẻ cả khi tới ruộng. Do gần gũi với nông dân, hoặc chính gia đình mình là nông dân nên các nhà nghiên cứu nông nghiệp giải quyết các vấn đề của đồng ruộng với tư cách bạn bè. Mặt khác, sức ép thiếu đất và giá nước rất đắt khiến các nhà nghiên cứu nông nghiệp phải bằng mọi cách đẩy năng suất lên cao nhất. Israel là nước phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt (dip irrigation) điều khiển bằng máy tính, không một giọt nước bị bỏ phí. Trình độ nông dân của Israel cũng rất cao, tất cả họ đều đã học xong trung học; nhiều người sau khi học xong đại học đã quay lại đồng ruộng, sau đó lại mang kinh nghiệm đồng áng của mình tới trường đại học.     Đại sứ Isreal Effie Ben – Matityan trả lời phỏng vấn Tia Sáng        Cơ cấu kinh tế xã hội vùng ĐBSH vốn rất đa dạng nhưng nông nghiệp vẫn là động lực chính. Và có vẻ như những “bài toán” người nông dân đặt ra vẫn còn bỏ ngỏ khi KHCN chưa đưa ra lời giải thỏa đáng. Ông Nguyễn Huy Lâm-Sở KHCN Hà Tĩnh-nêu ra một ví dụ: Bưởi Phúc Trạch và cam Bù vốn là nguồn lợi có thu nhập cao nuôi sống nhiều hộ gia đình. Nhưng 5 năm trở lại đây, hoa nhiều quả ít gây thiệt hại lớn về kinh tế. Tỉnh cũng đã giao cho các nhà khoa học nghiên cứu để bảo tồn nguồn gen và phát triển thương phẩm nhưng kết quả “đâu vẫn về đó”. Bài toán cũng đặt ra với cây vải Đông Triều. Ông Trần Văn Minh-Sở KHCN Quảng Ninh-than phiền, “Cứ đến mùa thu, những cây vải này chín đồng loạt, buộc bà con phải thu hoạch bán với giá rẻ. Nếu đem giữ tươi bằng phương pháp bảo quản lạnh thì tốn kém. Còn đem sấy khô thì quả sẽ đen bần không được giá. Cho nên bà con vẫn loay hoay chưa biết làm thế nào?”.  Ví dụ được hai vị lãnh đạo các sở KH&CN đưa ra chỉ là hai trong rất nhiều “bài toán ẩn” còn nằm trong tay người nông dân. Điều đó cho thấy một thực tế: các nhà khoa học phải chủ động bắt tay với người nông dân để tìm kiếm bài toán từ chính họ, và cũng nên tạo điều kiện để những con người hàng ngày phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời “đặt hàng” các thượng đế khoa học. Và cứ chiếu theo những gì đang diễn ra hiện nay, về khía cạnh này, chúng ta còn rất yếu và lúng túng, nhà khoa học chưa thực sự chủ động. Nên cũng dễ hiểu khi vẫn còn những đề tài “đắp chiếu”. Để tăng cường hiệu quả của KHCN trong sản xuất thì ngoài khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cần phải đẩy mạnh khuyến… khoa học. Đến lúc này thì nhà khoa học phải đến đầu bờ và phải tự đi tìm việc.           Hàng hóa trôi nổi trên thị trường chủ yếu là sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc.          Bên cạnh lĩnh vực nông nghiệp, việc đẩy mạnh KHCN vào sản xuất, chế biến cũng tồn tại nhiều hạn chế. Bà Nhữ Thị Hồng Liên-Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh-nhận định, “Hoạt động KHCN còn nhiều bất cập, các doanh nghiệp chưa năng động trong hoạt động KHCN cho nên những sản phẩm địa phương có hàm lượng kỹ thuật thấp, tính cạnh tranh sản phẩm còn yếu và chủ yếu là thu gom đóng gói xuất khẩu thô”. Song song với tồn tại trên thì các doanh nghiệp của chúng ta còn mang tính “chộp giật”, chưa chủ động tìm kiếm, ứng dụng KHCN.  Để kết lại, ông Văn kể một câu chuyện vui: Một đoàn khoa học của ta sang học hỏi kinh nghiệm của một nước bạn. Một vị “chức sắc” có hỏi về kinh nghiệm của nước bạn gắn KHCN vào cuộc sống như thế nào? Câu trả lời nhận được là, “KHCN của chúng tôi có tách rời cuộc sống bao giờ đâu mà gắn!”.  “Chưa cùng một nhà”  Ở các địa phương, KHCN chưa “bắt đúng mạch” cuộc sống, và nếu có thì hiệu quả vẫn còn khá thấp, chưa thể coi là đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội. Giữa các địa phương vẫn xảy ra tình trạng “mạnh ai người đó làm”. Nguyên do là vì tính liên thông, liên hoàn và gắn kết địa phương và Trung ương (cụ thể là Bộ KH&CN), giữa các địa phương với nhau chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ và sát sao. Thông tin về các hoạt động KHCN vẫn còn “tù mù”. Do vậy mới xảy ra chuyện một địa phương không biết Bộ và địa phương khác đã và đang làm gì, dẫn đến hoạt động KHCN chồng chéo gây tốn tiền bạc, thời gian và sức lực của cả nhà quản lý và nhà khoa học. Ông Minh cho biết, “Với những gì đang diễn ra hiện nay thì Bộ không biết các sở làm gì”. Còn như PGS.Lê Trần Lâm-Sở KH&CN Hà Nội-phản ánh, “Mối liên hệ hợp tác giữa các tỉnh như thông tin về KHCN chưa có hệ thống: Hà Nội làm gì hàng năm, hay 10 chương trình của Bộ không ai nắm được”. Bên cạnh đó, mối liên hệ lãnh đạo giữa các sở còn lỏng lẻo, và công nghệ thông tin vẫn chỉ là sợi chỉ chắp nối, không liên tục. Vì vậy ông Lâm kiến nghị làm thế nào để nguồn thông tin giữa Trung ương và các địa phương kết nối thành một mạng chung để các tỉnh có thể trao đổi kinh nghiệm và  kiến nghị thường xuyên.           Nông dân vẫn phải dùng “công nghệ” thủ công để tát nước vào ruộng.        Để xây dựng một nguồn cơ sở dữ liệu đầy đủ, ông Minh đề xuất. “Trung tâm Thông tin KHCN Quốc gia (VISTA) phải xây dựng cơ sở dữ liệu khai thác toàn quốc không vướng mắc hành chính và tài chính. Còn như hiện nay, mạng VISTA bắt hợp đồng trong khi thông tin thì có mức độ”. Đồng tình với ý kiến của ông Minh, TS.Bùi Thanh Tùng-Sở KH&CN Hải Phòng-bộc bạch, “Mạng VISTA không có nhiều thông tin, thông tin đề tài nắm không hết nên vẫn xảy ra tình trạng có những đề tài của địa phương và Trung ương trùng nhau. Vì vậy cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ và giữa Bộ với các Sở”. Do đó, cần phải có cơ chế trao đổi, cung cấp thông tin, phổ biến rộng rãi các kết quả nghiên cứu các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ tới các địa phương để góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý, tiết kiệm nguồn lực địa phương, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa các nhà khoa học Trung ương và các nhà khoa học địa phương. Khi thông tin chưa “thông” thì các địa phương trong vùng “chưa thể cùng một nhà”.  Có tiền mà không biết tiêu…  Ở các địa phương, có một nghịch lý đang tồn tại đó là sự mất cân đối giữa nguồn nhân lực, cơ sở vật chất với kinh phí đầu tư cho đề tài. Hầu như trong hệ thống quản lý KHCN ở những nơi này không có cán bộ đầu ngành và rất “cháy” những cán bộ có học hàm, học vị. Cơ sở vật chất khá nghèo nàn cộng với khả năng nhạy bén trong việc tìm kiếm bài toán và lời giải KHCN để giải quyết những yêu cầu của bà con nông dân cũng như phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn thấp. Chẳng hạn như xác định nhiệm vụ KH, đổi mới và thực hiện các nhiệm vụ KHCN. Chính vì vậy mới xảy ra tình trạng “có tiền mà không biết tiêu”. Bà Nhữ Thị Kim Liên cho biết, “Các huyện thị của tỉnh chỉ tiêu hết 5% kinh phí được cấp do không biết làm gì”.  Việc đầu tư thiếu  đồng bộ nên mới xảy ra việc “trả lại tiền cho chủ”. Các nhà quản lý và nhà khoa học đều cho rằng, việc đầu tư đào tạo tăng cường đội ngũ nghiên cứu, kỹ thuật viên đồng thời xây dựng cơ sở vật chất và xác định nhiệm vụ KHCN là việc làm trước hết. TS.Hồ Ngọc Luật, Vụ Khoa học Tự nhiên-Công nghệ-Môi trường, Ban Tuyên giáo Trung ương, cho rằng, “Ở cấp tỉnh đang thiếu một lực lượng KH&CN chuyên nghiệp có thể lăn lộn, trăn trở cùng với những khó khăn, bức xúc hàng ngày của thực tế đời sống sản xuất kinh doanh, đứng ra đảm nhiệm những công việc quan trọng của KHCN trong vùng”. Ông Minh cho biết, “Khi phân cấp quản lý, cấp kinh phí và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, nhưng họ chỉ làm được 50% do không có nhân lực”.  Ngoài ra cũng tồn tại một lý do khác đó là việc ban hành các văn bản pháp quy. Nghiên cứu chi tiết nhiệm vụ KH&CN cụ thể ở từng địa phương, ban hành các văn bản pháp quy phù hợp cũng góp phần giúp Nhà nước “chọn mặt gửi vàng”. Ý kiến một số lãnh đạo các sở KH&CN đều cho rằng, các văn bản pháp quy Bộ ban hành còn mang tính vĩ mô, cấp quản lý Nhà nước và chú trọng vào các hoạt động của Bộ nhưng tính địa phương còn rất hạn chế. Do đó, tỉnh lại phải một lần nữa cụ thể hóa cho phù hợp với tính chất và nhiệm vụ địa phương cụ thể. Và chính việc thể chế hóa này sẽ gây tốn nhiều thời gian và tiền bạc.  Như vậy, ở nước ta hiện nay đang tồn tại nghịch lý, kinh phí đầu tư cho KH&CN vẫn còn thấp, nhưng lại vẫn xảy ra hiện tượng “có tiền mà không biết tiêu” đành phải “trả lại tiền cho chủ”. Nghịch lý cần được tháo gỡ!?  Chậm mà… chắc  Vấn để nổi cộm cuối cùng chính là việc thực hiện Nghị định 115 ở các địa phương trong cả nước. Đã hai năm kể từ khi Nghị định 115 được Chính phủ ban hành và có thể nói, đây là cột mốc quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ví như “khoán 10” trong nông nghiệp, là khâu đột phá để đưa nền khoa học nước nhà  thoát khỏi sự trì trệ của cơ chế bao cấp. Ngay cả đối với các viện và trung tâm nghiên cứu trung ương việc chuyển đổi còn chưa rõ ràng. Trong khi về đến các địa phương, một số nơi hồ hởi đón nhận còn một số nơi lại “phớt lờ” sự chỉ đạo của cấp trên. Điểm lại các địa phương sẽ thấy việc thực hiện Nghị định 115 là rất khó khăn và chậm trễ: số lượng các đề án phê duyệt chỉ chiếm khoảng 8.5% các tổ chức KHCN cần chuyển đổi; tổ chức KHCN đã chuẩn bị xong đề án chờ phê duyệt chiếm khoảng 57.3%. Tư tưởng viên chức, người lao động địa phương trở nên hoang mang bởi vốn được sống trong bao cấp nay phải nai lưng phó mặc thị trường quyết định. Ông Nguyễn Huy Lâm tâm sự, “Với các tổ chức KHCN địa phương, các trung tâm quy mô nhỏ với vài chục cán bộ, giá trị tài sản dưới 1 tỷ đến vài ba tỷ thì Nghị định 115 bắt đầu với những thách thức khá nặng nề. Cơ hội thì rất lớn nhưng họ chưa thể với tới được, còn thách thức thì ngay trước mắt”. Trong quá trình xây dựng đề án và trong quá trình chuyển đổi sẽ có bao nhiêu trung tâm có thể vượt qua những thách thức để tồn tại rồi sau đó mới với tới được những cơ hội?  Thậm chí một số tỉnh còn lúng túng chưa xác định được đối tượng cần chuyển đổi. Ở các địa phương, các trung tâm đều là quy mô nhỏ. Cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính và cơ chế ở những nơi này chưa đủ mạnh: định mức chưa có để tính đúng, tính đủ; không có vốn tham gia đấu thầu, không có thế chấp, và hơn nữa, quá trình vay vốn gặp nhiều khó khăn. Ở nhiều tỉnh văn bản hướng dẫn chuyển giao quyền tự chủ còn nhiều ràng buộc do tỉnh quy định. Ngoài ra, một mặt đội ngũ viên chức chưa năng động, chưa sẵn sàng thích ứng với cơ chế thị trường KHCN, mặt khác thị trường KHCN ở nhiều tỉnh chưa rõ ràng hoặc nếu có thì hoạt động rất manh mún. Ở những nơi vùng sâu, vùng xa thậm chí chưa có thị trường KH&CN. Nhìn chung, nhu cầu ứng dụng công nghệ ở các địa phương trong cả nước còn thấp. TS.Luật nhận định, “Đa phần các tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, nguồn thu ngân sách hàng năm mới chỉ đáp ứng được khoảng một phần ba, một phần hai nhu cầu chi ở địa phương nên chính quyền ở đây không có điều kiện đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn và nông nghiệp. Còn ở những vùng sâu, vùng xa, do nhận  thức còn thấp nên thuyết phục bà con từ bỏ phương thức canh tác thủ công truyền thống để tiếp nhận kỹ thuật canh tác mới, tiến bộ là một việc không dễ”. Ông Trần Quốc Khánh-Bộ KH&CN-cho biết, “Các tổ chức KH&CN ở những địa phương vùng sâu, vùng xa có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp là chính nên sẽ rất khó khăn khi chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải”.  Theo TS.Lê Văn Toán-Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học Nông lâm Quảng Ninh-thì, “Các đơn vị còn bị động chưa thích ứng với tình hình. Vì vậy nên kéo dài thời gian thực hiện Nghị định 115”. Do cơ sở vật chất, nhân lực KHCN ở địa phương không thể so sánh với những viện, trung tâm nghiên cứu ở trung ương, nên theo ông, Trung ương làm trước, địa phương làm sau; địa phương giàu làm trước, địa phương nghèo làm sau. Ở đây không thể “đánh đồng” các Trung tâm KHCN ở các tỉnh với các viện, trung tâm nghiên cứu Trung ương. Còn TS.Bùi Thanh Tùng cho biết, “Hải Phòng chưa có đơn vị nào làm đề án chuyển đổi. Chậm nhưng mà chắc”. Nhiều ý kiến của lãnh đạo các sở KH&CN và các nhà khoa học cho rằng, vì kinh phí ở địa phương ít nên trước mắt cứ để ở Nghị định 43 rồi dần dần mới chuyển sang Nghị định 115. Theo TS.Võ Ngọc Anh-Sở KH&CN Bình Định, “Nếu không được đầu tư đúng mức khi chuyển đổi thì chẳng khác nào “đem con bỏ chợ”. Vì vậy đi đường vòng nhưng hệ số an toàn cao sẽ tốt hơn”. Đa phần ở các địa phương tâm lý lo ngại thời gian chuẩn bị chuyển đổi được ngân sách hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên đến cuối năm 2009 là quá ngắn.  Tự Do      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa có cơ sở để lo lắng về xuất khẩu gạo biến đổi gene      Tôi hoàn toàn chia sẻ những băn khoăn của TS Nguyễn Quốc Vọng, một nhà khoa học rất nhiệt huyết giúp đất nước, giúp nông nghiệp và nông dân Việt nam&#160; mà chúng tôi đang cộng tác, từng cùng làm việc và cùng mưu cầu lợi ích cho nông nghiệp Việt Nam một thời gian dài. Những khó khăn này, tập thể những cán bộ tham gia vào tư vấn giúp Bộ trưởng NN &amp; PTNT và Chính phủ, gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý từ Trung ương đến địa phương đều đã lường trước và hiểu rất rõ những thách thức trước mắt này.     Trước hết chúng ta cần có cái nhìn toàn cục. Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, sau Thái Lan. Những năm gần đây xuất khẩu gạo của chúng ta tăng liên tục, năm 2010 chúng ta xuất gần 7 triệu tấn gạo, mạng về khoảng 3 tỷ USD. Đó là thành tích rất lớn của lĩnh vực nông nghiệp.   Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta nhập về khoảng hơn 2 triệu tấn đậu tương, và hơn một triệu tấn ngô làm thức ăn chăn nuôi. Theo ước tính, các thành phố lớn, các vùng gần biên giới của chúng ta cũng nhập khẩu theo con đường chính thức và không chính thức khoảng 1 triệu tấn gạo chất lượng cao để sử dụng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm chúng ta nhập siêu liên tục trong nhứng năm vừa qua trong buôn bán quốc tế. Nhu cầu nhập đậu tương và ngô làm thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng trong những năm tới. Như vậy vào thời điểm hiện tại, cân đối giữa nhập và xuất lương thực, về cơ bản chúng ta mới chỉ đảm bảo được nhu cầu lương thực của chính mình. Trong tương lai, với khoảng một triệu miệng ăn sinh ra mỗi năm, đất trồng bị mất dần do đô thị hoá, phát triển công nghiệp, do nước biển dâng và do ô nhiễm môi trường chúng ta phải có giải pháp quyết liệt ngay từ bây giờ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững. Trước hết là phải giảm nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Cây trồng biến đổi gene có thể là một trong những công cụ giúp chúng ta trong việc đảm bảo an ninh lương thực.      Tuy nhiên xét tình hình quốc tế nói chung trong việc chấp nhận sản phẩm biến đổi gene,  tương quan của các mối quan hệ nhập và xuất hiện nay của chúng ta,  trong các văn bản của Chính phủ và của Bộ NN & PTNT chúng ta mới chỉ cho phép khảo nghiệm 3 loại cây trồng biến đổi gene mà chúng ta nhập nhiểu đó là: Ngô,  Bông và Đậu tương. (riêng bông, hàng năm chúng ta phải dựa vào nhập khẩu là chủ yếu, sản xuất trong nước chỉ đáp ứng một tỷ lệ nhỏ nhu cầu về bông vải). Vì vậy chưa có cơ sở để lo lắng đến xuất khẩu gạo. Chúng ta sẽ chưa sử dụng lúa biến đổi gene khi trên thế giới loại thực phẩm này chưa chấp nhận rộng rãi! Đó là điều chắc chắn! Còn việc ảnh hưởng của thức ăn chăn nuôi biến đổi gene đến xuất nhập khẩu thịt cá…thì cũng không đáng ngại. Bởi vì trên thế giới hiện nay chưa có nước nào tỏ ra quan ngại về thịt cá được nuôi bằng sản phẩm biến đổi gene.  Cũng cần phải nói thêm rằng hiện nay, chúng ta nhập khẩu rất nhiều thức ăn chăn nuôi là đậu tương và ngô, tỷ lệ  đậu tương và ngô  biến đổi gene trong đó là rất cao, nếu tính đến hiện trạng khoảng 70% đậu tương, 30% ngô trên thế giới nói chung là sản phẩm biến đổi gene.  Có lẽ chúng ta không đặt vấn đề cạnh tranh với các cường quốc trên thế giới hay với các công ty siêu quốc gia hùng mạnh về cây trồng biến đổi gene. Chúng ta chỉ đặt vấn đề công nghệ nào giúp người nông dân tăng thu nhập, giúp đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho đất nước thì chúng ta mở đường cho người dân ứng dụng rộng rãi. Nguời nông dân sẽ là người lựa chọn cuối cùng về giống nào họ sẽ trồng trên đất của họ. Tất nhiên họ sẽ trồng giống nào mạng lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho họ. Ta còn nhớ  đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi ngô lai bắt đầu tràn vào Việt Nam, khi chúng ta hoàn toàn chưa có giống ngô lai của mình, cũng đã có lo ngại tương tự, rằng chúng ta sẽ phụ thuộc vào công ty nước ngoài, rằng việc mở cửa cho ngô lai chỉ có lợi cho công ty sản xuất hạt giống…. Sau hơn 20 năm mở cửa  phát triển ngô lai, nhìn lại ta thấy, hiện nay hầu hết các cánh đông ngô được thay thế bằng ngô lai, khó có thể bắt người nông dân quay trở lại với ngô thuần truyền thống. Việc mở cửa không chỉ thúc đẩy lĩnh vực sản xuất ngô, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân mà còn góp phần thúc đẩy nghiên cứu ngô lai của Việt Nam. Chúng ta không giao khoán cho 3 công ty nước ngoài được phép khảo nghiệm và kinh doanh hạt giống ngô biến đổi gene mà chúng ta mở cửa cho tất cả các công ty có các sản phẩm biên đổi gene thuộc 3 loại cây là ngô, bông, và đậu tương, kể cả công ty trong và ngoài nước, có thể cạnh tranh phát triển ở Việt Nam. Ai mang lại nhiều lợi ích cho nông dân hơn, người nông dân sẽ chọn họ, người đó sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh này. Vì vậy để thắng được trong cuộc cạnh tranh đó các công ty phải quan tâm đến người nông dân, như một đối tượng trung tâm nhất.  ——–  *Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúa của các nhà khoa học      Càng hiểu biết thêm về Vũ trụ và Kiếp nhân  sinh thì loài người càng ngỡ ngàng trước những bí ẩn của Tạo hóa. Những  câu hỏi nguyên thủy vẫn còn đó: Tại sao lại phải có Vũ trụ này (hay một  cái gì đó, cho thêm phiền toái) chứ không phải là hư không (thì thật là  giản đơn)?     Vũ trụ hình thành như thế nào và tại sao lại vận hành trơn tru, tinh vi và chính xác đến như thế? Tại sao là tập hợp này các định luật của Tự nhiên chứ không phải là tập hợp khác? Chúng ta từ đâu tới? Vì sao lại xuất hiện con người có ý thức để có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp kỳ diệu của Vũ trụ và dần dà hiểu được cấu trúc tinh vi của Vạn vật? v.v…  Tất cả những thứ đó, dù là ngẫu nhiên hay tất yếu, hình như cũng đều xuất phát từ một “Bản thiết kế vĩ đại” (Stephen Hawking, Bản thiết kế vĩ đại, NXB Trẻ, 2012) hay một “Nguyên lý sáng tạo” (Trịnh Xuân Thuận, Vũ trụ và Hoa sen, NXB Tri thức, 2013). Tác giả của những cái đó là ai? Đấy chính là Đấng Sáng tạo hay là “Chúa” của các nhà khoa học. Chỉ có điều vị “Chúa” này không có hình hài con người như các vị Chúa trời (liên quan đến số phận và hành động của con người) của các Tôn giáo mà là một nguyên lý phiếm thần biểu hiện các định luật chính xác và hài hòa đến bất ngờ của Tự nhiên.  Cần phải nói thêm rằng, tuy trong cuốn sách của mình Hawking khẳng định là Khoa học sẽ đạt được “điểm son” khi giải mã được toàn bộ Bản thiết kế vĩ đại mà không phải nhờ đến Chúa; nhưng ai là tác giả Bản thiết kế vĩ đại ấy thì ông lại lờ đi. Trái lại Trịnh Xuân Thuận đã không ngần ngại đặt cược vào một vị Chúa phiếm thần.      Từ thời cổ đại cho đến nay, nhiều ngành khoa học, kể cả triết học, đã góp phần làm sáng tỏ từng bước những câu hỏi trên đây, nhưng có lẽ Vật lý học đã và vẫn đang đóng vai trò then chốt. Hai thành tựu mới nhất cho đến thời điểm hiện nay của Vật lý học (mà các bạn sẽ được giới thiệu tóm tắt sau đây) cũng mang những tên đượm mầu “ thần thánh”:  1) Lý thuyết M (M-theory) được hy vọng là Lý thuyết của mọi thứ (Theory of Everything), trong đó M dường như có ngụ ý là “mẹ” (Mother), là “chủ” (Master), là “kỳ diệu” (Miracle) hay “bí ẩn” (Mystery)…  2) Hạt Higgs (mang tên nhà khoa học Anh Peter Higgs, Giải Nobel năm 2013), đã từng được gọi là “Hạt của Chúa” (God particle) một cách tình cờ khi Tổng biên tập một nhà xuất bản sách khoa học đề nghị tác giả cuốn sách viết về hạt này thay vì gọi nó là hạt Goddamn (hạt “Chết tiệt” – vì gần nửa thế kỷ sau khi được tiên đoán vẫn không được tìm ra) hãy gọi nó đơn giản là hạt God.  Các nhà vật lý khẳng định rằng: Toàn bộ Vũ trụ và Vật chất cấu tạo nên nó chung quy chỉ bao gồm tất cả 18 hạt cơ bản (như Electron – hạt điện âm, Photon – hạt ánh sáng, các loại hạt Quark cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử v.v…); Và bốn loại lực tương tác giữa chúng: lực Hấp dẫn, lực Điện từ, lực Hạt nhân yếu và lực Hạt nhân mạnh.   Lực Hấp dẫn tác động lên mọi vật trong Vũ trụ. Với các vật lớn lực này lấn át tất các các lực khác và các định luật vật lý cổ điển của Newton khi nào cũng đúng. Trong thuyết tương đối của Einstein lực Hấp dẫn được mô tả như là độ cong của không – thời gian bốn chiều (ba chiều không gian và một chiều thời gian) dưới tác dụng của khối lương vật chất.  Lực Điện từ mạnh hơn lực Hấp dẫn và chỉ tương tác giữa các lực tích điện, cùng dấu (âm hay dương) thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau. Trong các vật có kích thước lớn lực hút và đẩy triệt tiêu nhau thành trung hòa, nhưng ở thang bậc nguyên tử các lực này là vượt trội và gây ra tất cả các quá trình hóa học và sinh học.Thuyết Điện từ đã được toán học hóa một cách hoàn hảo bởi Maxwell.  Lực hạt nhân yếu gây ra phóng xạ của một số nguyên tử đặc biệt như Uran, Plutonium…và là tác nhân chính trong việc hình thành các nguyên tố trong các vì sao và trong Vũ trụ thuở sơ khai.  Lực hạt nhân mạnh liên kết các Proton (tích điện dương) với các Neutron (không tích điện) bên trong hạt nhân nguyên tử, và giữa các hạt Quark cấu tạo nên Proton và Neutron. Chính lực này là nguồn gốc của năng lượng Mặt trời và điện hạt nhân.   Mặc dù mang tính cách mạng trong vật lý học, các lý thuyết của Maxwell và của Einstein đều vẫn là các lý thuyết cổ điển như của Newton. Cổ điển với ý nghĩa là chúng không tương hợp với thế giới lượng tử trong môi trường nguyên tử và hạ nguyên tử. Trong thế giới vô cùng nhỏ bé ấy hành vi của vật chất hết sức khác lạ so với kinh nghiệm của con người trong thế giới nhìn thấy được xung quanh ta. Cùng với thời gian trí não của loài người được tôi luyện chỉ để đón nhận những sự vật xác định và chỉ có một lịch sử tuân theo những quy luật tất định ở thang bậc vĩ mô. Thế nhưng trong thế giới vi mô mà mắt thường không nhìn thấy được, thậm chí để hình dung ra được cũng không phải là công việc dễ dàng (nguyên tử và hạ nguyên tử) thì không có sự vật nào là hoàn toàn xác định, chúng ta chỉ có thể nói về xác suất tồn tại của chúng ở đâu đó vào thời điểm nào đó mà thôi; và vì vậy chúng không có chỉ một lịch sử mà có bất kỳ lịch sử khả dĩ nào, mỗi lịch sử ứng với một cường độ hay biên độ xác suất riêng; ở đây cũng không thể có khái niệm tất định. Đấy chính là cốt lõi của lý thuyết Lượng tử. Lý thuyết Lượng tử không loại trừ mà bao trùm lên các lý thuyết cổ điển: ở thang bậc vĩ mô cổ điển là trường hợp riêng của lượng tử.  Như vậy, nếu chúng ta muốn mô tả hành vi điện – từ của các nguyên tử và phân tử thì chúng ta phải có được phiên bản lượng tử của Lý thuyết Maxwell cổ điển. Phiên bản này đã được các nhà khoa học xây dựng vào những năm 1940 mang tên Lý thuyết Điện động lực học lượng tử và trở thành mẫu mực cho các lý thuyết trường lượng tử. Trong các lý thuyết cổ điển, các lực được truyền bởi các trường. Trong các lý thuyết lượng tử các trường lực được tạo thành bởi các hạt cơ bản gọi là Boson, nó bay đi bay lại truyền lực cho các hạt vật chất – các Fermion. Electron và các Quark là các Fermion; Photon – hạt ánh sáng là một thí dụ về hạt Boson, nó truyền lực điện từ cho các hạt Fermion.   Thành công vang dội của Lý thuyết Điện động lực học lượng tử đã kích thích các nhà khoa học tìm kiếm các lý thuyết trường lượng tử cho cả ba lực của Tự nhiên còn lại. Năm 1967 lý thuyết trường lượng tử chung cho cả Lực điện từ và Lực hạt nhân yếu đã được xây dựng. Một lý thuyết trường lượng tử riêng cho Lực hạt nhân mạnh là Lý thuyết Sắc động lực học lượng tử sau đó cũng đã ra đời.  Cũng như vậy nếu chúng ta muốn mô tả Vũ trụ lúc sơ khai, khi mà toàn bộ vật chất và năng lượng đều bị nén chặt trong một thể tích vô cùng nhỏ thì chúng ta nhất thiết cần phải có phiên bản lượng tử của Lý thuyết Tương đối rộng của Einstein cho trường hấp dẫn. Tiếc thay cho đến tận ngày nay phiên bản này chưa có dưới dạng tường minh như đối với ba lực còn lại. Nhưng khó khăn không chỉ dừng lại ở đó…  Giả sử lý thuyết trường lượng tử riêng cho Lực hấp dẫn rồi cũng sớm được tìm ra, thì bước tiếp theo phải là việc hợp nhất cả bốn trường lượng tử trong một lý thuyết chung cho mọi thứ. Không lý gì Tự nhiên là thống nhất và hài hòa đến thế, mà mỗi lực thành phần của nó lại được mô tả bằng một lý thuyết khác nhau. Ước vọng thống nhất này được nhen nhóm và bùng phát bắt đầu từ khi có Lý thuyết Dây (String Theory) vào khoảng những năm 70-80 thế kỷ 20. Theo lý thuyết Dây các hạt không phải là các điểm mà là các đoạn dây siêu mảnh dao động trong không – thời gian 11 chiều, bảy chiều dư so với không – thời gian bốn chiều (ba chiều không gian thực và một chiều thời gian trong Lý thuyết Tương đối của Einstein) bị cuộn lại rất chặt ở quy mô nhỏ đến mức chúng ta không nhìn thấy. Theo ngôn ngữ hiện đại, đó là các chiều “ẩn” hay “nội tại” trái ngược với ba chiều “ngoại tại” trải rộng trong không gian thực. Vào những năm cuối của Thế kỷ trước, các nhà vật lý lý thuyết đã nhận ra là có ít nhất 6 Lý thuyết Dây khác nhau (kể cả cho Lực hấp dẫn) và vô vàn cách cuộn khác nhau của các chiều dư. Họ tin rằng sáu Lý thuyết Dây này là những lý thuyết gần đúng khác nhau của một lý thuyết cơ bản hơn: Lý thuyết M như đã nói tới ở trên.  Nhưng đó vẫn còn là ước vọng xa vời, có khi còn là bất khả! May thay, không mấy nhà khoa học đỉnh cao lại có tâm trạng Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh! Họ càng dấn thân…  Thế còn số phận của 18 hạt cơ bản thì sao? Ở đây tình trạng có vẻ khả quan hơn nhiều: Đã có 16 hạt được tìm ra; và vào cuối năm 2012, sau nửa thế kỷ đằng đẵng theo đuổi các nhà vật lý thực nghiệm ở Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu, trên máy gia tốc LHC đã tìm được bằng chứng tồn tại của hạt cơ bản thứ 17 – Hạt boson Higgs, hạt gây ra khối lượng của các hạt cơ bản. Có thể gọi đây là Hạt của Chúa với ý nghĩa rằng: nếu không có nó thì cũng sẽ không thể có các thiên thể , cũng không có sự sống trên Hành tinh xanh tươi đẹp này của chúng ta.   Chỉ còn một hạt cơ bản thứ 18 – hạt Graviton của trường Hấp dẫn là chưa được tìm ra. Nó sẽ phải bị làm lộ mặt cùng với Lý thuyết M hay muộn hơn bao lâu ai mà biết được. Mà dù cho Lý thuyết M cuối cùng cũng được hoàn thiện thì vẫn còn đó những câu hỏi lớn thách thức trí tuệ của các nhà khoa học, Chẳng hạn: Có một Vũ trụ mà ta đang ở trong, hay còn nhiều Vũ trụ khác? Ngoài Trái đất còn ở đâu có sự sống nữa không? Vật chất tối (chiếm khoảng 5/6 vật chất toàn Vũ trụ) và Năng lượng tối (chiếm khoảng 3/4 năng lượng toàn Vũ trụ) là những thứ chúng ta chưa nhìn thấy, có cấu trúc và vận động thế nào? v.v…    Tự nhiên quả là kỳ bí! Cứ mỗi lần khoa học vén được bức màn bí mật thì lại phát hiện ra một màn bí mật khác sừng sững trước mặt. Đúng như Heisenberg đã có lần nói, đại ý: Khoa học như bình rượu ngọt, mới uống ngụm đầu đã thấy mê say, nhưng uống đến cuối bình thì lại thấy “Chúa” ngồi dưới đáy mỉm cười.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa đủ cơ sở kết tội ngô biến đổi gene      Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) hôm 28/11 vừa qua đã kết luận, nghiên cứu mới đây gây tranh cãi về ngô biến đổi gene “chưa  đáp ứng những tiêu chuẩn khoa học chấp nhận được” và vì vậy không cần  thiết phải đánh giá lại tính an toàn của ngô biến đổi gene.    Nghiên cứu gây tranh cãi trên đây được công bố hôm 19/9 trên tạp chí Food and Chemical Texicology bởi nhà sinh học phân tử Gilles-Eric Séralini và các cộng sự. Họ khẳng định rằng đã tìm thấy mối liên quan giữa ngô biến đổi gene NK603 và những khối u và tình trạng tử vong ở những con chuột. Nghiên cứu này bị chỉ trích bởi giới khoa học, nhưng lại nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng và báo chí Pháp.  Theo yêu cầu từ Ủy ban châu Âu, EFSA đã thành lập một nhóm phụ trách điều tra nghiên cứu này; kết quả thẩm định ban đầu được công bố hôm 4/10 khẳng định rằng nghiên cứu “không cho kết quả chắc chắn”. Hai cơ quan khác của Pháp cũng đưa ra kết luận tương tự trong tháng 10.  Đến nay, sau khi hoàn tất thẩm định một cách độc lập, đồng thời tham khảo các thẩm định độc lập khác từ Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, và Hà Lan, EFSA kết luận rằng nghiên cứu của Seralini “thiếu chất lượng khoa học trong thẩm định rủi ro” do “những thiếu hụt trong công tác thiết kế, báo cáo, và phân tích”.      Nguồn: http://news.sciencemag.org/scienceinsider/2012/11/eu-    ropean-agencys-final-verdict-o.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chữa hen bằng…sán      Bệnh sán máng ký sinh là một loại bệnh lây nhiễm nhiệt đới nguy hiểm. Sán máng ký sinh trong cơ thể người tiêu diệt các tế bào máu người, gây mệt mỏi, thiếu máu và tổn thương thận.    Hiện có tới 250 triệu người bị nhiễm bệnh này tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên, loài sán này lại có một tác dụng: chúng làm tăng khả năng kháng dị ứng của cơ thể. Thật vậy, một nghiên cứu đối với các học sinh Gabon bị nhiễm sán đã chứng tỏ rằng bệnh nhân bị nhiễm sán máng ít nhạy cảm với các dị ứng do bọ ve đốt so với người bình thường. Vì thế, các nhà nghiên cứu của trường Đại học Trinity Dublin đã đi theo hướng nghiên cứu này để phát triển các phân tử điều trị bệnh hen và các bệnh dị ứng khác nhờ sự trợ giúp của sán máng.  www.the-ba.net/festivalofscience    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?      Hawking &amp; Mlodinow vừa công bố cuốn sách “The grand Design” (Cuộc đại thiết kế) trong đó các tác giả nêu lên nhiều quan điểm gây nên một làn sóng phản ứng gay gắt từ phía các nhà khoa học, triết học và thần học. Tuy nhiên số người tán thưởng, ca tụng, khen ngợi đến cuồng nhiệt cũng không phải là ít. Cuốn sách nhanh chóng trở thành một cuốn best-seller. Sau đây là những thông tin chung quanh cuốn sách-hiện tượng này.&#160;&#160;      Lược sử thời gian  Hơn 20 năm trước Stephen Hawking đã viết cuốn best-seller  Lược sử thời gian [1]  (Hình 1) để giải thích vũ trụ từ đâu đến và sẽ đi đâu. Song cuốn sách này chưa trả lời những câu hỏi sau: Tại sao tồn tại vũ trụ-tại sao có điều gì đó thay vì không có điều gì cả (why is there something rather than nothing); Vì sao chúng ta tồn tại?; Tại sao các định luật lại như thế?; Vũ trụ có cần một đấng sáng tạo hay không?            Stephen Hawking,  nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc, tác giả lý thuyết bức xạ lỗ đen (còn gọi là bức xạ Hawking) và Leonard Mlodinow, nhà vật lý lý thuyết, Viện Công nghệ California tác giả nhiều sách đã xuất bản.          Bản thân Einstein cũng mơ ước xây dựng một lý thuyết thống nhất (TOE-Theory of Everything, Lý thuyết của tất cả), một đại thiết kế của vũ trụ. Song trong thời của Einstein điều này không thực hiện được vì nhiều tương tác chưa được biết đến.  Cuốn Lược sử thời gian đã phác họa một số điều cơ bản. Theo Hawking hiện nay sự xuất hiện lý thuyết M và nhiều dữ liệu quan sát từ OBE,WMAP đã dẫn chúng ta đến gần hơn bao giờ hết một TOE.                        Hình 1. Lược sử thời gian     Hình 2.  The grand Design (Cuộc Đại thiết kế)          Lý thuyết M dẫn đến sự tồn tại của đa vũ trụ, đa vũ trụ đã tự tạo một cách tự phát từ “chân không” (nothing) và mỗi vũ trụ có những định luật riêng. Chúng ta xuất hiện trong một vũ trụ từ những thăng giáng nguyên thuỷ của chân không.   Trong cuốn Lược sử thời gian, Stephen Hawking viết: nếu chúng ta tìm ra một lý thuyết hoàn chỉnh đó sẽ là một thành tựu lớn của trí tuệ nhân loại – và như thế chúng ta sẽ biết được ý đồ của Chúa.  The grand design   Năm 2010 Stephen Hawking cùng với Leonard Mlodinow (Viện Công nghệ California) công bố cuốn sách The Grand Design (Cuộc đại thiết kế)[2] (Hình 2), nhằm trả lời những câu hỏi còn lại sau Lược sử thời gian, cuốn sách cũng nhanh chóng trở thành best-seller như cuốn Lược sử thời gian 20 năm trước đây.  Trong cuốn The Grand Design, hai tác giả trên đã đưa ra những quan điểm gây nhiều tranh cãi:   * Triết học đã chết vì không đều bước được với khoa học đặc biệt với vật lý học.  * Vũ trụ hình thành không cần đến Chúa. Quan điểm này của Hawking & Mlodinow có phần khác so với quan điểm phát biểu trong Lược sử thời gian. Nếu muốn có thể gọi các định luật vật lý là “Chúa” song không tồn tại một Chúa bằng xương thịt mà chúng ta có thể gặp và đặt các câu hỏi. Lý thuyết M lên ngôi ứng viên số một của một lý thuyết tối hậu.  Những cơ sở lý thuyết của cuốn The Grand Design  1/ Theo Hawking & Mlodinow một lý thuyết thống nhất là vô định. Hai tác giả đã đưa ra nguyên lý hiện thực-phụ thuộc mô hình (model-dependent realism) [3].  Các nhà vật lý lâu nay tưởng rằng họ đang xây dựng một lý thuyết cho tất cả nhưng cuối cùng kết quả lại dẫn đến nhiều lý thuyết.  Hiện nay tồn tại một ứng viên nặng ký là LTD (Lý thuyết dây) song trong LTD có  đến 5 cách mô tả, mỗi cách mô tả chỉ hoạt động cho một số tình huống hạn chế. Một mạng liên thông toán học (network of mathematical connections) đã nối liền 5 lý thuyết trên thành một lý thuyết gọi là lý thuyết M.   Trong [3], Stephen và Leonard Mlodinow đưa ra lý luận chúng tỏ rằng một lý thuyết tối hậu không dẫn đến một tập duy nhất các phương trình. Mỗi lý thuyết đều dựa trên một mô hình thực tại (model of reality) của mình, và không thể nói thực tại nào là thực hơn thực tại kia.  Cách đây vài năm hội đồng thành phố Monza, Bắc Italy đã ra một lệnh kỳ quặc là cấm giam giữ cá vàng trong những bể hình cầu  (Hình 3). Lý do: thật là độc ác nếu vì qua những lọ với hình dáng như thế,  cách nhìn thế giới của cá vàng sẽ bị méo mó. Câu chuyện cá vàng sẽ dẫn chúng ta đến một câu hỏi triết học: bằng cách nào chúng ta biết được thực tại mà chúng ta quan sát là thực?   Những gì cá vàng thấy được khác với những gì chúng ta thấy, song liệu thực tại của cá vàng có kém hơn thực tại của chúng ta hay không? Chúng ta suốt đời luôn quan sát thế giới qua những lăng kính làm méo mó thực tại.  Trong vật lý câu hỏi này không phải là một câu hỏi hàn lâm. Qua nhiều thập kỷ chúng ta cố gắng tìm một lý thuyết cho tất cả song cuối cùng lại đi đến một tập các lý thuyết liên thông với nhau, mỗi lý thuyết mô tả một thực tại riêng như trường hợp cá vàng nhìn thế giới qua bể chứa. Đa số chúng ta tin rằng có một thực tại khách quan mà khoa học chúng ta tạo nên phản ảnh thực tế đó. Khoa học cổ điển dựa trên niềm tin rằng thế giới khách quan tồn tại với những tính chất xác định và độc lập đối với người quan sát. Trong triết học điều đó gọi là hiện thực (realism).          Hình 3. Cá vàng trong bể hình cầu sẽ nhìn thế giới một cách bị méo mó.          Song trong những năm 1960 người ta đã nêu lên vấn đề: nhận thức thực tại phụ thuộc vào thức hệ (mind) của chúng ta. Quan điểm này mang các tên: phản hiện thực (antirealism), công cụ chủ nghĩa (instrumentalism) hoặc duy tâm (idealism). Trong khuôn khổ các học thuyết đó thể giới như chúng ta biết đều được xây dựng bởi thức hệ của chúng ta sau khi nặn hình các dữ liệu bên ngoài nhờ cấu trúc diễn đoán của bộ não. Quả thật chúng ta không thể nào tách rời người quan sát là chúng ta với nhận thức của chúng ta về thế giới bên ngoài. Chúng ta thu nhận được thế giới bên ngoài nhờ các hạt như electron, photon. Các hạt này lại tuân theo cơ học lượng tử chứ không điều khiển bởi vật lý cổ điển. Trong cơ học lượng tử hạt không có tọa độ và vận tốc xác định đến lúc có một quan sát viên thực hành phép đo. Theo vật lý cổ điển thì quá khứ là chuỗi các sự kiện xác định, theo lý thuyết lượng tử thì quá khứ cũng như tương lai đều không xác định mà là tồn tại dưới dạng một phổ các khả năng (spectrum of possibilities). Thậm chí toàn bộ vũ trụ cũng không có một lịch sử duy nhất. Như vậy lý thuyết lượng tử áp đặt một thực tại hoàn toàn khác thực tại của lý thuyết cổ điển, mặc dầu lý thuyết cổ điển dường như phù hợp với trực giác của chúng ta và giúp chúng ta xây nhà cửa, cầu cống.  Hawking & Mlodinow đưa ra nguyên lý hiện thực-phụ thuộc mô hình (model-dependent realism). Vậy bức tranh thế giới là một mô hình (với bản chất là toán học). Theo quan điểm này thì vô nghĩa khi đưa ra câu hỏi mô hình này có thực hay không mà chỉ có ý nghĩa khi đặt câu hỏi mô hình này có phù hợp với các quan sát thực tại hay không. Nếu hai mô hình đều phù hợp với quan sát thực tại thì không thể nói mô hình nào là thực hơn mô hình kia! Ta có thể dùng mô hình này hay mô hình kia tùy theo tình huống.  Vì ánh sáng bị khúc xạ khi đi từ không khí qua nước cho nên một vật mà chúng ta thấy có chuyển động thẳng thì đối với con cá vàng trong bể vật đó có một quỹ đạo cong. Cá vàng có thể tìm ra các định luật chuyển động và các định luật này phải phức tạp hơn các định luật của chúng ta.   Một ví dụ cụ thể hơn là học thuyết Ptolemy (học thuyết địa tâm) và học thuyết Copernicus (học thuyết nhật tâm). Đối chiếu với trường hợp cá vàng chúng ta có thể nói rằng có thể dùng học thuyết này hoặc học thuyết kia vì chúng ta có thể giải thích mọi quan sát trên bầu trời khi giả định Trái đất đứng yên hay Mặt trời đứng yên. Tuy nhiên ưu điểm của học thuyết Copernicus là các phương trình chuyển động trong học thuyết này là đơn giản hơn trong hệ quy chiếu trong đó Mặt trời đứng yên.  Lý thuyết M  Trong cuộc truy tìm một lý thuyết thống nhất chưa có một lý thuyết nào gây nhiều  tranh cãi và đem lại nhiều hy vọng như LTD (Lý thuyết dây). LTD dược đưa ra vào những năm 1970 nhằm thống nhất 4 loại tương tác, tích hợp lượng tử và hấp dẫn thành một. Trong LTD thực thể cơ bản là một dây vi mô một chiều, sự va động của dây tạo nên các hạt cơ bản (Hình 4).  Các nhà vật lý đã phát hiện một điểm yếu của LTD là nó chứa đến 5 lý thuyết. Đối với ai mong muốn xây dựng một lý thuyết thống nhất duy nhất thì điều này gây nên một tình trạng bối rối thực sự. Vào giữa những năm 1990 họ tìm thấy rằng 5 lý thuyết khác nhau này và cả lý thuyết gọi là siêu hấp dẫn nối liền liên thông với nhau bởi những phép đối ngẫu (duality), và đấy là một loại từ điển toán học chuyển các lý thuyết qua lại nhau. Mỗi lý thuyết chỉ mô tả đúng hiện tượng trong một phạm vi các điều kiện-ví dụ ở một vùng năng lượng nào đó.           Hình 4 . Bên trái thực thể cơ bản là một điểm 0- chiều chuyển động trong không thời gian, bên phải thực thể cơ bản là một dây 1- chiều như một cái vòng chuyển động trong không thời gian.           Các nhà LTD bây giờ hiểu rằng  5 lý thuyết riêng lẻ đó chỉ là những xấp xỉ (approximation) của một lý thuyết cơ bản hơn gọi là lý thuyết M (chữ M có nhiều cách hiểu: Mother, Master, Magic, Miracle, Mystery, Membrane,…) (Hình 5)  và như vậy một lý thuyết duy nhất mô tả thế giới là không phù hợp mà muốn mô tả thế giới chúng ta phải áp dụng nhiều lý thuyết khác nhau trong những tình huống khác nhau. Như vậy lý thuyết M không phải là một lý thuyết theo nghĩa thông thường mà là một mạng liên thông toán học các lý thuyết. Điều này tương tự như việc sử dụng một bản đồ. Muốn biểu diễn toàn bộ Trái đất trên một mặt phẳng chúng ta cần một tập bản đồ, mỗi bản đồ sẽ bao trùm một vùng hữu hạn. Tương tự như vậy các lý thuyết trong gia đình của lý thuyết M nhìn ngoài là những lý thuyết khác nhau song đều là các phiên bản của một lý thuyết mẹ, ở chỗ giao thoa chúng mô tả cùng một hiện tượng song không một lý thuyết nào hoạt động chính xác trong mọi tình huống.          Hình 5 . Năm loại LTD chỉ là năm biểu diễn của một lý thuyết lớn là lý thuyết M          Mỗi khi chúng ta phát triển một mô hình nào đó thì chúng ta thấy mô hình đó có kết quả và gán cho mô hình đó là thực tại. Nhưng lý thuyết M giống như trong ví dụ cá vàng cho thấy rằng một tình huống có thể mô hình hóa theo nhiều cách khác nhau tùy theo các cách nhận thức khác nhau.  Mỗi lý thuyết có phiên bản thực tại của riêng minh, song theo quan điểm thực tại –phụ thuộc mô hình thì sự đa dạng thực tại đó là chấp nhận được và không thực tại nào là thực hơn thực tại kia! Đây không phải là sự mong đợi truyền thống của các nhà vật lý về một lý thuyết của thiên nhiên và cũng không phải ý tưởng thường nhật của chúng ta đối với thực tại. Song vũ trụ là thế.  Lý thuyết M có lời giải cho phép sự tồn tại của 10500 vũ trụ khác nhau, do các không gian nội tại (vốn là những đa tạp Calabi-Yau, Hình 6) có thể compắc hóa theo nhiều cách, và mỗi vũ trụ có những định luật riêng của mình . Theo lý thuyết M đa vũ trụ được tạo thành từ “chân không” (nothing). Hawking &Mlodinow cho rằng vì tồn tại một định luật như định luật hấp dẫn thì vũ trụ có thể tự tạo ra từ điều không có gì cả (nothing). Vậy không cần đến Chúa. Sự tạo tự phát là lý do vì sao có một điều gì đó thay vì  không có gì cả. Khi Hawking & Mlodinow nói đến “chân không” họ hàm ý đó là chân không trong lý thuyết trường.  Hawking & Mlodinow cho rằng lý thuyết M là ứng viên của lý thuyết thống nhất tối hậu mà Einstein hằng mơ ước.  Chúng ta nằm trong một vũ trụ của đa vũ trụ. Các định luật tự nhiên cần thiết cho sự sống đã xuất hiện một cách ngẫu nhiên (nguyên lý vị nhân-anthropic principle).  Các phản biện  A/ Những  ý kiến biện minh cho cuốn sách  Để tóm lược ý kiến của những người ủng hộ cuốn sách The grand Design còn gì hơn là trình bày ở đây suy nghĩ của chính Leonard Mlodinow (sùng đạo Do thái), đồng tác giả của cuốn sách. Ông  cho rằng các độc giả quá bị kích động bởi những bài viết trên các báo (như London Times). Thực tế Hawking và ông chỉ muốn trình bày một ý đồ thân thiện xuất phát từ khoa học để nói rằng vũ trụ có thể hình thành một cách tự phát mà không cầu cứu đến Chúa.  Sean Carroll, một đồng nghiệp thân thiết của Mlodinow đã viết trên Wall Street Journal: cuốn sách này không phải là một dự án nghiên cứu mà là một sự biểu lộ niềm tin mãnh liệt rằng khoa học là vũ khí tốt nhất để giải thích nguồn gốc của vũ trụ. Cho nên cuốn sách thể hiện một ý tưởng đáng tôn trọng hơn là đáng công kích (tuy nhiên Sean Caroll cũng  nói thêm rằng Hawking thích những điều dễ gây ấn tượng, những điều này làm cho cuốn sách trở thành best-seller của  Amazone chỉ sau vài ngày tung ra thị trường ngày 9/tháng 9/2010).  Sean Carroll cho rằng nhiều nhà vật lý và vũ trụ học đều là những người vô thần giáo, song không ít người tin điều ngược lại nghĩa là tin vào Chúa, con người vốn là sinh vật phức tạp.  B/ Những ý kiến phản bác lại cuốn sách  Cuốn sách The Grand Design của Hawking & Mlodinow đã gây nên nhiều ý kiến phản bác gay gắt từ phía các nhà khoa học, triết học và thần học. Sau đây là những thông tin tóm tắt về những ý kiến đó.  1/ Cơ sở lý thuyết của cuốn sách là lý thuyết M. Lý thuyết M theo Hawking & Mlodinow là một mạng liên thông toán học nối liền nhiều phiên bản của lý thuyết dây qua các phép đối ngẫu. Song lý thuyết M đang trong giai đoạn phát triển và đang chờ đợi một cuộc cách mạng thứ ba cho nên lý thuyết M không thể là ứng viên cho một lý thuyết tối hậu được.  Lee Smolin, nhà vật lý Viện Perimeter, Canada đã công bố cuốn sách “The trouble with Physics – Điều không ổn với Vật lý” nêu lên những điểm yếu của LTD, một lý thuyết chưa được kiểm nghiệm bởi bất cứ một thực tiễn khách quan nào[4]. Lee Smolin cho rằng 30 năm xây dựng LTD chỉ dẫn đến gần như một số không! Đến thời điểm này LTD không đưa ra được bất kỳ một tiên đoán nào có thể kiểm nghiệm được trong thực nghiệm hiện nay và thậm chí trong một tương lai đến. Trước năm 1994 (thời kỳ trước đó được gọi là cuộc cách mạng thứ nhất của LTD) người ta đã đưa siêu đối xứng (xem chú thích [5]) vào LTD (do đó LTD còn được gọi là Lý thuyết Siêu dây-LTSD) và tìm ra được 5 loại LTD, khác nhau chủ yếu vì các nhóm đối xứng toán học: loại I, loại II A, loại II B, loại hỗn hợp HO và loại hỗn hợp HE (xem chú thích [6]).  Để có sự liên kết về mặt toán học, số chiều không thời gian trong LTD phải lên đến 10. Các kiểu compắc hóa dẫn đến 10500 phương án, số phương án này còn lớn hơn cả số nguyên tử trong toàn vũ trụ! Điều này dẫn đến một phong cảnh [7] (danh từ của Leonard Susskin) có đồi núi với 10500 thung lũng ứng với chân không.  Vậy khó lòng tìm được một thí nghiệm mà kết quả lại không giải thích được bởi một trong các phương án đó, như thế thì không  phủ nhận được LTD. Và ngược lại cũng vì vậy mà LTD không nói lên được điều gì, như thế cũng khó lòng chấp nhận nó.  Năm 1995 (bắt đầu thời kỳ được gọi là cuộc cách mạng thứ hai của LTD) Edward Witten, Viện nghiên cứu các vấn đề hiện đại Princeton, chứng minh rằng 5 loại LTD thực ra chỉ là năm biểu diễn của một lý thuyết M trong 11 chiều.           Hình 6. Sáu chiều dư (extra dimension) trong LTD compắc hóa thành những đa tạp Calabi-Yau, mỗi cách compắc hóa dẫn đến một vũ trụ với hạt và trường khác nhau.          Lý thuyết M không phải là lý thuyết tối hậu. Dựa trên một lý thuyết như vậy để đi đến một đại thiết kế của vũ trụ quả là một điều không hợp lý nếu không nói là phi lý.   Nếu muốn mở một cuộc đối thoại giữa khoa học và tôn giáo thì Hawking & Mlodinow đã rơi vào siêu hình khi chọn lý thuyết M làm vũ khí.   2/ Như chúng ta biết trong vật lý có hai giả thuyết:  Giả thuyết hiện thực (realism): hạt có một tính chất khách quan trước khi ta thực hiện phép đo tính chất đó,  Giả thuyết định xứ  (locality): phép đo trên hạt thứ nhất không ảnh hưởng đến kết quả phép đo trên hạt thứ hai, mặc dầu chúng cách xa nhau.  Hiện tượng ảnh hưởng của phép đo thực hiện trên một hạt này đối với hạt cách xa là một  hiện tượng “phi định xứ” (non-locality).  Bất đẳng thức Bell nói rằng: Không có một lý thuyết định xứ với biến số ẩn  (local hidden variables theory) nào có thể cung cấp được các tiên đoán (predictions) của Cơ học lượng tử.  Nhà vật lý giải Nobel 2003 Anthony Leggett đã tìm ra một hệ các bất đẳng thức (tương tự như bất đẳng thức Bell) đối với các phép đo các mối liên quan của hai hạt photon nói trên cho những lý thuyết không định xứ song vẫn dựa trên hiện thực luận.   Thí nghiệm thực hiện năm 2007 của Anton Zeilinger (và nhiều người khác)[8] lại loại trừ một lớp lý thuyết không định xứ song theo hiện thực luận vì vi phạm hệ bất đẳng thức  Anthony Leggett. Vậy hy sinh định xứ luận không đủ cứu vãn hiện thực luận.   Nói cách khác các thí nghiệm đều dẫn đến kết quả phủ nhận hiện thực luận lẫn định xứ luận. Cơ học lý thuyết không phù hợp với định xứ -hiện thực.   Không định xứ là phát hiện sâu sắc của vật lý hiện đại. Đâu là mối liên quan giữa không định xứ với lý thuyết M? Các tác giả Hawking & Mlodinow đã lặng im về vấn đề này và đây là một khuyết điểm nghiêm trọng.  3/ Tôn giáo và khoa học đều có chung một mục đích: tìm hiểu vũ trụ. Khoa học tìm hiểu bằng duy lý, tôn giáo bằng tâm linh. Newton nói rằng: khoa học cho chúng ta hiểu cách hành xử của vũ trụ nhưng không trả lời được câu hỏi về sự sáng tạo nên vũ tru. Hấp dẫn giải thích được chuyển động của các hành tinh song không trả lời được câu hỏi ai đã làm cho các hành tinh chuyển động “Gravity explains the motions of the planets, but it cannot explain who set the planets in motion” .  4/ Các tác giả Hawking & Mlodinow đã đi ngược lại với Godel. Godel khẳng định không có lý thuyết nào của vũ trụ là hoàn chỉnh, trong khi đó Hawking & Mlodinow cho rằng lý thuyết M là ứng viên số một của một lý thuyết tối hậu của trí tuệ con người.    5/ Hawking & Mlodinow đã sử dụng một lý thuyết chưa hề có một kiểm chứng thực nghiệm là lý thuyết M, như vậy thực tế hai tác giả tuy chống triết học, tuyên bố triết học đã chết nhưng thực tế lại đang triết lý (philosophize) về một cuộc đại thiết kế vũ trụ. Như vậy triết học không chết mà đang là một phương tiện tư duy (mà chính Hawking & Mlodinow đang sử dụng) cần thiết để am hiểu vũ trụ.  Đọc suốt cuốn sách người ta có cảm tưởng như Hawking & Mlodinow lại muốn chứng minh ngược lại điều họ muốn chứng minh: tồn tại một nhà đại thiết kế vũ trụ.  7/ Hawking & Mlodinow muốn xây dựng một lý thuyết của tất cả (everything) song không định nghĩa tất cả là những điều gì?  8/ Khoa học và triết học là hai môn học bổ sung cho nhau vì khoa học không bao giờ giải quyết tận cùng những lỗ hổng bất khả tri của nhân loại (Gregory Chaitin) .  9/ Khái niệm “chân không” (nothing) mà Hawking và Mlodinow sử dụng theo các nhà thần học còn huyền bí hơn cả khái niệm Chúa trong những tư tưởng tín ngưỡng nhất. Tổng Giám mục Lee Rayfield nói: Khoa học không bao giờ chứng minh được sự tồn tại cũng như sự không tồn tại của Chúa, và để giải thích vũ trụ sự tồn tại của Chúa tạo nhiều ưu thế hơn.   10/ Về nguyên lý thực tại- phụ thuộc mô hình các tác giả đã bỏ qua một điểm thiết yếu. Mô hình được tạo ra bởi thức hệ (mind) của người quan sát, song thức hệ cũng là một thực tại như người quan sát. Theo Roger Penrose thức hệ cũng phải được tính đến như một tính chất của người quan sát và thức hệ thể hiện ở mức lượng tử với nguyên tử và quark. Hawking & Mlodinow đã bỏ qua điều này. Cho nên nguyên lý thực tại- phụ thuộc mô hình vẫn còn chứa nhiều điều chưa rõ.  Kết luận   Cuốn sách The Grand Design của Hawking & Mlodinow là một best-seller, điều đó nói rằng cuốn sách có chứa những hạt nhân duy lý cho nên được nhiều người tán thưởng. Cuốn sách được viết bởi một nhà vật lý lý thuyết hàng đầu đương đại và một đồng tác giả cũng là nhà vật lý lý thuyết, tác giả của nhiều sách đã xuất bản.  Tuy nhiên theo ý kiến nhiều nhà khoa học, triết học và thần học, cuốn sách chứa nhiều mâu thuẫn và điều cơ bản nhất là dựa trên cơ sở lý thuyết M [9] là một lý thuyết chưa được kiểm nghiệm bao giờ cho nên cuốn sách không đạt được mục đích giải thích cuộc đại thiết kế của vũ trụ trên cơ sở khoa học như ý đồ của các tác giả. Vì thế các tác giả đã phản đối triết học trong khi thực tế đang “triết lý” trong suốt cuốn sách và cho rằng Chúa không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ nhưng các lý lẽ cơ bản họ sử dụng còn siêu hình hơn cả khái niệm về Chúa.    Có nhiều cơ sở để khẳng định  rằng một lý thuyết thống nhất (TOE) không bao giờ tồn tại do đó  cuộc đối thoại giữa khoa học, triết học và thần học không bao giờ chấm dứt [10].   ——————-  Tài liệu tham khảo  [1] Stephen Hawking,  A brief history of time, Lược sử thời gian , bản dịch của Cao Chi, Phạm Văn Thiều tái bản lần thứ 10, NXB Trẻ, 2006.   [2]Stephen Hawking & Leonard Mlodinow, The (elusive) theory of Everything, Scientific American. tháng 10/2010  [3] Stephen Hawking, Leonard Mlodinow, The Grand Design, Bantam,2010, Kindle Edition  [4] Hélène Le Meur, Costas Bachas, Franck Daninos, Peter Galison, La Recherche, No 411, tháng 9/2007  [5] Siêu đối xứng= đối xứng nối liền các hạt có spin nguyên (boson) với những hạt có spin bán nguyên (fermion).  [6] HO, HE , chữ H (heterotic) có nghĩa là lai, hỗn hợp, các chữ O và E  là ký hiệu của những nhóm trong  toán học.  [7] Raphael Bousso, Joseph Polchinski, The string theory landscape, Scientific American, tháng 9/2004  [8]  Simon Groblacher, Tomasz Paterek, Rainer Kaltenbaek, Caslav Brukner, Marek Zukowski, Markus Aspelmeyer & Anton Zeilinger, Nature 446, 871-875 (19 April 2007)   [9] Có tác giả còn cho rằng Hawking hy vọng lý thuyết M không mâu thuẫn với lý thuyết  bức xạ của Hawking mà Hawking lại hy vọng vào bức xạ Hawking để được giải Nobel cho nên Hawking quá đề cao lý thuyết M.  [10] Cao Chi, Tồn tại chăng một lý thuyết của tất cả, Kỷ yếu Max Planck, NXB Tri thức, 2009.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa làm chủ được công nghệ nguồn      Việc tiếp thu làm chủ một số công nghệ cao (CNC) trong lĩnh công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến ở Việt Nam đã có một số kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên Việt Nam hiện chưa làm chủ được “công nghệ nguồn” mà mới chỉ dừng ở mức độ làm chủ được một số công đoạn hoặc một số yếu tố của CNC.        Ứng dụng đi trước nghiên cứu  Lĩnh vực công CNC phát triển với tốc độ “chóng mặt” ở Việt Nam là công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT). Hàng loạt công nghệ hiện đại đã được ứng dụng thành công như mạng viễn thông số hóa, thế hệ sau (NGN), mạng cáp quang, công nghệ GSM và CDMA. Một số công nghệ mới như 3G, 4G, WiMax, và mobile TV đang được tiếp tục thử nghiệm để đưa vào ứng dụng. Ngoài các tuyến cáp quang như SEA-ME-WE-3, Thailand-Vietnam-Hong Kong, còn có hệ thống cáp ngầm Á – Mỹ sẽ được hoàn thành vào cuối 2008. Công nghệ WiFi ngày càng trở nên phổ biến hơn, ví dụ chỉ riêng FPT Telecom đã có khoảng 5.000 điểm.  Năm 2007 có 38% doanh nghiệp xây dựng trang web, 10% tham gia sàn giao dịch, 15% kết nối cơ sở dữ liệu với đối tác, 86% sử dụng thư điện tử cho giao dịch và 78% nhận đặt hàng bằng phương tiện điện tử – Điều này cho thấy việc ứng dụng CNTT vào kinh doanh và thương mại điện tử đang tăng nhanh chóng.  Với 6 doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng, 17 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, thị trường CNTT-TT tăng trưởng với tốc độ “kỷ lục”: 20-25%/năm. Năm 2007, Việt Nam có hơn 5 triệu thuê bao và khoảng 18 triệu người sử dụng, thuê bao băng rộng là 753.000. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet vào khoảng 22%. Giữa năm 2007, tổng băng thông kết nối quốc tế của Việt Nam là 8,703 Mbps, tăng 150% sau 12 tháng. Hiện có khoảng 55.000 trang chủ với tên miền là “.vn”; 764.672 địa chỉ IP. CNTT-TT cũng thâm nhập mạnh vào các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy các ngân hàng thương mại trong nước đã phát hành gần 8,28 triệu thẻ tín dụng và thẻ debit trong năm 2007. Điều này có nghĩa là cứ 10 người thì có 1 người có thẻ. Tuy nhiên giao dịch thẻ mới chiếm tới 6% tổng số thanh toán phi tiền mặt trong nền kinh tế.                 Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) thể hiện nổi bật nhất ở việc sử dụng công nghệ, thiết bị nhập từ nước ngoài cùng với nguyên liệu trong nước để sản xuất ra một số loại vaccine và chế phẩm sinh học phục vụ chẩn đoán bệnh đạt tiêu chuẩn tiên tiến trong khu vực (vaccine phòng viêm gan B có thể xuất khẩu sang Nhật Bản). Trong trồng trọt, CNSH đã tạo ra khả năng làm chủ và phổ biến công nghệ nuôi cấy mô để nhân nhanh những giống cây trồng có giá trị kinh tế và năng suất cao, công nghệ vi sinh đã chọn tạo được nhiều sinh phẩm để sản xuất nấm ăn từ các sản phẩm phụ của nông nghiệp như rơm, rạ, bã mía, vỏ cây, quả. Trong chăn nuôi, sản xuất được kháng sinh thô cho gia súc và gia cầm. Trong y tế, công nghệ vi sinh đã được ứng dụng để sản xuất các loại kháng sinh phòng các bệnh hiểm nghèo như viêm gan A, B, uốn ván, bạch hầu, v.v… Việt Nam đã chủ động 9/10 loại vaccine cho tiêm chủng mở rộng. Trong thuỷ sản, CNSH đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD một năm.  Nhiều loại vật liệu tiên tiến đã được ứng dụng trong các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, chế tạo, điện tử ứng dụng, tàu thủy. Vật liệu polymer-composite đã được ứng dụng trong lĩnh vực đóng tàu thủy hoặc tàu phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, sản xuất vật liệu cách điện silicon rubber, các thiết bị chống ăn mòn hoá chất, các thiết bị có tính năng mới cho máy phát điện và sứ cách điện, v.v…  Một số ví dụ ở trên cho thấy tại Việt Nam, CNC đã có những phát huy tác dụng khá rõ trên thực tế, đóng góp cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động của nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau. Việc ứng dụng CNC còn giúp nâng cao năng suất và giá trị gia tăng lớn hơn và tạo ra những sản phẩm mới. Chẳng hạn, nhờ ứng dụng CNTT trong thiết kế và tổ chức sản xuất, các ngành công nghiệp chế biến/chế tác như dệt may, da giày, v.v… đã tạo ra những sản phẩm cao cấp hơn, thời trang hơn.  CNC còn góp phần tạo các ngành nghề mới và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH, HĐH. Trong lĩnh vực CNTT-TT, cùng với việc phát triển phần cứng, lắp ráp máy tính cá nhân, đang hướng đến phát triển công nghiệp phần mềm. Cho đến cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Việt Nam đã tập trung vào lắp ráp máy tính cá nhân (PC) và sản xuất thiết bị viễn thông khác. Vào cuối những năm 1990, Việt Nam đã hướng tới chiến lược phát triển phần mềm. Giá trị sản xuất công nghiệp CNTT năm 2006 đạt 1,74 tỷ USD. Công nghiệp phần cứng bao gồm các sản phẩm như máy tính cá nhân, thiết bị viễn thông, điện tử và cấu kiện. Một số doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trên cơ sở lắp ráp máy tính cá nhân từ linh kiện nhập khẩu SKD. Một số đã sản xuất được máy tính nhãn hiệu Việt Nam như CMC, SingPC, Mekong Green, VINACom, T&H, Robo, Elead, v.v… Năm 2006, công nghiệp phần cứng đạt doanh số 1,38 tỷ USD, trong đó 1,233 tỷ USD cho xuất khẩu và 147 triệu USD cho thị trường nội địa. Nhiều công ty đa quốc gia đã và đang đầu tư sản xuất công nghiệp tại Việt Nam như Intel, Canon, Fujitsu. Số lượng doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ tăng hằng năm với tỷ lệ 23%. Hiện có khoảng 9 khu phần mềm đang hoạt động. Doanh số phần mềm năm 2006 đạt 360 triệu USD, tăng 44% so với 2005 trong đó 255 triệu USD từ thị trường nội địa (70,1%) và 105 triệu USD từ xuất khẩu (29,9%). Doanh số năm 2007 đạt khoảng 500 triệu USD. Tổng số hiện có khoảng 6.000 công ty phần mềm, với 15.000 nhân viên và năng suất lao động đạt khoảng 10.000 USD/năm.  Cần “kích cầu” CNC  Nhu cầu ứng dụng thực sự CNC vừa nhỏ hẹp do quy mô nhỏ bé của một nền kinh tế chưa thoát khỏi tình trạng lạc hậu, mặt khác còn bị triệt tiêu do sự tồn tại của các mối lợi không do đổi mới công nghệ đem lại (lợi do quan hệ đặc biệt, do đất đai, v.v…). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn thiên về hoạt động thương mại và làm đại lý, nhu cầu ứng dụng CNC còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu phần lớn làm gia công, lắp ráp nên chủ yếu nhập khẩu dây chuyền thiết bị đồng bộ. Nhiều ngành nghề truyền thống do tiếp thị kém nên chưa tạo động lực cho đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm. Công tác quản lý nhà nước và quản lý xã hội trong quá trình cải cách hành chính chậm chạp do những lực cản thể chế cũng chưa tạo ra nhu cầu ứng dụng CNC, nhất là CNTT-TT. Hệ quả là bên cạnh một số điển hình tốt, nhiều địa phương, tổ chức đang cố gắng phát triển CNC theo kiểu phong trào, không đi vào thực chất. Một số cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng CNC như trong CNTT đã bước đầu được cải thiện, nhưng còn chưa phổ cập rộng rãi, chi phí cao.  Sự phát triển trong thời gian vừa qua của các ngành công nghiệp CNC chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực CNTT-TT. Phần lớn những doanh nghiệp được gọi là CNC của Việt Nam hiện chủ yếu ở trình độ lắp ráp. Doanh nghiệp không được khuyến khích và ít quan tâm nhập khẩu CNC để tạo dựng năng lực cạnh tranh dài hạn. Vai trò của đầu tư nước ngoài chủ yếu còn dừng ở mức thu hút vốn vào đầu tư. Hoạt động chuyển giao công nghệ để sản xuất sản phẩm CNC còn tuỳ thuộc vào kế hoạch chủ quan của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, vai trò của các công ty này trong việc đưa CNC vào Việt Nam chưa rõ rệt. Hiệu ứng học hỏi và lan toả công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài còn giới hạn tại một vài doanh nghiệp và địa phương.      Việt Trần    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chưa thể khẳng định nCoV lan truyền từ người bệnh không có triệu chứng      Một bài báo xuất bản ngày 30/1 trên Tạp chí Y học New England (NEJM) về bốn người đầu tiên ở Đức bị nhiễm virus corona mới xác nhận rằng một người không có triệu chứng nhiễm trùng bởi virus 2019-nCoV vẫn có thể lây nhiễm virus cho người khác. Nhưng bài báo này có một lỗi sai nghiêm trọng.    Các nhà nghiên cứu Trung Quốc trước đây từng cho rằng những người không có triệu chứng có thể truyền virus, nhưng họ không có bằng chứng rõ ràng. “Không có nghi ngờ gì nữa sau khi đọc bài báo [đăng trên NEJM] rằng việc truyền [virus] khi không có triệu chứng đang xảy ra,” Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ, nói với các nhà báo. “Nghiên cứu này đã giải đáp câu hỏi đó.”  Nhưng hóa ra nghiên cứu này có một lỗ hổng nghiêm trọng. Viện Robert Koch (RKI) của Đức, vừa gửi một lá thư cho NEJM để làm rõ sự việc, mặc dù RKI không liên quan đến bài báo nói trên.    Người Đức hồi hương từ Vũ Hán, Trung Quốc, đến một doanh trại quân đội vào ngày 1/2 để được kiểm tra các dấu hiệu nhiễm nCoV.  Bài báo trên NEJM mô tả những trường hợp bị nhiễm sau khi một nữ doanh nhân từ Thượng Hải đến thăm một công ty gần Munich vào ngày 20 và 21/1, nơi cô có cuộc gặp với bốn người và cả bốn người này sau đó bị ốm. Điều quan trọng mà bài báo chỉ ra là tại thời điểm diễn ra cuộc gặp, nữ doanh nhân từ Thượng Hải không bị ốm: “Trong thời gian ở đó [Đức], cô ấy không có dấu hiệu hay triệu chứng nhiễm trùng nào nhưng đã bị ốm trên chuyến bay trở về Trung Quốc,” các tác giả viết. “Thực tế là những người không có triệu chứng là nguồn lây nhiễm 2019-nCoV tiềm năng cho thấy cần đánh giá lại động lực truyền bệnh của đợt bùng phát hiện nay.”  Nhưng các tác giả bài báo đã không trực tiếp nói chuyện với nữ doanh nhân từ Thượng Hải trước khi họ công bố bài báo. Tác giả Michael Hoelscher thuộc Trung tâm Y tế Đại học Ludwig Maximilian, nói rằng bài báo dựa trên thông tin từ bốn bệnh nhân khác: “Họ nói với chúng tôi rằng bệnh nhân đến từ Trung Quốc dường như không có bất kỳ triệu chứng nào.”  RKI và Cơ quan An toàn Thực phẩm và Sức khỏe bang Bavaria đã nói chuyện với bệnh nhân Thượng Hải qua điện thoại, và hóa ra nữ doanh nhân đã có triệu chứng khi ở Đức. Theo một nguồn tin liên quan đến cuộc gọi, cô cảm thấy mệt mỏi, bị đau cơ và đã uống paracetamol, một loại thuốc hạ sốt. (Người phát ngôn của RKI chỉ xác nhận rằng nữ doanh nhân đó đã có triệu chứng.)  Người phát ngôn của RKI xác nhận rằng báo cáo về thông tin sai này đã được gửi tới NEJM. RKI cũng thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các cơ quan đối tác châu Âu về thông tin mới.  Marc Lipsitch, nhà dịch tễ học tại Trường Y tế Công cộng T.H. Chan Harvard, cho biết vấn đề nằm ở việc các tác giả đã gọi trường hợp đó là không có triệu chứng mà không nói chuyện với bệnh nhân. “Có vẻ như đây là một sự lựa chọn tồi,” Marc nói. Tuy nhiên, “thường thì trong trường hợp khẩn cấp, không thể nói chuyện với tất cả mọi người,” anh nói thêm. “Tôi giả định rằng họ cố gắng tìm ra sự thật nhanh nhất, thay vì cố ý bất cẩn.”  Tác giả Hoelscher đồng ý rằng bài báo trên NEJM đáng lẽ phải nói rõ ràng hơn về nguồn gốc của thông tin sức khỏe của nữ doanh nhân từ Thượng Hải. “Nếu tôi viết bài này hôm nay, tôi sẽ nói khác đi,” Hoelscher nói. Nhu cầu chia sẻ thông tin nhanh nhất có thể, cùng với việc NEJM giục xuất bản sớm, tạo ra rất nhiều áp lực, Hoelscher thừa nhận.  Trong bối cảnh dữ liệu xuất hiện nhanh và khủng hoảng toàn cầu đang gia tăng, nên đọc một cách thận trọng ngay cả các bài báo đã được bình duyệt, Lipsitch nói: “Tôi nghĩ rằng bình duyệt thường nhẹ nhàng hơn trong bối cảnh dịch bệnh so với lúc bình thường, và chất lượng dữ liệu đi vào các bài báo cũng không chắc chắn bằng.”  Tuy nhiên việc bài báo này viết sai không có nghĩa không xảy ra lây truyền từ những người không có triệu chứng. Fauci vẫn tin rằng có khả năng này. “Tối nay tôi đã gọi điện cho một trong những đồng nghiệp của tôi ở Trung Quốc, một nhà khoa học về bệnh truyền nhiễm và y tế rất được kính trọng,” Fauci nói. “Anh ấy tin rằng có nhiễm trùng không triệu chứng và một số người không có triệu chứng đang truyền virus.”  Nhưng ngay cả khi đây là sự thật thì lây truyền không có triệu chứng thường đóng vai trò nhỏ trong dịch bệnh nói chung, theo WHO.  Nhóm người nhiễm virus ở Đức cũng tiết lộ một khía cạnh thú vị khác về nCoV, Drosten nói. Cho đến nay, hầu hết sự chú ý đã đổ dồn vào những bệnh nhân nặng, nhưng cả bốn trường hợp ở Đức đều bị nhiễm trùng rất nhẹ. Đây có thể là tình trạng của nhiều bệnh nhân khác, Drosten nói, và tạo điều kiện cho virus lây lan. “Có thể bệnh nhân chỉ trải qua các triệu chứng cảm lạnh nhẹ, trong khi vẫn truyền virus,” theo Drosten. “Những triệu chứng nhẹ đó không làm cho người ta phải nghỉ ở nhà.”  Tính đến ngày 4/2 thế giới có 20.627 người mắc virus corona mới. Đã có 426 người tử vong, trong đó 425 người ở Trung Quốc, tăng hơn 100 trường hợp so với ngày 3/2. Việt Nam mới phát hiện thêm một trường hợp nhiễm 2019-nCoV, bệnh nhân là người trở về Việt Nam từ Vũ Hán; Đến 4/2 Việt Nam có tổng cộng 9 trường hợp xác nhận nhiễm virus.  Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chùm tin KH&CN      Chùm tin KH&amp;CN dưới đây bao gồm các nội dung: Dùng tế bào gốc loại trừ khả năng nhiễm HIV; Tảo, rêu và địa y có thể là một nguồn khí nhà kính quan trọng; Áp dụng công nghệ quang-di truyền nghiên cứu não bộ của người; Sắp có máy tính đầu bếp do các cựu kỹ sư của Apple chế tạo.    Dùng tế bào gốc loại trừ khả năng nhiễm HIV     Trang tin của trường đại học UCLA ngày 30/6 vừa qua đã đưa tin về việc các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Y học tái sinh và Tế bào gốc mang tên hai vợ chồng nhà khoa học Eli và Edyth Broad đang tiến một bước gần hơn trong việc sản xuất ra một công cụ mà trong tương lai có thể hỗ trợ đắc lực cho hệ thống miễn dịch của cơ thể chống lại HIV và giành chiến thắng. Kỹ thuật mới này giúp khai thác các khả năng tái tạo của tế bào gốc để tạo ra một phản ứng miễn dịch với virus. Phát hiện này đã được công bố trên tạp chí Molecular Therapy (Liệu pháp phân tử) vào ngày 8/6/2015.      Nguồn:   http://newsroom.ucla.edu/releases/stem-cell-gene-therapy-developed-at-ucla-holds-promise-for-eliminating-hiv-infection     ***      Tảo, rêu và địa y có thể là một nguồn khí nhà kính quan trọng       Tảo, rêu và địa y hấp thụ một lượng lớn CO2 và cả N2 từ trong khí quyển   và thải ra N2O và CH4    Trang SciTechDaily ngày 15/7 vừa cho biết, các nhà nghiên cứu từ Viện Hóa học Max Planck (Đức) đã xác định được rằng địa y, rêu và tảo xanh có thể sản xuất một số lượng lớn nitrous oxide (N2O), còn được gọi là khí cười (laughing gas). Điều này đã được khám phá bởi các nhà khoa học thuộc ĐH Gießen, ĐH Heidelberg và Viện Hóa học Max Planck sau các cuộc thử nghiệm rộng rãi trong phòng thí nghiệm. Hiệu ứng nhà kính của khí cười mạnh hơn gấp 300 lần so với carbon dioxide (CO2), một loại khí nhà kính phổ biến khác. Trong bối cảnh Trái đất ngày càng nóng lên, khám phá mới này thực sự đáng quan tâm, khi ở nhiệt độ càng cao thì mức thải khí nitrous oxide vào không khí càng gia tăng.      Nguồn:  http://scitechdaily.com/scientists-discover-a-new-source-of-greenhouse-gases/     ***  Áp dụng công nghệ quang-di truyền nghiên cứu não bộ của người    Trong hầu hết các thí nghiệm về quang-di truyền, ánh sáng được đưa đến các tế bào từ lasers   thông qua các cáp quang bằng sợi. Dự án mới tập trung vào việc làm cho tế bào tự làm ra ánh   sáng, để chúng có thể kiểm soát các hoạt động của chúng hoặc hoạt động của tế bào kề cận.      Các nhà thần kinh học tại các ĐH Brown và ĐH Central Michigan đang đẩy mạnh sử dụng công nghệ optogenetics (quang-di truyền) mạnh mẽ hơn trong việc nghiên cứu não, trang SciTechDaily ngày 16/7/2015 cho biết.     Được áp dụng lần đầu tiên vào năm 2005, công nghệ quang-di truyền đã tạo cho các nhà khoa học khả năng sử dụng xung lực của ánh sáng tia laser để kiểm soát hầu như bất kỳ loại tế bào thần kinh nào trong khoảng thời gian chính xác mà các phương tiện kiểm soát tế bào thần kinh trước đó chưa thể thực hiện được.      Trước đó, người ta sử dụng xung điện, mặc dù cũng khá mạnh nhưng nó tác động lên tất cả các tế bào trong một khu vực chứ không chỉ những loại tế bào được lựa chọn. Dược phẩm cũng không thể kiểm soát chỉ riêng khu vực được xác định và càng không có thời gian chính xác. Trong khi đó, công nghệ quang-di truyền có thể làm được tất cả những điều này bằng cách tác động lên đặc điểm di truyền của các tế bào để chúng có thể trở nên phấn khích hoặc bị ức chế bởi các màu sắc khác nhau của ánh sáng.     Nhưng ngành quang-di truyền còn có thể làm nhiều hơn thế, GS Christopher Moore thuộc ĐH Brown, chủ nhiệm đề án nghiên cứu được Quỹ W. M. Keck tài trợ 1 triệu USD nhận định. Mục tiêu lâu dài của ông là tạo ra các tế bào đủ “thông minh” để phát sáng khi cần để có thể kiểm soát chính chúng và những tế bào xung quanh bằng phương pháp quang-di truyền. Nếu trong tương lai, quang di truyền được cho phép sử dụng trên con người, thì cách tự kiểm soát này – không cần đưa ánh sáng từ bên ngoài vào cơ thể – sẽ có thể giúp tạo giải quyết nhiều vấn đề về sức khỏe, từ ngăn chặn các cơn động kinh, chữa chứng Parkinson đến điều trị căn bệnh tiểu đường mãn tính.      Nguồn:  http://scitechdaily.com/scientists-engineer-brain-cells-to-produce-light/     ***  Sắp có máy tính đầu bếp do các cựu kỹ sư của Apple chế tạo    June được thiết kế để đặt trên bàn bếp  Tin từ CNN ngày 15/7 cho biết, một nhóm cựu kỹ sư của Apple vừa chế tạo thành công bếp lò được gắn thiết bị vi tính và có khả năng tư duy như một đầu bếp. Bếp lò này được đặt tên là June, dự kiến chính thức ra thị trường vào năm tới với giá thành gần 1.500 USD, sử dụng cảm biến để nhận biết các loại thực phẩm bạn đang nấu và đưa ra những hướng dẫn để bạn có thể nấu món ăn đó một cách phù hợp nhất. Bạn không cần làm nóng lò nướng từ trước, và điều đặc biệt nhất là một ứng dụng smartphone sẽ gửi cho bạn thông báo khi thức ăn đã sẵn sàng. Tuy nhiên, cô đầu bếp vi tính có tên là June này không nhằm thay thế bếp lò hiện nay – cô nàng được thiết kế để đặt trên bàn bếp – và cũng không nhằm nấu những bữa ăn lớn cho nhiều người.     Dự án June do hai cựu kỹ sư của Apple là Matt Van Horn và Nikhil Bhogal khởi xướng cách đây một năm rưỡi, giờ có 23 nhân viên, trong đó người thiết kế lò cũng chính là người chịu trách nhiệm thiết kế PowerBook của Apple – Robert Brunner. Các kỹ sư của dự án làm việc trong một khu bếp rộng, có đầy đủ từ bánh quy sô-cô-la đến các món nướng để liên tục kiểm tra trí thông minh của June.      Nguồn:  http://money.cnn.com/2015/07/15/technology/june-smart-oven/index.html?iid=ob_article_hotListpool&iid=obinsite      VTPA dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chứng minh năng lượng tối      Giả thuyết năng lượng tối rất thuyết phục nhưng đến nay vẫn thiếu một minh chứng trực tiếp. Nhóm nghiên cứu của Istvan Szapudi, ĐH Hawaii, đã chứng minh được năng lượng tối đang hoạt động trong khi nó kéo giãn các khoảng không trống rỗng và siêu nhóm thiên hà.      Szapudi và đồng nghiệp chứng minh năng lượng tối thông qua sự thay đổi của bức xạ nền vũ trụ, tàn dư của Vụ nổ lớn. Họ lý luận rằng bức xạ ở khắp mọi nơi, xuyên qua các siêu nhóm và khoảng không như nhau. Khi xuyên qua một nhóm thiên hà, các bức xạ vi sóng nhận thêm một ít năng lượng. Trên một bản đồ của bức xạ phông vi sóng vũ trụ, các nhà khoa học đã vẽ các siêu nhóm thiên hà và không gian trống rỗng được biết đến. Qua đó họ nhận thấy rằng bức xạ thật sự có thêm được một phần năng lượng rất nhỏ khi xuyên qua một thiên hà. Khi xuyên qua một không gian trống rỗng có thể nhận thấy được hiệu ứng ngược lại.   Phan Ba  (Theo Spiegel Online)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta có bó tay trước động đất?      Chinh phục thiên nhiên là hàng loạt những cuộc chiến mà con người không bao giờ muốn đầu hàng, mặc dù nhiều lúc vẫn phải tạm thời đầu hàng. Dự đoán động đất cũng là một trong những cuộc chiến như thế.    Sau một thế kỷ nghiên cứu, hiện tượng động đất vẫn chưa chịu khuất phục sự hiểu biết của con người. Nếu xét về năng lực giác quan thì các loài động vật như cá, chuột, rắn, thỏ, mèo…còn “biết trước” được động đất tốt hơn chúng ta rất nhiều. Các nhà khoa học đang làm mọi thứ có thể để tìm lời giải cho những bí ẩn về hiện tượng này. Họ phân tích những mẫu đá trong phòng thí nghiệm. Họ chui cả vào những khu rừng rậm nguyên sinh để tìm hiểu về những mẫu cây đã chết vì sóng thần từ nhiều năm trước. Họ lập bản đồ về mức độ ổn định của các vỉa đá để xem ở đâu mặt đất đã từng rung chuyển. Họ đào các con mương ngang qua những khe nứt để tìm kiếm những dấu hiệu khả nghi. Họ chăng dây điện khắp những vùng có khe nứt với hàng loạt máy đo giống như thể Trái đất là một con bệnh cần sự quan tâm chăm sóc đặc biệt.    Nhiệm vụ bất khả thi  Trở lại thập kỷ 1990, các nhà khoa học cũng đã từng có những dự đoán rất “công phu” về động đất, nhưng đã không đạt được nhiều thành công. Việc phân tích các thông tin về những hành tung trong quá khứ của khe nứt địa lý, việc khảo sát áp lực chất lỏng dưới lòng đất và cả việc thăm dò sự thay đổi của độ dẫn điện trên mặt đất đều tỏ ra không mấy hiệu quả. Nhà địa chấn nổi tiếng Yan Kagan ở Đại học California, Los Angeles từng nói rằng: “Chúng ta chẳng thể trông đợi gì vào những phương pháp này nữa, việc dự đoán động đất sẽ chẳng khá hơn chút nào nếu không phát triển những công cụ toán học và lý thuyết hoàn toàn mới.”        Trở lại thập kỷ 1990, các nhà khoa học cũng đã từng có những dự đoán rất “công phu” về động đất, nhưng đã không đạt được nhiều thành công. Việc phân tích các thông tin về những hành tung trong quá khứ của khe nứt địa lý, việc khảo sát áp lực chất lỏng dưới lòng đất và cả việc thăm dò sự thay đổi của độ dẫn điện trên mặt đất đều tỏ ra không mấy hiệu quả. Nhà địa chấn nổi tiếng Yan Kagan ở Đại học California, Los Angeles từng nói rằng: “Chúng ta chẳng thể trông đợi gì vào những phương pháp này nữa, việc dự đoán động đất sẽ chẳng khá hơn chút nào nếu không phát triển những công cụ toán học và lý thuyết hoàn toàn mới.”                       Tại độ sâu 3700 mét dưới một mỏ vàng ở Nam Phi, nhà địa chất Malcolm Johnston (thuộc Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ – USGS) đang cùng các cộng sự đang lắp đặt các thiết bị để tìm hiểu đặc tính vật lý của động đất. Có một khe nứt sinh ra từ sự đứt gãy của vỏ Trái đất chạy ngang qua  cái mỏ này. Bằng việc quan sát khe nứt, các nhà khoa học hy vọng họ có thể hiểu được những hành vi dịch chuyển của các vỉa đá và biết được động đất sinh ra như thế nào. Một khe nứt là điều kiện thiết yếu để tạo ra sự lắng đọng vàng khi các dòng chảy đi qua nó trong nhiều nghìn năm. “Nếu bạn muốn tìm vàng, hãy đi tìm một khe nứt – càng lâu đời càng tốt,” Johnston nói. [Ảnh: National Geographic]          Thậm chí phát biểu của Kagan vẫn còn được coi là khá lạc quan bởi vì ông đã không tính đến một câu hỏi là: liệu chúng ta có khả năng dự đoán được động đất hay không? Trước hết phải thấy rằng, dự đoán (prediction) khác với dự báo (forecast). Dự đoán (hay biết trước) được hiểu là sự xác định rõ thời gian, vị trí và cường độ của một trận động đất. Còn dự báo nghĩa là đưa ra nhận định rằng, qua một số năm nào đó, nhiều khả năng một trận động đất có cường độ nào đó sẽ xảy ra ở một nơi nhất định.  Một nhóm các nhà địa chấn ở Đại học Athens (Hy Lạp) đã từng công bố rằng họ có thể có thể đưa ra những dự đoán động đất bằng việc sử dụng một mạng lưới phức tạp các máy dò tín hiệu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia đã tỏ ra không tin tưởng phương pháp này. Một cuộc tranh luận khoa học đã nổ ra vào năm 1996 trên chuyên san Geophysical Research Letters. Thái độ chung của giới khoa học là rất bất đồng với nghiên cứu này.            Tuy động đất hay tấn công bất thình lình nhưng các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực tìm kiếm những dấu hiệu báo trước nguy hiểm của chúng. Sachiko Tanaka, một nhà địa chấn ở Viện Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học Trái đất và Phòng chống thảm họa của Nhật Bản đang nghiên cứu về mối liên hệ của hơn 2000 trận động đất trên toàn thế giới với hiện tượng thủy triều. Tanaka và các đồng nghiệp của cô đã phát hiện rằng, có ba phần tư số vụ động đất đã xảy ra khi có thuỷ triều lớn, cao hơn 2 mét so với mực nước biển. [Ảnh: Tanaka bên bờ biển ở Shizuoka. National Geographic]          Mấy tháng sau đó, trong một hội thảo ở London, các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau rằng, họ tạm thời “bó tay” trước vấn đề này: có vẻ như động đất vốn không thể biết trước được. Nhà địa chấn nổi tiếng Robert Geller báo cáo tổng kết hội thảo: “Quan điểm bao trùm của hội thảo này là, với trình độ hiện nay, việc dự đoán động đất là không thể có. Bản chất hỗn độn và phi tuyến cao của hiện tượng này là quá khó đối với chúng ta. Những báo cáo đầy lạc quan về việc dự đoán động đất của giới truyền thông là khác xa so với quan điểm của các chuyên gia trong hội thảo, vì vậy các chuyên gia cần phải sửa lại những sai lầm của truyền thông.”  Diễn biến của những trận động đất dọc theo một khe nứt là một hiện tượng hỗn độn (chaos) mà từng sự cố của nó là không thể biết trước. Nhưng kết cục toàn thể của chúng thì lại có thể dễ dàng hình dung được. Ở đây, kết cục toàn thể của động đất là chuyển động kiến động kiến tạo của các địa tầng và kèm theo đó là một năng lượng khổng lồ được giải phóng. Từ thông tin này, chúng ta có thể tự tin để chỉ ra được những vùng có nhiều nguy cơ động đất, tức là chúng ta đã thực hiện được một sự “dự báo dài hạn”. Kiểu dự báo dài hạn này là rất có ích đối với việc quy hoạch xây dựng. Nhưng dự báo vẫn chỉ là dự báo. Chuyển từ dự báo sang dự đoán (ví dụ như: “một trận động đất bảy độ sẽ xảy ra tại đây sau ba ngày nữa”) là điều không thể.  Niềm tin của người Nhật  Ở Nhật Bản, các nhà khoa học của chính phủ đã thống nhất một quan điểm rằng: động đất không phải là ngẫu nhiên. Chúng tuân theo một mô hình. Chúng có những dấu hiệu báo trước mà chúng ta có thể phát hiện được. Chính phủ biết nơi nào dễ bị động đất tấn công nhất. Nhật Bản là một đất nước mà các đoàn tàu luôn chạy đúng giờ, và động đất ở đây cũng được cho là giống như tàu chạy. “Chúng tôi tin rằng, dự đoán động đất là có thể,” Koshun Yamaoka, một nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu Động đất (ERI) Đại học Tokyo nói.             Một trận động đất năm 1976 gần thành phố Guatemala đã làm sập cây cầu ở Agua Caliente, cắt đứt con đường thông thương chính nối với thành phố Atlantic. Chấn động 7,5 độ đã giết hơn 23.000 người và làm hàng nghìn người khác mất nhà cửa.  [Ảnh: National Geographic]          Thậm chí, Nhật Bản đã đặt sẵn tên cho một trận động đất lớn mà họ dự báo là sẽ xảy ra: động đất Tokai. Chính phủ đã nhận diện và khoanh vùng rõ ràng khu vực bị ảnh hưởng. Đó là một vùng dọc theo bờ biển Thái Bình Dương và trải dài gần 200 cây số ở Tây Nam Tokyo. Sau hàng loạt những chấn động nhỏ ở khu vực Tokai vào thập kỷ 1970, các nhà khoa học đã tiên đoán rằng một trận động đất lớn sắp sửa xảy ra ở đây. Năm 1978, chính phủ đã khởi động một chương trình để chuẩn bị đối phó với thảm họa này.    Các nhà khoa học đã ước đoán rằng, một cơn động đất có thể giết 7900 đến 9200 người nếu không có báo động trước ít giờ. Thiệt hại kinh tế ước tính lên đến 310 tỷ USD. Tại trung tâm sẵn sàng ứng phó động đất ở Shizuoka, người ta đã xác định rõ ràng 6449 vị trí lở đất trên một bản đồ. Một bản đồ khác chỉ ra nơi mà 58.402 ngôi nhà có thể bị lửa phát sinh từ động đất đốt cháy. Tất cả được tính toán tới những con số cụ thể một cách đáng ngạc nhiên. Điều duy nhất còn lại chỉ là ngồi chờ thảm họa xảy ra.  Câu chuyện Tokai là một dự báo chứ không phải một dự đoán. Cho nên, một sự dự đoán chính xác thời gian và địa điểm sẽ có giá trị hơn nhiều đối với người Nhật. Naoyuki Kato, một nhà nghiên cứu khác ở ERI đã làm thí nghiệm và kết luận rằng, trước khi lớp đất đá bị gãy vỡ, nó sẽ trượt một chút. Vì vậy hiện tượng trượt có thể là dấu hiệu động đất chuẩn bị xảy ra, và họ có thể “dự đoán” chính xác hơn và gần hơn thời điểm của thảm họa.   Thế là chính phủ Nhật xây dựng một kế hoạch hành động dựa trên dấu hiệu trượt này. Các đồng hồ đo được đặt khắp khu vực Tokai. Chỉ cần một hoặc hai đồng hồ đo được sự bất thường, các nhà khoa học sẽ xúm lại để phân tích và trẻ con sẽ được nghỉ học. Nếu có ba cái đồng hồ báo hiệu bất thường, nước Nhật sẽ ở tình trạng báo động cao. Cảnh sát, quân nhân, cứu hỏa sẽ đổ xô ra đường biên của khu vực nguy hiểm. Thủ tướng sẽ đọc thông báo trước toàn dân rằng động đất sắp sửa xảy ra.    Robert Geller, nhà địa vật lý người Mỹ làm việc ở Tokyo đã sống ở Nhật Bản hàng chục năm và cũng đã từng thử “liều” dự đoán động đất. Ông gọi chương trình dự đoán của Nhật là “khoa học dựa trên niềm tin.” Thêm vào đó, ông còn nói rằng: “Hiện tượng trượt chưa bao giờ được sử dụng để xác nhận sự tồn tại của những trận động đất thực tế.”  Sự hoài nghi không chỉ của người Mỹ. Hideki Shimamura, một nhà khoa học động đất ở Đại học Musashino Gakuin cũng đã nói thẳng. “Có thể có sự trượt, nhưng tôi vẫn khá là nghi ngờ, và cũng có một số nhà nghiên cứu đang muốn xem xét lại vấn đề Tokai.”  Còn những khó khăn gì nữa?  Trong một vài năm sau hội thảo ở London, các nhà khoa học đã hầu như không còn thiết lao đầu vào việc dự đoán động đất nữa.  Dự báo động đất không chỉ khó về mặt chuyên môn khoa học mà còn khó về mặt xã hội. Trong quá khứ, người ta đã từng cư xử không đẹp với những nhà khoa học – những người đã cố gắng dự đoán động đất. Sau trận động đất Santa Barbara xảy ra năm 1925, nhà địa chấn nổi tiếng Bailey Willis đã bày tỏ một dự đoán đầy lo ngại rằng, một trận động đất nghiêm trọng nữa sẽ xảy ra ở miền nam California trong 10 năm, hoặc thậm chí là 5 năm tới. Nhưng khi ấy tạp chí Time đã không hề giúp ông phổ biến thông tin này. Dự báo của Willis động chạm đến công việc làm ăn của các hãng bảo hiểm và kinh doanh bất động sản nên họ đã đe dọa rằng: “Nếu các nhà khoa học không ngừng ngay việc luyên thuyên về nguy cơ động đất thì chúng tôi sẽ có cách để dẹp hết cái trò chơi địa chấn học của họ.” Willis vốn là người tiên phong trong môn kiến tạo học địa chất, nhưng chỉ vì dự báo động đất mà danh tiếng của ông đã bị hủy hoại nghiêm trọng. Willis đã phải rút khỏi việc nghiên cứu địa chấn và ngừng lại chiến dịch vận động xây nhà chống động đất của ông. Đến năm 1933 thì đúng là có một trận động đất xảy ra ở Long Beach (thuộc miền nam California). Những trường hợp “oan uổng” như của Willis đã gây trở ngại cho sự phát triển của khoa học động đất. Những trường hợp đó vẫn còn tạo sự “ám ảnh” cho đến tận ngày nay. Bây giờ, thậm chí cả những dự đoán nghiêm túc nhất cũng vẫn có thể khiến mọi người phản ứng dữ dội, thành ra hầu hết các nhà nghiên cứu đều không chia sẻ kết quả của họ trên mạng.   Trước đây, để việc dự báo thời tiết được chấp nhận rộng rãi, người ta đã phải mất nhiều thập kỷ để nghiên cứu về khí hậu, động lực học chất lỏng cũng như các định luật vật lý chi phối đại dương và bầu khí quyển. Người ta cũng đã phải thu thập một lượng tư liệu khổng lồ và phóng các vệ tinh để theo dõi bầu khí quyển. Nếu muốn việc dự báo động đất theo kịp được dự báo thời tiết như hiện nay thì môn địa chấn học cần phải được phát triển ngang bằng với các môn khoa học thời tiết.  Thực ra hiện nay cũng có rất nhiều nhóm ở Mỹ, Nga, Nhật Bản và các nơi khác đang hồ hởi phát triển những phương pháp dự đoán mới. Bây giờ việc nghiên cứu đang gắn với những mục tiêu cơ bản hơn, thiết thực hơn và khả thi hơn. Các nhà khoa học đang nhắm tới việc thiết lập những dự báo dài hạn và trung hạn dựa trên một nền tảng thực nghiệm chặt chẽ. Các nhà lý thuyết cũng đang triển khai những phân tích thống kê tân tiến và khám phá các hình thái tinh vi của hoạt động địa chấn. Mới đây, Ross Stein ở trung tâm Khảo sát Địa chất Mỹ đã xây dựng được một mô hình lý thuyết có thể chỉ ra địa điểm mà một trận động đất trong tương lai có thể xảy ra. Hiểu biết này có thể trở nên rất hữu ích cho những kế hoạch dài hạn, giống như ở chương trình Tokai của Nhật Bản. Nói tóm lại, dù bất khả thi hay không thì dự đoán động đất vẫn là một việc mà tất cả chúng ta đều mong muốn.   TT.  Tài liệu tham khảo  1. Joel Achenbach – Earthquake Technology, The Next Big One. National Geographic.  2. Andrew Alden – Earthquake articles [geology.about.com]  3. Ross Stein – Earthquake Conversation. Scientific American  4. Peter Cervelli – The threat of silence earthquake. Scientific American    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta có cô độc trong vũ trụ?      Chúng ta có cô độc trong vũ trụ? Câu hỏi này tồn tại qua hàng ngàn năm đến nay vẫn chưa được giải đáp.    Loài người chỉ xuất hiện trên Trái đất bắt đầu cách đây khoảng triệu năm, và tuổi của Trái đất và hệ Mặt trời khoảng 4.5 tỷ năm nên so với tuổi của vũ trụ (13,7 tỷ năm), Trái đất như một cậu thanh niên, do đó khả năng tồn tại của các nền văn minh phát triển hơn loài người trong vũ trụ bao la là điều mà khó có thể bác bỏ.       Hình 2: Phân bố của các hành tinh ngoài hệ Mặt trời trên giải đồ nhiệt độ và cường độ bức xạ của sao. Vùng màu xanh biểu diễn vùng có đủ điều kiện cho sự sống phức tạp phát triển và duy trì. Nguồn ảnh: Wikipedia.       Vậy các nhà khoa học nỗ lực như thế nào, bằng cách gì để tìm kiếm sự sống trong vũ trụ bao la này? Thông thường, ngoài hai phương thức quen thuộc là nghiên cứu về các hành tinh ngoài hệ Mặt trời và tìm kiếm sự hiện diện của các phân tử hữu cơ – yếu tố cơ bản của sự sống, thời gian gần đây, với việc áp dụng những công nghệ tiên tiến, phương thức thứ ba là tìm kiếm các nền văn minh phát triển.     Nghiên cứu các hành tinh ngoài hệ Mặt trời     Trái đất mà chúng ta đang sống chỉ là một trong 8 hành tinh trong hệ Mặt trời, trong khi đó thiên hà của chúng ta lại có khoảng vài trăm tỷ ngôi sao, có nghĩa là có khoảng vài trăm tỷ hành tinh. Trong toàn vũ trụ mà ta có thể quan sát được có khoảng một đến hai trăm tỷ thiên hà.  Vậy tại sao là các hành tinh? Chúng chính là cái nôi của sự sống. Dù ở dạng thế nào, chúng ta phải thống nhất với nhau rằng sự sống mà chúng ta tìm kiếm trước hết phải gần giống với sự sống trên Trái đất, nghĩa là nó tồn tại trên một hành tinh có điều kiện nhiệt độ và khí quyển giống Trái đất.  Cho đến nay, chúng ta đã phát hiện hơn 4.000 hành tinh. Chỉ hơn 9 năm trên quỹ đạo (2009-2018), kính thiên văn không gian Kepler đã phát hiện ra hơn 2.600 hành tinh ngoài hệ Mặt trời, trong đó có tới hơn 100 hành tinh có kích thước và khối lượng gần giống Trái đất. Trong vài năm nữa, các kính thiên văn không gian hiện đại hơn như James Webb Space Telescope (JWST) hay Wide Field Infrared Survey Telescope (WFIRST) sẽ khám phá ra ngày càng nhiều các hành tinh ngoài hệ Mặt trời. Công việc tiếp theo của các nhà nghiên cứu là phân tích các thành phần hóa học của khí quyển để tìm kiếm các yếu tố khởi nguồn của sự sống.  Năm 2016, lần đầu tiên các nhà thiên văn học phát hiện ra hành tinh gần giống với Trái đất ở ngay trong hệ sao Proxima Centauri, hệ sao gần chúng ta nhất ở khoảng cách gần 4,2 năm ánh sáng hoặc 40 nghìn tỷ km. Hành tinh được đặt tên Proxima b quay quanh một ngôi sao lùn đỏ (red dwarf Proxima Centauri B). Điều đặc biệt là hành tinh Proxima b này có kích thước và vị trí gần giống với Trái đất và nằm trong vùng có đủ điều kiện để duy trì sự sống. Các nhà thiên văn dự đoán, hành tinh Proxima B có thể chứa nước và đại dương, một yếu tố cần thiết cho sự sống.  Ngày 22/2/2017, các nhà thiên văn công bố phát hiện một hệ hành tinh quay quanh sao TRAPPIST-1 chỉ cách chúng ta khoảng 40 năm ánh sáng. Điểm đáng lưu ý là hệ Mặt trời TRAPPIST-1 có tới 7 hành tinh rắn và có điều kiện gần giống với hệ Mặt trời của chúng ta. Ngày 31/8/2017, các nhà thiên văn sử dụng kính thiên văn không gian Hubble đã công bố sự tồn tại của nước trên một trong các hành tinh này.     Tìm dấu vết khởi nguồn của sự sống     Sự sống được bắt nguồn từ các phân tử đơn giản, thành axít amin, rồi phát triển thành protein, các tế bào, và đến DNA. Nước và các phân tử hữu cơ chính là mầm mống của sự sống, và sự có mặt của các phân tử này trong vũ trụ là tín hiệu đầu tiên để hình thành nên sự sống đơn giản nhất trong vũ trụ.  Các phân tử trong vũ trụ hấp thụ ánh sáng ở các bước sóng xác định, chủ yếu ở vùng sóng hồng ngoại và vô tuyến. Phân tử nước hấp thụ rất mạnh ở vùng sóng hồng ngoại do dao động của phân tử. Ngoài ra, các phân tử cũng phát xạ ở vùng bước sóng dài từ mm tới cm do chuyển động quay của các phân tử xung quanh trục của chúng. Dựa vào các vạch phổ hấp thụ và phát xạ quan sát được, các nhà thiên văn đối chiếu với số liệu thực nghiệm trên Trái đất để định danh phân tử quan sát được.  Các nhà thiên văn học sử dụng các kính thiên văn hoạt động trong vùng sóng vô tuyến đã phát hiện được hơn 200 phân tử ở trong vũ trụ. Đặc biệt, có hơn 70 phân tử hữu cơ phức tạp chẳng hạn như methanol (CH3OH) và rượu- ethanol (C2H5OH).  Con đường hình thành nước và các phân tử hữu cơ được bắt đầu từ các đám mây lạnh trong môi trường liên sao. Khi nhiệt độ đủ thấp cỡ -2600C (10 độ Kelvin), các phân tử H và Oxy va chạm với hạt bụi và ở lại đó, thi thoảng chúng kết hợp với nhau thành phân tử nước. Qua thời gian, một lớp đá được hình thành trên bề mặt hạt bụi. Khi các ngôi sao mới được sinh ra, chúng phát ra bức xạ mạnh làm cho bề mặt bụi đá ấm dần lên. Các phân tử đơn giản như CO sẽ trở nên linh động hơn và phản ứng với phân tử khác sinh ra methanol, ethanol và các phân tử phức tạp hơn. Khi lớp bụi đá được hun nóng lên đến 100 độ K, các phân tử nước và hữu cơ sẽ bay hơi, trở thành cách phân tử tự do. Tuy nhiên, một cơ chế mới được chúng tôi đề xuất dựa trên tác dụng của lực ly tâm tỏ ra hiệu nghiệm hơn cả bời vì các cơ chế này chỉ cần dùng một lượng bức xạ thấp hơn cỡ hàng nghìn lần so với cơ chế truyền thống.     Lắng nghe tín hiệu từ các nền văn minh khác     Việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất hướng vào phát hiện các tín hiệu thông minh được bắt đầu từ những năm 1970 với nỗ lực của Viện nghiên cứu SETI (Search for Extraterrestrial Intelligence). Người đi đầu trong việc cổ vũ việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất là nhà thiên văn học Carl Sagan, người được công chúng biết đến qua hoạt động phổ biến kiến thức thiên văn học.  Năm 2015, Yuri Milner, một tỷ phú người Nga tại Silicon Valley, cùng với các cộng sự đã khởi động một loạt dự án để nghiên cứu sự sống văn minh. Đầu tiên là dự án Breakthrough Listen. Mục tiêu của dự án này là dùng các kính thiên văn vô tuyến có đường kính lớn, hướng lên bầu trời để phát hiện các tín hiệu lạ.       Hình 3: Bên trái ảnh biểu diễn chớp tín hiệu đến từ nền văn minh ngoài Trái đất mà các nhà thiên văn đang tìm kiếm trong dự án SETI. Bên phải biểu hiện việc quan sát phát hiện các tín hiệu sinh hoạt như ánh sáng đô thị của các hành tinh cũng cho ta biết hoạt động của sự sống. Nguồn ảnh: National geographic.    Cho đến bây giờ, việc tìm kiếm văn minh ngoài Trái đất đều tập trung vào việc phát hiện tín hiệu vô tuyến trên bầu trời. Với sức mạnh tính toán ngày càng tăng và các kính thiên văn nhạy hơn, các nhà nghiên cứu đang mở rộng tìm kiếm phát xạ quang và hồng ngoại, nhắm mục tiêu vào các công nghệ kỹ thuật của các nền văn minh tiên tiến. Chúng có thể bao gồm các xung laser, khí gây ô nhiễm hoặc các siêu vật liệu được xây dựng xung quanh một ngôi sao gần đó để khai thác năng lượng của nó (xem hình 3).     Năm 2016, Yurin Milner cùng với nhà vật lý nổi tiếng Stephan Hawking đã khởi động một hướng tìm kiếm mới và tham vọng hơn nhiều, Breakthrough Starshot (dự án bắn sao), nhằm chủ động thăm dò các hành tinh ngoài hệ Mặt trời thông qua các siêu phi thuyền có kích thước vài cm và di chuyển với tốc độ cực lớn đến 1/5 vận tốc ánh sáng (khoảng 60,000 km/giây- nhanh hơn máy bay nhanh nhất hiện nay khoảng 100 nghìn lần). Người ta đang nghiên cứu sử dụng hệ laser có công suất khoảng 100 GW (tương đương cố suất từ 100 lò phản ứng hạt nhân hiện tại) để gia tốc phi thuyền lên vận tốc trên. Được trang bị các thiệt bí điện tử tinh vi như camera, các siêu phi thuyền này sẽ chụp ảnh ở cự ly gần các hành tinh và bầu khí quyển của chúng. Sau đó dữ liệu sẽ được truyền về Trái đất để xử lý và giải mã.  Thành công của dự án Breakthrough Starshot sẽ tạo nên một cuộc cách mạng mới trong công cuộc chinh phục không gian của loài người, vì lần đầu tiên loài người có thể phóng phi thuyền ra hệ Mặt trời để chinh phục một ngôi sao khác. Tuy nhiên, dự án gặp phải các thách thức vô cùng to lớn. Đầu tiên là làm thế nào để có thể tăng tốc các phi thuyền lên vận tốc 1/5 lần vận tốc ánh sáng? Rồi việc thu nhỏ các thiết bị điện tử như camera vào kích thước chỉ vài cm? Cuối cùng và quan trọng nhất làm sao để bảo vệ các phi thuyển này khi chúng bay trong môi trường liên sao và các vật thể như hạt bụi phá hủy.     Các vị khách đến từ ngoài hệ Mặt trời     Trong khi loài người còn đang tìm cách phóng các phi thuyền để khám phá một vì sao bên cạnh, thìvào ngày 19/10/2017, thông qua kính thiên văn Pan-STARRS đặt tại Hawai, nhà thiên văn học người Canada, Robert Weryk đã phát hiện một vật thể kỳ lạ, đang từ môi trường liên sao tiến về hệ Mặt trời theo quỹ đạo là một đường hyperbol với tốc độ lên tới 56 km/s. Đây chính là vật thể đầu tiên đến từ ngoài hệ Mặt trời và được đặt tên là ‘Oumuamua theo tiếng Hawaii. Dựa vào số liệu trắc quang, các nhà thiên văn học ước đoán vật thể này có dạng rất dài như một điếu thuốc lá xì gà, với chiều dài từ 100-1000 m và chiểu ngang chỉ từ 35-167 m. Nhìn hình dạng kỳ dị này, nhiều người liên tưởng ‘Oumuamua như một phi thuyền của người ngoài hành tinh. Điều may mắn là chúng ta không phát hiện được tín hiệu điện từ nào từ ‘Oumuama, do đó khả năng cao đây chỉ là một thiên thạch đến từ hệ Mặt trời khác mà thôi.  Ngày 16/8/2019, một nhà thiên văn nghiệp dư vùng Crimea đã phát hiện ra vật thể thứ hai, có thể là sao chổi. Vật thể này được đặt tên là Borisov/2019C. Với sự phát triển nhanh của kỹ thuật và công nghệ quan sát, các nhà thiên văn dự đoán rằng khả năng chúng ta phát hiện ra các vật thể đến từ môi trường liên sao sẽ ngày càng tăng. Liệu một ngày không xa chúng ta có thể thực sự phát hiện ra các phi thuyền do nền văn minh ngoài Trái đất?  Đi tìm lời giải cho câu hỏi “Có tồn tại sự sóng ngoài vũ trụ hay không?” đòi hỏi sự tập trung nghiên cứu tìm kiếm sự sống theo nhiều cách khác nhau, từ mầm mống của sự sống đơn giản như nước và phân tử hữu cơ, tới cái nôi cho sự sống nảy nở và sinh sôi như các hành tinh và khí quyển của chúng, và cuối cùng là các dấu hiệu của các nền văn minh có thể tiến bộ hơn loài người chúng ta. Cả ba hướng nghiên cứu này đang rất sôi động trong cộng đồng các nhà thiên văn học. Sẽ thật tuyệt vời nếu một ngày chúng ta tìm được những người bạn của mình trong vũ trụ và sẽ không còn cô đơn nữa.□  ——  Tham khảo:  1. Bourrier, Vincent; de Wit, Julien; Jäger, Mathias (31 August 2017).“Hubble delivers first hints of possible water content of TRAPPIST-1 planets”.SpaceTelescope.org. Retrieved4 September2017.  2 https://www.nationalgeographic.com/magazine/2019/03/extraterrestrial-life-probably-exists-how-do-we-search-for-aliens/  3 The Interaction of Relativistic Spacecrafts with the Interstellar Medium, Hoang,Thiem;Lazarian, A; Burkhart,Blakesley; Loeb,Abraham, The Astrophysical Journal, Volume 837, 201  4 Chemistry on Rotating Grain Surface: Ro-Thermal Desorption of Molecules from Ice Mantles, Hoang Thiem, Tung Nguyen, The Astrophysical Journal, in press    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta có nhiều tiềm năng trong  thiết kế chế tạo thiết bị cơ khí điện      Việc công ty cổ phần Chế tạo Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) thiết kế, chế tạo thành công máy biến áp 500kV đầu tiên của Đông Nam Á đánh dấu một bước phát triển mới của ngành chế tạo cơ khí điện.  Tia Sáng đã có buổi trao đổi với kỹ sư Nguyễn Thị Nguyệt – người thiết kế chính công trình máy biến áp 500kV về tính ứng dụng của công trình và việc phát huy tiềm năng nghiên cứu khác trong lĩnh vực cơ khí chế tạo điện .      Xin bà cho biết ý nghĩa và sự cần thiết của máy biến áp 500 kV đối với Việt Nam?  Cùng với xây dựng các nguồn điện, việc xây dựng hệ thống truyền tải và phân phối điện là hết sức quan trọng bởi điện năng từ nguồn đến nơi tiêu thụ thường biến đổi qua nhiều cấp điện áp, vì thế máy biến áp là thiết bị chính trong hệ thống điện lưới Quốc gia.  Từ khi có hệ thống điện lưới 500kV, nước ta vẫn phải mua các máy biến áp của nước ngoài và thuê chuyên gia của họ lắp ráp, không chỉ tốn kém, mà đôi khi chất lượng không bảo đảm do không phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam. Do vậy, việc chủ động chế tạo máy biến áp 500kV là một đòi hỏi cấp bách của ngành cơ khí chế tạo điện.  Đối với EEMC và bản thân tôi, việc thiết kế chế tạo thành công máy biến áp 500kV, giúp chúng tôi thêm tự tin rằng với sự trợ giúp về tài chính của Nhà nước, công ty có thể làm ra được những sản phẩm cơ khí điện công nghệ cao với chất lượng tốt, đem lại những giá trị gia tăng thiết thực cho ngành điện và nền kinh tế, góp phần nâng cao vị thế ngành cơ khí chế tạo.   Hẳn bà và các cộng sự đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn trong quá trình chế tạo máy biến áp 500kV?  Để thiết kế, chế tạo máy biến áp 500kV, chúng tôi phải đồng thời giải quyết hàng loạt vấn đề như: điều kiện nhà xưởng, giải pháp công nghệ, phương thức vận chuyển, tính kinh tế v.vv..   Việc đầu tiên là phải nghiên cứu, lựa chọn tiêu chuẩn thiết kế. Các tiêu chuẩn kỹ thuật phải dựa trên cơ sở những thông số của máy biến áp mà các nước đã cung cấp cho ngành điện hiện nay. Một cỗ máy biến áp 500kV thông thường rất phức tạp, bao gồm nhiều chi tiết. Mỗi chi tiết đòi hỏi một bản vẽ riêng. Riêng phần lõi máy, tôi đã phải thiết kế trên 750 bản vẽ.   Trong quá trình thiết kế, chúng tôi phải bỏ ra hàng tháng trời để kiểm tra nghiêm ngặt mức độ tương ứng của các thiết bị trong phòng thí nghiệm trước khi đưa vào lắp ráp. Từ việc chế tạo bối dây, chế tạo vỏ đến công đoạn sấy máy đều được sử dụng những giải pháp công nghệ tiên tiến.  Không chỉ đặt mục tiêu sản phẩm thiết kế đạt tiêu chuẩn đề ra, chúng tôi còn đòi hỏi máy biến áp 500kV phải phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, nhiều sét, nhiều núi cao và biển của Việt Nam. Vì vậy, EEMC đã bỏ ra gần một trăm tỷ đồng để cải tạo nhà xưởng với hệ thống lọc và sấy không khí, đầu tư trang thiết bị như đồ gá, giá đỡ, trụ chống, các dụng cụ thi công và công nghệ phù hợp để đáp ứng đủ chỉ tiêu kỹ thuật như về độ ẩm, môi trường không khí.                   Trong thành tựu công nghệ ở tầm khu vực này, phần chúng ta tự nghiên cứu chiếm tỷ trọng như thế nào? Những hỗ trợ và hợp tác quốc tế (nếu có) đóng vai trò gì?   Công trình này không phải là một sáng chế. Nó là sản phẩm do cán bộ, nhân viên kỹ thuật của EEMC với các kỹ sư dày dạn kinh nghiệm thiết kế, chế tạo. Trước đó, chúng tôi đã cử cán bộ quản lý, kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao tới các trạm biến áp trong và ngoài nước để học tập, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và mua phần mềm thiết kế chế tạo máy biến áp rồi tự mày mò, nghiên cứu và chế tạo sản phẩm máy biến áp 500kV “made in Vietnam” đầu tiên này. Sự hợp tác quốc tế ở đây chỉ dừng lại ở việc sau khi hoàn thành công trình, chúng tôi đã mời các chuyên gia trong lĩnh vực máy biến áp của Nga sang kiểm định chất lượng trước khi đưa vào chạy thử nghiệm bởi Việt Nam chưa có chuyên gia kiểm định trong lĩnh vực này.  Theo bà, máy biến áp 500kV của Việt Nam có những ưu/nhược điểm gì về chất lượng kỹ thuật so với những sản phẩm tương đương được thiết kế và sản xuất ở nước ngoài?  Máy biến áp 500kV của Việt Nam hoàn toàn được sản xuất theo tiêu chuẩn IEC – 60076 (tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá chất lượng kỹ thuật của máy biến áp hiện nay). Cũng phải nói ngay rằng, chúng ta đi sau thế giới về việc chế tạo máy biến áp 500kV hơn 30 năm, trình độ công nghệ chưa cao nên chưa thể nghĩ tới việc chế tạo được loại máy ưu việt hơn các nước khác. Nhưng ở máy biến áp 500kV này, chúng tôi đã biết kết hợp những ưu điểm của nhiều loại máy khác nhau trên thế giới để chế tạo ra máy biến áp phù hợp nhất với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam chẳng hạn như hệ thống làm mát chia làm 2 dàn bố trí bên hông máy, có lắp bơm dầu và đồng hồ đo lưu lượng tản nhiệt, tạo ra kết cấu mới; vỏ nhiệt được thiết kế giúp tăng khả năng tiếp xúc dầu và không khí để giảm nhiệt nhanh. Đây là thiết kế khá sáng tạo mà nhiều loại máy tương đương ở một số nước chưa đáp ứng được. Tuy nhiên, máy biến áp này có khối lượng lớn lên đến vài trăm tấn, nặng hơn rất nhiều so với máy biến áp của nước ngoài, do chúng ta không chủ động được vật liệu nhập ngoại trong việc thiết kế và chế tạo vỏ máy.  Liệu thành công này sẽ tiếp tục mở ra triển vọng gì cho ngành cơ khí điện lực của Việt Nam?  Sau thành công của một công trình, chúng tôi hướng đến mục tiêu đầu tiên là tính ứng dụng của nó. Sau khi thử nghiệm thành công, máy sẽ được kéo đi vận hành tại Ninh Bình. Thời gian tới, tôi hi vọng chúng ta có thể sản xuất được nhiều máy biến áp 500kV thay thế việc mua loại thiết bị này ở nước ngoài với giá thành thường cao hơn khoảng 10%.  Qua việc thiết kế, chế tạo thành công máy biến áp 500kV, có thể khẳng định, chúng ta có nhiều tiềm năng để tiếp tục nghiên cứu, cải tạo các loại thiết bị khác trong hệ thống truyền tải và phân phối điện như máy biến dòng, biến thế và các thiết bị điều khiển khác.  Vậy theo bà cần có những giải pháp gì để khai thác hiệu quả những tiềm năng đó?  Nhu cầu về điện ở Việt Nam ngày một tăng lên, đồng thời những thiết bị cơ khí điện mua ở nước ngoài thường có giá cao và đôi khi không đảm bảo chất lượng. Trong bối cảnh ấy, vượt qua những khó khăn và hạn chế, ngành cơ khí điện lực đã khẳng định được năng lực của mình qua việc chế tạo và sản xuất với số lượng lớn các sản phẩm như cột thép, máy biến áp, thiết bị cơ khí thủy công v.vv.. Chẳng hạn, một năm các cơ sở chế tạo máy biến áp có thể sản xuất được 40 – 50 máy biến áp 110kV và hàng chục máy biến áp 220kV. Tuy nhiên, đáng tiếc là con số đó vẫn chỉ đang ở dạng “tiềm năng” vì chúng ta hiện có khả năng đảm bảo tới gần 70% khối lượng sản xuất thiết bị cơ khí điện nhưng thực tế mới sản xuất chưa được 40%, phần còn lại đều phải đi nhập khẩu.    Vì sao vậy?  Có rất nhiều công trình điện, đặc biệt là những công trình lấy từ nguồn vốn ODA, chủ đầu tư thường dành những gói thầu sản xuất thiết bị cho nước ngoài trong khi Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được. Điều đó dẫn đến tình trạng những cơ sở sản xuất các mặt hàng đó không có việc làm, công nhân nhiều khi phải nghỉ việc không lương. Ví dụ, Việt Nam đã sản xuất được máy biến áp 220kV từ khá lâu nhưng hiện nay chúng ta vẫn tiếp tục mua loại máy này ở nước ngoài. Với các công trình do vốn trong nước, Nhà nước cần có chính sách bảo trợ mạnh mẽ hơn qua việc chỉ định thầu cho các cơ sở sản xuất thiết bị điện trong nước có mức giá phải chăng hơn giá mua của nước ngoài (với điều kiện Nhà nước giám sát chặt chẽ về chất lượng). Chỉ khi các nhà máy này xác nhận là không đáp ứng được các yêu cầu đó, thì Nhà nước mới cho phép mua của nước ngoài. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các hợp đồng chế tạo máy biến áp được thực hiện ở Việt Nam.  Là người đã đảm nhiệm việc thiết kế, công nghệ chế tạo nhiều thiết bị điện mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vậy bà đã được hưởng những quyền lợi gì từ những thành quả đó?   Hầu hết các công trình nghiên cứu của tôi là những sản phẩm lần đầu tiên nghiên cứu của Việt Nam, thậm chí như máy 500kV là sản phẩm đầu tiên của Đông Nam Á. Tất cả những sản phẩm đó có trị giá kinh tế lớn, đến hàng tỷ đồng (máy biến áp 110kV), hàng chục tỷ đồng (máy biến áp 220kV), lớn đến hàng trăm tỷ (máy 500kV). Đi kèm với giá trị công trình là trách nhiệm đè nặng lên những người làm nghiên cứu khoa học. Vì thế, sau mỗi nghiên cứu, mặc dù biết sản phẩm đã qua được các hạng mục thử nghiệm nghiêm ngặt, nhưng bản thân chúng tôi luôn lo lắng khôn nguôi: không biết máy đóng điện, vận hành có tốt lành như thiết kế không?? Như một bà mẹ mang nặng đứa con trong bụng, chỉ mong sinh ra được “vuông tròn” chứ lúc đó có ai nghĩ đến sau này nó báo đáp đâu? Cứ đóng điện xung kích thành công, vận hành tốt đã là niềm vui vô giá đối với chúng tôi rồi.   Còn nói đến thưởng, tôi nghĩ Nhà nước chúng ta đã ban hành chế độ thi đua “khen, thưởng”, nhưng chỉ dừng lại ở “khen”, mà chưa có “thưởng”.. Người thân, bạn bè cứ hỏi tôi: “chị về hưu được hưởng nguyên lương chứ, Anh hùng Lao động được đãi ngộ những gì?…Tôi phải nói thật với họ: ngoài cái bằng khen và 5 triệu đồng ra còn có chế độ nào đâu!  Xin trân trọng cảm ơn bà.                        TRẦN THƯ   thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng ta đang phụ thuộc vào lời nói của Vladimir Putin về vaccine Nga      Tổng thống Nga Vladimir Putin đã tuyên bố nước Nga đã chấp thuận một vaccine Covid-19 để cho cộng đồng sử dụng, thậm chí trước khi hoàn tất các ca thử nghiệm lâm sàng – trở thành vaccine đầu tiên trên thế giới vượt qua “rào cản” quy định.      Thông báo của Nga, đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học, nhà sản xuất, viện nghiên cứu của hàng chục quốc gia trên thế giới đang chạy đua phát triển vaccine chống coronavirus. Rất nhiều vaccine dự tuyển của các công ty Mỹ, châu Âu và Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm cuối cùng, vốn thu hút hàng trăm tình nguyện viên để xác định là thứ vaccine đó có hiệu nghiệm hay không.  Vaccine của Nga do Viện nghiên cứu Gamaleya phát triển chuẩn bị vào pha thử nghiệm cuối cùng – pha III. Thông tin này đã góp phần củng cố thêm vào những lời tuyên bố của ông Putin về loại vaccine này, một cột mốc quan trọng mà giới lãnh đạo toàn cầu đang chờ đợi, hiện không có dữ liệu về kết quả thử nghiệm, Paul Offit, một chuyên gia vaacine của trường đại học Pennsylvania và là người tham gia  phát triển vaccine rotavirus, nhận xét.  Politico đã phỏng vấn ông về vaccine của Nga.  Chúng ta biết được gì về vaccine này của Nga?  Họ phát triển hai vaccine riêng biệt rồi kết hợp nó lại thành một, cả hai đều trên cơ sở virus adeno nhược độc tái tổ hợp – nghĩa là các virus adeno không thể là nguyên nhân gây bệnh như bình thường bởi chúng đã bị điều chỉnh không thể tái sao chép chính mình. Nhưng những gì chúng có thể làm là tạo ra protein gai của virus corona [vốn là yếu tố giúp virus này bám vào tế bào người].  Về cơ bản, anh được tiêm với hai chủng, sau đó tạo ra các protein gai virus corona trong các tế bào của anh và anh cũng tạo ra các kháng thể với các protein gai đó. Tôi hiểu là họ đã thực hiện thử nghiệm giai đoạn một ở quy mô nhỏ với 30 người và pha thử nghiệm thứ ba sẽ bắt đầu vào tuần tới.  Khi ông Vladimir Putin nói nó tốt, an toàn, hiệu quả, những gì ông ấy hàm ý là các bệnh nhân có lẽ đã tạo ra kháng thể và không ai tử vong. Nhưng ông ấy có thể không biết những gì là an toàn, hiệu quả ở Nga cho đến khi bước sang pha III, mà sang tuần mới bắt đầu cơ mà.  Có thể so sánh như thế nào về loại vaccine này với các vaccine dự tuyển ở Mỹ và trên toàn cầu? Có chút nào giống như thế không?  Tôi hiểu là một trong những chủng này rất tương đồng với virus adeno 5 nhược độc tái tổ hợp trên người do CanSino (Trung Quốc) phát triển trên vaccine của họ. Và cái khác, gọi là adenovirus 26 nhược độc tái tổ hợp tương tự với vaccine của Johnson & Johnson.  Vậy có bất kỳ dữ liệu công khai nào về vaccine của Nga? Hình như dữ liệu an toàn pha I đã được xuất bản trên một tạp chí y học?  Ồ tôi chưa từng thấy. Chúng tôi chỉ phụ thuộc vào lời nói của ông Vladimir Putin.  Về tổng thể, những gì là giới hạn của việc gia tốc thời gian như với việc phát triển vaccine này?  Tôi nghĩ chỉ cần anh làm hiệu quả thử nghiệm lâm sàng pha III, với số lượng người tham gia như với các vaccine của Mỹ – với khoảng 30.000 tham gia – thì đúng với quy mô của một pha thử nghiệm lâm sàng cuối cùng của vaccine. Miễn là anh làm điều đó, ngay cả với một pha II rút gọn, thì cũng là ổn.  Những gì tôi lo ngại về sự loan báo của Nga là chính quyền Mỹ có thể coi đây là một so tài: một chiếc găng tay đã bị ném xuống và Nga đang dẫn trước, ngay cả khi họ không hoàn toàn dẫn trước trong mọi công đoạn phát triển vacccine.  Ông nghĩ thế nào về điều sẽ đến trong cuộc chạy đua vaccine?  Đây không phải là cuộc chơi, trước tiên ngôn ngữ thật khủng khiếp “tăng tốc”, “chạy dua vaccine”, “danh sách ứng viên”. Nó khiến cho mọi người lo ngại và nghĩ rằng các yêu cầu gai góc đã bị cắt bỏ, hướng dẫn am toàn bị bỏ qua. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao mọi người lại có chút ngập ngừng về việc tiếp nhận loại vaccine này.  Miễn ra là anh làm thử nghiệm lâm sàng pha III, và mất tới nhiều tháng cho pha này, sau đó anh có thể an tâm hơn. Nếu anh không làm thử nghiệm lâm sàng pha III hoặc rút gọn pha III…  thì anh sẽ chơi trò nhào lộn mà không có lưới bảo hiểm.  Những thông tin mới nào ông đang chờ đợi? Điều gì khiến ông nói ‘đây là một đột phá’?  Tôi nghĩ phải chờ tới đầu năm tới, khi Ban điều hành an toàn dữ liệu mở được mã của các ca thử nghiệm lâm sàng pha III do Moderna, Pfizer và Novavax đang thực hiện, nhiều nhà khoa học có thể nhìn vào dữ liệu đó và xem ai được bảo vệ trước vaccine và được bảo vệ trong bao lâu… khi đó anh sẽ biết ngay thôi.  Hiện ông lo ngại điều gì nhất trong thảo luận về loại vaccine này?  Có rất nhiều điều lo ngại với các vaccine. Vaccine là cách duy nhất để giúp anh vượt qua bệnh dịch và nếu làm rối tung nó, anh có thể khiến mọi người lo ngại một cách không cần thiết và sau đó khiến công chúng sợ hãi khi niềm tin vào vaccine đã quá mong manh.  Điều gì là quan trọng ở đây?  Điều chính yếu là Nga có một chiến lược phát triển vaccine tương tự như những chiến lược của các quốc gia khác. Không có gì mới ở đây: Họ đã thực hiện pha I quy mô nhỏ với 30 người, họ còn chưa bắt đầu với pha III. Tổng thống Vladimir Putin đã tóm lấy và cho rằng họ đã có vaccine, về cơ bản là họ đã thắng trong cuộc chạy đua này. Nhưng đây không phải là sự thật.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.politico.eu/article/were-relying-on-the-word-of-vladimir-putin-for-russian-vaccine-expert-warns/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chứng tỏ các hạt nhỏ trong vũ trụ cứu chúng ta khỏi sự hủy diệt      Sóng hấp dẫn – các cuộn xoắn của không thời gian, mà chúng ta mới phát hiện gần đây có thể chứa bằng chứng để chứng minh lý thuyết về sự sống tồn tại sau Big Bang là nhờ một chuyển pha cho phép các hạt neutrino thay đổi vật chất và phản vật chất, theo giải thích của một nhóm các nhà nghiên cứu.      Công trình của họ mang tên “Testing the Seesaw Mechanism and Leptogenesis with Gravitational Waves” mới được xuất bản trên Physical Review Letters.  Chúng ta đã được cứu khỏi một cơn hủy diệt hoàn toàn như thế nào vẫn còn là một câu hỏi dược đặt ra trong các tác phẩm văn học viễn tưởng hoặc một bộ phim Hollywood. Theo thuyết Big Bang của vũ trụ hiện đại, vật chất được tạo ra ở mức cân bằng với phản vật chất. Nếu sự cân bằng vẫn tồn tại, vật chất và phản vật chất cuối cùng có thể gặp nhau và một sự hủy diệt lẫn nhau sẽ xảy ra, dẫn đến một sự hủy diệt hoàn toàn.  Nhưng sự tồn tại của chúng ta lại mâu thuẫn với chính lý thuyết này. Để vượt qua được cơn hủy diệt hoàn toàn, vũ trụ phải đưa ra một lượng nhỏ phản vật chất thành vật chất để tạo ra sự bất cân bằng giữa chúng. Sự bất cân bằng cần thiết chỉ là mức phần tỉ. Từ đó có một bí ẩn vẫn còn tồn tại là khi nào và như thế nào mà sự bất cân bằng đó được tạo ra.  “Vũ trụ này trở nên mờ tối nếu chúng ta nhìn lại khoảng một triệu năm sau khi vũ trụ dược sinh ra. Điều này tạo ra câu hỏi cơ bản khó trả lời ‘tại sao chúng ta ở đây?’,” đồng tác giả công bố Jeff Dror, postdoct tại trường đại học California, Berkeley, và nhà nghiên cứu vật lý tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Lawrence Berkeley.  Kể từ khi vật chất và phản vật chất có điện tích trái dấu, chúng không thể chuyển đổi cho nhau, trừ phi chúng trung hòa về điện tích. Các hạt neutrino là những hạt vật chất duy nhất trung hòa về điện tích mà chúng ta biết và chúng là đối thủ mạnh nhất để làm công việc này. Một lý thuyết mà nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ là Vũ trụ đã trải qua một chuyển pha mà các hạt neutrino có thể tráo đổi vật chất và phản vật chất.  “Một chuyển pha giống như nước sôi bay hơi, hoặc nước lạnh đóng băng. Hành xử của vật chất thay đổi tại các mức nhiệt độ cụ thể được gọi là nhiệt độ tới hạn. Khi một kim loại nào đó được làm lạnh ở một mức nhiệt độ thấp, việc mất hoàn toàn điện trở do một chuyển pha khiến nó trở thành một siêu dẫn. Nó là vấn đề cơ bản của Chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán ung thư hoặc công nghệ t\nâng bằng lực từ, công nghệ cho phép nâng một con tàu lên để có nó thể chạy với vận tốc 300 dặm/giờ. Giống như một siêu dẫn, chuyển pha trong vũ trụ sớm này có thể tạo ra một ống mỏng từ trường gọi là các dây vũ trụ”, đồng tác giả công bố Hitoshi Murayama, giáo sư vật lý MacAdams tại trường đại học California, Berkeley, nhà nghiên cứu chính tại Viện Vật lý và Toán học cho nghiên cứu vũ trụ Kavli, ĐH Tokyo, và nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Lawrence Berkeley.  Dror và Murayama đều là thành viên của một nhóm nghiên cứu gồm các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Mĩ và Canada, những người tin vào các dây vũ trụ sau khi cố gắng để đơn giản chúng, dẫn đến sự quét tần rất nhỏ của không thời gian, vẫn được gọi là các sóng hấp dẫn. Có thể dò được chúng bằng các quan sát ở LISA, BBO (Cơ quan Không gian châu Âu) hoặc DECIGO (Cơ quan Khám phá vũ trụ Nhật Bản) với  gần như các mức nhiệt độ tới hạn có thể.  “Khám phá gần đây về sóng hấp dẫn đã mở ra một cơ hội mới để nhìn lại vũ trụ trong một khoảng thời gian, như vũ trụ đã trở nên rõ ràng hơn với hấp dẫn theo cách có thể thấy được thời điểm bắt đầu. Khi vũ trụ có thể ở vào thời điểm nóng một tỉ lần đến một nghìn nghìn tỉ lần so với điểm nóng nhất trong vũ trụ ngày nay, các hạt neutrino đã có hành xử theo cách mà chúng đã được đòi hỏi để đảm bảo sự sống sót của chúng ta. Chúng tôi đã chứng minh chúng có thể để lại đằng sau một nền của những cuộn xoắn sóng hấp dẫn mà chúng ta dò được”, đồng tác giả Graham White, một postdoct tại TRIUMF, cho biết.  “Các dây vũ trụ được sử dụng một cách phổ biến như một cách tạo ra những những biến đổi nhỏ trong các khối đậm đặc lớn mà cuối cùng trở thành các ngôi sao và các thiên hà nhưng gần đây dữ liệu đã loại trừ ý tưởng này. Bây giờ với công trình của chúng tôi, ý tưởng đó đã trở lại bởi một nguyên nhân khác. Điều này thật thú vị!”, Takashi Hiramatsu, một postdoct tại Viện nghiên cứu Tia vũ trụ, trường đại học Tokyo, nơi vận hành máy dò sóng hấp dẫn KAGRA của Nhật Bản và thí nghiệm Hyper-Kamiokande.  “Sóng hấp dẫn từ các dây vũ trụ có một phổ rất khác biệt từ các nguồn vật lý thiên văn như các vụ sáp nhập lỗ đen. Thật vô cùng hợp lý khi chúng ta sẽ hoàn toàn tin tưởng nguồn phát sinh chúng thực là các dây vũ trụ”, Kazunori Kohri, phó giáo sư tại Trung tâm lý thuyết nghiên cứu gia tốc năng lượng cao tại Nhật Bản.  “Thực sự thú vị để tìm hiểu tại sao chúng ta lại tồn tại”, Murayama nói. “Đây là câu hỏi cơ bản nhất về khoa học”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-tiniest-particles-universe-annihilation.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủng tộc: Một khái niệm không có cơ sở khoa học      Mặc dù người ta dùng từ chủng tộc để định nghĩa và chia rẽ con người trong hàng thiên niên kỉ nay, khái niệm này hoàn toàn không có cơ sở di truyền học.        Hình ảnh DNA của hai đối tượng trên giống nhau 99%.   Gene của hai người bất kì nào, còn giống nhau hơn thế. Nhưng sau khi những tổ tiên tiền sử của chúng ta rụng phần lớn lông trên cơ thể, sự khác biệt dễ thấy nhất trong quá trình tiến hóa của chúng ta là màu da. Những tinh chỉnh rất nhỏ trong DNA của chúng ta là nguyên nhân của điều đó. Màu da tối giúp cho tổ tiên của chúng ta thích nghi với ánh nắng đổ lửa vùng châu Phi, trong khi với những người di cư khỏi châu Phi tới những vùng ít ánh nắng hơn, màu da sáng hơn trở thành lợi thế.  Cha đẻ của chủ nghĩa khoa học phân biệt chủng tộc     Trong nửa đầu thế kỷ 19, một trong những nhà khoa học hàng đầu nước Mỹ là bác sĩ Samuel Morton. Morton sống ở Philadelphia và công việc của ông ta là thu thập các hộp sọ.   Morton chẳng phải là một nhà sưu tập kén chọn: ông chấp nhận tất cả hộp sọ dù chúng được nhặt về từ các chiến trường hay cướp từ các hầm mộ. Một trong những hộp sọ nổi tiếng nhất của ông thuộc về một người Ailen, một kẻ tù tội được gửi đến Tasmania (và cuối cùng bị treo cổ vì giết và ăn thịt bạn tù). Với mỗi hộp sọ, Morton thực hiện cùng một quy trình: Ông ta nhồi chúng bằng hạt tiêu, và sau đó là đạn chì, để xác định thể tích của hộp sọ.   Morton tin rằng mọi người có thể được chia thành năm chủng tộc, đại diện cho các năng lực sáng tạo riêng biệt. Các chủng tộc có các đặc tính đặc thù, tương ứng với vị trí của chúng trong một cấp bậc được định sẵn. Kết quả nghiên cứu các hộp sọ của ông cho thấy người da trắng là người thông minh nhất trong các chủng tộc (Caucasian). Tiếp đến là người Đông Á (Morton sử dụng thuật ngữ Mongolian để chỉ họ), mặc dù khá là thông minh và có khả năng học hỏi, vẫn xếp dưới một bậc. Tiếp theo là người Đông Nam Á, rồi đến người Mỹ bản địa. Người da đen, hay người Ethiopia, đứng chót bảng. Trong những thập kỷ trước Nội chiến, những ý tưởng của Morton đã nhanh chóng được ủng hộ bởi những người bảo vệ chế độ nô lệ. “Ông ấy có nhiều ảnh hưởng, đặc biệt là đối với miền Nam nước Mỹ”. Paul Wolff Mitchell, một nhà nhân học tại Đại học Pennsylvania nói và cho tôi xem bộ sưu tập hộp sọ mà hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Penn. Chúng tôi đứng cạnh hộp sọ của một người Hà Lan có kích thước lớn hơn người bình thường đã giúp thổi phồng ước tính của Morton về kích thước hộp sọ cũng như năng lực của người da trắng. Khi Morton qua đời, vào năm 1851, Tạp chí Y tế Charleston ở Nam Carolina đã ca ngợi ông vì “đã giúp người da đen nhận ra vị trí thực sự của họ là một chủng tộc thấp kém”.   Ngày nay, Morton được biết đến như là cha đẻ của chủ nghĩa khoa học phân biệt chủng tộc. Quá nhiều điều kinh hãi đã xảy ra trong những thế kỷ qua đã xuất phát từ ý tưởng cho rằng một chủng tộc này thấp kém hơn một chủng tộc khác, và điều đó khiến cho chuyến tham quan bộ sưu tập của Morton trở thành một trải nghiệm đầy ám ảnh. Giờ đây, chúng ta vẫn phải chịu đựng di sản của Morton ở một mức nào đó, phân biệt chủng tộc vẫn tiếp tục định hình nền chính trị, khu vực sống và ngay cả ý thức về bản thân chúng ta.    Khi khám phá về DNA xuất hiện     Sự phân biệt chủng tộc, hay tàn tích của nó, vẫn hiện hữu, mặc dù những gì khoa học chân chính cho chúng ta biết về chủng tộc hoàn toàn trái ngược với những gì Morton nói. Morton nghĩ rằng ông ta đã tìm ra sự khác biệt có tính bất biến và di truyền giữa người với người, nhưng đó là thời điểm ngay trước khi Charles Darwin đưa ra thuyết tiến hóa của mình và rất lâu trước khám phá của DNA xuất hiện, nói cách khác, thời điểm bấy giờ các nhà khoa học còn chẳng biết các tính trạng được di truyền cho thế hệ sau như thế nào. Các nghiên cứu hiện đại xem xét con người ở cấp độ di truyền đã cho thấy rằng toàn bộ cái gọi là “chủng tộc” là hoàn toàn sai. Thật vậy, khi các nhà khoa học bắt đầu lắp ráp hoàn chỉnh hệ gene người đầu tiên, họ đã chủ đích thu thập các mẫu từ những người tự nhận là thành viên của các chủng tộc khác nhau. Vào tháng 6 năm 2000, khi kết quả được công bố tại một buổi lễ tại Nhà Trắng, Craig Venter, một trong những người tiên phong về giải trình tự DNA, đã chỉ ra khái niệm chủng tộc là hoàn toàn không có cơ sở di truyền hoặc khoa học.  Trong vài thập kỷ qua, nghiên cứu di truyền đã tiết lộ hai sự thật sâu sắc về con người. Một là tất cả con người có liên quan chặt chẽ với nhau, liên quan chặt chẽ hơn mối liên hệ giữa tất cả các con tinh tinh, mặc dù chúng ta đông hơn rất nhiều. Mọi người đều có bộ sưu tập gene giống nhau, nhưng ngoại trừ các cặp song sinh cùng trứng, mỗi chúng ta đều có một phiên bản hơi khác một chút. Các nghiên cứu về sự đa dạng di truyền này đã cho phép các nhà khoa học tái tạo cây gia đình của quần thể người. Điều đó đã tiết lộ sự thật sâu sắc thứ hai: Thực tế là, tất cả những người đang sống ngày hôm nay đều là người châu Phi.      Loài người, Homo sapiens, xuất hiện ở châu Phi vào một thời điểm hay địa điểm mà không ai chắc chắn được. Phát hiện hóa thạch gần đây nhất, từ Morocco, cho thấy các đặc điểm hiện đại về mặt giải phẫu của con người bắt đầu xuất hiện từ 300.000 năm trước. Trong khoảng 200.000 năm tiếp theo, chúng ta vẫn tiếp tục ở châu Phi, nhưng trong khoảng thời gian đó, đã có các nhóm bắt đầu di chuyển đến các khu vực khác nhau của lục địa,  trở nên tách biệt với các nhóm khác và thành lập các quần thể mới.   Ở người, cũng như ở tất cả các loài, những thay đổi di truyền là kết quả của các đột biến ngẫu nhiên. Những đột biến đó như những “tinh chỉnh” nhỏ trên bản mã sự sống – DNA của chúng ta. Đột biến xảy ra với tốc độ ít nhiều không đổi, do đó, chừng nào những người đó còn duy trì thành một nhóm, truyền lại gien từ thế hệ này sang thế hệ khác, các đột biến sẽ ngày một nhiều hơn. Đồng thời, hai nhóm càng tách biệt nhau càng lâu thì đặc điểm khác biệt giữa họ càng lớn.      Tất cả chúng ta đều là người châu Phi     Bằng cách phân tích gene của người châu Phi ngày nay, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng nhóm người Khoe-San, hiện đang sống ở miền Nam châu Phi, là đại diện cho một trong những nhánh lâu đời nhất của cây gia đình loài người. Nhóm người Pygmies của miền Trung châu Phi cũng đã tách ra là một nhóm riêng biệt từ rất lâu trong lịch sử. Điều này có nghĩa là sự chia rẽ sâu sắc nhất trong gia đình loài người không phải là giữa những người thường được coi thuộc về những chủng tộc khác nhau, những người da trắng, người da đen hoặc người châu Á hay người Mỹ bản địa. Trái lại, sự phân chia sâu sắc nhất đã xuất hiện hàng chục ngàn năm trước, giữa chính những dân tộc châu Phi như Khoe-San và Pygmies, ngay cả trước khi con người rời khỏi châu Phi.  Tất cả những người không phải là người châu Phi ngày nay đều là hậu duệ của một vài ngàn người rời khỏi châu Phi vào khoảng 60.000 năm trước, di truyền học cho chúng ta biết là như vậy. Những người di cư từ thưở sơ khai này có mối liên hệ chặt chẽ nhất với các nhóm ngày nay sống ở Đông Phi, bao gồm Hadza của Tanzania. Họ chỉ là một tập hợp nhỏ của dân số châu Phi, nên chính họ, những người di cư cũng chỉ mang theo một phần nhỏ sự đa dạng di truyền của lục địa.   Tại một nơi nào đó trên đường đi, có lẽ ở Trung Đông, những người di cư đã gặp và rồi quan hệ với một nhóm người khác là Neanderthal; xa hơn về phía Đông họ lại gặp phải một người khác, người Denisovan.  Cả hai nhóm người trên đã tiến hóa từ một giống người (hominin) trên lục địa Á-Âu và rời khỏi châu Phi từ rất lâu trước đó. Một số nhà khoa học cũng tin rằng cuộc di cư từ 60.000 năm trước thực sự là làn sóng thứ hai của người hiện đại rời khỏi châu Phi. Nếu vậy, đánh giá từ bộ gene của chúng ta ngày hôm nay, làn sóng thứ hai rõ ràng mang nhiều ảnh hưởng hơn làn sóng đầu tiên.  Nói một cách tương đối, con cái của tất cả những người di cư này đã phân tán trên khắp thế giới. Khoảng 50.000 năm trước họ đã đến Úc. Khoảng 45.000 năm trước, họ đã định cư ở Siberia và 15.000 năm trước họ đã đến Nam Mỹ. Khi họ di chuyển đến các khu vực khác nhau trên thế giới, họ đã thành lập các nhóm mới và trở nên tách biệt về mặt địa lý với nhau. Chính trong quá trình đó, họ đã có được bộ đột biến gene đặc biệt của riêng họ. Hầu hết các đột biến này không hữu ích cũng không có hại. Nhưng đôi khi một đột biến phát sinh lại thành ra là một lợi thế trong một hoàn cảnh mới. Dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, nó nhanh chóng lan ra trong quần thể địa phương. Ví dụ như ở độ cao lớn với nồng độ oxy thấp, những người di chuyển đến vùng cao nguyên ở Ethiopia, Tây Tạng hoặc Andean Altiplano có một sự đột biến giúp họ thích nghi với không khí loãng. Tương tự, người Inuit có các đột biến gene giúp họ thích nghi với chế độ ăn giàu hải sản có nhiều axit béo.   Đôi khi rõ ràng chọn lọc tự nhiên đã giúp ủng hộ một sự đột biến nào đó nhưng chúng ta không rõ nguyên nhân tại sao. Đó là trường hợp với một biến thể của một gene được gọi là EDAR. Hầu hết những người có nguồn gốc Đông Á và người Mỹ bản địa sở hữu ít nhất một bản sao của biến thể này, được gọi là 370A, và nhiều người sở hữu đến hai bản. Nhưng nó rất hiếm trong số những người gốc Phi và châu Âu. Tại Đại học Y khoa Pennsylvania, Perelman, nhà di truyền học Yana Kamberov đã đưa vào chuột thí nghiệm những biến thể EDAR ở Đông Á với hy vọng hiểu được nhiệm vụ của nó. “Chúng thật dễ thương phải không?” Yana mở lồng cho tôi xem. Những con chuột trông bình thường, với bộ lông màu nâu bóng mượt và đôi mắt đen sáng bóng. Nhưng khi được kiểm tra dưới kính hiển vi, chúng khác với những người anh em họ cũng dễ thương không kém theo những cách tinh tế nhưng quan trọng. Những sợi lông của chúng dày hơn; tuyến mồ hôi của chúng nhiều hơn; và các miếng mỡ xung quanh tuyến vú của chúng nhỏ hơn.   Những con chuột của Kamberov giúp giải thích tại sao một số người Đông Á và người Mỹ bản địa có tóc dày hơn và tuyến mồ hôi nhiều hơn. (Hiệu ứng EDAR ở tuyến vú người chưa rõ ràng). Nhưng chúng không giúp đưa ra một lý do  nào gắn với nhu cầu tiến hóa. Có lẽ, Kamberov suy đoán, tổ tiên của người Đông Á đương đại tại một số thời điểm đã gặp phải điều kiện khí hậu khiến cho việc tuyến mồ hôi hoạt động mạnh hơn trở nên hữu ích. Hoặc có thể tóc dày hơn giúp họ tránh khỏi sự tấn công ký sinh trùng. Hay gene 370A có thể đã tạo ra những lợi ích khác mà Yana chưa khám phá ra mà những thay đổi mà cô xác định chỉ là hệ quả của những lợi ích đó. Di truyền thường hoạt động như thế này: Một tinh chỉnh nhỏ có thể có nhiều hiệu ứng khác nhau. Chỉ có một hiệu ứng có thể hữu ích và nó có thể tồn tại lâu hơn các điều kiện đã tạo ra nó, giống cách các gia đình vẫn lưu giữ những bức ảnh cũ cho đến lúc không còn ai nhận ra bất cứ ai đó trong đó.   Trừ khi bạn có một cỗ máy thời gian, bạn sẽ không bao giờ biết rõ lý do tại sao, Kamberov thở dài.  DNA thường được so sánh dưới dạng văn bản, với các chữ cái viết tắt: A cho adenine, C cho cytosine, G cho guanine và T cho thymine. Bộ gene của con người bao gồm ba tỷ cặp, từng hàng dài nồi nhau của các A, C, G, và T, chia thành khoảng 20.000 gene. Tinh chỉnh giúp tóc dày hơn của người Đông Á là một thay đổi độc nhất trong một gene duy nhất, từ chữ T sang chữ C.      Sự đa dạng ở châu Phi lớn hơn tất cả các châu lục khác cộng lại.   Đó là bởi vì những con người hiện đại xuất thân từ châu Phi đã sống ở đây lâu nhất. Họ có thời gian để tiến hóa tạo ra sự đa dạng gene to lớn – dẫn tới cả đa dạng trong màu da. Những nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này đôi khi sử dụng sự đa dạng trong ngôn ngữ của người châu Phi – họ có hơn 2000 ngôn ngữ (nhìn sơ đồ phía dưới) như một chỉ dẫn. Nhà nhiếp ảnh robin Hammond theo dấu những nghiên cứu này, đến thăm năm cộng đồng ngôn ngữ đại diện. “Không có một chủng tộc đồng nhất ở châu Phi”, nhà di truyền học Sarah Tishoff của Đại học Pennsylvania nói. “Nó không tồn tại”. Những người tiền sử đã rời châu Phi vào khoảng 60000 năm trước – lớn mạnh theo thời gian thành những người khác trên toàn thế giới – chỉ phản ánh một tỉ lệ nhỏ trong sự đa dạng ở châu Phi.     Tương tự, đột biến chịu trách nhiệm cho làn da sáng màu của đa số người châu Âu là một đột biến ở gene có tên là SLC24A5, bao gồm khoảng 20.000 cặp cơ sở. Thay vì G như hầu hết người châu Phi cận Sahara, người châu Âu có A. Khoảng một thập kỷ trước, một nhà nghiên cứu bệnh học và nhà di truyền học tên Keith Cheng, tại Đại học Y khoa bang Pennsylvania, đã phát hiện ra đột biến bằng cách nghiên cứu cá ngựa vằn được lai tạo để có vằn nhạt màu hơn. Chúng hóa ra đã sở hữu một đột biến trong gene sắc tố tương tự như gene bị đột biến ở người châu Âu.  Nghiên cứu DNA chiết xuất từ xương của người cổ đã đã giúp các nhà cổ sinh vật học phát hiện ra rằng sự thay thế G-A đã được đưa vào Tây Âu tương đối gần đây. Cách đây khoảng 8.000 năm trước, đột biến này đã được mang đến bởi những người di cư từ Trung Đông, mà chính họ cũng đã truyền bá một công nghệ mới: canh tác nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là những người vốn ở châu Âu, những người săn bắn hái lượm, những người đã tạo ra những bức tranh hang động ngoạn mục tại Lascaux, có lẽ không có làn da màu trắng mà là màu nâu. DNA cổ đại cho thấy rằng nhiều người châu Âu da đen cũng có đôi mắt xanh, một sự kết hợp hiếm thấy ngày nay. David Reich, một nhà cổ sinh vật học của Đại học Harvard có viết cuốn sách mới về chủ đề này với tựa đề: “Chúng ta là ai và làm thế nào chúng ta lại có mặt ở đây”. Reich cho biết, không có những đặc điểm cố định liên quan đến các vị trí địa lý cụ thể, bởi vì thường thì trong khi sự cô lập đã tạo ra sự khác biệt giữa các quần thể, di cư và pha trộn đã làm mờ hoặc xóa nhòa chúng.   Trên khắp thế giới ngày nay, màu da thay đổi rất nhiều. Phần lớn sự khác biệt có mối tương quan với vĩ độ. Gần xích đạo với nhiều ánh sáng Mặt trời làm cho làn da tối màu trở thành lá chắn hữu ích chống lại tia cực tím; về phía các cực, nơi có quá ít ánh nắng Mặt trời, da nhạt màu hơn giúp thúc đẩy sự sản xuất vitamin D. Một số gene phối hợp với nhau để xác định tông màu da và các nhóm khác nhau có thể có bất kỳ sự kết hợp nào của các đột biến khác nhau. Trong số những người châu Phi, một số người, chẳng hạn như người Mursi ở Ethiopia, có làn da gần như gỗ mun, trong khi những người khác, như Khoe-San, có màu da đồng. Nhiều người Đông Phi có làn da sẫm màu, các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi biết rằng họ sở hữu biến thể da sáng SLC24A5. (Đột biến này dường như đã được giới thiệu đến châu Phi cũng giống như cách nó thâm nhập vào châu Âu từ Trung Đông.) Về phần mình, người Đông Á nói chung có làn da sáng nhưng sở hữu gene phiên bản da sẫm màu. Cheng đã sử dụng cá ngựa vằn để cố gắng tìm hiểu tại sao. “Đó là một điều không hề đơn giản”, ông cho biết.   Khi mọi người nói về chủng tộc, thông thường họ dường như đang đề cập đến màu da và cũng đồng thời, ngụ ý về một thứ gì đó khác nữa. Đây là di sản của những người như Morton, người đã phát triển khoa học về chủng tộc, nhằm phù hợp với định kiến của chính mình và truyền bá cách hiểu sai về khoa học thực tế. Khoa học ngày nay cho chúng ta biết rằng sự khác biệt có thể nhìn thấy giữa các dân tộc chỉ là các “tai nạn” của lịch sử. Chúng chỉ phản ánh cách tổ tiên của chúng ta đối phó với ánh nắng Mặt trời, và chỉ vậy mà thôi.  Heather Norton, một nhà nhân chủng học phân tử tại Đại học Cincinnati, người chuyên nghiên cứu về sắc tố da, cho biết: “Chúng ta thường có ý nghĩ rằng rằng nếu tôi biết về màu da của bạn, tôi biết X, Y và Z về bạn. Vì vậy, tôi nghĩ thật quan trọng khi giải thích cho mọi người rằng tất cả những thay đổi mà chúng ta thấy chỉ là vì tôi có yếu tố A trong bộ gene của mình và cô ấy lại có một yếu tố G.”      Sự thật về cái gọi là chủng tộc     Cách bộ sưu tập Morton khoảng một giờ lái xe, tại Đại học West Chester, Anita Foeman đang chỉ đạo Dự án Thảo luận DNA. Vào một buổi sáng mùa thu rực rỡ, bà đang trao đổi với những người tham gia mới nhất trong dự án, một tá sinh viên với nhiều màu da khác nhau, tất cả dán mắt vào màn hình máy tính xách tay. Một vài tuần trước đó, các sinh viên đã điền vào bảng câu hỏi về tổ tiên của họ. Các sinh viên sau đó đã gửi mẫu nước bọt để thử nghiệm di truyền. Bây giờ, thông qua máy tính, họ đang nhận lại kết quả của mình.  Một cô gái trẻ, có gia đình sống ở Ấn Độ đã từ nhiều đời nay, hoàn toàn sốc khi phát hiện ra một số tổ tiên của mình là người Ireland. Một cô gái khác, người đã lớn lên và tin rằng một trong những ông bà của mình là người Mỹ bản địa, đã thất vọng khi biết điều đó không phải là sự thật. Một người khác lại khá bối rối: “Tôi đã mong đợi (nguồn gốc) đến từ Trung Đông nhiều hơn”, cô nói.  Foeman, một giáo sư về truyền thông, đã quen với những phản ứng như vậy. Cô bắt đầu Dự án Thảo luận DNA vào năm 2006 vì cô quan tâm đến những câu chuyện, cả loại chuyện lưu truyền trong gia đình, và loại mà gene kể cho chúng ta. Ngay từ đầu dự án, rõ ràng những điều này thường không giống nhau. Một người đàn ông trẻ tuổi vẫn tự coi mình là đa chủng tộc đã tức giận khi phát hiện ra nguồn gốc của mình, trên thực tế, gần như hoàn toàn là châu Âu. Một số sinh viên được nuôi dưỡng trong các hộ gia đình Kitô giáo đã rất ngạc nhiên khi biết một số tổ tiên của họ là người Do Thái. Tất cả những câu chuyện từng bị chôn vùi rốt cục lại hiện lên, rõ ràng trong gene.  Ngay cả Foeman, người được xác định là người Mỹ gốc Phi, đã bất ngờ trước kết quả của bà. Chúng cho thấy một số tổ tiên của bà đến từ Ghana, những người khác đến từ Scandinavia.      Người Neanderthal vẫn sống giữa chúng ta ngày nay  Ở Duseldorf, Đức, một bức tượng ở gần bảo tàng Neanderthal khiến cho những người đi qua tò mò và ngắm nghía. Một vài trong số những người đầu tiên rời châu Phi đã gặp và quan hệ với người Neanderthal. Kết quả của điều này đó là tất cả những người không ở châu Phi ngày nay đều có một phần nhỏ DNA của người Neanderthal. Những gene này có thể thúc đẩy hệ miễn dịch và mức độ hấp thụ vitamin D nhưng cũng có rủi ro dễ mắc bệnh tâm thần phân liệt – và bị béo bụng.   Tôi đã lớn lên vào những năm 1960, khi làn da sáng thực sự là một vấn đề lớn, bà giải thích. Vì vậy, tôi nghĩ rằng bản thân mình hoàn toàn là một người da nâu. Tôi đã rất ngạc nhiên khi biết rằng một phần tư nguồn gốc của tôi là người châu Âu.   Điều này thật sự khiến tôi tin vào việc chủng tộc hoàn toàn là thứ chúng ta dựng lên, bà cho biết. Tất nhiên, chỉ vì chủng tộc được tạo nên không làm cho chúng trở nên kém mạnh mẽ hơn. Ở một mức độ đáng lo ngại, chủng tộc vẫn quyết định cách mọi người nhìn nhận, cơ hội và trải nghiệm của họ. Nó được ghi nhận trong cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ, lần cuối cùng được thực hiện vào năm 2010, yêu cầu người Mỹ chọn chủng tộc của họ từ một danh sách phản ánh lịch sử của khái niệm này; bao gồm Da trắng, Da đen, Mỹ Ấn, Á Ấn, Trung Quốc, Nhật Bản, và Samoa. Sự phân biệt về mặt chủng tộc đã được viết vào luật Jim Crow của miền Nam sau tái thiết, bây giờ được viết thành các đạo luật như Đạo luật Dân quyền, trong đó cấm phân biệt đối xử trên cơ sở chủng tộc hoặc màu da. Đối với các nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc, đây chính là một an ủi nhỏ nhoi khi nói rằng phạm trù này là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Trình tự di truyền, đã cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi con đường di cư của con người và bây giờ cho phép các cá nhân theo dõi tổ tiên của chính họ, đã đưa ra những cách nghĩ mới về sự đa dạng của con người. Dự án Thảo luận DNA cung cấp cho người tham gia cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc của chính họ, thứ thường phức tạp hơn nhiều so với những gì họ vẫn tin tưởng. Và điều này, đến lượt nó, mở ra một cuộc trò chuyện cởi mở về lịch sử lâu dài, rối rắm và tàn bạo mà tất cả chúng ta cùng có chung.   Chủng tộc là do con người tạo nên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể rơi vào các nhóm khác nhau, hoặc các nhóm không có biến thể. Foeman cho biết. Nhưng nếu chúng ta đã tạo ra các phạm trù về chủng tộc, có lẽ chúng ta sẽ có thể tạo ra các phạm trù khác với ý nghĩa thiết thực hơn.□     Hạnh Duyên dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nationalgeographic.com/magazine/2018/04/race-genetics-science-africa/ fbclid=IwAR2l8J5zPoHhwkXc12osxeGFJZhhND0ukyHJnrFzOnS1AM0yHh11q_h1rD4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình mục tiêu quốc gia về năng lượng: Nước đến chân… mới nhảy      Dầu mỏ ở Việt Nam được khai thác từ những năm 80 của thế kỷ trước, bước sang đầu những năm 2000, sản lượng hằng năm đạt khoảng 17-20 triệu tấn, tức khoảng 350.000-400.000 thùng/ngày chủ yếu từ mỏ Bạch Hổ. Trữ lượng dầu có thể khai thác nước ta, theo tính toán lạc quan nhất khoảng 2,7 tỷ thùng, nhưng với mức khai thác 400.000 thùng/ngày, nước ta sẽ không còn dầu để khai thác trong vòng không đầy 30 năm nữa.      Từ năm 2005, sản lượng khai thác đã bắt đầu giảm dần do dầu ở mỏ Bạch Hổ đã qua đỉnh sản xuất, sản lượng dầu khai thác bình quân năm 2005 là 370.000 thùng/ngày, trong khi năm 2004 sản lượng khai thác là 403.000 thùng/ngày, đến năm 2007 còn dưới 350.000 thùng /ngày, tức không đến 17 triệu tấn/năm. Năm 2008 hy vọng tăng sản lượng dầu dựa vào mỏ Sư Tử Trắng với trữ lượng theo báo cáo là rất lớn, nhưng khi đi vào khai thác sản lượng lại rất ít do cấu trúc địa chất phức tạp, vì vậy sản lượng dầu có thể đạt chỉ còn 16 triệu tấn/năm.  Toàn bộ lượng dầu khai thác này hiện nay được xuất khẩu, đổi lại, toàn bộ sản phẩm năng lượng (xăng dầu) và hóa dầu đều phải nhập vào để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Bộ Công Nghiệp dự báo chính sách năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đã tính toán nhu cầu dầu năm 2010 sẽ lên tới khoảng 16,7 – 17,2 triệu tấn/năm (cho mục đích sản xuất năng lượng là 14,1 – 14,8 triệu tấn/năm, nguyên liệu cho hóa dầu khoảng 1,25 triệu tấn/năm), năm 2020 khoảng 29 – 31,2 triệu tấn/năm (trong đó cho mục đích năng lượng khoảng 26,3 – 28,6 triệu tấn/năm), đến năm 2050 con số này sẽ lên đến 90 – 98 triệu tấn/năm, trong khi mức sản xuất như hiện nay chỉ khoảng 17 triệu tấn/năm. Như vậy, từ những năm 2015 trở đi, dầu khai thác ở Việt Nam không còn để xuất khẩu, trái lại, không những phải nhập khẩu thêm dầu thô để phục vụ cho công nghiệp chế biến dầu ở nước ta sau khi nhà máy lọc dầu Dung Quất và các nhà máy tiếp sau đi vào hoạt động với dự kiến tổng công suất chế biến 25-30 triệu tấn/năm, mà còn phải nhập thêm các sản phẩm xăng dầu và hóa dầu mới đáp ứng được mức nhu cầu tiêu thụ như đã dự báo trên.Việt Nam sẽ phụ thuộc vào nguồn năng lượng của nước ngoài sau khoảng 10-15 năm tới.             Xếp hàng mua xăng ở Nepal        Tuy nhiên, mức tiêu thụ các sản phẩm dầu theo các tính toán cho tầm nhìn 2050 chưa phải đã là mức có tính đến sự bùng nổ trong phát triển và tiêu dùng dầu ở nước ta trong giai đoạn sau hội nhập WTO đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mức tiêu dùng dầu này chỉ lấy bình quân hằng năm tăng trên dưới 10% để tính toán nhu cầu trong những năm tới. Thực tế, sự bùng nổ nhu cầu tiêu dùng năng lượng đã từng xảy ra ở Trung Quốc trong các thập niên qua: trước hiện đại hóa 1965, nhu cầu tiêu dùng là 200.000 thùng/ngày, sang thập niên 80, mức tiêu dùng tăng lên hơn 10 lần tức 2 triệu thùng/ngày, năm 2000, con số này đã lên đến 6 triệu thùng/ngày, và dự báo đến 2025 là 20 triệu thùng/ngày. Như vậy, nhu cầu tiêu dùng dầu ở nước ta sẽ vượt khá xa con số dự báo cho tầm nhìn 2020 hoặc 2050 trên đây, cân bằng cung cầu về năng lượng trong các thập niên tới sẽ bị phá vỡ, cuộc khủng hoảng năng lượng ở Việt Nam là không tránh khỏi như nhiều nhà nghiên cứu chiến lược năng lượng nước ta đã cảnh báo.  Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa các nền kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt, Việt Nam không thể đứng ngoài tình hình gay gắt này về năng lượng chung của thế giới. Trong các giải pháp chiến lược nêu ra để cân bằng cung cầu năng lượng quốc gia trong Dự báo chính sách năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, chưa thấy phương sách lấy nguồn năng lượng nào bù đắp vào sự thiếu hụt nguồn dầu cho nền kinh tế cũng như chưa thấy lộ trình thay thế dầu cho các thập niên tới ngoài chủ trương nhập khẩu dầu và xây dựng nhà máy điện phân rã hạt nhân.  Vào thời điểm đó, tức 2020 cho đến 2050, cả thế giới đều lâm vào khủng hoảng trầm trọng về năng lượng như đã phân tích ở trên, dầu khai thác trên thế giới không có đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của các nền kinh tế thế giới, giá dầu sẽ tăng cao một cách khủng khiếp, như vậy để thoả mãn nhu cầu tiêu thụ trong nước, đâu có thể dễ dàng nhập dầu vì ai sẽ bán dầu cho ta và giá cả sẽ cao ở mức nào, có nằm trong dự tính của tầm nhìn chiến lược không? Chương trình điện hạt nhân đang được xúc tiến nghiên cứu và được xem như một lối thoát cho tình hình thiếu điện vào các thập niên tới. Nếu như nhà máy điện phân rã hạt nhân đầu tiên của Việt Nam công suất 2000 MW được trở thành hiện thực thì sự đóng góp của điện hạt nhân cũng chỉ khoảng 3,3% tổng nhu cầu điện đến năm 2020, và 5 năm sau đó, nếu có thêm một nhà máy nữa với tổng công suất 4.000 MW thì cũng chỉ đóng góp 4,7% tổng nhu cầu điện ở năm 2025. Theo ý kiến của một chuyên gia đã tham gia các Dự án  về thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng các nhà máy điện hạt nhân tại Hoa Kỳ, TS Đinh Hữu Đức, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Ameriacan Technologies, Inc (ATI), nguyên Giám đốc điều hành nhà máy điện hạt nhân Water Ford III tại Bang Louisiana cho biết, để đủ điện bảo đảm cho sự phát triển kinh tế giai đoạn sau WTO và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, trong 20 năm tới Việt Nam chắc chắn phải cần xây dựng ít nhất 20 nhà máy điện hạt nhân. Điều này thật khó khả thi nếu biết rằng, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam công suất khoảng 2.000 MW đang xem xét nói trên có thể xây dựng tại Ninh Thuận cần đầu tư khoảng 4 tỷ USD, thời gian xây dựng khoảng trên 10 năm nếu đúng tiến độ, và cần một đội ngũ quản lý, vận hành an toàn nhà máy điện hạt nhân được đào tạo nghiêm chỉnh, vì kinh nghiệm như sự cố xảy ra ở Nhật tháng 9-1999 tại nhà máy Ikata hoặc thảm họa Chernobyl ở Nga bên cạnh lỗi thiết kế, chính là do nhân viên bất cẩn và trình độ kỹ thuật non kém của những người vận hành, quản lý. Hơn nữa, khi những nhà máy điện hạt nhân này ở Việt Nam ra đời và đi vào khai thác, thời điểm đó thế giới có thể đã chuyển sang thế hệ điện hạt nhân mới trên cơ sở tổng hợp nhiệt hạch, những nhà máy điện phân rã hạt nhân như vậy sẽ lỗi thời.  Điều này cho thấy cần thiết phải xây dựng chính sách năng lượng quốc gia sao cho chủ động, an toàn và bền vững trong một thế giới đầy biến động và nguy cơ khủng hoảng năng lượng sâu sắc, sẵn sàng đối phó với kịch bản xấu nhất vẫn có thể bảo đảm đủ năng lượng để phát triển đất nước, không bị hụt hẫng suy thoái kinh tế, rối ren bất ổn xã hội. Tại hội thảo tháng 7/2006 ở Hà Nội bàn về giải pháp phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam, Stephane Astier, giáo sư trường Đại học Toulouse (Pháp) đã phát biểu, tình hình khẩn trương như vậy nhưng “nước đến chân vẫn… chưa chạy”. Vì vậy, rất cần xây dựng một chương trình mục tiêu quốc gia về năng lượng với các chương trình nghiên cứu trước mắt và lâu dài, dự án thực hiện ngắn hạn và dài hạn, kinh phí đầu tư của nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể, thể hiện được tầm nhìn xa chiến lược và có tính khả thi, đồng thời xem xét, tham chiếu với các chiến lược mới của thế giới về năng lượng để Việt Nam có thể thoát ra khỏi khủng hoảng năng lượng trong những thập niên tới một cách chủ động.  ———–  BỨC TRANH MÀU XÁM VỀ NĂNG LƯỢNG Ở THẾ KRY 21  Dầu mỏ    Do cung không đủ cầu nên giá dầu thường xuyên biến động theo hướng ngày một tăng cao, vì thế nhiều cơn sốt dầu mỏ dẫn đến các cuộc khủng hoảng năng lượng đã xảy ra trong các năm 1973, 1979, 2004 và chắc chắn sẽ còn xảy ra gay gắt hơn trong thế kỷ này. Ngay trong năm 2007, giá dầu 2 tháng gần đây đã vượt ngưỡng 80 USD/thùng, đến cuối năm nay, giá dầu dự báo sẽ lên đến 85 USD/thùng, thậm chí có thể là 90 USD/thùng. Theo IEA, giá dầu 60 USD/thùng đã là mức quá cao, đủ gây tác động kinh tế toàn cầu nói chung, vậy mà theo dự báo, vào năm 2015, giá dầu có thể tăng lên đến 380 USD/thùng. Điều này ngay cả những chiến lược gia năng lượng thế giới cũng khó suy đoán nổi giá dầu vào những năm 2020 hoặc 2050 sẽ cao đến mức nào. Giá dầu tăng cao đồng nghĩa với suy thoái kinh tế, rối ren xã hội, xung đột leo thang, chiến tranh khu vực và không loại trừ lan ra thế giới nếu không cảnh giác. Cuộc chiến I-rắc hiện nay về sâu xa cũng là vì nguyên nhân dầu mỏ, như chính người từng đứng đầu Cục dự trữ liên bang Mỹ gần đây đã thừa nhận.  Năng lượng nguyên tử  Vào những năm 70 của thế kỷ trước nhiều quốc gia còn cho rằng, năng lượng hạt nhân sẽ phát triển thành nguồn năng lượng chủ lực của nền kinh tế. Ngay như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Thế giới (IAEA) cũng đã dự kiến các nhà máy điện nguyên tử trên toàn thế giới đến năm 2000 sẽ đạt công suất trên 4.000 gigawatts (1 gigawatt=109 watts). Bước vào những năm 80, nghĩa là chỉ khoảng hơn 10 năm sau, thế giới đã chứng kiến sự thất bại của kế hoạch này. Từ năm 1987, nhiều quốc gia Châu Âu đã từ bỏ chương trình điện hạt nhân: Áo (1978), Thụy Điển (1980), Italy (1987). Ba Lan đã dừng xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Bỉ, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha và Thụy Điển quyết định không xây thêm các nhà máy điện hạt nhân mới và quyết định từ bỏ chương trình điện hạt nhân. Pháp từ sau năm 1998 không có thêm tổ máy năng lượng điện hạt nhân mới nào được cấp phép xây dựng. Đức đã quyết định đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân vào năm 2020. Ở Nhật, năm 2003, 17 nhà máy điện hạt nhân của Công ty điện lực Tokyo phải đóng cửa vì phát hiện có sự cố không an toàn. Ở Mỹ, 25 năm qua không có nhà máy điện hạt nhân nào được xây thêm. Thực tế cho đến những năm đầu của thế kỷ 21, công suất các nhà máy điện hạt nhân cũng chỉ đạt 343 gigawatts, nghĩa là dưới 1/10 so với kế hoạch dự định trước đây. Trên thế giới, hiện chỉ có 30 nước sản xuất điện hạt nhân, còn lại 170 nước không xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Điện hạt nhân hiện nay cũng chỉ đáp ứng được 2,3% nhu cầu năng lượng tiêu thụ của thế giới.  Trần Mạnh Trí      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình tạo giống lúa chống lụt, chống mặn      Biến đổi khí hậu tạo nên một thách thức rất lớn cho ngành trồng lúa Việt Nam, đặc biệt cho vùng ĐBSCL. Vì vậy để bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước, một trong những việc cần sớm triển khai là phải tiến hành chương trình nghiên cứu tạo giống lúa chống lụt, chống mặn.      Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (Dasgupta et al., 2007) đã cảnh báo mực nước biển sẽ dâng lên khoảng 1 – 3 m ngay trong thế kỷ này. Trong ba quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, không may lại có Việt Nam (hai quốc gia kia là Ai Cập và quần đảo Bahamas). Báo cáo của Liên Hiệp Quốc (Human Development Report 2007/08) tại Hà Nội ngày 13 tháng 8 năm 2008 cũng nói “khí hậu thay đổi sẽ đe dọa Việt Nam ở nhiều góc độ. Mưa sẽ nhiều hơn và sẽ có nhiều bão tố lũ lụt. Mực nước biển có thể sẽ dâng thêm 33cm cho đến năm 2050 và 1m cho đến năm 2100”.  Chỉ cần mực nước biển dâng lên 1m, Việt Nam sẽ bị mất khoảng 5% diện tích, 10% GDP, 7% sản lượng nông sản,10,8% dân Việt Nam phải di tản, và hầu như toàn bộ ĐBSCL sẽ bị chìm trong biển nước!   Giống lúa chống lũ, chống mặn        Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã từng lên tiếng cảnh báo về khả năng thiếu lương thực trên quy mô toàn cầu và yêu cầu thế giới tăng gia nhanh sản xuất lương thực (2008). Thiên tai bão lụt đã làm 2.919 người tử vong, 2,09 triệu ha hoa màu bị tàn phá, tổn thất đến 41 tỷ USD ở Trung Quốc (2010). Ở Pakistan, nạn lụt lớn nhất thế kỷ vào tháng 8 năm 2010 đã làm 1.600 người tử vong, ảnh hưởng đến đời sống của 4 triệu người, đẩy Pakistan vào cơn nguy cơ bị đói. Khô hạn ở Nga đã làm quốc gia này giảm lượng xuất khẩu lúa mì từ 21,4 triệu tấn (2009) xuống còn 12 triệu tấn (2010). Sát bên Việt Nam là Thái Lan cũng bị khô hạn lớn, 23,320 ha lúa vụ Đông Xuân 2010 đã bị mất.        Lúa sinh trưởng trong nước nhưng nếu mực nước dâng cao che ngập cây lúa, chỉ trong vòng một vài ngày, cây lúa chết. Mỗi năm lũ lụt đã làm mất hàng triệu tấn lúa, thất thoát hàng tỷ USD cũng vì mực nước lũ dâng cao che ngập cây lúa, mà trong đó phổ biến nhất là ở châu Á, nơi sản xuất hơn 90% lúa gạo thế giới.   Nghiên cứu giống lúa nước sâu, giống lúa chống lụt đã có từ lâu ở Á châu (Jackson và Vergara, 1976). Chương trình khảo nghiệm lúa nước sâu quốc tế (IRDWON) từ năm 1976 đã được thực hiện liên tục với nhiều báo cáo trong những hội nghị quốc tế về lúa gạo (Thái Lan 1976, Ấn Độ 1978, Thái Lan 1982, Úc 1985). Các nhà khoa học nghiên cứu lúa nước sâu phần lớn chú ý vào đặc tính khả năng vươn lóng của lúa nên nghiên cứu các giống lúa nổi là trọng tâm vào thời bấy giờ. Tuy nhiên khả năng vươn lóng và tính chống chịu ngập là hai tính trạng khác nhau (Bùi Chí Bửu & Nguyễn Thị Lang, 2003). Vươn lóng là cơ chế tránh ngập trong khi chống ngập mang tính trạng di truyền. Chính vì vậy mà cho đến khoảng đầu những năm 1990, chưa có giống lúa nào thực sự chống chịu ngập hoàn toàn, ngoại trừ một số giống lúa nổi vốn là những giống lúa nổi cổ truyền của Việt Nam, cụ thể là của ĐBSCL.  Ở miền Đông Ấn Độ có một loại lúa dại năng suất lèo tèo vài ba hạt/gié, cơm dở không ai ăn, người bản địa xem giống lúa dại này như cỏ. Nhưng mà giống lúa dại này lại có một đặc tính vượt trội không ngờ: cây lúa có thể sống nhiều ngày trong môi trường ngập nước. Một nhóm khoa học gia của Mỹ gồm GS Pamela Ronald (Đại học California Davis, UCD), GS Julia Bailey-Serres (Đại học California Riverside, UCR) và TS David McKill (IRRI) đã nghiên cứu đặc tính chống ngập này và họ đã tìm thấy gene chống lụt trong giống lúa dại ở miền Đông Ấn Độ – gene Sub1. Gene Sub1 là gene có trách nhiệm cho cây “ngủ”, kiểu như tự động ngừng tất cả những hoạt động sinh lý, sinh hóa khi lúa bị ngập nước. Nhóm nghiên cứu đã “định vị” được gene Sub1 và “tách, ghép” với giống lúa phổ biến của Ấn Độ – giống Swarna – để tạo ra giống lúa chống chịu ngập hoàn toàn, mang tên là Swarna-Submergence 1, hay là Swarna-Sub1. Đây là giống lúa chống lụt mang đặc tính hiện đại như năng suất cao, ngon cơm và có thể “ngủ” đến 3 tuần trong điều kiện ngập lụt. Giống lúa chống lụt Swarna-Sub1 đã được trồng thử ở miền Đông Ấn Độ và Bangladesh và đã chứng tỏ được đặc tính chống ngập tốt của nó. Ở Philippines, ba giống lúa chống lụt đầu tiên Swarna-Sub1, Mahsuri-Sub1 và IR64 đã được TS McKill của Cơ quan Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI giới thiệu, phổ biến và hợp tác nghiên cứu với nhiều nước ở châu Á. Từ những giống chống lụt đầu tiên của UCD/UCR/IRRI, các nhà khoa học đã lai tạo với giống địa phương để cho những giống mới: Philippines thừa hưởng 3 giống lúa chống lụt từ 3 giống của IRRI; Ấn Độ phóng thích hai giống lúa chống lụt Swarna-Sub1, Mahsuri-Sub1; Bangladesh phóng thích một giống lúa chống lụt BR-11-sub1; Thái Lan phóng thích một giống lúa chống lụt Homcholasit. Tại Indonesia, vào tháng 3 vừa qua, Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp đã phóng thích một lần 10 giống lúa trong đó có 1 giống chống lụt Inpara và một giống chống hạn Inpago. Đây là những giống lúa nằm trong chương trình nỗ lực đối phó với biến đổi khí hậu của Bộ Nông nghiệp Indonesia, trong đó Bộ Nông nghiệp khuyến cáo nông dân nên trồng giống lúa thích hợp cho từng mùa, thậm chí nếu cần nên thay đổi lịch trồng lúa để ứng phó với biến đổi khí hậu đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng ở Indonesia.           Hình 1. Giống lúa mang gene Sub1A (phía bên phải của mỗi hình) đã phục hồi tốt sau một thời gian dài bị khô hạn (Nguồn: BBC News)            Vào tháng 3 năm 2011, GS Bailey-Serres, Đại học California Riverside lại tuyên bố nghiên cứu mới nhất của bà cho thấy gene chống lụt Sub1A đồng thời còn mang tính chống hạn – drought-proof trait (Hình 1). Nghiên cứu này sẽ được đăng trong tạp chí khoa học The Plant Cell trong một ngày gần đây (BBC, 4 March 2011).    Việt Nam, ĐBSCL và chương trình tạo giống chống lụt, chống mặn  Ở Việt Nam, Viện Cây Lương thực (Hải Dương) và Viện Lúa ĐBSCL (Cần Thơ) và một số các viện nghiên cứu vùng khác cũng là những nơi đã từ lâu nghiên cứu rất tích cực về các tính chống chịu của cây lúa đối với thiệt hại do môi trường. Ở đây các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu tính chống chịu mặn, khô hạn, ngập lụt, độ độc nhôm, độ độc sắt, thiếu lân, chống chịu lạnh… Chính những cơ sở nghiên cứu này đã tham gia tích cực vào chương trình nghiên cứu lúa chống ngập “IRRI-JAPAN Submergence Tolerant Rice project in SE Asia” hợp tác với IRRI về gene chống ngập Sub1. Tuy nhiên so với các quốc gia trong khu vực, hình như chúng ta vẫn còn đi khá chậm trong việc triển khai và phóng thích các giống lúa chống chịu. Chúng ta có vẻ như chưa sẵn sàng cho tình hình biến đổi khí hậu đang càng ngày càng gay gắt ở Việt Nam. Không biết có phải vì Việt Nam thiếu một chương trình hành động đồng bộ, thống nhất mang tính quốc gia để giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc đương thời, như nước Úc đã làm với Trung tâm Xuất sắc về Lúa gạo của họ?        Đại học Nông nghiệp Hà Nội có một mối liên hệ tốt với hai Đại học California Davis (UCD) và California Riverside (UCR). Qua hợp tác giảng dạy và nghiên cứu, Đại học Nông nghiệp Hà Nội được cả hai Đại học UCD và UCR đồng ý cho tham gia vào chương trình nghiên cứu lúa chống chịu lụt/chống mặn của các GS Ronald (UCD) và Bailey-Serres (UCR). Việc hợp tác này đối với Đại học Nông nghiệp Hà Nội là một bước phát triển rất tích cực không những cho bản thân Đại học Nông nghiệp Hà Nội mà còn cho cả ngành lúa nước Việt Nam.         Úc không phải là một nước sử dụng nhiều lúa gạo. Họ chỉ ăn có 10kg gạo/người/năm. Tuy nhiên vì lúa gạo là một ngành kỹ nghệ có thị trường nhập khẩu 10 tỷ USD nên ngay từ những năm 1950,  Úc đã xây dựng một Trung tâm Xuất Sắc về Lúa gạo (Centre of Excellence for Rice and Irrigation) ở Yanco bang New South Wales, tập trung nghiên cứu tất cả những vấn đề liên quan đến lúa gạo. Sau 50 năm ngày nay Yanco đã trở thành vựa lúa của nước Úc, sản xuất 1,35 triệu tấn gạo trên 145.000 ha (năng suất trung bình 9,3 tấn gạo/ha), và xuất khẩu hơn 85% lượng gạo sản xuất, mang về cho đất nước 400 – 500 triệu Úc kim/năm. Qua hình thức nghiên cứu và đầu tư tập trung như vậy, Úc đã giải quyết được nhiều vấn đề vừa cục bộ vừa mang tính thời sự quốc tế, tạo nên thương hiệu cho nông sản Úc, gia tăng sức cạnh tranh trong và ngoài nước, mang về cho xuất khẩu Úc một kim ngạch nông sản 25,6 tỷ USD, chiếm 65% trong toàn bộ ngành nông nghiệp gần 40 tỷ USD, mà trong đó chỉ vỏn vẹn có 400,000 nông dân đảm trách.  Việt Nam có đủ yếu tố như nước Úc để trở thành một đại gia sản xuất và xuất khẩu nông sản. Và Việt Nam đã trở thành đại gia về lúa gạo. Nhưng để đối phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt ở vùng ĐBSCL, những phong trào, festival lúa gạo, hoặc dự án phát triển v.v…  là những bước đi tốt nhưng vẫn chưa đủ để nâng ngành lúa gạo Việt Nam, nhất là ĐBSCL thành một vựa lúa bền vững của Việt Nam. Chúng ta cần một “chương trình mục tiêu quốc gia” về lúa gạo, chủ động nghiên cứu để giải quyết những vấn đề sôi bỏng biến đổi khí hậu hiện thời qua những chương trình hợp tác quốc tế không chỉ bó gọn với những quốc gia trong vùng, trong khu vực, mà còn rộng khắp cả thế giới, kể cả với nước Mỹ, nước Úc. Chương trình này sẽ là chương trình của cả nước do một Hội đồng Lúa gạo Việt Nam (Vietnam Rice Council) quản lý để qua đấy tập trung đầu tư phát triển đồng bộ và quyết liệt cạnh tranh để đem đến hiệu quả cao nhất: củng cố nguồn lương thực lúa gạo cho đất nước và xuất khẩu chiếm lĩnh thị trường quốc tế.   Một chương trình mục tiêu quốc gia về Lúa gạo ở Viện Lúa ĐBSCL là một bước đi bền vững để nơi đây vẫn luôn là vựa lúa của Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình Venera của Liên Xô: Dẫn dắt cuộc đua thăm dò sao Kim      Tuần trước, các nhà khoa học Hoa Kỳ đã tìm thấy loại khí phosphine cho thấy manh mối của sự sống trong bầu khí quyển sao Kim và phát hiện này được người đứng đầu NASA gọi là “bước phát triển có ý nghĩa nhất” trong cuộc săn tìm sự sống ngoài Trái đất. Tuy vậy ít ai biết rằng không chỉ có Hoa Kỳ mà Liên Xô cũng đã tiêu tốn 30 năm cho công cuộc khám phá hành tinh gần Mặt trời này và có những thành tựu vượt trội chưa quốc gia nào thay thế được.      Tàu thăm dò Venera-1. Ảnh: fracademic.com.  Các tàu thăm dò liên hành tinh Pioneer và Voyager mà Hoa Kỳ phóng lên để khám phá các hành tinh phía xa Mặt trời trong thập niên 1970 thường được ca ngợi là những dấu mốc lịch sử. Tương tự, thông tin cập nhật về các robot thám hiểm sao Hỏa, gồm tàu đổ bộ Viking và các xe tự hành Sojourner, Spirit, Opportunity, Curiosity của Hoa Kỳ luôn tràn ngập trên mặt báo, thậm chí được nhân cách hóa thành những câu chuyện sinh động.  Còn những sứ mệnh thám hiểm sao Kim đầy tham vọng của Liên Xô lại rơi vào quên lãng, Ngay từ buổi bình minh của kỷ nguyên không gian cuối thập niên 1950, người Liên Xô đã thiết kế và chế tạo một loạt các tàu thăm dò sao Kim. Và trong gần 30 năm, họ đã chế tạo và phóng các tàu liên hành tinh lên sao Kim trong chương trình Venera (tên tiếng Nga của sao Kim) – đây thực sự là kỳ công ấn tượng, ngay cả theo tiêu chuẩn ngày nay.  Kỳ công ấn tượng  Đầu thập niên 1960, Chiến tranh Lạnh đang ở cao trào và cuộc đua không gian cũng đang quyết liệt. Người Liên Xô háo hức đạt được càng nhiều danh hiệu “đầu tiên“ càng tốt trong tất cả các lĩnh vực thám hiểm vũ trụ. Vào thời điểm đó, tên lửa của họ đạt sức đẩy tốt hơn của Hoa Kỳ, cho phép họ chế tạo và phóng các tàu vũ trụ lớn hơn, cả có người lái và không người lái. Với tên lửa đẩy bốn tầng và hệ thống đo đạc tầm xa tiên tiến, Liên Xô có thể thực hiện sứ mệnh đến các hành tinh khó tiếp cận gần Mặt trời.    Hình ảnh sao Kim dựa trên dữ liệu từ 2 sứ mệnh sao Kim của NASA và từ tàu vũ trụ Venera của Liên Xô. Ảnh: NASA.  Venera-1, tàu thăm dò đầu tiên trong chuỗi sứ mệnh sao Kim của Liên Xô, nặng 1,400 pound (so với khối lượng chỉ 184 pound của Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên). Hơi giống người máy Dalek trong bộ phim nổi tiếng Doctor Who, tàu Venera-1 được ổn định quay và mang các thiết bị bao gồm máy đo từ trường, máy đếm Geiger và máy dò vi thiên thạch. Và giống như nhiều thiết bị kế nhiệm, bên trong tàu được điều áp ở mức hơn 1 atm một chút bằng khí ni-tơ, giúp các thiết bị hoạt động ổn định.  Tuy nhiên, phiên bản đầu tiên không thể ra khỏi quỹ đạo Trái đất. Nỗ lực lần hai, diễn ra ngày 12/2/1961, thất bại trên đường đến sao Kim, mặc dù nó chỉ còn cách đích khoảng 62,000 dặm (100,000 km).  Venera-2, rất giống Venera-1, được chế tạo để bay ngang qua sao Kim, ghi lại thông tin và truyền về Trái đất. Tàu thăm dò đã tiếp cận gần sao Kim ở khoảng cách khoảng 15,000 dặm (24,000 km), nhưng bị quá nhiệt và không nghe tăm hơi gì nữa.  Liên Xô thiết kế bốn tàu thăm dò Venera tiếp theo, được đánh số từ 3 đến 6, nhằm nghiên cứu kỹ hơn bầu khí quyển của hành tinh địa ngục này. Khối lượng mỗi tàu cỡ khoảng 2,000 pound (900kg), mang các thiết bị kèm theo kén có thể tách rời (module đổ bộ) cũng được trang bị riêng gồm áp kế, máy đo độ cao bằng radar, máy phân tích khí và nhiệt kế. Tuy nhiên, không phải tất cả các cuộc thăm dò đều thành công.  Venera-3 đã lao đầu xuống bề mặt sao Kim thay vì đổ bộ như dự tính, khiến nó trở thành tàu vũ trụ đầu tiên đâm vào hành tinh khác, vào ngày 1/3/1966.  Venera-4 tiến hành đo đạc trong 90 phút khi nó từ từ hạ độ cao xuyên qua bầu khí quyển dày đặc của sao Kim vào ngày 18/10/1967. Nó đã phát hiện mức độ khí CO2 rất cao ở đây, cũng như sự không tồn tại của từ trường. Đúng như dự đoán, nó đã phải đối mặt với sức nóng và áp suất khủng khiếp của hành tinh này.  Cả Venera-5 và Venera-6 đều đạt được mức độ thành công tương tự, truyền dữ liệu trong hơn 50 phút trong khi chúng chầm chậm xuyên qua khí quyển sao Kim ngày 16/5 và 17/5/1969. Từ các dữ liệu về thành phần khí quyển, các tàu thăm dò đã giúp đưa ra kết luận rõ ràng rằng sao Kim rất khó có khả năng tổ chức sự sống: những niềm hy vọng lãng mạn về thiên đường sao Kim tiêu tan.    Xử lý thông tin trước chuyến bay của tàu Venera-7. Ảnh: TASS.  Venera-7 mang tham vọng lớn hơn với một module được thiết kế để hạ cánh nhẹ nhàng lên sao Kim, bao gồm các thành phần kiên cố hạng nặng có thể tồn tại trong thời gian ngắn trong điều kiện khắc nghiệt trên bề mặt sao Kim. Được phóng lên vào ngày 17/8/1970, tàu đã đổ bộ thành công lên bề mặt sao Kim ngày 15/12/1970. Sau khi dù được tách ra, nó đã rơi nhanh hơn dự kiến trong gần 30 phút, và tiếp đất ở vận tốc khá lớn, khoảng 38 dặm/giờ (61km/h).  Tưởng chừng sứ mệnh đã thất bại, nhưng Venera đã truyền được dữ liệu có ý nghĩa trong một khoảng thời gian ngắn. Nó đo được nhiệt độ bề mặt gần 900°F (475°C), tương đương với một lò nước pizza bằng gạch. Mặc dù cảm biến áp suất bị hư hại trong quá trình hạ độ cao, nhưng các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các phép đo của nó để ước tính được áp suất bề mặt khoảng 92 bar, tương đương độ sâu nửa dặm dưới nước (900m).    Tem kỷ niệm sứ mệnh đổ bộ sao Kim của tàu thăm dò Venera 8 của Liên Xô năm 1972. Ảnh: METRO  Venera-8 lặp lại phần lớn thành tích của sứ mệnh tiền nhiệm, mặc dù module đổ bộ không tách ra khi nó tiếp cận bề mặt sao Kim ngày 22/7/1972. Cảm biến trên Venera-8 xác thực lại áp suất khí quyển cũng như đo đạc mức độ ánh sáng xung quanh trên bề mặt, cho thấy các máy ảnh của các sứ mệnh tương lai có thể chụp được cảnh quang sao Kim.  Khảo sát chi tiết bề mặt sao Kim  Trong tất cả các sứ mệnh đến sao Kim của Liên Xô, Các tàu Venera-9 đến Venera-12, mỗi chiếc nặng khoảng 11,000 pound (5,000 kg), là những sứ mệnh đáng nhớ nhất, vì chúng mang theo máy ảnh.  Một số máy ảnh trên các tàu thăm dò sao Kim đã bị lỗi, thường là do nắp ống kính không thể bung ra. Nhưng dù sao, một vài chiếc khác đã chụp được và truyền những hình ảnh đầu tiên trực tiếp từ bề mặt hành tinh sao Kim.  Những bức ảnh chụp từ Venera-9 và Venera-10 thực sự đáng kinh ngạc vì độ sắc nét, rõ ràng, miêu tả cảnh quang khắc nghiệt đầy đá, trải xa tận chân trời. Máy ảnh cũng chụp được những góc cạnh của chính tàu đổ bộ, cho thấy thiết kế đặc trưng của Liên Xô.    Được Liên Xô phóng vào năm 1981, Venera-13 đã chụp ảnh được bề mặt sao Kim. Venera-13 chống chịu được khoảng 2 giờ trước nhiệt độ và áp suất khắc nghiệt ở đây. Ảnh: Dr. Ksanfomality/Astronomicheskii Vestnik  Venera-13 và Venera-14, đều được phóng năm 1981, là phiên bản cao cấp hơn, mang theo tàu đổ bộ được trang bị các thiết bị âm thanh tinh vi có thể đo tốc độ gió trên sao Kim.  Venera-15 và Venera-16, mỗi chiếc nặng dưới 9,000 pound (4,100 kg), không mang theo tàu đổ bộ. Từ trên quỹ đạo, chúng dùng hệ thống hình ảnh radar tiên tiến để lập bản đồ bề mặt “phồng rộp” của sao Kim. Tàu thăm dò Pioneer-12 của Hoa Kỳ là tàu đầu tiên lập bản đồ sao Kim, nhưng chính tàu của Liên Xô đạt được độ phân giải tốt hơn, khoảng 1 dặm/pixel. Những hình ảnh có độ chi tiết tuyệt vời, cho thấy những vùng cảnh quang khắc nghiệt rộng lớn, với nhiều hố do va chạm, những gò cao ấn tượng và lòng chảo ngập dung nham.    Mô hình tàu Venera-13 và module đổ bộ (phía trước) được trưng bày tại Moscow. Ảnh: NASA.  Hoa Kỳ cũng ghi dấu ấn của mình trong các sứ mệnh khám phá sao Kim cực kỳ thành công là Pioneer-12 và Magellan, các tàu khác của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu và Nhật Bản gửi đi cũng góp phần tăng thêm hiểu biết của nhân loại về hành tính láng giềng. Tuy nhiên, chuỗi sứ mệnh liên tiếp của Liên Xô vẫn là chương trình thám hiểm sao Kim tích cực và bền bỉ nhất.  Gần đây, các nhà khoa học Anh-Mỹ đặt ra giả thuyết về sự sống trên sao Kim sau khi phát hiện khí phosphine, chất có thể được tạo thành thông qua hô hấp kỵ khí của vi khuẩn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi nghi ngờ độ tin cậy của các bằng chứng quan sát từ xa.  Là quốc gia duy nhất từng đổ bộ lên sao Kim, Tổng giám đốc Roscosmos, Cơ quan Vũ trụ của Liên bang Nga, tự tin tuyên bố: “Sao Kim là hành tinh của Nga”. Ít nhất cho đến hiện tại, điều này có vẻ không thay đổi.  Theo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuột chũi có thể sống hơn 18 phút không cần ô-xi      Chuột chũi Đông Phi (Heterocephalus glaber) là những siêu anh hùng trong phòng thí nghiệm. Chúng có ít biểu hiện lão hóa, chịu đau tốt, và hầu như không bao giờ bị ung thư. Mới đây, các nhà khoa học còn phát hiện một sức mạnh siêu phàm khác ở chuột chũi: Chúng có thể sống sót hơn 18 phút mà không cần ô-xi.      Chuột chũi Đông Phi sống thành từng bầy khoảng 300 cá thể trong các hang dưới lòng đất, nơi khan hiếm ô-xi.  Chúng làm được điều đó bằng cách chuyển cơ thể từ tình trạng sử dụng năng lượng này sang năng lượng khác và chiến lược đó đang gợi ý những phương pháp mới chống lại các cơn đột quỵ và nhồi máu cơ tim ở người.  Chuột chũi có khả năng chịu được không khí có mức CO2 cao hoặc ô-xi thấp. Động vật có vú không lông này sống thành từng bầy khoảng 300 cá thể trong các hang dưới lòng đất, nơi khan hiếm ô-xi.  Để tìm hiểu xem chuột chũi có thể chịu được mức ô-xi ít đến mức nào, Thomas Park, nhà thần kinh học tại Đại học Illinois, Chicago, và Gary Lewin, nhà sinh lý học tại Trung tâm Max Delbrück, Berlin, đã đưa chúng và những con chuột thường vào trong một buồng không có ô-xi. Chuột thường chết trong chưa đầy một phút,  còn chuột chũi thì không. Nhịp tim của chúng chậm lại từ 200 xuống còn 50 nhịp/phút, và chúng nhanh chóng mất tỉnh táo. Nhưng sau 18 phút ở trong buồng không có ô-xi, chúng hoàn toàn phục hồi khi tiếp xúc với không khí bình thường, hai nhà nghiên cứu viết trên Science.  Bí quyết ở đây có thể liên quan đến cách chuột chũi chuyển hóa đường. Con người và những động vật có vú khác phân giải đường glucose để tạo ra năng lượng nhờ một quá trình nhiều bước gọi là thủy phân glucose. Quá trình đó đòi hỏi ô-xi; không có ô-xi, các sản phẩm phụ như lactate, sẽ tích tụ lại, ức chế các bước đầu của quá trình thủy phân glucose, và việc sản xuất năng lượng sẽ ngừng lại. Năng lượng dự trữ sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt, đặc biệt là trong não, và các tế bào bắt đầu chết.  Trong khi tìm kiếm những thay đổi về mặt hóa học ở những con chuột chũi bị thiếu ô-xi, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hai loại đường trong máu là fructose và sucrose (một phân tử bao gồm fructose và glucose) có mức cao hơn. Và so sánh với các động vật có vú khác, những con chuột chũi này cũng có mức GLUT5 – loại protein vận chuyển fructose đến các tế bào – và mức của một loại enzyme chuyển đổi fructose thành dạng có thể tham gia vào quá trình thủy phân glucose cao hơn. “Hai yếu tố này cho phép chuột chũi dùng fructose làm nhiên liệu thay vì glucose khi không có ô-xi”, theo Lewin.  Bởi vì fructose tham gia vào quá trình thủy phân glucose ở giai đoạn sau, nên việc sản xuất năng lượng vẫn có thể tiếp tục khi không có ô-xi và các bước đầu tiên của quá trình thủy phân glucose bị dừng lại. Theo Grant McClelland, nhà sinh lí học ứng dụng so sánh tại Đại học McMaster, Hamilton, Canada, thì ngay cả cá hoặc rùa có thể sống sót trong thời gian dài mà không cần ô-xi cũng không biến đổi được quá trình thủy phân glucose theo cách đó. Ông nói: “Đây là một ví dụ tuyệt vời về việc quá trình tiến hóa tìm ra giải pháp cho những thách thức về môi trường như vậy hay những thách thức tương tự.”  Tuy nhiên, việc chuyển sang sử dụng fructose quan trọng cho sự sống còn của chuột chũi như thế nào vẫn chưa rõ ràng, Göran Erik Nilsson, nhà sinh lí học so sánh tại Đại học Oslo lưu ý. Những cơ chế khác như cơ chế làm chậm quá trình trao đổi chất hay cơ chế hạ nhiệt độ cơ thể xuống thấp đến bất thường (30 độ C) ở chuột chũi cũng có vai trò nhất định.  Việc hiểu rõ hơn về sự chuyển đổi năng lượng ở chuột chũi sẽ mở ra khả năng áp dụng chiến thuật này ở người. Ví dụ như trong trường hợp đột quỵ hay đau tim, dòng ô-xi lên não bị gián đoạn và các tế bào não bắt đầu chết trong vòng vài phút. “Nếu khơi thông được con đường fructose, chúng ta có thể kéo dài đáng kể khoảng thời gian đó”, Thomas Park nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/04/naked-mole-rats-can-survive-18-minutes-without-oxigen-here-s-how-they-do-it    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuột đeo tay      Một nhóm sinh viên tại Viện Bách khoa Worcester (Mỹ) đã sáng chế ra loại chuột vi tính thế hệ mới, có tên là MagicMouse.    Với kích thước nhỏ nhắn, MagicMouse mang lại một phương pháp hoàn toàn mới giúp người sử dụng tương tác với máy tính thuận tiện. Loại chuột mới gồm một máy phát tín hiệu siêu thanh cực nhỏ đeo trên tay và bộ 5 máy thu để ngoài. Khi người sử dụng đeo MagicMouse vào ngón tay giữa và trỏ vào các điểm trên màn hình cảm ứng mà không cần chạm tay vào màn hình (ảnh), 5 máy thu sẽ dò tín hiệu phát đi từ máy phát (được đeo trên ngón tay) và từ đó truyền chỉ thị cho máy tính. Chi phí sản xuất mỗi bộ chuột này tốn 155 USD.  H.G (Digital Trends)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuột: không tự nhiên sinh ra và không tự nhiên mất đi      Năm 1963, Douglas Engelbart cộng tác với một kỹ sư giúp việc ông là Bill English thiết kế được con chuột. Hiện nay hằng năm, hàng tỷ chuột đã bán ra. Ngày nay độ phân giải của màn hình cao nhất là cỡ 800ppi (của Sony Xperia XZ), Còn độ phân giải của sensor chuột laser là trên 2000dpi. Như vậy thì độ phân giải của chuột (trường hợp chuôt thì ppi và dpi tương ứng 1:1) vượt xa của màn hình, nghĩa là chuột ngày nay không hề bị lạc hậu dù trong thời đại 4.0.      Douglas Engelbart, cha đẻ của chuột máy tính.   Giao diện đồ họa người dùng (GUI)   Ai cũng biết Bill Gates và Steve Jobs đã xây dựng hai trong số những tên tuổi lớn nhất trong công nghệ hiện nay: Microsoft và Apple.  Cả hai công ty đều được coi là những người tiên phong trong ngành, tạo ra phần mềm và phần cứng cách mạng hóa cách chúng ta sống, giao tiếp và kinh doanh.  Bill Gates và Steve Jobs, cả hai đều sinh năm 1955, có mối quan hệ yêu-ghét nhau lẫn lộn. Và không quá khi nói rằng hai ông trùm là đối thủ nhiều hơn là bạn bè.  Mặc dù họ có mối quan hệ khá thân thiện từ rất sớm, Jobs đã trở nên giận dữ khi Microsoft phát hành phiên bản Windows đầu tiên vào năm 1985, cáo buộc Gates đã chép trộm máy tính Macintosh của mình.  Thường thì Jobs và Gate rất tôn trọng nhau, nhưng lần đó Jobs đã nổi khùng hét lên trong một cuộc hội thảo tại trụ sở Apple:  “Tôi đã tin tưởng cậu, thế mà giờ cậu lại giở trò đánh cắp của chúng tôi”.  Gates đã cười trả lời: “Chà, Steve, tôi nghĩ có nhiều cách nhìn khác nhau đấy. Theo tôi, chuyện giống như thế này này, rằng cả hai chúng ta có biết một người hàng xóm giàu có tên là Xerox và tôi đã đột nhập vào nhà ông ấy để ăn cắp TV và khi vào nhà thì phát hiện ra rằng cậu đã đánh cắp nó rồi”.  Có thật là họ đánh cắp TV không và cái TV gì quý hiếm đến mức mà hai tỷ phú phải ăn trộm?  Trong một cuộc giao lưu có người đã hỏi thẳng Bill Gate: “Ông  đã sao chép công nghệ và ý tưởng Steve Jobs hay ông ta đã sao chép của ông?”  Gates đáp:  “Cả hai chúng tôi đều có học theo Xerox PARC trong việc tạo giao diện đồ họa, cái này không phải của Xerox, nhưng họ làm việc này rất tốt – Steve đã thuê Bob Belville. Tôi đã thuê Charles Simonyi thiết kế. Chúng tôi đã không vi phạm bất kỳ bản quyền IP nào mà Xerox nắm giữ, nhưng quả thật công trình đã làm được của Xerox đã chỉ ra con đường dẫn đến Mac và Windows”.  Vâng, cái TV mà họ “đánh cắp và cãi nhau” đấy là cái mà giới chuyên môn gọi là giao diện đồ họa người dùng (GUI – Graphical Use Interface) với “chú chuột” bé tẹo đấy. Khi bạn mở bất kỳ máy tính nào bạn đều thấy hiện trên màn hình các biểu tượng (icons), một con trỏ. Khi đưa con trỏ chỉ vào biểu tượng và bạn nhấp (click) chuột, bạn sẽ có được những gì mà bạn mong muốn hiện ra, và bạn làm việc tiếp… Đấy chính là giao diện đồ họa người dùng.   Còn Xerox là ai? Đó là một gã khổng lồ, nơi sáng chế ra Xerocopy (tức máy photocopy ngày nay), phim ảnh màu, máy ảnh số…(nay thì Xerox gần như chết rồi). Nói giao diện đồ họa người dùng và chuột là của Xerox cũng đúng mà cũng không đúng.   Douglas Engelbart, cha đẻ của chuột máy tính  Câu chuyện bắt đầu từ một anh chàng kỹ sư nhút nhát, không biết kinh doanh, vốn là một lính radar tên là Douglas Engelbart, phải bỏ dở Đại học Oregan để nhập ngũ năm 1942. Chiến tranh kết thúc giải ngũ về đi học tiếp trở thành kỹ sư điện, làm kỹ sư một thời gian cho NASA. Thời đó máy tính còn rất hiếm hoi, ít nơi dạy. Vì đam mê máy tính, Engelbart bỏ việc để tiếp tục học lấy bằng thạc sĩ vào năm 1953 và lấy bằng tiến sĩ điện toán năm 1955 tại Đại học Berkeley, California. Vốn là lính radar quen với màn hình hiển thị, trong khi mọi người thời đó chỉ có cách nhập dữ liệu vào máy tính bằng thẻ đục lỗ, Engelbart nẩy ra ý tưởng và thực hiện việc nhập xuất dữ liệu (data input-output) bằng bàn phím với màn hình. Ông làm việc cho Viện nghiên cứu Standfort (SRI-Stand fort Reseach Institute), thành lập Trung tâm nghiên cứu gia tăng (ARC-Augmentation Reseach Center) trong SRI. Cái tên kỳ lạ của Trung tâm nghiên cứu chính là ý tưởng cho rằng máy tính có thể gia tăng trí thông minh của con người. Ông đã phác thảo những cách sáng tạo để thu thập, xử lý và xem thông tin, sau đó chia sẻ thông tin qua mạng để mọi người có thể làm việc cùng nhau, ngay từ những năm 1960!  ARC trở thành động lực thúc đẩy thiết kế và phát triển Hệ thống on-Line (NLS).   Tại đây Engelbart đã phác thảo ra toàn bộ hệ thống APARNET (mạng máy tính dùng trong quân sự), tiền thân của INTERNET sau này. Ông và nhóm của mình đã phát triển các yếu tố giao diện máy tính như Ánh xạ điểm màn hình (bitmapped Screen), chuột (mouse), siêu văn bản (hypertext – là nền móng của Internet), bộ công cụ đồng sử dụng và (tiền thân của) giao diện người dùng đồ họa (GUI – Graphical User Interface). Ông đã sáng tạo và phát triển nhiều ý tưởng giao diện người dùng vào giữa những năm 1960, rất lâu trước cuộc cách mạng máy tính cá nhân, vào thời điểm mà Bill Gate và Steve Jobs mới 12, 13 tuổi, chưa hề có và chưa ai dám nghĩ tới là sẽ có  máy tính cá nhân cả! Quá giàu ý tưởng sáng tạo và phát minh đi trước thời đại cùng phong cách làm việc không giống ai cả nên ông gặp nhiều trắc trở. Khi xây dựng ARC, ông tuyển dụng khá nhiều nhân viên là phái nữ vì ông cho rằng phụ nữ sẽ làm việc tốt hơn, dễ xây dựng một văn hóa làm việc hỗ trợ nhau trong cộng đồng nối mạng máy tính. Các nhà tài trợ nghi ngờ ý tưởng đó, lo rằng ông sẽ thất bại, và nhà tài trợ chính là APARNET (Bộ Quốc phòng) đã cắt kinh phí. Hoàn cảnh khó khăn, những cộng sự tài năng của ông lần lượt rời phòng thí nghiệm, kéo nhau sang làm cho Trung tâm Nghiên cứu rất hiện đại và giàu có của Công ty Xerox ở Palo Alto (Xerox PARC – Xerox Palo Alto Research Center) gần ngay ARC của ông. Nhờ đó, XEROX có được GUI và kèm theo đó là một cái hộp gỗ nhỏ cầm tay. Khi thiết bị nhỏ lăn, một chấm trên màn hình lăn cùng với nó. Nó được Douglas Engelbart cộng tác với một kỹ sư giúp việc ông là Bill English thiết kế năm 1963. Engelbart kể lại rằng, “tôi không biết vì sao chúng tôi gọi nó là con chuột. Có thể cái dây điện nối với nó giống cái đuôi. Đôi khi một cái tên được ngẫu nhiên gọi lên như thế đó và rồi không bao giờ thay đổi nó được nữa!”  Năm 1979, Xerox cho phép Steve Jobs và các giám đốc điều hành khác của Apple tham quan phòng thí nghiệm của mình hai lần, để đổi lấy quyền mua 100.000 cổ phiếu của Apple. Jobs đã biết được GUI và CHUỘT nhờ vào hai lần tham quan đó. Rõ ràng cả hai thứ đó hoạt động ở Xerox nhưng không phải sở hữu của Xerox. Vậy là Gate đã nói đúng. Cho nên GUI thì Jobs (và Gate) bắt chước, còn chuột thì phải mua bản quyền của SRI, nơi đã thuê Engelbart làm việc.  Nghịch lý là, so với kho tàng khổng lồ các ý tưởng và phát minh sáng tạo của mình thì con chuột là một phát minh nhỏ bé nhất của Engelbart lại làm cho ông nổi tiếng nhất, hàng tỷ chuột đã bán ra hằng năm, mặc dù vậy trong vụ này cá nhân Engelbart không kiếm nổi quá 10000 USD. Nghe đâu Apple đã chỉ cần phải trả cho SRI 40000 USD để mua quyền sử dụng sáng chế chuột này. Nhân loại phải cảm ơn Engelbart không phải vì con chuột, mà vì bộ óc vĩ đại này. Ngay từ khi Bill Gate và Steven Jobs mới hơn 10 tuổi, ông đã tạo ra những ý tưởng, phát minh, sáng chế cùng với những bước đi đầu tiên cho mọi thứ mà Microsoft, Apple và bao nhiêu các hãng công nghệ sau này đã tạo ra cho chúng ta sử dụng ngày nay. Người ta đã từng than rằng, không biết Thung lũng Silicon sẽ làm gì khi hết ý tưởng của Douglas Engelbart. Vào năm 2006 khi được hỏi là kho ý tưởng sáng tạo của ông đã sử dụng được bao nhiêu, Engelbart trả lời khoảng 2,8%! Những ý tưởng của ông ấy đã đi trước thời đại đến nỗi không có ngôn ngữ để mô tả nó.      Vào năm 2006 khi được hỏi là kho ý tưởng sáng tạo của ông đÃ sử dụng được bao nhiêu, Engelbart trả lời khoảng 2,8%! Những ý tưởng của ông đã đi trước thời đại đến nỗi không có ngôn ngữ để mô tả NÓ.      Mặc dù ông đã được trao hơn 40 giải thưởng, bao gồm cả Huân chương Công nghệ và Sáng tạo Quốc gia, Giải thưởng Lemelson-MIT trị giá 500.000 USD và một số bằng tiến sĩ danh dự, ông Engelbart thường cảm thấy không thật hài lòng với chính mình. Ông qua đời năm 2013, ở tuổi 88, sau khi bị suy thận. Nhưng giấc mơ của ông ấy vẫn đang truyền cảm hứng cho chúng ta, ngay cả cái ý tưởng bé nhất đã sinh ra con chuột.        Author                Trần Gia Ninh        
__label__tiasang Chuột và vai trò của nó trong nghiên cứu y sinh học      Chuột là một loại động vật gắn liền với sinh hoạt văn hoá của con người khá lâu đời, đặc biệt với nền văn hoá lúa nước như Việt Nam. Sự hoà nhập giữa loài chuột với con người trong một quần thể định cư có lẽ được xác định từ thời kỳ đồ đá mới (Neolithic) ở Thổ nhĩ kỳ khoảng 6500-5650 trước Công Nguyên [1]; và chuột nhà đã chứng tỏ là loại động vật có vú có khả năng thích nghi cao nhất với các quần thể định cư đa dạng của con người. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chuột và người lại là cảnh “đồng sàng dị mộng”, chuột luôn là đối tượng để con người “tìm và diệt” vì đặc tính sinh thái và tác hại của loài chuột đối với con người.    Trong dân gian Việt nam con chuột được nhắc đến như là một biểu tượng của những điềm gở, những tính xấu hơn là sự gắn bó thân thiện và hữu ích. Ngay cả đối với tây phương, đến tên gọi tiếng Anh “mouse” cũng mang một nghĩa xấu. Mouse, bắt nguồn từ gốc Latin là “mus”, rồi tiếng Hy lạp là “mys” và cuối cùng là du nhập vào tiếng Phạn cổ là “mush” [2], đều có nghĩa là “ăn cắp”. Vâng, chúng ta đã đặt cho loài chuột một cái tên định danh, là kẻ cắp, kẻ ăn cắp thực phẩm của con người từ khi nông nghiệp ra đời.  Cho dù cho đến nay, chuột trong mắt con người vẫn là một loại sinh vật gây hại đáng ghét, một “kẻ cắp chuyên nghiệp”. Thế nhưng qua hàng thế kỷ nay, con người đang trở thành “kẻ cắp” trở lại đối với loài chuột; thậm chí, chuột đã trở thành “ân nhân” bất đắc dĩ của con người. Con người đã ăn cắp những gì, và ăn cắp như thế nào từ loại sinh vật thấp kém này, nhân năm Chuột (Mậu Tý 2008), chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về vai trò của con chuột trong nghiên cứu y sinh học.  Sơ lược về việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y sinh thực nghiệm  Việc sử dụng động vật để áp dụng trong nghiên cứu khoa học sinh lý học có từ rất lâu đời; tuy nhiên theo tài liệu còn lưu trữ được cho đến nay thì Galen ở Pergamum (130-200 sau Công Nguyên), được coi là ông tổ của ngành phẫu thuật của y khoa từ thời Hippocrate, là người đầu tiên thực hiện phẫu tích và nghiên cứu trên mô hình động vật là lợn (heo), khỉ không đuôi (barbary ape), và chó để nghiên cứu sinh lý học áp dụng cho con người sau khi bộ luật La mã nghiêm cấm mổ tử thi [3]. Và cũng từ đó mà việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y học đã đóng góp cho nhân loại một kho tàng tri thức vô giá về các mặt cơ thể giải phẫu, sinh lý học, bệnh lý học và sau này là mô hình thử nghiệm và di truyền học.  Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, có nhiều mô hình nghiên cứu phi động vật (dòng tế bào người, quan sát và giải phẫu tử thi) để thay thế mô hình động vật và mô hình nghiên cứu trên động vật cũng chỉ có giá trị khoa học nhất định nhưng động vật vẫn là một trong những mô hình được sử dụng ưu thế nhất trong nghiên cứu y sinh học. Mỗi năm có khoảng 17 đến 23 triệu con vật được sử dụng để nghiên cứu [4]. Trong số đó,  chuột (cả chuột hoang dại, rat và chuột nhà,  mouse) chiếm đến 95% các nghiên cứu trên mô hình động vật [4, 5]. Sở dĩ chuột được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu y khoa là do kích thước nhỏ, giá thành tương đối không đắt đỏ, dễ nuôi, sinh sản nhanh, đặc biệt đời sống ngắn (2-3 năm) nên có thể theo dõi được hết đời sống và có thể theo dõi được cả vài thế hệ. Nhưng điểm quan trọng và quý giá nhất nhất là đặc điểm sinh lý và di truyền học của chuột rất gần với con người. Thực tế, mặc dù tinh tinh (chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99% giống với con người, và chuột chia sẻ có 98% bộ gen với con người, nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu hình nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu y học. Trong một thập niên gần đây, các khoa học gia còn nâng cấp mô hình nghiên cứu chuột lên một tầm cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc gen trong chuột để gây ra các bệnh lý giống như bệnh lý ở người.  Tại sao không thể dùng các mô hình thay thế động vật trong nghiên cứu y sinh?  Trên nguyên tắc, một khi có thể sử dụng được mô hình thay thế động vật là các nhà nghiên cứu lập tức áp dụng ngay. Nhiều mô hình thay thế động vật được áp dụng rộng rãi hiện nay bao gồm mô hình vi tính hoá, mô hình trên các dòng tế bào phân lập, nuôi cấy và một số các mô hình phi động vật khác. Thí dụ như mô hình vi tính hoá thường được sử dụng trong việc sang lọc và xác định mức độ gây độc của các chất trong giai đoạn khởi đầu của nghiên cứu thực nghiệm trên các mô và tế bào nuôi cấy. Tuy nhiên, các mô hình trên động vẫn vẫn còn giá trị, ví dụ như bệnh mù, chúng ta không thể nghiên cứu trên mô hình phi động vật hay bệnh cao huyết áp không thể nghiên cứu được trên các tế bào nuôi cấy.  Các bộ phận sống cực kỳ phức tạp bởi vì nó hoạt động theo cơ chế chỉ huy đa tầng và đa liên kết. Thí dụ, hệ thống thần kinh trung ương, tuần hoàn, hoá chất trong não, nội tiết tố cũng như đáp ứng miễn dịch là một mối liên hệ chằng chịt; và chúng ta không thể nào nghiên cứu các tiến trình bệnh lý ở các cơ phận này nếu không quan sát và thử nghiệm trên một cơ thể sống hoàn chỉnh.  Chuột và nghiên cứu y sinh học  Chuột đến với phòng thí nghiệm được biết sớm nhất có lẽ là từ những người thích chơi chuột, họ nuôi và lai giống để có được những con chuột có màu lông lạ đời. Khởi thuỷ là từ những người chơi chuột Tàu (Chinese mouse) rồi lan sang Anh và Mỹ, thế nhưng chuột Tàu lại không phải là loại có bộ gen để sử dụng trong phòng thí nghiệm hiện đại [6]. Ở châu Âu, Robert Hook được coi là người đầu tiên sử dụng chuột để nghiên cứu thực nghiệm về oxy trong cơ thể sống vào năm 1614 (Masson JH 1940, trích dẫn lại [6]). Từ đó, viêc sử dụng chuột với các chủng đặc biệt trở nên ngày càng phổ biến. Đáng ghi nhận nhất ở Mỹ là bà Abbie Lathrop, một giáo viên nghỉ hưu, thích chuột và nuôi chúng trong một trang trại của mình ở Massachusette vào đầu thế kỷ XX [7]. Các dòng chuột nuôi của bà trở thành những con vật đầu tiên được Giáo sư Ernest Castle đưa vào phòng thí nghiệm của Đại học Harvard và sau đó là Đại học Pennsylvania, khi chúng được phát hiện thấy có phát triển các khối u vào năm 1902.  Chẳng bao lâu sau đó, học trò của Ernest là Clarence Cook Little (1888-1971) là người có công đầu trong việc tạo các giống chuột lai thuần chủng, lần đầu tiên được dùng trong nghiên cứu các bệnh ung thư có tính di truyền. Ông đã tạo ra giống chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti) [8], tạm gọi là chuột thí nghiệm; các chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo và vẫn thông dụng cho đến hiện nay là CBA, C3H, C57BL/6 và BALB/c.  Little cũng chính là người đã thành lập Phòng thí nghiệm Jackson năm 1929 [9], sau đó trở thành một trong những xưởng cung cấp các giống chuột thí nghiệm lai thuần chủng lớn nhất thế giới.  Mặc dù chuột được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học, nhưng không phải tất cả các loại chuột đều dùng được. Các chủng chuột dùng trong nghiên cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu trúc di truyền được xác định rõ. Và các chủng chuột đã xác định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống hệt hoặc chí ít cũng rất sát nhau để có thể tái sinh sản theo cách cho lai thuần chủng các thế hệ trong thực nghiệm và để cho có thể tiên đoán được các kiểu hình (phenotype) cũng như các thành phần của dị hợp tử (allele) [10].  Chuột nhà, tên khoa học là Mus musculus domesticus, được lựa chọn là mô hình nghiên cứu chuẩn trong phòng thí nghiệm y sinh do khả năng thích nghi cao và khả năng có thể cho lai tạo các dòng gen thuần chủng tiện lợi cho nghiên cứu các bệnh có liên quan mật thiết với bệnh lý ở người. Đặc biệt từ khi công nghệ cao chuyển và tách gen ra đời, chuột càng chứng tỏ mình là một sự lựa chọn đúng đắn của con người trong nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn một chủng chuột đặc hiệu, chủng 129, và các chủng phụ của nó được coi là đặc biệt giá trị do chúng có thể tạo các bào gốc phôi mà có thể làm thay đổi được cấu trúc di truyền trong quá trình nuôi cấy và rồi được đưa trở lại vào trong tử cung của chuột vật chủ [11]. Các nghiên cứu sử dụng biện pháp biến đổi gen trực tiếp của các phụ chủng nhóm 129 đã cho phép công nghệ “tạo đột biến gen theo ý muốn” (target mutation) để tạo ra các giống chuột có các đặc tính bệnh lý đặc hiệu, hay còn gọi là chuột chuyển gen (transgenic mouse) hoặc chuột tách bỏ gen (knockout mouse) cũng như các giống chuột có mang gen bệnh lý của người (chuột chuyển gen người, humanized mouse).  Ngày nay việc sử dụng chuột đã được thay đổi gen trong phòng thí nghiệm y sinh trở thành thông dụng nhất.            Quy trình tạo chuột chuyển gen (transgenic mice)  Chiết tách các gen cần cấy vào cơ thể chuột, sau đó cấy gen này vào trứng chuột. Đưa trứng đã cấy gen này vào trong tử cung chuột mẹ trung gian để tạo ra thế hệ con cái có mang gen cần cấy          Đối với chuột hoang dại (rat), có lẽ chuột hoang dại ở Nauy là được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm phổ biến nhất, đặc biệt là trong giảng dạy. Giống như chuột nhà, chuột hoang dại được ưa chuộng là do khả năng sinh sản nhanh, đời sống ngắn, nguồn sẵn có và quan trọng hơn, chuột hoang dại có giá trị trong nghiên cứu đặc tính hành vi. Ngày nay, với những khám phá mới về khoa học thần kinh, khoa học thần kinh hành vi tạo cơ may để chuột hoang dại tiếp tục phát huy thế mạnh của mình trong nghiên cứu về các hành vi vận động, tấn công và sinh sản. So với chuột nhà, chuột hoang dại ít được sử dụng hơn trong phòng nghiên cứu y sinh hiện đại do hạn chế về khả năng tạo dòng lai thuần chủng. Thế nhưng trong những thập niên gần đây, từ khi công nghệ chuyển gen và tách gen ra đời, chuột hoang dại đang dần chiếm lại vị thế của nó trong phòng thí nghiệm do cho thấy có hiệu quả hơn chuột nhà trong việc sử dụng loại công nghệ mới này để nghiên cứu các bệnh lý trên người như bệnh Parkinson, ung thư, xơ nang (cystic fibrosis), bệnh tim, mất trí nhớ, teo cơ giả phì đại và bệnh lý cột sống … vân..vân [12].  Một số bệnh lý tái lập trên chuột chuyển gen hoặc chuột tách gen  Như đã trình bày, chuyển và tách bỏ gen trong chuột để phục vụ cho mục đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong công nghệ sinh học. Chuột chuyển gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen ngoại lai và chuột tách gen là tách bỏ hoặc bất hoạt một hay một đoạn gen đặc hiệu nào đó. Dựa trên các giả thuyết về bệnh lý gen, các nhà khoa học có thể tiến hành cấy các gen bệnh hoặc ghép các gen bệnh của người hoặc thậm chí loại bỏ một gen chức năng nào đó trong chuột để cho con chuột đó biểu hiện một bệnh lý nào đó giống hệt như bệnh lý ở người. Từ đó các nhà nghiên cứu có thể khảo sát tiến trình bệnh lý và mục đích cuối cùng là tìm ra một phương thức điều trị đặc hiệu khả dĩ có thể áp dụng điều trị cho người bệnh. Chỉ trong vòng hơn một thập niên gần đây, nghiên cứu chuyển, ghép và tách gen trên chuột đã đem lại nhiều kết quả khá thú vị và ngoạn mục. Dưới đây là ví dụ về một số bệnh lý điển hình tái lập được trên các mô hình chuột chuyển hoặc tách bỏ gen [5].  Bệnh Alzheimer (AD). Về cơ chế bệnh sinh, cho đến nay, các khoa học gia cho rằng do sự lắng đọng của các mảng protein có amyloid trên bề mặt não làm cho bệnh nhân mất trí nhớ, và tổn thương nhân cách là các đặc điểm của bệnh Alzheimer. Sử dụng chuột hoang dại chuyển gen đã có thể tái hiện lại mô hình bệnh lý này và các nhà nghiên cứu đang tiến hành khảo sát tác dụng của thuốc điều trị bệnh AD. Vừa mới đây, một nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng một loại vaccine có chứa các protein amyloid biến thể cho chuột bị bệnh có khả năng làm chậm tiến trình bệnh lý AD. Hiện nay, vaccine này đang được thử nghiệm trên người [13, 14].  Bệnh lão suy (Aging). Nếu tiến hành theo dõi quá trình lão suy trên người, cần phải mất rất nhiều thời gian, gần như suốt cả mấy thập niên đời người mà nhiều khi lại không thể theo dõi hết được. Trên mô hình nghiên cứu chuột hoang dại và chuột nhà cho thấy nếu giảm chế độ năng lượng thu nạp mỗi ngày, tuổi thọ của chuột hoang dại tăng lên, các quá trình thoái hoá sinh lý chậm lại và cho thấy có mối tương quan đến khả năng ngăn ngừa một số bệnh lý liên quan đến tuổi tác [15].  Ung thư. Trong suốt thập niên qua, những hiểu biết của chúng ta về vai trò các yếu tố môi trường có tác động như thế nào đến yếu tố di truyền và gây đột biến gen gia tăng nguy cơ ung thư là đều thông qua mô hình nghiên cứu trên chuột hoang dại và chuột nhà. Gần đây, các nhà khoa học đã tạo ra được giống chuột có khả năng kháng ung thư do thiếu khả năng sản xuất một protein vòng D1, một hợp chất tăng cao trong số các bệnh nhân ung thư vú. Do đó với kỳ vọng sử dụng liệu pháp trị liệu tác động vào chất này có khả năng làm kiềm hãm sự phát triển ung thư vú ở người [16].  Đột quỵ tim (Heart attack). Nghiên cứu mới cho thấy rằng sau một đợt đột quỵ tim, cơ tim tái sinh dài ra hơn một chút, là nguy cơ của suy tim và tái đột quỵ. Các khoa học gia đang sử dụng mô hình chuột chuyển gen để nghiên cứu điều trị tình trạng này. Các nghiên cứu đang nhắm vào việc sử dụng các tế bào gốc tuỷ xương nguyên thuỷ tiêm vào vùng ngoại vi của khu vực bị tổn thương để kích thích việc tự sửa chữa, và kết quả đang theo chiều hướng hứa hẹn [17].    Vài nhận xét và kết luận  Khoảng hơn một thế kỷ trước, mặc dù nhận thấy tầm quan trọng của chuột trong các nghiên cứu thực nghiệm y sinh học, các khoa học gia vẫn chưa biết gì về DNA và yếu tố di truyền. Nhưng một sự ngẫu nhiên gần như có bàn tay sắp đặt, chuột càng ngày càng trở thành một đối tượng đóng một vai trò then chốt và không thể thay thế được hiện nay trong nghiên cứu y sinh học hiện đại từ khi có công nghệ chuyển gen, tách gen ở chuột thí nghiệm bởi vì nhờ công nghệ này mà chúng ta có thể tái hiện được khá nhiều bệnh lý ở người trên chuột thực nghiệm.  Để sở hữu được một con chuột chuyển hay tách gen, cái giá phải chi trả không phải nhỏ. Một con chuột được tạo ra với bệnh viêm khớp giá xấp xỉ 200 đô la Mỹ/con; một con chuột mù bẩm sinh, 250 đô. Và nếu muốn có một con chuột được chuyển hay tạo đột biến hay tách gen theo ý muốn, bạn có thể phải chi trả đến giá 100 nghìn đô la/con [18]. Và cũng không lạ gì là tại sao trong năm 2006, Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) đã phải chi trả đến 10 triệu đô la để mua 250 chủng chuột đã được tách gen, cùng với các dữ liệu chi tiết về sinh lý học.  Một điều thú vị hơn, sau các dự án giải mã bộ gen chuột và bộ gen người, các khoa học gia đặt sóng đôi để so sánh [19] thì thấy 90% bộ gen của chuột (hoang dại và nhà) giống với bộ gen người. Giữa ba loại này, có chia chung với nhau trên 280 vùng rộng (large region) của các đoạn gen; và thậm chí có thể tái hiện các bệnh lý ở người trên chuột, thì chuột vẫn là chuột chứ không bao giờ chuột là người cả. Cấu trúc bộ gen không quan trọng mà hoạt tính, tương tác, điều khiển của các gen đó trong cơ thể mỗi loại mới quan trọng.  Sử dụng mô hình thực nghiệm trên động vật sống để nghiên cứu các bệnh lý về người là điều gần như không thể thay thế được và nếu không nói là phương pháp tốt nhất và hiệu quả nhất hiện nay để tiếp cận cơ chế bệnh nguyên và bệnh sinh các bệnh lý ở người, đặc biệt là bệnh lý liên quan đến yếu tố di truyền. Nhưng điều đó không có nghĩa là một khi đã “giải mã” được bệnh lý và tìm được phương pháp chữa trị mới thành công trên mô hình động vật thực nghiệm là có thể mở được chìa khoá thành công trên con người, nếu không nói là đường đi đến đích vẫn còn xa dịu vợi. Cho nên, cho đến nay dưới ánh sáng của y học thực chứng, thì các bằng chứng nghiên cứu thu được từ mô hình thực nghiệm động vật vẫn là những bằng chứng có giá trị khoa học ở bậc rất thấp của thang điểm.  Nhưng dẫu sao, cũng cần phải có một cơ hội nào đó để vinh danh loài chuột mà con người đã lỡ gán danh là “kẻ cắp”; vì bây giờ, con người đang đóng vai đó, đang ăn cắp những sở hữu quý giá của loài chuột để nghiên cứu phục vụ cho lợi ích của con người; và để có được những kết quả nghiên cứu mang tính đột phá trong y sinh học như hiện nay, không biết bao nhiêu con chuột đã phải làm vật thế thân mà tiếng xấu vẫn còn mang. Không biết có ngẫu nhiên hay không mà trong năm vừa qua, Walt Disney mới cho ra đời bộ phim hoạt hình Ratatouille, nâng cấp loài chuột lên ngang hàng với chúng ta, cũng xứng lắm thay!  Khai bút xuân Mậu Tý 2008      Tài liệu tham khảo  1.      Brothwell D (1981) The Pleistocene and Holocene archeology of the house mouse and related species. In Berry RJ (ed) Symposium of the Zoological Society of London Vol 47: The Biology of the House Mouse. Academic Press, London, pp 1-13.  2.      Silver LM (1995) Mouse Genetics. Oxford University Press, New York.  3.      Nutton V (1973) The Chronology of Galen’s Early Career. Classical Quarterly 23:158-171.  4.      California Biomedical Research Association (2007) CRBA Fact sheet: Why are Animals Necessary in Biomedical Research? www.ca-biomed.org. Accessed Dec 12, 2007.  5.      Foundation for Biomedical Research (2007) Rats and Mice, the Essential Need for Animals in Medical Research. www.fbresearch.org. Accessed Dec 12, 2007.  6.      Festing MFW, Lovell, DP (1981) Domestication and development of the mouse as a laboratory animal. In Berry RJ (ed) Symposium of the Zoological Society of London Vol 47: The Biology of the House Mouse. Academic Press, London, pp 43-62.  7.      Morse III HC (1978) Origins of Inbred Mice. Academic Press, New York  8.      Little CC (1913) “Yellow” and “Agouti” Factors in Mice. Science 38:205.  9.      Russell ES (1978) Origins and history of mouse inbred strains: Contributions of Clarence Cook Little. In Morce HC (ed) Origins of Inbred Mice. Academic Press, New York, pp 33-43.  10.    Davisson MT (1999) Genetic and Phenotypic Definition of Laboratory Mice and Rats/What Constitutes an Acceptable Genetic-Phenotypic Definition: Proceeding of the 1998 US/Japan Conference. In National Research Council (ed) The 1998 US/Japan Conference by International Committee of the Institute for Laboratory Animal Research. National Academy Press, Washington, D.C.  11.    Simpson EM, Linder, CC, Sargent, EE, Davisson, MT, Mobraaten, LE, Sharp, JJ (1997) Genetic variation among 129 substrains and its importance for targeted mutagenesis in mice. Nat Genet 16:19-27.  12.    Schulhof J (1996) Editorial: Putting your money where your mouse is. Lab Animal 25:9.  13.    Schenk D, Barbour, R, Dunn, W, Gordon, G, Grajeda, H, Guido, T, Hu, K, Huang, J, Johnson-Wood, K, Khan, K, Kholodenko, D, Lee, M, Liao, Z, Lieberburg, I, Motter, R, Mutter, L, Soriano, F, Shopp, G, Vasquez, N, Vandevert, C, Walker, S, Wogulis, M, Yednock, T, Games, D, Seubert, P (1999) Immunization with amyloid-beta attenuates Alzheimer-disease-like pathology in the PDAPP mouse. Nature 400:173-177.  14.    Schenk DB, Seubert, P, Lieberburg, I, Wallace, J (2000) beta-peptide immunization: a possible new treatment for Alzheimer disease. Arch Neurol 57:934-936.  15.    Masoro EJ (2000) Caloric restriction and aging: an update. Exp Gerontol 35:299-305.  16.    Yu Q, Geng, Y, Sicinski, P (2001) Specific protection against breast cancers by cyclin D1 ablation. Nature 411:1017-1021.  17.    Orlic D, Kajstura, J, Chimenti, S, Jakoniuk, I, Anderson, SM, Li, B, Pickel, J, McKay, R, Nadal-Ginard, B, Bodine, DM, Leri, A, Anversa, P (2001) Bone marrow cells regenerate infarcted myocardium. Nature 410:701-705.  18.    Associated Press (2006) Mice play a critical role in medical research. Researchers can pay as much as $100,000 for a customized animal. In  The Associated Press.  19.    National Human Genome Research Institute (2004) Scientists Compare Rat Genome With Human, Mouse http://wwwgenomegov/11511308 Accessed Feb 2, 2008.    Nguyễn Đình Nguyên       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chụp ảnh đứa con tương lai      Những ông bố bà mẹ tương lai luôn muốn biết con mình sẽ giống ai. Để trả lời câu hỏi này, hai nhà khoa học của trường đại học Sterling đã lập một chương trình tin học mang tên Predict Your Child.      Charlie Frowd và Peter Hancock đã nảy ra ý tưởng tạo ra phần mềm này sau khi các công trình nghiên cứu của họ về nhận dạng tội phạm thu được thành công ngoài mong đợi. Tiến sỹ Frowd giải thích: “Thời gian qua, chúng tôi đã sử dụng các chương trình photo-robot rất hoàn thiện, cho phép kết hợp các nét khác nhau trên khuôn mặt để nhận dạng thủ phạm. Vậy tại sao không ứng dụng chương trình này vào mục đích dân sự?”. Để nhìn được trước đứa con trong tương lai của mình, các ông bố bà mẹ chỉ cần cung cấp cho chương trình một tập hợp các “gene” hay còn gọi là các thông số miêu tả khuôn mặt và hai ảnh chân dung của mỗi người. Sau đó phần mềm kết hợp tất cả các dữ liệu này một cách ngẫu nhiên để tạo ra một hình ảnh số về khuôn mặt đứa trẻ có thể sẽ được sinh ra trong tương lai. Giá của phần mềm này là 36 euro (khoảng 720.000 đồng). The Guardian, Londres       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi giới tính cho cây dương      Những cây dương ở Bắc Kinh, Trung Quốc, đang chuẩn bị được “phẫu thuật chuyển đổi giới tính” để ngăn việc chúng tạo ra phấn hoa quanh thành phố, gây ra tình trạng hen suyễn và dị ứng ở người dân.    Các chuyên gia cây trồng ở thủ đô Trung Quốc, ngôi nhà của hơn 300.000 cây dương, chuẩn bị tiêm thuốc cho các cô nàng này trong cuộc thí nghiệm nhằm thay đổi bản chất của chúng, để những cây này không còn tạo ra phấn hoa nữa.  “Phấn của cây dương ảnh hưởng tới chất lượng không khí thành phố và gây hại cho sức khoẻ người dân, vì vậy các quan chức thành phố cần phải làm gì đó để giải quyết việc này”, các chuyên gia phát biểu.  Các bệnh viện ở Bắc Kinh đang ngày càng nhận nhiều bệnh nhân bị hen suyễn hoặc dị ứng do hít phải phấn hoa. Lớp phấn này cũng phủ lên thành phố một tấm màn bụi trắng.  Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc tìm cách thay đổi thiên nhiên. Tuần trước các nhà khí tượng học tuyên bố đã tạo ra tuyết nhân tạo lần đầu tiên ở Tây Tạng.  M.T.  (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi số thời Covid-19      Dịch Covid-19 nhanh chóng thay đổi cuộc sống của chúng ta. Học sinh không đến trường. Ra đường đeo khẩu trang. Hàng quán đều đóng cửa. Lãnh đạo họp ngày đêm. Cơ quan làm trực tuyến. Cả nước như thời chiến. Xã hội giãn cách ra.      Giáo sư Hồ Tú Bảo trong một cuộc tọa đàm do Tia Sáng tổ chức năm 2019.   Và nhiều điều lâu nay không nhiều người để ý bỗng trở nên quen thuộc.   Không thể đến trường, sinh viên đại học rồi học sinh phổ thông cùng thầy cô chuyển qua học và dạy online. Những gì hơn hay kém của online còn cần đánh giá sau trải nghiệm, nhưng dường như ai cũng thấy online là một giải pháp “không có thì gay”.  Rất nhiều tổ chức và doanh nghiệp cho nhân viên làm việc ở nhà, hoặc thay nhau làm việc ở nhà. Ngành Y tìm cách đẩy mạnh khám chữa bệnh từ xa. Rất nhiều cuộc hội họp tập trung được chuyển qua online, kể cả giao ban toàn quốc của nhiều bộ ngành, của quân đội… Rồi các thông báo, khuyến cáo của Chính phủ, của các bộ ngành hay chính quyền được gửi thường xuyên qua điện thoại đến từng người dân. Ta bỗng gần gũi với nhiều thứ mới trong cuộc sống và công việc. “Làm việc ở nhà” đã thành quen thuộc.   Những thay đổi đến rất nhanh này, đến mức nhiều người chưa biết gọi tên thế nào, thật ra rất gần câu chuyện đã được nói đến một hai năm nay: Chuyển đổi số.  Bài này chia sẻ cách hiểu các khái niệm cơ bản của chuyển đổi số và cơ hội chuyển đổi số của đất nước thời dịch Covid-19.    Chuyển đổi số là gì?   Có thể hiểu về chuyển đổi số qua định nghĩa súc tích sau: “Chuyển đổi số là quá trình con người thay đổi cách sống, cách làm việc, và phương thức sản xuất với các công nghệ số”.   Từ khoảng hơn hai thập kỷ qua thành quả của nhiều công nghệ số đã dần đi vào cuộc sống của ta. Hình 1 chỉ ra một vài thí dụ: máy ảnh số hay điện thoại di động được dùng rộng rãi để chụp ảnh thay cho máy ảnh cơ; những chiếc Tivi với tín hiệu tương tự đang dần chuyển qua Tivi số với chất lượng màu sắc và độ nét cao hơn rất nhiều; những chiếc đồng hồ lên giây cót đang dần bị thay bằng đồng hồ số vừa xem giờ vừa có thể đo nhịp tim, đo số bước đi mỗi ngày; in ấn đã đi từ những bản khắc gỗ, đến xếp chữ chì, rồi đến in ấn điện tử… Hơn thế nữa, Internet và những chiếc điện thoại di động gần đây đã và đang thay đổi sâu sắc cuộc sống của ta, trong việc nhận và gửi tin tức, kết nối và liên lạc với người khác.   Không chỉ thay đổi cách sống của con người, có cả thay đổi trong cách làm việc của các tổ chức và doanh nghiệp. Ta đã quen với taxi công nghệ Grab, với giao dịch ngân hàng trực tuyến và mua bán online. Trong cơn dịch Covid-19 mỗi công dân đã luôn nhận được các thông báo liên quan đến dịch bệnh của Chính phủ, của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo… gửi thẳng tới điện thoại đi động của mình.    Bản chất của chuyển đổi   Có một số cơ sở chính của chuyển đổi số. Trước hết đó là việc số hoá các thực thể (đối tượng, vạn vật) trong thế giới ta sống. Các thực thể thường ở dạng tự nhiên (dòng sông, cánh đồng, cuốn sách…) hay dạng tín hiệu liên tục (dòng điện, tiếng nói con người…). Số hoá các thực thể là việc tạo ra các con số để mô tả và biểu diễn chúng, tức tạo ra dữ liệu hay phiên bản số của chúng.   Một thí dụ quen thuộc là số hoá văn bản. Các tài liệu in trên giấy được cho vào máy quét (scanner) và phần mềm OCR sẽ tạo ra tệp văn bản số trên máy tính. Các tệp văn bản số có thể được kết nối với nhau, chẳng hạn qua các nhãn gán cho chúng. Sông núi phố phường nhà cửa  trên trái đất của chúng ta cũng được số hoá và thí dụ tiêu biểu là Google maps ta vẫn thường dùng. Mỗi chúng ta cũng tham gia vào quá trình số hoá chính mình, thường là vô thức, với nhiều phiên bản số của mình như facebook, hồ sơ sức khoẻ điện tử, các giao dịch điện tử mỗi ngày hay các dữ liệu về đi lại, về nhịp tim do chiếc đồng hồ điện tử đo (Hình 2).  Phiên bản số của các thực thể là các con số nên có thể đưa được vào máy tính hay lên mạng, tức các thực thể được đưa vào máy tính hay lên mạng. Các thực thể lại có thể kết nối được với nhau qua phiên bản số của chúng trên Internet (Internet vạn vật), tạo nên một không gian số (hay không gian mạng). Sự kết nối này cũng là kết nối giữa không gian vật lý và không gian số (physical-cyber connection), ta gọi tắt là kết nối thực thể-số1 dẫn đến khả năng các hoạt động của con người trên các thực thể đều có thể được điều khiển và tính toán dựa trên kết nối các phiên bản số của chúng.    Như vậy có thể thấy bản chất của chuyển đổi số là việc chuyển từ cách sống, cách làm việc truyền thống với các thực thể sang cách sống và làm việc với các thực thể và với cả các phiên bản số được kết nối của chúng trong không gian số (Hình 3).   Chú ý rằng chuyển đổi số là sự thay đổi tất yếu của toàn xã hội, liên quan đến mọi người và mọi tổ chức. Dù ai muốn hay không chuyển đổi số cũng xảy ra. Đây là một cuộc thay đổi tổng thể và toàn diện mọi khía cạnh của kinh tế-xã hội, và Chương trình chuyển đổi số quốc gia nhằm đến ba mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau: kinh tế số, chính phủ số và xã hội số (Hình 3).   Nếu phương thức sản xuất của các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba được đặc trưng bởi sản xuất với máy hơi nước, với điện lực, với máy tính và Internet, thì phương thức sản xuất với chuyển đổi số trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là sản xuất thông minh (Hình 4). Việc sản xuất thông minh được thực hiện bởi tính toán trên dữ liệu có từ kết nối thực thể-số, tiêu biểu bởi các phương pháp của Trí tuệ Nhân tạo.    Ba cấp độ của chuyển đổi số   Chuyển đổi số là một quá trình lâu dài và phức tạp, và thường được nhìn theo ba cấp độ: (1) Số hoá; (2) Xác định mô hình hoạt động; (3) Chuyển đổi.    Số hóa (digitization), như đã nói ở trên, là việc biến đổi các thực thể (đối tượng, vạn vật) từ dạng vật lý (analog) sang dạng số, tức tạo ra phiên bản số của các thực thể. Bản chất của cấp độ số hoá là biến đổi (conversion). Chú ý rằng số hoá cần gắn liền với công nghệ kết nối các thực thể trên Internet (Internet van vật), lưu trữ dữ liệu (điện toán đám mây) và bảo vệ sự bất biến, toàn vẹn dữ liệu (blockchain).  Xác định mô hình hoạt động số (digitalization) là cấp độ trả lời câu hỏi cách sống và cách làm việc sẽ thay đổi như thế nào với các công nghệ số và dữ liệu được số hoá. Đối với các tổ chức hay doanh nghiệp, đó là việc xác định mô hình hoạt động hoặc mô hình kinh doanh. Bản chất của cấp độ này là sáng tạo (creation). Hãy hình dung trong và sau đại dịch Covid-19 này mỗi trường học phải xác định mình sẽ tiếp tục dạy và học online cùng với cách truyền thống thế nào, mỗi doanh nghiệp phải sản xuất và kinh doanh thế nào, quan hệ và giữ khách hàng thế nào; chính quyền các cấp cũng cần tính đến việc dùng các công nghệ số như thế nào để phát huy được những ưu việt của tổ chức xã hội và phẩm chất của người Việt trong hoạn nạn như đã thấy trong những ngày này. Sau nguy có cơ, và đó là cơ hội cho chuyển đổi số, trong đó tính sáng tạo trong xây dựng mô hình hoạt động sẽ là yếu tố đột phá.  Chuyển đổi (transformation) là cấp độ các cá nhân, các tổ chức thực hiện thay đổi theo mô hình đã xác định. Đây cần là một quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện, từ lãnh đạo cao nhất đến mọi thành viên của tổ chức, từ xây dựng năng lực số đến văn hoá số, xây dựng lộ trình và kế hoạch, từng bước thay đổi theo lộ trình…  Hình 6 minh hoạ chuyển đổi số của Britannica, bộ Bách khoa toàn thư lâu đời và đồ sộ xuất bản lần đầu vào năm 1771, in thành 32 tập sách. Để không bị đánh gục trong kỷ nguyên số, Britannica đã chuyển đổi gian truân và mạnh mẽ trong hơn 20 năm. Ngày 12/3/2012 Britannica ngừng phát hành bản in sau 244 năm và chuyển qua các sản phẩm số. Nỗ lực đầu với phiên bản số trên CD-ROM của Britannica đã bị hạ gục bởi bách khoa toàn thư Encarta của Microsoft, cung cấp miễn phí cho khách hàng mua phần mềm Windows. Rồi khi các CD-ROM phải nhường chỗ cho Web, Britannica lại gặp cạnh tranh khốc liệt của các nguồn tin trực tuyến và miễn phí, gồm Nupedia rồi sau là Wikipedia.   Hiểu rằng thói quen của khách hàng đang thay đổi rất nhiều, thay vì bảo vệ mô hình kinh doanh cũ Britannica đã chuyển sang mô hình thuê bao trực tuyến của bách khoa toàn thư số cùng giáo trình và tài liệu học tập đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Trong thay đổi Britannica luôn kiên trì giá trị cốt lõi của mình: chất lượng biên tập nội dung và các dịch vụ giáo dục phong phú, và nhờ vậy, hiện nay Britannica kinh doanh “đang có lời hơn mọi thời điểm trước đây”.  Trong những ngày dịch Covid-19 nhiều mô hình hoạt động số được thực hiện khắp nơi. Nhà hát Bolshoi nổi tiếng ở Moscow đã cho chiếu online những vở ballet kinh điển. Các bảo tàng lớn như Ashmolean ở Oxford hay Louvre ở Paris đã liên tục làm các tour du lịch ảo và giới thiệu online các bộ sưu tập tranh quý. Ở trong nước, nhiều trường đại học ngoài việc dạy và học online đã tổ chức các chuyến thăm trường và tuyển sinh online. Khi làm các chương trình truyền hình, thay vì đến tận nơi ghi hình nhà đài đã yêu cầu người tham gia tự ghi hình gửi đến để họ biên tập…    Công nghệ số và dữ liệu  Công nghệ số là một từ chung để chỉ các công nghệ nhằm tạo ra và sử dụng các đối tượng dưới dạng số. Có rất nhiều công nghệ số khác nhau vì mọi lĩnh vực đều dần được số hoá và hoạt động với các thực thể được số hoá. Đó là các công nghệ Fintech trong ngành ngân hàng hoặc cung cấp công cụ số để thay đổi cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc hoặc để hỗ trợ công nghệ tài chính số cho các định chế tài chính. Đó là công nghệ BIM (building information modeling) trong ngành xây dựng nhằm tạo lập và sử dụng mô hình số trong các giai đoạn thiết kế, thi công và vận hành công trình xây dựng. Đó là các công nghệ số cho hội họp và học tập online đã giúp ta những ngày trong dịch Covid-19…  Trong thập kỷ vừa qua các lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI), Điện toán đám mây, Internet vạn vật, Chuỗi khối (blockchain), mạng không dây thế hệ mới (5G)… có nhiều đột phá, đang và sẽ tạo ra nhiều công nghệ số quan trọng cho chuyển đổi số. Các công nghệ số thường không dùng độc lập. Việc liên kết các công nghệ số cần thiết sẽ tạo nên sức mạnh công nghệ tổng hợp cho chuyển đổi số.   Các công nghệ Internet vạn vật, Điện toán đám mây, Chuỗi khối chủ yếu để xây dựng hạ tầng dữ liệu khi kết nối, lưu trữ, và tạo bất biến của những lượng dữ liệu khổng lồ; các Mạng thế hệ không dây cho phép chuyển những lượng dữ liệu này với tốc độ cao trong không gian mạng; và Trí tuệ nhân tạo chủ yếu để khai thác, sử dụng dữ liệu.  Trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay được chú trọng nhờ ở năng lực phân tích và sử dụng dữ liệu ở mọi lĩnh vực. Về đại thể, AI được chia thành hai nhánh chính. Một là AI “bắt chước con người”, nhằm làm ra máy có năng lực của trí tuệ con người ở mức cao, được gọi “strong AI” (AI mạnh) hay “general AI” (AI rộng). Hai là AI “tăng cường trí tuệ con người”, dựa trên các phương pháp của toán học (thống kê, đại số, tối ưu…) và tin học (học máy, tính toán hiệu năng cao…) để giải quyết các bài toán cụ thể trong hoạt động của con người, đặc trưng bởi “AI dựa vào dữ liệu” (data-driven AI), được gọi “weak AI” (AI yếu) hay “narrow AI” (AI hẹp). Nhánh thứ hai này phát triển rực rỡ trong vòng hai thập kỷ vừa qua, đã khẳng định sự cần thiết của AI ở mọi chỗ mọi nơi, và do đó là công nghệ then chốt của chuyển đổi số (Hình 7).   Khi số hoá tạo ra lượng dữ liệu khổng lồ ở mọi lĩnh vực, khả năng phân tích dữ liệu của AI giải thích vai trò của AI trong thời đại số. Vì tầm quan trọng này, hầu hết các quốc gia phát triển đều xây dựng chiến lược AI của mình. Có hai lĩnh vực liên quan đến AI cần quan tâm là “khoa học dữ liệu” (data science) và “dữ liệu lớn” (big data). Khoa học dữ liệu là lĩnh vực gần với “AI dựa vào dữ liệu”, nhằm vào phân tích và dùng dữ liệu trong các lĩnh vực cụ thể. Các kỹ thuật phân tích dữ liệu lớn cũng chính là các kỹ thuật của “AI dựa vào dữ liệu” khi đối đầu với các tập dữ liệu rất lớn và phức tạp, và gần đây thường được xem là một phần của AI.    Hạ tầng số và nền tảng số  Hạ tầng số (digital infrastructure) là những thành phần cơ bản và thiết yếu nhất cần có để hoạt động trong kỷ nguyên số. Chúng tôi quan niệm hạ tầng số gồm2 (Hình 8):   1. Hạ tầng thiết bị số (còn gọi hạ tầng kỹ thuật số), gồm các hệ thống máy tính (chú ý máy an toàn và đủ mạnh cho những tính toán với dữ liệu lớn) và hệ thống kết nối mạng (đảm bảo tính kết nối và tốc độ truyền thông cao).    2. Hạ tầng dữ liệu, gồm các cơ sở dữ liệu then chốt của quốc gia (dân số, đất đai, tài chính, bảo hiểm, nông nghiệp, sức khoẻ, giáo dục…), cơ sở dữ liệu của các tỉnh thành, ngành nghề, các tập đoàn, công ty… được xây dựng với các công nghệ thu thập, lưu trữ, quản lý dữ liệu.   3. Hạ tầng ứng dụng, gồm các công nghệ số cần thiết và việc làm chủ chúng để có thể khai thác các nguồn tài nguyên số. Các công nghệ này thường được phát triển thành các công cụ chuyên biệt cho các lĩnh vực hoặc cho ứng dụng cụ thể để người dùng dễ dàng xây dựng giải pháp của mình, gọi là các nền tảng số.  4. Hạ tầng pháp lý, gồm các quy định pháp lý phù hợp với thời đại số, cần cho chuyển đổi số.   5. Hạ tầng nhân lực, là lực lượng lao động để thực hiện chuyển đổi số. Việc đào tạo nhân lực cần hướng tới hai mục tiêu: (i) Đào tạo lực lượng chuyên nghiệp về công nghệ số đáp ứng các nhu cầu phát triển của thành phố; (ii) Đào tạo kiến thức và kỹ năng số cần thiết cho đông đảo người lao động để thích ứng với thay đổi của thời chuyển đổi số.    Nền tảng số: Do thuật ngữ “nền tảng” (platform) đã được dùng từ lâu trong Công nghệ Thông tin với nghĩa khá rộng, cần nêu rõ nghĩa của “nền tảng” trong ngữ cảnh của chuyển đổi số. Nghĩa chung nhất của nền tảng là “cái trên đó người dùng có thể xây dựng giải pháp của mình” như đã nói ở trên. Nói “nền tảng” như thường nghe gần đây trong câu chuyện chuyển đổi số là nói tắt của “nền tảng số” (digital platform). Có hai loại nền tảng số phổ biến:  • Nền tảng giao dịch (transaction platform), là các công cụ mai mối kỹ thuật số (digital matchmakers) giữa các nhóm người như khách hàng hay người dùng với nhà sản xuất hay người cung cấp dịch vụ. Vài thí dụ tiêu biểu là các nền tảng của Amazon, Airbnb, Uber và Yahoo. Trong dịch Covid-19 các công cụ để dạy và học online được dùng rộng rãi là các nền tảng giáo dục, như nền tảng học online phát triển bởi VNPT.   • Nền tảng đổi mới (innovation platform) là các khung công nghệ, các công cụ chung mà người khác có thể dùng để nhanh chóng xây dựng ứng dụng của mình, chẳng hạn nền tảng của Microsoft, hay các thư viện chương trình của phân tích kinh doanh, của học máy, của thống kê, như nền tảng AI của FPT.    Các nền tảng số chính là công cụ xây dựng từ các công nghệ số trong hạ tầng ứng dụng, và thường kết hợp với hạ tầng dữ liệu hay hạ tầng thiết bị. Một chủ trương và giải pháp quan trọng trong Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia là xác định các nền tảng cần thiết để các doanh nghiệp phát triển cho người dùng. Liên hệ với cấp độ “Xác định mô hình hoạt động số” nêu ở phần trên, định rõ hoặc xây dựng các nền tảng số phù hợp cho mỗi tổ chức, mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề có giá trị thực tiễn lớn trong quá trình chuyển đổi số.   Các bước của chuyển số  Chuyển đổi số là một quá trình đa dạng, không có con đường và hình mẫu chung cho tất cả, và do vậy từng tổ chức, từng cá nhân cần xác định lộ trình riêng, thích hợp với hoàn cảnh của mình. Để có gợi ý và tham khảo, chúng tôi giới thiệu cách nhìn của mình với sáu bước của chuyển đổi số. Hy vọng các bước này có thể vận dụng trong nhiều trường hợp, cho nhiều tổ chức và doanh nghiệp (Hình 9).   Bước 1: Có nhận thức và tư duy đúng về chuyển đổi số. Với một tổ chức, nhận thức của lãnh đạo cao nhất là điều kiện tiên quyết, để từ đó truyền nhận thức, thay đổi tư duy và khát vọng tới các thành viên.  Bước 2: Xây dựng được chiến lược và lộ trình chuyển đổi số. Xác định trạng thái hiện tại và trạng thái cần đến để định rõ mục tiêu, xây dựng lộ trình với các giai đoạn hợp lý và kế hoạch thực hiện từng giai đoạn với nội dung cụ thể.   Bước 3: Xây dựng năng lực số, gồm hạ tầng thiết bị và dữ liệu, đào tạo nhân lực số, xây dựng văn hoá đổi mới trong tổ chức với mô hình hoạt động mới…  Bước 4: Xác định công nghệ số chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động cũng như các nền tảng cần có để hỗ trợ việc chuyển đổi.  Bước 5: Xác định mô hình hoạt động, kinh doanh mới.  Bước 6: Thực hiện chuyển đổi toàn diện với kết quả của các bước trước.    Chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp là một giai đoạn phát triển của xã hội loài người với việc các đột phá lớn về khoa học và công nghệ dẫn đến các thay đổi sâu sắc trong sản xuất và xã hội. Giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là bắt đầu từ thập kỷ này khi có nhiều đột phá và cộng hưởng của các công nghệ số.   Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nói đến nhiều ở châu Âu, châu Á… hơn ở Bắc Mỹ, nơi sớm nói nhiều đến chuyển đổi số. Nội dung đặt ra trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư rộng hơn chuyển đổi số, nhưng nếu nhìn về các đặc trưng của kỷ nguyên số, có thể nói Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và Chuyển đổi số có chung bản chất. Khi nói đến cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không dễ hình dung xem phải làm gì và làm thế nào, nhưng những điều này rõ ràng trong chuyển đổi số.   Cốt lõi của thực hiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở nước ta là thực hiện chuyển đổi số (Hình 10). Có thể nói chuyển đổi số là nội dung chính và cách phát triển chính trong giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tư.     Trong nguy có cơ  Dịch Covid-19 bất ngờ đến gây đại họa khắp nơi. Dịch bệnh đảo lộn cuộc sống con người. Hầu hết các nền kinh tế bị xáo trộn, đứt gãy và nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu rất lớn. Việt Nam đang kiểm soát dịch tốt nhưng nền kinh tế cũng đang bị tác động mạnh, và sẽ ảnh hưởng hơn rất nhiều nếu khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra.   Giãn cách xã hội làm nhịp sống của con người chậm lại. Ngoài những người “stay at work” ngày đêm để chống dịch, số đông “stay at home” để bảo vệ mình và an nguy xã hội. Mọi người nghĩ và lo nhiều hơn cho thực tại và tương lai, nhận ra điều không ngờ rằng các cường quốc cũng có lúc mong manh và những nước có nguồn lực hạn chế cũng có thể trụ được trong biến động khôn lường.   Dù dịch Covid-19 có làm toàn cầu rúng động thì chuyển đổi số vẫn khách quan diễn ra. Các quốc gia đang chuyển đổi số mạnh mẽ chắc chắn sẽ chuyển đổi mạnh hơn. Còn chúng ta thế nào?  Trong dịch Covid-19 có nhiều việc cần và có thể làm. Bên cạnh việc tập trung phát triển các nền tảng giám sát, truy vết lây nhiễm hay nền tảng giao dịch cho các hoạt động trực tuyến, rất cần tiến hành phân tích dịch tễ học dựa trên dữ liệu thu thập hàng ngày để có cơ sở ra các quyết định về thời gian giãn cách xã hội, về cân bằng giữa phòng chống dịch với sản xuất ở các ngành nghề hay địa phương. Từ trong dịch Covid-19 các công nghệ phân tích dữ liệu tiên tiến có thể đóng góp vào việc xây dựng các mô hình, thu thập dữ liệu trong và ngoài nước để tính toán và đưa nhiều kịch bản định lượng khác nhau khi tái khởi động nền kinh tế ngay sau dịch bệnh.    Dịch Covid-19 là cú hích để đẩy nhanh chuyển đổi số trên cả nước.  Mọi lĩnh vực như giáo dục và đào tạo, y tế, kinh tế, an ninh quốc phòng… đều cần nắm cơ hội để chuyển đổi số, như vài thí dụ ngắn sau đây.  Trong nông nghiệp cần hướng đến đánh giá chính xác hơn về cung-cầu của sản phẩm, hỗ trợ kiểm soát sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, chuyển nhanh sang nông nghiệp tuần hoàn với các công nghệ số thích hợp.   Trong logistics cần xây được hệ thống số quản lý tổng thể trên cả nước về các luồng hàng hóa từ nơi xuất phát, nơi qua, nơi đến; phương tiện và phương thức; thời gian và chi phí… vốn không làm được  trong chế độ thủ công hay bán tự động.   Về môi trường cần xây dựng các phiên bản số về trạng thái ô nhiễm và ảnh hưởng xấu lên môi trường để chọn giải pháp xử lý phù hợp trên nguyên tắc tương tác đa chiều, như xét rác thải cùng ngập nước, ô nhiễm không khí và nguồn gốc phát thải.  Đối với chuyển đổi số ở nước ta nếu như trước Covid-19 điều phải quan tâm đầu tiên là nhận thức, thì lúc này điều phải quan tâm nhất là sẽ làm chuyển đổi số như thế nào.  * Hồ Tú Bảo là thành viên Nhóm Think Tank VINASA, Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán, và Viện John von Neumann, ĐHQGHCM  Vài tài liệu tham khảo chính  1. Think Tank VINASA, Việt Nam thời chuyển đổi số, Nhà xuất bản Thế giới, 2019.  2. David L. Rogers, Rethinking and Transforming Your Business for the Digital Age, Columbia University Press, 2016. Bản dịch tiếng Việt “Cải tổ doanh  nghiệp trong thời đại số”, PACE Institute of Management, 2018.   3. Hồ Tú Bảo, Nguyễn Tuấn Hoa, “Chuyển đổi số – Từ khái niệm đến thực tiễn”, 2020.  4. Hồ Tú Bảo, Hiểu và đi trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Tia Sáng, 2017), Chuyển đổi số: Cơ hội tạo đột phá trong phát triển đất nước (Khoa học & Phát triển, 2019), Chuyển đổi số: Cơ hội vô giá của Việt Nam (Đại biểu Nhân dân, 2020).   —  Chú thích  1 Chúng tôi khuyến khích không dùng chữ “ảo” vì các phiên bản số và không gian số rất … thực.  2 Hạ tầng số ở đây được quan niệm dựa trên các thảo luận của Nhóm Think Tank VINASA (sách “Việt Nam thời Chuyển đổi số”, Nhà xuất bản Thế giới, 5.2019).    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Chuyện đời và chuyện nghề các nhà khoa học cơ bản      Như nhiều nhà địa vật lý khác, sau mấy chục năm nghiên cứu, TS Lưu Thị Phương Lan vẫn không biết áp dụng những kết quả nghiên cứu cổ từ của mình vào lĩnh vực gì để kiếm được đồng tiền bát gạo hòng thêm vào đồng lương tiến sỹ hơn triệu đồng mỗi tháng. Nhưng chị chấp nhận hoàn cảnh ấy như một điều hiển nhiên: “Nghiên cứu khoa học cơ bản nó nghèo thế đấy”    Vòi rồng kinh tế thị trường  Viện Vật lý Địa cầu có trụ sở là một tòa nhà nhỏ 3 tầng nằm trong một góc khuất nẻo Viện KH&CN Việt Nam. Trụ sở không rộng nên các nhà khoa học phải ngồi chung 5-7 người một phòng là lẽ đương nhiên. Vậy mà, TS Lưu Thị Phương Lan lại có hẳn một phòng riêng rộng rãi. “Chẳng phải tôi tài giỏi được ưu đãi đặc biệt gì đâu. Chỉ là vì ở Viện này, nghiên cứu cổ từ không còn ai ngoài tôi nên mình tôi một phòng vậy thôi” – chị Lan cười, nụ cười đượm vẻ buồn buồn. Cổ từ là một ngành nghiên cứu hoàn toàn cơ bản – nghiên cứu từ trường cổ của Trái đất còn lưu lại trong đất đá. Qua đó khôi phục lịch sử của đất đá, hình thành khi nào, ở đâu, trôi dạt ra sao. Những kết quả nghiên cứu này có giá trị rất lớn trong việc kiến giải sự hình thành hay biến mất của một địa tầng trong lịch sử vận động của Trái Đất. Tuy nhiên, làm thế nào ứng dụng các kết quả này vào thực tế để ra tiền ra bạc là câu hỏi vô vọng.  Trong đề tài Nghiên cứu cổ từ trên các thành tạo trầm tích Đevon tại Quảng Bình, chị Lan đã thu thập một hệ thống dữ liệu thực nghiệm chính xác, phân tích từ dư trên mẫu trầm tích cho thấy đó là từ dư thứ cấp –dấu hiệu của hiện tượng tái nhiễm từ, từ đó khẳng định có sự chuyển dịch kiến tạo của Việt Nam và khối Đông Dương về phía Nam khoảng 80 vĩ độ so với mảng Âu-Á kể từ kỷ Creta. Kết quả này được giới khoa học đánh giá cao nhưng liệu có thể phục vụ gì cho cuộc sống thường nhật? “Bao nhiêu năm nay, tôi thử tìm kiếm trong hàng chục nghiên cứu của mình may ra có thể ứng dụng vào chỗ nào đó đáng đồng tiền bát gạo, nhưng chịu, đến giờ vẫn chưa tìm ra” – chị nói.  PGS Cao Đình Triều, Trưởng phòng Địa động lực, Viện Vật lý Địa cầu chặc lưỡi nói: “Thời bao cấp, ai cũng trông vào tem phiếu và chẳng có cách gì thêm nếm ở ngoài nên sự nghèo ấy lại hóa hay. Hàng tháng lĩnh tem phiếu đi đổi gạo, rau. Thế là có thể yên tâm mà sống, mà nghiên cứu”. Cơ chế thị trường mở ra, các nhà khoa học phải học cách kiếm tiền. Khoa học ứng dụng được chú trọng hơn, nghiên cứu gì cũng phải gắn với thực tiễn, phải ứng dụng được, phải ra sản phẩm, phải ra tiền. Thế nên nhà khoa học phải lao vào cuộc mưu sinh, phải đau đáu nghĩ ngợi liệu nghiên cứu cái gì cho ra tiền để Nhà nước rót kinh phí. GS Nguyễn Đình Xuyên, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Địa cầu cho biết: “Những năm qua, ngành địa vật lý ứng dụng cũng đạt được nhiều kết quả về thăm dò và khai thác tài nguyên, địa chấn công trình và phòng chống các thiên tai. Viện nhận được nhiều hợp đồng khảo sát nghiên cứu và công nghệ từ các bộ ngành vừa đem lại kinh phí vừa đặt ra các vấn đề mới cho các nhà khoa học của Viện. Tuy nhiên nghiên cứu cơ bản thì còn hạn chế lắm”. Theo GS Nguyễn Đình Xuyên Viện Vật lý Địa cầu là một viện thuộc loại nghèo nhất trong số 30 viện và phân viện của Viện KH&CN Việt Nam, kinh phí nghiên cứu thường niên chỉ bằng 1/5 so với một số viện khác. Kinh phí ít, nghiên cứu cơ bản thì không ra tiền, bởi vậy các phòng ban đều phải chú trọng vào nghiên cứu ứng dụng “ngõ hầu kiếm đủ tiền nuôi vợ con” –một cán bộ trẻ nửa đùa nửa thật.    Vì cuộc mưu sinh ấy người ta buộc phải bỏ bớt những nghiên cứu cơ bản –những nghiên cứu không bán được cho ai, không ra tiền và chỉ bộc lộ giá trị đích thực mỗi khi được ai dẫn chiếu trong công trình khoa học của họ. Cũng vì thế, nhiều người dù đam mê mấy cũng đành rẽ lối tìm đường khác. “Mấy năm trước, có một anh làm cổ từ cùng tôi được một thời gian lại xin thôi, ra ngoài kinh doanh vì lương thấp quá. Còn một anh duy nhất bên Viện Địa chất nghiên cứu cổ từ cũng mới chuyển sang làm quang phổ rồi. Ngành này chắc là sắp tuyệt chủng mất” – chị Lan kể.  Sống nhờ… nước ngoài  Nghiên cứu khoa học cơ bản là công việc “nặng nhọc”, lương thấp, không thể làm thêm, không thể bán, nhà khoa học chỉ còn cách sống nhờ vào… nước ngoài.             Khoan mẫu là công việc vất vả cả ngay cả với nam giới        Sống nhờ vào nước ngoài với cán bộ trẻ tức là lùng sục trên mạng, tìm kiếm một học bổng ở trời Tây, sang đó vài năm, cố mà bảo vệ cho được tiến sỹ rồi hẵng về. Người nào thực sự đam mê, có ý chí và tài năng, khi về Việt Nam lại tiếp tục vùi đầu vào nghiên cứu, sống lay lắt bằng đồng đô la tiết kiệm được trong mấy năm đi học. Rồi nhờ vào mối quan hệ với giới khoa học bên đó, lại tiếp tục xin tham gia vào các chương trình nghiên cứu của họ, tất nhiên với điều kiện phía bạn tài trợ toàn bộ tiền ăn ở. Trong quá trình đi học tập, nghiên cứu, quan trọng nhất là phải có công trình công bố trên tạp chí khoa học của nước ngoài. Đó sau này sẽ là tấm chứng minh thư cho trình độ của một nhà khoa học, đặc biệt là những nhà khoa học cơ bản. “Không có những công trình công bố trên tạp chí quốc tế, anh sẽ không có đủ uy tín để được mời tham dự vào các dự án hay các hội nghị quốc tế” – GS Nguyễn Đình Xuyên nói.  Cho đến giờ, không chỉ với các cán bộ trẻ của Viện mà ngay cả với các nhà khoa học có uy tín, mỗi chuyến đi nước ngoài nghiên cứu và học tập đều là cơ hội để cải thiện chút ít vật chất và quan trọng hơn, có được nguồn “tiếp tế” tri thức khoa học, cập nhật thông tin và các bài toán khoa học để khỏi lạc hậu. Mới 24 tuổi, chị Nguyễn Thanh Dung hiện là cán bộ trẻ nhất Viện. Như lớp đàn anh đi trước, chị vừa học việc bằng cách tham gia vào đề tài của của các giáo sư vừa trau dồi vốn ngoại ngữ để tìm kiếm một suất học bổng ở nước ngoài bởi “nếu chỉ ở trong nước thì không lớn nổi” – chị bảo thế.  Sự thôi thúc của niềm đam mê muốn khám phá các bí mật tự nhiên  Lần đầu gặp chị Lan, tôi có ấn tượng mạnh mẽ với bàn tay chị. So với các phụ nữ khác thì bàn tay chị Lan to và thô, thậm chí ngay cả khi so sánh với bàn tay người phụ nữ phải lao động nặng nhọc vất vả. Tôi không hiểu một nữ khoa học gia, dường như cả đời ngồi phòng giấy như chị đã làm gì mà bàn tay phải thô giáp đến vậy? “Vì đi khoan đá và giã đá đấy” – chị cười. “Chiếc khoan nặng cũng phải vài cân, đầu chóp nhọn rỗng, mũi khoan bằng kim cương. Mỗi khi khoan phải xuống tấn, ghìm tay, ấn sâu xuống đá vôi chừng 20 phân rồi rút lên, mẫu đất đá sẽ nằm lại trong đầu mũi khoan theo lên. Đấy, khoan đá là như vậy đấy. Sau đó phải cưa mẫu đó thành các mẫu nhỏ theo đúng kích thước chuẩn và đem cho vào cối… giã, giống như giã cua vậy” –chị giải thích và đùa thêm: “Hình như những nhà địa vật lý, tay ai cũng to thì phải”. Có lần đi lấy mẫu, chị phải ngược xuôi hàng nghìn km dọc sông Mã, từ Thanh Hóa ra Sơn La, Điện Biên. “Vào Thanh Hóa còn dễ, chứ lên Sơn La, Lai Châu mới kinh. Những năm 1994-1995, từ thị xã Sơn La vào huyện Sông Mã có 80km mà thầy trò tôi đi mất nửa ngày. Vào huyện rồi muốn xuống tận nơi lấy mẫu thì cứ việc đi bộ, theo đường mòn trên núi mà vào”.  Chuyên môn cổ từ chỉ có hai người là GS Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Phó viện trưởng của Viện và chị Lan. Phòng thí nghiệm cổ từ không có, các chị phải nhờ phòng thí nghiệm của nước ngoài. Phòng thí nghiệm lúc nào cũng kín lịch nên chỉ cần đăng ký được lịch thì bất kể là thứ 7, chủ nhật, thậm chí cả đêm cũng phải làm. Tay cầm máy khử từ rất nặng nhằm mục đích làm cho người sử dụng nâng máy thật chậm tránh sự thay đổi cường độ từ trường đột ngột làm hỏng máy. Có lần làm đêm, máy nặng, khi nâng máy GS Nguyễn Thị Kim Thoa đã ngã ngay trên bục máy, rách tai và phải vào viện khâu mất mấy mũi.  PGS Cao Đình Triều bảo: “Nghiên cứu cơ bản có được mấy tiền đâu. Mỗi năm chỉ chừng hơn một chục triệu. Chi phí cho đề tài còn chả đủ mong gì tăng thêm thu nhập. Làm chỉ tổ mệt người”. Ấy là ông nói thế thôi chứ hôm tôi xuống Viện, vẫn thấy ông chạy ngược chạy xuôi lo thủ tục, giấy tờ để xin các cơ quan chức năng duyệt đề tài nghiên cứu “Đặc trưng cấu trúc sâu và hoạt tính địa động lực hiện đại của thạch quyển Việt Nam”. Tất cả chỉ vì “những vận động sâu dưới lòng đất hàng nghìn km là nguyên nhân gây ra các tai biến địa chất như động đất, núi lửa, lở núi… Để ngành địa vật lý ứng dụng có thể làm tốt thì cần có nghiên cứu cơ bản về thạch quyển. Chúng ta cần có một bản đồ cấu trúc sâu thạch quyển, các đứt gãy, phân vùng thạch quyển Việt Nam và lấy đó làm cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng sau này” – ông nhấn mạnh.  Còn chị Nguyễn Thanh Dung tâm sự: “Đối với tôi, con đường khoa học còn mông lung lắm nhưng tôi vẫn mong có thể đeo đuổi thế giới tự nhiên còn đầy bí ẩn này. Tôi nhớ, có nhà khoa học nào đó đã từng nói: tôi nghiên cứu khoa học không vì bất cứ một điều gì ngoài niềm đam mê không sao cưỡng nổi đối với những bí mật của tự nhiên. Tôi cũng mong được như ông”. Ngẫm nghĩ một chút, chị nói thêm: “Và mong rằng có thể tự kiếm sống mà bố mẹ không phải chu cấp thêm” (lương tháng của chị Dung là 500 nghìn–PV).  Bùi Thu Trang    Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển giao kỹ thuật và chia sẻ tri thức cùng nông dân: Kinh nghiệm từ RDSC      Những giải pháp kỹ thuật được chính người dân trong cộng đồng lựa chọn thường là các kỹ thuật hay công nghệ phù hợp nhất với hoàn cảnh và năng lực của họ. Các kỹ thuật nếu mới lạ với phần lớn người nghèo, cần được thử nghiệm ở quy mô nhỏ để cộng đồng tự trải nghiệm, đánh giá và từ đó tự quyết định vận dụng theo năng lực của mình.         Hoạt động của ngành khuyến nông chủ yếu tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi mà ít khi đáp ứng nhu cầu tiếp cận thị trường.  Hiện nay, việc chuyển giao kỹ thuật cho nông dân ở Việt Nam được thực hiện qua một hệ thống khuyến nông hiện đại với hệ thống tổ chức của nhà nước từ trung ương đến địa phương. Về hoạt động, ngành khuyến nông chủ yếu tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi, mà ít khi đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của nông dân, nhất là người nghèo, ví dụ về tài chính, hay nước sạch, vệ sinh, đặc biệt là tiếp cận thị trường. Các khuyến nông viên thường chọn các gia đình khá giả có đủ nguồn lực đất đai, tài chính, lao động để thực hiện các mô hình do có sức ép phải đảm bảo thành công.  Bên cạnh hệ thống khuyến nông nhà nước, tuy nhiều khi không được tính vào trong hệ thống khuyến nông, rất nhiều tổ chức NGO ở Việt Nam thực hiện các chương trình phát triển cộng đồng và thường gắn liền với các chương trình cải thiện sinh kế, bảo tồn và phát triển môi trường, về bản chất cũng là các hoạt động khuyến nông. Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) là một tổ chức như vậy.  Một số kết quả cụ thể  Năm 2004, khi tới xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, một nhóm cán bộ của RDSC thấy ở một thôn có ba người có nghề nuôi ong. Họ chỉ nuôi được tới bốn năm đàn mà không thể phát triển thành quy mô lớn hơn, mặc dù quanh làng có rừng keo, bạch đàn, các loại cỏ lào và cây ngô cho phấn làm thức ăn quanh năm. Khi nói chuyện với những người nuôi ong, họ đều nuôi theo kiểu tự học, chưa biết đến những kỹ thuật làm cầu mới, tạo chúa mới, hay cho ong ăn bổ sung vào mùa đông. Đặc biệt đàn ong ở đây có những lúc bị bệnh thối ấu trùng làm chết cả đàn, nhưng không ai biết cách xử lý. Tương tự những bệnh đơn giản hơn, bệnh ỉa chảy ở ong cũng chưa ai biết cách xử trí. Trong làng, phụ nữ rất sợ ong đốt và không ai quan tâm tới nghề nuôi ong. Ở những thôn lân cận, có nhiều bản người Bru – Vân Kiều sinh sống gần rừng, có nguồn mật hoa dồi dào, nhưng bà con chỉ đi săn mật ong bằng cách đốt ong.  Phối hợp với các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Ong Trung ương, RDSC đã tổ chức một khóa học nâng cao kỹ năng nuôi ong cho nhóm hộ muốn nuôi ong trong các thôn ở đây theo mùa hoa và tiến trình phát triển của đàn ong. Mở đầu là những bài học làm thùng nuôi mật cải tiến, làm cầu ong, nấu sáp cho cầu ong, giải phẫu – sinh lý ong và tập tính của ong. Mỗi gia đình tham gia tập nuôi với ba thùng ong, mỗi thùng ba cầu. Trong các tháng tiếp theo, người dân cùng trao đổi về các bài học chăm sóc ong, phòng chống bệnh cho ong, phòng chống thiên địch là những con vật hại ong. Các bài học nâng cao về chống bốc bay, xử lý tình huống khi ong bốc bay, làm mũ chúa nhân tạo, chia tách đàn, quản lý đàn ong theo mùa, cho ong ăn bổ sung vào mùa rét … cũng được triển khai. Nhóm nuôi ong được tặng một thùng quay mật ly tâm.  Tư tưởng khuyến nông xuất phát từ các trường đại học ở Anh và nhanh chóng lan tỏa sang Mỹ và nhiều nước khác. Hiệp hội Nông dân đầu tiên được thành lập để làm khuyến nông là ở Scotland vào năm 1728 để truyền bá kiến thức nông nghiệp qua các bài giảng và ấn phẩm.  Tư tưởng khuyến nông xuất phát từ các trường đại học ở Anh và nhanh chóng lan tỏa sang Mỹ và nhiều nước khác. Hiệp hội Nông dân đầu tiên được thành lập để làm khuyến nông là ở Scotland vào năm 1728 để truyền bá kiến thức nông nghiệp qua các bài giảng và ấn phẩm. Sau ba năm, nhóm nuôi ong đã hình thành một tổ nuôi ong cùng chia sẻ với nhau kỹ thuật con giống, thống nhất về chất lượng và giá bán ra thị trường. Đàn ong của gia đình mỗi thành viên đã tăng lên thành quy mô trại ong nhỏ và vừa từ 15 tới 30 đàn. Thu nhập từ nuôi ong với các hộ thành viên đã tương đương hoặc gấp đôi thu nhập từ chăn nuôi lợn.  Do vậy, các chi nhánh của Tổ hợp Nuôi ong được mở rộng thêm ra nhiều thôn, đặc biệt là các thôn có nhiều hộ nghèo người Bru – Vân Kiều. Nghề nuôi ong hiện tại đã trở thành một nghề ổn định đem lại thu nhập cao cho hơn 100 hộ gia đình ở xã.  Tiến trình chuyển giao kỹ thuật nuôi ong tương tự được RDSC thực hiện ở nhiều xã có điều kiện phù hợp. Các dự án đó không chỉ tạo thu nhập cho người nông dân, tạo thêm một ngành sản xuất mới, mà còn góp phần thúc đẩy xu hướng sản xuất sạch và bảo vệ môi trường do ong rất nhạy cảm với thuốc trừ sâu hóa học.  Bên cạnh các chương trình khuyến nông về nuôi ong, RDSC còn thực hiện nhiều hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, tiểu gia súc. Nổi bật nhất là chương trình đưa cây ngô vào vụ ba ở xã Phượng Mao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ năm 1996. RDSC hướng dẫn người dân áp dụng kỹ thuật sáng tạo gieo ngô trên nền đất cứng trước khi thu hoạch lúa để sau đó trồng cây con trên nền đất ruộng lúa mới gặt và làm luống cho kịp thời vụ của cây ngô. Sau khi áp dụng thành công ở ba thôn, kỹ thuật này đã được mở rộng ra toàn xã, giúp rút ngắn thời gian canh tác  và cải thiện triệt để tình trạng thiếu đói lương thực. Các hộ nông dân trong xã còn có thêm lương thực để phát triển chăn nuôi gà và lợn.  Trong các chương trình phát triển cộng đồng, RDSC chú trọng xây dựng năng lực cho nông dân và cán bộ các tổ chức đối tác. Đây là một yếu tố quyết định để kết quả của các chương trình này có thể tồn tại lâu dài khi RDSC rời khỏi địa phương. Do vậy, RDSC thường tuyển các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp đã tốt nghiệp các trường đại học tập huấn kỹ thuật cho nông dân và tổ chức các thực nghiệp nông nghiệp, chăn nuôi. Các chương trình tập huấn này được thực hiện với sự hợp tác và giám sát của các trung tâm khuyến nông huyện để đảm bảo kỹ thuật được thực hiện phù hợp nhất với các quy trình đã được ngành khuyến nông địa phương khuyến cáo.  Để chia sẻ các bài học về khuyến nông, RDSC duy trì một trang mạng về phát triển nông thôn, trong đó mảng chia sẻ các bài học về kỹ thuật nông nghiệp là một nội dung chủ chốt. Những bài viết ở trang mạng có giá trị và được bạn đọc cả nước tham khảo là một cách mở rộng hiệu quả của các hoạt động chuyển giao. Ví dụ, bài viết về kỹ thuật nuôi thỏ  do chuyên gia RDSC mời về giảng tại trại nuôi thỏ làm mẫu ở huyện Tân Sơn, Phú Thọ, có tới khoảng 104.000 lượt người đọc.  Vài bài học chuyển giao kỹ thuật dựa vào cộng đồng  Sau hai mươi năm, các tổ chức cộng đồng được hình thành trong các chương trình của RDSC vẫn đang phục vụ hàng chục nghìn gia đình ở các cộng đồng nghèo ở nhiều tỉnh. Các quỹ tài chính vi mô của phụ nữ ở huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn (tỉnh Phú Thọ) do RDSC xây dựng vẫn đang hoạt động mở rộng và cung cấp hiệu quả đồng vốn nhỏ cho người nghèo dân tộc thiểu số ở các xã. Tổ nuôi ong ở xã Trường Xuân vẫn sản xuất mật ong ở quy mô ngày càng mở rộng, sản phẩm có chất lượng cao và không khi nào khó khăn về tiêu thụ. Cán bộ ở các xã thuộc diện nghèo nhất ở những huyện mà RDSC tư vấn hỗ trợ đã có kiến thức về lập kế hoạch, theo dõi, giám sát, thậm chí là về xây dựng dự án phát triển và có thể tiếp nhận chương trình giảm nghèo của các tổ chức quốc tế khác một cách dễ dàng. Ở nhiều xã, các thú y viên có tay nghề ngày càng cao đang mở rộng phạm vi phục vụ của mình ra nhiều xã khác, thậm chí cả những huyện khác.  Có một số nguyên tắc phổ biến được rút ra từ các chương trình chuyển giao kỹ thuật (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả những kỹ thuật về quản lý, phát triển tổ chức, thực hiện theo phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng). Đó là việc lựa chọn những giải pháp xuất phát từ bối cảnh môi trường, kinh tế và văn hóa của mỗi cộng đồng, và trước hết là từ các câu chuyện thành công  trong cộng đồng. Những giải pháp kỹ thuật được chính người dân trong cộng đồng lựa chọn thường là các kỹ thuật hay công nghệ phù hợp nhất với hoàn cảnh và năng lực của họ. Các kỹ thuật nếu mới lạ với phần lớn người nghèo, cần được thử nghiệm ở quy mô nhỏ để cộng đồng tự trải nghiệm, đánh giá và từ đó tự quyết định vận dụng theo năng lực của mình. Trong quá trình này, cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ người nông dân về kiến thức, kỹ năng và cung cấp các vật tư để kỹ thuật được tiếp nhận và “nội hóa” vào các hộ gia đình.  Kết quả của các chương trình hỗ trợ trên được duy trì bền vững là nhờ vào sự nuôi dưỡng, thúc đẩy nguồn năng lực của từng cá nhân và trên hết là một nỗ lực tập thể của cả cộng đồng trong khát vọng giải quyết vấn đề của mình bằng nguồn lực của chính mình. Trong quá trình này, vai trò của tổ chức phát triển cộng đồng là xúc tác, thúc đẩy cộng đồng thông qua các cá nhân, các thủ lĩnh và lãnh đạo cộng đồng nhận thức về các chủ đề họ mong muốn giải quyết, tháo gỡ những nút thắt để giải phóng năng lực của cộng đồng, kết nối cộng đồng với các nguồn lực bên ngoài về kỹ thuật, về tài chính và các chương trình của chính phủ. Điều cốt lõi của sự phát triển bền vững ở cộng đồng là xây dựng những tổ chức tự quản của nông dân, của phụ nữ và những người dân tộc ít người có đủ năng lực. Các tổ chức này không chỉ duy trì việc sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ cho bản thân, cho cộng đồng một cách bền vững theo quy tắc của thị trường, mà còn là một diễn đàn để người nông dân nghèo, phụ nữ liên kết với nhau, thảo luận và đối thoại với các tổ chức chính quyền để giải quyết các vấn đề của họ.   ——-  Tác giả Đặng Ngọc Quang là giám đốc Trung tâm Dịch vụ Phát triển nông thôn (RDSC). RDSC là một tổ chức khoa học độc lập, thành lập từ năm 1994, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hiện các mô hình phát triển nông thôn, thúc đẩy các cộng đồng yếu thế tiếp cận với dịch vụ công một cách có hiệu quả. Nhân sự của RDSC luôn dao động khoảng 8 – 12 người tùy theo quy mô của các dự án hỗ trợ nông nghiệp mà Trung tâm triển khai.  1http://rdscvietnam.org/Desktop.aspx/News/Ky-thuat-dia-phuong-Tri-thuc-ban-dia/Ky_thuat_chan_nuoi_tho_quy_mo_ho_gia_dinh_tai_Phu_Tho/  2Nói theo tiếp cận được biết trong tài liệu phát triển là “lệch chuẩn tích cực”.    Author                Đặng Ngọc Quang        
__label__tiasang Chuyện nhà khảo cổ nghiệp dư      Hàng ngàn di vật từ những đồng tiền cổ từ thời Khai nguyên Thông bảo, Hoàng tống thông bảo, Thiên phúc chân bảo… cho tới những mảnh gốm, sành thuộc các niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, đã được ông Nguyễn Việt Hồng ngày ngày lặng lẽ thu nhặt và cất giữ khỏi sự sói mòn nghiệt ngã của dòng nước sông Hồng bến Kim Lan.    “Kho báu” trong tủ kính  Những di vật mà ông thu lượm được để trên ban thờ, trên bàn, trong các góc nhà hay dưới… gậm giường. Ông Hồng thật thà: “Mấy năm trước tôi để chúng trong thúng, trong mẹt nhưng số lượng những mảnh gốm thu thập được ngày càng nhiều và cũng sợ chúng bị sứt mẻ hoặc bị vỡ nên tôi bàn với cả nhà quyết định “đầu tư” mua mấy cái thùng nhựa này để bảo quản”. Khách tìm đến nhà ông và đều được ông hướng dẫn tận tình, giới thiệu từng đồng xu, từng mảnh gốm kèm theo các thông tin liên quan như niên đại, màu men, hoa văn… Chúng được ông phân loại kỹ lưỡng (theo sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn hai viện là Viện Khảo cổ học và Viện Bảo tàng lịch sử quốc gia) theo những tiêu chí: tính phong phú đa dạng của di cổ vật (đất nung, gốm sứ, kim loại), tính hệ thống liên tục kéo dài nhiều thế kỷ và nhóm những bằng chứng về nghề sản xuất sành gốm sứ cổ của làng. Những mảnh gốm từ cái nhỏ nhất có đường kính 2cm tới cái to cũng 30 cm với đủ các chủng loại hình dạng từ bát, đĩa, cốc, chậu, lọ… đến hũ, vò, lư hương, bát đàn, tượng phật, đầu rồng… hay những hình dạng ngộ nghĩnh như voi, chó… với đủ các màu sắc khác nhau từ trắng, hồng, đến xanh cobal. Có di vật ông phải sưu tầm tới vài năm mới đủ bộ, như tượng Bồ Tát mất hai năm, hay như cái Bát đàn cũng phải tới ba năm mới hoàn tất. Đấy là những di vật mà theo ông là may mắn có được nguyên vẹn, còn những di vật khác một phần do bị dòng sông cuốn đi, do bị dẵm nát hay vì một lí do nào đó mà  vĩnh viễn con cháu chúng ta sẽ không được nhìn thấy hình dáng nguyên sơ của nó. Các di vật ấy ông đã chia chúng thành các ô theo thứ tự từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII. “Với người khác nó bình thường nhưng với tôi nó rất quý”- ông chỉ vào những mảnh cổ vật trưng bày trong tủ kính.           Toàn cảnh khu khai quật        Và câu chuyện của nhà khảo cổ nghiệp dư  Câu chuyện bắt đầu từ năm 1996 khi ông Hồng tình cờ mua lại được hũ tiền xu cổ của lũ trẻ nhặt ngoài bờ sông với giá… vài nghìn đồng. Nhìn mấy đồng xu han gỉ trên mặt có khắc mấy chữ cổ, ông hiểu ngay đấy là những đồng xu có giá trị lịch sử. Và cũng từ đó mỗi lần ra sông ông cũng nhặt được rất nhiều mảnh sành, mảnh gốm cổ lở ra theo đất bãi. Với vốn chữ Hán ít ỏi học lỏm được từ nhỏ không đủ giúp ông thực hiện công việc của một nhà khảo cổ chuyên nghiệp vì theo ông: “Khó khăn nhất là việc phân loại các di vật”. Nhưng niềm đam mê và “máu nghề nghiệp” đã khiến ông quyết tâm tìm mua hoặc mượn bằng được sách, tư liệu liên quan về học. Nói là học chứ thực ra ban đầu ông tự mày mò tìm hiểu sau đó được sự giúp đỡ của một vài người bạn và bản thân ông cũng vài lần viết thư đến các báo đài nhờ giảng giải. Trong chiếc tủ cũ kỹ của gia đình xếp gọn ghẽ mấy quyển sách “Niên biểu các triều đại Việt Nam”, “Từ điển cổ Hán-Việt”, “Cẩm nang đồ gốm”, “Mỹ thuật thời Mạc” hay “Những phát hiện mới về khảo cổ Việt Nam 2005”… Ban ngày làm gốm cùng gia đình, đêm đến ông lại chong đèn, lôi sách, từ điển và các di vật cổ ra “soi” chữ đối chiếu so sánh, đánh số, ghi chép, vào sổ. Giờ đây ông có thể hiểu hết các chữ, ký tự khắc trên các di vật và việc phân loại chúng không còn làm ông phải mất nhiều thời gian nữa. Ông tự tin: “Bây giờ thì không có chữ nào làm khó được tôi!”.  Trong đợt khai quật Hoàng thành Thăng Long, tuần nào ông cũng có mặt chỉ để… xem, rồi về đối chiếu với các di vật mà mình đang có. Và ông rất tự hào vì rất nhiều di vật khai quật được ở Hoàng Thành thì trong tủ kính nhà ông đã trưng bày, như để chứng thực ông chỉ cho tôi xem cái đầu rồng màu đỏ đất nung đang ngự trên một tấm gỗ đặt ở góc nhà: “Như cái đầu rồng chẳng hạn, Hoàng Thành có, ở nhà tôi cũng có một di vật tương tự”.             Vỏ sành có tai thuộc thế kỷ 11-12        Năm 2000, ông cùng năm người bạn đứng ra thành lập “Nhóm tìm lại cội nguồn của làng”. Nhóm đã tìm được rất nhiều di vật, tiến hành phân loại, chụp ảnh, lưu sổ và với những gì đã tìm được nhóm đã kết luận: “Bãi Hàm Rồng, Kim Lan thực sự là một kho báu vô giá. Ẩn chứa trong lòng nó là cả một hệ thống di vật cổ là bằng chứng cho thấy một làng nghề thủ công sản xuất sành, gốm, sứ, đất nung cổ liên tục kéo dài nhiều thế kỷ, đặc biệt phát triển phong phú nhất vào thế kỷ XIII-XIV”.  Từ kết quả mà nhóm đã tìm được ông nhận thấy đã đến lúc cần có sự góp sức của các cấp chính quyền và sự vào cuộc của các nhà khoa học. Từ tháng 1-3 năm 2000 ông đã gửi báo cáo về những phát hiện, nghiên cứu của mình tới sở Văn hóa Thông tin nhưng đợi mãi không thấy hồi âm ông lại tiếp tục làm báo cáo gửi lên Viện khảo cổ, Viện bảo tàng lịch sử… nhưng vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng ông phải nhờ cô cháu gái khi ấy đang là sinh viên Khoa Sử mời thầy về tận mắt chứng kiến. Đến tận 16/4/2000 một đoàn cán bộ khoa học của viện bảo tàng lịch sử Việt Nam đến mới sửng sốt khi tận mắt chứng kiến những di vật cổ và thành quả mà “Nhóm tìm lại cội nguồn của làng” đã làm được. Và từ năm 2001 đến 2003 đã có ba đợt khai quật được tiến hành trên bãi Hàm Rồng, đợt 1 từ 9-15/3/2001 do Viện khảo cổ học kết hợp với sở văn hoá thông tin Hà Nội tiến hành, đợt 2 trong tháng 4/2003 do Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam khai quật tiếp trên phạm vi trên rìa bờ sông và đợt 3 từ 30/4- 7/5/2003 do Viện khảo cổ học tiếp tục khai quật. Hàng nghìn di vật đã được tìm thấy khiến các nhà khảo cổ không khỏi ngỡ ngàng. Trong bản báo cáo “Kết quả thám sát và khai quật khảo cổ học di tích Kim Lan (Gia Lâm, Hà Nội) năm 2003” TS. Ngô Thế Phong và Nguyễn Văn Đoàn (Bảo tàng lịch sử Việt Nam) đã kết luận: “Đợt khai quật đã thu được sưu tập hiện vật có số lượng lớn, trong đó đáng kể hơn cả là những đồ gốm sứ thời Trần với nhiều tiêu bản nguyên vẹn hoặc có thể phục nguyên (…) Ở khu vực này các di vật tìm được rất phong phú bao gồm nhiều vật liệu kiến trúc, trang trí kiến trúc, tiền đồng và đặc biệt là gốm sứ. Đồ gốm sứ có niên đại kéo dài từ thời Đường (thế kỷ VII-X) đến tận thời Lê (thế kỷ XVII-XVIII). Trong đó tập trung hơn cả là gốm thời Trần với đầy đủ các dòng men đặc trưng của thời kỳ này… Tại khu vực gò Cạnh Triền thấy có những vệt gạch ngói cổ tham gia kiến trúc, đặc biệt là những cột sỏi vốn là gia cố chân tảng của kiến trúc là cở sở để có thể nhận thức quy mô công trình”. Ông Hồng đã đề nghị thành lập một phòng trưng bày tại UBND xã Kim Lan để khách thập phương tới thăm và cũng là để con cháu trong làng tự hào về làng nghề truyền thống của quê hương mình, và chính ông cũng đã hiến tặng một phần di vật quý của mình cho phòng trưng bày xã. TS. Nishimura Masanari (Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa Việt – Nhật) đã qua lại nhà ông như người nhà 6 năm nay để nghiên cứu về lịch sử và khảo cổ không dấu được sự chân thành và cảm phục: “Không có ông Hồng thì số di vật này sẽ bị cuốn theo nước sông hết. Một nông dân yêu khoa học và hiểu biết, tận tuỵ với khoa học, lịch sử như ông Hồng thì thật hiếm”. Còn ông khi nói về công việc và thành quả của mình thì chỉ khiêm tốn: “Tôi có làm được gì đâu. Tôi chỉ nhặt nhạnh những di vật của tổ tiên về cho con cháu”.  Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, ông lo một ngày nào đó con cháu không còn được thấy những di vật mà cha ông để lại, không biết đến lịch sử quê hương, trong khi đó những con sóng cứ mãi gặm vào bãi Hàm Rồng cuốn đi những báu vật quý giá hàng ngàn năm. “Cần phải làm cho mọi người hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc gìn giữ, bảo tồn các di chỉ quốc gia”, ông trầm ngâm. Ông đã vận động các cấp, các ban ngành và xin tài trợ để xây một bảo tàng nhỏ ngay trên đất Kim Lan, và “tôi sẽ hiến một phần những tư liệu quý, những tiêu bản, những di vật cổ đang có trong phòng trưng bày”. Nhưng trong lần gặp ông cách đây không lâu, tôi hỏi chuyện bảo tàng, ông buồn: “Bảo tàng hứa sẽ xây nhưng chưa biết phải chờ đến bao giờ”. Ông giở cho tôi xem cuốn sổ nhỏ ghi rất chi tiết ngày tháng tiếp những đoàn khách, những nhà báo tới tham quan và tìm hiểu, ông gọi đó là cuốn “Kỷ yếu hoạt động của “Nhóm tìm lại cội nguồn của làng”. Ông và nhóm cũng đang hoàn thành cuốn sách về lịch sử của làng và những kết quả nghiên cứu trong những năm qua, mong còn lưu giữ lại chút gì cho con cháu.  Lưu Thủy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện những khoa học… chân đất      Nói về những sáng tạo, cải tiến kỹ thuật của các nhà nông dân, có nhà khoa học thực thụ với học hàm, học vị đầy đủ đã lắc đầu quầy quậy: “Cái đó đâu phải là làm khoa học”. Có lẽ nhà khoa học ấy nói đúng. Những sáng tạo kỹ thuật của người nông dân có thể chưa phải là “làm khoa học” nhưng các ý tưởng sáng tạo hay chỉ đơn thuần là các cải tiến của người nông dân đem lại lợi ích thật sự, đo đếm được bằng số lượng sản phẩm bán ra, bằng năng suất được cải thiện       Vớt tiền tỷ từ bùn rác     Đến tìm anh Nguyễn Phi Sinh ở thôn 4, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, tôi mới hay giải 3 “Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật của nhà nông” mà Hội Nông dân Việt Nam trao cho anh không phải là giải thưởng duy nhất. Hồi đầu tháng 10, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã trao giải nhì cho dự án “Sản xuất phân bón hữu cơ tổng hợp” trong cuộc thi ý tưởng kinh doanh (Nhật Bản tài trợ). Trước đó, trong tháng 6, cuộc thi Ngày sang tạo Việt Nam vì môi trường do Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức cũng trao giải cho dự án của anh Sinh với giải thưởng cao nhất là 10.000 USD.     Nói về dự án của mình, anh Sinh thật thà: “Thực ra, cũng chẳng có gì là khoa học kỹ thuật ghê gớm cả. Tôi chỉ tận dụng rác thải của làng nghề chế thành phân bón thôi”. Ngoài hai vụ lúa, làng quê nơi anh sinh ra còn có nghề làm tinh bột (sắn, dong) và miến dong để có thêm thu nhập lúc nông nhàn. Rác thải làng nghề ngày một nhiều. Đến nay, mỗi năm làng thải ra 600 nghìn tấn rác. Dân làng không biết vứt đi đâu, cũng chẳng có cơ quan nào giải quyết nên người ta bạ đâu đổ đấy. Rác đổ đầy hai bên cống rãnh, lấn chiếm mặt nước ao hồ, ra cả bờ ruộng, ngập cả đường đi. Cứ thế rác chất chồng theo năm tháng, thối rữa, bốc mùi, giết chết cây cối xung quanh các ao hồ vì nồng độ axít và nitơ quá cao. Khi mưa xuống, nước loãng ra, chảy vào đồng ruộng thì lúa lại bị “lốp” (lá tốt mà không có hạt). Nhưng người làng chẳng biết mang rác đổ đi đâu nên đành kệ. Ngay cả chính quyền xã cũng “bó tay”.     Thứ rác thải vứt đi không ai thèm ấy, anh Sinh lại thấy… tiếc. Anh bảo: “Vì làng tôi làm tinh bột và miến dong nên không có rác thải vô cơ. Chất thải đổ ra, ủ thối, chảy ra đồng, lúa tốt quá đến độ chỉ lên lá ma không ra hạt. Nếu biến được no thành phân bón thì có phải tốt không? Vừa có thu nhập, vừa giải quyết được chỗ rác thải ghê gớm ấy”.     “Nhìn thấy tiền tỷ trôi ra ao hồ, cống rãnh thì xót vậy thôi, chứ làm thế nào để vét lên làm phân bón là một câu đố khó lắm vì tôi chỉ là anh bộ đội phục viên về làng, trình độ mới học hết lớp 7” – anh Sinh kể. Thấy anh Sinh đem xe bò chở rác về nhà, làng xóm ai cũng bàn tán, người động viên thì ít, kẻ bảo rỗi hơi thì nhiều. Bỏ ngoài tai những lời khen chê, anh Sinh cặm cụi chở rác về, đóng vào bao tải rồi lấy kích ô tô ép cho hết nước, đổ ra phơi cho khô, nghiền nhỏ, trộn thêm vôi bột (khử chua), than bùn, ủ thêm chế phẩm sinh học EM để khử mùi và tạo ra vi sinh vật cho đất. Tháng 2 năm 1996, anh Sinh mang sản phẩm đi kiểm nghiệm chất lượng ở Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn và Đo lường chất lượng. Sản phẩm được đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng. Anh về làm dự án rồi xin vay vốn, 60 triệu vay Ngân hàng và 60 triệu vay Kho bạc. Sản phẩm mới của một cơ sở sản xuất nhỏ, các đại lý không lấy gì làm hồ hởi đón nhận. Để chen chân được vào thị trường, anh Sinh chấp nhận vừa bán vừa… cho, giao hàng không… lấy tiền và hẹn các đại lý “cứ dùng thử, bao giờ thấy sản phẩm tốt thì mới lấy tiền”.     Trồng cây chưa đến ngày hái qua thì Ngân hàng và Kho bạc thúc nợ. Thời hạn 24 tháng đã hết, khoản vay 120 triệu mới trả được 20 triệu. Ngôi nhà hai tầng hai vợ chồng lăn lộn gần hai chục năm mới xây được, giờ bị niêm phong. Cả gia đình 6 người đành xuống bếp ở. “Giường chiếu chả có, nhà tôi kê gỗ trên nền đất mà ngủ. Một nửa nhà bếp là đê phân bón, nửa còn lại là chỗ cả gia đình sinh hoạt – chị Trâm, vợ anh Sinh kể – Cảnh vỡ nợ khổ lắm, hàng xóm chả ai muốn dây vào mình, co sang chơi không người ta cũng không thích, sợ mình nhờ vả”.     “Chỉ còn cách đòi tiền các đại lý. Nhưng tiền đại lý nợ cũng chẳng bao nhiêu mà lại mất mối làm ăn” – nghĩ thế nên anh Sinh động viên vơ con gắng chịu. Cả gia đình cắn răng, nai lưng ra làm, anh Sinh thì vừa xúc vừa gánh đổ rác lên xe bò, mấy đứa con thì phụ đẩy xe.     Nhưng rồi hết cơn bĩ tới hồi thái lai. Một năm sau, sản phẩm của anh đã có chỗ đứng trong thị trường nhờ bốn tiêu chí “tốt, rẻ, đẹp và tiện”. Sản phẩm tốt, bà con truyền tai nhau, phải đúng phân bón Trường Sinh mới chịu mua. Chẳng mấy chốc anh trả hết nợ nần. Chỗ nền bếp trước kia giờ là căn nhà 4 tầng khang trang đẹp đẽ.      Đơn đặt hàng ngày càng nhiều nhưng mặt bằng sản xuất không có, anh Sinh dự định tổ chức thu gom rác ngay tại các hộ gia đình và sẵn sàng trả tiền mua… rác. Điều anh mong muốn nhất là thu hút các hộ gia đình khác cùng làm, như thế vừa tăng thêm thu nhập, vừa giải quyết đống rác khổng lồ thải ra hàng năm.     Ngoài ra, anh Sinh cũng ấp ủ đưa vào sản xuất một loại phân bón mới – phân bón hỗn hợp – có tác dụng giữ ẩm, dùng cho các vùng cát sỏi, khô cằn. Loại phân bón do anh Sinh sản xuất giá chỉ 20.000đ/ kg, bằng 1/3 so với hàng ngoại nhập. Về phương pháp chế tạo, anh Sinh không tiết lộ nhưng theo anh, cũng không có gì đặc biệt lắm, chủ yếu là nhờ kinh nghiệm của nhà nông. Tuy nhiên, cũng phải mất hai năm, sản phẩm mới hình thành. Hiện, sản phẩm này đang chờ kiểm nghiệm nhưng nhiều người dùng thử đánh giá rất tốt.     Chưa hết, anh Sinh tự tin rằng mình có biện pháp để xử lý nước thối ở ao hồ thành nước sạch có thể tưới ruộng và cho trâu bò uống nhờ vào các loại thảo mộc, thảo dược. Trong tình trạng các ao hồ bị rác thải lấp gần hết, nước ao trở thành nước thối, bốc mùi hôi tanh nồng nặc thì biện pháp của anh Sinh, nếu trở thành hiện thực, sẽ đóng góp rất lớn trong việc giải quyết rác thải – vấn nạn các làng nghề, các thành phố loay hoay nhiều năm nay vẫn chưa xử lý rốt ráo được.       Cây dứa Queen trái vụ     Mấy năm trước, người nông dân trong vùng quy hoạch nguyên liệu của Nhà máy Chế biến nông sản Bắc Giang còn khóc dở mếu dở vì dứa. Những tưởng sau đó, các đồi dứa sẽ được dọn sạch để thay vào đó là cây vải, thứ cây độc tôn ở vùng Lục Nam, Lục Ngạn (Bắc Giang) này. Vậy mà năm nay trở lại đất vải, chúng tôi ngạc nhiên trước những đồi dứa nối tiếp nhau chạy dài. Ông Nguyễn Văn Toàn, một hộ trồng nhiều dứa nhất ở thôn Đồng Cống, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) bảo: “Sau vụ dứa năm 2000, chúng tôi hãi cây dứa lắm nhưng bây giờ lại sống nhờ nó – nhờ cây dứa của ông Trường khuyến nông đấy”. Ông Trường khuyến nông chính là anh Nguyễn Xuân Trường, thôn Hồ Sơn 1, xã Bảo Sơn. Còn cây dứa đặc biệt ấy chính là cây dứa Queen nhưng trồng trái vụ. Quy trình kỹ thuật trồng dứa Queen trái vụ do anh đưa ra được trao giải nhì trong cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật của nhà nông” do Hội Nông dân Việt Nam tổ chức.     Xã Bảo Sơn có 300 ha cây ăn quả chủ yếu là vải, hồng, xoài. Cây dứa chỉ là loại cây trồng xen, tận dụng đất trống với diện tích không đáng kể. Khi Nhà máy Chế biến nông sản Bắc Giang được xây dựng, bà con trong vùng quy hoạch uyên liệu của nhà máy đã hồ hởi chuyển sang trồng dứa với hy vọng cải thiện nguồn thu nhập ít ỏi. Nhưng vụ dứa đầu tiên (năm 2000) đã không cho kết quả như mong đợi. Thời điểm thu hoạch vào tháng 6-7, nắng nóng làm 30% dứa bị rám nắng, chín nhanh. Nhà máy không mua vì trái dứa không đạt tiêu chuẩn (chỉ được chín 1/3 quả, không thu mua những trái chín hết) và vì mùa vải bắt đầu, nhà máy còn… bận làm vải. Giá thị trường tụt xuống chỉ còn 300đ/kg. “Như vậy, tính ra vất vả suốt 18 tháng, bà con chỉ thu được từ 3-5đ/ 1kg dứa quả” – anh Trường bảo.     Cả năm đó, Bắc Giang nóng vì dứa. Là cán bộ khuyến nông, anh Trường là người bị nghe bà con ca thán nhiều nhất dù anh chẳng có lỗi gì và gia đình anh cũng lâm vào tình cảnh bi đát như nhiều hộ dân khác.     Sau nhiều ngày đau đáu vì ường với trái dứa, anh Trường chợt nhớ a Queen tới một dòng ngắn ngủi nhưng trái vụ.hết sức quan trọng trong tài liệu tập huấn của Trung tâm khuyến nông “có thể cho cây dứa ra quả lúc nào cũng được”. Vậy tại sao ta không cho dứa ra trái vào vụ khác, tránh vụ vải, như thế có phải hiệu quả cao hơn không? Vào khoảng tháng 3-4 hàng năm, thị trường hoa quả ở Bắc Giang rất khan hiếm, chỉ có cam Trung Quốc và xoài Sài Gòn với giá rất đắt: 8000đ/kg. Nếu cho dứa ra trái vào vụ này, chắc chắn là thu hoạch tốt.     Nghĩ là làm, thay vì trồng trồi giống nhỏ (200-300gr) theo quy trình kỹ thuật cũ, anh Trường trồng 1000 cây trồi giống to hơn (700gr – 1kg) vào khoảng tháng 3. Nhờ đó, rút ngắn số lần bón thúc từ 3 xuống còn 1 lần, công làm cỏ từ 5 lần chỉ còn 2 lần, thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch từ 18 tháng xuống còn 12 tháng. Theo quy trình kỹ thuật cũ, khi muốn cây dứa ra quả, bà con lấy một hạt đất đèn nhỏ bằng hạt đậu cho vào nõn cây dứa để cây ngừng lớn và phân hóa mầm hoa. Tuy nhiên, cách làm này rất mất công và hiệu quả không cao. Trong một lần tình cờ, anh Trường phát hiện ra thuốc dấm hoa quả cũng có tác dụng tốt đối với việc xử lý ra hoa. Chỉ cần pha loãng thuốc dấm hoa quả với đạm rồi tưới cho các đồi dứa vào tháng 9, thế là đảm bảo cây dứa ra trái đúng vào tháng 3. Cách làm này vừa đơn giản, hiệu quả và chi phí rất thấp. Không những thế, thu hoạch dứa vào tháng 3 còn tăng thêm được 30% năng suất do tránh được tình trạng rám nắng, giá bán cũng tăng lên 3 lần (1700 – 2000đ/ kg dứa).      Đến giờ, toàn xã Bảo Sơn đều trồng dứa trái vụ theo quy trình kỹ thuật do anh Trường “tìm ra”. Diện tích dứa lên tới 50 ha với gần 300 hộ trồng dứa. Có gia đình chỉ riêng cây dứa đã cho thu nhập 50 triệu mỗi năm. Ông Vi Văn Toàn ở thôn Hồ Sơn 1, xã Bảo Sơn nói: “Cả sáu khẩu nhà tôi giờ đều trông vào cây dứa. Tôi cũng muốn mở rộng diện tích trồng dứa nhưng khó quá. Đất rừng chủ yếu trồng vải và cây lấy gỗ. Cây lấy gỗ thì lâm trường họ quản lý, cây vải thì đang thu hoạch không lẽ lại phá đi”. Đấy cũng là lý do mà diện tích dứa trái vụ khó nhân rộng hơn ở xã Bảo Sơn.     Những người như anh Trường, anh Sinh không phải là duy nhất, còn rất nhiều người nông dân với bàn tay, khối óc đã có những giải pháp làm lợi cho bản thân và xã hội. Đấy là anh Huỳnh Thái Dương ở thôn 1, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận (Bình Thuận) với chiếc máy tẽ bắp có thể tẽ được từ năm đến sáu tấn hạt/giờ, tỷ lệ thất thoát không tới 3 kg/ 1 tấn ngô hạt. Đến nay anh Dương đã chuyển giao 500 máy tẽ bắp cho bà con nông dân các địa phương. Anh Đào Kim Tường, thôn Phước Thọ, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ (Bình Định) kỳ cạch chế ra chiếc máy bóc vỏ đậu phộng hay anh Nguyễn Tất Hải, xóm Bãi Kè, xã Đông Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) nghĩ ra chiếc máy bơm nước đạp chân. Người nông dân yêu quý gọi đó là những nhà khoa học… chân đất.  Bùi Thu Trang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyên tâm và luôn bám nghề      TS Nguyễn Bá Ân là người đã cùng một giáo sư Hàn Quốc đề xuất giao thức mới – Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử – với ưu điểm bảo đảm bảo mật thông tin hơn&#160; các giao thức Viễn tạo trạng thái lượng tử. Tên gọi này sau đó đã được các tác giả khác trên thế giới sử dụng rộng rãi, và khá nhiều công trình cũng được công bố theo hướng mà ông và đồng nghiệp mở ra.    Công bố “Joint remote state preparation via W and W-type states” [Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử thông qua các trạng thái W hoặc kiểu W] trên tạp chí Optics Communications năm 2010 của TS Ân đã được chọn là một trong bốn đề cử của Giải thưởng Tạ Quang Bửu cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, sẽ được trao lần đầu vào ngày 17/5.  Đây cũng là một trong số rất nhiều công trình về Thông tin lượng tử (Quantum Information) của ông đã được đăng trên các tạp chí uy tín nhất thuộc lĩnh vực mà ông bắt đầu chuyên tâm nghiên cứu từ năm 2002, như Physical Review A, JETP Letters, Physics Letters A, Journal of Physics B, Optics Communications, Journal of Optical Society of America B, New Journal of Physics, European Physical Journal D, v.v.            Vài nét về TS Nguyễn Bá Ân   Sinh năm 1950 tại Nghệ An     1966 – 1968: Học lớp Toán đặc biệt khóa đầu của Hà Nội đặt ở Trường Cấp 3 Xuân Đỉnh;     1970 – 1975: Học ở Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp Azerbaijan, Baku;     1975: Về nước và ở lại làm việc tại Viện Vật lý, theo lời kêu gọi của GS Nguyễn Văn Hiệu (lúc đó là Viện trưởng), dù được chuyển tiếp sinh sang Liên Xô làm Phó Tiến sĩ;     1983: Bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ tại Viện Vật lý, Hà Nội;     2002 – 2005: Giáo sư tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Hàn Quốc (KIAS);     2006 đến nay: Cán bộ của Viện Vật lý và Giáo sư mời của KIAS;     Đã công bố hơn 140 bài báo trên các tạp chí ISI uy tín cao về vật lý chất rắn, vật lý laser, quang phi tuyến, quang lượng tử và thông tin lượng tử.         Ông kể, Thông tin lượng tử rất sôi động vào những năm cuối của thế kỷ XX và liên quan rất nhiều đến Quang lượng tử, vốn là một mảng ông nghiên cứu độc lập, bên cạnh những mảng ông được giao nhiệm vụ hoặc được mời cộng tác như Vật lý chất rắn, Vật lý các hệ thấp chiều, Vật lý laser và Quang phi tuyến. Vì vậy từ năm 2000, ông đã tự “mở chiến dịch” chỉ đọc về Thông tin lượng tử.   Năm 2002, ông được mời làm giáo sư của Viện nghiên cứu Cao cấp Hàn Quốc (KIAS). Viện này khi đó bắt đầu xây dựng một nhóm chuyên về Thông tin lượng tử và ông đã cùng một giáo sư Hàn Quốc khởi đầu nhóm này. Từ đó đến nay, ông chỉ làm về Thông tin lượng tử và đã công bố khoảng 70 bài báo ISI về Viễn chuyển lượng tử, Tạo rối lượng tử, Động lực học lượng tử, Kiểm soát rối lượng tử, Các giao thức lượng tử toàn cầu, Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử, v.v. Tổng số trích dẫn của các bài do ông và các cộng sự làm ra là hơn 1.800 lần, còn các bài ở mảng Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử là khoảng 330 lần – đều theo Google Scholar. Riêng bài báo đăng năm 2010 trên Optics Communications đã được trích dẫn 50 lần (theo Google Scholar, tính tới thời điểm này).  Thông tin lượng tử là một lĩnh vực rất mới, có tính cách mạng (đã được ghi nhận bởi Giải Nobel Vật lý năm 2012) dựa trên các quy luật của thế giới vi mô, hứa hẹn nhiều ứng dụng quan trọng trong tương lai như truyền thông lượng tử, bảo mật tuyệt đối và máy tính lượng tử. Một trong những giao thức nổi trội nhất là Viễn chuyển lượng tử (Quantum Teleportation) được đề xuất năm 1993 để viễn chuyển một qubit bất kỳ một cách hoàn toàn bảo mật và hoàn hảo. Theo Physics World, đó là một trong năm phát hiện ấn tượng nhất trong 25 năm qua. Từ năm 2000, người ta bắt đầu đề cập đến Viễn tạo trạng thái lượng tử (Remote State Preparation). Cách viễn tạo này có ưu điểm hơn Viễn chuyển lượng tử khi trạng thái cần chuyển đã được biết. Các giao thức này tuy hoàn toàn chính xác nhưng không hoàn toàn bảo mật vì thông tin bị lộ cho người chuyển.   Để bảo đảm bảo mật thông tin, năm 2008, TS Ân và một giáo sư Hàn Quốc đã đề xuất giao thức mới, đặt tên là Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử [Joint Remote State Preparation, N. B. An & J. Kim, J. Phys. B 41, 095501 (2008)]. Sau đó, tên gọi này đã được các tác giả khác trên thế giới sử dụng rộng rãi, và khá nhiều công trình cũng được công bố theo hướng mà ông và đồng nghiệp Hàn Quốc mở ra.   Muốn thực hiện Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử, các đối tác phải chia sẻ một tài nguyên lượng tử đặc biệt, là các trạng thái rối lượng tử (Quantum Entanglement), thường là các trạng thái GHZ. Tuy nhiên, còn có nhiều trạng thái rối khác, chẳng hạn như trạng thái W, là trạng thái dễ chế tạo hơn và bền vững hơn so với GHZ. Vấn đề đặt ra là có thể thực hiện Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử hay không nếu sử dụng kênh lượng tử là các trạng thái W hoặc kiểu W? Câu hỏi này được trả lời là “Không”, dựa trên các phân tích theo hướng như đã làm khi sử dụng các trạng thái GHZ. Song, theo bài báo của TS Ân năm 2010, câu trả lời lại là “Có”: bài báo lần đầu tiên đã đưa ra một cách tách thông tin khôn khéo để giải quyết vấn đề. Cụ thể hơn, bài báo đề xuất các giao thức mới để đồng viễn tạo trạng thái một và hai qubit sử dụng các trạng thái W và dạng W như các kênh lượng tử và chỉ ra rằng, không phụ thuộc vào độ rối của kênh lượng tử, các giao thức vẫn thành công đối với bất cứ người nhận nào (kể cả khi không được trang bị đầy đủ về kỹ thuật) nhờ việc tách thông tin của trạng thái cần tạo một cách khôn khéo.   Tuy nhiên, TS Ân cho rằng, cũng như nhiều giao thức lượng tử khác, giao thức đề cập trong bài báo của ông mới giới hạn ở các điều kiện lý tưởng. “Việc hiện thực hóa các giao thức lượng tử là rất khó và còn phải chờ đợi lâu nữa, cho tới khi công nghệ về Thông tin lượng tử đạt được mức độ chính xác cần thiết, vượt được qua các trở ngại do các điều kiện thực tế gây ra,” ông nói.  Ngoài ra, ông còn cùng các cộng sự mở rộng việc Đồng viễn tạo trạng thái lượng tử cho nhiều tình huống thực tế khác nhau, đặc biệt đã cải tiến phương pháp thực hiện để đạt được các giao thức tất định, một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong xử lý Thông tin lượng tử, làm giảm chi phí đáng kể trong việc sử dụng tài nguyên lượng tử, là các tài nguyên rất đắt tiền, đòi hỏi các kỹ thuật rất cao.  40 năm liên tục làm nghiên cứu khoa học, nhưng khi được hỏi, những yếu tố nào giúp ông theo đuổi được nghề nghiệp và đạt thành tựu, ông đã trả lời một cách không thể ngắn gọn và giản dị hơn: “Chuyên tâm và luôn bám nghề.”           Tiến sĩ Nguyễn Bá Ân đã thực sự trở thành một chuyên gia trình độ quốc tế trong lĩnh vực khoa học về Thông tin lượng tử, một lĩnh vực mới với những tiềm năng ứng dụng quan trọng trong tương lai. Trong khi những nghiên cứu về Thông tin lượng tử còn ít ở Việt Nam, bản thân TS Ân đã thu được những thành tựu nghiên cứu quan trọng và các công trình của ông được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao. Ông thường xuyên được Viện Nghiên cứu Cao cấp Hàn Quốc mời sang tham gia hợp tác nghiên cứu. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực này chắc chắn còn có ý nghĩa khoa học lâu dài, đặc biệt sau khi máy tính lượng tử ra đời trong tương lai (thời điểm mà cộng đồng khoa học quốc tế chờ đợi sẽ là một bước ngoặt quan trọng của nhân loại, không kém gì so với sự ra đời của máy tính trong những năm1950 hay của mạng internet trong những năm 1980).     Với hơn 140 công trình khoa học đã công bố trên các tạp chí ISI, TS Ân là một trong những nhà khoa học Việt Nam có trích dẫn quốc tế cao với h-index = 16 (theo thống kê của Viện Thông tin khoa học Hoa Kỳ ISI) và 21 (theo Google Scholar). Trong 5 năm gần đây (2008-2013), TS Ân đều có hơn 100 trích dẫn ISI mỗi năm. Tuy đã ở tuổi kề hưu, ông vẫn tham gia trực tiếp nghiên cứu vào các vấn đề cụ thể khác nhau và mỗi năm chủ biên công bố khoảng ba-bốn công trình trên các tạp chí ISI, góp phần nâng cao đáng kể uy tín quốc tế của cộng đồng khoa học Việt Nam.    GS.TS. Đào Tiến Khoa – Giám đốc Trung tâm Vật lý hạt nhân,     Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam            Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện thần kỳ ở Princeton      Bang New Jersey nhỏ xíu có một thị trấn mang tên Princeton. Tuy chỉ có hơn 13 nghìn dân nhưng thị trấn cổ kính thanh bình này nổi tiếng khắp thế giới vì tại đây có trường đại học Princeton và Viện Nghiên cứu cấp cao (IAS) , hai thánh đường của các nhà khoa học toàn cầu.   ĐH Princeton là một trường tư thục thành lập năm 1746, tuổi đời cao thứ 4 trong số khoảng 3700 trường đại học ở Mỹ. Quy mô trường khá nhỏ, tổng số nhân viên, giáo viên và học viên chỉ vào khoảng hơn 6 nghìn người, không có các học viện thu hút nhiều thí sinh như Y, Luật và Quản trị kinh doanh, tuy thế ĐH Princeton luôn luôn đứng hàng đầu trong các bảng xếp hạng ĐH toàn thế giới, trong đó có thành tích đào tạo được 2 Tổng thống và 20 chủ nhân giải Nobel. Ngoài ra ĐH Princeton còn đặc biệt nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung và tình thương yêu đùm bọc giữa các nhà khoa học. Trong khuôn viên bao la xanh rợp bóng cây của nhà trường từng xuất hiện vô số chuyện thần kỳ chẳng hạn như câu chuyện về Jr. John Forbes Nash.    “Người này là một thiên tài”  Jr. John Forbes Nash ra đời trong một gia đình trí thức có cha là kỹ sư điện tử, mẹ là giáo viên dạy tiếng Anh và tiếng La Tinh. Từ bé Nash đã tỏ ra lập dị khác người, tính tình hướng nội, không ham chơi đùa mà chỉ thích đọc sách. Ở trường tiểu học, cậu bị thầy giáo chê là đầu óc “có vấn đề” vì hay dùng những cách kỳ quặc để giải các bài toán. Lên trung học, biểu hiện đó càng khiến mọi người ngạc nhiên: có lần khi giải bài tập toán, thày giáo viết đầy bảng, thế mà Nash chỉ dùng vài thao tác đơn giản là tìm ra lời giải.   Thấy con có năng khiếu toán, cha mẹ cho Nash học chương trình toán cao cấp ngay khi cậu còn đang ở trung học. Nhờ học giỏi, Nash nhận được học bổng của Học viện Công nghệ Carnegie. Tại đây anh được thầy giáo toán gọi là Gauss trẻ, một cái tên đầy vinh dự, vì mọi người đều biết trong giới toán học xưa nay chưa ai vượt qua được thần đồng toán học người Đức Carl Friedrich Gauss (1777-1855).   Năm đầu tiên Nash học ngành hóa, năm sau chuyển sang học toán. Một lần anh đến gặp thầy hướng dẫn khoa học là giáo sư R.J.Duffin, trình bầy một phát hiện toán học mới của mình. Ông thầy vô cùng ngạc nhiên khi thấy cậu học trò trẻ này đã tự chứng minh được Định lý điểm bất động Brouwer (Brouwer Fixpoint Theorem) mà cậu chưa biết rằng trước đây đã có nhà toán học làm được điều đó.   Nash lấy bằng thạc sĩ ở tuổi 20 (năm 1948) và chuẩn bị làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại một trong 4 trường đại học đồng thời nhận anh: Harvard, Princeton, Chicago và Michigan. Trong thư giới thiệu Nash đi học tiếp, GS Duffin chỉ viết mỗi một câu: This man is a genius (Người này là một thiên tài).   Nhận xét ấy khiến ông Solomon Lefschetz Chủ nhiệm khoa Toán ĐH Princeton hết sức quan tâm. Ông lập tức viết thư mời Nash sớm đến Princeton và hứa cấp cho anh học bổng John S. Kennedy trị giá 1150 USD, một số tiền rất lớn ngày ấy và lớn hơn học bổng Harvard đã hứa cấp cho Nash.  Princeton là trung tâm toán học toàn cầu, nơi đây chẳng những có Albert Einstein vĩ đại mà còn có Von Neumann nhà toán học đại tài, người đặt nền móng cho khoa học máy tính, lý thuyết toán học cho bom khinh khí và kinh tế học toán lý. Một địa điểm như thế là nơi mơ ước của bất cứ nhà toán học trẻ tuổi nào. Nash sao có thể bỏ qua thánh đường khoa học này.   Bầu không khí học thuật tự do, khoan dung của Princeton khiến Nash như cá gặp nước, thỏa sức vẫy vùng. Anh tự tìm lấy đề tài nghiên cứu: đó là lý thuyết cân bằng (equilibrium theory), một phần trong lý thuyết trò chơi ngày ấy còn mới lạ.   John Nash nhanh chóng trở thành ngôi sao mới trên bầu trời Princeton. Các bạn học xì xào: anh chàng này có chút lập dị nhưng cực kỳ thông minh. Lloyd Stowell Shapley (sau này là chuyên gia lý thuyết trò chơi nổi tiếng ở ĐH Los Angeles) nhận xét Nash khó hòa hợp với mọi người nhưng tư duy logic của anh rất sắc bén và tuyệt đẹp.  Trong hai năm 1950 và 1951, Nash công bố mấy bài báo khoa học, trong đó có 2 bài quan trọng: Điểm cân bằng trong trò chơi N người (Equilibrium Points in N-person Games) và Trò chơi bất hợp tác (Non-cooperative Games). Anh đề xuất và định nghĩa khái niệm Cân bằng bất hợp tác (Non-cooperative equilibria, sau này gọi là Cân bằng Nash, Nash equilibrium), một đột phá khuôn khổ của Trò chơi kết cục zero (zero-sum game). Định nghĩa này cùng với định nghĩa Tình cảnh khó khăn của tù nhân (Prisoner’s dilemma) do thầy hướng dẫn của Nash là Albert W. Tucker xác lập năm 1950 đã đặt nền móng cho lý thuyết trò chơi bất hợp tác.   Cân bằng Nash trở thành nền tảng lý luận cho Trò chơi hai người kết cục phi zero (Two person non zero sum game) là một khái niệm rất cao siêu khó hiểu, một bước phát triển lớn so với Trò chơi hai người kết cục zero do Von Neumann và Oskar Morgenstern đưa ra hồi thập niên 40.  Lý thuyết trò chơi hiện nay thường nói chính là lý thuyết trò chơi bất hợp tác; nó trở thành công cụ đắc lực để phân tích tình thế kinh tế trong cạnh tranh thương mại và đàm phán thương mại. Nhà kinh tế học phát triển Robert M. Solow (Nobel kinh tế 1987) nói chính là nhờ cống hiến của Nash mà lý thuyết trò chơi trở thành lý thuyết đầy sức sống dùng để phân tích kinh tế hiện đại.   Lý thuyết này nghiên cứu hành vi tương tác sách lược của mọi người. Nó nghiên cứu làm thế nào để trong nền kinh tế thị trường, con người có thể tự nguyện đưa ra những quy chế hữu hiệu được mọi người tuân theo và thực hành, nhằm tăng tiến cơ chế phúc lợi của xã hội. Nó là cơ sở để giúp con người hiểu biết sâu sắc các hành vi kinh tế và các vấn đề xã hội, vì thế nó được ứng dụng ngày một nhiều trong kinh tế học cũng như nhiều ngành khoa học xã hội-nhân văn khác, chẳng hạn chính trị học.  Lý thuyết trò chơi ngày nay đã trở thành một phương pháp nghiên cứu dùng trong toàn bộ ngành khoa học xã hội.   Tên của Nash gắn trong thuật ngữ Nash Equilibrium và Nash embedding theorem và xuất hiện trong các sách giáo khoa toán học, kinh tế học, các luận văn sinh học tiến hóa, các trước tác chính trị học. Nash đem lại cho lý thuyết trò chơi các khái niệm toán học mới có tính cách mạng, nhất là khái niệm Nash embedding theorem. Ngay Einstein đương thời cũng thừa nhận chỉ khi nào đầu óc tỉnh táo lắm ông mới thực sự hiểu các khái niệm đó.  Các nghiên cứu nói trên được tập hợp trong bản luận án tiến sĩ 28 trang của Nash viết về lý thuyết Trò chơi bất hợp tác và trở thành căn cứ khoa học để hơn 40 năm sau Nash được trao giải Nobel kinh tế (năm 1969 mới thành lập giải này).  Ngày 13/7/1950, đúng hôm sinh nhật lần thứ 22, John Nash được trao học vị tiến sĩ toán.  Thành tựu của Nash xuất sắc tới mức giới toán học thế giới đều coi anh là bậc thầy về lý thuyết trò chơi. Tạp chí Fortune nổi tiếng số tháng 7/1958 gọi John Nash là ngôi sao mới sáng nhất của nền tân toán học nước Mỹ.   Nash ở lại ĐH Princeton một năm làm công tác giảng dạy và kiêm chức cố vấn cho Công ty RAND, một think tank hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực quân sự (chủ yếu là không quân) thời kỳ chiến tranh lạnh.   Về sau, Nash chuyển tới Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tiếp tục giảng dạy, đồng thời vẫn tiến hành nghiên cứu, hoàn thành một số công trình đột phá về hình học đại số (algebraic geometry). Cho tới nay các nhà toán học MIT vẫn đánh giá Nash có thành tích nghiên cứu “cực kỳ xuất sắc”.  Tại Massachusetts, trong những giờ dạy toán, Nash làm quen với một trong hai nữ sinh viên duy nhất của khoa Vật lý – cô Alicia Lardé, con một ông bác sĩ y khoa người Mỹ gốc El Salvador (một nước nhỏ ở Trung Mỹ). Cô gái xinh tươi kém anh 5 tuổi nhanh chóng có cảm tình với anh giáo trẻ tài giỏi, đẹp trai, cao 1,85m, có khuôn mặt quý tộc Anh và phong thái lịch sự, ứng xử thông minh.   Mùa hè 1956 Nash được MIT cử đến Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton làm việc một năm; Alicia đi cùng anh.  Khi trở lại MIT, Nash được đề nghị phong chức danh giáo sư suốt đời. Tháng 2/1957, anh và Alicia làm lễ thành hôn. Đây là sự việc quan trọng nhất trong đời Nash, bởi lẽ không có Alicia thì anh không thể sống tới ngày nay.  Tai họa bất ngờ  Ai cũng tưởng rằng đôi uyên ương Nash-Alicia sẽ được sống hạnh phúc lâu bền bên nhau, ngờ đâu khi Nash vừa mới bước sang tuổi 30, cái tuổi tài năng có dịp nở rộ thì anh bị mắc chứng tâm thần phân liệt, nói thẳng ra là điên dại. Alicia đau lòng ngán ngẩm nhìn ông chồng thể xác còn đấy nhưng linh hồn thì đã mất. Dường như bệnh này có tính di truyền, vì con trai họ là John Charles Martin Nash, một tiến sĩ toán rất giỏi, về sau cũng mắc bệnh đó.                  Bệnh tâm thần vô cùng quái ác, nó làm cho bệnh nhân hoàn toàn bị cách ly khỏi xã hội, bạn bè, vợ con. Hầu như mọi thứ thuốc, mọi sự chăm sóc đều không có hiệu quả. Bất cứ người lao động trí óc nào khi đã mắc bệnh này thì coi như sự nghiệp đi đứt.   Bệnh bắt đầu phát từ hồi Nash đang giảng dạy tại MIT và tiến triển từ từ; nguyên nhân tại sao thì không ai rõ.   Có người nói đó là hậu quả công việc Nash làm tại Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton. Tại đây ông tham gia nghiên cứu với một nhóm chuyên gia phương trình vi phân và nhanh chóng có bứt phá quan trọng trong lĩnh vực phương trình vi phân phi tuyến, khiến nhóm chuyên gia kia kinh ngạc. Nhưng đúng lúc ấy có tin mấy tháng trước một học giả trẻ người Ý đã chứng minh được một phần kết quả nghiên cứu của Nash. Tin này khiến Nash nghĩ rằng chính người Ý kia đã làm ông mất cơ hội được tặng Huy chương Fields (còn gọi là giải Nobel Toán). Có người nói mối hận ấy làm cho tinh thần Nash suy sụp và dẫn đến chứng tâm thần phân liệt.  Nhưng Nash phủ nhận điều đó. Sau này trong bản lý lịch gửi Ủy ban xét giải Nobel, ông cho biết: mùa hè năm 1957, ông bắt đầu chú ý tới một vấn đề hóc búa nhất trong cơ học lượng tử, đó là sự giải thích nguyên lý bất định Heisenberg (Heisenberg uncertainty principle), một lĩnh vực bên ngoài toán học, các nhà khoa học từng tranh luận mãi vẫn chưa thống nhất với nhau. Nash cũng tranh cãi về vấn đề này với Oppenhelmer cha đẻ bom nguyên tử Mỹ, Giám đốc Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton (1947-1966); sau đấy ông có viết thư xin lỗi Oppenhelmer về thái độ gay gắt của mình. Nash cho biết: khi hiểu rằng ý định giải quyết mâu thuẫn nội tại của thuyết lượng tử là việc làm không lượng sức mình, tâm trạng ông bị mất cân bằng và có lẽ đó là nguyên nhân phát bệnh tâm thần.  Mùa thu năm 1958, trong một lần trò chuyện với hai sinh viên nước ngoài, tự dưng Nash thao thao bất tuyệt nói những câu khiến hai người kia ngạc nhiên không hiểu ra sao. Ông nói hoà bình thế giới đang bị đe dọa, nhân loại cần thành lập một “chính phủ thế giới” để bảo vệ hoà bình. Một hôm ông chỉ tờ báo cầm trong tay và nói đây là mật mã của chính phủ người ngoài hành tinh gửi cho ông. Khi ĐH Chicago mời Nash nhận một chức vụ rất cao thì ông lại viết thư từ chối với lý do ông phải đi làm “Hoàng đế châu Nam Cực”. Hồi ấy trường MIT vì muốn giữ Nash nên định đề bạt ông, khi biết chuyện bức thư kỳ quặc ấy, họ cho là bệnh tâm thần của ông đã rất nặng.   Nash mắc bệnh hoang tưởng, lúc nào ông cũng nghĩ mình được trao nhiệm vụ vĩ đại lãnh đạo phong trào hoà bình thế giới. Ông viết rất nhiều thư và tự lái xe đến sứ quán các nước tại Washington trao thư gửi tới yếu nhân chính phủ các nước và quan chức Liên Hợp Quốc (LHQ). Trong thư, ông bàn chuyện lập chính phủ toàn cầu để bảo vệ hoà bình thế giới.   Năm 1962 có lần Nash đề nghị khoa Toán ĐH Princeton chuyển giúp thư của mình tới lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông, nhưng vì hồi ấy Trung Quốc và Mỹ chưa có quan hệ ngoại giao nên thư không gửi được. Năm 1967, khi Trung Quốc đang có “Cách mạng văn hoá”, Nash lại viết thư gửi một đồng nghiệp cũ ở nước này, trong đó ông mập mờ nhắc đến khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân tại biên giới Trung Quốc-Liên Xô.   Trên thực tế hồi ấy giới trí thức phương Tây đúng là đang có trào lưu thân Liên Xô, ưa thích chủ nghĩa xã hội, chống làm bom nguyên tử và chống chiến tranh. Do căm giận Thế chiến II tàn phá nền văn minh nhân loại, họ muốn lập một chính phủ thế giới để bảo vệ hoà bình. Albert Einstein, Jean Paul Sartre … đều ủng hộ ý tưởng này.   Khoa Toán trường MIT thật sự là một “hang ổ” cộng sản. Trưởng khoa, phó khoa đều là đảng viên đảng Cộng sản Mỹ. Ba người con của Earl Browder lãnh tụ đảng này đều học khoa Toán ở MIT. Những người ấy về sau đều nhiệt tình giúp đỡ Nash khi ông đau ốm. Thập niên 50 là thời kỳ chủ nghĩa chống cộng McCarthy hoành hành, họ đều bị chính quyền Mỹ điều tra. Nhà trường phải mời luật sư bảo vệ nên họ mới không bị rắc rối. Nỗi căm giận và sợ hãi bộ máy nhà nước góp phần làm tăng tình trạng tinh thần thất thường của Nash, ông chỉ muốn đi khỏi nước Mỹ.  Ngoài ra Nash lại còn là một người đồng tính, từng có lần bị cảnh sát bắt về tội danh này và do đó ông bị công ty RAND cắt hợp đồng làm việc. Ngày ấy đồng tính là một hiện tượng phạm pháp bị xã hội Anh, Mỹ lên án nặng nề, dư luận phổ biến cho rằng các điệp viên Xô Viết hay lợi dụng người đồng tính để lấy cắp bí mật quốc gia. Một thí dụ: nhà toán học Anh nổi tiếng Alan Turing (1912-1954) tuy có công lao cực lớn trong kháng chiến chống phát xít Đức nhưng chỉ vì là người đồng tính mà bị chính phủ Anh buộc thôi việc tại Trung tâm giải mật mã và bị thiến bằng hóa chất, khiến ông xấu hổ phải tự tử.  Có thể hiểu Alicia khổ sở biết bao khi phải chịu đựng người chồng đã điên dại lại thêm có xu hướng đồng tính.   Tháng 4/1959 Nash bị đưa vào bệnh viện tâm thần khi Alicia đang lo sinh con đầu lòng.   Nghe tin này, các đồng nghiệp của Nash gọi điện thoại cho chuyên gia bệnh tâm thần giỏi nhất nước Mỹ, yêu cầu ông này “Vì lợi ích của đất nước, hãy dùng mọi cách điều trị để giúp giáo sư Nash trở lại con người sáng tạo như trước.” Họ còn lập một quỹ giúp Nash chữa bệnh, vận động các thành viên Hội Toán học Mỹ quyên góp tiền cho quỹ.  Sau gần hai tháng điều trị, Nash được ra viện. Do oán trách lãnh đạo trường MIT “nhốt” mình vào “nhà thương điên” và do hoang tưởng chỉ nghĩ đến “sự nghiệp vĩ đại trời trao” cho mình, Nash xin thôi việc ở trường MIT, rút tiền hưu trí, một mình sang châu Âu “làm nhiệm vụ bảo vệ hoà bình thế giới”.   Việc đầu tiên ông làm là đến Sứ quán Mỹ ở Luxembourg tuyên bố từ bỏ quốc tịch Mỹ, rồi tới Cơ quan tị nạn LHQ và cơ quan chính quyền Thụy Sĩ tại Geneva tự xưng là nạn dân của cả hai khối quân sự NATO và khối Warsaw, xin tị nạn chính trị với lý do trốn lính và muốn nghiên cứu toán học quốc phòng. Các cơ quan này đều nghĩ Nash là người điên, vì thế họ không chấp nhận yêu cầu của ông.   Nash liền vứt hộ chiếu rồi bỏ sang Leipzig thuộc CHDC Đức. Chẳng hiểu có phải vì nghĩ rằng nhà khoa học Mỹ này có giá trị khoa học gì chăng mà nhà nước cộng sản Đông Đức đã cho ông nhập cảnh dù không có hộ chiếu.  Thời gian Nash ở châu Âu, bà vợ thường nhận được những tấm bưu thiếp chồng gửi về, viết toàn những con số chẳng hiểu có ý nghĩa gì.  Năm 1960, Chính phủ Mỹ cử người sang châu Âu nhận Nash và đưa về Mỹ.  Sau khi trở lại Princeton, bệnh tình của Nash lúc nặng lúc nhẹ. Năm 1963, bà vợ hết chịu nổi đành đâm đơn xin ly dị, nhưng vẫn cho ông ở cùng nhà và vẫn chăm sóc ông. May mắn nữa là các đồng nghiệp đều tìm cách bố trí công việc cho Nash để ông có thu nhập chữa bệnh.   Ít lâu sau, do bệnh không khỏi, Nash về quê sống với mẹ. Năm 1969, mẹ mất, ông chỉ còn lại cô em ruột là người thân duy nhất, nhưng vì bận chăm nom chồng con mình nên bà này đành đưa ông anh vào bệnh viện tâm thần.  Quyết định đổi đời                  Đầu năm 1970, John Nash ra viện và kiên quyết không bao giờ trở lại. ĐH Princeton đã kịp thời chìa bàn tay nhân ái cứu nhà toán học đang trong tình trạng bơ vơ không nơi nương tựa: họ mời ông về trường. Quyết định quan trọng này giúp Nash tránh được thảm kịch nếu ở lại quê nhà thì ông sẽ chỉ có thể làm kẻ ăn xin lang thang đầu đường xó chợ và một ngày nào đó chết trong đói rét. Sau này khi khỏi bệnh, Nash cảm kích nói: Nhờ sự đùm bọc của Princeton nên tôi đã thoát khỏi cảnh vô gia cư.  Tại Princeton, Nash được Alicia đón về chăm sóc. Với tình yêu cao cả, ý chí sắt đá và nghị lực phi thường, người vợ cũ của ông vượt qua muôn vàn gian khó, dùng tiền lương ít ỏi của một nhân viên làm chương trình máy tính để nuôi và chữa bệnh cho Nash và con trong nhiều năm. Bà nghĩ rằng hành vi cổ quái của Nash nếu ở nơi khác thì bị cho là điên dại, nhưng tại Princeton nơi có nhiều chủ nhân giải Nobel thì người ta lại có thể nghĩ rằng đó là lối sống của những thiên tài. Quả thật nơi đây không hiếm những chuyện lẩn thẩn kỳ quặc tương tự. Chẳng hạn trên lối mòn mang tên Einstein trong rừng cây khuôn viên Princeton từng xảy ra chuyện ông tổ của thuyết tương đối thường dụ dỗ các cháu học sinh tiểu học đưa bài tập toán cho ông giải giúp để ông được chúng trả công bằng những chiếc kẹo …  Hai thập niên 70 và 80, người ta thường thấy một người đàn ông gày xơ xác, tóc tai bơ phờ, mắt đờ đẫn không hồn, suốt ngày lang thang trong khuôn viên ĐH Princeton như một bóng ma, đôi lúc dừng lại trước những tấm bảng đen trong vườn và cặm cụi viết lên đó hàng tá công thức toán học kỳ quặc. Các sinh viên ngạc nhiên khi biết ông già điên dại bị gọi là “hồn ma” kia chính là thiên tài John Nash được nhắc tới trong các sách giáo khoa họ đang học.   Princeton là nơi tập hợp những nhà trí thức lớn, trong đó có nhiều người quen biết Nash. Họ tôn trọng và bảo vệ ông. Nếu có ai xúc phạm Nash thì lập tức người đó sẽ bị họ mắng: Này, cả đời anh cũng chẳng thể có được cống hiến như ông ấy đâu!   Nhà trường và các bạn đồng nghiệp đều thông cảm tìm cách giúp Nash có thu nhập để đỡ đần Alicia. Chẳng hạn họ ghi tên Nash tham gia các đề tài nghiên cứu dưới bất cứ hình thức nào dù chỉ là có tính tượng trưng. Nhưng cố gắng của họ đều không thành, trừ một lần Shapley kiếm được một khoản tiền thưởng cho Nash. Có lẽ đó là giải thưởng Lý thuyết John von Neumann (John von Neumann Theory Prize) tặng cho Nash năm 1978 với lý do đã đưa ra khái niệm Cân bằng bất hợp tác (Non-cooperative equilibria).   Người quản lý phòng máy tính đã cho Nash dùng tài khoản máy tính của mình (vì Nash không ở trong biên chế nhà trường), nhờ đó ông học được cách sử dụng máy. Trong 30 năm Nash đau ốm, công nghệ máy tính đã được cải tiến cực nhiều, bởi vậy những giờ làm việc trên công cụ trí tuệ kỳ diệu này đã có tác dụng tích cực giúp Nash bớt dần chứng hoang tưởng.   Rốt cuộc chuyện thần kỳ đã xảy ra: bệnh tình của Nash thuyên giảm dần. Quá trình ấy diễn ra rất chậm; từ cuối thập niên 80, ông bắt đầu trò chuyện một cách tỉnh táo với mọi người, làm quen một số nghiên cứu sinh, thậm chí có thể bản bạc vài vấn đề toán học có ý nghĩa.   Ai nấy vô cùng vui mừng khi thấy Nash trở lại cuộc đời bình thường, nhất là ông đã tham gia một số hoạt động học thuật, giao lưu với đồng nghiệp và sinh viên; nhờ đó giới khoa học trong và ngoài nước dần dần biết Nash vẫn còn sống và làm việc. 30 năm qua, do cái tên Nash hoàn toàn không xuất hiện trên báo chí và các hội thảo toán học, còn những công bố cũ của ông lại có niên đại quá xa xưa, cho nên những người không ở Princeton đều nghĩ rằng Nash đã qua đời từ lâu. Giờ đây hoạt động nói trên của Nash đã tạo tiền đề để Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển có lý do chú ý tới ông khi họ xét trao giải Nobel kinh tế cho lý thuyết trò chơi bất hợp tác mà ông là một tác giả đầu tiên.   Thực ra nhiều năm trước, John Nash từng được đưa vào danh sách ứng cử viên giải Nobel. Năm 1985 ông bị loại ra khỏi diện xét chọn, chủ yếu do người ta nghi ngại trí lực của ông có vấn đề. Ai cũng biết, người được trao giải Nobel phải đến Stockholm đọc một đáp từ ngắn gọn, có nội dung sâu sắc súc tích trước Nhà vua, Hoàng hậu và Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cùng đám đông đại biểu, nhà báo. Ngoài ra, tuy chưa có văn bản quy định không trao giải cho người đã nghỉ hưu hoặc không có chức danh khoa học, nhưng nói chung người có chức danh thì hợp lẽ hơn. Trong hai thập niên 70-80, Nash hoàn toàn không có những điều kiện đó.   Đến năm 1994, do lý thuyết trò chơi ngày càng được ứng dụng nhiều trong kinh tế học, việc xét thưởng Nash trở nên có lợi. Giáo sư Harold W. Kuhn nhà kinh tế toán lý nổi tiếng tại hai khoa Toán và Kinh tế học ĐH Princeton, bạn học cũ và đồng nghiệp của Nash, đã hết sức cố gắng giúp Nash. Kuhn thuyết minh với Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển là nếu chỉ vì tình hình sức khỏe của Nash mà tước mất giải Nobel ông rất xứng đáng được nhận thì điều đó hết sức phi lý. Kuhn còn đề nghị ĐH Princeton phong cho Nash chức danh “Nhân viên hợp tác nghiên cứu”. Đề nghị này được chấp nhận. Như thế Nash được chính danh đi Stockholm dự lễ trao giải. Cũng chính Kuhn dự thảo bản lý lịch của Nash và gửi cho Ủy ban Nobel theo yêu cầu của họ.  Ngày 11 tháng 10 năm 1994, Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển tuyên bố: ba nhà khoa học John F. Nash Jr., John C. Harsanyi (quốc tịch Mỹ) và Reinhard Selten (Đức) được trao giải Nobel Kinh tế “vì các phân tích mở đường của họ về khái niệm cân bằng trong lý thuyết Trò chơi bất hợp tác.”    ĐH Princeton họp báo công bố tin này, chúc mừng Princeton có thêm một chủ nhân giải Nobel. Mọi người đều tiếc là nếu Nash không ốm đau thì lẽ ra một mình ông phải được trao giải này từ rất lâu rồi.   Sự việc John Nash đoạt giải Nobel không những chứng tỏ các khám phá lỗi lạc của ông được giới khoa học quốc tế thừa nhận, mà còn có tác dụng báo cho thế giới biết ông hãy còn sống khỏe mạnh sau 30 năm im hơi vắng tiếng. Thế nhưng vẫn có một tờ báo châu Á do thiếu thông tin vẫn đăng bài giật tít “Nash không đủ sức khỏe đi dự lễ trao giải Nobel”.  Trong lý lịch tự khai gửi Ủy ban Nobel, Nash viết: sau 25 năm gián đoạn suy nghĩ, giờ đây ông tin rằng mình có thể đạt được một số giá trị nào đấy qua các nghiên cứu hiện nay của ông hoặc với bất kỳ ý tưởng mới nào sẽ đến trong tương lai.   Năm 2001 Nash chính thức tái hôn với người vợ cũ. Có điều đời sống hai người không vì được giải Nobel mà thay đổi mấy, họ phải chăm sóc con trai cũng bị tâm thần, giải này hồi ấy có 930 nghìn USD, chia cho 3 chủ nhân, mỗi người chẳng được bao nhiêu.   Huyền thoại được cả thế giới biết đến  Cuộc đời chìm nổi thần kỳ của thiên tài toán học John Nash cùng lòng nhân ái vô biên của Alicia và ĐH Princeton làm xúc động nhiều người, trong đó có bà Sylvia Nasar, nhà kinh tế kiêm giáo sư khoa báo chí thương mại ĐH Columbia, phóng viên báo New York Times.   Sylvia đã dựa tư liệu cuộc đời Nash viết thành cuốn tiểu thuyết thể loại truyện ký có tên Một Tâm hồn Đẹp (A Beautiful Mind) dầy hơn 400 trang, phát hành năm 1998. Một Tâm hồn Đẹp được tặng giải thưởng Sách Quốc gia 1998 và nhận một để cử giải Pulitzer cùng hợp đồng làm phim với Universal Pictures and DreamWorks.   Trong tiểu thuyết, Sylvia Nasar dẫn lời một đồng nghiệp của Nash: “Tất cả các nhà toán học đều đồng thời sống trong hai thế giới khác hẳn nhau, một thế giới thanh cao thuần khiết kiểu triết gia Plato và một thế giới với cuộc đời hiện thực ngắn ngủi, hỗn độn, đòi hỏi phải luôn luôn thích ứng mọi biến đổi”. Riêng Nash thì ông còn sống 30 năm trong một thế giới đặc biệt nữa, đó là thế giới hoang tưởng của người điên dại.  Năm 2002, Sylvia Nasar cùng nhà biên kịch Akiva Goldsman cải biên tiểu thuyết Một Tâm hồn Đẹp thành kịch bản điện ảnh, sau đó đạo diễn Ron Howard dựng thành phim cùng tên. Bộ phim này dài 135 phút, do Russell Crowe đóng vai Nash, Ed Harris và Jennifer Connelly vai Alicia. Phim Một Tâm hồn đẹp được trao giải Oscar lần thứ 74.  Khác với tiểu thuyết, kịch bản phim đã hư cấu chuyện Nash tham gia làm đề tài nghiên cứu phá mật mã do Bộ Quốc phòng Mỹ tổ chức, tuy thực ra Nash chỉ nghiên cứu lý thuyết trò chơi và phương trình vi phân, là những vấn đề cao sâu khó hiểu, người đời chẳng ai quan tâm. Phá mật mã của kẻ địch trở thành nội dung chính của bộ phim. Kịch bản hư cấu ra chuyện do làm công tác phá mã mà Nash trở thành đối tượng bị ám sát. Và thế là trong phim xuất hiện những cảnh giật gân như ô tô rượt đuổi nhau và đấu súng khiến Nash suýt mất mạng. Truyện phim được cải biên như vậy nhằm tăng sức thu hút người xem, bởi lẽ cuộc đời một nhà toán học vốn đã rất khô khan, lại thêm bị bệnh tâm thần nữa thì vô cùng khó thu hút người xem.   Phim Một Tâm hồn đẹp rất thành công và được chiếu rộng rãi ở nhiều nước, nhờ đó những người bình thường khắp thế giới đều biết tới thiên tài toán học John Nash.   Tháng 8 năm 2002, báo chí Trung Quốc rầm rộ đưa tin John Nash sẽ đến Bắc Kinh dự Đại hội Toán học quốc tế do Hiệp hội Toán học quốc tế IMU tổ chức. Do đã xem phim A Beautiful Mind nên người Trung Quốc hồ hởi chờ đón nhân vật huyền thoại này. Ông trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất của Đại hội. Khi Nash đến thăm một số trường ĐH Trung Quốc, tai đâu ông cũng được đông đảo người hâm mộ nhiệt liệt hoan nghênh.   Hiện nay John Nash là giáo sư toán học ở ĐH Princeton, ông không giảng dạy mà chỉ làm nghiên cứu. Khoa Kinh tế nhà trường thường tổ chức các hội thảo về lý thuyết trò chơi; đôi khi Nash có tham gia nhưng ông chỉ nghe mà không phát biểu gì. Phải chăng Nash còn chưa hết bàng hoàng sau khi tỉnh lại từ cơn hoang tưởng kéo dài khủng khiếp làm cho bộ não nhà toán học thiên tài ngừng hoạt động suốt mấy chục năm ?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện Thầy ThíchHoctoan      Người ta sợ nhau về quyền lực, thèm nhau về của cải, ghen nhau vì may mắn…  Cũng may người ta phải phục nhau về trí tuệ.  Nhưng người ta thực sự cảm động về sự rộng lòng.                          Thầy THT còn trẻ chán, theo bảng tuổi tác xứ Đông, còn theo xứ Tây thì là tuổi vừa đẹp rồi. Nói vậy vì gần đây báo chí lộ hết tên tuổi Thầy, hoài bao nhiêu công Thầy giấu nó đi!  Thầy THT có cái cười bật ra như nắp vung nồi nước sôi, chứ không cố nén như nắp nồi áp suất. Mỗi khi có chuyện gì lạ mới với mình, về mọi lĩnh vực, hàm răng trắng của Thầy lại lộ ra rất tự nhiên, qua đôi môi hé nở không bị kiểm soát của lòng say mê tự thán phục bản thân.  Tiếng cười nữa chứ, tự rủ nhau lũy thừa lên! Thật sảng khoái cho Thầy và cho người tiếp chuyện.  Thầy THT là người mẫn cảm. Trong hai lĩnh vực ăn ngon và mặc đẹp, Thầy đặt trọng tâm vào lĩnh vực thứ nhất. Ngược lại Thầy mê phụ nữ mặc đẹp hơn là phụ nữ ăn ngon.  ¨¨¨¨  Mỗi khi sắp gặp Thầy THT, Cụ Hinh rất cẩn thận. Cụ ăn chay trước, thường là mì ăn liền. Tắm gội cẩn thận. Sau đó Cụ mở bảng cửu chương ra ôn lại. Gọi là cửu chương vì bảng này có chín chương. Cụ thuộc lòng ít nhất là chương một, vì nó có tính bản chất của phép nhân, n*1=n. Có thế rồi mới yên tâm đi gặp THT.  Ấy thế mà ông này lại toàn bàn những chuyện đâu đâu, không cho mình cơ hội bàn về bảng cửu chương! Cũng hơi phí công ôn luyện, nhưng được cái dù sao Cụ Hinh cũng cảm thấy mình nói chuyện với THT ở thế mạnh, không lo gì về toán học nữa!  THT rất tinh tế, nhu mì, nhưng không ba phải. Có lẽ vì chứa trong bụng nhiều loại bảng cửu chương khác nữa mà Cụ Hinh không biết, nên THT có vẻ không sợ những cái gì mình không biết, cứ bày hoàn toàn của nả của mình ra tự nhiên như những cô gái tuyệt đẹp ở không trên bãi biển hoang sơ bên Tây. Không còn là những kẻ đi săn lòng kiêu hãnh của chính mình, bên THT bạn trở thành những người tìm hưởng những kì thú của sự cảm nhận vũ trụ, nhân sinh.  Giỏi nữa, trong số người gặp mặt mà chót có vị nào mắc bệnh cuồng vĩ, tự thán phục chính mình quá quắt, THT vẫn cứ sởi lởi như không. Cái này thì Thầy vượt xa Cụ Hinh! Cụ Hinh trông thế mà kém chịu đựng, gặp phải những trường hợp đó thường hay lảng đi, không lảng được thì lơ mơ cuối cùng thế nào Cụ cũng phải xử án dứt điểm kiểu “một phát ăn ngay”. Nhưng không, THT lại khéo chen vào giữa tự bao giờ rồi.  THT là người ham tu luyện. Chữ “tu” có nghĩa là “sửa”. Con người biết sửa mình, có lẽ trên đời còn gì đáng mong mỏi hơn?  Thế thôi, mấy dòng thế, quá nữa lại xâm phạm đời tư, Thầy THT lại kiện Cụ Hinh thì hỏng hết mọi chuyện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện vận hạn dưới góc nhìn khoa học      Trời đất vận chuyển tuần hoàn vĩnh viễn không sinh không diệt, chỉ có cuộc sống hữu hạn của muôn loài là trôi theo một chiều từ sinh đến diệt mà thôi. Phía trước luôn là bí ẩn và ai cũng muốn biết trước điều sẽ xảy ra. Do đó dù thuộc chủng tộc nào, nhóm đức tin nào, tầng lớp nào, trình độ hiểu biết ra sao, muốn hay không, thì với con người, việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay, và có lẽ là một trong những môn cổ nhất lịch sử văn minh nhân loại. Mở đầu một năm mới, cũng là lúc thích hợp để luận bàn về khoa học và sự huyền bí tâm linh.    Có chăng khoa học huyền bí?  Bất cứ ngành khoa học nào cũng phải bắt đầu bằng những tiên đề (Axiom). Đó là những chân lý tự thân đúng, không cần và không thể chứng minh. Ví dụ ngành vật lý thì thừa nhận vật chất và năng lượng là bảo toàn, không tự nhiên mất đi và không tự nhiên sinh ra. Mỗi học thuyết (hay lý thuyết) cụ thể trong một ngành khoa học cũng phải xây dựng trên những tiên đề riêng (còn gọi là định đề – postulate) là những chân lý không thể chứng minh bằng chính lý thuyết đó1. Ví dụ, Thuyết Tương đối của Einstein trong vật lý coi tốc độ ánh sáng trong chân không là cực đại và bất biến theo mọi hướng. Định đề này được rút ra bằng thực nghiệm, còn lý thuyết của Einstein thì không thể chứng minh được tại sao.   Vậy nên, nếu muốn coi bói toán là một khoa học, ít nhất là Khoa học huyền bí, thì tiên đề đầu tiên của bói toán, là phải thừa nhận có một sự sắp đặt trước nào đó của tạo hóa khi một con người sinh ra. Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là tạo hóa đã lập trình cho mỗi sinh linh khi ra đời và việc bói toán là việc cố giải mã lập trình của tạo hóa. Trong cái gọi là Khoa học huyền bí về bói toán tồn tại nhiều thuyết huyền bí, mỗi thuyết đều phải dựa trên một hay nhiều định đề cơ sở. Ví dụ, bói vân tay thì coi vết chỉ tay là dấu hiệu của cuộc đời. Bói mai rùa (Trung Hoa), bói chân gà (Việt Nam), bói lòng lợn (châu Phi) cũng tượng tự. Bói Kiều thì coi 3.254 câu Kiều là chỉ dấu của đời người… Nói chung là rất tùy tiện, không có bài bản gì để bàn luận. Tuy nhiên, nền minh triết Đông Tây hiện nay tồn tại ba học thuyết tiên tri tương đối có bài bản đó là Chiêm tinh học (Astrology), Kinh Dịch, Tử Vi. 3.000 năm trước Công nguyên, người Lưỡng Hà (Vùng Iraq-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời – Chiêm tinh. Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của Mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định, có tính chu kỳ hằng năm. Và sau đó, người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac) đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ Mặt trời ra 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Ngày sinh của một cá thể người là chỉ dấu gắn chặt với cung hoàng đạo, nên đó là cung chiếu mệnh của cá thể đó. Định đề này có thể chấp nhận được. Hơn nữa, thuyết này đã có cơ sở khoa học khá sớm, đó là thừa nhận Mặt trời là một tác nhân chủ yếu đến sự hình thành và phát triển con người. Nhưng khi đi xa hơn, mỗi cung Hoàng đạo lại được gắn cho những thuộc tính nhân tạo, cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau thì thật là đáng ngờ. Ví dụ, lấy gì để nói rằng Capricornus – Ma Kết (22/12 – 19/1), Virgo – Xử Nữ (23/8 – 22/9), Taurus – Kim Ngưu (20/4 – 20/5) là nhóm Đất. Những người sinh ra trong nhóm Đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai! Và khi lấy đó làm một định đề cơ sở để tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay, nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó.   Ở Phương Đông cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử Vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau Công nguyên, và được quy cho Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử Vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng, mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi – tức 12 con giáp. Việc thừa nhận ảnh hưởng của vũ trụ và đặc biệt là chu kỳ Mặt trăng đến con người là có tính khoa học. Từ các thông số đó và giới tính, theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số. Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử Vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử Vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Khi được hỏi cơ sở nào để thừa nhận thì được trả lời: theo người xưa truyền lại. Nói khác đi, tiên đề cho học thuyết Tử Vi là: Người xưa bảo thế! Vô lý chưa, vậy nhưng tin thì cứ tin, và sự thực thì bói Tử Vi vẫn tồn tại mãi mãi. Con người mà!  Phương Đông từ rất sớm đã quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn 5.000 năm trước Công nguyên đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số hai. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được bốn tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thi thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 26. Cho đến đoạn này thì các quan niệm âm dương, xây dựng nên hệ cơ số hai là hoàn toàn khoa học. Đáng tiếc là cổ nhân phương Đông (Trung Hoa hay Việt gì đó) hơn 4.000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, không thể đi xa hơn để xây dựng nên Đại số học Nhị phân, cơ sở cho máy tính hiện nay! Trái lại, cổ nhân lại coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Các bậc thánh hiền hậu sinh, mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ, rồi Khổng tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch huyền bí hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch. Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền sấp ngửa (Âm hoặc Dương), hoặc rút hay xóc thẻ làm bằng các lóng tre có đốt hay không có đốt. Sau một số lần gieo nhất định thì thu được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin tuyệt đối! Nội dung của Chu Dịch gồm phần Kinh Dịch là phần về bói toán. Phần thứ hai là Truyện Dịch là giải thích Kinh Dịch đậm chất triết học, nhưng mơ hồ huyền bí lắm. Chỉ có thể bàn về phần bói dịch, rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch mang một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa, thủ thuật xin quẻ cho đối tượng dựa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm sinh nhật của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử Vi sử dụng. Cái duy nhất khả dĩ chấp nhận được trong bói Dịch là quan niệm mọi thực thể vũ trụ, kể cả con người, là chịu ảnh hưởng của vũ trụ và là sự kết hợp âm dương mà phát triển lên [“Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định Cát hung, Cát hung sinh Đại nghiệp”].  Như vậy, cả ba thuyết phổ biến về tiên tri bói toán này đều xuất phát từ những quan niệm (hay định đề) tương đối khoa học nhưng khi diễn dịch ra để áp dụng làm công cụ bói toán – tiên tri thì hoàn toàn khiên cưỡng, tùy tiện, phi khoa học và phi logic.2  Có thể biết trước được số phận?     Khoa học hiện nay chưa thể lý giải mọi hiện tượng. Vì vậy có lúc cũng phải viện dẫn đến niềm tin để làm cơ sở. Chẳng hạn, có linh hồn hay không? Khoa học không thể phủ định cũng không thể khẳng định. Đa số tin rằng con người bao gồm phần thực thể (Physical) và phần tinh thần (Spirit). Phần tinh thần quá cao siêu, không dám bàn về số phận tinh thần. Vậy chúng ta chỉ bàn về số phận cho phần thực thể mà thôi.   Bốn định đề chính  Nếu loại bỏ những điều phi khoa học, không logic và mang màu huyền bí thì những luận cứ của Chiêm tinh, Tử Vi, Kinh Dịch khả dĩ chấp nhận dưới góc nhìn khoa học có thể tóm tắt thành các định đề dưới đây:  1- Con người sinh ra đã được tạo hóa định mã lập trình (có thể hiểu là số phận).  2- Con người là một thực thể của vũ trụ, do âm dương kết hợp mà thành, chịu ảnh hưởng của vũ trụ trong quá trình hình thành. Mà ảnh hưởng quyết định nhất là Mặt trời và Mặt trăng.  3- Sự phát triển của đời người dựa trên cơ sở lập trình lúc hình thành và biến chuyển liên tục dưới tác động của vũ trụ.  4- Dấu ấn của vũ trụ và mã lập trình được xác định trong khoảng thời gian hình thành lấy thời điểm ra đời (ví dụ lấy ngày sinh) làm mốc.  Sử dụng định đề số 2, ta coi tác động của vũ trụ gói gọn lại gồm Trái đất Mặt trời và Mặt trăng. Mặt trời có ảnh hưởng lớn nhất, vì vậy đơn vị tính thời gian là lấy năm Mặt trời, tức một vòng quay biểu kiến của quả đất quanh Mặt trời. Mặt trăng tuy nhỏ hơn nhiều sao khác nhưng gần Trái đất nhất, nên quỹ đạo Mặt trăng (tháng Mặt trăng) cũng là thông số chính yếu.  Diễn giải định đề số 4, chúng ta coi chín tháng trong bụng mẹ và ba tháng sau ngày sinh là năm mà tạo hóa tạo nên hoàn chỉnh bộ mã lập trình, đánh dấu là tuổi số 0, là tuổi tiên thiên trời định (gần như là tuổi “mụ”của ta).   Mấu chốt để giải mã là diễn giải định đề số 3. Theo tuổi tăng lên con người sẽ thay đổi. Những tuổi mà ở đó trạng thái của vũ trụ lặp lại trạng thái ở tuổi tiên thiên (trong phạm vi sai số), thì dù có tạo nên sự biến dịch, cũng vẫn là đồng dạng với mẫu hình như hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra, không biến đổi đột xuất. Ta gọi là tuổi Bình yên. Còn nếu ở tuổi mà trạng thái vũ trụ thay đổi so với trạng thái ở tuổi lúc sinh ra, thì con người cũng thay đổi không theo như ban sơ, ta gọi là tuổi Biến dịch. (Lưu ý: Định đề này là mấu chốt để phát triển các tính toán tiếp sau đây. Nếu không thừa nhận nó thì các phần dưới đây vô giá trị.)  Trạng thái vũ trụ của một thời điểm, ví dụ tại điểm bắt đầu của năm hình thành nên con người (tuổi số 0) được xác định bởi ba điểm: Tâm Mặt trời (S), Tâm Trái đất trên Hoàng đạo (E) và Tâm Mặt trăng trên quỹ đạo tháng (L). Hết một năm Mặt trời, Trái đất trở về điểm E còn Mặt trăng trở lại điểm nào đó, L’ chẳng hạn (xem hình 1).     Các cơ sở khoa học về vật lý thiên văn và y sinh học  Xác định trạng thái Mặt trời – Trái đất – Mặt trăng  Mặc dù con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng, nhưng ở đây ta chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ. Vị trí của Trái đất so với mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo Trái đất quanh mặt trời, là năm mặt trời. Một năm mặt trời có 365,2425 ngày. Con số về ngày tháng Dương Lịch (ngày tây) là chỉ thị gần đúng vị trí của Trái đất trên quỹ đạo. Vị trí của Trái đất và mặt trăng quay quanh Trái đất so với mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của mặt trăng quanh Trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của Trái đất quanh mặt trời), tức là tháng mặt trăng. Một tháng mặt trăng có 29,53059 ngày. Vị trí của mặt trăng trên quỹ đạo chính là ngày tháng lịch mặt trăng (như lịch của đạo Hồi). Lịch ta là âm dương lịch, cho nên ngày ta thì không chính xác hoàn toàn vì lịch ta đã hiệu chỉnh theo lịch mặt trời bằng cách tính năm nhuận.  Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:  a) Chu kỳ 19: 19 năm mặt trời =235 tháng mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác, hơn 400 năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. ( Vì lý do này mà trong lịch pháp, cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch tương ứng phải có 7 năm gồm 13 tháng, tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton, đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton là do hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:  b) Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris): 8 năm mặt trời = 99 tháng mặt trăng, sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.  c) Tiểu chu kỳ 11: 11 năm mặt trời =136 tháng mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là chu kỳ DƯƠNG.  Để cho dễ hiểu, nói một cách gần đúng thô sơ, trạng thái của vũ trụ được xác định bời ba con số: Năm Dương Lich, Ngày Dương Lịch (ngày Tây) và Ngày Âm Dương Lịch (ngày Ta). Ví dụ ngày tết nguyên đán Ất Mùi (1/1) năm nay là 19/2/2015, 19 năm sau tết Giáp dần cũng là ngày 19/2/2034, còn tết Bính tí 19 năm trước cũng là ngày 19/2/1996. Có nghĩa là trạng thái vũ trụ các năm này lặp lại nhau. Nhưng mà 19/2/2014 chỉ chệch một năm so với 2015 thì lại là ngày 20/1 Giáp Ngọ. Trạng thái vũ trụ không lặp lại. (Các chu kỳ 8 và 11 thì con số không hoàn toàn trùng như vậy vì năm nhuận chỉ hiệu chỉnh theo chu kỳ 19)  Quy ước về tính tuổi: Năm gốc là tuổi số 1 gồm có 9 tháng trước ngày sinh (tuổi mụ) và ba tháng sau ngày sinh (tuổi tây) (Vì thế, hãy tính là tuổi ta cho dễ nhớ, tuy không thật chính xác).  Số phận của con người do Mặt trời định sẵn?3  Trong một nghiên cứu chưa từng có, các nhà khoa học Na Uy phát hiện, những người sinh vào các thời điểm Mặt trời bình lặng có thể sống thọ hơn khoảng năm năm so với những người chào đời lúc Mặt trời hoạt động mạnh mẽ.  Kết luận trên được rút ra khi nhóm nghiên cứu xem xét các dữ liệu nhân khẩu học của những người Na Uy sinh ra trong khoảng 1676 – 1878 cùng với các kết quả ghi nhận quan sát về hoạt động của Mặt trời.  Các chuyên gia nhận thấy, tuổi thọ của những người sinh ra trong các giai đoạn hoạt động tối đa của Mặt trời (đặc trưng bằng các trận phun trào dữ dội) tính trung bình thấp hơn 5,2 năm so với những người chào đời vào thời điểm hoạt động của Mặt trời giảm tới mức tối thiểu.  Theo báo cáo nghiên cứu trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B, hoạt động của Mặt trời lúc chào đời làm giảm khả năng sống sót tới khi trưởng thành của con người.   Mặt trời có các chu kỳ hoạt động kéo dài xấp xỉ 11 năm, bắt đầu từ một thời điểm hoạt động cực điểm này tới thời điểm hoạt động cực điểm tiếp theo (Hình 2).     Thống kê còn cho thấy, 11 tuổi là tuổi mà các trẻ nam hết thời kỳ trẻ con (trung tính), chuyển sang phát triển giới tính nam.  Vì vậy chu kỳ 11 năm được gọi là chu kỳ Dương, biểu hiện cho giới tính Nam.  Ảnh hưởng của Mặt trăng  Mặt trăng tuy nhỏ hơn Mặt trời nhưng gần Trái đất hơn nên ảnh hưởng của Mặt trăng tới Trái đất mạnh hơn Mặt trời. Ảnh hưởng của Mặt trăng tới Trái đất có tác động không nhỏ tới hoạt động sống của con người. Điều ai cũng biết là chu kỳ Mặt trăng xác định chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới.  Sự phản chiếu của ánh sáng Mặt trời lên Mặt trăng cũng thay đổi theo từng thời kỳ, gọi là các pha của Mặt trăng (Hình 3).     Tất cả những thay đổi ấy đều được phản ánh trong cơ thể sinh vật và con người. Não phản ứng rất nhạy bén trước những biến đổi đó, gây hàng loạt biểu hiện về tinh thần. Các nhà khoa học khẳng định rằng những ngày trăng non tác động khác với những ngày trăng tròn. Các nhà y học cổ Tây Tạng còn cho rằng: Các bệnh nguy hiểm như tai biến mạch máu não, bại liệt, động kinh, nhồi máu cơ tim, tâm thần kích phát thường xảy ra vào các ngày 4, 8, 11, 15, 22, 29 tháng âm lịch. Dù chưa được khẳng định đúng sai, nhưng ảnh hưởng của Mặt trăng là rất lớn và đặc biệt là phụ thuộc vào tám pha của chu kỳ Mặt trăng.  Một thống kê đã được khẳng định là năm thứ tám, các em gái bắt đầu phát triển giới tính nữ. Vì vậy chu kỳ tám năm là dành cho Mặt trăng, cho nên gọi là chu kỳ Âm, biểu hiện cho giới tính Nữ.  Thử giải mã sự lập trình của tạo hóa   Tạo hóa cho bạn  Vậy là con người sinh ra (năm số 0) tiếp theo tám năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như) bình yên đầu tiên, tám tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9, 10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) bình yên, hết một chu kỳ Dương. Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) bình yên, âm dương hài hòa. Có thể xác định Tuổi Bình yên (tính chất chung cho các tuổi “hầu như” hoặc “tuyệt đối” bình yên) của đời người theo công thức :  TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11, trong đó A và D là những số nguyên dương.  Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên là Tuổi Biến dịch.  Khi nào thì bước vào tuổi già tự nhiên?  Trong trăm năm đời người thì có đến 66 năm là Bình yên, đó là các tuổi:  8,11,16,19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60;  62, 63, 64, 65, 66, 67, 68;  70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100.  Trong 66 năm bình yên này có thể chia làm ba đoạn:   8-60 có 27 năm bình yên và khá rời rạc, là đoạn tuổi trẻ và trung niên;  62-68 có bảy năm liên tục, là đoạn cao niên;  70 -100 có 32 năm (và tiếp nữa) liên tục là đoạn tuổi già.  Tuổi 69 là tuổi đặc biệt, vì đó là năm biến dịch cuối cùng. Sau đó là mãi mãi bình yên, chỉ có già dần (lão hóa) mà thôi.  Vậy khi 70 tuổi là bước vào Tuổi già trời định. Từ 69 về trước bao gồm các giai đoạn Tuổi trẻ, Trung niên và Cao niên, gọi chung là tuổi Tráng niên.  Những năm tháng đẹp của tuổi Tráng niên   Nói chung, những năm bình yên trong tuổi Tráng niên là những tuổi ít nhiều đều đẹp, ít phải lo lắng.  Tuổi Bình yên phân thành Tuổi Âm thịnh, Tuổi Dương thịnh và Tuổi Hài hòa   D-A >0: Tuổi Dương thịnh; D-A < 0: Tuổi ÂM thịnh ; D-A=0 : Tuổi Hài hòa  Đối với cả hai giới những tuổi hài hòa đều thuận lợi: 19, 38, 57  Đối với Nữ giới các tuổi âm thịnh là thuận lợi: 8, 16, (19), 24, 27, 32, 35, (38), 40, 43, 46, 48, 51, 54, 56, (57), 59, 62, 64, 65, 67.   Tuổi Đẹp nhất cho Nữ là các tuổi thuần âm: 8,16, 24, 32, 40, 48, 56, 64.  Với Nam giới các tuổi dương thịnh là có ưu thế hơn: 11, (19), 22, 30, 33, (38), 41, 44, 52, 55, (57) 63, 66, 68.  Tuổi Nam nhi rực rỡ nhất là các năm thuần Dương: 11, 22, 33, 44, 55, 66  Tuổi nào thì cần phải cẩn thận?  Các tuổi biến dịch không phải là hoàn toàn xấu, vì không có các sự biến dịch bổ sung thêm vào sự sắp xếp của tạo hóa thì con người không phát triển đa dạng được. Tác động của môi trường, ngoại cảnh, nội lực, ý chí… cũng không thể thiếu. Tuy nhiên có sự biến đổi mạnh thì cũng phải cẩn thận hơn.  Trong các Tuổi biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị. Theo quy luật Vật lý, với cùng một mức độ thay đổi, nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì độ biến dị càng thấp. Vì nếu có xảy ra ở một điểm thì sự biến dịch liền sau có thể sửa chữa lại. Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì tác động của mức biến dị càng lớn. Còn những tuổi biến dị đơn độc nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xảy ra thì không có chu trình biến dị liền kề để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.  Những năm đáng ngại là các năm đơn độc: 23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69.  Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Theo cách đó thì có 3 năm như vây, gọi là năm hạn:  Năm hạn: 53, 61, 69. Do mức biến dị lớn nên 53 là năm hạn nặng vì là năm bắt đầu có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 đột biến bắt đầu ở cao niên nên nguy hiểm và 69 là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến nên là rất nguy hiểm.  Năm có nguy cơ: 31, 39, 42, 47, 50, 58  Năm lưu ý: 23, 34, 45  Ngoài ra, có thể xác định đoạn tuổi nguy cơ, đó là khoảng mà hai năm có nguy cơ cách nhau gần nhất (chỉ có hai năm).   Đoạn tuổi nguy cơ: 39-42 và 47-50.  Các cột mốc của tuổi già  Từ sau tuổi 69 là chuỗi tuổi bình yên liên tục, mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời mà không đột biến. Tuy vậy cũng có những cột mốc đáng lưu ý.  Đối với cả cụ ông và cụ bà:   Mốc người già trở thành như con trẻ, 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm đồng thời thuần ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp tám chu kỳ Dương), không phân biệt, giống như khi mầm sống nảy sinh.   Các mốc Âm-Dương hài hòa 76 và 95 cũng đáng chú ý.   Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.  Đối với cụ ông  Mốc đáng ngại đầu tiên là 72 vì là hậu quả của năm nguy hiểm 61. Tiếp sau là mốc hài hòa 76, thuần Dương 77. Mốc 80 là nguy hiểm,vì đó là hệ lụy một chu kỳ dương của tuổi nguy hiểm 69. Nếu vượt qua được các mốc dị thường 88, 95 thì hy vọng đạt 99 thuần Dương, vượt qua được thì trường thọ trên trăm tuổi.  Đối với cụ bà  Mốc 77 là nguy hiểm vì là hệ lụy của tuổi nguy hiểm 69. Nhưng 76 và 77 cũng là hai mốc dị thường, có xấu có tốt, nên 77 có thể là rất nguy hiểm cũng có thể không. Tiếp sau đó chỉ còn là các mốc dị thường, cho nên nói chung cụ bà sẽ sống thọ hơn cụ ông cũng là trời định!  Chu kỳ tâm-sinh lý  Một lẽ hiển nhiên là tâm-sinh lý cũng phát triển theo các chu kỳ phát triển của con người. Tâm-sinh lý ở chu kỳ một là trung tính. Giới tính hình thành và phát triển hoàn thiện ở chu kỳ 2, tức 8-16 tuổi ở Nữ và 11-22 tuổi ở Nam. Ở giữa chu kỳ thứ hai này, nữ thập tam (13), nam thập lục (16) đều dậy thì. Muốn có hòa hợp tâm-sinh lý thì tốt nhất là Nam-Nữ cùng chu kỳ phát triển. Ví dụ lấy nhau ở chu kỳ 3, nữ trong khoảng 17-24 mà kết hôn với nam trong khoảng 22-33 là hợp lẽ trời nhất. Theo nguyên lý đó thì:  Nữ 25-32 hợp với Nam 34-44  Nữ 33-40 hợp với Nam 45-55  Nữ 41-48 hợp với Nam 56-66  Nữ 49-56 hợp với Nam 67-77  Nữ 57-64 hợp với Nam 78-88  Cũng có vẻ buồn cười nhưng đúng là trùng với thống kê y học rằng, Nữ ở tuổi 64 còn Nam thì mãi cho đến 88, tức đến chu kỳ tám của đời người, thì hoạt động sinh dục mới dừng hẳn  Thay cho lời kết    Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí gì cả. Một luận thuyết khoa học có đúng không, cần phải qua kiểm chứng độc lập. Ít nhất nó cũng phải giải đoán được những điều đã biết và tiên đoán được những điều chưa biết để tiếp tục kiểm chứng.  Dân gian có câu: 49 chưa qua 53 đã tới, hay Nữ thập tam Nam thập lục. Luận thuyết nêu trên đây lý giải được tuổi cả hai khá tốt. Còn tuổi 49 dân gian cũng cho là hạn, thì tạm lý giải trong khoảng 47-50. Mà thực sự thì tuổi hạn 49 cũng du di trên thực tế.  Trong khoảng 53, 61,69 (có tính đến sai số) thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần ốm đau, bệnh tật nhất.   Ví dụ như biểu đồ Nghiên cứu tử vong do ung thư vú tại các tỉnh Bắc Ninh, Lâm Đồng, Bến Tre năm 20084. Ta thấy rõ tỷ lệ tử vong rất cao ở độ tuổi 50-60 là tuổi có biến dị lớn nhất.    Các tiên đoán ở các tuổi Biến dị, Cô đơn, hoặc Bình yên khác có lẽ cần được kiểm chứng bằng các số liệu thống kê khoa học, xem có đúng không. Đây chỉ là những kết quả ở cấp gần đúng thấp nhất. Khi nâng cao cấp gần đúng và độ phân giải, lưu ý cả không thời gian sinh ra của từng người, ta có thể dự đoán đến chi tiết hằng tháng, hằng ngày… của từng cá thể riêng biệt. Nhiều điều bất ngờ dự đoán quy luật tương lai từng người trên cơ sở khoa học đang được chờ đợi.   Có rất nhiều dữ kiện đã được tiên đoán, hy vọng mọi người có thể tự kiểm chứng đúng sai và phản biện lại. Tất nhiên chuyện tài lộc, hên xui thì chưa thể bàn định được ở đây.  Nhân dịp đầu xuân, góp chuyện cho vui, ai tin thì tin, không tin thì thôi, xin đừng bận tâm!   ————————————-  Chú thích:  1. Theo cách hiểu kinh điển: Tiên đề (Axiom) là nguyên lí xuất phát của ngành khoa học, Định đề (Postulate) là nguyên lí xuất phát của một lí thuyết cụ thể.  2. Xem thêm Giải mã sự lập trình của tạo hóa của cùng tác giả http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=7174&CategoryID=2  3. http://m.vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/215740/so-phan-cua-con-nguoi-do-mat-troi-dinh-san-.html  4. Luận văn của bác sĩ Trần Thị Hương http://share.pdfonline.com/b02546d525354d2cafd7aefe6386b6b4/t_%20l_%20t_%20vong%20do%20ung%20th_%20v%C3%BA.in.htm#page_47       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện về 13 người phụ nữ bị tước cơ hội bay vào vũ trụ      Vào ngày 16/6/1963, Valentina Tereshkova trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ, trong khuôn khổ chương trình Vostok của Liên Xô. Tuy nhiên, mãi 20 năm sau, đối thủ của Liên Xô, Mỹ mới có người nữ phi hành gia đầu tiên là Sally Ride. Bỏ qua chuyện tư tưởng chính trị của Liên Xô có thể đã ảnh hưởng tới việc đưa người phụ nữ đầu tiên vào không gian như thế nào, có lẽ một số người sẽ tự hỏi: tại sao Mỹ đưa phi hành gia nữ của riêng mình ra ngoài không gian muộn như thế? Câu chuyện của các Nữ phi hành gia Tập sự (Fellow Lady Astronaut Trainees) sẽ làm hé lộ một góc khuất của chương trình thám hiểm không gian của Mỹ ở thập niên 1960 mà ít người biết đến.      NASA tuyển những nữ phi hành gia đầu tiên trong khóa 1978. Từ trái qua phải: Shannon W. Lucid, Margaret Rhea Seddon, Kathryn D. Sullivan, Judith A. Resnik, Anna L. Fisher và Sally K. Ride. Ảnh: NASA .  Cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, cuộc chạy đua vào không gian của Hoa Kỳ và Liên Xô đã chuyển hướng từ “phóng một vật thể nhân tạo” sang “phóng một con người” ra ngoài vũ trụ.    Dự án Mercury của NASA được thành lập vào năm 1958 với mục tiêu như vậy, và khâu tuyển chọn phi hành gia của dự án này đòi hỏi các ứng cử viên phi hành gia phải làm rất nhiều bài kiểm tra năng lực về cả thể chất lẫn tinh thần. Một khi các ứng cử viên đạt kết quả tốt trong các bài kiểm tra này, họ sẽ được loại dần dựa trên một số tiêu chí nhất định. Ba tiêu chí đáng nhắc tới lần này là:   1) Có kinh nghiệm hàng không tối thiểu là 1.500 giờ bay.   2) Đã tốt nghiệp trường phi công lái máy bay thử của quân đội.   3) Có kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật, phải có được ít nhất bằng cử nhân ngành Kỹ thuật.   Lý do ta cần quan tâm đến ba tiêu chí này đó là bởi nó đã nghiễm nhiên loại bỏ phụ nữ từ vòng tuyển lựa. Đến tận năm 1962, một năm sau khi Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ, các trường huấn luyện của Không quân Hoa Kỳ vẫn không chấp nhận phi công nữ. Tức là, chỉ cần là phụ nữ thì không thể thỏa mãn được tiêu chí thứ hai rồi.   Tuy nhiên, khi NASA cuối cùng cũng lựa chọn được 7 người đàn ông da trắng cho dự án Mercury, các nhà khoa học trong nội bộ NASA vẫn khá do dự về các tiêu chí nói trên, vì lúc đó chưa có ai bay vào vũ trụ, nhỡ đâu các tiêu chí này lại vô tình loại đi hằng hà sa số những người có đủ điều kiện thể chất và tinh thần để bay vào vũ trụ? Một nhà khoa học có ‘vai vế’ trong khâu tuyển chọn các phi hành gia vào chương trình Mecury tên là William Randolph Lovelace II đã quyết định bỏ tiền túi của mình để thiết lập một chương trình riêng lựa chọn các nữ phi hành gia, từ các nữ phi công. Theo quan điểm của Lovelace, phụ nữ nhỏ người hơn đàn ông, nghĩa là họ có thể ngồi vừa được các tàu bay nhỏ và nhẹ hơn, dễ bay vào vũ trụ hơn.  Và với vai trò của mình ở dự án Mecury, ông có thể cho các ứng cử viên nữ làm các bài kiểm tra năng lực tại cùng các cơ sở nghiên cứu giống như với các ứng cử viên nam được NASA chính thức tuyển chọn.       Tất cả 13 người phụ nữ trong nhóm FLAT đều có kinh nghiệm bay hơn hẳn so với những ứng cử viên nam giới như John Glenn hay Scott Carpenter. Hơn nữa, mặc dù nhiều người không lái máy bay chiến đấu (bao gồm cả Jerrie Cobb), giờ bay của họ nhiều hơn gấp bội so với Glenn và Carpenter. Không những thế, kể cả 7 ứng cử viên chính thức của dự án Mercury cũng không hề đáp ứng hoàn toàn mọi tiêu chí đã được NASA đề ra.      Sau quá trình tuyển chọn dài gần một năm, đến mùa hè năm 1961, hai tháng sau khi Yuri Gagarin bay vào vũ trụ, chương trình của Lovelace đã tuyển chọn được 13 người phụ nữ. Hầu hết những phụ nữ này không quen biết và không gặp mặt nhau một lần nào trong suốt thời gian của chương trình này bởi họ được lựa chọn một cách riêng biệt từ khắp nước Mỹ. Tất cả 13 người phụ nữ này đã có kết quả xuất sắc trong giai đoạn một của dự án, trong đó bao gồm các bài kiểm tra về thể chất có sử dụng tia X, sốc điện, v.v. Trong một bài kiểm tra, các nhà khoa học bắn nước đá vào trong tai của những người phụ nữ này để gây choáng (vertigo) và bấm giờ xem những người phụ nữ này cần bao nhiêu thời gian để hết choáng váng. Có nhiều bài kiểm tra thể chất và tinh thần khác xâm phạm đến quyền riêng tư của những ứng cử viên này, nhưng cuối cùng, vẫn có đến 13 người lọt vào vòng trong, trong đó phải kể đến:   – Myrtle Cagle (1925-2019), phi công huấn luyện bay của Không quân Hoa Kỳ, với hơn 4.300 giờ bay.   – Janet Dietrich (1926-2008), phi công trưởng của công ty Cessna, lấy bằng chứng nhận phi công năm 16 tuổi, giành giải nhì trong giải bay xuyên lục địa dành cho phi công nữ năm 1954.   – Marion Dietrich (1926-1974), em gái sinh đôi của Janet Dietrich, cũng lấy bằng chứng nhận phi công năm 16 tuổi, cũng giành giải nhì trong giải bay xuyên lục địa dành cho phi công nữ năm 1954.   – Jean Hixson (1922-1984), phi công bay thử nghiệm của Không quân Hoa Kỳ, và cũng là phi công nữ thứ hai bay vượt vận tốc âm thanh.   – Jane Hart (1921-2015), nhà hoạt động nữ quyền, lấy bằng phi công nữ trong Thế chiến thứ hai.  – Jerrie Cobb (1931-2019), phi công có kinh nghiệm, đã phá ba kỉ lục thế giới về hàng không từ 1959 đến 1960, đã lái 64 loại máy bay khác nhau và có hơn 10.000 giờ bay.     Jerrie Cobb trên Máy Quán tính Thử nghiệm Không gian Đa trục (Multiple-Axis Space Test Inertia Facility), chiếc máy gây chóng mặt nổi tiếng của dự án Mercury. Ảnh: NASA  Ban đầu, chương trình này nhận được sự ủng hộ của Jackie Cochran, một trong những nữ phi công nổi tiếng nhất thời bấy giờ, và cũng là phi công nữ đầu tiên bay vượt vận tốc âm thanh. Cochran không những đứng ra hỗ trợ về tài chính cho chương trình tuyển chọn của Lovelace, mà còn trực tiếp đưa ra các lời khuyên và huấn luyện 13 người phụ nữ nói trên. 13 người phụ nữ này, cũng như là chương trình của Lovelace, nhận được sự chú ý đáng kể từ cánh báo chí, và được gọi một cách không chính thức là “Mercury 13”, đối lập với cái tên “Mercury 7” được NASA đặt cho nhóm 7 nam phi hành gia. Ngoài ra, nhiều người trong số 13 người phụ nữ này còn từng làm việc với NASA. Chẳng hạn vào tháng 5/1961, Jerrie Cobb được bổ nhiệm làm cố vấn cho chương trình thám hiểm không gian của NASA. Tuy nhiên, do chương trình này của Lovelace mang tính tư nhân, NASA không thực sự coi những người phụ nữ này là các ứng cử viên chính thức, cho dù Lovelace hay Cobb có muốn thay đổi điều đó hay không.·   Sau khi đã qua giai đoạn kiểm tra thứ nhất, 13 người phụ nữ này, giờ đây được Jerrie Cobb gọi là các Nữ phi hành gia Tập sự (FLAT), phải tới Căn cứ hải quân Pensacola tại Florida để bước sang giai đoạn kiểm tra thứ hai. Riêng Cobb, vì là người quen của Lovelace, đã có cơ hội kiểm tra sớm và bước sang giai đoạn thứ ba rồi, song bà vẫn tới Pensacola để kiểm tra lại một lần nữa trong khuôn khổ của chương trình chính thức. Trong số 12 người phụ nữ còn lại, 2 người đã nghỉ việc để tới Pensacola theo đuổi ước mơ phi hành gia. Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn trước khi các bài kiểm tra mới bắt đầu, họ nhận được tin báo rằng toàn bộ chương trình đã bị hủy do thiếu kinh phí, và do các đại diện của NASA đã từ chối không cho chương trình của Lovelace sử dụng căn cứ quân sự tại Pensacola. Cảm thấy bất công và tin rằng có sự kì thị giới tính đằng sau quyết định này, Jerrie Cobb lập tức bay tới thủ đô Washington, D.C. và tìm mọi cách để trình bày vụ việc với Quốc hội Hoa Kỳ.     Jerrie Cobb và Jane Hart tại phiên điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ năm 1962. Ảnh: Medium   Mãi một năm sau, vào ngày 17 và 18/7/1962, Dân biểu Victor Anfuso của Hạ viện Hoa Kỳ chính thức mở phiên điều trần đầu tiên về chương trình của Lovelace. Tham dự chương trình có Jerrie Cobb và Jane Hart đại diện cho FLAT, còn đại diện của NASA là George Low và phi hành gia nam Scott Carpenter và John Glenn—2 trong 7 ứng cử viên chính thức của chương trình Mercury. Trong khi Cobb và Hart ra sức nêu lên các lợi ích của chương trình của Lovelace đối với nhân loại nói chung và phái nữ nói riêng, Carpenter và Glenn phản bác bằng cách dẫn lại các tiêu chí đã nêu trên, rồi từ đó lý luận rằng vì những người phụ nữ này không đáp ứng đủ các tiêu chí chính thức, họ không thể được nhận vào làm các ứng cử viên chính thức của dự án Mercury được. Theo John Glenn, “việc phụ nữ không ở trong ngành này là do trật tự xã hội” (“The fact that women are not in this field is a fact of our social order”). Jackie Cochran, người từng ủng hộ và đóng góp rất nhiều cho dự án của Lovelace, giờ đây đến phiên điều trần lại thay đổi quan điểm hoàn toàn. Bà cho rằng việc tập trung vào phụ nữ thay vì đàn ông có thể sẽ làm chương trình đi lạc hướng và gây tổn hại đến tiến trình của cuộc chạy đua vào không gian. Bà cũng cho rằng sau tất cả các khâu tuyển chọn, cuối cùng cũng sẽ chỉ còn lèo tèo vài người, và rất nhiều người sẽ bỏ dở để đi lấy chồng, sinh con đẻ cái. Tất cả những người ở phe đối lập với Cobb và Hart đều đồng ý rằng có thể sẽ có ngày phụ nữ được bay vào không gian, nhưng thời buổi đang cấp bách, phụ nữ cứ kiên nhẫn chờ đã. Cuối cùng, hội đồng của Dân biểu Victor Anfuso đồng ý với phe đối lập, và không một người phụ nữ nào trong số 13 người nói trên được dự án Mercury chọn, ngay cả khi kết quả kiểm tra năng lực của họ ngang hàng, hay như trong trường hợp của Cobb, hơn cả những ứng cử viên nam chính thức.   Sau này, các nhà sử học và nhà nghiên cứu nói chung tìm hiểu các sự kiện xoay quanh chương trình của Lovelace và tìm được những điều khá bất ngờ. Tất cả 13 người phụ nữ trong nhóm FLAT đều có kinh nghiệm bay hơn hẳn so với những ứng cử viên nam giới như John Glenn hay Scott Carpenter. Hơn nữa, mặc dù nhiều người không lái máy bay chiến đấu (bao gồm cả Jerrie Cobb), giờ bay của họ nhiều hơn gấp bội so với Glenn và Carpenter. Không những thế, kể cả 7 ứng cử viên chính thức của dự án Mercury cũng không hề đáp ứng hoàn toàn mọi tiêu chí đã được NASA đề ra. John Glenn thậm chí còn không có bằng tốt nghiệp môn Kỹ thuật, và mãi sau này, sau khi đã bay vào vũ trụ rồi, thì ông này mới được cấp bằng danh dự.   Về sự “đổi trắng thay đen” của Jackie Cochran, khi xem xét lại các bức thư tay và Cochran gửi tới Lovelace và Cobb đã cho thấy rằng cho dù bà là một người phụ nữ đi tiên phong trong ngành hàng không và là nguồn cảm hứng của bao nhiêu phụ nữ khác, bà đã tỏ ra bất an khi 13 người phụ nữ kia có thể sẽ khiến mình mất đi vị trí người phụ nữ tiêu biểu nhất của ngành hàng không. Ngoài ra, Cochran cũng đã chịu ảnh hưởng bởi các vai trò giới và định kiến giới thời bấy giờ, và thực sự tin rằng những người phụ nữ muốn làm phi hành gia nên nhận thức được vị trí của mình trong xã hội, và nhận thức được công lao mở đường của Cochran.   Hầu hết những người được chọn vào chương trình của Lovelace sau này không tiếp tục sự nghiệp phi công, hoặc chỉ làm phi công dân sự. Vào năm 1963, sau khi Valentine Tereshkova trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ, công chúng Mỹ chỉ trích NASA, và các nhà hoạt động nữ quyền đã tìm mọi cách để NASA chấp nhận một người phụ nữ vào chương trình vũ trụ của mình. Bản thân Tereshkova (một người không hề có kinh nghiệm làm phi công hay nhà khoa học) còn coi Jerrie Cobb là nguồn cảm hứng và từng trả lời phỏng vấn rằng: “Cái cách mà các nhà lãnh đạo Mỹ biến cô ấy thành một trò hề thật đáng buồn. Họ đi đâu cũng hô hào về nền dân chủ của mình và đồng thời lại tuyên bố rằng họ sẽ không cho phép phụ nữ bay vào vũ trụ. Đấy là sự bất bình đẳng trắng trợn.” Mọi chuyện vẫn sẽ không hề thay đổi trong nội bộ NASA cho đến tận năm 1983, khi Sally Ride bay vào vũ trụ và trở thành nữ phi hành gia người Mỹ đầu tiên, kiêm người LGBTQ+ đầu tiên bay vào vũ trụ. □   ——  https://www.space.com/24638-project-mercury.html   https://www.nasa.gov/topics/history/features/flats.html  https://history.nasa.gov/flats.html   https://www.jstor.org/stable/40607922   https://journals.physiology.org/doi/full/10.1152/advan.00034.2009  https://www.forbes.com/sites/startswithabang/2020/02/18/what-really-kept-american-women-from-going-to-space-for-so-long/   https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=uc1.a0000094904&view=1up&seq=85  https://www.newspapers.com/clip/877898/valentina-tereshkova-ridicules-jerrie/           Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Chuyện về chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam      Năm 1977, chỉ hai năm sau khi ra đời Altair 8800 Computer – chiếc máy vi tính đầu tiên của Mỹ, Việt Nam đã chế tạo thành công VT80 – chiếc máy vi tính đầu tiên của mình không hề thua kém Altair là bao và trở thành nước thứ ba, chỉ sau hai cường quốc là Mỹ và Pháp. Tác giả của nó là một nhóm cán bộ kỹ thuật Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ Thông tin), và TS Nguyễn Chí Công chính là một trong các thành viên lãnh đạo nhóm ấy. Trong chặng đường lịch sử ấy, các tác giả phải đối mặt trước những khó khăn nào? Và điều gì làm nên sự kì diệu ấy?    Thiết kế chế tạo những máy vi tính khác, giải mã những bức điện tối mật, truyền số liệu đi xa trên đường điện cao áp, xây dựng ngôn ngữ “Basic Đồi Thông”, viết phần mềm quản lý vật tư cho Xí nghiệp Máy may Sinco và Xí nghiệp Điện tử Tân Bình… đó là những thành tích tiếp theo VT80 và cũng do nhóm nói trên thực hiện cùng một số đồng nghiệp trong Viện từ 1978 đến năm 1983, trước khi định hướng ứng dụng bị thay đổi.          Ô. Teissonnière và phần lớn các tác giả của VT80 (Photo: Nguyễn Chí Công, 1977)          Câu chuyện bắt đầu khi Uỷ ban vì sự Hợp tác KH&KT với Việt Nam (CCSTV) của Pháp được thành lập (“Đó gần như là cánh cửa duy nhất để Việt Nam có thể liên thông với thế giới KHKT đương đại” – lời của đại tướng Võ Nguyên Giáp). Năm 1977, GS Phan Đình Diệu trả lời thư tình nguyện chuyển giao công nghệ của Alain Teissonnière, chuyên gia phụ trách tin học của CCSTV và mời ông sang Viện. Có đến 54 người từ 7 viện, trường ở Hà Nội đã tham gia các buổi học về vi xử lý, một khái niệm hoàn toàn mới mẻ với hầu hết dân KHKT trên thế giới lúc đó. Ô. Teissonnière vừa giảng chuyên đề này, vừa giúp các kỹ sư Việt Nam thực hành. Cùng đi chuyến này còn có chuyên gia điều khiển học Hoàng Thành Đào, một Việt kiều dân tộc Thái, người đã hết lòng giúp đỡ các đồng nghiệp trong Viện KTQS.             VT80 – chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam (Photo: Nguyễn Chí Công, 1977)          Sớm hiểu được rằng các chip vi xử lý sẽ thay đổi sâu sắc cả thế giới, Nguyễn Chí Công cùng nhóm nói trên, phần lớn học từ Tiệp Khắc và Hungary trước đây, đã say sưa làm máy tính để biến lý thuyết khoa học thành sản phảm công nghệ. Những ngày đầu, khó khăn chồng chất như núi. Phòng ốc chật chội, ẩm thấp. Chế tạo máy tính mà điện đóm chập chờn. Thậm chí “điện không chỉ yếu mà mỗi tuần còn mất điện mấy ngày, mỗi ngày mất mấy lần” – ô. Công kể. Và bức bối hơn hết là bị Mỹ cấm vận toàn diện. Liên lạc, giao lưu với quốc tế thậm chí bị vướng từ cả hai phía. Ô. Teissonnière từng bị nghi là CIA.  Trong cả nhóm chế tạo máy tính, ô. Công là một trong 3 người tốt nghiệp đại học đúng chuyên ngành và đã từng làm việc 4 năm trên các máy tính Liên Xô, Ba Lan; còn những người khác chủ yếu học về điện tử và công nghệ vật liệu… Ông được đọc các tài liệu tiếng Anh và thực hiện các bộ phận xử lý của VT80. “Tài liệu lúc ấy vô cùng hiếm. Chiến tranh liên miên khiến thông tin bị trì trệ, ách tắc. May mắn sao, trước khi ông Teissonnière sang Việt Nam tôi đã được đọc về vi xử lý trong một số tạp chí của Mỹ do Trung Quốc copy và gửi cho Thư viện KHKTTƯ”.          Các bảng mạch in Bus I/O, CPU, SRAM, EPROM+RAM và ROM do tác giả thiết kế (Photo: Nguyễn Chí Công, 1978)          Khi ấy, cũng như phần lớn các kỹ sư khác của nhóm, Nguyễn Chí Công mới 28 tuổi. Cả nhóm miệt mài chạy đua với thời hạn gần 2 tháng nghỉ không lương của Teissonnière. Người thiết kế, người vạch kế hoạch thực hiện, mỗi người làm một việc, tất cả đều còn rất trẻ, song tinh thần tập thể rất cao. Ô. Công kể: “Nhớ lại thấy ngạc nhiên đến buồn cười vì sự quyết tâm của tuổi trẻ. Thời gian ngắn như thế mà dám vừa tiếp thu lý luận mới, vừa tự tay mày mò làm cái chưa từng biết. Thô sơ đến mức cưa bằng tay cho xong vỏ máy rồi lại lấy dũa mài vuông vắn, phải dùng công tắc đưa từng bit dữ liệu vào thay thế cho bàn phím lúc ấy chưa có… Ngoài các chip do ông Teissonnière mua từ nước ngoài, hầu hết các bộ phận khác của VT80 đều được làm thủ công ở trong nước, thậm chí sau này màn hình còn được chế tạo từ chiếc tivi Neptune trắng đen do Việt Nam lắp ráp theo thiết kế Ba Lan”.          Thực hiện chiếc đầu của loạt máy vi tính VT8X tại Đồi Thông (Photo: CCSTV, 1979)          Đúng hạn, chiếc máy vi tính đầu tiên sử dụng chip Intel 8080A với tên gọi VT80 đã ra đời, nhỏ gọn gấp hàng trăm lần chiếc máy tính Odra 1304 của Ba Lan nhập về Viện năm 1974. Sản phẩm VT80 được xây dựng theo kỹ thuật quấn dây điện nối các chân cắm chip, gồm bìa CPU, nhiều bìa RAM/ROM và I/O cùng các thứ lỉnh kỉnh từ bảng điều khiển đến vỏ máy, nguồn điện. Sau này, được xem chiếc máy Altair 8800 của Mỹ đã ghi vào lịch sử công nghệ thông tin thế giới, ô. Công mới biết VT80 thậm chí còn nhỏ gọn hơn, mặc dù về tính năng thì hai máy rất giống nhau.  Chiếc máy tính đầu tiên của Việt Nam ra đời với vài chương trình cơ bản tối thiểu song lại không có… phần mềm ứng dụng. Ở Mỹ lúc đó cũng mới chủ yếu dùng máy vi tính để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ứng dụng chưa rộng rãi. Mấy tháng sau, ô. Công là người đầu tiên được chọn sang Pháp để thực tập về vi xử lý. Trung tâm nghiên cứu triển khai của Công ty Điện lực Pháp là nơi ông được đến nghiên cứu. Với kinh nghiệm sẵn có và lòng ham học hỏi, ông được tham gia dự án: Tự động hóa các thiết bị điều khiển lưới điện cao áp bằng vi tính. Trong thời gian vài tháng, ông đã tranh thủ tìm hiểu bộ vi xử lý Intel 8085 có khả năng mạnh về ngắt và xây dựng một hệ phát triển các máy vi tính công nghiệp dựa trên chip mới này. Dự án thành công hơn cả tưởng tượng, ông được toàn quyền sử dụng các thiết kế của mình vào những mục đích phi lợi nhuận. Và đó là những viên gạch đầu tiên trong ý tưởng xây dựng dòng máy vi tính VT8X cùng với việc gửi những thực tập sinh tiếp theo. Chiếc máy tính thứ hai được cải thiện nhiều so với chiếc đầu tiên, bởi đã có được ổ đĩa mềm, màn hình và bàn phím với bộ vi xử lý mạnh hơn.              Các máy vi tính được chế tạo tiếp theo tại Nghĩa Đô (Photo: Nguyễn Chí Công, 1983)        Đến năm 1982, ô. Công lại được Viện cử sang Pháp 6 tháng học thiết kế vi mạch cực lớn (LVSI) và nghiên cứu lý thuyết mạng máy tính. Mạng là một trong các ứng dụng lớn nhất mà ông có điều kiện triển khai ở nhiều nơi khác sau này như FPT, mạng truyền xa in báo Nhân Dân và Quân đội Nhân dân, mạng của Học viện IFI, các mạng của Quốc hội, Bộ Ngoại giao và Chính phủ, v.v.  Tự đánh giá về thời kỳ ấy, TS Công cho rằng: “Đóng góp ý nghĩa nhất đã vượt ra ngoài  những chiếc máy vi tính. Chính định hướng đúng đắn về làm chủ công nghệ tương lai này và ứng dụng nó vào quản lý từ 30 năm trước đã chứng tỏ ngành tin học Việt Nam từng một lần “sánh vai với cường quốc năm châu”, lẽ nào lại để mất cơ hội khác? Các bạn trẻ ngày nay hoàn toàn có thể làm được hơn chúng tôi nếu học sâu, suy nghĩ xa và nắm bắt đúng thời cơ mới.”  ————     Năm 1966, Nguyễn Chí Công sang học tại trường Đại học Bách Khoa Praha trước khi trường mở ra Khoa máy tính do một giáo sư toán từ Mỹ trở về trực tiếp giảng dạy. Ông đăng ký và trở thành một trong những người Việt Nam đầu tiên học chuyên ngành tin học. Về nước năm 1973 sau khi thực tập tại Aritma (nhà máy sản xuất máy tính Tiệp Khắc), ông được phân công làm việc tại Phòng Máy tính của Uỷ ban KH&KT Nhà nước rồi gia nhập Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển từ ngày thành lập Viện này.   Hiện TS Công đang cùng đồng nghiệp triển khai các dự án E–Learning và E–Goverment, đưa mạng lưới thông tin ngày càng thâm nhập mạnh mẽ và phục vụ đời sống xã hội của Việt Nam nhiều hơn nữa.     Thúy Hằng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện về một dòng họ Toán học hiếm có: Gia đình Bernoulli      Trong lịch sử Toán học, có một dòng họ có sự đóng góp rất lớn, cho nhiều lĩnh vực khác nhau, liên tục trong một thời gian dài, đó là gia đình Bernoulli. Trong hai thế kỷ 17 và 18, gia đình Bernoulli đã mang lại ít nhất là tám nhà Toán học tên tuổi, trong số ấy có ba người có ảnh hưởng nổi trội nhất và định hình nhiều lĩnh vực của toán học trong suốt hai thế kỷ này là Jacob Bernoulli (1654 – 1705), Johann Bernoulli (1667 –1748) và Daniel Bernoulli (1700 – 1782).        LTS: TS. Lê Quang Ánh, một cộng tác viên thân thiết của Tia Sáng với các bài viết về các nhà toán học và lịch sử toán học, mới qua đời tại Mĩ sau một thời gian lâm bệnh nặng. Số báo này, Tia Sáng xin giới thiệu bài viết cuối cùng của ông “Chuyện về một dòng họ toán học hiếm có: Gia đình Bernolli”, như một lời chia tay tới độc giả.     Gia đình Bernoulli      Bức tranh anh em nhà Bernoulli: Jean (Johann) Benoulli (1667-1748) ở bên tay phải và Jacques (Jacob) Bernoulli (1654-1705) ở bên tay trái. Nguồn: sciencephoto.com     Dòng họ Bernoulli có nguồn gốc từ Hà Lan, theo đạo Tin Lành nhánh Calvinism (nhánh Tin Lành Calvinism do John Calvin (1509–1664) thành lập tách khỏi ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo La Mã). Năm 1567, vua Philip của Tây Ban Nha đã gửi một đạo quân hùng mạnh đi trừng phạt những xứ nào chống lại vua chúa Tây Ban Nha, chống lại Thiên Chúa giáo La Mã, thiết lập lại uy quyền. Trước sự đe dọa ấy, gia đình Bernoulli chạy trốn qua Basel, Thụy Sĩ, khi ấy Thụy Sĩ là một xứ thương mại giàu có nhất ở Trung Âu. Các thành viên gia tộc Bernoulli đều làm thương mại, và họ mau chóng trở thành những thương gia giàu có. Những nhà Toán học Bernoulli đều xuất phát từ đời Nicolas Bernoulli (1623 – 1708), thương gia thành đạt ở thành phố Basel, Thụy Sĩ. Mặc dù ông Nicolas không có biểu hiện nào về năng khiếu Toán học, nhưng các thế hệ con cháu của ông về sau hầu hết là những nhà Toán học tài năng, trong số đó có những người tầm cỡ hàng đầu châu Âu thời ấy: Jacob Bernoulli, Johann Bernoulli và Daniel Berboulli.     Có thể nói cùng với Isaac Newton, Gottfried Leibniz, Leonhard Euler, và Joseph Lagrange, ba nhà Toán học Bernoulli đã đóng góp, phát triển, định hình các lĩnh vực Tính vi-Tích- phân, Hình học, Cơ học, Nhiệt động học (Thermodynamics), Thủy động học (Hydrodynamics), Quang học, Thiên văn học, Xác suất học trong suốt thế kỷ 17 và 18.     Jacob Bernoulli     Jacob Bernoulli là con trai lớn nhất của Nicolas Bernoulli, được xem như là một trong số những nhà Toán học có ảnh hưởng rất lớn thời bấy giờ mặc dù xuất thân từ một gia đình không có truyền thống Toán học hoặc Khoa học. Cha mẹ buộc ông phải học Triết học và Thần học, những môn không thể thiếu để trở thành một người thượng lưu thành đạt của xã hội thời ấy. Ông tốt nghiệp Thần học năm 1676, sau đó rời bỏ gia đình lên Geneva làm chân giáo viên dạy kèm Toán học và Khoa học để kiếm sống. Một thời gian ngắn sau đó, ông qua Pháp, ở đó trong hai năm theo học Toán với những người theo trường phái Descartes. Năm 1681, ông sang Hà Lan, rồi từ đó tới Anh. Tại London, ông gặp gỡ một số nhà Toán học và Khoa học nổi tiếng trong đó có Robert Hook (1635 – 1703), Robert Boyle (1627 –1691). Ông vẫn giữ mối liên lạc trong nhiều năm sau qua thư tín. Qua những chuyến đi đó đây để học hỏi, ông đã định hướng hẳn cho mình hai lĩnh vực chính, đó là Toán học và Thiên văn học. Năm 1683, ông trở về lại Thụy Sĩ và xin được chân giảng dạy Toán- Cơ tại Đại học Basel, mặc dù gia đình ông phản đối.     Trong khoảng thời gian từ năm 1682 tới 1704, Jacob Bernoulli đã công bố năm tác phẩm về chuỗi số vô tận, trong đó ông đưa ra nhiều kết quả quan trọng. Thí dụ ông chứng minh được chuỗi số điều hòa           là phân kỳ. Thật ra kết quả này đã được nhà Toán học Ý Pietro Mengoli (1626 – 1686) chứng minh khoảng 40 năm trước. Ngoài ra, Jacob còn chứng minh được chuỗi số           là hội tụ, tuy không tìm được giá trị của tổng số nhưng ông đã chứng minh được tổng số này nhỏ hơn 2. (Khoảng 30 năm sau, năm 1734, Euler đã chứng minh được tổng này bằng π2/6).     Tháng 5 năm 1690, ông cho công bố một bài báo quan trọng về đường đẳng thời (Isochrone hay tautochrone curve)1 trên tờ Acta Eruditorum, tờ báo uy tín được thành lập từ năm 1682 do chính Leibniz làm chủ bút đầu tiên. Jacob Bernoulli chứng minh được bài toán xác định đường đẳng thời tương đương với bài toán giải một phương trình vi phân bậc nhất không tuyến tính. Bài toán này trước đó đã được Christian Huygens (1629 – 1695) vào năm 1659 giải theo hướng Vật lý học. Nhưng chính Jacob Bernoulli là người đầu tiên dùng chữ tích phân (Integral) và các phép tính tích phân để giải bài toán này2. Cũng qua bài báo này, Jacob Bernoulli thiết lập và đưa ra phương pháp giải phương trình vi phân gọi là phương pháp phân ly biến số (method of separation of variables). Đường cong đẳng thời có tên gọi là đường cycloid. Năm 1696, Jacob Bernoulli đưa ra được cách giải phương trình vi phân dạng  y’ = p(x)y + q(x)y’’ ngày nay chúng ta gọi là phương trình Bernoulli. Ông đã áp dụng phương trình này để giải nhiều bài toán Hình học và Cơ học.     Bây giờ ta nói về đường cong có tên là đường dây xích (Catenary theo tiếng Anh hay là Chaînette theo tiếng Pháp). Đó là dạng của đường cong của một dây xích treo giữa hai trụ dưới tác dụng của trọng lượng của nó. Nhà Toán học và Thiên văn học người Ý Galileo Galilei (1564 – 1642) đã nghĩ đến đường cong này và cho rằng đó là một phần của một parabol. Năm 1646, Huygens, khi ấy mới 16 tuổi, đã chứng minh được kết luận của Galileo là sai. Tháng 5 năm 1690, Jacob Bernoulli chính thức đưa bài toán này lên tờ Acta Eruditorum như là một bài toán thách thức: “Hãy xác định hình dạng đường cong của một sợi dây đồng chất (khối lượng phân phối đều) được treo giữa hai điểm cố định.” Một năm sau, trong số báo tháng 6 năm 1691, có ba lời giải được công bố: một của Huygens, một của Leibniz và một của Johann Bernoulli, em trai út của Jacob Bernoulli. Cả ba lời giải đều đi tới cùng kết quả nhưng bằng ba cách hoàn toàn khác nhau. Phương trình Descartes của đường cong ấy là:      trong đó a là hằng số tùy thuộc vào khối lượng và sức căng của sợi dây. Nghiên cứu về đường dây xích được áp dụng rộng rãi trong xây dựng và kiến trúc.     Jacob Bernoulli là một trong những nhà Toán học tiên phong trong lý thuyết xác suất. Bài báo đầu tiên của ông về xác suất công bố năm 1685. Đóng góp lớn nhất của Jacob Bernoulli là nghiên cứu mang tên Ars Conjectandi (Nghệ thuật suy đoán), tác phẩm này chỉ được công bố năm 1713 sau khi ông mất 6 năm. Trong tác phẩm này Jacob Bernoulli viết về các phép tính hoán vị, tổ hợp, chuỗi vô tận, phân phối nhị thức (binomial distribution), định luật về số lớn (Bernoulli law of large numbers). Ngoài ra, Jacob là người chứng minh được bất đẳng thức Bernoulli thú vị sau đây:      trong đó x là số thực khác 0 và lớn hơn -1.      Cũng chính Jacob Bernoulli là người đầu tiên chứng minh được                   tồn tại và giá trị của giới hạn nằm giữa số 2 và số 3. Sau này nhà toán học Euler (1707-1783) xác định được chính xác đó là số e,   nghĩa là     =e.     Jacob Bernoulli còn quan tâm một cách thích thú đến những đường cong xoắn ốc logarithm mà Descartes đã giới thiệu từ năm 1637.   Jacob Bernoulli giữ ghế trưởng khoa Toán Đại học Basel từ năm 1695 cho đến khi ông qua đời năm 1705. Trên bia mộ của ông ngoài tên tuổi và công trạng, người ta có khắc hình một đường cong xoắn ốc logarithm.     Johann Bernoulli    Johann là em út của Jacob, nhỏ hơn Jacob 13 tuổi và cũng phải học Triết học và Thần học giống anh trai Johann để trở thành những người thượng lưu theo mong muốn của cha. Trong thời gian học Y khoa nhưng không ra hành nghề, Johann nhờ anh Jacob (lúc ấy đã trở thành giáo sư Toán ở Đại học Basel) dạy thêm Toán và chẳng bao lâu có thể tự một mình đọc được các tác phẩm của Leibniz, rồi tự nghiên cứu Toán học, đặc biệt là lý thuyết và kỹ thuật về phép tính vi-tích phân – một ngành Toán hãy còn rất mới mẻ lúc bấy giờ. Jacob mau chóng nhận ra rằng em mình có một năng khiếu Toán rất đặc biệt và mình không có gì phải dạy thêm cho Johann nữa.     Rồi hai anh em hợp tác cùng nghiên cứu một số vấn đề nhưng mối hợp tác ấy mau chóng tan vỡ vì những tranh cãi đôi khi ra ngoài phạm vi Toán học. Cái tôi của cả hai anh em Jacob và Johann quá lớn tới mức cả hai không thể nhân nhượng nhau. Nếu bỏ qua cá tính và những tai tiếng do quan hệ đối xử không tốt với anh trai Jacob, thì Johann là một nhà Toán học xuất sắc. Những gì ông làm được cho Toán học, đặc biệt là trong vi-tích phân còn phong phú hơn cả Jacob. Chính Johann Bernoulli là người dạy Toán cho nhà toán học Euler tại Đại học Basel sau này. Năm 1694 ông nghiên cứu về hàm y = xx Ông nghiên cứu chuỗi số vô tận bằng cách dùng phương pháp tích phân từng phần. Ông cũng đạt được nhiều thành quả trong việc giải phương trình vi phân, khám phá ra các hàm lượng giác hyperbol và những phương trình vi phân để xác định chúng. Vì nhiều thành quả trong nghiên cứu về các phép tính vi-tích phân và phương trình vi phân nên năm 1694 ông được mời làm giáo sư, rồi trưởng khoa ở Đại học Groningen, Hà Lan.       Bên trái là St Louis gateway, bên phải là những vòm trong trường ĐH Oxford. Đó là những hình có dạng catenary úp ngược.  Trở lại bài Toán đường dây xích (catenary) mà Jacob Bernoulli đã đăng trên tờ Acta Eruditorum năm 1690 như là một thách đố. Johann dùng ngay phương pháp vi tích phân của Leibniz để giải bài toán, lời giải của Johann tỏ ra vượt trội hơn lời giải của Huygens và lời giải của chính Leibniz. Bài toán đường đoản thời (brachistochrone curve)3 cho thấy tài năng và cá tính kênh kiệu của Johann Bernoulli.  Trong số báo Acta Eruditorum tháng 6 năm 1696, Johann đăng thông báo sau đây: Tôi, Johann Bernoulli, gửi những lời này tới những nhà Toán học xuất sắc nhất thế giới. Không có gì thu hút những con người thông minh bằng bài toán thử thách mà lời giải của họ sẽ làm cho họ nổi tiếng và lưu danh lại cho đời sau. Tôi hy vọng sẽ thu hút được sự chú ý của giới Khoa học, trong đó có những nhà Toán học giỏi nhất của thời đại chúng ta như là Pascal và Fermat của thế hệ trước. Bài toán của tôi sẽ cho họ thể hiện phương pháp và tài năng của họ. Nếu họ gửi lời giải tới tôi, tôi sẽ đánh giá và công bố sự xứng đáng của họ.     Và đây là bài toán của Johann Bernoulli:  Cho hai điểm A và B nằm trong mặt phẳng thẳng đứng P (A cao hơn B). Hãy xác định đường nối hai điểm A và B và nằm trong mặt phẳng P sao cho một điểm chỉ chịu trọng lực chạy từ A đến B trong thời gian ngắn nhất.  Có 5 bài giải đúng được gửi tới, trong đó 4 bài giải từ những nhà Toán học đã thành danh: De L’Hôpital, Leibniz, Jacob Bernoulli và chính của Johann Bernoulli. Còn bài giải thứ năm của một người ghi là vô danh. Bài giải của người vô danh này được Johann ghi bên lề là “Ex ungue Leonem” (Nhận biết con sư tử qua móng vuốt của nó)4. Qua cách viết, qua lập luận và tính toán, Johann đã nhận ra được lời giải này của Newton và sau này Newton cũng công nhận như vậy. Newton còn nói thêm rằng ông đã mất 12 tiếng đồng hồ để giải bài toán ấy. Lời giải cho bài Toán này là một phần đường cycloid lật ngược.      Phương pháp giải bài toán đường đoản thời của Johann Bernoulli rất độc đáo. Nó làm cách mạng phép tính vi-tích phân của Leibniz để trở thành một phép tính mới: phép tính biến phân (Calculus of variations).     Một câu chuyện nổi tiếng không kém là chuyện giữa Johann Bernoulli và nhà Toán học Guillaume de L’Hôpital (1661 – 1704). Ta nên nhớ rằng de L’Hôpital lớn hơn Johann 6 tuổi và đã có tên tuổi trong giới Toán học rồi. Khoảng giữa năm 1694, khi chưa có nghề nghiệp gì, Johann đến Paris – trái với ý kiến của cha mẹ ông – để làm gia sư cho một thanh niên quý tộc người Pháp, đó là Hầu tước Guillaume de L’Hôpital. Johann dạy Hầu tước phép tính vi-tích phân của Leibniz, nhưng vì cần tiền cho nên khi rời khỏi Paris ông vẫn gửi bài tới cho Hầu tước theo yêu cầu của ông này, để tiếp tục được trả lương. Năm 1695, Johann Bernoulli gửi tới Hầu tước de L’Hôpital qui tắc nói rằng nếu hai hàm số có đạo hàm và cả hai bằng 0 tại cùng một điểm, và nếu giới hạn tỷ số hai đạo hàm ấy tồn tại tại điểm ấy, thì giới hạn của tỷ số hai hàm số bằng giới hạn tỷ số hai đạo hàm tại điểm ấy. Diễn tả qui tắc ấy thành công thức như sau:     Qui tắc này có trong phép tính vi-tích phân mà mọi sinh viên đều biết dưới tên gọi là qui tắc L’Hôpital. Hầu tước de L’Hôpital, với sự thỏa thuận của Johann Bernoulli, công bố qui tắc này trong cuốn sách của ông mang tên Analyse des Infiniment Petits pour l’Intelligence des Lignes Courbes (Giải tích các vô cùng nhỏ để hiểu các đường cong) xuất bản năm 1696 mà không đề cập tới ai đã phát minh ra qui tắc này. Tuy nhiên trong lời nói đầu, de L’Hôpital có viết lời cảm ơn gửi tới Johann Bernoulli và Leibniz về một số kết quả có trong sách.     Johann Bernoulli có tham dự vào cuộc tranh cãi giữa Newton và Leibniz về vấn đề ai là người đầu tiên phát minh ra phép tính vi-tích phân. Trong cuộc tranh cãi này hai anh em Jacob và Johann Bernoulli hoàn toàn ủng hộ Leibniz, nhất là Johann ủng hộ nhiệt tình, phản bác tích cực cáo buộc cho rằng Leibniz đạo ý tưởng của Newton do hầu hết những nhà Toán học đương thời của Anh đưa ra. Chính bài toán đường đoản thời mà Johann thách đố có dụng ý cho thấy ưu thế của phép tính vi-tích phân khai triển theo cách của Leibniz so với phương pháp vi-tích phân khai triển từ khái niệm chuyển động (fluxion: vận tốc) theo cách của Newton. Ngoại trừ người vô danh lúc ấy (tức là Newton), không có một người nào theo phương pháp của Newton giải được bài toán ấy. Điều này không những xác nhận ưu thế của phép tính vi-tích phân của Leibniz mà còn cho thấy Leibniz là người sáng lập ra phép tính vi-tích phân một cách hoàn toàn độc lập với Newton.     Daniel Bernoulli      Johann Bernoulli có ba người con trai, thứ tự từ lớn đến nhỏ là Nicolas II (1687 – 1759), Daniel (1700 – 1782) và Johann II (1710 – 1790). Cả ba đều là những nhà Toán học có tiếng thời ấy, nhưng Daniel xuất sắc hơn cả. Là một nhà Toán học xuất sắc và nổi tiếng nhưng Johann Bernoulli không muốn các con theo con đường của mình. Ông hướng các con vào con đường thương mại với lời giải thích là “Toán không thể nào đem lại sự giàu có”. Nhưng cả ba người con là Nicolas II, Daniel và Johann II đều chống lại ý cha. Daniel thỏa thuận với cha chọn con đường như cha mình: học Y khoa, nhưng rồi cũng như cha, Daniel không hành nghề Y. Ông tự học Toán, học Vật lý, học qua trao đổi và tranh luận với nhiều nhà Khoa học ở Ý, Đức và Pháp.  Năm 1724, khi đang ở Venice, Ý, Daniel xuất bản cuốn Exercitationes Quaedam Mathematicae (Bài tập Toán học). Đây là tập hợp về một số vấn đề Toán áp dụng vào Vật lý. Qua ấn phẩm này, người ta thấy tài năng áp dụng Toán học vào Vật lý của Daniel bắt đầu xuất hiện. Năm 1733 ông hoàn thành cuốn Hydrodynamica (Thủy động học) nhưng đến 5 năm sau, tức là 1738, cuốn sách mới được xuất bản. Tác phẩm này thời ấy được xem như nền tảng cho bộ môn mới mẻ này.       Daniel Bernoulli (1700 – 1782).    Từ 1725 đến 1757, ông giành tổng cộng 10 giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học Paris, hầu hết các đề tài đều liên qua đến Toán học áp dụng vào Thiên văn, vào Thủy động học, vào Hải hành trên biển, vào Từ học. Năm 1734 Daniel và cha của mình – nhà Toán học Johann Bernoulli – cùng được giải thưởng của Hàn lâm Viện Khoa học Paris. Giải thưởng năm 1740 Daniel chia cùng với Euler và Mac Laurin trên đề tài dùng lý thuyết của Newton để nghiên cứu về thủy triều do sức hút của Mặt trăng và Mặt trời.      Sau khi cuốn Exercitationes Quaedam Mathematicae được xuất bản, tài năng của Daniel được giới Khoa học cả châu Âu biết tới. Năm 1725, theo lời giới thiệu của Leibniz, nữ hoàng Catherine I của Nga mời Daniel và người anh trai là Nicolas II (1695 – 1726) sang Nga tổ chức và điều hành ngành Toán của Hàn lâm Viện Hoàng gia Saint-Petersburg mới được thành lập. Vừa mới hơn một năm, Nicolas II chết vì bệnh lao. Sau đó, một ngôi sao đang lên còn rất trẻ (mới 20 tuổi) là bạn thân của hai anh em nhà Bernoulli và là học trò xuất sắc nhất của Johann Bernoulli tên là Leonhard Euler (1707 – 1783) sang thay thế vị trí của Nicolas II.      Còn người em Daniel Bernoulli đã được lưu danh rất nhiều trong các vấn đề Toán học áp dụng vào Vật lý: Động học chất khí (kinetic theory of gases), hiệu ứng Bernoulli trong cơ học lưu chất, hiệu ứng này sau này được áp dụng trong kỹ thuật hàng không. Lĩnh vực nổi tiếng nhất của ông là góp phần phát triển lý thuyết về bộ môn xác suất. Năm 1731, ở Saint – Petersburg, ông cho xuất bản cuốn Specimen Theoriae Novae de Mensura Sortis (Lý thuyết mới về tính toán các vận may rủi). Đây là tác phẩm nghiên cứu về xác suất trong đó Daniel có đề cập tới vấn đề số hy vọng (expected values) và cùng với người anh là Nicolas II đưa ra một bài toán sau này nổi tiếng với tên gọi nghịch lý Saint-Petersburg.     Trong những năm cuối đời, Daniel tiếp tục nghiên cứu về phép tính vi-tích phân, cơ học, và nhiều vấn đề áp dụng Toán học vào Vật lý. Ông là thành viên của nhiều Hàn lâm Viện Khoa học: Hàn lâm Viện Paris, Hàn lâm Viện Hoàng gia Anh, Hàn lâm Viện Berlin, Hàn Lâm Viện Saint-Petersburg. □  ——  Chú thích:   1. Đường đẳng thời là đường cong đi xuống, trên đó mọi chất điểm chỉ dưới tác dụng của trọng lực, bất kỳ khởi hành ở điểm nào, cũng sẽ đạt điểm đáy trong cùng một thời gian như nhau (đẳng thời= thời gian bằng nhau)  2. Leibniz dùng chữ calculus summatorium để chỉ tích phân.  3. Đoản thời = thời gian ngắn.  4. Thì ra Johann cũng còn biết nể nang con sư tử của nước Anh!    Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Chuyện về một Trung tâm R&D tư nhân      Từ một x&#237; nghiệp sơn Nh&#224; nước với chỉ một d&#242;ng sản phẩm &#8220;b&#225;n chẳng ai mua&#8221;, đến nay, qua chặng đường 20 năm đổi mới v&#224; ph&#225;t triển, C&#244;ng ty cổ phần Sơn Hải Ph&#242;ng c&#243; tới gần chục d&#242;ng sản phẩm sơn (với v&#224;i trăm loại sản phẩm kh&#225;c nhau). Sản phẩm của c&#244;ng ty chinh phục kh&#244;ng chỉ thị trường trong nước m&#224; đ&#227; tiến ra thị trường thế giới. Con đường dẫn đến th&#224;nh c&#244;ng ch&#237;nh l&#224;&nbsp; ở chỗ c&#244;ng ty đ&#227; l&#224;m chủ một số b&#237; quyết v&#224; c&#244;ng nghệ trong lĩnh vực sản xuất sơn. V&#224; việc h&#236;nh th&#224;nh trung t&#226;m R&amp;D gần đ&#226;y, với mục ti&#234;u nghi&#234;n cứu ra c&#225;c sản phẩm sơn th&#226;n thiện với m&#244;i trường, sơn vỏ t&#224;u vũ trụ… đ&#225;nh dấu một bước ph&#225;t triển mới trong việc r&#250;t ngắn qu&#227;ng đường từ nghi&#234;n cứu tới ứng dụng thực tế cho c&#225;c d&#242;ng sản phẩm đa dạng, chất lượng của c&#244;ng ty.  &nbsp;    Từ tiếp nhận tới làm chủ  “Ý tưởng hình thành Trung tâm R&D của công ty bắt đầu khi chúng tôi tính tới việc thành lập tập đoàn. Không chỉ phục vụ cho Công ty cổ phần Sơn Hải Phòng, đây sẽ là nơi tiến hành nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm mới trong nhiều lĩnh vực, phục vụ cho các công ty thuộc tập đoàn trong tương lai”, ông Nguyễn Văn Viện, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sơn Hải Phòng tiết lộ với chúng tôi khi đến làm việc. 20 năm sau khi tiếp nhận Xí nghiệp Hóa chất Sơn dầu Hải Phòng (vào năm 1989), đến nay doanh nhân Nguyễn Văn Viện là Chủ tịch HĐQT của đồng thời 4 công ty khác nhau, hoạt động trong lĩnh vực sơn, bột giặt và hóa mỹ phẩm. Ông còn cho biết vừa thành lập một công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản và nhóm các công ty này sẽ trở thành một tập đoàn kinh tế trong tương lai gần.          Phó Tổng giám đốc Phạm Thị Hương Lan          Tiếp chúng tôi tại Trung tâm R&D là hai phụ nữ – Phó Tổng Giám đốc Phạm Thị Hương Lan và Giám đốc kỹ thuật Hoàng Thị Thu.   “Tìm cách để đi tắt đón đầu và cải tiến, đổi mới công nghệ, cải tiến hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế“, Phó Tổng Giám đốc Phạm Thị Hương Lan nói về các lý do khiến công ty quyết định thành lập Trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển) cách đây khoảng 2 năm. Như vậy, nhiệm vụ của Trung tâm cũng khá đa dạng: Vừa tìm tòi, nghiên cứu các xu hướng phát triển công nghệ trong lĩnh vực hoạt động của công ty để tìm kiếm, lựa chọn công nghệ cho phù hợp; vừa tìm cách phát huy tính năng của các bí quyết, công nghệ được chuyển giao cho phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế của công ty cũng như đưa ra các sản phẩm phù hợp với điều kiện khí hậu và thói quen tiêu dùng của từng thị trường và tự nghiên cứu đưa ra các bí quyết, công nghệ và sản phẩm mới của chính mình.  Theo chị Hương Lan, mỗi năm, ngoài việc phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng thực hiện hàng chục đề tài nghiên cứu cấp Sở, công ty cũng kết hợp với rất nhiều viện nghiên cứu khác nhau để tiến hành các nghiên cứu, đưa các ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất để cải tiến chất lượng sản phẩm hoặc đưa ra sản phẩm mới. Đó là các viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Kỹ thuật Nhiệt đới, Viện KH&CN Giao thông Vận tải…  Cách thức hợp tác nghiên cứu của công ty cũng khá đa dạng. Đó là vừa “bắt tay” với các viện nghiên cứu, vừa hợp tác trực tiếp với các nhà khoa học, các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành trong các lĩnh vực khác nhau. Đó chính là những nơi “giúp chúng tôi đánh giá kết quả nghiên cứu của chính mình”, chị Lan cho biết.  Như vậy, sau gần 15 năm tiếp nhận bí quyết công nghệ sơn của hãng Chugoku Marine Paint-CMP (Nhật Bản), rồi tiếp đến là các hãng khác như PDI (Malaysia), Arsonsisi (Ý), đến nay, công ty không chỉ làm chủ được công nghệ mà bắt đầu tiến hành các nghiên cứu cải tiến công nghệ cho phù hợp hơn với điều kiện của thị trường Việt Nam, nhất là với khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều của một nước nhiệt đới.  Làm chủ chưa đủ mà phải tiến tới sáng tạo          Giám đốc kỹ thuật Hoàng Thị Thu giới thiệu thiết bị nghiên cứu  tại Trung tâm             Có khả năng nghiên cứu,               nhưng kinh phí Nhà nước thì…  Theo Phó TGĐ Phạm Thị Lan Hương, việc tiếp cận được nguồn kinh phí Nhà nước cho các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước là một chuyện phiền hà và khó khăn. Cụ thể là liên quan tới một đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước hoàn thiện công nghệ sơn chống hà, với mức kinh phí cần thiết khoảng 2 tỉ đồng. “Năm ngoái, chúng tôi đã làm thủ tục đầy đủ chuyển lên Bộ KH&CN, nhưng sau đó hai tháng nhận được thông tin rằng nộp muộn, không được giải quyết”, chị cho biết. Vẫn theo thông tin từ chị Lan Hương, đề tài dạng này để được cấp kinh phí thì phải thông qua một viện nghiên cứu hoặc một doanh nghiệp Nhà nước. Trung tâm thuộc công ty cổ phần nên gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn tới việc Trung tâm chưa thể triển khai được đề tài này. “Hiện thế giới cũng đang nghiên cứu vấn đề này. Chúng tôi hoàn toàn có khả năng tự nghiên cứu được nhưng mắc ở chỗ chưa có kinh phí cho đề tài”, chị nói.          Nhưng thực tế của thị trường cũng như các yêu cầu phát triển mới của công ty Sơn Hải Phòng đã khiến lãnh đạo coi trọng nhiệm vụ nghiên cứu, sáng tạo của Trung tâm R&D ngay từ khi mới thành lập.  “Đó là phải nghiên cứu các bí quyết, công nghệ mới để đưa ra các sản phẩm phù hợp hơn với đòi hỏi của thị trường và yêu cầu của thời đại, như các sản phẩm mới sạch hơn, thân thiện hơn với môi trường, chất lượng cao hơn và có tính cạnh tranh hơn…”, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Viện cho biết.  Còn Phó Tổng Giám đốc Phạm Thị Hương Lan thì nói rằng: “Nhu cầu của thị trường còn lớn lắm và từ quá trình làm chủ, mình phải tự nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của thị trường”. Quá trình tự nghiên cứu và sáng tạo ra bí quyết công nghệ mới là cần thiết bởi: “Nhiều khi công nghệ đó trên thế giới cũng đã có, nhưng giá trị chuyển nhượng quá lớn. Thậm chí có công nghệ có tiền cũng không mua được”, chị nói.  Quá trình nghiên cứu cũng đã được tính toán theo từng bước, ngay khi Trung tâm R&D được thành lập. “Một số sản phẩm mới chúng tôi tính toán thời gian nghiên cứu 5 năm, có sản phẩm thời gian cần thiết là 10 năm, nhưng cũng có sản phẩm đòi hỏi tới 20 năm, thí dụ như sơn vỏ tàu vũ trụ chẳng hạn”, chị Hương Lan cho biết.  Chẳng thế, từ chỉ một dòng sản phẩm sơn dầu “khách hàng không dùng, không mua” của Xí nghiệp Hóa chất Sơn dầu cách đây 20 năm, tới nay Công ty cổ phần Sơn Hải Phòng đã có gần chục dòng sản phẩm với hàng trăm sản phẩm khác nhau, từ sơn công nghiệp (sơn cho các dự án nhà máy hóa chất, lọc dầu, giàn khoan, nhiệt điện, thủy điện…) cho tới sơn tĩnh điện (có tính năng chịu va đập, bền thời tiết, không gây ô nhiễm môi trường phục vụ trong các lĩnh vực điện, đồ gia dụng, dụng cụ thể thao, đồ chơi, thiết bị văn phòng…), và cả sơn trang trí phục vụ các yêu cầu sơn dân dụng, xây dựng… Thậm chí, công ty đã có nhiều sản phẩm sơn đặc thù phục vụ công nghiệp đóng tàu, dầu khí như sơn chống hà, hoặc phục vụ giao thông như sơn chỉ giới đường, cầu, container, biển báo…  Giám đốc kỹ thuật Hoàng Thị Thu cho biết thêm, cán bộ nghiên cứu của Trung tâm được chia ra nhiều nhóm, tiến hành các nghiên cứu nhằm tạo ra những sản phẩm khác nhau, thí dụ như sơn chống hà thế hệ mới, các loại sơn thân thiện với môi trường hoặc sơn không dùng chất dung môi (thực chất là dùng nước làm dung môi)… “Hiện chúng tôi đã sản xuất được các loại sơn có hàm rắn cao vào khoảng 92%, các loại sơn có lượng hàm rắn 96%-100% (tức là không có dung môi) hiện đang trong giai đoạn nghiên cứu”, chị nói.  Tạo mọi điều kiện cho nghiên cứu  Không phải các con số đầu tư “cứng”, từ 3-4 tỉ đồng trong vòng 2 năm qua mà Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Viện nói ra khẳng định quyết tâm đầu tư của lãnh đạo công ty cho Trung tâm, mà thực tế những chế độ đãi ngộ, cách dùng người và định hướng phát triển của Trung tâm mới là những minh chứng rõ ràng nhất cho việc duy trì và phát triển bộ phận R&D này.  Giám đốc kỹ thuật Hoàng Thị Thu cho biết các cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật ở Trung tâm được lấy ở nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu lấy từ công ty lên. Họ đều là những người có trình độ kỹ sư chuyên ngành hóa, thiết bị, công nghệ tốt nghiệp từ các trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên… “Những kỹ sư này vừa thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, vừa phải giám sát các qui trình sản xuất và thi công tại hiện trường”, chị Thu nói. Chính những điều này giúp cho các cán bộ nghiên cứu không xa rời thực tiễn sản xuất, giúp họ phát hiện ra những vấn đề cần giải quyết ở khâu sản xuất và sau đó họ quay lại nghiên cứu cách giải quyết ở Trung tâm R&D.           Nghiên cứu đổi mới quy trình công nghệ luôn được lãnh đạo công ty khuyến khích          Ngoài việc liên tục trang bị, cung cấp thiết bị, máy móc nghiên cứu phù hợp với nhu cầu thực tế, cán bộ của Trung tâm cũng có thể được gửi ra nước ngoài đào tạo để nắm vững bí quyết công nghệ và học tập phương pháp nghiên cứu ở nước ngoài.  Về trang thiết bị phục vụ cho việc nghiên cứu, vẫn theo chị Thu, Trung tâm đã có hầu hết các thiết bị hiện đại và khá đắt tiền cần thiết như tủ gia tốc khí hậu, tủ gia tốc ăn mòn, máy tạo hàm ẩm, thiết bị sấy tự động, các thiết bị đo độ mài mòn, độ bền, độ bám dính… của nhiều nước có nền khoa học phát triển như Mỹ, Đức, Ý… “Và chúng tôi sẽ tiếp tục được công ty đầu tư mua sắm thêm các thiết bị đắt tiền hơn trong thời gian tới”, chị Thu cho biết.   Về chế độ lương, lãnh đạo công ty cũng tạo điều kiện tốt nhất có thể để các cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu của Trung tâm yên tâm làm việc. “Các cán bộ có thâm niên lương khoảng chục hay trên chục triệu/tháng, những người làm được 2-3 năm có mức lương khoảng 5-6 triệu/tháng. Còn ngay cả người mới vào làm việc cũng có thể đạt mức lương khoảng 4 triệu/tháng”, chị Thu nói. Ngoài ra, công ty còn có chế độ hệ số lương tăng thêm cho các cán bộ, và cả nhóm nghiên cứu nếu có đề xuất nghiên cứu, cải tiến mới, hoặc tăng hệ số lương cho những người tham gia các đề tài cấp thành phố (+30% lương), đặc biệt là cho những người liên tục nhận các đề tài nghiên cứu trong nhiều năm liền… “Tất cả các chính sách, chế độ này nhằm khuyến khích tinh thần sáng tạo, nghiên cứu đổi mới của cán bộ Trung tâm”, chị Thu nói.  Hiện Trung tâm có diện tích khoảng 800m2 nhưng theo lãnh đạo của công ty, diện tích này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm tới. Và lúc đó: “Chúng tôi sẽ có thể mời các nhà nghiên cứu hợp tác, hoặc tuyển các cán bộ nghiên cứu có trình độ cao vào làm việc”, Phó Tổng Giám đốc Phạm Thị Hương Lan cho biết.  Có thể nói trong điều kiện tại Việt Nam, “ngay cả nhiều tập đoàn lớn của Nhà nước còn chưa coi trọng R&D, thậm chí chưa có trung tâm R&D của mình” (lời của Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân trong buổi tập huấn về tuyên truyền KH&CN gần đây tại Hà Nội), thì việc một công ty cổ phần đầu tư và phát triển một trung tâm R&D ngay trong lòng doanh nghiệp của mình là một tín hiệu rất đáng mừng.  Đây không chỉ là một định hướng đúng, một tầm nhìn của lãnh đạo công ty (việc hình thành Trung tâm R&D để phục vụ cho mô hình tập đoàn sau này của công ty), mà còn là một mô hình đáng học hỏi đối với nhiều công ty, doanh nghiệp khác trong quá trình vươn lên, tự khẳng định thương hiệu của mình và vươn ra với thế giới. Những điển hình này khi được nhân rộng thì chắc chắn việc phát triển và áp dụng các bí quyết công nghệ sẽ được thúc đẩy nhanh hơn ở Việt Nam, tạo tiền đề không chỉ cho một sự phát triển KH&CN mới trong khu vực tư nhân ở Việt Nam, mà còn giúp hàm lượng chất xám trong các sản phẩm “made in Vietnam” ngày càng gia tăng trên con đường chinh phục thị trường quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện về người phụ nữ trên tờ 10 bảng Scotland      Năm 1834, nhà toán học Mary Somerville đã xuất bản cuốn sách Về Kết nối giữa các ngành Khoa học Vật chất, một công trình góp phần vào sự định hình ngành Vật lý học hiện đại, trở thành tác phẩm viết về khoa học kinh điển thời Victoria. Đồng thời, nó  cũng đặt ra những câu hỏi quan trọng cho một thế giới trọng nam khinh nữ nhưng ngày một rộng mở trong bối cảnh thăng hoa mạnh mẽ của tri thức: Liệu phụ nữ có thể trở nên xuất sắc trong khoa học không? Liệu phụ nữ viết về khoa học có khác với nam giới?      Somerville trên đồng 10 bảng của Scotland. Ảnh: Ngân hàng Hoàng gia Scotland.   Trong suốt cuộc đời mình, Somerville luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các lĩnh vực khoa học vật chất. Các cuốn sách của bà đã cập nhật cho độc giả những kiến thức mới mẻ từ thiên văn học và nhân học đến vi sinh vật học và địa chất học. Bà là người là người đã đưa tác phẩm Cơ học thiên thể của Pierre Simon Laplace đến tay độc giả nói tiếng Anh, là tác giả một cuốn tổng quan xuất sắc về Địa vật lý (physical geography), và lý giải mối liên kết giữa các ngành khoa học vào một thời điểm mà chúng vẫn được coi như những lĩnh vực hoàn toàn tách biệt. Vào tháng Mười năm 2017, hình ảnh của bà xuất hiện trên tờ 10 Bảng mới của Ngân hàng Hoàng gia Scotland, một vinh dự mà bà đã giành được dù gây khá nhiều tranh cãi, vượt qua các ứng cử viên nổi bật như như nhà vật lý James Clerk Maxwell.  Tia sáng định mệnh  Mary Fairfax sinh vào ngày 26 tháng 12 năm 1780 tại Jedburgh, một tỉnh thuộc Biên giới Scotland. Mẹ cô, Martha Charters Fairfax, là hậu duệ của các gia đình có tiếng tăm nhất trong nước. Cha của cô, William George Fairfax, nổi tiếng trong nước vì vai trò chỉ huy cuộc chiến hải quân quan trọng tại Camperdown nhưng không nhận được phần thưởng giá trị gì thường có từ một chiến thắng như vậy. Do đó, gia đình có địa vị xã hội đáng kể nhưng không có thu nhập nào ngoài lương quân đội.  Cô bé Mary lớn lên tại thị trấn cảng Burntisland ở Scotland, nơi cô sống hoàn toàn tự do trong 10 năm đầu đời. Cha cô, trở về từ một chuyến công tác dài, thảng thốt khi thấy con gái mình không thể đọc, viết và quản lý chi tiêu thành thục để trở thành một người vợ mẫu mực, và ông đã gửi con đến trường nội trú trong một năm. Ở đây Mary cũng học thêm về múa, vẽ tranh, nấu nướng, nghe nhạc, thêu, và cả địa lý cơ bản – tất cả điều mà một cô gái con nhà gia thế cần nắm được.  Với sự quyết tâm – mà điều này thì Mary Fairfax có thừa – những hoạt động này mở ra những cơ hội học tập quan trọng. Chẳng hạn, lần đầu tiên cô biết đến môn Đại số là khi xem một bài toán trong một tạp chí thời trang. Khi cô muốn học thêm, giáo viên và gia sư sẵn sàng khuyến khích và cung cấp tài liệu, mặc dù việc học ngoài những điều cơ bản phải thực hiện một cách độc lập và bí mật.  Năm 1804, ở tuổi 23, Mary Fairfax kết hôn với người anh em họ, sĩ quan hải quân Samuel Greig, và cả hai chuyển đến sống ở London. Theo lời kể của cô sau này, cuộc hôn nhân không mấy hạnh phúc; cô đơn, hiếm cơ hội gặp bạn bè, Mary không được ủng hộ việc học toán, ngôn ngữ và các ngành học khác.  Khi Greig đột ngột qua đời vào năm 1807, Mary trở lại Scotland, quyết tâm nghiên cứu toán học. Trong thế kỷ 18 ở Anh, những công trình về toán học thường được đăng trong trong tạp chí phục vụ thị hiếu đám đông như Lady’s Diary (Nhật ký của quý bà) và Gentleman’s Diary (Nhật kí của quý ông), đưa ra những bài toán đầy thách thức và lời giải của nó. Vào đầu thế kỷ 19, các nhà cải cách đã bắt đầu một tạp chí mới, New Series of the Mathematical Repository, chuyên đăng tải những những bài toán khó chứ không có những thông tin giải trí khác.  Vào năm 1811, Mary rất vui khi biết mình được nhận giải thưởng vì lời giải cho bài toán trong số báo phát hành năm 1810 của Repository. Bài toán mà bà đã giải quyết là một bài toán Diophantine ba biến, đòi hỏi một kiến thức tốt về đại số cao cấp. Sự tinh tế và rành mạch thể hiện trong lời giải năm đó trở thành dấu ấn đặc trưng trong tất cả những gì bà làm sau này. Mary giành được huy chương bạc với tên bà khắc trên đó và với lời giải đó bà có công bố khoa học đầu tiên.  Việc giành được huân chương và có công bố khoa học là một lời biện hộ cho việc Mary lựa chọn một hướng đi bất thường. Tuy nhiên, niềm đam mê toán học của bà vượt ra ngoài mong muốn đơn giản là  được công nhận. Chính trong toán học là nơi bà cảm thấy mình sống mạnh mẽ và thật nhất. Gia đình và bạn bè có thể thấy sự thờ ơ của bà với thế giới xung quanh khi chú tâm vào việc giải toán. Toán học cho bà một lối thoát, dù chỉ là tạm thời, khỏi những áp lực của trách nhiệm gia đình.  Dẫu rằng sinh ra trong truyền thống của Giáo hội trưởng lão Scotland hà khắc, nhấn mạnh vào sự sám hối và sự trừng phạt, nhưng bà luôn chống lại những thực hành tôn giáo đó từ thuở nhỏ. Bà không bao giờ có thể tìm thấy Chúa trong những buổi lễ ở nhà thờ mà trái lại, ở những “tiên đề cơ bản” mà bà tự khám phá, và chính sự tự tin đó khiến Somerville tin rằng quyền của phụ nữ là được tạo điều kiện để phát triển tối đa tiềm năng của mình. Từ khi còn là một đứa trẻ, bà đã “nghĩ rằng thật bất công khi phụ nữ được trao niềm khát khao tri thức nhưng đạt được nó thì lại là điều sai trái”  Thành công và thất bại  Với nguồn thu độc lập khiêm tốn từ tài sản của người chồng quá cố, người góa phụ trẻ không chỉ đứng ở vị thế được theo đuổi toán học mà còn có thể tự do lựa chọn một người bạn đời phù hợp; và bất cứ ai không tán thành việc học của phụ nữ đều nhanh chóng bị tiễn ra khỏi cửa. Người duy nhất trong gia đình ủng hộ sự tự lập của Mary là chú của bà, Thomas Somerville, và bà đã chấp nhận lời cầu hôn của William, người con trai 41 tuổi của ông, vào năm 1811.  Đó là một cặp hoàn hảo. Cả hai đều có quan điểm tự do về chính trị, tôn giáo và giáo dục. Cả hai cũng đều có niềm đam mê khoa học mạnh mẽ – William là người đã thực hiện những chuyến khám phá mang tính chấn động về lịch sử và dân tộc học ở Mũi Hảo Vọng. Một trong những việc đầu tiên sau khi kết hôn là mua một bộ sách toán học cao cấp (và rất đắt), với sự khích lệ của William. “Tôi đã ba mươi ba tuổi khi mua cái ‘thư viện nhỏ’ tuyệt vời này”, Mary nhớ lại vào cuối cuộc đời, “Tôi không thể tin rằng mình đã sở hữu một kho báu như vậy”.  Sau đám cưới, cặp vợ chồng chuyển đến Edinburgh, rồi đến London vào năm 1816. Ở cả hai thành phố, họ tham gia vào đời sống văn hoá trí thức sôi nổi thông qua những cuộc gặp mặt thảo luận có cả cả nam và nữ giới. “Mọi chủ đề khoa học đều được thảo luận”, bà nhớ lại “Những thí nghiệm và quan sát thiên văn được thực hiện trong khu vườn nhỏ ở trước nhà tôi”.  Trong lĩnh vực vật lý, Somerville bắt đầu một loạt các nghiên cứu thực nghiệm. Làm việc với sự hướng dẫn của các nhà vật lý William Wollaston và John Herschel trong những ngày hè dài năm 1825, bà đã thực hiện các thí nghiệm tinh tế để chỉ ra mối quan hệ giữa từ tính và ánh sáng mặt trời. Giống như hầu hết các thí nghiệm của khoa học Anh lúc bấy giờ, chúng chỉ dựa vào các vật liệu đơn giản sẵn có hoặc mượn từ bạn bè, chứ không phải trên một phòng thí nghiệm đắt tiền với thiết bị chuyên dụng.  William Somerville thông báo kết quả của các thí nghiệm của vợ ông với Hiệp hội Hoàng gia London, cũng giống như ông phụ trách những quan hệ công chúng khác của bà. Bài báo của bà đã được xuất vào ngày 2 tháng 2 năm 1826 trên tờ “Philosophical Transactions”. Xuất hiện dưới tên riêng với tư cách tác giả là một bước tiến lớn của bà; đây là lần đầu tiên một phụ nữ xuất bản một bài báo về một thí nghiệm của mình. Somerville đã phát hiện ra rằng sự tiếp xúc kéo dài với ánh nắng mặt trời làm tăng từ tính trong các cây kim. Mối quan hệ giữa từ tính và ánh sáng mà Somerville đề xuất đã được thảo luận rộng rãi giữa các nhà khoa học châu Âu và các thí nghiệm của đã được lặp lại thành công. Bà đã được Quốc hội trao tặng một khoản trợ cấp chính phủ, một khoản tài chính dành cho những người có đóng góp và kho tàng tri thức.  Tuy nhiên, ba năm sau, Peter Riess và Ludwig Moser ở Berlin đã đưa ra một lời giải thích khác rất thuyết phục. Với sự kiểm soát điều kiện thí nghiệm chặt chẽ và bằng một phương pháp đo cường độ từ trường khác, Riess và Moser nhận thấy rằng dù có chiếu tia cực tím ở cường độ mạnh sau nhiều tiếng cũng không tạo ra ảnh hưởng từ tính đáng kể. Kết quả của Somerville và kết quả của những người đã lặp lại thí nghiệm của bà đạt được có vẻ là do sự bất cẩn trong việc thực hiện. Điều này là một kết quả đau đớn với bà và Somerville đốt tất cả những bản sao còn lại của bài báo. Quốc hội phàn nàn rằng các công trình của bà, dù mang tính khoa học, không “có đóng góp gì thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại hay mở rộng chân trời khoa học”. Mặc dù Somerville có công bố thêm các bài báo về thực nghiệm sau đó, nhưng tham vọng lớn nhất của bà đã bị nghiền nát. Vào cuối cuộc đời bà nhớ lại sự xấu hổ của mình:  “Tôi đã ý thức được rằng tôi chưa bao giờ có được khám phá của riêng mình, rằng tôi không có gì đặc biệt. Tôi kiên trì và thông minh nhưng tôi không phải thiên tài”. Sự thất vọng của bà quá rõ ràng. Somerville có khát khao trở thành một nhà phát kiến vĩ đại, như Oersted hay Laplace, và bà đã thất bại. Với thất bại đó – cùng với việc coi mình như một biểu tượng – bà cho rằng mình đã hạ thấp toàn bộ nữ giới cùng với mình.  Thử nghiệm viết sách  Trong thập niên thứ hai của thế kỉ 19, vai trò của các tác giả khoa học có một sự thay đổi lớn. Công trình độc đáo được chứng minh trong bài báo của Somerville trên tạp chí Philosophical Transactions  ngày càng  được trân trọng, việc truyền bá tri thức đương thời  trở thành trung tâm của các chiến dịch chính trị trong nhiều năm dẫn đến sự hình thành của Đạo luật Đổi mới vào năm 1832. Những điều này dẫn sự mở rộng về độc giả và đa dạng hóa thể loại của ấn phẩm khoa học. Herry Brougham, cha đẻ của phong trào này chính là người chỉ ra rằng Somerville đã có đóng góp đáng kể cho việc đưa tác phẩm Nguyên lý của Newton và Cơ học thiên thể của Laplace vào chương trình xuất bản của Cộng đồng quảng bá tri thức hữu ích (SDUK), một nhóm tiên phong trong việc đem khoa học đến gần với đại chúng.  Là một thử nghiệm trong công việc viết sách khoa học, tuy nhiên, cuốn sách Cơ chế của thiên đường (Mechanism of the Heavens) của Somerville bị đánh giá là không thể làm tròn một nhiệm vụ (bất khả thi) là đưa đến cho người đọc phổ thông một giới thiệu toán học căn bản về công trình của Laplace. Tuy nhiên nhà xuất bản London John Murray vẫn đồng ý để xuất bản nó. Giữa những năm 1830, bà hoàn thành hai quyển sách dài về những chủ đề liên quan đến toán học cao cấp, bao gồm 2 quyển tiếp theo trong bộ Cơ chế của thiên đường, tuy nhiên không được xuất bản do nhà xuất bản này không còn hứng thú với các công trình toán học nữa.  Thất bại trong việc xuất bản các cuốn sách trên lại là bước ngoặt lớn trong sự nghiệp viết lách của Somerville. “Khái luận” dẫn nhập cho tác phẩm Cơ chế của thiên đường lại được đón nhận một cách nồng nhiệt, được coi như là một tiểu luận súc tích cho các động giả đã có nền tảng khoa học căn bản. Somerville đã phát triển nó thành tác phẩm Về sự kết nối giữa các ngành Khoa Học Tự Nhiên (On the Connexion of the Physical Sciences) và trở thành công trình nổi tiếng nhất của bà. Cuốn sách bán đắt như tôm tươi với 17500 bản được bán ra và 10 lần tái bản. Nó được dùng trong trường phổ thông, các căn cứ quân sự ở thuộc địa của Anh và các thư viên khoa học chuyên ngành. Như Maxwell nói, cuốn sách là một trong những cuốn “đầy cảm hứng, gọi tên những ý tưởng đang vận động ở trong tâm trí những người làm khoa học, một cách rõ ràng, trí tuệ và đầy tính trao đổi để dẫn dắt họ đến những phát minh mới”. Trong số đó phải kể đến sự phát hiện ra Sao Hải Vương mà quỹ đạo của nó được John Couch Adams tính toán sau khi đi theo một sự dự đoán trong cuốn sách của Mary.  Vào năm 1848, bà xuất bản cuốn Địa Vật lý, cũng bán chạy như cuốn trước và được ngưỡng mộ bởi những độc giả từ nhà thiên văn học Herschel cho đến nhà tự nhiên học Alexander von Humboldt. Bà chưa bao giờ coi động cơ cho việc viết lách của mình là vì lợi nhuận, dẫu rằng gia đình bà phải chi tiêu tằn tiện và tiền bản quyền của cuốn sách quả là một khoản thu nhập đáng được trông đợi. Thay vào đó, bà viết xuất phát từ niềm tin vào tầm quan trọng của những gì bà phải lên tiếng và vào dấu ấn của bà như một biểu tượng của sự tự học, tư tưởng khai phóng và đấu tranh cho nữ quyền.   Xã hội, giới tính và khoa học  Trong xã hội phức tạp của nước Anh thời Victoria, Somerville thể hiện một cách phù hợp với vai trò biểu tượng của mình. Với những người thân, bà thể hiện hài hước sắc sảo và khả năng diễu cợt tinh tế. Trưởng thành với những giá trị đối lập với những gì cha mẹ bà vẫn tin tưởng, bà thẳng thắn về quan điểm chính trị và tôn giáo không chính thống của mình và nhiệt tình thảo luận những phát hiện khoa học mới nhất. Nhưng với người ngoài, bà lại khá giữ khoảng cách, thận trọng và khiêm tốn. Những người đến thăm người phụ nữ nổi tiếng nhất thời đó với hi vọng nhận được một bài nói chuyện hoành tráng đều cảm thấy thất vọng.  Somerville sử dụng danh tiếng của mình để ủng hộ cho những gì bà quan tâm, đặc biệt là quyền của phụ nữ và đối xử có đạo đức với động vật. Bà ký vào một trong những kiến nghị đầu tiên đòi quyền bỏ phiếu của phụ nữ vào năm 1868. Trước bạo lực kinh hoàng trong chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 – 71, bà lên tiếng tranh luận rằng khoa học thường xuyên bị lạm dụng vì mục đích quân sự. Bà cũng tiên đoán sự tuyệt chủng của phần lớn thế giới động vật do hành động của con người: “Con người, chúa tể của tạo hóa, sẽ hủy diệt những sinh vật cao quý trên trái đất này, nhưng bản thân họ rồi cũng sẽ trở thành nô lệ cho sâu bọ và ruồi muỗi mà thôi”.  Những bài học chính của bà dành cho độc giả là về tự học, năng lực của phụ nữ và tầm quan trọng của nhân cách. Và điều đó được thể hiện tuyệt vời qua hồi ký Những hồi tưởng cá nhân, từ giai đoạn đầu đến tuổi già (Personal Recollections, from Early Life to Old Age) của Mary Somerville. Nó đã trở thành  một bộ sách kinh điển của phụ nữ thời Victoria, về giai thoại về những sự khó khăn và rồi vinh quang của một người làm khoa học, được sử dụng rộng rãi như một giải thưởng cho những người có thành tích học tập xuất sắc. Sự ủng hộ của Somerville đối với quyền của phụ nữ trong giáo dục và bầu cử đã làm cho câu chuyện cuộc đời của bà trở thành ý nghĩa mới đối với những người đương thời, đặc biệt là phụ nữ theo đuổi việc học. Khi bà qua đời năm 1872, cuốn sách toán học quý giá của bà đã được trao lại cho Girton College tại Đại học Cambridge, và vào năm 1879, trường đại học dành cho phụ nữ đầu tiên ở Oxford được đặt tên theo Mary Somerville, như một cách để vinh danh bà.  ***  Cũng giống như Ada Lovelace, Émilie du Châttelet hay biết bao những nhà nữ khoa học xuất sắc khác, Somerville chỉ được coi như một trường hợp cá biệt trong một xã hội vốn được đặc trưng bới tính nam trị và dưới sự kiểm soát từ những “người đàn ông của khoa học” chứ không hề được phân tích trong bối cảnh của những vấn đề khác, chẳng hạn như là sự định hình vật lý như một ngành khoa học hay sự chuyển đổi vai trò xã hội của khoa học. Những định kiến này có xu hướng cô lập phụ nữ khỏi dòng chính sử. Sự xuất chúng của họ thường bị bóp méo hoặc hạ thấp, ngay cả trong những lĩnh vực mà họ có vai trò trung tâm của câu chuyện.  Đinh Hạnh Duyên lược dịch  Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học hiệu đính  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.3817       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyến về nước đầu tiên      Lời tựa: GS. Lê Dũng Tráng bảo vệ bằng tiến sĩ khoa học tại Paris năm 1971 và là người có học vị này trẻ nhất ở Pháp thời bấy giờ. Ngay khi có những đồng lương đầu tiên năm 1972, ông quyết định về thăm Việt Nam khi đó còn đang trong chiến tranh. Bài viết này kể lại những trải nghiệm của chuyến đi này. Ông đã dùng toàn bộ tiền tiết kiệm của mình để tiếp tục về Việt Nam trong những năm sau đó để giúp toán học Việt Nam tiếp cận với toán học phương Tây. Ông đã giúp Hội Toán học Việt Nam gia nhập Hội Toán học thế giới và đưa nhiều nhà toán học Pháp đến Việt Nam trong những năm 1970.      Giáo sư Tạ Quang Bửu, giáo sư Lê Dũng Tráng ((thứ hai và thứ ba từ trái sang) trong đoàn đi thăm rừng Cúc Phương. Nguồn: Viện Toán học.   Chuyến đi từ Pháp của tôi tới Việt Nam vào năm 1972 là một trong những chuyến đi dài nhất thời bấy giờ.   Khi đó, có nhiều lựa chọn khác ngoài tàu. Đi máy bay là một lựa chọn khó khăn bởi đang có chiến tranh. Tôi có thể đi tới Bangkok hoặc Vientiane rồi đi máy bay tới Hà Nội. Thời đó, sân bay ở Gia Lâm. Tôi chọn đi máy bay tới Moscow rồi đi tàu hỏa từ Moscow tới Hà Nội. Bây giờ, người ta quên mất là chiến tranh Việt Nam còn gắn liền với Chiến tranh Lạnh. Điều này làm cho các chuyến đi về phía “phe xã hội chủ nghĩa” trở nên phức tạp. Tôi quyết định sẽ bay tới Copenhagen trước, nơi tôi có vài người bạn. Một trong số họ, Knud Lønsted1, quen biết Yuri Manin, một nhà toán học Nga có tiếng. Ông đã nhờ tôi gặp Manin và gửi cho ông ấy một món quà và một lá thư.  Tôi ở lại Copenhagen vài ngày. Tôi mua một chiếc xe đạp cũ. Đó hẳn phải là chiếc xe đạp duy nhất loại đó ở Việt Nam. Để phanh thì cần phải đạp ngược lại và khóa chiếc xe là khóa số. Tôi bay tới Moscow vài ngày sau đó. Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam đón tôi. Người ta cho tôi ở trong một trong những nơi mà người Việt nối chuyến bay qua Moscow ở đó.  Tôi gặp Manin tại quán cà phê National tại Quảng trường Đỏ. Chúng tôi đợi vợ tương lai của ông tới từ Leningrad. Chúng tôi làm quen với nhau trong khi ăn bánh blini và trứng cá hồi mà chúng tôi có thể gọi được ở quán National. Tôi hỏi Manin là có sinh viên Việt Nam ở đây không. Ông cười và bảo tôi rằng sinh viên Việt Nam là các sinh viên thuộc dạng hữu nghị và chỉ có các giáo sư muốn được Đảng đánh giá tốt thì mới nhận những sinh viên đó thôi. Chúng tôi đã tranh luận về chủ đề đó. Tôi đã thuyết phục ông nhận một sinh viên nếu như tôi tìm được một người mà tôi cho là tốt. Ông đã nhận lời.  Vài ngày sau, tôi đi tới Bắc Kinh trên chuyến tàu xuyên Siberia. Đến nửa tàu là người Việt. Hành trình kéo dài bảy ngày. Tôi có thời gian để làm quen với vài người bạn mới trong chuyến đi. Rất nhanh, tôi được giới thiệu với Tạ Quốc Quang đến từ Đông Đức, con trai của Tạ Quang Bửu, người mà tôi đúng ra phải biết bởi ông là Bộ trưởng chịu trách nhiệm về việc mời tôi về. Tạ Quốc Quang rất dễ chịu và chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè. Tất nhiên tôi không dám hỏi bố cậu ta là ai. Với sự thiếu hiểu biết của một người Việt Nam học tại Pháp, tôi không hề biết rằng Tạ Quang Bửu từng là thư ký của Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Võ Nguyên Giáp, người ký hiệp định Genève năm 1954 và vào thời điểm mà tôi trở về Việt Nam, ông là Bộ trưởng Bộ Đại học. Và thế giới thật nhỏ bé, Tạ Quang Bửu biết rõ Hoàng Xuân Hãn, cùng khóa với tướng Mahieu, người đã giúp tôi bỏ trường Bách khoa dễ dàng hơn.  Tôi đã quen rất nhiều người Việt Nam trong chuyến đi này, mặc dù tôi nói một thứ tiếng Việt rất tệ. Tôi vẫn còn giữ lại được từ thời thơ ấu khả năng hiểu tiếng Việt, nhưng tôi gặp rất nhiều khó khăn để nhớ từ mới và nhất là phát âm. Nhưng tôi vẫn giữ niềm tin là dù có thế nào thì tôi vẫn có thể giao tiếp được. Thêm vào đó là thời gian này, vẫn còn những người biết một chút tiếng Pháp.  Chúng tôi tới Bắc Kinh, nơi có một bí thư thứ nhất Đại sứ quán đón tôi. Tôi không biết rằng Trung Quốc vẫn đang trong thời kỳ Cách mạng văn hóa. Người ta đang chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng thống Bhutto của Pakistan, người sẽ đến đây trong tuần khi tôi qua Bắc Kinh. Tôi chỉ biết tới ông ta qua đài vô tuyến đặt tại khách sạn và ngày ông ta tới, quảng trường Thiên An Môn đối diện với cổng vào Tử Cấm Thành sẽ đóng cửa đối với những người hiếu kỳ, và ở Bắc Kinh thì có rất nhiều người như vậy. Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon được dự kiến vào cuối tháng hai.  Tôi không quên lời hứa với Rene Thom2 tìm một người Trung Quốc mà ông biết, Ngô Văn Tuấn (Wu Wen Tsun). Do người này là viện sĩ Viện Hàn lâm nên tôi nghĩ rằng sẽ dễ tìm. Tôi xin Đại sứ quán Việt Nam tổ chức cho tôi một cuộc gặp với nhà toán học Ngô Văn Tuấn, người nổi tiếng với khái niệm lớp đặc trưng Wu trong Tôpô đại số. Trong khi chờ đợi, Đại sứ quán đưa tôi đi thăm Tử Cấm Thành và Vạn Lý Trường Thành.  Tôi gặp Ngô Văn Tuấn vài ngày sau trong những gì còn sót lại của tòa nhà của Viện Hàn lâm Khoa học. Ngô Văn Tuấn được hộ tống bởi một “phiên dịch”, người dường như kiểm soát những gì mà Ngô Văn Tuấn nói với tôi. Viện Hàn lâm Khoa học đã từng chịu cơn thịnh nộ của Hồng vệ binh. Các viện sĩ đã bỏ trốn hết, nhưng phía Trung Quốc vẫn muốn rằng cuộc gặp diễn ra tại địa điểm gần như bị phá hủy này. Trong cuộc gặp, do không có cửa, một người đàn ông có vẻ là nông dân đang nấu ăn tại căn phòng bên cạnh, đi vào, ngửi ngửi Ngô Văn Tuấn, phiên dịch, và chính tôi rồi lại đi ra. Điều này giống như trong một bộ phim siêu thực vậy. Chúng tôi nói về tất cả mọi thứ với Ngô Văn Tuấn. Ông hỏi tôi tin tức về Thom, hỏi xem có gì mới trong Toán học ở phương Tây. Tôi cho rằng phần lớn cuộc nói chuyện của chúng tôi là để làm cho phiên dịch kia yên tâm. Đặc biệt là dù Ngô Văn Tuấn nói tiếng Pháp rất tốt, chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Anh.  Chuyến thăm quan Tử Cấm Thành của tôi cũng có vài điều siêu thực. Chỉ có tôi, bí thư thứ nhất Đại sứ quán và hướng dẫn viên. Chúng tôi có hẳn hai giờ để thăm thú cung điện khổng lồ đó. Khi tôi nghĩ tới việc hàng nghìn người chen lấn để vào và ra khỏi Tử Cấm Thành ngày nay, tôi coi chuyến thăm này như một kỷ niệm quý giá. Chuyến thăm Vạn Lý Trường Thành cũng vắng bóng khách du lịch y như vậy.    Giáo sư Lê Dũng Tráng chụp ảnh học sinh đi học khi trở về thăm quê.  Tôi dành thời gian còn lại của chuyến đi để đi dạo ở Bắc Kinh. Trời đẹp nhưng lạnh. Không khí rất trong lành và khác với tình hình hiện nay. Ở đó, có một loại chợ trời nơi người ta bán những chiếc bình cổ và những vật dụng linh tinh khác mà người ta muốn bỏ đi vì sợ Cách mạng văn hóa. Có những chiếc bình thời Minh, những chiếc ấn ngọc, đồ trang sức cổ mà chắc chắn là bây giờ đáng giá cả một gia tài. Tôi không có tiền trong người, chứ nếu tôi tận dụng được cơ hội hiếm có đó thì tôi đã giàu rồi.  Tôi cũng mua vài thứ để đem về cho dì tôi, em của mẹ tôi sống ở Việt Nam. Tôi không biết nên mua gì, nhưng tôi cho rằng những thứ hữu ích nhưng khó kiếm là tốt hơn cả. Trái ngược với những gì ta tưởng tượng về Cách mạng văn hóa, vẫn còn các cửa hàng tại Bắc Kinh. Tôi mua bát đĩa sứ Trung Quốc, chăn len và một chiếc va li. Các cô bán hàng của cửa hàng đồ sứ rất phấn khởi. Tôi cho rằng đó là vì Cách mạng văn hóa đã đuổi hết khách hàng của họ đi. Dù sao thì tôi cũng ra khỏi cửa hàng với cảm giác rằng những người bán hàng Trung Quốc tốt hơn là những người đồng nghiệp Xô Viết của họ.  Vài ngày sau, tôi lên tàu về Hà Nội với chiếc xe đạp và những thứ mà tôi đã mua cho gia đình người dì ruột của tôi. Chuyến đi này chỉ kéo dài ba ngày. Tôi nhớ rằng, tôi đã đi dọc tàu để thăm thú giống như trên tàu xuyên Siberia. Tôi nhận ra rằng phía đuôi tàu chỉ dành cho người Trung Quốc. Tôi đi qua một toa, rồi hai toa, nhưng tới toa thứ ba, người gác tàu hiểu rằng tôi không phải người Trung Quốc và đã hét lên với tôi bằng tiếng Trung rằng tôi phải đi về toa của mình. Để chắc chắn rằng tôi đã hiểu, anh ta dí khẩu súng tiểu liên của anh ta vào bụng tôi để đẩy tôi đi. Tôi không học được mấy thứ khi còn ở trường Bách khoa, nhưng tôi cũng học được là một khẩu tiểu liên thường cướp cò, cho nên tôi chuồn đi nhanh nhất có thể mà không cố hiểu tiếng Trung làm gì.  Khi tới biên giới Lạng Sơn, khổ đường sắt giữa Trung Quốc và Việt Nam thu hẹp lại nên chúng tôi phải đổi tàu. Tất cả hành lý của sinh viên hay những người Việt Nam khác mang về từ nước ngoài được chuyển từ tàu này sang tàu khác. Những người Việt Nam giúp đỡ nhau và việc này diễn ra khá nhanh chóng. Nhưng đó là vào buổi đêm và tôi rất mệt. Tôi lả đi trên đống đồ đạc. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Tới Lạng Sơn, các hành khách mới lên tàu. Điều này làm tôi thức giấc. Những từ tiếng Việt đầu tiên mà tôi nghe thấy khi trở về Việt Nam là tiếng của hai bà già chửi nhau.  Đoàn tàu tới Hà Nội lúc 10 giờ. Tôi nhìn thấy chú và dì tôi tìm tôi giữa các hành khách. Do tôi rất cao đối với một người Việt Nam, 1m80, họ nhanh chóng nhìn thấy tôi. Sau ba tuần di chuyển, cuối cùng tôi cũng tới nơi. Hà Nội với những căn biệt thự nhỏ với tôi giống như một thành phố biển ở Pháp vậy. Ga thì giống như một nhà ga tỉnh lẻ ở Pháp. Trên phố, chỉ có xe đạp. Chính phủ đã mời tôi, tôi cũng chưa rõ là Ủy ban Khoa học nhà nước hay là Bộ Đại học, gửi cho tôi một chiếc xe ô tô, một thứ xa xỉ vào thời đó. Thứ xa xỉ đó vốn chỉ được dành cho các cán bộ từ thứ trưởng trở lên. Giáo sư (chỉ có hai giáo sư toán3) có cấp bậc ngang với thứ trưởng. Do vậy, chiếc xe có thể là của Lê Văn Thiêm. Điều này đã xảy ra quá lâu rồi đến nỗi tôi không thể nhớ được nữa. Chiếc xe chở tôi về khách sạn Thống Nhất, ngày nay tên là Métropole. Đó là khách sạn tốt nhất Hà Nội. Các phòng rất rộng. Trong phòng có một phòng tắm với bồn tắm. Dưới tầng có một nhà hàng nơi tôi dùng bữa. Và còn có cả một quầy bar nhỏ, nơi tôi đã quen với những người hay lui tới. Tôi vừa bước vào một thế giới khác với những gì tôi quen thuộc và tôi sẽ phải học cách quen.  Những ngày đầu tiên để lại cho tôi một cảm giác lẫn lộn. Tôi vui mừng vì được biết gia đình dì tôi. Dì Kim, em gái của mẹ tôi, đã kết hôn vào năm 1956 trước khi trở về Việt Nam. Tôi đã dự đám cưới đó khi còn nhỏ. Điều này đã để lại trong tôi một ký ức sâu đậm bởi vì tôi thấy chú tôi, chồng của dì, yêu dì rất nhiều. Mẹ tôi đã rất lo lắng cho người em sẽ sống dưới bom đạn Mỹ này.  Tôi có ba người anh chị em họ, hai nữ và một nam. Người em trai họ của tôi có vấn đề về gan và tôi đã thử thuyết phục một người em của mẹ tôi để đem cậu ấy sang Pháp phẫu thuật. Tôi có, như người ta nói, những cảm giác gần gũi với gia đình mới của mình. Nhưng gia đình này giữ với tôi một kiểu cư xử lẩn tránh. Do tôi không quen việc mọi người cư xử vừa nồng nhiệt lại vừa dè dặt, tôi cảm thấy không thoải mái. Cái cảm giác không thoải mái đó chỉ càng tăng thêm vào những ngày sau đó.  Sau ngày tôi về một hôm, tôi gặp Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Khi tôi tới, ông vừa cười vừa nói với tôi rằng ông đón tiếp tôi không phải với tư cách Bộ trưởng mà với tư cách là cha của Tạ Quốc Quang, người mà tôi đã quen trên chuyến tàu xuyên Siberia. Còn vài ngày nữa là đến Tết, cho nên tất cả các gia đình Việt Nam đều cố gắng để sum họp. Ở đó có ông Bộ trưởng, vợ ông, Tạ Quốc Quang, một người em trai của Quang mặc quân phục và em gái của cậu, Mai. Tôi nhớ rằng Tạ Quang Bửu nói với tôi rằng ông còn một người con trai nữa không có nhà do nghĩa vụ quân sự.  Chúng tôi nói với nhau nửa tiếng Việt, nửa tiếng Pháp, thứ tiếng mà Tạ Quang Bửu nói rất tốt. Tôi nhớ rằng ông đã nói tới Noam Chomsky3 và Grothendieck4. Thực tế là hiện giờ những kỷ niệm của tôi đã lẫn lộn và trở lại trong trí nhớ của tôi là những mẩu đối thoại khác mà tôi có với Tạ Quang Bửu. Nhưng dù gì thì tôi cũng nhớ rằng ông đã thông báo rằng tôi sẽ là nhân vật chính trong một cuộc gặp Hội Toán học Việt Nam một hai ngày sau đó và có một vấn đề về phiên dịch. Ông vừa cười vừa nói với tôi rằng nếu không thể tìm được người khác, ông sẽ làm phiên dịch.  Hai ngày sau, tức là ba hoặc bốn ngày sau khi tôi về, đúng là đã có một cuộc gặp với Hội Toán học Việt Nam trong một căn phòng lớn của Ủy ban Khoa học nhà nước. Khán phòng chật kín. Có hai hoặc ba trăm người, hình như tất cả đều là các nhà toán học. Tôi nghĩ rằng Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu cũng có ở đó. Tôi biết đến cái tên Phan Đình Diệu từ Paris, bởi ông đã viết một cuốn sách về logic được Viện Steklhov ở Moscow xuất bản và đã được dịch sang tiếng Anh. Giáo sư Lê Văn Thiêm là chủ tịch Hội. Tôi biết Lê Văn Thiêm là cựu học sinh trường Sư Phạm Paris, đã bảo vệ luận án tiến sĩ nhà nước tại Paris. Ông quen Rolf Nevanlinna5 tại Zurich, nơi ông này giảng dạy sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó ông đã tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp vào năm 1949.  Giáo sư Lê Văn Thiêm bắt đầu bằng một bài giới thiệu tôi, một dạng sơ yếu lý lịch kiểu Việt Nam. Ông giải thích rằng gia đình tôi đến từ Thanh Hóa, rằng cậu tôi là một trong những người cộng sản đầu tiên6. Cậu tôi đã cắm lá cờ của Đảng cộng sản lên mái Trường trung học Vinh để kỷ niệm Cách mạng tháng Mười trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Ông bị quân Pháp bắt và giết hai năm sau đó tại nhà tù Quy Nhơn. Bố tôi sang Pháp năm 1949 cùng với mẹ tôi và tôi lúc đó còn nhỏ với một học bổng để học sinh học. Tôi im lặng và mỉm cười trong suốt bài giới thiệu. Tôi biết những sự kiện đó, bởi vì bố tôi đã kể cho tôi. Tôi bối rối bởi vì không bao giờ người ta nhắc tới mẹ tôi. Đó là một sự đối lập, mẹ tôi đến từ một gia đình giàu có và danh giá của Việt Nam ngày xưa và bà mới chính là người giữ gìn ngọn lửa bảo vệ Tổ quốc. Mẹ tôi học Dược, điều hiếm có vào thời đó. Tôi cho rằng, em gái của bà ở Việt Nam cũng đã làm như vậy để theo gương chị mình.  Tôi trình bày về các siêu mặt phức. Về sau, tôi mới hiểu rằng đó không phải là cái mà tôi nên làm. Tuy nhiên, các khán giả không tỏ ra không có ấn tượng xấu về bài giảng. Ông Trần Văn Nhung, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, luôn nhắc lại với tôi cái ngày mà ông Tạ Quang Bửu làm phiên dịch cho tôi. Ông Nhung nói rằng ấn tượng về ngày đó là một kỷ niệm tuyệt vời. Cuối cùng, cái gì còn đọng lại mới là quan trọng nhất.  Nhìn chung, cuộc gặp gỡ của tôi với Bộ trưởng Tạ Quang Bửu không mang tính nghi thức. Điều này có tầm quan trọng rất lớn về sau. Cảm giác không thoải mái vốn làm cho tôi lo lắng ngày càng nhiều không hề rời bỏ tôi mặc cho sự thấu hiểu giữa tôi và Tạ Quang Bửu. Tôi có hỏi chú tôi. Tôi thường xuyên đến nhà chú và dì tôi. Tôi mang về một chiếc xe đạp từ Đan Mạch. Điều này giúp tôi có thể di chuyển tại Hà Nội mà không cần đến một chiếc xe ô tô công vụ. Chú tôi thú nhận rằng, mỗi lần tôi đến thăm là họ phải khai báo với bên an ninh. Tôi nhận ra rằng lần nào tôi ra ngoài, tôi cũng bị theo dõi. Ngay khi có cơ hội, tôi đã nói cảm giác của tôi với Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Thật kì diệu, sau đó, cảm giác không thoải mái của tôi đã biến mất.□  (Còn nữa)     PGS. TS Nguyễn Việt Dũng Viện Toán học dịch  GS. Ngô Việt Trung Viết lời tựa và hiệu đính  ——-  1. Nhà toán học Đan Mạch.  2  Nhà toán học Pháp, giải Fields 1958, đến thăm miền Bắc Việt Nam năm 1967.  3. GS Lê Văn Thiêm và GS Tạ Quang Bửu.  4.  Nhà bác học Mỹ nổi tiếng về việc dùng toán học phân tích ngôn ngữ, đến thăm miền Bắc Việt Nam năm 1970.  5. Nhà toán học Phần Lan nổi tiếng về các công trình trong lĩnh vực Giải tích phức.  6. Ông Lê Văn Bảo, đảng viên Đảng cộng sản năm 1930.    Author                Lê Dũng Tráng        
__label__tiasang Chuyện về ông Phật làm súng      Ông Trần Thành Đức ngưỡng mộ GS Trần Đại Nghĩa từ những ngày còn đi học, rồi có may mắn được làm thư ký riêng của Giáo sư (1968-1971). Giờ đây, khi đã 74 tuổi, ông Đức vẫn lặn lội từ miền Nam ra Hà Nội để thu thập tư liệu, hoàn thiện cuốn sách ông viết về GS Trần Đại Nghĩa để thỏa tâm nguyện và bày tỏ tấm tình của một thư ký, một người học trò. Mới đây, chúng tôi có dịp gặp ông và được nghe ông chia sẻ những cảm nghĩ, ký ức về người thủ trưởng của mình năm xưa.    Đào tạo đội ngũ cán bộ quân giới      Theo ông Trần Thành Đức, công lao lớn nhất của GS Trần Đại Nghĩa không chỉ là chế tạo ra súng Bazooka mà ông còn đào tạo được một đội ngũ cán bộ đầu tiên cho ngành Quân giới ở nước ta, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành Quân giới. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), tình hình chiến sự vô cùng phức tạp, Pháp quay trở lại chiếm đóng Hà Nội, các cơ quan Đảng, Nhà nước và Quân đội phải tạm rút vào khu vực Hà Đông để chuẩn bị lên An toàn khu (ATK). Thời gian này, Cục Quân giới lúc đầu chuyển về Bình Đà, sau đóng tại một trường tiểu học của huyện Ứng Hòa. Bất chấp khó khăn do hoàn cảnh, tại đây GS Trần Đại Nghĩa đã cho hoàn thiện, sửa những nhược điểm của súng Bazooka (trước đó đã thử nghiệm ở Xưởng Giang Tiên, Phú Lương, Thái Nguyên) và cho bắn thử thành công. Căn phòng nơi ông ở, dưới gầm giường, xung quanh đều là những vật liệu thuộc về vũ khí … Những người đầu tiên được GS Nghĩa lên lớp giảng bài khi ấy là: Lê Khắc1, Hoàng Xuân Tùy2, Phạm Đồng Điện3, Hoàng Đình Phu4, Nguyễn Văn Thu5, Tôn Thất Hoàng,… Những người này sau đều trở thành cán bộ cốt cán và có vai trò nhất định trong nền Công nghiệp quốc phòng của nước ta. Giáo sư Trần Đại Nghĩa trực tiếp giảng dạy những kiến thức cơ bản về nội phao, ngoại phao mà nội dung là lý thuyết chuyển động của đạn trong nòng súng và ngoài khí quyển, các tính năng của thuốc nổ, thuốc phóng,… Ông chính là người đầu tiên truyền thụ cho những cán bộ này kiến thức về kỹ thuật vũ khí, xạ thuật, chất cháy, chất nổ, những vấn đề chưa có trong chương trình đào tạo đại học và cao đẳng ở Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám. Những bài giảng  của Giáo sư đều có tính chọn lọc, vừa cơ bản, vừa thiết thực; vừa học lý thuyết vừa bắt tay ngay vào tính toán thực hành. Đây là cơ sở lý luận đầu tiên giúp cho cán bộ nghiên cứu tiếp tục tự học, nâng cao trình độ của mình.  Ông Trần Thành Đức còn nhớ một đoạn trong cuốn sách GS Nguyễn Văn Đạo6 viết về những ngày GS Trần Đại Nghĩa giảng dạy khi Cục Quân giới sơ tán về Ứng Hòa, Hà Tây, cuối năm 1946, đại ý: Thời gian đầu, anh Nghĩa lên lớp mỗi ngày một buổi sáng. Thầy đứng giảng bài dùng hai thứ tiếng Pháp, Việt xen lẫn. Lớp học không có bàn ghế, bảng đen. Trò ngồi bệt trên nền gạch, sổ ghi chép đặt lên đùi. Buổi chiều anh em tự học, làm bài tập, tự nghiên cứu thêm tài liệu hoặc làm quen với công việc nhồi lắp và thử đạn dưới sự điều khiển trực tiếp của anh Nghĩa. Bài giảng do anh soạn một phần dựa vào một số ít tài liệu mà anh luôn mang theo người cùng cây thước tính và bao thuốc lá Philip Morris…7              Thơ tặng               Giáo sư Trần Đại Nghĩa              Nghĩa lớn gọi về với nước non              Buồn vui đã trải cuộc vuông tròn.              Rèn tài văn võ thời phiêu bạt              Gánh việc giang san thuở mất còn.              Tình nặng, ấy chưng tình đất nước              Nghiệp đời há kể nghiệp vàng son.              Gốc thông đứng thẳng dầu mưa gió              Để gió lành reo ngát nước non.   GS. Phan Đình Diệu           Sau lớp học này, GS Trần Đại Nghĩa còn tiếp tục mở một lớp giảng dạy khác ở Bắc Kạn vào khoảng năm 1947, lớp học có khoảng 120 người, đến từ nhiều nơi. Ông đã dạy lại nguyên lý chế tạo súng Bazooka, các vấn đề cơ bản của vũ khí. Trong điều kiện khó khăn, ông đã ý thức xây dựng một đội ngũ cán bộ kế cận nhằm phục vụ cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta.       Năm 1969, với chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, có một lần GS Trần Đại Nghĩa đã bảo tôi tìm gặp GS Hoàng Tụy8 để mượn cuốn sách tiếng Nga: Vận trù học trong quân sự. Sau đó Giáo sư yêu cầu tôi lược dịch nội dung trình Thủ trưởng, ông khen cuốn sách rất tốt và yêu cầu gửi cuốn sách này xuống cho ông Hoàng Đình Phu, dịch thành sách để phổ biến cho sĩ quan trong Quân đội. Điều này cho thấy tầm nhìn của GS Trần Đại Nghĩa, ngay trong điều kiện chiến tranh đã lo đến việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm xây dựng, phát triển đất nước khi hòa bình lập lại.      Một thủ trưởng bình dị      Trong những năm đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp thì lớp học sinh chúng tôi ai ai cũng biết đến Trần Đại Nghĩa. Thời kỳ đó quân Pháp có vũ khí tối tân, có xe tăng đại bác nhưng quân dân ta thì chỉ có vũ khí thô sơ. Vì thế, nghe tin Bác Hồ đã đưa về nước một kỹ sư chế tạo vũ khí rất giỏi, làm nao nức mọi người. Sau đó một thời gian ngắn thì tin Bazooka, SKZ giành chiến thắng vang dội trên các chiến trường đã bay nhanh về hậu phương. Câu chuyện về chế tạo vũ khí hiện đại giữa núi rừng Việt Bắc trong điều kiện gian khổ để đánh lô cốt, đánh xe tăng địch, xem như một huyền thoại. Toàn quân và dân đều khâm phục nhà bác học Việt minh Trần Đại Nghĩa. Lớp học sinh chúng tôi và giới trí thức trẻ xem ông là thần tượng… Khi trước mặt mình là GS Trần Đại Nghĩa thì tôi cảm thấy run vô cùng. Tôi không ngờ là ngày hôm đó tôi được đồng chí Cục phó Cục Cán bộ đưa đến giới thiệu với Giáo sư Nghĩa: “Thưa Giáo sư, đây là kỹ sư Đức ở Nhà máy Z2, một người giỏi tiếng Nga theo yêu cầu của Giáo sư và cũng rất am hiểu vũ khí”. Lúc đó, tôi run lắm vì đã từng được nghe nói Giáo sư nổi tiếng là trí tuệ bác học, hiểu biết rất sâu sắc về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, còn mình mới tốt nghiệp kỹ sư được vài ba năm, vốn liếng kinh nghiệm còn ít ỏi nên lúc đó thật sự là rất sợ. Sợ vì không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cũng sung sướng vì ít nhất mình cũng được gần một nhà khoa học lớn để mình có thể học tập.         Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (1913–1997) –   một kỹ sư quân sự, một nhà khoa học lớn, cũng như một nhà quản lý khoa  học kỹ thuật cấp cao, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.              Ông tên thật Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia  đình nhà giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.              * Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học  tại các trường: Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại  học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc  tại Viện nghiên cứu máy bay. Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng  chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.              * Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Pháp thương thuyết với Bộ  trưởng Thuộc địa Marius Moutet. Ông cùng với kỹ sư luyện kim Võ Quý  Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước theo Hồ Chủ tịch về nước, tham gia tổ chức,  chế tạo vũ khí cho quân đội tại núi rừng Việt Bắc.              * Tên Trần Đại Nghĩa của ông do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt dựa theo  họ Trần của tướng Trần Hưng Đạo và Đại Nghĩa có nghĩa là việc làm vì  dân.               * Ông là người đã chế tạo các loại súng Bazooka bắn xe tăng – nỗi khiếp  sợ của nhiều xe tăng Mỹ – Pháp; và nhiều loại bom đạn khác.              * Ông từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng  cục Hậu cần, Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến  thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước,  Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch  đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ  1983-1988), Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại  biểu Quốc hội khoá II, III.              * Ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên năm 1948. Ông  đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lao động  năm 1952.          Kỷ niệm trong những ngày đầu làm việc với GS Trần Đại Nghĩa là tôi gọi Giáo sư bằng thầy, bằng thủ trưởng. Sau đó một thời gian Giáo sư bảo ở trong Quân đội, trong Tổng cục Hậu cần, ông Đinh Đức Thiện9 thống nhất các thư ký gọi các thủ trưởng bằng anh. Từ đó trở đi tôi gọi Giáo sư Nghĩa bằng anh xưng em, mặc dù tôi kém tuổi Thủ trưởng Nghĩa rất nhiều. Những ngày sau đó, khi thấy tôi băn khoăn hoặc rụt rè, GS Nghĩa động viên: “Cứ yên tâm đừng hồi hộp, cái gì chưa biết thì hỏi, đừng ngần ngại, tôi biết chú là một sinh viên xuất sắc, giỏi đấy, chú cố gắng làm, lo đọc các Tạp chí quân sự của Nga”. Giáo sư Trần Đại Nghĩa là người thông thạo tiếng Pháp, Đức, Anh, cần thư ký biết tiếng Nga để giúp Giáo sư phần tư liệu tiếng Nga. Dần dần tôi cũng quen việc của một người thư ký. Giáo sư Nghĩa yêu cầu tôi phải cố gắng hàng tuần, hàng tháng đọc tạp chí và báo cáo cho Giáo sư những thông tin mới. Làm việc với GS Trần Đại Nghĩa, điều đầu tiên tôi học được ở Giáo sư là phương pháp làm việc vì hồi đó tôi chưa có khái niệm gì về phương pháp làm việc khoa học. Giáo sư Nghĩa hướng dẫn tôi từ cách sắp xếp như thế nào để không sót việc và để nhớ việc, tiếp nữa là phải có ưu tiên, việc nào giải quyết trước, việc nào giải quyết sau. Điều đầu tiên mà tôi luôn ghi nhớ là lời dặn: “Mỗi vật có một chỗ và mỗi chỗ dành cho một vật”. Câu nói tưởng chừng rất đơn giản nhưng rất hay, rất chí lý.      Là một nhà khoa học, một vị tướng nhưng GS Trần Đại Nghĩa lại có một lối sống hết sức bình dị. Mặc dù nghe danh và ngưỡng mộ GS Trần Đại Nghĩa từ khi còn là một cậu trò nhỏ nhưng đến khi được gặp GS Nghĩa thì tôi không thể tin nổi, cứ tưởng đó chỉ là một vị trưởng lão hiền lành mà thôi. Làm việc với Giáo sư Nghĩa tôi còn học được ở người thủ trưởng một tấm gương về đạo đức, cái tâm trong sáng và lối sống hết sức bình dân. Tôi nhớ dạo đó là cuối năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt, có sáng kiến chuyển gạo bằng dây cáp từ phía Bắc bờ sông Bến Hải sang bờ sông phía Nam, việc này được thiết kế và thử nghiệm ở Xuân Mai. Một hôm vào 4 giờ chiều, tôi nhận được điện của Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài mời GS Trần Đại Nghĩa đi máy bay trực thăng lên Xuân Mai. Lúc đó tôi sung sướng, tưởng chuyến này mình sẽ được đi trực thăng cùng Thủ trưởng nhưng sau đó GS Nghĩa yêu cầu tôi gọi điện lại cám ơn và từ chối lời mời của ông Phùng Thế Tài, sáng hôm sau hai thầy trò đi xe ô tô Com-măng-ca từ 4 giờ sáng để lên Xuân Mai.     Một lần khác tôi tháp tùng Thủ trưởng đi dạy ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, thầy trò đến trường sớm 15 phút, GS Trần Đại Nghĩa nói với tôi không nên vào, bởi: “Đến sớm làm phiền người ta, đến muộn là bất lịch sự, đến trước 5 phút thôi để người ta chuẩn bị”. Lại một kỷ niệm khác, hôm đó 7h30 Hội đồng Chính phủ họp, lúc 7h15 tôi nhận được điện thoại đón Thủ trưởng ở phố Cửa Nam. Đến địa điểm họp thì muộn 15 phút, GS Nghĩa nhìn đồng hồ và bảo tôi quay xe trở về. Tôi nói với Giáo sư: “Thưa anh, mới chậm có 15 phút”. Giáo sư bảo: “15 phút cũng về, bây giờ họp rồi, tự nhiên một người đi vào, phải báo cáo thưa các anh xe tôi hỏng à? Tốt nhất là tôi vắng mặt, báo cáo và nghe lại sau, vào như thế có lẽ Thủ tướng đang nói, làm cho Thủ tướng cũng không hài lòng và các ông Bộ trưởng khác cũng không hiểu tại sao nhà khoa học này lại đến muộn”.     Giáo sư Trần Đại Nghĩa rất ít nói, các câu chuyện được trao đổi chủ yếu là vấn đề chuyên môn, về các vấn đề khoa học kỹ thuật, công việc. Nhưng có một lần làm tôi hết sức ngạc nhiên và cảm động. Đó là một buổi chiều năm 1968, hôm đó trời mưa, nhìn ra cây dừa đẫm nước mưa phía trước phòng làm việc, Giáo sư nói: “Nhìn mưa rơi trên cây dừa mà tôi lại nhớ cái thời tôi ở với mẹ tôi tại Mỹ Tho. Mẹ tôi thương tôi lắm. Có một lần tôi đi về quên cái ô nên ướt hết, mẹ nhắc nhở tại sao như thế rồi lấy quần áo cho tôi thay”. Tôi băn khoăn tại sao hôm nay Thủ trưởng lại nghĩ đến chuyện thời thơ ấu của ông? Và tôi sực nhớ ra là đầu giờ chiều hôm đó ông Chánh văn phòng vào xin phép cho tôi được nghỉ một tuần để tôi về Nghệ An tìm và đưa mẹ tôi ở trong vùng chiến sự ra Hà Nội. Tôi cũng chỉ có hai mẹ con, cũng xa mẹ 8-9 năm rồi chưa được gặp lại. Có lẽ, vì được biết cậu thư ký của mình cũng chỉ có hai mẹ con, mà Giáo sư nhớ về thời xưa với mẹ và chị ở Mỹ Tho. Sau đó mấy ngày tôi đưa được mẹ ra Hà Nội, Thủ trưởng nhắc tôi: Nhớ làm sổ gạo cho cụ. Tôi rất cảm động và thấy mình sung sướng thật, được gần một thủ trưởng vừa có tri thức uyên bác, một nhân cách lớn, vừa có tấm lòng nhân ái giản dị.           ***  Khoảng thời gian được làm việc và ở bên cạnh GS Trần Đại Nghĩa là khoảng thời gian ông Trần Thành Đức không bao giờ quên, ông vừa được trau dồi tri thức, vừa học được nhân cách sáng ngời của người thủ trưởng. Với ông, GS Trần Đại Nghĩa lúc nào cũng như một ông Phật hiền lành, một nhà khoa học bình dị, một người thầy lớn.                  Ông Trần Thành Đức sinh năm 1939 tại Vinh, Nghệ An. Năm 1966, ông tốt nghiệp trường Đại học Thép và Hợp kim Moskva. Về nước ông làm việc tại Nhà máy Quốc phòng Z2, đóng ở Tuyên Quang. Từ năm 1968 đến 1971, ông được điều động về Hà Nội làm thư ký riêng cho GS Trần Đại Nghĩa – khi ấy là Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần. Trong những năm cuối đời của GS Trần Đại Nghĩa ở thành phố Hồ Chí Minh, ông Thành Đức vẫn thường xuyên lui tới để trò chuyện, tâm sự với người thầy của mình. Chính ông cũng là người ở bên, khâm liệm, rồi tiễn đưa thủ trưởng Nghĩa của mình đến nơi an nghỉ cuối cùng.              —  * Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam   1 Sau trở thành Đại tá, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước.   2 Sau là Thứ trưởng Bộ Đại học.   3 Sau là Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa.   4 Sau là Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam.   5 Sau là Viện trưởng Viện Công nghệ của Bộ Quốc phòng.   6 Nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội   7 Trần Đại Nghĩa – Ông Phật làm súng. Nguyễn Văn Đạo. H- Kim Đồng, 2005.   8 Nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam   9 Thượng tướng Đinh Đức Thiện (1914-1986), nguyên Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần, Bộ trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện Việt Nam gia nhập Hội Toán học thế giới      Giáo sư Lê Dũng Tráng – nguyên Giám đốc Khoa Toán của Trung tâm Vật lý lý thuyết ở Trieste và là người có công đầu trong việc thiết lập các mối quan hệ của toán học Việt Nam với phương Tây đã có chia sẻ những câu chuyện về việc Việt Nam gia nhập Hội Toán học thế giới.    Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ vào tháng 12 năm 1971, tôi xin được thị thực về thăm Việt Nam nhờ có sự giúp đỡ của bạn tôi là Bùi Trọng Liễu. Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh và không ai biết nó còn kéo dài bao lâu. Nhưng giống như tất cả các Việt kiều ở Pháp, chúng tôi tin chắc rằng Việt Nam sẽ giành chiến thắng.  Chuyến đi của tôi bắt đầu vào khoảng giữa tháng giêng năm 1972. Lúc đó, tôi mới 25 tuổi và tràn đầy tự tin. Khởi đầu là chuyến bay từ Paris đến Copenhagen. Ở Copenhagen, tôi gặp một người bạn làm toán và cậu ấy khuyên tôi nên gặp bạn của cậu ấy là Yuri Manin ở Moscow. Tôi đến Moscow bằng máy bay. Sứ quán Việt Nam xếp tôi ở trong một ký túc xá nơi dành cho những người từ Việt Nam dừng chân khi đi đến châu Âu và những người trên đường trở về nước.  Tôi gặp Manin ở Moscow trong một quán cà phê có tiếng ở Quảng trường Đỏ, tiệm Cà phê Quốc gia. Manin bấy giờ là một nhà toán học Nga rất nổi tiếng, ngay cả ở phương Tây.  Buổi gặp gỡ của chúng tôi rất thân mật và chân tình. Manin nói tiếng Pháp rất chuẩn. Ông kể là có một phố tên là Manin ở Paris và vị tổng trấn cuối cùng của Venise cũng mang họ Manin, nhưng bản thân ông không biết mình có quan hệ gì với hai vị đấy không. Tôi hỏi ông có học trò người Việt nào không. Ông vừa cười vừa nói với tôi là không vì ông chẳng bao giờ hướng dẫn một luận án chỉ vì tình đoàn kết. Tôi hỏi ông điều đó có nghĩa là gì. Ông giải thích cho tôi là những giáo sư nhận hướng dẫn các nghiên cứu sinh Việt Nam vì cần Nhà nước đánh giá tốt và họ không quan tâm đến chất lượng toán học. Chúng tôi đã tranh luận và đi đến kết luận rằng nếu tôi tìm thấy một sinh viên Việt Nam nào mà tôi thấy giỏi thì ông ấy sẽ sẵn sàng thay đổi quan điểm.    GS Tạ Quang Bửu, TS Lê Dũng Tráng đi thăm rừng Cúc Phương năm 1972.  Tôi đến Hà Nội một tuần trước Tết. Cậu mợ tôi đón tôi trên kè tàu ở nhà ga. Họ đưa tôi về khách sạn Thống Nhất là khách sạn tốt nhất lúc bấy giờ (nay là khách sạn Metropole).Tôi nghỉ ngơi một chútsau chuyến đi dài. Buổi tối gia đình tôi đến và đưa tôi đi thăm Hà Nội. Hai ngày sau tôi gặp giáo sư Lê Văn Thiêm. Ông giới thiệu với tôi một số nhà toán học trẻ đến nghe bài giảng của tôilàHà Huy Khoái, Lê Văn Thành, Lê Hùng Sơn và Nguyễn Văn Khuê. Chỉ có bốn người, nhưng đấy là một sự khởi đầu. Trong bốn người ấy, tôi chọn Hà Huy Khoái là sinh viên giỏi để gửi sang cho Manin.  Để nói về sự thiếu hiểu biết của một Việt kiều trẻ, cần phải kể rằng tôi không biết Tạ Quang Bửu là ai. Sau đó tôi mới phát hiện ra ông là bạn của Hoàng Xuân Hãn, một người bạn của ông bà tôi. Hoàng Xuân Hãn từng là học sinh của trường Bách khoa, một trường đại học lừng danh của Pháp, nơi đã không nhận học Evariste Galois vì Galois đã cho rằng những câu hỏi của giám khảo toán là quá sơ cấp và từ chối trả lời những câu hỏi này.  Tôi phát hiện ra Tạ Quang Bửu từng là trợ lý của Bác Hồ và tham gia ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Đông Dương chống Pháp. Tạ Quang Bửu cũng là người khởi xướng các kỳ tuyển sinh đại học ở Việt Nam. Nhưng trên hết ông ấy rất yêu toán. Tạ Quang Bửu đã gặp Noam Chomsky, một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Mỹ và cả Laurent Schwartz, một nhà toán học Pháp cấp tiến đã được giải thưởng Field. Laurent Schwartz đã giới thiệu Alexandre Grothendieckcũng là một nhà toán học được giải thưởng Fieldsvới Tạ Quang Bửu đểông nàyđến thăm Việt Nam năm1967.  Tạ Quang Bửu có một văn hóa toán rất rộng và chắc chắn ông đã trò chuyện với các vị khách mời này. Chắc hẳn ông là Bộ trưởng duy nhất trên thế giới hiểu được lược đồ (khái niệm do Grothendieck đưa ra trong Hình học đại số) là gì. Chúng tôi thường gặp nhau sau hai hoặc ba buổi tối và trò chuyện về toán học, về thế giới bên ngoài. Tạ Quang Bửu nói tiếng Pháp rất hay. Tôi chia sẻ với ông mong muốn của tôi được đóng góp cho sự phát triển toán học ở Việt Nam. Ông rất hào hứng ủng hộ tôi trong chuyện này.  Thời điểm đó, ông Trần Quỳnh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, là người chính thức mời tôi về nước. Ông ta đề nghị tôi đến phòng làm việc của ông ấy và chúng tôi nói chuyện trong khoảng nửa tiếng. Trần Quỳnh nói tiếng Pháp trôi chảy. Đến một lúc nào đó, ông đột nhiên hỏi tôi: “Tráng, anh muốn làm gì ở Việt Nam?” Tôi phải công nhận rằng tôi không chuẩn bị cho câu hỏi đó. Nhưng trong những cuộc trò chuyện với Tạ Quang Bửu tôi có nhận xét rằng Việt Nam nên có một nhà toán học được giải thưởng Fields. Sau một lúc im lặng, tôi trả lời Trần Quỳnh: “Làm sao để trong vòng 25 năm nữa Việt Nam có một giải thưởng Fields”. Tôi nghĩ rằng điều này làm Trần Quỳnh hài lòng vì ông ta cười. GS Ngô Bảo Châu nhận giải Fields năm 2010, như vậy tôi đã nhầm 13 năm.  Tôi có rất nhiều chuyện để kể về những cuộc gặp gỡ với Tạ Quang Bửu và các tác động của chúng đến sự phát triển toán học ở Việt Nam. Đặc biệt làôngđồng ý để tôi giúpViệt Nam tham gia Hội Toán học thế giới (IMU). Hội Toán học Việt Nam mới được thành lập trước đấyít lâu và Lê Văn Thiêm là vị chủ tịch đầu tiên. Vấn đề là phải đóng phí gia nhập này bằng tiền Franc Thụy Sĩ. Tôi đề nghị với ông Bửu là tìm kiếm sự giúp đỡ từ giới khoa học ủng hộ Việt Nam. Lúc đó là năm 1972 và Mỹ vẫn đang thả bom Việt Nam. Tôi rời Việt Nam vào tháng năm. Những tháng ngày còn lại của năm ấy thật là khủng khiếp. Cả Việt Nam chìm trong bom đạn. Ngay cả Hà Nội cũng bị dội bom B52.    Giáo sự Lê Văn Thiêm và giáo Hoàng Xuân Sính dự Hội nghi toán học thế giới ở Vancouver, Canada năm 1974.  Đầu năm 1973, phía Mỹ cuối cùng đã phải đồng ý rút quân khỏi Việt Nam. Họ đã ký Hiệp định Paris. Tôi nhận được một lá thư của David Mumford, một nhà hình học đại số,giáo sư Đại học Harvard (ông ta sau này nhận giải thưởng Fields năm 1974 (và là chủ tịchHội Toán học thế giới1995-1999), mời tôi sang thăm Đại học Harvard. Tôi trả lời ông rằng tôi rất cảm ơn và tôi sẽ suy nghĩ. Thực ra tôi chờ đợi cuộc trở về Việt Nam để quyết định.  Khi tôi quay về Việt Nam vào tháng 9 năm 1973, một trong những điều đầu tiên tôi hỏi Tạ Quang Bửu là cần phải làm gì với lời đề nghị này. Tôi còn nhớ Tạ Quang Bửu trong bộ đồ pijama, ngồi trên ghế phô tơi của mình, đôi mắt nhắm suy tư. Sau một phút, ông trả lời tôi: “Điều đó chỉ có thể tốt đẹp, hãy đi đi!”. Đó là lúc tôi quyết định sẽ đi Mỹ. Sau đó tôi kể với ông Tạ Quang Bửu về những thành quả của mình trong việc tìm kiếm kinh phí cho việc gia nhập IMU. Các Việt kiều ở Pháp đã gom góp được một số tiền. Những người bạn Mỹ cũng gửi tiền cho tôi. Chúng tôi đã thành công trong việc tập hợp được số tiền cần thiết. Khi biết tin này, Lê Văn Thiêm rất hào hứng và hỏi tôi có thể tham dự Đại hội Toán học thế giới năm 1974 diễn ra ở Vancouver hay không. Tôi trả lời ông rằng khó khăn là ở việc xin thị thực. Ông bảo tôi đừng lo chuyện đó mà cần tìm kinh phí trang trải cho chuyến đi.  Tôi rời Paris đến Mỹ vào đầu năm 1974 (lúc đó GS Tráng mới 27 tuổi). Heisuke Hironaka (giải thưởng Fields năm 1970) đón tôiở sân bay Boston. Tôi ở trên gác mái nhà của John Mather và đi một vòng quanh nước Mỹ, tiếp tục tìm kiếm sự ủng hộ của các nhà toán học Mỹ. Tôi qua New York, nơi tôi gặp lại Samuel Eilenberg, người đã dạy tôi một bài giảng trong khoá học tiến sĩ ở Paris. Tôi ở New York với Hyman Bass mà tôi đã từng gặp ở Nice trong Đại hội Toán học thế giới năm 1970 và gặp Masatake Kuranishi, Lipman Bers. Tôi đến Chicago gặp Philip Wagreich, rồi đến Urbana-Champaign gặp Robert Fossum, đến Ann Arbor gặp Charles Titus, đến Princeton thăm Viện nghiên cứu cao cấp và gặp Hassler Whitney. Hầu hết tất cả các nhà toán học ấy (đều là các nhà toán học hàng đầu của thế giới) đã đóng góp kinh phí cho đoàn Việt Nam dựĐại hội toán học thế giớiở Vancouver.  Nhưng thời điểm thú vị nhất diễn ra ở phía Bắc California. Năm 1974, Nhà Trắng bị nghi ngờ là đã tổ chức đột nhập văn phòng Ủy ban quốc gia của Đảng Dân chủ trong khu tổ hợp nhà Watergate năm 1972. Cuộc điều tra đang đi đến hồi kết.  Chuyến thăm Mỹ đầu tiên của tôi kết thúc vào tháng năm và tôi xin thị thực cho chuyến thăm thứ hai để tham dự một hội thảo về Hình học đại số và Đại hội toán học thế giới ở Vancouver. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ dễ dàng xin được cái thị thực thứ hai này. Tôi bị một nhân viên lãnh sự Mỹ chịu trách nhiệm an ninh triệu tập và anh ta nói thị thực của tôi bị xét chậm vì tôi đã tham dự vào một cuộc mít tinh chính trị ở New York. Tôi trả lời anh ta là tôi không dự cuộc mít tinh đó chính là vì nó mang tính chính trị. Tôi không nói cho anh ta biết rằng một người trong Hội Việt kiều tại Pháp đã gọi điện thoại cho tôi nói rằng đừng dự cuộc mít tinh đó. Cuối cùng thì tôi cũng nhận được cái thị thực thứ hai đi Mỹ.  Tôi quay lại Harvard, rồi sau đó đến California để dự Hội thảo về Hình học đại số ở Arcata phía Bắc California. Cái ngày Nixon từ chức Tổng thống nước Mỹ, tất cả các đại biểu của hội thảo ngồi trong phòng ăn lớn để xem vô tuyến và chờ lời tuyên bố của Nixon. Tôi đã tận dụng dịp đó để thực hiện nhiệm vụ của mình. Tất cả mọi người đều đóng góp tiền cho đoàn Việt Nam đi Vancouver. Heisuke Hironaka, Phillip Griffith (sau này là Giám đốc Viện nghiên cứu cao cấp Princeton), David Mumford, Oscar Zariski, Michel Artin, David Eisenbud (sau này là Chủ tịch Hội Toán học Mỹ, Viện trưởng Viện nghiên cứu Toán Berkeley), Robin Hartshorne, Raoul Bott và nhiều người tôi không nhớ tên. Tất cả họ đều đã đóng góp cho tôi dù họ theo phe cộng hoà, dân chủ hay gì khác đi nữa. Tất nhiên là xu hướng chính trị của họ cũng khiến họ đóng 10 USD hay 100 USD.  Sau Arcata, tôi đi Vancouver. Tôi gặp lại Lê Văn Thiêm đi cùng với Hoàng Xuân Sính. Nhóm những người Canadagiúp đỡ Việt Namở Vancouver đã thu xếp chỗ ở cho Lê Văn Thiêm và Hoàng Xuân Sính. Lê Văn Thiêm tha thiết để tôi ở cùng chỗ họ và coi tôi như một thành viên của phái đoàn.  Chúng tôi đã gia nhập Hội toán học thế giới cứ như thể chúng tôi đang tiến hành chiến tranh du kích.Tôi có biết bao điều để kể về thời kỳ này của Việt Nam vì tôi đã sống những thời khắc đó.Tất cả mọi thứ đều khó khăn, nhưng tất cả đều có thể vượt qua.    Giáo sư Lê Dũng Tráng sinh năm 1947 tại Sài Gòn, theo gia đình sang Pháp năm 1949. Ông bảo vệ bằng tiến sĩ (Doctorat d’Etat) năm 1971 với Chevalley và Deligne (giải Fields 1978) khi mới 24 tuổi, là một trong những tiến sĩ trẻ nhất nước Pháp. Ông từng là giáo sư của các trường Đại học Paris VII (1975-1999), Bách khoa Paris (1983-1995) và Marseille I (1999 đến nay). Ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học thế giới (TWAS) năm 1993. Từ năm 2002 – 2009 ông là giám đốc Khoa Toán của Trung tâm Vật lý lý thuyết (ICTP) ở Trieste. Những năm 70 ông dành toàn bộ tiền tiết kiệm để thường xuyên về Việt Nam giảng dạy. Ông là người có công đầu trong việc thiết lập các mối quan hệ của toán học Việt Nam với phương Tây.  ——  *Bài viết theo đề nghị của GS Ngô Việt Trung và được Phan Hà Dương dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Những chỗ trong ngoặc của người dịch thêm vào.  Nguồn:  http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/chuyen-viet-nam-gia-nhap-hoi-toan-hoc-the-gioi/20180504101218586p1c160.htm    Author                Lê Dũng Tráng        
__label__tiasang Cơ bản và Ứng dụng-Có phân định được rạch ròi?      Lời mở đầu  Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ cùng với thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ra đời , như một luồng gió mới trong hoạt động KHCN nước ta và cũng tạo nên những thảo luận sôi nổi trong giới KHCN nói riêng và xã hội nói chung, trong đó sôi nổi nhất là việc phân biệt giữa tổ chức nghiên cứu cơ bản và tổ chức nghiên cứu ứng dụng và vấn đề tranh luận này chắc là sẽ không có kết thúc. Thực ra cũng rất dễ hiểu, vì theo nghị định 115, những tổ chức khoa học công nghệ nào nghiên cứu cơ bản sẽ được nhà nước bao cấp toàn bộ. Bình luận vui với Thủ tướng, có nhà khoa học đã nói: “Một buổi sáng đẹp trời, Thủ tướng thức dậy, bỗng thấy nước ta trở thành cường quốc về nghiên cứu cơ bản, vì trên bàn Thủ tướng một chồng thuyết minh để chứng minh về chức năng nghiên cứu cơ bản của vô vàn các tổ chức KHCN nước ta đang được trình để phê duyệt!”.    Rõ ràng là vì động lực của lợi ích thúc đẩy, mỗi con người, mỗi tổ chức sẽ có những kiến giải khác nhau cho vấn đề này, miễn sao đạt được lợi ích cuối cùng.  Có lẽ, cách tốt nhất là hãy xem vấn đề này trên thế giới người ta đã bàn cãi như thế nào trong suốt hàng trăm năm nay! Vì vậy xin giới thiệu tóm tắt những kết kuận ở mức độ phổ thông về Nghiên cứu cơ bản và Nghiên cứu ứng dụng của diễn đàn khoa học “Những vấn đề về Đạo đức, Luật pháp và Xã hội trong Khoa học- Ethical,Legal and Social Issues in Science” do một trong những tổ chức nghiên cứu khoa học-công nghệ  lớn nhất nước Mỹ, Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley USA (Lawrence Berkeley National Laboratory – LBNL) khởi xướng.  nguyên văn xem  http://www.lbl.gov/Education/ELSI/ELSI.html )  Đặt vấn đề  Trong thời gian gần đây, trong giới khoa học nổi lên một cuộc thảo luận sôi nổi về giá trị của các loại hình nghiên cứu khoa học trong đó thảo luận nóng bỏng nhất xoay quanh vấn đề:l  Ai sẽ trả tiền cho nghiên cứu cơ bản ?  Chính phủ có nên bớt lấy tiền đóng thuế của dân cấp cho nghiên cứu cơ bản để tập trung đầu tư cho các nghiên cứu ứng dụng có giá trị kinh tế hay không?  Các quỹ công cộng có được sử dụng để hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng của các công ty tư nhân hay không?  Trước khi trả lời các câu hỏi quan trọng này, chúng ta cần làm rõ ý nghĩa và giá trị của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.   Nghiên cứu cơ bản là gì?  Nghiên cứu cơ bản (hay là nghiên cứu nền tảng –fundamental, hoặc nghiên cứu thuần túy-pure) được thực hiện bởi sự tò mò hoặc đam mê của nhà khoa học để trả lời những câu hỏi khoa học. Động lực để thôi thúc họ là mở rộng kiến thức chứ không phải là kiếm lợi nhuận, do đó không có một lợi nhuận kinh tế nào từ kết quả của nghiên cứu cơ bản.  Lấy ví dụ, mục đích khoa học cơ bản là tìm câu trả lời cho những câu hỏi đại loại như:  Vũ trụ hình thành như thế nào?  Cấu trúc của proton, nơtron, nucleon bao gồm những gì?  Có gì đặc biệt trong cấu trúc gen di truyền của loài ruồi giấm?  Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền tảng về tất cả các khía cạnh của khoa học là thiết yếu cho phát triển. Nói một cách khác, nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước. Nếu coi Nghiên cứu cơ bản là bước đi trước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết quả nghiên cứu này.   Nghiên cứu cơ bản có vai trò quan trọng như thế nào trong quá khứ?  Chúng ta đã được biết đến nhiều ví dụ mà ở đó nghiên cứu cơ bản đã đóng vai trò quan trọng trong sự tiến bộ của khoa học. Dưới đây là một vài ví dụ tiêu biểu.  Sự hiểu biết của chúng ta về Gen và di truyền học đạt được là do thành quả to lớn trong việc nghiên cứu Đậu Hà Lan của thầy tu Gregor Mendel vào những năm 1860 và các thí nghiệm về ruồi giấm của nhà bác học T.H. Morgan những năm đầu thế kỷ 20. Việc sử dụng đậu Hà Lan, ruồi giấm – những sinh vật có cấu trúc đơn giản sẽ dễ làm thí nghiệm hơn so với các dạng sống cao hơn. Ngày nay loài ruồi giấm vẫn được sử dụng trong nghiên cứu khoa học (ví dụ đề án Human Genome Project –Dự án về Gen người)DNA đang được xem như “chìa khóa cuộc sống”. Ngày nay, cấu trúc xoắn ốc của cặp DNA đã được giảng dạy trong các trường trung học, nhưng vào đầu những năm 1950, cấu trúc của DNA mới được xác định. Bằng cách tập hợp dữ liệu từ các nghiên cứu cơ bản của các nhà khoa học khác, James Watson và Francis Crick đã khám phá ra cấu trúc tạo nên phân tử DNA vào năm 1953. Việc xác định được cấu trúc của DNA là chìa khóa quan trọng để chúng ta hiểu được cách thức hoạt động của DNA.  Ngày nay, rất nhiều thiết bị điện tử (ví dụ: đài radio, máy phát điện…) được phát triển từ nghiên cứu cơ bản của nhà bác học Michael Faraday vào năm 1831. Ông ta khám phá ra nguyên lý điện từ trường, đó là mối liên hệ giữa điện và từ.  Tại viện nghiên cứu cao cấp về nguồn sáng LBNL, tia X đã được sử dụng để dò bên trong mẫu vật liệu rất nhỏ. Nhưng hiểu biết của chúng ta về tính chất của tia X đã được bắt đầu với những nghiên cứu cơ bản của Wilhelm Rontgen vào năm 1895.  Năm 1931, Earnest O. Lawrence đã phát minh ra nguyên lý đầu tiên của máy gia tốc, đó là thiết bị cho phép các nhà khoa học gia tốc cho các nguyên tử đơn tới tốc độ rất lớn. Không lâu sau đó, phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (LBNL) đã được thành lập. Hàng loạt các nghiên cứu cơ bản tại LBNL đã khám phá ra nhiều loại đồng vị phóng xạ. Một số đồng vị như cacbon-14, cobalt-60, hydrogen-3 (tritium), iôt-131, và tecneti-99 — sau đó đã trở thành các công cụ nghiên cứu quan trọng cho các nhà khoa học trong các lĩnh vực sinh học, cổ sinh vật, và khảo cổ học, hoặc hỗ trợ đắc lực trong việc điều chế vacxin chống lại bệnh tật. Nghiên cứu về đồng vị phóng xạ tại LBNL cũng đã bao gồm cả việc tạo ra 15 nguyên tố nặng. Albert Ghiorso, người đồng phát minh tiếp 12 nguyên tố nặng, đã giải thích rằng quá trình tìm kiếm các nguyên tố mới do con người tự tạo ra là một cuộc phiêu lưu đáng giá.  Mỗi nhà khoa học kể trên đã cố gắng nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của các hiện tượng mà họ đang tìm. Chỉ đến ngày nay chúng ta mới có thể thấy được thành quả thực sự các nghiên cứu của họ!   Nghiên cứu ứng dụng là gì?  Nghiên cứu ứng dụng được tiến hành để giải quyết các vấn đề thực tế của thế giới đương đại, không phải chỉ là hiểu để mà hiểu (kiến thức vị kiến thức). Có thể nói một cách khác rằng kết quả của các nhà nghiên cứu ứng dụng là để cải thiện cuộc sống con người.  Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứu ứng dụng có thể điều tra nghiên cứu các cách để:  Nâng cao năng suất của sản xuất lương thực.  Xử lý hoặc chữa trị một căn bệnh nào đó.  Cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng trong nhà, văn phòng hoặc các mô hình khác.  Một số nhà khoa học cho rằng đã đến lúc để chúng ta nên chuyển đổi trọng tâm từ nghiên cứu cơ bản thuần túy sang khoa học ứng dụng. Theo hướng này, họ cảm thấy, rất cấp bách phải giải quyết các vấn đề từ quá tải dân số toàn cầu, ô nhiễm môi trường, cho đến  sự sử dụng cạn kiệt các nguồn tài nguyên tự nhiên.  Nghiên cứu ứng dụng đã trở nên quan trong như thế nào trong quá khứ?  Có rất nhiều ví dụ trong quá khứ ở đó các nghiên cứu ứng dụng đã đóng góp lớn trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong nhiều trường hợp, ứng dụng đã có một quãng thời gian dài chuyển hóa trước khi các nhà khoa học có được kiến thức tốt và cơ bản về vấn đề khoa học liên quan. (Có thể hình dung một nhà khoa học đứng trong phòng nghiên cứu với những suy nghĩ trong đầu, anh ta tự hỏi mình: “Tôi biết là nó chạy được, nhưng tôi chỉ chưa thực sự hiểu nó chạy như thế nào!”). Dưới đây là một số ví dụ:  Trong những năm 1950, đèn chân không được sử dụng làm đèn ba cực (tri- ốt) trong các thiết bị điện tử như trong đài phát thanh. Vào năm 1948, 3 nhà nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm Bell thuộc AT& T (John Bardeen, Walter Brattain và William Shockley) phát minh ra transistor, một loại đèn ba cực bán dẫn, sau đó đã trở thành cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp điện tử. Sau đó 10 năm, từ transistor mà nhà nghiên cứu Jack Kilby đã phát minh ra mạch tích hợp (thường dùng trong các vi xử lý).  Vacxin giúp chống lại các loại bệnh tật và cứu sống nhiều người mỗi năm. Lần đầu tiên vacxin được sử dụng đó là vào cuối những năm 1790. Edward Jenner đã phát triển một kỹ thuật để tạo ra vacxin cho người giúp chống lại bệnh đậu mùa, một căn bệnh đã giết chết hàng triệu người. Gần đây, Jonas Salk đã phát triển một loại vacxin bại liệt vào năm 1953; dạng viên uống của loại vacxin này đã được Albert Sabin cung cấp vào năm 1961.  Một trường hợp may mắn nổi tiếng trong khoa học được ghi nhận vào năm 1928. Ngài Alexander Fleming trong lúc đang cố tìm các chất hóa học phản ứng như chất kháng sinh có tác dụng diệt vi khuẩn. Một mẫu Penicilin vô tình rơi vào mẫu thí nghiệm của ông ta. Ông  ngay lập tức nhìn thấy rằng các vi khuẩn xung quanh mẫu không thể lớn lên được, có nghĩa là mẫu này đã cung cấp một kháng khuẩn tự nhiên. Sau nhiều năm nghiên cứu để cô lập và tinh chế, lần đầu tiên thuốc kháng sinh Penicilin được đưa vào thị trường. Fleming nói rằng: “Tự nhiên đã tạo ra Pennicilin và tôi chỉ là người tìm ra nó”.  Khóa Velcro (vải dán) đã được sử dụng thường xuyên trong vài năm gần đây. Nó đã thực sự được khám phá từ những năm 1948 bởi Georges de Mestral. Ông ta để ý thấy rằng các hạt giống của cây Cocklebur chứa những cái móc nhỏ nhằm giúp các hạt này bám lại. Mặc dù sản phẩm của ông đã được đăng ký bản quyền trong năm 1957, nhưng vẫn phải mất nhiều năm sau đó để công nghệ có thể bắt kịp và đưa khóa velcro ra thị trường với giá không quá đắt.  Một người anh của Earnest Lawrence người sáng lập LBNL, John Laurence, đã lập ra phòng thí nghiệm Donner ở Đại học Berkeley năm 1936. Mục đích của ông là sử dụng chất đồng vị phóng xạ để chữa bệnh cho con người như các bệnh ung thư và các bệnh liên quan tới tuyến giáp. Ngày nay phòng thí nghiệm Donner được xem là nơi sản sinh ra môn y học hạt nhân.Thực tế nghiên cứu cơ bản và ứng dụng có phải khác nhau như trắng và đen không?  Sự khác biệt giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng không phải luôn luôn rõ ràng. Đôi lúc nó phụ thuộc vào hoàn cảnh hay quan điểm của người đánh giá. Theo TS. Ashok Gadgil ở LBNL, một cách để nhìn nhận điều đó là hãy tìm cách trả lời câu hỏi: “Khoảng thời gian cần thiết trước khi một chương trình có kết quả thực tiễn từ nghiên cứu là bao lâu?”  Nếu để sử dụng được chỉ cần một vài năm, thì nó đó được định nghĩa là nghiên cứu ứng dụng thuần túy.  Nếu để có ứng dụng cần kéo dài trong khoảng 20-50 năm, thì công việc này về bản chất có khi là ứng dụng và có khi lại là cơ bản.  Với một nghiên cứu không thể nào nhìn trước được là cần bao nhiêu thời gian để có thể dùng được trong thực tế, thì nó được coi là nghiên cứu cơ bản thuần túy.  Ví dụ, ngày nay một số các nghiên cứu đặt nền tảng trên sự phát triển về lò phản ứng hạt nhân để cung cấp một nguồn năng lượng điều khiển được cho các thành phố. Đó là một thành quả ứng dụng rõ ràng trong công việc, vì đã có quá nhiều các kỹ thuật được kiểm nghiệm chắc chắn từ khoảng 30-50 năm trước khi chúng ta có thể thấy chức năng của lò phản ứng hạt nhân được sử dụng. Sự phát triển của năng lượng hạt nhân có thể nói là kết quả của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.  Vật liệu siêu dẫn là một lĩnh vực nghiên cứu khác về vùng chồng lấn này. Phần lớn các chất dẫn điện là không thực sự hiệu quả; một lượng năng lượng bị mất để đốt nóng khi mà điện tử truyền qua vật dẫn (thường là kim loại). Vật liệu siêu dẫn là các loại vật liệu tiêu tốn rất ít hoặc không tiêu tốn năng lượng khi điện tử truyền qua chúng. Tuy nhiên, các vật liệu siêu dẫn gần đây nhất đã được làm lạnh với heli lỏng đắt tiền tới nhiệt độ dưới -269 độ C đã hoạt động đúng. Các vật liệu mới hơn được phát triển trong những năm gần đây cho thấy tính chất siêu dẫn tại nhiệt độ cao hơn, chỉ sử dụng ni-tơ lỏng rẻ tiền để làm lạnh.  Rõ ràng là, sự phát triển của vật liệu siêu dẫn thực sự là nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, khi mà vật liệu siêu dẫn được phát triển và có thể được sử dụng dễ dàng như các loại dây đồng, thì rất nhiều các ứng dụng quan trọng sẽ sớm áp dụng, bao gồm cả việc cung cấp điện hiệu quả hơn trong các thành phố.   Xu hướng nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây?  Có một chuyển dịch đáng chú ý trong “triết lý” đối với các dạng nghiên cứu đang nhận được đầu tư trong những năm gần đây. Các trường đại học nhận được phần lớn tiền đầu tư của nhà nước từ quỹ hỗ trợ đầu tư khoa học (NSF). Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm quốc gia như Phòng thí nghiệm Lawren Berkeley thì nhận tiền đầu tư chủ yếu từ Bộ Năng lượng và Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc gia.  Quốc hội có một ảnh hưởng quyết định định hướng đầu tư cho các dạng nghiên cứu nào, bởi vì đây là nơi phân bổ ngân sách quốc gia. Một số nghị sĩ muốn giảm số tiền đầu tư cho các nghiên cứu cơ bản nào mà không thể đưa đến các ứng dụng sau một thời gian nhất định. “Triết lý” này đã dẫn đến xóa sổ dự án SSC (Super Conducting Super Collider-Máy gia tốc siêu va đập) ở Texas năm 1993. Tại LBNL kinh phí cũng đã bị cắt đối với 2 thiết bị đã có vai trò rất quan trọng trong các nghiên cứu cơ bản trước đây. Đó là máy gia tốc tuyến tính ion nặng đã từng giúp các nhà khoa học tạo ra khá nhiều các nguyên tố “nặng”, còn thiết bị Bevatron đã từng đóng vai trò chính cho ngành y học hạt nhân của phòng thí nghiệm.  Sự chuyển dịch trong ưu tiên quốc gia này đã tạo nên sự lo lắng lớn của nhiều nhà khoa học. Cụ thể là  một nhóm 60 nhà khoa học đạt giải Nobel đã đồng ký vào một giác thư gửi đến tổng thống Clinton và tất các các thành viên quốc hội.  Không phải tất cả các dự án lớn về nghiên cứu cơ bản đều bị cắt giảm. Dự án nghiên cứu Gen ở người (Human Genome Project-HPG) là một cuộc phiêu lưu dài ở đó toàn bộ các nhiễm sắc thể ở người sẽ được tìm hiểu bằng 2 con đường chính. Hướng thứ nhất, mỗi nhiễm sắc thể sẽ được phân tích theo con đường hóa học để xác định chính xác chuỗi phân tử di truyền, thường được gọi là DNA. Hướng thứ 2, mỗi nhiễm sắc thể sẽ được lập bản đồ để xác định chính xác vị trí của mỗi gen trong nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, để có được hiểu biết về bản chất của nhiễm sắc thể người, thì những nghiên cứu của HGP cũng được mở rộng cho các dạng sinh vật đơn giản hơn (ví dụ: ruồi giấm, giun và men). Mục tiêu cuối cùng mà chương trình mong muốn đạt tới là có thể chữa trị các căn bệnh gây ra bởi sự di truyền như là chứng xơ hóa, u và bệnh bạch cầu… bằng những phương pháp mới trong y học như là liệu pháp gen chẳng hạn.  Các ngành công nghiệp ngày nay thực hiện ít các nghiên cứu cơ bản. Xuất phát từ bản chất cạnh tranh của kinh doanh trên thế giới, các nghiên cứu mang tính thương mại tập trung vào những nghiên cứu có thời gian phát triển dưới 10 năm để tạo ra sản phẩm hoặc quy trình mới. Các doanh nghiệp không thể kham nổi các nghiên cứu quá dài hạn. Kết quả là các trường đại học, các phòng thí nghiệm quốc gia (như LBNL) phải chịu trách nhiệm về các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng dài hạn.  Ví dụ, hiện tại có khá nhiều nghiên cứu ứng dụng đang được triển khai tại LBNL. “Phân ban năng lượng và môi trường” (thật ra là nó đã được đổi tên từ “phân ban các khoa học ứng dụng” trong những năm 1980) là một ví dụ chuyên về loại hình này. Các hoạt động gần đây của phân ban này bao gồm sự phát triển hệ thống làm sạch nước sử dụng bức xạ cực tím, nghiên cứu tia radon xâm nhập vào nhà cửa ra sao, phân tích sự tích tụ ôzon trong nhà cửa và chế tạo các vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng cao….   Xu hướng cho tương lai  Con người đã trở thành lực lượng thống trị hành tinh có quyền thay đổi hình dạng cũng như hoạt động của Trái đất. Rất nhiều nhà khoa học đã lo lắng rằng trong 40 năm tới sự ô nhiễm của Trái đất sẽ tăng nhanh đến mức mà nó không còn đủ để hỗ trợ cho cuộc sống bình thường. Ngày càng nhiều thành phố được công nghiệp hóa, các vấn đề phát sinh này– sử dụng thái quá nguồn tài nguyên, cạn kiệt nguồn năng lượng, ô nhiễm môi trường sẽ vẫn tiếp tục tăng. Các nhà khoa học lo lắng rằng hành tinh của chúng ta sẽ tiến tới mức quá giới hạn chịu đựng.  Nghiên cứu khoa học có thể giúp giải quyết những vấn đề này. Nó sẽ cần được tài trợ cho những nghiên cứu ứng dụng dài hạn – các nghiên cứu mà nó sẽ không tạo ra sản phẩm cho ngành công nghiệp quốc gia mà nó chỉ tập trung vào khả năng có thể chịu đựng của việc sử dụng tài nguyên của trái đất.  Giải quyết các vấn đề trên cần một tiến trình đa ngành, điều đó có nghĩa là các nhóm nhà khoa học trong các phạm vi nghiên cứu khác nhau sẽ cùng làm việc nghiên cứu đa ngành sẽ tận dụng khả năng chuyên môn của họ trong các phạm vi khác nhau (ví dụ :sinh học, địa lý, hóa học và vật lý). Nó cũng mở ra một con đường mới trong cộng đồng các nhà nghiên cứu. Tham gia đề tài nghiên cứu thuộc dạng này sẽ nhận được nhiều kinh phí tài trợ từ chính phủ như từ Bộ Năng lượng, Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc gia, Viện Tổ chức tài trợ khoa học quốc gia. Thực tế là tiến trình này đã được thực hiện trong nhiều phòng nghiên cứu.   Lời bàn thêm:  Thời đại hội nhập WTO như ngày nay, nước ta chắc là cũng nên theo những chuẩn mực chung của thế giới về cách hiểu nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Các nhà hoạch định chính sách cũng không nên quá hình thức cứng nhắc về câu chữ. Có một nhà tổ chức đã hướng dẫn rằng, phân định một tổ chức khoa học công nghệ là cơ bản hay ứng dụng là căn cứ vào chức năng ghi trong quyết định thành lập tổ chức đó. Ai đã ghi chức năng đó vào quyết định, không phải là chính chúng ta hay sao? Liệu chúng ta khi đó đã phân biệt rõ ứng dụng và cơ bản chưa?  Ví dụ, nếu hiểu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu không biết bao giờ có thể dùng được, thì liệu chúng ta có nên phân loại Viện KHCNVN, với gần 3000 con người và 270 tỷ đồng kinh phí bao cấp một năm là thuộc loại nghiên cứu cơ bản?  Nếu hiểu nghiên cứu cơ bản như thế giới vẫn hiểu thì liệu một nước nghèo như chúng ta có cần phải gấp rút đầu tư lớn cho nghiên cứu cơ bản không? Đầu tư bao nhiêu, ít nhất cũng nên xác định tỷ lệ đầu tư ?  Hay là chúng ta nên hiểu nghiên cứu cơ bản theo kiểu khác? Theo kiểu Việt Nam chẳng hạn. Cũng được thôi, nhưng phải rõ ràng.  Một khái niệm trong chính sách không được hiểu và không thể hiểu thống nhất sẽ gây ra không biết bao nhiêu hệ lụy. Mong rằng mọi người chúng ta, nhà khoa học và nhà quản lý khoa học nên cùng nhau giúp nhà nước tìm ra những quyết sách hợp lý để nhanh chóng đưa khoa học công nghệ thành động lực phát triển, đưa đất nước của chúng ta thoát cảnh nghèo nàn lạc hậu. Là những nhà khoa học, hiểu rõ hơn ai hết bản chất của đối tượng công việc, chúng ta không nên lợi dụng sự mù mờ trong khái niệm để đạt được mục đích ngoài khoa học!  —————————————–  CHÚ THÍCH ẢNH:  ảnh trên: Trung tâm Stata của Viện kĩ thuật Massachusettes      GS. Trần Xuân Hoài       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có bao nhiêu vệ tinh đang bay trên đầu chúng ta?      Ông Nicholas Johnson cựu chuyên gia đầu  ngành về vấn đề mảnh vụn trên quỹ đạo (orbital debris) của NASA nói về các vệ tinh nhân tạo đang bay trên quỹ đạo Trái Đất.    Vai trò của các vệ tinh nhân tạo trong việc tìm kiếm dấu vết chuyến bay MH370 mất tích bí hiểm của Hàng không Malaysia khiến mọi người không thể không quan tâm tới các vật thể đang bay nhan nhản trên quỹ đạo Trái Đất. Hãng tin AP (Mỹ) ngày 29/3/2014 đưa tin ông Nicholas Johnson cựu chuyên gia đầu ngành về vấn đề mảnh vụn trên quỹ đạo (orbital debris) của NASA đã giới thiệu qua về các vệ tinh nhân tạo đang bay trên quỹ đạo Trái Đất như sau.  1- Có bao nhiêu vệ tinh?   Hiện nay có khoảng 1100 vệ tinh nhân tạo đang làm việc trên quỹ đạo Trái Đất, gồm vệ tinh của các chính phủ cũng như của các công ty tư nhân. Ngoài ra còn khoảng 2600 vệ tinh không làm việc nữa nhưng vẫn đang bay trên đầu chúng ta. Vệ tinh đầu tiên trên thế giới là Sputnik 1, do Liên Xô cũ phóng năm 1957. Vệ tinh “cao tuổi” nhất hiện còn bay trên quỹ đạo Trái Đất được phóng lên năm 1958, nhưng nó không còn làm việc nữa.  2- Kích cỡ của các vệ tinh  Các vệ tinh có kích cỡ khác nhau. Tiểu ban Thông tin Liên bang Mỹ (Federal Communications Commission) nói vệ tinh thông tin có thể to bằng chiếc ô tô bus loại nhỏ, nặng tới 6 tấn. Phần lớn vệ tinh nặng vài tấn hoặc nhẹ hơn. Một số vệ tinh hoạt động thời gian ngắn chỉ có kích thước hơn 10 cm và nặng 0,91 kg (4 inch cubes, 2 pounds).    3- Công dụng của các vệ tinh   Các vệ tinh có những công dụng khác nhau. Vệ tinh GPS (Hệ thống Định vị toàn cầu) giúp dẫn đường. Một số vệ tinh chuyển tiếp tín hiệu điện thoại hoặc truyền hình. Một số dùng để dự báo thời tiết, phục vụ quốc phòng, nghiên cứu khoa học và nông nghiệp, thí dụ theo dõi mùa màng và vùng bị hạn hán. Liên đoàn Những nhà khoa học quan tâm các vấn đề toàn cầu UCS (Union of Concerned Scientists — một tổ chức tư nhân) nói 60% số vệ tinh dùng vào thông tin liên lạc.  4- Vị trí các vệ tinh  Điều này tùy thuộc vào tác dụng của vệ tinh. Vệ tinh thông tin đứng ở vị trí cố định tại độ cao khoảng 35.400 km (22.000 dặm) trên bầu trời đường xích đạo để chuyển tiếp tín hiệu. Vệ tinh GPS cách mặt đất ít nhất 20 nghìn km (12.400 dặm), ở độ cao ấy nó đủ sức phủ được một vùng rộng lớn trên Trái Đất. Để so sánh, ta biết Trạm Không gian quốc tế ISS cách mặt đất có khoảng 400 km (260 dặm). Rất ít vệ tinh bay ở độ cao thấp hơn ISS. Một số vệ tinh ở vị trí cố định, nhưng một số vệ tinh bay qua hai cực Trái Đất, hoặc tùy nhu cầu mà bay từ chỗ này tới chỗ khác.    5- Tác dụng tìm kiếm của vệ tinh  Một vệ tinh thông tin của Anh đã bắt được tín hiệu của chuyến bay MH370 mất tích bí ẩn, việc phân tích tín hiệu đã giúp chính quyền đi tới kết luận máy bay bị rơi ở một vùng hẻo lánh phía Nam Ấn Độ dương. Tuần này chính phủ Thái lan nói một vệ tinh của họ phát hiện thấy 300 đối tượng có thể là mảnh vỡ từ máy bay rơi. Một số vệ tinh đã được di chuyển đến vị trí có thể quan sát các mảnh vỡ đó.  6- Vệ tinh của ai thế?   Của các chính phủ và công ty tư nhân. Theo UCS, hơn 50 quốc gia có vệ tinh hoặc có chung vệ tinh với quốc gia khác. Mỹ hiện có 502 vệ tinh, Nga có 118, Trung Quốc có 116. Thái Lan có 4 vệ tinh và chung một vệ tinh với nước khác.  7- Nếu các vệ tinh ngừng làm việc thì sao?   Các vệ tinh đã nghỉ hưu có thể va chạm với vệ tinh đang hoạt động, vì thế đã có các quy định và kiến nghị tránh làm tăng rác vũ trụ. Thí dụ kiến nghị những vệ tinh bay thấp dưới một độ cao nào đó nên được đưa vào một quỹ đạo bảo đảm trong vòng 25 năm chúng sẽ rơi xuống Trái Đất và bị thiêu hủy. Với các vệ tinh bay ở độ cao lớn hơn thì kiến nghị đẩy chúng lên quỹ đạo cao nữa để nhường đường cho các vệ tinh khác.  Nguyễn Hải Hoành theo  http://abcnews.go.com/Technology/wireStory/1000-satellites-flying-overhead-23090283  More Than 1,000 Satellites Are Flying Overhead    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế “công ty” trong hoạt động khoa học của Nhật Bản: Kinh nghiệm cho việc thực hiện Nghị định 115      Những ngày gần đây cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam có những thảo luận rất sôi nổi về nghị định 115 của chính phủ về chuyển đổi sang quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học công nghệ nước nhà. Trong chúng ta, đặc biệt các đồng nghiệp đang tham gia các chương trình nghiên cứu cơ bản (NCCB) của khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn trong các tổ chức khoa học công nghệ (KHCN) mà có thể nằm ngoài danh sách các cơ sở NCCB sẽ được nhà nước tiếp tục bao cấp 100%, đều có những băn khoăn không biết công việc nghiên cứu khoa học (NCKH) sẽ tiến hành thế nào một khi nghị định 115 được chính thức triển khai rộng rãi.    Những suy nghĩ băn khoăn lo ngại này là hoàn toàn chính đáng bởi vì việc chuyển đổi 115, nếu thực hiện không thật đúng theo tinh thần của nghị định, sẽ có thể đưa đến sự đình chỉ tồn tại của những nhóm NCCB trình độ cao cùng các nhà khoa học chuyển sang làm những công việc đơn giản trong xã hội để kiếm sống. Đây sẽ thực sự là một mất mát không nhỏ đối với nền khoa học nước nhà, tương tự như đã từng xảy ra trong những năm 80 của thế kỷ 20 khi đồng lương “bao cấp” cho cán bộ khoa học quá ít để trang trải cho cuộc sống hàng ngày và nhiều nhà khoa học giỏi đã từ bỏ các hoạt động NCKH chuyển sang làm kinh doanh ở trong và ngoài nước để kiếm sống. Tuy nhiên, đất  nước ta hiện nay đang trải qua một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới, với yêu cầu cao nhất đối với hội nhập quốc tế, nên khả năng để xảy ra việc trên chắc sẽ khó.  Trong những ngày đầu tháng 6 vừa qua, tác giả có dịp sang tham gia báo cáo tại hai hội nghị khoa học quốc tế tại Nhật Bản trong lĩnh vực Vật lý Hạt nhân và đã tình cờ được biết qua tài liệu tự giới thiệu của một số viện NCKH quốc gia Nhật Bản là các cơ sở NCKH và giáo dục đại học công lập của đất nước mặt trời mọc đã hoàn tất rất nhanh gọn từ hơn 3 năm nay một cuộc chuyển đổi quản lý và vận hành từ cơ chế bao cấp sang cơ chế “công ty” tự chủ, tự chịu trách nhiệm rất gần với cơ chế đã được nêu ra trong nghị định 115 cho các tổ chức KHCN của Việt Nam. Cụ thể, trong thời gian từ đầu tháng 4 năm 2004 cho đến nay tất cả các trường đại học tổng hợp công lập (89 trường) và các viện NCKH trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội (18 viện) đã được chuyển sang hoạt động hoàn toàn theo cơ chế “công ty” (corporate status). Đây được coi như một cuộc cách mạng rất lớn trong việc quản lý khoa học và giáo dục đại học của Nhật Bản kể từ khi hệ thống các cơ sở này được chính thức đưa dưới quyền quản lý và điều hành của nhà nước cách đây khoảng 130 năm (thời đại Meiji). Trong khung cảnh tự chủ mới theo cơ chế công ty, các trường đại học và các viện NCKH được đặc biệt khuyến khích cùng hợp tác sao cho các hoạt động nghiên cứu khoa học được tiến hành dễ dàng và có hiệu quả cao nhất. Đây cũng là một trong những lý do chính tại sao chính phủ Nhật Bản đưa đồng thời các trường đại học tổng hợp và các viện NCKH quốc gia vào chung một cơ chế tự chủ trong quản lý và điều hành.  Để có được một quyền tự chủ hoạt động theo cơ chế “công ty”, các trường/viện trước khi chuyển đổi đã phải có những cam kết rất cụ thể về các đóng góp của cơ sở này cho sự phát triển của KHCN cũng như cho sự nghiệp giáo dục đào tạo đại học và trên đại học. Với mục đích theo rõi và kiểm tra điều hành chặt chẽ xem các trường/viện có thực sự thực hiện những cam kết của mình hay không, mỗi cơ sở đều có một hội đồng quản trị riêng với ít nhất một nửa số thành viên phải là người ngoài trường/viện. Việc tổng kết và báo cáo thành tựu nghiên cứu và đào tạo được hội đồng quản trị trực tiếp thực hiện 6 năm một lần. Báo cáo tổng kết 6 năm sẽ là cơ sở dữ liệu quan trọng nhất để chính phủ Nhật Bản thông qua khoản ĐTCB từ ngân sách nhà nước cho 6 năm tiếp theo. Điều đáng chú ý nhất là khoản ĐTCB từ phía nhà nước sẽ không tăng dần mà ngược lại sẽ giảm dần mỗi năm 1% trong trường hợp vận hành “công ty” bình thường. Như vậy, trong khi được một quyền tự chủ cao nhất trong việc chi khoản ĐTCB “bao cấp” từ ngân sách nhà nước, các cơ sở NCKH và giáo dục đại học sẽ bắt buộc phải tìm cách có được những nguồn thu khác để trang trải kinh phí cho những hoạt động ngày càng mở rộng của mình. Đối với các cơ sở NCKH thì đó sẽ phải là nguồn thu nhập từ bản quyền của những phát minh, sáng chế (patent licensing), nguồn thu từ những đề tài, đề án NCKH được “trúng thầu” trong các chương trình đầu tư trọng điểm của các công ty, tập đoàn công nghiệp lớn vào KHCN. Đặc biệt, đối với các nhà khoa học làm việc trong các lĩnh vực NCCB thì việc giảm dần ngân sách ĐTCB của nhà nước cho trường/viện không có nghĩa là họ sẽ phải tìm làm những nghiên cứu ứng dụng khác để kiếm sống mà ngược lại, do đầu tư của chính phủ Nhật Bản vào NCCB vẫn đang ngày một tăng trong ngân sách đầu tư cho KHCN quốc gia, họ có thể tham gia đấu thầu trong các chương trình NCCB lớn của các quĩ khoa học khác nhau để có được sự hỗ trợ còn dồi dào hơn so với thời “bao cấp” cách đây 3 năm. Một trong những quĩ hỗ trợ các hoạt động NCCB của Nhật Bản là JSPS (Japan Society for Promotion of Science) đã và đang là một nhà tài trợ lớn cho các bác học Nhật Bản công tác giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học hoặc viện NCKH nhỏ với nguồn thu tài chính hạn chế. Tóm lại, nếu như bạn là một nhà khoa học thực sự, đang nghiên cứu có kết quả tốt trong bất kỳ một lĩnh vực khoa học nào, thì cuộc chuyển đổi sang cơ chế “công ty” của trường/viện chắc chắn là bước tiến quan trọng sang một giai đoạn mới đầy hứa hẹn.           Nội dung chỉ đạo của nghị định 115 của chính phủ về chuyển đổi sang quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN Việt Nam cũng không có gì khác nhiều so với nội dung cơ bản của cuộc chuyển đổi của các trường đại học và viện NCKH công lập của Nhật Bản, chỉ cần một chương trình hành động rõ ràng và qui chế hợp lý không rườm rà các thủ tục hành chính như cuộc chuyển đổi của Nhật Bản thì việc thực hiện Nghị định 115 của Việt Nam cũng chắc chắn sẽ đưa nền khoa học nước nhà sang một giai đoạn phát triển năng động và mạnh mẽ hơn, góp phần xứng đáng vào sự phát triển kinh tế và tri thức của đất nước. Qua kinh nghiệm của Nhật Bản, chúng ta cũng thấy việc thực hiện nghị định 115 sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu cơ chế tự chủ của các cơ sở KHCN của ta thực sự là một cơ chế “công ty” theo các qui định chung của luật doanh nghiệp (với những ưu đãi riêng về thuế cho các cơ sở NCKH). Nhìn ra thế giới thì ta thấy Nhật Bản tiến hành cuộc chuyển đổi cách đây 3 năm thực cũng đã là muộn. Thí dụ như ở CHLB Đức, các phòng thí nghiệm, viện NCKH quốc gia đều có cơ chế chính thức là những công ty trách nhiệm hữu hạn từ nhiều thập kỷ qua (viết tắt là GmbH sau tên chính của phòng thí nghiệm), vận hành hoàn toàn theo qui định chung của luật doanh nghiệp CHLB Đức. Do đó,  nếu chúng ta thực sự hội nhập trong cuộc chuyển đổi 115, mạnh dạn trao cơ chế công ty bình thường cho các cơ sở KHCN công lập, thì chắc sẽ tránh được những bất cập, khó khăn và mâu thuẫn mà do chính những qui định chi tiết cụ thể riêng biệt về cơ chế tự chủ của các cơ sở KHCN mang lại.          Nghiên cứu năng lượng hạt nhân ở Nhật Bản        Một điều đáng nhắc đến nữa là mục tiêu cơ bản của cuộc chuyển đổi quản lý và vận hành các trường/viện công lập ở Nhật Bản là trao quyền tự chủ cao nhất cho các cơ sở trên để đạt được hiệu quả cao nhất trong NCKH và đào tạo đại học chứ hoàn toàn không có mục đích biến những cơ sở này nhanh chóng thành các tổ chức tự lo trang trải kinh phí qua cách tìm kiếm bán sản phẩm của mình trên một thị trường công nghệ hay giáo dục. Đây là một cách nhìn có tính sống còn đối với sự phát triển chung của nền khoa học và tri thức quốc gia, bởi vì áp đặt mục tiêu kinh doanh kiếm sống nhanh chóng lên bất kỳ một ngành KHCN nào sẽ không tránh khỏi việc kết thúc sự tồn tại của những chương trình nghiên cứu KHCN phức tạp trình độ cao và sự xuất hiện nhanh chóng của các đề án ứng dụng đơn giản “ít chất xám”, chưa nói đến sự gian dối trong NCKH mà chắc chắn sẽ ngày càng tăng. Chính sự nhấn mạnh mục tiêu “tự kinh doanh” trong các hướng dẫn cụ thể thực hiện chuyển đổi theo nghị định 115 đã đưa lại rất nhiều bàn cãi, tranh luận trong cộng đồng khoa học nước ta trong năm qua.       ***  Thay cho kết luận, tác giả muốn chia sẻ cảm xúc riêng của bản thân có được từ việc tham gia hội nghị Vật Lý Hạt Nhân (VLHN) quốc tế lần thứ 7 tổ chức tại Tokyo đầu tháng 6 vừa qua (http://www.inpc2007.jp). Đây là hội nghị lớn nhất hành tinh trong lĩnh vực VLHN tổ chức 4 năm một lần và lần này, nhân 100 năm ngày sinh của Hideki Yukawa (nhà vật lý người Nhật đầu tiên được giả thưởng Nobel do phát minh ra quá trình trao đổi meson trong tương tác hạt nhân), Tokyo đã được chọn làm địa điểm tổ chức. Hơn 800 các nhà VLHN từ gần 40 quốc gia khác nhau đã vô cùng sửng sốt khi được thấy Nhật Hoàng cùng Hoàng Hậu đã thân chinh đến dự lễ khai mạc INPC07. Trong một hiện diện vô cùng khiêm tốn, Nhật Hoàng đã đọc một bài diễn văn chào mừng tuy ngắn gọn nhưng rất xúc động. Ông nhớ lại năm 1949, trong khi nước Nhật còn đang ở trong hậu quả tàn phá kinh khủng của Thế chiến thứ 2 thiếu thốn đủ mọi thứ nhưng mỗi người dân Nhật đã hạnh phúc và tự hào bao nhiêu khi đươc tin Yukawa được tặng giải thưởng Nobel Vật Lý. Từ những năm tháng khó khăn đó cho đến tận bây giờ, Nhật Bản luôn rất coi trọng đầu tư cho NCKH mà trong đó các ngành khoa học cơ bản có một vị trí đặc biệt. Riêng trong VLHN, Nhật Bản hiện đang triển khai xây dựng một trung tâm gia tốc tầm cỡ lớn nhất thế giới (xem ảnh) tại Viện Hóa Lý Nhật Bản RIKEN (một cơ sở KHCN đã được chuyển đổi sang cơ chế “công ty” từ đầu năm 2005) nơi mà Nhật Hoàng đã đến thăm trong năm 2006. Nhật Bản đi đầu thế giới trong đầu tư cho NCCB không đơn giản vì thể diện tầm cỡ quốc gia như người ta dễ nghĩ đến mà bởi vì chính họ (với một nền công nghệ hiện đại tầm cỡ nhất thế giới) hiểu hơn ai hết sự đóng góp quan trọng lâu dài của NCCB vào phát triển khoa học và tri thức của đất nước. Đúng như TS George Smoot (giải thưởng Nobel Vật Lý 2006) đã nói: “… người ta không thể nhìn trước được tất cả những gì mà NCCB có thể mang lại. Nếu như con người chỉ làm nghiên cứu ứng dụng từ đầu thì chắc là cho đến giờ người ta vẫn chỉ đang tìm cách làm những chiếc dáo sắc hơn mà thôi…”.  Quá trình phát triển KHCN ở Việt Nam đã tất yếu đòi hỏi một cuộc chuyển đổi lớn theo tinh thần nghị định 115, tuy nhiên chúng ta có thật sự thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự hội nhập quốc tế trong cách làm của chính mình.    Ảnh trên cùng: Koichi Tanaka nhận giải Nobel Hóa học  Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ “công ty” là quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và độc lập tự chi khoản đầu tư cơ bản (ĐTCB) từ phía nhà nước (trong năm tự chủ đầu tiên khoản ĐTCB này bằng đúng 100% ngân sách quốc gia đã chi cho trường/viện trong năm bao cấp trước đó). Trường/viện có quyền trả lương cho các giáo sư, các nhà khoa học theo phán quyết riêng của mình, không phải theo qui chế áp dụng cho công chức nhà nước của Nhật Bản và do đó không có một giới hạn trên trong lương bổng đài thọ các chuyên gia đầu ngành. Ngoài ra, việc tuyển chọn nhân sự vào các vị trí quản lý, giảng dạy, nghiên cứu (kể cả vị trí lãnh đạo cao nhất của trường/viện) phải được tiến hành trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, minh bạch và công khai, không có sự phân biệt giữa công dân Nhật Bản và người có quốc tịch ngoại quốc và phải được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin trong nước Nhật và quốc tế.  Đào Tiến Khoa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cô đơn trên mạng      Từ một diễn đàn của Blog Việt…  Đã trở thành một thói quen từ khi nào không biết, sáng nay tôi lại ngồi vào bàn làm việc, bật máy tính và bắt đầu “chu du” trên mạng… Lướt qua một trang Web quen thuộc, một dòng tít đập vào mắt tôi: “Nếu một ngày không còn blog?”    Quả thật lâu nay mặc dù chưa có thời gian xâm nhập vào cái thế giới blog (một hình thức nhật ký trên mạng) mới mẻ đang cuốn hút hàng triệu triệu cư dân mạng trên toàn thế giới (theo điều tra của Tân Hoa Xã, chỉ riêng Trung Quốc đến cuối năm 2006 con số người viết blog (blogger) đã lên đến 20,8 triệu) nhưng tôi cũng không hề nghĩ rằng lại có người đặt ra một câu hỏi như vậy. Sẽ hoàn toàn bình thường nếu đó là những câu hỏi đại loại như: “Nếu một ngày Trái Đất không còn sự sống?”, hay lãng mạn một chút “Nếu một ngày không còn Tình yêu ?”… Nhưng đằng này lại là câu hỏi về sự tồn tại của một thế giới ảo! Và sự tò mò đã làm tôi tiếp tục “click” chuột để đi sâu hơn vào diễn đàn này. Hóa ra, đây là hậu quả tinh thần mà trận động đất cuối tháng 12/2006 ở Đài Loan làm ngưng trệ Internet và dịch vụ ăn theo khổng lồ của nó là Yahoo – là nơi cung cấp công cụ tạo blog miễn phí (Yahoo360) cho cư dân mạng trên toàn thế giới, trong đó có các bolgger Việt tuy mới vào cuộc nhưng hết sức cuồng nhiệt. Người đặt ra câu hỏi “khơi mào” cho diễn đàn là một blogger quen thuộc vốn là một bình luận viên thể thao. Và đã có rất nhiều blogger khác đã hăng hái bình luận (comment) vấn đề anh đặt ra: “Bạn có tin một ngày nào đấy, ví dụ như nếu, blog không còn nữa, chúng ta sẽ sống ra sao?”. Nhiều ý kiến cho rằng cho dù cái chữ “nếu” ấy thành hiện thực thì cũng chả sao cả, cuộc đời vẫn đẹp sao… Nhưng cũng không ít ý kiến, mà chủ yếu là của những blogger còn rất trẻ, đã làm tôi giật mình. Chẳng hạn, có người viết “…Nếu một ngày không còn blog, mình không dám tưởng tượng đến ngày ấy”, hay “…mình như trở về thời kỳ đồ đá…”, “…Mấy ngày hôm nay thật là “ác mộng”, “…Đến trường như cái bóng lững lờ, phải chăng cuộc sống của mình là một phần của thế giới online này?”… Quả thật là chưa đến mức “nguy hiểm chết người”, và với sự phát triển bền vững của công nghệ thì cái chữ “nếu” đó chắc là không thể xảy ra. Nhưng chính vì sự tồn tại và phát triển không gì cản trở được của Thế giới ảo và những biểu lộ tâm lý bắt đầu có hơi hướng “mộng mị” đó của những người trẻ tuổi lại làm tôi cảm thấy bất an…                     Đến những cảm nhận của một kẻ nô lệ  Tôi còn nhớ rất rõ trong bài viết nhan đề “Sống chung với nghịch lý” trên Tia Sáng số Xuân Tân Tỵ 2001, tôi đã phải thú nhận sự phản kháng yếu ớt của mình trước sự xâm nhập ồ ạt của làn sóng công nghệ cao và “dự báo” sự đầu hàng vô điều kiện của mình trước sự tấn công của một trong những phương tiện công nghệ cao đó là điện thoại di động. Sáu năm đã trôi qua, cơn sóng thần công nghệ cao ngày càng bạo liệt hơn, trong khi bản thân tôi thì sức “đề kháng” ngày càng yếu ớt hơn và từ lúc nào không biết đã trở thành kẻ “nô lệ” hoàn toàn tự nguyện của các phương tiện công nghệ cao. Không chỉ nô lệ đối với điện thoại di động mà cả với Internet và những dịch vụ ăn theo nó. Đọc mail, lướt Web gần như đã trở thành “phản xạ có điều kiện” mỗi khi bật máy tính, kể cả khi đi công tác xa. Đọc báo điện tử mỗi sáng đã trở thành thói quen như uống một tách café trước khi đi làm, không có sẽ cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó… Chưa kể nghề nghiệp của tôi đã bắt tôi phải sống dựa vào Internet để tìm kiếm thông tin, phần mềm, trao đổi với đồng nghiệp… Chưa kể những lúc có chút thời gian rảnh rỗi lại “lang thang” vô định trên mạng, sẵn sàng (nhiều khi chỉ vì tò mò) chui vào các ngóc ngách ngày càng nhiều của thế giới ảo. Có lang thang như vậy mới thấy được sự mênh mông vô tận của thế giới ảo và sự cô đơn và bé nhỏ của con người trong đó. Trên mạng có rất nhiều các kho tài nguyên thông tin quý giá  phục vụ cho con người nhưng cũng đầy những cạm bẫy rình rập con người. Cái thật và cái giả, cái đúng cái sai lẫn lộn cho dù mỗi thực thể trong đó đều phải khai báo một định danh… ảo! Ngay cả với các cơ chế xác thực tin cậy đang được các chuyên gia an ninh mạng nỗ lực phát triển thì cư dân mạng vẫn luôn phải đối mặt với câu hỏi thường trực “ai là ai ? (who is who?) “ khi tham dự vào thế giới ảo. Gần đây, khi truy cập một diễn đàn giáo dục trên mạng để xem cuộc “khẩu chiến” giữa một số giáo sư về chuyện sách giáo khoa, khi một trong các giáo sư đó do sốt ruột “nhảy” vào diễn đàn với danh phận công khai, lập tức nhận được ngay những bình luận đủ màu sắc, có cả những bình luận xỏ xiên, xấc xược và thiếu văn hóa của đủ loại “nickname” có giời mới biết được đó thực sự là ai. Đến mức một người phải thốt lên trong phần bình luận của mình: “Ông giáo sư này chơi dại rồi, đem cái mặt thật của mình mà nhảy lên mạng tranh luận thì có khác nào đi cãi nhau với… cả một lũ Chí Phèo!”.  Có thể nói cảm giác ban đầu khi hòa nhập vào thế giới ảo thường là sự hồ hởi, phấn khích và tự hào khi thấy mình giờ đây đã trở thành một cư dân mạng, là thành viên của một cộng đồng được hình thành dựa trên những thành quả trí tuệ đầy ấn tượng của con người đương đại. Nhưng càng “đắm mình” vào các ngóc ngách của nó thì lại càng thấm thía sự vô danh, sự cô đơn của một cá thể. Gần đây nhiều người đã viết bài giới thiệu, ca ngợi cuốn sách “The World is Flat” của  nhà báo nổi tiếng Thomas L. Friedman (đã được Nhà Xuất bản Trẻ dịch và xuất bản cuối 2006 với tiêu đề “Thế giới phẳng”). Thực ra, khi đọc quyển trước của tác giả này (“The Lexus and the Olive tree”, xuất bản năm 1999), tôi có cảm nhận thích thú hơn có lẽ lần đầu tiên được tiếp cận với một phong cách diễn giải một vấn đề hết sức phức tạp ở tầm vĩ mô toàn cầu thông qua việc tổng hợp, phân tích sự kiện với kết cấu và văn phong  báo chí đầy ấn tượng và hấp dẫn, nhưng lại rất giản dị, dễ hiểu đối với số đông. Nhưng đối với quyển sau, khi đọc tôi đã không còn sự hứng khởi đó nữa, có lẽ trước hết về sự lặp lại của cách viết, sự diễn giải quá sâu về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) của một người không chuyên. Sau đó là những nhận định về một thế giới tất yếu sẽ phẳng do tác động của 10 nhân tố mà bản thân tôi chưa bị thuyết phục, thậm chí không đồng tình nhưng có thể sẽ không có đủ trình độ, tư liệu và kinh nghiệm để phản bác lại tác giả tầm cỡ này. Thực ra, 10 nhân tố làm phẳng Thế giới mà Friedman đưa ra đều dựa trên nền tảng ICT, từ hệ điều hành Windows, Internet, công nghệ Web, các phần mềm xử lý công việc đến các phương thức chia sẻ tài nguyên thông tin và các mô thức hoạt động kinh tế, thương mại mới. Cảm nhận của cá nhân tôi là ông  Friedman có vẻ đã hơi bị khích động một cách thái quá khi đề cao vai trò quyết định của ICT trong việc làm phẳng Thế giới mà ít quan tâm đến những hiệu ứng phụ hết sức tiêu cực của chúng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia. Chắc chắn những gì đã và đang thách thức con người trong Thế giới thực như mafia, khủng bố, “ô nhiễm” môi trường sinh thái,… cũng sẽ có mặt trong Thế giới ảo trên mạng và hậu quả là khôn lường. Có thể thấy sự đua tranh ngày càng rõ rệt và đa dạng giữa hai thế giới này và đâu đó đã xuất hiện tình trạng Thế giới ảo đang lấn lướt Thế giới thực. Thật trớ trêu, mặc dù chính con người đã tạo ra Thế giới ảo nhưng có vẻ như con người không còn điều khiển nổi nó mà ngược lại, Thế giới ảo đang tác động, chi phối tư duy và hoạt động của con người.                  Offline với Thế giới thực và online với Thế giới ảo  Nhiều người ban đầu chỉ coi mạng, Web, game online, blog,… chỉ là các phương tiện để tìm kiếm thông tin, để khám phá, hoặc để giải trí, thư giãn. Nhưng ranh giới giữa những mục tiêu vô hại thậm chí còn có ích đó và cái “say”, cái “nghiện” cũng thật mong manh như trong trường hợp ma túy vậy. Chỉ riêng cái việc “nghiện” trò chơi trực tuyến (game online) của các cô, cậu học trò thời nay cũng đã làm bao bậc phụ huynh ăn không ngon, ngủ không yên. Ngay bản thân tôi cho dù trên đầu “muối đã nhiều hơn tiêu” cũng phải “cảnh giác” đến mức không dám đụng đến game online vì quá biết hấp lực không thể coi thường của nó. Mà trên mạng còn có biết bao nhiêu thứ có hấp lực còn khủng khiếp hơn nhiều, điều này báo chí đã nói quá nhiều rồi. Một thực tế rất đáng cảnh báo, như nhận định của chính blogger đã đặt câu hỏi kích hoạt cho diễn đàn nói đến ở đầu bài viết, ngày càng có nhiều người (mà đáng lo thay, chủ yếu là người trẻ thế hệ 8x, 9x) chỉ sống trên Thế giới ảo. Họ là tất cả trong thế giới-của-riêng-mình. Họ không đủ bản lĩnh và khả năng chịu đựng những thách thức để sống ngoài đời thật, vì thế họ trốn chạy (offline)Thế giới thực để đắm mình (online) vào Thế giới ảo. Họ đã đánh mất chính mình. Họ là một thảm họa về cái tôi cô đơn trong cộng đồng, họ đang thật sống mà như chết trong xã hội. Chẳng có gì có thể cứu được họ, nếu như một ngày kia họ không quay lại online với đời.  Viết đến đây không hiểu sao tôi lại chợt nghĩ đến quyển tiểu thuyết best-seller nhan đề Loneliness in the Net (Cô đơn trên mạng – bản dịch của Nguyễn Thanh Thủ, Nhà Xuất bản Trẻ, 2006) của nhà khoa học-nhà văn người Balan, Tiến sĩ khoa học Janusz L. Wisniewski. Một tiểu thuyết trong đó những vấn đề khô khan của khoa học được đan xen vào câu chuyện tình yêu lãng mạn một cách giản dị và hấp dẫn bằng thủ pháp văn học điêu luyện. Chẳng hạn, tôi bị cuốn hút hoàn toàn khi đọc những dòng nhân vật chính giảng giải cho bạn gái của mình về việc xây dựng bản đồ gen, về sự sắp xếp các chuỗi AND mà một người ngoại đạo về Sinh học như tôi luôn luôn cảm thấy quá phức tạp. Nhưng ở đây tôi không muốn nói về giá trị văn học của cuốn tiểu thuyết mà chỉ muốn nói đến thông điệp mà tác giả muốn chuyển tải đến người đọc thông qua một câu chuyện tình qua mạng. Một chàng trai, quá mệt mỏi với công việc và đau đớn, thất vọng vì những người thân yêu nhất đã lần lượt từ bỏ mình, đặc biệt là khi người con gái mà mình yêu say đắm đã đột ngột bị một tai nạn khủng khiếp cướp đi mất, trong một lần tình cờ lang thang trên mạng gặp một người con gái khác. Và một cuộc tình trên Thế giới ảo bắt đầu. Một cuộc tình đẹp (mà như ai đó đã bình luận : một tình yêu dịu dàng, bất tận, một tình yêu dường như tất thảy đều mơ ước, để được “khóc và nghẹt thở”,…) kéo dài hơn 200 ngày thông qua hàng trăm bức thư điện tử (email) qua lại trên mạng. Nhưng đến khi họ từ Thế giới ảo bước ra Thế giới thực, gặp được nhau và yêu nhau nồng nàn tại Paris hoa lệ thì cũng là lúc khởi đầu cho sự trốn chạy tình yêu của cô gái (đã có chồng). Và tiếp theo là sự kiếm tìm người tình qua mạng của chàng trai với 294 bức thư gửi đi (ngày nào anh cũng viết, như là buổi cầu kinh tối) nhưng không được đọc, mà bức thư cuối cùng là tiếng kêu tuyệt vọng của một kẻ cô đơn cùng cực: “Tại sao tất cả mọi người đều bỏ anh? Tại sao? Hôm nay em hãy tìm thấy anh đi – như một năm trước đây. Xin em, hãy tìm thấy anh. Hãy cứu anh! “. Và dĩ nhiên, một kết thúc bi thảm phải đến: chàng trai đi tìm cái chết để hy vọng sẽ gặp lại tất cả những người thân yêu nhất của mình. Một cái kết hư cấu của tiểu thuyết nhưng cũng không hoàn toàn xa lạ với xã hội ngày nay. Giá như chàng trai không tự cô lập mình trên mạng, giá như chàng trai biết sẻ chia suy nghĩ và tình cảm của mình với cộng đồng trong Thế giới thực, giá như…  Không biết có quá suy diễn không, nhưng tôi vẫn cho rằng cái thông điệp cuối cùng mà J. L. Wisniewski muốn bày tỏ, đó là: bạn có thể online hoặc offline với Thế giới ảo tùy ý, nhưng dù thế nào đi nữa thì cũng đừng bao giờ offline với Thế giới thực, nếu như bạn vẫn còn khát vọng sống, khát vọng yêu thương của con người.  Anh Nguyễn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cố gắng không để xảy ra cúm gia cầm ở người      Phát biểu trước phiên họp mới đây của Quốc hội, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh Việt Nam sẽ làm hết sức để tránh trường hợp xảy ra đại dịch cúm ở người.    Trước đó, trong cuộc họp với các bộ, ngành về công tác phòng chống dịch bệnh, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho rằng diễn biến của dịch cúm gia cầm ở nước ta còn khá phức tạp. Do vậy điều quan trọng là tiếp tục tuyên truyền về mức độ nguy hiểm và tác hại khó lượng nếu đại dịch cúm ở người xảy ra. Việc bảo vệ tính mạng của con người hiện là một công việc rất quan trọng và đã có nhiều ý kiến đề xuất nên tiêu huỷ tổng đàn gia cầm trên cả nước, ước tính khoảng trên 200 triệu con. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu tiêu huỷ tổng đàn gia cầm thì số tiền hơn 450 tỉ đồng giành cho công tác tiêm phòng vacxin cúm gia cầm của cả nước có khả năng mất trắng. Chưa kể đến những thiệt hại vô cùng lớn đối với các gia đình nông dân.  Phó Thủ tướng Dũng cũng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện việc sản xuất vacxin, máy thở cho công tác phòng dịch cúm gia cầm.  Theo Kế hoạch hành động phòng chống đại dịch cúm ở người tại Việt Nam của Bộ Y tế, nhu cầu chi riêng cho y tế trong trường hợp đại dịch xảy ra sẽ vào khoảng 17.000 tỉ đồng trong đó trước mắt Việt Nam cần có gần 5.000 tỉ đồng cho những tháng cuối năm 2005 và năm 2006.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có gien gây đồng tính luyến ái hay không?      Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Di truyền con người (Human Genetics), Mỹ cho biết rất có thể có gien gây đồng tính luyến ái nam (gay) và thứ tự sắp đặt trong gien của người mẹ rất có thể ảnh hướng tới định hướng tình dục ở người con trai sau khi ra đời.    Các nhà nghiên cứu đã xem xét kỹ càng một loại “nhiễm sắc thể X lặn” trong 97 bà mẹ có con trai mắc bệnh gay và 103 bà mẹ khác có con trai khỏe mạnh, bình thường.  23% trong số 42 bà mẹ có ít nhất 2 đứa có bị gay đều có cùng một loại nhiễm sắc thể X lặn. “Đây là một tỉ lệ cao rất bất bình thường”, Sven Bockland, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc đại học Califorlia, Los Angeles cho biết.  Việc công bố nghiên cứu nói trên là một hành động “đổ dầu vào lửa” cho một cuộc tranh luận rất sôi nổi từ trước tới nay về một loại gien gây “đồng tính luyến ái” ở người. Mọi chuyện hiện dường như vẫn chưa ngã ngũ.  PV    Nguồn tin: LiveScience và Space.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có hay không tế bào gốc đa năng STAP?      Từ cuối tháng 1 năm 2014 đến nay, truyền thông Nhật Bản đã khá “vất vả” vì phải huy động nhiều nhà báo theo dõi và tường trình về hai sự kiện nổi bật. Không phải là chuyện chính trường, cũng không phải là chuyện thuế trường hay pháp trường mà là… chuyện của một tay giả điếc suốt 18 năm, và chuyện bị gọi là “ngụy tạo” của một cô gái trẻ gây scandal lớn trong giới khoa học của Nhật và thế giới.  Chuyện tay giả điếc đã được tường trình và quá rõ ràng chả ai buồn nhắc, còn scandal khoa học thì còn bỏ ngỏ và sẽ vẫn được nhắc dài dài cho đến lúc có câu trả lời dứt khoát “có hay không có”, chắc cũng phải mất dăm tháng nữa.     Phát minh vô tiền khoáng hậu!     Cuối tháng 1 năm 2014, các hệ thống truyền thông Nhật Bản đã chiếu đi chiếu lại hình ảnh một cô gái trẻ, tươi cười tay chỉ vào những biến đổi trên màn ảnh giới thiệu về  “phát minh” lịch sử của một nhóm khoa học gia mà cô làm “sếp”, có khả năng làm con người “sống lâu trăm tuổi”, “trẻ mãi không già”. Mặt mũi nhăn nheo, da dẻ sần sùi trở nên láng bóng mịn màng…, các bộ phận bị hư hại trong thân thể sẽ được thay thế bằng những bộ phận… mới toanh. Phát minh gì mà ghê thế? Nói cho rõ hơn là nhóm của cô đã công bố tiến hành thí nghiệm thành công trên chuột trong việc chế tạo tế bào gốc (tế bào lúc phôi thai) thành tế bào gốc đa năng, được đặt tên là STAP cells (Stimulus – triggered acquisition of pluripotency cells – tế bào đa năng tạo bởi sự kích thích). Ban đầu là chuột, nhưng từ chuột chuyển sang người sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian. Thực ra, việc chế tạo tế bào gốc đã và đang được nghiên cứu khắp nơi trên thế giới, chẳng hạn như cách chế tạo tế bào IPS của giáo sư Yamanaka đoạt giải Nobel Y học 2012, nhưng những phương pháp này rất phức tạp, còn cách của cô gái trẻ đã công bố được cho là khá đơn giản và không mất nhiều thời gian. Không vui sao được.       STAP là cái quái gì?     STAP được tạo ra bằng cách lấy các tế bào bạch huyết (lympocyte) của chuột sinh được bảy ngày ngâm vào dung dịch acid loãng (độ pH thấp) với nhiệt độ của cơ thể con người trong vòng 25 phút, sau đó nuôi dưỡng khoảng một tuần sẽ trở thành tế bào gốc mang tính đa năng (STAP), cấy tế bào này trở lại vào chuột, các tế bào sẽ chuyển đổi thành các tế bào mô não, da, cơ, mỡ, tủy xương, phổi và gan… hoặc tiêm vào những phôi chuột đang trong thời kỳ phát triển sẽ sinh ra những con chuột khỏe mạnh. Phát minh “lịch sử” này gồm hai luận văn “Letter” và “Article” đã được đăng trên tạp chí Nature của Anh số 505, ra ngày 30.01.2014. Nói về tạp chí này, một khoa học gia Nhật từng mơ ước: có bài mà được chọn đăng trên Nature là có thể an tâm sống suốt đời về cả hai mặt: vinh dự và tài chính.                 Cô Obokata cùng giáo sư Sasai và giáo sư Wakayama trong ngày công bố.           Về cô trưởng nhóm     Obokata Haruko sinh năm 1983 tại tỉnh Chiba. Tháng 3 năm 2006, cô tốt nghiệp ngành ứng dụng hóa học của Đại học Waseda và tiếp tục học lên bậc Cao học, sau khi tu nghiệp hai năm tại ngành y của Đại học Harvard, lấy bằng tiến sĩ vào năm 2011 cũng tại Đại học Waseda.     Obokata bắt đầu tìm cách chế tạo STAP từ lúc còn đang bậc cao học. Tháng 8 năm 2009 thì hoàn thành luận văn về STAP và mùa xuân năm 2010, cô đã gửi cho tạp chí Nature nhưng bị “chê” là không đủ tầm vóc và đang làm chuyện không tưởng. Theo một người cùng nhóm là giáo sư Kojima Hiroshi (cùng chung phòng thí nghiệm tại Đại học Harvard) thì thời gian đó, cô rất khổ tâm vì chuyện không có ai chịu hợp tác – hầu như không ai tin là cô có thể làm được chuyện “lịch sử”.      Năm 2011, trong lúc trở về Nhật thì xảy ra thảm nạn động đất vùng Tohoku (11/3/2011), việc xin visa để làm việc tại Hoa Kỳ bị chậm trễ không biết đến bao giờ mới có, cô nhớ lại giáo sư Wakayama Teruhiko lúc đó đang là trưởng nhóm nghiên cứu Vật lý – Hóa học của RIKEN (Trung tâm Nghiên cứu Vật lý & Hóa học), người đầu tiên thành công trong việc cho ra đời chuột bằng vô tính (clone) mà cô từng có lần nghiên cứu chung, có nói: “nếu thấy gì khó khăn, cứ đến phòng nghiên cứu của tôi”. Thế là cô điện thoại cho giáo sư Wakayama: “Thầy ơi, ngày mai em đến được không?” và dĩ nhiên là giáo sư Wakayama đồng ý. Khi “tái ngộ” cô ngỏ ý muốn giáo sư hợp tác trong công trình nghiên cứu tế bào STAP đang còn dang dở.            Ngày 5-8, GS Yoshiki Sasai, 52 tuổi, người hướng dẫn cho Obokata, đã được phát hiện trong tư thế treo cổ ở Trung tâm Nghiên cứu Vật lý & Hóa học RIKEN. Người phát ngôn của RIKEN xác nhận ông Sasai đã tự sát. Nhà chức trách cũng tìm thấy một bức thư tuyệt mệnh ông Sasai gửi cho Obokata.              Người phát ngôn của RIKEN cho biết cô Obokata đã sốc nặng khi nghe tin thầy mình tự sát.        Lúc đầu cho là: “chuyện không thể có”, nhưng vị giáo sư này lại thích nghiên cứu những chuyện không thể có nên ông đã nhận lời. Tưởng chỉ ở phòng thí nghiệm của giáo sư Wakayama một thời gian ngắn để chờ đi Mỹ, nhưng cuối cùng cô ở lại luôn sau một cuộc “thẩm tra năng lực” khá đơn giản của “hội đồng tuyển chọn RIKEN” và tháng 3/2012  trở thành “sếp” phòng thí nghiệm khi giáo sư Wakayama chuyển sang Đại học Yamanashi.     Đến cuối năm 2011 thì giáo sư Wakayama nhận được báo cáo: các thí nghiệm của nhóm nghiên cứu của cô Obokata đã “sinh” được một con chuột mang tế bào phát sáng màu xanh lá cây biểu hiện tính đa năng. Ngay lúc nhận được báo cáo này, giáo sư Wakayama cũng không tin và cho là sự tình cờ, may mắn. Nhưng sau đó ông cùng với cô thực nghiệm trên chuột và đã thấy được kết quả. Sau hơn hai năm điều qua chỉnh lại, ngày 29/1 nhóm của cô đã công bố phát minh vô tiền khoáng hậu.     Obokata Haruko trong phút chốc nổi danh như cồn khắp thế giới nhờ phát minh này. Truyền thông Nhật Bản “lăng-xê” cô gái trẻ Obokata thường mặc Kappo-gi (loại áo làm bếp của các bà nội trợ Nhật) trong phòng thí nghiệm còn hơn tài tử điện ảnh nổi tiếng, và nói đây là một cuộc cách mạng trong thế giới sinh học. Ai cũng nức lòng vì tin tưởng rằng con người có thể “sống dai-sống khỏe-sống hùng”. Nếu “đường đời bằng phẳng” ai cũng nghĩ giải thưởng Nobel Y khoa năm 2014 sẽ về tay nữ tiến sĩ trẻ xinh đẹp này.      Nhưng….     Chỉ một tháng sau, từ nhiều phía trong giới khoa học đã dấy lên những nghi ngờ vì các chuyên gia, nhà khoa học trong ngành sinh hóa đã phát hiện ra luận văn chế tạo tế bào STAP của nhóm Obokata đăng trên Nature có nhiều điểm nghi vấn như:     – Hình để chỉ sự biến hóa từ tế bào STAP lại là hình đã bị sửa đổi;     –  Dùng hình từ luận án khác không liên quan;      – Cách thí nghiệm hướng dẫn khác cách trình bày trong luận văn;      – Có khoảng 10 hàng trong luận văn trích nguyên từ một luận án khác…  …             Sáng 14/03/2014, Ủy Ban điều tra tổ chức họp báo…         … thì chiều cùng ngày, các đại diện của RIKEN cúi đầu xin lỗi công chúng.          “Chột dạ” vì không được nghe chính “đương sự” giải thích rõ ràng, nên ngày 10 tháng 3, giáo sư Wakayama đã đề nghị rút lại luận văn để xem xét vì ông đã không thực sự tin rằng phát minh này thành công. Tuy nhiên ông cũng “thòng” thêm một câu: phần của tôi phụ trách thì không có vấn đề, vì tôi chỉ nhận tế bào STAP từ Obokata rồi nuôi dưỡng và cấy chúng vào chuột, kết quả cho thấy các tế bào này phát triển thành các mô thần kinh và mô cơ. Tháng 2 năm ngoái, tôi đã làm theo sự chỉ dẫn của cô Obokata đứng ở ngay bên cạnh thì thành công nhưng… đó là lần duy nhất. Ông cũng cho biết, sau khi rời nhóm, chuyển sang Đại học Yamanashi, ông thể nào lặp lại kết quả tương tự cho dù Obokata đã cung cấp thêm bản hướng dẫn các bước kỹ thuật.     Ngoài ra, cũng có nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới than phiền là dù đã làm đúng theo cách chỉ dẫn của bản luận văn đăng trên Nature nhưng chưa lần nào chế tạo được tế bào STAP thành công cả.                    “Sửa đổi”              Hai đường song song đánh dấu bằng mũi tên cho thấy ô giữa là hình được cắt dán ( đăng trên tờ Nature số 505).                Theo Obokata là chỉ cắt dán cho… dễ nhìn, nếu dùng hình nguyên thủy thì kết quả cũng không thay đổi.           “Ngụy tạo”              Bên trái (đăng trong tạp chí Nature), bên phải (trong luận  án tiến sĩ của Obokata năm 2011. Hai hình hoàn toàn tương tự dù điều  kiện thí nghiệm khác nhau). Obokata giải thích đây là sự nhầm lẫn trong  việc sử dụng hình và đã điều chỉnh với RIKEN và tờ NATURE ngày 9 tháng  3.              Phân minh     Chuyện như vậy nên RIKEN không thể im lặng. Ngày 14/3 và ngày 1/4, Ủy ban Điều tra và hội đồng quản trị của RIKEN đã họp báo xin lỗi, vì đã gây phương hại đến lòng tin của người dân, của cộng đồng khoa học thế giới đối với Nhật Bản.     Về luận văn đăng trên Nature và nhóm Obokata, trưởng ban điều tra là ông Ishii Shunsuke đã cho biết: sau vài lần gặp gỡ Obokata và nhóm, những lần điều tra riêng biệt từ nhiều phía để hỏi cho ra lẽ, Ủy ban Điều tra kết luận:     – Trong sáu điểm nghi ngờ, có hai điểm bị coi là bất chính vì đã dùng hình sửa đổi và ngụy tạo.      – Cá nhân cô Obokata cố ý chủ trương chuyện bất chính này.      – Hai người cùng nhóm có “trọng lượng” nhất là giáo sư Wakayama và Sasai (người “chỉ đạo” trong việc viết luận văn và đã từng có nhiều luận văn đăng trên Nature) thì không bị kết tội bất chính nhưng bị kết tội là đã không quản lý chặt chẽ dữ liệu chính xác trước khi “công bố”, trách nhiệm cũng rất nặng nề.      – Obokata bị chỉ trích rất nặng về những hành động thiếu “đạo đức khoa học” không thể nào bao che hay tha thứ, cần phải giáo dục.             Phản luận     Ngay trong ngày họp báo của Ủy ban Điều tra (ngày 1 tháng 4) qua một luật sư đại diện, cô Obokata đã công bố một thông báo phản luận lại những kết tội của “Ủy ban Điều tra” và RIKEN.  Cô nói: Tôi cảm thấy thất vọng và tức giận. Đây chỉ là một lỗi lầm không ác ý, nhưng bị kết tội là “cải sửa (kaizan- 改ざん)”, “ngụy tạo (netsuzo-ねつ造). Tôi không thể chấp nhận những cáo buộc này và sẽ “thưa” RIKEN để làm cho ra lẽ. Nếu cứ để nguyên tình trạng này thì việc chế tạo tế bào STAP sẽ bị hiểu lầm là “ngụy tạo”.     * Ngày 9 tháng 4, cô chính thức “trình diện” trước dư luận. Trong nước mắt đầm đìa, cô xin lỗi tất cả mọi người liên quan vì cách làm quá “chủ quan chỉ có một mình… biết” của cô đã làm phiền nhiễu nhiều người. Ngoài những phản luận như đã trình bày ở trên, cô khẳng định như đinh đóng cột:     – “Có tế bào STAP”;      – “Đã thí nghiệm thành công 200 lần;     – “Có người trong RIKEN cũng đã thành công”;  v à       – “Trong điều kiện cho phép sẽ cố gắng chứng minh sự hiện hữu của STAP trước bá quan văn võ”.      Cuối cùng cô yêu cầu:      – Mở lại cuộc điều tra vì cô cho là không đầy đủ;     – Chọn lại những nhân vật trong Ủy ban Điều tra, vì những nhân vật trong Ủy ban Điều tra không đủ tư cách, có vài người đã bị nghi ngờ là “cải sửa” luận văn của chính mình trong quá khứ.      Sau đó, Obokata Haruko bổ túc “hồ sơ” để chứng minh những điều mình đưa ra không phải là “cải sửa”, “ngụy tạo”.       *Ngày 16/4, sếp trực tiếp của nhóm là giáo sư Sasai Yoshiki (52 tuổi), đã có buổi họp báo. Sau khi đùn đẩy tất cả trách nhiệm cho ông Wakayama với lý do là ông chỉ “nhập cuộc” vào giai đoạn cuối (lúc viết luận văn), nên không dám qua mặt ông Wakayama để hỏi trực tiếp Obokata về tiến trình chế tạo STAP, vì tin tưởng “Wakayama là người của thế giới” đã cùng với Obokata thí nghiệm thì làm sao mà sai trật”?      *Ngày 8 tháng 5, Ủy ban Điều tra cũng của RIKEN sau khi thay đổi một vài nhân sự đã họp báo cho biết RIKEN không mở lại cuộc điều tra vì những chứng cớ “cải sửa”, “ngụy tạo” quá rõ ràng, chẳng hạn như Obokata đã dùng những hình này trong những luận văn khác chứ không phải chỉ nhầm cho lần này, ngoài ra có muốn điều tra lại cũng không biết “đâu mà mò” vì những quyển sổ khoa học (dùng ghi chép, kết quả, tình trạng thí nghiệm v.v…) mà cô “bổ túc” không đầy đủ, rất mơ hồ, lại không ghi rõ ngày tháng… cho nên vẫn giữ nguyên kết luận như lần trước: “cải sửa”, “ngụy tạo”. Một ủy ban đã được lập ra để chờ ngày… xử tội cô.     Tuy nhiên khi trả lời câu hỏi của báo chí: “STAP có hay không có? Ủy ban Điều tra RIKEN vẫn né tránh: chuyện ngụy tạo luận văn và chuyện tế bào STAP có hiện hữu hay không là hai chuyện khác nhau. Nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là xem xét luận văn, nhưng cho biết sẽ dừng một năm với một nhóm khoa học mà người trách nhiệm là ông Niwa Hitoshi (cùng chấp bút luận văn STAP) để xác định STAP có hay không có.       *Ngày 13 tháng 6, một ủy ban điều tra độc lập không dính dáng gì với RIKEN đã họp báo và thẳng thừng đề nghị:     – Giải tán phòng thí nghiệm của cô Obokata,     – Phạt thật nặng những người liên quan như Obokata, Sasai, Takeichi (sếp của hai người này),     – Ủy ban độc lập đề nghị cho Obokata gia nhập nhóm nghiên cứu xem STAP có tồn tại hay không.              Phòng thí nghiệm dành riêng cho Obokata vừa được hoàn thành.           Thế thì “có hay không có”?     Qua các sự kiện như đã trình bày ở trên giữa hai phía thì ta thấy phần thắng nghiêng hẳn về phía RIKEN với những chứng cớ rất… khoa học, theo lẽ thường tình thì đường vào… khoa học của Obokata coi như “bít lối”, thế nhưng câu hỏi mọi người muốn biết nhất: “thế thì STAP có hay không có?” vẫn chưa có câu trả lời kể cả những “tai to mặt lớn” của RIKEN từng vang danh thế giới.     Nghe có vẻ như chuyện đùa, vì nếu luận văn của cô bị coi là sửa đổi, ngụy tạo thì chuyện tế bào STAP chỉ là chuyện không tưởng, tại sao RIKEN lại phải dùng một thời gian một năm để kiểm nghiệm lại “có” hay “không có”? Đây là một điều thật khó hiểu mà không ai dám giải đáp.  Cũng có “tin đồn” cho rằng sở dĩ RIKEN phải “lao vào cuộc” một phần cũng là vì nghe chính ba khoa học gia thuộc loại hàng đầu của Nhật (đứng tên chung trong luận văn STAP) là các ông Sasai Yoshiki, Wakayama Teruhiko, Niwa Hitoshi dù chủ trương phải rút luận văn và bắt đầu làm lại từ số 0….tâm sự.      “Hãy coi chuyện tế bào STAP là giả thuyết nên làm lại từ đầu, tuy nhiên sự tồn tại của nó rất cao vì vẫn chưa có phản chứng nào cho ra hồn để kết luận đó là chuyện giả dối”, giáo sư Sasai cho biết.     Có nhiều “hiện tượng” kỳ lạ về STAP mà tôi không thể giải thích, vì thế chưa có chứng cớ nào để kết luận: tế bào STAP không tồn tại, giáo sư Wakayama nói.     Chính mắt tôi thấy là khoảng hai hay ba lần Obokata đã chế tạo được tế bào STAP mà! Giáo sư Niwa nói.             Obokata đã từng đạo văn?              Vì đã bị đưa lên bàn mổ nên nhiều người tìm đọc luận văn tiến sĩ của cô Obokata đã nộp cho Đại học Waseda cách đây 3 năm thì thấy 20 trang đầu của luận văn này cô trích “nguyên con” bản văn đăng trên website của Trung tâm Nghiên cứu Sức Khỏe quốc gia Hoa Kỳ (US National Institut of Health) cùng một số hình ảnh khác lấy từ trang nhà của công ty sinh hóa Cosmos. Về cáo buộc này, trong một email gửi tạp chí The Wall Street Journal, cô Obokata nói rằng đó chỉ là bản nháp. Ngày 31 tháng 3, một Ủy ban đã được thành lập gồm hai người ngoài và ba người của Đại học Waseda để xem xét lại nội dung luận án của tiến sĩ Obokata cũng như cách “thẩm định” luận văn này của hội đồng thẩm định Waseda. Sau 3 tháng “điều tra” bằng cách tiếp xúc với chính đương sự và 20 người có liên quan, ngày 17 tháng 7, Ủy ban đã “báo cáo”:               – Có 26 vấn đề “bất chính” trong luận văn, nhưng đây là những hành vi sơ ý chứ không phải cố ý.               –  Đúng như đương sự nói, bản luận văn mà mọi người cho là đạo văn là bản nháp cô đã nộp nhầm chứ không phải bản chính,               Kết luận: hội đồng “thẩm định” luận án của Waseda đã làm việc… tắc trách, không tới nơi tới chốn và tính xác thực và hợp lý của nội dung luận văn còn thấp, nhưng vẫn không đủ yếu tố để có thể “tước” bằng tiến sĩ của Obokata được.           Sau mấy tháng loay hoay, nhóm khoa học do RIKEN thành lập vẫn chưa tìm được điều gì mới mẻ về STAP, theo đề nghị của dư luận, Ủy ban Điều tra độc lập, Bộ trưởng Bộ Giáo dục là… phải cho cô tham gia công việc chế tạo tế bào STAP mới rõ trắng đen, cuối cùng RIKEN đã đồng ý tạm quên chuyện “xử tội” Obokata về vấn đề ngụy tạo luận văn và đề nghị cho cô năm tháng để chế tạo lại STAP nhưng với những điều kiện thí nghiệm trung thực.     – Cô sẽ làm công việc nghiên cứu này một mình trong một tòa nhà biệt lập với tòa nhà của nhóm nghiên cứu khác (cũng đang làm công việc tương tự trong RIKEN tại Kobe từ tháng 4, nhưng vẫn chưa… ra ngô ra khoai gì cả).     – Sẽ đặt ba video camera để thâu cảnh cô thí nghiệm 24/24     – Lúc nào cũng có một vài người đứng cùng với cô bên cạnh vì sợ cô làm trò “ảo thuật”…     – Cửa ra vào và các máy móc để nuôi dưỡng tế bào sẽ được quản lý bằng khóa điện tử     –  Cô sẽ bắt đầu công việc này từ ngày 2 tháng 7 và chấm dứt vào cuối tháng 11. Tuy nhiên, nếu không có biểu hiện nào của sự thành công, công việc của cô sẽ bị chấm dứt.     – Cô chỉ cần làm giai đoạn một, tức là lấy tế bào bạch huyết từ chuột do RIKEN cung cấp, xong đem ngâm để kích thích bằng cái chất gì đó (vì có người nói chỉ có cô mới biết) để chế tạo tế bào STAP, còn sang giai đoạn nuôi dưỡng STAP thành tế bào gốc STAP xong cấy vào chuột thì đã có người khác phụ trách.     Vì muốn tham gia vào việc truy tìm STAP, Obokata đồng ý rút luận văn đã đăng trên Nature để làm lại từ đầu, dù trước đây nhất định không chịu và Nature đã rút lại luận văn của nhóm cô hôm 3 tháng 7.      Cũng có ý kiến phản đối cho là quá nghiêm khắc, canh giữ cô như … “tù”, tuy nhiên “đương sự” thì im lặng không thấy nói gì, ngoài mấy chữ với luật sư: “Tôi sẽ cố gắng hết mình”.  ***     Ngày 2 tháng 7, sau ba tháng vắng mặt, cô đã trở lại RIKEN từ bệnh viện, nơi đang tĩnh dưỡng để bắt đầu công việc mà cô cho là đi tìm lại đứa con đã bị “định mệnh” bắt buộc rời xa. Nghe nói hôm 23 tháng 7 vừa qua, sau khi rời phòng thí nghiệm, cô bị nhóm ký giả săn tin của đài NHK theo sát  khiến phải… “chạy trốn” vào một khách sạn và định dùng thang cuốn để “thoát thân”, nhưng không thành, phải nhờ người của khách sạn “giải thoát”. Trong lúc hai bên “quơ qua quơ lại”, cổ tay của cô đã bị trật khớp, phải mất hai tuần mới “bình phục” hoàn toàn. RIKEN và luật sư của cô đã kháng nghị với đài NHK. Hôm sau, sếp của nhóm thâu tin và ba ký giả đã phải xin lỗi cô Obokata (qua luật sư) vì hình thái “thu tin” quá… đáng này…     Câu chuyện tưởng là đã tạm gác sang một bên, chỉ còn chờ kết quả, nhưng RIKEN lại gặp một vài rắc rối lẻ tẻ khác từ chính những người đang làm việc trong RIKEN vì họ không đồng ý cái cách mà họ cho là “nuông chiều Obokata” quá đáng. Họ chủ trương: trước khi cho đương sự thí nghiệm lại thì những nghi vấn về luận văn STAP phải được đương sự “giải minh”. Nhưng đã lỡ “hứa” rồi, máy móc thí nghiệm đã sẵn sàng, video camera đã… đặt xong, “người canh giữ” đã chỉ định đâu vào đấy, cô cũng đã bắt đầu thí nghiệm rồi thì làm sao mà RIKEN làm khác được? Chỉ có cách là chờ và… đợi.     Người ta tiên đoán có hai “kịch bản” có thể xảy ra:     1/ Không có STAP. Cô sẽ bị khiển trách và nhận hình phạt nặng nề về tội lừa dối, và “trước mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt”.      2/ Có STAP. Cô cũng sẽ bị khiển trách chút đỉnh về những điểm “mập mờ” của luận văn đăng trên Nature, nhưng đường vào khoa học của cô sẽ thênh thang rộng mở và thế giới sẽ… nhớ ơn cô mãi mãi.      Thôi chúng ta chờ nhé. Vài tháng có là bao!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ học lượng tử áp dụng cho thế giới vĩ mô      Cơ học lượng tử không phải chỉ áp dụng được cho những đối tượng vi mô mà còn có thể áp dụng cho các đối tượng ở mọi kích thước: chim chóc, cây cối, và có thể cho cả con người. Đây là những điểm mới lạ, thú vị phát hiện nhờ những thí nghiệm tiến hành trong thập kỷ vừa qua, dẫn đến những cách nhìn hiện đại đối với vấn đề thống nhất hấp dẫn và lượng tử.      Dưới đây Tia Sáng xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết  Living in a quantum  world  của Vlatko Vedral, đăng trên Scientific American, số tháng 6/2011  về vấn đề này.  Sự khác biệt trong việc ứng dụng cơ học lượng tử (CHLT) không phải là do kích thước. Trong nhiều năm các nhà vật lý thấy rằng có thể quan sát được các hiệu ứng CHLT trong nhiều hệ thống vĩ mô [1].   Điểm cốt yếu ở đây là một hiện tượng lượng tử: đó là hiện tượng liên đới lượng tử.  Hiện tượng này có thể quan sát được ở những hệ vĩ mô ở nhiều nhiệt độ khác nhau (mặc dù chúng ta có thể nghĩ rằng sự dao động các phân tử có khả năng làm đứt mối liên đới).          Vlatko Vedral, Đại học Oxford & Đại học quốc gia Singapore          Thế nào là liên đới lượng tử (Quantum entanglement)?  Theo CHLT người ta có thể chế tạo một cặp hạt liên đới lượng tử (quantum entangled), hay còn gọi là cặp EPR (lấy chữ cái đầu của tên các nhà vật lý Einstein, Podolsky, Rosen), điều đó có nghĩa về mặt toán học đây là một cặp hạt mà hàm sóng f của chúng không thể viết thành tích trực tiếp hàm sóng của từng hạt: f không bằng f1 nhân trực tiếp với  f2, hay nói cách khác là các tính chất của các hạt không độc lập với nhau mà liên quan với nhau .   Có thể chế tạo một cặp hạt EPR hay không?  Nhà vật lý Pháp Alain Aspect đã đưa ra một phương pháp đơn giản để chế tạo cặp hạt liên đới lượng tử : khi một xung laser bắn vào một tinh thể có những tính chất gọi là “phi tuyến”, thì một photon biến thành một cặp photon liên đới lượng tử (với độ  dài sóng lớn hơn).   Ngoài ra hai photon có thể liên đới lượng tử nếu được sinh ra ví dụ từ phân rã của hạt p-meson trung hòa.  Tính chất lạ lùng của cặp hạt liên đới lượng tử  Cặp hạt liên đới lượng tử có một tính chất lạ lùng phát hiện bởi Einstein trong những năm 30 của thế kỷ trước: hai thực thể liên đới lượng tử dường như  được nối liền với nhau bởi một sợi dây vô hình, bí ẩn, dầu tách chúng xa nhau đến mức nào, trị riêng đo được của hạt này lại phụ thuộc vào trị riêng đo được của hạt kia, cho dù rằng chúng được tách rời nhau đến vô cực! Hiện tượng ảnh hưởng của phép  đo thực hiện trên một hạt này đối với hạt cách xa là một  hiện tượng “phi định xứ” (non-locality).  Einstein đã gọi hiện tượng này là một tác động ma quái ở khoảng cách (spooky action at a distance). Đây là một hiện tượng thuần túy cơ học  lượng tử. Trong những năm gần đây hiện tượng  liên đới lượng tử mở ra những triển vọng to lớn về viễn tải lượng tử, tính toán lượng tử và mật mã lượng tử[2].  Hiện nay nhiều nhà vật lý nghĩ rằng vật lý cổ điển chỉ là một phương thức mô tả xấp xỉ thế giới vĩ mô vốn cũng là lượng tử. Mặc dầu các hiệu ứng lượng tử khó quan sát được trong thế giới vĩ mô, song nguyên nhân chính không phải ở vấn đề kích thước mà là ở cung cách các hệ lượng tử tương tác với nhau. Thực ra các hiệu ứng đó là phổ quát hơn người ta suy nghĩ. Chúng có thể hoạt động trong các tế bào của cơ thể chúng ta. Điều này buộc chúng ta phải xét lại cách suy nghĩ của chúng ta và phải chấp nhận một cái nhìn mới về thế giới.  Vật lý cổ điển là bức tranh đen trắng của một thế giới đa màu sắc, như vậy ở đây có sự thất thoát và mất mát thông tin: từ đa màu sắc chỉ còn lại trắng đen. Và lý thuyết cổ điển không cho phép chúng ta lưu bắt được mọi sự phong phú của bức tranh thế giới. Mọi tinh tế màu sắc sẽ mất đi khi kích thước mà ta nghiên cứu lớn dần lên. Từng hạt cơ bản là lượng tử nhưng nếu xét nhiều hạt thì hệ trở nên cổ điển.  Song kích thước không phải là yếu tố chính ở đây: hãy xét nghịch lý con mèo Shrodinger. Năm 1935 ông đã đưa ra kịch bản minh họa thế giới vi mô và thế giới vĩ mô đã liên đới với nhau như thế nào, và từ đó ngăn cấm một sự phân chia tùy tiện giữa hai thế giới đó.  CHLT nói rằng một nguyên tử phóng xạ có thể đồng thời phân rã và không phân rã. Trong một buồng kín nếu nguyên tử được gắn liền với một cơ chế đầu độc con mèo thì mèo ta có thể chết nếu nguyên tử phân rã như vậy con mèo sẽ nằm trong một trạng thái hai mặt (vừa chết vừa sống) như là chính nguyên tử phóng xạ (xem hình 1). Như vậy vấn đề ở đây không phải là kích thước vì trạng thái hai mặt là chung cho cả nguyên tử phóng xạ lẫn con mèo.           Hình 1. Con mèo Schrodinger nằm trong một trạng thái hai mặt: vừa chết vừa sống.          Theo quan điểm hiện đại thế giới trông như cổ điển chỉ vì các tương tác phức tạp giữa một vật thể với các vật thể chung quanh đã che dấu các hiệu ứng lượng tử khỏi tầm nhìn của chúng ta. Thông tin về thực trạng sức khỏe của con mèo nhanh chóng rò rỉ vào môi trường dưới dạng các photon và sự trao đổi nhiệt. Nhiều hiện tượng lượng tử liên quan đến  tổ hợp của các trạng thái cổ điển (như sống và chết của con mèo) và tổ hợp ấy có khuynh hướng phát tán. Sự  thất thoát (mất mát) thông tin  xảy ra vì hiện tượng mất liên kết (decoherence).  Các đối tượng có kích thước lớn dễ dàng dẫn đến hiện tượng mất liên kết hơn là các đối tượng có kích thước bé, cũng vì đó mà các nhà vật lý chỉ xem CHLT là lý thuyết của vi mô. Trong nhiều trường hợp nếu sự rò rỉ thông tin chấm dứt (nghĩa là có liên kết) thì khía cạnh lượng tử sẽ biểu hiện toàn diện. Bản chất chính của vấn đề là hiện tượng liên đới lượng tử, danh từ do Schrodinger đưa ra năm 1935.  Trong một vật thể lớn các hạt có thể liên đới với những hạt ngoại lai do đó làm mất thông tin từ những tương tác nguyên thủy. Theo ngôn ngữ của hiệu ứng mất liên kết (decoherence) thì sự rò rỉ thông tin ra ngoài môi trường dẫn đến hệ quả là hệ bỗng biến thành cổ điển. Việc khó khăn bảo toàn tính liên đới lượng tử là thử thách cho những ai làm việc trong lĩnh vực máy tính lượng tử. Một thí nghiệm năm 2003 chứng tỏ rằng các hệ lớn có thể giữ được liên đới lượng tử nếu tìm cách làm cho sự rò rỉ thông tin giảm thiểu hoặc không xảy ra được.   Liên đới vĩ mô (macroscopic entanglement)  Sau đây là một thí nghiệm liên đới lượng tử ở mức vĩ mô. Gabriel Aeppli (Đại học College London) và cộng sự đã đặt một thỏi muối lithium fluoride trong một từ trường ngoài. Chúng ta có thể hình tượng các nguyên tử như là những thanh nam châm có spin (spinning magnet), các spin sẽ sắp cùng chiều trong trường ngoài đó là hiện tượng  từ hóa. Ở đây xuất hiện một hiệu ứng lượng tử bổ sung và các nhà vật lý cho rằng hiện tượng liên đới là bản chất của vấn đề. Xem hình 2 ta thấy dữ liệu thực nghiệm chỉ trùng với tính toán nếu chú ý đến hiệu ứng lượng tử.  Để tách khỏi các hệ quả có thể gây nên bởi chuyển động nhiệt Aeppli đã thực hiện thực nghiệm ở nhiệt độ rất thấp – một vài millikelvin.  Alexandre Martins de Souza (Trung tâm nghiên cứu vật lý Brazil, Rio de Janeiro) và cộng sự đã phát hiện hiện tượng liên đới vĩ mô trong các vật liệu như carboxylate đồng ở nhiệt độ phòng hoặc ở nhiệt độ cao hơn. Các nhà vật lý bắt đầu tìm thấy mối liên đới trong các hệ với kích thước lớn ở nhiệt độ cao.   Nhiều thí nghiệm khác chứng tỏ rằng một số lượng lớn các nguyên tử có thể liên đới với nhau và tạo nên những trạng thái mà vật lý cổ điển không tiên đoán được (xem lại hình 2)          Hình2. Liên đới vĩ mô (macroscopic entanglement) trong muối lượng tử. Các nhà vật lý đã nghĩ rằng hiệu ứng lượng tử chỉ hoạt động ở mức vi mô. Song những thí nghiệm hiện đại chứng tỏ rằng không phải như vậy. Ví dụ xét  các nguyên tử trong một tinh thể muối. Trong hình trên đây ta thấy các nguyên tử sắp cùng hướng nhanh hơn nếu sử dụng lý thuyết liên đới  lượng tử. Và dữ liệu thực nghiệm cho kết quả trùng với thuyết liên đới lượng tử.           Nếu chất rắn có thể liên đới khi chúng có kích thước lớn và có nhiệt độ thì người ta sẽ tự hỏi ngay liệu điều đó có thể xảy ra cho những cơ thể có kích thước lớn và có nhiệt độ thể hiện sự sống hay không?  Những con chim két cổ đỏ   Những con chim két cổ đỏ (robin) hằng năm di cư từ vùng Scandinavia đến những vùng ấm áp của Phi châu ở vùng xích đạo và di cư ngược lại khi miền Bắc trở lại ấm áp trong mùa xuân. Chúng bay như vậy một quãng đường dài 13.000 km một cách dễ dàng. Người ta muốn tìm hiểu cơ chế định hướng kiểu la bàn của chúng.  Năm 1970 Wolfgang và  Roswitha Wiltschko, Đại học Frankfurt, Đức làm thí nghiệm với chim robin bằng cách đặt chúng vào một từ trường nhân tạo.          Hình 3 .Chim két cổ đỏ di cư trong từ trường          Và thấy rằng chúng không phân biệt được Nam và Bắc song chúng lại phân biệt được độ nghiêng (inclination) của từ trường quả đất -nghĩa là góc mà đường từ trường làm với mặt đất, điều đó đủ cho chúng để thực hiện chuyến bay. Một điều lý thú là những con robin mù thì không có bất kỳ một phản ứng gì với từ trường, điều này có nghĩa là từ trường chỉ nhạy đối với con mắt của chúng. Năm 2000 Thorsten Ritz, Đại học Nam Florida đưa ra giả thuyết chính hiện tượng liên đới là chìa khóa của vấn đề. Dựa trên các công trình trước của Klaus Schulten, Đại học Illinois, Thorsten Ritz đưa ra giả thuyết rằng trong mắt chim robin có một loại phân tử với hai electron làm thành một cặp liên đới với spin tổng cộng bằng không. Khi các phân tử này hấp thụ ánh sáng thì các electron thu đủ năng lượng để tách rời khỏi liên đới và trở thành nhạy cảm đối với các ảnh hưởng từ bên ngoài trong đó có từ trường. Nếu từ trường có độ nghiêng thì điều này ảnh hưởng đến hai electron một cách khác nhau tạo nên một sự mất cân bằng làm thay đổi phản ứng hóa học đối với phân tử. Sự khác biệt này được chuyển thành xung lượng thần kinh tạo nên một hình ảnh của từ trường trong não bộ của chim.     Hiện tượng liên đới trong quang hợp  Quá trình  quang hợp là quá trình theo đó cây cối biến đổi ánh sáng Mặt trời thành năng lượng hóa học. Tia sáng đi đến làm bắn ra các electron và các electron này cần tìm đường đi đến một điểm: trung tâm của phản ứng hóa học tại đấy chúng trút năng lượng của mình để tạo nên các phản ứng hóa học tiếp nhiên liệu cho các tế bào của cây. Vật lý cổ điển không giải thích được hiệu quả gần lý tưởng (near-perfect) của quá trình này chỉ có CHLT mới tính được. Trong thế giới lượng tử hạt chuyển động theo nhiều quỹ đạo đồng thời. Trường điện từ trong cây cối có thể làm cho một số quỹ đạo bị triệt tiêu và một số quỹ đạo khác được cộng hưởng với nhau (liên đới) làm cho nhiều electron khỏi mất công suất trong những quỹ đạo vô ích do đó tăng khả năng quy tập về một trung tâm phản ứng hóa học cần thiết. Các kết quả này có thể dẫn đến một môn học quan trọng – sinh học lượng tử (quan tum biology).  Một số thí nghiệm quan trọng  Như trên đã nói các hiệu ứng lượng tử không giới hạn trong các hạt cơ bản mà thể hiện trong những hệ có kích thước lớn hơn, ở nhiều nhiệt độ. Bảng sau đây liệt kê một số thí nghiệm chứng tỏ điều khẳng định trên.                                                        Hệ nghiên cứu      Vào   năm       Nhiệt   độ          Liên   đới của 10 12 (hoặc nhiều hơn) nguyên tử trong  từ hóa  của kim loại carboxylate *        2009        630 K          Liên   đới  trong các đại phân tử với 430   nguyên tử **        2010          01 K          Liên   đới giữa 3 bit lượng tử trong mạch siêu dẫn ***        2010          25 milliK          Liên   đới giữa dao động (chứ không phải giữa các tính chất nội tại như spin) của   các ion berylium và magnesium ****        2009          0,1 milliK            *AlexandreMartins de Souza et al. (Trung tâm nghiên cứu vật lý Brazil)  ** Stefen Gerlich, Sandra Eibenberger et al. (Đại học Vienna)  *** Leonardo DiCarlo, Robert J.Schoelkopf et al. (Đại học Yale, Đại học Waterloo  )  ****John D.Jost, David J.Wineland et al. (Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ)  Kết luận   Sự phân chia cổ điển và lượng tử hiện nay được xem là không cơ bản. Vấn đề kích thước không phải là bản chất cho sự phân chia. Như vậy không gian và thời gian đối với CHLT là thứ yếu và hiện tượng liên đới lượng tử lại là chính yếu. Hiện tượng này nối liên thông các hệ lượng tử không cần đến quy chiếu không thời gian.  Và chúng ta phải tìm cách giải thích không thời gian như những đột sinh từ vật lý không có không thời gian. Quan điểm này sẽ mở đường cho việc hòa hợp thuyết lượng tử với lý thuyết hấp dẫn. Như vậy không thời gian cổ điển đột sinh từ liên đới lượng tử thông qua quá trình mất liên kết (process of decoherence).  Một khả năng còn lý thú hơn: hấp dẫn không phải là một lực tự thân mà có thể là tiếng ồn dư âm đột sinh từ tính mờ (fuzziness) lượng tử của nhiều lực khác trong vũ trụ. Ý tưởng hấp dẫn cảm ứng (induced gravity) là của  Andrei Sakharov hình thành trong năm 1960. Nếu điều này là đúng thì việc xem hấp dẫn như một lực cơ bản là một việc mơ hồ và các cố gắng lượng tử hóa hấp dẫn chỉ là một điều lầm lạc. Hấp dẫn thậm chí không tồn tại ở mức lượng tử.                                               CC. biên dịch   ————————  Tài liệu tham khảo:  [1] Luigi Amico, Rosario Fazio, Andreas Osterloh and  Vlatko Vedral, Entanglement in Many-Body Systems,   Reviews of Modern Physics, Vol. 80, No. 2, pages 517–576; May 6, 2008.  [2] Cao Chi, Vật lý hiện đại, những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh, NXB Tri thức, 2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ Học Lượng Tử : từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan      Tạp ch&#237; La Recherche số th&#225;ng 4/2008 c&#243; đăng b&#224;i b&#225;o của c&#225;c t&#225;c giả Michel Bitbol, Anton Zeilinger, Markus Aspelmeyer, Carlo Rovelli &amp; Matteo Smerlak n&#234;u l&#234;n quan điểm sai lầm của Einstein về cơ học lượng tử (CHLT) v&#224; đưa ra một quan điểm mới về CHLT: Cơ học lượng tử tương quan (Relational Quantum Mechanics, viết tắt l&#224; RQM).  Nội dung b&#224;i b&#225;o kh&#244;ng chỉ li&#234;n quan đến CHLT m&#224; đặt ra một vấn đề quan trọng trong nhận thức luận đối với thế giới kh&#225;ch quan. B&#224;i b&#225;o sẽ rất bổ &#237;ch v&#224; cần thiết cho c&#225;c độc giả nghi&#234;n cứu v&#224; giảng dạy vật l&#253; n&#243;i ri&#234;ng v&#224; triết học n&#243;i chung.    Như chúng ta biết cơ học cổ điển chỉ ứng dụng được đối với thế giới vĩ mô. Đối với thế giới vi mô (thế giới các hạt cơ bản) phải ứng dụng cơ học lượng tử (CHLT). Từ năm 1920 CHLT đã mô tả thế giới vi mô với độ chính xác cao. Song nhà vật lý lớn của mọi thời đại là Einstein đã không thừa nhận CHLT. Einstein có lý hay không? Những thí nghiệm trong năm 2007 chứng tỏ rằng Einstein đã sai lầm. Các thí nghiệm này cho chúng ta biết rằng: các tính chất của các hạt “không tồn tại“ trước khi các tính chất đó được quan sát bởi một thiết bị đo đạc.  Một dạng thức mới của CHLT gọi là “Cơ học lượng tử tương quan“ (Relational Quantum Mechanics) hy vọng làm sáng tỏ vấn đề [1].  CHLT đòi hỏi một nhận thức luận đổi mới triệt để đối với vũ trụ khách quan. Và một thế kỷ cần thiết để làm điều đó.  Từ năm 1927 Einstein đã cho rằng CHLT là không hoàn chỉnh. Einstein nghĩ rằng vật lý học phải mô tả thiên nhiên đúng như thật sự của nó. Trong cuộc trò chuyện giữa Einstein với Abraham Pais, Einstein đặt ra câu hỏi thách thức: “Mặt trăng có còn đó hay không nếu chẳng ai nhìn nó?“ với hàm ý nghi ngờ CHLT.  Nghịch lý EPR  Sự chống đối lên đến đỉnh cao khi Einstein cùng Podolsky và Rosen đưa ra cái gọi là nghịch lý EPR (lấy theo chữ đầu từ tên của ba người). Tên bài báo là: Liệu sự mô tả thực tại vật lý bằng CHLT có thể xem là đầy đủ hay không? (Can QM Description of Physical Reality Be Considered Complete?).  Nội dung của nghịch lý có thể tóm tắt như sau.  Theo CHLT người ta có thể chế tạo một cặp hạt liên đới (entangled) lượng tử, điều đó có nghĩa về mặt toán học là một cặp hạt mà hàm sóng của chúng không thể viết thành tích trực tiếp hàm sóng của từng hạt : f không bằng f1 nhân trực tiếp với f2, hay nói cách khác là các tính chất của các hạt không độc lập với nhau mà liên quan với nhau [2].  Xét hai hạt liên đới lượng tử và tách chúng ra xa nhau. Khi đo tọa độ của hạt thứ nhất thì sẽ biết được tọa độ của hạt thứ hai, vì chúng liên đới lượng tử. Song bây giờ lại đo xung lượng của hạt thứ hai ta lại có thể biết được xung lượng của hạt thứ nhất. Như thế ta có thể đồng thời đo được tọa độ lẫn xung lượng của mỗi hạt : điều này trái với nguyên lý bất định Heisenberg của CHLT. Đó là nghịch lý EPR.  Lý luận trên dựa trên hai giả thuyết:  1/ Giả thuyết hiện thực (realism): hạt có một tính chất khách quan trước khi ta thực hiện phép đo tính chất đó,  2/ Giả thuyết định xứ (locality): phép đo trên hạt thứ nhất không ảnh hưởng đến kết quả phép đo trên hạt thứ hai, mặc dầu chúng cách xa nhau.  Bohr đã trả lời EPR vài tuần sau khi EPR công bố nghịch lý nói trên. Trong bài trả lời, Bohr phủ nhận giả thuyết hiện thực (tuy rằng có một ít yếu tố mơ hồ trong bài trả lời, song Bohr đã đi đúng đường). Theo Bohr CHLT có thể biết được các tính chất của hạt trong điều kiện thực hiện phép đo các tính chất đó. CHLT không mô tả thực tiễn theo ý tưởng tiên quyết của chúng ta. Bohr cho rằng vô nghĩa khi gán cho hạt một tính chất nào đó mà lại tách rời khỏi các điều kiện thực nghiệm cho phép đo được tính chất đó.  Tham số ẩn  Một số nhà vật lý muốn cứu vãn tình thế của hiện thực luận đã xây dựng lý thuyết lượng tử chứa các “tham số ẩn“ nhằm bổ sung CHLT để miêu tả các tính chất của hạt.  Người ta cho rằng các khó khăn gặp phải đều liên quan đến cách đoán nhận xác suất (probabilistic interpretation) của CHLT và cách xử sự động học ở mức vi mô sở dĩ mang tính xác suất vì rằng chúng ta không chú ý đến những tham số ẩn [3].  Bất đẳng thức Bell  Năm 1964 John Bell (xem hình 2) tìm ra bất đẳng thức gọi là bất đẳng thức Bell và nhờ những bất đẳng thức đó chứng minh rằng những giả thuyết hiện thực và định xứ (trong đó có cả các lý thuyết định xứ với tham số ẩn) đều không phù hợp với CHLT.     Thế nào là bất đẳng thức Bell ?  Sau đây là một thí nghiệm để suy ra bất đẳng thức Bell.  Charlie chuẩn bị 2 hạt (không quan trọng là Charlie đã chuẩn bị như thế nào) và gửi cho Alice &Bob mỗi người một hạt. Alice &Bob mỗi người thực hiện hai phép đo. Và kết quả các phép đo cho hoặc +1 hoặc -1. Gọi các trị số Alice thu được là Q và R, còn Bob thu được là S và T. Nếu thực hiện các phép tính theo tư duy hiện thực và định xứ thì một tổ hợp nhất định các giá trị trung bình của Q, R, S & T phải nhỏ hơn hoặc bằng 2. Đó là bất đẳng thức Bell. Còn nếu tính toán theo CHLT đối với hai hạt liên đới lượng tử thì lại thu được số 2 x căn(2) = 2,82843 cho tổ hợp đó [3].  Các dữ liệu thực nghiệm cho thấy rằng bất đẳng thức Bell không đúng còn các kết quả  tính theo CHLT là chính xác .  Hai vấn đề gắn liền với bất đẳng thức Bell :  (1). Cho rằng Q, R, S, T tồn tại độc lập với các phép đo. Đó là quan điểm hiện thực (realism).  (2). Việc giả định rằng Alice khi tiến hành phép đo không ảnh hưởng gì đến kết quả các phép đo do Bob thực hiện. Đó là quan điểm định xứ (locality).  Hai quan điểm trên kết hợp lại thành quan điểm hiện thực định xứ (local realism). Bất đẳng thức Bell không đúng với thực tế và như vậy ít nhất một trong hai quan điểm nói trên là sai lầm. Đây là bài học lớn cho chúng ta : vũ trụ không hiện thực định xứ !  Sự vi phạm bất đẳng thức Bell cho chúng ta thấy rằng:  Cơ học lượng tử là đúng và hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement) là một nguồn sức mạnh mới cho khoa học và công nghệ vì hiện tượng liên đới lượng tử làm đột sinh một ngành mới quan trọng đó là lý thuyết thông tin lượng tử (Quantum Information Theory) dẫn đến ngành mật mã lượng tử (Quantum cryptography).  Bất đẳng thức Legget  Nhiều nhà vật lý cho rằng nên giữ lại quan điểm hiện thực (realism), mà từ bỏ quan điểm định xứ (locality).  Người ta giả sử rằng hai photon liên đới lượng tử có một trạng thái phân cực (polarisation) (xem chú thích [4]) xác định, nghĩa là tuân theo hiện thực luận.  Người ta loại giả thuyết định xứ bằng cách cho rằng tồn tại một tác động ở khoảng cách vô cùng (phi định xứ), một tác động ma quái (spooky action) mà Einstein đã nói đến.  Nhà vật lý đoạt giải Nobel 2003 Anthony Leggett đã tìm ra một hệ các bất đẳng thức (tương tự như bất đẳng thức Bell) đối với các phép đo các mối liên quan của hai hạt photon nói trên cho những lý thuyết không định xứ song vẫn dựa trên hiện thực luận.  Thí nghiệm thực hiện năm 2007 của Anton Zeilinger (và nhiều người khác) [5] lại loại trừ một lớp lý thuyết không định xứ song theo hiện thực luận vì vi phạm hệ bất đẳng thức Anthony Leggett. Vậy hy sinh định xứ luận không đủ cứu vãn hiện thực luận.  Nói cách khác các thí nghiệm đều dẫn đến kết quả phủ nhận hiện thực luận lẫn định xứ luận.  Cơ học lượng tử tương quan (Relational Quantum Mechanics, viết tắt là RQM) : vũ trụ lượng tử không tách rời với phối cảnh (perspective)  Khi ta vẽ một vật gì nhất thiết phải có phối cảnh của vật đó, nói cách khác phải đặt vật đó trong mối tương quan với cảnh trí xung quanh (xem hình 3). Họa sĩ người Ý thời Phục hưng Piero della Francesca, nhà lý thuyết phối cảnh họa đã phát biểu “Nulla imago sine perspectiva” (Không có hình ảnh nào là không có phối cảnh).  Sự kỳ lạ của CHLT nằm ở ranh giới giữa đối tượng lượng tử ta muốn nghiên cứu và môi trường xung quanh. Vấn đề đặt ra ở đây : ranh giới này có phải là tình cờ hay là yếu tố nội tại trong cấu trúc của vũ trụ?  Những hiện tượng khó hiểu của CHLT: hai hạt liên đới lượng tử tương tác với nhau tức thời, hạt electron vừa ở điểm này vừa ở điểm kia,… thế giới lượng tử quả thật kỳ lạ. Song CHLT lại cho những kết quả tính toán phù hợp với thực nghiệm với độ chính xác cao. Nhà vật lý Mỹ, giải Nobel, Feynman khuyên rằng : thôi đừng bàn về quan điểm nữa mà hãy ngồi yên lặng và tính toán.  Một điểm yếu trong đoán nhận CHLT của trường phái Copenhague (Bohr) : khi nghiên cứu một đối tượng lượng tử thì xem môi trường còn lại như phòng thí nghiệm, thiết bị kể cả người nghiên cứu là những vật thể cổ điển. Nói cách khác họ đã giả định tồn tại một ranh giới giữa hệ lượng tử và các vật thể xung quanh đang thực hiện hành vi quan sát. Song ranh giới đó nằm ở đâu? mà làm sao có hai vũ trụ cùng tồn tại song song trong lòng một lý thuyết có tham vọng mô tả mọi đối tượng vật lý.  RQM là một đoán nhận CHLT chủ trương rằng trạng thái của một hệ lượng tử là phụ thuộc vào người quan sát, nói cách khác khi nói trạng thái ta phải nói đến mối tương quan giữa hệ và người quan sát.  Đó là quan điểm phôi thai vào năm 1990 của Carlo Rovelli. Cách đoán nhận này có nguồn gốc từ lý thuyết tương đối hẹp và một số ý tưởng của Wheeler về thông tin lượng tử (quantum information).  Bức tranh trên đây của Kandinsky mô tả được tinh thần tương quan luận: trong bức tranh có một sự đan kết của nhiều phối cảnh và chính tại những chỗ giao nhau các vật bộc lộ ra các tính chất của chúng, ở đây là màu sắc. Trong tranh ta không thể nói đến màu sắc của một vật lấy riêng biệt ra.  Như vậy nội dung vật lý của một lý thuyết không phải là những tính chất nội tại tự thân của các đối tượng mà là những mối tương quan giữa các đối tượng với nhau. Cho nên đối với một người quan sát này thì hệ có thể nằm trong trạng thái đơn đã “co” lại (collapsed) (xem chú thích [6]), song đối với một người quan sát khác thì hệ lại nằm trong trạng thái chồng chất.  Và các đoán nhận của RQM được áp dụng cho mọi đối tượng, không phân biệt đối tượng đó là một đối tượng có ý thức (concious) hay vĩ mô (macroscopic). Mọi tương tác vật lý nói đến cùng đều là tương tác lượng tử và vì thế bị điều khiển bởi những định luật chung. Như thế trong RQM tương tác giữa hai hạt không khác về cơ bản với tương tác giữa một hạt và một thiết bị nào đó : mọi hệ đều là hệ lượng tử (all systems are quantum systems).  Và không có sự co hàm sóng [xem chú thích 6] nào trong ý nghĩa của đoán nhận của trường phái Copenhagen.  Carlo Rovelli đã đề xuất một đoán nhận gọi là đoán nhận tương quan luận. Sự lưỡng phân (dichotomie) thành hai vũ trụ thật ra là một cấu trúc nội tại sâu kín của thế giới khách quan và là chìa khóa để hiểu được CHLT. Thế giới vi mô không quan sát trực tiếp được mà cần sự tương tác với thiết bị mới biểu hiện được (Heisenberg hiểu đúng như vậy).  Trong tiếp cận tương quan luận mọi tính chất đều tương đối, ví dụ vận tốc không phải là một tính chất nội tại của vật thể, phải nói rõ vận tốc so với người quan sát, so với núi đồi chung quanh, so với mặt trời, so với các thiên hà. Có thể nói cách khác vận tốc không phải là một tính chất tuyệt đối mà chỉ biểu diễn một mối tương quan giữa hai vật. Tương tự như vậy màu sắc cũng tương đối: nhờ hiệu ứng Doppler (xem chú thích [7]) mà ta nhận ra được màu này hay màu kia tùy theo chuyển động của ta so với nguồn : một ánh sáng đơn sắc có thể có màu xanh, vàng hay đỏ. Như vậy màu sắc cũng không phải là một tính chất nội tại mà là một mối tương quan giữa nguồn và thiết bị đo.  Quan điểm của giả thuyết tương quan luận là phổ quát hóa tính tương quan nói trên đối với mọi tính chất của vạn vật. Theo quan điểm này thì mọi nghịch lý trong CHLT bắt nguồn từ chỗ chúng ta chưa thừa nhận tính tương quan khi nói đến tính chất các vật. Như vậy quan điểm tương quan luận không nói đến tính chất tự thân của một vật mà xét cả hệ thống bao gồm vật bị quan sát lẫn thiết bị đo đạc. Nói cách khác theo giả thuyết tương quan luận thì thiết bị tạo nên phối cảnh cho đối tượng.  Như vậy mọi hệ đều là lượng tử và đồng thời mọi hệ cũng là cổ điển khi chúng ta nghiên cứu những tính chất của một đối tượng khác so với nó. Vậy mọi hệ sẽ biểu hiện khi như là lượng tử khi như là cổ điển. Tình huống tương tự như mô tả ở hình sau.          Minh hoạ về quan sát viên  Một quan sát viên O đang quan sát một đối tượng S (đối tượng S ở đây đó là một sơ đồ Feynman). Lại có một quan sát viên khác là O đang quan sát hệ O + S.  Ta hãy ứng dụng cách tiếp cận tương quan luận của RQM vào nghịch lý EPR.  Xét hai photon. Ta giả sử rằng tính phân cực của hai photon không xác định nhưng chỉ có phân cực (xem chú thích [4]) tương đối của chúng là xác định, ví dụ chúng có cùng một phân cực. Tách hai photon đó xa nhau. Thiết bị A đo phân cực của photon a. Theo CHLT khi thiết bị A đo đuợc ví dụ phân cực “trái” của photon a thì photon b cũng có ngay phân cực “trái”.  Hai giả thiết có thể đưa ra:   * hoặc thông tin về kết quả phân cực “trái” của photon a được chuyển tức khắc đến photon b, giả thiết này vi phạm tính định xứ.   * hoặc photon b đã có ngay phân cực “trái” trước cả lúc đo, giả thiết này làm cho CHLT mâu thuẫn hoặc không đầy đủ vì CHLT không tính được điều đó.  Bây giờ hãy dùng RQM để tiếp cận nghịch lý EPR. Khi thiết bị A đo được phân cực của photon a, thì photon a có được tính chất phân cực “trái” đối với A (tương quan với A). Chúng ta đã biết rằng photon b cũng có phân cực “trái”. Phải chăng điều đó có nghĩa là khi đo phân cực của photon b bằng thiết bị B ta sẽ thu được phân cực “trái” ? Không ! Sai lầm là ở đây! Phân cực của photon b đối với thiết bị B hoàn toàn độc lập với phân cực của a đối với thiết bị A.Tìm cách đồng nhất hai kết quả đó tương tự như việc hỏi hai người chuyển động khác nhau đã nghe tiếng còi ôtô phát ra đúng ở tần số nào (xem lại chú thích về hiệu ứng Doppler [7]).  Như vậy nói hai photon cùng một phân cực có nghĩa là cùng một thiết bị đo phân cực hai photon cùng lúc và cho kết quả hai photon có cùng một phân cực.  Làm thế nào mà một thiết bị có thể đo hai phân cực? Có hai khả năng:   ·        hai photon cùng ở một chỗ và phân cực của chúng được đo cùng một lúc,   ·        hoặc hai photon nằm xa nhau và thiết bị đã đo phân cực của hạt này trước khi đo phân cực của hạt kia, trong trường hợp này không có ảnh hưởng nào của tính phi định xứ.  Đoán nhận theo RQM có là phản hiện thực (antiréaliste) hay không? Đoán nhận này trái với khái niệm “hiện thực độc lập” (réalité indépendante) đã tồn tại xưa nay. Cho rằng các vật thể không có tính chất nội tại nào cả liệu đó có phải là phủ nhận sự tồn tại của thế giới bên ngoài mà vật lý mong muốn mô tả hay không? Có phải đoán nhận này tương đương với tuyên ngôn cái chết của vật lý như là một khoa học “khách quan” hay không? Đấy là những câu hỏi nóng bỏng…  Chúng ta cũng nên nhớ rằng vật lý chưa bao giờ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới bên ngoài và chúng ta có thể mô tả một cách hợp lý, song vật lý học cũng nhiều lần chứng tỏ rằng thế giới bên ngoài không phải như chúng ta tưởng tuợng. Đã đến lúc chúng ta cần xét lại hình ảnh của thế giới bên ngoài!  Thực tế khách quan không phải là một thực tế tuyệt đối cũng không phải là một thực tế độc lập mà chỉ là một thực tế tương quan.  Đây là một kết luận quan trọng của RQM không chỉ đối với vật lý hay khoa học nói riêng mà là một kết luận quan trọng về nhận thức luận của triết học nói chung.  Theo Dongtac.net     Tài liệu tham khảo & chú thích  [1] Michel Bitbol, Anton Zeilinger, Markus Aspelmeyer, Carlo Rovelli & Matteo Smerlak, Mécanique quantique: erreur d Einstein, La Recherche, Avril 2008, No 418.  [2] Michael A.Nielsen & Isaac L.Chuang , Quantum Computation and Quantum Information, Cambridge , University Press.  [3] J.J.Sakurai, Modern Quantum Mechanics.  [4] Phân cực là một tính chất của các sóng điện từ (như ánh sáng), sự phân cực xác định hướng của điện trường và từ trường trong không gian.  [5] Simon Groblacher, Tomaz Paterek, Rainer Kaltenbaek, Caslav Bruckner, Marek Zuko wski, Markus Aspelmeyer &Anton Zeilinger, Nature 446, 871-875 (19 April 2007).  [6] Sự co hàm sóng (collapse of the wave- function): nếu hàm sóng của hệ là f (chồng chất nhiều trạng thái ) thì sau phép đo, f co về f n , mô tả trạng thái n mà thôi (Alastair I M Rae, Quantum mechanics).  [7] Hiệu ứng Doppler được ứng dụng để xét tần số của một sóng khi nguồn phát sóng và máy ghi đo chuyển động tương đối với nhau. Nếu nguồn và máy chuyển động lại gần nhau thì tấn số đo được cao hơn và ngược lại.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ học lượng tử và công nghệ thông tin      Cơ học lượng tử có nhiều điểm kỳ lạ, không dễ nhận ra bằng trực quan. Đó là những vấn đề như hiện thực (realism), phi định xứ (non locality) và liên đới lượng tử (quantum entanglement). Song những điều kỳ lạ này của cơ học lượng tử lại xuất hiện như những điều kỳ diệu trong Công nghệ tin học (CNTH)[1].        Ba nhà vật lý:  Alain Aspect (Pháp), John F. Clauser (Mỹ), Anton Zeilinger (Áo) năm 2010 được trao giải Wolf về nghiên cứu liên đới lượng tử.  Quan điểm hiện thực (realism)  Như chúng ta biết cơ học cổ điển chỉ ứng dụng được đối với thế giới vĩ mô. Đối với thế giới vi mô (thế giới các hạt cơ bản) phải ứng dụng CHLT. Từ năm 1920 CHLT đã mô tả thế giới vi mô với độ chính xác cao. Song nhà vật lý lớn của mọi thời đại là Einstein đã không thừa nhận CHLT. Einstein có lý hay không? Những thí nghiệm trong năm 2007 chứng tỏ rằng Einstein đã sai lầm. Các thí nghiệm này cho chúng ta biết rằng: các tính chất của các hạt “không tồn tại” trước khi các tính chất đó được quan sát bởi một thiết bị đo đạc.  Theo cơ học lượng tử thì một hạt cơ bản không có một tính chất xác định ví dụ hình chiếu của spin trên trục z:  σz hoặc trên trục x: σx cho đến khi chúng ta thực hiện một phép đo thích hợp để tìm đại lượng tương ứng.  EPR (Einstein,Podolsky, Rosen) phủ nhận nhận định đó, cho rằng hạt có những tính chất nhất định không phụ thuộc vào phép đo, đó là quan điểm gọi là hiện thực (realism): hạt đã có trước một tính chất nào đó trước phép đo!  Liên đới lượng tử (quantum entanglement)  Thế nào là liên đới lượng tử?  Theo cơ học lượng tử, người ta có thể chế tạo một cặp hạt liên đới lượng tử (quantum entangled), hay còn gọi là cặp EPR điều đó có nghĩa về mặt toán học đây là một cặp hạt mà hàm sóng f của chúng không thể viết thành tích trực tiếp hàm sóng của từng hạt: f không bằng  f1 nhân trực tiếp với f2 , hay nói cách khác là các tính chất của các hạt không độc lập với nhau mà liên quan với nhau.  Có thể chế tạo một cặp hạt EPR hay không?  Nhà vật lý Pháp Alain Aspect đã đưa ra một phương pháp đơn giản để chế tạo cặp hạt liên đới lượng tử: khi một xung laser bắn vào một tinh thể có những tính chất gọi là “phi tuyến”, thì một photon biến thành một cặp photon liên đới lượng tử (với độ dài sóng lớn hơn).  Ngoài ra hai photon có thể liên đới lượng tử nếu được sinh ra ví dụ từ phân rã của hạt p-meson trung hòa.  Phi định xứ (non-locality)  Tính chất lạ lùng của cặp hạt liên đới lượng tử  Cặp hạt liên đới lượng tử có một tính chất lạ lùng phát hiện bởi Einstein trong những năm 30 của thế kỷ trước:  hai thực thể liên đới lượng tử dường như được nối liền với nhau  bởi một sợi dây vô hình, bí ẩn, dầu tách chúng xa nhau đến mức nào, trị riêng đo được của hạt này lại phụ thuộc vào trị riêng đo được của hạt kia, cho dù rằng chúng được tách rời nhau đến vô cực! Hiện tượng ảnh hưởng của phép đo thực hiện trên một hạt này đối với hạt cách xa là một hiện tượng “phi định xứ” (non-locality).  Einstein đã gọi hiện tượng này là một tác động ma quái ở khoảng cách (spooky action at a distance). Đây là một hiện tượng thuần túy cơ học  lượng tử. Trong những năm gần đây hiện tượng  liên đới lượng tử mở ra những triển vọng to lớn về viễn tải lượng tử, tính toán lượng tử và mật mã lượng tử [2].  Nghịch lý EPR (Einstein, Podolsky, Rosen)  Sự chống đối cơ học lượng tửlên đến đỉnh cao khi  Einstein cùng  Podolsky và Rosen đưa ra cái gọi là nghịch lý EPR (lấy theo chữ đầu từ tên của ba người). Tên bài báo là: Liệu sự mô tả thực tại vật lý bằng CHLT có thể xem là đầy đủ hay không? (Can QM Description of Physical Reality Be Considered Complete?).  Nội dung của nghịch lý có thể tóm tắt như sau.  Theo CHLT người ta có thể chế tạo một cặp hạt liên đới (entangled) lượng tử. Xét hai hạt liên đới lượng tử và  tách chúng ra xa nhau. Khi  đo tọa độ của hạt thứ nhất thì sẽ biết được tọa độ của hạt thứ hai, vì chúng liên đới lượng tử. Song bây giờ lại đo xung lượng của hạt thứ hai ta lại có thể biết được xung lượng của hạt thứ nhất. Như thế ta có thể đồng thời đo được tọa độ lẫn xung lượng của mỗi hạt: điều này trái với nguyên lý bất định Heisenberg của cơ học lượng tử. Đó là nghịch lý EPR.  Lý luận trên dựa trên hai giả thuyết:  1/ Giả thuyết hiện thực (realism): hạt có một tính chất khách quan trước khi ta thực hiện phép đo tính chất đó,  2/ Giả thuyết định xứ (locality): phép đo trên hạt thứ nhất không ảnh hưởng đến kết quả phép đo trên hạt thứ hai, mặc dầu chúng cách xa nhau.  Bohr đã trả lời EPR vài tuần sau khi EPR công bố nghịch lý nói trên. Trong bài trả lời, Bohr phủ nhận giả thuyết hiện thực (tuy rằng có một ít yếu tố mơ hồ trong bài trả lời, song Bohr đã đi đúng đường). Theo Bohr  CHLT có thể biết được các tính chất của hạt trong điều kiện thực hiện phép đo các tính chất đó. CHLT không mô tả thực tiễn theo ý tưởng tiên quyết của chúng ta. Bohr cho rằng vô nghĩa khi gán cho hạt một tính chất nào đó mà lại tách rời khỏi các điều kiện thực nghiệm cho phép đo được tính chất đó.  Bất đẳng thức Bell  Năm 1964 John Bell tìm ra bất đẳng thức gọi là bất đẳng thức Bell và nhờ những bất đẳng thức đó chứng minh rằng những giả thuyết hiện thực và định xứ (trong đó có cả các lý thuyết định xứ với tham số ẩn) đều  không phù hợp với cơ học lượng tử.  Thế nào là bất đẳng thức Bell?   Sau đây là một thí nghiệm để suy ra bất đẳng thức Bell.  Charlie chuẩn bị 2 hạt (không quan trọng là Charlie đã chuẩn bị như thế nào) và gửi cho Alice & Bob mỗi người một hạt (hình 1).     Hình 1. Charlie chuẩn bị hai hạt liên đới và gửi cho Alice và Bob mỗi người một hạt  Alice &Bob mỗi người thực hiện hai phép đo. Và kết quả các phép đo cho hoặc +1 hoặc -1. Gọi các trị số Alice thu được là Q và R, còn Bob thu được là S và T. Nếu thực hiện các phép tính theo tư duy hiện thực và định xứ thì một tổ hợp nhất định các giá trị trung bình của Q, R, S & T phải nhỏ hơn hoặc bằng 2. Đó là bất đẳng thức Bell. Còn nếu tính toán theo CHLT đối với hai hạt liên đới lượng tử thì lại thu được số 2√2=2,82843 cho tổ hợp đó [2].  Các dữ liệu thực nghiệm cho thấy rằng bất đẳng thức Bell không đúng còn các kết quả tính theo CHLT là chính xác.  Hai vấn đề gắn liền với bất đẳng thức Bell:   (1). Cho rằng Q, R, S, T tồn tại độc lập với các phép đo. Đó là quan điểm hiện thực (realism).  (2). Việc giả định rằng Alice khi tiến hành phép đo không ảnh hưởng gì đến kết quả các phép đo do Bob thực hiện. Đó là quan điểm định xứ (locality).  Hai quan điểm trên kết hợp lại thành quan điểm hiện thực định xứ (local realism). Bất đẳng thức Bell không đúng với thực tế và như vậy ít nhất một trong hai quan điểm nói trên là sai lầm. Đây là bài học lớn cho chúng ta: vũ trụ không hiện thực định xứ!  Sự vi phạm bất đẳng thức Bell cho chúng ta thấy rằng:  Cơ học lượng tử là đúng và hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement) là một nguồn sức mạnh mới cho khoa học và công nghệ vì hiện tượng liên đới lượng tử làm đột sinh một ngành mới quan trọng đó là lý  thuyết thông tin lượng tử (Quantum Information Theory) dẫn đến ngành mật mã lượng tử (Quantum cryptography).  Bất đẳng thức Leggett  Nhiều nhà vật lý cho rằng nên giữ lại quan điểm hiện thực (realism), mà từ bỏ quan điểm định xứ (locality).   Người ta giả sử rằng hai photon liên đới lượng tử có một trạng thái phân cực (polarisation) xác định, nghĩa là tuân theo hiện thực luận.   Người ta loại giả thuyết định xứ  bằng cách cho rằng tồn tại một tác động ở khoảng cách vô cùng (phi định xứ), một tác động ma quái (spooky action) mà Einstein đã nói đến.   Nhà vật lý giải Nobel 2003 Anthony Leggett đã tìm ra một hệ các bất đẳng thức (tương tự như bất đẳng thức Bell) đối với các phép đo các mối liên quan của hai hạt photon nói trên cho những lý thuyết không định xứ song vẫn dựa trên hiện thực luận.   Thí nghiệm thực hiện năm 2007 của Anton Zeilinger (và nhiều người khác), lại loại trừ một lớp lý thuyết không định xứ song theo hiện thực luận vì vi phạm hệ bất đẳng thức Anthony Leggett. Vậy hy sinh định xứ luận không đủ cứu vãn hiện thực luận.   Nói cách khác các thí nghiệm đều dẫn đến kết quả phủ nhận hiện thực luận lẫn định xứ luận.  Cơ học lượng tử là đúng và hiện tượng liên đới lượng tử là  một nguồn sức mạnh mới cho khoa học và công nghệ.  Máy tính lượng tử   Qubit (quantum bit), bit lượng tử là gì?  Chúng ta đã biết bit là một thực thể vật lý, có thể lấy 2 trạng thái mà trong kỹ thuật số ta gọi là 0 và 1.   Một bit lượng tử được viết tắt là qubit (hoặc qbit). Song một điểm khác nhau giữa bit và qubit là: ngoài hai trạng thái 0 và 1, qubit còn có nhiều trạng thái trung gian giữa 0 và 1 làm thành một tổ hợp tuyến tính của 0 và 1.  Như vậy qubit có cả một continuum trạng thái  giữa  0 và 1. Người ta có thể thực hiện qubit nhờ hai trạng thái phân cực của photon, có thể nhờ hai hình chiếu spin của một electron…  Người ta cũng có thể xét hệ nhiều qubit. Hai qubit có các trạng thái 00,  01, 10 và 11 do đó  có trạng thái tổng quát là tổ hợp tuyến tính của các trạng thái đó.  Sức mạnh của máy tính lượng tử ở đâu? [2]  Bước cơ bản trong tính toán lượng tử là phép toán unita U trên trạng thái chồng chất l-qbit. Phép toán U được thực hiện song song đối với tất cả 2exp(l) biên độ phức. Trong máy tính cổ điển một phép toán như vậy đòi hỏi 2exp(l) bước tính cơ bản cho mỗi biên độ.  Chính tính chất song song lượng tử này trong các máy tính lượng tử dẫn đến một gia tốc hàm mũ cho quá trình tính toán. Đây là ưu thế tuyệt đối của máy tính lượng tử so với máy tính cổ điển thông dụng hiện nay.  Viễn tải lượng tử (teleportation)  Có thể chăng làm biến mất một con người tại một điểm, để rồi tái tạo con người đó tại một điểm khác? Đây là khoa học hay viễn tưởng?  Phim khoa học viễn tưởng nhiều tập Star Trek đã dựng nên một viễn cảnh khoa học giàu tưởng tượng. Thuyền trưởng Kirk nhờ thuyền phó bấm một số nút và Kirk đã phi vật chất hóa (dematerialise) thành một tia chớp ánh sáng để xuất hiện trên một hành tinh bí ẩn.   Viễn tải (teleportation) từ lâu là một câu chuyện khoa học viễn tưởng. Đến năm 1992 một nhóm các nhà vật lý và tin học đã tìm ra ý tưởng để sao chép một trạng thái của một hạt đến một nơi khác. Họ đã sử dụng một hiện tượng do Einstein phát hiện trong những năm 30 của thế kỷ trước: trong một số điều kiện, hai thực thể lượng tử lại được nối liền với nhau (liên đới  lượng tử – quantum entanglement) bởi một  sợi dây vô hình, bí ẩn.  Trong những năm gần đây người ta đã tiến hành những thí nghiệm chứng tỏ viễn tải lượng tử là vấn đề khoa học nghiêm chỉnh, mở ra những khả năng rộng lớn cho tính toán lượng tử, mật mã lượng tử.  Quá trình viễn tải thực hiện như được mô tả ở hình 2.    Hình 2.  Trên hình là mạch lượng tử để viễn tải một qubit. Dòng trên hết là qubit 1 mà ta muốn viễn tải trạng tháí. Dòng thứ hai là qubit 2 ứng với hạt 2 trong cặp EPR mà Alice giữ lại bên mình. Dòng thứ 3 là qubit 3 ứng với hạt 3 trong cặp EPR mà Alice đã gửi cho Bob. M1 và M2 là các phép đo. Đường kép ứng với thông tin cổ điển. Đường sóng chỉ rằng qubit 2 và 3 là liên đới lượng tử.  Lẽ dĩ nhiên, Bob cần có thông tin từ Alice để biết kết quả đo của Alice, vậy Alice phải dùng một kênh thông tin cổ điển để báo cho Bob biết kết quả đo của mình, như thế Alice cũng không viễn tải trạng thái Ψ nhanh hơn ánh sáng được!  Như vậy với viễn tải lượng tử cần chú ý hai điều:  1. Không thể chuyển thông tin nhanh hơn tốc độ ánh sáng.   2. Trạng thái Ψ ban đầu bị phá hủy vì sau các phép đo, Ψ co lại thành hoặc  trạng thái  0  hoặc 1  tùy theo kết quả đo được đối với qubit số 1 (hình 2). Hiện tượng này gọi là định lý “không nhân bản được” (no-cloning theorem).  Mật mã  lượng tử (Quantum cryptography)  Mật mã là khoa học trao đổi thông tin dưới dạng mã hóa mà người ngoài cuộc (trừ người gửi và người nhận) không phá mã được. Đây là một vấn đề lớn phức tạp.  Một tin mã hóa có nghĩa là một tin mà chỉ riêng người gửi và người nhận biết được mà thôi. Ví dụ một tin M có thể mã hóa qua E nhờ thuật toán sau: E = Ms  mod  c.  Nếu c là tích của hai số nguyên tố p & q thì người ta có thể chứng minh rằng M có thể bẻ khóa được theo thuật toán: M = E t  mod c.   Trong đó t là một hàm số đơn giản của p&q. Chỉ cần giữ bí mật  p&q, các đại lượng khác có thể cho biết công khai. Nếu c đủ lớn thì bẻ khóa bằng cách tìm p&q là một việc không làm nổi đối với máy tính cổ điển hiện dùng.  Mã RSA (Rivest,Shamir& Adleman) sử dụng ý tưởng trên. Đây là bài toán thừa số hóa (factorization), song hiện nay sử dụng thuật toán Shor người ta có hy vọng bẻ được khóa.  Chỉ có cách dùng mật mã lượng tử (quantum cryptography) mới tránh được bẻ khóa khi phát giác được kẻ nghe trộm (eavesdropper).  Biên bản (protocol) BB84 (C.H.Bennett&G. Brassard, 1984)[2] (từ biên bản ở đây có nghĩa là  phương thức hiệp đồng).  Alice dùng hai kiểu phân cực (polarization settings) A và B, xem hình 3:   1/ A:  dọc và ngang  2/ B:  chéo – 45 độ và + chéo + 45 độ  Alice bắt đầu với 4n qbit. Mỗi qbit có 4 trạng thái: [0 ,1] và [-,+]. Hai trạng thái đầu ứng với kiểu phân cực A của bit 0 và bit 1, tương tự như vậy hai trạng thái sau ứng với kiểu B.   Ta có 3 nhân vật: Alice (người gửi thông điệp về khóa), Bob (người nhận) & Eve (điệp viên=eavesdropper=nghe trộm) [3].  Alice gửi đi  khóa mật mã bằng cách dùng các bit 0 & 1.                     Hình 3. Các kiểu phân cực A (dọc, ngang) và B( -,+)  Ví dụ: Alice gửi đi bit 0 trong kiểu phân cực A vậy photon có phân cực dọc.  Bob khi nhận thông điệp này không biết được kiểu phân cực mà Alice đã dùng cho nên phải chọn một kiểu phân cực bất kỳ, ví dụ Bob chọn đúng kiểu A  mà Alice đã dùng và thu được photon phân cực dọc  tức bit 0. Vậy mọi việc đều ổn.  Song nếu Bob lại chọn kiểu phân cực B  (tức khác với kiểu phân cực A  mà Alice đã dùng khi gửi thông điệp) thì 50% Bob chọn là photon phân cực – tức bit 0 và 50% photon phân cực  +  tức bit 1.  Bây giờ nếu có một kẻ nghe trộm là Eve. Sau khi Alice gửi thông điệp đi Eve nghe trộm và lẽ dĩ nhiên Eve cũng không biết kiểu phân cực mà Alice đã dùng nên chọn một kiểu phân cực bất kỳ. Nếu Eve chọn A  thì thu được bit 0 và gửi tiếp cho Bob thông điệp của Alice cho Bob và không có điều gì xảy ra. Song nếu Eve chọn sai kiểu phân cực ví dụ Eve chọn B  thì 50% Eve sẽ gửi cho Bob bit 1. Và Bob sẽ thu được kết quả sai, mặc dầu Bob đã chọn đúng kiểu phân cực A mà Alice đã dùng. Như thế có nghĩa là dẫu cho Alice và Bob đều chọn chung một kiểu phân cực là A họ vẫn không thu được kết quả đúng nếu trên quá trình có kẻ nghe trộm.  Sau mọi việc kết thúc Alice báo cho Bob (bằng phương tiện công cộng) dãy các kiểu phân cực mình đã sử dụng. Alice và Bob chọn những trường hợp kết quả trùng nhau. Chú ý dãy các kiểu phân cực không làm lộ tý nào thông điệp về khóa.  Để có thống kê đủ bảo đảm độ chính xác Alice và Bob có thể chỉ lấy 2n bit trong kết quả của họ. Alice chọn n bit nào đó và báo cho Bob biết. Alice & Bob so sánh các kết quả. Nếu có hơn t bit không trùng nhau thì họ hủy bỏ tất cả quá trình đã thực hiện và đổi khóa. Nếu chọn t sao cho thí nghiệm được xem là chấp nhận được thì họ thỏa thuận nhau và có được m bit khóa mật mã từ số n bit còn lại.  Biên bản  EPR [2] & [3]  Trong biên bản BB84 ta thấy dường như mọi việc xuất phát từ Alice. Song khóa có thể phát sinh từ quá trình gắn liền với liên đới lượng tử. Điều này sẽ được thấy từ biên bản sau đây.   Trong biên bản EPR Alice (hoặc nhờ một đối tác thứ 3 nào đó) có thể chuẩn bị những cặp EPR rồi giữ lại một hạt còn  hạt kia gửi cho Bob. Từ lúc này thì quá trình ở đây là đối xứng đối với Alice và Bob. Những cặp EPR mô tả nội dung của key mật mã. Tiếp theo đó Alice chuẩn bị một dãy polarization settings (b) rồi đo hạt EPR của mình và thu kết quả (a) còn Bob tương tự như vậy cũng đo hạt EPR của Bob trong một polarization settings mà Bob tạo ra (b’) và thu kết quả (a’).  Sau đó Alice & Bob dùng phương tiện công cộng trao đổi nhau (b) và (b’) và chỉ giữ lại những kết quả lúc b = b’ và ta trở về trường hợp biên bản BB84.     Kết luận  Thái độ không tin tưởng vào cơ học lượng tử của Einstein lại dẫn đến những phát hiện  quan trọng để hiểu CHLT thêm sâu sắc và người ta cũng không ngờ rằng những điều kỳ lạ của CHLT lại là những điều kỳ diệu cho công nghệ tin học & thông tin hiện đại. Theo hãng thông tấn Thomson Reuters (Mỹ) ba nhà vật lý: Alain Aspect (Pháp), John F. Clauser (Mỹ), Anton Zeilinger (Áo) nghiên cứu liên đới lượng tử đã nằm trong danh sách dự báo giải Nobel 2011, vì vấn đề nghiên cứu này vừa là một vấn đề cơ bản của CHLT lại vừa liên quan đến công nghệ tin học cho nên nhiều người tin rằng ba nhà vật lý trên có hy vọng đoạt giải này trong tương lai.   ——————-    Tài liệu tham khảo  [1] Zeeya Merali, Le test ultime de la mecanique quantique, La recherche No 455 tháng 09/2011.  [2] Michael A.Nielsen & Isaac L.Chuang, Quantum Computation and Quantum Information, Cambridge, University Press.   [3]  Toney Hey & Patrick Walters, The new quantum universe, Cambridge, 2003.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội hợp tác KHCN Việt Nam – Venezuela      Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Venezuela tại Việt Nam, lần đầu tiên diễn ra cuộc gặp gỡ giữa bộ trưởng KH&amp;CN của hai nước. Bộ trưởng Hoàng Văn Phong giới thiệu chính sách, hoạt động và một số thành tựu KHCN của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, v.v, và mong muốn sẽ có sự hợp tác toàn diện và lâu dài.    Bộ trưởng Bộ KH&CN Venezuela thông báo những điểm mạnh của KHCN nước mình như nghiên cứu hạt giống, nghiên cứu và sản xuất những chế phẩm từ máu phục vụ truyền và chữa các bệnh về máu; các chương trình nghiên cứu về khí đốt, dầu khí, sinh học, v.v, và bảy tỏ mong muốn hợp tác KHCN với Việt Nam nhiều hơn.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội nhận đầu tư 50 triệu USD cho những nhóm nghiên cứu bệnh tim xuất sắc      Google và Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ (AHA) vừa  công bố mỗi bên sẽ góp 25 triệu USD để tài trợ cho hoạt động nghiên cứu  bệnh tim mạch vành trong dự án mang tên “Một nhóm, một tầm nhìn, 50  triệu USD”.    Điều đáng ngạc nhiên trong dự án này là toàn bộ 50 triệu USD sẽ chỉ dành riêng cho một nhóm nghiên cứu liên ngành do một nhà nghiên cứu dẫn đầu. Giới nghiên cứu hy vọng dự án sẽ tạo ra tiền lệ trong việc tập hợp các nhóm nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực sinh học.  Hiện dự án vẫn còn nhiều điểm chưa được xác định cụ thể, mặc dù thời hạn nhận đề xuất chỉ kéo dài tới ngày 14/2/2016. Tuy nhiên, dù tiêu chí xét duyệt là gì thì theo đại diện của Google, các bản đề xuất cũng chỉ nên gói gọn trong một trang giấy.  Google vẫn chưa tuyên bố họ sẽ giữ quyền sở hữu trí tuệ như thế nào trong dự án này. Nhưng rõ ràng là họ sẽ hưởng lợi lớn nếu chứng tỏ được khả năng phân tích và kỹ thuật của mình là có giá trị đối với sự tiến bộ của ngành y.  Với khoản đầu tư khủng 50 triệu USD, Google và AHA hy vọng sẽ giúp tìm ra những phương pháp mới để loại bỏ hoặc ngăn chặn sự hình thành của các mảng vữa trong thành động mạch, bởi chúng chặn nguồn cung cấp máu tới tim, gây ra chứng đột quỵ.  Các nhà nghiên cứu y sinh học hiện đang rất hào hứng bắt tay với các công ty công nghệ như Google hay Apple với hy vọng rằng họ sẽ có cơ hội khai màn cho kỷ nguyên dữ liệu lớn (big data) trong y học.     Trang Bùi lược dịch  Nguồn:   http://www.nature.com/news/google-offers-jackpot-to-one-research-group-1.18758                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ  hội quý giá đối với ngành thiên văn Việt Nam      Trong hai thập kỷ gần đây, chúng ta đã thấy ở nhiều nơi trên thế giới bùng nổ xu hướng chính sách cho phép truy cập miễn phí các nghiên cứu khoa học, được thúc đẩy bởi tiến bộ công nghệ Internet. Bằng cách tận dụng cơ hội truy cập miễn phí như vậy, hơn một năm nay nhóm nghiên cứu của tôi đã phân tích và quan sát, sử dụng Atacama Large Millimeter/sub-millimeter Array (ALMA), thiết bị thiên văn radio tiên tiến nhất (cho đến nay), trong nỗ lực cạnh tranh với các nhóm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới.       Năm 1999, Hội nghị Khoa học Thế giới đưa ra tuyên bố khá cô đọng: “quyền bình đẳng trong truy cập tri thức khoa học không chỉ là một yêu cầu mang tính xã hội và đạo đức vì sự phát triển con người, mà còn là yêu cầu căn bản để phát huy đầy đủ tiềm năng của các cộng đồng khoa học trên toàn thế giới và định hướng sự phát triển khoa học đáp ứng các nhu cầu của nhân loại”.  Kể từ đó, UNESCO đã và đang rất tích cực thúc đẩy quyền truy cập tri thức miễn phí, trong đó đặc biệt chú trọng tri thức khoa học (các bài tạp chí khoa học, các tham luận hội thảo, và các bộ dữ liệu) của các nghiên cứu sử dụng kinh phí công. Điều này mang lại cho Việt Nam một cơ hội quý giá trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trên mọi lĩnh vực, chúng ta nay có thể tải về từ Internet những bài giảng tốt nhất và cập nhật nhất. Học viên không còn nhất thiết phải học theo những bản photocopy các tài liệu dịch từ sách giáo khoa đã lạc hậu của Mỹ hay Nga, như tình trạng xảy ra trong nhiều năm nay (ở đây tôi không nói đến những tài liệu căn bản như các cuốn vật lý lý thuyết của Landau và Lifshitz, mà chỉ bàn đến sách giáo khoa trong các lĩnh vực mà kiến thức đang phát triển rất nhanh, ví dụ như vật lý thiên văn). Chúng ta cũng không còn phải dành nhiều tiếng đồng hồ trong thư viện như trước đây để tìm kiếm tư liệu – chưa kể trước đây không phải ai cũng có may mắn được làm việc ở những nơi có kho tư liệu đủ lớn; bởi ngày nay ta có thể dễ dàng vào những kho tư liệu trực tuyến như arXiv, nơi có thể truy cập miễn phí trên một triệu bản tư liệu khoa học điện tử.  Như UNESCO khuyến nghị, quyền truy cập miễn phí không chỉ cần với các công bố khoa học, mà cả với các bộ dữ liệu. Ví dụ, CERN gần đây mở ra Cổng Dữ liệu Mở (Open Data Portal) là nơi đầu tiên cung cấp miễn phí cho công chúng dữ liệu về những va chạm proton từ các thí nghiệm tại LHC – cỗ máy gia tốc hiện đại nhất thế giới. Như vị Tổng giám đốc CERN từng phát biểu, chúng ta hi vọng rằng những dữ liệu mở này sẽ hỗ trợ và mang lại cảm hứng cho cộng đồng khoa học toàn cầu, bao gồm cả sinh viên và các nhà khoa học dân sự. Cũng đúng với tinh thần đó, tinh thần mở được chú trọng ngay từ hội nghị thành lập CERN, và đến nay các công bố khoa học của tổ chức này vẫn được truy cập và khai thác miễn phí. Tinh thần ấy sẽ tiếp tục được mở rộng khi những dữ liệu về các va chạm proton được cung cấp miễn phí trong các năm tới. Đây quả là một sáng kiến đáng biểu dương và chắc chắn sẽ là điều tuyệt vời cho mục đích giáo dục.  Kho dữ liệu ALMA – một mỏ vàng  Bằng cách tận dụng cơ hội truy cập miễn phí như vậy, hơn một năm nay nhóm nghiên cứu của tôi đã phân tích và quan sát, sử dụng Atacama Large Millimeter/sub-millimeter Array (ALMA), thiết bị thiên văn radio tiên tiến nhất (cho đến nay), trong nỗ lực cạnh tranh với các nhóm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Kho dữ liệu của ALMA đúng là một mỏ vàng, điều may mắn bất ngờ mang lại sự thay đổi đột phá cho triển vọng tiềm năng nghiên cứu của chúng tôi.   ALMA là một hệ thống khổng lồ với sáu mươi ăng-ten đường kính 12 hoặc 7 m loại di động được, có đường cơ sở (baseline) tới 16 km, đặt tại độ cao 5000 m trên cao nguyên sa mạc Atacama ở Chile. Nó quan sát tại bước sóng 3 mm tới 400 μm (84 tới 720 GHz). Độ nhạy, khả năng phân giải không gian và quang phổ chưa từng có mang lại cải thiện rõ rệt so với các thiết bị đương thời khác. Nó được vận hành trên cơ sở hợp tác giữa châu Âu, Mỹ, và Nhật Bản, cùng với đóng góp từ Canada, Đài Loan, Hàn Quốc, và Chile. Mục tiêu cung cấp miễn phí các kết quả quan sát cho công chúng được thể hiện rõ trong nghị quyết thông qua bởi đại hội đồng Hiệp hội Thiên văn Quốc tế 2003:   Với nhận thức rằng các tiến bộ khoa học cần dựa trên quyền truy cập dữ liệu đầy đủ và miễn phí; rằng vì lợi ích của ngành thiên văn nói chung, kho lưu trữ dữ liệu phải phổ cập quyền truy cập một cách rộng rãi nhất, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ internet hiện nay có thể giúp thực hiện điều đó một cách tiết kiệm và hữu hiệu; rằng sự phát triển Đài quan sát Trực tuyến sẽ cho phép sử dụng kho lưu trữ như vậy một cách hiệu quả, theo đó tăng hiệu quả và thành quả khoa học của các nghiên cứu thiên văn;  Xét thấy rằng đôi khi quyền sử dụng thời gian quan sát tại các cơ sở thiết bị thiên văn quan trọng cần được hạn chế một cách cần thiết và hợp lý vì lý do về kinh phí và các nguyên do khác; rằng sau khi thu được dữ liệu từ các thiết bị này, quyền truy cập dữ liệu thường được giới hạn một cách cần thiết và hợp lý trong một giai đoạn nào đó (“giai đoạn độc quyền”, thường từ một tới hai năm) cho các nhà quan sát, sinh viên, nhà chế tạo thiết bị, hoặc một số nhóm cụ thể khác, nhằm giúp họ sau khi đầu tư thời gian và các nguồn lực cho hoạt động quan sát tại đài thiên văn sẽ có đủ cơ hội để công bố các kết quả của mình; nhưng sau giai đoạn độc quyền, trong nhiều trường hợp dữ liệu cần được đưa vào kho lưu trữ nơi công chúng được tiếp cận một cách rộng rãi hơn;  [Vì vậy] những dữ liệu thu được từ các đài thiên văn quốc gia hoặc quốc tế được tài trợ từ nguồn lực công trong giai đoạn độc quyền sẽ chỉ được cấp cho các nhà quan sát hay một số đối tượng sử dụng nhất định, nhưng sau giai đoạn độc quyền chúng cần được đưa vào kho lưu trữ nơi mọi nhà nghiên cứu thiên văn đều có thể tiếp cận qua internet. Dữ liệu nên kèm theo công cụ metadata và các thông tin hay công cụ khác để đảm bảo giá trị khoa học của chúng. Hình thức và quy trình xử lý dữ liệu có thể được bảo vệ một cách thích hợp theo luật bản quyền, nhưng không nên giới hạn việc sử dụng kho lưu trữ dữ liệu cho những mục đích chính đáng (bao gồm các mục đích giáo dục); các cơ quan cấp kinh phí nên ủng hộ và hỗ trợ để những dữ liệu từ các nghiên cứu thiên văn mà họ tài trợ được đưa vào kho lưu trữ cho công chúng tiếp cận không hạn chế, sau khi giai đoạn độc quyền dữ liệu chấm dứt.  Những quan điểm trên đây được nhất trí rộng rãi trong cộng đồng khoa học thiên văn, và nhiều công sức, tiền bạc đã được đầu tư để thực hiện đúng theo những chỉ dẫn này. Cụ thể, trong trường hợp ALMA, các dữ liệu thô đã được bộ phận chuyên trách xử lý thành hình thức phù hợp cho người sử dụng, đồng thời người sử dụng còn được cung cấp dịch vụ hỏi đáp từ bộ phận chuyên trách. Có thể nói đội ngũ ALMA đã tốn khá nhiều công sức để giúp xử lý dữ liệu cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của công chúng.    Nhờ vậy, dữ liệu của ALMA có thể được sử dụng rộng rãi, dù người sử dụng là những nhóm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới, hay là những nhóm bất kỳ như nhóm của chúng tôi ở Việt Nam. Phí tổn duy nhất chỉ là phải chờ đợi sau một năm. Ở một đất nước, nơi nguồn hỗ trợ cho khoa học cơ bản, không chỉ về vật chất mà cả tinh thần, còn rất yếu, thì đây quả là một tài sản quý cần phát huy triệt để.   ***  Có lẽ các nhà quản lý KH&CN và giáo dục đào tạo ở Việt Nam chưa trân trọng đúng mức giá trị của cơ hội trên; nhiều người vẫn cứ nghĩ rằng Việt Nam cần tập trung đầu tư vào trang thiết bị và cơ sở vật chất, hoặc nghĩ rằng muốn tham gia các chương trình hợp tác quốc tế thì phải trả phí rất đắt đỏ. Trong khi trên thực tế chúng ta cần đầu tư cho chất xám chứ không phải cho các công trình bê tông, hay các thiết bị nhập khẩu đắt tiền từ nước ngoài.   Như vậy, trong điều kiện việc quan sát Vũ trụ cũng hoàn toàn miễn phí, nay chính là lúc thuận lợi để khuyến khích ngành nghiên cứu thiên văn trong nước. Các nhà quản lý cần có chính sách ủng hộ công tác đào tạo, hỗ trợ các hội thảo và tài trợ hoạt động thỉnh giảng ngắn ngày đối với các nhà khoa học quốc tế hay Việt kiều.    Hiện nay rất nhiều sinh viên được gửi ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh thạc sỹ, tiến sỹ. Chúng ta cần tài trợ cho các dự án nghiên cứu của họ khi họ về nước để phát huy tốt nhất kỹ năng và tài năng của họ. Những dự án đó có thể rất nhỏ và không đòi hỏi mấy chi phí, nhưng nếu chúng ta đầu tư đúng chỗ thì lợi ích là rất nhiều. Còn nếu không làm được như vậy thì tài năng của họ sẽ sớm mai một và những nguồn lực đầu tư để đào tạo họ sẽ hoàn toàn bị lãng phí. Họ sẽ phải tìm thu nhập từ công việc khác, và tâm trí họ sẽ xa rời khỏi khoa học và nghiên cứu.  Tôi xin kết thúc bài viết này bằng trích dẫn từ một nhóm các nhà khoa học Mỹ liên quan tới việc xử lý lượng dữ liệu thiên văn khổng lồ (R.J. Brunner, S.G. Djorgovsky, T.A. Prince và A.S. Szalay, Cẩm nang về các bộ dữ liệu lớn, Nhà xuất bản Học thuật Kluwer, Norwell, bang Massachusetts Mỹ, 2002, t.931-979): Một sự chuyển dịch lớn đang diễn ra trong ngành khoa học thiên văn và không gian. Thiên văn học bất ngờ trở thành một lĩnh vực giàu dữ liệu, với rất nhiều thông tin số hóa về các kết quả khảo sát bầu trời trên nhiều bước sóng khác nhau […] nay chúng ta có thể lập bản đồ Vũ trụ một cách có hệ thống và đầy đủ màu sắc. Điều ấy mở đường cho những nghiên cứu khoa học mới cả định lượng và định tính […], cho phép các nhà khoa học và sinh viên ở mọi nơi, dù không được trực tiếp sử dụng các kính thiên văn cỡ lớn thì vẫn có thể tiến hành các nghiên cứu có chất lượng hàng đầu. Điều ấy sẽ tiếp thêm sinh lực cho ngành, mở ra cánh cửa tiếp cận lượng dữ liệu lớn chưa từng có cho những tài năng mới.   Thanh Xuân dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ hội vươn lên của người nghèo?      Khi đánh giá và lượng hóa đúng mức tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội thì bức tranh giảm nghèo có nhiều gam màu tối hơn chúng ta tưởng.      Số lần khám chữa bệnh của người dân tộc thiểu số thấp hơn cả chục lần so với người Kinh. Trong ảnh: Khám lưu động cho trẻ em huyện Bình Liêu, Quảng Ninh. Nguồn: Báo Dân tộc và phát triển.  Năm nào cũng vậy, gia đình K’Măm phải “bán non” 1 tấn cà phê để vay tiền của các đại lý trong buôn Ban, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk mua phân bón cho 3 sào lúa và 1 ha cà phê. Nhưng do vụ trước mất mùa cà phê nên năm 2015 dù K’Măm chưa trả được khoản tiền này thì vẫn phải “vay non” thêm 1 tấn cà phê nhân nữa để mua gạo ăn. Nên vụ mùa 2015 sẽ chỉ đủ để trả nợ cũ, năm sau gia đình ông sẽ lại phải tiếp tục vay nợ để mua phân. Gia đình K’Măm chỉ là trường hợp đơn cử của tình trạng cứ “nợ miết từ năm này qua năm khác” trong một cuộc khảo sát 56 hộ ở buôn Ban mà Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE) thực hiện vào năm 2017. 86% trong tổng số hộ được khảo sát đang phải gánh các khoản nợ, từ mức độ trầm trọng đến rất trầm trọng, trung bình mỗi hộ gia đình nợ 44 triệu đồng/ một năm, trong đó gần 20 triệu đồng là nợ xấu, tức là không thể trả đúng hạn hoặc không có khả năng trả. Rộng hơn nữa, theo một nghiên cứu trước đó của Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm KHXH, tình trạng nợ với lãi suất cao cũng phổ biến ở hầu hết các buôn làng người dân tộc thiểu số tại chỗ của năm tỉnh Tây Nguyên.  Câu chuyện mà viện iSEE kể ra dường như không ăn khớp với bức tranh tỉ lệ nghèo đang giảm rõ rệt và mức độ bất bình đẳng thu nhập vẫn đang nằm trong ngưỡng an toàn mà các báo cáo gần đây phác họa – khiến các nhà làm chính sách và công chúng cảm giác yên tâm về thực trạng phân phối trong xã hội vẫn được duy trì ở mức độ tương đối công bằng. Rõ ràng, những cách đo lường trước đây chưa giúp chúng ta hình dung đúng tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội hiện nay.       Cần có các chính sách đặc thù, có những chỉ tiêu đánh giá cụ thể, nhằm tăng cường chất lượng y tế giáo dục, gia tăng thu nhập cho người nghèo và người DTTS.      “Trong những năm gần đây đo lường bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam không còn chính xác nữa vì những người giàu hầu như không có trong mẫu khảo sát, thậm chí là không đo được thu nhập của người giàu”, TS Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong nói. Mặt khác, nếu chỉ nhìn vào những con số thuần túy về mức độ thu nhập, chi tiêu thì chưa thể thấy hết được mức độ bất bình đẳng trong xã hội. “Bất bình đẳng cũng như nghèo đói nên được hiểu như những khái niệm đa chiều. Một người có thể không nghèo về mặt thu nhập hoặc tổng chi tiêu nhưng có thể có sức khỏe yếu, trình độ giáo dục thấp và thiếu hòa nhập xã hội hoặc thiếu cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định chính sách. Vậy thì tương lai của người đó và con cái họ sẽ ra sao?”, TS Phùng Đức Tùng nói. “Vấn đề ở đây là phải đánh giá được mức độ bất bình đẳng cơ hội của các nhóm khác nhau, để đánh giá được một con người, từ khi chào đời có cơ hội ngang bằng với nhau không”.  Do các nghiên cứu hiện nay tập trung vào bất bình đẳng kinh tế ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về bất bình đẳng cơ hội ở nhiều chiều cạnh nên Viện Nghiên cứu và Phát triển Mekong đã thực hiện một cuộc đánh giá cả bất bình đẳng về kinh tế và tài sản và ba lĩnh vực y tế, giáo dục, sự tham gia người dân vào các chính sách xã hội. Mỗi lĩnh vực được đo lường với các tiêu chí khác nhau dựa trên Khung phân tích Bất bình đẳng đa chiều (MIF) do trường Đại học Kinh tế London (LSE) và Tổ chức Oxfam nghiên cứu. MIF được xây dựng dựa trên cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1998, nhằm đưa ra phương pháp luận để đánh giá bất bình đẳng trong phúc lợi cá nhân. Do khung đo này mới chỉ được áp dụng ở Tây Ban Nha, Guatemala và Việt Nam nên những kết quả áp dụng tiên phong ở đây sẽ giúp các nhà nghiên cứu có thêm kinh nghiệm để tiếp tục sử dụng MIF cho việc đánh giá bất bình đẳng tại các quốc gia, khu vực khác.  Khoảng cách đang doãng rộng   Phương pháp đo mới này như một chiếc kính có độ phân giải cao hơn giúp chúng ta nhìn vào thực trạng hiện nay: quả đúng là tỉ lệ nghèo đang trên đà giảm nhưng mảng sáng của bức tranh chủ yếu tập trung ở các dân tộc đa số (Kinh, Hoa), còn mảng tối lại “khu trú” lưu niên ở các nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) – tỷ lệ nghèo của DTTS cao hơn dân tộc Kinh gấp 15 lần. 45% người thuộc nhóm DTTS vẫn sống trong nghèo đói, thậm chí, có vùng “nghèo lõi” như các dân tộc Hmông, La Hủ, Mảng, Lô Lô có tỷ lệ nghèo lên tới khoảng 80%. Chính vì vậy mà người dân tộc thiểu số, dù chỉ chiếm 15% dân số nhưng lại chiếm tới 73% tổng số người nghèo cả nước. “Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân các khu vực này nhưng các chính sách này thực chất có hiệu quả hay mang tính hình thức là câu hỏi rất lớn”, TS Phùng Đức Tùng đánh giá.     Điểm số môn Toán và tiếng Việt của học sinh lớp 5, phân theo nhóm dân tộc (thang điểm 30). Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Mekong.   Nếu chỉ nhìn bề mặt về mức độ bao phủ của các dịch vụ công cơ bản về y tế, như vẫn xuất hiện trong các báo cáo thống kê, thì thấy các đô thị lớn như Hà Nội hay một xã ở Hà Giang không cách biệt bao xa vì bảo hiểm y tế, tiêm chủng miễn phí cho người nghèo và dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phân tích sâu sẽ cho thấy khoảng cách rất lớn giữa khu vực phát triển và phần còn lại – mà ở đó các nhóm nghèo hầu như ít hưởng lợi từ các dịch vụ công này. Số lần khám bệnh trung bình hằng năm của một người Kinh có thể cao hơn tới 18 lần so với nhóm ít đi khám nhất là người Hmông. Số lần khám bệnh trung bình hằng năm của các nhóm DTTS nói chung ở bệnh viện tuyến tỉnh đều rất thấp, ở các dân tộc như Thái, Mường, Nùng, Dao chỉ là 0,06-0,07 lần, thậm chí người Hmông chỉ đi khám ở tuyến tỉnh 0.014 lần và không đi khám ở tuyến trung ương (trong khi con số này ở người Kinh là 0,26 lần trong năm). Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này không chỉ do khả năng chi trả – mức chi tiêu hằng năm cho y tế của một người Kinh có thể gấp tới 15 lần một người Hmông, mà còn do người dân tộc thiểu số khó lòng đi tới các trung tâm y tế tuyến trên. Trong khi nhóm Kinh thường sống gần bệnh viện tỉnh nhất thì các nhóm Hmông, Dao, Thái, Mường, Nùng sống xa nhất, trên 40km đến dưới 70km và điều kiện chất lượng đường xá rất tồi tệ.  Thậm chí, những điều kiện tối thiểu như tiếp cận với nước sạch và nhà vệ sinh cải tiến vẫn là một thách thức lớn đối với các hộ gia đình thuộc các nhóm trên. Chẳng hạn, điều kiện nhà vệ sinh và nước sạch của người DTTS cũng kém hơn nhiều so với DT Kinh. Trong đó, tỷ lệ hộ có nhà tiêu cải tiến ở các nhóm DTTS chỉ bằng 1/3 lần ở người Kinh; và cũng chỉ có khoảng 13% nhóm hộ DTTS tiếp cận được nguồn nước này (so với khoảng một nửa ở các hộ người Kinh).     Ưu tiên hàng đầu cần là có hình thức đầu tư mới vào giáo dục cho các vùng này, ví dụ như phủ sóng internet miễn phí cho trẻ học từ xa. Trong ảnh: Một sinh viên người Cờ Lao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang leo núi 5 km để bắt sóng 3G học bài từ xa. Nguồn: Báo Hà Giang.   Những hạn chế trong điều kiện sống như vậy khiến tỷ suất tử vong của nhóm DTTS cao hơn nhiều so với người Kinh. Chẳng hạn, Tây Nguyên, vùng có nhiều dân tộc thiểu số nghèo nhất có tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới một tuổi cao gấp ba lần so với khu vực phát triển là Đông Nam Bộ; tuổi thọ trung bình ở Tây Nguyên luôn thấp hơn ba năm so với mặt bằng chung của người Việt Nam và ít hơn sáu năm nếu so với một người dân ở vùng Đông Nam Bộ. Hiện vẫn còn khoảng 1,8 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu thuộc DTTS tại khu vực địa lý khó khăn như miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.   “Gánh cực mà đổ lên non/Còng lưng mà chạy cực còn theo sau”  Đối với người nghèo, học tập có lẽ là con đường duy nhất để thoát nghèo nhưng mọi ngã rẽ đến con đường này dường như đều bị đóng lại. “Điều kiện học tập trong một trường tiểu học ở Hà Giang có thể kém một trường ở thành phố như Hà Nội hoặc Bắc Ninh tới cả nghìn lần”, TS Phùng Đức Tùng kể về những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến khảo sát. “Về nguyên tắc, mọi người dân đều đóng thuế, ngân sách dành cho giáo dục phải được phân bổ giống nhau cho tất cả các học sinh và chất lượng giáo dục công mà học sinh ở mọi vùng miền nhận được phải giống nhau. Một học sinh ở thành phố có chất lượng giáo dục công khác nhiều so với một đứa trẻ miền núi ngay từ lớp một thì làm sao đứa trẻ ở miền núi có thể có cơ hội vào đời ngang bằng với đứa trẻ thành phố được?”, anh nói.  Chúng ta tưởng như đã đạt được nhiều thành tựu về phổ cập giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học – tỷ lệ đi học ở mức khá đồng đều giữa các nhóm dân tộc và giữ ở mức trên 90%. Tuy vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra trẻ em dân tộc thiểu số luôn có xuất phát điểm thấp hơn. Ngay từ số học liệu, sách, truyện mà một học sinh thuộc nhóm nghèo nhất hoặc nhóm dân tộc thiểu số có cũng không thể sánh được học sinh thuộc nhóm giàu hoặc nhóm người Kinh. Cụ thể, trong khi trung bình, một trẻ em người Kinh có 4,2 quyển truyện thì một trẻ người Thái và Dao có chưa tới 1 quyển; tương tự mỗi trẻ em ở nhóm giàu có tới 6,8 quyển truyện còn trẻ ở nhóm nghèo chỉ có 1,6 quyển. Trong điều kiện kém hơn hẳn đó, kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số luôn sút kém hơn hẳn so với người Kinh. Báo cáo này cho thấy, trong khi trẻ em lớp 5 người Kinh đạt điểm trung bình 16.5 với bài kiểm tra môn Toán và 22,2 điểm môn Văn thì trẻ người Dao chỉ đạt lần lượt là 9,9 và 17 điểm, còn người Hmông chỉ 5,8 và 8,3 (thang điểm 30).    Tỉ lệ nghèo của dân tộc thiểu số và người Kinh tính theo huyện.   Những kết quả bi quan này sẽ đeo đuổi một đứa trẻ người dân tộc thiểu số đến hết cuộc đời, nhưng chưa dừng lại ở đó, nó còn được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi vì điều kiện giáo dục của cha mẹ sẽ ảnh hưởng rất lớn tới kết quả học tập của học sinh. Học sinh có mẹ có trình độ từ trung học chuyên nghiệp và cao đẳng trở lên có điểm số môn Toán gần gấp 3 lần và điểm số môn Tiếng Việt gần gấp 2 lần so với học sinh có mẹ không đi học hoặc không học hết tiểu học. Đây là điều mà hầu như trẻ em dân tộc thiểu số khó được hưởng, vì tỷ lệ đi học cao đẳng và đại học trong độ tuổi 18-22 có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm dân tộc, tỷ lệ này cao nhất ở dân tộc Kinh với khoảng 46%, trong khi đó tỷ lệ này ở người Khmer, H’mông và Dao chỉ dưới 10%. Tương tự, chi tiêu cho giáo dục cho một học sinh của hộ gia đình dân tộc Kinh cũng cao gấp khoảng 4 lần của hộ DTTS. Bất bình đẳng cơ hội của thế hệ này dễ trở thành “cái bẫy” cho thế hệ tương lai và trở thành vòng luẩn quẩn rất khó phá vỡ.   Sự bất bình đẳng không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu dễ nhìn thấy được như y tế, giáo dục, mà còn ảnh hưởng tới cả mức độ tham gia, tiếng nói của người dân trong các vấn đề chính sách xã hội. Nghiên cứu này cho thấy, các nhóm yếu thế bị hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về pháp luật, bầu cử, các dịch vụ, v.v., khiến họ không có đủ không gian để lên tiếng về quyền lợi chính đáng của mình. Từ đó, những vướng mắc của họ không được giải quyết thấu đáo, quyền lợi của họ không được phản ánh đầy đủ trong các quy định dân sự và văn bản pháp luật, dẫn đến thiếu niềm tin và thờ ơ đối với các hoạt động cộng đồng.   Nhìn vào bức tranh trên chúng ta có thể thấy được rõ ràng “nhóm nào chiếm thu nhập nhiều nhất, đang hưởng lợi từ cái bánh GDP tăng lên nhiều nhất, để từ đó đề xuất các chính sách điều chỉnh, chuyển phần thu nhập đó sang các nhóm ít được hưởng lợi nhất” nhằm giúp ổn định xã hội, TS Phùng Đức Tùng nói. Anh cho biết, hiện nay Việt Nam đã áp dụng chính sách thuế thu nhập cá nhân nhưng chưa đánh thuế tài sản như nhiều quốc gia trong khi chênh lệch tài sản ngày càng lớn, và các nghiên cứu đo lường cụ thể này có thể làm đầu vào cho các cơ quan quản lý cân nhắc. Mặt khác, vì “các chính sách các ưu đãi [cho các nhóm yếu thế] bây giờ chưa ăn thua, mang tính hình thức hơn là có tác động thực sự”, nên nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị cần có các chính sách đặc thù, có những chỉ tiêu đánh giá cụ thể, nhằm tăng cường chất lượng y tế giáo dục, gia tăng thu nhập cho người nghèo và người DTTS. “Ưu tiên hàng đầu là  cần có hình thức đầu tư mới vào giáo dục cho các vùng này, ví dụ như phủ sóng internet miễn phí để cho trẻ học từ xa”, TS Phùng Đức Tùng nói. □    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cơ may trong khoa học      Những phát minh khoa học nổi tiếng nhiều khi đến trong những giây phút ngẫu nhiên, thế nhưng liệu chúng ta có thể tự tạo ra cho mình những may mắn tình cờ như vậy không? Theo nhà nghiên cứu Ohid Yaqub (trường ĐH Sussex, Anh) thì hoàn toàn có thể nếu chúng ta hiểu về cơ may và cơ chế tạo ra chúng.      Alexander Fleming khám phá ra Penicillium là một trong những ví dụ minh họa về phát minh ngẫu nhiên nổi tiếng nhất. Nguồn: nature.com  Tháng Chín năm 1928, Alexander Fleming trở về phòng làm việc và phát hiện đống đĩa petri chưa được dọn dẹp đã phủ đầy nấm mốc. Khi nhận ra tụ cầu khuẩn trong đĩa đã bị tiêu diệt, ông đặt nghi vấn rằng loại nấm mốc này có thể diệt khuẩn và xác định nấm đó là Penicillium – đây là khởi đầu cho việc phát hiện chất kháng khuẩn penicillin.  Lịch sử khoa học đã chứng kiến nhiều phát minh đến một cách tình cờ như vậy, như Wilhelm Röntgen đã tìm ra tia X khi bất ngờ thấy các mảnh bìa phủ BaPt [(CN)4] phát sáng quanh ống tia âm cực hay Alfred Nobel đã tạo ra thuốc nổ sau khi phát hiện đất tảo cát (kieseguhr) hấp thụ nitroglycerin – một chất lỏng dễ gây nổ – rò rỉ từ can chứa. Nhiều phát minh là kết quả của một quá trình lao động miệt mài, nhưng cũng không ít phát minh có được nhờ may mắn, tình cờ hay trực giác. Người ta gọi đây là cơ may – serendipity, một từ được nhà văn Horace Walpole sáng tạo từ truyện “Ba hoàng tử của vùng Serendip”, về những người, nhờ sự ngẫu nhiên và trí thông minh sắc sảo, đã khám phá ra, “những điều mà họ không tìm kiếm.”  Những giai thoại, đôi khi bị làm quá lên, về vận may trong khoa học đã khiến người ta nhận định rằng rất khó nắm bắt nó. Các nhà khoa học lập luận rằng thành tựu khoa học phụ thuộc vào vận may để phản biện lại yêu cầu tăng cường kiểm soát nghiên cứu của các nhà hoạch định chính sách. Vì muốn thay đổi nhận định này, Hội đồng Nghiên cứu châu Âu đã tài trợ 1,4 triệu euro cho nhà hóa sinh kiêm nhà khoa học xã hội Ohid Yaqub để chứng minh rằng các nhà khoa học có thể kiểm soát được vận may.  Từ động cơ đến kết quả  Yaqub đã mất sáu tháng để đọc những ghi chú của nhà xã hội học nổi tiếng Robert K Merton –người dành rất nhiều quan tâm về cơ may, và xây dựng cho mình bộ dữ liệu với 118 ví dụ, ghi chú về nhân vật, tóm tắt cách thực hiện,… Sau đó ông mã hóa các ví dụ theo những đặc điểm khác nhau và phát triển một mô hình dựa trên hai chiều: Động cơ của khám phá và kết quả của khám phá – chủ đề xuất hiện liên tục trong các ví dụ, và phân ra được bốn loại cơ bản.  Tìm kiếm có mục tiêu cho vấn đề này nhưng tìm thấy giải pháp cho vấn đề khác – Kiểu 1: Eduard Buchner khi tìm kiếm cách tách protein từ vi khuẩn đã phát hiện ra chiết xuất men không có tế bào có thể chuyển đổi đường thành rượu và CO2, từ đó chứng minh được tế bào sống không cần thiết cho quá trình lên men và khai sinh ra ngành hóa sinh học nghiên cứu về sự trao đổi chất. Hay khi các nhà khoa học kiểm tra cho những người lính bị phơi nhiễm khí mù tạt lại phát hiện ra rằng lượng bạch cầu của những người lính này giảm, dẫn tới phát minh ra liệu pháp điều trị ung thư bạch cầu bằng khí mù tạt và các dẫn xuất của nó – đặt nền tảng cho hóa trị liệu hiện đại.  Đặc điểm quan trọng nhất của kiểu cơ may này là tính bất ngờ của khám phá – các nhà khoa học đang tìm kiếm trong một lĩnh vực này nhưng lại tìm ra điều mới mẻ trong một lĩnh vực khác.  Tìm kiếm có mục tiêu bằng cách này nhưng lại tìm thấy giải pháp theo cách khác – Kiểu 2: Charles Goodyear đã mất một thập kỷ để tạo ra cao su bền nhiệt nhưng không thành, bỗng một hôm ông vô tình đun nóng hỗn hợp lưu huỳnh và cao su và phát hiện ra sự lưu hóa. Một trường hợp khác là chuyện John Cade phán đoán bệnh hưng cảm (mania) là do sự chuyển hóa bất thường của acid uric và đã tiêm acid uric dưới dạng muối lithium vào chuột thí nghiệm và thấy tác dụng. Tuy nhiên, acid uric không có liên quan gì, muối lithium mới là tác nhân. Phương pháp điều trị rối loạn lưỡng cực bằng muối lithium của ông đã mở đường cho các liệu pháp hiện đại.  Tìm kiếm không có mục tiêu nhưng lại giải quyết một vấn đề tức thời – Kiểu 3: Vào năm 1844, chứng kiến một người đàn ông đang bị thương ở chân nhưng lại không thấy đau do ảnh hưởng của khí cười, Horace Wells đã sử dụng hợp chất như một loại thuốc gây tê sau đó. Bác sĩ Leslie N. Gay đã phát minh ra Dramamine – thuốc chống say tàu xe sau khi nhận được báo cáo từ bệnh nhân được kê thuốc kháng histamine là ông này không còn thấy chóng mặt và buồn nôn trên đường đi đến phòng khám.  Những khám phá ở dạng này thường bắt đầu từ các nghiên cứu đang ở giai đoạn đầu, đang phát triển các giả thuyết hoặc chưa có mục tiêu cụ thể.  Tìm kiếm không có mục tiêu nhưng lại tìm ra giải pháp cho một vấn đề trong tương lai – Kiểu 4: Năm 1903, Edouard Benedictus làm rơi một chiếc bình nhưng chợt nhận thấy rằng các mảnh thủy tinh không văng ra nhờ có lớp cellulose nitrate trong suốt bám vào thành bình – phần còn lại của dung dịch collodion đã bay hơi. Sau này, khi đọc bài báo về hiểm họa do kính vỡ trong tai nạn ô tô, ông đã nghĩ ngay đến phát hiện ngày trước và tạo ra loại kính an toàn Triplex.  Đặc điểm của khám phá loại này là cả vấn đề hay giải pháp đều chưa tồn tại – hoặc ít nhất là chưa tồn tại trong nhận thức của nhà phát minh vào thời điểm vận may tới, Paula Stephan gọi đây là “tìm câu trả lời cho vấn đề chưa được đặt ra”.  Cách phân loại kiểu này cũng chỉ ở mức tương đối, trong thực tế rất khó để phân biệt cơ may này thuộc loại nào. Trường hợp Constantin Fahlberg tìm ra đường saccharin khi đang tổng hợp một chất hóa học khác có thể coi là kiểu 1 nhưng nếu để ý chương trình mà ông đang thực hiện – một dự án nghiên cứu được thành lập và duy trì bởi một công ty nhập khẩu đường, thì dường như cần xếp khám phá này vào loại 2.  Cơ chế của cơ may  Yaqub khi so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các ví dụ đã tìm ra cơ chế của cơ may – bốn chủ đề liên tục tái xuất hiện: dẫn dắt bởi lý thuyết, bởi người quan sát, do sai lầm và do mạng lưới quan hệ của các nhà khoa học.  Cơ may được dẫn dắt bởi lý thuyết: Sự hiểu biết kỹ lưỡng về lý thuyết là điều cần thiết nhất và cơ may – chỉ là sự tương phản của lý thuyết, được sinh ra từ sự lệch khỏi kỳ vọng lý thuyết. Khi các nhà khoa học tự hỏi: “Có phải ranium là sản phẩm của sự phát xạ của uradium?”, họ đã thiết lập các thí nghiệm để trả lời. Nếu kết quả là Có – đây sẽ là phát hiện quan trọng, dù nó không đáng kể như những gì họ thực sự tìm ra – phản ứng phân hạch của uranium. Hay Judah Folkman trong quá trình tìm kiếm các chất thay thế cho máu trong truyền máu đã quan sát thấy những khối u thường ngừng phát triển khi có kích thước nhỏ. Ông lập luận các mạch máu sẽ nuôi dưỡng khối u, từ đó dẫn ông tới tìm kiếm các chất ức chế tăng trưởng mạch máu – angiostatins. Như vậy, cơ may chỉ là kết quả được phát triển từ lý thuyết, chính lý thuyết đã giúp người quan sát nhìn đúng hướng và hạn chế phạm vi cần quan sát.  Cơ may được dẫn dắt bởi người quan sát: Kỹ thuật, tài năng, thói quen của từng cá nhân cũng như sự khác biệt giữa các thiết bị, nguồn lực quan sát có thể tạo điều kiện cho cơ may tới với người này nhiều hơn so với người khác. Một số người nhạy bén hơn và tìm thấy cơ hội nhanh hơn: Khoảng 500 người đã nghe bài giảng của William Ramsay về loại khí kỳ lạ có khả năng phát ra màu hồng khi được truyền điện tích trong một ống chân không, nhưng chỉ có Georges Claude nhận ra khả năng thương mại hóa nó thành bóng đèn neon đầu tiên trên thế giới. Một y tá đã nhận thấy những đứa trẻ bị vàng da ở gần cửa sổ có ánh nắng sẽ phục hồi nhanh hơn, cô chỉ phát hiện được điều này trong môi trường bệnh viện – nơi có nhiều mẫu để quan sát và bản thân cô có thói quen ghi ghép và báo cáo những quan sát của mình.  Cơ may và mức độ chấp nhận sai sót: Đôi khi các nhà nghiên cứu thiết kế thí nghiệm một cách lỏng lẻo với hy vọng những sai sót có thể dẫn đến những khám phá bất ngờ. Nhà vật lý Max Delbruck gọi đây là “sự luộm thuộm được giới hạn” và Root-Bernstein nhắc đến việc tạo ra những “sai lầm thông minh”. Cơ chế sai sót đóng vai trò nổi bật trong việc tạo ra cơ may. Một số trường hợp là do chất quan trọng bị đổ hoặc rơi, như Nobel với thuốc nổ, John W. Hyatt với celluloid. Một số trường hợp do chất vô tình bị làm nóng hay phát nổ như Goodyear với sự lưu hóa, Clinton J. Davisson và Lester H. Germer với sóng electron,… Đôi khi lại do nhà khoa học đã để quên các chất, như Fleming với penicillin, Antoine Henri Becquerel nhận ra phóng xạ, Percy Spencer và lò vi sóng,…  Cơ may và mạng lưới quan hệ: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà khoa học có vị trí càng ở trung tâm trong mạng lưới hợp tác thì sản phẩm đầu ra nghiên cứu càng nhiều và càng chất lượng. Càng có nhiều mối quan hệ, các nhà khoa học càng có nhiều thông tin hay biết đi đâu để tìm thông tin, vì thế tăng tỷ lệ có khám phá tình cờ. Hai nhà thiên văn vô tuyến Arno Penzias và Robert Wilson đã phát hiện ra những sóng nhiễu tần số cao mà không giải thích được nguyên gốc, chỉ đến khi họ đọc được công bố và liên hệ với nhóm nhà vật lý thiên văn Robert H. Dicke, Jim Peebles, và David Wilkinson – nhóm đang tìm kiếm những bức xạ vi sóng mà họ lý luận rằng phải tồn tại sau Big Bang, thì Penzias và Wilson mới xác định phát hiện của họ là bức xạ nền vũ trụ. Một số khám phá đáng chú ý về các loại thuốc như abatecept, minoxidil, imipramin xuất phát từ sự hợp tác của các bác sĩ, bệnh nhân và các nhà nghiên cứu đến từ những lĩnh vực khác nhau.  ***  Nghiên cứu của Yaqub cho thấy cơ may tồn tại đa dạng trong khoa học cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và cả các hoạt động phát triển công nghệ. Nhìn vào cách phân loại của Yaqub có thể thấy việc đặt mục tiêu nghiên cứu và cơ may không nhất thiết sẽ mâu thuẫn với nhau, từ đó thay đổi quan điểm cố hữu cho rằng khoa học không thể được lập kế hoạch mà cần được tự tổ chức – vì nhiều phát minh chỉ đến một cách tình cờ. Nghiên cứu cũng gợi ý thêm rằng nguyên nhân khu vực tư chưa mặn mà với nghiên cứu cơ bản không chỉ dừng ở việc e ngại “kẻ ăn theo” mà còn xuất phát từ vấn đề lớn hơn – rủi ro khi kết quả nghiên cứu không như dự kiến của họ – công ty không thể khai thác kết quả nghiên cứu nhưng một bên khác lại có thể. Vì thế cần có những công cụ pháp lý đảm bảo quyền lợi cho bên tư nhân, giúp công ty vẫn có lợi trong trường hợp kết quả nghiên cứu không như dự kiến.  Yaqub cũng chứng minh rằng cơ may không phải ngẫu nhiên mà có một hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất và phạm vi xảy ra cơ may. Vì thế các nhà nghiên cứu có thể thiết kế các thí nghiệm sao cho tỷ lệ xảy ra cơ may cao hơn. Các nhà hoạch định chính sách có thể dựa vào những nghiên cứu sâu về cơ may trong khoa học để phân bổ lại tài trợ nghiên cứu, giúp họ cân bằng các phương thức tài trợ, tạo ra môi trường khuyến khích sự may mắn và cho phép các nhà khoa học tận dụng kết quả bất ngờ.  Minh Thuận tổng hợp  Nguyễn Hoàng Thạch,Viện  Toán học hiệu đính  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-018-0 1405-7  Ohid Yaqub (2018), Serendipity: Towards a taxonomy and a theory.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có một dòng sông “chết lâm sàng”      Ch&#250;ng ta vẫn thường nghe những c&#225;i t&#234;n gắn với nhau như s&#244;ng Ho&#224;ng Phố gắn liền với Thượng Hải, s&#244;ng Chao Phraya chảy qua Bangkok, s&#244;ng Hằng (Ganga) v&#224; c&#225;c phụ lưu gắn với nhiều th&#224;nh phố linh thi&#234;ng (Delhi, Allahabad, Kanpur, Kara, Calcutta, Dacca&#8230;), s&#244;ng Neva chạy khắp Saint Petersburg, s&#244;ng Danube tạo n&#234;n cả một nền văn hiến Trung v&#224; Đ&#244;ng &#194;u dọc theo những t&#234;n tuổi lẫy lừng (Vienna, Bratislava, Budapest, Belgrade&#8230;), s&#244;ng Seine của Paris &#8220;kinh đ&#244; &#225;nh s&#225;ng&#8221;, s&#244;ng Thames của London cổ k&#237;nh, s&#244;ng Hudson ở New York &#8220;chọc trời&#8221;&#8230; Như một quy luật, mỗi th&#224;nh phố c&#243; bề d&#224;y lịch sử – văn h&#243;a thường gắn liền với t&#234;n của một d&#242;ng s&#244;ng. Phải chăng, những d&#242;ng s&#244;ng đẹp ch&#237;nh l&#224; mẹ của những th&#224;nh phố kỳ mỹ đ&#243;.Vậy, con s&#244;ng của Thăng Long – H&#224; Nội ng&#224;n năm tuổi c&#243; t&#234;n l&#224; g&#236;? Đ&#243; ch&#237;nh l&#224; d&#242;ng s&#244;ng T&#244; Lịch?S&#244;ng T&#244; Lịch, ng&#224;y xưa l&#224; thế n&#224;y:S&#244;ng T&#244; nước chảy trong ngần,Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa.Thon thon hai mũi ch&#232;o hoaLướt đi lướt lại như l&#224; bướm gieo.    TỪ SÔNG TÔ LỊCH LINH THIÊNG XƯA…Trước đây Tô Lịch là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng sang sông Nhuệ.Đại Nam nhất thống chí có ghi rằng:Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đông Xuân, huyện Thọ Xương, chuyển sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ.Sông Tô xưa có hai cửa thông với sông Hồng. Cửa Thiên Phù ở phía bắc Hồ Tây, đón nguồn nước từ sông Hồng chảy vào. Cửa Hương Bài (giữa Chợ Gạo và Ô Quan Chưởng), còn gọi là Giang Khẩu sau đổi là Hà Khẩu, là cửa chảy ra. Trải qua bao biến cố lịch sử sông Tô Lịch mang nhiều tên gọi: Tô Lịch, Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo. Theo sách Việt điện u linh tập, Tô Lịch là tên một người hiền tài quê ở Thăng Long có nhiều công đức giúp dân làng nên khi mất dân thờ kính phong ông là Long Đỗ thần hoặc Tô Lịch Giang thần.                   Vào thế kỷ VIII và IX, dọc bờ Nam sông Tô thuộc vùng đất nội thành Thăng Long có thành Giao Châu còn gọi là Đại La Thành, có cửa mở ra phía sông Hồng gọi là Đông La Môn. Có Tử Thành tức Thành con. Đến năm 858, Tử Thành được mở rộng. Về đời nhà Lý, ở phía Tây Bắc La Thành có chợ Hồng Tân xưa tức chợ Bưởi hiện nay. Sông Tô Lịch chảy qua đây, giao lưu với sông Thiên Phù. Nơi đây cũng có bến Hồng Tân sầm uất, thuyền bè xuôi ngược chở các nông sản ở các vùng quê ngoại thành ra; các loại nguyên vật liệu, lâm sản, đặc sản núi rừng theo thuyền bè từ miền ngược về; hàng hóa của phố xá kinh kỳ theo thuyền buồm, thuyền thoi từ bến Nứa chở đến. Nhánh sông này chảy qua các làng Thụy Chương (Thụy Khuê), đền Voi Phục (thờ Linh Lang đại vương con vua Lý Anh Tông đã có công đánh tan giặc Tống trên sông Như Nguyệt).Theo dọc bờ sông có 3 làng làm giấy dó cổ truyền: Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái. Dọc các làng đó có nhiều đình, đền thờ các thần dân có công với nước và các nhà thờ dòng họ khoa bảng nổi tiếng. Bên sông có chùa Láng thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chảy về phía Nam thành Thăng Long sông đi qua xã Kim Lủ là quê hương của các danh nhân văn hoá Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thế, Nguyễn Trọng Hợp. Ở các xã Thanh Liệt, Quang Liệt, Tam Hiệp có võ tướng Phạm Tu nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, có nhà giáo Chu Văn An uyên bác đời Trần đã từng dâng “thất trảm sớ” xin chém đầu bọn quan đại thần tham nhũng. Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi nay đã bị lấp (nguyên nhân ban đầu là do người Pháp e sợ nạn lụt lội xuất phát từ sông Hồng), chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê. Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: Từ Cầu Gỗ ngược lên (cống Chéo) Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay).Tô Lịch là vị thần của sông Tô Lịch (Tô Lịch Giang thần). Nhiều khi vị thần này được đồng nhất với thần Long Đỗ – tức vị thần của núi Long Đỗ (núi Nùng); cả hai đều được phong là Thành hoàng của đất Thăng Long xưa. Hai chữ Tô Lịch lần đầu tiên được sử sách ghi chép là vào thế kỷ VI, trong các sách Lương thư, Trần thư của Trung Quốc có nói vắn tắt về sự kiện Nam Việt đế Lý Bí cho đắp dựng một tòa thành bên một dòng sông xưa trên đất Hà Nội cổ (545), được gọi là “Tô Lịch Giang thành” (Thành sông Tô Lịch). Vậy là vào thế kỷ VI, Tô Lịch là tên sơ khai của thành Hà Nội.Rất nhiều câu chuyện được sử sách chép lại cho thấy sông Tô Lịch có một vị trí hết sức đặc biệt trong tâm linh người Hà Nội. Trong các sách cổ như Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên thế kỷ XVI, trong Lĩnh Nam chích quái, hay trong các thư tịch cổ hơn như Báo cực truyện và Giao Châu Ký đều có nhắc đến sông Tô Lịch như là một chốn trú ngụ linh thiêng của vị thần bảo trợ cho đất nước. Chẳng hạn chuyện sông Tô Lịch, hay chuyện Cao Biền xây thành Đại La năm 866, gặp vị thần xưng Tô Lịch nên đặt tên sông là Tô Lịch, hoặc dị bản khác là chuyện thần sông Tô Lịch khiến cho Cao Biền kinh hãi khâm phục “xứ này có nhiều thần linh dị”… Còn có chuyện khi Lý Thái Tổ dời đô (1010), ngài thường nằm mơ thấy một ông lão râu bạc đến bên bệ rồng hô vạn tuế chúc mừng nhà vua. Vua cười hỏi: “Tôn thần cũng giữ được hương lửa trăm năm hay sao?” Ông liền đáp: “Mong muốn hoàng đồ như Thái Sơn bàn thạch, thánh thọ vô cương, trong triều ngoài quận thái hòa, bọn thần không chỉ hương hỏa một trăm năm mà thôi.” Sau khi tỉnh dậy, bèn sai quan Thái chúc đem rượu tế, phong thần làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương.                   Triển lãm “Gương? Nếu dòng sông biết nói” trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giới thiệu kết quả của dự án do người dân và thanh niên phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, Hà Nội gửi đến công chúng thông điệp về môi trường sông Tô Lịch.Tham gia dự án có 19 đoàn viên cùng các chuyên gia nghệ thuật cộng đồng Paul Zetter đến từ nhóm Đào tạo và Phát triển Sáng tạo, Trung tâm Hành động vì đô thị. Dự án được Quỹ Môi trường SIDA tài trợ.        Đến niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (1285), Trần Nhân Tông sắc phong cho thần Tô Lịch hai chữ “Bảo quốc”; năm Trùng Hưng thứ tư (1288) lại gia phong hai chữ “Hiển linh”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), Tô Lịch được phong thêm hai chữ “Định bang”.Đấy là sử sách nói vậy. Còn các nhà phong thủy thế kỷ XX nói gì?Theo lời cụ Cao Minh Bạch (1912 – 2001), một nhà địa lý – phong thủy nổi danh Đông Nam Á, người đã từng làm phong thủy cho Hoàng cung Thái Lan, thì việc Cao Biền xây thành Đại La là cả một kỳ công với những sáng tạo độc đáo về khoa học phong thủy. Vốn được phong là đệ nhất thiên hạ về phong thủy, và quả không hổ danh, Cao Biền đã thiết kế thành Đại La theo định hướng tạo thế phát triển thành một quốc gia độc lập. Ngay từ thế kỷ IX trong đêm dài Bắc thuộc, họ Cao, dù là người Hán, đã có cái “nhã ý” thoát khỏi vòng kiềm tỏa của phương Bắc, muốn làm vua riêng một góc trời ở phương Nam này vậy.Có thể tóm tắt cái “quy hoạch tổng thể” của thành Đại La thế này: Sau khi thăm thú khắp nơi Cao Biền thấy nơi đây có cái thế lý tưởng để xây dựng một kinh đô cho một quốc gia độc lập. Thành Đại La có tay “long” vươn đến dãy Đông Triều – Yên Tử, tay “hổ” vươn đến Tam Đảo, thế là thuộc cách “long bão hổ” quý vô cùng. Họ Cao lại tìm ra những thế rất hiểm và cao tay. Thứ nhất, ông cho kinh thành tựa vào Hồ Tây, một điều khó có thầy địa lý nào dám làm vì người ta thường chọn thế tựa vào đất hay núi cao, nhưng Cao Biền đã dựa vào “não thủy” Hồ Tây để làm thành cách “hậu đầu xung thủy xuất thần tiên”, đảm bảo cho xứ này “hào kiệt thời nào cũng có”. Để giữ được cách này thì Hồ Tây không được phép thu hẹp và ý tưởng làm đường giao thông ngầm xuyên lòng Hồ Tây như tôi đã đọc trên các báo là cực kỳ tai họa. Thứ hai, Cao Biền cho làm một con đường xuyên thẳng vào giữa thành (đường Lê Duẩn bây giờ), ai trông cũng tưởng là hung họa ghê gớm nhưng có ai biết đó là cách “hồng tiễn xuyên tâm” kích thích nội lực cho thế đất. Ông còn lập “tứ trấn” để bảo toàn an ninh cho kinh đô. Đặc biệt, toàn bộ thiết kế phong thủy của ông đều dựa trên “long mạch” xuất phát từ núi Nùng của thần Long Đỗ chạy theo hướng tây-tây bắc và sự điều tiết tổng thể của thần sông Tô Lịch. Hỡi ôi, những địa danh ấy nay thật thảm hại mà sao chưa có người lo xây đắp lại? Như vậy, có thể các thần thiêng đất Thăng Long không dung chứa họ Cao nhưng lịch sử không thể không ghi nhận công lao tạo dựng Đế Kinh cho đất nước này của ông.Như thế Tô Lịch chính là “long mạch” không những của thủ đô mà còn của cả đất nước này. Và nguồn linh khí ấy đến giờ ra sao thì ai cũng biết.CỨU DÒNG SÔNG ĐANG “CHẾT LÂM SÀNG”: CẦN NỐI LẠI VỚI SÔNG HỒNG?                   Sau bao năm lấp và phá, “long mạch” mang uy thần Tô Lịch giờ đây như một cái cống hôi thối, bẩn thỉu, ô nhiễm vô cùng. Trước đây, người Pháp lấy cớ sông Hồng hung dữ thường dẫn nước vào sông Tô gây nên cảnh lụt lội để lấp sông này. Rồi vào nửa sau thế kỷ XIX người Pháp san phẳng Thành nội, phá điện Kính Thiên, “giải tỏa” tháp Báo Ân, đổ bê tông lên để xây “phố Tây”, khu nhà binh, sân vận động Mangin (nay là CLB Quân đội) và thế là sông núi ấy giờ ra như thế.Về mặt địa lý – phong thủy cũng như đời sống xã hội và giá trị lịch sử, sông Tô Lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ với thủ đô này. Dòng sông bị chặn lấp rồi chết dở sống dở vào thời Việt Nam mất nước vào tay người Pháp không biết có phải là vô tình? Trải qua hơn trăm năm tù đọng, dòng sông vẫn như một vết nhơ, hay chính xác hơn, một vết thương dài lở loét mưng mủ, trên mặt thủ đô.Vì vậy tôi cũng đã thường nghĩ chúng ta phải làm sao để trả về cho dòng sông cuộc sống trước đây. Phải chăng chỉ có cách là hãy khai thông và nối lại Tô Lịch với sông Hồng, để cho rồng lại là rồng? Với trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay thì chắc chắn rằng chúng ta không phải lo gì chuyện lũ lụt trên sông Tô Lịch.Dù để những đề xuất này được lưu tâm và thực hiện là vô cùng khó khăn, nhưng tôi nghĩ chắc chắn là mình không đơn độc. Các bạn trẻ trong một tập hợp vì môi trường lấy tên là “Go Green” đã từng đưa ra ý định tổ chức một cuộc “Bơi tiếp sức trên sông Tô Lịch” với mục đích đưa ra thông điệp: Đừng bắt chúng ta phải bơi trong những dòng sông như thế này. Và cũng đã có những hành động cụ thể hết mình. Từ năm 2004 Trung tá Đào Văn Hà, công tác tại PA36 Công an Hà Nội đã dành trọn những ngày nghỉ để đi đến với những mương nước đen, những con sông đang bốc mùi hôi thối ở Hà Nội để đo đạc, tính toán. Từ đó anh nảy sinh ý tưởng đào kênh đưa nước sông Hồng vào sông Tô Lịch. Ngoài ra, còn có lời rao bán ý tưởng cải tạo sông Tô Lịch của tác giả Nguyễn Văn Huân đăng trên mạng. Anh có ý định tạo ra một dòng chảy từ đầu nguồn đến cuối nguồn sông Tô Lịch tạo nên một hệ thống chảy ra sông Hồng. Nhờ đó, nước thải của thành phố từ các khu dân cư đưa ra các cống sẽ được thải nhanh nhất.Giữa năm 2007, trong đề án “Cải tạo môi trường, cảnh quan, xây dựng các cơ sở dịch vụ công cộng, du lịch trên sông Tô Lịch” của Công ty cổ phần Nước và Môi trường Việt Nam, do Nguyễn Như Hà làm Chủ tịch HĐQT, cũng có hạng mục nối sông Tô Lịch với sông Hồng. Dù không trùng khớp về vị trí nối giữa hai con sông nhưng các ý tưởng trên đều đề xuất nối sông Tô Lịch với sông Hồng. Với dự trù kinh phí 240 tỷ đồng, đề án trên còn đưa ra ý định tận dụng bề mặt các tuyến mương hở của Hà Nội để xây dựng các cơ sở dịch vụ công cộng .Tất nhiên, việc “đậy nắp” sông Tô khó mà được mọi người đồng tình, chưa nói đến những vấn đề khoa học phong thủy khác. Vả lại, đã từng có nhiều nước “đậy” sông rồi lại phải mở ra. Sông không là cống bao giờ. Vì, một khi dòng sông đã được khai thông, chắc rằng ai cũng muốn con sông của đất kinh đô lại được trở về với cảnh như trong ca dao xưa:Nước sông Tô vừa trong vừa mátEm ghé thuyền đỗ sát thuyền anh…Tôi cũng mơ được như vậy quá.Chỉ có khoảng 250 tỷ là xong bước một mà tại sao bao lâu nay không ai tính đến việc này? Trong khi hằng năm thành phố này ngốn biết bao nhiêu tiền của của quốc gia (với những dự án khủng khiếp kiểu như “con đường đắt nhất hành tinh” Kim Liên – Ô Chợ Dừa đã tiêu hết hơn 800 tỷ đồng cho 1000m đường, cỡ 600 tỷ đồng lại sắp được chi cho đoạn đường hơn 500m Ô Chợ Dừa – Hoàng Cầu, và vô vàn những công trình đắt giá khác). Còn cái gọi là “giai đoạn tiếp đó” (nối thông sông Hồng với sông Tô Lịch) sẽ được thực hiện vào khi nào để cứu con sông của linh thần nước Việt đang dặc dài thảm nạn trong tình trạng “chết lâm sàng”?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có những điều còn quan trọng hơn giải thưởng      Đã có những quan điểm khác nhau trong cộng đồng khoa học thế giới về khả năng đoạt giải Nobel của nhóm nghiên cứu BICEP2 mà TS Nguyễn Trọng Hiền là một người giữ vai trò quan trọng trong đó. Tuy nhiên, với thái độ thận trọng và duy lý khách quan của một nhà khoa học, TS Hiền không cho rằng mình có khả năng được trao giải thưởng danh giá này, thậm chí cũng không vội vàng tin tưởng vào kết quả mà nhóm của ông tìm ra.      Giới khoa học thế giới bình chọn khám phá từ thí nghiệm BICEP2 về sóng hấp dẫn là một trong những phát hiện khoa học vĩ đại nhất trong vòng 20 năm qua. Một loạt các tờ báo lớn như The Guardian, Nature, The Washington Post… đều cho rằng, nếu kết quả được kiểm chứng, BICEP2 dường như cầm chắc giải Nobel. Nhiều nhà khoa học Việt Nam tỏ ra khá hưng phấn trước triển vọng này. Trong cuộc tọa đàm ngày 16/8 tại Hà Nội, đã có tới vài lần GS Cao Chi hỏi TS Nguyễn Trọng Hiền về cơ hội giành giải Nobel: “Tôi hiểu rằng BICEP2 là điểm nhấn đầu tiên để khẳng định sóng hấp dẫn tồn tại. Tìm ra sóng hấp dẫn là một sự kiện rất nổi bật. Vậy tôi muốn hỏi anh Hiền là triển vọng Nobel của BICEP2 đến đâu?”    Tuy nhiên, một số nhà khoa học Việt Nam khác không dễ dàng tin ngay vào kết quả của BICEP 2. “Anh đứng về “phe” nào? Anh tin hay là không tin vào sóng hấp dẫn? Tôi nói trước, tôi đứng giữa, tôi chờ cho đến khi có kết quả,” GS Trần Xuân Hoài nói.     Ông nói như vậy xuất phát từ một thực tế là đến nay trong cộng đồng khoa học thế giới vẫn còn những quan điểm nghi ngờ tính chính xác của kết quả từ BICEP2. Chỉ một tháng sau ngày 17/3/2014 (ngày nhóm BICEP2 công bố kết quả họ tìm ra), đã có rất nhiều bài báo phản hồi cho rằng tín hiệu của BICEP2 là sai, trong số đó, có cả những bài viết từ các nhà vật lý hàng đầu.     Thái độ mà các thành viên dự án lựa chọn là im lặng. Có lẽ chính điều này càng gây ra nhiều đồn đoán hơn trong dư luận, thậm chí có tin đồn cho rằng trong nội bộ nhóm BICEP2 đã có người thừa nhận kết quả thí nghiệm là sai. Nhưng trong cuộc tọa đàm tại Hà Nội, TS Nguyễn Trọng Hiền đã dứt khoát bác bỏ lời đồn đại này. “Tôi nói luôn đây là tin đồn nhảm,” ông khoát tay cười.          Khi nhắc đến kết quả của BICEP2, giới  truyền thông thường đồng thời nhắc tới việc tìm ra hạt Higgs như hai  niềm vui của ngành vật lý thời gian gần đây, từ đó liên hệ việc các công  trình về hạt Higgs vừa giành giải Nobel với khả năng giành giải Nobel  của BICEP2. Tuy nhiên, TS Nguyễn Trọng Hiền chỉ ra một thực tế là các  công trình giành giải Nobel thường phải mất nhiều thời gian mới được  thừa nhận. Giải Nobel cho hai nhà vật lý Peter Higgs và Francois Englert  phải đợi đến năm 2013, sau khi hạt Higgs được tìm ra (2012), mặc dù  công trình về hạt Higg của họ đã được công bố cách đây gần 40 năm. “Dù  hạt Higgs chưa được tìm ra đi nữa thì chỉ riêng với công trình của nhóm  này thôi, họ đã đẩy ngành vật lý tiến rất xa, và như vậy họ đã đủ xứng  đáng được giải Nobel rồi,” TS Hiền nói.           “Câu chuyện thực ra khá đơn giản. Công trình của BICEP2 đã công bố chính thức trên Physical Review Letters ngày 21/6/2014. Các bạn có thể tải xuống đọc mà không tốn tiền. Kết quả có thể tóm tắt thế này. Rằng BICEP2 đã phát hiện tín hiệu B-Mode trên bầu trời với độ tin cậy cao (5.2 sigma). Đây là kết quả chính và không phải là điều người ta tranh cãi. Vấn đề là ở cách diễn dịch. Câu hỏi là tín hiệu B-Mode này có nguồn gốc từ đâu? Có hai khả năng gây tranh cãi, một là do bụi trong Ngân Hà, hai là do sóng hấp dẫn ban sơ. Dựa trên các mô hình bụi đã có sẵn thì thấy rằng mức độ nhiễm của bụi là nhỏ, nhưng những mô hình này có sai số khá lớn. Một điều quan trọng nữa là các dữ liệu của BICEP2 lại mang tính trùng hợp cao với các tính toán dựa trên sóng hấp dẫn.     Hai tháng sau khi BICEP2 công bố trên mạng, đài thiên văn không gian Planck đưa ra dữ liệu mới về bụi trong Ngân Hà, cho thấy xác suất ô nhiễm của bụi trong vùng quan sát của BICEP2 không cao, nhưng có thể nói là đáng kể. Nhưng ta sẽ không định lượng được mức ô nhiễm của bụi là bao nhiêu, vì các dữ liệu của Planck có sai số quá cao. Sự việc chỉ có thế.”     “Nào, các dữ liệu mà Planck đã công bố hồi tháng Năm nằm ngoài vùng quan sát của BICEP2. Planck cho biết do mức độ phân cực trong vùng của BICEP2 thấp, và sai số đo đạc hơi cao nên người ta vẫn còn đang phân tích. Vì thế cho đến thời điểm này, đây là những quan điểm (opinions), không phải là dữ liệu cụ thể.”     “Vai trò của sóng hấp dẫn ban sơ là rất lớn trong nền tảng của vật lý và vũ trụ học. Kết quả lớn đòi hỏi sự giám sát toàn diện. Cụ thể là cần phải có thêm dữ liệu ở những bước sóng hay tần số khác biệt trước khi có kết luận cuối cùng. Planck có lợi thế về nhiều bước sóng, nhưng Planck sẽ không đạt được độ tinh nhạy của BICEP2. Để có được kết quả như BICEP2, Planck sẽ phải mất thêm 30 năm quan sát nữa. Mà BICEP2 chỉ là bước thứ hai trong kế hoạch lâu dài của nhóm chúng tôi. Trong thời gian vừa qua, BICEP2 đã quan sát ở tần số 150 GHz. Từ đầu năm nay, nghĩa là trước khi công bố kết quả BICEP2, chúng tôi đã thực hiện quan sát ở tần số 100 GHz với Keck, rồi với BICEP3 vào cuối năm nay. Sắp tới đây, chúng tôi sẽ có hệ cảm biến ở tần số 250 GHz. Để làm được những bước này một cách kịp thời và hiệu quả như đã kể, tức là để có được thiết bị quan trắc ở các tần số khác nhau, đòi hỏi một qui trình lâu dài và có hệ thống. Nhóm chúng tôi đã chứng tỏ điều này ngay từ đầu, từ nhiều năm trước đây, chứ không phải chỉ là phản ứng nhất thời. Đây là lý do tại sao chúng tôi chọn sự im lặng. Dữ liệu khoa học, chứ không phải quan điểm, mới là lời phán quyết cuối cùng.”  “Biết đâu tôi tin vào điều này chỉ vì nó quá đẹp?”     “Trong bức tranh lạc quan nhất, nếu kết quả của BICEP2 không bị ảnh hưởng quá lớn bởi các yếu tố nhiễu thì sóng hấp dẫn là có thực. Sóng hấp dẫn ban sơ tồn tại khi vũ trụ mới được một phần tỷ tỷ tỷ tỷ giây. Đó là di chỉ cổ xưa nhất của vũ trụ,” TS Nguyễn Trọng Hiền nói. BICEP2 đo được mức phân cực của bức xạ nền, một bằng chứng cho thấy sóng hấp dẫn, một hệ quả vật lý mà Einstein đã dự đoán trong thuyết tương đối của ông. Đồng thời, nó cũng xác minh thuyết lạm phát vũ trụ.     Kết quả của BICEP2 được coi là “phát súng hiệu” của thuyết lạm phát vũ trụ nói về thời điểm ngay sau vụ nổ Big Bang. Một video được post lên mạng vào đúng ngày 17/3/2014 cho thấy phản ứng của GS Andrei Linde, một trong những cha đẻ của thuyết lạm phát vũ trụ, sau khi được Chao – Lin Kuo, một thành viên của nhóm nghiên cứu dự án BICEP2, chạy về báo rằng tìm thấy tín hiệu sóng hấp dẫn đã lan truyền trên mạng nhanh chóng, Lindei nói: “Nhỡ tôi bị lừa thì sao? Biết đâu tôi tin vào điều này chỉ vì nó quá đẹp?” (What if I am tricked? What if I, I believe into this just because it is beautiful?).     Tuy nhiên, TS Nguyễn Trọng Hiền không vội tin tưởng chỉ vì vẻ đẹp của một kịch bản lý tưởng. Ông cho biết không phải chờ tới năm 2014, mà ngay từ năm 2012 khi một nhóm các nhà khoa học trong dự án BICEP2 phát hiện ra tín hiệu phân cực B-mode của bức xạ nền, ông và các cộng sự đã dành rất nhiều thời gian cho việc kiểm tra các kết quả. “Chúng tôi đã có kết quả này được hai năm rồi. Lần đầu thấy nó, chúng tôi đã không tin. Nếu mà [kết quả đúng] như vậy thì quá tốt. Chúng tôi phải đối chiếu rất nhiều. Trước BICEP2, chúng tôi có BICEP1 và sau đó là Keck. Khi đối chiếu với những thí nghiệm ấy thì chúng tôi thấy rất trùng hợp”.    Nhưng tất cả những điều đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục đối với TS Hiền. Ông khẳng định ngay cả khi được kiểm chứng từ một thí nghiệm tương tự khác (như Planck hay SPT, v.v…), và cho dù “loại bỏ được foreground [các yếu tố gây nhiễu], cho dù chúng ta biết đây là tín hiệu từ B-mode, cho dù chúng ta xác định được phổ của bức xạ này, tôi cũng không tin vào sóng hấp dẫn cho đến khi chúng ta có được phép đo độc lập khác”.   Sự thật không quan trọng, quan trọng là tính nhất quán    “TS Hiền, anh có tin vào vụ nổ Big Bang không?” Đáp lại câu hỏi vốn được nêu ra ít nhất ba lần trong buổi tọa đàm hôm 16/8, TS Nguyễn Trọng Hiền đưa ra một thí dụ để minh họa cho sự sai lệch của lòng tin, cho dù đó là lòng tin của những bộ óc vĩ đại, giàu uy tín nhất. Ông đưa ra câu chuyện về Fred Hoyle, nhà vũ trụ học người Anh là người đi đầu trong lý thuyết trạng thái tĩnh (steady state). Hoyle là người đặt tên Big Bang với hàm ý mỉa mai. Thế rồi, TS Hiền đặt câu hỏi cho một khán giả: “Anh có biết người thứ hai cũng đã suy nghĩ về mô hình tĩnh của vũ trụ là ai không?”. Chính là “Einstein!”. Einstein đã suy nghĩ về những điều này 20 năm trước Hoyle. Nhưng khác với Hoyle, Einstein đã không công bố công trình của mình. Chứng tỏ bản thân Einstein cũng đã không mấy tin tưởng vào mô hình tĩnh (Steady State Universe). (Người ta chỉ mới tìm thấy các tính toán này trong di cảo của Einstein.) Bài học mà TS Nguyễn Trọng Hiền rút ra từ câu chuyện này là “phải cẩn thận, phải nhìn cho rõ”. Ngày nay chúng ta có một lợi thế mà Einstein hay Hoyle trước đây không có được, đó là số lượng dữ liệu về vũ trụ học khá dồi dào và chính xác. Cũng vì thế, quay lại với câu hỏi về niềm tin, ông phát biểu, “tôi sẽ nói những điều [được công nhận là] đúng [bằng những kiểm chứng từ thực nghiệm hay quan sát] chứ không phải những điều tôi tin.”    Theo TS Nguyễn Trọng Hiền, trong khoa học, điều được cho là đúng đắn trước hết phải dựa trên sự nhất quán giữa lý thuyết và các kết quả thực nghiệm. Ông nói, nếu “hỏi tôi liệu có tin vào Big Bang hay không thì cũng giống như hỏi ông bà mình vào cái thời của Copernicus, rằng có tin là Trái đất quay quanh Mặt trời hay không. Cho đến hôm nay, rất ít người thấy trực tiếp Trái đất xoay quanh Mặt trời. Chúng ta biết điều này là dựa trên những bằng chứng gián tiếp, dựa trên sự thống nhất giữa các quan sát thiên văn. Thành thử cái gọi là ‘sự thật’ thường là ‘hạ hồi phân giải’, và vì thế không mấy hữu ích. Ông thầy tôi dạy, tính nhất quán quan trọng hơn sự thật – consistency is more important than the truth”.    Tuy nhiên, cũng chính yêu cầu về tính nhất quán này khiến việc chứng minh hay bác bỏ một lý thuyết là điều rất khó khăn, đòi hỏi một quá trình lâu dài. Đôi khi người ta không thể bác bỏ một lý thuyết khi nó không nhất quán với một chân lý được công nhận nào đó, bởi nó đảm bảo được sự nhất quán với một chân lý khác cũng được cho là đúng.     “Tôi không bao giờ được giải!”           “Đây là lĩnh vực rất mới và còn nhiều  tranh cãi. Chính vì vậy mà cơ hội được giải Nobel cực kì nhỏ. Cái khó  nữa là, trao giải cho ai? Riêng [cân nhắc] giữa các nhà vật lý lý thuyết  đã đủ phức tạp rồi. Mà trao cho các nhà lý thuyết hay thực nghiệm?”         Nếu kết quả của BICEP2 đúng là từ sóng hấp dẫn, tức là nếu tín hiệu phát hiện được không phải là từ những tạp nhiễm, thì TS Nguyễn Trọng Hiền cho rằng đó sẽ là kết quả rất lớn trong ngành vật lý, không chỉ bây giờ mà còn cho nhiều năm sau. Nhưng theo ông, “đây là lĩnh vực rất mới và còn nhiều tranh cãi”, do đó “cơ hội được giải Nobel cực kì nhỏ”, chưa kể không dễ để chọn người xứng đáng được vinh danh nếu muốn trao giải cho những người có công với khám phá về sóng hấp dẫn. “Riêng [cân nhắc] giữa các nhà vật lý lý thuyết đã đủ phức tạp rồi, mà trao cho các nhà lý thuyết hay thực nghiệm?”    Về triển vọng bản thân được trao giải Nobel, TS Nguyễn Trọng Hiền thẳng thắn phát biểu “nếu có ai ở đây kỳ vọng tôi được giải Nobel, tôi sẽ nói ngay lúc này, tôi không bao giờ được giải!”. Tuy nhiên, ông không cho rằng đó là điều quan trọng nếu so sánh với ý nghĩa những công việc mà ông cùng các cộng sự đã làm được. “Khi chúng ta làm một việc gì mà có hệ quả lớn như vậy, hệ quả đó quan trọng hơn rất nhiều so với giải thưởng.”     Động lực ban đầu thôi thúc TS. Nguyễn Trọng Hiền cùng các cộng sự của ông không phải là hệ quả to lớn gắn với sóng hấp dẫn, mà xuất phát từ một nguyên nhân khác khiêm tốn hơn rất nhiều, nhưng cũng rất đáng kể. “Khi đề xuất công trình này, chúng tôi không nghĩ mình tìm sẽ ra được sóng hấp dẫn vì nghĩ rằng tín hiệu quá yếu ớt. Chúng tôi chỉ đặt một tiêu chí là sẽ làm thật tốt công việc đo đạc. Chúng tôi cố gắng bởi nếu mình không phát hiện được tín hiệu sóng hấp dẫn, thì sẽ còn rất lâu người ta mới tìm thấy chúng. Nghĩ như vậy nên chúng tôi bắt tay vào làm.”     Author                Quản trị        
0.025477707006369428
__label__tiasang Cơ quan “hỏi-đáp” WTO      Được Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập tháng 3/2003, Văn phòng TBT Việt Nam (gọi tắt của Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về tiêu chuẩn đo lường chất lượng) có nhiệm vụ chính là thông báo và trả lời các hỏi đáp liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam tới các nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới-WTO và ngược lại. Đến tháng 5/2005, Văn phòng TBT Việt Nam được Chính phủ quyết định là đầu mối quốc gia của Mạng lưới cơ quan thông báo về điểm hỏi đáp quốc gia của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Mặc dù chưa phải là thành viên chính thức của WTO nhưng sự ra đời của Văn phòng TBT Việt Nam chứng tỏ quyết tâm hội nhập và sự chuẩn bị kỹ càng của Việt Nam trước vận hội hội nhập với thế giới.    Hài hòa các “khác biệt”  “Chúng tôi đang dần dần từng bước một đẩy mạnh các hoạt động của mình để doanh nghiệp và các cơ quan liên quan biết nhiều hơn và sẵn sàng trả lời các câu hỏi liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại liên quan tới Việt Nam và WTO”, ông Lê Quốc Bảo , Giám đốc văn phòng TBT Việt Nam mở đầu câu chuyện với chúng tôi tại một căn phòng nhỏ nằm trong trụ sở của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.            Xóa bỏ các rào cản trong thương mại là một trong những mục tiêu lớn nhất của WTO. Minh họa: Corbis        Nhiệm vụ của Văn phòng TBT trên thực tế khá nhiều (xem phần đóng khung), nhưng tựu chung lại là gồm 2 phần. Thứ nhất là thông báo các văn bản pháp quy kỹ thuật, các quy trình đánh giá sự phù hợp của Việt Nam đến các nước thành viên WTO và ngược lại. Thứ hai là trả lời các câu hỏi về văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn, qui trình đánh giá sự phù hợp và các vấn đề liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam và các nước thành viên WTO. Nói như ông Bảo, hai nhiệm vụ chính của TBT Việt Nam là “thông báo” và “hỏi đáp” các vấn đề liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại liên quan tới WTO. Cụ thể hơn là điểm hỏi đáp quốc gia về tiêu chuẩn chất lượng và các vấn đề kỹ thuật cho các nước thành viên WTO và doanh nghiệp Việt Nam muốn hội nhập với quốc tế. “Theo Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là TBT) của WTO, luôn có các khác biệt về các qui định kỹ thuật đối với hàng hóa (technical regulations) giữa các nước thành viên. Do vậy cần có một cơ quan có nhiệm vụ trả lời các câu hỏi của các bên liên quan để có thể đi tới một hài hòa, hạn chế các ngăn cản đối với thương mại trên phạm vi thế giới”, ông Bảo giải thích về sự ra đời của TBT Việt Nam.  Theo các con số thống kê của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, hiện tại Việt Nam có khoảng 6.000 tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) trong đó chỉ có khoảng 25% là phù hợp hay tương đương với tiêu chuẩn quốc tế. Con số này ở mức trung bình so với một nước đang phát triển như nước ta. Ở các nước phát triển như ở Châu Âu, mức tiêu chuẩn tương đương cũng chỉ vào khoảng 60-80% tùy theo mỗi nước, ở Singapore, con số này là 40%. Tất nhiên, tiêu chuẩn càng phù hợp với quốc tế thì chất lượng hàng hóa càng tăng lên và khả năng xuất khẩu hàng hóa càng dễ dàng hơn. Chính vì vậy, theo ông Lê Quốc Bảo, Việt Nam dự kiến sẽ nâng mức tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế lên khoảng 35% vào năm 2010 và tiếp tục tăng lên trong những năm sau đó.  Vì chưa là thành viên của WTO cho nên Văn phòng TBT Việt Nam chưa phải thực hiện nhiệm vụ thông báo các văn bản pháp qui của Việt Nam tới WTO và các nước thành viên. Tuy nhiên, văn phòng đang thực hiện các công việc chuẩn bị để có thể hoạt động hiệu quả ngay khi Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức của WTO.”Chúng tôi đang rà soát lại các văn bản luật của Việt Nam, qui trình ban hành và thực thi xem có phù hợp với qui định và tiêu chuẩn của WTO hay không?”, ông Bảo cho biết.  Những khác biệt đầu tiên đã thấy rõ. Theo qui định của WTO, các nước thành viên phải có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản về các biện pháp kỹ thuật, văn bản qui phạm chất lượng, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa… cho WTO biết từ khi các văn bản này còn ở dạng dự thảo (để cơ quan này can thiệp khi phát hiện thấy có các biểu hiện rào cản thương mại) và trước khi ban hành 60 ngày. Tuy nhiên, theo qui định của Việt Nam, các văn bản dự thảo không được công bố và thường  chỉ được gửi tới các cơ quan liên quan để đóng góp ý kiến trước khi ban hành khoảng 20 ngày. Cũng như vậy đối với thời hạn văn bản luật có hiệu lực thi hành. WTO qui định thời hạn này khoảng 60 ngày sau khi ban hành nhưng ở Việt Nam thì thường là “15 ngày sau khi đăng Công báo”. “Hài hòa” những chuyện này quả là không dễ và để giải quyết được điều này, Việt Nam buộc phải thay đổi các qui trình ban hành luật và văn bản pháp luật. “Dự kiến Luật tiêu chuẩn hóa được đưa ra Quốc hội thông qua vào năm nay sẽ điều chỉnh lại các qui định về hiệu lực thi hành các văn bản luật phù hợp hơn với WTO”, ông Bảo cho biết.  Ai quan tâm?  Mặc dù ra đời được gần 3 năm nhưng các hoạt động “hỏi-đáp” của Văn phòng TBT Việt Nam vẫn chưa được nhiều vì các lý do khác nhau. Trước mắt là bởi những câu hỏi tới văn phòng vẫn còn ít do số người biết tới TBT Việt Nam còn hạn chế. “Do Việt Nam chưa phải là thành viên WTO nên chúng tôi vẫn chưa công khai cơ quan hỏi đáp và chưa khuyếch trương văn phòng. Hơn nữa, các công việc chúng tôi đang thực hiện vẫn chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho nên vẫn còn quá nhiều việc phải làm”, ông Bảo nói.  Theo Quyết định 114/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng TBT Việt Nam ngoài việc là “Cơ quan thông báo và Điểm hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại” còn có nhiệm vụ giúp các cơ quan, bộ, ngành và địa phương xây dựng các Cơ quan thông báo và Điểm hỏi đáp cấp bộ và các tỉnh, thành phố về TBT. Những cơ quan thuộc bộ thì đặt tại các Bộ liên quan, cơ quan cấp tỉnh, thành phố thì đặt tại các Sở Khoa học và Công nghệ của địa phương. “Hiện nay, các điểm hỏi đáp ở các bộ thì gần như đã được thiết lập nhưng ở các địa phương thì chỉ được khoảng 50% và việc này cần phải đẩy mạnh trong thời gian tới”, ông Lê Quốc Bảo cho biết.  Để tạo điều kiện cho nhiều người biết tới Văn phòng TBT Việt Nam, hiện cơ quan này đã xây dựng một trang web tại địa chỉ: www.tbtvn.org để cung cấp các văn bản pháp quy kỹ thuật và tài liệu liên quan tới TBT, các thông báo mới nhất của các nước thành viên WTO về TBT, tin tức cảnh báo xuất khẩu và diễn đàn trao đổi, thảo luận nhằm mục đích giải đáp các câu hỏi liên quan. Bên cạnh đó, Văn phòng TBT Việt Nam cũng ra các bản tin hàng tháng trong đó thông tin các hoạt động TBT trong và ngoài nước, tổ chức các hội thảo, các đợt tập huấn đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn, phổ biến kiến thức về hàng rào kỹ thuật trong thương mại và cung cấp dịch vụ thông tin, tư vấn về các vấn đề liên quan. “Qua khoảng 25 hội thảo, lớp tập huấn mà chúng tôi tổ chức trong năm 2005, điều thú vị nhận thấy là sự quan tâm của doanh nghiệp, cơ quan thuộc khu vực miền Nam rất lớn, chiếm tới hơn 50% tổng số. Điều này phần nào chứng tỏ các doanh nghiệp miền Nam quan tâm tới WTO nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có thể do quán tính mà nhiều cơ quan, doanh nghiệp khi gặp các vấn đề kỹ thuật thường hỏi các bộ, ngành liên quan”, ông Bảo nói. Đối với các phía nước ngoài, câu hỏi thường đến từ các doanh nghiệp muốn có quan hệ làm ăn với Việt Nam hoặc các thương vụ thuộc Đại sứ quán của các nước.  Nhận xét về khả năng và thực lực của Văn phòng TBT Việt Nam, ông Lê Quốc Bảo cho biết: “Với khoảng 10 người làm việc cho văn phòng hiện nay, chúng tôi tin tưởng rằng có thể đảm đương được nghĩa vụ thông báo khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, trách nhiệm giải đáp chắc chắn đòi hỏi một nhân lực lớn hơn, đặc biệt là cần tới sự tham gia của một đội ngũ các chuyên gia của nhiều bộ, ngành, địa phương. Tất cả đang được chuẩn bị và hy vọng sẽ hoạt động nhịp nhàng trong tương lai”./.                              Các nhiệm vụ của Văn phòng TBT Việt Nam  – Thông báo các văn bản pháp quy kỹ thuật, các quy trình đánh giá sự phù hợp của Việt Nam đến các nước thành viên WTO và ngược lại.  – Trả lời các câu hỏi về văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn, qui trình đánh giá sự phù hợp và các vấn đề liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam và các nước thành viên WTO.  – Điều phối hoạt động, hướng dẫn nghiệp vụ thông báo và hỏi đáp cho các cơ quan trong mạng lưới TBT Việt Nam  – Thực hiện chức năng thư ký cho Ban liên ngành của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Ban liên ngành về TBT).  – Tham gia các hoạt động đàm phán, hợp tác quốc tế song phương, đa phương về hàng rào kỹ thuật trong thương mại theo sự phân công của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.  – Phổ biến kiến thức về hàng rào kỹ thuật trong thương mại.   Nguồn: Văn phòng TBT Việt Nam  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ sở dữ liệu Quốc gia về KH&CN: Một số việc cần làm      Xây dựng Cơ sở dữ liệu Quốc gia về KH&CN chắc chắn là vấn đề cấp thiết trong việc phát triển năng lực nghiên cứu và sáng tạo của quốc gia. Có mấy vấn đề liên quan đến công nghệ tôi xin được gợi ý như sau:      Lãnh đạo Bộ KH&CN, Bộ Thông tin và Truyền thông thăm Phòng hệ thống, lưu trữ cơ sở dữ liệu tại Công viên phần mềm Đà Nẵng. Nguồn: ictdanang.vn  Thứ nhất, nên cố gắng xây dựng một Cơ sở tri thức (Knowledge Base) thay vì Cơ sở dữ liệu (Database) về KH&CN, vì khi nói đến cơ sở dữ liệu (CSDL) chúng ta thường nghĩ đến việc sử dụng một cách bị động nguồn dữ liệu đó theo dạng tìm kiếm, tra cứu.  Hiện tại các kỹ thuật xử lý dữ liệu không chỉ dừng ở việc phục vụ tìm kiếm tra cứu thông tin mà còn giúp hiểu sâu sắc hơn về dữ liệu (data insight), phát hiện ra các mối quan hệ giữa các thực thể dữ liệu, để gợi ý các hành động và quyết định với dữ liệu (recommendation).  Cụ thể hơn, khi một nghiên cứu sinh bắt đầu một đề tài nghiên cứu, chỉ với một mô tả rất tóm tắt đề cương, hệ thống Cơ sở tri thức về KH&CN có thể giúp nghiên cứu sinh:  (1) Tìm ra được các đề tài liên quan, dự án tương tự, phát hiện sự trùng lặp nội dung, tránh bị bắt lỗi sao chép và thiếu trích dẫn.  (2) Gợi ý các nhà khoa học chuyên gia, phòng thí nghiệm nghiên cứu vấn đề tương tự và tổ chức, doanh nghiệp đã tài trợ các đề tài liên quan để liên hệ trao đổi chuyên môn hoặc giải đáp các thắc mắc, tìm nguồn tài trợ, đầu tư cho nghiên cứu.  (3) Tổng hợp các ý tưởng, kết quả đã đạt được từ trước (state of the art) gợi ý các vấn đề cần giải quyết trong tương lai.  (4) Cảnh báo các nguy cơ (ví dụ hướng nghiên cứu trên thế giới đang rất “nóng” nhưng còn vắng bóng trong các đề tài ở Việt Nam hay hướng nghiên cứu đã đi vào ngõ cụt nhưng vẫn có nhiều người lao vào làm).  Thứ hai, có thể xây dựng hệ thống theo cách “Minimum Viable Product” (MVP), sản phẩm phải cung cấp được những giá trị tối thiểu và đến tay người sử dụng càng sớm càng tốt, ngay trong quá trình xây dựng.  Cách tiếp cận xây dựng hệ thống thông thường là (1) thu thập và kết nối các nguồn dữ liệu nhiều nhất có thể, (2) xây dựng hệ thống phân tích, xử lý nguồn dữ liệu này (3) đưa hệ thống vào để giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển khoa học công nghệ.  Cách này có thể dẫn đến nguy cơ ta hay gọi là“đầu voi đuôi chuột”, chẳng hạn khi có nhiều nguồn dữ liệu rồi, ta không có đủ cơ sở hạ tầng và trình độ để xây dựng hệ thống và xử lý nguồn dữ liệu đó thì người sử dụng sẽ không tận dụng được gì. Hoặc khi có hệ thống rồi thì lại không đáp ứng đúng nhu cầu của xã hội, của người sử dụng, không giải quyết được các vấn đề hay đòi hỏi trong thực tế.  Thậm chí hệ thống bị vứt bỏ lãng phí không thực hiện được các bước tiếp theo vì thiếu kinh phí hoàn thiện hay có sự thay đổi về công nghệ, định hướng chiến lược, do hoàn cảnh (chẳng hạn một CSDL khoa học trên thế giới được mở ra cho mọi người tra cứu miễn phí).  Nếu tiếp cận xây dựng hệ thống theo cách MVP, ta có thể đi theo quy trình ngược lại (1) xác định luôn một vấn đề thực tế cần giải quyết, (2 xây dựng ngay một hệ thống hay một bản chạy thử (prototype) để giải quyết vấn đề đó (3) thu thập nguồn dữ liệu tối thiểu đáp ứng cho hệ thống, và đưa luôn hệ thống vào sử dụng để đánh giá và lấy ý kiến phản hồi cải tiến tiếp. Nếu các bước trên đã thông suốt thì việc thêm chức năng cho hệ thống hay thêm nguồn dữ liệu chỉ giúp cho hệ thống tốt lên mà không cản trở việc hệ thống đã đến được tay người sử dụng.  Ngoài ra, nếu đã có một số nguồn dữ liệu dù nhỏ nên có luôn giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interface API) như Elsevier Scopus APIs (https://dev.elsevier.com/sc_apis.html) để những ai quan tâm có thể truy cập, xây dựng ứng dụng từ nguồn dữ liệu đó mà không cần đợi hệ thống hoàn thiện toàn bộ, điều này sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm người sử dụng API này làm gì để nâng cao chất lượng và tính năng cho dữ liệu và hệ thống tra cứu.  Thứ ba nên xác định rõ ràng CSDL KH&CN tập trung giải quyết nhiệm vụ chiến lược nào về khoa học công nghệ và phải có chỉ số đánh giá thực hiện chính (Key Performance Indicator KPI) để phát hiện vấn đề cần giải quyết và qua đó, việc tổ chức, xây dựng CSDL sẽ ưu tiên giải quyết vấn đề đó chứ không thể hiểu chung chung là để tra cứu. Những chỉ số như hệ thống có kết nối tới X nguồn dữ liệu hay chứa Y xuất bản khoa học sẽ không có ý nghĩa bằng các KPI như hệ thống được sử dụng bởi X nhà khoa học trong nước góp phần tạo ra thêm Y xuất bản khoa học.  Các vấn đề chiến lược có thể là:  (1) nâng thứ hạng cho các trường đại học, viên nghiên cứu ở Viêt Nam thông qua CSDL KH&CN.  (2) khai thác, phát huy tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu trong thực tế và phát triển thành các phát minh (patent).  (3) thiết lập và khai thác dữ liệu về mối quan hệ giữa các nhà khoa học nghiên cứu Việt Nam và thế giới để mỗi vấn đề khoa học công nghệ cần phản biện hay phát triển có thể tìm được ngay chuyên gia, nghiên cứu sinh tham gia.  (4) hoặc chỉ đơn giản tạo điều kiện cho sinh viên các trường đại học Việt Nam có một nguồn thư viện nghiên cứu số (digital research library) để có thói quen tra cứu, tổng hợp kiến thức từ CSDL KH&CN và phát hiện tính trùng lặp, sao chép, thiếu trích dẫn của các đề tài nghiên cứu…  Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung trước mắt có thể áp dụng quy tắc 80/20 (dựa trên định luật hàm mũ (https://en.wikipedia.org/wiki/Power_law): Thường thì 20% lượng dữ liệu đã đáp ứng 80% nhu cầu sử dụng dữ liệu. Nên việc phân tích, xác định các nguồn dữ liệu thiết yếu (nhiều người quan tâm, mang lại hiệu quả kinh tế cao) để tập trung xây dựng trước sẽ hạn chế lượng thông tin không được dùng.  Cách xác định nguồn dữ liệu thiết yếu này có thể dựa trên phân tích chiến lược quốc gia (đang tập trung phát triển ngành nghề nào), xu hướng thế giới (các ngành nghiên cứu nào đang “nóng”), nhu cầu doanh nghiệp… Khi điều kiện kỹ thuật, kinh tế cho phép, chúng ta sẽ tiếp tục hoàn hiện các lượng thông tin còn thiếu dựa trên nhu cầu người dùng hay xây dựng nền tảng P2P (peer to peer), để người cung cấp dữ liệu và người cần nguồn dữ liệu tự trao đổi với nhau trên nền tảng hệ thống CSDL Quốc gia về KH&CN.  Tóm lại, quá trình số hóa đang diễn ra rất nhanh trên thế giới, chúng ta nên có cách tiếp cận mới, ứng dụng công nghệ mới để sớm đưa CSDL về KH&CN vào sử dụng.  Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN và Hệ tri thức Việt số hóa Về cơ bản, việc xây dựng CSDL Quốc gia về KH&CN chính là một phần của việc xây dựng Hệ Tri thức Việt số hóa, vì về bản chất nó giúp người sử dụng tìm ở đó câu trả lời cho các câu hỏi thiết yếu như ai (Who), cái gì (What), thế nào (How), ở đâu (Where), khi nào (When)…. Tuy nhiên đối tượng sử dụng của CSDL về KH&CN sẽ hẹp hơn vì hướng tới những người muốn tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn. Để kết nối các nguồn dữ liệu giữa các hệ thống tri thức với nhau hay giữa CSDL KH&CN với các viện trường đại học, cách tốt nhất là các bên cùng thống nhất một định dạng dữ liệu thông dụng (ví dụ json), thống nhất một lược đồ dữ liệu (data schemas) theo một chuẩn thông dụng (ví dụ https://schema.org/docs/full.html) và cung cấp cho nhau các API truy cập dữ liệu này (ví dụ địa chỉ http://library.hust.edu.vn/publication/2018/computer_science.json có thể là nơi chứa các xuất bản khoa học về chuyên ngành Khoa học máy tính năm 2018 của trường Đại học Bách khoa Hà Nội). Tuy nhiên, nếu điều kiện kỹ thuật chưa cho phép ở các viện, trường thì trao đổi dữ liệu nhỏ với khuôn dạng đơn giản như CSV (Comma Separated Value) hay Excels cũng có thể dùng để nhanh chóng đáp những nhu cầu trao đổi và kết nối dữ liệu. Một cách để tạo động lực (incentive) cho nguồn dữ liệu luôn được cập nhật là việc xét duyệt học hàm, học vị, xếp thứ hạng các trường từ nay chỉ dựa trên việc tra cứu, phân tích CSDL Quốc gia về KH&CN sẽ khiến các trường, viện và cá nhân chú trọng cập nhật dữ liệu cho hệ thống hơn.  Theo Báo KH&PT    Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Có thể chữa mù bằng kỹ thuật cấy ghép      Các nhà khoa học Mỹ và Anh đã phục hồi thị lực cho những con chuột bị mù bằng cách cấy tế bào cảm quang vào võng mạc của chúng. Kỹ thuật mang tính đột phá này có thể dẫn tới những biện pháp điều trị mới đối với bệnh mắt ở người.    Đây là kết quả nghiên cứu của các chuyên gia tại Viện Mắt, Viện Sức khỏe trẻ em ở London (Anh) và Đại học Y khoa Michigan (Mỹ).  Để tiến hành thử nghiệm, họ đã tạo ra những con chuột bị mù bẩm sinh bằng phương pháp gây đột biến gene. Sau đó, họ lấy tế bào ở rìa võng mạc những con chuột bình thường rồi nuôi trong ống nghiệm để chúng trở thành dạng tiền thân của tế bào cảm quang (đang ở giai đoạn cuối của quá trình biến thành tế bào cảm quang).  Khi những con chuột mù đến tuổi trưởng thành, các nhà khoa học cấy những tế bào trong ống nghiệm vào võng mạc của chuột mù. Kết quả cho thấy những tế bào được cấy đã phát triển thành tế bào cảm quang và lũ chuột có thể nhìn thấy.  “Thao tác phải rất nhanh và chính xác để không làm ảnh hưởng tới các mô xung quanh”, tiến sĩ Robert MacLaren, chuyên gia phẫu thuật mắt tại Bệnh viện Mắt Moorfields (Anh), giải thích.  Tế bào cảm quang là tế bào hình nón đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, nằm ở võng mạc. Sự biến mất của tế bào cảm quang là nguyên nhân dẫn tới nhiều bệnh về mắt, chẳng hạn như thoái hóa điểm vàng. Người ta cho rằng võng mạc không có khả năng tái sinh tế bào cảm quang khi chúng bị tiêu diệt.  Trước đây, nhiều nhà khoa học từng nghiên cứu khả năng cấy tế bào gốc – loại tế bào có khả năng phát triển thành mọi loại tế bào trong cơ thể – vào võng mạc với hy vọng chúng sẽ phát triển thành tế bào cảm quang. Tuy nhiên, các công trình đó đều thất bại.  Nhóm của tiến sĩ MacLaren thực hiện nghiên cứu trên sau khi phát hiện ra rằng những tế bào nằm ở rìa võng mạc có nhiều đặc tính giống tế bào gốc. Do đó, chúng có thể được “lập trình” để trở thành dạng tiền thân của tế bào cảm quang.  Các nhà khoa học tin rằng trong tương lai không xa, việc cấy ghép dạng tiền thân của tế bào cảm quang vào võng mạc để chữa bệnh mù ở người sẽ trở thành hiện thực.  “Kỹ thuật cấy dạng tiền thân của tế bào cảm quang giúp chúng tôi biết cách khôi phục võng mạc khi nó bị tổn thương. Trong tương lai, chúng ta thậm chí còn có thể làm được điều đó với những bộ phận khác trong hệ thần kinh trung ương”, giáo sư Anand Swaroop, thuộc Đại học Y khoa Michigan và là một thành viên trong nhóm nghiên cứu, phát biểu.  Việt Linh (theo Healthday)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể có đại dương trên Titan      Các hình ảnh rađa từ tàu thăm dò Cassini-Huygens cho thấy có thể có sự hiện diện của một hồ chứa nước lỏng bên dưới lớp băng dày của Titan, mở ra hy vọng tìm kiếm sự sống bên ngoài Trái đất.      Điều này cũng có nghĩa là trên mặt trăng Titan có hai thành phần cần thiết cho sự sống: nước và các phân tử hữu cơ. “Nếu thông tin này được xác nhận, Titan sẽ là mặt trăng thứ tư ngoài hệ Mặt trời được cho có đại dương ngầm, bên cạnh 3 mặt trăng của sao Mộc là Ganymede, Callisto và Europa”, các nhà khoa học Trường ĐH Johns Hopkins cho biết.    M.Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể điều chỉnh hoa đầu để cây lúa cho nhiều hạt hơn      Cây lai có năng suất cao thường được sản xuất bằng việc lai hai dòng bố mẹ khác nhau. Nhưng lai hai dòng này rất khó khăn trên lúa, loài cây tự thụ phấn. Để giải quyết vấn đề này, từ những năm 1970, các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra cách để sản xuất ra dòng lúa đơn tính đực bất dục (MS) cho phép các nhà lai tạo thực hiện thụ phấn có kiểm soát, dẫn đến sản xuất lúa lai thành công.      Thật không may, trong những dòng MS, chùy (hoa đầu) vẫn kín trong bẹ lá bao phủ nó vì các phần thân hỗ trợ (các lóng cao nhất) thường ngắn, dẫn đến việc thụ phấn bị chặn và sinh sản hạt bị giảm xuống. Để làm cho chùy mọc dài ra và nổi lên từ các bẹ lá, các nhà lai tạo sử dụng cây lúa với một đột biến gene: đốt lúa trên cùng được kéo dài (EUI1) bằng việc mã hóa một enzyme tắt chức năng điều chỉnh hormone thực vật (hormone gibberellin – viết tắt GA). Tắt chức năng này cho phép GA kích thích mở rộng lóng trên cùng, dẫn đến mở rộng chùy, cũng như tăng chiều cao cây. Việc hiểu những điều chỉnh của enzyme EUI1 trong cây bình thường (loại hoang dã) rất quan trọng vì nắm rõ về cơ chế phân tử mà thông qua đó, hoạt động của EUI1 được điều chỉnh trong suốt quá trình phát triển sẽ cho phép điều chỉnh mở rộng chùy một cách linh hoạt, điều đó có thể giúp các nhà lai tạo cải thiện việc sản xuất giống lúa lai.  Bằng cách cô lập và triệt tiêu một đột biến lùn với phần mở rộng chùy bị khiếm khuyết, các nhà nghiên cứu phát hiện ra một cơ chế quan trọng của việc mở rộng gene EUI1 trên lúa. Sự điều chỉnh này, gọi là HOX12, có liên kết trực tiếp đến yếu tố điều hòa của gene EUI1, có chức năng như một yếu tố giải mã, hoặc điều chỉnh trung tâm. Họ đề xuất rằng HOX12 giúp điều chỉnh tăng trưởng thực vật để đáp ứng với yếu tố môi trường thông qua tác động của nó trên EUI1, tác động này như một công tắc để điều tiết sự di chuyển GA từ chùy đến thân cây. Bước tiếp theo sẽ là xác định những điểm khởi đầu của quy trình điều chỉnh phân tầng HOX12-EUI1 và các điều kiện sinh lý mà theo đó xảy ra sự điều chuyển.  Bảo Như lược dịch theo Sciencedaily  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/04/160401144547.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể dự báo giông sét sớm 30 phút      Việt Nam nằm ở tâm giông Châu Á – một trong ba tâm giông trên thế giới, có hoạt động giông sét mạnh, số giờ giông trung bình là 250 giờ/năm.    Thời gian vừa qua, sét ở các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Vũng Tàu, Tây Ninh đã gây chết người. Vì thế, Viện Vật lý địa cầu Việt Nam vừa xây dựng hoàn chỉnh một thiết bị cảnh báo giông sét sớm trước nửa tiếng. Thiết bị này gồm phần ăngten và bộ phận xử lý tín hiệu, có thể cảnh báo trước 30 phút đến 1 tiếng trong vòng bán kính 10-50 km, tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể hiểu Vũ trụ?      Sau khi Kurt G?del chứng minh rằng mọi toán học đều có những hạn chế (Định lý Không đầy đủ – Theorem of Incompleteness), rồi Alan Turing chứng minh rằng không tồn tại một chương trình kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hạn để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước sẽ dừng lại (Bài toán dừng – Halting Problem), Gregory Chaitin dựa trên các ý tưởng của Gottfriend W.Leibniz về tính phức hợp (complexity) và tính ngẫu nhiên(randomness) đề ra năm 1686, đã phát triển một lý thuyết thông tin hiện đại , tìm ra số Omega (W) và đi đến khẳng định không thể tồn tại TOE (Theory of Everything-Lý thuyết của tất cả) cho toán học và cho vật lý, điều này có nghĩa là sự hiểu biết về vũ trụ chứa đầy những lỗ trống bất khả tri.    Einstein luôn ngạc nhiên cho rằng điều khó hiểu nhất là vũ trụ có thể hiểu được (Das ewig Unbegreifliche an der Welt ist ihre Begeiflich keit). Nhiều thời điểm người ta tưởng chừng như có thể hiểu được mọi vật. Trong sinh học sau nhiều kết quả giải mã bộ gen thì sự sống và ý thức dường như cũng nằm trong tầm tay của khoa học. Song có phải như thế chăng? Trong toán học cũng như trong vật lý, sinh học có nhiều lỗ đen  thuộc phạm vi bất khả tri .              Albert Einstein, nhà vật lý để gần cả đời tìm TOE        Câu nói của Einstein chứa đựng một nghịch lý: nếu chúng ta không hiểu được vì sao vũ trụ có thể hiểu được thì điều này có nghĩa là vũ trụ không thể hiểu được như chúng ta hình tưởng.  Cho rằng vũ trụ có thể hiểu được gần như là tuyên ngôn tận thế của triết học. Ngay trong toán học, ngôi đền thiêng của trí tuệ cũng phát sinh nhiều lỗ đen bất khả tri.    Những lý do nào để tin rằng thế giới có thể hiểu được?  Theo Platon thì vũ trụ có thể hiểu được vì vũ trụ có một cấu trúc và Đấng sáng tạo phải là một nhà toán học để xây dựng cấu trúc đó. Và tư tưởng này đã thống trị trong nhiều thế kỷ, người ta tìm thấy tư tưởng này ở Spinoza & Leibniz (thế kỷ XVII).  Tư tưởng này biểu hiện trong việc ứng dụng thành công đối xứng vào các lý thuyết toán học và vật lý. Người ta không thể không ngạc nhiên khi thấy các hạt cơ bản có đối xứng nội tại  SU(3) do nhà vật lý người Mỹ Murray Gell-Mann tìm ra. Dựa trên đối xứng này người ta đã có thể tiên đoán sự tồn tại của những hạt mới, như vậy có những phần của vũ trụ có thể hiểu được?            Stephen Hawking, tác giả “Lược sử thời gian”[3]        Các nhà vật lý hiện đại còn có thêm một lý lẽ nữa để giải thích nghịch lý chứa trong câu nói của Einstein. Đó là nguyên lý vị nhân (anthropic principle – do từ anthropos có nghĩa là con người). Theo nguyên lý này vũ trụ có thể hiểu được là một điều có thể giải thích được, vũ trụ phải như thế này thì mới có sự sống, có con người để đặt ra những câu hỏi về vũ trụ (xem Lược sử thời gian của S.Hawking [3]).  Song những điều nói trên liệu có đúng dưới những quan điểm hiện đại chăng?    Gregory Chaitin và lý thuyết tin học hiện đại  Gregory Chaitin đã gắn liền vấn đề hiểu vũ trụ với lý thuyết tin học.  Trải qua cả nghìn năm nhiều nhà toán học hy vọng rằng toán học một ngày nào đó sẽ tạo ra được TOE ( Theory of Everything-Lý thuyết của tất cả): tồn tại một tập hữu hạn các định đề (axiom) và quy tắc từ đó có thể suy ra mọi chân lý toán học. Song vào năm 1930 hy vọng trên đã bị dập tắc vì Định lý Không đầy đủ (Incompleteness Theorem) nổi tiếng của Kurt Gödel: Trong mọi lý thuyết toán học luôn tồn tại những khẳng định không chứng minh được là đúng hay sai.                                  Gottfried W. Leibniz – Đưa ra các ý tưởng về phức hợp và đơn giản              Xuất phát từ các công trình của Godel, Leibniz và Turing, Gregory Chaitin đã đi đến số Omega, một con số phức hợp (complex) mà không một lý thuyết toán học nào mô tả được.  Chaitin đã chứng tỏ rằng sự ngẫu nhiên vốn ngự trị trong cơ học lượng tử cũng tồn tại trong lòng của toán học.  Gregory Chaitin đã lấy những ý tưởng về phức hợp (complexity) và ngẫu nhiên (randomness) do  Gottfried N.Leibniz đề ra  năm 1686 và tích hợp với lý thuyết thông tin hiện đại để chứng minh rằng không tồn tại một TOE cho mọi toán học. Định lý Không đầy đủ của Gödel đã gây ấn tượng mạnh đến Gregory Chaitin. Gödel phủ nhận quan điểm của David Hilbert, nhà toán học gần một thế kỷ trước đã đưa ra tuyên ngôn có một TOE cho toán học, một tập nguyên lý từ đó có thể suy ra mọi chân lý toán học. Gödel đã chứng minh rằng các toán học chứa những khẳng định mà chúng ta không thể chứng minh được theo cách của Hilbert.  Thế nào gọi là phức hợp (complexity)?                                        Kurt Gödel – Tác giả định lý không đầy đủ              W. Leibniz trong chương VI của Discourse on Metaphysics cho rằng một lý thuyết phải đơn giản hơn tổng dữ liệu mà nó giải thích, nếu không nó không giải thích được điều gì cả.  Điều này dẫn đến các khái niệm phức hợp và đơn giản. Hiện nay tính phức hợp (complexity) và tính đơn giản (simplicity) đã được lượng hóa.   Năm 1965 Gregory Chaitin đưa ra lý thuyết thông tin thuật toán (algorithmic information theory) để giải bài toán đo độ phức hợp. Sau đây là ý tưởng chính của lý thuyết đó: mọi định luật khoa học giải thích hoặc mô tả những đối tượng toán học hoặc một tập dữ liệu đều có thể biểu diễn bằng một chương trình máy tính.  Kích thước của một chương trình máy tính là số bit chứa trong chương trình đó. Như chúng ta biết máy tính lưu trữ thông tin dưới dạng dãy các số 0 và 1. Mỗi số 0 và 1 đó gọi là bit. Một chương trình máy tính càng phức tạp thì kích thước càng lớn và số bit càng nhiều. Nếu một hiện tượng chịu sự điều khiển của một định luật thì định luật này có thể mã hóa thành một chương trình máy tính. Định luật càng đơn giản thì chúng ta hiểu hiện tượng càng sâu sắc và càng dễ sử dụng. Tính đơn giản hay không đơn giản được phản ánh trong kích thước của chương trình.  Mặc dầu sống trước thời đại thông tin 250 năm Leibniz đã đến gần ý tưởng hiện đại thông tin thuật toán (algorithmic information).  Chúng ta đoán nhận theo quan điểm hiện đại hai ý tưởng của Leibniz đề ra vào năm 1686  1/  Thứ nhất chúng ta đo độ phức hợp bằng các bit thông tin nghĩa là bằng các số 0 và 1  2/  Thứ hai thay vì các phương trình toán học chúng ta dùng những chương trình máy tính trong hệ  nhị phân (binary).  Theo ý tưởng của Leibniz thì nếu có một lý thuyết thực sự thì phải có một sự nén (compression) nghĩa là chương trình máy tính tương ứng phải có kích thước nhỏ hơn dữ liệu output, cả hai đều đo bằng các bit 0 và 1. Trong trường hợp không tồn tại một lý thuyết thực sự nào thì thì dãy bit đó được gọi là ngẫu nhiên về thuật toán (algorithmically random) hoặc là bất khả quy, là không tối giản được(irreducible).  Cần chú ý ở đây rằng các ý tường trên cũng được đưa ra đồng thời bởi  A.N. Kolmogorov.  Bài toán dừng của Turing  Khi sử dụng máy tính chúng ta đứng trước một bài toán cơ bản: cho một chương trình nào đó liệu có một thuật toán (algorithm) để thấy được chương trình sẽ dừng hay không, hay nó chạy đến muôn đời?             Alan Turing, tác giả bài toán dừng        Ví dụ xét bài toán “Lấy một số nằm giữa 1 và 10, thêm 2 vào số đó và tính kết quả”, chương trình này sẽ dừng sau 10 bước, song nếu lấy bài toán “lấy một số không âm nhân nó với 2 đến lúc có được một số lớn hơn 1”, chương trình này sẽ dừng nếu số x > 0, nếu x=0 chương trình sẽ chạy mãi.  Đối với những bài toán phức tạp hơn liệu chúng ta có đủ thời gian để chờ xem chương trình có dừng hay không? Đợi 1 tuần,1tháng, 1 năm, 1 tỷ năm? Tồn tại chăng một chương trình kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hạn để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước sẽ dừng.  Turing chứng minh rằng không tồn tại một chương trình  như thế!     Số omega  Hãy xét ví dụ sau đây : giả sử rằng trên toàn thế giới chỉ có 2 chương trình dừng và dãy bit của hai chương trình đó là 11001 & 101. Chọn ngẫu nhiên một chương trình có nghĩa là chon ngẫu nhiên các dãy bit trên. Ta có thể thực hiện việc chọn bằng cách tung một đồng xu và lấy 1 nếu có mặt phải và lấy 0 nếu có mặt trái, như thế xác suất để thu được một bit nào đó là bằng 1/2 . Vậy xác suất để thu được các chương trình 1101 & 101 là  1/2 x1/2 x1/2 x1/2 x1/2 = 1/25 và 1/2×1/2 x1/2 = 1/23. Cho nên xác suất để chọn ngẫu nhiên một chương trình là 1/23+ 1/25 = 0.15625.             Omega là một số rất phức hợp vì định nghĩa của nó dựa trên một bài toán không giải được – đó là bài toán dừng của Turing ( Turing’s halting problem).         Trong thực tế sẽ có nhiều chương trình dừng và số omega sẽ là tổng của những số hạng có dạng  1 / 2 N . Số  W là một số được định nghĩa chặt chẽ về mặt toán học (W =  2 –p , cộng theo p là số bit của chương trình dừng)  Vậy số Omega chính là xác suất để máy tính sẽ dừng sau một thời gian khi dãy các bit được chọn một cách ngẫu nhiên.  Vì sao số omega lại bất khả quy?  Đây là tính chất đáng ngạc nhiên của số Omega, số này là bất khả quy hay nói cách khác là ngẫu nhiên về mặt thuật toán và số này là vô cùng phức hợp (infinitely complex). Vì sao như vậy: giống như mọi con số ta có thể viết omega dưới dạng dãy các số 0 và 1 (trong hệ binary). Số omega sẽ là một dãy vô cùng  trong hệ binary giống như căn số bậc hai của số 2 trong hệ thập phân:     = 1.4142135623730950488….  Song chúng ta có một thuật toán để thu được số đó theo phép lặp của Newton (Newton’s iteration).Nếu có đủ thời gian thì chương trình tính  sẽ thu được bất kỳ con số nào trong dãy thập phân trên và chương trình dừng lại.  Có điều gì tương tự như vậy đối với số omega chăng? Có một chương trình hữu hạn nào có thể tính được các bit trong dãy binary của số omega?             Steven Weinberg, giải Nobel tác giả “Những giấc mơ về một lý thuyết tối hậu         Nếu thế khi biết được N bit đầu trong dãy nhị phân của Omega chúng ta đã có thể giải bài toán dừng đối với mọi chương trình có kích thước đến N bit. Như thế vì chúng ta có một chương trình hữu hạn cho mọi bit của Omega, chúng ta cũng có một chương trình để giải bài toán dừng cho mọi chương trình bất kể kích thước của chúng. Nhưng điều này như chúng ta biết là không thể được, như vậy một chương trình như thế là không tồn tại.  Theo định nghĩa ở trên , Omega là bất khả quy hay nói cách khác là một số ngẫu nhiên về thuật toán (algorithmically random). Omega không thể nén (compressed) trong một lý thuyết hữu hạn. Mặc dầu Omega có một định nghĩa toán học chính xác, song dãy bit vô cùng của nó không thể tính được gởi một chương trình hữu hạn, đó là một dãy bit vô cùng và ngẫu nhiên.  Vì sao toán học không có TOE?  Một lý thuyết toán học gồm một tập định đề và quy tắc. Có thể nói thêm định đề chính là những nguyên lý bất khả quy. Như thế TOE sẽ là một tập như thế từ đó ta có thể suy ra mọi chân lý toán học. TOE bắt buộc phải có một độ phức hợp hữu hạn vì nếu không thì TOE đã không còn là một lý thuyết nữa! Và TOE phải cho phép tính được số Omega. Song điều này không thể xảy ra vì như chúng ta biết Omega là một số có độ phức hợp vô cùng (infinite complexity).  Những tin buồn cho TOE của vật lý  Gregory Chaitin phát hiện thấy trong lòng toán học có nhiều lỗ trống.  Đây là một tín hiệu xấu cho vật lý học. Vật lý học có tham vọng  mô tả Vũ trụ hoàn chỉnh và chính xác. Toán học lại là ngôn ngữ của Vật lý, như thế những phát hiện của Chaitin buộc rằng một “Lý thuyết của tất cả” (TOE) là không thể có được. Điều này quả là một viên thuốc đắng khó “nuốt”, song chính Steven Weinberg giải Nobel Vật lý tác giả cuốn sách  Những giấc mơ về một lý thuyết tối hậu cũng chấp nhận viên thuốc đắng này, ông nói: “Chúng ta không bao giờ tin chắc rằng lý thuyết tối hậu của Vật lý là toàn bích về mặt toán học – We will never be sure that our final theory is mathematically consistent”  Như vậy những lý thuyết đầy triển vọng như lý thuyết siêu dây cũng thuộc phạm trù này.  Kỳ vọng của những nhà vật lý lý thuyết về một phương trình tối hậu phải chịu áp lực nặng nề này.  Vật lý và toán học đều là những khoa học thuần túy thực nghiệm (truly empirical) và gần thực nghiệm (quasi-empirical)!  Thoạt nhìn người ta nghĩ rằng vật lý và toán học rất khác nhau.  1/ Vật lý mô tả vũ trụ và phụ thuộc vào những quan sát. Ví dụ định luật Newton hay Mô hình chuẩn của các hạt cơ bản phải được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm và chúng được xem như là những nguyên lý ban đầu không chứng minh được (giống như những định đề).  Trong vật lý người ta nén các dữ liệu quan sát được thành định luật.  2/ Toán học trái lại không phụ thuộc vào vũ trụ. Ví dụ tính chất của những số nguyên hay số thực không phụ thuộc vào bản chất của thực tại khách quan. Toán học là đúng cho mọi vũ trụ. Trong toán học người ta cũng nén mọi kết quả tính toán thành những định đề.  Nếu Hilbert đúng thì toán học sẽ là một hệ kín, không còn không gian cho những ý tưởng mới.  Song những ý tưởng mới về vật lý và toán học đã hình thành. Năm 1956 nhà toán học người Hung Imre Lakatos cho rằng toán học cũng là một khoa học gần thực nghiệm Ví dụ giả thuyết Goldbach cho rằng mọi số lớn hơn 2 đều có thể viết thành tổng của hai số nguyên tố hiện nay vẫn chưa chứng minh được mặc dầu đã được kiểm nghiệm  đến số 1014 .  Gregory Chaitin đưa ra sơ đồ sau đây  Vật lý: Lý thuyết  –  các tính toán     –  các tiên đoán cho những quan sát     Toán học: Định đề  – các suy luận logic    –  các định lý  Khoa học tính toán: Chương trình  –  chạy máy tính    –   output  Vật lý là toán học đều tương tự việc chạy một chương trình trên máy tính.  Chaitin cho rằng giữa vật lý và toán học không có sự khác biệt về nguyên tắc: cả hai đều là những khoa học thực nghiệm (Chaitin dùng chữ thuần túy thực nghiệm cho vật lý và chữ gần thực nghiệm cho toán học song thực sự hai chữ đó không khác nhau về mặt nguyên tắc). Gregory Chaitin khuyên các nhà toán học và vật lý không nên cô lập mình mà hòa cùng nhau để tìm thấy những nguồn ý tưởng mới tuơng liên.                                                                CC biên dịch    Tài liệu tham khảo:  [1] Gregory Chaitin , L’Univers est-il intelligible?, La Recherche, tháng 12, 2003.  [2] Gregory Chaitin , The Limits of Raison, Scientific American, tháng 3, 2006.  [3] Steven Hawking, Lược sử thời gian, bản dịch của Cao Chi và Phạm Văn Thiều.  Gregory Chaitin      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể làm cho loài vật thông minh như người?      Báo Daily Mail của Anh mới đây đưa tin có  thể làm cho chuột trở nên thông minh hơn bằng cách cấy tế bào não người  vào não của chuột.    Nhóm nghiên cứu ở Đại học Trung tâm Y tế Rochester Medical (Mỹ) do TS Steven Goldman chủ trì cùng các đồng nghiệp ở Đại học Copenhagen đã tiến hành cấy tế bào thần kinh đệm nguyên bản (glial progenitor cells), lấy từ bào thai của người xảy thai, vào não chuột sơ sinh rồi theo dõi quá trình lớn lên của chúng. Kết quả cho thấy, những tế bào đó phát triển thành tế bào thần kinh đệm trưởng thành, hay gọi là tế bào hình sao (astrocyte), có chức năng cung cấp dưỡng chất và phục hồi các tổn thương ở não. Các tế bào thần kinh đệm của chuột nếu không bị chết thì cũng dần dần bị các tế bào hình sao của người chiếm chỗ và đẩy ra khỏi vùng não trong thời gian khoảng một năm. Cứ 300 nghìn tế bào của người được cấy vào não chuột thì sau một năm sẽ phát triển thành 12 triệu tế bào.  Tế bào hình sao của người lớn gấp từ 10 đến 20 lần tế bào hình sao của chuột và có số tua nhiều gấp 100 lần, giúp cho việc kết nối giữa các neuron thần kinh hoàn hảo hơn. Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy trí nhớ và năng lực nhận thức của số chuột được cấy tế bào não người tăng lên rất nhiều.   Nghiên cứu nói trên đem lại niềm hy vọng, trong tương lai có thể cấy tế bào não người để làm cho loài vật trở nên thông minh hơn. Mặt khác, điều đó cũng gây ra nỗi lo ngại, khoa học có thể tạo ra những loài vật có IQ cao kiểu như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng Deep Blue Sea và Rise of the Planet of the Apes. Thế nhưng nhóm nghiên cứu cho rằng, mối đe dọa tiềm ẩn đó là rất nhỏ, không có gì đáng ngại.  Ngoài ra, dự án nghiên cứu nói trên còn gây ra những tranh cãi về mặt luân lý đạo đức: rốt cuộc loại “não lai tạo” (hybrid brains) này có thể dùng cho những lĩnh vực nào? TS Goldman nói: “Chúng tôi quyết định sẽ không cấy tế bào não người vào não loài khỉ. Chúng tôi cũng không làm chuyện tạo ra não người trong cơ thể loài chuột mà chỉ nâng cao hiệu suất của hệ thống tế bào thần kinh chuột mà thôi. Chúng sẽ không có thêm bất kỳ năng lực gì khiến chúng có thể được coi là giống con người.”   Bản báo cáo nghiên cứu nói trên được đăng trên Tạp chí Khoa học thần kinh (Journal of Neuroscience). TS Goldman, cũng là tác giả bài báo, cho rằng, loài chuột với bộ não lai tạo sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu các loại bệnh như tâm thần phân liệt (schizophrenia), ngoài ra còn có thể dùng chúng vào việc thử nghiệm các phương án điều trị mới cho những loại bệnh như đa xơ cứng (multiple sclerosis).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể ngăn chặn tế bào ung thư vú ẩn từ trong xương      Các nhà khoa học đã ngăn chặn thành công những tế bào gây ung thư vú ngay từ khi những tế bào này còn ẩn trong xương của chuột và thậm chí còn tồn tại được qua cả những đợt hoá trị.      Các nhà nghiên cứu tại Viện Ung bướu, Đại học Duke đã xác định được một phương pháp tách các tế bào ung thư vú ra khỏi tuỷ xương của chuột để dễ dàng loại trừ chúng bằng các biện pháp trị liệu thông thường hoặc nhờ vào hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nghiên cứu này đã mang một triển vọng mới về việc thử nghiệm những phương pháp tương tự trên người và niềm hi vọng phòng tránh ung thư vú.  Phát hiện này đã tìm ra giải pháp cho một trong những thách thức nghiêm trọng nhất trong điều trị ung thư vú – khả năng tái phát bệnh và lây lan tới các bộ phận khác của cơ thể sau khi điều trị. Các nghiên cứu trước đây tuy đã chỉ ra rằng tuỷ xương có thể là một nơi “trú ẩn” của các tế bào ung thư vú, khiến chúng có thể “ngủ đông” ở đây và tránh tác động của hoá trị nhưng vẫn còn quá ít thông tin về phương thức các tế bào ung thư vú di căn xâm nhập và ẩn mình trong xương.  “Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy rằng ung thư vú có thể được phát hiện sớm và điều trị nhưng có nguy cơ tái phát sau năm, mười hoặc mười lăm năm. Thông thường, vị trí của tế bào ung thư di căn ở trong xương”, theo Dorothy A. Sipkins, Phó giáo sư tại Đại học Duke.  Qua nhiều năm thực hiện thí nghiệm trên chuột, các nhà khoa học đã tìm ra phương pháp khắc phục điều này, không chỉ ngăn chặn tế bào ung thư vú xâm nhập vào tủy xương mà còn đưa chúng ra khỏi máu.  Nghiên cứu này đã phát hiện ra E-selectin – một loại protein cho phép tế bào ung thư xâm nhập vào tuỷ xương và CXCR4– một loại protein giúp các tế bào ung thư “ở lại” và “ẩn náu” trong xương. Do đó, cần ngăn chặn, ức chế E-selectin và CXCR4 để can thiệp vào khả năng tế bào ung thư xâm nhập và ẩn náu trong tuỷ xương.  Để ức chế E-selectin trên chuột, các nhà khoa học sử dụng GMI-1271, một hợp chất hiện nay đang được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng trên người và nhận thấy nhận thấy hợp chất này ngăn chặn thành công các tế bào ung thư vú xâm nhập vào tủy xương chuột.  Sipkins nói, “Chúng tôi hy vọng những nghiên cứu khác trên chuột sẽ giúp hiểu rõ hơn về chu kỳ và sự di chuyển, lây lan tế bào ung thư vú trong cơ thể trước khi chuyển sang nghiên cứu ở người.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể sản xuất xăng dầu từ CO2      Carbon dioxide (CO2) là loại khí có “đóng góp” lớn nhất đối với tình trạng thay đổi khí hậu hiện nay. Nhưng các nhà hóa học đang hy vọng rằng họ có thể biến nó thành nhiên liệu có ích, với sự hỗ trợ của mặt trời.    Các nhà hóa học từ lâu đã muốn tìm ra một biện pháp biến CO2 trở lại dạng ban đầu của nó – những hydrocarbon có ích. Nếu họ làm được, các chu kỳ của động cơ đốt trong sẽ trở thành một vòng tuần hoàn khép kín: xăng dầu biến thành CO2, rồi CO2 lại biến thành xăng dầu. Như vậy, chúng ta sẽ chỉ phải đổ xăng cho chiếc xe hơi một lần duy nhất. Nhu cầu sử dụng xăng dầu giảm mạnh, và chi phí cho xăng dầu sẽ không trở thành gánh nặng đối với các nền kinh tế.  Các chuyên gia hóa học tại Đại học Messina (Italy) sử dụng ánh sáng mặt trời cùng một miếng titanium dioxide mỏng làm xúc tác quang học để “tách” nước thành khí ôxy, proton và electron. Sau đó, họ dùng màng lọc proton và dây điện để tách riêng từng loại. Tiếp theo, ôxy, proton và electron được cho kết hợp với CO2 để tạo ra 8 hoặc 9 loại hydrocarbon (phản ứng khử CO2). Những ống nano carbon chứa các phân tử platinum và palladium được sử dụng làm xúc tác cho phản ứng. Người ta có thể tổng hợp những hydrocarbon đó thành xăng và dầu diesel.  “Việc biến CO2 thành nhiên liệu không còn là một giấc mơ, mà đã trở thành điều có thể thực hiện trong tương lai gần”, Gabriele Centi, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu.  Centi cho biết phân tử platinum và palladium có thể tạo ra lượng hydrocarbon nhiều gấp hai đến ba lần so với những chất xúc tác đang được bán rộng rãi hiện nay. Nhưng quá trình khử CO2 chỉ biến được khoảng 1% lượng khí này thành hydrocarbon ở nhiệt độ trong phòng thí nghiệm. Nhóm nghiên cứu tin rằng tỷ lệ CO2 tham gia phản ứng sẽ tăng lên nếu phản ứng xảy ra ở nhiệt độ cao hơn. Việc tăng mức độ hiệu quả của quá trình tách nước bằng ánh sáng mặt trời cũng rất cần thiết. Nếu được thực hiện đúng cách, các chuyên gia tin rằng chỉ trong vòng một thập kỷ, họ có thể cho ra đời lò phản ứng hoạt động bằng năng lượng mặt trời có khả năng chuyển đổi CO2 thành nhiên liệu.  Nếu các nhà khoa học thành công, việc tái chế những khí gây nên hiệu ứng nhà kính – được sinh ra bởi quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch – sẽ trở thành hiện thực. Thành tựu này cũng có thể dẫn tới một viễn cảnh mới trong lĩnh vực thám hiểm sao Hỏa. Theo đó, các tàu không gian, vệ tinh và thiết bị thăm dò có thể tự tạo ra nhiên liệu từ carbon dioxide trong bầu khí quyển của hành tinh này khi trở về.  Việt Linh (theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể tạo lỗ đen tại LHC ?      Chúng ta đang nói ở đây về những lỗ đen vi mô, có kích thước so sánh được với những hạt cơ bản. Đó là những lỗ đen lượng tử. Người ta hy vọng tạo được các lỗ đen mini tại LHC (Large Hadron Collider) bằng cách cho va chạm hai proton ở năng lượng cao. Trước đây các nhà vật lý vẫn cho rằng điều này là ngoài tầm của LHC, song các công trình của một bộ ba tác giả1 đã mở ra triển vọng cho vấn đề này.      1/ Lỗ đen  Sự tồn tại của lỗ đen đã được tiên đoán bởi J.R. Oppenheimer và H. Snyder từ năm 1939 như một hệ quả kỳ lạ song tất yếu của lý thuyết hấp dẫn Einstein. Từ đó phát sinh một ngành mới của vật lý học, đó là vật lý các lỗ đen. Hãy tìm bán kính lỗ đen. Động năng của vật thể phải thắng thế năng thì vật mới thoát khỏi thiên thể: (1/2)mv2=GmM/Rm, M – khối lượng của vật thể và thiên thể.  Từ đó có: v = (2GM/R)1/2  Đối với ánh sáng, ta có c = (2GM/R)1/2, do đó bán kính tới hạn – bán kính lỗ đen – sẽ là: Rg=2GM/c2  Liệu có thể tạo lỗ đen trong phòng thí nghiệm?   Khi nói đến lỗ đen, người ta nghĩ đến những vật thể với khối lượng khổng lồ có khả năng nuốt những con tàu vũ trụ, và cả những sao chung quanh. Nhưng liệu những lỗ đen có thể tạo được nhờ những máy gia tốc năng lượng cao, ví dụ máy LHC (Large Hadron Collider) tại trung tâm CERN, gần Geneva.  Việc tạo được lỗ đen trong phòng thí nghiệm sẽ mở ra nhiều khả năng nghiên cứu lỗ đen một cách hiệu quả. Trên máy LHC, một proton có thể được gia tốc đến năng lượng 7 tera  electron – volt, năng lượng này theo công thức nổi tiếng của Einstein E=mc2 tương đương với khối lượng 10-23 kg (7.000 lần khối lượng của proton). Khi hai hạt va chạm nhau, năng lượng của chúng sẽ tập trung vào một vùng không gian rất nhỏ. Cho nên người ta hy vọng rằng sự va chạm của hai hạt như thế có thể dẫn đến sự hình thành một lỗ đen mini (xem hình 1).          Hình 1. Hai proton va chạm nhau có thể tạo nên một lỗ đen mini.          Song khối lượng 10-23 kg còn quá khiêm tốn với trị số Planck 10-8 kg (trị số nhỏ nhất có thể của một lỗ đen). Muốn cho một hạt vừa có năng lượng rất cao vừa phải có kích thước compắc để có thể tạo nên một lỗ đen, hạt cần phải có năng lượng Planck nghĩa là cần một năng lượng lớn hơn năng lượng của LHC khoảng 1015 lần!   Trong những nghiên cứu gần đây, các nhà vật lý cho rằng đòi hỏi năng lượng Planck là một đòi hỏi quá cao. Lời giải hiện nay cho vấn đề dựa trên các lý thuyết sau đây1.  2/ Các chiều dư (Extra Dimensions)   Theo LTD (Lý Thuyết Dây – một lý thuyết được xem là có khả năng trở thành TOE – Theory Of  Everything), ngoài không – thời gian 4 chiều còn có những chiều dư. Hấp dẫn, không giống như những lực khác, có khả năng truyền dẫn trong những chiều dư ấy. Trong không gian 3 chiều lực hấp dẫn tăng lên 4 lần, nếu ta giảm khoảng cách giữa hai vật xuống còn một nửa, song trong không gian 9 chiều lực hấp dẫn tăng lên 256 (= 28) lần.   Như chúng ta biết ngoài 4 chiều không thời gian còn có thể tồn tại nhiều chiều dư nữa. Trong LTD, số chiều dư có thể là 6 hay 7 chiều.  Từ lời giải Schwarzschild cho lỗ đen trong không thời gian 4-chiều2:        ta có thể suy ra lời giải đó trong không thời gian d-chiều:    trong đó μ = khối lượng trong không gian d-chiều còn Ω = thể tích.   3/ Các hàm cầu vồng (Rainbow Functions)   Lỗ đen mini là một đối tượng lượng tử, vậy ta cần có lý thuyết hấp dẫn lượng tử. Song lý thuyết này chưa có. Vậy phải nghĩ cách hạn chế làm cho năng lượng không thể lớn hơn năng lượng Planck EPl, từ đó độ dài cũng không thể nhỏ hơn độ dài Planck tương ứng lPl. Như vậy năng lượng và độ dài không còn liên tục nữa. Có thể nói đây là một bước đầu làm hòa hợp GR (General Relativity) và QM (Quantum Mechanics).  Ý tưởng chính là làm thế nào để hạn chế không cho năng lượng vượt một giới hạn nhất định đó là  EPl.  Trong SR (Special Relativity), người ta đưa vào điều kiện buộc năng lượng E không thể vượt quá năng lượng Planck EPl (như vậy độ dài cũng không thể ngắn hơn độ dài Planck lPl ). Muốn làm điều đó ta thay công thức quen thuộc E2-p2=m2 bằng công thức E2f(E)2-p2g(E)2 = m2  Trong đó các hàm f&g gọi là các hàm cầu vồng (rainbow functions). Một dạng thông dụng của f&g là các hàm Amelino-Camelia: f(E)2=1 và  g(E)2= =1-η(E/EPl)n, trong đó n=số nguyên >0, η= hằng số cỡ đơn vị. Người ta thường lấy n= η=1, vậy  E2-p2+p2(E/EPl)=m2 và ta có hệ thức nối liền năng xung lượng dưới dạng E2=p2+m2 +α lPlE3, trong đó α = hằng số. Ta thấy rõ nhờ hàm g mà  E < EPl.  Từ SR sử dụng thêm các hàm f & g, ta sẽ có lý thuyết gọi là DSR (Doubly Special Relativity). Trong DSR ta đã áp đặt được các hạn chế E < EPl  (và từ đó l > lPl ).  4/ Hình học không giao hoán (Non Commutative Geometry)   Chú ý rằng muốn hạn chế vùng giá trị của năng lượng và độ dài (E & l), người ta còn có thể ngoài phương pháp trên (dùng các hàm cầu vồng) sử dụng hình học không giao hoán.   Muốn làm điều này, ta đưa vào SR một nguyên lý bất định (như nguyên lý Heisenberg đối với xung lượng và tọa độ trong QM) để khống chế việc đo vị trí với một độ chính xác không nhỏ hơn độ dài Planck lPl .  Trong NCG các tọa độ sẽ không giao hoán:                                       [xi , xj ] = θij                                    ∆xi∆xj ≥ ǀθijǀ    Nhờ hệ thức không giao hoán trên mà độ dài không thể xác định với độ chính xác nhỏ hơn một trị số nhất định. Vậy độ dài minimum do đó cũng không thể nhỏ hơn trị số đó.  Điều này sẽ dẫn đến sự hạn chế tương ứng năng lượng không vượt quá một năng lượng nào đó (EPl). Vậy việc sử dụng hình học không giao hoán sẽ tương đương với việc sử dụng các hàm cầu vồng f & g trong việc hạn chế vùng giá trị của E & l.  5/ Lời giải Schwarzschild lỗ đen trong HDCV (hấp dẫn cầu vồng-Gravity’s Rainbow)   Thế nào là HDCV? Trong lý thuyết HDCV thì tác động của hấp dẫn sẽ gây nên những hiệu quả khác nhau trên các độ dài sóng khác nhau. Và như thế các hạt với năng lượng khác nhau sẽ chuyển động khác nhau. Lý thuyết HDCV nhằm làm hòa hợp GR và QM.  Sở dĩ có tên cầu vồng vì các sóng ánh sáng với độ dài sóng khác nhau sẽ chịu các tác động khác nhau của hấp dẫn tương tự như các màu sắc khác nhau trong một cái cầu vồng (xem hình 2).          Hình 2. Trên hình ảnh nghệ thuật  của Hấp Dẫn Cầu Vồng, ta thấy đủ các màu đỏ (red), cam (orange), vàng  (yellow), xanh lá cây (green), xanh da trời (blue), chàm (indigo) và tím  (violet).          Có thể nói HDCV là sự kết hợp DSR với hấp dẫn. Muốn thực hiện điều này ta cần làm cho metric phụ thuộc vào năng lượng. Trong HDCV metric phải được thay bằng g(E) = gijei(E)ej(E), trong đó           với ei thuộc hệ tọa độ không phụ thuộc năng lượng.   Vậy lời giải Schwarzschild lỗ đen trong d-chiều có kết hợp với HDCV sẽ là:    Từ đó các tác giả1 suy ra bán kính chân trời (horizon radius), và khối lượng minimum Mmin.  6/ Tạo lỗ đen tại LHC  Từ Mmin ta suy ra năng lượng cần thiết để tạo nên lỗ đen. Kết quả như sau1:        D              Mp [TeV]            Mmin   [Tev]           6                 4,54                   9,5        7                 3,51                 10,8        8                 2,98                 11,8        9                 2,71                 12,3       10                2,51                 11,9  Nếu không dùng lý thuyết của1 thì phải cần đến 1019 GeV để tạo nên lỗ đen. Nhưng giờ đây nhìn vào bảng trên ta thấy có thể tạo lỗ đen tại mức năng lượng 9,5 TeV trong không thời gian 6 chiều và tại mức năng lượng 11,9 TeV trong 10 chiều. Điều này trong tầm thế năng của LHC vì trong tương lại gần LHC sẽ đạt mức năng lượng 13 TeV.  Và ta có thể nói đến một Hấp dẫn Lượng tử ở kích cỡ TeV khi tạo các lỗ đen tại LHC trong tương lai rất gần lúc LHC nâng mức năng lượng lên 13 TeV.  7/ Kết luận  Việc tạo được các lỗ đen mini sẽ chứng minh rằng: tồn tại những chiều dư (extra dimension), vậy LTD là đúng và từ đó có thể cũng tồn tại Đa vũ trụ.  Các lý thuyết về các chiều dư + Hấp dẫn Cầu vồng (Gravity’s Rainbow) hoặc Hình học không giao hoán (Non Commutative Geometry) là những tiếp cận khác nhau (alternative) có thể dẫn đến việc tạo các lỗ đen mini trên LHC trong tương lai gần.   ——————-  Tài liệu tham khảo   1 Ahmed Farag Ali ,Mir Faizal , Mohammed M. Khalil,Absence of Black Holes at LHC due to Gravity’s Rainbow,Phys.Letters B vol.743,9 April2015,pages 295-300 arXiv:1410.4765v2 [hep-th] 27 Feb 2015  2 S.Caroll, Lecture Notes on General Relativity  THE SCHWARZSCHILD SOLUTION AND BLACK HOLES  https://ned.ipac.caltech.edu/level5/March01/Carroll3/Carroll7.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể tạo ra sự sống!      Trong một thí nghiệm quan trọng thuộc lĩnh vực thiết kế sự sống, các nhà khoa học ở Viện J. Craig Venter, bang Maryland (Mỹ), thực hiện việc hoán đổi bộ gien của các loài khác nhau.    Họ đã thành công trong việc cấy toàn bộ bộ gien của một loài vi khuẩn vào một loài khác, biến đổi loài nhận gen thành một cơ thể mà mọi giác quan nhìn, cảm nhận… đều giống với loài cho gien. DNA như cuốn cẩm nang chỉ dẫn về cuộc sống sinh học. Mỗi loài có một bộ chỉ dẫn duy nhất, tức là các gien. Liệu chỉ riêng DNA có thể làm nên một sinh vật hay không, hay phải có những yếu tố khác? Một nghiên cứu được công bố trên Science dường như đã trả lời được câu hỏi này, ít nhất là đối với những vi khuẩn đơn giản như mycoplasma.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Có thể tự sản xuất morphine tại nhà      Mới đây các nhà khoa học đã tìm ra cách chế tạo chất morphine bằng thiết bị nấu bia ở gia đình.    Họ dùng biện pháp biến đổi gene của khuẩn nấm men, qua đó làm cho chúng phát sinh ra một số phản ứng hóa học phức tạp để chuyển hóa đường thành morphine.  Kết quả nghiên cứu nói trên của nhóm các chuyên gia công nghệ sinh học thuộc Đại học California, Berkeley, và Đại học Concordia, Montreal, được đăng trên tạp chí Nature Chemical Biology. Nhóm tác giả báo cáo cam đoan chỉ sử dụng nghiên cứu này vì mục đích y dược, tuy vậy vẫn e ngại có người dùng nó vào việc tự sản xuất morphine một cách bất hợp pháp.  Các nhà khoa học sử dụng DNA chiết xuất từ thực vật để tiến hành sắp xếp lại gene của nấm men; quá trình lên men sẽ dẫn đến thay đổi, chuyển hóa đường thành morphine.  Một bước trong quá trình nói trên – sự sản xuất một hóa chất trung gian có tên reticutine – gây trở ngại cho quá trình chuyển hóa lên men. Nhưng khó khăn này đã được nhóm nhà khoa học nói trên giải quyết xong, qua đó tạo điều kiện ủ đường thành morphine.  Chuyên gia công nghệ sinh học John Dueber của Đại học California, Berkeley, cho rằng, xét từ góc độ lên men, chỉ cần cung cấp đường glucose (một nguồn đường giá rẻ) cho nấm men thì sẽ dẫn đến phản ứng hóa học giúp chuyển hóa đường thành dược phẩm cần thiết. Các nghiên cứu của họ đã hoàn tất mọi công việc chuẩn bị, hiện nay là lúc cần chỉnh lý, kết hợp các việc đó lại và mở rộng quy mô sản xuất.   Sản xuất morphine bằng biện pháp ủ lên men dễ hơn nhiều so với chiết xuất morphine từ hoa Anh túc, cách mà từ trước tới nay chúng ta vẫn thường làm.   Trong vài chục năm nay, ngành y dược đã sử dụng vi sinh vật biến đổi gene để sản xuất dược phẩm, chẳng hạn như sản xuất chất Insulin điều trị bệnh tiểu đường từ vi khuẩn biến đổi gene.   Nhưng cũng có người e ngại rằng các thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất có thể bị những kẻ chế tạo thuốc tư nhân lợi dụng để sản xuất các chất ma túy.  Tạp chí Nature bình luận: về lý thuyết, bất cứ ai cũng có thể sử dụng phương pháp lên men cơ bản để “ủ” được morphine. Vì thế cần kiểm soát chặt chẽ thí nghiệm khuẩn nấm men chuyển gene.  Bản thân thành viên của nhóm nghiên cứu, chuyên gia Dueber, cũng tin rằng, chỉ mất một vài năm chứ không đến mươi năm, thì xét về mặt lý thuyết, ai cũng có thể cho đường lên men để tạo ra morphine tại nhà, miễn là người đó nắm được những kiến thức cơ bản về sinh học phân tử.  Tuy nhiên Christopher Voigt, chuyên gia công nghệ sinh học ở Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), lại đánh giá phương pháp này hiện còn chưa hiệu quả lắm, và không dễ gì mà sản xuất tại nhà. “Giả sử một liều morphine là 30 mg, thì theo phương pháp này phải nuôi cấy được 300 lít nấm men mới đủ sản xuất ra một liều,” ông nói. Nhưng Voigt tin rằng, trong tương lai gần, quá trình điều chế sẽ được hoàn thiện và khi đó chỉ cần một cốc nấm men đường là có thể cho ra một liều morphine 30 mg.  H.A.H theo bbc.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Có vật chất tối ở trung tâm dải Ngân Hà?      Các nhà vật lý của MIT đang khơi mào trở lại một vấn đề mà nghiên cứu trước đây họ từng đề cập đến: một sự bùng phát các tia gamma tại trung tâm thiên hà của chúng ta có thể là kết quả của vật chất tối.      Trong nhiều năm, các nhà vật lý đã từng biết một lượng dư bi ẩn của năng lượng trong trung tâm của Ngân hà, trong hình thức các tia gamma – những sóng nhiều năng lượng nhất trong phổ điện từ. Những tia này được tạo ra một cách điển hình bằng những vật thể nóng nhất trong vũ trụ như siêu tân tinh hoặc pulsar.  Các tia gamma được tìm thấy khắp vùng đĩa thiên hà này, và bởi các nhà vật lý có thể hiểu được các nguồn phát của chúng. Nhưng đây là một vùng sáng của các tia gamma trong phần dư ở trung tâm Ngân hà (galactic center excess GCE), với các đặc tính phức tạp cho bất kỳ nhà vật lý nào muốn giải thích những gì họ biết về phân số của các ngôi sao và khí trong dải thiên hà này.  Có hai khả năng có thể tạo ra phần dư này: số lượng của các ngôi sao neutron có tốc độ quay rất nhanh và năng lượng cao được biết với tên gọi pulsar, hoặc thú vị hơn, một sự tập trung đám mây vật chất tối, va chạm với chính nó để tạo ra một lượng lớn các tia  gamma.  Trong năm 2015, môt nhóm nghiên cứu gồm các nhà vật lý MIT-Princeton, bao gồm phó giáo sư vật lý Tracy Slatyer và các postdoc Benjamin Safdi và Wei Xue, đã thực hiện về các pulsar. Họ đã phân tích các kết quả quan sát trung tâm thiên hà của Kính viễn vọng không gian tia Gamma Fermi, sử dụng một “mô hình nền” mà họ phát triển để miêu tả mọi tương tác của các hạt có thể tạo ra các tia gamma trong thiên hà. Họ đi đến kết luận một cách dứt khoát là GCE giống như thể kết quả của các pulsar chứ không phải là vật chất tối.  Dẫu sao, trong nghiên cứu mới do postdoc Rebecca Leane, Slatyer của MIT dẫn dắt, đã tái đánh giá tuyên bố này. Trong nỗ lực hiểu tốt hơn về phương pháp phân tích năm 2015 , Slatyer và Leane đã tìm thấy mô hình mà họ sử dụng có thể trên thực tế là có chút “mẹo mực” để dẫn đến kết quả lỗi này. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã vận hành mô hình này trên thực tế những quan sát của Kính viễn vọng không gian tia Gamma Fermi như cách các nhà nghiên cứu MIT-Princeton đã làm năm 2015, nhưng họ đã cho thêm một số tín hiệu vật chất tối giả. Kết cục họ tìm thấy mô hình này đã thất bại trong việc chọn tín hiệu giảvà thậm chí khi đưa tín hiệu đó vào, mô hình vẫn tiếp tục cho là các sao pulsar nằm ở trung tâm của phần dư của dải Ngân hà.  Kết quả được xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, nhấn mạnh vào “mismodeling effect” trong các phân tích năm 2015 và tái mở ra những gì mà nhiều người từng cho là trường hợp đóng.  “Thật thú vị khi chúng ta nghĩ là chúng ta đã loại khả năng có thể là vật chất tối”, Slatyer nói. “Nhưng giờ đây là một lỗi hệ thống trong tuyên bố mà chúng ta đã tạo ra. Việc mở lại cánh cửa cho tín hiệu này là việc đến từ vật chất tối”.  Trung tâm của dải Ngân hà: gai góc hay trơn tru?    Vật chất tối có thể là nguồn phát bí ẩn các tia gamma  Trong khi dải Ngân hà ít nhiều giống như một cái đĩa phẳng trong không gian, phần dư của các tia gamma tại trung tâm thiên hà này trú ngụ trong một khu vực hình cầu, mở rộng cách trung tâm thiên hà khoảng 5.000 năm sáng sáng.  Trong nghiên cứu năm 2015, Slatyer và đồng nghiệp của bà đã phát triển một phương pháp để xác định xem liệu hồ sơ của khu vực hình cầu này là trơn tru hay lởm chởm. Họ biện luận, nếu các pulsar là nguồn phát phần dư của tia gamma, và các pulsar này sáng một cách tương đối, các tia gamma mà chúng phát ra có thể có mặt trong khu vực hình cầu đó, khi tạo ra hình ảnh giống dạng hạt với những khoảng đen giữa các điểm sáng ở nơi có các pulsar.  Dẫu sao nếu vật chất tối là nguồn phát phần dư tia gamma, khu vực hình cầu có phải trông rất trơn tru: “Mọi tuyến hướng đến trung tâm thiên hà có lẽ đều có các hạt vật chất tối, vì vậy tôi không thể thấy được bất cứ khoảng trống nào hoặc điểm lạnh nào trong tín hiệu này”, Slatyer giải thích.  Bà và nhóm nghiên cứu sử dụng một mô hình nền của tất cả các vật chất và khí trong thiên hà, và tất cả các tương tác hạt có thể xảy ra để tạo nên các tia gamma. Họ cân nhắc các mô hình áp dụng cho khu vực hình cầu của GCE để tính toán cho những khu vực khác, và tạo ra một phương pháp thống kê để tìm sự khác biệt giữa chúng. Khi họ đưa các số liệu quan sát vào khu vực hình cầu từ kính viễn vọng Fermi rôi xem liệu các qun sát đó có phù hợp với tính chất trơn tru hay gai góc.  “Chúng tôi thấy 100% gai góc và vì vậy chúng tôi nó ‘ ồ vật chất tối không thể làm điều đó, vì vậy phải là cái gì đó hoàn toàn khác”, Slatyer kể lại. “Hy vọng của tôi là đó có thể chỉ là nghiên cứu đầu tiên trong số rất nhiều nghiên cứu về khu vực trung tâm Ngân hà sử dụng các các kỹ thuật tương tự. Nhưng vào năm 2018, những kiểm tra chéo chính của phương pháp này vẫn chỉ là những nghiên cứu mà chúng tôi từng làm năm 2015, nó khiến chúng tôi cảm thấy lo ngại là mình có thể đã để lỡ điều gì”.  Từ tín hiệu giả đến vật chất tối  Sau khi đến MIT vào năm 2017, Leane quan tâm đến việc phân tích các dữ liệu tia gamma. Slatyer đề xuất là phải kiểm nghiệm độ chắc chắn của phương pháp thống kê đã được sử dụng năm 2015 để phát triển một hiểu biết sâu sắc hơn về kết quả này. Họ đã đưa ra một câu hỏi phức tạp: liệu phương pháp của họ có sai lầm gì trong những trường hợp như thế này? Nếu vượt qua được câu hỏi này, họ có thể tự tin với kết quả của năm 2015. Dẫu sao nếu phát hiện ra là các kịch bản do phương pháp này xây dựng nên sụp đổ, nó có thể cho thấy những gì sai lệch trong cách tiếp cận của họ, và có lẽ vật chất tối có thể vẫn là trung tâm của phần dư tia gamma.  Leane và Slatyer đã lặp lại cách tiếp cận của nhóm MIT-Princeton  mà họ thực hiện vào năm 2015 nhưng thay vì cung cấp dữ liệu từ Fermi, họ lấy ra một bản đồ bầu trời giả, bao gồm tín hiệu vật chất tối và các  pulsar không liên kết với phần dư tia gamma. Họ đưa chính bản đồ này vào mô hình và tìm thấy, bất chấp có tín hiệu của vật chất tối bên trong khu vực hình cầu này, mô hình vẫn kết luận là nó không đều và do đó bị các pulsar lấn át. Đây là manh mối đầu tiên cho thấy phương pháp của họ không phải hoàn hảo, Slatyer nói.  Trình bày kết quả tại một hội thảo, Leane thu được một câu hỏi từ đồng nghiệp: Điều gì sẽ xảy ra nếu đưa tín hiệu giả vật chất tối kết hợp với những quan sát thực tế hơn là dùng một bản đồ tín hiệu giả? Trước tình huống này, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm đưa các dữ liệu quan sát của Fermi cùng với tín hiệu giả vật chất tối vào mô hình của họ. Bất chấp cách làm này, các phân tích thống kê của họ vẫn “bỏ qua” tín hiệu vật chất tối và trở lại với phần dư tia gamma tới 4 lần.  Hiện bà và Slatyer đang nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sự thiên lệch trong cách tiếp cận của mình và hi vọng sẽ loại được nó trong tương lai.  “Nếu thực sự có vật chất tôi, điều này có nghĩa đây là bằng chứng đầu tiên về vật chất tối tương tác với vật chất thông thường nhiều hơn qua hấp dẫn”, Leane nói. “Bản chất của vật chất tối là một trong những câu hỏi mở lớn nhất trong vật lý ở thời khắc này. Việc nhận diện được tín hiệu như vật chất tối có thể cho phép chúng tôi khám phá ra nhận diện cơ bản của vật chất tối. Chúng ta sẽ học hỏi được điều mới mẻ về vũ trụ này”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-elizabeth-author-tacitus.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cóc nặng gần một cân      Người dân bắt được một con cóc độc to bằng một chú chó con ở bắc Australia. Đây là con cóc lớn nhất từ trước đến nay được tìm thấy ở đây.    Người ta đặt tên nó là Toadzilla, nó nặng khoảng 900 gam. Các nhà môi trường đang tìm cách ngăn sự lan rộng của loài cóc độc này ở vùng nhiệt đới Australia. Chúng được đưa vào từ Hawaii những năm 1930 trong một nỗ lực bất thành nhằm kiểm soát loài bọ tấn công cây mía. Toadzilla bị bắt khi người dân đi săn lùng cóc độc ở Darwin.  Giới chức địa phương kêu gọi dân chúng giúp đỡ ngăn sự lan rộng của loài động vật nguy hiểm này. Loại cóc này xuất hiện đầu tiên ở Queensland và sau đó nhân ra thành hàng triệu con trên khắp đất nước. Chúng đẻ rất nhanh và theo một số ước tính, số lượng của chúng đã lên đến 200 triệu.  Rất nhiều động vật bản địa, bao gồm cả cá sấu, đã chết sau khi ăn phải chúng. Chúng cũng là nguyên nhân khiến số lượng rắn, thằn lằn và động vật có túi giảm đáng kể.  M.C. (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Coi nhẹ nghiên cứu cơ bản và tùy hứng      Tập đoàn CN Than-Khoáng sản (TKV) đang đứng trước một đòi hỏi khách quan là phải phát triển theo chiều sâu trên cơ sở phát triển khoa học, công nghệ và áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến. Đó là giải pháp duy nhất của Vinacomin trong tình trạng hiện nay để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ được môi trường, đảm bảo an toàn và thu nhập cao cho người lao động.      Việc nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ, trung thực, khách quan những thành tích đã đạt được trong hoạt động KHCN cũng như xác định những vấn đề mang tính “thắt cổ chai” trong sản xuất đòi hỏi cần đầu tư nghiên cứu để khắc phục trong thời gian tới sẽ giúp cho Vinacomin tiệm cận gần với phát triển theo chiều sâu và nâng cao được hiệu quả của sản xuất kinh doanh.   Những thành tích   Thời gian qua, việc lần đầu tiên ở VN đưa vào áp dụng thành công lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) cho một loạt các nhà máy nhiệt điện chạy than đã giúp mỏ Na Dương không phải đóng cửa, tiêu thụ được than Khánh Hoà có hàm lượng lưu huỳnh cao, cho phép tận dụng các loại than chất lượng thấp (nhiệt năng dưới 3000 kcal/kg) để phát điện, đánh dấu một bước phát triển trong lĩnh vực phát điện của VN theo hướng nâng cao hiệu suất nhiệt và giảm thiểu phát thải gây ô nhiễm. Loại lò hơi này trong năm 2009 đã đạt được kỷ lục ở VN về số giờ vận hành liên tục hơn 8000 h/năm và trong 6 tháng đầu năm 2011 cũng đã vận hành liên tục hơn 4000h. Đây là thành tích KHCN nổi trội nhất không chỉ của TKV mà của cả ngành năng lượng VN.  Cùng với lò hơi CFB, lần đầu tiên ở VN đã áp dụng thành công công nghệ làm mát nhà máy điện bằng tháp cưỡng bức trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, độ ẩm không khí cao. Công nghệ tháp làm mát đã cho phép xây dựng nhà máy điện ở cả những nơi không có nguồn nước lớn. Công nghệ tháp làm mát trong thực tế đã cho phép tăng gấp đôi công suất thiết kế của các nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn, Sơn Động.  Việc sử dụng rộng rãi kết cấu thép thay cho kết cấu bê tông ở các dự án điện đã góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư và rút ngắn đáng kể thời gian thi công.  Thật khó hình dung được ngành điện lực của Vinacomin nếu không áp dụng thành công ba công nghệ đột phá nêu trên trong các dự án nhà máy điện.  Trong khai thác than hầm lò: bên cạnh những bất cập và ấu trĩ trong việc áp dụng cơ giới hoá đồng bộ Vinaalta (giàn chống thủy lực tự hành, kết hợp máy khấu liên hợp) với chi phí rất cao, nhưng hiệu quả rất thấp, thì việc các mỏ hầm lò tự áp dụng rộng rãi sơ đồ công nghệ cơ giới hoá từng phần, áp dụng phương pháp chống lò chợ bằng cột chống thủy lực, khung giá thủy lực đã rất thành công (chi phí thấp, áp dụng rất rộng rãi, dễ triển khai, mang lại hiệu quả cao), và đặc biệt đã góp phần làm giảm tới 75-85% chỉ tiêu tiêu hao gỗ chống lò trong khai thác than.  Trong khai thác lộ thiên: việc đầu tư thiết bị khai thác công suất lớn đã giúp các mỏ đều đạt và vượt công suất thiết kế. Ngoài ra, việc đầu tư thiết bị cho khâu làm đường mỏ tuy đơn giản, ít tốn kém, nhưng đã mang lại hiệu quả cao. Tình trạng kỹ thuật của hệ thống đường vận tải chính trong các mỏ ngày càng được hoàn thiện, đã làm tăng tốc độ vận hành của xe cơ giới, làm tăng năng suất thiết bị. Giải pháp này chiếm tỷ trọng ít nhất 30% trong việc nâng cao năng suất của khâu xúc-bốc-vận tải đất đá và than.  Trong thăm dò địa chất, các năm gần đây đã áp dụng thành công và có hiệu quả lớn công nghệ khoan lấy mẫu bằng ống luồn. Công nghệ này đã cho phép nâng cao tỷ lệ mẫu, giữ được gần như nguyên trạng mẫu, và đặc biệt đã nâng cao đáng kể năng suất khoan (tới hơn 600m/tháng).  Trong thông gió mỏ: việc áp dụng các loại quạt gió công suất lớn (cả quạt cục bộ và quạt gió chính có đường kính cánh quạt lớn) kèm theo hệ thống biến tần, tiêu âm, đổi chiều v.v. phù hợp đã cải thiện đáng kể tình trạng thông gió của mỏ hầm lò và nâng cao hiệu quả của các trạm quạt.  Trong các khâu phụ trợ cũng có nhiều thành tích như: vấn đề băng tải hóa các tuyến vận tải than của các mỏ hầm lò đã được các mỏ áp dụng tương đối rộng rãi và phù hợp; việc áp dụng các biến tần, khởi động mềm, PLC trong các hệ thống truyền động điện đã nâng cao độ ổn định, nâng cao tuổi thọ của thiết bị, giảm tiêu hao điện năng; việc áp dụng tời chở người ở đường lò dốc trong mỏ đang mở ra một hướng phù hợp hơn so với mono ray v.v.  Những hạn chế  Những năm gần đây hoạt động khoa học công nghệ của Vinacomin vừa rất coi nhẹ công tác nghiên cứu cơ bản vừa tùy hứng, và không tuân theo một chương trình dài hạn có mục tiêu.   Có hai lý do: về mặt chủ quan, các cơ quan duy nhất có chức năng “viện” không duy trì được cán bộ nghiên cứu có trình độ; về mặt khách quan, việc triển khai các đề tài nghiên cứu rất mờ nhạt không mang lại lợi ích kinh tế, trong khi việc “năng động” chạy dự án để buôn bán thiết bị hay “liên doanh” với nước ngoài thực hiện các dịch vụ tư vấn đang rất có lãi và được hưởng chênh lệch lớn. Điển hình là việc áp dụng các giàn chống cơ giới hoá Vinaalta đã không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn, việc đầu tư băng tải ống Mạo Khê đang bị biến tướng để phục cho các nhóm lợi ích.   Ngoài ra việc tự dối mình và tự lừa phỉnh bản thân đã và đang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trình độ kỹ thuật của ngành khai thác khoáng sản (đặc biệt là lĩnh vực khai thác than hầm lò và tuyển khoáng) của Vinacomin so với thế giới đang dừng lại ở mức độ những năm 50 của thế kỷ trước.  Những vấn đề cần tập trung nghiên cứu trong thời gian tới  Phát triển ngành công nghiệp hoá than nhằm nâng cao giá trị và giá trị sử dụng của than. Với việc phát triển và hoàn thiện các công nghệ trong lĩnh vực hóa than (như CTG, CTL, CTO v.v.) hiện nay thế giới coi than chính là “tương lai” của ngành năng lượng, có thể cạnh tranh và thay thế ngành công nghiệp hóa dầu. Đó là việc cần được ưu tiên hàng đầu.        Việc tự dối mình và tự lừa phỉnh bản thân đã và đang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trình độ kỹ thuật của ngành khai thác khoáng sản (đặc biệt là lĩnh vực khai thác than hầm lò và tuyển khoáng) của Vinacomin so với thế giới đang dừng lại ở mức độ những năm 50 của thế kỷ trước.        Khai thác lộ thiên: Để tăng hệ số bốc đất kinh tế và kéo dài sự tồn tại của các mỏ lộ thiên, cần áp dụng công nghệ vận tải bằng tời trục ở các mỏ lộ thiên và nghiên cứu một cách bài bản về ổn định bờ mỏ để giảm hệ số bốc. Thay vì đầu tư phòng thí nghiệm về than tự cháy, Vinacomin cần khôi phục lại phòng thí nghiệm vật liệu tương đương (đã bị Viện KHCN bán sắt vụn) và nhanh chóng thiết lập phòng thí nghiệm mô hình số hóa để phục vụ cho nghiên cứu ổn định bờ mỏ lộ thiên.  Khai thác hầm lò: Cần thay đổi một cách cơ bản tư duy và cách làm về cơ giới hoá khai thác hầm lò, chấm dứt những dự án đắt tiền kém hiệu quả như Vinaalta, ưu tiên đầu tư theo hướng phù hợp với điều kiện mỏ-địa chất của VN (đối với lò chợ dài- cơ giới hoá từng phần, đối với lò chợ ngắn- cơ giới hoá đồng bộ). Đồng thời cần nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về áp lực mỏ. Xem xét lại các sơ đồ chuẩn bị lò chợ đào lò trong đá và đào theo hướng.  Lĩnh vực phát điện: Cần đảm bảo chất lượng ổn định của than cấp cho các nhà máy điện và giải quyết triệt để vấn đề bãi thải xỉ của các nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả và Cao Ngạn. Nếu không giải quyết triệt để, Vinacomin sẽ phải đóng cửa hai nhà máy này chỉ sau vài ba năm nữa.  Lĩnh vực khoáng sản: Nâng cao chất lượng (hàm lượng) của các sản phẩm khoáng sản (chì, ilmenhit- trên 55%; sắt, zirco- trên 65%, alumina- trên 98%) và luyện kim (đồng, thiếc, kẽm, phải đạt 99,99%). Ngoài ra, cần áp dụng đúng các qui chuẩn về thiết kế và vận hành các bãi thải quặng đuôi của các nhà máy tuyển quặng (khác bãi thải đất đá của các mỏ lộ thiên).  Thăm dò địa chất: Cần ưu tiên nghiên cứu áp dụng công nghệ khoan định hướng để tiến tới áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất trong khai thác than ở đồng bằng sông Hồng.  Phát triển nguồn lực: Cần cập nhật kịp thời thông tin về các tiến bộ KHCN của thế giới cho cán bộ lãnh đạo của tập đoàn; biên soạn các giáo trình tập huấn nâng cao trình độ bắt buộc cho kỹ sư và giám đốc mỏ; hoàn thiện các giáo trình đào tạo thợ.  ***  Có thể nói muốn phát triển, tập đoàn Than- Khoáng sản cần chấm dứt chìm đắm trong giấc mơ xuất khẩu than và khoáng sản, sớm thức tỉnh để nâng cao trình độ và tư duy kỹ thuật, đầu tư theo chiều sâu, lấy việc hoàn thiện công nghệ làm con đường phát triển chính để bù đắp cho xuất khẩu khoáng sản.  ———————————  (*) Nguyên trưởng ban Chiến lược và KHCN của TKV.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con dao hai lưỡi      Năm 1928, nhà khoa học người Anh Alexander Fleming đã phát hiện ra rằng các sản phẩm từ chu trình biến dưỡng của nhiều loại vi sinh và nấm mốc, như penicilline, có thể ngăn chận sự phát triển của vi sinh khác. Từ đó, thuốc kháng sinh đã từng bước nhanh chóng trở thành một phần quyết định trong phác đồ điều trị bệnh bội nhiễm.Thuốc kháng sinh sở dĩ tiếp tục giữ vai trò quan trọng vì vi trùng, dù với kích thước thường khi không đến một phần ngàn milimét, là nguyên nhân của nhiều bệnh lý nghiêm trọng.    Nếu như ở Đức, nơi nền y tế đã có cấu trúc ổn định, vẫn còn không dưới 30.000 trường hợp tử vong hàng năm do nhiểm trùng, thì thuốc kháng sinh tất nhiên là nhân tố không thể thiếu trong bối cảnh y tế của nước mình, đặc biệt cho người có hệ thống miễn nhiễm quá yếu, như người lớn tuổi, trẻ sinh non, người bệnh mãn tính… Ai cũng biết thuốc kháng sinh hữu dụng đến thế nào, nhưng khi đưa vào áp dụng thì lại nảy sinh một vấn đề trầm trọng: Đó là tình trạng nhờn thuốc kháng sinh! Cụ thể là vi trùng không chỉ sống sót sau khi người bệnh dùng thuốc kháng sinh mà còn phát triển nhanh chóng khả năng kháng thuốc.          Mẹo vặt cho người bệnh      – Không phải bệnh nào cũng cần thuốc kháng sinh. Cần can đảm đặt vấn đề với thầy thuốc về phản ứng phụ của thuốc cũng như giải pháp khác, thay vì chấp nhận toa thuốc với thuốc kháng sinh hầu như đã được viết sẵn!    Đừng quên thông báo ngay cho thầy thuốc nếu đã từng dị ứng với loại  thuốc kháng sinh nào đó. Nên viết rõ tên thuốc đã gây dị ứng. Đừng quên, phản ứng dị ứng tái phát bao giờ cũng trầm trọng hơn lần đầu.   – Thông tin rỏ dàng cho thầy thuốc nếu trước đó vừa cư trú ở một nơi xa lạ để thầy thuốc kịp thời lưu ý đến yếu tố dịch tễ trong phác đồ điều trị.    – Phải kể cho thầy thuốc tất cả các loại thuốc đang dùng để tránh trường hợp tương tác bất lợi với thuốc kháng sinh.    – Tham khảo thầy thuốc hay dược sĩ để biết cách giảm thiểu hay phòng ngừa phản ứng phụ của loại thuốc kháng sinh được kê trong đơn.                                                   Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nhờn thuốc, nhưng lý do hàng đầu, dù nói thật khó tránh mất lòng, là do thầy thuốc kê đơn cho thuốc kháng sinh quá dễ dàng. Biết là thuốc kháng sinh không có tác dụng trên vi khuẩn, nhưng thuốc kháng sinh vẫn được áp dụng trong 4/5 trường hợp cảm cúm hay viêm phế quản do siêu vi! Ngay cả với trường hợp viêm tai giữa cũng thế, trong khi chỉ 1/3 số trường hợp là do vi trùng thì thuốc kháng sinh hầu như có mặt trên tất cả toa thuốc trị viêm tai! Tỷ lệ nhiễm trùng còn thấp hơn nữa trong trường hợp bội nhiễm trên đường tiêu hóa và tiết niệu, nhưng thuốc kháng sinh vẫn là thành phần tìm thấy trong 3/4 toa thuốc!  Tệ hơn nữa là khuynh hướng áp dụng bừa bãi thuốc trụ sinh có tầm tác dụng rộng khiến không những nhiều loại vi trùng trở nên nhờn thuốc mà còn tác hại trên môi trường vi sinh đường ruột giúp cho nấm mốc có cơ hội phát triển trên trục tiêu hóa. Tiêu chảy vì thế là phản ứng thường gặp trên bệnh nhân thường xuyên dùng thuốc kháng sinh hay dùng trong thời gian quá lâu.  Thêm vào đó, vi trùng cũng có thể nhờn thuốc do người bệnh vì thiếu hướng dẫn nên dùng thuốc không đúng liều lượng hay ngưng thuốc quá sớm. Không nên quên là thời gian dùng thuốc kháng sinh thay đổi rất nhiều, có thể từ  ít ngày cho đến nhiều tháng, tùy theo loại vi trùng sinh bệnh, và tùy theo cơ chế tác dụng của thuốc kháng sinh.  Tuy thầy thuốc bắt buộc phải dùng thuốc kháng sinh trong một số trường hợp, cho dù ngay khi chưa hoàn toàn xác định được chẩn đoán, như nghi ngờ viêm màng não, viêm cuống rốn ở trẻ sơ sinh, viêm khớp cấp sau khi chọc dò, sốt kéo dài hơn 48 giờ không rõ nguyên nhân ở trẻ con hay nhiều tuần ở người lớn…, nhưng trong mọi trường hợp, việc lạm dụng thuốc bao giờ cũng là nguyên nhân dẫn đến nhờn thuốc.  Trên nguyên tắc, thầy thuốc cần thực hiện kháng sinh đồ để chọn đúng thuốc kháng sinh, đặc biệt khi liệu pháp kháng sinh không hiệu quả sau vài ngày áp dụng. Trên thực tế, điều kiện này không phải lúc nào cũng khả thi và không phải thầy thuốc nào cũng sẳn sàng tuân thủ điều đó. Hậu quả là thuốc kháng sinh dễ bị áp dụng bừa bãi, cho dù thầy thuốc hiện nay nhờ phương tiện chẩn đoán nhanh nên có thể phân biệt nguyên nhân nhiễm trùng hay nhiễm siêu vi, thay vì nhắm mắt cho thuốc như ở vài thập niên trước đây.  Ngoài ra, tình trạng nhờn thuốc một phần cũng do cơ thể tiếp xúc quá dễ dàng với thuốc kháng sinh, chẳng hạn do việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong kỹ nghệ chăn nuôi, hay vì khuynh hướng áp dụng thuốc kháng sinh quá vội vã trên trẻ sơ sinh.  Không chỉ vì sai lầm từ phía con người, vi trùng sở dĩ kháng thuốc nhanh còn nhờ khả năng thay đổi cấu trúc bằng cách hoán chuyển di thể. Ngay từ lần đầu tiếp xúc với thuốc kháng sinh, nhiều loại vi trùng đã biết cách vô hiệu hóa tác dụng của thuốc. Không dừng lại ở đó, vi trùng còn có khả năng triển khai đặc tính kháng thuốc qua các thế hệ kế tiếp. Chính vì thế mà sau giai đoạn đầu hiệu quả, nhiều loại thuốc kháng sinh bỗng trở nên hết khả năng bén nhọn! Tệ hơn nữa, một số vi trùng thậm chí có khả năng đề kháng với tất cả thuốc kháng sinh!                      Cơ chế kháng thuốc của vi trùng:     Trên lý thuyết, thuốc kháng sinh có công năng ngăn chặn sự phát triển hay thậm chí phá vỡ cấu trúc của vi trùng Trên thực tế, vi trùng không dễ dàng bó tay đầu hàng. Ngược lại, nhờ nhiều chiến thuật tinh vi, vi trùng có thể tự phát triển khả năng kháng thuốc tương đối không khó thông qua nhiều cơ chế:   A.  Cơ chế biến thể: Thuốc kháng sinh muốn có tác dụng như mong muốn cần tìm được nơi cảm ứng trên cấu trúc của vi trùng. Nhiều vi trùng có khả năng tự biến thể để thay đổi “điểm rơi” của thuốc kháng sinh trên màng tế bào. Thuốc kháng sinh , như streptomycine, khi đó trở thành lạc lõng như kẻ lạc đường và mất tác dụng.   B.  Cơ chế bơm đẩy: Vi trùng sau khi phát hiện thuốc kháng sinh bèn thay đổi cấu trúc trên màng tế bào như đổi đầu nam châm để đẩy thuốc kháng sinh ra xa. Hậu quả là thuốc, như tetracycline,  không thể triển khai tác dụng vì không tiếp xúc được với vi trùng.   C.  Cơ chế diếu tố: Vi trùng vẫn mở cửa đón thuốc kháng sinh nhưng tự tổng hợp một loại men có khả năng thay đổi cấu trúc của thuốc kháng sinh, như trong trường hợp của neomycine, bằng cách hoán chuyển hay gắn thêm vào công thức hóa học của thuốc một vài phân tử nào đó. Với cấu trúc mới thuốc tuy vẫn có mặt nhưng không giữ được tác dụng nguyên thủy.   Điều gây khó khăn vô cùng, không chỉ cho người nghiên cứu thuốc, mà ngay cả nhà điều trị, là nhiều loại vi trùng có khả năng phối hợp cả 3 cơ chế nêu trên! Do đó, không lạ gì khi thuốc kháng sinh rất dể mất tác dụng. Để đối phó, thầy thuốc trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, phải phối hợp nhiều loại thuốc kháng sinh để có tác dụng chắc chắn và toàn diện, cho dù đó chỉ là biện pháp được ăn cả, ngã về không.   Con dao kháng sinh trong tay nhà điều trị đúng là có hai lưỡi với lưỡi đang cứa lòng bàn tay của nhà điều trị rõ ràng sắc bén hơn nhiều.                             Tình trạng lờn thuốc càng lúc càng trở nên trầm trọng do ba lý do cơ bản:  – Theo thống kê của viện y học môi trường và vệ sinh bệnh viện ở Freiburg, thuốc kháng sinh không được áp dụng đúng trong 30 đến 50% trường hợp bội nhiễm, thường không chỉ sai về liều lượng hay liệu trình mà thậm chí cả với việc chọn lựa hoạt chất! Chính vì thế mà nhiều loại vi trùng có thể sống còn và phát triển khả năng đề kháng.  – Do thiếu biện pháp vệ sinh cơ bản, như  thói quen rửa tay nhiều lần trong ngày, mà số trường hợp nhiễm trùng gia tăng dễ dàng, đặc biệt trong môi trường dễ bội nhiễm, như bệnh viện, phòng khám  – Bội nhiễm càng nhiều thì xác suất áp dụng thuốc kháng sinh không đúng cách càng cao.  – Số bệnh nhân có cơ tạng dễ bội nhiễm vì hệ thống miễn nhiễm suy yếu, như bệnh nhân hậu xạ trị, hậu phẩu, tiểu đường… gia tăng với vận tốc nhanh hơn công trình nghiên cứu về thuốc kháng sinh. Hơn thế nữa, thuốc kháng sinh đời mới, cho dù được chuẩn bị công phu, vẫn không đuổi kịp vận tốc biến thể của vi trùng. Nhiều đại gia trong ngành dược vì thế đã ngưng đầu tư cho dự án nghiên cứu thuốc kháng sinh mới vì khó có lời.  Nhằm mục tiêu ngăn chận tình trạng nhờn thuốc kháng sinh, nhiều nhà điều trị đang mạnh dạn cổ động cho một số biện pháp, như:  – Áp dụng phương pháp chủng ngừa để giảm thiểu việc phải áp dụng thuốc kháng sinh. Ở Đức mỗi năm có khoảng 500.000 người nhiễm bệnh viêm phổi do vi trùng pneumocoque với tỷ lệ tử vong hãy còn rất cao, không dưới 1/20. Nhưng dù vậy chỉ có 20% dân số chú trọng đến biện pháp chủng ngừa! Con số đó không thể khá hơn ở nước mình.  – Vận dụng hoạt chất có khả năng gây xáo trộn cấu trúc của di thể tế bào để làm vi trùng mất tính đề kháng, như Apramycin, theo như báo cáo gần đây ở Hoa Kỳ. Điều đáng tiếc là còn cần thời gian nghiên cứu cho đến khi hoàn chỉnh được hoạt chất để không chỉ hiệu quả mà đồng thời an toàn cho cơ thể con người.  – Ứng dụng hoạt chất trong dược liệu thiên nhiên có công năng cản khuẩn trên cơ chế sinh học thay vì sát khuẩn đồng loạt để vừa tránh hiện tượng nhờn thuốc, vừa giới hạn phản ứng phụ của thuốc.  Vấn đề nhờn thuốc kháng sinh sẽ không thể giải quyết nếu thiếu nhận thức của người bệnh, và quan trọng hơn nữa, nếu thiếu kiến thức và ý thức của thầy thuốc. Tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh là một vấn nạn cấp bách không chỉ vì gánh nặng tài chính cho ngành y tế, mà trên hết, vì sức khỏe của người dân. Đó chính là trách nhiệm quản lý của ngành y tế. Một vài biểu ngữ với nội dung “Thuốc kháng sinh, con dao hai lưỡi” chỉ có tính cách trình diễn. Người dân, người bệnh không cần khẩu hiệu!  Thái Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường chông gai của WI-38      Lời tòa soạn: The Vaccine Race (Cuộc đua vắc xin) được nhiều tờ báo hàng đầu Mỹ bình chọn là một trong những cuốn sách về khoa học hay nhất trong năm 2017. Nó là câu chuyện về sự đấu tranh của một nhà khoa học trước những giới hạn của luật pháp, khuôn khổ của đạo đức, sự hẹp hòi của đồng nghiệp để có thể đưa những nghiên cứu của mình phục vụ nhiều nhất cho đời sống. Bài báo dưới đây, được đăng trên Nature cách đây bốn năm của nhà báo Meredith Wadman, là sự tóm tắt con đường đầy chông gai ấy.      Leonard Hayflick, năm 1982, đang xem xét những tế bào WI-38 mà ông tách từ phổi của bào thai bị nạo bỏ. Những tế bào này được dùng để sản xuất vaccine sử dụng trên toàn thế giới.   Năm 1962, Leonard Hayflick đã tạo ra một dòng tế bào (cell strain) từ một bào thai bị nạo bỏ. Hơn 50 năm sau, WI-38 vẫn là một tế bào nguồn rất quan trọng nhưng lại gây ra nhiều tranh cãi.  Sự việc bắt đầu khi năm 1962, tại một bệnh viện ở Thụy Điển, một người phụ nữ mang thai bốn tháng đã yêu cầu được phá thai hợp pháp.  Thai nhi – nữ, dài 20 cm , được gói trong một tấm vải xanh vô trùng – và chuyển đến Viện Karolinska ở tây bắc Stockholm. Ở đó, phổi thai nhi được cắt, giữ trong đá lạnh và chuyển lên một chuyến bay xuyên Đại Tây Dương. Vài ngày sau, Leonard Hayflick, một nhà sinh vật học trẻ đầy hoài bão tại Viện Giải phẫu và Sinh học Wistar ở Philadelphia, Pennsylvania (Mỹ), đã mở chiếc hộp này ra.  Sử dụng dao phẫu thuật, Hayflick cắt lát phổi thành từng mẩu nhỏ với kích thước của một ngón tay – sau đó đặt vào chai nuôi cấy có chứa hỗn dịch các enzyme và phân tách chúng thành các tế bào riêng rẽ. Các tế bào này tiếp tục được chuyển vào một số chai thủy tinh dẹt đã bổ sung môi trường dinh dưỡng và đặt trong phòng ủ 37°C. Các tế bào bắt đầu phân chia.  Và như thế, WI-38 ra đời, một dòng tế bào được cho là đã cứu sống nhiều mạng người hơn bất kỳ tế bào nào khác do các nhà khoa học tạo ra. Nhiều dòng tế bào thực nghiệm đã có được vào thời điểm đó, như dòng tế bào HeLa nổi tiếng, được nhân lên từ tế bào ung thư (dòng tế bào HeLa được đặt tên theo người phụ nữ đã hiến nó, Henrietta Lacks). Tế bào WI-38 là tế bào người “bình thường” đầu tiên có thể nhân lên với số lượng không giới hạn sử dụng cho các nhà khoa học và sản xuất ở quy mô công nghiệp từ đó mở ra các hướng nghiên cứu tế bào bình thường ở người cho đến ngày nay.  Trong những năm 1960 và 1970, những vắc xin sử dụng tế bào WI-38 đã tạo ra miễn dịch cho hàng trăm triệu người đối với các bệnh rubella, dại, adenovirus, bại liệt, sởi, thủy đậu và bệnh Zona, đồng thời giúp cho các nhà dịch tễ học tìm ra các căn nguyên vi rút gây bùng phát dịch bệnh. Nhưng trong 40 năm qua, các nhà hoạt động chống phá thai đã phản đối việc sử dụng WI-38 và vắc xin được phát triển từ tế bào này vì nguồn gốc của tế bào là từ mô bào thai. Alta Charo, giáo sư luật tại Trường Luật trường Đại học Wisconsin ở Madison nói: “Hiện vẫn có nhiều người từ chối sử dụng các vắc xin vì nguồn gốc của chúng từ mô bào thai”.  Tìm kiếm các tế bào  Khi Hayflick mở chiếc bào thai đông băng được gửi từ Thụy Điển vào năm 1962, ông đang làm việc tại Viện Wistar, một viện nghiên cứu được điều hành bởi Hilary Koprowski – nhà nghiên cứu tiên phong về vắc xin bại liệt. Hayflick được giao để điều hành phòng thí nghiệm nuôi cấy tế bào và cung cấp tế bào cho các nhà nghiên cứu khác. Nhưng Hayflick cũng đã bắt đầu các nghiên cứu xem một số bệnh ung thư ở người có thể do virut gây ra hay không. Để làm điều đó, ông cần một tế bào nguồn chưa từng có trước đó: Tế bào bào thai, ông nghĩ, đây là một ứng viên lý tưởng vì chúng ít bị phơi nhiễm với virus so với tế bào ở người trưởng thành.  Hayflick đã phát triển 25 dòng tế bào bào thai khác nhau, được đánh số từ WI-1 đến WI-25. Nhưng vài tháng sau khi dự án bắt đầu, ông phát hiện ra một điều gì đó khác lạ.Thường các tế bào trong môi trường nuôi cấy, được giữ đúng cách, sẽ phân chia mãi mãi, nhưng những dòng tế bào ở các lần cấy chuyển cuối cùng của ông đã phân chia chậm hơn rồi dừng lại hẳn.  Năm 1961, Hayflick và đồng nghiệp Paul Moorhead xuất bản một bài báo mà sau đó trở thành một trong những ấn phẩm được trích dẫn nhiều nhất trong sinh học. Với tiêu đề “Cấy chuyển liên tục các dòng tế bào lưỡng bội người” (The serial cultivation of human diploid cell strains), bài báo cho thấy các tế bào bào thai bình thường ngừng nhân lên sau khoảng 50 lần nhân đôi. Bài báo đưa ra một lĩnh vực mới: nghiên cứu về lão hóa tế bào. Và mức tối đa tế bào có thể phân chia- mà sau này phát hiện được ở cả tế bào người trưởng thành còn sớm hơn nhiều – được gọi là ‘giới hạn Hayflick’.  Hayflick và Moorhead cũng cho thấy các tế bào bào thai vẫn tiếp tục sống sót nhiều tháng sau khi được bảo quản trong tủ đông và khi rã đông, các tế bào này còn ‘nhớ’ được bao nhiêu lần chúng đã nhân lên và sẽ tiếp tục cho đến đúng thời điểm phải dừng lại. Các tác giả viết: “Điều rõ ràng là, các tế bào được đông băng tại mỗi đời cấy chuyển, hoặc sau một số đời cấy chuyển, có thể tiếp tục tạo ra các tế bào cần thiết ở bất cứ thời điểm nào và với số lượng không hạn chế”. Hơn nữa, các tế bào của Hayflick và Moorhead dễ bị lây nhiễm bởi nhiều loại virus ở người, do vậy đây là phương tiện hoàn hảo để nhân nuôi virus cho sản xuất vắc xin.  Hayflick quyết định phân tách ra một dòng tế bào bào thai mà ông hy vọng sẽ trở thành một nguồn nguyên liệu sẵn có cho các phòng thí nghiệm và là vật liệu đê sản xuất vắc xin ở quy mô công nghiệp. Vào tháng 2 năm 1962, ông có được sự trợ giúp từ Viện Ung thư Quốc gia cho phép Viện Wistar phối hợp cùng Hayflick trong một hợp đồng để “sản xuất, xác định đặc tính, lưu trữ và nghiên cứu các dòng tế bào lưỡng bội người người và phân phối các dòng tế bào này cho tất cả các nhà nghiên cứu có năng lực”.  Dòng tế bào thành công  Hayflick cuối cùng cũng đã đưa WI-38 đến với các nhà khoa học trên toàn thế giới: ông thường xuyên mang theo các ống nitrogen lỏng có chứa WI-38 trong những chuyến công tác ra nước ngoài và tận tay giao tế bào này cho các đồng nghiệp tại London, Moscow, Leningrad và Belgrade. Các nhà khoa học khao khát có được tế bào này một phần vì đây là mô hình có giá thành rẻ và đa dạng trong nghiên cứu sinh học cơ bản về các tế bào bình thường của con người – và ngay sau đó các bài báo được công bố đã đưa ra nhiều kết quả nghiên cứu từ  quá trình hô hấp của tế bào đến các phân tử chất béo trong cấu tạo của chúng.  WI-38 được ứng dụng khá nhiều trong ngành virus học. Năm 1967, tế bào này đã trở thành một công cụ quan trọng của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong việc giám sát các virus gây ra các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ em trên toàn thế giới.  Hayflick cũng cung cấp rộng rãi WI-38 cho nhiều nhà sản xuất vắc xin tiềm năng. Một trong số đó là Stanley Plotkin, một nhà khoa học của Viện Wistar và cũng là một bác sĩ đã thấy ngay được những ảnh hưởng của dịch bệnh rubella lan tràn ở Anh và Mỹ vào đầu những năm 1960. Plotkin đã nuôi cấy virus rubella trên WI-38 ở nhiệt độ 30oC, thấp hơn nhiệt độ cơ thể, tạo ra một loại virus suy yếu nhưng vẫn có khả năng kích thích hệ miễn dịch đủ để bảo vệ phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng sau này. Các thử nghiệm cho thấy vắc-xin của ông tạo ra miễn dịch chống lại vi rút rubella tốt hơn các sản phẩm cạnh tranh và vắc xin đã được cấp phép tại châu Âu vào năm 1970 và tại Hoa Kỳ vào năm 1979.  Vắcxin phòng rubella chỉ là một trong số nhiều loại vắc xin được tạo ra nhờ WI-38. Vào những năm 1960, vắc-xin sởi trên tế bào WI-38 đã được cấp phép ở Liên Xô cũ và Koprowski cũng đã phát triển vắc-xin dại trên tế bào này. Vào đầu những năm 1970, công ty dược phẩm Wyeth (nay thuộc về Hãng Pfizer) đã cho ra đời vắc xin adenovirus đường uống và Hãng Pfizer đã sản xuất ra vắcxin phòng bại liệt. Hiện tế bào này đang được Hãng Merck sử dụng để sản xuất vắcxin phòng bệnh thủy đậu và bệnh Zona thần kinh.  Cảm giác bị ruồng bỏ  Mặc dù là tác giả của một bài báo mang tính đột phá và việc sử dụng ngày càng rộng rãi của WI-38, nhưng Hayflick lại luôn cảm thấy mình như một công dân hạng hai tại Viện Wistar. Ông chưa bao giờ được đề cử là một thành viên chính thức, và ông tin rằng Koprowski, luôn coi ông như một kỹ thuật viên hơn là một nhà khoa học.  Hayflick cảm thấy bị bỏ rơi khi Koprowski hứa cung cấp WI-38 cho nhà sản xuất thuốc Burroughs Wellcome của Anh (một trong những công ty đã sáp nhập vào GlaxoSmithKline), cùng với công nghệ nuôi cấy tế bào của Hayflick để sản xuất vắc-xin bại liệt, chỉ nhằm đổi lấy tiền bản quyền cho viện. Hayflick nói rằng ông đã sốc khi Koprowski có ý định kiếm lời từ WI-38 cho viện mà không cho Hayflick biết.  Hayflick đã tìm được một công việc mới – giáo sư về vi sinh học y học tại Đại học Stanford ở California, từ tháng 7 năm 1968. Vào tháng Giêng năm đó, ông đã gặp để thảo luận về số phận của 370 ống WI-38 còn lại với với Koprowski và các đại diện từ Viện sức khoẻ Hoa Kỳ (NIH) và Trung tâm chủng giống Hoa Kỳ (ATCC), sau đó tại Rockville, Maryland, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên cung cấp các tế bào để nuôi cấy. Mọi người đồng ý cho Hayflick mang 10 ống tế bào WI-38 đến Stanford, và 10 ống sẽ được giữ lại tại Viện Wistar. Phần còn lại sẽ là tài sản của viện ung thư thuộc NIH và sẽ được chuyển giao cho ATCC, và chính họ sẽ nắm quyền phân phối từ thời điểm đó. Hayflick bị áp lực khi buộc phải ký kết kế hoạch đó. Ông nghĩ rằng thật bất công khi các công ty, và Viện Wistar, đã thu lợi từ các tế bào mà ông đã tạo ra.  Sau cuộc họp đó, Hayflick đã thực hiện một chuyến đi lặng lẽ đến tầng hầm của Viện Wistar và mang theo tất cả các ống WI-38, cùng hai đứa con của mình, lái xe đến California. “Tôi vừa bỏ trốn với các tế bào,” Hayflick nói với một nụ cười nhạt.  Tới Stanford, Hayflick bắt đầu tính phí những tế bào nuôi cấy từ WI-38 mà ông đã gửi cho hàng trăm nhà khoa học có nhu cầu. Phí của ông là 15 USD – tương đương với số tiền do ATCC chi cho việc vận chuyển tế bào – và ông ta đã nạp số tiền thu được vào một tài khoản mà ông gọi là “Quỹ Nuôi Cấy Tế bào”. Đến tháng 5 năm 1975, ông đã thu được hơn 66.000 USD.  Hayflick đã rất quyết tâm giữ số tiền trong một tài khoản riêng cho đến khi một cơ quan pháp luật độc lập có thể xác định ai sở hữu các tế bào này. Mùa xuân năm 1975, khi ông được phỏng vấn tại NIH như một ứng viên để điều hành Viện Quốc gia mới nghiên cứu về lão hoá , NIH đã quyết định chuyển vụ việc sang Phòng Phân tích và Khảo sát Quản lý, bộ phận chuyên điều tra các cáo buộc về các sai phạm trong quản lý các quỹ của NIH. Họ gửi ba kiểm toán tới phòng thí nghiệm Stanford của Hayflick, nơi họ đã dành nhiều ngày để xem xét các ghi chép và đánh giá hàng trữ lượng WI-38.  Báo cáo của họ được công bố vào tháng 3 năm 1976,và nội dung của nó sớm xuất hiện trên tờ Khoa học (Science) và trên trang nhất của The New York Times. Hayflick nói: “Trong vòng 24 giờ sự nghiệp của tôi đã rơi xuống vực thẳm khi bản báo cáo nói rằng Hayflick đã bán “tài sản của Chính phủ Hoa Kỳ”; các ống WI-38 không được giữ gìn cẩn thận; và một số ống đã bị nhiễm vi khuẩn. Hayflick rất bất bình với báo cáo. Ông nói rằng không có phán quyết nào trao cho chính phủ quyền sở hữu đối với WI-38. Ông đã giữ các khoản tiền nhận được từ việc bán WI-38 trong một tài khoản riêng cho đến khi quyền sở hữu có thể được xác định, và không có bằng chứng nào về việc giữ gìn các ống chứa tế bào trong điều kiện không kiểm soát.  Hayflick kiện lại NIH. Ông lập luận rằng cơ quan này đã vi phạm Đạo luật Bảo mật năm 1974 bằng cách công khai tên của ông và các cáo buộc chống lại ông theo FOIA mà không bao gồm quyền bác bỏ của ông. Lúc đó, Hayflick cũng đang phải đối mặt với một cuộc điều tra hình sự: Đại học Stanford đã cảnh báo các công tố viên địa phương rằng trường hợp này có thể là một hành vi trộm cắp tài sản của chính phủ. Trong khi đó, một số nhà sản xuất vắc-xin lo ngại rằng sẽ không có đủ nguồn cung cấp WI-38 để đáp ứng nhu cầu trong tương lai và chuyển sang một dòng tế bào bào thai thay thế: MRC-5.  Hayflick từ nhiệm tại Stanford vào tháng 2 năm 1976 và sau đó trở thành một trong những người thất nghiệp xếp hàng để nhận 104 USD một tuần. Không chỉ thất nghiệp, ông đã không còn sở hữu các tế bào mà ông viết trong  tạp chí Science “giống như những đứa con của mình”. Năm trước đó, NIH đã lấy các tế bào từ phòng thí nghiệm của ông trong khi ông đang tham dự một cuộc họp.  Thời thế đổi thay  Vài tháng sau, Hayflick tìm được một công việc tại Bệnh viện Nhi Đồng Oakland, Vịnh San Francisco, và tìm cách tiếp tục nghiên cứu về lão hóa. Và sau một cuộc chiến dai dẳng với NIH, vào mùa hè năm 1981, Bộ Tư pháp đã viết thư cho các luật sư của Hayflick, đề nghị giải quyết vụ kiện ra tòa và thỏa thuận cuối cùng cho phép Hayflick và con cháu của ông sở hữu 6 ống WI-38. Chính phủ sẽ sở hữu 19 ống tế bào mà họ đang giữ. Hayflick cũng được giữ lại số tiền thu được từ việc bán WI-38, mà vào thời điểm đó đã tăng lên khoảng 90.000 USD cả lãi. Ông ta đã chi tiêu toàn bộ, và thậm chí là nhiều hơn nữa, để trả cho các luật sư của ông; ông cho biết đã không bao giờ có lợi về tài chính từ WI-38.  Trong khi đó, các nhà khoa học, tiếp tục được hưởng lợi từ các tế bào WI-38 trong nghiên cứu. Vào giữa những năm 1980, nhờ các phương cách mới mang tính cách mạng trong sinh học phân tử, WI-38 đã giúp họ khám phá mọi thứ từ sự biểu hiện gene trong bệnh ung thư bạch cầu ở người cho đến yếu tố hoại tử khối u (tumour necrosis factor – TNF) nhân bản, một protein điều hòa miễn dịch quan trọng.  Nhưng những tranh chấp xung quanh các tế bào này lại quay trở lại. Tháng 7 năm 1973, Hayflick nhận được một cuộc gọi từ một nhân viên y tế cao cấp của NASA. Skylab 3 đã cất cánh vài giờ trước đó từ Trung tâm Không gian Kennedy ở Florida để lên Trạm Vũ trụ. Bác sĩ của NASA đang gặp rắc rối với những người biểu tình chống việc nạo phá thai nhằm phản đối việc mang tế bào WI-38 để sử dụng phát hiện những ảnh hưởng của tình trạng không trọng lực đối với sự phát triển và cấu trúc của tế bào. Chỉ khi Hayflick giải thích rằng các tế bào lấy từ một bào thai được nạo bỏ một cách hợp pháp ở Thụy Điển, bác sĩ mới có thể giải quyết vụ việc – nhưng mối quan ngại về WI-38 của những người chống nạo phá thai vẫn kéo dài đến tận ngày nay.  Năm 2003, Debi Vinnedge, giám đốc điều hành của Children of God for Life, một nhóm có trụ sở tại Largo, Florida, phản đối việc sử dụng WI-38 trong sản xuất vắc xin. Cô đã viết cho Vatican yêu cầu có một quan điểm chính thức về việc liệu người Công giáo có thể tiếp nhận vắc xin được tạo ra từ các tế bào thai nhi bị hủy bỏ. Khi bức thư của Vantican kết luận rằng nếu không có sự thay thế nào khác thì cha mẹ có thể tiêm phòng vắc-xin sử dụng tế bào WI-38 và MRC-5 một cách “hợp pháp” để tránh những nguy cơ nghiêm trọng đối với con cái họ và toàn thể cộng đồng.  Hayflick lập luận rằng có ít nhất bốn nhóm đối tượng có quyền sở hữu WI-38 hoặc bất kỳ mẫu nuôi cấy tế bào từ người nào: những người hiến mô, các nhà khoa học đưa lại các kết quả giá trị khi sử dụng tế bào, tổ chức nơi các nhà khoa học làm việc và cơ quan tài trợ cho dự án. “Giống như tôi”, ông nói thêm, “hàng trăm nhà khoa học khác đã đạt được các thành công trong sự nghiệp nhờ sử dụng WI-38 và các mẫu nuôi cấy tế bào ở người khác vì vậy tất cả chúng ta đều phải có một món nợ về mặt đạo đức với những người hiến mô.”  Bây giờ 85 tuổi và được coi là một trong những cây đại thụ của ngành nghiên cứu về lão hóa, Hayflick giữ những ống WI-38 trong garage nhà ông ở California trong rất nhiều năm. Nhưng rồi vào năm 2007, ông tặng chúng cho Viện Coriell ở Camden, New Jersey, nơi ông tin tưởng sẽ giữ cho chúng an toàn.    Cuối cùng, ông nói, cho đi các tế bào cũng không gây “chấn động” lớn nào, chỉ như là việc 5 đứa con đẻ của ông bắt đầu cuộc sống tự lập: “Đã đến lúc những đứa ‘con của tôi’ – bây giờ đã trưởng thành – nên được rời khỏi nhà”.  Hạnh Duyên dịch  Đỗ Tuấn Đạt, Công ty TNHH MTV Vắcxin và Sinh phẩm số 1 VABIOTECH hiệu đính  Nguồn bài và ảnh: https://www.nature.com/news/medical-research-cell-division-1.13273          Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường khoa học      Trên bia mộ của I.Newton – nhà khoa học nổi tiếng người Anh (1643-1727) có khắc dòng chữ “Cả thế giới chìm trong u tối/Chúa phán rằng đã có Newton/Và thế giới bừng lên ánh sáng”*. Đó là lời vinh danh chuẩn xác về I.Newton, về vai trò của khoa học và các nhà khoa học.      Baruch Spinoza ở Amsterdam. Họa sĩ vô danh. Nguồn: Lebrecht Music & Arts/Alamy.  Sách Kinh Thánh cũng chứa các “phép màu”, ví dụ như chuyện một người bị bệnh hủi, chỉ nhờ xuống tắm nước sông mà khỏi bệnh. Theo các chuyên gia y học thời nay, người đó chỉ bị bớt trắng của căn bệnh vitiligo, nhưng do thiếu hiểu biết nên ngày xưa người ta cứ nhìn thấy vết bớt vitiligo thì coi đó là bệnh hủi.   Kể cả khi đã có khoa học, thì việc phổ biến cho con người các kiến thức, phương pháp suy luận logic khoa học, cũng không dễ dàng. Cho đến nay, vẫn có nhiều người phủ nhận Học thuyết Tiến hóa của Darwin, phản đối vaccine, và lo cúng lễ thánh thần nhiều hơn là lo tu luyện bản thân.   Khi được hỏi có tin vào Chúa không, nhà bác học Einstein trả lời “Tôi tin vào Chúa của Spinoza”- đó là một triết gia từ thế kỷ 17 đã đưa phương pháp logic khoa học vào việc nghiên cứu khái niệm về Chúa, gạt bỏ đi những “phép màu” phi tự nhiên. Spinoza không bị đem lên giàn thiêu như nhà bác học Bruno, nhưng cũng bị giáo hội Do Thái kết tội là tà đạo.  Đứng trước những điều không biết, con người chúng ta thường chỉ có thể lựa chọn giải pháp hoặc là đơn giản nhắm mắt tin theo lời ai đó, hoặc phức tạp hơn là động não tìm tòi thông tin và suy luận logic. Giải pháp thứ hai chính là con đường khoa học, vất vả hơn và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện. Nhưng nó giúp chúng ta mở mang trí tuệ, vượt lên trên các giáo điều.  Có nhiều người quan niệm rằng thời nay khi đã có máy móc trợ giúp, thì có những thứ chúng ta không cần học nữa, học là thừa: toán học đã có máy tính tính nhanh hơn con người, ngoại ngữ đã có máy phiên dịch… v.v. Và nếu cứ theo lý luận đó thì con người dần dà sẽ chẳng cần học nhiều. Nhưng quan niệm đó đã bỏ qua một điều quan trọng, đó là nếu ỷ lại vào máy móc thì con người sẽ ngày càng ngu dốt đi, kém hiểu biết đi khi máy móc ngày càng thông minh lên.  Nói theo các thiền sư, sự không hiểu biết hay hiểu sai chính là gốc rễ của mọi đau khổ. Để hạnh phúc, buông bỏ được đau khổ thì con người cần hiểu nhiều hơn và hiểu đúng hơn các quy luật của vũ trụ và của cuộc sống, hướng tới sự thông tuệ. Từ Phật hay ông Bụt (Buddha) có gốc là từ Buddhi, có nghĩa là sự hiểu biết, và Phật chẳng qua là người đã đạt đến thông tuệ. Con đường khoa học chính là con đường hướng tới thông tuệ, nó không chỉ quan trọng đối với các nhà khoa học, mà cho cả nhân loại.      Một nhà khoa học nghiên cứu cả đời để đạt được dù chỉ một công trình có ý nghĩa lớn cũng đã đủ coi là rất thành công. Còn nếu rơi vào bẫy thành tích giả, chạy theo số lượng thay vì chất lượng, theo kiểu “mười giun” thay vì “một rồng”, thì cuối cùng vẫn chẳng có mấy giá trị.      Ngày nay, chúng ta có may mắn được sống trong một thế giới mà khoa học phát triển không ngừng, và ngày càng được dân chủ hóa. Nếu cách đây vài thế kỷ, chỉ có những người  trong gia đình khá giả mới được học hành, thì thời nay con em nông dân nghèo cũng có thể trở thành nhà khoa học.   Khoa học công nghệ mới đã đem lại cho con người rất nhiều tiện ích mà cách đây nửa thế kỷ khó có thể hình dung nổi, như là điện thoại di động, máy vi sóng, TV màn hình phẳng, v.v. Trái đất của chúng ta chỉ có “từng đó” phân tử, sự tăng trưởng kinh tế về cơ bản là sự cải thiện về chất chứ không phải về lượng. Thế giới văn minh lên, khoa học phát triển lên, chứ không nhiều vàng bạc lên. Sự tăng trưởng về chất đó ít bị giới hạn bởi tài nguyên thiên nhiên, ngoài một tài nguyên quan trọng nhất, chính là khả năng hiểu biết và sáng tạo của con người. Có nhiều nghề sẽ bị máy móc thay thế, nhưng những nghề đòi hỏi tính sáng tạo như khoa học và nghệ thuật sẽ không phải lo thất nghiệp.  Nhìn một cách vĩ mô, những nơi nào trên thế giới mà khoa học được đầu tư mạnh nhất, cũng chính là những nơi kinh tế phát triển nhanh nhất. Ví dụ điển hình là đất nước Trung Quốc, nơi mà giảng viên đại học được trả lương cao hơn luật sư, bác sĩ. Từ một nền kinh tế lạc hậu thời Mao, Trung Quốc đã vươn lên thành nền kinh tế và khoa học hùng mạnh nhất nhì thế giới. Nơi nào các chính trị gia có nền tảng khoa học, logic tốt, ví dụ như bà Merkel của nước Đức, thì đó cũng là một lợi thế cho sự phát triển.   Ở mức độ cá nhân, ai đem lại ảnh hưởng được đến hàng triệu người khác thì người đó là “triệu phú”. Hậu duệ của nhà văn Saint-Exupery hằng năm vẫn được hưởng hàng triệu euro nhờ bản quyền tác phẩm “Hoàng Tử bé” nổi tiếng thế giới của ông. Các nhà khoa học lớn đều có ảnh hưởng đến toàn thế giới, và như vậy họ đều là “triệu phú”. Tuy nhiên, thực tế họ thường chỉ có một cuộc sống vật chất khá khiêm tốn, bởi toàn bộ sự cống hiến của họ là hướng tới cộng đồng chứ không giữ làm của riêng. Các nhà khoa học làm việc trước hết vì đam mê chứ không phải vì tiền. Nhưng để làm việc hiệu quả, họ cũng cần được tạo mọi điều kiện về vật chất. Liên bang Xô viết (Liên Xô) trước đây là một cường quốc khoa học, nhưng sau khi sụp đổ thì khoa học bị bỏ đói, các nhà khoa học rơi vào cảnh lao đao, nền khoa học phải mất hàng thập kỷ để khôi phục. Không chỉ ở Liên Xô mà nhiều nơi khác cũng vậy, mỗi khi nền kinh tế gặp khó khăn thì các nhà khoa học lại phải lo sống còn nhiều hơn là lo làm khoa học.  Bản thân tôi là sinh viên ở Nga đúng thời Liên Xô sụp đổ nên cũng có trải nghiệm sự lao đao đó, và đã nhiều lần toan tính bỏ nghề. Tuy nhiên, tôi không hề hối hận là mình vẫn tiếp tục nghiên cứu khoa học trong suốt 30 năm, dù có những năm phải lo kiếm tiền trả nợ nhiều hơn là lo làm toán. Cuộc sống là chuỗi các trải nghiệm, và khoa học đã đem lại cho tôi những trải nghiệm tuyệt vời mà không tiền nào mua được.  Bà Sofia Kowalevskaya được gọi là “nhà toán học có hai ý tưởng” trong một cuốn sách lịch sử khoa học. Đó là một lời khen ngợi, bởi thông thường khi nói đến một nhà khoa học lớn người ta chỉ biết đến một ý tưởng lớn của người đó thôi. Như ông Maxwell thì có phương trình Maxwell, ông Pasteur thì làm ra vaccine, v.v. Một nhà khoa học nghiên cứu cả đời để đạt được dù chỉ một công trình có ý nghĩa lớn cũng đã đủ coi là rất thành công. Còn nếu rơi vào bẫy thành tích giả, chạy theo số lượng thay vì chất lượng, theo kiểu “mười giun” thay vì “một rồng”, thì cuối cùng vẫn chẳng có mấy giá trị.  Cống hiến khoa học của tôi dù ở mức khiêm tốn, nhưng tôi cũng chỉ theo đuổi chủ yếu một ý tưởng chính trong suốt 30 năm, đó là ý tưởng về các Xuyến. Một trong các định luật về Xuyến mà tôi phát hiện ra là: “Bất cứ cái gì được bảo toàn bởi một hệ động lực thì cũng được bảo toàn bởi xuyến của hệ đó”. Về mặt triết học, Xuyến tức là những thứ có tính chất tuần hoàn, và tuần hoàn dẫn tới ổn định. Bản thân cuộc sống để mà tồn tại cần có sự tuần hoàn và ổn định đó. Xuyến như là một thứ “trời định” luôn gắn với tôi từ thưở nhỏ, nên tôi phải theo đuổi nghiên cứu nó, và khi lập ra một công ty về trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI), thì một cách tư nhiên tôi cũng gọi nó là “công ty Xuyến” (Torus AI).  Các nhà khoa học lý thuyết ít ai giàu có về mặt vật chất, nhưng nếu áp dụng được các kiến thức khoa học vào công nghệ và cuộc sống, thì có thể làm giàu một cách chính đáng. Đó cũng là một con đường khá hấp dẫn cho những người yêu khoa học. Và khi các công ty công nghệ chia sẻ lợi nhuận của mình qua việc đầu tư vào các trường đại học và các viện nghiên cứu công, thì đó cũng là một cách rất tốt giúp toàn bộ nền khoa học phát triển. Bản thân công ty Torus của tôi tuy còn nhỏ nhưng cũng luôn dành những khoản hỗ trợ cho các nhà toán học và tạo học bổng cho các sinh viên xuất sắc. □  —  * Tác giả tạm dịch.          Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Con đường nào cho phát triển công nghệ cao ở Việt Nam?      Các mô hình, kinh nghiệm phát triển công nghệ cao (CNC) đã được gần 20 diễn giả đến từ các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ đề cập tại một cuộc hội thảo quốc tế diễn ra trong hai ngày 29 và 30.9 vừa qua tại Hà Nội.    Với chủ đề “Chính sách phát triển công nghệ cao: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, hội thảo nhắm tới mục đích tìm hiểu con đường phát triển CNC ở các nước khác nhau trên thế giới để áp dụng vào thực tế ở Việt Nam.  Tuy nhiên, vấn đề được bàn thảo khá nhiều tại hội thảo là nên định nghĩa thế nào là CNC trong điều kiện hiện nay của Việt Nam và Nhà nước nhìn nhận thế nào, có vai trò ra sao và sẽ làm gì để thúc đẩy phát triển CNC ở nước ta. Cuộc hội thảo diễn ra trong hoàn cảnh các nhà hoạch định chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam đang soạn thảo các văn bản liên quan nhằm phát triển CNC ở Việt Nam. Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (NISTPAS) cùng với Unesco và Unido là các đơn vị đồng tổ chức hội thảo này.  Anh: CNC tại Việt Nam vẫn loay hoay để tìm một hướng đi thích hợp (ảnh Quốc Tuấn)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường sinh tổng hợp chất chống ung thư vinblastine từ cây dừa cạn      Nhóm nghiên cứu hóa sinh của TS. Sarah E. O’Connor** tại Trung tâm John Innes (Anh) vừa xác định được hai enzyme quan trọng, hoàn tất quá trình tìm kiếm các bước sinh tổng hợp chất chống ung thư vinblastine ở cây dừa cạn. Nghiên cứu này vừa được công bố trên tạp chí Science ngày 3/5/2018, mở ra tương lai sản xuất dược chất quý này trên quy mô lớn bằng công nghệ sinh học.      Hình 1: Cây dừa cạn (Catharanthus roseus) trồng trong phòng thí nghiệm của TS. Sarah E. O’Connor tại Trung tâm John Innes.   Dược tính của cây dừa cạn  Cây dừa cạn (tên khoa học là Catharanthus roseus, tên tiếng Anh là “Madagascar periwinkle”) có nguồn gốc từ châu Phi, nay phổ biến ở khắp thế giới trong đó có Việt Nam. Đây là loài thực vật nhỏ thuộc họ Apocynaceae, có hoa trắng hoặc hồng khá đẹp, thường được trồng làm cảnh (hình 1). Từ lâu, cây dừa cạn là vị thuốc dân gian được người dân các nước châu Phi và châu Á dùng để chữa trị nhiều loại bệnh tật trong đó có tiểu đường. Thậm chí đến đầu thế kỷ XX, khi tác dụng chữa tiểu đường rất tốt của insulin đã được biết đến thì nhiều người vẫn hy vọng có thể nghiên cứu cây dừa cạn để tìm ra thuốc chữa tiểu đường bổ sung cho insulin.  Dược tính chữa ung thư của cây dừa cạn được phát hiện khá tình cờ. Trong thập niên 1950, các nhà nghiên cứu tại Đại học Tây Ontario (UWO, Canada) và Công ty Eli Lilly (Mỹ) bắt tay vào thử nghiệm khả năng chữa tiểu đường của nước chiết cây dừa cạn trên chuột. Họ phát hiện ra rằng dừa cạn tuy không có hiệu quả làm giảm đường rõ rệt nhưng lại làm giảm mạnh số lượng bạch cầu trong máu. Từ những kết quả ban đầu này, TS. Robert Noble tại Đại học Tây Ontario cho rằng cây dừa cạn có những chất có tiềm năng chữa ung thư, đặc biệt là bệnh máu trắng mà biểu hiện đặc trưng là số lượng bạch cầu rất cao. Đại học Tây Ontario và Công ty Eli Lilly đã hợp tác xác định và thương mại hóa thành công hai hợp chất chống ung thư có cấu trúc gần giống nhau là vinblastine và vincristine từ cây dừa cạn (hình 2). Hai hợp chất này sau đó được Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) duyệt cho sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư như ung thư bạch cầu nguyên bào tủy cấp tính (vincristine), hay ung thư tinh hoàn, ung thư buồng trứng, và ung thư phổi (vinblastine)2.    Hình 2: Giản đồ con đường sinh tổng hợp vinblastine và vincristine từ những tiền chất đơn giản. Enzyme được xác định trong bài báo trên ‘Science’ ngày 3 tháng 5 năm 2018 được biểu hiện bằng màu nhạt.   Vinblastine và dẫn xuất của nó là vincristine có cấu trúc lập thể rất phức tạp (hình) với phân tử lượng khá lớn (hơn 800 Da), bao gồm cả gốc alkaloid (cấu trúc vòng có nitrogen) và gốc terpenoid (cấu trúc bội số của các đơn phân tương đương isoprene). Việc tổng hợp hoàn toàn các hợp chất này bằng hóa học là bất khả thi. Người ta phải phân lập từ khoảng 500 kg lá khô của cây dừa cạn mới thu được 1 g vinblastine hoặc tiền chất vindoline và catharanthine của nó3. Do đó, giá thành của hai loại thuốc này là khá cao, và câu hỏi bằng cách nào cây dừa cạn có thể tạo ra vinblastine đã trở thành một đề tài nghiên cứu quan trọng trong suốt 60 năm qua.  Nghiên cứu cây dừa cạn để tạo hợp chất chống ung thư  Tiền chất terpenoid ban đầu trải qua 31 phản ứng hóa học, trong đó có kết hợp với tryptophan (một loại acid amine), trong cây dừa cạn mới hình thành nên vinblastine (hình 2).  Nhóm nghiên cứu của TS. O’Connor đã nghiên cứu sinh tổng hợp vinblastine và vincristine ở cây dừa cạn từ hơn 10 năm nay, kể từ khi bà còn làm việc tại Học viện công nghệ Massachusetts (Mỹ). Bằng nhiều kỹ thuật sinh học phân tử, hóa tổng hợp, phân tích tập hợp bộ gene (genomics), tập hợp bộ RNA thông tin (transcriptomics), tập hợp bộ protein (proteomics) trong đó có các enzyme, và tập hợp bộ các hợp chất biến dưỡng (metabolomics), nhóm của bà đã xác định được nhiều enzyme tham gia vào sinh tổng hợp các hợp chất này.  Không chỉ nhóm của TS. O’Connor, những người nghiên cứu sinh hóa các hợp chất tự nhiên nói chung có thể khoanh vùng và xác định những gene nào chịu trách nhiệm cho những bước sinh tổng hợp nào bằng cách liên hệ sự biến đổi mức biểu hiện gene với nồng độ các hợp chất tự nhiên tại những thời điểm và vị trí khác nhau trong thực vật 4,5. Chức năng của các gene này (và các enzyme do chúng mã hóa) sẽ được chứng minh bằng thử nghiệm hoạt tính trong ống nghiệm (in vitro) kết hợp với trong tế bào (in vivo). Ngoài ra, chức năng của chúng cũng có thể được xác định ngay trong cây (in planta) bằng cách can thiệp gây ức chế hay tăng mức độ biểu hiện gene rồi quan sát sự tăng giảm tương ứng trong hàm lượng các hợp chất có liên quan.    Nhóm nghiên cứu của TS. Sarah E. O’Connor, hiện nay có 3 người Việt Nam, đều tham gia một phần vào công trình nghiên cứu sinh tổng hợp vinblastine.   Nguyên tắc thì đơn giản như vậy nhưng công việc trong thực tế gặp rất nhiều thử thách. Cây dừa cạn có khoảng 30.000 gene, nhưng con đường sinh tổng hợp vinblastine chỉ có 31 bước. Việc biểu hiện gene thực vật ở các loại tế bào khác nhau (để thử nghiệm hoạt tính) cũng cần rất nhiều công sức tối ưu hóa và không phải lúc nào cũng thành công. Với các nhà  nghiên cứu, thách thức lớn nhất mà cũng là thú vị nhất có lẽ là quan sát biến đổi hóa học của các hợp chất trung gian mà suy luận ra loại phản ứng để từ đó tìm ra loại enzyme tương ứng.  Với sự nhẫn nại và kiến thức sinh học lẫn hóa học kết hợp, nhiều nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới, trong đó có nhóm của TS. O’Connor, đã xác định được phần lớn các bước sinh tổng hợp vinblastine. Công bố trên Science vừa qua do TS. Lorenzo Caputi thuộc nhóm của TS. O’Connor đứng tên đầu chính là công trình xác định các bước quan trọng còn lại, tạo ra hai tiền chất quan trọng của vinblastine là tabersonine và catharanthine (hình 2). Vị trí xảy ra các phản ứng hóa học này trong cây dừa cạn cũng được nhóm nghiên cứu của TS. Vincent Courdavault tại Đại học Tours (Pháp) phối hợp xác định trong bài báo này1.    Thúc đẩy ứng dụng vinblastine  Cũng như các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học khác, việc xác định được toàn bộ con đường sinh tổng hợp vinblastine sẽ mở ra tương lai ứng dụng hợp chất này vào sản xuất dược phẩm trên quy mô lớn.  Nhiều dược phẩm hữu ích đã ra đời như thế, ví dụ nổi bật nhất có lẽ là artemisinin (thanh hao tố), hợp chất chữa sốt rét từ cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua) đem lại giải Nobel Sinh y cho bà Đồ U U năm 2015. Từ việc xác định được các enzyme tham gia sinh tổng hợp artemisinin, các nhà khoa học tại Đại học California, Berkeley (Mỹ) đã tạo ra chủng nấm men sản xuất tiền chất của artemisinin với số lượng lớn, trong thời gian ngắn, dưới điều kiện hoàn toàn kiểm soát được thay vì chỉ dựa vào chiết xuất từ cây thuốc6. Tương lai của việc sản xuất vinblastine bằng công nghệ sinh học có thể còn có ý nghĩa to lớn hơn (và đương nhiên đi kèm với nhiều thách thức hơn) do cấu trúc của vinblastine (C46H58N4O9) phức tạp hơn artemisinin (C15H22O5) rất nhiều.      Với các nhà nghiên cứu, thách thức lớn nhất mà cũng là thú vị nhất có lẽ là quan sát biến đổi hóa học của các hợp chất trung gian mà suy luận ra loại phản ứng để từ đó tìm ra loại enzyme tương ứng.        TS. Sarah O’Connor dự đoán, chủng nấm men tạo ra vinblastine hay ít nhất là các tiền chất vindoline và catharanthine sẽ được cho ra đời chỉ trong một vài năm tới. Không chỉ những sản phẩm giống hệt như tự nhiên, các gene tham gia vào sinh tổng hợp vinblastine còn có thể được sử dụng để tạo ra những hợp chất gần giống nhưng có hoạt tính còn mạnh hơn, ví dụ như có gắn thêm các nhóm halogen. Không chỉ dẫn đến vinblastine, những chất trung gian trong con đường sinh tổng hợp này còn là tiền chất cho nhiều hợp chất quan trọng như ibogaine (điều trị dứt cơn nghiện thuốc như heroin) ở cây Tabernanthe iboga, hay vincamine (thuốc làm giãn mạch máu) ở cây Vinca minor (dừa cạn nhỏ).  Nghiên cứu sinh tổng hợp các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cũng sẽ góp phần trả lời những câu hỏi khoa học cơ bản về vai trò (như trong phòng vệ) của những hợp chất này đối với bản thân thực vật. Cách thức tự nhiên tạo ra những hợp chất phức tạp như vinblastine cũng là những hình mẫu để những người nghiên cứu hóa học tổng hợp tham khảo.  Việt Nam cũng là một trong số những nước sử dụng thảo dược phổ biến và có nguồn cây thuốc rất dồi dào trong tự nhiên. Bài học từ nghiên cứu cây dừa cạn (và trước đó là nghiên cứu cây thanh hao hoa vàng, thuốc phiện và nhiều cây thuốc khác trên khắp thế giới) trong hơn nửa thế kỷ qua cho thấy thảo dược cần được nghiên cứu bài bản. Những nghiên cứu này bao gồm xác định dược tính chính xác (không chỉ dựa hoàn toàn vào cách dùng truyền thống), từ đó xác định rõ hợp chất giúp cây có dược tính và con đường sinh tổng hợp các hợp chất đó. Với sự phát triển ngày càng nhanh của những công nghệ hỗ trợ như giải trình tự bộ gene, ứng dụng sinh tin học trong phân tích các bộ dữ liệu “omics” khổng lồ (genomics, transcriptomics, metabolomics, v.v…), cùng các phương tiện phân tích hóa học với mức độ nhạy và tự động ngày càng cao, lĩnh vực nghiên cứu sinh tổng hợp các hợp chất tự nhiên hiện đang phát triển nhanh và cạnh tranh hơn bao giờ hết.  ——–  *  TS. Nguyễn Trịnh Đôn, nghiên cứu viên thuộc nhóm của TS. Sarah E. O’Connor tại Trung tâm John Innes.  ** Sarah E. O’Connor là trưởng nhóm nghiên cứu tại Trung tâm John Innes, đồng thời là giáo sư danh dự của Đại học Đông Anglia (UEA) ở thành phố Norwich, Anh. Trước khi đến Anh, bà là phó giáo sư tại Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) ở Mỹ.     Chú thích  1 Công bố mới nhất từ nhóm nghiên cứu của TS. Sarah E. O’Connor hoàn tất quá trình xác định các bước sinh tổng hợp vinblastine: “Những enzyme còn chưa xác định trong sinh tổng hợp thuốc chống ung thư vinblastine ở cây dừa cạn”, tạp chí ‘Science’, công bố bản trực tuyến ngày 3 tháng 5 năm 2018. http://science.sciencemag.org/content/early/2018/05/02/science.aat4100  2 Quá trình xác định dược tính của cây dừa cạn: “Sự tình cờ và khám phá ra hoạt tính chống ung bứu của các alkaloid từ cây Vinca” (“Vinca” là tên cũ của Catharanthus), tạp chí ‘Pharmacy in History’ (Dược học trong lịch sử), năm 2002. https://www.jstor.org/stable/41112116?seq=1#page_scan_tab_contents  3 “Alkaloid từ Catharanthus: dược liệu học và công nghệ sinh học”, tạp chí ‘Current Medicinal Chemistry’ (Hóa dược hiện đại), năm 2004. http://www.eurekaselect.com/62340/article  4 Một trong những nghiên cứu quan trọng trước đó từ nhóm của TS. Sarah E. O’Connor về con đường sinh tổng hợp vinblastine ở cây dừa cạn: “Con đường tạo terpene vòng bằng phản ứng khử tạo vòng trong sinh tổng hợp iridoid”, tạp chí ‘Nature’, năm 2012. https://www.nature.com/articles/nature11692  5 “Xúc tác sinh học ở thực vật tạo alkaloid”, tạp chí ‘Current Opinion in Chemical Biology’ (Quan điểm hiện đại trong sinh hóa), năm 2016. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1367593115001520  6 “Phương pháp và những bước phát triển gần đây trong sản xuất quy mô thương mại artemisinin bán tổng hợp”, tạp chí ‘Frontiers in Plant Science’ (Tiên phong trong khoa học thực vật).https://www.frontiersin.org/articles/10.3389/fpls.2018.00087/full       Author                Nguyễn Trịnh Đôn*        
__label__tiasang Con gà hay quả trứng có trước?      Sự sống đã bắt đầu với RNA- chứ không phải với DNA, kịch bản này về nguồn gốc sự sống dường như đã được chứng minh. Các nhà hóa học Đại học Manchester đã thành công trong việc tổng hợp một trong các thành phần của RNA [1], kết quả này góp phần củng cố giả thuyết RNA-đầu tiên (RNA-first).                        Nhập đề  Có thể nói hiện nay chưa có một mô hình chuẩn nào về nguồn gốc sự sống trong vũ trụ nói chung và trên Trái đất nói riêng. Song người ta thường dừng lại ở hai phạm trù mô hình chính: Quá trình Chuyển hóa- đầu tiên (Metabolism-first) & RNA – đầu tiên (RNA-first)[2].  Điều gì đã xuất hiện trước trong những năm đầu đời của Trái đất, DNA cần thiết cho việc tổng hợp các protein[3] hay các protein  cần thiết cho quá trình nhân bản (replication) của DNA? Câu hỏi này có thể biến thành câu hỏi rất bình thường nhưng mang một nghịch lý  hàm ẩn một ý nghĩa khoa học rất lớn:  Con gà (protein) có trước hay quả trứng (DNA) có trước?  Mathew Powner, Beatrice Gerland & John Sutherland (Đại học Manchester) đã đưa ra câu trả lời vào tháng 5/2009: không phải quả trứng có trước mà cũng không phải con gà có trước!  Những thí nghiệm của các tác giả này đã củng cố một giả thuyết tồn tại đã 40 năm nay: sự sống đã bắt đầu bởi sự hình thành RNA, một phân tử cũng có khả năng mang thông tin về gene. Nhóm hóa học hữu cơ tại Đại học Manchester đã chứng minh rằng một số thành phần base của RNA có thể được tổng hợp không cần đến protein, đây là điều mà nhiều nhà hóa học đã có ý đồ làm từ lâu.     DNA(acid  deoxyribonucleic) & RNA (acid ribonucleic)  Các phân tử di truyền như DNA và RNA là các đa phân tử (polymer-dãy của nhiều phân tử nhỏ hơn) được cấu tạo bằng những blốc thành phần gọi là nucleotide (Hình 1). Còn các nucleotide có ba thành phần khác nhau: đường, phosphat và một          Hình 1 . Mô hình phân tử DNA          nucleobase. Các nucleobase có bốn loại  và tạo thành vần chữ cái (alphabet, Hình 2) nhờ đó các đa phân tử lập được mã thông tin. Trong DNA các nucleobase có thể là A (phân tử adenine), G (phân tử guanine), C (phân tử cytosine) và T (phân tử thymine), trong RNA chữ cái T được thay bằng U (phân tử uracine). Các nucleobase là các hợp chất giàu nitrogen mà liên kết với nhau theo một quy luật đơn giản: A liên kết với U (hoặc T), G với C. Mỗi cặp base làm thành một nấc thang của hai sợi xoắn DNA. Và sự kết cặp đặc thù riêng biệt là quan trọng để sao chép trung thành thông tin. Các phân tử phosphate và đường làm thành xương sống của mỗi sợi DNA hoặc RNA. DNA có cấu trúc sợi kép xoắn, quan trọng là RNA khác với DNA có thể ở dạng sợi đơn.            Hình 2 . Vần chữ cái A, G, C, T (U) để mã hóa thông tin        Hình 3. Sơ đồ đơn giản hóa của quá trình tổng hợp protein          Các tế bào hiện tại chế tạo protein bằng cách sao chép các gene từ DNA sang RNA và sử dụng RNA như những bản thiết kế (blueprint) để chế tạo protein. (Hình 3)     Thế giới RNA  Giả thuyết sự sống bắt đầu với RNA đã được đưa ra bởi Carl Woese (Đại học Illinois) năm 1965 và sau đó ba năm bởi Leslie Orgel (Viện nghiên cứu sinh học California) và Francis Crick (đồng tác giả mô hình DNA). Theo các tác giả này thì RNA có trước DNA trong các giai đoạn đầu của sự sống, 3,8 tỷ năm về trước.  Trong thế giới RNA (tên gọi do Walter Gilbert, Đại học Harvard, đặt ra năm 1986), nước tồn tại dưới dạng lỏng ngưng tụ trong các ao hồ và bốc hơi vào một bầu khí quyển chứa N và dioxyde carbon. Những tia cực tím lúc bấy giờ có khả năng đi xuyên thẳng xuống mặt đất mang đến năng lượng cần thiết cho các phản ứng hóa học. Như vậy các nguyên tố và các điều kiện đã có đầy đủ cho RNA nhân bản (replicate) và tiến hóa nhờ những lỗi trong quá trình chuyển mã (transcription). Những công đoạn này trong hiện tại đang lặp lại bởi DNA.  Năm 1982 Thomas Cech (Đại học Colorado) & Sydney Altman (Đại học Yale) đã có một phát hiện quan trọng: ribozyme (cấu tạo bằng RNA) là một chất xúc tác của nhiều phản ứng hóa học. Nhờ phát hiện này hai tác giả trên nhận giải Nobel năm 1989.  Các ribozyme [4], đóng một vai trò bản lề trong các tế bào hiện tại. Những cấu trúc mà RNA dịch mã sang protein là những bộ máy lai (hybrid) RNA-protein (Hình 3 ) và chính RNA trong bộ máy đó đóng vai trò xúc tác (catalytic). Như vậy mỗi tế bào của chúng ta mang trong các ribosome[5] sự hiển nhiên “hóa thạch” của thế giới RNA nguyên thủy.  Như vậy RNA không những mang thông tin mà còn có khả năng tổng hợp protein và tự nhân bản (replicate). Vậy RNA có khả năng tự sinh lớn.     Những phép tổng hợp không thực hiện được  Ý tưởng xem RNA là thành phần quan trọng của thế giới sống nguyên thủy gặp phải một khó khăn: các thành phần của RNA không tổng hợp được trong phòng thí nghiệm nếu không có… RNA.  Vì các nucleotide khó lòng được tổng hợp trực tiếp, tập thể  các nhà sinh học Mathew Powner, Beatrice Gerland & John Sutherland (Đại học Manchester) đã đề ra một tiếp cận sáng tạo: trước hết chế tạo một  một phân tử ½ đường ½ base rồi sử dụng những tiền-nucleotide này để cuối cùng có được nucleotide  (Hình 4).              Hình 4 . Sơ đồ tổng hợp một nucleotide qua các tiền-nucleotide. Muốn tổng hợp ribonucleotide, cấu tạo bởi một base chứa nitrogen (biểu diễn bằng hình tròn), một đường-sugar (biểu diễn bằng hình ngũ giác) & một nhóm phosphate (biểu diễn bằng hình vuông) trong phòng thí nghiệm:                  A / người ta không thể tổng hợp trực tiếp base và đường,                 B/ người ta chỉ tổng hợp được qua một dạng trung gian ½ base ½ đường.                Tập thể các nhà sinh học nói trên đã thành công trong việc tổng hợp một thành phần (trong số 4 thành phần) là nucleotide với base là cytosine. Cách đây 3,8 tỷ năm không tồn tại oxygen trong bầu khí quyển, vậy không có sự hình thành tầng ôzôn, các tia tử ngoại có thể đến mặt đất không bị trở ngại. Nhóm các nhà sinh học Manchester đã bằng cách sử dụng tia tử ngoại để biến ribonucleotide với base cytosine thành ribonucleotide với base uracile. Như vậy chúng minh được rằng ở thời nguyên thủy sự xuất hiện 2 thành phần đó của ribonucleotide là khả dĩ. Jack Szostak,  giải Nobel về Sinh-Y năm 2009, cho rằng đây là một kết quả rực rỡ của hóa học tiền sinh (prebiotique-trước khi có sự sống).  Song muốn củng cố giả thuyết RNA-đầu tiên (RNA-first), cần xét đến hai thành phần còn lại của ribonucleotide (với base là adenine & guanine). Beatrice Gerland nhận xét rằng không giống trường hợp cytosine & uracile, với base adenine & guanine sự tổng hợp với đường ribose [6] có thể thực hiện trực tiếp song tiếc thay với một hiệu suất quá thấp cho nên nhóm Manchester lại trở về cách tiếp cận tổng hợp qua các tiền nucleotide (Hình 4). Nếu thành công nhóm sẽ dự định đa phân tử hóa (polymerisation) bốn nucleotide để thu được một sợi RNA hoàn chỉnh.     Kết luận   Câu hỏi Con gà (protein) có trước hay quả trứng (DNA) có trước? dường như đã có được một phần câu trả lời đưa ra bởi nhóm các nhà sinh học Mathew Powner, Beatrice Gerland & John Sutherland (Đại học Manchester) song một phần câu trả lời đó cũng đã là quan trọng rồi về nguyên tắc như Jack Szostak (Nobel Sinh-Y 2009) khẳng định. Sự sống có thể bắt đầu với RNA .     Tài liệu tham khảo và chú thích  [1]  Jacques-Olivier Baruch, La vie a commencé avec l’ARN, La Recherche, tháng 1/2010        (2]  Jack W.Szostak (Nobel Sinh-Y 2009) & Alonso Ricardo: The Origin of Life on Earth, Scientific American, sè th¸ng 09/2009        [3]   Protein = polymer các amino acid, protein đảm đương nhiều nhiệm vụ trong tế bào sống. Dạng thức (form), sự điều chỉnh (regulation) và sự sinh sản (reproduction) của sinh thể… đều do protein thực hiện. Protein được tổng hợp tại những ribosome.        [4]  Ribozyme= RNA có tính năng xúc tác        [5]  Ribosome có sơ đồ cấu trúc: protein+RNA, có dạng hạt đường kính 300 Angstrom.       [6]  Ribose=C5H10O5,  đường thành phần trong cấu trúc của RNA (còn deoxyribose là đường thành phần trong cấu trúc DNA).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơn giận dữ được báo trước      Hiện tượng El Nino, bắt đầu từ năm 2006, vừa chấm dứt thì gần như lập tức, “chị em song sinh” của nó là La Nina đã xuất hiện. Có thể nói 4 đợt lũ lụt kéo dài liên tiếp trong gần hai tháng nay ở miền Trung là tồi tệ nhất trong vòng gần 10 năm trở lại đây. Điều đáng nói là sự kiện thiên tai này đã được cảnh báo từ rất sớm, nhưng thiệt hại về người và của vẫn cứ xảy ra,và cho đến thời điểm này các tỉnh miền Trung đã gần như kiệt quệ khi mà những tháng mưa dầm vẫn còn dằng dặc phía trước.    Ngay trong tháng 2.2007, khi mà mùi vị khô hạn của El Nino vẫn còn lảng vảng trên những triền núi lở lói dọc đường Trường Sơn, Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng khí hậu (thuộc Viện Khí tượng Thuỷ văn) đã thông báo về một trạng thái thời tiết đang có dấu hiệu chuyển biến rất nhanh, như là một hiện tượng hiếm có. Thông thường hai hiện tượng thời tiết trái ngược nhau thường cách nhau 5 đến 6 tháng, có khi 1 năm, thậm chí là nhiều năm. Mỗi đợt La Nina thường kéo dài từ mùa thu của năm này đến mùa hè năm sau. Khi La Nina xảy ra sẽ gia tăng bão và áp thấp nhiệt đới (gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới) trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương và dẫn đến mưa lớn kéo dài. Ở VN nếu có La Nina, khu vực phải hứng chịu thiệt hại nhiều nhất sự tàn phá của thiên tai là dải Trung Bộ (từ Nghệ An đến Bình Thuận), vì hoạt động xoáy thuận nhiệt đới sẽ gia tăng vào khu vực này. Trên thực tế, vẫn có những năm VN không xuất hiện La Nina, thậm chí có năm xuất hiện El Nino hoặc hiện tượng trung gian nhưng vẫn đủ gây ra mưa lụt. Tuy nhiên mưa lụt liên tiếp đến bốn, năm đợt như thế này thì quá nhiều. Sự thật là thiên nhiên đang đòi nợ chúng ta.            Lụt trong phố cổ Hội An        Giữa tháng 3.2007, các chuyên gia Cơ quan Khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ (NOAA) đã thông báo mới phát hiện thấy nhiệt độ nước biển lạnh hơn mức bình thường tại khu vực Thái Bình Dương xích đạo, dấu hiệu điển hình của La Nina. Xin được nhắc lại là La Nina thường xuất hiện khi nhiệt độ nước biển thấp hơn nhiệt độ chuẩn (khoảng 25 độ C) từ 0,5 độ C trở đi. Nếu nhiệt độ mặt nước biển chỉ thấp hơn nhiệt độ chuẩn trong phạm vi 0– 0,5 độ C thì đó là trạng thái trung gian. Ngược lai, nếu nhiệt độ mặt nước biển cao hơn nhiệt độ chuẩn thì đó là hiện tượng El Nino. Thông thường sau một chu kỳ El Nino là đến chu kỳ trung gian hoặc La Nina. Cộng với những thay đổi trong áp suất khí quyển và gió, La Nina có thể ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu. Ở thời điểm đó NOAA khẳng định chưa thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của La Nina, cho nên đã đưa ra một nhận định chỉ đúng được 50%: hiện tượng thời tiết này sẽ gây nhiều bão tố trên Đại Tây Dương nhưng lại làm giảm nguy cơ bão ở Thái Bình Dương. Thực tế là Thái Bình Dương đã dậy sóng suốt từ cuối tháng 9 cho đến nay.  Cuối tháng 10.2007 khu vực Trung Mỹ đã hứng chịu hậu quả của bão lũ, mà cụ thể là bão nhiệt đới Noel. Số người chết trong cơn bão này lên đến 36 người tại hai nước Dominica và Haiti. Trong khi cơn bão này trên đường đến thăm Cuba thì những trận mưa lớn liên tục đổ xuống khu vực đảo Hispaniola, kéo theo ngập lụt và lũ bùn khiến gần 12 nghìn người phải rời bỏ nhà cửa, trong khi 3 nghìn căn nhà bị nước lũ nuốt gọn. 36 thành phố ở khu vực bị bão tràn qua đã hoàn toàn bị nước sông tràn bờ cô lập và vô số cầu cống bị cuốn theo dòng nước hung hãn.  Đối với bang Tabasco của Mexico, đây là trận lũ lụt tồi tệ nhất trong 50 năm qua.  Nhà chức trách Mexico đã phải mở một chiến dịch giải cứu quy mô lớn nhất từ trước đến nay sau khi mưa lớn gây ngập lụt làm hàng ngàn người bị mắc kẹt. Mưa lớn bắt đầu vào cuối tháng 10.2007 khiến nhiều con sông bị tràn bờ. Villahermosa, thủ phủ bang, cùng nhiều thành phố, thị trấn khác biến thành những hồ nước khổng lồ, chỉ còn lại các mái nhà và ngọn cây lấp ló trên mặt nước. Có đến 700 nghìn người bị ảnh hưởng do lũ lụt, và gần một nửa trong số đó đang bị mắc kẹt trong nhà.  Có một điểm chung dễ nhận ra tại những nơi thường xuyên chịu thiệt hại nặng nề từ thiên tai, đó là những địa bàn thuộc phạm vi các quốc gia nếu không phải nghèo đói thì cũng chỉ trong giai đoạn mới phát triển, nghĩa là ở những nơi mà thiên nhiên lẫn môi trường đang phải chịu những thử thách lớn do tài nguyên đất đai bị khai thác vượt giới hạn chịu đựng.                   Miền Trung nước ta cũng ở trong tình trạng đó, những năm gần đây những trận lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh ven biển với mật độ ngày càng dày đặc. Đặc biệt là hai cơn lũ lụt liên tiếp từ đầu tháng 11 đến đầu tháng 12.1999 đã làm gần 750 người thiệt mạng và tổn thất tài sản và mùa màng lên đến 300 triệu USD. Bão lụt cũng đã làm thiệt mạng gần 450 nguời năm 1998 và 400 người năm 1996. Ngoài ra, lũ lụt cũng đã gây nên những thiệt hại to tát về nhà cửa, mùa màng, cầu cống và đường xá, làm cho một khu vực vốn đã nghèo lại càng nghèo hơn. Ở thời điểm này hầu như tất cả các tỉnh thuộc khu vực Bắc miền Trung đều đã lên tiếng kêu gọi Chính phủ có kế hoạch cứu trợ khẩn cấp.  Bờ biển miền Trung dài 1200 km với dãy Trường Sơn chạy suốt theo bờ biển, nên đồng bằng ở miền Trung rất hạn hẹp. Có nhiều sông tương đối lớn như sông Gianh ở Quảng Bình, sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông Hương ở Huế, sông Thu Bồn ở Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi. Sông suối nhiều nhưng chiều dài các sông đa số ngắn và có độ dốc lớn. Lưu vực các sông thường là đồi núi nên nước mưa đổ xuống rất nhanh. Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc thoát lũ cho vùng đồng bằng. Nói tóm lại nguyên nhân chính của lũ lụt ở miền Trung là những trận mưa lớn ở thượng nguồn và vùng đồng bằng, còn các nguyên nhân khác như nạn phá rừng thì lại làm cho mức độ lũ lụt thêm trầm trọng. Ảnh hưởng của nạn phá rừng đối với lũ lụt đã và đang được tranh luận trên khắp thế giới. Theo Cơ quan Nông Lương của Liên Hiêp Quốc (FAO), mức độ phá rừng xảy ra ở châu Á đã tăng từ 9,5% trong thập niên 1960 đến 11% trong thập niên 1980. Cũng như nhiều nơi khác trong nước, rừng ở các tỉnh miền Trung đang bị tàn phá nghiêm trọng. Hiện nay diện tích rừng tự nhiên ở khu vực này chỉ còn khoảng 40% so với 20 năm trước. Điều đáng buồn là chiến tranh, bom đạn đã không đầu độc môi trường nhiều hơn những gì mà con người đã gây ra trong hơn 30 năm xây dựng đất nước. Nạn phá rừng, việc khai thác cát sỏi và việc quy hoạch hệ thống đê đập bất hợp lý là những gì đang diễn ra ở miền Trung liên tục trong nhiều thập kỷ qua, khiến cho sự tàn phá của thiên tai ngày càng trởnên tồi tệ hơn. Và điều đáng buồn hơn nữa là việc huỷ hoại thiên nhiên luôn luôn được thực hiện với những “chiến dịch” kéo dài, liên tục và mang tính huỷ diệt vì được đẩy đến tận cùng.  Vào những năm 1980, suốt một dãi thuộc sườn đông rặng Trường Sơn từ bắc Quảng Ngãi ra tận Quảng Bình, những cánh rừng gỗ kiền kiền (dù chỉ thuộc gỗ nhóm 3 nhưng đây lại là một loại lâm đặc sản chỉ có ở rừng miền Trung) rộng hàng trăm héc ta đã bị tiêu diệt bởi những hoạt động khai thác mà phần lớn là trái phép được ngụy tạo dưới nhãn mác những lâm trường không trồng cây gây rừng mà chuyên về khai thác, chế biến gỗ. Nên nhớ rằng ở thời điểm đó tiềm lực và khả năng cơ giới của lực lượng lâm tặc là rất hạn chế, thị trường mua bán gỗ kiền kiền hầu như công khai thông qua các cơ sở kinh doanh thuộc các lâm trường. Với sự tiếp tay của chính quyền các địa phương, khối lượng gỗ khai thác có thể nói là rất lớn chỉ trong vòng mười năm ngắn ngủi. Những năm 1990, mặc dù đã có lệnh đóng cửa rừng của Chính phủ nhưng tình hình không hề giảm. Lần này không còn kiền kiền nữa mà sang một loại gỗ còn hiếm hơn bởi thời gian sinh trưởng chậm hơn, đó là các loại gỗ chò chỉ và chò đá. Quốc lộ 14 B hằng ngày rầm rập những đoàn xe chở gỗ lậu khai thác từ sườn tây rừng phòng hộ đầu nguồn và khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa, thuộc địa bàn các huyện Đông Giang và Nam Giang của tỉnh Quảng Nam và sườn nam vườn quốc gia Bạch Mã của Thừa Thiên Huế. Mức độ nghiêm trọng trong câu chuyện của gỗ chò là sự hình thành hẳn những đường dây vận chuyển gỗ chò sơ chế ra các tỉnh phía bắc để bán sang Trung Quốc. Với một thị trường tiêu thụ được đánh giá là có nhu cầu gần như vô tận như thế, cho đến những năm đầu thế kỷ 21 gỗ chò đã trở nên quý hiếm gần như trầm hương ngay trên vùng đất đã sinh ra nó. Hiện nay những câu chuyện tương tự như thế đang lập lại với gỗ trắc và gỗ sưa. Thậm chí để thoả mãn nhu cầu của thị trường xuất khẩu, người ta đã vào cả vườn quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc) để săn lùng gỗ trắc. Nghĩa là không phải khai thác rừng bừa bãi nữa mà người ta có hẳn những chiến dịch tiêu diệt một số loài thực vật đặc trưng của rừng bản địa, bất chấp vị trí cần thiết của nó trong quan hệ môi sinh, an toàn sinh thái. Trong khi đó thì chương trình trọng điểm quốc gia trồng mới 5 triệu héc ta rừng, mà địa bàn thực hiện chủ yếu ở miền Trung, cho đến nay đã chính thức được công nhận là đã phá sản.  Chúng ta đối xử với thiên nhiên như thế thì chuyện lũ lụt tàn phá ở miền Trung hiện nay là tất yếu, không thể khác được. Kể cả khi có được cảnh báo sớm hơn nữa vẫn thế, không có cách gì tránh được cơn giận dữ, trả đũa của thiên nhiên.  ————      Hải Văn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Còn lãng phí do thiếu chia sẻ      GS.TS Nguyễn Thanh Thủy – Giám đốc Trung tâm Tính toán hiệu năng cao – ĐH Bách khoa Hà Nội nói về&#160; những bất cập, lãng phí trong ngành tính toán hiệu năng cao ở Việt Nam, một ngành khoa học mới mẻ, có sự tương tác giữa khoa học máy&#160; tính, mô hình vật lý và toán học; và đề xuất những mẫu hình phù hợp để từng bước khắc phục tình trạng này.    Dưới đây là cuộc trao đổi của Tia Sáng với GS.TS Nguyễn Thanh Thủy về sự phát triển của tính toán hiệu năng cao tại Việt Nam.  Hệ thống tính toán hiệu năng cao của VN đang ở trong tình trạng thiếu các chương trình ứng dụng chạy trên đó. Điều này có đúng không, thưa GS?  Điều này đúng nhưng  “tình trạng thiếu” được nên hiểu rộng hơn theo hai góc độ:  – Thiếu các trung tâm tính toán hiệu năng cao “đa dụng” và thiếu các hệ thống tính toán hiệu năng cao “chuyên dụng” đáp ứng yêu cầu xử lý cấp thiết trong cơ quan, tổ chức và những lĩnh vực có nhu cầu cao. Hiện nay, số lượng các hệ thống loại này còn ít so với yêu cầu thực tế.  – Tuy đã có một vài trung tâm tính toán hiệu năng cao “đa dụng”, một số hệ thống tính toán hiệu năng cao “chuyên dụng” trong một số cơ quan, chuyên môn, nhưng thiếu ứng dụng được sử dụng trong thực tế và có quy mô lớn chạy trên đó. Độ tải ứng dụng của các hệ thống ở mức thấp.                      Ví dụ về mô phỏng vụ nổ của siêu sao, hoạt động của tim, protein trên siêu máy tính        Một quan sát dễ nhận thấy là ở Việt Nam một số lĩnh vực, ngành, vốn có tiềm năng và có nhu cầu xử lý dung lượng dữ liệu rất lớn và cực lớn, trước kia đã từng có các trung tâm tính toán mạnh, nay không còn hoặc thu nhỏ lại chỉ còn một bộ phận  phục vụ, hỗ trợ quy mô nhỏ, xử lý tính toán phục vụ mục đích tác nghiệp, mang tính ngắn hạn. Trong khi đó, một số doanh nghiệp, cơ quan có điều kiện trang bị các hệ thống mạnh, nhưng độ tải ứng dụng rất thấp. Đây thực sự là một bất cập, lãng phí, do không có sự chia sẻ tài nguyên hiệu quả.   Đâu là lý do của hiện tượng này?   Theo tôi, có thể là do một trong các nguyên nhân sau. Thứ nhất, hệ thống được trang bị, nhưng cấu hình không đủ mạnh để thực hiện các ứng dụng giải các bài toán thực (lý do khách quan về mặt kỹ thuật, đôi lúc là lý do chủ quan về mặt đầu tư ban đầu). Thứ hai, hệ thống tương đối hoặc tạm đủ mạnh, nhưng ứng dụng chạy trên hệ thống chỉ là các thử nghiệm, chỉ là mô hình thu nhỏ của bài toán thực do chưa xác định rõ ràng lớp bài toán có khả năng giải quyết hiệu quả trên hệ thống tính toán hiệu năng cao hoặc chưa gắn kết được một cách hiệu quả đội ngũ chuyên môn theo mô hình liên ngành 3 nhà: nhà chuyên môn-nhà tin học- nhà toán học ứng dụng song hành với quá trình trang bị hệ thống (lý do chủ quan về mặt tổ chức nhân lực). Và thứ ba, hệ thống đủ mạnh, đội ngũ chuyên môn liên ngành được chuẩn bị, song thúc ép triển khai ứng dụng từ thực tế và đầu tư để phát triển ứng dụng chưa tạo ra động lực thật sự (lý do chủ quan về mặt đầu tư chiều sâu, dài hạn, thường xuyên).  Tình hình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng tính toán hiệu năng cao của Trung tâm tính toán hiệu năng cao (Trường ĐHBKHN) như thế nào?  Hệ thống tính toán hiệu năng cao tại Trung tâm tính toán hiệu năng cao (Trường ĐHBKHN) được nghiên cứu thiết kế và xây dựng bắt đầu từ năm 2000 và ngày càng được trang bị “mạnh” hơn.  Dựa trên các gói phần mềm và thư viện mã nguồn mở, chúng tôi đã xây dựng hệ thống phần mềm nền tính toán hiệu năng cao BKluster (năm 2004), hệ thống đã được cài đặt chuyển giao thử nghiệm cho Khoa An toàn thông tin (Học viện Mật mã) và Trung tâm TTHNC (Trường ĐHKHTN- ĐHQGHN). Các ứng dụng điển hình đã được thử nghiệm bao gồm: Mô phỏng vật liệu vi mô (kết hợp với Bộ môn Vật lý Tin học-Trường ĐHBKHN), tính toán đường chạy dao nhằm tạo các bề mặt phức tạp phục vụ tạo mẫu nhanh cho các máy công cụ CNC (kết hợp với Khoa Cơ khí-Trường ĐHBKHN).  Dựa trên các gói phần mềm và thư viện mã nguồn mở GT3.0, chúng tôi đã xây dựng hệ thống phần mềm nền tính toán lưới BKGrid (năm 2005) thử nghiệm cho bài toán dự báo thời tiết số trị theo mô hình MM5, bài toán thiết kế công thức thuốc (docking).  Năm 2008 bắt đầu thử nghiệm hệ thống GPU-BKluster bó cụm các nút tính toán, mỗi nút gồm một vài máy tính với CPU đa lõi được trang bị thêm GPU đa lõi đạt hiệu năng lý thuyết 7 TeraFLOPS. Hiện tại hệ thống đang được sử dụng giải quyết mô hình hoá và mô phỏng bài toán động học phân tử, mô hình hoá và mô phỏng vật liệu nano (kết hợp với Bộ môn Vật lý Tin học-Trường ĐHBKHN), dự báo thời tiết số trị theo mô hình WRF.         Sự ra đời của siêu máy tính CRAY vào những năm 1970 đánh dấu sự ra đời của một ngành khoa học mới có sự tương tác giữa khóa học máy  tính, mô hình vật lý và toán học: mô phỏng số nhờ tính toán hiệu năng cao. Mô phỏng các thay đổi của thời tiết, hoạt động của não bộ, các phương pháp chữa bệnh, phản ứng hạt nhân, thăm dò dầu khí… là những ví dụ cho thấy vai trò của tính toán hiệu năng cao đối với nghiên cứu và công nghiệp.         Hệ thống tính toán tình nguyện VCP (năm 2008) dựa trên nền BOINC hiện đang được thử nghiệm giải quyết các bài toán khuếch tán nguyên tử có dung lượng dữ liệu lớn với sự tham gia của các nhà chuyên môn vật lý tính toán (thuộc Bộ môn Vật lý Tin học-Trường ĐHBKHN).  Theo GS, làm thế nào có thể thúc đẩy sự phát triển của tính toán hiệu năng cao ở Việt Nam?  Quan sát các quốc gia có nền công nghệ, công nghiệp và khoa học phát triển có thể thấy tại các trung tâm khoa học công nghệ lớn đều có các hệ thống tính toán mạnh, đi cùng với hạ tầng truyền thông kết nối, tạo lập nền tảng hạ tầng kỹ thuật cơ sở phục vụ triển khai các hoạt động chuyên môn trong một tổ chức ảo e-Science.  Việc thiết lập các trung tâm tính toán mạnh tại các đầu mối, kết nối với nhau trong một nền tảng truyền thông chuyên dụng, như VINAREN, STNet cùng với các dịch vụ chia sẻ tài nguyên là một giải pháp phù hợp với điều kiện ở Việt Nam.  Chúng ta có thể thúc đẩy phát triển khoa học tính toán hơn nữa bằng cách đặt hàng các dự án ứng dụng mang tầm quốc gia có tính chất đa ngành, liên ngành nhằm giải quyết các bài toán có tầm cỡ như bài toán giải mã gene người, bài toán tính toán biến đổi khí hậu, bài toán dự báo chiến lược kinh tế xã hội… Dự án giải mã bộ gene người đang được Bộ KH&CN hỗ trợ nghiên cứu tiền khả thi có tính đến việc thiết kế và xây dựng một hệ thống TTHNC sẽ là một mẫu hình triển khai khoa học tính toán ứng dụng, điểm nhấn quan trọng trong việc kết hợp đa ngành: Công nghệ gene- Công nghệ tính toán-Tin học-Toán học ứng dụng.   Bên cạnh đó, việc hình thành các chương trình đào tạo chuyên sâu, sau đại học về khoa học tính toán sẽ góp phần tạo dựng đội ngũ chuyên môn. Các định hướng đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, Ngành có ưu tiên cho các vấn đề có liên quan đến khoa học tính toán với thời gian thực hiện trung hạn cũng sẽ giúp các trung tâm tính toán hiệu năng có cơ sở đào tạo thêm nhân lực và nâng cấp trang thiết bị.   Ngọc Tú thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người biết dùng lửa khi nào?      Nhóm nghiên cứu quốc tế đã tiến hành xét nghiệm than củi từ một nền lò sưởi tại khu vực khảo cổ Pedra Furada (thuộc công viên quốc gia Serra da Capivara, Brazil).    Họ sử dụng kỹ thuật được cho là tiên tiến hơn phương pháp xác định thời gian bằng carbon phóng xạ và phát hiện những con người đầu tiên biết dùng lửa để sưởi ấm trong những hang đá ít nhất 56.000 năm trước đây. Kết quả này xem ra đã sớm hơn 40.000 năm so với quan niệm thống nhất về thời điểm con người đặt chân tới châu Mỹ từ trước tới nay.  Khu vực Pedra Furada vốn có nhiều hang đá – nơi trú ngụ của người tiền sử, chứa rất nhiều giá trị khảo cổ về những dấu tích của con người. Các nhà khoa học vẫn băn khoăn rằng những bếp lửa đó có phải là tác phẩm của con người hay chỉ đơn giản là dấu tích tự tạo của thiên nhiên. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy bếp lửa đó được tạo nên một cách độc lập với những hòn đá được tìm thấy bên ngoài trong cùng tầng địa chất, vì vậy có thể loại bỏ khả năng những hòn đá được nung nóng bởi lửa tự nhiên.                NG.SINH (Theo ABC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người có họ hàng với nhím biển      Các nhà khoa học đã giải mã bộ gene của nhím biển và nhận thấy những sinh vật thân mềm không chi, không não này lại giống con người một cách kinh ngạc.    Họ tìm thấy bộ gene của loài nhím biển màu tím ở California có 23.300 gene. Trong đó có 7.077 gene tương tự với loài người.  Mối liên quan di truyền này mật thiết hơn rất nhiều so với những gì các nhà khoa học dự đoán và biến loài nhím biển thành anh em họ gần gũi với con người hơn cả ruồi giấm.  “Không ai lại nghĩ rằng loài nhím biển có một bộ gene rất phát triển về năng lực hình ảnh”, Gary Wessel, giáo sư sinh học tại Đại học Brown nói.  Một điều ngạc nhiên khác từ dự án là các nhà nghiên cứu tìm thấy nhím biển có hệ miễn dịch bẩm sinh phức tạp nhất trong bất cứ loài vật nào được tìm hiểu tới nay. Đó có thể là lý do vì sao chúng sống tới hơn 100 tuổi.  Nhím biển cũng mang những gene liên quan tới bệnh tật của con người như sự loạn dưỡng cơ và Huntington. Điều này sẽ mở ra hướng đi về nghiên cứu bệnh tật của người trên sinh vật này. Chúng cũng có những gene liên quan tới vị giác, khứu giác, thính giác và sự cân bằng.  M.T.  (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người có thể đọc và làm toán trong tình trạng vô thức      Liệu ta có thật sự đọc được câu chữ và giải những bài toán gồm nhiều bước giải mà tâm trí không cần ý thức về chúng?     Một nhóm nhà khoa học thuộc bộ môn Tâm lí học của trường Đại học Hebrew đã tiến hành một loạt các thí nghiệm đưa ra câu trả lời khẳng định: con người có thể đọc chữ và làm toán trong tình trạng vô thức.  Những kết quả này được coi là thách thức cho các lí thuyết hiện có về các quá trình xử lí não bộ ở vô thức vốn cho rằng việc đọc và giải toán – hai ví dụ căn bản cho những hoạt động phức tạp, dựa trên qui luật – đều cần có ý thức.  Các nhà khoa học của trường Đại học Hebrew đã đưa ra bản báo cáo cùng kết luận cho cuộc nghiên cứu này trên Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (PNAS) (Kỉ yếu của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ) được công bố trên mạng vào ngày 12/11/2012. Nhóm nghiên cứu, với người đứng đầu là tiến sĩ Ran Hassin, bao gồm các sinh viên đã tốt nghiệp là Asael Sklar, Ariel Goldstein, Nir Levy và Roi Mandel, cùng với tiến sĩ Anat Maril.  Để [não người] được tiếp cận các câu chữ và phương trình toán trong vô thức, các nhà nghiên cứu đã dùng một kĩ thuật tối tân nhất là phương pháp CFS (Continuous Flash Suppression). Bằng phương pháp CFS này, một mắt của người tham gia thí nghiệm được tiếp xúc với chuỗi hình ảnh thay đổi liên tục, trong khi mắt còn lại thì được cho tiếp xúc đồng thời với một hình ảnh bất biến. Những thay đổi liên tục ở một bên mắt sẽ chi phối ý thức để cho hình ảnh hiện ra ở mắt bên kia không được người ta nhận ra trong ý thức. Bằng cách dùng kĩ thuật này, các nhà nghiên cứu cho hơn 270 sinh viên trường Đại học Hebrew tiếp xúc với các câu chữ và các bài toán số học.  Trong một chuỗi các thí nghiệm sử dụng kĩ thuật này, những người tham gia thí nghiệm được yêu cầu đọc lên các con số xuất hiện trên màn hình máy tính. Những con số này hiện ra sau khi người ta cho hiện các phương trình số học trong vô thức. Kết quả thí nghiệm chứng tỏ người tham gia thí nghiệm có thể đọc con số hiện ra trong ý thức nhanh hơn nếu con số đó là kết quả của phương trình mà người đó từng thấy trong vô thức. Ví dụ, nếu cho hiện ra 9-5-1 trong tình trạng vô thức, thì người tham gia thí nghiệm sẽ đọc lên con số 3 nhanh hơn là đọc con số 4, mặc dù họ không nhận biết được là mình từng thấy phương trình toán đó.  Trong một chuỗi thí nghiệm khác được báo cáo trong bài viết đăng trên PNAS, người tham gia thí nghiệm được cho tiếp xúc trong tình trạng vô thức với một số câu chữ ngắn gọn và những câu chữ này cứ hiện ra trên màn hình cho đến khi người đó có thể nói là họ đã thấy câu chữ này. (Cùng lúc đó mắt bên kia được cho tiếp xúc với những hình ảnh nhấp nháy liên tục). Kết quả chứng tỏ là những câu chữ mang nghĩa tiêu cực (chẳng hạn như “hành vi buôn bán bất hợp pháp của con người”) hoặc những cụm từ lạ thường (chẳng hạn như “cái băng ghế ăn con ngựa vằn”) sẽ được nhận biết trong ý thức người xem trước những câu chữ mang nghĩa tích cực hơn (chẳng hạn như “cái áo được ủi” hoặc những cụm từ thông thường dễ hiểu như “con sư tử ăn con ngựa vằn”). Điều này cho thấy ngay cả trong vô thức con người ta vẫn dễ “để ý” những điều tiêu cực và bất thường.  Các nhà nghiên cứu cho biết, “các kết quả này chứng tỏ con người có thể thực hiện trong vô thức những hoạt động phức tạp, dựa trên qui luật, đi ngược lại với các mô hình hiện có về ý thức và vô thức”.    “Vì vậy”, TS. Hassin nói, “các lí thuyết hiện hành về quá trình xử lí vô thức và ý thức con người cần phải được xem lại. Những điều chỉnh này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với lời giải cho một trong những bí ẩn khoa học lớn nhất của thế kỉ 21: Chức năng của ý thức con người là gì”.   Đoàn Khương Duy dịch từ Science Daily  http://www.sciencedaily.com/releases/2012/11/121114083930.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người có trí nhớ phi thường      Nếu trí nhớ của chúng ta thực sự được số hóa, nó sẽ là một phiên bản đĩa mềm cải tiến chứ không chỉ là năng lực trong chốc lát.     Một nghiên cứu mới của Mỹ tìm thấy não có thể nhớ được nhiều thứ hơn nhiều so với chúng ta tưởng. Trong một thí nghiệm, 14 người tình nguyện tuổi từ 18 đến 40 xem gần 3.000 bức tranh đồ vật trong hơn 5 tiếng, phân biệt ảnh của các vật thể giống nhau như những chiếc điều khiển từ xa, các tờ đôla và các ổ bánh mỳ. Rút cục họ có thể nhớ đến từng chi tiết một cách đáng kinh ngạc về hầu hết các đồ vật đó. Mặc dù các công trình trước kia chưa bao giờ đo đạc được khả năng nhớ phi thường như vậy, nhưng nó có thể đơn giản chỉ là chưa ai thực sự cố gắng.  Về cơ bản, chúng ta có thể ghi nhớ hầu hết mọi thứ được thả vào đầu mình, nếu có đủ chú ý và cố gắng ghi nhớ nó trong lần đầu tiên.   T. An (LiveScience)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người đã sống ở Tây Tạng cách đây ít nhất 7.400 năm      Bằng chứng về khảo cổ học và gene mới đây chỉ ra rằng con người đã sinh sống ở Tây Tạng từ thời tiền nông nghiệp.      Con người xuất hiện ở cao nguyên Tây Tạng sớm hơn gần 4.000 năm so với suy nghĩ trước đây  Những nhóm thợ săn quả cảm có thể đã sống quanh năm ở cao nguyên Tây Tạng giá lạnh, khắc nghiệt và thiếu ô xy cách nay ít nhất 7.400 năm – tức là sớm hơn gần 4.000 năm so với suy nghĩ trước đây của các nhà khoa học.  Kết luận nói trên được đưa ra bởi nhóm nhà khảo cổ học, những người đã khảo sát lại những dấu chân và dấu tay cổ xưa tại một địa điểm trên cao nguyên Tây Tạng, có thể giúp làm sáng tỏ lý do và cách thức con người di cư đến đây. Kết luận này cũng phù hợp với những nghiên cứu về gene vốn cho thấy người Tây Tạng bắt đầu có những điều chỉnh về mặt sinh lý học để thích nghi với những mức giảm nồng độ ô xi khí quyển vào cùng khoảng thời gian đó. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, bằng chứng đưa ra còn quá ít ỏi để khẳng định việc con người đã sống quanh năm trên cao nguyên Tây Tạng từ sớm như vậy.  Ở độ cao trung bình 4.500 m so với mặt biển, nồng độ ô xi trong không khí của Tây Tạng chỉ bằng khoảng một nửa so với cao độ 0. Mark Aldenderfer, nhà khảo cổ học tại trường ĐH California, Merced, đồng tác giả của nghiên cứu được công bố hồi đầu tháng Một năm nay trên tạp chí Science, cho rằng, “đây là phép thử cốt tử đối với khả năng sống sót và thích nghi của con người trong môi trường vô cùng khắc nghiệt”.  Các nhà khoa học vẫn nghĩ, con người bắt đầu sinh sống trên cao nguyên Tây Tạng quanh năm, cả vào mùa hè và mùa đông buốt giá, chỉ khoảng từ 3.600 năm trước, khi đã xuất hiện giống lúa mạch chịu được sương giá cũng như nhiệt độ thấp và những người sống bằng nghề trồng trọt di cư ồ ạt lên vùng cao. Đây là thông tin từ công bố của Fahu Chen và Guanghui Dong (ĐH Lan Châu, Trung Quốc) trên Science năm 2014.    Một trong những dấu tay mà các nhà nghiên cứu lấy được tại Chusan, được xác định có độ tuổi từ 7.400 đến 12.700 năm trước.  Nhưng Aldenderfer và các đồng nghiệp của ông cho rằng những nhóm người sống bằng nghề săn bắt đã sống trên cao nguyên Tây Tạng từ lâu trước khi nghề trồng trọt chiếm lĩnh. Bằng chứng của nhóm nghiên cứu xuất phát từ khu vực khảo cổ Chusang, phía tây bắc Lhasa, ở độ cao hơn 4.000 m so với mặt biển. Aldenderfer giải thích, những phiến đá – từng có thời là bùn nhão, nằm gần một suối nước nóng ở đó – đã in dấu chân và dấu tay của ít nhất sáu người, trong đó có cả trẻ em. Những công cụ bằng đá thời tiền sử cũng được tìm thấy ở gần đó và phấn hoa vùi trong các dấu chân dấu tay đã gợi dẫn đến những đồng cỏ xanh tốt, nơi sinh sống của nhiều loài thú hoang – nguồn thức ăn cho bất cứ người di cư nào.  Với việc sử dụng ba phương pháp xác định niên đại, nhóm nghiên cứu do Aldenderfer và Michael Meyer, nhà địa chất học tại ĐH Innsbruck, Áo, dẫn dắt, đã phát hiện các trầm tích quanh đó có niên đại từ 7.400 đến 12.700 năm. (Một nghiên cứu trước đó xác định tuổi của các trầm tích này là 20.000 năm nhưng nó sử dụng một kỹ thuật có xu hướng ước tính niên đại cao lên, theo Meyer).  Aldenderfer cho biết, chắc chắn con người đã đến Chusang không chỉ vào mùa hè. Chusang tứ bề xa cách những vùng đất thấp có thể cư trú được. Để đến đây và quay về từ một điểm hạ trại ở vùng đất thấp hơn phải mất ít nhất một tháng vượt qua những đỉnh núi thường là không thể vượt qua được; một hành trình khác hợp lý hơn thì cũng kéo dài đến hơn hai tháng cả đi lẫn về, nghiên cứu thực địa của nhóm cho thấy. Những hành trình này xa hơn nhiều so với hành trình thông thường của những nhóm người du cư, Aldenderfer nói, chứng tỏ những người để lại dấu chân dấu tay đã sống ở đây quanh năm.  Những thích nghi kiểu gien  Kết quả của nghiên cứu nói trên cũng phù hợp với những nghiên cứu về gene. Năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã hoàn thành việc giải trình tự hệ gene của người Tây Tạng, cho thấy vốn gene của người Tây Tạng hiện đại đã được định hình cách nay khoảng 15.000 đến 9.000 năm. Dựa trên bằng chứng này, Shuhua Xu, nhà di truyền học quần thể tại Viện Các ngành khoa học sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc, tác giả chính của nghiên cứu về gien nói trên, cho rằng, hàng ngàn người có thể đã di cư đến cao nguyên Tây Tạng trong quãng thời gian này.  Những nghiên cứu khác cũng cho thấy, từ khoảng 12.800 đến 8.000 năm trước, người Tây Tạng bắt đầu có những biến đổi về gene giúp họ thích nghi với nồng độ ô xy trong máu thấp. Xu nói: “Để có sự biến đổi cần thiết này, con người phải định cư, và quan trọng hơn, phải sinh con đẻ cái trên cao nguyên Tây Tạng”.  Khoảng 8.000 đến 7.000 năm trước, cao nguyên Tây Tạng cũng từng trải qua một thời kỳ khí hậu ấm áp và ẩm ướt, Guanghui Dong, nhà khảo cổ học tại ĐH Lan Châu, chỉ ra trong một nghiên cứu năm 2014 về đề  tài những người sống bằng nghề trồng trọt đã tỏa ra khắp cao nguyên này kể từ đó như thế nào. Có khả năng khí hậu ấm áp và ẩm ướt đã làm cho cao nguyên trở nên trù phú, thu hút con người chuyển đến sống ở những vùng đất cao. Trong khi đó, sự gia tăng cạnh tranh các nguồn tài nguyên ở những vùng đất thấp cũng có thể đã góp phần đẩy những nhóm người sống bằng nghề săn bắt chuyển đến sống ở  những vùng đất cằn cỗi, khắc nghiệt.  “Thật thú vị được thấy cuối cùng Chusang cũng  có vài ước tính về niên đại thuyết phục,” Jeffrey Brantingham, nhà nhân học chuyên nghiên cứu về các cư dân cao nguyên tại trường ĐH California, Los Angeles, nói. Nhưng theo ông, nghiên cứu mới vẫn chưa chứng minh được việc con người sống quanh năm ở cao nguyên Tây Tạng. Những dấu vết của lỗ chôn cọc lều hay những suy luận về việc con người sống ở đây vào giữa mùa đông từ xương động vật còn lại, mới là bằng chứng trực tiếp hơn, ông nói.  “Nếu con người sống ổn định trên cao nguyên này từ sớm như vậy thì có thể chỉ là sự tồn tại bên lề của một nhóm người nhỏ,” Guanghui Dong bổ sung. “Một lượng lớn cư dân thì không thể sống sót trên cao nguyên này cả năm trời nếu không có trồng trọt”, ông nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://http://www.nature.com/news/hunters-lived-on-tibetan-plateau-thousands-of-years-earlier-than-thought-1.21255    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người đang đẩy một triệu loài đến bờ vực tuyệt chủng      Một báo cáo toàn diện về tình trạng của hệ sinh thái toàn cầu do Liên Hợp Quốc tài trợ công bố vào ngày 6/5/2019 cho thấy, hoạt động nông nghiệp là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với các hệ sinh thái trên Trái đất.      Báo cáo về tình trạng hệ sinh thái toàn cầu cho thấy hoạt động của con người và biến đổi khí hậu đã làm thay đổi nhiều môi trường sống, chẳng hạn như những rặng san hô. Ảnh: The Ocean Agency/XL Catlin SEaview Survey  Hội đồng mang tên “Nền tảng chính sách khoa học liên chính phủ về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái” (IPBES) thực hiện báo cáo, trong đó chỉ ra có tới một triệu loài thực vật và động vật phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vì hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ qua. Hiện tỷ lệ tuyệt chủng của chúng đã cao gấp hàng chục đến hàng trăm lần so với mức trung bình trong suốt mười triệu năm qua. Nếu không có những hành động quyết liệt để bảo tồn môi trường sống của các loài động thực vật, thì tỷ lệ tuyệt chủng này sẽ tiếp tục tăng lên.   Hội đồng IPBES đã phân tích các kết quả của gần 15.000 nghiên cứu và báo cáo của chính phủ, kết hợp thông tin từ các ngành khoa học tự nhiên và xã hội, cư dân bản địa và cộng đồng nông nghiệp truyền thống. Đây được xem là đánh giá quốc tế quan trọng đầu tiên về đa dạng sinh học kể từ năm 2005. Đại diện của 132 chính phủ đã họp vào tuần trước tại Paris để hoàn thiện và phê duyệt kết quả phân tích.  Theo báo cáo của IPBES (sẽ được phát hành đầy đủ vào cuối năm nay), khoảng 75% đất đai và 66% diện tích đại dương đã bị thay đổi đáng kể bởi con người, phần lớn là do sản xuất lương thực. Các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi hiện đang sử dụng hơn 33% diện tích đất bề mặt và 75% tài nguyên nước ngọt.  Các hoạt động nông nghiệp cũng là một trong những nguồn lớn nhất gây ra phát thải khí nhà kính, chúng chiếm khoảng 25% tổng lượng phát thải bởi việc sử dụng phân bón và chuyển đổi các khu vực như rừng nhiệt đới để trồng trọt hoặc chăn nuôi gia súc. Theo phân tích của IPBES, các mối đe dọa nông nghiệp đối với các hệ sinh thái sẽ chỉ tăng lên khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng.  Những mối đe dọa lớn nhất tiếp theo đối với thiên nhiên đến từ việc khai thác các loài động thực vật bao gồm thu hái, săn bắt và đánh bắt thủy sản; vấn đề ô nhiễm và sự lây lan của các loài xâm lấn. Báo cáo của IPBES cho thấy mật độ trung bình của các loài thực vật, động vật và côn trùng bản địa đã giảm ít nhất 20% trong hầu hết các hệ sinh thái quan trọng kể từ năm 1900 bởi các loài xâm lấn.   Báo cáo rút ra mối liên hệ chặt chẽ giữa mất đa dạng sinh học với biến đổi khí hậu. Ước tính 5% tất cả các loài có nguy cơ tuyệt chủng khi Trái đất nóng lên trên mức tiền công nghiệp khoảng 2°C – một ngưỡng mà thế giới có thể chạm đến trong vài thập kỷ tới. Trái đất có thể mất 16% các loài nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng hơn 4,3°C. Những thiệt hại như vậy đối với các hệ sinh thái sẽ làm suy yếu các nỗ lực giảm đói nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững trên thế giới.   Theo báo cáo, thế giới có thể đảo ngược cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học này nhưng sẽ cần các chính sách môi trường chủ động, hoạt động sản xuất thực phẩm và các tài nguyên khác theo hướng bền vững, đồng thời cần một nỗ lực phối hợp để giảm phát thải khí nhà kính.  Peter Bridgewater, một nhà sinh thái học tại Đại học Canberra nói rằng mặc dù báo cáo của IPBES là cơ sở vững chắc về mặt khoa học, nhưng có lẽ hội đồng cần nghiên cứu nhiều hơn nữa để đưa ra các giải pháp thiết thực cho chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng.  Bất chấp những thiếu sót đó, báo cáo của IPBES sẽ giúp thiết lập chương trình nghị sự khi các chính phủ đàm phán về những mục tiêu bảo tồn mới trong thập kỷ tới tại Công ước Liên Hợp Quốc về đa dạng sinh học vào năm 2020, ông Brooks nhận xét. “Sau đó, chúng ta phải thực thi chúng trên tất cả các lĩnh vực của xã hội. Đó là lúc chúng ta sẽ thấy sự thay đổi.”□  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01448-4       Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người: hạt bụi của vũ trụ…      Nh&#224; vật l&#253; thi&#234;n văn Trịnh Xu&#226;n Thuận, gi&#225;o sư tại trường Đại học Virginia, Mỹ, đồng thời l&#224; gi&#225;o sư thỉnh giảng của Đại học Paris 7, Đ&#224;i thi&#234;n văn Paris (khoa Vật l&#253; thi&#234;n văn Saclay), v&#224; Viện Vật l&#253; thi&#234;n văn Paris thuộc Trung t&#226;m nghi&#234;n cứu khoa học quốc gia Ph&#225;p đ&#227; trả lời phỏng vấn Asia Magazine về mối quan hệ giữa con người v&#224; vũ trụ trong quan niệm của phương Đ&#244;ng v&#224; phương T&#226;y.  Tạp ch&#237; Tia S&#225;ng xin lược dẫn lại một phần của cuộc phỏng vấn n&#224;y.    Các khoản đầu tư cho nghiên cứu vũ trụ rất lớn. Vậy, đâu là những ích lợi?   Đúng là để xây dựng kính viễn vọng và đưa đài quan sát lên quỹ đạo phải đầu tư rất nhiều tiền của. Để xây dựng một kính viễn vọng có trang bị một gương thu ánh sáng đường kính10m, cần phải chi tới hơn một trăm ngàn USD. Để đưa Hubble lên không gian, NASA đã tiêu tốn bảy tỷ USD! Nghiên cứu thiên văn không đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp. Đó là sự kiếm tìm nguồn gốc của chúng ta, nguồn gốc của vũ trụ, các thiên hà, ngôi sao, hành tinh, cuộc sống và ý thức. Từ lâu nay, con người luôn tự đặt cho bản thân những câu hỏi mang tính triết lý căn bản về sự tồn tại và nguồn gốc của mình. Vật lý thiên văn ngày nay giúp chúng ta trả lời một vài câu hỏi đó: đâu là nguồn gốc những yếu tố cấu thành con người, tại sao chúng ta là hạt bụi của những vì sao? Cơ chế của Big Bang như thế nào? Tại sao sự mở rộng của vũ trụ đang được đẩy nhanh? Cuộc kiếm tìm siêu hình và khoa học này đưa chúng ta vượt ra khỏi cấp độ loài vật đơn thuần. Điều đó có nghĩa, nghiên cứu cơ bản tất yếu kéo theo những phát minh công nghệ. Nhờ Newton phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, con người có thể bay được trên những chiếc máy bay và tàu không gian. Nhờ Maxwell phát hiện ra các định luật điện từ, chúng ta được hưởng thụ nhiều tiện nghi hiện đại như đèn điện, điện thoại, ti vi, dàn nhạc. Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại, nhà vật lý thiên văn không nghĩ đến các ứng dụng công nghệ để nghiên cứu. Họ làm điều đó để thỏa mãn trí tò mò và vì danh dự trí tuệ của con người.  Ông là người tán đồng nguyên lý nhân sinh. Nguyên lý đó là gì?   Nhân sinh tức là những gì liên quan đến con người. Thiên văn học hiện đại nhận thấy vũ trụ được sắp xếp theo những quy tắc cực kỳ nghiêm ngặt để chúng ta hiện diện ở đó. Để hiểu được điều này, cần biết rằng tất cả vũ trụ, tất cả những gì hiện hữu được xác định bằng mười lăm con số không thay đổi trong không gian và thời gian gọi là “hằng số vật lý”. Một ví dụ về hằng số vật lý là vận tốc ánh sáng, 300 000 km/s. Chỉ một tích tắc ánh sáng đã đi được bảy vòng quanh Trái đất! Chẳng có lý thuyết nào lý giải được tại sao ánh sáng lại di chuyển với vận tốc ấy chứ không phải một vận tốc nào khác, 3m/s chẳng hạn. Các ví dụ khác về hằng số vật lý là khối lượng proton, neutron và electron, những “viên gạch nền móng” của vật chất, hoặc hằng số Planck giúp xác định kích thước nguyên tử…Tất cả các hằng số vật lý này đã được định sẵn: chúng ta đo đạc giá trị của chúng một cách cẩn thận trong phòng thí nghiệm mà không cần một lý thuyết giải thích nào cả.   Ngoài các hằng số nói trên, còn có những điều kiện ban đầu: tỷ lệ mở rộng vũ trụ ban đầu, lượng khối đen (98% vật chất trong vũ trụ không phát ra bất cứ loại ánh sáng nào), hoặc năng lượng đen (cấu thành 74% thành phần vũ trụ và là nguyên nhân đẩy nhanh sự mở rộng của vũ trụ).   Các nhà vật lý thiên văn đã nhận ra sự điều chỉnh kì diệu giữa các hằng số vật lý và điều kiện ban đầu bằng cách nào? Tất nhiên, họ không tạo ra một vụ Big Bang thứ hai ở trong phòng thí nghiệm. Thế nhưng, máy tính điện tử cho phép họ tính toán được các mô hình vũ trụ: các nhà khoa học thay đổi một trong những hằng số vật lý và điều kiện ban đầu rồi sau đó xem thử các mô hình vũ trụ có chứa sự sống hay không. Trong đa phần các mô hình đó, các ngôi sao không hình thành. Không có các ngôi sao thì không có vật chất nặng (vì các chất này được tổng hợp thông qua các phản ứng hóa học hạt nhân diễn ra trong lòng các ngôi sao), không có cac-bon cấu thành cơ thể chúng ta, không có khí ni-tơ mà chúng ta hít thở, không có tất cả những yếu tố nền tảng cấu thành sự sống. Những điều ghi nhận được thật là kì diệu: đa phần các vũ trụ đều cằn cỗi, không có sự sống và ý thức trừ vũ trụ của chúng ta, nơi các hằng số vật lý và điều kiện ban đầu kết hợp thành công và chúng ta giống như những người trúng “xổ số độc đắc”.   Nguyên lý nhân sinh có hai phiên bản: mạnh và yếu. Phiên bản yếu cho rằng các tính chất của vũ trụ phải trùng khớp với sự hiện hữu của chúng ta, gần như một hằng đề. Phiên bản mạnh hấp dẫn hơn: nó quy định rằng mọi thứ đã được ấn định sẵn ngay từ đầu, ngay từ những giây đầu tiên của vụ nổ Big Bang để vũ trụ tồn tại sự sống và ý thức. Cách suy luận này áp dụng cho tất cả các dạng sống trong vũ trụ, cả trên Trái đất và ngoài Trái đất, vì tôi không nghĩ con người là dạng sống có trí tuệ duy nhất trong vũ trụ. Chúng ta chỉ là hạt cát trong đại dương vũ trụ mênh mông.      Các lý thuyết và khám phá mới đây gần với tư tưởng phương Đông: thuyết Big Bang và Big Crunch (vụ co lớn) gợi lại quan niệm truyền thống của người Trung Hoa về vũ trụ trên phương diện hoạt động theo chu kỳ và phụ thuộc lẫn nhau của hai yếu tố âm và dương. Khi dương đạt tới cực đỉnh thì nó biến đổi âm hoàn toàn. Đó có phải là sự biến dịch lớn được nêu trong cuốn Kinh dịch không?              Nguyên lý nhân sinh có hai phiên bản: mạnh và yếu. Phiên bản yếu cho rằng các tính chất của vũ trụ phải trùng khớp với sự hiện hữu của chúng ta, gần như một hằng đề. Phiên bản mạnh hấp dẫn hơn: nó quy định rằng mọi thứ đã được ấn định sẵn ngay từ đầu, ngay từ những giây đầu tiên của vụ nổ Big Bang để vũ trụ tồn tại sự sống và ý thức. Cách suy luận này áp dụng cho tất cả các dạng sống trong vũ trụ, cả trên Trái đất và ngoài Trái đất, vì tôi không nghĩ con người là dạng sống có trí tuệ duy nhất trong vũ trụ. Chúng ta chỉ là hạt cát trong đại dương vũ trụ mênh mông.           Quả thật, khái niệm thời gian theo chu kỳ thịnh hành trong tư tưởng phương Đông đối lập với khái niệm thời gian theo đường thẳng ở phương Tây. Ngoài khái niệm âm và dương theo chu kỳ của người Trung Hoa, cách nhìn nhận vũ trụ của người Hindu cũng tương đồng với một số khái niệm của vũ trụ luận hiện đại. Theo người Ấn Độ, mỗi chu kỳ của vũ trụ ứng với một nhịp thở của thần Brahma, vũ trụ giãn nở khi thần thở ra và co lại khi thần hít vào. Thuyết tương đối của Einstein nói rằng vũ trụ có nhiều mô hình, chẳng hạn mô hình mở rộng liên tục, thiếu hụt của Big Crunch. Số phận vũ trụ phụ thuộc vào cuộc chiến giữa hai nguồn lực: lực nổ ban đầu – vụ Big Bang – và lực hút trọng lực kìm hãm hoặc làm chậm sự mở rộng. Thế mà năm 1998, các nhà khoa học phát hiện rằng quá trình mở rộng của vũ trụ đang đẩy nhanh. Dường như một phản trọng lực, mà ta gọi là “năng lượng đen” do thiếu thông tin, đang đẩy nhanh quá trình đó. Tại thời điểm này, các quan sát thiên văn cho thấy vũ trụ sẽ không ngừng mở rộng và chỉ dừng lại sau một thời gian vô định: vũ trụ của chúng ta có lẽ là “một vũ trụ phẳng” với không gian thiếu vắng các đường cong. Nếu điều này đúng, vũ trụ có lẽ sẽ chẳng bao giờ sụp đổ để bước vào một chu kỳ mới. Như thế, điều này có lẽ trái với quan niệm chu kỳ vũ trụ của Phật giáo hay quan niệm âm-dương của người Trung Hoa. Tuy nhiên, các quan sát thiên văn thường khó khăn và câu trả lời vẫn chưa có gì chắc chắn.        Ý niệm chu kỳ luân hồi trong Phật giáo quy định tính liên tục của thời gian. Tuy nhiên, khi nói về sự hình thành của vũ trụ cách đây mười ba tỷ năm, có phải ông đã đặt ra nguyên lý sự khởi đầu vốn không tồn tại trong Phật giáo không?   Quả thật, ý niệm vũ trụ hình thành từ hư vô cách đây khoảng mười bốn tỷ năm cùng với sự khởi đầu của thời gian và không gian không phù hợp với quan niệm nền tảng của Phật giáo là “các hiện tượng phụ thuộc lẫn nhau” mà theo đó, “không cái gì” không thể trở thành “cái gì” bởi cái “không cái gì” không thể biến đổi mà không từ bỏ trạng thái hư không của nó. Có những lý thuyết vật lý nói rằng vụ nổ Big Bang chỉ là sự bắt đầu của một chu kỳ đặc biệt trong một chuỗi chu kỳ không có sự khởi đầu cũng chẳng có kết thúc của vô số vũ trụ. Tuy nhiên, tại thời điểm này, các quan sát thiên văn chưa cho phép kiểm nghiệm loại lý thuyết đó.   Một quan niệm Phật giáo khác đang là tâm điểm của khoa học hiện đại: sự vô thường…  Quả vậy, khái niệm vô thường thấm đẫm toàn bộ nền khoa học của thế kỷ 20. Từ trước đến giờ, mọi thứ không diễn ra như vậy. Sau thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, tư tưởng phương Tây mang đậm dấu ấn khái niệm bất biến của Aristote: bầu trời là lãnh địa của Chúa trời và sự hoàn hảo, do vậy, không gì có thể thay đổi. Ví dụ minh họa: vào năm 1054, một ngôi sao khổng lồ trên dải Ngân hà đã nổ tung tạo nên cảnh tượng sao băng. Vụ nổ lớn đến nỗi ta có thể quan sát bằng mắt thường lúc ban ngày và suốt nhiều ngày liền. Người Trung Quốc đã quan sát và ghi lại hiện tượng này trong khi đó ở phương Tây, không ai nhắc đến nó bởi họ tin tưởng tuyệt đối thuyết bất biến của Aristote. Người phương Tây sống vào thời Trung cổ tin Aristote hơn tin vào mắt mình! Các định kiến siêu hình thường tác động lên những gì con người nhìn thấy. Phải đợi cho đến khi thuyết Big Bang được chấp nhận năm 1965 thì ý niệm biến chuyển mới định hình trong vũ trụ luận. Ý niệm vũ trụ cũng có khởi đầu, hiện tại và tương lai giờ đã được chấp nhận.   Mọi thứ đều thay đổi, mọi sự đều vô thường. Không chỉ vũ trụ biến chuyển mà mọi thứ trong nó cũng biến chuyển. Các ngôi sao sinh ra, sống cuộc đời của mình rồi chết đi sau hàng nghìn, thậm chí hàng tỷ năm. Thế giới vi mô, thế giới của các hạt cũng vô thường: ta nghĩ chiếc bàn này bất động nhưng nếu như mắt chúng ta có thể nhìn thấy các nguyên tử, chúng ta sẽ thấy chúng chuyển động không ngừng. Xung quanh chúng ta, các hạt ảo liên tục xuất hiện và biến mất. Mọi thứ đều chuyển động. Chúng ta có cảm giác mình đang đứng yên, tuy nhiên, ngay chính tại thời điểm tôi đang nói chuyện này, Trái đất quay xung quanh Mặt trời với vận tốc 30 km/s, Mặt trời dẫn chúng ta đi với vận tốc 230 km/s trong dải Ngân hà. Dải Ngân hà quay quanh thiên hà Andromeda (thiên hà Tiên Nữ) với vận tốc khoảng 100 km/s. Thiên hà này lại quay quanh chòm sao Virgo (Thất Nữ), và cứ tiếp tục như thế. Vô thường hiện diện khắp nơi. Khái niệm này cũng xâm chiếm cả ngành sinh học: cùng với Darwin và thuyết nguồn gốc con người, sự sống trên Trái đất không ngừng tiến hóa kể từ khi tế bào nguyên sinh xuất hiện cách đây 3,8 tỷ năm…        Trong lần trò chuyện với Patrice van Eersel, có phải ông nói thành công hiện nay của nền khoa học phương Tây là nhờ chủ nghĩa độc thần, nhờ thần luận không?  Trung Quốc đã đi trước phương Tây trên phương diện phát minh kỹ thuật với thuốc nổ, la bàn. Tuy nhiên, khoa học đã không sinh ra ở đất nước này. Chính tại các quốc gia phương Tây, thuyết vạn vật hấp dẫn, thuyết tương đối đã ra đời. Tôi cho rằng cái này là do cách nhìn nhận vô thần của người Trung Hoa. Đã quan niệm chu kỳ biến đổi âm-dương là nguyên nhân sinh ra vạn vật thì cần gì phải đi tìm các định luật vật lý? Trái lại, ở phương Tây, quan niệm Thượng đế, đấng tạo hóa áp đặt mọi quy luật ngay từ đầu đã thắng thế. Nhằm ca ngợi đấng Thượng đế tạo hóa đó, các nhà khoa học như Kepler và Newton, những con người huyền thoại, đã lao vào tìm kiếm các định luật.  Phương pháp tìm tòi nghiên cứu cũng khác nhau. Phương Đông thiên về toàn thể trong khi phương Tây lại nhắm đến từng bộ phận. Chẳng hạn, y học phương Đông không điều trị chỉ một phần của cơ thể như y học phương Tây mà chữa trị cho cả cơ thể trong mối quan hệ tổng hòa của nó. Thuật châm cứu là một ví dụ. Tuy vậy, chính nhờ phương pháp bộ phận mà nền khoa học phương Tây phát triển: phương pháp này cho phép tách thực tế thành nhiều mảng và giải thích từng mảng một vì không thể nào giải thích toàn bộ một lần. Các cha đẻ của khoa học hiện đại như Newton và Einstein đã biết cách tách thực tế thành những hiện tượng đặc trưng để tiến lên. Đương nhiên, phương pháp bộ phận đơn thuần cũng có những mặt hạn chế. Chẳng hạn, chúng ta không thể hiểu được sự sống và ý thức chỉ từ những nghiên cứu về bụi của các ngôi sao và các hạt vô tri cơ bản. Tuy nhiên, phương pháp toàn thể cũng không thể loại trừ phương pháp bộ phận: chúng bổ sung lẫn nhau và cả hai đều giúp ta khám phá những bí ẩn của tự nhiên.   Như vậy, ở đây, ông nhìn thấy tính bổ sung. Một hiện tượng xuất hiện trên phương diện toàn cầu hóa kinh tế buộc chúng ta nhìn lại vấn đề một cách toàn thể đồng thời vẫn lưu ý những gì diễn ra ở từng bộ phận. Dù kinh tế hay triết học, nguyên lý này luôn hiện hữu…  Nguyên lý bổ sung còn hiện hữu trong cơ học lượng tử, một ngành vật lý vi mô. Ta biết rằng ánh sáng vừa là sóng, vừa là hạt. Lúc không quan sát, nó là sóng, nhưng khi kích hoạt thiết bị đo, nó trở thành hạt. Vậy, phải mô tả nó như thế nào? Nhà vật lý người Đan Mạch Niels Bohr đã lấy cảm hứng từ triết học phương Đông để phát biểu nguyên lý bổ sung của mình: vẻ ngoài của ánh sáng phụ thuộc hoàn cảnh và người quan sát. Ở đây, ta nhận thấy khái niệm phụ thuộc lẫn nhau của Phật giáo: ánh sáng không được định nghĩa một cách tuyệt đối mà chỉ được định nghĩa một cách tương đối so với người quan sát.  Thế có còn nguyên lý Phật giáo nào khác?  Đó là sự trống rỗng. Nó không phải hư không mà là thiếu vắng sự hiện hữu riêng biệt của sự vật. Do mọi thứ phụ thuộc lẫn nhau nên không có cái gì có thể tự định hình và tự tồn tại. Thêm một lần nữa, vật lý lượng tử lại mang đến cho chúng ta một ngôn ngữ tương đồng đến mức ngạc nhiên. Chúng ta không còn có thể coi nguyên tử hay electron là những thực thể có tính chất xác định như vận tốc hoặc vị trí. Chúng ta phải xem chúng như những yếu tố cấu thành một thế giới không phải là những sự vật, sự việc mà là những tiềm năng. Bản chất của vật chất và ánh sáng không còn tự nó sinh ra mà có thể biến đổi do tương tác giữa người quan sát và vật được quan sát.   Theo nguyên lý nhân sinh mạnh, vũ trụ được định ra cực kỳ chính xác để con người xuất hiện. Tuy nhiên, liệu hiện nay con người có nhìn nhận lại sự tồn tại của mình trước hiểm họa Trái đất nóng lên và ô nhiễm môi trường không? Có phải việc loài người bị hủy diệt sẽ là điều tất yếu không?   Tôi không nghĩ vậy. Tất cả tùy thuộc sự khôn ngoan, ý thức của con người rằng mình đang phá hủy hành tinh này, hành tinh duy nhất trong hệ Mặt trời có cá thể có trí tuệ sinh sống. Tại thời điểm này, chúng ta là dạng sống có trí tuệ được biết đến duy nhất trong vũ trụ. Nỗ lực dò tìm tín hiệu các nền văn minh ngoài Trái đất của các nhà thiên văn vô tuyến đến nay vẫn chưa thu được kết quả. Tuy nhiên, với con số một trăm tỷ thiên hà quan sát được trong vũ trụ, mỗi thiên hà gồm một trăm tỷ mặt trời, nếu mỗi mặt trời có khoảng mười hành tinh quay xung quanh nó thì xác suất con người là dạng sống có trí tuệ duy nhất cực kỳ thấp. Chắc hẳn, có tồn tại sự sống có trí tuệ ngoài Trái đất. Một nguyên lý ít mang “tính người” hơn “nguyên lý nhân sinh” có lẽ là “nguyên lý bổ sung” bởi vũ trụ không hướng về con người mà hướng về mọi dạng sống có trí tuệ, có khả năng cảm nhận vẻ đẹp và sự hài hòa của nó, có khả năng tạo ra ý nghĩa cho nó. Tuy nhiên, tại thời điểm này, chúng ta là dạng sống duy nhất có thể cho vũ trụ một ý nghĩa. Do vậy, trách nhiệm của chúng ta rất lớn: chúng ta sẽ tạo nên điều vô nghĩa nếu hủy diệt hành tinh đẹp đẽ của chúng ta và cả bản thân chúng ta nữa. Nhưng sự tự hủy diệt của chúng ta không nằm trong các định luật vật lý. Tình hình rất nguy hiểm nhưng mọi chuyện có thể cứu vãn được nếu chúng ta triệt để thay đổi ý thức và cách sống của mình…       Ông đã nói: “Khoa học không có chút đạo đức hay lương tri, khoa học không sinh ra đạo lý. Nhưng, trường hợp của thực phẩm biến đổi gene thì sao?  Tự bản thân khoa học không tốt cũng chẳng xấu. Các ứng dụng của nó, tùy theo trường hợp, có thể cải thiện hoặc tàn phá cuộc sống an lành của chúng ta. Mục đích của khoa học là hiểu các hiện tượng chứ không phải định ra các quy tắc đạo đức hay lương tri, vốn thuộc phạm trù của triết học và tâm linh. Đối với vấn đề thực phẩm biến đổi gene, chưa người nào biết được liệu nó có nguy hiểm hay không (chẳng hạn gây dị ứng hoặc ung thư) vì chúng ta vẫn chưa hiểu được vấn đề này. Đứng trước sự không chắc chắn ấy, châu Âu đã áp dụng nguyên tắc cẩn trọng. Họ phản đối thực phẩm biến đổi gene trong khi Hoa Kỳ không làm thế.      Ở những nơi trồng thực phẩm biến đổi gene, môi trường bị biến đổi…  Đúng là mối nguy hiểm khi các thực thể biến đổi gene lạc vào các cánh đồng tự nhiên hiện hữu. Khi đó, sự đa dạng sinh học có thể bị đe dọa vì một số loại sẽ biến mất. Chẳng hạn, ta đã biết vi khuẩn mang độc tố toxin giúp ngô không bị sâu bọ phá hại, nhưng nếu chúng bay theo gió cùng phấn hoa ra khỏi cánh đồng trồng cây biến đổi gene thì có thể sẽ giết hại sâu non, ấu trùng nở ra bướm chúa.   Như thế chẳng phải nguy hiểm hay sao?  Sự cân bằng mong manh của hệ sinh quyển được thiên nhiên tạo lập và bồi đắp trong hàng triệu năm có nguy cơ phá vỡ. Ngoài việc sức khỏe con người và sự đa dạng sinh học bị đặt vào tình trạng nguy hiểm, trái cây và rau xanh còn mất đi mùi vị tự nhiên của chúng. Tôi rất thích hương vị trái cây nhiệt đới mà tôi thưởng thức mỗi khi về Việt Nam. Trái cây biến đổi gene ở Mỹ chẳng còn giữ được những hương vị ấy.   Vào thế kỷ 19, chủ nghĩa duy vật và duy tâm đối chọi nhau. Hiện nay, ông đặt ra vấn đề cộng hưởng giữa quan niệm về thực tại của Phật giáo và của khoa học. Vậy có cần hướng đến đạo lý tâm linh châu Á không? Đối với nhân loại, đó có phải là trạng thái xen kẽ nhau không?   Trước những vấn đề đạo đức và lương tri đặt ra ngày càng cấp thiết trong một số lĩnh vực như biến đổi gene hay nhân bản con người, khoa học cần tâm linh làm bạn đồng hành để chúng ta không quên đi nhân loại của mình. Nhà khoa học cần viên thuốc bổ tâm hồn này, dù cho đó là truyền thống tâm linh Thiên chúa giáo, Hồi giáo hay một tôn giáo nào khác. Tâm linh là cánh cửa khác giúp chúng ta tiếp cận với thực tại cũng giống như văn học, thơ ca và nghệ thuật. Khoa học không độc quyền thực tại. Khoa học có thể hùng mạnh hơn vì nó mang tính định lượng và giúp chúng ta thuần hóa tự nhiên, bắt tự nhiên đem lại lợi ích cho chúng ta, miễn đừng khai thác nó quá mức…Công nghệ mới giúp cuộc sống chúng ta dễ thở hơn nhưng con người cũng cần lương tri và đạo đức để sống trong xã hội. Khoa học mang đến thông tin cho chúng ta nhưng nó chẳng liên quan gì đến những bước tiến tâm linh và những biến đổi diễn ra bên trong cơ thể chúng ta. Ngược lại, tâm linh tạo nên một sự biến đổi sâu sắc trong cách chúng ta cảm nhận thế giới và tác động vào thế giới. Nó giúp mỗi con người cảm thấy dễ chịu hơn để có thể đem lại sự dễ chịu cho mọi người.   Tôi là một Phật tử. Như các bạn thấy đấy, giữa quan niệm của Phật giáo và khoa học về thực tại có sự tương đồng và cộng hưởng, từ khái niệm phụ thuộc lẫn nhau cho đến sự vô thường hay sự trống rỗng. Einstein từng nói: “Nếu như có một tôn giáo có thể hòa hợp với những đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo.”  Như vậy, khoa học cần được định hình lại trong một hệ thống suy gẫm về con người rộng lớn hơn…   Khoa học không trực tiếp sản sinh đạo lý. Nhưng nó lại là nguồn cảm hứng giúp chúng ta nhìn nhận thế giới theo cách khác và hành động đúng đắn hơn. Việc biết được tất cả chúng ta đều là hạt bụi của các ngôi sao, chúng ta có chung lịch sử vũ trụ với loài sư tử sống ở vùng đồng cỏ và với những cây hoa dại mọc trên cánh đồng, chúng ta kết nối với nhau qua không gian và thời gian có lẽ sẽ làm cảm giác phụ thuộc lẫn nhau nảy nở trong chúng ta. Cảm giác ấy lại khiến ta sinh lòng trắc ẩn. Viễn cảnh mà vũ trụ luận vẽ ra cho chúng ta nhấn mạnh tính dễ bị thương tổn của hành tinh chúng ta và sự cô độc của chúng ta giữa các vì sao. Nó khiến chúng ta hiểu rằng những vấn đề môi trường đang đe dọa Trái đất vượt ra ngoài mọi ranh giới về chủng tộc, văn hóa và tôn giáo. Khí gây hiệu ứng nhà kính, rác thải phóng xạ, chất độc công nghiệp là những vấn đề xuyên quốc gia.   Hồ Thủy An dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người là tác nhân chính trong các hình thế nóng lên của đại dương      Đại dương đóng vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu và biến đổi khí hậu thông qua việc hấp thụ nhiệt lượng và carbon. Nghiên cứu mới công bố trên tạo chí Nature giữa tháng 8/2020 có ý nghĩa rất quan trọng vì mực nước biển theo vùng, sự ảnh hưởng đến cư dân ven biển trên toàn thế giới sẽ phụ thuộc vào các hình thế nóng lên của đại dương. Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra cách thay đổi của các hình thế kể trên.      Kết quả cho thấy hiện tượng nóng lên toàn cầu và nước biển dâng đã tăng lên so với trước kia, bao gồm cả phần rìa phía đông của bồn trũng đại dương cũng bị ấm lên, dẫn đến nước biển dâng lên dọc đường bờ biển phía tây lục địa Bắc Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.  Laure Zanna, đồng tác giả nghiên cứu, giáo sư thỉnh giảng bộ môn Vật lý khí hậu ở ĐH Oxford và giáo sư ở Trung tâm Khoa học đại dương khí quyển ở Viện Các khoa học toán học Courant (ĐH New York) cho biết: “Trong tương lai, sự gia tăng nhiệt độ khí quyển sẽ tác động nhiều hơn tới hiện tượng nóng lên của đại dương. Ban đầu, người ta nghĩ rằng nếu khí hậu nóng hơn, các dòng hoàn lưu sẽ thay đổi và tác động tới các hình thế nóng lên của đại dương. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng điều này sẽ không xảy ra ở vài vùng biển”.  Các nhà khoa học ở ĐH Oxford đã phát triển một phương pháp mới sử dụng các mô hình khí hậu để thực hiện nghiên cứu. Kết quả cho thấy, hiện tượng nóng lên của khí quyển sẽ tác động nhiều hơn tới các hình thế nóng lên của đại dương, khiến dễ dự đoán chúng hơn. Điều này trái ngược với quan điểm từ trước đến nay cho rằng những thay đổi hoàn lưu đại dương là nhân tố chính trong việc định hình các hình thế nóng lên của đại dương.  Những thay đổi của hiện tượng nóng lên của đại dương do ảnh hưởng của khí quyển ấm lên dễ mô hình hóa hơn, vì vậy câc nhà khoa học hi vọng sẽ có được những dự báo chính xác hơn so với những mô hình trước đó.  Tác giả chính của nghiên cứu, TS. Ben Bronselaer đã bắt đầu thực hiện đề tài này từ khi còn là nghiên cứu sinh ở ĐH Oxford. Ông cho biết: “Chúng tôi bất ngờ phát hiện ra mối liên hệ giữa khả năng hấp thụ nhiệt lượng và lưu trữ carbon của đại dương. Mặc dù chưa hiểu hết về sự liên kết của hai đại lượng này song việc khám phá ra điều này là một tiến bộ quan trọng.”  Công bố cho thấy sự hấp thụ carbon và nhiệt lượng của đại dương trên toàn cầu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, và trạng thái đại dương hiện tại sẽ quyết định đến tỉ lệ hấp thụ này. Mối liên hệ trên là cốt lõi của phương pháp phát triển trong nghiên cứu này. Khi con người thay đổi trạng thái đại dương bằng cách tăng phát thải carbon và nhiệt lượng, khả năng hấp thụ nhiệt và carbon của đại dương sẽ thay đổi. Điều này có thể ngụ ý là giảm phát thải càng muộn thì nhiệt độ bề mặt khí quyển giảm càng chậm do mối quan hệ giữa khả năng hấp thụ nhiệt và carbon của đại dương.  Những kết quả này nhấn mạnh mối quan hệ nền tảng sâu sắc giữa đại dương và việc hấp thụ carbon – điều này sẽ tác động đến nhiệt độ và carbon trong khí quyển. Mặc dù carbon đại dương và nhiệt lượng đại dương là những hệ thống riêng biệt, nghiên cứu này cho thấy chúng có mối quan hệ liên thông sâu sắc nhờ khả năng hấp thụ của đại dương. Các kết quả này cũng giúp giải thích tại sao sự ấm lên của khí quyển phụ thuộc tuyến tính vào tích lũy phát thải carbon.  Mô hình trong nghiên cứu này dựa trên một bộ tập hợp các mô phỏng sáng tạo của các nhà nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm động lực học chất lỏng địa vật lý (GFDL) và một vài công trình đã xuất bản khác. Bằng việc sử dụng những mô phỏng này, họ có thể đưa ra giả thiết về sự khác biệt cũng như mối quan hệ giữa các hình thế nhiệt lượng và carbon.  Từ nghiên cứu này, các nhà khoa học sẽ nỗ lực tìm hiểu cách lưu trữ carbon và nhiệt lượng của đại dương tác động thế nào đến việc giảm nhiệt độ khí quyển và mức CO2 nếu phát thải carbon giảm.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-human-key-agent-ocean-patterns.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người sẽ tiến hóa đến đâu?      Bằng phân tích DNA và nghiên cứu hóa thạch, các nhà khoa học vẫn đang tìm hiểu thời điểm loài người bắt đầu đứng thẳng và tách mình ra khỏi loài vượn. Song, loài người vẫn trong quá trình tiến hóa, vậy trong tương lai con người sẽ như thế nào? Nhà sinh học tiến hóa Richard Dawkins nói đó là mối quan tâm thường xuyên nhất của ông mặc dù “là vấn đề mà bất kì nhà tiến hóa luận thận trọng nào đều né tránh”.    Trên thực tế, các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu các lĩnh vực về phát triển con người như tế bào gốc (stem-cell), chip máy tính tương hợp sinh học (biocompatible). “Đó là vấn đề liên quan tới tương lai loài người, nó động chạm tới tôn giáo, chính trị, các chuẩn mực, và người ta sẽ không bao giờ có ý kiến thống nhất”. – Giám đốc chương trình Thuốc, Kĩ thuật và Xã hội của Đại học California phát biểu. Và trên những hiểu biết về nguồn gốc loài người, cùng những thành tựu khoa học hiện tại, họ đưa ra các giả thiết tiến hóa:     Người Liên hợp (Unihuman) – Liệu chúng ta sẽ đồng hóa?                   Từ quan sát 13 loài chim sẻ đặc hữu trên quần đảo Galapagos cách xa lục địa châu Mĩ, Darwin đã nhận ra rằng một cộng đồng loài khi bị chia tách sẽ tiến hóa thành một loài khác. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi loài người đã trải ra khắp trái đất và không còn chỗ cho sự ngăn cách? Cuộc tiến hóa vẫn đang tiếp diễn, song thay vì tách biệt, trong mười nghìn năm qua, nguồn gen của loài người đang có khuynh hướng hội tụ, và chuyên gia về đa dạng sinh học Stuart Pimm của trường Đại học Duke nói rằng khuynh hướng này ngày càng mạnh: “Chúng ta đang đánh mất sự đa dạng rất nhanh, và không hoàn toàn chỉ về mặt di truyền. Hiện tại chúng ta đang có 6.500 ngôn ngữ, và số ngôn ngữ chúng ta muốn truyền lại cho con cháu chỉ là khoảng 600.” Đa dạng ngôn ngữ là thước đo đa dạng văn hóa, và sự đa dạng văn hóa đang dần mờ nhạt trong quá trình toàn cầu hóa. “Tôi nghĩ rằng loài người đang trở nên tương đồng hơn bao giờ hết” – Pimm phát biểu. Liệu đó có phải là điều tồi tệ? Nền văn hóa toàn cầu của loài người Liên hợp có vẻ thật tuyệt vời, nó cho phép chúng ta thực hiện những chính sách dài hạn, có nền kinh tế ổn định và hạn chế được bùng nổ dân số. Song, loài người Liên hợp cũng có thể rất dễ tổn thương trước dịch bệnh, ví như dịch cúm gà. “Sự đa dạng về mặt di truyền đã bảo vệ chúng ta khỏi dịch bệnh tràn lan. Ý tưởng về siêu chủng (super-race), như ngô siêu chủng, gạo siêu chủng hay bất cứ thứ gì tương tự, có thể để lại hậu quả đáng sợ.” – Stuart Pimm nói.     Người Sống sót (Survivalistians) –  Đương đầu với ngày tận thế                   Câu chuyện về loài người sống sót sau trận đại hồng thủy cũng đã cũ như chính con thuyền Nô-ê, hay mới hơn là trong phim “28 ngày sau”. Thảm họa ngày tận thế, có thể là đại hồng thủy, dịch bệnh, chiến tranh hạt nhân hay cú va chạm của một hành tinh nhỏ sẽ xóa sạch nền văn minh. Những cộng đồng còn sống sót sau thảm họa sẽ tiến hóa theo cách khác nhau. H.G. Well trong tiểu thuyết kinh điển “Cỗ máy thời gian” đã hình dung loài người sẽ tiến hóa thành hai nhánh: chủng Morlock tàn nhẫn sống trong lòng đất và chủng Eloi yếu ớt sống trên mặt đất. Trong tác phẩm của H.G. Well và cũng như trong nhiều tiểu thuyết khoa học viễn tưởng khác, những cộng đồng rải rác sống sót sau thảm họa sẽ chịu sự chọn lọc tự nhiên một lần nữa. Người có gen kháng lại virus thường sẽ truyền lại ưu điểm gen này cho con cháu. Có thể hình dung, chủng người kháng virus sẽ sống thoải mái trong thế giới sau khi bị khủng bố sinh học, còn chủng người đề kháng kém hơn sẽ phải trú ẩn trong một thế giới được kiểm dịch nghiêm ngặt. Sự bùng nổ của đại dịch AIDS cũng khiến người ta nghĩ đến cuộc chọn lọc tự nhiên bằng một thảm họa. Stuart Pimm nói: “Một vài người dường như miễn nhiễm với HIV, cho dù họ thường không bảo vệ mình trước loại virus này. Có thể bởi tổ tiên của họ đã sống sót sau bệnh dịch trước đây 500 năm”. (1)    Tuy nhiên, trong cuốn “Tiến hóa trong tương lai”, Peter Ward lại không tin rằng một thảm hoạ toàn cầu lại có thể chia tách loài người lâu đến nỗi họ tiến hóa thành các chủng riêng biệt. “Trừ khi chúng ta hoàn toàn quên mất cách đóng thuyền. Chúng ta sẽ nhanh chóng đoàn tụ”. Ngay cả trong trường hợp loài người tách chủng, thuyết tiến hóa cũng chỉ ra rằng một chủng này sẽ chinh phục và đào thải chủng kia, trường hợp người Neanderthal là một ví dụ. Joel Garreau, tác giả cuốn “Tiến hóa triệt để” nhận xét: “Lịch sử cho thấy, nếu có hai chủng cùng cạnh tranh một vị trí sinh thái, sẽ là kết cục tồi tệ cho một trong hai chủng”. Và sở dĩ loài tinh tinh còn tồn tại đến ngày nay bởi chúng “đủ khôn ngoan để ở lại trên cây mà không xuống mặt đất”.     Người Mới (Numan) – Sự trỗi dậy của siêu nhân                   Người ta đã được thấy người “nâng cấp” trong tương lai, đó là Barry Bonds (được coi là một trong những vận động viên bóng chày giỏi nhất mọi thời của Mĩ, cho dù có dùng steroid – hợp chất hormone và vitamin). Tiến bộ của công nghệ gen và ngành dược nhanh đến mức Joel Garreau cho rằng đó là một hình mẫu tiến hóa mới, còn nhanh hơn cả tiến hóa sinh học. Bao giờ thứ tiến hóa đó cho ra đời một chủng người mới? “Khoảng 20 năm” – Garreau nói. Trong cuốn “Tiến hóa triệt để”, ông đã liệt kê những kĩ thuật mới nhất để “nâng cấp” con người, từ steroid làm nên “siêu nhân” cho đến thứ thuốc khiến binh lính không cần ăn hay ngủ trong vài ngày. “Hãy xem hình mẫu siêu nhân hồi những năm 30 hay 40, họ đều mang những kĩ thuật của thời đại này”.  Việc “nâng cấp” hiện mới chỉ cho vận động viên hay binh lính, song nó sẽ còn được áp dụng rộng rãi hơn. Theo Garreau, trong tương lai sẽ có ba loại người: người nâng cấp, người tự nhiên và bộ phận còn lại. Người nâng cấp là những người có tiền và muốn sống lâu hơn, nhìn “sexy” hơn. Người tự nhiên là những người ăn kiêng và mộ đạo, bộ phận còn lại không nâng cấp bởi họ không thể. “Họ sẽ vừa khinh thường, vừa ghen tị với người nâng cấp.” – Garreau nói. Tất nhiên việc nâng cấp không hề dễ dàng. “Ai cũng biết rằng trí thông minh là điều tinh diệu, chúng ta không thể đơn giản ‘tắt’ hay ‘bật’ nó bằng một đoạn gen” – Ken Miller của trường Đại học Brown nói. Đồng thời ông cho rằng “những tiến bộ về y tế đã cải thiện bình đẳng xã hội”. Nhiều dịch bệnh là tai họa lâu đời như bệnh đậu mùa đã bị xóa bỏ ở cả nước giàu và nước nghèo, và các nhà khoa học có khuynh hướng nghiên cứu chữa những bệnh do khiếm khuyết gen hơn là nâng cấp bộ gen.     Người Nửa máy (Cyborg) – Tích hợp máy móc                   Trước kia, câu chuyện về chiến tranh giữa con người với máy móc chỉ có trong khoa học viễn tưởng. Song với tiến bộ vượt bậc của ngành điều khiển học (cybernetic), trí thông minh nhân tạo đã có thể vượt trí tuệ con người trên một số lĩnh vực. Việc siêu máy tính Deep Blue của hãng IBM đánh bại vô địch thế giới cờ vua Garry Kasparov năm 1997 chứng tỏ điều này. Nhà khoa học máy tính Billy Joy còn dự đoán trên tạp chí “Wired” rằng, đến năm 2030, một loại robot có trí tuệ thật sự sẽ ra đời. “Và khi robot có trí tuệ đã ra đời, sẽ chỉ còn là một bước nhỏ để robot tự tiến hóa.”  Một khả năng khác là chúng ta có thể tích hợp robot vào cơ thể. Chúng ta cũng đã tích hợp máy móc vào cơ thể, từ chân tay giả, tim máy, màng nhĩ nhân tạo… vậy tại sao chúng ta không tích hợp máy móc vào bộ não? Seth Shostak, chuyên gia thiên văn học cao cấp của viện SETI phát biểu: “Chúng ta sẽ tích hợp con chip vào đầu và sẽ không còn quên bất kì điều gì. Chúng ta cũng sẽ giải được những bài toán đau đầu trước kia.”  Và nếu máy móc tích hợp có gây đau đớn cho con người thì chỉ có nghĩa là “máy chưa đủ tốt”.     Người Sao (Astrans) – Trở nên giống người ngoài hành tinh                Nếu loài người vươn tới sống trên các vì sao, chắc chắn sẽ xuất hiện một nhánh tiến hóa mới. Hành tinh mà con người tới định cư sẽ giống như “phòng thí nghiệm tiến hóa” Galapagos, đủ gần để con người tới được và đủ xa để hình thành một chủng người mới ở đó. Vấn đề là liệu chúng ta có thể rời khỏi trái đất? Hiện ngay, hệ sao là Epsilon Eridani gần chúng ta nhất cũng cách 10,5 năm ánh sáng, và nếu tàu vũ trụ bay được với 1% tốc độ ánh sáng (6,6 tỷ dặm/giờ, tốc độ “không thể tưởng tượng”), thì cũng phải mất 1.000 năm chúng ta mới tới. Ngay cả sao Hỏa cũng đã đủ xa, và nếu con người định cư lâu dài trên đó, điều kiện sống thay đổi sẽ khiến con người thay đổi. Với lực hấp dẫn khác trái đất, thế hệ thứ ba sinh ra trên sao Hỏa sẽ không thể cảm thấy “như ở nhà” nếu quay về trái đất. “Sẽ không mất nhiều thời gian để người sống trên sao Hỏa trở thành một chủng khác” – Seth Shostak dự đoán, đồng thời đưa ra ba khả năng đưa con người lên các vì sao:  – Xây một tàu vụ trụ cực lớn để đưa toàn bộ loài người lên hành tinh mới. Vấn đề là môi trường trên tàu sẽ không thể thích hợp với con người.  – Tìm ra lỗ sâu (wormhole) trong vũ trụ để rút ngắn quãng đường. “Điều đó nghe thật ổn, trừ việc không ai biết nó ở đâu” – Shostak nói.  – Đặt con người ở chế độ “ngủ đông” để chịu được hành trình dài trên tàu vũ trụ tự động. Khi tới nơi, con người mới bắt đầu sống và làm việc ở một thế giới mới.   Lược dịch theo Human evolution at the crossroad  (www.msnbc.msn.com)   ———————–  1. Theo BBC, tháng 11 năm 2005, các bác sĩ của Trung tâm Trust, London công bố trường hợp bệnh nhân Andrew Stimpson bị nhiễm HIV năm 2002 và sau 14 tháng, dường như không còn nhiễm HIV nữa. Trung tâm Trust cho biết kết quả xét nghiệm rất chính xác, nhưng không thể khẳng định Stimpson đã hoàn toàn bình phục vì anh này từ chối các cuộc xét nghiệm bổ sung.    ĐINH ANH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người tiến hóa nhờ các công cụ thái nhỏ thịt      Daniel Lieberman và Katherine Zink, hai nhà nhân loại học thuộc trường Đại học Harvard, vừa công bố trên tạp chí Science phát hiện mới về quá trình tiến hóa của loài người.       Theo nghiên cứu, sự ra đời của những công cụ đơn giản bằng đá giúp cắt thịt và nghiền các loại củ quả đã giúp làm giảm đáng kể thời gian cũng như sức lực cần thiết để nhai, từ đó tổ tiên của chúng ta mới có khả năng tiến hóa các đặc điểm vật lý cần thiết để phát triển các cơ quan nói.    Sở dĩ loài người hiện đại có thể mất ít thời gian để nhai như vậy là vì chế độ ăn của chúng ta có chất lượng cao hơn nhiều so với tổ tiên,” Lieberman, cho hay: Trong khi loài vượn hầu như chỉ tồn tại nhờ hoa quả thì loài người có thể ăn được những loại đồ ăn chứa nhiều dưỡng chất và năng lượng trong những khẩu phần nhỏ hơn – tức là thịt. (Vượn cũng ăn thịt, chủ yếu là thịt của những con khỉ mà chúng săn được, song số thịt đó không đóng vai trò thiết yếu như đối với loài vừa săn bắn vừa hái lượm như con người.) Ngày nay, việc nấu nướng giúp thịt trở nên dễ ăn và dễ tiêu hóa hơn, nhưng Lieberman cho rằng tổ tiên của chúng ta bắt đầu ăn thịt từ lâu trước khi học cách nướng thịt. Đã có bằng chứng cho thấy tổ tiên của chúng ta – loài khỉ đứng thẳng có tên là hominin – đã ăn thịt thường xuyên từ cách đây 2,5 triệu năm, nhưng dường như việc nấu nướng chỉ trở nên phổ biến từ khoảng 500.000 năm trước. Vậy loài người làm gì trước khi biết nấu nướng?    Câu trả lời có lẽ xuất phát từ một hình thức sáng tạo khác ra đời cùng khoảng thời gian loài hominin bắt đầu ăn thịt: các dụng cụ bằng đá. Lieberman và Zink đã tìm hiểu xem những công cụ này đã thay đổi loại thức ăn mà loài hominin có thể ăn được như thế nào và họ nhận thấy, đối với những loại rau thân củ quả như khoai và củ cải, tổ tiên chúng ta lựa chọn hình thức nghiền thành hỗn hợp nhão, còn đối với thịt thì thái miếng nhỏ.     Nhóm nghiên cứu gắn điện cực lên mặt một số người tình nguyện để so sánh thời lượng cũng như năng lượng cần thiết để nhai các loại thịt /rau sống và chưa qua xử lý, các loại thịt/rau đã qua xử lý bằng cách thái nhỏ hoặc nghiền nát, hoặc các loại thịt/rau đã được nấu chín. Phát hiện đầu tiên họ nhận thấy là với hàm răng giống người hoặc vượn, việc ăn thịt sống gần như là điều không tưởng. Zink và Lieberman đã cho những người tình nguyện ăn thịt dê, loài động vật có thịt dai tương đương với thịt của các loài động vật mà loài hominin đã ăn. Lieberman cũng đích thân ăn thử và ông chia sẻ: “Ăn thịt dê sống quả là chẳng có gì thú vị. Ta cứ nhai mãi mà miếng thịt không suy chuyển gì.” Răng người không thể nhai nhỏ tảng thịt thành những miếng nhỏ để có thể nuốt được. Đối với tổ tiên của loài người, với hàm răng và khuôn miệng tương tự vượn – loài dành tới sáu tiếng mỗi ngày để nhai thức ăn – việc nhai thịt có lẽ cũng mất nhiều thời gian và năng lượng như vậy.    Việc thái thịt – bằng dao hoặc bằng mảnh đá nhọn – đã làm thay đổi mọi chuyện. Với những công cụ đó, loài hominin có thể cắt nhỏ những miếng thịt dai của một động vật chết thành những miếng nhỏ hơn hoặc nghiền nát các loại củ quả để đưa vào miệng, nhai và tiêu hóa. “Chúng tôi phát hiện ra rằng chỉ bằng cách thái nhỏ thịt và nghiền rau củ, loài hominin đã có thể giảm tới 17% số lần nhai, tương đương với việc giảm 2,5 triệu lần nhai mỗi năm,” Zink nói.    Zink và Lieberman cho rằng, sự giảm thiểu đó là đủ để cho phép loài người tiến hóa sang thành các bộ răng và hàm nhỏ hơn. Khi thủy tổ loài người không cần phải dành quá nhiều thời gian để nhai nữa, các lợi thế của bộ răng và hàm lớn không còn nữa – và khi đó sự lựa chọn tự nhiên bắt đầu chuyển sang ưu ái các đặc tính khác thay vào đó. Chẳng hạn, chiếc mũi nhỏ hơn đã chừa thêm không gian để đôi môi linh hoạt hơn – đây là một yếu tố then chốt để hình thành nên lời nói, đồng thời khiến cho chiếc đầu dễ cân bằng hơn khi chạy, một kỹ năng quan trọng khi săn bắn.    Nghiên cứu này đặt ra những thách thức đối với một giả thiết đối chọi là việc nấu chín thức ăn là nguyên nhân tạo ra những thay đổi về kích thước răng và hàm. Zink và Lieberman đã đưa ra những bằng chứng khảo cổ cho thấy nấu nướng xuất hiện từ cách đây một triệu năm và trở nên phổ biến từ cách đây 500.000 năm. Tuy nhiên, Richard Wranghman, nhà nhân loại học sinh học tại trường Harvard, cho rằng không thể vì các nhà khảo cổ chưa tìm ra bằng chứng sớm hơn về việc nấu nướng mà đi đến kết luận rằng loài hominin không sử dụng chúng. “Tôi không cho rằng chế độ ăn mà Zink và Lieberman đưa ra có thể lý giải cho hiện tượng các bộ phận nhai và tiêu hóa nhỏ hơn ở các họ loài người bắt đầu từ khoảng 1,9 triệu năm trước. Đối với tôi, vấn đề quan trọng ở đây là cần phải có ruột lớn để có thể làm lên men các loại rau củ sống mà loài này tiêu thụ.”    Lieberman và Zink cho hay họ không coi nhẹ vai trò của việc nấu chín thức ăn, mà họ muốn đưa ra một quá trình gồm hai bước: nghiền và thái nhỏ thức ăn giúp mang lại “cú hích” tiến hóa ban đầu để có bộ răng, hàm và ruột nhỏ hơn; và sau đó là việc nấu chín thức ăn. Nhưng có một điều chắc chắn: loài người hiện đại không thể chỉ tồn tại nhờ vào thịt sống, dù có thái miếng thịt nhỏ đi thế nào chăng nữa.  Thu Trang dịch  http://www.sciencemag.org/news/2016/03/how-sliced-meat-drove-human-evolution    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người tự tạo ra tế bào não mới suốt đời      Các phát hiện có giúp các nhà khoa học tìm ra phương pháp trị liệu cho những bệnh sa sút trí tuệ như Alzheimers, sa sút trí tuệ.      Các neuron mới trong phần não liên quan tới học tập, trí nhớ và cảm xúc của con người. Nguồn: The Guardian  Con người tiếp tục sản xuất ra các neuron mới trong phần não liên quan tới học tập, trí nhớ và cảm xúc suốt tuổi trưởng thành, thay vì dừng lại khi đến tuổi thành niên như các nghiên cứu cũ.  Nhiều neuron mới được sản xuất ở vùng hải mã (hippocampus) ở trẻ sơ sinh, nhưng  vấn đề gây tranh cãi là liệu quá trình này có tiếp tục trong giai đoạn trưởng thành không – nếu có, liệu tỷ lệ này có giảm theo tuổi như ở chuột và động vật linh trưởng không phải là con người. Mặc dù một số nghiên cứu đã tìm thấy các neuron mới ở vùng hải mã của người lớn tuổi nhưng một nghiên cứu mới đây chặn đứng ý tưởng này khi tuyên bố rằng các neutron mới ở vùng hải mã không thể được phát hiện ở cuối tuổi vị thành niên.  Hiện nay một nhóm các nhà khoa học khác đã công bố ngược lại, tiết lộ rằng những neuron mới được sản xuất ở vùng này của người trưởng thành và không giảm theo độ tuổi. Theo nhóm thực hiện, phát hiện này có thể giúp tìm ra các cách trị liệu các bệnh từ Alzheimer tới tâm thần. TS. Maura Boldrini (ĐH Columbia, New York) , tác giả chính của nghiên cứu xuất bản trên Cell Stem Cell, nói: “Phần thú vị là các neuron đã ở đó trong suốt cuộc đời. Có vẻ như cơ chế tạo ra neuron ở con người thực sự khác với chuột – loại có tốc độ sản xuất neutron giảm xuống theo độ tuổi rất nhanh –nó nghĩa là chúng ta cần những neuron này cho khả năng học tập phức tạp và những phản hồi liên quan đến hành vi nhận thức về cảm xúc.”  Boldrini và cộng sự đã xem xét vùng hải mã ở 28 đàn ông và phụ nữ tuổi từ 14 đến 79, vốn được thu thập chỉ vài giờ sau khi họ mất. Quan trọng là tất cả những đối tượng này đều khỏe mạnh trước khi chết, không giống như nhiều nghiên cứu trước đây. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một số kỹ thuật để kiểm tra mức độ hình thành mạch máu mới, khối lượng và số tế bào ở các giai đoạn trưởng thành khác nhau trong một khu vực gọi là vùng hồi răng (dentate gyrus) thuộc vùng hải mã, nơi các neuron mới đang được tạo ra.  “Theo các nghiên cứu trên chuột, có những tế bào gốc vạn năng là những tế bào không có chức năng, thụ động và có thể trải qua quá trình phân chia”, Boldrini cho biết thêm, một số nghiên cứu đã gợi ý rằng chúng ta được sinh ra với số lượng hữu hạn các “tế bào mẹ” kiểu này. Các tế bào con là những tế bào được phân chia theo số mũ và tạo ra nhiều tế bào hơn và được khu biệt thành neuron. Nhóm phát hiện các cấp độ của “tế bào mẹ” giảm xuống theo tuổi tác ở phía trước và trung tâm vùng hồi răng. Tuy nhiên, các tế bào vẫn tăng lên chứ không giảm, và nhóm tìm thấy hàng ngàn neuron mới, chưa trưởng thành trong vùng hồi răng vào thời điểm tử vong, bất kể tuổi tác.  Boldrini nói: “Chúng ta có thể tiếp tục tạo ra đủ neuron với lượng “tế bào mẹ” ít hơn.” Tuy nhiên số lượng tế bào sản xuất chất liên quan đến sự giãn nở thần kinh – khả năng để bộ não thay đổi hay “hồi phục” đã giảm ở vùng hồi răng trước. Bà nhận xét: “Mặc dù chúng ta tiếp tục tạo ra neuron mới nhưng chúng có thể ít dẻo dai hơn hoặc tạo ra ít kết nối hơn hay di chuyển ít hơn.” Các tác giả cũng lưu ý đây là nguyên nhân giải thích vì sao ngay cả khi khỏe mạnh thì con người cũng dễ bị tổn thương và việc tạo ra các tế bào mới, trong đó có neuron, có thể góp phần giúp chúng ta thoát khỏi sự suy giảm nhận thức hay suy giảm cảm xúc.  Theo Boldrini, điều quan trọng hiện nay là xem xét những gì xảy ra với não của những người mắc Alzheimer hay vấn đề liên quan đến cảm xúc vì nếu có khác biệt trong sự hình thành các tế bào mới trong vùng hải mã, nó có thể cung cấp cho các nhà khoa học những đích điều trị mới.  TS. Mercedes Paredes từ Đại học California San Francisco, tác giả của bài báo mới xuất bản tháng trước về việc người trưởng thành không phát triển các neuron mới, không bị thuyết phục với công bố này: “Chúng tôi không nghĩ rằng nghiên cứu mới này thách thức những gì chúng tôi đã quan sát được: Nếu việc sản sinh tế bào thần kinh vẫn tiếp tục ở vùng hải mã người trưởng thành thì đây là hiện tượng vô cùng hiếm”. Nhưng TS. Niels Haan (ĐH Cardiff) nói rằng ông đã tin vào việc neuron mới được tạo ra trong não người trưởng thành dù chức năng của chúng vẫn chưa rõ ràng: “Từ nghiên cứu các mô hình động vật chúng tôi biết là neuron sản sinh mới ở người trường thành là để đáp ứng yêu cầu trong quá quá trình học tập và ghi nhớ, và có những bằng chứng cho thấy việc sản sinh neuron bị gián đoạn trong một số bệnh tâm thần. Đây sẽ là lĩnh vực hứa hẹn cho những phương pháp điều trị tiềm năng.”  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/apr/05/humans-produce-new-brain-cells-throughout-their-lives-say-researchers    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con người và Người máy – ai chỉ huy ai?      Tạp chí Scientific American mới đây  đăng bài của David Bourne nói về sự hợp tác giữa hai thành viên mới  của Viện Nghiên cứu người máy thuộc Đại học  Carnegie Mellon (CMU): Một là Michael Dawson-Haggerty, kỹ sư phần mềm  máy tính vừa nhận học vị thạc sĩ tại CMU, và một là Spitfire (Phun lửa),  người máy do công ty ABB chế tạo, đã được CMU cải tiến tiến lắp thêm  “mắt” laser, để có thể cùng làm việc với con người.     Để đánh giá hiệu quả của sự hợp tác đó, CMU từng tổ chức cho cặp đôi nói trên thi tài với một nhóm chuyên gia đã có hơn 10 năm kinh nghiệm trong nghề hàn điện, xem ai hoàn thành nhanh nhất việc hàn một bộ khung xe Humvee (xe quân sự dùng tại chiến trường Iraq và Afghanistan). Cuối cùng cặp Haggerty-Spitfire đã thắng.   Người máy Spitfire cao 4 m, có một cánh tay máy, được coi là một quái vật “không có tính người”, làm việc hùng hục không biết mệt; người ta phải đặt nó trong một chụp bảo vệ nhằm bảo đảm an toàn cho người ở gần. Điều thú vị là khi làm việc, không phải Haggerty chỉ huy người máy mà là người máy chỉ huy Haggerty, nó vạch ra trình tự các công đoạn và phân công thực thi. Sự hợp tác ấy đem lại kết quả là Haggerty và người máy Spitfire chỉ cần 10 giờ công và chi phí hết 1.150 USD (chi phí vật liệu và nhân công) là hàn xong cái khung xe; trong khi nhóm chuyên gia phải mất 89 giờ công và 7.075 USD mới làm xong cùng một công việc.   Các chuyên gia cho rằng, nếu loài người có thể hợp tác với người máy, hoặc ngược lại, thì sẽ thu được hiệu quả kinh tế rất lớn.   Theo định nghĩa hiện nay, người máy (robot) là cỗ máy có thể cảm nhận, suy nghĩ và hành sự. Nhưng định nghĩa như vậy chưa hoàn toàn chính xác. Máy điều hòa nhiệt độ giờ đây có thể làm được ba việc đó, nhưng máy điều hòa chỉ là một bộ phận nhỏ của căn phòng. Còn ô tô tự lái lại là một người máy, vì nó sử dụng bộ truyền cảm và trí tuệ nhân tạo để thực hiện việc tự động lái xe không cần con người.  Trong hơn nửa thế kỷ qua, công nghiệp chế tạo đã sử dụng người máy công nghiệp để thực hiện tự động hóa, nâng năng suất lao động. Nhưng người máy chỉ được dùng để làm các thao tác có tính lặp lại nhiều lần, như hàn một mối cố định trên mỗi chiếc ô tô, Giờ đây người ta đang tìm cách triệt để tận dụng sức mạnh to lớn và tính chuẩn xác cao của người máy, làm ra những người máy tiên tiến để nâng cao đáng kể chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, hiệu suất sử dụng năng lượng.  Người máy Spitfire qua cải tiến đã cho phép con người hợp tác được với người máy, có thể rút ngắn đáng kể thời gian cần thiết để bố trí lại quá trình công nghệ khi đổi mới sản phẩm. Trước kia, trình tự viên sử dụng mã đặc biệt để ra lệnh người máy vận hành. Ngày nay người ta sử dụng máy tính để lập bản vẽ thiết kế (CAD, computer-aided design), thiết kế được dây chuyền sản xuất thông minh, sau đó máy tính sẽ phiên dịch bản vẽ này thành một bảng kê nhiệm vụ cho người máy thi hành.  Công ty ABB có trụ sở tại Zurich từng làm được người máy Frida, có hai tay máy, có thể làm việc an toàn bên cạnh công nhân. Nhà đồng sáng lập công ty iRobot ở Boston, Tiến sĩ Rodney Brooks (người Australia) đã lập “Công ty người máy tư duy mới (Rethink Robotics)”, làm ra người máy Baxter có hai tay máy, lắp nhiều bộ truyền cảm, có thể dễ dàng lập chương trình, thiết kế trình tự công đoạn. Đây là hai người máy tiên tiến có thể chỉ huy công việc chế tạo cơ khí.        Nguyễn Hải Hoành lược thuật    Author                Quản trị        
__label__tiasang Con quay hồi chuyển chứng minh Einstein đã đúng      Einstein một lần nữa đã đúng. Đúng là có võng xoáy không gian – thời gian xung quanh Trái đất, vì hình thù của nó khớp chính xác theo dự đoán từ thuyết tương đối của ông.      Các nhà nghiên cứu đã xác nhận điều này hôm 4 tháng 5 trong cuộc họp báo tại trụ sở NASA, nơi họ công bố các kết quả được chờ đợi từ lâu của nhiệm vụ Gravity Probe B (GP-B).  “Chúng ta đã hoàn thành thí nghiệm lịch sử này để kiểm chứng lý thuyết về vũ trụ của Einstein, và Einstein đã thắng”, khẳng định từ nhà vật lý Francis Everitt của Đại học Stanford, trưởng dự án Gravity Probe B của NASA.   Kết quả  Sau 31 năm nghiên cứu và phát triển, 10 năm chuẩn bị cho chuyến bay vào vũ trụ, 1,5 năm thời gian bay trong không gian, và 5 năm phân tích dữ liệu, cuối cùng nhóm nghiên cứu GP-B đã đạt được những kết quả thí nghiệm chính thức cuối cùng cho cuộc kiểm chứng lịch sử đối với thuyết tương đối rộng năm 1916 của Einstein. Bản tóm tắt báo cáo của nhóm nghiên cứu như sau:   Vệ tinh Gravity Probe B, được phóng lên không gian ngày 20 tháng 4 năm 2004, nhằm kiểm tra hai dự đoán cơ bản từ Thuyết tương đối Rộng của Einstein về hiệu ứng võng (geodetic effect) và hiệu ứng kéo khung (frame-dragging effect), [thí nghiệm] dựa trên các con quay luân chuyển (gyroscope) trên quỹ đạo Trái đất, được duy trì trong nhiệt độ siêu lạnh. Dữ liệu được bắt đầu thu thập từ ngày 14 tháng 8 năm 2005. Việc phân tích dữ liệu từ 4 con quay luân chuyển chỉ ra mức lệch võng 6,601.8±18.3 mas/năm, và mức lệch kéo khung là -37:2±7.2 mas/năm, trong khi dự đoán tương ứng của thuyết tương đối rộng là -6,606.1 mas/yr and -39.2 mas/yr, (‘mas’ là milliarc-giây; 1 mas= 4.848 X10-9 radian, hay 2.778 X10-7 độ).  Bảng dữ liệu và đồ thị dưới đây cung cấp kết quả số liệu từ mỗi con quay luân chuyển, số bình quân gia quyền của cả 4 con quay, và dự đoán được Leonard Schiff, nhà vật lý của Đại học Stanford tính toán theo thuyết tương đối rộng của Einstein.               Gravity Probe B — Kết quả Thí   nghiệm Chính thức           Các con   quay       rN-S (Đo   hiệu ứng Võng)       rW-E (Đo   hiệu ứng Kéo Khung)                     Kết quả đo được ở từng con quay   luân chuyển          Con quay   #1       -6,588.6±31.7   mas/năm      -41.3±24.6   mas/năm          Con quay   #2       -6,707.0±64.1   mas/năm       -16.1±29.7   mas/năm          Con quay   #3       -6,610.5±43.2   mas/năm       -25.0±12.1   mas/năm          Con quay   #4       -6,588.7±33.2   mas/năm       -49.3±11.4   mas/năm                     Bình quân gia quyền trên cả 4 con   quay          Tất cả 4   con quay       -6,601.8±18.3   mas/yr       -37.2±7.2   mas/năm                     Giá trị Schiff dự đoán theo thuyết   Einstein          Con quay   trên lý thuyết      -6,606.1   mas/năm       -39.2   mas/năm                    Trục tung: Độ lệch Bắc – Nam; trục hoành: độ lệch Tây – Đông; đơn vị: mas/năm            Trong đồ thị trên, khu vực bên trong mỗi hình elip đại diện cho khoảng tin cậy 95% (95% confidence interval) cho số liệu đo đạc của mỗi con quay luân chuyển đối với hiệu ứng võng và hiệu ứng kéo khung. Chiều cao của hình elip thể hiện khoảng tin cậy 95% cho hiệu ứng võng còn chiều rộng đại diện khoảng tin cậy 95% hiệu ứng kéo khung. Hình elip màu đen đại diện cho bình quân gia quyền số liệu đo được từ cả 4 con quay luân chuyển. Ngôi sao đen nằm ở trung tâm hình elip đen đại diện cho con số tính toán chính xác theo thuyết tương đối của Einstein đối với hiệu ứng võng và hiệu ứng kéo khung.    Một chặng đường kỳ vĩ  Ý tưởng về nhiệm vụ GP-B được đề xuất từ năm 1959, nhưng dự án này phải chờ đợi cho tới khi các công nghệ cần thiết liên quan được nghiên cứu ra.   “GP-B, về khái niệm thì đơn giản, nhưng đòi hỏi công nghệ cực kỳ phức tạp”, nhận xét từ Rex Geveden, cựu giám đốc chương trình GP-B, nay là chủ tịch công ty Teledyne Brown Engineering tại Huntsville, bang Alabama.   “Ý tưởng đã có từ 3 tới 4 thập kỷ trước khi con người có đủ trình độ công nghệ để thực hiện. 13 công nghệ tinh xảo được sinh ra trong quá trình nghiên cứu thực hiện dự án GP-B. Quả cầu luân chuyển có thể coi là vật thể tròn nhất mà con người từng chế tạo được. Chênh lệch lớn nhất giữa các đường kính của quả cầu chỉ vào khoảng 2 phần 10 của một phần triệu inch.”               Thí nghiệm Gravity Probe B của NASA:              1. Góc quay của từng con quay được giám sát để theo dõi những thay đổi gây ra bởi các hiệu ứng tiếp theo thuyết tương đối rộng               2. Độ lệch kéo khung               3. Độc lệch võng              4. Các con quay luân chuyển trên vệ tinh Gravity Probe B được dữ trong hộp chân không đặc biệt được thiết kế để chống lại mọi tạp lực               5. NASA phóng vệ tinh GP-B vào ngày 20 tháng 04, nhưng bắt đầu cấp kinh phí cho dự án này từ năm 1963, tức là khá lâu trước khi Neil Armstrong đặt chân lên Mặt trăng          Những sáng chế sinh ra từ GP-B được dùng trực tiếp để cải tiến Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS). Một dự án khác của NASA có tên gọi Cobe có nhiệm vụ chụp lại hình ảnh vũ trụ ở khoảng dưới 1 triệu năm sau Big Bang, thành công được là nhờ công nghệ được phát triển ra từ GP-B.    Khoảng 100 sinh viên đã hoàn thành luận án PhD nhờ tham gia vào các hạng mục của dự án, trong suốt quá trình nghiên cứu phát triển, chế tạo, và thực hiện chuyến bay của vệ tinh trong không gian.   Hơn 350 sinh viên đại học cũng tham gia vào GP-B, bao gồm một người sau này trở thành nữ du hành vũ trụ đầu tiên của Mỹ, Sally Ride. Một người khác là Eric Cornell, đoạt giải Nobel Vật lý năm 2001.  (Tổng hợp từ NASA, BBC và chuyên trang của Đại học Stanford về Gravity Probe –B)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Côn trùng sẽ to khổng lồ nếu trái đất có nhiều oxy      Gần 300 triệu năm trước, những con côn trùng khổng lồ cũng đã nghênh ngang đi lại và vỗ cánh trên hành tinh, với những chú chuồn chuồn có sải cánh to bằng diều hâu – khoảng 76 cm. Thời đó, ôxy chiếm 35% không khí. Còn ngày nay, chúng ta chỉ được hít thở lượng ôxy chiếm 21% bầu khí quyển.    Không phải loài côn trùng nào cũng khổng lồ vào thời đó, nhưng khoảng 10% đủ lớn để coi là khổng lồ, nhà sinh vật học côn trùng Alexander Kaiser tại Đại học Midwestern ở Arizona, Mỹ, cho biết.  Để tìm hiểu liệu không khí nhiều ôxy hơn có tạo nên những con côn trùng to hơn hay không, Kaiser và cộng sự đã tính toán xem lượng không khí hiện thời có hạn chế kích thước của côn trùng. Họ so sánh 4 loài bọ cánh cứng to từ 0,25 cm đến 3,8 cm.  Cụ thể, các nhà nghiên cứu tìm hiểu kích cỡ khí quản trong côn trùng, nơi luồng không khí ra vào cơ thể. Nếu con người có một khí quản thì côn trùng có cả một hệ thống liên kết với nhau và thông ra bầu khí quyển.  Khi con bọ to hơn, ảnh chụp X-quang cho thấy khí quản của chúng cũng to lên và vượt trội khả năng kích cỡ cơ thể cho phép là 20%. Đó là bởi khi con bọ tăng về kích cỡ, khí quản của chúng cũng phải to hơn nữa để đáp ứng thêm lượng ôxy cần cho cơ thể.  Đến một cỡ nào đó, khí quản không thể phát triển quá một kích thước nhất định. Dựa trên các tính toán, nhóm nghiên cứu tìm thấy các con bọ hiện đại không thể lớn quá 15 cm. Đó là kích cỡ của những con bọ to nhất được biết tới hiện nay, như bọ sừng dài Titanic ở Nam Mỹ.  Nếu bầu khí quyển trong quá khứ có nhiều ôxy hơn, khí quản có thể hẹp hơn mà vẫn luân chuyển đủ không khí cho những con côn trùng to hơn. Điều này dẫn đến kích cỡ con vật lớn hơn rất nhiều, các nhà nghiên cứu kết luận.  (theo Livescience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố bản đồ gene người trên Internet      Lần đầu tiên một bản đồ gene người được giải mã đầy đủ đã được công bố trên Internet. Chủ nhân của bản đồ gene và là người giải mã đó chính là nhà khoa học nổi tiếng Craig Venter.    Bản đồ gene của Venter gồm các gene kế thừa từ cha và mẹ của ông đã được đăng trên tạp chí điện tử PLoS Biology, nhờ đó các nhà nghiên cứu khác có thể lấy đây là nguồn tham thảo để so sánh với trình tự ADN của những người khác.  Ông Venter cho rằng trong vòng 5 năm nữa, những kỹ thuật ít tốn tiền hơn và giúp phân tích nhanh hơn sẽ giúp giải mã 10.000 bản đồ gene, mở đầu “thời kỳ giải mã gene cho từng con người” để lập hồ sơ sức khỏe cho từng cá nhân. Tuy nhiên, một vài nhà khoa học lưu ý cần cảnh giác với khả năng thông tin sức khỏe riêng bị lạm dụng. Theo ông Craig Venter, “lâu nay chúng ta tưởng chúng ta giống nhau về mặt gene ở tỷ lệ 99,9%, nhưng hóa ra chúng ta chỉ giống nhau ở mức 99,5%”.  TH.TU (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố chi tiết bản đồ biến thể gene người      Nhóm các nhà khoa học quốc tế vừa công bố bản đồ biến thể gene người chi tiết và hoàn chỉnh nhất từ trước tới nay.      Đây là bước tiến quan trọng giúp làm sáng tỏ những yếu tố di truyền gây bệnh và những bí ẩn về sự tiến hóa của loài người. Theo các nhà khoa học, bộ gene của bất kỳ hai người nào cũng giống nhau tới 99,99%. Tuy nhiên, chỉ 0,01% nhỏ nhoi còn lại cũng đủ tạo ra sự khác biệt của rất nhiều tính trạng từ màu mắt tới khả năng chống chọi với bệnh tật…Bản đồ biến thể gene mới sẽ giúp các nhà nghiên cứu tăng khả năng so sánh và đối chiếu các nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân những người có xu hướng mắc một loại bệnh riêng biệt, trong khi những người khác lại miễn dịch đối với căn bệnh đó, hay có những người phản ứng tốt với các loại thuốc điều trị, còn một số người khác lại không.   TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố kế hoạch xây dựng sáu lò phản ứng AP1000 ở Ấn Độ      Nhân chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới thủ đô Washington DC vào đầu tháng 6, Nhà Trắng đã có tuyên bố chung Hoa Kỳ – Ấn Độ, trong đó thông báo “bắt đầu công tác chuẩn bị” kế hoạch xây dựng sáu lò phản ứng công nghệ AP1000 của nhà cung cấp Westinghouse ở Ấn Độ.    Thủ tướng Narendra Modi và tổng thống Barack Obama hoan nghênh thương vụ 6 LPU AP1000 của Westinghouse  * Hợp đồng cung ứng đầu tiên của Mỹ kể từ khi Hiệp định hợp tác hạt nhân Hoa kỳ-Ấn độ được ký kết.  * Dự án lớn nhất đối với thiết kế lò phản ứng năng lượng mới AP1000 của Westinghouse.  * Quốc hội Mỹ sẽ phải khôi phục đầy đủ ban lãnh đạo Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Hoa kỳ trước khi ký kết thương vụ.  Tuyên bố chung này ghi nhận sự phát triển đỉnh cao sau một thập kỷ hợp tác giữa hai nước về vấn đề hạt nhân dân sự, trong đó bao gồm cả việc “nâng cao hiểu biết” vào tháng 1/2015 để hướng đến khẳng định lập trường của Ấn Độ về vấn đề trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực hạt nhân và sự phê chuẩn “Công ước bồi thường bổ sung cho thiệt hại hạt nhân” của Ấn Độ vào tháng 2/2016.  Tại cuộc trò chuyện với Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ-Ấn Độ, ông Modi đánh giá dự án “sẽ đánh dấu một kỷ nguyên mới trong hợp tác hạt nhân và khoa học của chúng tôi”.  Theo tuyên bố chung, Công ty điện lực Westinghouse và Tập đoàn điện hạt nhân Ấn Độ sẽ bắt đầu công việc thiết kế kỹ thuật và địa điểm ngay lập tức trong khi hai bên làm việc hướng tới hoàn tất thỏa thuận hợp đồng vào tháng 6/2017.   Ấn Độ coi năng lượng hạt nhân như là một “nguồn điện an toàn với môi trường và đem lại hiệu quả kinh tế để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng của đất nước”.  “Viện Năng lượng Hạt nhân NEI (tổ chức đại diện ngành công nghiệp hạt nhân Hoa kỳ) chúc mừng Westinghouse và chính phủ Ấn Độ về tuyên bố chung nhằm mở rộng vai trò của năng lượng hạt nhân như là nguồn năng lượng  đáng tin cậy, không carbon và cần thiết ở Ấn Độ”, Giám đốc Chương trình nhà cung cấp của NEI, Ted Jones nói. “Các cơ sở này sẽ nâng cao mức sống cho phần lớn dân Ấn Độ hiện vẫn chưa được tiếp cận với việc cung cấp điện ổn định”.  Theo tuyên bố của Nhà Trắng, một phần việc các cuộc đàm phán hướng tới hợp đồng cuối cùng là Ấn Độ và Ngân hàng Xuất – Nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ cùng làm việc hướng tới một gói tài chính cạnh tranh cho dự án.  Tuy nhiên, ông Jones lưu ý rằng mặc dù hoạt động của Ngân hàng Xuất nhập khẩu đã được cho phép hoạt động trở lại tháng 12/2015 sau một cuộc tranh cãi kéo dài ở Quốc hội, song cần khôi phục quyền biểu quyết của các thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng để bắt đầu phê duyệt các giao dịch lớn hơn 10 triệu đô la. Theo lý giải của ông, “Ngân hàng Xuất nhập khẩu có thể thực hiện vai trò của mình chỉ khi Quốc hội xác nhận một đề cử cho ban giám đốc của ngân hàng”.  Một khi hoàn thành, việc xây dựng sáu lò phản ứng, dự án trị giá nhiều tỷ USD này sẽ là một trong những dự án lớn nhất trong lịch sử của loại lò AP1000, lớn hơn rất nhiều các dự án lò sử dụng công nghệ tương tự đang xây dựng tại Hoa Kỳ và Trung Quốc. Dự kiến, việc thực hiện dự án sẽ mang lại hàng ngàn công việc với thu nhập cao cho Hoa Kỳ, ông Jones cho biết.  Ấn Độ coi năng lượng hạt nhân như là nguồn điện an toàn với môi trường và đem lại hiệu quả kinh tế để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng của đất nước.  Hiện hai lò phản ứng AP1000 1.100 MWe ở mỗi địa điểm  đang được xây dựng tại phía Nam của Vogtle ở Georgia, SCANA Corp V.C. Summer site ở miền Nam Carolina, và tại Sanmen và Haiyang ở Trung Quốc. Tổ máy Sanmen  1 dự kiến sẽ  là lò AP1000 đầu tiên trên thế giới bắt đầu hoạt động thương mại vào đầu năm tới.  Địa điểm cho dự án sáu lò phản ứng công nghệ AP1000 của Ấn độ vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên các bài viết trên phương tiện truyền thông đã suy đoán rằng, có thể địa điểm xây dựng ban đầu tại bang Gujarat, quê hương của Thủ tướng Modi, sẽ được thay đổi và nhiều khả năng, các lò phản ứng này sẽ được xây dựng ở bang miền nam Andhra Pradesh.  Dự án với Westinghouse là một phần của những  kế hoạch đầy tham vọng của Ấn Độ nhằm tăng nguồn điện hạt nhân từ 5.300 MW hiện nay  lên nhiều lần đến 63.000 megawatt vào năm 2032 để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.  Nguyễn Thị Thu Hà tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật      Ngày 21/7, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.    Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật gồm 7 chương và 71 điều, nội dung cơ bản của Luật thể hiện yêu cầu đổi mới toàn diện tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật theo hướng thống nhất đầu mối quản lý, giản lược các tiêu chuẩn, áp dụng linh hoạt các chế độ tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng. Trong luật này, hệ thống tiêu chuẩn được đơn giản hóa còn hai cấp gồm tiêu chuẩn quốc gia và cơ sở, đồng thời hình thành hệ thống quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng cũng gồm hai cấp là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật địa phương. Về thẩm quyền công bố tiêu chuẩn quốc gia và cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn được thống nhất về Bộ KH&CN. Riêng thẩm quyền ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được giao cho các Bộ (cơ quan ngang Bộ) quản lý chuyên ngành.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố nguyên nhân siêu động đất Nhật Bản 2011      Các nhà địa chấn học ngày 9/1 tuyên bố họ đã  tìm ra những chỉ dấu về việc tại sao trận siêu động đất xảy ra ở Nhật  Bản năm 2011 từ một vết nứt gẫy ban đầu tưởng là vô hại.    Các phát hiện đã cảnh báo về chiến lược đối phó động đất của Nhật Bản cũng như cho các địa điểm khác, bao gồm vết nứt gãy nổi tiếng San Andreas ở California, Mỹ, với hồ sơ địa chất tương đương, theo các nhà khoa học.Các nhà địa chất Hiroyuki Noda thuộc Viện khoa học công nghệ địa chất-hải dương Nhật Bran và Nadia Lapusta thuộc Viện công nghệ California đã sử dụng mô hình máy tính để phân tích và công bố các phát hiện của họ về trận động đất kinh hoàng ngày 11/3/2011 dẫn tới sóng thần khiến 19.000 người thiệt mạng và tàn phá nghiêm trọng một vùng rộng lớn cũng như kéo theo thảm họa hạt nhân tại nhà máy Fukushima Daiichi.   Trận động đất 9,0 độ xảy ra ở ngoài khơi Đông Bắc Nhật Bản ở khu vực được gọi là đường rãnh Nhật Bản, nơi khối địa tầng Thái Bình Dương luồn xuống dưới khối địa tầng Okhotsk, và bán đảo Nhật Bản nằm ngay ở phần tiếp giáp.   Tâm chấn của trận động đất ở cách Sendai, đảo Honshu khoảng 200 km về phía đông. Trước đó, rãnh Nhật Bản được cho là tương đối ổn định và chỉ xảy ra hiện tượng “đứt gãy từ từ” có nghĩa là những chuyển động của các khối địa tầng diễn ra chậm và không có quá nhiều xáo trộn đột ngột.   Theo lý thuyết địa chấn được chấp nhận phổ biến, những đứt gãy này không gây ra các trận siêu động đất, như kiểu chúng ta xả từ từ khí nóng ra khỏi một động cơ hơi nước. Nhưng Noda và Lapusta cho rằng đoạn đứt gãy được cho là kéo dài và từ từ trước đó có thể yếu đi đột ngột vì một biến động địa chất ở gần đó.   Nếu như biến động này bắt đầu từ việc phun trào các dung nham nóng dưới đại dương, một trận động đất lớn có thể xảy ra. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những biến động địa chất được cho là từ từ vẫn có thể gây ra các trận động đất lớn, được phóng đại hơn về cường độ và sức tàn phá,” Noda nói.   Các tác giả nói họ hy vọng công trình của mình sẽ có ích cho các nỗ lực dự báo và đối phó động đất trong tương lai. Một số chuyên gia cũng cho rằng chương trình đối phó động đất của Nhật Bản hiện quá tập trung vào rủi ro cho khu vực Tokyo, nằm khá xa về phía nam so với trận động đất 2011.   Các phát hiện cũng chỉ ra rủi ro ở vết nứt gãy San Andreas ở ngoài khơi California, theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí khoa học Nature.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố quốc tế có khó?      Việc công bố công trình nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế của các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam không khó nếu như họ có được đam mê nghiên cứu và luôn mong muốn chia sẻ những phát kiến khoa học của mình với đồng nghiệp quốc tế.      PGS. TS Lê Thị Lý trao đổi tại hội thảo  Qua tiếp xúc với nhiều nhà nghiên cứu trẻ tại hội thảo “Công bố khoa học trên tạp chí quốc tế” do Trung tâm phát triển khoa học và công nghệ trẻ phối hợp với tạp chí Khoa học Việt Nam (Vietnam journal of science) phối hợp tổ chức diễn ra ngày 28/5 tại TP.HCM cũng như ở những cuộc gặp gỡ khác, tôi nhận thấy rằng, một trong những băn khoăn thường trực của họ là vấn đề ngôn ngữ. Do không phải là người bản xứ nên việc dùng tiếng Anh để diễn tả công trình nghiên cứu cũng là thách thức không nhỏ, thậm chí ngay cả với những người đã sử dụng thành thạo tiếng Anh cũng không ngoại lệ. Để có được một bài báo khoa học hoàn thiện và chỉn chu về cả nội dung lẫn hình thức, người viết cần phải nắm rõ những yếu tố cơ bản về văn phong, ngữ pháp, mẫu câu, từ vựng… Khi trình bày các dữ liệu khoa học, chúng ta thường hay mắc chung một sai lầm cơ bản là không đặt mình vào vị trí của người đọc, vì thế ý tưởng không được diễn đạt một cách mạch lạc và dễ hiểu. Để không mắc phải lỗi này, theo kinh nghiệm của tôi, các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam nên tìm đọc các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế nhiều hơn. Việc tìm đọc các công bố của các nhà khoa học quốc tế sẽ đem lại cho chúng ta hai lợi ích lớn: thứ nhất giúp nắm bắt được những xu hướng nghiên cứu nổi trội, những thông tin mới nhất trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu; thứ hai giúp học hỏi lối tư duy và khả năng phân tích những vấn đề đặt ra một cách logic.  Với tư cách là người đã tham gia bình duyệt nhiều công trình trên một số tạp chí quốc tế, tôi cho rằng việc chuẩn bị hình vẽ, bảng biểu, sơ đồ rất quan trọng. Đây là những điểm mà người bình duyệt quan tâm trước khi bỏ thời gian đọc phần thảo luận và giúp họ có được đánh giá sơ bộ về công trình nghiên cứu. Những dữ liệu khoa học khác của công trình cũng cần phải được lưu giữ cẩn thận vì nó sẽ được dùng nhiều lần trong quá trình nhà nghiên cứu viết bài và trả lời phản biện. Nhà nghiên cứu có thể chỉ cần trình bày những dữ liệu quan trọng theo một tiến trình hợp lý mà không cần liệt kê tất cả những kết quả thu được trong lúc làm thí nghiệm. Ở vị trí tác giả công trình, nhà nghiên cứu cũng cần phải thấy được giới hạn của nghiên cứu mà mình thực hiện và đề xuất những nghiên cứu tiếp theo. Một vấn đề đáng lưu tâm là nhà nghiên cứu không được phép sử dụng các dữ liệu ngụy tạo để “làm đẹp” công trình nghiên cứu, bởi nó liên quan đến đạo đức khoa học. Khoa học thế giới đã phát hiện ra nhiều trường hợp ngụy tạo dữ liệu nghiên cứu và đây là nguyên nhân dẫn đến hậu quả là làm sứt mẻ uy tín của nhiều nhà khoa học.  Thời gian để một công trình nghiên cứu được các tạp chí quốc tế có hệ thống bình duyệt chấp nhận xuất bản dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố: xu hướng của tạp chí, nội dung công trình, khả năng diễn đạt của tác giả… Với các tạp chí có hệ số IF cao thì quy trình bình duyệt càng chặt chẽ và thời gian chờ đợi càng kéo dài hơn. Khi nhận được hồi âm của tạp chí và những câu hỏi hóc búa của người phản biện, vốn là những chuyên gia uy tín trong lĩnh vực mà nghiên cứu đề cập, các nhà nghiên cứu trẻ cần phải thấy được nguyên nhân là do vấn đề mình đưa ra còn chưa đủ sức thuyết phục và cần được chỉnh sửa để việc giải thích vấn đề mà mình đã nêu được tường minh hơn. Quá trình hỏi đáp, bổ sung như vậy không chỉ để làm hài lòng các nhà bình duyệt và để công trình sớm được chấp nhận đăng mà quan trọng hơn là giúp các nhà nghiên cứu trẻ hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình.  Một vấn đề nữa mà các nhà nghiên cứu trẻ đặt ra với tôi là có nên đăng bài trên các tạp chí quốc tế có hệ số IF thấp hay không, khi chưa đủ sức thuyết phục các tạp chí “chiếu trên” chấp nhận công trình của mình? Trên thực tế, các tạp chí có hệ số IF cao là mục tiêu hướng tới của các nhà khoa học, không kể người có nhiều kinh nghiệm hay mới bước vào con đường nghiên cứu. Hiện nay, Quỹ Nafosted cũng bắt đầu có xu hướng khuyến khích các nhà nghiên cứu xuất bản công trình từ các đề tài do Quỹ tài trợ trên các tạp chí IF cao nhằm nâng dần chất lượng công bố của Việt Nam. Để hướng tới mục tiêu lâu dài này, các nhà nghiên cứu trẻ nên cố gắng gửi đăng bài báo ở các tạp chí thuộc top Q1 của SCImago. Những bài báo được xuất bản trên các tạp chí này sẽ mang uy tín khoa học và nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn cho các nhà nghiên cứu trẻ. Tuy vậy, chúng ta cũng không nên cứng nhắc mà đánh giá thấp những đồng nghiệp trẻ ở giai đoạn đầu nghiên cứu chỉ đăng được trên tạp chí có hệ số IF chưa cao vì ai cũng hiểu, điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam còn nhiều hạn chế và bản thân họ chưa có uy tín khoa học nên ít có khả năng được các tạp chí Q1 chấp nhận.  Khi viết bài báo đầu tiên, các nhà nghiên cứu trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn tưởng chừng khó vượt qua. Tuy nhiên sau khi trải qua những công đoạn trên đây, họ sẽ rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm để tìm kiếm cơ hội công bố công trình của mình trên những tạp chí chất lượng. Nếu có đam mê nghiên cứu và luôn mong ước chia sẻ những phát kiến khoa học của mình với các đồng nghiệp quốc tế thì họ sẽ vượt qua được những khó khăn này.     Để góp phần tháo gỡ những khó khăn mà các nhà nghiên cứu trẻ gặp phải khi xuất bản các công trình nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành quốc tế, Trung tâm phát triển KH&CN trẻ Thành đoàn TP.HCM đã phối hợp với tạp chí Khoa học Việt Nam (Vietnam Journal of science), một dự án phi lợi nhuận do Quỹ học bổng và học giả cho giáo dục Việt Nam (Vietnam Education Foundation Fellows & Scholars – VEFFA) phối hợp tổ chức hội thảo Công bố khoa học trên tạp chí quốc tế vào ngày 28/5 tại TP.HCM. Hàng trăm nhà khoa học trẻ từ các trường đại học tại TPHCM, Cần Thơ, An Giang… đã tới lắng nghe sự chia sẻ của các diễn giả, những nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm như GS. TS Trương Nguyện Thành (ĐH Utah, Mỹ), PGS. TS Nguyễn Thị Huệ (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TPHCM), PGS. TS Lê Văn Cảnh, PGS. TS Lê Thị Lý (ĐH Quốc tế, ĐHQG TPHCM)… về quy trình công bố bài báo khoa học, cách giải quyết những khó khăn mà các nhà nghiên cứu trẻ thường gặp phải… Tia Sáng trích đăng ý kiến của PGS. TS Lê Thị Lý về vấn đề này.       Author                Lê Thị Lý        
__label__tiasang Công bố quốc tế năm 2018: Ai Cập và Pakistan tăng trưởng cao nhất      Năm 2018, số lượng công bố quốc tế toàn cầu đạt kỷ lục mới, trong đó các nền kinh tế mới nổi có sức tăng trưởng nhanh nhất về công bố.      Theo ước tính của Clarivate Analytics – công ty hàng đầu thế giới về dữ liệu khoa học, các nền kinh tế mới nổi đã có bước tăng trưởng cao nhất về xuất bản công trình nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế. Ai Cập và Pakistan dẫn đầu danh sách với mức 21% và 15,9%.  Xuất bản công bố của Trung Quốc tăng lên 15%, Ấn Độ, Brazil, Mexico và Iran cũng cho thấy sự thăng tiến về số lượng với hơn 8% so với năm 2017.  Trên phương diện toàn cầu, các công trình nghiên cứu tăng 5% với tổng số 1.620.731 công trình có trong cơ sở dữ liệu khoa học của Web of Science.  Caroline Wagner – nhà nghiên cứu chính sách KH&CN tại trường đại học Ohio và cựu cố vấn của chính phủ Mỹ, nhận xét: chính sự đa dạng của các quốc gia trong việc đóng góp vào dữ liệu khoa học chung của thế giới đã góp phần lan tỏa thành công này. “Nếu vào năm 1980, 5 quốc gia chiếm tới 90% công bố khoa học toàn thế giới – Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản thì hiện nay, 20 quốc gia nằm trong nhóm có nhiều công bố nhất thế giới”.       Clarivate đã thống kê và phân tích dữ liệu theo yêu cầu của Nature, phần phân tích này tập trung vào 40 quốc gia có ít nhất 10.000 công bố trong cơ sở dữ liệu Web of Science, gồm các công trình xuất bản từ tháng 1 đến tháng 8/2018.  Joshua Schnell – một nhà tư vấn của Clarivate ở Rockville, Maryland, cho rằng, các kết quả này được so sánh với kết quả thu được trong vài năm trở lại đây và góp phần nhận biết xu hướng của năm 2019.  Sự tăng trưởng trong xếp hạng  Không rõ điều gì tác động mạnh nhất đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về công bố quốc tế của Ai Cập và Pakistan. Một điều có thể thấy là cả hai quốc gia này đều có xuất phát điểm thấp – gần cuối danh sách 40 quốc gia có nhiều công bố nhất, theo nhận xét của Robert Tijssen, người phụ trách bộ phận nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo ở đại học Leiden, Hà Lan.  Những số liệu này cũng có thể là do các thay đổi trong cách cơ sở dữ liệu Web of Science thu thập dữ liệu, như đưa thêm nhiều tạp chí quốc gia hoặc tạp chí cấp vùng vào danh sách tạp chi khoa học của Web of Science. Nhưng một số vùng như châu Phi vẫn còn chưa được thể hiện đúng khả năng của mình, Tijssen nói.  Cả Tijssen và Wagner đều cho rằng, ngân sách đầu tư cho khoa học và các mối hợp tác quốc tế gia tăng đều có tác động thúc đẩy số lượng xuất bản của Ai Cập và Pakistan.  Tại Trung Quốc, sự gia tăng xuất bản khoa học có từ sự tăng trưởng trong chính sách đầu tư cho khoa học và giáo dục đại học của chính phủ, Tijssen cho biết.  Wagner đang chờ đợi vào khả năng Trung Quốc có thể sớm vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc có nhiều công bố hàng đầu thế giới – hiện khoảng  cách đã được thu hẹp với khoảng 35.000 công bố. Theo một số cách đo đếm thì Trung Quốc đã sẵn sàng vượt qua Mỹ.  Nếu xét theo số lượng trích dẫn thì chất lượng của khoa học Trung Quốc cũng đang tăng lên, nhưng để tiếp tục có được điều đó, đất nước này sẽ cần phải giữ được tính mở với toàn cầu, Wagner nói. Hiện chính sách kiểm duyệt internet của Trung Quốc khiến nhiều nhà khoa học phàn nàn về cơ sở dữ liệu bị khóa và việc tìm kiếm dữ liệu bị giới hạn.  “Khi kết nối với toàn cầu nhiều hơn, bạn cần phải biết những gì đang dẫn đầu các hướng nghiên cứu trong khoa học. Và thật quan trọng khi lọt vào top các quốc gia được nhiều trích dẫn nhất thế giới”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07841-9        Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố trên tạp chí khoa học có tiếng ở tuổi      Hai thiếu niên ở thành phố Mannheim và trở thành tác giả nhỏ tuổi nhất của một tạp chí y học nổi tiếng có lịch sử lâu đời ở Đức, và có lẽ cũng là tác giả nhỏ tuổi nhất trên một tạp chí y học có tên tuổi của thế giới.    “Những học sinh có chế độ dinh dưỡng tốt, tích cực tập luyện thể thao và dành ít thì giờ ngồi trước tivi thường có kết quả học tập tốt” – Nhận định trên đúng hay không? Và nếu đúng thì tại sao? Hai anh em Hannah Neumann, 12 tuổi, và Phillip, 14 tuổi, đã tự hỏi như vậy khi các đọc nhận xét trên ở trên báo. Để tìm câu trả lời, hai em đã tiến hành một công trình nghiên cứu, in một loạt phiếu câu hỏi và phát cho các bạn học ở trường phổ thông Lessing ở Mannheim.  Nếu chỉ làm vậy thôi cũng đã là điều khá đặc biệt. Nhưng hơn thế, công trình nghiên cứu của Hannah và Phillip đã được đăng trên tạp chí Y học “Deutsche Medizinische Wochenschrift” (DMW) – được đăng bài trên tạp chí này là điều vinh dự, ngay cả với các nhà y học đã thành danh. Martin Middeke, Tổng biên tập DMW nói: “Hai em này đã trở thành tác giả nhỏ tuổi nhất trong lịch sử 132 năm của tờ tạp chí chúng tôi, và có thể các em là những tác giả ít tuổi nhất trên các tạp chí chuyên đề Y học của thế giới”.               Hai anh em trình bày kết quả điều tra của mình tại Hội nghị về tiểu đường ở Hamburg – trong số thính giả có giáo sư Martin Middeke, Tổng biên tập “Tuần báo Y học Đức”. Tại Hội nghị, ông mới biết tác giả còn ở độ tuổi thiếu nhi.          Thoạt đầu hai anh em nhà Neumann chỉ muốn tìm hiểu xem các bạn cùng trường có chế độ ăn uống ra sao và tập luyện thể dục, thể thao thế nào. Phillip nói:”Khi tìm một dự án về chủ đề “thiếu niên nghiên cứu”, chúng tôi đã đọc một bài báo về thói quen ăn uống không tốt của học sinh”. Sau đó công việc nhanh chóng trở thành một dự án về khoa học. Kết quả nghiên cứu của các em lý thú, hấp dẫn đến mức các em đã được mời đến Hội nghị về bệnh tiểu đường ở Hamburg để giới thiệu kết quả nghiên cứu của mình. Trong tờ giới thiệu chương trình chỉ đề tên tác giả là “H. và P. Neumann” và tên đề tài. Bên cạnh một loạt giáo sư y học khác trong số đại biểu tham dự có cả ông Martin Middeke, ông nói: “Khi thấy hai đứa bé bước lên bục diễn thuyết tôi vô cùng ngạc nhiên. Không ai ngờ có chuyện đó”.  Theo ông Middeke thì hai anh em nhà Neumann đã có một công trình nghiên cứu “rất chuyên nghiệp, cấu trúc rõ ràng, mạch lạc và cả hai em đều biết rõ về những vấn đề mà mình trình bày”. Và ông nhấn mạnh, ở đây hoàn toàn “không có chuyện ưu ái trẻ em”. Nghiên cứu này tuyệt đối thuyết phục và đáng tin cậy, “nghiên cứu này đã được kiểm nghiệm theo một quy trình giám định chung”.  Còn Hannah thì kể lại công việc nghiên cứu: “Chúng tôi đã giành một năm rưỡi cho công trình nghiên cứu này. Chúng tôi cũng đã có dịp trình bày kết quả nghiên cứu tại “Hội nghị về trao đổi chất ở Heidelberg” thuộc Krehlklinik”. Năm 2006, Hannah và Phillip phân phát 729 phiếu điều tra tới các bạn trong trường và đã nhận lại được 84% số phiếu trả lời. Đây là một tỷ lệ trả lời cao đáng ngạc nhiên và điều này cũng chứng tỏ đề tài này được học sinh hết sức quan tâm.  Câu hỏi mà Hannah và Philip nêu ra là các bạn có thói quen ăn uống như thế nào, hoạt động trong giờ rảnh rỗi ra sao, số giờ dành cho tập luyện thể dục thể thao và xem tivi là bao nhiêu. Sau đó hai anh em đã đánh giá phiếu điều tra theo một hệ thống điểm với một chút giúp đỡ của mẹ -là bác sỹ và có lẽ đã truyền sang con “gen thầy thuốc”. Bạn của mẹ, Christel Weib, phụ trách Phòng thống kê y học thuộc Đại học tổng hợp Heidelberg cũng giúp phân tích khối lượng số liệu khổng lồ mà Hannah và Phillip thu được  Kết quả công trình nghiên cứu của Hannah và Philip cho thấy: với học sinh nữ, có mối quan hệ rõ ràng giữa chế độ ăn uống lành mạnh với kết quả học tập tốt. Với cả học sinh nam và nữ thích hoạt động thể thao, ít xem truyền hình và có chơi một loại nhạc cụ nào đó, thì kết quả học tập tốt lên. Weib nhận xét: “không có nghĩa là một học sinh nữ sẽ nghiễm nhiên có điểm cao khi thích ăn các loại rau xanh”. Bà cho rằng khi một nữ học sinh biết ăn uống một cách lành mạnh cũng có nghĩa em đó có một quan niệm sống nói chung lành mạnh hơn so với một nữ học sinh ăn uống xô bồ. “Có lẽ chính quan niệm sống này chính là yếu tố liên quan đến kết quả học tập”. Vì vậy cần cẩn trọng khi đánh giá, giải thích kết quả nghiên cứu. Song có thể khẳng định là hai anh em nhà Neumann đã thực hiện một công trình nghiên cứu xuất sắc.  Nghiên cứu của hai anh em Hannah và Phillip hoàn toàn phù hợp quan tâm của giáo sư Middeke, đó là vấn đề “phòng bệnh nguyên thủy” trong thanh thiếu niên. Ăn uống không lành mạnh, ăn nhiều đồ ngọt, thiếu chất… có thể gây bệnh tật và là nguy cơ gây tình trạng “con cái ra đi trước cả bố mẹ”; lối sống thiếu lành mạnh cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các bệnh như tiểu đường hoặc tim mạch. Thí dụ, một đứa trẻ tuổi 14, 15 mà bị dư thừa tới 15 kg thì sau này khó tránh khỏi bị bệnh tiểu đường Diabetes mellitus… Và lý do mà tổng biên tập tạp chí DMW cho đăng công trình nghiên cứu của hai tác giả nhỏ tuổi này bởi đây là minh chứng về việc: “Các em học sinh quan tâm lo lắng đến tình trạng sức khoẻ của bản thân mình”. Số liệu thống kê về hoạt động của các em học sinh trường Lessing khá lý tưởng, bình quân mỗi tuần các em hoạt động thể thao 4 giờ đồng hồ và mỗi tuần có sáu bữa ăn được chế biến từ các thức ăn tươi và có 1,5 giờ đồng hồ giành cho hoạt động ca hát, văn nghệ. Đây là những con số rất khích lệ.  Phillip cho hay sau này em muốn học nghề bác sỹ thú y còn cô em gái lại muốn đi theo nghề bác sỹ của mẹ.  VIỆT PHƯƠNG theo Spiegel      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công cụ hữu ích cho nghiên cứu tộc người và thực hiện chính sách dân tộc      Bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” do Viện Dân tộc học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) thực hiện, được các nhà dân tộc học đánh giá là công cụ hữu ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về tộc người và xây dựng cơ sở khoa học để thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam.      PGS.TS Vương Xuân Tình (thứ ba từ trái sang) và đồng sự điền dã tại cộng đồng người Pu Péo, tỉnh Hà Giang. Nguồn ảnh: NVCC.  Kỳ vọng khỏa lấp một khoảng trống nghiên cứu sau 40 năm  Trong điều kiện của một đất nước đa tộc người, việc nghiên cứu và khái quát thực trạng phát triển kinh tế xã hội của các tộc người trở thành một nhiệm vụ thiết yếu và thường xuyên với ngành dân tộc học, theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Nhưng cho đến nay, sau 40 năm ra đời tập đầu tiên của bộ sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” – được coi là “bách khoa thư”, phản ánh tương đối đầy đủ và toàn diện về các dân tộc thiểu số của nước ta, và sau hơn 30 năm công bố tập 2 của bộ sách này, đến nay vẫn chưa có một công trình nào thay thế. Đây là một sự bất cập so với yêu cầu của thực tiễn, khi hiện trạng các tộc người biến đổi ngày càng nhanh chóng, đồng thời là một sự tụt hậu về khoa học trong bối cảnh các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về xác minh thành phần tộc người, phân tích hiện trạng các tộc người cũng đã được cập nhật, thay đổi. Mặt khác, thống kê của Viện Dân tộc học vào năm 2012 cũng cho thấy, hầu như các dân tộc có dân số đông, dễ tiếp cận hoặc cần quan tâm đặc biệt đến phát triển kinh tế – xã hội, an ninh- quốc phòng thường được chú trọng nghiên cứu; còn các dân tộc có dân số ít, lại cư trú ở địa bàn xa xôi, hẻo lánh lại ít được quan tâm. Cụ thể, trong hơn 30 năm qua có 12 dân tộc hầu như chưa được nghiên cứu cập nhật gồm Bố Y, Pu Péo, Ngái, Hrê, Xtiêng, Bru – Vân Kiều, Tà-ôi, Co, Chơ-ro, Brâu.  Nhìn chung, “ngành Dân tộc học/Nhân học của Việt Nam vẫn chưa có những tổng kết xứng tầm về việc nghiên cứu tộc người kể từ sau khi bộ sách hai tập “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” được xuất bản. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần có một bộ sách mới, cập nhật và bổ sung vào khoảng trống này”, PGS.TS Vương Xuân Tình, nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học, chủ biên bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” cho biết. Vì thế, ông và tập thể đội ngũ biên soạn bộ sách đặt ra mục tiêu từ năm 2012 sẽ xây dựng một công trình góp phần tổng kết tình hình nghiên cứu; xem xét sự phát triển và biến đổi về kinh tế – xã hội của các tộc người; xác định những vấn đề đã và đang đặt ra về phát triển đối với các tộc người ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Các tác giả kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao nhận thức vấn đề tộc người ở Việt Nam trong khoảng gần 30 năm; xây dựng cơ sở khoa học cho việc thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn mới.  Dù kế thừa nền tảng cơ bản là phân loại tộc người và danh mục các tộc người ở Việt Nam, bộ sách lần này thể hiện tính “gối sóng” với bộ bách khoa thư về dân tộc học từ mấy chục năm trước chứ không rập khuôn. Điều khác biệt đầu tiên là người Kinh (Việt) được đưa vào nghiên cứu và tổng thuật, trong khi bộ sách cũ chỉ đặt mục tiêu nghiên cứu các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Trình bày về các dân tộc được chia theo 7 nhóm ngôn ngữ, thay vì trình bày theo phân vùng địa lý Bắc, Nam của bộ sách cũ. Và một trong những điều quan trọng hơn là các nhà nghiên cứu đã cập nhật được tình hình của 19 dân tộc thiểu số ít người còn ít được nghiên cứu kể từ năm 1986 đến nay như: Thổ, Giáy, Lào, La Chí, Bố Y, Pu Péo, Ơ-đu, Mảng, Mạ, Mnông, Tà-ôi, Xơ-đăng, Bru-Vân Kiều, Ngái, Cống, Si La, La Hủ, Chu-ru, Raglai.  Để đảm bảo chất lượng của công trình này, PGS.TS Vương Xuân Tình cho biết, các tác giả đều phải tuân thủ một quy trình, gồm: trước khi thực hiện từng tập sách (trong tổng số 4 tập), ông cùng đồng sự lấy ý kiến các nhà dân tộc học trong hội nghị Thông báo Dân tộc học – hội nghị thường niên lớn nhất của ngành, tập hợp rất nhiều các nhà nghiên cứu trong cả nước (các năm 2012 – 2015 tương ứng với 4 tập); sau đó, khi có kết quả biên soạn, các nhóm nghiên cứu thực hiện từng tập sách phải tổ chức tọa đàm lấy ý kiến phản biện và góp ý; cuối cùng, chủ biên và một số nhà nghiên cứu đọc, góp ý chỉnh sửa rồi mới gửi nhà xuất bản.  Nhờ vậy, bộ sách được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá như là một bách khoa thư mới về dân tộc học, có vai trò tích cực trong công tác nghiên cứu và đào tạo dân tộc học/ nhân học ở Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về các tộc người ở Việt Nam của nhiều bạn đọc khác. PGS.TS Nguyễn Văn Huy đã đánh giá đây là một “tập đại thành” sẽ đem lại ý nghĩa xã hội lớn, đem lại căn cứ khoa học nhằm phục vụ cho các chính sách phát triển.  Kết hợp giữa tính hàn lâm và đại chúng  Các tập sách này cần thiết đối với việc xây dựng chính sách dân tộc, thực hiện các dự án phát triển ở vùng dân tộc thiểu số. Bởi vì, mặc dù hiện thực các tộc người đang nhiều đổi thay như sự giao lưu tiếp biến văn hóa ngày càng mạnh hơn nhờ quá trình di cư, đô thị hóa; điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở nhiều vùng đang biến động liên tục; tình trạng phân tầng xã hội ngày càng gia tăng… nhưng hầu như các tổ chức phi chính phủ, chính phủ và các dự án ở các vùng có nhiều tộc người sinh sống vẫn phải dựa vào các thông tin từ bộ sách cũ. Hoặc họ thực hiện dự án mà vẫn thiếu những thông tin nền tảng căn bản về đời sống kinh tế, văn hóa tộc người, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính, chủ nhiệm Bộ môn Nhân học phát triển, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV Hà Nội, người có nhiều năm làm tư vấn cho Ủy ban dân tộc cũng như các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam về chính sách phát triển ở các dân tộc thiểu số.    Bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam”.   Tuy nhiên bộ sách này vừa cần đảm bảo tính học thuật trong lý thuyết, phương pháp luận, lại vừa phải mang tính đại chúng, nên có hai kiểu văn phong. Các chương có tính tổng luận về lý thuyết, phương pháp – mà sau này sẽ trở thành các công cụ có tính mẫu mực cho các nhà nghiên cứu trẻ, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành dân tộc học, “được trình bày bằng văn phong rất hàn lâm, lý luận, có trình độ cao. Trong khi đó, các chương cụ thể về tình hình từng tộc người khác nhau, cung cấp thông tin nền tảng nên sử dụng văn phong ít tính hàn lâm, dễ đọc, ai cũng có thể sử dụng được”, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính. Ông cũng đánh giá, việc kết hợp giữa tính hàn lâm và đại chúng này cũng là một vấn đề ngày càng quan trọng và đáng chú ý trong giới nghiên cứu quốc tế. Đây đang là một xu hướng mới trong nghiên cứu dân tộc học nói riêng và khoa học xã hội nói chung. Ở châu Âu, “đang có những thảo luận về dân tộc học đại chúng (public ethnography). Tức là người ta không thảo luận những vấn đề lý thuyết chỉ cho riêng các nhà nghiên cứu hiểu, mà đưa những lý thuyết đó bằng một ngôn ngữ bình dân hơn cho đại chúng cùng nắm bắt. Còn ở nhiều tạp chí chuyên ngành về KHXH, những bài viết đi sâu vào phân tích các hiện trạng xã hội ngày càng xuất hiện nhiều hơn”, ông cho biết.  Nguồn lực ít ỏi  Mặc dù bộ sách được đánh giá là một công trình đồ sộ, có quy trình thực hiện nghiêm túc, nhưng kinh phí để thực hiện lại khá ít ỏi. Lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lên tới 104 lượt cán bộ nghiên cứu, 61 lượt tác giả ảnh, 2 tác giả xây dựng bản đồ phân bố dân tộc của các nhóm ngôn ngữ, trên thực tế, toàn bộ lực lượng này sử dụng nguồn tài chính từ kinh phí đề tài cấp cơ sở của các năm 2013-2015, kinh phí hoạt động khoa học và kinh phí tổ chức Hội nghị Thông báo dân tộc học, chủ yếu từ năm 2012-2015 của Viện Dân tộc học. “Tổng kinh phí cho công việc này không nhiều, chỉ khoảng gần 3 tỉ đồng, tức là chỉ ngang với kinh phí của một đề tài cấp nhà nước, song được chúng tôi quản lý chặt chẽ, tiết kiệm và đảm bảo công bằng trong phân bổ”, PGS.TS Vương Xuân Tình cho biết. Mặt khác, do kinh phí có hạn nên Viện Dân tộc học cũng khuyến khích các tác giả tham gia bộ sách này kết hợp đi điền dã với đề tài nghiên cứu khác để tiết kiệm kinh phí mà vẫn phát huy được tối đa hiệu quả thu thập thông tin.  Vì vậy, bộ sách có những khoảng trống nhất định và cũng đã được một số nhà dân tộc học chỉ ra và góp ý nên bổ sung trong lần tái bản tới đây. Thứ nhất, các tác giả chỉ có thể đi thực địa ở một số địa phương nhất định của từng tộc người, mà chưa thể đi khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng ở nhiều nhóm, nhiều vùng khác nhau mặc dù, bối cảnh kinh tế xã hội ở các nhóm địa phương khác nhau, đặc biệt là các cuộc di dân, ngày càng khiến cho các tộc người trở nên đa dạng, có sự khác biệt lớn giữa các nhóm địa phương, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính. Đồng thời, trong khi các tộc người ngày càng sinh sống “vắt qua biên giới”, “xuyên biên giới” thì các tác giả chưa cập nhật được để người đọc có thể hình dung về tộc người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Thứ hai, trong bối cảnh nhiều tiêu chí của khung định nghĩa, phân loại tộc người có thể không còn xác đáng nhưng vẫn được áp dụng ở Việt Nam trong vài chục năm, PGS.TS Nguyễn Văn Chính gợi ý, các nhà nghiên cứu nên cập nhật sự thay đổi về lý thuyết xác định thành phần tộc người trên thế giới – đang ngày càng chỉ đánh giá cao tiêu chí “tính tự giác tộc người”. Thứ ba, những vấn đề nóng bỏng, mang hơi thở cuộc sống của từng tộc người cũng cần phải được cập nhật hơn nữa. Chẳng hạn, nghiên cứu về người Hoa vẫn chủ yếu chỉ hạn hẹp trong khu vực Sài Gòn Chợ Lớn, trong khi người Hoa có một mạng lưới rộng lớn hơn, thậm chí gắn với mạng lưới thân tộc, kinh tế, xã hội mang tính quốc tế.  PGS.TS Vương Xuân Tình cũng cho biết, ông và các đồng sự hiểu và phần nào buộc phải chấp nhận những khoảng trống ấy trong điều kiện hạn hẹp về kinh phí như vậy và xác định cần phải bù đắp trong các lần tái bản và nghiên cứu về sau. Ông cho biết, tới đây, bộ sách sẽ được tái bản, chỉnh sửa và bổ sung. Ngoài ra, riêng phần Tổng luận nghiên cứu tộc người và một số vấn đề về dân tộc ở Việt Nam và phần tổng kết Về vấn đề tộc người với cộng đồng quốc gia – dân tộc ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay sẽ được tập hợp và xuất bản thành cuốn sách riêng nhằm thảo luận sâu hơn về các vấn đề có tính học thuật trong giới dân tộc học.  Bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” của Viện Dân tộc học, gồm 4 tập do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành: Tập 1 “Nhóm ngôn ngữ Việt – Mường”; Tập 2 “Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Ka đai”; Tập 3 “Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me”; và Tập 4, Quyển 1 “Nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao và Tạng – Miến”; Quyển 2 “Nhóm ngôn ngữ Hán và Mã Lai – Đa Đảo”.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Cộng đồng quốc tế phản đối thí nghiệm về em bé chỉnh sửa gene ở Trung Quốc      Một nhà khoa học Trung Quốc mới đây vừa tuyên bố về một bước tiến gây tranh cãi trong việc sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene.      Các nhà khoa học chất vấn He Jiankui sau khi ông tuyên bố về cặp sinh đôi đã được chỉnh sửa gene. Nguồn: Kin Cheung/AP/ShutterstockHe Jiankui, một nhà nghiên cứu chỉnh sửa gene tại Đại học KH&CN  Nam Trung Quốc ở Thâm Quyến, nói đã giúp tạo ra những đứa trẻ chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới – hai bé gái sinh đôi vừa sinh ra trong tháng này. Các  nhà khoa học trên khắp thế giới đều sốc và phẫn nộ với thông báo này.     He Jiankui nói đã cho thụ thai cho các phôi đã được chỉnh sửa nhằm  vô hiệu hóa con đường di truyền khiến lây nhiễm đến các tế bào của HIV.     Trong một video được đăng lên YouTube, He Jiankui cho biết, hai bé  gái đều khỏe mạnh và đã ở nhà với bố mẹ. Việc giải trình tự DNA của hai đứa bé  sơ sinh cho thấy, việc chỉnh sửa gene đã có tác dụng và cũng chỉ thực hiện thay  đổi trên gene đã được xác định.     Tuy nhiên những thông tin của ông vẫn chưa được các thử nghiệm độc  lập kiểm chứng, cũng chưa được công bố trên một tạp chí có bình duyệt nào. Nếu  tuyên bố là đúng thì sự ra đời của cặp song sinh sẽ là một bước nhảy vọt đáng  kể và gây tranh cãi trong việc áp dụng công nghệ chỉnh sửa gene. Cho đến nay,  việc sử dụng các công cụ này trong phôi thai mới chỉ giới hạn trong nghiên cứu,  thường để thăm dò các lợi ích của công nghệ này và loại trừ các đột biến có khả  năng gây ra bệnh tật. Một số nghiên cứu đã cho thấy  đã có một số tác động ngoài gene mục tiêu,  khiến làm tăng lo ngại về độ an toàn của công nghệ này.     Điểm xâm nhập của HIV     Các tài liệu được đăng trên trang đăng ký thử nghiệm lâm sàng của  Trung Quốc cho thấy He Jiankui đã dùng công cụ chỉnh sửa bộ gene CRISPR-Cas9  phổ biến để vô hiệu hóa một gene có tên CCR5 – vốn mã hóa một loại protein cho  phép HIV xâm nhập vào tế bào.     Fyodor Urnov – nhà nghiên cứu về chỉnh sửa hệ gene tại Viện Khoa  học y sinh Altius, Seattle, Washington, đã được đề nghị đánh giá các tài liệu  mô tả các phân tích trình tự DNA của phôi người và bào thai đã được chỉnh sửa  gene CCR5 cho một bài báo trên MIT Technology Review. Theo ông, cách duy  nhất để biết liệu bộ gene của những đứa trẻ của He Jiankui có bị chỉnh sửa gene  hay không là kiểm tra DNA của chúng một cách độc lập.     Urnov phản đối quyết định chỉnh sửa bộ gene của phôi thai để ngăn  ngừa khả năng nhiễm HIV. Ông cũng đang dùng các công cụ chỉnh sửa bộ gene để  nhắm vào gene CCR5, nhưng nghiên cứu của ông là ở những bệnh nhân đã nhiễm HIV  chứ không phải các phôi. Quan điểm của ông là có “những cách an toàn và hiệu  quả” với các phương thức về di truyền để bảo vệ con người khỏi HIV mà không cần  đến việc chỉnh sửa gene của phôi thai. “Hiện nay, không có nhu cầu y tế nào cần  đến việc chỉnh sửa gene phôi thai”, ông nói.     Paula Cannon, nhà nghiên cứu về HIV tại Đại học Nam California,  cũng đặt câu hỏi về quyết định của nhà khoa học Trung Quốc về việc nhắm vào gene  CCR5 trong phôi thai. Cô cho biết một số chủng HIV thậm chí không xâm nhập vào  tế bào bằng loại protein này mà dùng CXCR4 – một loại protein khác. Ngay cả  những người có CCR5 âm tính một cách tự nhiên cũng không hoàn toàn miễn dịch  với HIV vì họ có thể bị nhiễm qua một chủng CXCR4, Cannon nói.     “Thí nghiệm này khiến những đứa trẻ khỏe mạnh bình thường rơi vào tình  trạng nguy hiểm của chỉnh sửa gene mà chưa chắc đã đem lại lợi ích gì”, Julian  Savulescu – giám đốc Trung tâm Đạo đức nghiên cứu Uehiro, Đại học Oxford, Anh –  nói.     Joyce Harper, người nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và sức khỏe  phụ nữ tại Đại học London (UCL), cho biết cần nhiều năm nghiên cứu để chứng  minh sự can thiệp vào bộ gene của phôi thai sẽ không gây hại. Vì vậy nên có các  điều luật quy định và tiến hành thảo luận công khai trước khi các công cụ chỉnh  sửa gene được áp dụng trên các phôi người. “Báo cáo về chỉnh sửa gene ở phôi người  nhằm kháng HIV là quá sớm, quá nguy hiểm và vô trách nhiệm”, Harper bình luận.     Đại học Trung Quốc “không biết” việc này     Trong một tuyên bố vào ngày 26/11, Đại học KH&CN Nam Trung  Quốc nêu không biết về các thí nghiệm của He Jiankui, chúng không được thực  hiện tại trường và ông đã nghỉ phép kể từ tháng 2/1018. Quan điểm của trường là  “nghiên cứu khoa học phải tuân thủ luật pháp, quy định quốc gia và tôn trọng,  tuân thủ các tiêu chuẩn học thuật và đạo đức học thuật quốc tế”. Trường đại học  cũng cho biết sẽ thành lập một ủy ban độc lập để điều tra vấn đề này.     Hơn 100 nhà nghiên cứu y sinh Trung Quốc đã đăng online một tuyên  bố gay gắt lên án He Jiankui: “Thực hiện các thí nghiệm trực tiếp trên người là  điên rồ”. Họ kêu gọi chính quyền Trung Quốc điều tra vụ án và đưa ra các quy định  nghiêm ngặt về thủ tục này.     Tuyên bố nhấn mạnh, “đây là cú đánh lớn đối vào danh tiếng quốc tế  và sự phát triển của khoa học Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực y sinh. Nó  vô cùng không công bằng cho phần lớn các nhà khoa học Trung Quốc siêng năng và  tận tâm đang theo đuổi nghiên cứu và đổi mới – những người nghiêm chỉnh tôn  trọng đạo đức và nhận biết những giới hạn của nó”.     Nature đã liên lạc với He Jianki nhưng vẫn chưa nhận được phản hồi.  Tạo ra các em bé chỉnh sửa gene là chống lại các quy định do Bộ Y tế và Bộ Khoa  học Trung Quốc ban hành năm 2003, nhưng hiện vẫn không rõ là có hình phạt nào  cho những người vi phạm các quy tắc này hay không.     Trong video YouTube, He Jianki nói rằng cha mẹ của cặp song sinh  trải qua thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Khi phôi mới chỉ là một tế bào đơn  lẻ, nhóm nghiên cứu của He Jianki đã chèn một protein chỉnh sửa để vô hiệu hóa  CCR5 trước khi phôi được cấy vào người mẹ.     Bước tiến không thể tránh khỏi?     Tin tức của thí nghiệm được đưa ra khi các nhà nghiên cứu trong  lĩnh vực này tập hợp ở Hồng Kông cho một cuộc họp quốc tế lớn về chỉnh sửa hệ  gen, diễn ra từ ngày 27 đến 29/11/2018 với mục tiêu đạt được đồng thuận về việc  chỉnh sửa gene để sửa đổi trứng, tinh trùng hoặc phôi – được gọi là chỉnh sửa dòng  phôi – nên tiến hành thế nào. Ngay cả trước vụ việc He Jianki, nhiều người  trong lĩnh vực này tin rằng không thể tránh khỏi việc ai đó thay đổi phôi thai  của con người bằng các công cụ chỉnh sửa hệ gene để cấy ghép vào phụ nữ. Vì  thế, họ đã sớm thúc đẩy việc tạo ra các tiêu chuẩn đạo đức hướng dẫn.     He Jianki ủng hộ việc sử dụng chỉnh sửa gene trên phôi với các  trường hợp liên quan đến bệnh tật, và cho rằng cần cấm những điều chỉnh di  truyền nhằm tăng cường trí tuệ, chọn các đặc điểm như tóc và màu mắt. “Tôi hiểu  công việc của mình sẽ gây tranh cãi, nhưng tôi tin rằng các gia đình cần công  nghệ này và tôi sẵn sàng chấp nhận những lời chỉ trích vì họ”, ông nói.     Nhà sinh học học Tetsuya Ishii tại Đại học Hokkaido ở Sapporo,  Nhật Bản, không nghĩ rằng việc áp dụng chỉnh sửa bộ gene trong phôi để giảm khả  năng nhiễm HIV là hợp lý. Ông nói rằng có thể sinh mổ trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV để  tránh nhiễm trùng lây truyền trong khi sinh.     Trong trường hợp của cặp song sinh, người cha dương tính với HIV  nhưng người mẹ thì không, ông nói trong video trên YouTube.     Nhưng Cannon nói rằng không có ý nghĩa gì khi chọn các gia đình  với một người cha dương tính với HIV vì không có nguy cơ lây truyền sang con  cái. Cô hy vọng rằng sau thông báo này, các nhà khoa học và các nhà hoạch định  chính sách sẽ phải thảo luận cách điều chỉnh những nghiên cứu như vậy.     Trong một cuộc phỏng vấn với AP, He Jianki nói mục tiêu của công  việc không phải là để ngăn chặn sự lây truyền từ cha mẹ, mà để đem lại cho các  cặp vợ chồng bị ảnh hưởng bởi HIV cơ hội để có một đứa trẻ không chịu số phận  tương tự.     Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy rằng công chúng hỗ trợ chỉnh  sửa gen trong phôi nếu việc này sửa chữa các đột biến gây bệnh. Vào tháng 12/2017,  Hội đồng Đạo đức Sinh học Nuffield, một ủy ban cố vấn độc lập có trụ sở tại  London, đã công bố kết quả một cuộc khảo sát 319 người: gần 70% người tham gia  ủng hộ chỉnh sửa gene nếu công nghệ này khiến các cặp vợ chồng vô sinh có thể  có con, hoặc cho phép một cặp vợ chồng thay đổi đột biến gây bệnh trong phôi  thai. Một cuộc khảo sát lớn hơn trên 4.196 công dân Trung Quốc mới được công bố  vào tháng trước, đã nêu mức ủng hộ tương tự cho việc sửa đổi gene nếu để phòng  bệnh, tuy nhiên họ cũng phản đối sử dụng công nghệ này để tăng cường chỉ số IQ  hoặc năng lực thể chất, hoặc thay đổi màu da.     Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07545-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công khai dữ liệu nguồn gốc COVID từ chợ Vũ Hán: Các nhà khoa học nghĩ gì?      Phân tích các mẫu gạc của Trung Quốc được bình duyệt đầu tiên xác nhận DNA động vật dương tính với SARS-CoV-2.    Các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Trung Quốc (CDC Trung Quốc) đã xuất bản một phân tích các mẫu được thu thập trong chợ bán đồ tươi sống ở Vũ Hán, Trung Quốc trong những tuần đầu tiên của đại dịch COVID-19 – cũng như dữ liệu cơ bản, vốn được cộng đồng nghiên cứu quốc tế chờ đợi và kêu gọi kể từ khi bắt đầu đại dịch.  Phân tích này, được xuất bản trên Nature vào tháng 5/4 1, xác nhận các mẫu gạc từ chợ Hoa Nam –vốn có liên quan dến điểm khởi phát của đại dịch – chứa vật liệu di truyền từ động vật hoang dại và cho kết quả xét nghiệm dương tích với SARS-CoV-2. Điều này cho thấy rất có thể là một con vật nào đó đã trở thành vật chủ trung gian của virus đã nhảy sang người và lây nhiễm cho người. Nhưng các nhà nghiên cứu cho biết phát hiện mới nhất vẫn còn chưa cung cấp đủ bằng chứng xác thực là SARS-CoV-2 có nguồn gốc từ một sự kiện từ động vật sang người (Các tác giả nghiên cứu, do cựu giám đốc CDC Trung Quốc George Gao, không phản hồi với đề nghị bình luận của Nature).  Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho biết việc xuất bản dữ liệu hệ gene, vốn đã được đưa lên các trang tư liệu mở, là điều tối cần thiết – bởi vì nó sẽ cho phép phân tích xa hơn để có thể cung cấp manh mối về nguồn gốc đại dịch. “Đó là một trong những bộ dữ liệu quan trọng bạc nhất mà chúng ta có kể từ khi xuất hiện đại dịch”, Florence Débarre, một nhà sinh học tiến hóa tại CNRS ở Paris, người tham gia vào nhóm nghiên cứu là nguyên nhân gây tranh cãi do xuất bản phân tích riêng dựa trên dữ liệu của CDC Trung Quốc vào tháng qua 2.  Nhà vi trùng học tiến hóa Jesse Bloom, Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, Washington, cho rằng dẫu các mẫu gạc được thu thập vào tháng 1/2020, cũng đem lại những thông tin hữu ích về những loài động vật nào được bán ở chợ, ngay cả những mẫu sớm hơn cũng cần thiết để tìm ra nguồn gốc đại dịch. “Nếu chúng ta hiểu được đích xác nguồn gốc của SARS-CoV-2, tôi ngờ là nó sẽ đến từ thông tin mới về các trường hợp mắc hoặc các sự kiện mắc vào sớm, tháng 12 hoặc tháng 11/2019, hoặc có thể sớm hơn”, Bloom nói.  Bài báo này là bài báo mới nhất trong loạt bài phân tích về các mẫu ở chợ Vũ Hán được xuất bản, và là bài đầu tiên được bình duyệt. Phát hiện này tương tự với một phân tích khác ở dạng tiền ấn phẩm khi cho là các mẫu gạc chứa dữ liệu di truyền từ động vật hoang dã và SARS-CoV-2. Nhưng các mẫu môi trường lại không xác nhận bất kỳ con vật nào bị lây nhiễm loài virus này.  Nhóm nghiên cứu Trung Quốc thực hiện phân tích mới xuất bản cũng đã có thêm một phiên bản khác ở dạng tiền ấn phẩm của nghiên cứu vào tháng 2/2022 cũng không đưa  phân tích vật liệu di truyền của động vật trong các mẫu gạc, và không công khai dữ liệu trình tự cơ bản của nó. Nhóm nghiên cứu, trong đó có Débarre, phát hiện ra dữ liệu mẫu của CDC Trung Quốc trên cơ sở dữ liệu hệ gene online GISAID và xuất bản phân tích riêng trên kho lưu trữ nghiên cứu Zenodo3. Báo cáo ngày nhận diện vật liệu di truyền của động vật hoang dã trong mẫu gạc đã dương tính với SARS-CoV-2 và chỉ ra các loại động vật, trong đó có lửng chó là loài đáng quan tâm.  Nghiên cứu gây tranh cãi   Báo cáo mới nhất thêm phần sức nặng cho một trong hai giả thuyết cạnh tranh nhau về nguồn gốc đại dịch COVID-19. Cuộc tranh cãi đã sôi sục về việc liệu đại dịch xuất phát từ tự nhiên, với một virus nhảy từ động vật sang người hay, nảy sinh từ một rò rỉ phòng thí nghiệm ở Viện Vi trùng Vũ Hán?  Chợ Hoa Nam đã là trung tâm của giả thuyết tự nhiên bởi rất nhiều trường hợp sớm mắc COVID-19 đều liên quan đến khu chợ này, nơi bán động vật được biết là vật chủ của nhiều loại virus hô hấp như các sarbecoviruse, bao gồm cả SARS-CoV-2. Dẫu vậy thì giả thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm lại được tiếp thêm động lực vào năm 2021 và chưa bị bác bỏ một cách dứt khoát.  Trong bài báo của CDC Trung Quốc, giống như báo cáo trên Zenodo, có các chi tiết về các trình tự hệ gene động vật có vú có trong mẫu động vật. Các tác giả phân tích 60 mẫu dương tính với SARS-CoV-2 – nhiều hơn báo cáo của Zenodo 11 trình tự – và 112 mẫu âm tính.  Phát hiện này củng cố cho giả thuyết nguồn gốc tự nhiên, một nhà nghiên cứu không tham gia vào cả hai nghiên cứu và muốn ẩn danh để khỏi dính vào cuộc tranh cãi xung quanh nguồn gốc COVID. Sự hiện diện của nhiều loài động vật hoang dã cho thấy sự nhảy loài virus dẫn đến đại dịch COVID-19 có thể xảy ra, nhà khoa học này nói. Một số loài trong số đó, ví dụ như lửng chó, có tiềm năng lan truyền lây nhiễm SARS-CoV-2. “Sự mở rộng của bằng chứng gián tiếp [trong bài báo] lớn hơn giả thuyết rò rỉ từ phòng thí nghiệm”.  Nghiên cứu này cũng đề xuất những manh mối về vai trò của khu chợ trong vấn đề nguồn gốc đại dịch. Trong những tuần sớm của cơn bùng phát, hai dòng SARS-CoV-2 – A và B- đều đang lưu hành. Ban đầu, các xét nghiệm nhận diện chỉ dòng B trong chợ. Điều này khiến một số nhà nghiên cứu kết luận là khu chợ này có thể đóng vai trò như một địa điểm cho một sự kiện “siêu lây nhiễm” sớm hơn là một địa điểm xảy ra hiện tượng nhảy loài từ động vật, bởi vì dòng A được cho là tổ tiên của virus.  Nhưng bản tiền ấn phẩm của CDC Trung Quốc năm ngoái nhận diện được chủng A trong một mẫu. “Đó là kết quả làm tôi đổi hướng và khiến tôi nghĩ là ‘được thôi, nó dường như là đến từ chợ’,” Débarre nói. Nhưng bà cho là một số nghi ngờ là kết quả này có thực? Phân tích mới xác nhận sự hiện diện của dòng A, giải quyết được mọi nghi ngờ, bà nói.  David Relman, một nhà vi trùng học tại ĐH Stanford ở California, đồng ý với đánh giá của các tác giả trong nghiên cứu là khu chợ có thể đóng vai trò như một vật khuếch đại của lan truyền SARS-CoV-2. “Có thể là con người mang virus vào chợ và động vật có thể”.  Những phát hiện giả mạo  Alice Hughes, một nhà sinh học bảo tồn tại ĐH Hong Kong lo ngại về chất lượng của phân tích. Thêm vào các mảnh hệ gene từ động vật, bao gồm lửng chó, Hughes cho là bài báo đã nhận diện vật liệu di truyền từ động vật như gấu trúc, chuột dũi, tinh tinh. Trong khi đó việc giết gấu trúc sẽ bị khép vào tội tử hình ở Trung Quốc, “không có thể có cách nào để truy dấu nó ở chợ”, cô nói.  Những kết quả kỳ lạ có thể từ ô nhiễm phòng thí nghiệm, hoặc xử lý không phù hợp của dữ liệu đã sai trong việc loại bỏ những nhận diện các loài giả mạo, Hughes nói. “Chúng ta phải cẩn thận với việc diễn dịch hoặc đặt quá nhiều niềm tin vào bài báo”.  Débarre cũng nêu câu hỏi về những khía cạnh khác của kết quả. CDC Trung Quốc sử dụng hai phương pháp phân tích hệ gene, một là tìm kiếm qua các gene và hệ gene có sẵn, và một là các điểm không trong các trình gene cụ thể trong hệ gene ty thể. Phương pháp toàn bộ hệ gene dò thấy chỉ ở trong một vài trình tự của lửng chó trong một mẫu chứa đầy nucleic acids lửng chó, theo phân tích của Zenodo và phân tích hệ gene ty thể của CDC Trung Quốc, Débarre nói.  Dữ liệu không chỉ ra rõ ràng một loài động vật cụ thể nào như vật chủ trung gian truyền virus lên người. Nhưng nhà nghiên cứu ẩn danh cho biết là các kết quả này đã nhấn mạnh thêm vào một số loài, bao gồm lửng chó, có thể cần được nghiên cứu về cách chúng lan truyền SARS-CoV-2.  Débarrec cho biết, những phân tích pháp y tiết lộ liệu động vật có DNA thu được trong các mẫu gạc mang các tín hiệu của sự hoạt hóa hệ miễn dịch, chỉ dấu có sự lây nhiễm. Điều đó có thể giúp giải quyết những lo ngại về sự hiện diện của virus và DNA động vật trong cùng một mẫu không nhất thiết chỉ dấu con vật đó bị nhiễm bệnh.  Relman không nghĩ là những phân tích xa hơn của cùng bộ dữ liệu có thể dẫn đến những câu trả lời ý nghĩa về nguồn gốc virus. “Những gì chúng ta thực sự cần là một dạng khác của dữ liệu. Dữ liệu có thể xác nhận tốt về những sự kiện lâm sàng sớm ở Vũ Hán”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: doi: https://doi.org/10.1038/d41586-023-00998-y  ——————————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41586-023-06043-2  2. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nghien-cuu-ve-nguon-goc-covid-dan-den-lung-cho-o-cho-vu-han-cac-nha-khoa-hoc-nghi-gi/    Author                .        
__label__tiasang Công nghệ ánh sáng đáng mơ ước      Để điều trị cho những em bé sơ sinh bị bệnh vàng da, người ta phải đeo băng che mắt cho các em và soi toàn bộ cơ thể dưới ánh sáng đèn chiếu đặc biệt. Nhưng với công nghệ mới, các em có thể chỉ cần được bọc trong một chiếc chăn ấm, bên trong phát ra ánh sáng xanh có tần số phù hợp cho việc trị liệu. Đó là một trong nhiều giá trị của công nghệ ánh sáng mới.    Công nghệ đáng mơ ước này đã trở thành hiện thực ở một số bệnh viện, là một trong nhiều ví dụ về những thay đổi căn bản về công nghệ ánh sáng, đang ngày càng phổ biến trong các phòng thí nghiệm, và được đề cập thường xuyên trong các cuộc họp giữa các giám đốc doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Cuộc cách mạng kỹ thuật số cuối cùng đã tiến vào lãnh địa của ngành công nghiệp sản xuất bóng đèn, có tuổi đời 130 năm kể từ ngày Edison công bố phát minh, mà ngày nay doanh thu trên toàn thế giới đạt 100 tỷ USD. Người ta đang cải cách mọi tính chất của sản phẩm, từ màu sắc, kỹ thuật điều khiển, các chức năng. Vô số các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp đang ra đời.   “Đây là một sự chuyển đổi từ nền công nghệ analog của kỷ nguyên công nghiệp hóa sang nền công nghệ kỹ thuật số”, nhận xét từ Fred Maxil, kỹ sư trưởng của Tập đoàn Lighting Science Group, một trong nhiều doanh nghiệp mới của ngành công nghiệp sản xuất bóng điện.   Các nỗ lực cải tiến công nghệ bắt đầu từ việc cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng và chi phí, nhưng không chỉ dừng lại ở việc thay thế đèn sợi đốt. Công nghệ dùng ánh sáng cho mục đích trị liệu và tăng cường sức khỏe ngày nay đã có mặt trên thị trường trên các sản phẩm của hãng General Electric, và cũng đang được phát triển bởi Philips, tập đoàn điện tử khổng lồ của Hà Lan.  Những công nghệ sắp ra đời cũng rất đa dạng, từ chiếc đèn cảm biến nhận biết được rò rỉ gas, tới những thiết bị đèn tự điều chỉnh ánh sáng nhằm đạt tối đa mức năng suất làm việc trong văn phòng, thậm chí có thể giúp người sử dụng vượt qua cơn buồn ngủ sau các chuyến bay từ múi giờ này sang múi giờ khác. Công nghệ đèn LED kỹ thuật số còn cho phép điều khiển ánh sáng trên diện rộng, chẳng hạn như toàn bộ cây cầu San Francisco-Oakland Bay Bridge, để tạo ra những bức tượng tạo hình bằng ánh sáng có độ tinh tế vượt trên tầm các buổi trình diễn ánh sáng nổi tiếng xưa nay trên Quảng trường Thời đại ở New York, Piccadilly Circus ở London, hay ở quận Shibuya, Tokyo.  Ed Crawford, phó chủ tịch của Philips Lighting Americas, nhận xét: “Cho tới nay con người chỉ mới đặt những câu hỏi như – làm sao có đủ ánh sáng để nhìn, để dọn phòng, hay để chế tác một viên kim cương? Nhưng ngày nay công nghệ ánh sáng đủ tinh tế để tác động tới tâm lý và xúc cảm của chúng ta”.   Ở Mỹ, điện năng dành cho ánh sáng chiếm tới hơn 20 phần trăm tổng lượng điện năng được tạo ra hằng năm, và Bộ Năng lượng cho biết việc chuyển sang dùng công nghệ đèn LED có thể giúp cắt giảm tiêu thụ điện năng tới 80 phần trăm. Ngành công nghiệp đèn LED – còn được gọi là ánh sáng rắn – hiện đã chiếm thị phần tới 12,5 tỷ USD trên toàn thế giới, theo các nhà phân tích của công ty nghiên cứu thị trường Strategies Unlimited tại Moutain View, bang California. Báo cáo McKinsey 2012 cũng dự đoán rằng ngành công nghiệp đèn LED sẽ đạt doanh thu 84 tỷ USD vào năm 2020.   Tuy nhiên, đối thủ không dễ bị đánh bại trên thị trường đối với đèn LED là đèn sợi đốt truyền thống, đèn huỳnh quang, đèn halogen, hay đèn cao áp natri. Trong đó yếu tố tâm lý khách hàng đóng một vai trò quan trọng: trong tâm trí con người luôn hình dung về đèn điện dưới hình thức chiếc bóng đèn tròn.  Vì vậy, một số công ty đã bắt đầu bán ra những chiếc đèn sử dụng công nghệ kỹ thuật số có hình thức bề ngoài giống với hình dạng quen thuộc của những chiếc đèn tròn gia dụng, hay đèn cao áp trên đường phố, thậm chí có thể gắn trực tiếp vào những đui đèn truyền thống.  Philips đang sản xuất một loại đèn có tên gọi là Hue, có thể gắn vào đui đèn sợi đốt kiểu cũ, với khả năng không chỉ là sáng lên hay mờ đi theo điều khiển của người dùng, mà còn có thể thay đổi màu sắc một cách tùy ý. Ông Crawford tin rằng trong những năm gần đây, người tiêu dùng phải chấp nhận đánh đổi giữa chất lượng ánh sáng và mức tiêu thụ năng lượng. Nhưng với những đèn LED thế hệ mới nhất, ông khẳng định rằng “khách hàng có thể tiết kiệm năng lượng trong khi vẫn được dùng ánh sáng chất lượng cao”.  Chênh lệch giá thành giữa đèn LED và đèn sợi đốt đang được giảm dần. Cho tới gần đây, người tiêu dùng ở Mỹ phải bỏ ra 30 USD để mua một đèn LED thay thế cho đèn sợi đốt loại 60 watt mà giá thành dưới 1 USD. Nhưng ngày nay, Cree, một nhà sản xuất bán dẫn đã tung ra thị trường các loại đèn LED 40 watt và 60 watt tương đương với những đèn sợi đốt, với giá thành chỉ là 10 USD và 14 USD.   James Highgate, một chuyên gia về công nghệ đèn LED mới, là người tổ chức các cuộc hội thảo thường niên về ngành công nghiệp đèn LED, cho rằng đang có một sự chuyển giao trong khoảng ‘từ ba tới năm năm tới, cho đến khi 8 tỷ đèn sợi đốt ở Mỹ được thay thế hoàn toàn bằng đèn LED”.  Trước mắt vẫn còn những khách hàng khó tính không muốn thay đổi thói quen mua đèn sợi đốt. Nhưng một cuộc thăm dò của công ty sản xuất đèn điện Osram Sylvania cho thấy ngày càng nhiều khách hàng hướng tới sử dụng những loại bóng đèn tiết kiệm năng lượng hơn. Báo cáo thăm dò khẳng định “68% người Mỹ nói rằng họ đã thay đổi loại bóng điện sử dụng để cải thiện hiệu quả tiêu thụ năng lượng”.  Công nghệ đèn tiết kiệm năng lượng hầu như mới chỉ đang ở bước đầu, vẫn còn rất nhiều công nghệ triển vọng sắp ra đời. Ví dụ như công nghệ liên lạc tự động giữa đèn này với đèn kia. Ở Đại học California – Davis, một đoạn đường dành cho xe đạp được lắp hệ thống chiếu sáng đặc biệt, trong đó các bóng đèn công cộng chỉ sáng lên khi có xe hoặc người đi qua, đồng thời chúng tự động cung cấp tín hiệu để những bóng đèn tiếp theo sáng lên theo trước khi tối dần về mức tối thiểu nhằm tiết kiệm năng lượng.  Michael Siminovitch, giám đốc Trung tâm Công nghệ Ánh sáng California ở Đại học California – Davis cho biết với công nghệ mới này, “chúng tôi sẽ có thể tạo ra nhiều tính năng kiểm soát đa dạng, không chỉ trên các điểm chiếu sáng mà có thể trên cả một mảng không gian”. Ví dụ, người ta có thể tạo ra những bức tường hoặc trần nhà phát sáng.  Các chuyên gia như ông Maxik đang hình dung về những thành phố không cần đến các cột đèn đường, có khả năng chiếu sáng tùy theo nhu cầu người sử dụng. Ông đã tạo ra những kết cấu thiết bị cho phép thay thế các tấm phản quang trên đường cao tốc, với khả năng phát sáng như đèn đường mà không cần đến các vật liệu kim loại hay dây dẫn điện.  Nhóm nghiên cứu của ông đã cộng tác với Google để phát triển một loại bóng đèn điện – không lâu nữa có thể sẽ được tung ra thị trường – mà người sử dụng có thể điều khiển qua điện thoại Android.   Tuy nhiên, việc thuyết phục chính quyền các thành phố từ bỏ những cột đèn đường cũng khó khăn chẳng kém việc thuyết phục người tiêu dùng từ bỏ bóng đèn điện gia dụng thông thường để thay thế bằng các mảng tường và trần nhà phát sáng. Vì vậy, các công ty như Sensity Systems (từng có tên khác là Xeralux) đang tìm cách vận dụng và cải tiến các cột đèn đường, biến chúng thành những công cụ trong một hệ thống chiếu sáng thông minh. Mỗi cột đèn có khả năng liên lạc tự động với nhau bằng cảm biến nhiệt, và có thể chịu sự điều khiển của hệ thống trung tâm do con người giám sát.   Những hệ thống mới này sẽ giúp tiết kiệm chi phí chiếu sáng đường phố, và có thể bán dữ liệu cho các nhà phát triển ứng dụng công nghệ, ví dụ như các công ty ứng dụng công nghệ phục vụ khách hàng tìm kiếm chỗ đỗ xe. Ý tưởng được đề ra ở đây, theo ông Hugh Martin, giám đốc của Sensity System, là “bất cứ nơi đâu có ánh sáng, nơi đó có thể tạo ra dữ liệu hữu ích mà con người cần đến”.  Ông Maxik nhận định: “Tính ưu việt của ánh sáng rắn là do sự kết nối hòa hợp giữa nguồn sáng, công nghệ điều khiển tân tiến, và khả năng áp dụng kỹ thuật lập trình. Điều này cho phép hình thành những dạng thức sản phẩm và chức năng hoàn toàn mới”. Gắn với những dạng sản phẩm mới này là các doanh nghiệp trẻ, như Lighting Science, Eye Lighting, Ohm Lighting, và TerraLUX, xâm nhập cạnh tranh với những tập đoàn lớn từng một thời hoàn toàn chiếm vị thế áp đảo trên thị trường như General Electric, Philips, hay Osram Sylvania.  Mọi doanh nghiệp, từ các tập đoàn lớn tới những doanh nghiệp trẻ, đều đang thúc đẩy các nhà nghiên cứu đưa ra cái nhìn mới về các chức năng của ánh sáng và cách thức điều khiển chúng. Con người ngày nay không chỉ điều khiển cường độ sáng như vài thập kỷ trước đây, mà còn có khả năng điều chỉnh tần số và màu sắc của ánh sáng. Kỹ thuật điều chỉnh màu sắc ánh sáng không chỉ được ứng dụng trên các dàn đèn sân khấu, mà còn ở nhiều lĩnh vực khác trong đời sống.   Ví dụ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, con người có thể dùng ánh sáng mới thay thế cho ánh sáng trắng có tác hại làm rùa biển bị lạc sau khi đẻ trứng – ánh sáng trắng mà con người sử dụng có thể khiến chúng bơi ngược vào bờ trong khi đáng lẽ phải quay về biển. Đối với công việc hằng ngày của con người, các nhà nghiên cứu của Osram Sylvania đang tìm cách điều khiển ánh sáng để cải thiện năng suất lao động. Như Lori Brock, giám đốc nghiên cứu và sáng tạo tại phòng thí nghiệm của tập đoàn này ở Massachusetts cho biết: “công nghệ này cho phép tối ưu hóa ánh sáng theo công việc mà chúng ta làm. Ví dụ, nếu bạn ngồi làm việc trước màn hình máy tính, ánh sáng đèn trên trần có thể sẽ tự động mờ đi, giúp tăng độ tương phản trên màn hình để bạn có thể nhìn rõ hơn, đồng thời các nguồn sáng khác trong phòng được tự động chuyển về trạng thái tiết kiệm năng lượng.” Như vậy, hiệu quả công việc sẽ tăng lên, trong khi chi phí năng lượng được giảm xuống.       Trong lĩnh vực y tế, Trung tâm Nghiên cứu Ánh sáng của Viện Rensselaer Polytechnic đang tập trung nghiên cứu về tác động thể chất và tâm lý của ánh sáng. Hướng nghiên cứu này có thể đem lại những công nghệ ứng dụng trên các thiết bị đèn ở khách sạn và các nơi khác, với chức năng giúp con người cải thiện giấc ngủ, hoặc phục hồi nhịp độ sinh học sau những hành trình đi xa từ múi giờ này sang múi giờ khác.   Bộ phận phát triển ánh sáng của hãng Philips hiện đang phát triển một sản phẩm cho phép điều trị tại nhà cho những người bị bệnh vảy nến. Hãng này cũng đang giới thiệu loại thuốc đắp phát ra ánh sáng xanh khiến cơ thể người bệnh tiết ra chất nitric oxide (NO) giúp giảm đau trong cơ và kích thích lưu thông máu.      “Công nghệ ánh sáng đang ngày càng đem lại cho con người những giá trị khác biệt mới mẻ”, TS. Siminovitch của Đại học California – Davis nhận định.  Thanh Xuân lược dịch   Nguồn:     http://www.nytimes.com/2013/04/25/business/energy-environment/new-technology-inspires-a-rethinking-of-light.html?pagewanted=all    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ bảo quản Kryo sẽ giúp con người hồi sinh?      Với hy vọng một ngày nào đó sẽ được hồi  sinh, nhiều người đã chi tiền để được bảo quản thi thể theo công nghệ  Kryo -&#160; ngâm trong nitơ lỏng ở nhiệt độ âm 196 độ C – sau khi chết.     Những hiểu biết mới trong nghiên cứu về lão khoa thật choáng ngợp. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể kéo dài cuộc sống đến bất tận.   Nhà vật lý người Mỹ Robert Ettinger, người quảng bá công nghệ bảo quản đông lạnh, coi cái chết chỉ là một giai đoạn quá độ tạm thời. Ông đoán chắc rằng: “Những gì giết chết chúng ta ngày hôm nay, sớm hay muộn, thì bạn bè của chúng ta mai sau sẽ có nhiệm vụ chạy chữa và làm cho chúng ta hồi sinh.” Năm 1962, ông từng viết trong cuốn sách của mình “The Prospect of Immortality” về điều này. Trong khi chờ đợi để được sống trường tồn như trên thiên đường, cơ thể của chúng ta chỉ cần được bảo quản một cách tốt nhất.  Để thực hiện điều này không có phương pháp nào hoàn hảo hơn là phương pháp có tên gọi là bảo quản-Kryo, ngâm trong nitơ lỏng ở nhiệt độ âm 196 độ C – về điều này các nhà khoa học đều nhất trí. Hiện nay người ta đang bảo quản các mô, tế bào gốc, phôi và hạt giống cây trồng bằng công nghệ bảo quản-Kryo để rồi lại làm chúng hồi sinh. Nhưng liệu có khi nào chúng ta có thể làm hồi sinh một tổ chức hoàn hảo như cơ thể con người hay không, điều này đang còn là ẩn số.   Nhà tiên phong về Kryo Robert Ettinger không hề lăn tăn về những lời bàn ra tán vào. Năm 1976, ông đã thành lập Cryonics Institute ở một vùng ngoại ô thuộc thành phố Detroit. Tại đây không phải chỉ có thân mẫu ông mà cả hai bà vợ của ông được bảo quản trong những cái thùng cao gần ba mét chứa đầy nitơ để chờ ngày hồi sinh. Bản thân Ettinger, mất năm 2011, và hơn một trăm người khác là tín đồ của phương pháp Kryonik cũng đang tạm thời an nghỉ trong những kho lạnh.   Hiện có tổng cộng khoảng 250 người đang được bảo quản đông lạnh tại bốn tổ chức của Mỹ và tại hãng KrioRus của Nga, thành lập năm 2005. Trong số đó có huyền thoại về bóng bầu dục Ted Williams, hay Kim Suozzi, người Nhật, mới mất đầu năm nay ở tuổi 23 vì ung thư não. Cô Kim từng nói: “Tôi nghĩ tin vào công nghệ của tương lai còn hơn để cơ thể mình bị phân rã.”  Tuy nhiên việc bảo quản để trường tồn hoàn toàn không rẻ chút nào: đối với hãng KrioRus, khoản tiền này là 50.000 Euro; còn với Alcor Life Extension Foundation ở Arizona có thể lên tới 150.000 Euro. Còn ai chỉ muốn bảo quản thủ cấp của mình thì khoản tiền phải chi là từ 7.500 đến 60.000 Euro. Chi phí tốn kém không chỉ do tiêu thụ nhiều năng lượng trong khoảng thời gian dài bất tận – có khi phải bảo quản lạnh cả hàng trăm năm. Việc làm lạnh đòi hỏi phải nhanh chóng và rất chuyên nghiệp: ngay sau khi chết, một đội phẫu thuật phải thay máu người chết bằng chất bảo vệ lạnh. Chất này giúp cho nước ở trong các tế bào cơ thể người chuyển sang dạng thủy tinh và cản trở để nước không trở thành tinh thể băng vì nếu không chúng có thể làm cho tế bào bị phá vỡ.   Liệu đến một ngày nào đó người chết có hồi sinh được hay không? Những tín đồ của Kryo lập luận: cách đây 120 năm thì chuyện tàu bay hay tàu vũ trụ cũng từng bị coi là “nổ” , là “bốc phét”.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang “Công nghệ dơi” phát hiện khối u      Các nhà khoa học Scotland hi vọng sẽ tạo ra được thiết bị rađa có chức năng giống hệt loài dơi.      Thiết bị này sẽ rất hữu hiệu trong việc định vị và nhận dạng những khối u ẩn sâu trong cơ thể người. Loài dơi săn mồi bằng cách phát ra không khí những xung động âm thanh và lắng nghe tiếng động dội lại. Nhóm nghiên cứu dựa trên nguyên lý này để phát hiện những khối u ẩn bằng sóng siêu âm và họ đang phối hợp với các nhà toán học để tìm ra những đoạn mã âm cho hàng loạt những vật thể khác nhau, bao gồm cả tế bào ung thư. Hệ thống này cũng có thể phát hiện và di dời những khu mỏ nằm sâu dưới nước.   Ngọa Loan (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ giữ tươi đến 10 năm      Nhật Bản đã chuyển giao cho Việt Nam công  nghệ bảo quản nông sản, thực phẩm (CAS) hiện đại nhất hiện nay. Nông  thủy sản sẽ được giữ tươi ngon đến 99,7% so với lúc vừa thu hoạch trong  thời gian lên đến 10 năm.    10 năm vẫn tươi như mới  Nhiều năm nay, nông dân luôn lâm vào cảnh được mùa mất giá. Các mặt hàng nông sản, đặc biệt là trái cây, thường xuyên bị thương lái của Trung Quốc ép giá. Dưa hấu, vải thiều… nhiều lúc phải bán tống bán tháo, đổ đi vì ế ẩm.  Thông qua hợp tác quốc tế, Tập đoàn ABI (Nhật Bản) vừa chuyển giao cho Việt Nam công nghệ CAS (Cells Alive System). “Đây là công nghệ rất hiện đại, có giá lên đến hàng triệu USD. Sắp tới nếu thành công, tin rằng không chỉ quả dưa hấu, các loại nông sản khác có thể bảo quản được vài tháng, có thể tới vài năm”, Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Nguyễn Quân nói.          Đây là công nghệ rất hiện đại, có giá lên  đến hàng triệu USD. Sắp tới nếu thành công, tin rằng không chỉ quả dưa  hấu, các loại nông sản khác có thể bảo quản được vài tháng, có thể tới  vài năm       Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Nguyễn Quân        Theo ông Trần Ngọc Lân, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển vùng (Bộ Khoa học – Công nghệ), người phụ trách dự án, CAS là công nghệ hoạt động theo nguyên lý kết hợp giữa đông lạnh nhanh ở nhiệt độ -45 độ C với từ trường, đối tượng được đông lạnh là hải sản, nông sản, thực phẩm… Các nhà khoa học Nhật Bản đã chứng minh trong thực tế, sau từ 1 đến 2 năm, thậm chí là 10 năm tùy theo sản phẩm, thực phẩm sau khi bảo quản có chất lượng tươi ngon đạt 99,7% so với khi mới thu hoạch. “Tức là hôm nay đưa vào con cá, con tôm, quả vải, quả quýt, cây nấm…, một năm sau, hai năm sau vẫn như mới. Trong khi ở Việt Nam, hoa quả đã qua thuốc bảo quản cũng chỉ để được cùng lắm 2 tháng. Gạo sau 1-2 năm bị mủn. Còn ở Nhật, hoa quả tối đa năm năm, gạo 10 năm vẫn y nguyên”, ông Lân cho biết.  Việc Việt Nam sở hữu công nghệ CAS có thể coi là một sự kiện khó tin bởi đây là công nghệ vô cùng mới trong lĩnh vực công nghệ bảo quản nông sản, hải sản, thực phẩm mà không phải quốc gia nào cũng tiếp cận được. Ông Norio Owada, Chủ tịch Tập đoàn ABI (Nhật Bản), đồng thời là nhà sáng chế độc quyền công nghệ CAS cho biết: “Tôi mong muốn công nghệ CAS được chuyển giao vào Việt Nam sẽ giúp người làm nông nghiệp, ngư dân, hay những người chăn nuôi gia súc có cuộc sống tốt hơn. Hoa quả xuất khẩu, nếu không có kỹ thuật bảo quản sẽ chóng hỏng, khi đó giá thành sẽ thấp. Khi Việt Nam sử dụng công nghệ của chúng tôi, các bạn có thể đưa nguyên liệu hay sản phẩm ra các nước trong khu vực và nhiều nước khác trên thế giới với giá thành cao hơn. Đó cũng là lý do phía Nhật Bản đã lựa chọn Việt Nam là nước thứ 8 chuyển giao công nghệ này”.  Giải bài toán khó cho nông nghiệp  Theo ông Trần Ngọc Lân, nông sản Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rất cao vì thực phẩm nhiệt đới có hương vị, chất lượng, màu sắc thơm ngon được người tiêu dùng các nước phát triển rất ưa chuộng. Bên cạnh các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như gạo, cá ba sa, cá ngừ, tôm sú…, có hơn 50 loại trái cây đặc sản mà thế giới rất thích như: vải thiều, nhãn lồng, thanh long, xoài, măng cụt, dứa…  Quá trình chuyển giao và hợp tác sẽ chia làm 3 giai đoạn. Bước đầu tiên (2013 – 2014), xây dựng trung tâm công nghệ CAS, 3 sản phẩm được lựa chọn thử nghiệm là: quả vải, tôm sú và cá ngừ. Giai đoạn 2 (2015 – 2016) sẽ chuyển giao công nghệ CAS ở một số doanh nghiệp hải sản, nông sản Việt Nam; Giai đoạn 3 sẽ chuyển giao chế tạo thiết bị CAS tại Việt Nam; đồng thời thành lập Liên doanh sản xuất và xuất khẩu nông sản, hải sản, thực phẩm Việt Nam bằng công nghệ CAS (với thị trường Nhật Bản và các nước khác).  Phòng thí nghiệm CAS đã đi vào hoạt động từ cuối tháng 6. Ông Lân chia sẻ: “Mong muốn của chúng tôi là công nghệ CAS sẽ góp phần vào công cuộc đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch để giải một trong các bài toán khó của phát triển nông nghiệp hàng hóa, đó là bảo quản tươi hải sản và nông sản nhiệt đới Việt Nam để xuất khẩu và phục vụ dân sinh”.  “Hiện đang là mùa vải nên chúng tôi chọn vải thiều Lục Ngạn là sản phẩm thử nghiệm đầu tiên. Mục tiêu trước mắt, sẽ bảo quản trong 6 tháng. Sau đó, tiến tới có thể lưu trữ quả vải trong vòng một năm. Nghĩa là tới đây, không riêng người tiêu dùng có thể mua vải thiều ăn quanh năm mà đặc sản này có thể xuất khẩu sang tận Mỹ và các nước châu Âu”, ông Lân nói.            CAS được 33 nước, lãnh thổ công nhận   Công  nghệ CAS là sáng chế độc quyền của Nhật Bản và được áp dụng ở nhiều  doanh nghiệp hải sản, thịt gia súc gia cầm, nông sản, thực phẩm ở Nhật  Bản. Trên thế giới, bằng sáng chế của công nghệ CAS được công nhận ở 22  nước, vùng lãnh thổ và khối EU (11 nước). Hiện nay, CAS được áp dụng ở  Mỹ (cá ngừ), Canada (quả thanh quất), Mexico (quả bơ và xoài), Ireland  và Anh (hải sản, cá ngừ…), Hàn Quốc…            Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ giúp người mù lướt web      Nhờ một công nghệ sử dụng hệ thống nhận diện âm thanh, một người mù đam mê internet không chỉ “lướt web” mà còn soạn thảo, nhận và gửi email, tán gẫu (chat) trên mạng.    Tong Feng, một chàng trai 37 tuổi ở Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Triết Giang vốn bị mù do một cơn bạo bệnh từ khi còn rất nhỏ nhưng vẫn quyết tâm theo học một lớp dạy tin học cho những người khiếm thị. Anh ta đã phải bỏ rất nhiều thời gian để học cách sử dụng màn hình và làm quen với bàn phím của máy tính. Lúc đầu, anh phải mất gần một phút để có thể gõ chính xác một chữ nhưng dần dần, anh đã quen với bàn phím.  Với công nghệ nhận diện với, Tong Feng dùng một con trỏ có đầu nhọn dò trên màn hình để “đọc” và “nghe” được các thông tin trên internet.  Thày giáo tin học của Tong Feng hy vọng Trung tâm dạy nghề cho người tật nguyền Hàng Châu sẽ thiết kế được nhiều trang web dành riêng cho người mù để giúp họ bớt thiệt thòi hơn trong cuộc sống.  PV       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ hiện tại có thể giảm 80% rác thải nhựa đại dương mỗi năm      Chuyên gia nổi tiếng về ô nhiễm rác thải nhựa đến từ Đại học Plymouth đã chỉ ra: nếu không hành động ngay lập tức, dòng chảy rác thải nhựa vào đại dương có thể tăng gấp ba lần vào năm 2040. Tuy nhiên, những công nghệ hiện nay có thể cắt giảm hơn 80% lượng rác thải này nếu các nhà hoạch định chính sách sẵn sàng thay đổi toàn hệ thống.    Đó là kết quả nghiên cứu xuất bản trên Science ngày 24/7 “Breaking the Plastic Wave: A Comprehensive Assessment of Pathways Towards Stopping Ocean Plastic Pollution” do tổ chức phi chính phủ The Pew Charitable Trusts và công ty SYSTEMIQ dẫn dắt. Nhóm tác giả đã hợp tác với Đại học Oxford, Đại học Leeds, Quỹ Ellen MacArthur và tổ chức phi lợi nhuận Common Seas, cùng với sự hỗ trợ của ban chuyên gia toàn cầu gồm 17 người, trong đó có GS. Richard Thompson, trưởng bộ phận Nghiên cứu rác đại dương quốc tế ở Đại học Plymouth.    Kết quả cho thấy nếu không có bất kỳ hành động nào để giải quyết gia tăng sản xuất và tiêu thụ nhựa trong tương lai, lượng rác thải nhựa đại dương mỗi năm sẽ tăng từ 11 triệu tấn lên 29 triệu tấn trong vòng 20 năm tới, tương đương với 50kg rác nhựa trên mỗi mét dài bờ biển toàn thế giới. Do nhựa tồn tại trong đại dương tới hàng trăm năm và có thể không bao giờ phân hủy sinh học được hoàn toàn nên lượng nhựa tích lũy ở biển có thể đạt tới 600 triệu tấn vào năm 2040. Đại dịch COVID-19 đã đặt ra thêm thách thức trong cuộc chiến cam go này khi Hiệp hội chất thải rắn quốc tế cho biết lượng tiêu thụ nhựa dùng một lần đã tăng lên trong đại dịch.  GS. Thompson là người dẫn dắt những nghiên cứu đầu tiên về vi nhựa đại dương năm 2004. Công trình này đã giúp Đại học Plymouth nhận Giải thưởng Queen’s Anniversary Prize for Higher and Further Education năm 2020 vì nghiên cứu đột phá và có tác động đến chính sách về ô nhiễm nhựa đại dương. Ông nói “Nhựa mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Những vật liệu nhẹ, linh hoạt, bền và rẻ tiền này có tiềm năng giảm tác động của con người trên Trái đất nhưng hiện nay, hơn 40% sản phẩm nhựa sử dụng một lần mang lại lợi ích ngắn hạn nhưng có thể tồn tại nhiều thế kỷ. Sự tích lũy nhanh chóng và bền vững của rác thải nhựa đang là một thách thức môi trường toàn cầu”.  “Nghiên cứu quốc tế trên quy mô lớn này chỉ ra cách giải quyết cho phép xã hội đạt được lợi ích từ nhựa mà không gặp vấn đề môi trường như hiện tại. Đồng thời, lần đầu tiên báo cáo nói rõ rằng để khắc phục thiệt hại môi trường trên diện rộng, chúng ta cần hành động ngay bây giờ và bằng nhiều biện pháp cùng lúc”  “Theo quan điểm của tôi, rõ ràng chúng ta sẽ cần bằng chứng nghiên cứu độc lập để giúp điều chỉnh lựa chọn cá nhân và đánh đổi giữa các giải pháp. Đó là điều mà nhóm nghiên cứu của tôi ở Đại học Plymouth đã và sẽ cung cấp”, GS. Thompson nói.  Cùng với các nhà khoa học và chuyên gia trên khắp thế giới, Pew và SYSTEMIQ đã đưa ra kết luận bằng mô hình kinh tế đầu tiên định lượng dòng chảy và khối lượng nhựa trong hệ thống toàn cầu, so sánh lượng ô nhiễm nhựa đại dương năm 2016 và 2040 theo sáu kịch bản.  Nhóm tác giả cho biết mặc dù việc giải quyết thách thức nhựa trên toàn cầu đã có tiến bộ nhưng các cam kết hiện tại của chính phủ và doanh nghiệp sẽ chỉ giảm được 7% lượng nhựa đại dương đến năm 2040. Nếu thay đổi, đến năm 2040, lượng rác thải của 4 tỷ người trên toàn thế giới sẽ không được thu gom, và để giải quyết thiếu hụt này cần hơn 500 000 người thu gom rác mỗi ngày từ nay đến năm 2040.  Báo cáo xác định 8 biện pháp có thể giảm thiểu 80% ô nhiễm nhựa vào đại dương hàng năm bằng cách sử dụng công nghệ và giải pháp hiện có. Một trong số các giải pháp này là giảm tiêu thụ và sản xuất nhựa, thay thế một số loại nhựa bằng giấy hoặc vật liệu có thể phân hủy, sản xuất các sản phẩm và bao bì tái chế, mở rộng thu gom rác thải ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, tăng cường tái chế và giảm xuất khẩu rác thải nhựa.  Ngoài việc cải thiện tình hình đại dương, việc áp dụng các biện pháp báo cáo đề ra có thể tiết kiệm 70 tỷ USD cho các chính phủ vào năm 2040, giảm 25% lượng khí thải nhà kính liên quan đến nhựa và tạo ra 700,000 việc làm.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-global-plastic-threats-ocean.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ Li-Fi sẽ thay thế Wi-Fi?      Từ nhiều năm nay, Giáo sư Viễn thông di động  Harald Haas ở ĐH Edinburg, Scotland, đã ủng hộ nhiệt tình cho ý tưởng  truyền dữ liệu qua bóng đèn LED và mới đây, ông đã biểu diễn thành công  việc truyền một đoạn video từ bóng đèn LED sang pin mặt trời rồi tới  laptop.      Haas giải thích: “Về cơ bản, Li-Fi cũng tương tự như Wi-Fi, chỉ trừ một khác biệt nhỏ: chúng tôi sử dụng đèn LED để truyền dữ liệu không dây chứ không dùng sóng vô tuyến.”    Công nghệ Wi-Fi truyền thống sử dụng tín hiệu vô tuyến để truyền dữ liệu tới các thiết bị thu nhận như điện thoại, laptop. Hiện nay Wi-Fi chiếm tới khoảng một nửa khối lượng dữ liệu truyền tải trên Internet trên toàn thế giới. Theo dự đoán, tỉ lệ này còn cao hơn nữa trong những năm tới do lượng người tiếp cận Internet gia tăng và “Internet của Vạn vật” mở rộng. Điều này khiến một số chuyên gia lo ngại vì nó sẽ gây ra hiện tượng “spectrum crunch” (vỡ phổ sóng) khi các mạng Wi-Fi bị chậm lại do quá tải. Vì thế, Haas đã nghĩ đến ý tưởng truyền dữ liệu phổ ánh sáng nhìn thấy được.    Thực ra đây không phải là một ý tưởng mới. Năm 1880, Alexander Graham Bell đã truyền âm thanh thông qua một tia sáng mặt trời bằng máy quang thoại. Vài thập kỷ gần đây, một số nhà nghiên cứu cũng đã bắt tay vào tìm hiểu việc truyền dữ liệu bằng ánh sáng nhìn thấy được.     Nhưng điểm khác biệt ở dự án của Haas là ông chỉ đơn giản sử dụng bóng đèn LED để truyền dữ liệu. Bóng đèn LED sử dụng một bộ điều khiển có thể nhanh chóng điều chỉnh độ sáng hoặc bật/tắt bóng. Do đó, Haas cho rằng có thể mã hóa dữ liệu vào quá trình thay đổi độ sáng của bóng đèn để truyền dữ liệu mà mắt thường không cảm nhận được.    Kết quả một số thí nghiệm gần đây cho thấy, Li-Fi có tốc độ nhanh hơn Wi-Fi, thậm chí có lúc đạt tới tốc độ 224 gigabit/giây. Với tốc độ này, một người có thể tải 20 bộ phim hoàn chỉnh về máy chỉ trong một giây. Theo nghiên cứu của Haas, sở dĩ Li-Fi có thể đạt mật độ dữ liệu nhiều gấp 1.000 lần so với Wi-Fi là bởi vì tín hiệu Li-Fi được chứa trong một khu vực nhỏ trong khi tín hiệu vô tuyến lại khuếch tán.     Ngoài tốc độ, Li-Fi còn an toàn hơn. Trong khi tín hiệu Wi-Fi có thể đi qua tường (tức là hàng xóm có thể “chia sẻ” đường truyền) thì tín hiệu Li-Fi được giữ trong nhà chỉ bằng một thao tác đơn giản là kéo rèm cửa lại. Theo Haas, có thể điều chỉnh để bóng đèn ở độ sáng thấp nhất mà vẫn truyền tải được dữ liệu.    Hiện nay công ty pureLiFi của Haas đã bắt đầu sản xuất hàng loạt bộ định tuyến Li-Fi cho một số khách hàng doanh nghiệp. Họ hy vọng sẽ đưa công nghệ này ra thị trường đại chúng trong một hai năm sắp tới. Hệ thống của họ có thể dễ dàng kết nối với bất kỳ thiết bị nào thông qua một bóng đèn LED, như vậy, tốc độ phát triển của IoT có thể sẽ được thúc đẩy nhanh hơn.    Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng công nghệ Li-Fi còn phải vượt qua không ít rào cản trước khi trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống. Một trong những rào cản được nhắc đến là Li-Fi sẽ yếu đi khi ánh sáng bị chặn, do sương mù hay các điều kiện ngoại cảnh khác. Dẫu sao, ngành công nghiệp Li-Fi cũng được dự đoán là sẽ đạt giá trị 6 tỉ USD vào năm 2018.    Ngoài nhóm của Haas, một số nhóm nghiên cứu khác cũng đang bắt tay vào phát triển công nghệ Li-Fi, chẳng hạn như nhóm các nhà khoa học Trung Quốc, Viện Fraunhofer của Đức, thậm chí cả NASA cũng đang vào cuộc.    Trang Bùi dịch  Nguồn:  http://www.smithsonianmag.com/innovation/li-fi-replace-wi-fi-180957320/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ nano chẩn đoán ung thư      Một thiết bị sử dụng công nghệ nano mới có khả năng phân biệt các tế bào ung thư với tế bào bình thường khi nhóm khoa học, ĐH California ở Los Angeles (Mỹ), sử dụng kính hiển vi lực nguyên tử kết hợp với một đầu dò sắc gắn với một cánh tay cơ học để quan sát tế bào.      Họ phát hiện ra rằng, bề mặt của những tế bào ung thư sống mềm hơn 70% so với các tế bào khỏe mạnh. Phương pháp mới có thể giúp phát hiện các tế bào ung thư vốn không thể phát hiện bằng những phương pháp quan sát mô bằng kính hiển vi thông thường hoặc dùng kháng thể để xác định một số protein nhất định có liên quan đến ung thư.    T.Q      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ nhận diện: Mối đe dọa khủng khiếp      Một công nghệ mới đang được tung hô, được khắc họa như một cây đũa thần giúp theo dõi và bắt tội phạm nhanh chóng, thực ra lại mang tiềm năng biến đa phần con người thành nô lệ.      Ảnh: AnitaVDB/iStock; Thor Alvis/Unsplash.  Hệ thống camera giám sát ở khắp phố phường, các hộ gia đình vốn được thiết lập để kiểm soát tội phạm có một lỗ hổng lớn: hệ thống này tạo ra một dung lượng video khổng lồ mà không có một nguồn lực nào đủ để xử lý và phân tích các hình ảnh được ghi lại. Hơn nữa, khi có một vụ án xảy ra, kẻ phạm tội có nhiều tiếng đồng hồ, thậm chí là nhiều ngày để chạy trốn, trước khi người ta phát hiện ra cuốn băng ghi lại tội ác đó, nếu không muốn nói rằng có khi người ta còn chẳng phát hiện ra.   Khi một công nghệ không hiệu quả, thì đó là cơ hội cho những đổi mới sáng tạo liên tục diễn ra. Đối với trường hợp của camera giám sát, thì công nghệ nhận diện khuôn mặt được cho là một giải pháp hoàn hảo bởi nó vừa rẻ, vừa nhanh, lại quá tiện – chỉ cần “cài thêm” mà không cần thay thế toàn bộ hệ thống camera sẵn có.    Truyền thông đại chúng cũng hưởng ứng cho công nghệ ảo diệu này. Trong các phim khoa học viễn tưởng, công nghệ nhận diện khuôn mặt hiện lên như một cây đũa thần. Các bộ phim tô hồng những thám tử và cảnh sát cứu nhân loại chỉ cần công nghệ nhận diện khuôn mặt là bắt được ngay kẻ thủ ác. Thật là hư cấu bởi cốt truyện và nhân vật trong những tác phẩm viễn tưởng được dàn dựng nào có sống trong một xã hội phức tạp, với vô số đức tin, trải nghiệm và các vấn đề đa chiều khác nhau? Sự hào nhoáng của những bộ phim viễn tưởng kinh phí khủng đi kèm với những công nghệ mà người xem nhìn qua đã thấy “sành điệu”, như một thứ bùa mê đối với các nhà công nghệ vốn dùng sự “viễn tưởng” như một chỉ dẫn để tạo ra những công nghệ họ ao ước, còn với những quan chức chính quyền, những người xoay sở với chút ngân sách ít ỏi mà mua được những công nghệ “mới nhất và đỉnh nhất” thì thấy bản thân mình được nâng tầm cả về thành tựu lẫn địa vị. Những nhà công nghệ thường cũng không lo, hoặc không quen nghĩ tới việc những gì họ làm sẽ ảnh hưởng đến xã hội như thế nào. Trong khi đó, các chính quyền sẵn sàng thí điểm công nghệ thì có vẻ hoặc là do họ bị lóa mắt bởi những hứa hẹn về hiệu quả và tác động của công nghệ mới, hoặc là họ hiểu nhầm về những gì sẽ xảy ra với địa phương của mình.       Phần mềm nhận diện khuôn mặt là một đổi mới sáng tạo trên hệ thống camera giám sát – được triển khai để giải quyết một vấn đề xã hội. Nhưng thực ra, không phải công nghệ, chỉ có con người mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội. Con người mới là những kẻ phải áp dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề đó, và chúng ta buộc mình đối diện với những phân vân lớn: Dùng công nghệ nào thì hợp lí, công nghệ nào thì không và công nghệ nào để tạo nên “một xã hội an toàn và lành mạnh?”      Nói chung, công nghệ nhận diện khuôn mặt đưa ra lời hứa ngọt ngào rằng nó sẽ giúp xác định và bắt những kẻ thủ ác một cách dễ dàng, như trong các bộ phim, mà cơ quan nghiệp vụ không phải nhúng tay vào những việc “lằng nhằng” như là xây dựng các mối quan hệ và kết nối với mọi người trong cộng đồng. Cảnh sát dùng phần mềm thì dù sao cũng an toàn hơn là đối đầu trực diện với những kẻ tình nghi là tội phạm nguy hiểm hay là mạo hiểm tiếp xúc với người khác để đánh giá xem liệu họ có phạm tội hay không. Với cách này, lý do vốn được dùng để bảo vệ cho việc lắp camera giám sát, giờ tiếp tục được dùng cho nhận diện khuôn mặt, không khiến ai trong cộng đồng còn có chút nghi ngờ gì nó nữa.   Chỉ tiếc rằng, dữ liệu dùng để nhận diện khuôn mặt không thể thay thế cách những tri thức về cộng đồng chúng ta đang sống, bởi vì nếu không thì chúng ta sử dụng và phân tích những dữ liệu đó kiểu gì? Công nghệ không hoạt động hiệu quả một cách công bằng và bình đẳng đối với tất cả mọi người, đặc biệt là với những người nằm trong nhóm da màu hay thuộc giới tính thứ ba. Một nghiên cứu của Đại học MIT năm 2018 đã chỉ ra rằng, ba hệ thống phân tích khuôn mặt phổ biến chỉ xác định sai 0.8% người trong nhóm đàn ông da sáng nhưng lại xác định sai tới 34.7% người trong nhóm phụ nữ da màu. Nếu triển khai bắt tội phạm, nguy cơ bắt nhầm người thật sự nghiêm trọng.       Cảnh sát Mỹ thường xuyên dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt trong điều tra, bắt tội phạm. Ảnh: Claire Merchlinsky/NBC Newsa  Phần mềm nhận diện khuôn mặt là một đổi mới sáng tạo trên hệ thống camera giám sát – được triển khai để giải quyết một vấn đề xã hội. Nhưng thực ra, không phải công nghệ, chỉ có con người mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội. Con người mới là những kẻ phải áp dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề đó, và chúng ta buộc mình đối diện với những phân vân lớn: Dùng công nghệ nào thì hợp lí, công nghệ nào thì không và công nghệ nào để tạo nên “một xã hội an toàn và lành mạnh?”   Chưa cần thu thập đủ thông tin từ công chúng, đã bắt đầu có câu trả lời cho những câu hỏi trên. Những công nghệ dùng cho nhận diện khuôn mặt đang tràn lan và rẻ mạt trên thị trường, được dùng dù không có quy định của pháp luật và không có sự minh bạch, là đáng quan ngại nhất. Hơn nữa, rất có khả năng những cơ quan công an thiếu nhân lực, ngân sách hạn hẹp, hoặc thiếu kinh nghiệm trong triển khai công nghệ lại tiện lấy luôn hướng dẫn sử dụng của các công ty bán công nghệ nhận diện khuôn mặt thành tiêu chuẩn áp dụng trong điều tra, giám sát tội phạm.       Chúng ta có lẽ đang chứng kiến giai đoạn quá độ của các công nghệ trưởng thành theo cách bất ngờ tới mức vừa thách thức tất cả giới hạn chịu đựng của chúng ta, vừa thử thách những quy tắc xã hội thông thường.      Một khi phần mềm nhận diện khuôn mặt của các công ty, chẳng hạn như Amazon được áp dụng một cách rộng rãi – chúng ta sẽ trở thành chuột bạch cho đủ loại thí nghiệm khác nhau – rồi một ứng dụng công nghệ tối tân khác có thể ra đời: công nghệ trí tuệ nhân tạo dựa trên nhận diện khuôn mặt để đưa ra các kết luận về bản thân chúng ta và hành vi của chúng ta. Mà thực ra nó đã diễn ra rồi, công nghệ trí tuệ nhân tạo và nhận diện khuôn mặt đang được ứng dụng để giám sát 11 triệu người Duy Ngô Nhĩ, một nhóm người thiểu số Hồi giáo ở Trung Quốc.    “Công nghệ nhận diện khuôn mặt được kết nối vào hệ thống camera giám sát ngày một dày đặc của Trung Quốc, được dành riêng để quan sát người Duy Ngô Nhĩ dựa trên vẻ bề ngoài của họ, ghi lại nhất cử nhất động của họ nhằm phục vụ cho việc đánh giá và tìm kiếm của chính phủ đối với cộng đồng người này,” theo tờ New York Times gần đây. “Việc này khiến Trung Quốc trở thành nước tiên phong trong việc áp dụng công nghệ thế hệ mới để theo dõi người dân, có khả năng sẽ thúc đẩy một kỷ nguyên mà sự phân biệt chủng tộc được diễn ra một cách tự động và mặc định”.   Chính quyền và các công ty Trung Quốc đang dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để bắt kẻ tình nghi tại những sự kiện đại chúng lớn và trong cả những hoạt động thường ngày: nhận diện người dân tại sân bay và tại khách sạn, bêu riếu công khai những người vi phạm giao thông và để cá nhân hóa các quảng cáo. Công nghệ nhận diện khuôn mặt cũng đang được áp dụng rộng rãi trên khắp nước Mỹ, cho mục đích từ an ninh biên giới đến quảng cáo ở siêu thị. Một tập đoàn bất động sản ở New York còn định dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để kiểm soát người dân sống trong các tòa nhà cho thuê giá rẻ của họ.   Chúng ta có lẽ đang chứng kiến giai đoạn quá độ của các công nghệ trưởng thành theo cách bất ngờ tới mức vừa thách thức tất cả giới hạn chịu đựng của chúng ta, vừa thử thách những quy tắc xã hội thông thường. Chẳng hạn, một khi chúng ta bị “nhận diện” ở tất cả mọi nơi chúng ta đi qua, chúng ta sẽ liên tục bị “lập hồ sơ”. Khi chúng ta bị “lập hồ sơ”, thì mọi hành vi của chúng ta đều có thể dự đoán bằng máy móc. Một khi hành vi của chúng ta có thể bị “dự đoán” bởi chính phủ và bởi các nhà quảng cáo, chúng ta sẽ mất đi quyền tự chủ (và có lẽ là mất luôn khả năng phân biệt thật và ảo) dưới bàn tay của thuật toán đang tạo ra những dữ liệu về chúng ta còn đáng tin cậy hơn cả những gì chúng ta hiểu về bản thân mình và những người xung quanh.     Công ty Walgreens dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để quảng cáo trên các tủ đông trong siêu thị. Nếu ‘Walgreens’ nhìn thấy bạn đang mua bia vào thời điểm bốn giờ chiều, màn hình sẽ “mời” bạn mua thêm pizza trong tủ đông để ăn cho bữa tối.    Đúng là đôi lúc người ta có thể tạm hi sinh sự tự chủ của mình vì sự tiện lợi, nhưng sẽ là bất thường nếu chúng ta lúc nào cũng bị buộc làm như vậy. Đó là sự nô lệ hóa. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa hiệu quả của công nghệ nhận diện khuôn mặt nhân danh sự tiện lợi là một bước tiến nguy hiểm của đổi mới sáng tạo liên quan đến công nghệ giám sát bởi vì chúng ta bị buộc phải từ bỏ từng chút một tự do của bản thân mình.   Nhưng để cấm sử dụng phần mềm nhận diện khuôn mặt hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Những người làm luật và các công ty công nghệ như Microsoft hầu hết chỉ muốn thúc đẩy các khuôn khổ pháp luật gửi cảnh báo rõ ràng tới người dân rằng chỗ họ đi qua có sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt. Tuy nhiên, nếu người dân không có cách nào khác để thoát khỏi việc bị nhận diện tại các địa điểm trên, bất kể là công cộng hay tư nhân, ngoài việc rời khỏi khu vực đó, thì cảnh báo cũng chẳng có ích gì. Và nếu không có cách nào để tránh việc bị nhận diện bởi một hệ thống sẽ có ảnh hưởng khủng khiếp trong tương lai như vậy, thì con người bắt đầu bị nô lệ hóa. Chính vì vậy, các khuôn khổ luật pháp chặt chẽ và nghiêm khắc để hạn chế việc sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt là vô cùng quan trọng, nhất là tại thời điểm công nghệ đang phát triển như vũ bão hiện nay.   Một khi công nghệ nhận diện khuôn mặt và trí tuệ nhân tạo được áp dụng rộng rãi trong một môi trường thiếu vắng khuôn khổ pháp luật để kiểm soát nó một cách nghiêm túc, con người sẽ bị bỏ rơi, trở thành công cụ cho doanh nghiệp hay chính phủ khi họ cần đến danh tính và địa chỉ của chúng ta. Việc sử dụng công nghệ chỉ còn được dẫn dắt bởi lòng tham, lợi nhuận, quyền lực.   Chúng ta muốn dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để tìm ra “kẻ xấu” nhưng thực ra “kẻ xấu” lại chính là những người đứng sau thúc đẩy công nghệ này, những người muốn chúng ta từ bỏ nhân dạng, từ bỏ danh tính, từ bỏ cá tính – để họ không chỉ kiếm lợi nhuận từ đó mà còn dùng nó như một phương thức phân loại chúng ta và kiểm soát xã hội ta đang sống. Đó là lí do tại sao công nghệ nhận diện khuôn mặt là một công nghệ quan trọng để chúng ta tranh luận và ngày càng nhiều người mong nó bị cấm sử dụng trong xã hội loài người. □  Hảo Linh phỏng dịch  Nguyên gốc: https://www.fastcompany.com/90336549/the-creeping-threat-of-facial-recognition  —–  *Tiến sĩ, nhà nhân học với hướng nghiên cứu tập trung vào tự chủ của con người (human agency), thuật toán, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa trong các mối quan hệ và hệ thống xã hội.     Author                S.A.Applin        
__label__tiasang Công nghệ phát hiện đột biến gene đạt độ nhạy 0,01%      Sau gần hai năm nghiên cứu thử nghiệm, Khoa Sinh học phân tử, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đã làm chủ được công nghệ phát hiện đột biến gene tiên tiến, đạt độ chính xác cao tới 0,01% và tự thiết kế được các bộ kit tương ứng.     Đây cũng là kết quả từ đề tài nghiên cứu cấp  nhà nước theo chương trình KC 10.TN 12-11/15 và KC 10.TN 13-11/15 do Bộ  KH&CN giao cho Bệnh viện TƯQĐ 108 làm chủ đề tài.  Các phương pháp phát hiện đột biến hiện hành  Với các nhà sinh học phân tử, việc phát hiện đột biến sinh ung thư không phải là vấn đề dễ dàng bởi hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, những đột biến gene thường không diễn ra ở tế bào khỏe mạnh mà chỉ xảy ra ở tế bào ác tính (ví dụ như các trường hợp đột biến gene EGFR, Kras, PIK3CA trong ung thư phổi, đại trực tràng hoặc FLT3, NPM1, Jak2… trong ung thư máu). Thứ hai, các phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm có độ chính xác thấp do không thể đảm bảo toàn bộ bệnh phẩm đều là các tế bào ác tính cũng như mọi tế bào ác tính đều mang đột biến.   Vì thế phương pháp phát hiện đột biến phải có độ nhạy kỹ thuật cao để phát hiện được các đột biến ngay cả khi nó xuất hiện ở mức thấp trong mẫu bệnh phẩm, thậm chí lưu hành trong máu ngoại vi.  Cho đến nay, các hiệp hội quốc tế như Hội Ung thư lâm sàng châu Âu (European society for Medical Oncology), Hội Ung thư Mỹ (American Society of Clinical Oncology) và bản thân các cơ quan bảo hiểm cũng như Bộ Y tế Việt Nam chưa hề quy định một phương pháp chuẩn trong phát hiện các đột biến bệnh sinh ung thư.  Chính vì thế nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đưa ra một số phương pháp phát hiện đột biến cũng như các quy trình thu gom bệnh phẩm khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm khác biệt.   Phương pháp Giải trình tự gene trực tiếp (Sanger sequencing) là phương pháp rẻ tiền nhất, dễ triển khai nhất nhưng độ nhạy kỹ thuật thấp nhất (nó chỉ có thể phát hiện đột biến khi lượng tế bào mang đột biến phải lớn hơn 20% tổng số tế bào. Thông thường để đảm bảo có đủ lượng tế bào ác tính, các phòng thí nghiệm triển khai giải trình tự gene (đa số ở nước ta triển khai phương pháp này) phải yêu cầu sự trợ giúp từ các nhà giải phẫu bệnh khoanh vùng khu vực bệnh phẩm có tế bào ác tính trước khi tiến hành tách DNA để phát hiện đột biến. Do thiết bị đắt tiền và hóa chất phải nhập ngoại nên giá thành xét nghiệm phát hiện đột biến EGFR bằng phương pháp này không hề rẻ (cỡ khoảng 5 triệu/bệnh nhân/lần xét nghiệm). Kỹ thuật này hiện nay đã được triển khai tại hầu hết các phòng xét nghiệm sinh học phân tử ở Việt Nam, bao gồm cả Khoa Sinh học phân tử, Bệnh viện 108.  Phương pháp realtime PCR (phản ứng chuỗi trùng hợp thời gian thực – Polymerase Chain Reaction) dựa trên đầu dò phân tử taqman probe. Trong trường hợp đầu, taqman được thiết kế tích hợp công nghệ ARMS (hệ thống đột biến chịu nhiệt khuếch đại – Amplification Refractory Mutation System) thì độ nhạy kỹ thuật khá cao, có thể phát hiện được đột biến khi tế bào ác tính mang đột biến ở mức trên 1%. Vì thế phương pháp này không chỉ ít phụ thuộc vào các nhà giải phẫu bệnh mà còn có thể khoanh vùng các khu vực có tế bào ác tính và thậm chí có thể áp dụng phát hiện đột biến EGFR từ DNA lưu hành tự do trong máu ngoại vi, thay vì phải sinh thiết khối u, làm mô bệnh học.   Do không tự thiết kế được các đầu dò phân tử đặc hiệu theo công nghệ ARMS nên tất cả các phòng thí nghiệm có sử dụng phương pháp này ở nước ta đều phải nhập khẩu kit chẩn đoán tương ứng. Giá thành xét nghiệm phát hiện đột biến EGFR hay Kras, PIK3CA do các cơ sở này cung cấp sẽ rất cao, cỡ khoảng 8 triệu/bệnh nhân/lần xét nghiệm.  Phương pháp dựa trên PCR điện di nhưng tích hợp công nghệ bắt mồi đặc hiệu song hướng (bidirectional allele specific PCR) kết hợp công nghệ ARMS cũng có độ nhạy kỹ thuật rất cao, có thể phát hiện được đột biến khi tế bào ác tính mang đột biến ở mức trên 1%. Nếu sử dụng kit nhập ngoại, giá thành xét nghiệm phát hiện đột biến EGFR làm theo phương pháp này cũng không hề rẻ, khoảng 8 triệu/bệnh nhân/lần xét nghiệm. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là độ nhạy cao, đảm bảo khả năng phát hiện mầm bệnh lớn nhưng giá thành cao nên khó mở rộng ứng dụng trên số lượng lớn người dân Việt Nam [có nhu cầu sử dụng], đặc biệt với những người phụ thuộc vào khả năng thanh toán từ dịch vụ bảo hiểm y tế.   Trước thực tế này, Khoa Sinh học phân tử đã tiến hành thiết kế các thành phần cơ bản của xét nghiệm, bộ sinh phẩm (bộ kit) và quy trình chẩn đoán sử dụng bộ sinh phẩm. Kết quả là khi đưa vào sử dụng bộ kit này tại Bệnh viện 108, mỗi bệnh nhân chỉ phải trả 2,5 triệu/lần xét nghiệm, nghĩa là chỉ gần 1/3 giá thành bộ kit nhập ngoại. Với những người làm nghiên cứu, điều đó hết sức đáng giá bởi ngoài yếu tố chuyên môn, một phương pháp xét nghiệm/cứu chữa bệnh mới còn cần được định lượng bằng những hiệu quả về mặt xã hội và khả năng ứng dụng vào thực tế. Hiện nay xét nghiệm này đã được triển khai áp dụng tại Khoa Sinh học phân tử. Đối với một số cơ sở y tế trong nước mở dịch vụ phân tích đột biến gene, trong đó có đột biến EGFR, chưa có cơ sở nào ngoài Bệnh viện 108 công bố tự thiết kế được xét nghiệm cũng như nêu rõ độ nhạy kỹ thuật của xét nghiệm.   Nâng cao độ nhạy tới 0,01%            Bộ sinh phẩm chẩn đoán đột biến gene do Khoa Sinh học phân tử, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thiết kế có giá thành chưa bằng 1/3 giá thành bộ kit tương tự nhập ngoại và đã được Mạng lưới Chất lượng Phân tử châu Âu (EMQN) chứng nhận đủ tiêu chuẩn an toàn và độ chính xác để có thể ứng dụng vào quy trình chẩn đoán bệnh ung thư.            Trong quá trình nghiên cứu, Khoa Sinh học phân tử đã tiếp tục nghiên cứu để làm chủ phương pháp phát hiện đột biến gene hiệu quả hơn, phương pháp realtime PCR có sử dụng các kẹp phân tử dạng peptide nucleic acid (peptide nucleic acid clamp). Đây là phương pháp có độ nhạy kỹ thuật cao nhất so với các phương pháp trên, cho phép phát hiện đột biến EGFR khi tỷ lệ tế bào mang đột biến ở mức 0,01%, tức là gấp 100 lần phương pháp Scopion taqman probe và 2.000 lần phương pháp giải trình tự gene trực tiếp. Hơn nữa việc thực hiện xét nghiệm đột biến bằng phản ứng realtime PCR kẹp phân tử này thân thiện hơn rất nhiều cho kỹ thuật viên bởi nó tốn ít sức hơn, có kết quả ngay sau khi chạy máy mà không mất nhiều thời gian phân tích, đồng thời không phải tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại.  Ngoài Bệnh viện 108, một số bệnh viện khác của Việt Nam cũng bắt đầu triển khai xét nghiệm sinh học phân tử phát hiện đột biến gene Kras, EGFR, EML-ALK, BCR-ABL, PML-RARA, JAK2V617F nhưng chưa cơ sở y tế nào chính thức công bố tự thiết kế được các sinh phẩm (kit) tương ứng mà hầu hết phải nhập khẩu từ nước ngoài. Việc phụ thuộc vào nguồn sinh phẩm và hóa chất từ nước ngoài không chỉ làm đội giá thành xét nghiệm lên mà còn khiến các cơ sở y tế, phòng thí nghiệm trong nước không thể chủ động trong triển khai kế hoạch hoạt động. Khi kinh phí đầu tư cho các phòng thí nghiệm còn hạn hẹp thì việc phải mua nguyên liệu, sinh phẩm nhập ngoại gây lãng phí tiền của. Nó dẫn đến hậu quả là người dân chỉ trọng đồ ngoại, ít tin tưởng vào những sản phẩm do Việt Nam sản xuất.   Chính vì lẽ đó, Khoa Sinh học phân tử đã tự thiết kế và triển khai kỹ thuật realtime PCR kẹp peptide trong chẩn đoán đột biến gene Kras, EGFR. Để đảm bảo độ chính xác và an toàn về công nghệ mới, trước tiên Khoa Sinh học phân tử phải thực hiện quá trình nội kiểm, tự thẩm tra kết quả nghiên cứu giữa nội bộ các phòng thí nghiệm. Dù kết quả đạt được rất khả quan nhưng các nhà nghiên cứu vẫn mong muốn tiếp tục kiểm chứng thành quả nghiên cứu của mình qua hệ thống đánh giá của các tổ chức quốc tế có uy tín. Vào đầu năm 2014, Khoa đã gửi hồ sơ tới Mạng lưới Chất lượng Phân tử châu Âu (European Molecular Quality Network – EMQN), tổ chức chuyên về tiêu chuẩn hóa các dịch vụ trong di truyền gene của con người, cung cấp chứng nhận (ISO 17043) về đánh giá chất lượng ngoài (extermal quality assessment – EQA) cho các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới trong mối liên kết với nhiều tổ chức như EuroGentest, CF Network, UKNEQAS, RCPA QAP, RFB và EAA. Khi nhận được hồ sơ đăng ký của Khoa Sinh học phân tử, EMQN đã gửi mẫu mô và yêu cầu Khoa thực hiện lại quy trình thực hiện kỹ thuật realtime PCR kẹp peptide trong chẩn đoán đột biến gene. Sau ba tháng trao đổi thông tin và thẩm định kết quả, cuối cùng giấy chứng nhận quy trình và bộ sinh phẩm chẩn đoán đột biến đủ tiêu chuẩn an toàn và độ chính xác đã được EMQN cấp.   Trải qua những quá trình “thử lửa” như vậy, công trình nghiên cứu của Khoa Sinh học phân tử đã đủ điều kiện để ứng dụng vào quy trình chẩn đoán bệnh ung thư, qua đó đem lại cơ hội xét nghiệm giá rẻ nhưng có chất lượng tương đương hàng ngoại nhập cho người Việt Nam. Hiện tại Khoa đang hoàn tất thủ tục hồ sơ gửi tới Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN nhằm bảo hộ các quy trình chẩn đoán và bộ sinh phẩm chẩn đoán đột biến nói trên.  Dù việc nghiên cứu thành công quy trình và bộ sinh phẩm chẩn đoán đột biến gene mới là thành công bước đầu nhưng với các nhà nghiên cứu ở Khoa Sinh học phân tử, nó mang ý nghĩa đặc biệt khi không chỉ thể hiện sự tự chủ trong công tác nghiên cứu mà quan trọng hơn, còn đem lại sự tự tin về năng lực nghiên cứu khoa học của chính mình.  ————–   * Khoa Sinh học phân tử, Bệnh viện TƯ Quân đội 108          Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ pin nhiên liệu và kinh tế hydrogen      Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970,  General Motor đã nêu sáng kiến nên chuyển dần nền kinh tế dựa  vào dầu mỏ sang nền kinh tế dựa vào hydrogen (hydrogen economy) nhằm  giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ bất ổn ở Trung Đông và tránh được  sự đổ vỡ nền kinh tế khi trữ lượng dầu mỏ đến ngày cạn kiệt.     Hydrogen là nguyên tố có nhiều nhất, cấu tạo nên 90% vật chất trong vũ trụ và trái đất; hiệu suất cháy của nó cao hơn dầu mỏ (60% so với 25%). Khi đốt hydrogen chỉ có một sản phẩm phụ duy nhất là nước, không kèm bất cứ chất thải nào có hại cho môi trường như khi đốt xăng dầu. Có nhiều cách sản xuất hydrogen, trong đó có biện pháp điện phân nước, mà nước chiếm 70% diện tích trái đất. Tóm lại hydrogen là nguồn năng lượng tái sinh sạch nhất, hiệu suất cao nhất và có nguồn cung cấp vô tận. Bởi vậy kinh tế hydrogen sẽ là nền kinh tế bền vững lý tưởng nhất của loài người.  Về nguyên tắc, tất cả các phương tiện chuyên chở chạy bằng xăng dầu đều có thể chuyển sang chạy bằng hydrogen. Khi ấy năng lượng hóa học của hydrogen được chuyển thành năng lượng cơ học bằng cách đốt hydrogen trong động cơ đốt trong, hoặc cho hydrogen phản ứng với oxygen trong pin nhiên liệu (FC, fuel cell), qua đó sinh ra điện. FC sẽ cung cấp cho nhân loại nguồn điện sạch và bền vững; sản phẩm phụ của nó chỉ là nước. Dùng hydrogen để chạy xe và phát điện là hai lĩnh vực rất có triển vọng, nhất là xe chạy pin nhiên liệu hydrogen (fuel cell vehicle, FCV). Tuy vậy giá thành FC hiện nay còn quá đắt khiến giá FCV bị đội cao quá mức thị trường có thể chấp nhận. Vì thế việc nghiên cứu hoàn thiện công nghệ FC và xây dựng hệ thống cung cấp hydrogen cho các xe FCV trở thành nhiệm vụ chính trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hydrogen.  Tại Mỹ, từ 5/2001 Tổng thống Bush đã đề xuất kế hoạch phát triển năng lượng hydrogen. Tháng 2/2002 ông đưa ra Báo cáo Triển vọng dài hạn nước Mỹ chuyển sang kinh tế hydrogen năm 2030. Năm sau lại đề xuất Sáng kiến nhiên liệu hydrogen (HFI) nhằm thương mại hóa xe dùng FC hydrogen. Năm 2008 Mỹ đã chi 1 tỷ USD cho HFI. Tháng 2/2004, Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) đưa ra dự án nghiên cứu triển khai công nghệ năng lượng hydrogen kèm biểu tiến độ thực hiện. Thời gian 2004~2008, Mỹ đã chi 1,7 tỷ USD cho nghiên cứu phát triển công nghệ FC.   Chính phủ Obama mới đầu không chủ trương phát triển kinh tế hydrogen vì cho rằng xe FCV có giá thành quá cao. Năm 2009, Steven Chu (Nobel Vật lý 1997) tân Bộ trưởng DOE cắt giảm ngân sách nghiên cứu FC từ 250 triệu USD xuống còn 70 triệu. Đến năm 2012 Chu đã thay đổi quan điểm, cho rằng do nước Mỹ có nguồn cung cấp khí đốt rồi rào nên xe dùng FC hydrogen có tiềm năng phát triển. Tháng 7/2012 DOE đầu tư 2,4 triệu USD xây dựng các trạm bơm hydrogen; sau đó lại cấp 1 triệu USD cho việc phân tích giá thành sản xuất vận chuyển nhiên liệu hydrogen. Ngày 13/5/2013, DOE khởi động Dự án H2USA với nội dung chính phủ và các công ty hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nhiên liệu hydrogen. Ngày 12/6/2013, lại cấp 9 triệu USD để phát triển công nghệ hydrogen và FC.  EU, nhiều nước phương Tây, Nhật và Hàn Quốc cũng hăng hái nghiên cứu phát triển công nghệ FC và các loại xe chạy FC hydrogen. Một số loại FCV của Nhật và Hàn Quốc hiện đang được thị trường Mỹ ưa dùng.  Nhưng tiến trình chuyển đổi kinh tế dầu mỏ sang kinh tế hydrogen gặp sự chống đối từ giới công nghiệp dầu mỏ, vì họ không muốn chịu thiệt khi dầu mỏ mất địa vị thống trị nền kinh tế. Trước tiên, các mỏ dầu và nhà máy luyện dầu (giá bình quân 1 tỷ USD mỗi nhà máy) sẽ phải đóng cửa. Công nghệ FC chưa hoàn thiện cũng cản trở sự chuyển đổi nói trên. Ngoài ra từ thập niên 80, công nghệ thăm dò khai thác dầu mỏ có tiến bộ nhảy vọt, phát hiện nhiều mỏ dầu mới, giới kinh doanh lại lao vào đầu tư khai thác dầu mà coi nhẹ việc nghiên cứu sử dụng hydrogen.   Chính phủ Mỹ vẫn chưa chọn hydrogen làm nguồn năng lượng chính, mà muốn dùng khí đốt hóa lỏng thay cho dầu mỏ, vì gần đây Mỹ đã tự túc, thậm chí xuất khẩu khí đốt. TT Obama chủ trương đẩy mạnh sản xuất điện bằng khí đốt, phát triển ô tô chạy điện ăc quy, đặt các trạm nạp điện cho ô tô, đồng thời cắt giảm chi phí nghiên cứu FCV.  Chuyển sang nền kinh tế hydrogen là một công việc dài hạn và tốn kém, trong lúc các chính phủ đều phải dồn sức đạt được mục tiêu tăng trưởng trước mắt. Vì vậy kinh tế hydrogen hiện nay chưa được phát triển như dự kiến, nhưng các nhà khoa học vẫn tin rằng cuối cùng loài người sẽ từ bỏ dầu mỏ mà chuyển sang dùng hydrogen.  Để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi nói trên, năm 2003 đã thành lập một tổ chức quốc tế là Chương trình đối tác Kinh tế hydrogen và Pin nhiên liệu (The hydrogen economy and fuel cell partnership program, IPHE), thành viên gồm EU và 17 nước : Australia, Áo, Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức, Pháp, Iceland, Ấn Độ, Ý, Nhật, Hàn quốc, Na Uy, Nga, Nam Phi, Anh, Mỹ. Hàng năm Ban Chỉ đạo IPHE đều họp 2 lần để nghe Ban Thư ký IPHE và các nước thành viên báo cáo tình hình đầu tư phát triển công nghệ pin nhiên liệu FC và năng lượng hydrogen, trao đổi thông tin và bàn công tác phối hợp nghiên cứu.   Hội nghị lần thứ 19 Ban chỉ đạo IPHE đã họp tại London trong hai ngày 23-24/5/2013. Cuộc họp cho thấy các nước đều tăng đầu tư vào lĩnh vực giao thông, như Đức có dự án H2Mobility, Anh có UKH2Mobility. Mỹ vừa chính thức khởi động dự án H2USA nhằm tăng tốc xây dựng cơ sở hạ tầng thiết bị hydrogen, thương mại hóa FCV. EU đang thực hiện dự án CPT (Clean Power for Transport), đầu tư 123 triệu Euro xây dựng 77 trạm bơm hydrogen chạy xe tại 15 nước đã có hệ thống trạm này. Trên lĩnh vực ứng dụng cố định, các trạm thông tin dùng FC có triển vọng rất tốt. Hội nghị cũng bàn vấn đề phát triển nền kinh tế hydrogen trong tình hình cơ cấu nguồn năng lượng thế giới đang có sự điều chỉnh lớn do xuất hiện cuộc cách mạng khí đá phiến (shale gas).     Nguyễn Hải Hoành lược thuật.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ quang tử nano nền silicon      Nhóm nghiên cứu Silicon của IBM vừa công bố kết quả ứng dụng của quang tử nano nền Silicon, sử dụng ánh sáng thay thế cho các sợi đồng cho việc truyền tải thông tin trong các “não” của một con chip.      Bộ điều chế được các nhà nghiên cứu sử dụng đó là bộ điện-quang Mach- Zehnder nền silicon, để biến đổi tín hiệu điện sang tín hiệu xung ánh sáng. Điều đáng chú ý là bộ điều chế này có kích thước nhỏ hơn 100 lần (có khả năng thu nhỏ tới 1000 lần) so với các thiết bị điều chế hiện tại. Sử dụng ánh sáng thay cho dây dẫn để truyền thông tin giữa các lõi sẽ tăng tốc độ lên tới 100 lần, trong khi chỉ tiêu hao 1/10 năng lượng so với kỹ thuật dây dẫn đương thời.   Theo Vật lý Việt Nam      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ sửa lưới điện cao thế không cần cắt điện      Đó là công nghệ sửa chữa nóng đường điện cao thế (công nghệ hotline) mà Công ty Điện lực Hà Nội mới áp dụng.    Công nghệ hotline gồm các thiết bị che phủ đường dây và quần áo bảo hộ với 300 hạng mục như găng tay, sào thao tác, sàn cách điện…, tạo ra môi trường cách điện tuyệt đối và an toàn cho công nhân khi sửa chữa lưới điện cao thế đang vận hành. Dù công nghệ hotline đòi hỏi thời gian sửa chữa lâu hơn công nghệ truyền thống, nhưng lại không làm ảnh hưởng đến sản xuất và nhu cầu dùng điện sinh hoạt của người dân.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ tái chế túi plastic thành nhiên liệu      Tạp chí Công nghệ chế biến nhiên liệu  (Fuel Processing Technology) vừa đưa tin các nhà khoa học Mỹ đã nghiên  cứu thành công một công nghệ mới có thể tái chế các loại túi plastic  thành dầu diesel, khí đốt, dung môi, xăng, sáp, dầu bôi trơn cơ khí v.v…    Brajendra Kumar Sharma, người đứng đầu nhóm nghiên cứu công nghệ nói trên ở Illinois Sustainable Technology Center (ISTC) thuộc Đại học Illinois, nói: “Từ quá trình chưng cất dầu thô, chúng ta chỉ có thể thu được từ 50 đến 55% nhiên liệu, nhưng bản thân túi plastic là một loại sản phẩm dầu mỏ, cho nên ta có thể coi chúng là nguyên liệu. Sử dụng biện pháp chưng cất, chúng tôi lấy được gần 80% nhiên liệu từ các túi plastic này.”   Nhóm Sharma đạt được kết quả nói trên sau hai năm nghiên cứu. Họ sử dụng một quá trình công nghệ gọi là phân hủy ở nhiệt độ cao (pyrolysis), khi ấy các túi plastic được nung nóng trong một buồng đốt không có khí oxygen.   Hằng năm toàn thế giới thải bỏ nhiều chục tỷ túi plastic đựng hàng khi mua sắm, trong đó chỉ có 1/8 được tái chế. Túi plastic chẳng những gây ô nhiễm các đại lục mà còn gây ô nhiễm biển. Các nhà nghiên cứu cho biết thậm chí hiện nay túi plastic đã xuất hiện tại những vùng không có người cư trú như ở Bắc Cực và Nam Cực. Quá trình tự phân hủy túi plastic cần thời gian 1.000 năm. Bởi vậy tái chế túi plastic đã qua sử dụng là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường sống của loài người và các sinh vật trên trái đất.  Trước đây đã có các nhà khoa học nghiên cứu việc chuyển hóa túi plastic thành dầu thô, nhưng Đại học Illinois chính là nơi nghiên cứu thành công việc chuyển hóa túi plastic thành dầu diesel và nhiều sản phẩm khác.  Sharma nói, nhóm của ông đem trộn 30% dầu diesel chuyển hóa từ túi plastic với dầu diesel phổ thông có lượng sulfur cực thấp, kết quả loại dầu này đem lại hiệu quả sử dụng tốt hơn.  Cứ khoảng 8 pound (khoảng 3,6kg) túi plastic có thể tái chế được 1 gallon (3,7 lít) dầu thô. Như vậy 1 triệu tấn túi plastic có thể cho ta 4 triệu thùng dầu thô, trị giá khoảng 400 triệu USD. Hiện nay toàn thế giới hằng năm sử dụng hơn 1.000 tỷ túi plastic, riêng nước Mỹ dùng khoảng 1 tỷ cái.  Ngoài ra túi plastic cũng là một nguồn dự trữ tiềm tàng để làm ra sợi carbon và ống nano carbon.     Nguyễn Hải Hoành dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon chống biến đổi khí hậu      Do khủng hoảng khí hậu Island muốn tiến hành thu gom với khối lượng lớn  CO2, biến khí này sang thể rắn để vùi sâu chôn chặt dưới đất đá núi lửa. Điều đó có thực hiện được không?      Tại một vùng đất hoang vu, lạnh lẽo kéo dài tới tận chân trời hiện lên ba cái vòm bằng thép hình hài như những trạm không gian. Một trong những cái tháp đó là của Edda Sif Aradóttir, đi vào tháp là một đường ống, vào đến bên trong tháp, ống bẻ cong 90 độ xuyên sâu vào lòng đất.  Chất được dẫn xuống độ sâu 800 mét hòa tan trong hydrogen sulfide là một phân tử nay trở thành một trong những nỗi lo của toàn nhân loại: carbon dioxide. Người đứng đầu Carbfix, một doanh nghiệp của Iceland thực hiện dự án này trên quy mô lớn cho biết: “Chúng tôi phải tìm cách loại bỏ phần lớn khí CO2 mà con người thải ra”.  Những ngày này, các nhà ngoại giao từ khắp nơi trên thế giới tham gia hội nghị thượng đỉnh về khí hậu thế giới tại Glasgow. Các quốc gia đều thấy cần phải có sự điều chỉnh để đạt được mục tiêu giảm 1,5 độ C nhằm hạn chế sự nóng lên của trái đất. Tuy nhiên với đà tiến triển như hiện nay thì mục tiêu này hầu như không thể đạt được vì thế giới vẫn thải ra một lượng lớn khí gây nhiệu ứng nhà kính. Để đến giữa thế kỷ này đạt được sự trung hòa khí hậu thì phải lấy ra khỏi bầu khí quyển một lượng lớn khí CO2.  Những cái túi  trong khung cảnh dung nham  Cách mái vòm thép vài trăm mét, trong  cảnh quan dung nham ở tây nam Iceland, có một tòa nhà khác thường trông giống như một khối hộp rỗng ngoại cỡ. Hàng chục túi lớn treo trên các bức tường bên cạnh. Những cái túi nằm theo chiều ngang cứ đều đặn căng phồng lên rồi lại tọp xuống.  Tại đây có thiết bị giống như quạt gió quay ngược, hút không khí xung quanh và ép qua một bộ lọc xenlulo. Chúng được bao phủ bởi một chất lỏng liên kết CO2 ở dạng muối. Khi được làm nóng đến 100 độ, chất này được giải phóng khỏi bộ lọc, được hút ra và vận chuyển bên  trong đường ống. Nhà máy điện địa nhiệt Hellisheiði nằm liền kề cung cấp điện và nhiệt cho hoạt động  này.  Kári Helgason, trưởng bộ phận nghiên cứu tại Carbfix, cho biết: “Ở đây chúng tôi hít thở không khí như ở thời tiền công nghiệp.  Tháng 9 vừa qua hệ thống lọc CO2 của Climeworks, một doanh nghiệp Thụy Sĩ đã đi vào hoạt động. Có thể nói đây là một hệ thống lớn nhất thế giới. Hệ thống này mỗi năm có thể loại bỏ 4.000 tấn carbon dioxide khỏi bầu không khí, tuy nhiên so với tổng lượng khí thải toàn cầu thì con số này chỉ là một giọt nước giữa đại dương. Từ năm 2030, nếu mọi thứ diễn ra theo kế hoạch, sẽ có vài triệu tấn CO2 được thu gom; các mô-đun có thể được tăng lên theo yêu cầu. Audi và Microsoft đã trả tiền để bù đắp lượng khí thải mà các tập đoàn này sản sinh ra, ngay cả ban nhạc Coldplay của Anh cũng vậy – họ cũng muốn có những chuyến  lưu diễn trung hòa với khí hậu. Helgason nói: “Chúng tôi phải lọc khí thải ra để trả giá cho tội lỗi của con người.  Một công nghệ gây nhiều tranh cãi  Tại một số nơi trên thế giới, cũng có kế hoạch ép CO2 xuống dưới lòng đất. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, CO2 được tống sâu xuống  đáy biển và lưu  trữ  trong các khu mỏ dầu và khí đốt đã khai thác cạn trước đây. Ở Đức, biến thể của công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) này đang gây rất nhiều tranh cãi – đặc biệt là vì nguy cơ khí nhà kính này có thể đến một lúc nào đó thoát lên bề mặt một lần nữa.  Vấn đề này không nảy sinh ở Iceland. Tại đây CO2 đã được lưu trữ trong đất bazan  từ năm 2014 – lúc đầu nó đến từ nhà máy điện địa nhiệt lân cận, tại đây nó là một sản phẩm phụ. Khí nhà kính, hiện được lọc trực tiếp từ không khí và hòa tan trong nước, chảy qua một đường ống vào các tháp bằng thép của Edda Aradóttir ở sâu dưới lòng đất. Theo một nghiên cứu khoa học năm 2016, điều  xảy ra ở đây rất đáng phấn khởi, trong vòng hai năm, khí CO2 bị lưu giữ tại đây đã  khoáng hóa.  Aradóttir lấy trong hòm một tảng đá với những lỗ thủng lỗ chỗ. Khi axit cacbonic tiếp xúc với đá bazan, chứa nhiều magie, canxi và sắt, sẽ tạo thành muối cacbonat. Người kỹ sư với mái tóc vàng dưới chiếc mũ cứng với tay lấy một viên đá khác trong hộp, lần này tảng đá chứa đầy những hạt màu trắng. Vị kỹ sư này giải thích “Đá bazan giống như một miếng bọt biển. Chúng tôi đã tạo ra được khoảng  100.000 tấn CO2 theo cách này“.  Đến năm 2030, con số này sẽ lên đến vài triệu tấn, nhưng ngay cả khi đó thì tiềm năng vẫn chưa hết: Riêng ở Iceland, có tới 90% đá bazan, lượng CO2 hàng năm có thể lưu trữ được gấp 80 đến 200 lần so với thế giới, Helgason giải thích. Tiềm năng cũng rất lớn ở các khu vực khác trên thế giới – bao gồm miền bắc nước Đức, Ấn Độ và Hoa Kỳ. Hiện đã có một dự án tương tự ở phía đông nam bang Washington. Vì các lỗ khoan sẽ tự đóng kín lại sau một khoảng thời gian nhất định do quá trình hóa đá, nên sẽ cần tiến hành rất nhiều lỗ khoan.  Bằng chứng về tính khả thi  Theo nhà khoa học địa lý Hao Wu của Đại học Kỹ thuật Virginia, hai dự án thử nghiệm đã chứng minh tính khả thi của quá trình này. Tuy nhiên, trước khi quy trình này có thể được áp dụng ở nơi khác trên quy mô công nghiệp, mối liên hệ giữa quá trình khoáng hóa và hành vi dòng chảy của chất lỏng cần  phải được điều tra nghiên cứu  tốt hơn.  Không giống như trường hợp của công nghệ nứt vỡ gây tranh cãi để khai thác khí đốt tự nhiên, CO2 không bị ép sâu hàng km vào trái đất với áp suất cao, điều này ít nhất giúp hạn chế các rủi ro tối thiểu như động đất. Tuy nhiên, vẫn có những can thiệp lớn vào cảnh quan. Tuy nhiên, Iceland sẵn sàng tiếp tục triển khai theo hướng này nhằm không chỉ bù đắp lượng khí thải của chính mình mà còn của các nước láng giềng.  Tại cảng công nghiệp Straumsvík ở phía tây nam của đất nước, hiện hoạt động rất nhộn nhịp để xây  dựng Coda Terminal. Dự kiến đến năm 2025, Helgason ​​sẽ đón con tàu đầu tiên của nước ngoài, chất đầy các thùng thép chứa CO2 lỏng và lạnh.  Toàn bộ cơ sở hạ tầng sẽ được hoàn thiện vào năm 2030 gồm đường ống, bể chứa, tàu thủy – và nhà ga trị giá 200 triệu đô la. Thách thức thực sự là thu gom CO2 ở các quốc gia khác nhau và vận chuyển  đến Iceland với  chi phí tiết kiệm nhất. Helgason dự kiến ​​chi phí vận chuyển một tấn  từ 20 đến 50 đô la.  Mặt khác, chi phí cho việc lưu trữ có khả năng không đến 20 euro cho mỗi tấn carbon dioxide trong tương lai gần – thấp hơn giá hiện tại trong giao dịch thương mại chứng chỉ của EU. Liệu nó có thành công hay không và tầm nhìn của Helgason đối với sự đóng góp cho một nền kinh tế xanh mới sẽ phụ thuộc phần lớn vào  giá CO2 tăng nhanh như thế nào.  Điều này có thể mở ra một mô hình kinh doanh mới cho Iceland. Nền kinh tế nước này cho tới nay chỉ dựa chủ yếu vaò ngành du lịch và đánh bắt hải sản do đó nước này mong muốn có thêm một trụ cột thứ ba.  Những người chỉ trích dự án tranh luận từ hai phía: một số thì kêu dự án diễn ra quá chậm chạp, một số lại phàn nàn quá nhanh. Một số lại kêu ca lượng CO2 đã được cân bằng cho đến nay không đáng kể. Những người khác lo ngại rằng nhiều doanh nghiệp  sẽ thích mua lại hoặc vận chuyển chất thải CO2 của họ thay vì thiết lập trung hòa carbon vì phải đầu tư nhiều tiền bạc. Do đó, Helgason muốn “ưu tiên” cho những khách hàng không thể giảm lượng khí thải của họ, ví dụ như các lò cao, nhà máy luyện thép hoặc nhà máy sản xuất xi măng.  Tóm lại theo Edda Aradóttir “Iceland không thể tự mình đơn thương độc mã giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu”.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: CCS-Technologie gegen den Klimawandel: Begraben in der Tiefe des Gesteins – taz.de  tageszeitung (taz): «CCS-Technologie gegen den Klimawandel    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ trong nước chưa hấp dẫn  doanh nghiệp      Hằng năm, Bộ KH&amp;CN triển khai nhiều chương trình cấp quốc gia và cấp bộ, nơi xuất phát của nhiều đề tài nghiên cứu mang lại những sản phẩm được làm ra ở quy mô phòng thí nghiệm. Trong đó, nhiều quy trình, giải pháp đã được đăng ký bảo hộ độc quyền với Cục Sở hữu trí tuệ, sẵn sàng chờ doanh nghiệp liên hệ, song trên thực tế không có nhiều doanh nghiệp mặn mà với những kết quả nghiên cứu này.        Trong một buổi làm việc với Tia Sáng, Phó Tổng giám đốc Traphaco phụ trách R&D Nguyễn Huy Văn chia sẻ, “các nhà khoa học thường chỉ mới có ý tưởng ban đầu”. Lời bộc bạch của ông Văn phản ánh một tồn tại của khoa học Việt Nam: phần lớn kết quả nghiên cứu từ các đề tài ứng dụng đều chưa phải là công nghệ hoàn chỉnh ở mức có thể triển khai trực tiếp vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.  Nhận định về thực trạng này, tại hội thảo về sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ tổ chức vào cuối tháng ba vừa qua, đại diện công ty ô tô Trường Hải, PGS. TS Phạm Xuân Mai, từng nhiều năm làm công tác nghiên cứu và giảng dạy tại trường ĐH Bách khoa TP.HCM và 10 năm làm việc cho doanh nghiệp, lý giải “công nghệ được chuyển giao từ nhà sản xuất chuyên nghiệp khác hoàn toàn với công nghệ được chuyển giao từ nhà nghiên cứu”. Với cách tư duy của doanh nghiệp, việc đi mua công nghệ từ nước ngoài bao giờ cũng an toàn hơn khi có thể áp dụng ngay vào sản xuất. Đồng tình với quan điểm này, GS. TS Hồ Sĩ Thoảng, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) nêu ví dụ, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có hoàn thành nghiên cứu về chất hoạt động bề mặt có khả năng tăng cường thu hồi dầu nhưng làm xong bỏ đó. Dù hoạt chất này cũng rất cần cho hoạt động khai thác dầu khí nhưng Petrovietnam không dám đầu tư thêm để hoàn thiện sản phẩm bởi “sản phẩm phải dùng được mới dám mua”, mà thực tế thì “không ai dám mạo hiểm cả”.  Như vậy, dù các kết quả nghiên cứu của trường đại học hay viện nghiên cứu trong nước có ưu điểm là giá cả thấp hơn công nghệ quốc tế nhưng lại phải mất thời gian thử nghiệm quãng 5, 7 năm và thường kèm theo rủi ro. Trước những sức ép cạnh tranh trên thị trường, “doanh nghiệp không thể kiên nhẫn chờ đợi, chưa kể không chắc chắn vào khả năng thành công”, ông Mai giải thích.   Trên thực tế, việc hoàn thiện quy trình công nghệ, để có thể sản xuất hàng loạt, làm ra sản phẩm trên quy mô công nghiệp mà chất lượng vẫn được đảm bảo là điều nằm ngoài khả năng của các nhà nghiên cứu Việt Nam trong rất nhiều trường hợp. TS Trần Việt Hùng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ngậm ngùi, vì thiếu kinh phí trang trải cho các công đoạn sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện quy trình nên đề án có tốt mấy vẫn chỉ kết thúc ở khâu nghiệm thu tại các hội đồng khoa học. Để giải quyết vấn đề này, ông Hùng đề xuất, trong đợt sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ lần này, ban soạn thảo cần chú ý đưa vào luật những ràng buộc, khuyến khích các bên liên quan ứng dụng kết quả nghiên cứu trong nước hoặc sau đó hướng đến ban hành những chế tài, thông tư hướng dẫn để thực thi tốt việc thúc đẩy thương mại hóa.   Quan điểm trên đã nhận được sự tiếp thu và đồng tình từ ban soạn thảo Luật Chuyển giao công nghệ. Theo bà Đỗ Bích Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá, thẩm định và Giám định công nghệ (Bộ KH&CN), thành viên ban soạn thảo, thì Điều 40 về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước của Luật CGCN đã được tập trung sửa đổi, bổ sung, trong đó có quy định trách nhiệm của tổ chức chủ trì trong việc báo cáo ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nếu tổ chức chủ trì không thực hiện, đại diện chủ sở hữu nhà nước sẽ giao quyền sở hữu và quyền sử dụng cho tổ chức khác có nhu cầu. Đồng thời đối với những tổ chức, cá nhân thực hiện dự án khởi nghiệp công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN sẽ được ưu tiên giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra từ ngân sách nhà nước.   Tuy nhiên, tất cả những thuận lợi trên đây chỉ mang lại hiệu quả thực tiễn khi bản thân các doanh nghiệp có tinh thần chủ động tìm kiếm, đặt hàng các nhà nghiên cứu, sáng chế trong nước. Vì vậy, cần có nhiều hơn nữa những mô hình năng động, linh hoạt như của Traphaco, đó là một mặt đặt hàng và trả thù lao tương xứng để tạo động lực cho các nhà nghiên cứu, sáng chế trong nước (Traphaco cho biết họ trả phí bản quyền cho tác giả tương ứng với 3% doanh thu sản phẩm cho tới khi nào sản phẩm còn tồn tại trên thị trường) mặt khác tự xây dựng bộ phận R&D của doanh nghiệp đảm trách việc hoàn thiện quy trình công nghệ từ các khâu điều chỉnh công thức, liều lượng thành phần, đưa thêm các tá dược phù hợp, v.v.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Công nghệ Vi xử lý tương lai      Kỹ thuật điện toán đã phát triển nhảy vọt trong vòng nửa thế kỷ qua, biến máy tính từ những cỗ máy khổng lồ chậm chạp trong các viện nghiên cứu thành vi xử lý (chip) siêu nhanh trong các thiết bị cầm tay. “Trí tuệ nhân tạo” đã không còn là một thuật ngữ xa lạ hay là tên một bộ phim Hollywood mà đã xâm nhập sâu vào đời sống và kinh tế con người. Tuy nhiên, ngoài sự bóng bẩy trong thiết kế của những cái iPhone hay laptop siêu mỏng, những người ít nhiều quan tâm đến kỹ thuật đều đã nhìn thấy rõ sự giảm tốc trong công nghệ vi xử lý trong hai thập kỷ gần đây. Liệu kỹ thuật vi xử lý hiện tại dựa trên mô hình máy tính von Neumann và công nghệ CMOS sẽ còn nhảy vọt nữa không hay đã chạm ngưỡng, và công nghệ nào sẽ có khả năng thay thế để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của loài người, là những câu hỏi được bàn luận sôi nổi trong giới chuyên môn.          Rick Perry, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ (DOE) – phải, kiểm tra việc lắp đặt siêu máy tính Summit tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (Mỹ) vào tháng 8/2018. Nguồn: oakridgetoday   Vấn đề của Vi xử lý: Lượng và Chất     Khi nói đến tốc độ phát triển của vi xử lý, người ta hay nhắc đến Định luật Moore: Cứ mỗi 2 năm, số lượng transitor của vi xử lý tăng gấp đôi. Thực ra, ban đầu G. Moore phát biểu quan sát của mình là “Cứ mỗi năm…” nhưng 10 năm sau (năm 1975) nhận thấy tốc độ gia tăng số lượng của transitor giảm sút, ông liền sửa lại thành “Cứ mỗi 2 năm…” Mãi đến đầu thế kỷ 21, dự đoán của Moore khá đúng. Tuy nhiên khoảng 10 năm trở lại đây, sự gia tăng mật độ của vi xử lý đã chậm lại thấy rõ.    Kích thước của transitor là một tiêu chí tốt để đánh giá sự phát triển của công nghệ chip. Để số lượng transistor tăng nhưng kích thước chip không tăng thì transistor phải nhỏ lại. Ngoài giữ kích thước chip không bị phình lên quá to, transistor nhỏ còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực khác: tần số hoạt động của chip sẽ cao hơn, tức xử lý nhanh hơn, và lượng điện năng tiêu thụ nhỏ hơn (Định luật Dennard). Tuy nhiên, theo thống kê ở Hình 1, trong 15 gần tần số của chip đã dừng lại ở mức 3-4 GHz, chỉ gia tăng 2% mỗi năm, chứ không còn 40%/năm như 2 thập kỷ trước đó.      Hình 1: Tần số (clock rate) của vi xử lý theo thời gian (năm). Trong 15 năm gần đây, tốc độ gia tăng chỉ đạt mức 2%/năm. Nguồn: Hennessy và Patterson (Elsevier) 1.  Giải pháp tình thế trước những khó khăn này là gia tăng về Lượng: Thêm nhiều transistor, tăng số lượng core của chip, tăng bộ nhớ và đường truyền, thực hiện các tác vụ lớn ở những hệ thống siêu máy tính khổng lồ, vân vân. Việc tăng mạnh về Lượng này dẫn đến những trung tâm dữ liệu (data center) và năng lượng tiêu hao khổng lồ. Năm 2016, Google tiêu thụ điện năng bằng cả thành phố sầm uất San Francisco! Các chuyên gia dự đoán rằng tới năm 2050, thế giới sẽ không còn sản xuất đủ điện năng để đáp ứng cho các trung tâm dữ liệu nữa. Do đó về lâu về dài, cần những giải pháp về Chất, tức phải thay đổi hệ thống hiện tại bằng vật liệu, cấu kiện và kiến trúc hoàn toàn khác, như thế mới mong thúc đẩy công nghệ điện toán tiến xa được. Dưới đây tôi sơ lược một số phương hướng chính đang là đề tài nghiên cứu nóng hổi của giới chuyên môn.     1. Xử lý song song    Một giải pháp khá thông dụng để tăng tốc độ của máy tính là xử lý song song (parallel processing). Khái niệm này rất đơn giản: thay vì các câu lệnh được xử lý theo trình tự thì có thể chia ra nhiều nhóm để xử lý cùng một lúc. Trên thực tế, có nhiều cấp độ song song từ xử lý câu lệnh đến truy cập bộ nhớ. Đa phần các vi xử lý đều có chức năng xử lý song song ở một mức độ nào đó, và xu hướng sắp tới là độ song song sẽ càng tăng. Điển hình là vài năm trở lại đây đã thấy sự phổ biến của multicore CPU, tức mỗi CPU do vài vi xử lý (core) chạy song song với nhau cấu thành.    Trường hợp xử lý song song rõ rệt nhất là GPU gồm hàng trăm core nhỏ tạo thành. Các core của GPU yếu hơn nhiều so với core của CPU, do đó không thể xử dụng GPU vào các tác vụ tính toán thông thường. Tuy nhiên GPU vượt trội hơn CPU ở một số tác vụ đặc biệt, thí dụ như làm phép nhân ma trận. Toàn bộ tính toán của mạng nơ-ron nhân tạo (artificial neural network) đều quy về các phép nhân ma trận. Sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo ở hai thập kỷ nay, và những thập kỷ kế tiếp, đã tạo ra thị trường rất lớn cho GPU. Để thỏa mãn nhu cầu của thị trường to lớn này, hiện nay các tập đoàn thiết kế chip lớn đang ráo riết thiết kế lại vi xử lý của họ theo hướng xử lý song song.     2. Vi xử lý nơ-ron    Sự phổ biến của GPU trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo là điển hình cho xu hướng phổ biến trong phát triển vi xử lý hiện nay: thay vì chế tạo vi xử lý “toàn năng” có thể đảm đương mọi tác vụ, các nhà thiết kế và sản xuất chuyển sang nghiên cứu chế tạo vi xử lý chuyên dụng, chỉ phù hợp ở một số tác vụ nhất định.    Kỹ thuật mạng nơ-ron nhân tạo (mô phỏng chức năng bộ não người) chạy trên GPU hiện nay chỉ là giải pháp tạm thời. Ở cấp độ cơ bản, não người không hoạt động dựa trên phép nhân ma trận, mà dựa vào các xung điện giữa các tế bào thần kinh. Do đó để tạo được một vi xử lý có chức năng như não người (neuromorphic chip), chúng ta phải thiết kế lại toàn bộ vi xử lý từ linh kiện đơn giản nhất để chúng hoạt động dựa trực tiếp vào xung điện chứ không cần phải số hóa. Hướng đi này đã được các tập đoàn và phòng thí nghiệm triển khai từ nhiều năm qua, điển hình là chip TrueNorth của IBM (năm 2014), Loihi của Intel (năm 2018), NeuroGrid của Đại học Stanford (Mỹ) và hệ thống SpiNNaker của châu Âu (Hình 2). Mặc dù các chip này vẫn sử dụng công nghệ CMOS, việc tìm kiếm thiết bị mới cho tác vụ này (thay đổi từ vật liệu đến cấu trúc) đang là đề tài nghiên cứu cực kỳ sôi động.    Bạn đọc quan tâm có thể tham khảo thêm bài viết Máy tính trí tuệ tương lai – các hệ tính toán tự nhiên (Nguyễn Quang) trên Tia Sáng.      Hình 2: Hệ thống máy tính nơ-ron SpiNNaker bao gồm 500 ngàn core. Nguồn: S. Furber (IOPScience) 2.     3. Vi xử lý bộ nhớ cục bộ    Một nhân tố lớn hạn chế tốc độ của máy tính hiện nay gọi là “nút thắt von Neumann” (von Neumann bottleneck) gây ra do bộ nhớ của máy tính được sắp xếp phân tầng theo nhiều lớp: lớp gần nhất với vi mạch tính toán bao gồm các flip-flop và SRAM có tốc độ truy cập rất nhanh để tạm ghi dữ liệu trực tiếp phục vụ tính toán; lớp dữ liệu tạm thời thì chậm hơn, thường sử dụng DRAM, và chỉ lưu trữ những dữ liệu ít khi dùng tới hơn; và lớp sau cùng là đĩa cứng để trữ dữ liệu lâu dài. Mặc dù thiết kế bộ nhớ phân lớp theo nhu cầu sử dụng như vậy có vẻ hợp lý nhưng gây ra hai vấn đề lớn:    – Do đường truyền giữa mạch xử lý số và bộ nhớ có băng thông và tốc độ nhất định nên dữ liệu chuyển động ra vào bị hạn chế, dẫn đến tốc độ xử lý của toàn bộ hệ thống máy tính bị chậm lại.    – Việc chuyển dữ liệu ra vào thường xuyên gây ra tiêu hao năng lượng lớn, đặc biệt ở thời đại Big Data ngày nay, vi xử lý cần truy cập dữ liệu thường xuyên hơn.    Để giải quyết “nút thắt von Neumann”, các nhà nghiên cứu đã đề xuất thiết kế lại bộ nhớ đặt vi mạch nhớ gần với vi mạch tính toán, gọi là vi xử lý bộ nhớ cục bộ (in-memory processor). Ý tưởng thì đơn giản nhưng khâu thực hiện thì khó vô cùng vì không có một loại vi mạch nhớ nào thỏa mãn tất cả các yêu cầu: SRAM rất nhanh nhưng diện tích lớn, lại mất dữ liệu nếu nguồn điện bị ngắt; Flash có thể lưu trữ dữ liệu lâu nhưng rất chậm và tuổi thọ không cao. Do đó để thiết kế vi xử lý bộ nhớ cục bộ đòi hỏi vi mạch nhớ “toàn năng” mà hiện nay còn đang thai nghén trong các phòng nghiên cứu.     4. Máy tính Siêu dẫn    Một giải pháp khá táo bạo trong tham vọng cách mạng hóa ngành kỹ nghệ điện toán là máy tính siêu dẫn (superconducting computer). Trong nhiều kim loại (thí dụ Niobium) ở nhiệt độ đủ thấp (-270C), dòng điện chạy qua mà không sinh ra nhiệt, gọi là hiện tượng siêu dẫn (superconductivity). Thiết bị xử lý số siêu dẫn đã được phát triển từ những năm 1990, hoạt động ở tốc độ rất cao (vài chục đến vài trăm GHz) nhưng nhiệt sinh ra cực kỳ thấp (do đường truyền siêu dẫn không sinh nhiệt), do đó giải quyết được vấn đề tốc độ và năng lượng của các siêu máy tính hiện tại.    Vì chỉ hoạt động ở nhiệt độ cực thấp, hiển nhiên máy tính siêu dẫn không nhắm vào đối tượng cá nhân người dùng mà hướng đến thay thế các trung tâm dữ liệu khổng lồ hiện nay. Các chuyên gia ước tính, ngay cả khi gộp luôn cả chi phí làm lạnh hệ thống thì máy tính siêu dẫn (xây ở tầm vĩ mô) vẫn tiêu thụ năng lượng ít hơn máy tính thường hơn 100 lần, trong khi tốc độ cao hơn 100 lần. Việc xây dựng một hệ thống máy tính siêu dẫn hoàn chỉnh cần sự hợp tác của nhiều nhóm nghiên cứu ở các trường đại học và công ty chip. Kế hoạch này đã và đang được Chính phủ Mỹ và Trung Quốc tích cực theo đuổi trong vài năm nay.     5. Máy tính Lượng tử    Gần đây giới nghiên cứu về điện toán xôn xao với hai sự kiện lớn: Chính phủ Mỹ thông qua dự án  National Quantum Act với kinh phí 5 tỷ USD cho nghiên cứu chế tạo máy tính lượng tử (quantum computer), và Google ra thông báo3 chip lượng tử của họ đã giải được một bài toán trong 200 giây mà siêu máy tính  bình thường phải mất 10 ngàn năm. IBM và Microsoft cũng đã ra mắt máy tính lượng tử của họ và cho phép người dùng truy cập thử nghiệm một vài tính toán cơ bản. Có thể tóm tắt hai công dụng chính của máy tính lượng tử:    Giải mã: Máy tính lượng tử có thể dễ dàng giải mã toàn bộ thông tin trên mạng internet. Ngoài ra, thông tin do máy tính lượng tử mã hóa không bao giờ bị bẻ khóa. Đây là vấn đề an ninh mạng nghiêm trọng nên được các chính phủ quan tâm đầu tư.    Tìm kiếm: Thuật toán tìm kiếm của máy tính lượng tử hiệu quả hơn nhiều so với máy tính hiện nay. Nhu cầu tìm kiếm thông tin của con người rất lớn (và Google đã xây dựng cả một đế chế từ lĩnh vực này), nên máy tính lượng tử sẽ đem lại lợi ích kinh tế khổng lồ.    Khó khăn lớn nhất trong việc chế tạo chip lượng tử hiện nay là nhiễu: mức năng lượng của trạng thái lượng tử cực kỳ nhỏ, do đó cần phải được cách ly gần như hoàn toàn với thế giới bên ngoài và được đo đạc bằng các thiết bị đo cực nhạy. Việc hoàn thành một máy tính lượng tử có thể thực hiện hai tác vụ giải mã và tìm kiếm nói trên còn rất xa, theo tôi có lẽ phải trên 50 năm nữa      Hình 3: Bên trong hệ thống máy tính lượng tử của Google dựa vào chip siêu dẫn. Khi hoạt động, hệ thống sẽ được làm lạnh xuống nhiệt độ dưới 100 mK. Nguồn: CNET.  Đây là một số hướng chính để thay đổi hệ thống phần cứng của máy tính, đặc biệt của bộ vi xử lý. Một số giải pháp khác mà ngành công nghiệp điện toán đã và đang thực hiện là thay đổi về cấu trúc mạng máy tính, điển hình ở điện toán đám mây (cloud computing). Điện toán đám mây giúp chuyển hầu hết tác vụ nặng nề từ máy tính và thiết bị cá nhân lên thực hiện ở máy chủ (cực mạnh) và chuyển kết quả về cho người dùng. Biện pháp này làm giảm áp lực từ phía người dùng, hiện nay đa số chỉ cần một máy tính hoặc điện thoại mạnh vừa đủ và kết nối vào internet tốt là có thể thực hiện được mọi tác vụ cần thiết. Như vậy, trong khi các chuyên gia đang ráo riết tìm kiếm giải pháp thay thế công nghệ điện toán hiện tại, chúng ta có thể yên tâm rằng, bằng cách này hay cách khác tốc độ xử lý sẽ tiếp tục tăng lên từng ngày. □     * Nhà nghiên cứu về công nghệ điện toán tại ĐH Cornell, Hoa Kỳ.  Tài liệu tham khảo:  1 Hennessy & Patterson, “Computer Architecture – A quantitative approach”, Morgan Kaufmann (2017)  2 S. Furber, “Large-scale neuromorphic computing systems”, J. of Neural Engineering 13, 051001 (2016)  3 Arute et al., “Quantum supremacy using a programmable superconducting processor”, Nature 574, 505 (2019)    Author                Minh Hải        
__label__tiasang Công nghệ viễn thám: Cảnh báo sớm trượt lở đất      Những phát triển mới về công nghệ ngày càng cho phép chúng ta lường trước được nguy cơ rủi ro từ tự nhiên. Một trong số đó là công nghệ viễn thám, công nghệ hữu hiệu giúp cảnh báo trượt lở đất.       Dân quân xã gùi hàng cứu trợ dân vùng bị sạt lở ở các xã Phước Thành và Phước Lộc, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) vào tháng 11/2020. Nguồn: nld.com.vn  Chắc hẳn chúng ta còn nhớ những cơn bão năm 2020 và hệ quả nó để lại cho khu vực miền Trung. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai, mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất trên diện rộng làm 249 người chết, mất tích, 1.531 nhà sập, ước tính tổng thiệt hại về kinh tế trên 36.000 tỉ đồng. Những cái tên như Rào Trăng 3, Trà Leng, Phước Sơn… đều để lại nhiều dư âm chết chóc đau buồn.  Trượt lở đất không là hiện tượng xảy ra ở riêng Việt Nam. Các số liệu thống kê toàn cầu cho thấy châu Á đang là khu vực chịu thiệt hại lớn nhất về người do trượt lở đất đá gây ra Về bản chất, trượt lở là quá trình lớp đất, đá trên bề mặt sườn dốc dịch chuyển xuống nơi có địa hình thấp hơn và vẫn diễn ra trong suốt hàng triệu năm qua. Quá trình diễn này ra tự nhiên phổ biến ở vùng đồi núi và cùng với dòng chảy của nước mang phù sa cho những đồng bằng châu thổ màu mỡ. Khi con người ngược dòng chảy của nước, tìm cách thúc đẩy phát triển nơi núi rừng cũng là lúc chúng ta đối mặt với những hiểm họa từ thiên nhiên. Phát triển giao thông, khai thác tài nguyên, hoạt động dân sinh thiếu bền vững với kết quả là sự xâm lấn thô bạo vào tự nhiên đang khiến chúng ta chịu sự đe dọa của thiên tai. Trong đó, trượt lở đất đá để lại thiệt hại ngày một gia tăng cho con người trong những năm gần đây.  Các yếu tố tự nhiên gây ra trượt lở đất gồm có địa vật lý và khí tượng… như động đất, địa chấn, mưa bão kéo dài, áp thấp nhiệt đới cùng với những tác nhân từ quá trình phát triển kinh tế thiếu bền vững, gia tăng dân số quá nhanh và mất lớp phủ tự nhiên cũng làm gia tăng sức tàn phá của hiện tượng này. Mức độ ảnh hưởng của trượt lở phụ thuộc vào vị trí, tốc độ, khối lượng đất đá và thời điểm xảy ra. Điều kiện thời tiết mưa bão kết hợp với trượt lở đất đá ở các vùng đồi núi thường có sức tàn phá khốc liệt nhất.    Khi con người ngược dòng chảy của nước, tìm cách thúc đẩy phát triển nơi núi rừng cũng là lúc chúng ta đối mặt với những hiểm họa từ thiên nhiên, trong đó, trượt lở đất đá để lại thiệt hại ngày một gia tăng cho con người những năm gần đây.    Với diện tích 3/4 là núi đồi, Việt Nam đang phải đối mặt với tai biến trượt lở đất xuất hiện từ 14 tỉnh miền núi phía Bắc và trải dài khắp miền Trung. Cộng thêm với tác động ngày một phức tạp của biến đổi khí hậu, chúng ta cần những công cụ dự báo có độ phủ rộng khắp, có khả năng triển khai tự động nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đủ thông tin và kịp thời để giám sát và phát hiện trượt lở đất. Với công nghệ này, chúng ta cũng cần tự chủ được về mặt công nghệ và dữ liệu.  Những công cụ cảnh báo sớm  Thật khó để ngăn không cho những thảm họa tự nhiên xảy ra nhưng chúng ta luôn có cách để phòng tránh và cảnh báo sớm. Tuy nhiên, điểm khó trong cảnh báo sớm trượt lở đất là tính bất ngờ, khó dự báo, thiếu hệ thống giám sát trượt lở đất dẫn đến khó khăn trong việc cảnh báo sớm, sơ tán người dân và cứu hộ cứu nạn. Chính vì vậy, các nghiên cứu khoa học thường tập trung vào giải quyết ba vấn đề chính của trượt lở: dự báo, phân vùng cảnh báo/nguy cơ và hệ thống giám sát.  Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã áp dụng nhiều công cụ truyền thống để giám sát, phát hiện các điểm trượt lở cố định. Trong đó, công tác thực địa, thu thập mẫu vật giúp xác định đặc tính của mỗi điểm trượt lở như tính chất cơ học của đất đá, sự biến đổi của đất đá qua các tác động của tự nhiên (mưa bão) hay yếu tố con người (thay đổi bề mặt lớp phủ) thường được quan tâm dưới góc nhìn địa chất. Những dữ liệu cơ lý của đất được mô hình hóa trong các bài toán mô phỏng để đem lại thêm thông tin dự báo trượt lở đất dưới các kịch bản có sẵn. Khi nhận diện được một số điểm trượt trên diện tích lớn, có thể đe dọa tài sản, con người, nhiều công cụ được lắp đặt bao gồm giám sát gián tiếp (nước mưa, nước ngầm…), trực tiếp (trạm đo định vị vệ tinh liên tục, đo dịch chuyển theo chu kì…) để quan trắc và thu thập dữ liệu. Ví dụ một số công nghệ mới dựa trên hệ thống trạm dày đặc đo địa chấn hay các rung động lan truyền do đất đá trượt lở để xác định được nguồn phát hay vị trí sạt lở (phương pháp này tương tự như cách các nhà khoa học tìm ra chấn tiêu của một trận động đất, hay nguồn gốc nơi xảy ra sự va chạm dẫn đến những cơn địa chấn dù vị trí xảy ra có thể ở độ sâu nhiều kilomet dưới mặt đất). Khi được bổ sung các yếu tố quan trọng khác bao gồm địa hình, dòng chảy, phân bố dân cư, giao thông…, tất cả những thông tin thu thập được cho phép phân vùng cảnh báo nguy cơ dưới dạng bản đồ.  Dù đã có nhiều bước tiến đáng kể về dữ liệu và công nghệ nhưng ngày nay, việc đưa ra dự báo trượt lở vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính dẫn đến dự báo chưa đạt được độ chính xác cần thiết là do trong trượt lở đất có sự tương tác lẫn nhau của rất nhiều yếu tố, chúng tạo nên những mối liên kết phức tạp giữa tác động ngoại lực và nội lực.  Hình 1. Ảnh vệ tinh trên ứng dụng Google Earth Pro chụp điểm sạt lở Trà Leng, Quảng Nam. Trượt lở diễn ra vào tối 28/10/2020 cùng với đợt mưa do bão Molave đổ bộ vào miền Trung. Chính giữa ảnh là khu vực 11 ngôi nhà (ảnh trái chụp 24/04/2019) đã bị đất đá vùi lấp, cướp đi sinh mạng của ít nhất 11 người (ảnh phải chụp 22/06/2021).  Là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn trên thế giới trong những năm gần đây, trượt lở đất thường dựa trên một bộ khung chung, trong đó nguồn dữ liệu đang ngày một phong phú hơn và một trong những đóng góp đáng kể nhất là dữ liệu vệ tinh với độ bao phủ rộng khắp và cho phép sử dụng không giới hạn. Mặt khác, các phương pháp xử lí dữ liệu đang chuyển dịch từ mô hình thuần vật lý sang nhóm các phương pháp về học máy (học máy, học sâu, mạng thần kinh nhân tạo) và đầu ra là các dạng bản đồ dự báo, nguy cơ hoặc cảnh báo.  Một hướng đi khác là kết hợp ảnh chụp vệ tinh quang học và radar. Giống như ảnh thường, ảnh vệ tinh ghi lại những chi tiết trên khung hình ở thời điểm chụp, qua đó so sánh từ hai ảnh trở lên chúng ta tìm ra điểm khác biệt. Với những dấu hiệu nhận biết riêng biệt, bằng mắt thường ta có thể xác định vị trí điểm sạt lở cũng như hình dung một phần quá trình đã diễn ra.  Những phân tích trên cho thấy các công cụ truyền thống phù hợp cho các điểm cố định nhưng khi giám sát và triển khai trên diện tích rộng lớn chúng ta cần đến những con mắt từ bầu trời mới có thể giải quyết được những yêu cầu này. Lời giải của nó đang dần trở nên rõ ràng hơn trong những năm gần đây nhờ tiến bộ của công nghệ viễn thám, trong đó ảnh chụp từ vệ tinh đóng vai trò then chốt.  Vì sao ảnh vệ tinh lại được đánh giá cao như vậy? Trong quá trình bay trên quỹ đạo cách Trái đất khoảng 600-800 kilomet, vệ tinh quang học có thể thu về các tấm ảnh tương tự trên máy ảnh hoặc điện thoại thông minh nhưng với độ bao phủ rộng từ vài trăm tới vài nghìn kilomet vuông. Chúng sẽ ghi nhận hầu hết dấu hiệu của trượt lở đất như lớp phủ cây cối thay thế bằng đất trống, đường sá, nhà cửa bị vùi lấp… Nhờ đó bằng trực quan so sánh các ảnh chụp ở những thời điểm trước và sau mỗi đợt mưa bão, chúng ta đều có thể nhận ra những thay đổi trên bề mặt Trái đất, ví dụ như các điểm trượt lở, ngập lụt. Tuy nhiên, vệ tinh quang học cũng có những khiếm khuyết nhất định như phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện thời tiết và ánh sáng Mặt trời. Vệ tinh radar với tần suất chụp ổn định và không phụ thuộc các yếu tố thời tiết là một sự bổ sung cần thiết cho các nghiên cứu về trượt lở quy mô cả nước.    Nguyên nhân chính dẫn đến dự báo chưa đạt được độ chính xác cần thiết là do trong trượt lở đất có sự tương tác lẫn nhau của rất nhiều yếu tố, chúng tạo nên những mối liên kết phức tạp giữa tác động ngoại lực và nội lực.    Dữ liệu thu thập được từ vệ tinh là dạng tín hiệu số. Mỗi bức ảnh vệ tinh quang học được hình thành từ hàng triệu điểm ảnh, mỗi điểm ảnh bao phủ một diện tích 30mx30m (vệ tinh Landsat) cho đến 0,5mx0,5m (vệ tinh Pléiades), hay còn gọi là độ phân giải không gian. So sánh các ảnh này trước và sau mỗi đợt mưa lớn có khả năng phát hiện các điểm trượt lở có diện tích từ vài trăm mét vuông trở lên, tùy thuộc vào độ phân giải của ảnh. Bên cạnh đó, vệ tinh radar cũng có khả năng bao quát tương tự với ưu thế chụp ảnh không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết nhưng có quy trình xử lý ảnh phức tạp hơn nhiều và cung cấp thông tin đa dạng hơn. Sử dụng dữ liệu ảnh từ nhiều vệ tinh sẽ cho phép khả năng giám sát tiệm cận thời gian thực (near real-time), qua đó tăng cường khả năng phản ứng nhanh trước các diễn biến bất thường của thiên tai.  Những ưu điểm vượt trội của dữ liệu vệ tinh cùng với quá trình tư nhân hóa đã thúc đẩy sự phát triển của ngành viễn thám thông qua sự gia tăng nhanh chóng về số lượng vệ tinh và công nghệ xử lý ảnh. Kết quả xử lý ảnh vệ tinh có độ chính xác cao và dần trở nên phổ biến. Các chính phủ và doanh nghiệp công nghệ đều hiểu được tầm ảnh hưởng của công nghệ viễn thám nên đã tạo điều kiện phát triển cho ngành nhờ vào phát triển dữ liệu mở (dự án Copernicus của liên minh châu Âu EU) … và hệ thống xử lí máy tính hiệu năng cao (Google, Amazon…). Các chính sách này cho phép ngay cả những người dùng bình thường với đam mê tìm hiểu về ảnh vệ tinh cũng có thể tiếp cận các ứng dụng từ đơn giản đến độ chính xác cao.  Việt Nam có thể học hỏi những gì?  Ở Việt Nam, việc xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo/nguy cơ là mục tiêu chính của các đề tài nghiên cứu về trượt lở trong những năm gần đây. Các bản đồ này thực tế không phát huy hiệu quả như mong muốn do hai yếu tố chính. Thứ nhất là do độ phân giải hay tỉ lệ bản đồ chưa cao, ví dụ chỉ đến cấp xã. Vì vậy, mỗi khi có cảnh báo, các cấp chính quyền không thể di dời dân số cả một xã để phòng tránh thiên tai do tỉ lệ bản đồ chỉ đến cấp độ tương đương. Thứ hai là thông tin cảnh báo chưa dễ tiếp cận bởi các cán bộ quản lý hành chính và người dân khó mà đọc hiểu được các bản đồ bao gồm kí hiệu khoa học trong khi điều họ cần nhất là nơi nào có thể xảy ra trượt lở? khi nào cần sơ tán? nếu xảy ra trượt lở thì chạy đi đâu?  Do đó, để khắc phục hai nhược điểm này, việc xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo/nguy cơ cần thực hiện chuyển đổi số hay số hóa các bản đồ, dữ liệu và các sản phẩm từ nghiên cứu khoa học phải đáp ứng được nhu cầu xã hội.  Hiện tại, chúng ta đang có nhiều lợi thế để làm được điều này. Với nguồn dữ liệu lớn về ảnh vệ tinh, chúng ta đủ khả năng xây dựng một hệ thống tự động phát hiện trượt lở trên quy mô cả nước và lưu trữ thành cơ sở dữ liệu. Trượt lở khó dự đoán nhưng có tính lặp lại tại những vị trí đã từng xảy ra nên dữ liệu sẽ cho thấy những khu vực bị tiềm ẩn nguy cơ. Với cơ sở dữ liệu này kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống sẽ là nền tảng thiết yếu cho những nghiên cứu chuyên sâu về trượt lở, quy hoạch phát triển trong tương lai. Với hệ thống tự động cập nhật và lưu trữ này, chúng ta rất dễ dàng điều chỉnh để áp dụng cho các ứng dụng hữu ích khác trong quản lý tài nguyên, nông nghiệp, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.  Trong quá trình này, chúng ta cũng cần chú ý một điểm quan trọng, đó là công nghệ viễn thám hay ảnh vệ tinh thuộc nhóm ngành công nghệ cao nên cần được liên tục cập nhật để bắt kịp xu hướng. Trong điều kiện kinh phí đầu tư còn hạn hẹp và nguồn nhân lực chưa thật dồi dào thì chúng ta có thể tăng cường hợp tác quốc tế để chủ động nắm bắt công nghệ mới và giúp phát triển đội ngũ nhân lực tiềm năng trong nước.  Tuy nhiên, sự tự chủ về nguồn nhân lực cũng cần đi kèm với tự chủ về nguồn dữ liệu. VNREDSat-1 là vệ tinh quang học đầu tiên của Việt Nam được phóng lên không gian (5/2013) với độ phân giải ảnh đạt 2,5m và không thua kém các vệ tinh quốc tế về mặt kỹ thuật. Sau gần 10 năm, khả năng tiếp cận dữ liệu của nó vẫn còn hạn chế dẫn đến không khai thác hết được tiềm năng vốn có, trong đó, việc sử dụng dữ liệu phải trả phí, quy trình đăng ký chưa rõ ràng với ngay cả các nghiên cứu trong nước là một rào cản. Thông thường, dữ liệu vệ tinh của mỗi nước cho phép các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong nước sử dụng miễn phí với các quy định về trích dấn nguồn và mục đích phi thương mại nhưng thủ tục tinh gọn. Đây là giải pháp được nhiều chính phủ áp dụng không chỉ để thu hút nguồn lực từ trong nước mà cả quốc tế. Nhiều nơi sẵn sàng nâng giới hạn tiếp cận cho toàn bộ giới khoa học trên thế giới bao gồm trường học và viện nghiên cứu cho mục đích học tập, học thuật. Nếu muốn sử dụng dữ liệu ảnh radar TerraSAR-X của cơ quan vũ trụ Đức (DLR) hay Cosmo-SkyMed của Ý, các nhà khoa học hoặc sinh viên các trường đại học chỉ cần viết tóm tắt đề tài nghiên cứu và gửi vào hệ thống tiếp nhận. Chuỗi vệ tinh quang học của Planet cũng đưa ra chính sách tương tự nhưng với thời gian phê duyệt nhanh hơn rất nhiều với kết quả chỉ trong vài ngày. Rõ ràng, chúng ta cũng có thể đưa ra chính sách tương tự, từ đó tăng khả năng triển khai vệ tinh của riêng mình, đáp ứng yêu cầu tự chủ về nguồn dữ liệu và tăng số lượng người dùng để phát triển nguồn nhân lực đa dạng. Để có được chính sách thông thoáng cởi mở như vậy chúng ta cần những thay đổi quan điểm của nhiều cấp quản lý.  Viễn thám không giới hạn ở vùng miền hay mức độ phát triển ở mỗi quốc gia. Sự cập nhật công nghệ hay hòa nhập với quốc tế mới là hành trình không thể đảo ngược. Nếu coi dữ liệu là một dạng tài sản quốc gia cần được bảo mật thì có thể chúng ta xao lãng một điều là trên thực tế, dữ liệu chúng ta có thì quốc tế cũng có và chất lượng còn tốt hơn. Một minh chứng cụ thể là mua ảnh vệ tinh trả phí ở Việt Nam đã trở nên phổ biến hơn cho cả mục đích học thuật và dân sự. Nếu những nguồn dữ liệu này được cởi mở chia sẻ giữa các nhà nghiên cứu với nhau, giữa dân dụng và học thuật, giá trị chúng mang lại sẽ được nhân lên nhiều lần cho cộng đồng trong bối cảnh nguồn lực trong nước còn nhiều hạn chế.  Cuối cùng, không có một giải pháp nào mang tính toàn vẹn nên cũng như các phương pháp khác, ảnh vệ tinh cũng có những nhược điểm riêng. Vì vậy chúng ta không thể phó thác vào duy nhất một phương pháp để nghiên cứu một dạng thiên tai như trượt lở mà cần sự kết hợp giữa nhiều công cụ truyền thống và hiện đại, đồng thời dành một khoản đầu tư nhất định cho các nghiên cứu như vậy. Những khoản đầu tư như vậy có tốn kém? Nếu so với hàng nghìn tỷ đồng khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra thì con số đầu tư cho khoa học chỉ chiếm một phần nhỏ nhưng lại có thể góp phần giảm thiểu thiệt hại và cứu mạng sống con người. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, trượt lở đất cũng như các dạng thiên tai khác chắc chắn sẽ ngày một khốc liệt, đầu tư vào nghiên cứu khoa học sẽ không chỉ giúp thúc đẩy khoa học phát triển và chính là đi trước một bước trong phòng chống và giảm thiểu thiệt hại.□  Bảng 1. So sánh các công cụ nghiên cứu trượt lở đất truyền thống và công nghệ viễn thám/ảnh vệ tinh.          Công cụ truyền thống  Viễn thám/ảnh vệ tinh      Phạm vi bao phủ  Điểm cố định  Từ vài ch%          Author                Nguyễn Minh        
__label__tiasang Công nhân robot      Giấc mơ của các ông chủ công nghiệp có lẽ sắp trở thành hiện thực. Hôm 21-6, các nhà nghiên cứu người Nhật đã giới thiệu một phát minh mới của họ: robot hình người có thể làm việc không mệt mỏi ở những môi trường khắc nghiệt.    Robot HRP-3 Promet MK-II, cao 1,60m và nặng 68kg, có thể di chuyển trên địa hình dốc và đầy cát, hoặc có thể đứng vững trong điều kiện mưa như trút nước. Nó có thể di chuyển không nghỉ trong hai giờ liền và biết cầm tuôcvit khéo léo hệt như con người.  HRP-3 là phát minh hợp tác giữa các công ty Kawada Industries, Kawasaki Heavy Industries (KHI) và Viện Quốc gia về khoa học và công nghệ tiên tiến, với sự trợ giúp tài chính của chính phủ. “Cha đẻ” của HRP-3 hi vọng có thể bắt đầu sản xuất những người anh em của HRP-3 từ năm 2010 với giá khoảng 15 triệu Yen (khoảng 115.000 USD). Khách hàng tiềm năng sẽ là các công ty xây dựng.  Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “Nước Nhật đang già đi nên rất cần chế tạo những robot có thể làm thay những việc của con người”.  N.QUÂN (Theo Reuters, AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Công trình giành giải Nobel tập trung vào số ít lĩnh vực khoa học      Từ năm 1995 đến 2017, công trình được trao giải Nobel Y học, vật lý hoặc hóa học thường quy tụ lại trong một vài lĩnh vực khoa học. John Ioannidis ở trường đại học Stanford và cộng  sự đã trình bày những phát hiện của mình trên tạp chí truy cập mở PLOS ONE vào ngày 29/7/2020.      Nhà hóa học M. Stanley Whittingham nhận giải thưởng Nobel từ Vua Carl Gustaf của Thụy Điển tại Stockholm Concert Hall ở Stockholm. (Nguồn: AP)     Được biết đến rộng rãi như một giải thưởng khoa học danh giá bậc nhất, giải Nobel thường ghi nhận những công trình mang tác động đặc biệt. Dù phần lớn các công trình trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay y sinh có thể thấy ngay giá trị của chúng về mặt lý thuyết nhưng cũng có một số công trình trong nhiều lĩnh vực khác được cho rằng có thể xứng đáng hơn. Bất kể điều đó, việc có nhiều tranh cãi về các giải thưởng cũng có thể đem lại lợi ích cho những hiểu biết sâu sắc hơn về việc liệu những lĩnh vực có công trình đoạt giải có xứng đáng được vinh danh nhiều hơn những lĩnh vực khác hay không.  Để làm rõ việc liệu các giải Nobel có xu hướng được trao cho một số lĩnh vực không, Ioannidis và cộng sự đã lựa chọn những công trình chính liên quan đến giải Nobel của các nhà khoa học được xinh danh từ năm 1995 đến năm 2017. Sau đó, họ ghi mỗi công trình nghiên cứu vào một bản đồ các lĩnh vực khoa học được tạo ra từ 63 triệu bài báo được xuất bản cùng khung thời gian. Dữ liệu được họ trích xuất ra từ Scopus, một cơ sở dữ liệu xuất bản khoa học khá toàn diện và tin cậy.  Phân tích này tiết lộ, trong số 114 lĩnh vực khoa học, 5 lĩnh vực là vật lý hạt, vật lý hạt nhân, sinh học tế bào, khoa học thần kinh và hóa học phân tử chiếm tới hơn một nửa các giải Nobel trong suốt thời kỳ được các nhà khoa học Stanford nghiên cứu – mặc dù năm lĩnh vực này chỉ chiếm 10% tổng số các bài bào được đưa lên bản đồ xuất bản này. Dẫu vậy thì hầu như tất cả các bài báo liên quan đến giải Nobel đều dược trích dẫn ít hơn so với nhiều bài báo khác xuất bản cùng thời gian.    Ba nhà khoa học nhận giải Nobel vật lý năm 2019. Nguồn: Quỹ Nobel  Các tác giả cũng biết rằng, các trích dẫn có thể không đem lại một bức tranh đầy đủ về tác động của công trình nghiên cứu và một ít trong số 114 lĩnh vực, như luật hoặc triết học, có thể không phù hợp với một giải thưởng Nobel (các lĩnh vực không được trao giải Nobel gồm nhãn khoa, y học cấp cứu và kỹ thuật môi trường).  Nguyên nhân giải thích tại sao nhiều lĩnh vực nghiên cứu lại nhận được sự ghi nhận bằng giải Nobel nhiều hơn lĩnh vực khác vẫn còn chưa rõ ràng. Dẫu vậy, các tác giả lưu ý, các giải Nobel có thể có ảnh hưởng với việc những lĩnh vực đó có thể nhận được đầu tư kinh phí và tưởng thưởng lớn hơn, có lẽ khiến cho những lĩnh vực tương tự có xu hướng được vinh danh thêm trong khi làm các lĩnh vực khác bị xã hội xao nhãng.  Ioannidis cho biết thêm: “Có khả năng là những phân ngành khoa học khác nhau có những thành công khác nhau, ngay cả việc các công trình khoa học đều được thực hiện tốt như nhau. Tuy nhiên, đây là điều thú vị bởi trong một số phân ngành chỉ một trong số 1000 xuất bản khoa học của các nhà nghiên cứu là có khả năng nhận được giải Nobel, còn trong những phân ngành khác thì không có nhà khoa học nào có thể được vinh danh, dẫu hàng chục nghìn nhà khoa học làm việc một cách siêng năng trong những phân ngành đó.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/search/page6.html?search=metal+air+pollution&s=0       Author                Quản trị        
__label__tiasang Công trình hồ đập thuỷ điện ở Việt Nam: Những nguy cơ tiềm ẩn      Việt Nam hiện có đến gần 7.000 hồ chứa lớn, nhỏ với tổng dung tích khoảng 63 tỷ m3. Những “quả bom nước” khổng lồ treo trên đầu như vậy khiến chúng ta phải đặt ra câu hỏi rằng tính an toàn của những công trình thủy điện, thủy lợi này có được đảm bảo?      Thủy điện Đa Krông 3 (Quảng Trị) xảy ra sự cố vỡ thân đập trước khi phát điện khiến người dân âu lo về chất lượng công trình. Nguồn: saigondautu.com.vn  Những lo ngại này không phải không có cơ sở, trong quá khứ, Việt Nam từng chịu nhiều thiệt hại nghiêm trọng do hồ, đập thiếu an toàn. Từ tháng 10/2012 – 6/2013 đã có 3 vụ vỡ đập thủy điện nhỏ ở 3 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, đó là thủy điện Đa Krong 3 (Quảng Trị), Đắk Mếk 3 (Kon Tum) và Ia Krel 2 (Gia Lai). Hay gần đây nhất là sự cố đường hầm dẫn dòng thi công tại đập thủy điện Sông Bung 2 bị vỡ vào năm 2016. Những sự vụ này khiến dư luận đặt ra câu hỏi sẽ ra sao nếu hồ thủy điện Hòa Bình với dung tích 9,45 tỷ m3, hồ Sơn La với dung tích 9,26 tỷ m3 nước, xảy ra sự cố? Xa hơn, vấn đề an toàn hồ đập, kể cả hồ thủy điện và hồ thủy lợi ở Việt Nam đang như thế nào? Liệu một thảm họa nghiêm trọng như Xe Pian Xe Namnoy (Lào), có bị tái hiện ở Việt Nam hay không?  Trả lời phỏng vấn Tia Sáng, TS. Nguyễn Lan Châu, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, cho rằng một rủi ro vỡ đập thảm khốc như ở Lào sẽ ít có khả năng tái hiện ở Việt Nam. Thậm chí, trong trường hợp vỡ đập, thiệt hại về người và tài sản cũng không nghiêm trọng như vậy. Bởi so với Lào, Việt Nam có nhiều kinh nghiệm hơn trong quản lý an toàn hồ đập. Hiện nay, hệ thống quy định, tiêu chuẩn về thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý an toàn hồ, đập ở Việt Nam cũng tương đối đầy đủ. “Chúng ta có quy trình vận hành đơn hồ, liên hồ và quy trình thông báo, cảnh báo toàn diện, thậm chí còn yêu cầu ghi âm đàm thoại giữa chủ đập và UBND địa phương.” – TS. Châu cho biết.  Đặc biệt, trong các quy định này, việc kiểm tra, giám sát an toàn hồ đập trước mùa mưa lũ luôn được quan tâm. Nghị định về quản lý an toàn đập đang được Bộ NN&PTNT trình để thay thế Nghị định 72/2007/NĐ-CP về quản lý an toàn đập, quy định rõ hằng năm phải tổ chức kiểm tra an toàn đập, cả định kỳ và đột xuất, đồng thời phải có phương án phòng tránh lũ cho hạ du – TS. Châu giải thích: “Chúng ta đã chuẩn bị những kịch bản như khi xả lũ thì những vùng nào bị ngập. Nhiều thủy điện còn phải tính toán nếu vỡ đập thì hạ du sẽ ngập đến đâu, bao nhiêu giờ ngập, bao nhiêu xã ngập,…”. Đặc biệt, các thủy điện lớn còn phải tính đến cả kịch bản các thủy điện thượng nguồn của nước láng giềng đồng loạt xả lũ. Hằng năm, Hội đồng Tư vấn KH&CN về an toàn hệ thống thủy điện trên bậc thang thủy điện sông Đà do Bộ trưởng Bộ KH&CN làm chủ tịch đều họp trước mùa lũ để nghe những chuyên gia quan trắc, địa chất báo cáo những thông số như sự xê dịch, chuyển dịch, tình trạng thấm,… của các hồ Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình.  Công trình mới, tiêu chuẩn cũ  Tuy nhiên, theo TS Châu: “Điều này không có nghĩa là các hồ đập ở Việt Nam đã an toàn.” Bà viện dẫn số liệu: Hiện nay, có đến 1200/6648 đập, hồ chứa thủy lợi bị hư hỏng; trong đó 600 đập bị thấm, hơn 700 đập bị biến dạng mái, gần 1000 đập bị hư hỏng thân tràn hoặc xói lở tiêu năng. Các hồ bị xuống cấp này hầu như không đảm bảo khả năng chống lũ trong điều kiện hiện tại. Còn các hồ thủy điện nhỏ dù xây dựng kiên cố hơn nhưng vẫn xảy ra nhiều hư hỏng như bị thấm, tràn xả lũ,… Điểm chung của các công trình này là đều được xây dựng từ trước năm 2000 theo tiêu chuẩn cũ, sử dụng chuỗi số liệu đo đạc thủy văn từ những năm 1970, quy phạm tính toán lũ thiết kế QPTL.C-6-77 từ năm 1977 –  đã không còn phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu, mưa lũ lớn bất thường, cực đoan như hiện nay; dẫn đến các hồ chứa này không đảm bảo khả năng chống lũ, dù thực hiện đúng theo thiết kế. Bên cạnh đó, bản thân các quy phạm hiện nay gần như được lấy y nguyên theo kinh nghiệm của Liên Xô, trong khi đáng lẽ Việt Nam cần phải tự khảo sát thảm phủ của nước mình – việc mà đến nay vẫn chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm thực hiện.  Tính đến hiện nay, Việt Nam có 6648 hồ thủy lợi với tổng dung tích khoảng 13,5 tỷ m3 và 330 công trình thủy điện, trong đó có gần 20 hồ có dung tích trên 1 tỷ m3, còn lại là các hồ với dung tích từ hàng vạn m3 trở lên. Tổng công suất thủy điện ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 35.000MW, đóng góp đến 32% tổng sản lượng điện toàn quốc (2016).  Song song với đó, hệ thống quy định quản lý ở Việt Nam cũng chưa được cập nhật. Đối với quản lý an toàn đập, cho đến nay, Nghị định thay thế cho Nghị định số 72/2007/NĐ-CP về quản lý an toàn, dù đã được Bộ NN&PTNT dự thảo từ năm 2013 nhưng cho đến nay vẫn còn trong tình trạng “trình Chính phủ để ban hành” – TS. Châu cho biết. Như vậy, đến thời điểm này, việc quản lý an toàn hồ đập vẫn phải tuân thủ theo những quy định trong Nghị định 72, dù đã bộc lộ rõ nhiều hạn chế như chưa quy định rõ về quản lý an toàn đập dâng, chưa phân rõ trách nhiệm của chủ đập và chủ quản lý, các quy định về phân công, phân cấp vai trò, trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ, ngành và địa phương về quản lý an toàn đập chưa đầy đủ và rõ ràng…  Hơn nữa, Hội nghị Quản lý, vận hành an toàn, hiệu quả công trình Thủy điện do Bộ Công Thương tổ chức vào đầu năm nay còn chỉ ra  một số quy định về thủy lợi hiện chưa rõ ràng hoặc chưa có quy định chi tiết thi hành như xây dựng phương án ứng phó thiên tai, phương án phòng chống thiên tai theo quy định, bản đồ ngập lụt theo quy định của pháp luật về thủy lợi… Ví dụ, vì chưa có quy định về xác định và quản lý hành lang thoát lũ nên vẫn còn tình trạng người dân xây nhà, canh tác trong khu vực này. Hoặc dù Luật Thủy lợi mới ban hành năm 2017 đã quy định việc điều tiết xả lũ của hồ chứa phải có ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhưng vì chưa có Nghị định hướng dẫn cụ thể nên hoạt động này vẫn chưa thể triển khai – dẫn đến trường hợp thủy điện xả lũ gây ngập lụt mùa màng của nông dân.  Thiên họa hay nhân họa?  Những quy phạm dù cũ nhưng nếu tuân thủ thì vẫn đảm bảo mức độ an toàn nhất định cho hồ đập, vì vậy, theo TS. Châu nguyên nhân chính dẫn đến sự cố vỡ đập là sự thiếu tuân thủ trong thiết kế, xây dựng của chủ các công trình. Đơn cử đối với việc quan trắc, nếu như các thủy điện lớn đều thực hiện đầy đủ, chỉnh chu thì các thủy điện nhỏ lại gần như không có hoặc ít quan trắc nên số liệu không đáng tin cậy. Thay vì tự quan trắc để tính toán lũ trước khi thiết kế công trình, họ thường mượn số liệu ở lưu vực tương tự, dẫn đến thủy điện nhỏ ở Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là có nhiều rủi ro mất an toàn.  Nguyên nhân của tình trạng này là vì đa số các thủy điện nhỏ do tư nhân thực hiện – lợi nhuận từ thủy điện khá cao nên các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân chạy theo lợi nhuận, dù không có chuyên môn cũng đi làm thủy điện. Thêm vào đó, việc phê duyệt các công trình thủy điện dưới 30MW thuộc thẩm quyền của tỉnh, bản thân các cán bộ thẩm định dự án cũng thiếu chuyên môn nên việc cấp phép còn dễ dãi, nặng cơ chế xin-cho. TS Châu chia sẻ: “Ai cũng có thể làm thủy điện nhỏ. Không có vốn thì đi vay. Không có chuyên môn thì thuê lập đồ án, lại tham rẻ, thuê các tư vấn kém, thuê nhà thầu kém năng lực… . Ai cũng có thể thiết kế, thi công. Thực ra họ chỉ quan tâm đến khâu thu lợi, khảo sát, thiết kế qua loa, báo cáo tác động môi trường cốt chiếu lệ, không để ý gì đến đời sống của người dân địa phương”. Hậu quả là, trước năm 2013, thủy điện nhỏ được xây dựng ồ ạt ở Việt Nam, nhiều khi trên một suối nhỏ mà có 5,6 thủy điện.  Không chỉ xuất phát từ nguyên nhân chưa thực hiện đúng thiết kế, TS Châu còn cho biết thêm: Có khi thiết kế tốt, đúng quy phạm, nhưng khi thi công lại ăn bớt vật liệu, sai vật liệu, lựa chọn nhà thầu xây dựng, giám sát thi công không đủ năng lực, không tổ chức nghiệm thu đúng quy định,.. nên chất lượng xây dựng công trình không đảm bảo như thủy điện Đak Srong 2, Đắk Srong 3A, Đắk Srong 3B tỉnh Gia Lai, Đại Nga, Đại Bình tỉnh Lâm Đồng. Thậm chí, có trường hợp xảy ra sự cố ngay trong quá trình xây dựng như thủy điện Đăk Mek tỉnh Kon Tum, Đa Krông 3 tỉnh Quảng Trị, Sông Bung 2 tỉnh Quảng Nam hoặc ngay khi đưa vào vận hành như thủy điện Ia Krei 2 tỉnh Gia Lai,  Hố Hô tỉnh Hà Tĩnh.  Sau đó, trong quá trình vận hành, các chủ đập cũng thực hiện dễ dãi, chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận mà bỏ quên rằng các thủy điện ngoài chức năng phát điện, còn phải điều tiết lũ. Ví dụ, một số các thủy điện nhỏ lại tích nước đầy trước mùa lũ nên khi lũ tràn về, sợ vỡ cửa đập, tràn nước qua nhà máy gây nguy hiểm, phải xả ồ ạt thay vì xả từ từ. Bên cạnh đó, quy trình điều tiết cũng đang bị “ngược” – tích lũ ở thượng nguồn thay vì hạ nguồn, dẫn đến nguy cơ vỡ đập liên tục, đặc biệt khi thủy điện nhỏ không được thiết kế dung tích trữ lũ.  Hạn chế trong công tác quan trắc khí tượng thủy văn  Hiện nay, việc quan trắc khí tượng thủy văn để đảm bảo an toàn hồ chứa và an toàn hạ du vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Với đất nước có điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp như Việt Nam, việc có một mật độ trạm quan trắc dày là một cơ hội tốt hơn để phát hiện thời tiết liên quan đến sự kiện cực đoan ở cả quy mô nhỏ. Theo các quy trình vận hành hồ chứa, các quy trình vận hành liên hồ chứa, các hồ chứa đều có nhiệm vụ quan trắc mưa tại đập, mực nước hồ, mực nước hạ lưu hồ, tuy nhiên mật độ lưới trạm đo mưa còn thiếu và chưa đủ để theo dõi diễn biến mưa – khuyến nghị của thế giới là 10 – 15km/trạm nhưng ở Việt Nam trung bình là 300km/trạm, chưa đủ thông tin xác định thời gian xuất hiện dòng chảy lớn nhất đến hồ, gây khó khăn cho công tác vận hành hồ chứa. TS. Nguyễn Lan Châu  ———–  Nguồn:  http://dantri.com.vn/kinh-doanh/van-hanh-thuy-dien-nho-va-vua-phuong-dien-quan-ly-chua-chuan-20161018131844328.htm  http://enternews.vn/thieu-quy-trinh-chuan-ve-an-toan-thuy-dien-133319.html  http://www.baogiaothong.vn/chuyen-gia-canh-bao-nguy-co-vo-dap-thuy-dien-o-viet-nam-d179685.html  Nguyễn Lan Châu (2018), Công tác quan trắc khí tượng thủy văn phục vụ vận hành hồ chứa thủy điện.          Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Công trình khoa học làm thay đổi toàn diện dịch vụ truyền máu Việt Nam      Một công trình có tính sáng tạo và đổi mới quan trọng về công nghệ,  giúp phát triển dịch vụ truyền máu, sản xuất các chế phẩm máu, góp phần  thay đổi toàn diện dịch vụ truyền máu của Việt Nam, mới đây đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về  KH&amp;CN năm 2010.    Đó là công trình “Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại nghiên cứu  đổi mới dịch vụ truyền máu, sản xuất và chuẩn hóa các chế phẩm máu sử  dụng cho điều trị bệnh” do nhóm nghiên cứu của Viện Huyết học Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện.    Cách mạng trong ngành truyền máu  Trước năm 1993, tình hình truyền máu ở nước ta đứng trước những thử thách lớn đó là nhu cầu ngày càng tăng cho cấp cứu, điều trị bệnh nhân trong các thảm họa, dự trữ cho an ninh quốc phòng. Trong khi đó, người cho máu lại quá ít, trên 90% là người cho máu chuyên nghiệp,máu kém chất lượng, không có dụng cụ bảo quản máu,… Các bệnh nhiễm trùng như HIV, HBV, HCV ngày càng tăng trong cộng đồng, đe dọa an toàn truyền máu. Cơ sở truyền máu vẫn rất phân tán với 85 điểm cấp tỉnh, 500 điểm cấp huyện và khu vực có thu gom, sàng lọc, truyền máu theo cơ chế tự cung, tự cấp, không an toàn, vừa không đáp ứng nhu cầu máu cấp cứu.  Trước thực trạng đó, từ năm 1994, nhóm nghiên cứu của Viện Huyết học Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, Trường Đại học Y Hà Nội đã đề xuất đề tài nghiên cứu sản xuất các chế phẩm máu, nhằm mục đích làm tăng đơn vị máu truyền, tăng chất lượng, độ an toàn máu và hiệu quả truyền máu (truyền máu từng thành phần). GS.TSKH. Đỗ Trung Phấn – Chủ nhiệm công trình cho biết, nhóm nghiên cứu đã từng bước nghiên cứu, thăm dò và sản xuất một số thành phần máu (năm 1994), nghiên cứu sản xuất thử nghiệm (giai đoạn 1995 – 1999). Cuối năm 2000, Hội đồng khoa học cấp nhà nước do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) thành lập đã thông qua và phê duyệt dự án KH&CN sản xuất, chuẩn hóa các sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn quốc tế dùng cho điều trị bệnh.  Trải qua 10 năm thực hiện (1994 – 2004), các đề tài, dự án của công trình đã đổi mới và hoàn thiện được các quy trình chuyên môn phục vụ cho phát triển dịch vụ truyền máu theo hướng hiện đại. Cụ thể, đã đề xuất và tổ chức có kết quả phong trào vận động hiến máu và tuyển chọn người cho máu tình nguyện, an toàn, chất lượng cao, làm thay đổi tư duy cho máu là có hại cho sức khỏe. Cuộc vận động ngày càng phát triển và bền vững, người cho máu tình nguyện tăng từ 0 – 65% (cao nhất toàn quốc, năm 2003), người cho máu nhắc lại (đây là đối tượng an toàn nhất) đạt 35%; đổi mới quy trình thu gom máu, thay hệ thống lấy máu bằng chai (quy trình hở) bằng túi chất dẻo (quy trình kín) làm giảm nguy cơ nhiễm trùng trong quá trình thu nhận máu. Để phát triển quy trình này, nhóm nghiên cứu đã tự sản xuất ghế lấy máu, máy lắc túi máu, trang bị cho tất cả các cơ sở lấy máu trong toàn quốc. Sáng kiến này đã giúp tiết kiệm hàng trăm triệu đồng và đã được tặng bằng khen lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.  Công trình cũng góp phần lớn khắc phục những khó khăn hiện tại, sớm đưa kỹ thuật sàng lọc các bệnh nhiễm trùng, làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, HBV, HCV, giang mai. Nhờ đó, đến năm 2003 toàn quốc đã loại trên 900 trường hợp người cho máu có anti HIV (dương tính), hàng vạn trường hợp HBV (dương tính), bảo đảm an toàn truyền máu trên phạm vi toàn quốc từ trung ương đến tuyến huyện (trước năm 1993 chưa có).  Cùng với đó, công trình đã chuẩn hóa 6 quy trình sản xuất 6 sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng truyền máu, đem lại hiệu quả cao trong điều trị, phát triển kỹ thuật cao và có giá trị kinh tế; chuẩn hóa 4 quy trình sản xuất 4 chế phẩm huyết tương; nghiên cứu có kết quả tỷ lệ HIV, HBV ở một số địa phương góp phần lựa chọn người cho máu; ứng dụng nhiều biện pháp mới làm tăng chất lượng an toàn truyền máu lên một bước mới: người cho máu tự sàng lọc khi hiểu rõ các yếu tố nguy cơ, khuyến khích cho máu nhắc lại.    10 năm cho một công trình đầy ý nghĩa  Các quy trình công nghệ trên đây đã và đang được mở rộng, phát triển bền vững ở nhiều cơ sở truyền máu trên phạm vi toàn quốc đem lại hiệu quả cao cho điều trị bệnh, cấp cứu các chấn thương,… làm tăng lòng tin của nhân dân vào y tế.  Công trình đã thực sự góp phần đổi mới toàn diện hệ thống truyền máu Việt Nam, từng bước phát triển theo hướng hiện đại hóa, nâng cao chất lượng máu, các chế phẩm máu và an toàn truyền máu, kịp phục vụ và bảo vệ sức khỏe nhân dân; đào tạo được một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và tay nghề cao; xây dựng thành công kế hoạch 10 năm phát triển và hiện đại hóa truyền máu Việt Nam được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 198/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 cho giai đoạn 2001 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Để thực hiện kế hoạch này, 4 ngân hàng khu vực và 4 trung tâm truyền máu đã được xây dựng và hoàn thành ở Hà Nội, Huế, TP.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, làm cơ sở cho sự phát triển bền vững dịch vụ truyền máu toàn quốc.  Công trình đã xây dựng cơ sở khoa học để định giá thành đơn vị chế phẩm máu và kiến nghị một giá tiền thống nhất trong toàn quốc cho đơn vị máu. Kết quả này đã thay đổi hình thức cung cấp máu theo chế độ bao cấp bằng hình thức trả tiền, tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ truyền máu lâu dài.  Những kết quả của công trình không chỉ đưa dịch vụ truyền máu nước nhà lên một tầm cao mới mà còn tạo uy tín và từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Một số đơn vị của Luxembourg, Mỹ, tổ chức Hemophilia thế giới đã đánh giá cao đóng góp của GS. TSKH. Đỗ Trung Phấn trong xây dựng và phát triển truyền máu Việt Nam. Hội Hemophilia Việt Nam cũng đã kết nạp vào hội Hemophilia thế giới. Chính phủ Luxembourg đã viện trợ toàn bộ dây chuyền lạnh bảo quản máu trị giá khoảng 8 triệu USD và dự án tăng cường kỹ thuật với kinh phí 4 triệu USD không hoàn lại. Nhờ đó, máu được bảo quán và chương trình truyền máu có cơ hội phát triển rộng rãi hơn.  Hiện một số mô hình mẫu theo hướng tập trung để nâng cao chất lượng máu và sử dụng máu lâm sàng do công trình xây dựng đã và đang được áp dụng tại các ngân hàng máu khu vực và trung tâm truyền máu trên cả nước như Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Thái Nguyên, Hà Nội, BVTW Huế, Chợ Rãy, Cần Thơ,…  Với những kết quả đó, có thể nói công trình đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực khoa học y dược nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung, đúng như nhận xét của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này: công trình góp phần đổi mới toàn diện hệ thống truyền máu Việt Nam, thúc đẩy dịch vụ truyền máu Việt Nam phù hợp với các nước khu vực và quốc tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công trình nghiên cứu mang dấu ấn Việt Nam      Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:”Table Normal”;  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-parent:””;  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin:0in;  mso-para-margin-bottom:.0001pt;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:10.0pt;  font-family:”Times New Roman”;  mso-ansi-language:#0400;  mso-fareast-language:#0400;  mso-bidi-language:#0400;}  Từ chỗ rất khó khăn trong sản xuất găng phẫu thuật, Việt Nam đã chủ động sản xuất được phần lớn sản phẩm này nhờ công trình nghiên cứu, chế tạo và lắp đặt dây chuyền sản xuất găng tay cao su y tế của Kỹ sư (KS) Phạm Xuân Mai, Công ty Cổ phần MERUFA, Bộ Y tế.      Dây chuyền này được chế tạo, lắp đặt hoàn toàn tại Việt Nam. Công trình vừa được vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ (KH&CN) năm 2010.  Gập ghềnh con đường nghiên cứu  Găng phẫu thuật là sản phẩm chủ yếu và quan trọng thường sử dụng tại các bệnh viện, trung tâm sức khỏe, dân số… và nằm trong danh mục vật tư không thể thiếu của ngành y tế. Nhưng thời kỳ trước Đại hội Đảng VI ở nước ta chưa có cơ sở nào sản xuất găng tay y tế với quy mô lớn mà chỉ có một vài cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, lạc hậu. Trước thực tế đó, KS Phạm Xuân Mai đã đề xuất và được chấp thuận thực hiện đề tài nghiên cứu về găng tay cao su y tế. Lúc này, Xí nghiệp (XN) Cao su y tế (nay là công ty cổ phần MERUFA) đang sản xuất condoms (bao cao su) trên dây chuyền thiết bị do Liên hợp quốc viện trợ và đang “sống” nhờ vào sản phẩm này, vì vậy việc nghiên cứu thiết kế, đầu tư chế tạo một dây chuyền sản xuất găng mổ đã làm phát sinh không ít nghi ngờ, thậm chí cả ý kiến phản đối của một số cán bộ, lãnh đạo XN.   KS Phạm Xuân Mai chia sẻ, vốn lưu động và quỹ phát triển sản xuất của XN lúc đó còn rất nhỏ bé do doanh thu thấp nên việc đầu tư 1 tỷ đồng cho việc triển khai công trình là một khâu đầu tư mạo hiểm. Nếu công trình thất bại thì XN có nguy cơ phá sản, người đề xuất và chủ trì công trình chắc chắn sẽ bị kỷ luật, thậm chí bị cách chức. Bên cạnh đó, vào thời điểm nghiên cứu, ở Việt Nam không có mẫu “công nghệ và thiết bị sản xuất găng cao su y tế” để người chủ trì công trình có thể học tập cũng như rút kinh nghiệm và cũng chưa có mạng Internet nên việc tham khảo, nghiên cứu chế tạo hết sức khó khăn.  Vượt qua tất cả khó khăn cũng như những rủi ro có thể gặp phải, KS Phạm Xuân Mai miệt mài nghiên cứu từ đầu năm 1992. Đến nay, với công trình nghiên cứu của KS Phạm Xuân Mai, Việt Nam lần đầu tiên tự nghiên cứu, chế tạo và đưa vào sản xuất găng mổ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Công trình gồm 2 phần chủ yếu là nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng công nghệ – sản xuất găng mổ trên các hệ thống thiết bị tạo hình găng tự động, hệ thống thiết bị xử lý găng sau khi tạo hình, hệ thống kiểm tra đóng gói, tiệt trùng găng phẫu thuật.   KS Phạm Xuân Mai cho biết: Dây chuyền nhúng tạo hình găng tự động với sản lượng cao đầu tiên được chế tạo và đưa vào sản xuất chính thức năm 1994, tiếp tục cải tiến và dây chuyền mới nhất là dây chuyền thứ 5 chính thức được lắp đặt và đi vào sản xuất vào tháng 5/2011.  Công nghệ mang dấu ấn Việt Nam  Công nghệ và hệ thống dây chuyền đồng bộ, hoàn chỉnh sản xuất găng mổ sử dụng nguyên liệu chính là latex cao su tự nhiên Việt Nam do các công ty, nông trường cao su trong nước cung cấp. Các thiết bị thử nghiệm tại Việt Nam không có sự trợ giúp của nước ngoài nhưng đã gặt hái được nhiều thành công cả về công nghệ và hiệu quả kinh tế.  Công trình không chỉ đề cập đến việc thiết kế chế tạo một hệ thống thiết bị tự động nhúng tạo găng mổ có sản lượng cao, nhằm cơ khí hóa, tự động hóa quá trình sản xuất thủ công mà còn bao hàm cả việc nghiên cứu sáng tạo thử nghiệm thành công một công nghệ mới áp dụng trong toàn bộ quá trình sản xuất găng tay từ khâu bảo quản mủ mới nhận về, ly tâm, pha chế mủ với các hóa chất, nhúng tạo hình găng, rửa răng, trộn bột, sấy, kiểm tra xử lý găng đến khâu đóng gói. Điều này đã giúp MERUFA có thể lắp đặt 3 hệ thống nhúng tạo hình găng trên một mặt bằng chật hẹp. Mọi bước công nghệ cần thiết cho quá trình nhúng tạo hình, lưu hóa, xử lý găng vẫn được thực hiện đầy đủ trên hệ thống và bên ngoài giúp cho sản phẩm có chất lượng cao, ổn định, đạt chuẩn quốc tế.  Nhiều nhà khoa học cho rằng, với công trình nghiên cứu của KS Mai, lần đầu tiên Việt Nam tự nghiên cứu, chế tạo và đưa vào sản xuất găng mổ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Cho đến nay dây chuyền này cũng là dây chuyền sản xuất găng mổ duy nhất do Việt Nam sáng tạo.   KS Phạm Xuân Mai cho biết: Găng mổ của MERUFA không chỉ đạt các tiêu chuẩn quốc gia mà còn đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế, giá thành hạ nên đã thay thế được hàng nhập ngoại. Trong 17 năm qua (từ năm 1994 đến 2010) MERUFA đã sản xuất khoảng 208 triệu đôi găng, tạo công ăn việc làm cho khoảng 250 lao động và nộp ngân sách từ 1,5 đến 3 tỷ đồng. Năm 2011, MERUFA đã đạt doanh thu 134 tỷ đồng, nộp ngân sách trên 3 tỷ đồng. Hiện nay, sản phẩm của công trình chiếm khoảng 60 – 70% thị trường găng phẫu thuật nội địa và bắt đầu vươn ra các thị trường nước ngoài: Pháp, Đài Loan (TQ), Nga, Lào…  Công nghệ, thiết bị và sản phẩm làm ra luôn được cải tiến, cập nhật các yếu tố tiên tiến của thế giới để đạt mục đích sản phẩm ngày càng tốt hơn, an toàn hơn, rẻ hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành y tế nước ta. Công trình nghiên cứu đã đoạt giải Nhất KH&CN – VIFOTEC năm 2005; giải Nhì sáng tạo KH&CN của Liên hiệp các hội sản xuất công nghiệp Hàn Quốc (KIPA) và giải đặc biệt của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) năm 2006; công trình vừa vinh dự được Đảng và Nhà nước trao giải thưởng Nhà nước về KH&CN năm 2010.  P V    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công ty Liên Thành (1906-1975): Từ hội Duy Tấn đến doanh nghiệp hiện đại      Mở rộng ra ngoài hình ảnh của Đông kinh nghĩa thục, các nghiên cứu tham gia hội thảo cũng cho thấy sự đa dạng của các hoạt động Duy Tân với các hội đoàn dân sự, các hợp tác xã kinh tế, những nhà trường tân học theo nhiều mô hình và sáng kiến khác nhau. Có thể thấy được điều này qua bài viết của Trịnh Văn Thảo về Công ty Liên Thành. Nó cho phép chúng ta có một hình dung đầy đủ hơn về sự vận động của xã hội Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại trong tính liên tục của lịch sử.    Tên của công ty Liên Thành đã đi vào lịch sử. Đó là nơi một trong những trung tâm hoạt động yêu nước với nhiều gương mặt xuất sắc đã từng hiện diện ở đây: Nguyễn Thông, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… Đó cũng là công ty đã bảo trợ cho trường Dục Thanh, nơi mà Nguyễn Ái Quốc từng là giáo viên trước khi người ra nước ngoài. Vậy mà trên thực tế, vẫn chưa có một nghiên cứu sâu nào về công ty đã hoạt động trong suốt 70 năm của thế kỉ XX đầy sự kiện này. Đó cũng là tình hình chung đối với các công ty ở Việt Nam, trước hết là bởi doanh nghiệp là một loại hình tổ chức kinh tế chỉ mới có lịch sử khoảng hơn một thế kỉ và nói chung ít có tài liệu lưu trữ có thể được các nhà sử học khai thác. Nhưng dầu sao Liên Thành vẫn còn là một trường hợp may mắn. Ngoài những tài liệu còn được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại quốc gia Pháp (CAOM) tại Aix en Provence, năm 1983, một cuốn Thông sử Liên Thành đã được xuất bản ở Paris với tác giả là Hồ Tá Bang. Đây là một cuốn sách kết hợp nhiều yếu tố của gia phả, hồi kí cá nhân, sử kí cũng như một số tài liệu lưu trữ của công ty Liên Thành. Tác giả của nó, ông Hồ Tá Bang là một bác sĩ nhi khoa, từng có một thời gian học tập và hoạt động công đoàn ở Pháp, từng là Tổng giám đốc của công ty Liên Thành. Việc phối kiểm các nguồn tư liệu trên có thể cho phép dựng lại một hình ảnh độc đáo về một tổ chức có tính cách tiền thân của các doanh nghiệp hiện đại, một trong những tâm điểm của phong trào Duy Tân và một trường hợp thể hiện sự chuyển hóa từ giới nho sĩ đến giới tư sản.  Sự ra đời của Liên Thành.  Liên Thành trước hết là một sản phẩm lịch sử tạo nên từ phản ứng tích cực của các Nho sĩ trước sự bế tắc và bất lực của Khổng giáo chính thống và giới quan lại chỉ lo đến bổng lộc của riêng mình. Nó cũng là một sự phản kháng đòi thay đổi thực trạng của người Việt lúc đó khi mà toàn bộ nền kinh tế đều nằm trong tay người Pháp và Hoa kiều, người bản xứ thì non nớt, giới tinh hoa của họ chỉ lo tìm kiếm danh lợi, dân chúng thì ngu dốt, mù chữ, bị sai bảo và đè nén, giới tư sản thì còn phôi thai và trong gọng kìm của Pháp, họ không thể trưởng thành.  Tên của công ty được lấy theo tên của một đầm sen và lịch sử của công ty gắn liền với lịch sử của các gia đình thành viên sáng lập. Con cháu gia đình Nguyễn Thông, một ông quan miền Nam, cũng như nhiều gia đình thân thích, đã tiếp nhận và áp dụng vào thực tế lời Phan Châu Trinh kêu gọi Duy Tân, nghĩa là hành động trong khuôn khổ hợp pháp, theo con đường phát triển kinh tế và nâng cao dân trí dân Việt.  Có thể nói Liên Thành là kết quả của một hành động tập thể. Chính dinh riêng của Nguyễn Quý Anh là nơi hội họp của nhóm nòng cốt bao gồm Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, nhằm đưa vào thực hành tư tưởng Duy Tân với 3 yếu tố không thể tách rời: giáo dục, chính trị, kinh tế. Các tác giả của Đại cương lịch sử Việt Nam1 cho biết trong dinh có thư viện được thành lập năm 1905, năm 1906 Nguyễn Trọng Lợi (con của Nguyễn Thông) thành lập công ty Liên Thành để sản xuất nước mắm; năm 1907 trường Dục Thanh do Nguyễn Quý Anh (là em của Nguyễn Trọng Lợi) điều hành và chi phí của trường Dục Thanh đều do công ty Liên Thành chi trả.  Một số gia đình văn thân nổi tiếng yêu nước như Trà Quý Bình, Huỳnh Văn Quế, cũng như nhiều ông quan bị triều đình Huế “đày” đi vùng đất Phan Thiết xa xôi này như Trương Gia Hội, Nguyễn Thông, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Đình Phiên… đều là những thành viên tích cực duy trì ngọn lửa Duy Tân và là thành viên tích cực của Liên Thành.  Cũng phải kể đến công sứ Phan Thiết  là Lucien Garnier người trong một thời gian dài đã luôn tận tình giúp đỡ các nhà Nho Duy Tân ở Phan Thiết. Có lẽ chính vì vậy mà Liên Thành đã có điều kiện phát triển đến lúc đủ lông đủ cánh, trong khi những công ty như Hồng Tân Hưng ở ngoài Bắc, Diên Phong ở Quảng Nam, Triều Dương Thương Quán ở Nghệ An và Minh Tân Công Nghệ trong Nam đều không trụ lại được với thời gian và lịch sử. Còn rất ít thông tin về Garnier, nhưng hồ sơ hành chính cá nhân cho thấy ông quan này được cấp trên đánh giá rất cao, nhưng hoàn toàn không được thăng quan tiến chức. Còn nhiều điều cần phải tìm hiểu thêm, nhưng từ những tư liệu trên, cũng có thể suy đoán rằng đó là một ông quan không giống như những ông quan cai trị khác.  Một trong những điều kiện thuận lợi nữa cho sự ra đời và phát triển của Liên Thành là tỉnh Bình Thuận (tên cũ của Phan Thiết) “được mùa » mấy năm liền, theo Báo cáo chính trị của Toà Công sứ năm 1905. Tỉnh này đã có các cơ sở đánh bắt cá và đội ngũ tàu thuyền khá phát triển cũng như có truyền thống làm nước mắm.   Ba yếu tố thiên – địa – nhân đó đã cho phép một hội thương trở nên một doanh nghiệp có tầm cỡ.  Lịch sử phát triển  Trong giai đoạn đầu (1906-1917) sự nhiệt thành của các nhà Nho cũng như của dân chúng hưởng ứng Duy Tân, cũng như việc huy động vốn từ một số gia đình quan lại và thương gia người Hoa đóng vai trò quan trọng. Cũng phải nói rằng sự thay đổi về mặt tư tưởng đã được người đại diện chính quyền ủng hộ: Công sứ Garnier, khi đến dự lễ khai trương Liên Thành đã nói rõ là công chức cũng có thể tham gia vốn vào các công ty, và nếu không trực tiếp điều hành thì không phạm luật mà còn được khuyến khích (Thông sử, tr. 39). Chính vì vậy mà Trần Lệ Chất, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi đã có thể tham gia vào các hoạt động hiệp hội, mặc dù là công chức, trong khi hai anh em Trọng Lợi và Quý Anh trực tiếp điều hành Liên Thành và trường Dục Thanh. Ngoài ra các thương nhân người Hoa cũng có vai trò không nhỏ, ví dụ như Trương Thái Lợi và Lý Thoại Xuân đã dạy Nguyễn Trọng Lợi cách điều hành công ty, cách viết sổ sách cũng như quy tắc kế toán.   Tính cách gia đình và truyền thống của Liên Thành không ngăn cản công ty thích nghi với những yêu cầu của nền thương mại hiện đại. Trụ sở chính của công ty được thiết kế và xây dựng đáp ứng nhiều hoạt động đa dạng, là sự pha trộn giữa không gian gia đình và không gian công cộng, giữa cái mới và cái cũ. Tinh thần đó của công ty cũng được hóa thân vào hình ảnh của những người lãnh đạo đầu tiên của công ty: Nguyễn Trọng Lợi (?-1911) và Nguyễn Quý Anh (1881-1938). Được thừa hưởng một truyền thống gia đình Khổng giáo và quan lại rất gần với các sĩ phu Cần vương ở miền Trung và miền Nam, theo đuổi một nền giáo dục nửa Khổng giáo nửa Tây Âu, với định hướng chính trị là những tư tưởng cộng hòa và bất bạo động của Phan Châu Trinh, họ chính là những người kế tục của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp.  Liên Thành là sự thể hiện cụ thể của tư tưởng Duy Tân, và nhờ có sự biến đổi sang một doanh nghiệp thực sự theo kiểu phương Tây, với tynh thần thực nghiệp và nỗ lực không ngừng, Liên Thành đã vượt qua cơn bão tố 1908 để tyếp tục sự nghiệp Duy Tân. Không những thế, Liên Thành còn phát triển ở nhiều địa điểm khác như Phan Rí, Hội An, đồng thời vẫn giữ nguyên đặc điểm của mình là vừa làm kinh tế, vừa hoạt động văn hóa giáo dục. Đứng về phương diện này, các nhà lãnh đạo Liên Thành có thể được coi là gạch nối giữa thế hệ các nhà nho cổ điển và các trí thức tân học.    Giai đoạn tiếp đó (1917-1937) Liên Thành vào đến Chợ Lớn và có tham vọng phát triển ra toàn bộ Đông Dương. Giai đoạn cuối cùng (1937-1975) của Liên Thành cũng là giai đoạn cho thấy lịch sử của một doanh nghiệp gắn liền với lịch sử thăng trầm của một đất nước.  So sánh các đặc trưng văn hóa và thế hệ của các nhà lãnh đạo Liên Thành với các nhân vật đồng thời, có thể thấy rõ sự tương đồng giữa Liên Thành với các thế hệ nhà Nho và trí thức trong khoảng 1 thế kỷ: thế hệ 1862 các nhà Nho cổ điển với Nguyễn Thông; thế hệ 1907 các nhà Nho Duy Tân với các nhà tư tưởng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng và những người đứng ra thực hiện như Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang; và cuối cùng thế hệ 1925 các trí thức được đào tạo ở nhà trường Pháp với  Hồ Tá Khanh và Nguyễn Minh Duệ. Vậy phải chăng nghiên cứu xã hội học ở cấp độ vi mô (Liên Thành) liệu có thể có mối tương đồng với nghiên cứu xã hội học ở cấp độ vĩ mô là Việt Nam hiện đại ?  Liên Thành, qua lịch sử công ty cũng như lịch sử các cá nhân, chính là trường hợp điển hình cho sự chuyển đổi mà các nhà Nho Duy tân đã thiết tha kêu gọi.  ———  1 Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử VN, tập II (1858-1945), Hà Nội, NXB Giáo dục, 1998, tr.154  Trịnh Văn Thảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang COP26: Thế giới trên đà tiến tới thảm họa nóng thêm 2,4 độ C      Mặc dù các chính phủ “đua nhau” cam kết về cắt giảm các-bon, tạo nên bầu không khí “náo nhiệt” tại hội nghị thượng đỉnh COP26 của Liên Hợp Quốc, cả thế giới vẫn tiếp tục xoay sở đối phó với thảm họa nóng lên toàn cầu – hiện đã vượt xa những giới hạn trong Hiệp định khí hậu Paris.      Tình cảnh hạn hán ở châu Phi khiến những giọt nước ở đây vô cùng quý giá. Nguồn: Oxfarm  Theo nghiên cứu được công bố tại Glasgow mới đây, nếu như dựa theo các mục tiêu ngắn hạn mà các nước đề ra, nhiệt độ sẽ tăng đạt đỉnh 2,4 độ C vào cuối thế kỷ này, vượt xa giới hạn 2 độ C trong hiệp định Paris –  khuyến cáo toàn thế giới phải duy trì ở dưới mức này, và ngưỡng an toàn hơn nhiều là 1,5 độ C, ngưỡng này vốn là mục tiêu của các cuộc đàm phán COP26.  Với kịch bản tăng đỉnh nhiệt độ, các hiện tượng thời tiết cực đoan như nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, sóng nhiệt và những cơn bão dữ dội hơn sẽ xảy ra trên diện rộng và tàn phá toàn cầu. Ước tính về mức tăng 2,4 độ C dựa trên các mục tiêu ngắn hạn của các quốc gia trong thập kỷ tới là đánh giá nghiêm túc của liên minh Theo dõi Hành động Khí hậu (Climate Action Tracker – CAT), một tổ chức chuyên phân tích khí hậu được tín nhiệm trên thế giới. Con số trên hoàn toàn trái ngược với những dự báo lạc quan công bố vào đầu tháng 11 rằng giữ được mức tăng 1,9 độ C hoặc 1,8 độ C, nhờ các cam kết tại COP26. Những ước tính “khiêm tốn” này dựa trên các mục tiêu dài hạn của các nước, bao gồm cả Ấn Độ, quốc gia phát thải lớn thứ ba trên thế giới và đang hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2070.  Chia sẻ với báo Guardian, ông Bill Hare, CEO của Climate Analytics, một trong những tổ chức đứng đằng sau CAT lo ngại, một số quốc gia đang cố hình dung [Cop26] gần như bỏ túi được ngay cái gọi là giới hạn 1,5 độ C, nhưng không phải vậy, nó còn rất xa vời và mọi người đang xem nhẹ mức cần thiết phải đạt được các mục tiêu ngắn hạn cho năm 2030 phù hợp với 1,5 độ C. CAT phát hiện ra rằng, dựa theo những lời hứa của các nước ở Glasgow, lượng phát thải sẽ cao gấp đôi vào năm 2030 thay vì phải duy trì trong khoảng 1,5 độ C. Các nhà khoa học đã cảnh báo, vượt quá 1,5 độ C, khí hậu Trái đất sẽ gặp những thiệt hại không thể phục hồi được.  Các nhà phân tích cũng tìm ra một hố sâu ngăn cách giữa những gì các quốc gia nói rằng sẽ hành động về phát thải khí nhà kính và kế hoạch họ sẽ làm trong thực tế. CAT phân tích, nếu tính đến các chính sách và biện pháp hiện tại, thay vì chỉ trông chờ vào các mục tiêu, thì mức tăng là 2,7 độ C. Ông Niklas Höhne, một trong các tác giả, cho biết, đây sẽ được coi như một “sự kiểm chứng thực tế” cho các cuộc đàm phán. Ông nói với Guardian: “Ý định dài hạn của các quốc gia là tốt, nhưng triển khai trong ngắn hạn là không đủ”.  Tổng cộng có 197 các bên tham gia Hiệp định Paris 2015 đến Glasgow với 2 mục tiêu: mục tiêu dài hạn là đạt mức phát thải ròng bằng 0 trên toàn cầu vào khoảng giữa thế kỷ này; và các kế hoạch ngắn hạn của quốc gia, được gọi là đóng góp do quốc gia quyết định (nationally determined contributions – NDCs), chốt mức giảm phát thải đến năm 2030. Các nhà khoa học cho biết, trong thập kỷ này, lượng khí thải nhà kính phải giảm đi ~ 45% để nhiệt độ toàn cầu duy trì mức tăng trong khoảng 1,5 độ C so với mức tiền công nghiệp.  Các quốc gia chịu trách nhiệm về ~ 90% lượng khí thải toàn cầu đều đã đăng ký mục tiêu không phát thải, chủ yếu là vào năm 2050 đối với các nước phát triển, tăng lên đến năm 2060 đối với Trung Quốc và năm 2070 đối với Ấn Độ, nhưng NDCs trong thập kỷ tới không ăn khớp với nhau. Khí hậu sẽ nóng lên tương ứng với lượng các-bon tích lũy trong khí quyển, vì vậy nếu lượng khí thải tích tụ đủ cao trong hai thập kỷ tới, nhiệt độ toàn cầu vẫn tăng vượt quá ngưỡng 1,5 độ C ngay cả khi các-bon sau đó về 0.  Ông Hare chia sẻ, mục tiêu dài hạn đạt mức khí thải ròng bằng 0 là tuyệt vời, nhưng các nước cần thu hẹp khoảng cách đến mục tiêu dài hạn bằng các biện pháp ngắn hạn.  Tuần đầu tiên của COP26 đã chất chồng nhiều các thông báo, cam kết về bảo tồn rừng, tài chính của khu vực tư nhân dành cho năng lượng sạch và vấn đề loại bỏ dần than đá. Một số cuộc đàm phán đã nhanh chóng hé lộ về tình hình các quốc gia phải gia hạn để hiện thực hóa những hứa hẹn trước đây hoặc phải làm sáng tỏ các cam kết đưa ra.  Đầu tuần thứ hai của COP26 bắt đầu nổi lên những bất đồng giữa các quốc gia, một bên muốn có hành động cứng rắn hơn, cụ thể là buộc các nước phải sửa đổi NDCs hàng năm nếu không phù hợp với ngưỡng 1.5 độ C và một bên khác muốn tuân theo lộ trình của Hiệp định Paris về các sửa đổi 5 năm 1 lần. Ngoài ra, còn có tranh luận về việc nên giám sát khí thải ra sao và vấn đề tài chính khí hậu cho các nước nghèo.  Ông Hare lưu ý, không có mâu thuẫn giữa các đánh giá khác nhau vừa được công bố bởi Đại học Melbourne và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), trong đó đưa ra các kết luận tương tự dựa trên các mục tiêu dài hạn. Trong “kịch bản lạc quan” của CAT cũng vậy, nếu các quốc gia đạt được tất cả mục tiêu như đã hứa, mức tăng sẽ ở 1,8 độ C.  Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã cập nhật phân tích về “khoảng cách khí thải” (emission gap) giữa lộ trình cắt giảm khí thải cần thiết đạt ngưỡng 1,5 độ C và lộ trình cắt giảm mà các chính phủ đề xuất. UNEP phát hiện ra rằng, với các cam kết gần đây được công bố bởi Trung Quốc, Ả Rập Xê út và những nước khác, nhiệt độ có thể sẽ tăng từ 1.9 đến 2.1 độ C, nhưng giống như ước tính của IEA và Đại học Melbourne, mức tăng còn phụ thuộc vào các cam kết lâu dài được thực hiện đầy đủ hay không.  Theo ông Hare, nhiều mục tiêu dài hạn mà các quốc gia đề ra thiếu độ tin cậy, cụ thể là Brazil, Australia và Nga. Ông bày tỏ lo ngại rằng họ không có mục đích nghiêm túc tại COP26, do đó, phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 chỉ là giả thuyết.  Ông Höhne bảo vệ quan điểm rằng các quốc gia phải đồng ý sửa đổi NDCs của họ hàng năm thì mới có cơ hội thu hẹp “khoảng cách khí thải”. 5 năm mới xem xét lại NDCs một lần sẽ là không đủ.  Bà Jennifer Morgan, giám đốc điều hành của Greenpeace International, hình dung con số ước tính của CAT như chiếc kính viễn vọng đặt trên một tiểu hành tinh hướng về Trái đất, cho thấy sự tàn khốc nếu không xoay chuyển được tình thế trong tuần diễn ra COP26. Nói cách khác, các quốc gia cần nhất trí sẽ rà soát NDCs hàng năm cho đến khi mức tăng nhiệt độ được duy trì trong ngưỡng 1,5 độ C.  Người phát ngôn của COP26 cho biết, cánh cửa để giữ được ngưỡng 1.5 độ C đang dần khép lại, nhưng Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu chắc chắn chúng ta vẫn có thể làm được. Tuần đầu của COP26 đã cho thấy những tiến triển thiết thực, nhưng còn cả “núi” việc phải làm.  Ông Edward Miliband, Bộ trưởng Phe đối lập về Kinh doanh, Năng lượng và Chiến lược công nghiệp Vương quốc Anh, cho biết, COP26 luôn là những cam kết cụ thể sẽ thực hiện vào năm 2030. Một thập kỷ tới sẽ mang tính quyết định đối với ranh giới 1.5 độ C. Báo cáo này kiểm tra một thực tế quan trọng: với nỗ lực của chính phủ, liệu rằng Hội nghị Glasgow có “xanh” như mọi người vẫn nghĩ.  Cùng quan điểm về sự sống còn trong 10 năm tới, đồng lãnh đạo đảng Xanh Adrian Ramsay nói thêm, lớp phủ “mật ngọt” đang dần rơi khỏi các cuộc đàm phán COP26, để lộ ra “viên thuốc đắng” buộc chúng ta phải nuốt nếu các nhà lãnh đạo thế giới không có hành động quyết liệt hơn. Các mục tiêu dài hạn, những hứa hẹn, nhưng không giải pháp công nghệ, không chính sách thiết thực để đưa chúng ta đến gần mục tiêu thì rốt cuộc chẳng có giá trị gì, chỉ càng cho thấy hầu hết các nhà lãnh đạo toàn cầu đã ngủ quên trên ‘chiếc ghế” của mình. Báo cáo của CAT là lời cảnh tỉnh cho họ.  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/cop26-the-gioi-tren-da-tien-toi-tham-hoa-nong-them-24-do-c-theo-mot-bao-cao-trong-diem/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Coronavirus khiến ngành trồng hoa điêu đứng      Vào mùa này, Hà Lan ngập tràn trong sắc màu. Các loài hoa đua nhau khoe sắc rực rỡ, cảnh tượng này thậm chí còn có thể được nhìn thấy từ trên vũ trụ. Tuy nhiên, mặc cho hoa tulip hé nở, hầu như không có bóng dáng du khách nào đến ghé thăm, điều này khiến cho ngành công nghiệp sản xuất hoa ở Hà Lan rơi vào cảnh điêu đứng.        Không phải vô cớ mà Hà Lan được mệnh danh là “cửa hàng hoa của thế giới”. Thậm chí ngay từ trên vũ trụ, vào đầu xuân, chúng ta có thể thấy bạt ngàn những cánh đồng hoa muôn màu trải rộng.   Đỏ, vàng cam, vàng, trắng, tím đen – những cánh đồng trồng hoa tulip trông không khác gì một tấm thảm đầy màu sắc trải rộng trên đất nước Hà Lan. Thông thường vào mùa này, rất đông du khách và các cặp tình nhân thi nhau đến chụp ảnh bên các cánh đồng hoa. Không ít du khách ngồi trên thuyền chiêm ngưỡng hoa trải dọc bờ sông, kênh rạch, lại có những du khách thuê máy bay trực thăng để được ngắm hoa từ trên cao. Riêng năm nay, mọi thứ đều trống vắng, buồn tẻ, ảm đạm.   Những bức ảnh chụp từ vệ tinh của LiveEO cho thấy những cánh đồng trồng hoa tulip ở Bollenstreek đang nở rộ. Chúng ta cũng có thể bắt gặp cảnh tượng tương tự ở vùng Noordosstpoldern hay ở miền bắc Hà Lan – gần Alkmaar. Năm nay, khủng hoảng dịch bệnh đã làm lượng du khách sụt giảm trầm trọng, và tiếp đó là lệnh cấm đi lại khiến cho ngành du lịch gần như bị tê liệt hoàn toàn. Năm ngoái, cũng vào thời gian này, chỉ trong tám tuần, công viên hoa Keukenhof và các vùng trồng hoa ở Hà lan đón 1,5 triệu lượt du khách.   Cho đến lúc này những người trồng và kinh doanh hoa tulip không khỏi buồn lòng vì hàng họ ế ẩm. Họ chỉ còn trông đợi một chút tia hy vọng nhỏ nhoi ở những cánh đồng tulip. Bởi lẽ với phần diện tích tulip được dùng làm giống cho năm sau, người ta sẽ không hái hoa mà chờ để thu hoạch củ giống.   Từ cuối tháng tư, người trồng sẽ cắt ngọn để cây dồn sức nuôi hạt. Đến cuối hè, nông dân sẽ thu hoạch củ. Củ nhỏ được dùng để trồng tiếp vào mùa thu, củ lớn hầu hết dành để xuất khẩu đi khắp thế giới – xuất khẩu tulip có thể đạt khoảng 600 triệu Euro. Một số củ dành để trồng lấy hoa sang năm cắt bán. Do đó từ tháng giêng người ta đã có hoa tươi bán ra thị trường, phần lớn cây hoa này trồng trong nhà kính để tránh giá rét và gió.   Hoa tulip là biểu tượng của đất nước Hà Lan, mặc dù nó bắt nguồn từ Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy là một đất nước có diện tích nhỏ bé, nhưng khó nước nào vượt được Hà Lan trong ngành công nghiệp trồng hoa. Năm ngoái xuất khẩu hoa của nước này đạt kỷ lục 6,2 tỷ Euro. Năm nay, do khủng hoảng corona nên dấu mốc này bỗng trở nên xa vời vợi.   Đại dịch khiến các nước phải đóng cửa biên giới quốc gia, ở nhiều nơi các cửa hàng bán hoa tươi buộc phải đóng cửa, cưới xin, lễ lạt đều phải tạm dừng hoặc chỉ tổ chức ở quy mô nhỏ. Trong bối cảnh này, mấy ai quan tâm đến hoa tươi. Trong khi đó mùa xuân, đầu hè là mùa của hoa và cây trồng trong chậu. Gần 40% doanh thu từ kinh doanh hoa tươi và cây cảnh rơi vào thời điểm từ tháng ba cho đến tháng năm hằng năm.   Trong mấy tuần qua người trồng và kinh doanh hoa buộc phải vứt bỏ hàng triệu bông tulip, thuỷ tiên và nhiều loại hoa khác. Thay vì được bày trong phòng ăn hay phòng khách, cây hoa bị chất đống để đưa đến các cơ sở sản xuất khí sinh học (biogas).   Tổ chức kinh doanh hoa và cây cảnh lớn nhất thế giới Royal Floraholland cho hay, do nhu cầu của thị trường giảm nên ngay từ đầu mùa dịch corona, tại các buổi giao dịch bán đấu giá hoa đã có tới 50% sản phẩm hoa bị ế. Ngày 1.4 doanh thu còn đạt gần 60%, đến 24.4 chỉ còn khoảng 25% so với năm ngoái. Các bãi đỗ xe trống huếch trống hoác chụp từ vệ tinh ở gần văn phòng của Royal Floraholland ở Naaldwijk cũng cho thấy sự ế ẩm này.     Royal Floraholland là tổ chức tiếp thị hoa và cây trồng trong chậu lớn nhất thế giới có hai trụ sở chính ở Aalsmeer và Naaldwijk. Năm 2019, hai thị trường này tiêu thụ tới 13,3 tỷ sản phẩm.    Năm nay mọi sự thay đổi hẳn vì đại dịch Corona. Dự đoán, Royal Floraholland năm nay sẽ thua lỗ nặng nề.    Do ít người mua hoa, thêm vào đó thời tiết bỗng trở nên ấm áp đột ngột trong tháng ba khiến hoa và sản phẩm cây trồng chín sớm, nở bung hết; do đó giá cả lao dốc vì nguồn cung quá cao. Để  ổn định giá, Royal Floraholland hạn chế thu mua hoa của nhà sản xuất, họ chỉ có thể tiêu thụ  30% so với số lượng của các năm trước.  Xuân Hoài dịch (Theo wiwo.de)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Covid-19: Niềm tin của công chúng vào khoa học?      Trong đại dịch Covid-19, các nhà khoa học (KH) phải đứng trước hàng loạt các câu hỏi, trả lời những mối lo ngại của dân chúng và tư vấn khuyến nghị cho các chính phủ – dường như niềm tin của công chúng vào KH trở nên mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng thực sự, mối quan hệ giữa KH và xã hội lại phức tạp hơn vẻ bề ngoài ấy khá nhiều.      Minh họa của Vox.  Tin tưởng khi đã có một bề dày  “Hành động của chúng ta được dẫn dắt bởi một nguyên tắc… đó là tin vào KH”, phát biểu mới đây Tổng thống Pháp Emmanuel Macron về tình hình quốc gia [trong đại dịch] gợi ra một câu hỏi thú vị: Đại dịch SARS-CoV-2 ảnh hưởng gì đến cách công chúng cảm nhận về KH&CN?  Khi đối mặt với những rủi ro và bất định liên quan đến đại dịch, mọi con mắt đều đổ dồn vào cộng đồng nghiên cứu. Mỗi ngày, các nhà virus học, dịch tễ học, lây nhiễm học, miễn dịch học, xã hội học, v.v., đều được mời chia sẻ quan điểm trên truyền thông về các vấn đề thế nào là bệnh mới nổi? Thế nào là bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người? Điều gì khiến các họ virus corona khác với những loại virus khác?… Nhưng các dịch bệnh luôn luôn đi kèm với “tin giả”. Nên người ta cũng kì vọng nhà KH trả lời nhiều câu hỏi kì lạ hay các thuyết âm mưu chẳng hạn: Có phải virus corona được tạo ra từ một viện nghiên cứu? Có mối liên hệ nào giữa truyền lây virus và các trạm phát sóng 5G?… Kết quả là thực tế các nhà nghiên cứu phải thực hiện cả hai nhiệm vụ song song: đưa ra thông tin và lại gỡ thông tin hiểu lầm.  Những câu chuyện KH như vậy truyền bá không ngừng. Lo lắng phát sinh từ đại dịch cộng với sự chú ý từ lâu của công chúng vào lĩnh vực nghiên cứu y sinh càng tiếp thêm nhiên liệu cho vòng tuần hoàn đó. Ở nước Pháp, niềm tin của công chúng vào KH đã có một nền tảng lâu dài trước đó. Các nhà KH chính trị như giáo sư Daniel Bou tại Cơ quan KH chính trị quốc gia (FNSP) đã kiên trì bền bỉ thúc đẩy và Pháp trở thành quốc gia duy nhất thường xuyên thực hiện các cuộc khảo sát ở quy mô quốc gia về hình ảnh, vị thế của KH trong mắt công chúng từ những năm 1970 đến giờ.  Điểm nhanh những báo cáo đó cũng đủ để dẹp bỏ bất kỳ băn khoăn nào về việc người Pháp ngờ vực KH. Ngay cả trong những cuộc khủng hoảng KH kĩ thuật nghiêm trọng nhất trước đây, niềm tin của công chúng Pháp cũng chưa bao giờ sụt giảm lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng do cúm H1N1 năm 2011, 87% người được khảo sát tự mô tả rằng họ “khá tin tưởng” hoặc “rất tin tưởng” vào KH, lớn hơn nhiều so với con số niềm tin vào truyền thông (29%) hoặc chính phủ (27%). Mùa hè năm 2019, khi virus Ebola lan rộng ở Cộng hòa Dân chủ Congo, công ty nghiên cứu thị trường Harris Interactive cũng làm một nghiên cứu tương tự và ước tính được mức độ tin cậy của công chúng cao kỉ lục – tới 91%.  Với những chỉ số tin cậy cao đến thế, tại sao bây giờ chúng ta lại phải băn khoăn về tác động của coronavirus? Có ít nhất ba lý do.    Covid-19 đã khiến các nhà KH phải liên tục đăng đàn để giải thích về bản chất KH hoặc gỡ bỏ các thông tin sai lệch. Trong ảnh: Tờ Theconversation đã mở một mục hỏi – đáp để lắng nghe ý kiến chuyên gia virus học. Trong hình là GS Michael Wallach and TS Lisa Sedger từ ĐH Công nghệ Sydney trả lời độc giả.  Bất đồng về tính ứng dụng  Trước hết, vì thuật ngữ ‘niềm tin’ đưa ra khá hạn hẹp, nên người ta đã bỏ qua phần lớn sự phức tạp trong mối quan hệ giữa KH và xã hội. Lấy một ví dụ, năm 2011 – thời điểm 87% người Pháp được hỏi bày tỏ niềm tin vào KH, thì phần lớn trong số họ (52%) cũng thể hiện cảm xúc lẫn lộn khi được hỏi họ nghĩ gì về việc “KH tạo ra nhiều lợi hơn hại, nhiều hại hơn lợi, hay lợi hại gần như tương đương nhau”. Câu hỏi có vẻ đơn giản này đã phản ánh những mâu thuẫn mà thực ra liên quan đến việc ứng dụng KH hơn là bản thân ngành KH.  Ví dụ điển hình là ngành trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data). Các tiến bộ về công cụ-kỹ thuật này cho phép nhà nghiên cứu phân tích và phổ biến khối lượng thông tin khổng lồ về gene, lâm sàng và dịch tễ học. Những thông tin này ngày càng được công khai trên các nền tảng trực tuyến, giống như Sáng kiến toàn cầu về chia sẻ dữ liệu cúm GISAID. Việc tổng quát hóa dữ liệu (hay còn gọi là KH mở) được coi là khía cạnh đạo đức của toàn cầu hóa. Mặt khác, những đột phá về AI và dữ liệu cũng hữu dụng với các cơ quan chính phủ đang nỗ lực ngăn chặn virus lây lan càng sớm càng tốt mà đôi khi quan tâm kiểm soát dân chúng hơn là tôn trọng quyền riêng tư và tự do cá nhân.  Vậy cách sử dụng AI và dữ liệu lớn nào trong hai cách nói trên được công chúng quan tâm chú ý nhiều nhất? Người dân ở mỗi quốc gia có thái độ khác nhau như thế nào? Trong tình huống này, điều quan trọng là phải tiến hành những cuộc khảo sát quy mô lớn để xây dựng một bản đồ thế giới về hình ảnh của các ngành KH nói chung trước công chúng, cũng như về văn hóa KH nói chung. Hiện đã có một dự án quốc tế mang tên WISE Alliance tập trung vào vấn đề thúc đẩy văn hóa KH do Michel Claessens (Đại học Tự do Brussels VUB, Bỉ), Martin Bauer (Trường Kinh tế London LSE, Anh) và Ren Fujun (Học viện Chiến lược Sáng tạo Quốc gia, Trung Quốc) phát triển từ năm 2019 đã có những khảo sát như vậy.  Áp lực lên cộng đồng KH  Lý do thứ hai liên quan đến áp lực đè nặng lên cộng đồng KH. Tiến trình nghiên cứu cần có thời gian, nhưng trong hoàn cảnh khó khăn, tốc độ đó phải gia tăng không ngừng. Trong ấn bản ra ngày 17/3, tạp chí The Scientist báo cáo rằng các chuyên gia về corona virus đang “ngập chìm” trong làn sóng những bản thảo gửi đến chờ xét duyệt. Bằng đấy áp lực đặt lên vai hệ thống bình duyệt ngang hàng sẽ không phải không có rủi ro về liêm chính KH. Vấn đề này cũng chẳng phải chưa có tiền lệ: cứ mỗi đợt khủng hoảng sức khỏe cộng đồng xảy ra, tình trạng quá tải này lại phát sinh.  Cách đánh giá kết quả nghiên cứu nói chung đã có những thay đổi, chủ yếu diễn ra từ đầu những năm 2010. Các nền tảng xuất bản mở hoặc nền tảng đánh giá ngang hàng sau khi xuất bản như F1000, Publons và PubPeer đã khiến nhiều bài báo KH bị rút lại, ngay cả những ấn phẩm có tiếng tăm nhất. Chẳng hạn, PubPeer đã từng gây náo động trong lĩnh vực can thiệp vào chuỗi di truyền phân tử RNA, hay gần đây là những tranh cãi xoay quanh việc sử dụng loại thuốc hydroxychloroquine để điều trị Covid-19.  Cũng giống như công chúng, nhiều nhà báo KH không biết quá trình tạp chí Journal of Antimicrobial Agents bình duyệt đến khi chấp nhận đăng công bố có tựa đề: “Sử dụng Hydrochloroquine và azithromycin trong điều trị Covid-19: kết quả của một thử nghiệm lâm sàng mở không chọn mẫu ngẫu nhiên”, và cũng không biết tại sao một trong những đồng tác giả của bài báo ấy lại rút khỏi hội đồng KH được Chính phủ Pháp chỉ định để “làm sáng tỏ quá trình ra quyết định công khai trong quản lý khủng hoảng vệ sinh liên quan đến corona virus”.  Nhưng phóng viên lại có thể đọc nội dung những cuộc trao đổi giữa thành viên bình duyệt ngang hành trên nền tảng trực tuyến, và quan sát thấy xu hướng nghi ngờ cùng nhiều câu hỏi không được giải đáp ngày càng tăng. Khi đó, phóng viên có thể thực hiện bước tiếp theo là phản ánh những hiểu lầm đó và chia sẻ tới đối tượng độc giả rộng hơn. Trong một bài báo trên tờ Le Monde đăng ngày 24/3, ba tác giả Hervé Morin, Sandrine Cabut và Nathaniel Herzberg báo cáo rằng việc xuất bản kết quả của một nhóm nghiên cứu ở Marseille đã dấy lên một loạt câu hỏi trên PubPeer, trang web chuyên dành để chỉ ra những điểm yếu về phương pháp luận trong công trình KH. Le Monde đã liên hệ với nhóm tác giả của nghiên cứu để làm rõ nhiều điểm, và một trong những đồng tác giả nghiên cứu đã không phản hồi. Rõ ràng những nền tảng mở, đánh giá ngang hàng sau xuất bản, và các blog, website cung cấp thông tin KH đã hình thành nên một hệ sinh thái giám sát khiến việc quản lý hình ảnh công chúng của cộng đồng KH trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.  Vị thế nhạy cảm của các chuyên gia  Cuối cùng, lý do thứ ba nằm ở chỗ, trong thời kỳ khủng hoảng sức khỏe các nhà KH thường biến thành những chuyên gia được cơ quan chính phủ ủy quyền để ước tính rủi ro và đưa ra khuyến nghị.  Mọi nhà xã hội học đều nhận thức được rất rõ, đặc biệt là những người đã từng dấn thân vào khó khăn khi thực hiện chính sách tiêm chủng bắt buộc, rằng trong bất kì đánh giá rủi ro nào liên quan đến sức khỏe và môi trường, niềm tin phụ thuộc vào khoảng cách nhận thức giữa các nhà KH với các nhà lãnh đạo chính trị.  Ngày nay, các cây viết bình luận ở Pháp luôn nhấn mạnh đến trọng lượng chính trị của hai hội đồng KH nhà nước, một Hội đồng do nhà miễn dịch học GS. Jean-François Delfraissy làm chủ tịch và hội đồng còn lại do nhà virus học GS. Françoise Barré-Sinoussi điều hành. Chúng ta thường không thấy hết được vị thế phức tạp của các chuyên gia này – họ vừa phải ý thức về hình ảnh công chúng nổi tiếng của mình, vừa phải tham gia vào các quyết định chính trị trong khi vẫn cần duy trì khoảng cách nhất định với chính trường.  Tác giả Roger Pielke, trong cuốn sách nổi tiếng The Honest Broker (Tạm dịch: Nhà môi giới trung thực, nói về vai trò của KH trong xây dựng chính sách), đã phân biệt bốn loại chuyên gia đại diện cho bốn cách nhận thức về mối quan hệ giữa KH và chính trị: “Nhà KH thuần túy” chỉ giải thích kiến thức mà không xem xét đến việc áp dụng chính trị của nó như thế nào; “Thẩm phán KH” đưa ra câu trả lời thực tế cho những câu hỏi của chính quyền nhưng không bộc lộ khuynh hướng ủng hộ hay không với những biện pháp giải quyết đó, “nhà tán thành vấn đề” chuyên ủng hộ một dòng tư tưởng cụ thể và cố gắng gây tác động đến lựa chọn của chính quyền theo hướng của mình, và cuối cùng là “nhà môi giới trung thực” cố gắng đưa ra một loạt các phương án thay thế để những nhà lãnh đạo chính trị có thể lựa chọn dựa trên sở thích và giá trị mà họ theo đuổi.  Không còn nghi ngờ gì, khả năng các nhà KH, trong các hội đồng KH lựa chọn các mô hình khác nhau sẽ xác định liệu cuộc khủng hoảng coronavirus có thể tác động lâu dài tới hình ảnh chuyên môn KH đến đâu.  Theo khoahocphattrien.vn  Nguồn bài gốc: https://news.cnrs.fr/opinions/could-covid-19-affect-public-trust-in-science    Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19: Thế giới phải làm gì lúc này?      Cuộc “hành quân” toàn cầu của COVID-19 đang bắt đầu được nhìn nhận là khó có thể ngăn chặn.      Hàn Quốc đang tìm cách kiểm soát cơn bùng phát dịch bệnh. Nguồn: NYT  Chỉ trong tuần trước, một cơn bùng phát trên diện rộng đã lan ở Iran, tăng thêm các ca nhiễm ở Iraq, Oman, và Bahrain. Italy đặt 10 thành phố ở phía bắc vào tình trạng đóng cửa sau khi virus nhanh chóng lan truyền ở đây. Một người Ý đã mang con virus này từ Tenerife, Tây Ban Nha, và Áo, Croatia bắt đầu thông báo những ca nhiễm bệnh đầu tiên của mình. Trong khi đó, cơn bùng phát ở Hàn Quốc đang được chính quyền cố gắng kiềm chế và Nhật Bản thông báo thêm những ca mới trong quá trình cách ly người trên con tàu du lịch nổi tiếng.    Con virus này có thể được lan truyền một cách bí mật trên nhiều quốc gia, ở nhiều vùng miền. Một nhóm nghiên cứu về mô hình tại Imperial College London đã ước tính khoảng 2/3 các trường hợp đã bị nhiễm  từ Trung Quốc.  Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vẫn tránh sử dụng từ “đại dịch” để miêu tả cơn khủng hoảng đang không ngừng gia tăng hiện nay, để nói về “dịch bệnh ở những vùng khác nhau trên thế giới.” Nhưng nhiều nhà khoa học cho biết, bất chấp những gì được đề cập đến, cơ hội cho chính sách ngăn chặn hiện tại đã đóng lại.  Christopher Dye, một nhà dịch tễ học tại trường đại học Oxford, “Dường như chủng virus này đã trốn thoát khỏi Trung Quốc và đang truyền đi khắp thế giới. Hiện tại tôi càng cảm thấy bi quan hơn về việc chúng ta có thể kiềm chế chúng”. Tại Mĩ, “sự phá vỡ nhịp sống hàng ngày có thể dẫn đến những thứ rất tồi tệ,” Nancy Messonnier, người phụ trách nhiệm vụ ứng phó coronavirus tại trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), đã cảnh báo vào ngày 25/2/2020. “Chúng ta đang đề nghị người dân Mỹ cùng chuẩn bị cho những gì sẽ tới, có thể là rất tệ”.    Dye và những người khác nói, đây là thời điểm để nhìn nhận lại ứng phó của y tế công cộng. Từ trước đến giờ, các nỗ lực đều tập trung vào chính sách ngăn chặn: làm chậm lan truyền virus trong nội địa Trung Quốc, giữ cho nó khỏi “sổ lồng” sang nước khác và khi các bệnh nhân băng qua các biên giới, việc truy dấu bất cứ ai mà họ từng tiếp xúc và cách ly những người đó cần mất hai tuần. Nhưng nếu con virus SARS-CoV-2 này đã ra đến toàn cầu, các lệnh cấm đi lại có thể sẽ ít hiệu quả hơn là đảm bảo giới hạn dịch bệnh và giảm bớt tác động của nó, dù chúng ở đâu – ví dụ, bằng việc đóng cửa các trường học, chuẩn bị bệnh viện hoặc tập trung vào dạng cách ly khắc nghiệt như đang thực hiện tại các thành phố lớn của Trung Quốc.  “Các biện pháp ngăn ngừa ở biên giới sẽ không hiệu quả hoặc thậm chí xấu hơn, và sẽ tập trung vào phòng ngừa ở cộng đồng cho đến khi có một vaccine đủ chất lượng”, theo đánh giá của Luciana Borio, một cựu chuyên gia về an toàn sinh học tại Hội đồng An ninh quốc gia Mĩ, hiện tại là chủ tịch công ty đầu tư tài chính phi lợi nhuận In-Q-Tel. “Vấn đề lúc này là phải giữ cho hệ thống y tế hoạt động hiệu quả và không gây tâm lý căng thẳng cho người dân,” Alessandro Vespignani, một nhà mô hình lây nhiễm dịch bệnh tại trường đại học Northeastern. “Phạm vi [ảnh hưởng] của nó tương đương với một đợt cúm mùa tồi tệ hoặc có lẽ còn xấu hơn thế”.  Đầu tuần, tổng số các ca lây nhiễm là hơn 80.000 và 2705 người chết—97% là ở Trung Quốc; Mỹ cách ly bất cứ ai đã ở Hồ Bắc và từ chối cho nhập cảnh bất cứ ai đã từng ở Trung Quốc suốt hai tuần. Nhiều quốc gia đã tăng thêm lệnh hạn chế đi lại với Hàn Quốc và Iran.  Sự hạn chế đi lại đã có hiệu quả nhất định, các nhà khoa học cho biết. “Nếu không đặt lệnh hạn chế đi lại thì có thể còn có nhiều trường hợp nhiễm bệnh liên quan đến việc di chuyển hơn bây giờ,” Anthony Fauci, người phụ trách Viện nghiên cứu Dị ứng và các bệnh truyền nhiễm quốc gia Mĩ, nói.  Nhưng nhiều nhà dịch tễ học đã tuyên bố là việc cấm đi lại chỉ đem lại một ít lợi thế về thời gian, và WHO không đồng ý với họ. Nếu suy xét vấn đề kỹ hơn có thể thấy lệnh cấm có thể phản tác dụng, ví dụ ảnh hưởng đến dòng chảy cung cấp thiết bị y tế, thuốc men và làm xói mòn lòng tin của công chúng. Và khi danh sách các quốc gia có người nhiễm bệnh gia tăng, lệnh cấm đi lại sẽ trở nên khó có hiệu lực hơn: nếu như đã có hàng ngàn người trong đất nước bị nhiễm bệnh thì sẽ còn không nhiều nguồn lực để giữ cho những người còn lại khỏi lây nhiễm trong thời gian dài. Các lệnh cấm đi liền với chi phí. Nền kinh tế Trung Quốc đã phải đón nhận một cú đánh mạnh của COVID-19, ví dụ như ngành công nghiệp hàng không. Trung Quốc xuất khẩu rất nhiều hàng hóa, từ các loại dược phẩm đến điện thoại thông minh, và tình trạng tê liệt của nền sản xuất là nguyên nhân gây ra các vấn đề hiện hữu của chuỗi cung ứng trên quy mô lớn.  “Thật khó về mặt chính trị và thậm chí là không khôn ngoan nếu nới lỏng lệnh cấm đi lại ngay vào ngày mai,” nhà miễn dịch học ở đại học Harvard Marc Lipsitch nói. “Nhưng trong một tuần, nếu  tiếp tục diễn biến như vài ngày trước, tôi nghĩ rõ ràng lệnh cấm đi lại không còn là biện pháp đối phó chính nữa.”  Các nỗ lực ngăn chặn ở quy mô nhỏ hơn vẫn sẽ phát huy hiệu quả, Bruce Aylward của WHO, người đang phụ trách một nhiệm vụ quốc tế ở Trung Quốc trong hai tuần qua, cho biết. Aylward đã thảo luận vấn đề trong một báo cáo (nhưng không thông báo công khai), nhóm chuyên gia kết luận dịch bệnh ở Trung Quốc đã đạt đỉnh trong những ngày từ 23/1 đến 2/2 và quốc gia này đã triển khai những nỗ lực quyết liệt ở Hồ Bắc, nơi ít nhất 50 triệu người đã bị phong tỏa, tạo điều kiện cho các vùng khác có thời gian chuẩn bị sẵn sàng trực chiến với virus và về cơ bản đã ngăn ngừa “có lẽ khoảng hàng trăm nghìn” trường hợp nhiễm bệnh. “Thật quan trọng để các quốc gia khác nghĩ về điều đó và nghĩ về việc liệu họ áp dụng biện pháp  nào – có nhất thiết phong tỏa toàn phần hay không hay thực hiện giải pháp khắt khe tương tự.”    Các cư dân của Casalpusterlengo, một thành phố nhỏ của Ý đang bị phong tỏa. Nguồn: Sciencemag  Lệnh cấm đi lại của Trung Quốc khiến từng cá nhân phải trả giá, theo Lawrence Gostin, chuyên gia về chính sách y tế toàn cầu tại Trung tâm Luật học của đại học Georgetown. Ông đặc biệt lo ngại về sức khỏe tâm thần và thể chất của những người ở Hồ Bắc, những người phải ở nhà dưới sự  giám sât chặt chẽ và đối mặt với những thiếu thốn về dịch vụ y tế. “Khó có quốc gia nào trên thế giới làm được điều đó, trừ Trung Quốc,” ông nói (lệnh đóng cửa của Ý chỉ thực hiện với các thành phố nhỏ chứ không phải các thành phố lớn).  Trung Quốc đang bắt đầu một cách từ từ, gỡ dần lệnh cấm trong các khu vực có mức rủi ro thấp hơn, nơi có thể có một số lượng lớn người bị phơi nhiễm, Dye nói. “Nếu cuộc sống thường nhật được phục hồi ở Trung Quốc, chúng ta có thể chờ đợi một sự trỗi dậy mới của dịch bệnh,” ông cho biết thêm.  Tuy nhiên, không thể phủ nhận hiệu quả của lệnh cấm, Lipsitch nói. Nó giúp giảm gánh nặng cho các bệnh viện và đem cơ hội tốt hơn cho những người làm y tế có thể tạm lơi việc để lo cho sức khỏe của mình, nhiều thời gian hơn cho mọi người kịp chuẩn bị, cũng như nhiều thời gian hơn cho kiểm nghiệm các loại thuốc tiềm năng có thể điều trị và trong thời gian dài là vaccine.  Để chuẩn bị cho những gì đang tới, các bệnh viện có thể dự trữ các trang thiết bị về hô hấp và tăng thêm giường bệnh. Tập trung hơn vào sử dụng các vaccine chống cúm và nhiễm khuẩn phế cầu có thể giúp giảm bớt gánh nặng của các bệnh về phổi lên hệ thống y yế và giúp dễ nhận diện các ca nhiễm COVID-19, vốn có chung nhiều triệu chứng tương tự nhau. Các chính phủ có thể ra các thông điệp về tầm quan trọng của rửa tay thường xuyên và ở nhà nghỉ ngơi nếu bị ốm.  Bất kể phần còn lại của thế giới làm gì, “điều cần thiết là hành động ngay bây giờ”, Aylward nói. Ông hi vọng các quốc gia khác sẽ học hỏi được nhiều từ Trung Quốc. “Bài học lớn nhất là: tốc độ triển khai là tất cả,” ông nói. “Và anh nên biết những gì tôi lo ngại nhất không? Phần còn lại của thế giới có học được bài học này không?”  Thanh Phương  lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/02/coronavirus-seems-unstoppable-what-should-world-do-now    Author                Quản trị        
__label__tiasang CT cung cấp hình ảnh chẩn đoán tốt nhất với bệnh virus Corona      Hình ảnh CT ngực có thể phát hiện những tổn thương ở phổi do virus corona trước khi xét nghiệm RT-PCR cho bệnh nhân.      Hình ảnh CT ngực của một người đàn ông 29 tuổi bị sốt trong 6 ngày. Xét nghiệm RT-PCR với SARS-CoV-2 cho kết quả dương tính (5/2/2020). (Cột A) CT ngực bình thường thu được khi khởi phát. (Cột B) CT ngực cho thấy hình kính mờ nhỏ ở ngoại vi phổi (mũi tên màu vàng). (Cột C) CT ngực cho thấy các ổ kính mờ tăng lên (đầu mũi tên màu vàng). (Cột D) CT ngực cho thấy sự tiến triển viêm phổi với nhiều ổ kính mờ, có những ổ đông đặc, không đồng nhất. (Cột E) CT ngực cho thấy sự khư trú của các ổ kính mờ. (Hình ảnh X quang với các mặt phẳng ngang và đứng ngang)  Ngày 26/2/2020, một nghiên cứu trên 1.000 bệnh nhân được công bố trên tạp chí Radiology nhận định: CT ngực vượt trội so với xét nghiệm trong phòng thí nghiệm về chẩn đoán bệnh virus corona 2019 (COVID-19). Các nhà nghiên cứu kết luận rằng CT nên được sử dụng làm công cụ sàng lọc chính cho COVID-19 (còn được gọi là SARS-CoV 2). [1]  Trong trường hợp chưa có thuốc điều trị cụ thể hoặc vaccine cho COVID-19, điều cần thiết là phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu và ngay lập tức cách ly bệnh nhân mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh khỏi cộng đồng.  Theo các hướng dẫn mới nhất của chính phủ Trung Quốc, chẩn đoán COVID-19 phải được xác nhận bằng xét nghiệm phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) hoặc giải trình tự bộ gen cho bệnh phẩm hô hấp hoặc máu. Tuy nhiên, với những hạn chế của việc thu thập và vận chuyển mẫu, cũng như hiệu suất của bộ dụng cụ, tổng tỷ lệ RT-PCR dương tính đối với các mẫu bệnh phẩm hô hấp đã được báo cáo là khoảng 30 đến 60%.  Tại Hoa Kỳ, các bộ xét nghiệm RT-PCR tương tự tại Trung tâm phòng chống dịch bệnh và phòng ngừa bệnh (CDC) đã được sử dụng lâm sàng với sự chấp thuận của Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) (30/01/2020). Tuy nhiên, khi các bộ dụng cụ này được gửi đến các tiểu bang, chính quyền địa phương đã thực hiện kiểm soát chất lượng và phát hiện các xét nghiệm không chính xác 100% cũng như một số kết quả âm tính giả.  “Rõ ràng chúng tôi không muốn sử dụng bất cứ thứ gì ngoài bộ dụng cụ hoàn hảo nhất có thể”, Bà Nancy Messonnier (M.D., giám đốc Trung tâm Miễn dịch và Bệnh hô hấp Quốc gia tại CDC) nói. Bà cho biết CDC đang hợp tác với FDA để giải quyết các vấn đề này. Tuy nhiên, CDC vẫn xem công việc này là ưu tiên để đưa bộ dụng cụ phục vụ bệnh nhân càng sớm càng tốt. CT có thể là phương pháp thay thế để giúp chẩn đoán bệnh nhân dương tính với COVID-19.  Trong trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng hiện nay, độ nhạy thấp của RT-PCR cho thấy rằng một số lượng lớn bệnh nhân COVID-19 sẽ không được kiểm tra nhanh chóng và có thể không được điều trị hoặc cách ly kịp thời. Ngoài ra, do tính chất rất dễ lây lan của virus, chúng có nguy cơ lây nhiễm cho số lượng dân số lớn hơn.  —  [1]. Tao Ai, Zhenlu Yang, Hongyan Hou, Chenao Zhan, Chong Chen, Wenzhi Lv, Qian Tao, Ziyong Sun, Liming Xia. Correlation of Chest CT and RT-PCR Testing in Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) in China: A Report of 1014 Cases. Radiology. Published Online: Feb 26 2020. https://doi.org/10.1148/radiol.2020200642. Accessed Feb 26, 2020.    Author                Hồ Thị Thảo, Phan Việt Cương        
__label__tiasang Cứ 10 năm, IQ bình quân của con người tăng ba điểm      Một kết quả nghiên cứu mới đây của các nhà  khoa học ở King’s College London thuộc Đại học London đăng trên tập san  Intelligence của Hà Lan số tháng 3-4/2015 cho thấy loài người chúng ta  đang trở nên ngày càng thông minh hơn.       Hiện nay chỉ số thông minh IQ bình quân của nhân loại bằng 100; khoảng 2/3 loài người có chỉ số IQ ở vào quãng từ 85 đến 115, những người có chỉ số IQ cao hơn 130 được coi là siêu việt.  Các nhà khoa học đã nghiên cứu kết quả đo chỉ số IQ của hơn 200 nghìn người ở 48 quốc gia trong 64 năm qua. Kết quả cho thấy: chỉ số IQ bình quân của số người này đã tăng thêm 20 điểm kể từ năm 1950. IQ bình quân của con người cứ 10 năm lại tăng ba điểm, nhưng biên độ tăng của các địa phương thì khác nhau. Người dân các nước đang phát triển có mức tăng IQ nhanh nhất, thí dụ Trung Quốc và Ấn Độ, là những nơi trong các thập niên gần đây có sự cải thiện rõ rệt về chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Mức tăng IQ của người Mỹ tuy thấp hơn nhưng tăng liên tục và ổn định hơn.  Nghiên cứu nói trên nhằm thử nghiệm cái gọi là hiệu ứng Flynn, tức sự gia tăng dài hạn chỉ số IQ được xác định vào năm 1982 bởi James Flynn.   GS Robin Morris đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, hiện nay có rất nhiều lý thuyết nói về sự tăng chỉ số IQ của loài người, nhưng các lý thuyết này đều chưa được khoa học chứng minh. Có lý thuyết cho rằng những người khi còn trẻ được ăn uống tương đối tốt, sức khỏe tốt, khi trưởng thành sẽ có IQ cao. Có lý thuyết thì cho rằng phương pháp giáo dục và học tập cũng ảnh hưởng tới IQ. Tuy nhiên, giới khoa học vẫn chưa nhất trí về ảnh hưởng của giáo dục đối với IQ. GS Morris giải thích: điểm bất đồng là ở chỗ có nghiên cứu cho thấy tại một số nơi tuy tình trạng giáo dục chưa được cải thiện nhưng IQ bình quân của người dân nơi đó lại tăng lên, nhưng cũng  có một số nghiên cứu cho thấy những người hồi trẻ không được hưởng sự giáo dục tốt thường có IQ thấp.   Cũng có lý thuyết cho rằng sở dĩ loài người ngày một giải quyết tốt hơn các vấn đề, chủ yếu là do họ thường xuyên gặp phải các vấn đề đó, vì vậy không có nghĩa là IQ của họ tăng lên. Ngoài ra, các yếu tố như môi trường và hoạt động thực tiễn đều có ảnh hưởng tới IQ. Nhưng cá nhân Morris cho rằng mặc dù các lý thuyết kể trên đều chưa phải là căn cứ chính nói lên sự tăng IQ của loài người, song việc ăn uống cân đối và sức khỏe tốt vẫn là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới IQ, nhất là tại các nước có thu nhập thấp.   Theo Morris, sự phát triển khoa học kỹ thuật trong thời gian từ năm 1950 đến năm 2014 có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với quá trình nâng cao năng lực nhận thức của loài người, trong đó bao gồm việc sử dụng công cụ điện toán. Chủ yếu là do những người có thói quen dùng máy tính và công nghệ cao để kết nối với nhau thì sẽ có thể dễ dàng hơn, hoặc có kinh nghiệm hơn khi trả lời các câu hỏi trong quá trình họ làm trắc nghiệm IQ. Đồng thời việc thường xuyên dùng công nghệ cao có thể tăng được năng lực hoạt động của não.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cư dân nông thôn: Chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới      Nhà nước cần giúp dân tổ chức lại cộng đồng thôn bản, hỗ trợ họ bầu ra người đại diện, phân cấp, trao cho họ những quyền căn bản về lập kế hoạch phát triển, để dân tự quyết định sử dụng hỗ trợ nhà nước và tự đóng góp trong phạm vi sức lực của mình, để tham gia quản lý xây dựng và vận hành các công trình.      Huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng là một trong những điển hình về xây dựng nông thôn mới.  Sau năm năm triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia Nông thôn mới đã góp phần cải thiện diện mạo nông thôn Việt Nam. Đường làng ngõ xóm phát triển rõ rệt giao thông nông thôn. Dồn điền đổi thửa nhanh mạnh ở Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng, các cánh đồng lớn phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long. Điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục… ở nông thôn cải thiện đáng kể. Người dân cả nước quan tâm, chú ý nhiều hơn đến nông thôn, nông dân.  Điểm tốt có nhiều nhưng cũng xuất hiện nhiều trăn trở, băn khoăn về cách thức thực hiện Chương trình. Dường như hoạt động vẫn nhắm nhiều vào xây dựng cơ sở hạ tầng, dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước, trông chờ vào quyết định và chỉ đạo của cấp trên, quản lý bằng bộ máy hành chính. Sau năm năm triển khai, theo báo cáo giám sát của Quốc hội, có 53/63 tỉnh, thành phố nợ đọng xây dựng cơ bản tới hơn 15 nghìn tỉ đồng, điều kiện sống của nông dân chưa được cải thiện đáng kể, mấu chốt là vấn đề thu nhập. Điểm quan trọng hơn là trong mô hình tăng trưởng, vị trí của nông thôn chưa gắn với toàn nền kinh tế, người nông dân chưa rõ cơ hội đi vào xã hội tương lai. Nếu nông dân không thiết tha với đất đai, nếu doanh nghiệp không mong muốn đầu tư vào nông thôn thì chắc chắn chính sách, chiến lược có vấn đề.  Mục tiêu xây dựng nông thôn mới không phải là tạo ra một vài mô hình thành công về cơ sở hạ tầng và điều kiện sống ở nông thôn để các nơi khác noi theo. Những gì chúng ta cho là mới, là hiện đại hôm nay sẽ lạc hậu ngày mai. Không thể hy vọng có một số vùng nông thôn đi trước, thu hẹp khoảng cách với đô thị là có thể cải thiện cơ bản những mâu thuẫn đang đặt ra. Để cải thiện tình hình chung, sức nhà nước hiện rất giới hạn. Phát triển nông thôn cả nước phải dựa vào nội lực của nhân dân. Mục tiêu phát triển nông thôn là tạo được ý chí tự lực của người dân, tinh thần đoàn kết của cộng đồng, tạo động lực để nông dân làm giàu, mở ra cơ hội phát triển của nông thôn.  Người dân nông thôn phải thay đổi tư duy. Họ phải hiểu những thách thức và cơ hội ghê gớm trước mắt. Hơn ai hết, chính cư dân nông thôn phải là chủ thể của quá trình vĩ đại này. Mục tiêu không phải là xây dựng công trình mà là thay đổi tư duy, nhận thức để thay đổi hành vi, cách sống, cách làm việc của toàn thể cư dân nông thôn. Việc làm con đường, xây ngôi trường… có thể cải thiện một phần cuộc sống hiện tại nhưng hoạt động đó chỉ có ý nghĩa khi quá trình ra quyết định, sự tham gia xây dựng, quyền giám sát quản lý thực sự giúp dân tự tin vào chính sức mạnh của bản thân, tin vào sự phối hợp, liên kết với nhau. Để người dân nông thôn biết rõ và có năng lực đương đầu với tương lai mới là mục tiêu quan trọng nhất của phong trào nông thôn mới, mới là biện pháp căn bản để người nông dân đứng lên tự cứu mình và giúp nước.  Nhà nước tạo môi trường phát triển thuận lợi để kết nối, phối hợp toàn nền kinh tế. Đầu tư công là chất xúc tác để khuyến khích doanh nghiệp cùng đầu tư, để nông dân có sức tự tích luỹ. Cái Nhà nước và toàn dân cần chính là tư duy phát triển nông thôn mới để khai mở con đường khả thi cho người dân nông thôn đi vào xã hội tương lai. Nông thôn mới không còn chỉ là làng xã. Đó là đất nước mới. Trong tương lai không xa, tỉ lệ dân cư nông thôn chiếm 70% dân số hôm nay sẽ xuống còn 10 – 20 %. Phần lớn ruộng đất của nông dân sản xuất nhỏ sẽ giao lại cho người làm ăn giỏi. Hàng chục triệu lao động sẽ rời khỏi nông nghiệp. Con đường cho họ hiện nay chưa có. Công nghiệp phát triển không thu hút lao động, 70% lao động rời khỏi nông nghiệp phải làm các nghề “phi chính thức”, không rõ tương lai (giúp việc gia đình, cửu vạn, xe ôm, thợ hồ,…). Cư dân nông thôn không có hộ khẩu, không dễ dàng ra đô thị sinh sống.  Nhà nước phải có bằng được giải pháp rõ ràng cho quá trình chuyển dịch này. Nền kinh tế phải phát huy được lợi thế lao động, trọng tâm là phát triển các ngành dịch vụ. Muốn tạo ra chỗ làm vào lĩnh vực phi nông nghiệp cho số lao động gần gấp đôi hiện nay, muốn tạo ra chỗ sống cho lượng thị dân gấp đôi, gấp ba hiện nay thì chỉ có cách đan xen, gắn bó toàn bộ nền kinh tế, toàn bộ xã hội trong mô hình phát triển lan tỏa và bao trùm như một số nước Đông Á đã thực hiện thành công.  Đó là mô hình xây dựng cơ bản đưa đường sá, điện, nước về nông thôn, thay vì tập trung vào đô thị; phát triển đường sắt phục vụ tốt cho nông nghiệp hơn, thay vì xây dựng sân bay phục vụ chính cho thành phố; viện nghiên cứu, trường đại học nằm tại các vùng nông nghiệp, thay vì dồn hết về thành phố… Có kết cấu hạ tầng, có dịch vụ tốt là doanh nghiệp dần sẽ về nông thôn, có chính sách đúng thì công nghiệp sẽ cung cấp vật tư, chế biến cho nông nghiệp. Thành phố không ngạt vì dân di cư, công nghiệp không đói vì thiếu thị trường. Các doanh nghiệp, mỗi gia đình, từng người lao động tích lũy được vốn từ kinh tế đô thị thì lập tức đầu tư ngay vào nông nghiệp, nông thôn. Có vốn, nông nghiệp trở nên hiện đại, kinh tế nông thôn phát triển sang phi nông nghiệp.  Nhà nước cũng phải chủ động thay đổi: không phải chỉ đạo dân làm theo kế hoạch, lấy ngân sách đầu tư vài mô hình thí điểm, mà cần giúp dân tổ chức lại cộng đồng thôn bản, hỗ trợ họ bầu ra người đại diện, phân cấp, trao cho họ những quyền căn bản về lập kế hoạch phát triển, để dân tự quyết định sử dụng hỗ trợ nhà nước và tự đóng góp trong phạm vi sức lực của mình, để tham gia quản lý xây dựng và vận hành các công trình. Ở cấp tổng thể, phải kết nối đô thị với nông thôn, công nghiệp với nông nghiệp. Bất kỳ người dân nào, địa phương nào cũng phải có cơ hội phát triển như nhau. Như vậy, câu chuyện mục tiêu đạt được không phải là có bao nhiêu cơ sở hạ tầng, có bao nhiêu tiêu chí được hoàn thành ở một vài địa phương được chọn làm thí điểm mà phải là thay đổi tư duy của toàn dân và thay đổi mô hình tăng trưởng của cả nước.    Author                Đặng Kim Sơn        
__label__tiasang “Cú shock” mang tên Minh Mệnh      “Trẫm vâng mệnh sáng (minh mệnh) ở trời, chịu mệnh sáng (minh mệnh) ở hoàng khảo [Gia Long], vậy lấy năm nay là năm Canh Thìn, làm Minh Mệnh nguyên niên [năm thứ nhất] để chính tên hay, rõ mối lớn” (Đại Nam Thực lục [ĐNTL], đệ nhị kỷ [II], 1: 4a). Đó là lời tuyên bố của vị vua thứ hai triều Nguyễn vào năm 1820, giải thích về niên hiệu của mình và tìm kiếm những kết nối thần thánh, thiên mệnh, và chính thống cho ngai vàng. Tuy nhiên không phải ai ở Huế vào thời điểm đó cũng chia sẻ điều này với nhà vua, nếu không nói đến sự hoài nghi bao trùm một số lớn quan chức cả Việt và Pháp, và dân chúng.  Đó là một trong những câu chuyện bị lờ đi, hay cố tình làm giảm tính chất nghiêm trọng của nó trong các diễn trình lịch sử ở Huế đó có thể được gọi tên: ‘cú shock Minh Mệnh’.      Lăng Minh Mệnh.  Trung tâm của ‘cú shock’ này là một cuộc xung đột lớn về phe phái, phong cách thực hành chính trị và hành chính ở Huế ít nhất trong năm năm đầu tiên cầm quyền của Minh Mệnh khi vị vua thứ hai của vương triều lên ngôi và xác lập các ‘luật chơi’ mới về quan hệ quyền lực, lễ nghi, và hành chính, làm cho phần không nhỏ trong giới quan liêu ‘ngỡ ngàng’. Nó không chỉ buộc Lê Văn Duyệt, Lê Chất, những người “tính nóng nảy”, “nói năng không theo lễ độ” phải thực hành các nghi lễ và quy phạm hành chính mới. Lê Chất được cho đã phàn nàn rằng: “nay triều đình dùng văn thần để sắp đặt nền chính trị. Lũ võ biền như ông tốt nhất là dâng biểu xin từ chức hai thành, về kinh chầu hầu thì may ra mới không có tội lỗi gì”. Hai người này thậm chí từng quỳ khóc trước Minh Mệnh và “đe dọa” trả ấn tín (Đại Nam liệt truyện – ĐNLT, I, q. 23: 8b). Nó còn làm cho những người Pháp ít ỏi đang phụng sự ở triều đình ‘không yên’ vì thái độ bài phương Tây và đạo Thiên Chúa. Nó cũng làm cho phần lớn các quan lại tại Huế một phen ‘lao đao’ với các chuẩn mực mới về thể chế, cách thức vận hành triều chính và văn bản hành chính giấy tờ.   Tại sao việc khôi phục lại mảnh quá khứ bị lãng quên này lại quan trọng? vì nó không chỉ giúp hiểu hơn về một trong những biến động chính trị, chuyển giao quyền lực lớn ở nửa đầu thế kỷ XIX mà còn cho thấy kỹ thuật ‘gọt đẽo’ diễn ngôn chính trị mà các vị tổng tài, sử quan như Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn, Phan Thanh Giản, Hà Duy Phiên, Trương Quốc Dụng muốn khắc họa cho thời đại và nhà vua mà họ đã phụng sự. Câu chuyện này cũng phản ánh cách con và cháu của vua Minh Mệnh (vua Thiệu Trị và Tự Đức) ‘hình dung’, và muốn ‘khắc họa’ về hình ảnh của cha và ông mình thông qua việc trực tiếp giám sát biên soạn và sửa chữa các bản Thực lục. Qua đó, chúng ta thấy sự bất an và tháng ngày đầu cầm quyền gian nan của Minh Mệnh, đối lập với hình ảnh của vị vua quyền uy và tự tin được mô tả trong chính sử vương triều.  Việc lên ngôi của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm đã tạo ra một cú shock ở Huế cho rất nhiều nhóm quan lại. Thứ nhất, các phe nhóm Bắc Hà là nạn nhân của cuộc ‘thanh trừng’ năm 1816. Thứ hai, các tướng lĩnh quân sự phe Lê Chất, Lê Văn Duyệt, dù ban đầu không hài lòng với Minh Mệnh, nhưng sau đó đã dùng uy quyền quân sự của mình để gây áp lực đối với nhà vua mới (Dương Duy Bằng-Vũ Đức Liêm 2019). Thứ ba, các quan chức bị shock bởi cách thực hành chính trị mới mà nhà vua xác lập lên nền hành chính.   Sự chuyển đổi từ Gia Long đến Minh Mệnh tạo ra một cấu trúc và cách thức thực hành chính trị hoàn toàn khác biệt. Nếu như Gia Long là một nhà chinh phục thì Minh Mệnh là một người kiến tạo thể chế. Khác với Gia Long, việc Minh Mệnh quan tâm tới tất cả các chi tiết của hệ thống chính trị đã làm cho giới quan liêu ở Huế gặp khó khăn lớn trong việc thích ứng. Họ đã mất thời gian làm quen với nền chính trị mới, từ sổ sách, giấy tờ, cấu trúc văn bản hành chính cho đến việc đưa ra các quyết định. Minh Mệnh coi việc quản lí hành chính thông qua làm việc trực tiếp với văn bản giấy tờ là nguyên tắc bất khả xâm phạm. “Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê.” (ĐNTL, II, 1: 17b). Trong lời tựa của bản in Ngự chế văn (sơ tập), nhà vua từng nói số các văn bản châu phê, tự nghĩ soạn đã “tích lại đến mấy vạn bản’ (Ngự chế văn sơ tập, Thượng dụ,1b-2a).     Bản chiếu tuyên bố cho thần dân cả nước về việc hoàng đế Minh Mệnh lên ngôi, ngày 1 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ nhất (1820). Nguồn: TLLTQG I, CBTN-Minh Mệnh tập số 2, tờ số 1.  Điều này rõ ràng đã làm cho các quan chức ở Huế lúng túng trong việc tham dự vào quá trình ra chính sách và quyết định chính trị. Đầu năm 1824, Tham tri Lại bộ là Nguyễn Văn Hưng đem danh sách xin thực thụ Cai đội của các địa phương dâng lên chờ quyết định của nhà vua. Minh Mệnh vì thế đã phải tìm cách trấn an các quan chức: “Triều đình phải có thể thống. Từ nay trở đi đình thần có cử quan to giữ chức mục thú thì đợi trẫm khuyên son [chu khuyên] để tỏ đặc biệt yêu chuộng, còn chức nhỏ chỉ tâu qua để chỉ thi hành thôi, không cần khuyên điểm lặt vặt làm gì” (ĐNTL, II, 26: 6a).   Nhà vua chắc chắn đã nhận thức được tâm lí ‘bất an’ của các quan lại dưới quyền. Hơn một năm sau ngày đăng quang, ông đã hỏi Hoàng Quýnh, một quan chức thân cận, là người đã phục vụ ông từ khi còn là hoàng tử:   Minh Mệnh: “Triều thần cho trẫm là thế nào ?”  Hoàng Quýnh: “Trước kia lời chương tấu có chỗ thô lậu, đều uốn nắn từng ly từng tý, người ta lấy làm khó khăn. Nay đã dần quen rồi”.   Minh Mệnh: “Có phải trẫm hiếu dị đâu, muốn cho được ổn nhã mà thôi” (ĐNTL, II, 8: 27b).   Phản ứng của Lê Chất và Lê Văn Duyệt với cách thức vận hành nền hành chính mới là một ví dụ cho thấy cuộc xung đột liên quan đến quản trị nhà nước ở Việt Nam trong những năm đầu 1820. Khi thấy Minh Mệnh “chăm mọi việc, phàm sớ tâu bốn phương dâng lên, đều phê bảo hằng ngày rất nhiều, Lê Văn Duyệt và Lê Chất thường nói như thế thì khó nhọc quá. Từ đấy có việc gì thuộc Lục bộ thì giao cho các bộ ấy làm phiếu dự kiến” (ĐNTL, II, 26: 6a-b).   Sự ‘bất ngờ’ và ‘lúng túng’ của giới quan liêu ở Huế với nhà vua mới cũng liên quan đến việc làm quen với cách thức nhà vua ra các quyết định. Gia Long, một nhà quân sự có vẻ như không phải là ‘fan hâm mộ’ của hệ thống giấy tờ văn bản hành chính. Ông điều hành nhà nước thông qua Công đồng, hay hội nghị của các quan chức cấp cao. Những người này có thể bàn bạc trước các vấn đề lớn trước khi tấu trình để được phê chuẩn và thi hành. Ngược lại, Minh Mệnh yêu cầu một hệ thống hành chính vận hành chặt chẽ và văn bản hành chính phức tạp, được giám sát nghiêm ngặt.  Gay cấn nhất trong ‘cú shock’ của việc thay đổi phương thức cầm quyền ở điện Thái Hòa có lẽ đến từ mối quan hệ giữa nhà vua với các tướng lĩnh chủ đạo, đặc biệt là phe nhóm của Lê Chất, Lê Văn Duyệt. Minh Mệnh nhận được sự ủng hộ của nhiều người phe quân sự: Nguyễn Văn Nhân (Chưởng Chấn vũ quân), Nguyễn Đức Xuyên (Chưởng Tượng quân), Tống Phước Lương (Chưởng Thủy quân), Trần Văn Năng (Thự Chưởng Tiền quân)… tuy  nhiên, ẩn số lớn nhất của mạng lưới quyền lực này nằm trong mối quan hệ với hai viên chỉ huy quân sự hàng đầu của vương triều: Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Họ là những người được Gia Long sủng ái, và cánh tay quân sự đắc lực nhất trong những năm 1815-1826. Có mấy vấn đề lớn cần làm rõ trong mối quan hệ này.        Việc lên ngôi của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm đã tạo ra một cú shock ở Huế cho rất nhiều nhóm quan lại. Thứ nhất, các phe nhóm Bắc Hà là nạn nhân của cuộc ‘thanh trừng’ năm 1816. Thứ hai, các tướng lĩnh quân sự phe Lê Chất, Lê Văn Duyệt, dù ban đầu không hài lòng với Minh Mệnh, nhưng sau đó đã dùng uy quyền quân sự của mình để gây áp lực đối với nhà vua mới. Thứ ba, các quan chức bị shock bởi cách thực hành chính trị mới mà nhà vua xác lập lên nền hành chính.      Thứ nhất, ban đầu, cả Lê Chất và Lê Văn Duyệt đều không ‘hào hứng’ với hoàng tử Đảm như ứng viên cho ngai vàng. Phan Thúc Trực có hé lộ rằng Duyệt cũng đã từng vận động cho hoàng tôn Đán cho ngai vàng (Quốc sử di biên[QSDB], I: 64a). Dễ hiểu là chi tiết này đã bị Thực lục ‘giấu’ đi.   Thứ hai là mối xung đột về thực hành nghi lễ, quyền lực và tính cách cá nhân. Duyệt được mô tả là người cư xử “không câu nệ thứ bậc”, “thường đánh chết con chó nào chạy đến chầu trước mặt vua (QSDB, I: 64b). Duyệt và Chất phản ánh cách thức vận hành quyền lực cũ, đơn giản, ít lễ nghi thời Gia Long. Minh Mệnh là hiện thân cho ý chí của nền chính trị mới ở đó lãnh thổ phải được thống nhất, điển chế, pháp độ được chuẩn hóa, và sự chính danh “quân-thần” phải được thực hành nghiêm ngặt.  Thứ ba, chính sách với Thiên Chúa giáo, ngoại thương, và quan hệ với phương Tây. Đây là những khía cạnh chủ chốt phản ánh góc nhìn của hai thế hệ và hai mối quan tâm đối với vai trò và sự tương tác của Việt Nam đối với khu vực và thế giới. Một nhân chứng người Pháp được cho là đã ‘diễn dịch’ lại câu nói trong đó viên Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt phản ứng trước thái độ bảo thủ chính trị và kỳ thị phương Tây của nhà vua:   “Làm sao chúng ta có thể hành hình các thầy Dòng Tây Dương? Hạt gạo [họ mang đến] vẫn ở trong miệng chúng ta! Ai đã giúp tiên đế lấy lại xã tắc? Hoàng thượng, chính ngài sẽ đánh mất nó một lần nữa. Tây Sơn sát đạo nên diệt vong. Nhà vua của Pegu [Myanmar] trục xuất các giáo sĩ, ông ta mất ngôi. […] Mộ của giáo sĩ Pigneau [Bá Đa Lộc] vẫn còn ở đây. Không, ngài không thể làm thế khi tôi vẫn còn sống. Ngài có thể làm bất cứ điều gì ngài muốn chỉ khi nào tôi chết đi.” (Adrien Charles Launay. 1894: 535).    Lê Văn Duyệt là người thân phương Tây. Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, con trai Lê Văn Duyệt nhận được sự hỗ trợ của nhà truyền giáo Joseph Marchand.  Nhiều lần Duyệt và Chất gây sức ép lên Minh Mệnh bởi họ tin vào ảnh hưởng không thể thay thế về mặt quân sự. Thực tế trong những năm đầu, Minh Mệnh hoàn toàn phải dựa vào họ để ổn định tình hình. Ví dụ điển hình là năm 1824, Duyệt và Chất quỳ khóc trước ngai vàng và yêu cầu được giải chức nếu Minh Mệnh không cho phép họ được xét xử các viên chức dưới quyền phạm tội (ĐNLT, I, q. 24: 12a). Ở một khía cạnh khác của mối quan hệ phức tạp này, cũng chính Duyệt là người giúp Minh Mệnh ra đòn tấn công quyết định vào đối thủ chính trị và cháu mình là hoàng tôn Đán. Vào năm 1824, Đán bị cáo buộc dâm loạn với mẹ là Tống Thị Quyên. Viên Tổng trấn được cho là đã mật tâu về Huế và nhà vua sai bắt người phụ nữ đóng cũi giải đến cho Duyệt đem dìm chết, đồng thời giáng vị hoàng tôn làm thứ dân (ĐNLT, I, 23: 7b-8a). Nhờ sự trợ giúp này, tính chính thống của Minh Mệnh trên điện Thái Hòa vững chắc hơn bao giờ hết.   Tuy nhiên hai người này cũng tin rằng mình có thể ‘khống chế’ Minh Mệnh bằng cách kiểm soát các cánh tay chính trị của ông. Lê Chất được cho là nói với Lê Văn Duyệt: “vua cậy Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Hữu Thận làm lòng bụng, ta chỉ cần vài trăm người vào triều đình hét to lên một tiếng thì lũ kia phục xuống đất, ta muốn làm thì làm [ĐNLT], II, 24: 16b). ‘Âm hưởng’của cuộc xung đột quyền lực này chắc chắn đã lan ra khỏi các bức tường hoàng cung. Những lo ngại về sự bất ổn được phản ánh qua hồi ký và báo cáo của các viên chức người Pháp ở Huế, những người tin rằng sẽ có ‘biến loạn’ với sự lên ngôi của Minh Mệnh. Trong một bức thư J.B. Chaigneau gửi đi từ Huế tháng 12/1821, ông nói về những xung đột liên quan đến việc Minh Mệnh kế ngôi:  “… Theo những gì tôi đã thấy và điều mà người ta đã nói với tôi về đức vua là một người giả dối và không còn tin tưởng bao nhiêu ở người. Đức vua rất kiêu ngạo. Các quan văn rất nịnh bợ tâu với đức vua rằng người là một học giả lớn đến nối đức vua tự cho mình là một đại hoàng đế. Ngài quản lí các quan của mình còn nghiêm ngặt hơn nữa, nhưng không thành công, và ngài có nhiều kẻ thù trong đám các cựu thần của phụ vương. Tất cả những người phục vụ ngài lúc ngài hãy còn là hoàng tử ngày nay đều được sủng ái, trong lúc các cựu thần thân cận thì rơi rụng rất nhiều… ” (M. Chaigneau à M. de la Bissachère. – (Décembre) 1821, BAVH 4 (1926): 434, bản dịch (Huế: Thuận Hóa, 2004): 553).       ‘Cú shock Minh Mệnh’ đã gây ra những xung đột lớn trong hệ thống chính trị và tái cấu trúc nhà nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX, dẫn đến sự ra đi của nhiều phe nhóm quyền lực thời Gia Long và nổi lên của các nhóm quyền lực mới, đặc biệt là các tiến sỹ khoa cử mới và nhiều nhân vật từ Trung Kỳ.      Việc Minh Mệnh dựa vào nhóm văn quan đã gây ra phản ứng đối với nhóm võ quan mà Lê Chất và Lê Văn Duyệt là người dẫn đầu. Phe văn thần này, sau đó đã tìm cách viết lại lịch sử để nhắm vào Duyệt và Chất là ‘vô lễ’, kiêu căng tự phụ, ỷ thế công thần ăn hiếp nhà vua, và mô tả Minh Mệnh là một minh quân có khả năng nhún nhường, bao dung với sự ‘ngỗ ngược’ của quyền thần vì lợi ích chung. Thực tế, Minh Mệnh đã tìm cách hòa giải đối với hai người này. Ban thưởng hậu hĩnh cho Lê Văn Duyệt và Lê Chất và gia đình của họ, bao gồm cha của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại và thân mẫu Lê Chất là Đào Thị Thôn. Tuy nhiên, cả hai, bao gồm phe nhóm và gia đình của họ sẽ bị triệt hạ ngay sau khi họ qua đời (1826 và 1832). Nỗi ám ảnh với các viên tướng này sẽ còn đi theo Minh Mệnh trong nhiều năm như chính ông tuyên bố vào năm 1835: “Ta thấy võ biền ở triều đình ngày nay cũng đã hơi biết giữ gìn, đã hơn những người ở lúc quốc sơ chưa quen lễ phép”.  ‘Cú shock Minh Mệnh’ đã gây ra những xung đột lớn trong hệ thống chính trị và tái cấu trúc nhà nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX, dẫn đến sự ra đi của nhiều phe nhóm quyền lực thời Gia Long và nổi lên của các nhóm quyền lực mới, đặc biệt là các tiến sỹ khoa cử mới và nhiều nhân vật từ Trung Kỳ. Khía cạnh khác của câu chuyện thực hành chính trị này cũng hé lộ những gian nan của cha ông trong buổi đầu xác lập lãnh thổ thống nhất và nền chính trị tập quyền sau 300 năm mở mang lãnh thổ và phân tán chính trị. Nó cho thấy cách thức hình hài của một nước Việt Nam hiện đại và thống nhất được thai nghén trong những thăng trầm của cá nhân, phe nhóm, và vương triều. Nó cũng cho thấy cách thức các sử gia giữa thế kỷ XIX tái định hình lại câu chuyện về vị minh quân của mình, và các thủ pháp đã được sử dụng để gọt dũa và tạo tác một câu chuyện mà họ muốn truyền tải cho hậu thế. Góc nhìn của chúng ta cho thấy một gương mặt khác của vị hoàng đế: bất an và những trở ngại trên đường cầm quyền không hề bằng phẳng như bức thông điệp của các sử quan vương triều. Đó là một thế giới ẩn chứa đầy xung đột và tranh chấp quyền lực, nơi Minh Mệnh trải qua một cuộc chiến không hề dễ dàng để giành ngôi vua, và sau đó là tháng ngày gian nan xác lập các thiết kế chính trị của mình lên giới quan liêu ở Huế. □  Tham khảo  Adrien Charles Launay. 1894. Histoire generate de la Societe des Missions Etrangeres, Tome 2. Paris: Tequi, Libraire-Editeur.  Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội  Đại Nam Thực Lục, bản Hán (Tokyo: Institute of Cultural and Linguistic Studies, Keio University, 1961-1977), bản dịch (Hà Nội: Giáo Dục, 2006).   Đại Nam Liệt Truyện, bản Hán (Tokyo: Keio Institute of Linguistic Studies, reprint, 1963), bản dịch (Huế: Thuận Hóa, 1993).   Phan Thúc Trực. Quốc sử di biên, bản Hán (Hongkong: Hương Cảng trung văn Đại học Tân Á nghiên cứu sở, 1965), bản dịch (Nguyễn Thị Oanh, et al., Hà Nội: KHXH, 2010).   L. Cadière. Les Francais au service de Gia-Long (Những người Pháp phụng sự Gia Long), BAVH, 4 (1926).    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Cửa biển Việt Nam thế kỷ XV: Những khúc xạ địa lý học lịch sử      (Chú giải lại “Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV” của Dumoutier).      Tranh vẽ thuyền Nhật Bản khi đến Việt Nam vào thế kỷ 17. http://www.archives.go.jp/event/jp_vn45/english/ch02.html  “Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV” là một ấn phẩm sớm nhất hiện biết về địa lý học lịch sử, bản đồ học lịch sử, và lịch sử giao thông Việt Nam thời cổ của học giả người Pháp Gustave Dumoutier xuất bản năm 1895 chắc chắn đã là một tư liệu quan trọng, tham khảo đầu giường cho nhiều thế hệ học giả trong một thế kỷ qua. Nhưng phải đến lần xuất bản này vào năm 2020, lần đầu tiên chuyên luận này mới được dịch sang tiếng Việt và xuất bản một cách chính thức ở Việt Nam. Như tôi biết, đã có rất nhiều bạn đọc ở Việt Nam háo hức chờ đợi bản dịch tiếng Việt của cuốn sách. Bởi lẽ, tác phẩm này là một nghiên cứu về bản đồ cổ viết bằng Hán Nôm, được công bố bằng tiếng Pháp – thứ tiếng mà các bạn trẻ ham Anh ngữ ngày nay cũng không nhiều người đọc được, trong đó có tôi. Tuy nhiên, công trình này có một số lỗ hổng về văn bản học và sử liệu mà tôi nghĩ rằng cần phải thảo luận và chú giải lại để độc giả có sự phân tích, cẩn trọng khi sử dụng.   Như cái tên của nghiên cứu, tác giả đã bắt vít đích xác thời điểm biên soạn của cuốn Bản đồ mà ông có trong tay vào thế kỷ 15, ông xác quyết đây là một tập bản đồ được biên soạn vào thời vua Lê Thánh Tông, với lời trích sử liệu trong Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư). Ông dựa vào Toàn thư mà khẳng định chắc rằng người vẽ bản đồ là thổ dân Nguyễn Vũ được vua Lê Thánh Tông sai vẽ sau năm 1471 (Ngô Sĩ Liên 1479/1998 T2: 448). Thế nhưng, nghiên cứu này không thấy có mô tả hiện trạng thư tịch, giám định niên đại biên soạn, giám định niên đại định bản, hệ thống truyền bản của văn bản được sử dụng. 25 trang văn và 25 trang bản đồ không có thông tin nào về tên bản đồ, người soạn, người vẽ, người chép. Thực chất đây là các bản đồ đã vẽ lại của Dumoutier trên một bản đồ cổ nào đó mà ta không biết được lai lịch. Tức là về mặt văn bản học người đọc ở thời điểm hiện tại hoàn toàn bị đóng sập cánh cửa để tìm hiểu về văn bản này. Và như chúng tôi sẽ chỉ ra, dù cố gắng sao chép nguyên xi với nỗ lực lớn nhất, tác giả cũng đã chép nhầm sao nhầm nhiều địa danh, nhiều văn tự nhầm lẫn, và các lỗi phiên âm, ấy là chưa kể cái sai vốn có của các bản đồ này, bởi như ta biết mỗi một bản đồ là tù nhân của thời đại sinh ra nó. Chúng tôi tạm đặt tên cho bản đồ này là Bản đồ Dumoutier (theo cách đánh số La Mã từ I đến XXV, các chữ số của địa danh đánh theo Dumoutier) để tiện kiểm chứng:  1. Cửa biển không được ghi tên thứ nhất trong bản đồ số IV. Phía trong cửa biển này có ghi “Ngã ba Non Nước” (我𠀧𡽫渃) có vẽ hình ba ngọn núi. Thực ra, đây chính là cửa sông Đáy đổ ra biển, nổi tiếng với các tên Đại Nha hải khẩu (大鴉海口). Năm 1044, vua Lý Thái Tông đổi thành cửa Đại An. Thế kỷ XIX, cửa biển có các tên cửa Liêu, Liêu Hải. Nay cửa tên là Cửa Đáy thuộc hệ sông Đáy, là ranh giới giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Định.    Bản đồ Thanh Hóa tỉnh, Đại Nam nhất thống chí. Nguồn: VNL-VNPF.  2. Biện sơn 汴山: bản đồ số VI vẽ sai vị trí đảo này. Bản đồ vẽ Biện Sơn nằm ngoài khơi của xã Du Xuyên, phía Đông Bắc của cửa Lạch Bạng nay. Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ cũng vẽ ghi đảo Biện Sơn nằm ngay ngoài Du Hải môn (瑜海門), cách vẽ này là sai nhầm. Thực ra, Biện Sơn (nay là bán đảo) nằm ở phía Nam của cửa Lạch Bạng. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư không vẽ cửa biển và đảo Biện Sơn. Bản đồ Thanh Hóa tỉnh trong Đại Nam nhất thống chí ghi vẽ Biện tấn hải khẩu (汴汛海口). Đại Nam nhất thống chí ghi có ba pháo đài ở Biện Sơn.  3. Cửa Lạch Bạng: bản đồ số VI không ghi tên cửa biển này. Thế kỷ 15 cửa này tên là cửa Du. Bài số 8 trong Chinh Tây kỷ hành ghi đó là cửa biển Điển Du (典臾海口) [Viện Nghiên cứu Hán Nôm 2003]. So sánh với bản đồ số VII, có ghi hai địa danh xã Chu Bàn, và xã Như Áng. Như vậy, thế kỷ XV, cửa Lạch Bạch có tên là Du hoặc Điển Du.  4. Bản đồ số X ghi cửa biển được Dumoutier ghi là , phần chú thích số 193 phiên là Phi môn (𢒎門). Thực tế chưa từng thấy cửa nào ở Nghệ An có tên như vậy. Có lẽ Dumoutier chép nhầm tên chữ Hán cả ở bản đồ lẫn chú thích. Xét, bản đồ X vẽ cửa này nằm phía ngoài Cầu Cấm. Cấm giang- sông Cấm đổ ra cửa Xá, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò. Thế kỷ XIX cửa sông Cấm đổ ra biển gọi là cửa Xá (舍門) [Quốc sử quán triều Nguyễn 1910 Q13; 2012 T1: 808] .  5. Bản đồ XI ghi cửa Luật (224律門) nằm ở phía Nam của Hội Thống.  Dumoutier phiên “luật” là không đúng, đây là Cửa Sót,  cửa của hệ sông Hạ Vàng (với hai chi lưu chính là sông Nghèn và sông Rào Cái). Ngày nay, Cửa Sót và dòng Hạ Vàng là ranh giới giữa huyện Lộc Hà và huyện Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh.  6. Cửa Tiến (312:荐門) được ghi trong bản đồ số XIV, phía trong có Cầu Tiến (306:梂荐), ghi chép này của Dumoutier là sai, đó phải là Cửa Ròn và Cầu Ròn. Do đây là chữ Nôm {艹thảo +存 tồn} trùng hình với chữ tiến giản thể (薦>荐). Bản đồ Quảng Bình tỉnh trong Đại Nam nhất thống chí ghi là Ròn giang tấn (洊江汛). Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ ghi và vẽ là  存門, trong có Cầu Ròn (求存) và Chợ Ròn (存市).Cửa Ròn thuộc huyện Quảng Trạch, cửa Gianh của sông Gianh (ranh giới giữa Quảng Trạch và huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).   7. Đảo môn (裊門384) được ghi trong bản đồ số XV, phía nam của cửa Thuận Cô, phía trong bờ Nam có vẽ Đảo lũy (376裊壘). Dumoutier đọc sai, do nhầm với chữ 島, phải là Niểu môn và Niểu lũy. Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ cũng ghi tương tự. Giao châu chí ghi An Niểu môn (安裊門). Đại Nam nhất thống chí ghi: Cửa An Niểu là cửa của sông Chính Hòa (còn gọi sông Dinh/ sông Doanh) nằm ở phía Nam của huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, cách huyện lị 5 dặm. [Quốc sử quán triều Nguyễn, 1910 Q7; 2012 T1: 499.]     Bản đồ số XIX vẽ và ghi Đại Chiêm môn (541大占門). Nguồn: Nguyễn Văn Trường, Thông tin KHXH, số 12.2015.  8. Yêu Tiền môn (504腰前門) được ghi trong bản đồ số XVII, phía Nam của huyện Vũ Xương, phía Bắc của Tư Dung môn. Bình Nam đồ ghi Nhuyễn hải môn trung thâm (渜海門中深). Giao châu chí ghi Yêu môn (腰門). Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ ghi Eo Gió môn (腰門), bờ bắc là huyện Hải Lăng. Thế kỷ XV chưa rõ tư liệu. Ô Châu cận lục (1555) ghi: “Cửa Eo ở huyện Kim Trà, do nước từ các nguồn Kim Trà và Đan Điền đổ về. Xưa kia, từ Cửa Việt đến Tư Khách (liền một dải) gọi là Đại Trường Sa. Đến năm Khai Đại 1 (1403) Cửa Eo mới vỡ thành cửa biển. Vua xuống chiếu sai quân từ kinh vào đắp lấp, nhưng hễ đến khoảng tháng 8 tháng 9 là bị úng lụt. Đến năm Cảnh Thống (1498-1504) cửa vỡ hẳn, từ đó có tên là Tiểu Trường Sa.” [2009: 29].   9. Trên bản đồ số XVIII có cửa biển không được vẽ nhưng không được ghi tên, bờ Nam là quán Bảy At (521館𠤩溢), bờ Bắc là Tứ Chánh quán (520四政館), phía Nam của cửa Cảnh Dương. Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ có vẽ nhưng không ghi tên, có ghi Tứ Chánh quán và ghi  舘罢隘, là điểm trú chân ngày 32 trên hải trình Bắc- Nam. Tôi cho quán Bảy At1 mà Dumoutier phiên là nhầm từ quán Bãi Ải. Giao Châu chí ghi Độ Ải môn (渡隘門). Bình Nam đồ ghi Độ Ải hải môn (渡隘海門), phía trên là Ải Vân sơn (隘雲山). Bản đồ XVIII ghi nguồn của cửa này là Khe Cây Mít (溪核櫗). Khe Cây Mít tức suối Hói Mít ngày nay, suối này từ sườn Hải Vân đổ xuống vũng Lăng Cô. Tất cả các bản đồ đều không vẽ vũng Lăng Cô, mà chỉ thể hiện bằng một dòng khe. Vũng Lăng Cô thời cổ được gọi là đầm An Cư. Thế kỷ XV, Lê Thánh Tông trong bài  Hải Vân hải môn lữ thứ có câu: “Gộp mối xa thư một dải liền, Hải Vân ngang lối vượt trời Nam” (混一車書共幅絹、海雲橫界越南天), phần nguyên chú ghi thêm: sau khi Chiêm Thành nhập bản đồ, lần đầu tiên đặt cửa quan Hải Vân để kiểm soát người ra vào (2003: 262), có thể hiểu cửa quan gồm lộ trình và hải trình. Đại Nam nhất thống chí ghi: cửa Hải Vân ở đông nam huyện Phú Lộc 95 dặm. Rộng 27 trượng, triều lên sâu 6 thước 5 tấc, triều rặc sâu 4 thước 5 tấc. Nam là chân núi Hải Vân, Bắc là bãi An Cư. Vốn có đặt Thủ sở để quản lý hành khách và tuần phòng bờ biển. Sau lại bỏ. [Quốc sử quán triều Nguyễn 1910 Q2; 2012 T1: 144]. Cảng này có bến đò An Cư nối hai bờ tả hữu đều thuộc ấp An Cư, và nối sang bờ chân núi Hải Vân, tục gọi là Đò Tuần. [Quốc sử quán triều Nguyễn 1910 Q2; 2012 T1: 150].     Yêu Tiền môn (504腰前門) được ghi trong bản đồ số XVII. Nguồn: Nguyễn Văn Trường, Thông tin KHXH, số 12.2015.  10. Cửa vô danh (không ghi tên) được vẽ trên bản đồ số XVIII, bờ Nam là Bảy Hòn Hàn (523几寒), và Túc Khố (524粟庫), Trà Nhiễu môn (525 茶繞門) và Đà Triển môn (526沱展門), bờ Bắc là thiển thâm (522). Có nhiều sự sai lầm ở đây. Đà Triển môn ghi nhầm từ Đà Nẵng Môn (沱曩門), Dumoutier đã sửa được lỗi này trong phần chú thích (1895: 30). Trà Nhiễu ghi nhầm từ Trà Nhiêu (茶饒). Riêng địa danh Bảy Hòn Hàn được ghi chữ Hán là “丸寒”, chưa rõ là gì, chờ khảo cứu sau. Nhưng Trà Nhiêu không phải là cửa biển mà chỉ là tên đầm thuộc hệ sông Thu Bồn và cửa biển Đại Chiêm. Cái sai lớn nhất của bản đồ là chú sai địa danh giữa Trà Nhiêu và Đà Nẵng môn. Đà Nẵng môn chính là cửa vô danh không được chú trên bản đồ, nằm ở phía bắc của bãi Cơ Hàn. Vịnh Đà Nẵng được vẽ quá nhỏ, phía trong có chợ Hàn, phía Nam có Ngũ Hành sơn, nhưng sông Hàn không được ghi tên, và sông Cu Đê hoàn toàn biến mất. Tóm lại, cửa vô danh và bị vẽ sai lệch này là vịnh Đà Nẵng, cửa sông Hàn và sông Cu Đê.  11. Đà Triển môn (526沱展門) được vẽ trên bản đồ số XVIII, như đã nêu ở trên không phải là cửa Đà Nẵng, mà là một cửa nhỏ của cửa Đại Chiêm. Bản đồ ngay sau (là bản đồ số XIX) vẽ và ghi Đại Chiêm môn (541大占門) ở phía Nam của  Trà Nhiễu môn (525 茶繞門, sic) và Đà Triển môn (526沱展門, sic). Trà Nhiêu môn (525 茶繞門) được ghi tên trên bản đồ số XVIII, bờ Bắc là Bãi Kỉ Hàn (523几寒), và Túc Khố (524粟庫). Vũng Trà Nhiêu đáng ra phải ghi ở phía trong, còn cửa Đại Chiêm ở bản đổ XX phải trám thay vị trí của Đà Nẵng môn ở bản đồ XIX.   12. Tụng Đàn môn (543誦𡊨門) được vẽ trong bản đồ số XIX, phía Bắc là Đại Chiêm môn, Hòa Hợp môn (和合門), phía Nam là Sa Kỳ môn (沙淇門). Dumoutier đọc là Tụng Đần môn (誦壇門). Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ ghi phía Nam cửa Hợp Hòa là Chiên Đàn môn (旜𡊨門). Như vậy bản đồ của Dumoutier nhầm Chiên Đàn thành Tụng Đần (旜>誦).  13. Sa Kỳ môn (545沙淇門) được vẽ trong bản đồ số XIX, phía Bắc là Chiên Đàn môn, phía Nam là Cửa Tiểu (546小門), Cửa Đại (547大門), phía Đông ngoài khơi là Du Ái sơn (550油藹山) và Bãi Cát Vàng (550𡌣葛鐄). Dumoutier không biết Bãi Cát Vàng là gì, và nhận đọc là Bãi Ô Hoàng “𡌣𦶀鐄”, và bỏ trống không chú thích (1885: 31). Du Ái sơn thực ra là Du Trường sơn (油塲山) còn Bãi Cát Vàng chính là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.  14. Nước Muối môn (渃𠳨門) được vẽ trong bản đồ số XXI, chắn ngoài cửa là cù lao Nước Kích (592,劬勞渃激 sic), bờ phía Bắc là Làng Giáo Cư (588廊教居), núi Yêu Giếc (587腰𩹹山), Duy Sơn (590維山), Khổng Lộ Câu (591孔路山), phía trong vịnh là Bãi Ông Tô (582𡌣翁蘇), phía tây sâu trong đất liền là Nước Muối (576渃𠳨) và Đồ Bàn thành (闍槃城), phía Nam là Na sơn (583梛山), Phù Ly huyện (579符離縣, sic), Phật Tỉnh (578佛井), bờ phía Nam là Rau Câu Đàm (593蔞勾潭) núi Vũng Giếc (584淎𩹹山), Vũng Giếc (594淎𩹹). Cù lao Nước Kích thực là phải là cù lao Nước mặn (劬勞渃{氵敏}, {氵敏} nhầm thành 激), tức đảo Thanh Châu thế kỷ XIX, nay là Cù lao Xanh. Núi Eo Giếc vào thế kỷ XIX gọi là núi Triều Châu (hay núi Cố Hỷ), nay đều là thuộc bán đảo Phương Mai.    Khu vực thành Thăng Long và phụ cận thế kỷ XV. Nguồn: Nguyễn Văn Trường, Thông tin KHXH, số 12.2015.  15. Lai Hành môn (621来行門) được ghi trong bản đồ số XXII,  phía Bắc là Đàn Di môn (617彈 㹫門), Bãi Mây Nước, Nhật Dạ môn, ngoài khơi có Cù lao Mây Nước và (619𠳨𠳨府灵), phía Nam có Vụng Lăn Lăn (620淎粦粦). Vụng Lăn Lăn mà Dumoutier phiên âm chính là Vụng Ran Ran, cái tên Ran Ran còn thấy trong bản đồ của Rhodes (1650) chỉ cả vùng đất Phú Yên. Năm 1621, Cristoforo Borri gọi phủ Phú Yên là dinh Renran (Borri 1631: 8). Thế thì bản đồ của Dumoutier đặt nhầm vũng Ran Ran của cửa Đà Rằng vào Vũng Ô Loan, mà cửa của vũng này chính là Mây Nước hải môn như Bình Nam đồ và Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ đã ghi.   16. Bản đồ số XXIII là bản đồ có nhiều sai sót nhất. Bản đồ này vẽ 6 cửa biển nhưng chỉ có cửa biển thứ hai từ phải sang được ghi tên là cửa Tắc Cú (643塞句門). Sang đến bản đồ XXIV thấy có cửa biển Cam Ranh (甘冷門) và đầm Cam Ranh (甘冷潭). Theo địa lý hiện đại, tỉnh Khánh Hòa có tám cửa biển gồm: 1/ Cửa biển Hải Triều thuộc sông Tu Bông đổ ra vịnh Văn Phong huyện Vạn Ninh. 2/ Cửa Chà Là, sông Chà Là, đổ ra vịnh Văn Phong, thuộc huyện Vạn Ninh. 3/ Cửa Hiền Lương, sông Hiền Lương, đổ ra vịnh Vân Phong, thuộc huyện Vạn Ninh. 4/ Cửa vịnh Vân Phong, huyện Vạn Ninh (gồm cửa lớn và cửa bé); 5/ Các cửa Hà Liên, thuộc sông Cầu Lam/ Tân Lâm, đổ ra vịnh Nha Phu, huyện Ninh Hòa; 6/ Cửa lớn Nha Trang, sông Cái, thành phố Nha Trang.  7/ Cửa bé Nha Trang, sông Cửa Bé, thành phố Nha Trang. 8/ Cửa Cam Ranh (cửa Hẹp ở trong và Cửa Lớn ở ngoài) thành phố Cam Ranh [Trần Trọng Dương 2019: 361].  Còn theo bản đồ Khánh Hòa tỉnh trong Đại Nam nhất thống chí thì tỉnh Khánh Hòa có 6 cửa biển sau: 1/ Vân Phong tiểu tấn khẩu (雲峰小汛口); 2/ Vân Phong đại tấn khẩu (雲峰小汛口); 3/ Nha Phu tấn khẩu (芽敷汛口); 4/ Cù Huân đại tấn khẩu (虬勳大汛口); 5/ Cù Huân tiểu tấn khẩu (虬勳小汛口); 6/ Cam Ranh tấn khẩu (柑欞汛口).    17. Vũng Diên (665 淎涎) được vẽ trên bản đồ số XXIV, phía hữu là cửa Cam Ranh và Hy môn (Vĩnh Hy). Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ vẽ ghi Vũng Diên (淎延), phía nam là Diên sơn (延山) và cửa Nhật Đường (日堂, sic: Cam Đường). và Giao Châu chí ghi là Cam Hàm môn (甘酣門) chắc cũng sai. Đại Nam thực lục ghi địa danh này là núi Mũi Diên (Diên Chủy). Núi này cách phía Đông Nam của huyện Tuy Phong (trấn Bình Thuận xưa gồm cả Ninh Thuận nay) khoảng 58 dặm (29-30km) lên bắc. Núi này có chín đoạn, đều gối ngang lên bờ biển. Nước biển ở đây chia theo hai ngả, một luồng chảy vào Nam, một luồng chảy ra Bắc. Thế nước chảy xiết rất đáng sợ, tầu thuyền qua đây thường phải rất cảnh giác dè chừng. Phía đông của núi Mũi Diên, có đầm Vĩnh Diên. Khi gió nồm nam thổi mạnh thì tàu thuyền qua lại đều táp vào vịnh này mà trú yên ổn. Năm 1850, núi Mũi Diên được ghi vào tự điển. [Quốc sử quán triều Nguyễn 1910 Q11; 2012 T1: 668]. Diên Chủy (mũi Diên) hay Diên Sơn là một, núi này đâm ngang ra biển, tạo nện vụng biển ở phía bắc, đó chính là Vũng Diên. Khảo trên không ảnh thì xưa có một dòng sông đổ ra vũng, nhưng nay đã cạn gần hết do hạn hán và phá rừng. Cửa Vũng Diên nay thuộc thôn Sơn Hải xã Phước Diên huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận. Chiếu lại bản đồ XXIV mà so với bản đồ 2004, thì thấy cái sai trầm trọng của bản đồ XXIV và Hoàng Lê Cảnh Hưng bản đồ là ghi Vũng Diên ở phía hữu của cửa Cam Đường (Ninh Chữ). Trong khi thực tế, Vũng Diên nằm trên tuyến hải trình từ Ninh Chữ đến Cà Ná. Vũng Diên ngày nay đã mất tên, Mũi Diên bị đổi thành Mũi Dinh (hay Mũi Cà Ná), nằm trên địa bàn Phước Dinh của huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận.    Thuyền bè của người Đàng Trong ở Hội An – Cửa Đại – sông Thu Bồn/ John Barrow. Nguồn: https://archive.org/stream/voyagetocochinch00barr#page/320/mode/1up  Như đã trình bày sơ lược ở trên, những sai lầm được nhặt ra ngẫu nhiên, nếu khảo sát cụ thể và toàn diện, có lẽ số lượng các sai sót này còn nhiều hơn nữa. Và như đã nói ở đầu bài viết, đây là khảo cứu đầu tiên về địa lý và bản đồ cổ thực hiện cách nay 125 năm, đó là điều dễ hiểu. Khoảng thời gian ấy đã có bao nhiêu biến đổi trong nhận thức và khoa học, khiến cho nhiều thứ trong công trình mở đầu này đã trở nên lỗi thời. Điều đó khiến cho các học giả như PGS.TS Liam C. Kelley từng băn khoăn rằng việc dịch những công trình như thế này ra tiếng Việt liệu có nghĩa gì về khoa học. Theo tôi, dù thế nào đi chăng nữa, tập bản đồ này vẫn đáng được chờ đợi ít nhất ở tính tư liệu lịch sử của nó. Vì thế, tôi mới mạo muội đọc lại toàn bộ cuốn sách này, để nhìn lại công trình của tác giả từ cả hai phía: từ thời điểm nó được biên soạn, và từ thời điểm hiện tại. Nhưng do thời gian hạn hẹp, tôi sẽ không bàn và không khen những gì tác giả đã làm được, mà chỉ tập trung ở đây những nhận thức và chú thích nhanh về những sai sót mà tôi nhặt được khi đọc cuốn sách, nhằm phụ giúp cho bạn đọc. Dĩ nhiên, tôi có thể cũng sẽ sai lầm khi chữa lợn lành thành lợn què, nhưng điều đó là chuyện bình thường của việc làm khoa học, một khi sử liệu và phương pháp thay đổi, và hiểu rằng nghiên cứu địa lý học lịch sử giống như đi vào một khu rừng miên viễn của quá khứ!  Công trình Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV được Gustave Dumoutier viết bằng tiếng Pháp, đăng trên tạp chí Địa lý lịch sử và mô tả (Bulletin de géographie historique et descriptive), số 2 năm 1896. Công trình  gồm một tập 25 tờ chú thích và 24 tấm bản đồ nối tiếp từ Kinh thành Thăng Long đến cố đô Vương quốc Champa cùng với các phụ lục là hai Hành trình đường bộ và Hành trình đường thủy mà tác giả cho biết: “Đây là một tài liệu quân sự, được thiết lập dựa trên các thông tin thu thập được khoảng cuối thế kỷ XV của các phái viên do vua Lê Thánh Tông cử đi mật thám để vẽ chuẩn bị cho việc thôn tính Champa được thuận lợi.” Với 24 tấm bản đồ và phụ lục kèm theo viết bằng chữ Hán hoặc Nôm, G. Dumoutier đã thực hiện: sao, chụp lại các tấm bản đồ; đọc và phiên âm các địa danh, các chỉ dẫn ra chữ Quốc ngữ và giải nghĩa bằng tiếng Pháp, đánh số ngay sát các chữ Hán, hoặc Nôm trên bản đồ những con số tương ứng để người đọc dễ đối chiếu; chuyển ngữ từ Hán, hoặc Nôm ra chữ Quốc ngữ và giải nghĩa bằng tiếng Pháp cả hai Hành trình đường bộ và Hành trình đường thủy (sông, biển); cuối cùng, nghiên cứu, phụ bổ các chú giải địa lý, lịch sử và khảo cổ trên các vùng đất mà G. Dumoutier đã đi qua trên hai hành trình bằng việc đối chiếu Tập Hải đồ với các bản đồ cuối thế kỷ XIX. Qua việc nghiên cứu bằng phép đối chiếu bản đồ và đi thực tế, tác giả đã nêu lên những thay đổi khá quan trọng từ ba thế kỷ tại một số điểm miền duyên hải Trung kỳ và Bắc kỳ.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Cuba nghiên cứu vaccine có thể điều trị các khối u rắn      Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Công nghệ sinh học và kỹ thuật di truyền Cuba (CIGB) tại thủ đô Havana đang thử nghiệm một vaccine điều trị (therapeutic vaccine) có khả năng chống các khối u rắn. Đây cũng là một trong số những “sản phẩm được ưu tiên” của công ty dược nhà nước Biocubafarma và được đưa vào danh sách 7 sản phẩm thuốc có “tầm ảnh hưởng cao” của công ty.       Trung tâm Công nghệ sinh học và kỹ thuật di truyền Cuba (CIGB) là nơi tạo ra nhiều sản phẩm xuất sắc. Nguồn: Getty Images  Theo Juventud Rebelde, một tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh niên Cuba, loại vaccine này có tên thương mại là Savax và hiện vẫn đang ở giai đoạn hai của kiểm nghiệm lâm sàng nhằm kiểm tra những ảnh hưởng của nó tới khối u ở một số bộ phận cơ thể người bệnh như buồng trứng, gan…  Trong giai đoạn phát triển vaccine này, các nhà nghiên cứu đã dùng thuốc để điều trị cho một nhóm 30 bệnh nhân trong thời kỳ tiến triển của bệnh và “rất ít cơ hội sống sót”, Gerardo Guillén giám đốc nghiên cứu y sinh của CIGB, giải thích. Kết quả ban đầu là “trong năm năm sau khi dùng thuốc, các bệnh nhân không chỉ có thêm thời gian sống [so với chẩn đoán] – một số người đến nay vẫn còn sống, mà các khối u ở 4 bệnh nhân có xu hướng thu nhỏ”, Guillén nói thêm.  Bất chấp thành công của vaccine trong giai đoạn nghiên cứu này, Guillen vẫn thận trọng cho rằng những ứng dụng đầy đủ của Savax “còn có rất nhiều tham số phải được đánh giá một cách kỹ lưỡng” bởi các chuyên gia và các tổ chức chuyên môn.  Bên cạnh Savax, CIGB còn có một số sản phẩm nghiên cứu khác là Heberprot-P – một dược phẩm có khả năng điều trị vết loét trên chân người mắc bệnh tiểu đường, hiện lưu hành ở 20 quốc gia; CimaVax, một vaccine điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đang được Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park (Mỹ) thử nghiệm lâm sàng trên người bệnh nước này; Heberferon điều trị ung thư da; vacccine viêm màng não.  Trong số các sản phẩm này, CimaVax được đánh giá là sản phẩm nổi bật của KH&CN sinh học Cuba. Với tác dụng lớn của mình, từ vài năm nay, các sản phẩm của ngành công nghiệp dược và công nghệ sinh học là mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất Cuba.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: http://www.ahora.cu/en/health/2239-cuban-researchers-are-working-on-vaccine-against-solid-tumors  https://vaaju.com/venezuelaeng/cuba-develops-new-therapeutic-vaccine-against-solid-tumors-called-savax-cuba-granma/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cực Nam sao Hải vương ấm nhất      Một nhóm các nhà thiên văn quốc tế vừa phát hiện cực Nam của sao Hải vương ấm hơn nhiều so với những nơi khác trên hành tinh khoảng 100C.      Sự khác biệt này đủ để khí mêtan, có mặt ở thượng tầng khí quyển sao Hải vương ở dạng đông cứng, thoát ra nam bán cầu và bay vào vũ trụ. Một năm của Hải vương tinh dài bằng 165 năm Trái đất, còn “mùa hè” kéo dài nhiều chục năm. Điều này khiến sao Hải vương có gió mạnh nhất trong số các hành tinh thuộc Hệ mặt trời và làm cho một số khu vực luôn luôn có ánh nắng trong khi những nơi khác vĩnh viễn chìm trong bóng tối.   T.VY (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cực quang mới trên sao Thổ      Ngoài dạng cực quang như thường thấy trên Trái đất, các nhà nghiên cứu vừa phát hiện sao Thổ có một dạng cực quang khác, mờ hơn nhưng liên tục.    Loại cực quang được biết đến lâu nay ở sao Thổ có xuất xứ giống như cực quang trên Trái đất, nghĩa là phát sáng định kỳ. Chúng sinh ra khi do gió mặt trời thổi tới, va vào từ trường bao quanh hành tinh gây phát sáng ở hai cực. Song, sao Thổ có thể có một dạng cực quang khác nữa, tương tự như đã thấy trên sao Mộc. Theo các chuyên gia, nguồn gốc của nó có thể là là do bụi từ vệ tinh Enceladus của hành tinh này thổi tới. Và khi và chạm với bầu khí quyển của Thổ tinh, các hạt bụi này cũng bùng sáng, tạo nên vòng cực quang mờ ở hai cực. Vệ tinh Enceladus mỗi giây lại thổi khoảng 100 kg vật liệu vào quỹ đạo xung quanh sao Thổ, thông qua các cột hơi nước được phát hiện lần đầu vào năm 2005.  T. An  (theo NewScientist)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cúm A-H1N1 nguy hiểm hơn cúm gia cầm      Kh&#244;ng chỉ cướp đi sinh mạng của biết bao người d&#226;n Mehico, virus H1N1 c&#242;n &#8220;vượt bi&#234;n&#8221; sang Mỹ, Canada, Colombia, Brazil, Anh, T&#226;y Ban Nha, Australia, New Zealand v&#224; nhiều nước kh&#225;c nữa. Do bệnh dịch lan tr&#224;n, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (một trong những chức năng ch&#237;nh của tổ chức n&#224;y l&#224; điều phối hoạt động của 193 quốc gia th&#224;nh vi&#234;n khi xảy ra t&#236;nh trạng y tế khẩn cấp) đ&#227; li&#234;n tiếp n&#226;ng mức cảnh b&#225;o dịch: h&#244;m 27 th&#225;ng 4, mức 3 đ&#227; được n&#226;ng l&#234;n th&#224;nh mức 4 v&#224; chỉ hai ng&#224;y sau đ&#243;, mức 5 tr&#234;n tổng số 6 cấp độ cảnh b&#225;o được c&#244;ng bố. Tiến sĩ &#8211; B&#225;c sĩ Keiji Fukuda, trợ l&#253; Tổng gi&#225;m đốc WHO, cho biết thảm họa n&#224;y kh&#244;ng chừa bất cứ v&#249;ng đất n&#224;o. C&#242;n b&#224; Magaret Chan, Tổng Gi&#225;m đốc WTO, th&#236; nhấn mạnh: &#8220;Tất cả c&#225;c quốc gia cần ngay lập tức triển khai kế hoạch đối ph&#243; với dịch bệnh&#8221;.  Ph&#243;ng vi&#234;n b&#225;o Le Monde đ&#227; phỏng vấn Gi&#225;o sư Didier Raoult, hiện c&#244;ng t&#225;c tại Viện nghi&#234;n cứu c&#225;c bệnh truyền nhiễm v&#224; nhiệt đới Ph&#225;p (trụ sở ở Marseille) v&#224; l&#224; t&#225;c giả của cuốn Nouvelles Maladies infectieuses (Những căn bệnh truyền nhiễm mới) (NXB PUF).     Virus H1N1 lây truyền bằng cách nào?   Bệnh dịch lây lan qua ba giai đoạn. Ban đầu, nó bùng phát ở động vật (dịch động vật), sau đó, truyền từ động vật sang người (bệnh từ động vật truyền sang người), và cuối cùng là giai đoạn lây truyền từ người sang người.  Chưa bao giờ cúm gia cầm thực sự vượt qua giai đoạn hai. Ấy thế mà, hiện nay, cúm A-H1N1 đang phát triển ở giai đoạn ba, lây truyền từ người sang người. Vấn đề còn lại là phải xác định tỷ lệ lây truyền của loại virus này, tức mức độ lây nhiễm của cúm A-H1N1. Tính trung bình, một người mắc bệnh lây qua đường hô hấp sẽ truyền virus gây bệnh cho hai người khác. Tuy nhiên, đối với bệnh sởi, tỷ lệ ấy là 23/1, tức một người mắc sẽ lây cho hai mươi ba người khác.   Tùy theo tỷ lệ lây nhiễm, số lượng virus gây bệnh sẽ nhanh chóng gia tăng với tốc độ chóng mặt. Theo thống kê, mỗi năm trên thế giới có khoảng một tỷ người di chuyển bằng máy bay và các nhà khoa học Đức đã chứng minh được rằng trên một chuyến bay dài hơn bốn giờ, 72% số hành khách bị lây nhiễm một loại virus gây bệnh hô hấp. Năm 1957, dịch cúm châu Á, trận đại dịch cúm người xảy ra gần đây nhất, đã cướp đi sinh mạng của hai triệu người.   Chuyện gì sẽ xảy ra một khi virus biến thể?  Một khi virus biến thể, việc xác định tỷ lệ lây truyền càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Cách thức gây bệnh, sinh sản của mỗi dạng biến thể một khác. Thế nên, công tác dự báo trở nên vô cùng phức tạp. Quả thật, các mô hình dự báo hiện nay vốn dựa trên những phân tích tình hình trước đây và đã bỏ qua một yếu tố quan trọng là sự khác biệt giữa các cá thể sống. Những loại thuốc hiện có của chúng ta chỉ phát huy tác dụng khi bệnh nhân được điều trị từ rất sớm. Như vậy, tình hình sẽ thêm phần rắc rối khi con người trở thành trung gian truyền bệnh.   Làm thế nào chúng ta có thể phòng tránh những virus biến thể có khả năng lây truyền từ người sang người này?   Hiện đã có vaccine ngừa cúm thông thường và đa số mọi người đều đã miễn dịch với virus ấy. Trẻ nhỏ và người lớn tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, nhưng virus H1N1 không chừa bất cứ một ai. Nếu một ngày nào đó, biến thể virus ấy xuất hiện mà người dân chưa được tiêm vaccine phòng vệ thì đúng là thảm họa. Hiện chúng ta vẫn chưa có liệu pháp điều trị thích hợp và chưa biết được cơ chế lây truyền của những chủng virus đó.   Những nước nào có được trang thiết bị tốt nhất để phòng chống những đại dịch như thế này?   Đó là Trung Quốc. Để dập dịch SARS (hội chứng suy hô hấp cấp), nước này đã xây một bệnh viện với 600 giường cách ly và phát triển các dịch vụ chăm sóc bệnh nhân mắc nhiễm. Italia cũng có hai bệnh viện được trang bị tương tự như thế. 1     Hồ Thủy An dịch   (Theo Le Monde và tổng hợp từ Internet)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cúm gia cầm: cần bình tĩnh và lí trí      Bẵng đi một thời gian sau những hoang mang về bệnh SARS, thế giới lại hoảng hốt trước nguy cơ dịch cúm gia cầm (tiếng Anh gọi chung là bird flu). Cường độ của sự hoảng hốt đang lên cao khi mới đây người ta phát hiện gà ở một số nước bên Âu Châu cũng bị nhiễm vi-rút H5N1. Nhưng có lẽ sự hoảng hốt đó thiếu cơ sở khoa học. Có thể nói rằng vấn đề lớn nhất của công chúng hiện nay không phải là cúm gia cầm, mà là hoảng sợ cúm gia cầm.    Thực hư của vấn đề dịch cúm gia cầm phải dựa vào sự thật khoa học, chứ chắc chắn không thể tìm thấy trong các bản tin trên các hệ thống truyền thông quốc tế, dù là trích dẫn ý kiến từ các chuyên gia hay giáo sư đại học. Trước những hoang mang và bất định như trên, có lẽ chúng ta cần bình tĩnh xem qua vài sự thật khoa học để có thể nhìn vấn đề một cách hợp lí hơn.            Kiểm tra virut một con vịt trời ở Pháp -AFP          Giải mã cúm gia cầm và vi-rút  Vi-rút cũng là những sinh vật đã song hành cùng con người khá lâu trong lịch sử tiến hóa. Dựa vào tác hại, giới khoa học phân loại ba nhóm vi-rút cúm, gọi tắt là nhóm A, B và C. Các vi-rút thuộc nhóm C thường tìm thấy trong con người nhưng chúng không có tác hại lớn, ngoại trừ gây ra vài rối loạn cấp tính đường hô hấp, khả năng gây tử vong cho bệnh nhân cực thấp. Các vi-rút trong nhóm B (cũng hay thấy trong con người) có thể nguy hiểm hơn, vì thỉnh thoảng chúng có thể gây nên một nạn dịch, và nạn nhân thường là trẻ em. Các vi-rút thuộc nhóm A là đáng gờm hơn hết, bởi vì chúng có thể đột biến một cách nhanh chóng thành những vi-rút có khả năng kháng nguyên (antigenic), có nghĩa là chúng có thể tiến hóa thành những vi-rút mà hệ thống miễn nhiễm của con người không nhận ra được (và không có khả năng phòng chống).  Vi-rút đang lan tràn hiện nay là H5N1 thuộc nhóm vi-rút A. Sở dĩ có mẫu tự H và N là vì cấu trúc sinh học của vi-rút gồm có hai nhóm protein: hemagglutinin (H) và neuraminidase (N). H có 15 chi với mã danh H1 đến H15. N có 9 chi với mã danh N1 đến N9. Vi-rút H5N1 là một trong tất cả 45 vi-rút thuộc nhóm này. Vi-rút H5N1 có thể biến hóa thành vi-rút khác cùng nhóm, nhưng khả năng biến hóa đó chúng ta vẫn chưa biết ra sao.  Vi-rút thuộc chi H1, H2 và H3 đã được biết có lưu truyền trong con người từ hơn 100 năm qua, và do đó chúng ta có thuốc phòng chống chúng. Nhưng vi-rút H5 thì vẫn còn là một “kẻ thù” xa lạ đối với hệ thống miễn nhiễm của con người, và hiện nay chúng ta chưa có thuốc phòng chống cụ thể. Những thuốc như tamiflu, dù được quảng bá rộng rãi trong thời gian qua, nhưng trong thực tế chỉ chủ yếu phòng chống cúm nhóm H2 và H3, và nghiên cứu lâm sàng cho thấy hiệu quả của thuốc này – nói một cách thành thật – cũng chẳng cao.             Tiêu hủy gà bậnh tại một trang trại ở Buinaksky-Caucasus-Nga. Anh: Reuters            Ba điều kiện cho một đại dịch  Dư luận thế giới hoang mang về cúm gia cầm hiện nay, vì có người tiên đoán rằng một đại dịch sẽ xảy ra nay mai. Một số nhà khoa học (chuyên nghiệp và tài tử) lí giải rằng lịch sử cận đại cho thấy cứ trung bình 30 năm thì có một nạn cúm lớn trên thế giới (lần sau cùng một đại dịch xảy ra là vào năm 1968), và từ đó đến nay đã hơn 30 năm rồi mà một đại dịch vẫn chưa xảy ra. Có người, còn khẳng định rằng một đại dịch sẽ xảy ra nay mai, vấn đề là khi nào mà thôi. Nhưng cách lí giải này xem ra có vẻ… dị đoan. Một đại dịch có khả năng xảy ra phải có nguyên nhân và điều kiện, chứ không phải cứ theo một chu kì huyền bí nào đó.  Có ba điều kiện để một vi-rút có thể gây ra một đại dịch toàn cầu: một là vi-rút đó phải có khả năng đột biến thành một vi-rút mới; hai là vi-rút phải có khả năng tái tạo hay đột biến một khi xâm nhập vào cơ thể con người; và ba là vi-rút phải có khả năng truyền nhiễm giữa con người.   Điều kiện thứ nhất: Vi-rút này đã gây bệnh cho hàng triệu chim và gia cầm trong vùng Đông Nam Á. Thoạt đầu H5N1 gây ra vài triệu chứng không mấy nghiêm trọng cho gia cầm, nhưng sau đó vi-rút tiến hóa nhanh chóng và trở nên nguy hiểm hơn và tỉ lệ tử vong trong gà bị nhiễm lên đến 100%! Cũng có khả năng vi-rút H5N1 lây truyền từ gia cầm sang người, nhất là những người trực tiếp tiếp xúc với gia cầm. Đại đa số nạn nhân chết vì bị nhiễm (hay nghi ngờ bị nhiễm) vi-rút H5N1 thường là những nông dân trong các nông trại hay thường xuyên đụng chạm với gà vịt hàng ngày. Cũng cần nhắc lại rằng nạn dịch năm 1918 ở Tây Ban Nha cho thấy vi-rút H1N1 cũng bắt đầu nhiễm gia cầm và từ đó lây truyền sang con người.  Điều kiện thứ hai: Hiện nay chúng ta đã có bằng chứng sơ khởi cho thấy vi-rút H5N1 gây tử vong cho con người. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, cho đến nay, đã có 117 trường hợp bệnh nhân bị nhiễm vi-rút H5N1, và trong số này 60 người đã không may chết vì tiếp xúc (hay tình nghi có tiếp xúc) với vi-rút. Tuy số liệu trên cho thấy nguy cơ tử vong từ vi-rút H5N1 khá cao, nhưng trong thực tế nguy cơ có lẽ thấp hơn nhiều, bởi vì có thể có nhiều trường hợp tử vong vì vi khuẩn và thiếu thuốc kháng sinh (chứ không phải do H5N1 trực tiếp gây ra), và cũng không thể loại trừ khả năng có nhiều trường hợp bị nhiễm nhẹ nhưng không được báo cáo.  Điều kiện thứ ba: Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có bằng chứng gì cho thấy vi-rút H5N1 truyền từ người sang người. Các chuyên gia bệnh truyền nhiễm vẫn chưa thể kết luận gì về nguy cơ truyền nhiễm giữa con người có xảy ra hay không, và nếu xảy ra thì tần suất sẽ là bao nhiêu. Cho đến nay (tháng 2 năm 2006), sau khi thẩm định tình hình mới nhất ở Thổ Nhĩ Kì, ngay cả WHO cũng tuyên bố rằng “Sau khi nghiên cứu sự bộc phát ở các nước trên thế giới, các chuyên gia chưa ghi nhận một bằng chứng nào cho thấy vi-rút có khả năng truyền từ người sang người”.  Nói tóm lại, trong 3 điều kiện cho một nạn dịch lớn, vi-rút H5N1 đã hội đủ 1,5 điều kiện. Do đó, các chuyên gia hàng đầu về bệnh truyền nhiễm nhấn mạnh rằng một nạn dịch H5N1 sẽ khó có khả năng xảy ra trong năm nay và họ cũng nhất trí rằng một cơn đại dịch xảy ra vào năm tới là chưa có cơ sở.    Ngừa bệnh hơn chữa bệnh  Tuy khả năng về một cơn đại dịch xảy ra rất thấp, nhưng trong thực tế, không ai có thể tiên đoán chính xác được tương lai. Và sự thật về khả năng đột biến của H5N1 là một mối quan tâm lớn. Có thể nghĩ đến ba tình huống trong tương lai: một là H5N1 sẽ tiến hóa (hay đột biến) để có khả năng lan truyền từ người sang người qua hòa nhập với các vi-rút khác trong con người; hai là qua đường truyền nhiễm (khi con người bị bệnh truyền nhiễm, vi-rút H5N1 có thể đột biến để thích nghi với cơ thể con người); và ba là H5N1 có thể trở nên trung hòa với cơ thể con người. Trong ba tình huống, vi-rút H5N1 đều có thể trở nên một tác nhân gây bệnh nguy hiểm. Đứng trên quan điểm y tế công cộng, phòng bệnh vẫn hơn là chữa bệnh. Vì thế một số chiến lược cần phải được đề ra và thảo luận:  Thứ nhất là vắc-xin. Bản chất của cúm gia cầm là truyền nhiễm. Do đó, vắc-xin là một biện pháp hàng đầu và hữu hiệu nhất ở mức độ cộng đồng. Trong quá khứ, chính vì thiếu vắc-xin, cho nên con số tử vong vì các nạn dịch lên đến hàng triệu. Tuần vừa qua, các nhà khoa học Việt Nam tuyên bố đã sản xuất thành công vắc-xin phòng chống H5N1, và đó là một tin mừng, một phát triển rất tích cực. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực theo chiều hướng phòng ngừa bằng vắc-xin, và đó là một hướng đi hoàn toàn hợp lí. Và nên tập trung công tác vắcxin phòng ngừa ở các đối tượng có nguy cơ cao như trẻ em và người có tuổi.  Thứ hai là tăng cường trữ lượng thuốc chống vi-rút. Hiện nay, có hai loại thuốc được xem là có khả năng phòng chống vi-rút hữu hiệu: đó là M2 ion channel blockers (tức amatadine và rimantadine) có hiệu năng ngăn chặn hoạt động protein M2 trong hầu hết vi-rút cúm, và NA inhibitors (như zanamivir và oseltamivir) thì có hiệu năng làm vô hiệu hóa khả năng tái biến của vi-rút cúm trong khi bệnh nhân bị bệnh truyền nhiễm. Qua đó làm cho vi-rút không có cơ hội xâm nhập vào các tế bào khác của cơ thể.    Thứ ba là cần phải tăng cường truy tìm các trường hợp bị nhiễm vi-rút H5N1. Một biện pháp có lẽ hữu hiệu nhất là phát hiện bệnh nhân kịp thời để cách ly bệnh nhân trước khi lan truyền sang người khác.  Theo tôi, nên phát động một chương trình thử nghiệm nước bọt hay thử máu của các bệnh nhân có những triệu chứng liên quan đến nhiễm vi-rút cúm tại tất cả các bệnh viện trong cả nước.   Thứ tư là tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là các nước có kinh nghiệm về phòng chống dịch cúm như Thụy Sĩ, Úc, Mĩ và Pháp.           Vacxin H5N1 đang được thử nghiệm tại nhiều nước trong đó có của công ty Omninvest-Hungary. Anh: Reuters            Không nên hoảng hốt!  Tiên đoán một cơn đại dịch sẽ xảy ra nay mai với hàng trăm triệu người chết là một tiên đoán quá vội vàng và thiếu cơ sở khoa học, bởi vì không ai biết trước nạn dịch sẽ bùng phát hay được khống chế như thế nào; không ai biết được có bao nhiêu người bị ảnh hưởng. Việc so sánh về khả năng dịch cúm gia cầm H5N1 với nạn dịch năm 1918 ở Tây Ban Nha có vẻ gượng ép vì không đúng chỗ. Vào thời đó (1918) Âu Châu đang bị suy yếu kinh tế sau 4 năm chiến tranh, và việc phát triển các phương tiện cấp cứu cũng như vắc-xin chống cúm rất hạn chế. Còn ngày nay, y học thế kỉ 21 đã tiến bộ rất nhiều và khoa học có khả năng giải mã cấu trúc di truyền của vi-rút, có thể sản xuất vắc-xin phòng chống cúm ở qui mô lớn. Xin nói rõ hơn rằng nguy cơ hay xác suất mà con người bị nhiễm vi-rút H5N1 cực kì thấp. Phần lớn những trường hợp bị nhiễm vi-rút này là những người thường tiếp xúc, va chạm với các mô bị nhiễm như gia cầm chết, máu, hay phân của gia cầm. Cần phải nhấn mạnh rằng một khi thịt gà, vịt hay heo đã được nấu chín thì nguy cơ bị nhiễm cúm gia cầm cực thấp nếu không muốn nói là không có.  Trường hợp bệnh SARS là một ví dụ gần nhất nhưng mang tính cổ điển nhất. Khi bệnh SARS được phát hiện vào năm ngoái, WHO và một số chính phủ Tây phương tiên đoán sẽ có hàng triệu người chết và nền kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng cho đến nay, thống kê cho thấy chưa đến 800 người không may bị chết trong số 8.400 người bị bệnh SARS. Mất mát này không thể nói là một đại dịch.   Cúm gia cầm chưa phải là một vấn nạn, bởi vì so với các cúm khác thì nó chỉ là một vấn đề nhỏ. Mỗi năm có khoảng 250.000 đến 500.000 người chết vì bệnh cúm trên thế giới; khoảng 1 đến 2,7 triệu người, phần lớn ở Phi Châu, chết vì bệnh sốt rét; ngay cả bệnh lao vẫn còn giết chết gần 2 triệu người hàng năm, và 98% những người chết vì lao sống trong các nước đang phát triển; tai nạn giao thông (kể cả tai nạn xe tàu) giết chết 300.000 người Á Châu hàng năm… Đặt vấn đề “cúm gia cầm” trong bối cảnh như thế, chúng ta dễ dàng nhận thức còn nhiều vấn đề lớn và nghiêm trọng khác hơn.  Vi-rút và bệnh tật đã, đang và sẽ tồn tại cùng chúng ta trong cuộc sống; chúng ta không có cách nào loại trừ chúng hoàn toàn. Vấn đề không phải là tìm cách loại trừ chúng (vì không thể làm được) mà phải học cách sống với chúng một cách sáng suốt và có lí trí. Nhận thức về những rủi ro như dịch cúm gia cầm là một điều cần thiết nhưng là để tránh những điều không nên làm chứ không phải để hốt hoảng.   Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cung chờ cầu      Có một nhận xét bên lề phiên chợ công nghệ và thiết bị cấp quốc gia năm nay, đại ý: gần 10% là mới (chưa phân tích giá trị ứng dụng thực tiễn), trên 15% là cải tiến công nghệ cũ. Số còn lại đều là những công nghệ và thiết bị đã từng “bày” nhiều lần ở các Techmart trước.  Không biết nhận xét đó có xác đáng không.    Đi chợ tìm ý tưởng  Đối với nhiều doanh nghiệp, Techmart Vietnam 2007 có một lý do để hấp dẫn họ: đó là nơi có thể giúp họ nảy sinh những ý tưởng mới mà nếu không đến đây chưa chắc họ đã nghĩ ra.  Giám đốc Công ty TNHH Kỹ thuật Việt Nam, ông Lê Văn Đức nói rằng ban đầu ông tham gia Techmart với tư cách là cung cấp các công nghệ do chính mình chào mời. Nhưng khi trực tiếp có mặt ở chợ, kể cả ở kỳ Techmart hai năm trước, ông chợt nhận ra rằng ở đó đã cho mình nhiều điều, nhiều câu trả lời hay ít ra cũng là những gợi ý. Nói cách khác, nếu gặp may, những người nghiên cứu khoa học đến chợ và sau đó thì tóm được những ý tưởng “tâm đầu ý hợp” đến mức có thể giải quyết được những bế tắc đối với một công trình đang ấp ủ nào đó, kể cả những ý tưởng về ứng dụng hoặc chuyển giao như thế nào cho mới hơn, hiệu quả hơn.  Câu chuyện về bộ ổn áp tiết kiệm xăng nhãn hiệu Dragon do Đài Loan sản xuất có mặt tại Techmart Vietnam 2007 có thể minh họa cho ý kiến của ông Đức. Sản phẩm nằm lọt trong bàn tay này được giới thiệu là có tác dụng chính là khống chế nguồn nhằm ổn định hệ thống điện xe, làm cho các xú – páp và hộp số nhạy bén hơn dẫn đến tiết kiệm 20% nhiên liệu. Có hai câu hỏi đặt ra. Thứ nhất, nếu sự có mặt của Dragon là hợp lý thì công nghiệp ô tô có thể bị đe dọa đến doanh thu bán hàng. Thứ hai, nếu Dragon chỉ đơn giản là sản phẩm được thổi phồng để phục vụ lợi ích thương mại, thì ý tưởng của nó vẫn không phải tồi, và “bài toán” để duy trì chất lượng, hiệu suất vận hành của một sản phẩm động cơ với một cái giá phải chăng vẫn đang chờ các nhà sáng chế ở phía trước.  Có bao nhiêu người như ông Đức, đến Techmart với hy vọng tìm kiếm gợi ý cho những sáng tạo công nghệ mới của mình trong tương lai? Điều này thì cả những người tổ chức gian hàng cũng không trả lời được. Có những gian hàng cả ngày chẳng có khách viếng thăm.  Chợ mới hàng cũ              Dây chuyền giết mổ gia cầm công suất 500 con/giờ của Khoa Cơ khí công nghệ (ĐH Nông Lâm- TPHCM)          Trước khi khai mạc Techmart Vietnam 2007, Bộ KH&CN đã xét chọn và quyết định hỗ trợ kinh phí ăn, ở, đi lại, vận chuyển thiết bị, dây chuyền mẫu, mặt bằng gian hàng cho 16 nhà sáng chế là công nhân, nông dân và người lao động có cải tiến, sáng tạo ra các công nghệ, thiết bị giải quyết được một số vấn đề thực tế nảy sinh trong lao động sản xuất tại địa phương. Danh sách này do Sở KH&CN các tỉnh, thành phố đề nghị và được các phương tiện thông tin đại chúng phát hiện giới thiệu trong nhiều năm qua. Tiêu chí để lựa chọn nhà sáng chế quần chúng là người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học, có những sản phẩm công nghệ, thiết bị đã được xã hội chấp nhận. Một số sản phẩm đáng chú ý như: máy tuốt hồ tiêu công suất 700kg/giờ; máy tách hạt ngô công suất 250-300 kg/giờ; máy cắt, đập liên hợp, hoạt động trên tất cả các địa hình ruộng nước, năng suất cao gấp 40 lần so với lao động chân tay… đã không còn là những sản phẩm mới trên thị trường.  Thiết bị cuộn gạc dẫn lưu, một sản phẩm của Cty Cổ phần y tế Danameco, dành cho yêu cầu cải tiến chất lượng các ca phẫu thuật. Trong khi sản phẩm gạc dẫn lưu của nước ngoài có giá thành rất đắt thì chiếc máy này, giá chỉ khoảng 3 triệu đồng nhưng hiệu quả lại gấp 10 lần so với thao tác thủ công, là một trong những minh họa điển hình về đặc điểm của các sản phẩm được trình diễn tại Techmart Vietnam 2007: công nghệ mới chỉ tốn công nghiên cứu chứ chưa hẳn đòi hỏi nhiều về kinh phí đầu tư. Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Danameco, ông Nguyễn Văn Hoa cho biết: quan điểm của công ty là luôn đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn cao nhưng có giá thành hạ. Rất hiệu quả, và rất thực tế. Tuy nhiên rất lạ là ở trang web của đơn vị này hoàn toàn không xuất hiện bất cứ thông tin nào liên quan đến sản phẩm này.  Có phải vì vẫn còn những doanh nghiệp chưa tận dụng Internet nên những phiên chợ như thế này có lý do để họp? Không hẳn như vậy. Trưởng phòng Tiếp thị bán hàng của Trung tâm Viễn thông quốc tế khu vực 3, ông Nguyễn Quang Sĩ cho rằng mỗi kênh thông tin có những ưu điểm khác nhau. Còn Giám đốc Công ty Sông Thu (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng), đại tá Hà Sơn Hải thì cho rằng có chợ thì chúng ta có thể nhìn được, sờ được và người ta giới thiệu cho chúng ta rất rõ ràng. Cho nên chợ vẫn là cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp quan tâm đến công nghệ.    Có cần tính toán lại hiệu quả?   Ông Tạ Bá Hưng, Giám đốc Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia, Phó ban thường trực ban tổ chức Techmart Vietnam 2007 cho biết: Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên đã phối hợp hỗ trợ cho các viện, các trường, các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được nhu cầu cần mua công nghệ và thiết bị ở các địa phương này, theo cái cách mà họ sẽ toàn quyền chọn lựa những gì phù hợp với điều kiện thực tế của miền Trung. Còn người cung cấp cũng chú trọng đến “chất” hơn.  So với lần trước (tổ chức ở TP.Hồ Chí Minh), Techmart Vietnam 2007 giảm gần 60 đơn vị tham gia, số lượng gian hàng cũng ít hơn so với lần trước gần 170 gian hàng. Trong khi đó số lượng các đơn vị nước ngoài tham gia hội chợ lại tăng gần gấp đôi, chủ yếu từ các doanh nghiệp Trung Quốc.  Để phục vụ Techmart Vietnam 2007, cuối tháng 7/2007 Sở KH&CN TP.HCM đã tổ chức chuyến khảo sát thực tế tại một số tỉnh miền Trung (Đà Nẵng, Phú Yên và Quảng Nam) về việc tìm hiểu nhu cầu công nghệ và thiết bị của các đơn vị, doanh nghiệp. Kết quả qua khảo sát đã tập hợp 251 công nghệ, thiết bị có nhu cầu, trong đó thành phố Đà Nẵng là chủ yếu với 227 đơn đặt hàng. Con số này là nhiều hay ít? Nhiều một cách đáng ngạc nhiên đối với một nền công nghiệp gia công của một địa phương như Đà Nẵng. Nhưng lại quá ít so với một số địa phương phía Nam trong kỳ hội chợ trước.  Ví dụ trên vừa phản ảnh một phần nhu cầu và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật ở mỗi vùng miền, vừa cho thấy còn một khoảng cách không nhỏ trong quan hệ giữa “3 nhà” (khoa học, quản lý và sản xuất).    Những dấu ấn Techmart Vietnam 2007  * Tại Techmart Vietnam 2007 đã có gần 1.000 bản ghi nhớ và hợp đồng được ký kết, trong đó có 235 bản ghi nhớ và hợp đồng được ký kết chính thức với tổng trị giá gần 700 tỷ đồng. Ngay trong ngày đầu tiên hợp đồng giữa Xí nghiệp cơ khí Quang Trung (Ninh Bình) với Công ty Công nghệ thông tin Nha Trang để cung cấp nhóm thiết bị nâng hạ (01 cẩu chân đế 120 tấn, Lk=10,5m, tầm với 15 – 55m) trị giá 108,7 tỷ đồng đã tạo nên những hiệu ứng tích cực.  * Gây ấn tượng nhất là hợp đồng trọn gói Trung tâm phay CNC 3 (trục ký hiệu BKMECH-VMC65) của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho Tập đoàn Rorze Robotech (Nhật Bản) trị giá 150.000 USD. Đây là hệ thống dây chuyền phục vụ gia công các sản phẩm công nghiệp với số lượng lớn, có yêu cầu độ chính xác và tự động hóa cao. Cũng cần nói thêm Rorze Robotech là một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về sản xuất robot dành cho công nghiệp điện tử. Giá thành của Trung tâm phay CNC 3 chỉ bằng 60 – 80% so với hàng ngoại nhập nhưng chất lượng tương đương. Hiện mỗi năm VN có nhu cầu nhập khẩu khoảng 1,5 tỷ USD các máy móc, thiết bị CNC có tính năng tương tự nên triển vọng đối với sản phẩm này rất lớn.  *Liên quan đến những thành tựu được ghi nhận tại Techmart Vietnam 2007, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trao bằng khen cho 27 đơn vị có đóng góp tích cực cho thành công của Techmart VN 2007, 17 đơn vị và 12 cá nhân là những “tác giả chân đất” có sản phẩm tiêu biểu. Ban tổ chức đã trao Cúp vàng Techmart VN 2007 cho 72/167 công nghệ, thiết bị thuộc các lĩnh vực cơ khí chế tạo máy, tự động hóa, nông nghiệp – thuỷ sản, y tế – dược và hóa chất – vật liệu – môi trường tham gia xét thưởng.  Sinh viên Đà Nẵng quan tâm sản phẩm máy tra cứu thông tin của Khoa CN-TT (ĐH Duy Tân).    Đỗ Phước Tiến      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc cách mạng về dữ liệu hành vi trong khoa học xã hội      Khoa học xã hội chia ra làm hai nửa: khoa học xã hội truyền thống và khoa học xã hội tính toán. Phe nào sẽ được vinh danh trên ‘đại lộ danh vọng’ của ngành khoa học này?      Các nhà khoa học nghiên cứu dữ liệu từ hàng ngàn người sử dụng mạng xã hội để phân tích các nhóm có hành vi cực đoan. Nguồn: Minzhang Zheng và Neil Johnson  Sau gần một thập kỷ miệt mài trên con đường trở thành một nhà xã hội học thực thụ, bỗng ngày nọ khi đang thực hiện một dự án, Elizaveta Sivak – đang làm việc tại Trường Kinh tế Cao cấp trực thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc gia ở Moscow, chuyên nghiên cứu về gia đình và thời thơ ấu – nhận ra rằng còn rất nhiều điều mà cô cần phải học.     Vào năm 2015, cô đã tiến hành nghiên cứu các hoạt động của thanh thiếu niên bằng cách thực hiện một loạt các cuộc phỏng vấn yêu cầu họ kể tên mười địa điểm mà họ đã đến trong năm ngày qua. Một năm sau, dù đã phân tích xong dữ liệu nhưng cô vẫn cảm thấy khá thất vọng vì kết quả chỉ dựa trên cơ sở các cuộc phỏng vấn riêng lẻ. Khi người đồng nghiệp cho Sivak xem một bài báo phân tích dữ liệu từ Copenhagen Networks Study – một dự án đột phá theo dõi các mối liên hệ trên mạng xã hội, nhân khẩu học và vị trí của khoảng 1.000 sinh viên, với thời gian cập nhật phân tích là 5 phút một lần, trong suốt năm tháng. Khoảnh khắc ấy, cô biết rằng lĩnh vực nghiên cứu của mình sắp rẽ sang một hướng mới. “Tôi nhận ra rằng những kiểu dữ liệu mới này sẽ cách mạng hóa ngành khoa học xã hội mãi mãi. Và tôi nghĩ điều đó thật tuyệt”.  Sau đó, Sivak quyết định học lập trình, và tham gia vào “cuộc cách mạng”. Giờ đây, cô và các nhà khoa học xã hội tính toán khác đang khảo sát các tập dữ liệu khổng lồ và phức tạp, rút ra ý nghĩa từ những hoạt động trên nền tảng số của xã hội. Họ đang theo dõi các hoạt động  trực tuyến của mọi người; khảo sát sách và tài liệu lịch sử đã được số hóa; diễn giải dữ liệu từ các thiết bị cảm biến gắn trên người để ghi lại mọi bước đi và liên hệ của một cá nhân; thực hiện các cuộc khảo sát và thử nghiệm trực tuyến nhằm thu thập hàng triệu điểm dữ liệu; và thăm dò các cơ sở dữ liệu đồ sộ đến mức chúng có thể tiết lộ những bí mật to lớn của xã hội – chỉ bằng sự trợ giúp của các phép phân tích dữ liệu đầy tinh vi.   Những năm qua, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật này để phản biện các chủ đề mà các nhà khoa học xã hội đã theo đuổi trong hơn một thế kỷ: từ nền tảng tâm lý của đạo đức con người, ảnh hưởng của thông tin sai lệch, đến các yếu tố làm nên thành công của một người nghệ sĩ. Ngoài ra, một nghiên cứu đã phát hiện ra tình trạng phân biệt chủng tộc trong các thuật toán thông báo các quyết định chăm sóc sức khỏe; một nghiên cứu khác thì sử dụng dữ liệu điện thoại di động để lập bản đồ các vùng quê nghèo khó ở Rwanda.   Markus Strohmaier, nhà khoa học xã hội tính toán tại Đại học Kỹ thuật Rhine-Westphalia Aachen ở Đức cho biết: “Thành tựu lớn nhất là các nhà khoa học đã thay đổi suy nghĩ của mình về dữ liệu hành vi kỹ thuật số và bắt đầu nhìn nhận nó như một nguồn dữ liệu thú vị và hữu ích”.  Nhưng không phải ai cũng chấp nhận sự thay đổi này. Một số nhà khoa học xã hội lo ngại các nhà khoa học máy tính đang quá tham vọng, họ vội vã tràn vào lĩnh vực này dù những bộ dữ liệu lớn của họ vẫn chưa thực sự tương hợp với các nghiên cứu trước đó. Một số người thì phàn nàn rằng các nhà nghiên cứu tính toán chỉ xem xét mẫu mà bỏ quên nguyên nhân, hoặc họ đưa ra kết luận khá mau chóng từ nguồn dữ liệu không đầy đủ và lộn xộn – thường thu được từ các nền tảng truyền thông xã hội và các nguồn dữ liệu bẩn khác.    Dữ liệu từ điện thoại di động cho thấy con người liên quan đến các mẫu hình dự đoán chuyển động. Nguồn: Kevin Frayer/Getty  Mặt khác, một số nhà khoa học xã hội tính toán đến từ các lĩnh vực như vật lý và kỹ thuật cho rằng nhiều lý thuyết khoa học xã hội quá viển vông hoặc không thể kiểm chứng. Marc Keuschnigg, nhà xã hội học phân tích tại Đại học Linköping ở Norrköping, Thụy Điển, cho biết tất cả những luồng tranh cãi này giống như “một cuộc tranh giành quyền lực giữa hai phe phái. Kẻ chiến thắng cuối cùng sẽ được vinh danh trên ‘đại lộ danh vọng’ của ngành khoa học xã hội”.  Nhưng hai phe rốt cục cũng hòa hoãn. Keuschnigg chia sẻ “Sự giao thoa của khoa học xã hội tính toán với khoa học xã hội truyền thống là không thể phủ nhận”, ông chỉ ra sự bùng nổ của nó trên các tạp chí, hội nghị và chương trình học. “Họ cũng bắt đầu tôn trọng nhau hơn”.   Cuộc cách mạng tính toán  Năm 2007, một nhóm nhỏ các nhà khoa học đầy tham vọng đã triệu tập một cuộc họp để thảo luận về nghệ thuật thu thập dữ liệu khoa học xã hội. Họ muốn sử dụng các kỹ năng của mình hòng thay đổi thế giới. Trong buổi nói chuyện, nhà chính trị học Gary King tại Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, cho rằng một lượng lớn thông tin kỹ thuật số “sẽ giúp bạn có thể hiểu sâu hơn về xã hội, và cuối cùng là giải quyết – thực sự giải quyết – những vấn đề to lớn liên quan đến hạnh phúc con người”.        “Thành tựu lớn nhất là các nhà khoa học đã thay đổi suy nghĩ của mình về dữ liệu hành vi kỹ thuật số và bắt đầu nhìn nhận nó như một nguồn dữ liệu thú vị và hữu ích”. (Markus Strohmaier, nhà khoa học xã hội tính toán tại Đại học Kỹ thuật Rhine-Westphalia Aachen).      Sau đó, các tạp chí lớn đã xuất bản một loạt các nghiên cứu khoa học xã hội tính toán. Một nghiên cứu từ năm 2006 đã xem xét cách xã hội ảnh hưởng đến sự phổ biến của một bài nhạc bằng việc tạo ra một thị trường âm nhạc trực tuyến nhân tạo có 14.341 người sử dụng. Những người tham gia đã tải xuống các bài nhạc – mà không phải lúc nào cũng được biết trước rằng bài nhạc đó có nổi tiếng hay không. Nghiên cứu cho thấy mức độ phổ biến của một bài hát trở nên khó dự đoán hơn khi hành vi của người dùng bị ảnh hưởng bởi hành vi của những người khác, điều này phần nào giải thích cho lý do vì sao các nhà sản xuất khó có thể dự đoán trước thành công của một bài nhạc.   Hai năm sau, một nghiên cứu đã phân tích sự di chuyển của 100.000 người dùng điện thoại di động trong vòng sáu tháng và phát hiện ra rằng khá dễ để dự đoán xu hướng đi du lịch của mọi người. Các tác giả có thể tính toán khả năng tìm thấy một cá nhân ở bất kỳ địa điểm cụ thể nào, họ cho rằng việc xác định những điểm tương đồng trong các mô hình đi lại trong cộng đồng có thể là một nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quy hoạch đô thị, đồng thời giúp chúng ta hiểu được sự lây lan của dịch bệnh hoặc chuẩn bị cho các trường hợp khẩn cấp.  Cùng năm đó, một bài báo trên tạp chí công nghệ Wired cho rằng, kỷ nguyên dữ liệu lớn sẽ đánh dấu hồi kết của lý thuyết trong các ngành khoa học. Mặc dù bị nhiều người chỉ trích là bài báo đang làm quá lên, nhưng nó thực sự gây chấn động: hơn một thập kỷ sau, các nhà khoa học xã hội vẫn liên tục đề cập đến bài báo trên Wired như một tín hiệu cho thấy các lý thuyết khoa học xã hội đang bị tấn công.    Nhưng dữ liệu lớn vẫn tiếp tục phát triển. Đối với Duncan Watts, nhà xã hội học tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia, những thay đổi trong khoa học xã hội gợi nhớ đến những gì đã xảy ra trong ngành sinh học vào những năm 1990, khi công nghệ bắt đầu tạo ra hàng loạt dữ liệu về trình tự DNA và biểu hiện gene. “Dữ liệu mới ào ạt như thác đổ, đòi hỏi chúng tôi phải nhìn nhận về dữ liệu theo một cách rất khác”.   Nhưng các nhà khoa học xã hội truyền thống tỏ ra không mấy ấn tượng trước thành quả ban đầu của cuộc cách mạng. Họ coi các nghiên cứu về mạng xã hội là những thí nghiệm được thực hiện trên hàng nghìn người – mà những người ấy không hay biết rằng mình là ‘vật thí nghiệm’. Vào năm 2018, công ty tư vấn Cambridge Analytica của Anh bị cáo buộc đã thu thập dữ liệu từ hàng triệu tài khoản Facebook mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Sau vụ bê bối, mọi người tỏ ra ngờ vực các nghiên cứu trên mạng xã hội, thậm chí nhiều dự án đã vấp phải khó khăn khi các nền tảng đưa ra những chính sách bảo mật mới.  Mặt trái của thuật toán  Những nghiên cứu ban đầu về các vấn đề phức tạp đã làm nảy ra những câu hỏi là phương pháp tiếp cận mới này có thể thấy câu trả lời từ dữ liệu nhưng chắc gì đã giải quyết được những vấn đề cơ bản và tồn tại đã lâu của khoa học xã hội như vấn đề bất bình đẳng hoặc ảnh hưởng của quan điểm xã hội. “Tôi nghĩ là các nhà khoa học xã hội không quan tâm lắm đến nhiều nghiên cứu về mạng Twitter ở thời điểm bắt”, Claudia Wagner, một nhà khoa học xã hội tính toán tại Viện nghiên cứu KHXH GESIS Leibniz, Đức, nói.    Một nhà trị liệu ở Mỹ đang kiểm tra phổi của bệnh nhân. Một thuật toán thiên kiến đã đưa ra khuyến nghị về chính sách y tế trên nhiều nhóm bệnh nhân. Nguồn: Alexandra Hootnick/NYT/Redux/eyevine  Một số người cho rằng, ít nhất những nghiên cứu đó là sản phẩm của một lĩnh vực mới nổi đang tìm cách định vị mình trong thế giới khoa học. Khi các phân tích trở nên phức tạp và các nguồn dữ liệu trở nên đa dạng hơn, lĩnh vực này đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng như gốc rễ của phân biệt đối xử, bất bình đẳng và cực đoan hóa, Strohmaier nói. “Hiện tại thì chúng tôi mới có được loại dữ liệu mình cần để làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề lớn”, ông cho biết.  Ví dụ, năm ngoái, các nhà nghiên cứu về y tế công cộng và kinh tế học hành vi đã sử dụng bệnh án của hơn 50.000 bệnh nhân trong hệ thống y tế Hoa Kỳ để kiểm tra ngược một thuật toán phân tích, vốn được dùng để đưa ra khuyến nghị nên giám sát và can thiệp sức khỏe thêm đối với một số người. Họ đã dùng mô hình để chỉ ra là thuật toán này có xu hướng phân biệt đối xử một cách có hệ thống đối với người da đen, và do đó có thể ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe của hàng triệu người. Sau đó, các nhà nghiên cứu sử dụng hiểu biết này để tìm ra nguồn gốc của sự thiên vị đó và đề xuất các cách loại bỏ nó. Ví dụ, các thuật toán không nên căn cứ vào số tiền chi cho việc chăm sóc sức khỏe của một cá nhân là yếu tố để đánh giá mức độ chăm sóc mà họ cần vì khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe không bình đẳng bởi người Mỹ da đen thường chi ít tiền hơn so với người Mỹ da trắng, ngay cả khi họ có cùng nhu cầu chăm sóc sức khỏe.  Nhưng đây không phải là thách thức duy nhất: các nhà khoa học xã hội tính toán từ ngành vật lý hoặc khoa học máy tính nhảy sang thường bị cho là không tìm hiểu các lý thuyết khoa học xã hội giải thích về hành vi của con người. Giulia Andrighetto, từng là một triết gia nhưng hiện là nhà khoa học xã hội tính toán tại Viện Khoa học Nhận thức và Công nghệ (Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Ý ở Rome), cho biết: “Họ có mẫu hành vi để phân tích nhưng thường thì họ không tìm hiểu cơ chế làm phát sinh những hành vi đó.”   Để làm được công việc đó đòi hỏi nhà khoa học phải nắm chắc lý thuyết khoa học – xã hội. Jisun An, nhà khoa học xã hội tính toán tại Đại học Hamad Bin Khalifa ở Doha, tiến hành nghiên cứu về hành vi chia sẻ tin tức trên mạng xã hội ngay khi phong trào khoa học xã hội tính toán bắt đầu nở rộ. Lúc đầu, cô chỉ làm việc với các nhà khoa học máy tính khác, và họ phải vật lộn để xoay sở với các lý thuyết khoa học xã hội khác nhau. Giờ đây, cô hợp tác với các nhà chính trị học để nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đối với dư luận – và ngược lại – cũng như cách khuyến khích mọi người tăng cường sự đa dạng cho các nguồn tin tức. “Theo thời gian, mỗi bên rồi cũng sẽ thấu hiểu về ngôn ngữ và phương pháp của nhau”, An cho biết.  Đã có những dấu hiệu cụ thể về cú bắt tay này. Các nhà khoa học đang lên kế hoạch tổ chức hội nghị lớn đầu tiên kết hợp hai phương pháp tiếp cận vào năm 2021. Các trường đại học cũng đang mở ra những cơ sở nghiên cứu tập hợp thành viên từ các bộ phận khác nhau để thu hẹp dần khoảng cách, thậm chí Đại học George Mason ở Fairfax, Virginia đã thành lập một khoa riêng. Trại hè dành cho khoa học xã hội tính toán đã diễn ra tại hơn 30 địa điểm trên khắp thế giới, và một nhóm sinh viên trẻ nhiệt tình đã mang lại hy vọng rằng cuộc “đấu tranh” giờ đây sẽ nhường chỗ cho những hợp tác nghiên cứu đa dạng.  Những mâu thuẫn của hai cách tiếp cận   Hai cách tiếp cận này có thể sẽ kết hợp vô cùng hiệu quả. Nhà khoa học dữ liệu Joshua Blumenstock tại Đại học Washington ở Seattle đã cùng các cộng sự sử dụng dữ liệu điện thoại di động của hàng triệu người ở Rwanda để suy ra tình trạng kinh tế xã hội của họ, sau đó xác nhận kết quả bằng cách so sánh chúng với dữ liệu được thu thập bằng các cuộc khảo sát thông thường. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng kết quả để đề xuất những vùng nghèo của đất nước cần được hưởng chính sách mới của chính phủ, hoặc để theo dõi tác động của các chính sách đã được ban hành.  Nhưng rõ ràng ở đây thiếu vắng sự liên kết giữa hai cách tiếp cận. Dẫn chứng một nghiên cứu được công bố vào năm ngoái về một mạng lưới các nhóm đối đầu trực tuyến trên nền tảng Facebook và Vkontakte, Joan Donovan, nhà khoa học xã hội tại Harvard, nói, các nhà vật lý và nhà khoa học máy tính thực hiện nghiên cứu không trích dẫn được các nghiên cứu khoa học xã hội quan trọng, do đó những lý giải cho phát hiện của họ không phong phú như mong muốn. Họ cũng đã khảo sát quá ít nền tảng truyền thông xã hội trong khi các nghiên cứu trước đây cho thấy, các nhóm đối đầu theo dõi những nhà lãnh đạo uy tín trên nhiều nền tảng. Từ đó, họ đưa ra một kết luận nguy hiểm: các nền tảng mạng xã hội có thể đã cố định hướng cuộc thảo luận trong các nhóm đối đầu, chẳng hạn bằng cách tạo tài khoản giả hoặc điều khiển nội dung tranh luận giữa các nhóm. Điều này có thể phản tác dụng nếu tăng khối lượng thảo luận trong nhóm và tăng thứ hạng của nhóm bằng các thuật toán tìm kiếm. Cô nghĩ rằng đáng lý nên kiểm tra sự lan truyền của các thông điệp đối đầu bằng cách để các công cụ tìm kiếm hạn chế khả năng hiển thị của các nhóm như vậy.  Nhà vật lý Neil Johnson thuộc Đại học George Washington ở Washington DC, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu về các nhóm đối đầu trên, đã quen với chỉ trích từ các nhà khoa học xã hội. Ông nói rằng mình đã trích dẫn các tài liệu tham khảo có liên quan và phù hợp, còn với các thuật toán tìm kiếm thì các công ty truyền thông xã hội có quyền thao túng chúng. “Đây chính là điều mà họ đang làm để ngăn chặn sự phổ biến của các trang và nhóm thông tin sai lệch về anti-vaccine và Covid-19,” ông nói. Nghiên cứu về thông tin sai lệch, xung đột và chủ nghĩa cực đoan, ông vẫn thường nhận được những lời khiếu nại mỗi khi xuất bản một bài báo có chất lượng. Tuy nhiên ông cũng thường được các tổ chức mời làm cố vấn bởi họ thích kết quả nghiên cứu có định lượng và năng lực mô hình hóa hiệu quả những can thiệp về chính sách.   Johnson không phải là người duy nhất hoài nghi về tầm quan trọng của lý thuyết đối với các nghiên cứu kiểu như thế này. Giangiacomo Bravo, trước là nhà kinh tế xã hội và hiện là nhà khoa học xã hội tính toán tại Đại học Linnaeus ở Växjö, Thụy Điển, cho rằng nhiều lý thuyết khoa học xã hội hiện nay quá viển vông để có thể kiểm chứng được bằng dữ liệu lớn. Ví dụ, các nhà khoa học thường định nghĩa vốn xã hội là những hiểu biết và giá trị được chia sẻ trong một xã hội cho phép các cá nhân làm việc cùng nhau. “Công thức ban đầu của khái niệm này quá mơ hồ để có thể kiểm chứng. Làm sao mà tôi đo lường được nó?”.  Tuy nhiên cũng có những lý thuyết cụ thể hơn. Chuyên nghiên cứu các chuẩn mực xã hội – các quy tắc chung chi phối, quyết định hành vi nào được hoặc không được chấp nhận trong một xã hội, Andrighetto cho rằng các nhà nghiên cứu đã dành một thập kỷ để gắn kết các định nghĩa và lý thuyết cụ thể đó cho chủ đề này. Ví dụ, lý thuyết cho rằng, khi các chuẩn mực xã hội thay đổi sẽ thúc đẩy những thay đổi trong cách một người phản ứng trong một tình huống nhất định. Trước đây, các chuẩn mực xã hội được cho là chỉ thay đổi một cách từ từ thông qua quá trình tương tác xã hội lâu dài. Những lý thuyết có thể kiểm chứng như vậy cho phép Andrighetto kết hợp khoa học tính toán với lý thuyết khoa học xã hội: bà sử dụng các thí nghiệm trực tuyến để kiểm tra xem những thay đổi mang tính mô phỏng về chuẩn mực xã hội có làm ảnh hưởng đến hành vi hay không.  Bà không đơn độc trên hành trình sử dụng khoa học xã hội để tác động vào xã hội. Watts cho biết ông và các nhà nghiên cứu khác thường thích xuất bản bài báo hơn là đưa ra các giải pháp thực tế. “Tôi cảm thấy công việc của mình hoàn thành vào lúc bài báo được xuất bản,” ông nói. “Nhiệm vụ của tôi là nêu những ý tưởng và tạo điều kiện cho người khác tìm ra cách biến chúng thành những biện pháp có ý nghĩa.”  Watts cho biết, để những thay đổi đó xảy ra, các nhà nghiên cứu từ cả hai lĩnh vực phải hợp tác để cùng phát triển. Và hiện tại thì một vài người đã thấy điều đó đang xảy ra. “Khoa học xã hội truyền thống và khoa học xã hội tính toán đang xích lại gần nhau hơn theo thời gian”, Wagner cho biết. “Trong 20 năm tới, chúng sẽ nhập làm một”. □  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-01747-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chạy đua để sở hữu sáng chế về CRISPR-Cas9      LTS: Giải Kavli trong lĩnh vực khoa học Nano gần đây được trao cho một nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực CRISPR mà công chúng ít biết đến, Virginijus Siksnys đến từ Lithuania (bên cạnh hai cái tên nổi tiếng Jennifer Doudna và Emmanuelle Charpentier từ Mỹ và Pháp).      Điều này lại một lần nữa dấy lên mối tranh cãi về quyền sở hữu các phát minh cũng như việc ghi nhận những cống hiến của các nhà nghiên cứu trước những khám phá khoa học lớn.  Một thiên tài ngồi trong phòng thí nghiệm miệt mài đến khuya, và cuối cùng reo lên – ‘Eureka! (tìm ra rồi)’, sau đó, các giải thưởng lớn và các bằng sáng chế giá trị đến với họ, phải chăng đây là cách mà các nhà khoa học làm việc như mọi người đang nghĩ?  Các phát minh rất hiếm khi xảy đến theo một đường thẳng như vậy. Tiến bộ gần đây trong công nghệ sinh học có một cái tên viết tắt khá dài và kì quặc, CRISPR-Cas9 là một trường hợp điển hình.  Đây là một quá trình làm cho việc chỉnh sửa ADN có vẻ dễ dàng như việc sửa lỗi chính tả trong email, nhờ vào một phân tử có chức năng như một cái kéo cắt ADN. Các nhà khoa học đã tìm ra cách sử dụng ‘cái kéo’ này trong nhiều sinh vật, từ nấm đến phôi người.  Bây giờ, với các bằng sáng chế và giải thưởng (thậm chí có thể là giải thưởng Nobel trong tương lai) đang treo lơ lửng, câu hỏi lớn được đặt ra là: Ai mới thực sự là người phát minh ra phương pháp đầy tính cách mạng này?  Jake Sherkow, giảng viên dạy quyền sở hữu trí tuệ tại Trường Luật New York, nói rằng đó là “một câu hỏi tỷ đô” theo đúng nghĩa đen.    Virginijus Siksnys và nhóm nghiên cứu của ông tại Viện nghiên cứu công nghệ sinh học, Đại học Vilnius, Lithuania. Nguồn: npr.com  “Cái giá người ta sẵn sàng trả cho việc sở hữu bằng sáng chế này là rất cao”, Sherkow, người đang theo sau vụ tranh chấp bằng sáng chế của Mỹ nói. Một mặt, Editas Medicine (một tập đoàn dược) đã chi gần 15 triệu USD cho cuộc chiến bằng sáng chế này. “Mười lăm triệu đô la thực sự là một thước đo cho việc các luật sư mỗi bên đang tranh tụng gay gắt tới mức độ nào”, ông nói.  Chỉ có một vài tên tuổi lớn mà mọi người thường liên kết với phát minh này và tranh chấp bằng sáng chế – Jennifer Doudna và Emmanuelle Charpentier là một. Feng Zhang là hai. Nhưng rất nhiều nhà khoa học khác và các nghiên cứu sinh của họ đã giúp CRISPR phát triển đến trình độ như hiện nay. Và trong số đó, nhiều người đến từ những phòng thí nghiệm và các quốc gia nhỏ hơn rất nhiều. Virginijus Siksnys, một nhà sinh hóa học ở Vilnius, Lithuania, là một trong những người đó.  Siksnys sinh ra ở Lithuania lấy bằng tiến sĩ tại Đại học liên bang Moscow ở Nga và nay ông là trưởng phòng thí nghiệm tại Viện Công nghệ sinh học tại Đại học Vilnius, thủ đô của Lithuania.  Năm 2012, sau nhiều năm nỗ lực, Siksnys và các đồng nghiệp đã phát hiện ra một số vi khuẩn có thể cắt và ghép các gene cụ thể từ các sinh vật khác như thế nào. Quan trọng hơn, nhóm của Siksnys đã có thể điều khiển hệ thống CRISPR để cắt ra bất kỳ chuỗi gene nào họ muốn. Giedrius Gasiunas, nghiên cứu sinh từ phòng thí nghiệm của Siksnys, nói: “Nó thực sự rất thú vị.”  Siksnys và các đồng nghiệp đã gửi phát minh của mình đến Cell, một tạp chí hàng đầu về khoa học sự sống. Theo ông, “Những phát hiện này mở đường cho sự phát triển các công cụ phân tử độc nhất vô nhị để phẫu thuật ADN định hướng ARN.”  Cell từ chối nghiên cứu này mà không thèm bình duyệt. Thất vọng, các nhà khoa học sau đó gửi nghiên cứu của họ đến một tạp chí khác, PNAS. Nó đã được chấp nhận. Tuy nhiên, một tháng trước khi bài báo của Siksnys được xuất bản, một nghiên cứu tương tự từ một nhóm khác nghiên cứu về CRISPR đã được công bố trên tạp chí Science. Các tác giả chính trong bài báo này là Jennifer Doudna ở Đại học California, Berkeley, và Emmanuelle Charpentier, người sau đó được liên kết với Đại học Umea ở Thụy Điển, và bây giờ là với Viện Max Planck ở Đức.  Cả hai nghiên cứu đều mô tả cách vận hành của CRISPR. Nhưng các nhà nghiên cứu công bố phát minh trên Science đã tiến thêm một bước nữa; họ đã thiết kế một phiên bản CRISPR đơn giản hơn, có khả năng làm việc trên nhiều sinh vật khác nhau, bao gồm cả tế bào cơ thể người.  Khoảnh khắc đó vào năm 2012 đã chứng tỏ là một bước ngoặt của công nghệ này. “Từ một điều mơ hồ có vẻ có tiềm năng, CRISPR trở nên bùng nổ trên khắp bức tranh của lĩnh vực y sinh”, Nathaniel Comfort, nhà nghiên cứu lịch sử khoa học và y sinh tại ĐH John Hopkins, nói, “Nó lan ra như cháy rừng. Trong khoảng một năm, một năm rưỡi, nó đã được thực hiện trong hầu hết các phòng thí nghiệm y sinh mà bạn có thể nghĩ đến”.  Giờ đây, nhắc đến CRISPR là nhắc đến tên của hai nhà khoa học có công bố trên Science – Jennifer Doudna và Emmanuelle Charpentier, và họ là ứng cử viên đứng tên cho bằng sáng chế chính của Hoa Kỳ. Ứng cử viên khác, dẫn đầu bởi Feng Zhang, có trụ sở tại Viện Broad ở Massachusetts. Còn Virginijus Siksnys và Giedrius Gasiunas thì hiếm khi được nói đến.  Comfort nói rằng bởi vì các bằng sáng chế và giải thưởng ra đời nhằm ghi nhận những khám phá, nhưng trong nhiều trường hợp, chỉ riêng việc xác định những khám phá đó thực sự là gì cũng vô cùng phức tạp. Đó còn chưa kể, nhiều nhóm khám phá giống nhau trong cùng lúc. Chẳng hạn, phát hiện và phát triển hormon insulin như một phương pháp y tế điều trị cho bệnh tiểu đường Tupe 1. Vào những năm 1920, việc tiêm insulin được chiết xuất từ động vật đã khiến bệnh này từ “án tử hình” thành một chứng rối loạn có thể kiếm soát được. Đó là một bước phát triển quan trọng của ngành y học. Nhưng Comfort nói rằng có một cuộc tranh luận gay gắt về đâu là “khám phá” tiên phong đã tạo ra phương pháp điều trị này, chưa kể ai mới là người xứng đáng nhận được công trạng cho nó.  Philippe Horvath, một nhà sinh vật học phân tử làm việc với tập đoàn dược phẩm toàn cầu DuPont ở Dangé – Saint – Romain, Pháp, cho biết: “Cuối cùng, một vài cái tên rồi sẽ được người ta nhớ mãi, nhưng có rất nhiều người khác đã cống hiến cho con đường vĩ đại dẫn đến sự phát triển của CRISPR. Ông ước tính rằng có khoảng một trăm các nhà nghiên cứu – bao gồm cả chính mình – đã tham gia vào việc phát triển công nghệ CRISPR-Cas9 đạt tới thành tựu hiện nay.  Hiện tại, Horvath và Siksnys cho biết họ hài lòng với sự tôn vinh khiêm tốn mà mình nhận được, kể cả một giải thưởng gần đây của trường Đại học Y khoa Harvard mà họ chia sẻ với các nhà khoa học trong lĩnh vực CRISPR khác. Trong khi đó, cuộc chạy đua của nghiên cứu sâu hơn trên những phát hiện nền tảng ban đầu vẫn đang tiếp diễn.  Mỗi ngày, Siksnys lại đọc những công bố về CRISPR mới xuất bản. “Những kết quả đó đã khiến tôi vẫn gắn bó với khoa học – bởi vì bạn không bao giờ biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau, và điều đó thực sự, thực sự thú vị”, ông nói.  Thanh Mai dịch  Dẫn theo Khoa học và phát triển      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chạy đua tìm vaccine dịch tả lợn châu Phi: Tiềm ẩn nhiều rủi ro      Những khác biệt riêng có trong việc nghiên cứu, phát triển và lưu hành vaccine cho thấy, không thể có được vaccine đặc hiệu cho bệnh tả lợn châu Phi trong một sớm một chiều, dù quá trình này được cả hệ thống chính trị ủng hộ và thúc đẩy.      Các nhà khoa học Trung Quốc lấy mẫu bệnh phẩm. Nguồn: Geopolitical Futures  Vào trung tuần tháng 5, Viện nghiên cứu thú y Cáp Nhĩ Tân – một cơ sở nghiên cứu thú y lâu đời nhất Trung Quốc, đã tuyên bố có được hai ứng cử viên cho loại vaccine dịch tả lợn châu Phi, mới được thử nghiệm có khả năng miễn dịch với bệnh dịch. Ngay sau đó Đài Phát thanh quốc gia Trung Quốc thông báo, trong bước tiếp theo, Viện Hàn lâm Khoa học nông nghiệp Trung Quốc sẽ thúc đẩy tiến trình thử nghiệm trên quy mô nhỏ và các đợt điều trị lâm sàng cũng như sản xuất vaccine.  Thông báo này gây chia rẽ các nhà khoa học trên thế giới. Nhiều người có kinh nghiệm nghiên cứu về vaccine cho vật nuôi dường như cẩn trọng hơn. “Có thể tìm ra được các loại vaccine có hiệu lực trong phòng thí nghiệm nhưng việc áp dụng nó vào thực tế lại ẩn chứa nhiều điều khác biệt”, một chuyên gia quốc tế về dịch tả lợn châu Phi giấu tên, nói. Từ việc đưa một vaccine vào thử nghiệm lâm sàng và sau đó đưa ra thị trường thương mại phải mất nhiều năm. Mặt khác, có tới hai chủng virus tả lợn châu Phi đang lưu hành ở Trung Quốc và một loại vaccine có thể không đủ khả năng chống lại cả hai, ông cho biết thêm.  Tăng đầu tư cho nghiên cứu  Theo một công bố xuất bản vào tháng 10/2018, hai tháng sau khi virus được tìm thấy ở Trung Quốc, đã có trên 100.000 con lợn chết và làm nền kinh tế Trung Quốc mất đi 20 triệu USD.  Chính quyền Trung Quốc cho biết Trung Quốc có khoảng 440 triệu con lợn và theo ước tính không chính thức thì số lượng nhiễm virus có thể chiếm 10% đến 40%.  Chính quyền Trung Quốc đang ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu về loài virus này, khoảng 100 triệu nhân dân tệ (15 triệu USD) cho các dự án, George Gao, Phó chủ tịch Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia ở Bắc Kinh, cho biết.  Việc thực hiện các nghiên cứu này sẽ giúp lấp đầy những thiếu hụt trong hiểu biết về loài virus này, bao gồn cả cấu trúc chi tiết virus và cách nó lan truyền tới vật chủ, sau đó tấn công hệ miễn dịch của chúng. “Chúng tôi không biết mấy về loại virus này,” Gao nói.  Trước khi dịch bệnh bùng phát, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã bị cấm nghiên cứu loài virus sống này vì bị lo ngại nó sẽ phát tán từ một phòng thí nghiệm nào đó để lây nhiễm trên lợn. Giờ đây thì virus đã hoành hành ở Trung Quốc, các nhà khoa học trong các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp độ hai có thể nghiên cứu trên tế bào của virus, còn các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cao nhất có thể nghiên cứu trên vật nuôi, Gao tiết lộ. “Trong một vài tháng tới, tôi hi vọng là các nhà khoa học Trung Quốc sẽ có nhiều đóng góp cho lĩnh vực này”, ông nói.  Viện Nghiên cứu thú y Cáp Nhĩ Tân (HVRI) là một trong số ít các viện nghiên cứu được phép sử dụng virus sống trong nuôi cấy tế bào, và là nơi duy nhất ở Trung Quốc đủ tư cách để kiểm tra thử khả năng lây nhiễm trên lợn, điều thiết yếu trong phát triển vaccine, Viện trưởng Bu Zhigao cho biết, họ đang tìm hiểu sự miễn dịch tự nhiên ở lợn với bệnh dịch tả nhằm tìm ra các loại thuốc và phát triển các kỹ thuật chẩn đoán mới nhưng do virus đang lan rộng và việc phát triển vaccine được ưu tiên hàng đầu, Zhigao hé lộ thông tin, dẫu không cho biết chi tiết về nghiên cứu này.  Pfeiffer nói, ông đã nghe các nhà nghiên cứu HVRI trình bày nghiên cứu về một loại vaccine tiềm năng tại hội thảo về dịch tả lợn tại Bắc Kinh vào ngày 9/4/2019 và được biết là loại vaccine đang được thử nghiệm này có sử dụng một chủng ít độc lực của virus gây bệnh nhằm kích hoạt sự phản hồi của hệ miễn dịch – được biết với tên gọi vaccine giảm độc lực – thay vì sử dụng một chủng bị bất hoạt hay một phần của loài virus này. Ưu điểm của các vaccine giảm độc lực là chúng có xu hướng tạo ra một phản ứng mạnh và lâu dài hơn so với các vaccine bất hoạt, Dixon nhận xét.  Áp lực chính trị  Nhưng cả Pfeiffer và Dixon đều lo ngại về áp lực chính trị quá lớn tại Trung Quốc với mục tiêu nhanh chóng có bằng được một loại vaccine. “Phát triển vaccine là một thứ cần được thực hiện với sự thận trọng cao độ,” Pfeiffer nói.  Các loại vaccine giảm độc lực được làm trên virus sống, và đó là một rủi ro bởi loài vi sinh vật này có thể vẫn sống một cách dai dẳng để lan truyền, và là nguyên nhân dẫn đến những phản ứng ngược trên lợn, Pfeiffer cho biết thêm. “Nó không khác gì đùa với lửa,” ông ví von.  Một điều khác là để giám sát xem liệu một vaccine có ngăn ngừa sự sao chép của loài virus này trên vật chủ hay không, Dixon nói. Nếu vaccine không làm được điều đó, các con lợn được tiêm vaccine có thể không lộ rõ triệu chứng mắc bệnh, dẫn đến khả năng lây nhiễm sang những con chưa được tiêm. Vào những năm 1960, một lượng lớn vật nuôi ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã được tiêm một loại vaccine giảm độc lực của một bệnh, dẫn đến tình trạng nguy hiểm do nhiễm virus mãn tính và vẫn lây nhiễm lan truyền.  Với kinh nghiệm từng tham gia nhóm nghiên cứu đầu tiên phát hiện ra chuỗi biến dị mới của virus tả lợn châu Phi tại Georgia năm 2007 – một cuộc bùng phát đưa virus này từ Caucasus lan rộng tới châu Âu, Dixon cho rằng, việc có một loại vaccine mới là tốt nhưng có thể vẫn cần nhiều năm theo dõi nó.  Những nghiên cứu khác  Vào tháng 1/2019, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Sức khỏe và miễn thú y Trung Quốc ở Thanh Đảo đã công bố một công trình về giải trình tự hệ gene của chủng virus địa phương, trong đó họ cho biết nó tương tự với một biến dị bị phân ly ở Ba Lan năm 2015 và hiện vẫn đang có mặt ở châu Âu. Vào tháng 2/2019, các nhà nghiên cứu của HVRI cho biết, đã xác định được là virus có trong lá lách lợn bị lây nhiễm là độc nhất, có khả năng làm lợn chết và vẫn giữ nguyên độc tính khi lây truyền từ lợn sang lợn. Zhigao – tác giả chính của nghiên cứu, nhận xét, các kết quả này sẽ giúp tăng cường các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh. Các trang trại nuôi lợn quy mô nhỏ cũng là nguồn thu vô cùng quan trọng với hàng triệu gia đình Trung Quốc, anh nói. Vì thế “chúng tôi phải kiểm soát được dịch bệnh này, vấn đề mất bao nhiêu tiền không quan trọng“, anh cho biết thêm.  Bên ngoài Trung Quốc, có lo ngại là dịch bệnh này sẽ lan rộng tới những quốc gia thiếu nguồn lực và cơ sở hạ tầng để có thể kiểm soát chúng, Dixon nhận xét. Hiện virus này đã băng qua biên giới tới các quốc gia láng giềng như Mông Cổ, Việt Nam, Campuchia. “Có lẽ Lào sẽ là điểm lây nhiễm tiếp theo”, Dixon dự đoán. Các quan chức ở Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia… đang hết sức lo ngại, bà cho biết.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến bí mật ở cấp độ tế bào      Các nhà sinh học đang tìm hiểu cách thức các tế bào mạnh tấn công, giết hoặc ăn thịt đồng loại yếu thế nhằm tìm ra phương pháp trị liệu ung thư và lão hóa.      Minh họa của Acapulco Studio.  Yasuyuki Fujita, một nhà sinh học ung thư tại Đại học Hokkaido, lần đầu chứng kiến các tế bào hiền hòa trở nên kích động và xung trận thế nào khi ông kích hoạt một gene gây ung thư trong một vài tế bào thận trên đĩa nuôi cấy. Trước đó, ông dự kiến các tế bào ung thư sẽ nhân lên để hình thành các khối u giữa các tế bào khỏe mạnh xung quanh. Tuy nhiên, những tế bào kế cận đã vũ trang chính mình bằng các protein sợi và bắt đầu hành vi “chọc” đẩy những hàng xóm vừa trở nên xấu tính khỏi “cộng đồng”.   Trong hai thập kỷ qua, rất nhiều khám phá tương tự đã làm lộ ra bí mật của những cuộc “tranh chấp”, “đánh nhau đơn lẻ” hoặc “chiến tranh toàn diện” ở cấp độ tế bào. Giống như chọn lọc tự nhiên giữa các loài, các tế bào thích nghi tốt hơn chiến thắng trước các đối thủ kém cỏi. Hiện tượng này có thể đóng vai trò kiểm soát chất lượng trong quá trình phát triển của sinh vật, là sự bảo vệ chống lại các tế bào tiền ung thư và là một phần quan trọng trong việc duy trì các cơ quan như da, ruột và tim. Các tế bào sử dụng nhiều kiểu “chiến thuật” để tiêu diệt đối thủ, từ việc đá nó ra khỏi mô đến “đánh bom tự sát”, hoặc nhấn chìm và ăn thịt các thành phần kẻ thù. Sự phát triển và và duy trì các mô là các quá trình hỗn loạn hơn nhiều so với suy nghĩ trước đây. “Điều này giúp chúng ta triệt để thoát khỏi định kiến cho rằng sự phát triển của tế bào là một quy trình được lập trình sẵn, chỉ việc chạy chuẩn xác như đồng hồ,” Thomas, Zwaka, nhà tế bào gốc ở trường y khoa Icahn ở Mount Sinai, NY cho biết.  Nhưng bằng cách nào các tế bào đơn lẻ nhận biết và tấn công vào điểm yếu của những “người hàng xóm”? Các phòng thí nghiệm đã săn lùng các marker (chỉ dấu) cũng như cách thức chúng kích hoạt hành vi đối kháng. Một khi hiểu được các cơ chế này, các nhà khoa học có thể ức chế hoặc kéo dài quá trình, đem lại các phương pháp tốt hơn để chống lại ung thư cũng như bệnh tật và lão hóa bằng y học tái tạo. Eugeneia Piddini, nhà sinh học tế bào của Đại học Bristol đang kỳ vọng vào sự tiến bộ của các liệu pháp miễn dịch ung thư hiện đại.      Các phòng thí nghiệm đã săn lùng các marker (chỉ dấu) cũng như cách thức chúng kích hoạt hành vi đối kháng. Một khi hiểu được các cơ chế này, các nhà khoa học có thể ức chế hoặc hoặc kéo dài quá trình, dẫn đến các phương pháp tốt hơn để chống lại ung thư cũng như bệnh tật và lão hóa bằng y học tái tạo.      Tái khám phá lịch sử  Tháng 2/2019, giữa trận bão tuyết dày 20 cm, các nhà sinh học từ hàng tá chuyên ngành tụ hội về một khách sạn ở Lake Tahoe, California tham dự một hội nghị lớn đầu tiên về cạnh tranh tế bào. Ở đây có các nhà động vật học chuyên nghiên cứu loài giun dẹp có thể tái tạo toàn bộ cơ thể từ một tế bào duy nhất, các nhà di truyền học cố gắng tạo ra một loài chimera ghép từ phôi chuột, khỉ và thỏ. Một diễn giả chính thuyết trình về các trận chiến kinh hoàng và sự hợp đồng tác chiến giữa các cộng đồng vi khuẩn.   Vào năm 1973, hai nghiên cứu sinh Ginés Morata và Pedro Ripoll tìm cách theo dõi các quần thể tế bào trong ấu trùng đang biệt hóa thành cánh của ruồi dấm. Khi đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh học thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Tây Ban Nha, họ gây ra đột biến có tên Minute chỉ trên một ít tế bào khiến chúng sinh trưởng chậm hơn các tế bào xung quanh. Thay vì phát triển nhỏ hơn như họ dự kiến, các tế bào này biến mất.   Các tế bào mang đột biến Minute có thể phát triển thành một con ruồi hoàn chỉnh, ngoại trừ chuyện lông của chúng ngắn và mỏng hơn. Nhưng khi được trộn chung với các tế bào thể hoang dại (wild-type cell), chúng biến mất. “Chúng đơn giản là không thể cạnh tranh nổi những kẻ có hoạt động chuyển hóa mạnh mẽ hơn”, theo Morata, nay là nhà sinh học phát triển tại Đại học Tự trị Madrid. Nhưng thời bấy giờ còn thiếu các công cụ phân tử để theo dõi tế bào, nên Morata đành gác lại vì không thể làm gì thêm.  26 năm sau, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ Laura Johnston và Peter Gallant làm việc cùng Bruce Edgar và Robert Eisenman tại trung tâm Ung thư Fred Hutchinson, Seatle, WA nghiên cứu một đột biến điểm khác – Drosophila Myc (dMyc) – cũng làm chậm sự sinh trưởng của tế bào. “Tôi cùng Peter vô cùng mừng rỡ khi nhận ra những tế bào mang đột biến đã biến mất. Các tế bào này buộc phải kích hoạt quá trình chết được lập trình gọi là apoptosis”, họ cho biết.  Bài báo công bố vào năm 1999 của hai nghiên cứu sinh đã gây hứng thú cho nhiều đồng nghiệp, trong đó có Morata. Ông cùng Eduardo Moreno lại nhảy vào tìm kiếm thêm nữa, nhưng lần này ông có các công cụ phân tử hiện đại trong tay. “Từ khi đó, lĩnh vực này đã bùng nổ”, theo Johnston.    Các tế bào ruồi giấm được kích hoạt gene gây ung thư Ras (màu tím) có thể loại bỏ các tế bào thể hoang dại kế cận (màu xanh). Ảnh: Eduardo Moreno  Myc hoạt động như một nhạc trưởng kiểm soát sự phát triển của tế bào, còn Minute mã hóa một phần quan trọng cần cho tổng hợp protein – vì vậy, sự suy giảm các protein khiến các tế bào không còn phù hợp để tồn tại. Những phát hiện tiếp theo khiến mọi người bất ngờ. Hai bài báo của Hohnston và Moreno chỉ ra rằng các tế bào với thêm một bản sao của gene bình thường dMyc tiêu diệt luôn các tế bào thể hoang dại. Chúng được gọi là các tế bào “siêu cạnh tranh”.  Sự phát hiện hiện tượng “siêu cạnh tranh” đã nhấn mạnh rằng sự cạnh tranh tế bào là mối tương quan “sức khỏe” trong một nhóm tế bào. Nếu một tế bào bị tụt lại phía sau, nhóm toàn bộ hàng xóm có thể quyết định nó phải ra đi. Mặt khác, các tế bào tốt hơn được phép tồn tại.   Sự cạnh tranh tế bào không chỉ đơn giản là loại bỏ các khiếm khuyết, đó là cái chết dành cho các tế bào yếu kém và sự sống dành cho kẻ mạnh, và được quyền sinh sôi. Sự cạnh tranh chỉ được quan sát thấy trong khảm, tức là hỗn hợp các tế bào khác nhau về di truyền. Sự cạnh tranh này giống như một hệ thống kiểm soát chất lượng, loại bỏ các tế bào không mong muốn khỏi quá trình phát triển.  Phán quyết về sự tồn tại  Quay trở lại với Fukita Sau các khám phá ban đầu đó, thì các nghiên cứu về tế bào thận của Fukita đã đưa ra một trong những gợi ý đầu tiên rằng cuộc cạnh tranh khốc liệt ở cấp độ tế bào này diễn ra trên các tế bào động vật có vú. Ngay khi công trình của Fukita được xuất bản, các nhà nghiên cứu đua nhau quan sát sự cạnh tranh của các tế bào mang đột biến trên nhiều loại mô khác nhau như da, cơ, ruột. Triển vọng quan sát có vẻ rõ ràng nhất ở mô phôi. Năm 2013, nhóm của Zwaka nghiên cứu trên tế bào gốc phôi chuột (ESC) đã tìm ra đột biến siêu cạnh tranh có thể làm giảm sự biểu hiện của p53, một protein kiểm soát chất lượng quan trọng bằng cách ngừng phân bào. Khi những tế bào mang đột biến này được đưa vào phôi chuột, chúng nhanh chóng chiếm lĩnh toàn bộ phôi và phát triển thành con chuột bình thường. Tương tự, phòng thí nghiệm của Miguel Torres tại Trung tâm Nghiên cứu Tim mạch Quốc gia ở Madrid cũng chỉ ra hiện tượng siêu cạnh tranh trong phôi chuột bằng cách làm gene Myc biểu hiện hơi quá mức trên chuột.   Hiện tượng nói trên cũng xuất hiện trong quá trình phát triển của phôi. Staphanie Ellis tại Đại học Rockefeller, NY đã quan sát thấy da chuột mở rộng gấp 30 lần trong một tuần. Các tế bào sinh sôi nhanh khủng khiếp, một lớp, rồi nhiều lớp da hình thành. Ellis đã tiêm vào phôi chuột một chế phẩm khiến các tế bào trở nên yếu kém về mặt di truyền. Cô nhắm vào một vài tế bào khi phôi chỉ mới hình thành một lớp da, kèm theo một gene đóng vai trò marker khiến chúng phát sáng đỏ để dễ quan sát. Sau đó cô ghi hình lại hình ảnh của quá trình theo thời gian: Các tế bào yếu kém bị bật ra khỏi bề mặt, vỡ ra và tan biến. Khi thí nghiệm ở giai đoạn da phôi đã hình thành nhiều lớp, hiện tượng này đã không lặp lại. Thay vào đó, các tế bào mang đột biến có xu hướng biệt hóa và di chuyển ra lớp da bên ngoài, rồi bị bong ra, trong khi các tế bào khỏe mạnh nằm ở lớp dưới. Điều này thực sự hợp lý, vì giết chết một tế bào là quá trình tốn nhiều năng lượng. Chỉ cần loại bỏ những tế bào yếu kém thông qua sự nhân bản vượt trội của các các tế bào khỏe mạnh.     Ginés Morata, người mở đầu và theo đuổi nghiên cứu cuộc chiến ở cấp độ tế bào từ năm 1974 đến nay.   Những thí nghiệm này hướng các nhà khoa học tìm cách khai thác tế bào gốc để trẻ hóa các mô và cơ quan bị lão hóa. Có hai tình huống có thể xảy ra: các tế bào gốc được cấy vào mô có thể sinh trưởng vượt trội các tế bào già yếu, hoặc phải đối mặt với sự loại bỏ khỏi mô. Hiểu được cơ chế cạnh tranh tế bào trong mô trưởng thành có thể giúp giải quyết vấn đề này.   Nhóm của Piddini đã tạo một đột biến của RPS3, một gene có chức năng liên quan đến Minute, trong vài tế bào ruột của ruồi trưởng thành. Các tế bào mang đột biến bị loại bỏ bởi các tế bào thể hoang dại. Dù cho loại mang đột biến là tế bào gốc hay tế bào đã biệt hóa, tất cả đều bị tiêu diệt.  Cristina Villa del Campo, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ trong phòng thí nghiệm của Torres, đã thử nghiệm trên tim chuột trưởng thành và xác định được các tế bào độ tuổi 8-10 tuần là kẻ thắng cuộc. Trong suốt một năm, bà theo dõi số lượng tế bào mỗi loại mà nhận thấy các tế bào hoang dại thua cuộc đã suy giảm số lượng khoảng 40%.   Những câu hỏi chưa được trả lời  Nhưng một câu hỏi lớn được đặt ra: làm thế nào một nhóm tế bào cảm thụ tình trạng sức khỏe của nhau. Fujita cho biết, “có lẽ chúng nhận biết các khác biệt về hóa học, hoặc vật lý, hoặc thành phần màng tế bào,” và phòng thí nghiệm của ông đang tìm bằng chứng cho cả ba khả năng.  Các tế bào thận “chọc” nhau gợi ý rằng sự tiếp xúc tế bào – tế bào là một hướng nghiên cứu đáng lưu tâm. Một số nghiên cứu thấy rằng các tín hiệu hóa học có tầm tác động ngắn, chỉ khoảng 8 lần đường kính tế bào. Chính xác thì phân tử nào đóng vai trò tín hiệu – vật lý hay hóa học – vẫn còn đang được tích cực tìm hiểu và tranh luận.  Both Johnston và Zwaka đều nghiêng về các tín hiệu giám sát miễn dịch. Nhóm của Johnston đã xác định các phân tử chỉ điểm cho các tế bào miễn dịch đến bao vây và phủ đầu kẻ xâm nhập ngoại lai, dẫn đến cái chết của các tế bào thua cuộc. Các tế bào bình thường biểu hiện các tín hiệu chết ở mức độ thấp trong suốt vòng đời. Nhưng trong một hỗn hợp khảm, những tế bào thắng cuộc càn quét đối thủ bằng con mưa tín hiệu chết để đẩy các tế bào thua cuộc vào con đường tự sát.  Zwaka thì đề xuất rằng các tế bào có thể đánh giá tình trạng sức khỏe của nhau bằng cách phát ra các tín hiệu chung hoặc thông qua nhận biết các mảnh rơi ra từ tế bào. Điều này giống như bạn ngửi được mùi thơm từ miếng bò bít tết nhà hàng xóm và kết luận rằng họ có kỹ năng nấu nướng rất khá. Hoặc chỉ đơn giản như nhìn thấy lá cờ đang phấp phới trên nóc nhà họ. Moreno đã dẫn dắt nhóm của mình ở Trung tâm Champalimaud, Lisbon, phát hiện một loại protein bám màng gọi là Flower. Ở người, protein này có bốn dạng, mỗi dạng mang cấu trúc đặc trưng riêng trên bề mặt ngoài của tế bào. Đó là hai tín hiệu thắng và hai tín hiệu thua đến các tế bào kế cận, Moreno nói.  Một số tế bào ung thư ở người mang tín hiệu thắng cuộc, có thể tăng cường khả năng sống sót, Các thí nghiệm do nhóm của Moreno chỉ ra rằng nếu bất hoạt tín hiệu thắng cuộc, các tế bào của khối u sẽ phát triển chậm lại và trở nên nhạy với hóa trị. Tuy nhiên, một vài đồng nghiệp hoài nghi về tầm quan trọng của protein Flower. Moreno cũng thừa nhận chúng không hiện diện trong tất cả các tình huống cạnh tranh tế bào.  Phát huy các cạnh tranh tế bào có ích  Sự phá vỡ các cơ chế cạnh tranh là chìa khóa cho các nhà nghiên cứu sử dụng trong liệu pháp tế bào trị liệu ung thư hoặc liệu pháp tái tạo. Đã có những gợi ý hấp dẫn về sự bảo vệ chống lại ung thư nhờ cạnh tranh tế bào. Những nghiên cứu gần đây trên tế bào da, thực quản và phổi ở người cho thấy mức độ khảm cao. Ví dụ, ¼ các tế bào da mang các đột biến tiền ung thư nhưng hiếm khi phát triển thành khối u.  Không rõ điều gì đã đem lại lợi thế cho các tế bào ung thư khi khối u hình thành. Nếu các các nhà nghiên cứu có thể biết được cách khuất phục được khả năng siêu cạnh tranh hoặc phát triển bất chấp của các tế bào ung thư, họ có thể tạo ra giải pháp chống lại ung thư.  Mặt khác, các tế bào gốc dùng trong trị liệu cần phải đạt được lợi thế cạnh tranh để thay thế các mô lão hóa hoặc bị bệnh để làm mới các mô và nội tạng. Villa del Campo cho rằng các bác sĩ lâm sàng đang chú ý đến tính khả thi của liệu pháp tế bào gốc tự thân trong thay thế các tế bào tổn thương do nhồi máu cơ tim hoặc các bệnh tim khác.  Từ những quan sát khiêm tốn trên ấu trùng ruồi, một kỷ nguyên mới của y học dựa trên liệu pháp tế bào được mở ra. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều bí ẩn chờ đợi các nhà khoa học khám phá. Morata nhận định rằng áp dụng hiện tượng cạnh tranh tế bào là phương pháp tổng quát trong việc loại bỏ các tế bào không mong muốn. Nay đã 74 tuổi, ông rất vui mừng vì nghiên cứu bị gác lại của mình cách đây 40 năm đã được hồi sinh và ngày càng triển vọng. □  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nature 574, 310-312 (2019); doi: 10.1038/d41586-019-03060-y  https://www.nature.com/articles/d41586-019-03060-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu      “22 triệu người ở Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi nước biển đang dâng và nguy cơ thiên tai” – đó là cảnh báo của UNDP trong báo cáo Phát triển con người của UNDP, công bố cuối tháng 11 vừa qua.               Báo cáo năm nay của UNDP – mang tên “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu – đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách” – dành hơn một nửa trong số 390 trang cho chủ đề biến đổi khí hậu. “Trong 15 năm qua, Việt Nam đã có tiến bộ vượt bậc về phát triển con người… Tuy vậy, biến đổi khí hậu gây ra mối đe dọa thật sự đối với những thành tựu này, và không đâu nghiêm trọng hơn khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” – báo cáo nêu rõ.   Dẫn theo Tuổi trẻ, sự biến đổi khí hậu đã “làm xói mòn thành tựu” của Việt Nam trong chỉ số phát triển con người (HDI). Dựa trên số liệu năm 2005, thể hiện Việt Nam đã đi một bước dài trong cải thiện tuổi thọ của người dân, xếp thứ 56 so với 83 trong báo cáo năm ngoái. Số người đi học ở tiểu học, trung học và đại học gia tăng, giúp Việt Nam lên hai bậc, từ 123 lên 121. Hai chỉ số còn lại cũng cho thấy mức độ cải thiện ở Việt Nam còn chậm so với các nước khác: tỉ lệ biết chữ ở người lớn của Việt Nam xếp thứ 57, tụt một bậc so với 56 trong báo cáo năm ngoái, GDP tính trên đầu người Việt Nam giảm xuống vị trí 122 từ vị trí 118 năm 2004.   Ông Christophe Bahuet – phó giám đốc quốc gia UNDP – cho biết từ khi báo cáo Phát triển con người ra đời năm 1990 đến nay, vị trí của Việt Nam liên tục được cải thiện, và trong nhiều lĩnh vực Việt Nam đi trước nhiều nước có thu nhập cao hơn nhưng có thể tăng chỉ số HDI bằng cách tăng thu nhập và đầu tư chất lượng hơn cho giáo dục.   Báo cáo cũng đưa ra một chỉ số khác là chỉ số đói nghèo của con người ở các nước đang phát triển, gọi tắt là HPI-1. Việt Nam xếp thứ 36/177 do sự thiếu hụt trầm trọng về sức khỏe theo tỉ lệ số người dự tính không thể sống qua tuổi 40 (Việt Nam xếp thứ 76), tỉ lệ mù chữ ở người lớn (82), số người không tiếp cận được nguồn nước được cải thiện (54) và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân so với tuổi (107).        Bản báo cáo đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Băng tan làm mực nước biển dâng lên nhanh chóng. Nếu nhiệt độ Trái đất tăng thêm 3 – 40C, 330 triệu người sẽ phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt. Hơn 70 triệu người Bangladesh, 6 triệu người ở vùng đồng bằng thấp của Ai Cập. Các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và vùng Caribe có thể bị thiệt hại hết sức nghiêm trọng. Nước biển ấm lên cũng sẽ sinh ra những cơn bão nhiệt đới mạnh hơn. Với hơn 344 triệu người hiện đang đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các xoáy thuận nhiệt đới, các cơn bão mạnh hơn có thể gây thiệt hại nặng nề cho một nhóm nhiều quốc gia. Có một tỷ người hiện sống ở các khu nhà ổ chuột đô thị, trên các triền đồi có nguy cơ bị sạt lở hay bên các bờ sông luôn bị ngập lụt đang đối mặt với những nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu sẽ hủy hoại những nỗ lực quốc tế trong cuộc chiến chống đói nghèo. Trong tương lai, biến đổi khí hậu có thể sẽ chặn đứng và đẩy lùi thành quả mà biết bao thế hệ đã dày công xây dựng nên không chỉ trong việc giảm tỷ lệ nghèo cùng cực mà còn trong y tế, dinh dưỡng, giáo dục và các lĩnh vực khác.  Ông John Hendra – điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam – cho rằng Việt Nam đang chịu hệ quả của việc tăng nhiệt độ: “Viễn cảnh biến đổi khí hậu làm tăng mực nước biển có thể được người dân London hoặc vùng hạ Manhattan bình thản đón nhận do họ có hệ thống đê bao kiên cố, nhưng đối với những nơi như Bangladesh, ĐBSCL tại Việt Nam, hoàn toàn có cơ sở cho rằng đây là mối hiểm họa đáng lo ngại”.  Dẫn lời của Mục sư Luther Kinh: “Tiến bộ của nhân loại không phải tự dưng mà có và cũng không phải là một điều đương nhiên. Giờ đây, chúng ta đang đối mặt với thực tế là ngày mai cũng chính là ngày hôm nay. Chúng ta đang đối mặt với một tình huống hết sức khẩn cấp của ngày hôm nay. Trong bài toán nan giản này của cuộc sống và lịch sử, chúng ta thấy một vấn đề là có lúc mọi việc trở nên quá muộn màng… Chúng ta có thể kêu gào một cách vô vọng để thời gian ngừng trôi, song con tàu thời gian đâu có để ý đến  tiếng cầu cứu, van xin nào, nó cứ lao đi một cách vội vã. Trong đống ngổn ngang hài cốt và tàn dư của nhiều nền văn minh nổi lên một dòng chữ đầy nuối tiếc: quá muộn mất rồi” Song bản báo cáo của UNDP vẫn khẳng định: “Chúng ta có thể – và phải – giành được thắng lợi trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến tê giác      Loài tê giác Java từng có thời tồn tại phổ  biến trong những cánh rừng và vùng lau sậy của Việt Nam, nhưng vào năm  2010, con tê giác cuối cùng của quốc gia đã bị những kẻ săn trộm giết  hại. Tuy nhiên, ở Việt Nam không hề thiếu sừng tê giác.    Nạn buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp từng phân bổ quanh một số thị trường như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật, và Yemen. Nhưng ngày nay tâm điểm của thị trường tiêu thụ là Việt Nam.     Riêng trong năm ngoái, ước chừng hơn một tấn sừng tê giác đã được tuồn vào thị trường trong nước. Ở Nam Phi, vài cán bộ Việt Nam, trong đó có cả những nhà ngoại giao, đã bị dính líu vào những cáo buộc buôn lậu sừng tê giác.   Tuy nhiên, không phải tất cả sừng tê giác đều nhập vào Việt Nam một cách bất hợp pháp. Luật pháp Nam Phi, tuân thủ theo Hiệp ước Thương mại Quốc tế đối với các loài đang bị đe dọa (CITES), cho phép xuất khẩu sừng tê giác theo hình thức chiến lợi phẩm. Năm 2003, một thợ săn Việt Nam từng bay tới Nam Phi và giết một con tê giác trong một cuộc săn hợp pháp. Không lâu sau đó, vài chục thợ săn Châu Á tiếp nối, mỗi người trả khoảng 50 nghìn USD hoặc hơn để tham gia vào những cuộc săn theo hình thức được cấp phép.   Ở Việt Nam, mỗi cặp sừng tê giác trung bình nặng gần 6 kg, có thể được cắt nhỏ và bán ngoài chợ đen, đem lại một khoản lợi nhuận tối đa chừng 200 nghìn USD sau khi đã trừ các chi phí.   Có nhiều nguyên nhân gây ra cơn sốt sừng tê giác, nhưng yếu tố quan trọng nhất là sự quan tâm tới khả năng chữa bệnh của sừng tê giác mà người ta thường nói tới. Ít nhất là từ 2000 năm nay, Đông dược vẫn coi sừng tê giác – được nghiền thành bột – có khả năng hạ sốt và trị nhiều bệnh. Một vài nghiên cứu tiến hành từ 30 năm nay về tính năng hạ sốt không đem lại kết quả rõ ràng, nhưng một ấn phẩm từ điển dược học cổ truyền năm 2006 có dành riêng hai trang để nói về sừng tê giác.  Sừng tê giác giúp trị liệu ung thư?  Khẳng định gây thu hút chú nhất gần đây là sừng tê giác trị được ung thư. Các nhà nghiên cứu ung thư khẳng định không có nghiên cứu nào về hiệu quả trị ung thư của sừng tê giác được công bố. Tuy nhiên, dù các tính năng của sừng tê giác vẫn còn đáng ngờ, nhưng không có nghĩa là nó vô tác dụng đối với người dùng, nhận định từ Mary Hardy, giám đốc y tế của Trung tâm Simms/Mann UCLA Center for Integrative Oncology, cũng là một chuyên gia y học cổ truyền. “Lòng tin thân đã có tác dụng trị liệu, đặc biệt khi lòng tin đó dành cho một phương thuốc cực kỳ đắt đỏ và khó kiếm thì tác động lên cảm nhận của người bệnh sẽ rất mạnh mẽ”, bà nói.  Để hiểu sừng tê giác được coi trọng đến mức nào ở Việt Nam, tôi đã đi thực tế dọc đất nước cùng một người phụ nữ tên Thiên. Ảnh chụp quang tuyến vú cho thấy có một đốm trong vú phải của chị này; còn ảnh chụp sonogram cho thấy một quầng tối đáng lo ngại trên buồng trứng. Người phụ nữ 52 tuổi có kế hoạch tìm đến những phương pháp trị liệu hiện đại, nhưng đồng thời cũng muốn khám các thày lang cổ truyền. Tôi hỏi chị ta có tin rằng sừng tê giác sẽ giúp chữa lành cho mình hay không. “Tôi không biết”, chị nói. “Nhưng nếu bệnh tình nguy hiểm đến tính mạng thì cũng nên thử xem có chữa được không”.          Kể từ năm 2006, hơn một nghìn tê giác ở Nam  Phi đã bị tàn sát. Năm ngoái, 22 kẻ săn trộm bị bắn hạ, và 200 tên bị  bắt. Tâm điểm của những xung đột đẫm máu này là nhu cầu sử dụng sừng tê  giác, một thành tố rất được coi trọng trong y học cổ truyền ở Châu Á.  Giá chợ đen thường dao động nhiều, từ 33 tới 133 USD mỗi gram theo trích  giá chợ đen ở Việt Nam. Tức là ở mức cao nhất, giá sừng tê giác cao gấp  đôi giá vàng, và có thể cao hơn cả giá cocaine.        Các chuyến đi đưa chúng tôi tới những bệnh viện ung thư, và những bệnh viện y học cổ truyền ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tới các cửa hàng thuốc Đông y, những lái buôn bán bộ phận động vật quý hiếm, và cả những căn nhà tư trong các thị trấn nhỏ. Chúng tôi đã tìm thấy sừng tê giác ở nhiều nơi.  Đa số người sử dụng mà chúng tôi gặp ở Việt Nam thuộc về tầng lớp trung lưu đang gia tăng ngày càng nhanh, trong số đó có những bác sĩ được đào tạo Tây y, một vị giám đốc ngân hàng, một nhà toán học, một người môi giới bất động sản, một kỹ sư, một giáo viên trung học. Thông thường các gia đình chung tiền với nhau để mua một mẩu sừng tê giác và cùng chia nhau sử dụng. Một số người đem biếu ai đó bị bệnh nặng. Mẹ đem cho con uống khi bị sởi. Người già thì quả quyết sừng tê giác giúp tăng cường lưu thông máu và ngăn ngừa đột quỵ. Nhiều người lại coi nó như một dạng siêu-vitamin.   Tuy một số bác sĩ Việt Nam mà tôi có dịp trò chuyện nói rằng sừng tê giác chẳng chữa được gì, càng không thể chữa ung thư, nhưng một số bác sĩ lại khẳng định sừng tê giác có thể góp phần hiệu quả giúp điều trị ung thư. Một số người nói họ chỉ định sừng tê giác dưới dạng viên thuốc uống nhằm giảm đau cho những bệnh nhân ung thư phải trải qua hóa trị và xạ trị. Những người khác, bao gồm Trần Quốc Bình, giám đốc một bệnh viện y học cổ truyền, tin rằng sừng tê giác có thể giúp làm chậm quá trình sinh trưởng một số khối u. “Đầu tiên chúng tôi trị liệu bằng y học hiện đại: hóa trị, xạ trị, phẫu thuật”, ông Trần nói. “Nhưng sau đó, một số tế bào ung thư vẫn tồn tại. Vì vậy chúng tôi dùng y học cổ truyền để xử lý những tế bào này”. Ông nói rằng một hỗn hợp sừng tê giác, nhân sâm, và một số thảo dược khác có thể giúp ngăn chặn các tế bào ung thư, nhưng ông không đưa ra được nghiên cứu qua thẩm định chuyên môn (peer-reviewed) nào để bảo chứng cho quan điểm của mình.   Một buổi tối, cô Thiên và tôi tới một quán cà phê ven hồ nhộn nhịp được giới thiệu bởi một người bạn. Cô Thiên kể về bệnh trạng của mình cho chủ quán nghe, và ông ta đem ra một mẩu sừng màu hổ phách kích cỡ bằng miếng xà phòng, và một đĩa sứ có hình vẽ một con tê giác. Đáy của đĩa nhám như giấy ráp. Ông chủ quán đổ một ít nước xuống đĩa, và bắt đầu mài miếng sừng vào đáy đĩa. Sau vài phút, chiếc sừng bốc ra mùi hăng cay, còn nước chuyển thành màu sữa trắng. Trong khi những vị khách khác không buồn để tâm, ông chủ quán vừa mài vừa giải thích rằng ông ta và một người bạn đã cùng mua chiếc sừng với mục đích bổ trợ sức khỏe và chống ói mửa, và phải trả 18 nghìn USD cho 180 gram sừng. Sau 20 phút mài, người chủ quan đổ dung dịch vào hai cốc nhỏ, đưa một cốc cho cô Thiên, một cốc cho tôi. Hơi sạn một chút, nhưng cơ bản là không có vị gì. Cô Thiên uống cạn cốc dung dịch và nói “hi vọng là có hiệu quả”.  Chăn nuôi tê giác lấy sừng  John Hume, một doanh nhân Nam Phi, tin rằng không cần phải giết tê giác để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sừng của Việt Nam. Nhà đầu tư 69 tuổi này từng thành đạt nhờ kinh doanh khách sạn và taxi trước khi đầu tư làm trang trại nuôi thú, tập hợp được một trong những đàn tê giác sở hữu bởi tư nhân lớn nhất trên thế giới. Hiện nay ông ta có hơn 700 con tê giác trắng và đen trong hai trang trại, và vẫn muốn tiếp tục mở rộng hơn nữa.          Vào thập kỷ 1970 và 1980, những kẻ săn trộm  đã làm hủy diệt nghiêm trọng hai loài tê giác trắng và tê giác đen của  Châu Phi. Nhưng sau đó Trung Quốc cấm dùng sừng tê giác trong dược liệu  cổ truyền, còn Yemen thì cấm dùng sừng tê làm cán dao tế. Số liệu cho  thấy những giải pháp này giúp giảm đáng kể nạn săn trộm. Tuy nhiên, tới  2008, số lượng tê giác bị săn trộm ở Nam Phi tăng đột biến, 83 con so  với 13 con năm 2007. Tới 2010 con số tăng thành 333 con, và năm 2011 là  hơn 400 con. Mạng lưới giám sát quốc tế cho rằng đa số các vụ buôn sừng  tê giác đều dẫn tới điểm đến là Việt Nam.        “Chúng ta lấy lông của cừu, sao lại không thể lấy sừng của tê giác?”, ông ta đặt câu hỏi. “Nếu bạn cắt sừng tê giác trên gốc sừng khoảng 3 inch, nó sẽ mọc lại sau 2 năm. Điều này nghĩa là nguồn cung cấp sừng tê giác sẽ không bao giờ cạn nếu bạn giữ con vật sống được”.   Gần như mỗi tuần một lần, người quản lý thú và một bác sĩ thú y của Hume, dưới sự giám sát của một nhân viên nhà nước, gây mê một con tê giác và cắt lấy hai sừng bằng cưa máy. Chỉ hai mươi phút sau, con vật lại tiếp tục được chăn thả, trong khi chiếc sừng, được cài một microchip, đã trên đường tới két bảo quản của một ngân hàng. Hume từ chối không cho biết đã thu được bao nhiêu tiền kể từ khi bắt đầu thu hoạch vào năm 2002, nhưng nếu ước tính một cách khiêm tốn thì con số phải cỡ vài chục triệu USD.   Ý tưởng chăn nuôi tê giác trên quy mô lớn của Hume là một trong số một chuỗi các giải pháp bảo tồn tự nhiên ở Nam Phi. Năm 1961, các nhà chức trách tỉnh Natal đi tiên phong trong việc đưa tê giác hoang vào các vùng đất tư nhân nhằm gia tăng phối giống và tăng cường đa dạng nguồn gene. Năm 1986, hội đồng giám sát các công viên Natal cho phép bán đấu một số tê giác dư thừa trong vùng bảo tồn của tỉnh theo giá thị trường, đem lại hàng triệu USD cho các quỹ bảo tồn địa phương. Hume cho rằng việc thu hoạch sừng tê giác là bước đi phù hợp tiếp theo giúp bảo tồn và tăng giá trị của những con thú.  Hume rất nhiệt thành tin vào ý tưởng của mình. Ông cho rằng thật vô lý khi một thợ săn Việt Nam luôn sẵn lòng bắn thuốc mê vào con thú, cưa lấy sừng, và để con vật sống sót, nhưng “luật Nam Phi quy định rằng thợ săn phải giết con tê giác mới được phép xuất khẩu chiếc sừng dưới dạng chiến lợi phẩm”.  Hume cho rằng quan niệm sai lầm là do người ta nghĩ ngà voi cũng tương tự như sừng tê giác. Ngà thực ra là răng của voi, trong khi sừng là keratin, tương tự như móng ngựa. Khi ngà voi bị cưa, những dây thần kinh bên trong có thể bị nhiễm trùng làm chết con thú. Việc bắn thuốc mê một con voi cũng nguy hiểm hơn nhiều bắn thuốc mê tê giác, vì voi có kích thước lớn hơn, và đàn voi có xu hướng bảo vệ nhau cao hơn.  Các nhà bảo tồn cho rằng hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác sẽ chẳng hề làm giảm động cơ của những kẻ săn trộm: săn trộm để lấy sừng sẽ luôn rẻ hơn so với chăn nuôi. Nhưng quan điểm của Hume thì khác: khi khách hàng đã tin tưởng vào nguồn cung ứng sừng tê giác hợp pháp, giá thành sẽ hạ, giúp làm giảm động cơ của những hội săn trộm. “Khác biệt cơ bản ở đây là những kẻ săn trộm chỉ chạy theo lợi nhuận dễ dàng trước mắt. Còn những người chăn nuôi đầu tư vì nguồn thu ổn định lâu dài”.    Lược dịch theo   http://ngm.nationalgeographic.com/2012/03/rhino-wars/gwin-text/2    Ảnh 2: Số lượng tê giác bị giết ở Nam Phi qua những năm gần đây  Ảnh 3: Sừng tê giác được không ít người Châu Á cho là một thần dược       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung: Chi phí nghiên cứu của Mỹ tăng      Vào giữa tháng 6/2018, Mỹ và Trung Quốc đã rơi vào thế đối đầu khi cùng áp các mức thuế nhập khẩu đối với nhiều loại hàng hóa, trong đó có nhiều loại thiết bị phòng thí nghiệm và chất thử. Điều này có thể làm tăng chi phí nghiên cứu và đem lại những tác động rõ rệt đến các phòng thí nghiệm Mỹ.      Nhà vật lý Leslie Rosenberg bên máy dò vật chất tối ADMX tại trường Đại học Washington ở Seattle. Nguồn: Trường Đại học Washington  Cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã bắt đầu vào ngày 15/6, khi Chính phủ Mỹ loan báo mức thuế 25% trên 818 hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, danh sách bao gồm nhiều loại thiết bị quan trọng trong nghiên cứu như các chi tiết thiết bị điện cơ bản, kính hiển vi, các thiết bị khảo sát địa chất…  Tổng thống Donald Trump cho rằng các loại thuế này, sẽ có hiệu lực vào ngày 6/7/2018, là nhằm giảm bớt ưu thế của Trung Quốc trong nhiều ngành công nghiệp như sản xuất robotic, vật liệu mới, công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông và sẽ góp phần tạo sân chơi cho các công ty của Mỹ. Chính quyền Trump đang tính đến việc áp thêm nhiều loại thuế nhập khẩu khác vào 184 hàng hóa công nghiệp khác của Trung Quốc, trong đó có cả hóa chất.  Một ngày sau thông báo của Mỹ, Bộ Thương mại Trung Quốc đã lập tức đáp trả với một danh sách các mức thuế nhập khẩu có hiệu lực vào ngày 6/7/2018 trên với 545 sản phẩm Mỹ xuất sang nước này. Chính phủ Trung Quốc sẽ áp dụng các loại thuế với 114 mặt hàng Mỹ xuất khẩu nữa trong thời gian tới, bao gồm các loại hóa chất cơ bản, các thiết bị y tế như máy cộng hưởng từ (MRRI), dù chưa thông báo chính thức thời điểm các mức thuế này có hiệu lực.  Phản ứng của các nhà khoa học Mỹ  Các nhà khoa học Mỹ đã nhanh chóng phản ứng việc áp dụng mức thuế nhập khẩu của Chính phủ Mỹ. Thomas Lapen – nhà địa hóa học tại trường Đại học Houston, Texas, nói: “Tôi phản đối việc áp các mức thuế này bởi điều đó chỉ thêm phần ảnh hưởng đến nguồn ngân sách đầu tư cho nghiên cứu vốn bắt đầu có nguy cơ thiếu hụt của đất nước này”. Vật tư thiết bị là khoản chi lớn thứ hai trong những nghiên cứu của ông, chỉ sau tiền công. Laphen cho biết, chi phí có xu hướng tăng lên bởi các chi tiết, thiết bị mà nhóm nghiên cứu do ông dẫn dắt nằm trong danh mục Mỹ đánh thuế nhập khẩu, như động cơ điện cho các máy ly tâm.  Priscilla Cushman – một nhà vật lý nghiên cứu về vật chất tối tại trường Đại học Minnesota ở Minneapolis, nói các nhà khoa học giữ vị trí trưởng khoa trong những trường đại học Mỹ nên xem xét kỹ để thấy liệu các loại thuế này sẽ ảnh hưởng đến khoa học của họ hay không.  Các loại thuế nhập khẩu cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chi phí của những thiết bị lớn, như máy dò vật chất tối ADMX đang được lắp đặt tại trường Đại học Washington ở Seattle. Nhà vật lý Leslie Rosenberg – người phụ trách dự án này, đang lo ngại thiết bị mà nhóm nghiên cứu của ông đang cần để thực hiện thí nghiệm – ví dụ như các công cụ phát điện, truyền tải điện và những chi tiết điện khác do Trung Quốc sản xuất, có thể phải chịu những loại thuế nhập khẩu mới này. Rosenberg cho rằng, về tổng thể thì với việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu mới, hầu như chắc chắn khiến năng lực nghiên cứu khoa học của Mỹ sẽ phần nào bị suy giảm.      Về tổng thể thì với việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu mới của Trung Quốc, chắc chắn là năng lực nghiên cứu khoa học của Mỹ sẽ phần nào bị suy giảm. Nhà vật lý Leslie Rosenberg      Nhưng nhiều nhà nghiên cứu khác lại không lo ngại như Rosenberg. Roberto Refinetti – một nhà sinh tâm lý đang nghiên cứu về các đồng hồ sinh học tại trường đại học liên bang Boise ở Idaho, vẫn dùng một số thiết bị cỡ nhỏ do Trung Quốc sản xuất để phục vụ cho các dự án nghiên cứu của mình như máy dò chuyển động hồng ngoại để theo dõi động vật gặm nhấm, thì không nghĩ rằng các loại thuế nhập khẩu với hàng hóa Trung Quốc sẽ làm tăng đáng kể chi phí nghiên cứu của mình, bởi ông vẫn thường xuyên mua các loại thiết bị kiểu đó.  Nhà Trắng và Văn phòng đại diện thương mại Mỹ đã không trả lời khi Nature đề nghị bình luận về những lo ngại của các nhà nghiên cứu.  Những ảnh hưởng gián tiếp ở Trung Quốc  Tại Trung Quốc, cuộc tranh chấp về thuế nhập khẩu giữa hai chính phủ có thể làm tăng thêm giá các chất thử chuẩn vẫn được dùng trong các phòng thí nghiệm và những thiết bị y tế mà các nhà khoa học nước này vẫn nhập từ Mỹ. Ruibang Luo – nhà tin sinh học tại trường Đại học Hong Kong đang hợp tác với các nhà nghiên cứu đại lục, lo ngại việc áp dụng thuế trên diện rộng với các sản phẩm do Mỹ sản xuất, ngay cả thiết bị dùng trong nghiên cứu như các loại máy giải trình tự DNA.  Nhưng theo Yu Zhou – một nhà khoa học ở trường Vassar College tại New York hiện đang nghiên cứu về chính sách phát triển KH&CN ở Trung Quốc, các loại thuế cũng không thể tạo ra tác động rõ rệt với các dự án nghiên cứu và thực nghiệm tại quốc gia này. Chị cho biết, nhiều trường đại học nhận được khoản ngân sách đầu tư cho nghiên cứu đủ lớn để có thể “chấp nhận” sự nhích lên của chi phí nghiên cứu. Từ bây giờ, các nhà nghiên cứu có thể chia sẻ với nhau nhiều hơn các thiết bị nghiên cứu hoặc mua các loại sản phẩm phục vụ nghiên cứu do nhiều quốc gia khác ngoài Mỹ sản xuất.  Brian Xu, nhà nghiên cứu về chất độc làm việc trong ban tư vấn khoa học của công ty ACTA ở Washington DC, công ty có nhiều đối tác thương mại ở đại lục Trung Quốc, đồng ý với nhận định là đề xuất của Trung Quốc về các mức thuế nhập khẩu đối với hóa chất và thiết bị khoa học do Mỹ sản xuất không dẫn đến tác động quá lớn. Ông lưu ý là các nhà nghiên cứu Trung Quốc chỉ nhập khẩu một lượng nhỏ hóa chất của Mỹ và thường xuyên nhập các thiết bị nghiên cứu từ nhiều quốc gia khác như Nhật Bản và Mỹ, vốn có chất lượng và giá thành tương đương.  Tuy nhiên “cuộc chiến” thuế nhập khẩu vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Vào ngày 18/6/2018, Tổng thống Mỹ Trump đã đe dọa sẽ áp đặt tăng thêm thuế nhập khẩu lên hàng hóa Trung Quốc nếu quốc gia này không hủy bỏ thuế nhập khẩu lên hàng hóa và tạo ra một sự liên kết thương mại cân bằng hơn với Mỹ.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/tin-tuc/cuoc-chien-thuong-mai-mytrung-chi-phi-nghien-cuu-cua-my-tang/20180628090841762p1c882.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến tranh công nghệ bán dẫn và máy tính (Phần 1: Công nghệ máy tính)      Tôi đã có những trải nghiệm cá nhân thực sự về cuộc chiến tranh này thời đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh.    Ba chiến trường chính của chiến tranh công nghệ trong thế kỷ 21  Lịch sử loài người hình thành bởi các cuộc xung đột, xa xưa là giữa các bộ lạc, sau rồi giữa các dân tộc, đến chiến tranh giữa các quốc gia, và ngày nay là đến liên minh các quốc gia , giữa các phe. Từ hai phe trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đến hai phe trong Chiến tranh Lạnh 1945-1991 và bây giờ còn chưa phân định rõ các phe. Và kết quả của các cuộc chiến tranh xưa nay phụ thuộc vào phương tiện vận chuyển (chạy, ngựa, tàu thuyền, máy bay…), sức mạnh (cơ bắp, cung tên, giáo mác, súng ống, bom đạn…). Nhưng trong thế kỷ 21 này, khi các nhà vật lý đã chỉ ra sức mạnh sau tiếng nổ của bom hạt nhân có thể tiêu diệt loài người trong chớp mắt, sẽ không thể sử dụng tiếng nổ của bom đạn để định hình thế giới được nữa. Sự phân định thắng thua là ở cuộc chiến không tiếng súng, cuộc chiến công nghệ. Công nghệ được hiểu bao gồm Nghiên cứu – Research, Phát triển- Development, Sản xuất- Production, gọi tắt là Chiến tranh RDP. Dự đoán, có ba chiến trường chính của chiến tranh RDP trong thế kỷ 21 là:  I-Công nghệ bán dẫn và máy tính – Semi-conductor & Computing Technology.  II- Lưu trữ năng lượng – Energy Storage.  III- Phản ứng tổng hợp hạt nhân có điều khiển – Controlable Nuclear Fusion.  Loạt bài viết của GS.TS Trần Xuân Hoài sẽ lần lượt điểm qua ba cuộc chiến tranh này.  Cuộc chiến tranh công nghệ bán dẫn và máy tính  PHẦN I: CÔNG NGHỆ MÁY TÍNH  Cuối năm 1969, sau khi đạt được một số kết quả thực nghiệm khá tốt về vật liệu bán dẫn dành cho việc chế tạo linh kiện bán dẫn siêu cao tần (Semiconductor Microwave Devices), tôi cần phải giải bài toán tổng thể để lý giải kết quả và định hướng tìm tòi cho linh kiện và vật liệu cho lĩnh vực mới mẻ này. Để giải bài toán, tôi đã viết một chương trình Fortran khá lớn mà các loại máy tính của phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) khó giải nổi. May sao lúc đó ở thành phố Rotstock, Đức có Trung tâm máy tính chuyên thiết kế tàu thủy, mạnh nhất phe XHCN, mua lậu được một máy mainfram CDC6600 của Control Data Co (Mỹ). Từ Berlin tôi chạy ngay lên đó nhờ vào quota của cậu bạn nghiên cứu sinh đóng tàu, chui được vào trung tâm, chạy máy từ 12 giờ đêm đến sáng, mất cả tuần liền, kết quả tuyệt vời. Máy tính CDC6600 đã có sự nhảy vọt nhờ sử dụng Silicon Transistors (Transitor dùng vật liệu Silic) thay cho vật liệu Germanium, do Seymour Cray lãnh đạo một nhóm chỉ gồm 34 kỹ sư và tiến sĩ thiết kế, được đưa ra thị trường vào năm 1965, thực hiện 3 triệu lệnh (Instructions) trong một giây, giữ kỷ lục mạnh nhất thế giới 5 năm liền.    CDC6600 1964  Trong khi đó phe XHCN có máy tính mạnh nhất cũng trên nền tảng Silicon Transistors là BESM-6 (БЭСМ-Большая Электронно-Счётная Машина) do Viện Cơ khí chính xác và Công nghệ tính toán (Institute of Precision Mechanics and Computer Engineering) thiết kế khởi sự năm 1964 và ra lò 1968-1969, có tốc độ xử lý bằng 1⁄2 CDC6600. Thế cũng là khá lắm rồi, và hệ máy tính này của Liên Xô sống được 19 năm, nó đảm đương mọi tính toán điều khiển cho toàn bộ nền khoa học công nghệ Liên Xô, kể cả chuyến bay Phạm Tuân lẫn chuyến bay liên hợp Mỹ Nga Apollo-Soyus. Năm 1970, máy tính BESM6 được lắp ở Trung tâm máy tính Viện Hàn lâm Khoa học Đức, và tôi là khách hàng thường trực suốt các kíp đêm. Thực ra tôi khó cảm nhận sự khác biệt giữa hai máy tính CDC6600 và BESM6, phải thú thật là như vậy. Cho nên tính cho đến 1970 phe XHCN chỉ lạc hậu so với phe Mỹ 5-6 năm thôi.  Nếu nhìn lại lịch sử từ thời dùng đèn điện tử cộng với bộ nhớ xuyến từ tính, công nghệ của Liên Xô không lạc hậu chút nào, nếu không nói là vượt trội. Máy tính kỹ thuật số (Digital Computer) của Liên Xô được phát triển từ sau thế chiến II. Máy tính đầu tiên được hoàn thành năm 1950 bởi Sergey Lebedev tại Kiev Institute of Electrotechnology in Feofaniya (Viện Công nghệ Điện tử Kiev ở Feofaniya, Ukraine) có tên là MESM (МЭСМ; Малая Электронно-Счетная Машина, Small Electronic Calculating Machine), một số tác giả cho rằng máy này hiện đại nhất tại châu Âu lục địa vào thời đó. Nên nhớ rằng đó là thời cai trị của Stalin, quan điểm của chính quyền là chống lại điều khiển học (Cybergnetic), coi đó là âm mưu của tư bản để chống lại quyền lợi của của công nhân (!).    BESM 6 -1969  Tương đương với trình độ Liên Xô lúc đó là Manchester Mark 1 của Victoria University of Manchester, England (1950) và sau đó là IBM650 (1953) của Mỹ. Như vậy tạm coi xuất phát điểm bằng nhau. Sau 20 năm phe Liên Xô lạc hậu 5 năm. Bây giờ thử nhìn lại sau 50 năm xem cuộc chiến này đã đi đến đâu?  Liên Xô sụp đổ 1991, cuộc đua Xô-Mỹ về Computing Technology tạm dừng 10 năm về phía Nga (thừa kế Liên Xô). Thêm nữa, cuộc chiến bán dẫn vào thập niên 90 đem lại cho Mỹ sự phát triển và thống trị tuyệt đối trong nhiều năm. Các vũ khí hiện đại cũng trở nên thông minh và cần các bộ xử lý để điều khiển, đây mới chính là lý do sâu xa cho việc cần phải làm chủ công nghệ cao.  Nga đã mất rất nhiều chất xám cho Mỹ và phương Tây vào giai đoạn này. Thừa kế BESM6 là công ty Elbrus (1). Vào cuối những năm 1980 đầu 1990 SUN Microsystems, một công ty dẫn đầu công nghệ máy tính của Mỹ gặp bế tắc khi chip của SUN bị kẹt vì hiệu suất đã đến ngưỡng và đã phải nhờ đến người Nga. Nhóm làm Elbrus ở Leningrad và nhóm tính toán song song ở Moscow đã hợp lại để thiết kế SPARC cho SUN, thiết kế đó thừa kế nhiều ý tưởng từ chip Elbrus do Gluskov và nhóm Leningrad làm trước đó.  Năm 1990 Vladimir Pentkovski tham gia thiết kế chip Elbrus-1 và Elbrus-2 di cư sang Mỹ và ông chính là người đứng đầu nhóm thiết kế Pentium III của Intel (2), thiết kế lõi Tualatin của nó chính là cơ sở để tạo nền tảng cho kiến trúc vi mô Core mà Intel vẫn sử dụng đến bây giờ (hơn hẳn lõi của Pentium IV thế hệ sau). Mỹ cũng đã chiếm hữu được công nghệ máy tính ngay trên đất Nga. Ví dụ Boris Artashesovich Babayan (3) – người đứng đầu nhóm thiết kế Elbrus-3 và Elbrus 2000 sau đó là Giám đốc thiết kế của Intel và đứng đầu nhóm phát triển của Intel tại Moscow. Còn hàng ngàn tên tuổi sáng giá của Nga đã đầu quân cho Anh, Mỹ, Đức … khó mà kể hết được.    Bộ nhớ dùng công nghệ lõi ferite năm 1960 (trái) và chip DRAM đầu tiên của Intel năm 1970 (phải)  Như vậy ngay từ đầu người Nga đã nắm vững trong tay công nghệ thiết kế chip và về mặt nào đó chính họ góp phần vào sự phát triển công nghệ bán dẫn của người Mỹ. Tuy thua xa Mỹ và Nhật về thương mại sản phẩm dân dụng nhưng về sức mạnh trí tuệ thì họ đang âm thầm đuổi theo sát Mỹ. Dòng chip Elbrus trước đây cũng được gia công tại Đài Loan. Sau khi bị cấm vận vì sự kiện Crimea, Nga buộc phải tìm cách xây dựng lại cơ sở sản xuất của riêng mình, và họ đã tương đối thành công. Hiện nay toàn bộ chip Elbrus đều đã được sản xuất tại Nga.  Như vậy Nga không lệ thuộc vào nước nào trong chuỗi cung ứng của công nghệ bán dẫn này. Ngoài Elbrus với dòng chip cho máy tính bàn và máy chủ thì Nga còn có Công ty Baikal sản xuất chip trên kiến trúc ARM (được sử dụng trên tất cả thiết bị smartphone hiện nay) lẫn MIPS32. Như vậy Nga đang sở hữu công nghệ sản xuất chip rất đa dạng và khá chủ động.  Cho đến đầu thế kỷ này, Trung Quốc không có tên trên bản đồ sáng tạo công nghệ tính toán thế giới, nhưng họ đã nổi lên nhanh chóng trong khoảng 15 năm gần đây. Tuy nhiên cho đến nay thì các thiết kế các bộ vi xử lý chủ yếu vẫn là mua hay sao chép của nước ngoài. Ngay những tên tuổi lớn như Huawei (chip Kirin 9000 hiện đại nhất) cũng là thuê, mua hoặc chép lại phần lớn công nghệ của Anh, Mỹ (IBM, ARM…). Mới nhất thì Trung Quốc nổi lên với các thiết kế chuyên cho AI như Alibaba với chip Hanguang 800; Cambricon-1H và Cambricon-1M Siyuan 290, Siyuan 220 của một công ty mới nổi Cambrian Technologies (ra đời năm 2016) do Liang Jun (梁军-Lương Quân) nguyên là người của Huawei HiSilicon cùng đội ngũ 10 nhà khoa học của Viện Công nghệ Tính toán của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences’ Institute of Computing Technology) lập ra (4). Lĩnh vực mới mẻ này là hi vọng vượt Mỹ của Trung Quốc. Hiện nay thì các chip này của Trung Quốc phải thuê nước ngoài chế tạo.  Cuộc chiến này bây giờ tạm gọi là giữa phe UJEKT (Us-Japan-Euro-Ko- rea-Taiwan) với phe RUSCHI (Russia- China) Phải chăng là Nga và phe Nga và Trung quốc (RUSCHI) không lạc hậu so với phe UJEKT nữa? Vẫn lạc hậu, kể cả liên kết với tiềm lực kinh tế Trung quốc cũng vẫn lạc hậu, ít nhất là 10 năm.  Vì sao như vậy… xin xem tiếp kỳ sau: Cuộc chiến bán dẫn-Semiconductor War sẽ rõ…  Chú thích:  (1) http://www.mcst.ru/  (2) https://en.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Pentkovski  (3) https://en.wikipedia.org/wiki/Boris_Babayan  (4) https://syncedreview.com/2020/07/20/chinese-ai-chip-maker-cambricon-share-  price-surges-350-on-ipo-debut-raising-us-369-million/  CAS Center for Excellence in Brain Science and Intelligence Technology. Cambricon Ltd  https://seal.ece.ucsb.edu/sites/default/files/publications/07551409.pdf    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Cuộc đua tìm urani      C&#225;c hoạt động thăm d&#242; Urani đ&#227; bắt đầu được khởi động lại sau 20 năm l&#227;ng qu&#234;n trong &#8220;m&#249;a đ&#244;ng hạt nh&#226;n&#8221;, bắt đầu bằng tai nạn tại nh&#224; m&#225;y điện hạt nh&#226;n Three Mile Island (1979) ở Mỹ v&#224; thảm họa Chernobyl (1986) ở Li&#234;n X&#244;. Giờ đ&#226;y, từ Australia đến Namibia, từ Cadắcxtan đến M&#244;ng Cổ v&#224; cả ở Canada, tất cả đang lao v&#224;o cuộc t&#236;m kiếm nguồn t&#224;i nguy&#234;n qu&#237; hiếm n&#224;y với mục ti&#234;u: cần phải c&#243; đủ nguồn nhi&#234;n liệu để cung ứng cho c&#225;c nh&#224; m&#225;y điện nguy&#234;n tử.    Theo các chuyên gia năng lượng nguyên tử, hiện nay trên thế giới có 3 dạng trữ lượng tài nguyên Urani. Thứ nhất là nguồn tài nguyên chắc chắn khai thác được ước tính khoảng 3,34 triệu tấn và có thể khai thác với giá tối đa 130USD/kg. Thứ hai là nguồn tài nguyên suy đoán, khoảng 2,13 triệu tấn, là nguồn Urani mà về mặt địa chất học người ta cho rằng có tồn tại và việc khai thác có thể thực hiện được. Cuối cùng là nguồn tài nguyên bán phần hoặc chưa được phát hiện, nhưng người ta biết rằng nó tồn tại trong lòng đất. Nguồn trữ lượng này ước tính khoảng 2,8 triệu tấn. Ngoài ra còn có khoảng 7,8 triệu tấn mà các nghiên cứu cho thấy có sự tồn tại và chưa kể những khu vực hoàn toàn chưa được thăm dò. Đối với nguồn tài nguyên này, các nhà địa chất cần phải xác định rõ hơn trong những năm tới. Như vậy, tổng số trữ lượng tài nguyên Urani trên thế giới có thể lên đến 16 triệu tấn.  Tạp chí Uranium 2007, Cơ quan Năng lượng nguyên tử (NEA) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCDE) cũng đánh giá rằng trữ lượng tài nguyên Urani toàn cầu có thể khai thác ước tính khoảng 5,5 triệu tấn, chưa kể 10 triệu tấn mà các nhà địa chất học ước tính ở những khu vực được xác định là có mỏ Urani. Theo Georges Capus, Phó Chủ tịch phụ trách thị trường, khai thác và làm giàu Urani thuộc tập đoàn Areva, nếu so sánh con số 5,5 triệu tấn với mức tiêu thụ hằng năm hiện nay của các nhà máy điện, khoảng 70.000 tấn, thì nguồn trữ lượng này có thể đảm bảo cung ứng cho các nhà máy điện trên thế giới trong vòng 80 năm nữa. Còn sau đó? Theo nhận định của các chuyên gia, mặc dù các rào cản kỹ thuật và tài chính hiện nay chưa thể cho phép khai thác nhiều Urani, nhưng vẫn có hàng triệu tấn còn đang nằm trong các mỏ phốt phát và hàng tỉ tấn ẩn chứa trong các đại dương.  Các số liệu do những người ủng hộ nguyên tử đưa ra hiện nay đang khiến các nhà bảo vệ môi trường hoài nghi. Ngoài giá thành đắt đỏ của các nhà máy điện hạt nhân, việc quản lý chất thải, các nguy cơ rủi ro, hoặc xu hướng phổ biến vũ khí quân sự, các nhà môi trường viện dẫn sự hiếm hoi của nguồn tài nguyên này để đề nghị ngừng phát triển các chương trình điện hạt nhân.          Một mỏ uranium ở Australia                    Trữ lượng tài nguyên Urani toàn cầu có thể khai thác ước tính khoảng 5,5 triệu tấn, chưa kể 10 triệu tấn mà các nhà địa chất học ước tính ở những khu vực được xác định là có mỏ Urani. Nguồn trữ lượng này có thể đảm bảo cung ứng cho các nhà máy điện trên thế giới trong vòng 80 năm nữa.         Kể từ khi nền công nghiệp hạt nhân bắt đầu khởi động, khoảng 2 triệu tấn Urani đã được sản xuất, trong đó một số mỏ ở Canada cho khoảng 200 kg Urani trong 1 tấn đất đá, Urani khai thác từ thiên nhiên chỉ chiếm hơn nửa lượng nguyên liệu cần thiết cho các nhà máy điện, 45% còn lại được chuyển đổi từ nguồn Urani sử dụng trong quân sự của Nga và Mỹ, cũng như từ các nguồn dự trữ của các công ty điện lực lớn. Một khối lượng lớn nguyên liệu hiện đang sử dụng đều đang ở giai đoạn gần hết thời hạn sử dụng.  Theo các chuyên gia thuộc Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), trữ lượng tìm thấy hiện nay cũng đủ để đáp ứng nhu cầu đến năm 2030, ngay cả trong trường hợp số lượng nhà máy điện hạt nhân tăng gần gấp đôi con số 443 hiện nay. Chính vì vậy, nguồn Urani không phải là rào cản sự phát triển các nhà máy điện hạt nhân mới. Nhưng theo Yves Cochet, Nghị sĩ Đảng Xanh của Pháp, cũng như khí đốt và dầu lửa, nhiên liệu không tái sinh, trữ lượng Urani có hạn không thể là cơ sở để ta nghĩ đến việc khởi động hàng loạt dự án điện hạt nhân, nhất là trong trường hợp những mỏ dễ nhất thì đã được khai thác từ lâu rồi.  Bản thân ông Georges Capus cũng công nhận trong tương lai, việc khai thác sẽ khó khăn hơn nhiều. Không thể đi dạo với máy thăm dò để tìm kiếm mỏ Urani như trước kia nữa, dù vẫn còn những miền đất “hứa” với nguồn trữ lượng nguyên vẹn, nhưng việc khai thác sẽ không dễ dàng. Đó là khu vực Cận đông Nga, miền đất gần Bắc Cực của Canada, một số nước châu Phi, Trung Á, lưu vực Amazon ở Brazil… Tuy nhiên, nếu các cuộc thăm dò mới được khởi động, hoạt động ở các mỏ đang khai thác sẽ phải ngưng lại hoặc tiến hành với tốc độ chậm hơn.          1 kg Uranium = 35 triệu kg than đá        Hơn nữa, việc khai thác các mỏ Urani cũng gặp nhiều khó khăn do chi phí tăng cao. Đó là chưa kể công tác đào tạo chuyên gia địa chất, khoan thăm dò và để có thể tiếp cận các mỏ Urani cũng phải cạnh tranh khắc nghiệt hơn. Thời kỳ mà các hãng phương Tây độc quyền khai thác đã qua rồi. Các nước sản xuất giờ đây muốn ra giá cao nhất đối với nguồn tài nguyên của họ. Năm 2007, Areva mất độc quyền khai thác ở Nigiê, tập đoàn này mất thêm 1 năm cạnh tranh với Canada và Trung Quốc, để có thể đạt được hợp đồng khai thác mỏ Imouraren ở nước này. Thêm vào đó, những khó khăn kinh tế và tài chính khiến ngày càng nhiều doanh nghiệp bị xáo trộn hoặc bị sáp nhập như tập đoàn Areva (mỏ, nhiên liệu, lò phản ứng, tái xử lý); các công ty xây dựng lò phản ứng (Toshiba-Westinghouse); các công ty khai thác mỏ lâu đời (BHP Billiton, Rio Tinto) và cả các tập đoàn điện. Việc giá Urani tăng vọt lên đến 130 USD/livre (0,5kg) Urani thời kỳ 2006- 2007 đã khiến hàng loạt các công ty môi giới nhỏ mọc lên như nấm, ước tính có đến 700 công ty kiểu này. Nhưng sau khi giá hạ xuống mức 50USD thì rất nhiều trong số chúng đã biến mất. Khủng hoảng tài chính hiện nay khiến một số dự án bị ngưng lại, nhưng những người ủng hộ vẫn rất lạc quan về tương lai… xán lạn của năng lượng nguyên tử.                          Theo Le Monde    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc gặp gỡ với Enrico Fermi      Freeman John Dyson FRS là một nhà vật lý và toán học lý thuyết người Mỹ gốc Anh. Ông được biết đến với công trình của mình trong điện động lực học lượng tử, vật lý chất rắn, thiên văn học và kỹ thuật hạt nhân. Ông đã đưa ra một số khái niệm mang tên ông, chẳng hạn như biến đổi Dyson, cây Dyson, loạt Dyson, và quả cầu Dyson.    Cuộc gặp gỡ với Enrico Fermi được Dyson coi là một mốc quan trọng đối với ông. Đến gặp Fermi đầy háo hức, mang theo kết quả nghiên cứu của một công trình triển vọng nhưng hứa hẹn để rồi bị chỉ ra rằng Dyson và cộng sự đang đâm đầu vào một ngõ cụt. Đó là thời điểm các nhà khoa học háo hức với việc phát hiện ra các lực tương tác hạt nhân mạnh, và Fermi tin rằng mình đã khám phá ra bí ẩn đằng sau đó. Hiện giờ chúng ta đều biết đó chính là kết quả của tương tác mạnh, một trong bốn tương tác cơ bản của tự nhiên, và ảnh hưởng bởi các hạt quark, phản quark và các gluon. Nhưng ở thời điểm đó, Dyson đã dựa vào một lý thuyết sai lầm. Đã hơn 70 năm trôi qua kể từ thời điểm đó, nhưng những gì Fermi, chỉ bằng trực giác, chỉ ra sai lầm của Dyson vẫn còn rất nhiều ý nghĩa với các nhà vật lý học sau này, để tránh việc mày mò trong khi thiếu những yếu tố cần thiết để bảo vệ kết quả của mình. Bản thân GS. Đàm Thanh Sơn cũng viết trên blog cá nhân: “Đọc câu chuyện này tôi cũng nhận ra chính mình: Bản thân tôi đã làm nhiều tính toán không có bức tranh vật lý rõ ràng, không có hình thức luận chặt chẽ, và thậm chí cũng không có cả thực nghiệm để so sánh!”    Enrico Fermi.  Một trong những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời của tôi chính là việc gặp Enrico Fermi vào mùa xuân năm 1953. Chỉ trong vài phút, Fermi đã làm sụp đổ, một cách lịch sự nhưng tàn nhẫn, một chương trình nghiên cứu mà cả tôi và các sinh viên đã theo đuổi vài năm nay. Ông có lẽ đã giúp chúng tôi tránh khỏi nhiều năm nữa tiếp tục lang thang trên một con đường chẳng dẫn đến đâu. Tôi mãi mãi biết ơn ông vì đã đập tan cái ảo tưởng và nói cho chúng tôi biết sự thực cay đắng. Fermi là một trong những nhà vật lý vĩ đại đương thời, cả trên cương vị một nhà vật lý lý thuyết lẫn thực nghiệm. Ông đã dẫn đầu nhóm xây dựng lò phản ứng hạt nhân đầu tiên ở Chicago năm 1942. Năm 1953, ông là người đứng đầu đội thiết kế và chế tạo máy gia tốc hạt Cyclotron ở Chicago, và đang sử dụng nó để khám phá những lực tương tác mạnh giúp giữ các hạt nhân lại với nhau. Ông cũng là người đầu tiên đã đưa ra các số đo chính xác của tán xạ meson-proton, và do đó chứng tỏ sự tồn tại của các lực đó.  Lúc tôi còn là một giáo sư trẻ về vật lý lý thuyết tại Đại học Cornell, chịu trách nhiệm chỉ đạo một lực lượng nhỏ gồm các nghiên cứu sinh và nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ. Nhiệm vụ đặt ra là tính toán tán xạ meson-proton, và do đó có thể so sánh với số liệu Fermi đưa ra. Vào năm 1948 và 1949, chúng tôi đã thực hiện những tính toán tương tự của các quá trình nguyên tử, sử dụng lý thuyết về động lực học lượng tử, và tìm thấy sự tương ứng một cách ngoạn mục giữa lý thuyết và thực nghiệm. Động lực học lượng tử là một lý thuyết về các hạt electron và photon tương tác với nhau thông qua lực điện từ. Khi đó, vì lực điện từ yếu, chúng tôi có thể tính toán các quá trình xảy ra trong nguyên tử một cách chính xác. Đến năm 1951, chúng tôi đã thành công và tìm kiếm những hướng đi mới để chinh phục. Chúng tôi quyết định sử dụng các kỹ thuật tính toán tương tự để khám phá các lực hạt nhân mạnh, bắt đầu bằng việc tính tán xạ meson-proton, sử dụng lý thuyết meson giả vô hướng (một lý thuyết tương tác mạnh, mô tả tương tác giữa proton, neutron và hạt pion gọi là “pseudoscalar meson theory”). Vào mùa xuân năm 1953, sau những nỗ lực vô cùng to lớn, chúng tôi đã phác thảo đồ thị lý thuyết của meson-proton và vui mừng khi thấy các con số của mình rất gần với tính toán của Fermi. Tôi hẹn gặp Fermi và cho ông thấy kết quả đã đạt được. Tôi bắt xe buýt Greyhound từ Ithaca đến Chicago, đầy tự hào khi sắp sửa được gặp và trình bày thành quả đã làm được với Fermi.  Khi tôi đến văn phòng, tôi lập tức đưa ngay đồ thị cho Fermi nhưng ông thậm chí không thèm liếc nhìn. Ông mời tôi ngồi, thân thiện hỏi thăm tôi về vợ cũng như đứa con mới sinh, giờ đây khi tôi viết bài này đã ở vào độ tuổi 50. Thế rồi, chậm rãi và từ tốn, ông kết luận: “có hai cách tính toán trong vật lý lý thuyết… Cách thứ nhất, và cũng là cách tôi thích hơn, chính là có một bức tranh vật lý rõ ràng về quá trình tính toán. Cách kia là có một hình thức luận toán học chặt chẽ và nhất quán. Anh chẳng có cái nào trong hai cách trên.” Choáng váng, tôi vẫn đánh bạo hỏi ông là vì sao ông không coi lý thuyết meson giả vô hướng (pseudoscalar meson theory) là một hình thức luận toán học nhất quán. Ông trả lời, “Điện động lực học lượng tử là một lý thuyết tốt vì các lực yếu và khi hình thức luận còn mơ hồ, chúng ta được dẫn dắt bởi một bức tranh vật lý rõ ràng. Với lý thuyết meson giả vô hướng thì không có bức tranh vật lý nào cả, còn các lực thì quá mạnh đến nỗi chẳng có gì hội tụ được. Do đó để đạt được các kết quả tính toán, anh phải cắt bớt tùy tiện mà không dựa trên cơ sở vật lý hay toán học chắc chắn nào cả”. Trong tuyệt vọng, tôi hỏi liệu Fermi có ấn tượng với sự phù hợp giữa những tính toán của chúng tôi và những con số ông đã đưa ra. Đáp lại, Fermi hỏi về số lượng những tham số tự do được sử dụng trong các tính toán của chúng tôi. Nghĩ đến “quy trình cắt bớt”, tôi trả lời “Bốn.” Fermi nói, “Tôi nhớ ông bạn Johnny von Neumann của tôi từng nói, với bốn tham số tôi có thể vẽ được đồ thị hình con voi, còn với năm tham số tôi có thể làm nó ngọ nguậy cái vòi.”    Freeman Dyson trong bộ phim tài liệu  Freeman Dyson: Space Dreamer (2016) (Freeman Dyson: Người mơ về không gian).  Cuộc trò chuyện kết thúc ở đó, tôi cảm ơn Fermi về thời gian mà ông đã dành cho tôi cũng như sự rắc rối này, và quay trở lại thông báo tin xấu đến các sinh viên trong buồn bã. Chúng tôi không từ bỏ các tính toán ngay lập tức vì các sinh viên cần phải có bài báo công bố khoa học dưới tên của mình. Chúng tôi kết thúc, viết một bài báo dài và được xuất bản một cách hợp lý trong tờ Physical Review với toàn bộ tên của cả nhóm. Sau đó, chúng tôi giải tán và mỗi người đi theo một lĩnh vực khác.Tôi chuyển đến Berkeley, California và theo đuổi một sự nghiệp nghiên cứu Vật lý chất rắn.  Tại thời điểm này khi nhìn lại, chúng tôi nhận ra rằng Fermi đã đúng. Điều quan trọng là tìm được lý thuyết đúng đắn của tương tác mạnh, mà phải đến hai mươi năm sau mới xuất hiện: Sắc động học lượng tử, mô tả tương tác giữa các quark. Meson và proton là các túi quark nhỏ, và trước Murray GellMann (người phát hiện ra các quark), không có lý thuyết tương tác mạnh nào đủ để giải thích. Fermi dĩ nhiên không biết gì về quark, ông qua đời trước khi chúng được phát hiện. Nhưng bằng trực giác thiên tài, ông biết điều gì đang còn thiếu trong các lý thuyết meson vào những năm 1950. Chính trực giác đó cho ông biết thuyết giả vô hướng là không thích hợp, và cứu chúng tôi khỏi vài năm nữa lần mò trong con hẻm tù.  Minh Châu dịch  Nguồn: https://www.up.ac.za/media/shared/537/ZP_Files/fit_an_elephant.zp53864.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc thi Chiếc Thìa Vàng 2016: “Xu hướng ẩm thực Việt thời hội nhập”      Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống. Qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét đẹp văn hóa thể hiện ở một con người, văn hóa của một dân tộc với những đạo lý, phép tắc, phong tục tập quán trong cách ăn uống…        “Đến hẹn lại lên,” cuộc thi Chiếc Thìa Vàng năm 2016 do Công ty TNHH Minh Long I tổ chức đã bắt đầu khởi động với chương trình giao lưu “ Xu hướng ẩm thực việt thời hội nhập” do Ban tổ chức cuộc thi Chiếc Thìa vàng, Hiệp hội Khách sạn Việt Nam, Sở du lịch Hà Nội và Hiệp hội du lịch Hà Nội phối hợp tổ chức. Cuộc thi sẽ giúp cho các đầu bếp hiểu hơn về xu hướng ẩm thực Việt thời hội nhập và cách trang trí món ăn sao cho bắt mắt, hấp dẫn, hỗ trợ kỹ năng thực hành, nâng cao chất lượng món ăn, góp phần giữ vững vị thế đầu bếp việt trong thời kỳ hội nhập, nâng cao hiểu biết về dinh dưỡng, có kiến thức vững vàng, sáng tạo. Đến giao lưu chia sẻ về xu hướng ẩm thực trong cuộc thi lần này còn có chuyên gia về ẩm thực dân gian Việt ông Chiêm Thành Long và Hiệu trưởng trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội Nguyễn Xuân Hùng.  Trong những năm qua, Chiếc Thìa Vàng đã giúp các đầu bếp chuyên nghiệp trên khắp các vùng miền trên cả nước thể hiện chia sẻ các món ăn dân dã và truyền thống mang đậm nét văn hóa đặc trưng của từng vùng miền, tìm kiếm, phát hiện, gìn giữ và tôn vinh nét tinh túy của ẩm thực Việt, với thông điệp “Mỗi món ăn quảng bá cho một vùng miền”. Chiếc Thìa Vàng đang dần khẳng định vai trò xã hội của mình qua việc nâng tầm món ăn Việt lên đẳng cấp quốc tế.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc truy tìm thành phố bị lãng quên của người Maya      Hiện nay, các nhà khoa học Mexico và Mỹ vẫn đang tiến hành cuộc truy tìm “Báo đốm trắng”- tên gọi của một thành phố cổ đã bị quên lãng của người Maya Lacandon ở Mexico. Hãy cùng theo chân họ trong hành trình được chính nhóm nghiên cứu kể lại trên Science đưa chúng ta bước vào một cuộc thám hiểm, từng bước phát quang những bụi rậm để hòng tìm dấu vết thành phố cuối cùng của người Maya này.         Thành phố cổ Tikal của người Maya ở Guatemala vốn ẩn sâu trong những tán rừng rậm, đã được các nhà khảo cổ học phát hiện nhờ vào phương pháp định vị trên không bằng tia laser (aerial laser mapping).   Chiapas tại Mexico – cách khoảng 7 giờ chèo thuyền trên sông Tzendales, máy thu GPS của chúng tôi rơi xuống biển và biến mất trong làn nước xanh thẳm. Đây đã là ngày thứ tư của cuộc thám hiểm vào sâu trong khu dự trữ sinh quyển Montes Azules, một trong những khu vực được bảo tồn xa nhất và rộng lớn nhất của Mexico. Bên cạnh của chiếc GPS là một nút SOS  giúp liên lạc với các dịch vụ khẩn cấp hoặc thậm chí triệu tập một máy bay trực thăng cứu hộ. Vậy nên khi mất chiếc GPS, đoàn của chúng tôi, gồm một nhóm các nhà khảo cổ, hướng dẫn viên hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài, khi đang lênh đênh ngược dòng sông mà chưa ai từng chèo tới trong ít nhất 10 năm qua.   Nhưng có lẽ điều này cũng hợp cảnh, bởi lẽ chúng tôi đang đi tìm một thành phố đã biến mất. Thành phố Sac Balam, được xây dựng từ hơn 400 năm trước bởi người Maya Lacandon, một trong các nhóm người bản địa ở miền Nam Mexico và Trung Mỹ, những người đã chống lại thực dân Tây Ban Nha trong nhiều thế kỷ.   Sac Balam không phải là kiểu thành phố Maya mà khách du lịch vẫn ùn ùn kéo tới ngày nay.  Nơi đó không có những ngôi đền bằng đá hùng vĩ, những ngôi mộ tinh vi hay những tác phẩm điêu khắc công phu. Trên thực tế, nó đơn giản đến mức những tàn tích của nó khó có thể được một người không có kinh nghiệm phát hiện ra. Nhưng hàng trăm người Lacandon đã từng sống ở đó, tránh né sự dòm ngó của người Tây Ban Nha và tự do tiếp tục lối sống của tổ tiên họ trong nhiều thế kỷ: trồng ngô và đậu, nuôi gà tây, dệt mái tranh để chống lại mưa nhiệt đới và dâng lễ vật cho các vị thần trong hang động gần đó. Người Lacandon đã tự “khóa trái” cánh cửa với thế giới bên ngoài bằng khu rừng rậm xa xôi không thể bị xâm nhập này. Và họ được an toàn.   Nhưng mọi thứ kết thúc vào năm 1695, khi người Tây Ban Nha cuối cùng cũng đã tìm thấy thành phố. Chưa đầy 20 năm sau, họ buộc phải di cư, từ bỏ nơi này mãi mãi. Thành phố bị xóa mờ dần khỏi bản đồ thuộc địa và khu rừng trở lại nguyên vẹn như trước kia. Nếu được tìm thấy, Sac Balam có thể cung cấp cho các nhà khảo cổ một cái nhìn vô song về văn hóa Lacandon, về cách họ giữ gìn sự độc lập của họ khi thế giới thay đổi xung quanh họ. Vì thế, mùa hè này, tôi đã quyết định tham gia một nhóm nghiên cứu do Brent Woodfill, một nhà khảo cổ học tại Đại học Winthrop ở Rock Hill, Nam Carolina tổ chức, nhằm quyết tâm tìm lại kinh đô đã mất và đưa một phần còn ít được biết đến trong lịch sử Maya ra ánh sáng.    Dựa trên các ghi chép của du khách và các giáo sĩ Tây Ban Nha, các nhà khảo cổ đã vẽ một vòng cung cho thấy những địa điểm tiềm năng của thành phố – những nơi ít ai có thể tìm đến được.  Những thành trì cuối cùng của đế chế Maya  Vào năm 1521, Đệ nhất hầu tước Tây Ban Nha Hernán Cortés đã chinh phục thủ đô Tenochtitlan của người Aztec, tại Mexico ngày nay. Người Aztec kiểm soát một khu vực lãnh thổ từ vùng cao nguyên miền trung Mexico xuống qua Oaxaca và bờ biển Chiapas của Thái Bình Dương; Khi Tenochtitlan sụp đổ, toàn bộ vùng đất đó – một phần của Mexico ngày nay – đã được truyền từ đế chế này sang đế chế khác.  Thế giới của Maya khác hơn rất nhiều. Trải dài trên diện tích khoảng 390.000 km2 ở miền Nam Mexico, Guatemala, Belize và Honduras, khu vực này không được cai trị bởi chỉ một vị hoàng đế duy nhất. Các thành phố của Maya phần lớn là độc lập, nằm trong một mạng lưới phức tạp gồm các đồng minh và kẻ thù luôn thay đổi. (Nó tương tự như Hy Lạp cổ đại chứ không phải La Mã cổ đại.) Các thành phố đã dần phải khuất phục dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, bằng cả con đường chinh phạt và ngoại giao. Nhưng “đế chế Maya không bao giờ tập trung, nên rất khó để có thể chinh phục toàn bộ khu vực”, Maxine Oland, nhà khảo cổ học tại Đại học Massachusetts ở Amherst, người nghiên cứu về thời kỳ thuộc địa ở Maya cho biết.  Kết quả là một sự chắp vá của ba kiểu thành phố: các thành phố thuộc địa kiểu Tây Ban Nha, các thị trấn đa số là người Maya nhưng có giao dịch với người Tây Ban Nha và (bằng vũ lực hoặc do tự lựa chọn) chuyển đổi sang Cơ đốc giáo, và các thủ đô Maya độc lập như Sac Balam, hoàn toàn chống lại sự thống trị của thực dân. Xen kẽ giữa các kiểu thành phố này là những khu rừng rộng lớn, nơi người Maya thường chạy trốn để thoát khỏi bạo lực và áp bức thuộc địa.       “Sac Balam lưu giữ câu chuyện về một cộng đồng đã bị xóa sổ khỏi lịch sử”. Nếu được tìm thấy, thành phố cổ Sac Balam có thể cung cấp cho các nhà khảo cổ một cái nhìn vô song về văn hóa của người Maya Lacandon, về cách họ giữ gìn sự độc lập của họ khi thế giới thay đổi xung quanh họ.      Các tài liệu lịch sử hầu như không hề ghi lại cuộc sống ở thủ đô độc lập của người Maya Lacandon ở Sac Balam. Sac Balam là một bí ẩn đặc biệt, bởi vì nó được tạo ra để lẩn tránh con mắt của người Tây Ban Nha. Người Lacandon ban đầu sống ở một thành phố tên là Lakam Tun, trên một hòn đảo ở hồ Miramar, ở rìa phía Tây của Montes Azules. Nhưng sau nhiều lần bị người Tây Ban Nha tấn công, họ nhận ra rằng để giữ an toàn và độc lập, họ sẽ phải rút lui sâu vào rừng rậm. Họ đặt tên cho thành phố mới là Sac Balam, hay “con báo đốm trắng” và sống ở đó, không hề bị xáo trộn, trong suốt 109 năm. Khi người Tây Ban Nha cuối cùng đã phát hiện và chinh phục được Sac Balam, đó gần như là thành phố Maya cuối cùng còn độc lập. (Thủ đô độc lập cuối cùng là Nojpeten của Itza Maya ở phía Bắc Guatemala, đã sụp đổ chỉ 2 năm sau đó.)   “Để hiểu thêm về cuộc sống ở Sac Balam, bạn cần nhìn vào các tòa nhà và cổ vật mà cư dân nơi đây đã sử dụng và bỏ lại,” Josuhé Lozada Toledo, nhà khảo cổ học tại Viện Nhân chủng học và Lịch sử Mexico (INAH) ở Mexico City cho biết. “Sac Balam lưu giữ câu chuyện về một cộng đồng đã bị xóa sổ khỏi lịch sử”. Khai quật những gì còn lại của các ngôi nhà, các tòa nhà cộng đồng, gốm sứ và các địa điểm tôn giáo “sẽ tương tự như sự phục hưng văn hóa.”  Lozada Toledo và Woodfill đặc biệt quan tâm đến việc tái cấu trúc mạng lưới thương mại của Sac Balam – thứ được gợi nhắc khá nhiều trong biên niên sử của Tây Ban Nha nhưng lại gần như vô hình với những người viết sử.  Nếu những người Lacandon giao dịch với các cộng đồng Maya khác để lấy hàng hóa như muối, thì họ cũng có thể đã đổi lấy dao rựa và các hàng hóa khác từ châu Âu? Hay họ đã từ chối hoàn toàn những hàng hóa nước ngoài?  Một điều đáng ngạc nhiên là các cuộc khai quật ở nhiều nơi khác đã giúp làm sáng tỏ phần nào những câu hỏi đó. Ở Zacpeten, thủ đô độc lập của Kowoj Maya cho đến nửa đầu thế kỷ 17 ở phía Bắc Guatemala, Timothy Pugh, một nhà khoa học từ trường Queens thuộc đại học Thành phố New York, đã tìm thấy ba mảnh sắt, một quả bóng súng hỏa mai, một ống thuốc lá thân cây có vẻ thuộc về hải tặc Anh hơn là những người định cư Tây Ban Nha và một bộ hàm của một con bò. Tất cả bảy đồ vật từ châu Âu này đều được sắp đặt trong bối cảnh tôn giáo quan trọng; hàm bò thậm chí còn được để lại trên một bàn thờ bên cạnh một lư hương. Rõ ràng là việc chọn các đồ vật đến từ châu Âu đã trở thành một phần sống động của biểu tượng tôn giáo và chính trị ở Kowoj Maya.      Brent Woodfill đứng trước phế tích của một khu di tích đã 150 tuổi trong Khu dự trữ sinh quyển Montes Azules. Anh dự định sẽ trở lại khu vực này nhiều nhất có thể.  Liệu điều tương tự có đúng với người Maya Lacandon ở thành Sac Balam hay không vẫn còn là một ẩn số. Nhóm nghiên cứu gồm ba nhà khảo cổ học: Lozada Toledo, người mà chiều cao của ông thường khiến ông phải khum người trên chiếc bản đồ, Woodfill, một người có râu vui tính sống ở Guatemala gần 10 năm, nói tiếng Tây Ban Nha và tiếng Maya Q’eqchi ‘; Rubén Núñez Ocampo, một nhà nghiên cứu trẻ tuổi thận trọng đến từ INAH ở Mérida, người chuyên về đồ gốm Maya từ ngay trước thời kỳ thuộc địa. Cuối cùng là tôi và Virginia Coleman, vợ mới cưới của Woodfill và là một vũ công chuyên nghiệp.   Bí ẩn chưa có lời giải đáp  Nhiều người khác đã cố gắng tìm thành phố bị mất của Sac Balam trước đây. Một cuộc thám hiểm năm 1997, lấy cảm hứng từ nghiên cứu của một linh mục người Bỉ mà sau đó trở thành nhà nhân chủng học tên là Jan de Vos, được thực hiện ở một khu vực khác của Khu dự trữ sinh quyển Montes Azules của Mexico. Sau suốt 6 ngày đi bộ, họ đã tìm thấy một cụm phế tích gần dãy núi Chaquistero. Nhưng Woodfill và các đồng nghiệp Mexico của ông nghĩ rằng nơi này đó có khả năng xuất hiện từ thời Cổ điển (Classic period), hàng trăm năm trước khi Sac Balam hình thành. Joel Palka, một nhà khảo cổ học tại Đại học bang Arizona (ASU) ở Tempe, đồng ý với điều này, mặc dù ông cảnh báo rằng các nhà khảo cổ sẽ không chắc chắn về chủ nhân của phế tích cho đến khi chúng được khai quật. “Chúng tôi sẽ không thể biết nó nằm ở đâu cho đến khi chúng tôi đào lên”. Và Sac Balam vẫn tiếp tục là một bí ẩn.   Vào một ngày đầu hạ, chúng tôi tập hợp tại thành phố Comitán, thành phố lớn thứ tư ở bang Chiapas, ngồi trên chiếc xe bán tải của Woodfill trong suốt chuyến đi dài và gập ghềnh tới Las Guacamayas – một khu sinh thái gần Montes Azules, nơi sẽ là “căn cứ” của chúng tôi trong 12 ngày tới. Sáng hôm sau, chúng tôi dừng lại ở một trong nhiều khu dân cư nhỏ được thành lập sau khi chính phủ khuyến khích các nhóm thổ dân từ các vùng khác của Mexico tái định cư về đây làm nông dân và chủ trang trại. Chỉ có rất ít trong số họ là hậu duệ trực tiếp của Lacandon hoặc các nhóm Maya khác sống trong khu vực này từ đầu.   Nhóm của chúng tôi chính thức xin phép người dân và chính quyền để nghiên cứu một cụm di tích Maya gần đó. Woodfill đã tìm hiểu về khu di tích từ chính cộng động ở đây vào năm ngoái và đăng ký nó với INAH. Bây giờ, anh ta muốn biết liệu hai đồng nghiệp có thể lập bản đồ và thu thập gốm trên mặt đất, để xác định nơi đã có người ở hay không. (Woodfill yêu cầu tạp chí Science không tiết lộ tên của thị trấn để tránh những kẻ tò mò gây rối muốn đến đây) “Khu vực này của Chiapas là một khoảng trống trong giới khảo cổ học”, Woodfill nói với những người đại diện cho cư dân và chính quyền đang tụ tập lại lắng nghe ông. “Không phải vì không có di tích nào, mà vì chúng chưa được nghiên cứu.”    “Ngày mà người ta quét định định vị trên không bằng tia laser [trên khu dự trữ sinh quyển Montes Azules], họ sẽ tìm thấy hàng trăm hoặc hàng ngàn khu di tích”, trong đó rất có thể bao gồm chính Sac Balam.    Cộng đồng nơi đây luôn quan tâm đến du lịch sinh thái, và những gì các nhà khảo cổ học tìm thấy có thể giúp họ thu hút khách du lịch. Sau 45 phút thảo luận và đặt câu hỏi, những người đại diện cho cộng đồng dân cư đồng ý với đề nghị và đưa chúng tôi đến di tích. Địa điểm này nằm trong một khu rừng bên ngoài thị trấn, dọc theo một con đường lá rụng nhiều làm mờ cả lối đi và rễ thì khá trơn, nơi tiếng hú của những con khỉ vang vọng qua những tán cây.  Sau khi đi khoảng 20 phút theo con đường mòn, chúng tôi vòng một khúc quanh và bắt gặp một đống đá hình chữ nhật lớn, một số có hình tượng Maya rõ ràng đã được khắc vào chúng. Đây là những phần còn lại của một chiếc cầu thang có khắc chữ tượng hình từng dẫn lên đỉnh cung điện, nơi lãnh đạo thành phố sẽ nhận được nhiệm vụ của mình và thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Kiểu cấu trúc này được coi như một viên ngọc quý hiếm của các di tích Maya. Cầu thang cho thấy rằng “đây là một nơi đầy quyền lực,” Woodfill nói.   “Đây chính là cung điện,” Woodfill chỉ vào gò đất phía sau cầu thang. Những người dân địa phương cho các nhà nghiên cứu thấy các tàn tích của di tích, chẳng hạn như một tảng đá lớn thẳng đứng chạm khắc một bức chân dung và các ký hiệu, được chôn một nửa ở gốc cây. Tất cả đều thống nhất rằng nơi đây đã bị chiếm đóng trong thời kỳ Cổ điển muộn (Late Classic Period, từ 600 đến 850 sau công nguyên, gần 1000 năm trước khi Sac Balam hình thành), khi các thành phố gần đó như Palenque và Yaxchilán đang ở thời kỳ đỉnh cao. “Đây là những gì tiêu biểu cho việc khám phá khảo cổ – chính người dân địa phương chỉ cho bạn thấy những điều họ biết”, Woodfill nói, tay chụp lại ảnh các ký hiệu trên đá cầu thang.      Cầu thang đá với chữ tượng hình Maya.  Tuy nhiên công cuộc đi tìm Sac Balam của chúng tôi không hề có được sự trợ giúp từ người dân bản địa như vậy. Ngoài một số ít cộng đồng người Maya, hầu hết mọi người đều bị cấm sống trong khu vực Khu Dự trữ Montes Azules, nơi có diện tích lên đến 331.000 ha, và khu bảo tồn phần lớn không có đường vào, thậm chí đến những con đường mòn cũng không có. Khi phải đối mặt với những vùng đất rộng lớn khó tiếp cận như vậy, các nhà khảo cổ học hiện nay thường chuyển sang dùng máy quét định vị lidar, một loại ra đa dựa trên tia laser, cho phép chụp từ trên không, quét xuyên qua thảm thực vật, dễ dàng phát hiện các địa điểm ở bên dưới. Một cuộc khảo sát gần đây tại khu dự trữ sinh quyển Maya ở phía Bắc Guatemala, cách khoảng 160 km về phía Đông Bắc của Montes Azules, đã tiết lộ hơn 60.000 cấu trúc cổ mà hầu hết các nhà nghiên cứu chưa biết đến. “Ngày mà người ta quét định vị lidar [trên Montes Azules], họ sẽ tìm thấy hàng trăm hoặc hàng ngàn khu di tích”, trong đó rất có thể bao gồm chính Sac Balam, nhà khảo cổ học Ramón Folch González, người làm việc cùng Palka tại ASU cho biết. Nhưng nhóm của Woodfill không có được kinh phí cho một cuộc khảo sát đắt đỏ như vậy. Họ phải buộc dây giày, xắn quần lên và khám phá theo cách thức truyền thống.  Sâu trong rừng rậm  Sau bữa tối tại khu sinh thái đêm hôm đó – vào đêm trước lúc chúng tôi sẽ bắt đầu cuộc thám hiểm 6 ngày trong khu bảo tồn, Lozada Toledo mở ra một tấm bản đồ tự chế. Ông dành hàng giờ đồng hồ để xem các tài liệu do du khách và người dân Tây Ban Nha viết lại, sau khi thành phố cuối cùng cũng bị chinh phục vào năm 1695 và được đổi tên thành Nuestra Señora de los Dolores. Trong số đó, tài liệu đặc biệt hữu ích là một ghi chú được viết bởi Diego de Rivas, một linh mục người Tây Ban Nha, người vào năm 1698 đã đi từ Nuestra Señora de los Dolores đến Hồ Petén Itzá ở phía Bắc Guatemala. Phải mất đến 4 ngày, de Rivas và người của ông mới có thể đi bộ từ thị trấn đến sông Lacantún, và sau đó họ tiếp tục đi bằng thuyền. Nếu họ đi bộ 8 giờ mỗi ngày, mỗi người mang khoảng 30 kg vật tư và đi trong một khu vực đồi núi có nhiều cây che phủ, họ có thể đi được hơn 1 km mỗi giờ (và ít hơn một chút ở vùng núi cao hơn), Lozada ước tính Sac Balam nằm cách sông Lacantún 34,4 km. Nhờ đó Lozada đã vạch ra một vòng cung của các địa điểm có thể từng là thành phố, và đánh dấu màu đỏ trên bản đồ.      Brent Woodfill, Josuhé Lozada Toledo và Rubén Núñez Ocampo (trái sang phải) đang suy nghĩ làm thế nào để đến được các địa điểm tiềm năng có thể từng là Sac Balam.    Lozada Toledo cũng chỉ ra các đường sườn núi được tô bóng trên bản đồ địa hình; một vài trong số đó khá gần với các vòng cung. Đó là những khu vực đặc biệt tốt để khám phá, ông nói, bởi vì biên niên sử Tây Ban Nha mô tả Sac Balam nằm trên một đồng bằng bằng phẳng dưới chân một số ngọn núi. Các du khách đếm được 100 ngôi nhà và ba tòa nhà công cộng trong thị trấn tương đối dày đặc, nơi gà tây và chó gầy chạy quanh chân, nơi người dân trồng nhiều loại cây, bao gồm ngô, ớt và nhiều loại cây ăn quả khác, trong các ô gần đó. Mỗi buổi chiều, vẹt đuôi dài được thuần hóa một phần sẽ bay ra khỏi rừng rậm và đậu trên các mái nhà của thị trấn, làm ngạc nhiên những người chiếm đóng tới từ Tây Ban Nha.   Những ngôi nhà, tương đối nhỏ và được làm từ đất nung, có lẽ đã biến mất hoàn toàn. Nhưng nền đá của các tòa nhà công cộng vẫn có thể nhìn thấy được. Các nhà khảo cổ cũng sẽ tìm kiếm trong các hang động, các đồ tạo tác bằng kim loại như dao rựa, và cả móng tay – những bằng chứng về sự chiếm đóng của Tây Ban Nha và có thể là cả sự giao thương với các cộng đồng Maya thân thiết với nhà nước thuộc địa – và các tàn tích của một nhà thờ nhỏ cũng như một pháo đài bằng đất được cho là được xây dựng sau khi thị trấn đã bị chinh phục.  Các phế tích của Sac Balam sẽ ít hùng vĩ hơn nhiều so với cây cầu thang với chữ tượng hình, và cũng khó tìm hơn nhiều. Tuy nhiên, bản đồ của Lozada Toledo khiến mục tiêu đó dường như chỉ nằm trong tầm tay. Toledo chỉ vào các đường sườn núi gần vòng cung và hỏi: “Bạn nghĩ sao? Chúng ta có thể đến đó không?”  Sau chừng một giờ đi vào rừng rậm, Isaías Hernández Lara, hướng dẫn viên của chúng tôi, phát bằng dao rựa để vạch một con đường xuyên qua dây leo và các nhánh cây. Một số dây leo rỉ nhựa cây màu đỏ, và nhiều cây đầy gai, đến mức chúng tôi nhanh chóng nhận ra thật khó có thể nói vết bẩn nào trên quần áo của chúng tôi là nhựa cây và vết nào là máu. Một cây nho đâm vào tận trong khuỷu tay của tôi, dây leo mỏng quấn lấy chân tôi, tôi ngã và làm chậm tiến độ. Tôi còn không mang đủ nước cho cuộc hành trình. Các nhà khảo cổ học khác có vẻ khá hơn một chút, nhưng họ cũng choáng váng khi nhận ra khu rừng nguyên sinh này khó di chuyển như thế nào. Sau đó, đột nhiên, xuất hiện một dòng suối mát lành không có trong bản đồ. Chúng tôi cảm thấy như được cứu rỗi.  Trên bản đồ vệ tinh, chúng tôi nhận ra một đường sườn núi chỉ cách con sông gần 2,8 km và chúng tôi nghĩ rằng có thể tới đó trong vài giờ nữa. Chúng tôi thậm chí còn không mang theo bữa trưa. Nhưng chúng tôi đã đi được 4 giờ trước khi phát hiện ra dấu hiệu đầu tiên của chân đồi. Mệt mỏi, chúng tôi rút lui về nơi cắm trại.  Khi chúng tôi tắm rửa sạch sẽ trên sông sau cả ngày bị vùi dập và quần áo bẩn thỉu, tôi nhận ra rằng từ trước đến giờ, câu hỏi về Sac Balam mà tôi vẫn đặt ra là không đúng. Trong suốt nhiều tháng nghiên cứu, tôi tự hỏi làm thế nào người Lacandon có thể chống lại sự chinh phục trong một khoảng thời gian lâu như vậy. Chỉ sau vài ngày trong rừng, tôi nhận ra rằng câu hỏi thực sự phải là: Làm thế nào mà những người Tây Ban Nha, những người xa lạ với vùng đất này và rõ ràng phải vật lộn như chúng tôi – có thể tìm ra được họ?    Bí ẩn nơi đầu nguồn  Sử liệu cho thấy rằng, năm 1694, hai linh mục người Tây Ban Nha quyết tâm mang đạo Tin Lành đến Sac Balam đã gặp một trưởng nhóm của một nhóm Maya khác, người đã đồng ý đưa họ đến thành phố này. Người Lacandon đã giao thương, nhưng cũng tấn công và đánh phá các thị trấn Maya khác của Tây Ban Nha trong nhiều thập kỷ, và có lẽ trưởng nhóm Maya kia đã hết chịu đựng nổi.   Cuối cùng khi đặt chân đến Sac Balam, các linh mục đã thuyết phục một phái đoàn gồm 12 chức sắc của người Maya Lacandon tới Cobán, Guatemala, để gặp chính quyền thuộc địa và Giáo hội Công giáo. Nhưng trong chuyến thăm đó và trên hành trình trở về, 10 chức sắc Lacandon đã ngã bệnh và qua đời. Nỗ lực ngoại giao sụp đổ, và 1000 người Tây Ban Nha cùng quân từ các thành phố Maya đồng minh đã xâm chiếm thành phố, cuối cùng chiếm được nó vào đầu năm 1695 mà không cần gây chiến. Đến năm 1712, những cư dân Lacandon cuối cùng còn lại bị buộc phải di chuyển đến bờ biển Thái Bình Dương của Guatemala.   Có vẻ như nhiều người đã trốn sâu vào rừng rậm, tham gia các cộng đồng tị nạn Maya bao gồm những người từ khắp miền Nam Mexico. Chính hậu duệ của họ là những người đã sinh sống ở một phần của Montes Azules ngày nay. Những cộng đồng hiện đại này cũng được gọi là Lacandon, nhưng họ nói một ngôn ngữ khác với những người từng sống ở Sac Balam xưa kia.  Sac Balam, hay thậm chí là Nojpeten, không phải là thành trì cuối cùng của Maya. Các cuộc nổi loạn diễn ra thường xuyên trong suốt thời kỳ thuộc địa và tiếp tục ngay cả khi Mexico trở nên độc lập. Một cuộc nổi dậy của người Maya trong thế kỷ 19 hiện nay được gọi là Cuộc chiến Caste. Vào những năm 1990, người Zapatistas, hầu hết là nông dân Maya, đã tiếp quản các thành phố ở Chiapas trong một cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa Mác; năm 2018 cũng có một ứng cử viên tổng thống đến từ cộng đồng này. Cuộc đàn áp thuộc địa cũng chưa kết thúc. Toàn bộ cộng đồng Maya đã bị tàn sát trong cuộc Nội chiến Guatemala giữa năm 1960 và 1996 – một “dư âm” của một cuộc chinh phạt chưa bao giờ được hoàn tất.  Sau khi thất bại trong việc tìm kiếm Sac Balam, cả đội vẫn còn một đầu mối để đi theo. Hernández Lara đã nghe tin đồn về tàn tích Maya tại nguồn của sông Tzendales, một trong một số tuyến đường thủy gần nơi cắm trại của chúng tôi, vì vậy chúng tôi đóng gói và chuẩn bị cho hành trình 2 ngày chèo thuyền kayak tiếp theo. Những con vẹt đuôi dài bay trên đầu, những con cự đà giật mình leo lên bờ sông và một con cá sấu thỉnh thoảng nhìn chúng tôi từ một khúc gỗ. Chúng tôi chèo kayak qua hàng chục thác nước nhỏ. Vào một lúc nào đó trong cuộc hành trình, chiếc GPS với nút SOS kêu cứu đã bị rơi và biến mất.   Khi mặt trời dần dần lặn trên bầu trời, chúng tôi buộc những chiếc thuyền kayak lại và bắt đầu làm trại. Nơi này khá bằng phẳng, sạch sẽ, và có rất nhiều tiếng ve. Chúng tôi gọi nó là trại Garrapata, tiếng Tây Ban Nha nghĩa là “đánh dấu” (nghĩa đen là “móng vuốt”). Ngày hôm sau, khi nhóm tiếp tục ngược dòng, hình ảnh vệ tinh Lozada Toledo và dựa vào bản đồ  cho thấy có vẻ như dòng chảy đang xoắn lại. Nó thu hẹp chỉ còn 2 mét hoặc ít hơn và gần như bị che khuất hoàn toàn bởi dây leo và cành cây rủ xuống. Nhưng nước đang ngày càng trong hơn và lạnh hơn, làm tăng hy vọng rằng chúng ta có thể đang ở rất gần đầu nguồn của nó.  Sau 6 giờ đi chậm, dòng sông ngừng lại ở một ngọn đồi thấp, với nhiều đống bùn hơn là một đặc điểm địa chất rõ ràng. Liệu rằng đây có thể là nguồn? Một trong những hướng dẫn viên của chúng tôi, Cornelio Macz Laj, trèo lên đỉnh và quay lại lắc đầu: Dòng sông vẫn còn ở phía bên kia. Đã quá muộn để tiếp tục và chúng tôi phải quay ngược trở về.    Hiện nay, khi phải khảo sát ở những rừng núi rộng lớn khó tiếp cận, các nhà khảo cổ học thường chuyển sang dùng máy quét định vị trên không bằng tia laser, cho phép chụp từ trên không, quét xuyên qua thảm thực vật, dễ dàng phát hiện các địa điểm ở bên dưới. Một cuộc khảo sát như thế gần đây tại khu dự trữ sinh quyển Maya ở phía Bắc Guatemala, cách khoảng 160 km về phía Đông Bắc của Montes Azules, đã tiết lộ hơn 60.000 cấu trúc cổ mà hầu hết các nhà nghiên cứu chưa biết đến.    Thực tại trở nên rõ ràng: Cuộc thám hiểm này sẽ không giúp chúng tôi thấy được Sac Balam. Liệu nó có bao giờ được tìm thấy, tôi tự hỏi. Ngay cả khi dùng lidar định vị cho thấy một cụm các tòa nhà công cộng Maya và một pháo đài xuất hiện, các nhà khảo cổ vẫn sẽ phải tự đi đến đó để khai quật chúng. Ai sẽ muốn trải qua tất cả những điều này một lần nữa?    Hướng tới tương lai  “Năm tới”, Woodfill nói khi chúng tôi trở lại nhà nghỉ và vui vẻ gọi món bít tết từ nhà hàng.  Nhưng các nhà khảo cổ học đã lên kế hoạch cho chuyến đi tiếp theo của họ, dựa trên những gì họ đã học được từ lần này. Họ sẽ mang theo máy dò kim loại để tìm kiếm bất kỳ cổ vật thuộc địa bị chôn vùi nào, một dấu hiệu cho thấy Sac Balam có thể ở gần đó. Ai mà biết được, liệu họ có thể tìm thấy các di tích của thời kỳ Cổ điển như khu di tích có cầu thang chữ tượng hình. Sau tất cả, toàn bộ khu vực này vẫn còn là một bí ẩn.   Lozada Toledo rút ra một cây thước và sửa tấm bản đồ của mình, thêm chi tiết vào các nhánh sông và tính toán lại thời gian di chuyển. “Vì chưa từng có nhà khoa học nào đến đây từ trước, mọi thứ đều có thể được coi là một đột phá”, Toledo nói. “Mọi thứ đều có giá trị.”   Các nhà khảo cổ khác hy vọng nhóm nghiên cứu của Woodfill sẽ tiếp tục. “Có rất nhiều điều có thể được khám phá và học hỏi từ đó, nếu mọi người sẵn sàng chịu đựng những khó chịu và thất vọng khi làm việc ở những địa điểm này”, Prudence Rice, một nhà khảo cổ học hiện là giáo sư danh dự tại Đại học Nam Illinois, Carbondale nói. Sac Balam vẫn nằm lại đâu đó, giữ nguyên vẹn và an toàn những câu chuyện của nó và đó sẽ là phần thưởng cho bất cứ ai đủ gan dạ, hay bướng bỉnh, để tìm kiếm nó. □  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.sciencemag.org/news/2019/09/search-white-jaguar-archaeologists-travel-deep-jungle-find-lost-maya-city      Author                Lizzie Wade        
__label__tiasang Cuối cùng vũ trụ là tương tự hay là số?      Đến nay nhiều công trình lý thuyết cũng như thực nghiệm dường như chứng tỏ rằng ở kích thước vi mô vũ trụ là rời rạc hay nói cách khác là số (digital). Trên tạp chí Scientific American số&#160; tháng 12/2012, tác giả David Tong, giáo sư vật lý lý thuyết Đại học Cambridge đã công bố&#160; bài báo [1] nhằm khẳng định điều ngược lại: vũ trụ cuối cùng là tương tự (analog).       Vấn đề  Vũ trụ là Tương tự hay là Số là một vấn đề lớn trong vật lý và triết học thực tế đã tồn tại từ thời  cổ Hy Lạp. Tia Sáng xin giới thiệu bài báo này cùng các độc giả quan tâm  đến vật lý và triết học.    Các nhà vật lý thường nói đến vũ trụ là rời rạc, là gián đoạn ở kích thước nhỏ. Song giờ đây một số nhà khoa học từ cách nhìn gần hơn các định luật của thiên nhiên dường như muốn chứng tỏ rằng thiên nhiên thực tế lại là liên tục và tương tự thay vì là số.  CHLT (Cơ học lượng tử) là một lý thuyết dựa trên tính rời rạc nội tại (inherent discreteness) của thực tế song các phương trình của CHLT lại được phát biểu bằng những đại lượng liên tục.  Những nhà khoa học thiên về số nhấn mạnh rằng những đại lượng liên tục nếu được nhìn kỹ hơn lại là rời rạc: chúng nằm trên một mạng lưới (lattice) có mắt rất nhỏ giống như những pixel trên màn hình máy tính. Song sau đây chúng ta sẽ thấy nhưng ý tưởng về pixel, về một không gian rời rạc có mâu thuẫn với một tính chất của thiên nhiên: tính bất đối xứng giữa các phiên bản trái (left-handed) và phải (right- handed) của các hạt cơ bản.   Năm 2011 Viện các Câu hỏi Cơ bản (Foundational Questions Institute) [2] đã tổ chức cuộc  thi tiểu luận với câu hỏi đặt ra như sau cho các nhà Vật lý và Triết học: “Thế giới khách quan là số hay là tương tự ? Is reality Digital or Analog?”, xem hình 1. Các nhà khoa học đứng ra tổ chức cuộc tranh luận này hy vọng sẽ nhận được câu trả lời nghiêng về vũ trụ là số.                                            Hình 1.Thông báo cuộc thi tiểu luận: Thực tế là số hay là tương tự           Xét về từ vựng thì từ lượng tử trong vật lý lượng tử cũng đã  hàm ý ở kích thước rất nhỏ vũ trụ là rời rạc do đó là số. Trong các tiểu luận trả lời câu hỏi trên có  bài viết của David Tong nghiêng về vũ trụ là tương tự  và chiểm giải nhì trong cuộc tranh luận này. Sau đây chúng ta trình bày quan điểm của David Tong.  Trong cuối những năm 1800 nhà toán học nổi tiếng người Đức là Leopold Kronecker đã viết “Chúa đã tạo ra những số nguyên, phần còn lại là công việc của con người”. Ông nghĩ rằng các con số đóng vai trò cơ bản trong toán học (vậy cũng là trong vật lý). Đối với những nhà vật lý hiện đại câu nói trên tạo nên một cộng hưởng mới. Câu nói đó gắn liền với một niềm tin tưởng đang lớn dần qua các thập kỷ rằng thiên nhiên bản chất là rời rạc – hay nói cách khác những viên gạch xây nên vật chất và không thời gian có thể tính được từng đơn vị một. Ý tưởng này cũng đã phát sinh từ thời các nhà nguyên tử cổ Hy Lạp và có ảnh hưởng nhiều đến thời đại số ngày nay. Nhiều nhà vật lý tin tưởng rằng vũ trụ là một máy tính khổng lồ mô tả bởi những bit thông tin rời rạc với những thuật toán là các định luật vật lý.    Song liệu điều đó có đúng không? Tác giả bài báo[1] (cùng với nhiều nhà khoa học khác) lại tin rằng vũ trụ cuối cùng là tương tự chứ không phải là số. Trong cách nhìn đó vũ trụ là liên tục (chứ không là rời rạc). Dầu chúng ta đi sâu bao nhiêu đi nữa vào vật chất chúng ta cũng không thể tìm thấy được những viên gạch đầu tiên bất khả phân. Các đại lượng vật lý không phải là những số nguyên mà là những số thực-những số liên tục- với một dãy vô cùng các số thập phân. Việc thừa nhận điều này có thể dẫn đến một lý thuyết thống nhất  mới mẻ của vật lý.  Một cuộc tranh luận cổ xưa  Cuộc tranh luận giữa số và tương tự là một cuộc tranh luận cổ xưa nhất trong vật lý. Trong khi nhiều nhà triết học theo thuyết nguyên tử khẳng định rằng thế giới khách quan là rời rạc thì các nhà triết học như Aristote lại nghĩ rằng vũ trụ là liên tục. Trong thời đại Newton kéo dài trong hai thế kỷ 17 và 18 các nhà triết học bị phân chia bởi các lý thuyết hạt (rời rạc) và lý thuyết sóng (liên tục). Đến thời Kronecker những người theo lý thuyết nguyên tử như John Dalton, James Clerk Maxwell và Ludwig Boltzman đã có thể suy ra những định luật hóa học, nhiệt động học và khí động học. Song nhiều nhà vật lý vẫn chưa hoàn toàn được thuyết phục về tính rời rạc của vũ trụ.   Wilhelm Ostwald, Nobel Hóa học năm 1909 cho rằng nhiệt động học chỉ dựa trên những đại lượng liên tục như năng lượng. Tương tự như vậy lý thuyết điện từ của Maxwell mô tả trường điện từ như là một đối tượng liên tục. Max Plank một nhà vật lý tiên phong của CHLT đã kết thúc một công trình nổi tiếng năm 1882 bằng câu nói sau: “Dầu lý thuyết nguyên tử đã thu được nhiều thắng lợi, chúng ta cũng phải từ bỏ nó vì vật chất là liên tục”.  Một lý lẽ mạnh mẽ của phái liên tục là chống lại tính tùy tiện (arbitrariness) của sự rời rạc trong lập luận của phái số. Lấy một ví dụ: có bao nhiêu hành tinh trong Thái dương hệ?Trong trường học người ta nói rằng số đó là 9. Năm 2006 các nhà thiên văn học loại bỏ Diêm vương (Pluto) khỏi bản danh sách A vậy số đó chỉ còn lại 8. Đồng thời họ lại đưa ra bảng danh sách B của các hành tinh lùn như vậy nâng số đó lên 13. Nói một cách tóm tắt câu hỏi về số hành tinh phụ thuộc vào cách tính của chúng ta. Đai Kuiper sau Hải vương (Neptune) bao gồm nhiều thiên thể với kích thước từ vài micron đến vài ngàn km. Chúng ta chỉ có thể tính được số hành tinh khi chúng ta phân biệt được (một cách võ đoán) thế nào là hành tinh, thế nào là hành tinh lùn và thế nào là những đối tượng đá và băng.  CHLT cuối cùng đã thay đổi cục diện lý lẽ nói trên. Trong khi định nghĩa của một hành tinh có thể là võ đoán thì định nghĩa một nguyên tử hay một hạt cơ bản lại không như thế. Những số nguyên đánh dấu các nguyên tố hóa học như số proton trong cấu tạo của nguyên tố là những con số khách quan.Chúng ta có thể chắc chắn rằng không tồn tại nguyên tố với  √500 (căn số bậc hai của 500) proton giữa titanium và vanadium. Các số nguyên vẫn còn đó vẫn ngự trị trong vật lý nguyên tử.  Một ví dụ khác trong phổ học: việc nghiên cứu ánh sáng bức xạ và hấp thụ bởi vật chất. Một nguyên tử nhất định chỉ có thể bức xạ những màu ánh sáng nhất định do ở cấu tạo đặc biệt của từng nguyên tử. Giống như vân tay của một con người phổ quang học của nguyên tử tuân theo những quy tắc toán học cố định.Và những quy tắc này điều khiển bởi những số nguyên. Những lý thuyết lượng tử nhất là lý thuyết xây dựng bởi nhà vật lý Đan Mạch Niels Bohr đã đặt tính rời rạc vào tâm của vấn đề.  Song các số nguyên chỉ là đột sinh (emergent)  Ý tưởng của Bohr chưa phải là cuối cùng. Erwin Schrodinger đã phát triển một phiên bản khác của lý thuyết lượng tử dựa trên khái niệm sóng vào năm 1925. Phương trình do Schrodinger tìm ra chứng tỏ rằng sóng vật chất đã tiến triển theo thời gian trên cơ sở những đại lượng liên tục, không phải là những số nguyên. Và khi chúng ta giải phương trình Schrodinger cho một hệ nào đó thì một điều kỳ diệu toán học đã xảy ra: tính rời rạc xuất hiện. Lấy ví dụ nguyên tử hydrogen: các electron quay xung quanh các proton ở những khoảng cách nhất định. Những quỹ đạo cố định đó tạo nên phổ của nguyên tử. Nguyên tử giống như  ống dẫn trong đại phong cầm tạo ra một dãy nốt nhạc rời rạc mặc dầu môi trường không khí là liên tục. Cuối cùng dường như vấn đề liên tục và rời rạc đã được làm sáng tỏ: Chúa không tạo nên các số nguyên mà chỉ tạo nên những số liên tục và phần còn lại là công việc của những phương trình Schrodinger.  Nói cách khác số nguyên không phải là đầu vào (input) của lý thuyết như Bohr nghĩ, mà các số nguyên chỉ là đầu ra (output) của lý thuyết. Các số nguyên là ví dụ của những đại lượng mà các nhà vật lý gọi là đại lượng đột sinh (emergent). Trong cách nhìn như thế từ “cơ học lượng tử” là một từ dùng “sai”. Đi sâu hơn ta thấy lý thuyết không phải là lượng tử. Như vậy trong những hệ như nguyên tử hydrogen các quá trình mô tả bởi lý thuyết đã  nhào nặn ra tính rời rạc từ tính liên tục nội tại.  Có thể điều đáng ngạc nhiên hơn là sự tồn tại của các nguyên tử và các hạt cơ bản cũng không phải  là đầu vào cho các lý thuyết của chúng ta.Các nhà vật lý thường dạy chúng ta rằng viên gạch xây dựng nên vũ trụ là những hạt rời rạc như electron hay quark. Đây là “điều nói dối”. Những yếu tố xây dựng các lý thuyết của chúng ta không phải là hạt mà là những trường liên tục, những đối tượng tựa chất lỏng bao trùm không gian. Các trường điện từ là những ví dụ phổ quát, ngoài ra còn trường quark, trường Higgs và nhiều trường khác. Những đối tượng mà ta gọi là hạt cơ bản không phải là cơ bản. Chúng chỉ là nếp nhăn của những trường liên tục.  Phe phản đối có thể nói rằng dẫu sao các định luật vật lý cũng chứa các số nguyên. Ví dụ các định luật trong mô hình chuẩn SM (Standard model-mô hình thống nhất 3 loại tương tác điện từ, yếu và mạnh) mô tả 3 loại neutrino, 6 loại quark (mỗi loại có 3 màu) và vân vân. Ở mọi nơi, khắp mọi nơi đều là những số nguyên.Tất cả ví dụ này thực tế phản ảnh số loại hạt trong SM song những con số này khó lòng tính chính xác một cách toán học khi có tương tác. Một hạt có thể đột biến: một neutron có thể phân rã thành proton, electron và neutrino. Như vậy chúng ta phải tính đây là 1 hạt hay là 3 hạt hay là 4 hạt? Như vậy nói rằng có 3 loại neutrino, 6 loại quark và vân vân chỉ là một điều giả tạo nếu chú ý đến tương tác giữa các hạt.  Sau đây lại là một ví dụ về số nguyên trong các định luật vật lý: số chiều không gian là 3 như chúng ta biết. Có phải thế không? Nhà toán học nổi tiếng Benoit Mandelbrot (tác giả lý thuyết fractal) đã chỉ ra rằng số chiều không gian không phải là một số nguyên. Ví dụ bờ biển nước Anh có số chiều vào khoảng 1,3. Hơn nữa trong LTD (Lý thuyết dây) số chiều của không gian cũng là một số không đơn trị. Số chiều không gian có thể đột sinh hoặc tan biến. Song cũng phải nói rằng quả có một số nguyên. Các định luật vật lý nói rằng số chiều thời gian là 1. Phải chăng nếu không phải là 1 thì các định luật vật lý không thích hợp?  Những ý tưởng về liên tục  Nhiều nhà vật lý theo phái số lại chủ trương điều ngược lại: liên tục đột sinh từ rời rạc. Một ví dụ: nước trong một cái cốc là liên tục từ cách nhìn vĩ mô thường nhật. Song nếu chúng ta nhìn càng sâu hơn chúng ta sẽ thấy được các phần tử cấu tạo nên nước là những nguyên tử. Một tình huống như vậy có phản ảnh được toàn bộ vật lý hay không? Có phải đi sâu hơn trường liên tục của SM và của cả không thời gian chúng ta thấy lại tính rời rạc chăng?   Câu hỏi thật khó trả lời nhưng hãy nhìn lại quá trình 40 năm cố gắng mô phỏng SM trên máy tính. Để thực hiện sự mô phỏng này chúng ta phải lấy những phương trình dưới dạng các đại lượng liên tục sau đó tìm một hình thức biểu diễn rời rạc để làm ứng với các bit thông tin trong máy tính. Mặc dầu đã qua nhiều thập kỷ tìm tòi song chưa ai thành công trong công việc này. Điều này vẫn tiếp tục là một bài toán bỏ ngỏ trong vật lý lý thuyết.   Các nhà vật lý đã phát triển một phiên bản rời rạc của các trường lượng tử gọi là lý thuyết trường trên lưới (lattice field theory). Máy tính sẽ ước giá các đại lượng trên các điểm của lưới để xấp xỉ hóa được một trường liên tục. Kỹ thuật này có những hạn chế. Khó khăn đến với electron, quark và các fermion. Điều ngạc nhiên là nếu ta quay một fermion 360 độ thì ta lại không có được đối tượng mà ta xuất phát ban đầu. Thay vì ta phải quay fermion 720 độ mới có lại được đối tượng ban đầu [3], xem hình 2. Fermion không chịu đặt vào lưới.                           Hình 2 . Khi chúng ta quay một fermion chiral trái hay một fermion chiral phải 360 độ quanh chiều chuyển động thì thu được số -1. Song fermion chiral trái đi theo một đường trong mặt phẳng phức còn fermion chiral phải lại đi theo một đường khác. Đường tròn ở bên phải của hình vẽ biểu diễn pha (phase) phức của trạng thái lượng tử của các hạt. Khi chúng ta quay các hạt fermion thì pha của nó chuyển động dọc theo đường tròn đó. Quay fermion một góc 360 độ chỉ đi được ½ quãng đường trên đường tròn theo một chiều nhất định phụ thuộc vào chirality của hạt fermion. Ý nghĩa vật lý của điều nằm trong đại lượng gọi là pha (phase) của hàm sóng của hạt. Khi chúng ta quay một fermion thì hàm sóng của nó bị dịch chuyển theo một cách tùy thuộc vào  chirality của nó.            Năm 1980 Holger Bech Nielsen (Viện Niels Bohr, Copenhagen) và Masao Ninomiya (Viện Vật lý lượng tử, Nhật) đã chứng minh một định lý quan trọng khẳng định không thể rời rạc hóa loại fermion đơn giản nhất.  Trong những năm 1990 nhiều nhà lý thuyết đặc biệt David Kaplan (Đại học Washington) và Herbert Neuberger (Đại học Rutgers) đã đưa nhiều phương án sáng tạo để đặt fermion lên lưới. Lý thuyết trường lượng tử đã phát triển nhiều mô hình khác nhau, mỗi mô hình có nhiều loại fermion khả dĩ và người ta đã có thể đưa các mô hình đó lên lưới. Song tồn tại một lớp đơn giản của lý thuyết trường mà người ta không có cách nào đưa lên lưới được. Rủi thay lớp này lại bao gồm SM. Như vậy chúng ta có thể đưa lên lưới nhiều mô hình với đủ loại fermion giả tưởng song không đưa được lên lưới mô hình phản ảnh đúng thực tế.  Fermion trong SM có một tính chất đặc biệt. Các fermion với spin quay ngược kim đồng hồ có tương tác hạt nhân yếu còn các fermion với spin quay theo chiều kim đồng hồ lại không có tương tác đó. Một lý thuyết như thế gọi là lý thuyết chiral, xem chú thích [4]. Lý thuyết chiral rất tế nhị. Nhiều hiệu ứng được gọi là các bất thường (anomalies) luôn luôn làm cho lý thuyết trở nên không thích hợp. Một lý thuyết như thế hiện nay không chịu mô hình hóa rời rạc để được tính toán trên máy tính.  Hơn nữa chirality không phải là một cái bệnh của SM mà ta có thể loại đi khi đi sâu vào vấn đề  mà chirality là một bản chất nội tại. Mới thoạt nhìn khi SM đã thống nhất 3 lực SM trông như một kiến trúc giả tạo. Chỉ khi biết đến các fermion chiral người ta mới thấy một vẽ đẹp thật sự đã đột sinh. Đây là một bức ghép hình (jigsaw) hoàn hảo. Bản chất chiral của các fermion trong SM đã kết hợp được mọi vật với nhau.   Các nhà khoa học không hoàn toàn chắc chắn về khả năng mô phỏng SM trên một máy tính. Rất khó đưa ra những kết luận từ việc giải thất bại một bài toán. Các chi tiết về vấn đề này có thể xem trong tài liệu [5], nhất là phần nói về bài toán nhân đôi fermion (fermion doubling): khi chúng ta lấy giới hạn liên tục (continium lim) của lý thuyết lưới (lattice theory) thì điều đáng ngạc nhiên nhất là tương ứng với mỗi Weyl fermion lại xuất hiện một Weyl fermion cặp đôi không mong muốn đi kèm theo nhưng với chirality đối ngược.  Rất có thể đây chỉ là một bài toán rất khó đang chờ đợi giải được bằng những kỹ thuật thông lệ.   Song có lẽ không phải như vậy. Các khía cạnh của bài toán dường như sâu hơn. Những chướng ngại đối với bài toán gắn liền chặt chẽ với toán học của tô pô và hình học. Những khó khăn đưa các fermion chiral lên lưới cho chúng ta thấy một điều rất quan trọng: các định luật vật lý về cốt lõi vấn đề  không phải là rời rạc. Chúng ta không sống trong một mô phỏng máy tính nói một cách tường minh hơn vũ trụ về bản chất là liên tục.   CC. biên dịch và chú thích  —-    Tài liệu tham khảo chú thích  [1] David Tong, Is Quantum Reality Analog after All? Có phải cuối cùng thực tế lượng tử lại là tương tự?, Scientific American tháng 12/2012  [2] The Foundational Questions Institute essay contest entries: www.fqxi.org/community/essay  [3] FlipTanedo, www.quantumdiaries.org/2011/06/19/helicity-chirality-mass-and-the-higgs    [4] Chiral: một hạt được gọi là chiral nếu nó không đồng nhất với hình ảnh của nó trong gương. Spin có thể sử dụng để định nghĩa chirality (đừng nhầm với helicity) của một hạt. Một biến đổi đối xứng giữa hai hạt đó gọi là parity. Sự bất biến dưới tác động của parity lên một fermion Dirac gọi là đối xứng chiral.  [5] Yanwen Shang. Lattice Chiral Gauge Theories: What’s the Problem? HEP-TH/PH                                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuốn sách không thể thiếu trong các thư viện đại học      Cuốn sách này1 nằm nơi hợp lưu của những dòng sách vốn không thể thiếu trong các thư viện đại học ở các nước phát triển, và cũng rất quen thuộc trong tủ sách riêng của người trí thức ở các nước này, nhưng vẫn còn quá hiếm ở nước ta.     Tôi muốn nói tới các loại sách lịch sử khoa học, lịch sử tư duy, và hẹp hơn, lịch sử tư duy kinh tế. Có vẻ như chúng ta (xã hội Việt Nam, từ các nhà quản lí tới người dân) cho rằng có thể “đi tắt đón đầu”, nắm bắt thẳng khoa học và công nghệ của thời đại mà không cần hiểu biết về những bài học của nó. Dĩ nhiên, một cá nhân có thể học, hiểu một khu vực “mũi nhọn” nào đó, thậm chí có thể hiểu đủ “sâu” để tham gia vào quá trình nghiên cứu, tạo ra những tri thức, thành quả mới từ đó, mà không cần biết nhiều lắm về lịch sử chuyên ngành của mình. Nhưng, chưa kể thì giờ và công sức “tái sáng chế ra chiếc bánh xe” mà nhà nghiên cứu đó nhiều khi phải bỏ ra (trước khi nhận thấy!), ở bình diện xã hội, sự thiếu vắng những hiểu biết cơ bản về lịch sử phát triển của khoa học và công kĩ nghệ thường dẫn đến sự khinh suất của những lập luận, khuyến cáo được đưa ra nhằm giúp các chính khách lấy quyết định trước những vấn đề kinh tế-kĩ thuật phức tạp. Và dù có được công khai, làm sao phát hiện những yếu kém có thể có trong các khuyến cáo đó khi thiếu các chuyên gia để phân tích, chỉ ra các nguy cơ tiềm ẩn mà hiểu biết về kinh nghiệm của những người đi trước cho phép nhận ra?    Trở lại cuốn sách bạn đang cầm trong tay, với cái nhan đề bí ẩn của nó. Tại sao lại là “Chính sách các số lớn”? Những con số tự chúng “lớn” hay không, tùy theo đối tượng chúng góp phần mô tả. Một ngàn người là một đám đông lớn nếu họ cùng xếp hàng mua vé vào một rạp hát ở thị xã Sơn Tây, nhưng chẳng là bao khi họ đứng trước cửa sân vận động Mỹ Đình chờ xem một trận bóng quốc tế. Có “chính sách” nào cho hai con số giống mà khác nhau này? Tiểu đề “Lịch sử lí tính thống kê” gợi mở hơn về tính chất những con số “lớn” mà sách đề cập: những con số thống kê. Xin lấy một ví dụ, từ bao giờ và làm cách nào mà một Nhà nước bắt đầu thu thập những con số sinh đẻ, tử vong – theo từng độ tuổi, từng làng xã, thành thị? Và họ làm gì với những con số đó? Làm sao kiểm tra tính xác thực của chúng (điều kiện không thể thiếu nếu muốn rút ra bất kỳ ý nghĩa nào từ những con số đó), làm sao suy ra tỉ lệ tăng/giảm dân số từng thời kỳ, làm sao tính toán năng suất, sản lượng của các ngành nghề – để đánh thuế, để hỗ trợ phát triển khu vực này, thúc đẩy chuyển đổi ở khu vực kia v.v.? Rồi, với sự phát triển kinh tế, thêm những phạm trù được nhận thức và đòi hỏi tìm hiểu: “Thất nghiệp, lạm phát, tăng trưởng, nghèo khó, tỉ lệ sinh: các đối tượng này và thước đo thống kê chúng là những điểm tựa để mô tả các tình hình kinh tế, để lên án những bất công xã hội, biện minh cho các hành động chính trị.”, như tác giả viết trong Dẫn nhập. Hai mục tiêu sau phụ thuộc rất nhiều vào bức tranh kinh tế được mô tả, và cụ thể là vào ý nghĩa của các đối tượng được mang ra đo đếm, tính hợp lí của các thước đo và tính xác thực của kết quả đo lường. Thực vậy, khác với những đối tượng tự nhiên, như lượng mưa hay áp suất không khí, nhiều đối tượng kinh tế chỉ tồn tại như một cấu trúc hoàn toàn do nhà kinh tế tạo nên, như chỉ số giá cả chẳng hạn. “Lí tính (của) thống kê” được đặt ra là vì thế.     Một lí tính không xuất hiện ngẫu nhiên, một lần và vĩnh viễn, mà từ sự cọ xát với thực tế, qua mày mò, tranh luận, từ bỏ và làm mới, như bất kỳ nỗ lực tư duy, trừu tượng hóa nào trong khoa học. Từ những con số lặp đi lặp lại tuy không hoàn toàn bất biến (vì là thước đo của cùng một sự kiện qua những thời điểm khác nhau, trong những điều kiện bên ngoài ít nhiều thay đổi) tới các định lí về xác suất qua tư duy của nhà toán học (những tên tuổi như Laplace, Neyman, Pearson…), các quy luật nhân văn hay xã hội qua tư duy của các nhà xã hội học (Quetelet, Durkheim). Hoặc những định luật kinh tế dưới con mắt của các nhà kinh tế học (Keynes…) – dù rằng theo tác giả thì, trừ vài ngoại lệ, các nhà kinh tế thường ít quan tâm tới việc xây dựng những dữ kiện của mình mà giao phó chuyện này cho những người làm thống kê. Sự khác nhau trong cách tiếp cận các con số thống kê của các nhà khoa học Anh, Pháp, Mỹ, Đức còn tùy thuộc hoàn cảnh xã hội và văn hóa (kể cả văn hóa khoa học hay chính trị) của họ. Đó chỉ là vài ví dụ về những bài học lịch sử mà tác giả đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu, rút ra từ vài trăm cuốn sách, bài báo khoa học trong các lĩnh vực khác nhau như triết học, khoa học luận, xã hội học, kinh tế, toán thống kê hay xác suất, rồi tổng hợp, trình bày lại trong cuốn sách. Một phương pháp trình bày độc đáo, kết hợp một lịch sử kĩ thuật nhìn từ bên trong, và một cách tiếp cận nhìn từ bên ngoài, với những cách sử dụng thống kê về mặt xã hội và thể chế, nối kết sự lượng hóa như là một quy ước trong đói thống kê đóng vai trò “công cụ chứng cứ” của nhà khoa học và một “công cụ phối hợp” của Nhà nước. Nếu muốn, độc giả có thể đọc Phụ lục 4 để nắm bắt nhanh phương pháp trình bày này trước khi đọc văn bản chính.    Các công cụ thống kê vẫn không ngừng được mài giũa và cọ xát với thực tế luôn thay đổi – chỉ cần xem những thảo luận về các cách tính “thu nhập quốc gia”. Nhưng chỉ riêng trong kinh tế, tác giả đưa ra ví dụ, những nỗ lực sử dụng thống kê của các quan chức và kĩ sư Pháp theo trường phái Keynes đã cho phép mở ra một thời kỳ mà “Tính chính đáng và uy tín của Nhà nước được nối kết một cách tinh tế với tính chính đáng và uy tín của khoa học”. Nhà nước nào không muốn bảo vệ tính chính đáng và uy tín của mình bằng những chính sách lấy cơ sở từ những lí thuyết khoa học mới nhất, những con số xác thực có ý nghĩa nhất, có tính đến những bài học của quá khứ để giảm thiểu, và trong chừng mực có thể, kiểm soát các nguy cơ, hậu quả mà chính sách đó có thể tạo ra? Có cần nhắc lại, thống kê là một công cụ cốt yếu trong toàn bộ quá trình xây dựng các chính sách kinh tế của quốc gia (cũng như của các ngành, các địa phương)?    Với những lý do nêu trên, tôi cho rằng đã tới lúc những cuốn sách như Chính sách các số lớn phải được coi là không thể thiếu ở các thư viện đại học Việt Nam – như sách tham khảo bắt buộc đối với những sinh viên thống kê và kinh tế, và sách tham khảo được khuyến khích đối với sinh viên của nhiều ngành khác (xã hội học, chính trị học v.v.). Và trên giá sách của ngày càng nhiều trí thức Việt Nam quan tâm tới các vấn đề khoa học, kinh tế hay xã hội.    ————-    *Nguyên Giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp    1 “Chính sách các số lớn – Lịch sử lí tính thống kê” – tác giả: Alain Desrosières; người dịch: Nguyễn Đôn Phước; 608 trang; giá bìa: 170.000 đồng; NXB Tri thức ấn hành năm 2015    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuốn sách “nhất nghệ tinh”      “Với cuốn sách này, như cựu giám đốc  Vinappro Lê Tùng Hiếu, người từng học ở Đức nhận xét, một thợ cơ khí  ngồi ở đồng bằng sông Cửu Long có thể mở cửa hàng cơ khí, và biết kinh  doanh thế nào,” TS. Nguyễn Xuân Xanh, đồng dịch giả, đã nói như vậy về  cuốn sách Chuyên ngành cơ khí*.    20 chuyên gia thuộc Ủy ban tương trợ người Việt Nam tại CHLB Đức (VSW) từng làm việc lâu năm trong môi trường kỹ nghệ ở Đức đã mất hơn hai năm để dịch và hiệu đính cuốn sách này, từ nguyên tác tiếng Đức Fachkunde Metall – được viết bởi chín đồng tác giả là những kỹ sư và giáo viên chuyên ngành người Đức. Đây là cuốn sách dạy nghề bán chạy nhất của nhà xuất bản chuyên ngành nổi tiếng Europa-Lehrmittel, đã được dịch ra 20 thứ tiếng và hiện đang dùng trong chương trình giảng dạy của hầu hết các trường kỹ thuật tại CHLB Đức.   Vì sao lại chọn sách Đức để dịch? Những người làm sách cho biết: “Nước Đức nổi tiếng thế giới về cơ khí máy móc với hệ thống dạy nghề vừa học vừa làm rất thiết thực, điều này thể hiện rõ trong sách học nghề của họ mà điển hình nhất là tủ sách nghề của NXB Eupa-Lehrmittel mà chúng tôi đã mua bản quyền đề xuất bản tại Việt Nam lần này”.   Đây là cuốn đầu tiên trong “Tủ sách học nghề Nhất nghệ tinh”, do NXB Trẻ, Quỹ Thời báo kinh tế Sài Gòn và VSW thực hiện, nhằm “đáp ứng phần nào nhu cầu cấp bách về lực lượng công nhân lành nghề được đào tạo bài bản cả về lý thuyết lẫn thực hành tại Việt Nam”. Hai cuốn tiếp theo sẽ ra đời thuộc về lĩnh vực điện và chất dẻo.   Trong lời giới thiệu sách, PGS.TS. Dương Đức Lân – Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, và TS. Horst Sommer – Tổ chức Hợp tác quốc tế (GIZ) CHLB Đức, cùng nhấn mạnh: “Vừa qua, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội Việt Nam đã phê duyệt danh mục các nghề trọng điểm để hỗ trợ đầu tư đạt cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế, trong đó có các nghề thuộc lĩnh vực cơ khí. Bởi vậy, chúng tôi rất vui mừng giới thiệu cuốn sách Chuyên ngành cơ khí bằng tiếng Việt… Tất cả các thông tin cơ bản về kỹ thuật kim loại đều được thể hiện trong cuốn sách này”. Ngay sau ngày sách phát hành, văn phòng GIZ tại Hà Nội đã đặt mua 200 cuốn để tặng các trường dạy nghề ở Việt Nam.   Chuyên ngành cơ khí có tám chương, nói về quản lý chất lượng, kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật vật liệu, kỹ thuật máy và thiết bị, kỹ thuật tự động hóa, kỹ thuật công nghệ thông tin, kỹ thuật kiểm tra độ dài và kỹ thuật điện. Ngoài ra, sách còn có 13 phần thực tập và thư mục thuật ngữ bằng ba thứ tiếng Việt, Đức và Anh. Tất cả các nội dung này được trình bày gọn gàng, khoa học và đặc biệt là ở bài nào cũng đều có kèm bảng vẽ kỹ thuật, bảng biểu và hình minh họa in bốn màu rất dễ hiểu.   Có tám đối tượng mà quyển sách này nhắm đến: công nhân chuyên về cơ khí công nghiệp và chế tạo dụng cụ; công nhân chuyên về sản xuất; công nhân chuyên về gia công cắt gọt kim loại; kỹ thuật viên đồ họa; quản đốc và kỹ thuật viên; người có kinh nghiệm thực hành trong kỹ nghệ và thủ công; thực tập sinh và sinh viên; giáo viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.  Là đồng dịch giả, TS. Nguyễn Xuân Xanh cho biết: “Xã hội Việt Nam vẫn chưa trọng lao động tay chân có kỹ thuật, tổ chức, mà vẫn còn trọng vọng hư danh, bằng cấp. Chăm lo đào tạo những thợ chuyên nghiệp, kỹ sư hiện đại, xem trọng vai trò của họ, có những chính sách lương bổng xứng đáng, đó là mệnh lệnh bức thiết hiện nay”. Ông kỳ vọng: “Nếu xuất bản xong loạt này, Việt Nam sẽ có khoảng năm sáu ngàn trang sách dạy nghề theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, góp phần cho các cơ sở đào tạo nghề Việt Nam có giáo trình, tư liệu hiện đại nhất, đúng chuẩn quốc tế trong việc đào tạo nghề chất lượng cao, giúp các sinh viên, thợ thủ công có điều kiện nâng cấp tay nghề”.   Về phần minh, dù không theo nghề cơ khí, nhưng sau khi đọc, chúng tôi thấy, quyển Chuyên ngành cơ khí này như một cuốn “cẩm nang nghề” mà người thợ cơ khí yêu nghề nào cũng có thể thủ đắc để “nhất thân vinh” theo cách “nhất nghệ tinh”.  —-  * NXB Trẻ và Quỹ Thời báo kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation) phối hợp với Ủy ban tương trợ người Việt Nam tại CHLB Đức ấn hành. Sách dày 625 trang, giá 560.000 đồng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Curiosity đã hạ cánh an toàn xuống Sao Hỏa      Curiosity đã gửi tín hiệu về Trái đất sau khi hạ cánh xuống bề mặt bụi bặm của Sao Hỏa.    Những tín hiệu radio và vô tuyến được gửi tới Phòng thí nghiệm Jet Propulsion (JPL) của NASA vào lúc 10:31 tối 5/8, giờ PDT, đã xác minh rằng chiếc xe tự hành đã tới được lòng chảo miệng núi lửa Gale trên Sao Hỏa, đích đến của Curiosity sau hành trình kéo dài 8,5 tháng vượt qua 567 triệu km.  Các nhà khoa học và kỹ sư có mặt kín trong phòng điều khiển của JPL đã cùng hân hoan chúc mừng khi nhận được tin rằng chiếc xe tựu hành sáu bánh nặng một tấn đã sống sót sau những màn nhào lượn phức tạp, vượt 640 km từ thượng tầng khí quyển của Sao Hỏa xuống bề mặt lòng chảo miệng núi lửa, chỉ trong vòng 7 phút.    Được các kỹ sư NASA đặt tên là “bảy phút sợ hãi”, có thể coi cuộc hạ cánh của Curiosity như một màn xiếc siêu thanh trên không trung, dùng tới 76 động cơ phản lực, thả rời 150 kg tungsten, mở một chiếc dù rất lớn, và đưa cỗ máy xuống mặt đất bằng một cần trục bay có động cơ phản lực.  Giống như một người lữ hành chu đáo, sau khi gọi điện về nhà nhiệm vụ tiếp theo của Curisosity là gửi tiếp các bức ảnh, và bức ảnh đầu tiên được gửi về Trái đất sau khi trung chuyển qua vệ tinh Mars Odyssey Orbitor trên quỹ đạo Sao Hỏa, là hình ảnh những bánh xe của cỗ máy trên mặt đất.  Và bây giờ, chuyến du hành của cỗ xe trên Hành tinh Đỏ có thể được bắt đầu, xuất phát từ đáy lòng chảo Gale lên sườn núi Mount Sharp, ngọn núi lớn nằm cạnh lòng chảo. Tại đây, cỗ xe vận hành hiện đại nhất của con người sẽ bắt đầu tìm kiếm những hợp chất hữu cơ và các dấu hiệu của môi trường thân thiện với sự sống, đồng thời tìm kiếm qua các lớp đất lòng chảo núi lửa những thông tin về lịch sử Sao Hỏa. Trên đường đi, cỗ xe sẽ đóng dấu “JPL” xuống mặt cát màu đỏ của Sao Hỏa theo mã Morse một thông điệp mà các kỹ sư đã khắc vào bánh xe.  Cuộc hạ cánh thành công của Curiosity là “một trong những thành công vĩ đại nhất trong lĩnh vực thám hiểm các hành tinh”, nhận định từ Doug McCuistion, giám đốc Chương trình Khám phá Sao Hỏa của NASA. “Nó cho thấy vị thế dẫn đầu của Mỹ trong công cuộc thám hiểm Sao Hỏa.”  Cỗ xe tự hành với chi phí tới 2,5 tỷ USD có vai trò quan trọng trong việc tiếp nối thành công cho chương trình Sao Hỏa của NASA. “Đất nước chúng ta đã duy trì có mặt trên Sao Hỏa trong vòng 15 năm”, nhận xét từ Charles Elachi, giám đốc JPL. “Hôm nay là một ngày vĩ đại, một khoảnh khắc vĩ đại”.   Các thí nghiệm của Curiosity sẽ đưa con người tiến thêm vài bước trong việc đánh giá môi trường trên Sao Hỏa từ hàng tỷ năm trước, liệu nó có ấm hơn và ẩm hơn, như giả thuyết của các nhà khoa học, và trả lời câu hỏi liệu từng có sự sống trên hành tinh này.   “Một trong những nguyên nhân chính để tới đó là tìm hiểu liệu nơi ấy từng có sự sống”, nhận định từ Michael Meyer, nhà khoa học đứng đầu Chương trình Thám hiểm Sao Hỏa của NASA. “[Nếu câu trả lời là có thì] kết luận của tôi sẽ là sự sống thật dễ dàng, một tiến trình tự nhiên, và rằng trong vũ trụ còn nhiều nơi khác có khả năng duy trì sự sống.”  Dịch theo   http://www.sciencenews.org/view/generic/id/342832/title/Curiosity_lands_safely_on_Mars       Author                Quản trị        
__label__tiasang Curiosity kỷ niệm hai năm làm việc trên sao Hỏa      Theo cách nhìn nhận thời gian của người Trái  Đất chúng ta thì ngày 5/8/2014 mới là ngày kỷ niệm xe tự hành-robot “Tò  mò” (Curiosity rover) làm việc được tròn hai năm trên sao Hỏa. Nhưng  thực ra tính đến ngày 24/6/2014, Curiosity đã làm việc trên hành tinh Đỏ  được tròn một năm sao Hỏa.     Đó là do thời gian trên sao Hỏa chậm hơn thời gian trên Trái Đất: hành tinh này ở cách Mặt Trời xa hơn, thời gian nó quay hết một vòng xung quanh Mặt Trời lâu gần gấp đôi Trái Đất, một năm sao Hỏa (a Martian year) bằng 687 ngày Trái Đất (Earth day).   Để kỷ niệm sự kiện lịch sử định cư tròn một năm sao Hỏa này, Curiosity đã tự chụp cho mình một bức ảnh (hình 1).  Curiosity được NASA phóng lên hành tinh Đỏ với sứ mệnh nghiên cứu thăm dò xác định xem phải chăng sao Hỏa hàng tỷ năm trước kia từng có những điều kiện môi trường thích hợp cho sự sống của các vi khuẩn hay không. Tháng 8/2012 Curiosity hạ cánh xuống hành tinh Đỏ; từ nơi hạ cánh, nó di chuyển đến Yellowknife Bay, nhằm xác định tại Hố Gale ở địa điểm này xưa kia có từng tồn tại những hình thức đơn giản nhất của sự sống hay không. Câu trả lời là “có” sau khi Curiosity khoan hai mẫu đá ở Hố Gale và gửi kết quả về Trái Đất.  Cuối năm 2013, bánh xe của Curiosity từng bị trục trặc, khiến các nhà khoa học phải giảm tốc độ di chuyển của nó.  Trong năm sao Hỏa thứ nhất, Curiosity đã chụp và gửi về Trái Đất hơn 70 nghìn bức ảnh hành tinh Đỏ. Trong năm sao Hỏa thứ hai, nhiệm vụ chính của Curiosity là di chuyển. Hình 2 thể hiện sơ đồ hành trình của nó: đường màu đỏ là quãng đường Curiosity đã đi từ điểm hạ cánh có tên Bradbury (ngôi sao màu xanh) tới địa điểm nó có mặt ở ngày thứ 663 (gần tròn một năm sao Hỏa); đường màu trắng là hành trình nó sẽ đi tiếp trong thời gian tới.   Mùa xuân năm nay, Curiosity thu thập các mẫu cát-đá ở Windjana, phía tây nam khu vực hạ cánh Bradbury. Hiện nay nó đang bò tới đồi Murray. Mỏm đồi cô đơn này được xác định là lối vào thích hợp nhất để Curiosity đi tới đích cuối cùng – Mount Sharp, một ngọn núi cao 3,4 dặm Anh (5.471 m), được giới khoa học nhận định là nơi có điều kiện thuận lợi cho sự sống. NASA cho biết hiện nay Curiosity còn cách núi Sharp chừng 2,4 dặm.    Hình 2  Sứ mệnh của Curiosity sẽ chấm dứt khi nào sáu chiếc bánh xe nhôm của nó do di chuyển mà bị va đập làm biến dạng và thủng tới mức không di chuyển được nữa.  Xe tự hành-robot Curiosity nặng gần 1 tấn, chi phí chế tạo vào khoảng 2,5 tỷ USD; được phóng lên vũ trụ ngày 26/11/2012 và hạ cánh thành công tại Aeolis Palus ở Hố Gale trên sao Hỏa ngày 6/8/2012, sau khi vượt chặng đường 563 triệu km trong tám tháng rưỡi. Đây là một thành công rực rỡ của loài người trên con đường thăm dò vũ trụ xa xôi.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cứu tinh của phi công      Các nhà khoa học Mỹ đã tạo ra một hệ thống phát hiện nhiễu loạn không khí giúp cảnh báo phi công về các vùng khí quyển nguy hiểm khi họ bay xuyên qua mây. Hệ thống này hứa hẹn sẽ tăng cường an toàn hàng không, giúp hạn chế việc hoãn chuyến bay và tiết kiệm chi phí.    Bằng cách sử dụng phương pháp phát hiện nhiễu loạn NEXRAD (còn gọi NTDA), hệ thống này sẽ phân tích dữ liệu được cung cấp từ mạng radar Doppler của Cơ quan dự báo thời tiết quốc gia. NTDA sẽ phát hiện sự nhiễu loạn không khí khi máy bay bay qua các khối mây và phân tích sự phân bố gió trong các khối mây đó. Hệ thống sẽ tái xử lý dữ liệu radar để loại trừ các yếu tố gây nhiễu như ánh sáng mặt trời, bão hoặc các đàn côn trùng bay gần chảo radar. Những dữ liệu về nhiễu loạn không khí sẽ được chuyển ngay tới phi công, đồng thời các nhà khí tượng hàng không cũng như trạm điều phối không lưu cũng nhận được dữ liệu này qua một màn hình trên mạng.  H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã có dịch vụ nhân bản thú cưng      Nếu con chó của bạn đã già yếu thì đơn giản  nhất hãy nhân bản nó để có con thay thế trẻ trung, mạnh khoẻ hơn! Đây là  lời quảng cáo của một doanh nghiệp công nghệ sinh học Hàn Quốc có ý  định nhân bản chó để bán.    Theo tin tức từ nước Anh, doanh nghiệp Sooam Biotech của Hàn Quốc dự tính nhân bản những con chó già yếu để bán cho khách hàng.   Phiên bản đầu tiên được xuất khẩu sang Anh là con chó có tên “mini Winnie”, được nhân bản từ tế bào da của con chó cái 12 tuổi thuộc giống Dackel mà nữ chủ nhân người Anh đang nuôi. Tế bào được hồi phát, lập trình lại và cấy vào tế bào trứng của một con chó cái.   Chi phí là 60.000 Bảng, tức 73.000 Euro, cho mỗi con vật được nhân bản – theo tờ “Guardian”.   Nhà di truyền học Robin Lovell-Badge thuộc Viện quốc gia nghiên cứu Y khoa (National Institute of Medical Research) ở London hoàn toàn xem thường quảng cáo nhân bản của Sooam Biotech và cho rằng đây là một sự “lãng phí tiền của một cách tuyệt đối”. Ông đưa ra nhiều lý do, không kể lý do về đạo lý và pháp lý, nhằm kết luận rằng nhân bản để tái tạo ở mức độ nào đó con vật già nua mà mình thương yêu là việc làm không có mấy ý nghĩa.    Robin Lovell-Badge nói, “Bạn có thể có cơ hội để tìm lại được con vật mà bạn yêu thích ở một trại nuôi chó, không nhất thiết phải tái tạo qua nhân bản. Có thể một con chó mà bạn nhận từ trại chó đáp ứng được mong mỏi của bạn nhiều hơn.”  Lý do mà chuyên gia di truyền học nêu ra là: không phải chỉ có các gien mới quyết định tính chất, đặc điểm của con vật. Sự dậy bảo, chế độ ăn uống và nhiều vấn đề khác tác động đến sự phát triển của con vật.   “Guardian” cũng dẫn lời Dusko Ilic, nhà nghiên cứu về tế bào gốc thuộc King’s College London: “Với thời gian thì sự khác nhau giữa hai con chó sẽ ngày càng lớn hơn – đặc biệt là vấn đề tính cách của chúng.” Hơn nữa những con vật nhân bản thường dễ bị bệnh tật và tuổi thọ bình quân thấp. Thí dụ cừu nhân bản Dolly chỉ sống được bẩy năm.  Người phụ trách nghiên cứu ở hãng Sooam Biotech té ra lại là nhà nghiên cứu người Hàn Quốc Hwang Woo Suk. Ông ta là tâm điểm của một vụ bê bối lớn về nghiên cứu khoa học trong những năm qua. Năm 2004, ông khẳng định lần đầu tiên đã phát triển thành công dòng tế bào gốc từ nhân bản phôi người. Năm 2005, ông buộc phải thừa nhận đã dùng tế bào trứng của một nữ nhân viên của mình phục vụ công tác nghiên cứu. Cuối cùng thì năm 2006, toàn bộ công trình nghiên cứu về tế bào gốc bị tuyên bố không có giá trị và năm 2009, nhà nghiên cứu này đã bị toà án buộc tội hà lạm công quỹ dành cho công tác nghiên cứu. Sau này ông Hwang lại nổi đình đám khi tuyên bố sẽ nhân bản voi ma mút.   Năm 2005, Hwang thực sự đã thành công trong việc nhân bản con chó đầu tiên có tên là Snuppy, hồi đó ông còn làm việc tại Đại học Seoul. Kết quả nghiên cứu này được đánh giá là nghiêm túc. Con chó này là một giống chó của Afghanistan, lấy từ tế bào da ở tai con chó bố. Các nhà nghiên cứu đã cấy tổng cộng 1.095 phôi với thông tin di truyền của chó bố vào 123 con chó cái và trong số đó chỉ có ba con thụ thai và duy nhất Snuppy sống sót. Cho đến nay, Sooam Biotech đã nhân bản được ít nhất 19 con chó.   Con vật đầu tiên được nhân bản trên thế giới là cừu Dolly năm 1996, tiếp theo là một loạt động vật khác, trong đó có con chuột đầu tiên năm 2007, rồi đến dê, lợn, thỏ và mèo và ngựa nhà.   Năm 2007, các nhà nghiên cứu về tế bào gốc cho hay đã nhân bản thành công một con khỉ thuộc giống Rhesus.  Nguyễn Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã có ngôn ngữ ký hiệu tương đương giúp người khiếm thính học vật lý      Bản thân việc học vật lý đã rất khó khăn, nhưng nếu bạn là một người khiếm thính, điều đó còn khó hơn gấp bội bởi nhiều thuật ngữ không có từ tương đương trong ngôn ngữ ký hiệu. Hiện nay, các thuật ngữ chuyên ngành vật lý đã được dịch sang Ngôn ngữ ký hiệu của Anh (British Sign Language) và dễ dàng tra cứu trực tuyến.     Cuốn từ điển chứa 119 thuật ngữ vật lý, bao gồm các chủ đề về: ngân hàng, điện, bước sóng, chân không và không trọng lượng. Từ điển này sẽ giúp tháo gỡ một phần những rào cản đối với người khiếm thính khi tham gia khoa học.   Rachel O’Neill, một giảng viên về giáo dục người khiếm thính thuộc Trung tâm Giác quan Scottish (SSC), Đại học Edinburgh cho biết, “vật lý là môn học đòi hỏi nhận thức, tư duy, trong khi nhiều thuật ngữ vật lý lại không có trong từ điển ngôn ngữ ký hiệu, và điều này đã đặt ra nhu cầu bức thiết cho các giáo viên dạy trẻ khiếm thính và các nhà hoạt động hỗ trợ giao tiếp phải tìm và thiết kế ra các thuật ngữ tương đương giúp người khiếm thính dễ tiếp thu kiến thức hơn.   Không phải là điều dễ dàng khi người ta phải dạy  học sinh 13 tuổi hiểu sự khác biệt giữa “trọng lượng” và “khối lượng” bởi hai từ này hay được dùng thay thế cho nhau trong tiếng Anh hằng ngày. Nhưng nếu như có một học sinh khiếm thính ở trong lớp, khó khăn này còn tăng lên gấp bội bởi không có ký hiệu từ “khối lượng”, và thuật ngữ “trọng lượng” thì không thể thay thế ý nghĩa khoa học cho “khối lượng” được.   Trong khi đó, việc đánh chữ bằng tay quá tốn thời gian và không phải người khiếm thính nào cũng có khả năng đọc được khẩu hình miệng. Ngay cả khi họ có thể thì khẩu hình miệng của những từ như “endothermic” (thu nhiệt) và “exothermic” (tỏa nhiệt), cũng rất khó phân biệt.   Cơ sở của nghĩa ẩn dụ   Cuốn từ điển được xây dựng bởi một nhóm các nhà khoa học khiếm thính, chứa đựng 119 thuật ngữ về vật lý và kỹ thuật bằng ngôn ngữ ký hiệu của Anh. Cuốn từ điển xây dựng dựa trên các ký hiệu sẵn có được sử dụng bởi cộng đồng người khiếm thính và dựa trên “tính trực quan hay mối quan hệ ẩn dụ của mỗi ký hiệu với hình dáng các vật ngoài đời thực” O’Neill giải thích thêm.  Các ký hiệu này cũng được xây dựng dựa trên bản thân chúng nhằm truyền tải mối quan hệ khoa học giữa các thuật ngữ. Ví dụ ký hiệu từ “trọng lượng” thì nắm 1 tay lại, sau đó chính từ này cũng được sử dụng làm nền tảng cho ký hiệu từ “tỷ trọng” (1 bàn tay đi vòng xung quanh nắm đấm) và “trọng lượng” (1 bàn tay mở và 1 bàn tay nắm di chuyển đi xuống).  Đây là cuốn từ điển đầu tiên bao gồm video có người diễn tả ký hiệu từng thuật ngữ và chứa đựng cả định nghĩa cũng được diễn tả bằng ngôn ngữ ký hiệu của mỗi thuật ngữ đó  Khoa học trực quan   O’Neill ước tính chỉ một nhóm nhỏ người khiếm thính có thể dựa vào các cuốn từ điển thuật ngữ bằng ngôn ngữ ký hiệu này để học lên cao chuyên ngành vật lý ở Anh quốc.  “Tôi từng nghe về trường hợp một số trường học từ chối hỗ trợ một học sinh muốn học vật lý vì họ không thể cung cấp những nhà hỗ trợ ngôn ngữ với trình độ phù hợp với kiến thức môn học, và việc thiếu các ký hiệu từ cũng khiến việc giúp đỡ các em là bất khả thi”, ông O’Neill cho biết.   Audrey Cameron, một giáo viên hóa học người khiếm thính từng tham gia vào việc biên soạn cuốn từ điển cho biết, hồi cô còn đi học đã có một bộ từ điển tương tự thế rồi. Cô cho biết mình đã học hỏi được rất nhiều bởi các ký hiệu mới “giúp trực quan hóa các khái niệm khoa học”.  Thách thức bây giờ là làm thế nào đảm bảo các giáo viên, các nhà hỗ trợ ngôn ngữ và các học sinh sẽ sử dụng các thuật ngữ mới này. O’Neill tuy lạc quan nhưng cũng bày tỏ lo ngại: “chúng tôi thực sự không biết liệu cộng đồng người khiếm thính có chấp nhận những ký hiệu này không.”   Khác biệt ngôn ngữ ký hiệu giữa các quốc gia   Cuốn Từ điển vật lý này là sự bổ sung thêm vào bộ từ điển ngôn ngữ ký hiệu về sinh học, toán học và hóa học được biên soạn bởi SSC.   Ở Mỹ, có một website tương tự với tên gọi Signing Math &  Science (Ngôn ngữ ký hiệu cho Toán và Khoa học), sử dụng các hình ảnh 3D để mô phỏng các ký hiệu. Vì ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ khác ngôn ngữ ký hiệu của Anh và có xu hướng dựa nhiều vào cách đánh chữ bằng tay, nên SSC đã tự phát triển các ký hiệu thuật ngữ của họ thay vì vay mượn từ hệ thống ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ. O’Neill cho biết ngôn ngữ ký hiệu được sử dụng ở Úc, New Zealand và Ấn Độ khá giống với ngôn ngữ ký hiệu của Anh, nên người khiếm thính ở các quốc gia này, về mặt lý thuyết, có thể sử dụng bộ từ điển của SSC.   Tuy nhiên, bất cứ ai tìm kiếm ký hiệu của cụm từ “lượng tử” hay “nguyên lý bất định” sẽ phải thất vọng bởi cuốn từ điển được thiết kế chỉ cho học sinh khiếm thính ở đội tuổi dưới 16. Ở độ tuổi này, các em chưa được tiếp cận các khái niệm trên.  Việc phiên dịch các thuật ngữ khoa học từ ngôn ngữ lời nói sang ngôn ngữ ký hiệu không chỉ là thách thức của trường học. Tại buổi họp thường niên của Hiệp hội Khoa học tiên tiến Hoa Kỳ, các phiên dịch viên phải dịch các bài nói sang ngôn ngữ ký hiệu. Họ phải nghiên cứu tài liệu trước đó nhiều giờ để sau đó có thể xử lý, quyết định trong một tích tắc xem sẽ phải thể hiện thuật ngữ đó bằng cách đánh chữ hay tạo ra một ký hiệu mới cho thuật ngữ đó.   Hoàng Nhu dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã có thuốc điều trị COVID đáng trông đợi – Ai sẽ nhận được đầu tiên?      Cuối cùng thì đã có loại thuốc chữa COVID-19  mà người ta trông đợi bấy lâu này, chỉ có điều thuốc thì ít mà bệnh nhân thì nhiều. Vậy ai sẽ là người được ưu tiên chữa chạy, một vấn đề rất khó để ra quyết định.      Thuốc chống COVID-19 Paxlovid  Trong cuộc chiến chống đại dịch người ta luôn phải đương đầu với nhiều cái thiếu, từ máy thở, oxy cho đến quần áo bảo hộ, thậm chí cả đến khẩu trang cũng có lúc bị thiếu. Hiện nay ở nhiều nước, nhất là ở Mỹ khan hiếm nhất là thuốc trị COVID-19.  Ai cũng muốn mình là người được hưởng lợi đầu tiên từ loại thuốc điều trị COVID-19 vừa phát triển và mới đưa ra thị trường. Tuy nhiên mong muốn này hầu như không được đáp ứng, đơn giản vì sản xuất không kịp so với nhu cầu.  Theo các chuyên gia, châu Âu nay mai cũng rơi vào tình trạng xếp hàng chờ thuốc. Từ đầu tháng 12, cơ quan quản lý dược phẩm của EU đã cho phép các quốc gia mua thuốc Paxlovid. Một tháng trước đó, cơ quan này đã cấp giấy phép  cho molnupiravir. Cả hai loại thuốc đều có thể làm chậm sự sinh sôi của mầm bệnh và có thể được dùng dưới dạng viên nén. Các loại thuốc điều trị này sẽ giúp giảm thời gian nằm viện và giảm các ca điều trị đặc biệt.  Ngoài ra, gần đây các bác sỹ còn nhận được loại kháng thể nhân tạo Sotrovimab, tên thương phẩm là Xevudy. Ngược lại với thuốc viên, loại thuốc này phải truyền và giá đắt hơn nhiều so với thuốc viên. Theo nhà sản xuất, cả ba chế phẩm này đều công hiệu với Omicron.  Các lô thuốc đầu tiên đã được giao nhưng người ta biết chắc chắn sẽ có tình trạng cung không đáp ứng được cầu. Giới chuyên môn lo ngại sẽ đến lúc các thầy thuốc buộc phải ra một quyết định không dễ dàng gì với họ là bệnh nhân nào thì được ưu tiên.  Theo Martin Scherer, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Tổng quát Đức, thì chủ yếu nên dựa vào cơ hội của người bệnh để dành thứ tự ưu tiên cấp phát thuốc. Theo Cơ quan Dược phẩm Châu Âu, những điều sau đây cần áp dụng cho tất cả các chế phẩm kháng virus: Điều trị càng sớm khi mới bị lây nhiễm càng tốt, virus sẽ phản ứng với thuốc sớm nhất. “Do đó, trước tiên sẽ dùng thuốc cho những người mà khi uống thì có cơ hội lớn nhất để có tác động tích cực đến quá trình trị bệnh đối với họ”.  Bernd Salzberger, Trưởng khoa Truyền nhiễm tại Bệnh viện Đại học Regensburg, biết một tiêu chí lựa chọn thậm chí còn khắt khe hơn để hạn chế tình trạng thiếu thuốc, đó là yếu tố không được bảo vệ. Đối với ông, việc kê đơn đầu tiên chú ý đến những người chưa được tiêm chủng và những người không có phản ứng như mong muốn với việc tiêm chủng, chẳng hạn như vì hệ thống miễn dịch của họ đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi liệu pháp điều trị ung thư. Điều đó đại để có nghĩa là chỉ những người không có khả năng tự vệ trước mầm bệnh mới có thể hy vọng vào  thuốc. Theo ông thì “đại khái, chỉ 20% người trên 50 tuổi đủ điều kiện để áp dụng các liệu pháp mới.  Với các nhà đạo đức y khoa thì không có gì phải bàn cãi, khi thiếu thuốc nghiêm trọng thì tại các cơ sở điều trị nên có một tổ gồm một số bác sỹ, và tổ này quyết định về việc nên dùng thuốc cho đối tượng bệnh nhân nào là thích hợp nhất. Cần nhớ để Paxlovid và các loại thuốc khác phát huy tác dụng tốt nhất là phải sử dụng sớm nhất ngay sau khi có kết quả dương tính. Thậm chí còn có ý kiến cần luật hóa vấn đề cấp phát thuốc trong điều kiện thuốc quá khan hiếm. Theo Bộ Y tế Đức thì “quyết định dùng thuốc kháng virus tùy thuộc vào tình trạng của từng người bệnh  và do bác sỹ điều trị tự quyết định”.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: Paxlovid: Triage für das heiß ersehnte Medikament gegen Corona – WELT       Author                .        
__label__tiasang Đa dạng sinh học trong các phương trình      Đúng vào thời khắc đa dạng sinh học đang bị xói mòn nghiêm trọng thì các nhà sinh học đã có thêm một đồng minh đầy sức mạnh: Toán học. Sử dụng chủ yếu lý thuyết về xác suất và những thuật toán ngẫu nhiên, toán học đã đi sâu vào việc phân tích các mô hình phổ biến nhất trong các tiến trình nền tảng của sự tiến hóa, từ đó giúp định lượng được sự giàu có về mặt sinh học của hành tinh chúng ta. Sự phát triển của toán học rất có thể sẽ giúp đưa ra các giải pháp để bảo vệ Trái đất.        Hãy bắt đầu bằng chính việc giải thích khái niệm của đa dạng sinh học. Bởi theo định tính, chúng ta cứ nghĩ là khi số loài trên Trái đất càng nhiều thì đa dạng sinh học càng có vai trò quan trọng. Nhưng Vincent Bansaye (Trung tâm toán ứng dụng thuộc Đại học Bách khoa Pháp-CMAP) thì lại đưa ra câu hỏi: “Sự đóng góp vào đa dạng sinh học sẽ như thế nào khi ta tính tới một bên là hai loài kiến, bên kia là một loài kiến và một loài chuột nhím?”.  Câu hỏi này thoạt tiên có vẻ ngớ ngẩn, nhưng trên thực tế lại là một vấn đề rất đáng xem xét. Như thể là xem liệu đa dạng sinh học có gặp trục trặc gì không khi đột nhiên có sự biến mất của hai loài động vật có vú chính (mang tính biểu tượng cao), hay khi chỉ có một loài bọ cánh cứng xa lạ biến mất, nhưng loài bọ này lại có một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái.  Hàng ngàn những câu hỏi tương tự có thể được đưa ra chỉ có thể giải quyết thông qua những bài toán phức tạp, bằng những công cụ chính xác của ngành khoa học vốn từ lâu có vai trò thống trị này.  Sylvie Méléard, một nhà toán học cũng thuộc CMAP vừa phát triển một mô hình toán có khả năng miêu tả các tiến trình dẫn tới sự xuất hiện của các loài mới. “Để làm được điều này, chúng tôi đã đưa vào mô hình nhiều hiện tượng đa dạng khác nhau, từ các vấn đề về đột biến gene xuất hiện trong quá trình sinh sản của một cá thể tới ảnh hưởng của môi trường đối với dân số”, Sylvie nói. Chính nhờ các định lý này mà chúng tôi có thể đi tới việc giải thích các điều kiện tạo ra các giai đoạn tiến hóa hoặc sự xuất hiện của các loài mới.  Để đi sâu và cụ thể hơn nữa, Sylvia đã yêu cầu một trong những nghiên cứu sinh của mình tập trung vào giải quyết câu hỏi: Bắt đầu từ ngưỡng nào, một loài sẽ buộc phải biến mất? “Các mô hình cổ điển đã không thể trả lời được câu hỏi này bởi chúng không phù hợp đối với các loài có dân số ít. Nhưng nếu tính đến sự biến thiên về gene của các cá thể trong một nhóm nhỏ, chúng tôi đang cố tìm hiểu xem tại sao sự xuất hiện của các đột biến gene không có tác động mạnh trong một nhóm lớn nhưng ngược lại có thể đẩy nhanh sự biến mất của một loài có dân số ít hơn”.          Nhiều mô hình toán học đã giúp giải quyết các vấn đề phức tạp trong sinh học như đột biến gene, tác động tương hỗ của các protein          Một trường hợp khác là việc áp dụng các công cụ toán học giúp biết được dân số cụ thể của một loài từ các thông tin không hoàn chỉnh. Vincent Bansaye tóm tắt câu chuyện này như sau: “Khi đi dạo ở trong rừng, tôi nhìn thấy một con sóc. Khoảng 20 phút sau, tôi lại nhìn thấy một con sóc khác, cách đó chừng một cây số. Những thông tin này liệu có giúp tôi đưa ra các dữ liệu về dân số của sóc trong khu rừng hay không?”, câu hỏi được đặt ra.  Toán học có thể giúp việc điều tra dân số của các loài bình thường rất khó quan sát được thực hiện một cách dễ dàng hơn.  Những nghiên cứu của nhà khoa học này cùng một đồng nghiệp khác, Amaury Lambert thuộc Khoa sinh học, ĐH Sư phạm Paris về ảnh hưởng của các mẫu cư dân tới sự tiến hóa của dân số các loài có thể cho phép đưa ra các biện pháp bảo tồn trong bối cảnh địa bàn sinh sống của các loài hoang dã ngày một thu hẹp lại.  Denis Couvert, Giám đốc Cơ quan bảo tồn, phục hồi và theo dõi dân số các loài mới đây cũng đã nói rõ điều này trong một bài báo của tờ Échos, “Người ta không thể thu gọn đa dạng sinh học bằng các phương trình đơn giản. Tuy nhiên, các mô hình toán học cho phép tạo ra một cách tiếp cận chính xác và khách quan hơn đối với các hệ sinh thái”. Và Sylvie Méléard đưa ra kết luận: “Có thể hơi quá khi khẳng định rằng toán học sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu đa dạng sinh học. Nhưng chắc chắn, các ngành toán sẽ đưa ra góc nhìn mới cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này”.        Toán học trong nghiên cứu về di truyền                Toán học có một vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu các căn bệnh cơ thần kinh liên quan tới di truyền. Tại Paris, từ năm 2006, Bộ phận Tổ hợp gene các vi khuẩn đã tham gia Chương trình nghiên cứu quốc tế chống lại các chứng loạn dưỡng trong cơ. Alessandra Carbone đã tiến hành một điều tra về các bệnh liên quan tới protein. Nhà khoa học nữ vừa được giải thưởng Irène-Joliot-Curie này giải thích: “Hiện nay, người ta đã biết được một số loại gene có ảnh hưởng tới căn bệnh nhưng vai trò cụ thể của các protein được mã hóa trong gene đã gây ra các rối loạn này là như thế nào thì chưa được rõ lắm”. Để làm sáng tỏ điều này, bà đã tiến hành một dự án nghiên cứu khổng lồ: sử dụng các mô hình toán học trong máy tính để cụ thể hóa các tác động tương hỗ giữa 2.000 protein hiện diện trong con người. Hay là việc trả lời câu hỏi: hai protein được lấy ngẫu nhiên có vị trí sắp xếp như thế nào trong khoảng 100.000 tới 500.000 cách sắp xếp khác nhau. Dù có sử dụng hệ thống hàng trăm nghìn máy tính cực mạnh của mạng lưới cộng đồng thế giới (World Community Grid), để kiểm tra được các mối liên hệ này vẫn đòi hỏi thời gian cỡ hàng thế kỷ. Như vậy, không có cách nào khác là phải “đoán” trước đâu là những điểm tích cực (những điểm có một chức năng sinh học) trên mỗi protein, từ đó giới hạn được số lượng protein cần phải tiến hành thử nghiệm. Làm thế nào để đạt được điều đó? Các nhà sinh học biết rằng nếu các protein khác nhau ở mỗi loài thì chúng đều chứa những điểm hoạt động tích cực tương tự nhau, tương ứng với các cặn bã của ADN chung cho tất cả các loài. Về mặt lý thuyết mà nói thì hoàn toàn có khả năng xác định, với một mức xác suất chấp nhận được, các mẫu mã hóa đối với một mẩu protein “thú vị” nào đó. “Nhờ các công việc chuẩn bị này, chúng ta có khả năng kết thúc các tính toán trong giai đoạn từ nay tới tháng 5/2011”, Alessandra Carbone tiên đoán.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã đến lúc đánh giá lại chỉ số ảnh hưởng      Chỉ số ảnh hưởng (impact factor) của tạp chí chỉ đơn giản là một chỉ số trắc lượng, việc lệ thuộc vào chúng như một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, xa hơn là một kim chỉ nam để đo những thành tựu nghiên cứu rất có thể sẽ dẫn tới những sai lầm.      Hơn một thập kỷ trước, Eugene Garfield, nhà đồng sáng lập chỉ số ảnh hưởng, đã từng so sánh chỉ số ảnh hưởng với năng lượng hạt nhân, và ông cũng hi vọng “rằng nó sẽ được sử dụng một cách hữu ích, nhưng cũng phải thừa nhận rằng nó có thể bị lợi dụng nếu dùng sai cách, tôi đã không nghĩ rằng một ngày nào đó “chỉ số ảnh hưởng” lại có thể trở thành chủ đề tranh cãi”.  Các chỉ số ảnh hưởng đo lường số lượng trích dẫn trung bình đối với mỗi bài báo trong vòng hai năm sau khi xuất bản. Các tạp chí không tự thống kê chỉ số ảnh hưởng của mình một cách trực tiếp – mà công việc này được Thomson Reuters tiến hành. Lâu nay người ta luôn cho rằng chỉ số ảnh hưởng cao là thước đo tầm quan trọng của các cơ quan xuất bản. Nhưng giờ đây chỉ số ảnh hưởng cũng đang bị làm méo mó, sai lệch đi, và cũng thường không công nhận những bài viết ở các chuyên ngành hẹp và có chỉ số trích dẫn đặc thù thấp.  Mặc dù đã biết nhiều về những nhược điểm này nhưng các nhà khoa học, các quỹ nghiên cứu cũng như các trường đại học vẫn lệ thuộc vào các chỉ số ảnh hưởng, còn các cơ quan xuất bản (bao gồm cả Nature trước đây) ra sức truyền bá nó. Và kết quả là, các nhà nghiên cứu sử dụng chỉ số ảnh hưởng để quyết định có nên gửi bài cho một tạp chí nào đó không.  Các khía cạnh nguy hại nhất của việc này, như đã được Nature chỉ ra nhiều lần trước đây, là việc sử dụng các chỉ số ảnh hưởng như là cơ sở cho việc đánh giá thành tựu cá nhân của các nhà nghiên cứu. Ví dụ như, người ta có xu hướng chọn lọc những ứng viên có chỉ số ảnh hưởng cao và loại trừ những ứng viên có chỉ số ảnh hưởng thấp khi tuyển dụng các nhà khoa học vào một vị trí nào đó.  Cách khắc phục tình trạng “bị ám ảnh” bởi những chỉ số ảnh hưởng?  Cách tiếp cận đầu tiên là, nên yêu cầu các ứng viên nộp một bản tóm tắt mục đích nghiên cứu mà họ đang hướng tới thay vì chỉ phải liệt kê các bài báo khoa học của họ. Nghe có vẻ đơn giản hóa mọi chuyện nhưng khi đánh giá theo cách này sẽ thấy rằng phương pháp này tập trung vào bản thân nhà nghiên cứu thay vì chú trọng vào các xuất bản của họ.  Thứ hai là các tạp chí cần phải đa dạng hơn trong việc đánh giá tầm ảnh hưởng của mình. Theo đó, Nature đã cập nhật trang trắc lượng trên tạp chí online của nhà xuất bản này với việc thêm một cột dữ liệu trong phương thức đánh giá tạp chí của mình (biliometrics). Bên cạnh việc cập nhật này, Tạp chí Nature và  Scientific Report đã thống kê con số trích dẫn trung bình của các bài báo đã được xuất bản trong hai năm 2013 và 2014.  Việc cung cấp các dữ liệu mở rộng này chưa chắc giải quyết được vấn đề đã nêu ở trên về việc đa dạng hóa các chỉ số đánh giá giữa các lĩnh vực và và cũng chẳng làm “suy xuyển gì” nỗi “ám ảnh” về chỉ số ảnh hưởng. Nhưng ít nhất điều này cũng cung cấp một phương pháp tốt hơn để đánh giá tầm quan trọng của các tạp chí khoa học và một góc nhìn khách quan hơn về chỉ số ảnh hưởng.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã đến lúc phải trả ơn cho đại dương      Hàng thập kỷ qua, bằng cách hấp thụ một phần tư lượng khí CO2 ô nhiễm và hơn 90% nhiệt lượng dư thừa từ hiện tượng nóng lên toàn cầu, các đại dương đã giữ cho nhiệt độ bề mặt đất liền của Trái đất ở mức có thể sống được.    Tình trạng ô nhiễm và đánh bắt quá mức như hiện nay có thể khiến cho lượng nhựa trong các đại dương bằng số lượng cá vào giữa thế kỷ này.  Song, để đáp lại “tấm thịnh tình” ấy, con người lại đổ hàng núi rác thải nhựa xuống biển, xóa tan màu xanh thẳm của những loài cá lớn, và đầu độc bờ biển bằng các hóa chất độc hại cùng những dòng nước nông nghiệp.  “Ít nhất một phần ba trữ lượng cá tự nhiên đã bị đánh bắt quá mức, và chỉ còn dưới 10% đại dương là được bảo vệ”, Kathryn Matthews – giám đốc khoa học tại tổ chức phi chính phủ Oceana chia sẻ với AFP.  “Các tàu đánh cá bất hợp pháp cũng hoạt động mà không bị trừng phạt ở nhiều vùng ven bờ và biển khơi”.  Đồng thời, nước biển cũng bị CO2 làm axit hóa và những đợt nắng nóng kéo dài nhiều tháng hoặc lâu hơn cũng đang giết chết các rạn san hô – nơi hỗ trợ sự sống cho 1/4 sinh vật biển và cung cấp sinh kế cho 1/4 tỷ người.  “Chúng ta mới chỉ bắt đầu hiểu về mức độ tàn phá của biến đổi khí hậu lên đại dương mà thôi”, Charlotte de Fontaubert, người đứng đầu toàn cầu chương trình nền kinh tế xanh của Ngân hàng Thế giới, cho biết.  Tương lai đáng sợ  Được đồng tổ chức bởi Bồ Đào Nha và Kenya, Hội nghị Đại dương Liên Hợp Quốc kéo dài năm ngày đã quy tụ hàng nghìn quan chức chính phủ, doanh nghiệp, nhà khoa học và tổ chức phi chính phủ để tìm kiếm giải pháp.  Với xu hướng hiện tại, tình trạng ô nhiễm có thể khiến cho lượng nhựa ở biển nhiều ngang với cá vào giữa thế kỷ này. Thông tin ấy đã được đề cập trong chương trình nghị sự của hội nghị, cùng với các đề xuất giải pháp từ ​​tái chế đến cấm hoàn toàn túi nhựa.  Câu hỏi làm thế nào để nghề đánh bắt cá tự nhiên, từ những con tàu chế biến cá của vùng Đông Á cho đến những chiếc thuyền đánh cá dọc theo bờ biển nhiệt đới, trở nên bền vững hơn cũng là một nội dung quan trọng trong chương trình nghị sự của Lisbon.  Và khẩu hiệu mới được được ra ở đây là “thực phẩm xanh” – nguồn dinh dưỡng từ biển đảm bảo được tính bền vững và công bằng.  Ngành nuôi trồng thủy sản đang phát triển bùng nổ cũng cần phải được theo dõi chặt chẽ bởi nó tiềm ẩn rất nhiều vấn đề từ việc phá hủy các khu rừng ngập mặn quý giá đến việc sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan.  Thúc đẩy chương trình nghị sự  Dù hội thảo ở Lisbon không phải là một phiên đàm phán chính thức, những người tham gia vẫn không ngần ngại thúc đẩy để có một chương trình nghị sự mạnh mẽ về đại dương tại hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng vào cuối năm nay: cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hợp Quốc COP27 vào tháng 11, và cuộc đàm phán về đa dạng sinh học COP15 đã bị trì hoãn từ lâu.  Các đại dương vốn đã là trọng tâm của một dự thảo hiệp ước về đa dạng sinh học với nhiệm vụ ngăn chặn “sự tuyệt chủng hàng loạt” mà nhiều nhà khoa học lo ngại sẽ xảy ra kể từ khi thiên thạch quét sạch loài khủng long trên cạn hơn 65 triệu năm trước.  Một liên minh gồm gần 100 quốc gia cũng ủng hộ một điều khoản nền tảng, trong đó sẽ chỉ định 30% đất liền và đại dương làm các khu vực được bảo vệ.  Tuy nhiên, với vấn đề biến đổi khí hậu, vẫn chưa có nhiều đề xuất như vậy.  Bất chấp tác động nghiêm trọng của hiện tượng nóng lên toàn cầu và vai trò thiết yếu của các đại dương trong việc hấp thụ CO2, bảy vùng biển hầu như chưa được đề cập đến trong các cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hợp Quốc, mãi cho đến gần đây.  Song, các nhà khoa học đã khẳng định rất rõ rằng đại dương và vấn đề biến đổi khí hậu cần phải đi cùng nhau: các đại dương sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng trừ khi nồng độ khí nhà kính được giữ ở mức ổn định, và cuộc chiến chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu cũng sẽ thất bại nếu các đại dương mất khả năng hút CO2 và hấp thụ nhiệt.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-oceans-favor.html    Author                .        
__label__tiasang Đã lập được bộ gene của muỗi truyền bệnh Zika      Bộ gene của loài muỗi Aedes aegypti (hay còn gọi là muỗi vằn) truyền bệnh Zika gần như đã được lập bản đồ hoàn chỉnh nhờ một kỹ thuật lắp ráp trình tự gene “đột phá”.      Muỗi Aedes aegypti (hay còn gọi là muỗi vằn) truyền bệnh Zika.  Khi virus Zika lan khắp Tây bán cầu vào năm 2015 và 2016, các nhà di truyền học nôn nóng muốn vào cuộc chiến chống lại sự bùng phát của dịch bệnh này, tuy nhiên họ bị “trói tay” bởi chuỗi gene của muỗi Aedes aegypti truyền bệnh Zika không đầy đủ và bao gồm hàng ngàn đoạn DNA ngắn, gây khó khăn cho những nỗ lực nghiên cứu.  Nhưng mới đây, với sự trợ giúp từ một kĩ thuật ghép nối các chuỗi gene mới, các nhà khoa học ở Trường Y Baylor, Houston, Texas, đã “lắp ráp” được bộ gene của muỗi A. aegypti và bộ gene của muỗi Culex quinquefasciatus truyền virus West Nile gây viêm não. Phương pháp của họ, cũng được sử dụng để xây dựng bộ gene người với độ chính xác 99%, được công bố trên Science vào ngày 23/3. Chi phí xây dựng mỗi bộ gene chưa đến 10.000 USD.  Một nhóm nghiên cứu khác đã công bố phác thảo bộ gene của muỗi A. aegypti vào năm 2007 nhưng cách làm của họ tốn rất nhiều công sức. Nghiên cứu mới lần này đặt 94% bộ gene của hai loài muỗi vào ba nhiễm sắc thể lớn. Theo Leslie Vosshall, nhà nghiên cứu muỗi tại Đại học Rockefeller, New York, “Không thể có được bộ gene muỗi có chất lượng như vậy nếu thiếu kĩ thuật đột phá này.”  Những công nghệ giải trình tự gene gần đây đòi hỏi phải cắt DNA thành những đoạn ngắn. Mỗi đoạn như vậy được xác định trình tự riêng lẻ và sau đó chúng sẽ được lắp ghép lại với nhau. Nhưng ở những vùng của bộ gene có nhiều biến thể trên một loài, hoặc các chuỗi DNA có độ trùng lặp cao thì cách làm này không có tác dụng. Nó giống như một trò chơi ghép hình mà thiếu mất một vài mảnh ghép, Daniel Neafsey, nhà di truyền học về dân số tại Viện Broad, Cambridge, Massachusetts, mô tả.  Có thể khắc phục thách thức này bằng thời gian và tiền bạc, như đã được chứng minh bởi Dự án Bản đồ Gene người trị giá 2,7 tỉ USD. Nhưng Erez Lieberman Aiden, người đứng đầu nghiên cứu nói trên, muốn tìm một cách giải quyết khác. Bằng việc quan sát cách các nhiễm sắc thể xoắn lại, Aiden và các đồng nghiệp của ông đã tạo ra những bản đồ cho thấy các đoạn khác nhau của bộ gene thường ghép nối với nhau như thế nào, một phương pháp được gọi là ‘Hi-C’. Sử dụng các bản đồ theo phương pháp ‘Hi-C’ làm hướng dẫn, các nhà nghiên cứu có thể suy ra được vị trí lân cận của những đoạn gene khác nhau. Phương pháp mới được tiến hành trên những chuỗi ký tự DNA ngắn, giúp giảm chi phí.  David Severson, nhà nghiên cứu muỗi tại Đại học Notre Dame ở Indiana, người điều phối dự án bộ gene muỗi A. aegypti năm 2007, gọi nỗ lực của nhóm là “kỳ tích”. “Tôi đã chờ đợi để làm việc với một cái gì đó như thế này có lẽ là 20 năm”, ông nói. Biết được vị trí của từng gene và vị trí tương đối của chúng so với những gene khác, sẽ giúp các nhà khoa học hệ thống hóa những câu hỏi mới về cách các gene kết hợp để tạo ra những đặc tính khác nhau như thế nào.  Nhưng ngay cả bộ gene đã được cải thiện này cũng không hoàn hảo: nó bỏ sót hàng triệu kí tự DNA, và một số đoạn nhỏ dễ bị xếp sai trình tự. Nhóm Nghiên cứu Bộ gene muỗi Aedes được lập ra năm ngoái do sự bùng phát dịch Zika, đang nỗ lực để xây dựng bộ gene hoàn chỉnh và chính xác hơn. Nhóm này, do Vosshall đứng đầu, đang phối hợp với nhóm của Aiden.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  http://www.nature.com/news/zika-mosquito-genome-mapped-at-last-1.21697       Author                Quản trị        
__label__tiasang Da nhân tạo mới      Công ty Intercytex (Anh) đã phát minh một loại da nhân tạo mới có công dụng làm lành vết thương nhanh chóng với tên gọi là ICX-SKN.    Da mới được tạo từ một khuôn kết hợp từ sợi tơ huyết (một dạng protein được tìm thấy trong các vết thương đang lành) và nguyên bào sợi (các tế bào được cơ thể sử dụng để tổng hợp nên mô mới). Nguyên bào sợi sản xuất ra một loại protein khác là collagen giúp khuôn chắc chắn hơn. Kết quả thí nghiệm cho thấy ICX-SKN có khả năng kết hợp tốt với mô thật hơn những loại da nhân tạo trước đây và để lại ít sẹo hơn khi vết thương lành.   H.G(Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Da số hóa” giúp chân tay giả cũng có xúc cảm      Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu làm ra được một loại “da số hóa” (Digital Skin) có thể mô phỏng xúc giác của da người rồi truyền cảm giác đó lên não. Công nghệ này hiện nay có thể áp dụng cho các thiết bị điện tử mang trên người, về lâu dài, có thể ứng dụng cho những người không may bị mất lớp da trên cơ thể mình.      “Da số hóa” chia hai lớp, lớp ngoài là bộ truyền cảm (sensor) làm từ plastic và ống nano carbon, rất dai và có tính đàn hồi. Khi sensor bị ép nén, kết cấu của ống nano carbon sẽ biến đổi khiến cho mạch điện lớp bên trong phóng ra xung điện tử; lực nén càng lớn thì tần số xung điện càng cao.     Các nhà khoa học dùng chuột làm thí nghiệm, kết quả đã thành công khi dùng xung điện tử kích thích hệ thần kinh của chuột.     Loại “da số hóa” này có thể phân biệt được độ nặng/nhẹ mà bàn tay phải chịu, lại còn truyền được cảm giác nặng/nhẹ đó cho não bộ. Đối với người lắp chân tay giả, loại da này có thể làm cho chân tay giả của họ có xúc cảm như thật.     Giáo sư hóa học Bao Zhenan ở Đại học Stanford, người phụ trách nhóm nghiên cứu, nói, loại da nhân tạo mà họ làm ra có thể cảm nhận được lực đè lên da của một hạt thóc, một hạt muối, một con bướm. Sau đây nhóm sẽ nghiên cứu chế tạo loại sensor có thể cảm nhận được nhiệt độ, cảm giác đau.     Kết quả nghiên cứu nói trên đã được đăng tại tạp chí Science.       Nguyên Hải dịch  Nguồn: http://www.bbc.com/news/science-environment-34539056    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã tạo được nhiễm sắc thể nhân tạo?      Nhà nghiên cứu Mỹ Craig Venter vừa khiến giới khoa học xôn xao khi tuyên bố tạo ra được sự sống nhân tạo.      Theo ông Venter, đây sẽ là thần dược cứu chữa nhiều loại bệnh, phát triển những nguồn năng lượng mới ngăn Trái đất ấm dần lên. Venter khẳng định đã tạo ra một loại nhiễm sắc thể nhân tạo từ các hóa chất trong phòng thí nghiệm. Nhiễm sắc thể này được gọi là Mycoplasma, bao gồm 580.000 bộ mã di truyền. Nó sẽ được cấy vào và “kiểm soát” một tế bào vi khuẩn sống, qua đó hình thành một dạng sống mới. Như vậy, tế bào này sẽ không hoàn toàn là nhân tạo mà có một phần dạng sống tự nhiên, với khả năng nhân bản.   Hiếu Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã tìm thấy bằng chứng tồn tại sóng hấp dẫn của vũ trụ ban đầu      Bản online tạp chí Nature đưa tin: ngày 17/3  vừa qua, tại cuộc họp báo ở Trung tâm Vật lý thiên văn  Harvard-Smithsonian (Cambridge, Massachusetts), nhà khoa học John Kovac  tuyên bố trước thế giới rằng ông và nhóm nghiên cứu của mình đã tìm thấy  dấu vết của các sóng hấp dẫn (Gravitational waves) sinh ra từ vụ nổ lớn  của vũ trụ.     Ngay lập tức, giới khoa học khắp thế giới đều đánh giá rất cao thành tựu nghiên cứu này. GS Đàm Thanh Sơn tại ĐH Chicago nhận định “Nếu kết quả mới công bố ngày 17/3/2014 của thí nghiệm BICEP2 [Background Imaging of Cosmic Extragalactic Polarization] là đúng, thì đây có thể là phát hiện vật lý lớn nhất trong hàng chục năm nay”. Marc Kamionkowski ở ĐH John Hopkins, người 18 năm trước từng dự đoán sự tồn tại tín hiệu của quá trình dãn nở vũ trụ, nói phát hiện này còn quan trọng hơn việc tìm ra hạt Higgs. Vô cùng phấn khích vì khám phá này chứng minh giả thuyết dãn nở vũ trụ do mình đưa ra năm 1981 là đúng, Alan Guth ở Học viện Công nghệ Massachusetts cho rằng khám phá này xứng đáng được tặng giải Nobel.  Các nhà khoa học của hơn một chục trường, viện ở Mỹ, trong đó có bốn người phụ trách dự án BICEP – John Kovac (ĐH Harvard), Clement Pryke (ĐH Minnesota), Jamie Bock (Học viện Công nghệ California) và Chao-Linkuo (Quách Chiêu Lân, ĐH Stanford) – đã thực hiện khám phá nói trên sau một quá trình nhiều năm quan sát bức xạ nền vi sóng vũ trụ (Cosmic Microwave Background Radiation – CMBR) – còn gọi là “ánh sáng rớt lại” (afterglow) của Big Bang – qua kính thiên văn BICEP2 của NASA đặt tại Nam Cực.  CMBR là một dạng ánh sáng; nó bị các nguyên tử và điện tử tán xạ và bị cực hóa, có tính giao động lệch. Sóng hấp dẫn chèn ép không gian nó đi qua, sinh ra một mô hình khác ở trong CMBR. Lần này nhóm nghiên cứu đã tìm được mô hình giao động lệch đặc biệt kiểu B (B-modes). Họ cho rằng mô hình này chỉ có thể tạo ra bởi sóng hấp dẫn sinh ra khi vũ trụ dãn nở. Tại Nam cực, nhóm nghiên cứu đã phát hiện một tín hiệu cực hóa mô hình B mạnh hơn rất nhiều so với dự kiến. Mới đầu họ cho rằng nó gây ra bởi bụi của hệ Ngân hà, nhưng các số liệu cho thấy không phải như vậy. Để tránh nhầm lẫn, họ đã bỏ ra ba năm để kiểm nghiệm lại mọi số liệu, loại trừ các nguồn gốc khác.  Ngay từ năm 1916, thuyết tương đối nghĩa rộng do Einstein thiên tài đưa ra đã dự kiến sự tồn tại của sóng hấp dẫn, nhưng chưa ai kiểm chứng được điều đó. Vũ trụ sau khi sinh ra đã hình thành sóng hấp dẫn mạnh, nhưng cùng với sự dãn nở nhanh chóng của vũ trụ, sóng hấp dẫn cũng dần dần yếu đi. Những sóng hấp dẫn ban đầu ấy chẳng khác gì “hồi âm” của vụ nổ lớn Big Bang. Chúng được truyền lan trong vũ trụ 380.000 năm sau Big Bang. Nửa thế kỷ trước, Arno Penzias và Robert Wilson tại Bell Labs tình cờ phát hiện ra bức xạ vi sóng vũ trụ và do đó được tặng giải Nobel.  Nhóm nghiên cứu chọn Nam Cực – nơi lạnh nhất trái đất nhưng thích hợp nhất để theo dõi vầng sáng rớt lại của Big Bang. John Kovac, người đã đến Nam Cực làm việc 23 lần, nói: “Khám phá tín hiệu này là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của khoa học vũ trụ ngày nay”.   Giờ đây kính viễn vọng BICEP2, chĩa lên “Lỗ hổng phía Nam” bên ngoài giải Ngân hà, nơi ít bị các thiên thể can nhiễu, đã tóm bắt được hình ảnh của các sóng hấp dẫn đó. Qua quan trắc vi sóng vũ trụ còn lại sau Big Bang, một số giao động cực yếu đã cung cấp manh mối cho các nhà khoa học, dẫn họ đến phát hiện có tính đột phá nói trên.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã tính được 10.000 tỉ chữ số của số Pi      Chuyên gia công nghệ thông tin người Nhật Shigeru Kondo vừa được ghi tên vào kỷ lục Guinness khi xác định được giá trị của hằng số Pi lên đến 10.000 tỉ chữ số.     Chuyên gia IT Nhật Bản Shigeru Kondo cùng một sinh viên người Mỹ Alexander Yee đã bỏ ra hơn một năm để tính được con số này.  Tháng 8 năm ngoái, ông là người thiết lập kỷ lục tính Pi với 5.000 tỉ chữ số. Và vừa qua, ông đã nhanh chóng phá vỡ kỷ lục của chính mình với kết quả tính hằng số Pi lên đến 10.000 tỉ chữ số.  Đã có lúc căn phòng chứa máy tính của ông Kondo nóng đến 40 độ C vì máy tính hoạt động và máy tính đã phải “bó tay” trong hơn nửa năm khi không thể giải được những bài toán quá rắc rối.           Hằng số Pi trong toán học được tính bằng cách lấy chu vi đường tròn chia cho đường kính đường tròn đó, thường được tính tròn số là 3,14.        Vợ ông Kondo, Yukiko, nói vui với tờ Kyodo News: “Chúng tôi có thể hong khô đồ ngay lập tức nhưng bù lại phải trả 390 USD tiền điện mỗi tháng”.  Ông Kondo, 56 tuổi, là một kỹ sư làm việc ở công ty thực phẩm ở tỉnh Nagano, miền bắc Nhật Bản. Ông tự lắp ráp máy tính cá nhân của mình để thực hiện công trình tính toán hằng số Pi với một ổ cứng 48 terabyte.    (Nguồn: Daily Mail)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã xác định được cấu tạo của hành tinh kim cương      Đây là hành tinh kim cương đầu tiên được tìm thấy đang quay theo quỹ  đạo xung quanh một ngôi sao giống mặt trời, và các nhà khoa học có thể  biết được tính chất hóa học của nó.    Đâu đó trên bầu trời, một trong những ngôi sao lấp lánh lại là một khối kim cương khổng lồ thật sự. Ngày 11 tháng 10 vừa qua, các nhà khoa học thông báo về sự tồn tại của một “hành tinh kim cương” có kích thước bằng hai lần, khối lượng bằng tám lần Trái đất, quay rất nhanh quanh một ngôi sao khác ở gần nó.  Trong thực tế, đây không phải là hành tinh kim cương đầu tiên từng được phát hiện, nhưng là hành tinh kim cương đầu tiên được tìm thấy đang quay theo quỹ đạo xung quanh một ngôi sao giống mặt trời, và các nhà khoa học có thể biết được tính chất hóa học của nó. Phát hiện này có nghĩa là các nhà khoa học không phải giả định rằng hành tinh đá xa xôi này có thành phần hóa học, cấu trúc, bầu khí quyển tương tự như ở Trái đất nữa, Nikku Madhusudhan, trưởng nhóm nghiên cứu, đang làm hậu tiến sĩ vật lý và thiên văn học tại ĐH Yale cho biết.  Hành tinh kim cương được quan sát lần đầu tiên vào năm ngoái, nhưng các nhà nghiên cứu mới chỉ đưa ra dự đoán ban đầu rằng nó có tính chất hóa học tương tự như Trái đất.  Chỉ sau khi phân tích chi tiết, nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học ở hai nước Pháp-Mỹ mới xác định hành tinh này – được gọi là “55 Cancri e” rất khác so với trái đất của chúng ta.  Hành tinh này “lộ ra chủ yếu gồm carbon (than chì và kim cương), sắt, silicon carbua, và có thể là một số silicat”, nhóm nghiên cứu viết trong tuyên bố về phát hiện của họ đăng trên tạp chí Astrophysical Journal Letters của Mỹ. “Bề mặt của hành tinh này có thể được bao phủ bởi than chì và kim cương chứ không phải là nước và đá granite”, Madhusudhan nói thêm. Thực tế, hành tinh này dường như không có nước. Và có thể tới 1/3 khối lượng của hành tinh được cấu tạo bởi kim cương – một hợp chất carbon siêu dày đặc.  Trong khi đó, cấu tạo bên trong của Trái đất giàu oxy và rất nghèo carbon, đồng tác giả Kanani Lee của nhóm nghiên cứu ở Đại học Yale giải thích.  Các nhà nghiên cứu ước tính được bán kính của hành này với các dữ liệu thu thập được vào những thời điểm nó di chuyển qua trước mặt ngôi sao của nó. Thông tin này kết hợp với giá trị ước tính khối lượng của hành tinh đã được sử dụng để mô tả thành phần hóa học của nó, dựa trên tính toán rằng các yếu tố và hợp chất nào có thể tạo nên kích thước và khối lượng cụ thể đó.  Quỹ đạo của hành tinh này quanh mặt trời của nó rất nhanh – một năm chỉ kéo dài 18 giờ. Và bởi vì rất gần mặt trời nên trung bình nhiệt độ bề mặt của nó là 900 độ F (2.148 C), hoàn toàn không phù hợp cho sự sống.  Tuy nhiên, hành tinh chỉ cách trái đất 40 năm ánh sáng trong chòm sao Cự giải (Cancer) này đã mở ra hướng mới trong nghiên cứu các quá trình địa hóa học và địa vật lý của những hành tinh có cùng kích cỡ với Trái đất bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Mức carbon cao có thể có tác động tới việc núi lửa, động đất đã hoạt động như thế nào  và hình thái của núi – và thêm các bằng chứng cho thấy số lượng và sự đa dạng của các hành tinh cao hơn nhiều so với dự đoán của chúng ta.  “Các ngôi sao có cấu trúc đơn giản thì chỉ cần dựa trên khối lượng và độ tuổi của nó, bạn sẽ biết được cấu trúc cơ bản và lịch sử của ngôi sao”, David Spergel, một nhà thiên văn học Đại học Princeton nói. “Nhưng các hành tinh phức tạp hơn nhiều. Hành tinh giàu kim cương giống như siêu trái đất chỉ là một ví dụ trong những khám phá đang chờ đợi chúng ta khi chúng ta bắt đầu khám phá các hành tinh quanh các ngôi sao gần đó”.  Thu Quỳnh dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặc điểm trong nghiên cứu dân tộc học của Việt Nam      Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận xét cho rằng các công trình nghiên cứu dân tộc học của ta có đặc điểm nổi bật là hướng vào việc mô tả các khía cạnh và hiện tượng văn hoá của tộc người, cố gắng đi tìm những nét văn hoá “truyền thống” và ít biến đổi.       Thêm nữa, những miêu thuật dân tộc học như vậy bao giờ cũng cố gắng bao quát tất cả các mặt của đời sống tộc người, từ văn hoá vật chất đến quan hệ gia đình và xã hội, rồi những sinh hoạt của đời sống tinh thần. Sau đó, các tư liệu này thường được nhập vào một khuôn mẫu giải thích có sẵn, chẳng hạn tìm mối liên hệ của chúng trong lịch sử, phần lớn là ngược về thời Đông Sơn, rồi đưa ra những nhận xét về cội nguồn lịch sử chung nào đó giữa nền văn hoá Đông Sơn với lịch sử và văn hoá của tộc người được nghiên cứu. Trong khi đó, các quan hệ tộc người hiện tại lại thường được xem xét trên cơ sở của một khuôn mẫu khác, được trình bày giống như là hệ quả của tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm, chung lưng đấu cật xây dựng quốc gia-dân tộc, v.v. Dựa trên phân tích nội dung một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam, D. Marr, một nhà Việt Nam học nổi tiếng, đã nhận xét rằng hầu hết các mô tả dân tộc học ở Việt Nam đều có đặc điểm chung là “giống như những hiện vật bảo tàng, không có thời gian, cứ như thể tất cả các tộc người này chưa từng trải qua những thử thách và biến đổi đáng kể nào trong suốt nửa thế kỷ qua” (Marr, 1992:169).         D. Marr, một nhà Việt Nam học nổi  tiếng, đã nhận xét rằng hầu hết các mô tả dân tộc học ở Việt Nam đều có  đặc điểm chung là “giống như những hiện vật bảo tàng, không có thời  gian, cứ như thể tất cả các tộc người này chưa từng trải qua những thử  thách và biến đổi đáng kể nào trong suốt nửa thế kỷ qua”.          Trong một lần may mắn được trò chuyện với một vị giáo sư hàng đầu về dân tộc học Tây Nguyên, tôi được nghe ông thổ lộ rằng khi ông vào nghiên cứu về Tây Nguyên thì văn hoá (cổ truyền) của các tộc người ở đây đã biến đổi nhiều rồi. Những yếu tố cổ xưa đã mai một đến mức khó nhận ra. Vì thế ông đã phải cố gắng chắp nối các yếu tố truyền thống trong văn hoá của họ dựa vào tư liệu thu thập được ở từng địa phương khác nhau, cuối cùng ráp nối lại, và hình dung ra đặc điểm chung của nền văn hoá tộc người mà ông đang nghiên cứu và mô tả. Có vẻ như đây là một cách làm phổ biến trong dân tộc học ở ta, giống như một khuôn mẫu chung trong thực hành nghiên cứu dân tộc học vậy. Vấn đề đặt ra là tại sao dân tộc học ở ta lại có khuynh hướng đi tìm những đặc trưng văn hoá “điển hình”, cổ xưa và ít biến đổi của tộc người trong khi ít xem xét những biến đổi và tính đa dạng của chúng theo thời gian và trong không gian? Tại sao các nghiên cứu dân tộc học của ta lại ít quan tâm đến các vấn đề của xã hội hiện đại, những năng động kinh tế- xã hội và dân số ở khu vực đô thị và công nghiệp mà có khuynh hướng tập trung vào các tộc người thiểu số ở xa các trung tâm đô thị? Có lẽ các nhà nghiên cứu của chúng ta ít khi mổ xẻ vấn đề này, rằng tại sao chúng ta lại làm như vậy, và thực ra chúng ta có chịu ảnh hưởng hay bị dẫn dắt bởi một thứ lý luận khoa học nào đó không? Cho đến nay, chúng ta ít thấy các thảo luận có tính lý luận như vậy trên tạp chí chuyên ngành hay trong các công trình nghiên cứu lý luận về dân tộc học.   Một trong những hậu quả của tiếp cận tầng “văn hoá tĩnh” của tộc người là chúng ta không đánh giá đúng mức những vấn đề của xã hội hiện đại đang diễn ra và thay đổi nhanh, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu về làng xã, một truyền thống của dân tộc học thực dân cho đến nay. Do vậy, chúng ta hầu như vẫn chưa quan tâm đến các vấn đề của dân tộc học đô thị, đến lối sống của các cộng đồng xã hội hiện đại như công nhân công nghiệp và nông lâm trường. Dường như chúng ta ngấm ngầm công nhận rằng sân chơi của dân tộc học là các xã hội truyền thống, trong khi các xã hội hiện đại là lĩnh vực của xã hội học? Dù sao thì đây cũng là một đặc điểm khác biệt đáng kể của dân tộc học Việt Nam so với xu hướng của dân tộc học – nhân học thế giới sau kỷ nguyên thực dân, trong đó, các nghiên cứu đã được tập trung vào đời sống, và các cộng đồng xã hội khác nhau trong lòng các xã hội công nghiệp phát triển, thì chúng ta vẫn còn đang mơ màng với truyền thống của dân tộc học thời thực dân quan tâm chủ yếu đến các tộc người thiểu số, tìm kiếm những đặc điểm văn hoá của một thời quá vãng mà ít xem xét chúng trong mối liên hệ đến sự biến đổi và phát triển của đời sống hiện tại.        Những kêu gọi đổi mới dân tộc học Việt Nam gần đây có khuynh hướng nhấn mạnh vào khả năng ứng dụng của nó. Trên cơ sở quan niệm rằng bản chất của dân tộc học là “một khoa học ứng dụng” (Hoàng Lương, 2000:7), các nhà nghiên cứu đòi hỏi nghiên cứu dân tộc học phải phục vụ thực tiễn cuộc sống và chính sách phát triển. Sở dĩ vấn đề này được nhấn mạnh gần đây là vì vẫn tồn tại một cách nghĩ phổ biến cho rằng dân tộc học của ta nặng về miêu tả và nhẹ phân tích, xa rời hiện thực cuộc sống. Nhưng trên thực tế, trong các quyết sách của nhà nước với các khu tự trị dân tộc, với đường lối phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên và đặc biệt là những thay đổi trong chính sách tôn giáo của Đảng những năm gần đây cho thấy dân tộc học thực sự đã góp phần thiết thực vào những chương trình nghị sự của đất nước. Tuy nhiên, trong khi kêu gọi phải tăng cường ứng dụng phục vụ chính sách phát triển, các trường đại học và các viện nghiên cứu liên quan lại chưa sẵn sàng trang bị cho các nhà nghiên cứu những kiến thức cần thiết về dân tộc học ứng dụng. Nếu chỉ bằng những nhiệt tình chính trị đơn thuần, cái giá phải trả cho những đề xuất chính sách thiếu cơ sở khoa học có thể đẩy các nhóm tộc người hoặc các vùng miền văn hoá vào những tình thế không thể sửa chữa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19 khiến trẻ sơ sinh kém phát triển      Theo một nghiên cứu mới, những đứa trẻ 6 tháng tuổi, sinh năm 2020 trong đại dịch COVID-19, phát triển kỹ năng vận động và kỹ năng xã hội chậm hơn so với những đứa trẻ sinh ra trước đại dịch.    Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã so sánh điểm phát triển của 227 trẻ sơ sinh trong thời đại dịch (sinh ra tại các bệnh viện ở New York) với điểm phát triển của 62 trẻ sinh ra 2 năm trước đại dịch ở thời điểm 6 tháng tuổi.    Trong cả hai nhóm, khi trẻ 6 tháng tuổi, các bà mẹ trả lời một bài kiểm tra gồm 30 câu hỏi đánh giá các kỹ năng vận động, giao tiếp, giải quyết vấn đề và quan hệ cá nhân – xã hội của trẻ sơ sinh – ví dụ trẻ sơ sinh có quay đầu về phía có tiếng ồn lớn hay không, hay có thường xuyên lẫy không – để từ đó xác định điểm phát triển của trẻ.            Hai nhóm trẻ khác nhau về mặt nhân khẩu học (bao gồm giới tính của trẻ, tuổi thai khi sinh; tuổi, chủng tộc, dân tộc, trình độ học vấn và những lần mang thai trước của người mẹ), nhưng nhóm nghiên cứu cho biết đã tinh chỉnh để tính đến những khác biệt này.    Kết quả, các kỹ năng vận động cũng như điểm số quan hệ cá nhân – xã hội (đánh giá qua các hành vi như kêu khi thấy mình trong gương hay tương tác với những người xung quanh) ở trẻ sinh từ tháng 3/2020 đến tháng 12/2020 thấp hơn đáng kể so với trẻ sinh ra trước đại dịch. Các kết quả đăng trên tạp chí JAMA Pediatrics ngày 3/1.    Điểm số phát triển thấp nhất xuất hiện ở nhóm trẻ sinh ra từ có mẹ trải qua ba tháng đầu của thai kỳ trong giai đoạn cao điểm đầu tiên của đại dịch ở TP New York (từ ngày 7/3 đến ngày 6/4 năm 2020). Nhóm nghiên cứu cho biết kết quả này cho thấy sự căng thẳng của người mẹ trong giai đoạn đầu thai kỳ ảnh hưởng lớn hơn đến hành vi xã hội của trẻ, so với căng thẳng ở giai đoạn sau của thai kỳ; kết quả này nhất quán với các nghiên cứu trước đây. Nghiên cứu viên chính Dani Dumitriu, bác sĩ nhi tại Đại học Columbia,dự đoán, ngoài các yếu tố trong thai kỳ, mức độ căng thẳng của cha mẹ khi sinh con trong đại dịch cũng có thể ảnh hưởng đến trẻ.    “Đây không phải là những khác biệt lớn, chỉ là sự thay đổi nhỏ về điểm số trung bình giữa các nhóm,” theo Dumitriu, “nhưng cần lưu ý đến những thay đổi nhỏ này vì ở cấp độ dân số, nó có thể tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng.” Ngoài ra, với cá nhân mỗi trẻ sơ sinh, sự chậm phát triển thần kinh nhẹ này không nhất thiết dự đoán khả năng phát triển lâu dài. “Khi mới 6 tháng, trẻ sơ sinh cực kỳ dễ uốn nắn – não bộ của chúng có thể quay trở lại quỹ đạo phát triển thần kinh bình thường,” Dumitriu nói.    Tuy nhiên có một số lưu ý, chẳng hạn như việc các bà mẹ có thể báo cáo sai lệch về khả năng của con mình, và nhìn chung rất khó đánh giá sự phát triển ở trẻ 6 tháng tuổi, cho dù sử dụng phương pháp nào.    Nhóm Dumitriu cũng tìm thấy một kết quả đáng khích lệ: Nhiễm COVID-19 trong thời kỳ mang thai không ảnh hưởng đến những đứa trẻ được sinh ra. Trong nhóm trẻ sinh ra trong đại dịch, không có sự khác biệt về sự phát triển thần kinh giữa 114 trẻ sinh ra từ những bà mẹ nhiễm COVID-19 trong khi mang thai và 141 trẻ sinh ra từ những bà mẹ không nhiễm COVID-19. Kết quả này trái ngược với các kết quả nghiên cứu khác trước đây.    Nhưng một số nhà khoa học nghi ngờ phát hiện này. “Nghiên cứu này không phải là bằng chứng cho thấy COVID-19 không có hại cho sự phát triển của trẻ sau này. Do đó vẫn cần thiết phải tiêm phòng khi mang thai,” Wood nói.    Một số ý kiến khác ủng hộ nghiên cứu mới. “Đây là một ví dụ hay về ‘nghiên cứu khoa học đáp ứng’ – giải quyết các câu hỏi trong thế giới thực càng nhanh càng tốt. Và nhược điểm là những kết luận chưa thể đầy đủ hoàn toàn”, Tom O’Connor, nhà tâm lý học tại Đại học Rochester, người nghiên cứu về căng thẳng trước khi sinh và ảnh hưởng của căng thẳng đối với trẻ em, nói. Nhưng nghiên cứu này đã nêu bật một thực tế quan trọng, chúng ta cần suy nghĩ về những rủi ro từ đại dịch từ nhiều góc độ hơn, chứ không chỉ là khả năng gây bệnh của virus, theo O’Connor.      Thuyết  Xuân      Author                .        
__label__tiasang Đại dịch COVID-19: Góc nhìn từ vật lý và sinh học cấu trúc      Năm 2020 đã trở thành một mốc lịch sử khi toàn thế giới phải chống chọi với đại dịch COVID-19, một thảm họa lớn nhất của nhân loại kể từ chiến tranh thế giới thứ 2. Từ những nước đang phát triển cho đến các quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, tất cả đều đang gồng hết sức mình để ngăn chặn đại dịch, huy động toàn bộ các tiềm lực kinh tế, quốc phòng, y tế… cùng sự đóng góp của toàn cộng đồng, trong đó các hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH).      Nhà nghiên cứu Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương kiểm tra mẫu virus SARS-CoV 2 trên kinh hiển vi điện tử (TEM). Nguồn: NIHE  Ngay từ đầu thế kỷ XXI, nhân loại đã liên tục chứng kiến và phải chống chọi với hàng loạt dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây bởi virus. Đó là dịch viêm đường hô hấp cấp SARS năm 2003 hoành hành tại 29 quốc gia với 8.422 ca nhiễm và 774 ca tử vong, đại dịch cúm A/H1N1 năm 2009 lây lan toàn thế giới với hơn 200 triệu ca nhiễm và gần 600 ca tử vong, hội chứng viêm đường hô hấp cấp Trung Đông MERS năm 2012 tại 26 nước với 1.218 ca nhiễm bệnh và 450 ca tử vong, dịch Ebola năm 2014 ở châu Phi với hơn 28 nghìn ca nhiễm và hơn 11 nghìn ca tử vong, dịch virus Zika năm 2015-2016 gây bệnh đầu nhỏ ở trẻ em với hơn 1,5 triệu ca nhiễm. Và từ đầu năm 2020 đến nay, cả thế giới thực sự bị chấn động vì đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2, một chủng vi rút corona tương tự như chủng virus đã gây dịch SARS và MERS trước đây, gây ra. Kể từ sau đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918-1920, chưa bao giờ số liệu về ca nhiễm và tử vong vì một đại dịch lại tăng nhanh đến chóng mặt như vậy ở quy mô toàn cầu.  Mỗi khi đại dịch xảy ra, những nỗ lực NCKH luôn được huy động để xác định bản chất y sinh hóa của quá trình lây nhiễm bệnh, giúp phát triển các bộ kit chẩn đoán phát hiện nhanh virus, nhằm ngăn chặn và khống chế dịch bệnh lây lan. Bên cạnh đó, cộng đồng khoa học quốc tế cùng nỗ lực của các công ty dược đang chạy đua với thời gian để nhanh chóng nghiên cứu, điều chế ra thuốc đặc trị và vaccine phòng bệnh. Tuy nhiên quá trình này không hề dễ dàng, đòi hỏi thới gian và hiện nay thế giới vẫn chưa có những loại thuốc đặc trị hay vaccine phòng bệnh hiệu quả nào được chính thức đưa ra thị trường. Để hiểu và thấy được tầm quan trọng của các hoạt động NCKH này, việc cập nhật những thông tin khoa học tổng quát về chủng virus mà chúng ta đang phải đối mặt trong cuộc chiến chống đại dịch này là cần thiết.  Cấu trúc virus SARS-CoV-2  SARS-CoV- 2 là tên viết tắt của chủng virus corona mới gây hội chứng viêm đường hô hấp cấp nặng (Severe acute respiratory syndrome coronavirus 2), đây là loại virus RNA sợi đơn, có kích thước 80-150 nm. Vật liệu di truyền là RNA, có kích thước khoảng 27-32 kilobases, lớn nhất trong các loại virus RNA đã biết, được bao bọc bởi nucleocapsid cuộn thành dạng xoắn ốc. Theo tiếng Latin, chữ “corona” trong tên virus có nghĩa là “vương miện”. Quan sát dưới kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM), xung quanh hạt virus có các gai (protein S) bao bọc giống như chiếc vương miện của nữ hoàng. Nhìn chung, hình thái và cấu trúc của SARS-CoV-2 cũng giống như chủng virus corona khác gây bệnh cho người và động vật. Tuy nhiên, SARS-CoV-2 gây đại dịch COVID-19 lần này đang cho thấy mức độ nguy hiểm của chúng lớn hơn nhiều so với các chủng đã biết. Những kết quả NCKH gần đây đã chỉ ra rằng SARS-CoV-2 có khả năng sống nhiều giờ trên bề mặt vật rắn [1]. Khi có cơ hội tiếp xúc với cơ quan hô hấp của người ta như miệng hay mũi, chúng nhanh chóng thích ứng với các tế bào cảm thụ, nhân lên và tàn phá tế bào. Hình 1 mô tả về hình thái 3D và cấu trúc 2D của virus SARS-CoV-2. Trong đó, protein S với khối lượng ∼150 kDa (1Da=1/12 khối lượng của nguyên tử 12C) có vai trò chính trong việc gắn kết với thụ thể của tế bào cảm thụ để bắt đầu quá trình xâm nhập và nhân lên trong tế bào vật chủ, còn protein M (∼25–30 kDa) là protein cấu trúc, đóng vai trò quan trọng trong quá trình lắp ráp với nucleocapsid để hình thành hạt virus hoàn chỉnh trước khi giải phóng ra khỏi tế bào.    Hình 1: Mô hình 3D (A) và 2D (B) của vi rút SARS-CoV-2 [3]  Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO, virus SARS-CoV-2 có khả năng lây từ người sang người qua các giọt dịch tiết bắn ra từ khoang miệng hoặc mũi khi có sự tiếp xúc gần ở khoảng cách dưới 2 m hoặc tiếp xúc gián tiếp với các bề mặt đồ vật hay môi trường xung quanh có bám dính dịch tiết mũi họng của người bệnh. Sau khi virus đi vào cơ thể, chúng bám vào tế bào vật chủ nhờ protein S gắn với các thụ thể đặc hiệu trên mặt tế bào, sau đó giải phóng nucleocapsid của vi rút vào trong tế bào. Ngay tại bào tương, RNA sợi dương của virus trực tiếp tạo ra các proteins và vô số bản sao của chúng. Tiếp theo, protein N bao bọc xung quanh bản sao RNA này thành nucleocapsid, trong khi các protein khác (M, S, HE…) được tổng hợp và gắn trên màng của các lưới nội bào có hạt (rER). Nucleocapsid của vi rút tiến gần tới màng rER và dùng ngay màng này để cuộn lại hình thành hạt virus hoàn chỉnh (Hình 2). Các hạt vi rút nảy chồi vào trong các không bào, các khoang chứa virus tiến ra sát màng tế bào và giải phóng vi rút ra bên ngoài môi trường để chúng tiếp tục lây nhiễm đối với các tế bào khác và thực hiện các chu trình nhân lên tiếp theo.    Hình 2: Hình ảnh hiển vi điện tử của vi rút SARS-CoV-2 chồi vào các khoang của tế bào (Va). Các đầu mũi tên trắng chỉ các hạt vi rút  [2]  Các nhà khoa học thường dựa trên các thông tin phân tích về cấu trúc, quá trình nhân lên của virus trên tế bào cũng như những dữ liệu về sinh học phân tử để thiết kế và phát triển các loại thuốc đặc trị cũng như vaccine phòng bệnh thích hợp. Tuy nhiên, nhiều thông tin về protein phi cấu trúc được mã hóa bởi virus này vẫncòn chưa rõ, nên hiện nay cộng đồng khoa học vẫn chưa hiểu được vai trò và chức năng của chúng trong quá trình gây bệnh cũng như nhân lên trên tế bào [3].  Khả năng tiêu diệt virus SARS-CoV-2  Mặc dù có khả năng lây lan nhanh chóng giữa người và người, nhưng theo các dữ liệu khoa học, các chủng virus corona nói chung nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ, dung môi hòa tan lipid như ete hay chloroform; pH thấp hay tia cực tím. Ngoài ra, virus gây bệnh nói chung và SARS-CoV-2 nói riêng không thể tự sinh sản hay nhân lên mà không có tế bào vật chủ, chúng cũng không thể tồn tại ngoài môi trường mà không có lớp dung dịch bảo vệ như dịch tiết hầu họng, môi trường nuôi cấy virus… Chính vì thế, SARS-CoV-2 hoàn toàn có thể được ngăn chặn và tiêu diệt nếu các biện pháp y tế khuyến cáo được thực thi một cách nghiêm túc, đồng bộ và triệt để. Đối với việc phát triển thuốc đặc trị và vaccine để ngăn chặn SARS-CoV-2, mặc dù cộng đồng khoa học trên thế giới đã đạt được những bước tiến quan trọng như: nuôi cấy thành công vi rút trong phòng thí nghiệm, giải mã toàn bộ bộ gene của virus, và nghiên cứu chi tiết cấu trúc phân tử của virus [4]. Tuy nhiên, cho dù tình hình nghiên cứu đạt được những kết quả khả quan nhất thì chúng ta vẫn phải chờ đợi nhiều tháng cho tới hàng năm nữa đến khi sản phẩm mới có thể đến được với người dân, do thuốc hay vắc xin phải trải qua quá trình đánh giá về tính an toàn, hiệu quả cũng như khả năng sinh miễn dịch của cơ thể.  Vai trò của Vật lý trong nghiên cứu virusSARS-CoV-2  Ngoài việc xác định cấu trúc gene và cấu trúc phân tử của virus, việc nghiên cứu phản ứng của vi rút với các hợp chất dược thuốc hay vaccine có vai trò quyết định trong việc điều trị COVID-19 và chế ngự sự lây lan của đại dịch này. Các chuyên gia sinh học cấu trúc (SHCT) đang được huy động tối đa vào công việc này. SHCT nghiên cứu virus bằng phương pháp vi mô nhất có thể của sinh học phân tử, không chỉ xác định cấu trúc đa nguyên tử của phân tử enzyme virus mà còn tìm hiểu sự thay đổi cấu trúc đa nguyên tử này trong các phản ứng sinh hóa xảy ra khi virus trong tế bào chủ tiếp xúc với hợp chất dược thuốc hay vắc xin thử. Trong ngôn ngữ vật lý, với nhiều nghìn nguyên tử Các bon (C), Ni tơ (N), Ô xy (O) và Lưu huỳnh (S) liên kết hữu cơ với nhau trong protease (enzyme thủy phân protein) của vi rút, đây là hệ phân tử nhiều hạt và các tính toán mô phỏng động học phân tử (molecular dynamics) một hệ như vậy chỉ tiến hành được trên siêu máy tính lớn. Các nghiên cứu SHCT trong phòng thí nghiệm cũng hoàn toàn dựa vào các phương pháp vật lý như nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction) hay kính hiển vi điện tử (EM)…    Hình 4: Bức xạ photon (từ vi sóng đến tia X năng lượng cao) được phát ra từ chùm electron được gia tốc theo hướng vuông góc với hướng từ trường trong máy gia tốc synchrotron. Bức xạ này còn được gọi là bức xạ từ hãm (magnetobremsstralung). Minh họa lấy từ Wikipedia.    Theo dòng lịch sử, vật lý luôn có đóng góp thiết yếu nhất cho SHCT [5], từ kính hiển vi thế hệ đầu tiên cho đến EM và kính hiển vi điện tử lạnh (Cryo-EM), máy quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR đến hệ đo nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction)… luôn đồng hành cùng các nhà y sinh học, giúp phát hiện và phân loại cấu trúc của nhiều loại virus gây bệnh dịch. Cấu trúc xoắn kép DNA, một trong những khám phá quan trọng nhất của thế kỷ XX, đã được phát hiện qua phổ nhiễu xạ tia X của tế bào. Nhiễu xạ tia X là thí nghiệm đo tán xạ chùm photon tia X với năng lượng từ vài keV đến vài chục keV trên các mẫu vật liệu hay mẫu phẩm sinh học khác nhau, với năng lượng photon được chọn sao cho độ phân giải của thí nghiệm tán xạ nhỏ hơn nhiều so với kích thước của mẫu đo. Hiện nay, với tia X cường độ dòng lớn phát ra từ các chùm electron được gia tốc trong từ trường mạnh của synchrotron (Hình 4), những thí nghiệm nhiễu xạ tia X có thể được thực hiện rất nhanh với độ chính xác cao. Ngày 5/2/2020, sau một thời gian ngắn kể từ khi bùng dịch ở Vũ Hán, nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Kỹ thuật Thượng Hải đã tải lên Ngân hàng dữ liệu protein cấu trúc protease chính của SARS-CoV-2 do bằng nhiễu xạ tia X tạo ra trong synchrotron của Viện vật lý ứng dụng Thượng Hải (SINAP). Với độ phân giải chi tiết của thí nghiệm này tới 0,2 nm, số lượng các nguyên tử C, O, N và S cùng phân bố không gian của chúng trong protease SARS-CoV-2 được xác định chính xác tới 99,5% [6]. Những cơ sở dữ liệu này là tối cần thiết cho các công ty dược phẩm nghiên cứu và phát triển thuốc đặc trị virus gây dịch COVID-19. Theo các chuyên gia vật lý, cách đây khoảng 10 năm, thí nghiệm này phải thực hiện ít nhất trong vòng một năm mới có được độ chính xác cao như vậy (cuối thế kỷ XX người ta đã cần hơn 4 năm để khẳng định được cấu trúc tinh thể của protease HIV gây bệnh AIDS) [5].  Trước tình hình lan truyền rất mạnh của dịch COVID-19 trên thế giới, nhiều cơ sở nghiên cứu vật lý và SHCT đã được yêu cầu tập trung gấp vào lĩnh vực vi rút SARS-CoV-2. Thí dụ, Quỹ khoa học quốc gia NSF của Hoa Kỳ vừa quyết định tài trợ gấp cho một nhóm các nhà khoa học ở Khoa vật lý thuộc Trường đại học tổng hợp Utah nghiên cứu vi rút SARS-CoV-2 [7]. Tại đây, khả năng chịu đựng của virus corona đối với thay đổi của độ ẩm và nhiệt độ sẽ được kiểm tra trong điều kiện mà cấu trúc virus có thể bị phá hủy. Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp y tế công cộng hiểu được cách thức SARS-CoV-2 hoạt động và bị phá hủy thế nào trong các điều kiện môi trường khác nhau. Nhiều chương trình NCKH tương tự hiện đang được triển khai rất khẩn trương trên thế giới.  Lời kết  Đại dịch COVID-19 còn đang diễn biến rất phức tạp trên toàn thế giới, với những hậu quả rất năng nề không thể lường hết được đối với toàn nhân loại. Một điều chắc chắn rằng, phong cách sống hàng ngày của con người ta cũng như nhiều lĩnh vực cộng đồng như phát triển y tế, du lịch, quy hoạch kiến trúc xây dựng… đặc biệt là khoa học và công nghệ sẽ có những thay đổi lớn trong những năm hậu dịch. Hiện nay những hoạt động NCKH của Việt Nam trong lĩnh vực vật lý và SHCT như trình bày còn yếu kém và không được quan tâm. Với  số lượng công trình công bố quốc tế là yêu cầu chính của các dự án, đề tài nghiên cứu cơ bản, cộng đồng NCKH ở trong nước hiện chỉ tập trung cố gắng có bài báo công bố quốc tế càng nhiều càng tốt, chưa nói đến việc các cơ sở đại học, nghiên cứu công lập và dân lập cũng đang cạnh tranh với nhau dựa trên số bài báo quốc tế và chỉ số trích dẫn là chính. Hệ quả tất yếu của hiện tượng này là Việt Nam đang có nhiều lĩnh vực NCKH trọng yếu, đặc biệt những nghiên cứu liên ngành không được quan tâm phát triển thích đáng, với sự gắn kết hợp tác NCKH giữa các ngành khoa học cơ bản như vật lý, sinh học và y học còn rất yếu. Đã đến lúc tất cả chúng ta (giới quản lý khoa học và giáo dục đại học, cũng như cộng đồng các nhà khoa học) phải có thay đổi tư duy trong quy hoạch và định hướng NCKH trong những năm tới, sao cho nền khoa học nước nhà được phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn, có được hạ tầng cơ sở hiện đại và nhân lực giỏi để sẵn sàng đối phó với những thách thức mới trong tương lai phát triển của đất nước.  Tài liệu tham khảo  1. https://www.nih.gov/news-events/news-releases/new-coronavirus-stable-hours-surfaces  2. Nguyễn Thanh Thủy, Trần Quang Huy. Atlas vi rút gây bệnh cho người. Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, 2010  3. Fehr and Perlman, Coronaviruses: An Overview of Their Replication and Pathogenesis.     Methods, Mol. Biol. 2015; 1282: 1–23.  4. https://www.nature.com/articles/d41586-020-00798-8  5. https://physicsworld.com/a/covid-19-how-physics-is-helping-the-fight-against-the-pandemic/  6. DOI: 10.2210/pdb6lu7/pdb  7. https://attheu.utah.edu/facultystaff/covid-19-physics/          Author                Trần Quang Huy - Đào Tiến Khoa        
__label__tiasang Đại dịch trong quá khứ và hiện tại: Những điểm trùng hợp?      Vào giữa thế kỷ 14, bắt nguồn từ Trung Á, những người lính và đoàn thuyền buôn đã mang bệnh dịch hạch – căn bệnh do trực khuẩn Yersinia pestis lưu hành ở bọ chét ký sinh trên chuột gây ra – đến các cảng khắp Biển Đen. Hoạt động giao thương, buôn bán sầm uất của Địa Trung Hải là điều kiện lý tưởng để bệnh dịch lây lan nhanh chóng trên các tàu buôn đến Ý và sau đó qua châu Âu. Từ đây, dịch hạch – Cái chết Đen đã giết chết một phần ba đến một nửa dân số của châu Âu và vùng Cận Đông. Kéo theo đó là một nền kinh tế khủng hoảng tan hoang, chính sách cấm vận và thù địch lẫn nhau. Với một phần ba lực lượng lao động đã chết, không ai thu hoạch mùa màng và các cộng đồng tan rã.      Bức họa về việc chôn cất nạn nhân Cái chết Đen,1353. Nguồn: Wikimedia Commons.  Trải nghiệm đau thương về Cái chết Đen – căn bệnh đã giết chết khoảng 80% những người mắc phải nó – thôi thúc nhiều người phải cầm viết để bộc bạch nỗi hoang mang của mình. Tại thành phố Aberdeen, John xứ Fordun –nhà biên niên sử người Scotland, đã ghi lại:    “Căn bệnh này ập đến với mọi người ở khắp các xứ sở, nhưng đặc biệt là ở tầng lớp trung lưu trở xuống, hiếm khi xảy đến với tầng lớp cao quý. Nó kinh hoàng đến độ đứa con không dám đến thăm bậc sinh thành sắp qua đời – và ngược lại, mà phải lẩn trốn vì sợ bị lây nhiễm, như thể đó là bệnh hủi hay là loài rắn độc”.    Những dòng này vẫn đúng kể cả khi được viết vào ngày hôm nay.    Mặc dù tỷ lệ tử vong do COVID-19 gây ra thấp hơn nhiều so với Cái chết Đen nhưng nền kinh tế vẫn suy thoái nghiêm trọng do tính chất toàn cầu hóa, hội nhập cao của nền kinh tế hiện đại.    Chúng tôi muốn theo dõi cách các doanh nghiệp vận hành trong những thập kỷ sau Cái chết Đen và xem xét các xu hướng xuất hiện trong bối cảnh hậu dịch bệnh.      Cái chết Đen và COVID-19 dường như đã củng cố quyền lực của doanh nghiệp lớn và nhà nước.      Một hệ quả ít được chú ý của Cái chết Đen là sự trỗi dậy của các doanh nghiệp giàu có và mối liên kết giữa doanh nghiệp với chính phủ. Đương nhiên chúng tôi không cho rằng tất cả những bước ngoặt trong giai đoạn 1350-1500 đều do Cái chết Đen, nhưng chắc chắn bệnh dịch này là một trong số nhiều yếu tố đã dẫn đến sự ra đời của các hình thức hoạt động doanh nghiệp mới. Mặc dù Cái chết Đen gây ra tổn thất ngắn hạn cho các công ty lớn nhất châu Âu, nhưng về lâu dài, nó giúp họ tập trung tài sản, giành được thị phần lớn hơn và gia tăng tầm ảnh hưởng với các chính phủ.    Khá khó để đưa ra những so sánh chính xác khi nền kinh tế giữa thế kỷ 14 khác xa quy mô, tốc độ và tính liên kết của thị trường hiện đại, nhưng chúng ta chắc chắn có thể nhận thấy sự tương đồng với cách mà Cái chết Đen củng cố quyền lực của nhà nước và đẩy nhanh quá trình thống trị các thị trường trọng điểm của một số ít các công ty lớn, về lâu dài.     Thời cơ của các doanh nghiệp lớn     Một phần ba dân số châu Âu mất đi, dẫn đến việc tái phân phối của cải cho những người còn sống sót. Tuy nhiên, về lâu dài, mọi người đã đối phó với việc này bằng cách giữ tiền trong nội bộ gia đình. Cụ thể, các doanh nghiệp giàu có di chúc lại cho con cháu để tài sản không bị phân chia sau khi qua đời, khác với xu hướng trước đây là để lại một phần ba tài sản cho tổ chức từ thiện.    Đồng thời, sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự trỗi dậy của nền kinh tế làm công ăn lương theo nhu cầu với điều kiện lao động tốt hơn cho nông dân đã mang lại lợi ích cho giới tinh hoa thành thị. Nhận lương bằng tiền mặt, thay vì hiện vật như trước đây, đồng nghĩa với việc nông dân có nhiều tiền hơn để chi tiêu trong thị trấn.    Sự tập trung của cải này đã thúc đẩy đáng kể một xu hướng đã có từ trước: các doanh nghiệp kết hợp buôn bán với sản xuất hàng hóa. Ví dụ, các thương gia giàu có của Ý bắt đầu mở các xưởng sản xuất lụa và vải thay vì nhập khẩu từ châu Á và Byzantium như trước đây.      Cảnh sát kiểm tra phương tiện đi lại ở Manila, Philippines hồi tháng 3/2020. Ảnh: NYTimes.  Những doanh nghiệp này có lợi thế đặc biệt để ứng phó với tình trạng thiếu hụt lao động đột ngột do Cái chết Đen gây ra: Không giống như những người thợ dệt độc lập – những người thiếu vốn, và không giống như quý tộc – những người chỉ có đất đai là của cải, các doanh nghiệp thành thị có thể sử dụng vốn lưu động của mình để đầu tư vào công nghệ mới, bù đắp cho tình trạng thiếu hụt lao động bằng máy móc.    Ở miền Nam nước Đức, một trong những khu vực thương mại hóa nhất châu Âu vào cuối thế kỷ 14 và 15, các công ty như Welse (sau này điều hành Venezuela như một thuộc địa tư nhân) đã kết hợp trồng lanh với sở hữu những khung dệt nơi công nhân biến sợi lanh thành vải lanh, và họ cũng bán cả vải lanh ra thị trường. Xu hướng của thời kỳ hậu Cái chết Đen thế kỷ 14 và 15 là tập trung các nguồn lực – vốn, kỹ năng và cơ sở hạ tầng – vào tay một số lượng ít ỏi các công ty lớn.     Thời đại Amazon     Quay trở lại bối cảnh hiện tại, có thể thấy một số điểm tương đồng rõ ràng. COVID-19 đã cung cấp cho một số công ty những cơ hội lớn. Tại nhiều quốc gia, toàn bộ hệ sinh thái gồm các nhà hàng, quán rượu, cửa hiệu nhỏ đã đột ngột đóng cửa. Thị trường thực phẩm, bán lẻ nói chung và giải trí đã chuyển sang trực tuyến. Các chuỗi siêu thị đã đảm nhiệm vai trò cung cấp thực phẩm thay cho những nhà hàng.      Khả năng huy động nguồn lực con người và tiền bạc mà chính phủ các nước và các tập đoàn lớn trong thời gian đại dịch đã cho thấy rằng họ có thể định hình lại bản thân và thế giới một cách nhanh chóng nếu họ muốn.      Kẻ hưởng lợi nhất là những gã khổng lồ trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến – chẳng hạn như Amazon, công ty điều hành dịch vụ độc quyền “Prime Pantry” ở Mỹ, Ấn Độ và nhiều nước châu Âu. Giờ đây, nhiều không gian bán lẻ “không thiết yếu” đã buộc phải đóng cửa và Amazon, eBay, Argos, Screwfix lập tức lấp vào chỗ trống đó. Hoạt động mua sắm trực tuyến gia tăng chóng mặt và các nhà phân tích bán lẻ đang tự hỏi liệu đây có phải là bước ngoặt quyết định để chuyển đổi số, là bậc thang để các tập đoàn lớn vươn cao hơn hay không.    Trong khi đợi bưu phẩm giao đến, chúng ta chìm đắm vào ngành công nghiệp giải trí trực tuyến – một lĩnh vực mà các tập đoàn lớn như Netflix, Amazon Prime (lại là Amazon), Disney… đã chi phối từ lâu. Những gã khổng lồ trực tuyến khác như Google (sở hữu YouTube), Facebook (sở hữu Instagram) và Twitter thì cung cấp những nền khác nhau để thống trị lưu lượng truy cập trực tuyến.    Mắt xích cuối cùng trong chuỗi chính là những công ty giao hàng: UPS, FedEx, Amazon Logistics (một lần nữa), cũng như lĩnh vực giao hàng thực phẩm như Just Eat và Deliveroo. Thông qua các mô hình kinh doanh khác nhau, nền tảng của họ cũng đang thống trị những trào lưu sản phẩm mới. Đó có thể là chiếc TV Amazon Fire mới tinh mang nhãn hiệu Toshiba mà bạn đang xem, hay chiếc bánh pizza nhân nhồi từ Pizza Hut (công ty con của Yum! Brands – tập đoàn sở hữu KFC, Taco Bell…) mà bạn đang thưởng thức.    Một bước ngoặt khác dẫn đến sự thống trị của các công ty là việc chuyển từ giao dịch tiền mặt sang các dịch vụ thanh toán không tiếp xúc. Visa và Mastercard vẫn chiếm thị phần lớn nhất, nhưng khối lượng giao dịch của Apple Pay, PayPal và Amazon Pay (vẫn là Amazon) vẫn tăng lên.    Doanh nghiệp nhỏ đã thực sự lãnh một cú đấm quyết định khi COVID-19 hay Cái chết Đen bùng phát, và các công ty lớn đã nhân cơ hội giành lấy thị phần. Ngay cả những người làm việc tại nhà cũng đang trao đổi trên Skype (thuộc sở hữu của Microsoft), Zoom và BlueJeans, cũng như sử dụng các ứng dụng email và chiếc laptop do một số ít tổ chức toàn cầu sản xuất.    Nhưng đây không phải là toàn bộ câu chuyện. Một xu hướng lớn khác trong bối cảnh đại dịch là quyền lực của nhà nước cũng tăng lên.     Ảnh hưởng chính trị     Cái chết Đen thúc đẩy xu hướng quản lý tập trung, tăng thuế, và cũng khiến chính phủ phụ thuộc vào các công ty lớn hơn.    Ở Anh, giá trị đất đai ngày càng giảm và doanh thu sụt giảm đã khiến vương triều – chủ đất lớn nhất của đất nước – cố gắng giới hạn mức lương ở mức trước bệnh dịch theo Điều lệ Người lao động 1351, và áp thuế bổ sung lên dân chúng. Trước đây, chính quyền dự kiến sẽ chỉ đánh thuế đối với các chi phí bất thường như chiến tranh. Nhưng khoản thuế tăng lên vì bệnh dịch đã tạo tiền lệ lớn để chính quyền can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế.      COVID-19 đã mang đến cho một số công ty những cơ hội lớn. Các tỷ phú ngày càng giàu hơn trong khi những người bình thường thì mất việc. Tài sản của Jeff Bezos, Giám đốc điều hành của Amazon, đã tăng thêm 25 tỷ USD kể từ đầu năm. Nhân viên vận chuyển của Amazon ở Manhattan, New York, April 29 2020. EPA-EFE/Peter Foley.  Từ đó, nhà vua ngày càng có sức ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của người dân. Trong các đợt bùng phát dịch hạch sau đó, cứ sao 20 năm một lần hoặc lâu hơn, chính quyền bắt đầu hạn chế di chuyển thông qua lệnh giới nghiêm, lệnh cấm đi lại và cách ly. Đây là hệ quả một phần của quá trình tập trung quyền lực nhà nước và sự thay thế cơ chế phân bổ quyền lực theo khu vực trước đây bằng cơ chế quan liêu tập trung.    Các thương gia cũng tạo ra ảnh hưởng chính trị bằng cách mua đất bởi giá đất đã giảm mạnh sau Cái chết Đen. Nhờ sở hữu đất đai, các thương gia đã bước vào tầng lớp quý tộc, gả con cái của họ cho con của các lãnh chúa đang thiếu tiền. Với địa vị mới này, và với sự giúp đỡ của những người có ảnh hưởng trong chính quyền, họ đã giành được quyền đại diện trong nghị viện.     Gia tăng quyền lực nhà nước     Kể từ những năm 1970 trở về sau, giới trí thức thường cho rằng nhà nước không còn quá quan trọng và thường khuyên “giảm bớt vai trò của nhà nước”. Năm 2016, trong số 100 tổ chức kinh tế lớn nhất, có 31 quốc gia và 69 công ty. Walmart lớn hơn nền kinh tế Tây Ban Nha, Toyota thì lớn hơn nền kinh tế Ấn Độ.    Trên toàn cầu, vận tải, viễn thông, nha sĩ, nhãn khoa, bưu điện và nhiều dịch vụ khác từng là độc quyền của nhà nước, giờ đây do các công ty thu lợi nhuận điều hành. Những ngành công nghiệp quốc hữu hóa, hoặc thuộc sở hữu nhà nước cần quy luật thị trường để trở nên hiện đại và hoạt động hiệu quả hơn.    Nhưng nhờ coronavirus, quyền lực của nhà nước đã quay lại như một cơn sóng thần. Hệ thống y tế quốc gia đã phải giải quyết vấn đề vô gia cư, trợ cấp thu nhập cơ bản cho hàng triệu người và bảo lãnh cho vay hoặc thanh toán trực tiếp cho một loạt các doanh nghiệp. Việc cân bằng ngân sách trở thành vấn đề mang tính sống còn khi toàn bộ ngành công nghiệp hiện đang phụ thuộc vào các gói cứu trợ.    Bên cạnh đó, quyền tự do cá nhân cũng bị hạn chế nhất có thể. Quyền tự chủ của cá nhân là trung tâm của các ý tưởng tân tự do. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các nước trên thế giới đã hạn chế quyền di chuyển của đại đa số người dân, điều cảnh sát và lực lượng vũ trang đến ngăn chặn tụ tập đông người. Một vị vua thời trung cổ hẳn sẽ rất ấn tượng với những luật lệ này.    Nhà nước triển khai các quy định một cách quyền lực nhất mà chúng ta từng chứng kiến kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, và vẫn được công chúng ủng hộ nhiệt liệt.     Sự phản kháng của người dân     Trở lại với Cái chết Đen, việc các thương gia và doanh nghiệp lớn ngày càng giàu thêm và có tầm ảnh hưởng lớn, đã làm trầm trọng thêm sự căm ghét vốn có dành cho thương nghiệp.    Bước sang khoảng thế kỷ 14 – 15, các công ty lớn giành được nhiều thị phần hơn, sự thù địch trong lòng dân chúng và giới trí thức ngày càng tăng. Vào thế kỷ 15, ngân hàng hoàng gia và giáo hoàng đã gần như nắm được nền thương mại và tài chính, nhờ vào một số ít các công ty đang nắm giữ độc quyền hoặc gần như độc quyền các mặt hàng chính của châu Âu – chẳng hạn như bạc, đồng và thủy ngân – lẫn những mặt hàng nhập khẩu từ châu Á và châu Mỹ, đặc biệt là gia vị.    Martin Luther cảm thấy giận dữ trước cách Giáo hội Công giáo sử dụng công ty độc quyền để thu tiền như vậy. Năm 1524, Luther tuyên bố rằng nền thương mại nên vì lợi ích chung (của người Đức) và các thương gia không nên lấy giá quá cao. Cùng với các nhà văn Tin Lành khác, chẳng hạn như chẳng hạn như Philip Melancthon và Ulrich von Hutten, Luther đã kêu gọi cải cách tôn giáo bằng cách khơi gợi lên sự căm ghét nền thương nghiệp vốn có trong người dân, chỉ trích tầm ảnh hưởng của chính phủ trong nền kinh tế – bởi nó làm tăng thêm bất công tài chính.    Nhà xã hội học Max Weber từng liên hệ đạo Tin Lành với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản và tư tưởng kinh tế hiện đại, nhưng thực chất các nhà văn Tin Lành ban đầu đã phản đối các công ty độc quyền và việc thương mại hóa mọi mặt đời sống, dựa trên sự căm ghét nền thương nghiệp vốn đã ăn sâu từ Cái chết Đen. Cuộc kêu gọi cải cách tôn giáo nổi tiếng này cuối cùng đã dẫn đến sự kiện ly giáo của Tin Lành và sự biến đổi của châu Âu.     Liệu doanh nghiệp nhỏ có tốt hơn?     Vào thế kỷ 21, chúng ta đã quen với ý tưởng các công ty tư bản tạo ra sự tập trung của cải. Cho dù đó là các nhà tư bản công nghiệp thời Victoria, những nhà đại tư bản của Hoa Kỳ hay các tỷ phú thời Internet, thì sự bất bình đẳng do kinh doanh tạo ra và ảnh hưởng của nó đối với chính phủ đã định hình nên những cuộc tranh cãi về thương mại kể từ cuộc cách mạng công nghiệp. Đối với các nhà phê bình, những doanh nghiệp lớn thường là kẻ vô tâm, một con quái vật đè bẹp những người bình thường trong guồng máy của nó hoặc bòn rút sức lực của người lao động một cách tàn nhẫn.    Như chúng ta đã thấy, những cuộc tranh cãi giữa các doanh nghiệp nhỏ địa phương và những người ủng hộ các tập đoàn và quyền lực của nhà nước đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước. Những người theo chủ nghĩa cấp tiến đã lên án cái cách mà “những cỗ máy satan xấu xa” đang tàn phá vùng nông thôn bình yên và sản sinh ra những con người không hơn gì phụ kiện cho máy móc. Quan niệm rằng những nô lệ làm công ăn lượng đang dần thay thế cho người thợ thủ công lương thiện là điều phổ biến đối với cả những nhà phê bình hoài cổ và đối với những nhà phê bình tiến bộ theo chủ nghĩa tư bản sơ khai.    Nhưng cuộc khủng hoảng COVID-19 đã đến và đặt ra câu hỏi rằng việc phân chia nhị nguyên – nhỏ là tốt, lớn là xấu – liệu có đúng hay không? Để ứng phó với dịch bệnh, nhà nước phải có cách thức tổ chức quy mô lớn, và những nước thành công nhất là những nước đã áp dụng các hình thức giám sát và kiểm soát can thiệp chặt chẽ nhất. Ngay cả những người cổ vũ hăng hái cho các chiến dịch kể trên cũng phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp xã hội nhỏ không thể xây dựng được một bệnh viện lớn chỉ trong vài tuần.    Và mặc dù có rất nhiều tấm gương về các doanh nghiệp địa phương tham gia giao thực phẩm và hỗ trợ lẫn nhau, nhưng người dân của những nước công nghiệp hóa phần lớn vẫn sống nhờ các chuỗi siêu thị lớn với các hoạt động phân phối phức tạp.     Hậu coronavirus?     Về lâu dài, Cái chết Đen đã giúp củng cố quyền lực của các doanh nghiệp lớn và nhà nước. Quá trình tương tự đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều trong thời gian phong tỏa do coronavirus.    Nhưng chúng ta nên thận trọng với những bài học lịch sử. Lịch sử không bao giờ thực sự lặp lại chính nó. Hoàn cảnh của mỗi thời điểm là duy nhất và sẽ không khôn ngoan nếu coi “bài học” của lịch sử như thể đó là một loạt các thí nghiệm chứng minh những quy luật chung nhất định. Và COVID-19 sẽ không giết chết một phần ba dân số, vì vậy, mặc dù ảnh hưởng của nó rất sâu sắc, nhưng nó sẽ không gây ra tình trạng thiếu lao động tương tự. Nếu có, nó chỉ củng cố quyền lực của các nhà tuyển dụng.    Sự khác biệt cơ bản nhất là coronavirus xuất hiện ở giữa một cuộc khủng hoảng khác, đó là biến đổi khí hậu. Một nguy cơ lớn thực sự đó là chính sách thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng trở lại sẽ lấn át nỗ lực giảm lượng khí thải carbon. Đó là kịch bản ác mộng, trong đó COVID-19 chỉ là chương mở đầu của một thứ còn tồi tệ hơn nhiều.    Nhưng khả năng huy động nguồn lực con người và tiền bạc mà chính phủ các nước và các tập đoàn lớn trong thời gian đại dịch đã cho thấy rằng họ có thể định hình lại bản thân và thế giới một cách nhanh chóng nếu họ muốn. Điều này giúp chúng ta lạc quan hơn khi nghĩ đến việc cùng chung tay tái thiết hoạt động sản xuất năng lượng, vận tải, hệ thống thực phẩm và những thứ khác một cách bền vững hơn.    Cái chết Đen và COVID-19 dường như đã củng cố quyền lực của doanh nghiệp lớn và nhà nước. Đó là điều thú vị cần lưu ý. Nhưng câu hỏi lớn nhất là, liệu họ có thể dành nguồn lực khổng lồ của mình để ứng phó với cuộc khủng hoảng khí hậu sắp tới hay không? □     Anh Thư lược thuật  https://theconversation.com/how-pandemics-past-and-present-fuel-the-rise-of-large-companies-137732    Author                Martin Parker - Eleanor Russell        
__label__tiasang Đại dương mất dần khả năng ngăn chặn biến đổi khí hậu      Trong hội nghị ở Monaco vào ngày 25/9, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã công bố bản tóm tắt báo cáo đặc biệt về đại dương và băng quyển với dự đoán: nếu lượng khí nhà kính không giảm, bão sẽ ngày càng mạnh hơn, nguy cơ lũ lụt tăng và thu hẹp quy mô ngành đánh bắt hải sản.         Các đại dương giúp ngăn chặn biến đổi khí hậu bằng cách hấp thụ nhiệt và khí CO2 từ bầu khí quyển. Tuy nhiên điều này đang thay đổi, có thể dẫn đến những hậu quả khó lường trong những thập kỉ tới. Mức độ nóng lên của các đại dương đã tăng gấp đôi kể từ đầu những năm 1990, các cơn sóng nhiệt đại dương ngày càng diễn ra thường xuyên và dữ dội hơn, gây biến đổi hệ sinh thái biển và góp phần tạo ra nhiều cơn bão mạnh hơn. Độ axit của đại dương sẽ tăng lên khi hấp thụ nhiều CO2, đe dọa sự sinh tồn của các rạn san hô và ngành đánh bắt hải sản.  Phó Chủ tịch IPCC Ko Barrett cho biết các đại dương “không thể đuổi kịp” lượng phát thải khí nhà kính của con người.  Mực nước biển dâng cao hơn dự đoán  Báo cáo chỉ ra mực nước biển có thể dâng thêm 1,1m vào năm 2100 nếu lượng phát thải khí nhà kính tiếp tục tăng. Con số này đã tăng 10cm so với dự đoán của IPCC trong báo cáo tổng quan về khí hậu trên toàn thế giới công bố năm 2013. Nhà địa vật lý Richard Alley ở Đại học bang Pennsylvania, cho rằng, báo cáo mới nhất về mực nước biển dâng vẫn còn “thận trọng”, bởi các nhà khoa học vẫn chưa chắc chắn về việc khi nhiệt độ tăng có thể sẽ khiến các tảng băng sụp đổ nhanh chóng, đặc biệt ở phía tây Nam Cực. Nếu điều đó xảy ra, mực nước biển sẽ dâng nhanh hơn nữa so với dự báo mới nhất của IPCC. “Mực nước biển sẽ dâng lên ít hoặc nhiều so với dự đoán của báo cáo mới nhất, những sẽ không thể giảm nhiều”, ông Alley nói.  Nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ lũ lụt khi có bão và thủy triều lên sẽ thường xuyên, nghiêm trọng hơn. Vào năm 2050, các đợt lũ lụt lớn thường chỉ xảy ra một lần trong cả thế kỷ như hiện nay sẽ diễn ra hàng năm ở nhiều hòn đảo và thành phố ven biển – ngay cả khi cắt giảm lượng lớn khí thải.  Nhưng báo cáo cũng nêu, con người có khả năng làm giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu về dài hạn bởi mực nước biển dâng phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tiến hành cắt giảm phát thải khí nhà kính của các quốc gia.  Biến đổi các lục địa và hệ sinh thái biển  Báo cáo cũng nghiên cứu số phận các lục địa băng sẽ tiếp tục chìm trong những thập kỷ tới. Ở Bắc Cực, diện tích tối thiểu băng mùa hè đã giảm gần 13% mỗi thập kỷ kể từ năm 1979. IPCC cho biết tốc độ thay đổi này chưa từng có trong ít nhất 1000 năm gần đây. Khoảng 20% băng vĩnh cửu ở Bắc Cực có thể bất ngờ tan chảy, dẫn đến đất bị sụt lở. Đến cuối thế kỷ 21, 1/2 diện tích Bắc Cực sẽ là các hồ nước nhỏ. Các vùng núi có sông băng nhỏ, từ dãy Andes tới Indonesia, có thể mất 80% lượng băng vào năm 2100.  Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến nguồn nước từ những đỉnh núi cao nhất thế giới đến các vùng sâu thẳm trong lòng đại dương, và các hệ sinh thái đang phản ứng lại. Nếu không cắt giảm phát thải, tổng sinh khối các loài động vật biển có thể giảm 15% vào năm 2100, và sản lượng đánh bắt hải sản tối đa có thể giảm tới 24%. Nhà sinh thái học nghề cá Kathy Mills ở Viện Nghiên cứu Vịnh Maine (Mỹ) cho biết những thay đổi tương tự đang diễn ra ở nhiều nơi, chẳng hạn ở phía bắc Đại Tây Dương, nhiệt độ tăng khiến cá voi phải kiếm ăn ở những vùng nước lạnh hơn. Điều này khiến các loài động vật dễ mắc phải lưới bẫy tôm hùm.  Ngày 23/9, Hội đồng cấp cao về kinh tế đại dương bền vững cũng đã công bố báo cáo riêng về biến đổi khí hậu và các đại dương, xác định một loạt hành động có thể giảm phát thải carbon và hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, bao gồm thúc đẩy năng lượng tái tạo và đánh bắt bền vững, hạn chế phát thải do vận tải biển và bảo vệ hệ sinh thái ven biển.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02897-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại học – một hạt nhân của quá trình chuyển đổi số      Yêu cầu cấp bách nhất mà Công nghiệp 4.0 [1] đặt ra cho Việt Nam không phải là đổi mới công nghệ mà là đào tạo nhân lực.    Công việc không mất đi, mà chỉ chuyển đổi  Trong một nghiên cứu thực hiện năm 2017 tại 46 quốc gia (chiếm hơn 90% GDP toàn cầu), McKinsey đã đưa ra dự báo từ 400 triệu đến 800 triệu người trên thế giới sẽ mất việc làm dưới tác động của tự động hóa và AI2. Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử các cuộc CMCN trước đây, trong ngắn hạn thị trường lao động sẽ bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp có thể gia tăng, nhưng sau đó là sự phục hồi và phát triển của thị trường lao động. Vì vậy, có thể nói các cuộc CMCN không tạo ra “job loss” mà thực tế tạo ra “job transformation”. Cũng theo báo cáo trên, từ 75 triệu đến 375 triệu lao động trong số bị mất việc trên có thể phải chuyển đổi ngành nghề, và học thêm những kỹ năng mới.   Trong một nghiên cứu khác được thực hiện 2017, Gartner chỉ ra rằng, việc ứng dụng AI sẽ làm mất đi 1,8 triệu việc làm, trong khi lại tạo ra 2,3 triệu việc làm mới trong 20203. Các việc làm mới này có thể trong bản thân ngành CNTT để phát triển và tối ưu các hệ thống AI (chuyên gia dữ liệu – data scientists), cũng như các ngành nghề mới có được do kết quả ứng dụng AI đem lại.   Qua các báo cáo phân tích trên có thể thấy rằng, CN4.0 tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu lao động, và qua đó tác động mạnh đến giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Các ngành nghề phổ thông sẽ dần bị thay thế, trong khi dù việc làm mới sẽ nảy sinh, nhưng lại đặt yêu cầu rất cao về trình độ lao động, với nhiều kỹ năng mới, phức tạp hơn, và cũng thay đổi nhanh chóng hơn. Chính vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực đứng trước sức ép nặng nề của sự thay đổi. Sản phẩm đầu ra là người lao động, ngoài việc phải được trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, còn cần phải được trang bị đầy đủ các kỹ năng số (digital skils) cần thiết để thích ứng với CN4.0. Về cơ bản, các kỹ năng số này bao gồm kỹ năng về sử dụng máy tính, và internet, nhưng nó cần bao gồm cả kỹ năng tự học để nâng cao nghiệp vụ về kỹ năng số hằng ngày, để tránh tụt hậu trong kỷ nguyên số. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự bất bình đẳng trong tiếp cận số (digital inequality) sẽ làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng trong xã hội. Vì vậy, giáo dục cần đảm bảo quyền tiếp cận số với các kỹ năng số cần thiết cho mọi người.  Tuy nhiên với một quốc gia, việc đảm bảo quyền bình đẳng số là yêu cầu tối thiểu, nhưng đòi hỏi “tự chủ trong kỷ nguyên số” cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Đổi mới sáng tạo, chủ động nắm bắt trào lưu công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm – dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, cũng như tạo ra nhiều cơ hội việc làm, bù đắp vào những ngành nghề không còn nhiều lợi ích. Muốn vậy, mỗi quốc gia đều cần có một số lượng đông đảo các chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ then chốt của CN4.0, những người sẽ thực sự tham gia vào việc chuyển đổi xã hội sang xã hội số. Những chuyên gia này ngoài kiến thức chuyên môn về KHCN được tăng cường, còn cần có hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ của các lĩnh vực ứng dụng, cũng như được trang bị một tinh thần đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Hiện tại, ở Việt Nam đang thiếu hụt các chuyên gia như vậy, riêng lĩnh vực IT, theo Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2020, chúng ta thiếu so với nhu cầu 500.000 chuyên gia4.   Từ những phân tích trên có thể tạm chia việc đào tạo nhân lực trong kỷ nguyên 4.0 ra thành:   – Đào tạo kỹ năng số: đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận số đối với mọi người (giáo dục phổ thông, đào tạo nghề).  – Đào tạo chuyên gia: đảm bảo tự chủ trong kỷ nguyên số (giáo dục đại học), trong đó nhấn mạnh đến đào tạo công nghệ, nghiệp vụ ứng dụng, và đổi mới sáng tạo.  Đào tạo kỹ năng số    Học thông qua dự án ở Viện Công nghệ thông tin, Đại học Bách Khoa Hà Nội. Nguồn: FB Viện Công nghệ thông tin  Việc đào tạo kỹ năng số (digital skills) cần được triển khai ở tất cả các cấp học. Trong đó, đào tạo gắn với STEM hứa hẹn đem lại hiệu quả cao trong trang bị các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán cho người học, thôi thúc họ tự tìm tòi, trau dồi các kỹ năng số cần thiết trong kỷ nguyên số, cũng như tạo nguồn nhân lực cho đào tạo chuyên gia ở các bậc giáo dục cao hơn.   Ngoài ra, các hệ thống các trường nghề cũng cần phải thay đổi, cập nhật nội dung, chương trình đào tạo theo hướng bổ sung kỹ năng số trong mọi ngành nghề, để sinh viên dù ở các ngành nghề truyền thống cũng đều có cơ hội được cập nhật công nghệ mới, nâng cao hiệu quả học, cũng như ứng dụng sau khi tốt nghiệp.  Ngoài ra, đào tạo cấp chứng chỉ, với các nội dung kiến thức được chuẩn hóa quốc tế, cũng nên được chú trọng để tạo thêm cơ hội cho những người lao động đang ở các ngành nghề truyền thống cũng có cơ hội tiếp cận với các kỹ năng số, qua đó, sẵn sàng cho việc chuyển đổi kỹ năng làm việc (thậm chí thay đổi nghề nghiệp) để đáp ứng nhu cầu của CN4.0  Đào tạo chuyên gia – Vai trò nổi bật của trường đại học  Đào tạo chuyên gia, những người trực tiếp tham gia vào dẫn dắt quá trình “tự động hóa và thông minh hóa” cũng có thể được chia ra ở các mức độ khác nhau: vận hành, phát triển hệ thống, dẫn dắt và sáng tạo công nghệ/sản phẩm/dịch vụ mới.   Hiện tại, liên quan đến đào tạo công nghệ, ở đa phần các ngành nghề và các cơ sở đào tạo tại Việt Nam, việc đào tạo mới chỉ chú trọng ở việc vận hành, và phát triển hệ thống, trong khi việc thay đổi cập nhật chương trình và nội dung đào tạo để tạo ra các “tech leader” còn chưa được chú trọng. Trong khi để thực sự “tự chủ trong kỷ nguyên số” thì việc này rất quan trọng.   Để làm được việc này, các trường đại học cần phải cung cấp cho sinh viên không những kiến thức về công nghệ cập nhật, mà còn cần cung cấp các kỹ năng về đổi mới sáng tạo, quản trị, và khởi nghiệp cần thiết để sẵn sàng đóng vai trò “leader” trong quá trình chuyển đổi số ở các tổ chức. Ngoài ra, chương trình học cũng cần được thay đổi theohướng học qua trải nghiệm, học qua giải quyết vấn đề, mà khi đó sẽ không thể thiếu được vai trò của nghiên cứu khoa học, cũng như hợp tác thực tập với doanh nghiệp. Do đó, có thể nói nghiên cứu khoa học dù đã là đặc tính tự nhiên của đại học, nhưng trong kỷ nguyên 4.0, đặc tính này trở nên vô cùng quan trọng góp phần biến trường đại học thực sự trở thành các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực dẫn dắt sự thay đổi của xã hội thông qua công nghệ..  Ngoài ra, đối với hoàn cảnh Việt Nam khi mà nền tảng công nghiệp còn hạn chế, các doanh nghiệp còn tương đối nhỏ lẻ, và vẫn tập trung chủ yếu ở gia công sản phẩm, thì trường đại học, với các phòng thí nghiệm nghiên cứu trọng điểm, với nguồn lực chuyên gia chất lượng cao, và sức trẻ, sự sáng tạo của sinh viên còn đóng vai trò là trung tâm R&D, góp phần tạo ra trực tiếp các sản phẩm công nghệ góp phần dẫn dắt các trào lưu công nghệ trong xã hội.  Và để thực hiện được các vai trò này, các trường đại học rất cần sự hỗ trợ và đầu tư của Nhà nước và Doanh nghiệp.  Có thể nói, sự ưu việt của CMCN lần thứ 4 so với các cuộc cách mạng trước là sự bình đẳng tương đối trong tiếp cận các công nghệ mới giữa các quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau. Thế giới kết nối và phẳng đã tạo điều kiện cho các quốc gia ở mức độ phát triển thấp như Việt Nam có thể tiếp cận và sử dụng thành quả của CN4.0 trong đời sống hằng ngày, nghĩa là, nếu có một chiến lược phát triển đúng đắn, chúng ta hoàn toàn có thể “bắt kịp” và vượt lên chuyến tàu 4.0. Chiến lược phát triển đúng đắn đó chỉ có thể bắt nguồn từ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, phát triển nghiên cứu khoa học, và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực cốt lõi của CN4.0.   Do đó có thể thấy, trường đại học là một trong những hạt nhân của quá trình chuyển đổi số, và đối với điều kiện Việt Nam, thì đang là thành phần quan trọng nhất, quyết định sự thành công của cả quá trình.  Tình hình nghiên cứu triển khai công nghệ lõi 4.0 tại Việt Nam    Bảng 1: Mô tả sơ lược về các công nghệ cốt lõi của Công nghiệp 4.0  Trong những năm gần đây, do sự gia tăng đầu tư của Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như nhu cầu phát triển KT-XH, mà việc nghiên cứu làm chủ và phát triển các công nghệ lõi 4.0 ở Việt Nam đã bắt đầu được quan tâm chú trọng. Sự nhận thức về tự chủ trong kỷ nguyên số đã được lan tỏa trong Xã hội, qua đó, không những thúc đẩy nghiên cứu khoa học mà còn đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ, và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, các nghiên cứu về công nghệ lõi hiện còn khá sơ sài, chỉ dừng ở mức làm chủ, và chưa thực sự có khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ quan trọng.  Trong các công nghệ lõi CN4.0 thì qua thông tin trên Bảng 1 có thể thấy:   – IoT hiện đang là lĩnh vực phát triển mạnh nhất tại Việt Nam, và đã có những hệ thống ở quy mô tầm thế giới, như: hệ thống giám sát hành trình ở Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Tuy nhiên, vai trò ở ta mới dừng ở mức phát triển các sản phẩm đơn giản, và ứng dụng.  – Các công nghệ như Big Data, và AI sẽ là những công nghệ có tiềm năng phát triển kế tiếp IoT, vì như một diễn biến tự nhiên, triển khai IoT thành công sẽ đem lại nguồn dữ liệu, và khai thác nguồn dữ liêu này sẽ là công việc của Big Data và AI. ỞViệt Nam các công nghệ này tuy đã được ứng dụng, nhưng chưa có các sản phẩm và dịch vụ nổi bật do Việt Nam phát triển.  – Blockchain với ứng dụng trong hợp đồng thông minh, thanh toán điện tử, chứng thực bằng cấp/thông tin, xác minh nguồn gốc nông sản… cũng có nhiều hứa hẹn phát triển.Lĩnh vực này ở Việt Nam mới chủ yếu dừng ở đào tạo, nâng cao nhận thức về công nghệ, chưa xuất hiện các ứng dụng rõ nét và khả thi.  – In 3D và robotics sẽ được triển khai rộng rãi ở các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất tiến thẳng lên hiện đại. Hiện tại, ở Việt Nam vẫn chủ yếu nhập ngoại các hệ thống.  – Tính toán lượng tử: hiện chưa phát triển, nhưng cần có chính sách và chiến lược đầu tư đúng đắn, để khi công nghệ có bước phát triển chín muồi trên thế giới, ta có thể ngay lập tức ứng dụng ở Việt Nam.  Chuyển đổi số (Digital Transformation)  Hiện tại khi nói về trào lưu dịch chuyển công nghệ hiện tại, trên thế giới sử dụng thuật ngữ Chuyển đổi số nhiều hơn là CN4.0. Vì với họ, trào lưu “tự động hóa kết hợp thông minh hóa” này là một tiến trình chuyển đổi tự nhiên sau giai đoạn số hóa (CN3.0) và việc chuyển đổi này không chỉ tác động đến công nghiệp, mà còn tác động đến mọi khía cạnh của đời sống: thể chế, luật pháp, và thậm chí cả đạo đức.   Những ví dụ về sự tranh cãi khi triển khai Grab (chia sẻ xe), AirBnB (chia sẻ phòng)… và việc coi các công ty vận hành các ứng dụng này là công ty công nghệ hay doanh nghiệp vận tải, lưu trú đã cho thấy tác động của nó lên hệ thống pháp luật khi quá trình chuyển đổi số đang diễn ra. Ngoài ra ví dụ về xe tự lái, khi gây ra tai nạn thì kỹ sư thiết kế hệ thống, kỹ sư lập trình, doanh nghiệp sản xuất cảm biến… ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm. Hay khi xe tự lái buộc phải chấp nhận gây ra tai nạn thì ưu tiên khi lập trình là gì: an toàn của người trên xe >< an toàn của người tham gia giao thông, giảm thiệt hại về kinh tế >< giảm thiệt hại nhân mạng… Điều này vô hình trung vừa động vào lĩnh vực pháp luật, vừa động vào khía cạnh đạo đức.  Những khía cạnh nói trên đã chỉ ra rằng, nếu đặt tên trào lưu phát triển công nghệ hiện tại là Chuyển đổi số, thì trách nhiệm của đào tạo nguồn nhân lực còn nặng nề hơn: bên cạnh nhân lực về công nghệ, xã hội còn cần một lượng lớn nhân lực chuyển đổi số, những người hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ tổ chức, có tinh thần đổi mới, và được trang bị đủ kiến thức và công nghệ để biến đổi một ngành, một tổ chức, một doanh nghiệp truyền thống sang một đơn vị được “số hóa” từ nghiệp vụ đến hệ thống cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý kèm theo.□  ——  Chú thích:   [1] Hai khái niệm tương đương: Công nghiệp 4.0 (Industry 4.0 – I4.0), và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (the Fourth Industrial Revolution – FIR), vì vậy, không nên sử dụng “Cách mạng công nghiệp 4.0”.  2 Mc Kinsey, “Jobs lost, jobs gained: What the future of work will mean for jobs, skills, and wages”, 11/2017  3 Gartner, “By 2020, Artificial Intelligence Will Create More Jobs Than It Eliminates”, 12/2017  4 http://daidoanket.vn/khoa-hoc/nan-giai-bai-toan-nhan-luc-cong-nghe-thong-tin-tintuc407852       Author                Tạ Hải Tùng        
__label__tiasang Đại hội Đại biểu Đảng bộ Khoa học và Công nghệ      Trong hai ngày 19 và 20/10, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiến hành Đại hội đại biểu tiến tới Đại hội X của Đảng. Theo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, trong 4 năm qua Bộ KH&amp;CN được đánh giá là một trong những đảng bộ mạnh, tổ chức hoạt động có nền nếp và liên tục được Đảng ủy khối cơ quan Khoa giáo Trung ương tặng bằng khen về “Thành tích xuất sắc trong hoạt động”.    Đảng ủy Bộ KH&CN đã lãnh đạo và hoàn thành việc soạn thảo một khối lượng lớn các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho quá trình đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, triển khai kế hoạch hoạt động KH&CN 5 năm và hàng năm, tổ chức đều đặn các chợ KH&CN ở cấp quốc gia và địa phương, thống nhất nhận thức và xây dựng quyết tâm đưa tư duy kinh tế, lấy kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế-xã hội làm thước đo   kết quả hoạt động KH.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đại sư của tôi      Trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn trang thiết bị nghiên cứu và các nguồn lực, các nhà khoa học Việt Nam đã gây dựng nên những nền móng cơ bản về khoa học và kỹ thuật cho tương lai với các tên tuổi lớn đã đi vào lịch sử như Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Lương Định Của, Bùi Huy Đáp,… và rất nhiều cán bộ khoa học đầu ngành thế hệ đầu tiên.      Tôi không được vinh hạnh và may mắn trực tiếp học anh, nhưng theo quan niệm đúng và hay rằng “Ai dạy mình điều gì tốt đẹp, đó là thầy mình” thì anh Bửu lại là đại sư, ân sư của tôi, của nhiều tráng sinh, không học ở trường Thiên Hựu do anh là Hiệu trưởng. Chúng tôi học anh không chỉ qua những lời kể, ý kiến, mà cuộc đời và con người anh là mẫu mực cho chúng tôi noi theo suốt đời. Rất nhiều bài học, rất nhiều kỷ niệm ân tình, chỉ xin nhắc lại đôi ba, từ tâm khảm.  Hồi học tiểu học, tôi được thầy dạy: bọn Tây gọi ta là Xa-lơ a-na-mít, các trò phải học giỏi, học tiếng Tây hơn bọn Tây con, cho Tây nó sợ. Ra Huế vào học trường Khải Định, anh Bửu là một tấm gương sáng chói gần gũi nhất về mục tiêu này. Tôi được nghe kể chuyện anh thi Tú tài. Dạo đó, có Tú tài bản xứ, chương trình học rất nặng, có chương trình Tú tài Tây, theo chương trình bên Pháp, đều dùng Pháp ngữ làm chính ngữ và Tú tài nào cũng có hai ban Toán và Triết học, thi riêng, bằng cấp riêng (tú tài toán, tú tài triết). Một thôi đã là khó. Anh Bửu đỗ cả bản xứ, cả Tây, đỗ cả bản xứ triết và bản xứ toán, Tây toán, Tây triết, lại toàn hạng ưu, và thủ khoa Tú tài Tây!  Anh Bửu đã từng được Giáo sư L. Schwartz nhận xét rất nghiêm túc là một trong những Bộ trưởng Đại học xuất sắc nhất mà ông từng được biết. Dĩ nhiên đó là dựa trên trình độ năng lực khoa học vượt trội đối với nhiệm vụ nhưng tôi nghĩ trước hết là nhờ năng lực ấy đi đôi với cái tâm thật sự trong sáng, tấm lòng rộng mở, thương yêu bao dung đối với mọi người, nhất là người yếu thế và người trẻ, biết sống tử tế, có nguyên tắc, có trách nhiệm, không hẹp hòi cực đoan nhưng cũng không ba phải, luôn hướng tới gần như say mê cái mới, cái đẹp, cái chân thật, cái cao cả, cho nên tư duy năng động, uyển chuyển, không xơ cứng, luôn hiện đại. Không phải anh không có thiếu sót nhầm lẫn, nhưng điều đáng quý là anh dễ nhận ra sai lầm của mình, và khi đó không trốn tránh trách nhiệm, không đổ lỗi cho người khác. Chính nhờ thế mà dù phải lãnh đạo đại học trong một giai đoạn khó khăn, khi bên cạnh anh và ở cấp cao hơn anh đã có chiều hướng ngả theo tư duy cực đoan Mao-ít, với những cuộc thanh trừng bất công tàn bạo dưới danh nghĩa chống xét lại, mà anh vẫn kiên trì thực hiện thành công một số chính sách, biện pháp quản lý bảo đảm công bằng, dân chủ, nghiêm minh. (Cố GS Hoàng Tụy)  Học cái gì, làm việc gì, cũng không chịu loại kém, loại trung bình, mà phải đạt loại giỏi, hàng đầu, như đấu thủ vào đấu trường phải có ý chí giành huy chương vàng. Anh Bửu dạy chúng tôi như vậy, và chính là anh “siêu mẫu”. Anh du học chỉ 5 năm ở Pháp, Anh, mà anh giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức… tiếng La tinh cổ, tiếng Hy Lạp cổ, giỏi toán, vật lý, hóa, vạn vật học, giỏi triết, văn, tâm lý học… chắc là tôi kể không đủ. Niedrist người Pháp, Giám đốc nhà máy điện Huế tráng sinh cùng toán với tôi có hôm nói chuyện với anh Bửu về việc mời kỹ sư Pháp từ Paris sang để chữa cỗ máy bị hỏng. Anh Bửu bảo để anh xem rồi anh chữa, máy chạy và Niedrist mời anh làm Phó giám đốc nhà máy điện Huế. Trong quá trình học tập, học hỏi, mắc mớ điều gì, chúng tôi đến hỏi anh. Thì rất lạ, giống như Từ điển Bách khoa sống, anh trả lời ngay, rõ ràng, khúc chiết.  Không phải chỉ ở các môn học anh mới áp dụng phương pháp “giật huy chương vàng” đó, mà ở những môn thể dục thể thao như leo núi, tìm phương hướng, sống một mình trong rừng… của hướng đạo, đến bơi, bóng bàn, quyền Anh, nhảy cao, nhảy xa, thuyền buồm… anh đều giỏi, giỏi đến mức được phục, giỏi có bài bản hẳn hoi. Ví dụ, anh đã dạy anh em những phương pháp mới nhất thế giới về bơi (bơi kiểu Crawl), bóng bàn (kiểu Barna), về nhảy cao, nhảy dài… anh không bao giờ nói ẩu, làm cẩu thả. Cái gì anh cũng tìm đọc, tìm học, thực tập… Anh truyền lại cho chúng tôi cái mà chúng tôi thường gọi là “sens du fini” – ý thức về hoàn thiện, hoàn chỉnh – bất cứ học, hay làm việc gì cũng gắng tới mức hoàn chỉnh, hoàn thiện. Sau này đàn em và học trò của Anh có nhiều người vừa uyên thâm, vừa quảng bá, vừa đa tài chính là nhờ thầy Bửu – Anh Bửu từ những ngày đó.  Anh không bao giờ tỏ ý muốn người khác theo ý kiến của mình, thậm chí thường tỏ ra bực bội cả khi có anh em nghe theo, làm theo ý kiến của anh kiểu bái phục tuân hành. Anh hoàn toàn không hề có sự áp đặt bắt buộc đối với ai. Có một đêm tỉnh túc (tráng sinh thường có những đêm thức với nhau, tham luận những vấn đề cơ bản về nghĩa vụ làm người…) anh có đọc cho nghe bài thơ tiếng Anh của Bernard Shaw, tạm dịch sang tiếng Việt như sau:  Ý kiến của anh làm tôi nôn mửa  Nhưng nếu có ai giam cầm, tù đầy, xử tử anh  Thì tôi đấu tranh đến giọt máu cuối cùng của tôi để bảo vệ anh.  Sau sự biến Nhật đảo chính Pháp tháng 3-1945, nhân có việc ghé Huế, tôi đến vấn an anh. Vì anh như anh cả của tôi, nên tôi có thưa với anh – để nhờ anh cho một lời dạy bảo chỉ dẫn – việc tôi đã tham gia hoạt động Phản Đế Hội với các anh Hoàng Phê, Lâm Cự, Huỳnh Quang Địa… Anh lắng nghe, hỏi thêm một số điểm về tổ chức này đang hoạt động bí mật. Xong anh bảo “cậu biết vì sao chủ nghĩa Quốc tế vào ta rất thuận lợi? Các cụ của chúng ta thấm nhuần đạo Nho, vốn thường nói đến hai chữ “Đại đồng”, Quốc tế là đại đồng, nên các cụ nghe lọt tai lắm. Còn cách mạng Pháp 1789 có mục tiêu thế giới hơn là quốc gia, con người hơn là dân tộc. Khẩu hiệu của cách mạng Pháp rõ ràng hướng về con người, về thế giới: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Anh không nói gì thêm, không nói sai – đúng, nên – không nên, phải – không phải. Khi chia tay, anh bắt tay trái (chào kiểu hướng đạo: tay trái ở phía trái tim) và cười: “En route” (lên đường).   Nhiều khi, anh nói những câu rất ngắn nhưng rõ ràng anh muốn khởi động ở chúng tôi những suy nghĩ, những quyết định. Ví dụ, có lần quanh lửa trại, anh cầm bút chì đưa lên nói: Mình có thể gọi cây bút chì bằng 11 thứ tiếng khác nhau, nhưng không làm ra được lấy một cây bút chì nào”. Ở những tâm tư hướng về đất nước độc lập, thịnh vượng, những câu như vậy có sức lay động rất lớn. Hẳn vì thế mà trong chúng tôi, có nhiều anh định học triết, luật, văn đã đổi ý định mà đi học khoa học tự nhiên, nghĩ đến công nghiệp, sản phẩm công nghiệp “Made in Vietnam”.  Năm 1972 ở Hà Nội, một lần nữa tôi chứng kiến tài năng tuyệt vời, trình độ bác học của anh. Chomsky là nhà ngôn ngữ học ở Hoa Kỳ, đã lập ra một trường phái riêng là Toán – Ngôn ngữ. Ông chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Theo đề nghị của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, Chính phủ mời ông sang thăm Việt Nam. Lần đầu tiên ông Chomsky nói chuyện về Toán – Ngôn ngữ, hơn 10 vị phiên dịch không dịch được. Cuối cùng, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu làm phiên dịch vậy. Phải giỏi toán cao cấp hiện đại, tiếng Anh, ngôn ngữ học, tiếng Việt và hiểu sâu về tin học, mới dịch được. Những lần nói chuyện sau của ông Chomsky phiên dịch đã có sẵn bài phiên dịch của anh Bửu. Trở lại Mỹ, ông Chomsky viết trên The New York Times về chuyến đi Việt Nam. Tôi có được đọc, và đây là câu nói về anh Bửu: “Tôi đã đi nhiều nước, chưa ở đâu tôi được gặp một Bộ trưởng thông thái (erudite) đến như vậy”.  Anh lập gia đình muộn. Quá tứ tuần anh thành hôn với ái nữ của Tổng ủy viên trưởng Hướng đạo Việt Nam Hoàng Đạo Thúy, tên rừng là Hồ Sứt (Anh Thúy sứt mất một răng), toán Tây kết chúng tôi tổ chức một cuộc lửa trại ở núi Thiên Thai (Huế) mừng Anh chị. Quà tặng của chúng tôi hết sức giản dị – tặng anh Bửu một áo sơ mi hướng đạo – tráng sinh, tặng chị Oanh một nón lá bài thơ Huế. Hôm đó, chị Oanh mặc áo dài Việt Nam kiểu mới (tức kiểu Lemur, bó ở eo, màu sẫm, và mang găng tay dài quá khuỷu). Quách Tử Hấp vốn nói năng nhỏ nhẹ, hay đỏ mặt như con gái, nói với tôi: “Trông noble quá hả? (noble là quí phái). Lát sau, chị đến ngồi gần chúng tôi, cười rất tươi, hỏi “Mấy anh nói xấu gì tôi vậy?” Tôi đáp: “Thưa Tạ mệnh phụ…?” Chị tỏ vẻ ngạc nhiên, ngắt lời tôi “anh nói gì?” Tôi thưa: “anh Hấp nói chị rất noble, thì tôi phải gọi mệnh phụ chứ sao” và chúng tôi vui cười thoải mái trong tình gia đình.  Tôi đến nay cũng chưa hiểu vì sao anh Bửu có tên rừng là “Chồn Fennec”. Sao là chồn? Cũng như tôi vẫn chưa thật hiểu đầy đủ vì sao Anh đặt tên cho tôi là “Báo cô đơn” (Léopard solitaire), gọi tắt nghịch ngợm là “báo cô” (ăn báo cô, nuôi báo cô). Nhưng chúng là với tư cách Báo cô mà tôi được gọi ông Tạ Quang Bửu là anh Bửu và nay được viết những dòng này về Chồn Fennec nhân ngày giỗ anh lần thứ mười. □      Một trong những trang viết trong sổ tang Bác Hồ của cố GS Tạ Quang Bửu. Ảnh: Gia đình cung cấp. Nguồn: vietnamnet.vn    Mười ngày sau khi Bác Hồ mất, GS Tạ Quang Bửu đã viết cuốn sổ tang Bác của riêng ông. Những dòng ở trang đầu tiên ông viết: “Tôi là một nhà toán học hụt. Nhờ Bác và Đảng tôi đã có giúp ích ít nhiều cho Đảng và Nhà nước. Nếu không có tư tưởng cá nhân, tôi còn có thể giúp nhiều hơn nữa”. “Nhớ Bác nhất những lúc Bác phê bình mình. Phấn khởi và yêu Bác nhất cũng là những lúc đó”. Về tác phong, ông Bửu thấy Bác ở đâu, làm gì cũng không để lại dấu vết vật chất, chỉ để lại tình luyến tiếc, kính phục. Người cho mình trọ cũng không nỡ và không biết gì để báo với địch. Bác làm việc rất khoa học, không thiếu, nhưng cũng không thừa. Trên bàn làm việc chỉ có cái máy chữ, còn chai mực và quản bút thì để trong ngăn kéo. Trong sổ chỉ thấy các con số, người ngoài không hiểu gì, nhưng Bác thì không quên ý nghĩa của chúng. Bác sinh hoạt rất sạch sẽ, vì như Bác nói, không để vết tích, vì ý thức công cộng, vì nghèo mà mỗi người sạch một tý thì đời sống sẽ dễ chịu. Trang phục của Bác là mặc áo nâu, quần nâu lụa vì mỏng và nhẹ. 2 sợi dây để buộc quần lên khi vượt qua suốt ở Việt Bắc. Mỗi túi một kim băng để bảo vệ tài liệu. Về Hà Nội thì 2 bộ Tôn Trung Sơn cũ để tiếp khách, còn ngày thường thì maillot và quần nâu để lao động.  Theo lời kể của Thiếu tướng Tạ Quang Chính, nguyên Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, con trai của GS Tạ Quang Bửu          Author                Nguyễn Mạnh Hào        
__label__tiasang Đại Tây Dương bị “xâm lược” khi Bắc cực hết băng      Các mô hình khí hậu cho thấy, tới năm 2050, Bắc Băng Dương sẽ không còn băng. Điều này sẽ khôi phục lại các điều kiện thời tiết từng tồn tại trong giai đoạn giữa của kỷ Pliocene (cách đây khoảng 3 tới 3,5 triệu năm, khi nhiều động vật có vú hiện đại xuất hiện trên Trái đất).      Các chứng tích hóa thạch cho thấy rất nhiều loài đã di chuyển từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương vào thời kỳ đó. Khi khí hậu lạnh trở lại, con đường đi qua Bắc Băng Dương bị cắt đứt, chủ yếu do thiếu thức ăn. Khi băng tan chảy, lượng thức ăn ở Bắc Băng Dương sẽ tăng lên và cuộc di cư vĩ đại của động vật thân mềm sẽ tiếp diễn trở lại sau hơn 3 triệu năm. Tuy nhiên, những kẻ xâm lược không tiêu diệt những loài bản xứ. Những hóa thạch cho thấy các cuộc xâm lăng hiếm khi dẫn tới sự tuyệt chủng nòi giống của một loài nào đó trong môi trường đại dương mà sẽ bổ sung nhiều loài mới và gia tăng sự cạnh tranh ở Bắc Đại Tây Dương.   Việt Linh (theo Physorg.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dải thiên hà không vật chất tối      Công trình “Một thiên hà thiếu vật chất tối” (A galaxy lacking dark matter) mới xuất bản trên Nature của giáo sư Pieter van Dokkum, trường đại học Yale, và cộng sự đã miêu tả dải thiên hà mang tên NGC 1052-DF2 trống rỗng thứ vật chất huyền thoại này. Họ cho rằng bản thân sự vắng mặt cũng gia tăng dấu hiệu về sự tồn tại của nó.       Bức ảnh về thiên hà NGC 1052-DF2 từ kính thiên văn vũ trụ Hubble. Sự vắng mặt của vật chất tối khiến các nhà khoa học bối rối. Ảnh: Pieter van Dokkum/AP   Một thiên hà xa xôi trong vũ trụ hoàn toàn không có vật chất tối khiến các nhà thiên văn học bối rối, điều đó cũng gia tăng thêm phần bí ẩn về thứ vật chất khó nắm bắt này.  Sự vắng mặt của vật chất tối từ một thiên hà – một “miếng vá” nhỏ của bầu trời, có thể không phải là vấn đề lớn, nó chỉ cho thấy là các nhà thiên văn học chưa bao giờ quan sát được vật chất tối một cách trực tiếp ở bất cứ nơi đâu. Dẫu sao, phần lớn các lý thuyết hiện nay về vũ trụ đều đề xuất về việc có thể tìm thấy vật chất thông thường ở khắp nơi trong khi vật chất tối hẳn là bị “dấu kín”. Điều đó khiến cho việc quan sát về dải thiên hà mới đây trở thành ngoại lệ.   Giáo sư Pieter van Dokkum – tác giả chính của công bố trên Nature về thiên hà không vật chất tối, nhận xét: “Chưa bao giờ người ta quan sát được trường hợp nào như thế này. Nó thách thức những ý tưởng đã được thừa nhận một cách rộng rãi về cách chúng ta vẫn suy nghĩ về sự hình thành của các dải thiên hà”.    Các nhà nghiên cứu suy luận về sự tồn tại của vật chất tối qua sự ảnh hưởng của lực hấp dẫn mà nó gây ra lên các vật thể hữu hình, và họ cũng đề xuất tỷ lệ vượt trội của vật chất tối với vật chất thông thường là 5:1.  Những bằng chứng rõ ràng nhất được đến từ việc theo dõi các ngôi sao trong các vùng xa xôi của các dải thiên hà, và thấy chúng đang quay với tốc độ ngày càng nhanh hơn với vận tốc di chuyển của chúng, tốc độ ngưỡng này phải đủ lớn để phá vỡ sự liên kết của lực hấp dẫn đang giữ chúng ở đúng vị trí và ném những ngôi sao đó vào vũ trụ. Điều này cho thấy dù không quan sát được nhưng cũng đủ để thấy vật chất tối có khả năng giữ được các ngôi sao ở trong quỹ đạo.  Trong dải Ngân hà, vật chất tối nhiều gấp 30 lần so với vật chất thông thường. Những quan sát gần nhất tập trung vào NGC 1052-DF2, một dải thiên hà siêu khuếch tán – những thiên hà lớn đầy ma quái nhưng hầu như không có bất kỳ ngôi sao nào.  Nhóm nghiên cứu đã dò theo những chuyển động của các chòm 10 sao có độ sáng lớn và tìm thấy chúng đã di chuyển với vận tốc thấp hơn các vận tốc [mà họ] chờ đợi. “Về cơ bản giống  thì trông chúng như thể vẫn đang đứng yên”, van Dokkum nói.  Các vận tốc di chuyển này đã giúp các nhà nghiên cứu đưa ra một ước tính về khối lượng dải thiên hà này thấp hơn 400 lần so với dự kiến. Van Dokkum giải thích, “nếu vật chất tối có mặt khắp nơi tại dải thiên hà này thì cũng [với số lượng] vô cùng nhỏ. Các ngôi sao trong đó có thể giải thích cho tất cả các khía cạnh của khối lượng, qua đó chúng ta thấy dường như không có chỗ này cho vật chất tối [ở NGC 1052-DF2]”.  Một cách nghịch lý, các tác giả công trình cho biết khám phá về dải thiên hà không vật chất tối có giá trị như bằng chứng về sự tồn tại của vật chất tối. Một giải thích khác về việc các ngôi sao chuyển động theo quỹ đạo tăng nhanh dần là cách hiểu lực hấp dẫn mất dần hiệu lực với khoảng cách đã bị hiểu sai – nhưng trong trường hợp này, tất cả các dải thiên hà phải theo cùng một hình mẫu.  Andrew Pontzen – nhà vũ trụ học ở trường đại học London, người không tham gia vào nghiên cứu này, nói: “Các lý thuyết về lực hấp dẫn có xu hướng điều chỉnh để tái tạo các dải thiên hà điển hình, điều đó có nghĩa là họ có thể phải nỗ lực để giải thích cho những bất kỳ điều gì mới xuất hiện hoặc khác thường.  Việc quan sát được dải thiên hà không vật chất tối đã làm dấy lên những câu hỏi về cách các dải thiên hà hình thành như thế nào tại vị trí xuất hiện đầu tiên. Phần lớn những thuyết minh hiện tại đều đề xuất là vật chất tối chiếm ưu thế trong vũ trụ, các “miếng vá” đậm đặc hơn của vật chất tối có thể đã cung cấp những hạt giống đầu tiên để kết thành khối vật chất trong vũ trụ sớm và cuối cùng tạo thành các ngôi sao và các dải thiên hà. Van Dokkum cho biết, “Toàn bộ câu chuyện này là một trong những cách vật chất tối trở thành vật liệu để xây dựng nên từng dải thiên hà. Đây không phải là một thành phần của dải thiên hà, giống như cánh tay hình xoắn ốc, mà như bộ khung cơ bản làm cơ sở cho tất cả cấu trúc trong vũ trụ”.  Giáo sư Jeremiah Ostriker ngành thiên văn học ở trường đại học Columbia ở New York cho rằng quan sát này có ý nghĩa rất lớn. Ông nói, “Mô hình tiêu chuẩn chứa khí rơi vào những quầng sáng – hoặc các khối – của vật chất tối và chuyển thành các ngôi sao để tạo ra một dải thiên hà.  Những cách giải thích kiểu suy đoán bao gồm sự va chạm hoặc sự kiện gây biến động lớn bên trong dải thiên hà này dẫn đến việc mọi vật chất tối bị cuốn trôi.  Van Dokkum và đồng nghiệp đã nhận diện được dải thiên hà mang tên NGC 1052-DF2 này bằng việc sử dụng kính thiên văn Dragonfly Telephoto Array ở New Mexico – một thiết bị có kinh phí đầu tư khiêm tốn và được thiết kế từ 48 camera thương mại và các thấu kính theo phong cách paparazzi.  Những hình ảnh đầu tiên chỉ cho thấy một điểm tròn ma quái trên bầu trời đêm nhưng khi sử dụng những kính thiên văn như Gemini Multi Object Spectrograph và Keck telescopes một cách cẩn thận, họ đã có thể chọn được ra những chùm sao bên trong dải thiên hà này và dõi theo các chuyển động của nó. Hiện nhóm nghiên cứu đang tiếp tục quan sát các dải thiên hà siêu khuếch tán để tìm hiểu xem liệu có bất kỳ dải thiên hà nào trong số này cũng không có vật chất tối hay không.  Thanh Nhàn dịch   Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/mar/28/galaxy-without-any-dark-matter-baffles-astronomers    Author                Quản trị        
__label__tiasang ‘Đại tuyệt chủng’ từng xảy ra trên Trái Đất      Khoảng 95% động vật biển và 70% động vật trên cạn từng biến mất khỏi Trái Đất trong một thảm họa cách đây khoảng 250 triệu năm, các nhà khoa học Mỹ và Australia khẳng định.    Các chuyên gia tại Đại học James Cook, Townsville, Queensland (Australia) và Bảo tàng Field, Chicago (Mỹ) cảnh báo rằng những tác động đối với hệ sinh thái, nếu tiếp tục diễn ra như hiện nay, có thể gây nên một thảm họa tương tự.  Sau khi tìm hiểu số lượng động vật biển trong suốt 540 triệu năm qua, họ kết luận rằng tất cả những động vật có cấu tạo cơ thể đơn giản đã bị tiêu diệt. Những sinh vật sống có cấu tạo phức tạp hơn, chẳng hạn như cua, tôm, đã sống sót.  Thảm họa tuyệt chủng sinh học này xảy ra cách đây khoảng 250 triệu năm, khi Trái Đất được cho là chỉ có một lục địa, bao quanh bởi một đại đương. Nhóm nghiên cứu không tìm hiểu nguyên nhân gây ra thảm họa này, nhưng họ cho rằng những loài có cấu trúc cơ thể đơn giản đã bị thay thế bởi những loài có cấu trúc phức tạp hơn.  “Những phân tích của chúng tôi cho thấy ‘đại tuyệt chủng’ không chỉ làm thay đổi mãi mãi sự đa dạng về loài mà còn làm thay đổi cả cấu trúc sinh thái đại dương”, Peter Wagner, người quản lý khu vực động vật có xương sống hóa thạch tại bảo tàng Field và trưởng nhóm nghiên cứu, tuyên bố.  Các chuyên gia cảnh báo rằng, những hoạt động nghiên cứu về sinh thái biển cho thấy loài người đang làm cho nhiều hệ sinh thái quay về trở về tình trạng giống như 540 triệu năm trước đây, trước khi sự bùng nổ các loài động vật diễn ra. Wagner phát biểu: “Mảng thiên thạch từng làm khủng long tuyệt chủng không thể làm nổi điều đó”.  Việt Linh (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đám mây Khoa học Mở châu Âu và gợi ý cho Việt Nam      Trong giai đoạn 2018-2020, Đám mây Khoa học Mở châu Âu – EOSC (European Open Science Cloud) cùng một lúc triển khai 6 dòng hành động gồm: (1) Kiến trúc; (2) Dữ liệu; (3) Các dịch vụ; (4) Truy cập & giao diện; (5) Các quy tắc; (6) Điều hành. Bạn có thể mong chờ học được gì từ những công việc đó? Bài viết này có thể đưa ra một vài gợi ý.      Đám mây khoa học mở châu Âu với các đặc trưng: là một môi trường mở và tin cậy để trao đổi dữ liệu học thuật, cung cấp các dịch vụ mở và tức thời để phân tích và tái sử dụng dữ liệu, chương trình này không chỉ kết nối dữ liệu mà còn kết nối các nhà khoa học xuyên biên giới. Nguồn: blogs.eui.eu  Mục đích của Đám mây Khoa học Mở châu Âu – EOSC (European Open Science Cloud) là để Liên minh châu Âu dẫn đầu thế giới trong quản lý dữ liệu nghiên cứu và đảm bảo các nhà khoa học châu Âu gặt hái được đầy đủ các lợi ích của nền khoa học được thúc đẩy bởi dữ liệu’1. Các nghiên cứu từ khắp châu Âu sẽ không còn phân tán mà được lưu trữ tập trung ở cùng một nơi, có thể tìm kiếm, chia sẻ và tái sử dụng một cách dễ dàng.  Trong khuôn khổ của một bài báo sẽ không có cách gì để có thể chuyển tải hết được chi tiết các dòng hành động đó. Vì vậy, bài viết chỉ nêu lên được những điểm khái quát nhất của chúng.  Kiến trúc  Kiến trúc theo liên đoàn ngụ ý EOSC sẽ là liên đoàn các hạ tầng dữ liệu nghiên cứu hiện có nhưng được lên kế hoạch, được bổ sung thêm một lớp phủ mềm để kết nối chúng và làm cho chúng vận hành trơn tru như thể là một hạ tầng dữ liệu nghiên cứu duy nhất của châu Âu.    Hình 1 – Các dòng hành động của mô hình EOSC2.  Theo cách này, EOSC sẽ gồm lõi liên đoàn EOSC và các hạ tầng dữ liệu nghiên cứu có sẵn khác được kết nối nó theo một khung tuân thủ các quy tắc để đảm bảo sự vận hành trơn tru như được nêu ở trên.  Tất cả các hạ tầng dữ liệu nghiên cứu liên đoàn và các nhà cung cấp dịch vụ thương mại cần tuân thủ các quy tắc tham gia. Quan trọng, họ có thể đồng ý triển khai các nguyên tắc dữ liệu FAIR (ghép các ký tự đầu của các từ tiếng Anh: Findable, Accessible, Interoperable, Reusable, có nghĩa là [dữ liệu phải] tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được) một cách đầy đủ. Điều này có thể đóng góp cho tính bền vững lâu dài của họ, khi các nhà cấp vốn nghiên cứu của EU đang dần ràng buộc việc cấp vốn của họ với các bổn phận truy cập mở và sử dụng các kho được thừa nhận/được chứng thực FAIR. Qua thời gian, EOSC có thể với tới được các tài nguyên từ các đối tác nghiên cứu toàn cầu của EU, để tạo ra sân chơi bình đẳng về dữ liệu mở cho các nhà khoa học toàn cầu3.          Bắt đầu      Các tài nguyên được cam kết (chưa vét cạn)      Hành động      Các cột mốc          Q1, 2018      – Dự án EOSC-hub  – Dự án OpenAIRE-Advance  – Dự án FREYA      Phát triển lõi liên đoàn EOSC ban đầu gồm các tài nguyên EOSC được chia sẻ      Q4, 2019: lõi liên đoàn EOSC ban đầu sẽ có.          Q1, 2019      – Dự án EOSCPilot  – INFRASUPP-01-2018-2019 (b3)      Phát triển catalog các hạ tầng có quan tâm và hợp lệ (các Quy tắc Tham gia) sẽ được làm thành liên đoàn trong EOSC và xác định các trung tâm liên đoàn EOSC      Q4, 2019: Đăng kýcác hạ tầng dữ liệu EOSC (ban đầu)          Q4, 2018      – INFRAEOSC-04-2018      Kết nối các hạ tầng nghiên cứu được xác định theo Lộ trình của ESFRI với EOSC. Hỗ trợ hoạt động này sẽ được cung cấp qua các dự án bó.      Quý 2, 2020: Kết nối chính của hầu hết các hạ tầng và các dịch vụ với EOSC.          Bảng 1. Các hoạt động triển khai theo dòng hành động kiến trúc.  Bình diện quốc tế4  Các đơn vị dịch vụ của Ủy ban châu Âu đã làm việc trong bối cảnh của các nước G7, G20 và trong sự cộng tác với Diễn đàn Khoa học Toàn cầu của OECD5 để đảm bảo sự triển khai EOSC là phù hợp với các ưu tiên của Ủy ban trong các chương trình nghị sự quốc tế và phát triển, và hài hòa với các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hiệp Quốc. Việc đạt được các mục tiêu đó đòi hỏi tri thức toàn cầu và việc chia sẻ dữ liệu FAIR, đặc biệt bao gồm trong các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. Các nhà lãnh đạo G7 và Ủy ban đã kêu gọi để ‘tất cả các nhà nghiên cứu [sẽ] có khả năng ký gửi, truy cập và phân tích dữ liệu khoa học xuyên khắp các lĩnh vực và ở phạm vi toàn cầu, và dữ liệu nghiên cứu nên gắn với các nguyên tắc FAIR’6.  Gợi ý: Điểm này có lẽ là đặc biệt quan trọng trong việc định hướng khoa học mở trong tương lai ở Việt Nam, khi mà các quốc gia của cả G7, G20, OECD và có lẽ của cả thế giới khoa học sẽ đi theo khoa học mở, khi các nhà nghiên cứu Việt Nam có khả năng ký gửi, truy cập và phân tích dữ liệu khoa học xuyên khắp các lĩnh vực và ở phạm vi toàn cầu, với dữ liệu nghiên cứu được gắn với các nguyên tắc FAIR. Các bên liên quan tới khoa học mở ở Việt Nam có thể cần đặt ra câu hỏi, liệu Việt Nam có khả năng xây dựng hạ tầng như hạ tầng lõi liên đoàn EOSC, hay Việt Nam sẽ chọn cho mình cách xây dựng hạ tầng dữ liệu nghiên cứu khoa học có khả năng kết nối được với hạ tầng lõi liên đoàn EOSC? Hơn thế, điều này có thể sẽ gợi ý cho Việt Nam để có được quyết tâm phải chuyển dịch sang khoa học mở càng sớm càng tốt, qua đó có thể hưởng lợi và cùng tồn tại được với thế giới.  Dữ liệu  Triển khai các biện pháp cần thiết để nuôi dưỡng sự phát triển các thực hành chuyên nghiệp về quản lý và quản trị dữ liệu nghiên cứu ở châu Âu7, đặc biệt:  Phát triển văn hóa quản lý dữ liệu nghiên cứu và các kỹ năng thực hành tốt hơn giữa các nhà khoa học và các nhà cải cách của EU, gồm hành động và các ưu đãi, các phần thưởng, các kỹ năng và chương trình giảng dạy có liên quan tới dữ liệu nghiên cứu và khoa học dữ liệu;  Phát triển các công cụ, đặc tả, catalog và các tiêu chuẩn dữ liệu FAIR, và các dịch vụ phía cung để hỗ trợ cho các nhà khoa học và các nhà cách tân, và  Khuyến khích nhu cầu về dữ liệu FAIR qua các chỉ thị dữ liệu FAIR nhất quán và các ưu đãi để mở dữ liệu từ các nhà cấp vốn nghiên cứu và các cơ sở khắp châu Âu.  Ngắn gọn, dòng các hành động kết hợp này có thể cung cấp một tập hợp các tài nguyên được chia sẻ của EOSC cho quản lý dữ liệu, điều có thể được các nhà nghiên cứu có hiểu biết về dữ liệu sử dụng, được tất cả các hạ tầng dữ liệu triển khai, được tất cả các nhà cấp vốn nghiên cứu mặc định và được các cơ sở địa phương ủng hộ.  Các tài nguyên được chia sẻ của EOSC có thể được phát triển để bao trùm tất cả các khía cạnh dữ liệu FAIR:  ● Tìm thấy được, qua các catalog/các dịch vụ dữ liệu và siêu dữ liệu;  ● Truy cập được, qua các mã nhận diện duy nhất vĩnh viễn, kế hoạch quản lý dữ liệu;  ● Tương hợp được, qua các tiêu chuẩn tương hợp và các siêu dữ liệu chung;  ● Sử dụng lại được, qua các quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và các điều khoản pháp lý chung (như việc sử dụng các giấy phép Creative Commons).          Bắt đầu      Các tài nguyên được cam kết (chưa vét cạn)      Hành động      Các cột mốc          Q1, 2018      Nhóm Chuyên gia Dữ liệu FAIR (E03464), tư vấn với các bên tham gia đóng góp      Chuẩn bị Kế hoạch Hành động về dữ liệu FAIR.      Q3, 2018: Kế hoạch Hành động về dữ liệu FAIR được xuất bản          Q3, 2018      – DG RTD  – RDA Europe 4.0  – INFRAEOSC-05-2018-2019 (b)      Xác định Khung của châu Âu về dữ liệu nghiên cứu FAIR.      Q2, 2019: Khung của châu Âu về dữ liệu nghiên cứu FAIR được đồng thuận          Q1, 2019      – Dự án FREYA  – RDA Europe 4.0      Xác định chính sách Mã nhận diện Duy nhất Vĩnh viễn cho dữ liệu FAIR.      Q4, 2019: Chính sách Mã nhận diện Duy nhất Vĩnh viễn cho dữ liệu FAIR được xác định          Q1, 2019      – INFRAEOSC-05-2018-2019 (c)      Phát triển lược đồ công nhận/chứng nhận dữ liệu FAIR cho các kho.      Q4, 2019: Lược đồ chứng chỉ FAIR sẵn sàng.          Bảng 2. Các hoạt động triển khai theo dòng hành động dữ liệu   Gợi ý: Tất cả các hoạt động và lưu ý nêu trên giải thích ngắn gọn cho chúng ta thấy dữ liệu FAIR là gì, cần phải làm gì để đạt được nó và sắp tới có những tài liệu chỉ dẫn nào được viết ra về các vấn đề liên quan tới nó mà chúng ta có thể học tập để các dữ liệu được xuất bản ở Việt Nam cũng có khả năng tuân thủ FAIR nếu Việt Nam chuyển hướng sang khoa học mở, bao gồm cả việc cấp vốn nghiên cứu.  Các dịch vụ  EOSC chào 5 dạng chính các dịch vụ cho các nhà nghiên cứu, sẵn sàng theo bất kể lĩnh vực nào hoặc xuyên bất kể các đường biên giới quốc gia nào, gồm:  ● Dịch vụ xác thực và nhận diện duy nhất và điểm truy cập và hệ thống định tuyến hướng tới các tài nguyên của EOSC.  ● Môi trường/không gian làm việc được bảo vệ và cá nhân hóa (như, sổ lưu ký [logbook], các thiết lập, hồ sơ tuân thủ và các vấn đề còn để treo).  ● Truy cập tới thông tin dịch vụ phù hợp (tình trạng của EOSC, danh sách các hạ tầng dữ liệu, thông tin có liên quan tới chính sách, mô tả khung tuân thủ) và các chỉ dẫn đặc thù (cách để tạo dữ liệu FAIR, để chứng nhận kho hoặc dịch vụ, để mua sắm các dịch vụ chung).  ● Các dịch vụ để tìm kiếm, truy cập, sử dụng lại và phân tích dữ liệu nghiên cứu được những người khác tạo ra, truy cập được qua các catalog thích hợp các tập hợp dữ liệu và các dịch vụ dữ liệu (như phân tích, tổng hợp, khai phá, xử lý).  ● Các dịch vụ để làm cho dữ liệu của riêng họ thành FAIR, để lưu trữ chúng và đảm bảo sự bảo tồn lâu dài.          Bắt đầu       Các tài nguyên được cam kết (chưa vét cạn)      Hành động      Các cột mốc          Q2, 2018      – Dự án EOSC-hub  – Dự án eInfraCentral  – Dự án OpenAIRE-Advance  – INFRAEOSC-01-2018  – INFRAEOSC-04-2018  – INFRAEOSC-05-2018-2019(b)  – INFRAEOSC-02-2019  – INFRAEOSC-03-2020  – INFRAEOSC-06-2019-2020(a)  – INFRAEOSC-06-2019-2020(b)      Phát triển catalog các dịch vụ ban đầu sẽ được cung cấp qua EOSC (được làm giàu định kỳ) và xác định (các) mô hình phân phối      Q4, 2018: Catalog các dịch vụ EOSC ban đầu truy cập được và mẫu EOSC Portal truy cập được        Q4, 2019: Catalog các dịch vụ EOSC và EOSC Portal được cập nhật          Q2, 2018      – Dự án EOSCpilot  – Dự án EOSC-hub  – INFRAEOSC-04-2018  – INFRAEOSC-05-2018-2019(b)      Phát triển catalog các tập hợp dữ liệu ban đầutruy cập được qua EOSC (sẽ được làm giàu định kỳ)      Q2, 2019: Catalog các tập hợp dữ liệu EOSC ban đầu truy cập được          Bảng 3. Các hoạt động triển khai theo dòng hành động dịch vụ  Về bản chất, Đám mây Khoa học Mở châu Âu (EOSC) sẽ xây dựng cả 3 thành phần8 của một hạ tầng điện toán đám mây là: (1) Hạ tầng như một dịch vụ – IaaS (Infrastructure as a Service); (2) Nền tảng như một dịch vụ – PaaS (Platform as a Service); và (3) Phần mềm như một dịch vụ – SaaS (Software as a Service). Điều khác biệt ở đây là các dịch vụ này đều có mục đích để phục vụ cho các nhà khoa học và xoay quanh dữ liệu FAIR.  Gợi ý: Là thực tế để cá nhân các nhà nghiên cứu khoa học và các cơ sở viện – trường đại học nghiên cứu của Việt Nam tập trung vào khả năng và điều kiện khai thác các dịch vụ hạ tầng EOSC vì lợi ích của chính mình thông qua các đối tác châu Âu.  Truy cập và giao diện  Đã có hai dự án được triển khai nhằm tạo ra giao diện để người sử dụng truy cập được tới các dịch vụ EOSC dễ dàng nhất có thể. Hiện có hai dự án với mục đích này đã được bắt đầu rồi theo chương trình làm việc của Horizon 2020 cho các năm 2016-2017 là: (1) EOSC-hub sẽ thí điểm nền tảng chung và sự truy cập tới các dịch vụ EOSC; và (2) dự án eInfraCentral cung cấp catalog đầu tiên và sự truy cập tới các dịch vụ hạ tầng điện tử. Trong giai đoạn 2018-2020, theo lời gọi INFRAEOSC-06-2020, EOSC còn muốn có khả năng truy cập được tới những người sử dụng qua các giao diện giữa máy – với – máy và chào sự truy cập tới các tài nguyên được chia sẻ của EOSC và đầy đủ các dịch vụ của EOSC.  Gợi ý: Đây có lẽ là công việc chỉ của các bên tham gia phát triển các ứng dụng và dịch vụ truy cập và giao diện của châu Âu và các đối tác của họ.  Các quy tắc tham gia  Các bên tham gia đóng góp của châu Âu cho EOSC đã nhìn thấy trước là phải làm sao để EOSC có thể hưởng lợi lớn từ sự phát triển các quy tắc tham gia. Hiện dự án EOSCPilot đang xây dựng các quy tắc như vậy.  Hơn nữa, các quy tắc đó có thể áp dụng khác nhau cho những người tham gia EOSC khác nhau, phụ thuộc vào thâm niên và vai trò của họ (các nhà nghiên cứu so với những người sử dụng, các nhà khoa học hoặc các nhà cách tân), vị trí (các đối tác nghiên cứu của Liên minh châu Âu so với toàn cầu), và có thể cần tôn trọng các đặc tính của các lĩnh vực khoa học khác nhau.          Bắt đầu       Các tài nguyên được cam kết (chưa vét cạn)      Hành động      Các cột mốc          Q2, 2018      – DG RTD  – Dự án EOSCpilot  – Dự án EOSC-hub  – Nhóm Chuyên gia Mức Cao EOSC  – INFRAEOSC-05-2018-2019 (a)      Phát triển các Quy tắc Tham gia, có tư vấn với các bên tham gia đóng góp      Q1, 2019: Các Quy tắc Tham gia EOSC ban đầu     Q4, 2019: Các Quy tắc Tham gia EOSC chính thức          Bảng 4. Các hoạt động triển khai theo dòng hành động về các quy tắc tham gia  Gợi ý: Chúng ta có lẽ sẽ chờ xem các nguyên tắc tham gia EOSC điều chỉnh sự tham gia của các đối tác nghiên cứu ngoài châu Âu sẽ như thế nào.  Điều hành  Khung điều hành EOSC rõ ràng là cần thiết và dự kiến sẽ hỗ trợ các chức năng được định nghĩa tốt, gồm chiến lược (như việc thiết lập đường hướng và các ưu tiên dài hạn và quyết định về sự tuân thủ), triển khai (như đường hướng ngân sách), giám sát (như thiết lập các chỉ số hiệu năng chính) và báo cáo, được thực thi trong phạm vi rõ ràng và có giới hạn, bao quanh các hành động cần thiết cho sự phối hợp và liên đoàn các hạ tầng dữ liệu nghiên cứu ở châu Âu như được nêu ở các phần trên. Khung điều hành dự kiến được triển khai ở 2 pha: (1) Pha đầu trong các năm 2018-2020; và (2) Pha 2 – sau năm 2020.          Bắt đầu       Các tài nguyên được cam kết (chưa vét cạn)      Hành động      Các cột mốc          Q1, 2018      EC, với sự hỗ trợ của dự án EOSCpilot, Nhóm Chuyên gia Mức Cao EOSC, OSPP và các nguồn khác      Thiết lập Khung Điều hành EOSC trong tư vấn với các quốc gia thành viên      Q4, 2018: Điều hành EOSC được thiết lập          Q1, 2019      INFRAEOSC-05-2018-2019(a)      Chuẩn bị di sản cho pha 2 triển khai (sau năm 2020)      Q3, 2020: Các khuyến cáo về đường hướng chiến lược và cấp tài chính và các thiết lập tổ chức, cho tương lai của EOSC (sau năm 2020)          Bảng 5. Các hoạt động triển khai theo dòng hành động điều hành  Gợi ý: Đây có lẽ là công việc chỉ liên quan tới các bên tham gia phát triển khung điều hành EOSC của châu Âu và các đối tác của họ.  Kết luận  Khả năng để Việt Nam có thể xây dựng cho mình các hạ tầng khoa học mở như đám mây khoa học mở châu Âu (EOSC) trong điều kiện hiện nay và trong tương lai vài chục năm tới là không tưởng, cho dù khoa học mở và các thành phần của nó, đặc biệt là dữ liệu FAIR sẽ là những gì toàn bộ thế giới khoa học từ nay trở đi sẽ hướng tới.  Trong bối cảnh như vậy, sẽ là thức thời nếu Việt Nam chọn cho mình một tiếp cận ‘ngách’ phù hợp, vừa có khả năng giúp cho khoa học của Việt Nam dịch chuyển tốt nhất và nhanh nhất theo khoa học mở, vừa có thể ‘đứng được trên vai của những người khổng lồ’ để không bị vứt sang bên lề của cuộc cách mạng sản xuất thế hệ tiếp sau – NPR9 (Next Production Revolution).  ‘Muộn còn hơn không’ có lẽ là lời nhắc nhở dành cho toàn bộ cộng đồng khoa học ở Việt Nam về sự tồn tại và ngự trị của khoa học mở bây giờ và trong tương lai, đặc biệt cho những ai được giao trọng trách quản lý và tạo thuận lợi cho khoa học phát triển ở Việt Nam.  Tài liệu trích dẫn  1. Được tùy biến từ ‘Lộ trình triển khai đám mây khoa học mở châu Âu – Tài liệu làm việc của các nhân viên Ủy ban’: https://www.dropbox.com/s/z5abev46id2m0yq/swd_2018_83_f1_staff_working_paper_en_Vi-04042018.pdf?dl=0, tr 16.  2. Lộ trình triển khai đám mây khoa học mở châu Âu – Tài liệu làm việc của các nhân viên Ủy ban, trang 4, xem tại: https://www.dropbox.com/s/z5abev46id2m0yq/swd_2018_83_f1_staff_working_paper_en_Vi-04042018.pdf?dl=0  3. Tuyên bố EOSC – Đám mây Khoa học Mở châu Âu: Các cơ hội mới nghiên cứu và cách tân, trang 12, xem tại: https://www.dropbox.com/s/0txrq8row8vdq2l/eosc_declaration_Vi_23022018.pdf?dl=0  4. Lộ trình triển khai đám mây khoa học mở châu Âu – Tài liệu làm việc của các nhân viên Ủy ban, trang 21, xem tại: https://www.dropbox.com/s/z5abev46id2m0yq/swd_2018_83_f1_staff_working_paper_en_Vi-04042018.pdf?dl=0  5. Xem: https://www.innovationpolicyplatform.org/open-data-science-oecd-projectvà http://www.codata.org/working-groups/oecd-gsf-sustainable-business-models hoặc tài liệu của OECD, 2015: Making Open Science a Reality.  6. Thông cáo của các Bộ trưởng Khoa học các nước G7 ngày 28/09/2017 tại Turin, Ý. Xem các đoạn 19 và 20: https://www.dropbox.com/s/ywum8nfcgw7c6jz/G7%20Science%20Communiqu%C3%A9_Vi_25022018.pdf?dl=0  7. Lộ trình triển khai đám mây khoa học mở châu Âu – Tài liệu làm việc của các nhân viên Ủy ban, trang 22, xem tại: https://www.dropbox.com/s/z5abev46id2m0yq/swd_2018_83_f1_staff_working_paper_en_Vi-04042018.pdf?dl=0  8. Xem thêm: ‘Danh sách hành động của tuyên bố EOSC’, trang 4, phần ‘Triển khai dịch vụ’: https://www.dropbox.com/s/lipf9nrhjsm22hb/eosc_declaration-action_list_Vi_24022018.pdf?dl=0  9. OECD, 2017: Cách mạng Sản xuất Tiếp sau. Báo cáo cho G20, các trang 15 và 52 nói các chính sách cần tạo thuận lợi cho khoa học mở và dữ liệu mở: https://www.dropbox.com/s/ccxckrn1sfyetbl/the-next-production-revolution-G20-report_Vi_27042018.pdf?dl=0  Giấy phép của bài viết: CC BY 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Đám mây trong tranh của Van Eyck      Sau bài “Khoa học &amp; Nghệ thuật” của Cao Chi (số 2+3-2006), Tia Sáng xin giới thiệu tiếp bài báo của Luce Lebart[1], chứng minh rằng họa sĩ Jan Van Eyck[2] đã vẽ và phân biệt được các loại đám mây trước cả lúc các nhà khoa học phân loại các đám mây sau đó khoảng… 300 năm nhằm góp thêm một phần làm sáng tỏ hơn mối tương đồng giữa khoa học và nghệ thuật.    Trong bức tranh Crucifixion (Đóng đinh Chúa lên cây thập tự) của họa sĩ Jan Van Eyck[2] (1390-1441) vẽ vào năm 1430 và được giữ tại New York, chúng ta thấy Marie Madeleine[4] đang quỳ, tóc xõa rũ rượi, hai tay hướng lên trời. Bên trái là nhiều người đàn bà vây quanh Marie mà Thánh Jean[5] đang dang tay đỡ. Mặt của Marie và hai bàn tay của nàng hướng chiều nhìn của chúng ta đến phía trái của bức tranh, tại đây có một nhân vật cầm ngọn giáo đâm vào sườn phải của Jesus. Và theo chiều ngọn giáo, mắt chúng ta lại hướng về đức Christ. Đối xứng với hướng trên, những đường nét của bố cục lại xuất phát từ lưng nàng Marie dẫn nhãn quan của chúng ta đến phía phải của bức tranh, tại đây có một kỵ sĩ hai tay giơ lên trời và mặt của kỵ sĩ hướng về Christ lại tạo nên một phép phản hồi chiều nhìn chúng ta về phía  đức Jesus.  Lôi cuốn bởi chiều đứng và bố cục của bức tranh, chúng ta sẽ ngước nhìn từ mặt đất lên bầu trời. Giữa đất và trời là hình ảnh của chúa Jesus trên nền những đám mây. Nền trời sáng dần từ trái sang phải. Theo kinh Phúc âm thì trước khi Chúa trút linh hồn, mặt đất chìm trong bóng tối, như vậy bức tranh của Jan Van Eyck thuộc về giai đoạn sau đó khi mà bóng tối đang tan dần.  Màu xanh của bầu trời giảm dần theo độ cao và trở thành màu trắng ở chân trời. Hiệu ứng phối cảnh xa gần được tăng lên nhờ những dãy núi xa xếp thành lớp. Vào đầu thế kỷ thứ XV, những bầu trời có màu tăng hoặc giảm dần đã xuất hiện trong các bức tranh ở Pháp và xứ Flamăng (Flandre[3]).  Trong bức tranh của họa sĩ Jan Van Eyck, bầu trời đầy những đám mây đa dạng. Họa sĩ đã mô tả các đám mây một cách tinh tế và lúc bấy giờ không thể gán cho chúng những tên riêng để biểu diễn sự đa dạng đó.  Chỉ vào đầu thế kỷ XIX, nhờ các công trình nghiên cứu khoa học mà người ta mới phân loại được các đám mây. Sự phân loại các đám mây của Luke Howard[6] vào năm 1803 tại Anh đến nay vẫn còn giá trị. Những tên Latinh mà ông đặt cho các loại mây được các nhà khí tượng chấp nhận: Cirrus (mây ty), Cumulus (mây tích), Stratus (mây tầng)…  Trong bức tranh của họa sĩ Jan Van Eyck, người ta phân biệt được 4 loại mây và theo nhà khí tượng học Mỹ Stanley Gedzelman thì đó là: cumulus, cirrus, cirrocumulus (mây ty tích) và altocumulus (mây trung tích).  Mây cumulus thường xuất hiện trên các núi báo hiệu trời đẹp.  Mây cirrus có dạng các sợi len. Van Eyck không hề biết rằng mây cirrus được cấu tạo bởi những tinh thể băng song ông đã mô tả được hiệu ứng lấp lánh của chúng vì ánh sáng đi lọt qua.  Vào giữa bầu trời ngay trên chiếc thập tự là những cụm  mây cirrocumulus trắng.  Và cuối cùng ở góc trên trái của bức tranh là các mây altocumulus mô tả hiệu ứng của gió ở độ cao (alto-).  Kỹ thuật sơn dầu tạo ra nhiều khả năng, trong đó là kỹ năng nhiều lớp tạo ra những hiệu ứng tinh tế của bóng của ánh sáng của cường độ các màu sắc. Nhờ đó mà gây ấn tượng như là ánh sáng xuất phát từ chính bức tranh. Và các hiệu ứng ánh sáng đi qua hoặc vây bọc các đám mây đã được Jan Van Eyck diễn tả một cách chính xác trong bức tranh trên.  Luke Howard đã viết 300 năm sau: “Không kể đến vẻ đẹp mà chúng đem lại cho thiên nhiên, những đám mây cumulus có tác dụng lọc ánh sáng và từ đấy làm giảm độ sáng”. Dường như Jan Van Eyck đã biết được điều đó!  Trước các nhà khoa học khí tượng học, các họa sĩ nhờ tài năng của mình qua nhiều thế hệ đã xây dựng được một danh bạ các loại mây và danh bạ này sau nhiều thế kỷ, các nhà khoa học mới phát hiện lại được. Những công trình của Luke Howard đã làm sáng tỏ rất nhiều mối tương đồng giữa hai phạm trù khoa học và nghệ thuật.  Họa sĩ người Anh Constable cũng như Goethe là những người ngưỡng mộ Luke Howard đã nói rằng “bầu trời là nơi mà Milton[7] và Linné[8] có thể dạo chơi tay trong tay ”.  Chú thích:  [1] Luce Lebart là giảng viên tại É cole de l’Image des Gobelins, Paris.  [2] Jan Van Eyck là họa sĩ thế kỷ thứ 15, ông là người xứ Flamăng (Flandre), một trong những họa sĩ  có công lớn trong việc hoàn thiện sơn dầu.  [3] Flandre, vùng đất của Bỉ gồm một phần quận Flandre cũ và phần mở rộng về phía Đông.  [4] Marie Madeleine có phải là vợ của Jesus hay không? Câu chuyện trở nên hấp dẫn sau quyển truyện bán chạy trên thế giới  Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci) của tác giả Dan Brown.  [5] Jean, tông đồ của chúa Jesus.  [6] Luke Howard, nhà khoa học nghiên cứu phân loại và đặt tên La tinh cho các loại mây, được bầu vào Hội Hoàng gia (Royal Society) năm 1821, bạn của Goethe, thi sĩ đã sáng tác hai bài thơ tặng Howard.  [7] John Milton, thi sĩ lớn thế kỷ 17 trong văn học Anh, tác giả Thiên đường đã mất (Paradise Lost).  [8] Linné Carl Von hay Linnaeus Carolus (1707-1778), nhà vạn vật học Thụy Điển phát triển khoa học phân loại thực và động vật, tác giả của Systema Naturae.  Luce Lebart      Nguồn tin: biên dịch (Pour La Science, No336, tháng 10/2005)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đam mê, kiên định và một tinh thần “positive”      Tôi luôn tâm niệm việc hòa nhập với môi trường trong nước của những người được đào tạo ở nước ngoài phụ thuộc vào bản thân họ cũng như nhiều yếu tố ngoại cảnh, nên thực sự khó khái quát hóa để thành một câu trả lời, một giải pháp chung cho mọi trường hợp. Nhưng tựu trung, với chúng tôi, công thức thành công là sự pha trộn của: đam mê, sự kiên định, và một tinh thần “positive”.       Trong bài viết dưới đây, tôi chỉ muốn trình bày góc nhìn của riêng tôi, với tư cách vừa là giảng viên, vừa là giám đốc một trung tâm nghiên cứu trong trường đại học có được một số thành tựu bước đầu, với một mong muốn không gì khác là chia sẻ kinh nghiệm của mình – những kinh nghiệm còn nóng hổi trên hành trình từ một tiến sỹ trẻ khởi đầu với những băn khoăn về hay ở, đến những nỗi đau đáu làm sao phát triển đơn vị của mình một cách bền vững. Hãy cùng tôi chia sẻ hành trình của mình qua những câu hỏi, cũng chính là những vấn đề mà không chỉ riêng tôi, mà còn nhiều nhà khoa học trẻ khác, những con người nhiều hoài bão và đam mê đã và đang đối mặt hằng ngày.  Tại sao quyết định về nước?          Nếu giữ được đam mê, có định hướng nghiên  cứu tốt, và năng lực chuyên môn cao, thì với môi trường NCKH ngày càng  thông thoáng của Nhà nước, việc sống được với NCKH không còn là giấc mơ  với mỗi nhà khoa học.        Đã sáu năm kể từ khi tôi bắt đầu đặt câu hỏi này cho chính mình, và đến tận bây giờ, đây vẫn là câu hỏi tôi nhận được nhiều nhất khi gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, và cả truyền thông. Thực sự nó làm tôi phát ngấy, và tự nhiên trong tôi đã hình thành một mô-típ trả lời rất an toàn, và đúng với nhiều ngữ cảnh. Tuy nhiên, thành thực mà nói, tôi đã khá may mắn khi không phải phân vân nhiều cho câu trả lời, khá đơn giản, nó xuất phát từ việc định vị mình là ai và mình có thể làm được gì. Nếu ở nước ngoài, trong lĩnh vực hẹp “Định vị sử dụng vệ tinh” mà tôi theo đuổi, có đến hàng nghìn nhà khoa học đang ngày đêm cạnh tranh khốc liệt với những nghiên cứu mà chỉ một số không nhiều trong đó có khả năng ứng dụng vào thực tiễn và tạo ra bước ngoặt thay đổi cuộc sống hiện tại của con người. Còn ở trong nước, lĩnh vực này còn quá mới mẻ, những kiến thức tôi tích lũy được sẽ thực sự có ích, và vấn đề chỉ còn lại: Tôi có thể làm được gì?! Đến giờ phút này, tôi có đôi chút tự hào: Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS – ĐH Bách khoa Hà Nội) của chúng tôi, đã có một số thành tựu không nhỏ trong việc phát triển lĩnh vực này tại Việt Nam. Từ việc đóng góp ý kiến giải thích cho cộng đồng: không đáng lo ngại khi BPhone được trang bị định vị Bắc Đẩu của Trung Quốc, đến việc phát triển các hệ thống bộ thu đa hệ thống, cũng như hệ thống định vị độ chính xác cao cỡ cm với giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu trong nước. Từ việc chủ trì hàng chục hội nghị, hội thảo, trường hè, seminar quốc tế thu hút hàng trăm lượt nhà khoa học quốc tế tham dự, đến việc được chứng nhận là một trong 50 đơn vị đầu tiên trên thế giới chế tạo thành công bộ thu Hệ thống Galileo, hay trở thành đơn vị đối tác được ghi nhận của Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực định vị vệ tinh tại Đông Nam Á. Những điều đó có thể tôi vẫn đạt được khi làm việc ở nước ngoài, nhưng ý nghĩa của nó có lẽ sẽ không bằng khi làm việc, và cống hiến trên quê hương mình.  Có sống được bằng nghiên cứu khoa học không?          Với tư cách là những người được đào tạo bài  bản, có năng lực, và đã được tiếp cận với ưu việt của nền hành chính  mang tính phục vụ ở nước ngoài, chúng ta có trách nhiệm tham gia một  cách thực sự và nghiêm túc vào mọi khâu của quá trình, để qua đó nhận  thấy những điểm được và chưa được, và, trong khả năng của mình, tìm cách  phù hợp dần dần thay đổi hệ thống quản lý khoa học theo chiều hướng tốt  đẹp hơn.        Đây là câu hỏi thường gặp thứ hai và thực sự khó trả lời, vì tại thời điểm này, ở Việt Nam, câu trả lời là không chắc chắn và có nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động, cũng như rất phụ thuộc vào sự kiên định và hoàn cảnh của từng người. Nói một cách thực tế, với thu nhập bao gồm cả lương và phụ cấp xấp xỉ năm-sáu triệu/tháng cho một tiến sỹ khi về nước thì không đủ cho nhu cầu tối thiểu, chứ chưa nói đến việc tạo cho họ động lực để nghĩ xa hơn trong sự nghiệp. Vì vậy, một lời khuyên thực tế: nếu muốn về nước, khi còn học tập và công tác tại nước ngoài, chúng ta cần phải biết tích lũy từ học bổng và thù lao nghiên cứu; hoặc tuyệt vời hơn, chuẩn bị thiết lập trước một số dự án nghiên cứu với lab hiện tại (ở nước ngoài), cũng như liên hệ với lab trong nước, xin trước một số nguồn kinh phí đề tài / dự án để khi về nước có nguồn kinh phí ít nhất giúp bạn “sống sót” qua năm đầu tiên. Và trong năm đầu tiên đó, có mấy việc rất quan trọng cần phải làm: (i) “setup” một nhóm nghiên cứu (có thể từ các đồng nghiệp trong bộ môn, hoặc từ những sinh viên đầu tiên mà bạn được giao hướng dẫn); (ii) trong năng lực của nhóm, viết các đề xuất thuyết minh dự án / đề tài, càng nhiều càng tốt, nhưng phải có trọng tâm và định hướng rõ ràng: ứng dụng hay lý thuyết. Nếu là ứng dụng thì cần phải giải quyết các bài toán của đời sống, còn nếu lý thuyết phải xác định được tính mới về mặt học thuật để vươn tới công bố quốc tế chất lượng cao. Sự kiên định của năm đầu tiên hết sức quan trọng, khi đã lựa chọn môi trường đại học, cũng như các đồng nghiệp trên thế giới, mỗi tiến sĩ – nhà khoa học trẻ- cần xác định rõ cuộc sống của họ phải gắn với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH). Nếu đồng lương giảng dạy không đủ sống, thì phải xác định hoạt động chuyên môn gắn với NCKH, và chuyển giao công nghệ là lựa chọn duy nhất, nếu vẫn muốn gắn mình với đam mê khoa học. Nếu giữ được đam mê, có định hướng nghiên cứu tốt, và năng lực chuyên môn cao, thì với môi trường NCKH ngày càng thông thoáng của Nhà nước, việc sống được với NCKH không còn là giấc mơ với mỗi nhà khoa học.   Đương đầu với thủ tục hành chính ra sao?  Đây là vấn đề mà nhiều người lo ngại nhất khi trở về công tác tại Việt Nam, không ít người đã từng tâm sự: vấn đề vật chất có thể thiếu thốn một chút, nhưng các thủ tục phiền hà, các cơ chế không đồng bộ, nhũng nhiễu và thiếu công bằng mới là cái họ lo ngại nhất. Tuy nhiên, qua một thời gian công tác đủ dài, tôi thấy rằng vấn đề không hoàn toàn như vậy. Rõ ràng, chúng ta không thể phủ nhận những bất cập của một xã hội đang chuyển mình về mọi mặt, tuy nhiên, thay vì đứng ngoài và phán xét, với tư cách là những người được đào tạo bài bản, có năng lực, và đã được tiếp cận với ưu việt của nền hành chính mang tính phục vụ ở nước ngoài, chúng ta có trách nhiệm tham gia một cách thực sự và nghiêm túc vào mọi khâu của quá trình, để qua đó nhận thấy những điểm được và chưa được, và, trong khả năng của mình, tìm cách phù hợp dần dần thay đổi hệ thống quản lý khoa học theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Tôi gọi đó là cách tiếp cận “positive”, với cách tiếp cận này, ít ra chúng ta cũng giữ được sự kiên định với mục tiêu ban đầu, và đó đã là nửa quãng đường tiến đến thành công.   Những gì đã trải qua và hiện có đã giúp tôi chứng minh, ít ra cho chính mình, là với cách tiếp cận “positive”, cùng năng lực của nhóm nghiên cứu, cũng như việc đề xuất và thuyết minh các chủ đề đúng và trúng với định hướng đầu tư của các cơ quan, bộ, ngành, chúng tôi đã được tiếp cận các nguồn đề tài, dự án các cấp, qua đó, đủ kinh phí để phát triển nghiên cứu, và xây dựng đội ngũ.   Để phát triển bền vững          Sự đam mê, cùng với năng lực là công thức  của thành công. Điều đó không có gì mới, thế giới cũng có công thức  chung như vậy, có chăng ở Việt Nam phải bổ sung nhiều hơn về lòng kiên  định, sự tìm tòi, và nhẫn nại của bản thân.        Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, và đặc biệt trong môi trường phát triển hối hả và nhiều biến động như ở Việt Nam, thành công bước đầu đã khó, nhưng duy trì thành công đó, hướng tới sự phát triển bền vững là cả một câu hỏi không dễ tìm được câu trả lời. Trong tương lai không xa, Trung tâm non trẻ của chúng tôi sẽ đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn: tiếp nhận và tạo công việc với thu nhập đủ sống cho các tiến sĩ trẻ mà NAVIS gửi đi đào tạo tại nước ngoài khi họ trở về; hay làm thế nào để đưa công nghệ và sản phẩm dày công phát triển đi vào đời sống một cách hiệu quả, tránh tình trạng “cất tủ, lưu kho”… Đối mặt với các thách thức này, chúng tôi xác định: hợp tác quốc tế; cùng với thương mại hóa kết quả NCKH là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Muốn phát triển nhanh và lành mạnh, không cách nào khác, các nhóm nghiên cứu phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế, gắn mình vào dòng chảy tri thức nhân loại, qua đó, nâng cao năng lực của đơn vị, và cuối cùng, góp phần vào sự phát triển của lĩnh vực mình đảm nhiệm tại Việt Nam. Tuy nhiên, về lâu dài, để tránh lệ thuộc vào các nguồn dự án/đề tài không ổn định, các nhóm nghiên cứu phải nỗ lực thương mại hóa các sản phẩm NCKH của mình. Muốn vậy, ngay từ khâu định hướng, các nhóm nghiên cứu cần xác định các bài toán thiết thực cho đời sống, và trong mọi hoàn cảnh, cần gắn liền nghiên cứu với tiềm năng chuyển giao công nghệ.   ***  Trên đây là những vấn đề cơ bản nhất, cùng với giải pháp mà cá nhân tôi và các cộng sự đã làm để phát triển và tạo lập được sự nghiệp NCKH bước đầu cho bản thân và đơn vị, và có thể chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn hiện tại. Nhưng tựu trung, với chúng tôi, công thức thành công là sự pha trộn của: đam mê, sự kiên định, và một tinh thần “positive”. Hy vọng, cùng với sự phát triển của xã hội, việc NCKH sẽ không còn là sự dấn thân hay hy sinh của mỗi cá nhân, mà thực sự trở thành một công việc đầy đam mê và đem lại cuộc sống ổn định, nhiều sắc màu cho các nhà khoa học-giảng viên.   ——————————————————  * PGS. TS, Giám đốc Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS – ĐH Bách khoa Hà Nội)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đan Mạch: Dự kiến làm đảo năng lượng nhân tạo      Chính phủ Đan Mạch thúc đẩy thực hiện một dự án quan trọng, đảo năng lượng nhân tạo.      Mô hình hòn đảo dự kiến: “Đến năm 2028 mạng lưới điện sẽ có 100% là năng lượng tái tạo”  Chính phủ Đan Mạch có kế hoạch xây dựng một hòn đảo nhân tạo với công viên điện gió khổng lồ trên biển. “Hòn đảo này sẽ giúp tạo ra một lượng điện tái tạo rất lớn, có thể tích lại dưới dạng  năng lượng”, Bộ trưởng Khí hậu và Năng lượng Đan Mạch Dan Jørgensen đã nói với SPIEGEL bên lề Hội nghị khí hậu thế giới diễn ra tại Madrid. Theo vị bộ trưởng này thì đại dự án này có tổng giá trị đầu tư từ 200 đến 300 tỷ Kron Đan Mạch (khoảng 27 đến  40 tỷ Euro). Dự án này sẽ đi vào hoạt động trước năm  2030.  Theo bộ trưởng Jørgensen, trên hòn đảo nhân tạo ngoài biển khơi người ta sẽ xây dựng trang trại điện gió với công suất cao nhất là 10 Gigawatt. Công suất này tương đương khoảng 1000 cột điện gió trên biển có công suất cao nhất hiện nay. Để so sánh, có thể thấy cho đến nay nhà máy điện gió ngoài biển lớn nhất thế giới có công suất 1,2 Gigawatt. Theo chính phủ Đan Mạch sản lượng điện ở đây đủ để đáp ứng nhu cầu về năng lượng điện của 10 triệu hộ dân, nhiều hơn số dân nước này. Một đường cáp ngầm sẽ được lắp để dẫn điện – và tại đây với công nghệ mang tên  “Power-to-X” năng lượng điện trở thành nguồn năng lượng có thể lưu trữ được như khí hydro, nhiên liệu tổng hợp hoặc khí đốt.  Được biết việc chọn địa điểm và tiến hành các thủ tục cấp phép sẽ hoàn thành trước năm 2021 và sau đó sẽ triển khai xây dựng. Liệu mọi việc có diễn ra như kế hoạch hay không, điều này vẫn chưa rõ bởi xét cho cùng, những thách thức đối với một đại dự án cỡ này trên biển là vô cùng lớn. Vả lại, mức chi phí công nghệ để xây dựng “Power-to-X” hiện còn rất cao.  Hòn đảo năng lượng này sẽ là trung tâm chính sách năng lượng mới của Đan Mạch. Liên minh các đảng trong chính phủ Đan Mạch do đảng Dân chủ xã hội dẫn dắt đã thông qua đạo luật về khí hậu. Theo đó Đan Mạch cam kết đến năm 2030 giảm 70% khí thải nhà kính.  Mục tiêu  đến năm 2050 sẽ trở thành quốc gia trung lập về khí hậu . “Đến năm  2028 mạng lưới điện của chúng tôi sẽ có 100% năng lượng  tái tạo”, Bộ trưởng Jørgensen nói với SPIEGEL.  Đa số trong xã hội Đan Mạch ủng hộ luật khí hậu. Tám trong 10 đảng hiện diện trong Quốc hội ủng hộ đạo luật này, tức 167 trong số 179 nghị sỹ. “Các Hiệp hội kinh tế cũng như  Greenpeace đều ủng hộ”, bộ trưởng Jørgensen bày tỏ.  Sự đồng thuận có tính bao trùm này là con át chủ bài để chúng tôi kêu gọi các nhà đầu tư. Bởi lẽ không điều gì làm các nhà đầu tư chán nản  bằng những thay đổi chính sách đột ngột. Nhưng dù có thay đổi chính phủ đi nữa thì các quyết định hôm thứ sáu sẽ không thể đảo ngược, Jørgensen tuyên bố. “Tất cả các đảng có khả năng đứng đầu chính phủ  đều ủng hộ các quyết định này. Và họ gắn liền với thoả thuận này”. Các nhà đầu tư tư nhân sẽ đóng góp khoảng 90% vốn đầu tư, ông Bộ trưởng tin rằng điều này sẽ được thực hiện.  Điều chắc chắn là Đan Mạch đã chuẩn bị sẵn sàng phương án kinh phí, có thể họ sẽ huy động các quỹ, vốn có giá trị lớn, ví dụ riêng Quỹ Hưu trí Đan mạch hiện quản lý 450 tỷ Euro, theo hãng thông tấn  Bloomberg. Do lãi suất hiện rất thấp nên quỹ này đang tìm các khả năng để đầu tư nhằm kiếm chút đỉnh lợi nhuận.  Offshore-Công viên gió được đánh giá là các cơ hội đầu tư thú vị, vì lượng điện khá ổn định do đó cho phép ước đoán được kết quả khá chính xác. Nhờ những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong thời gian qua nên chi phí giảm mạnh.  Hiện tại Đan Mạch đã trở thành một cường quốc về điện gió trên biển. Năm 1991 mới xuất hiện các cơ sở điện gió đầu tiên ở vùng duyên hải. Hiện tại Tập đoàn năng lượng Ørsted  có công viên gió trên biển lớn nhất thế giới. Vestas đứng đầu thị trường thế giới về chế tạo turbine.  Dự án này không đơn thuần là một dự án quốc gia. Ngược lại, người ĐM muốn huy động vốn của nước ngoài và các đối tác, tương tự như dự án Đức – Tây ban nha về xây dựng nhà máy điện gió Gamesa của Siemens. Về địa điểm chưa có quyết định chắc chắn, nhưng chắc chắn là công viên này sẽ được xây dựng cách bờ biển hàng chục km nơi lộng gió nhất và nơi mà các trụ điện gió có thể cao tới 200 mét không làm phiền một ai. Biển Bắc (Nordsee) có điều kiện tốt nhất: nhiều gió và nhiều nơi khá bằng phẳng.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/mensch/daenemark-plant-kuenstliche-energie-insel-zur-herstellung-von-wasserstoff-a-1300931.html  Spiegel , 12.12.2019     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đan Mạch lập kỷ lục thế giới về năng lượng gió      Đan Mạch là đất nước đầu tiên trong lịch sử đã đạt mức sản xuất 50% điện năng từ năng lượng gió trong suốt một tháng qua.&#160;     Theo những thống kê mới nhất, các tua-bin gió tại Đan Mạch đã sản xuất 57,4% điện năng cho cả nước trong tháng 12/2013.  Năm 2013 cũng là một năm kỷ lục của ngành sản xuất năng lượng gió ở Đan Mạch với 33,8% điện năng tiêu thụ tại đất nước này đến từ các tua-bin gió. Và đây là lần đầu tiên một quốc gia trên thế giới đã đạt mức 1/3 điện năng tiêu thụ từ tua-bin gió.  Chỉ trong một ngày, ngày 21/12/2013, các tua-bin gió ở Đan Mạch sản xuất vượt số điện năng tiêu dùng của cả quốc gia, tức trên 100%.  “Đất nước Đan Mạch đã phát triển kỹ năng cạnh tranh và công nghệ độc đáo trong lĩnh vực năng lượng gió. Kỷ lục thế giới mới này là kết quả của những cam kết của chính phủ Đan Mạch trong việc giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.Trong tương lai, các công ty Đan Mạch và công nghệ Đan Mạch sẽ có thể hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam trong việc phát triển một nền kinh tế xanh”, đại sứ Đan Mạch John Nielsen bình luận.    Nguồn:  http://www.stateofgreen.com/en/Newsroom/New-World-Record-From-Danish-Wind-Turbines    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân số thế giới sẽ lên đến 9,2 tỷ vào năm 2050.      Liên Hợp Quốc vừa đưa ra dự báo như vậy. Sự tăng dân số sẽ chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển. Hiện nay, dân số thế giới đang ở mức 6,7 tỷ, và chỉ 43 năm nữa thôi, con số này sẽ tăng thêm 2,5 tỷ nữa.    Đến 2050, ở các nước kém và đang phát triển, tổng dân số được dự báo là 7,9 tỷ. Trong khi đó, ở các nước giàu, dân số sẽ khá ổn định, khoảng 1,3 tỷ. Thậm chí nó có thể giảm nếu không có dòng người di cư từ các nước nghèo hơn, ước đoán khoảng 2,3 triệu người mỗi năm.    Do hệ quả của sự giảm sinh đẻ và tăng tuổi thọ, dân số thế giới đang già đi. Một nửa sự tăng dân số đến 2050 được xem là kết quả của sự tăng số người từ 60 tuổi trở lên.  Theo AFP      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân tộc học hay nhân học ?      Từ những chuyển động đầu tiên đầy khó khăn ở Khoa Lịch sử, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, giữa những năm 1990, một thập kỷ sau người ta đã thấy cả hệ thống nghiên cứu và đào tạo dân tộc học Việt Nam đang chuyển hướng sang tiếp cận nhân loại học không phải là một ngoại lệ mà nó nằm trong xu thế phổ biến ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa khoa học.      Dân tộc học hay nhân học văn hóa đã trải qua nhiều thăng trầm với những giai đoạn phát triển khác nhau. Thậm chí, nhiều người vẫn xem sự ra đời và phát triển của dân tộc học gắn liền với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân châu Âu. Nói chung, dưới thời thực dân, các nhà nghiên cứu thường bị định kiến bởi quan điểm tiến hóa xã hội (social evolution), nhìn các nền văn hoá ngoài châu Âu bằng con mắt xa lạ, ít biến đổi và thấp kém. Mô tả các nền văn hoá ngoài châu Âu đã là hoạt động chủ đạo của nền dân tộc học thời thực dân. Tuy nhiên, kỷ nguyên thực dân chấm dứt cũng đồng thời kết liễu sứ mạng của nền dân tộc học thực dân. Một mặt, các nước sau độc lập không còn nhu cầu để cho người nước ngoài đến “khám phá” văn hoá bản xứ làm cơ sở cho “sứ mạng khai sáng thực dân” như cũ. Thay vào đó, các nước này đã tự đào tạo các nhà khoa học để nghiên cứu văn hóa của chính mình. Trong hoàn cảnh ấy, các nhà dân tộc học thực dân đã “quay về” ngôi nhà của mình, và họ bắt đầu khám phá ra rằng có một thế giới khác cần nghiên cứu thay vì đi đến các nền văn hoá xa lạ ngoài châu Âu. Có thể nói nửa sau thế kỷ 20 đã chứng kiến một trào lưu nghiên cứu mới trong dân tộc học – nhân học, trong đó các nghiên cứu tập trung vào việc khám phá các xã hội nông dân và đô thị. Văn hóa nông dân, văn hoá thị dân, các trào lưu di dân và đô thị hoá, thế giới đời sống của các nhóm dân cư và giai tầng khác nhau trong xã hội đô thị và công nghiệp, v.v. đã thổi bùng lên niềm đam mê mới. Trong khi khám phá ra cả một chân trời mới để nghiên cứu, các nhà dân tộc học vẫn sử dụng một phương pháp đã trở thành kinh điển của họ là điền dã dân tộc. Họ vẫn bắt đầu công việc của mình bằng cách đi vào các cộng đồng được nghiên cứu (bất kể là nông thôn hay đô thị), ở lại đó trong một khoảng thời gian đủ lâu để hiểu được văn hoá, ngôn ngữ và các kỹ thuật địa phương, quan sát và phân tích chúng. Một mặt, để quên đi cái nhãn hiệu gắn liền với chủ nghĩa thực dân, và mặt khác, để mở rộng hơn nữa các quan tâm khoa học của mình, tên gọi “nhân loại học” giờ đây xem ra có vẻ nhân bản và dễ được chấp nhận hơn. Mặc dù nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới được mở ra, và thậm chí là tên gọi mới được ưa thích hơn thì cái cốt lõi của nhân học văn hoá – xã hội hiện đại vẫn là phương pháp nghiên cứu dựa vào điền dã, mô tả và phân tích dân tộc học (fieldwork, ethnography và ethnology) và quan sát tham gia vẫn được sử dụng như một phương pháp điển hình của khoa học này mặc dù ngày nay, những kỹ năng và kỹ thuật thu thập thông tin mới cho các phân tích nhân học đang ngày càng được bổ xung và hoàn thiện hơn1.  Cũng giống như ở Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa trước đây, ở Việt Nam không có ngành khoa học có tên gọi nhân loại học (anthropology) chung2. Thay vào đó, ở Việt Nam cũng có xu hướng phát triển “các khoa học nhân loại học” (anthropological sciences) một cách riêng rẽ. Ngoài những phân ngành như ngôn ngữ học, khảo cổ học, nhân học hình thái người, cổ nhân loại học, nhân học văn hoá – xã hội thì các môn văn hoá học, văn hoá dân gian và tôn giáo học cũng có thể xếp vào ‘các khoa học nhân loại học’. Dân tộc học ở Việt Nam được xem là tương ứng với lĩnh vực nhân loại học văn hoá – xã hội, mặc dù có ý kiến cho rằng dân tộc học chỉ nhằm vào việc mô tả văn hoá các tộc người và do đó, có thể được xem là một giai đoạn thấp của nhân loại học.  Khoảng từ giữa những năm 1990, Bộ môn Dân tộc học (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) đã đề xuất một kế hoạch đổi mới nghiên cứu và giảng dạy dân tộc học, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cần thiết phải tách dân tộc học ra khỏi sử học thành một bộ môn khoa học độc lập, đồng thời đổi mới hướng tiếp cận bị giới hạn trong khuôn khổ của văn hoá tộc người sang một tầm nhìn rộng hơn của nhân học văn hoá trong đó nhấn mạnh các quan tâm khoa học vào các cộng đồng nông dân, nông thôn, và đô thị cũng như ứng dụng các kiến thức nhân học vào quá trình phát triển cộng đồng. Đề xuất này đã không được Hội đồng khoa học Khoa Lịch sử chấp nhận do khái niệm nhân học còn quá mới mẻ và lúc ấy nhiều người còn chưa hiểu rõ đối tượng nghiên cứu của khoa nhân học cụ thể là gì. Năm 2000, Quỹ Ford tại Hà Nội bắt đầu tài trợ một loạt dự án với kinh phí lên tới hàng tỷ đồng nhằm trợ giúp Việt Nam đổi mới và nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy dân tộc học ở Viện Dân tộc học, ở các bộ môn dân tộc học thuộc ĐHQG Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, và Hội Dân tộc học. Cũng trong năm 2000, Bộ Giáo dục chính thức cung cấp mã ngành cho Nhân học với mã số 523146. Năm 2003, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh chính thức thành lập Khoa Nhân học và năm 2004, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đổi tên Bộ môn Dân tộc học thành Bộ môn Dân tộc học và Nhân học, và năm 2015 cho ra mắt Khoa Nhân học. Mặc dù chưa chính thức được chấp thuận nhưng trong các giao dịch quốc tế, Viện Dân tộc đã dùng tên gọi mới Institute of Anthropology thay vì Ethnology như trước đây.  Như vậy là từ những chuyển động đầu tiên đầy khó khăn ở Khoa Sử Đại học Quốc gia Hà Nội, một thập kỷ sau người ta đã thấy cả hệ thống nghiên cứu và đào tạo dân tộc học Việt Nam đang chuyển nhanh hơn về hướng nhân học văn hoá – xã hội, mặc dù chưa thấy có những thảo luận công khai và rộng rãi nhằm thay đổi hay bảo lưu quan niệm, nội dung nghiên cứu và lý luận khoa học. Phản ứng của các nhà nghiên cứu và quản lý khoa học trong nước về những đổi thay này rất khác nhau. Có những ý kiến hoan nghênh việc tách dân tộc học ra khỏi cơ cấu của khoa học lịch sử để tạo điều kiện cho dân tộc học phát triển thành một ngành riêng. Cũng có ý kiến dứt khoát không muốn đổi dân tộc học thành nhân học vì cho rằng đây là hai khoa học khác nhau trong khi có ý kiến lại cho rằng không nên thay đổi ngành học khi mà chưa hiểu kỹ nó là cái gì, nhất là khi sự thay đổi ấy lại nhận được viện trợ của nước ngoài.   Cho đến nay, sau khi nhân học được nhà nước công nhận và đưa vào chương trình đào tạo và nghiên cứu, một số nhà dân tộc học vẫn đang còn băn khoăn về mối quan hệ giữa dân tộc học và nhân học, và chưa thực sự hiểu khái niệm nhân học với tư cách là một khoa học. Điều đáng ngạc nhiên là, ngoài nỗ lực của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu riêng lẻ hoặc quan tâm của cá nhân các nhà khoa học ra, không thấy có sự tham gia của các cơ quan quản lý khoa học tầm quốc gia cũng như các bộ, ngành liên quan. Dường như các cơ quan có trách nhiệm vẫn đang đứng ngoài cuộc, không thấy họ có ý kiến, cũng không đứng ra tổ chức các cuộc hội thảo thực sự khoa học và dân chủ để tìm hiểu xem thực chất của xu hướng đổi mới này là gì, tại sao phải thay đổi và có cần sự hỗ trợ từ nhà nước hay không. Tác động của những đề xuất thay đổi như vậy rõ ràng chỉ có tính chất cục bộ, cầm chừng, không triệt để và còn đầy e ngại.   Thực ra, xu thế và yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu và đào tạo dân tộc học ở Việt Nam những năm qua sang hướng tiếp cận nhân loại học không phải là một ngoại lệ mà nó nằm trong một xu thế phổ biến ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa cũ bao gồm Nga và các nước Đông Âu. Đặc biệt, từ khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách xã hội cuối những năm 1970, người ta thấy nhiều trường đại học ở Nam Trung Quốc đã đi tiên phong trong việc đổi mới dân tộc học sang hướng tiếp cận nhân loại học.3  Cũng giống như Việt Nam, trước khi giành được độc lập dân tộc, nhiều trường đại học ở Trung Quốc như Nakai University of Tianjin hay Academia Sinica Bắc Kinh đã có bộ môn nhân học theo mô hình phương Tây. Khi Trung Quốc bắt đầu đổi mới nền kinh tế 1978, người ta thấy các bộ môn nhân loại học (releixue) lần lượt ra đời ở các trường đại học lớn như Trung Sơn (Zhongshan) ở Quảng Châu năm 1980, Đại học Hạ Môn (Xiamen) ở Phúc Kiến năm 1984, và Đại học Vân Nam (Yunnan) năm 1994. Đáng lưu ý là những trường đại học đi tiên phong trong việc xây dựng ngành nhân loại học theo mô hình Âu – Mỹ chủ yếu bắt đầu từ miền Nam Trung Quốc, nơi những năng động kinh tế – xã hội đang thổi bùng lên ngọn lửa cải cách kinh tế và xã hội ở Trung Quốc đại lục. Tại các trường đại học trên, chương trình giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành nhân loại học hoàn toàn tương đương như ở các bộ môn nhân loại học Mỹ và phương Tây với bốn lĩnh vực là nhân học ngôn ngữ, nhân học văn hoá, nhân học hình thái người và khảo cổ học. Gần đây, bộ môn nhân học ứng dụng bắt đầu được giảng dạy trong đó tập trung vào tình trạng đói nghèo ở khu vực nông thôn và thành thị. Năm 1986, Đại học Trung Sơn đã lần đầu tiên cấp bằng tiến sỹ nhân học theo mô hình đào tạo mới. Cho đến nay, ngoài các trường đại học nói trên, các viện nghiên cứu ở Trung Quốc cũng có xu hướng đổi sang nhân học văn hoá như Viện Xã hội học và Nhân học (Institute of Sociology & Anthropology (2000) ở Đại học Bắc Kinh; Viện Dân tộc học và Nhân học (Institute of Ethnology & Anthropology (2002) thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS), Bắc Kinh; Trung tâm Nghiên cứu Nhân học Văn hoá – Xã hội (Research Centre for Socio-Cultural Anthropology (1994) thuộc Học viện Dân tộc Trung ương Bắc Kinh; Viện Nhân học Văn hoá (Institute of Cultural Anthropology (1999) thuộc Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, v.v.   Lý giải nguyên nhân về sự cần thiết phải đổi mới nghiên cứu dân tộc học và xác lập tiếp cận nhân học ở Trung Quốc, GS Liang Zhaotao ở ĐH Trung Sơn, Quảng Châu, người đã phát động cuộc đấu tranh để xác lập ngành nhân học ở Trung Quốc từ năm 1978 đến nay đã chỉ rõ: “Tất cả các nước trên thế giới đều có môn khoa học này (releixue), tại sao chúng ta lại không có? Chúng ta có một nền văn hoá sáng lạn, và một dân số lớn. Hãy để cho khoa nhân loại học đóng góp vào công cuộc bốn hiện đại hoá của chúng ta” (Guldin 1994:12).   Do nhận thức được tầm quan trọng và vai trò to lớn của nhân học văn hoá xã hội, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức hậu thuẫn sự khôi phục và phát triển của ngành học này bằng cách cho dịch, xuất bản và lưu hành các tài liệu nhân học văn hoá xã hội kinh điển của phương Tây làm tài liệu tham khảo. Chính phủ Trung Quốc cũng thành lập Uỷ ban Quốc gia để xin chính thức đăng cai Đại hội Quốc tế lần thứ 16 của Liên hiệp hội các Khoa học Dân tộc học và Nhân học quốc tế tại Vân Nam vào năm 2009. Đại hội này đã đánh dấu một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên hội nhập khoa học của nhân học văn hoá – xã hội Trung Quốc vào dòng chảy chung của các khoa học nhân học thế giới.  Khảo sát các bộ môn nhân học văn hoá và xã hội ở các trường đại học tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, chúng ta cũng thấy rằng hầu hết các bộ môn hay viện nghiên cứu có tên gọi “cultural/social anthropology” đều mới được lập ra sau năm 1990. Thực ra, thuật ngữ social and cultural anthropology đã được sử dụng rộng rãi ở các nước Trung và Đông Âu từ trước 1990. Tuy nhiên, nhân học văn hoá xã hội cho đến những năm 1990 chỉ được xem là các bài giảng ngoại khoá trong bộ môn dân tộc học mà thôi. Từ sau năm 1990, các nhà dân tộc học đã tự xem mình là các nhà nhân học văn hoá xã hội, trong khi các bộ môn dân tộc học hoặc giải thể để lập ra các bộ môn nhân học văn hoá xã hội hoặc thêm vào tên gọi dân tộc học một thuật ngữ đi kèm là nhân học. Vesna Godina ở trường Đại học Ljublian (Slovenia) đã khảo sát quá trình thể chế hoá các cơ quan nghiên cứu và đào tạo nhân học văn hoá – xã hội ở các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa cũ và cho rằng quá trình xuất hiện của ngành nhân học văn hoá – xã hội ở các nước Liên Xô cũ và Đông Âu chỉ rộ lên từ sau 1990, và theo ba phương thức chủ yếu như sau: 1) Thành lập mới các bộ môn hay viện nghiên cứu về nhân học văn hoá – xã hội; 2) Chuyển hoá các bộ môn hoặc viện dân tộc học thành bộ môn nhân loại học văn hoá xã hội; 3) Vẫn duy trì tên gọi dân tộc học (ethnology) nhưng thêm vào sau đó thuật ngữ nhân học (anthropology).   Vấn đề được đặt ra là tại sao ở các nước nói trên lại hình thành một trào lưu đổi mới dân tộc học hoặc chuyển đổi từ dân tộc học sang nhân học? Rõ ràng những thay đổi về thể chế và những cải cách kinh tế – xã hội ở các nước này thời kỳ hậu chủ nghĩa xã hội đã đặt các khoa học xã hội và nhân văn trước sự lựa chọn sống còn: Đổi mới để phát triển hay duy trì như cũ và mai một. Quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hoá khoa học cũng trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, ngoài các lý do đó ra, cũng có khuynh hướng cho rằng thuật ngữ ethnography, về cơ bản vẫn chỉ có ý nghĩa là một khoa học mô tả văn hoá tộc người mà thôi, tức là ở giai đoạn thấp hơn của nghiên cứu nhân học. Mặt khác, tên gọi dân tộc học thường gợi lại không chỉ mối liên hệ của nó với chủ nghĩa thực dân mà còn với cả truyền thống xã hội chủ nghĩa cũ. Thay đổi khái niệm dân tộc học sang nhân học văn hoá-xã hội cũng có ngụ ý bày tỏ mong muốn đoạn tuyệt với các truyền thống cũ. Thay đổi từ dân tộc học sang nhân học do đó được xem là một giải pháp khả dĩ đáp ứng cả yêu cầu đổi mới khoa học, hội nhập quốc tế, và những thay đổi chính trị trong khoa học.  ——-  *PGS. TS, Chủ nhiệm Bộ môn Nhân học phát triển, Khoa Nhân học, trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia HN.  1 Đây là cơ sở để Từ điển về các khoa học nhân văn định nghĩa rằng “nhân loại học là môn học sử dụng tư liệu dân tộc học để khám phá các nguyên tắc của tổ chức xã hội, của chính chúng ta, cũng như của các xã hội truyền thống và cổ xưa” (Sylvie Mesure & Patrick Savidan, 2006) .     2 Quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng nhân loại học là một khoa học rất rộng, bao gồm nhiều phân ngành nghiên cứu về con người và văn hoá nói chung, trong đó có các lĩnh vực ngôn ngữ học, khảo cổ học, nhân loại học hình thể người, nhân loại học văn hoá-xã hội và nhân loại học ứng dụng.  3 Thông tin về tình hình dân tộc học – nhân học ở Trung Quốc được trình bày chi tiết trong các nghiên cứu của  G.E. Guldin (ed.), Anthropology in China. Armond: M.E Sharpe, Inc., 1992; và The Saga of Anthropology in China. From Malinowski to Moscow to Mao.  Armond: M.E. Sharpe, Inc., 1994); J. Smart (2005). Insearch of Anthropology in China: A Discpline Caught in the web of Nation Building Agenda, Socialist Capitalism, and Globalisation. From: Wane – Journal news; http://www.ram-wan.org/html/documents.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dân tộc học số: Một không gian vô hạn cho dữ liệu dân tộc học      Dân tộc học số (còn gọi là  Nhân học số) là một nhánh của ngành Dân tộc học – nhân học, mới được phát triển trong những năm gần đây. Khác với dân tộc học truyền thống – người nghiên cứu là nhà sản xuất tri thức duy nhất, người dân chỉ là người sử dụng thì dân tộc học số đã xoá đi ranh giới giữa người nghiên cứu và người dân trong việc sản xuất thông tin; đồng thời tạo ra một nguồn dữ liệu mở về dân tộc học vô cùng phong phú mà không nhà nghiên cứu nào có thể thực hiện được.      Một người phụ nữ Dao đứng cạnh bức ảnh giới thiệu kết quả nghiên cứu do một nhóm những người phụ nữ dân tộc thiểu số thực hiện trong dự án đồng nghiên cứu của viện ISEE. Nguồn ảnh: ISEE.  Người dân trở thành đồng tác giả nghiên cứu  Ít có ai ở tuổi 80 lại tham gia vào “đời sống số” bằng cách dùng facebook, đọc ebook thường xuyên như bà Miwa Roi, một người Kachin (tộc người thiểu số ở Myanmar) di cư từ Myanmar tới Singapore. Từ năm 2012, bà cũng thường xuyên ghi âm kể chuyện đời, chụp ảnh để con gái chia sẻ trên mạng xã hội về cuộc sống của bà. Và những chia sẻ đó đã được in thành sách, trở thành niềm cảm hứng kêu gọi những người Kachin khác tham gia vào một dự án dân tộc học số nhằm xây dựng và chia sẻ dữ liệu về cộng đồng người Kachin. Khác với những chủ thể văn hóa khác được/ bị nghiên cứu bởi các nhà dân tộc học đến từ những nền văn hóa khác, bà Miwa Roi và những người Kachin khác đang trở thành đồng tác giả trong nghiên cứu về người Kachin và đang mở ra một chương mới trong nghiên cứu về người Kachin và nghiên cứu dân tộc học nói chung.  Trong ngành dân tộc học, câu chuyện cuộc đời gần như là thứ duy nhất mà các nhà nghiên cứu tìm kiếm khi thiết kế các chương trình điền dã, từ đó, họ xây dựng các bài viết, báo cáo phân tích về nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống của cộng đồng tộc người. Toàn bộ quá trình thiết kế nghiên cứu và phân tích đó (dưới các khía cạnh lý thuyết, khung quy chiếu nào đó) là “độc quyền” của nhà nghiên cứu, hay nói cách khác, mặc dù người dân là người “kể chuyện” – đóng góp nguyên liệu để xây dựng các báo cáo về chính mình, nhưng lại hầu như không biết chính xác hình ảnh của mình trong các báo cáo dân tộc học.  Cho đến gần đây, dân tộc học số ra đời và về cơ bản đã xoá đi ranh giới giữa người nghiên cứu và người dân trong việc sản xuất thông tin. Nếu trước đây, người nghiên cứu là nhà sản xuất tri thức duy nhất – producer, người dân chỉ là người sử dụng – user, thì nay có một khái niệm mới mà các nhà dân tộc học đưa ra là produser (vừa sản xuất, vừa sử dụng thông tin), theo TS. Stan BH Tan – Tangbau, ĐH Quốc gia Singapore*, chủ nhiệm dự án dân tộc học số “Các câu chuyện cuộc đời như là một sự tăng quyền: Câu chuyện cuộc đời của người Kachin” (Số 24682009 do quỹ Japan Society for Promotion of Science KAKENHI tài trợ từ năm 2009). “Phương pháp này đã ‘trao quyền’ cho người dân kể chuyện về những trải nghiệm hoàn toàn có tính cá nhân một cách rất sâu sắc (bạn nên hiểu rằng, khi người dân đã lựa chọn để kể ra chuyện gì thì đó là những vấn đề của đời sống, họ đã bị ám ảnh bởi điều đó). Theo lý thuyết hậu hiện đại trong nghiên cứu KHXH, thì chính các câu chuyện đó tự nó nói lên vấn đề chứ không cần ai phải phân tích, bởi vì anh có thể giải thích theo quan điểm của anh, cái nhìn của anh chứ không phải của người trong cuộc”, PGS.TS Nguyễn Văn Chính, ĐH KHXH&NV Hà Nội, người không tham gia nghiên cứu trên đánh giá về phương pháp nghiên cứu mới mẻ này.  Dự án nghiên cứu dự án dân tộc học số đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á trên do TS Stan thực hiện là một minh họa rất rõ cho việc dân tộc học số đã thay đổi ngành học này như thế nào. Cụ thể, dự án này đã tạo ra một cơ sở dữ liệu dân tộc học số về người Kachin được phát triển bởi chính người Kachin, là một “cánh cổng” cho phép người Kachin xây dựng các tài liệu về đời sống của cộng đồng tộc người dưới dạng văn bản và siêu văn bản, sau đó chia sẻ trên các hệ thống mạng xã hội chính (SNS) và các nền tảng điện tử (eBooks) với Hashtag #kachinlifestories. Cho đến nay, có hàng nghìn người Kachin giống như bà Miwa Roi ở khắp Myanmar và khu vực Đông Nam Á đã tiếp cận và tham gia vào dự án này: ghi chép, quay video, chụp ảnh … kể chuyện về đời sống của mình.  Kết quả là, sau 7 năm thực hiện dự án, cho đến hiện nay, có khoảng 30.000 câu chuyện cuộc đời qua ảnh video, ghi âm và văn bản đã được chính người Kachin xây dựng, đăng tải và đây trở thành nguồn tư liệu phong phú nhất từ trước đến nay về văn hoá, lối sống của người Kachin. Và điều quan trọng hơn cả là những tri thức về tộc người Kachin được sản xuất ra là “trực tiếp”, không có lăng kính phân tích của nhà khoa học đằng sau những câu chuyện đó (còn sau đó, nhà nghiên cứu phân tích những câu chuyện đó như thế nào là… việc của nhà nghiên cứu, và phương pháp này cũng không phủ nhận việc nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục đến thực địa ở cùng người dân theo cách thức truyền thống).  Dữ liệu “mở” và “sống”  Toàn bộ nguồn tư liệu do cộng đồng người Kachin tạo ra này không thuộc sở hữu của duy nhất nhà nghiên cứu, mà thuộc sở hữu của cộng đồng tộc người tham gia dự án và của chính người Kachin ở bất kỳ nơi đâu – khi họ cũng muốn tìm hiểu về truyền thống dân tộc và thậm chí muốn đóng góp nguồn tư liệu của chính mình vào nguồn tài nguyên chung về truyền thống dân tộc Kachin. Điều quan trọng hơn cả, là dự án đã tạo ra một nguồn dữ liệu mở, được cập nhật liên tục bởi người Kachin. Bằng phương pháp tiếp cận mới này, dân tộc học số chính là dân tộc học sống – tiếp tục diễn ra, xoay quanh, vận động, cập nhật với sự biến đổi xã hội, biến động của người dân. Ví dụ, khi bà Miwa Roi chia sẻ câu chuyện cuộc đời mình, từ những ngày thơ bé ở Myanmar, cho đến cuộc sống hiện tại hay hàng loạt các tri thức bản địa trong chăm sóc bà mẹ trẻ em của người Kachin, đã được rất nhiều người Kachin khác chia sẻ, thảo luận và tiếp tục đóng góp thêm thông tin.  Nhìn chung, phương pháp này đã hướng đến các khả năng to lớn khi chúng ta tích hợp các công cụ và phương pháp luận kĩ thuật số nhằm tạo ra các dự án cộng đồng có tính toàn diện, tăng tính tham gia và tăng quyền hơn. “Tôi còn nhớ mãi, một người Kachin đã nói với tôi rằng: ‘Khi anh giới thiệu về dự án này, thì dường như anh đã giao cho tôi một cái bút mới và tờ giấy trắng vô hạn, tức là mỗi người Kachin đã có một cái bút mới, cứ viết, cứ vẽ riêng câu chuyện của mình, cuối cùng hình thành bức tranh vô hạn về dân tộc Kachin” TS. Stan nói.  Vậy trong dân tộc học số, vai trò của nhà dân tộc học là gì? Về cơ bản, nhiệm vụ của nhà khoa học lúc này là phải giúp “khoa học hóa” cách người dân xây dựng dữ liệu. Cụ thể là hướng dẫn người dân cách lựa chọn chủ đề để xây dựng thành tư liệu dân tộc học, cách thức viết tư liệu, cách quay phim, chụp ảnh, sử dụng các thiết bị kỹ thuật số để đăng tải các tư liệu đó lên mạng xã hội, theo TS. Stan. “Những điều tưởng chừng đơn giản nhất lại khó khăn nhất, như chọn chủ đề nào để làm tư liệu? Đa phần người Kachin và nhiều tộc người khác đều nghĩ phải có lễ hội mới ghi chép lại hoặc quay phim để làm tư liệu về tộc người mình, nhưng trên thực tế, cuộc sống thường ngày là những điều vô cùng quan trọng. Ví dụ người ta nghĩ những chuyến di cư từ nơi này sang nơi khác của họ không quan trọng, nhưng đối với chúng tôi, đó lại là chìa khóa để hiểu được tính di động, ảnh hưởng, giao lưu văn hóa giữa người Kachin với những tộc người khác, vùng đất khác”, TS. Stan nói.  Tiềm năng ứng dụng ở Việt Nam  Dân tộc học số đã xuất hiện ở Việt Nam dưới những hình thức căn bản nhất, khởi đầu với một số dự án nghiên cứu sử dụng phương pháp Photovoice của UNESCO kết hợp với Bảo tàng dân tộc học và một số cơ quan nghiên cứu văn hóa khác ở Việt Nam từ năm 2007. Photovoice là phương pháp trao máy ảnh cho người dân, đồng thời trao quyền cho chính các chủ thể văn hóa, tạo cho họ cơ hội để kể những câu chuyện của mình và có tiếng nói của mình. Sản phẩm của những dự án này sẽ là hàng nghìn bức ảnh, thước phim do chính người dân thực hiện dưới sự hướng dẫn của các nhà nghiên cứu dân tộc học. Kết quả nghiên cứu không chỉ được thể hiện trong các báo cáo khoa học của các nhà khoa học, mà thường được tổ chức thành các triển lãm nhằm đưa thông tin kết quả nghiên cứu đến công chúng và quay trở lại phục vụ chính cộng đồng nơi đã sản xuất ra các tư liệu photovoice đó. Gần đây, Viện Nghiên cứu kinh tế, xã hội và môi trường (ISEE), không chỉ áp dụng phương pháp photovoice mà còn áp dụng hình thức “đồng nghiên cứu” (co-researcher) để người dân cùng tham gia vào các nghiên cứu với tư cách là người tổ chức, thiết kế nghiên cứu về các chủ đề liên quan tới đời sống tộc người.  Đánh giá về tiềm năng áp dụng dân tộc học số cũng như khả năng sử dụng phương pháp này ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Chính cho biết: “Người Việt Nam thường không nhìn nhận ra vai trò của phương pháp này, nhưng phương pháp này mang lại là một thứ tiếng nói (voice) của chủ thể văn hóa, chứ không phải thông qua sự phân tích của một người khác, bằng cái đầu của người khác, từ một nền văn hóa khác. Khi áp dụng, phương pháp này sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong dân tộc học (chứ không phải chỉ là cách mạng trong tạo ra và lưu trữ một nguồn tư liệu khổng lồ về dân tộc học) về việc làm thay đổi hẳn khái niệm người sử dụng và người sản xuất tri thức dân tộc học. Và bản thân người dân – người viết ra thông tin đó cũng không viết ra cho nhà nghiên cứu đọc, mà viết ra để họ hiểu về chính văn hóa của họ, để nhằm hiểu về chính họ. Mặt khác, phương pháp này cũng tạo điều kiện cho những nghiên cứu ở những khu vực mà nhà khoa học không hoặc rất khó tiếp cận được. Như đối với vùng sâu vùng xa hoặc những nhóm người bị phân biệt đối xử, thì nhà khoa học vẫn có mối tương tác với người được nghiên cứu, để người được nghiên cứu nói lên câu chuyện của mình, vấn đề của mình. Đó là những thông tin không có biên giới, không ai có thể kiểm soát được, bằng bất kỳ ảnh hưởng vũ lực hoặc chính trị nào”.    ———  * Hiện nay, TS. Stan là Điều phối viên tại Hà Nội của ĐH RMIT Việt Nam.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Dân tộc và dân tộc Việt Nam: từ Stalin đến Đào Duy Anh      Lời tòa soạn: Cuộc tranh luận về nguồn gốc người Việt dấy lên gần đây với rất nhiều ý kiến trái chiều về tính “ngoại lai” hoặc “tính bản địa” của người Kinh/ Việt đã đặt ra yêu cầu phải đi truy nguyên lại ngọn nguồn vấn đề này đã được đặt ra như thế nào trong lịch sử. Trong hai số báo trước, Tia Sáng đã đăng tải lược sử vấn đề nguồn gốc người Việt dưới con mắt các sử gia Nho giáo, sử gia thời kỳ Pháp thuộc, để qua đó thấy rõ “khái niệm Việt”, “nguồn gốc Việt” là được kiến tạo và biến thiên qua các thời kỳ, chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng thời đại, tính chính trị, tương tác văn hóa. Mặt khác, các nhà KHXH cũng khẳng định quan điểm về việc cần minh định khái niệm “Việt” cũng như có cái nhìn khách quan, tránh hạn hẹp và cực đoan khi tìm về nguồn gốc người Kinh/ Việt. Trong số báo này, Tia Sáng đăng kỳ cuối lược sử vấn đề nguồn gốc người Việt của TS Trần Trọng Dương, cho thấy sự ảnh hưởng các tư tưởng Marxist, chủ nghĩa yêu nước, dân tộc lên vấn đề này. Bên cạnh đó, tác giả Vũ Đức Liêm cũng cho thấy một lát cắt thời đại – hình dung các tộc người sinh sống ở Việt Nam thời Nguyễn, như một minh chứng cần thiết cho quá trình “biến thiên” các khái niệm về người Việt so với cách hiểu của chúng ta ngày nay.      Đào Duy Anh xác định dân tộc Việt Nam có thể đã hình thành từ thời Lê (thế kỷ XV). Trong ảnh: Tranh tả rùa thần ngậm gươm báu của Lê lợi trên tường cổng vào Đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.   Phác thảo bức tranh tổng thể   Sau năm 1945, bước vào thời kỳ độc lập, các sử gia thời thuộc địa như Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh,… trở thành những người nằm trong bộ máy hành chính nhà nước, phục vụ cách mạng và cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Lúc này chủ nghĩa dân tộc đã chính thức xuất hiện đĩnh đạc. Chuyển sang Marxist là sự chuyển đổi hệ hình tư tưởng quan trọng trong các tác phẩm sử chí giai đoạn này.   Đặc điểm nổi bật và thành quả nổi bật của giai đoạn này là sự áp dụng khái niệm “dân tộc” của Stalin trong nghiên cứu về thời điểm hình thành “dân tộc Việt Nam” (khái niệm này trùng vỏ ngôn từ với đề xuất lần đầu của Trần Trọng Kim). Vỏ cũ nhưng nội hàm mới vì hệ tư tưởng mới! Các học giả đều nhắc lại định nghĩa của Stalin cho rằng: dân tộc là một cộng đồng thể người ổn định, có một tiếng nói chung, một địa vực chung, một sinh hoạt kinh tế chung, cùng một trạng thái tinh thần chung biểu hiện trong một nền văn hóa chung. Hay K. Marx: “dân tộc là sản vật tất nhiên và hình thức tất nhiên của thời đại phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa”. Dựa trên tiêu chí 4 cùng của Stalin, các giải thuyết khác nhau về thời điểm hình thành “dân tộc Việt Nam” được xác lập. Năm 1955, Nguyễn Lương Bích cho là thời đại Lý Trần. Còn Trần Huy Liệu cho là thời Tây Sơn. Năm 1956, Hoàng Xuân Nhị cho rằng niên đại chính xác phải là 1930, với Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1957, Minh Tranh ủng hộ Trần Huy Liệu. Năm 1957, Đào Duy Anh cho là vào thời Lê sơ (thế kỷ XV). Các giả thuyết này đều là bài báo khoa học công bố trên Tập san Văn Sử Địa, và Tập san Đại học Sư Phạm. Phải đến Đào Duy Anh, vấn đề này mới được thảo luận thành chuyên luận.  Đối diện với vấn đề “nguồn gốc người Việt”, Đào Duy Anh đã có hai tác phẩm quan trọng, đó là “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” (1950) và “Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam” (1957). Trong cuốn sách đầu tiên, Đào Duy Anh khảo sát quá trình phôi thai của dân tộc Việt Nam qua các tư liệu Hán văn và cho rằng, Việt tộc là một dân tộc cổ xưa ở Nam Dương Tử, đối lập với Hán tộc. Do sức ép của Hán tộc, mà Việt tộc dần dần bị đẩy về phương nam, và chỉ còn sót lại nhóm người Lạc Việt. Người Lạc Việt ở Bắc Kỳ đã thoát khỏi nạn tiêu diệt và đồng hóa. Họ đã hun đúc cho mình cái mầm mống của tinh thần dân tộc trong quá trình hợp sức với người Tây Việt chống lại quân đội nhà Tần. Sau đó Lạc Việt lần lượt bị Tây Thục, rồi Tây Hán đô hộ. Trải qua nhìn năm đấu tranh với người Hán ở thời Bắc thuộc, tinh thần dân tộc ấy được tôi luyện để đến thế kỷ X nó đã khiến dân tộc Việt Nam đấu tranh để thoát khỏi ách đô hộ của người phương Bắc.  Trong cuốn sách thứ hai, “Sự hình thành dân tộc Việt Nam”, Đào Duy Anh đã áp dụng có sáng tạo những nguyên tắc của chủ nghĩa Marx- Lenin vào nghiên cứu sự hình thành của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa Marx- Lenin-Stalin cho rằng “dân tộc” là một sản phẩm của tư bản chủ nghĩa, chỉ có thể tồn tại trên cơ sở quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa thời cận đại, chứ không thể có một dân tộc trong thời đại phong kiến. Sự vận động dân tộc nhằm hướng đến thành lập Nhà nước dân tộc. Muốn có một nhà nước dân tộc thì cần phải có tiếng nói thống nhất, lãnh thổ thống nhất, thị trường thống nhất. Đào Duy Anh tổng kết ý kiến của Stalin cho rằng: “dân tộc là một cộng đồng thể người ổn định, có một tiếng nói chung, một địa vực chung, một sinh hoạt kinh tế chung, cùng một trạng thái tinh thần chung biểu hiện trong một nền văn hóa chung”. Nhưng ông cũng nhắc rằng, Stalin có nói rằng “trên thế giới có đủ các loại dân tộc” trong tác phẩm “Vấn đề dân tộc với chủ nghĩa Lenin”. Nghĩa là “dân tộc” là một khái niệm rộng, chứ không hoàn toàn chỉ theo nghĩa hẹp là “dân tộc tư sản”.       Vận dụng một cách uyển chuyển và sáng tạo tư tưởng của các nhà Marxist về vấn đề dân tộc, hai chuyên luận của Đào Duy Anh đã phác thảo nên một bức tranh tổng thể về nguồn gốc dân tộc và quá trình hình thành dân tộc Việt Nam, ông là người đầu tiên đã nối liền lịch sử Việt Nam với lịch sử Lạc Việt trong khung lý thuyết về dân tộc – giai cấp của chủ nghĩa Marx-Lenin. Về mặt lý thuyết, ông xác định dân tộc Việt Nam có khả năng xuất hiện vào thời Lê sơ (thế kỷ XV) với tính chất là một dân tộc tiền tư bản (khái niệm mới do ông đề xuất, lưu ý ông từ chối sử dụng khái niệm dân tộc phong kiến) Tiền thân của dân tộc Việt Nam được cho là người Lạc Việt- Âu Lạc-Việt Thường-Giao Chỉ. Căn tính của dân tộc Việt Nam chính là truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm, có từ thời Lạc Việt, trải qua ngàn năm bắc thuộc, đến thời Lý-Trần- Lê.      Dựa trên 4 tiêu chí chung của Stalin, Đào Duy Anh cho rằng: tiếng của người Việt Nam đã có nguồn gốc từ thứ tiếng của người Lạc Việt. Trong thời Bắc thuộc, tiếng Lạc Việt là tiếng nói chung của bộ tộc. Đến thời độc lập tự chủ (từ thế kỷ X), và nhất là với sự hình thành chữ Nôm thời Lý-Trần, tiếng Việt Nam đã trở thành tiếng nói thống nhất cho cả nước và các tầng lớp nhân dân. Mặt khác chữ Hán khi ấy là thứ văn tự dùng cho cả quý tộc, quan lại và các tầng lớp nhân dân. Về địa vực, thì nước Âu Lạc trải từ Đèo Ngang lên đến phía nam Quảng Tây và Quảng Đông. Trải qua 1000 năm bắc thuộc, dân Âu Lạc vẫn luôn đấu tranh giành lại lãnh thổ. Phải đến thế kỷ X, các nhà Khúc- Dương- Ngô- Đinh- Tiền Lê đã thay nhau giành lại đất cũ. Đến triều Lý triều Trần đã thống nhất lãnh thổ của tất cả các bộ lạc Lạc Việt xưa. Về đời sống kinh tế, dưới thời bắc thuộc, chưa thể có thị trường chung, trung tâm kinh tế chung, nhưng kinh tế giữa các châu quân vẫn được liên lạc thông qua mạng lưới giao thông đường thủy. Các kết nối kinh tế giữa miền núi và miền đồng bằng, giữa Bắc Bộ và Thanh Nghệ vẫn diễn ra. Đời sống kinh tế này sẽ phát triển mạnh mẽ hơn vào thời độc lập tự chủ từ thế kỷ X đến đời Trần đời Lê sơ, với trung tâm kinh tế Thăng Long, và từ Thăng Long tỏa đi các nơi thù Bắc Bộ đến Thuận Hóa. Khi đã có một ngôn ngữ chung, trên một lãnh thổ chung, nền kinh tế chung, thì những người Việt Nam cuối đời Trần đầu đời Lê sẽ có những tình cảm chung và tâm lý chung. Nền văn hóa chung ấy đặc biệt nổi bật bởi tinh thần độc lập bất khuất, tiếp nối từ các cuộc kháng chiến của người Lạc Việt chống quân Tần từ thế kỷ III SCN. Điều này chứng tỏ, tổ tiên người Việt đã có ý thức dân tộc mạnh mẽ. Với việc áp dụng 4 tiêu chí của Stalin, ông kết luận rằng, dân tộc Việt Nam có thể đã thành hình ở thời Lê (thế kỷ XV) ngay trong thời kỳ phong kiến tập quyền, dưới khuôn khổ của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, mà không cần chờ khi chủ nghĩa tư bản đánh đổ hẳn chế độ phong kiến.   Vận dụng một cách uyển chuyển và sáng tạo tư tưởng của các nhà Marxist về vấn đề dân tộc, hai chuyên luận của Đào Duy Anh đã phác thảo nên một bức tranh tổng thể về nguồn gốc dân tộc và quá trình hình thành dân tộc Việt Nam, ông là người đầu tiên đã nối liền lịch sử Việt Nam với lịch sử Lạc Việt trong khung lý thuyết về dân tộc – giai cấp của chủ nghĩa Marx-Lenin. Tất cả các tiền thân của người Việt Nam, cùng các dạng thức nhà nước tương ứng đã được Đào Duy Anh mô tả một cách có hệ thống theo bốn tiêu chí do Stalin đặt ra. Về mặt lý thuyết, ông xác định dân tộc Việt Nam có khả năng xuất hiện vào thời Lê sơ (thế kỷ XV) với tính chất là một dân tộc tiền tư bản (khái niệm mới do ông đề xuất, lưu ý ông từ chối sử dụng khái niệm dân tộc phong kiến) Tiền thân của dân tộc Việt Nam được cho là người Lạc Việt- Âu Lạc-Việt Thường-Giao Chỉ. Căn tính của dân tộc Việt Nam chính là truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm, có từ thời Lạc Việt, trải qua ngàn năm bắc thuộc, đến thời Lý-Trần- Lê.     Cuốn sách về thời kỳ Hùng vương dựng nước, do NXB KHXH in năm 1974.  Thống nhất hóa lịch sử   Nếu như, Ngô Sĩ Liên với lý thuyết về nền chính trị huyết thống-gia tộc của Nho giáo, đã nối liền lịch sử của triều đại Lê sơ lên đến thời Hồng Bàng và Thần Nông, thì Đào Duy Anh với lý thuyết về dân tộc của Marxist, đã kết nối lịch sử Việt Nam thành một mạch thống nhất hơn 4000 năm từ Giao Chỉ đến Việt Nam hiện đại (giữa thế kỷ XX). Dĩ nhiên, Đào Duy Anh đã từ chối nguồn gốc Hán (Thần Nông) của Nho giáo, ông dùng khái niệm “Việt tộc” (tương đương với khái niệm cũ “Bách Việt” trong Bắc sử) đối lập với “Hán tộc”. Ông cũng không sử dụng các kết quả của các học giả thời thực dân. Song, cả ba quan điểm này đều có điểm chung là xác nhận người Việt Nam là hậu duệ của những dân tộc di cư từ phương bắc (khu vực từ phía nam sông Dương tử).   Việc sử dụng khái niệm “dân tộc Việt Nam” và cách tự xưng “dân tộc ta” cho thấy Đào Duy Anh thực hiện cách thức xây dựng một biểu tượng chung cho rất nhiều nhóm người có nguồn gốc khác nhau sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là thế phát ngôn của một người Kinh (người Việt, một người đồng bằng Bắc Bộ) muốn thống nhất hóa lịch sử và nguồn gốc lịch sử. Cách phát ngôn này không khác so với “ngã Việt quốc” của Ngô Sĩ Liên. Không chỉ có thế, Đào Duy Anh đã đặt một phương trình quan trọng về nguồn gốc {dân tộc ta = dân tộc Việt Nam (thế kỷ XX là dân tộc xã hội chủ nghĩa) < dân tộc Việt Nam (thế kỷ XV- XIX: dân tộc tiền tư bản) < người Lạc Việt < người Âu Lạc < người Việt Thường < người Giao Chỉ}. Đây là một nỗ lực áp dụng lý thuyết Marx-Lenin và tư tưởng Stalin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó cho thấy, các nhà ái quốc đã dùng ngôn ngữ để phục sinh quá khứ từ đó hình dung về tình đồng bào và cùng nhau mơ về một tương lai tươi sáng.1 Như vậy, ta cũng thấy sự  các mảnh vỡ từ dòng sử chí Nho giáo, thuyết di cư, thuyết tiến hóa xã hội trong giai đoạn trước (xin đọc lại 2 kỳ trước trên Tia Sáng số 15 và 16 năm 2019) cũng đồng hành vớiquyền lực của hệ tư tưởng mới đang lãnh đạo xã hội trong bối cảnh mới.  Truyền thống mấy nghìn năm?   Nghiên cứu của Đào Duy Anh (1950) chỉ đặt Hùng Vương- Lạc Long Quân- Kinh Dương Vương- Thần Nông vào “nguồn gốc truyền kỳ”, việc sử dụng khái niệm “truyền kỳ” cho thấy ông muốn đặt nó vào phạm vi văn học. Nhưng sau ông, từ những năm 1960 trở lại đây, Hùng vương đã đang trở thành một biểu tượng quan trọng bậc nhất về nguồn gốc dân tộc ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu về việc hình thành dân tộc Việt Nam vào thời Lê sơ của Đào Duy Anh theo tư tưởng Stalin không còn được nhắc đến nữa..Ta biết, ngày 19-09-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Người đã có một câu nói bất hủ: “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong những năm 1960-1970, giới khoa học ở Việt Nam đã thực hiện một số dự án khoa học để chứng minh sự tồn tại của Hùng vương và thời đại Hùng vương. Các hội thảo đã được tổ chức với sự tham dự của các nhà khoa học đến từ các ngành sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học,… dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn.2 Kết quả của 4 kỳ hội thảo được in thành bộ sách Hùng Vương dựng nước (4 tập). Ngoài hội thảo nhà nước này, Viện Sử học cũng cho xuất bản cuốn sách “Thời đại Hùng Vương: lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội” (1976) tổng kết hơn 10 năm nghiên cứu, do Văn Tân chủ biên.   Văn Tân đặt việc nghiên cứu Thời đại Hùng vương vào bối cảnh chính trị đương thời: “ngày nay trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của toàn dân, với khí thế vươn lên như vị anh hùng làng Phù Đổng, nhân dân ta cần hiểu rõ hơn bao giờ hết quá khứ 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong phần kết luận của cuốn sách, ông viết: “suốt thời Hùng Vương, chúng ta đã thấy hình thành một cách khá ổn định những cái gì là đặc trưng của dân tộc Việt Nam, làm cho dân tộc này khác với các dân tộc khác…“  Kết luận 4000 năm lịch sử này là rất khác so với quan điểm cho rằng dân tộc Việt Nam hình thành vào triều Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII (Trần Huy Liệu 1950?)3, hay quan điểm dân tộc Việt Nam (dân tộc xã hội chủ nghĩa) được hình thành từ năm 1930 với sự thành lập của Đảng Cộng sản Đông Dương (Hoàng Xuân Nhị 1950?)4, dân tộc Việt Nam (với tư cách là dân tộc tiền tư bản) hình thành vào thời Lê sơ (Đào Duy Anh 1957).   Rõ ràng, ta thấy có một sự thay đổi đáng kể về lý thuyết. Các học giả rời bỏ quan điểm: người Việt di cư từ phương Bắc xuống (kéo dài từ Ngô Sĩ Liên, qua các học giả thời Pháp, đến Đào Duy Anh); họ cũng không nhắc đến quan điểm “hòa huyết dân tộc” tồn tại từ thời Phápthuộc.. Các học giả Marxist trong những năm 1960-1970 chỉ lấy lại khái niệm then chốt duy nhất “dân tộc Việt Nam”, và hầu như không còn áp dụng tư tưởng của Stalin về dân tộc (4 tiêu chí, và các loại hình dân tộc). Thậm chí trong lịch sử vấn đề, họ cũng không hề nhắc lại các quan điểm của Stalin và các thảo luận trước đây. Tuy nhiên, lý thuyết của Marx-Lenin thì đã được áp dụng một cách nhuần nhuyễn qua các trang sách, với các vấn đề cơ bản như: công xã, bộ tộc, sở hữu ruộng đất, công cụ sản xuất, tổ chức sản xuất, thể chế xã hội, mô hình nhà nước.    Kể từ thời kỳ độc lập, khái niệm “dân tộc Việt Nam” và danh xưng “dân tộc ta” được sử dụng, cho thấy cách thức xây dựng một biểu tượng chung cho rất nhiều nhóm người có nguồn gốc khác nhau sống trên lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: VGP.  Các học giả đẩy mạnh hơn thao tác nghiên cứu đa ngành, từ sử học, dân tộc học, văn học, folklore học, ngôn ngữ học lịch sử, thư tịch học, và đặc biệt là khảo cổ học. Để tập trung quan điểm về Hùng Vương và thời đại Hùng Vương, các từ khóa cũ như Giao Chỉ, Việt Thường, Bách Việt, Đông Việt, Nam Việt, Tây Việt, Mân Việt, đã được đặt qua một bên, chỉ giữ lại một hai từ quan trọng là Lạc Việt, Âu Lạc, các  nền văn hóa cổ được định danh bởi khảo cổ học thay thế các vị trí đã bị xóa. Đó là văn hóa Phùng Nguyên (2000 – 1500 TCN) thuộc cuối thời đồ đá sơ kỳ thời đại đồ đồng, văn hóa Đồng Đậu (1500-1000 TCN), văn hóa Gò Mun (1000-700 TCN) cuối thời kỳ đồ đồng, văn hóa Đông Sơn (700-100 TCN) thuộc thời kỳ đồ đồng và thời đồ sắt sớm.5 Các sử gia đã vừa phủ nhận và vừa kế thừa quan điểm của Ngô Sĩ Liên. Văn Tân đồng thuận với giới hạn cuối là 258 BC thời điểm nước Văn Lang của Hùng vương bị tiêu diệt bởi Thục Phán An Dương Vương. Ông không đồng ý với quan điểm gốc Hán (Thần Nông, Đế Minh), cũng không tán thành niên đại đầu 2879 TCN thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Văn Tân cho rằng, năm 2879 TCN là một con số tùy tiện, mới được thêm vào lịch sử từ thời Lê sơ (1479). Ông xác định, giới hạn trên là thuộc thời đá mới, tương ứng chế độ công xã nguyên thủy. Để thay thế cho Kinh Dương Vương, nhóm Văn Tân đã quyết định lấy giới hạn trên là văn hóa Phùng Nguyên (2000 TCN), đây chính là cơ sở để các học giả xác nhận rằng dân tộc Việt Nam có 4000 năm lịch sử, mà giai đoạn đầu tiên chính là thời đại Hùng Vương, đó là một lịch sử dân tộc thể hiện truyền thống yêu nước, và truyền thống chống giặc ngoại xâm để giành độc lập dân tộc.       Không ít nhà khoa học và số đông đại chúng đã hăng hái đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau trong nhiều thế kỷ với niềm tin mình tìm ra sự thực lịch sử về nguồn gốc người Việt, nhưng giống như Tôn Ngộ Không, những tưởng có thể bay qua bàn tay Phật Tổ mà quên mất rằng chính mình đang là những người đang được kiến tạo và sử dụng.      Kể từ đó đến nay, Hùng Vương đã được đưa vào nhiều bộ chính sử nhà nước, được soạn sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh các cấp, từ tiểu học đến đại học. Đã có hàng nghìn bài báo, bài nghiên cứu, luận văn, luận án, tác phẩm văn học, truyện thiếu nhi, truyện tranh lịch sử, phim hoạt hình, phóng sự truyền hình,… được viết ra nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hùng Vương trở thành biểu tượng dân tộc học thể hiện các diễn ngôn về văn hóa.6 Năm 2001, giỗ tổ Hùng Vương được nhà nước Việt Nam công nhận là quốc lễ. Các bức tượng Hùng Vương và các trống đồng cổ thời Đông Sơn được coi là biểu tượng chung cho lịch sử lâu đời cho truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc.7 Biểu tượng Hùng Vương vượt qua giới hạn của tỉnh Phú Thọ, và phạm vi Bắc Bộ , và lan rộng được dựng lên trên khắp lãnh thổ Việt Nam hiện đại. Các công trình tưởng niệm Hùng Vương được nhà nước, nhân dân, các công ty tư nhân cho xây dựng ở nhiều nơi như Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương tại Công viên Đồng Xanh (xã An Phú, TP. Pleiku), tượng Hùng Vương tại Quảng trường Hùng Vương thuộc Công viên Đầm Sen (TP. Hồ Chí Minh). Người Việt đều tự hào với nguồn gốc “con rồng cháu tiên”, coi Hùng Vương là vị quốc tổ. Cứ đến ngày giỗ tổ, khi nhà nước cho nghĩ lễ ăn tết, nhiều gia đình trên khắp đất nước làm mâm cỗ đặt lên bàn thờ để tưởng nhớ về tổ tiên mình, cổng các gia đình đều treo lá quốc kỳ Việt Nam.   Những gì miêu tả trên đây cho thấy quá trình biểu tượng hóa từ phía nhà Đền Hùng trở thành di sản quốc gia dưới sự điều hướng của nhà nước.8 Khi hàng chục triệu lá quốc kỳ được treo ở khắp nơi, 96 triệu người đều được nghỉ lễ giỗ tổ và cùng nhau hình dung về truyền thống lịch sử, cũng là khi quá khứ được tái sinh trong những khuôn dạng mới của nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật ý niệm. Hùng Vương là biểu tượng duy nhất tập trung toàn bộ ý chí chính trị, niềm tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước thương nòi.9 Đó là một cộng đồng được hình dung như là một quốc gia có chung một nguồn gốc, một tổ tiên, một dòng máu, một lịch sử xuyên suốt, thống nhất và bao phủ. Đó là một kết quả tuyệt vời của công cuộc tái cấu trúc các diễn ngôn về bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là một trình diễn (performance) hiệu quả khiến quá khứ được phục sinh, truyền thống được nối tiếp, và quyền lực được lan tỏa. Quá trình biểu tượng hóa quốc tổ Hùng Vương cho thấy quá trình vận động và sự dung hội của hệ tư tưởng. Chủ nghĩa quốc dân trở thành giá đỡ cho hệ tư tưởng, quyền lực nhà nước kiến tạo nên tri thức lịch sử và biểu tượng quốc gia, nó khiến cho Hùng vương trở thành một biểu tượng cho quốc dân đơn nhất, là một hình dung về sự thống nhất lãnh thổ và thống nhất văn hóa của đất nước Việt Nam.10 Quá trình xây dựng biểu tượng Hùng Vương là cuộc thay đổi hệ ý thức để bảo tồn sự thống nhất, tình đoàn kết dân tộc, quyền tự trị, tính khả tín, tổ quốc quê hương, phẩm cách, tính liên tục, bản sắc dân tộc và vận mệnh quốc gia dân tộc. Xây dựng biểu tượng Hùng Vương là một phương thức để tập hợp sức mạnh khối đại đoàn kết với các dân tộc anh em khác. Đó là một hình dung mang tính họ hàng tình thân (kinship) về mối quan hệ tộc người trong chủ nghĩa dân tộc văn hóa (cultural nationalism).  Kết luận  Như vậy, vấn đề “Nguồn gốc dân tộc” đã luôn được trả lời bằng nhiều cách khác nhau dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng và quyền lực chính trị. Sự tham gia của các vị quốc chủ hay lãnh đạo trong quá trình các sử gia chép sử khiến cho các giả thuyết luôn mang trong mình các diễn ngôn chính trị và hệ tư tưởng của thời đại. Nguồn gốc dân tộc ở Việt Nam ban đầu là một vấn đề của truyền thống sử chí Nho giáo. Dưới diễn ngôn văn hóa về gia tộc huyết thống hư cấu (fictive kinship), phả hệ Hán truyền (từ thời Thần Nông đến Hùng vương) đã được các nhà Nho thời Lê sơ xây dựng như là một sáng tạo truyền thống trong nỗ lực các triều đình Việt Nam luôn muốn kết nối với chính trị ở Trung Quốc. Cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, các học giả Pháp đã sử dụng tư tưởng mới về chủng tộc, về quốc gia đã lý giải nguồn gốc của người Việt. Họ cho rằng người Việt được hình thành trong quá trình hỗn hóa huyết thống lâu dài. Dưới góc nhìn tiến hóa luận và thực dân, họ cho rằng người Việt là đối tượng cần khai hóa văn minh. Cách lý giải này nhằm phục vụ cho công tác đô hộ của Pháp. Dưới những thay đổi hệ tư tưởng này, các trí thức tinh hoa bản địa vừa bảo lưu một số yếu tố tư tưởng Nho gia vừa tiếp thu tư tưởng thực dân, tư tưởng về chủ nghĩa quốc dân để tiến hành các cuộc vận động đấu tranh thực hiện công cuộc giành lại độc lập. Giữa thế kỷ XX, khi các nhà đấu tranh sử dụng lý thuyết Marx-Lenin để giành lại chính quyền, tiến hành các cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, họ lại tiếp tục sử dụng và tái cấu trúc khái niệm quốc gia dân tộc “nationalism” phục vụ cho những nhiệm vụ mới. Quá trình Việt Nam hóa lý thuyết Marxist và tư tưởng Stalin đã diễn ra một cách uyển chuyển, phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Hùng Vương từ vị trí chỉ là một mảnh ghép trong phả hệ Nho giáo, đã trở thành biểu tượng dân tộc của Việt Nam. Và sau đó dưới hệ truyền thông rộng khắp, Hùng Vương là biểu hiện cụ thể cho chủ nghĩa huyết thống tập thể (con Rồng cháu Tiên, cosanguinism), nó được sử dụng cho tất cả các cộng đồng người khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam, và khỏa lấp những khác biệt, sự đa dạng về văn hóa và căn cước tộc người.11 Không ít nhà khoa học và số đông đại chúng đã hăng hái đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau trong nhiều thế kỷ với niềm tin mình tìm ra sự thực lịch sử về nguồn gốc người Việt, nhưng giống như Tôn Ngộ Không, những tưởng có thể bay qua bàn tay Phật Tổ mà quên mất rằng chính mình đang là những người đang được kiến tạo và sử dụng.  Tài liệu tham khảo  [1] Anderson, Benedict, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism, London & New York: Verso, p.154.  [2] Văn Tân (chủ biên), tb 1976, Thời đại Hùng Vương: lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Hà Nội: Khoa học Xã hội, tr.27. Các cơ quan được giao nhiệm vụ nghiên cứu gồm: Viện Sử học, Viện Khảo cổ, Viện Bảo tàng lịch sử, Đại học Tổng hợp, Bộ Văn hóa, Ty văn hóa Phú Thọ.  [3] Trần Huy Liệu, Dân tộc Việt Nam thành hình từ bao giờ và bàn thêm về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, Tập san Nghiên cứu Văn sử địa, số 5, số 18. [dẫn theo Đào Duy Anh, 1957: 24]  [4] Hoàng Xuân Nhị, “Xác định quan điểm của chúng ta về vấn đề dân tộc và sự hình thành dân tộc Việt Nam”, Tập san Đại học Sư phạm, số 5, tr.78-96.  [5] Văn Tân, 1976, sđd, tr.35-37. Xem thêm Phan Huy Lê chủ biên, 2016, Lịch sử Việt Nam (tập 1), Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, P.82-180.  [6] Anthony D. Smith, 2009, Ethno-symbolism and Nationalism: a cultural Approach, London & New York: Routledge.  [7] Oscar Salemink,“Embodying the Nation: Mediumship, Ritual and the National Imagination”, Journal of Vietnamese Studies, Vol.3, Issue 3, p.277.  [8] Ngo Thi Diem Hang, 2016, The Rise of the Hung Temple: Shifting Consstructions of Place, Religion and Nation in Contemporary Vietnam, Doctoral Thesis of Anthropology, University of Adelaide, p.66.  [9] Kate Lellema, 2007, “Returning Home: Ancestor Veneration and the Nationalism of Doi Doi Vietnam”, in Philip Taulor (ed.), Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-revolutionary Vietnam, Singapore:  ISEAS–Yusof Ishak Institute, p.68-69.  [10] Nguyen Phuc Anh, 2014, “Hung kings Myths and Ideological Struggle to Establish Vietnamese Identity”, IUAES2014 inter-congress: the future with/of anthropologies, International Union of Anthropological and Ethnological Sciences, Chiba, JAPAN, 15th-18th May, 2014.  [11] Alexander J. Motyl (editer-in-chief), Encyclopedia of Nationalism (Vol.2), San Diego: Academic Press, p.572.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Dạng rối lượng tử mới giúp các nhà khoa học nhìn vào bên trong hạt nhân      Các nhà khoa học hạt nhân đã tìm thấy một cách mới để sử dụng Vành va chạm ion nặng tương đối (RHIC) – một máy gia tốc hạt tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) – để nhìn vào hình dạng và các chi tiết bên trong hạt nhân nguyên tử. Phương pháp này dựa vào các hạt ánh sáng xung quanh các ion vàng khi chúng di chuyển quanh máy gia tốc và một dạng mới của rối lượng tử chưa bao giờ được quan sát trước đây.    Thông qua một loạt thăng giáng lượng tử, các hạt ánh sáng (hay còn gọi là các photon) tương tác với các gluon – các hạt giống như một loại keo giữ các hạt quark lại với nhau thành các hạt tổ hợp gồm các proton và neutron của hạt nhân. Những tương tác này tạo ra một hạt trung gian nhanh chóng phân rã thành hai pion (π) mang điện tích khác nhau. Bằng việc đo đạc vận tốc và các góc tại đó các hạt π+ và π– va đập vào máy dò STAR của RHIC, các nhà khoa học có thể dò lại để thu về thông tin cốt lõi về photon – và sử dụng để lập bản đồ sắp xếp các gluon trong các hạt nhân với độ chính xác cao hơn trước đây.  “Kỹ thuật này tương tự với cách các bác sĩ sử dụng phương pháp chụp cắt lớp phát xạ (PET scans) để xem điều gì đang diễn ra bên trong não và các bộ phận khác của cơ thể”, nhà vật lý từng làm ở Brookhaven James Daniel Brandenburg, thành viên của nhóm hợp tác STAR hiện đang làm việc tại trường đại học bang Ohio kể từ tháng 1/2023. “Nhưng trong trường hợp này, chúng ta nói về việc lập bản đồ về đặc điểm dựa trên quy mô femtometers – tương đương 10−15 mét – kích thước của một proton”.  Thậm chí còn ngạc nhiên hơn, ông nói, là quan sát thấy một dạng hoàn toàn mới của giao thoa lượng tử, điều khiến cho các đo đạc trở nên có thể. “chúng tôi đo đạc hai hạt được giải phóng ra ngoài và thấy rõ ràng là chúng mang điện tích khác nhau  – chúng là những hạt khác nhau – và chúng tôi thấy các mẫu hình tương quan chỉ dấu các hạt đó rối với nhau, hoặc trong sự đồng bộ với hạt khác, ngay cả chúng là những hạt có thể phân biệt được”, nhà vật lý của Brookhaven và thành viên của STAR là Zhangbu Xu nói.  Đó là khám phá có thể có nhiều ứng dụng hữu hiệu bên ngoài phạm vi lập bản đồ về các khối cơ bản của vật chất này.  Ví dụ, nhiều nhà khoa học, bao gồm những người được trao giải Nobel Vật lý 2022, đang tìm kiếm cách khai thác đặc điểm rối – một loại “nhận biết” và tương tác của các hạt ở khoảng cách xa nhau. Một mục tiêu là tạo ra các công cụ truyền tin và máy tính hiệu quả một cách đáng kể những công cụ và máy tính hiện có ngày nay. Nhưng phần lớn các quan sát rối lượng tử đã có, bao gồm một thí nghiệm giao thoa các tia laser gần đây với những bước sóng khác nhau, là giữa các photon hoặc các electron đã được nhận diện.  “Đây là quan sát thực nghiệm lần đầu tiên về hiện tượng rối giữa các hạt khác nhau”, Brandenburg nói.  Công trình này được miêu tả chi tiết trong một bài báo xuất bản trên Science Advances. 1  Chiếu một tia sáng lên các gluon  Daniel Brandenburg và Zhangbu Xu bên máy dò STAR của RHIC. Credit: Brookhaven National Laboratory  RHIC được vận hành như một cơ sở hạ tầng của Văn phòng khoa học DOE, nơi các nhà vật lý có thể nghiên cứu phần lớn cấu trúc của các khối vật chất hạt nhân – các hạt quark và các gluon tạo thành các proton và các neutron. Họ làm điều này bằng việc cho va chạm các hạt nhân của nguyên tử nặng như vàng quanh vành va chạm với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Cường độ va chạm bên trong hạt nhân (hay còn gọi là các ion) có thể làm “tan chảy” các biên giới giữa các proton và neutron để các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu về các quark và gluon như khi chúng tồn tại ở vũ trụ sớm – trước khi proton và neutron được hình thành.  Nhưng các nhà vật lý hạt nhân muốn biết cách các quark và gluon hành xử trong các hạt nhân nguyên tử như chúng tồn tại ngày nay – để hiểu sâu sắc hơn lực giữ các khối cơ bản này lại với nhau.  Một khám phá gần đây sử dụng “các đám mây” photon ở quanh các ion chuyển động ở RHIC để đề xuất một cách sử dụng các hạt ánh sáng nhìn vào bên trong hạt nhân. Liệu hai ion vàng khi di chuyển qua nhau ở khoảng cách cực gần nhưng không đủ để va chạm thì các photon quanh một ion có thể đủ “nhìn” vào cấu trúc bên trong của hạt kia hay không?  “Trong một nghiên cứu trướcđây, chúng tôi đã chứng tỏ là các hạt photon đó đã bị phân cực, với phát xạ điện trường hướng ra từ tâm của ion. Và hiện tại chúng tôi sử dụng công cụ tia phân cực để chụp ảnh một cách hiệu quả hạt nhân tại mức năng lượng cao”, Xu nói.  Giao thoa lượng tử được quan sát giữa π+ và π– ở dữ liệu mới được phân tích gần đây có thể đem lại khả năng đo đạc hướng phân cực của các photon một cách vô cùng chính xác. Điều này giúp các nhà vật lý nhìn vào sự phân bố gluon theo cả hướng chuyển động của photon và vuông góc với nó.  Hình ảnh hai chiều đó có vai trò hết sức quan trọng.  “Tất cả những đo đạc trong quá khứ, vốn chưa cho biết hướng phân cực, là đo lường mật độ của các gluon ở mức độ trung bình – như một hàm của khoảng cách từ tâm của các hạt nhân”, Brandenburg nói. “Đó chỉ là hình ảnh một chiều”.  Những đo lường đó đều được khiến cho các hạt nhân trông quá lớn khi so sánh với những gì do các mô hình lý thuyết dự đoán và đo đạc phân bố của điện tích trong các hạt nhân. “Với kỹ thuật hình ảnh hai chiều, chúng tôi có thể giải quyết bí ẩn hai mươi năm về việc tại sao điều này xảy ra”, Brandenburg nói.  Những đo đạc mới cho thấy động năng và năng lượng của các photon khi xoắn với các gluon. Việc đo lường chỉ dọc theo hướng photon (hoặc không biết hướng đó là gì) thu được trong một bức ảnh bị biến dạng bởi hiệu ứng của các photon. Nhưng việc đo lường trong phương ngang để tránh làm nhòe photon.  “Hiện tại thì chúng tôi có thể chụp một bức ảnh mà chúng tôi có thể phân biệt được thực sự mật độ của các gluon tại một góc và bán kính cho trước”, Brandenburg nói. “Những hình ảnh đó chính xác đến mức chúng tôi thậm chí còn có thể bắt đầu thấy được sự khác biệt giữa nơi các proton và nơi các neutron được đặt vào bên trong các hạt nhân lớn”.  Những bức ảnh mới tương đồng với các dự đoán lý thuyết về phân bố gluon cũng như đo đạc phân bố điện tích trong các hạt nhân, các nhà khoa học nói.    Các chi tiết đo lường  Để hiểu về cách các nhà vật lý làm được các đo lường hai chiều, hãy trở lại với việc các hạt được tạo ra từ tương tác photon-gluon. Nó được gọi là một rho, và phân rã vô cùng nhanh – trong khoảng thời gian nhỏ hơn bốn septillionths của một giây (một septillionths bằng 10–24 giây) – thành π+ và π–. Tổng xung lượng của hai pion đó đem lại cho các nhà vật lý xung lượng của hạt bố mẹ rho– và đem lại thông tin bao gồm phân bố gluon và hiệu ứng nhòe photon.  Để phân tách ra phân bố gluon, các nhà khoa học đo đạc góc giữa con đường của π+ hoặc π– và quỹ đạo của rho. Góc đó càng gần với 90 độ thì càng bớt nhòe. Bằng việc theo các pion từ các hạt rho chuyển động ở phạm vi góc và năng lượng đó, các nhà khoa học có thể vẽ bản đồ phân bố của gluon khắp các hạt nhân.  Giờ thì sự dị thường lượng tử khiến cho việc đo đạc trở nên có rheer – bằng chứng là các hạt π+ và π– mà máy dò STAR ghi nhận được từ các mẫu giao thoa được tạo ra bởi sự rối của các hạt không giống nhau và tích điện trái dấu.  Hãy nhớ là tất cả các hạt chúng ta đang đề cập tới không chỉ tồn tại như các thực thể vật lý mà còn tồn tại dưới dạng sóng. Giống như những gợn sóng trên bề mặt của một bể nước lan ra khi một hòn đá ném xuống, “hàm sóng” toán học miêu tả sự lên xuống của các sóng hạt khi giao thoa để dung nạp hoặc loại bỏ vật khác.  Khi các photon xung quanh hai ion chuyển động gần như trượt tương tác với các gluon bên trong hạt nhân, nó như các tương tác trên thực tế tạo ra hai hạt rho. Khi mỗi hạt rho phân rã thành π+ và π–, hàm sóng của pion âm từ một rho phân rã giao thoa với hàm sóng của pion âm  từ hath khác. Khi hàm sóng tăng cường “gõ” vào máy dò STAR, máy dò sẽ thấy một π–. Điều tương tự xảy ra với các hàm sóng của hai pon dương, và máy dò thấy một π+.  “Sự giao thoa giữa các hàm sóng của các hạt đã biết nhưng không có rối giữa các hạt không tương đồng – π+ và π–  – sự giao thoa có thể không được vật chất hóa”, Wangmei Zha, một thành viên của STAR tại trường đại học KH&CN Trung Quốc. “Đây là sự kỳ lạ của cơ học lượng tử”.  Có thể là các hạt rho đơn giản là ở trạng thái rối? Nhà khoa học nói không. Các hàm sóng của hạt rho nguyên thủy tại một khoảng cách xa gấp 20 lần khoảng cách chúng có thể di chuyển trong khoảng thời gian tồn tại ngắn ngủi của chúng, vì vậy chúng có thể tương tác nhau trước khi bị phân rã thành π+ và π–. Nhưng các hàm sóng của π+ và π– từ mỗi phân rã rho vẫn giữ được thông tin lượng tử của các hạt cha mẹ chúng; những lên xuống của sóng vẫn còn trong pha này, “nhận biết lẫn nhau”, bất chấp va đập vào máy dò cách chúng hàng mét.  “Nếu các π+ và π– không rối, hai hàm sóng π+ (hoặc π–) có thể có pha ngẫu nhiên, không có bất kỳ hiệu ứng giao thoa có thể dò được nào”, Chi Yang, một thành viên của nhóm hợp tác STAR từ trường đại học Sơn Đông ở Trung Quốc, người phụ trách nhóm phân tích dữ liệu. “Chúng ta sẽ không thể thấy bất cứ định hướng nào liên quan đến phân cực của photon – hoặc có thể tạo ra đo dạc chính xác”.  Những đo đạc tương lai tại RHIC với các hạt nặng và có thời gian sống khác nhau  – và tại một máy gia tốc Electron-Ion (EIC) đang được xây dựng tại Brookhaven – sẽ chứng tỏ những phân bố chi tiết hơn của gluon bên trong các hạt nhân và kiểm tra những kịch bản giao thoa lượng tử có thể khác.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:  https://phys.org/news/2023-01-entanglement-scientists-nuclei.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/08/220831113651.htm  —————————————-  1. https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.abq3903    Author                .        
__label__tiasang Đành chuyển sang tin ở người ngoài!      Sự sụt giảm đột ngột, và rõ ràng về số lượng các đề tài tham gia Quỹ Nafosted năm 2015 đã làm phát lộ nguyên hình hiện trạng của ngành KHXH&amp;NV; đồng thời cũng làm bật ra câu hỏi: sự thay đổi tiêu chí đầu vào mà Quỹ đặt ra liệu đã là hợp lý với mặt bằng hiện tại?        Những năm trước đây, yêu cầu cơ bản cho chủ nhiệm đề tài (CNĐT) thuộc khối KHXH&NV bao gồm:   (1) có học vị tiến sĩ hoặc Phó giáo sư, Giáo sư;   (2) có ba bài báo chuyên ngành phù hợp được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc gia từ năm năm trở lại đây;   (3) có một bài công bố quốc tế hoặc một chuyên luận đã xuất bản.  Đến năm 2015, tiêu chí thứ nhất vẫn được giữ nguyên, tiêu chí thứ hai đã bị loại; tiêu chí thứ ba là “kết quả nghiên cứu chuyên ngành phù hợp được công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín trong thời gian năm năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ”. Như vậy, tiêu chí đầu vào có thay đổi: Quỹ chỉ chấp nhận các CNĐT có công bố quốc tế.   Đẩy mạnh công bố quốc tế là một chủ trương đúng đắn, không chỉ cho các ngành khoa học tự nhiên (KHTN) mà đối với cả các ngành thuộc khối khoa học xã hội (KHXH) và khối khoa học nhân văn (KHNV). Nhưng việc thay đổi đột ngột tiêu chí tuyển chọn như vậy có lẽ chưa hợp lý. Quyết định này được đưa ra do Quỹ chưa thực sự hiểu rõ hai điều (1) những đặc thù của khối KHXH, nhất là khối KHNV và (2) thế nào là nghiên cứu cơ bản trong ngành này.          Phần lớn các tri thức của KHXH ở  Việt Nam và về Việt Nam thì ngược lại, nó có tính đặc định, có tính khu  biệt, có tính lịch sử, có tính chính trị đặc thù. Đặc thù nhưng phải  trên nền tảng tri thức chung của nhân loại về con người. Ấy mới là cái  khó!        Trước tiên là về đặc thù của ngành khoa học. Khoa học xã hội ở Việt Nam phải lấy xã hội Việt Nam, lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam,… làm trọng tâm, làm đối tượng nghiên cứu cơ bản. Điều này không thể nào khác được1 và là điều mà ai cũng biết. Nhưng đây chính là điểm then chốt khiến hai ngành này khác rất nhiều so với KHTN. Mọi tri thức của KHTN có xu hướng phi dân tộc, phi quốc gia, phi biên giới; còn phần lớn các tri thức của KHXH&NV ở Việt Nam và về Việt Nam thì ngược lại, nó có tính đặc định, có tính khu biệt, có tính lịch sử, có tính chính trị đặc thù. Đặc thù nhưng phải trên nền tảng tri thức chung của nhân loại về con người. Ấy mới là cái khó!   Một bài nghiên cứu trong KHTN đăng được trên một tạp chí quốc tế đương nhiên là một đóng góp tri thức mới cho khoa học; còn trong KHNV có khi đó chỉ là một bài giới thiệu văn hóa (dĩ nhiên còn tùy thuộc vào chuyên ngành, khả năng của người viết và tạp chí đăng tải)! Chúng tôi từng biết, có một số người được mọi người gọi là nhà văn hóa, nhà nọ nhà kia, tuy có bài báo công bố quốc tế hẳn hoi, có sách in bằng tiếng nước ngoài hẳn hoi, nhưng đọc các “công trình” ấy, người ta chỉ thấy một con người đang đem những tri thức cũ kĩ về văn hóa Việt Nam đi diễn giảng với thế giới, chứ ở đó hầu như không thấy cái mới. Chúng tôi cũng từng tranh luận với một số đồng nghiệp về việc phải “hạ tông độ chuyên sâu” để có thể có công bố quốc tế. Vì có bạn cho rằng, phải viết thế nào để cho người ta hiểu mình, chứ viết vào một vấn đề quá mới, quá sâu, quá hẹp họ chưa có phông kiến thức tổng quát về vấn đề đó thì biên tập cũng không nổi, nữa là cho đăng duyệt. Hoặc ngược lại, viết một vấn đề quá cũ, quá nông, quá lạc hậu, so với thế giới thì hòa nhập làm sao? Kết quả của buổi tranh luận là, với đối tượng mà họ chưa hiểu mình thì tốt nhất nên viết tổng thuật, trong đó lồng những kết quả mới của mình vào đó2, với đối tượng họ đã quá hiểu mình, họ đã đi trước mình, thì cố gắng bắt kịp yêu cầu của họ.  Mặt khác, mỗi tạp chí quốc tế lại là một sân chơi riêng, có tiêu chuẩn riêng, có đối tượng riêng, và có “gu riêng”. Tiêu chuẩn và đối tượng riêng thì tạp chí nào cũng có, nhưng “cái gu” mới là điều đáng thách thức. Có những người “ngửi mùi” cái là biết ngay tạp chí nào thích gì, viết kiểu này thì sẽ được đăng ở tạp chí này, viết kiểu khác sẽ được đăng ở tạp chí khác. Đó là một sự khéo léo rất chuyên nghiệp, hay nói cách khác là sự chuyên nghiệp khéo léo! Chủ yếu là phải biết xoay xở với các từ khóa và thuật ngữ khoa học sao cho phù hợp với cái mà người ta quan tâm, hoặc đang hứng thú. Ví dụ như thế này, trong bối cảnh biển Đông dậy sóng trong mấy năm vừa qua, cộng thêm chính sách“mở cửa bật đèn xanh” của nhà nước cho lĩnh vực này, nên các công bố trong nước về biển Đông được dịp “trăm hoa đua nở”. Nhưng hiện chưa có số liệu nào thống kê xem có bao nhiêu bài được đăng trên tạp chí quốc tế? Liệu có đăng nổi không (nhất là đối với các tạp chí của Trung Quốc) khi có quá nhiều áp lực về chính trị, cả từ trong lẫn ngoài? Như một đặc thù nghề nghiệp, những người hoạt động KHXH&NV luôn là nạn nhân của chính đối tượng mình nghiên cứu. Quỹ phải xác định rằng, có những chuyên ngành khoa học mang đặc thù Việt Nam, chưa thể nào có những công bố quốc tế ngay được. Sự nhạy cảm của vấn đề khoa học sẽ khiến chúng ta bị loại khỏi diễn đàn y như cô hoa hậu Việt Nam mang Hoàng Sa, Trường Sa vào slide giới thiệu bản thân! Song, nói đi cũng phải nói lại, phần lớn các nhà nghiên cứu thuộc khối nhân văn (NV), ngoài các lý do đặc thù như trên, thì cũng thực sự rất lạc hậu với thế giới, nên việc hội nhập hay nâng tầm lên quốc tế thực sự là công việc nan giải.        Một thực tế không thể chối cãi,  những chuyên luận dỏm, những bài nghiên cứu dỏm, các sản phẩm “đối phó  hội đồng”, qua các thao tác cắt dán, xào xáo, cùng với lối làm việc duy  tình nhạy bén của người Việt khiến cho thực trạng vàng thau lẫn lộn trở  nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chẳng tin được ở người mình thì đành  chuyển sang tin ở người ngoài.        Điểm quan trọng nhất trong tiêu chí đánh giá khoa học không hẳn chỉ ở bài quốc gia hay quốc tế. Sự khác biệt lớn nhất ở KHXH & NV là ở chuyên luận hay không có chuyên luận. Một bài công bố quốc tế3 dù có đăng được thì cũng chỉ nhỉnh hơn một bài nghiên cứu nghiêm túc trên một tạp chí nghiêm túc ở trong nước4. Có khi, một bài nghiên cứu chỉ tương đương với một chương sách mà thôi. Một đời nghiên cứu có thể công bố hàng chục bài nghiên cứu lẻ cho những tạp chí lẻ, cho những hội thảo “cúng cụ”, nhưng không phải nhà nghiên cứu nào cũng có chuyên luận để viết thực sự sâu sắc, rốt ráo một luận đề khoa học5. Để viết được một chuyên luận thì nhà nước không phải đầu tư hai năm hay ba năm mà có được. Có những chuyên khảo cả đời mới viết được một cuốn kiểu như “Lịch sử từ vựng tiếng Việt” của GS. TS. Vũ Đức Nghiệu, có những đề tài phải cả chục năm điều tra, khảo sát, nghiên cứu thì mới “ra lò”, tiêu biểu như cuốn “Vân Đồn – Thương cảng quốc tế của Việt Nam” của GS. TS. Nguyễn Văn Kim; có những cuốn phải nhiều đời mới có người dám viết và viết được như “Tự điển chữ Nôm dẫn giải”6 của GS. TSKH. Nguyễn Quang Hồng. Tức là, một chuyên luận sẽ là yếu tố tiên quyết để đánh giá tầm mức của một học giả7, sau mới là bài nghiên cứu quốc tế, rồi cuối cùng mới là bài trong nước. Chuyên luận thể hiện chiều sâu tư duy của người viết, thể hiện tính hệ thống của vấn đề, thể hiện năng lực khái quát hóa – lý thuyết hóa của người làm nghiên cứu. Theo quan niệm của cá nhân người viết bài này, một chuyên luận (nghiêm túc) được 5 điểm (thậm chí có thể tối đa đến 10), thì nghiên cứu quốc tế chỉ có tối đa 2- 3 điểm. Thực là khập khiễng nếu coi hai cái bằng nhau. Và càng khập khiễng hơn nếu chỉ duy nhất dựa vào “công bố quốc tế”.  Thế nhưng, như một thực tế không thể chối cãi, trong ngành KHXH&NV, những chuyên luận dỏm, những bài nghiên cứu dỏm, các sản phẩm “đối phó hội đồng”, qua các thao tác cắt dán, xào xáo, cùng với lối làm việc duy tình quyền biến của người Việt khiến cho thực trạng vàng thau lẫn lộn trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chẳng tin được ở người mình thì đành chuyển sang tin ở người ngoài. Quyết định “nâng cao tiêu chí sàn” của Nafosted không phải là không có nguyên lý. Bởi nếu đã là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, chuyên luận còn viết được thì huống hồ gì là một bài nghiên cứu quốc tế!   Chú thích  1 Dĩ nhiên, cũng cần có khoảng mở cho việc nghiên cứu khu vực học, quốc tế học và các nước khác có liên quan. Nhưng kể cả nghiên cứu Khu vực học hay Quốc tế học thì vẫn phải lấy Việt Nam làm trung tâm để quy chiếu. Ngoài Trung Quốc học- phạm vi mà người Việt bắt buộc phải có những phát kiến riêng để có thể nâng cao sức đề kháng văn hóa và tự cường dân tộc, thì các ngành khác khó có thể vượt được các học giả bản quốc!  2 Xin lưu ý, viết nghiên cứu tổng thuật, tuy không phải lúc nào cũng bắt buộc phải có cái mới, nhưng phải là một người nghiên cứu có tầm rất cao (cả về lý luận, lẫn thực tiễn). Ở Việt Nam rất hiếm các bài viết tổng thuật (đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của nó) mà chủ yếu là lược thuật giống như các bài tập viết về “lịch sử vấn đề” trong các luận văn thạc sĩ và tiến sĩ.    3 Theo thông lệ quốc tế, tối thiểu độ dài là 8.000  hoặc 10.000 chữ (tùy từng tạp chí). Ở Việt Nam, rất hiếm tạp chí quốc gia chấp nhận con số tối thiểu này. Tích cực lắm là họ áp dụng các con số đó làm tiêu chuẩn tối đa cho một số ít bài (cho phù hợp với số lượng trang ấn bản thực tế).  4 Kiểu như Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế)- một tạp chí địa phương nhưng “chơi” theo tiêu chí quốc tế (chấp nhận đăng bài khảo cứu công phu vô điều kiện về số trang). Hoặc giả họ dành cả một hoặc hai số tạp chí chỉ để đăng một nghiên cứu.  5 Tôi nhấn mạnh, một chuyên luận giải quyết một luận đề khoa học, sẽ khác rất nhiều với một cuốn sách viết không có thao tác, và không có đối tượng khoa học chuyên biệt.  6 Xin lưu ý, tự điển- từ điển trước nay không nằm trong khung khổ của cái được gọi là “chuyên luận”. Nhưng, những kiểu công trình như thế này, làm việc khổ công hơn rất nhiều so với làm lý luận. Bởi, cái hệ thống lý luận mà tác giả sử dụng, hay sáng tạo không nằm hiển ngôn trên các trang viết, mà đã được xử lý tan nhuyễn trong toàn bộ công trình, từ cơ cấu vi mô của từng mục từ đến cấu trúc vĩ mô của cả cuốn từ điển. Rất tiếc Nafosted không đầu tư hạng mục khoa học này, cũng như nhiều hạng mục nghiên cứu cơ bản khác.  7 Trường hợp các học giả có chuyên luận công bố quốc tế kiểu như TS Nguyễn Nam (Thông tín viên của Harvard- Yanjing) hay PGS. TS. Hoàng Anh Tuấn (Khoa Sử, ĐH KHXH&NV-HN) là rất hiếm! Nhưng ở đây cũng cần nêu ra một đặc thù của xuất bản phẩm khoa học quốc tế, rằng: quy trình biên tập một cuốn chuyên khảo (sách) lại đơn giản hơn so với quy trình biên tập một bài tạp chí.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh cuộc với rủi ro      “Hoa hậu lúa lai”, “quả bom bản quyền 10 tỷ”… đó là những từ ngữ mà gần đây báo chí nói về giống lúa TH3-3, thành quả của công trình nghiên cứu “Gây tạo một số dòng bất dục đực cảm ứng nhiệt độ để phát triển lúa lai hai dòng” của PGS.TS Nguyễn Thị Trâm. Đây là giống lúa lai hai dòng đầu tiên của Việt Nam được sử dụng rộng rãi ở ĐBSH. Để làm nên điều chưa từng có này, TS Nguyễn Thị Trâm cùng đồng sự không chỉ bỏ công sức nghiên cứu tìm tòi cả chục năm trời mà đôi khi còn phải đánh cược với những rủi ro.    Mục đích của việc nghiên cứu lai tạo giống là cho ra những giống mới, có được những ưu điểm của cả dòng bố và dòng mẹ. Nhưng để lai tạo cho cây lúa là rất khó, vì bộ phận sinh sản đực và cái của cây lúa được sắp xếp trong một cấu trúc hạn chế tối đa sự tạp giao. Bao phấn (bào tử đực) và noãn (bào tử cái) của lúa nằm rất gần nhau cùng trong một hoa lúa. Trong quá trình sinh sản, phấn được tung ra từ bao phấn và phủ khắp noãn, vỏ trấu của hoa sẽ cản trở sự xâm nhập của các hạt phấn từ bên ngoài. Vì vậy, muốn tạo ra một giống lúa mới theo phương pháp lai tạo, nhà khoa học phải tìm được một dòng mẹ bất dục đực, tức là hoa lúa có bao phấn nhưng không có khả năng thụ cho noãn. Đó cũng chính là khó khăn đầu tiên mà TS Nguyễn Thị Trâm phải giải quyết trong quá trình nghiên cứu của mình.  Trong thiên nhiên có nhiều giống lúa bất dục theo những kiểu khác nhau: có loại bất dục theo tế bào chất, có loại bất dục theo nhân tế bào. Trong loại bất dục theo nhân tế bào lại có loại bất dục do gene trội nhưng cũng có loại bất dục do gene lặn quy định và kiểm soát. Thật là một ma trận với vô vàn các khả năng, nhưng không phải khả năng nào cũng cho ra loại giống đảm bảo các yêu cầu phục vụ tốt cho sản xuất như tính bất dục ổn định, khả năng nhận phấn tốt, thuận lợi cho việc sản xuất hạt lai .v.v.  Suốt một thời gian dài kể từ năm 1994, dựa vào những kiến thức đã tích lũy qua hàng chục năm nghiên cứu cây lúa, cùng sự tiếp thu những tiến bộ khoa học của những nước đi trước, TS Trâm đã tiến hành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau để thử nghiệm và tìm kiếm trong hàng trăm giống bản địa và ngoại nhập. Cuối cùng bà cũng đã thành công khi tìm ra loại giống thích hợp có loại gene lặn, bất dục đực, di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ – TGMS (thermosensitive genetnic male sterility). Đây là loại giống bất dục theo nhiệt độ, cụ thể nhiệt độ dưới 24oC thì cây lúa hữu dục, nhiệt độ trên 24oC thì cây lúa bất dục, một đặc điểm rất phù hợp với các thời vụ sản xuất của nông dân ĐBSH.  Để có được kết quả như vậy, thật đúng như lời TS Trâm tâm sự, “Từ khi ra trường tôi chỉ nghiên cứu tạo giống lúa để có được sự tích lũy cần thiết. Với tôi, đó là điều quan trọng nhất để dẫn tới thành công. Đời người tuy dài, nhưng so với tiến hóa của một loại cây lại vô cùng ngắn, nếu nay làm cây này, mai làm cây khác thì khó có thể cho ra một cái gì cụ thể.”  2.  Cho ra đời một giống lúa mới đã rất khó khăn đòi hỏi nhiều công sức lao động nhưng để giống lúa được những người nông dân đón nhận đưa vào sản xuất trên đồng ruộng, người làm khoa học không thể chỉ đem sự miệt mài nghiên cứu của mình ra để thuyết phục.  Sau khi tạo giống, TS Trâm đã gửi giống mới tới Trung tâm Khảo nghiệm Quốc gia. Từ đó giống lúa mới được đưa đến các miền sinh thái khác nhau và được trồng trên các mảnh ruộng thử nghiệm. Kết quả cho thấy là giống lúa thích ứng được với sinh thái của nhiều vùng sản xuất từ miền núi, trung du đến đồng bằng. Tuy vậy, TS Trâm cho biết, “nghiên cứu giống, chọn giống là khoa học thực nghiệm, nên không thể đem kết quả của một hai vụ sản xuất trên những mảnh ruộng chỉ có vài sào để thuyết phục nông dân”. Vì vậy, bà và các cộng sự đã quyết định phải đi “trình diễn giống” ở nhiều địa phương. Nhờ sự cam kết chắc chắn với người nông dân năng suất đạt được phải hơn hoặc bằng với loại giống vẫn đang sử dụng, nếu kém sẽ bù vào phần thiếu hụt đã giúp bà có được “đất diễn” rộng tới hàng chục hecta.  Vào năm 2005, giống lai của Trung Quốc đắt vọt lên, đây cũng là một cơ hội tốt để giống lúa của bà đến với người nông dân nhiều hơn. Giống TH3-3 tuy về năng suất và chất lượng chưa hẳn là vượt trội so với các giống của Trung Quốc, nhưng giá cả thì hợp với túi tiền người sản xuất. Các công ty giống nắm bắt được điều này liền nhanh chóng chào hàng giống TH3-3 tới nông dân. Kết quả là bên cạnh số lượng 6 tấn giống do TS Trâm trực tiếp cung cấp, đã có thêm 21 tấn giống TH3-3 nữa được gieo trồng vào vụ mùa năm đó. Tưởng chừng đó là một thuận lợi to lớn, nhưng không, vào lúc đó giống TH3-3 về mặt vẫn chưa được công nhận là giống quốc gia. Vì vậy, Sở Nông nghiệp địa phương đã đánh công văn yêu cầu bà phải bảo lãnh kết quả sản xuất cho cả các công ty giống ngang bằng với giống Bắc Ưu 64. Tuy rất tin tưởng vào “đứa con để đời” của mình, nhưng bà không khỏi lo lắng vì thấy lúa lai Trung Quốc vẫn được bà con nông dân sử dụng có năng suất cao, sinh trưởng phát triển tốt, và nhất là những diễn biến của thời tiết có thể mang lại sự rủi ro. “Thật đúng là như đánh bạc”, TS Trâm nhớ lại cảm xúc lúc đó.  Sự lo lắng của TS Trâm không phải là thừa. Năm đó có hai cơn bão liên tiếp đổ vào Nam Định, nơi giống lúa mới được gieo trồng trên diện tích hơn 1000 hécta. Cơn bão thứ nhất đổ bộ vào ngày 17-18/9, trước đó mấy ngày bà đã gửi giấy mời Cục Nông nghiệp, Trung tâm khảo nghiệm định ngày 22/9 tham dự Hội nghị đầu bờ để công nhận giống quốc gia. Cả một cánh đồng rộng hơn 140 hécta ở xã Nghĩa Hưng, nơi sẽ diễn ra hội nghị, lúa đã uốn câu phải vờn vũ với gió bão trong hai ngày. Thật may, do lúa còn xanh, lại là giống thân lùn nên thiệt hại không đáng kể, những mảng ruộng xanh rì vẫn đủ sức nô đùa trình diễn trước mắt người khảo nghiệm và tham quan. Nhưng những ngày sau đó (27-28/9), cơn bão thứ hai tràn về đúng vào lúc lúa đã chín. Sau cơn bão này, lúa rụng gần hết, thiệt hại là đáng kể, nhưng may mắn là kết quả sản xuất đạt 4,2 tấn, hơn gấp đôi sản lượng của giống Bắc Ưu 64 trên cùng diện tích gieo trồng.  Qua câu chuyện trên ta phần nào hiểu được câu nói đùa mà cũng là thật của bà “chuyển nhượng bản quyền giống lúa được 10 tỷ là ăn may”. Quả thực gắn với sản xuất nông nghiệp, không chỉ người nông dân mà ngay cả người làm khoa học cũng chịu sự may rủi của thiên nhiên, thời tiết.  Trong quá trình tạo giống, các nhà chọn giống dùng một giống lúa đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất làm chuẩn và đặt mục tiêu tạo ra giống mới ra đời hơn giống trước 10%, hoặc về năng suất, hoặc về chất lượng, chống sâu bệnh. Ngày nay, các khoa học có nhiều phương pháp tiến bộ như dùng CNSH, lấy vật liệu gene tạo ra các giống năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng lấn át rất nhanh so với các giống cũ. Thế nhưng, một giống lúa tồn tại trong sản xuất dài hay ngắn cũng có giai đoạn của nó, thông thường là 10 – 12 năm. Điều đó phụ thuộc vào giá trị của giống đó bền vững đến đâu.  Đã có nhiều giống lúa có thời gian tồn tại lâu dài trên đồng ruộng Việt Nam. Đó là các giống NN8, CR203, VN10 .v.v. Ra đời năm 1964, và bắt đầu phổ biến rộng rãi vào khoảng những năm 1966-1968, NN8 tồn tại mãi đến thập kỷ 80 như là một thành tựu nổi bật rất khó vượt qua. Nhưng sau một thời gian, NN8 xuất hiện một số yếu tố hạn chế, kháng rầy kém, chịu rét kém. Thế rồi CR203 xuất hiện với khả năng chống rầy rất tốt, được sử dụng rộng rãi trên miền Bắc trong một thời gian dài. Tuy nhiên, các giống trên đều là giống cải tiến và đều là ngoại nhập. Việt Nam cũng đã có một giống nổi tiếng là giống VN10 chịu lạnh tốt, có tỷ lệ gạo cao, được đưa vào sản xuất từ năm 1974, cho đến giờ vẫn được nông dân Thái Bình sử dụng. Sở dĩ, mọi giống lúa đều có giai đoạn lịch sử của nó vì tính bền vững phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thích ứng với nhiều vùng đất đai khác nhau, thích ứng với điều kiện, phương pháp canh tác, gần đây lại thêm các yếu tố mới xuất phát từ sự tác động của chính con người như sức ép thâm canh, sử dụng tràn lan thuốc bảo vệ thực vật .v.v.  Ngần ấy những thách thức trên cho ta thấy tạo giống là một lĩnh vực nghiên cứu không kém phần “rủi ro” và “mạo hiểm”. Các nhà khoa học cứ mải miết nghiên cứu, tìm tòi mãi mới tạo ra một giống, phải vật lộn với thực nghiệm để hoàn thiện, để được công nhận và rồi tự thân bươn chải trên thị trường để có sự chấp nhận từ người sản xuất, sau đó lại đối mặt với những thách thức của môi trường, sản xuất để tìm ra một giống mới với những yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng. Nhà khoa học như TS Nguyễn Thị Trâm đã dành cả đời để nghiên cứu cây lúa, dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn không ngừng nghỉ để “hoàn thành một ý tưởng đã nung nấu”.  Dương Tuấn Linh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá ảnh hưởng trong nghiên cứu khoa học qua chỉ số H      Gần đây, chỉ số H (còn gọi là chỉ số Hirsch, hay H index) được đề nghị như là một thước đo về năng suất làm việc, ảnh hưởng của công trình nghiên cứu đến cộng đồng khoa học quốc tế, và sự ghi nhận của đồng nghiệp trong ngành của một nhà khoa học. Trong bài này, tôi sẽ bàn qua những ưu điểm và khiếm khuyết của chỉ số này.        Số lượng và chất lượng  Đối với những nhà khoa học đã được trao giải Nobel, sự đóng góp và thành tựu của họ trong khoa học rất khó ai chất vấn được. Nhưng đối với 99,9% các nhà khoa học chưa có [hay không nằm trong phạm vi của] giải thưởng cao quí đó, việc đánh giá thành quả của họ là một vấn đề đa chiều kích (multidimension) và phức tạp. Đa chiều kích là vì thành quả khoa học phải được lượng hóa, nhưng cũng không thể bỏ qua chất lượng của các công trình nghiên cứu. Vấn đề trở nên nan giải khi tìm một công thức để quân bình giữa hai yếu tố lượng và phẩm đó.   Trong quá khứ, giới quản lí đánh giá thành quả của một nhà khoa học thường chủ yếu dựa vào: Số lượng bài báo khoa học công bố; Tổng số lần trích dẫn các bài báo; và Hệ số ảnh hưởng của tập san khoa học.   Số lượng bài báo công bố trên các tập san quốc tế thường được xem là một thước đo về sự tích cực và năng suất nghiên cứu của một nhà khoa học. Cần nói thêm rằng “bài báo khoa học” ở đây chỉ tính những bài báo nguyên thủy (original paper) chứ không phải những bản tóm lược (abstract) nghiên cứu hay trình bày trong các hội nghị khoa học.   Tuy nhiên, số lượng bài báo chỉ phản ảnh phần lượng vì một nhà nghiên cứu có thể công bố nhiều bài báo khoa học, nhưng chất lượng nghiên cứu có thể không cao. Vậy lấy gì để đánh giá “chất lượng” nghiên cứu của một nhà khoa học? Đây là một vấn đề gai góc, đã chiếm nhiều thì giờ và giấy mực của nhiều chuyên gia trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa có thước đo hoàn chỉnh. Trong khi chưa có một thước đo hoàn chỉnh, giới quản lí thường dựa vào uy tín hay độ ảnh hưởng của tập san mà họ từng công bố. Uy tín của một tập san thường được đo bằng hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor hay IF). Hệ số ảnh hưởng IF của một tập san khoa học là số lần trích dẫn trung bình trong năm cho các bài báo công bố trên tập san đó trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 2003 và 2004 tập san y khoa Lancet công bố 450 bài báo khoa học, và trong năm 2005 có 10.500 bài báo khác trích dẫn 450 bài báo đó, thì hệ số IF = 10.500 / 450 = 23,3.   Bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san, giới quản lí phải đi tìm một chỉ số khác phản ảnh chất lượng nghiên cứu của cá nhân nhà khoa học. Một trong những chỉ số hấp dẫn là chỉ số trích dẫn (average citation) của cá nhân nhà khoa học. Chỉ số trích dẫn được tính bằng cách lấy tổng số lần trích dẫn chia cho số lượng bài báo khoa học của một tác giả. Chẳng hạn như tác giả VĐT công bố 116 bài báo khoa học, và các bài báo này đã được trích dẫn 1434 lần (kể cả tác giả tự trích dẫn), do đó, chỉ số trích dẫn là 1434 / 116 = 12,3. Nói cách khác, tính trung bình số lần trích dẫn cho mỗi công trình khoa học của tác giả này là 12,3 lần.   Việc diễn giải chỉ số trích dẫn cũng đôi khi gặp khó khăn. Theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% các bài không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn sau 5 năm công bố ! Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.  Chỉ số H                  Trong nỗ lực đi tìm một chỉ số tốt hơn, năm 2005, nhà vật lí học Jorge Hirsch (Đại học California San Diego) tiến hành một phân tích khá qui mô về xu hướng công bố bài báo khoa học và trích dẫn, và sau cùng ông đề nghị một chỉ số mà ông lấy tên là H index (H có lẽ là viết tắt họ của ông). Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn. Mục tiêu của chỉ số H là đo lường mức độ ảnh hưởng tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H được định nghĩa như sau: Chỉ số H của một nhà khoa học là H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất là H lần, và (N – H) được trích dẫn dưới H lần. Ví dụ, nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 có nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần.   Nhìn qua định nghĩa trên của chỉ số H, dễ dàng thấy rằng đây là một chỉ số phản ảnh thành quả tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H không có những khiếm khuyết mà các chỉ số khác gặp phải. Chẳng hạn như một nhà nghiên cứu có thể công bố hàng trăm ấn phẩm khoa học, nhưng trong số này chỉ có một số ít được trích dẫn thì chỉ số H vẫn không cao. Có thể nói rằng cái lợi thế lớn nhất của chỉ số H là nó chẳng những bao gồm hai yếu tố lượng và phẩm, mà còn quân bình hóa hai yếu tố này khá tốt.   Chỉ số H xem ra có tính hợp lí (validity). Hirsch chịu khó phân tích các nhà khoa học y sinh học, vật lí học, hóa học từng chiếm giải Nobel thì thấy 84% có chỉ số H trên 30. Những người được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ có chỉ số H trung bình là 45. Khi so sánh những nghiên cứu sinh thành công xin học bổng hậu tiến sĩ (postdoctoral fellowship) và những người không thành công, thì chỉ số H của người thành công lúc nào cũng cao hơn người không thành công. Phân tích trên 147 nhà khoa học ở Hà Lan cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số H và uy tín cũng như số lần trích dẫn lên đến 0,89. Tất cả các dẫn chứng này cho thấy chỉ số H phản ảnh tốt chất lượng nghiên cứu và ảnh hưởng của nhà khoa học.   Diễn giải chỉ số H như thế nào?                                Trong bài báo trên PNAS [1], Hirsch viết rằng [tôi tạm dịch] một nhà khoa học với chỉ số H = 12 nên được xem là đủ tiêu chuẩn để vào biên chế đại học (tenure). Một nhà khoa học với H = 20 sau 20 năm làm khoa học có thể xem là một nhà khoa học thành công (successful); một chỉ số H = 40 sau 20 năm làm khoa học được xem là xuất sắc (outstanding) thường hay thấy ở các đại học hàng đầu hay viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế; một chỉ số H = 60 sau 20 năm làm nghiên cứu được xem là thật sự cá biệt (truly unique) [2]. Hirsch còn đề nghị rằng người có chỉ số H khoảng 12 có thể xem tương đương với giảng viên (lecturer hay senior lecturer), và người có H khoảng 18 trở lên có thể xem tương đương với đẳng cấp giáo sư. Phân tích chỉ số H của các nhà khoa học từng chiếm giải Nobel cho thấy chỉ số H trung bình của họ là 41 với độ lệch chuẩn 15. Một số nhà khoa học nổi tiếng hiện nay thường có chỉ số H trên 100. Tuy nhiên, chỉ số H của các nhà khoa học Việt Nam — trong cũng như ngoài nước — nói chung là còn rất khiêm tốn, chỉ dao động trong khoảng 2 đến 31, phần lớn là dưới 10.   Ngày nay, các tập san khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS, v.v… và các cơ quan quản lí khoa học ở châu Âu, châu Mĩ, châu Úc đều sử dụng chỉ số H để làm cơ sở cho đề bạt, cấp tài trợ, và đánh giá thành công của một nhà khoa học hay một nhóm nghiên cứu. Ngay cả Viện thông tin khoa học (ISI Thomson) cũng sử dụng chỉ số H trong báo cáo của họ [3].   Chuẩn hóa chỉ số H   Nhưng chỉ số H vẫn chưa hoàn hảo. Trong những khiếm khuyết mà giới khoa học chỉ ra trong thời gian qua, có 3 khiếm khuyết lớn như sau:   • Thứ nhất, chỉ số H luôn luôn tăng theo thời gian, và do đó tùy thuộc vào độ tuổi của nhà nghiên cứu và thời gian làm nghiên cứu. Chẳng hạn như chỉ số H của một người đã làm nghiên cứu 35 năm có xu hướng cao hơn người có thời gian làm khoa học ngắn hơn.   • Thứ hai, chỉ số H không phân biệt được những nhà khoa học đã nghỉ hưu với những nhà khoa học đang làm việc. Chẳng hạn như nếu Albert Einstein chết vào năm 1906 thì chỉ số H của ông chỉ 4 hay 5, nhưng ai cũng biết công trình của ông có ảnh hưởng rất lớn đến khoa học.   • Thứ ba, chỉ số H còn tùy thuộc vào ngành khoa học. Nói chung, các ngành khoa học tự nhiên và thực nghiệm (như vật lí, y sinh học) có xu hướng công bố nhiều công trình nghiên cứu và thường hay trích dẫn nhau hơn các nghành khoa học như toán học hay xã hội học.    Trong đó khiếm khuyết thứ ba là đáng quan tâm nhất. Chúng ta biết rằng các bộ môn khoa học có những văn hóa ngành khác nhau. Chẳng hạn như các ngành khoa học thực nghiệm thường có truyền thống trích dẫn cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên như toán học. Do đó, rất khó mà so sánh chỉ số H của một nhà vật lí học với một nhà toán học, nếu không có một cái gì đó để điều chỉnh. “Cái gì đó” chính là hệ số mà hai nhà nghiên cứu Tây Ban Nha đã phát triển [4]. Theo hai nhà nghiên cứu này, lấy ngành vật lí làm chuẩn, có thể tìm những hệ số điều chỉnh bằng cách xem xét xu hướng trích dẫn và chỉ số H của các nhà khoa học trong các bộ môn khoa học khác nhau. Qua những phân tích công phu và khá phức tạp, họ đề ra những hệ số chuẩn hóa như sau (xem Bảng 1).   Cách sử dụng hệ số này rất đơn giản. Chẳng hạn như nhà vật lí Ed Witten có chỉ số H = 110 và nhà hóa học Kurt Wurthrich có chỉ số H = 113, có thể nói rằng nhà hóa học này có thành tựu khoa học cao hơn nhà vật lí ? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải chuẩn hóa chỉ số H. Tra bảng 1 thấy hệ số điều chỉnh cho ngành hóa học là 0,92, và do đó chỉ số H của nhà hóa học này là : 113 × 0,92 = 103,6. Như vậy, sau khi điều chỉnh, nhà hóa học có lẽ có thành tựu khoa học kém hơn nhà vật lí.   Ngoài ra, còn có chỉ số khác như chỉ số g (g index), chỉ số H đương đại (contemporary H index), chỉ số H cá nhân (individual H index). Có thể tham khảo thêm các chỉ số này trong trang nhà của giáo sư Harzing. Tuy nhiên, khi so sánh các chỉ số mới này với chỉ số H, ngoài vài trường hợp cá biệt, không có gì khác nhau đáng kể. Do đó, cho đến nay giới quản lí khoa học vẫn sử dụng chỉ số H hay chỉ số H chuẩn hóa để đánh giá chất lượng và thành tựu của một nhà nghiên cứu khoa học.   Tuy vẫn còn vài khiếm khuyết nhưng chỉ số H là một thước đo thành quả khoa học khách quan nhất so với các chỉ số hiện nay. Việc ứng dụng chỉ số H cũng là một cách đưa hoạt động khoa học nước ta từng bước hội nhập quốc tế.   Chú thích:   [1] Hirsch, J. E. (2005). “An index to quantify an individual’s scientific research output,” Proceedings of the National Academy of Sciences, 102(46):16569-16572, November 15, 2005 (có thể tải về miễn phí tại arXiv).   [2] Trong bài báo [1] Hirsch viết như sau: “From inspection of the citation records of many physicists, I conclude the following:  i. A value of m ≈ 1 (i.e., an H index of 20 after 20 years of scientific activity), characterizes a successful scientist.  ii. A value of m ≈ 2 (i.e., an H index of 40 after 20 years of scientific activity), characterizes outstanding scientists, likely to be found only at the top universities or major research laboratories.  iii. A value of m ≈ 3 or higher (i.e., an H index of 60 after 20 years, or 90 after 30 years), characterizes truly unique individuals.”  [3] Có thể sừ dụng ISI để tìm chỉ số H của bất cứ nhà khoa học nào, qua các bước sau đây: Truy cập trang ISI Web of Knowledge (www.isiknowledge.com), tìm “Web of Science”, chọn Advanced Search. Trong box này, gõ tiêu chuẩn tìm như tên nhà khoa học và địa chỉ hay quốc gia. Chẳng hạn như để tìm tác giả Sutherland RL ở viện Garvan thuộc, chúng ta gõ AU=Sutherland RL AND AD=Garvan AND CU=Australia. Sau đó ISI sẽ cho ra một danh sách tất cả các bài báo khoa học. Chọn “Citation Report” sẽ có chỉ số H và một số chỉ số khác của nhà khoa học.   [4] Iglesias JE, Pecharromen C. Scaling the h-index for different scientific ISI fields. Scientometrics 2007;3:303. Có thể tải bài này về từ website sau đây: http://arxiv.org/abs/physics/0607224.       Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá ngành công nghiệp AI      Hai hội thảo thuộc Chương trình nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo của Đại học Stanford (AI100) đã xem xét các vấn đề về công nghệ chăm sóc sức khỏe và mô hình dự đoán để xác định sự phát triển của AI trong tương lai. “Chúng tôi thấy một sự quan tâm đặc biệt về khoa học nhân văn và cách chúng tương tác với AI”, Russ Altman, giáo sư kỹ thuật của Đại học Stanford và là thành viên ban thường vụ AI100 cho biết.      Các nhà nghiên cứu phân tích mẫu thạch nhũ để tìm hiểu về lịch sử khí hậu 40.000 năm. Nguồn: RUB, Marquard  Sau cuộc họp đầu tiên của AI100 năm 2016, nhóm đã lên kế hoạch gặp mặt 5 năm một lần để thảo luận hiện trạng ngành công nghiệp AI với hi vọng những báo cáo từ các phiên họp sẽ phản ánh sự phát triển và cả mối lo ngại về công nghệ AI, qua đó đưa ra dự đoán cho thế kỷ tiếp theo và trở thành nguồn thông tin cho các nhà hoạch định chính sách và những bên liên quan định hình tương lai AI trong xã hội.  Tuy vậy, công nghệ đang phát triển nhanh hơn dự kiến. Ban tổ chức AI100 cảm thấy có nhiều vấn đề cần thảo luận trước phiên họp tiếp theo dự kiến vào năm 2020. Báo cáo kết quả từ 2 hội thảo gần đây vẽ ra bức tranh về những cạm bẫy tiềm ẩn trong việc đẩy vấn đề của con người cho công nghệ giải quyết thay vì tìm hiểu nguyên nhân vấn đề, hoặc cho phép những mô hình dự đoán lỗi thời hoạt động mà không bị kiểm soát. “Các báo cáo nắm bắt bản chất chu kỳ về quan điểm và thái độ của công chúng đối với AI. Có những lúc người ta cường điệu và phấn khích với AI, cũng có những lúc thất vọng và vỡ mộng mà chúng tôi gọi là các mùa đông AI”, Peter Stone, giáo sư khoa học máy tính tại Đại học Texas-Austin, từng là chủ tịch hội đồng nghiên cứu của báo cáo hội thảo trước và hiện là chủ tịch ủy ban thường trực AI100, nhận xét.   Mục đích của chương trình nghiên cứu dài hạn này nhằm gói gọn tất cả những thăng trầm, tạo ra cái nhìn dài hạn về trí tuệ nhân tạo.  Ở hội thảo thứ nhất “Coding Caring: Human Values for an Intimate AI” (Lập trình chăm sóc: Những giá trị nhân bản cho một AI thân thiết), những người tham gia hội thảo tranh luận về khả năng chăm sóc của AI kết luận: bản thân việc chăm sóc sức khỏe không phải là thứ có thể được mã hóa trong công nghệ. Họ khuyến nghị các công nghệ mới nên được tích hợp vào mối quan hệ chăm sóc giữa người với người.   Các thành viên tham gia hội thảo coi công nghệ chăm sóc như công cụ bổ sung cho mối quan hệ chăm sóc giữa người với người. Công nghệ có thể đưa ra lời nhắc nhở uống thuốc hoặc theo dõi thông tin sức khỏe, nhưng chúng bị hạn chế về khả năng bày tỏ sự cảm thông hoặc hỗ trợ về cảm xúc cho con người. Đây là những điều không thể chuyển hóa hoặc rút gọn thành những nhiệm vụ định hướng kết quả cho máy móc được.  “Chúng tôi lo lắng rằng công nghệ có thể làm đóng băng những tương tác có ý nghĩa của con người. Hy vọng báo cáo AI2020 và các báo cáo khác trong lĩnh vực sẽ góp phần ngăn chặn ‘kỷ băng hà’ ấy bằng việc thách thức và làm thay đổi văn hóa xung quanh quá trình thiết kế, triển khai công nghệ chăm sóc trong xã hội”, Fay Niker, giảng viên triết học tại Đại học Stirling và là chủ tịch hội thảo thứ nhất nói.  Ở hội thảo thứ hai “Prediction in Practice” (Dự đoán qua thực hành), những người tham gia hội thảo đã đưa ra khái niệm “hạn sử dụng” để quản lý việc hoạt động của AI theo thời gian. “AI được đào tạo dựa trên dữ liệu quá khứ để dự đoán tương lai. Mọi thứ đều thay đổi trong bất kỳ lĩnh vực nào, vì vậy chúng ta cần phải cập nhật hoặc đánh giá lại AI đó,” Altman nhận xét.  Các quyết định quan trọng có thể xoay quanh những công nghệ này, chẳng hạn đánh giá rủi ro trong hệ thống tư pháp hình sự hay sàng lọc hệ thống bảo vệ trẻ em. Nhưng Robinson nhấn mạnh, quyết định cuối cùng phải là sự kết hợp ròng giữa kết quả thuật toán và cách lý giải của người sử dụng công nghệ. Cần có sự quản lý nghiêm ngặt đối với thông tin do AI cung cấp cũng như người diễn giải thông tin đó.   Theo Altman, cả hai hội thảo đều đi đến kết luận các quy định cần thiết cho công nghệ AI. Nhưng liệu ngành công nghiệp này có thể tự điều chỉnh hay sẽ cần những thực thể khác nào để giám sát tiến trình vẫn còn là câu hỏi. □  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: https://news.stanford.edu/2019/11/26/snapshot-artificial-intelligence-reveals-challenges/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá xếp hạng đại học      Ở Việt Nam, U-Multirank là một cái tên còn xa lạ so với các xếp hạng đại học toàn cầu như Times Higher Education của Tạp chí Times, ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải, hay QS World University Ranking của Quacquarelli Symonds.    Được đồng tài trợ bởi Bảng Châu Âu, U-Multirank Xác định tiếp cận thị trường thương mại, hướng tới định giá, so sánh kết quả hoạt động của các trường qua nhiều kính khác nhau, thay vì quy về một điểm số tổng thể hay một bảng tổng sắp.  Xu hướng tất cả các yếu tố và trái mặt của đại học xếp hạng       Sự ra đời và phổ biến của các bảng xếp hạng đại học quốc tế từ khoảng 20 năm trước là kết quả tất yếu của quá trình đại chúng hóa giáo dục đại học trên toàn thế giới và sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng giữa các cơ sở giáo dục đại học. Một số nhà nghiên cứu giáo dục còn cho rằng văn hóa nặng về thành tích ở châu Á khiến cho sự cạnh tranh trên các bảng xếp hạng đại học trở thành vấn đề thể diện quốc gia (Rhein & Nanni, 2021; Yonezawa et al., 2016).  Không thể phủ nhận vai trò của xếp hạng đại học khi cung cấp một sản phẩm “mì ăn liền” để đánh giá và so sánh giữa các cơ sở. Nó tạo động lực cho các trường và các nền giáo dục nắm bắt thế mạnh và điểm yếu của mình so với mặt bằng chung, từ đó có những thay đổi phù hợp. Mặt trái của nó là, như một sản phẩm thương mại, các hệ thống xếp hạng đại học tùy tiện tính trọng số cho các tiêu chí và nhồi toàn bộ “hồ sơ” của một trường đại học vào một điểm số cuối cùng duy nhất. Trong một bảng xếp hạng kiểu Olympic thì chỉ 100 trường đứng đầu là quan trọng, phần còn lại không có nghĩa lý gì. Thêm nữa, khi một trường tiến lên thứ hạng cao hơn thì một trường khác tất yếu phải rớt xuống. Hệ thống xếp hạng đại học vô hình trung tạo nên một zero-sum game, luôn có người thắng và người thua, ngay cả khi tất cả đều phát triển theo hướng tích cực (Shin et al., 2011).  Một tiếp cận phi thương mại  Ngay từ khi được Ủy ban Châu Âu (EC) quyết định tài trợ vào năm 2011 và chính thức khởi động vào năm 2014, U-Multirank đã xác định cách tiếp cận phi thương mại, rời xa mô hình xếp hạng đại học truyền thống. Thay vì quy về một điểm số tổng thể hay một bảng tổng sắp duy nhất, U-Multirank hướng tới đánh giá, so sánh kết quả hoạt động của các trường qua nhiều lăng kính khác nhau: từ giảng dạy và học tập đến nghiên cứu, chuyển giao tri thức, định hướng quốc tế, liên kết khu vực. Đặc biệt, U-Multirank luôn chú trọng xem xét vai trò của đại học hiện đại trong mối quan hệ với địa phương, cộng đồng, và xã hội nói chung.  Việc đánh giá đa chiều cũng liên quan mật thiết đến tầm nhìn của U-Multirank về cá nhân hóa nhu cầu của người dùng. U-Multirank cho rằng các nhóm đối tượng khác nhau có các mối quan tâm và ưu tiên khác nhau về một trường đại học. Học sinh và phụ huynh trên khắp thế giới có thể sử dụng công cụ tương tác trên web của U-Multirank để lựa chọn danh sách trường phù hợp với tiêu chí của mình. Các nhà quản trị đại học, nhà hoạch định chính sách, hay doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các chỉ số để đưa ra quyết sách phù hợp.  Đánh giá đa chiều của U-Multirank được biểu diễn bằng mô hình mặt trời “sunburst”, cung cấp cái nhìn nhanh toàn cảnh về một trường đại học trên 5 nhóm tiêu chí chính: (i) Nghiên cứu; (ii) Chuyển giao tri thức; (iii) Định hướng quốc tế; (iv) Liên kết nghiên cứu khu vực; (v) Giảng dạy và học tập. Các tiêu chí được thể hiện bằng màu khác nhau, ví dụ, tiêu chí “Giảng dạy và học tập” có màu xanh lục. Mỗi nhóm tiêu chí lại được chia thành các tia nhỏ, ứng với các tiêu chí con. Tia càng dài thể hiện thành tích càng cao, bắt đầu từ “yếu” đến “rất tốt”. Các tia bị khuyết nghĩa là dữ liệu về tiêu chí đó không có sẵn.  Bước sang tuổi thứ 9, U-Multirank tiếp tục mở rộng các tiêu chí đánh giá của mình. Năm nay, ngoài 5 nhóm tiêu chí chính, U-Multirank bổ sung thêm một đánh giá phụ về mức độ hòa nhập xã hội của các trường đại học qua những nỗ lực mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho các cộng đồng thiểu số, yếu thế (nữ sinh, sinh viên khuyết tật, sinh viên thế hệ đầu tiên, sinh viên nhập cư, v.v). Kết quả đối với đánh giá phụ này không được thể hiện trên biểu đồ sunburst nhưng người đọc quan tâm có thể đọc trên trang riêng cho từng trường.  Sự tham gia của các trường đại học Việt Nam  Ngày 21/6 vừa qua, U-Multirank đã công bố kết quả đánh giá mới nhất dựa trên dữ liệu từ hơn 2.200 trường đại học của 96 quốc gia cùng với khảo sát khoảng 62.000 sinh viên ở 314 trường.  Năm nay, Việt Nam có bốn trường đại học tham gia U-Multirank: Đại học Kinh tế TPHCM (UEH), Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST), Đại học Trà Vinh (TVU), và Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU). Đại học Kinh tế TPHCM được đánh giá là dẫn đầu trong 4 trường ở tất cả 5 nhóm tiêu chí lớn. Trong số 40 tiêu chí nhỏ, Đại học Kinh tế TPHCM nhận được 9 điểm ‘A’ (rất tốt) – một thành tích mà không nhiều trường đại học châu Á tham gia U-Multirank có được. Thế mạnh của Đại học Kinh tế TPHCM và Đại học Tôn Đức Thắng đều nằm ở hoạt động nghiên cứu. Trong khi đó, Đại học Bách khoa Hà Nội lại thể hiện sự nổi trội về Chuyển giao tri thức và nhận được 6 điểm “A”, còn Đại học Trà Vinh mạnh về Giảng dạy và học tập. Với phương châm “Mang đến cơ hội học tập chất lượng cho cộng đồng”, Đại học Trà Vinh cũng được đánh giá cao ở các chương trình tiếp cận và thu hút sinh viên từ các cộng đồng thiểu số như sinh viên Khmer, sinh viên là con gia đình chính sách và hộ nghèo.  Được biết, Đại học Bách khoa Hà Nội đã tham gia U-Multirank từ những năm đầu, Đại học Kinh tế TPHCM từ năm 2016, và năm nay là năm thứ hai của Đại học Trà Vinh. Mặc dù không mất phí đăng kí, các trường tham gia sẽ phải chịu chi phí thu thập dữ liệu – chi phí này khác nhau tùy thuộc vào mức độ phức tạp của hệ thống thông tin quản lý nội bộ.  So với các nước trong khu vực ASEAN, số trường đại học của Việt Nam tham gia U-Multirank có thể nói là khá khiêm tốn. Các nước lân cận như Malaysia có 7 trường tham gia, trong khi Thái Lan có đến 50 trường. Một mặt, số trường tham gia đông phản ảnh tham vọng cũng như năng lực thu thập và quản lý dữ liệu của các cơ sở giáo dục đại học. Mặt khác, cơ chế tự chủ đại học và cơ chế cạnh tranh sòng phẳng để giành các nguồn lực tài chính, như ở Thái Lan, đã khiến xếp hạng quốc tế không chỉ là một ưu tiên mà trở thành nỗi ám ảnh (Lao, 2015).  Trao đổi với chúng tôi, ông Gero Federkeil – Giám đốc điều hành của U-Multirank – cho biết: “Rõ ràng, U-Multirank vẫn chưa được biết đến nhiều trong các trường đại học Việt Nam. Nhưng kết quả hoạt động của bốn trường cho thấy U-Multirank có thể là một công cụ hữu ích để các trường tăng độ nhận diện quốc tế và khả năng so sánh với các trường đại học khác trên khắp thế giới có hồ sơ tương tự.”  Trong tương lai, U-Multirank và các nước trong khu vực có thể hợp tác để phát triển các mô hình đánh giá đại học riêng cho mỗi nước, như cách U-Multirank đã hợp tác với Đức.  Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang “Đánh thức” hệ thống miễn dịch để chữa ung thư tuyến tụy      Loại thuốc mới có tên IMM-101 được coi là một đột phá mới trong y học, có thể mang lại cơ hội sống sót cho những người mắc ung thư tuyến tụy di căn bằng cơ chế “đánh thức” hệ thống miễn dịch của cơ thể mà trước đó đã bị các tế bào ung thư vô hiệu hóa.      Tế bào ung thư tuyến tụy. Nguồn: Getty Images.  Trước đây, liệu pháp chữa ung thư bằng hệ thống miễn dịch đã được áp dụng với ung thư da và ung thư phổi, nhưng chưa áp dụng được cho ung thư tuyến tụy vì đây là loại ung thư khó chữa nhất, và khi đã di căn đến những bộ phận khác trong cơ thể thì bệnh nhân có thể chết chỉ trong vòng vài tháng.  Do vậy, kết quả nghiên cứu vừa được công bố trên Tạp chí Ung thư của Anh (British Journal of Cancer) về một loại thuốc mới có tên IMM-101 (được bào chế từ loài vi khuẩn mycobacterium obuense) có thể đem lại cơ hội sống sót cho những người mắc ung thư tuyến tụy di căn mà không gây thêm tác dụng phụ nào được coi là một đột phá mới trong y học. Ở giai đoạn di căn, những người chỉ điều trị bằng biện pháp hóa trị sống trung bình được khoảng 4,4 tháng, còn những người sử dụng thuốc IMM-101 sống trung bình được trên 7 tháng, đặc biệt, một số người đã sống được tới hơn một năm, và một người sống được tới ba năm.  Cơ chế hoạt động của IMM – 101 là “đánh thức” hệ thống miễn dịch của cơ thể mà trước đó đã bị các tế bào ung thư vô hiệu hóa, qua đó, thúc đẩy hệ thống miễn dịch nhận biết và nhắm vào các khối u để các loại thuốc hóa trị có thể phát huy tác dụng.  Theo TS Justine Alford, nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu ung thư Anh, “thử nghiệm kết hợp thuốc IMM-101 với hóa trị trong điều trị đã có hiệu quả trên bệnh nhân mắc ung thư tuyến tụy – bệnh khó điều trị nhấtvà có khả năng sống sót thấp. Do đó, rất cần phải nghiên cứu sâu hơn để phát triển các phương pháp chữa trị hiện thời nhằm cải thiện sự sống của bệnh nhân ung thư”.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh thức khả năng phân bào của cơ tim trưởng thành      Trên cơ sở phát hiện ra khả năng phối hợp của một loại protein đặc biệt với những protein khác có thể làm kìm hãm sự phân chia của tế bào tim, các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế UT Southwestern (Dallas, Texas, Mỹ) đã đề xuất một cách thức mới để mở cơ chế kìm hãm này và xuất bản công trình trên tạp chí Nature hôm 22/4.      TS Nguyễn Ngọc Uyên Nhi.     TS. Nguyễn Ngọc Uyên Nhi, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Trung tâm Y tế UT Southwestern và là tác giả thứ nhất của công bố, đã trao đổi với báo KH&PT về công trình [1] cũng như hành trình của các nhà khoa học để vượt qua những khó khăn, thậm chí có thời điểm tưởng chừng như đã đi vào ngõ cụt, để có được kết quả này.  Phát hiện cơ chế kìm hãm sự phân chia của tế bào cơ tim  Vì sao chị và đồng nghiệp lại quan tâm đến tế bào cơ tim? Nó có gì đặc biệt so với các loại tế bào khác?  Tế bào cơ tim (cardiomyocyte) chịu trách nhiệm chính cho việc bơm máu đi khắp cơ thể. Việc mất một phần cơ tim, ví dụ sau nhồi máu cơ tim, làm giảm cung lượng tim. Khác với phần lớn các cơ quan khác trong cơ thể, tim được xem như không có khả năng tự tái tạo sau khi bị tổn thương – một phần tế bào cơ tim sẽ chết đi. Vì vậy tim hoạt hóa hệ thống bù trừ và tái cấu trúc tâm thất trái giúp cải thiện cung lượng tim với số cơ tim còn lại. Tuy nhiên, về lâu dài các buồng tim sẽ dãn, dẫn tới suy tim và tử vong.  Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng tim ở động vật có vú trưởng thành vẫn có khả năng tự tái tạo sau tổn thương, nhưng với tỷ lệ rất nhỏ, không đủ để bù đắp số cơ tim bị mất. Điều thú vị là nghiên cứu trên chuột cho thấy tim của chuột sơ sinh có thể tự tái tạo gần như hoàn toàn sau tổn thương nhờ vào sự tăng phân bào (proliferation) từ các cơ tim có sẵn. Khả năng phân bào này giảm dần và gần như biến mất khi chuột bắt đầu trưởng thành (khoảng ngày thứ 7 sau sinh). Lúc này tế bào cơ tim chuyển qua phát triển về kích thước và cấu trúc để phục vụ cho việc co bóp. Mục đích nghiên cứu của lab – do TS. BS. Hesham Sadek đứng đầu – là tìm ra tác nhân đã ngăn chặn quá trình phân bào của tế bào cơ tim khi chuyển tiếp từ giai đoạn sơ sinh sang trưởng thành, từ đó có thể đánh thức khả năng phân bào của cơ tim ở động vật trưởng thành để bù đắp số cơ tim đã chết, giảm bớt áp lực hoạt động lên số cơ tim còn sống, ngăn ngừa suy tim và tử vong do suy tim.  Vậy nghiên cứu này đã được xuất phát từ yếu tố nào?  Năm 2013, TS. BS. Sadek và cộng sự phát hiện rằng yếu tố phiên mã (transcription factor) Meis1 đóng vai trò quan trọng trong việc ức chế khả năng phân bào của tế bào cơ tim trưởng thành. Ở chuột có đột biến dẫn đến cơ tim không thể sản sinh Meis1, tế bào cơ tim trưởng thành có khả năng phân bào như ở tim chuột sơ sinh, tuy nhiên khả năng phân chia này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi sau đó lại biến mất. Cả nhóm đã công bố phát hiện này cũng trên Nature, mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu về tái tạo cơ tim. Đồng thời, nó cũng đặt ra cho chúng tôi một câu hỏi lớn: tại sao đột biến Meis1 chỉ hoạt hóa phân bào thoáng qua mà không duy trì lâu dài được?  Điều này chứng tỏ là có những yếu tố khác có chức năng hoạt động tương tự Meis1 và bù trừ cho sự thiếu hụt Meis1. Nhóm nghiên cứu sau đó tìm ra Hoxb13, một yếu tố phiên mã hoạt động tương tự như Meis1 trong quá trình trưởng thành của cơ tim. Chúng tôi tạo chuột đột biến mà cơ tim của nó không sản sinh ra Hoxb13, và quan sát khả năng phân bào của cơ tim. Giống như chuôt đột biến Meis1, cơ tim của chuột đột biến Hoxb13 cũng tăng khả năng phân bào thoáng qua. Số tế bào cơ tim mới này tuy có thể bù đắp để ngăn chặn suy tim diễn tiến, nhưng không đủ để phục hồi chức năng tim như bình thường. Sau đó, nhóm nghiên cứu quyết định gây đột biến cả hai gene cùng một lúc, và kết quả thật đáng chú ý: tế bào cơ tim ở chuột có hai đột biến gene không chỉ tăng khả năng phân bào, mà còn có kiểu hình giống với quá trình phân bào ở cơ tim chuột sơ sinh, điều chưa từng thấy ở những báo cáo trước đây.  Kết quả này đã gợi mở vấn đề gì thú vị?  Kết quả này cho thấy rằng, bằng cách ức chế hoạt động của hai yếu tố phiên mã Meis1 và Hoxb13 cùng lúc, tế bào cơ tim trưởng thành có vẻ như được trẻ hóa (rejuvenate) đến giai đoạn giống với tế bào tim sơ sinh, giúp tăng cường và duy trì khả năng phân bào. Thú vị là số lượng cơ tim mới được sinh ra đủ để phục hồi chức năng cơ tim về gần với mức bình thường ở chuột sau khi bị tổn thương. Về mặt cơ chế, nhóm nghiên cứu tìm thấy calcineurin thúc đẩy Hoxb13 chuyển dịch vào nhân (nucleus) trong quá trình cơ tim trưởng thành (từ sau sanh cho tới ngày thứ 7). Khi Meis1 và Hoxb13 đã vào nhân, hai yếu tố này hoạt hóa phiên mã của những yếu tố ức chế phân bào và những yếu tố cần thiết cho sự phát triển/phì đại của cơ tim. Calcineurin từ lâu đã được biết đến là yếu tố thúc đẩy cơ tim phì đại (cả sinh lý và bệnh lý), tuy nhiên nghiên cứu này chỉ ra thêm vai trò của calcineurin trong ức chế phân bào để chuyển cơ tim từ phát triển bằng tăng số lượng (hyperplasia) đến phát triển bằng tăng kích thước (hypertrophy).  Sự phối hợp giữa Meis1 và Hoxb13 như thế nào?  Meis1 và Hoxb13 hoạt động theo 3 cách: Meis1 và Hoxb13 điều khiển sự hoạt động của nhóm gene riêng của nó, và hai yếu tố này hoạt động chung trên một nhóm gene chung. Nhóm nghiên cứu cần thêm nhiều thí nghiệm để chứng minh hoạt động cụ thể của hai yếu tố phiên mã này trên từng gene.  Như vậy calcineurin sẽ hứa hẹn khả năng phát triển các loại thuốc nhắm đến Meis1 và Hoxb13 chứ?  Nhóm nghiên cứu không phát triển thuốc nhắm vào hoạt động của calcineurin vì ngoài việc thúc đẩy Hoxb13 chuyển dịch vào nhân (dẫn đến ức chế phân bào), calcineurin rất cần thiết cho nhiều hoạt động khác của tế bào cơ tim. Bởi vì Meis1 và Hoxb13 hoạt động bằng cách bám vào DNA để hoạt hóa hay ức chế gene, nhóm nghiên cứu nhắm vào việc phát triển thuốc mà có thể khóa khả năng bám vào DNA của Meis1 và Hoxb13, làm cho Meis1 và Hoxb13 không thể điều khiển các gene của nó, giống như tình trạng của tế bào cơ tim chuột sơ sinh.     Hình ảnh miễn dịch huỳnh quang tim chuột trưởng thành khoảng 2 tuần sau khi Meis1 và Hoxb13 bị loại bỏ, có kiểu hình giống tế bào cơ tim đang phân bào ở chuột sơ sinh. Màu đỏ là troponin T (protein đặc hiệu cho cơ tim), màu xanh dương là nhân (nucleus), màu xanh lá cây là phospho-H3, dấu hiệu đang nhân bản DNA để chuẩn bị cho phân bào. Thông thường troponin T sẽ lấp đầy tế bào cơ tim chuột trưởng thành. Ngược lại ở tế bào cơ tim chuột sơ sinh đang phân bào, troponin T sẽ bị phân hủy tạo ra khoảng trống giữa nhân và phần troponin T gần màng tế bào (sarcomere disassenmbly), đồng thời một số nhân có dấu hiệu của phospho-H3.  Loại dần khó khăn để đạt được mục tiêu đề ra  Nghiên cứu về chức năng của các protein là một vấn đề đầy thách thức. Vậy để có được cơ chế này, chị và nhóm nghiên cứu chắc chắn đã vấp nhiều khó khăn?  Thật sự tôi không còn nhớ bao nhiêu khó khăn đã trải qua. Đề tài này kéo dài gần 7 năm và trong quãng thời gian đó có hai nghiên cứu viên đã bỏ cuộc. Khi tôi tham gia đề tài thì có vẻ như không ai trong lab muốn nhận đề tài hết nên tôi phải làm việc gần như một mình giai đoạn đầu. Bản thân tôi cũng rất nhiều lần muốn bỏ cuộc như họ vì quá nhiều thí nghiệm không thành công, cộng với sức ép quá lớn, nhưng rất may mắn là tôi được hai giáo sư trưởng lab động viên và thúc đẩy, đồng nghiệp chỉ dẫn và hỗ trợ rất nhiều.  Tôi sẽ chỉ kể một vài khó khăn chính thôi: Khó khăn đầu tiên đến từ bài báo Nature trước: tại sao đột biến Meis1 chỉ hoạt hóa phân bào thoáng qua mà không duy trì lâu dài được. Tuy nhiên nhờ giải quyết khó khăn đó bằng cách sàng lọc các yếu tố phụ trợ với Meis1 mà tìm ra Hoxb13 và có bài báo này.  Khó khăn thứ 2 là chuột đột biến Hoxb13 cũng không có kết quả khả quan hơn chuột đột biến Meis1. Nhờ đó mà nhóm nghĩ đến tạo ra chuột đột biến cả hai gene.  Khó khăn thứ 3 là khi chuột bị đột biến của hai gene, tế bào cơ tim có kiểu hình rất lạ chưa bao giờ nhìn thấy. Lúc đó nhóm nghĩ là tế bào cơ tim bị chết sau đột biến, như vậy kết quả hoàn toàn ngược với dự định. Tuy nhiên sau khi theo dõi sát sao số chuột đột biến thì nhóm thấy rằng chuột vẫn sống tốt và số tế bào cơ tim tăng lên. Sau đó, trưởng lab tìm ra là kiểu hình này giống với kiểu hình của tim chuột sơ sinh.  Khó khăn thứ 4 là cơ chế hoạt động của calcineurin trên Hoxb13. Lúc đầu nhóm thực hiện thí nghiệm trên tế bào bình thường (còn Hoxb13) nên không ra kết quả. Sau nhiều thí nghiệm nhóm phát hiện ra là cần phải thử nghiệm trên tế bào hoàn toàn không có Hoxb13, vì vậy phải phân tách tế bào từ chuột đột biến Meis1 và Hoxb13. Tuy nhiên, nhờ đó đã tìm được cơ chế hoạt động của calcineurin trên Hoxb13.  Ngoài những khó khăn trên phần lớn khó khăn là do số lượng thí nghiệm nhiều và khó và đòi hỏi nhiều thời gian thực hiện. Cụ thể bài báo sử dụng khoảng 14 chủng chuột khác nhau, 3 phương pháp mổ, 2 phương pháp đo chức năng tim, và nhiều thí nghiệm khác nữa.  Giữa những khó khăn bủa vây như vậy, chị và đồng nghiệp đã giải quyết khó khăn như thế nào?  TS. BS. Hesham Sadek, giáo sư trưởng lab-PI, là người đóng vai trò quan trọng nhất cho sự hoàn thành của bài báo này. Khi hai nghiên cứu viên trước bỏ cuộc, ông vẫn tin tưởng vào giả thuyết của mình, và động viên nhóm tiếp tục nghiên cứu. Sự định hướng của ông gồm hai mặt:  Về chuyên môn, ông đưa ra giả thuyết và dự đoán kết quả mong muốn, nhóm nghiên cứu dựa trên giả thuyết đó để thực hiện thí nghiệm và báo cáo kết quả. Kết quả dù phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết đều được tranh luận ở lab meeting để hiểu rõ hơn và tìm hướng đi tiếp theo.  Về tinh thần, ông luôn khuyến khích suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ (“out of the box”) cho những vấn đề khoa học, nhưng phải dựa trên nguyên tắc giải quyết vấn đề dựa trên một giả thuyết hoặc một câu hỏi cụ thể. Điều này giúp cho nghiên cứu có hướng đi rõ ràng tới một mục tiêu xác định (là chữa bệnh gì), chứ không chỉ là một nghiên cứu chung chung.  Quãng thời gian thực hiện đề tài giúp chị rút ra được điều gì?  Việc tham gia nghiên cứu này giúp tôi học được rất nhiều thứ có ích cho con đường nghiên cứu độc lập sau này: Thứ nhất, đó là lòng kiên nhẫn: vì làm việc dưới áp lực cao, làm liên tục nhiều giờ mỗi ngày với độ tập trung cao, phải vận dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, thậm chí những kỹ thuật rất mới chưa từng làm qua, cộng thêm việc tiếp xúc hóa chất độc hại, chuột, vi khuẩn, virus…làm cho bản thân rất dễ mệt mỏi dẫn tới bỏ cuộc. Vì vậy rất cần rèn luyện tính kiên nhẫn để có thể hoàn thành một đề tài khoa học.  Thứ hai, là niềm tin: niềm tin vào giả thuyết giúp cho bản thân và nhóm nghiên cứu có động lực để vượt qua khó khăn. Ngoài ra, tôi còn rèn được cho mình khả năng đàn hồi trong công việc: nếu như kết quả nghiên cứu chỉ ra giả thuyết ban đầu bị sai thì cần phải có tính đàn hồi để thay đổi giả thuyết và tìm hướng đi mới.  Tôi cũng mở lòng, giao tiếp với mọi người thoải mái hơn. Là người ngại giao tiếp nên tôi hay lủi thủi làm việc một mình. Tuy nhiên việc mở rộng giao tiếp giúp tôi học hỏi kỹ thuật mới nhanh hơn, được giúp đỡ nhiều hơn để hoàn thành những thí nghiệm không phải thế mạnh của tôi, và được nhận những ý kiến đóng góp vô cùng giá trị. Tăng cường khả năng làm việc nhóm thúc đẩy tốc độ hoàn thành của đề tài. Việc làm việc nhóm này không chỉ trong lab hay trong trường, mà còn mở rộng ra các lab ở các nước khác nữa.  Được làm việc ở một phòng thí nghiệm lớn, nhân lực quốc tế với trình độ chuyên môn cao, tôi học được cách định hướng nghiên cứu dựa trên giải quyết một câu hỏi/ giả thuyết cụ thể, cách tiếp nhận ý kiến từ những chuyên gia khác ngành (họ có góc nhìn khác cho vấn đề của mình), sử dụng máy móc hiện đại và kỹ thuật mới để rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng/ độ tin cậy của thí nghiệm.  Và trên tất cả, tôi nhận ra tầm quan trọng của sự chăm chỉ. Trong nghiên cứu, tôi thấy rằng không có ai thành công mà bỏ ít thời gian để làm việc cả. Không chỉ làm thí nghiệm mà còn phải đọc rất nhiều tài liệu nghiên cứu cũ và mới, tham gia rất nhiều seminar, hội nghị để cập nhật kiến thức…, viết báo cáo, dự án… Suy cho cùng, phải làm việc chăm chỉ thì mới theo đuổi được nghề nghiên cứu.  Phát hiện này có gợi mở những hướng nghiên cứu gì cho chị trong tương lai?  Hiện tại nhóm nghiên cứu đang phát triển thuốc tác động vào Meis1 và Hoxb13 để thúc đẩy cơ tim phân chia. Tôi muốn tìm thêm những yếu tố khác đảm nhận quá trình bật/ tắt chương trình phân bào của cơ tim, từ đó có thể điều khiển quá trình này để giúp cho việc điều trị bệnh tim.  Cảm ơn chia sẻ của chị!  Anh Thư thực hiện  Bên cạnh tác giả liên hệ là GS.TS Hesham A. Sadek, TS Nguyễn Ngọc Uyên Nhi là tác giả thứ nhất của nghiên cứu này. Chị từng theo học tại ĐH Y Dược TP.HCM, ĐH Bách Khoa TP.HCM và ĐH Quốc gia Cheng Kung (Đài Loan). Chị cũng đã có thời gian làm việc ở Bệnh viện Từ Dũ và Trung tâm Kiểm chuẩn Xét nghiệm TP.HCM. Hiện chị là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Trung tâm Y tế UT Southwestern (Texas, Mỹ).  Công bố trên Nature: https://www.nature.com/articles/s41586-020-2228-6?proof=true1  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/danh-thuc-kha-nang-phan-bao-cua-co-tim-truong-thanh/20200525044640255p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đảo băng khổng lồ bị tách làm đôi      Đảo băng khổng lồ Ayles đang trôi khỏi bờ biển phía bắc Canada bị tách rời thành hai nửa sớm hơn dự kiến và di chuyển rất nhanh. Một trong 2 tảng đã phủ khoảng 98 km mặt nước trong vòng một tuần.      Những tảng băng này có thể tiến về phía tây ngoài khơi bờ biển Alaska làm ảnh hưởng đến hoạt động khai thác dầu mỏ. Theo TS Copland, không giống như các đảo băng ở Bắc Băng Dương thường có tuổi thọ trên 50 năm, các đảo băng bây giờ thường tồn tại ngắn hơn. Những đảo băng sẽ tan ra nhanh chóng do nhiệt độ Trái đất ngày càng nóng lên. TS Copland nói, “Tôi không tin là chúng có thể tồn tại hơn 10 năm”.  Độ dày trung bình của đảo băng là 42-45m, tương đương với chiều cao của ngôi nhà 10 tầng.    Thùy Linh (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dao cắt phân tử mới trong kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR      Phương pháp chỉnh sửa gene CRISPR vừa có  thêm một bước cải tiến khi nhóm nghiên cứu của TS Trương Phượng ở Viện  Công nghệ Massachusetts (MIT) tìm ra một loại protein vi khuẩn có thể  mài sắc “con dao” cắt DNA của CRISPR để từ đó khiến việc chỉnh sửa gene  trở nên dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn.     CRISPR là phương pháp chỉnh sửa gene phổ biến bằng cách dùng các protein vi khuẩn để cắt DNA, trong đó protein vi khuẩn có tên Cas9 được nhiều nhóm nghiên cứu sử dụng để xóa bỏ, biến đổi, thậm chí là bổ sung DNA vào các tổ chức sinh học, từ nấm men cho tới con người.    Cùng lúc, có nhiều nhóm nghiên cứu khác lại tập trung nghiên cứu để “nâng cấp” các phiên bản tốt hơn dao cắt phân tử của CRISPR.     Trong cuộc đua này, nhóm của TS Trương Phượng, nhà sinh học phân tử tại Viện Broad và Viện Nghiên cứu Não McGovern thuộc MIT đã giành được những thành tựu ban đầu. TS Trương Phượng cùng các đồng nghiệp đã sàng lọc hàng trăm enzyme khác nhau, trong đó có một loại protein gọi là CPF1 được nhiều loại vi khuẩn sử dụng để chống lại virus. Theo thông tin của nhóm nghiên cứu trên, CPF1 có thể chỉnh sửa DNA trong tế bào người.    TS Trương Phượng cho rằng, một trong những ưu điểm của CPF1 so với Cas9 là CPF1 đòi hỏi một lượng RNA nhỏ hơn – đủ nhỏ để khiến cho việc tạo RNA trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn. Ngoài ra, protein này cũng có nhiều ưu điểm khác, có thể giúp việc chỉnh sửa gene được thực hiện chính xác hơn và tại nhiều điểm hơn trong một bộ gene.    TS Trương Phượng vẫn sẽ tiếp tục tìm kiếm các loại dao cắt DNA khác, bởi theo ông, “có rất, rất nhiều loại dao cắt đang tồn tại”.    Trang Bùi dịch theo sciencemag.org     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dao động Neutrino và trang vật lý mới      Hai nhà vật lý Takaaki Kajita (Nhật Bản) và  Arthur B.McDonald (Canada) – đồng chủ nhân giải Nobel Vật lý năm 2015 – đã  phát hiện được hiện tượng biến hóa trên đường bay của neutrino. Kết quả  này sẽ mở một trang mới cho vật lý các hạt cơ bản và vũ trụ học.     Neutrino là một hạt fermion với spin = ½, không có điện tích, khối lượng rất bé và có ba hương vị (flavor): neutrino-electron, neutrino-muon và neutrino-tau tùy theo việc neutrino đi kèm với electron, hay muon, hay tau trong các phân rã.   Neutrino xuất phát từ Big Bang, từ các quá trình xảy ra trong không gian, trên Trái đất, từ Mặt trời, từ bùng nổ các siêu tân tinh (supernovas), từ các lò phản ứng hạt nhân và từ các phân rã phóng xạ tự nhiên. Số lớn neutrino đến mặt Trái đất là từ các phản ứng hạt nhân trên Mặt trời. Sau photon – hạt của ánh sáng – neutrino là một hạt kỳ diệu và có rất nhiều trong vũ trụ.  Takaaki Kajita (với thiết bị Super Kamiokande – SK, xem hình 1) và Arthur B.McDonald (với thiết bị Subbury Neutrino Observatory – SNO, xem hình 2) đã phát hiện được hiện tượng biến hóa (thay đổi hương vị) trên đường bay (mid-flight metamorphosis) của neutrino. Kết quả này sẽ mở một trang mới cho vật lý các hạt cơ bản và vũ trụ học.   Cuộc săn đuổi này được tiến hành ở sâu trong lòng đất với những thiết bị khổng lồ có hàng nghìn con mắt nhân tạo để ghi đo neutrino.                Hình 1. Thiết bị Super-Kamiokande ghi đo neutrino khí quyển. Số neutrino-muon   đến từ phía trên nhiều hơn số neutrino-muon đã đi xuyên qua Trái đất. Như vậy   số neutrino-muon đi quãng đường xa hơn đã thay đổi hương vị trên đường bay.          Hình 2. Thiết bị SNO (Ontario, Canada) ghi đo neutrino từ Mặt trời. Phát hiện   số neutrino-electron nhỏ hơn dự đoán. Kết luận là: một số neutrino-electron   đã thay đổi hương vị trên đường bay.     Năm 1998, Takaaki Kajita đã phát hiện sự biến hóa – thay đổi hương vị trên dường bay – của neutrino nhờ detector SK tại Nhật. Các neutrino này xuất hiện tương tác giữa tia vũ trụ và khí quyển Trái đất.    Cùng thời các nhà khoa học tại SNO (Sudbury Neutrino Observatory), Canada dưới sự lãnh đạo của Arthur B.McDonald nghiên cứu neutrino từ Mặt trời cũng đã chứng minh được các neutrino đã thay đổi hương vị trên đường bay.    Hai thí nghiệm trên đều phát hiện ra hiện tượng mới quan trọng – sự dao động của neutrino tức sự biến hóa giữa các hương vị. Cơ học lượng tử buộc rằng muốn có dao động thì các neutrino phải có khối lượng khác nhau. Đây là một điều trái với Mô hình chuẩn (Standard Model – SM) của các hạt cơ bản thiết lập trước đây, theo SM thì neutrino không có khối lượng.     Hiện nay chưa ai có thể tiên đoán hết tầm quan trọng của hiện tượng dao động neutrino đối với vật lý hạt cơ bản và vũ trụ học.   CÁC TÍNH CHẤT CỦA HẠT NEUTRINO  Danh từ neutrino (tiếng Ý có nghĩa là neutron nhỏ) là tên do Enrico Fermi đặt cho hạt này. Neutrino phát sinh từ phân rã của các hạt phóng xạ (xem hình 3).            Hình 3. Các hạt nhân phóng xạ có phân rã beta: tritium (một đồng vị của hydrogen) phân rã thành helium 3, một neutron biến thành proton và một phản neutrino.     Neutrino tương tác rất yếu với các hạt khác. Ứng với mỗi neutrino có một hạt phản neutrino (xem hình 4).               Hình 4. Neutrino và phản hạt của nó là phản neutrino     Hạt neutrino trong mô hình chuẩn SM là một hạt trái, điều này có nghĩa là spin và xung lượng chuyển động ngược chiều với nhau (xem hình 5) còn đối với phản neutrino thì đó là một hạt phải (spin hướng đồng chiều với xung lượng).                Hình 5. Neutrino trái và phản neutrino phải     Khái niệm trái và phải không có ý nghĩa đối với các hạt như electron vì tính trái và phải sẽ biến thành ngược lại trong một hệ quy chiếu khác. Song đối với neutrino vì chúng chuyển động với tốc độ gần tốc độ ánh sáng nên không tìm được hệ quy chiếu để biến trái thành phải được vì vậy đối với neutrino tính trái và phải là bất biến Lorentz.    Hạt neutrino được tiên đoán bởi nhà vật lý người Áo Wolfgang Pauli năm 1930 lúc nghiên cứu phân rã beta: Tôi đã làm một việc khủng khiếp là tiên đoán sự tồn tại của một hạt mà có thể không ghi đo được, Pauli đã phát biểu như vậy.    Thực tế neutrino có thể ghi đo được nhờ những cố gắng đặc biệt của các nhà vật lý. Neutrino không ở trong thành phần cấu tạo nguyên tử, neutrino cũng không tham gia vào các quá trình hóa học. Neutrino không mang điện, có khối lượng rất bé, khoảng một phần triệu khối lượng electron. Neutrino là hạt đã làm kinh ngạc thế giới trong 80 năm qua. Hiện nay cũng còn những vấn đề còn bỏ ngỏ đối với neutrino. Nhiều câu hỏi về neutrino sẽ có ảnh hưởng lớn đến vật lý trong tương lai, đến lý thuyết thống nhất. Mô hình SM hiện hành chưa gồm được hết các tính chất của neutrino và cần phải được mở rộng.  NEUTRINO VÀ PHẢN NEUTRINO, HẠT DIRAC VÀ HẠT MAJORANA      Các dữ liệu thực nghiệm cho thấy rằng các phản neutrino đều có helicity dương (hạt phải) còn neutrino có helicity âm (hạt trái).    Nếu neutrino là một hạt Dirac (như các hạt trong SM) thì neutrino và phản neutrino là hai hạt khác nhau. Song nếu neutrino là một hạt Majorana thì neutrino và phản neutrino trùng nhau và là cùng một hạt.    Không giống như hạt Dirac (hạt và phản hạt khác nhau) các hạt Majorana đồng nhất với phản hạt.    Liệu neutrino là hạt Dirac hay là hạt Majorana? Đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ đối với hạt neutrino. Câu hỏi này (hạt Dirac hay hạt Majorana?) có thể tìm được câu trả lời trong những phân rã beta kép không có neutrino (xem hình 6).    Nhiều hạt nhân đồng vị có thể có hai phân rã beta đồng thời và thông thường sẽ phát ra hai electron và hai phản neutrino. Kết quả của phân rã kép beta sẽ không cho ta một neutrino nào nếu như neutrino là những hạt Majorana.    Mô hình Majorana cho neutrino có ưu điểm giải thích được sự bất đối xứng vật chất/phản vật chất: vì sao vũ trụ lại có nhiều vật chất mà phản vật chất hầu như khó tìm ra?                  Hình 6. Phân rã kép beta không có neutrino. Nếu neutrino cũng là phản neutrino   (hạt Majorana) thì phản neutrino phát sinh từ phân rã đầu sẽ bị hấp thụ bởi phân   rã thứ hai (phân rã thứ hai hấp thụ neutrino tương đương với việc phát ra phản neutrino). Kết quả là phân rã kép beta không phát ra neutrino hoặc phản neutrino   nào cả. Phía trái của hình trên mô tả quá trình phân rã beta với neutrino   và phản neutrino khác nhau, bên phải với neutrino và phản neutrino là một.      HIỆN TƯỢNG DAO ĐỘNG (OSCILLATION) NEUTRINO     Từ năm 1975 và nhất là năm 1995 các nhà vật lý đã phát hiện rằng số lượng neutrino đến từ Mặt trời bị giảm hụt trên quãng đường bay đến mặt đất so với tính toán. Lý thuyết ước lượng dòng neutrino Mặt trời là vào khoảng 64 tỷ neutrino/giây.cm2 xuống mặt đất. Song các detector như GALLEX hay SAGE chỉ đo được 40 tỷ/giây.cm2. Vậy một số lượng neutrino mất đi đâu?    Các nhà vật lý giải thích sự tụt giảm quan sát được trong thông lượng neutrino Mặt trời bằng hiện tượng dao động neutrino (xem hình 7). Thế nào là hiện tượng dao động neutrino?               Hình 7. Dao động neutrino.     Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng neutrino có thể thay đổi hương vị trên đường bay. Điều đó có nghĩa rằng trong quá trình bay từ một nguồn bức xạ (Mặt trời, máy gia tốc, lò phản ứng hạt nhân,…) neutrino luôn biến từ một hương vị này sang một hương vị khác (hương vị electron, hượng vị muon và hương vị tau). Hiện tượng biến đổi hương vị này được gọi là dao động neutrino, ý tưởng kỳ diệu này được Bruno Pontecorvo đưa ra năm 1962 và được Ziro Maki, Masami Nakagawa và Shoichi Sakata xây dựng thành mô hình dao động giữa các hương vị.     Pontecorvo đã tiên đoán năm 1967 rằng sự dao động sẽ dẫn đến một sự thiếu hụt (deficit) các neutrino Mặt trời quan sát từ mặt đất. Tiên đoán này được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm năm 1968.  Nhiều thí nghiệm đã được đặt gần các nhà máy điện hạt nhân, các máy gia tốc là các nguồn có khả năng bức xạ neutrino nhằm mục đích đo khối lượng của neutrino trong vòng 20 năm nay.  CƠ CHẾ BẬP BÊNH (SEESAW MECHANISM) VÀ NEUTRINO KHÔNG HOẠT TÍNH (STERILE NEUTRINO)  Tháng Giêng năm 2011, Thierry Lasserre và cộng sự lại tìm thấy ở một khoảng cách vài mét của một lò phản ứng một sự thiếu hụt 6% neutrino so với lý thuyết. Và bất thường này không thể giải thích được bằng SM với ba neutrino đã biết mà chỉ có thể giải thích nếu đưa vào một loại neutrino chưa từng biết đến đó là neutrino không hoạt tính (sterile neutrino). Neutrino không hoạt tính là những neutrino phải (hoặc phản neutrino trái) không tương tác với các neutino hoạt tính (active neutrino) trong khuôn khổ của SM và chỉ có tương tác hấp dẫn.   Các neutrino không hoạt tính là những đơn tuyến chuẩn SM và chỉ tương tác với neutrino hoạt tính (active neutrino) nghĩa là các neutrino trong SM thông qua dao động.    Trong sơ đồ trên, chỉ số s chỉ neutrino không hoạt tính (sterile).    Cơ chế bập bênh là cơ chế theo đó nếu khối lượng của neutrino không hoạt tính là lớn thì khối lượng của neutrino hoạt tính lại nhỏ và ngược lại. Đó là lý do vì sao cơ chế này được gọi là cơ chế bập bênh.    Cơ chế bập bênh đòi hỏi sự du nhập vào SM một (hay nhiều hơn) neutrino phải. Đây là một loại neutrino rất nặng khó ghi đo và được gọi là neutrino không hoạt tính (sterile neutrino), các neutrino trong SM được gọi là neutrino hoạt tính (active neutrino).    Trong mô hình bập bênh những neutrino mới chưa từng biết đến phải được đưa vào SM (như vậy là ta đã đi vượt quá SM), những neutrino này rất nặng, vượt quá xích (scale) điện yếu. Nhờ cơ chế này, người ta giải thích được vì sao các neutrino trái thông thường lại có khối lượng nhỏ. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa khối lượng của neutrino trái và neutrino phải: khối lượng của chúng tỷ lệ nghịch với nhau. Vậy neutrino phải càng nặng thì neutrino trái càng nhẹ.     Cơ chế bập bênh làm cho khối lượng neutrino phải không hoạt tính nặng nhiều so với neutrino của SM.    Như vậy ngoài những bất thường giải thích được nhờ hiện tượng dao động còn có những bất thường mà người ta không thể giải thích được bằng SM với ba hương vị neutrino mà phải cầu cứu đến một loại neutrino thứ tư gọi là neutrino không hoạt tính (vì loại neutrino này chỉ tham gia tương tác hấp dẫn).    Thêm các neutrino này vào Lagrangian của SM làm cho các neutrino trái lập tức có khối lượng và như thế cho phép giải thích hiện tượng dao động một cách tự nhiên (nhớ rằng dao động đòi hỏi neutrino phải có khối lượng).    Những hạt neutrino này là những đơn tuyến đối với nhóm chuẩn của SM.   Một neutrino không hoạt tính (sterile) không tham gia tương tác yếu chỉ tham gia tương tác hấp dẫn và dao động neutrino trong khi neutrino thông thường (neutrino hoạt tính) có tham gia tương tác yếu.     Nếu tồn tại neutrino phải thì điều này có thể cung cấp cơ sở để giải thích vì sao ba loại neutrino của SM lại có khối lượng nhỏ như vậy.    Những neutrino không hoạt tính (với khối lượng cỡ keV) có thể là ứng viên cho vật chất tối. Các hạt này có thể giúp các nhà vật lý giải thích tốc độ bất thường quan sát được của các pulsars (pulsar kicks). Sự phân rã của các neutrino không hoạt tính tàn dư có thể tạo nên một thông lượng tia X trong vũ trụ.  KẾT LUẬN  Những vấn đề lớn sau đây liên quan đến neutrino dẫn đến yêu cầu phải phát triển lý thuyết thống nhất trong vật lý:  1/ Cần tìm chính xác thêm khối lượng neutrino.    2/ Neutrino là hạt DIRAC hay là hạt MAJORANA?(câu hỏi này có thể tìm được câu trả lời trong thí nghiệm phân rã kép beta không có neutrino).     Hiên nay chưa có kết quả trong việc phát hiện quá trình này.  3/ Phát hiện hạt neutrino không hoạt tính (sterile neutrino), một ứng viên khác của vật chất tối. Neutrino không hoạt tính đòi hỏi sự mở rộng mô hình SM.  4/ Một sự bất đối xứng giữa hạt và phản hạt (vi phạm CP) có thể là cơ sở giải thích vì sao vật chất lại nhiều hơn phản vật chất trong vũ trụ.  Như vậy hạt neutrino đã đặt ra những vấn đề còn bỏ ngỏ buộc các nhà vật lý phải phát triển một mô hình sâu rộng hơn vượt qua giới hạn của SM tức là phải xây dựng một lý thuyết thống nhất tổng quát hơn nữa.   Sự phát hiện hiện tượng dao động của neutrino do hai nhà vật lý Takaaki Kajita và Arthur B.McDonald đã mở ra một cánh cửa lớn vào việc nghiên cứu vật lý các hạt cơ bản và vũ trụ học trong tương lai.     CC. biên dịch     Tài liệu tham khảo     [1] Nobel.org, Press release, 2015  [2] Nobel.org, Popular information, 2015  [3] Nobel.org, Advanced information, 2015  [4] Martin Hirsh, Heinrich Pas, Werner Porod,Scientific American số tháng 4/2013                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức khoa học      Khoa học một mình không thể xây dựng đạo  đức. Nó cũng không thể một mình và trực tiếp làm cho định luật đạo đức  truyền thống rung chuyển hay đánh đổ nó. Nhưng…khoa học có thể tác dụng  làm cho những cảm xúc mới hình thành, không phải vì những cảm xúc đó là  đối tượng của sự chứng minh khoa học, mà bởi vì mỗi hoạt động con người  sẽ tác động ngược lại lên nó và đánh thức những cảm xúc mới trong nó.    Khoa học luôn luôn đưa chúng ta tiếp xúc với những sự vật lớn hơn bản thân ta. Nó đem lại cho ta một tầm nhìn hằng ngày mới, hằng ngày mở rộng; và những cái to lớn mà khoa học cuối cùng đem lại cho ta, luôn luôn kích thích chúng ta hình dung những sự việc lớn hơn nữa. Vở kịch này là niềm vui đối với chúng ta, một niềm vui làm cho chúng ta quên đi cái ngã, và đó chính là điều tốt về đạo đức ở khoa học.  Khoa học này của đạo đức không là bản thân của đạo đức, và sẽ không bao giờ. Nó cũng không thể thay thế đạo đức như một bài khảo luận sinh lý học về sự tiêu hóa có thể thay thế cho một bữa ăn trưa.  Không có đạo đức khoa học theo đúng nghĩa của từ, và sẽ chẳng bao giờ có cả. Nhưng khoa học có thể đem lại cho đạo đức một sự hỗ trợ gián tiếp. Khoa học, theo nghĩa rộng nhất của từ, chỉ có thể hữu ích cho đạo đức; sự hiểu biết nửa vời tự nó là nguy hiểm… Khoa học và đạo lý cũng sẽ thích nghi nhau khi cả hai cùng phát triển.  Trái tim con người là một mạch suối không bao giờ tắt của những động cơ (tốt) như thế, một mạch suối phong phú, giàu có và đầy sức sống sinh động. Lực đẩy của những động cơ này là những tình cảm; và những người đại diện cho đạo đức học có nhiệm vụ đưa chúng vào phục vụ và hướng chúng theo nghĩa tốt, giống như nhà kỹ thuật làm chủ được sức mạnh của tự nhiên và sử dụng nó cho những nhu cầu kinh tế con người.  Tại sao những con người, tuy có những vũ khí khác nhau nhưng nhắm cùng một đối thủ lại hiếm khi đoàn kết nhau như thế, trong khi họ là những đồng minh tự nhiên? Tại sao những người này thỉnh thoảng lại vui mừng trước sự thất bại của người khác? Họ đã quên chăng rằng một sự thất bại như thế đồng nghĩa với sự chiến thắng của kẻ thù truyền kiếp, một sự giảm bớt giá trị tài sản chung của cha ông? Cho nên chúng ta cần đến tất cả sức mạnh tiềm tàng trong chúng ta và không có quyền xem thường bất cứ sức mạnh nào. Cho nên chúng ta không nên từ chối bất cứ ai, không khinh khi, trách móc ai, trừ khi đó là sự căm thù.  Chắc chắn căm thù là một sức mạnh, một sức mạnh khổng lồ là khác. Nhưng chúng ta không thể sử dụng nó, bởi nó làm nhỏ lại tất cả, giống như một ống dòm khi người ta nhìn ngược vào. Sự căm thù dân tộc này với dân tộc khác là một tội lỗi, và không phải nó làm nên những anh hùng đích thực. Tôi không biết người ta có tin rằng căm thù có thể làm tăng lòng yêu Tổ quốc hay không.  Chúng ta hãy đến gần nhau hơn, học quen biết để kính trọng nhau, và hãy cùng lao động để thực hiện lý tưởng chung. Chúng ta hãy cẩn thận không nên đòi hỏi mọi người rằng họ nên cùng đi một con đường. Điều đó không thể thực hiện, cũng như không phải là điều mong muốn. Quy tất cả về một khuôn mẫu chung, điều đó có nghĩa là tự sát, có nghĩa đóng bít cánh cửa trước mọi sự tiến bộ ngay từ đầu. Tất cả những gì bị cưỡng bách đều không mang lại hiệu quả, và đáng buồn.      Nguyễn Xuân Xanh trích dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đảo ngược sự tiến hóa ở loài chuột      Các nhà khoa học Mỹ đã mang một con chuột trở lại thời điểm khoảng 500 triệu năm về trước bằng cách lùi ngược lại quá trình tiến hóa. Bằng cách thay đổi mẫu gien của chuột, các nhà khoa học đã tạo được một gien có ở các động vật cổ xưa.    Gien cổ này sau đó phát triển thành một dạng mới và phân chia nhỏ ra, tạo nên một cặp gien đóng vai trò chính trong sự phát triển não của các động vật hữu nhủ ngày nay. Các nhà khoa học cho biết các thí nghiệm này đã làm sáng tỏ hơn quá trình tiến hoá và có thể mang đến những kỹ thuật mới điều trị bằng gien (và có thể là nhiều liệu pháp điều trị bệnh dựa trên kỹ thuật gen mới sẽ ra đời).  “Trước tiên chúng tôi tái tạo được một gien cổ và chúng tôi đã chứng minh được rằng từ hai gien hiện đại chuyên biệt này, chúng tôi có thể tái tạo lại được gien cổ, tách biệt hẳn với hai gien chuyên biệt kia”. nhà khoa học Petr Tvrdik của trường Đại học Utah cùng tham gia công trình nghiên cứu này phát biểu. “Gien cổ này đã làm sáng tỏ cơ chế và quy trình của sự tiến hóa và cho chúng ta biết nhiều hơn về thế giới thiên nhiên đã biến đổi cuộc sống như thế nào”. Nghiên cứu đề cập đến một bộ gien liên quan đến sự phát triển sơ khai, đuợc đăng trên tập san học thuật “Tế bào phát triển”.  Mãi đến 500 triệu năm về trước, các động vật sơ khai mới có 13 gien Hox. Sau đó mỗi gien chia ra thành 4, tạo thành 52 gien. Trong suốt quá trình tiến hóa, đột biến gien liên tục diễn ra, một số gien trở nên không cần thiết và biến mất, dẫn đến số lưọng gien Hox chỉ còn 39 ở các động vật hữu nhủ ngày nay. Nhóm các nhà khoa học của trường đại học Utah nghiên cứu 2 trong số các loại gien này; đó là gien Hoxal, gien kiểm soát sự phát triển não ở giai đoạn đầu và gien Hoxb1, gien đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tế bào thần kinh điều khiển các biểu lộ cảm xúc trên mặt ở động vật.  Nhóm Utah kết hợp các phần quan trọng của mỗi gien lại với nhau, tái tạo lại được một gien tương tự như gien ở thời điểm khoảng 530 triệu năm về trước. Gien lai tạo không hoàn toàn giống như gien cổ nhưng các nhà khoa học nói rằng về cơ bản thì nó có các chức năng giống nhau. “Những gì chúng tôi đang làm là cơ bản đi ngược trở lại thời điểm khi mà Gien cổ Hox1 có các chức năng giống như chức năng của gien Hoxa1 và Hoxb1 ngày nay. “Gien cổ là một ví dụ thực tế cho thấy sự tiến hoá đã diễn biến như thế nào bởi vì chúng ta có thể lùi ngược lại quá trình tiến hóa”. Con chuột vẫn trông giống như cũ nhưng mang gien cổ.  PV (Theo BBC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân ở Việt Nam      Hội thảo do Bộ KH&amp;CN phối hợp với Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cùng nhiều đơn vị liên quan tổ chức là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình hành động triển khai Chiến lược ứng dụng năng lượng vì mục đích hòa bình.    Phía Việt Nam trình bày một số kế hoạch đạo tạo nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam; phía Nhật Bản đóng góp một số kinh nghiệm đào tạo, đồng thời đề xuất lộ trình triển khai nhân lực hạt nhân cho các cơ quan pháp quy.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo văn trong nghiên cứu      Ở nước ta trong mấy năm gần đây, nạn đạo văn được giới báo chí nhắc đến khá nhiều lần, nhưng phần lớn các trường hợp này thường xảy ra trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật. Còn trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, nếu từ lâu nạn đạo văn có liên quan đến những giảng viên và giáo sư cũng được nhiều nghiên cứu sinh đồn đại qua lại nhiều, nhưng chưa có bằng chứng hiển nhiên, thì gần đây một trường hợp đạo văn cực kì trắng trợn và… thô làm chấn động giới nghiên cứu khoa học Việt Nam, nhất là trong cộng đồng “cư dân” mạng.    Năm 2000, hai tác giả nguyên là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật và một tác giả người Nhật công bố bài báo có tựa đề là “Ship’s optimal autopilot with a multivariate auto-regressive eXogenous model” trong hội nghị về ứng dụng tối ưu hóa tại Nga. Đến năm 2004 bài báo đó được xuất hiện trong một hội nghị cũng về ứng dụng tối ưu hóa tại Nhật nhưng với một tựa đề na ná “An optimal ship autopilot using a multivariate auto-regressive exogenous model” với 10 tác giả từ Việt Nam! Điều khó tin là 99% câu chữ, 100% các số liệu, thậm chí hình con tàu Shioji Maru trong bài báo năm 2004 lấy nguyên vẹn từ bài báo năm 2000.  Bài báo gốc năm 2000                    Abstract: This paper presents a new application of the linear quadratic gaussian (LQG) control algorithm linked to the recursive least squares (RLS) algorithm applied to a multivariate auto-regressive exogenous (MARX) model of ship to construct an autopilot for steering ship. Simulation performed for training ship is described. As a first step of designing a tracking system, the optimal autopilot with the MARX model was used to keep and change the ship’s course during full-scale experiment aboard the training ship. It has been found that the autopilot has robustness and good performance for steering ship. Copyright © 2000 IFAC.  Keywords: estimation and identification, ship steering dynamics, quadratic optimal control, control design.   Table 1. Statistical values of estimated paramaters  Para    Mean     Max      Min      Final  a1     -1.0078  -0.9970  -1.0171  -1.0078  a2     -0.0019  -0.0017  -0.0776  -0.0121  a3     -0.0303   0.0365  -0.0044   0.0318  b0     -0.0533  -0.0256  -0.7091  -0.0443     Bài báo năm 2004:  Abstract: Linear quadratic gaussian (LQG) control algorithm linked to recursive least squares (RLS) algorithm has been applied to a multivariate auto-regressive exogenous (MARX) model of ship to construct an autopilot for steering ship. It has been found from computer simulation and full-scale experiments aboard the training ship that the autopilot is robustness and has good features in both course keeping and course changing.   Keywords: estimation and identification, quadratic optimal control, control design, ship steering dynamics.  Table 1. Statistical values of estimated paramaters  Parameters Mean   Max      Min      Final  a1     -1.0078  -0.9970  -1.0171  -1.0078  a2     -0.0019  -0.0017  -0.0776  -0.0121  a3     -0.0303   0.0365  -0.0044   0.0318  b0     -0.0533  -0.0256  -0.7091  -0.0443                  Thật ra, trường hợp này đã vượt ra ngoài định nghĩa của đạo văn một mức. Có thể nói đây là một “scientific hijack” – tức là chiếm đoạt công trình khoa học. Khi tác giả bài báo gốc liên lạc với các tác giả bài báo năm 2004 để tìm hiểu thêm nguyên do và lời giải thích, thì sự việc rơi vào im lặng.  Đạo văn được xem là một hành vi gian lận nghiêm trọng, một hành động không thể chấp nhận được trong hoạt động khoa học, vì nó làm giảm uy tín của khoa học và làm tổn hại đến sự liêm chính và khách quan của nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như công trình nghiên cứu về thương vong trong cuộc chiến Iraq được công bố trên Tập san New England Journal of Medicine (tập san y học số một trên thế giới) vào ngày 24/10/2002 bị rút lại vì tác giả đã giả tạo số liệu và đạo văn. Trong y học, hệ quả của đạo văn đôi khi rất nghiêm trọng đến tính mạng của bệnh nhân. Nhận thức được sự nghiêm trọng của vấn đề, cộng đồng khoa học còn lập riêng một tập san có tên là Plagiary, chuyên nghiên cứu về đạo văn các trường hợp đạo văn (www.plagiary.org).  Chưa ai biết qui mô của nạn đạo văn trong khoa học như thế nào, nhưng một vài nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng này khá phổ biến. Theo tập san Nature, trong một số ngành khoa học, nạn đạo văn (kể cả tự đạo văn) có thể lên đến 20% trong các bài báo đã công bố. Hai tác giả Schein và Paladugu truy tìm 660 bài báo đã công bố trên 3 tập san hàng đầu trong ngành phẫu thuật và phát hiện khoảng 12% bài báo có cấu trúc giống nhau, 3% sử dụng từ ngữ hoàn toàn giống nhau, và khoảng 8% sử dụng từ ngữ rất giống nhau. Hai tác giả còn phát hiện khoảng 14% các công trình nghiên cứu này thuộc vào loại “tự đạo văn” hay “tự đạo số liệu”.  Rất nhiều trường hợp đạo văn được kết cục một cách bi thảm, và trong nhiều trường hợp sự nghiệp của thủ phạm đều tiêu tan. Cách đây trên 20 năm, một vụ đạo văn làm tốn khá nhiều giấy mực của báo chí của Úc, vì thủ phạm là một giáo sư cấp cao thuộc Đại học La Trobe (Úc). Giáo sư Ron Wild là một nhà xã hội học, tác giả của nhiều cuốn sách và công trình khoa học, một nhân vật thuộc vào hàng “cây đa cây đề” trong chuyên ngành. Năm 1985 ông xuất bản một cuốn sách thuộc nhập môn xã hội học (“An Introduction to Sociological Perspectives”, Nhà xuất bản Allen & Unwin).  Chỉ vài tuần sau khi xuất bản, nhiều nghiên cứu sinh của chính ông và các giáo sư khác phát hiện rằng có rất nhiều đoạn văn trong sách được lấy từ các bài báo khoa học của các tác giả khác nhưng ông không hề ghi nguồn hay ghi chú rõ ràng. Nhà xuất bản Allen & Unwin quyết định thu hồi cuốn sách, Đại học La Trobe mở cuộc điều tra và bắt buộc ông phải từ chức.   Ở Mĩ có cơ quan Office of Research Integrity (ORI, tạm dịch: Nha liêm chính trong nghiên cứu) chuyên điều tra và giải quyết các vấn đề đạo văn và vi phạm khoa học.  Năm 2004, một trường hợp đạo văn gây sự chú ý trong giới khoa bảng vì thủ phạm là một giáo sư thuộc một trường đại học danh giá nhất thế giới: Đại học Harvard. Sultan là một giáo sư miễn dịch học tại trường Y thuộc Đại học Harvard đạo văn từ 4 bài báo của các nhà khoa học khác, và bị phát hiện khi bài báo của ông được bình duyệt. Sau khi điều tra, ông bị cấm không được làm phản biện và bình duyệt các báo cáo khoa học trong vòng 3 năm. Tất nhiên, sự việc cũng gây ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông. Một trường hợp gần đây nhất cũng làm xôn xao dư luận báo chí vì thủ phạm là một sinh viên trẻ thuộc trường đại học danh giá nhất thế giới và cũng xảy ra tại Đại học Harvard. Kaavya Viswanathan là một sinh viên gốc Ấn Độ, 19 tuổi, có tài viết văn, và được xem là một ngôi sao đang lên với đầy triển vọng qua cuốn tiểu thuyết “How Opal Mehta Got Kissed, Got Wild, and Got a Life”. Nhưng ngay sau khi xuất bản, người ta phát hiện cuốn tiểu thuyết có nhiều đoạn “trùng hợp” hay lấy từ hai cuốn tiểu thuyết “Sloppy Firsts” (in năm 2001) cuốn “Second Helpings” (in năm 2003) của Nhà văn Megan F. McCafferty. Hệ quả là cô nhà văn trẻ tuổi này mất một hợp đồng 500.000 USD với một nhà xuất bản khác, và không cần phải nói thêm, sự nghiệp viết văn của cô coi như chấm dứt.   Ở nước ta hình như Nhà nước vẫn chưa có một chính sách để giải quyết các trường hợp đạo văn hay vi phạm đạo đức khoa học. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ nước ngoài cung cấp cho chúng ta một số bài học về cách thức giải quyết vấn đề cho các trường đại học ở nước ta.  Bộ khoa học và Công nghệ cần phải có một đơn vị để đối phó và xử lí với các trường hợp gian lận trong khoa học. Trong mỗi trường đại học hay viện nghiên cứu cần phải có một ủy ban đạo đức khoa học (mà tiếng Anh hay gọi là Ethics Committee) để giải quyết bất cứ tố cáo nào liên quan đến các hành vi liên quan đến những sai lầm, ngụy tạo, gian trá và đạo văn trong khoa học. Theo kinh nghiệm từ nước ngoài, ủy ban này bao gồm các nhà khoa học từ nhiều ngành chuyên môn khác nhau và một số nhà khoa học từ các trường đại học bạn. Điều quan trọng là ủy ban đạo đức khoa học phải độc lập với ban lãnh đạo trường đại học.   Khi một trường hợp gian lận khoa học xảy ra, ủy ban đạo đức khoa học cần phải hành động ngay, tức là mở cuộc điều tra, lắng nghe ý kiến của tất cả các thành phần liên quan đến vấn đề, và giải quyết nhanh chóng.  Không nên chờ hay kéo dài thời gian mà hậu quả là cả người tố cáo lẫn người bị tố cáo đều bị tổn hại uy tín, và trường cũng bị mang tai tiếng. Do đó, cần phải dứt khoát giải quyết vấn đề càng nhanh càng tốt để tất cả mọi bên có thể tiếp tục công việc của mình.   Cần phải dạy cho học sinh, sinh viên phân biệt được đâu là đạo văn, và đâu là trích dẫn. Có nhiều trường hợp đạo văn xảy ra ở sinh viên châu Á, khi được hỏi thì họ thường nói là vì họ kính trọng tác giả nên mới trích dẫn! Đó là một cách biện minh không thể chấp nhận được. Do đó, chúng ta cần phải thêm vào phần đạo đức khoa học trong chương trình đào tạo sinh viên và nghiên cứu sinh. Thật ra, ngay cả học sinh tiểu học và trung học cũng phải được dạy rằng mượn ý tưởng và từ ngữ của người khác thì phải ghi rõ hay xin ghi ơn (acknowledgement), không có chuyện “xỏ nhầm giày” được.                           Một yếu tố căn bản, bao quát để giải quyết tận gốc nạn đạo văn, hay rõ hơn là “đạo” tri thức ở nước ta, là cần cải tổ từ hệ thống giáo dục: từ cấp trên, đến tư liệu giảng dạy, đến hình thức giảng dạy ngay từ bậc tiểu học. Ví dụ: đại đa số, nếu không nói là tất cả sách giáo khoa giảng dạy ở Việt Nam không hề có một tài liệu tham khảo nào, nhưng có nhóm tác giả. Không thể nói tri thức trong mỗi cuốn sách giáo khoa đó là tài sản trí tuệ của nhóm tác giả soạn sách được, và nếu không có trích dẫn tài liệu tham khảo, đó chính là đạo văn. Cách thức giảng dạy ở     Kaavya Viswanathan và cuốn tiểu thuyết “xào”  Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn chưa có thay đổi theo cách “thầy đọc, trò chép”, đây là một hình thức hướng dẫn đạo văn vô tình. Khi trò trả bài hoặc làm bài thi mà không viết đúng ý thầy hoặc nguyên văn lời thầy giảng, thì bài thi không đạt; ngược lại để đạt tức là đạo văn! Đạo văn cần phải được coi là một chuyên đề giảng dạy chính thức trong các trường học, mức độ nâng dần theo bậc học; nó được coi như là một bài học đạo đức chống lại hành vi ăn cắp, mà ở đây là ăn cắp ý tưởng, ăn cắp tri thức, và cũng phải được xử lí không khác gì ăn cắp vật chất.  Hơn 20 năm về trước, Al Gore, lúc đó còn là một thượng nghị sĩ (và sau này là Phó tổng thống Mĩ) chủ trì một cuộc điều trần về gian lận trong khoa học, nhận xét: “Nền tảng của nghiên cứu khoa học dựa vào sự tín nhiệm của quần chúng và liêm chính trong hoạt động khoa học”.  Câu phát biểu này có tính phổ quát, và có thể thích hợp cho bất cứ hoạt động nghiên cứu khoa học tại bất cứ nước nào, kể cả ở nước ta.   Đạo văn cần phải được coi là một chuyên đề giảng dạy chính thức trong các trường học, mức độ nâng dần theo bậc học; nó được coi như là một bài học đạo đức chống lại hành vi ăn cắp, mà ở đây là ăn cắp ý tưởng, ăn cắp tri thức, và cũng phải được xử lí không khác gì ăn cắp vật chất.  Thế nào là đạo văn?  Đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.   Gần đây, một hình thức đạo văn khác xuất hiện được giới khoa học đặt tên là tự đạo văn (self plariagism). Tác giả công bố một bài báo khoa học như là một công trình nghiên cứu mới, nhưng thực chất là “xào nấu” dữ liệu của nghiên cứu cũ của mình đã từng công bố trước đây.  Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo văn và lừa đảo trong khoa học Trung Quốc      Năm 2003, nhà khoa học máy tính Chen Jin đã được tôn vinh như một anh hùng dân tộc của Trung Quốc khi công bố phát triển thành công một loại vi mạch mới với tính năng ưu việt.    Nhưng chẳng bao lâu sau, người ta phát giác ra rằng, cái “sản phẩm mới” của Chen Jin thực ra là một loại vi mạch đã có từ trước của hãng Motorola. Chen Jin bị đuổi khỏi Đại học Jiaotong ngay lập tức. Sau cú “ngã ngựa” của Chen, Wei Yuquan, hiệu phó Đại học Sichuan và là thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc cũng bị phát giác sau khi giả mạo số liệu trong hai bài báo về miễn dịch học ung thư. Nhà nghiên cứu bệnh học Si Lusheng kể lại rằng, khi ông bắt đầu nghi ngờ và hỏi xin Wei bằng chứng để xác minh cho các kết quả nghiên cứu, Wei từ chối. Si bắt đầu chiến dịch tấn công Wei bằng điện thoại để buộc ông này phải khai nhận. “Tôi không thể làm ngơ trước chuyện này, tôi cần phải cảnh báo cho các nhà khoa học trẻ về tác hại của việc giả mạo kết quả nghiên cứu. Sự gian dối của Wei là rõ ràng, tất cả mọi người đều biết,” Si nói.              The New York Times đưa tin vụ Chen Jin           Trước đó, vẫn ở Đại học Sichuan, giáo sư Qiu Xiaoqing cũng đã bị buộc tội khi làm giả nghiên cứu trong một bài báo năm 2003 đăng trên Nature Biotechnology. Sáu đồng tác giả của Qiu đã yêu cầu chuyên san này gỡ tên của họ ra khỏi bài báo và nói rằng họ “đã bị sốc bởi trò lừa đảo này”, và rằng họ đã trở thành những con rối trong tay Qiu – kẻ đã lợi dụng sự hạn chế trong khả năng hiểu tiếng Anh của họ.  Người ta nghi rằng, những vụ của Wei và Qiu có vẻ như đã được “bưng bít” để đỡ bị lộ ra thế giới. Vụ của Liu Dengyi cũng như vậy. Là hiệu phó của Đại học Anhui, Liu bị buộc tội vào năm 2005 vì “nhận vơ” là tác giả của bốn công trình đăng trên các chuyên san khoa học. Ba trong số các công trình này thậm chí chưa bao giờ tồn tại. Sau khi sự tố giác được đưa lên mạng, các công trình này đã biến mất khỏi hồ sơ của Liu, và ông này đã không phải chịu bất cứ hình thức kỷ luật nào.  Những chuyện như thế này đã không gây ra nhiều sự chú ý, một phần là bởi vì chuyện đạo văn và lừa đảo khoa học ở TQ đơn giản là “không đáng để đưa tin” lắm. Chúng xảy ra với tần suất đáng ngạc nhiên khi nước này đang ở trong giai đoạn bùng nổ về kinh tế. Túi tiền dành cho nghiên cứu của TQ được dự định là sẽ tăng gấp bốn lần trong 15 năm tới. Các chuyên gia về chính sách ở Viện Hàn lâm Khoa học TQ mong muốn nước mình sẽ không chỉ to về kinh tế mà còn “đầy quyền lực” về khoa học. Kế hoạch 5 năm gần đây nhất của Bắc Kinh đã cực kỳ nhấn mạnh chuyện “đổi mới” khoa học và công nghệ.  Thật không may, việc làm của một số nhà khoa học TQ đã cho thấy sự đi ngược lại chủ trương đổi mới. Giấc mơ của cả một dân tộc – sau một đêm trở thành một siêu cường quốc khoa học – đã gây áp lực cho các nhà khoa học TQ phải tạo ra những đột phá ở một tốc độ mà dường như vượt quá thời gian và sự cẩn thận cần thiết. Những đánh giá hàn lâm và việc cấp tiền thường dựa trên khối lượng các nghiên cứu được công bố mà rất ít để tâm đến chất lượng cũng như giá trị thực của chúng. Các nhà nghiên cứu cần phải có số lượng công trình thật ấn tượng để giữ được việc, và hội đồng chính phủ khi nhìn vào số công trình ấy sẽ có thể yên tâm rằng, đầu tư cho khoa học của họ là “đáng đồng tiền bát gạo.”  Khoa học gắn liền với giáo dục, và chuyện không hay trong khoa học cũng gắn liền với chuyện không hay trong giáo dục. Một câu chuyện đăng trên Tuần tin Trung Hoa có tiêu đề “Sự suy đồi bất thường của giáo dục sau đại học” đã ước tính rằng, trong năm tới, các sinh viên sau đại học trên toàn quốc sẽ cần phải công bố tất cả 530.000 công trình trên các “chuyên san ăn điểm”. Trong số đó, có lẽ chỉ có khoảng 20.000 công trình là “đủ tài đủ đức” để được đăng trên 1500 chuyên san nghiêm chỉnh của TQ. Số tác giả của các công trình còn lại hoặc là phải đi đường đút lót, hoặc là phải “công bố chui” trên các chuyên san “rởm”. Và như Trung Hoa Nhật báo mô tả, Bộ KH&CN đã từng thực hiện điều tra đối với 180 tiến sỹ TQ, 60% trong số đó khai nhận là đã trả tiền để công trình của họ được xuất bản, và cũng 60% trong 180 tiến sỹ đó bị phát giác vì đã đạo công trình của người khác.  Một mánh lới thường thấy khác là chuyện bịa ra trong lý lịch chuyên môn (CV) của mình những công trình không tồn tại, giống như trường hợp của Liu Dengyi. Ít nhất thì cũng có hai nhà nghiên cứu có tiếng khác – Liu Hui, trưởng khoa y Đại học Tsinghua và Yang Jie trưởng bộ môn khoa học và công nghệ sự sống đều đã bị sa thải vì bịa đặt thành tích trong hồ sơ của họ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chuyện bêu gương và trừng phạt những người như thế này là tương đối hãn hữu. Các quan chức trường đại học sợ bị xấu hổ trước công luận và sợ bị mất tiền tài trợ nên có xu hướng làm ngơ đối với chuyện sai trái.  Vào tháng 5 năm 2006, trong một bức thư ngỏ, 120 nhà khoa học TQ ở Mỹ đã kêu gọi TQ thiết lập “các quy tắc trung thực và những thể chế chính thức để duy trì và bảo vệ sự trong sáng trong nghiên khoa học. Bức thư cũng kêu gọi cần phải có những khóa học bắt buộc về đạo đức khoa học và một hệ thống thẩm tra nhằm phòng chống sự vu khống ác ý. Ban đầu, Bộ KH&CN đã phản ứng rất chậm và thậm chí còn lảng đi, nói rằng không biết đến bức thư. Nhưng có lẽ là lo ngại những giọt nước sẽ làm tràn ly nên đầu tháng 7, bộ đã quyết tâm trình ra công luận những bộ mặt đáng xấu hổ của những nhà khoa học bị buộc tội lừa đảo.  Có một trang web mang tên “New Threads” chứa đựng các tư liệu quy kết hơn 500 vụ lừa đảo khoa học, điều hành bởi Fang Zhouzi, một nhà sinh hóa được đào tạo ở Mỹ, có tên thật là Fang Shimin. Trang web (XYS.org) bị chặn ở Trung Quốc nhưng nội dung của nó vẫn được truy cập ở trong nước này qua các trang “mirror”. Nó từng có công tố giác khiến Liu Hui và Yang Jie bị sa thải cũng như khiến giáo sư Yang Jingan Đại học Hefei bị khai trừ khỏi Đảng Cộng Sản vì tội ăn cắp các công trình nước ngoài. New Threads thường nhận được các nguồn tin từ những người làm việc trong phòng thí nghiệm, những người sợ nói thẳng ra thì sẽ mất việc. Tiến sỹ Fang có nói rằng, mặc dù ông không tiết lộ tên của người cung cấp tin nếu không được sự cho phép của người đó, nhưng ông cũng không cho phép chuyện gửi tin nặc danh. Mỗi tin cần phải có bằng chứng thuyết phục, và đều được kiểm tra xem xét kỹ trước khi đưa ra lời buộc tội.  Tuy nhiên, một số người cho rằng, việc làm của tiến sỹ Fang sẽ chỉ làm cho tình hình xấu thêm. Một bài báo trên mạng đặt ra câu hỏi: “Thế ai là người giám sát những người giám sát?”. Một số nhà khoa học lo ngại rằng, New Threads có thể làm hại đến danh tiếng và sự nghiệp của những nhà nghiên cứu trung thực. Và quả thực cũng có một số ít trường hợp buộc tội sai. Khi ấy Fang nói rằng, ông đã đều đưa ra sự đính chính và lời xin lỗi cho mỗi trường hợp đó. Tiến sỹ Fang tin rằng, truyền thông có thể tạo ra áp lực để chính phủ phải thiết lập những cơ quan thanh tra và trừng phạt những hành động sai trái. “Quá trình điều tra phải trung thực và công khai, kết quả điều tra phải được đưa ra ánh sáng công luận,” Fang nói.  T.T.D. (theo The New Atlantis Journal)    Có những nhà khoa học thiếu đạo đức!             P. Campbell        Có rất ít những phân tích mang tính hệ thống về động cơ của những kẻ lừa đảo trong khoa học. Nhưng nếu chỉ có đổ lỗi cho áp lực phải công bố bài báo thì không còn gì phải nói thêm về vấn đề này nữa.  Công bố bài báo là cách thức có giá trị và hiệu quả nhất để thể hiện các thành tựu nghiên cứu đã đạt được. Chất lượng và số lượng những công trình đăng trên các chuyên san có uy tín chính là thước đo chủ yếu để đánh giá trình độ của một nhà nghiên cứu. Và ở đây, cũng cần chú ý thêm là, về cơ bản thì chất lượng được đề cao hơn số lượng.  Tuy nhiên, trong khoa học, có một thực tế không hay là, hoặc là bạn đến trước để khai phá một vấn đề mới, hoặc là bạn có lẽ sẽ không thu được gì sau nhiều năm làm việc.  Áp lực này có thể được giảm nhẹ trong trường hợp những người đến sau có thể khai thác sâu hơn hoặc mở rộng hơn vấn đề. Nhưng quyền lợi và danh vọng vẫn có xu hướng thuộc về những người đến trước, những người đầu tiên đã công bố khám phá.  Những áp lực đó có thể làm tăng khả năng xảy ra những việc sai trái. Điều đặc biệt là ở chỗ, những việc sai trái lại tương đối dễ thực hiện. Chẳng hạn như việc “dùng tay” điều chỉnh những hình ảnh hay đồ thị để tạo ra các kết quả hay hơn, hoặc việc lợi dụng vị thế để gắn tên mình lên một công trình mà mình không có đóng góp nào đáng kể, hay người ta có thể ăn cắp một ý tưởng rồi nhanh chóng “xào nấu” nó để công bố thành công trình của chính họ.  Cũng có những người bịa đặt hoặc ăn cắp các kết quả khoa học chỉ để đi tắt. Họ tin rằng họ biết được câu trả lời đúng. Họ phải chịu một áp lực này hay áp lực khác để hoàn thành một thí nghiệm, họ bị thúc giục phải làm thật nhanh. Và họ cũng tin rằng những việc mình làm sẽ không bị phát giác.  Trong khoa học cũng nảy sinh những vấn đề xã hội giống như trong các lĩnh vực khác của đời sống. Nhiều trường hợp lừa đảo liên quan đến sự sao chép hoặc bịa đặt dữ liệu lại được thực hiện bởi những người rất thông minh. Và vấn đề là trò lừa cũng những người rất thông minh này đều gần như chắc chắn sẽ bị phát giác. Thành ra khó có thể tránh được kết luận là chúng đã đang phải chứng kiến một hiện tượng tâm thần bất thường xảy ra đối với những nhà khoa học như vậy.  Thay vì đổ lỗi cho các áp lực vốn vẫn đè nặng lên vai những nhà nghiên cứu, điều quan trọng hơn là chúng ta nhận ra một cách đơn giản rằng: có những nhà khoa học thiếu đạo đức. Các viện nghiên cứu, các quỹ tài trợ và các chuyên san cần phải nhận thức rõ sự nguy hại mà những người như vậy có thể gây ra và buộc các phòng thí nghiệm cũng như các hội đồng thẩm định phải làm sát sao để ngăn chặn hành động sai trái của họ.    Philip Campbell, Tổng Biên tập Nature      Author                Quản trị        
__label__tiasang Darwin hay Wallace là cha đẻ thuyết tiến hoá?      Tối ngày 1.7.1858, cách đây đúng 150 năm đã diễn ra một cuộc họp mặt khoảng 30 thành viên của “Linnean Society” (Hội Linné) tại Burlington House ở London. Như thông lệ vị Thư ký của Hội đọc công trình của hai nhà nghiên cứu tự nhiên người Anh không có mặt trong cuộc họp này. Và một trong hai người đó đi vào lịch sử ngành khoa học tự nhiên với tư cách là người sáng lập học thuyết tiến hóa: Charles Robert Darwin. Còn người kia là Alfred Russel Wallace không những suốt thời gian còn sống luôn ở trong cái bóng của Darwin, mà hầu như đã bị quên lãng, người đó.    Wallace chính là nguyên nhân làm diễn ra cuộc họp tại London vào buổi tối hôm đó. Hồi ấy có một bản thảo chỉ khoảng 4000 từ nhưng có sức công phá to lớn do chính tay Wallace viết khi ông đang bị một cơn sốt rét giày vò trên hòn đảo Malaysia xa xôi. Trong bản thảo này Wallace không những nêu lên một số ý tưởng về sự thay đổi của các loài mà còn phát triển cơ chế tiến hóa mà giới khoa học từ lâu đã bỏ nhiều công sức để tìm tòi: đó là sự tồn tại của những loài có khả năng thích nghi cao nhất và sự chọn lọc qua môi trường sống. Nguyên tắc chọn lọc tự nhiên này đã tạo nên một sự đột phá dẫn đến sự phát hiện về thuyết tiến hóa.  Nhưng thay cho việc xem bản thảo của Wallace là bản thảo đầu tiên, người ta đã trích đọc tại cuộc họp của Hội Linné này một khảo luận do Darwin viết từ năm 1844 nhưng chưa  từng được công bố cũng như trích đọc một số đoạn trong một bức thư của Darwin  viết cho một bạn đồng nghiệp từ  tháng 9.1857. Với việc làm này người ta muốn chứng minh Darwin là người đầu tiên đề cập đến khái niệm chọn lọc. Sau đó người ta mới  nói tới công trình nghiên cứu của Alfred Wallace.  Những tư liệu  Darwin-Wallace này không những là một trong những sự kiện được đặc biệt chú ý trong lịch sử sinh vật học;  việc công bố những tư liệu đó đã dẫn tới một trong những cuộc cách mạng khoa học vĩ đại nhất trong thế kỷ 19 , và cuộc cách mạng đó vẫn còn dư âm cho tới tận ngày nay. Tuyệt đại đa số những thính giả  có mặt tại cuộc họp nói trên của Hội  Linné đều nhận thức được vấn đề then chốt của luận điểm này  –  tức là các loài ra đời không phải do yếu tố tĩnh và cũng không phải do Thượng đế tạo nên , như người ta vẫn nghĩ vào thời điểm đó, mà các loài biến đổi do chọn lọc tự nhiên; do vậy tối hôm đó đã không nổ ra  một cuộc tranh luận nào.  Khi những bài viết của Darwin và Wallace được công bố vào cuối tháng 8 năm 1858 trong tạp chí của Hội Linné trong giới khoa học cũng chẳng có mấy ai nhận ra được ý nghĩa to lớn của phát kiến này. Phản ứng về bài viết – Wallace – Darwin hoàn toàn không thể so sánh với sự  ồn ào của dư luận một năm sau đó khi xuất hiện cuốn sách “Về sự hình thành của các loài” của Darwin.    Một vụ lừa đảo trong khoa học?  Bối cảnh dẫn đến việc giới thiệu lần đầu tiên bài viết về học thuyết tiến hoá của Darwin và Wallace năm 1858 là một trong những câu chuyện được nghiên cứu vào loại kỹ lưỡng, tường tận nhất trong lịch sử khoa học, câu chuyện này chẳng khác gì một câu truyện trinh thám về khoa học. Tuy vậy những sự kiện liên quan đến việc công bố bài báo này vẫn chưa được làm rõ một cách thật sự đầy đủ. Một điều có thể khẳng định là, điều mà một thời gian dài trước đó người ta cho là một sự kiện ngẫu nhiên hoặc là bằng chứng về sự quả cảm của hai nhà nghiên cứu, thì giờ đây một số nhà nghiên cứu lịch sử lại coi sự kiện này là một diễn biến không thể tưởng tượng nổi trong  lịch sử sinh học; thậm chí người ta còn đề cập tới một vụ lừa đảo bỉ ổi nhất trong nghiên cứu khoa học.    Trong thực tế cuộc chạy đua giữa Darwin và Wallace khốc liệt, bi thảm hơn nhiều so với điều mà người ta vẫn tưởng lâu nay. Thậm chí những nhà nghiên cứu lịch sử đúng đắn, nghiêm túc chỉ trích Darwin, họ cho rằng ông có thể  đã làm một số tư liệu giả, đồng thời huỷ bỏ một số tài liệu khác. Một điều có thể khẳng định là đã có sự bóp méo, sửa đổi và việc làm khuất tất trong việc công bố của hội Linné nhằm bảo vệ quyền tác giả của Darwin đối với thuyết chọn lọc. Chính do hoạt động đó mà Wallace không được coi là người đầu tiên phát hiện ra một hiện tượng khoa học tự nhiên quan trọng vào loại bậc nhất của mọi thời đại.                    Trong khi một số người không ngần ngại nói toạc ra hoặc có người lại nói nửa kín nửa hở rằng những việc làm trên có phần mờ ám, không minh bạch, đồng thời lại có một số nhà nghiên cứu lịch sử khác chỉ coi đây là một sự nghi ngờ ban đầu đối với Darwin mà không có chứng cớ xác đáng.     Một điều rõ ràng là người ta đã vội vã chắp vá một số ý tứ từ những tài liệu của Darwin để giới thiệu trước công trình được coi là hoàn chỉnh và đã chín muồi để in ấn của Wallace. Bản thân Darwin đã góp phần thúc đẩy  vụ việc này, mặc dù như sau này ông từng thú nhận, những đoạn trích để trình bày nói trên, hoàn toàn không nhằm mục đích  để công bố. Việc làm này chỉ nhằm để khẳng định vị trí hàng đầu của ông trong việc phát hiện nguyên tắc chọn lọc. Theo quan niệm về đạo đức của các nhà khoa học ngày nay thì yếu tố có tính quyết định là việc công bố công trình chứ không phải là người đầu tiên làm về một vấn đề gì đó. Cung cách xử lý của Hội Linné rõ ràng là một việc làm đáng ngờ.  Điều trớ trêu là hình ảnh Darwin mà chúng ta tạo dựng ngày nay sẽ đứng vững hay bị đổ nhào lại lệ thuộc vào thời gian chuyển bức thư của Wallace từ vùng Viễn Đông xa xôi đến tay Darwin ở nước Anh.  Các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học đã tái hiện các sự kiện xảy ra trong năm 1858, họ tính toán chuẩn xác đến từng phút thời gian hoạt động của các chuyến tàu chở thư và tàu chở hàng hóa của Hà Lan và Anh hoạt động trên tuyến đường biển giữa Đông Ấn và châu Âu.  Khi bản thảo của ông được giới thiệu ở London thì Wallace đang tham gia một cuộc điều tra kéo dài 8 năm ở vùng quần đảo Malaysia. Là một nhà nghiên cứu thiên nhiên đồng thời là nhà sưu tầm Wallace sống nhờ vào việc bán những động, thực vật mà ông thu thập được ở những vùng đất xa lạ, kỳ thú này. Ông là người góp phần đáng kể vào việc tạo dựng một bộ sưu tập thiên nhiên quý giá nhất, từ các loài bướm cho đến những loại côn trùng khác cũng như các loài chim và nhiều loài động vật có vú. Ngoài ra Wallace còn là người viết rất đều đặn về những phát hiện của mình và gửi những bài đó tới những tạp chí có uy tín ở Anh.  Từ tháng hai đến tháng ba 1858 ông làm việc ở Molukken. Thời gian đó ông buộc phải nghỉ ít ngày vì căn bệnh  sốt rét. Chính trong những ngày nghỉ đó ông chợt nghĩ đến vấn đề chọn lọc tự nhiên. Như vậy có thể khẳng định Wallace đã viết về chọn lọc tự nhiên giữa những cơn sốt rét vào đầu tháng ba 1858 và ông đã gửi bài viết của mình về Anh bằng tàu biển. Nhưng khi đó ông gửi tài liệu này đến Darwin chỉ để xin ý kiến, Wallace  đã viết điều này trong bức thư kèm theo. Wallace từ lâu đã có quan hệ với Darwin và ông cũng rất biết bản thân Darwin cũng đang tìm lời giải cho sự thay đổi của các loài.  Ba tháng sau bức thư và bản thảo công trình nghiên cứu  của Wallace đã đến tay Darwin ở trang trại của ông ở Down thuộc Kent. Bưu kiện này đã làm cho Darwin lâm vào một tình trạng  bàng hoàng, ngạc nhiên, lo lắng và tuyệt vọng. Wallace đã tóm tắt một cách  dễ hiểu, ngắn gọn về cơ chế tiến hóa, điều mà Darwin trước đó đã đề cập  một cách chi tiết trong một khảo luận và bản thảo một cuốn sách khác của ông – cả hai tác phẩm này  trước đó đều chưa được công bố.  Sau này chính Darwin từng viết, những câu then chốt trong bài viết của Wallace có thể dùng làm tiêu đề cho các chương trong công trình mà ông đã bỏ biết bao công sức nghiền ngẫm, chuẩn bị trong hai chục năm ròng. Khi Darwin đã viết xong mười chương của công trình mà ông dự kiến đặt tên là “Natural Selection” thì bản thảo của Wallace từ hòn đảo gia vị Ternate xa xôi đến tay ông. Darwin lo sợ rằng Wallace có thể tranh công của mình về phát kiến có ý nghĩa quyết định về sự tiến hóa của các loài. Sự thực là trong chuyến đi vòng quanh thế giới bằng tàu biển từ năm 1831 đến 1836, Darwin đã nghiền ngẫm rất  nhiều về sự thay đổi của các loài. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã phát hiện, lúc đầu Darwin còn giữ kín những suy nghĩ của mình và chỉ ghi chép vào một cuốn sổ tay,   sau đó ông viết thành một khảo luận trước khi ông hoàn thiện tác phẩm dày 230 trang vào mùa hè năm 1844.     Nhưng vì Darwin cùng một lúc tiến hành nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, mặt khác ông còn muốn tiếp tục thu thập thêm tư liệu, bằng chứng cho học thuyết của mình nên Darwin trì hoãn nhiều lần việc công bố tác phẩm của mình – cho đến khi ông nhận được bản thảo của Wallace. Ngày nay chúng ta đều biết chắc chắn rằng, ngày 18. 6. 1858  Darwin đã viết thư xin lời khuyên và ý kiến của nhà địa chất học Sir Charles Lyell và nhà thực vật học Joseph Dalton Hooker. Chính hai nhà khoa học này sau đó đã vận động và bố trí cùng công bố những tài liệu của Darwin và Wallace tại cuộc họp của Hội Linné. Ở đây có một vấn đề gây tranh cãi là phải chăng Darwin là người không thật sự trung thực khi đề cập đến thời gian ông nhận được bài viết của  Wallace –  vào thời điểm quyết định khi ông nhận được những nhận thức mới mẻ của Wallace, rất bổ ích cho công trình của mình, nhưng ông lại không đề cập đến sự kiện này.  Việc bản thảo tài liệu gốc của Wallace và bức thư kèm theo của ông gửi tới Darwin bị thất thoát là một điều hết sức lạ lùng, khó hiểu, vì kho lưu trữ các tài liệu của Darwin gần như bảo quản hết sức đầy đủ mọi giấy tờ, tài liệu do bản thân ông viết hoặc của những thư từ, tài liệu mà người khác gửi tới ông. Trong việc tái dựng lại khoảng thời gian mà tài liệu và thư  của Wallace gửi qua đường bưu điện người ta có thể dự đoán bưu kiện đã đến tay Darwin vào những ngày đầu tháng sáu năm 1858, một số nhà nghiên cứu lịch sử lại cho rằng thời gian này phải là giữa hoặc cuối tháng năm. Ngày nay chúng ta cũng đều biết rằng cũng vào thời gian này Darwin đã bổ sung bản thảo của mình, thêm gần 40 trang, ở những mục quan trọng nhất. Đành rằng nguyên tắc chọn lọc đã được biết trước Wallace từ lâu, nhưng rất có thể qua cách diễn đạt mạch lạc rõ ràng của ông một số vấn đề nhất định đã được sửa chữa, hoàn thiện tốt hơn.  Trong bức thư đề ngày  25.6.1858 gửi tới Lyell, một người bạn vong niên, Darwin giãi bày,  ông sẽ vui mừng biết nhường nào “nếu như tôi có thể tách hẳn ra một đoạn để công bố những suy nghĩ chung của mình. Nhưng tôi không tin rằng, tôi có thể yên tâm làm việc đó”. Sau đó ông còn nói thẳng với Lyell về suy nghĩ của mình, phải làm như thế nào để bảo vệ vị trí số một của mình cũng như sự thừa nhận của dư luận đối với ý kiến của ông về chọn lọc tự nhiên mà không gây xúc phạm tới Wallace.  Darwin viết: “Thà tôi đốt cuốn sách của mình còn hơn là để Wallace hoặc bất kỳ ai có thể nghĩ rằng, tôi đã cư xử một cách đê tiện”. Cuối cùng ông đề nghị: “Nếu như tôi có thể in ấn tài liệu của mình một cách trung thực, thì tôi sẽ ghi rõ, rằng tôi đã thông qua bài viết mà Wallace đã từng gửi cho tôi và trong đó chứa đựng những kết luận cơ bản như của tôi, vì thế giờ đây tôi thấy cần phải trích công bố một phần bài khảo luận của mình”.  Bản thân Wallace trong một thời gian dài hoàn toàn không biết gì về những hoạt động được chuẩn bị hết sức kín kẽ xung quanh việc công bố bản thảo của mình. Sau này khi quay trở về Anh quốc năm 1862 ông đã tới thăm Darwin và đến lúc đó ông mới biết rõ  hơn về những việc  này cũng như về việc ông đã làm cho Darwin lo sợ biết nhường nào.  Wallace cảm thấy rất vinh  hạnh được đứng tên trong một tài liệu chung với Darwin, qua đó ông được xếp vào hàng ngũ các nhà nghiên cứu tự nhiên danh tiếng bậc nhất ở nước Anh. Trong suốt thời gian Darwin còn sống Wallace luôn nhường đường để Darwin đi trước mỗi khi  đề cập đến thuyết tiến hóa “của ông ta”. Chính do sự nhún nhường, khiêm tốn thái quá  đó Wallace đã góp phần làm cho mọi người tin rằng Darwin mới thực sự là tác giả duy nhất của  thuyết tiến hóa.  Xuân Hoài dịch Theo Fr-online  1.7.08  MATTHIAS GLAUBRECHT      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đất Hỏa tinh có thể có vi khuẩn sống      Các kiểm tra mới nhất những mẩu đất trên Hỏa tinh do tàu Viking thu được cho thấy hành tinh Đỏ có thể có sự tồn tại của vi khuẩn sống.    Theo nhà khoa học Joop Houtkooper thuộc ĐH Giessen, Đức, bề mặt khô và lạnh giá của Hỏa tinh có thể là nơi vi khuẩn sinh sống và phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là ở đó có hỗn hợp nước và hydrogen peroxide.  Các phân tích của Houtkooper cho thấy 0,1% đất Hỏa tinh có thể là nơi bắt nguồn sự sống.  “Chúng tôi sẽ phải tìm những bằng chứng xác thực và tìm hiểu xem loại vi khuẩn nào có mặt trên Hỏa tinh, cũng như tìm hiểu xem chúng có liên quan như thế nào với các vi khuẩn ở Trái đất. Có khả năng từ cách đây rất lâu, sự sống đã được chuyển từ Trái đất lên sao Hỏa hoặc ngược lại”, Houtkooper nói.  Ông Houtkooper tin trên Hỏa tinh có hỗn hợp nước và hydrogen peroxide, giúp cho vi khuẩn có khả năng chống đông, vì vậy chúng hoàn toàn có thể sống sót giữa khí hậu khắc nghiệt trên hành tinh này, nơi nhiệt độ ít khi nào lên trên mức giá lạnh và có thể giảm xuống âm 150 độ C.  Các nhà khoa học hy vọng sẽ thu thập được nhiều bằng chứng khác chứng minh trên sao Hỏa có hay không có sự sống khi tàu thăm dò Phoenix Mars Lander thế hệ mới của NASA đến hành tinh này vào tháng 5-2008.  MINH ANH (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
0.43243243243243246
__label__tiasang   Hồ Hùng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặt tên gì cho bệnh ?      Giới y tế không nên sáng chế ra những bệnh danh dài dòng mà ngay cả giới y khoa cũng cảm thấy khó hiểu. Nếu giới y khoa khó hiểu, thì người dân chắc cũng khó hiểu. Một khi người dân khó hiểu bệnh trạng thì chúng ta khó có sự hợp tác của họ trong chiến dịch phòng bệnh, như Khổng Tử từng cảnh báo trước đây.              “Nếu ngôn ngữ không đúng, thì những gì nói ra sẽ  không phản ảnh chính xác ý của người nói; nếu ý của người nói không được phản ảnh chính xác, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được đạo đức và nghệ thuật sẽ bị tổn hại.”  (Khổng Tử)             Báo Dân Trí trích lời phát biểu của Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và môi trường rằng bệnh danh “Tiêu chảy cấp nguy hiểm” là chuẩn xác vì Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sử dụng để nói về dịch tiêu chảy có sự xuất hiện của khuẩn phẩy tả.     Trong một bài báo trên Vietnamnet và Thời báo Kinh tế Sài Gòn tuần vừa qua, tôi có viết rằng cần định danh bệnh cho chính xác để có sự hợp tác của người dân trong chiến lược phòng chống bệnh tả.  Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cũng nói một ý như thế.  Do đó, tôi cảm thấy có trách nhiệm bàn thêm về việc định danh bệnh như sau:   Thứ nhất là vấn đề thuật ngữ liên quan đến bệnh danh. Tôi chưa từng thấy một thuật ngữ tiếng Anh nào tương xứng với (hay có thể dịch là) “Tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Có thể đối chiếu cụm từ “Tiêu chảy cấp nguy hiểm” giữa tiếng Việt và Anh để hiểu thêm vấn đề:              Tiêu chảy = diarrhoea              Cấp [tính] = acute              Nguy hiểm = dangerous  Do đó, nếu dịch sang tiếng Anh thì “Tiêu chảy cấp nguy hiểm” có nghĩa là “Dangerously Acute Diarrhoea”.  Tôi tìm trong danh mục bệnh của ICD (International Classification of Diseases) mà không thấy một bệnh nào có tên như thế cả. Bạn đọc có thể sử dụng “Google” hay “PubMed” (thư viện y khoa toàn cầu) để kiểm tra phát biểu trên của tôi.   Thứ hai là cách sử dụng thuật ngữ của WHO. Ông Cục trưởng cho rằng “WHO sử dụng [thuật ngữ ‘Tiêu chảy cấp nguy hiểm’] để nói về dịch tiêu chảy có sự xuất hiện của khuẩn phẩy tả,” nhưng đọc qua các tài liệu của WHO về bệnh tả và tiêu chảy, tôi không thấy bất cứ một bệnh danh nào có từ “dangerous” (nguy hiểm) trong đó cả.    WHO dùng thuật ngữ cholera (bệnh tả) và diarrhoea (tiêu chảy) rất rõ ràng. Không có sự nhập nhằng ở đây.  Do đó, tôi phải đặt dấu hỏi phát biểu trên của ông Nga dựa vào nguồn thông tin nào của WHO.  Đây là vấn đề quan trọng vì phát biểu mà không có nguồn gốc hay cơ sở khoa học là không thể chấp nhận được.   Hai bệnh này có những nguyên nhân và bệnh lí khác nhau.  Từ điển Y học (Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1997) định nghĩa cholera như sau: “Bệnh dịch tả (dt) một bệnh nhiễm trùng cấp ở ruột non do vi khuẩn vibrio cholera, nó gây ra ói mửa và tiêu chảy trầm trọng dẫn tới mất nước.”  Xem qua phần diarrhea, Từ điển định nghĩa: “Tiêu chảy (dt) sự bài tiết ruột thường xuyên hoặc đi ra phân mềm bất thường hay lỏng. Tiêu chảy có thể do nhiễm trùng đường ruột, các dạng khác của viêm ruột như viêm đại tràng hay bệnh Crohn, kém hấp thụ, lo âu, và hội chứng ruột kích thích.”    Nói tóm lại, bệnh danh “Tiêu chảy cấp nguy hiểm” mà ông Cục trưởng Cục Y tế dự phòng nói đến rất ư lạ lùng, vì không có trong y văn, không có trong danh bạ bệnh danh ICD, và cũng không thấy WHO sử dụng.   Thế thì chúng ta nên gọi tình trạng bộc phát bệnh tiêu chảy hiện nay là gì?  Bộ Y tế ban hành Quyết định số 4233/QĐ-BYT ngày 3/11/2007, trong đó (mục 2.1) Bộ Trưởng Bộ Y Tế xác định rõ ràng rằng: “Một ‘vụ dịch tả’ được xác định khi có ít nhất 1 ca bệnh tả được xác định”. Quyết định này hoàn toàn phù hợp với qui ước quốc tế về bệnh tả (International Health Regulations). Chẳng hạn như ở Úc, Bộ Y tế định nghĩa như sau: “A single case of cholera in a person with a history of no overseas travel is considered an outbreak” (tạm dịch: Một cá nhân mắc bệnh tả nhưng chưa từng đi ra nước ngoài trước đó được xem là một sự bộc phát).  Cho đến nay (13/4/2008) đã có 1335 bệnh nhân, trong đó 136 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả (chiếm tỷ lệ 10%). Như vậy, dựa vào Quyết định của Bộ Y tế và qui ước quốc tế, chúng ta có thể định danh bệnh là “vụ bệnh tả” hay “bệnh tả” cho gọn.   Thiết tưởng không có gì phải bàn cãi về bệnh danh vì qui định và qui ước quá rõ ràng.  Tôi nghĩ giới y tế không nên sáng chế ra những bệnh danh dài dòng mà ngay cả giới y khoa cũng cảm thấy khó hiểu.  Nếu giới y khoa khó hiểu, thì người dân chắc cũng khó hiểu.  Một khi người dân khó hiểu bệnh trạng thì chúng ta khó có sự hợp tác của họ trong chiến dịch phòng bệnh, như Khổng Tử từng cảnh báo trước đây.                      Chủ Nhật, 13/04/2008 – 2:09 AM    Gọi dịch”Tiêu chảy cấp nguy hiểm” là chuẩn xác           (Dân trí) – Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và môi trường Nguyễn Huy Nga cho biết, đây là thuật ngữ chung được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sử dụng để nói về dịch tiêu chảy có sự xuất hiện của khuẩn phẩy tả.    Vì vậy, thuật ngữ này cũng được áp dụng tại Việt Nam khi có dịch xảy ra. Ông Nga cho biết, hiện nay, tại Iraq và Thái Lan cũng đang xảy ra dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm.              Theo báo cáo của Bộ Y tế Việt Nam, hiện nay số bệnh nhân mắc tiêu chảy cấp đang có xu hướng chững lại. Tại Hà Nội, số ca dương tính với phẩy khuẩn tả dừng lại ở số 44 người từ 10 ngày nay. Toàn thành phố đã có gần 28.000 người được uống thuốc dự phòng.               Hiện nay, UBND Thành phố Hà Nội đang tiếp tục tiến hành khảo sát, kiểm tra vấn để vệ sinh tại 30 hồ ao đã được cảnh báo đang bị ô nhiễm.              Ông Phạm Đắc Quyền, Giám đốc Sở Y tế Thanh Hoá cũng cho biết; 72/79 ca tiêu chảy cấp ở tỉnh này đã được điều trị khỏi và đã được ra viện               Nguồn: http://www1.dantri.com.vn/suckhoe/Goi-dich-Tieu-chay-cap-nguy-hiem-la-chuan-xac/2008/4/227601.vip                 GS. Nguyễn Văn Tuấn         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đất trên Sao Hỏa có thể trồng cây được      Các phân tích mẫu đất đầu tiên do phi thuyền không người lái thăm dò sao Hỏa mang tên Phượng Hoàng lấy được từ sao Hỏa cho thấy có nhiều điều kiện cho phép sự sống phát triển ở hành tinh này.    Theo những phân tích đầu tiên, đất sao Hỏa giống đất thường hơn người ta dự đoán. Giáo sư Sam Kounaves, trưởng nhóm nghiên cứu hóa học của dự án thăm dò Phượng Hoàng thuộc NASA, cho biết: “Các thành phần của đất sao Hỏa có thể nuôi dưỡng sự sống, cả trong quá khứ, hiện tại hay tương lai”. Sau khi phân tích bằng phương pháp “hóa ướt” (wet chemistry), các nhà khoa học đã rất ngạc nhiên khi thấy đất ở Sao Hỏa ít axít hơn dự đoán, lại có dấu vết của kali, natri, magne cùng nhiều nguyên tố có trên trái đất của chúng ta. “Dường như nó giống loại đất trong vườn chúng ta, có thể trồng măng tây. Khi nhận được dữ liệu phân tích, tất cả chúng tôi đều sửng sốt”, giáo sư Kounaves nói. Theo phân tích trên, mẫu đất lấy được giống với đất ở các vùng thảo nguyên khô ở Nam cực hoặc một số vùng sa mạc. Các nhà khoa học cũng nhận thấy tính kiềm mạnh với độ PH khoảng 8-9. Đây là một loạt các yếu tố khẳng định giả thuyết tồn tại nước ở dạng lỏng trên bề mặt của hành tinh Đỏ trong quá khứ. Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu của carbon hữu cơ, thành phần cơ bản của sự sống.  Anh Thư (Theo Sciences et Avenir)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dấu ấn khoa học nổi bật năm 2019      Năm 2019 là một năm đầy biến động với các cuộc biểu tình chống biến đổi khí hậu, bất ổn chính trị và những tranh cãi về đạo đức trong chỉnh sửa gene trên phôi thai người. Tuy nhiên, giới khoa học cũng đạt được một số thành tựu mới như máy tính lượng tử của Google, bức ảnh đầu tiên chụp lỗ đen và các mẫu vật thu thập từ một tiểu hành tinh.    Thám hiểm không gian  Vào tháng 4, nhóm nghiên cứu quốc tế thuộc chương trình Kính thiên văn Chân trời sự kiện (EHT) công bố một trong những bức ảnh đáng nhớ nhất năm 2019: bức ảnh đầu tiên chụp lỗ đen và chân trời sự kiện của nó nằm ở trung tâm thiên hà Messier 87, cách Trái đất gần 54 triệu năm ánh sáng. Bức ảnh mang tính đột phá này được chụp bởi mạng lưới 8 kính viễn vọng vô tuyến trên khắp thế giới.    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm lần đầu tiên con người đặt chân lên Mặt trăng, nhiều chương trình thám hiểm vệ tinh tự nhiên của Trái đất đã diễn ra trong năm nay. Vào tháng một, tàu thăm dò Hằng Nga 4 của Trung Quốc trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh an toàn xuống nửa tối của Mặt trăng, khu vực không thể nhìn thấy trực tiếp từ Trái đất. Robot tự hành Thỏ Ngọc 2 của tàu vũ trụ Hằng Nga 4 phát hiện thành phần lớp phủ Mặt trăng chứa hai khoáng vật olivin và pyroxen sau khi sử dụng máy đo quang phổ để phân tích đất đá tại miệng hố Von Kármán. Tuy nhiên, các nỗ lực khám phá Mặt trăng khác không thành công như mong đợi. Trong tháng 4, Israel phóng tàu vũ trụ tư nhân đầu tiên lên Mặt trăng nhưng nỗ lực hạ cánh đã thất bại. Điều tương tự cũng xảy ra với tàu đổ bộ Vikram của Ấn Độ vào tháng 9.  Các nhiệm vụ thám hiểm sao Hỏa trong năm nay thu được nhiều kết quả thú vị. Máy đo địa chấn trên tàu đổ bộ InSight của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) ghi nhận những tín hiệu địa chấn có thể đến từ một vụ động đất trên sao Hỏa. Cách đó khoảng 600 km, xe tự hành Curiosity của NASA phát hiện nồng độ cao kỷ lục của khí methane (CH4) trong bầu khí quyển sao Hỏa vào tháng sáu. Trước đó vào tháng hai, robot thăm dò sao Hỏa Opportunity của cơ quan này ngừng hoạt động do gặp phải bão bụi.  Trong phạm vi xa hơn của hệ Mặt trời, tàu thăm dò Hayabusa2 của Nhật Bản thu thập thành công mẫu vật đất đá từ bề mặt tiểu hành tinh Ryugu. Hiện nay, Hayabusa2 đang trên đường quay trở về Trái đất. Dự kiến nó sẽ hạ cánh xuống một sa mạc ở Australia vào năm 2020.  Thách thức về môi trường  Quay trở lại Trái đất, hiện nay có khoảng một triệu loài động vật, thực vật đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do môi trường sống bị hủy hoại và biến đổi khí hậu, theo báo cáo toàn diện về tình trạng hệ sinh thái toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 6/5/2019. Trong một báo cáo đặc biệt khác, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) kêu gọi các quốc gia phải nỗ lực nhằm hạn chế nhu cầu đối với đất nông nghiệp, bao gồm việc người dân chuyển sang tiêu thụ ít thịt hơn [hoạt động chăn nuôi cũng là một nguồn phát thải khí nhà kính lớn]. Nếu không có những hành động như vậy, các Chính phủ sẽ không đạt được mục tiêu đề ra trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015, đó là hạn chế sự nóng lên toàn cầu không quá 2°C so với mức tiền công nghiệp.  Tuy nhiên, nhiều quốc gia dường như đang hành động theo chiều hướng ngược lại. Tại Brazil, Tổng thống Jair Bolsonaro lên cầm quyền vào tháng một. Không chỉ là người theo chủ nghĩa dân túy chống môi trường, ông còn cắt giảm ngân sách liên bang dành cho nghiên cứu khoa học, khuyến khích người dân định cư ở khu vực rừng Amazon, sa thải người đứng đầu cơ quan Chính phủ phụ trách giám sát nạn phá rừng từ vệ tinh. Tại Mỹ, Tổng thống Donald Trump tiếp tục dỡ bỏ các quy định về môi trường. Trong tháng sáu, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) công bố quy định mới nhằm nới lỏng giới hạn khí thải đối với các nhà máy điện chạy bằng than, làm thay đổi phần lớn những chính sách khí hậu hàng đầu dưới thời cựu Tổng thống Barack Obama. Vào tháng 11, Chính quyền Trump bắt đầu tiến trình rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (COP 25) diễn ra ở Madrid (Tây Ban Nha) vào tháng 12/2019, các nhà lãnh đạo thế giới không đạt được thỏa thuận mang tính đột phá nào.  Hưởng ứng lời kêu gọi của Greta Thunberg [nhà hoạt động môi trường 16 tuổi người Thụy Điển], hàng triệu người ở 150 quốc gia trên thế giới xuống đường biểu tình trong tháng chín. Họ yêu cầu các Chính phủ phải hành động hiệu quả hơn để chống biến đổi khí hậu. Thunberg được tạp chí Time bình chọn là nhân vật của năm 2019.  Ngày 25/10, một nhóm gồm 15 thanh thiếu niên Canada trong độ tuổi từ 10 đến 19 đã đệ đơn kiện lên tòa án liên bang, cáo buộc Chính phủ Canada vi phạm quyền công dân của họ bằng việc thúc đẩy và cho phép phát triển nhiên liệu hóa thạch, góp phần khiến Trái đất ngày càng nóng lên. Một vụ kiện tương tự khác cũng đang chờ được xử lý ở Hà Lan.    Đẩy lùi ranh giới sinh học  Năm 2019, các nhà khoa học đã vượt qua một số giới hạn sinh học và đạo đức trong phòng thí nghiệm. Một nhóm nghiên cứu người Mỹ hồi sinh bộ não của lợn đã chết [sau khi đầu của con vật bị cắt đứt khoảng bốn giờ], bằng cách bơm vào não một chất lỏng giàu dinh dưỡng và oxy để bắt chước máu. Họ phát hiện hầu hết các phần của bộ não khôi phục chức năng trao đổi chất. Cụ thể, tế bào não lợn đã lấy oxy và glucose, chuyển chúng thành các chất chuyển hóa như carbon dioxide. Đây là những biểu hiện thông thường ở các tế bào não còn sống. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không cố gắng khôi phục ý thức của con vật – họ thêm các hợp chất ngăn chặn tín hiệu thần kinh vào máu nhân tạo trước khi thí nghiệm bắt đầu.  Trong một thí nghiệm bên ngoài cơ thể khác, các nhà khoa học Trung Quốc nuôi thành công phôi khỉ trong một đĩa thí nghiệm gần ba tuần – lâu hơn phôi linh trưởng từng được phát triển trong phòng thí nghiệm trước đây. Thành công này đặt ra câu hỏi liệu phôi người nuôi trong phòng thí nghiệm có được phép phát triển sau 14 ngày hay không. Hiện nay, hầu hết các quốc gia quy định phôi người nuôi cấy trong phòng thí nghiệm phải bị phá hủy trước 14 ngày để nó không đủ thời gian phát triển hệ thần kinh trung ương.  Vào tháng chín, một nhóm nghiên cứu của Mỹ tìm ra cách phát triển phôi người từ tế bào gốc. Phôi nhân tạo dường như bắt chước sự phát triển ban đầu của phôi người thật. Việc có nên cho phép phát triển phôi nhân tạo đến các giai đoạn sau hay không là một cuộc tranh luận về mặt đạo đức đang diễn ra và chưa có hồi kết.  Nhật Bản tiếp tục là quốc gia đi đầu trong việc thử nghiệm lâm sàng các tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPS). Trong tháng chín, các nhà khoa học tại Đại học Osaka sử dụng loại tế bào gốc này tạo ra giác mạc có thể dùng để cấy ghép cho một người phụ nữ bị suy giảm thị lực. Một nhóm nghiên cứu khác tại Đại học Keio được Bộ Y tế Nhật Bản chấp thuận sử dụng tế bào gốc iPS như một liệu pháp điều trị chấn thương cột sống.    Cú sốc văn hóa  Năm 2019, các cuộc điều tra về vấn đề quấy rối tình dục, đạo đức và văn hóa tại nơi làm việc được thực hiện tại nhiều tổ chức trên khắp thế giới. Trong một cuộc khảo sát quy mô lớn, các nhân viên tại Hiệp hội Max Planck (Đức) báo cáo tình trạng phân biệt đối xử theo giới tính và bắt nạt vẫn thường xuyên xảy ra trong tổ chức.  Tại Australia, 50% các nhà khoa học nữ cho biết họ từng phải đối mặt với sự quấy rối tại nơi làm việc. Vào tháng 8, Đại học Adelaide đình chỉ công tác Alan Cooper – người đứng đầu Trung tâm DNA Cổ đại của Australia – sau một cuộc điều tra về văn hóa làm việc ở trung tâm này. Các đồng nghiệp cáo buộc Cooper thường xuyên bắt nạt họ.  Tại Mỹ, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) lần đầu tiên tuyên bố có bao nhiêu người bị kỷ luật do liên quan đến các vụ quấy rối tình dục trong năm trước. Vào tháng hai, cơ quan này thông báo họ đã thay thế 14 điều tra viên chính và cấm 14 người vi phạm tham gia vào hội đồng bình duyệt. Trong khi đó, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ phê duyệt chính sách trục xuất các thành viên bị kết tội quấy rối tình dục.  Công nghệ lượng tử và AI    Năm nay, các nhà vật lý đạt được một bước tiến đột phá trong điện toán lượng tử. Vào tháng mười, Google tuyên bố chế tạo thành công máy tính lượng tử Sycamore có tốc độ tính toán siêu nhanh, chỉ cần 200 giây (3 phút 20 giây) để giải xong một bài toán phức tạp mà IBM Summit, siêu máy tính mạnh nhất thế giới hiện nay, ước tính phải mất 10.000 năm mới giải xong. Trong bài báo đăng trên tạp chí Nature, Google cho biết tốc độ xử lý siêu nhanh của chiếc máy tính này đại diện cho một bước nhảy vọt gọi là Lượng tử tối cao, hay Uy quyền lượng tử (Quantum Supremacy).  Sự khác biệt chính giữa máy tính thường và máy tính lượng tử là khả năng xử lý dữ liệu. Đối với với máy tính thường, dữ liệu chỉ tồn tại trong một trạng thái ở một thời điểm: bit 1 hoặc 0. Nếu máy tính cổ điển chỉ xử lý tuần tự các bit này, máy tính lượng tử có thể sử dụng bit lượng tử (gọi là qubit) để làm việc đồng thời cả 1 và 0. Trạng thái kép này giúp quá trình xử lý dữ liệu tăng theo cấp số nhân.  Công ty DeepMind, một đơn vị khác của Google có trụ sở tại London (Anh), tạo ra một trí thông minh nhân tạo (AI) có khả năng đánh bại những game thủ giỏi nhất chơi StarCraft II. Tháng bảy, một AI tên là Libratus do Đại học Carnegie Mellon (Mỹ) phát triển đánh bại cả bốn cao thủ poker hàng đầu thế giới. Những bước tiến vượt bậc trong công nghệ AI hứa hẹn sẽ giúp giải quyết thêm nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, chẳng hạn như phát hiện hành vi lừa đảo qua mạng hoặc điều khiển xe ôtô tự lái.  Chỉnh sửa gene phôi thai người  Cuối năm 2018, giới khoa học bị sốc với thông báo nhà nghiên cứu Trung Quốc Hạ Kiến Khuê tạo ra hai bé gái song sinh chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới có khả năng miễn dịch với virus HIV. Nhóm của ông sử dụng công nghệ CRISPR-Cas9 để vô hiệu hóa gene CCR5 có chức năng mã hóa một loại protein cho phép virus HIV xâm nhập vào tế bào. Tháng 1/2019, Đại học Khoa học và Công nghệ miền Nam, thành phố Thâm Quyến sa thải Hạ Kiến Khuê, sau khi Bộ Y tế Trung Quốc kết luận ông đã vi phạm các quy định quốc gia, nghiêm cấm sử dụng chỉnh sửa gene cho mục đích sinh sản. Đến tháng ba, Bộ Y tế Trung Quốc ban hành thêm các quy định dự thảo, trong đó bao gồm hình phạt nghiêm khắc đối với những người vi phạm các quy tắc liên quan đến chỉnh sửa gene ở người.  Cũng trong tháng ba, một ủy ban tư vấn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kêu gọi thành lập một cơ quan đăng ký toàn cầu về nghiên cứu chỉnh sửa gene người.  Trong khi tranh luận về chỉnh sửa gene vẫn đang diễn ra quyết liệt thì các nhà nghiên cứu đã tiếp tục cải thiện công nghệ này. Vào tháng mười, David Liu và cộng sự tại Viện Broad thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Harvard tiết lộ một công cụ chỉnh sửa gene mới gọi là “prime editing”. Kết quả ban đầu cho thấy nó hoạt động chính xác hơn so với công cụ CRISPRIP Cas9 tiêu chuẩn, làm giảm bớt một số lo ngại về sự an toàn của việc chỉnh sửa gene ở người.  Dịch bệnh nguy hiểm  Dịch bệnh Ebola bùng phát trong năm qua tại khu vực phía Đông của Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) khiến 2.200 người tử vong. Vào tháng bảy, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng tại đây – mức cảnh báo cao nhất của cơ quan này. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm bốn loại thuốc để chữa Ebola. Trong số đó, họ phát hiện có hai liệu pháp dựa trên kháng thể chữa khỏi 90% số bệnh nhân đang ở giai đoạn đầu của bệnh.  Các nhân viên y tế cũng đã cung cấp cho hơn 256.000 người dân ở phía Đông DRC một loại vaccine Ebola mới do công ty dược Merck sản xuất mang tên Ervebo. Vào tháng 11, Ervebo trở thành vaccine phòng ngừa Ebola đầu tiên trên thế giới được Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) cấp phép lưu hành.  Tại Mỹ, sự gia tăng đột biến của các ca tổn thương phổi ở những người hút thuốc lá điện tử đã khiến hơn 50 người chết và khoảng 2.000 người nhập viện trong năm 2019. Điều này buộc các nhà khoa học và cơ quan y tế phải vào cuộc để tìm ra nguyên nhân.  Trong tháng ba, một người nhiễm HIV giấu tên ở London (Anh) được chẩn đoán là không còn virus HIV sau khi cấy ghép tế bào gốc – thay thế các tế bào bạch cầu của bệnh nhân bằng tế bạch cầu của người hiến tặng sở hữu đột biến gene CCR5 delta 32 có khả năng chống lại virus HIV. Trước đó, bệnh nhân Timothy Ray Brown người Đức cũng được chữa khỏi “căn bệnh thế kỷ” nhờ phương pháp điều trị tương tự vào năm 2009.A  Theo: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/dau-an-khoa-hoc-noi-bat-nam-2019/20191226091334357p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Dấu ấn” R&D nông nghiệp của các công ty tư nhân ở châu Á      Một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ về hoạt động R&amp;D trong nông nghiệp của khối tư nhân ở một loạt các nước châu Á đã cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của khối này trong phát triển nông nghiệp.    Nước có khối tư nhân đầu tư R&D cho nông nghiệp lớn nhất ở châu Á là Ấn Độ với khoảng 55 triệu USD, tiếp theo là các nước Thailand, Malaysia và Trung Quốc. Khối tư nhân tham gia vào nghiên cứu ở các nước này mỗi năm chi khoảng từ 15 đến 20 triệu USD; sau nữa là Philippines – khoảng 10 triệu USD, và Indonesia và Pakistan – khoảng 6 triệu USD. Một điều khá đặc biệt là khối tư nhân tham gia R&D cho nông nghiệp ở Trung Quốc lại rất thấp, chỉ 0,01% trong GDP nông nghiệp, trong khi đó tỉ lệ này ở Thailand và Malaysia là gấp 10 lần.  Trong khoảng 10 năm, khối tư nhân đầu tư gấp đôi cho R&D nông nghiệp ở Ấn Độ, Pakistan, Indonesia và Trung Quốc đầu tư gấp đôi cho R&D nông nghiệp. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, số vốn đầu tư cho R&D nông nghiệp của khối tư nhân chỉ chiếm vẻn vẹn 3% GDP nông nghiệp, trong khi đó tỷ lệ này ở Malaysia và Philippines chiếm tới 20% – cao nhất châu Á.            Đầu tư nghiên cứu phát triển cây Jatropha làm nhiên liệu sinh học ở Ấn Độ         Các công ty nước ngoài chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động R&D nông nghiệp của khối tư nhân. Điển hình là Trung Quốc: hầu hết các hoạt động R&D nông nghiệp ở nước này là do các công ty nước ngoài liên doanh với công ty địa phương. Ở Pakistan và Ấn Độ, các công ty nước ngoài chiếm khoảng 1/3 hoạt động R&D nông nghiệp. Nhìn chung, các công ty đa quốc gia ở Đông Nam Á “độc chiếm” trong lĩnh vực R&D về giống và thuốc trừ sâu. Các doanh nghiệp nước ngoài ở Thailand và Philippines được phép mở đồn điền. Ở Malaysia và Indonesia, đồn điền của các công ty nước ngoài dần bị mua lại (Malaysia) và quốc hữu hóa (Indonesia). Kết quả là Malaysia và Indonesia không có các công ty nước ngoài liên quan đến các nghiên cứu về trồng trọt.  Việc xoá bỏ dần các hàng rào thương mại giữa các nước châu Á đã biến các nghiên cứu riêng biệt từng vùng thành các nghiên cứu liên vùng để giảm chi phí và chống mất cắp bản quyền. Ví dụ, các công ty giống đã tập trung từ các nước khác tới Thailand và xuất khẩu từ Thailand đi các nước khác. Trong khi đó thì Charoen Pokphand  – một tập đoàn nông nghiệp Thailand lại làm các nghiên cứu về gia cầm của mình ở Trung Quốc rồi từ đó “nhập khẩu” các giống gia cầm cải tiến về nước mình. Phần lớn các nước trên đều chủ yếu nhập khẩu công nghệ, trừ hai nước lớn nhất là Ấn Độ và Trung Quốc. Từ giữa những năm 90, hai nước này đã “tự lực” từ 1/3 đến 1/2 là công nghệ nghiên cứu trong nước.  Hiệu quả chủ yếu trong R&D của các công ty tư nhân ở châu Á là tăng sản lượng ngô, hướng dương, kê, lúa miến (sorghum) và bông ở Ấn Độ, ngô và rau quả ở Thailand, ngô ở Philippines, ngô và thuốc lá ở Pakistan. Qua đó có thể thấy, ngô là giống được các công ty tư nhân chú trọng nghiên cứu và phát triển nhất ở châu Á.  R&D và chuyển giao công nghệ của khói tư nhân cũng khiến giá các sản phẩm từ gia súc gia cầm hạ xuống nhanh chóng. Trong 20 năm, từ thập kỷ 70 đến 90, trứng và thịt gà ở các nước châu Á giảm xuống 3-4 lần. Một nghiên cứu cho thấy, nhờ có công nghệ mà trong vòng 30 năm, giá thịt gà đã giảm tới một nửa. Các sản phẩm thịt, trứng, sữa… nhờ đổi mới công nghệ nên không những tăng sản lượng một cách đáng kể mà chất lượng cũng được cải thiện.  Ở châu Á, chỉ có một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia… thì dấu ấn R&D trong nông nghiệp của khối tư nhân hầu như không đáng kể, còn với hầu hết các nước châu Á khác, mọi thành tựu trong nông nghiệp đều có dấu ấn R&D của khối này.  ảnh trên cùng: Trang trại nuôi tôm ở Songkhla, Thailand  Trần Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dầu diesel sạch      Hội đồng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Mỹ (NRDC) sắp triển khai chương trình sử dụng loại dầu diesel thế hệ mới cho ô tô. Theo chương trình, 8 triệu xe tải trên toàn quốc sẽ sử dụng một loại dầu diesel mới do NRDC tổng hợp cùng với động cơ cải tiến, giúp giảm tới 97% lượng khí thải so với các loại dầu diesel và động cơ hiện tại.    Ông R.Kassel, Giám đốc phụ trách năng lượng và động cơ sạch của NRDC cho biết: “Sự kết hợp giữa dầu diesel và động cơ mới sẽ giúp chúng ta có cơ hội hít thở không khí sạch hơn đồng thời giảm sự phụ thuộc vào dầu lửa”.  (Platinum Today)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đậu mùa – một chú giải nhỏ  của lịch sử Việt Nam      Những chi tiết nhỏ thường bị lãng quên trong lịch sử. Nhưng thực ra chúng có vai trò tham gia vào vận mệnh quốc gia, dân tộc, xã hội, tác động đến diễn trình của tri thức, triều đại, trật tự ngai vàng, số phận con người hay hưng vong thời đại.      Truyền Hương Hoa Thư: bà chúa đậu mùa của Trung Hoa. Nguồn: Bảo tàng quốc gia lịch sử (Đài Bắc), (Donald R. Hopkins 2012).  Với các sử gia, bệnh đậu mùa đôi khi chỉ là một chú giải nhỏ trong bài viết. Nhưng trong nhiều khung cảnh, nó lại nằm ở trung tâm của các diễn biến lịch sử. Dĩ nhiên, lịch sử là phức tạp, không một nhân tố nào có thể được tuyệt đối hóa, cũng không thể có sự giả định trong lịch sử. Một vài ví dụ trong lịch sử Việt Nam cho thấy việc tìm hiểu về đậu mùa cung cấp thêm nhiều tri thức không chỉ về cách thức con người với tư cách cá nhân chống chọi dịch bệnh, mà còn là ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển chính trị-xã hội ở nhiều phương diện khác nhau: từ tương tác giao lưu văn hóa, tri thức y học, đến khoa học kỹ thuật và sự ảnh hưởng lẫn nhau của các nền văn hóa, văn minh.  Đậu mùa là một trong những nỗi ám ảnh xa xưa của loài người. Khảo cổ học cho thấy nhiều dấu tích về sự hiện diện của chúng từ cách nay 350,000 năm. Từ khoảng 10,000 năm TCN, chúng ta thấy ảnh hưởng đáng kể của căn bệnh này lên các cư dân nông nghiệp ở châu Á và châu Phi (Aidan Cockbum: 1963, 197-8). Các xác ướp Ai Cập thuộc vương triều XVIII và XX (1570 -1085 TCN) cho thấy ảnh hưởng của đậu mùa trong các xã hội có mật độ tập trung dân số cao (Donald R. Hopkins 1983: 14-16).    Ghi chép về đậu mùa sớm nhất ở Trung Quốc là khoảng năm 243 TCN (J. H. Cha 1976). Nhiều sử gia tin rằng dịch bệnh này đã đi theo đoàn quân của Mã Viện (14 TCN-49 CN) trong cuộc hành quân của ông ta vào Đông Nam Trung Hoa và châu thổ sông Hồng (40-43) (Chang Chia Feng 1996: 49). Dù ở Việt Nam sau đó hầu như không có các ghi chép rõ ràng về đậu mùa, nhưng tình trạng này ở Trung Hoa được phản ánh khá phổ biến, đặc biệt là từ thời Tùy. Michele Thompson lập luận rằng muộn nhất là đến thế kỷ XII, các sách y học của Việt Nam cho thấy bệnh này đã được biết đến rộng rãi (1998: 18).  Điều thú vị là nếu đặt đồng bằng sông Hồng trong khung cảnh lịch sử cư dân sớm ở Đông Nam Á, Đại Việt là một trong số những nơi hiếm hoi mà đậu mùa có khả năng phát triển thành dịch và tồn tại lâu dài, bởi vì bệnh này không lây qua vật trung gian, nên cần một số lượng dân đủ lớn cũng như sự gia tăng liên tục của cư dân từ nơi khác. Frank Fenner (1987: 34) lập luận rằng để đậu mùa có thể duy trì thường xuyên thì cần có sự tập trung của dân số từ 100,000 đến 200,000 người. Ngoại trừ trung tâm đảo Java và Angkor, ít có khu vực nào của Đông Nam Á có quy mô dân số như thế trước thế kỷ XVI. Ở giai đoạn sau, đậu mùa trở nên phổ biến hơn, chẳng hạn như các trận dịch năm 1563-64, 1621-1623, 1749-50 ở Thailand.  Cách thức chữa đậu mùa truyền thống của người Trung Hoa và Ấn Độ đó là sử dụng “hệ miễn dịch” (theo cách gọi hiện đại ngày nay). Joseph Needham (1980) mô tả chi tiết sự phức tạp của quá trình này, tuy nhiên nguyên tắc cốt lõi là việc các thầy thuốc đưa mầm bệnh đậu mùa vào những người bình thường (thổi vảy đậu mùa vào mũi, hay lấy dịch từ bệnh nhân…) với hy vọng bệnh nhân thứ hai sẽ bị nhẹ trong vòng vài tuần và không bao giờ bị lại (vì người ta nhận ra những người đã từng bị đậu mùa không bị mắc lại).  Tri thức về đậu mùa được ghi lại bởi các danh y của Việt Nam. Danh y thời Trần là Tuệ Tĩnh được cống sang triều Minh lúc 55 tuổi (khoảng năm 1385) và sau đó trở thành thái y triều Minh trước khi qua đời ở Nam Kinh (Lê Trần Đức 1975). Tác phẩm Nam Dược thần hiệu được viết trong lúc ông ở triều Minh cũng có đề cập đến đậu mùa. Sau đó, các sách y dược cũng bắt đầu đề cập đến cách thức chủng ngừa của y học từ phương Bắc, như Bảo Anh Lương Phương (1455). Lê Hữu Trác, danh y thế kỷ XVIII (1720-1791) viết trong Hải Thượng Lãn Ông y tâm tâm lĩnh về cách chữa trị đậu mùa:  “Gặp khi có dịch đậu nghiêm trọng thì cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, cha mẹ lấy ngón tay giữa nhúng dầu mè mà xoa xát vào đầu, trán, gáy, lưng, eo lưng, hai cổ tay chân của trẻ rồi cho trẻ đi ngủ.” (Lê Hữu Trác 1993, tập 3: 380).  Vào thế kỷ XVIII, người châu Âu lần đầu tiên tìm cách đưa virut đậu bò vào cơ thể người với mục đích tạo ra hệ thống miễn dịch đậu mùa. Đó là bác sĩ thú y người Anh, E. Jenner (1749-1823), ông quan sát thấy những từng bị bệnh đậu bò hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi đậu mùa sau đó. Ông thử nghiệm thành công phương pháp chủng đậu bò để phòng bệnh đậu mùa vào năm 1796, chính thức công bố công trình của mình vào năm 1798 và trở thành thành viên Viện Hàn lâm Hoàng gia. Thuật ngữ vaccine cũng được ra đời từ đây, bắt nguồn từ chữ Latin “vaccinus” (có nghĩa con bò hoặc liên quan đến con bò). Khám phá của Jenner mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử y học. Theo cách hiểu của khoa học hiện đại thì đây là cách gây miễn dịch bằng một vi khuẩn hoặc virus giảm độc lực/ yếu để gây ra một đáp ứng miễn dịch, rồi tạo một trí nhớ miễn dịch cho cơ thể người bệnh, từ đó tạo ra hiệu quả đề kháng cho cơ thể về sau.    Hoàng tử Cảnh, người kế vị của Nguyễn Ánh qua đời vì bệnh đậu mùa vào ngày 20/3/1801. Bệnh đậu mùa đã có ảnh hưởng rất lớn tới Gia Long, chắn chắn ông đã thúc đẩy việc tìm kiếm cách chủng ngừa cho những người con còn lại của mình.   Cũng chính vào lúc đó, đậu mùa tham dự vào những biến cố quan trọng của lịch sử Việt Nam.  Năm 1801 là một dấu mốc có nhiều biến động. Trong lúc quân Nguyễn Ánh đẩy mạnh cuộc tấn công dọc theo duyên hải miền Trung, và quân Tây Sơn tháo chạy từ Huế ra Bắc Hà, người kế vị chính thức của Nguyễn Ánh ở Gia Định, hoàng tử Nguyễn Cảnh qua đời vì đậu mùa ngày 20/3/1801. Hai tháng sau, ngày 21/5/1801, một hoàng tử khác bị giết trên chiến trường. Hoàng tử thứ tư Nguyễn Phúc Đảm vì thế sẽ tham gia trực tiếp vào cuộc chiến kế vị ngai vàng.  Gia Long có mối quan tâm đặc biệt đến y học phương Tây. Bác sĩ riêng của ông là Jean Marie Despiau, một bác sĩ phẫu thuật người Pháp từng ở Macao nhiều năm trước khi qua Việt Nam vào 1795. Sự tin cẩn của Gia Long đối với Despiau đến mức có thể ông đã ở bên cạnh nhà vua cho đến giây phút cuối cùng, cùng với các thái y như Nguyễn Thuốc Phiên (châu bản Gia Long, tập 5). Việc hoàng tử Cảnh qua đời vì đậu mùa có ảnh hưởng lớn đến Gia Long, và chắc chắn đã thúc đẩy ông tìm kiếm cách thức chủng ngừa cho những người con còn lại của mình. Minh Mệnh cũng đã chứng kiến sự nguy hiểm của bệnh tật và không muốn điều tương tự xảy ra đối với các con của mình. Vì thế, khi Gia Long qua đời ngày 25/1/1820, Minh Mệnh yêu cầu Despiau chuẩn bị kế hoạch đi Macao để lấy vaccine (13/7/1820), đồng thời yêu cầu Vannier đi theo phụ tá (theo thư của Phillip Vannier gửi cho Jean Jacques Louis Baroudel, thuộc giáo đoàn ở Macao).  Việc vận chyển vaccine đậu mùa dài ngày hiện nay vẫn còn là một thách thức, chưa nói đến kỹ thuật của hai thế kỷ trước. Vì thế, trong những cuộc hành trình hàng hải, người ta dùng phương pháp gọi là truyền vaccine từ “tay đến tay”: mang theo những đứa trẻ đã có kháng thể đậu mùa như một nguồn lưu trữ vaccine. Nhờ vào đó mà vaccine đậu mùa được đưa từ Baghdad (Iraq) đến Bombay (Ấn Độ) vào 6/1802. Vaccine này sau đó được một thầy thuốc của vua Tây Ban Nha Carlos IV là Don Francisco Xavier Balmis, đưa đến Macao vào ngày 30/11/1803 với 22 đứa trẻ nam chứa kháng thể đậu mùa (Hopkins 1983: 224).  Thông tin về sự hiện diện của vaccine đậu mùa ở Macao có lẽ đã đến triều đình Huế vào năm 1819 khi chiếc tàu Pháp mang tên Henri cập bến Đà Nẵng. Bác sĩ của tàu là Treillard sau đó được mời đến Huế để xem bệnh cho vua Gia Long lúc này đã rất yếu, vì có vẻ như Gia Long không tin các thầy thuốc bản địa (Thompson 1998: 54).  Hai người Pháp đang phụng sự tại Huế sẽ chịu trách nhiệm đưa vaccine đậu mùa về Việt Nam. Họ là bác sĩ của Gia Long, Jean Marie Despiau và Philippe Vannier đi theo phụ tá. Họ mang theo hai đứa trẻ ra khỏi cửa sông Hương trên một con tàu của người Hoa ngày 14/7/1820. Tàu đưa họ vào Đà Nẵng để đi Macao trong cuộc hành trình kéo dài hai tuần. Vì sự khan hiếm những đứa trẻ có sẵn kháng thể đậu mùa ở Macao cũng như việc Despiau phải học các kỹ thuật nhằm chiết xuất kháng thể để truyền từ trẻ này qua trẻ khác, và tính toán thời gian chính xác từ lúc chúng được cho lây nhiễm đậu bò ở Macao cho đến hành trình về Đà Nẵng và Huế để chắc chắn kháng thể mà chúng tạo ra là tốt nhất. Đoàn của Despiau về Huế tháng 2/1821, tại đây, ngay lập tức, ông tiến hành vaccine cho các con của Minh Mệnh. Nhà vua Nguyễn sau đó cho phép thiết lập một “trung tâm vaccine” ngay trong khu hoàng thành, nơi Despiau đào tạo 10 ngự y về kỹ thuật vaccine và công việc này còn kéo dài trong vòng 5 tháng tiếp theo (thư của Despiau gửi Baroudel ở Macao vào ngày 28/7/1821).     Cuộc hành trình vì vaccine đậu mùa này cũng cho thấy những chuyển biến lớn lao trong cách thức người Việt ở thế kỷ XIX tiếp cận khoa học và tri thức phương Tây. Ở khía cạnh khác là việc nó phản ánh những xung đột và chia rẽ sâu sắc trong cung đình Huế đầu thời Minh Mệnh về quyền lực, thái độ và cách thức tương tác với người phương Tây. Vì phụng sự trung thành với Minh Mệnh, Despiau bị những người châu Âu khác như Jean Baptist Chaigneau và Vannier thù ghét và coi thường. Thực tế là Chaigneau (và sau đó là Vannier) đã đối đầu với Minh Mệnh từ sau năm 1816 khi ông còn ở địa vị hoàng tử Đảm, được chọn nối ngôi, thay vì con của hoàng tử Cảnh, người có những liên hệ tích cực với phương Tây. Trong những năm chuyển giao quyền lực và hoàng tử Đảm kế ngôi, chỉ có 3 người phương Tây có tầm ảnh hưởng lớn ở Huế là Chaigneau, Vannier, và Despiau. Hai người đầu chọn sự chống đối và mất dần niềm tin của Minh Mệnh cho đến khi toàn bộ gia đình của họ phải rời khỏi Huế vào ngày 15/11/1824.    Vua Tự Đức, người thừa kế của Thiệu Trị, đã mắc đậu mùa, dù sống sót sau cơn bạo bệnh, thể trạng yếu ớt và việc khong có con của Tự Đức sẽ là chủ đề bao trùm trong nền chính trị của vương triều nhiều thập kỷ sau đó.   Minh Mệnh sau đó cắt dần quan hệ với phương Tây và tìm cách tái tổ chức lại hệ thống thái y viện với việc giảm vai trò của người phương Tây và tăng cường tri thức y học Trung Hoa. Jean Marie Despiau chết vào năm 1824, chấm dứt sứ mệnh y học của ông tại Huế, và có vẻ như là sau đó vương triều này đã đoạn tuyệt với ý tưởng tiếp nhận vaccine hay thành tựu y học mới từ phương Tây. Dù Despiau và các thái y có thể giữ được vaccine trong vòng năm tháng (1821), tuy nhiên chắc chắn là sau đó các cuộc hành trình như thế không còn nữa. Bằng chứng là năm 1845, con trai của Thiệu Trị, nhà vua Tự Đức tương lai bị đậu mùa. Dù sống sót sau cơn bạo bệnh, thể trạng yếu ớt và việc không có con của Tự Đức sẽ là chủ đề bao trùm trong nền chính trị của vương triều nhiều thập kỷ sau đó, trong những chuyển biến lớn lao của vương triều, vương quốc, thời đại và nhân loại.  Việc phát triển kỹ thuật vaccine đậu mùa ở Việt Nam chỉ được giải quyết khi viện Pasteur Sài Gòn nuôi cấy thành công virus trên trâu nước vào năm 1891. Mặc dù vậy, đậu mùa sẽ còn tiếp tục để lại dấu ấn trên phần lớn dân cư Việt Nam và diện mạo của lịch sử (theo đúng nghĩa đen của từ này). Một khảo sát năm 1898 cho thấy 95% trẻ em vị thành niên ở miền Bắc Việt Nam có mặt rỗ và 9 trong số 10 đứa trẻ bị mù là liên quan đến đậu mùa (Hervieux 1899).  Cuối cùng, lịch sử là một chuỗi những tương tác phức tạp mà mỗi nhân tố đều có vai trò riêng. Mỗi mảnh ghép của quá khứ, dù to hay nhỏ đều ẩn chứa đằng sau sức mạnh làm thay đổi vận mệnh của cá nhân, cộng đồng, hay xã hội. Vua Tự Đức luôn bị ám ảnh bởi thể trạng yếu kém của mình và việc không thể sinh con. Điều này ảnh hưởng lớn đến nền chính trị triều Nguyễn, nhất là trong bối cảnh ông phải đương đầu với những thách thức mang tính thời đại. Sẽ là ngây thơ nếu nói rằng toàn bộ vận mệnh của lịch sử Việt Nam hiện đại được quyết định bởi trận đậu mùa của hoàng tử Cảnh năm 1801 và của Tự Đức năm 1845. Nhưng sẽ là không quá khi nói rằng lịch sử bệnh dịch không chỉ là nỗi ám ảnh và đau đớn của con người trước bệnh tật, mà còn là một bức tranh đa dạng về quá khứ từ góc độ trao đổi tri thức, trình độ phát triển xã hội, quan hệ chính trị, tương tác văn minh, kỹ thuật, xung đột quyền lực, tiếp nhận văn hóa, y thuật. Mỗi khía cạnh trong số chúng là một phần không thể tách rời trong cuộc hành trình của nhân loại.  Ngày nay, việc kiểm soát đậu mùa là một thành tựu quan trọng của ngành y tế, nhưng trong suốt chiều dài của lịch sử loài người, bệnh dịch này đã là một mối nguy hiểm lớn lao, đã “càn quét” khắp các châu lục và tham dự vào, hoặc tạo ra những biến cố lịch sử quan trọng. Cho đến nay, những bằng chứng khoa học sớm nhất cho thấy bệnh đậu mùa lần đầu tiên được phát hiện ở Bắc Phi và lây lan đến các khu vực khác. Khai quật khảo cổ học cho thấy, pharaoh Ramses V ở Ai Cập đã mắc bệnh đậu mùa vào năm 1156 TCN. Những ghi chép từ các cổ thư của Ấn Độ và Trung Quốc cũng cho thấy, khoảng 30% số người mắc bệnh đậu mùa tử vong, thậm chí tỉ lệ trẻ em mắc bệnh và tử vong còn cao hơn nữa. Đậu mùa tiếp tục lây lan khắp châu Á vào thời Trung Cổ và đến châu Âu vào khoảng năm 700 sau Công Nguyên, gây ra những trận đại dịch quy mô lớn, không chỉ những cư dân bình thường, mà hoàng tộc các vương triều cũng không thoát khỏi. Hoàng đế La mã Joseph I, nữ hoàng Mary II của nước Anh, Vua Louis XV của Pháp và Sa hoàng Peter II của Nga đều chết vì căn bệnh này. Nhưng có lẽ những nạn nhân chịu đựng bệnh dịch này một cách thảm khốc nhất là những người Aztec và người Inca. Cư dân của những nền văn minh này gần như đã bị tiêu diệt hoàn toàn bởi dịch bệnh đậu mùa trước khi bị những người Tây Ban Nha chinh phục bằng vũ lực chiến tranh trong thế kỷ 16 và 17.  Tham khảo  Chia-Feng Chang, “Aspects of Smallpox and Its Significance in Chinese History” (Ph.D. diss.. Univ. of London. 1996), 49-51.  David G. Marr, “Vietnamese Attitudes Regarding Illness and Healing” in Death and. Disease in Southeast Asia: Explorations in Social, Medical an d Demographic History, ed. Norman G. Owen. Asian Studies Association of Australia Southeast Asia Publications Series no. 14 (Singapore: Oxford Univ. Press. 1987) 162-186.  Donald R. Hopkins, Princes and Peasants: Smallpox in History (Chicago: Univ. of Chicago Press. 1983).  Frank Fenner. “Smallpox in Southeast Asia,” Crossroads 3: nos. 2 and 3 (1987), 34.  Joseph Needham in China and the Origins of Immunology. Centre of Asian Studies Occasional Papers and Monographs, no. 41 (Hong Kong: University of Hong Kong. 1980): 5-23.  Lê Trần Đức. Tuệ Tĩnh và nền y dược cổ truyền Việt Nam. (Hanoi: Nxb Y Học, 1975).  Thompson, C. M. (2015). Vietnamese traditional medicine: A social history. Singapore: NUS Press.  Nghiên cứu về đậu mùa và tương tác tri thức y học trong lịch sử Việt Nam có thể tìm thấy trong: Thompson, C. M. (1998). A Negotiated Dichotomy: Vietnamese Medicine and the Intersection of Vietnam ese Acceptance of and Resistance to Chinese Cultural Influence. PhD dissertation, University of Washington.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Đâu phải là thiếu cơ sở khoa học      Dịch tiêu chảy cấp/tiêu chảy cấp nguy hiểm đã và đang có diễn biến phức tạp tuy theo cơ quan Y tế có thẩm quyền hiện vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Là một nhân viên Y tế (tuy không làm về công tác Y tế công cộng/Dịch tễ) theo dõi và lo lắng về tình hình dịch trong những ngày qua trên một số báo điện tử trong và ngoài nước, đọc bài viết trên tạp chí Tia sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ của tác giả Nguyễn Đình Nguyên và bài của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn tôi muốn nêu ý kiến cá nhân của mình về vấn đề này ở hai điểm chính.    Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước chính phủ về vấn đề Y tế. Trước thực tế dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm đã có các chỉ đạo chuyên môn và giám sát dịch tễ cần thiết mà một trong mục tiêu quan trọng của công tác giám sát dịch là xác định nhanh chóng nguyên nhân của vụ dịch. Việc công bố các ca bệnh trong vụ dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm nói trên là các ca bệnh tả hay không là chức trách của lãnh đạo ngành Y tế, của chính phủ phải được tiến hành trên các căn cứ chính xác và thận trọng không chỉ vì lý do nghi ngại những tác động xấu tới thương mại và du lịch của đất nước mà còn có những vấn đề về chuyên môn thuần túy. Chúng ta biết và đương nhiên hơn ai hết lãnh đạo ngành Y tế và Chính phủ biết bệnh tả là một trong các bệnh nằm trong danh mục các bệnh cần công bố khi xuất hiện ca bệnh và tiếp sau đó Tổ chức Y tế thế giới sẽ tiến hành xác định lại chính xác để công bố chính thức (trực tiếp trên bản đồ động). Từ nhiều năm nay, nhất là từ trong các vụ dịch SARS, cúm gia cầm, cơ quan Y tế Việt Nam đã có sự cộng tác chặt chẽ và tham gia trực tiếp của các chuyên gia thuộc Tổ chức Y tế thế giới trong việc xác định nguyên nhân các vụ dịch. Tính tới ngày hôm nay (10/11) cơ quan này cũng chưa có kết luận chính thức về nguyên nhân của dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm này có phải là phẩy khuẩn tả hay không. Vấn đề nghe có vẻ vô lý khi chúng ta cho rằng việc xác định phẩy khuẩn tả (soi trực tiếp, cấy, PCR) đâu có phức tạp đến như vậy. Việc xác định có vi khuẩn tả trong phân người bệnh quả là không khó tuy nhiên có vi khuẩn tả trong phân bệnh nhân tiêu chảy không phải đồng nghĩa là vi khuẩn tả chính là nguyên nhân gây tiêu chảy cho người bệnh. Điều này gây ngạc nhiên cho phóng viên hãng truyền thông Pháp AFP khi nghe người phát ngôn Bộ Y tế Việt Nam Nguyễn Quang Thuận giải thích còn trên thực tế điều này đúng là như vậy. Hầu hết các bệnh nhân nhiễm vi khuẩn tả không phát bệnh (tiêu chảy) và vi khuẩn tồn tại trong phân của những người này từ 7 đến 14 ngày, và trong số bị tiêu chảy chỉ khoảng 20 % có biểu hiện tiêu chảy cấp nguy hiểm. Trong khi đó nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy khác (vi khuẩn, virus, hóa chất…) cần phải loại trừ, xác định. Với một ca bệnh, việc kết luận sai (do vội vàng, thiếu thận trọng) nguyên nhân gây bệnh có thể chỉ để lại ảnh hưởng đối với người bệnh đó, còn với một vụ dịch lớn sai lầm này có thể có hậu quả lớn. Nêu ý kiến về điểm này không có nghĩa phủ nhận vi khuẩn tả không phải là nguyên nhân gây ra vụ dịch này. Trên thực tế các biện pháp Y học dự phòng mà Bộ Y tế triển khai từ những ngày đầu phát dịch đã lường tới khả năng này.  Điểm thứ hai trong ý kiến của mình tôi không đồng ý quan điểm cho rằng quyết định tạm thời đình chỉ việc mua bán, sử dụng mắm tôm hiện được coi là nghi can mang mầm bệnh của vụ dịch là thiếu cơ sở khoa học cho dù tác giả dẫn ra rất nhiều các tính toán và coi nó là chứng cớ khoa học. Giả dụ nguyên nhân của các trường hợp tiêu chảy là tả. Vì là mầm bệnh được xác định từ hơn 100 năm nay và tính từ thế kỷ 19 trở lại, thế giới đã trải qua 7 đại dịch do vậy chúng ta đã có những hiểu biết về đặc tính lý-hóa-sinh, đặc tính gây bệnh, độc lực, các chủng, nhóm, biến thể của vi khuẩn và đặc biệt là phương thức lây truyền, lâm sàng, điều trị, phòng bệnh. Vì lẽ đó cho dù biết rằng Y học thực chứng (evidence-based medicine) là rất hay rất đáng tạo thành một thói quen tư duy mới trong Y học lâm sàng cũng như trong Y học dự phòng thì các biện pháp phòng bệnh trước nguy cơ dịch tả (hay khi dịch đã xảy ra) về cơ bản không khác nhau nhiều giữa các nước, giữa các tác nhân truyền bệnh trung gian (thông thường trong một vụ dịch tả, những tác nhân trung gian này không bao giờ là một cả do vi khuẩn từ phân người bệnh có thể trực tiếp giây nhiễm vào thức ăn, nguồn nước uống và chế biến thực phẩm). Đặc tính vật lý của vi khuẩn là bền vững với nhiệt, chỉ bị phân hủy ở nhiệt độ trên 100oC (117oC), không bất hoạt mà còn được “bảo quản” tốt hơn trong nước muối do đó trong phòng bệnh tả, nước và thực phẩm sống (không qua đun sôi kỹ) là hai yếu tố cần kiểm soát. Nước phải được đun sôi kỹ hay xử lý bằng clo, các thức ăn sống hay không được nấu chín kỹ nên tránh. Khẩu hiệu rút gọn của Trung tâm kiểm soát và dự phòng bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) là: “Hãy đun sôi, hãy nấu chín, hãy gọt vỏ, hoặc là hãy tạm thời quên nó đi” (“Boil it, cook it, peel it, or forget it.”). Do vậy với trường hợp của mắm tôm (chế biến từ hải sản, có thể là nguồn MANG vi khuẩn tả tự nhiên, không “bị” đun nấu trước khi sử dụng-thực phẩm sống, môi trường muối mặn là môi trường “bảo quản” vi khuẩn tả), cho dù không có các chứng cứ, các con số từ các nghiên cứu hồi cứu về các yếu tố nguy cơ trên các ca bệnh của Viện vệ sinh dịch tễ, thì quyết định của Bộ y tế tạm thời không mua bán sử dụng trong thời gian bùng phát dịch là hoàn toàn đúng đắn.  Trên đây là ý kiến cá nhân của tôi, tôi xin được tiếp thu các ý kiến phản hồi, góp ý với sự biết ơn và trân trọng.  —————  *Nghiên cứu sinh chuyên ngành Miễn dịch học  Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia,  Bệnh viện Necker, Paris, Cộng hoà Pháp    Phạm Văn Linh*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dầu sinh học giá rẻ từ tảo      Ông Hans-Jürgen Franke, chuyên gia về hợp  tác phát triển của Đức, đã lắp đặt một cơ sở sản xuất dầu sinh học từ  tảo đầu tiên trên thế giới ở bang Pernambucos thuộc vùng đông bắc  Brazil.     Nuôi trồng tảo trong silo  Tảo được nuôi trong những silo (bể tháp ủ) lớn và phát triển với tốc độ kỷ lục nhờ ánh sáng mặt trời và khí CO2. Sau khi thu hoạch, người ta ép tảo để lấy dầu và chế biến thành diesel-sinh học (Biodiesel), cũng như axit béo Omega 3 cho công nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm. . Bã tảo làm thức ăn gia súc bởi lượng đạm trong bã tảo cao gấp đôi so với ngô hạt.   Các cơ sở nuôi tảo trên thế giới hiện nay thường nuôi tảo trong những bể mở lớn hàng hecta. Giá thành dầu tảo theo công nghệ đó cũng quá cao – có khi lên đến vài euro/lít – vì đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Còn tại cơ sở nuôi trồng chế biến tảo của ông Franke ở Brazil với đối tác See Algae Technology (SAT), người ta nuôi tảo trong các silo cao độ 5 mét đứng kề nhau, trên các silo là mái che, có nhiệm vụ thu gom ánh sáng mặt trời truyền qua những lăng kính và cáp quang vào silo, nhờ đó tảo có nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp. Thay vì chỉ tận dụng bề mặt bể để nuôi tảo, theo phương pháp này, tảo phát triển trong toàn bộ silo, nên năng suất cao gấp bội.   Phân dùng nuôi tảo lấy từ khí thải của các lò chưng cất của nhà máy đường ở kề bên cơ sở sản xuất tảo. Chất đốt ở đây là bã mía. Khí thải CO2 được dẫn vào các silo giúp cho tảo phát triển mạnh mẽ hơn. Cứ hai tấn CO2 thì tạo ra một tấn tảo. Hàm lượng dầu trong tảo là 50%, phần còn lại là sinh khối.   Rẻ và nhiều lợi ích  Dầu tảo rất thích hợp để chế biến thành biodiesel, thay vì dùng dầu đậu tương hay dầu cọ. Ông Rafael Bianchini, Giám đốc SAT nói: “Chúng tôi sản xuất nhiên liệu sinh học, nhưng lại không lấy đất nông nghiệp.” Giá thành sản xuất chấp nhận được, một lít dầu tảo có giá khoảng 30 Cent, chi phí chế biến thành biodiesel khoảng 40 Cent.  Ngoài ra, còn có nguồn thu từ bã tảo để làm thức ăn gia súc, gia cầm hoặc thủy sản. Theo nhà đầu tư tài chính Joachim Grill, đồng thời là CEO của SAT thì thời gian khấu hao của cơ sở sản xuất này là năm năm.  Thiết bị nuôi, chế biến tảo được sản xuất tại Brazil, các cơ sở này sẽ được xây dựng liền kề nhà máy luyện thép, nhà máy nhiệt điện hoặc các nhà máy đường để tận dụng khí thải CO2, vừa góp phần giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vừa tăng thêm thu nhập cho các nhà máy này.     Còn một lợi ích nữa, đó là nếu các nhà máy sản xuất ethanol từ mía có khi phải chờ cả năm mới đến thời điểm thu hoạch mía, thì đối với tảo, thời gian này chỉ khoảng một tháng.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư mạo hiểm trên thế giới      Để hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ mới quy mô vừa và nhỏ, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã có các loại chương trình đầu tư mạo hiểm khác nhau với 3 hình thức chủ yếu là: đầu tư vốn trực tiếp (đầu tư cổ phần, vốn vay của chính phủ), các chính sách khuyến khích về tài chính (khuyến khích thuế, bảo lãnh vay, bảo lãnh cổ phần) hoặc tạo cơ chế cho các nhà đầu tư mạo hiểm hoạt động. Trong các hình thức trên, đầu tư vốn trực tiếp chiếm ưu thế hơn cả.    Một số nước đã rất thành công trong đầu tư mạo hiểm như Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Gần đây, đầu tư mạo hiểm ở Trung Quốc cũng phát triển nhanh.  Mỹ: là nước tiên phong trên thế giới về đầu tư mạo hiểm, với ý tưởng cần hỗ trợ vốn để hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý tưởng sáng tạo và có tiềm năng trên thị trường. Công ty đầu tư mạo hiểm đầu tiên ở Mỹ do Hiệu trưởng đại học MIT thành lập từ năm 1946, quỹ này đã hỗ trợ các công ty công nghệ nổi tiếng trên thế giới như DEC (chế tạo các máy tính cỡ trung đầu tiên trên thế giới). Một số công ty công nghệ danh tiếng trên thế giới như Microsoft, Apple, Yahoo cũng hình thành và phát triển từ vốn đầu tư mạo hiểm. Đến nay Mỹ có khoảng 2.000 công ty đầu tư mạo hiểm với tổng số vốn hơn 60 tỷ USD, mỗi năm đầu tư cho khoảng 10.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Chính phủ Mỹ đã ban hành hàng loạt luật và chính sách hỗ trợ đầu tư mạo hiểm, trong đó chủ yếu là tạo điều kiện cho Quỹ Hưu trí được đầu tư mạo hiểm, tạo điều kiện thành lập các doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm trong Luật đầu tư doanh nghiệp vừa và nhỏ.  Nhà cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm chủ yếu từ Quỹ Hưu trí, các công ty tư nhân, cá nhân và gia đình, cơ sở đào tạo và nghiên cứu, ngân hàng và công ty bảo hiểm, các nguồn vốn nước ngoài. Tổ chức quản lý đầu tư các công ty mạo hiểm là chuyên nghiệp.  EU: Trong EU, Anh là nước thành công hơn cả trong đầu tư mạo hiểm. Đầu tư mạo hiểm xuất hiện ở nước Anh hồi thập niên 70, đến nay đã chiếm 40% tổng vốn đầu tư mạo hiểm của EU. Năm 1999, nước Anh có gần 250 doanh nghiệp đầu tư mạo hiếm với tổng số vốn đạt 11,9 tỷ USD. Chính phủ Anh đã ban hành Luật Uỷ thác Đầu tư mạo hiểm, trong đó ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đầu tư vào Quỹ uỷ thác để Quỹ tiến hành đầu tư mạo hiểm.  Ở Đức, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm năm 1998 chỉ là 1,1 tỷ USD, nhưng đến 2001 đã đạt 5,6 tỷ USD. Chính phủ Đức thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm nước Đức. Chính phủ Đức bảo hiểm đến 75% các khoản lỗ và lợi nhuận của Quỹ từ các doanh nghiệp bị giới hạn trần nên Quỹ thiếu động cơ và hoạt động không thành công.  Nhật Bản: Bộ Ngoại thương và Công nghiệp thành lập Trung tâm đầu tư mạo hiểm từ năm 1975 với chính sách cho các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ mới vay vốn không lãi suất trong 5 năm. Quỹ do ngân hàng quản lý và thực hiện cho vay. Vốn đầu tư mạo hiểm của Nhật chủ yếu từ các cơ quan tài chính. Ngân hàng và các cơ quan tài chính thiếu năng lực đánh giá về công nghệ cao nên Quỹ đầu tư mạo hiểm ở Nhật không phát triển lắm.  Israel, Chile, Đài Loan: Đều là những nền kinh tế thành công trong đầu tư mạo hiểm khi kết hợp sự hỗ trợ của Chính phủ với các công ty mạo hiểm tư  nhân. Quỹ Đầu tư Mạo hiểm của Chính phủ Israel đầu tư trực tiếp và các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân (vốn chính phủ đối ứng 40%). Quỹ đầu tư Mạo hiểm của chính phủ Chile đầu tư vào các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân dưới dạng cho nợ dài hạn, thực chất là vốn ưu đãi (lãi suất 3% trong 15 năm). Chính quyền Đài Loan thực hiện chính sách ưu đãi 20% cho các công ty đầu tư mạo hiểm nếu có đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ cao và chuyển giao công nghệ vào Đài Loan.  Trung Quốc: Năm 1985, chính phủ Trung Quốc bắt đầu thành lập Công ty đầu tư mạo hiểm công nghệ cao, nhưng đến năm 1998 thì công ty này ngừng hoạt động. 13 năm đó được coi là giai đoạn thử nghiệm đầu tư mạo hiểm của Trung Quốc. Từ 1999 đến 2001, Trung Quốc có tới 400 công ty đầu tư mạo hiểm với số vốn 6 tỷ USD. Rút kinh nghiệm thất bại trong giai đoạn đầu do thiếu nguồn nhân lực vận hành, thiếu thể chế, chính phủ Trung Quốc đã ban hành quy chế sàn giao dịch chứng khoán cho các doanh nghiệp công nghệ cao vừa và nhỏ, cải thiện Luật Đầu tư v.v.  Thực tế Mỹ và các nước thành công trong đầu tư mạo hiểm khác cho thấy, các điều kiện để đầu tư mạo hiểm thành công là: có nhu cầu rất lớn về thương mại hóa các kết quả nghiên cứu công nghệ; có hệ thống luật pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy đổi mới công nghệ; thị trường chứng khoán phát triển mạnh cùng với tiềm lực to lớn của các nguồn vốn khác cho đầu tư mạo hiểm; các công ty đầu tư mạo hiểm phải có am hiểu công nghệ và năng lực quản lý.  (Theo tài liệu của Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư thiếu đồng bộ      Muốn hoạt động c&#243; hiệu quả, PTNTĐ phải hội tụ ba yếu tố: nh&#226;n lực mạnh, thiết bị hiện đại v&#224; kinh ph&#237; nghi&#234;n cứu dồi d&#224;o. Nhưng việc đầu tư x&#226;y dựng PTNTĐ của ta dường như mới quan t&#226;m nhiều đến mua sắm trang thiết bị.      Đầu tư…chệch hướng?  1125,73 tỷ đồng xây dựng 17 Phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) được xem là “chi” mạnh tay nhất cho phát triển KH&CN từ trước tới nay ở ta. Chính vì số tiền lớn như vậy mà hiệu quả khoa học, như phát biểu của một số nhà quản lý, “phải chờ hàng chục năm” mới “tận mục sở thị” khiến không ít lời ra tiếng vào từ công luận về hiệu quả thực sự của việc đầu tư này. Không ít  PTNTĐ vì lý do này thì lý do khác từ chối gặp báo chí, còn nếu may mắn được gặp những người trực tiếp quản lý các PTNTĐ, thì những câu trả lời nhận được đều rất chung chung thiên về những thành tích đạt được.  Sau 8 năm cũng là lúc mà 15/17 PTNTĐ được hoàn tất đầu tư. Với phương châm vừa xây dựng, vừa khai thác thì đến nay ở một số PTNTĐ hiệu quả rõ nhất chỉ là để phục vụ giảng dạy, thực tập của học viên cao học, nghiên cứu sinh hay thậm chí cả sinh viên cũng có được “đặc quyền” thực hành. Không ngạc nhiên khi chúng tôi “viếng thăm” PTNTĐ Công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Di truyền thì thấy phần lớn các em sinh viên đang vây quanh bên những cỗ máy đắt tiền, trong đó có những thiết bị như súng bắn gene trị giá cả chục ngàn USD.   Trong khi đó PTNTĐ Vật liệu polymer và composit và PTNTĐ Điều khiển số và kỹ thuật hệ thống thuộc ĐHBK Tp.HCM đang gặp phải tình cảnh thiếu những đề tài “tầm cỡ” nên phải tận dụng thiết bị phục vụ thực tập cho sinh viên. Một cán bộ ở đây (xin giấu tên) còn đùa, “sinh viên ta được xài đồ sang nhất thế giới với các máy móc bạc tỷ”. Thực trạng cũng không có gì sáng sủa hơn đối với PTNTĐ Động cơ đốt trong “tọa lạc” trong khuôn viên ĐHBK Hà Nội. Trong một căn phòng rộng, vẫn thấy có những thiết bị còn bọc ly-nông, TS.Phạm Minh Tuấn, cho biết, “Kể từ khi thành lập, hiệu quả lớn nhất là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ”. Là phòng thí nghiệm có chức năng đo mức tiêu chuẩn khí thải Euro 2 nhưng dường như những thiết bị ở đây chưa được khai thác hết khả năng vốn có. Nếu không “khẩn cấp”  khai thác thì những máy móc ở đây sẽ trở nên lạc hậu khi các tiêu chuẩn 3,4 được sử dụng.  Cùng với tình trạng khai thác sử dụng các thiết bị còn “chập chờn”, gây lãng phí do máy móc hư hỏng vì “đắp chiếu”, sử dụng không đúng mụch đích thì việc thiếu đề tài “sánh vai, vừa lứa” sẽ khiến bản thân Nhà nước phải gánh thêm một khoản chi phí không nhỏ – bằng 1% trong tổng vốn đầu tư cho dự án – vào việc bảo dưỡng duy tu thiết bị (Trên thực tế số tiền này có thể lớn hơn nhiều). Có nhà khoa học cho rằng, trong Quy chế vừa được Bộ KH&CN ban hành vừa rồi đề cập đến việc nếu PTNTĐ nào không hoạt động hiệu quả sẽ…đóng cửa hoặc sẽ bị “hạ cấp”, như vậy chẳng phải là một lãng phí chăng?   Thống kê cho thấy, sau 5 năm hoạt động của các PTNTĐ, số công trình công bố trong nước là 1071, công trình công bố quốc tế là 614. Nhiều nhà khoa học đang làm việc ở nước ngoài đã có ý kiến bày tỏ nghi ngờ con số này. Bên cạnh “năng suất” phản ánh hiệu quả hoạt động của các PTNTĐ như: trong năm 2007 PTNTĐ Vật liệu và Linh kiện điện tử thuộc Viện Khoa học Vật liệu (Viện KH&CN Việt Nam) mới có được 40 công bố quốc tế (?), PTNTĐ công nghệ gen công bố khoảng 17 công trình và 400 trình tự gene, thì có những phòng thí nghiệm đang… “án binh bất động”, chẳng hạn: PTNTĐ Công nghệ enzyme và protein thuộc ĐH KHTN Hà Nội cho  đến nay được đầu tư 4 triệu USD chưa chuyển giao được công nghệ nào; PTNTĐ Công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới (khu vực phía Nam) tại Tp.HCM thì cũng mới có 4 công bố quốc tế và 1 dự án chuyển giao công nghệ.  Một câu hỏi được đặt ra là, để được Nhà nước chọn đầu tư xây dựng PTNTĐ thì viện, cơ quan nghiên cứu phải có tiềm lực mạnh. Vì vậy đương nhiên nhận được nhiều đề tài, dự án. Nhưng thực tế hầu như ngược lại. Điều đó khiến người ta không thể không nghĩ đến việc Nhà nước đã chọn lầm đối tượng đầu tư.    Nhân lực thiếu và “yếu”  Theo nhận định của TS.Lê Tiến Dũng, ĐH Nebraska–Lincoln (Mỹ) và nhiều nhà khoa học thì một PTNTĐ phải hội đủ 3 yếu tố: nhân lực mạnh, thiết bị nghiên cứu hiện đại và kinh phí nghiên cứu dồi dào; trong đó nhân lực là yếu tố quyết định. Như vậy, để xây dựng được một PTNTĐ hiệu quả, đúng hướng thì việc trước tiên là phải đầu tư đào tạo đội ngũ nhà khoa học đủ năng lực điều hành, khai thác thiết bị để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.   “Nhiều thiết bị “đắp chiếu” cũng là do chúng ta “chưa học bò đã lo học chạy”, một nhà khoa học đang công tác ở Viện KH&CN Việt Nam than thở. Ở một số PTNTĐ vì bản thân các nhà khoa học chưa tiếp cận được những nghiên cứu có khả năng khai thác những “tính năng” vốn có của thiết bị, hoặc chưa đủ năng lực khai thác vận hành nên đành phải…chờ đi đào tạo. Mặc dù là cơ chế mở nhưng dường như những PTNTĐ chưa thu hút được các nhà khoa học giỏi ở nước ngoài về làm việc, và hơn nữa do quy chế chưa thống nhất về hoạt động của các cộng tác viên cùng với chi phí thường xuyên chưa được thực hiện nên việc vận hành PTNTĐ có phần chệch hướng. TS.Dũng đưa ra một ví dụ: Sở dĩ Trung Quốc thành công trong mô hình PTNTĐ là do đã thu hút được những nhà khoa học Hoa kiều giỏi trở về làm việc để trở thành “nhân sự đầu đàn”, ngoài ra họ còn đẩy mạnh đào tạo sau đại học để cung cấp những nghiên cứu viên trẻ, giỏi cho PTNTĐ.  TS.Trần Thanh Hà, ĐH KHTN Hà Nội cho rằng nếu không chú trọng đào tạo những nghiên cứu trẻ có khả năng tiếp nhận sử dụng hiệu quả thiết bị của những PTNTĐ thì việc đầu tư thiết bị dù có hiện đại đến mấy cũng vô ích. Théo Bộ KH&CN, tính đến nay tất cả các PTNTĐ mới chỉ đào tạo được 56 tiến sỹ và 58 thạc sỹ.   Song song với việc thiếu nhân sự có năng lực thì một số PTNTĐ, như PTNTĐ Công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới, đang phải đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám” dẫn đến tình cảnh nhân lực đã thiếu lại càng thiếu. Điều nghiêm trọng hơn là trong số những người rũ áo ra đi có cả những người có thâm niên, sử dụng thành thạo thiết bị, năng lực nghiên cứu tốt, mà nếu đào tạo được người kế cận có đủ năng lực chuyên môn như vậy không chỉ cần tiền bạc mà cũng mất khoảng thời gian ít nhất 4-5 năm.   Nếu không có đủ nguồn nhân lực đáp ứng, thì những PTNTĐ “triệu đô” rất dễ trở thành những trung tâm thiết bị, và như vậy hình thức nghiên cứu tập trung, tạo ra những sản phẩm nghiên cứu chiến lược khó lòng thực hiện được.     Chú thích ảnh:  Nghiên cứu tại PTNTĐ Công nghệ gen       Author                Quản trị        
__label__tiasang David Hilbert- Nhà Toán học thông thái cuối cùng của thế kỷ 20      David Hilbert là nhà Toán học lớn nhất của nhân loại trong nửa đầu thế kỷ 20. Hermann Weyl*.      David Hilbert (1862 – 1943) (Archives of P. Roquette, Heidelberg).  Dấu hiệu đầu tiên của nhà Toán học tương lai  David Hilbert sinh ngày 23 tháng 1 năm 1862 tại Wehlau, gần thành phố Königsberg, thủ đô của Đông Phổ.Cha của David là một luật gia làm việc tại tòa hành chánh thành phố này. Ở trường, David học tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp, toán học, và nhiều kiến thức xã hội nhưng không hứng thú mấy với hai môn ngoại ngữ bởi vì phải nhớ nhiều và không có chỗ cho suy nghĩ độc lập. Chỉ có môn toán là chàng thích nhất vì nó không đòi phải học thuộc lòng và “dễ học và không cần cố gắng mấy.” Trong khi “mẹ chàng giúp chàng làm bài luận văn đem về nhà, thì tại lớp học, David giúp thầy giáo giảng giải những bài toán khó.” Các thầy giáo nhận xét “David ham thích toán học và tỏ ra có hiểu biết rất sâu sắc về bộ môn này” . Đây là dấu hiệu đầu tiên của một nhà toán học tương lai.  Mùa Thu năm 1880, David Hilbert vào ĐH Königsberg, trường khá tốt về các ngành khoa học của Đức thời bấy giờ. Đối với David Hilbert, điều tốt nhất trong thời gian ở đây là được gặp gỡ, kết thân với hai nhà Toán học trẻ tài năng Hermann Minkowski (1864 – 1909) và Adolf Hurwitz (1859 – 1919).  Mùa Xuân năm 1882, một chàng trai 17 tuổi rụt rè nhút nhát tên là Hermann Minkowski chuyển về trường ĐH Königsberg sau khi học xong năm thứ nhất tại ĐH Berlin.  Mặc dù còn ít tuổi, nhưng Minkowski đã có một giải thưởng về Toán tại ĐH Berlin và có một số thành quả trong nghiên cứu Lý thuyết số. Vừa mới về Königsberg, Minkowski lại được công bố thắng giải thưởng lớn của Hàn lâm Viện khoa học Paris năm 1883 (cùng chia giải thưởng với nhà Toán học người Anh Henry Smith). Tin tức về Minkowski làm chấn động Königsberg. Tài năng toán học của Hilbert cũng vừa ló dạng tại đây, lại xấp xỉ tuổi nhau (Hilbert lớn hơn Minkowski hai tuổi), cho nên hai chàng trai dễ dàng thân thiết, mặc dù cha Hilbert khuyên “không nên quá gần gũi người nổi tiếng.”  Mùa Xuân năm 1884, một giảng viên 25 tuổi tên là Adolf Hurwitz mới được tuyển vào trường. Vừa mới gặp gỡ, Hilbert nhìn thấy ở thầy giáo trẻ này sự khiêm tốn dễ mến và một sự thông minh không lẫn được qua cặp mắt xanh xám long lanh. Hai chàng sinh viên Hilbert và Minkowski mau chóng làm quen với Hurwitz, rồi cả ba trở nên thân thiết. Họ trao đổi, bàn luận gần như đủ khắp các ngõ ngách của toán học.  Cuối Đông năm 1885, Hilbert tốt nghiệp tiến sĩ với luận án về Lý thuyết hàm bất biến. Hurwitz gợi ý Hilbert nên về trường ĐH Leipzig làm việc dưới sự hướng dẫn của nhà Toán học nổi tiếng Felix Klein (1849 – 1925). Sau này Klein kể lại: “Chỉ nghe chàng trai trẻ này giảng bài cho sinh viên là tôi nhận ra ngay đây chính là con người mà toán học đang mong đợi.”     Phương pháp có tính cách mạng     Paul Gordan (1837 – 1912), nhà Toán học Đức, từng được mệnh danh là “vua các bất biến” đã chứng minh được định lý về tính hữu hạn của các bộ sinh cho các dạng tuyến tính (the finiteness of generators for linear forms), nhưng ông không thể mở rộng bài toán của mình cho những hàm có hơn hai biến. Người ta gọi đây là bài toán Gordan.  Hilbert bắt tay vào nghiên cứu bài toán nổi tiếng này và tháng 12 năm 1888 công bố đầy đủ lời giải. Phương pháp mà Hibert sử dụng hoàn toàn xa lạ, không theo con đường thông thường nên ngay sau đó có nhiều người cho rằng phương pháp “kỳ cục”, “thảm họa”, nhưng sau họ từ từ nhận ra rằng chứng minh của Hilbert không những đúng mà còn có tính cách mạng.      Hilbert là người không có thành kiến về tuổi tác, về chủng tộc, về quốc tịch, và về giới tính. Đối với Hilbert, chỉ có hai loại người, loại làm việc và tạo ra thành quả, và loại không làm gì cả. Ông luôn luôn chấp nhận cái mới, không có thái độ “kẻ cả” coi thường những người chưa có tên tuổi, như một số người nổi tiếng sẵn sàng dè bỉu, phủ nhận những gì họ chưa hiểu hoặc không hiểu.      Trong hai năm sau đó, Hilbert tiếp tục làm việc trên Lý thuyết bất biến. Năm 1892, những đóng góp của ông có thể xem như kết thúc cho việc nghiên cứu lý thuyết này. Ông viết cho Minkowski – khi ấy đang giảng dạy tại ĐH Bonn: “Tôi tin rằng những vấn đề lớn của lý thuyết trường hàm sinh ra bởi những bất biến đã giải quyết xong. Từ nay tôi sẽ từ giã lĩnh vực này.” Nhà toán học trẻ tuổi của chúng ta vừa mới hoàn tất một chủ đề của Toán học mà đã có ngay một vị trí trong cộng đồng toán học Đức và của cả châu Âu. Mục tiêu kế tiếp của ông sẽ là Lý thuyết số đại số (Algebraic number theory).  Ba năm tiếp theo có một số thay đổi quan trọng trong cuộc đời của Hilbert. Năm 1892, ông lập gia đình nhưng bất hạnh là đứa con duy nhất bị thiểu năng trí tuệ từ nhỏ. Adolf Hurwitz, người thầy và cũng là người bạn thân của Hilbert rời khỏi ĐH Königsberg để nhận chức giáo sư thực thụ tại Viện Kỹ thuật Liên bang Thụy Sĩ (ETH), bỏ trống ghế giáo sư thực thụ tại ĐH Königsberg. Hermann Minkowski cũng rời Königsberg để trở thành giáo sư thực thụ tại ĐH Bonn. Bỗng nhiên chỉ còn một mình Hilbert trong bộ ba thân thiết ở lại.  Năm 1893, Hội Toán học Đức (DMV = Deutsche Mathematiker-Vereinigung) giao cho Hilbert và Minkowski viết một báo cáo về Lý thuyết số, công việc phải hoàn tất trong hai năm. Hilbert rất sung sướng nhận công việc này vì đây là cơ hội để ông đặt lại nền tảng cho Lý thuyết số mà tới thời gian ấy vẫn còn một số vấn đề tồn đọng trong cách sử dụng ký hiệu cũng như trong một số chứng minh. Hơn thế, Hilbert còn thấy củng cố Lý thuyết số sẽ là tiền đề để phát triển Lý thuyết số đại số một cách sâu rộng hơn.       Tòa nhà giảng đường Maximum ở Göttingen, nơi Hilbert làm việc. (xây trong khoảng 1826- 1865).  Thời gian ấy, nhà toán học 31 tuổi của chúng ta được phong giáo sư thực thụ. ĐH Königsberg mặc dù có truyền thống nghiên cứu khoa học rất tốt nhưng vẫn còn nằm ngoài các trung tâm nghiên cứu khoa học thuộc dòng chính của Đức. Hilbert vẫn chờ cơ hội.  Mùa Thu năm 1894, tiếng gọi từ Göttingen đã vọng về tới Hilbert. Giáo sư Heinrich Weber (1842 – 1913) sẽ rời Göttingen để đến Strasburg. Giáo sư Felix Klein, đứng đầu khoa toán tại Göttingen đề nghị cho Hilbert về thế chỗ này.  Klein gửi thư cho Hilbert: “Tôi tin anh sẽ đem về thêm sức mạnh vốn có sẵn tại Göttingen này. Toán học ở đây từ trước tới giờ vẫn phát triển, nhưng nó sẽ phát triển nhanh và rộng thêm nữa khi có anh về.” Giấc mơ của Hilbert nay đã thành sự thực.     Một bước dài trong lý thuyết toán học     Trường ĐH Göttingen, một trong số ít trung tâm toán học của thế giới của thế giới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đón chào David Hilbert vào mùa Xuân năm 1895.  Ta còn nhớ năm 1893, Hội Toán học Đức (DMV) giao cho Hilbert và Minkowski viết một báo cáo về Lý thuyết số.  Công việc của Minkowski có vẻ như bị chậm lại vì một lí do nào đó, trong khi Hilbert đã hoàn tất phần việc của mình và DMV công bố phần Hilbert đã viết xong vào năm 1897.  Đó chính là cuốn sách danh tiếng Die Theorie der algebraischen Zahlkörper (Lý thuyết trường các số đại số).  Hermann Weyl viết về tác phẩm này như sau: “Đây là một hạt ngọc trong tài liệu sách vở toán học. Thậm chí cho tới ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ, việc nghiên cứu cuốn sách này vẫn cần thiết cho những ai muốn thấu hiểu lý thuyết về các số đại số.”      David Hilbert (ngoài cùng bên phải) bên gia đình và bạn bè.  Suốt trong hai năm kế tiếp, Hilbert chỉ nói và viết về các trường số. Bài báo cuối cùng và cũng là bài báo quan trọng nhất của Hilbert về lĩnh vực này công bố năm 1899 nói về lý thuyết mở rộng Abel của các trường số, nền tảng của lớp trường (class fields). Nếu như trước đây Hilbert nói kết thúc việc nghiên cứu Lý thuyết bất biến (đóng vấn đề lại), thì nay với việc nghiên cứu Lý thuyết trường các số đại số, Hilbert đã mở tung cánh cửa này ra.  Thời gian từ 1898 đến 1902, Hilbert chuyển sang nghiên cứu nền tảng của hình học.  Ông bị thu hút bởi ý tưởng tiên đề hóa. Với cách tiếp cận tiên đề hóa, hình học trở thành một hệ thống suy diễn giả định (hypothetico-deductive system).  Không cần thiết phải biết điểm, đường thẳng và mặt phẳng là gì. Những gì cần là thiết lập một hệ thống tiên đề thỏa mãn những điều kiện phi mâu thuẫn (consistency), độc lập (independence) và đầy đủ (completeness). Rồi từ đó người ta có thể lý luận thuần túy hình thức, dẫn ra được những định lý và chứng minh được chúng, chúng có thể áp dụng cho tập hợp những cái ghế, những cái bàn, những hàm số,… Dùng hệ thống lý luận như thế, Hilbert cho thấy Hình học phi Euclid cũng chặt chẽ như Hình học Euclid và cũng chặt chẽ như Lý thuyết số vậy.  Năm 1899, Hilbert xuất bản cuốn Grundlagen der Geometrie (Nền tảng của Hình học). Tác phẩm nhanh chóng nổi tiếng. Henri Poincaré bình luận: “Hilbert đã bước một bước dài trong lĩnh vực lý luận Toán học.” Thật vậy, không những Hilbert đóng góp lý luận chặt chẽ qua phương pháp tiên đề vào lĩnh vực hình học, mà phương pháp tiên đề hóa này và tính chặt chẽ của nó có ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực khác của toán học sau này nữa: Đại số (Nhóm, Vành, Trường), Giải tích (Không gian Hilbert, Không gian Banach),…  Cuối năm 1899, Hilbert mở lớp về phép tính biến phân (Calculus of variations). Nhà Toán học 37 tuổi của chúng ta lúc này thật chín chắn nhưng vẫn còn tràn đầy sinh động như thời ở Königsberg. Ông đã để lại nhiều ấn tượng và sự ngưỡng mộ của học viên. Max von Laue (1879 – 1960), một nhà Vật lý Đức, giải Nobel năm 1914, học trò của Hilbert thời gian này, nói: “Trong tâm trí tôi, con người này là một thiên tài vĩ đại nhất mà tôi từng biết.”     Tương lai của Toán học     Một trong những danh dự lớn nhất của một nhà Toán học trong suốt cuộc đời là được mời đọc bài diễn văn chính thức trong Đại hội Các nhà Toán học thế giới (ICM) mỗi bốn năm họp một lần.  Đại hội đầu tiên (1896) danh dự ấy dành cho Henri Poincaré.  Đại hội lần thứ hai (1900), danh dự ấy thuộc về David Hilbert, đây là cách mà thế giới công nhận những thành tựu to lớn trong lĩnh vực toán học của David Hilbert. Bài diễn văn của Hibert nổi tiếng trong lịch sử toán học như là một lời tiên tri và khắc họa những gì các nhà toán học sẽ phải làm trong tương lai.  “Lịch sử đã cho ta thấy sự phát triển của khoa học là liên tục. Chúng ta biết rằng mỗi thời kỳ có những bài toán mà thời kỳ kế tiếp phải giải, hoặc là để chúng qua một bên, thay thế bằng những bài toán khác. Nếu chúng ta muốn hình dung sự phát triển của toán học trong tương lai gần, chúng ta phải bỏ qua những bài toán còn tồn đọng trong trí và chú ý vào những bài toán mà toán học hôm nay đặt ra cho tương lai phải giải.   Chúng ta đang bước vào thế kỷ 20, đúng là lúc chúng ta phải nhìn ra những bài toán này. Thật vậy, sự phân chia thế kỷ không những cho phép chúng ta nhìn lại quá khứ mà còn đưa tư tưởng chúng ta vào tương lai.   Vai trò to lớn của các bài toán đối với sự phát triển của toán học và ảnh hưởng của một số bài trên sự nghiên cứu của các nhà toán học là không thể chối cãi được.  Khi mà một ngành toán học nào đó nảy sinh ra nhiều vấn đề thì rõ ràng là ngành toán học đó đang phát triển phong phú.  Ngược lại, ngành toán học nào thiếu vấn đề mới thì, hoặc là nó phát triển chậm, hoặc là nó đang dừng lại (chết). Cũng như trong cuộc sống, con người cần phải có mục đích để theo đuổi, các nhà toán học cũng cần phải có những bài toán để giải. Sức mạnh của nhà toán học thể hiện qua việc nghiên cứu tìm ra lời giải. Rồi sẽ phải có những phương pháp mới, những cách nhìn mới, và các nhà toán học sẽ tìm ra những chân trời mới.”    “Các nhà toán học chúng tôi thường đo lường sự tiến bộ của mình bằng cách đối chiếu những gì mình đã làm được với những vấn đề Hilbert đã đặt ra” – Hermann Weyl.    Hai mươi ba bài toán được Hilbert nêu ra trong dịp này, nay thường gọi là hai mươi ba bài toán Hilbert có một vai trò quan trọng –  là những khúc quanh có tính chất bản lề cho sự phát triển toán hiện đại. “Các nhà toán học chúng tôi thường đo lường sự tiến bộ của mình bằng cách xem xét những gì mình đã làm được đối chiếu với những vấn đề Hilbert đã đặt ra”  – Hermann Weyl.  Danh sách các nhà Toán học đóng góp công sức tìm cách giải các bài toán này hầu hết là những nhà toán học hàng đầu.  Đầu thế kỷ 20, Hilbert giảng dạy về phương trình tích phân và lý thuyết thế vị (potential theory).  Bây giờ ông nổi tiếng đến nỗi sinh viên từ nhiều nơi trên thế giới, kể cả Mỹ, nhiều nhà toán học đã và sẽ thành danh, tìm về Göttingen nghe ông giảng.  Tạp chí Bulletin of the American Mathematical Society (tạp chí của Hội Toán học Mỹ) vừa mới thành lập, thường xuyên đăng bài giảng mới nhất của Hilbert.  Một số Hàn lâm Viện có tiếng bầu ông vào làm thành viên.  Năm 1902, do sự vận động của Hilbert, Minkowski từ Zurich chuyển về Göttingen.  Theo gợi ý của Minkowski, Hilbert bắt đầu chuyển sang nghiên cứu Toán-Vật lý, bộ môn ông cũng rất thích thú và có nhiều khả năng, chỉ sau Lý thuyết số. Riêng Minkowski, từ ngày sang Zurich giảng dạy, ông đã chuyển hẳn sang bộ môn này, và chính Minkowski là người đã đưa thêm chiều thời gian vào không gian ba chiều thông thường của chúng ta thành không-thời-gian (space time) (bốn chiều), làm bệ phóng cho người học trò tên là Albert Einstein, vài năm sau bay vút lên bằng Lý thuyết tương đối (rộng) của mình.  Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, Hilbert tiếp tục nghiên cứu về Toán-Vật lý.  Sau Thế chiến thứ nhất, Hilbert chuyển sang nghiên cứu về Nền tảng của toán học (The foundations of Mathematics). Nhưng sức khỏe của Hilbert xấu dần giữa những năm 1920. Từ năm 1928 trở đi, hoạt động nghiên cứu của Hilbert coi như chấm dứt.  Hilbert bắt đầu cuộc sống cô đơn. Trí nhớ của ông kém dần. Khi có khách tới thăm, ông lắng nghe một cách chăm chú, lịch sự, nhưng trả lời vô hồn, không dính dáng gì tới câu hỏi.  Mùa Xuân năm 1943, Hilbert qua đời, thọ tuổi 81.  Ánh sáng đã tỏa sáng từ ĐH Göttingen suốt trong gần nửa thế kỷ, nay đã tắt, và Göttingen chìm trong bầu trời đen tối của Đức Quốc xã.  □  ———-  *Hermann Weyl (1885 – 1955), nhà Toán học Mỹ gốc Đức, một trong những người sáng lập nên Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton (IAS).    Độc giả có thể đọc thêm bài viết chi tiết về Hilbert tại trang của TS Lê Quang Ánh: Rosetta.vn/lequanganh.      Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Dãy Andes đang cao dần      Dãy Andes sẽ có thể tăng độ cao lên gấp đôi trong vòng từ 2 – 4 triệu năm tới – báo cáo của Đại học Rochester (Mỹ).      Các nhà khoa học cho rằng các lý thuyết hiện nay về đĩa kiến tạo, quá trình tạo ra và di chuyển các lục địa, giúp núi cao hơn, cần phải được cập nhật. Trước đây, giới địa chất học ước tính rằng hệ thống núi tăng dần độ cao trong 40 triệu năm qua. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu các trầm tích, nhóm khoa học gia tại Đại học Rochester xác định dãy Andes nâng độ cao một cách chậm chạp trong hàng chục triệu năm, sau đó đột nhiên mọc nhanh hơn trong khoảng từ 10 đến 6 triệu năm trước. Dựa vào điều này, các nhà khoa học cho rằng dãy Andes đã được tạo ra nhờ vào quá trình tách lớp, khi “rễ” của núi đột nhiên nóng lên, tan dần theo hướng lún xuống, khiến các dãy núi bên trên được giải phóng và giúp chúng mọc nhanh hơn.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu Công nghệ cao Hoà Lạc      Trong buổi làm việc tại Khu Công nghệ cao Hoà Lạc ngày 12/8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu trong 5 năm tới, Ban Quản lý Khu phải giải quyết tốt 3 nhóm vấn đề: Uu tiên phát triển, thu hút đầu tư vào sản phẩm công nghệ cao; khuyến khích nghiên cứu, đào tạo nhân lực; khuyến khích phát triển khu dịch vụ thương mại.    Ngoài ra có các nhiệm vụ cần giải quyết trong thời gian tới gồm quy hoạch tổng thể và chi tiết; thực hiện triệt để vấn đề giải phóng mặt bằng và tái định; chú trọng thu hút đầu tư sản xuất các sản phẩm công nghệ cao để tạo thế chuyển động, thúc đẩy nhanh việc hoàn thành các mục tiêu khác trong quá trình thực hiện xây dựng Khu công nghệ cao Hoà Lạc. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh. Nếu thấy những điều quy định trước đây không còn phù hợp thì phải đề xuất để sửa đổi kịp thời.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để dễ thành công hơn trong khoa học?      Người ta thường hiểu nhầm rằng sự thành công trong Toán học hay các lĩnh vực khoa học khác phụ thuộc vào trí tuệ bẩm sinh mang trong gene của con người. Thực tế, nó phụ thuộc vào hai điều: may mắn và nỗ lực. Trong trường hợp của tôi thì chủ yếu là may mắn (mặc dù thi thoảng tôi cũng phải nỗ lực).      Hội nghị Mật mã châu Á AsiaCrypt năm 2016 tổ chức ở Việt Nam, trong đó, GS. Neal Koblitz cũng tham dự. Ảnh: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán.    Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi có một năm sống ở Baroda, Ấn Độ (giờ đổi tên thành Vadodara). Tôi học ở một trường dòng dù gia đình tôi không theo Công giáo, chỉ bởi thời điểm đó, đó là trường duy nhất trong thành phố dạy bằng tiếng Anh thay vì tiếng Hindi hay Gujarati.   Trường này có những tiêu chuẩn rất khắt khe và dạy Toán ở trình độ cao hơn trường của tôi ở Mỹ. Mới sáu tuổi, tôi đã phải học phép nhân số có nhiều chữ số với nhau. Khi tôi trở về nhà vào năm sau, giáo viên của tôi kinh ngạc vì tôi đã biết cách làm như vậy. Cô giáo đưa cho tôi một cuốn sách nâng cao hơn để học trong khi cả lớp mới bắt đầu học phép nhân. Cô không hề biết về ngôi trường của tôi ở Ấn Độ và nghĩ rằng tôi hẳn phải cực kì thông minh. Sự khích lệ của cô đã có tác động rất lớn đến đứa trẻ tôi bảy tuổi lúc đó.   Một may mắn khác của tôi, khá trớ trêu, đó là tôi lớn lên trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Bang Nga. Hai cường quốc hạt nhân đối đầu nhau quá kịch liệt khiến con người sống trong sợ hãi về một cuộc chiến sẽ quét sạch nhân loại trên Trái đất. Tuy nhiên, những điều tồi tệ thi thoảng cũng “le lói điều tích cực”. Nhờ vào sự cạnh tranh giữa Mỹ và Liên Bang Nga trong khoa học và công nghệ – đặc biệt là trong “cuộc đua vào không gian” – mà Chính phủ Mỹ mới ưu tiên đào tạo khoa học.   Những quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản có truyền thống trọng dụng nhân tài từ xa xưa, nhưng người Mỹ chúng tôi thì không. Thậm chí thái độ bài trừ khoa học khá mới gọi là phổ biến và lan rộng ở Mỹ. Đó là lí do mà 800 nghìn người Mỹ tử vong vì COVID-19. Rất nhiều người Mỹ từ chối tin vào những gì các nhà khoa học nói với họ về tầm quan trọng của việc tiêm chủng.       Hầu hết các nhà khoa học và toán học (đặc biệt là các nhà toán học ứng dụng) đều làm việc cộng tác trong một nhóm nghiên cứu, bởi vậy nên họ cần giao tiếp tốt trong cả lời nói lẫn cách viết.      Vào những năm 1950 và 1960, khi tôi trưởng thành, người Mỹ nói chung tin tưởng nhiều hơn vào khoa học và logic hơn bây giờ. Mặc dù tôi là một đứa trẻ ít giao tiếp và chơi thể thao rất tồi tệ, những đứa trẻ khác hết sức tôn trọng tôi chỉ vì tôi “giỏi Toán”.   Khi 14 tuổi, tôi tham dự vào một khóa học mùa hè do chính phủ tài trợ về toán học ở một trường đại học. Sau đó, lại một may mắn nữa, tôi gặp một nhà toán học nổi tiếng tên là Mark Kac sẵn sàng dạy cho tôi một vài chuyên đề toán nâng cao. Kac, như nhiều nhà khoa học hàng đầu nước Mỹ khác, nhập cư vào Mỹ từ châu Âu vào những năm 1930 khỏi Đức quốc xã.   Các trường phổ thông tôi theo học nhìn chung tốt hơn rất nhiều so với mức trung bình ở Mỹ. Nhưng giảng dạy toán thì không có gì đặc biệt, tôi chủ yếu tự học toán. Tuy nhiên, có hai điều không liên quan trực tiếp đến toán học mà tôi thực sự biết ơn những năm học phổ thông.   Đầu tiên, tôi có những thầy cô giáo dạy văn tuyệt vời, những người đã dạy tôi viết trôi chảy. Đó là điều cực quan trọng với nghề nghiệp của tôi. Các nhà khoa học và các nhà toán học muốn có ảnh hưởng sâu rộng cần phải biết giao tiếp rõ ràng với những người ngoài ngành. Khoa học hay toán học không phải là tính toán (một máy tính có thể tính toán với tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với con người) – mà là những khái niệm (concept) và ý tưởng. Hầu hết các nhà khoa học và toán học (đặc biệt là các nhà toán học ứng dụng) đều làm việc cộng tác trong một nhóm nghiên cứu, bởi vậy nên họ cần giao tiếp tốt trong cả lời nói lẫn cách viết.   Thứ hai, trường cấp hai của tôi tổ chức một lớp học tiếng Nga, nên tôi bắt đầu học tiếng Nga, hứng thú với nó và tiếp tục tự học nó về sau. Khi học đại học, tôi tới Liên Bang Nga hai lần, và ngay sau khi nhận bằng Tiến sĩ, tôi dành một năm post-doc tại Moscow dưới sự hướng dẫn của nhà lý thuyết số nổi tiếng Xô viết Yuri Manin.  Trong những năm 1970 và 1980, Moscow là nơi có mật độ nhà toán học hàng đầu thế giới lớn hơn bất kì thành phố nào trên thế giới. (Điều này không còn đúng nữa sau sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội ở Nga.) Tôi trở lại Moscow trong vòng sáu tháng vào năm 1978 và một lần khác nữa vào năm 1985 trong một chương trình trao đổi học thuật giữa Nga và Liên Bang Nga.   Trái ngược với không khí chính trị căng thẳng giữa hai quốc gia, các nhà toán học Mỹ và Xô viết có mối quan hệ rất thân thiện. Vào những năm 1980, tôi bắt đầu nghiên cứu khía cạnh toán học của mật mã học và trong năm 1985, tôi thuyết trình về chủ đề này tại Hiệp hội Toán học Moscow. Các đồng nghiệp Xô viết cảm thấy rất hào hứng bởi đó là buổi thuyết trình đầu tiên của Hiệp hội Toán học Moscow về mật mã được trình bày bởi một người Mỹ! Mặc dù Tiếng Nga của tôi tương đối tốt, tôi khá lo lắng về buổi thuyết trình đó, bởi có hàng chục nhà toán học vĩ đại nhất của thế giới trong hàng ngũ khán giả.     Bìa tạp chí Time về thời điểm cuộc đua lên Mặt trăng giữa hai cường quốc là Liên Xô và Mỹ.   Thi thoảng, những trải nghiệm thời niên thiếu có thể hé lộ về hướng đi của sự nghiệp rất nhiều năm sau đó. Khi tôi khoảng 12 hay 13 tuổi, trong lớp hình học, tôi phát hiện ra lỗi sai của một phép chứng minh trong sách giáo khoa. Giáo viên của tôi không tin rằng tác giả có thể mắc lỗi. Bởi vậy, dù không có sự đồng ý của giao viên, tôi vẫn tập hợp các bạn trong lớp viết một bức thư tới tác giả nói về lỗi sai đó. Ông ấy trả lời rằng chúng tôi đã đúng và gửi lại phép chứng minh chính xác. Giáo viên vô cùng tức giận với tôi, và than phiền về tôi với ban giám hiệu nhà trường.   Trong suốt 20 thập kỉ qua, hầu hết các nghiên cứu của tôi có một sự tương đồng đặc biệt với sự kiện đó. Cùng với các đồng nghiệp đến từ Canada và Ấn Độ, tôi nghiên cứu những tuyên bố của các nhà mật mã học rằng, họ đã “chứng minh” bằng toán học hệ thống mã hóa, chữ kí số hoặc trao đổi các mã khóa của họ bảo mật hoặc an toàn khỏi tội phạm mạng. Hóa ra, rất nhiều “bằng chứng” đó đều có rất nhiều lỗi ngụy biện hoặc yếu logic và không bảo vệ được tí nào cho tuyên bố của họ. Phản ứng của một vài tác giả mà tôi phê phán khá tương tự với người giáo viên hình học của tôi nửa thế kỉ trước đó.   *****  Gia đình và không gian văn hóa đóng một vai trò lớn khiến người trẻ đi theo con đường khoa học và thành công trên con đường đó. Bố tôi là giáo sư đại học và mẹ tôi là giáo viên phổ thông. Mặc dù không ai là nhà khoa học, họ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của con cái và luôn ủng hộ sở thích với toán và khoa học của tôi.   Thế hệ của tôi ở Mỹ là một thế hệ “khác thường”. Chúng tôi là thế hệ “hậu – Sputnik” được hưởng lợi từ sự đầu tư mạnh mẽ của chính phủ vào giáo dục và khoa học để “đuổi kịp Nga” và đánh bại họ trên cuộc đua tới Mặt trăng. Hơn nữa, bắt đầu từ khoảng năm 1960, nhiều người trẻ vận động quyền công dân cho người Mỹ gốc Phi. Và sau đó một vài năm, chúng tôi vận động phản đối cuộc chiến thảm khốc của Mỹ ở Việt Nam.   Với tiêu chuẩn của ngày nay, cuộc sống vật chất của chúng tôi thời đấy quá giản đơn.So sánh với sinh viên Mỹ bây giờ, chúng tôi sở hữu ít vật chất và có ít cám dỗ. Thời đó dễ dàng hơn để người ta chỉ tập trung vào những gì quan trọng – chẳng hạn như học hành. Những sinh viên nghiêm túc thường có xu hướng tránh xa chủ nghĩa tiêu thụ quá mức đang trở nên phổ biến ở Mỹ.   Khi chúng tôi già đi, rất nhiều người làm khoa học vẫn còn giữ thói quen đi ngược lại lối văn hóa tiêu dùng cực đoan đang được ca ngợi trên truyền thông Mỹ. Vào năm 1982, người bạn và người đồng nghiệp của tôi Hà Huy Khoái tới thăm tôi tại Seattle; ông ấy là một trong những nhà khoa học Việt Nam đầu tiên tới Mỹ. Trước khi rời khỏi đây, tôi hỏi ông điều gì ngạc nhiên nhất – điều mà ông chắc chắn sẽ kể với mọi người ở Việt Nam về chuyến thăm này. Ông nói rằng đó là các giáo sư người Mỹ thường đeo balo và đạp xe đến trường. Ở Việt Nam thời kì đó, balo và xe đạp là biểu tượng của khốn khó và nghèo đói. Còn với chúng tôi ở Seattle, xe đạp được coi là một cách di chuyển không tốn kém, tốt cho môi trường và tốt cho sức khỏe. Ở tuổi 73, tôi vẫn đạp xe đi làm.   Một vấn đề ở Mỹ và một vài quốc gia khác đó là các bạn trẻ thường rất dễ bị xao nhãng – bởi điện thoại di động, bởi mạng xã hội, bởi văn hóa tiêu dùng quanh họ. Điều cần thiết là phải thoát khỏi những cám dỗ đó để nghiên cứu toán học và khoa học ở trình độ cao nhất.  Việt Nam có một truyền thống lâu dài, từ thời kì xây dựng Văn Miếu, coi trọng thành công trong học thuật. Những nhà khoa học thế hệ trước cần hỗ trợ thế hệ trẻ tiếp tục giữ gìn truyền thống đó.   Khi vợ tôi và tôi tới Việt Nam vào tháng 8/1995 nhân dịp kỉ niệm 10 năm giải thưởng Kovalevskaia, Hội phụ nữ tổ chức cho một nhóm sinh viên nữ đến từ khắp mọi miền Tổ quốc tới thăm Hà Nội. Chúng tôi gặp nhóm đó tại Viện Toán học và nghe cố giáo sư Hoàng Tụy nói chuyện với họ về việc tại sao họ cần phải theo đuổi nghề nghiệp mà họ thực sự yêu – như nghiên cứu khoa học – thay vì những việc hào nhoáng và thời thượng hơn của bạn bè họ. Những người phụ nữ trẻ hết sức cảm động, có lẽ là bởi họ chưa bao giờ nghe một nhà khoa học đáng kính nói một cách chân thành và sang trọng đến vậy.   Những nhà khoa học và nhà toán học ở Việt Nam có một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ thế hệ trẻ can đảm trước sự hấp dẫn của những giá trị và ưu tiên sai lệch từ phương Tây.   Những người trẻ ở Việt Nam có nhiều lợi thế hơn thế hệ của Hoàng Tụy hay những nhà khoa học tiên phong cùng thời. Khi Ann và tôi tới Việt Nam vào năm 1978, đây là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, vật lộn để hồi phục từ hàng thập kỉ chìm trong những cuộc chiến bi thương và những năm tháng thuộc địa. Việt Nam thời đó bị cô lập. Ngoại trừ những người được học đại học và sau đại học ở những nước xã hội chủ nghĩa, người Việt thời đó chỉ có rất ít liên lạc với những quốc gia khác. Dĩ nhiên là cũng không có internet hay điện thoại di động và dịch vụ điện tín thì rất kém. Khi tôi rời Việt Nam trong những lần thăm đầu tiên, các đồng nghiệp vẫn thường gửi cho tôi bài báo và địa chỉ tạp chí nước ngoài để tôi gửi hộ từ Mỹ cho đỡ thất lạc.   Giờ đây, cơ hội cho những nhà khoa học và toán học trẻ hoài bão nhiều hơn rất nhiều so với trước đây. Việt Nam đã hoàn toàn kết nối với mạng lưới quốc tế. Những hội thảo khoa học quốc tế lớn đã tổ chức ở đây. Vào năm 2016, tôi tới Hà Nội để dự Asia Crypt (Hội thảo Mật mã học châu Á) lần đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam.  Đó là một sự kiện rất ấn tượng được tổ chức chuyên nghiệp bởi giáo sư Ngô Bảo Châu và Phan Dương Hiệu.   Nếu những người trẻ tận dụng tối đa lợi thế của những cơ hội này, họ sẽ vinh danh truyền thống hiếu học của người Việt, và Việt Nam sẽ có một tương lai xán lạn về khoa học và công nghệ. □  Hảo Linh dịch  Một số hoạt động mà chính phủ và các viện nghiên cứu của Việt Nam có thể làm để nâng cao tiềm năng của thế hệ trẻ:  Vận động những nhà nghiên cứu từ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, những người được giải Kovalevskaia và những nhà khoa học hàng đầu khác tới thăm các trường phổ thông và trường đại học. Họ nên nói chuyện với các sinh viên về công việc của mình và hướng dẫn các em trong những hoạt động mang lại niềm vui của khám phá khoa học.  Khởi động những chương trình bên ngoài khung chương trình học để giới thiệu công việc khoa học thực tế đến với sinh viên. Nó cũng tương tự như chương trình Kinh nghiệm nghiên cứu cho Sinh viên (Research Experiences for Undergraduates – REUs) được tài trợ bởi chính phủ tại nhiều trường đại học ở Mỹ.  Bắt đầu những chương trình thực tập cho sinh viên đại học tại Viện nghiên cứu và các Phòng thí nghiệm của khối công nghiệp. Ở Bắc Mỹ, Đại học Waterloo – Đại học Công nghệ hàng đầu của Canada đã tiên phong tổ chức chương trình như vậy từ 50 năm trước.  Mở rộng mạnh mẽ các chương trình thạc sĩ đối với các ngành khoa học. Các sinh viên Việt Nam cần được khuyến khích lấy bằng Thạc sĩ trước khi đi du học nước ngoài để lấy bằng Tiến sĩ. Bằng cách này họ sẽ (1) có năng lực cạnh tranh cao hơn cho những chương trình tiến sĩ quốc tế hàng đầu (2) nhận được nhiều lợi ích hơn từ những chương trình như vậy, và (3) khả năng cao sẽ trở lại Việt Nam thay vì hòa vào dòng “chảy máu chất xám”.  Thật sự nỗ lực để thu hút phụ nữ và những người thiệt thòi về kinh tế, bao gồm cả những người dân tộc thiểu số, học khoa học. Ngành nghề khoa học phải cởi mở với tất cả mọi người, không chỉ những người có đặc quyền và không chỉ nam giới.    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Đe dọa xóa sổ nhiều di tích thời đại Phùng Nguyên và Đông Sơn      “Di tích Phùng Nguyên (huyện Lâm Thao, Phú Thọ) nổi tiếng thế giới và được sử dụng để đặt tên cho văn hóa Phùng Nguyên – giai đoạn đầu tiên của thời đại kim khí ở Việt Nam nay đã bị biến thành một loạt lò gạch”, PGS.TS Trịnh Sinh và PGS.TS Bùi Văn Liêm đưa ra cảnh báo tại Đại hội lần thứ 3 của Hội Khảo cổ học Việt Nam vào ngày 28/8.         Khai quật di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội). Vườn chuối có niên đại trải dài khoảng 3500 đến 2000 năm cách ngày nay, nhiều lần bị đào trộm cổ vật, và không được kiểm kê di tích khi xây dựng khu đô thị, gần đây mới được đưa vào khai quật khẩn cấp để bảo tồn. Ảnh: Nguyễn Văn Thắng.    Năm 1993, Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam mới thống kê được trong cả nước chỉ có 100 di tích khảo cổ học thuộc thời kỳ kim khí. Chưa đầy 10 năm sau đó, con số này đã nhảy vọt lên gấp hơn 9 lần (917 di tích) do công tác khai quật di tích được quan tâm. Nhưng, khả năng bảo vệ di tích lại “phát triển theo chiều ngược lại”, theo ước đoán của các cán bộ Khảo cổ học Lịch sử kim khí ở Viện Khảo cổ học thì có đến 90% số lượng di tích ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc – nơi tập trung nhiều di tích quan trọng từ văn hóa Phùng Nguyên đến Đông Sơn, đã bị xâm phạm nghiêm trọng. Không chỉ ở “vùng đất Tổ”, nhiều di tích của thời đại này, từ Hải Phòng cho tới Đồng Nai đều bị xóa sổ thành bãi rác hoặc biến thành nơi canh tác nông nghiệp, xây nhà cửa…  PGS.TS Bùi Minh Trí, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh thành cho biết, với sự đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực khảo cổ học, ngày càng có nhiều di sản khảo cổ quy mô lớn được phát hiện, khai quật và nghiên cứu ở Việt Nam. Tuy nhiên, đó mới là bước đầu, “làm sao để sau khi kết thúc khai quật, các di sản này có thể ‘sống lại’ và mang giá trị đến với công chúng, thì dường như vẫn là một nỗi thất vọng”, ông nhận xét.  Bên cạnh tình trạng trên, ở nhiều nơi, việc trùng tu và tôn tạo di tích đã được thực hiện không theo đúng quy trình chuyên môn. Các nhà quản lý văn hóa và chính quyền địa phương tự đưa ra giải pháp phát huy giá trị di tích khảo cổ học bằng cách “phục dựng” hay “trùng tu, tôn tạo”. Nhưng “Thực chất, đây không phải là bảo tồn mà làm mới di tích theo nhận thức nhất thời của những nhà quản lý”, PGS.TS Bùi Minh Trí nhận định. “Họ đã nhanh chóng làm méo mó, biến dạng các giá trị gốc của di tích”. Điển hình là di tích chùa Ngọa Vân, Đông Triều, Quảng Ninh được Viện Khảo cổ học khai quật từ năm 2018 với toàn bộ nền móng còn nguyên vẹn, có hình thái cấu trúc của thời Lê Trung hưng. Quá trình chuẩn bị xây dựng lại chùa Ngọa Vân đã nhận được nhiều góp ý của các nhà khoa học. Nhưng sau đó một thời gian, các nhà khảo cổ học quay trở lại thì “thấy một ngôi chùa mới tinh, giá trị… 1 tuổi được dựng lên, không còn chút dấu tích nào của ngôi chùa nổi tiếng 400 năm tuổi của Thiền phái Trúc Lâm. Về phần các di tích bên dưới được xử lý như thế nào, không ai biết”, ông kể lại. Có thể nói những công trình mới “được làm theo ý chí đương đại” đã che lấp hoặc phá hủy toàn bộ những nền móng cổ có giá trị lâu đời để xây mới những kiến trúc “không có một chút giá trị lịch sử nào”.   Để khắc phục tình trạng này, các nhà khoa học trong Đại hội Hội khảo cổ học kiến nghị phải tiến hành gấp hoạt động kiểm kê di sản, rà soát tổng thể việc trùng tu, xây mới các di tích sau khai quật, có quy định chặt chẽ về việc kiểm soát, giám sát của từng di tích theo đúng quy định của Luật di sản. Bên cạnh đó, cần tạo đường dây nóng để các nhà khoa học và người dân thông báo các trường hợp khẩn cấp xâm phạm vào di tích.   Nếu không, “trong vài thập kỷ tới, nhiều di sản khảo cổ sẽ biến mất, thậm chí riêng các di tích khảo cổ học thuộc thời đại Hùng Vương sẽ bị biến mất hoàn toàn”, PGS.TS Trịnh Sinh cảnh báo.      Đại hội lần thứ 3 của Hội Khảo cổ học Việt Nam đã bầu Ban Chấp hành Hội nhiệm kỳ 3 (2019 – 2023) với 26 thành viên. PGS-TS Tống Trung Tín tiếp tục được bầu làm Chủ tịch hội. PGS- TS Nguyễn Lân Cường tiếp tục làm Tổng thư ký hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để tránh đại dịch tiếp theo?      Trong vòng hơn 20 năm với ba đại dịch cúm (SARS, cúm A H1N1 và COVID-19) và một dịch cúm khác ở giữa (cúm gà H5N1), dường như nguy cơ rủi ro cho sức khỏe lúc nào cũng lơ lửng xung quanh chúng ta. Sau tất cả những điều đó, nhìn về tương lai, chúng ta phải làm gì để giảm thiểu nguy cơ bùng phát đại dịch cúm tiếp theo?      Rất nhiều nguy cơ lây bệnh từ trang trại nuôi gia súc, vật nuôi. Nguồn: Tranh cổ động của WHO.    Trong kí ức những người làm y tế công cộng, đại dịch SARS và dịch cúm gà dù diễn ra đã khá lâu nhưng những gì nó để lại thì vẫn hết sức sống động bởi đó là những bài học xương máu. PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương), trong một cuộc trao đổi vào năm 2021, kể lại ngay từ thời điểm bắt đầu xuất hiện, những hiểu biết ít ỏi ban đầu khiến chị và đồng nghiệp “cứ nghĩ là bệnh lây qua đường hô hấp thì đeo một cái khẩu trang y tế chắc là đảm bảo”. Nhưng suy nghĩ này chỉ thực sự thay đổi khi chỉ trong vòng một tuần khi tình trạng chuyển biến lâm sàng của những người mắc bệnh hết sức trầm trọng, thậm chí chuyên gia quốc tế cũng tử vong.    Từ SARS đến COVID-19, ba đại dịch để lại nhiều mất mát, đau thương, thậm chí là những vấn đề hậu đại dịch khó có thể giải quyết trong ngày một, ngày hai. Điểm lại các cụm từ xuất hiện theo đường thẳng tuyến tính thời gian SARS, cúm A H1N1, cúm gà H5N1, COVID-19, chúng ta thấy đều có một điểm chung: mầm bệnh từ virus cúm trên động vật rồi lây truyền sang người.    Đó là điểm xuất phát để hình thành One Health (Một sức khỏe), khái niệm mà theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là một cách tiếp cận để thiết kế và hoàn thiện các chương trình, chính sách, nghiên cứu, trong đó có sự liên kết và hợp tác của nhiều lĩnh vực với nhau, cùng tham gia từ quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường. “Chúng ta sống trong một thế giới không chỉ phức tạp và thay đổi quá nhanh mà còn ngày một kết nối nhiều hơn. Sự quy tụ của con người, động vật và môi trường đã tạo ra một động lực mới – một trong số đó là sức khỏe của mỗi nhóm có sự liên kết vô cùng chặt chẽ và kết nối một cách tỉ mỉ, không thể tách rời”, Lonnie J. King, một chuyên gia về thú y ở ĐH Ohio (Mỹ), từng cho biết như vậy.      Theo CDC Mỹ, các mầm bệnh kháng kháng sinh có thể nhanh chóng lan truyền vào cộng đồng, chuỗi cung cấp thực phẩm, các cơ sở y tế và môi trường, khiến ngành y khó điều trị các lây nhiễm trên con người và vật nuôi hơn.      Do đó, theo WHO, cách tiếp cận Một sức khỏe liên quan đến an ninh lương thực, kiểm soát bệnh lây truyền từ động vật và chống lại kháng kháng sinh.    Những điều đó đã được thực hiện ở Việt Nam?     Những bước đi ban đầu của Một sức khỏe     Mới đây, trong công bố “Decades of emerging infectious disease, food safety, and antimicrobial resistance response in Vietnam: The role of One Health” (Hàng thập kỷ đối phó bệnh truyền nhiễm mới nổi, an ninh lương thực và kháng kháng sinh ở Việt Nam: Vai trò của Một sức khỏe) trên tạp chí One Health, TS. Nguyễn Việt Hùng, đồng giám đốc chương trình con người và vật nuôi tại Viện Nghiên cứu Chăn nuôi quốc tế (ILRI) và cộng sự đã điểm lại quá trình áp dụng Một sức khỏe ở Việt Nam. Trong công bố, các tác giả viết, “Việt Nam đã ứng dụng một cách tiếp cận đa ngành để giải quyết các bệnh dịch mới nổi từ động vật. Cách tiếp cận này đã chính thức trở thành Một sức khỏe vào năm 2010 thông qua Tuyên bố Hà Nội về các định hướng trong tương lai để ứng phó với dịch cúm gia cầm, các đại dịch bệnh lây truyền có thể xảy ra”1.      Dơi là một trong những loài bị nghi ngờ là vật chủ của virus SARS-CoV-2. Nguồn: Sakchai Lalit/AP Photo  Từ điểm xuất phát này, Việt Nam đã xây dựng và ban hành rất nhiều chính sách kiểm soát, ứng phó, hồi phục và ngăn ngừa dịch bệnh theo cách tiếp cận Một sức khỏe. Các nhà nghiên cứu nhận xét, chiến lược của Việt Nam thường là “nỗ lực gấp đôi, gấp ba”, nghĩa là đặt rất nhiều sức lực, thời gian và sự quan tâm vào đó. Ngay cả khi khái niệm Một sức khỏe chưa được áp dụng một cách chính thức tại Việt Nam thì trong những năm 2000, các ủy ban chỉ đạo quốc gia như Ban chỉ đạo SARS (2003), Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch cúm gia cầm (2004) và Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống đại dịch cúm ở người (2008) được thành lập để ứng phó với SARS, H5N1 và H1N1 đã quy tụ nhiều bộ và tổ chức quan trọng để triển khai các giải pháp đa ngành. Và dưới sự chỉ đạo như vậy, các bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT đã hợp tác để thực thi nhiều chính sách quan trọng.    Nếu không có Một sức khỏe, ắt hẳn người ta không thấy vai trò rõ rệt của môi trường sinh thái trong kiểm soát bệnh dịch. Môi trường bị đe dọa bởi nạn phá rừng, mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi dẫn đến việc thiếu vùng đệm tự nhiên để tránh các mầm bệnh từ động vật hoang dã hay mất đi sự đa dạng sinh học…, đều có thể là khởi điểm của một bệnh dịch mới. Do đó, Bộ TN&MT như một mảnh ghép quan trọng cho những kế hoạch của Một sức khỏe của Việt Nam, ví dụ như phối hợp với Bộ NN&PTNT hướng dẫn ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường và khắc phục sự cố môi trường, đặc biệt hướng dẫn các giải pháp tối ưu trong việc xử lý, tiêu hủy động vật nhiễm dịch, chất thải chăn nuôi… Bộ TN&MT cũng hợp tác với Bộ Y tế trong việc sửa đổi các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường mới (ví dụ như quản lý chất thải y tế).      One Health (Một sức khỏe), theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), là một cách tiếp cận để thiết kế và hoàn thiện các chương trình, chính sách, nghiên cứu, trong đó có sự liên kết và hợp tác của nhiều lĩnh vực với nhau, cùng tham gia từ quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường.      Bệnh dịch lan truyền không biên giới, vì vậy sau những đợt bùng phát dịch cúm vào đầu những năm 2000, Việt Nam đã thành lập Khung đối tác Việt Nam về cúm gia cầm và cúm mùa (PAHI) vào năm 2006 cùng với nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ứng phó đối với dịch cúm gia cầm. Nhận thấy giá trị của cách tiếp cận mới nên sau đó 10 năm, PAHI được chuyển đổi thành Khung đối tác Một sức khỏe phòng chống dịch bệnh từ động vật sang người (OHP) nhằm tăng cường hợp tác Một sức khỏe ở Việt Nam và hỗ trợ sự phát triển của Kế hoạch Một sức khỏe Việt Nam về dịch bệnh từ động vật sang người (2016–2020)2.    Vào đầu năm 2021, Việt Nam đã mở rộng pha tiếp theo của OHP (2021–2025), với việc ký kết tham gia của Bộ TN&MT, Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT cùng 28 quốc gia và tổ chức quốc tế, hướng tới việc tổ chức Diễn đàn Một sức khỏe, thành lập các nhóm kỹ thuật khác nhau, hỗ trợ việc thi hành Kế hoạch chiến lược Một sức khỏe, chia sẻ thông tin, hỗ trợ chính sách và đối thoại chiến lược, phân hối các nguồn lực và xây dựng năng lực Một sức khỏe.  Vậy Việt Nam có thể tự tin vào năng lực của mình, nếu nhìn từ sự sẵn sàng của chính sách?      Đảm bảo an toàn sinh học các trang trại là giải pháp quan trọng để tránh các bệnh dịch từ động vật truyền sang người. Nguồn: TTXVN  Một thực tại ngổn ngang     Khung đỡ chính sách là cơ sở quan trọng để Một sức khỏe phát huy sức mạnh ở Việt Nam, về lý thuyết là vậy. Trên thực tế, có rất nhiều thách thức không dễ giải quyết, dù chính sách đã góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và hiểu biết của Việt Nam, ví dụ Viện nghiên cứu Chăn nuôi quốc tế (ILRI), Viện nghiên cứu Thú y quốc gia, ĐH Y tế công cộng đã hợp tác với nhau kể từ năm 2007 như mô hình phòng thí nghiệm Một sức khỏe về những vấn đề liên ngành như an toàn thực phẩm, bệnh lây truyền từ động vật, kháng kháng sinh; PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019 với công trình nghiên cứu về mối tương tác của virus cúm A/H5N1 với người, sự tương quan về không gian – thời gian giữa sự xuất hiện của virus trên gia cầm và người…    Một vài thành công đáng khích lệ đó không đủ khỏa lấp đi những vấn đề của thực tại: mối lo về an toàn thực phẩm và các bệnh liên quan đến thực phẩm ở hầu hết các tỉnh thành; hiện tượng phá rừng ở thượng nguồn làm mất đi nhiều cánh rừng phòng hộ, làm giảm sự đa dạng sinh học; việc chăn nuôi gia cầm, gia súc, thủy sản… chưa được quản lý và quy hoạch tốt, dẫn đến sự tràn lan trong sử dụng thuốc kháng sinh; tình trạng buôn bán, giết mổ động vật hoang dã vẫn còn phổ biến. Có quá nhiều nguy cơ rủi ro để những mầm bệnh do virus trên động vật lây cho người, trong đó có virus họ corona – nguyên nhân gây đại dịch SARS, COVID-19 – và dễ bùng phát thành dịch.      “Trong bối cảnh hạn hẹp về nguồn lực, để Một sức khỏe bền vững, Việt Nam cần mở cửa cho lĩnh vực tư nhân tham gia và khuyến khích sự đầu tư của họ”. (TS. Nguyễn Việt Hùng)      Theo các nhà nghiên cứu Hà Lan, ước tính 60% các vi sinh vật lây truyền từ động vật có xương sống – bao gồm gia súc và gia cầm – lên người chứa mầm bệnh có thể gây ra dịch bệnh cho người. Việc lan truyền có thể qua đường hô hấp, miệng, mắt hay tiếp xúc vật lý. Càng tiếp xúc gần với động vật thì càng có nhiều nguy cơ lan truyền, tuy nhiên cho đến nay, chúng ta chưa có hiểu biết đầy đủ về vai trò của dạng tiếp xúc và cường độ tiếp xúc giữa gia súc vật nuôi – con người với sự lan truyền bệnh dịch3.    Vậy có cách nào để chúng ta thoát khỏi nguy cơ này? Câu trả lời là lĩnh vực chăn nuôi phải được đặt dưới một khung quản lý và kiểm soát tốt. Trong cuộc trao đổi vào tháng 7/2021, TS. Trương Đình Hoài. Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, lưu ý, các vùng chăn nuôi thâm canh của Việt Nam chưa có tính an toàn sinh học cao. Chỉ đến khi COVID-19 khởi phát, người ta mới quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này trong khi “các nước đầu tư công nghệ cao trong chăn nuôi thâm canh nhưng nuôi ở vùng cô lập, không có hộ dân xung quanh và có khu xử lý chất thải chăn nuôi riêng. Do đó, họ dễ dập tắt được dịch bệnh theo vùng nuôi”. Vì lẽ đó, anh cho rằng, “cần phải làm lại vấn đề hệ thống chăn nuôi và quy hoạch vùng nuôi ở Việt Nam”.    Nhưng câu chuyện giữ an toàn sinh học ở các trang trại nuôi các loài chủ lực, phục vụ nhu cầu đời sống như gà, lợn, tôm, cá… không phải là vấn đề đơn nhất của ngành chăn nuôi. Trong nhiều năm qua, việc áp dụng các mô hình nuôi nhiều loại động vật hoang dã như chim trĩ, công, lợn rừng thả vườn, chồn hương, rắn, vịt biển, dúi… như một cách hiệu quả để những người nông dân thoát nghèo lại tiềm ẩn nhiều rủi ro dài hạn. Chúng ta chưa biết nhiều về các mầm bệnh trên những con vật hoang dã này, trong khi “chủng coronavirus mới gây ra đại dịch COVID-19 đánh dấu sự kiện lây truyền bệnh từ động vật sang người lần thứ ba của coronavirus trong vòng hai thập kỷ qua. Hai coronavirus gây bệnh khác có độc lực cao, đều thuộc giống Betacoronavirus, cũng vượt qua hàng rào loài trong giai đoạn này để gây SARS (từ virus lưu hành trên chồn sương) và MERS (từ virus lưu hành trên lạc đà)”, PGS. TS Lê Văn Bé, Viện Vắc xin và Sinh phẩm y tế (IVAC), cho biết.    Điều đáng lo ngại hơn cả là ở các trang trại, khu vực chăn nuôi của Việt Nam còn hay xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh. Về tổng thể, việc sử dụng phổ biến kháng sinh trong chăn nuôi ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng OUCRU năm 2020, Việt Nam sử dụng 3.842 tấn kháng sinh, trong đó 2751 tấn (72%) dùng cho vật nuôi. Hai nghiên cứu xuất bản năm 2021 của TS. Lưu Quỳnh Hương (Viện Chăn nuôi) và cộng sự cho thấy tình trạng này xảy ra ở cả Bắc, Trung, Nam4. Kết quả cho thấy, 98,1% nông dân nuôi lợn sử dụng kháng sinh, 87,9% đối với người nuôi gà, 64% với trang trại cá, 24% với tôm. Nguyên nhân chính của việc dùng kháng sinh là do người nuôi thấy những biểu hiện ban đầu của bệnh như 73,9% của lợn, 74,9% của gà, 83% với tôm và 88% với cá. Vì sao lại xảy ra tình trạng này? “Khi người ta chăn nuôi trong một thời gian dài, mầm bệnh sẽ lưu cữu rất nhiều ở các khu chăn nuôi. Điều này giải thích là tại sao chúng ta nuôi gà, nuôi lợn, một hai lứa đầu thì ai cũng thắng lợi cả, nhưng từ lứa thứ ba thứ tư trở đi, mầm bệnh bắt đầu xuất hiện nhiều”, TS. Trương Hà Thái, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, giải thích còn TS. Trương Đình Hoài cho biết thêm, “Trước đây, mình chủ yếu nuôi theo phương thức quảng canh hay bán thâm canh, mật độ nuôi chưa cao nên tác hại của vi khuẩn chưa lớn còn hiện nay ngành thủy sản Việt Nam phát triển mạnh, chuyển sang thâm canh, mật độ nuôi cao, môi trường dễ ô nhiễm, cộng thêm một số yếu tố khác như biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, việc quản lý môi trường nuôi không đảm bảo, làm cho mật độ vi khuẩn tăng lên rất nhanh và gây bệnh”.  Theo CDC Mỹ, các mầm bệnh kháng kháng sinh có thể nhanh chóng lan truyền vào cộng đồng, chuỗi cung cấp thực phẩm, các cơ sở y tế và môi trường, khiến ngành y khó điều trị các lây nhiễm trên con người và vật nuôi hơn.     Cách gì để loại bỏ nguy cơ?     Những gì diễn ra ở Việt Nam cho thấy sự sẵn có của các khuôn khổ quy định vẫn chỉ là một phần của Một sức khỏe. Khi còn quá nhiều điều chưa biết về vật nuôi và các vi sinh vật có thể làm lây truyền bệnh từ đó thì thật khó tối ưu các giải pháp can thiệp, tối thiểu hóa các tác động của một bùng phát dịch bệnh trong tương lai, cho dù có nhiều khuôn khổ cùng tồn tại (chính sách trực tiếp, khung đối tác, cam kết quốc tế). Dường như, sau nhiều năm triển khai, việc triển khai các chính sách ấy chưa hiệu quả như mong muốn.    Ở góc độ của người giàu kinh nghiệm, TS. Nguyễn Việt Hùng cho rằng, còn có nhiều thách thức với việc thi hành Một sức khỏe ở Việt Nam, ví dụ mối liên hệ giữa lĩnh vực môi trường với tất cả các lĩnh vực còn lại của nó còn mờ nhạt, thậm chí còn có xu hướng bị bỏ qua trong mối quan hệ tay ba con người – động vật – môi trường. Điều đó dẫn đến hạn chế về số các nghiên cứu về sức khỏe môi trường và bảo vệ rừng ở Viêt Nam. Do vậy anh cho rằng, “để giải quyết thách thức này, Bộ TN&MT cần đóng vai trò lớn hơn trong pha hai của chương trình Một sức khỏe”.    Mặt khác, anh cho rằng, các nguồn lực đầu tư là yếu tố quan trọng cho việc tạo nên một môi trường thuận lợi cho hợp tác. Trong khi các đóng góp quốc tế đóng vai trò quan trọng để phát triển các cơ chế điều phối quốc gia thì sự thiếu ổn định của tài chính khiến các cơ chế hoạt động thiếu bền vững. Dù TS. Nguyễn Việt Hùng nhận thấy chính phủ đang cố gắng cải thiện tình trạng này bằng việc sử dụng các vốn đối ứng, sử dụng linh động các nguồn lực khác nhau từ những đối tác quốc tế song nhìn chung, nguồn tài chính vẫn ở mức thấp hơn so với đối tác quốc tế. Hơn nữa, nguồn tài chính mà chính phủ dành cho các cán bộ trong các hoạt động Một sức khỏe thấp nên khi chuyển từ nguồn tài chính quốc tế sang nguồn tài chính này, thường xảy ra tình trạng các cán bộ chuyển nơi làm việc, qua đó dẫn đến ảnh hưởng vào việc thực hiện các chiến lược của Một sức khỏe cũng như kết quả của nó. Theo quan điểm của anh, trong bối cảnh hạn hẹp về nguồn lực, để Một sức khỏe bền vững, Việt Nam cần mở cửa cho lĩnh vực tư nhân tham gia và khuyến khích sự đầu tư của họ.    Việc thiếu năng lực và nhân lực lại càng khiến việc triển khai Một sức khỏe thêm nhiều thách thức, trong khi ở Việt Nam, phần lớn các trang trại nuôi trồng, kể cả vật nuôi hay động vật hoang dã, đều ở quy mô nhỏ và nguồn vốn của họ không đủ quay vòng qua nhiều mùa vụ. Vì vậy các nhà khoa học cho rằng, cần có những giải pháp chặt chẽ như áp dụng rốt ráo các quy định về an toàn sinh trong các trang trại; áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ở chợ và lò mổ; các hướng dẫn về kháng kháng sinh trong các trang trại đi kèm với việc tăng cường năng lực giám soát, đưa ra các khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ việc thực hiện các giải pháp này.    Hơn thế, theo TS. Nguyễn Việt Hùng và các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, yếu tố quan trọng để Một sức khỏe được triển khai hiệu quả hơn là việc đầu tư cho nghiên cứu để các nhà khoa học có thể đưa ra những khuyến nghị về chính sách dựa trên cơ sở khoa học về tất cả những lĩnh vực liên quan đến cách tiếp cận này. Có thể đây sẽ là giải pháp tốt nhất để Việt Nam giảm thiểu những nguy rủi ro về dịch bệnh trong tương lai.□  —————————–  1.https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2352771421001518#bb0025  2. https://dangcongsan.vn/thoi-su/tuyen-bo-ha-noi-keu-goi-cac-quoc-gia-hop-tac-phong-chong-dai-dich-cum-17445.html  3. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2352771415300136#!  4.https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0167587721000362#!  https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2352513421001277#!    Author                Thanh Nhàn        
0.009268292682926829
__label__tiasang Để triển khai có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu      Ng&#224;y 02/12/2008, Thủ tướng Ch&#237;nh phủ đ&#227; ban h&#224;nh Quyết định 158/TTg ph&#234; duyệt Chương tr&#236;nh mục ti&#234;u quốc gia ứng ph&#243; với biến đổi kh&#237; hậu (CTMTQG) với tổng kinh ph&#237; thực hiện ước t&#237;nh 1965 tỷ đồng. Thủ tướng trực tiếp l&#224;m Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện Chương tr&#236;nh, Bộ trưởng Bộ T&#224;i nguy&#234;n v&#224; M&#244;i trường l&#224;m Chủ nhiệm Chương tr&#236;nh. B&#224;i viết n&#224;y tham gia một số &#253; kiến để triển khai Chương tr&#236;nh đạt hiệu quả.    I. Về các mục tiêu của CTMTQG  CTMTQG đề ra mục tiêu tổng quát 1 và tám mục tiêu cụ thể 2. Tuy nhiên xem xét kỹ mục tiêu tổng quát chưa đủ độ bao quát, có mục tiêu cụ thể đáng lý ra phải là mục tiêu tổng quát, nhiều mục tiêu cụ thể thực ra là nhiệm vụ mà CT cần triển khai.  Tôi thiết nghĩ CTMTQG có bốn mục tiêu chủ yếu đồng bộ với nhau:  Nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu lên toàn bộ hệ thống các mối quan hệ giữa khí quyển, sinh quyển, thủy quyển và thạch quyển của đất nước vừa là xuất phát điểm vừa là mục tiêu của CTMTQG.   Nhận thức này không chỉ trong cộng đồng mà còn trong cả hệ thống chính trị, và trước tiên là trong bộ máy quản lý nhà nước. Có như vậy mới hiểu tường tận và không bỏ sót các tác động, và mới có được sự phối hợp cần thiết không khe hở trong ứng phó.  Từ nhận thức đó, mục tiêu tiếp theo của CTMTQG là nhận diện được các thách thức phải vượt qua trong ngắn hạn và dài hạn, trong các vùng sinh thái-kinh tế khác nhau của đất nước, và các giải pháp ứng phó thích hợp nhất.  Mục tiêu thứ ba là thực hiện (các) chương trình hành động để ứng phó trên các lĩnh vực hành pháp, lập pháp, tư pháp, tại các vùng sinh thái-kinh tế, bằng nguồn nội lực và bằng nguồn lực vận động được từ bên ngoài.   Mục tiêu cuối cùng là vượt qua các thách thức đưa nền kinh tế Việt Nam vào quỹ đạo thân thiện với môi trường và tham gia cùng cộng đồng các quốc gia trên thế giới để giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hành tinh xanh.   Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, chuỗi số liệu, ảnh vệ tinh, …) cơ bản, đặc biệt về hải văn hiện đang rất thiếu, cho phép tính toán và dự báo các tác động của BĐKH và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này là một nhiệm vụ bức thiết và cũng là một mục tiêu của CTMTQG.  II. Nhận thức toàn diện và toàn cầu, hành động cụ thể  Nhận thức về các tác động của biến đổi khí hậu cần toàn diện và toàn cầu, nhưng cần được liên hệ đến từng địa bàn để hoạch định hành động cụ thể phù hợp với bối cảnh và quy luật chung.   Có như vậy chương trình hành động của các bộ ngành mới gắn kết cặt chẽ với chương trình hành động của các vùng, chương trình khoa học công nghệ của CTMTQG mới có địa chỉ ứng dụng, đáp ứng mong đợi của người dân và của các địa phương vào CT.   Điều mà người dân muốn biết trước tiên, ngoài các khái niệm chung, là trên địa bàn mà họ đang sinh sống, các tác động của biến đổi khí hậu mà họ sẽ gặp là gì, và cần chuẩn bị ứng phó ra sao. Đáp ứng yêu cầu này sẽ phát huy được tính tích cực và sáng tạo của người dân, từ cơ sở, trong ứng phó.  Ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội của các cấp, các ngành là một quan điểm của CT. Các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các đoàn thể quần chúng được khuyến khích chủ động tham gia vào các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là lĩnh vực thông tin, giáo dục và truyền thông, là một đặc điểm tích cực của CTMTQG. Chương trình dự kiến chi 292 tỷ đồng cho việc nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực, trong đó 162 tỷ dành cho công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu. Vấn đề là triển khai như thế nào để đạt được hiệu quả cao và bền vững nhất.  Các tác động của biến đổi khí hậu lên mỗi vùng sinh thái-kinh tế, ngoài những điểm chung, do các đặc thù địa l‎ý của vùng, có những đặc điểm riêng không giống với các tác động lên các vùng sinh thái-kinh tế khác.  Để công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu thấm sâu và nâng cao hiểu biết và tính chủ động của người dân và cán bộ trên địa bàn, thiết nghĩ Ban Chỉ đạo quốc gia và Ban Chủ nhiệm CTMTQG, ngoài việc họp để giới thiệu CT, như đã làm ở Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh, cần tổ chức họp theo vùng (Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, Duyên hải bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và đồng bằng sông Cửu Long) giới thiệu cụ thể các tác động của biến đổi khí hậu lên vùng, các thách thức mà người dân trong vùng cần vượt qua và chương trình hành động dự kiến bước đầu.   Làm tốt việc này là một bước quan trọng đặt việc triển khai CTMTQG lên đúng đường ray.   III. Chắt lọc, sắp xếp các nhiệm vụ, bố trí nguồn lực đúng lúc và đủ  CTMTQG đề ra 9 nhiệm vụ và giải pháp 3, mỗi nhiệm vụ được triển khai với các chỉ tiêu cụ thể trong giai đoạn khởi động (đến năm 2010) và trong giai đoạn triển khai (đến năm 2015). Chưa có chỉ tiêu cho giai đoạn phát triển (sau 2015). Có hai nhận xét:  + Cách làm này rất lớp lang, quy củ nhưng cần xem xét thêm bởi lẽ các nhiệm vụ không tách rời và không biệt lập với nhau.   + Tính rủi ro trong triển khai ra sao khi mà 50% kinh phí là vốn từ bên ngoài, chỉ có 50% là vốn trong nước, trong đó có thể hoàn toàn chủ động được là 40%?   Từ thực tế này, thiết nghĩ cần: (a) chắt lọc và sắp xếp các nhiệm vụ theo mức độ ưu tiên; (b) lên sơ đồ những nhiệm vụ nào cần làm trước, làm song song, làm sau để bố trí nguồn lực thích hợp, đủ và đúng lúc. Việc làm này không mâu thuẩn mà bổ sung cho quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo thực hiện CT có trọng tâm trọng điểm.  Biến đổi khí hậu hiện nay trên thế giới một phần không nhỏ là do hành vi của con người. Tính toán tác động của biến đổi khí hậu lên môi trường và tìm cách ứng phó có hiệu quả nhất là một bài toán của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và công nghệ. Do vậy Chương trình khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội) có nhiệm vụ cung cấp kịp thời cơ sở cho CTMTQG.   Tôi rất đồng tình và cho rằng tích hợp yếu tố biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một nhiệm vụ hàng đầu của CTMTQG, đảm bảo các kết cấu hạ tầng đầu tư trong những năm sắp tới từ vốn đầu tư toàn xã hội được sử dụng có hiệu quả lâu bền.  IV. Yêu cầu và tư tưởng chỉ đạo việc ứng phó với BĐKH và biển dâng  Quyết định 158/2008/QĐ-TTg đề ra năm quan điểm và sáu nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện CTMTQG. Những nội dung này rất đúng và cần thiết 4.  Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới cho thấy có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (Protection), thích nghi (Accommodation) và rút lui (Retreat). Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp, và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái ngập nước (wetland).   Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi phương án biển dâng.   Ứng phó phải phù hợp với quy luật của tự nhiên, vì vậy ứng phó không thể riêng lẽ từng tỉnh vì sẽ manh mún, kém hiệu quả, thậm chí còn mâu thuẩn, cản trở, triệt tiêu nhau.   Yêu cầu đối với ứng phó là gìn giữ tối đa có thể được thành quả của lao động quá khứ, sinh mạng, tài sản và đời sống của nhân dân. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, yêu cầu còn liên quan đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia.   Chính vì thế, theo thiển ý của chúng tôi, cần bổ sung một tư tưởng chỉ đạo: việc ứng phó là phải biến thách thức thành thời cơ để phát triển bền vững. Từ tư tưởng chỉ đạo này mà đề ra các nhiệm vụ, khoa học và công nghệ nói riêng, cần giải quyết trong bối cảnh mới. Về mặt quản lý nhà nước, thách thức của biển dâng phải chăng chính là thời cơ thúc đẩy Nhà nước suy tính sâu sắc và tích cực hơn việc quản lý kinh tế theo vùng lãnh thổ?  V. Triển khai hợp tác quốc tế có hiệu quả  Lực lượng khoa học của chúng ta am tường về ứng phó với biến đổi khí hậu còn mỏng. Thông tin, số liệu còn rất thiếu và cần được cập nhật và bổ sung. Vì lẽ đó, hợp tác quốc tế có mục tiêu và hiệu quả là một công tác rất quan trọng.  Mê-kông là một con sông quốc tế. Việt Nam là quốc gia cuối cùng ở hạ lưu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biển dâng, bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với sử dụng nước sông Mêkông ở thượng nguồn đúng với quy định của luật pháp quốc tế là một nhiệm vụ hàng đầu của Ủy ban quốc gia sông Mê-kông. Các kết quả điều tra nghiên cứu cần thiết là một công cụ mạnh để đàm phán, bảo vệ quyền lợi chính đáng của quốc gia.  Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về đa dạng sinh học và những điều ước quốc tế khác có liên quan đến biến đổi khí hậu. Vì vậy hợp tác quốc tế cần được triển khai vì sự phát triển bền vững của quốc gia, của khu vực và của cả hành tinh./.       [1] Mục tiêu tổng quát là “đánh giá được mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước (…)”  2 Tám mục tiêu cụ thể là: a) Đánh giá được mức độ biến đổi của khí hậu Việt Nam do biến đổi khí hậu toàn cầu và mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương; b) Xác định được các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; c) Tăng cường các hoạt động khoa học công nghệ nhằm xác lập cơ sở khoa học cho các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; d) Củng cố và tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu; đ) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực; e) Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu;  g) Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành và địa phương; h) Xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động của các Bộ, ngành và địa phương ứng phó với biến đổi khí hậu; triển khai các dự án, trước tiên là các dự án thí điểm.  3 Chín nhiệm vụ và giải pháp là (1) Đánh giá mức độ và tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam; (2) Xác định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; (3) Xây dựng chương trình khoa học công nghệ về biến đổi khí hậu; (4) Tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về biến đổi khí hậu; (5) Nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực; (6) Tăng cường hợp tác quốc tế; (7) Tích hợp yếu tố biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành và địa phương; (8) Xây dựng các kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; (9) Xây dựung và triển khai các dự án của Chương trình.   4 Xem đoạn I.1 và I.2 trong Quyết định 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đặt tên virus đậu khỉ theo địa lý đã gây ra những hậu quả tiêu cực      Các chủng virus đậu khỉ thường được gọi là chủng Tây Phi và chủng lưu vực Congo.    “Trong bối cảnh bùng phát đậu khỉ toàn cầu hiện nay, việc tiếp tục gọi tên và đặt danh pháp cho virus này dựa trên các địa danh châu Phi vừa không chính xác mà còn mang tính kỳ thị và phân biệt đối xử,” 29 nhà nghiên cứu từ 11 quốc gia viết trong một bản khuyến nghị trên virological.org. Họ kêu gọi cộng đồng quốc tế “nhanh chóng lựa chọn và sử dụng một cái tên mới”.    Nhiều năm trước, các nhà nghiên cứu đã chia virus đậu khỉ thành các “nhánh” Tây Phi và Congo, vì virus đậu khỉ lưu hành ở hai khu vực này có các dấu hiệu bộ gen khác nhau và độc tính khác nhau.    Virus đậu khỉ đang lây lan có nhiều điểm tương đồng với virus đậu khỉ ở khu vực Tây Phi, thường gây bệnh nhẹ hơn. Nhưng một số nhà nghiên cứu lập luận rằng các chủng hiện đang lây lan trên khắp thế giới thực ra là một nhánh thứ ba riêng biệt, bắt nguồn từ châu Âu và có các đặc điểm khác với hai nhánh đã biết. “Rõ ràng là virus này có liên quan, nhưng theo một cách rất khác,” nhà sinh vật học tiến hóa Tulio de Oliveira tại Đại học KwaZulu-Natal, đồng tác giả bản khuyến nghị, cho biết.        Cụ thể, các đợt bùng phát bệnh đậu khỉ xảy ra ở Châu Phi khi virus lây lan trong quần thể động vật (phổ biến nhất là loài gặm nhấm, không phải khỉ), tạo thành những ổ chứa mầm bệnh và sau đó tràn sang người. Nhưng các ca nhiễm trên toàn cầu hiện nay không có mối liên hệ nào với động vật. Ở châu Âu, nơi phát hiện những bệnh nhân đầu tiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy virus đã lây truyền giữa người với người trong nhiều tháng. “Virus này đã thích nghi với việc sử dụng vật chủ là con người. Nguồn thực sự của sự bùng phát này chủ yếu là châu Âu và sau đó lây lan sang khắp mọi nơi trên thế giới,” Oliveira nói.    Do đó, Oliveira và các đồng tác giả đề xuất sử dụng tên hMPXV cùng với một chữ số. Trong đó hMPXV viết tắt cho bệnh đậu khỉ ở người, và chữ số thể hiện nơi đầu tiên phát hiện nhánh virus. Số 1 đại diện cho lưu vực Congo, 2 cho Tây Phi và 3 cho châu Âu – nơi phát hiện chủng hiện tại. Nhóm đã thảo luận các ý tưởng của mình với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Ủy ban Quốc tế về Phân loại virus (ICTV).    Tình huống này tương tự với một số bệnh và mầm bệnh khác trước đây. Các chủng SARS-CoV-2 vào đầu đại dịch được gọi theo địa danh là chủng Vũ Hán hoặc chủng Nam Phi, nhưng sau đó cộng đồng quốc tế đã chuyển sang gọi tên các chủng SARS-CoV-2 bằng các chữ cái tiếng Hy Lạp (chủng Alpha, Beta, Delta hay Omicron). Tương tự, nhóm Oliveira muốn xây dựng một “hệ thống danh pháp thực tế và trung tính” cho bệnh đậu khỉ.    Việc đặt tên virus theo địa lý đã gây ra những hậu quả tiêu cực. Biến thể Beta của virus SARS-CoV-2, do Oliveira và các nhà nghiên cứu Nam Phi mô tả đầu tiên, từng được gọi là chủng Nam Phi, dẫn đến lệnh cấm đi lại với Nam Phi, gây thiệt hại kinh tế mà không có tác dụng ngăn chặn dịch bệnh. Nếu tiếp tục lấy tên địa danh làm tên virus, các khu vực sẽ tìm cách che giấu khi họ phát hiện ra một loại virus mới do lo ngại kỳ thị từ cộng đồng quốc tế, Oliveira nhấn mạnh.    Mặc dù WHO từ lâu đã khuyến cáo không đặt virus tên dựa trên địa lý, nhiều loại virus trong Danh sách các loài virus chính của ICTV vẫn mang kiểu tên này. Virus Ebola được đặt theo tên một con sông ở Cộng hòa Dân chủ Congo, và được chia thành các chủng Sudan và Zaire, đều là các địa danh. Oliveira nói rằng đã đến lúc suy nghĩ lại về tất cả tên virus. “Đó là cách làm trong quá khứ, nhưng tôi không nghĩ đó là cách làm đúng,” Oliveira nói.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Đề xuất dự án Hồ sơ truy cập thiết bị kỹ thuật số      Khi các thiết bị kỹ thuật số trở nên phổ biến, người ta bắt đầu quan tâm đến tác động đến hậu quả của việc sử dụng các thiết bị này với con người, chẳng hạn như thời gian dùng có làm giảm khả năng tập trung, dẫn đến lo lắng hoặc trầm cảm, ảnh hưởng đến hoạt động xã hội hay kiềm chế khả năng phân biệt tin thật-giả không?      Các diễn viên nhí của một đoàn kinh kịch Trung Quốc sử dụng điện thoại thông minh. Nguồn: Thomas Peter/Reuters  Để trả lời câu hỏi này cũng như tìm hiểu khả năng ảnh hưởng đến chính sách công, các nhà nghiên cứu tại ĐH Stanford và ĐH bang Pennsylvania (Mỹ) cho rằng cần phải ghi lại và phân tích tất cả mọi thứ người dùng nhìn thấy và thực hiện trên thiết bị của mình. Các nhà nghiên cứu kêu gọi thực hiện một dự án mang tên Human Screenome Project (Dự án Hồ sơ truy cập thiết bị kỹ thuật số) nhằm cung cấp cách tiếp cận chi tiết để quan sát sự phức tạp trong đời sống kỹ thuật số hiện nay.  Trong bài bình luận trên Nature, các nhà nghiên cứu cho rằng cần phải có một dự án như vậy để kiểm định các giả thuyết phổ biến như truyền thông kỹ thuật số vừa phải chịu trách nhiệm – ít nhất là một phần – cho nhiều vấn đề sức khỏe và xã hội, qua đó có thể góp phần đem lại giải pháp cho các vấn đề trên.  Các nhà nghiên cứu cho rằng việc xem xét thời gian sử dụng là không đủ bởi các hành vi trong quá trình sử dụng thiết bị thông minh giờ đã quá phức tạp và đa dạng. GS. Byron Reeves, trường Khoa học và Nhân văn của ĐH Stanford cho biết: “Nghiên cứu đã không theo kịp với thay đổi của công nghệ. Rất nhiều nghiên cứu đang có đều thiếu sót, không hề liên quan, thậm chí sai lầm, bởi chúng ta không thực sự biết được mọi người đang làm gì trong những môi trường kỹ thuật số phức tạp đó.”   Đồng tác giả GS.Thomas Robinson, chuyên gia về sức khỏe trẻ em, nhi khoa và y học tại ĐH Stanford cũng nhận xét: “Bất kể nghiên cứu lĩnh vực gì – dù là chính trị, sức khỏe, mối quan hệ, sự nghiện ngập hay các hành động chống biến đổi khí hậu, thì để hiểu được rõ các hành vi và niềm tin của mọi người, chúng ta cần nhìn vào ‘hồ sơ dùng thiết bị kỹ thuật số’ của họ. Quá nhiều phần của cuộc sống giờ đây được lọc ra trên những thiết bị kỹ thuật số đó. Nhiều hoạt động trước đây phải mặt-đối-mặt thì hiện đã được phản ánh và ghi lại trên màn hình thiết bị, từ dịch vụ ngân hàng, quyết định ăn uống, kết bạn, chơi game, hẹn hò, tập thể dục, bàn chuyện chính trị v.v.”  Để tạo ra bản đồ đa chiều về cuộc sống số, các nhà nghiên cứu đang phát triển một lĩnh vực là Screenomics. Họ sử dụng phần mềm cài đặt trên smartphone hoặc thiết bị cá nhân (với sự đồng ý của người dùng), sau đó ghi lại, mã hóa và truyền tự động các ảnh chụp màn hình (5 giây một lần) đến một trung tâm nghiên cứu bảo đảm. Điều này sẽ tạo ra các bản ghi độc nhất vô nhị về hoạt động trên kênh truyền thông, để từ đó có thể phân tích và phóng sâu vào nhằm quan sát những thay đổi theo từng khoảnh khắc trên màn hình và nội dung, hoặc thu nhỏ lại để mô tả các thay đổi dài hạn hơn trong nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí nhiều năm.   Cho đến nay, phòng thí nghiệm Screenomics của ĐH Stanford đã thu thập được hơn 30 triệu điểm dữ liệu từ hơn 600 người tham gia và đã chứng minh rằng hầu hết mọi người lướt vòng rất nhanh qua khối lượng dữ liệu khổng lồ, chuyển từ mục này sang mục khác cứ sau 10-20 giây. Ngoài ra, họ cũng có những bằng chứng chắc chắn cho thấy việc sử dụng kênh giao tiếp mang đặc tính cá nhân cao và bao gồm nhiều trải nghiệm luôn bị ngắt quãng giữa những nội dung hoàn toàn khác nhau và chỉ có ý nghĩa với cá nhân đó. Không có bản đồ màn hình của hai người nào giống hệt nhau, thậm chí màn hình của một người cũng độc đáo từ giờ này sang giờ khác.  Dự án này được lấy tên tham chiếu từ ‘Dự án bản đồ gene người’ (Human Genome Project) và nhiều dự án có vần ‘-ome’ khác do Chính phủ Mỹ tài trợ. GS. Reeves và các đồng nghiệp nói rằng họ muốn theo đuổi mục tiêu tương tự: xây dựng được một bản thiết kế mã nguồn mở để nghiên cứu dữ liệu hoạt động trên thiết bị kỹ thuật số, trong khi vẫn tôn trọng quyền riêng tư của người dùng.□  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-human-screenome-impacts-digital-media.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề xuất lý thuyết trong không thời gian nhiều chiều      “Lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng” (Higher dimensional nonlinear massive gravity) – công trình của TS. Đỗ Quốc Tuấn (Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) xuất bản trên tạp chí Physics Review D và là một trong 9 đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018, không chỉ đem đến cái nhìn nhất quán về lý thuyết hấp dẫn phi tuyến có khối lượng trong không thời gian có số chiều bất kỳ mà còn chỉ ra được sự tồn tại của hằng số vũ trụ hiệu dụng thông qua các số hạng graviton, qua đó đưa ra một cách giải thích về bản chất của năng lượng tối – một trong những vấn đề còn chứa đựng nhiều bí ẩn của vũ trụ.      TS. Đỗ Quốc Tuấn và vợ chồng giáo sư Trần Thanh Vân tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành Quy Nhơn.   Trong vật lý lý thuyết, hấp dẫn có khối lượng (massive gravity) là một sự thay đổi Thuyết tương đối rộng của Einstein, trong đó các hạt graviton (hạt truyền tương tác hấp dẫn) được giả định có khối lượng khác không. Khi đề cập đến sự thú vị của hướng nghiên cứu này, phó giáo sư Sabine Hossenfelder, nhà vật lý lý thuyết nghiên cứu về hấp dẫn lượng tử của Viện nghiên cứu vật lý lý thuyết Nordita (Thụy Điển), nhận xét, nghiên cứu về hấp dẫn có khối lượng và các hạt graviton có khối lượng ẩn chứa nhiều thách thức lớn với các nhà vật lý lý thuyết 1.  Dù nhiều thách thức nhưng hướng nghiên cứu này vẫn “hấp dẫn” được TS. Đỗ Quốc Tuấn ngay từ khi học tại Viện Vật lý, trường Đại học Quốc gia Chiao Tung (Đài Loan). Khi về nước và công tác tại Bộ môn Tin học Vật lý, Khoa Vật lý, anh đã hoàn thiện các ý tưởng và viết 2 bài gửi đăng trên Physics Review D năm 2016 (bài đầu tiên gửi đăng ký giải thưởng Tạ Quang Bửu trẻ 2018). Sau hai năm, đến nay 2 bài báo đã được 19 trích dẫn từ các bài báo của đồng nghiệp nước ngoài. Theo nhận xét của một tiến sỹ vật lý, đây là chỉ số đáng mừng cho một bài nghiên cứu về vật lý lý thuyết sau hai năm công bố, nó cho thấy cộng đồng nghiên cứu cũng quan tâm đến giả thuyết mà tác giả đề xuất cũng như quan tâm đến những gợi mở của vấn đề.  Sức hút của lý thuyết hấp dẫn có khối lượng  Không phải đến bây giờ, các nhà nghiên cứu mới quan tâm đến lý thuyết hấp dẫn có khối lượng mà từ năm 1939, khi được hai nhà vật lý Wolfgang Pauli và Markus Fierz đề xuất, người ta đã nhận ra đây là một hướng nghiên cứu khá thú vị. Tuy nhiên cách tiếp cận này của Pauli và Fierz cũng gặp phải một số vấn đề mang tính kỹ thuật như sự không nhất quán: nó không tương thích với Thuyết tương đối rộng khi cho khối lượng của graviton tiến đến không như van Dam – Veltman và Zakharov đã độc lập chỉ ra vào năm 1970. TS. Đỗ Quốc Tuấn giải thích: “Thuyết tương đối rộng của Einstein đã được chấp nhận một cách rộng rãi nên các mở rộng hay thay đổi Thuyết tương đối rộng phải quay về được lý thuyết này. Với một lý thuyết được đề xuất, nếu như chúng ta lấy một giới hạn nào đó mà nó không quay về được Thuyết tương đối rộng thì lý thuyết đó được coi là lý thuyết không tốt”.  Để “giải cứu” di sản của Pauli và Fierz, năm 1972, Arkady Vainshtein đã đề xuất các mở rộng phi tuyến – các số hạng bậc cao trong không thời gian, khiến khối lượng của graviton tiến về không, theo đó cho phép tương thích với Thuyết tương đối rộng. Dẫu sao, sự bổ sung của Vainshtein không phải không có điểm yếu: cùng năm đó, Boulware và Deser đã phát hiện: sự thêm vào của các số hạng phi tuyến sẽ làm nảy sinh sự tồn tại của các mode “ma” (ghost mode) có động năng âm khiến cho Hamiltonian không bị chặn, và dẫn đến lý thuyết hấp dẫn có khối lượng trở nên thiếu ổn định. Các mode ma được cho rằng có liên quan tới bậc tự do thứ 6 thừa ra của hạt graviton có khối lượng (trong không thời gian 4 chiều, hạt graviton có khối lượng có 5 bậc tự do, trong khi đó hạt graviton không có khối lượng chỉ có 2 bậc tự do). TS. Đỗ Quốc Tuấn nhận xét: “Một lý thuyết không ổn định cũng là một lý thuyết không tốt về mặt vật lý”.  Vậy làm cách nào để giải quyết được đồng thời hai vấn đề hóc búa là vừa phi tuyến và vừa không có mode ma trong lý thuyết hấp dẫn có khối lượng? Về cơ bản, các nhà vật lý tìm cách xây dựng một lý thuyết hấp dẫn phi tuyến sao cho các hạt graviton có khối lượng chỉ có 5 bậc tự do. Đây là thách thức lớn với họ. “Có rất nhiều nỗ lực của cộng đồng nghiên cứu, ví dụ như công bố của nhóm Arkani-Hamed–Georgi–Schwartz năm 2003, nhưng sau đấy đều thất bại, nghĩa là sau đó người ta vẫn chỉ ra được sự tồn tại mode ma trong các đề xuất, không làm thế nào để khử được nó”, TS. Đỗ Quốc Tuấn cho biết. Sự loay hoay của các nhà nghiên cứu khiến nghiên cứu về lý thuyết hấp dẫn có khối lượng trầm lắng suốt 4 thập k  Cục diện trên chỉ thay đổi khi năm 2010, ba nhà vật lý Claudia de Rham, Gregory Gabadadze, và Andrew Tolley đã đưa ra đề xuất mang tính đột phá về hấp dẫn phi tuyến có khối lượng (nonlinear massive gravity) không chứa mode ma. Thực tế, nghiên cứu của nhóm de Rham–Gabadadze–Tolley là sự khắc phục các sai sót về hệ số của nghiên cứu trước đó thực hiện bởi nhóm tác giả Creminelli–Nicolis–Papucci–Trincherini vào năm 2005. Các chứng minh sau đó mà nổi bật là chứng minh của Sayed Hassan và Rachel Rosen năm 2011 đã xác nhận lý thuyết hấp dẫn phi tuyến có khối lượng thật sự không chứa mode ma. Đề xuất của bộ ba de Rham–Gabadadze–Tolley đã làm đổi chiều “số phận” của lý thuyết hấp dẫn có khối lượng, đưa nó trở thành một trong ba chủ đề được giới vật lý quan tâm nhiều nhất trong năm 2014, qua đó “hầu hết các khía cạnh vật lý, vũ trụ đều được thảo luận một cách kỹ càng trong lý thuyết này”, TS. Đỗ Quốc Tuấn nhận xét.  Thật trùng hợp là thời điểm đó, các nhà vật lý cũng đang đi tìm bản chất của năng lượng tối – vấn đề liên quan đến hằng số vũ trụ. Họ thấy rằng lý thuyết này cũng có thể cung cấp được lời giải cho câu hỏi về bản chất của năng lượng tối: các số hạng graviton có khối lượng có thể trở thành hằng số vũ trụ hiệu dụng và hằng số này tỷ lệ thuận với khối lượng của các hạt graviton. Do vậy, nếu các hạt graviton có khối lượng càng nhỏ thì giá trị của hằng số vũ trụ hiệu dụng cũng rất nhỏ và phù hợp với số liệu quan sát của các nhà thực nghiệm.  Mở rộng lý thuyết lên không thời gian nhiều chiều  Nghiên cứu tại Đài Loan khi lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết hấp dẫn có khối lượng sôi động trở lại nhưng phải đến năm 2012, TS. Đỗ Quốc Tuấn mới được nghe Gabadadze trình bày giới thiệu về nó trong khuôn khổ một hội nghị khoa học tại Nhật Bản. Sau buổi thuyết trình đó, anh mới đọc thêm tài liệu về hấp dẫn có khối lượng và “nảy sinh ý nghĩ có thể làm cái gì đó với lý thuyết này, có thể là đề xuất về lý thuyết trong không thời gian nhiều chiều”.  Trong vật lý lý thuyết, ý tưởng không thời gian nhiều chiều khá phổ biến và không có gì mới, ví dụ Lý thuyết Kazula-Klein, Lý thuyết dây, Lý thuyết siêu hấp dẫn đều được xây dựng trong không thời gian có số chiều lớn hơn 4. Do vậy, “việc mở rộng lý thuyết này lên không thời gian có số chiều lớn hơn 4 là cần thiết, ít nhất về mặt lý thuyết. Trước đó, có một số bài báo về lý thuyết hấp dẫn phi tuyến có khối lượng trong không thời gian nhiều chiều nhưng không đi sâu vào thảo luận chi tiết các nghiệm cụ thể của lý thuyết phi tuyến nhiều chiều có khối lượng. Thêm nữa, các số hạng graviton bậc cao trong các bài báo này cũng không được viết một cách dễ hiểu. Một số bài báo mặc dù thảo luận trong không thời gian nhiều chiều nhưng vẫn chỉ lấy ba số hạng graviton đầu tiên L­2, L3 và L4 để nghiên cứu, trong khi các số hạng graviton bậc cao hơn như L5 đáng lẽ ra phải được kể đến do chúng không tự động biến mất”. TS. Đỗ Quốc Tuấn giải thích nguyên nhân vì sao anh lại có ý tưởng về lý thuyết hấp dẫn phi tuyến trong không thời gian nhiều chiều có khối lượng.        “Có thể so sánh các kết quả trong không thời gian 4 chiều với các kết quả tương ứng trong không thời gian nhiều chiều, và từ đó có thể thu được đầu mối để đi tìm/khẳng định/bác bỏ sự tồn tại của các chiều dư trong vũ trụ”. (TS. Đỗ Quốc Tuấn).        Nền tảng của ý tưởng này là xây dựng số hạng graviton không có mode “ma” từ định lý Cayley–Hamilton – một định lý quan trọng trong đại số tuyến tính: mọi ma trận vuông trên một vành giao hoán đều thỏa mãn phương trình đặc trưng của nó. Việc vật lý “vay mượn” phương pháp tính toán của toán học để giải quyết vấn đề của mình đã có từ lâu, ví dụ như trường hợp Einstein trong khi xây dựng Thuyết tương đối rộng. Trong bức thư gửi Levi-Civita – nhà toán học có công trình về phép vi tích phân tensor và ứng dụng trong Thuyết tương đối rộng và điều kiện phân ly Levi – Civita trong phương trình Hamilton-Jacob, Einstein đã thổ lộ: “Tôi hết sức ngưỡng mộ sự tao nhã trong phương pháp tính toán của ông; nó đẹp như thể vượt qua những cánh đồng trên lưng ngựa chiến của toán học trong khi cách chúng tôi thường làm giống như đi bộ một cách cần mẫn”2.    Phương trình đặc trưng của định lý Cayley–Hamilton được TS. Đỗ Quốc Tuấn sử dụng để thu lại các số hạng graviton mà nhóm de Rham–Gabadadze–Tolley đã chỉ ra. Anh kể, “tình cờ tôi thấy được số hạng này rất giống với số hạng có thể thu được từ phương trình đặc trưng của ma trận vuông. Tìm được mối liên hệ này, tôi nghĩ rằng có thể xây dựng được các số hạng không thời gian nhiều chiều từ phương trình đặc trưng của ma trận mà không cần phải dùng các kỹ thuật phức tạp của lý thuyết của nhóm de Rham– Gabadadze–Tolley”. Với phương trình này, TS. Đỗ Quốc Tuấn đã thu được các số hạng graviton trong không thời gian 5, 6 và 7 chiều và có thể mở rộng lên vô số chiều. “Tôi đã so sánh kết quả của mình với kết quả tính toán của những nhà nghiên cứu trước và nhận thấy các số hạng hai bên khớp nhau. Đây là tín hiệu tốt cho thấy mình đã đi đúng hướng”, TS. Đỗ Quốc Tuấn bổ sung thêm.  Việc tính toán và xem xét kỹ các trường hợp không thời gian nhiều chiều là một việc rất quan trọng. Trong quá trình này, anh nhận thấy một số công trình nghiên cứu về hấp dẫn phi tuyến có khối lượng trong không thời gian nhiều chiều đã bỏ qua số hạng graviton bậc cao như L5 trong khi “một lý thuyết mà bỏ qua một số hạng thì kết luận về mặt lý thuyết được coi là không hoàn chỉnh, thậm chí có khi chỉ là một trường hợp đặc biệt thôi”, anh cho biết.  Cuối cùng, TS. Đỗ Quốc Tuấn đề xuất việc xây dựng số hạng graviton không có mode ma trong không thời gian với số chiều bất kỳ và dẫn giải một cách chi tiết các phương trình trường Einstein của metric vật lý, của metric tham chiếu trong trường hợp 5 chiều như một ví dụ. Qua đó, anh đã chỉ ra rằng việc chọn được các metric vật lý và tham chiếu phù hợp sẽ khiến cho các số hạng graviton trở thành hằng số vũ trụ hiệu dụng, nghĩa là “các hệ số của các metric vật lý và tham chiếu thay đổi theo thời gian nhưng tỉ số của chúng không đổi theo thời gian, dẫn đến các số hạng graviton không đổi theo thời gian”, TS. Đỗ Quốc Tuấn lý giải. Do đó, lý thuyết hấp dẫn phi tuyến có khối lượng trong không thời gian nhiều chiều có thể giải thích được cả sự giãn nở gia tốc của vũ trụ, qua đó góp phần gợi mở những giải thích về vấn đề năng lượng tối trong vũ trụ – dạng năng lượng mà các nhà vật lý còn chưa biết rõ về bản chất, quá trình hình thành nhưng chiếm phần lớn trong vũ trụ và có khuynh hướng làm tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ.  Cũng trong bài báo này, TS. Đỗ Quốc Tuấn còn đưa ra một số nghiệm vũ trụ điển hình như không thời gian Friedmann–Lemaitre–Robertson–Walker, Bianchi loại I và hố đen Schwarzschild–Tangherlini cùng giá trị cụ thể của hằng số vũ trụ hiệu dụng trong mô hình lý thuyết hấp dẫn phi tuyến 5 chiều không thời gian có khối lượng. Những nghiệm vũ trụ này chứng tỏ điều gì? “Nó cho thấy lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng hoàn toàn không tầm thường về mặt vật lý và vũ trụ học”, TS. Đỗ Quốc Tuấn đánh giá.  Công việc của các nhà vật lý lý thuyết là đưa ra các tiên đoán để các nhà thực nghiệm kiểm chứng. TS. Đỗ Quốc Tuấn cũng vậy, “một lý thuyết hay mà không phù hợp với số liệu đo đạc/quan sát của các nhà thực nghiệm thì cũng không thể nào chấp nhận được”. Anh hi vọng đến một ngày nào đó, các nhà thực nghiệm sẽ là trọng tài đưa ra số liệu kiểm chứng đề xuất của mình.  Khi hỏi về những dự định trong tương lai về lý thuyết này, TS. Đỗ Quốc Tuấn cho biết, “công trình này sẽ là nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo. Các kết quả thu được từ lý thuyết hấp dẫn phi tuyến 4 chiều hoàn toàn có thể mở rộng lên trường hợp nhiều chiều hơn. Ví dụ, nghiệm hố đen Myers–Perry (tổng quát hóa nghiệm hố đen Kerr 4 chiều) có thể được tìm thấy trong lý thuyết hấp dẫn phi tuyến 5 chiều; hay lý thuyết multi-gravity (tổng quát hóa của lý thuyết bi-gravity với số metric lớn hơn 2) nhiều chiều cũng có thể thu được từ việc áp dụng các kết quả của lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng. Thú vị hơn, ta có thể so sánh các kết quả trong không thời gian 4 chiều với các kết quả tương ứng trong không thời gian nhiều chiều, và từ đó có thể thu được đầu mối để đi tìm/khẳng định/bác bỏ sự tồn tại của các chiều dư trong vũ trụ”.  —  1http://backreaction.blogspot.com/2013/12/the-comeback-of-massive-gravity.html  2https://ipfs.io/ipfs/QmXoypizjW3WknFiJnKLwHCnL72vedxjQkDDP1mXWo6uco/wiki/Tullio_Levi-Civita.html       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Đề xuất một dạng vật lý mới để giải thích phân rã của hạt hạ nguyên tử      Các nhà vật lý trường đại học bang Florida (FSU) tin là mình đã có câu trả lời về những bất thường trong phân rã hiếm của một hạ nguyên tử tên là Kaon, vốn được các nhà nghiên cứu thực hiện thí nghiệm KOTO tại Cơ sở nghiên cứu máy gia tốc Proton Nhật Bản nêu vào năm ngoái.      Phó giáo sư vật lý Takemichi Okui và trợ lý giáo sư vật lý Kohsaku Tobioka xuất bản một công trình “New Physics Implications of Recent Search for KL→π0νν¯ at KOTO” trên Physical Review Letters, trong đó đề xuất phân rã này là một hạt mới có thời gian sống cực ngắn nên tránh được việc dò trong các thực nghiệm tương tự.  “Đây là một sự phân rã hiếm”, Okui nói. “Do quá hiếm nên người ta chưa từng thấy nó lần nào. Tuy nhiên nếu hiện tượng này là đúng thì chúng ta phải giải thích nó như thế nào? Chúng ta nghĩ đây là một điều có thể chăng”.  Các hạt Kaon là những hạt được tạo ra từ một quark và một hạt phản quark. Các nhà khoa học nghiên cứu chức năng của chúng – bao gồm cả sự phân rã của chúng – để hiểu tốt hơn về hoạt động của những hạt này.  Nhưng năm ngoái, các nhà nghiên cứu tại thí nghiệm KOTO đã nêu bốn trường hợp của một phân rã hiếm của hạt này, có thể thuộc dạng quá hiếm để dò được. Quan sát này vi phạm mô hình chuẩn của vật lý, vốn để giải thích các lực tương tác cơ bản của vũ trụ và những phân loại về các hạt cơ bản   Theo tính toán của họ, đó có thể là hai triển vọng có thể của các hạt mới. Trong một kịch bản, họ đề xuất Kaon có thể phân rã thành một pion – một hạt cơ bản có khối lượng gấp 270 lần một hạt electron – và một số loại của hạt mà người ta chưa thể quan sát được. Hoặc các nhà nghiên cứu tại thí nghiệm KOTO có thể chứng kiến quá trình tạo ra và phân rã của một thứ mà các nhà vật lý vẫn còn chưa biết.  Các nhà nghiên cứu tại Nhật Bản trực tiếp vận hành một dữ liệu đặc biệt để xác nhận xem liệu những quan sát trước đây có thực sự dò được các hạt mới hoặc đơn giản là nhiễu.  “Nếu nó được xác nhận, thật thú vị bởi nó toàn toàn là điều chúng ta không chờ đợi”, Tobioka nói. “Nó cũng có thể chỉ là nhiễu, nhưng cũng có thể là không. Trong trường hợp này, việc chờ đợi đó là nhiễu rất thấp. Mỗi sự kiện hay mỗi lần quan sát đều rất đáng chú ý, và trong trường hợp này là bốn”.   Đồng tác giả nghiên cứu của Okui và Tobioka là Teppei Kitahara và Yotam Soreg từ Viện nghiên cứu Công nghệ Israel, Gilad Perez từ Viện nghiên cứu Khoa học Weizmann  cũng ở Israel.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-physics-subatomic-particle.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Delhi: Nỗ lực tuyệt vọng để giảm ô nhiễm      Việc giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Delhi, một trong 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới theo nhận định của WHO, cần sự kết hợp giữa ý chí chính trị và nghiên cứu khoa học.      Theo nhận định của WHO thì Delhi là một trong 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Ảnh: cen.acs.org  Những giải pháp công nghệ đầu tiên     Giữa biển ô tô, xe máy và xe lam (auto rickshaw) tại những tâm điểm đông đúc nhất của Delhi, những thiết bị có kích thước tương đương một chiếc tủ lạnh được lắp đặt ở 54 ngã tư với mục tiêu hút lấy những vật chất ô nhiễm do xe cộ thải ra và trả lại chút không khí trong lành. Từ mùa thu năm ngoái, Ban Kiểm soát ô nhiễm trung tâm liên bang (CPCB) có sáng kiến lắp đặt chúng, những thiết bị có ba lớp phin lọc để loại các hạt bụi mịn và đất. Các đèn tia cực tím đặt trên hốc bên trong kích hoạt các hạt than hoạt tính phủ lớp quang xúc tác để làm ô xi hóa các hợp chất hữu cơ nhỏ chứa độc chất rồi đẩy chúng qua lớp phin lọc thành carbon dioxit vô hại và nước. Đây là sản phẩm của Viện nghiên cứu Kỹ thuật môi trường quốc gia thuộc Hội đồng nghiên cứu Khoa học và công nghiệp, vốn được giới thiệu là có thể làm trong lành không khí của một khu vực rộng 500m2 và với kích cỡ lớn hơn là 10.000m2.    Có những ý kiến chỉ trích về những thiết bị này, từ hiệu quả đến giá cả (26 triệu rupee/chiếc). Polash Mukerjee, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học và môi trường, một tổ chức NGO về môi trường có trụ sở ở Delhi, cho rằng hiệu quả làm sạch không khí của chúng ở thế giới thực ngoài phòng thí nghiệm vẫn còn chưa đo đạc được. “Dĩ nhiên chúng có hoạt động, nhưng khu vực chúng tác động rất giới hạn. Với bầu không khí bên ngoài thì chúng chỉ có thể tác động được 2 đến 3 m2”.    Tuy nhiên ngay cả khi các máy lọc này hoạt động tốt thì những ô nhiễm mà chúng loại bỏ chỉ là một phần rất nhỏ trong bầu không khí ô nhiễm đang bao bọc lấy Delhi. Tỷ lệ các hạt PM2.5 cao gấp 14 lần giới hạn đề xuất của WHO. Vấn đề ô nhiễm của thành phố này đang ngày một xấu hơn với sự “tiếp tay” của quy mô dân số 29 triệu dân, con số khiến Delhi đang trên đà vượt qua Tokyo để trở thành thành phố lớn nhất thế giới vào năm 2028, theo ước tính của Liên Hợp Quốc.    Ô nhiễm ở Delhi đạt đỉnh vào mùa đông bởi sự pha trộn giữa việc đốt cháy sinh khối từ các hoạt động  truyền thống, bụi từ các nhà máy nhiệt điện than và các yếu tố khí tượng. Một lớp sương mù quện với bụi dày, độc che khuất cả Mặt trời và tấn công các lá phổi, khiến trường học phải đóng cửa. Dưới áp lực phải làm điều gì đó ngăn ngừa tình trạng này, CPCB đang thử nghiệm một số công nghệ mà họ phát triển và lắp đặt tại các ngã tư đông đúc và đặt thêm 30 thiết bị lọc không khí khác trên các xe buýt công cộng. Họ còn lập kế hoạch phun magiê clorua và bột xi măng lên đường và các điểm xây dựng; các vật liệu có khả năng hút ẩm đó sẽ hấp thụ nước từ không khí, khiến cho lớp bề mặt ẩm hơn và giữ bụi khỏi bay lên. Tháng 11/2019, họ đã loan báo một dự án liên quan đến việc phun một số chất lên không khí để làm mưa nhân tạo và làm sạch ô nhiễm.    Dĩ nhiên những dự án này cũng không đủ làm nhiều người thấy hài lòng. “Đây không phải là giải pháp mang tính phát triển bền vững”, Sandeep Dahiya, một nhà vận động chính sách của nhóm Help Delhi Breathe, nhận xét. “Nó chỉ mang ý nghĩa chính trị là chính quyền đang cố gắng làm cái gì đó”.  Thay vì những cỗ máy đắt đỏ, những gì thành phố này cần là một kế hoạch dài hạn và hiệu quả để cắt giảm các nguồn ô nhiễm, Sandeep Dahiya và những người khác nói. Nhưng vấn đề Delhi đang gặp phải cũng là những thách thức mà các siêu đô thị như Bắc Kinh, Cairo, Los Angeles, Mexico đều đối mặt. Cũng như các thành phố này, ô nhiễm ở Delhi đến từ nhiều nguồn khác nhau và thay đổi theo mùa và các điều kiện khí tượng. Riêng Delhi, nó kết hợp với sự gia tăng của dân số, sự thiếu hụt thông tin, giáo dục, chính sách hữu hiệu và cả sự thúc bách về luật pháp.     Khoa học vào cuộc     Hạt bụi mịn PM2.5 là điều mà các tổ chức NGO và người dân Delhi muốn loại bỏ. Bước đầu tiên để làm được điều này là phải hiểu được nó đến từ đâu, các chuyên gia cho biết. Nhưng với Ấn Độ thì nhiệm vụ này lại hết sức khó khăn bởi các số liệu của họ quá nhiều lỗi và không thể tính được các nguồn đóng góp ô nhiễm nhỏ, như việc đốt củi nấu nướng. Một báo cáo do Viện nghiên cứu Năng lượng và các nguồn lực (TERI) và Hiệp hội nghiên cứu Tự động hóa Ấn Độ thực hiện theo đơn đặt hàng của chính phủ, công bố vào tháng 8/2018, đã góp phần giải quyết điều đó. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kết quả phân tích hóa học các mẫu khí thu thập được kết hợp với mô hình để phân loại nguồn phát thải của các chất ô nhiễm trong mẫu. “Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng hai cách tiếp cận mô hình khác biệt để suy ra kết luận”, Sumit Sharma, giám đốc nghiên cứu về khoa học trái đất và biến đổi khí hậu ở TERI, nhận xét.      Khu vực tập kết rác Bhalswa ở New Delhi. Nguồn: Sajjad Hussain/AFP.  Cách tiếp cận đầu tiên mà nhóm nghiên cứu ở TERI áp dụng là thu thập các mẫu bụi ở 20 địa điểm – 9 ở nội đô và 11 trong các bang lân cận thuộc vùng Thủ đô – trong mùa đông và mùa hè năm 2016-2017. Họ phân tích các mẫu và phân loại theo thành phần hợp chất như các ion, kim loại, hợp chất carbon, sau đó sử dụng các mô phỏng máy tính để truy dấu tận nguồn phát như xả thải giao thông, phát thải nhà máy điện, bụi đường, động cơ diesel…    Cách tiếp cận còn lại là tìm các nguồn phát thải hạt bụi bên trong vùng thủ đô và bụi được vận chuyển từ các nguồn xa hơn rồi dùng các mô hình khí tượng và hóa học khí quyển để mô phỏng cách chúng phân tán và tương tác. Việc so sánh các kết quả với đo đạc ô nhiễm cho phép họ xác định được nguồn phát sinh.    Cả hai cách tiếp cận đều chứng tỏ vào mùa đông, xe cộ đóng góp 30% lượng bụi PM2.5; các ngành công nghiệp, bao gồm nhiệt điện, đóng góp 30%; đốt sinh khối từ bếp và rơm rạ chiếm 14 đến 23%; lượng bụi bốc lên từ hoạt động giao thông và xây dựng chưa được kiểm soát của vùng thủ đô cùng đóng góp 17%. Trong mùa hè, hoạt động giao thông giảm mạnh trong khi bụi khác lại tăng gấp đôi.    Tuy nhiên về mùa đông thì tình trạng phức tạp hơn nhiều. Nông dân ở các bang lân cận như Haryana, Punjab, và Uttar Pradesh đốt rơm rạ sau khi thu hoạch, đi kèm với đó là hàng triệu người đốt pháo hoa trong nhiều ngày để ăn mừng lễ Diwall, một lễ hội quan trọng của người Hindu, thường diễn ra vào tháng 10 hoặc tháng 11. Các điều kiện khí tượng đạt đỉnh trong mùa đông khi những nghịch nhiệt bẫy các hạt ở gần mặt đất và gió thổi ở tầng thấp làm tăng tốc độ tích tụ bụi từ các quốc gia Vùng Vịnh và Afghanistan, bổ sung thêm bụi từ phia Bắc Ấn Độ nữa. Tính trung bình, về mùa đông nồng độ bụi PM2.5 (168 µg/m3) and PM10 (314 µg/m3) cao gấp đôi mùa hè.    Một số đề xuất khác của chính quyền như cấm xe cá nhân đã vấp phải sự phản đối dữ dội. “Nếu anh cấm các loại xe cá nhân thì anh cần phải cung cấp những hệ thống vận chuyển công để đáp ứng nhu cầu đi lại”, Dahiya nói.    Bước tiến tích cực nhất của chính quyền Delhi là đóng cửa vĩnh viễn nhà máy nhiện điện than cổ lỗ và gây ô nhiễm Badarpur tại ngoại vi phía Tây Nam thành phố, Dahiya nhận xét. Nhà máy này là  nguyên nhân chính cho ô nhiễm của vùng thủ đô, từng bị ngừng hoạt động vào ba mùa đông gần đây như cách hiệu quả để cải thiện ô nhiễm. Ban Kiểm soát ô nhiễm trung tâm liên bang mới đây đã bắt buộc các nhà máy có khả năng phát thải cao phải lắp đặt các trung tâm đo đạc phát thải tự động và gửi dữ liệu theo thời gian thực về cơ quan này để giám sát có chấp hành các điều luật quy định về phát thải không.    NTPC, cơ quan phụ trách vấn đề điện năng của Ấn Độ Meanwhile, lên kế hoạch từ tháng 10 hằng năm sẽ đốt các phụ phẩm nông nghiệp cùng với than trong các nhà máy gần Delhi và cuối cùng là khắp nước. Giải pháp đồng đốt (cofiring) có thể đem lại lợi ích kép như tránh ô nhiễm từ trực tiếp đốt rơm rạ và cắt giảm phát thải thủy ngân và sulfur ở nhà máy điện than, Sharma nói.    Vùng thủ đô và các bang khác đang hướng tới cung cấp một số giải pháp cho nông dân, ví dụ bang Haryana đang cung cấp một thiết bị mang tên Happy Seeder để chuyển đổi phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ. Vào tháng 11/2018, Ikea, nhà thiết kế nội thất Thụy Điển, loan báo kế hoạch mua phụ phẩm từ nông dân để làm nguyên liệu chế tạo các vật dụng.     Mới cắt giảm một phần ô nhiễm     Chính quyền đang tiến những bước tích cực khác để cải thiện chất lượng không khí nhưng những gì đạt được vẫn còn rất nhỏ. Theo TERI, phần lớn các giải pháp kết hợp mới chỉ cắt giảm một nửa lượng bụi ô nhiễm ở Delhi. Việc đưa các phụ phẩm nông nghiệp thành những sản phẩm có giá trị có thể cắt giảm nồng độ PM2.5 về mùa đông xuống 12%. Việc cung cấp nguồn điện ổn định hơn tránh nông dân phải dùng máy phát điện chạy bằng diesel và việc nấu bằng gas thay thế củi đun nấu cũng cắt giảm mức độ phát thải xuống 13,7%. Việc bắt buộc ngành công nghiệp phải áp dụng các tiêu chuẩn phát thải và sử dụng thêm  xe buýt điện dẫn đến cắt giảm khác là 10,5%.      Lễ khởi hành chuyến xe buýt điện đầu tiên của Delhi vào cuối năm 2018. Nguồn: urbantransportnews.com    Nhưng rào cản lớn nhất trong lộ trình kiểm soát phát thải của họ là sự thiếu hoàn thiện của các quy định hiện hành, Mukerjee của Trung tâm Khoa học và Môi trường nhận xét. “Có nhiều chính sách và quy định sẵn có không ăn khớp với nhau”. Việc cấm pháo hoa không thể bắt buộc người dân ngừng đốt nhân dịp lễ hội như mong đợi. Các trung tâm kiểm tra phát thải xe cộ thì nổi tiếng với việc cung cấp các giấy chứng nhận gian lận. Các công ty xây dựng không giảm thiểu bụi theo yêu cầu như che chắn hoặc phun nước lên các vật liệu xây dựng trong lưu trữ và vận chuyển.    Việc đốt không kiểm soát tại các khu chứa rác thải là kết quả của việc phớt lờ chính sách. Các bãi rác thải ở Delhi mặc dù đã bị đóng cửa một cách chính thức từ năm 2009 bởi chúng đã quá tải nhưng vẫn còn khoảng 80% trong số 10.000 tấn rác thải phát sinh mỗi ngày vẫn còn được đổ vào các điểm đó, Mukerjee nói. Sự tích lũy khí methane từ rác thải hữu cơ dưới các khu chứa rác dẫn đến khả năng bùng phát một cách tự động các đám cháy có thể kéo dài vài ngày bởi chúng rất khó bị dập tắt.    Một vấn đề phức tạp khác ở nơi này chính là chính trị. Delhi, một thành phố tồn tại rất nhiều bộ máy chính quyền, cấp quốc gia, bang và thành phố, tất cả đều có những mối quan tâm và quyền hạn khác nhau. Cơ quan kiểm soát ô nhiễm bang thì thiếu kinh phí và nhân lực. “Không có người để thực thi cách tiếp cận cấp vùng để kiểm soát ô nhiễm,” Mukerjee nhận xét. Trừ phi các hành động đều phải do Delhi và các bang lân cận cùng thực hiện, nếu không thì chẳng thể suy suyển được gì. “Không khí không biết đến bất cứ biên giới chính trị nào.”    Tuy vậy thì việc chính trị hóa vấn đề ô nhiễm cũng khiến các chuyên gia hi vọng. “Mọi người đang phải chịu đựng, họ sẽ nhận thức đưc thêm nhiều điều và sẽ buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm về tình trạng ô nhiễm”, Dahiya nói. “Các quan chức sẽ buộc phải hành động. . . Nếu họ không làm gì, thì những hứa hẹn sẽ phản tác dụng”. Những việc làm tăng nhận thức của công chúng về các mức ô nhiễm, tác động của nó lên sức khỏe cũng như việc hướng dẫn các bước chống ô nhiễm cũng có ích, ông cho biết.    Sharma thì chỉ ra những giải pháp đơn giản hơn nhưng lại có tác động lớn trong tương lai gần: quản lý chất thải một cách phù hợp để tránh việc làm vương vãi chúng và dẫn đến việc phải đốt rác, gìn giữ những con đường trải nhựa để tránh xe cộ làm tung bụi lên, kiểm soát bụi do xây dựng, quảng bá việc sử dụng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo. Các giải pháp đó phải được triển khai một cách hài hòa với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và cải thiện việc thực thi chúng. “Tình trạng này không đến mức vô vọng,” Sharma nói. “Các mô hình đều chứng tỏ một cách rõ ràng là anh có thể đạt được các tiêu chuẩn về chất lượng không khí ở Delhi . . . nếu như anh đặt công nghệ đúng và sự quản lý đúng vào đúng chỗ.”□     Tô Vân dịch  Nguồn: https://cen.acs.org/environment/pollution/Searching-solutions-Delhis-air-pollution/97/i7  Dưới áp lực của công chúng và những bằng chứng khoa học, các quan chức chính phủ phải bắt đầu hành động, một trong số đó là giảm thiểu phát thải từ xe cộ và phát thải của các nhà máy điện. Chính quyền Delhi đã loan báo các kế hoạch trong khuôn khổ Chương trình hành động Phản hồi theo cấp độ (GRAP) để làm sạch hơn và xanh hơn lĩnh vực giao thông với việc đưa 1.000 xe buýt chạy điện vào đoàn xe buýt gồm 5.500 chiếc, phấn đấu đạt mục tiêu 25% xe cá nhân chạy điện vào năm 2023.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đến hẹn lại lên: Mỗi thập kỷ một giải Nobel cho neutrino      Thêm một lần nữa, neutrino lại được mời đến nhận vinh quang tại Stockholm như một thông lệ. Kể từ cuối thập kỷ 1980 đến nay, mỗi thập kỷ đều có một giải Nobel vật lý dành cho chủ đề neutrino.    Cha đẻ của hạt neutrino, Wolfgang Pauli, cũng từng được giải Nobel nhưng lại cho một chủ đề khác: nguyên lý loại trừ. Do đặc tính nổi bật của neutrino là tương tác rất yếu với vật chất, nên chúng rất khó để phát hiện. Đa số neutrino năng lượng thấp sinh ra từ Mặt trời bay xuyên qua Trái đất mà không hề bị tác động, đều đặn có bốn mươi tỉ neutrino bay qua một cm2 mỗi giây! Điều này dẫn tới một nghịch lý, đó là, người ta nhận biết về sự hiện hữu của neutrino chính từ sự vắng mặt của nó trong các sản phẩm tương tác có neutrino tham gia: thiếu một cái gì đó để đảm bảo định luật bảo toàn năng lượng. Đây chính là trường hợp xảy ra với phân rã beta, hiện tượng từng được coi là một bí ẩn hồi thập niên 1930. Trong khi Niels Bohr cho rằng đây là trường hợp ở đó định luật bảo toàn năng lượng bị vi phạm nhưng Pauli lại nhìn nhận theo một cách khác, ông cho rằng, thực chất năng lượng mất đó được mang đi bởi một loại hạt trung hòa không thể nhận biết được, mà ông gọi là neutron. Ngày nay, chúng ta dùng cái tên neutron để chỉ loại hạt được James Chadwick tìm ra vào năm 1932, năm 1934 Enrico Fermi đã mô tả được đầy đủ quá trình phân rã beta. Đến lúc đó, Pauli đã thuyết phục được giới khoa học về sự tồn tại của loại hạt mà ông đề xướng, kể từ đấy người ta gọi nó là neutrino, nghĩa là neutron nhỏ theo tiếng Ý.    Qua nhiều năm, các hạt neutrino, cũng như các hạt phản neutrino, vẫn tiếp tục được phát hiện nhờ sự vắng mặt của chúng, ví dụ trong các máy gia tốc năng lượng cao như Máy Gia tốc Hạt lớn (LHC) ở Geneva. Đặc biệt, chúng cung cấp dấu hiệu thuận tiện cho việc ghi nhận các hạt W±, hạt boson yếu mang điện có khối lượng lớn, thường phân rã tức thời thành một hạt lepton tích điện, ví dụ như electron, và một hạt neutrino năng lượng cao – dẫn tới sự thiếu hụt lớn trên bảng cân bằng năng lượng. Song song với những thí nghiệm như vậy, các nhà khoa học còn tìm cách “bắt giặc tại trận” bằng cách xây dựng các hệ ghi đo lớn để cho phép neutrino đi qua một lượng vật chất đủ lớn trên quỹ đạo bay của nó, để rồi một tỉ lệ nhỏ trong số chúng sẽ tham gia tương tác.    Năm 1956, Clyde Cowan và Frederick Reines đã lần đầu tiên tiến hành thành công thí nghiệm loại này, sử dụng một lò phản ứng hạt nhân làm nguồn tạo ra các hạt phản neutrino, có thông lượng hơn 1013 hạt/giây.cm2. Họ đã phát hiện các phản neutrino từ tương tác của chúng với proton, tạo ra một positron và một neutron. Điều này tương tự như hiện tượng phân rã beta của neutron mà kết quả thu được là một proton, một electron, và một phản neutrino. Vì vậy, phản ứng này còn được gọi là phân rã beta ngược. Các proton có trong các phân tử nước chứa trong hai bể, mỗi bể có dung tích 200 lít, với cadmium chloride được hòa tan trong đó. Positron được xác định từ tín hiệu trùng phùng được ghi nhận trong các bộ đếm nhấp nháy lỏng của hai tia gamma có năng lượng 511 keV sinh ra do sự hủy cặp khi positron gặp một electron. Neutron được nhận biết nhờ tín hiệu của một tia gamma khác được phát ra sau khi neutron bị bắt giữ chậm bởi cadmium. Tín hiệu tổng thể gồm một cặp tia gamma 511 keV nối tiếp bởi một tia gamma khác đến sau đó vài micro-giây được quan sát với tần suất ba lần mỗi giờ và biến mất khi tắt lò phản ứng. Với khám phá này, Frederick Reines được trao giải Nobel năm 1995, nhưng thật đáng tiếc cho Clyde Cowan vì ông đã mất trước đó 21 năm.    Cowan và Reines đã tiến hành một chuỗi các thí nghiệm sử dụng nguồn neutrino là các lò phản ứng hạt nhân năng lượng thấp hay các máy gia tốc năng lượng cao. Các lò phản ứng hạt nhân tạo ra neutrino electron. Các máy gia tốc tạo ra neutrino muon từ phân rã meson nhưng cũng đồng thời cung cấp thêm neutrino electron; khi năng lượng đủ lớn thì cả neutrino tau cũng được tạo ra. Nhằm tăng cơ hội tương tác cho neutrino, hệ đo thường là những buồng bọt chất lỏng nặng chứa đầy freon hoặc propane, hoặc là các chồng đĩa sắt. Hệ đo được gắn với các cảm biến điện tử ghi nhận hạt nhằm tạo ra tín hiệu khi tương tác xảy ra.    Di sản to lớn của những thí nghiệm này là sự định hình nên một lý thuyết hiện đại cho vật lý hạt, gọi là Mô hình Chuẩn (Standard Model). Ở đây chúng ta sẽ không đi quá sâu vào chi tiết mô hình này, tuy nhiên vẫn cần khái lược một số nội dung chủ yếu của nó để có thể hiểu về những thí nghiệm mà giải Nobel Vật lý 2015 tôn vinh.    Chúng ta bắt đầu bằng một phiên bản giản lược của Mô hình Chuẩn với tất cả các hạt cơ bản đều không có khối lượng; việc giản lược như vậy không gây sai lệch quá nhiều, bởi trong thực tế tất cả các hạt cơ bản được biết đều có khối lượng nhỏ hơn 10-17 khối lượng Planck (thang khối lượng duy nhất có trên lý thuyết). Hơn nữa, Mô hình Chuẩn bỏ qua lực hấp dẫn bởi tác động của nó là không đáng kể trong giới hạn độ nhạy hiện nay của các thí nghiệm vật lý hạt. Thực ra, sự không tương thích giữa vật lý lượng tử và thuyết hấp dẫn là một trong hai bí ẩn lớn nhất mà vật lý đương đại chưa thể lý giải (bí ẩn thứ hai về bản chất của năng lượng tối), đòi hỏi phải có một lý thuyết mới để giải thích những bí ẩn này.    Với mô hình giản lược nêu trên, chúng ta có các fermion, là các hạt cấu thành vật chất, tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli bởi chúng có spin bằng một phần hai (1/2). Một trong số các hạt đó là electron. Chúng ta cũng có các boson, có tính chất gần giống với photon, được phép chiếm giữ cùng một trạng thái lượng tử bởi chúng có spin bằng một. Có ba loại boson như vậy, mỗi loại gắn với một loại tương tác: photon gắn với tương tác điện từ, boson yếu gắn với tương tác yếu (như trong phân rã beta), và gluon gắn với tương tác mạnh (thể hiện trong tương tác giữa các hạt nhân nguyên tử). Fermion có hai loại là lepton và quark. Proton và neutron được cấu thành từ các quark. Lepton không tham gia tương tác mạnh, chỉ tham gia tương tác yếu và điện từ. Neutrino là một lepton trung hòa do đó không tham gia tương tác điện từ mà chỉ tham gia tương tác yếu. Cả quark và lepton đều được sắp xếp thành ba cặp (ba họ). Với lepton, đối tượng mà chúng ta quan tâm, các cặp của nó bao gồm một hạt tích điện và một neutrino. Lepton mang điện của cặp nhẹ nhất chính là electron, của cặp tiếp theo là muon, rồi đến tauon. Mỗi neutrino cặp đôi với các lepton mang điện này đều đã được phát hiện bởi các thí nghiệm neutrino, trong đó thí nghiệm trực tiếp phát hiện neutrino muon đã được tôn vinh bằng giải Nobel năm 1988 (trao cho Leon Lederman, Mel Schwartz và Jack Steinberger).    Mô hình Chuẩn mô tả tương tác giữa các hạt như là sự kết đôi giữa các fermion và các boson véc-tơ. Tương tác điện từ là sự kết đôi giữa một photon với một cặp gồm một hạt mang điện cùng phản hạt của nó, ví dụ như một cặp electron và positron, hay nó còn có thể được xem như là quá trình một hạt mang điện phát ra hoặc hấp thụ một photon. Tương tự như vậy, tương tác yếu là sự kết đôi giữa một boson yếu và một cặp lepton. Do boson yếu có khối lượng rất lớn, tương phản với photon không hề có khối lượng, nên tương tác yếu ở mức năng lượng thấp sẽ yếu hơn rất nhiều so với tương tác điện từ. Điều phức tạp đầu tiên ở đây đến từ thực tế là boson yếu W có hai loại có thể mang điện hoặc trung hòa. Vì vậy có bốn loại kết đôi: W–↔e–ν*, W+↔e+ν, W0↔ e–e+ and W0↔ νν* trong đó ký hiệu e– và e+ là electron và positron, ν và ν* là neutrino và phản neutrino, cả hai neutrino và phản neutrino này đều thuộc họ electron. Hai trường hợp đầu là dòng mang điện, hai trường hợp sau là dòng trung hòa. Một khác biệt nữa giữa tương tác điện từ và tương tác yếu là tương tác yếu chỉ có sự tham gia của các lepton quay trái (left-handed) và các phản lepton quay phải, trong đó quay phải nghĩa là có spin cùng chiều với hướng chuyển động của hạt, còn quay trái là có spin ngược hướng với hướng chuyển động. Lưu ý rằng các hạt không có khối lượng chuyển động với tốc độ ánh sáng và không thể đứng yên: vì vậy định nghĩa về chiều quay ở đây là hợp lý.    Có thể thấy tính cá biệt của neutrino thể hiện rõ rệt ở đây: một neutrino không khối lượng quay phải, sẽ không tham gia bất kỳ tương tác nào, người ta gọi nó là neutrino “vô sinh” (sterile neutrino). Vì vậy, đây là một khái niệm trừu tượng, không tồn tại trong thực tế vì không thí nghiệm trực quan nào có thể cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của nó. Bên cạnh đó, từ nhiều năm nay người ta đã thấy rõ rằng nếu neutrino có khối lượng thì khối lượng ấy rất nhỏ, nhỏ một cách “khác thường” như người ta thường nói, và thật khó để xác định mức độ “khác thường” đó tới đâu khi mà ta chưa hiểu tường tận các hạt fermion có được khối lượng như thế nào. Chúng ta chỉ biết rằng điều này liên quan tới sự phá vỡ đối xứng nguyên thủy đã tách photon ra khỏi boson yếu (chúng cùng là một hạt nếu đối xứng này không bị phá vỡ), và nó dẫn tới hàm ý về sự tồn tại một hoặc vài hạt boson có spin bằng 0, được gọi là các hạt boson Higgs.    Phát hiện gần đây nhất về hạt Higgs nhẹ nhất, có lẽ là duy nhất, là bằng chứng tuyệt vời cho lý thuyết phá vỡ đối xứng trên, tuy nhiên cơ chế vận hành của nó đối với các fermion vẫn là điều bí ẩn. Thêm vào việc nhận khối lượng, các fermion còn bị trộn lẫn giữa ba họ: chúng ở các trạng thái lượng tử khác nhau khi di chuyển tự do – các trạng thái riêng theo khối lượng – khi tương tác yếu – các trạng thái riêng theo họ – sự pha trộn này có thể được mô tả bằng bốn góc trộn được gọi là ma trận Cabibbo-Kobayashi-Maskawa (CKM). Còn đối với trường hợp ba cặp quark, khối lượng của chúng lớn hơn nhiều so với lepton, khối lượng của các quark và bốn góc trộn đều đã được đo lường. Câu hỏi đặt ra ở đây là: liệu điều tương tự có xảy ra với lepton hay không? Và liệu chúng ta có thể xác định được ma trận CKM cho lepton hay không?    Liên quan nhiều nhất đến những câu hỏi này là các thí nghiệm nhằm phát hiện neutrino sinh ra từ phản ứng hạt nhân diễn ra trong lõi Mặt trời. Thí nghiệm thứ nhất do Ray Davis thực hiện ở sâu trong mỏ vàng Homestake, được tiến hành liên tục từ cuối thập kỷ 1960 tới giữa thập kỷ 1990. Hệ đo là một bể chứa 400 mét khối tetracloetylen, xuất phát từ ý tưởng rằng một phần nhỏ trong số các neutrino từ Mặt trời khi xuyên qua bể sẽ bị giữ lại bởi nguyên tử Clo và chuyển nó thành một nguyên tử Argon. Khí Argon được thu nhận định kỳ bằng cách bơm những bong bóng Hê-li vào trong bể. Từ những năm đầu của thí nghiệm, người ta đều đặn ghi nhận được chỉ khoảng một phần ba số neutrino đến từ Mặt trời so với kỳ vọng. Trong nhiều năm, giới khoa học nghi ngờ có thể có sai sót nào đó trong phương pháp thí nghiệm, hay trong mô hình lý thuyết về Mặt trời dùng để tính toán thông lượng neutrino. Tuy nhiên, qua thời gian, với những thí nghiệm mới khẳng định kết quả của Davis, cuối cùng người ta đã nhận ra rằng các neutrino đến từ Mặt trời đơn giản là đã biến mất trên đường đi tới Trái đất, thí nghiệm Homestake chính là những quan sát đầu tiên về hiệu ứng dao động neutrino.    Điều xảy ra là, neutrino luôn được tạo ra trong các tương tác yếu ở một trạng thái của một họ xác định, electron, muon, hoặc tau. Tuy nhiên, sự pha trộn CKM hàm ý rằng các trạng thái này thực chất là những chồng chập của các trạng thái có khối lượng khác nhau. Khi neutrino lan truyền tự do, các trạng thái riêng khối lượng này là những sóng phẳng có tần số tỉ lệ với năng lượng của neutrino, và vì vậy chúng khác nhau khi chính khối lượng nghỉ của các neutrino là khác nhau. Điều này tạo ra sự tác động qua lại giữa ba trạng thái riêng khối lượng, dẫn đến sự xuất hiện của họ mới khác với họ ban đầu (nếu thoả mãn định luật bảo toàn năng lượng) và đồng thời dẫn đến sự biến mất dần của họ ban đầu.    Kết quả thí nghiệm của Davis được xác nhận bởi một số thí nghiệm khác, trong đó có các thí nghiệm với những hệ đo lớn tiến hành ở Nhật Bản và Canada. Hệ đo dưới lòng đất đầu tiên của Nhật Bản, có tên là Kamiokande, nhằm phát hiện các phân rã proton. Thí nghiệm không tìm được sự kiện phân rã proton nào nhưng lại xác định được rất nhiều tương tác neutrino Mặt trời từ các neutrino electron và neutrino khí quyển từ các neutrino muon. Neutrino khí quyển đến từ các mưa rào hạt xảy ra trong khí quyển tạo ra bởi các proton vũ trụ khi chúng tương tác với khí quyển Trái đất; mưa rào hạt chứa rất nhiều meson pion phân rã thành muon và neutrino muon. Bên cạnh đó, một may mắn đến với Kamiokande khi trong thời gian hoạt động có một vụ nổ siêu sao lớn xảy ra vào năm 1987, Kamiokande đã ghi nhận được sự bùng phát neutrino từ vụ nổ siêu sao này. Masatoshi Koshiba, cha đẻ của Kamiokande, đã cùng Ray Davis chia sẻ giải Nobel năm 2002.    Khi đã rõ rằng có thể quan sát hiệu ứng dao động neutrino, người ta đã thiết kế và triển khai một thí nghiệm mới, gọi là Super-Kamiokande; các chữ “nde” ở trong tên thí nghiệm bây giờ không còn có nghĩa là thí nghiệm “phân rã hạt nhân” (nucleon decay), mà có nghĩa là thí nghiệm “phát hiện neutrino” (neutrino detection). Thí nghiệm được đặt ở độ sâu 1 km dưới lòng đất là một hệ đo Cherenkov. Thực tế nó là một bể nước hình trụ khổng lồ có chiều cao và đường kính khoảng 40 m, tín hiệu được ghi nhận bởi hơn mười ba nghìn ống nhân quang điện lớn, lớp bên ngoài được tách sáng hoàn toàn với phần bên trong. Super-Kamiokande đã ghi nhận những kết quả đáng kể về các neutrino Mặt trời, cụ thể là xác định được sự tán xạ đàn hồi neutron-electron, cho phép hồi chiếu về Mặt trời với độ chính xác tuyệt hảo; cung cấp bằng chứng về dao động neutrino muon từ bất đối xứng trên-dưới (thông lượng đi từ trên xuống so với thông lượng đi xuyên qua Trái đất từ dưới lên). Những kết quả này đã được xác nhận bằng việc ghi nhận neutrino muon từ một nguồn neutrino cách hệ đo 300 km.    Hệ đo của Canada, Đài quan sát Neutrino Sudbury (SNO), cũng là một hệ đo Cherenkov nước đặt dưới lòng đất ở độ sâu 2 km nhưng có quy mô nhỏ hơn so với Super-Kamiokande. Hệ đo có dạng hình cầu, chứa hàng nghìn tấn nước nặng. SNO, được vận hành trong sáu năm đầu của thế kỷ 21, ghi nhận các tương tác của neutrino Mặt trời với deuteron theo hai cơ chế khác nhau, dòng trung hòa và dòng mang điện. Nó cũng ghi nhận các sự kiện tán xạ đàn hồi neutrino-electron, nhưng với số lượng ít hơn nhiều so với Super-Kamiokande. Trong khi dữ liệu về neutrino muon ở Super-Kamiokande chủ yếu cho phép nghiên cứu dao động neutrino muon và neutrino tauon, dữ liệu từ SNO chủ yếu về dao động neutrino electron và neutrino muon. Cùng với nhau, chúng cung cấp bằng chứng cho thấy một cách rõ ràng rằng neutrino có khối lượng. Nhờ những thành tựu đáng ghi nhận này, Takaaki Kajita với thí nghiệm Super-Kamiokande và Arthur McDonald với thí nghiệm SNO đã được trao giải Nobel Vật lý năm 2015.    Tổng quan tình hình những thí nghiệm neutrino đang diễn ra đã được Guido Altarelli (arXiv:1404.3859v1 [hep.ph] 15 Apr 2014) tóm lược một cách đầy đủ. Người ta có thể cho rằng quan điểm về neutrino là những đối tượng đặc biệt đòi hỏi lý thuyết vật lý mới, vượt ra ngoài phạm vi của Mô hình Chuẩn, đang mất dần tính thuyết phục khi mà neutrino được biết là có khối lượng, tương tự như với các lepton mang điện và quark. Điều ngược lại mới đúng: rất khó để lý giải sự khác biệt của khối lượng đo được và những góc trộn giữa ba họ neutrino. Quan điểm về neutrino Majorana, với phản neutrino và neutrino được xem là cùng một hạt – khác với quan điểm neutrino Dirac của Mô hình Chuẩn, có sự khác biệt giữa neutrino và phản neutrino – đang ngày càng trở nên phổ biến hơn. Ngay cả khi người ta vẫn thất bại trong việc tìm kiếm phân rã beta kép không có neutrino, là quá trình cung cấp bằng chứng trực tiếp về neutrino Majorana. Bên cạnh đó, một câu hỏi thách thức khác cũng đang được đặt ra là: “mật độ” của neutrino, được tính bằng cách dùng bước sóng Compton để đo kích cỡ của nó, lại đúng bằng mật độ của Vũ trụ, được chi phối chủ yếu bởi năng lượng tối và hằng số vũ trụ: liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên?    Như vậy, neutrino sẽ vẫn là đề tài cuốn hút chúng ta trong nhiều năm tới, thông lệ mỗi thập kỷ một giải Nobel dành cho nó chắc sẽ còn tiếp tục, và chưa thể biết khi nào mới dừng lại.    Thanh Xuân dịch  Phạm Ngọc Điệp và Phạm Tuyết Nhung hiệu đính    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Đến năm 2050, người máy sẽ nhiều hơn người thật      Cuộc sống ngày càng tự động hoá nhiều hơn. Nhưng mọi tiến bộ đều có giá của nó.     Robot là gì? Trả lời câu hỏi này không phải dễ, theo ông Carl Bass, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn phần mềm Mỹ Autodesk. Bởi vì cái hôm nay được gọi là robot thì có thể sau vài năm chỉ là một cỗ máy hoàn toàn thông thường.      Tại hội nghị thường niên South by Southwest mới đây ở Austin, Texas, ông Bas cho rằng “người ta gọi những thứ trước khi chúng thực sự hoạt động được là Robot”. Nói như vậy có nghĩa là người ta có thể định nghĩa máy hút bụi là Robot trước khi nó trở thành một vật dụng hằng ngày.     Trong bài diễn thuyết của Bass, thính giả hứng thú theo dõi phiên bản Robot “R2-D2” trong phim “Chiến tranh giữa các vì sao” diễu hành trong phòng hội nghị. Sự quan tâm của công chúng đối với Robot gần đây đã một lần nữa đặc biệt được khuấy khi tập đoàn Google cho ra đời một bộ phận về công nghệ robot. Để làm việc này, Google đã mua đến nửa tá doanh nghiệp Robot về với mình, và phụ trách bộ phận mới này là Andy Rubin, người trước đây đã thành công với hệ điều hành điện thoại thông minh Android.      Robot phẫu thuật và vẽ tranh     “Điều gì cản trở Robot, và chúng ta có cần cản trở chúng hay không?”, Bass đặt vấn đề ở Austin. Ông chủ của Autodesk tin chắc rằng Robot sẽ phát triển nhanh chóng và thâm nhập ngày càng nhiều vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. “Đến năm 2050, Robot và máy thông minh sẽ nhiều hơn con người trên thế giới.”      Bên cạnh các lĩnh vực như lắp ráp ô tô, Robot sẽ mở rộng mạnh mẽ lĩnh vực hoạt động của mình. Hiện nay, Robot có thể tiến hành phẫu thuật cho người bệnh hay vẽ lại các bức tranh. Ông Bass cho rằng, với nhiều loại công việc, Robot còn thích hợp là con người. Ngay cả ở những loại công việc vốn được coi là truyền thống do con người đảm nhiệm, thí dụ chăm sóc người già, thì Robot cũng có những lợi thế. “Robot có khả năng lắng nghe và dễ dàng chấp nhận những biểu hiện khó chịu thường thấy ở người già.”     Bass cũng cho rằng, Robot lái ô tô tốt hơn – nói như vậy không có nghĩa là có thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ bị tai nạn. Ông mô tả điều này bằng ví dụ trang bìa một báo lá cải in dòng chữ đậm nét “Ô tô của Google cán chết một gia đình gồm bốn người”, ám chỉ loại xe ô tô tự hành của tập đoàn Google. Ông Bass tiên đoán, “Tin giật gân này một ngày nào đó sẽ thành sự thật,” nhưng mối tiềm ẩn này không là gì so với số người bị chết vì tai nạn giao thông mà lỗi thường là do con người gây ra như hiện nay. Trên thế giới mỗi năm có khoảng trên một triệu người chết vì tai nạn giao thông.     Mặc dù ông Bass đứng về phía “những người lạc quan về công nghệ”, nhưng ông cũng thừa nhận tiến bộ trong công nghệ Robot có cái giá của nó. Thí dụ, tự động hoá trong sản xuất làm mất biết bao việc làm, thể hiện rõ nhất qua số lao động giảm đi rõ rệt trong những lĩnh vực chế biến công nghiệp từng diễn ra giữa thế kỷ trước.      Tuy nhiên ông Bass không tiếc nuối những chỗ làm bị mất. “Đó là những công việc rất nhàm chán, đơn điệu, có khi bẩn thỉu và nguy hiểm – những loại công việc mà không phụ huynh nào muốn con em họ phải đảm nhiệm.” Thay vào đó, theo ông, có thể hình thành những loại công việc đầy sức sáng tạo, tuy nhiên, ngay cả ông Bass cũng thừa nhận, những loại công việc đó cần ít lao động hơn rõ rệt. Tiến bộ kỹ thuật không đi song song với phát triển việc làm. Để làm rõ điều này, Bass so sánh ngành công nghiệp chế tạo ô tô và Silicon Valley. Ba doanh nghiệp Google, Apple và Facebook, đều đóng đô ở trung tâm công nghệ này của California, tạo ra doanh thu gần bằng doanh thu của ba tập đoàn ô tô khổng lồ của Mỹ là General Motors, Ford và Chrysler những năm 1990. Nhưng các tập đoàn công nghệ có số lượng lao động chỉ bằng một phần mười so với số nhân công làm trong ngành sản xuất ô tô.       Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi chiến khu      LTS: Tia Sáng giới thiệu với bạn đọc một kỷ niệm về cuộc gặp mặt đầu tiên của cố giáo sư Đào Văn Tiến với cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào ngày 22/8/1945, tức là chỉ ba ngày sau sự kiện Cách mạng Tháng Tám lịch sử ở Hà Nội.      Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm giáo sư Đào Văn Tiến ở Phòng Bảo tàng động vật của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (19 Lê Thánh Tông) trong năm 1979. Đđằng sau là các giáo sư Ngụy Như Kon Tum và Nguyễn Đình Tứ… Nguồn: Tư liệu  Tháng 8 năm 1945, cuộc đảo chính ở Hà Nội đã được hai hôm. Trong thời gian đó, ủy ban cách mạng đóng ở Bắc bộ phủ, có vẻ chưa chuẩn bị xong bộ máy quản lý Chính phủ về các mặt, không xử lý hết các việc do nhân dân nội thành đề xuất lúc bấy giờ. Nhân dân cử người này, người kia tới Đông dương học xá, trụ sở của Tổng hội sinh viên, hỏi chủ trương này, chỉ thị nọ – họ cho Tổng hội cũng là một cấp chính quyền gi đó. Anh Lê Văn Giang, ủy viên đối ngoại của Tổng hội, nhiều lúc cũng phải lắc đầu vì quá mệt. Giáo sư Trần Văn Khang, tổng thư ký khu học xá, cho mời tôi lên, nhờ chuyển bức thư của Khu học xá, có chữ ký của giám đốc Ngụy Như Kontum, mang đề nghị của Tổng hội lên chiến khu Thái Nguyên để báo cáo tình hình khẩn cấp ở Hà Nội. Lúc đó, tôi có một anh bạn là Lưu Công Hạt, người Thái Nguyên, đang công tác tại Hà Nội. Tôi dẫn anh Lưu tới gặp giáo sư Trần, anh cho biết qua là anh Văn (tức Võ Nguyên Giáp) đang chỉ đạo trận đánh lô cốt của Nhật ở trong thị xã, anh có thể dẫn tôi tới gặp anh Văn. Giáo sư Trần mừng quá, bố trí xe ô tô của khu, giao cho tôi khẩu súng lục để phòng thân và bức thư.  Sáng ngày 22/8, chúng tôi lên đường, cùng đi có các anh Nghiêm Xuân Yêm và Quản Xuân Nam. Tới Phủ Lỗ, cách Hà Nội khoảng 28km, nước lên quá to, gần ngập đường quốc lộ. Mặt nước mênh mông, ngồi lên xe, mà chúng tôi có cảm giác đang bình bồng trên cái phà nhỏ, nhận thấy rõ ràng, con người còn quá bất lực trước thiên nhiên.  Không có phà. Xe phải chuyển sang đường đi Bắc Ninh. Dọc đường thỉnh thoảng gặp các trạm gác của chính quyền cách mạng địa phương kiểm soát giấy tờ. Và trên đường nhỏ xa xa có dòng người biểu tình tuần hành sau ngọn cờ đỏ sao vàng, đố đây văn vẳng tiếng ca bài “Diệt phát xít” hay “Tiến quân ca”.  Trên đường nghỉ chân, chờ phà, ngồi trên bãi cỏ, tôi rút súng ra – đây là lần đầu tôi được biết súng ngắn – tìm hiểu và cho là anh Lưu đã có chiến đấu, nên giao súng cho anh giữ. Ngờ đâu, chú lái xe cùng tò mò mượn súng xem. Anh Lưu vừa giao, định dặn dò thì nghe “pằng”, một tiếng nổi xé tai: anh này đã táy máy bóp cò súng. Chúng tôi sờ năn tứ chi xem có chỗ nào bị thương không, vô sự.  Ngủ tại Lũ Yên, cách Thái Nguyên khoảng 30km và sáng tới thị xã vào lúc khoảng 8 giờ. Anh Lưu dẫn chúng tôi tới bản doanh của anh Văn – đóng ở trụ sở Ca-dát cũ. Tôi gặp anh Hồng Kỳ, thư ký của ban tác chiến. Anh Hồng, học sinh cũ của Hà Nội, người mảnh khảnh, mặc bộ quần áo chàm rộng tay, cài khuy vải như người Tày. Tôi viết mảnh giấy này kèm thư giới thiệu yêu cầu gặp anh Văn nhờ anh Hồng chuyển. Sau vài phút, anh Hồng dẫn tôi vào phòng trong. Anh Văn đã ngồi sẵn ở cái bàn mộc nhỏ cũ – lần đầu tiên, tôi biết mặt anh – Anh người thấp, trán rộng, tóc chải lật, mắt sắc, miệng tươi, mặc áo vét tông tôpican cũ, cổ sơ mi bẻ ngoài ve áo.  Anh hỏi tỉ mỉ chuyện Hà Nội tuần vừa qua, nhất là từ lúc chiếm Bắc bộ phủ. Tôi trình bày cặn kẽ tình hình phố phường, tình trạng lúng túng của ủy ban cách mạng ở Hà Nội trong khi tiếp xúc dân, tình hình Tổng hội sinh viên, làm nhiều việc không đúng chức năng, anh hỏi thêm: “Anh Dương Đức Hiền vẫn là chủ tịch Tổng hội, anh Phan Mĩ vẫn là ủy viên chấp hành chứ?”. Tôi gật đầu. Anh tiếp: “Anh Phan lên chiến khu chậm hơn các anh em khác, nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận vào hàng ngũ” và anh kể tên, ngoài anh Dương, một số người sau này là ủy viên chấp hành của đảng Dân chủ: Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục… Vừa nói chuyện anh vừa ghi chép vào sổ, tôi có cảm giác anh viết cái gì khác với nội dung câu chuyện. Cũng có linh tính về cảm giác của tôi, anh xin lỗi: “Ấy tôi phải tập làm hai việc một lúc, vừa trao đổi với anh, vừa ghi một số việc sẽ làm khi tới Hà Nội, anh đừng để ý”, và anh hẹn 8 giờ sáng mai lên đường về Thủ đô.  Chiều hôm đó, anh Lưu dẫn tôi đi thăm mấy khu phố còn tiếp diễn chiến sự. Quân Nhật chia thành tổ nhỏ, tự vệ phân tán trong vài nhà ở khu phố, quân ta nấp ở ngoài bắn tỉa vào trong. Địch thỉnh thoảng vứt lựu đạn ra ngoài đường. Tình hình chiến đấu của quân Nhật, có vẻ cầm chừng. Anh Lưu nói: “Ta đã vận động cho chúng yên tâm ra hàng và được đối xử tử tế. Chúng rất sợ là bị giết nếu bị bắt” – và anh thêm: “Ngày mai là cùng sẽ chấm dứt tiếng súng, đúng ngày anh Văn về Hà Nội”.  Sáng hôm sau, chúng tôi tới trụ sở, ở đây tôi thấy thêm các anh Lê Văn Chánh, bác sĩ và Vũ Công Thuyết dược sĩ… Hóa ra đã có nhiều trí thức đã lên chiến khu từ trước.  Chúng tôi đi xe của khu học xá. Đoàn anh Văn gồm các anh Phan Tử Nghĩa, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Việt Dũng, Lê Văn Chánh… đi xe của ủy ban Thái Nguyên. Chúng tôi nghỉ ở Thị Cầu và đêm đi đò qua sông Đuống – xe phải để lại. Đi bộ tới Phù Đổng, chúng tôi nghỉ ăn cơm trưa ở ủy ban cách mạng địa phương – Sau đó, các anh có xe của ủy ban Hà Nội sang đón.  Lúc chia tay, anh Văn dặn tôi và anh Lưu “Dăm bữa nửa tháng, các anh tới gặp tôi”. Sau đấy một tuần, tôi thấy chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân và anh Văn giữ chức Bộ trưởng Nội vụ. Ít hôm sau đó, chúng tôi tới gặp anh ở Bắc Bộ phủ (nhà khách chính phủ bấy giờ). Nhẹ nhàng trong bộ tôpican mới, anh tươi cười hỏi anh Lưu về nguyện vọng công tác. Anh Lưu trả lời xin về Thái Nguyên. Với tôi, anh đề nghị nếu thích ở bộ đội, anh sẽ giới thiệu sang làm chính trị viên ở chi đội quân giải phóng (lúc đó anh Quang Trung làm chi đội trưởng), tôi nói “Trước cách mạng, tôi đã công tác ở trường đại học, anh cho tôi trở lại giáo dục như cũ”. Nghĩ một lúc, anh gật đầu “Tôi sẽ giới thiệu anh với anh Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng giáo dục của chính phủ lâm thời”. Dường như tôi có duyên với bộ đội nên ở trường đại học được ít lâu, sau toàn quốc kháng chiến, từ ngày mồng một tháng Giêng năm 1947, tôi lại có mặt trong quân ngũ.        Author                Đào Văn Tiến        
__label__tiasang Di sản gene của tòa án dị giáo Tây Ban Nha      Khi người Tây Ban Nha đàn áp người Do Thái và xây dựng đế chế của mình ở bên kia bờ Đại Tây Dương, có những người Do Thái cải đạo đã bí mật vượt biển đến định cư ở Tân Thế giới. Dấu vết của họ nay được chứng minh bằng nghiên cứu mới về ADN.      Dấu vết của những người Do thái cải đạo ở Tân thế giới đã được chứng minh bằng DN. Nguồn: Theatlantic.  Cùng năm với chuyến hải hành của Columbus tìm kiếm châu Mỹ, người Do Thái ở Tây Ban Nha bước vào ngã rẽ lịch sử. Năm 1492, triều đình Tây Ban Nha ra sắc lệnh Alhambra buộc người Do Thái khắp vương quốc phải chấp nhận cải đạo thành người Công giáo hoặc phải bị trục xuất hay sát hại. Khoảng 200.000 người Do Thái cải đạo trong những năm tiếp sau được biết đến với danh xưng conversos – và nhiều người trong số đó đã di cư sang các thuộc địa Tây Ban Nha ở Tân Thế giới.  Nhưng dấu vết của truyền thống Do Thái vẫn hiện hữu khắp Mỹ Latinh. Đâu đó có những người kiêng thịt lợn, thắp nến mỗi tối thứ Sáu và có tục phủ kín gương soi khi để tang người thân. Trong tháng 12 này, một nghiên cứu đăng trên Nature đã thực hiện khảo sát ADN của hàng ngàn người Mỹ Latinh cho thấy quy mô của tổ tiên Do Thái Tây Ban Nha (Do Thái Sephardic) lớn hơn so với các suy đoán trước đây và rõ nét hơn so với cư dân sống tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay. Theo đồng tác giả của nghiên cứu, nhà di truyền học Juan-Camilo Chacón-Duque từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở London: “Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi tìm thấy kết quả đó”.  Nghiên cứu này là một trong những khảo sát di truyền toàn diện nhất từng thực hiện về người Mỹ Latinh. Nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy sự pha trộn của nguồn gốc Mỹ bản địa, châu Âu, châu Phi cận Sahara và Đông Á ở nhiều mẫu mà thu thập, chứng minh cho hệ quả của quá khứ thực dân, con đường buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương, và các làn sóng nhập cư gần đây từ châu Á. Chúng thể hiện lịch sử của Mỹ Latinh được AND khắc họa.  Bằng chứng ADN cũng giúp làm sáng tỏ lịch sử của conversos ở châu Mỹ. Triều đình Tây Ban Nha khi đó ngăn cấm những người cải đạo hoặc con cháu cận huyết của họ đi đến các thuộc địa, khiến các conversos phải bí mật di cư bằng giấy tờ giả mạo. Theo GS. David Graizbord từ ĐH Arizona, điều này liên quan đến yếu tố kỳ thị chủng tộc: “Lẽ hiển nhiên là các conversos không muốn bị nhận diện. Không ai muốn công khai mình là người Do Thái và không phải là một người Cơ đốc chân chính.” Những conversos muốn tìm đến các chức vụ cao trong Giáo hội hay quân đội thường phải giả mạo lý lịch gia tộc của mình.  Hồ sơ di truyền từ nghiên cứu giờ chứng tỏ rằng conversos hoặc những người có tổ tiên là conversos, đã di cư đến châu Mỹ với số lượng không tương xứng. Các thuộc địa ở Tân Thế giới được họ coi như một cơ hội để trốn lánh các cuộc đàn áp tôn giáo ở chính quốc. Nhưng kể cả vậy, cánh tay của Toà án dị giáo Tây Ban Nha cũng với tới cả các thuộc địa – có những trường hợp người tham dự các nghi lễ Do thái giáo ở Mêhicô đã bị kết án thiêu sống trên giàn lửa.  Để tái dựng hồ sơ di truyền, Chacón-Duque và các cộng sự đã lấy mẫu ADN của tập mẫu 6.500 người từ khắp Brazil, Chile, Colombia, Mexico và Peru, so sánh với ADN của 2.300 người ở phần còn lại thế giới. Theo đó, gần ¼ số người Mỹ Latinh chia sẻ 5% hoặc nhiều hơn gốc di truyền với người sống ở Bắc Phi và đông Địa Trung Hải, trong đó bao gồm cả người Do Thái Sephardic. Dù kết quả ADN không thể chứng minh tuyệt đối rằng gốc di truyền này đến từ các conversos, nhưng chúng ăn khớp với tư liệu sử học. Sự phân bố tản mát với tỷ lệ thấp của dân cư có gốc Bắc Phi và Đông Địa Trung Hải cho thấy nguồn của nó đã diễn ra từ trước hàng thế kỷ, từ giai đoạn đầu của các thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ. Điều này đối lập về đặc điểm với các làn sóng nhập cư gần đây hơn vào Mỹ Latinh từ Ý và Đức vào cuối thế kỷ 19, tạo nên phân bố gene khá tập trung của tương đối ít người trên một khu vực địa lý hẹp.  Các nhà di truyền học cũng đã nhận thấy các bệnh di truyền hiếm gặp vốn thường xuất hiện ở người gốc Do Thái ở Mỹ Latinh. “Không chỉ là một bệnh đâu, nên đây không thể chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên”, theo nhà di truyền học Harry Ostrer từ Trường Y Albert Einstein. Trước đó vào năm 2011, Ostrer và các đồng nghiệp đã quyết định nghiên cứu hai quần thể dân cư – một ở Ecuador, hai tại Colorado – Mỹ – và phát hiện tỷ lệ cao bất thường của hai loại đột biến thường thấy ở người Do Thái. (Một đột biến là gen ung thư vú BRCA1, và một đột biến khác gây ra một dạng bệnh lùn gọi là hội chứng Laron.) Kết quả, họ cũng đã tìm thấy liên hệ mạnh mẽ với gốc Do Thái Sephardic ở 53 người được nghiên cứu. Tiến bộ mới trong công nghệ ADN giúp Chacón-Duque và cộng sự có thể lặp lại nghiên cứu tương tự nhưng trên quy mô lớn hàng nghìn người.  Giả thuyết về những người Do Thái bí mật tìm đến Tân Thế giới từ lâu đã trở thành một dạng truyền thuyết dã sử. Một số câu chuyện đã trở thành thuyết âm mưu được ưa chuộng, như các tin đồn rằng Christopher Columbus thực ra là người Do Thái đang bí mật tìm nơi ẩn náu cho đồng bào mình. Giả thuyết này từng bị phủ nhận, với một số quan điểm cho rằng các truyền thống mang hơi hướm “Do Thái” ở Mỹ Latinh (cụ thể như bang New Mexico, Mỹ trong một bài báo xuất bản trên The Atlantic hồi năm 2000) thực ra đến từ các tín ngưỡng dân gian và phong trào Hội thánh Chúa trời ngày thứ bảy (CoG7, ra đời từ năm 1863). Bằng chứng ADN sẽ giúp chứng minh các conversos chính là một trong những tổ tiên của người dân Mỹ Latinh và người Mỹ Tây Nam ngày nay, dù câu hỏi vẫn bỏ ngỏ với việc làm thế nào để tiếp thu di sản đó.  Theo GS. Graizbord, hầu hết các conversos đã bị đồng hóa từ thế kỷ 17 và do đó mất đi mọi liên hệ với nguồn gốc truyền thống Do Thái. Như hiện tại, một số hậu duệ của họ đang lên tiếng để tìm lại bản sắc đã mất. Nhiều người đã cân nhắc tham gia các hội người gốc Do Thái, hay thậm chí đã cải đạo sang Do Thái giáo. Đơn cử như Alexandria Ocasio-Cortez, dân biểu New York mới đắc cử gốc Puerto Rico, mới đây tiết lộ trong một sự kiện mừng lễ Hanukkah rằng cô có tổ tiên là người Do Thái Sephardic.  Ngay cả trước khi Chacón-Duque tham gia nghiên cứu, anh cũng đã gửi ADN của chính mình dưới tư cách là người tham gia. Anh, cũng như hàng ngàn người tình nguyện khác, vốn luôn cảm thấy tò mò về nguồn gốc tổ tiên của chính mình. Lớn lên ở miền Tây bắc Colombia, anh đã nghe những câu chuyện về người Do Thái hay từ phong tục địa phương trong lễ hội là giết lợn và ăn thịt lợn công khai để chứng minh mình không phải là người Do Thái. Những câu chuyện này hay những câu chuyện khác truyền lại qua gia đình anh, giờ đây đã được giải đáp.  Tuấn Quang dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2018/12/dna-reveals-the-hidden-jewish-ancestry-of-latin-americans/578509/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm bằng chứng về nhiễm độc DDT      Kiên trì theo đuổi những nghiên cứu về DDT, PCB trong nhiều năm liền, các nhà khoa học thế giới đã nỗ lực tìm bằng chứng thuyết phục để có thể thay đổi nhận thức của con người về rủi ro có thể mắc phải từ phơi nhiễm nhiều hóa chất độc hại. Bất chấp nguy cơ thất bại trong nghiên cứu cũng như áp lực từ các công ty sản xuất hóa chất, niềm tin vào khoa học và ước mong một thế giới an toàn hơn cho con người đã đưa họ đến thành công.      Nhiều quốc gia đã cấm sử dụng chất DDT sau nhiều lo ngại về ảnh hưởng của nó đến môi trường. Nguồn: Nature.  Những tác hại của thuốc trừ sâu DDT – từng được Tổ chức Y tế thế giới sử dụng làm thuốc diệt muỗi để loại trừ bệnh sốt rét ở châu Phi, châu Á, hay PCB, hóa chất  thường được dùng trong các vật liệu và thiết bị điện tử đến môi trường đã được biết đến từ lâu. Sau khi được phun để diệt côn trùng có hại, do có độ bền vững và độc tính cao nên sau hàng thập kỷ, DDT vẫn còn tồn tại trong đất và nước, tích lũy trong động thực vật và tàn phá chúng, còn PCB có xu hướng tích lũy ở nồng độ cao trong cá, động vật thủy sinh.  Do đó, vào năm 2001, Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Persistent Organic Pollutants POPs) được thông qua để loại bỏ hoặc hạn chế sản xuất và sử dụng các chất POPs, trong đó có DDT, PCB.  Kiên trì 54 năm tìm bằng chứng    Năm 1972, Mỹ đã cấm sử dụng DDT vì những ảnh hưởng tới môi trường sau những tác động của “Mùa xuân im lặng” của tác giả Rachel Carson – tuy vấp phải phản đối của các công ty hóa chất nhưng cuốn sách xuất bản năm 1962 này đã thuyết phục được người Mỹ quan tâm đến môi trường và dẫn đến sự thay đổi trong chính sách sử dụng thuốc trừ sâu của Chính phủ Mỹ. Vào thời điểm đó, chưa ai rõ là liệu việc phơi nhiễm loại hóa chất này có dẫn đến khả năng bệnh tật của con người hay không. Do đó, nhiều nhà khoa học đã truy tìm mối liên hệ này với các vấn đề như sức khỏe sinh sản, dị tật bẩm sinh và khả năng sảy thai của phụ nữ. Tới những năm 1990, bắt đầu có những bằng chứng đầu tiên về khả năng ảnh hưởng tới gan và hệ thần kinh của DDT, theo công bố của Matthew Longnecker (Viện Các khoa học sức khỏe môi trường quốc gia Mỹ). Năm 2011, ông có thêm công bố trên The Lancet về khả năng sinh non hoặc sinh con nhẹ cân của phụ nữ bị phơi nhiễm DDT và có lượng DDT trong máu cao suốt thời kỳ mang thai. Trong công bố của mình, ông cũng thừa nhận là chưa có đủ bằng chứng về khả năng gây ung thư của DDT.      Tuy không tìm thấy mối tương quan giữa bệnh tự kỷ và phơi nhiễm PCB nhưng họ nhận thấy, các bà mẹ có nồng độ DDT cao trong máu có khả năng sinh con tự kỷ cao hơn 32% và tự kỷ kèm theo khuyết tật trí tuệ cũng cao gấp đôi so với những phụ nữ có mức DDT thấp.      Bắt đầu có bằng chứng trong tay nhưng ngần ấy vẫn còn chưa đủ để thuyết phục các nhà hoạch định chính sách cân nhắc việc cấm vĩnh viễn thuốc trừ sâu như DDT. Tờ New Scientist nhận xét, nguyên nhân của sự chậm chễ này là do thuốc trừ sâu thì rẻ và có hiệu lực cao với các loại muỗi lan truyền bệnh sốt rét. Tháng 12/2000, DDT “thoát” khỏi danh sách các chất POPs bị cấm lưu hành nhờ cuộc vận động hành lang của nhiều quốc gia khi nêu lý do DDT cần thiết cho các chương trình phòng chống bệnh sốt rét của họ. Phải đến năm 2004, khi Công ước Stockholm có hiệu lực với sự tham gia của 151 quốc gia, tán thành loại bỏ 9/12 hóa chất đề xuất, và chỉ dùng DDT để kiểm soát bệnh sốt rét.  Dù chưa có bằng chứng trực tiếp nhưng Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ đã đưa DDT vào danh sách “có thể gây ung thư”. Với những giới hạn về phương pháp và thiết bị nghiên cứu thời đó, việc tìm ra những số liệu thuyết phục thực sự là một thách thức. Gần ba chục nghiên cứu về DDT, đã được công bố, trong đó nhiều nghiên cứu tập trung vào nguy cơ ung thư vú đối với phụ nữ nhưng mới dừng ở giả thuyết. Trong số các nhà nghiên cứu, Barbara A. Cohn – giám đốc Bộ phận nghiên cứu phát triển sức khỏe nhi khoa tại Viện nghiên cứu y tế công cộng tại Berkeley, California quyết đi tìm bằng chứng. Trong một nghiên cứu công bố năm 2007, bà cho biết, đã tìm thấy DDT ảnh hưởng đến ung thư vú đối với phụ nữ bị phơi nhiễm trước tuổi 14. Dẫu vậy, dữ liệu phân tích của bà không đưa ra được bất kỳ mối liên hệ nào giữa DDT và sự phơi nhiễm của những người phụ nữ trong giai đoạn sau của cuộc đời. Nhiều năm sau bà và đồng nghiệp vẫn thất bại. Thậm chí năm 2014, công bố khác của nhóm tác giả tại Viện nghiên cứu Đánh giá an toàn Thuốc và thực phẩm quốc gia Hàn Quốc phân tích trên diện rộng dữ liệu từ năm 2004, gồm 35 nghiên cứu nhỏ, vẫn chưa thể tìm ra mối liên hệ đáng kể nào giữa trường hợp bị nhiễm DDT và nguy cơ ung thư vú.  Vậy có thể tiếp tục nghiên cứu nữa hay không? Với nhạy cảm của một nhà khoa học giàu kinh nghiệm, Barbara A. Cohn đã thúc đẩy cộng sự của mình tiếp tục bám theo hướng nghiên cứu mà bà cho là khả thi: tìm mối liên hệ giữa người phụ nữ bị phơi nhiễm DDT trong thời kỳ mang thai và nguy cơ ung thư vú của con gái họ. Bà và cộng sự truy dấu kết quả của một nghiên cứu trong quá khứ do Quỹ Y tế Kaiser thực hiện từ năm 1959 đến 1967. Trong suốt thời gian đó, DDT được sử dụng rộng rãi, gây nhiễm cho bò, dê và do đó, có mặt trong các sản phẩm được làm từ sữa như bơ, pho mát…, thậm chí còn có trong giấy dán tường. Bằng việc sử dụng hồ sơ sức khỏe liên bang và điều tra về các cô con gái của họ – những người hiện đang ở độ tuổi 40, 50, các nhà nghiên cứu đã có khả năng chọn ra những mẫu hình phát triển bệnh ung thư vú: nồng độ DDT cao trong máu của người mẹ có liên quan đến nguy cơ ung thư vú gấp bốn lần của con gái và độc lập với tiền sử bệnh ung thư vú của người mẹ.  Sau công bố trên Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, Barbara A. Cohn, cho biết nghiên cứu thực hiện trong 54 năm này là “nghiên cứu đầu tiên đã cung cấp bằng chứng trực tiếp cho thấy những phơi nhiễm hóa chất của phụ nữ mang thai có thể để lại hậu quả suốt đời cho con gái của họ với nguy cơ ung thư vú”.  Tìm thêm những bằng chứng mới  Thành công của Barbara A. Cohn đã đem lại niềm tin và sự khuyến khích các nhà khoa học khác tiếp tục truy tìm bằng chứng ảnh hưởng của DDT với các loại bệnh tật khác. Đó là trường hợp của nhóm các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Columbia (Mỹ), những người mới phát hiện ra mối liên hệ giữa việc phơi nhiễm thuốc trừ sâu DDT, PCB trong thời kỳ mang thai và sự nguy hiểm ở mức cao của bệnh tự kỷ của trẻ. Họ xuất bản công trình trên tạp chí American Journal of Pychiatry vào đầu tháng 8/2018.  Từng có nghi ngờ các hóa chất này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển não và nhận thức từ nhỏ nhưng phần lớn các nghiên cứu chưa có các mức độ đo đạc trực tiếp hóa chất trong máu của phụ nữ mang thai trong suốt thai kỳ. Để có được phán đoán tốt nhất về bằng chứng phơi nhiễm trực tiếp, Alan Brown– nhà tâm thần học và miễn dịch học tại trường Đại học Columbia ở New York đã mở lại một cơ sở dữ liệu sinh học tại Phần Lan, vốn đầy đủ các mẫu máu huyết thanh được thu thập và lưu trữ được lấy từ những người phụ nữ mang thai kể từ năm 1983. Họ đã so sánh hồ sơ sức khỏe của những đứa trẻ với một nghiên cứu thuần tập được thực hiện trên cơ sở các mẫu huyết thanh được thu thập từ hơn 1 triệu phụ nữ sinh từ năm 1987 đến 2005 và tìm thấy khoảng 1300 đứa trẻ bị mắc bệnh tự kỷ và so sánh 778 em trong số đó – và mẹ chúng – vói 778 cặp mẹ con không mắc bệnh, mỗi cặp đều có sự tương đồng về nơi sinh, ngày sinh, giới tính và nơi sống.    Một người bước dưới những cái ô hồng trên trung tâm thủ đô Sofia, Bulgaria, vào tháng 10/2012. Màn nghệ thuật sắp đặt này là một phần trong chiến dịch nâng cao nhận thức về bệnh ung thư vú. Nguồn: Reuters/Stoyan Nenov.  Tuy không tìm thấy mối tương quan giữa bệnh tự kỷ và phơi nhiễm PCB nhưng họ nhận thấy, các bà mẹ có nồng độ DDT cao trong máu có khả năng sinh con tự kỷ cao hơn 32% và tự kỷ kèm theo khuyết tật trí tuệ cũng cao gấp đôi so với những phụ nữ có mức DDT thấp.  Bruce Lanphear, một nhà dịch tễ học tại trường Đại học Simon Fraser ở Burnaby, Canada, nhận xét về kết quả nghiên cứu: dù ở góc độ nào thì mối tương quan giữa phơi nhiễm hóa chất với bệnh tự kỷ và nhiều loại đột biến di truyền cũng hết sức rõ rệt. Quan trọng hơn, với các nhà nghiên cứu như ông, “chúng tôi đã học được nhiều bài học quan trọng từ các loại nghiên cứu quan sát như vậy. Chúng ta cần những nghiên cứu như thế này vì nó có khả năng dẫn đến những tác động vô cùng lớn trong y tế”.  Barbara A. Cohn, Matthew Longnecker, Alan Brown và hàng trăm nghìn nhà nghiên cứu trong lĩnh vực hóa môi trường đều tin rằng, các hóa chất mà chúng ta đang dùng ngày nay rất có thể sẽ là những mầm bệnh tương lai và nhiệm vụ của họ là tìm bằng chứng để chứng minh được điều đó. Tuy nhiên họ vẫn thận trọng. “Nghiên cứu của chúng tôi không nhằm làm thay đổi nhận thức về lợi ích mà các hóa chất mang lại cho con người”, bà hàm ý đến khả năng diệt trừ muỗi – tác nhân gây bệnh sốt rét ở châu Phi, “chúng tôi chỉ hi vọng những nhà hoạch định chính sách sẽ dùng những thông tin chúng tôi cung cấp để tiếp tục cân nhắc về việc có nên sử dụng DDT trên toàn thế giới hay không”.  Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính, trên toàn cầu cứ 160 trẻ thì có 1 em mắc chứng tự kỷ. Bất cứ trường hợp tự kỷ nào cũng có nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề di truyền hay những phơi nhiễm môi trường khác. Rất có thể, một ngày nào đó, các nhà nghiên cứu sẽ còn phát hiện ra những hiểm họa khác của DDT.  Jonathan Chevrier, nhà dịch tễ học tại Đại học McGill ở Montreal, Canada, hiện đang theo dõi hơn 700 trẻ em ở Nam Phi – nơi DDT vẫn được sử dụng – để tìm hiểu về cơ chế ảnh hưởng đến não của thuốc trừ sâu với nghi ngờ liệu mức độ nhiễm DDT có liên quan đến khuyết tật trí tuệ ở trẻ em không mắc bệnh tự kỷ hay không. Đây là một câu hỏi quan trọng, ông nói, vì hiện DDT đang tồn tại trong môi trường, ngay cả ở những nơi đã cấm sử dụng nó. “Tại thời điểm này, về cơ bản toàn bộ hành tinh bị ô nhiễm DDT”, ông nhận xét.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:    https://www.annualreviews.org/doi/10.1146/annurev.publhealth.18.1.211 https://www.newscientist.com/article/dn1012-ddt-finally-linked-to-human-health-problems/  https://www.washingtonpost.com/news/to-your-health/wp/2015/06/16/ddts-breast-cancer-legacy-pregnant-mothers-exposure-linked-to-four-fold-increase-in-daughters-risk/?noredirect=on&utm_term=.892c7f8e47cc  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4064641/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm Lãm Sơn Tự?      Chúng ta có thể bắt đầu nghiên cứu về một di tích kiến trúc Phật giáo, một chứng nhân lịch sử cách cả nghìn năm chỉ từ bốn dòng sử liệu?      TS Trịnh Hoàng Hiệp giải thích về kiến trúc của chùa Dạm cho cố Giáo sư Phan Huy Lê tại công trường khai quật. Nguồn ảnh: Trịnh Hoàng Hiệp.  Sử liệu cho ta biết điều gì?     Không ẩn sâu giữa chốn rừng già như khu di tích Angkor (Campuchia), cũng không quá xa xôi với phố xá thị thành như Yên Tử nhưng lại có một công trình kiến trúc Phật giáo hoàng gia quan trọng bậc nhất thời Lý, chỉ cách Hà Nội hơn 30km nhưng hầu như không được mấy người biết tới. “Cho tới trước năm 2009, gần như không ai biết chùa Dạm là gì cả”, TS Nguyễn Văn Đáp, trưởng phòng Quản lý di sản, sở VHTT&DL Bắc Ninh ngậm ngùi kể lại…    Chùa Dạm mà TS Nguyễn Văn Đáp nhắc đến ở đây còn có một cái tên dân gian khác là chùa Bà Tấm (tên chữ là Đại Lãm Thần Quang tự, hay còn gọi là Lãm Sơn, xã Nam Sơn, Quế Võ, Bắc Ninh). Xây dựng trong giai đoạn thịnh vượng và oai hùng phá Tống, bình Nam dưới thời Vua Lý Nhân Tông, ngôi chùa này trải qua nhiều lần tu bổ và trở thành chứng nhân suốt nhiều triều đại trong lịch sử – từ Trần, Lê đến Nguyễn. Thế vận xoay vần, số phận khiến chùa Dạm thêm một lần nếm trải binh đao rồi tiêu thổ kháng chiến. Trong thời bình, dân làng chỉ dựng lại được một tòa tam bảo thờ Phật và một mái đền thờ Bà Tấm, những diện tích còn lại trong khuôn viên ngôi chùa trước kia thì trồng khoai sắn. Vậy là khung cảnh đã thoắt hoang vu như rừng rậm, chỉ còn thấp thoáng những vách thẳng đứng được ốp những khối đá vuông và duy nhất một phế tích cột đá chạm trổ rồng đặc trưng của thời Lý (được công nhận bảo vật quốc gia) đã vỡ một số chi tiết, thậm chí còn không có mái che nắng mưa. Khi đó có lẽ, ngoại trừ các bậc cao niên trong làng, không ai còn ký ức về một ngôi chùa từng được vua Trần Nhân Tông khen tặng “Mười hai lâu đài khoe tranh vẽ/ Ba ngàn thế giới lọt mắt thơ1.    Dĩ nhiên giới sử học cũng biết về chùa Dạm nhưng không may là những gì họ có trong tay chỉ vỏn vẹn bốn dòng trong Đại Việt sử ký toàn thư: năm 1086, vua Lý Nhân Tông “Làm chùa ở núi Đại Lãm”; vào tháng 10 năm sau đích thân vua ngự đến chùa Lãm Sơn, đêm ban yến cho các quan, vua thân làm hai bài thơ Lãm Sơn dạ yến; đến tháng 4/1094 “tháp chùa Lãm Sơn xây xong” (lúc này chùa có tên “Cảnh Long Đồng Khánh”); và tháng 9/1105, làm “ba ngọn tháp chỏm đá ở chùa Lãm Sơn”. Dưới thời Trần, vua Trần Nhân Tông đã làm bài thơ Đại Lãm Thần Quang tự và các nhà nghiên cứu cho rằng khi làm bài thơ này, vua đã đến thăm chùa và có thể tên chùa “Cảnh Long Đồng Khánh tự” đã được đổi thành “Thần Quang” vì tránh húy từ “Cảnh” trong tên của vua Trần Cảnh.      Hình song long hiến châu trên cột đá chùa Dạm. Ảnh: Trần Trọng Dương     Cẩn trọng để phát hiện tổng thể     Việc chùa Dạm không được nhiều người biết tới có phải là do thiếu may mắn? Dường như là vậy nhưng thật ra trong rủi có may: nhờ vậy nó đã thoát khỏi việc “được” phục dựng, đại tu một cách chóng vánh như chùa Phật Tích – chỉ cách Dạm vài km, mất hàng loạt hiện vật tinh xảo quý giá do vội vã xây mới mà không khai quật khảo cổ học. Chùa Dạm tránh được vết xe đổ ấy bởi sự đồng thuận của các nhà khoa học ở Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) với các nhà quản lý văn hóa ở Sở VHTT&DL Bắc Ninh, đồng tình cùng xác định “nếu chưa làm thì cứ để từ từ, còn đã làm gì thì phải tổng thể”, TS Nguyễn Văn Đáp kể lại.      Cột đá chùa Dạm là một phế tích kiến trúc còn sót lại có kết cấu đồng dạng với kiến trúc Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu (chùa Một Cột). Cái nhìn tổng thể về kiến trúc tôn giáo này sẽ cung cấp thêm căn cứ cho nhận định khó có thể đặt duy nhất một kiến trúc Linga của Hindu giáo trong một không gian đặc trưng của Phật giáo.      Trước khi khai quật chùa Dạm, đối với các nhà chuyên môn, mọi cuộc bàn luận, mọi sự chú ý về nơi này hầu hết chỉ xoay quanh phần nổi là cột đá, phế tích duy nhất còn sót lại trên mặt đất của chùa Dạm. Một bên là những nhà khoa học ủng hộ là giả thuyết đây là Linga (sinh thực khí nam), mang dấu ấn của nghệ thuật vùng Nam Á với ảnh hưởng gián tiếp từ văn hóa Ấn Độ thông qua nghệ thuật Champa. Luồng quan điểm còn lại cho rằng đó có thể là phần chân cột của một kiểu kiến trúc Phật giáo với một kết cấu để thờ phụng ở trên.    Dù trong các nhận định trên, có cả quan điểm theo giả thiết Linga của người thầy được coi là tứ trụ ngành sử là cố GS Trần Quốc Vượng nhưng TS Lê Đình Phụng, Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), người phụ trách đoàn khai quật đợt đầu tiên vào năm 2009, cho biết ông không chịu ảnh hưởng của bên nào cả. “Tôi nghiên cứu văn hóa Champa 40 năm nhưng chưa bao giờ dám đưa ý kiến đó là Linga cả… tất cả vẫn chỉ là giả định”. Ông cho rằng, “quan trọng nhất, để hiểu được kiến trúc, quan điểm của người xưa khi xây dựng cột đá này thì phải hiểu được ‘tâm lý kiến trúc’”, nghĩa là phải hình dung được tổng thể không gian này. Một cuộc khai quật lớn sẽ giúp các nhà nghiên cứu hình dung được quan điểm, triết lý của tổng công trình sư khi bắt đầu thiết kế ngôi chùa này.    Trước khi khai quật, các nhà khoa học lựa chọn đào thám sát hai hố, mỗi hố 20m2 và phát hiện thấy một số hiện vật thờ cúng, vật liệu trang trí kiến trúc và cả đồ dùng sinh hoạt có niên đại trải dài từ thời Lý đến thời Lê. Nhờ đó, Sở VHTT&DL Bắc Ninh mới dám mạnh dạn đề xuất phương án khai quật tổng thể. Đây là một quyết định rất lớn với Bắc Ninh vì cần tới 9 tỉ đồng đầu tư, lần đầu tiên có một cuộc khai quật thời Lý tổng thể 6000m2 như vậy ở tỉnh. Cùng thời điểm đó, chỉ có Hoàng thành Thăng Long là được khai quật tổng thể với quy mô lớn.      Đồ án cửu sơn bát hải tại chùa Dạm. Ảnh: Trần Trọng Dương.   Đợt khai quật trên diện tích 300m2 do TS Lê Đình Phụng dẫn đầu phát hiện “nền gạch, những chân tảng đá lớn có trang trí cánh hoa sen, hệ thống lát nền” bắt đầu hé lộ dấu vết đầu tiên của ngôi chùa rộng tới mức “mở cửa chùa từ sáng tới tối, đóng cửa chùa từ tối đến sáng” như dân gian mô tả từ thời Lê. Bốn tầng nền của chùa là bốn mặt bằng được san bạt thẳng vào nền núi đá Dạm, mỗi tầng đều được kè bằng những khối đá vuông lớn, khả năng được thực hiện từ thời Lý chứ không phải Lê, “vì nếu không kè thì những công trình kiến trúc lớn này không thể bền vững được suốt từ thời Lý đến đến thời Lê, tức là vào khoảng 500 năm”, theo nhận xét của TS Lê Đình Phụng. Về niên đại của di tích, “từ motif cánh sen (đặc trưng của thời Lý) ở chân tảng, chúng tôi xác định đó là vật liệu xây dựng từ thời Lý”. Về quy mô công trình, “chúng tôi căn cứ vào kích thước chân tảng, khoảng cách giữa các chân tảng, hàng loạt trụ xử lý bằng sỏi để chịu lực công trình kiến trúc để hình dung được từng bước lòng, độ sâu của lòng kiến trúc, bước gian rộng bao nhiêu”. Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy tính liên tục của chùa Dạm: có dấu vết đường gạch thời Trần, nền móng kiến trúc thời Lê và thời Nguyễn.    Mặc dù có sự thay đổi cả về người chủ trì khai quật lẫn người lãnh đạo ngành văn hóa Bắc Ninh nhưng quan điểm về việc khai quật và bảo tồn một cách tổng thể, cẩn trọng vẫn được giữ nguyên. Khi TS Lê Đình Phụng nghỉ vào năm 2011, PGS. TS Tống Trung Tín, nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ, và đồng sự chủ trì tiếp tục khai quật tổng thể, đã làm phát lộ toàn bộ kiến trúc chùa hoàng gia kiêm hành cung có mặt bằng quy mô, cấu trúc khác lạ, kỹ thuật xây dựng cầu kỳ công phu, trang trí tinh xảo vào bậc nhất so với tất cả các ngôi chùa ở Việt Nam đã biết. Kết quả khảo cổ học cho thấy quy hoạch tổng thể của ngôi chùa này có kiến trúc cổng mái ở cấp nền thứ nhất. Tầng hai có hai tháp (một tháp có cột đá chùa Dạm và một chân tháp hình vuông nằm đối diện). Tầng 3 có dấu tích móng của một tháp đất nung. Còn trung tâm của chùa có lẽ là một tòa điện nằm ở tầng bốn với một mặt bằng kiến trúc có quy mô rất lớn, các bước gian lớn tương đương với các bước gian ở Hoàng Thành Thăng Long.    Tuy những phát hiện ở chùa Dạm đã có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu những điểm quan trọng, nhất là cái nhìn về mặt bằng kiến trúc, vật liệu và mỹ thuật thời Lý nhưng thực ra đây chỉ là khởi đầu cho một chuỗi những nghiên cứu mới với hàng loạt câu hỏi và tranh luận không dứt.      Mặt bằng của tầng thứ tư, nơi đặt chính điện, nhìn từ phía Đông. Nguồn: Trịnh Hoàng Hiệp.  Khởi đầu cho những nghiên cứu tiếp theo     Trong suốt thời gian khai quật, cột đá chùa Dạm vẫn tiếp tục là tâm điểm của một cuộc tranh luận chưa ngã ngũ kéo dài trước đó 40 năm. Đến năm 2011, 2012, NNC Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng, kiến trúc một cột chùa Dạm có khả năng là một “Nhiên đăng đài” (đài thắp đèn), sau khi công bố những bản vẽ kỹ thuật đầu điên về trụ đá vài năm trước đó còn NNC Trần Thị Kim Anh nhận định là một Phật tràng. Sau khi TS Trần Trọng Dương đưa ra những kiến giải mới về kiến trúc một cột chùa Diên Hựu, các nhà nghiên cứu trên đều đồng thuận: cột đá chùa Dạm là một phế tích kiến trúc còn sót lại có kết cấu đồng dạng với kiến trúc Liên Hoa Đài chùa Diên Hựu (chùa Một Cột). Cái nhìn tổng thể về kiến trúc tôn giáo này sẽ cung cấp thêm căn cứ cho nhận định khó có thể đặt duy nhất một kiến trúc Linga của Hindu giáo trong một không gian đặc trưng của Phật giáo, không chỉ của chùa Dạm mà của hàng loạt các ngôi chùa cùng thời, “dựng ngôi chùa cũng như dựng lại một cõi niết bàn, phật giới”.    Cũng như cuộc tranh cãi chưa thật sự ngã ngũ về cột đá, những thông tin chi tiết trên nhiều khía cạnh để hình dung ra một chùa Dạm trong không gian kiến trúc, văn hóa của nó cũng như bối cảnh chung của thời đại vẫn còn là những dấu hỏi lớn cần sự vào cuộc của các nhà nghiên cứu đa ngành. “Hình thái kiến trúc của chùa là gì?”, PGS Tống Trung Tín nêu, “Cột như thế nào, kèo ra sao, ngói lợp như thế nào? ống nước đi như thế nào, trang trí ở khung nhà như thế nào. Trang trí ở trên gạch, mái ngói như thế nào? Hình dáng tháp như thế nào? Tam quan như thế nào? Các di tích có tính liên kết, kết nối với nhau [về mặt hình thái học] như thế nào?” tức là “cả ngàn câu hỏi chưa trả lời được”.      Hình ảnh phục dựng kiến trúc cột đá chùa Dạm của Đào Xuân Ngọc, 3DArt số hóa.   Như thế có lẽ, một ngành khảo cổ không thể đơn độc tìm kiếm, không thể tự xác quyết được điều gì ở một di tích mà tầm vóc và độ phức tạp của nó còn chưa được hình dung hết. Ví dụ, sử ghi ngôi chùa Dạm có ba tháp nhưng đến nay các nhà khoa học chỉ có thể khẳng định hai móng tháp và phế tích tháp bị đổ xuống ở tầng thứ 2 và tầng thứ 3. Có những phần kiến trúc tưởng chừng rõ rành rành nhưng các nhà khoa học không thể xác quyết thực sự chức năng của nó là gì như trường hợp tầng thứ tư, vốn được cho là không gian của một tòa điện chính rất lớn. “Đặc điểm riêng biệt đáng quan tâm của kiến trúc này là hai lối bậc lên chính ở vị trí phía Đông, Tây và một lối bậc lên ở phía Bắc. Nếu mặt bằng này dựng trên đó là tòa Phật điện thì lối bậc lên thường phải có ở bốn hướng hoặc là hướng chính Nam. Do đó, hiện nay chúng tôi chưa rõ kiến trúc lớn ở tầng bốn ở chùa Dạm để thờ tự hay sinh hoạt cung đình hoặc có sự lồng ghép chung hai chức năng này?”, Đào Xuân Ngọc, người tham gia khai quật từ khởi đầu đến khi kết thúc, giải thích.      Mong muốn số hóa chùa Dạm và có thể làm bảo tàng ảo thu hút khách tham quan có lẽ không vượt quá khả năng của Bắc Ninh.      Những điều bí ẩn vì thế vẫn còn nguyên vẹn sau 10 năm khai quật. Tất cả những điều mà các nhà khảo cổ đưa ra vẫn cứ là giả thiết, dù rằng họ đã có trong tay những gợi mở đầu tiên từ hiện vật. Làm thế nào để kiểm chứng nó? Hiện vật cứ nằm ngơ ngác chờ người biết “khảo”, như trường hợp những khối đá xanh vuông vức lèn chặt chồng khít lên nhau giữ kè cho tất cả các tầng. Chúng đến từ đâu? Dự đoán các nhà khảo cổ là đá có thể được lấy gần chùa Dạm nhưng thật kỳ lạ là cho đến nay họ vẫn chưa tìm thấy vết tích của công trường khai thác đá hay bất kỳ công cụ chế tác nào còn lại ở nơi này. Nó khác biệt hoàn toàn với các di sản như thánh địa Mỹ Sơn khu K ở Quảng Nam hay Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa bởi các nhà khoa học tìm thấy công trường chế tác với những phế tích đá còn lại sau quá trình tạo tác.     Phục dựng và bảo tồn     Câu chuyện vẫn còn bỏ ngỏ, dù hố khai quật khảo cổ học đã khép lại, các doanh nghiệp và dân làng đã được phép bạt núi xây dựng chùa ở tầng nền thứ năm với lối đi riêng không ảnh hưởng gì tới khu di tích. Bốn tầng nền vẫn được giữ nguyên hiện trạng dự kiến để xây dựng riêng một khu bảo tồn và đón khách tham quan. TS Nguyễn Văn Đáp – xuất thân là một người nghiên cứu khảo cổ học và làm luận án tiến sĩ trong suốt thời gian khai quật ở Dạm, vẫn mong mỏi Dạm có thể trở thành mô hình điểm trong bảo tồn di sản, dựng thành bảo tàng số. Mong muốn số hóa chùa Dạm và có thể làm bảo tàng ảo thu hút khách tham quan có lẽ không vượt quá khả năng của Bắc Ninh. Tỉnh đã có kế hoạch số hóa di sản trên toàn tỉnh, trước tiên là quét 3D toàn bộ 685 di tích được xếp hạng để có kho lưu trữ dữ liệu, phục vụ mục tiêu làm bảo tàng số. Nhưng tới đây, việc tái dựng và bảo tồn, hoặc làm bảo tàng số cho Dạm như thế nào sẽ “cần phải bàn bạc rất kỹ lưỡng, với rất nhiều chuyên gia, từ khảo cổ học, kiến trúc, nghệ thuật, văn bản học…”, theo TS Nguyễn Văn Đáp.      Bản vẽ mặt bằng tổng thể và sơ đồ các hạng mục kiến trúc ở khu di tích chùa Dạm: 1. Kiến trúc cổng (tầng một); 2. Hệ thống hành lang (kết nối các tòa kiến trúc); 3. Bốn kiến trúc có mặt bằng đồng dạng; 4. Kiến trúc quy mô lớn (tầng bốn); 5. Dấu tích chân tháp (tầng ba); 6. Bệ móng hình vuông (phía Tây, tầng hai); 7. Bệ móng hình tròn đặt cột đá chạm rồng (phía Đông, tầng hai). Nguồn: Đào Xuân Ngọc.  Để tái dựng được mô hình chùa Dạm trên máy tính hay trên thực tế sẽ cần rất nhiều công sức để ghép các mảnh vỡ còn sót lại, đối sánh với các kiến trúc cùng thời, giả định hình thái kiến trúc. Theo cách đó thì công việc khai quật tổng thể và xử lý hiện vật, dù đã cần tới 10 năm, thì vẫn chưa nặng bằng việc tái dựng. Điều này không dễ dàng, vì theo GS.TS Ngô Văn Doanh, nhà nghiên cứu theo chủ thuyết cho cột đá chùa Dạm là một phần của kiến trúc một cột, nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia, khi nhiệm vụ khảo cổ thực hiện tới đâu thì sẽ mời các cơ quan chuyên ngành khác nữa gồm cả các nhà kiến trúc, nghệ thuật và tôn giáo cùng đề xuất phương án tái dựng tới đó. “Nhưng cái khó khăn là ở mình rất thiếu chuyên gia về lĩnh vực phục dựng các công trình kiến trúc tôn giáo cổ này”, ông nói.    Ông cho biết, thế hệ ông và các giáo sư tiền bối có được một số nhà nghiên cứu giàu chuyên môn về phục dựng kiến trúc cổ, nhưng hiện nay đã mất, chỉ còn lại một hai người. Mặc dù ông và các đồng nghiệp trong Hội đồng di sản nhiều lần kiến nghị “Việt Nam cần có một cơ quan phục hồi kiến trúc cổ, nhưng cho đến nay chưa có, còn mấy nhà chuyên môn nằm ở các cơ quan khác nhau và đều không có chức năng này” nên sẽ khó lòng đưa ra các phán quyết chuyên môn về phương án tái dựng kiến trúc nhận được sự đồng thuận của giới nghiên cứu. “Hiện nay chúng ta có Viện Bảo tồn di tích nhưng lại không có chức năng ấy [đưa ra phương án tái dựng như chùa Dạm], mà chỉ sửa chữa các di sản hiện vẫn còn tồn tại không may hư hỏng”, GS Ngô Văn Doanh nói.      Tất cả những điều mà các nhà khảo cổ đưa ra vẫn cứ là giả thiết, dù rằng họ đã có trong tay những gợi mở đầu tiên từ hiện vật. Như trường hợp những khối đá xanh vuông vức lèn chặt chồng khít lên nhau giữ kè cho tất cả các tầng. Chúng đến từ đâu? Dự đoán các nhà khảo cổ là đá có thể được lấy gần chùa Dạm nhưng thật kỳ lạ là cho đến nay họ vẫn chưa tìm thấy vết tích của công trường khai thác đá hay bất kỳ công cụ chế tác nào còn lại ở nơi này.      Trong khi vẫn đang chờ đợi các nhà nghiên cứu liên ngành thảo luận thì anh Đào Xuân Ngọc lặng lẽ ghép từng mảnh vỡ ở chùa Dạm để thử đưa ra một phương án “tái dựng đời sống số” – phác dựng 3D cho cột đá chùa Dạm. Nhưng không dễ mà biến hàng ngàn mảnh vỡ đủ loại chất liệu, từ ngói, gạch, đá, thành từng hình hài hiện vật cụ thể của Dạm. Anh Ngọc cho biết, “muốn tái dựng lại thì phải đo đếm, vẽ từng viên gạch vỡ một, phải để tìm thấy các thông số lặp lại, sự đồng hiện về mặt thị giác” từ đó mới ghép. Ví dụ, để hình dung được đầy đủ hoa văn của cột đá chùa Dạm, anh đã phải vẽ lại hình rồng chạm trổ (từng bên bị vỡ mất mát khá nhiều, anh Ngọc vẽ lại được dựa vào phong cách trang trí đăng đối của thời Lý), sau đó anh đo đạc từng viên đá trong các tầng đá có hoa văn sóng núi dưới chân cột (đã bị xếp lại khác với kết cấu nguyên thủy của cột), tái lập các vị trí đã mất để hình dung đầy đủ về chân cột. Để phác dựng mái ngói của chùa, hình dáng của tháp đất nung, anh phải ghép hàng trăm mảnh gốm vỡ.    Anh Ngọc đã chuyển tất cả những chi tiết mà mình ghép được ở chùa Dạm cho công ty 3D Art xử lý đồ họa. Khoảng 70% hình ảnh của đồ họa 3D mà Ngọc và 3D Art dựng là thực (như hoa văn của cột đá, mái ngói xếp lại…), còn các trang trí ở như bệ đá chạm rồng ở phía ngoài cột đá là lấy từ các di tích khác cùng thời Lý, mô phỏng cấu kiện 6 cạnh của chùa một cột là giả định dựa trên suy luận về kết cấu gỗ. Hình ảnh tái dựng về cấu trúc một cột này giúp người yêu di sản có thể hình dung được một phần nhỏ trong tổng thể di tích chùa Dạm. Nhưng còn việc phục dựng lại tổng thể di tích chùa Dạm, sẽ mất công sức gấp bội lần mà cần tới một nhóm nghiên cứu rất đông đảo cùng hợp sức làm, chứ không một vài cá nhân nào có thể ngồi ghép tái dựng như vậy.□  —-  1 “Đại lãm Thần Quang tự”, Trần Nhân Tông, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, 1989, Thơ văn Lý Trần, KHXH, Hà Nội, 480-481, trích theo TS. Trần Trọng Dương.     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Đi tìm một Đấng tối cao      Thái độ của Phật giáo liên quan đến sự hòa điệu phi thường này như thế nào? Phật giáo có chấp nhận ý niệm có một Đấng Sáng Tạo toàn tri hay là một nguyên lý sáng tạo có khả năng điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách tuyệt vời? Hay Phật giáo cho rằng sự hòa điệu chính xác và tuyệt vời của vũ trụ chẳng qua chỉ là một tình cờ may mắn? Vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo?    1. Sự hòa điệu của vũ trụ.  Ngành vũ trụ học đương đại đã khám phá rằng những điều kiện cho phép đời sống và tri giác xuất hiện trong vũ trụ này có vẻ như được mã hóa trong các phẩm tính của mỗi nguyên tử, tinh tú và thiên hà trong vũ trụ, cũng như có mặt trong tất cả những định luật vật lý chi phối, vận hành chúng. Vũ trụ được xuất hiện trong một hòa điệu lý tưởng như được tạo ra để dành cho một con người quan sát thông minh có khả năng thưởng thức cái cấu trúc và sự hòa điệu này. Cái ý tưởng vừa nêu chính là cơ sở của “nhân bản thuyết” vốn phát xuất từ danh từ “anthropos” có nghĩa là “con người” của Hy Lạp. Về thuyết lý này, có hai nhận xét cần được đặt ra. Thứ nhất, cái định nghĩa mà chúng tôi vừa trình bày chỉ liên hệ đến cái mặt “mạnh” của nhân bản thuyết. Đồng thời cũng còn có một mặt “yếu” cho là không giả định trước bất cứ ý hướng nào trong việc tạo thành thiên nhiên. Nó có vẻ như rất gần với phép lặp thừa – những phẩm tánh của vũ trụ phải được tương xứng với sự có mặt của con người- và đây là điều mà tôi cũng sẽ không bàn thảo đến. Thứ hai, cụm từ “nhân bản thuyết” là không thích đáng bởi vì nó hàm ý rằng nhân loại là mục đích mà vũ trụ được tạo ra. Trong thực tế, những lập luận về nhân bản thuyết có thể được áp dụng cho bất kỳ các loài có tri giác nào ở trong vũ trụ.                     Đâu là cơ sở khoa học của nhân bản thuyết? Cách thế mà vũ trụ của chúng ta được tạo ra dựa vào hai loại dữ kiện: 1) những điều kiện sơ khởi, cụ thể như tổng số khối lượng và năng lượng mà chúng có, độ trương nở ban đầu… và 2) khoảng 15 hằng số vật lý: hằng số trọng lực, hằng số Plank, tốc độ ánh sáng, khối lượng của các hạt cơ bản không phân tách được… Chúng ta có thể đo được trị số của những hằng số này một cách cực kỳ chính xác, tuy nhiên chúng ta không có bất cứ lý thuyết nào để tiên đoán chúng. Bằng cách cấu trúc “những mô hình vũ trụ” với những điều kiện sơ khởi và những hằng số vật lý, những nhà vật lý không gian đã khám phá ra một điều rằng tất cả những yếu tố này phải được phối trí trong một trật tự cực kỳ hòa điệu: chỉ cần một sai biệt cực nhỏ trong những hằng số vật lý và những điều kiện sơ khởi này thì chúng ta hẳn đã không có mặt ở đây để nói về chúng. Cụ thể như, chúng ta hãy xem cái tỷ trọng ban đầu của vật chất trong vũ trụ. Vật chất có một lực kéo phản ứng lại với lực trương giãn của vũ trụ gây ra bởi vụ nổ Big Bang và làm tiết giảm độ trương nở của vũ trụ. Nếu cái tỷ trọng ban đầu này quá cao, vũ trụ sẽ sụp đổ sau một thời gian tương đối ngắn ngủi -một triệu năm, một thế kỷ, hoặc một năm không chừng, tùy theo độ chính xác của tỷ trọng. Với một sinh mệnh ngắn ngủi như thế rất khó cho những tinh tú có thể hoàn tất được sự biến đổi hạt nhân để có thể sản xuất ra những nguyên tố nặng, cụ thể như các-bon vốn cần thiết cho đời sống. Ngược lại, nếu tỷ trọng ban đầu của vật chất quá thấp, sẽ không có đủ trọng lực để những vì sao có thể hình thành. Và không có những vì sao, tức là không có những nguyên tố nặng, và không thể có đời sống! Như vậy, tất cả mọi vật đều được duy trì ở trong một trạng thái quân bình hoàn hảo. Tỷ trọng ban đầu của vũ trụ phải được cố định ở một con số thật chính xác là 10^-60. Sự chính xác tuyệt vời này có thể được đem so sánh với một tay bắn cung thiện nghệ nhắm trúng mục tiêu 1centimet vuông (1cm2) được đặt cách xa 14 tỷ năm ánh sáng, ngay tận đầu bờ vũ trụ mà khả năng ta có thể quan sát được! Mức chính xác của sự hòa điệu biến đổi tùy theo hằng số đặc biệt hay điều kiện ban đầu, thế nhưng trong mỗi trường hợp, chỉ một thay đổi nhỏ cũng đủ làm cho vũ trụ khô cằn, trống vắng sự sống và ý thức.  2. Có một nguyên lý nào chi phối cấu trúc vũ trụ?                     Chúng ta suy nghĩ như thế nào trước một sự hòa điệu tuyệt vời như thế? Với tôi, hình như chúng ta có hai cách thế chọn lựa khác nhau: Có thể xem sự hòa điệu này là hệ quả của một tình cờ may mắn hoặc là một tất yếu (nói theo nhan đề một cuốn sách của nhà sinh vật học Pháp, Jacques Monod, “Ngẫu Nhiên và Tất Yếu,” Alfred A. Knoff, New York, 1971). Nếu xem đây chỉ là một ngẫu nhiên, thì chúng ta phải mặc nhận một số lượng vô hạn những vũ trụ khác bên cạnh vũ trụ của chúng ta cấu thành cái được gọi là “đa vũ trụ”. Mỗi một vũ trụ này sẽ bao gồm một phối hợp của riêng mình với những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi. Tuy nhiên chỉ riêng vũ trụ của chúng ta là được khai sanh ra bởi một tổng hợp hoàn chỉnh để có thể tạo nên sự sống. Tất cả đều là những  kẻ thua cuộc, chỉ có chúng ta là người thắng cuộc, giống như bạn chơi xổ số vô số lần, kết cuộc có ngày bạn cũng sẽ trúng số. Ngược lại, nếu chúng ta bác bỏ giả thiết cho rằng có một cái đa vũ trụ như thế và mặc nhiên công nhận rằng chỉ có một vũ trụ đơn lẻ, cái mà chúng ta đang sống, thế thì chúng ta phải mặc nhận sự hiện hữu của một nguyên lý về sáng tạo đã điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách tốt đẹp.                     Làm thế nào để chọn lựa giữa hai khả năng này? Khoa học không giúp ích được gì cho chúng ta ở đây bởi vì nó cho phép cả hai tình huống đều có thể xảy ra. Nếu xem đây là một tình cờ, có rất nhiều cách được đưa ra để giải thích về sự sáng tạo một đa vũ trụ. Cụ thể như, nghiên cứu chung quanh xác suất miêu tả về thế giới lượng tử, nhà vật lý học Hugh Everett đã đề xuất rằng vũ trụ tách ra thành vô số những cái giống hệt nhau tùy theo những khả năng và chọn lựa được thực hiện. Một vài vũ trụ chỉ khác nhau bởi vị trí của một electron trong một nguyên tử, những cái khác có thể khác biệt căn bản hơn. Những định luật vật lý và hằng số cũng như những điều kiện sơ khởi của chúng có thể không giống nhau. Một giả thuyết khác cho là trong một chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ, đã có một loạt những vụ nổ Big Bang và Big Crunch. Bất cứ lúc nào vũ trụ được tái sanh từ đống tro tàn của mình để bắt đầu lại trong một vụ nổ Big Bang mới, nó lại được khởi đầu  với một tổng hợp mới của những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi. Cũng còn một giả thiết khác nói về sự sáng tạo vũ trụ, đó là lý thuyết do nhà vật lý Andrei Linde và một số người khác đề ra, cho rằng mỗi một trong vô số lượng những đám bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong không gian đã cấu thành vũ trụ. Như thế thì vũ trụ của chúng ta chỉ là một cái bong bóng nhỏ trong một cái siêu vũ trụ được tạo nên bởi vô số những cái bong bóng khác. Ngoại trừ cái của chúng ta, không có cái nào trong số những vũ trụ đó nuôi dưỡng được sự sống bởi vì những hằng số vật lý và những định luật của chúng đã không thích hợp.  3. Không hề có một Đấng Sáng Tạo trong Phật Giáo.  Điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền thống tín ngưỡng lớn trên thế giới là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, ý niệm về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề được đặt ra để lý giải do bởi ý niệm về tánh không và duyên khởi đã được bàn đến trước đây. Phật giáo xem vấn đề “sáng tạo” là không liên quan bởi vì theo họ, thế giới hiện tượng thực sự không được sinh ra, trong cái  ý nghĩa là chúng trải qua tình trạng từ phi hữu trở thành hiện hữu. Chúng có mặt trong một cách thế được gọi là “tục đế” và không hề là một thực tại chân thực. Tục đế hay thực tại quy ước có mặt do sự cảm nghiệm của ta về một thế giới mà chúng ta cho rằng trong đó mọi sự vật hiện hữu một cách khách quan. Phật giáo quan niệm rằng những nhận thức như thế là sai lầm bởi vì thế giới hiện tượng, nhìn một cách rốt ráo không phải là những thực tại khách quan, có nghĩa là chúng không hề là những hiện hữu tự thân. Đây được gọi là “chân đế”. Trong những ý nghĩa này, vấn đề sáng tạo trở thành một vấn nạn giả. Cái vấn nạn về một “nguồn gốc nguyên thủy” chỉ bắt nguồn từ sự xác tín vào thực tại tuyệt đối của thế giới hiện tượng. Cái ý tưởng về sáng tạo chỉ cần thiết khi chúng ta tin là có một thế giới khách quan. Nó tan biến đi khi chúng ta nhận thức rằng thế giới hiện tượng, cho dù là chúng ta có thể thấy chúng rõ ràng, không hề có một hiện hữu độc lập, “khách quan”. Và một khi sự sáng tạo không còn là một vấn đề, ý niệm về Đấng Sáng Tạo cũng không còn là một yêu cầu được đặt ra.                     Tuy nhiên, quan điểm của Phật giáo không hề loại bỏ cái khả năng về một sự hiện bày của thế giới hiện tượng. Một điều hiển nhiên, cái thế giới mà chúng ta nhìn thấy chung quanh mình không phải là phi hữu, tuy nhiên Phật giáo cho rằng nếu chúng ta khảo xét cách thế mà chúng hiện hữu, chúng ta sẽ nhận ra ngay là chúng không thể được xem như bao gồm một loạt những thực thể độc lập, có hiện hữu tự thân riêng biệt. Nhà triết học lớn của Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ hai, Thánh giả Long Thọ, đã nói: “Bản tánh của vạn pháp là duyên khởi; tự nó, vạn pháp không hề có tự tánh”. Như thế sự tiến triển của chúng không phải do tình cờ may mắn mà cũng không phải bởi một sự can dự thiêng liêng nào. Thay vào đó chúng bị chi phối bởi luật nhân quả trong một mối liên hệ duyên khởi và nhân quả hổ tương bao trùm lên tất cả. Bởi vì vạn pháp không hề có thực tại độc lập, chúng không thể nào ‘bắt đầu’ và ‘kết thúc’ một cách thực sự như là những thực thể tách biệt.Và như thế, ý niệm về một sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ thuộc về tục đế chứ không phải chân đế.  Như vậy, quan điểm này phù hợp với nền khoa học vũ trụ đương đại như thế nào? Chúng ta thấy duy chỉ có loại vũ trụ không có khởi điểm và tận cùng là loại vũ trụ tuần hoàn với một loạt những vụ nổ vô tận của Big Bang và Big Crunch ở trong quá khứ và tương lai. Thế nhưng cái trạng huống mà trong đó vũ trụ của chúng ta tự sụp đổ vào một ngày nào đó bởi một Big Crunch có vẻ như không phù hợp với những quan sát đương đại khi cho rằng mật độ khối lượng của những quang chất (0.5% trong tổng số khối lượng và năng lượng tích chứa trong vũ trụ), vật chất tối (29.5%) và năng lượng tối (70%) cộng lại với nhau chỉ là cái tỷ trọng tới hạn. Điều này có nghĩa rằng cái hình học của vũ trụ là một hình học phẳng, tức là nó sẽ trương giãn đến bất tận và độ gia tốc trương giãn này sẽ không đi đến số không sau một khoảng thời gian vô tận ở tương lai. Như thế, với mức độ kiến thức hiện nay có vẻ như chưa chấp nhận được ý niệm về một loại vũ trụ tuần hoàn.  4. Những suối nguồn của ý thức cộng hữu với thế giới vật chất.  Bây giờ trở lại vấn đề nhân bản thuyết. Theo như Phật giáo quan niệm, sự hòa điệu tuyệt vời của vũ trụ đủ để cho ý thức xuất hiện không hề là công trình của một Đấng Tối Cao nào cả, bởi vì nhân vật này không hề hiện hữu. Đây cũng không phải là sản phẩm của một tình cờ may mắn mà những người ủng hộ lý thuyết về một đa vũ trụ đề xuất: chúng ta có mặt và sống ở đây, trong vũ trụ này, chỉ là một ngẫu nhiên đầy may mắn do sự phối hợp chính xác của những hằng số và điều kiện vật lý. Phật giáo cho rằng cái vũ trụ vật chất này và ý thức đã luôn cộng hữu với nhau từ vô thủy. Để cộng hữu, cái thế giới hiện tượng này phải phù hợp một cách hổ tương, và do đó tạo ra sự hòa điệu kỳ diệu. Cái sau sinh khởi bởi vì vật chất và ý thức không thể loại trừ nhau, và bởi vì chúng có mối liên hệ duyên khởi. Quan điểm này phù hợp như thế nào với khoa sinh học thần kinh đương đại? Khoa sinh vật học quả là vẫn đang còn trên một lộ trình dài lâu mới có khả năng lý giải được nguồn gốc của ý thức Tuy nhiên, đại đa số những nhà sinh vật học quan niệm rằng không cần thiết giả định rằng những suối nguồn của ý thức cộng hữu với vật chất, bởi vì theo họ, cái sau có thể xuất hiện từ cái trước, rằng tâm thức có thể sinh khởi từ vật chất. Tâm thức phát sinh một khi mà hệ thống của những tế bào não bộ trong các sinh vật đạt đến ngưỡng cửa của một phức hợp. Trên quan điểm này, ý thức đã xuất hiện, cũng giống như sự sống, từ sự phức hợp của những nguyên tử vô sinh.  Đến đây một câu hỏi được đặt ra: Một khi Phật giáo cho rằng ý thức được phân lìa và vượt qua tình trạng vật lý, phải chăng Phật giáo cũng rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên tâm-thân phân lìa của Descartes, qua đó cho rằng có hai loại thực tại, một của tâm (hay tư tưởng) và một của thế giới vật chất? Câu trả lời là không. Quan điểm của Phật giáo hoàn toàn khác biệt từ căn bản với chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes. Chỉ có một sự khác biệt trên mặt tục đế giữa vật chất và ý thức, bởi vì ở điểm tận cùng, cả hai đều không có một hiện hữu tự thân. Bởi vì Phật giáo bác khước cái thực tại rốt ráo của thế giới hiện tượng, nó đồng thời cũng bác khước luôn cái ý tưởng cho rằng ý thức là độc lập và hiện hữu tự thân.  V. Khoa học và tâm linh: hai cửa sổ mở vào thực tại.  Vừa rồi chúng tôi đã cố gắng chứng tỏ rằng đã có những điểm đồng quy nổi bật giữa quan điểm về thực tại của Phật giáo và nền khoa học đương đại. Ý niệm về “vô thường”, một ý niệm then chốt trong Phật giáo, tương ứng với ý niệm về tiến hóa trong khoa học về vũ trụ, địa chất và sinh vật. Không có gì ở trong thể tĩnh, tất cả đều thay đổi, chuyển động và tiến triển, từ một hạt nguyên tử cực nhỏ cho đến một cấu trúc lớn lao nhất trong vũ trụ. Vũ trụ tự nó cũng đã có một lịch sử. Thuyết tiến hóa của Darwin kết hợp với sự chọn lọc tự nhiên chi phối những đổi thay liên tục trong thế giới sinh vật. Ý niệm về “duyên khởi”, cũng là trọng tâm của giáo lý Phật giáo, cộng hưởng với tính toàn thể, bất khả phân của không gian được hàm chứa trong thí nghiệm EPR về các cấp độ nguyên tử và hạ nguyên tử, cùng với thí nghiệm quả lắc Foucault về các tầng vũ trụ. Ý niệm về “tánh không” của Phật giáo, với sự vắng mặt về sự hiện hữu của một thế giới hiện tượng thường hằng và độc lập, tương đương với tính chất lưỡng tánh của ánh sáng và vật chất trong thế giới lượng tử của khoa học. Bởi vì một photon sẽ là sóng khi ta không quan sát chúng và là hạt khi ta đo lường, thế nên ta có thể nói là nó không có một hiện hữu độc lập, tự thân, sự xuất hiện của nó hoàn toàn tùy thuộc vào người quan sát.  Chúng tôi cũng đã nêu rõ rằng Phật giáo phản bác cái ý niệm về một sự khởi đầu của vũ trụ cũng như về một vị Thượng Đế hay là một nguyên lý sáng tạo có khả năng hòa điệu những phẩm tánh của mình, từ đó tạo điều kiện cho ý thức xuất hiện. Phật giáo cho rằng ý thức cộng hữu với vật chất nhưng không hề bắt nguồn từ vật chất. Bởi vì cả hai đều tương tác và duyên khởi nên không cần thiết phải điều chỉnh thế giới vật chất để phục vụ cho ý thức trong một thể hòa điệu.  Những điểm đồng quy nói trên không có gì là đáng ngạc nhiên bởi vì cả khoa học lẫn Phật giáo đều đã sử dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chân xác để vươn đến chân lý. Bởi vì mục tiêu của cả hai là mô tả thực tại, họ phải gặp nhau ở những mẫu số chung mà không hề loại trừ nhau. Trong khoa học, những phương pháp cơ bản để khám phá sự thật là thí nghiệm và lý thuyết hóa dựa vào phân tích; trong Phật giáo, quán tưởng là phương pháp chính. Cả hai đều là những cánh cửa sổ cho phép ta hé nhìn vào thực tại. Cả hai đều vững vàng trong những phạm trù chuyên biệt của mình và bổ túc lẫn nhau. Khoa học khám phá giùm ta những kiến thức “qui ước”. Mục tiêu của nó là hiểu rõ thế giới hiện tượng. Những áp dụng kỹ thuật của nó có thể gây nên những hệ quả xấu hay tốt đối với đời sống thể chất của con người. Thế nhưng quán tưởng, khi giúp ta nhìn rõ bản tánh chân thật của thực tại, có mục đích cải thiện nội giới để ta có thể hành động nhằm cải thiện đời sống của tất cả mọi người. Những nhà khoa học còn sử dụng đến những thiết bị tối tân hơn để khám phá thiên nhiên. Trái lại trong hình thức tiếp cận bằng quán tưởng, thiết bị duy nhất là tâm. Hành giả quan sát những tư tưởng của mình được đan kết lại cùng nhau như thế nào và dính mắc vào y ra sao. Y khảo sát cái cơ chế vận hành của hạnh phúc và đau khổ để từ đó cố gắng khám phá ra những tiến trình tâm linh nhằm nâng cao sự an bình nội tâm, làm cho cõi lòng mình rộng mở hơn đối với tha nhân để giúp họ cùng phát triển, cũng như từ đó thấy rõ được những tiến trình gây ra những hệ quả độc hại để loại bỏ chúng. Khoa học cung cấp cho ta những dữ kiện, nhưng không mang lại sự tiến bộ tâm linh và chuyển hóa. Trái lại sự tiếp cận tâm linh hay quán tưởng chắc chắn phải đưa ta đến một sự chuyển hóa bản thân sâu sắc trong cách thế mà chúng ta nhận thức về thế giới để dẫn đến hành động. Hành giả Phật giáo một khi nhận thức rằng vật thể không hề có hiện hữu tự thân sẽ giảm thiểu sự dính mắc vào chúng, từ đó giảm bớt khổ đau. Nhà khoa học, với cùng một nhận thức như thế, sẽ xoa tay hài lòng, xem đó như là một tiến bộ tri thức hầu sử dụng vào những công trình nghiên cứu khác, sự khám phá này không hề làm thay đổi thị kiến cơ bản của y đối với thế giới và cách thức mà y hướng dẫn đời sống của mình.  Trịnh Xuân Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm nguyên tố mới      Giấc mơ của các nhà vật lý hạt nhân là tìm được nguyên tố mới để bổ sung vào bảng tuần hoàn. Không dễ để đạt được điều đó nhưng ai cũng biết rằng mình không đơn độc trong nghiên cứu này, bởi lẽ nguyên tố mới siêu nặng chỉ có được trong một quá trình nghiên cứu vừa cạnh tranh vừa hợp tác…      Georgy Flyorov và Yuri Oganessian. Nguồn:  atomic-energy.ru  Ngày 23/3/2016, trong một hội nghị trực tuyến giữa hai lục địa, một nhóm các nhà nghiên cứu đã chốt tên của ba nguyên tố mới nhất trong bảng tuần hoàn. Đầu tiên, tennessi được đề xuất cho nguyên tố 117, sau đó là moscovi cho nguyên tố 115. Chỉ có nguyên tố nặng nhất được khám phá ra, nguyên tố 118, vẫn chưa có tên. “Yuri”, một giọng nói cất lên, “anh có thể để chúng tôi hội ý được không?”  Những nhà khoa học còn lại sau đó đã nhất trí đưa ra một quyết định. Yuri Oganessian sẽ trở thành người thứ hai còn sống sau nhà hóa học người Mỹ Glenn Seaborg, được vinh dự lấy tên cho một nguyên tố: oganesson.  Lý do cho sự lựa chọn của họ là dễ hiểu: Oganessian không chỉ dẫn dắt nhóm nghiên cứu của mình tới những khám phá mới mà còn đi tiên phong trong việc áp dụng những kỹ thuật hạt nhân mới. Trong thập niên 1970, ông đã phát minh ra phản ứng nhiệt hạch lạnh – đó không chỉ phản ứng hạt nhân năng lượng thấp giả định (hypothesised low energy nuclear reaction) mà còn là một kỹ thuật để tạo ra các nguyên tố siêu nặng – đóng vai trò cốt yếu trong việc khám phá ra các nguyên tố 104 đến 113. Giờ đây, hiểu biết rộng của ông về một kỹ thuật mới, phản ứng nhiệt hạch nóng (hot fusion), đã mở rộng những biên giới của hiểu biết tới tận cùng của dòng thứ 7 trong bảng tuần hoàn.  Oganessian nhớ lại thời kỳ đầu xây dựng máy gia tốc ion nặng U300 ở Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna (JINR). “Chúng tôi không chỉ chú ý đến các tính chất [của những nguyên tố siêu nặng] mà còn chú ý đến những phản ứng, tương tác, các kiểu phân rã hạt nhân, phát xạ alpha, chính là lĩnh vực rất rộng của vật lý và hóa học hạt nhân.”  Sherry Yennello, giám đốc Viện nghiên cứu Máy gia tốc Cyclotron của A&M Texas bày tỏ ngưỡng mộ: “Ông ấy mãi mãi là ngôi sao sáng chói của lĩnh vực này, cha đẻ của các nguyên tố siêu nặng”.    Những ‘va chạm’ đầu tiên  Lý thuyết ẩn sau việc tạo ra các nguyên tố siêu nặng rất đơn giản: bạn đập hai nguyên tử vào nhau và hi vọng chúng kết hợp lại để tạo ra một nguyên tử lớn hơn.  Vấn đề là để tổng hợp hai hạt nhân, cần phải thắng được lực đẩy tĩnh điện giữa các điện tích dương của chúng, có nghĩa là vụ va chạm phải xảy ra ở những mức năng lượng rất cao. Thường thì, việc này được thực hiện nhờ việc bắn một nguyên tố nhẹ vào bia làm từ nguyên tố nặng. Các ion mang điện tích cao của nguyên tố nhẹ được gia tốc trong một máy cyclotron – những nam châm rất mạnh đẩy các ion theo một quỹ đạo tròn ở tốc độ khoảng 10% tốc độ ánh sáng. Sau đó, những ion này thoát ra khỏi máy cyclotron ở dạng chùm tia (với cường độ khoảng hàng ngàn tỉ ion một giây) bắn vào bia. Tại đây khó khăn xuất hiện. Ngay cả khi xảy ra va chạm, thường thì hai hạt nhân chỉ vỡ một phần. Với hầu hết các trường hợp, lực đẩy giữa các proton sẽ đánh bại lực hút liên kết các hạt nhân lại với nhau và các mảnh bị phá tan. Nhưng đôi khi, lực liên kết mạnh hạt nhân chiến thắng: hai hạt nhân tổng hợp lại với nhau và yên vị trong một trạng thái cơ bản để hình thành một nguyên tố mới. Việc cố gắng tạo ra những nguyên tố nặng hơn đồng nghĩa với việc đưa thêm các proton vào hạt nhân, làm tăng nguy cơ nó tan vỡ. Chuyện này có thể được bù đắp bằng cách sử dụng những đồng vị neutron nặng; hạt nhân có thể trở nên bền vững bằng cách phát xạ các neutron năng lượng cao.  Cuối cùng, bạn cần phải phân tách nguyên tử đơn lẻ vừa tạo ra từ lượng khổng lồ những vật chất không tương tác và những phụ phẩm rồi đưa nó vào máy dò. Sau đó bằng cách ghi lại chuỗi phân rã alpha phát xạ khi nguyên tử dịch chuyển tầng để thành các nguyên tố nhẹ hơn, bạn có thể chứng minh mình vừa tạo ra một nguyên tố mới.  Tóm lại, việc tạo ra một nguyên tố mới tương đương với việc bắn một viên đạn súng máy vào một lỗ kim trong một đồng cỏ khô với hi vọng viên đạn và lỗ kim sẽ kết hợp lại với nhau, sau đó “bắt” tổ hợp đạn – kim khi nó lia qua dù biết rằng nó sẽ biến mất mãi mãi sau một giây.  Tuy nhiên đến được bước này cũng là một thách thức với chàng trai 28 tuổi Oganessian: không có ai trong nhóm nghiên cứu do anh dẫn dắt từng lắp đặt một máy cyclotron. Họ thậm chí còn không chắc chắn đó có phải đó là cách tiếp cận tốt nhất hay không. Ở Mỹ, nhóm nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Berkeley do Seaborg và Albert Ghiorso dẫn dắt đã sử dụng các máy gia tốc tuyến tính – những cỗ máy có tính năng tương tự nhưng hứa hẹn hơn. Họ đã tạo ra tám nguyên tố nhân tạo cho đến nguyên tố 100.      Việc tạo ra một nguyên tố mới tương đương với việc một viên đạn súng máy bắn trúng lỗ kim trong đồng cỏ khô với hi vọng viên đạn và lỗ kim sẽ gặp nhau, sau đó bắt ‘tổ hợp’ đạn-kim khi nó lia qua và biết rằng nó sẽ biến mất mãi mãi sau một giây.      Tháng 9/1960, thí nghiệm bắt đầu dưới sự hướng dẫn của Oganessian: chùm tia ion nitơ đầu tiên được gia tốc trong U300, ngay cả một thập kỷ sau thì nó vẫn là máy gia tốc mạnh nhất thế giới. Năm 1968, trong công cuộc tìm kiếm cách duy trì chùm tia lâu hơn, Organessian giám sát việc lắp đặt một máy cyclotron thứ hai nhỏ hơn; lần này không có sự giúp đỡ của bên ngoài và kết hợp với những cải tiến của chính ông. JINR bắt đầu vượt xa hơn người Mỹ. Một năm sau, nhà khoa học 36 tuổi hoàn thành luận án tiến sĩ về sự phân rã hạt nhân bằng các ion nặng.  Trước thí nghiệm của U300 và Berkeley, việc nghiên cứu bất kỳ nguyên tố nào sau nguyên tố 100 đều được coi là một “khu vực cấm”, Organessian giải thích: “Tôi đã khá ngạc nhiên khi thấy một nguyên tố nặng như vậy tồn tại, bởi vì cho đến năm 1960, chúng tôi đã thỏa mãn với mô hình cổ điển, dựa trên ý tưởng của George Gamow, rằng hạt nhân giống như một giọt chất lỏng. Niels Bohr và John Wheeler đã áp dụng lý thuyết này để chứng minh rằng không thể tồn tại nguyên tố nào nằm sau nguyên tố 100”.  Năm 1974, người ta đã chứng minh được rằng Bohr và Wheeler đã sai. Các nguyên tố từ nguyên tố 100 cho tới nguyên tố 106 đã được tổng hợp bằng phản ứng nhiệt hạch giữa bia và hạt đạn từ phản ứng giữa urani với boron cho tới californi với oxygen. Nhưng những thành tựu đột phá đã tạo ra một cuộc “chiến tranh lạnh” khi cả nhóm nghiên cứu của Mỹ và Xô Viết đều khẳng định mình khám phá ra trước tiên. Với người Mỹ, các nguyên tố 104 và 105 là rutherfordi và hahni; với người Nga, chúng là kurchatovi và nielsbohri.  Ngày nay, nguyên tố 104 là rutherfordi và 105 là dubni. Thật vậy, có quá nhiều tên gọi được sử dụng trong suốt “cuộc chiến tranh” tới nỗi tận năm 1997 chúng mới được đồng thuận rộng rãi. Nhưng Organessian đã nói rõ rằng tình trạng thù địch nào cũng chỉ tồn tại trên phương diện chính trị thôi. Trong thư viện của mình, ông có một tuyển tập các bức ảnh đen trắng, trong đó có một bức Flerov, Seaborg và Ghiorso ở Dubna; ở bức khác, ông đang giải thích các kỹ thuật cho Seaborg; Seaborg ghi chép cho Oganessian đọc. Các bức ảnh đen trắng cho thấy “cuộc chiến nguyên tố” chẳng mấy khốc liệt với các nhà khoa học.  Oganessian được bổ nhiệm làm kỹ sư trưởng năm 1961 nhưng lại mâu thuẫn với định hướng phát triển của phòng thí nghiệm. Lúc này, Flerov, giám đốc Dubna bắt đầu cản trở sự đổi mới, ông lgọi những khám phá như vậy là “chiến tranh du kích” và thờ ơ trước những đột phá.  Oganessian là một người ‘du kích’ như vậy. Trong suốt thập niên 1960, ông đã tổ chức một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ để khám phá các khái niệm khoa học đa dạng. Giờ đây, ông đã có một ý tưởng không thể phớt lờ. Kết quả các phản ứng tổng hợp bị giảm nghiêm trọng khi số hiệu nguyên tử tăng lên. Nguyên nhân là mức năng lượng kích thích cao (40-50 MeV) làm tăng khả năng phá vỡ nguyên tố. Để tạo ra các nguyên tố mới, mức năng lượng kích thích phải là nhỏ nhất, hay “lạnh”. Thay vì bắn một nguyên tố rất nhẹ vào một nguyên tố nặng, cần chọn hai nguyên tố gần nhau hơn.  Khi Flerov tiến hành một cuộc viễn chinh tới Siberi, Oganessian đã nắm lấy cơ hội. Để thử nghiệm lý thuyết của mình, ông bắn argon-40 và chì-208 để tạo thành fermi- 224, dự đoán rằng phản ứng này sẽ giải phóng bốn neutron và tạo ra một đồng vị với chu kỳ bán rã chỉ là 4 miligiây. Kỹ thuật mới này tạo ra fermi-246, chỉ mất hai neutron, với chu kỳ bán rã là 1,1 giây. Kết quả này hiệu quả gấp 10.000 lần điều ông đã tưởng tượng. Phản ứng tổng hợp lạnh xảy ra ở mức năng lượng gần với rào thế Coulomb, có nghĩa rằng hạt nhân được tạo thành có một mức năng lượng kích thích nhỏ hơn bất cứ kỹ thuật nào đã từng sử dụng trước đây tới 2 đến 3 lần.  Oganessian đã báo cáo khám phá của mình với Flerov. Ban đầu người thầy của ông có vẻ dửng dưng. Chỉ khi chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học Xô viết đến thăm JINR thì Flerov mới chỉ Oganessian rồi nói: “Cậu ấy tạo ra hàng chục nghìn nguyên tử siêu urani”. Ông chủ tịch Viện, nhận thức được ý nghĩa của việc đó, đã hôn má Oganessian.  Ghi chép của JINR gọi nụ hôn này là “phần thưởng cho sự không vâng lời” của mình. Nhưng phần thưởng thực sự đối với họ chính là các nguyên tố mới. Tới năm 1996, cùng sự cộng tác với nhóm làm việc ở Trung tâm nghiên cứu Ion nặng Helmholtz (GSI) ở Darmstadt, Đức, phản ứng nhiệt hạch lạnh đã dẫn tới sự khám phá ra các nguyên tố từ 107 tới 112. Hai thập kỷ sau, một nhóm các nhà khoa học do Kosuke Morita dẫn đầu ở Trung tâm Riken’s Nishina ở Wako Nhật, đã khám phá ra nguyên tố 113 (giờ đây mang tên nihoni), cũng là tạo tác cuối cùng của phản ứng nhiệt hạch lạnh.     Cuộc chạy đua tay ba    Yuri Oganessian trao đổi với Ron Lougheed và Ken Moody về nghiên cứu chung của họ năm 1989. Nguồn :The Armenian Weekly  Các nhà khoa học Nhật đã bắt đầu công cuộc tìm kiếm nguyên tố 113 vào năm 2003, bắn phá nguyên tố bitmut bằng các ion chì. Tới tháng 4/2005, họ mới chỉ thấy nguyên tố 113 hai lần – không đủ để chứng minh sự tồn tại của nó. “Trong suốt 7 năm, chúng tôi liên tục tìm kiếm”, Morita nói. “Dù chưa từng thấy một sự kiện nào nữa nhưng tôi không muốn từ bỏ.” Cuối cùng, họ có được sự kiện thứ ba, đủ để đáp ứng yêu cầu của một khám phá được chấp thuận vào tháng 8/2012. “Xác suất một sự kiện như thế xảy ra là thấp”, Hideto En’yo, giám đốc của Trung tâm Nishina, giải thích. “Nhóm nghiên cứu biết chuyện đó sẽ đến bởi vì họ đã thấy nó hai lần trong hai năm. Khó khăn nằm ở chỗ không biết khi nào nó sẽ xảy ra”.  Điều đó chứng minh rằng, việc dùng phản ứng nhiệt hạch lạnh để đi tìm nguyên tố mới siêu nặng đã hết thời. Oganessian và những đồng sự đã chuyển sang một phương pháp mới. Với phản ứng nhiệt hạch nóng, một nhóm gồm các nhà khoa học Nga và Mỹ đã chuẩn bị đẩy xa những biên giới của bảng tuần hoàn tới giới hạn của chúng.  Cộng tác để giải quyết những câu hỏi căn bản này bắt đầu vào năm 1989, khi Ken Hulet từ Lawrence Livermore gặp Flerov tại một hội thảo. “Vào thời điểm đó, ở Livermore người ta gặp khó khăn với việc duy trì chùm tia lâu hơn còn ở Nga người ta cần sự trợ giúp về mặt kỹ thuật với các máy dò, máy tính, đồ điện tử, đại loại như thế”. Vậy nên họ quyết định cộng tác với nhau.  Flerov đã lui xuống làm giám đốc phòng thí nghiệm phản ứng hạt nhân, với Oganessian được chỉ định làm người kế nhiệm ông. Như vậy Oganessian phải trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Xô viết. Đêm trước bầu cử, Flerov gửi tới các thành viên của Viện một bức thư: “Vật lý ion nặng đang phát triển một cách mạnh mẽ ở Mỹ, Đức, Anh và Pháp. Chúng ta chỉ có thể giữ lấy vị thế bằng việc gia cố thêm sức mạnh. Tôi nghĩ đến một con người mà mình có thể giao phó toàn bộ công việc phức tạp trong lĩnh vực này, tôi không một chút ngần ngại nào mà đề cử Yuri Tsolakovich Oganessian. Một nhà vật lý, một nhà thực nghiệm xuất sắc… Anh ấy có khả năng tiếp cận vấn đề từ khía cạnh đầy bất ngờ và đạt được kết quả tột bậc”. Flerov mất một năm sau đó, nhưng Oganessian đã đảm bảo sự cộng tác với Livermore được tiếp tục. Ban đầu, họ đã thí nghiệm với nguyên tố vẫn chưa được đặt tên, 108. Nhưng mục tiêu đích thực của họ là nguyên tố 114 và vùng đảo bền.       “Chúng tôi không chỉ chú ý đến các tính chất [của những nguyên tố siêu nặng] mà còn chú ý đến những phản ứng, tương tác, các kiểu phân rã hạt nhân, phát xạ alpha, chính là lĩnh vực rất rộng của vật lý và hóa học hạt nhân. Và nó thật thú vị, do đó tôi tiếp tục cho đến tận bây giờ!” (Yuri Oganessian)      Vùng đảo bền được En’yo gọi là “giấc mơ của các nhà vật lý hạt nhân”. Được đề xuất lần đầu tiên năm 1960, lý thuyết về sự tồn tại của một vùng nơi một số sự tổng hợp proton và neutron tạo thành hạt nhân, bền vững hơn các đồng vị khác, đã đảo ngược xu hướng thiếu bền vững của hạt nhân. Các proton và neutron trong một hạt nhân chiếm đầy các lớp vỏ, tương tự như các electron trong các nguyên tử. Các đồng vị chiếm đầy trong các lớp vỏ cần được chứng minh là bền vững hơn. Mục đích là bắn phá một đồng vị với một “số thần kỳ” các proton hay neutron. “Với những con số thần kỳ này, ta sẽ có lực gắn kết lớn hơn,’ Organessian giải thích. “Nguyên tố đầu tiên, không ổn định lắm nhưng ổn định hơn các nguyên tố lân cận, là 108, – hassi – với 162 neutron. Nhưng bất ngờ hơn, cho tới nguyên tố 114 có 184 neutron, là vùng bền vững hơn nhiều”.  Năm 1998, nhóm quyết định thử tổng hợp nguyên tố 114 một lần nữa. Nhóm đã thành công trong việc tạo ra nguyên tố 114; đồng vị họ đã tạo ra không nằm ở tâm của đảo, nhưng đủ gần để chứng minh rằng nó tồn tại. ‘Nếu không có sự bền vững nào,’ Organessian nói, ‘thì nó phải có chu kỳ bán rã khoảng 10-19 giây. Thật vô nghĩa khi nói về một nguyên tố trong một thời gian ngắn như vậy, bạn không thể phát hiện nổi nó. Nhưng hiệu ứng chúng tôi quan sát được là một sự phân rã tính bằng giây – lớn gấp 1019 lần. Thật kỳ lạ. Và nó phát xạ một hạt alpha và chuyển thành nguyên tố 112, với chu kỳ bán rã tính bằng phút.’  Giờ đây, tự tin với kỹ thuật của mình, phản ứng nhiệt hạch nóng, đã là một thành công, nhóm chuyển sang nguyên tố 116. ‘Kế hoạch của chúng tôi là đánh giá, cố gắng tìm kiếm vùng bền vững hơn,’ Stoyer nói. ‘Chúng tôi đã làm thí nghiệm với nguyên tố 114 trước tiên, và rồi chuyển sang 116, bởi vì quan sát và tạo ra những nguyên tố có số hiệu nguyên tử chẵn dễ dàng hơn các nguyên tố có số hiệu nguyên tử lẻ. Chúng tôi đã đổi sang mục tiêu là curi.’  Một lần nữa, nhóm lại thành công. Nhưng lần này họ không đơn độc. Một nhóm cạnh tranh từ Berkeley (Mỹ), do Victor Ninov dẫn dắt, cũng khẳng định rằng họ đã tìm ra nguyên tố 116. Và hơn thế, nhóm Berkeley còn báo cáo là đã thấy bằng chứng về nguyên tố 118.  Ninov tuyên bố đã ba lần tạo ra nguyên tố 118 và hình thành nên nguyên tố 116 trong chuỗi phân rã của nguyên tố 118. Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả của mình trên tờ Physical Review Letters. Có vẻ như đó là chuyện phi thường nhất trong công cuộc khám phá các nguyên tố siêu nặng nhưng thật ra, đó là một trong những điều dối trá kinh khủng nhất trong khoa học.  Khám phá của nhóm Berkeley nhanh chóng gây tranh cãi vì các nhà khoa học ở GSI và Riken không thể xác minh kết quả. Khi thực hiện lại thí nghiệm, nhóm Berkeley không phát hiện ra dấu vết nào của nguyên tố 118. Một cuộc điều tra nội bộ đã kiểm tra lại dụng cụ thí nghiệm, nhưng khi đó không ai xét đến vấn đề dối trá này. Sau đó, vào năm 2001, Ninov lại khẳng định tìm thấy nguyên tố 118 một lần nữa. Lần này, dữ liệu của ông được phân tích: và không có dấu hiệu nào chứng minh cho cái ông nói mình đã tìm thấy. Nhìn lại khám phá ban đầu, cũng không có dấu hiệu của nguyên tố 118 trong dữ liệu thô.  Trong quá trình điều tra, chuyện được làm rõ: các dữ liệu đã bị can thiệp để ngụy tạo ra sự kiện tìm ra nguyên tố 118. Ninov bị sa thải. Kể từ đó, những nhà khoa học còn lại trong nhóm ở Berkeley cũng đã rút lại tuyên bố.  Sự gian dối của Ninov được phơi bày, và công cuộc tìm kiếm các nguyên tố lại tiếp diễn. “Câu chuyện của Victor Ninov, về nguyên tố 118, xuất hiện đúng lúc chúng tôi đang làm việc với nguyên tố 114 và 116, và cố gắng để được ghi nhận”, Stoyer kể lại. “Đó là một nỗi tủi hổ của ngành này. Nhưng nó đã làm nổi bật phương pháp của chúng tôi, cách cộng tác của chúng tôi trong xử lý vấn đề tương tự. Dữ liệu được lấy ở Dubna, nhưng được phân tích cả ở Dubna và Livermore. Nó được những người khác nhau, phân tích bằng những mã khác nhau, rồi được kiểm tra chéo. Như vậy chúng tôi có một kiểu kiểm soát chất lượng gắn sẵn trong quá trình phân tích của mình.”  Mô tả của Oganessian về những gì xảy ra tiếp theo khiến câu chuyện trở nên đơn giản: “Chúng tôi đã tạo ra các nguyên tố 116 và 118. Chúng cho thấy sự bền vững cao. Sau đó chúng tôi chuyển sang các đồng vị lẻ. Chúng cũng cho thấy sự bền vững cao. Do đó, từng bước một, chúng tôi đi từ nguyên tố 110 tới 118”. Thực tế thì phức tạp hơn. Canxi-48 đã cho thấy mình là một chùm tia hoàn hảo, nhưng nguyên tố 118 là một thách thức vì nguyên tố bia. “Chúng tôi sử dụng californi-249,” Stoyer nói. “Nó và berkeli có lẽ là những bia khó chịu nhất dưới góc độ xử lý phóng xạ.’  Trong suốt những năm 2000, nhóm cũng đã tạo ra nguyên tố 115 với americi, và đã thấy nó phân rã thành nguyên tố 113. Oganessian thúc ép nhóm công bố. “Tôi đang đi nghỉ,” Stoyer nhớ lại, “và tôi nhớ mình đã nghĩ rằng “Tại sao chúng ta lại vội vã, tại sao chúng ta lại đi nhanh đến thế? Không có ai khác làm thí nghiệm này cả.” Khoảng 6 tháng sau, các kết quả của người Nhật xuất hiện.  Lúc đó, chẳng có nỗ lực nào của người Nga lẫn Mỹ hay Nhật Bản là đủ thuyết phục Liên minh quốc tế Hóa học thuần túy và hóa học ứng dụng (Iupac) là đã tìm ra nguyên tố 113 hay 115. Các nhóm đều cần thêm dữ liệu. Do vậy, trong khi Riken tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình với phản ứng nhiệt hạch lạnh, nhóm Nga-Mỹ hướng cái nhìn của mình tới nguyên tố 117 – nguyên tố mà họ dự đoán có thể phân rã để tạo thành cả nguyên tố 115 và 113.  Chỉ có một vấn đề duy nhất: để tạo ra nguyên tố 117 bằng canxi-48, nhóm cần berkeli. Và nơi duy nhất trên thế giới tạo được berkeli là lò phản ứng nghiên cứu thông lượng cao ở Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Oak Ridge ở Tennessee.  Năm 2008, Oak Ridge cuối cùng cũng xác nhận họ đang sản xuất californi cùng với Lawrence Livermore và trường đại học Tennessee. Họ nhắm vào nguyên tố 117 nhưng berkeli là một mục tiêu khó nhằn, phải chuẩn bị hai năm mới có đủ lượng berkeli cần thiết cho thí nghiệm trong khi chu kỳ bán rã của berkeli là 310 ngày. Sản lượng nhỏ – nhóm Oak Ridge đã chỉ tạo ra được 22 miligam – có nghĩa là bia phải được chuyển nhanh tới JINR để tổ chức thí nghiệm. Nếu có gì đó sai lệch, nhóm sẽ mất cơ hội.  Nhờ bắn phá berkeli bằng canxi-48, nhóm đã một lần nữa thành công với việc tạo ra nguyên tố mới. Hơn thế nữa, phân rã alpha của nguyên tố 117 còn tạo ra nguyên tố 115 như dự đoán. Khám phá về nguyên tố 114 và 116 đã được Iupac xác nhận. Giờ đây nhóm phải chờ đợi sự cân nhắc của hội đồng về phần còn lại trong những khám phá của họ.  Tháng 12/2015, các kết quả được thông báo. JINR và Livermore được công nhận là đã tìm ra nguyên tố 118; Oak Ridge được thừa nhận thêm vào khám phá ra nguyên tố 117 và 115 (Vanderbilt và Đại học Tennessee đã bị loại khỏi thông báo vì sai sót, sau đó được sửa chữa). Tuy nhiên nguyên tố 113, được dành cho Riken.  Dimitriev rất cao thượng. ‘Trong sáu nguyên tố mới, Iupac nhận công nhận 5 cho JINR. Chúng tôi khá hạnh phúc – những đồng nghiệp Nhật của chúng tôi dành 10 năm để tổng hợp ba hạt nhân. Giáo sư Morita là bạn tốt của chúng tôi, ông đã làm việc nhiều năm trong phòng thí nghiệm của JINR”.  Duy Khánh lược dịch  TS. Lê Xuân Chung (Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, Viện NLNTVN) hiệu đính  Nguồn: https://www.chemistryworld.com/feature/what-it-takes-to-make-a-new-element/1017677.article       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đi tìm tôn giáo tính      Nếu tôn giáo tính là một năng lực của con người, cũng giống như cảm tính, lý tính hay bất cứ một thuộc tính tinh thần nào khác, thì việc tìm kiếm nó phải là sự kết hợp cả phương pháp sinh lý học và tâm lý học. Sinh lý học sẽ khám phá ra cơ năng nào đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của tôn giáo tính, theo phần xác.    Tâm lý học sẽ khám phá nội dung và cách thức hoạt động của tôn giáo tính, theo phần hồn. Cả hai hợp lại có thể cho ta thấy các kinh nghiệm tôn giáo, nhất là các xúc cảm và thăng hoa do niềm tin tôn giáo đã xảy ra như thế nào và ảnh hưởng đến các hoạt động khác của con người ra sao. Rồi từ đó, ta có thể đo được độ đậm nhạt của tôn giáo tính ở những trường hợp cụ thể.  Ngày nay, chẳng còn ai tin ở một phương pháp luận duy vật máy móc rằng “óc tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật”. Hơn thế nữa, ngay cả những nỗ lực khám phá hoạt động của ý thức bằng “những phản xạ có điều kiện” theo sinh lý học Pavlop, cũng không cho thấy một khả năng nào đi xa hơn là những tập tính sinh học rất đơn giản của cơ thể loài vật, chứ chưa nói gì đến loài người.  Dù sao thì con người vẫn không thoát khỏi sự tò mò trước cái bí mật của phần hồn ở đâu đó trong phần xác. Từ khi có những tiến bộ về sinh lý học não bộ, sự tò mò ấy lại gia tăng. Người ta cũng biết được một số chức năng về cảm giác, tri giác, ký ức, vận động… nằm ở một số vùng trên vỏ não. Kỹ thuật điện não đã giúp phát hiện, thậm chí kích thích được sự phản ứng của tế bào não ở các vùng đó. Vậy có một hứa hẹn nào để tìm ra cái nơi phát sinh Tôn giáo tính của con người? Có thể có một “sinh học về Chúa” theo cách đó không? Thậm chí có thể tìm ra những tế bào não làm chức năng Tôn giáo tính không? Đã xuất hiện một từ ngữ “Neuro-Apotres” (Những vị tông đồ-Tế bào não) để chỉ những người trong nhiều ngành khoa học như sinh học, y học, sinh lý thần kinh học, tâm thần học, cả nhân học nữa… đang đi theo hướng tìm ra những dấu hiệu về các kinh nghiệm có tính tôn giáo hoặc gần hoặc xa, do các tế bào não gây ra và dẫn chúng ta đến chỗ tin rằng có Chúa theo một nghĩa dù mơ hồ nào đó.           Đã xuất hiện một từ ngữ “Neuro-Apotres” (Những vị tông đồ-Tế bào não) để chỉ những người trong nhiều ngành khoa học như sinh học, y học, sinh lý thần kinh học, tâm thần học, cả nhân học nữa… đang đi theo hướng tìm ra những dấu hiệu về các kinh nghiệm có tính tôn giáo hoặc gần hoặc xa, do các tế bào não gây ra và dẫn chúng ta đến chỗ tin rằng có Chúa theo một nghĩa dù mơ hồ nào đó.        Nhưng tiếc thay, kết quả lại không có gì là khả quan lắm. Trong khi một số người quả quyết rằng có những vùng gây các xúc cảm liên quan đến các lễ nghi tôn giáo, thì những người khác lại cho rằng, đây là những ảo ảnh do hoạt động bất thường của não mà ra. Chẳng hạn, tiếng nói mà các nhà tiên tri nghe thấy chỉ là những ảo giác của thính giác, do sự hoạt động bất thường của thùy thái dương bên trái. Cảm giác về Niết bàn chỉ là hệ quả của sự ngắt mạch ở một số vùng bán cầu vách phải, thường có thể tạo ra những hình ảnh giả tạo trong suy nghĩ của người ta, tức là những lệch lạc tâm lý có nguồn gốc thần kinh học.  Nhưng, như vậy là chẳng có gì cả sao? Ngay cả khi cho rằng đấy chỉ là những lệch lạc tâm lý thì trạng thái tâm lý này chẳng đã tạo ra một ý thức ít nhiều về cái Thiêng, là một cầu nối cần thiết cho sự tồn tại của con người? Từ xa xưa, nhờ cái cầu nối ấy mà đời sống phàm tục không hoàn toàn bị cắt lìa với những tín ngưỡng về cái Thiêng, về một cái gì “bên kia” cuộc sống. Điều ấy chẳng phải là cũng có ích lợi cho cuộc sống hay sao?  Một số nhà tâm thần học như Jeffrey Save hay Jonh Rabin thì cho rằng khôn ngoan nhất là có một cách nhìn dung hòa, bằng lòng với việc xác định được đường viền trên vùng não ở vùng thái dương nơi đã tạo ra những ảo ảnh như vậy mà gác lại giả thuyết về sự tồn tại của thần thánh. Tóm lại, số đông các nhà nghiên cứu về thần kinh học và tâm thần học đều tránh trả lời thẳng vào các câu hỏi về sự tồn tại của Chúa. Họ chỉ nhấn mạnh rằng những nghiên cứu và hiểu biết của họ đang nhắm vào cơ năng của bộ não có liên quan đến niềm tin của con người.            Erich Fromm, người đã sử dụng chữ “linh hồn” để chỉ một trạng thái tâm lý ngoài lý trí        Nói đúng ra, đó là thái độ kiên trì quan điểm nhị nguyên về bản chất con người, quan điểm mà Decarte đã đề xướng rằng, có một linh hồn phi vật chất cùng tồn tại với cơ thể. Nhà y học giải Nobel là John Ecelos bảo vệ quan điểm này. Dù vậy, vẫn có một số đồng nghiệp trong y khoa của ông khó chia sẻ được một quan điểm về linh hồn như vậy, nhất là qua thực tế trị liệu. Vì rằng, nó gây ra những mơ hồ, đáng lẽ phải xác định chỉ có bộ não là cơ quan suy nghĩ nằm trong sọ chúng ta, thì lại nói đến một thứ tinh thần /não bộ. Tuy nhiên, sự mơ hồ này cũng không dễ gì khắc phục được trước một sự thật rằng ngay cả những quan điểm duy vật nhất nguyên, cho đến nay cũng bị đặt thành vấn đề, một khi người ta nhận ra rằng, thế giới không chỉ là vật chất mà còn là năng lượng và là thông tin nữa. Cần phải thận trọng về một chủ nghĩa duy vật thô thiển có thể dẫn thẳng đến chủ nghĩa thần bí. Chẳng hạn một chủ nghĩa duy vật sẽ nói gì về cấu tạo AND của từng con người? Đây là một lĩnh vực rất phức tạp mà ta không đủ điều kiện bàn đến ở mục này. Hãy trở lại với lĩnh vực tâm lý học.  Ngoài việc tìm kiếm các cơ sở sinh lý học của tâm lý, tâm lý học tôn giáo còn phải đi xa hơn nữa vào cái phần đặc trưng của nó như một đối tượng bắt buộc nó phải đề cập đó là linh hồn. Ở đây, ta đứng trước một cách đặt vấn đề khác hẳn với tâm lý học truyền thống, một tiếp cận mới của Erich Fromm. Ông viết: “Khoa tâm lý học hàn lâm, cố bắt chước các khoa học tự nhiên và các phương pháp của phòng thí nghiệm như cân và đếm, đề cập đến mọi vấn đề, chỉ trừ linh hồn. Nó cố tìm hiểu những phương diện của con người có thể khám nghiệm trong phòng thí nghiệm và tuyên bố rằng lương tâm, những phê phán về giá trị, sự hiểu biết về Thiện­Ác là những khái niệm siêu hình, ở ngoài những vấn đề không đáng lưu ý, thích hợp cho một phương pháp mới để nghiên cứu những vấn đề có ý nghĩa về con người. Tâm lý học, như vậy đã trở thành một khoa học thiếu hẳn cái đề tài chính yếu của nó là linh hồn. Nó chú trọng đến cơ năng, sự tạo thành phản ứng, bản năng, nhưng không chú trọng đến những hiện tượng nhân văn đặc biệt nhất như: tình yêu, lý trí, lương tâm, giá trị… Bởi vì danh từ “linh hồn” bao hàm những năng lực cao cấp hơn của con người, nên tôi dùng nó ở đây hơn là dùng những danh từ tâm lý hay tâm thức”.          Phép Thiền (Zen hay Meditation) tuy xuất phát từ Phật giáo Châu Á nhưng lại được người Phương Tây “mượn” để giải tỏa căng thẳng đời thường và tập trung tinh thần.          Tất nhiên, cần hiểu chữ linh hồn của Fromom không phải là một cái hồn sẽ thoát ra khỏi cái xác vào lúc nào đó. Với danh từ này, ông chỉ nhấn mạnh đến những trạng thái tâm lý ngoài lý trí. Cũng như Freud, ông muốn ngăn lại khúc khải hoàn của lý trí độc tôn. Một môn tâm lý học đích thực phải đặt lý trí trong sự tương tác với các trạng thái tâm lý khác, ở đây lý trí cũng bị các dục vọng, đam mê làm cho méo mó và chỉ có tìm hiểu những đam mê của con người mới có thể giải thoát lý trí và làm cho nó điều hành một cách thích đáng.  Với phân tâm học, có thể là người ta đã tiến được một bước khá xa để giải phóng lý trí khỏi dục vọng. Nhưng chính cách đặt vấn đề đó lại dẫn tới chỗ, cần phải thoát ra cả lý trí và dục vọng thì mới giải phóng được linh hồn. Và đây chính là một chủ đề mà hầu như mọi tôn giáo, ngay cả một số tôn giáo ở dạng sơ khai, hình như đã quan tâm đến từ lâu. Những kỹ thuật thôi miên của phân tâm học mới chỉ được phát triển gần đây. Còn các phép Thiền thì sao, nó đã có một lịch sử lâu dài trong các tôn giáo lớn. Chữ Thiền được dùng ở đây theo cả nghĩa chữ Zen và cả chữ Méditation (thiền định, định tâm).  Đó là sự tập trung tinh thần, có thể mang tính cách một sự cầu nguyện nhưng không nhất thiết. Điều chủ yếu là tập trung tinh thần, để dễ tập trung thì có thể tựa hoặc mượn một chủ đề triết học hay tôn giáo nào mà định tâm, đi tới một trạng thái tư tưởng sáng tỏ. Đó chính là hiệu quả của sự tiến triển tâm linh.  Đối với nhiều người phương Tây, nó hướng tới chân lý vĩnh hằng của kinh thánh. Với Châu Á, nó là một cái nhìn thâu suốt cuộc sống, hiểu được bản thân mình và giải thoát tinh thần khỏi những ngẫu nhiên và những dục vọng.           Cõi Thiêng, cái gì đó “bên kia” cuộc sống phải chăng cũng là điều có lợi với cuộc sống?          Với người Ấn Độ, thiền định (dhyana) là tập trung tâm linh hướng tới sự giác ngộ. Trong Phật giáo, Thiền là một môn tu luyện có mục đích tự thân, đi tới một linh nghiệm siêu lý trí. Với các tín đồ Lạt ma theo Mật tông, thì đó là sự chiêm nghiệm về qui luật của vũ trụ. Trong Ấn giáo, đó là những kỹ thuật yoga về nhận thức. Trong Đạo giáo Trung Hoa, thì đó là những kỹ thuật khí công. Những phép thở để dẫn khí và tập trung tinh thần đã được nhà nhân học người Pháp Henri Masper mô tả rất chi tiết, rất cụ thể trong cuốn “Đạo giáo và các tôn giáo ở Trung Quốc”. Ngay lúc này, trên thế giới cũng đang nảy nở rất nhiều trường phái Thiền ở các nước công nghiệp, như một giải pháp tìm về tâm linh, mà không nhất thiết phải mang danh nghĩa một tôn giáo nào. Ở nước ta, Thiền rất phổ biến trong Phật giáo đã đành, cũng tạo thành những chi phái riêng trong một số hội thánh Cao Đài. Thiền, Yoga, khí công cũng có nhiều phương cách khác nhau ở nước ta hiện nay, tất nhiên, không tránh khỏi có lúc như một phong trào hời hợt thay cho thể dục cơ bắp.  Một môn tâm lý học hướng về linh hồn hay nói khác đi, môn tâm linh học đang hình thành. Nó mời gọi sự hợp tác của nhiều lĩnh vực khoa học, tập hợp những hiểu biết tích lũy được qua hàng ngàn năm của các tôn giáo, giúp con người tiến xa hơn nữa, cao hơn nữa để tự biết về mình. Không phải ngẫu nhiên khi nói đến Thiền định, người ta lại nhớ đến câu nói nổi tiếng của triết gia Socrate: “Hãy hiểu bản thân ngươi, rồi ngươi sẽ hiểu được vũ trụ và thần thánh”.  Hơn thế nữa, Thiền còn có nhiều hình thái rất cụ thể trong đời sống mà không phải chỉ trong tâm linh. Người ta cũng đang tạo ra một không gian Thiêng của Thiền trong và ngòai các cơ sở thờ tự, tạo thành một nếp sống thường nhật qua các việc làm thể hiện sự kiên nhẫn, cần cù, sự quan tâm đến cái thuần khiết, giản dị. Người Nhật Bản đã khéo léo áp dụng Thiền vào nhiều mặt của đời sống, vào mỹ học, vào võ sĩ đạo, vào thuật làm vườn, thuật cắm hoa…  Tóm lại, phép thiền ở mọi tôn giáo thật ra là một cách tìm kiếm tôn giáo tính dựa trên khả năng của mỗi người, vượt qua cái ngưỡng của cả lý trí và dục vọng của mình để đạt tới cái Thiêng.      Phạm Bích Hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Di truyền học và cuộc tranh luận về nguồn gốc loài người      Người hiện đại về giải phẫu (Homo sapiens sapiens) xuất hiện đầu tiên ở đâu và khi nào? Bằng chứng hóa thạch và kỹ thuật di truyền cho thấy, họ có nguồn gốc Đông Phi khoảng 200 ngàn năm trước; và các cuộc di cư chiếm lĩnh hành tinh chỉ bắt đầu từ 60 ngàn năm trước. Tuy nhiên hiện chưa rõ chuyện gì đã xảy ra khi họ gặp những người có trước, như người Neanderthal hay người đứng thẳng. Người hiện đại thay thế hoàn toàn những người đó hay có sự hòa huyết ít nhiều giữa họ với nhau?    Dẫn nhập:  Thuật ngữ “người hiện đại về giải phẫu” dùng để chỉ tổ tiên xưa của chúng ta, mà hình thể khá giống nhân loại hiện nay; và để phân biệt họ với những loài cũng được gọi là “người” dựa trên các đặc trưng như tỷ lệ não so với cơ thể tăng và khả năng sở hữu nền văn hóa vật chất, bao gồm công cụ đá 1.  Hóa thạch 2 triệu năm tuổi cho thấy, có thể người hiện đại tiến hóa từ người cổ, bao gồm người đứng thẳng (Homo erectus), người Heidelberg và người Neanderthal. Đó là lý do xuất hiện Thuyết tiến hóa trên nhiều vùng, cho rằng lịch sử loài người bắt đầu gần 2 triệu năm trước, khi người đứng thẳng rời khỏi châu Phi lần đầu tiên. Sau đó là hai cuộc đại di cư khác, xảy ra vào khoảng 650 ngàn năm (ứng với sự xuất hiện của người Heidelberg tại châu Âu và người Neanderthal tiến hóa từ họ tại châu Âu và Trung Á) và 130 ngàn năm trước (ứng với người Cro-Magnon, tức người hiện đại về giải phẫu) 2. Và sự hòa huyết thường xuyên giữa các vùng giúp toàn nhân loại không tách biệt nhau về mặt di truyền 3.           Hộp sọ người hiện đại (trái) và người Neanderthal (phải)        Ngược lại, Thuyết rời khỏi châu Phi cho rằng, người hiện đại chỉ liên quan với làn sóng di cư thứ ba khoảng 60 ngàn năm trước, theo những nghiên cứu mới về di truyền học. Và họ thay thế hoàn toàn những người cổ trước đó. Vì thế nó mang nhiều tên gọi như Thuyết rời khỏi châu Phi mới đây, Mô hình nguồn gốc duy nhất, Mô hình thay thế hay Giả thuyết nguồn gốc châu Phi mới đây.  Sự khác nhau giữa hai mô hình dẫn tới “cuộc tranh luận về nguồn gốc người hiện đại”. Trước kia, cuộc tranh luận tập trung vào bằng chứng hóa thạch và khảo cổ; nhưng từ 20 năm nay, di truyền học ngày càng có vai trò quan trọng. Phần lớn nghiên cứu tập trung phân tích hình thái biến đổi di truyền trong những người đang sống. Cụ thể hơn, chúng dựa trên thực tế, quá khứ tiến hóa sẽ để lại dấu vết khả kiến trong bộ gene của chúng ta. Nghiên cứu các “dấu gene” đó, có thể tái hiện sự tiến hóa theo thời gian và địa lý. Bên cạnh đó, cũng có nhiều cố gắng phân tích các ADN cổ, như ADN của người Neanderthal, loại người tuyệt chủng 28 ngàn năm trước sau khi từng thống trị châu Âu và Trung Á hàng trăm ngàn năm. Qua đó có thể giúp trả lời câu hỏi, liệu người Neanderthal có để lại dấu vết trong bộ gene của chúng ta hay không. Nếu có, đó là bằng chứng của sự hòa huyết; nếu không, đó là bằng chứng cho thấy, chúng ta tiến hóa hoàn toàn riêng biệt, nếu các nguyên nhân khác được loại trừ (ví dụ tuy có hòa huyết, nhưng nếu số lượng người Neanderthal nhỏ thua 10 lần, gene của họ cũng đã biến mất) 4.  Kỷ lục hóa thạch:  Vượn người tách khỏi các loài vượn khoảng 6-7 triệu năm trước. Hóa thạch của loài đi bằng hai chân có niên đại trên 6 triệu năm. Còn hóa thạch vượn người đi bằng hai chân tại châu Phi có tuổi khoảng 4.2 triệu năm. Loài vượn người này (đi thẳng, ít nhất trên mặt đất) có não không lớn hơn não vượn, nhưng mặt và răng lớn hơn. Người đứng thẳng (H. erectus) xuất hiện tại châu Phi 1.8 triệu năm trước, với tỉ lệ các chi giống người hiện đại, kích thước não tăng, răng nhỏ và biết dùng công cụ đá. Cho đến lúc đó, quá trình tiến hóa chủ yếu xảy ra tại châu Phi, nhưng một số H. erectus đã tới Đông Âu và Đông Nam Á khoảng 1.7 triệu năm trước. Một số H. erectus còn sống tại Đông Nam Á đến tận 27-54 ngàn năm trước, và có thể liên quan với người lùn H. floresiensis, sống ở đảo Flores phía Đông Indonesia 18 ngàn năm trước.  Hậu duệ của người đứng thẳng thuộc nhóm người cổ, đóng vai trò cầu nối giữa người ban đầu (H. erectus) và người hiện đại (H. sapiens sapiens). Người cổ có kích thước não gần như người hiện đại, nhưng hộp sọ thấp hơn và có hình dạng khác, cũng như khuôn mặt lớn hơn. Trước họ được phân loại là người tinh khôn cổ (H. sapiens cổ), nhưng nay có xu hướng phân loại họ thành hai loài hay nhiều hơn. Nhiều nhóm trong đó được phân loại là người Heidelberg (H. heidelbergensis), từng sống tại châu Phi, châu Âu và có thể cả châu Á khoảng 800-200 ngàn năm trước. Ngoài ra là người Neanderthal, sống tại châu Âu và Trung Á đến tận 28 ngàn trước. Họ có khuôn mặt và hộp sọ khác người Heidelberg và người tinh khôn. Một số nhà nhân học xem họ là một chủng thuộc người tinh khôn (H. sapiens neanderthalensis), trong khi số khác lại xem họ như một loài riêng biệt (H. neanderthalensis).    Các mô hình về nguồn gốc loài người:  Như viết ở trên, cốt lõi của cuộc tranh luận là vấn đề quan hệ giữa người cổ và người hiện đại. Họ tiến hóa hoàn toàn riêng biệt hay có sự hòa huyết ít nhiều với nhau?  Thực ra xem hai giả thuyết có tính đối ngược nhau là một quan niệm không chính xác. Trên thực tế chúng có một số điểm chung. Vì thế nhiều nhà nhân học kết hợp hai mô hình với nhau, tạo ra một số mô hình lai. Relethford (2001) gọi chúng là “các mô hình nguồn gốc chủ yếu từ châu Phi” 1. Theo đó thì các đặc trưng hiện đại về giải phẫu xuất hiện đầu tiên tại châu Phi (phù hợp với Thuyết rời khỏi châu Phi), nhưng sau đó có sự trộn gene với người cổ ngoài châu Phi (phù hợp với Thuyết tiến hóa đa trung tâm). Từng có quan niệm, người ngoài châu Phi góp 80% vào bộ gene chung; nhưng nay giới học giả thừa nhận, tỉ lệ đó không vượt 30%, thậm chí không quá 10% 4.    Bằng chứng hóa thạch:  Bằng chứng hóa thạch có ủng hộ quan niệm người hiện đại xuất phát từ châu Phi trước khi di cư tới mọi vùng trái đất hay không? Một thời gian dài, các hóa thạch gợi ý rằng, sự xuất hiện người hiện đại tại châu Phi xảy ra khoảng 130 ngàn năm trước, dù còn nhiều tranh cãi về giải phẫu và thời gian cụ thể. Tuy nhiên đến nay bức tranh đã rõ ràng hơn nhiều, với việc phát hiện người H. sapiens idaltu vào năm 2003. Thêm nữa, người hiện đại tại Omo, Ethiopia, được định niên lại là 195 ngàn năm trước. Trong khi đó, sự xuất hiện người hiện đại ngoài châu Phi đều muộn hơn nhiều: 92 ngàn năm trước tại Trung Á, 60-40 ngàn năm trước tại Australia và 40-30 ngàn năm trước tại châu Âu. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, điều đó không mặc nhiên ủng hộ Mô hình thay thế, vì bài toán hòa huyết vẫn chưa thể loại trừ.  Một số bằng chứng khảo cổ gợi ý có sự hòa huyết, vì nhiều đặc tính giải phẫu bền vững với thời gian, cả ở người cổ và người hiện đại. Nhưng một số nhà nhân học cho rằng, đó là những đặc trưng được di truyền từ tổ tiên chung của người cổ và người hiện đại (tức từ khoảng 2 triệu năm trước). Đặc biệt hóa thạch 25 ngàn năm tuổi của em bé 4 tuổi tại Lagar Velho, Bồ Đào Nha, mang một số đặc trưng của người Neanderthal đã tuyệt chủng cho thấy, có thể hòa huyết là sự thật. Một số người không đồng ý như vậy, khi cho rằng, đó là em bé H. sapiens sapiens dị dạng do bệnh tật 5.  Cây phả hệ di truyền:  Nhân học phân tử là một phân ngành nhân học chuyên dùng các phân tích phân tử và di truyền để khám phá nguồn gốc và tiến hóa loài người hay để phân loại và xem xét quá trình tiến hóa của các động vật nhân hình. Nó bắt nguồn từ Thế chiến I, khi hai thầy thuốc tại thành phố Thessaloniki, Hy Lạp, nhận thấy rằng thương binh bị tai biến truyền máu phụ thuộc vào quốc tịch. Đầu những năm 1950, Cavalli-Sforza nghiên cứu sự khác biệt di truyền giữa các tộc người bằng cách khảo sát protein đặc trưng cho các nhóm máu. Khác biệt ở protein phản ánh sự khác biệt trong hệ gene mã hóa chúng.  Sau đó giới nghiên cứu quan tâm chủ yếu tới ADN, yếu tố mang thông tin di truyền. Ngoài ADN trong nhân tế bào chiếm phần chủ yếu, còn có ADN trong ti thể, bào quan chuyên tạo năng lượng cho tế bào. Các ADN này đảm trách việc tổng hợp 37 protein mà ti thể cần để sinh năng lượng. Được biết từ 1963, nhưng vai trò của chúng, đặc biệt trong nhân học phân tử, chỉ được biết trong thập niên 1980. Chúng được di truyền theo đường mẹ con.  Năm 1987, trên tạp chí Nature, dựa trên kết quả nghiên cứu ADN ti thể của các tộc người khác nhau, ba nhà khoa học Cann, Stoneking và Wilson đưa ra một phát hiện chấn động dư luận: Toàn bộ nhân loại trên trái đất hiện nay là hậu duệ của một người phụ nữ sống tại Đông Phi khoảng 200 ngàn năm trước. Đó là nàng Eva ti thể, theo cách tôn xưng của giới truyền thông 6.  Đứng trước sự phê phán, năm 2000, Nature đăng tải công trình của Ingman và đồng sự, trong đó họ lặp lại được những kết quả chính của ba nhà khoa học nói trên với niên đại 172 ± 52 ngàn năm.  Cuối thế kỉ trước, khoa học bắt đầu quan tâm tới ADN trong nhiễm sắc thể Y, loại nhiễm sắc thể qui định giới tính nam, do cha truyền cho con trai. So với ADN ti thể, ADN nhiễm sắc thể Y mang nhiều nucleotide hơn gấp hàng ngàn lần (hàng chục triệu so với 16 ngàn), nên có thể tăng cường độ chính xác khi tìm kiếm sự khác biệt di truyền giữa các tộc người. Để làm điều đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu hàng trăm dấu gene, là vị trí ADN có những đột biến đặc trưng cho một nhánh tiến hóa cụ thể trong cây phả hệ gene.  Nghiên cứu của Spencer Wells, hiện lãnh đạo Đề án bản đồ gene do Hội địa lý quốc gia Mỹ, hãng IBM và Quĩ gia đình Waitt tài trợ (dùng 40 triệu USD nghiên cứu ADN của 100 ngàn người trên khắp hành tinh cho đến năm 2010), cho thấy, toàn thể nam giới trên hành tinh hiện nay đều có nguồn gốc từ người đàn ông duy nhất sống tại Đông Phi 60 ngàn năm trước. Đó là chàng Adam nhiễm sắc thể Y, đối tác của nàng            Sáng tạo nghệ thuật hơn 30 ngàn năm trước là một ưu thế sinh tồn của người hiện đại          Eva ti thể sống từ hơn 100 ngàn năm trước đó 7. (Kinh Thánh xem Adam và Eva là hai người đầu tiên trên thế giới; còn tại Đông Phi có nhiều Adam và Eva, nhưng chỉ Adam của Wells và Eva của Cann mới có hậu duệ hiện đang tồn tại. Con cháu của các Adam và Eva khác đều đã tuyệt chủng. Và cũng không có hiện tượng thắt cổ chai trong dân số tại các thời điểm khảo sát). Eva của Cann và Adam của Wells được gọi là tổ tiên chung gần nhất (TTCGN) của loài người, theo các tiêu chí ADN ti thể và ADN nhiễm sắc thể Y. Cần lưu ý rằng, từng hệ tiêu chí có TTCGN của riêng mình.  Đầu thế kỉ 21, khi hoàn tất bản đồ gene người, với ba tỉ “chữ cái” (nucleotide) trong toàn bộ gene, khoa học có thêm một công cụ mạnh mẽ để nghiên cứu nguồn gốc và tiến hóa loài người. Bằng cách so sánh bộ gene của các tộc người, có thể biết sự tiến hóa giữa họ theo thời gian và địa lý với độ chính xác cao hơn hai kĩ thuật trước đó rất nhiều 8.  Các kĩ thuật di truyền khẳng định ưu thế của Thuyết rời khỏi châu Phi, nhất là khi biết giữa các loài tinh tinh chỉ tại châu Phi còn có sự biến đổi ADN ti thể và gene nhiễm sắc thể Y lớn hơn sự biến đổi di truyền trong toàn thể loài người, bất chấp địa bàn phân bố của tinh tinh hẹp hơn địa lý phân bố của loài người rất nhiều. Nói cách khác, người hiện đại có sự đồng nhất rất cao về mặt di truyền, cho thấy nhiều khả năng họ có chung nguồn gốc. Theo Pearson, Đại học New Mexico, Mỹ, giả thuyết người hiện đại thay thế hoàn toàn người cổ là cách giải thích đơn giản nhất cho thực tế đó.  Kĩ thuật di truyền cũng chứng tỏ, 60 ngàn năm trước, số lượng người hiện đại trên toàn hành tinh chỉ khoảng 10 ngàn trong độ tuổi sinh sản 4.  Các cuộc di cư chủ yếu:  Theo những công bố mới nhất của Đề án bản đồ gene, hành trình chiếm lĩnh trái đất của người tinh khôn (Homo sapiens) có thể miêu tả lại như sau 9, 10:  · 200.000-60.000 năm trước: Người hiện đại tiến hóa tại Đông Phi. Bắt đầu có một số cuộc di cư nội châu Phi và vượt biển Đỏ sang Trung Đông. Người vượt biển hoặc bị diệt vong hoặc quay lại cố hương khi đối mặt với người Neanderthal (cuộc chạm trán lần thứ nhất).  · 60.000-55.000 năm trước: Vượt biển Đỏ tại eo Bab el Mandeb sang Yemen rồi men theo bờ biển Ấn Độ Dương tới lục địa Sunda (gồm vùng Đông Nam Á chưa bị biển ngăn cách) rồi đi tiếp tới Australia. Ngoài ra là các nhánh tới Cận Đông và Trung Á. Tất cả các cuộc di cư này đều được nhận chân nhờ dấu gene M*. Từ Ả-rập Xê-út có hai nhánh quay ngược về Bắc và Đông Phi (dấu gene đặc trưng là M1).  · 55.000-40.000 năm trước: Đây là thời kì dư cư điển hình của người hiện đại. Một nhóm từ vài trăm tới một vài ngàn người tinh khôn (dấu gene M168) vượt biển Đỏ rồi tách đôi tại Trung Đông. Một nhánh (dấu gene M174) đến Sunda, lên Đông Bắc Á, tới Siberia và Mông Cổ, trước khi vòng xuống Tây Nam Trung Quốc. Nhánh thứ hai hoặc tới Bắc Âu (dấu gene R) hoặc tới Trung Á (Bắc Afganistan). Từ đây Homo sapiens đi xuống Đông Nam Á và châu Úc (dấu gene B); xâm nhập miền Trung (dấu gene F) và Nam            Các cuộc di cư dựa trên ADN nhiễm sắc thể Y (màu xanh) và ADN ti thể (màu vàng)        Trung Quốc (dấu gene B); ngược lên Mông Cổ, Altai (Siberia) và Bắc Trung Quốc (dấu gene A, B, F). Nhiều nhánh vượt Siberia qua eo Bering để tới Bắc và Nam Mỹ (dấu gene A, B, C, D).  Và họ tiếp tục xâm nhập Trung Á (M9); Ấn Độ (M69); theo bờ biển tới Sunda trước khi sang Philippines và Australia, cũng như lên Đông Bắc Á, vào Siberia, đồng thời theo bờ Thái Bình Dương sang Tây Bắc Mỹ (đều mang dấu gene M130)  · 40.000-35.000 năm trước: Từ Trung Á tới châu Âu (M173), Trung Âu và bán đảo Iberia (M343), một nguyên nhân khiến người Neanderthal tuyệt chủng (cuộc chạm trán lần thứ hai, với kết quả ngược với lần thứ nhất). Cũng từ Trung Á, họ tiếp tục xâm nhập Tây Bắc Đông Nam Á và Nam Trung Quốc (M175),  · 35.000-30.000 năm trước: Từ Tây Nam Trung Quốc, Homo sapiens tới Đài Loan (M119), Indonesia, Triều Tiên và Nhật Bản (cùng mang dấu gene P31).  · 20.000-10.000 năm trước: Từ Đông Á, người tinh khôn di cư tới Tây Bắc Mỹ (M217). Từ Bắc Afganistan, người hiện đại di cư lên Bắc Âu (LLY22), qua Siberia tới Alaska (M242), rồi tới Bắc và Nam Mỹ (M3). Từ Đông Nam Á, họ đi tới châu Đại Dương (M4); còn từ Nam Trung Quốc, họ ngược lên tới Hoàng Hải (M122).  Đó là mốc thời gian và địa lý của những cuộc di cư chủ yếu. Thông tin chi tiết hơn có thể tìm tại địa chỉ www.nationalgeographic.com trên mạng.  Nghiên cứu của Templeton:  Bằng chứng di truyền học giúp Thuyết rời khỏi châu Phi giành được sự thắng thế hoàn toàn trước Thuyết tiến hóa đa vùng? Không hẳn như vậy, mà nghiên cứu của Templeton là minh họa điển hình 2,11.  Là người thách thức Thuyết rời khỏi châu Phi, Templeton khảo sát 25 vùng ADN, gồm ADN ti thể, ADN nhiễm sắc thể Y, 11 dấu gene gắn với nhiễm sắc thể X và 12 dấu gene dùng ngày 6 triệu năm tuổi khi người và tinh tinh bắt đầu tách nhau để định chuẩn. Kết quả cho thấy 15 dấu gene chứng tỏ sự di cư; và niên đại của các cuộc di cư không phù hợp với giả thuyết rời khỏi châu Phi chỉ một lần. Thay vào đó là ba cuộc đại di cư vào ba thời điểm khác nhau: 1) khoảng 1.9 triệu năm trước ; 2) khoảng 650 ngàn năm trước: và 3) khoảng 130 ngàn năm trước.  Điều đáng nói là kết quả của Templeton phù hợp với bằng chứng hóa thạch. Cuộc di cư thứ nhất ứng với sự xuất hiện và lan tỏa của người đứng thẳng (H. erectus). Cuộc di cư thứ hai ứng với sự gia tăng kích thước hộp sọ khoảng 700 ngàn năm trước và phù hợp với sự xuất hiện của người Heidelberg. Làn sóng di cư cuối cùng ứng với người hiện đại về giải phẫu. Vì thế Templeton kết luận, giả thuyết thay thế không phù hợp, vì dấu gene người cổ vẫn lưu truyền đến tận hôm nay.  Không phải ai cũng đồng ý với Templeton 4. Nghiên cứu của Takahata, Lee và Satta (2001) cho thấy, tỉ lệ dân số châu Phi so với Á – Âu khoảng 9:1. Với 10 ngàn người châu Phi, dân số Á – Âu chỉ là 1.000 người trong tuổi sinh sản. Trong không gian địa lý quá rộng lớn, nhân số nhỏ như vậy không đủ để họ sống sót. Còn những dấu gene có tuổi hơn 200 ngàn năm thì xuất phát từ tổ tiên chung của người đứng thẳng và người hiện đại khoảng 2 triệu năm trước, chứ không phải từ người Heidelberg hay người Neanderthal 11.  Số phận người Neanderthal:  Trước làn sóng di cư từ Trung Á về phía Tây Âu của người hiện đại, người Neanderthal lùi dần về bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay) trước khi tuyệt chủng 28 ngàn năm trước. Nguyên nhân của biến cố này là một thách thức đối với khoa học hiện đại.          Người Neanderthal theo phục dựng của Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ          Theo Wynn và Coolidge (2008), người Neanderthal tuyệt chủng vì họ không có năng lực tinh thần như người hiện đại 12. Bằng chứng khảo cổ cho thấy, công cụ đá của họ không hề cải tiến suốt 200 ngàn năm. Điều đó chứng tỏ người Neanderthal thiếu năng lực phát minh. Trong lúc đó, người hiện đại tạo ra các bức bích họa hoành tráng tại nhiều hang động khắp châu Âu, như hang Lascaux hay Chauvet tại Pháp, từ hơn 30 ngàn năm trước. Vì thế người Neanderthal thua trong cuộc đấu tranh sinh tồn, nhất là khi họ đủ trí tuệ để nhận biết và lo lắng trước ưu thế của người hiện đại. Nói cách khác, sự thua kém trong năng lực trí tuệ và sự căng thẳng trường diễn đã giết chết những người xấu số đó, cho dù giữa họ và người hiện đại dường như không có đụng độ vũ trang.  Vậy người hiện đại và người Neanderthal có hòa huyết hay không? Hiện Viện nhân học tiến hóa Max Planck tại Leipzig, Đức, cùng Công ty Khoa học sự sống 454 tại Connecticut, Mỹ, đang giải mã bộ gene từ hóa thạch xương người Neanderthal 40 ngàn năm tuổi tìm thấy tại Croatia. Theo Stix, Scientific American, July 2008, câu trả lời sẽ có trong vòng 12 tháng tới 3. Khi đó sẽ biết, trong mỗi chúng ta có dấu vết di truyền của người Neanderthal hay không.  Kết luận:  Từ những điều đã trình bày, có thể rút ra các kết luận như sau:  1. Có hai giả thuyết về nguồn gốc loài người là Thuyết rời khỏi châu Phi và Thuyết tiến hóa trên nhiều vùng.  2. Thuyết rời khỏi châu Phi cho rằng người hiện đại tiến hóa tại châu Phi 200 ngàn năm trước rồi tỏa ra khắp hành tinh khoảng 60 ngàn năm trước; họ thay thế hoàn toàn những người có trước như người Heidelberg hay người Neanderthal.           Công cụ đá của người Neanderthal hầu như không cải tiến trong suốt 200 ngàn năm          3. Thuyết tiến hóa trên nhiều vùng xem người hiện đại xuất hiện tại nhiều vùng và sự trộn gene thường xuyên giữa các vùng giúp cả nhân loại đồng nhất về mặt di truyền.  4. Một số nhà nghiên cứu hợp nhất hai giả thuyết thành Thuyết nguồn gốc chủ yếu từ châu Phi, xem người hiện đại xuất hiện tại châu Phi trước khi di cư tới các lục địa khác. Tại đó họ hòa huyết với những người có trước, với phần đóng góp ngoài châu Phi vào bộ gene chung không quá 10%.  5. Các kĩ thuật di truyền khẳng định ưu thế của Thuyết rời khỏi châu Phi, nhưng cũng không loại trừ khả năng trộn gene giữa người hiện đại và người Neanderthal. Lời giải đáp có thể có trong vòng 12 tháng, kể từ tháng 7-2008.    Vĩ thanh:  Từ 2004, nhà văn Hà Văn Thùy, vốn được đào tạo chính qui về sinh học, hăng hái tuyên truyền cho giả thuyết, từ 40.000 năm trước, người Việt đã lên khai phá lục địa Trung Hoa. Vì thế người Việt là nguồn gốc của người Hán, tiếng Việt là chủ thể của tiếng Hán, và người Việt sáng tạo nhiều thành tựu văn hóa vẫn được xem là của người Hán 13. Đó chính là sự tiếp nối truyền thống mà Kim Định, Lê Mạnh Thát và một vài tác giả khác đã xây dựng nền móng, với một chiều kích hoàn toàn mới, cao rộng hơn rất nhiều.  Không khó để thấy sai lầm của tác giả, vì ông lập thuyết chủ yếu dựa trên cuốn Địa Đàng phương Đông: Lục địa Đông Nam Á bị chìm, một cuốn sách phổ biến khoa học không được đánh giá cao của Oppenheimer, chuyên gia nhi khoa nhiệt đới người Anh 14; và diễn giải sai công trình về bộ gene người Trung Quốc của Chu và 16 đồng tác giả đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Science, ngày 29-9-1998 15.  Oppenheimer cho rằng con đường phía Nam, từ châu Phi qua biển Đỏ rồi men theo bờ Ấn Độ Dương tới lục địa Sunda (vùng Đông Nam Á lúc chưa bị nước biển nhấn chìm như hiện nay), là con đường di cư chủ yếu từ 80-90 ngàn năm trước. Từ đây người tinh khôn tỏa ra khắp thế giới; nên Đông Nam Á được gọi là Địa Đàng phương Đông.  Nghiên cứu trong 10 năm qua, tính từ thời điểm công bố hai công trình mà Hà Văn Thùy dùng để lập thuyết, cho thấy, đó là quan điểm sai lầm về thời gian (60.000 năm trước mới có đợt di cư quyết định cuối cùng) và địa lý. Theo Wells và nhiều người khác, con đường phía Bắc, từ Trung Đông lên Trung Á (Bắc Afganistan) mới là hành trình chủ yếu. Khoảng 90% dân cư ngoài châu Phi hiện nay là hậu duệ của những nhà thám hiểm con đường này từ 50-40 ngàn năm trước 16.  Vậy người Hán có nguồn gene chủ yếu từ đâu? Chủ yếu từ người Mongoloid phương Bắc (có nguồn gốc Altai thuộc Siberia; Trung Á; và Đông Nam Á, mà ban đầu cũng từ Trung Á), và từ người Mongoloid phương Nam (hậu duệ của người Mongoloid phương Bắc di cư xuống Tây Nam Trung Quốc, Tây Bắc Đông Nam Á. Người Việt có thể có nguồn gốc Mongoloid là vì vậy 17).  Tài liệu tham khảo  1. Relethford JH (2008), Genetic evidence and the modern human origins debate, Nature Heredity, 100: 555-563  2. Templeton AR (2002), Out of the Africa again and again, Nature, 416: 45-51  3. Stix G (2008), Traces of a distant past, Scientific American, July 2008, pp 38-45  4. Pearson OM (2004), Has the combination of genetic and fossil evidence solved the riddle of modern human origins?, Evolutionary Anthropology, 13: 145-159  5. Weaver TD, Roseman CC (2008), New developments in the genetic evidence for modern human origins, Evolutionary Anthropology, 17: 69-80  6. Mitochondrial Eve, Wikipedia, the free encyclopedia, at www.wikipedia.com  7. Y-chromosomal Adam, Wikipedia, the free encyclopedia, at www.wikipedia.com  8. Wade N (2006), Before the Dawn: Recovering the Lost History of Our Ancestors, Penguin  9. Atlas of the Human Journey, at www.nationalgeographic.com  10. Wells S (2007), Deep Ancestry: Inside the Genographic Project, Natl Geographic  11. Desalle R, Tattersall I (2008), Human Origins: What Bones and Genomes Tell Us about Ourselves, Texas A. & M. Univ. Press  12. Wynn T, Coolidge FL (2008), A stone-age meeting of minds, American Scientist, vol 96, 1: 44-51  13. Hà Văn Thùy (2008), Rời khỏi Địa Đàng hay hành trình chiếm lĩnh Trái đất, Văn nghệ, 19-4-2008  14. Stephen Oppenheimer, Wikipedia, the free encyclopedia, at www.wikipedia.com  15. Chu JY, Huang W, Kuang SQ, et al (1998), Genetic ralationship of populations in China, PNAS, vol 75, pp 11763-11768  16. Spencer Wells, Wikipedia, the free encyclopedia, at www.wikipedia.com  17. Ballinger SW, Schurr TG, Torroni A, et al (1992), Southeast Asian mitochondrial DNA analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migrations, Genetics, 130: 139-152  Đỗ Kiên Cường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Địa lý học lịch sử Việt Nam: Trăm năm một thoáng nhìn      Năm 1964, GS Đào Duy Anh xuất bản cuốn sách kinh điển về địa lý học lịch sử “Đất nước Việt Nam qua các đời”. Đào Duy Anh trở thành người được biết/ nhắc đến nhiều nhất bởi ông đã đặt một viên gạch quan trọng cho chuyên ngành khoa học cơ bản, vừa cao sang vừa hẻo lánh và “kén người” ấy. Kể từ sau cuốn chuyên luận, ngành địa lý học lịch sử ở Việt Nam cũng đã đi qua nhiều chặng đường khác nhau, với nhiều ngả rẽ khác nhau.  Bài giới thiệu này, thay vì ngợi ca các giá trị của cuốn sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của cố GS Đào Duy Anh, sẽ trình bày những sở kiến sở độc của người viết về chuyên ngành rộng lớn mà thâm sâu này.      Địa lý học lịch sử (historical geography) là một thực thể lai ghép (hybrid) của hai ngành khoa học: địa lý học và sử học. Các nhà địa lý học trước nay vẫn cho rằng, địa lý học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu về mọi hiện tượng địa lý đã từng diễn ra trong quá khứ, và những thay đổi địa lý trong suốt chiều dài lịch sử 1, là một trong năm phân môn của địa lý học nhân văn (human geography). Nhiệm vụ của nó là để kết nối địa lý hiện tại với quá khứ và khảo sát các ảnh hưởng của quá khứ trong việc định dạng các tình trạng địa lý ở các thời điểm khác nhau trong lịch sử 2. Trong khi đó, các nhà sử học cho rằng, “địa lý học lịch sử là một môn học bổ trợ của sử học… Mong do đó mà hiểu thêm được về phương diện địa lý những sự kiện lịch sử quan trọng …”3 Có thể nói như sử gia H. B. Geogre, “lịch sử chẳng thể hiểu được nếu không có địa lý” (history is not intelligible without geography)4. Và một cách lịch lãm, nhà địa lý học Alan R. H. Baker hồi đáp lại H. B. Geogre rằng: “địa lý cũng chẳng thể hiểu được nếu không có lịch sử” (geography is not intelligible without history) 5.  Nếu như sử học là một khoa học nghiên cứu về mọi thực thể mọi sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ trên cả hai bình diện không gian và thời gian (cả đồng đại và lịch đại); thì địa lý học lịch sử lấy không gian địa lý làm đối tượng chính yếu để phóng chiếu về hoạt động của con người trong dòng thời gian. Địa lý học lịch sử đối lập với địa lý học ở chiều kích thời gian, một cái nghiên cứu về các hiện tượng địa lý có thể đã từng diễn ra thông qua các vết dấu vật chất tự nhiên và các nguồn sử liệu nhân vi (gồm cả sử liệu văn vật và sử liệu văn hiến) 6; còn địa lý học quan tâm đến các đối tượng địa lý ở thời điểm đương đại như những chứng cứ còn lại từ quá khứ. Địa lý học lịch sử chiếm một vai trò quan yếu trong nhận thức lịch sử vì nó cho phép con người phân biệt các sự kiện lịch sử, các dạng thức văn hóa, các hệ hình văn minh khác nhau trong những không gian địa lý khác nhau. Ngược lại, sử học là một phương thức đặc thù để con người từ các không gian địa lý khác nhau soi sáng về quá khứ của mình trong mối quan hệ với quá khứ của những người khác, cộng đồng khác ở những vùng địa lý khác. Sử học và địa lý học lịch sử là hai kiểu nhận thức khác nhau về thế giới và về con người, giống như hai con mắt với hai điểm nhìn khác nhau, nhằm cùng tạo nên một hình ảnh thế giới trong não bộ. Nhà sử học quan tâm đến con người trong dòng lịch sử, còn nhà địa lý học lịch sử chú ý đến các không gian trong dòng lịch sử – nơi con người sinh trú và tương tác với tự nhiên và xã hội. Thế nhưng, cả nhà sử học lẫn nhà địa lý học lịch sử lại luôn không ngừng mở rộng các chủ đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cụ thể. Từ mối quan tâm chính yếu như biên giới chính trị, địa danh hành chính, địa lý quốc  gia, họ còn mở rộng mối quan tâm đến các dạng thức hoạt động của con người, các hiện tượng của thế giới tự nhiên, như bệnh dịch, tội phạm, khai khoáng, âm nhạc,  môi trường, hệ sinh thái, biến đổi khí hậu… Có thể nói, “Bất kỳ hiện tượng địa lý nào trong lịch sử đều là địa lý học lịch sử, dù là các hiện tượng có tính vùng miền, tính cục bộ, tính văn hóa, tính tự nhiên”.7      Có thể nói như sử gia H. B. Geogre, “lịch sử chẳng thể hiểu được nếu không có địa lý”. Và một cách lịch lãm, nhà địa lý học Alan R. H. Baker hồi đáp lại H. B. Geogre rằng: “địa lý cũng chẳng thể hiểu được nếu không có lịch sử”.      Địa lý học lịch sử, như vậy, vừa là một khoa học độc lập, vừa có tính liên ngành rất cao, nó vừa quan tâm đến lịch sử địa lý tự nhiên, lịch sử khu vực, lịch sử quốc gia, lịch sử vùng miền vừa quan tâm đến lịch sử con người. Nó kết hợp cả hai phạm trù thời gian- không gian với đời sống xã hội 8. Địa lý học lịch sử tìm kiếm những phương thức mà con người chung sống với tự nhiên, khai phá tự nhiên, cải tạo tự nhiên, và đặt định tự nhiên trong nhận thức, hệ thống kĩ thuật, và nền tảng văn minh. Như thế, ngành này nghiên cứu không gian địa lý trong nhận thức của các cộng đồng người, và nghiên cứu con người trong mối tương quan với tự nhiên. Nó nghiên cứu các lát cắt địa lý trong dòng dịch sử, sự biến thiên và sự bất biến của những lát cắt ấy qua thời gian. Nó tái lập những tình trạng địa lý tự nhiên, các ranh giới vùng miền, phục dựng các biên giới lãnh thổ, tái thiết các vùng địa lý- văn hóa, các lãnh thổ của các tộc người. Những kết quả của nghiên cứu địa lý học lịch sử là ánh xạ của mối tương tác đa chiều giữa con người với xã hội và với tự nhiên. Nó là kết quả của những nỗ lực nhận thức để “lội ngược dòng quá khứ” của con người ở các phương diện lịch sử quốc gia, lịch sử dân tộc, lịch sử văn minh, lịch sử văn hóa,… Nó cho phép các quốc gia đương đại, các dân tộc hiện tồn đặt định mình trong không – thời gian để khẳng định sự tồn tại chính đáng của mình ở thời điểm hiện tại. Địa lý học lịch sử không phải là sự kết hợp máy móc giữa địa lý học và sử chí học (historiography), mà là một khoa học địa lý về quá khứ9. Cuối cùng, địa lý học lịch sử quan tâm đến các hiện tượng địa lý trong quá khứ và những ảnh hưởng của quá khứ đối với việc định dạng địa lý hiện tại và tương lai10.  Như trên đã giới thuyết, địa lý học lịch sử là một phân ngành của địa lý học nhân văn (human geography)11 cùng với các phân môn khác là địa lý học kinh tế (economic geography), địa lý học xã hội (social geography), địa lý học văn hóa (cultural geography), và địa lý học chính trị (political geography) [xem biểu đồ dưới]. Trong khi bốn chuyên ngành sau quan tâm chủ yếu đến các bình diện địa lý- nhân văn của thời điểm hiện tại (chủ yếu từ hiện đại đến đương đại)12, thì địa lý học lịch sử quan tâm đến việc phóng chiếu các bình diện trên về quá khứ.    Địa lý học lịch sử, tuy là một tập con của địa lý học nhân văn theo cách phân loại của giới học giả từ 1945 đến nay 13, song thực ra lại chính là các nghiên cứu về địa lý học nhân văn trong lịch sử. Địa lý học lịch sử quan tâm đến mọi chiều kích của địa lý và con người – những yếu tố, các xu hướng có thể đã từng diễn ra trong lịch sử, góp phần tạo nên diện mạo của địa lý – và con người hiện tại. Địa lý học lịch sử, như thế, có thể nói chính là “anh em song sinh” với địa lý học nhân văn. Địa lý học lịch sử chính là địa lý học nhân văn được “chia ở thời quá khứ”; còn địa lý học nhân văn lại là địa lý học lịch sử được “chia ở thời hiện tại hoàn thành tiếp diễn”.  ***  Năm 1964, cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh ra đời, đánh dấu mốc quan trọng cho nghiên cứu địa lý học chính trị, địa lý học lịch sử ở Việt Nam. Chuyên luận gồm 15 chương khảo về diên cách địa lý hành chính của các quốc gia cổ của người Việt từ Văn Lang, Âu Lạc, qua các triều đại Hán- Tam Quốc- Lưỡng Tấn- Nam Bắc Triều- Tùy- Đường, đến các triều đại tự chủ Đinh- Tiền Lê- Lý- Trần- Hồ- Lê và Nguyễn. Như tác giả tự giới thuyết, cuốn sách nghiên cứu “phần địa lý hành chính để nhận định cương vực của nhà nước và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời, rồi đến quá trình mở mang lãnh thổ và quá trình ổn định biên giới.”14 Chuyên luận đồng thời cũng nghiên cứu địa lý học chính trị qua các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như chiến tranh chống Tống thời Lê Hoàn, chiến thắng trước quân Thanh của Quang Trung, hoặc một số địa danh địa lý quan trọng cần thảo luận như sông Bạch Đằng, thành Thăng Long, quần đảo Hoàng Sa, đảo Côn Lôn, và lịch sử đường thủy bộ Việt Nam qua các đời. Về lý thuyết và thao tác luận, hiển nhiên tác giả đã sử dụng và kế thừa các thành tựu của địa lý học nhân văn của Pháp. Một cách tinh tế, ông trích dẫn quan niệm của các học giả của Liên Xô trong “Đại bách khoa toàn thư Xô viết”. “Đất nước Việt Nam qua các đời” có thể nói là công trình kết hợp “ba trong một”, vừa tiếp nối truyền thống sử học- địa lý học bản địa, vừa áp dụng và kế thừa phương pháp luận của giới nghiên cứu thời EFEO, lại vừa thông thuộc lý thuyết của giới khoa học Xô viết. Ấy là chưa kể đến những ảnh hưởng trực tiếp từ giới nghiên cứu Trung Quốc, mà ông không hiển ngôn, nhưng cũng đã từng xuất hiện đây đó trong “Việt Nam văn hóa sử cương”. Những vấn đề về giai cấp, về nhân dân, về dân tộc, về quốc gia đã được tác giả khéo léo dẫn dụng để tạo thành một công trình hệ thống đề cập đến nhiều “khía cạnh địa lý của đại bộ phận những sự kiện của lịch sử dân tộc”.  Sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 đã khiến cho cục diện chính trị tại biển Đông thay đổi đột ngột. Kể từ sau đó, các nghiên cứu địa lý học chính trị và lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa- Trường Sa trở nên bức thiết. Hàng loạt bài viết của các học giả được in trên chuyên đề “Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa” của tạp chí Sử địa (1975). Cho đến sau sự kiện HY981 năm 2014, hàng chục chuyên luận, cả ngàn bài nghiên cứu từ phía các học giả Việt Nam đã xuất bản trên các tạp chí trong và ngoài nước, trong đó phải kể đến Nguyễn Đình Đầu, Phạm Hoàng Quân, Nguyễn Quang Ngọc, Trần Đức Anh Sơn,… và các xuất bản phẩm của Bộ Ngoại giao. Nghiên cứu về địa lý học chính trị ở Hoàng Sa Trường Sa, đã có bài lược thuật riêng, nên chúng tôi không nhắc lại ở đây. Về cơ bản, các học giả sử dụng kết hợp năm nguồn sử liệu để nghiên cứu về địa lý học chính trị của hai quần đảo này, gồm: (1) Nguồn sử liệu và bản đồ Hán Nôm của Việt Nam15; (2) Nguồn sử liệu bản đồ và Hán văn của Trung Quốc16; (3) Nguồn sử liệu bản đồ và các văn bản văn hiến Latin (Pháp, Anh, Bồ, Hà Lan,…)17; (4) Nguồn sử liệu điền dã địa phương (tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa dòng họ, văn học dân gian,..); (5) Nguồn sử liệu văn vật (khảo cổ)18.  Nghiên cứu địa lý học chính trị còn phải kể đến các công trình về đường biên giới đất liền. Cuốn “Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la Péninsule Indochinoise” 19 do Alain Forest chủ biên, đây là cuốn sách tập hợp nhiều nghiên cứu chuyên sâu trên cơ sở khai thác các nguồn sử liệu lưu trữ tại Pháp. Cuốn sách đề cập một cách khoa học và hệ thống các đường biên giới trên đất liền và trên biển của Việt Nam. Trong cuốn này phải kể đến serie bài viết về biên giới Việt- Trung của Nguyễn Thế Anh20. Chuyên luận “Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia” (2015) của Lê Trung Dũng21 gồm năm chương, nghiên cứu lịch sử chiếm hữu và quá trình hình thành biên giới từ thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 16) đến năm 2012. Biên độ rộng của thời gian khảo sát cho thấy cuốn sách là sự kết hợp của nghiên cứu lịch sử, lịch sử ngoại giao, lịch sử chiến tranh với nghiên cứu địa lý học lịch sử. Còn có thể kể ra ở đây hàng loạt nghiên cứu khác về vấn đề này, song ở đây chỉ nêu những điểm nhất quan trọng để giới thuyết bổ sung cho tình hình nghiên cứu của ngành này hiện nay.  Địa lý học lịch sử, như đã trình bày, là một khoa học liên ngành và đa ngành, nó không tồn tại một cách độc lập, tách biệt, mà ở trong thế tương liên, tương hỗ với nhiều ngành khoa học khác. Địa lý học lịch sử ở Việt Nam, từ cội nguồn của truyền thống chép sử Đông Á qua các nghiên cứu thời Pháp thuộc cho đến nay, đã trải qua nhiều chặng đường khác nhau, với những thành tựu và nhiều hướng tiếp cận còn hứa hẹn ở phía trước. Mặt khác còn một số lớn các phân ngành của địa lý học lịch sử chưa được lược thuật ở đây, trong đó phải kể đến địa lý học tộc người, địa lý học ngôn ngữ, địa lý học dân số, địa lý học bệnh lý, địa lý học kinh tế,… Bài giới thiệu này chỉ là góc nhìn qua nhãn quan hạn hẹp của người viết về những vấn đề quá rộng lớn và phức tạp. Song vì yêu mến, ngưỡng mộ và biết ơn những nhà địa lý học lịch sử tiền bối như Đào Duy Anh, mà chúng tôi liều mình thử phác thảo vài nét vẽ vụng về, nhiều khi hơi rối rắm, dẫu biết rằng tri thức thì mênh mông còn mình thì hữu hạn. Nếu có vấn đề gì còn cần tiếp tục trao đổi, thậm chí là những nhận thức sai lầm, rất mong được các học giả và bạn đọc chỉ chính.  ———–  1. Clark, Andrew H. (chairman), Historical Geography. Washington D.C: National Academy of Science- National Research Council. 1952, p.1.  2.  Leila Jalali, Farshad Sameni Keivani, “An Investigation of Historical Geography”, Journal of Humanities And Social Science. Volume 17, Issue 2 (Nov. – Dec. 2013), p.26.  3.  Đào Duy Anh, “Đất nước Việt Nam qua các đời- Nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam”, Hà Nội: NXB Khoa học, 1964, p.3.  4. H. B. Geogre. The Relations of Geography and History. Oxford: Oxford University Press, 1901.  5. Alan R. H. Baker. Geography and History: Bridging the Divide. Cambridge University Press, 2012, p.xi.  6. Về sử liệu văn hiến xin xem Trần Trọng Dương & Trịnh Khắc Mạnh, “Cơ cấu phân ngành Hán Nôm: nhìn từ lý thuyết văn hiến học”. Trong “Cấu trúc vĩ mô (cấu trúc bảng từ) Bách khoa thư chuyên ngành Ngôn Ngữ- Hán Nôm” (Nguyễn Minh Thuyết chủ biên). Đề án biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, VASS, 2017.  7. Clark, Andrew H. (chairman), Historical Geography. Washington D.C: National Academy of Science– National Research Council. 1952, p.1.  8. Alan R. H. Baker – Mark Billinge. Period and Place- Research Methods in Historical Geography. Cambridge- New York- Melbourne- Sydney: Cambridge University Press, 1982.  9.Butlin, R.A. Historical Geography: Through the Gates of Space and Time. New York: A. Arnord.  10. Derek Gregory and others (ed.), The Dictionary of Human Geography. (5th edition). Singapore: Blackwell Publishing, 2009, p.332.  11. Ở Việt Nam thường dịch là “địa lý nhân văn”. Xem Nguyễn Ngọc Tuấn, Từ điển thuật ngữ địa lý nhân văn. Trung tâm Nghiên cứu Địa lý Nhân văn. Hà Nội: Khoa học xã hội, 2003. Theo chúng tôi, “địa lý nhân văn” chỉ là đối tượng nghiên cứu, chứ không phải là tên của chuyên ngành khoa học này. Ở bài này, chúng tôi thống nhất dùng là “địa lý học nhân văn”, tương ứng như cách dịch “sinh thái học nhân văn” (< human ecology). “Địa lý học nhân văn” là từ chỉ chuyên ngành khoa học, còn “địa lý nhân văn” là chỉ đối tượng nghiên cứu của khoa học này, giống như “lịch sử học”/ “sử học” là từ chỉ khoa học nghiên cứu về lịch sử, còn “lịch sử” là chỉ đối tượng nghiên cứu.  12. Ví dụ xem: Nguyễn Song Tùng & Trần Ngọc Ngoạn (cb.), Phát triển kinh tế xanh trong nông nghiệp Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội: NXB.KHXH, 2014.  13. Derek Gregory and others (ed.), The Dictionary of Human Geography. (5th edition). Singapore: Blackwell Publishing, 2009, p.332. Ron Johnson, Human Geography. Encyclopaedia Britannica; link: https://www.britannica.com/science/geography/Human-geography#ref405947  14. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời- Nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam, Hà Nội: NXB Khoa học, 1964, p.3.  15. Nguyễn Đình Đầu. 2014. Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông & Hoàng Sa- Trường Sa. Trong “Đặc khảo Hoàng Sa- Trường Sa”- TC Xưa & Nay. Số 449 tháng 7/ 2014. Tr.18-24.  16. Phạm Hoàng Quân. 2014, Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc, NXB. Văn hóa Văn nghệ. Tp.HCM.  17.Trần Đức Anh Sơn (chủ biên). 2014a. Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Các cộng sự: Võ Văn Hoàng, Nguyễn Nhã, Trần Văn Quyến, Trần Thắng. Nxb. Văn hóa – Văn nghệ. Tp. Hồ Chí Minh.  18. Lâm Thị Mỹ Dung (cb.) Khảo cổ học biển đảo, Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017.  19. Alain Forest, Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la Péninsule Indochinoise, Collection Recherches Asiatiques, dirigée par Alain Forest. Paris : L’Harmattan, 1989.  20. Nguyen The Anh, “La frontière sino-vietnamienne du XIe au XVIIe siècle”; “La frontière sino-vietnamienne du dé-but du XIXe siècle à 1874”; “Le Nam tiến dans les textes vietnamiens”; “Etablisse¬ment par le Viêt-Nam de sa frontière dans les confins occiden¬taux”, Les frontières du Vietnam. Histoire des frontiè¬res de la péninsule indochinoise, P.-B. LAFONT éd. Paris: L’Harmattan, 1989, pp. 65-69, 81-84, 121-127, 185-193.  21. Lê Trung Dũng, Quá trình hình thành đường biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia, Hà Nội: NXB.KHXH. 615p.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Dịch bệnh bí ẩn lặng lẽ lan truyền khắp thế giới      Nấm bệnh Candida auris đang nổi lên như một mối đe dọa nghiêm trọng  tới cộng đồng về các loại vi trùng kháng thuốc.      Nấm C. auris trở thành mối đe dọa cho bệnh viện Mount Sinai ở Brooklyn, Mỹ.  Tháng 5/2018, một người đàn ông lớn tuổi được đưa vào chi nhánh Bệnh viện Mount Sinai ở Brooklyn (Mỹ) để phẫu thuật ổ bụng. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy ông bị nhiễm một loại vi trùng nguy hiểm bí ẩn mới. Các bác sĩ nhanh chóng cách ly ông tại phòng chăm sóc đặc biệt. Sau 90 ngày, người đàn ông đó qua đời, nhưng mầm bệnh đó thì không bởi theo các kết quả xét nghiệm, nó có ở khắp nơi trong phòng, đến mức bệnh viện phải dùng các thiết bị vệ sinh đặc biệt và thậm chí phải gỡ các tấm lót sàn và trần xuống để loại bỏ tận gốc. Ở Mỹ, New York đã xác nhận trường hợp mắc nấm C. auris này lên đến 309 ca, tiếp theo là Illinois (144), New Jersey (104) và 9 tiểu bang khác. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Liên bang Mỹ (CDC) phải bổ sung nó vào danh sách các mầm bệnh được coi là “mối đe dọa khẩn cấp”.  Mầm bệnh này là nấm Candida auris, vốn tập trung tấn công những người có hệ miễn dịch yếu. Âm thầm lây lan trên toàn cầu, trong 5 năm qua, C. auris đã lan tới một trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh ở Venezuela, quét qua một bệnh viện tại Tây Ban Nha, cắm rễ tại Ấn Độ, Pakistan và Nam Phi, buộc một trung tâm y tế uy tín của Anh phải đóng cửa phòng chăm sóc đặc biệt.   C. auris có sức sống dai dẳng và trở thành một ví dụ điển hình mới về sự gia tăng của nhiễm trùng kháng thuốc. Theo CDC, mặc dù các chủng nấm Candida nổi bật khác vẫn chưa phát triển khả năng đề kháng đáng kể với nhiều loại thuốc, nhưng hơn 90% trường hợp nhiễm C. auris đã đề kháng với ít nhất một loại thuốc và 30% trường hợp C. auris có thể đề kháng từ 2 loại thuốc trở lên. TS. Lynn Sosa, người phụ trách dịch tễ học bang Connecticut, cho biết hiện tại bà coi C. auris là mối đe dọa “hàng đầu” trong số các vi trùng kháng thuốc. Gần một nửa số bệnh nhân mắc C. auris chết trong vòng 90 ngày.   Những người chăm sóc bệnh nhân nhiễm C. auris cũng lo lắng cho sự an toàn của chính họ. Bác sĩ Matthew McCarthy tại Trung tâm y tế Weill Cornell ở New York nói, ông thấy sợ hãi khác thường khi điều trị cho một bệnh nhân nam 30 tuổi. Dù vẫn thực hiện chu trình đúng trách nhiệm nhưng ông cho biết: “Tôi luôn có cảm giác kinh hoàng là mình có thể vô tình dính phải nó”.     Mối đe dọa ngày càng tăng     Thường được gọi là “siêu khuẩn” nhưng không phải ai bị nhiễm vi khuẩn kháng thuốc cũng tử vong. Chúng nguy hiểm nhất đối với những người có hệ miễn dịch yếu hoặc chưa trưởng thành. Các nhà khoa học cho rằng, chúng ta cần phát triển được loại thuốc mới hiệu quả và hạn chế mạnh việc sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi. Cái khó hiện nay là việc phát triển mỗi loại thuốc mới cần khoảng 10-20 năm, trong khi đó chúng ta đã ghi nhận những trường hợp tử vong do các loại vi khuẩn kháng hơn 26 loại thuốc kháng sinh.   CDC ước tính, hằng năm Mỹ có khoảng 2 triệu người bị nhiễm trùng kháng thuốc, trong đó 23,000 người tử vong. Con số này được tính toán dựa trên dữ liệu thực tế năm 2010. Gần đây, vào cuối năm 2018, các nhà nghiên cứu tại Đại học Y Washington đã công bố một ước tính khác cao hơn, trong đó con số tử vong do nhiễm trùng kháng thuốc lên tới 162,000 người. ARM-Review cũng dự đoán khoảng 700,000 người chết vì nhiễm trùng kháng thuốc trên toàn thế giới mỗi năm.   Dự án Đánh giá về kháng kháng sinh (ARM-Review) do Chính phủ Anh tài trợ từ 7/2014 đã dự báo, nếu không đưa ra các chính sách kiềm chế tình trạng kháng thuốc thì đến thời điểm năm 2050, sẽ có hơn 10 triệu người trên toàn thế giới có thể chết bởi các bệnh nhiễm trùng nói chung, vượt hẳn con số 8 triệu người dự kiến ​chết vì ung thư trong cùng năm.      “Không cần” công khai thông tin với công chúng     Thông thường với vi khuẩn và nấm, các bệnh viện và chính quyền địa phương luôn tỏ ra miễn cưỡng trong việc tiết lộ ổ dịch bởi họ sợ bị coi là trung tâm lây nhiễm. Ngay cả CDC, theo thỏa thuận với các tiểu bang, cũng không được phép công khai vị trí hoặc tên những bệnh viện liên quan đến ổ dịch. Đã có nhiều trường hợp chính quyền tiểu bang Mỹ từ chối chia sẻ thông tin công khai và chỉ thừa nhận rằng họ đã có trường hợp nhiễm khuẩn. Trong khi đó, vi trùng rất dễ lây lan, chúng bám lên tay người, thiết bị bên trong bệnh viện; truyền từ bệnh nhân ở viện dưỡng lão tới bệnh viện, tồn tại trên thịt và rau bón phân hữu cơ tại trang trại; trên người khách du lịch qua biên giới, và qua hoạt động xuất nhập khẩu toàn cầu.      Cái khó hiện nay là việc phát triển mỗi loại thuốc mới cần khoảng 10-20 năm, trong khi đó chúng ta đã ghi nhận những trường hợp tử vong do các loại vi khuẩn kháng hơn 26 loại thuốc kháng sinh.      Vào cuối năm 2015, TS. Johanna Rhodes, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Imperial College London, đã nhận được một cú điện thoại hoảng loạn từ Bệnh viện Hoàng gia Brompton, London: ‘Chúng tôi không biết nó đến từ đâu. Chưa bao giờ nghe đến nó, và rồi nó cứ lan như lửa cháy ấy’, TS. Rhodes kể lại cuộc trao đổi. Bệnh viện cho biết nấm C. auris đã có mặt ở đó vài tháng và họ không có cách nào loại trừ được nó. TS Rhodes đã nhận lời giúp bệnh viện xác định bản mã di truyền của loại nấm này. Dưới sự chỉ đạo của Rhodes, các nhân viên sử dụng một thiết bị đặc biệt để phun khí hydro peroxide (H2O2) quanh căn phòng bệnh nhân mắc C. auris, khí hơi sẽ quét sạch mọi ngóc ngách. Họ để thiết bị chạy một tuần, rồi đặt một đĩa lắng đọng có chứa lớp gel vào giữa, cho phép những vi khuẩn còn sót lại phát triển trên đó. Kết quả, chỉ có một sinh vật duy nhất sinh sôi trở lại là C. auris.  Mặc dù loại nấm này lan truyền rộng rãi nhưng thông tin về nó lại bị ghìm lại. Bệnh viện Hoàng gia Brompton – nơi chuyên điều trị các bệnh về tim phổi, có nhiều bệnh nhân giàu có từ vùng Trung Đông và châu Âu. Họ đã gửi cánh báo về C. auris đến Chính phủ Anh cũng như nói cho các bệnh nhân bị nhiễm bệnh biết, nhưng không công khai bất kì một tin tức nào. Ông Oliver Wilkinson, người phát ngôn của bệnh viện cho rằng “không cần thiết phải đưa ra thông cáo báo chí trong tình trạng bùng phát dịch” như thế.   Tình trạng này đang diễn ra ở nhiều bệnh viện trên khắp thế giới. Các tổ chức, chính quyền quốc gia, tiểu bang và chính quyền địa phương miễn cưỡng công khai các đợt bùng phát nhiễm trùng kháng thuốc, cho rằng sẽ chẳng có ích gì khi khiến bệnh nhân hoặc những người có khả năng mắc bệnh phải sợ hãi. TS. Silke Schelenz, Bệnh viện Hoàng gia Brompton, cảm thấy bức xúc về cách hành xử này, bởi rõ ràng họ bảo vệ danh tiếng hơn là sức khỏe con người.  Những bí mật này làm dấy lên phẫn nộ. “Tại sao chúng ta lại chỉ được đọc về một ổ dịch khi nó đã xảy ra gần 1 năm rưỡi, mà chẳng phải trên trang nhất các tờ báo vào lúc dịch nổ ra?”, bác sĩ Kevin Kavanagh ở Kentucky và là chủ tịch hội đồng quản trị của Health Watch USA – một nhóm vận động bệnh nhân phi lợi nhuận, đặt câu hỏi khi đề cập đến trường hợp một ổ dịch lớn hơn đã xảy ra tại Bệnh viện Đại học Politècnic La Fe, ở Valencia, Tây Ban Nha, vốn chỉ được công khai thông tin về 372 người bị nhiễm khuẩn (mang mầm bệnh nhưng không có triệu chứng), 85 người bị nhiễm trùng máu và tỷ lệ tử vong 41% cho đến khi một bài báo khoa học trên tạp chí Myscoses được xuất bản vào tháng 4/2018. Một bác sĩ làm việc tại đây và là đồng tác giả của bài báo trên Myscoses cho biết, bệnh viện không muốn anh nói chuyện với nhà báo bởi nó “liên quan đến hình ảnh công chúng của bệnh viện.”     Vai trò của thuốc trừ sâu?     Trong khi CDC nỗ lực hạn chế sự lây lan của chủng nấm C. auris kháng thuốc, các nhà điều tra của họ cũng cố gắng trả lời câu hỏi nó bắt nguồn từ đâu? Nấm Candida auris được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2009 khi các bác sĩ tìm thấy nó trong dịch tai của một bệnh nhân ở Nhật Bản (auris có nghĩa là tai trong tiếng Latin). Thời điểm đó, nó được xem như vô hại, chỉ là một biến thể của bệnh nhiễm nấm dễ điều trị thông thường. Ba năm sau, nó tái xuất hiện trong kết quả xét nghiệm bất thường tại phòng thí nghiệm của TS. Jacques Meis, một nhà vi trùng học ở Hà Lan khi phân tích nhiễm trùng máu của 18 bệnh nhân từ 4 bệnh viện ở Ấn Độ.   Đưa ra giả thuyết C. auris bắt đầu từ châu Á và lan rộng trên toàn cầu nhưng các nhà điều tra của CDC nhận thấy không phải chỉ có một chủng auris khi so sánh bộ gene của các mẫu auris từ Ấn Độ, Pakistan, Venezuela, Nam Phi và Nhật Bản. Kết quả giải trình tự gene cho thấy, có 4 phiên bản phân biệt của loại nấm này. Sự khác nhau nhiều đến mức họ nghĩ chủng này đã phân nhánh từ hàng ngàn năm trước và xuất hiện dưới dạng mầm bệnh kháng kháng sinh từ những môi trường vô hại đồng thời ở 4 nơi.   Có nhiều giả thuyết khác nhau về những gì đã xảy ra với C. auris. TS. Meis cho rằng nấm kháng thuốc được hình thành phát triển do việc sử dụng quá nhiều thuốc diệt nấm trên cây trồng. Ông bị hấp dẫn bởi nấm kháng thuốc này khi nghe về trường hợp bệnh nhân 63 tuổi ở Hà Lan mất năm 2005 do một loại nấm tên là Aspergillus có khả năng chống lại itraconazole, một trong những thuốc điều trị nấm hàng đầu hiện nay. Loại thuốc đó là một bản sao của thuốc trừ sâu azole hiện được dùng phổ biến trên thế giới và chiếm hơn 1/3 tổng doanh số bán thuốc diệt nấm toàn cầu.  Theo một bài báo trên tạp chí Plos Pathogens năm 2013, không phải ngẫu nhiên mà nấm Aspergillus kháng thuốc xuất hiện ở môi trường sử dụng thuốc azole. Loại nấm này xuất hiện trong 12% mẫu đất của Hà Lan, nhưng cũng xuất hiện ở “các luống hoa, phân hữu cơ, lá, hạt giống, mẫu đất của vườn chè, ruộng lúa, không gian xung quanh bệnh viện và mẫu không khí tại bệnh viện”. Ông Meis đưa ra giả thuyết, điều tương tự cũng đang xảy ra với nấm C. auris, và Azoles đã tạo ra một môi trường khắc nghiệt đến nỗi những loại nấm đó buộc phải tiến hóa theo hướng kháng thuốc để tồn tại. Điều này tương tự như những lo ngại rằng vi khuẩn kháng thuốc đang phát triển do lạm dụng quá nhiều kháng sinh trong chăn nuôi để tăng sức khỏe và tăng trưởng.   Ngược lại, TS. Tom Chiller, trưởng khoa nghiên cứu nấm bệnh của CDC đưa ra giả thuyết: C. auris có thể đã được “hưởng lợi” từ việc lạm dụng thuốc diệt nấm. Ý tưởng của ông là C. auris thực sự đã tồn tại hàng ngàn năm, ẩn trong các kẽ hở của thế giới và là một loại nấm không đặc biệt nguy hiểm. Nhưng khi azole bắt đầu tiêu diệt những loại nấm phổ biến khác, cơ hội mở đến với C. auris – loại vi trùng đã có sẵn khả năng kháng thuốc diệt nấm, sẽ thật phù hợp sinh tồn trong một thế giới mà những loại nấm thông thường khác đang bị tấn công, hủy diệt. Hiện tại, sự xuất hiện bí ẩn của C. auris vẫn chưa được giải quyết, nhưng nguồn gốc của nó dường như không quan trọng bằng việc tìm cách ngăn chặn sự lây lan.     Phong Du lược dịch  Nguồn: https://www.nytimes.com/2019/04/06/health/drug-resistant-candida-auris.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch bệnh coronavirus: Tiếp theo sẽ là gì?      Các chuyên gia cân nhắc các kịch bản xấu nhất và ít thiệt hại nhất khi WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.      Các nhà khoa học và các nhà chức trách y tế trên khắp thế giới đang chạy đua chặn sự lây lan của virus chết người mới xuất hiện ở Vũ Hán vào tháng 12/2019. Hàng trăm người đã bị phơi nhiễm chủng coronavirus mới, nguyên nhân dẫn họ đến bệnh viêm phổi. Số người chết đã lên tới con số 213 và còn gia tăng hàng ngày. Vào ngày 30/1/2020, WHO đã tuyên bố một tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế (PHEIC) – một mức cảnh báo dành cho những sự kiện y tế cho thấy sự nguy hiểm cho nhiều quốc gia và đòi hỏi sự đối phó được điều phối ở tầm quốc tế.  Dù vào thời điểm này, những chi tiết cốt lõi về chủng virus này và cách chúng lan truyền vẫn còn chưa rõ nhưng các chuyên gia đang xem xét các kịch bản xấu nhất và ít thiệt hại nhất trên cơ sở những dịch bệnh truyền nhiễm trước cũng như những gì các nhà khoa học mới nắm bắt được.  Bao nhiêu người nữa sẽ nhiễm virus?    Chính quyền Trung Quốc đã đóng cửa các thành phố và trung tâm của dịch bệnh này, còn các nhà nghiên cứu đang nhanh chóng chia sẻ dữ liệu về virus với WHO và đồng nghiệp. Nhưng con số các ca nhiễm bệnh vẫn gia tăng, và đã vượt qua con số 9.000 người, chủ yếu ở Trung Quốc. Điều này dẫn đến một dự đoán là virus có thể nhiễm cho khoảng 39.000 trong số 30 triệu người đang sống ở khu vực Vũ Hán. “Dường như virus đã vượt khỏi tầm kiểm soát ở Trung Quốc, lan truyền quá xa, quá nhanh và quá khó để ngăn chặn,” Ian Mackay, một nhà vi trùng học ở ĐH Queensland tại Brisbane, Australia, nói.  Trong trường hợp may mắn nhất, ít người sẽ bị lây nhiễm bởi những ảnh hưởng từ các biện pháp kiểm soát sẽ bắt đầu có hiệu lực, Ben Cowling, một nhà dịch tễ học tại ĐH Hong Kong, cho biết. Nhưng vẫn còn quá sớm để nói là liệu các nỗ lực để cách ly người nhiễm bệnh và sự phổ biến của khẩu trang, có hiệu quả hay không. Thời kỳ ủ bệnh của virus — lên đến 14 ngày — dài hơn các biện pháp kiểm soát đã từng thực hiện, ông nói.  Trong kịch bản xấu nhất, khoảng 190.000 người có thể bị nhiễm bệnh ở Vũ Hán, theo một mô hình dự đoán khác. Các nhà khoa học đã lo ngại về những cơn bùng phát mới xuất hiện ngoài Trung Quốc. Virus mới lan truyền ở một số khu vực nhỏ, cục bộ tại Việt Nam, Nhật Bản, Đức và Mỹ, nhưng các chính quyền đã nhanh chóng cô lập những người nhiễm bệnh. Đến hết ngày 30/1/2020, ít hơn 100 ca được ghi nhận bên ngoài Trung Quốc.  Virus có ở lại một khu vực?  Khi một virus lưu hành liên tục tại một cộng đồng, nó được gọi là đặc hữu. Các virus này là nguyên nhân gây bệnh thủy đậu, cúm, những loại đặc hữu ở nhiều quốc gia nhưng sự bùng phát có thể được kiểm soát bằng tiêm chủng vaccine và dể mọi người ở nhà nếu họ bị ốm.  Một câu hỏi lớn là liệu coronavirus có như vậy không. Nếu những nỗ lực để ghìm chân nó thất bại, nó có cơ hội để trở thành loài đặc hữu và gây ra dịch địa phương. Với cúm, điều này có nghĩa là có những cái chết xảy ra hàng năm vì virus lưu hành, cho đến khi phát triển được một vaccine. Nếu virus có thể lây lan do người bị nhiễm virus nhưng không có triệu chứng nhiễm, sẽ rất khó khăn để kiểm soát sự lây lan và khiến cho virus sẽ trở thành virus đặc hữu và gây dịch địa phương.  Đã có nhiều ca bị lây nhiễm từ những người không có triệu chứng nhiễm bệnh nhưng vẫn còn chưa rõ là liệu những ca không có triệu chứng hay triệu chứng không rõ rệt là phổ biến và liệu chúng có lây nhiễm hay không, và có thì như thế nào? “Chúng ta có thể tìm thấy một virus sẽ đi cùng chúng ta suốt một thời gian dài, có thể là mãi mãi,” Mackay nói.  Những ca không triệu chứng khiến virus mới khác biệt với coronavirus là nguyên nhân gây bệnh SARS, một dịch bệnh toàn cầu năm 2002–2003 nhưng chỉ lây nhiễm khi con người bị ốm ở mức cần được chăm sóc ở bệnh viện và khi dịch được kiểm soát ở các bệnh viện, SARS được ngăn chặn. Không có bằng chứng nào cho thấy virus này vẫn còn lưu hành trên người, Mackay nhấn mạnh.  Nếu các giải pháp kiểm soát hiệu quả, và việc lan truyền giữa một cá nhân nhiễm bệnh cho người khác chậm xuống, dịch bệnh hiện tại có thể đơn giản đã được kiềm chế, Cowling nói.  Virus có thay đổi?    Một số nhà nghiên cứu lo ngại là coronavirus Vũ Hán lan truyền, mầm bệnh có thể biến đổi, vì vậy việc lây nhiễm khó lường hơn hoặc có xu hướng gây ra bệnh cho những người trẻ. Hiện tạiy, virus là nguyên nhân gây ốm, chết chủ yếu ở những người lớn tuổi hơn, đặc biệt những người từng có tiền sử mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim. Một người đàn ông Vũ Hán 36 tuổi không có tiền sử bệnh tật là nạn nhân ít tuổi nhất của dịch bệnh.  Kristian Andersen, một nhà nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm tại Scripps Research ở La Jolla, California, không lo ngại về việc virus trở nên độc hơn. Ông nói sự biến đổi liên tục của các virus là một phần của vòng đời nhưng những biến đổi đó không khiến virus độc hơn hay là nguyên nhân làm trầm trọng hơn tình trạng dịch bệnh. “Tôi không tìm thấy ví dụ nào như thế này với một mầm bệnh,” ông nói.  Trong các tình trạng nơi một virus nhảy từ một vật chủ trung gian sang các loài khác – có thể là cách coronavirus mới bắt đầu lây nhiễm cho người – có thể có một áp lực lựa chọn để cải thiện khả năng sống sót trên một vật chủ mới nhưng hiếm khi có hiệu ứng về dịch bệnh trên người hoặc khả năng lan truyền của virus, Andersen nói. Phần lớn các đột biến được đều bất lợi cho virus hoặc không để lại hậu quả, ông nói. Trong nghiên cứu năm 2018 về SARS trên các tế bào động vật linh trưởng, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một đột biến của virus trong dịch bệnh năm 2003 có lẽ làm giảm độc lực của virus.  Các nhà nghiên cứu đã chia sẻ hàng tá giải trình tự gene từ các chủng coronavirus mới, và việc cung cấp  các trình tự gene sẽ tiết lộ những thay đổi di truyền khi tiến triển dịch bệnh, MacKay nói. “Các viruse không thay đổi hành vi ít nhất cho đến khi chúng thay đổi trình tự gene, và chúng ta cần thấy virus thay đổi một cách liên tục hay nhất quán,” ông giải thích.  Có bao nhiêu người sẽ tử vong vì dịch bệnh?    Thật khó để tính toán được tỉ lệ tử vong do một virus gây ra – tỉ lệ những người nhiễm bệnh và không qua khỏi – giữa ổ dịch bởi hồ sơ về các ca mới liên tục được cập nhật. Với 213 người chết từ gần 10.000 bị nhiễm bệnh, coronavirus mới có tỉ lệ chết là 2 đến 3%, thấp hơn SARS, nguyên nhân dẫn đến cái chết của 10% người nhiễm bệnh. Tỉ lệ chết được biết do coronavirus mới dường như  suy giảm khi các ca không triệu chứng hoặc không biểu hiện triệu chứng được nhận diện, nhà vi trùng học Mark Harris tại ĐH Leeds, Anh, nói với Trung tâm báo chí khoa học ở London.  Hiện chưa có loại thuốc nào hiệu quả với virus. Hai loại thuốc HIV hướng đích với một protein, vốn hỗ trợ coronaviruses sao chép đang được thử nghiệm để điều trị. Các nhà khoa học cũng nhận diện được những thuốc đang hiện hành có  chức năng này, và nhiều nhóm nghiên cứu quốc tế đang cùng nhau phát triển vaccine.  Số lượng ca tử vong sẽ còn phụ thuộc vào cách hệ thống y tế của Trung Quốc đối phó với số lượng lớn các ca. Những gì có thể làm lúc này là truyền nước và máy thở để đảm bảo cho người bệnh đủ chất lỏng và lượng ô xy trong khi hệ miễn dịch của cơ thể chống chọi lại với virus. Trung Quốc đang xây hai bệnh viện lớn ở Vũ Hán để chứa người bị nhiễm bệnh nhưng nếu virus lan sang những vùng đất ít nguồn lực hơn như châu Phi, hệ thống y tế của họ sẽ phải chống chọi với khó khăn, theo Sanjaya Senanayake, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở ĐH Quốc gia Australia ở Canberra.  Trong thông báo về tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu, tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus cho biết, lo ngại lớn nhất của ông là dịch bệnh có thể lan sang những quốc gia có hệ thống y tế yếu hơn.  Nếu virus lan truyền khắp thế giới, số lượng người chết có thể tăng lên đáng kể. Tuy thấp hơn tỉ lệ tử vong của SARS nhưng tỉ lệ này của virus mới vẫn còn quá cao với một bệnh truyền nhiễm, Adam Kamradt-Scott, một chuyên gia an ninh y tế toàn cầu tại ĐH  Sydney, Australia. Dịch cúm năm 1918 với cái tên cúm Tây Ban Nha, lây nhiễm cho một nửa tỉ người, tương đương 1/3 dân số thế giới thời điểm đó và gây ra cái chết của hơn 2,5% người bị nhiễm, ước tính 50 triệu người.  Coronavirus Vũ Hán có thể không kích hoạt một kịch bản tận thế bởi nó không lây nhiễm cho những người trẻ và người khỏe mạnh, Kamradt-Scott trấn an.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00236-9       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch bệnh trầm trọng thêm vì tin giả      Theo nghiên cứu mới của ĐH East Anglia (UEA), tin giả có thể làm các đợt bùng phát dịch bệnh thêm trầm trọng.      Cần làm theo các hướng dẫn phòng ngừa dịch bệnh của các cơ quan y tế đáng tin cậy. Nguồn: NST  Các nhà nghiên cứu tập trung vào bệnh cúm, bệnh thủy đậu và virus gây bệnh truyền nhiễm qua hai nghiên cứu. Họ cho biết, những phát hiện lần này cũng có thể giúp đối phó với đợt bùng phát COVID-19. Theo nhóm nghiên cứu, việc ngăn chặn tin tức giả mạo, thông tin sai lệch và lời khuyên có hại trên mạng xã hội có thể cứu sống nhiều mạng người.  Từ trước đến nay tin giả đã được chứng minh là có thể bóp méo các quy trình chính trị hoặc thao túng thị trường tài chính, nhưng rất ít nghiên cứu chỉ ra rằng lan truyền thông tin sai lệch có thể gây hại cho sức khỏe con người, đặc biệt là trong thời gian bùng phát dịch bệnh.  Chuyên gia COVID-19, giáo sư Paul Hunter và tiến sĩ Julii Brainard của thuộc Trường Y khoa Norwich của UEA, đã thiết lập thử nghiệm tác động của việc chia sẻ thông tin sai đối với sức khỏe con người trong thời kỳ một dịch bệnh bùng phát.  Giáo sư Hunter nhận xét, “tin tức giả được tạo ra không tôn trọng tính chính xác và thường dựa trên các thuyết âm mưu”. Đáng lo ngại hơn, nghiên cứu đã chỉ ra rằng gần 40% công chúng Anh tin vào ít nhất một thuyết âm mưu, tỉ lệ này ở Hoa Kỳ và các nước khác thậm chí còn cao hơn.  Đã có rất nhiều suy đoán về COVID-19, thông tin sai và tin giả về cách thức virus phát sinh, nguyên nhân gây ra và lây lan lưu hành đầy trên internet.  “Thông tin sai và lời khuyên sai có thể lưu hành rất nhanh chóng và có thể thay đổi hành vi của con người theo hướng rủi ro hơn, ví dụ chúng ta đã thấy sự trỗi dậy của phong trào chống vaccine làm gia tăng các trường hợp mắc bệnh sởi trên toàn thế giới”, giáo sư Hunter nói và lưu ý, nếu tin vào những thông tin sai lệch thì người dân ở khu vực Tây Phi có dịch Ebola sẽ thực hành các biện pháp chôn cất không an toàn. Tại Anh, chỉ có 14% phụ huynh cho biết đã đưa con đến trường khi trẻ có các triệu chứng bệnh thủy đậu, vi phạm chính sách của nhà trường và các khuyến nghị kiểm dịch chính thức.  Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là “mọi người thường chia sẻ lời khuyên sai trên mạng xã hội hơn là chia sẻ lời khuyên từ các nguồn đáng tin cậy như Cơ quan Y tế công cộng Anh hoặc Tổ chức Y tế thế giới”, ông nêu thực trạng.   Các nhà nghiên cứu đã tạo ra các mô phỏng lý thuyết có tính đến các hành vi thực tế, mức độ lây lan của các bệnh khác nhau, thời gian ủ bệnh và thời gian phục hồi, cũng như tốc độ và tần suất đăng tải trên mạng xã hội và chia sẻ thông tin trực tiếp ngoài đời thật. Họ cũng đã tính đến mối liên hệ chặt chẽ giữa sự mất lòng tin vào các cơ quan chính thống và xu hướng tin vào các thuyết âm mưu, hiện tượng mọi người tương tác trong các “bong bóng thông tin” trên mạng và thực tế là mọi người có nhiều khả năng chia sẻ những câu chuyện sai lệch hơn là thông tin chính xác.  Các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu các chiến lược để chống lại tin giả mạo như đưa ra số lượng lớn hơn các thông tin chính xác và giáo dục cho người dân. TS Julii Brainard nói: “Chúng tôi đã thử nghiệm các chiến lược để giảm thông tin sai lệch. Trong nghiên cứu đầu tiên của chúng tôi, tập trung vào bệnh cúm, bệnh thủy đậu và virus gây bệnh truyền nhiễm, chúng tôi thấy nếu giảm 10% tỉ lệ lời khuyên sai trên tổng số lời khuyên đang lưu hành (giả sử số lời khuyên sai trong tổng số các lời khuyên đang lưu hành là 50% sẽ giảm còn 40%) có thể cải thiện tình hình dịch bệnh. Làm cho 20% dân số không chia sẻ hoặc tin vào lời khuyên sai cũng có tác động tích cực tương tự”.  Nhìn lại cả hai nghiên cứu, TS Julii Brainard cho biết, “Không có nghiên cứu nào trước đây xem xét chi tiết như vậy về việc lan truyền thông tin sai lệch ảnh hưởng thế nào đến sự lây lan của bệnh. Chúng tôi thấy rằng thông tin sai lệch trong thời điểm dịch bệnh có thể làm cho những đợt bùng phát trở nên nghiêm trọng hơn”. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-fake-news-disease-outbreaks-worse.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch bệnh từ sự nóng lên      Sự nóng lên toàn cầu sẽ làm hồi sinh những vi khuẩn đã ngủ quên từ hàng triệu năm trước, làm phát tán những căn bệnh mà trước đây chỉ khu trú ở một vài cộng đồng nhỏ hẹp, và có thể khiến những vi sinh vật vốn thân thiện với con người trở nên nguy hiểm…     Băng tan sẽ giải phóng những vi khuẩn, virus hàng triệu năm về trước. Ảnh: 7news.com.au  Đá là sử liệu về hành tinh, trải qua hàng triệu năm bị san phẳng bởi sức mạnh của niên đại địa chất thành các  lớp địa tầng với biên độ chỉ vài centimet, hay một, hay thậm chí ít hơn. Băng cũng vậy, nó như một cuốn sổ cái về khí hậu, nhưng cũng là lịch sử bị đông cứng, và một số trong đó có thể được hồi sinh khi rã băng. Có những mầm bệnh hiện đang mắc  kẹt trong băng ở Bắc Cực, vốn không lây truyền trong không khí suốt hàng triệu năm – một số trường hợp là từ trước khi loài người xuất hiện. Nghĩa là hệ miễn dịch của chúng ta sẽ không biết cách chống lại khi những bệnh dịch thời tiền sử đó thoát ra khỏi băng. Trong các phòng thí nghiệm, một số vi khuẩn đã được hồi sinh: một loại vi khuẩn “siêu mạnh mẽ” 32.000 năm tuổi được hồi sinh vào năm 2005, một con rệp 8 triệu năm tuổi được làm sống lại vào năm 2007, một vi khuẩn 3,5 triệu năm tuổi được một nhà khoa học người Nga tự tiêm vào cơ thể, không phải vì tò mò, chỉ để xem điều gì sẽ xảy ra. (Ông này sống sót). Năm 2018, các nhà khoa học đã hồi sinh một thứ lớn hơn chút đỉnh – một con giun bị đông lạnh trong băng vĩnh cửu suốt 42.000 năm.  Bắc Cực cũng lưu giữ những căn bệnh đáng sợ trong thời gian gần đây. Tại Alaska, các nhà nghiên cứu đã phát hiện tàn dư của dịch cúm năm 1918, căn bệnh lây nhiễm cho 500 triệu người, và giết chết khoảng 50 triệu người – khoảng 3% dân số thế giới, và gấp gần sáu lần số người chết trong Chiến tranh Thế giới, đó là lý do đại dịch này giống như một trải nghiệm khủng khiếp. Các nhà khoa học nghi ngờ bệnh đậu mùa và dịch hạch đang mắc kẹt trong băng tại Siberia, cùng những mầm bệnh khác đã đi vào truyền thuyết của loài người – đó là một lịch sử cô đọng về những căn bệnh tàn khốc, bị bỏ lại như thứ cặn bẩn dưới ánh Mặt trời Bắc Cực.  Nhiều trong số những sinh vật bị đóng băng này sẽ không sống thực sự sau khi rã băng; những cá thể sống lại được hồi sinh trong điều kiện nghiêm ngặt của phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, vào năm 2016, một cậu bé đã tử vong và hai mươi người khác bị nhiễm bệnh than, căn bệnh được giải phóng khi băng vĩnh cửu tan ra, để lộ xác chết đông lạnh của một con tuần lộc bị vi khuẩn tiêu diệt ít nhất 75 năm trước đó; hiện có hơn hai nghìn con tuần lộc đã chết.    Điều khiến các nhà dịch tễ học quan tâm hơn so với những mầm bệnh cổ xưa là các tai họa hiện hữu được định hình lại, tái kết nối, thậm chí tái tiến hóa bởi sự nóng lên.    Điều khiến các nhà dịch tễ học quan tâm hơn so với những mầm bệnh cổ xưa là các tai họa hiện hữu được định hình lại, tái kết nối, thậm chí tái tiến hóa bởi sự nóng lên. Tác động đầu tiên thuộc về địa lý. Trước thời kỳ đầu hiện đại, đời sống co cụm của loài người là một lá chắn trước các đại dịch – một con rệp có thể xóa sổ một thị trấn, một vương quốc, thậm chí trong hoàn cảnh cực đoan là cả một lục địa – nhưng trong hầu hết các trường hợp, nó không thể lây lan xa hơn khỏi những nạn nhân của mình, nghĩa là không quá xa. Đại dịch Cái chết Đen đã tiêu diệt tới 60% dân số châu Âu, nhưng xem xét theo chiều hướng vô thực khủng khiếp: liệu tác động của nó có thể lớn đến mức nào trong một thế giới toàn cầu hóa thực sự.  Ngày nay, ngay cả với sự toàn cầu hóa và sự pha trộn nhanh chóng của các quần thể người, hệ sinh thái của chúng ta vẫn gần như ổn định, và điều này có ý nghĩa như một giới hạn khác – chúng ta biết nơi những con rệp có thể lây lan, đồng thời cũng biết môi trường mà chúng không thể. (Đây là lý do tại sao một số lĩnh vực du lịch mạo hiểm đòi hỏi tới hàng chục loại vaccine và thuốc phòng bệnh mới, và tại sao cư dân New York du lịch đến London không cần phải lo lắng).  Nhưng hiện tượng nóng lên toàn cầu sẽ làm xáo trộn các hệ sinh thái đó, nghĩa là nó sẽ giúp bệnh tật xâm nhập những ranh giới đó chắc chắn như cách Cortés1 đã làm. Dấu vết của mọi căn bệnh truyền nhiễm do muỗi hiện đang bị giới hạn, nhưng những ranh giới đó đang biến mất nhanh chóng, theo mức độ mở rộng của các vùng nhiệt đới – tốc độ hiện là 50km trong một thập kỷ. Tại Brazil, trong nhiều thế hệ, bệnh sốt vàng da tiềm ẩn ở lưu vực sông Amazon, nơi muỗi Haemagogus và Sabethes phát triển mạnh, khiến nó trở thành mối đe dọa cho những ai sống, làm việc, hay đi sâu vào rừng, nhưng chỉ đối với họ; vào năm 2016, căn bệnh rời khỏi Amazon, khi ngày càng nhiều muỗi lan ra từ rừng mưa này; và vào năm 2017, nó lan đến các siêu đô thị trên khắp đất nước, São Paulo và Rio de Janeiro – hơn ba mươi triệu người, nhiều trong số đó sống trong các khu ổ chuột, phải đối mặt với sự xuất hiện của một căn bệnh gây tử vong từ 3 đến 8 phần trăm số ca nhiễm.  Vào năm 2015, 2/3 loài linh dương saiga trên toàn cầu đã chết, vì một vi khuẩn vốn sống bình thường trong cơ thể chúng đột nhiên trở nên nguy hiểm khi khí hậu ẩm ướt đột ngột.  Sốt vàng da chỉ là một trong những bệnh dịch được loài muỗi mang theo khi di cư, xâm chiếm ngày càng nhiều nơi trên một thế giới đang nóng lên – một sự toàn cầu hóa bệnh dịch. Chỉ tính riêng bệnh sốt rét đã giết chết hàng triệu người mỗi năm, lây nhiễm ngày càng nhiều, nhưng bạn không cần quá lo lắng về nó nếu đang sống ở Maine hoặc Pháp. Khi vùng nhiệt đới mở rộng lên phía Bắc, và muỗi di cư theo, có lẽ bạn sẽ phải lo lắng; trong thế kỷ tới, ngày càng nhiều cư dân trên thế giới phải sống dưới cái bóng của những căn bệnh như thế. Người Mỹ cũng đã từng không phải lo lắng quá nhiều về bệnh Zika vài năm trước.  Thực ra, Zika cũng có thể là một hình mẫu tốt cho tác động đáng lo ngại thứ hai – sự biến đổi của mầm bệnh. Một lý do mà người Mỹ chưa nghe về Zika cho đến gần đây là nó bị mắc kẹt ở Uganda và Đông Nam Á; một lý do khác là cho đến gần đây, nó không có biểu hiện gây dị tật bẩm sinh. Các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn hiểu được những gì đã xảy ra, hoặc những gì họ bỏ sót, ngay cả ở hiện tại, vài năm sau khi hành tinh bị kìm kẹp trong cơn hoảng loạn về chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh: có thể căn bệnh đã biến đổi khi tới châu Mỹ, hậu quả đến từ một đột biến gene hoặc từ phản ứng thích nghi với môi trường mới; hoặc Zika chỉ tạo ra những ảnh hưởng tàn khốc lên thai nhi khi đứa trẻ đã mắc một bệnh nền khác, có thể là một bệnh ít phổ biến hơn từ châu Phi; hoặc một điều gì đó trong môi trường hay lịch sử miễn dịch ở Uganda đã bảo vệ các bà mẹ và đứa con chưa sinh của họ.  Nhưng chúng ta biết chắc chắn về cách thức biến đổi khí hậu ảnh hưởng lên một số căn bệnh. Ví dụ, bệnh sốt rét phát triển mạnh ở những vùng nóng hơn, một lý do Ngân hàng Thế giới ước tính đến năm 2030 sẽ có 3,6 tỷ người phải cẩn trọng với nó – 100 triệu người trong số đó là chịu hậu quả trực tiếp từ biến đổi khí hậu.    Sẽ có những bệnh dịch mà hiện tượng biến đổi khí hậu lần đầu tiên đưa ra đối đầu với chúng ta – một vũ trụ hoàn toàn mới của những căn bệnh mà loài người chưa từng biết đến, thậm chí chưa từng lo lắng về chúng.    Những dự báo như vậy không chỉ phụ thuộc vào mô hình khí hậu mà còn phụ thuộc vào những hiểu biết phức tạp về sinh vật hiện diện trong cuộc chơi. Hay nói đúng hơn là các sinh vật. Cơ chế truyền bệnh sốt rét liên quan đến cả mầm bệnh lẫn loài muỗi; bệnh Lyme cũng vậy, liên quan đến cả mầm bệnh lẫn bọ ve – một loài sinh vật mang mối đe dọa dịch tễ khác, với phạm vi hoạt động đang nhanh chóng mở rộng do sự nóng lên toàn cầu. Như Mary Beth Pfeiffer đã ghi nhận, số ca nhiễm Lyme đã tăng đột biến tại Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, và Hàn Quốc, nơi căn bệnh này gần như không xuất hiện trước năm 2010 – không có ca bệnh nào – và hiện tồn tại bên trong cơ thể hàng trăm người Hàn Quốc mỗi năm. Tại Hà Lan, 54% các vùng trên toàn quốc bị nhiễm bọ ve; nhìn chung tại châu Âu, số ca bệnh Lyme hiện gấp ba lần mức tiêu chuẩn. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 300.000 ca nhiễm mới mỗi năm – và vì nhiều ca đã điều trị Lyme vẫn tiếp tục xuất hiện các triệu chứng sau nhiều năm nên con số có thể còn lớn hơn. Nhìn tổng quan, số ca mắc bệnh từ muỗi, bọ ve, và bọ chét đã tăng gấp ba lần ở Hoa Kỳ chỉ trong 13 năm qua, khi lần đầu tiên, hàng chục hạt khắp đất nước bắt gặp bọ ve. Tuy vậy, ảnh hưởng của dịch bệnh có thể được nhận thấy rõ nét hơn trên các loài động vật khác: tại Minnesota, suốt những năm 2000, bọ ve mùa đông đã khiến số lượng nai sừng tấm giảm 58% trong một thập kỷ, và một số nhà môi trường học tin rằng loài này có thể bị tiêu diệt hoàn toàn khỏi tiểu bang từ năm 2020. Tại New England, người ta đã phát hiện đến 90.000 con bọ ve no tròn trên xác những con nai sừng tấm con, những con non này thường chết không phải vì bệnh Lyme mà đơn giản do thiếu máu, tác động từ số lượng quá lớn những con bọ, mỗi con hút vài mililit máu từ con non. Những con sống sót cũng không khỏe khoắn gì, nhiều con đã cọ xát không ngừng lên lớp da vốn đã trụi hết lông hòng loại bỏ những con bọ ve, để lại một màu da xám ma quái, mang tới cho chúng cái tên “nai ma”.  Nói một cách tương đối, Lyme vẫn là một căn bệnh mới, và chúng ta chưa hiểu rõ mọi thứ về nó: chúng ta gán một loạt các triệu chứng rất bí ẩn và rời rạc cho nó, từ đau khớp, mệt mỏi, mất trí nhớ, đến liệt mặt, gần như là lời giải thích cho mọi căn bệnh chưa thể xác định chính xác trên những bệnh nhân mà chúng ta biết đã bị bọ ve mang mầm bệnh cắn. Tuy nhiên, chúng ta biết rõ bọ ve như hiểu về bệnh sốt rét – không nhiều loài ký sinh trùng khác mà chúng ta hiểu rõ hơn. Nhưng lại có rất nhiều, hàng triệu loài chúng ta hiểu biết ít hơn, nghĩa là tri giác của chúng ta về cách thức hiện tượng biến đổi khí hậu chuyển hướng hoặc sửa đổi chúng vẫn bị che đậy trong sự thiếu hiểu biết được báo trước. Và rồi, sẽ có những bệnh dịch mà hiện tượng biến đổi khí hậu lần đầu tiên đưa ra đối đầu với chúng ta – một vũ trụ hoàn toàn mới của những căn bệnh mà loài người chưa từng biết đến, thậm chí chưa từng lo lắng về chúng.  Cụm từ “vũ trụ mới” không hề khoa trương. Các nhà khoa học dự đoán địa cầu có thể tiềm ẩn hơn một triệu loài virus chưa được phát hiện. Vi khuẩn thậm chí còn phức tạp hơn, và vì vậy có lẽ chúng ta hiểu biết về chúng ít hơn.  Có lẽ đáng sợ nhất là những loài sống bên trong cơ thể của chúng ta, yên bình cho đến bây giờ. Hơn 99% các loài vi khuẩn, kể cả những loài bên trong cơ thể người, hiện chưa được khoa học biết đến, nghĩa là chúng ta đang sống trong sự thiếu hiểu biết gần như hoàn toàn về tác động của biến đổi khí hậu đối với các loài ký sinh bên trong cơ thể mình, chẳng hạn như trong ruột – về số lượng vi khuẩn mà loài người hiện đại đang dựa dẫm, như những công nhân nhà máy thầm lặng, trong mọi chuyện từ tiêu hóa thức ăn đến điều chỉnh sự lo lắng, có thể bị biến đổi, giảm bớt, hay hoàn toàn bị tiêu diệt bởi mức nóng lên vài độ.  Tất nhiên, đại đa số những loài virus và vi khuẩn cư trú bên trong cơ thể chúng ta không phải là mối đe dọa đối với loài người – hiện tại. Có lẽ sự chênh lệch một hoặc hai độ trong nền nhiệt toàn cầu sẽ không làm thay đổi đáng kể hành vi của phần lớn bọn chúng – hoặc đại đa số, thậm chí gần như toàn bộ. Nhưng hãy xem xét trường hợp của saiga – loài linh dương đáng yêu, chân ngắn, có nguồn gốc từ Trung Á. Vào tháng 5/2015, gần hai phần ba loài này trên toàn cầu đã chết trong khoảng thời gian chỉ vài ngày – từng con một trong một khu vực có diện tích tương đương Florida, trên mặt đất đột nhiên có hàng trăm nghìn xác linh dương saiga, không một con nào sống sót. Một sự kiện như vậy được gọi là “cái chết hàng loạt”, rất nổi bật và kịch tính đến nỗi lập tức làm phát sinh một loạt thuyết âm mưu: người ngoài hành tinh, phóng xạ, nhiên liệu tên lửa bị rò rỉ. Nhưng các nhà nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ chất độc nào, dù họ đã xem xét rất kỹ những cánh đồng chết chóc – trên chính các con vật, trong đất, trong cây cối địa phương. Hóa ra, thủ phạm lại là một loại vi khuẩn đơn giản, Pasteurella multocida, sống bên trong hạch hạnh nhân của linh dương saiga mà không hề đe dọa đến vật chủ suốt nhiều thế hệ. Đột nhiên nó sinh sôi nảy nở, di cư vào máu, từ đó đến gan, thận, và lá lách của vật chủ. Nhưng tại sao? Nhà báo Ed Yong đã viết trên tờ The Atlantic, “Những nơi linh dương saiga chết vào tháng 5/2015 cực kỳ ấm và ẩm ướt. Trên thực tế, độ ẩm đạt mức cao nhất từng thấy trong khu vực kể từ khi các kỷ lục bắt đầu được ghi nhận vào năm 1948. Hiện tượng tương tự cũng được ghi nhận trong hai lần trước đó, với quy mô nhỏ hơn nhiều, vào năm 1981 và 1988. Khi nhiệt độ thực sự nóng và không khí thực sự ẩm ướt, linh dương saiga sẽ chết. Khí hậu là cò súng, còn Pasteurella là viên đạn”.  Điều này không có nghĩa là chúng ta hiểu chính xác về chuyện độ ẩm vũ khí hóa vi khuẩn Pasteurella, hay có bao nhiêu loài vi khuẩn khác đang sống trong cơ thể các loài động vật có vú như chúng ta – 1% là số lượng chúng ta đã xác định được, hay nói theo cách đáng ngại hơn, 99% là số lượng chúng ta nuôi dưỡng mà không có chút kiến thức hoặc hiểu biết nào – có thể được kích hoạt bởi khí hậu theo cách tương tự, những con bọ cộng sinh, thân thiện mà trong một số trường hợp, chúng ta sống chung suốt hàng triệu năm qua, nay đột nhiên biến thành những tác nhân truyền bệnh nằm sẵn trong cơ thể. Đó vẫn là một bí ẩn. Nhưng sự thiếu hiểu biết vốn không thoải mái chút nào. Có lẽ hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ vỡ lòng cho chúng ta về vài điều trong số đó. □  Phạm Vũ Miên dịch  ——-  Bài viết được trích từ cuốn: Địa cầu không sự sống, NXB Trẻ (2022), Phạm Miên Vũ dịch.  1 Người mở đường cho công cuộc thuộc địa hóa châu Mỹ của Tây Ban Nha.    Author                David Wallace-Wells        
__label__tiasang Dịch cúm A/H1N1- không quá đáng sợ      Chỉ chưa đầy hai th&#225;ng sau khi Bộ Y tế th&#244;ng b&#225;o Việt Nam c&#243; ca nhiễm c&#250;m A/H1N1 đầu ti&#234;n v&#224;o ng&#224;y 31/5/2009, t&#236;nh h&#236;nh c&#243; vẻ tồi tệ hơn khi v&#224;i trường học tại TP. HCM, rồi tiếp đến tại t&#242;a nh&#224; cao ốc của Viettel ở H&#224; Nội ph&#225;t hiện c&#225;c ca dương t&#237;nh với c&#250;m A/H1N1. T&#237;nh đến cuối th&#225;ng 7/2009, Việt Nam đ&#227; ph&#225;t hiện gần 700 ca dương t&#237;nh với c&#250;m A/H1N1. C&#226;u hỏi đặt ra l&#224; ch&#250;ng ta n&#234;n l&#224;m g&#236; trước diễn tiến ng&#224;y c&#224;ng lan rộng của dịch c&#250;m thế kỷ n&#224;y.    Không nên hoảng loạn  Những dòng tít lớn hoặc các bài viết tô đậm trên đủ loại hình báo chí, trên các phương tiện truyền thông đại chúng về tình hình dịch cúm A/H1N1 vào những ngày vừa qua ở Việt Nam khiến cho không ít người phải bàng hoàng.   Tuy nhiên, theo ý kiến của các nhà chuyên môn, mọi người cần phải bình tĩnh trước sự lây lan nhanh chóng của loại virus cúm nguy hiểm này. Trong cuộc họp đánh giá về tình hình dịch cúm vào ngày 29/7/2009, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu nhấn mạnh: “Người dân không nên hoang mang vì nếu được phát hiện sớm và được điều trị kịp thời thì sẽ không sao. Tuy nhiên không được chủ quan vì dịch đang lây lan theo cấp số nhân”.  Giáo sư, Tiến sĩ y khoa Nguyễn Văn Tuấn tại Úc bày tỏ trên trang blog cá nhân của mình: “Dịch cúm A/H1N1 ở Việt Nam càng ngày càng lan rộng, nhưng sự lan rộng vẫn nằm trong tiên đoán của qui luật dịch tễ học. Có thể nói đây mới là giai đoạn 2, tức là ở mức độ lây lan trong cộng đồng”. Như vậy, theo giáo sư Tuấn, khi đến giai đoạn 3, tức là lúc virus cúm đã bão hòa thì chúng ta buộc phải sống chung với virus.              Diễn tập phòng chống cúm tại một bệnh viện ở TP. HCM        Còn tác giả Hồ Xuân Thiện, hiện đang làm việc bộ môn sinh hóa, đại học Oxford (Anh) viết trên trang dichbenh.com rằng, cũng nên lo trước sự lây lan nhanh chóng virus cúm A/H1N1 tại Việt Nam nhưng không việc gì phải quá sợ. Để minh chứng cho điều này, tác giả này phân tích tỉ lệ gây tử vong do virus cúm A/H1N1 gây ra cũng chỉ tương đương với tỉ lệ tai nạn giao thông ở Việt Nam, tức vào khoảng 1,5/1000 ca. “Cúm H1N1/09 có tỉ lệ gây tử vong tương đương so với cúm thông thường, và hiện dao động trong khoảng trung bình là 1,5/1.000 ca. Trong khi tỉ lệ tử vong do tai nạn giao thông mỗi năm tại VN là 0,16/1.000 dân (khoảng 14.000 ca/86.000.000 dân)”, tác giả này viết.  Trong chỉ đạo mới đây của Thủ tướng Chính phủ cũng có đoạn: “Các cơ quan thông tấn báo chí cần tuyên truyền các biện pháp phòng tránh, đưa thông tin chính xác, kịp thời nhưng không làm người dân hoang mang”.  Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh là cần thiết, nhưng chính việc thông tin, tuyên truyền nhiều khi mạnh mẽ hơn mức đáng cần phải có nhiều khi khiến người dân cảm thấy không an toàn trước dịch bệnh. Thông tin trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng gần đây đáng tiếc lại đi theo xu hướng này, thậm chí còn có những tin, bài mang tính giật gân, câu khách…  Đối phó với dịch bệnh   Theo các chuyên gia y tế, cách thức tốt nhất để phòng dịch là thông tin một cách đúng đắn về dịch bệnh, đặc biệt là đưa ra khuyến cáo và hướng dẫn người dân cách thức để phòng và điều trị cúm nếu có mắc phải.          Cúm A/H1N1 đã lan đến các ngõ ngách của thế giới  Thông tin trên Reuters cho biết đến thời điểm cuối tháng 7/2009, virus cúm A/H1N1 đã lan đến các khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa nhất của thế giới.               Reuters trích dẫn các nguồn tin mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết những phần xa nhất trên hành tinh như những hòn đảo thuộc vùng biển Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Caribe cũng đã tìm thấy sự hiện diện của cúm A/H1N1.              Trong bản thông báo vào ngày 27/7/2009, WHO cho biết 20 nước và vùng lãnh thổ nằm trên đại dương đã thừa nhận xuất hiện các ca nhiễm virus cúm A/H1N1, hay còn gọi theo cách nói thông thường là cúm lợn.              Virus cúm A/H1N1 cũng đã được tìm thấy ở Bhutan, khu vực có dãy núi cao nhất thế giới Himalayas và ở Andorra, khu vực tự trị nằm giữa Tây Ban Nha và Pháp. Các nước khác như Afghanistan và Sudan cũng đã công bố các ca nhiễm virus cúm A/H1N1 trong những ngày gần đây.              Trong tháng 6 vừa qua, WHO đã nâng mức báo động của cúm A/H1N1 lên mức 6, tức là cấp đại dịch và Liên Hiệp Quốc cũng cho rằng không thể ngăn chặn sự lây lan của virus cúm A/H1N1 trên phạm vi toàn thế giới.              Hiện WHO đã ngừng cập nhật hằng ngày các trường hợp dương tính được khẳng định bởi phòng xét nghiệm, vì số trường hợp nhiễm cúm A/H1N1 tăng quá nhanh ở một số quốc gia. Cục phòng ngừa và kiểm soát bệnh dịch (CDC) của Mỹ cũng tuyên bố không cập nhật số ca bệnh cúm H1N1 vì theo họ là không cần thiết. (Theo Reuters)          Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đề nghị có ba biện pháp. Thứ nhất là phát hiện triệu chứng sớm. Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, phương án tốt nhất vẫn là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Phòng bệnh phải bắt đầu từ cơ sở. Mỗi cơ quan hay mỗi trường học cần hợp tác chặt chẽ với các cơ sở y tế, có sẵn kế hoạch phòng chống cúm H1N1. Một kế hoạch phòng chống được xem là hữu hiệu nhất là sớm nhận dạng hay phát hiện những trường hợp cúm. Những triệu chứng để nhận dạng sớm bao gồm nóng sốt trên 37 độ, đau cổ họng, nhức đầu, ho và sổ mũi; ói mửa, mệt mỏi v.v… Đây là những tín hiệu cho thấy bệnh nhân có thể nhiễm virus H1N1. Khi phát hiện bệnh nhân qua các tín hiệu trên, nhà trường đề nghị bệnh nhân không đến trường, nên ở nhà và nhờ bác sĩ điều trị. Kinh nghiệm từ nước ngoài cho thấy bệnh nhân nhiễm virus H1N1 thường hồi phục trong vòng một tuần.  Thứ hai là vấn đề vệ sinh. Một khi một trường học hay cơ quan có người bị nhiễm virus H1N1, thì đó cũng là tín hiệu cho thấy nơi đó cần được lưu tâm vệ sinh. Rất có thể bàn ghế, cửa, v.v… đã bị nhiễm và đây cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm cúm H1N1 cho người khác. Nghiên cứu khoa học cho thấy virus phát triển trong điều kiện nhiệt độ ôn đới. Trong nhiệt độ 25 độ C, virus H1N1 có thể sống trên mặt bàn khoảng 2 giờ mà thôi. Do đó, cần phải khử trùng những nơi virus “lưu trú” như bàn ghế, tủ, giường, cửa, nhà vệ sinh, v.v… một cách triệt để.   Thứ ba là cần liên tục rửa tay và cẩn trọng khi hắt hơi. Hiện nay, đường lây lan chính của virus H1N1 là từ người sang người. Do đó, một khía cạnh phòng chống nhiễm H1N1 là ở mức độ cá nhân. Một lượt hắt hơi thải ra khoảng 20.000 hạt nhỏ (còn khi ho chỉ sản sinh chừng vài trăm hạt). Những hạt lớn nhất sẽ rơi xuống đất trong vòng vài mét. Những hạt còn lại bay xa hơn tuỳ theo kích cỡ. Những hạt nhỏ có đường kính 1 – 4 micromet có thể lơ lửng trong một thời gian dài và chui xuống tận đường hô hấp dưới. Do đó, khi hắt hơi, cần phải che mũi để giảm lây lan sang người khác. Ngoài ra, cần biện pháp phòng ngừa khá đơn giản nữa là thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Thói quen này được xem là một biện pháp phòng ngừa virus cúm rất hữu hiệu ở qui mô cộng đồng.  Trên trang dichbenh.com, tác giả Hồ Xuân Thiện cho rằng: “Cúm A/H1N1 tuy không quá độc để gây tỉ lệ tử vong cao, nhưng lại có khả năng lây lan nhanh trong cộng đồng“. Do vậy, cúm là một bệnh rất khó chịu. Một số biện pháp phòng tránh cúm, trong đó có cả cúm A/H1N1 được hướng dẫn cụ thể trên trang web này. Cụ thể như trích ngừa cúm nếu có thể; ăn, uống, ngủ, nghỉ đầy đủ, đặc biệt là uống nhiều nước; giảm bớt các căng thẳng trong sinh hoạt; tập thể dục đều đặn và thận trọng khi dùng các phòng vệ sinh công cộng…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch tả lợn châu Phi đe dọa an ninh lương thực ở Châu Á      Dịch tả lợn châu Phi (ASF) ở châu Á đang lây lan một cách báo động. Các chuyên gia sức khỏe động vật đều đồng tình rằng căn bệnh này chắc chắn sẽ lan xa hơn.    Dịch tả lợn châu Phi (ASF) ở châu Á đang lây lan một cách báo động. Ở Châu Á, ASF được báo cáo lần đầu tiên ở phía đông bắc Trung Quốc vào tháng 8 năm 2018; căn bệnh truyền nhiễm có tính hủy diệt này nhanh chóng càn quét Trung Quốc và khiến hơn một triệu con lợn bị chết hoặc tiêu hủy. Trong những tuần gần đây, AFS đã vượt biên sang Việt Nam, Campuchia, Mông Cổ, Hồng Kông và có thể cả Bắc Triều Tiên. Các chuyên gia sức khỏe động vật đều đồng tình rằng căn bệnh này chắc chắn sẽ lan xa hơn. Họ cho rằng, nhiều quốc gia mới bị lây nhiễm thậm chí còn phòng bị để đối phó với ASF kém hơn Trung Quốc, Cho đến nay các quốc gia này đã thất bại trong việc ngăn chặn sự bùng phát dịch.    Chở lợn ở Thanh Hóa. Đây là một vùng chịu ảnh hưởng lớn của dịch tả lợn châu Phi. Ảnh: REUTERS/KHAM.  “Có những vaccine tiềm năng đang được phát triển”, theo Yolanda Revilla thuộc Trung tâm Sinh học Phân tử Severo Ochoa ở Madrid, người đồng tác giả một bài đánh giá gần đây về các loại vaccine ASF – nhưng phải 3, 4 năm nữa các loại vaccine này mới có thể ra thị trường. Cho đến lúc đó, giảm thiểu truyền nhiễm là lựa chọn duy nhất. Nhưng việc ngăn chặn virus này đặc biệt khó khăn, do cách chăn nuôi nhỏ ở châu Á. Việc cho lợn ăn thức ăn thừa từ nhà bếp và bữa ăn của người “là thói quen phổ biến nhưng ẩn chứa rất nhiều rủi ro”, Juan Lubroth, bác sĩ thú y tại trụ sở của Tổ chức Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) tại Rome cho biết. Các nghiên cứu về 68 vụ bùng phát dịch ở Trung Quốc đã kết luận rằng 34% là do ăn thức ăn, 46% do xe cộ và công nhân mang virus và 19% do vận chuyển lợn và các sản phẩm sống.  Chính phủ Trung Quốc đã cấm sử dụng thức ăn thừa không qua xử lý nhiệt và không cho phép cho ăn bằng thức ăn thừa ở tất cả các tỉnh đang bùng phát dịch. Nhưng rất khó để thuyết phục nông dân bỏ cách cho ăn này và các thói quen nguy hiểm khác khác, Lubroth cho biết. Để ngăn chặn các ổ dịch lây lan, Trung Quốc cũng tiêu hủy tất cả lợn trong vùng 3 km quanh đàn bị nhiễm bệnh, thiết lập các trạm kiểm tra và khử trùng để kiểm soát giao thông trang trại trong một vùng đệm 10 km và đóng cửa chợ lợn sống ở khu vực bị ảnh hưởng. Nhưng hiệu quả của các biện pháp này trong việc bảo vệ hơn 400 triệu con lợn trong nước không vẫn chưa rõ ràng. Số điểm bùng phát dịch mới hàng tháng được báo cáo cho Tổ chức Thú y Thế giới đạt đỉnh vào tháng 10 năm 2018 ở mức 34 điểm, giảm xuống chỉ còn 4 điểm vào tháng 1, nhưng lại tăng lại kể từ đó, với 10 điểm vào tháng Tư.  Ngay cả khi các nỗ lực kiểm soát dịch của Trung Quốc không thành công, thì nó vẫn vượt xa khả năng của các nước lân cận. Chính phủ Việt Nam gần đây đã thừa nhận rằng nhiều nơi trong số 29 tỉnh bị ảnh hưởng đã không phản ứng kịp thời vì thiếu tiền và không gian để chôn lợn chết, theo báo cáo của Reuters trong tuần này. “Thế giới và Việt Nam chưa bao giờ phải đối mặt với một dịch bệnh [động vật] cực kỳ nguy hiểm, khó khăn, phức tạp và đắt đỏ như thế này”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, ông Nguyễn Xuân Cường phát biểu trong một tuyên bố ngày 13 tháng 5. Chính phủ cho biết sẽ sử dụng cả quân đội để giúp kiểm soát ổ dịch. Ở Campuchia cũng vậy, “có rất ít kiến thức và kinh nghiệm trong việc ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với dịch bệnh”, theo ông Alexandre Huynh, đại diện FAO ở Campuchia. “Nguồn nhân lực, tài chính và vật chất cũng rất thiếu”, ông nói thêm.  Nhìn chung, kiểm soát ASF có thể sẽ đòi hỏi sự tái cấu trúc dài hạn và đầy thách thức của ngành công nghiệp sản xuất thịt lợn, chỉ giữ lại các đơn vị đủ lớn để đầu tư vào an toàn sinh học, Pfeiffer nhận xét. Lubroth cho biết thêm rằng việc tái cấu trúc như vậy đã giúp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xóa sổ ASF vào đầu những năm 1960, nhưng quá trình này mất 35 năm. Với nguồn lực và quyền hành của chính quyền TW hiện nay, Trung Quốc có thể thực hiện cuộc chuyển đổi nhanh hơn thế. Nhưng có thể vẫn sẽ mất nhiều thập kỷ để các nước láng giềng châu Á xây dựng một ngành chăn nuôi lợn an toàn hơn.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/05/african-swine-fever-keeps-spreading-asia-threatening-food-security?utm_campaign=news_daily_2019-05-14&et_rid=338037544&et_cid=281663       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại      Dịch tả gần như đã bị đánh bại ở phương Tây nhưng mỗi năm nó vẫn giết chết hàng chục ngàn người ở những nước nghèo. Và những bài học từ dịch tả thực sự có giá trị khi chúng ta tìm kiếm một phương cách chữa trị virus corona.        Một đứa bé Yemen đang kiên nhẫn chờ lấy nước sạch. Yemen là một trong những quốc gia bùng phát dịch tả vào những năm 2016-2017. Ảnh: AFP.    Chúng tôi đăng nhập hằng ngày lúc 7:45 sáng. Lần lượt từng người, chúng tôi tham gia cùng hàng loạt những gương mặt trên màn hình. Bác sĩ chúng tôi chưa quen với những cuộc họp qua video như thế này, vẫn hớn hở vẫy tay chào nhau. Kể từ khi cuộc khủng hoảng virus corona bắt đầu, những cuộc gặp trực tuyến hằng ngày này đã chứng tỏ là một cách thức vô giá để chúng tôi chạy theo kịp những hướng dẫn lâm sàng, quy trình bệnh viện và tình trạng đội ngũ cán bộ nhân viên của mình – tất cả đều thay đổi hằng ngày.    Nhưng những cuộc họp này còn đem đến những thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân: Bao nhiêu bệnh nhân của mình có triệu chứng? Bao nhiêu đã có kết quả xét nghiệm dương tính? Bao nhiêu đã tử vong? Đây đương nhiên đều là những câu hỏi quan trọng, nhưng nền tảng được đào tạo về y tế công cộng còn nhắc nhở tôi phải tư duy ở mức toàn cầu. Trong năm tới chúng ta sẽ thấy những bước phát triển cho phép kiểm soát virus này ở phương Tây, nhưng còn những nước khác thì sao? Tôi không khỏi nghĩ về họ hàng của mình ở Ấn Độ và cơn đại dịch này có tác động ra sao đối với họ – không chỉ trước mắt mà còn trong tương lai. Câu hỏi thực sự quan trọng không phải là ai sẽ chết vì virus corona ngày mai mà là trong 200 năm tới.    Những thảm họa như đại dịch không bao giờ chỉ có phá hủy, chúng còn đưa đến những thay đổi, và thường sẽ tạo ra những bước phát triển khoa học và cải cách xã hội.    Bởi vì virus corona không phải là cơn đại dịch duy nhất thế giới đang đối mặt. Còn một cơn đại dịch khác hiện đang hoành hành. Kể từ khi dịch tả lan ra khắp toàn cầu cách nay hai thế kỷ, nó đã giết chết 50 triệu người. Trong khoảng thời gian độc giả đọc từ đầu đến hết bài viết này thì thêm 5 người đã chết vì nó. Ngày nay, dịch tả hầu như bị bỏ qua ở phương Tây, nhưng nó chưa bao giờ biến mất ở những nơi khác trên thế giới.     Dịch tả –   cái chết xanh     Để đến được nhà ông bà tôi ở bang Bihar, Đông Bắc Ấn Độ, ta phải đi xe hơi từ sân bay Patna băng qua một trong những cây cầu vượt sông dài nhất thế giới, cầu Mahatma Gandhi. Cây cầu này đưa ta qua sông Hằng đi lên phía Bắc, vượt qua Hajipur – thành phố nổi tiếng có loại chuối thơm – rồi đến Darbhanga gần biên giới với Nepal. Khi tôi còn nhỏ, con đường này bị những cơn mưa lũ theo mùa thường xuyên làm hư hại đến mức phải mất đến 7 giờ đồng hồ gập ghềnh qua những ổ gà xóc hết cả ruột chúng tôi mới đến nơi – trong khi một quãng đường tương tự ở Anh quốc thì chỉ cần 2 giờ. Ngày nay, con đường này đã trơn tru, được nâng cao, và cho ta ngắm nhìn cảnh quan ngoạn mục của những bãi bồi xanh tốt trong vùng. Đây là điều kiện lý tưởng để trồng các loại cây trái – xoài, vải, ổi – mà mùi hương vẫn thoang thoảng trong trí nhớ những chuyến tôi về thăm ông bà.      Một bản sao phục dựng trụ bơm nước được John Snow xác định là nguồn làm bùng phát dịch tả ở khu Soho, London năm 1854. (Nguồn: Alicia Canter/Observer).  Cũng chính điều kiện ẩm ướt, bán nhiệt đới của đồng bằng sông Hằng khiến nơi đây trở thành điểm nóng cho các loại bệnh tật lây lan qua nước. Người ta cho rằng miền Bắc Ấn Độ là nơi dịch tả khởi đầu cách đây nhiều ngàn năm do nơi đây có nhiều vùng nước tù đọng cùng các nghi lễ Ấn giáo mà tín đồ phải trầm mình dưới sông. Hàng chữ khắc 2.000 năm tuổi tại một ngôi đền ở bang Gujarat mô tả chi tiết hình ảnh lâm sàng của bệnh nhân mắc dịch tả nặng: “Môi thâm xanh, mặt hốc hác, mắt trũng sâu, bụng lép kẹp, chân tay co quắp như bị cháy” 1,2.    Trong hàng thế kỷ, dịch tả chỉ gây ra những cơn dịch cục bộ ở Đông Bắc Ấn Độ. Rồi đến năm 1817, một cơn bùng phát dịch tả từ Bengal đã lan ra khắp thế giới, khởi đầu trận đại dịch đầu tiên trong tổng số 7 cơn đại dịch tả cho đến nay. Nhưng cũng như Vũ Hán với Covid-19, ta không thể buộc khu vực này chịu trách nhiệm cho việc để dịch tả lây lan, hay buộc Bắc Mỹ nhận lỗi cho cơn đại dịch cúm lợn H1N1 năm 2009 bắt nguồn từ những con lợn nuôi trong các trang trại công nghiệp3. Tất cả những trận lây lan này đều có chung một điểm là thương mại quốc tế cùng những con người và súc vật di chuyển theo những chuyến giao thương.      Ba chuyển biến giúp kết thúc dịch tả ở phương Tây: cải thiện y tế công cộng để ngăn ngừa dân chúng nhiễm bệnh ngay từ đầu; khám phá các phương thuốc mới để ngừa và trị bệnh; và hợp tác quốc tế để đoàn kết chống lại một kẻ thù chung.      Trong quyển sách “Dịch bệnh và các dân tộc” (Plagues and peoples) của mình, nhà sử học William Hardy McNeill mô tả việc lục quân Anh mang dịch tả bằng đường bộ đến Nepal và Afghanistan, còn hải quân và tàu buôn Anh mang dịch tả vượt Ấn Độ Dương. Đó là lý do vì sao trận đại dịch đầu tiên từ vịnh Bengal đã lây đến Đông Nam Á, Trung Đông, Đông Phi, và rồi châu Âu vào đầu những năm 1820.     Năm 1831, dịch tả vươn đến Đông Bắc xứ Anh (England), là nơi sau này tôi lớn lên. Một trong những nạn nhân đầu tiên là cô bé Isabella Hazard 12 tuổi ở Sunderland4. Bệnh tình của cô bé tiến triển nhanh, đặc trưng cho dịch tả: cô bé hoàn toàn khỏe mạnh vào tối hôm trước nhưng đến chiều hôm sau đã tử vong. Cô bé là một nạn nhân trong giai đoạn đầu của một trong nhiều đợt dịch gây hỗn loạn ở châu Âu thế kỷ XIX. Những thành phố cảng vốn đóng vai trò then chốt trong giao thương là đối tượng đặc biệt bị ảnh hưởng nặng nề.    Khó có thể tưởng tượng ra nỗi hoang mang gieo rắc bởi “cái chết xanh” (tiếng Anh gọi là “blue death”), cách người ta thường gọi dịch tả, vì lúc đó nó là một thứ hoàn toàn bí ẩn. Giả thuyết phổ biến nhất bấy giờ là bệnh này do “chướng khí” (hay “miasma”) gây ra, từ đây nhiều thử nghiệm đã được tiến hành nhằm kiểm soát bệnh dịch. Như ở Kingston, Jamaica, các quan chức chính quyền thực dân Anh cố gắng tống khứ bệnh dịch bằng cách bắn đại bác trên phố “để tiêu diệt quyền năng sinh bệnh lẩn khuất trong những ngõ tối”.       Một hồ chứa nước bị nhiễm dịch tả ở Nam Phi năm 2001 (Nguồn: Schalk/EPA).  Rồi dịch tả cứ thế diễn ra, hết đợt dịch này đến đợt dịch khác suốt thế kỷ XIX làm hàng triệu người chết, chủ yếu là trong những khu dân nghèo. Giai cấp lao động nổi loạn khắp châu Âu do nghi ngờ bệnh này là một âm mưu của giới tinh hoa cầm quyền muốn hạ độc họ. Vào thập niên 1830, trong kế hoạch lật đổ hoàng tộc Bourbon, nhà cách mạng Mario Adorno buộc tội họ đã bày ra “một mưu đồ quỷ quyệt quyết đầu độc nhân dân” Sicilia bằng dịch tả5.    Nhưng những thảm họa như đại dịch không bao giờ chỉ có phá hủy, chúng còn đưa đến những thay đổi, và thường sẽ tạo ra những bước phát triển khoa học và cải cách xã hội. Các thế lực đế quốc châu Âu cuối cùng cũng đổ nguồn lực vào việc khám phá lý do thực sự của bệnh dịch, chủ yếu là để ngăn ngừa những cơn khủng hoảng kinh tế thảm họa cứ xảy ra sau mỗi đợt dịch mới. Sự đầu tư này đã đưa đến ba chuyển biến giúp kết thúc dịch tả ở phương Tây: cải thiện y tế công cộng để ngăn ngừa dân chúng nhiễm bệnh ngay từ đầu; khám phá các phương thuốc mới để ngừa và trị bệnh; và hợp tác quốc tế để đoàn kết chống lại một kẻ thù chung.     Lược sử nguyên nhân và cách chữa trị dịch tả     Năm 1813, bà Frances Snow sinh ra con trai đầu lòng tên là John ở thành phố York (Anh). Bà cùng chồng là William Snow, một thợ mỏ than địa phương, nuôi dạy John ở một trong những khu nghèo nhất thành phố. Cũng như bang Bihar ở Ấn Độ, khu vực mà John lớn lên thường xuyên bị ngập mỗi khi con sông Ouse tràn bờ.     Sau này khi John Snow trở thành bác sĩ, ông nghi ngờ cái ý tưởng cho rằng “chướng khí” gây ra dịch tả, mà nghĩ chắc nó phải liên quan đến nước. Trong một trận dịch tả làm 616 người chết ở Soho (một khu nội thành thủ đô London) năm 1854, ông đã chứng minh giả thuyết của mình một cách cừ khôi. Snow lập một bản đồ có các điểm đánh dấu toàn bộ trường hợp dịch tả trong khu vực, đồng thời nói chuyện với gia đình để tìm hiểu thói quen hằng ngày của họ – nói theo cách ngày nay thì ông đã tỉ mỉ truy vết tiếp xúc (contact tracing). Ông phát hiện ra rằng hầu hết những người nhiễm đều dùng chung trụ bơm nước công cộng trên phố Broad. Snow yêu cầu dỡ bỏ tay cầm của trụ bơm khiến người ta không thể lấy nước ở đó được, từ đó số trường hợp nhiễm dịch tả ở Soho giảm mạnh. Sau này người ta mới biết giếng nước bên dưới trụ bơm này là giếng cạn và đã bị nhiễm nước từ một hố nước thải gần đó. Chỉ bằng một thí nghiệm tài tình, Snow đã làm sáng tỏ bóng ma dịch tả đã ám ảnh ông suốt từ thời thơ ấu: nguyên nhân đơn giản chỉ là nước bẩn6.    Phát hiện của John Snow đưa đến việc thành lập các “quỹ cải thiện” (improvement trust) và ủy ban y tế công cộng ở các thành phố lớn trên khắp Ấn Độ. Những tổ chức này thực sự đã cải thiện điều kiện vệ sinh nhưng chủ yếu là cho dân Anh và quan chức chế độ thực dân ở Ấn Độ. Đến cuối thời kỳ thuộc Anh, hầu hết mọi người Anh ở Ấn Độ đều có nước sạch, nhưng chỉ có 1% người Ấn bên ngoài những khu vực dành riêng cho giới chức thực dân được hưởng điều kiện này7.    Ngày nay, hơn một nửa hộ gia đình Ấn Độ không được tiếp cận với bất kỳ phương thức vệ sinh đúng quy cách nào, tức là họ phải phóng uế lộ thiên và 70% lượng nước thải không được xử lý mà cứ thế đổ vào sông ngòi8. Kết quả là có đến 30.000 người Ấn Độ chết vì dịch tả hằng năm. Những người có khả năng thì tự đào giếng thật sâu. Ông bà tôi phải bỏ ra nhiều công sức để đào giếng, nhưng ông bà vẫn rất buồn vì sự thật là uống nước đó thì tôi vẫn đau bụng và mỗi lần thăm ông bà tôi phải uống nước đóng chai. Nhưng đây đâu phải lỗi của ông bà; cá nhân chỉ có thể cố gắng đến một mức nào đó thôi nếu chính quyền không đầu tư đủ vào việc đảm bảo nước sạch đến với mọi người dân.    Khám phá của John Snow là bước đầu tiên trên con đường chặn đứng dịch tả. Nhưng khi đại dịch này tiếp tục tàn phá châu Âu, người ta cần thuốc chữa trị hiệu quả để phòng chống bệnh. Và những loại thuốc này chỉ có thể được tạo ra một khi các nhà khoa học hiểu được rằng nước bẩn làm ta bệnh.    Ở Firenze (Italia), một người cùng thời với Snow đã ngày qua ngày cặm cụi áp mặt mình vào mắt kính lạnh lẽo của kính hiển vi tự chế. Đó là Filipo Pacini, giáo sư bệnh lý học và một người tiên phong trong tìm hiểu thế giới những sinh vật tí hon. Ông có năng khiếu trong lĩnh vực kính hiển vi mới thời bấy giờ và từ năm 19 tuổi đã đặt tên cho những bộ phận trong cơ thể người mà trước đó chưa ai biết. Ông ta tin chắc rằng nguyên nhân của nhiều bí ẩn y khoa, như những thứ bệnh đã gây đau khổ cả đời hai người em gái của ông, có thể được tìm ra bằng cách dùng công cụ mới có hiệu lực cao này để quan sát tỉ mỉ.    Pacini nghiên cứu nội tạng của bốn bệnh nhân chết vì dịch tả9. Ông mày mò quan sát ruột của họ bằng kính hiển vi và nhận thấy rằng mỗi bệnh nhân đều có vấn đề ở ruột. Thành ruột của họ rất bất thường: không phải màu hồng và mềm như cao su như thông thường, mà nhợt nhạt và bở rời thành từng mảng như tờ báo ướt. Khi ông tách một mảnh nhỏ thành ruột của bệnh nhân ra, ông quan sát thấy trong mô có rất nhiều chấm nhỏ hình dạng như nòng nọc.  Pacini nhận ra rằng dịch tả là do những cái chấm nhỏ này – ông gọi chúng là “vibrio” (dấu phẩy) từ hình dạng của chúng. Ông là người đầu tiên quan sát thấy một cách chắc chắn điều mà người ta đã đặt giả thuyết qua mấy thế kỷ: rằng bệnh tật là do những thứ vô cùng nhỏ bé mắt thường không nhìn thấy được. Tuy nhiên, cộng đồng khoa học bấy giờ không đánh giá đúng giá trị nghiên cứu của Pacini, và những khám phá của ông rơi vào quên lãng, hầu như bị bỏ qua trong 3 thập kỷ sau đó.    Pacici đã phát hiện ra “mầm bệnh”, nhưng phải chờ đến khi bác sĩ người Đức Robert Koch tự phát hiện ra phẩy khuẩn vào năm 1883 ở Ai Cập thì lý thuyết mầm bệnh mới được phổ biến. Trong một thế kỷ sau đó, các nghiên cứu xa hơn đã xác định được hai liệu pháp đích then chốt dựa trên những đột phá của giới khoa học từ tiểu lục địa Ấn Độ không lâu sau khi giành độc lập. Năm 1953, Hermanda Nath Chatterjee phát triển một hỗn hợp đơn giản gồm muối và đường có thể được hòa trộn với nước để thay thế một cách an toàn lượng nước bệnh nhân mất do tiêu chảy. Công thức cơ bản này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay.    Sau đó 6 năm, Sambhu Nath De phát hiện ra rằng dịch tả tiết ra một loại độc tố đáng để mọi người quan tâm không kém phần bản thân vi khuẩn gây bệnh. Chỉ bằng những thiết bị khiêm tốn trong phòng thí nghiệm ở Kolkata, ông chứng minh rằng không cần có vi khuẩn thì nạn nhân vẫn bị bệnh. Nếu cho vi khuẩn sinh sôi trong một dịch canh rồi loại bỏ hết vi khuẩn đi – như hớt bỏ hoa lá gia vị ra khỏi nồi nước dùng – thì cái phần nước còn lại cũng đủ gây tổn thương ruột, có thể làm nguy hiểm đến tính mạng với đủ triệu chứng của người bị dịch tả.    Những khám phá này làm thay đổi hiểu biết và cách chữa trị dịch tả. Chúng là nền tảng cho 2 loại thuốc mới: liệu pháp bù nước qua đường miệng để thay thế lượng muối đã mất, và một loại vaccine dịch tả để tạo đáp ứng miễn dịch chống lại vi khuẩn cùng độc tố của nó. □ (Còn nữa)     Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2020/may/01/cholera-and-coronavirus-why-we-must-not-repeat-the-same-mistakes  —-  Neil Singh là bác sĩ gia đình và cán bộ giảng dạy chăm sóc y tế ban đầu và y tế công cộng tại Trường y Brighton & Sussex (chương trình đào tạo y khoa chung giữa Đại học Brighton và Đại học Sussex, Anh).  Bác sĩ Singh viết bài này cho tờ The Guardian ngày 1/5/2020.     Chú thích  1 Why we haven’t stopped cholera (2015). https://mosaicscience.com/story/cholera-haiti/  2 Cholera. History of vaccines. College of Physicians of Philadelphia. https://www.historyofvaccines.org/content/articles/cholera  3 Origin of 2009 H1N1 flu (swin flu). Center for Disease Control and Prevention. https://www.cdc.gov/h1n1flu/information_h1n1_virus_qa.htm  4 Isabella Hazard, the blue girl. Co-Curate. https://co-curate.ncl.ac.uk/resources/view/34622/  5 Cholera revolts: a class struggle we may not like (2017). Social History. https://doi.org/10.1080/03071022.2017.1290365  6 John Snow’s pump (1854). British Society for Immunology. https://www.immunology.org/john-snows-pump-1854  7 India@70: A brief colonial history of sanitation in India (2017). NDTV. https://swachhindia.ndtv.com/india70-a-brief-colonial-history-of-sanitation-in-india-10602/  8 India sanitation story (2014). Pragati. http://pragati.nationalinterest.in/2014/08/indias-sanitation-story/  9 Original observations of Filippo Pacini on Vibrio cholera (1978). Bulletin of the Indian Institute of History of Medicine. http://ccras.nic.in/sites/default/files/viewpdf/jimh/BIIHM_1978/32%20to%2038.pdf    Author                Neil Singh        
__label__tiasang Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (tiếp theo)      Giữa những làn sóng của đại dịch Covid-19, sự lơi lỏng trong phòng ngừa dịch tả đặt hơn một tỷ người đang sống ở những quốc gia nghèo nhất hành tinh vào nguy cơ bùng phát dịch.      Có những loại vaccine do Shantha Biotechnics (Ấn Độ) sản xuất không cần thêm nước, người ta chỉ cần cho thẳng vào miệng. Nguồn: Liên minh Vaccine toàn cầu.  Thế giới vẫn trong trận đại dịch tả thứ 7, và không phải ai cũng được bảo vệ   Ngày nay, người phương Tây có thể dễ dàng tiếp cận loại vaccine hiệu quả nhất tên là Dukoral. Khi dùng, người ta chỉ cần hòa vào nước một lọ vaccine cùng một túi dung dịch đệm để bảo vệ vaccine khỏi bị acid dạ dày tiêu hủy rồi uống – đơn giản như bỏ sữa, đường vào trà vậy. Chỉ cần hai liều, người dùng sẽ được bảo vệ khỏi dịch tả trong khoảng 5 năm. Nhưng Dukoral không thể dùng được ở những khu vực dịch tả đang hoành hành vì người dân ở đây không có nước sạch và do vậy uống bằng nước lại có thể khiến người ta gặp rủi ro. Ngoài ra, chi phí cho loại vaccine này quá cao với cư dân ở những nơi đó – để trả tiền cho hai liều vaccine, một người Anh trung bình chỉ cần làm việc chưa tới một giờ đồng hồ, còn một nông dân Ấn Độ trung bình phải làm việc cả ba ngày.   Có những loại vaccine khác rẻ hơn như Sanchol do Shantha Biotechnics ở Ấn Độ sản xuất. Ưu điểm của vaccine này là nó không cần thêm nước, người ta chỉ cần cho thẳng vào miệng. Tuy nhiên, nó không hiệu quả bằng Dukoral vì nó chỉ bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn chứ không có tác dụng với độc tố. Chẳng những thế, loại vaccine này cần được đưa vào cơ thể hai lần cách nhau hai tuần. Đây là chuyện gần như bất khả thi cho những cán bộ y tế phải phụ trách những địa bàn nông thôn rộng lớn của Ấn Độ.  Chương trình chủng ngừa dịch tả còn nhiều trở ngại khác. Để đạt hiệu quả, những chương trình này phải có độ bao phủ đủ lớn trong dân số để tạo ra hiệu ứng miễn dịch cộng đồng. Muốn làm được như thế thì phải có số liệu khảo sát chính xác, vốn là điều bất khả thi khi thiếu vắng hệ thống y tế công cộng có độ tập trung thống nhất cao. Cũng như các nước mà dịch tả còn hoành hành, Ấn Độ không có cơ sở hạ tầng này, chủ yếu do cái bóng nặng nề của chế độ khai thác thuộc địa, những khoản nợ hậu thuộc địa, và những khoản cho vay từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) trong thập niên 1990 đi kèm điều kiện chính phủ phải cắt giảm chi tiêu. Những cắt giảm này đưa đến giảm ngân sách cho các chương trình y tế công cộng và giáo dục, vốn chính là những thứ một xã hội cần có để tự thoát ra những điều kiện mà dịch tả luôn rình rập.   Do vậy, tuy Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề nghị dùng vaccine ngừa dịch tả ở những khu vực dịch tả còn lây lan mạnh, và mặc cho có một thứ vaccine dễ sử dụng được sản xuất ở chính đất nước mình, nhưng họ hàng của tôi ở vùng làng mạc xa xôi của Bihar vẫn chưa có được. Nhưng nếu tôi, như một người phương Tây, muốn đến thăm họ hàng một tuần thì tôi có thể dễ dàng có được vaccine ở Anh quốc.  Mỗi thập kỷ qua đi, liệu pháp bù nước qua đường miệng và vaccine ngừa dịch tả đã giảm mạnh thêm tầm ảnh hưởng nhưng vẫn không làm dịch tả hoàn toàn biến mất. Hai năm sau khi Sambhu Nath De công bố kết quả nghiên cứu ý nghĩa của mình, một trận dịch tả mới – trận đại dịch thứ 7 – bùng phát ở Indonesia rồi lan ra khắp châu Á và Bắc Phi. Trận đại dịch này vẫn đang tiếp diễn. Hơn 1 tỷ người đang sống ở những quốc gia có nguy cơ dịch tả mà không phải ngẫu nhiên chính là những nước nghèo nhất hành tinh.      Lý do ta phải ủng hộ hệ thống y tế công cộng và hợp tác quốc tế ngoài việc đây là đạo đức cơ bản vì nó phục vụ tất cả, thì còn vì nó cũng là lợi ích của mỗi người – chừng nào các thứ bệnh truyền nhiễm còn gây tai ương ở những nước nghèo thì chừng đó chúng vẫn là một mối hiểm họa cho phương Tây.      Vấn đề toàn cầu cần giải pháp toàn cầu  Hai thập niên sau khi dịch tả vươn đến châu Âu, từng quốc gia châu Âu riêng lẻ đã nỗ lực ngăn ngừa và khoanh vùng dịch. Nhưng bỏ ra hàng đống tiền để tẩy uế một thành phố cảng cũng chẳng có tác dụng gì nếu ta không thể kiểm soát những thủy thủ và hàng hóa vẫn thông quan liên tục qua đây. Dần dần họ nhận ra rằng một vấn đề do toàn cầu hóa gây ra thì cần phải có một giải pháp quốc tế.  Từ đây, thế giới đã chứng kiến một ví dụ hợp tác toàn cầu đầu tiên trong phòng chống dịch bệnh. Năm 1851, Hội nghị vệ sinh quốc tế đầu tiên triệu tập các đế quốc lớn của châu Âu đã họp ở Paris. Tuy thế, phải mất khá nhiều thời gian để tất cả các đại biểu đi đến được một đồng thuận, và mãi đến năm 1892 thì Công ước vệ sinh quốc tế đầu tiên mới ra đời.   Theo Giáo sư Anne-Emanuelle Birn ở Trường Y tế công cộng thuộc Đại học Toronto (Canada) thì thương mại là động lực của những cuộc họp này, y tế công cộng chỉ là phương tiện cần thiết. Và chúng đã chứng minh hiệu quả: những cuộc can thiệp xuyên quốc gia như cách ly kiểm dịch và điều tra dịch tễ do các cơ quan y tế quốc tế đảm nhiệm thực sự làm giảm số trường hợp tử vong do dịch tả. Những cuộc hội nghị vệ sinh quốc tế này chứng tỏ sức mạnh của hợp tác quốc tế trong việc cải thiện y tế và thúc đẩy kinh tế, cũng như tạo hình mẫu cho Tổ chức y tế của Hội quốc liên, và sau này là WHO.  Có lẽ thành công lớn nhất của kiểu hợp tác này là việc cả thế giới loại bỏ được bệnh đậu mùa năm 1979. Nhưng không như đậu mùa, dịch tả vẫn chưa bị xóa bỏ – không phải vì một trở ngại sinh học quá to lớn nào đó, mà do chúng ta chỉ tập trung vào những biện pháp liên quan đến dịch tả thay vì nỗ lực giảm nghèo đói vốn giúp những bệnh dịch như thế xảy ra. Hằng năm, vẫn còn 3 triệu trường hợp nhiễm và 100.000 người chết vì dịch tả, tất cả đều hoàn toàn phòng tránh được. Theo những ước tính mới đây, từ ngày 1/1 đến ngày 25/3 năm 2020, dịch tả đã cướp đi nhiều sinh mạng hơn virus corona. Nhưng chúng ta đang bàn thảo rất nhiều về virus corona mà không đả động bao nhiêu đến dịch tả, đó là vì virus corona đã vi phạm một luật bất thành văn rằng dịch bệnh lây nhiễm nguy hiểm không được phép xảy đến cho phương Tây.  Bản đồ những nơi còn vật lộn với dịch tả cho thấy có 47 nước – ở Trung Mỹ, vùng hạ Sahara của châu Phi, và Nam Á. Bức tranh này có vẻ như chỉ ra rằng những nước nhiệt đới có khuynh hướng dung dưỡng thứ vi khuẩn này nhờ khí hậu ấm áp và mật độ dân số cao. Nhưng những gì diễn ra ở quần đảo Marshall, một quần đảo xa xôi ở Thái Bình Dương nơi dịch tả bùng phát từ cuối năm 2000 đến đầu năm 2001, cho thấy chuyện dịch bệnh xảy ra ở đâu không phải là điều tất yếu. Như hai nhà nghiên cứu Seiji Yamada và Wesley Palmer ở Đại học Hawaii chứng minh, hai hòn đảo láng giềng ở quần đảo Marshall đã có hai số phận rất khác biệt tuy có điều kiện khí hậu tương tự và chỉ cách nhau 4 dặm (gần 7,5 km).  Hoa Kỳ có một căn cứ quân sự trên đảo Kwajalein, ở đó có thuê những người giúp việc lương thấp từ hòn đảo gần đó là Ebeye. Nhiều người trong số này là hậu duệ của những người tỵ nạn từ các đảo khác trong quần đảo vốn bị mất chỗ ở do các vụ thử vũ khí của Mỹ trong thập niên 1940 và 1950. Nhà cửa, cơ sở hạ tầng được giới quân sự cung cấp cho họ trên đảo Ebeye không khá hơn một khu ổ chuột bao nhiêu. Mỗi hộ trung bình có 9 người, do đó dịch bệnh lây lan rất nhanh. Nước thải đổ hết vào một phá nước là chỗ người ta vẫn tắm và bắt cá, còn khi mưa thì nước thải lại tràn lên đường phố.        Một đợt cung cấp vaccine tả uống tại Bangladesh năm 2017. Nguồn: Paula Bronstein/Getty Images     Tại thời điểm dịch bệnh bùng phát, đảo Ebeye không có nước máy. Ngoài ra, do đảo này không có điều kiện phù hợp cho nông nghiệp nên các nguyên liệu thực phẩm Marshall truyền thống đều không có; người ta phải nhập gần như tất cả, vừa không hợp sức khoẻ lại vừa đắt đỏ, nên nhiều người bị thiếu dinh dưỡng. Một trong những con tàu mang thức ăn đến hòn đảo này được cho là đã làm bùng phát trận dịch những năm 2000–2001.  Trong khi đó trên đảo Kwajalein, cư dân hầu như chỉ có người Mỹ, họ làm việc cho các công ty phục vụ quân đội. Họ sống trong những biệt thự với tiện nghi như ở khu nghỉ dưỡng, còn mật độ dân cư thì thấp hơn đảo Ebeye 20 lần. Khi dịch bệnh bùng phát, người lao động chỉ được đi từ Ebeye đến Kwajalein nếu họ có thể chứng minh được mình đã được chủng ngừa hoặc dùng kháng sinh phòng bệnh. Trong suốt thời gian dịch, đảo Ebeye có 400 trường hợp nhiễm với 6 người chết. Còn đảo Kwajalein thì không có bất cứ trường hợp nào.  Chuyện dịch tả lây lan vô cùng dễ dàng ở Ebeye và vô cùng hiếm hoi ở Kwajalein không liên quan gì đến thời tiết hay địa lý. Không có lý do sinh học hay môi trường nào khiến dịch tả không thể bị xóa bỏ vĩnh viễn ở đảo Ebeye, bang Bihar, và khắp nơi trên thế giới. Cái thiếu thốn không phải là bí quyết nào đó, mà là ý chí chính trị mở rộng những quyền lợi này đến cho tất cả mọi người.  Trận đại dịch tả đầu tiên diễn ra cách nay 200 năm, vi khuẩn gây bệnh được phát hiện cách nay hơn 150 năm, và kể từ khi các liệu pháp chữa trị và vaccine ngừa bệnh giá thành phải chăng được phát triển đến nay cũng đã 60 năm. Thế mà loại bệnh dịch lây nhiễm này vẫn đang tàn phá một số nước như thể những tiến bộ trên chưa bao giờ tồn tại. Đó chính là bài học thực sự từ dịch tả.  Liệu dịch Covid-19 rồi sẽ như dịch tả?  Hiện đang có nỗi e sợ rằng virus corona đã lan rộng đến mức nó sẽ tồn tại dai dẳng như dịch tả. Chúng ta vẫn chưa biết rồi đây loại virus corona hiện tại, SARS-CoV-2, sẽ đột biến thành dạng gây ra những triệu chứng nhẹ – bệnh giống cảm như do 4 loại virus corona địa phương – hay trở thành như loại SARS thứ nhất, tức là vẫn nguy hiểm chết người nhưng chỉ lây nhiễm giới hạn. Dù cho thế nào đi nữa thì SARS-CoV-2 hay một virus tương tự trong tương lai có thể rồi sẽ giống như dịch tả: bị xóa bỏ hoàn toàn ở những nước giàu, trong khi vẫn lây lan với hậu quả chết người ở những vùng nghèo nhất trên thế giới.  Thế giới rồi sẽ quay trở lại một mức độ đời sống khá giống như bình thường bằng cách làm theo ba kỹ thuật mà ta đã áp dụng với dịch tả: ngăn ngừa truyền nhiễm, chữa trị tập trung theo mục tiêu, và hợp tác toàn cầu giữa các nước. Nhưng như ta đã thấy với dịch tả, cả ba chiến lược này có thể càng làm trầm trọng sự chia rẽ toàn cầu nếu chúng chỉ được áp dụng chọn lọc để bảo vệ nửa giàu có hơn của thế giới.    Coronavirus nhắc cho chúng ta những tổn thương chung của nước giàu và nước nghèo.   Chúng ta đã thấy những dấu hiệu của vấn đề này: từ chuyện các nước giàu mua quá nhiều trang thiết bị bảo vệ cá nhân đến mức các nước nghèo không thể mua hoặc mua không đủ để bảo vệ cán bộ y tế của họ; cho đến việc thuê các nước nghèo như Ấn Độ làm theo kiểu gia công các thử nghiệm lâm sàng mà một khi thuốc đã phát triển thành công thì họ sẽ không thể mua nổi; hay việc các nước nghèo biến thành những điểm mù trên bức tranh virus corona của thế giới vì họ thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật số cần thiết để thu thập dữ liệu hoàn chỉnh về những đợt bùng phát dịch ở nước mình.  Việc chúng ta đang sống trong một thế giới bất bình đẳng cũng không còn gì lạ lẫm. Trong thập niên 1990, các chuyên gia y tế toàn cầu đã bắt đầu nhắc đến “khoảng cách 10/90” từ thực tế là chỉ có 10% số chi cho nghiên cứu y tế được dành cho những vấn đề ảnh hưởng đến 90% dân số thế giới. Tại thời điểm đó, các bệnh liên quan đến tiêu chảy chiếm đến 7,2% gánh nặng bệnh dịch toàn cầu nhưng chỉ được hưởng 0,06% số tiền đầu tư nghiên cứu y tế. Khoảng cách 10/90 hầu như vẫn không thay đổi. Nhưng trận đại dịch mới này là cơ hội cho chúng ta sửa chữa.  Nếu dịch tả đã khai sinh ra hệ thống y tế toàn cầu thì virus corona phải khiến nó khởi động lại. Richard Smith, nguyên biên tập viên của Tạp chí y khoa Anh (BMJ), đã so sánh các giai đoạn y tế toàn cầu kể từ trận đại dịch tả lần thứ nhất như những đợt cập nhật hệ điều hành. Tôi hưởng ứng cái mà Smith gọi là “Y tế toàn cầu 4.0” (Global Health 4.0), tức là nghiên cứu và chính sách do những người làm nghiên cứu và các nhà hoạt động từ những nước nghèo dẫn dắt. Và cho dù WHO không phải lúc nào cũng làm việc xứng đáng với mục tiêu cao cả của nó và vẫn chưa xóa bỏ được dịch tả như nó đã làm được với đậu mùa, thì giải pháp vẫn không phải là làm suy yếu tổ chức này như việc Donald Trump rút lại tài trợ. Điều ngược lại mới là giải pháp: WHO cần thêm rất nhiều tiền cũng như nâng cao tính độc lập khỏi các tập đoàn tài trợ nếu ta muốn nó giúp giải quyết những điều kiện kinh tế – xã hội khiến chúng ta mang bệnh.  Lý do ta phải ủng hộ hệ thống y tế công cộng và hợp tác quốc tế ngoài việc đây là đạo đức cơ bản vì nó phục vụ tất cả, thì còn vì nó cũng là lợi ích của mỗi người – chừng nào các thứ bệnh truyền nhiễm còn gây tai ương ở những nước nghèo thì chừng đó chúng vẫn là một mối hiểm họa cho phương Tây. Học giả y tế toàn cầu Obijiofor Aginam người Nigeria đã viết rằng “lúc đó thế giới các nước phát triển sẽ phải hy sinh rất lớn để đối phó với điểm dễ tổn thương chung”. Virus corona đã một lần nữa nhắc chúng ta nhớ về điểm dễ tổn thương chung này.  Để ngăn ngừa những đại dịch trong tương lai, Aginam kêu gọi tiến tới một hệ thống toàn cầu hóa theo cộng đồng (communitarian globalism): một cách tiếp cận từ dưới lên, “dựa trên những lý tưởng về công bằng, công lý, và phân phối bình đẳng những nguồn lợi không phải là thừa mứa trên toàn cầu”. Chúng ta đã thấy đây đó những minh chứng cho tình đoàn kết như thế này trong đợt khủng hoảng hiện nay: từ việc chính quyền cộng sản của bang Kerala (Ấn Độ) cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho công nhân nhập cư, đến các bác sĩ Somalia đề nghị trợ giúp những vùng chịu khủng hoảng như Italia, hay Cuba cho phép một du thuyền Anh bị nhiễm (Covid-19) cập cảng để kịp thời được các bác sĩ chăm sóc sức khỏe.   Đương nhiên là virus corona và dịch tả có nhiều khác biệt quan trọng. Như việc virus corona có tốc độ truyền nhiễm cao hơn dịch tả là một thách thức lớn khi ta muốn hạn chế sự lây lan của nó. Tuy vậy nhưng những bài học từ dịch tả vẫn có giá trị. Nếu chúng ta cho phép hệ thống y tế toàn cầu được tài trợ và quản trị theo logic thực dân cũ vốn đã ăn sâu vào cấu trúc hiện thời của nó, thì rồi chúng ta sẽ lại thấy những kết cục như đối với dịch tả.  Bây giờ thì tôi vẫn lo lắng cho bệnh nhân và đồng nghiệp của mình ở Anh, không biết bao nhiêu người sẽ bị con virus này hại. Nhưng trong khi có những cách phản ứng tốt hay xấu đối với cơn khủng hoảng này trước mắt, lịch sử sẽ phán xét chúng ta dựa trên chuyện ai chết không phải hôm nay mà là trong những thế kỷ tới.  Vì khi bệnh nhân của tôi qua đời trong đại dịch ở một trong những nước giàu nhất thế giới, đương nhiên đây là chuyện đau buồn, nhưng tôi có thể tự an ủi rằng đó là ngoại lệ, và rằng người ta đang làm đủ mọi cách để ngăn ngừa những cái chết tương tự trong tương lai. Còn nếu chúng ta vẫn có người chết vì loại virus corona này vào năm 2200 ở những phần nghèo nhất trên thế giới thì đó mới là một thất bại đạo lý to lớn hơn. Trong 50 năm tới, trên con đường đi lên phía Bắc xuyên bang Bihar về thăm quê, tôi hy vọng mình sẽ có thể mua chuối hương Hajipur mà không phải đeo khẩu trang để được hít hà cho thỏa thích mùi thơm ngọt ngào của nó.□  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2020/may/01/cholera-and-coronavirus-why-we-must-not-repeat-the-same-mistakes    Author                Neil Singh        
__label__tiasang Điểm A+ cho một cuộc đời      “Stephen Hawking Hàn Quốc”, như cách gọi trân trọng mà truyền thông dành cho giáo sư – xe lăn Lee Sang Mook. Sự lạc quan, niềm say mê khoa học và cách  sống vị tha đã khiến vị giáo sư này trở thành một biểu tượng đẹp trong  xã hội Hàn Quốc.    …Chiếc xe của giáo sư Lee và 12 sinh viên đang chạy bon bon trên một con đường ở sa mạc Nam California (Mỹ) hướng về phía Thung Lũng Chết thì bất ngờ lật ngược. Cơ thể ông gần như bị nghiền nát. Ông hôn mê ba ngày liền trong bệnh viện. Khi tỉnh dậy, các bác sĩ cho biết ông bị liệt từ cổ trở xuống và phần đời còn lại sẽ phải gắn chặt với chiếc xe lăn!  Đối với nhiều người, việc bị liệt toàn thân như một dấu chấm hết cho một cuộc đời. Nhưng với giáo sư Lee, đây chỉ mới là mở đầu cho một hành trình đầy gian khổ đòi hỏi những nỗ lực phi thường.          Giáo sư Lee Sang Mook sinh năm 1962 tại  Seoul (Hàn Quốc). Năm 12 tuổi gia đình ông chuyển đến sống tại  Indonesia. Ông say mê địa lý và luôn ước ao chu du khắp mọi nơi trên thế  giới. Lee tốt nghiệp ngành hải dương học Đại học Quốc gia Seoul và sau  đó hoàn thành luận án tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Massachusetts và  Học viện Hải dương học Woods Hole.    Ông hiện là giảng viên địa vật lý tại Đại học Quốc gia Seoul.        Tại các cuộc hội thảo về hải dương ở Trường đại học Quốc gia Seoul sau này, người ta thường bắt gặp hình ảnh một người đàn ông ngồi xe lăn dùng miệng điều khiển con chuột vi tính kết nối laptop có hình dạng hệt một chiếc lọ. Ngậm chuột vào để nhấp trái, nhả chuột ra để nhấp phải, ngậm chuột kết hợp với gật đầu để di chuyển. Bằng cách này, trong sáu năm ròng rã, giáo sư địa vật lý Lee Sang Mook vẫn kiên trì theo con đường nghiên cứu khoa học của mình và đưa khoa học đến với những người khuyết tật.  Nghị lực của ông đã được nhiều người ví với nhà bác học vĩ đại trên chiếc xe lăn: Stephen Hawking.  “Tôi chưa bao giờ than khóc”  Mặc cho nhiều người nhìn ông với cặp mắt thương hại, giáo sư Lee cho biết ông chưa bao giờ cảm thấy bi quan. “Bạn tin không, tôi chưa bao giờ khóc cho số phận của mình dù chỉ một lần”. Ông luôn nói với mọi người một cách hóm hỉnh rằng sợi dây thần kinh đau buồn của ông đã vô tình bị đứt trong tai nạn.  Lee cho biết ông chỉ thật sự thấy thế giới của mình chao đảo khi hay tin một nữ sinh viên trong chuyến đi định mệnh ấy đã thiệt mạng trong vụ tai nạn. “Tôi phát hiện điều đó bốn tháng sau tai nạn. Các bác sĩ cho rằng tin dữ này sẽ khiến tôi trở nên tuyệt vọng – giáo sư Lee xúc động nói – Tôi cảm thấy thế giới của mình sụp đổ. Sinh viên tôi đang dẫn dắt gặp nạn. Tôi không muốn trở lại trường bởi cảm thấy mình không xứng đáng làm một người thầy”.  Nhưng thay vì chìm đắm trong sự hối tiếc và mặc cảm tự ti, hai tháng sau đó giáo sư Lee trở lại Trường đại học Quốc gia Seoul và tiếp tục công việc bị gián đoạn. Ông bắt đầu học cách dùng miệng để thực hiện các thao tác máy tính và làm các công việc nghiên cứu với lòng nhiệt tâm phi thường. Trong một xã hội mà người bị liệt luôn bị gắn mác tàn tật và chịu nhiều định kiến, sự trở lại của ông là một kỳ tích.  “Là một giáo sư, vào thời điểm biết mình sắp chết, tôi đã tự chấm điểm cho cuộc đời mình. Tôi chợt nghĩ bản thân xứng đáng đạt được điểm nào nhất trong thang điểm cuộc đời. Tôi tự chấm B+. Tôi nhận ra rằng nếu bản thân tôi có cơ hội để sống một lần nữa, tôi sẽ phấn đấu đạt điểm A+. Điều đó có nghĩa là tôi không những phải làm tốt công việc của mình mà còn làm tốt các lĩnh vực khác nữa. Tôi không chắc mình sẽ đạt điểm A+ vào cuối đời, nhưng tôi sẽ cố gắng để đạt được điều đó” – giáo sư Lee cho biết.    Đem khoa học đến với người khuyết tật  Nể phục trước sự can đảm và ý chí vượt lên số phận của “Stephen Hawking Hàn Quốc”, giáo sư Lee Kun Woo – một đồng nghiệp tại Trường đại học Quốc gia Seoul – đã quyết định dành tặng giáo sư Lee khoản tiền 100 triệu won (khoảng 89.500 USD). Ông Lee đã dành một nửa số tiền để xây dựng học bổng Lee Hye Jung (được đặt theo tên nữ sinh viên thiệt mạng trong tai nạn năm 2006). Học bổng này mở đầu cho hàng loạt chương trình mang khoa học đến với người khuyết tật trong nhiền năm sau đó.          “Tôi không chắc mình sẽ đạt điểm A+ vào cuối đời, nhưng tôi sẽ luôn cố gắng để đạt được điểm đó”   Giáo sư Lee Sang mook        Vốn là một người thực tế, giáo sư Lee không bao giờ chấp nhận nói suông. Thay vì đưa ra những lời khuyên và hi vọng viển vông, ông tập trung vào việc giới thiệu các công cụ hỗ trợ khuyết tật đến với những người có hoàn cảnh như mình. Ông muốn là một nhân chứng cho thấy cánh cửa cuộc đời không khép lại với bất cứ người nào biết tự mở ra cho mình một cánh cửa mới.  “Tôi xuất hiện trên truyền hình để giới thiệu chính trường hợp của mình và các dụng cụ (hỗ trợ dành cho người khuyết tật). Tôi không gửi các thông điệp hi vọng (suông) đến với mọi người – giáo sư Lee nói – Tôi không dùng những từ ngữ đại loại như hi vọng, lạc quan, can đảm. Bởi tôi không có quyền đó. Thật vô nghĩa khi khuyên những người có hoàn cảnh khó khăn hơn tôi hãy can đảm và luôn hi vọng”.  Năm 2008, ông nhận lời viết bài cho một chuyên mục trên một tờ báo địa phương và bắt đầu gây được sự chú ý từ phía dư luận. Ba tuần sau bài báo đầu tiên, Lee nhận được lời đề nghị cộng tác vào dự án QoLT của chính phủ nhằm giúp đỡ những người khuyết tật. Dự án này giúp đỡ nhiều số phận kém may mắn đến với khoa học với số tiền tài trợ lên đến 10 tỉ won/năm (gần 9 triệu USD) trong vòng 10 năm.  “Có rất nhiều người cống hiến cho người khuyết tật một cách thầm lặng. Nhưng khi một người nổi tiếng thực hiện các công việc này, hiệu quả sẽ đến nhanh hơn” – giáo sư Lee cho biết ông dùng truyền thông để giúp nhiều người khuyết tật thấy được họ có thể sống năng động và có ý nghĩa hơn họ nghĩ.  Có lẽ ông Lee Sang Mook không thể ngờ rằng sự nghiệp giáo dục khoa học đầy ý nghĩa của ông bắt đầu từ sau tai nạn định mệnh năm 2006.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm khác biệt chính là thầy      Nằm trong Top 5 thi đỗ đại học Xây dựng năm 2001, trở thành lớp trưởng lớp Chất Lượng Cao khoá 46, kết thúc năm thứ nhất với kết quả đứng đầu, Đỗ Trần Hồ Thắng bất ngờ rẽ ngang cuộc đời của mình bằng một quyết định «khó hiểu»: đi Pháp du học tự túc. Khó hiểu bởi nếu cứ tiếp tục thành tích học tập tốt như vậy, thì khi kết thúc khóa học, một xuất học bổng toàn phần học tiếp Master tại những trường lớn bên Pháp chắc chắn nằm trong tầm tay.    Chào Hồ Thắng, trở lại thời điểm cách đây 5 năm, khi đang học rất tốt tại lớp học có trình độ cao nhất của trường Xây Dựng, nguyên nhân nào khiến anh quyết định bỏ hết để sang Pháp học lại từ đầu ? Khi đó bạn bè và thầy giáo ở trường Xây dựng có bất ngờ không ?  Bất ngờ chứ. Có người cho là tôi dại vì đã không chịu chờ đến lúc tốt nghiệp, có học bổng rồi mới đi. Tôi lúc ấy nghĩ theo cách khác: trước nhất, chuyện tự túc tài chính không đặt ra vấn đề quá lớn lúc ấy. Hai là tôi thấy thích phong cách giáo dục của Pháp (lớp Chất lượng cao của trường Xây dựng, học một số môn theo giáo trình của Pháp), các thầy dạy tôi hầu như mới tu nghiệp ở Pháp vài tháng nên chưa chuyển tải hết nội dung. Tôi quyết định đi trước một bước, giờ nhìn lại vẫn thấy mình quyết định đúng.  Năm năm đã trôi qua, nhiều bạn bè cùng khóa trước kia giờ cũng đã lần lượt sang Paris, có người đã làm nghiên cứu sinh Tiến Sỹ. Còn tôi mới bước vào năm học cuối cùng trường Công trình Công cộng (Ecole Supérieur des Travaux Publics – ESTP.) Bị thiệt mất mấy năm học, nhưng tôi đã học được đủ nghề: chạy bàn, đầu bếp, thợ mộc, thợ nề- ở nhiều công trình khắp Paris, và tự lo được cuộc sống.  Được biết sau khi sang Pháp, anh lại không đăng ký vào thẳng Đại học mà lại theo học một trường về Trung Cấp Xây Dựng ?  (cười): Ý anh là tại sao lại quyết định làm thợ trước khi làm thầy hả? Tại vì ở nhà, mọi người vẫn nói là giáo dục mình đào tạo thừa thầy thiếu thợ, nhiều khi thầy không quý bằng thợ. Sang Pháp, tôi bèn đăng ký học chuyên viên kỹ thuật trước rồi mới học kỹ sư. Họ cho phép học thế, chứ ở lại VN thì tôi cũng chả có cơ hội. (lại cười)  Có một thực tế là kỹ sư nước ngoài sau khi ra trường làm được việc ngay còn ở nước ta thì không? Theo anh, nguyên nhân là ở đâu?  Vẫn là câu chuyện thầy thợ thôi. Anh sinh viên ra trường ở Việt Nam không biết thợ như thế nào,  kỹ thuật thì toàn học trên giấy. Đến lúc đi làm, công ty nào dám giao việc, giao công nhân cho anh quản lý ngay. Họ phải đào tạo lại nhiều. Ở Pháp khác, kỹ sư ra trường lúc cần có thể xắn tay vào làm việc như công nhân. Tôi không nói là kỹ sư sẽ làm việc như công nhân, nhưng khi anh đã có kinh nghiệm trực tiếp, đã đánh giá được, thì chuyện anh quản lý công trình sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.  Như vậy, trong quá trình học, hẳn là các anh có nhiều cơ hội cọ xát nhiều với thực tế?  Ở Việt Nam, trong 5 năm học, một sinh viên xây dựng được thực tập 2 lần. Một lần khoảng một tuần chỉ để xây một bức tường- mà việc này thì nhiều khi không cần học cũng làm được. Lần hai là khoảng 1 tháng thực tập ở công trường, nhưng lại để trả lời khoảng 10 câu hỏi cho trước- mà hoàn toàn có thể tìm thấy câu trả lời trong sách hoặc trên mạng. Trong khi đó, khi thực tập, một sinh viên xây dựng ở Pháp phải làm tất cả mọi việc : từ phụ hồ, thợ chính, đốc công cho đến kỹ sư hay chuyên viên thẩm định chất lượng….Suốt 4 năm học vừa qua tôi được đi thực tập trên dưới 10 tháng, chưa kể các lần đi sửa nhà, làm sân cho người ta để kiếm thêm tiền.  Đó là chuyện thực tập, còn trong chương trình học, anh có thấy sự khác biệt gì không?  Về cơ bản thì nội dung không khác nhau nhiều. Điểm khác biệt chính là thầy giáo. Các thầy giáo dạy tôi phần lớn đều là kỹ sư đang làm việc tại các công ty, thậm chí có một số môn còn được nhà báo (trong khi ở Việt Nam chủ yếu là các nhà nghiên cứu). Vì thế các thầy giáo Pháp truyền đạt cho sinh viên cả phong cách làm việc. Tôi cho đây là một hệ thống hiệu quả. Các thầy, thay mặt các công ty đào tạo sinh viên, kiểu gì các công ty chả hài lòng về chất lượng sinh viên lúc ra trường.  Làm sao nhà trường có thể mời được họ về giảng dạy?  Bởi có một sự giao thoa vô cùng chặt chẽ giữa nhà trường-công ty. Ở Việt Nam, trường học và công ty tương đối rạch ròi. Ở Pháp, ranh giới này bị xóa tương đối mờ.  Trước khi tốt nghiệp, sinh viên đã có cơ hội thử làm thực tập tại công ty. Và sau khi tốt nghiệp 1,2 năm. công ty lại đóng vai trò một trường học đối với kỹ sư ra trường. Và kỹ sư sau khi ra trường có thể liên lạc lại tương đối dễ dàng với các thầy giáo cũ để tìm giải pháp. Chuyện này được các thầy giáo ủng hộ. Rồi họ sử dụng lại những khó khăn này cải tiến bài giảng và công việc của mình. Người Mỹ gọi là feedback thì phải.Thầy liên lạc với “sản phẩm” của mình để cải tiến những “sản phẩm” tiếp theo. Nói tóm lại là cả sinh viên và thầy giáo đều có lợi. Sự giao thoa này còn có đóng góp vô cùng quan trọng của hội cựu Sinh viên.    Hội cựu Sinh viên có vai trò như thế nào?  Rất quan trọng. Khi tôi vừa vào trường được mấy hôm thì đã được một cựu sinh viên nhận đỡ đầu. Từ đó, gặp vấn đề gì liên quan đến ngành nghề tôi đều có thể hỏi ông ấy. Hội sinh viên trường tôi đã trao khá nhiều học bổng, giúp đỡ sinh viên trong chuyện tìm thực tập, việc làm. Khi cần kinh phí cho các cuộc đi xa phục vụ học hành, chúng tôi cũng có thể đề nghị sự giúp đỡ của hội. Ban giám hiệu trường cũng giữ quan hệ rất khăng khít với hội cựu sinh viên. Qua hội, các lãnh đạo trường hiểu các công ty và các lãnh đạo công ty hiểu trường. Thực tế thì 2/3 số giám đốc các công ty xây dựng Pháp là cựu sinh viên của trường tôi. Như vậy có thể nói, về mặt thượng tầng, nhà trường và công ty liên hệ với nhau rất chặt chẽ nên cả hai có thể giúp đỡ lẫn nhau rất dễ dàng.  P. V thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm mù trong việc theo dấu Omicron      Các nhà nghiên cứu đang nhanh chóng giải trình tự bộ gene của các mẫu virus trên toàn thế giới và muốn theo dõi sát sao hành trình của các biến thể mới, nhưng những lỗ hổng trong hệ thống giám sát toàn cầu khiến nhiệm vụ này thách thức hơn.      Một phòng lab ở New Delhi, Ấn Độ giải trình tự gene để truy dấu Omicron.   Omicron đang lan nhanh như cháy rừng và chưa đủ dữ liệu khẳng định nó sẽ làm tăng tỉ lệ tăng nặng và tử vong hơn Delta hay không. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu đang chạy đua để theo dõi, nghiên cứu sát sao về Omicron bằng cách giải trình tự bộ gen của coronavirus. Tuy nhiên, việc giám sát Omicron thông qua giải trình tự bộ gene có thể chậm hơn mong đợi.   Một chiều hướng tích cực là các nhà nghiên cứu đang giải trình tự bộ gen SARS-CoV-2 nhiều hơn bao giờ hết, giúp họ “theo dõi” được Omicron tương đối nhanh chóng. Kể từ tháng 4 năm ngoái – khoảng 16 tháng xảy ra đại dịch – cơ sở dữ liệu trực tuyến GISAID đã lưu dữ liệu giải trình tự 1 triệu bộ gene SARS-CoV-2. Và kể từ đó, các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đã gửi thêm năm triệu trình tự lên GISAID trong khoảng tám tháng. “Chúng ta đang ở có điều kiện để theo dõi Omicron hoặc các biến thể mới nổi nào khác tốt hơn nhiều”, Kelly Wroblewski, giám đốc phụ trách các bệnh truyền nhiễm tại Hiệp hội các phòng thí nghiệm sức khỏe cộng đồng ở Silver Spring, Maryland, cho biết.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng vẫn còn những khoảng trống đáng lo ngại trong việc giải trình tự dữ liệu khiến cho việc theo dõi, phân tích quá trình lây lan của các biến thể đều trở nên khó khăn. “Các con số rất phức tạp và phân tán”, Wroblewski nói.   Tỷ lệ giải trình tự rất khác nhau giữa các quốc gia mang lại những nét vẽ khác nhau trong một bức tranh không đồng đều về việc biến thể này đang lây lan nhanh chóng qua biên giới của các quốc gia. Ví dụ: Theo dữ liệu giải trình tự được đăng tại GISAID, có 10 tiểu bang của Hoa Kỳ giải trình tự dưới 2% các ca dương tính với COVID-19. Ngược lại, các bang Wyoming, Colorado và Vermont lại giải trình tự hơn 10% các trường hợp dương tính ở đây trong cùng một khoảng thời gian.  Nhưng ngay cả khi một khu vực giải trình tự được nhiều trường hợp dương tính thì người ta vẫn có thể để “sót” mất các biến thể và không kịp theo dõi nếu xét nghiệm kém hoặc sai lệch. Ví dụ: một số quốc gia chủ yếu kiểm tra khách du lịch quốc tế. Ngay cả khi họ giải trình tự tất cả các mẫu đó, thì họ vẫn có thể bỏ sót một biến thể đã lây nhiễm và lưu hành trong nước.  Khoảng cách dữ liệu  Đối mặt với những thách thức như vậy, nhà dịch tễ học Sam Scarpino và các đồng nghiệp của ông tại Viện Phòng chống Đại dịch thuộc Quỹ Rockefeller ở Washington DC đã tìm kiếm những cách mới để hiểu rõ hơn hành trình lây lan của các biến thể. Một phương pháp là sử dụng một mô hình mà họ đã xây dựng để tính toán, ước lượng khả năng lây truyền Omicron ở trong một vùng, trong điều kiện xét nghiệm và giải trình tự gene virus ở khu vực đó.   Nhóm cũng đang dựng nên các mốc thời gian bằng cách sử dụng các dữ liệu về Omicron được tải lên cơ sở dữ liệu của GISAID mỗi ngày, từ đó giúp vẽ ra bức tranh phát hiện biến thể này một cách rõ ràng hơn. Họ sắp xếp các trình tự dựa trên mốc thời gian ngày tháng mà các mẫu được thu thập. Nhưng các mốc thời gian cũng rất phức tạp và có thể gây nhầm lẫn, vì có quá nhiều mốc thời gian: giữ thời điểm một người được xét nghiệm dương tính với thời điểm mẫu đó được chuyển đến phòng lab giải trình từ gene, sau đó lại tới thời điểm báo cáo cho các nhà quản lý và gửi lên cơ sở dữ liệu GISAID.   Dave Luo, một nhà khoa học dữ liệu làm cố vấn cho viện nghiên cứu về đại dịch của Rockefeller cảnh báo rằng với các mốc thời gian như thế này thì không thể xác định được một mình biến chủng Omicron lây lan như thế nào. Để làm được điều đó, các nhà khoa học cần phải so sánh sự khác biệt giữa các trình tự gene Corona, xây dựng một cây tiến hóa của virus. Hiện nay các nhà dịch tễ học bộ gene, chẳng hạn Dự án Nextstrain đang tiến hành các loại phân tích kiểu như thế này để theo dõi quá trình phát triển của Omicron.  Tất cả các nghiên cứu này đều đang diễn ra hàng ngày khi các chuỗi trình tự Omicron mới liên tục đươc cập nhật từ khắp nơi trên thế giới. Các nhà khoa học đang nhìn thấy sự gia tăng nhanh chóng số lượng các giải trình tự gene kể từ sau khi Tổ chức Y tế Thế giới đặt tên Omicron là một biến thể đáng lo ngại vào ngày 26 Tháng 11. Ngay sau thông báo của WHO, 15 quốc gia đã gửi 187 trình tự bộ gene của Omicron lên GISAID. Đến ngày 14 tháng 12, 55 quốc gia đã chia sẻ 4.265 trình tự Omicron.   Biến thể Omicron đang lan tràn khiến nhiều nước phải thích nghi với tốc độ chóng mặt. Tuần này, các quốc gia Bắc Âu đã áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để giảm số ca mắc bệnh đang gia tăng. Hà Lan đã đưa ra thông báo gần như sẽ phải giảm các hoạt động công cộng và cho phép các điểm cư trú tiếp nhận không quá hai khách mỗi ngày — ngoại trừ Giáng sinh và Đêm Giao thừa thì được đón bốn khách. Đan Mạch trước đó đã dỡ bỏ tất cả các hạn chế đi lại vào tháng 9, thì nay quay trở lại đóng cửa các nhà hát, phòng hòa nhạc , bảo tàng và các không gian công cộng khác và cấm bán rượu sau 10 giờ tối. Các nước kiểm soát nghiêm ngặt như vậy các tính toán hiện nay cho thấy nếu Omicron khiến lượng người tăng nặng như biến thể Delta, thì số ca nhập viện sẽ tăng rất cao — gấp nhiều lần những gì mà hầu hết các hệ thống y tế có thể xử lý. Còn nếu Omicron gây bệnh nhẹ hơn Delta, hệ quả sẽ ít thảm khốc hơn – nhưng ngay cả khi đó thì “dự kiến vẫn có quá tải đáng kể đối với hệ thống y tế”, một nhóm chuyên gia cảnh báo trong một báo cáo ngày 19 tháng 12 cho chính phủ Đức. Một làn sóng Omicron lớn cũng có thể dẫn đến nhiều trường hợp mắc hội chứng COVID kéo dài (long COVID) nữa.  Bảo Như lược dịch  Nature doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-03698-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm qua 31 kì dự thi Toán quốc tế của Việt Nam      1. Khởi đầu  Cuối năm 1973, năm đầu tiên của Hiệp đình hòa bình Paris chính thức đem lại bình yên cho bầu trời Miền Bắc, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên và Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã đi đến một quyết định táo bạo trong nền giáo dục Việt Nam: cử học sinh đi dự thi Toán quốc tế ngay trong năm học 1973-1974.    Nói đó là một quyết định táo bạo không phải là quá khích, bởi lẽ nó mở đường cho việc hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam. Cuộc thi không chỉ là một hình thức thi thố bổ ích cho một số học sinh tài ba, mà cái chính là một trong những thước đo để so sánh trình độ dạy học và trình độ thực sự của nền giáo dục nước ta. Thi đạt thành tích tốt thì chúng ta sẽ có tự tin, để tiếp tục con đường của mình. Còn nếu kém thì chúng ta sẽ biết để mà phấn đấu. Do vậy, trong cả quá trình luyện thi cũng như trước khi lên đường tham gia dự thi chính thức tại CHDC Đức, hai Bộ trưởng đã dặn đi dặn lại thầy giáo và học sinh, đại ý:  không đặt vấn đề đoạt giải thành mục tiêu số một, mà đi chủ yếu là để học hỏi. Tất nhiên, đã là thi, nếu đạt được một giải, dù chỉ là Huy chương Đồng, thì cũng sẽ là mỹ mãn. Lúc đó, là một học sinh, tôi không hiểu  ý đồ sâu sa của các vị bộ trưởng, mà chỉ nghĩ đơn giản đến chuyện thắng thua của cuộc thi. Về sau này, qua nhiều năm công tác trong nghiên cứu khoa học và đào tạo, tôi đồ rằng lý do sâu xa của việc cử học sinh đi dự thi Toán quốc tế của hai vị Bộ trưởng là  qua đó biết được vị trí thực của mình trong tương quan quốc tế, để rồi họ sẽ có cách tiếp cận tối ưu tới việc điều chỉnh, hoạch định chiến lược giáo dục và đào tạo.  Chẳng hiểu suy nghĩ này của tôi có đúng không?  Nhưng với tôi, đó là lí giải hợp lí nhất cho việc cử gấp đoàn học sinh dự thi Toán quốc tế, khi mà nước ta còn đang có chiến tranh, khi mà học sinh của ta – cho dù là học ở các trường chuyên toán – còn còi cọc (do không đủ ăn và chạy trốn bom đạn liên miên), và tài liệu thì hầu như không có.  Hẳn rằng còn nhiều lí do khác nữa. Nhưng thực tế là ngay sau khi ăn Tết 1974, học sinh ba lớp chuyên toán của Bộ Giáo dục và một số tỉnh được triệu tập thi để chọn đội dự tuyển. Sau 2 vòng thi, một đội dự tuyển gồm 9 bạn được chọn ra. Tôi cũng là một trong số đó – và do đó biết kĩ các chuyện nêu ở trên. Đội dự tuyển được ôn luyện đặc biệt trong thời gian ba tháng, được những chế độ ưu đãi đặc biệt như ở ngay trong nhà làm việc của Bộ ĐH và THCH, sáng sáng được ăn phở Tràng Tiền loại 5 hào, và được 6 thầy giáo hàng đầu luyện thi ngày đêm! Sau đó, một đội tuyển gồm 5 bạn được chọn ra để đi thi (tác giả không thuộc trong số này). Và như mọi người đã biết, học sinh cũng biết phát huy truyền thống của dân tộc ta, trận đầu ra quân đã “chiến thắng” giòn giã, hơn cả mọi sự chờ đợi.  Có thể vừa  ngây ngất, vừa bất ngờ với thành tích lúc đó cũng như sau này, nên đôi lúc chúng ta đã quá tâng bốc chuyện thi Toán quốc tế. Tuy nhiên khi bình tĩnh suy xét lại, thì việc thi Toán quốc tế quả là một việc rất có ý nghĩa (xem thêm [3], [4], [6]).  Sau lần đầu tiên, còn một số năm chúng ta lập đội dự tuyển (trước khi thi học sinh giỏi Toán toàn quốc), tập trung luyện thi dài ngày, rồi mới chọn đội tuyển đi thi chính thức. Sau một thời gian có kinh nghiệm hơn, và trình độ học sinh các lớp chuyên toán cũng khá lên rõ rệt, việc chọn học sinh đi thi Toán quốc tế trở nên qui cũ như hiện nay: không lập đội dự tuyển, mà lập luôn đội đi dự thi chính thức trên cơ sở thi  học sinh giỏi Toán toàn quốc. Thời gian tập trung ôn luyện cũng chỉ còn trên dưới một tháng. Tính đến nay, đội Việt Nam đã dự thi đúng 30 lần. Để có được một đánh giá sơ bộ, trước hết xin xem kết quả chung của các đoàn học sinh các nước.  2. Thành tích  Thi Toán quốc tế là một cuộc so tài giữa các học sinh. Tuy nhiên, nhiều khi nguời ta vẫn xét chúng như cuộc so tài giữa các đoàn.  Mặc dù chỉ là thông tin tham khảo, nhưng đôi khi (chứ tuyệt nhiên không hẳn là vậy) nó cũng phản ánh phần nào trình độ giáo dục toán ở bậc phổ thông của nước đó.   Nếu xét theo tiêu chuẩn thi đấu thể thao, người ta thường lấy số huy chương vàng đạt được làm thước đo cao nhất. Tuy nhiên vì số năm tham dự không đồng đều giữa các nước, nên lấy tỷ số giữa số huy chương vàng và số năm tham dự sẽ cho ta một bức tranh khá trung thực về thành tích thi của các đội. Theo tiêu chí này, Việt Nam ta đứng thứ 9 với thành tích 40/31, xếp sau các đội Trung Quốc (96/22), Nga (59/16) –  Liên Xô (77/29), Mỹ (76/33), Hungari (72/47), Hàn Quốc (31/20), Đức (45/30), Rumani (66/48), Iran (29/22). Một con số khá ấn tượng, vì nó vượt qua nhiều nước có truyền thống Toán học như Bungari (48/48), CHDC Đức (26/29), Anh (34/40), Pháp (23/38). Số năm đoàn học sinh Việt Nam đoạt Huy chương vàng của Việt Nam khá cao (23/31 lần dự thi), với số lượng ngày càng nhiều (xem Bảng B phụ lục). Có hai lí do căn bản để giải thích hiện tượng này. Đầu tiên phải nói đến trình độ của học sinh giỏi Toán hiện nay đã được nâng lên rất cao. Nếu như trước đây, thầy giáo không mấy khó khăn tìm ra đề toán mới, thì ngày nay những học sinh xuất sắc nhất ở đầu lớp 11 đã biết hầu hết các bài toán khác nhau. Tìm được một bài toán mới vừa tầm học sinh phổ thông không còn là chuyện dễ. Do vậy đội tuyển cũng không cần luyện nhiều như thời đầu. Lí do thứ hai là với việc tăng thêm số nước tham dự, có nhiều nước trình độ học sinh giỏi Toán còn khá xa so với ta. Với qui ước trao giải: khoảng 50% số học sinh dự giải, và tỉ lệ Vàng : Bạc : Đồng giữ nguyên 1:2:3, thì rõ ràng khả năng đạt giải cao tăng lên rõ rệt. Thêm vào đó, các đội xếp ngay sau chúng ta là Ucraina (21/16), Đài Loan (20/16) và Nhật Bản (21/18) cũng có chỉ số rất sát. Do vậy, nếu chúng ta không cố gắng liên tục, thì việc ra khỏi top-ten là không bao xa.  Nếu xét về thứ tự qua tổng số điểm của cả đoàn học sinh, thì việc sắp xếp chỉ chính xác khi tất cả các đoàn đều có đủ số học sinh tham dự thi. Do vậy việc xếp hạng hàng năm đối với đoàn Việt Nam cũng không hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên điều này cũng không quan trọng, vì như trên đã nói việc sắp xếp chỉ là một thông tin tham khảo. Qua 31 lần dự thi, có 24 lần đội tuyển Việt Nam vào hạng top-ten, chiếm 86%. Điều đó cũng phù hợp với quan điểm đánh giá theo số huy chương vàng ở trên. Tuy thế, việc hai năm liền 2005 và 2006 chúng ta không nằm trong số đó nữa cho thấy chuyện phấn đấu để duy trì vị trí top-ten là một kì tích, chứ không hiển nhiên như đôi lần dư luận đã ngộ nhận.  Sau 31 lần tham gia thi Olympic Toán quốc tế, tổng cộng có 187 lượt học sinh đã dự thi với số giải giành được là 171. Trong số này có 15 học sinh dự thi hai lần. Bảng B cho chúng ta một cách thống kê đầy đủ danh sách học sinh đoạt giải và sự đóng góp của các trường phổ thông. Trong số các trường có học sinh đoạt giải, góp công nhiều nhất là Khối chuyên Toán ĐHKHTN-ĐHQG Hà Nội, được gọi dưới tên gọi thân yêu là Khối A0, với 63 giải, trong đó có 23 Huy chương Vàng và 4 học sinh hai lần đoạt Huy chương Vàng. Đơn vị thứ hai là Khối chuyên Toán ĐHSP Hà Nội với  33 giải, mà điển hình là 9 Huy chương Vàng và 1 học sinh hai lần đoạt Huy chương Vàng. Đứng thứ ba là chuyên Toán Hà Nội với 7 học sinh của Chu Văn An và 6 của Hà Nội-Amsterdam. Trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa đứng thứ 4 với 11 giải. Như vậy, số cơ sở có học sinh đạt giải có mặt ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, và khá tập trung. Hai đầu tàu của đoàn học sinh Việt Nam nằm ở hai trường đại học có các khoa Toán mạnh nhất nhì toàn quốc. Phần lớn nơi nào có học sinh đoạt giải thì thường lặp lại thành tích trong một số năm tương đối liên tục. Điều đó chứng tỏ, thành tích đạt được là nhờ sự chuẩn bị công phu của cả trò lẫn thầy, là kết quả hợp lí của một sự phấn đấu bền bỉ và phi thường, nhờ thực lực, chứ hoàn toàn không phải là một sự tình cờ.  Đây có lẽ là thời một chất liệu cần được phân tích sâu sắc để đúc kết kinh nghiệm phục vụ cho việc đào tạo nhân tài của đất nước.  3. Kì thi trên đất nhà  Kì thi Toán quốc tế IMO-2007 lần thứ 48 vừa diễn ra tại Hà Nội từ 19-30/7/2007. Công tác chỉ đạo của Hội đồng quốc tế và chấm thi được tổ chức tại Hạ Long. Kết quả kì thi này, đoàn Việt Nam lại một lần nữa đứng thứ 3 với tổng số điểm là 168, đạt 3 huy chương vàng và 3 huy chương bạc. Với đánh giá sơ bộ ở trên, đây là một thành tích ấn tượng. Tuy nhiên cũng cần có nhìn nhận chính xác, đây không phải là một kỉ lục mới của đoàn học sinh Việt Nam. Nếu xét về các loại “kỉ lục”, thì năm 1999 tại Rumani đoàn học sinh ta cũng đã đứng thứ 3 cũng với ba huy chương vàng và ba huy chương bạc, nhưng tổng số điểm toàn đoàn còn cao hơn (177 điểm). Năm 2004 tại Hy Lạp, tuy đứng thứ 4, nhưng chúng ta thậm chí đạt 4 huy chương vàng (cũng là lần duy nhất cho đến nay). Năm 2003 tại Nhật Bản, toàn đoàn cũng đứng thứ 4, nhưng trong số 3 học sinh đạt điểm tuyệt đối (42 điểm) thì có tới 2 học sinh Việt Nam. Mặc dù số nước tham dự trong các năm 1999, 2003 và 2004 ít hơn hiện nay chút đỉnh, nhưng như trên đã nói điều này không ảnh hưởng tới việc xếp thứ hạng của các đoàn mạnh.  Theo các thầy dạy bồi dưỡng đội tuyển, đoàn học sinh Việt Nam dự thi năm nay không được tốt như mọi năm. Tuy nhiên, chuyện thi cử từng kì cụ thể lại có yếu tố may rủi nữa. Không phủ nhận sự cố gắng của các em học sinh, nhưng rõ ràng năm nay học sinh ta gặp may: đề thi khá hợp gu với em! Bình thường, Hội đồng quốc tế chọn 1 và chỉ 1 bài cực khó để chỉ ít em giành điểm tối đa, nhưng nhiều em sẽ đạt trên 35 điểm. Năm nay, rất không may, đánh giá chủ quan của Hội đồng quốc tế đã sai: có tới 2 bài (bài 3 và bài 6) cực khó. Do vậy rất ít em làm được 1 trong 2 bài này.  Điều đó có nghĩa là về cơ bản các em chỉ thi thố tài năng ở 4 bài còn lại. Bốn bài này lại vừa sức với học sinh Việt Nam – mà 2 trong 4 bài đó là các bài về Hình học, vốn là thế mạnh của các em.  Khác với thi đấu thể thao, chuyện thi trên sân nhà hoàn toàn không đem lại lợi thế cho học sinh của mình. Ngược lại, suốt cả quá trình chuẩn bị cũng như tổ chức, các ban chuyên môn của ta (chọn đề, chấm thi, …) cứ lo ngay ngáy là đoàn học sinh của mình đạt thành tích cao quá!? Đạt thành tích quá cao là không loại trừ (xét từ khía cạnh truyền thống của ta qua các lần dự thi cũng như ảnh hưởng của các yếu tố may rủi), nhưng đạt kỉ lục trên sân nhà dễ làm nảy sinh sự nghi ngờ về tính trung thực ở ai đó. Do vậy, điều phấn khởi nhất của kì thi IMO-2007 vừa qua là việc tổ chức thành công (dù rằng theo đánh giá của bạn bè quốc tế, đây chưa phải là IMO được tổ chức tốt nhất). Thành tích này rất đáng trân trọng, vì việc dự thi thì năm nào cũng diễn ra, nhưng việc tổ chức thì phải 40-50 năm sau mới lặp lại! Việc đóng góp cụ thể của cơ quan hay cá nhân nào thật sự là khó nói, vì mỗi người có một góc độ nhìn nhận khác nhau. Nhưng có một điều được dư luận thừa nhận là việc tổ chức IMO lần thứ 48 vừa qua đã phần nào nâng cao sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như toàn thể xã hội đối với sự phát triển Toán học nước nhà.  Đó có lẽ là kết quả lớn nhất thu được của việc tổ chức IMO-2007!    4. Một số điển hình  Bình luận về thành tích thi Toán quốc tế của học sinh ta, trên các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như trong giới toán học đã nói nhiều. Do vậy, ngoài việc thu thập một số thông tin tương đối đầy đủ để trình bày ở bài này, tôi không muốn đi sâu vào việc bình luận. Trong mục này, tôi muốn nêu đôi chút về giá trị của thi Toán quốc tế, thông qua việc điểm lại một số gương sáng.  Như trên đã nói, với phương tiện thông tin hiện nay, một học sinh muốn đạt giải toán quốc tế, phải biết, và biết sớm hàng vạn bài toán hóc búa với hàng trăm dạng khác nhau. Để có thể nuốt” được nhiều dạng Toán như vậy, học sinh không thể học gạo được, mà phải có phương pháp học và tư duy. Do  vậy không thể có kiểu “luyện gà chọi” trong thi Toán quốc tế – như một số ý kiến từng nêu. Đây mới chính là  lợi ích thực sự của cuộc thi. Nhờ việc được rèn luyện tư duy sớm, phần lớn học sinh đoạt giải sau này đều thành đạt trên con đường khoa học  kinh doanh,  hay lãnh đạo. Tất nhiên mỗi một sự thành công của từng cá nhân còn là kết quả của sự phấn đấu bền bỉ sau đó, chứ  không phải là hệ quả hiển nhiên của việc đoạt giải. Nhưng việc đoạt giải là một mốc quan trọng.  Có thể kể ra khá nhiều gương mặt tiêu biểu trên các lĩnh vực khác nhau, nhưng trong bài này tôi chỉ hạn chế giới thiệu một số người cùng giới, tức là trong các nhà khoa học. Để có thể khẳng định được mình, một nhà khoa học thường phải làm việc  10 năm sau khi tốt nghiệp đại học. Do vậy, muốn biết được những người đạt giải sau này có thành đạt không, ta phải chờ khoảng 15 năm sau đó. Nói cách khác hầu như chỉ có thể nói tới những người đạt giải từ trước năm 1990!  GS Vũ Kim Tuấn, huy chương Bạc 1978. Chỉ một năm sau khi tốt nghiệp ĐHTH Belarus (Minsk) năm 1984, anh bảo vệ TS năm 1985, và hai năm sau là TSKH khi vừa 26 tuổi. Từ năm 1989 – 1994, anh làm việc tại Viện Toán học. Nhận học bổng  Humboldt danh giá năm 1994. Các năm 1994-2003 anh lần lượt giữ chức PGS và GS của ĐHTH Cô-oet. Từ năm 2003 đến nay, anh là giáo sư ở Khoa Toán ĐHTH West Georgia, Mỹ. Anh là chuyên gia về biến đổi tích phân, các hàm đặc biệt và Giải tích số. Anh đã công bố hơn 110 bài báo trên các tạp chí quốc tế.                     GS  Đỗ Đức Thái, huy chương Đồng 1978. Mặc dù không được đi học đại học ở nước ngoài, anh vẫn không nản chí. Vượt qua bao khó khăn chồng chất về vật chất và tài liệu, điều kiện làm việc, năm 1993 anh bảo vệ luận án Tiến sĩ tại ĐHSP Hà Nội dưới sự hướng dẫn của GS-TSKH Nguyễn Văn Khuê. Hai năm sau đó anh bảo vệ thành công luận án TSKH cũng tại ĐHSP Hà Nội. Được phong PGS rồi GS vào các năm 1996 và 2003. Anh đã công bố 36 bài báo trên các tạp chí quốc tế về Giải tích phức và Hình học đại số. Hiện anh là Phó trưởng khoa Toán của ĐHSP Hà Nội.                     GS Phạm Hữu Tiệp, huy chương Bạc 1979. Tốt nghiệp ĐHTH Matxcơva năm 1985, và bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1989. Hiện anh là Giáo sư  khoa Toán ĐHTH  Florida. Anh nghiên cứu về nhóm hữu hạn, lý thiết biểu diễn, nhóm đại số và đại số Lie, lưới nguyên và  mã tuyến tính. Anh đã công bố 66 bài trên các tạp chí quốc tế có uy tín như Amer. J. Math., Trans. Amer. Math. Soc., Math. Ann., Izvestia Ross. Akad. Nauk.                     GS Lê Tự Quốc Thắng, huy chương Vàng năm 1982. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc ĐHTH Matxcơva nổi tiếng, anh bảo vệ TS dưới sự hướng dẫn của Viện sĩ nổi tiếng Sergei Novikov năm 1988. Các năm 1994-1999 và 1999-2003, anh là trợ lí giáo sư, rồi PGS của SUNY Buffalo. Từ năm 2004 anh là giáo sư của Học viện công nghệ Georgia, Mỹ. Chuyên ngành của anh là Tôpô vi phân, đa tạp chiều thấp và quasi-crystals. Anh đã công bố 33 bài báo trên các tạp chí quốc tế, trong đó có các tạp chí hàng đầu như: Inventiones Mathematicae, Uspekhi Mat. Nauk, Adv. Math.     GS Đàm Thanh Sơn, Huy chương Vàng năm 1984 khi mới 15 tuổi. Khác với đại đa số các anh chị trước đó, anh chọn Vật lí làm nghề của mình.                Tốt nghiệp ĐHTH Matxcơva và bảo vệ TS tại đó về Vật Lí năm 1993. Từ năm 1995, anh sang giảng dạy tại Viện Lý thuyết hạt nhân ĐHTH Washington Seattle, Mỹ.  Anh nghiên cứu về: đối ngẫu giữa Lý thuyết trường và lý thuyết dây (duality between gauge theory and string theory), QCD at finite density and tempearture, BEC/BCS crossover in atomic gases, supersolids. Anh đã công bố trên 80 bài báo trên các tạp chí quốc tế có uy tín về Vật lý, trong đó có nhiều bài trên ba tạp chí Physical  Reviews A, B,  D; Physical Review Letters.                     GS Nguyễn Tiến Dũng, huy chương Vàng 1985, cũng khi vừa 15 tuổi. Anh tốt nghiệp ĐHTH Matxcơva về Toán năm 1991. Sau đó anh nghiên cứu  tại ICTP 2 năm, giữa chừng  về lại ĐHTH Matxcơva bảo vệ luận án TS. Năm 1995,  được tuyển làm nghiên cứu viên của CNRS (TT khoa học quốc gia của Pháp). Bảo vệ TSKH (habilitation) năm 2001 và ngay sau đó được nhận làm GS tại ĐHTH Toulouse (Pháp). Hướng nghiên cứu: Hình học Poisson và sympletic, Hình học dưới-Rieman hệ động lực, foliation kì dị. Anh đã công bố 33 công trình trong các tạp chí quốc tế, trong đó co tạp chí hàng đầu như: Ann. of Math., Ann. Sci. École Norm. Sup., Lett. Math. Phys., Phys. Lett. A, Uspekhi Mat. Nauk.                Ngô Bảo Châu và bố, GS Ngô Huy Cẩn            Thành công nhất cho đến nay là GS Ngô Bảo Châu. Là học sinh Việt Nam lần đầu tiên đạt hai Huy chương Vàng năm 1988 và 1989, người ta có quyền hy vọng vào một sự đột phá của anh trong tương lai. Với sự giúp đỡ của nhiều người, trong đó có GS Henri Regemorter người Pháp, anh được sang Pháp học đại học tại ĐHBK (Universite de Polytechnique), Paris. Sau khi học ở đó 2 năm, anh thi đậu và chuyển sang học ở trường đại học danh giá nhất nước Pháp: Ecole Normal Superieux. Anh bắt đầu làm việc với GS G. Laumon (người được phong là Viện sĩ Pháp năm 2005) và bảo vệ TS năm 1997.   Được nhận làm nghiên cứu viên của CNRS, anh tiếp tục tấn công Bổ đề cơ bản – một hòn đá tảng trong Chương trình Langlands. Năm 2003, anh “âm thầm” bảo vệ luận án TSKH. Đầu năm 2004, cùng với GS Laumon anh đã làm “một quả bom tấn” khi công bố một kết quả đột phá về Bổ đề cơ bản, gây nên một tiếng vang lớn trong giới toán học thế giới. Với kết quả này, cùng với GS Laumon, anh được Giải thưởng Clay danh giá năm 2004, được nhận làm giáo sư tại ĐHTH Paris 11.  Năm 2005, với sự đề nghị của Viện Tóan học,  anh được Nhà nước ta đặc cách phong Giáo sư. Đầu năm nay, anh lại làm giới toán học xôn xao hơn khi giải quyết hoàn toàn Bổ đề cơ bản. Với những thành công sáng chói của mình, anh đã được Viện nghiên cứu hàng đầu thế giới, Học viện nghiên cứu cấp cao Princeton (IAS) mời sang làm việc dài hạn. Khi tôi viết những dòng này, gia đình anh đang gấp rút chuẩn bị cho chuyến vượt đại dương từ Paris sang Mỹ.  Người cuối cùng tôi muốn giới thiệu là GS Đinh Tiến Cường, cùng đoạt Huy chương Vàng năm 1989 với Châu. Anh cũng tốt nghiệp ĐHTH Matxcơva, sau đó sang Pháp làm việc. Hướng nghiên cứu của anh là Hệ động lực chỉnh hình nhiều biến, Hình học và Giải tích phức. Năm 2005 anh được nhận làm giáo sư của  ĐHTH Paris 6. Anh đã công bố 33 bài báo trên các tạp chí hàng đầu như:  Invent. Math., Ann. of Math, J. Amer. Math. Soc., Ann. Sci. École Norm. Sup.  Ngoài những anh đã thành danh nêu ở trên, còn khá nhiều người rất trẻ và có nhiều triển vọng. Có thể kể ra đây một số tên  tuổi như: PGS-TSKH Phùng Hồ Hải (HCĐ 1986), TS Hà Huy Tài (HCV 1991), TSKH Nguyễn Việt Anh (HCV 1991), TS Phan Thị Hà Dương (HCĐ 1990), TS Ngô Đắc Tuấn (HCV 1995, 1996). Bốn  người  đầu hiện là cán bộ Viện Toán học, còn Ngô Đắc Tuấn  làm NCS  của CNRS (Pháp).  Riêng Phùng Hồ Hải năm 2005  đã được trao tài trợ nghiên cứu Heisenberg danh giá của  Quỹ NCKH Đức và tháng 3 vừa qua lại được trao  Giải thưởng Kaven.  Tất cả những người nêu trên đều được đào tạo từ những trường đại học hàng đầu của thế giới. Ngay trường hợp ngoại lệ như Đỗ Đức Thái, thì sự nghiệp của anh chỉ thực sự bắt đầu “thăng hoa” khi anh có sự cộng tác chặt chẽ với các cộng sự nước ngoài và thường xuyên đến những nơi đó công tác. Do vậy, muốn đào tạo được một số nhà khoa học xuất sắc cho đất nước, với qui mô lớn, không có cách nào khác là chúng ta phải nhanh chóng có được một trường đại học đẳng cấp quốc tế.    4. Thay cho lời kết  Mục đích cuối cùng và ý nghĩa nhất của thi Toán quốc tế là để đào tạo một số nhà khoa học, mà trước hết là một số nhà Toán học đầu đàn. Về phương diện này, các kì thi IMO vượt qua cả sự mong đợi ban đầu trên bình diện quốc tế cũng như đối với nước ta. Chúng ta đều biết rằng, nền khoa học trước hết được quyết định bởi những cá nhân xuất sắc và những công trình xuất sắc, chứ không phải bằng số lượng. Nếu xét trên qui mô quốc tế, trong 5 kì trao Giải thưởng Fields  liên tiếp gần đây, kì nào cũng có người đã từng đạt huy chương của IMO (xem [1] và [2])!  Đối với Việt Nam, 7 anh nêu ở trên mặc dù còn khá trẻ, nhưng đang trong hàng ngũ những nhà toán học đầu đàn của nước ta. Nếu kể cả những người không đoạt giải, nhưng trưởng thành trong phong quá trình tuyển chọn ở các cấp, thì còn có nhiều tấm gương tiêu biểu khác. Việc họ công tác ở đâu không thật sự quan trọng, miễn là chúng ta huy động được sự nhiệt tình và đóng góp của họ đối với sự phát triển của  Toán học nước nhà.  Lời cảm ơn: Bài viết này là bản bổ sung và sửa lại bài viết của tôi đăng trên nội san Thông Tin Toán Học (TTTH) của Hội Toán học Việt Nam. Nó dựa trên số liệu của hàng loạt trang WEB (mà ở phần tài liệu tham khảo chỉ nêu những trang chính) và sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều bạn đồng nghiệp: Ngô Bảo Châu, Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Nam Dũng, Lê Thái Hoàng, Đàm Thanh Sơn, Hà Huy Tài, Đỗ Đức Thái, Phạm Chung Thủy, Phạm Hữu Tiệp, Vũ Kim Tuấn, Tô Trần Tùng, Huỳnh Minh Vũ. Xin cám ơn sự giúp đỡ của tất cả các bạn. Tuy nhiên những sai sót có thể có là  thuộc về trách nhiệm của tác giả.  Tài liệu tham khảo:  [1] Phạm Trà Ân và Dương Mạnh Hồng, Thi Olympic Toán quốc tế, TTTH tập 11, số 2 (2007).  [2] Đỗ Ngọc Diệp, Tám Giải thưởng Fields về Đại số, Hình học, Tôpô, TTTH tập 11, số 2 (2007).  [3] Phùng Hồ Hải, Toán học Việt Nam và những kì thi học sinh giỏi, TTTH tập 11, số 2 (2007).  [4] Lê Tuấn Hoa. Olympic Toán Quốc tế và Đào tạo cán bộ khoa học, TTTH tập 10, số 3(2006).  [5] Bùi Trọng Liễu, Chuyện kể từ ngoài nước về nhà toán học Hoàng Tụy, 213.251.176.152:8080/diendan/ nhung-con-nguoi/nha-toan-hoc-hoang-tuy/  [6] Đặng Hùng Thắng, Việt Nam với các kỳ thi Olympic Toán Quốc tế, TTTH, tập 9, số 1(2005).  [7] Các bài thi Olympic Toán THPT Việt Nam (1990-2006), Phần 4, “Tủ sách Toán học và Tuổi trẻ”, NXB Giáo dục 2007.  [8] http://www.chuyensphn.edu.vn/forum/index.php  [9] http://www.imo-official.org/general.asp  [10] http://www.khoia0.com/  [11] http://www.vnn.vn  [12] http://en.wikipedia.org/wiki/International-Mathematical-Olympiad    Chú thích ảnh trên cùng: Đội dự tuyển năm 1974 (hàng giữa là các thầy giáo)     Lê Tuấn Hoa (Viện Toán học)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm qua lịch sử phát triển điện hạt nhân      Xét về mặt tác dụng bảo vệ môi trường và cung cấp năng lượng, điện hạt nhân là loại nguồn năng lượng an toàn, sạch, tin cậy. Tuy nhiên quá trình phát triển của điện hạt nhân cũng nhiều thăng trầm tuy theo quan điểm của lãnh đạo và các nhà chuyên môn.  &#160;  &#160;    Lịch sử phát triển điện hạt nhân trên thế giới có thể chia làm mấy giai đoạn như sau:  1. Giai đoạn thử nghiệm (1954-1965)  Cho tới nay, điện hạt nhân đã có lịch sử phát triển hơn 60 năm, tính từ ngày 20/12/1951 khi Lò phản ứng hạt nhân thử nghiệm EBR-1 của Mỹ công suất 100 kW phát ra dòng điện đầu tiên được sản xuất bằng năng lượng hạt nhân. Năm 1954, Liên Xô xây dựng xong nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới, lò graphit nước nhẹ 5 MW đặt tại Obninsk (ngừng hoạt động 4/2002). Năm 1956, Anh xây dựng xong nhà máy điện hạt nhân thương nghiệp đầu tiên trên thế giới, nhà máy Calder Hall, công suất 45MW (đóng cửa 3/2003). Trong thời kỳ đó, việc nghiên cứu điện hạt nhân chủ yếu nhằm mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ, và xây dựng tiềm lực hạt nhân bảo đảm an ninh quốc gia.  2. Giai đoạn phát triển nhanh (1966 – 1980)  Do gặp khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng (nhất là Pháp và Nhật) và do công nghệ hạt nhân đã được thương mại hóa cao, nhiều nước đẩy mạnh phát triển điện hạt nhân nhằm đáp ứng nhu cầu dùng điện ngày càng tăng. Có cả thảy 242 nhà máy điện hạt nhân được đưa vào vận hành; tỷ trọng điện hạt nhân toàn cầu tăng gần hai lần, từ 9% lên 17%. Sản lượng điện hạt nhân của Pháp tăng hơn 20 lần, Nhật – gần 22 lần.  3. Giai đoạn giảm tốc độ phát triển (1981-2000)  Sau tai nạn ở nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island (Mỹ, 1979), nhất là tai nạn đặc biệt nặng ở Chernobyl (Liên Xô, 1986), tốc độ phát triển điện hạt nhân bị giảm mạnh, thậm chí một số nước như Đức và Thụy Điển chủ trương từng bước loại bỏ điện hạt nhân. Người ta bắt đầu đánh giá lại tính an toàn, tính kinh tế của điện hạt nhân và áp dụng mọi biện pháp nâng cao an toàn, nghiêm ngặt hơn trong phê duyệt các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân.   4. Giai đoạn bắt đầu phục hồi (từ đầu thế kỷ XXI)   Trong thời kỳ này, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng vì nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi và các quốc gia càng ngày càng thiếu năng lượng. Bên cạnh đó, do công nghệ điện hạt nhân ngày một hoàn thiện, điện hạt nhân lại được chú trọng phát triển.   Tính đến cuối năm 2012, toàn thế giới có 31 nước khai thác hơn 437 nhà máy điện hạt nhân với tổng công suất 3,7 tỷ kW, trong đó Mỹ có 104 nhà máy, Pháp – 58, Nhật – 50, Nga – 33, Hàn Quốc – 23, Ấn Độ – 20, Canada – 19 v.v… Hiện nay, điện hạt nhân cung cấp khoảng 15% tổng sản lượng điện toàn cầu. Tỷ lệ điện hạt nhân trong tổng sản lượng điện ở một số nước rất cao, như Pháp tới 77,7%, Hàn Quốc – 34,6%, Nhật – 18,1%, Mỹ – 19,2%. Ngoài ra toàn thế giới đang xây dựng 68 lò phản ứng hạt nhân với tổng công suất 70,7 triệu kW, trong đó hơn 70% ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nga.   Tuy vậy trong giới chính trị, giới khoa học cũng như dư luận các nước vẫn có những quan điểm khác nhau về vấn đề có nên sử dụng điện hạt nhân hay không. Sau tai họa rò rỉ phóng xạ ở Fukushima (Nhật, 3/2011), điện hạt nhân toàn cầu sụt giảm mạnh (chủ yếu ở Nhật và Đức), năm 2011 chỉ còn cung cấp 10% sản lượng điện và đang đối mặt với hai thách thức lớn là nhận thức của công chúng và vấn đề kinh tế.   Thí dụ, sau vụ Fukusima, chính phủ Trung Quốc lập tức tạm đình chỉ việc phê duyệt xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới, trong đó riêng việc dừng công trình 3 nhà máy ở Hồ Nam, Giang Tây và Hồ Bắc (đã hoàn thành xây dựng đợt đầu) gây thiệt hại khoảng 10 tỷ Nhân dân tệ. Nhiều chuyên gia cho rằng, vùng nội địa Trung Quốc lắm động đất, thường xuyên hạn hán, mật độ dân cao nên nếu làm nhà máy điện hạt nhân sẽ gặp nhiều nguy hiểm.  Nhưng ông Stuart Cloke, nguyên Chủ tịch Hiệp hội hạt nhân thế giới WNA (World Nuclear Association) cho rằng: tai nạn Fukushima ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp hạt nhân, chủ yếu là do sự hiểu lầm của công chúng. WNA đang cố gắng giúp công chúng hiểu rõ về phóng xạ, an toàn hạt nhân, và những lợi ích của điện hạt nhân đối với môi trường, độ tin cậy cũng như tính kinh tế của nó.    Tai nạn Fukushima ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp hạt nhân, chủ yếu là do sự hiểu lầm của công chúng.  Xét về mặt tác dụng bảo vệ môi trường và cung cấp năng lượng, điện hạt nhân là loại nguồn năng lượng an toàn, sạch, tin cậy. Các nhà máy điện hạt nhân không phát thải khí có hiệu ứng nhà kính, không hề có khí CO2 và cũng không hề có bụi, hơn hẳn điện phát từ các dạng nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí. Mặt khác, các loại nhiên liệu hóa thạch đang cạn kiệt dần, một ngày không xa sẽ không thể phát điện. Trong khi đó nguyên liệu của điện hạt nhân là chất uranium có thể đủ dùng trong nhiều thế kỷ, thậm chí hàng nghìn năm.  Điện mặt trời, điện gió và điện địa nhiệt phải chờ vài chục năm nữa mới có sản lượng đủ lớn để đóng góp vào sản xuất điện. Trong tình hình như vậy có thể khẳng định, ngoài điện hạt nhân ra, các dạng năng lượng khác không thể nào đáp ứng được nhu cầu dùng điện của loài người.  Nhìn chung, điện hạt nhân đang có xu hướng được phát triển ở những nước yêu cầu kinh tế có tăng trưởng. Hiện đã có hơn 60 nước đang xem xét kế hoạch xây dựng thêm nhà máy điện hạt nhân. Đến trước năm 2030, ước tính có thêm 10-25 nước tham gia câu lạc bộ điện hạt nhân. IAEA dự đoán đến năm 2030, số nhà máy điện hạt nhân toàn cầu sẽ tăng thêm ít nhất 40%.  Hiện nay, điện hạt nhân thế giới chủ yếu sử dụng công nghệ thế hệ hai, và đang nghiên cứu cải tiến hoàn thiện đưa ra công nghệ thế hệ ba nhằm nâng cao tính an toàn, tin cậy và tính kinh tế (ở Trung Quốc giá bán điện hạt nhân là 0,43 Nhân dân tệ 1 kWh).  Một nghiên cứu cho rằng, chỉ cần 2500 nhà máy điện hạt nhân là có thể cung cấp đủ nhu cầu điện cho toàn thế giới, trong đó riêng Trung Quốc cần hơn 600 nhà máy điện hạt nhân.   Sự phát triển điện hạt nhân có hai vấn đề khó giải quyết là xử lý chất thải hạt nhân và ô nhiễm nhiệt. Hiện nay phần lớn chất thải hạt nhân được làm cho rắn lại rồi tạm để trong kho chất thải của nhà máy điện hạt nhân, sau 5-10 năm sẽ chở đến địa điểm được nhà nước quy hoạch tồn trữ các chất thải có tính phóng xạ. Cho tới nay chưa nước nào tìm ra được biện pháp xử lý chất thải phóng xạ một cách an toàn và vĩnh cửu, nhưng họ đều có cách bảo đảm an toàn trong quá trình tồn trữ các chất thải đó. Cũng như tất cả các nhà máy phát điện sử dụng tua bin hơi nước, nhà máy điện hạt nhân sử dụng rất nhiều nước để làm nguội, nhưng ở nhà máy điện hạt nhân, lượng nhiệt thoát ra từ nước làm nguội này vào môi trường xung quanh thì cao hơn nhà máy điện dùng nhiên liệu hóa thạch, do đó ô nhiễm nhiệt trở nên nghiêm trọng hơn.  Nhà khoa học Hansen ở NASA cho biết, không nguồn năng lượng nào không có nhược điểm này nọ; sự phát triển điện hạt nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với y tế, bảo vệ môi trường, quân sự, tàu sân bay, động lực robot, vệ tinh và máy bay vũ trụ chạy bằng năng lượng hạt nhân; pin hạt nhân sẽ được ứng dụng trong công nghiệp ô tô, một ngành tiêu dùng nhiều năng lượng.  Nguyễn Hải Hoành – Hải Anh(Tổng hợp từ các tài liệu nước ngoài)       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Điểm trắng” về dẫn liệu sinh vật      Những thay đổi của môi trường sống ở đại dương đang tác động đến đời sống của những loài được coi như ”chỉ thị” cho biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn rất ít quan tâm nghiên cứu sâu về vấn đề này, thậm chí có nhiều ”điểm trắng” về dẫn liệu. Hiện trạng đó đặt ra nhu cầu cấp thiết cho việc phải sớm có nghiên cứu để tìm ra giải pháp ứng phó.      Những rạn san hô lớn như bị tẩy trắng. Ảnh: Laura Richardson/ARC Center of Excellence for Coral Reef Studies/James Cook University  Hiện tượng sóng nhiệt và tẩy trắng  Biển cả, cái nôi của sự sống từ hàng chục triệu năm nay đang ngày càng một thay đổi và trở nên khắc nghiệt hơn với các loài sinh vật và con người. Không chỉ ở những hiện tượng dễ thấy như nước biển dâng làm biến mất một phần đồng bằng, các nhà khoa học còn đo lường được sự khắc nghiệt và nghèo đi của đại dương ngày càng khắc nghiệt hơn và nghèo đi khi hàng ngàn km2 san hô bị tẩy trắng, sóng nhiệt giết chết hàng loạt tôm cá hay kích thước các loài giảm đi rõ rệt.   Chúng ta chỉ còn rất ít thời gian để ứng phó với những gì đang xảy ra trước mắt do tác động của biến đổi khí hậu mang lại. Chỉ trong vài năm gần đây, những kỷ lục nóng bất thường liên tục bị phá vỡ. Nhiệt độ không khí trên Bắc Cực lần đầu tiên trong lịch sử đo được vượt ngưỡng 32°C ở Alaska vào mùa hè 2019, nóng như vùng nhiệt đới. Còn ở xứ nhiệt đới như Việt Nam, nhiệt độ miền Trung Việt Nam đã vượt ngưỡng 42°C trong mùa hè.   Những nghiên cứu gần đây trên thế giới đã cho thấy ảnh hưởng của các đợt sóng nhiệt (nhiệt độ cao bất thường – heat waves) lên sự thay đổi về cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái biển và phân bố của các loài sinh vật biển. Gần đây sóng nhiệt đã gây ra hiện tượng động vật thân mềm chết hàng loạt (trên 70% vẹm xanh bị chết) ở Vịnh Bodega, California. Hiện tượng tương tự xảy ra ở Địa Trung Hải năm 2003, thay đổi cấu trúc khu hệ sinh thái với sự xuất hiện của nhiều loài cá nguồn gốc nhiệt đới trong vùng biển Tây Úc năm 2012-2013 (Australian ‘Angry Summer’ of 2012–2013), thậm chí gây tử vong ở người và thiệt hại lớn về kinh tế ở châu Âu năm 2017 (European ‘Lucifer’ heatwave in 2017).      ”Chúng ta không có kế hoạch B vì chúng ta không có hành tinh B để sống” (Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon).      Hiện tượng ấm lên toàn cầu và axit hóa đại đương được cho là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng tẩy trắng san hô (coral bleaching) gây chết hàng loạt san hô khắp các vùng ven bờ trên thế giới. Hiện tượng tẩy trắng san hô xảy ra khi mật độ của loài tảo cộng sinh hoặc zooxanthellae (Symbiodinium spp.) sống trong các mô mềm của san hô giảm dần do stress, để lộ ra bộ xương màu trắng của san hô. Trước cách mạng công nghiệp, hiện tượng tẩy trắng san hô chỉ diễn ra ở qui mô nhỏ, mang tính cục bộ với vài km. Hiện nay, hiện tượng tẩy trắng san hô xảy ra khắp các vùng biển nhiệt đới và trên một diện rộng, có thể kéo dài hàng ngàn km2 như ở Rạn San hô lớn (Great Barrier Reef – GBR). Đây là nơi trú ngụ và sinh sống của trên 1,500 loài cá, là nơi sinh sản của 6 trên tổng số 7 loài rùa biển, 215 loài chim và 30 loài thú biển. Nó cũng là nơi sống của những quần thể bò biển lớn nhất hiện nay. Hiện tượng san hô chết hàng loạt ở GBR đe dọa trực tiếp không chỉ sự tồn vong của những loài sinh vật trên mà còn ảnh hưởng tới nghề cá và du lịch của Australia.  Do đặc điểm sinh trưởng của các loài san hô diễn ra rất chậm. Nhiều loài san hô có thể chỉ dài được một vài cm mỗi năm, do đó khả năng hồi phục của các rạn san hô rất chậm. Hơn 450 triệu người từ 109 quốc gia sống gần với các rạn san hô và có kinh tế phụ thuộc vào những giá trị do các rạn san hô mang lại. Do đó, hiện tượng tẩy trắng san hô sẽ không chỉ là một trong những thảm họa với đa dạng sinh học biển mà sẽ còn ảnh hưởng trực tiếp với sinh kế của người dân.  “Chạy trốn” khỏi nơi cư trú   Trong bối cảnh môi trường thay đổi theo hướng khắc nghiệt hơn như thế, chỉ trrong hai thập kỷ qua, các nhà khoa học đã quan sát thấy hàng ngàn các sinh vật biển đang “chạy trốn” khỏi nơi cư trú quen thuộc năm nay, làm thay đổi cơ cấu loài ở các vĩ độ cao hơn. Ví dụ, loài giáp xác chân chèo Calanus finmarchicus có nguồn gốc Bắc Đại Tây Dương, nhưng loài này đang có xu thế dịch chuyển mạnh vùng phân bố lên vùng Bắc Cực với tốc độ khoảng 8.1 km mỗi thập kỷ. Hiện tượng sóng nhiệt xảy ra ở vùng biển ôn đới Tây Úc năm 2012-2013 cũng làm thay đổi cấu trúc thành phần các loài cá nơi này, và nhiều loài cá nguồn gốc nhiệt đới (a tropicalization of fish communities) bắt đầu di cư lên đây. Như vậy, nếu hiện tượng di cư theo hướng hai cực của Trái đất tiếp tục xảy ra, mức độ đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật của các vùng biển nhiệt đới sẽ giảm đi. Nhiều nhà khoa học thậm chí còn cho rằng, các vùng biển và đại dương nhiệt đới có thể trở thành những sa mạc dưới nước.     Việt Nam có đa dạng sinh học bậc nhất, nhưng chỉ trong vài thập kỷ nhiều loài gần như tuyệt chủng. Trong ảnh là voọc mông trắng nay chỉ còn khoảng 200 con. Ảnh: FFI/Laodong.   Những tín hiệu quan sát được từ các vùng ôn đới và hàn đới là rõ ràng nhưng các thông tin về xu thế dịch chuyển vùng phân bố các sinh vật biển ở nhiệt đới, đặc biệt là Việt Nam, gần như không có. Nếu không có các nghiên cứu để có thể xây dựng được bản đồ phân bố và dự báo xu thế di cư của các loài vùng biển nhiệt đới, các phương án quản lý, bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học và nguồn lợi biển nhiệt đới có thể trở nên không chính xác trong điều kiện ấm lên toàn cầu.  Theo qui luật của Bergmann, các loài sinh vật ở vùng nhiệt đới có xu hướng nhỏ hơn so với các loài họ hàng ở vùng ôn đới và hàn đới. Điều thú vị là, khi nhiệt độ trung bình toàn cầu trở nên ấm hơn, các sinh vật từ tất cả các vùng trên Trái đất có xu hướng chung nhỏ đi. Với hệ sinh thái biển, hiện tượng này xảy ra từ các loài vi tảo, động vật phù du như giáp xác chân chèo, động vật không xương sống ở đáy, và các loài cá biển. Các loài giáp xác chân chèo ở vùng biển Việt Nam mà chúng tôi đang nghiên cứu cũng cho thấy xu thế này. Khi được thí nghiệm ở nhiệt độ cao (trên 30°C), kích thước trưởng thành của chúng có thể giảm tới 10% và sức sinh sản có thể giảm tới 30%. Việc suy giảm kích thước trưởng thành của các loài sinh vật biển do ảnh hưởng của hiện tượng ấm lên toàn cầu là do tốc độ phát triển các giai đoạn trong vòng đời (ấu trùng à con non à trưởng thành) diễn ra nhanh hơn so với tốc độ sinh trưởng (sự gia tăng về kích thước và khối lượng trong mỗi giai đoạn), dẫn đến các sinh vật đạt kích thước trưởng thành nhỏ hơn bình thường.   Đó là những bằng chứng hiển nhiên về sự biến đổi của môi trường biển mà các nhà khoa học trên thế giới liên tục nghiên cứu, công bố trong hàng chục năm qua nhằm đưa ra các cảnh báo rõ ràng cho các chính phủ cũng như làm thay đổi nhận thức công chúng về hậu quả của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, khi các loài trở nên nhỏ hơn, ảnh hưởng của chúng tới cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái biển như thế nào vẫn còn chưa rõ. Thêm vào đó, ảnh hưởng của việc suy giảm kích thước từng nhóm loài tới nguồn lợi hải sản cũng cần được nghiên cứu sâu hơn.  Những câu hỏi về đa dạng sinh học của Việt Nam   Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với số lượng các loài động thực vật vô cùng lớn. Hàng ngàn loài sinh vật ở Việt Nam là những loài đặc hữu, mỗi loài có kích thước quần thể nhỏ và rất nhỏ, có phân bố hẹp và thích nghi cao độ với điều kiện môi trường tự nhiên của Việt Nam. Đó cũng là những loài có mức độ nhạy cảm rất cao với sự thay đổi của môi trường và khí hậu do hầu hết các sinh vật ở Việt Nam đều đang sống trong điều kiện nhiệt độ tiệm cận với điểm giới hạn sinh lý và chỉ cần một sự gia tăng nhỏ về nhiệt độ ở khu vực này cũng có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của chúng. Một đợt hạn hán, sóng nhiệt có thể đủ mạnh làm những quần thể nhỏ này bị biến mất hoàn toàn. Chỉ trong vài thập kỷ nay, nhiều loài đang bị đe dọa nghiêm trọng tới mức có những loài chỉ còn vài chục đến vài trăm cá thể. Ví dụ, loài vượn Cát Bà chỉ còn trên dưới 70 cá thể hay loài voọc mông trắng ở Ninh Bình chỉ còn 200 – 250 cá thể (trao đổi với TS. Lê Khắc Quyết, nhà nghiên cứu động vật linh trưởng ở Việt Nam).   Việt Nam được giới khoa học dự báo là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn do sóng nhiệt gây ra. Tuy nhiên, tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu lên các sinh vật Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu bằng thực nghiệm, chưa thể đánh giá ”đo lường” được, mà chỉ dựa trên một số các số liệu thu được từ các chương trình quan trắc. Các dẫn liệu thực nghiệm về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên sinh vật Việt Nam gần như là một điểm trắng do thiếu công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế về hướng nghiên cứu này. Những nghiên cứu này có thể kết hợp với các dự báo về khí tượng, thủy văn để cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các dự báo về tác động ngắn hạn và dài hạn về biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái Việt Nam trong những năm tới.      Hơn 450 triệu người từ 109 quốc gia sống gần với các rạn san hô và có kinh tế phụ thuộc vào những giá trị do các rạn san hô mang lại. Do đó, hiện tượng tẩy trắng san hô sẽ không chỉ là một trong những thảm họa với đa dạng sinh học biển mà sẽ còn ảnh hưởng trực tiếp với sinh kế của người dân.      Nhìn tổng thể, hầu hết các nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học đều được thực hiện ở vùng ôn đới – nơi có tiềm lực về kinh tế, khoa học và kỹ thuật cao, trong khi có rất ít nghiên cứu về vấn đề này ở vùng nhiệt đới – nơi tập trung đa dạng sinh học cao nhất toàn cầu, chiếm tới 2/3 tổng số loài, và hầu hết các loại san hô có trên Trái đất. Điều đó dẫn đến hậu quả là nơi có tốc độ mất đa dạng sinh học cao nhất lại là những nơi có ít nghiên cứu để bảo vệ đa dạng sinh học trước biến đổi khí hậu nhất.   Hầu hết các nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học đều được thực hiện ở vùng ôn đới – nơi có tiềm lực về kinh tế, khoa học và kỹ thuật cao, trong khi có rất ít nghiên cứu về vấn đề này ở vùng nhiệt đới – nơi tập trung đa dạng sinh học cao nhất toàn cầu, chiếm tới 2/3 tổng số loài, và hầu hết các loại san hô có trên Trái đất. Điều đó dẫn đến hậu quả là nơi có tốc độ mất đa dạng sinh học cao nhất lại là những nơi có ít nghiên cứu để bảo vệ đa dạng sinh học trước biến đổi khí hậu nhất. Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng tròn nghịch lý này.    Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng tròn nghịch lý này. Trong mười năm qua, chúng ta có hàng nghìn công bố về phát hiện các loài mới ở Việt Nam nhưng các nghiên cứu đánh giá về sự biến đổi của sinh vật trong bối cảnh biến đổi khí hậu lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu vẫn không thay đổi tình trạng này, chúng ta không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra trong vài thập kỷ tới với một trong những nguồn lợi kinh tế quan trọng bậc nhất này để từ đó có chính sách ứng phó, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên? □       Author                Đinh Văn Khương        
__label__tiasang Diêm Vương tinh có tên mới: Plutoid      Diêm Vương tinh (Pluto), bị giáng cấp từ vị trí hành tinh năm 2006, đã có một phần thưởng an ủi vào hôm qua – nó và các hành tinh tí hon giống như vậy sẽ được gọi chung là các plutoid.      Hiệp hội thiên văn quốc tế cho biết cuộc gặp của Ủy ban chấp hành hội tại Oslo, Na Uy, đã quyết định về thuật ngữ trên. Các Plutoid được xác định là những thiên thể nằm trên quỹ đạo quay xung quanh Mặt trời, nhưng ở xa hơn Hải Vương tinh (hành tinh xa nhất của hệ Mặt trời hiện nay). Chúng phải có hình dạng gần như hình cầu, và không được kéo theo các vật thể nhỏ hơn khác trong quỹ đạo của mình. Cho đến nay, đã có hai Plutoid được xác định là Diêm Vương tinh và Eris, nhưng các nhà thiên văn hy vọng sẽ tìm thấy nhiều hơn. Các hành tinh tí hon khác, Ceres, không phù hợp với định nghĩa về Plutoid vì chúng nằm trong vành đai thiên thạch giữa Hỏa tinh và sao Mộc tinh. Hệ Mặt trời, tính từ trong ra ngoài gồm các hành tinh sau: Thủy tinh – Kim tinh -Trái đất – Hỏa tinh – Mộc tinh – Thổ tinh – Thiên vương tinh – Hải vương tinh.   T. An (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân bùng nổ ở châu Á      Hiện nay, Ấn Độ và Trung Quốc là những quyền lực mới về điện hạt nhân ở châu Á. Một số quốc gia khác trong châu lục cũng đều muốn xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới.       Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), chỉ tính riêng Trung Quốc, đã có 31 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động và 24 nhà máy khác đang được xây dựng.  Tổng công ty năng lượng nguyên tử quốc gia của Trung Quốc (CNNC) đang ôm ấp ý định xây dựng thêm 30 nhà máy điện nguyên tử khác – không chỉ trên lãnh thổ Trung Quốc mà còn trên một số quốc gia nằm trên “Con đường tơ lụa mới”. Dù CNNC đã xuất khẩu được 6 lò phản ứng ở nước ngoài nhưng Trung Quốc vẫn muốn gia tăng số lượng này lên nhiều hơn nữa.  “Chúng tôi phải cạnh tranh với nhiều đối thủ mạnh trên thị trường năng lượng nguyên tử quốc tế”, Sun Qin, Chủ tịch CNNC cho biết “những quốc gia như Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ đang khiến thị trường năng lượng nguyên tử toàn cầu trở nên khốc liệt hơn”.   Năm năm sau thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima và 30 năm sau Chernobyl, nền công nghiệp sản xuất điện hạt nhân, trong đó có Trung Quốc, vẫn đang bùng nổ.  Trung Quốc: trên đường trở thành số một  Sau thảm họa ở Fukushima, lúc đầu chính phủ Trung Quốc cũng cho ngừng xây dựng thêm các nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên mọi việc đã xoay chiều kể từ mùa thu năm 2012, Trung Quốc đã bộc lộ tham vọng theo đuổi chương trình điện hạt nhân. Để làm được điều này, Trung Quốc cần tái cấu trúc lĩnh vực năng lượng của mình. Hiện thời, hơn 2/3 tổng số năng lượng của quốc gia này được sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện đã lạc hậu. Hậu quả của nó là nạn ô nhiễm không khí và môi trường đang bủa vây Bắc Kinh, đó là nguyên nhân giải thích vì sao chính phủ Trung Quốc sẽ cho dừng hoạt động của 1.000 nhà máy nhiệt điện vào cuối năm nay.   Điện hạt nhân đang được coi là một giải pháp “sạch” thay thế than đá. Trung Quốc dự kiến sẽ vận hành 110 nhà máy điện hạt nhân vào năm 2030 để đáp ứng nhu cầu điện của mình.   Với mục tiêu đó, Trung Quốc có thể sẽ bắt kịp Mỹ để trở thành quốc gia có số lượng nhà máy điện hạt nhân nhiều nhất trong mạng lưới các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân trên thế giới.   Ấn Độ khát năng lượng  Nền kinh tế phát triển nhanh của Ấn Độ đang đạt mức tăng trưởng 6% mỗi năm nhưng sự hạn chế về cơ sở hạ tầng của Ấn Độ đang ngăn đà phát triển của kinh tế. Nhiều khu vực rộng lớn của đất nước này đang phải sống trong cảnh tắt điện luân phiên và sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng.   Giống như Trung Quốc, lĩnh vực năng lượng tái tạo của Ấn Độ cần được tăng cường để đáp ứng nhu cầu về điện. Dehli đang lập kế hoạch mở rộng chương trình điện hạt nhân. Trong vòng 15 năm tới, Thủ tướng Narendra Modi muốn xây dựng hàng chục lò phản ứng mới.   Tri thức về kỹ thuật (know-how) về điện hạt nhân giờ phổ biến trên thế giới. Hơn một thập kỷ qua, Ấn Độ đã có những thỏa thuận hạt nhân dân sự với Mỹ, Canada, Pháp và Nga. 21 nhà máy điện hạt nhân đang được vận hành ở Ấn Độ. Hai trong số các nhà máy đó tọa lạc ở Kudankulam và Kalpakkam, thuộc vùng duyên hải phía đông nam đất nước – những khu vực nhiều khả năng phải hứng chịu những đợt sóng thần. Vào tháng 12/2006, một con sóng thần ở Kalpakkam đã tàn phá nơi này trên diện rộng nhưng không làm ảnh hưởng đến nhà máy điện hạt nhân ở đây.   Pakistan: Các lò phản ứng ở khu vực ngập nước   Pakistan, láng giềng của Ấn Độ, cũng đang phải sống trong cảnh cắt điện luân phiên và hạn chế về cơ sở hạ tầng. Đất nước này hiện đang có ba lò phản ứng nhỏ trong nhà máy điện hạt nhân ở Tây Karachi – một khu vực dễ bị ngập lụt.  Hai lò phản ứng còn lại ở khu vực từng chịu ảnh hưởng của động đất, cách thủ đô Islamabat 300km về phía nam. Chính phủ đang lập kế hoạch xây hai lò phản ứng khác cũng ở khu vực này. Theo Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pakistan, với sự hỗ trợ của Trung Quốc, Pakistan muốn xây dựng thêm 7 lò phản ứng mới  vào năm 2030.        Bản đồ hiển thị các nhà máy điện hạt nhân ở châu Á, trong đó màu đỏ sẫm là nhà máy đang vận hành, màu vàng là nhà máy đang được xây dựng. (Nguồn: IAEA)    Sự mở rộng của Hàn Quốc  Dẫu chỉ có diện tích bằng nước CHDC Đức trước đây thì Hàn Quốc cũng có thể tự hào về 25 nhà máy điện hạt nhân đang được vận hành rất tốt. Hiện Hàn Quốc đang xây dựng thêm 3 nhà máy nữa, trong khi hai nhà máy khác dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2029. Chính phủ Hàn Quốc đang lập kế hoạch tăng sản lượng điện hạt nhân lên từ 30 đến 40% tổng sản lượng điện năng của đất nước.    Dẫu vậy Hàn Quốc cũng bị hoài nghi về năng lực điện hạt nhân. Trong quãng năm 2012 và 2013, một scandal liên quan đến việc sử dụng chứng nhận an toàn giả làm rung chuyển ngành sản xuất hạt nhân nước này. Công ty Điện hạt nhân và Hydro Hàn Quốc (Korea Hydro & Nuclear Power – KHNP), một chi nhánh của Tổng công ty Điện lực Hàn Quốc (Korea Electric Power Corporation – KEPCO), đã cung cấp hàng trăm giấy chứng nhận giả cho các linh kiện dùng trong những nhà máy điện hạt nhân của nước này. Khi sự việc vỡ lở, người ta mới phát hiện ra những lượng lớn tiền hối lộ trao tay giữa KHNP và nhiều chính trị gia Hàn Quốc.   Vụ bê bối được báo giới Hàn Quốc gọi là “mafia hạt nhân” này đã khiến tỷ lệ ủng hộ năng lượng hạt nhân giảm xuống đáng kể từ 70% sau thảm họa Fukushima xuống còn 35%. Dẫu vậy, Hàn Quốc vẫn đang thực hiện kế hoạch phát triển điện hạt nhân ở kh vực Tây Á.  Tham vọng điện hạt nhân ở Đông Nam Á  Ở Đông Nam Á, năng lượng hạt nhân là một chủ đề gây tranh cãi: Việt Nam vẫn đang trong chương trình phát triển điện hạt nhân và chưa quyết định chính thức ngày khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sử dụng công nghệ của Nga. Thái Lan đang lên kế hoạch xây 5 lò phản ứng, Malaysia và Philippines cũng muốn có lò phản ứng hạt nhân.  Tuy nhiên một chuyên gia về điện hạt nhân của Tổ chức Hòa bình xanh, ông Heinz Smital cho rằng, trong tương lai, điện hạt nhân sẽ phải cạnh tranh rất nhiều với năng lượng tái tạo, vốn đang được đánh giá là có chi phí ngày càng được hạ thấp nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ. Ông cũng nêu lên khó khăn mà việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân có thể gặp phải, nhất là kinh phí đầu tư “Chi phí để đầu tư sản xuất năng lượng hạt nhân ngày càng gia tăng. Thật khó khăn để tìm kiếm nhà đầu tư có khả năng rót vốn cả tỷ đô la vào lĩnh vực này”.   Thanh Nhàn lược dịch   Nguồn: http://www.dw.com/en/nuclear-energy-booming-in-asia/a-19110848      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân là giải pháp khắc phục biến đổi khí hậu      Diễn đàn năm 2015 được tổ chức trùng vào tuần lễ đêm trắng tại Saint Peterburg, với gần 6.000 đại biểu tham dự, trong đó có khoảng 900 đại biểu đến từ hơn 110 nước (nhiều hơn so với khoảng 60 nước năm 2014) và gần 2.000 nhà báo đưa tin về Diễn đàn.       Diễn đàn kinh tế Saint Peteburg diễn ra trong bối cảnh nước Nga vẫn bị cấm vận của các nước Phương Tây, mặc dù vậy, với số lượng lớn đại biểu và nhiều nước tham dự chứng tỏ nước Nga vẫn đang đứng vững trong khó khăn thách thức và đang có nhiều giải pháp thúc đẩy hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.   Một trong những Hội nghị bàn tròn của Diễn đàn là về vấn đề điện hạt nhân và cơ cấu điện năng, được tổ chức ngay ngày đầu diễn ra Diễn đàn (18/6/2015), với sự tham gia của ông Amano, Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và ông Kirienko, Tổng Giám đốc Tập đoàn Nhà nước về Năng lượng nguyên tử của Liên bang Nga (ROSATOM). Câu hỏi được đặt ra cho thảo luận như sau: Điện hạt nhân vẫn tiếp tục phát triển và đóng vai trò quan trọng trong cung cấp điện năng, đảm bảo an ninh năng lượng. Có vẻ như chúng ta đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất kể từ sau tai nạn Fukushima để tiếp tục phát triển điện hạt nhân mạnh mẽ, bền vững trong thời gian tới, điều đó có đúng không?   Trao đổi quan điểm về vấn đề này, ông Amano cho rằng điện hạt nhân vẫn tiếp tục phát triển và là lựa chọn của nhiều nước trên thế giới. Có 438 tổ máy đang vận hành, hơn 69 tổ máy đang được xây dựng tại nhiều nước. Đặc biệt các dự án điện hạt nhân đang được xây dựng tại nhiều nước Châu Á, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là các nước phát triển mạnh mẽ điện hạt nhân nhất trong khu vực và thế giới. An toàn là yêu cầu số một trong phát triển điện hạt nhân hiện nay, và sau tai nạn Fukushima, an toàn điện hạt nhân đã được đảm bảo ở mức độ cao hơn nhiều nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ. Ông nói: “Nhiều nhà máy điện hạt nhân mà tôi đến thăm trong mấy năm gần đây đã an toàn hơn nhiều so với trước khi Fukushima xảy ra. Khoa học công nghệ sẽ đảm bảo an toàn điện hạt nhân cũng như sự phát triển bền vững”.   Năng lượng tái tạo và điện hạt nhân là những nguồn điện không phát thải khí CO2, và có vai trò quan trọng trong chống biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ cùng với nóng ấm toàn cầu và các hiện tượng khí hậu cực đoan. Mặc dù vậy, so với năng lượng tái tạo, điện hạt nhân ưu việt hơn trong đảm bảo nguồn điện ổn định, công suất lớn cho phát triển công nghiệp, kinh tế. Với công nghệ mới đảm bảo chu trình nhiên liệu khép kín, điện hạt nhân có thể đảm bảo cung cấp năng lượng lâu dài hàng nghìn năm. Công nghệ thế hệ mới III+ đảm bảo an toàn, đặc biệt lò nơtron nhanh và lò công thế hệ mới (SMR) đảm bảo tối ưu chu trình nhiên liệu hạt nhân cho phát triển bền vững, lâu dài.   Vấn đề kinh tế của điện hạt nhân là liên quan đến tuổi thọ nhà máy, đến chu trình nhiên liệu. Vấn đề kéo dài tuổi thọ nhà máy bao gồm nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ tiên tiến. Việc kéo dài tuổi thọ các tổ máy điện hạt nhân (cũ và mới xây dựng), cùng với lựa chọn tối ưu chu trình nhiên liệu sẽ làm cho kinh tế điện hạt nhân tốt hơn, đảm bảo sự canh tranh của điện hạt nhân với các nguồn điện khác.   Tại Hội nghị, ông Amano nêu rõ, IAEA đánh giá cao vai trò của Liên bang Nga trong phát triển điện hạt nhân, thúc đẩy khoa học công nghệ điện hạt nhân cũng như đào tạo nguồn nhân lực.   Chia sẻ quan điểm, ông Kirienko cho rằng nước Nga có một ngành công nghiệp điện hạt nhân phát triển trên nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến. Hiện nay ROSATOM đang xuất khẩu các tổ máy điện hạt nhân sang nhiều nước trên thế giới. Sau sự cố Fukushima, có thể thấy rằng các nước mới bắt đầu phát triển điện hạt nhân đã có những quan điểm khác khi xây dựng các nhà máy điện đầu tiên của họ, cụ thể là:     ROSATOM đang xuất khẩu các tổ máy điện hạt nhân sang nhiều nước trên thế giới  – Trọng tâm phát triển điện hạt nhân hiện nay đã chuyển dịch về Châu Á, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nhiều nước trong đó xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.   – Yêu cầu an toàn hiện nay cao hơn đối với thiết kế công nghệ điện hạt nhân. Nếu như trước đây, người ta cho rằng xây tổ máy điện hạt nhân giống như mua ôtô, có ôtô sang, có ôtô rẻ hơn, không quan trọng, miễn là chạy được ổn định, thì hiện nay quan niệm này đã không còn nữa. Các nước mới xây dựng muốn có công nghệ điện hạt nhân an toàn nhất có thể, tiên tiến.   – Vấn đề kiểm chứng của công nghệ cũng rất quan trọng đối với các nước mới bắt đầu điện hạt nhân, họ phải nhìn thấy, “sờ được” công nghệ mà họ muốn có, và đây cũng là yêu cầu chính đáng.   – Ngoài việc công nghệ an toàn, kiểm chứng, các nước mới bắt đầu điện hạt nhân yêu cầu các nước cung cấp công nghệ (ROSATOM) giúp đỡ hỗ trợ trong việc xây dựng hệ thống pháp quy hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực cho điện hạt nhân.   – Các nước mới phát triển điện hạt nhân muốn IAEA tăng cường sự hỗ trợ và giám sát đối với các dự án điện hạt nhân của họ.   – Yêu cầu về đảm bảo cung cấp nhiên liệu hạt nhân một cách lâu dài, ổn định.   – Xây dựng năng lực khoa học hỗ trợ chương trình phát triển điện hạt nhân, là một phần quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng cho điện hạt nhân. Xây dựng và vận hành thành công tổ máy điện hạt nhân đầu tiên đồng nghĩa với việc đưa năng lực khoa học công nghệ của đất nước lên một tầm cao mới.   – Nếu như trước đây, giá thành điện hạt nhân được tính theo suất đầu tư (USD/kW) thì hiện nay yêu cầu của các nước mới bắt đầu xây dựng nhà máy là giá thành điện (US cent/kWt). Giá thành điện phản ánh đúng hơn giá trị và tính cạnh tranh của nguồn điện. Điều này đòi hỏi không những suất đầu tư thấp, mà còn tuổi thọ nhà máy, chu trình nhiên liệu hợp lý. Khoa học, công nghệ tiên tiến có thể đảm bảo an toàn cũng như tuổi thọ nhà máy dài hơn, đáp ứng tính kinh tế của điện hạt nhân.   – Nhà máy điện hạt nhân vận hành lâu dài, hàng trăm năm, do đó dự án điện hạt nhân thoát khỏi sự ảnh hưởng của các quyết định chính trị ngắn hạn, của tư duy nhiệm kỳ. Đây là suy nghĩ mới, đòi hỏi đất nước xây dựng điện hạt nhân phải có chiến lược lâu dài, bền vững và cam kết cho chiến lược phát triển điện hạt nhân của mình.  Trả lời câu hỏi: “Khi có các thiết bị lưu giữ điện năng (ví dụ ắc quy) tốt, thì năng lượng tái tạo sẽ trở nên cạnh tranh hơn so với điện hạt nhân. Quan điểm của IAEA và Nga về vấn đề cạnh tranh này như thế nào?”, ông Kirienko cho rằng điện hạt nhân và năng lượng tái tạo cạnh tranh lành mạnh. Khi có thiết bị lưu giữ điện năng tốt, sẽ mở ra cơ hội cho việc sử dụng ôtô điện, điều này dẫn đến nhu cầu điện tăng cao, không chỉ cho khuyến khích năng lượng tái tạo mà cả thúc đẩy phát triển điện hạt nhân.  Vấn đề kéo dài tuổi thọ các tổ máy cũ và tháo dỡ nhà máy hiện nay, ông Kirienko nói: “Hiện nay có nhiều tổ máy đã vận hành hơn 30 năm. Vấn đề tháo dỡ ở nước Nga trước đây do Nhà nước chịu trách nhiệm, hiện nay do các công ty điện lực chịu trách nhiệm. Kinh phí sẽ được tích lũy cho việc tháo dỡ. Nếu kéo dài tuổi thọ nhà máy, một mặt cần chi phí để nâng cấp, đảm bảo các biện pháp, hệ thống an toàn. Mặt khác các tổ máy kéo dài tuổi thọ cũng sẽ mang lại nguồn tài chính đáng kể do giá thành điện thấp. Do đó đây sẽ là sự xem xét và lựa chọn. Tại Nga, việc cấp phép kéo dài tuổi thọ có thể chỉ 5 năm, hoặc 2-3 năm dựa trên các báo cáo phân tích, đánh giá an toàn cụ thể của từng tổ máy”.   Hội nghị bàn tròn về điện hạt nhân và cơ cấu điện năng trong khuôn khổ Diễn đàn kinh tế quốc tế Saint Peterburg 2015 đã diễn ra thành công, với nhiều tư duy mới được khẳng định. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, chắc chắn điện hạt nhân sẽ đóng vai trò quan trọng và là giải pháp tốt cho vẫn đề này, cũng như đáp ứng nhu cầu điện năng ổn định, an ninh năng lượng, bên cạnh thúc đẩy mạnh mẽ khoa học và công nghệ.  ————————————————-  * Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân phải là một phần của tương lai xanh      “Điều quan trọng hiện nay là các nhà hoạch định chính sách của Liên minh Châu Âu (EU) cần có cái nhìn toàn diện và công bằng hơn với năng lượng hạt nhân như một trong những nguồn năng lượng phát thải ít carbon khác”, đó là khẳng định của ông Esa Hyvärinen, tân chủ tịch của tập đoàn công nghiệp Foratom có trụ sở tại Brussels. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lượng hạt nhân trong việc thực hiện các mục tiêu chung liên quan đến khí hậu ở Châu Âu.    Phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với diễn đàn công nghiệp hạt nhân Foronucle của Tây Ban Nha, ông Esa Hyvärinencho biết: “Việc công nhận năng lượng hạt nhân trong chiến lược dài hạn tới năm 2050 của Ủy ban châu Âu là một tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, từ góc nhìn của ngành công nghiệp hạt nhân, câu hỏi được đặt ra là sự công nhận này sẽ được phản ánh thế nào trong những văn bản quy phạm pháp luật của EU cụ thể như Thỏa thuận xanh châu Âu hay quy định phân loại tài chính bền vững”.  Các mục tiêu quan trọng liên quan đến khí hậu của Liên minh châu Âu đến năm 2030 được đặt ra bao gồm: giảm ít nhất 40% lượng khí thải nhà kính (so với năm 1990); 32% năng lượng sử dụng đến từ các nguồn năng lượng tái tạo; cải thiện tối thiểu 32,5% hiệu quả sử dụng năng lượng. Trong chiến lược dài hạn của mình, EU đặt mục tiêu điều hòa khí hậu vào năm 2050.  Người đứng đầu Foratom lo ngại chỉ với mục tiêu giảm lượng phát thải CO2 vào năm 2030 như hiện nay thì có thể vẫn chưa đủ để EU hiện thực hóa mong muốn không phát thải carbon vào 2050.  Ông tuyên bố: “Do đó, chúng tôi ủng hộ Ủy ban trong việc nâng cao những mục tiêu này, với điều kiện các quốc gia thành viên có quyền tự do lựa chọn sử dụng loại năng lượng ít phát thải carbon. Sẽ thật mâu thuẫn nếu chúng ta vừa mong muốn các nước giảm phát thải khí nhà kính, nhưng đồng thời lại hạn chế họ đầu tư vào các công nghệ giảm thiểu carbon cụ thể là công nghệ hạt nhân.”  Tập đoàn Foratom tin rằng để đạt được các mục tiêu không phát thải cacbon vào năm 2050, Liên minh châu Âu cần huy động tất cả các nguồn năng lượng carbon thấp, bao gồm cả năng lượng hạt nhân. Điều đó không chỉ giúp Châu Âu đạt được những mục tiêu bền vững và hạn chế phát thải carbon, mà còn cung cấp cho con người nguồn điện tin cậy với chi phí phải chăng.  Tuy nhiên, Foratom không ủng hộ các chính sách ưu tiên dành cho năng lượng hạt nhân so với các loại năng lượng phát thải ít carbon khác.  Tân chủ tịch nói thêm: “Việc dành cái nhìn công bằng và toàn diện với tất cả các nguồn năng lượng carbon thấp chưa bao giờ là dễ dàng mặc dù Ủy ban châu Âu đã mô tả năng lượng hạt nhân đóng vai trò then chốt trong mục tiêu không phát thải carbon năm 2050 của châu Âu cùng với các dạng năng lượng tái tạo khác.”  Ông lưu ý rằng một số quốc gia thành viên EU đã và đang có cam kết thực hiện những mục tiêu đầy tham vọng như giảm lượng CO2 với điều kiện có thể đầu tư vào năng lượng hạt nhân. Xu hướng này cho thấy ngày càng nhiều quốc gia thành viên coi năng lượng hạt nhân là một phần tất yếu trong công cuộc chống lại biến đổi khí hậu và thể hiện một tương lai lạc quan hơn với nguồn năng lượng này ở EU.  Ông cũng lạc quan tin vào tương lai nếu những nhà lập pháp đưa ra quyết định dựa trên các phân tích, đánh giá về tình hình hiện tại cũng như khuyến nghị từ những chuyên gia về phương án thực hiện Thoả thuận Paris. Tổ chức IPPC (International Plant Protection Convention) của Liên Hợp Quốc đã chỉ rõ năng lượng hạt nhân giữ vai trò quan trọng giúp trái đất không nóng lên quá 1,5 độ. Do đó, chúng ta phải lựa chọn giải pháp tốt nhất hiện nay vì chỉ dựa vào năng lượng tái tạo thì không thể giải quyết khủng hoảng khí hậu và nếu đặt cược quá nhiều vào các loại khí đốt phát thải carbon có thể gây ra sự lệ thuộc trong thời gian dài. Tại sao một nguồn năng lượng phát thải ít carbon và linh hoạt như năng lượng hạt nhân lại chỉ đóng một phần nhỏ trong số các dạng năng lượng.  Hyvärinen cho biết Foratom sẽ tiếp tục phát huy tất cả các thế mạnh của năng lượng hạt nhân nhằm góp phần đáp ứng mục tiêu về khí hậu của Liên minh châu Âu, phát triển nền kinh tế cũng như hiện thực hóa những mong muốn khác.  Nguyễn Thị Phương Anh/VINATOM dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/Europe-needs-nuclear-energy-says-new-Foratom-pres?fbclid=IwAR11Uq0LVSupMy9L-fiT5olM-xSOaUUODRpO8E240g4MuUQnrU-7pdyzYCk    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân phải là một phần của tương lai xanh      Bốn trong số các nhà khoa học khí hậu hàng đầu thế giới cho rằng, “không có con đường đáng tin cậy nào để ổn định khí hậu mà không tính đến vai trò quan trọng của điện hạt nhân”.  &#160;      Trong lúc các nhà khoa học khí hậu mong muốn thế giới sử dụng năng lượng hạt nhân nhiều hơn để góp phần giảm lượng khí thải carbon dioxide thì ngành công nghiêp hạt nhân Mỹ lại đang có dấu hiệu thoái trào. Nếu Quốc hội [Mỹ] có những động thái khuyến khích sự phát triển của công nghệ hạt nhân thế hệ tiếp theo thì Mỹ sẽ mất vị trí dẫn đầu, mặc dù quốc gia này đang tiến tới phát triển các loại lò phản ứng có quy mô nhỏ hơn, rẻ hơn và an toàn. Các loại lò phản ứng này có thể sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất điện có lượng khí thải carbon thấp (low-carbon electricity) trên toàn thế giới.  Ví dụ mới đây nhất về nguy cơ sụt giảm nguồn cung cấp điện hạt nhân của Mỹ là tuyên bố đóng cửa nhà máy điện hạt nhân có công suất 838 megawatt, James A. Fitzpatrick ở Oswego, bang New York, vào đầu năm 2017 của Entergy Corp. Chỉ ba tuần trước đó, Entergy đã tuyên bố đóng cửa nhà máy điện hạt nhân Pilgrim công suất 688 megawatt ở Plymouth, bang Massachusetts, vào năm 2019.  Như vậy, Mỹ phải tiến hành thực thi những chính sách hỗ trợ và thúc đẩy công nghệ hạt nhân tiên tiến mới có thể đóng góp lâu dài vào việc ứng phó biến đổi khí hậu.  Theo dự báo, khoảng 10% của số nhà máy điện hạt nhân của Mỹ có thể bị đóng cửa trong những năm tới. Những thách thức phải đối mặt với các nhà máy hạt nhân bao gồm tuổi thọ (tuổi trung bình của các lò phản ứng hiện có là khoảng 34 năm), áp lực giá thành từ sản xuất điện bằng khí đốt có chi phí thấp và năng lượng tái tạo được trợ giá, những đòi hỏi nâng cấp an toàn thời kỳ hậu Fukushima với nhiều chi phí tốn kém.  Không thể tiến tới việc thúc đẩy công nghệ hạt nhân tiên tiến theo cách này. Tổ chức tư vấn Con đường thứ ba (Third Way) có trụ sở ở Washington ước tính có khoảng 48 công ty được tài trợ khoảng 1,3 tỷ USD vốn tư nhân đang triển khai các kế hoạch cho các lò phản ứng cách tân, trong số đó là Transatomic Power (được hậu thuẫn bởi Ray Rothrock, nhà đầu tư từ Silicon Valley), TerraPower (được hậu thuẫn bởi nhà sáng lập Microsoft Bill Gates) và UPower (mới khởi nghiệp ở Boston). Họ đang nhằm mục đích xây dựng lò phản ứng có khả năng sản xuất 10 MW điện và có thể nằm gọn trong một cặp container có chiều dài 12,19 m (một chứa lò, một chứa phần phát điện – ND).  Các công ty này cần có một phương thức để phát triển và thử nghiệm một cách chính xác những khía cạnh kỹ thuật trong thiết kế lò phản ứng của họ. Đó là điểm Quốc hội Mỹ cần phải can thiệp.  Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) có một số phòng thí nghiệm quốc gia – như Idaho, Los Alamos và Oak Ridge – là nơi có thể cung cấp địa điểm cho những thử nghiệm như vậy. Để mọi việc diễn ra suôn sẻ, Quốc hội Mỹ phải ủy quyền cho Bộ Năng lượng Mỹ giám sát thử nghiệm đồng thời cung cấp một số gói tài trợ. Mục tiêu của chương trình này, theo một thành viên của Capitol Hill (trụ sở Quốc hội Mỹ– ND), là để “cho phép thị trường [phát triển lò phản ứng mới] vận hành”. Ủy ban Pháp quy Hạt nhân (NRC) chỉ cho phép những thiết kế lò phản ứng của các công ty tư nhân được thương mại hóa khi đã được thử nghiệm an toàn.    Lesley Dewan (giữa) và Mark Massie (ngoài cùng bên phải) là những người sáng lập công ty Transatomic.    Các công ty này cần phương thức để phát triển và thử nghiệm một cách chính xác những khía cạnh trong thiết kế lò phản ứng của họ. Đây là điểm mà Quốc hội Mỹ cần can thiệp.  Chủ đề năng lượng hạt nhân đang được dư luận quan tâm trở lại bởi một trong những nội dung chính của Hội nghị biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2015 (COP21) diễn ra tại Paris vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, là những biện pháp cắt giảm lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu.  Vai trò của năng lượng hạt nhân trong việc cắt giảm lượng khí thải là không còn phải bàn cãi. Vào tháng 1/2015, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (International Energy Agency) đã coi điện hạt nhân là “yếu tố cơ bản trong việc hạn chế phát thải khí nhà kính”. Theo tính toán, công suất phát điện hạt nhân toàn cầu cần phải tăng gấp đôi vào năm 2050 (khoảng 750 GW) để nhiệt độ trái đất giảm 2 độ C.  Năm 2013, bốn trong số các nhà khoa học khí hậu hàng đầu thế giới đã ký một bức thư ngỏ, trong đó đề cập đến việc các nguồn năng lượng tái tạo như gió và năng lượng mặt trời “không thể tăng trưởng đủ nhanh để cung cấp nguồn năng lượng rẻ và đáng tin cậy theo quy mô đòi hỏi của nền kinh tế toàn cầu”. Nhóm tác giả – gồm James Hansen (từng là nhà khí hậu học của NASA), Kerry Emanuel (Viện Công nghệ Massachusetts), Tom Wigley (Đại học Adelaide tại Úc) và Ken Caldeira (Viện Carnegie) – cho rằng, “không có con đường đáng tin cậy nào để ổn định khí hậu mà không tính đến vai trò quan trọng của điện hạt nhân”.  Quốc hội Mỹ cũng đang có nhiều nỗ lực trong việc khuyến khích công nghệ điện hạt nhân tiên tiến. Trong tháng 5/2015, Hạ viện đã thông qua dự luật được Randy Hultgren (R-Ill.) của Đảnh Cộng hòa bảo trợ để Bộ Năng lượng có thể đánh giá khả năng của họ và hỗ trợ thử nghiệm và phát triển các lò phản ứng thế hệ tiếp theo. Vừa qua, đạo luật về Năng lực Đổi mới Điện hạt nhân được hai đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đệ trình Hạ viện nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Bộ Năng lượng tích cực hợp tác với các công ty tư nhân để thử nghiệm, thậm chí là xây dựng các lò phản ứng nguyên mẫu tại các phòng thí nghiệm quốc gia.  Hiện năng lượng hạt nhân phải đối mặt với nhiều trở ngại, trong đó có trở ngại về chi phí xây dựng các lò phản ứng mới và việc xử lý chất thải dài hạn. Tuy nhiên, Mỹ vẫn đang khẳng định được vai trò dẫn đầu Thời đại hạt nhân (Nuclear Age) của mình, vai trò được thiết lập từ dự án Manhattan, vốn được bắt đầu vào năm 1942.   Thu Hà dịch  Nguồn: http://www.latimes.com/opinion/op-ed/la-oe-bryce-nuclear-power-20151113-story.html  Đọc thêm:   Mỹ bảo lãnh vốn cho các startup về LPƯ hạt nhân  Mỹ: Quy trình cấp phép ghìm chân các công nghệ hạt nhân tiên tiến?  Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?  Xu hướng công nghiệp hạt nhân tiên tiến         Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân sẽ sạch hơn nhờ vật liệu mới      Phòng thí nghiệm quốc gia Tây bắc Thái Bình dương (Pacific Northwest National Laboratory PNNL) thuộc Bộ Năng lượng Mỹ cho biết, các nhà nghiên cứu ở đây đã tìm ra một loại vật liệu mới có khả năng hỗ trợ quá trình tái sử dụng chất thải hạt nhân và cắt giảm chất thải hạt nhân thông qua việc giảm thiểu giải phóng khí trong quá trình tái xử lý hiệu quả hơn bất kỳ loại công nghệ khác hiện nay. Loại vật liệu khung hữu cơ kim loại này có thể thu các loại khí phóng xạ như xenon, krypton trong điều kiện nhiệt độ xung quanh, qua đó làm giảm năng lượng hao phí.    Các  công nghệ hiện hành thường loại bỏ các khí độc như xenon, krypton trong điều kiện nhiệt độ rất thấp, cần nhiều năng lượng để đạt được nhiệt độ đó. Nhưng do hoạt động được trong điều kiện nhiệt độ môi trường, loại vật liệu mới này có khả năng tiết kiệm năng lượng, qua đó giúp quá trình tái xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng trở nên sạch hơn và ít chi phí hơn.  Theo công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà khoa học thực nghiệm và tính toán mô phỏng đã hợp tác nghiên cứu để khám phá những đặc tính của loại vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs). “Đây là một ví dụ điển hình về quá trình khám phá vật liệu được khơi nguồn từ máy tính’, nhà khoa học vật liệu Praveen Thallapally, làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Tây bắc Thái Bình dương của Bộ Năng lượng Mỹ cho biết. “Thông thường các kết quả thực nghiệm vẫn có sức thuyết phục hơn so với các kết quả được thực hiện trên máy tính nhưng vào thời điểm này, các tính toán mô phỏng đem lại cho chúng tôi những kết quả mà thực nghiệm còn chưa làm được”.  Giảm thiểu chất thải phóng xạ  Các nhà nghiên cứu khám phá ra những công nghệ giúp cho việc tái sử dụng nhiên liệu hạt nhân trong tương lai trở nên an toàn và hiệu quả hơn.  Để làm được công việc này, các viện nghiên cứu đa ngành cùng hợp tác nghiên cứu về vật liệu để từng bước thay thế vật liệu tái chế, một trong những bước đi này là hạn chế khả năng phát thải xenon, krypton, những loại khí được sinh ra trong quá trình tái xử lý. Để giữ lại xenon và krypton, các công nghệ hiện hành thường sử dụng các phương pháp đông lạnh để đưa các luồng khí đạt tới ngưỡng nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ làm nước đóng băng – trong đó nhiều phương pháp tiêu tốn nhiều năng lượng và chi phí cao.  Thallapally, đã cùng với Maciej Haranczyk, Berend Smit (Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Berkeley – LBNL) và nhiều nhà khoa học khác, đã cùng nghiên cứu về những vật liệu MOFs, có khả năng giữ xenon và krypton mà không cần đến phương pháp đông lạnh.  Các vật liệu này đều chứa những lỗ trống bên trong, chỉ cho phép từng phân tử lọt qua. Vì vậy, các loại vật liệu MOFs có thể phân tách các hỗn hợp khí bằng sự hấp phụ có chọn lọc.  Để tìm ra vật liệu MOF phù hợp nhất với việc phân tách xenon và krypton, các nhà hóa học tính toán dưới sự dẫn dắt của Haranczyk và Smit đã sàng lọc ra 125.000 loại MOFs có khả năng giữ khí. Hai loại khí này đều có chứa lượng phóng xạ khác nhau và cùng nằm trong nhóm khí hiếm. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các số liệu tính toán của Trung tâm Tính toán nghiên cứu về năng lượng quốc gia (NERSC), một cơ sở nghiên cứu của Bộ Năng lượng Mỹ đặt tại LBNL.  “Với số lượng vật liệu được đề xuất, việc tìm ra vật liệu tối ưu là thách thức lớn với chúng tôi. Do đặc tính riêng biệt, mỗi loại vật liệu có thể đòi hỏi nhiều thời gian lập các cấu trúc mô phỏng, toàn bộ quá trình sàng lọc phải được thực hiện trên một siêu máy tính trong nhiều tuần lễ”, Haranczyk cho biết. “Thay vì làm điều đó, chúng tôi áp dụng một phương pháp đánh giá khả năng của mỗi loại vật liệu trên cơ sở các đặc điểm có thể tính toán mô phỏng được. Nhóm của chúng tôi đã dùng ứng dụng trong kỹ thuật học máy của Cory Simon, một nhà nghiên cứu về các mô hình toán học, các tính toán mô phỏng và học máy để nhận diện và thiết kế các loại vật liệu có lỗ nhỏ cỡ nano trên bề mặt hoặc bên trong vật liệu (nanoporous material) có khả năng hút bám để thu hồi hoặc phân tách khí. Những kỹ thuật học máy này giúp chúng tôi tăng tốc quá trình khám phá vật liệu mà không mất nhiều thời gian [thử nghiệm]”.  Những mô hình tính toán của nhóm đã xác định được SBMOF -1, một vật liệu MOF đạt được hai yêu cầu: bẫy được xenon và có lỗ gần với kích thước của một nguyên tử xenon. Sau đó, loại vật liệu MOF này đã được kiểm tra tại phòng thí nghiệm của PNNL.      Mô hình phân tử SBMOF -1, loại vật liệu mới có khả năng bắt đươc khí xenon và kryton.  Sau khi tối ưu quá trình chuẩn bị của SBMOF -1, Thallapally và cộng sự tại PNNL kiểm tra vật liệu bằng việc thổi một hỗn hợp khí qua nó – bao gồm dạng không phóng xạ của xenon và kryton – và đo đạc kết quả của quá trình đó. Các khí oxy, heli, nitơ, krypton và CO2 đều có thể lọt qua trong khi xenon vẫn bị giữ ở lại. Dấu hiệu này chứng tỏ rằng, xenon vẫn có khả năng bị mắc lại trong các lỗ của SBMOF -1 khi vật liệu này bị xenon bão hòa.  Các kiểm tra khác cũng cho thấy SBMOF -1 có khả năng lưu giữ được krypton. Trong suốt quá trình phân tách, các nhà nghiên cứu có thể đưa những luồng khí đi qua vật liệu SBMOF -1 hai lần để giữ cả krypton và xenon.  Nhóm nghiên cứu cũng kiểm tra khả năng lưu giữ xenon của SBMOF -1 trong điều kiện độ ẩm cao. Độ ẩm liên quan đến quá trình đông lạnh và các loại khí có thể bị khử nước trước khi được đưa vào quá trình sử dụng phương pháp siêu lạnh ở nhiệt độ không tuyệt đối. Đáng ngạc nhiên là SBMOF -1 vẫn lưu giữ được hơn 85% số lượng xenon trong điều kiện độ ẩm cao tương tự như trong điều kiện độ ẩm cực thấp.  Bước cuối cùng trong việc lưu giữ xenon hay krypton là đặt vật liệu MOF này vào môi trường chân không, nơi có thể rút khí khỏi các phân tử để bảo quản an toàn. Thử nghiệm cuối cùng là kiểm tra tính ổn định bằng cách lặp đi lặp lại việc hút và loại xenon khỏi vật liệu. Sau 10 lần thử nghiệm, kết quả cho thấy SBMOF -1 hút xenon nhiều nhất ở lần đầu tiên, báo hiệu khả năng chịu được nhiệt độ cao một cách ổn định trong thời gian dài.  Tìm kiếm mô hình  Mặc dù các nhà nghiên cứu đã chỉ ra SBMOF-1 là một ứng viên sáng giá giúp tái sử dụng nhiên liệu hạt nhân, nhưng nó chưa thực sự tối ưu. Trong phòng thí nghiệm, người ta cần kích hoạt SBMOF-1 bằng cách nung nóng tới 3000 C.  Việc kích hoạt SBMOF-1 từ MOF trong phòng thí nghiệm không cho kết quả như mong đợi mà kết quả thu được lại từ mô hình giả lập trên máy tính.  Các nhà nghiên cứu tại PNNL lập lại các thử nghiệm với SBMOF-1 ở nhiệt độ thấp hơn, 1000C (nhiệt độ sôi của nước) khi đó hoạt động của SBMOF-1 tốt hơn rất nhiều so với kích hoạt ở nhiệt độ cao.  Nhưng tại sao lại có sự khác biệt đó? Và điều gì đã diễn ra khi kích hoạt SBMOF-1 ở 3000. Thật bất ngờ, nguyên nhân chính là từ các lỗ trống trong cấu trúc của SBMOF-1.  Khi chúng ta làm nóng tinh thể, một phần của các nguyên tử sẽ bị giữ lại trong các lỗ trống. Thallapally nói, “nguyên tử xenon là không phù hợp”.  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2016/06/160613090313.htm       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Điện hạt nhân thế giới: Những chuyển động và xu hướng phát triển mới      Không giống dự đoán của nhiều chuyên gia trong và ngoài ngành năng lượng, tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) năm 2011 không gây ra sự suy thoái của điện hạt nhân trên toàn cầu, ngược lại, nó dẫn đến những xu hướng phát triển mới cho điện hạt nhân thế giới với độ an toàn cao hơn, nhiều đổi mới sáng tạo hơn.      Nhà máy điện hạt nhân Novovoronhetz – nhà máy điện hạt nhân theo thiết kế công nghệ tiên tiến thế hệ III+ VVER 1200/V392M. Nguồn: Russia Today  Nhìn tổng thể, trong gần 8 năm qua, điện hạt nhân thế giới có nhiều chuyển biến tích cực: 52 nhà máy điện hạt nhân mới được đưa vào vận hành, nâng tổng số tổ máy đang hoạt động lên con số 450, bên cạnh đó 140 đến 150 tổ máy được lên kế hoạch sẽ xây dựng trên nhiều quốc gia trên thế giới, trải rộng từ châu Á, châu Âu, châu Phi. Theo số liệu năm 2017 của IAEA, công suất các nhà máy điện hạt nhân tại 30 quốc gia đạt khoảng 392.000MWe, cao nhất trong lịch sử điện hạt nhân thế giới (sau điện than, khí thiên nhiên, thủy điện), và đóng góp 11% điện năng toàn cầu. Không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, điện hạt nhân còn là nguồn năng lượng phát thải khí carbon thấp thứ hai thế giới, giúp thế giới ngăn chặn được khoảng 20 tỷ tấn CO2 vào khí quyển, qua đó trở thành một trong những yếu tố cần thiết để thực hiện Thỏa thuận chung Paris 2015 – một bước ngoặt lịch sử nhằm ngăn chặn biến đổi khí hậu và giảm sự nóng lên toàn cầu.  Những chuyển động của điện hạt nhân thế giới  Trong số 30 quốc gia phát triển điện hạt nhân, người ta phân loại và xếp hạng các quốc gia theo tiềm lực công nghệ hạt nhân, bao gồm nhóm 1 Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc – nhóm quốc gia có thể xuất khẩu công nghệ hạt nhân, nhóm 2 Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Thụy Sỹ, Phần Lan, Braxin, Argentina… – những quốc gia đã tiếp thu công nghệ và sau đó tự phát triển năng lực nghiên cứu công nghệ hạt nhân và vận hành nhà máy điện hạt nhân, nhóm 3 là các quốc gia có khả năng tiếp nhận công nghệ hạt nhân và bắt đầu phát triển công nghệ hạt nhân Belarus, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE, Bangladesh…  Với ưu thế làm chủ công nghệ nguồn và có thể xuất khẩu công nghệ hạt nhân, các quốc gia nhóm 1 đã tích cực thực hiện công việc thúc đẩy xuất khẩu công nghệ hạt nhân sang nhiều quốc gia thuộc nhóm 2 và nhóm 3, đặc biệt là sang các quốc gia đang đặt mục tiêu phát triển công nghiệp, gia tăng sự đóng góp của công nghiệp vào GDP của đất nước và xây dựng thành phố thông minh.  Đi đầu trong xu thế này là Nga, quốc gia đang vận hành 37 tổ máy điện hạt nhân, đóng góp 18% sản lượng điện và đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng 11 lò phản ứng năng lượng. Nga cũng là quốc gia duy nhất trong nhóm 1 hội tụ đủ ba điều kiện quan trọng: 1) Có trình độ khoa học công nghệ cao, phát triển công nghệ bài bản với thiết kế điện hạt nhân tốt, tiên tiến, an toàn, có năng lực về chế tạo các hệ thống thiết bị của nhà máy điện hạt nhân; 2) Có năng lực xây dựng và quản lý dự án điện hạt nhân tốt; 3) Có uy tín và độ tin cậy đối với quốc gia nhập khẩu công nghệ điện hạt nhân. Hiện Nga đang quản lý và thực hiện nhiều dự án trong và ngoài nước như sắp hoàn thành công trình nhà máy điện hạt nhân Leningrad theo công nghệ VVER 1200/V491 (công nghệ mà Việt Nam đã từng được lựa chọn cho nhà máy điện Ninh Thuận 1); vận hành ổn định Novovoronhetz – nhà máy điện hạt nhân theo thiết kế công nghệ tiên tiến thế hệ III+ VVER 1200/V392M – từ năm 2016; xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cho Thổ Nhĩ Kỳ (công nghệ VVER 1200) từ ngày 3/4/2018, nhà máy điện hạt nhân cho Bangladesh (công nghệ VVER 1200) từ ngày 30/11/2017; ký kết và thúc đẩy nhiều dự án điện hạt nhân với Trung Quốc (công nghệ VVER 1000, VVER1200), với Ấn Độ (công nghệ VVER 1000), Hungary (công nghệ VVER 1200/V392M), Ai Cập (công nghệ VVER 1200), Phần Lan (công nghệ VVER 1200/V491); ký hợp đồng đào tạo nhân lực điện hạt nhân với Campuchia năm 2015; đồng thời hoàn thành thiết kế và chế tạo Lomonosov nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên trên thế giới.  Là một trong số bốn quốc gia làm chủ công nghệ nguồn (cùng Nga, Canada, Anh), Mỹ có 99 tổ máy điện hạt nhân đang vận hành, đóng góp hơn 20% điện năng toàn quốc và đang xây dựng 3 tổ máy. Khó khăn hiện tại của Mỹ là sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng ba tổ máy này và khả năng đội vốn so với ước tính ban đầu, vấn đề này được cho là liên quan đến việc Công ty Westinghouse phá sản (bản chất chỉ là cải tổ lại công ty). Hiện tại, Mỹ đang chuyển công nghệ AP 1000 cho Trung Quốc và tiến hành xây dựng 8 tổ máy tại đây. Tổ máy AP1000 đầu tiên đã bắt đầu vận hành từ cuối tháng 6/2018 tại Sanmen.     Trung Quốc đẩy mạnh nội địa hóa công nghệ để phát triển công nghệ Hoa Long 1. Ảnh: Nhà máy điện hạt nhân ở Phúc Kiến sử dụng công nghệ Hoa Long 1. Nguồn: hindustantimes.com.  Xuất phát từ nhu cầu cải thiện chất lượng không khí đô thị, giảm phát thải khí nhà kính nhưng vẫn đảm bảo an toàn năng lượng, Trung Quốc tập trung phát triển điện hạt nhân khi vận hành và triển khai nhiều nhà máy dọc theo bờ biển phía Đông với công nghệ làm mát bằng nước biển. Năm 2017, Trung Quốc có 39 tổ máy điện hạt nhân đang vận hành, đóng góp gần 4% sản lượng điện đồng thời thông qua Luật An toàn hạt nhân mới cho phép xây dựng các nhà máy điện trong lục địa (làm mát bằng nước sông hồ hoặc tháp làm mát) và mở đường xuất khẩu công nghệ. Động lực phát triển năng lượng điện hạt nhân của Trung Quốc Dự kiến đến năm 2030 sẽ có 100 tổ máy, đến năm 2050 sẽ tăng gần gấp ba với 280 tổ máy. Cùng với việc tiếp nhận công nghệ VVER của Nga, công nghệ AP1000 của Mỹ, và công nghệ EPR của Pháp, Trung Quốc đẩy mạnh nội địa hóa công nghệ để phát triển công nghệ Hoa Long 1 và đang từng bước triển khai thiết kế nhà máy điện hạt nhân nổi với kế hoạch xây dựng 20 FNPPs (Floating Nuclear Power Plants)  và đến 2019 sẽ đưa vào vận hành nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên để sử dụng tại các khu vực khai thác dầu khí trên biển và các đảo.  Nhận chuyển giao công nghệ điện hạt nhân từ Mỹ và phát triển công nghệ tiên tiến thế hệ III+ EPR1600, Pháp là cường quốc hạt nhân với 58 tổ máy điện hạt nhân, đóng góp 71% sản lượng điện toàn quốc. Không chỉ đang xây dựng tổ máy mới ở Flamnaville 3, Pháp còn quản lý và tiến hành các dự án tại Anh, Phần Lan, đồng thời mở rộng hợp tác hạt nhân với Ấn Độ, Trung Quốc, Nga…  Sở hữu hệ thống lò phản ứng năng lượng theo công nghệ cũ làm mát bằng khí, Anh hiện có 15 lò phản ứng, tạo ra khoảng 19% lượng điện đất nước. Để dần thay thế những lò phản ứng đang lão hóa này, Anh mới thông qua kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới với tổng kinh phí đầu tư 262 tỷ USD, trong đó có sự đóng góp của ngành công nghiệp (Chính phủ Anh mới thông qua vào cuối tháng 6/2018). Nhà máy đầu tiên trong số các nhà máy thế hệ mới với công suất tổng cộng 19 GWe, dự kiến sẽ được đưa vào vận hành vào năm 2025.  Các xu hướng phát triển điện hạt nhân mới  Thời gian trầm lắng vì lo ngại đến an toàn nhà máy điện hạt nhân sau tai nạn Fukushima đã kết thúc nhanh hơn dự đoán. Kể từ năm 2014-2015, thị trường điện hạt nhân toàn cầu đã hoạt động sôi động trở lại bởi nhu cầu nguồn điện công suất lớn ổn định cho các ngành công nghiệp, giá thành phù hợp, không phát thải khí nhà kính, độ tin cậy cao (năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió dù cũng có ưu thế này nhưng lại có nhược điểm độ ổn định thấp, cần thêm đầu tư vào hệ thống điện dự phòng, việc sản xuất pin mặt trời tạo ra nhiều rác thải độc hại…). Nét mới trong phát triển của thị trường điện hạt nhân là có xu hướng chuyển dịch công nghệ từ các nước phát triển sang các nước có nền kinh tế mới nổi – những quốc gia mong muốn tiếp cận với năng lượng hạt nhân một cách nhanh chóng, cần đảm bảo chất lượng nguồn điện và hấp dẫn về mặt thương mại. Do đó, thông qua “chính sách ngoại giao công nghệ hạt nhân” của một số cường quốc như Nga và Mỹ, Canada, châu Á là nơi tiếp nhận công nghệ và thực hiện nhiều dự án hạt nhân hàng đầu thế giới, qua đó trở thành nơi thúc đẩy công nghệ hạt nhân để phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế và nhu cầu xã hội cho những quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, UAE, Bangladesh, Hàn Quốc… Một trong những ví dụ điển hình là Ấn Độ, quốc gia đông dân số 2 thế giới và có mục tiêu rõ ràng trong phát triển các ngành công nghiệp thép, đóng tàu, hàng không vũ trụ, sản xuất dược phẩm, công nghệ phần mềm, viễn thông và đang đặt kế hoạch phát triển 100 thành phố thông minh trên khắp đất nước (Smart Cities Mission). Hiện Ấn Độ đang vận hành 22 tổ máy tại 7 nhà máy điện hạt nhân, đóng góp khoảng 3,3% sản lượng điện. Để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra, Ấn Độ đang xây dựng 6 tổ máy theo công nghệ VVER 1200, công nghệ PHWR với công suất tổng cộng là 4,4 Gwe. Ngoài công nghệ VVER đã được chuyển giao từ Nga, Ấn Độ đang có kế hoạch xây dựng các tổ máy AP1000 với Mỹ và EPR1600 với Pháp.  Một quốc gia châu Á khác là Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đang xây dựng bốn lò phản ứng công suất 1400 MWe với công nghệ do Hàn Quốc chuyển giao, tổng chi phí hơn 20 tỷ USD và hợp tác chặt chẽ với IAEA và các công ty quốc tế giàu kinh nghiệm để triển khai thành công dự án này.    Các cường quốc hạt nhân đều thực hiện nhiều nghiên cứu  nhằm cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, vận hành nhà máy điện hạt nhân và thắt chặt hơn nữa vấn đề an toàn pháp quy. Nguồn: Rosatom  Xu hướng thứ hai trong phát triển điện hạt nhân thế giới là nâng cao độ an toàn theo những tiêu chí khắt khe nhất từ trước tới nay. Bài học Fukushima khiến hầu hết các cường quốc điện hạt nhân phải thiết lập các chiến lược quốc gia về an toàn hạt nhân, thể hiện ở việc cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, vận hành nhà máy điện hạt nhân và thắt chặt hơn nữa vấn đề an toàn pháp quy. Điều đó thể hiện rõ nét ở quá trình nghiên cứu, đổi mới công nghệ của Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản… Trên nền tảng KH&CN hạt nhân đã phát triển hàng chục năm nay, Nga với sự hợp tác chặt chẽ của Rosatom với các Viện nghiên cứu, các trường đại học như Viện Kurchatov, Viện Nghiên cứu an toàn hạt nhân IBRAE, Viện Liên hợp hạt nhân Dubna, trường đại học Năng lượng Moscow… đã có nhiều nghiên cứu về an toàn, phát tán phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân, xử lý chất thải hạt nhân… Một trong những kết quả là công nghệ thế hệ III+ VVER 1200/V392 M với hệ thống an toàn chủ động (active safety khi hoạt động cần nguồn điện hoặc động cơ) kết hợp với an toàn thụ động (passive safety dựa trên các quy luật vật lý, không cần dùng điện) đã được áp dụng một cách hiệu quả ở nhà máy Novovoronhetz. An toàn chủ động kết hợp với an toàn thụ động là đặc điểm chung của các thiết kế mới điện hạt nhân như VVER của Nga, APR1400 của Hàn Quốc v.v.  Tuy không có những lò phản ứng năng lượng được xây mới nhưng Mỹ, Canada, Thụy Điển, Thụy Sỹ vẫn được đánh giá cao về năng lực vận hành nhà máy điện hạt nhân và hơn thế, là năng lực bảo trì, kéo dài tuổi thọ các nhà máy đang hoạt động. Thông qua việc phân bổ ngân sách cho các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho, Los Alamos, Oak Ridge và đầu tư cho các dự án nghiên cứu ở nhiều trường đại học và viện nghiên cứu như MIT, Bắc Carolina…, Mỹ trở thành một trong những quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu và thực nghiệm về năng  lượng hạt nhân, đặc biệt là xử lý các vấn đề liên quan đến tính toán an toàn, an toàn pháp quy, gia tăng tuổi thọ nhà máy điện hạt nhân.  Xu hướng thứ ba là sự cởi mở trong hợp tác liên kết trong phát triển điện hạt nhân. Về cơ bản, công nghệ hạt nhân hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều ngành khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, các ngành công nghiệp và đòi hỏi một năng lực làm chủ của quốc gia tiếp nhận nên sự hợp tác ở mức độ cao hơn so với những loại hình công nghệ khác. Vì thế, các quốc gia không chỉ rộng mở phòng thí nghiệm ở các viện nghiên cứu và trường đại học trong thực hiện những dự án nghiên cứu chung về khoa học hạt nhân mà còn hợp tác phát triển và chuyển giao công nghệ hạt nhân, ví dụ như Nga – Mỹ, Nga – Pháp, Nga – Trung Quốc, Nga – Ấn Độ, Mỹ – Ấn Độ, Mỹ – Trung Quốc, Trung Quốc – Pháp, Pháp – Ấn Độ… Việc áp dụng và thực thi “chính sách ngoại giao năng lượng hạt nhân” của các cường quốc không đơn thuần là sự hợp tác giữa bên mua và bán mà là sự chuyển giao trên cơ sở hỗ trợ, cộng tác chặt chẽ về nhiều mặt và kéo dài hơn cả vòng đời nhà máy điện hạt nhân.   Trường hợp đặc biệt của Nhật Bản    Nhân viên công ty điện lực Kyushu đang tái khởi động vận hành nhà máy điện hạt nhân Sendai trong phòng điều hành trung tâm của nhà máy. Nguồn: Kazu  Trong quá trình phát triển điện hạt nhân toàn cầu, điều khiến người ta bất ngờ nhất chính là Nhật Bản, nơi xảy ra tai nạn Fukushima dẫn đến những ảnh hưởng lên điện hạt nhân toàn cầu. Gần 10 năm sau, chính tại quốc gia này, điện hạt nhân đã lại hồi sinh với đầy đủ những xu hướng phát triển của thế giới.  Sau sự cố Fukushima, chính phủ Nhật Bản phải giảm đáng kể vai trò của năng lượng hạt nhân, do đó kéo theo hàng loạt hệ quả và nhiều vấn đề cho Nhật Bản: tỉ lệ năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch tăng từ 62% lên đến 88% trong vòng 4 năm, nhập khẩu nhiên liệu tăng trung bình 40 tỉ USD mỗi năm, chi phí năng lượng gia đình tăng 13,7%/năm, liên tiếp thâm hụt thương mại tăng dần theo các năm từ 70 tỷ đô (2012) đến 227 tỷ đô (2014) (theo Bộ Tài chính Nhật Bản). Bên cạnh đó, lượng phát thải CO2 từ ngành điện của Nhật Bản tăng trở lại trong năm 2012, nhiều hơn 39% so với khi các lò phản ứng hạt nhân của nước này hoạt động bình thường, đẩy nước Nhật đi xa các mục tiêu khí hậu của họ. Rõ ràng, chiến lược giảm sự phụ thuộc vào điện hạt nhân của Nhật Bản đã không thành công, kéo theo nhiều vấn đề ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đời sống, môi trường và các mục tiêu dài hạn khác.  Trước những vấn đề này, chính phủ Nhật Bản đã từng bước thực hiện chiến lược đưa điện hạt nhân trở lại. Từ năm 2014 đến nay, song song với việc củng cố an toàn hạt nhân, ban hành các quy định, điều kiện kiểm tra khắt khe trước khi tái khởi động trở lại các lò phản ứng năng lượng, chính phủ Nhật Bản đã có những thay đổi trong Kế hoạch cơ bản về năng lượng và hoạch định chính sách năng lượng hạt nhân mới. Gần đây nhất, trong Dự thảo Kế hoạch Năng lượng Cơ bản lần thứ 5 (5/2018), Nhật Bản đã xác định năng lượng hạt nhân là “một nguồn năng lượng cơ bản quan trọng góp phần vào sự ổn định của cấu trúc cung và cầu năng lượng dài hạn” và tăng cường các biện pháp cần thiết để đến năm 2030 đạt được tỷ lệ điện hạt nhân 20-22% trong hỗn hợp năng lượng, năng lượng tái tạo khoảng 22-24%, còn lại là nhiệt điện (chủ yếu dựa vào khí hóa lỏng và nhiệt điện than).   Đến nay Nhật Bản có 9 tổ máy được tái khởi động và đang vận hành, phát điện (tất cả đều là lò công nghệ nước áp lực). Cụ thể hơn: Lò phản ứng hạt nhân Sendai-1 trở thành lò đầu tiên được khởi động lại và kết nối lưới điện (08/2015); Lò Sendai-2 khởi động và đưa vào vận hành trở lại vào tháng 10/2015; Hai lò Takahama-3, Takahama-4 vào tháng 01 và tháng 02/2016, hiện tại đang vận hành; Tháng 08/2016 là tổ máy Ikata-3; Lò Ohi-3 và Ohi-4 chính thức hoạt động trở lại lần lượt vào tháng 03/2018 và 05/2018; Sau khi đáp ứng các điều kiện theo tiêu chuẩn mới lò Genkai-3, Genkai-4 đã được tái khởi động vận hành lần lượt vào tháng 03/2018 và 06/2018. Hiện nay, có 5 tổ máy đã được Cơ quan Pháp quy Hạt nhân Nhật Bản chấp thuận cho phép thực hiện các thay đổi, nâng cấp an toàn trong thiết kế cơ bản lò phản ứng và các trang thiết bị liên quan (trong quy trình tái khởi động) và 12 lò phản ứng khác đang được thẩm định. Theo đánh giá, từ tháng 3/2019 sẽ có ít nhất từ 10 đến 15 lò phản ứng hạt nhân nữa tiếp tục được kết nối lưới điện.  Với sự trở lại của điện hạt nhân Nhật Bản, có thể thấy rằng điện hạt nhân sẽ là một lựa chọn khả dĩ cho bài toán năng lượng của nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh đối phó với biến đổi khí hậu. Điện hạt nhân nhiều khả năng sẽ phục hồi trở lại và phát triển mạnh một cách an toàn hơn, kinh tế và là nguồn điện sạch không phát thải khí nhà kính.    Author                Trương Văn Khánh Nhật        
__label__tiasang Điện hạt nhân thế giới thời kỳ hậu Fukushima      Là một nguồn năng lượng sạch, an toàn, hiệu  suất cao, điện hạt nhân được sử dụng phổ biến trên toàn cầu và trở thành  phương án giải quyết hiệu quả việc phát triển nguồn năng lượng cacbon  thấp. Thế nhưng tai nạn rò rỉ phóng xạ tại nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN)  Fukushima ở Nhật Bản năm 2011 đã tác động mạnh tới tiến trình phát  triển điện hạt nhân toàn thế giới.     Phần lớn dân chúng không còn tin vào tính an toàn của điện hạt nhân nữa, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách phát triển điện của một số quốc gia. Dưới sức ép của dư luận, Đức và Thụy Sĩ đưa ra chủ trương loại bỏ điện hạt nhân. Nhật cũng giảm dự định “điện hạt nhân chiếm trên 50% tổng sản lượng điện” xuống còn “không quá 16%”, thậm chí đưa ra chủ trương “zero điện hạt nhân”.  Tuy thế, hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển mới nổi đều kiên trì phát triển điện hạt nhân, coi đây là chỗ dựa quan trọng để đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, bảo đảm cung cấp năng lượng. Tháng 1/2013, Hội nghị năng lượng hạt nhân châu Á họp tại Malaysia. Các nước châu Á dự định trong 10 năm tới sẽ xây dựng 100 tổ máy điện hạt nhân mới. Việt Nam, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ đã xác định xong các dự án điện hạt nhân mới, châu Á trở thành vùng phát triển điện hạt nhân nhanh nhất toàn cầu.  Tháng 3/2014, Bulgaria và 11 nước khác trong Liên minh châu Âu EU ký tuyên bố chung ủng hộ điện hạt nhân. Đến năm 2030, khu vực Đông Âu sẽ xây dựng mới từ 30 đến 50 lò phản ứng hạt nhân, sản lượng điện hạt nhân sẽ tăng từ 1,6 đến 2 lần.  Trước đó, vào tháng 6/2013, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế IAEA họp Hội nghị cấp Bộ trưởng tại St. Petersburg (Nga), hơn 500 đại biểu từ 87 nước và 7 tổ chức quốc tế tới dự để bàn vấn đề phát triển điện hạt nhân. Theo thống kê của IAEA, hiện nay 194 NMĐHN trên toàn thế giới đang vận hành 434 tổ máy phát điện hạt nhân, ngoài ra đang xây dựng lắp đặt 69 tổ máy mới, trong 20 năm tới toàn cầu ít nhất sẽ xây dựng lắp đặt 80-90 tổ máy. Đến năm 2030, năng lực phát điện của điện hạt nhân sẽ tăng 20% trở lên so với hiện nay, thậm chí có thể tăng gấp đôi.   Sau vụ Fukushima, mức độ an toàn của các NMĐHN đều được tăng cường. Tại Mỹ, tháng 6/2014, Ủy ban Điều chỉnh Hạt nhân quốc gia Mỹ (Nuclear Regulatory Commission, NRC) ra lệnh cho 31 lò phản ứng có thiết kế tương tự lò phản ứng ở NMĐHN Fukushima phải áp dụng các biện pháp tăng cường năng lực lọc bỏ chất khí có tính phóng xạ trong hệ thống thông gió của lớp vỏ bọc lò, nhằm bảo đảm an toàn cho nhân viên khi lõi lò phản ứng bị nóng chảy.  Liên minh châu Âu EU yêu cầu các nước thành viên cứ sáu năm phải tiến hành một lần đo áp lực ở NMĐHN, 10 năm tiến hành một lần đánh giá mức độ an toàn của NMĐHN. Nghị viện châu Âu quyết định tiến hành nâng cấp tất cả các NMĐHN ở châu Âu, tăng năng lực phòng chống thiên tai; dự tính việc nâng cấp này cần kinh phí 25 tỷ Euro.    Sau sự cố   Fukushima, mức độ an toàn của các NMĐHN đều được tăng cường  Chỉ một năm sau sự cố Fukushima, Nhật đã tiến hành cải tổ cơ cấu chính phủ để tăng tính độc lập của cơ quan giám sát an toàn điện hạt nhân và nâng tiêu chuẩn an toàn của NMĐHN lên.  Tiêu chuẩn an toàn mới quy định:  – Lò phản ứng phải xây dựng trên nền đất không có tầng đứt gãy hoạt. Phạm vi tầng đứt gãy hoạt mà thiết kế chống động đất của NMĐHN từ trước đến nay quy định là “trước đây 130 nghìn năm cho tới 12 nghìn năm từng xuất hiện hoạt động”, nay sửa là “Xa nhất xét tới 400 nghìn năm trước từng xuất hiện hoạt động”.  – NMĐHN phải xây đập chắn sóng có tiêu chuẩn chống động đất cao nhất, ngoài ra còn phải có biện pháp đối phó với núi lửa hoạt động và lốc xoáy.  – Phải đặt Phòng điều khiển dự bị tại địa điểm cách xa lò phản ứng, nhằm giảm nguy hiểm nhiễm phóng xạ cho nhân viên khi xảy ra sự cố  – Kết cấu của NMĐHN phải chịu được sự va chạm của máy bay phản lực chở khách, cửa thông gió phải lắp thiết bị lọc bỏ chất khí phóng xạ, bảo đảm thông gió khi xảy sự cố.   Nguyễn Hải Hoành – Hải Anh theo tài liệu nước ngoài        Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân UAE tập trung vào văn hóa an toàn      Việc tập trung vào nghiên cứu về những tai nạn hạt nhân, đặc biệt là tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản vào năm 2011, giúp Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) xây dựng nên những nhà máy điện hạt nhân vững chắc và an toàn hơn.      Theo các quan chức UAE, những biện pháp an toàn điện hạt nhân mới được sửa đổi của UAE sẽ giúp cho nhà máy điện hạt nhân Barakah tăng thêm khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi ngay khi tổ máy đầu tiên của nhà máy bốn lò phản ứng này đi vào hoạt động vào năm 2017.   Các biện pháp đảm bảo về an toàn hạt nhân ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn sau khi một nghiên cứu về nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi Nhật Bản của UAE được tiến hành và đề xuất. Nghiên cứu đã phân tích hiện tượng động đất và sóng thần, những nguyên nhân dẫn đến tai nạn nhà máy Fukushima Daiichi và khiến tổng cộng 15.000 người đang sinh sống và làm việc gần nhà máy điện Daiichi của Nhật Bản vào thời điểm đó phải sơ tán.  Ông Christer Viktorsson, Tổng giám đốc Cơ quan pháp quy hạt nhân liên bang (FANR) của UAE, đã trả lời Gulf News trong một cuộc phỏng vấn độc quyền vào tháng 4 rằng việc xây dựng văn hóa an toàn trong ngành công nghiệp hạt nhân UAE là vấn đề tối quan trọng nhằm tránh cho đất nước một thảm kịch hạt nhân tái diễn khi phải đối mặt với những hiện tượng thiên tai khắc nghiệt.  “Một nền văn hóa an toàn mạnh mẽ là rất quan trọng đối với thành công của năng lượng hạt nhân tại UAE. Tại FANR, chúng tôi đã thấm nhuần các giá trị và cách hành xử về an toàn, đó là việc ưu tiên bảo vệ cư dân và môi trường UAE cao hơn bất kỳ lợi ích cạnh tranh nào”, ông Viktorsson cho biết. Vào năm 2015, ông mới trở lại chức vị Tổng giám đốc FANR. Với kinh nghiệm 10 năm hoạt động trong ngành công nghiệp hạt nhân ở Thụy Điển, Viktorsson cho biết, tổ chức FANR được thành lập để xây dựng và giám sát Tổng Công ty năng lượng hạt nhân Emirates (ENEC), cơ quan chủ quản các nhà máy hạt nhân của UAE, để ENEC đáp ứng những quy định an toàn được tăng cường nghiêm ngặt hơn trước khi các cơ sở hạt nhân đi vào hoạt động.  ENEC là chủ bốn lò phản ứng điện hạt nhân đang được xây dựng tại UAE với thời hạn hoàn thành vào năm 2020 để cung cấp đến một phần tư nhu cầu điện của quốc gia này hàng năm.  “Nhằm tránh xảy ra trường hợp như Nhật Bản, FANR đã yêu cầu  ENEC phải tiến hành đánh giá một cách chi tiết toàn bộ nhà máy sử dụng  phương pháp “kiểm thử khả năng chống chịu” (stress test) và phải báo cáo kết quả đánh giá và xác định rõ những cải tiến an toàn. ENEC đã hoàn thành việc đánh giá và báo cáo kết quả cho FANR, đồng thời đề xuất một số cải tiến thiết kế để bảo vệ các nhà máy điện trước các điều kiện ngoại cảnh cực đoan”, Viktorsson chia sẻ.  “Thẩm định những đề xuất cải tiến và thấy ENEC đã giải quyết những vấn đề về tính bền vững trong thiết kế của mình, FANR đã cấp giấy phép xây dựng cho lò phản ứng số 1 và số 2 vào tháng 7/2012 và lò phản ứng số 3 và số 4 vào năm 2014”.  Tạo ra một văn hóa an toàn định hướng cho mọi người tại nơi làm việc là một nền tảng rất quan trọng  cho mọi hoạt động – những nhân viên được đào tạo kỹ luôn cảnh giác và đề phòng những biểu diện mầm mống của tai nạn hạt nhân có thể xảy ra.  “Để tăng cường hơn nữa văn hóa an toàn hạt nhân, mỗi nhân viên làm việc trong các phòng điều khiển của nhà máy Barakah phải có đủ phẩm chất và phải trải qua các vòng kiểm tra của FANR kiểm tra”, Viktorsson nói. “Hiện nay, FANR đang xem xét và đánh giá hồ sơ xin giấy phép vận hành cho các tổ máy Barakah-1 và -2 của ENEC. Để thể hiện sự cam kết về văn hóa an toàn, FANR chỉ phê duyệt hồ sơ nếu ENEC đáp ứng đầy đủ từng yêu cầu của các quy định về an toàn và an ninh hạt nhân của UAE”.  Helen Rycraft, chuyên gia an toàn hạt nhân cao cấp của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế  (IAEA), trao đổi với Gulf News vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày xảy ra tai nạn Chernobyl rằng tai nạn lò phản ứng hạt nhân tại Ukraine cũng giúp tái định hình các biện pháp an toàn trong ngành công nghiệp hạt nhân thế giới.  “Tai nạn Chernobyl đem đến một bước ngoặt trong ngành công nghiệp hạt nhân, đặc biệt với vấn đề an toàn hạt nhân”, Rycraft cho biết. “Một trong những bài học được rút ra là để đảm bảo an toàn, không thể chỉ dựa vào công nghệ mà thái độ và hành vi của người quản lý và người lao động cũng đóng vai trò sống còn”.  Một báo cáo về tai nạn Chernobyl vào  năm 1991 đã dẫn tới sự chú ý tập trung vào văn hóa an toàn trong ngành công nghiệp hạt nhân, bà Rycraft cho biết.  ENEC cũng tổ chức một diễn đàn về an toàn hạt nhân với sự tham dự của các quan chức đứng đầu của ENEC, trong đó có mặt của một diễn giả đặc biệt, ông Naohiro Masuda, chủ tịch Công ty Kỹ thuật tẩy xạ và tháo dỡ Fukushima Daiichi.  Ông Masuda có một bài thuyết trình về những nỗ lực mà Nhật Bản đã thực hiện để cứu nhà máy Dainii thoát khỏi sự nóng chảy lõi lò phản ứng, hiện tượng xảy ra tại nhà máy Daiichi và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa hạt nhân vào năm 2011. Cả hai nhà máy này cùng nằm bên bờ biển Nhật Bản.  Bà Sheikha Lubna Al Qasimi, Phó Chủ tịch của ENEC, trong một bài phát biểu đề dẫn đã lưu ý rằng UAE đang đặt vấn đề an toàn lên hàng đầu từ những bài học kinh nghiệm của những tai nạn hạt nhân quốc tế. “Năng lượng hạt nhân rất an toàn và tin cậy, và tôi tự hào về khả năng lãnh đạo  của ENEC trong việc thu hút giới chuyên môn quốc tế hợp tác và chia sẻ kiến thức để chúng ta có thể cùng nhau thực hiện một chương trình hạt nhân đẳng cấp thế giới, an toàn và hiệu quả”.  Giám đốc điều hành của ENEC, ông Mohammad Al Hammadi cho biết: “Với tư cách là người vận hành chương trình điện hạt nhân, chúng tôi cam kết duy trì các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn và an ninh”.  Tiến triển xây dựng tại Barakah  Các quan chức của ENEC cho biết, việc xây dựng Barakah sẽ hoàn thành vào năm 2020. Khi cả bốn lò phản ứng được vận hành, cơ sở này sẽ cung cấp lên đến một phần tư nhu cầu điện của UAE và tiết giảm được 12 triệu tấn khí thải carbon mỗi năm.  “Dự án tại Barakah đang tiến triển đều đặn, tổ máy số 1 bây giờ đã hoàn thành hơn 87 %, tổ máy số 2 hoàn thành 68 %, tổ máy số 3 hoàn thành 47 % và tổ máy số 4 hoàn thành 29 %. Nhìn chung, việc xây dựng tổ máy số 1 đến tổ máy số 4 bây giờ đã hoàn thành hơn 62 %. Cả bốn tổ máy sẽ cung cấp năng lượng hạt nhân an toàn, sạch, đáng tin cậy và hiệu quả cho hệ thống điện của UAE, đang chờ  đánh giá về mặt pháp quy và cấp phép” ENEC cho biết.  Nguyễn Thị Thu Hà tổng hợp từ Gulf News, Abu Dhabi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện hạt nhân và tái cơ cấu quy hoạch dài hạn      Quy hoạch điện 7 và điện 7 hiệu chỉnh không chỉ đem lại sự đa dạng về cơ cấu điện năng mà còn tận dụng được thế mạnh của từng loại hình năng lượng. Tuy nhiên có những giải pháp công nghệ về nguồn điện mà trong giai đoạn lập Quy hoạch chưa thể có đủ căn cứ khoa học để bổ sung, vì vậy chưa nêu bật được những thành tố mới có tác dụng cú hích cho phát triển bền vững.      Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Nguồn: Zing New  Năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 (gọi tắt là qy hoạch điện 7) nhằm hướng đến một quy hoạch phát triển nguồn điện phong phú với các nguồn điện từ năng lượng tái tạo (thủy điện, điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối v.v…), nhiệt điện (nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên, nhiệt điện than) đến điện hạt nhân. Mục tiêu đề ra của Quy hoạch điện 7 là  đến năm 2020, thủy điện chiếm 23,1%; thủy điện tích năng 2,4%; nhiệt điện than 48,0%; nhiệt điện khí đốt 16,5% (trong đó sử dụng LNG 2,6%); nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 5,6%; điện hạt nhân 1,3% và nhập khẩu điện 3,1% 1.  Vào tháng 3/2016, trước những yêu cầu mới của tình hình kinh tế xã hội, Thủ tướng chính phủ đã bổ sung, điều chỉnh Quy hoạch điện 7 thành Quy hoạch điện 7 điều chỉnh (gọi tắt là quy hoạch điện 7+), trong đó phân định rõ cơ cấu nguồn điện theo các mốc thời gian 2020, 2025, 20302.  Vẫn phụ thuộc vào điện than   Theo QHĐ7+, điện than vẫn là nguồn năng lượng chủ lực, chiếm tỷ trọng từ 33% năm 2015 lên 50% vào năm 2020 và sau đó sẽ duy trì ở mức xấp xỉ trên 50% đóng góp cho lưới điện quốc gia. Về giá trị tuyệt đối, tổng sản lượng điện than tăng khoảng 1,3-1,6 lần sau mỗi thập niên. Hệ quả sẽ liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm của Việt Nam theo cam kết tại COP21 về Chống biến đổi khí hậu.          QH7+: Chỉ tiêu/năm      2020      2030      2040      2050          Tổng sản lượng điện      265,406 (100%)      571,752 (100%)      946,941 (100%)      1.348,615 (100%)          Thủy điện      66,765 (25,2%)      70,160 (12,3%)      68,988 (7,3%)      68,988 (5,1%)          Nhiệt điện than trong nước      84,100 (321,7%)      88,255 (15,4%)      88,200 (9,3%)      88,200 (6,5%)          Nhiệt điện than nhập khẩu      49,376 (18,6%)      229,109 (40,1%)      421,872 (44,5%)      580,038 (43,0%)          Nhiệt điện khí trong nước      44,693 (16,8%)      62,747 (11,0%)      62,900 (6,6%)      62,900 (4,7%)          Nhiệt điện khí nhập khí hóa lỏng (LNG)      0      21,705 (3,8%)      106,925 (11,3%)      135,773 (10,1%)          Thủy điện nhỏ và Năng lượng tái tạo (NLTT)      14,112 (5,3%)      60,587 (10,6%)      125,162 (13,2%)      271,200 (20,1%)          Điện hạt nhân (ĐHN)      0      32,534 (5,7%)      66,239 (7,0%)      134,862 (10,0%)          Nhập khẩu      6,360 (2,4%)      6,655 (1,2%)      6,655 (0,7%)      6,655 (0,5,%)                                                       Bảng Sản lượng điện đóng góp từ các nguồn khác nhau (đơn vị: tỉ kWh) được dự báo trong QHĐ7+  Vốn đầu tư cho xây dựng nhiệt điện than theo kiểu truyền thống  tương đối rẻ, thời gian chuẩn bị và xây dựng khá ngắn, dù sau đó phải chi phí lớn và lâu dài cho công tác vận hành và xử lý môi trường.  Than là nguồn khoáng sản đáng kể của Việt Nam và là nguồn nhiên liệu còn khá dồi dào so với dầu khí. Vì vậy nhiệt điện than vẫn cần thiết để đảm bảo một tỉ phần đóng góp hợp lý, ví dụ giữ ở mức than khai thác nội địa có thể đáp ứng, không phải nhập khẩu.  Tuy có những ưu điểm như vậy nhưng nhiệt điện than và các ngành công nghiệp đốt than như luyện thép, xi măng là một trong những nhân tố tạo ô nhiễm khí nhà kính CO2. Chúng sinh ra các sol – khí bụi phổi kích thước nhỏ mà hệ hô hấp không thể tự lọc được, trong sol khí có một thành phần quan trọng là các chất gây mưa a xít SO2 và NOX. Cuối cùng vẫn phải kể đến bụi và xỉ than, mỗi năm nhà máy nhiệt điện than lớn có thể thải ra đến cả triệu tấn xỉ và bụi. Xỉ chứa hàm lượng rất cao các kim loại nặng và các nguồn phóng xạ vốn dĩ khá loãng trong tự nhiên. Việc phải chôn xỉ than lâu dài dẫn đến nguy cơ tích tụ và phát tán vào nước ngầm các kim loại nặng độc hại và gây ô nhiễm phóng xạ gấp 2 đến 10 lần so với phông phóng xạ tự nhiên, ảnh hưởng đến sức khỏe con người trong những vùng dân cư rộng lớn. Mưa a xít còn tác động xa hơn, và khí nhà kính “đóng góp” vào quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu.  Tại Hội nghị chống biến đổi khí hậu COP21 ở Paris cuối năm 2015, Việt Nam đã cam kết sẽ tích cực và nghiêm túc thực hiện các biện pháp tổng hợp để cắt giảm khí nhà kính, trong đó có trồng rừng, tiết kiệm năng lượng, tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo (NLTT), áp dụng những công nghệ năng lượng mới nhất, hiện đại nhất không phát thải CO2 (hàm ý phát triển ĐHN), vv… Cụ thể Việt Nam sẽ giảm ít nhất 8% khí CO2 vào năm 2030 và có thể hơn thế nếu có sự hỗ trợ giúp đỡ của cộng đồng quốc tế.  Đấy là một cam kết thể hiện trách nhiệm quốc tế của một nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa. Khi thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm, Việt Nam cũng mong muốn cộng đồng quốc tế sẽ ưu tiên giúp đỡ ủng hộ để vượt qua nguy cơ do biến đổi khí hậu toàn cầu, bởi vì Việt Nam là một trong những nước bị thiệt hại nặng nề nhất do nước biển dâng trong quá trình nóng lên toàn cầu.  Nhưng liệu với những dự báo QHĐ7+ chúng ta có thể đạt được mục tiêu đó không? Chắc chắn là rất khó khăn, dù tỉ lệ nhiệt điện than có giảm từ 55% xuống 50% sau khi có bù trừ nhờ ĐHN.  Ngược lại, sản lượng điện than tăng lên đến 2 lần từ năm 2030 đến 2050. Dự báo đến năm 2030, mỗi năm chúng ta sẽ phải nhập tới 100 triệu tấn than, vừa đắt lại vừa đòi hỏi cả một hệ thống trung chuyển khổng lồ gồm các cảng biển, đường sắt, kho chứa và bãi thải xỉ, vv… Dự báo, khối lượng đó sẽ tăng gần gấp đôi vào năm 2050.  Ở Trung Quốc, cách đây 10 năm, nhiệt điện than từng có lúc chiếm đến 80% tỉ phần sản xuất điện năng khi kinh tế quốc gia này liên tục tăng trưởng nóng. Giờ đây họ phải giải quyết hậu quả môi trường với giá còn đắt hơn nhiều. Cách đối phó căn bản nhất là phải thay đối cơ cấu nguồn phát điện, Trung Quốc xây dựng các nhà máy ĐHN kết hợp với phát triển các nguồn NLTT để thay thế, đẩy lùi nhiệt điện than. Nhưng dù như vậy họ sẽ phải mất vài chục năm để đưa lại được một thế phát triển cân bằng bền vững.  Tiềm năng của năng lượng tái tạo   Trong QHĐ7+, các loại hình năng lượng tái tạo (NLTT) được đề cập đến với mục tiêu tạo đột phá trong việc đưa nguồn NLTT góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu tác động tới môi trường trong sản xuất điện. Tuy vậy chúng ta cũng không thể phụ thuộc hoàn toàn vào NLTT bởi nhiều lý do.  Thứ nhất, giá thành của điện mặt trời, điện gió rất đắt, cần phải có sự trợ giá của chính phủ mới có thể khuyến khích người dân sử dụng. Điện mặt trời chiếm dụng diện tích lớn hơn gần 10 lần so với các nhà máy nhiệt điện có công suất tương đương, điện gió có thể tận dụng diện tích trên mặt biển nhưng vốn đầu tư xây dựng các turbin trên biển lại cao hơn so với đất liền.  Thứ hai, các nguồn NLTT đều bị phụ thuộc thiên nhiên trong khi nắng tăng giảm theo ngày, gió theo tháng và thủy văn theo mùa vụ. Vì vậy trong vận hành phân phối điện phải có một tỉ trọng lớn các nguồn phát phải đảm bảo công suất lớn và ổn định làm phụ tải nền, trên nền đó mới là phụ tải đỉnh với công suất thay đổi theo thời gian tùy nhu cầu sử dụng điện thực tế. Phụ tải nền chủ yếu lấy từ nhiệt điện (than, dầu, khí hoặc ĐHN) và một phần từ thủy điện lớn, các nguồn phát không ổn định (thủy điện nhỏ, điện gió, mặt trời) chỉ đóng góp rất hạn chế vào phụ tải nền. Như vậy không bao giờ chúng có thể thay thế toàn bộ nguồn phát như một số người nghĩ.  Trên thế giới có Đan Mạch dự định sẽ dùng 100 % NLTT (gió và mặt trời) nhưng đấy là một đất nước rất phát triển, dân số ít, không khó gì để đầu tư cho kế hoạch như vậy với điều kiện giá điện đắt gấp 2 đến 3 lần mức trung bình. Đặc biệt, Đan Mạch ở châu Âu, nơi có một hệ thống điện thống nhất giữa các quốc gia nên có thể bổ sung thêm nguồn điện năng từ các quốc gia khác nhằm đáp ứng nhu cầu phụ tải. Đối với các nước có dân số khoảng 50 triệu trở lên, không ai chọn giải pháp này.  Nhật Bản rất quan tâm NLTT vẫn phải nhập than và cố khôi phục lại ĐHN. Ngay cả Đức tuy tuyên bố sẽ bỏ ĐHN và thay bằng điện gió, nhưng hiện nay, họ vẫn duy trì vận hành 8 nhà máy ĐHN cho đến khi hết tuổi, họ còn đang mua điện của Pháp (quốc gia sản xuất chủ yếu là ĐHN, gần 80%) và chắc chắn Đức phải bổ sung thêm điện than mới đáp ứng đủ nhu cầu.  Vai trò điện hạt nhân?   Sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế, Việt Nam đã lựa chọn con đường phát triển với mục tiêu cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp hóa vào thập niên 2020. Phát triển tăng trưởng thì tất yếu phải có “điện đi trước một bước”, điều đó đã diễn ra suốt 20 năm qua. Do đó, sản lượng điện thường tăng khoảng gấp đôi sau 10 năm, tốc độ tăng thường vượt trước tốc độ tăng GDP từ 1,5 đến 2 lần để đón đầu đáp ứng những đỉnh tăng trưởng kinh tế vượt mức. Xu thế này sẽ điều chỉnh dần, khi tiến đến một nền kinh tế công nghiệp hóa có trình độ cao, không còn tăng trưởng quá nóng và với quan điểm hiện đại hóa, ưu tiên các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao không tiêu hao nhiều năng lượng. Như vậy cần xây dựng ngành năng lượng ngày càng đảm bảo yếu tố hiệu quả, tiết kiệm đến mức thông minh, với mục tiêu vừa làm bàn đạp an ninh năng lượng cho CNH-HĐH, nhưng phải bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững.    Anhe: Lò phản ứng tiên tiến thử nghiệm tại Phòng thí nghiệm quốc gia Idaho (Mỹ)  Trong bối cảnh như vậy, khi nhìn nhận về điện hạt nhân, chúng ta thấy rằng xét về yếu tố kinh tế kỹ thuật, xây dựng một nhà máy ĐHN đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài hơn so với nhiệt điện than. Tuy nhiên, ĐHN vừa tạo công suất lớn nhất và ổn định, vừa tiết giảm tỉ lệ chi phí vận hành rất thấp. Nhiều người lo ngại giá thành ĐHN cao, khó đạt hiệu quả kinh tế. Đúng là do nâng cấp chất lượng an toàn công nghệ ĐHN thế hệ 3+ chắc chắn làm tăng vốn đầu tư, nhưng tuổi thọ lò phản ứng cũng tăng đáng kể từ 40 năm lên 60 năm. Trong nghiên cứu khả thi dự án ĐHN Ninh Thuận, chúng ta đã phải tính đủ, kể cả chi phí dự phòng cho xử lý bảo quản nhiên liệu, tháo dỡ sau khi nhà máy hết tuổi thọ, trích phí bảo hiểm để tham gia hợp tác quốc tế trong tình huống sự cố v.v. Kết quả là nếu chúng ta tiếp nhận được bản hợp đồng với giá thành hợp lý thì hoàn toàn có thể đạt hiệu quả kinh tế tốt. Đối với những dự án tiếp theo sau khi đã có kinh nghiệm và từng bước làm chủ công nghệ, vốn đầu tư sẽ giảm và hạch toán kinh tế sẽ dần tăng hiệu quả.  Gần đây, có những thông tin cho rằng ĐHN đang giảm hoặc sẽ bị loại trừ khỏi danh sách các nguồn phát điện trên thế giới. Cần tiếp nhận những thông tin này một cách thận trọng và khách quan, bởi các tiếng nói uy tín và không chuyên biệt về năng lượng hạt nhân như Tổ chức Năng lượng Quốc tế (IEA) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều dự báo từ nay đến năm 2050, tổng công suất ĐHN sẽ tăng lên hơn 2 lần (từ gần 400 GW lên 930 GW) và tỉ lệ đóng góp vào điện năng cũng tăng 2 lần.  Chúng ta hãy phân tích cụ thể năng lực khả thi của ĐHN chống biến đổi khí hậu. Trước hết, phải thấy rằng tất cả các nguồn nhiệt điện bằng nhiên liệu hóa thạch đều phát thải khí nhà kính, riêng ĐHN hoàn toàn không thải CO2 hoặc các sol-khí.  Nếu như nguồn thủy điện lớn đến nay đã hết, ĐHN có thể xây dựng liên tục, không bị hạn chế về số lượng và mỗi nhà máy có công suất rất lớn, bằng hoặc mạnh hơn toàn bộ hệ thống thủy điện Sơn La – Lai Châu. Diện tích chiếm dụng của một nhà máy ĐHN công suất 4000-6000 MW chỉ khoảng 2 km2. Nhiên liệu đầu vào hàng năm cho nhà máy khoảng 100-200 tấn, so với vài triệu tấn than nhập khẩu cho mỗi nhà máy điện than lớn. Lượng nhiên liệu hạt nhân hàng năm đốt ra không quá 200 tấn nên ngay tại nhà máy hoàn toàn có thể đặt kho chứa trung chuyển quản lý chúng chặt chẽ và an toàn tuyệt đối trong hàng chục năm, trước khi đưa đi xử lý tái chế và cất giữ dài hạn.  Một nguồn phát lớn như vậy khi vận hành ổn định ở công suất cực đại mà người dân sống quanh đó hoàn toàn không bị bất kỳ tác động nào của phóng xạ hoặc hoặc khí nhà kính và bụi ô nhiễm khác. Đó là một hệ thống năng lượng sạch lý tưởng để thay thế cho điện than. Theo phân tích của Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), năm 2030 nếu có đóng góp của ĐHN với tỉ lệ sản lượng 5,7% thì có thể làm giảm ô nhiễm môi trường trong năm do nhiệt điện than gây ra như sau:    Nhưng như tình hình hiện nay dự báo trong QHĐ7+, nhu cầu cần tiết giảm nhiệt điện than mạnh mẽ hơn là rất cấp bách. Sau QHĐ7+, chúng ta cũng thấy những khả năng tiềm tàng khác của năng lượng hạt nhân.  Thứ nhất là từ năm 2030 trở đi khi chúng ta có kinh nghiệm xây dựng và quản lý các nhà máy ĐHN lớn, cần phải tăng tỉ lệ đóng góp của các lò ĐHN thế hệ 3+ nhanh hơn để thay cho điện than, sao cho đóng góp chung của hai nguồn này luôn giữ khoảng 60% cho đến năm 2050 như QHĐ7+ dự báo.  Thứ hai là cần phải tính đến khả năng xây dựng các nhà máy ĐHN mô đun nhỏ thế hệ thứ 4 (công suất 100 đến 300 MW) sẽ được thương mại hóa khoảng từ năm 2040 trở đi. Chúng không thay thế các nhà máy lớn thế hệ thứ 3+, nhưng có thể dễ dàng thế vào địa điểm các tổ máy nhiệt điện than khi đó vừa đủ tuổi đóng cửa.  Bằng hai mũi nhọn đó đã có thể giảm nhanh tỉ lệ nhiệt điện than chỉ còn xấp xỉ 33% như năm 2015 (nhưng chưa giảm được sản lượng tuyệt đối).  Từ sau năm 2060 rất có thể hy vọng sẽ có những công nghệ nguồn sạch cách mạng hơn vào cuộc, ví dụ như điện nhiệt hạch (cũng là một loại ĐHN) kết hợp NLTT với giá rẻ và điều tiết thông minh. Khi đó ở quy mô diện rộng mở ra khả năng giảm các nhà máy nhiệt điện than đến một mức hợp lý nhất.  Như vậy ĐHN là một lựa chọn rất cần được xem xét nhằm đảo ngược tình thế, tiết giảm nhiệt điện than. Xu thế cho thấy ĐHN kết hợp cùng NLTT có thể là giải pháp phát triển bền vững. Tất nhiên để đáp ứng bài toán chống biến đổi khí hậu, cần có thêm các biện pháp tổng lực tích hợp với: tiết kiệm năng lượng toàn diện, phủ xanh rừng và giảm dần tăng trưởng nóng khi đạt mức kinh tế phát triển. Đấy là các biện pháp và bước đi hiện thực để đất nước phát triển bền vững 40- 50 năm sau.  Điện hạt nhân có an toàn?     Rosatom đang lắp đặt thiết bị thùng lò phản ứng cho Belarus  Dư luận xã hội hiện nay vẫn còn e ngại về độ an toàn của ĐHN, nhất là sau vụ tai nạn nhà máy điện Fukushima. Đây là lo ngại chính đáng. Tuy vậy với sự phát triển của công nghệ, các lò phản ứng hạt nhân thế hệ 3+ đều được nâng cao về tính an toàn, ví dụ công nghệ AES-2006 mà Việt Nam dự định sử dụng trong Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 hợp tác với Liên bang Nga có khả năng tự động quản lý tích hợp, đủ năng lực loại trừ hoàn toàn tai nạn phát thải phóng xạ ra môi trường.  Đã có ý kiến đặt giả thiết về một thảm họa hạt nhân với nguy cơ vùng Ninh Thuận và liền kề bị ô nhiễm phóng xạ khiến đất nước ta bị chia cắt trong một thời gian dài. Nhưng với công nghệ hiện đại và quản lý vận hành chặt chẽ thì đó chỉ là một giả thiết cực đoan giống như xác suất thiên thạch rơi vào trái đất gây ra các vụ nổ lớn, tiêu hủy cuộc sống. Một nhà máy ĐHN hiện đại, ví dụ với công nghệ AES-2006 không bao giờ chuyển đột ngột sang trạng thái tai nạn cực đoan mà không thông qua một quá trình diễn biến lô gic mà khoa học hiện nay hoàn toàn có thể mô phỏng. Thiết kế AES-2006 đạt tiêu chuẩn Châu Âu và đã được thẩm định, cấp phép. Hiện nay AES-2006 đã vận hành tại Novovoronhetz, đang xây dựng tại St.Peterburg (Liên bang Nga), Belarus, chuẩn bị xây dựng tại Hungary, Phần Lan v.v. Xu thế phát triển ĐHN rất mạnh ở các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và tinh thần tiên phong của các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Nga, Pháp, Anh càng củng cố cho chúng ta niềm tin vào chất lượng an toàn và hiệu quả kinh tế-công nghệ của các nhà máy ĐHN thế hệ mới.  Ngoài ra, nhìn nhận một cách tổng thể hơn, điện hạt nhân không chỉ đơn thuần tạo ra nguồn điện ổn định và bền vững cho đất nước mà còn có khả năng đem lại những cú hích quan trọng để phát triển những ngành khoa học và kinh tế khác. Đó là một công nghệ có hàm lượng tri thức cao nhất trong các công nghệ năng lượng hiện nay. Hãy thử tưởng tượng, một tổ lò phản ứng tuy không chiếm nhiều diện tích nhưng lại tạo ra công suất điện khổng lồ tới hàng nghìn MW. Trong không gian đó có khoa học hạt nhân với các hiểu biết về lượng tử, hóa học, sinh học hiện đại, với các hệ thống phản ứng, thủy nhiệt động lực, được điều khiển vận hành cực kỳ thông minh gồm cơ khí chính xác, điện tử, công nghệ phần mềm, tự động hóa, các hệ thống bảo quản, xử lý tối ưu, vv… Nhân lực quản lý và vận hành ĐHN đều phải có trình độ chuyên sâu, có năng lực thực tiễn và có phẩm chất tốt.  Với quan điểm phát triển năng lượng như vậy, điện hạt nhân cần trở thành một nhân tố quan trọng trong cơ cấu điện năng Việt Nam.  ——————————————————————————-  1. Quy hoạch điện 7: http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quyet-dinh-1208-QD-TTg-phe-duyet-Quy-hoach-phat-trien-dien-luc-quoc-gia-126942.aspx  2. Quy hoạch điện 7 điều chỉnh: http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-428-QD-TTg-de-an-dieu-chinh-quy-hoach-phat-trien-dien-luc-quoc-gia-2011-2020-2030-2016-306608.aspx    Author                Võ Văn Thuận        
__label__tiasang Điện không dây cho mọi nhà      Điện thoại di động có thể sạc khi  đang trong túi của bạn, TV màn hình phẳng không hề có dây  điện, ô tô chạy điện được nạp năng lượng qua một tấm bảng không  dây nằm trên sàn nhà: tất cả những thiết bị này đều đang hiện hữu trong  một tòa nhà không biển hiệu ngay ở ngoại ô thành phố Boston, báo hiệu  cho chúng ta về một tương lai không dây.    WiTricity, một công ty hình thành từ ứng dụng nghiên cứu của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), hướng tới định dạng lại cách con người sử dụng năng lượng, cho phép nạp điện vào các thiết bị mà không cần kết nối với ổ cắm. Trong phòng thí nghiệm của WiTricity, nhiều thiết bị được truyền tải điện qua không khí từ những cuộn dây điện xoắn.    Cắm điện trở thành thao tác ảo   “Không khó để hình dung rằng trong ít năm tới, bạn có thể đi tới một quán cà phê, ngồi xuống một chiếc ghế, truy cập vào một vùng truyền tải điện, và cứ thế sạc chiếc điện thoại hay laptop của mình”, theo lời Richard Martin, trưởng ban biên tập của Pike, một nhóm nghiên cứu thị trường chuyên sâu về các giải pháp năng lượng thông minh. “Chúng tôi dự đoán công nghệ này sẽ bắt đầu theo cách tương tự như cách khởi đầu của internet không dây (Wi-fi) cách đây khoảng một thập kỷ.   Martin cho rằng tiềm năng ứng dụng công nghiệp của truyền tải điện không dây là vô cùng lớn, đặc biệt là đối với các thiết bị như ô tô điện hay các cảm ứng không dây, ở những nơi môi trường khó khăn cho việc kết nối điện qua dây. Bên cạnh đó, anh cho rằng truyền tải điện không dây thường thuận tiện hơn và thân thiện với môi trường hơn so với cách cắm điện qua ổ cắm thông thường.  “Rõ ràng có rất nhiều thị phần có thể lấp đầy trong lĩnh vực này”, Martin nói.   Eric Giler, Giám đốc của WiTricity hình dung về một tương lai nơi các thiết bị truyền điện đều nằm chìm trong tường và dưới thảm các căn nhà, biến chúng thành những hộ gia đình thực sự không dây. Ông cho rằng với một nguồn cung cấp điện đủ lớn và những bộ phát lặp (repeater) không dây cỡ nhỏ, người ta có thể vận hành cả một cửa hàng tạp hóa hoặc một tòa nhà văn phòng theo cách không dây.   Các thiết bị sạc điện thông thường như dây điện của điện thoại di động sử dụng cảm ứng điện từ để truyền tải điện. Qua cảm ứng điện từ, một dòng điện được truyền qua trường điện từ được tạo bởi vật dẫn điện, tới thiết bị tiếp nhận điện có trường điện từ thấp hơn.  “Hãy so sánh với bàn chải chạy điện chẳng hạn”, Giler nói. “Nó hoạt động rất hiệu quả, nhưng vấn đề là nó chỉ có thể truyền tải điện không dây trong phạm vi vài inch”.  Các thiết bị của WiTricity cũng chia sẻ năng lượng qua trường điện từ. Tuy nhiên, không giống như các thiết bị như bàn chải chạy điện hay dây cắm iPod, các thiết bị của WiTricity sản sinh ra các trường điện từ qua một tiến trình gọi là kết nối cộng hưởng từ, cho phép điện được truyền tải qua khoảng cách vài m.   Kết nối cộng hưởng là một khái niệm mà chúng ta có thể thường gặp trong cuộc sống. Một ca sỹ opera có thể làm vỡ ly rượu vang bằng cách hát một nốt đơn với một tần số trùng với cộng hưởng âm của ly rượu.  Nhà sáng lập WiTricity đồng thời là giáo sư vật lý của MIT, Marin Soljačić từng nảy sinh thắc mắc liệu điện có thể được truyền từ trong tường tới một thiết bị điện theo cách tương tự, khi ông bị đánh thức vào một đêm năm 2007 bởi tiếng bíp phát ra từ chiếc điện thoại di động sắp cạn pin của vợ.  Ông đã làm thí nghiệm với hai vật cộng hưởng điện từ rung tại một tần số nhất định và thấy rằng chúng có thể chia sẻ điện qua trường điện từ ở một khoảng cách lớn hơn nhiều so với các thiết bị từ thông thường. Sau đó kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố trên tạp chí Science vào cùng năm, và WiTricity được sớm thành lập sau đó nhằm phát triển công nghệ này vì mục đích thương mại.  Hi vọng cho thị trường ô tô điện?  Giler cho rằng những vật liệu như gỗ, gạch, và bê tông về cơ bản không cản lại từ trường, cho phép hai thiết bị WiTricity có thể truyền điện qua, với dung lượng từ vài miliwatt tới vài kilowatt.  Do các hộ gia đình có rất nhiều thiết bị điện, người ta lo ngại rằng việc tiếp xúc với bức xạ điện từ của các thiết bị này có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Nhưng Giler khẳng định rằng công nghệ của WiTricity là an toàn. Trong khi cơ thể con người phản ứng rất mạnh lại điện trường (cùng loại với phản ứng của thịt gà hay bít tết khi ta nấu chúng trong lò vi sóng), Giler nói rằng cơ thể con người sẽ không hấp thụ điện của từ trường ở mức thấp như ở các thiết bị WiTricity.   “Nếu bạn tồn tại được bình thường trong môi trường bình thường của Trái đất, thì tức là bạn sẽ an toàn với các thiết bị của WiTricity”, ông khẳng định. “Công nghệ của chúng tôi tạo ra ít bức xạ hơn từ trường của Trái đất; nó an toàn hơn hàng trăm lần so với điện thoại di động, và tạo lượng bức xạ thấp hơn một triệu lần so với máy chụp cắt lớp MRI”.  Ông cho biết WiTricity hiện đang phát triển các thiết bị điện không dây, từ điện thoại dạng iPhone tới các thiết bị y tế cấy vào có thể, hay các robot quân sự. Cả Giler và Martin cùng cho rằng ngành công nghiệp ô tô điện sẽ là mảng thị trường hưởng lợi đầu tiên từ công nghệ truyền tải điện không dây.   “Ngành công nghiệp ô tô điện đã nhận ra rằng mọi người sẽ không dùng ô tô điện nếu họ cứ phải liên tục cắm dây vào ổ sạc”, Giler nói. “Chúng tôi đang tìm cách giúp việc sạc điện cho ô tô cũng thuận tiện như bơm xăng ở trạm xăng”.  Trên thanh chắn chống va của một chiếc ô tô điện 2 cửa hiệu BMW, WiTricity cài một cuộn dây điện xoắn có khả năng thu điện từ cái cộng hưởng cài trên sàn bên dưới ô tô. Hệ thống này có thể truyền tải tới 3300 watt mỗi giờ và cần từ 4 tới 6 tiếng để sạc đầy cho xe.  Một báo cáo nghiên cứu thị trường của Pike gần đây dự đoán rằng hệ thống sạc không dây sẽ tạo ra khác biệt lớn cho thị trường ô tô điện vốn lâu nay bị trầm lắng trên toàn thế giới, giúp tăng doanh thu ô tô điện từ 120 nghìn năm 2012 lên mức 280 nghìn vào cuối thập kỷ này. Martin cho rằng lý do chủ yếu sẽ là sự đầu tư lớn cho công nghệ từ các nhà sản xuất ô tô điện. Ông dự đoán rằng khi hệ thống mới trở nên phổ biến ở các thành phố và thị trấn, sự gia tăng thuận tiện của việc không phải cắm dây điện vào ổ sẽ khiến lựa chọn mua ô tô điện trở nên dễ chịu hơn đối với những khách hàng theo thiên hướng tìm kiếm tiện nghi.  Martin cho biết rằng điện không dây hiện đang được sử dụng ở cả Mỹ lẫn các nước khác trong những hệ thống mang tính thử nghiệm. Ở Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đang dùng các bảng năng lượng trên các tuyến đường xe buýt giả lập để thử cung cấp năng lượng cho phương tiện chuyên chở này. Còn tại trụ sở Google ở California, điện không dây được sử dụng miễn phí cho mọi nhân viên đi ô tô điện.   Ở châu Âu, nhà phát triển năng lượng không dây Qualcomm gần đây đã khởi động một dự án hai năm phối hợp với Renault để thử nghiệm tính khả thi của việc cài điện không dây trên đường. Dự án có tên gọi Halo, có cơ cấu gồm các cuộn dây cảm ứng được đặt trên đường và dưới bụng ô tô. Khi một chiếc xe chạy qua các đoạn đường có cài cuộn dây cảm ứng, nó sẽ được tiếp thêm năng lượng.  Việc xẻ đường giao thông để cài đặt hệ thống truyền năng lượng cho ô tô điện sẽ tốn nhiều tỷ USD và nhiều thập kỷ, nhưng Martin dự kiến không lâu nữa người ta sẽ xây những trạm truyền năng lượng tại các điểm dừng tín hiệu giao thông, hay các điểm đỗ xe buýt.  “Điều đó không khó để hình dung”, Martin nói. “Tương tự như với các nhà cung cấp Internet không dây, đơn giản là bạn chỉ đăng ký nhận một dịch vụ cụ thể, và hệ thống sẽ tự động thu tiền của bạn khi bạn tiếp nhận năng lượng từ một trạm cung cấp, hay các bảng tiếp dẫn trên đường.  Theo   http://news.nationalgeographic.com/news/energy/2012/12/121228-wireless-power/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời sẽ rẻ hơn nhiệt điện      Một trò chơi trẻ con hầu như ai cũng biết:  để ánh sáng mặt trời rọi qua một cái kính lúp, điểm hội tụ ánh sáng xuất  hiện sau kính có thể đốt cháy một cái lá, một mảnh giấy hay một mẩu  gỗ. Tương tự với cơ chế hoạt động này, một công nghệ mới về điện mặt  trời không lâu nữa sẽ được tung ra thị trường.     Các nhà chế tạo kết hợp hàng trăm kính lúp đặc biệt (có khả năng tích tụ và tăng lượng ánh sáng chiếu tới lên gấp 500 lần) với tế bào quang điện thành những module có diện tích lớn rồi lắp chúng trên những thanh dựng đứng hướng về phía mặt trời. Công nghệ được gọi là “quang điện tập trung” này có thể biến 30% ánh sáng mặt trời thành điện năng, cao gấp đôi so với những tấm tế bào quang điện lắp trên mái nhà hiện nay.       Công nghệ quang điện tập trung chủ yếu được phát triển ở Đức, và theo Viện nghiên cứu thị trường IMS Research thì đến năm 2016, giá thành của điện mặt trời theo công nghệ này sẽ thấp hơn 30% so với các công nghệ điện mặt trời khác.   Ở một số khu vực, trong tương lai gần, giá điện mặt trời sẽ rẻ hơn so với nhiệt điện. Ông Russ Kanjorski, Phó Giám đốc phát triển kinh doanh của US-Solarstartup Semprius, cho hay, năm tới giá thành sản xuất điện [mặt trời] của họ ở mức dưới 10 cent/ kWh, và theo lộ trình sẽ xuống còn khoảng 7 cent/kWh.   Tuy nhiên công nghệ quang điện tập trung có một điểm yếu, nó chỉ có thể áp dụng tại những vùng có nhiều ánh sáng trời, vì khi trời âm u thì công suất của module nói trên chỉ bằng không. Những vùng thích hợp nhất với công nghệ mới này là các nước ở châu Phi, Trung Đông và Nam Á, hay một số vùng ở miền nam Trung Quốc và Hoa Kỳ.   Cuộc cách mạng điện mặt trời ở A-rập Xê-út  Với công nghệ quang điện tập trung, nhiều nhà sản xuất đang nuôi ý đồ thâm nhập thị trường A-rập Xê-út. Một công ty con của hãng sản xuất bán dẫn Soitec của Pháp là Soitec Solar ở Freiburg tiết lộ, hãng đã xây dựng thí điểm ở 18 nước các nhà máy điện mặt trời theo công nghệ này với công suất vài, ba Kilowatt.   Soitec Solar cũng cho biết, họ đã nhận được hợp đồng xây dựng một nhà máy điện mặt trời tập trung với công suất 1- Megawatt ở A-rập Xê-út. Quốc gia sa mạc này xưa nay chủ yếu dùng dầu để sản xuất điện. Giờ A-rập Xê-út muốn dành dầu để xuất khẩu và tận dụng nguồn năng lượng mặt trời dồi dào của mình. Một lợi thế đặc biệt quan trọng của nhà máy quang điện tập trung là có thể xây dựng từng bước một, tức là có thể xây dựng module này kế tiếp module khác. Do đó, khi có nhu cầu, nhà máy có thể nhanh chóng được mở rộng. Hansjörg Lerchenmüller, Giám đốc điều hành Soitec Solar, cho biết: “Chúng tôi mỗi tháng có thể lắp đặt thêm hàng trăm Megawatt.”  Theo tính toán của Viện nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ SPV, trong năm 2016, nhu cầu thị trường điện mặt trời tập trung sẽ ở mức từ 300 đến 750 Megawatt. Các nhà phân tích thuộc IMS Research thậm chí còn lạc quan hơn: họ cho rằng trong năm 2016 sẽ xây dựng mở rộng thêm các nhà máy điện mặt trời tập trung với công suất 1 – 2 Gigawatt.  Tế bào quang điện hiệu suất cao  Trong công nghệ quang điện tập trung, tế bào quang điện là yếu tố quan trọng nhất. Mới đây, Azur Space, nơi chế tạo tế bào quang điện cho Soitec Solar, đã tạo một kỷ lục thế giới – chế tạo tế bào quang điện đạt hiệu suất 43,3%. Gerhard Strobl, người phụ trách mảng phát triển kinh doanh của Azur Space, cho rằng: “Đến năm 2020 chúng tôi đưa hiệu suất này lên 50 %.” Khi lắp thành module, hiệu suất của các tế bào quang điện vẫn cao hơn 40%.    Loại tế bào quang điện hiệu suất cao xuất hiện trong quá trình nghiên cứu vũ trụ: Khoảng mười năm nay, Azur Space là nhà cung cấp các tế bào quang điện dùng để lắp đặt trên các vệ tinh.   Azur Space sử dụng loại nguyên liệu mới Galliumarsenid thay thế cho nguyên liệu Silizium phổ biến từ trước đến nay, nhờ đó, các tế bào quang điện mới có thể đạt hiệu suất sử dụng cao như trên, điều này có ý nghĩa quyết định đối với ngành du hành vũ trụ cần điện năng cao mà lại tiết kiệm không gian.  Giới chuyên gia cho rằng: “Sự bùng nổ điện mặt trời cho tới nay thực chất mới chỉ là màn dạo đầu, giờ đây năng lượng mặt trời mới bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ.”  Trong tương lai gần, không phải chỉ có những nước ở khu vực dư thừa ánh sáng trời mới được hưởng lợi từ công nghệ điện mặt trời. Liên minh công nghiệp Desertec Industrial Initiative dự kiến sẽ xây dựng nhiều nhà máy điện mặt trời khổng lồ ở Bắc Phi và chuyển loại năng lượng sạch này về châu Âu qua hệ thống truyền tải điện siêu cao áp.  XH dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện mặt trời-du kích      Với hệ thống “Guerilla-Photovoltaik” (tạm dịch  Du kích-quang điện) nhỏ gọn và linh hoạt, giờ đây, những ai có một mảnh sân thượng,  một mảnh vườn nhỏ hoặc ban-công đủ rộng đều có thể tự tạo ra điện.     Loại nhà máy điện mini này có thể có thể có tới sáu module, một bộ biến tần (inverter), và một bình ắc-quy để tích điện. Nhà máy điện mini kết nối vào hệ thống điện gia đình qua một ổ cắm bình thường. Điều này có nghĩa là người dân sử dụng điện mà họ tự tạo ra, ngay tại nơi họ sinh sống, qua đó hạ được chi phí tiêu thụ điện năng.  Theo quảng cáo của các doanh nghiệp như Sun Invention hay GP Joule, đều của Đức, những module này có thể lắp đặt ở những nơi có đủ diện tích cho chúng – trên sân thượng, ngoài vườn thậm chí trên ban-công. Khi chuyển nhà, người ta có thể tháo lắp rất nhanh và đơn giản. Chủ nhân của hệ thống điện mini không cần phải đăng ký hay xin phép nhà phân phối điện ở nơi mình cư trú.   Vào những ngày mặt trời chiếu sáng thì công suất của một module đạt khoảng 150 đến 200 Watt. Chỉ cần một module là cung cấp đủ điện chạy một máy lạnh và hệ thống standby cho các thiết bị điện dùng trong gia đình.   Hiện trên thị trường một module có giá 500 Euro. Nếu được đặt ở vị trí thuận lợi, nhà máy điện mini mỗi năm bình quân tạo ra 180 kWh và sau mười năm thì hết khấu hao; nếu giá điện tăng thì thời gian khấu hao còn ngắn hơn nữa.  Nhà máy điện mini được đánh giá là một phương án hay, tuy nhiên theo Hiệp hội Kỹ thuật điện, Điện tử và công nghệ tin học của Đức, phương án này tiềm ẩn những yếu tố rủi ro. Nếu đấu điện trực tiếp vào ổ cắm của các hộ gia đình, có khi đường dây dẫn điện bị quá tải dẫn đến cháy nổ.   Tuy nhiên chuyên gia của Sun-Invention, ông Toralf Nitsch, coi cảnh báo này là không có cơ sở vì khi sử dụng sáu module sẽ không thể dẫn đến quá tải. Chỉ khi nào nhiều nhà máy điện mini cùng dẫn qua một ổ cắm thì mới có nguy cơ cháy nổ vì quá tải.     Nguyễn Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện sa mạc      Những nhà máy điện – gương khổng lồ trên vùng sa mạc quanh Địa Trung hải có thể giúp châu Âu không còn phụ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga cũng như biến động giá dầu trên thế giới. Công nghệ đã có, các nhà đầu tư đã sẵn sàng – nhưng giới chính trị còn do dự.         “Dầu mỏ” của thế kỷ 21 không ở dưới mà ngay trên mặt đất –  đó là ánh nắng – Gerhard Knies – người phát ngôn của Trans-Mediterranean Renewable Energy Cooperation (TREC – tổ chức gồm các nhà khoa học và chính khách của nhiều nước nhằm giải quyết vấn đề năng lượng của châu Âu) – còn gọi ánh nắng mặt trời là “của chìm” (hidden asset). Dự án Desertec của TREC có tham vọng biến cái nắng gắt sa mạc thành nguồn điện khổng lồ. Hiện vùng sa mạc ở Bắc Phi và Cận Đông tiềm ẩn nguồn năng lượng mặt trời lên đến 630.000 Terawatt/giờ (TWh). Bộ Môi trường Đức đã giao nhiệm vụ cho Hans Müller-Steinhagen (Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức – DLR) nghiên cứu tính khả thi của Desertec và ông này đã nhận định rằng “Desertec không phải là viễn tưởng”.                                                            Gương-Parabol tích tụ ánh sáng mặt trời tạo nhiệt            Năm nay Châu Âu cần 4000 Terawatt/giờ, bằng 0,6% nguồn năng lượng mặt trời không được sử dụng tại khu vực nói trên. Châu Âu cần điện nhưng thiếu nắng, các quốc gia ở Bắc Phi và Cận Đông thì ngược lại. Một giải pháp được đề ra là: miền nam sản xuất điện cho miền bắc. Tuy nhiên việc chuyển tải nguồn năng lượng khổng lồ này sẽ tiến hành như thế nào? Và làm thế nào để biến ánh sáng mặt trời trên sa mạc thành điện năng?  Điều này khá đơn giản: Desertec dùng Low-Tech – do đó không cần phải có các lò phản ứng hạt nhân tốn kém, không cần các nhà máy nhiệt điện phải tách bỏ CO2, cũng không cần tế bào quang điện cực mỏng. Nguyên tắc rất đơn giản, hầu như học sinh phổ thông đều từng thử nghiệm, đó là dùng kính lúp thu nhiệt từ ánh sáng trời để đốt những tờ giấy: ở đây là Gương – máng parabol tập trung ánh sáng mặt trời, đun nước, hơi nước tác động vào turbin và tạo ra điện.   Để có thể cung cấp đủ điện cho toàn thế giới, diện tích sa mạc cần được phủ kín bằng những nhà máy điện – gương sẽ có diện tích tương đương diện tích của nước Áo (83.871 km2).    Chung hưởng lợi ích  Khi các nhà máy điện – gương trên sa mạc để xuất khẩu năng lượng điện cho các quốc gia khác trên thế giới, nhiệt lượng dôi dư của các nhà máy nhiệt điện này có thể được dùng để vận hành các nhà máy khử muối nước biển để sản xuất nước ngọt (Các nước giàu ánh nắng ở Bắc Phi và Cận Đông rất khan hiếm nước ngọt).   Châu Âu cũng được hưởng lợi lớn từ dự án này: không còn bị phụ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga cũng như vào biến động giá dầu trên thế giới. Không còn có rác thải phóng xạ. Không còn có các nhà máy điện chạy than ảnh hưởng xấu đến khí hậu.   Thực ra Desertec không còn là một mong muốn viển vông, xa vời. Công nghệ đã có và đã được thử thách: Từ giữa những năm 80, người ta đã xây dựng và đưa vào hoạt động thành công một số nhà máy nhiệt mặt trời ở California và Nevada (Mỹ). Hiện một số nhà máy điện loại này đang được xây dựng ở miền nam Tây Ban Nha; các nước như Algeria, Marocco và Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cũng đang triển khai xây dựng một số nhà máy nhiệt điện mặt trời.   Về chi phí đối với loại năng lượng điện mới này, Müller-Steinhagen tính toán: Đến năm 2050 nếu châu Âu muốn thoả mãn 15% nhu cầu năng lượng điện thông qua các nhà máy nhiệt điện mặt trời thì phải đầu tư khoảng 400 tỷ Euro. Trong đó chi phí xây dựng nhà máy điện hết 350 tỷ Euro và chi phí xây dựng mạng lưới điện cao thế-một chiều hết khoảng 50 tỷ để chuyển tải điện từ Bắc Phi đến châu Âu. Công nghệ đã có và đã qua thử thách.   Song, nếu mọi chuyện đơn giản thì tại sao các quốc gia giàu nắng lại đầu tư xây dựng các nhà máy điện hạt nhân vừa tốn kém vừa nguy hiểm, thay vì đầu tư vào công nghệ – gương? Và Mỹ cũng có sa mạc, vì sao nước này không muốn giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào dầu mỏ?   Câu trả lời của Müller-Steinhagen là: “Các nguồn năng lượng hoá thạch quá rẻ “. Mỹ có thể xây dựng các nhà máy nhiệt điện mặt trời cỡ lớn, nhưng giá dầu mỏ mấy chục năm qua quá rẻ nguồn nhiệt điện mặt trời không thể cạnh tranh nổi. Các nước như Ả rập Xê út, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Kuwait dư thừa ánh nắng mặt trời nhưng cũng rất giàu dầu mỏ. Tuy nhiên chính những nước này lại có điều kiện tài chính thuận lợi để xây dựng các nhà máy nhiệt điện mặt trời. Tại Ả rập Xê út hay Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, giá một kilowatt/giờ chỉ nửa Cent, vì thế rất khó để thuyết phục người dân ở đây về những ưu điểm của nhiệt điện mặt trời.    Châu Âu cần năng lượng, Bắc Phi cần nước ngọt  Samer Zureikat, người sáng lập công ty TNHH Mena Cleantech thừa nhận: “Các nước Bắc Phi và Cận Đông thiếu nhận thức về triển vọng của loại công nghệ mới này. Khi nói với về năng lượng mặt trời, ở đây người ta nghĩ đến các tấm tế bào quang điện mà không hề nghĩ đến những nhà máy nhiệt điện mặt trời khổng lồ” Song theo Zureikat, việc chuyển sang áp dụng công nghệ nhiệt điện mặt trời là không thể tránh bởi: “Châu Âu cần điện, trong khi đó Bắc Phi và Cận Đông lại cần nước.” Theo Müller-Steinhagen, đến năm 2050, nhu cầu nước ngọt của các nước trong vùng sẽ tăng gấp ba.   Hiện giá điện mặt trời chưa có khả năng cạnh tranh, song chi phí sản xuất các loại năng lượng điện thông thường đang ngày càng tăng – trong khi đó chi phí xây dựng mới các nhà máy nhiệt điện mặt trời lại không ngừng giảm. Dự tính đến năm 2020, giá thành sản xuất điện từ nguồn năng lượng hoá thạch và nhiệt điện mặt trời sẽ tương đương nhau. Hơn nữa giá loại năng lượng điện này lại có tính ổn định hơn hẳn vì nguồn cung vô tận, không mất tiền mua và cũng không phải đâu tư khai thác quá tốn kém.   Giới chính khách ở Đức đang quan tâm ngày càng nhiều hơn đối với Desertec. Tổng thống Pháp Sarkozy cũng bất ngờ quan tâm tới năng lượng mặt trời mặc dù bản thân ông mới chào bán cho các nước Bắc Phi một số nhà máy điện hạt nhân.   Tuy nhiên còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ như: Ai sẽ đầu tư tài chính cho hệ thống mạng lưới dẫn điện? Hệ thống dẫn điện do ai quản lý? Liệu có bảo đảm cam kết giá đầu vào của nguồn điện từ nhiệt điện mặt trời?   Các nhà đầu tư cũng như giới công nghiệp rất quan tâm đến vấn đề này. Nguồn vốn để đầu tư xây dựng có thể huy động được, vấn đề công nghệ đã được giải quyết, cái thiếu hiện nay là quyết tâm chính trị cao của các chính phủ.   Xuân Hoài (theo Spiegel)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện sinh học làm cho chân cụt mọc trở lại      Thao tác các tín hiệu điện của một cơ thể sống có thể ảnh hưởng đến tăng sinh một cách mạnh mẽ khác thường.      Điện sinh học là nhân tố thiết yếu để hình thành các cơ quan sinh học phức tạp và gắn kết hoạt động của chúng lại thành một cơ thể hoàn chỉnh. Dây thần kinh thì truyền tin hiệu điện đi khắp cơ thể. Các bơm ion và các kênh dẫn truyền thì dịch chuyển hạt mang điện qua lại màng tế bào, gửi các tín hiệu từ một tế bào này đến tế bào khác và tạo ra một điện thế xuyên  qua màng (Vmem) báo cho các tế bào biết vai trò của chúng là làm gì trong cơ thể. Nói chung, các tế bào khác nhau trong các mô đã hoàn chỉnh như cơ bắp, dây thần kinh và hầu hết các bộ phận cơ thể, … có Vmem tương đối lớn (50-90 mV), trong khi các tế bào phôi thai, tế bào gốc, và các tế bào ung thư có Vmem thấp hơn.      Michael Levin và các đồng nghiệp tại Đại học Tufts (Mỹ) đã chỉ ra rằng độ lớn của Vmem cho ta những hiểu biết mới về những tổ chức phức tạp của cơ thể được hình thành một cách tự nhiên như thế nào, và cho ta biết cách dùng những  thao tác trên Vmem có thể thay đổi sự hình thành những tổ chức đó. Ví dụ, một con ếch bị cắt chân (hình a) thì không thể tự mọc ra một chân mới. Tuy nhiên, khi hóa trị các tế bào tại vết thương để giảm Vmem nơi cắt cụt, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng họ có thể làm cho chân ếch  mọc lại (hình b). Chi mới bao gồm các dây thần kinh, cơ bắp, ngón chân, và móng chân-mặc dù bản thân việc hóa trị không cần thông tin gì về cấu trúc các bộ phận đó. Levin và các đồng nghiệp đã hình dung rằng một ngày nào đó một thủ thuật như vậy có thể được áp dụng cho con người, sớm hơn rất nhiều so với việc chờ đợi các kỹ sư sinh học chế tạo ra được chi nhân tạo bằng cách sử dụng tế bào gốc. Các tác giả cũng đang nghiên cứu áp dụng phương pháp  thao tác Vmem để phát hiện và ngăn chặn các khối u ung thư.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Điện thoại di động có thể làm thay đổi chức năng của bộ não con người      Trên thế giới hiện có khoảng 182 triệu  người, tức 6% số người lớn toàn cầu, nghiện sử dụng mạng Internet. Việc  nghiện các thiết bị công nghệ sử dụng mạng như smartphone dẫn tới sự  xuất hiện chứng rối loạn chức năng cơ thể, được  gọi là “bệnh não mạng” [NetBrain].     Người mắc bệnh này trở nên ngày càng say mê bản thân [narcissism], không tập trung tư tưởng được lâu và thường có tâm trạng sợ bị bỏ lỡ [Fear of missing out – FOMO]. Họ thường chơi trò đánh bạc trên mạng, sử dụng các mạng xã hội, mạng game và các ứng dụng trò chơi. Tỷ lệ mắc bệnh não mạng ở người dùng smartphone cao gấp ba lần người không dùng.  Được Tiến sĩ tâm lý Tomas Chamorro-Premuzic ở Đại học London giúp đỡ, các nhà nghiên cứu của Công ty DNA thị giác (VisualDNA, Anh Quốc) đã phân tích thói quen sử dụng ĐTDĐ và mạng Internet của 1.000 người lớn, qua đó phát hiện ra bệnh não mạng. Nghiên cứu đó cũng  cho thấy gần 11% người lớn nước Anh (5,7 triệu người) mắc bệnh này, tương đương số người Anh mắc chứng khó đọc chữ [dyslexic], cũng tương đương một nửa số người Anh mắc chứng lo âu và trầm cảm.   Nghiên cứu cho thấy ở những người mắc bệnh não mạng thì khả năng có hành vi phản xã giao (như dùng ĐTDĐ khi đang có mặt bạn bè) cao gấp gần bốn lần người bình thường. Khả năng nghiện công nghệ cao ở người có cá tính đam mê cuồng nhiệt và tự do thoải mái thì gấp gần ba lần người khác.   “Dự án nghiên cứu này cung cấp chứng cứ và cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của xã hội và ảnh hưởng của công nghệ đối với các cá nhân, nhiều người ngờ rằng ảnh hưởng này đã quá rộng rãi” – một thành viên nhóm nghiên cứu nói.  Bệnh não mạng có ảnh hưởng lớn nhất đối với mức độ căng thẳng công việc-sinh hoạt, ý nói công việc của một người có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống gia đình của người đó, thí dụ chứng hay nói dối. Mức độ căng thẳng công việc-sinh hoạt ở những người mắc bệnh não mạng cao gấp ba lần người thường.  Một nghiên cứu tiến hành vào tháng 12/2014 cho thấy việc sử dụng smartphone có thể đã làm thay đổi hình dạng và chức năng của bộ não con người. Các chuyên gia phát hiện: ở những người ngày nào cũng dùng smartphone màn hình cảm ứng thì lớp da cảm giác [somatosensory cortex] của cơ thể họ – vùng trung tâm não điều khiển ngón tay – có diện tích lớn hơn, và có chức năng mạnh hơn người thường. Người dùng smartphone càng lâu thì mối liên hệ giữa não bộ với tay càng mạnh hơn.    Tiến sĩ thần kinh học Arko Ghosh phụ trách nhóm chuyên gia nghiên cứu ảnh hưởng của việc dùng điện thoại di động nói, người càng nghiện dùng smartphone thì càng có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh.  Một dự án nghiên cứu khác mới công bố cho thấy những nam giới thường post ảnh selfies lên Facebook, Twitter và Instagram dường như càng trở nên tự yêu mình, dễ xúc động hoặc có các đặc trưng tính cách như thiếu thông cảm với người khác.  Qua xem xét những báo cáo học thuật liên quan trước đây và qua so sánh số liệu của từng nước, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy vùng Trung Đông có tỷ lệ nghiện mạng cao nhất.   Từ 80 báo cáo học thuật nghiên cứu chứng nghiện mạng ở 31 nước trên thế giới cho thấy 49% người nghiện mạng là nam giới, tuổi bình quân của họ là 18,42.     Nguyễn Hải Hoành tóm lược    Author                Quản trị        
__label__tiasang Diện tích băng Bắc cực giảm xuống mức thấp nhất      Số liệu do Trung tâm dữ liệu băng tuyết quốc gia thuộc Đại học Colorado, Mỹ công bố gần đây cho biết những tảng băng khổng lồ ở Bắc cực hiện tan chảy ở mức chưa từng thấy và diện tích băng cũng đã thu hẹp xuống mức thấp nhất.    Từ năm 2002 đến nay, mức độ tan băng ở Bắc cực ngày càng tăng nhanh. Hiện diện tích băng ở Bắc cực thu hẹp chỉ còn 4,4 triệu km2, giảm 900.000 km2 so với tháng 9-2005 và giảm 3,3 triệu km2 so với giai đoạn 1979-2000. Như vậy, so với cách đây 30 năm, diện tích băng tại Bắc cực đã giảm 1/3.  Các nhà khoa học Mỹ chuyên nghiên cứu về Bắc cực dự báo đến năm 2030, có khả năng Bắc cực sẽ không còn băng tuyết mà nguyên nhân chính là do con người đang làm cho khí hậu trái đất ấm lên, thay đổi thành phần khí quyển và các luồng khí tuần hoàn đại dương. Hiện tượng trên đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống động, thực vật trong khu vực.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể vì sản xuất nông nghiệp      Công bố trên Science công trình về sự thu hẹp diện tích rừng toàn cầu, nhà phân tích không gian địa lý Philip Curtis (trường Đại học Arkansas) và đồng nghiệp đã cho thấy mức độ ảnh hưởng của nền nông nghiệp hiện đại đến diện tích rừng trên thế giới. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới nêu khu vực rừng bị thu hẹp và lý do dẫn đến hiện tượng đó.      Các cánh rừng ở Borneo,Indonesia bị đốn hạ để trồng cây cọ dầu. Nguồn: Science.  Kết quả nghiên cứu cho thấy, 5 triệu hecta rừng của Costa Rica biến mất mỗi năm. Mặc dù hằng năm các công ty cam kết hỗ trợ trồng rừng nhưng diện tích rừng bị phá để trồng cọ dầu và các loại cây trồng khác vẫn không giảm từ năm 2001 đến 2015.  Nhà sinh thái học nhiệt đới Daniel Nepstad, giám đốc Viện nghiên cứu Đổi mới sáng tạo Trái đất (Earth Innovation Institute), tổ chức phi lợi nhuận về môi trường ở San Francisco, California, đánh giá nghiên cứu này có ý nghĩa lớn nó cho thấy chỉ sự cam kết giữa các tổ chức vẫn chưa đủ để bảo vệ rừng khỏi sự “bành trướng” của nông nghiệp.  Các nhà nghiên cứu vừa đưa ra một bức tranh chi tiết ở mức độ toàn cầu về sự suy giảm và tái sinh của rừng. Năm 2013, một nhóm do Matthew Hansen, giáo sư viễn thám tại Đại học Maryland, làm trưởng nhóm từng công bố các bản đồ có độ phân giải cao về sự thay đổi của rừng từ năm 2000 đến năm 2012 dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh. Khi đó, dù có thể truy cập qua internet nhưng các bản đồ này vẫn chưa thể hiện được những nơi rừng bị phá.  Trong phân tích mới trên Science, Philip Curtis làm việc với Hiệp hội Bền vững (The Sustainability Consortium), một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Fayetteville, Arkansas, nâng cấp một chương trình máy tính để có thể nhận diện năm nguyên nhân mất rừng trong ảnh chụp vệ tinh: cháy rừng tự nhiên, khai thác gỗ, nông nghiệp quy mô lớn, nông nghiệp quy mô nhỏ, và đô thị hóa. Để làm được điều này, Curtis dành hàng tuần chăm chú quan sát những bức ảnh từ Google Earth, nó cho thấy sự thu hẹp diện tích rừng đi kèm với nguyên nhân đã biết. “Đây là một trong những phần khó nhất của công việc.” ông cho biết, đặc biệt khi nhìn vào vùng Đông Nam Á thì “quy mô của những cánh rừng bị đốn hạ thật đáng kinh ngạc.”  Các lệnh của chương trình dựa trên các đặc tính toán học của hình ảnh, có thể giúp phân chia các hình khối nông nghiệp hiện đại từ lớn đến nhỏ. Tất cả thông tin cho thấy, khoảng 27% tổng thiệt hại diện tích rừng trong năm 2001 và 2015 do trồng trọt và chăn nuôi quy mô lớn gây ra, trong đó bao gồm những đồn điền công nghiệp trồng cọ dầu – một nhiên liệu sinh học giá trị và là thành phần chính trong thực phẩm, mỹ phẩm và nhiều sản phẩm khác. Rừng còn bị mất do những mục đích khác như nông nghiệp quy mô nhỏ trong khi đô thị hóa chỉ chiếm 1% trong tổng số diện tích rừng bị mất.  Trong năm 2001 đến năm 2015, sự thu hẹp diện tích rừng do nông nghiệp phát triển theo nhu cầu thị trường không suy giảm nhưng có xu hướng thay đổi theo vùng. Tại Brazil, nhiều khu rừng Amazon bị tàn phá để xây dựng các trang trại chăn nuôi gia súc hoặc trồng đậu tương. Tin tốt là tỷ lệ thu hẹp diện tích rừng đã giảm một nửa từ năm 2004 đến năm 2009 nhờ thực thi luật môi trường, áp lực từ người mua đậu tương và các yếu tố khác. Nhưng ở Malaysia và các vùng Đông Nam Á, luật chống phá rừng thường thiếu sót hoặc yếu kém trong thực thi, và ngày càng có nhiều rừng bị chặt để trồng cây cọ dầu. “Chúng tôi đã biết điều này [đang xảy ra], nhưng chúng tôi không có số liệu để hiển thị nó một cách nhất quán trên quy mô toàn cầu”, Curtis nói.  Cẩm Tú dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/09/scientists-reveal-how-much-world-s-forests-being-destroyed-industrial-agriculture    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì đang diễn ra ven biển huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh?      Xuất phát từ tính không ổn định  của địa mạo của vùng, nhiều nhà khoa học đã lưu ý Chính phủ, các Bộ và lãnh đạo tỉnh Trà Vinh ngay từ đầu về tính khả thi của hai dự án bên bờ biển huyện Duyên Hải, đoạn giữa Xóm Mù U và Cồn Nhàn, là&#160; Kênh Tắt và Nhà máy nhiệt điện  Trà Vinh, nhưng hai dự án vẫn được duyệt và triển  khai.    1. Ngộ nhận về sự ổn định của đường bờ?  Trong hơn một thế kỷ qua, ở đồng bằng sông Cửu Long nếu có những nơi bờ biển được bồi liên tục (như Mũi Cà Mau) hoặc bị xói mòn liên tục (như cửa Bồ Đề, sông Cửa Lớn), thì có những nơi bờ biển luân phiên lúc bồi lúc lở. Đường ven biển của huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh thuộc trường hợp sau cùng(1).  Có lẽ vì bảng kết toán giữa bồi và lở, có những chỗ gần như bằng không, đã dẫn đến sự ngộ nhận rằng đường bờ biển ở những nơi đó là “ổn định”, nên trong thập niên 2000 đã có hai dự án quan trọng chọn bờ biển huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh, đoạn giữa xóm Mù U và Cồn Nhàn làm nơi đặt chân: một là nơi Kênh Tắt, đào mới cắt ngang huyện Duyên Hải, trổ ra Biển Đông, hai là nơi đặt nhà máy nhiệt điện chạy than Trà Vinh(2).  Nhiều nhà khoa học đã lưu ý Chính phủ, các Bộ và lãnh đạo tỉnh Trà Vinh ngay từ đầu về tính khả thi của hai dự án, tính bền vững của các công trình, xuất phát từ nhiều yếu tố, mà trước tiên là tính không ổn định của địa mạo của vùng. Mặc dù vậy, các dự án vẫn cứ được duyệt và triển khai. Dự án Luồng qua kênh Quan Chánh Bố có tổng dự toán ban đầu hơn 6.000 tỷ đồng khi được Phó thủ tướng thường trực, Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cho phép khởi công.  2. Tóm tắt diễn tiến của việc triển khai hai dự án  Từ năm 2007, cũng như những ai quan tâm đến hai dự án, tôi đã theo dõi diễn biến của đường bờ qua khảo sát hiện trường và qua ảnh vệ tinh tại các thời điểm 17.02.2009, 24.02.2011 và gần đây nhất, 14.02.2012.  + Dự án Luồng qua kênh Quan Chánh Bố đã khởi công gói thầu 6A, bắt đầu đào Kênh Tắt từ kênh Quan Chánh Bố và hiện nay đang “án binh bất động” vì thiếu kinh phí. Trong “cái rủi có cái may”, vì nếu có kinh phí, có lẽ quốc lộ QL 53 đã bị đào cắt ngang, biến huyện Duyên Hải thành hai cù lao cho tới khi xây dựng xong cây cầu bắt ngang Kênh Tắt mà độ tĩnh không phải đủ cao để tàu có trọng tải đến 20.000 DWT có thể qua lại.  Trong khi đó, hai dấu hỏi lớn liên quan đến việc đào tiếp Kênh Tắt cắt ngang tỉnh lộ TL 913 trổ ra biển Đông vẫn chưa được chủ đầu tư làm rõ. Đó là sự ổn định của đầu ra của Kênh Tắt đối với quá trình bồi lắng và xói lở, và tác động của dự án lên môi trường.  Cần nhấn mạnh rằng báo cáo tác động môi trường, theo Luật bảo vệ môi trường, đáng lý phải được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức đánh giá và phê duyệt, đã được giao về cho tỉnh Trà Vinh phê duyệt với lý do dự án “nằm gọn” trong địa bàn của tỉnh, bất chấp tác động của luồng lên cửa Định An, lên sông Hậu nói chung!  Để đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, xin kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ (1) trong lúc chờ vốn, chủ đầu tư và công ty tư vấn làm rõ hai câu hỏi trên đây; (2) báo cáo tác động môi trường phải được xét duyệt đúng theo luật định; (3) chỉ triển khai tiếp khi đã hoàn tất hai yêu cầu này.  + Đầu năm 2010, nhà thầu EPC Trung quốc đã triển khai việc làm nền nhà máy nhiệt điện Trà Vinh tại Xóm Mù U, xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, bằng cách thổi cát từ bãi triều ngay trước mặt. Một phần đất nữa được lấy từ khu vực nơi đầu Kênh Tắt sẽ trổ ra biển.  Nếu lấy diện tích mặt bằng cần tôn lên nhân cho bề cao cần đạt, có tính đến hệ số nén dẽ, sẽ thấy ngay được lượng cát đã móc lên từ bãi triều là rất to lớn.  Mùa khô năm 2012, dân ở xã Dân Thành đã khốn khổ với nạn cát bay và ăn “cơm trộn cát”. Từ ba năm nay, dân cũng lao đao và xơ xác với nạn biển xâm thực.  Cuối tháng 10, đầu tháng 11.2011, sóng biển đã đánh vỡ đê bao bảo vệ nền nhà máy, đánh sụp một mảng nền ở sát biển. Điều này đã được báo chí và truyền hình nói đến. Ảnh vệ tinh ngày 14.02.2012 cho thấy toàn cảnh nền nhà máy, đê bao bị đánh vỡ và những vùng xói lở xung quanh. (Hình và ảnh vệ tinh).  Điều này có thể hiểu được bởi lẽ nhà thầu đã móc một lượng cát khổng lồ từ bãi triều tạo nên một vùng trũng sâu tại bãi. Dòng chảy ven bờ sẽ xoáy khi gặp hố sâu, có nhiều khả năng là một tác nhân gây xói lở trong khu vực. Trên ảnh vệ tinh, ngoài biển, đối diện với nền nhà máy điện, màu nước biển càng sậm chỉ độ sâu càng lớn. Màu nước biển đục chỉ rằng dòng chảy ven bờ không chảy xuôi chiều mà quặn xoáy khá phức tạp.  Trong điều kiện đó, bờ bao bảo vệ bị sóng đánh sập là tất yếu. Nhất là vào mùa gió chướng!  3. Phải đặt vào bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng  Kênh Tắt cũng như nhà máy nhiệt điện không phải là loại hàng rẽ tiền mau hỏng, xài một hai chục năm rồi phế bỏ. Chúng phải hoạt động có hiệu quả hàng trăm năm. Cần bảo đảm yếu tố bền vững của cả hai công trình chính là vì vậy.  Các quy hoạch ngành cũng như lãnh thổ hiện nay đều có trong tựa đề cụm từ “tầm nhìn đến năm 2030” hoặc xa hơn nữa.                  Theo dự báo của Bộ TN và MT tháng 3.2012, vào năm 2050 nước biển sẽ dâng từ 23cm đến 27 cm trong phương án phát thải trung bình. “Không lo, chúng tôi sẽ có biện pháp nâng cao cần thiết”, chủ đầu tư và công ty tư vấn “trấn an” như thế. Đâu đơn giản như vậy, vì còn động lực học biển tác động lên đường bờ, lên công trình. Móc cát tôn nền đã làm sâu sắc thêm sức công phá là một ví dụ sống!  Trong Quyết định 158/2008/QĐ-TTg thành lập Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu có quy định: “Các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu phải được thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và được quán triệt trong tổ chức thực hiện”.  4. Một số câu hỏi cần được giải đáp  Từ những gì đang diễn ra tại huyện Duyên Hải với hai dự án, ngoài kiến nghị đã nêu trong điểm 2. các câu hỏi sau đây cần được giải đáp:  Ai đã duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của hai dự án, đặc biệt dự án nhà máy nhiệt điện Trà vinh?  ¨ Ai đã duyệt phương án lấy cát bãi triều để làm nền nhà máy?  ¨ Ai đã duyệt hai báo cáo tác động môi trường?  Ai chịu trách nhiệm về những tổn thất gây ra, cho dân, cho môi trường, và về việc sử dụng không hiệu quả ngân sách nhà nước khi “bật đèn xanh” cho việc triển khai hai dự án?  Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu có biết rằng trong hai dự án, nơi đặt NMNĐ, và Kênh Tắt trổ ra biển, là những thách thức hết sức khó hiểu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng?  Hoặc sự thiếu am tường quy luật tự nhiên và thực tế tại địa bàn, hoặc lợi ích nhóm đã len lỏi vào một số nơi có thẩm quyền quyết định, hoặc cả hai mới có thể lý giải được các câu hỏi này.  —  1. “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển”, Báo cáo tổng hợp của Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long (1983 – 1990), Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, 1991. Từ đó đến nay ảnh vệ tinh xác nhận tình hình bồi và xói nói trên dọc đường bờ của đồng bằng sông Cửu Long.  2. Đó là dự án Luồng tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố và dự án Nhà máy nhiệt điện chạy than Trà Vinh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì sẽ xảy ra khi Mặt trời “chết”?      Dù đều thống nhất là Mặt trời của chúng ta sẽ chết trong vòng khoảng năm tỷ năm nữa, nhưng cho đến tận bây giờ, các nhà khoa học vẫn không chắc điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.      PuWe 1, một tinh vân hành tinh được tạo thành khi một ngôi sao khổng lồ đỏ bị thổi bay lớp vỏ ngoài vào cuối vòng đời. Nguồn: TheGuardian.com  Trong công bố trên tạp chí Nature Astronomy, một nhóm các nhà thiên văn quốc tế do GS. Albert Zijlstra của trường Vật lý và thiên văn, Đại học Manchester (Anh) làm trưởng nhóm, dự đoán Mặt trời sẽ biến thành tinh vân hành tinh (planetary nebula) – một vòng khổng lồ đầy khí bụi liên sao phát quang.  Một tinh vân hành tinh đánh dấu sự kết thúc của 90% tất cả các ngôi sao đang sống và là phát hiện ra điểm kết thúc của một ngôi sao chuyển đổi từ ngôi sao khổng lồ đỏ thành sao lùn trắng suy biến. Tuy nhiên, trong nhiều năm, các nhà khoa học không chắc liệu Mặt trời trong thiên hà của chúng ta có cùng chung số phận đó không bởi nó được cho là có khối lượng quá nhỏ để có thể tạo thành một tinh vân hành tinh quan sát được vì muốn vậy, tối thiểu Mặt trời phải có khối lượng gấp đôi.  Nhóm nghiên cứu đã phát triển một mô hình dữ liệu sao mới có khả năng dự đoán vòng đời của các ngôi sao. Họ dùng mô hình để dự đoán độ sáng (hoặc độ phát quang) của lớp vỏ bọc bị đẩy ra với các sao có khối lượng và tuổi đời khác nhau.  GS Zijlstra giải thích: “Khi chết, một ngôi sao đẩy lớp vỏ – một lượng lớn khí và bụi, vào vũ trụ. Lớp vỏ này có thể chiếm đến nửa khối lượng của sao. Nó cho thấy trong thời điểm này, sao đã cạn kiệt nhiên liệu ở lõi, cuối cùng tắt và chết.  “Chỉ lúc này, phần lõi nóng sẽ khiến các lớp vỏ bị đẩy ra phát sáng trong khoảng 10.000 năm – một khoảng thời gian ngắn trong thiên văn học. Nó khiến cho các tinh vân hành tinh nhìn thấy được. Một số sáng đến nỗi chúng có thể nhìn thấy được từ khoảng cách rất xa tới hàng chục triệu năm ánh sáng, khoảng cách khiến một ngôi sao trở nên quá mờ để quan sát.”  Mô hình mới của họ có nhiều điểm ưu việt hơn mô hình cũ. Nó cho thấy sau khi lớp vỏ bị đẩy ra, các ngôi sao đã nóng lên nhanh gấp ba lần dự đoán của mô hình cũ. Sự nóng lên này giúp cho các ngôi sao dễ dàng trở thành sao khối lượng thấp như mặt trời để cuối cùng hình thành một tinh vân hành tinh. Nhóm nghiên cứu thấy rằng, với dự đoán từ mô hình mới, Mặt trời dù trở thành một ngôi sao khối lượng siêu thấp nhưng vẫn “tiến hóa” thành tinh vân hành tinh nhìn thấy được. GS Zijlstra nói: “Nếu bạn sống ở thiên hà Andromeda cách xa 2 triệu năm ánh sáng, bạn vẫn có thể nhìn thấy nó.”  Vậy điều gì sẽ xảy ra với Mặt trời? Trong khoảng 5 tỷ năm nữa, lõi của nó cạn kiệt và trung tâm bị sụp đổ, khiến Mặt trời phồng lên và biến thành một “gã khổng lồ đỏ”, cuối cùng nhấn chìm sao Thủy và sao Kim. Sau khi trở thành “gã khổng lồ đỏ”, Mặt trời sẽ mất khoảng nửa khối lượng khi các lớp vỏ bị thổi bay với tốc độ 20km/s. Lõi sẽ nóng lên nhanh chóng và tạo ra các tia cực tím và tia X có khả năng bắt kịp lớp vỏ đang bay để biến chúng thành một vòng plasma phát sáng rực rỡ. Tinh vân hành tinh “hậu duệ mặt trời” này sẽ tỏa sáng khoảng 10.000 năm.  Điều đáng tiếc là chúng ta sẽ không thể chứng kiến điều này từ Trái đất bởi mỗi tỷ năm Mặt trời đang tăng độ sáng khoảng 10% và các đại dương sẽ bay hơi, bề mặt quá nóng để tạo ra nước, biến hành tinh của chúng ta thành nơi quá khắc nghiệt để sinh sống.  Thanh Trúc tổng hợp từ Sciencemag, TheGuardian.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì tạo nên khoa học hiện đại ngày nay?      Trong cuốn sách “Cỗ máy tri thức” pha trộn giữa khoa học, triết học, lịch sử, Michael Strevens trả lời những câu hỏi đầy thách thức như vì sao phải mất thời gian nhiều đến vậy – hai nghìn năm sau khi triết học và toán học ra đời, nhân loại mới bắt đầu sử dụng khoa học để học hỏi và nghiên cứu những bí mật của tự nhiên, vũ trụ.    Khoa học hiện đại đã và đang khám phá nhiều bí ẩn vĩ đại của tự nhiên, vũ trụ, đồng thời mang lại nhiều thay đổi vô cùng tích cực cho cuộc sống. Tuy nhiên, xét trên chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại, có thể dễ dàng nhận thấy, khoa học xuất hiện vô cùng muộn mằn. Cho tới đầu thế kỷ XVII, tia sáng của nó mới bắt đầu le lói xuất hiện.    Tại sao phải mất thời gian nhiều đến như vậy – hai nghìn năm sau khi triết học và toán học ra đời, nhân loại mới bắt đầu sử dụng khoa học để học hỏi và nghiên cứu những bí mật của tự nhiên, vũ trụ? Điều gì tạo nên khoa học hiện đại ngày nay, chi phối và thúc đẩy nó phát triển?… Những câu hỏi này đã thôi thúc Micheal Strevens, giáo sư Triết học tại Đại học New York, đi tìm câu trả lời và mang đến cho độc giả những hiểu biết của ông trong cuốn sách “Cỗ máy tri thức – Tính phi lý đã tạo nên khoa học hiện đại như thế nào”.        Trước ông đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, triết gia quan tâm tìm hiểu vấn đề này, tiêu biểu như Karl Popper, Thomas Kuhn… Tuy nhiên, Strevens đã phân tích kỹ lưỡng và chỉ ra trong phần đầu cuốn sách của ông: những nguyên tắc được các triết gia kể trên đưa ra chưa giải thích được thấu đáo nguyên tắc, phương pháp hoạt động vĩ đại của khoa học. Theo ông, phương pháp chi phối khoa học hiện đại là một điều hoàn toàn mới mẻ: nguyên tắc lý giải sắt (Iron rule of explanation) – còn được gọi tắt là “nguyên tắc sắt”.    Nguyên tắc sắt khuyến khích, định hướng và bắt buộc các nhà khoa học đang cạnh tranh với nhau chỉ được đưa ra các dữ liệu có thể quan sát. Nhờ vậy, nguyên tắc này giúp kiềm chế cảm xúc, dẫn dắt giới nghiên cứu chuyển sự chú ý vào quá trình và chi tiết, từ đó mang đến cho khoa học sức mạnh phi thường trong việc sàng lọc và loại bỏ các ý tưởng sai lầm.      Nguyên tắc sắt biến tranh luận khoa học trở thành một đấu trường nơi các giả thuyết được bảo vệ và tấn công. Ở cuộc đấu đó, chỉ có một kiểu nước đi được xem là hợp lệ: nước đi thực nghiệm. Như vậy, một giả thuyết sẽ bị phủ định biện chứng nếu không thể lý giải các hiện tượng thực tế, và được bảo vệ nếu nhà khoa học có thể chứng minh rằng thiếu sót đó rõ ràng do thiết bị gặp trục trặc, điều kiện không thuận lợi hoặc giả định sai lầm. Chiến thắng không thể giành được bằng những lời hoa mỹ sáo rỗng, bằng nghiên cứu siêu hình, lập luận đạo đức hay bất kỳ lời hay ý đẹp, tư tưởng lớn lao nào khác.      Cho đến tận đầu thế kỷ 17, các nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng vẫn luôn tin rằng các học thuyết tôn giáo thực sự tác động đến thế giới vật chất lẫn tinh thần và dĩ nhiên cả lĩnh vực sinh vật. Bởi vậy, họ thấy nguyên tắc sắt thật dã man, phi lý khi cấm ngặt việc sử dụng tư duy thần học, triết học vào giải thích và nghiên cứu khoa học. Đây cũng chính là lý do khiến khoa học không thể được khai sinh trước thời điểm này.      Ngay cả một nhà tư tưởng hiện đại đời đầu như Rene Descartes, sống ở giai đoạn bình minh của cuộc cách mạng khoa học, cũng không thể chấp nhận sự phân biệt rạch ròi giữa nghiên cứu thực nghiệm với lý thuyết thần học mà nguyên tắc lý sắt đã đặt ra. Quyền năng và sự cai trị của Chúa được đan cài vào triết lý tự nhiên của Descartes theo nhiều cách khác nhau. Vì vậy trong các tác phẩm của Descartes cũng như những người đi trước, chúng ta không thể tìm được bất cứ sự ủng hộ nào đối với lệnh cấm độc tài của nguyên tắc sắt.    Đến những năm 1640, bất chấp nỗ lực hết mình của Francis Bacon và một vài nhà tư tưởng chủ quan cấp tiến khác, khoa học mới miễn cưỡng được phát minh.    Tuy nhiên, Strevens cũng chỉ ra: nguyên tắc sắt ẩn chứa nhiều điều phi lý với ngay cả các nhà khoa học hiện đại. Ví dụ, bất cứ nhà nghiên cứu hiện đại nào tin rằng các đặc trưng thẩm mỹ (sự đối xứng và vẻ đẹp hoàn hảo của các vật thể trong tự nhiên) có thể dẫn dắt chúng ta tìm đến chân lý, thì họ đều phải chấp nhận rằng nguyên tắc sắt không cho sử dụng những lập luận này. Tác giả Strevens thậm chí còn dành cả một chương sách để phân tích kỹ hơn cuộc chiến giữa nguyên tắc sắt với cái đẹp.    Nêu lên những mặt phi lý của nguyên tắc sắt, Strevens đồng thời chỉ ra sự phi lý này có tính hệ thống, và chính nó là một điều kiện tiên quyết để khoa học hiện đại có được sự phát triển đáng kinh ngạc như ngày nay.    Sự nhất trí về quy trình do nguyên tắc sắt tạo nên đã truyền sức mạnh cho cỗ máy tri thức. Đầu tiên, sự nhất trí này đảm bảo tính liên tục. Trong điều kiện đầy đủ nguồn lực và ý chí, các nhà khoa học sẽ không bao giờ đi đến tình cảnh căng thẳng tới mức không thể đàm phán được với nhau. Sẽ luôn có một việc mà ngay cả những kẻ thù không đội trời chung với nhau vẫn có thể đồng thuận: cùng làm tiếp một thử nghiệm khác.    Lợi ích thứ hai cũng là hệ quả của lợi ích đầu tiên, quy tắc sắt sẽ chuyển hóa tất cả các cảm xúc hy vọng, tức giận, đố kỵ, tham vọng, oán ghét thành một mục tiêu duy nhất: tạo ra bằng chứng thực nghiệm.    Thứ ba, những hành động được xem là hợp lệ đều bất di bất dịch đối với mọi thời đại. Điều này mang đến cho các nhà khoa học một nền tảng đơn giản mà vững chắc để tiến hành nghiên cứu, một cơ sở trí tuệ và đạo đức ổn định để xây dựng các công trình thực nghiệm vĩ đại, căn cứ theo yêu cầu về tài chính, tình cảm và thể chất của họ.    Tất cả những yếu tố nêu trên đem đến cho khoa học một nền tảng mà không hình thức nghiên cứu nào trước đó làm được. Nó cung cấp một tập hợp quan sát thực nghiệm mà khi mang ra so sánh đã khiến cho mọi thành tựu của các nhà triết học tự nhiên thời Cổ đại hay Trung cổ đều trở nên nhỏ bé về tầm vóc, phạm vi, độ tinh vi lẫn độ chính xác.    Tựu trung, “Cỗ máy tri thức” giúp độc giả nắm bắt nguồn gốc, nguyên tắc chân lý trong khoa học, cũng như vai trò và hy vọng khoa học có thể mang lại cho nhân loại. Cuốn sách cũng bao gồm các khái niệm đột phá được trình bày bằng những hình ảnh minh họa thú vị, những tư tưởng tái cấu trúc lại phần lớn những gì con người nghĩ rằng mình đã biết về nguồn gốc của thế giới hiện đại theo một cách dễ tiếp cận nhất có thể.    Nhận xét về cuốn sách, Manjit Kumar, tác giả cuốn Quantum, viết: “Nếu không có những lợi ích của khoa học thì cuộc sống hiện nay của chúng ta không khác gì thời Trung cổ. Khi Michael Strevens bảo vệ sức mạnh và hiệu quả của phương pháp khoa học nhằm phát hiện bản chất thực sự của vạn vật và phủ định những người bác bỏ sự tồn tại của chúng, ông đã theo đuổi một nhiệm vụ đầy tham vọng là khám phá cách vận hành thực sự của khoa học. Cỗ máy tri thức là cuốn sách hấp dẫn không thể bỏ qua nếu bạn muốn tìm hiểu về những điều đặc biệt trong khoa học.”    Nguyên Anh     Author                .        
__label__tiasang Điều hấp dẫn nằm ở sự thay đổi      Sự thay đổi hướng nghiên cứu và môi trường làm việc không gây khó khăn đối với TS. Nguyễn Thị Khôi (Viện Tiên tiến KH&amp;CN – ĐH Bách khoa Hà Nội) mà trái lại, đó là cách chị thử thách mình với cái mới.      Những cơ hội rộng mở ở Mỹ  Nguyễn Thị Khôi tốt nghiệp Tiến sĩ chuyên ngành khoa học và kỹ thuật vật liệu tại Đại học Tổng hợp Illinois Urbama – Champaign (một trong hệ thống năm trường của Đại học Tổng hợp Illinois, đứng thứ tư theo bảng xếp hạng US News – Reports về ngành khoa học vật liệu). Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào vật liệu graphene, ống nano carbon và các kết quả nghiên cứu đã được công bố ở những tạp chí uy tín như Physical Review Letters, ACS Nano, Journal of the American Chemical Society. Sau khi tốt nghiệp, TS. Khôi được nhận vào làm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Lawrence Berkerly (một trong những trung tâm nghiên cứu vật lý quan trọng của thế giới). Nhưng chị từ chối vì công việc “tương tự như những gì tôi đã làm luận án Tiến sĩ. Tôi muốn làm một đề tài khác, thử thách mình với cái mới”.   Tình cờ, chị để ý đến một nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Sandia (Sandia National Laboratories – SNL) khi họ giới thiệu về công việc của mình ở hội chợ việc làm của trường được tổ chức trước ngày chị tốt nghiệp vài tháng. Họ đang thực hiện một đề tài nghiên cứu do Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ khoảng 10 triệu USD từ năm 2006 với hướng nghiên cứu về “chấm lượng tử silicon cho máy tính lượng tử”. Tuy là dân “ngoại đạo” đối với lĩnh vực này, nhưng chị vẫn nộp đơn xin ứng tuyển. Mặc dù đã qua được những vòng phỏng vấn, thuyết trình, trao đổi với các thành viên trong nhóm nghiên cứu một cách thuyết phục, nhưng để được nhận vào làm việc tại SNL, người tuyển dụng còn phải đề nghị nhà quản lý chấp nhận TS. Nguyễn Thị Khôi, người chỉ có visa ngắn hạn J1 như một trường hợp ngoại lệ, bởi SNL là một phòng thí nghiệm thực hiện nhiều chương trình quốc gia về an ninh, quốc phòng, công nghiệp vũ trụ, yêu cầu sự bảo mật cao và chỉ tuyển công dân Mỹ và người có visa làm việc H1B.  Nhóm nghiên cứu cũ của TS. Nguyễn Thị Khôi ở SNL gồm hơn 60 người, đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau: vật lý, khoa học máy tính, điện – điện tử, khoa học vật liệu… được tổ chức thành ba đội: đội chuẩn bị mẫu, đội đo đạc, đội mô phỏng. Trong những đội này, lại có những nhóm ba-bốn người theo đuổi những đề tài khác nhau. Ở đội đo đạc, công việc của TS. Nguyễn Thị Khôi là thiết lập hệ đo để đọc được trạng thái spin của điện tử trong chấm lượng tử silicon. Khác với máy tính truyền thống dựa vào transistor, lưu trữ thông tin dưới dạng các trạng thái 0 và 1, máy tính lượng tử sử dụng các qubit, cụ thể là các trạng thái spin. Nhiệm vụ của người đo đạc là phải đọc được trạng thái spin trong từng thời điểm. Đó mới chỉ là một trong những điều kiện nền tảng để tạo ra một máy tính lượng tử dựa vào spin qubit.   Trong một lần tình cờ đọc kết quả của một nhóm đo đạc khác, TS. Nguyễn Thị Khôi nghi ngờ đoạn gấp khúc ở đường cảm ứng điện tích không phải là sai số do thực nghiệm như mọi người vẫn nghĩ. Để kiểm nghiệm giả định của mình, chị xin phép tổ đo đạc trên cho sử dụng hệ đo và thiết bị trong hai ngày cuối tuần và nhận thấy rằng, đó là một khuyết thiếu có hệ thống. Chị tìm cách thuyết phục trưởng nhóm nghiên cứu cho phép tổ đo đạc trên và nhóm mô phỏng tính toán cùng tham gia thực hiện đề tài này. Kết quả nghiên cứu của TS. Khôi (sau đó được đăng trên tạp chí Nano Letter) đã đưa ra một phương thức mới và bền vững hơn trong việc khảo sát và điều khiển spin.   Khởi đầu lại ở Việt Nam  Dự án nghiên cứu mà nhóm của TS. Khôi thực hiện tại SNL là một trong những dự án lớn và quan trọng về máy tính lượng tử với nguồn tài trợ đều đặn, môi trường làm việc có thể được coi là lí tưởng đối với những nghiên cứu sinh sau tiến sĩ bởi SNL được coi là một trong những địa chỉ để làm nghiên cứu tốt nhất nước Mỹ cho những người làm postdoc, theo tạp chí The Scientist năm 2010. Tuy nhiên, sau ba năm làm việc tại SNL, TS. Khôi phải rời khỏi Mỹ ít nhất là hai năm theo quy định của học bổng VEF. Lúc đó, chị có ba lựa chọn: làm việc tại Cơ quan Nghiên cứu Quốc gia, Canada (National Research Council – NRC), đến University College London, Anh (một trong 100 trường đại học hàng đầu về khoa học vật liệu trên thế giới do US. News và World Report bình chọn) hoặc trở về Việt Nam. Trái với suy nghĩ của nhiều người, chị không do dự khi trở về nước.   TS. Nguyễn Thị Khôi có một so sánh “vui”: “Tôi đang ở Mỹ với điều kiện tốt như vậy, đến bây giờ về Việt Nam, tôi cũng không bao giờ so sánh đó là “đồ chợ” với “hàng hiệu”. Luôn luôn là lựa chọn ở đây hay ở kia mà thôi. Trong khi môi trường ở các nước phát triển có một sự ổn định giống nhau thì Việt Nam là một môi trường có quá nhiều thứ đang chờ đợi và khó đoán trước. Với tôi, điều đó có một sức hấp dẫn riêng”.   Sau khi trở về Việt Nam vào giữa năm 2014, theo lời giới thiệu của một người bạn, chị về làm việc tại Viện Tiên tiến KH&CN (AIST), Đại học Bách Khoa. Có ba lí do là: cơ sở vật chất tốt, tập thể năng động và người lãnh đạo có tầm nhìn. Về người lãnh đạo, chị nói: “Don’t pick your job, pick your boss” (Đừng lựa chọn việc làm, hãy chọn sếp cho mình). Viện trưởng AIST, PGS.TS. Phạm Thành Huy, theo TS. Khôi là một người công bằng, sẵn sàng giao cơ hội cho những người trẻ và tập hợp được một đội ngũ trẻ, có sức bật, dám liều, dám thử. Mà đối với chị, một người lãnh đạo tốt là người sẵn sàng giao trách nhiệm, tạo cho những người trẻ sự tự tin dù họ chưa có kinh nghiệm. Cũng như ở SNL, trưởng nhóm nghiên cứu đã giao cho chị toàn quyền quyết định việc thực hiện đề tài. Đó không chỉ là “điều kiện cần” đối với lãnh đạo của những viện nghiên cứu mà còn cả những người hoạch định chính sách.  Theo TS. Nguyễn Thị Khôi, để thu hút người trẻ từ nước ngoài trở về, ngoài đầu tư kinh phí vào những lĩnh vực nghiên cứu cụ thể với mục tiêu rõ ràng, còn phải trao cơ hội cho những người sẽ dẫn đầu những lĩnh vực đó. Về phần mình, gác lại hướng nghiên cứu đã thực hiện ba năm tại Mỹ, TS. Nguyễn Thị Khôi chuyển sang hướng nghiên cứu tính chất quang điện tử của vật liệu nano, định hướng ứng dụng trong công nghiệp… Chị chưa bao giờ nghĩ rằng, vì từng có chín năm học tập và làm việc tại Mỹ mà mình nên được trọng dụng hơn người khác.          “Chế độ đãi ngộ không căn cứ trên việc bạn được đào tạo ở  trong nước hay nước ngoài mà căn cứ trên yêu cầu công việc cụ thể. Chế  độ đãi ngộ phải tương xứng với kì vọng, trách nhiệm đặt vào mỗi cá nhân,  xứng đáng với thời gian, công sức, tâm huyết cá nhân đó bỏ ra.  Tuy  nhiên, quan trọng hơn lại là một môi trường cho người làm khoa học có cơ  hội cống hiến, phát triển năng lực và thể hiện được sự sáng tạo. Nếu  không thì với đãi ngộ nào chăng nữa cũng giống như tạo ra căn phòng có  đầy đủ cửa sổ và cửa chính nhưng không có khoảng trống bên trong.” (TS. Nguyễn Thị Khôi)              Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều khiển TV sạc bằng sóng WiFi      Ngày 3/1, tại Triển lãm Điện tử Tiêu dùng (CES) 2022, Samsung ra mắt một chiếc điều khiển TV dựa trên công nghệ sạc mới nhất của hãng – sạc bằng năng lượng từ tín hiệu tần số vô tuyến của bộ phát Wi-Fi.    Đây là một trong nhiều công nghệ tận dụng năng lượng được Samsung phát triển nhằm làm cho các sản phẩm điện tử gia dụng trở nên thân thiện hơn với môi trường. Năm ngoái, Samsung đã ra mắt một chiếc điều khiển TV tương tự tại CES 2021, sạc bằng ánh sáng trong phòng hoặc ánh sáng mặt trời hoặc sử dụng cáp sạc thông thường.    Samsung lưu ý rằng trên thế giới cứ 7 năm lại có 99 triệu viên pin AAA bị vứt đi (tuổi thọ trung bình của các thiết bị điện tử nhỏ như điều khiển TV là 7 năm). Hầu hết số pin này đi vào các bãi rác và thải ra một lượng lớn vật liệu độc hại. Để giải quyết vấn đề này, hãng đã bắt đầu sử dụng pin có thể sạc lại, như trong điện thoại di động, trong các thiết bị điện tử gia dụng.    Tuy nhiên, ngoại trừ cách sử dụng cáp sạc thông thường, thì các công nghệ sạc mới tích hợp trong thiết bị đều chỉ sạc được tương đối ít năng lượng, do đó để thiết bị có thể vận hành hoàn toàn bằng năng lượng “tái chế”, cần kết hợp nhiều hình thức sạc khác nhau. Và điều khiển TV mới là một bước cải tiến hơn nữa.      Điều khiển Eco Remote.    Năm nay, điều khiển TV mới của Samsung có thể sạc lại bằng nhiều cách hơn: ánh sáng đèn trong phòng, ánh sáng mặt trời, cáp sạc thông thường hoặc thu năng lượng trong tín hiệu tần số vô tuyến từ bộ phát Wi-Fi.    Hầu hết mọi gia đình hiện nay đều có một bộ phát Wi-Fi để cung cấp internet, vì vậy công nghệ mới sẽ tận dụng thêm một nguồn năng lượng dư thừa để sạc điều khiển TV. Samsung gọi điều khiển TV này là Eco Remote, và bổ sung thêm một lựa chọn màu trắng cho thiết bị, thay vì chỉ có màu đen như năm ngoái, để đồng bộ với dòng TV “phong cách sống” của hãng.    Trong vài năm qua, Samsung liên tục phát triển các công nghệ mới để loại bỏ pin AAA và tận dụng các nguồn năng lượng “tái chế” trong các thiết bị điện tử gia dụng. Hãng cho biết đang tiếp tục nghiên cứu việc thu nhận động năng sinh ra từ chuyển động của điều khiển TV khi ở trong tay người dùng làm năng lượng. Họ cũng đã xem xét việc thu nhận một số năng lượng được giải phóng dưới dạng sóng âm thanh do con người nói vào điều khiển TV khi ra lệnh bằng giọng nói. Cho đến nay, đây mới là các ý tưởng, nhưng dựa trên lịch sử gần đây của Eco Remote, rất có thể một hoặc nhiều công nghệ sạc này sẽ được giới thiệu tại CES năm sau.    Phạm Nam    Author                phongvien        
__label__tiasang Điều kiện gia đình ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển não bộ của trẻ      Việc trưởng thành trong gia đình có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn có thể ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển não bộ của trẻ em.     Theo một nghiên cứu mới công bố trên Developmental Cognitive Neuroscience của hai nhà thần kinh học thuộc Đại học Michigan, so với những đứa trẻ lớn lên trong gia đình có điều kiện thuận lợi, trẻ em trong gia đình khó khăn hơn có mô hình liên kết khác biệt giữa nhiều vùng và mạng lưới não bộ khi học lên lớp cao hơn ở trường tiểu học.  Một yếu tố đặc biệt quan trọng với sự phát triển não bộ là số năm đi học của cha mẹ đứa trẻ. Nhưng khi đào sâu hơn, các nhà nghiên cứu phát hiện ra số lượng chứng chỉ hay bằng cấp của cha mẹ không phải yếu tố duy nhất tạo nên sự khác biệt về mức độ kết nối trong não. Họ thấy rằng các hoạt động nuôi dạy con cái như đọc sách cho con, trò chuyện về các ý tưởng, dẫn con đi xem bảo tàng, hay những hoạt động mở mang nhận thức khác, cũng đóng vai trò quan trọng.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu quét não và hành vi của hơn 5.800 trẻ em (độ tuổi 8 – 12) có bối cảnh gia đình khác nhau trên toàn quốc. Đây là nghiên cứu lớn nhất từ trước tới nay quan sát ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội lên “bản đồ kết nối chức năng não” – thuật ngữ chỉ mức độ kết nối giữa hàng trăm vùng trong não bộ.  “Nhờ quy mô mẫu và phương pháp phân tích ‘toàn bộ não’, kết quả này đáng tin cậy hơn so với nghiên cứu trước đây, vốn chỉ xem xét vài chục trẻ em và một nhóm nhỏ các vùng não tại một thời điểm”, Chandra Sripada, giáo sư tâm thần học và triết học tại ĐH Michigan, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  Đi tìm mối liên hệ  Sripada và các cộng sự, bao gồm giáo sư tâm thần học Mary Heitzeg, phân tích dữ liệu theo ba cách — trên toàn bộ não, trên mọi mạng lưới chính trong não và trên mọi kết nối não riêng lẻ — nhằm thu được kết quả đáng tin cậy nhất có thể.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ học máy để dự đoán mức độ nguồn lực kinh tế xã hội của đứa trẻ dựa trên các mô hình kết nối giữa các vùng não. Họ cũng áp dụng một thước đo tổng hợp về nguồn lực kinh tế xã hội của gia đình, kết hợp với trình độ học thức của cha mẹ, thu nhập của gia đình và nguồn lực của khu vực lân cận. Sau đó, các tác giả đã kiểm tra tác động riêng lẻ của từng yếu tố trong số ba yếu tố kinh tế xã hội này.  Họ thấy rằng, trình độ học thức của cha mẹ là yếu tố liên quan nhiều nhất đến sự biến đổi của kết nối não bộ. “Tác động của nguồn lực kinh tế xã hội của gia đình tới mức độ liên kết chức năng diễn ra trên khắp bộ não. Những tác động này không cố định ở vị trí hay mạch não cụ thể nào. Thay vào đó, có những tác động tương đối nhỏ phân bổ ở khắp bộ não – mặc dù khi những tác động đơn lẻ này kết hợp lại với nhau, có thể tạo thành một tín hiệu mạnh mẽ và xác thực”, Sripada nói.  Trình độ học thức hay việc dạy dỗ của cha mẹ quan trọng?  Dựa trên một nhóm nhỏ hơn gồm 3.223 trẻ em, các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu bổ sung để tìm hiểu lý do tại sao trình độ học thức của cha mẹ lại dẫn đến sự khác biệt trong mức độ kết nối não của trẻ.  Họ phát hiện những cặp cha mẹ có học thức cao hơn tham gia nhiều hơn vào các hoạt động bồi dưỡng ở nhà, và những đứa trẻ này có điểm số cao hơn trong các bài kiểm tra về chức năng nhận thức, cũng như có điểm số tốt hơn ở trường.  Sripada hy vọng những phát hiện mới sẽ giúp giải quyết “cuộc khủng hoảng về khả năng tái lặp” trong khoa học thần kinh, trong đó các nhà nghiên cứu kiểm tra những mẫu rất nhỏ và kết quả của chúng không thể tái hiện trong các nghiên cứu tiếp theo. Ông hy vọng những phát hiện đáng tin cậy từ các nghiên cứu lớn sẽ gia tăng niềm tin vào khoa học thần kinh, hướng đến việc cung cấp thông tin cho các vấn đề xã hội và chính sách. □  Phương Anh dịch  https://medicalxpress.com/news/2022-11-inequality-linked-differences-kids-brain.html    Author                .        
__label__tiasang Tối ưu kháng thể đơn dòng trong điều trị COVID-19      Kháng thể đơn dòng là phiên bản nhân tạo của các phân tử miễn dịch tự nhiên. Các phân tử này gắn vào virus và ngăn không cho virus lây nhiễm vào tế bào người. Biến thể Omicron với quá nhiều đột biến đã vô hiệu hóa một số liệu pháp điều trị COVID-19 hiện …    Kháng thể đơn dòng là phiên bản nhân tạo của các phân tử miễn dịch tự nhiên. Các phân tử này gắn vào virus và ngăn không cho virus lây nhiễm vào tế bào người. Biến thể Omicron với quá nhiều đột biến đã vô hiệu hóa một số liệu pháp điều trị COVID-19 hiện có, và kháng thể đơn dòng là một trong số rất ít các liệu pháp còn lại.        Để tìm ra cách sử dụng tối ưu kháng thể đơn dòng, David Khoury, nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đại học New South Wales và các đồng nghiệp đã phân tích dữ liệu từ 37 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng về kháng thể đơn dòng và kháng thể từ máu của bệnh nhân COVID-19 khỏi bệnh. Kết quả cho thấy kháng thể đơn dòng tiêm càng sớm sau khi nhiễm bệnh thì càng có hiệu quả cao.    Nhóm Khoury ước tính điều trị sớm bằng kháng thể đơn dòng có thể giảm nguy cơ nhập viện khoảng 70%. Họ cũng xác định, liều lượng kháng thể đơn dòng cần tiêm có thể thấp hơn từ 7 đến 1.000 lần so với liều đang sử dụng hiện nay mà vẫn đạt được hiệu quả gần như tương tự.    Tuy nhiên, biến thể Omicron làm mất tác dụng của nhiều loại kháng thể đơn dòng. Trong số sáu loại kháng thể đơn dòng trong nghiên cứu, chỉ có hai loại có khả năng duy trì hiệu quả chống lại Omicron là imdevimab và sotrovimab. Nhóm nghiên cứu dự đoán imdevimab sẽ có hiệu quả 60% trong việc ngăn ngừa nhập viện do Omicron, nếu được sử dụng với liều lượng rất cao. Sotrovimab sẽ có hiệu quả 43 hoặc 63% trong việc ngăn ngừa nhập viện, tùy theo người bệnh nhiễm biến thể phụ BA.1 hay BA.2 của Omicron. Các phát hiện này sẽ giúp các nhà thiết kế thuốc tạo ra các kháng thể đơn dòng ít có khả năng bị mất tác dụng hơn khi đối mặt với các biến thể mới, theo Davenport.    Kháng thể đơn dòng mất rất nhiều thời gian chế tạo và rất đắt đỏ, do đó nếu có thể dùng với liều lượng thấp hơn hiện nay thì liệu pháp này sẽ trở nên dễ tiếp cận hơn với nhiều người. Tuy nhiên, các nhà quản lý và các bác sĩ điều trị thường có xu hướng bảo thủ, và tiềm năng cắt giảm liều chưa chắc đã được hiện thực hóa. “Tôi không nghĩ rằng có bác sĩ nào sẽ đọc nghiên cứu này và quyết định cắt liều kháng thể đơn dòng còn 1/3 để điều trị cho 3 bệnh nhân thay vì 1,” John Moore, nhà nghiên cứu vắc xin tại Weill Cornell Medicine ở Thành phố New York, cho biết.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Định dạng bản đồ vật chất tối trong vũ trụ      Nhờ các hình ảnh thu được từ kính thiên văn vũ trụ Hubble và mô phỏng từ máy tính, một nhóm các nhà khoa học đã định dạng được vị trí của vật chất tối “vô hình” của hai chùm thiên hà trẻ với các chi tiết chưa từng được biết tới.    Các nhà nghiên cứu của Đại học John Hopkins vừa thông báo phát hiện mới của họ sẽ giúp củng cố thuyết về vật chất tối trong đó chứng tỏ các thiên hà mà chúng ta có thể quan sát được được hình thành tại các vùng có mật độ vật chất tối lớn nhất.  Công trình nghiên cứu này đã được công bố trên tờ Astrophysical Journal ra ngày 10/12 vừa rồi.  “Các tiến bộ trong công nghệ máy tính đã giúp chúng tôi mô phỏng được toàn bộ vũ trụ và theo dõi sự liên kết của vật chất để trở thành các ngôi sao, thiên hà, chùm thiên hà từ những năm đầu tiên của vũ trụ cho tới nay”, Myungkook James Jee, một trong những tác giả của nghiên cứu cho biết.  P.V    Nguồn tin: Tân hoa xã      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dinh dưỡng cân bằng giúp giảm trầm cảm      Các nhà nghiên cứu cho rằng chế độ ăn uống  có vai trò nhất định đối với bệnh trầm cảm tuy nhiên cũng cảnh báo không  nên hy vọng chữa căn bệnh này chỉ bằng chế độ ăn uống.     Mệt mỏi bơ phờ, mất ngủ, chán chường và thiếu tập trung – đó là một số triệu chứng của căn bệnh trầm cảm, trong trường hợp xấu nhất, trầm cảm làm cho người ta cảm thấy không muốn sống. Theo điều tra của Cơ quan Y tế Liên bang Đức, ở Đức có khoảng 3 triệu người ở độ tuổi từ 18 đến 65 bị trầm cảm. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 2020 bệnh trầm cảm sẽ là bệnh xã hội xếp hàng thứ hai trên thế giới.   Có nhiều nguyên nhân gây bệnh: làm việc quá sức, căng thẳng, đau buồn, các bệnh về thể chất, yếu tố di truyền. Cũng có khi không tìm ra nguyên nhân. Điều chắc chắn là mọi trường hợp trầm cảm đều có nguyên nhân từ rối loạn trao đổi chất trong bộ não. Ngày càng có nhiều chỉ dấu cho thấy sự thiếu hụt những chất dinh dưỡng nhất định có thể làm cho trầm cảm trở nên nghiêm trọng hơn. Đây là điều mà các nhà nghiên cứu hiện muốn tập trung tìm hiểu. Trong dinh dưỡng có các amino acid, các loại vitamin và khoáng chất. Từ các chất đó, cơ thể tạo ra những chất truyền dẫn thần kinh như Serotonin, Norepinephrine, Dopamine – những chất này tạo ra tâm trạng hài hoà, cân bằng, tạo niềm vui, sảng khoái, dễ ngủ và tăng khả năng tập trung.   Để nghiên cứu về sự liên hệ giữa dinh dưỡng và trầm cảm, một chương trình có sự tham gia thí nghiệm của một nghìn người và được EU tài trợ đã được tiến hành với mục tiêu tìm ra một chiến lược dinh dưỡng để phòng ngừa bệnh trầm cảm, theo bà Elisabeth Kohls, điều phối viên dự án đồng thời là nhà tâm lý học tại Bệnh viện Tâm thần và Tâm lý trị liệu thuộc Đại học Leipzig. Dự án được tiến hành tại chín quốc gia châu Âu trong thời gian năm năm.   Các nhà nghiên cứu tìm lời giải cho các câu hỏi như xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm chế biến công nghiệp và Fast Food có gây béo phì, đồng thời lại giảm cung cấp chất dinh dưỡng – hệ quả làm ảnh hưởng tới tinh thần. Ngay từ năm 1999 đã có nghiên cứu ở Tây Ban Nha với 10.000 người tham gia thí nghiệm cho thấy có những chỉ dấu về việc với chế độ ăn uống kiểu Địa Trung Hải với nhiều chất acid béo Omega-3 có thể giảm nguy cơ bị trầm cảm tới 30%.  Tuy nhiên cũng theo bà Kohls, cho đến nay người ta chưa chứng minh được chế độ ăn uống có vai trò đến đâu. Trong số các nghiên cứu tiến hành ở Leipzig có nghiên cứu về tác động của sự thay đổi chế độ ăn uống và bổ sung thêm một số chất dinh dưỡng đối với nguy cơ bị trầm cảm.  Harald Murck, giảng viên Khoa Tâm thần và Tâm lý trị liệu, Đại học Marburg, nói, “Lối sống quá căng thẳng cộng với chế độ dinh dưỡng thiếu cân bằng có thể làm tăng hormon gây stress như Cortisol, Aldosterone và Adrenaline làm cho một số khoáng chất nhất định bị đào thải quá nhiều khỏi cơ thể”. Điều này có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch cũng như bệnh trầm cảm.   Ngược lại, một số quan sát còn cho thấy, việc tăng chất magnesium có thể giúp cải thiện các triệu chứng trầm cảm. Hiện đang tiến hành nghiên cứu lâm sàng với giả dược (placebo) để đối chứng. Theo ông Murck, một số chất bổ sung khác (supplement) có thể hỗ trợ tăng hiệu quả của các chất chống trầm cảm, “trong đó có acid Folic, một số acid béo – Omega-3 và kẽm.” Tuy nhiên việc dùng những chất này luôn cần có sự theo giõi của bác sỹ.  Michael Spitzbart, một bác sỹ ở Bad Aibling (München), từ lâu chuyên điều trị bệnh nhân trầm cảm bằng cách tăng cường cung cấp một số chất dinh dưỡng thay vì dùng thuốc chống trầm cảm. Ông cho hay, “khoảng 85% người bệnh cảm nhận được tác dụng tích cực của cách điều trị này”. Spitzbart tiết lộ trong 18 năm qua ông đã điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân bằng những chất dinh dưỡng đậm đặc.   Khi thử máu, ông kiểm tra 34 thông số về trao đổi chất. Vị bác sỹ này phỏng đoán: “Bệnh nhân trầm cảm thường bị khiếm khuyết về trao đổi chất đối với protein. Các amino acid hoạt động tích cực trong bộ não như Tryptophan, Tyrosine, Phenylalanine và thì theo chế độ ăn uống hiện nay thường bị thiếu hụt trong khi đó chúng bị tiêu hao nhiều hơn do làm việc căng thẳng”.  Tuy nhiên phương pháp điều trị có tên là liệu pháp của ông lại không có chứng minh về mặt khoa học do đó quỹ bảo hiểm y tế không chịu thanh toán. Các chuyên gia nghiên cứu về trầm cảm cũng rất nghi ngờ về tác dụng của phương pháp điều trị này. “Từ những kết quả thử máu để chứng minh sự rối loạn trao đổi chất hết sức phức tạp trong bộ não là điều cho đến nay không thể viện dẫn,” Ulrich Hegerl, giám đốc Bệnh viện đa khoa về Tâm thần học và liệu pháp tâm lý thuộc Đại học Leipzig, nhận xét. “Theo kinh nghiệm của chúng tôi, thiếu vitamin không có vai trò gì đáng kể đối với bệnh trầm cảm.”   Hegerl cho rằng, thật là sai lầm nếu nghĩ rằng có thể điều trị căn bệnh trầm kha này, một loại bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng, chỉ bằng các chất dinh dưỡng. “Hiện tại chưa có giải pháp để thay thế phác đồ điều trị bệnh trầm cảm là dùng thuốc chống trầm cảm và tâm lý trị liệu.”  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dinh dưỡng : Quá nhiều thông tin không chính xác      Ở Việt Nam, vấn đề dinh dưỡng, chế độ ăn uống luôn thu hút được sự quan tâm của mọi đối tượng, từ phụ nữ muốn có vóc dáng đẹp, người mẹ sắp mang thai, gia đình nuôi con nhỏ đến những người trung niên lo lắng về vấn đề huyết áp, tim mạch… Tuy nhiên, đi cùng với xu hướng đó, một tình trạng khá phổ biến đang xảy ra là sự bùng nổ về các thông tin dinh dưỡng không chính xác, được củng cố bởi tâm lý đám đông và những kẻ trục lợi.       Do nhận thức về mối liên hệ giữa dinh dưỡng và sức khỏe được nâng cao, người tiêu dùng đang ngày càng có xu hướng tự chăm sóc sức khỏe của bản thân. Xu hướng này đẩy mạnh vai trò của thông tin dinh dưỡng đối với cuộc sống của mỗi người. Nhưng nó cũng làm cho con người dễ bị thiệt hại hơn cả về sức khỏe cũng như kinh tế bởi những thông tin sai lệch về dinh dưỡng. Vấn đề này càng cần được quan tâm hơn khi dân số già đi và xã hội ngày càng tăng mức chi tiêu cho mục đích bổ sung các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống, cũng như cho giải pháp giảm cân, làm đẹp, với mong muốn cải thiện sức khỏe của bản thân và gia đình.     Sự bùng nổ về nhu cầu của người dân đối với dinh dưỡng và sức khỏe là điều kiện để ngành công nghiệp này nở rộ ở Việt Nam. Hàng trăm, hàng ngàn công ty, loại sản phẩm có mặt trên thị trường, cả nội địa và nhập ngoại. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh này khiến cho việc thiết kế các điều luật, quy trình kiểm soát không theo kịp, khiến cho người tiêu dùng dễ bị lẫn lộn giữa hàng thật và hàng giả, giữa sản phẩm tốt thực sự và sản phẩm gây hại cho sức khỏe. Trong bối cảnh đó, họ càng dễ đưa ra những lựa chọn dinh dưỡng sai lầm bởi tình trạng tràn lan các thông tin dinh dưỡng sai lệch hoặc thiếu kiểm chứng, được tạo ra bởi ý kiến chủ quan của những người tự cho mình là chuyên gia, hoặc những người có mục đích thương mại đằng sau.    Tự cho mình là chuyên gia do hiệu ứng Dunning-Kruger và niềm tin theo thói quen  Dạo quanh một số diễn đàn, trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy dinh dưỡng là đề tài thảo luận của rất nhiều thành viên, nhưng điều nghịch lý là những ý kiến tự tin nhất lại thường không đến từ những chuyên gia dinh dưỡng, sức khỏe thực thụ, mà đến từ những ai đó chỉ dựa theo những quan niệm hay nguồn thông tin chưa đầy đủ.     Nguyên nhân của tình trạng này chính là hiệu ứng Dunning-Kruger hay là sự thiên vị về nhận thức khiến người có hiểu biết ít trong một vấn đề hay ngành học thì hay đánh giá quá cao khả năng của mình, trong khi hầu hết các chuyên gia lại có xu hướng đánh giá thấp bản thân. Cụ thể là với lĩnh vực dinh dưỡng, những người càng đi sâu nghiên cứu thì càng trở nên khiêm tốn, ít khi đưa ra những khẳng định tuyệt đối, bởi họ nhận ra rằng trong thực tế, những điều chúng ta biết được chắc chắn là rất ít. Chẳng hạn trước đây các nhà khoa học tưởng như đã hiểu rất rõ quá trình tiêu hóa và vai trò của từng chất dinh dưỡng đa lượng như đạm, đường, chất béo, nhưng đến thời điểm hiện nay thì ảnh hưởng của những chất này đối với từng bệnh khác nhau vẫn còn đang tiếp tục được nghiên cứu để có thể khẳng định thực sự trên người. Vì vậy, những chuyên gia thực sự thường dè dặt trong phát ngôn, và do không tập trung vào việc tiếp thị bản thân nên ý kiến của họ nhiều khi thiếu sức ảnh hưởng với công chúng.     Hiệu ứng Dunning-Kruger càng trở nên mạnh mẽ hơn khi kết hợp cùng hiệu ứng đám đông. “Nếu nhiều người nghĩ như tôi, chắc hẳn đó phải là sự thật”. Điều này được gọi là sự mong muốn đồng thuận: một ý tưởng trở thành sự thật với một số người chỉ vì nó được chia sẻ và lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong một số cộng đồng trên internet, việc tập hợp một số lượng người trong thế giới ảo có chung một suy nghĩ tạo ra sức mạnh cho suy nghĩ đó trong những người chia sẻ nó. Vì vậy, mới tồn tại những cộng đồng tin hoàn toàn theo một chế độ ăn “thần thánh”, không cân bằng và không được chứng minh bởi khoa học, vì lí do đơn giản rằng những người trong diễn đàn, fanpage đó đều chung suy nghĩ như vậy.    Một nguyên nhân phổ biến khác dẫn tới những ý kiến chủ quan về dinh dưỡng là niềm tin tạo ra bởi thói quen và sự bảo vệ niềm tin của cá nhân một cách thiên vị. Đối với thực phẩm, khẩu vị và thói quen của chúng ta được tạo nên từ khi còn bé, bị tác động môi trường xung quanh và lối sống hằng ngày… Chúng ta không thực sự quyết định những gì chúng ta thích ăn uống mà ít nhiều bị ảnh hưởng bởi thói quen. Có không ít những phản bác được đưa ra kiểu như “Chúng tôi luôn luôn ăn/làm như thế” hoặc “làm như thế chẳng thấy gây chết ai bao giờ”.    Ngoài ra, khi một người thấy rằng niềm tin của họ bị đặt câu hỏi, thì người đó sẽ phản ứng dữ dội để loại bỏ lý do đe doạ và càng thu mình lại trong những niềm tin của bản thân. Những nhà nghiên cứu đều cho rằng hiện tượng này là một điểm yếu của nhận thức hay một số gọi nó là “sự thiên vị xác nhận” (confirmation bias). Đây là một sự thiên vị nhận thức rất phổ biến, trong đó con người có xu hướng chỉ ghi nhận, tiếp thu hay đánh giá cao những thông tin, lí do mà ủng hộ cho ý kiến cá nhân, và cùng lúc gạt bỏ đi những thông tin, lí do đi ngược lại niềm tin bản thân. Nó như một dạng trí nhớ chọn lọc thông tin (chúng ta chỉ lưu lại những gì chúng ta muốn), kết hợp với một sự giải thích thiên vị (nếu thông tin theo chiều hướng như những gì ta nghĩ thì chắc chắn đó là một thông tin tốt, nếu không chắc chắn thông tin đó là sai).   Cố tình thông tin không chính xác để trục lợi  Người tiêu dùng thường dễ bị hấp dẫn bởi những phương pháp, sản phẩm nói rằng sẽ có được kết quả lớn chỉ với nỗ lực nhỏ và trong thời gian ngắn. Những công cụ marketing hay những tuyên bố kiểu “nửa sự thật” dưới danh nghĩa khoa học thường dựa vào tâm lý đó để đánh lừa người tiêu dùng. Lợi dụng mong muốn có được những thông tin dinh dưỡng hữu dụng của mọi người, những người tự xưng là “chuyên gia” sẽ có những tuyên bố theo kiểu “sống khỏe mạnh không hề khó, chỉ cần làm điều này/ăn thực phẩm này/theo lời chỉ dẫn của tôi, mua quyển sách của tôi”. Họ dựa vào đó để bán cho chúng ta các loại sản phẩm từ thực phẩm tự chế, nước ép đến các viên thực phẩm chức năng. Những “chuyên gia” này chỉ đơn giản là muốn kiếm lợi, hoặc đôi khi cũng tin rằng họ đang làm điều tốt cho người khác. Trên thực tế, những lời khuyên này chỉ đề cập đến một phần của vấn đề hoặc hầu như không hề dựa trên các kết quả khoa học xác thực, cập nhật nhất.    Những thông tin kiểu này dễ dàng tiếp cận với người nghe, người tin vào nó còn do tình trạng hoài nghi cao và dễ dàng tin những điều không tốt về thực phẩm, dinh dưỡng. Một số người quá dễ dàng tin vào những điều không tốt trong thực phẩm được nghe, được kể lại dù những điều này chưa hề được chứng minh bởi nghiên cứu khoa học hay khẳng định bởi bất cứ cơ quan, tổ chức có trách nhiệm nào.     Rất nhiều scandal về an toàn thực phẩm và sự lừa đảo tràn lan của không ít những người bán thực phẩm chức năng khiến chúng ta hình thành trong đầu một tư tưởng “nhìn đâu cũng thấy sâu”. Điều này phần nào cũng có ích vì chúng ta cẩn thận hơn trước mọi quyết định liên quan đến ăn uống, dinh dưỡng. Tuy nhiên, cũng có một số cá nhân hay tổ chức lợi dụng điều này để giật tít, gây hoang mang trong dân chúng rồi cùng lúc đưa ra các giải pháp, sản phẩm thương mại mà thực chất cũng không tốt đẹp như họ quảng bá. Người tiêu dùng nếu vội vã tin dùng các sản phẩm này có thể gặp hậu quả như chế độ ăn uống mất cân bằng gây ra những bệnh rối loạn chuyển hóa và những tổn hại khác cho sức khoẻ. Ví dụ cụ thể như các loại thức uống detox được quảng cáo tốt hơn và an toàn hơn các viên giảm cân (trên thực tế, các viên giảm cân không phải loại nào cũng hiệu quả và an toàn, đó là nguyên nhân khiến người tiêu dùng nghi ngờ và dễ dàng tin vào một giải pháp khác tưởng như an toàn hơn), làm cho người tiêu dùng không hiểu đúng, chỉ dùng thức uống này thay cho bữa ăn. Điều này khiến cho cơ thể thiếu chất đạm, thiếu năng lượng, làm đường huyết không ổn định, giảm sức đề kháng. Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có bất kì nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên nào được tiến hành để kiểm tra tính hiệu quả của chế độ detox trên cơ thể người, tuy rằng nó là cần thiết để người tiêu dùng được biết đến tiềm năng tốt hay xấu của những chế độ giảm cân như thế này.  Những hậu quả của thông tin sai   Thông tin dinh dưỡng sai lệch có thể khiến người sử dụng không ý thức được những thành phần độc hại ẩn chứa trong thực phẩm, sử dụng sai cách hay nghiêm trọng hơn là gây tác động tiêu cực đến quá trình điều trị bệnh. Những hậu quả này không chỉ dừng lại ở người trực tiếp tiếp nhận thông tin mà còn có thể lan toả đến người xung quanh và cả cộng đồng qua quá trình trao đổi thông tin và sinh hoạt ăn uống tập thể.    Những hậu quả kinh tế liên quan đến thông tin sai lệch cũng không hề nhỏ: từ việc chữa trị bệnh tật gây ra do hiểu sai về dinh dưỡng, đến chi phí tìm ra liệu pháp thay thế/kéo dài cách điều trị cũ do tác động của nguồn thực phẩm độc hại, chi phí cho quá trình điều tra sự thật của cơ quan chính quyền, phí tổn thu hồi sản phẩm gây hại cho sức khoẻ.    Những thông tin dinh dưỡng sai lệch còn khiến người tiêu dùng mất niềm tin vào nhiều loại sản phẩm cho dù không độc hại. Họ cũng nảy sinh nghi ngờ với những công bố khoa học mới. Đáng sợ nhất là điều đó sẽ làm xuất hiện tư tưởng phó mặc không quan tâm đến dinh dưỡng vì hoang mang bởi thông tin.        Thông tin dinh dưỡng chuẩn và ba dạng thông tin sai lệch              Trên  thực tế, không phải lúc nào cũng có thể phân biệt được rõ ràng giữa  thông tin dinh dưỡng đúng đắn và thông tin không chính xác, hoặc xác  định đâu là thông tin dinh dưỡng chuẩn, có độ xác thực cao, ngay cả đối  với những người có kiến thức khoa học.               Thông tin đúng đắn về dinh  dưỡng là những nghiên cứu khoa học đã trải qua sự xem xét, đánh giá của  hội đồng, chuyên gia một cách khách quan. Thông tin dinh dưỡng chuẩn là  những thông tin có độ xác thực cao, dựa trên những quan sát theo thời  gian, nghiên cứu trên cơ thể người với số lượng đáng tin cậy, cũng như  có những phân tích tổng hợp.               Thông tin sai lệch về dinh dưỡng là  thông tin khoa học sai sót hoặc không đầy đủ. Những thông tin này được  tạo ra do những mục đích xấu hay để phục vụ mục đích chủ quan (bán sản  phẩm, gây sự chú ý của công chúng). Chúng gây ảnh hưởng xấu đến sức  khỏe, tinh thần và kinh tế của người tiêu dùng.               Thông tin sai lệch gồm ba dạng: thông tin chạy theo mốt, gian lận y tế, và những tuyên bố sức khỏe gây hiểu lầm.               *  Thông tin chạy theo mốt: là những thông tin về niềm tin không được kiểm  chứng, xác thực và thường thái quá cho rằng việc ăn hay không ăn một  vài loại thực phẩm, sản phẩm bổ sung có thể chữa bệnh, hay giúp giảm cân  nhanh chóng. Những người tuyên truyền cho những dạng thông tin như thế  này có thể chính là những nạn nhân của thông tin, công bố sức khỏe sai  lệch, hoặc có thể tin một cách ngờ nghệch rằng họ đang mang đến cho  người khác thông tin chính xác.              * Gian lận y tế: là những thông tin  cũng có những điểm chung với thông tin chạy theo mốt, trừ một điểm là nó  được làm ra do cố ý và vì mục đích lợi nhuận. Gian lận y tế là sự cổ vũ  vì mục đích lợi nhuận cho một phương thuốc không có tác dụng hoặc chưa  từng được chứng minh có tác dụng, nhưng lại được quảng cáo là cải thiện  sức khỏe, vóc dáng.              * Cuối cùng, tuyên bố sức khỏe gây hiểu lầm khiến  cho người tiêu dùng có những suy luận, khái quát hóa sai lầm về  ảnh  hưởng của thực phẩm với sức khỏe. Ví dụ như một sản phẩm được quảng cáo,  tuyên bố là “ít đường” nhưng lại chứa nhiều chất béo, hay sản phẩm  thanh ngũ cốc được quảng cáo là “hạt đầy đủ vỏ” (chứa nhiều chất xơ hơn  hạt thường) nhưng trên thực tế lại chứa rất ít vitamin, khoáng chất mà  lại có lượng calo cao. Trong những trường hợp này, các tuyên bố gây hiểu  lầm cho người tiêu dùng và khiến họ tin rằng sản phẩm có tác dụng tốt  cho sức khỏe hơn so với thực tế.                                             Tiến sĩ thực phẩm Lê Đoàn Thanh Lâm là  người khởi xướng trang thông tin Dinh dưỡng chuẩn, một dự án phi lợi  nhuận . Anh tâm sự rằng: “Sau một thời gian dài sống ở Pháp, tôi luôn  băn khoăn tại sao vẫn còn nhiều người Việt Nam, dù điều kiện kinh tế  được cải thiện, vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của dinh  dưỡng. Các bậc cha mẹ chúng ta, hoàn cảnh thiếu thốn, có những điều chưa  hiểu rõ về dinh dưỡng khiến thế hệ hiện tại thiệt thòi hơn về mặt thể  chất so với nhiều người cùng độ tuổi ở nước khác. Chúng ta bây giờ tưởng  chừng có những bữa ăn đầy đủ hơn nhưng vẫn đang nuôi con, chăm sóc gia  đình dựa trên những chế độ dinh dưỡng hoàn toàn lệch lạc, tiếp tục tạo  ra một thế hệ tương lai thừa cân, thiếu hụt thể chất. Tôi thấy mình cần  phải làm gì đó…”              Trong bối cảnh người tiêu dùng Việt Nam đang phải  đối mặt hằng ngày với vô vàn nguồn thông tin sai lệch về dinh dưỡng cũng  như các thực phẩm không an toàn, dự án mong muốn sẽ đem đến những thông  tin dinh dưỡng chuẩn xác, hữu ích, dễ ứng dụng cho những người quan tâm  đến cải thiện dinh dưỡng dù không chuyên.               Trang thông tin hoạt động dựa trên các tiêu chí:              *  Đưa thông tin chuẩn xác về mặt khoa học đến người tiêu dùng (qua đầy đủ  nghiên cứu, qua những nguồn thông tin đáng tin cậy). Các thông tin đều  phải được thẩm định bởi người có chuyên môn về dinh dưỡng.              * Thông  tin dễ hiểu, thú vị, gần gũi hơn với toàn dân, với nhiều hình thức  truyền tải sinh động giúp mọi người dễ nắm bắt, ghi nhớ và ứng dụng để  cải thiện sức khoẻ, chất lượng cuộc sống.              * Trở thành một nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho những người làm trong ngành dinh dưỡng, sức khoẻ.              TS.  Lê Đoàn Thanh Lâm bày tỏ mong muốn dự án của anh nhận được thêm sự cộng  tác, hỗ trợ của các bạn tình nguyện viên, những người có kiến thức hoặc  thời gian, cùng đóng góp nhằm cải thiện sức khoẻ dinh dưỡng cho cộng  đồng. Về dài hạn nhóm hi vọng có thể kết nối một mạng lưới những người  làm việc trong ngành sức khoẻ, quan tâm đến sức khoẻ để cùng trao đổi và  thực hiện nhiều dự án nhằm cải thiện sức khoẻ, tuổi thọ cộng đồng.          Kỳ sau: Thông tin Dinh dưỡng chuẩn – Vai trò các bên và lời khuyên cho người tiêu dùng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Định giá lại “nông nghiệp, nhà nước, văn minh”?      Chúng ta được dạy và tin rằng từ săn bắn hái lượm đến nông nghiệp là bước tiến của văn minh nhân loại. Định cư và canh tác nông nghiệp là tiêu chí của sự tiến hóa lịch sử. Nhà nước là biểu hiện của xã hội văn minh. Những điều này sẽ bị thách thức nếu chúng ta nhìn sự tiến hóa của nhân loại từ một góc nhìn khác. Theo hướng này thì không chỉ có việc chúng ta thuần hóa cây trồng, vật nuôi, mà chính những cây con này đã “thuần hóa” con người, buộc con người phải lệ thuộc và phục vụ chúng. Theo hướng này, con người đã phải “trả giá” cho lựa chọn nông nghiệp, định cư và nhà nước thay vì săn bắn hái lượm. Vậy cái giá đó là gì?      Bản đồ các khu vực xuất hiện nông nghiệp sớm và niên đại (Neil Gower).  Nông nghiệp  Homo Sapiens (người tinh khôn) xuất hiện cách nay khoảng 200,000 năm. Những người này ra khỏi châu Phi cách nay 60,000-70,000 năm. Cư dân nông nghiệp xuất hiện cách nay khoảng 10,000 năm, xã hội nông nghiệp xuất hiện cách nay khoảng 6,500 năm, và nhà nước ra đời cách nay 5,000 năm. Theo đó, thời gian làm nông nghiệp chỉ chiếm 3% toàn bộ quỹ thời gian của Homo Sapiens. Vào thời điểm bắt đầu nghề nông cách đây 10,000 năm, thế giới có khoảng 4 triệu Homo Sapiens, tất cả đều là cư dân săn bắn hái lượm, với nguồn thức ăn chính là 60-80% thu hái từ thực vật tự nhiên, còn lại là từ săn bắn và thu lượm thủy hải sản.    Trước khi có nông nghiệp, con người có quỹ thức ăn đa dạng, động thực vật, hoa quả, nấm… Thực đơn này đã thay đổi nghiêm trọng khi nông nghiệp xuất hiện, và nhanh chóng trở nên nghèo nàn khi có bằng chứng thuần dưỡng lúa mì, đại mạch, kê, lúa gạo, khoai tây, ngô… chủ yếu tại Tây Á, tây nam Trung Hoa, trung Mỹ, và Ethiopia. Mất khoảng 4,000 năm để chuyển hóa từ những cư dân nông nghiệp đầu tiên này thành xã hội nông nghiệp.  Tất cả các cây trồng, vật nuôi mà chúng ta có ngày nay đều là sản phẩm thuần hóa của các cư dân trong thời kỳ đá mới, trong đó có khoảng 15-20 loài lương thực. Con người hiện đại đã không thuần hóa được thêm bất cứ loài nào. Càng ngày danh sách này thậm chí càng thu hẹp lại. Sau 10 nghìn năm, lúa gạo, lúa mì, và ngô cung cấp 60% lượng calories cho con người. Nói cách khác, nông nghiệp đã giúp con người tiến hóa bằng cách biến chúng ta thành “gà”.  Thế còn gà đã làm gì chúng ta? Gà đã “giăng bẫy” con người và làm cho con người lệ thuộc vào chúng để  tồn tại. Con người nghĩ rằng mình thuần hóa gà? Điều này mới chỉ đúng có một nửa. Gà phục vụ cho cuộc sống con người với trứng, thịt… nhưng chúng ta cũng biến mình thành người “phục vụ” của gà. Con người giúp gà tạo ra điều kiện sống lí tưởng mà trong tự nhiên chúng “mơ” cũng không thể tưởng tượng ra: có người dành công sức làm chuồng cho ở, có người bảo vệ, có người chăm sóc, có người kiếm thức ăn, làm ổ, tiêm vaccine, chữa bệnh, bổ sung vitamin, và giúp ấp trứng hộ. Ai là người đang thuần hóa ai? Ai biến bên kia thành kẻ phục vụ mình?      Trong tất cả các xã hội có nhà nước hơn 5,000 năm qua, con người được “dạy” rằng ai có nông nghiệp, định cư, nhà nước, chữ viết, luật pháp, tôn giáo là người văn minh. Dân du mục, dân miền núi, dân sa mạc, dân di cư trên biển… đều là thổ dân, man di, “người rừng”, “người biển”…      Tất cả cây trồng vật nuôi đã tham gia vào quá trình “thuần hóa” con người này. Những giống loài mà con người tạo ra cần chế độ chăm sóc đặc biệt, nước tưới, bảo vệ trước côn trùng… Thực tế con người trở nên “lệ thuộc” vào các cây trồng, vật nuôi này. Chúng “nhử” con người để con người phục vụ chúng, làm nhà cho chúng ở, làm cỏ, đắp đê, đào kênh mương… Lúa mì chẳng hạn, đã “dẫn dụ” con người bằng cách tạo ra một vài đặc điểm mà con người thích (hạt to, …) vì thế, mà con người hăng hái mang chúng đi khắp nơi, chặt phá rừng núi và các loài cây khác để cho chúng phát triển. Ngày nay, chúng bao phủ 870,000 dặm vuông diện tích Trái đất (tức 10 lần diện tích nước Anh). Trong lịch sử tự nhiên, chắc chắn không có loài nào cây nào thành công như lúa mì, ngô, lúa nước, khoai tây… cùng với chúng là số lượng hiện tại của một tỉ con cừu, một tỉ con lợn, hơn một tỉ động vật có sừng và 25 tỉ con gà.  Không phủ nhận canh tác nông nghiệp làm gia tăng lượng lương thực thu được, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chất lượng dinh dưỡng tốt hơn hay nó làm cho cuộc sống của con người thoải mái hơn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng thời gian “đi làm” của cư dân săn bắn, hái lượm chỉ bằng một nửa so với cư dân nông nghiệp, và họ dành số thời gian còn lại “cho bản thân mình” chứ không phải cho các vật nuôi như cư dân nông nghiệp. Từ khi có nông nghiệp (hơn 10,000 năm qua), con người dành phần lớn thời gian, tâm sức vào các cây con này. Thay vì dành thời gian cho bản thân và giống loài của mình, con người dành tâm huyết để lai tạo các giống lúa, đắp đê, đào kênh mương, và hết năm này qua năm khác “trông trời, trông đất, trông mây” để lo cho mảnh ruộng hay chăm sóc đàn lợn. Phải chăng con người đã “lạc lối”?  Nghiêm trọng hơn, chính vì sự lựa chọn nông nghiệp này sẽ chi phối đến thể hình, nguồn gene, bệnh tật, cách thức tổ chức xã hội, định cư, quan hệ giữa người với người, và người với tự nhiên. Thực đơn nghèo nàn chắc chắn ảnh hưởng đến dinh dưỡng, đặc biệt làm cư dân lệ thuộc nhiều vào lương thực trở nên nhỏ yếu hơn. Bằng việc lựa chọn làm nông nghiệp, dựa vào một số lượng nhỏ cây trồng vật nuôi để duy trì cuộc sống, con người đang tự đẩy mình vào tình thế nguy hiểm, “đánh bạc với trời”. Những loại cây con được thuần hóa phần lớn không thể tồn tại tự nhiên nếu không được con người chăm sóc, và rất dễ bị tổn thương trước dịch bệnh, thiên tai, thay đổi môi trường. Điều này làm cho con người từ chỗ tự do săn bắn hái lượm, và các hoạt động phong phú chuyển sang tự trói mình một chỗ, dành cả ngày (và cả đời) đi đắp đê, đào mương, làm cỏ, dọn chuồng gà… Nông nghiệp cột chặt con người vào đất đai, vào một vài loài cây trồng vật nuôi, đánh mất đi các kỹ năng sinh tồn trong tự nhiên mà mất hàng triệu năm tiến hóa loài người mới tạo ra. Đó là một canh bạc. Khi canh tác nông nghiệp bị đe dọa bởi lụt lội, hạn hán, châu chấu… con người chắc chắn lâm vào nạn đói và các mối đe dọa sống còn khác.  Định cư, nhà nước và văn minh  Định cư luôn được coi là bằng chứng của tiến hóa tổ chức kinh tế-xã hội loài người. Việc định cư là hệ quả của việc hình thành nông nghiệp và xác lập nhà nước. Thực tế, con người đã đánh đổi tự do và “sự phóng khoáng” của người săn bắn hái lượm để lựa chọn cuộc sống “buồn tẻ” trong làng, để hưởng cuộc đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”:  “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu  Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.  Việc xác lập các khu định cư nông nghiệp được tin là ưu thế lớn đối với cuộc sống săn bắn hái lượm. Thực tế là dường như chúng mang lại nhiều “khổ đau” cho con người hơn là chúng ta tưởng.    Một trong những “thảm họa” lớn nhất của nông nghiệp và định cư là dịch bệnh. Phần lớn các bệnh nguy hiểm nhất của loài người đến từ các vật nuôi, từ cúm gia cầm, dịch hạch, cho đến một danh sách dài các khách không mời như gián, chuột, bọ chét…. Làng mạc hay thành thị chính là căn cứ địa của dịch bệnh truyền nhiễm. Bệnh sởi chẳng hạn, có thể tồn tại liên tục trong các nhóm cư dân từ 100,000-200,000 người trở lên (cho đến khi chúng ta tìm ra vaccine). Lưu ý rằng những bệnh tật này chính là nguyên nhân thường xuyên gây ra hủy diệt các xã hội và nền văn minh tiền hiện đại.  Hệ quả thứ hai là chiến tranh. Chiến tranh không phải là sản phẩm độc quyền của con người hay xã hội nông nghiệp. Hai bầy sư tử gây chiến vì lãnh thổ và thức ăn. Tuy nhiên nông nghiệp và tập trung dân cư là “thiên đường” của chiến tranh và xung đột xã hội. Nông nghiệp làm tăng giá trị của đất đai, đồng cỏ… vì thế, chiến tranh giành lãnh thổ trở nên thường trực. Trên mảnh đất đó, con người cần nhân lực canh tác, vì thế bắt đầu ra đời các hình thái áp bức như nô lệ, tù binh. Điều này lí giải tại sao quan hệ áp bức đầu tiên trong lịch sử loài người là chế độ nô lệ. Các học giả như Anthony Reid, Victor Lieberman, James Scott lập luận rằng chiến tranh tiền hiện đại ở Đông Nam Á là nhắm đến bắt dân chứ không phải chiếm đất.  Nông nghiệp và định cư rõ ràng đã gây ra nhiều “khổ đau” cho con người. Điều này trở nên đặc biệt trầm trọng khi nhà nước xuất hiện. Nhà nước nhân rộng những “thảm họa” này lên nhiều lần. Phần lớn các nhà nước sơ kỳ đều dựa trên nông nghiệp. Thuế khóa, phu phen tạp dịch, binh dịch, hệ thống hành chính phức tạp… chính là hệ quả của việc các nhà nước này tìm cách kiểm soát dân chúng và thu tài nguyên từ sản xuất nông nghiệp. Nhà nước, thông qua việc tập trung dân cư, đã mở rộng quy mô chiến tranh ở cấp độ chưa từng có trong lịch sử loài người. Đó chẳng phải là “khổ đau” của loài người do nông nghiệp và định cư gây ra? (điều này không có nghĩa là các nhóm săn bắn hái lượm không có chiến tranh).  Vì sao nông nghiệp, định cư và nhà nước thắng thế? Có thể ở những vùng đất hẹp, dân cư đông, các xã hội săn bắn hái lượm buộc phải tìm cách quay vòng đất đai, gia tăng lượng sản phẩm thu được trên diện tích nhỏ hẹp. Điều đó buộc con người chuyển sang làm nông nghiệp. Phải chăng đó là một lựa chọn bất đắc dĩ. Vì sao nông nghiệp thắng thế? Vì nó tạo ra nhiều calories hơn trên một đơn vị diện tích. Do đó dân số gia tăng nhanh hơn. Theo tính toán thì với cư dân làm nông nghiệp, chu kỳ sinh sản là 2-2,5 năm/ 1 lần sinh, so với 4 năm/ 1 lần sinh của dân săn bắn hái lượm. Theo thời gian, cư dân nông nghiệp áp đảo về số lượng so với cư dân săn bắn hái lượm. Chính lúc này, với sự xuất hiện của nhà nước và các học thuyết chính trị-xã hội do nhà nước bảo trợ, ý niệm rằng: nông nghiệp + nhà nước = văn minh ra đời.  Ai mới là người văn minh và người thông minh?  Trong tất cả các xã hội có nhà nước hơn 5,000 năm qua, con người được “dạy” rằng ai có nông nghiệp, định cư, nhà nước, chữ viết, luật pháp, tôn giáo là người văn minh. Dân du mục, dân miền núi, dân sa mạc, dân di cư trên biển… đều là thổ dân, man di, “người rừng”, “người biển”…  Người Hán coi bốn xung quanh họ là man, di, nhung, địch. Người Việt trong quá trình mở rộng đất đai cũng gọi những xung quanh, không có chữ Hán, giáo dục Nho giáo, không thực hành nghi lễ, nền hành chính, và trang phục giống như mình là man nhân, thổ nhân… trong khi tự gọi mình là “Hán nhân” (= người văn minh). Người Thái, người Khmer cũng có cái nhìn tương tự. Người Hy Lạp, người Roma gọi những người sống nơi các vùng biên của mình là dân man di. Nguồn gốc của từ này bắt đầu trong tiếng Hy Lạp cổ là “barbaroi”, phản ánh cách người Hy Lạp mô tả giọng nói “kỳ lạ” của dân vùng biên, “bar… bar…”.  Phải chăng có ruộng lúa, nhà nước, tôn giáo, chữ viết mới là văn minh? Câu trả lời có thể làm cho nhiều độc giả ngạc nhiên: không phải các dân du mục, dân miền núi không biết đến nhà nước, tôn giáo, chữ viết, thi cử, luật pháp… mà họ chủ động leo lên núi để “trốn” nhà nước, “trốn” văn minh. Mỗi khi nhà nước tiến thêm một bậc lên núi thì người Hmông, người Nùng lại lên cao thêm một bậc nữa, nhằm thoát ra ngoài tầm tay của nhà nước. Họ là những người chủ động chạy khỏi “văn minh” vì họ không muốn rơi vào thảm họa của nhà nước và định cư: như dịch bệnh, xung đột xã hội gay gắt, tổ chức thu thuế, bắt lính, gây ra chiến tranh giữa nhà nước, tôn giáo… Họ ý thức được rằng nhà nước ở đồng bằng là quá “cầu kỳ”, “phức tạp” với luật lệ, quan chế, thi cử… không linh hoạt và mất nhiều công sức để tổ chức. Chiến tranh, xung đột nổi dậy ở đồng bằng quá thảm khốc. Trong khi đó, văn học dân gian, quan hệ thân tộc, liên minh lỏng lẻo giúp họ xây dựng một cấu trúc xã hội linh hoạt, đơn giản, và cơ động. Họ cùng không muốn trói buộc khả năng sinh tồn của mình bằng cách lệ thuộc vào một nhóm nhỏ cây trồng, vật nuôi với tỉ lệ rủi ro cao (James Scott 2009).  Cuối cùng, góc nhìn này rõ ràng là đáng để tham khảo dù nhiều ý tưởng nêu ra ở đây với mục đích thúc đẩy những cách nghĩ khác về một câu chuyện đã trở nên quen thuộc. Sẽ rất dễ dàng để chỉ ra lợi ích của nông nghiệp, của nhà nước. Bài viết này hoàn toàn không có ý định khuyên độc giả rời bỏ nhà nước, rời bỏ thành phố, làng mạc để vào rừng sống cuộc đời săn bắn hái lượm. Viết những điều trên đây cũng không phải là để “ngợi ca” săn bắn hái lượm, lãng mạn hóa cuộc sống của dân du mục, cổ vũ cho du canh, du cư, hay hô hào thuyết vô chính phủ (anarchism). Bản thân tôi cũng không muốn làm thành viên của một bộ lạc du canh du cư, đồng thời cũng chưa có ý định thay đổi thực đơn lúa gạo, bánh mỳ hay thịt gà trong tương lai gần. Nông nghiệp, định cư, nhà nước đóng vai trò lớn trong tiến trình tiến hóa của loài người, là điều không thể phủ nhận. Điều quan trọng ở đây là nhận thức được rằng trong mỗi bước đi của nhân loại, lựa chọn một mô hình hay cách thức tổ chức xã hội nào đó, dù là một quyết định được cho là “hoàn hảo”, hay bước tiến vĩ đại đi chăng nữa, con người đều phải trả một cái giá nhất định. Ý thức điều này giúp chúng ta đưa ra được những lựa chọn đúng đắn cho tương lai của nhân loại.  “Hạt gạo làng ta  Có bão tháng bảy  Có mưa tháng ba  Giọt mồ hôi sa  Những trưa tháng sáu  Nước như ai nấu  Chết cả cá cờ  Cua ngoi lên bờ  Mẹ em xuống cấy”  Trần Đăng Khoa  —-  Tham khảo  Alain Bideau, Bertrand Desjardins and Hector Perez-Brignoli (eds.), Infant and Child Mortality in the Past (Oxford: Clarendon Press, 1997)  Diamond, Jared M. Guns, Germs, and Steel : The Fates of Human Societies. New York, NY [u.a.]: Norton, 2005.  Harari, Yuval N. Homo Deus: A Brief History of Tomorrow. London: Harvill Secker, 2016.  ———. Sapiens: A Brief History of Humankind. London: Harvill Secker, 2014.  Katherine A. Spielmann, ‘A Review: Dietary Restriction on Hunter-Gatherer Women and the Implications for Fertility and Infant Mortality’, Human Ecology 17:3 (1989), 321–45.  Peter J. Ucko and G. W. Dimbleby (eds.), The Domestication and Exploitation of Plants and Animals (London: Duckworth, 1969)  Scott, James C. Against the Grain: A Deep History of the Earliest States. New Haven: Yale University Press, 2017.  ———. The Art of Not Being Governed : An Anarchist History of Upland Southeast Asia. Yale University Press, 2009.       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Định hướng phát triển công nghệ sinh học của Trung Quốc      “Lĩnh vực công nghệ và khoa học sinh học đang bước vào thời kỳ thịnh vượng, đầu vào về vốn và nhân lực càng nhiều, thì lợi nhuận thu được từ nó sẽ càng cao”.  Ferid Murad, giải Nobel về Y học    Trong bối cảnh kinh tế sinh học đang trở thành một cú hích mới cho tăng trưởng kinh tế tiếp sau kinh tế mạng và rất nhiều quốc gia khác đang chạy đua để nắm được “điểm chốt” trong công nghiệp và công nghệ sinh học (CNSH), gần đây, nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel và một lực lượng đông đảo các nhà khoa học Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực sinh học đã gặp gỡ nhau ở Bắc Kinh để đưa ra những định hướng và giải pháp cho phát triển CNSH của Trung Quốc.    Tăng đầu vào đối với nghiên cứu cơ bản  “Đầu tư vốn của Trung Quốc cho nghiên cứu khoa học (NCKH) phục vụ cuộc sống như sinh học, nông nghiệp và các ngành khoa học liên quan còn rất thấp, chính phủ nên tạo ra môi trường tốt cho phát triển công nghiệp CNSH, và huy động tất cả sức mạnh trong xã hội để phát triển lĩnh vực này”, Ferid Murad, nhà khoa học đoạt giải Nobel về Y học nói. Lĩnh vực công nghệ và khoa học sinh học đang bước vào thời kỳ thịnh vượng, đầu vào về vốn và nhân lực càng nhiều, thì lợi nhuận thu được từ nó sẽ càng cao.  Nhà sinh lý học Mỹ đoạt giải Nobel Wiesel cũng cho rằng, Trung Quốc muốn thu được nhiều tiến bộ trong lĩnh vực tiên phong của CNSH, thì phải đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển lĩnh vực này. Có thể viện ra đây một ví dụ, năm 2003, kinh phí NCKH của Viện sức khỏe quốc gia Mỹ lên đến 27 tỷ USD, lớn hơn hai lần toàn bộ kinh phí đầu tư cho NCKH của Trung Quốc. Ngân sách chi cho những nghiên cứu cơ bản về khoa học đời sống của Mỹ chiếm 0.3% GDP của nước này, trong khi đó Trung Quốc chỉ chiếm 0.02%. Một điểm nữa, ở Mỹ, khoản tài chính khoảng 30 tỷ USD đến từ những tổ chức công nghiệp và nhiều quỹ khác nhau, nhưng Trung Quốc lại không có được những nguồn như thế. Và theo giáo sư Wu Rui, nhà sinh học nổi tiếng của đại học Cornell, trong khoảng thời gian 10 đến 15 năm tới, ngân sách dành cho NCKH cơ bản phải được tăng lên dần dần, và đến năm 2020, ngân sách cho NCKH trong lĩnh vực sinh học phải đạt đến 0.1% GDP.  Lin Wenjie, giáo sư danh dự của Đại học Hồng Kông và Viện Khoa học Quốc gia Trung Quốc cũng đã chỉ ra nhiều mối quan tâm trong khoa học cơ bản. Ông nhấn mạnh, kiên nhẫn là cần thiết trong NCKH. Từ khoa học tới công nghệ là cả một quá trình dài. Nghiên cứu cơ bản không chỉ gói gọn trong khuôn khổ tạo ra thành quả trong một thời gian ngắn. Zuo Tianjue, chủ tịch danh dự của Viện quốc tế về phát triển và giáo dục trong nông nghiệp và khoa học đời sống (IDEALS) thì cho rằng, “Sẽ là sai lầm khi một vài trường đại học cắt bỏ những môn sinh học thông thường và tập trung vào chuyên đề kỹ sư sinh học. Khả năng về khoa học công nghệ của một quốc gia phụ thuộc cả vào khoa học cơ bản và công nghệ tiên tiến. Cả hai đều không thể coi nhẹ, mà ngược lại, đều phải được chú trọng đầu tư. Chỉ có làm như thế mới đem lại lợi nhuận”.  Ưu tiên đặc biệt các ngành mũi nhọn  “Cha đẻ của bò vô tính”, Yang Xiangzhong, giáo sư Đại học bang Connecticut, Mỹ, muốn gửi thông điệp khuyến khích Trung Quốc thực hiện nghiên cứu phát triển điều trị vô tính. Theo Yang, những nguyên nhân xã hội, tôn giáo đã gây cản trở cho phát triển CNSH phôi ở các quốc gia phương Tây. Thủ tục xem xét và phê chuẩn không hấp dẫn đã làm nản lòng nhiều công ty về y tế. Hiện tại, những nghiên cứu về công nghệ phôi tiến hành trong các phòng thí nghiệm phương Tây chỉ tập trung vào các mẫu động vật, trong khi Trung Quốc có thuận lợi hơn trong việc thực hiện trị bệnh vô tính cho người, đồng thời cũng có một môi trường nghiên cứu dồi dào và khá thoải mái. Nếu Trung Quốc có thể đưa ra những chính sách, cung cấp tài chính đầy đủ và tạo được môi trường nghiên cứu tốt thì quốc gia này sẽ trở thành nước đi đầu trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ phôi.  “Nguồn ngân sách giới hạn phải được dùng vào những nghiên cứu cốt yếu. Đừng bao giờ bỏ lỡ những cơ hội vàng chỉ có thể chợt đến trong giây lát”, Yang gợi ý rằng việc sử dụng ngân sách dành cho nghiên cứu phải được lựa chọn rất cẩn thận, và chỉ tập trung vào những lĩnh vực đang bắt đầu có nhiều triển vọng và đi đầu thế giới.  Để giành được những lợi thế và tạo ra bứt phá, giáo sư Wu cho rằng đất nước phải thiết lập một kế hoạch nhóm dự án lớn để hỗ trợ cho 80-100 lĩnh vực sinh học quan trọng trong 10 năm tới, và tập hợp các nhà khoa học xuất sắc trong lĩnh vực sinh học để gia tăng sức mạnh nghiên cứu. Ngân sách chi tiêu cho nghiên cứu là phải cho 10 năm, và lượng ngân sách đó phải đủ cho mỗi kế hoạch nhóm dự án lớn để thu hút ít nhất 10 nhà khoa học xuất sắc cùng tiến hành nghiên cứu trong 10 năm.  Tăng đầu ra số nhà sinh học chất lượng cao  Thống kê cho thấy, số lượng các nhà sinh học trong nước, những phòng thí nghiệm được trợ giúp bởi chính phủ và số luận án xuất bản năm gần đây, Trung Quốc và Mỹ gần tương đương nhau. Tuy nhiên, số bài báo nghiên cứu có ảnh hưởng được xuất bản bởi các nhà nghiên cứu Trung Quốc trong lĩnh vực sinh học thấp hơn 4% so với các nhà nghiên cứu Mỹ. Đối mặt với thực trạng trên, Wu Rui chỉ ra rằng, sự thiếu hụt các nhà khoa học tài năng và sự không đủ của ngân sách nghiên cứu sẽ dẫn tới sự không hoàn thiện trong thủ tục phê chuẩn dự án và hệ thống cung cấp kinh phí nghiên cứu. Do khả năng hỗ trợ tài chính thấp và thời gian hỗ trợ ngắn (2-3 năm), nên hầu hết các nhà khoa học chỉ chọn những dự án dễ dàng thu được kết quả, tuy nhiên, loại công việc nghiên cứu này lại thiếu khả năng đổi mới và sáng tạo. Do vậy, hầu hết các bài báo nghiên cứu chỉ được xuất bản trên các tạp chí trong nước, và chỉ có một vài bài báo được đăng trên những tạp chí quốc tế có ảnh hưởng lớn.  Để giải quyết được vấn đề thiếu hụt các nhà sinh học chất lượng cao ở Trung Quốc, giáo sư Wu Rui cho rằng, một mặt hệ thống đào tạo trong các viện, trường đại học phải được cải thiện để nuôi dưỡng nhiều nhà khoa học sáng tạo trong lĩnh vực sinh học, mặt khác ngân sách dành cho nghiên cứu phải đủ mạnh, môi trường làm việc thông thoáng và việc quản lý phải mềm dẻo để thu hút một lượng lớn các nhà sinh học hàng đầu ở nước ngoài trở về Trung Quốc phục vụ. Trung Quốc cũng nên thiết lập một quỹ nghiên cứu mới giống như những cái mà Mỹ đã làm để khuyến khích và thúc đẩy những kế hoạch nghiên cứu nhóm, và tạo cơ hội cho các nhà sinh học cùng hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ nguồn thông tin để cuối cùng cho ra được những kết quả và bài báo nghiên cứu có ảnh hưởng lớn.    Cải cách hệ thống phê duyệt dự án  Trung Quốc cần phải thiết lập một hệ thống phê duyệt khoa học thống nhất, và tiếp nhận các chỉ số hàn lâm quốc tế như số bài báo được xuất bản, chất lượng bài báo và uy tín trong giới hàn lâm quốc tế làm tiêu chuẩn đánh giá. Theo giáo sư Wu, đối với việc phê chuẩn và xem xét những dự án lớn, Trung Quốc nên mời những chuyên gia quốc tế có năng lực cao tham gia vào ủy ban phê duyệt dự án, và số chuyên gia quốc tế này phải chiếm hơn một nửa trong ủy ban. Chỉ như thế mới có được đánh giá công bằng, chính xác và lựa chọn được những dự án thích hợp để đầu tư. Ông hồ hởi bày tỏ, “Tôi rất hạnh phúc khi thấy Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc đã bắt đầu mời những chuyên gia đẳng cấp quốc tế tham gia vào công việc thẩm định và phê chuẩn một số dự án ở Bộ Khoa học đời sống. Tôi hy vọng rằng, khả năng tiếp cận mới đối với việc phê chuẩn dự án sẽ được mở rộng cho tất cả các lĩnh vực khoa học đời sống, và thậm chí, có thể mở rộng tới tất cả các lĩnh vực giáo dục khoa học”.  Đ.Phường (Theo PDO)    ———  CHÚ THÍCH ẢNH: Trang web của công ty Sinobio ở Thẩm Quyến. Công ty này tuyên bố trị được một số loại ung thư nhờ liệu pháp gene.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Định hướng “quốc sách hàng đầu”      “Làm thế nào, dùng biện pháp gì để tạo tiền đề cho KH&amp;CN nước nhà trong giai đoạn 2007 – 2010 tiến nhanh hơn nữa?” là vấn đề mà Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đặt ra trong buổi làm việc với Bộ KH&amp;CN ngày 29/8. Cũng trong buổi làm việc này, lãnh đạo Văn phòng Chính phủ, các Bộ GD&amp;ĐT, NN&amp;PTNT, KH&amp;ĐT, GTVT, Tài chính, Công Thương, Viện KHCN VN và KHXH VN đã nêu thực trạng và đề xuất kiến nghị để phát triển, ứng dụng KH&amp;CN hiệu quả ở ngành mình.    “Có thể nhìn lại quá trình phát triển chính sách KH&CN của Việt Nam qua 8 chữ: thập kỷ 60 là ‘Then chốt’, thập kỷ 70 là ‘Nền tảng’, thập kỷ 80 là ‘Động lực’, thập kỷ 90 là ‘Quốc sách’. Nhìn ra thế giới, cách đây 40 năm Hàn Quốc bắt đầu  xem KH&CN là quốc sách, Thái Lan cách đây 20 năm cũng xem KH&CN là quốc sách. Khi nào thì KH&CN được xem là quốc sách? Là khi KH&CN công nghệ chưa mạnh, nhưng đất nước rất cần KH&CN để phát triển” –  Trước khi trình bày phương hướng phát triển KH&CN Việt Nam từ nay đến 2010, Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong đã đánh giá tình hình KH&CN như vậy.               Bộ KH&CN sẽ lập các nhóm, tập thể KH&CN mạnh để giải quyết các nhiệm vụ Quốc gia đặc biệt quan trọng với chính sách đãi ngộ riêng biệt.   Bộ trưởng Hoàng Văn Phong            Bộ trưởng Hoàng Văn Phong cho biết, những năm qua Bộ KH&CN đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ về hệ thống quản lý, tài chính, nguồn nhân lực KH&CN… Nhưng dù đã có khá nhiều văn bản pháp lý về KH&CN, một trong những nguyên nhân khiến KH&CN nước ta chưa tạo được sức mạnh đột phá là do khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện. Vì vậy, Bộ trưởng nhấn mạnh: hoàn thiện môi trường pháp lý là một trong những nhiệm vụ lớn của Bộ KH&KH. “Vì sao đã có phòng thí nghiệm trọng điểm mà vẫn chưa có quy chế hoạt động? Vì khi Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định 115 chưa đi vào cuộc sống thì Quy chế phòng thí nghiệm trọng điểm cũng chưa thể ra được”.  Trong giai đoạn tới, Bộ KH&CN tiếp tục đẩy mạnh thị trường công nghệ, đẩy mạnh sàn giao dịch điện tử, xây dựng và trình Chính phủ Đề án chính sách nhập khẩu công nghệ, thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức thực hiện Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN, phấn đấu đến 2010 có 1.000 doanh nghiệp KH&CN. “Việc ứng dụng hiệu quả các chương trình, đề tài nghiên cứu trên các lĩnh vực đóng tàu, cầu tàu trọng tải lớn, chế tạo xi măng lò đứng, thiết kế nhà máy thủy điện, phát triển phần mềm… cho thấy xu hướng “tiếp cận” các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ cũng như doanh nghiệp KH&CN thời gian qua đã phát huy tác dụng”.  Tăng cường tiềm lực KH&CN, chủ động hội nhập KH&CN quốc tế, quy hoạch phát triển các tổ chức KH&CN tại các vùng kinh tế (vùng trọng điểm hoặc vùng khó khăn) được Bộ KH&CN đặc biệt chú trọng trong thời gian tới. Bộ trưởng Hoàng Văn Phong cho biết: “Bộ sẽ lập các nhóm, tập thể KH&CN mạnh để giải quyết các nhiệm vụ quốc gia đặc biệt quan trọng với chính sách đãi ngộ riêng biệt”.  Việc thực hiện các định hướng phát triển KH&CN nước nhà trong thời gian qua đã thu được kết quả, song điểm hạn chế nhất trong định hướng KH&CN hiện nay, theo Bộ trưởng Hoàng Văn Phong, là không nêu ra được điểm đột phá để phát triển: “Nhiều ý kiến đề nghị phát triển các ngành Khoa học Vật liệu, Công nghệ Thông tin, Tự động hóa… Nhưng đến giờ cộng đồng khoa học vẫn chưa  xác định được mũi nhọn nào sẽ là sức mạnh tạo sức bật cho nền kinh tế”.  Để hoạt động phát triển KH&CN trong thời gian tới được thuận lợi, Bộ trưởng đã kiến nghị với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo: Các Bộ, ngành địa phương bảo đảm sử dụng kinh phí; Bộ GD&ĐT, KH&ĐT và các Bộ, ngành liên quan làm tốt việc thống kê KH&CN để Bộ KH&CN có cơ sở dữ liệu đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN; Các trường ĐH sớm hình thành hệ thống ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; Các cơ quan thông tin đại chúng cổ vũ kịp thời các điển hình trong hoạt động KH&CN; Cho phép sử dụng một phần kinh phí sự nghiệp KH&CN hàng năm để hỗ trợ học bổng nghiên cứu, đào tạo cán bộ KH&CN trình độ cao.  Cần nhất là nhân lực KH&CN  Bên cạnh các kiến nghị về đổi mới quy chế tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học (Bộ NN&PTNT), đề nghị Chính phủ tập trung đầu tư nghiên cứu trên các lĩnh vực: nhiệt điện, thủy điện, giàn khoan dầu, năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), công nghệ Vũ trụ (Viện KH&CN VN), xây dựng cơ chế nghiên cứu liên ngành (Bộ GTVT), ứng dụng CNTT để thống kê nhân lực KH&CN (Bộ Thông tin và Truyền thông), rà soát cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN (Bộ Tài chính)… nổi lên kiến nghị về đầu tư cho nguồn nhân lực KH&CN.  Tổng kinh phí đầu tư cho KH&CN của nước ta chưa nhiều, song có một thực tế là nhiều tổ chức KH&CN không thể “giải ngân” hết vì thiếu nhân lực KH&CN. Ông Đào Xuân Học, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: “Khi Bộ NN&PTNT nhận được 100 tỷ đồng cho nghiên cứu công nghệ sinh học, thì năm đầu tiên chỉ “tiêu” được có 18 tỷ!”  Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào cho biết: Bộ Công Thương có thể ký duyệt các dự án hàng trăm triệu USD, nhưng để xây dựng một trường “Đại học Công nghệ” đào tạo nhân lực cho ngành của mình thì lại nằm ngoài khả năng.  Thiếu một cơ sở đào tạo đội ngũ KH&CN hiệu quả, việc “chuyển giao tri thức” tại nhiều Bộ, ngành thời gian qua thường theo các “kênh” đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ phát triển (ODA), hay qua các đề tài, dự án hợp tác với nước ngoài. “Chủ một doanh nghiệp ô tô trong nước rất thành công là nhờ có con từng làm trong một hãng ô tô của nước ngoài” – Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào nêu ví dụ.  Bộ trưởng KH&CN Hoàng Văn Phong nêu một thực tế: “Một số người giỏi, ra nước ngoài, học hết tiến sĩ, quay trở lại trong nước giảng dạy và “chấm dứt nghiên cứu; một số khác vẫn nghiên cứu, song với một thu nhập “chưa tường minh” từ kinh phí đề tài”, và đề nghị: “Phải đảo ngược lại, trước tiên là đầu tư cho con người, rồi từ đó mới đầu tư cho công việc”.     Cơ chế xác định nhu cầu              Từ nay đến cuối năm xây dựngmột cơ chế xác định nhu cầu KH&CN: Ai cần? Ai làm và ai chi cho KH&CN?     Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân        Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, hiện nước ta mới có khoảng 15.000 tiến sĩ ở các trường, viện và doanh nghiệp, chỉ bằng số tiến sĩ của 10 trường đại học nước ngoài và quá ít so với dân số 85 triệu. Vì vậy  “Chương trình 20.000 tiến sĩ” sẽ góp phần giải quyết vấn đề nhân lực KH&CN ở Việt Nam, miễn là việc đào tạo phải gắn liền với nghiên cứu và phát triển kinh tế.  Trước mắt, “chúng ta ít người, ít tiền nên việc lựa chọn đầu tư nghiên cứu KH&CN là hàng đầu”. Vậy làm thế nào để kinh phí đầu tư cho KH&CN hiệu quả hơn? Phó Thủ tướng đề nghị Bộ KH&CN từ nay đến cuối năm xây dựng một cơ chế xác định nhu cầu KH&CN: Ai cần? Ai làm và ai chi cho KH&CN? Phải xác định được nhu cầu mới thực hiện hoạt động KH&CN. “Doanh nghiệp thật sự cần KH&CN thì phải góp người, góp tiền đầu tư cho KH&CN. Còn nếu nói cần mà không chi thì có nghĩa là không cần”. Nhà nước hỗ trợ nghiên cứu KH&CN cho các doanh nghiệp nhưng chỉ chi cho những công nghệ “có khả năng lặp lại”, không chỉ làm lợi cho một doanh nghiệp mà cả nền kinh tế. Với một số đề tài nghiên cứu ứng dụng, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đề nghị từ năm 2008 sẽ thí điểm quản lý tài chính theo “đầu ra” để tránh tình trạng mà có nhà khoa học gọi là “mất một nửa thời gian nghiên cứu cho giải trình tài chính”.  Đánh giá công tác quản lý KH&CN của Bộ KH&CN những năm qua là đúng hướng và bước đầu có hiệu quả, Phó Thủ tướng yêu cầu trong thời gian tới, Bộ KH&CN tổ chức tốt công tác đánh giá, nâng cao tuyên truyền nhận thức về chính sách KH&CN. Ông cũng đề nghị làm một cuốn sách về những công nghệ ứng dụng hiệu quả để giới thiệu với doanh nghiệp.  Anh Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Djoser: Kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập      Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập. Nó được xây dựng cách đây khoảng 4.700 năm tại di chỉ khảo cổ Saqqara với sáu tầng trên mặt đất và một loạt đường hầm bên dưới.    Tên gọi “kim tự tháp bậc thang Djoser” bắt nguồn từ tên của Pharaoh Djoser (hoặc Pharaoh Netjerykhet), vị vua cai trị triều đại thứ ba ở Ai Cập. Các học giả cho rằng người lập kế hoạch xây dựng kim tự tháp này là tể tướng Imhotep, người sau đó đã được người dân tôn sùng như một vị thần nhờ các đóng góp to lớn của ông.  “Pharaoh Djoser đã ban cho Imhotep một vinh dự hiếm có, cho phép khắc tên và tước vị của ông ở phần đế của một trong những bức tượng nhà vua. Dòng chữ trên bức tượng ghi chức danh của ông là trưởng nhóm điêu khắc, một cụm từ phù hợp với người đã thiết kế kim tự tháp Ai Cập đầu tiên”, nhà Ai Cập học Marc Van De Mieroop viết trong cuốn sách A History of Ancient Egypt (Lịch sử Ai Cập cổ đại) xuất bản năm 2010.    Kim tự tháp Djoser có nguồn gốc ban đầu là một lăng mộ mastaba – một cấu trúc hình chóp cụt với phần đỉnh bằng phẳng và các mặt bên nằm nghiêng. Qua nhiều lần cải tạo và mở rộng, lăng mộ đã phát triển thành một kim tự tháp cao 60m, gồm sáu tầng xếp chồng lên nhau. Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng kim tự tháp Djoser từ 330.400m3 đá và đất sét. Các đường hầm bên dưới kim tự tháp tạo thành một mê cung dài khoảng 5,5km.    Bao phủ bên ngoài kim tự tháp Djoser là những khối đá vôi khai thác tại mỏ Tura, nhưng hầu hết chúng không còn tồn tại cho đến ngày nay.    “Trong khoảng thời gian trước đó, các Pharaoh thường được chôn cất trong những lăng mộ mastaba nhỏ hơn, nơi mà những tên trộm có thể dễ dàng xâm nhập. Kim tự tháp bậc thang Djoser sẽ khiến một tên trộm gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận phòng chôn cất bằng cách đào sâu từ trên xuống. Đây có thể là lý do tại sao người Ai Cập cổ đại xây dựng kim tự tháp bậc thang”, nhà Ai Cập học Reg Clark viết trong cuốn sách Securing Eternity: Ancient Egyptian Tomb Protection from Prehistory to the Pyramids (Bảo vệ sự vĩnh hằng: Bảo vệ lăng mộ Ai Cập cổ đại từ thời tiền sử đến các kim tự tháp) được xuất bản vào năm 2019.    Mặc dù kim tự tháp bậc thang cung cấp khả năng bảo vệ tốt hơn, nhưng cuối cùng những kẻ trộm mộ đã đột nhập vào nó và lấy đi hầu hết các đồ tùy táng – bao gồm cả xác ướp của Pharaoh Djoser.    Kim tự tháp Djoser nằm ở trung tâm của một khu phức hợp có diện tích 15ha. Xung quanh khu vực hợp là một bức tường đá vôi, những cánh cửa giả và lối vào thực sự ở phía Đông Nam. Phía Bắc của kim tự tháp bao gồm một ngôi đền cùng với bức tượng nhà vua. Phía Nam kim tự tháp có một cung điện lớn với những phiến đá được xác định là mốc ranh giới.    “Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng một số tòa nhà mặt tiền trong khu phức hợp, bao gồm một loạt nhà nguyện ở phía Đông Nam của kim tự tháp nhằm phục vụ cho mục đích nghi lễ”, nhà Ai Cập học Mark Lehner viết trong cuốn sách The Complete Pyramids: Solving The Ancient Mysteries (Các kim tự tháp hoàn chỉnh: Giải đáp những bí ẩn cổ đại) được xuất bản vào năm 2008.    Bên dưới kim tự tháp bậc thang Djoser có những đường hầm và căn phòng kết nối với nhau. Ở phần trung tâm là một hầm sâu 28m dẫn đến phòng chôn cất của Pharaoh Djoser.    “Mặc dù xác ướp Pharaoh Djoser không còn nữa, nhưng các nhà nghiên cứu tham gia dự án bảo tồn phòng chôn cất đã phát hiện 32 mảnh vỡ quan tài làm bằng đá granit của nhà vua”, Zahi Hawass, cựu Bộ trưởng Bộ Cổ vật Ai Cập, cho biết. Từ các dấu vết còn sót lại, các nhà khảo cổ ước tính cỗ quan tài của nhà vua nặng khoảng 1,6 tấn.    Trong phòng chôn cất của Pharaoh Djoser, ban đầu những người thợ xây dựng dự định trang trí trần nhà bằng các khối đá vôi khắc ngôi sao năm cánh, nhằm mô phỏng một bầu trời đầy sao. Nhưng không rõ vì lý do gì, họ đã loại bỏ phần trang trí này, chỉ để lại trần nhà làm bằng đá granit trơn.    Bên dưới kim tự tháp có hai lối đi ngầm rẽ nhánh theo ba hướng khác nhau. Chúng dẫn đến một phòng trưng bày, khu vực đặt đồ cúng và một căn phòng rộng lớn khác chưa hoàn thiện có thể từng đóng vai trò như một cung điện ngầm bên dưới mặt đất. Tại cung điện ngầm, người ta phát hiện ba cánh cửa giả chứa những tấm bia đá có hình chạm khắc nhà vua tham gia vào các nghi lễ. Căn phòng được trang trí bằng gạch màu xanh lam, tương tự như trong cung điện ngoài đời thực của nhà vua ở Memphis.    Một đường hầm ở phía Đông kim tự tháp chứa 40.000 bình làm bằng đá, trong đó rất nhiều chiếc bình thuộc về tổ tiên của nhà vua. “Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy những bộ hài cốt người và quan tài gần đó, bao gồm xương hông của một phụ nữ khoảng 18 tuổi khi cô qua đời. Một số hài cốt phụ nữ có niên đại từ nhiều thế hệ trước thời đại của Pharaoh Djoser, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định họ là ai”, Lehner cho biết.    Việc xây dựng kim tự tháp bậc thang đánh dấu sự khởi đầu của một chương trình xây dựng kim tự tháp đầy tham vọng mà đỉnh cao là Kim tự tháp lớn ở Giza.    Pharaoh Djoser là vị vua được người dân tôn kính, và nhiều thế kỷ sau khi ông qua đời, những người thuộc bộ máy cai trị ở Ai Cập cổ đại vẫn muốn được chôn cất gần kim tự tháp bậc thang của ông. Vào năm 2022, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy lăng mộ của một vị quan như vậy – được đặt tên là Mehtjetju – nằm ngay bên cạnh kim tự tháp bậc thang. Mehtjetju sống cách đây khoảng 4.300 năm, nhiều thế kỷ sau triều đại của Djoser.    Một câu hỏi cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp là tể tướng Imhotep, người đã thiết kế và xây dựng kim tự tháp bậc thang Djoser, được chôn cất ở đâu? Nhiều nhà Ai Cập học nghi ngờ rằng lăng mộ của ông có thể nằm gần tác phẩm nổi tiếng nhất của mình.    Từ năm 2006 đến năm 2020, Ai Cập đã triển khai một dự án bảo tồn kim tự tháp bậc thang Djoser với sự giúp đỡ của các kỹ sư đến từ công ty kỹ thuật Cintec có trụ sở tại Anh. Họ đã sử dụng các túi khí khổng lồ để giữ vững phần mái của kim tự tháp, trong khi các công nhân sửa chữa những cấu trúc bên dưới có dấu hiệu bị hư hỏng.    “Nhóm nghiên cứu đã thu thập tất cả những khối đá lỏng lẻo, hoặc rơi xuống nền cát, xử lý chúng và đặt trở lại kim tự tháp sau khi lấp đầy các khoảng trống bằng vữa. Loại vữa này có cùng tỷ lệ giữa đá vôi và cát được người Ai Cập cổ đại sử dụng”, Hawass cho biết.      Thuyết Xuân    Author                .        
__label__tiasang DNA cổ đại kể về lịch sử di cư của loài người      Hãy xem xét những cuộc di cư bất ngờ của những người vốn sống ở các cùng thảo nguyên Trung Á, phía bắc của biển Đen và biển Caspia. Khoảng 5.300 năm trước, văn hóa săn bắt – hái lượm bản địa đã bị thay thể ở nhiều nơi bởi những người du mục, được gọi là Yamnaya – những người có thể di cư một cách nhanh chóng nhờ thuần hóa ngựa và phát minh ra xe có bánh và để lại những khu an táng lớn với nhiều đồ tùy táng.      Những hiện vật các nhà khảo cổ tìm được từ quần thể cư dân Yamnaya  Các nhà khảo cổ học từ lâu đã biết rằng công nghệ của người Yamnaya đã lan tới châu Âu. Nhưng dấu hiệu đáng kinh ngạc từ DNA cổ đại là con người cũng di chuyển – trên tất cả các tuyến đường đến bờ biển Đại Tây Dương ở phía tây Âu tới phía Bắc Mông Cổ và Nam Ấn. Cuộc di dân rộng lớn này đã giúp giải thích sự lan tỏa của các ngôn ngữ Ấn Âu. Và nó cũng đã thay thế đáng kể gene của những cư dân bản địa chuyên săn bắt – hái lượm ở châu Âu với dấu ấn của DNA thảo nguyên, như đã xảy ra ở Anh bởi cuộc di cư của người thuộc nền văn hóa Bell Beaker.  Reich nói: “Toàn bộ hiện tượng mở rộng thảo nguyên này là một ví dụ ấn tượng về những gì DNA cổ đại có thể chỉ ra.” Và Cunliffe cho biết thêm: “Không ai, kể cả những nhà khảo cổ mơ mộng nhất, có thể dự kiến được rằng tồn tại nguồn gene thảo nguyên cao đến vậy trong quần thể người Bắc Âu vào thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên.”  Theo Novembre, việc phát hiện DNA cổ đại này cũng giải thích “kết quả kỳ lạ” của kết nối di truyền được gợi ý giữa hệ gene người châu Âu hiện đại và người Mỹ bản địa. Liên hệ này là bằng chứng từ những người đã sống ở Siberia cách đây 24.000 năm, sở hữu DNA được tìm thấy ở cả người Mỹ bản địa và quần thể cư dân Yamnaya cùng với hậu duệ châu Âu của họ.  Một cái nhìn mới từ Đông Nam Âu  Bài báo thứ hai trên Nature của Reich về lịch sử gene của đông nam Âu, tiết lộ thêm một cuộc di dân thông qua việc mở rộng diện tích trồng trọt ở châu Âu trên cơ sở dữ liệu từ 255 cá thể đã sống vào khoảng 14.000 đến 2.500 năm trước. Nó cũng cho biết thêm một bằng chứng mới rất hấp dẫn – bằng chứng đầu tiên mang tính thuyết phục về sự pha trộn di truyền trong cư dân châu Âu đã bị thiên lệch về một giới tính.  Nhóm của Reich đã tìm thấy rằng sau cuộc di dân của những người làm nông nghiệp, gene của các cư dân săn bắt – hái lượm ở Bắc Âu duy trì số lượng nam nhiều hơn nữ. Reich cho biết: “Các bằng chứng khảo cổ chỉ ra rằng khi những người nông dân lần đầu đến Bắc Âu, họ đã dừng chân tại một vĩ độ nơi cây trồng không thể phát triển tốt. Vì thế, có một biên giới tồn tại lâu dài giữa những người làm nông và người săn bắt – hái lượm trong 2.000 năm.” Khoảng thời gian này đã tạo điều kiện cho hai bên có nhiều thời gian tương tác. Và theo Reich, có thể là trong quá trình tương tác kéo dài này, một động lực xã hội nào đó khiến nữ nông dân có xu hướng hòa nhập vào cộng đồng săn bắt – hái lượm.  Reich nói rằng đây mới chỉ là dự đoán, nhưng thực tế là DNA cổ đại đã cung cấp gợi ý về vai trò và địa vị xã hội khác nhau giữa nam và nữ trong xã hội cổ đại.  Sự hỗ trợ của máy móc tiên tiến  Những bước tiến trong khoa học này của các nhà khảo cổ đã được thúc đẩy bằng ba sự phát triển trọng yếu. Đầu tiên là nhờ máy móc tân tiến từ Illumia và các công ty khác đã giúp giảm đáng kể chi phí (và tăng tốc độ) việc giải trình tự gene. Thứ hai là khám phá được dẫn dắt bởi Ron Pinhasi – nhà khảo cổ học ở trường đại học Dublin. Nhóm của ông đã chỉ ra rằng xương đá (petrous bone) – bao gồm cả xương tai giữa, chứa DNA nhiều gấp 100 lần so với các phần xương khác của người cổ đại nên mang lại một lượng lớn vật liệu di truyền có sẵn cho nghiên cứu. Thứ ba là phương pháp do Reich hoàn thiện cho phép đọc mã di truyền của 1,2 triệu mẫu từ những phần khác của DNA được chọn lựa một cách cẩn thận (được gọi là đa hình đơn nucleotide) thay vì phải giải trình tự toàn bộ hệ gene. Phương pháp này đã góp phần gia tăng tốc độ phân tích và giảm chi phí nghiên cứu.  Lĩnh vực mới này đã tạo ra sự chấn động khi Svante Pääbo của Viện Max Planck về Nhân học tiến hóa trong quá trình làm việc với Reich và nhiều công sự khác đã sử dụng DNA cổ đại để chứng minh người Neanderthals và người hiện đại hòa huyết. Kể từ đó, số lượng  DNA của người cổ đại được Reich phân tích đã tăng đột biến. Phòng nghiên cứu của ông đã lập tới 3/4 dữ liệu về gene người cổ đại, bao gồm cả những dữ liệu chưa công bố, tương đương 3.700 hệ gene. Reich nói: “Mỗi lần chúng ta đạt được bước nhảy vọt về số lượng cá thể người cổ đại đã được giải trình tự gene, chúng ta có thể trả lời được những nghi vấn mà chúng ta chưa nghĩ đến trước đây.”  Hiện nay, với hàng trăm ngàn bộ xương cổ đại (và các xương đá của chúng) vẫn đang được phân tích, lĩnh vực phân tích DNA cổ đại đã sẵn sàng để giải quyết các câu hỏi hiện có và cả những câu hỏi mới. Ví dụ, nhóm của Reich đang làm việc với Cunliffe và những người khác để nghiên cứu hơn 1.000 mẫu vật từ Anh để đo lường chính xác hơn sự thay thế của vốn gene tồn tại trên của quốc gia này đã bị thay thế bởi DNA liên quan đến người Bell Beaker. Cunliffe giải thích: “Bằng chứng mà chúng tôi có trong tay chứa  tới 90% gene đã bị thay thế nên rất có khả năng tìm được ra lời giải nhưng chúng tôi cần kiểm tra nhiều hơn nữa để biết chính xác có bao nhiêu quần thể người trước người Beaker đã thực sự tồn tại.”  Ngoài ra, những DNA cổ đại mang đến những nghiên cứu hứa hẹn không chỉ về sự di chuyển của những tổ tiên xa xôi mà cả các đặc điểm tiến hóa và sự dễ tổn thương với bệnh tật của người cổ đại. Reich giải thích: “Đây là công cụ khoa học mới, giống như khi phát minh ra kính hiển vi vào thế kỷ 17 đã giúp thúc đẩy nghiên cứu các khía cạnh sinh học mà trước đây không thể thực hiện được.”  Ví dụ là, các nhà khoa học tại trường đại học Copenhagen đã tìm thấy DNA của loài vi khuẩn gây bệnh dịch hạch trong quần thể người thảo nguyên. Nếu đúng là nhóm người di cư đến Anh 4.500 năm trước đã mang bệnh dịch theo cùng thì điều đó có thể giải thích vì sao số lượng dân cư đang trên đảo lại sút giảm nhanh chóng.  Những cơ hội khám phá vẫn còn ở phía trước. Cunliffe nhận định, “đây là một thời kỳ thú vị. DNA cổ đại làm khởi sắc ngành khảo cổ học theo cách mà rất ít người trong chúng ta có thể tiên đoán được, ngay cả vào 10 năm trước.”  Minh Thuận lược dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/02/180221131851.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNA tạo ra hành vi khác nhau ở các loài chó      Các nhà khoa học đã chỉ ra, những đặc điểm khác nhau về từng giống cho đều bắt nguồn từ gene. Những phát hiện này cũng có thể có liên quan đến gene và tính cách của con người.      Chó Collie biên giới (border collie) vẫn hỗ trợ đắc lực trong việc trông coi đàn cừu cho người nông dân Anh. Nguồn: independent.ie  Ở American Kennel Club, việc miêu tả các giống chó có thể giống như… hồ sơ hẹn hò trực tuyến: chó Collie biên giới (border collie) nghiện công việc, chó chăn cừu Đức (German shepherd) sẽ liều mạng vì những người thân yêu. Bây giờ, trong nghiên cứu toàn diện nhất của lĩnh vực này cho đến nay, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng những đặc điểm khác nhau như vậy thực sự bắt nguồn từ gene của giống chó. Những phát hiện này cũng có thể có liên quan đến gene và tính cách con người.  “Đây là một bước tiến lớn”, Elaine Ostrander – nhà di truyền học động vật có vú tại Viện nghiên cứu Hệ gene người quốc gia ở Bethesda, Maryland, cho biết. “Đây mới chỉ là một số lượng gene hữu hạn và vẫn còn nhiều gene cần nghiên cứu để biết thêm vai trò của chúng”.  Khi hệ gene của chó được giải trình tự vào năm 2005, các nhà khoa học nghĩ rằng có thể nhanh chóng có thể xác định được những gene mang lại tính cách đặc trưng cho mỗi giống chó. Nhưng họ đã tìm thấy rất nhiều biến thể ngay cả trong một giống chó đến nỗi họ không bao giờ có thể nghiên cứu đủ số lượng chó để có được những kết quả có ý nghĩa.  Vì vậy, trong nghiên cứu mới, Evan MacLean, một nhà tâm lý học so sánh tại Đại học Arizona ở Tucson, và Noah Snyder-Mackler tại Đại học Washington ở Seattle, cùng các đồng nghiệp đã bắt đầu bằng cách xem dữ liệu hành vi của khoảng 14.000 con từ 101 giống chó. Các phân tích từ Bảng câu hỏi nghiên cứu và đánh giá hành vi chó (C-BARQ), một loại bảng hỏi về tính cách thú cưng được phát triển bởi James Serpell, một nhà phong tục học tại Đại học Pennsylvania. C-BARQ đặt ra các câu hỏi như: chó của bạn làm gì khi có người lạ đến trước cửa? để chủ sở hữu mô tả khách quan 14 khía cạnh tính cách thú cưng, bao gồm khả năng huấn luyện, gắn bó và tính hung hãn. Kể từ khi khảo sát này được phát triển vào năm 2003, hơn 50.000 chủ sở hữu đã tham gia.  Nhóm nghiên cứu đã đối chiếu dữ liệu hành vi này với dữ liệu di truyền về giống từ các nhóm chó khác nhau. Họ không nhìn vào dữ liệu di truyền và hành vi của từng con mà tập trung vào xác định các điểm chung xuyên suốt một giống chó cụ thể. Tổng cộng, nhóm nghiên cứu đã xác định được 131 vị trí trong DNA của một con chó có thể giúp hình thành 14 đặc điểm tính cách chính. Các vùng DNA này giải thích khoảng 15% tính cách của mỗi giống chó, trong đó mỗi vùng chỉ có một tác động nhỏ. Khả năng huấn luyện, rượt đuổi và có xu hướng hung hăng với người lạ là những đặc điểm có khả năng di truyền cao nhất, các nhà khoa học nêu trong một bài báo trên bioRxiv.  Vị trí của các “điểm nóng” DNA này đều có ý nghĩa: ví dụ như một số vị trí nằm trong vùng hoặc gần với các gene liên quan đến tính hung hăng ở người, ví dụ DNA liên quan đến mức độ có thể huấn luyện của chó được tìm thấy trong các gene mà nếu ở người sẽ có liên quan đến trí thông minh và khả năng xử lý thông tin.  Những phát hiện này cho thấy hành vi vẫn được định hướng bởi cùng một gene, cho dù ở các loài khác nhau, MacLean nói. Và nếu, ví dụ, các gene gây lo âu ở chó cũng là các gene có chức năng tương tự ở người, thì khám phá này có thể dẫn đến các phương pháp điều trị tốt hơn cho các rối loạn liên quan đến lo âu, Serpell nói. “Đây là những thứ chúng ta có thể thấy trong tương lai”.  Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa liên kết các xu hướng hành vi cụ thể của một giống chó với bất kỳ gene cụ thể nào. Theo Heidi Parker, một nhà khoa học hệ gene tại Viện nghiên cứu Hệ gene người Quốc gia, Mỹ và là người tiên phong với một số công trình đầu tiên về hộ gene của chó: “Bài báo này không nêu được ra được đặc điểm của bất kỳ giống chó cụ thể với hành vi của chúng”.  Ví dụ nghiên cứu về hành vi của Serpell đã chứng tỏ giống chó pit bull hung hăng hơn các loài khác nhưng phân tích mới không nêu đến một thí nghiệm DNA liên quan đến hành vi của chó.  Dẫu sao Serpell và các đồng nghiệp của ông hiện đang bắt đầu thực hiện nhiều nghiên cứu về hành vi để tìm hiểu xem DNA có liên quan đến các biến thể trong một giống như thế nào. Công việc này mới được thực hiện ở quy mô nhỏ để xác định đúng loại gene dẫn đến các hành vi siêu thân thiện.  Cho đến khi phát hiện được nhiều sự kết nối hơn giữa gene và hành vi thì “tôi không biết liệu các kết quả nghiên cứu này có được chấp nhận rộng rãi hay không”, Robert Wayne – nhà sinh học tiến hóa tại Đại học California, Los Angeles, băn khoăn. Ông và chuyên gia di truyền chó Elinor Karlsson từ Đại học Y Massachusetts ở Worcester, chỉ ra: so với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này đã tìm ra vai trò lớn hơn của di truyền học trong việc định hình hành vi, và vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu hơn để chứng minh được nó.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/01/dog-breeds-really-do-have-distinct-personalities-and-they-re-rooted-dna    Author                Quản trị        
__label__tiasang DNA tuổi 60: Nhìn lại thập kỷ dữ liệu lớn      Ngày 28/2/1953, cấu trúc xoắn kép (double helix) của DNA được báo cáo trong bài báo dài vỏn vẹn một trang đăng trên tạp chí khoa học Nature (Anh) bởi hai nhà khoa học người Mỹ James Watson và người Anh Francis Crick tại ĐH Cambridge. Bài báo, một trong những phát hiện khoa học vĩ đại nhất thế kỷ trước, đánh dấu bước tiến lớn cho ngành khoa học sự sống (life sciences).     Nhân dịp này, xin chia sẻ với bạn đọc một số tổng kết ngắn gọn và quan  trọng của báo The Scientist (Mỹ) về một số thành tựu của ngành Genomics  [nghiên cứu gene và chức năng gene] trong thập kỷ vừa qua, tính từ năm  2003, khi bộ gene người “chính thức” được công nhận giải mã hoàn chỉnh.     2003 – Hoàn thành bản đồ gene người       Mặc dù được công bố vào năm 2001, nhưng thực sự đến năm 2003, hơn ba tỷ ký tự của bộ gene người mới hoàn toàn được công bố. Gần như ngay lập tức, các nhà khoa học đã tiến hành bước tiếp theo bằng dự án ENCODE (Encyclopedia of DNA Elements) với mục tiêu giải mã ý nghĩa các thành phần của ba tỷ ký tự bộ gene người, nỗ lực này được tài trợ bởi Viện Quốc gia về Nghiên cứu gene người (NHGRI) của Mỹ.      2004 – Công nghệ chip dữ liệu thể hiện gene ứng dụng trong y học      Công ty công nghệ sinh y học hàng đầu thế giới Roche được Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) thông qua ứng dụng y học đầu tiên sử dụng công nghệ chip dữ liệu thể hiện gene (microarray) chỉ chưa đầy một năm sau công bố báo chí của họ. Công nghệ microarray cho phép chúng ta đo đạc độ thể hiện (expression) của gene trong hơn 20 nghìn gene trong toàn bộ bộ gene con người, từ đó xác định được các gene có trong người của một loại bệnh cụ thể. Mặc dù hiện nay công nghệ mới chính xác và triển vọng hơn, nhưng microarray vẫn được dùng rộng rãi trong nghiên cứu y học bởi tính ưu việt về giá cả và nền tảng chuẩn hoá và ổn định trong phân tích thống kê.      2005 – Công nghệ giải mã trình tự bộ gene thế hệ mới (Next Generation Sequencing1)      Công ty công nghệ sinh học 454 Life Sciences (về sau được Roche mua lại) lần đầu tiên công bố công nghệ giải mã bộ gene thế hệ mới (tên là pryosequencing) giúp giảm đáng kể chi phí và thời gian để giải mã toàn bộ bộ gene người so với phương pháp truyền thống. Dự án bản đồ gene người bắt đầu năm 1990, công bố kết quả năm 2001, tốn hơn 3 tỷ USD; tại thời điểm đó, công nghệ cải tiến đẩy giá giải mã bộ gene còn 100 triệu, nhưng đến năm 2005 chi phí giải mã trình tự bộ gene giảm xuống hơn 10 lần, chỉ còn khoảng dưới 10 triệu USD (hình dưới), và còn giảm nữa trong những năm tiếp theo.      Cũng trong năm này, bản đồ haplotype2 đầu tiên của bộ gene người được công bố trên tạp chí Nature. Công trình là nỗ lực hợp tác quốc tế của các tổ chức nghiên cứu danh tiếng đứng đầu bởi Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc, với thành công trong việc xác định hơn một triệu ký tự DNA khác nhau đại diện cho bộ gene người (mỗi người chúng ta có bộ gene của hơn ba tỷ ký tự nhưng tới xấp xỉ hơn 99% là giống nhau, nỗ lực xác định hơn một triệu SNP (Single Nucleotide Polymorphism) tạo cơ sở cho rất nhiều phát hiện thành công về nguyên nhân các loại bệnh phổ biến cũng như hiếm trên thế giới.      Vẫn năm 2005 đánh dấu sự thành công đầu tiên của phương pháp GWAS (Genome-Wide Association Studies) với mục đích tìm ra những SNP đại diện cho những loại bệnh tật trên tập dữ liệu của nhiều bệnh nhân có cùng loại bệnh khi so sánh với những người khoẻ mạnh. Công trình được công bố trên tạp chí khoa học Science của Mỹ, là tiền đề cho rất nhiều nghiên cứu GWAS sau này.      Sự kiện quan trọng không thể bỏ qua trong năm 2005 là sự ra đời của nỗ lực giải mã bộ gene của bệnh ung thư của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, với cái tên: The Cancer Genome Atlas, viết tắt là TCGA (bốn ký tự DNA cũng là Thymine, Cytosine, Guanine, Adenine).     2006 – Công nghệ giải mã trình tự bộ gene người tiếp tục được cải tiến      Bản đồ gene người được sử dụng với mục đích tham chiếu cho các nghiên cứu bộ gene người tiếp tục được cải thiện chính xác hơn so với bản công bố năm 2001 và 2003. Cùng thời gian này, công nghệ giải mã bộ gene mới (SBS: Sequence by Synthesis) được Công ty Solexa, sau này là Illumina3 công bố.      Năm 2006 cũng đánh dấu sự thành công trong việc lần đầu tiên xác định biến dị (mutation) trong ung thư được phát hiện trong các gene ở bệnh ung thư vú (gene BRCA: http://www.cancer.gov/cancertopics/factsheet/Risk/BRCA) và ung thư ruột kết (colon).     2007 – Bộ gene cá nhân hoàn chỉnh đầu tiên được công bố      Nhà khoa học, cựu binh chiến tranh Việt Nam Craig J. Venter cùng với công ty của ông – Celera Genomics – được nhiều người công nhận đã chiến thắng tổ chức Human Genome của Chính phủ Mỹ trong nỗ lực giải mã bộ gene người (Venter và đại diện của Viện Sức khoẻ Mỹ (NIH) cùng Tổng thống Bill Clinton công bố báo chí năm 2001), trở thành cá nhân đầu tiên công bố bộ gene gồm ba tỷ ký tự trên tạp chí truy cập miễn phí PLoS Biology.   Dự án bản đồ Hapmap cũng được cập nhật với hơn 3.1 triệu SNP xác định từ bốn khu vực dân số khác nhau trên toàn thế giới. Bản đồ hapmap càng hoàn chỉnh, khám phá xác định gene bệnh tật càng chính xác hơn.      2008 – Định luật Moore trong phát triển máy tính bị “phá vỡ” bởi công nghệ giải mã bộ gene       Giá cả giải mã toàn bộ bộ gene đã giảm xuống với kỷ lục này phá vỡ kỷ lục kia, hoàn toàn “phá vỡ” định luật Moore nổi tiếng về giá cả bộ vi xử lý sẽ giảm xuống ½ sau 18 tháng. Hình dưới cho thấy giá cả giải trình tự bộ gene hoàn chỉnh giảm hơn 10 lần chỉ sau một năm (2007-2008), và hiện nay 2013 giá này xuống dưới mức 10.000 USD.      Bộ gene của Jame D. Watson, người đồng khám phá cấu trúc double helix của bộ gene, được giải mã bởi kỹ thuật thế hệ mới.       Bộ gene bệnh nhân ung thư đầu tiên được công bố bởi các nhà khoa học ở ĐH Washington, Mỹ trên tập san Nature.      Công ty Knome công bố giá 350.000 USD cho việc giải trình tự bộ gene người thương mại hoá đầu tiên. Cũng từ đây, thuật ngữ “Pesonalized Genome” được sử dụng nhiều hơn, với ước mơ thay vì bệnh án, điện đồ, các bác sĩ sẽ xem các thay đổi trong bộ gene con người so với lần khám bệnh trước.         Nguồn: genome.gov      2009 – Dự án giải mã 10.000 bộ gene     Giải mã bộ gene của 10.000 sinh vật có xương sống (vetebrates) nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho những nghiên cứu quan trọng trong tiến hoá của các loài vật trên trái đất được khởi động.      Giải mã epi-genetic4 người đầu tiên, công trình đứng thứ hai trong 10 khám phá khoa học vĩ đại nhất của năm (cùng với công trình Bổ đề cơ bản của GS Ngô Bảo Châu, đứng thứ 7) do tạp chí Time bình chọn. Các tác giả đến từ Viện nghiên cứu Salk ở San Diego, California, Mỹ đạt được một bước tiến quan trọng trong khám phá hoạt động và chức năng của bộ gene người bằng việc công bố bản đồ epigenome5 của tế bào da và tế bào gốc.      2010 – Công bố bộ gene người cổ đại      Svante Paboo ở Viện nghiên cứu Max Planc ở TP Leipzig của Đức công bố bộ gene của người cổ đại trên tạp chí Science. Công trình chỉ ra mối liên hệ giữa người cổ và người hiện đại thông qua một tập hợp các gene chung (tới 99.7% là giống nhau – so với con số 98% của người và loài vượn người (chimpanzee) công bố năm 2007, sau này tính toán lại là 94%). Nỗ lực tuyệt vời này giúp loài người chúng ta hiểu sâu thêm về nguồn gốc tiến hoá của mình.      Dự án ModENCODE công bố giải mã bộ gene của hai loài sinh vật mẫu tiêu biểu là C.Elegans và Drosophila (ruồi giấm) song song với thành công của dự án ENCODE.      2011 – Công bố GWAS thứ 1.000       GWAS tiếp tục thành công với công trình khoa học thứ 1.000. Ngày càng nhiều SNP liên quan đến các loại bệnh tật phổ biến và nghiêm trọng được phát hiện ra giúp thúc đẩy nhiều tiến bộ trong nâng cao kiến thúc trị bệnh của loài người.      Dự án i5K được khởi công với nỗ lực giải mã 5.000 loài côn trùng (arthropod species) nhằm tìm hiểu cơ chế sinh học phân tử của đa dạng sinh học phục vụ cho lợi ích trong nông nghiệp và khoa học. Dự án này và nhiều dự án khác chứng tỏ sức mạnh của công nghệ sinh học và công nghệ tính toán, đẩy nhanh những tiến bộ y sinh học của nhân loại trong nỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống, đẩy lùi bệnh tật.      2012 – ENCODE công bố dữ liệu      ENCODE công bố hơn 30 bài báo trên các tạp chí khoa học hàng đầu như Nature, Genome Research, cùng với 15 terabytes dữ liệu hoàn toàn miễn phí cho bạn đọc. Một trong những thông tin hấp dẫn nhất dự án này công bố là việc hơn 80% của hơn ba tỷ ký tự bộ gene người đều có chức năng sinh hoá (biochemically active) và hầu hết đều có chức năng sao mã (transcribed) thành mRNA rồi thành protein, đơn vị quy định hình thái (phenotype) của cơ thể con người. Đây là một tin bất ngờ cho khoa học bởi khi dự án giải mã bộ gene người được công bố, người ta luôn tin là phần lớn bộ gene là “junk” (không có tác dụng gì cả trong việc mã hoá protein). Con số hơn 80% của ENCODE hiện nay cũng khá gây tranh cãi trong giới khoa học.      Dự án 1.000 bộ gene người công bố trên Nature với sự đa dạng về địa lý và sinh học cuả 1.092 người đến từ bốn vùng dân cư khác nhau trên thế giới, bao gồm cả bản đồ khá hoàn thiện của 38 triệu SNPs (nhiều hơn 10 lần so với công bố năm 2007).      Cũng trong năm ngoái, Công ty CompleteGenomics công bố thương mại hoá việc giải mã bộ gene người với chỉ 5.000 USD. Sở hữu cá nhân bản đồ bộ gene người ngày càng trở nên hiện thực hơn bao giờ hết.     2013 – Kỷ nguyên khai phá dữ liệu sinh y học – thay cho lời kết6      Chúng ta đang đứng trước một thời đại tuyệt vời của khám phá sinh học, chi phí giải mã bộ gene đã giảm đến mức các dự án cấp quốc gia và cấp Bộ ở Việt Nam đều có thể chi trả. Ngay cả trong trường hợp chưa thể tạo ra dữ liệu, cơ hội khám phá vẫn còn rất hứa hẹn cho khoa học Việt Nam vốn có truyền thống mạnh về giải thuật tính toán, bởi các trung tâm sản xuất dữ liệu lớn đều phải công bố dữ liệu trong một thời gian nhất định (6-12 tháng) theo quy định của các tổ chức tài trợ khoa học trên thế giới. Với kiến thức khoa học máy tính và thống kê, các nhóm nghiên cứu ở Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia vào bức tranh vô cùng sống động trong khám phá khoa học sự sống tính và có thể có những thành tựu đáng kể trong thập kỷ tới nếu Nhà nước có những đầu tư trọng điểm, đúng đắn, thu hút được người Việt tài năng ở trong và ngoài nước trong một lĩnh vực yêu cầu sự hợp tác liên ngành tiêu biểu. Đây cũng là cơ hội cho sự phát triển công nghệ sinh học nước nhà, khi các chi phí giải mã bộ gene người không còn là trở ngại đáng kể (10,000 USD tương đương hơn 200 triệu đồng Việt Nam, chưa bằng một phần nhỏ tiền thưởng một trận thắng đá bóng của các ông bầu Việt Nam thời chịu chơi).     Nguồn: http://www.the-scientist.com/images/May2013/TS-DNA_Poster-web1.jpg  —      * Đại học Nam California, Mỹ  1 Thuật ngữ tạm dịch, mong bạn đọc chỉnh sửa nếu thiếu chính xác  2 Haplotype là một khái niệm trong sinh học chỉ tập hợp các SNP trên một nhiễm sắc thể – sự khác nhau ở từng ký tự DNA của các bộ gene khác nhau hoặc các cặp nhiễm sắc thể khác nhau. Haplotype map (gọi tắt là HapMap) là bản đồ tổng hợp các mẫu chung của dự đa dạng di truyền của loài người.Bản đồ này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu tiến hoá và y học.  3 Công ty công nghệ sinh học có trụ sở ở San Diego, California, Mỹ, với công nghệ giải mã được ưa dùng nhất hiện nay.  4 Một bộ môn khoa học nghiên cứu về tương tác giữa gene và môi trường ở cấp độ phân tử và tế bào, theo http://nguyenvantuan.net/health/2-health/1568-bai-hoc-lam-khoa-hoc-co-dao-duc-giai-nobel-y-sinh-2012  5 Bộ gene người chỉ có một, nhưng epi-genome (epi – thuật ngữ tiếng Hy Lạp nghĩa là ở trên) thì có rất nhiều – xuất phát từ những thay đổi sinh hoá của DNA và protein tên là histone, chúng đóng vai trò quan trọng trong điều hoà gene (gene regulation).  6 Đoạn kết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo ánh sáng của tất cả các ngôi sao trong 13,7 tỷ năm      Xuất bản trên Science, công trình của một nhóm nghiên cứu quốc tế đã trình bày về cách đo tổng lượng ánh sáng các ngôi sao đã từng phát ra trong toàn bộ lịch sử 13,7 tỷ năm của vũ trụ, từ những ngôi sao xuất hiện sớm nhất, ánh sáng yếu nhất đến các thiên hà lớn nhất. Đến nay, tất cả ánh sáng từ tất cả các ngôi sao này vẫn còn tồn tại trong vũ trụ.    “Đây là việc chúng ta chưa từng làm được trước đây”, Marco Ajello, một nhà vật lý thiên văn tại Đại học Khoa học Clemson ở Nam Carolina và là tác giả chính của bài báo, cho biết.  Những ngôi sao đầu tiên bắt đầu chập chờn phát sáng vào một vài trăm triệu năm sau Big Bang. Kể từ đó, các thiên hà đã khuấy động các ngôi sao với tốc độ [quay] kỳ diệu, và các nhà khoa học ước tính hiện có khoảng một triệu tỷ tỷ ngôi sao. Tổng cộng, các nhà thiên văn học ước lượng, các ngôi sao đã phát ra 4×1084 photon (một photon là đơn vị ánh sáng nhỏ nhất).   Các nhà thiên văn học tính toán điều này dựa trên các phép đo về ánh sáng nền ngoài thiên hà (extragalactic background light – EBL), một màn mờ vũ trụ gồm các bức xạ được bắt đầu tích lũy kể từ khi các ngôi sao đầu tiên phát sáng vào trong khoảng không rộng lớn và tối của vũ trụ. Hơn 90% ánh sáng của các ngôi sao vẫn còn tồn tại trong màn bức xạ mờ này.  Kári Helgason thuộc Đại học Iceland, Reykjavík và là đồng tác giả của công trình, cho biết dù “đang ngồi trong một biển ánh sáng” nhưng do bị ánh sáng từ các ngôi sao gần hơn che khuất nên chúng ta rất khó quan sát được EBL.  Những quan sát mới nhất, được kính viễn vọng không gian Fermi của NASA thu thập trong 9 năm qua, sử dụng ánh sáng từ các blazar – những lỗ đen siêu nặng phát ra những luồng tia gamma rất mạnh – như những chỉ báo để rọi lên màn mờ của vũ trụ. Helgason nói: “Những tia này sáng đến mức có thể chiếu qua gần hết cả phần vũ trụ có thể quan sát được”.   Tổng cộng, nhóm nghiên cứu đã thu thập tín hiệu từ 739 blazar – một số blazar tương đối gần và một số blazar ở khoảng cách rất xa, phát ra ánh sáng trong vũ trụ sớm và phải mất đến hàng tỉ năm mới tới Trái đất. Có khả năng các photon của những tia gamma này khi truyền qua màn mờ của vũ trụ cao bị hấp thụ. Bằng cách chọn các blazar ở những khoảng cách khác nhau từ Trái đất và tìm ra lượng bức xạ tia gamma đã bị mất trên đường đi, có thể xác định một cách chắc chắn tổng lượng ánh sáng sao ở các thời kỳ khác nhau. Vaidehi Paliya, một đồng tác giả của bài báo, nói: “Chúng tôi đã đo tổng ánh sáng của từng giai đoạn – 1 tỉ năm trước, 2 tỉ năm trước, 6 tỉ năm trước,v.v… trở về đến thời điểm ngôi sao đầu tiên được hình thành. Điều này thực sự đem đến cho chúng tôi cơ hội tái cấu trúc ánh sáng nền vũ trụ với vai trò như một hàm của thời gian”.   Một biến số mà các nhà nghiên cứu phải tính đến là, trong khi ánh sáng các ngôi sao đang tích lũy dần theo thời gian, màn mờ của vũ trụ bị loãng đi khi vũ trụ dãn nở và không gian cũng dần giãn ra. Nhìn chung, màn mờ này có xu hướng trở nên dày đặc hơn. Cùng với các hiện tượng phức tạp khác của vũ trụ, hiện tượng này được giải quyết bằng một mô hình máy tính.  Các phép đo cho thấy, sự hình thành sao đạt đỉnh điểm vào khoảng 11 tỉ năm trước và suy yếu kể từ đó. Mỗi năm, khoảng bảy ngôi sao mới được sinh ra trong dải Ngân hà.  Ajello nhận định: “Các phép đo đạc mà chúng tôi áp dụng giúp chúng tôi tìm hiểu được khoảng thời gian này. Có lẽ một ngày nào đó, chúng ta sẽ tìm cách để nhìn lại Big Bang. Đó là mục tiêu cuối cùng của chúng tôi.”¨  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/nov/29/astronomers-measure-total-starlight-emitted-over-13-billion-years    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dỡ bỏ định kiến tộc người: Bắt đầu từ đâu?      Trước hiện trạng nhiều trang mạng xã hội xây dựng hình ảnh méo mó, thậm chí có phần miệt thị về người dân tộc thiểu số (DTTS), ngày 17/4, Ủy ban Dân tộc đã phải ra văn bản nhấn mạnh, điều này đã “bôi nhọ văn hóa các tộc người” và kiến nghị Bộ Thông tin và truyền thông xử lý, tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và nhà nước. Đây không phải là hiện tượng mới mà đã dai dẳng nhiều năm nay.    Những vết rạn nào?     Những tưởng chỉ có các clip “tự phát” trên mạng xã hội mới đầy tính miệt thị người dân tộc thiểu số nhưng thực ra lâu nay, một số chương trình truyền thông, quảng cáo, thậm chí ở các đài, báo lớn cũng từng mắc lỗi này. Có những nhà nghiên cứu đã rất bức xúc khi xem một đoạn quảng cáo nước tăng lực đầy tính miệt thị người Ê đê – một anh chàng thiểu số cười ngô nghê, ngọng ngịu có nhiều biểu hiện ngốc nghếch và tức tốc gọi điện, gửi thư lên Đài truyền hình quốc gia đề nghị gỡ quảng cáo đó.    Hằng ngày, không khó để bắt gặp những diễn ngôn theo kiểu “tuy là người dân tộc nhưng học rất giỏi”, hoặc “là người dân tộc nhưng học rất thông minh”… hay mặc định người DTTS là phải xưng hô “mày, tao”. Người DTTS thường xuyên bị gán, mô tả với các đặc điểm tính cách và hành vi phổ biến như ngây thơ, cả tin, hoang dại, tự do quan hệ tình dục, lạc hậu, mê tín, bẩn thỉu… Thậm chí, ngay chính tên các tộc người, vốn đã được Tổng cục Thống kê công bố từ năm 1979, nhưng vẫn được sử dụng trên truyền thông hết sức tùy tiện, không theo bất cứ chuẩn mực nào. Một nghiên cứu đã xác nhận điều này khi khảo sát trên 5 tờ báo lớn, trong 3 năm liên tiếp. Kết quả cho thấy, sự tồn tại dai dẳng từ nhiều năm nay của các diễn ngôn kiểu này đã tạo ra những nhận thức sai lệch về bản sắc văn hóa của các tộc người 1.       Hàng loạt kênh Youtube hoặc facebook có nhiều video miệt thị người DTTS mà UB Dân tộc đã đề nghị xử lý trong đó tiêu biểu là A Hy TV (ảnh chụp màn hình).    Những “vết rạn” đó mới chỉ là những gì dễ thấy nhất trên bề nổi. Điều khiến những người nghiên cứu dân tộc học như chúng tôi phải nghĩ ngợi nhiều hơn là các “vết rạn” ngầm ẩn mà chúng ta không dễ dàng nhìn thấy được. Thực ra, các chính sách và diễn ngôn phát triển dựa theo triết lý tiến hóa luận đơn tuyến ‘miền núi tiến kịp miền xuôi, người thiểu số tiến kịp đa số’ đã và đang được triển khai ở các vùng miền núi trong vài chục năm qua. Hệ quả của những diễn ngôn ấy là gì? Trong một khảo sát vào năm 20132, chúng tôi đã chỉ ra, những triết lý này không những chưa giúp các cộng đồng tộc người ‘tiến kịp đa số’ như mong muốn mà còn làm nhiều cộng đồng bị ‘ngoài lề hóa’ – bị và tự ‘lùi’ so với người Kinh trên nhiều khía cạnh kinh tế, văn hóa và xã hội. Khảo sát trên 2.196 người ở 7 tỉnh cho thấy mức độ “dán nhãn” của người Kinh lên người DTTS rất cao khi tỉ lệ người đánh giá rằng, cứ người DTTS là luôn “cả tin, dễ lừa”, “lạc hậu”, “hay phá rừng” và “uống nhiều rượu” lần lượt là 57%, 63%, 63% và 80%. Thậm chí có những cán bộ người Kinh, khi trả lời khảo sát, tin chắc rằng “nhận thức kém”, “chậm phát triển” của người dân tộc thiểu số là “mang tính sinh học”. Điều này càng khiến người DTTS tự định kiến, đánh giá tiêu cực về bản sắc, nội lực tộc người, thậm chí chối bỏ truyền thống văn hóa. Không chỉ có nhóm chúng tôi, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, nhận thức sai lầm và làm loại bỏ đi tri thức địa phương trong khai khác, quản lý tài nguyên thiên nhiên phù hợp với miền núi để đưa tri thức mới của người Kinh vào đã trở thành lực cản quá trình phát triển ở vùng núi3.     Nhận diện định kiến tộc người   Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường cho rằng định kiến là hệ quả của: (i) sự khác biệt của các đặc điểm: hình thể, chủng tộc, tôn giáo (Goffman, 1963)6; (ii) sự khái quát cứng nhắc một vài đặc điểm, thuộc tính của một cộng đồng này đối với một cộng đồng khác (Allport 1954)7; (iii) sự phân biệt đối xử không công bằng giữa các nhóm xã hội (Link và Phelan 2001, Scott 2003); Theo Goffman, những nhận thức sai lệch về mặt xã hội về một nhóm cộng đồng cụ thể nào đó, là “thuộc tính làm tổn hại một cách sâu sắc đến cộng đồng chịu định kiến, khiến họ bị chuyển dịch từ một nhóm bình thường sang nhóm kém vị thế và ít đáng tin hơn” (1963:3). Năm nấc thang biểu hiện của định kiến thường bao gồm: (1) Dán nhãn; (2) Mặc định nhóm bị định kiến với một hệ giá trị (định khuôn); (3) Tạo ra một đường ranh giới phân biệt giữa ‘chúng ta” và “họ”; (4) Phân biệt đối xử và phân chia vị thế xã hội; rồi tiến tới (5) Tạo ra cán cân quyền lực không công bằng8 đều ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của các nhóm hoặc cộng đồng tộc người.    Đáng tiếc hơn nữa là tư tưởng phân chia “cao-thấp” dẫn tới nhiều định kiến vẫn tồn tại ở trong chính giới làm công tác dân tộc thiểu số và nghiên cứu. Luận thuyết vị tộc người – đánh giá cộng đồng khác thông qua việc áp đặt, lấy các giá trị của mình là chuẩn mực, khiến các luận giải về tộc người khác mang tính chủ quan, không chính xác, thậm chí mang màu sắc tiêu cực4 đã lụi tàn ở phương Tây nhưng vài chục năm trước lại được tiếp nhận và có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học thuật và làm chính sách ở Việt Nam. Trước đây, không ít nhà dân tộc học cho rằng xã hội của nhiều tộc người còn ở giai đoạn tiền nhà nước, phân hóa giai cấp chưa hình thành, hoạt động kinh tế còn mang dấu ấn nguyên thủy. Quan điểm này đã tạo nên niềm tin và thực hành chính sách lấy người Kinh là tộc người phát triển nhất trong thang tiến hóa, tiếp đó là các tộc người đông về dân số như Tày, Nùng, Thái, Mường, còn các tộc người thiểu số khác như người Khơ-mú, Dao, Hmông, Raglai, đặc biệt các tộc người ở Tây Nguyên bị coi là ở các thang bậc thấp hơn của sự phát triển5. Các hoạt động kinh tế của các tộc người thiểu số đồng nhất với canh tác nương rẫy và khoác tấm áo “kĩ thuật lạc hậu”, “năng suất thấp”, phá hại môi trường, trong khi thực ra đó mới chính là những lối canh tác thân thiện với rừng3. Trong suốt nhiều năm, chúng ta không còn xa lạ gì với những ví dụ tiêu biểu như phê phán cực đoan hình thức canh tác nương rẫy, coi chế độ mẫu hệ là bước phát triển thấp hơn so với phụ hệ, bài xích một số thực hành tín ngưỡng, gắn chúng với lạc hậu, tàn phá môi trường hay mê tín dị đoan.    Còn về phía các cơ quan làm chính sách, một số chính sách không còn phù hợp vẫn được áp dụng cũng là tác nhân dẫn đến định kiến. Đa phần các mô hình phát triển cho miền núi được thiết kế từ đồng bằng và thiếu khảo sát điều kiện, kinh nghiệm thực tế ở từng vùng tộc người thiểu số. Đội ngũ cán bộ địa phương là người tại chỗ còn ít và tiếng nói của họ vẫn còn yếu ớt ở nhiều nơi. Ngay trong chính sách tuyển sinh, tuyển dụng, vẫn còn hiện diện định kiến: tất cả học sinh, sinh viên không phải là người Kinh đều được ưu tiên, cộng điểm kể cả khi  họ sinh ra và lớn lên ở các thành phố lớn. Rõ ràng, chính sách này chỉ nên áp dụng cho đối tượng gặp những trở ngại về điều kiện kinh tế, cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục chất lượng thay vì dựa vào tộc danh. Cách làm này tạo ra lối suy nghĩ “người dân tộc thiểu số” thông minh, học giỏi là một điều gì đó hết sức hiếm hay họ kém thông minh hơn so với học sinh người Kinh. Một số ưu tiên đối với ứng viên không phải là người Kinh vẫn được áp dụng trong quá trình tuyển dụng lao động ở không ít cơ quan, mặc cho đó không phải là những đơn vị chuyên trách về tộc người thiểu số.       Định kiến có thể xuất hiện dưới những dạng “ngầm ẩn” theo kiểu rất ủng hộ nhóm yếu thế, nhưng thực ra là đang “loại trừ”. Đã từng có tít bài “Bố trí cán bộ chủ chốt không phải người Kinh”, tạo cảm giác “ngoài người Kinh không thể làm lãnh đạo”. Ảnh minh họa: Đại biểu nữ các dân tộc khác nhau. Nguồn: Molisa.gov     Trách nhiệm của nhà nghiên cứu và các cơ quan làm chính sách     Trên thực tế, để đưa ra các tiêu chuẩn tránh miệt thị, định kiến trong việc đưa tin, bài, hình ảnh về người DTTS trên truyền thông và mạng xã hội là không quá khó. Bài học trong chính sách truyền thông để tránh định kiến ở nhiều nước là có những lệnh cấm rất chặt: một bản tin, phóng sự, thông điệp mang tính định kiến, miệt thị cộng đồng, tộc người, nhóm xã hội hoàn toàn có thể khiến hãng đưa tin phải ra tòa, đền bù tài chính khổng lộ, thậm chí sự sụp đổ của cả tổ chức ấy. Các cơ quan nghiên cứu văn hóa, dân tộc học và quản lý truyền thông hoàn toàn có thể đưa ra các tiêu chuẩn, hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này.    Nhưng nhìn tổng thể cả vào những “vết rạn” bề mặt và ở ẩn sâu dưới tầng chính sách, triết lý thì việc chỉ chờ vào những công văn phạt ở “ngọn” không bao giờ là đủ. Định kiến cố nhiên không phải tự nhiên sinh ra và xuất hiện trên truyền thông – mà nó mang tính xã hội, nó không hình thành sau một đêm mà là hệ quả của phương pháp giáo dục, truyền thông, thậm chí một số chính sách lỗi nhịp với thời đại. Đã đến lúc các nhà nghiên cứu và giới làm công tác dân tộc trong nước phải chủ động tham gia thảo luận, không chỉ trên diễn đàn học thuật mà còn công khai trước truyền thông đại chúng về những hệ quả của nỗi “ám ảnh tiến hóa luận đơn tuyến” hay “luận thuyết vị chủng” trong nghiên cứu, trong chính sách phát triển và đoạn tuyệt nó. Chỉ có thảo luận, phản biện chia sẻ kiến thức tới công luận, góp phần giới thiệu cách nhìn đúng đắn, mới từng bước thay đổi được những định kiến và các vết rạn cả ở bề mặt và bề sâu, đã tích tụ nhiều năm nay. Còn về phía các cơ quan làm chính sách, cần đánh giá lại một cách kỹ càng các triết lý phát triển, quá trình xây dựng các mô hình phát triển cho miền núi mà hầu như không tham khảo điều kiện thực tế ở từng vùng tộc người thiểu số trước để thay đổi tư duy chính sách. Ý kiến của đội ngũ cán bộ địa phương, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số thực sự có vai trò quan trọng trong việc thiết kế chính sách xưa nay vẫn chưa được coi trọng, nay cần được đánh giá đúng.    Đưa ra những khuyến nghị để thay đổi định kiến là điều không thể trong khuôn khổ một bài báo nhỏ. Xin khép lại với một số câu hỏi: Hãy đặt câu hỏi nếu người nước ngoài làm những thước phim lấy việc ăn thịt chó, các biển cấm đi vệ sinh, xả rác bậy, hiện tượng chen nhau tranh cướp mua hàng giảm giá để quy kết cho người Hà Nội, người Kinh là lạc hậu, dã man, vô tổ chức hay để quảng cáo cho sản phẩm của họ, chúng ta sẽ nghĩ gì? Việc chế nhạo, định kiến, kỳ thị hay phân biệt đối xử các tộc người thiểu số, các nhóm khác hội khác có khiến bạn trở nên tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn? □  —-  1 Nguyễn Văn Chính, Văn hóa và con người các DTTS trên một số báo viết Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4 – 2010, Tr.3-17; Nguyễn Văn Chính, Định kiến tộc người trên truyền thông đại chúng, Tia Sáng, số 3-2016.  2 Phạm Quỳnh Phương, Hoàng Câm, Lê Quang Bình, Nguyễn Công Thảo, Mai Thanh Sơn (2013) “Thiểu số cần tiến kịp đa số: Định kiến trong quan hệ tộc người ở Việt Nam”, Nhà xuất bản giao thông vận tải, Hà Nội.  3 Neil L. Jamieson, Le Trong Cuc, A. Terry Rambo, 1998. The Development Crisis in Upland of Vietnam, East-West Center, Honolulu.  4 Hammond, R. A.; Axelrod, R. (2006). “The Evolution of Ethnocentrism”. Journal of Conflict Resolution. 50 (6): 926–936  5Xem thêm báo cáo Diễn Ngôn, Chính sách và sự Biến đổi văn hóa-sinh kế tộc người của Hoàng Cầm và Phạm Quỳnh Phương (Nxb Thế giới, 2012).  6 Erving Goffman (1963). Stigma: Notes on the Management of Spoiled Identity. Prentice-Hall  7 Allport,Gordon (1954). The Nature of Prejudice. Addison-Wesley  8 Link B. G, Phelan J.C (2001). “Conceptualizing stigma” Annual Review of Sociology 27, 363-85.     Cần nghiên cứu về định kiến trong xã hội   Tương tự, ở Việt Nam không chỉ có định kiến tộc người, những khảo sát bước đầu của chúng tôi và các đồng nghiệp còn nhận thấy định kiến còn đồng thời tồn tại ở nhiều dạng thức khác, trong đó có định kiến vùng miền, hình thể, tôn giáo, tính dục, bệnh lý hay nghề nghiệp. Hệ quả nghiêm trọng của những định kiến này đã dẫn đến phân biệt đối xử, thậm chí khu biệt, bài trừ, khiến các nhóm bị định kiến không tiếp cận được nhiều dịch vụ xã hội cần thiết. Ví dụ: Những người có xu thế tính dục đồng tính thường bị nhìn nhận hết sức phi khoa học như một loại bệnh hay quái thai, bị quả báo cho việc làm sai trái từ kiếp trước. Dù có nhiều nỗ lực, những bệnh nhân HIV, hay bệnh phong trước đây cũng từng bị cồng đồng xa lánh, hắt hủi. Ngay tại thời điểm dịch Covid -19 hiện nay, không ít bệnh nhân, đối tượng F1, F2 nhận phải cái nhìn ác cảm, quy kết trách nhiệm khiến các bệnh nhân hoặc người nghi nhiễm tránh cách ly, trốn khai báo và hệ quả là công cuộc “truy vết”, “khoanh vùng” còn khó khăn và tốn kém hơn gấp nhiều lần. Nếu không có những nghiên cứu về định kiến thì sẽ không thể đo lường được hệ quả cũng như đưa ra các khuyến nghị giảm định kiến, giúp giảm ảnh hưởng tới đời sống của các nhóm khác nhau, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội.    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Dò các ký sinh trùng bệnh sốt rét theo không gian và thời gian      Bệnh sốt rét là bệnh dịch nguy hiểm do ký sinh trùng Plasmodium. Sau một cú đốt của muỗi mang bệnh, ký sinh trùng sẽ di chuyển đến gan và ảnh hưởng đến các tế bào gan. Pha lây nhiễm này là thường không có triệu chứng gì rõ rệt.      Hiện tại, một nghiên cứu mới do Maria M. Mota, trưởng một nhóm nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Phân tử Y sinh João Lobo Antunes (iMM; Bồ Đào Nha), và Shalev Itzkovitz, trưởng một nhóm nghiên cứu ở Viện nghiên cứu khoa học Weizmann, ở Israel, và xuất bản trên Nature, lần đầu tiên phát hiện ra sự lây nhiễm bệnh sốt rét liên quan đến vị trí không gian của các tế bào lây nhiễm trong gan. Tập bản đồ về giai đoạn lây nhiễm sốt rét ở gan này rất quan trọng bởi việc giải quyết sự lây nhiễm ở giai đoạn này có thể giúp ngăn ngừa được sự phát triển của dịch bệnh.  Các nhà khoa học làm việc ở Bồ Đào Nha và Israel dò theo quá trình lây nhiễm do các ký sinh trùng Plasmodium trong gan gây ra băng việc theo dõi vị trí của chúng theo thời gian và có thể tạo ra một bản đồ lây nhiễm ở gan bằng việc áp dụng một cách tiếp cận đổi mới.  “Gan được hình thành từ hàng ngàn tiểu thùy. Các tiểu thùy là các nhóm tế bào gan được sắp xếp theo hình lục giác. Chúng tôi tìm thấy những kết quả lây nhiễm khác nhau do phụ thuộc vào vị trí của tiểu thùy bị lây nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Ký sinh trùng này phát triển nhanh hơn và sống sót tốt hơn trong những vùng gần với trung tâm của các tiểu thùy hình lục giác”, Shalev Itzkovitz, trưởng nhóm ở Viện Khoa học Weizmann, nói về những phát hiện chính của công trình xuất bản trên Nature 1.  Nhóm nghiên cứu đã phân tích các gene hoạt hóa của các tế bào gan và các ký sinh trùng ở những mốc thời gian khác nhau sau khi lây nhiễm, qua việc sử dụng chuột làm mô hình nghiên cứu.  Do các gene này hoạt động trong các tế bào gan phụ thuộc vào vị trí của nó, các nhà nghiên cứu đã có thể chia cặp các ký sinh trùng vào địa điểm của nó trong gan và tái cấu trúc các con đường lây nhiễm của chúng bằng việc kiểm tra theo thời gian lây nhiễm. “Chúng tôi tòm thấy một nhóm các ký sinh trùng đặt ở rìa tiểu thùy không có khả năng phát triển thành một đợt lây nhiễm”, Shalev Itzkovitz nói.  “Chúng tôi gọi những tế bào ở trong gan, nơi các ký sinh trùng không có khả năng phát triển thành một lây nhiễm là ‘các tế bào gan chết yểu’”, Maria Manuel Mota, trưởng nhóm tại iMM và đồng tác giả chính của nghiên cứu này, cho biết. “Hầu như là vậy bởi các tế bào này hầu như không dung nạp các ký sinh trùng và ký sinh trùng không thể phát triển. Chúng tôi thấy phản hồi miễn dịch mà các tế bào có thể được phản hồi lại tác động của các ký sinh trùng rất khác nhau”, Maria Manuel Mota giải thích thêm.  Giai đoạn lây nhiễm bệnh sốt rét ở gan rất khó để nghiên cứu do tính không đồng nhất của gan.  “Tôi đã từng nghiên cứu về giai đoạn phát triển bệnh sốt rét ở gan trong vòng 20 năm và nghiên cứu này là một điểm quan trọng. Hiện tại chúng tôi có thông tin về cả các tế bào gan và ký sinh trùng Plasmodium hành xử trong thời kỳ lây nhiễm theo thời gian và không gian. Thông tin này giúp chúng tôi hướng đến nghiên cứu nữa trong tương lai. Chúng tôi sẽ sử dụng những khả năng gây hại của Plasmodium mà chúng tôi tìm thấy trong nghiên cứu này để cố gắng phát triển những cách làm sáng rõ sự lây nhiễm ở gan, đó là không triệu chứng”, Maria Manuel Mota nói.  Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một tập bản đồ chi tiết về sự lây nhiễm của các ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ở gan. Việc giải đoán động lực của lây nhiễm ở giai đoạn không triệu chứng rất quan trọng bởi nó sẽ đóng vai trò đặt nền móng cho nghiên cứu về cách chặn đứng lây nhiễm ở gan và loại bỏ căn bệnh này trước khi biểu lộ triệu chứng ra ngoài.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-11-tracking-malaria-parasites-space.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/05/220513134859.htm  ———————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-05406-5    Author                .        
__label__tiasang Đo dư lượng thủy ngân trong Biển Đông      Một chiến dịch đo lường thực hiện trên tàu nghiên cứu biển cho thấy rằng thủy ngân khuếch tán vào và thoát ra khỏi nước biển trong vùng Biển Đông là ở mức cao, thay đổi theo mùa và đáng quan ngại.    Thủy ngân là một chất độc thần kinh mạnh. Nó xâm nhập vào khí quyển khi đốt cháy than và trong quá trình khai thác kim loại quý. Bay theo gió, Hg hòa tan vào nước biển, xuất hiện và tập trung nhiều và nguy hiểm nhất trong thủy sản, đặc biệt là cá lớn. Nhưng Hg từ trong nước biển cũng bị bốc hơi ra ngoài.   Để xác định thông lượng Hg hòa vào và bốc bay ra khỏi nước biển, Đoàn nghiên cứu do Chun-Mao Tseng của Đại học Quốc gia Đài Loan ở Đài Bắc và Carl Lamborg thuộc Viện Hải dương Woods Hole ở Massachusetts dẫn đầu,đã tiến hành một cuộc khảo nghiệm đo lường rất công phu.   Từ 2003 đến 2007, họ và các đồng nghiệp của họ ngang dọc khắp Biển Đông để đo lường biến thiên theo mùa. Biển Đông là địa điểm lý tưởng cho khảo sát này. Một là vì các nhà máy nhiệt điện than phân bố rất dày đặc ở miền nam Trung Quốc, hai là thời tiết Biển Đông thay đổi nhiều theo mùa. Thật vậy, khi Tseng và Lamborg phân tích dữ liệu đo, họ nhận thấy số liệu biến đổi theo mùa rõ rệt. Vào mùa đông, khi nhiệt độ bề mặt biển thấp và gió mùa rất mạnh, Biển Đông biến thành như một bồn chứa ròng Hg của khí quyển tan vào. Vào mùa hè, khi các điều kiện khí tượng đảo ngược, Biển Đông lại hoạt động như một nguồn phát thải Hg vào khí quyển. Hàng năm, thì nguồn phát thải mạnh hơn lượng hòa tan.   Mặc dù Biển Đông chỉ chiếm 1% của bề mặt nước biển trên thế giới, nhưng lại chiếm 2,6% của Hg phát thải toàn cầu. Dù là thông lượng ròng lệch, Tseng và Lamborg phát hiện ra rằng nồng độ Hg hòa tan trong Biển Đông ít nhất nhiều gấp chín lần so với đại dương.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dò được năng lượng tối? Các nhà khoa học cho là có thể      Một nghiên cứu mới, do các nhà nghiên cứu ở trường đại học Cambridge thực hiện và công bố trên tạp chí Physical Review D, đề xuất một số kết quả chưa thể giải thích được từ thực nghiệm XENON1T ở Italy có thể do năng lượng tối gây ra, và không phải vật chất tối mà thực nghiệm này đã được thiết kế để dò.      Họ đã thiết kế một mô hình vật lý để giải thích các kết quả này, vốn có thể là bắt nguồn từ các hạt năng lượng tối được tạo ra tại một vùng của Mặt trời với từ trường mạnh, dẫu sẽ cần các thực nghiệm tương lai để xác nhận giải thích này. Các nhà nghiên cứu cho biết, nghiên cứu của họ có thể là một bước tiến quan trọng hướng trực tiếp đến năng lượng tối.  Tất cả mọi thứ mắt thường có thể thấy trên bầu trời và trong trái đất của chúng ta – từ những vầng trăng nhỏ nhất đến những thiên hà lớn nhất, từ con kiến đến con cá voi xanh – đều chiếm ít hơn 5% toàn vũ trụ. Phần còn lại là những điều còn chưa biết. Khoảng 27% là vật chất tối – thứ lực vô hình đang giữ các thiên hà và vũ trụ lại gần nhau – trong khi 68% là năng lượng tối, vốn là nguyên nhân gây ra sự giãn nở của vũ trụ với một tốc độ ngày một được gia tốc.  “Bất chấp những thành phần còn chưa được nhìn thấy, chúng ta đã biết nhiều hơn về vật chất tối, kể từ khi sự tồn tại của nó đã được đề xuất từ những năm 1920, còn tới tận năm 1998 thì gia tốc mới được phát hiện ra”, tiến sĩ Sunny Vagnozzi của Viện nghiên cứu vũ trụ học Kavli Cambridge, tác giả thứ nhất của bài báo, cho biết. “Các thực nghiệm lớn như XENON1T đã được thiết kế để dò vật chất tối một cách trực tiếp bằng việc tìm kiếm các dấu hiệu của vật chất tối ‘ẩn’ trong vật chất thông thường, nhưng năng lượng tối thậm chí còn khó dò hơn”.  Để dò được năng lượng tối, các nhà khoa học đã cơ bản cùng nhin vào các tương tác hấp dẫn: cách hấp dẫn đẩy các vật thể xung quanh. Và trên quy mô lớn, các hiệu ứng hấp dẫn của năng lượng tối gây ra lực đẩy các vật thể ra xa nhau và khiến cho vũ trụ gia tốc giãn nở.  Trong vòng khoảng một năm, thực nghiệm XENON1T đã báo cáo về một tín hiệu không chờ đợi, hay sự dư thừa trên nền cơ bản. “Những dang này thường là may mắn nhưng đôi khi chúng cũng có thể dẫn ta đến một khám phá thực sự”, tiến sĩ Luca Visinelli, một nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Frascati ở Italy, đồng tác giả của nghiên cứu, nói. “Chúng tôi khám phá ra một mô hình trong đó giải thích tín hiệu này có thể là do sự đóng góp của năng lượng tối hơn là vật chất tối mà thí nghiệm đặt ra ban đầu”.    Tại thời điểm này, cách giải thích phổ biến nhất cho sự dư thừa là các axion – về giả thiết là các hạt ánh sáng do mặt trời tạo ra. Tuy nhiên cách giải thích này không ủng hộ cho những quan sát, kể từ khi số lượng các axion được đòi hỏi để giải thích tín hiệu của XENON1T có thể làm thay đổi đáng kể tiến hóa của những ngôi sao nặng hơn mặt trời, mâu thuẫn với những gì chúng ta quan sát.  Chúng ta vẫn còn chưa hiểu đầy đủ năng lượng tối là gì nhưng phần lớn các mô hình vật lý về năng lượng tối có thể dẫn chúng ta đến sự tồn tại của cái vẫn được gọi là lực thứ năm. Có bốn lực cơ bản trong vũ trụ, và bất kỳ thứ gì không thể giải thích bằng một trong bốn lực này thi thoảng được cho là kết quả của một lực thứ năm chưa biết.  Tuy nhiên, chúng ta biết là thuyết tương đối của Einstein hoạt động vô cùng tốt trong vũ trụ định xứ này. Do đó, bất kỳ lực thứ năm này liên đới tới năng lượng tối là không mong muốn và phải bị “giấu đi” hoặc “sàng lọc” khi đạt đến các quy mô nhỏ hơn, và có thể chỉ vận hành trên các quy mô lớn nhất khi lý thuyết của Einstein về hấp dẫn không thể giải thích được sự gia tốc của vũ trụ. Để giấu lực thứ năm, nhiều mô hình cho năng lượng tối được trang bị cái gọi là các cơ chế sàng lọc, vốn giấu về mặt động lực của lực thứ năm.  Vagnozzi và các đồng tác giả cấu trúc một mô hình vật lý, vốn sử dụng một dạng cơ chế sàng lọc đã biết là sàng lọc chameleon, để chứng tỏ các hạt năng lượng tối tạo ra trong vùng từ trường mạnh của mặt trời có thể giải thích sự dư thừa của XENON1T.  “Sàng lọc chameleon của chúng tôi đã ngắt việc sản xuất các hạt năng lượng tối trong những vật thể rất đậm đặc, tránh các vấn đề phải đối mặt với các axion mặt trời”, Vagnozzi nói. “Nó cũng cho phép chúng tôi tách những gì xảy ra tại nơi vô cùng đậm đặc của vũ trụ khỏi những gì diễn ra trên quy mô lớn nhất, nơi sự đậm đặc lại vô cùng thấp”.  Các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình của mình để chứng tỏ những gì có thể diễn ra trong máy dò nếu năng lượng tôi được tạo ra ở một vùng cụ thể của mặt trời, gọi là tachocline, nơi từ trường vô cùng mạnh.  “Thực sự ngạc nhiên là sự dư thừa này có thể về nguyên tắc là do năng lượng tối gây ra hơn là do vật chất tối”, Vagnozzi nói. “Khi những điều như vậy va vào nhau, đó thực sự là điều vô cùng đặc biệt”.  Tính toán của họ đề xuất là các thực nghiệm như XENON1T, vốn được thiết kế để dò vật chất tối, có thể hữu dụng trong dò năng lượng tối. Tuy vậy sự dư thừa nguyên thủy vẫn cần được xác thực một cách thuyết phục. Visinelli nói “Nếu XENON1T trên thực tế cần thấy một cái gì đó, mà anh có thể chờ đợi để thấy một sự dư thừa như vậy lần nữa trong những thực nghiệm tương lai với một tín hiệu mạnh hơn”.  Nếu sự dư thừa này là kết quả của năng lượng tối, cần nâng cấp thực nghiệm XENON1T cũng như các thực nghiệm theo đuổi mục tiêu tương tự như LUX-Zeplin và PandaX-xT, nghĩa là có thể dò trực tiếp được năng lượng tối trong thập kỷ đến.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-dark-energy-scientists-possibility.html   https://journals.aps.org/prd/abstract/10.1103/PhysRevD.104.063023    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dò được những gợi ý về cuộc sáp nhập lỗ đen lớn nhất      Các nhà vật lý tại đài quan sát LIGO đã dò được 11 sự kiện vũ trụ, vốn được cho là có thể tạo ra những gợn sóng trong bề mặt không – thời gian.      Các nhà khoa học tại LIGO đã tìm thấy nhiều sóng hấp dẫn. NguồnDavid Ryder/Bloomberg via Getty Images  Các nhà thiên văn học đã loan báo về một loạt khám phá về sóng hấp dẫn – những gợn sóng trong không – thời gian do các sự kiện vũ trụ lớn tạo ra. Họ dò được bốn cuộc sáp nhập các lỗ đen từ năm 2017, trong đó gợi ý đến một cuộc sáp nhập trên quy mô lớn với sự tham gia của một lỗ đen có khối lượng lớn hơn mặt trời 80 lần.  Nghiên cứu này đã được đưa trên trang web của Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế laser (LIGO) và xuất bản trên arXiv vào ngày 3/12.  LIGO từng là nơi phát hiện mang tính lịch sử về sóng hấp dẫn từ một cuộc sáp nhập lỗ đen vào năm 2015, và những dấu vết mờ nhạt của các sự kiện tạo ra sóng hấp dẫn khác kể từ thời điểm đó. Dữ liệu gần nhất được công bố gồm tổng số 10 cuộc sáp nhập lỗ đen, và sự va chạm của hai ngôi sao neutron. Không chỉ LIGO mà nhiều thiết bị quan sát khác cũng đã quan sát được – từ những kính viễn vọng radio đến các đài quan sát tia gamma không gian và góp phần giải thích nhiều bí ẩn vũ trụ.  Tất cả 11 sự kiện này đều được hai giao thoa kế của LIGO ở Lousiana và Washington cũng như hai “người anh em” của chúng là Virgo ở Ý – dù có độ nhạy kém hơn một chút –  quan sát.  Các cuộc quan sát này là một loạt sự kiện thành công trong tháng 9/2017: không chỉ thấy  các ngôi sao neutron, họ còn thấy bốn cuộc sáp nhập lỗ đen. Virgo cũng ghi nhận được cuộc dò đầu tiên vào ngày 14/8, cung cấp dữ liệu về cuộc tìm kiếm sau neutron ngày 17/8 và sau đó chứng kiến một cuộc sáp nhập khác vào ngày 18/8. “Và sau đó tôi thoát khỏi đám ‘xì gà’ này”, Jo van den Brand – một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Vật lý hạt nhân và vật lý năng lượng cao (Nikhef) tại Amsterdam và là người phát ngôn của nhóm hợp tác Virgo, nói một cách hài hước.  Để đưa các dữ liệu này vào một bộ danh mục, nhóm hợp tác LIGO-Virgo đã tái phân tích dữ liệu từ các sự kiện vũ trụ này theo thời gian thực từ sự kiện xảy ra vào năm 2015 và đầu năm 2016, đến sự kiện thứ hai vào cuối năm 2016 và kết thúc vào năm 2017.  Đặc biệt, các kỹ thuật phân tích data được cải tiến đã đủ khả năng giúp các nhà nghiên cứu tái phân loại sự kiện  đã xảy ra từ tháng 10/2015 – chậm hơn một tháng sau lần dò sóng hấp dẫn vào ngày 14/9 của LIGO – kết quả của một cuộc sáp nhập lỗ đen. Trước đây, họ chỉ có thể mô tả nó như một sự kiện “có thể xảy ra”.  Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một phân tích “offline” (ngoại tuyến) và phát hiện thêm có nhiều sự kiện chưa được biết đến trước đây. “Chúng tôi quyết định chờ cho đến khi đợt phân tích này kết thúc và công bố tất cả các lỗ đen vào cùng một lượt”, Karsten Danzmann – nhà vật lý tại Viện nghiên cứu vật lý hấp dẫn Max Planck ở Hanover, Đức, cho biết  Các cuộc tìm kiếm offline đã tìm ra “quái vật” GW170729 có khối lượng gấp 80 mặt trời. So với những sự kiện khác thì việc dò ra GW170729 không được chắc chắn lắm nhưng nhóm nghiên cứu vẫn quyết định đưa nó vào danh mục này. “GW170729 vẫn nghiêng về một sự kiện có thực hơn”, Cole Miler – một nhà vaath lý thiên văn tại trường đại học Maryland ở College Park và không tham gia vào nhóm hợp tác nghiên cứu, nhận xét.  Ngoài 11 sự kiện vũ trụ, bộ danh mục này còn có cả một tá cuộc khởi động xảy ra ở vùng biên vũ trụ. Đây đều là những sự kiện có tín hiệu được ít nhất một trong hai giao thoa kế ghi lại nhưng không đủ dữ liệu để các nhà nghiên cứu xác nhận là một sự kiện vật lý thiên văn.  Một thay đổi trong các chuỗi sự kiện ở LIGO – Virgo là sự nới lỏng các tiêu chuẩn để nhóm hợp tác có thể kêu gọi cộng đồng tham gia một sự kiện nghiên cứu và để tìm hiểu vấn đề trong thời gian thực. Miller cho rằng, điều này có thể tốt cho phần lớn các nhà vật lý thiên văn “Điều đó nghĩa là sẽ có nhiều cơ hội để họ tìm thấy những sự kiện vũ trụ tiếp theo”.  Nhóm hợp tác dự kiến sẽ thúc đẩy công việc này để có thể tiếp tục dành năng lượng cỉa mình vào chuyến quan sát thứ ba, sẽ khởi động vào tháng 3/2019, van den Brand nói. Kể từ tháng 9/2017, ba cỗ máy dò đã được xây dựng để nâng cấp độ nhạy lên gấp đôi. Điều đó có nghĩa là khối lượng của bộ phận giám sát của chúng – và tần số của các cuộc dò của chúng – có thể tăng lên gấp 8 lần.  Thanh  Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07649-7       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo lường Việt Nam: Từng bước hội nhập      Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, không có đo lường chính xác và thống nhất chúng ta sẽ không thể đề ra và đạt được các mục tiêu, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, năng suất, hiệu quả trong các ngành công nghiệp, không phát triển được công nghệ, và không đảm bảo được sự trong sạch của môi trường và sức khoẻ của nhân dân.     Sự phát triển, đổi mới của bất kỳ lĩnh vực khoa học công nghệ và lĩnh vực công nghiệp nào cũng đều đòi hỏi phát triển lĩnh vực đo lường tương ứng để có thể đánh giá, định lượng, và đặt mục tiêu cụ thể cho sự đổi mới, phát triển đó. Chẳng hạn như: công nghiệp chế tạo cơ khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp hàng không, vũ trụ đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ về độ chính xác cũng như phạm vi đo của các lĩnh vực đo lường lực, đo lường độ cứng, đo lường áp suất, đo lường gia tốc trọng trường và đo lường các đại lượng cơ học khác; trong ngành y việc chẩn đoán, chữa trị, chăm sóc bệnh nhân đòi hỏi và thúc đẩy sự phát triển chuẩn dòng điện lượng tử; công nghiệp điện tử, truyền thông, hàng hải, giao thông đã đòi hỏi phát triển chuẩn điện áp xoay chiều cùng với việc sử dụng hiệu ứng Josephson và hiệu ứng lượng tử Hall. Ngoài ra còn rất nhiều ví dụ tương tự khác trong các lĩnh vực hóa học, vi sinh học, cấu trúc nano, tin học, v.v. Theo Ủy ban Cân Đo quốc tế (CIPM), chính những yêu cầu ngày càng cao trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học và công nghệ đòi hỏi các phép đo ngày càng phải chính xác hơn và luôn phải vượt lên trên những gì mà đo lường hiện tại có thể chấp nhận được.  Phục vụ phát triển Khoa học và kinh tế   Ngày nay, khi trách nhiệm đối với sản phẩm, dịch vụ theo thông lệ và theo pháp luật hoàn toàn thuộc về người cung ứng thì việc cung cấp bằng chứng về sự tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật và quy định thương mại của người cung ứng lại càng trở nên quan trọng trong việc chứng minh sự minh bạch của hệ thống đảm bảo chất lượng và tạo lập sự tin cậy cho sản phẩm, dịch vụ. Tất cả những điều đó đòi hỏi phải thông qua những kết quả đo, thử nghiệm tin cậy, có thể chấp nhận được.           Hiện nay, hầu hết các chuẩn đo lường quốc  gia được thiết lập, duy trì và khai thác tại Viện Đo lường Việt Nam  (Trung tâm Đo lường Việt Nam trước đây). Viện Đo lường Việt Nam cũng là  tổ chức khoa học công nghệ chịu trách nhiệm dẫn xuất đơn vị đo thống  nhất trong cả nước từ chuẩn quốc gia đến các chuẩn cấp chính xác thấp  hơn và đến các phương tiện đo trong cả nước.         Sự thừa nhận quốc tế (mang tính toàn cầu) của các kết quả đo, thử nghiệm chỉ có thể đạt được thông qua liên kết đo lường (measurement traceability) của những kết quả đo đó đến những chuẩn đo lường ổn định, được liên kết đến hệ đơn vị quốc tế (SI). Vì vậy đối với các nước đang phát triển, việc thiếu dẫn xuất chuẩn đo lường của các lĩnh vực đo được quốc tế thừa nhận như trong đo lường khối lượng, dung tích lưu lượng, nhiệt độ, hóa học và những lĩnh vực đo khác trong sản xuất, chế tạo các sản phẩm, hàng hóa đã và đang cản trở sự phát triển kinh tế, và ngăn cản những nước này vượt qua các rào cản thương mại quốc tế, như nhận định trong báo cáo năm 2005 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về rào cản thương mại (TBT).   Sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật đo lường, thử nghiệm được quốc tế thừa nhận khiến các nước đang phát triển gặp nhiều bất lợi và bị phụ thuộc vào những chính sách nhập khẩu nhất thời của các nước phát triển. Trên thực tế đã xảy ra nhiều “vụ” khước từ nhập khẩu sản phẩm thủy sản, rau quả từ châu á, châu Phi vào Mỹ, EU; rượu vang, cá, tôm từ Chilê vào Mỹ, Nhật, EU; thịt bò, mật ong, gà từ Thái Lan vào EU, Mỹ, Hồng Kông, v.v. dẫn tới số sản phẩm bị từ chối phải hủy bỏ, gây nhiều thiệt hại cho các nước đang phát triển xuất khẩu.   Để tránh được những thiệt hại tương tự như trên, các nước đang phát triển buộc phải cải thiện, phát triển hạ tầng kỹ thuật đo lường, thử nghiệm để các kết quả đo lường, thử nghiệm có thể được quốc tế thừa nhận – như đạt được thừa nhận song phương, đa phương cho các kết quả đo, thử nghiệm đối với những sản phẩm cụ thể, hoặc đạt được sự thừa nhận thông qua Thỏa thuận Thừa nhận lẫn nhau toàn cầu về đo lường (CIPM MRA) đối với chuẩn đo lường quốc gia và các kết quả đo do các viện đo lường quốc gia công bố.  Đo lường ở Việt Nam   Văn bản pháp lý hiện hành cao nhất về đo lường ở Việt Nam là Luật Đo lường năm 2011.   Chuẩn quốc gia  Theo Luật Đo lường, chuẩn đo lường của từng lĩnh vực đo bao gồm: chuẩn quốc gia, chuẩn chính và chuẩn công tác. Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, còn các địa phương, các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở nghiên cứu tự chịu trách nhiệm thiết lập, phát triển chuẩn đo lường có độ chính xác cần thiết và liên kết với chuẩn quốc gia theo yêu cầu hoạt động của mình. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để những chuẩn này được liên kết với chuẩn quốc gia thông qua các tổ chức hiệu chuẩn.   Kiểm định/hiệu chuẩn     Theo quy định trong Luật Đo lường, hoạt động kiểm định/hiệu chuẩn là bắt buộc cho mọi phương tiện đo sử dụng vào các mục đích định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán; đảm bảo an toàn, sức khỏe và môi trường; giám định tư pháp và phục vụ các hoạt động công vụ của Nhà nước. Năm 2002 và sau đó là năm 2007, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Danh mục phương tiện đo phải kiểm định gồm 39 loại phương tiện đo cụ thể thuộc 08 lĩnh vực đo: khối lượng, độ dài, dung tích, lưu lượng, áp suất, nhiệt độ, hóa lý, điện– điện từ và thời gian-tần số-âm thanh.   Hệ thống các tổ chức kiểm định của Việt Nam hằng năm đã kiểm định được trên hai triệu phương tiện đo các loại thuộc danh mục phương tiện đo bắt buộc phải kiểm định, trải rộng trên mọi miền đất nước và trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: sản xuất, thương mại, y tế, môi trường, giao thông, v.v. Hệ thống các tổ chức kiểm định bao gồm các tổ chức khoa học công nghệ công lập và các tổ chức ngoài công lập được công nhận khả năng kiểm định đối với từng lĩnh vực đo cụ thể. Cho đến nay cả nước ta đã có hơn 200 tổ chức được công nhận khả năng kiểm định, đáp ứng được phần lớn nhu cầu kiểm định của các tổ chức, cá nhân trong cả nước.   Cùng với các tổ chức kiểm định, các phòng hiệu chuẩn được công nhận ở nước ta đã hợp thành một hệ thống các tổ chức thực hiện việc liên kết đo lường cho các phương tiện đo thuộc lĩnh vực đo lường pháp định cũng như những phương tiện đo trong các ngành công nghiệp, trong sản xuất kinh doanh với Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, đảm bảo cho các phương tiện đo này có độ chính xác phù hợp và thống nhất trong phạm vi cả nước. Đến nay, ở nước ta đã hình thành và phát triển được một mạng lưới các phòng hiệu chuẩn được công nhận để các chuẩn và phương tiện đo dùng trong công nghiệp, trong sản xuất kinh doanh được liên kết với chuẩn đo lường quốc gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) thông qua một chuỗi các phép hiệu chuẩn liên kết không đứt đoạn.   Liên kết với chuẩn quốc tế  Để các phép đo, phép thử nghiệm của các phòng thí nghiệm trong nước đạt được tiêu chí: “đo, thử nghiệm ở một nơi, được chấp nhận ở nhiều nơi”, ngoài việc tuân thủ theo một hệ thống quản lý chất lượng được đánh giá và công nhận phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế,  chuẩn đo lường của các phòng thí nghiệm đó còn phải được liên kết đến chuẩn quốc tế thông qua việc liên kết với chuẩn quốc gia đã được trực tiếp hoặc gián tiếp liên kết tới chuẩn quốc tế. Cũng để các phép đo, phép hiệu chuẩn, phép thử nghiệm của các phòng thí nghiệm trong cả nước có cơ sở được chấp nhận quốc tế/toàn cầu, năm 2004 Viện Đo lường Việt Nam (được sự cho phép của các cấp có thẩm quyền) đã ký kết tham gia Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau toàn cầu về đo lường (CIPM MRA). Đến nay, 05/11 lĩnh vực đo của Viện Đo lường Việt Nam đã được đánh giá quốc tế và chấp nhận toàn cầu với các CMCs (khả năng đo /hiệu chuẩn) được đăng tải trên cơ sở dữ liệu của Viện Cân Đo quốc tế (KCDB).  ***  Bằng sự tham gia tích cực và chủ động của đo lường nước ta vào các tổ chức đo lường quốc tế, khu vực (APMP, APMLF, CGPM, OIML) và sự tham gia của tổ chức công nhận chất lượng nước ta vào các tổ chức quốc tế (APLAC, ILAC), hoạt động đo lường của nước ta thực sự đã từng bước hội nhập quốc tế với Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và Hệ thống quản lý chất lượng phòng thí nghiệm được công nhận quốc tế.        Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau toàn cầu về đo lường (Global Mutual Recognition Arrangement – MRA)   Năm  2004, Việt Nam đã ký văn bản tham gia thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau  toàn cầu  (CIPM MRA) về chuẩn đo lường quốc gia và hiệu lực giấy chứng  nhận hiệu chuẩn do các Viện Đo lường Quốc gia công bố.   Đây là thỏa  thuận được ký bởi đại diện của 38 Viện đo lường trên thế giới và 02 tổ  chức quốc tế vào năm 1999, theo đề xuất của Ủy ban quốc tế về Cân và Đo  (CIPM). Đến nay, 87 Viện Đo lường và 04 tổ chức quốc tế đã ký kết tham  gia tỏa thuận này (trong đó có Việt Nam). Mục đích chính của thỏa thuận  này là:  – Thiết lập mức tương đương của các chuẩn đo lường quốc gia do các Viện đo lường quốc gia (NMI) duy trì và khai thác;  – Thừa nhận lẫn nhau giấy chứng nhận hiệu chuẩn và đo lường do các NMI phát hành.  –  MRA là một thể chế, thông qua đó các Viện đo lường quốc gia (NMI) cùng  tạo ra sự công nhận lẫn nhau và tạo nên sự chấp nhận đa phương các chuẩn  đo lường cùng với các khả năng đo, hiệu chuẩn (Calibration &  Measurement Capability – CMC), thay thế hệ thống công nhận vùng  (regional) hoặc song phương (bilateral) trước đây. Có nghĩa là, các  chuẩn đo lường và CMC của các NMI được công nhận lại với số lượng nhiều  bên tham gia hơn trước đây.  – MRA là một thể chế mà các bên tham gia  ký có thể dựa vào đó định hướng chiến lược kinh tế. Đó là lợi ích tương  tự như việc giảm thiểu các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế.  Sau  khi tham gia CIPM MRA , cho đến nay 05 trên 11 lĩnh vực đo của Viện Đo  lường Việt Nam đã được chấp nhận và công bố toàn cầu. Đây thực sự là một  bước tiến đáng kể của Đo lường nước ta, tạo ra cơ sở kỹ thuật rất quan  trọng, đảm bảo tính liên kết đo lường tin cậy, được công nhận quốc tế  cho các phép đo khác trong cả nước.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Độ sâu của trận động đất tác động đến nguy cơ xảy ra sóng thần      Nghiên cứu do các nhà khoa học ở Đại học Hawai’i (UH) tại Mānoa dẫn đầu đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc mới nhằm kết nối các đặc điểm động đất – bao gồm cường độ động đất, độ sâu tại chỗ hai mảng kiến tạo trượt nhau và độ cứng của các mảng liên quan – với kích thước tiềm tàng của một trận sóng thần.       Vào ngày 29/9/2009, một trận sóng thần đã gây ra thiệt hại đáng kể về người và của ở quần đảo Samoa. Trận sóng thần này được tạo ra bởi một vụ động đất lớn ở Nam Thái Bình Dương. Ảnh: NOAA  Những trận động đất cùng cường độ có thể gây ra sóng thần ở nhiều cấp độ khác nhau. Mặc dù hiện tượng này thường được quan sát, song sự việc thiếu hiểu biết về chúng có thể giới hạn tính chính xác của những cảnh báo sóng thần.  Trước đây, các nhà nghiên cứu đã xác định một loại sự kiện đặc biệt gọi là động đất sóng thần (Tsunami earthquake), tức việc tạo ra những đợt sóng thần lớn hơn nhiều so với cường độ của trận động đất tạo nên nó. Công bố mới trên tạp chí Nature Geoscience của giáo sư Kỹ thuật đại dương và Tài nguyên Kwok Fai Cheung tại Trường Đại dương, Khoa học Trái đất và Công nghệ Mānoa của Đại học Hawai’i, giáo sư Khoa học Trái đất và hành tinh Thorne Lay của Đại học California — Santa Cruz và các đồng tác giả đã tìm ra lời giải thích đơn giản cho câu hỏi hóc búa này.   Bằng cách sử dụng các mô hình máy tính, nhóm nghiên cứu đã kết hợp các quá trình vật lý tạo ra động đất và sóng thần với hàng loạt quan sát về các sự kiện động đất, sóng thần trong đời thực, bao gồm cả những sự kiện được phân loại là động đất sóng thần.   Kết quả mô hình chứng minh rằng với một cường độ động đất nhất định, nếu đứt gãy nông [tức tâm chấn nằm ở độ sâu nhỏ hơn 70km] ở phần yếu hơn của mảng kiến tạo, thì sóng thần tạo ra sẽ lớn hơn so với khi đứt gãy sâu.  GS. Cheung giải thích: “Ở vùng hút chìm [nơi hai mảng kiến tạo chuyển động theo hướng va hút nhau, một mảng chuyển động xuống dưới mảng kia và chìm vào trong manti Trái đất], mảng kiến tạo phía trên mỏng hơn và mềm hơn so với mảng phía dưới gần rãnh đại dương. Vết đứt gãy nông hoặc tập trung gần rãnh sẽ tạo ra rung lắc trên mặt đất tương đối yếu, nhưng khối nước dịch chuyển phía trên trong lòng đại dương sâu sẽ tăng cường năng lượng và tạo ra các đợt sóng thần ngắn. Chúng sẽ được khuếch đại rất nhanh khi di chuyển vào bờ”.   “Các quá trình động đất và sóng thần rất phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố thay đổi từ sự kiện này sang sự kiện khác”, GS. Lay nhận xét. “Chúng tôi đã sử dụng mô hình  số trị rút gọn để tách các thông số chính của trận động đất và đánh giá tầm quan trọng của chúng trong việc xác định độ lớn của trận sóng thần”.  Việc xác minh rằng đứt gãy của trận động đất nông có thể là một yếu tố đáng chú ý hơn cường độ động đất đã khiến các nhà nghiên cứu đặt ra một câu hỏi quan trọng: Liệu có thể tiếp tục sử dụng cường độ động đất làm chỉ số chính đánh giá tác động sóng thần tiềm ẩn không?   “Việc sử dụng cường độ động đất để ước tính mối đe dọa sóng thần đã khiến việc dự báo về tác động của sóng thần kém chính xác và cần nhiều thông tin về nguồn [động đất] hơn để cải thiện điều này”, GS. Cheung nói.   Nghiên cứu liên ngành này đã tổng hợp được sức mạnh của các chuyên gia về địa chấn học – GS. Lay, và các chuyên gia về sóng thần – nhóm nghiên cứu của Cheung để áp dụng vào một loạt sự kiện quan sát. Nó thúc đẩy các nghiên cứu mới về địa chất và trắc địa đáy biển, góp phần phát hiện nhanh chóng các đứt gãy nông để có được cảnh báo sóng thần đáng tin cậy hơn.   Trong bối cảnh bờ biển trên khắp Thái Bình Dương và dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương dễ bị sóng thần tấn công, các cộng đồng ven biển chính là đối tượng lo ngại nhất vì sóng thần thường ập đến chóng vánh trong khi họ chưa có sẵn thông tin chi tiết về trận động đất.   GS. Cheung và GS. Lay sẽ tiếp tục hợp tác để tìm hiểu các sự kiện sóng thần thời tiền sử, trong quá khứ và tương lai, từ đó hiểu rõ hơn về những hiểm họa với các cộng đồng ven biển và tạo ra những hệ thống cảnh báo tốt hơn. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-earthquake-depth-impacts-potential-tsunami.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đo thế giới- Chân dung sống động của những thiên tài      Chúng ta thường ngưỡng mộ những nhà khoa học qua công trình của họ. Thường thì, mọi người đều hình dung họ: nguyên tắc, chuẩn mực v.v.. Họ giống như những vị thánh, và khi tiếp xúc chúng ta chỉ dám “kính nhi viễn chi”.  Thế nhưng, với “Đo thế giới” của Kehlmann chân dung của những thiên tài mà cụ thể là Alexander von Humboldt (1769-1859), và Friedrich Gauss (1777-1855) lại được “vẽ” theo một chiều hướng rất khác: chân thực, sống động, hài hước v.v..    Ít ai ngờ rằng, Kehlmann làm được “điều kì diệu” thế. Sở dĩ nói như vậy là vì, viết về chân dung của một ai đó không hề đơn giản. Viết về chân dung của các thiên tài, sự nhọc nhằn còn lớn hơn. Hơn thế, những con người này rất khó “gần”, bởi họ giống như những huyền thoại: nghe ai đó kể thì cực kì hấp dẫn và lôi cuốn, nhưng để “tiếp cận” và “phác thảo” chân dung họ, đôi khi dẫn đến sự bất lực.   Một điều cần nói thêm nữa là, họ rất xa chúng ta, cả không gian lẫn thời gian, cả tư tưởng lẫn tình cảm.  Ấy thế mà, chàng trai trẻ Kehlmann không hề e ngại. Anh đem đến cho người đọc những cảm xúc tuyệt vời qua từng trang sách của anh. Cây bút tài hoa của tác giả trẻ này đã tái hiện hai con người vĩ đại của nước Đức ở thế kỷ XIX, một người là thiên tài toán học, một người là nhà tự nhiên học, nhà địa lý học. Nhưng điểm đáng nói ở đây là Kehlmann đã biết tạo ra những nghịch lý từ cuộc đời của hai nhân vật này. Nếu như Friedrich Gauss, xuất thân từ tầng lớp bình dân với một tuổi thơ cơ cực thì ngược lại Alexander von Humboldt thuộc tầng lớp quý tộc và được giáo dục để trở thành vĩ nhân.  Chưa hết, hai con người này được hiện lên qua ngòi bút của Kehlmann luôn luôn mâu thuẫn nhau. Gauss, thông minh bẩm sinh trong khi Humboldt, trưởng thành nhờ đào tạo và khổ luyện. Gauss, độc đoán, kiêu ngạo, cố chấp thì ngược lại Humboldt cởi mở, cầu thị. Trong khi Gauss là một kẻ dục tình hừng hực thì ngược lại Humboldt sống khắc kỷ v.v…  Nhưng theo tôi, điểm nhấn ở chỗ: cả Gauss và Humboldt đều muốn đo thế giới, nhưng cách của hai con người này là quá khác biệt nhau. Gauss xem mọi thứ, kể cả không gian chúng ta đang sống là đối tượng của toán học. Và ông dùng những phương trình toán để đo thế giới. Ngược lại, với Humboldt thế giới hiện ra qua những ghi chép suốt cuộc hành trình của ông, qua những gì ông tỉ mỉ quan sát và đo đếm, qua cả những hiểm nguy mà ông gặp phải trong cuộc hành trình vì khoa học của mình.  Hai con người có vẻ trái ngược nhau ấy, đi theo hai kiểu rất khác xa nhau, nhưng tựu trung lại cũng vì một mục đích lớn lao: dùng tri thức của mình để khám phá thế giới. Và chính niềm tin lớn lao ấy đã thúc đẩy xã hội không ngừng tiến lên phía trước. Vậy đấy, Kehlmann liên tục đưa chúng ta thưởng lãm những lát cắt thật, rất thật về con người của hai nhân vật vĩ đại này. Ngòi bút của anh thật tài tình. Chúng ta không hề thấy bất cứ sự thuyết giáo nào qua từng trang sách của Kehlmann, nhưng đọc và ngẫm nghĩ chúng ta thấy ra nhiều điều.  Thử tưởng tượng chi tiết như thế này: trong đêm tân hôn khi chuẩn bị làm tình, Gauss vùng dậy để ghi chép một công thức toán học! Chi tiết ấy vừa hài hước, vừa ngộ nghĩnh, nhưng đầy ý nghĩa. Đối với những bộ óc vĩ đại, suy tư về khoa học luôn luôn hiện diện trong đời sống của họ, bất cứ khi nào, ngay cả lúc làm tình!  Ngược lại, Humboldt thì không quản ngại khó khăn, nguy hiểm. Ngay lúc ông đổ bệnh lẫn lúc bị thổ dân ném đá khi thực hiện công việc của mình. Thế nhưng, ông luôn tin vào điều mình làm, ông luôn muốn khám phá và ông không hề dừng lại.  Vậy đấy, hai con người ấy đã làm việc theo cách riêng rất riêng của mình. Họ không làm cho họ, ngay khi họ có đặt ra mục đích hay đó chỉ đơn giản là lòng say mê thôi thì vẫn không vấn đề. Công việc là công việc.  Với công việc khoa học, hai con người ấy là vĩ nhân, nhưng khi đối diện với cuộc đời, khi chìm vào những suy tưởng rất riêng của mình, có lẽ họ là những “đứa trẻ”.  Chúng ta thấy gì qua “Đo thế giới”? Có lẽ, điều được ở đây không chỉ là lòng ngưỡng mộ đối với các vĩ nhân, mà lớn hơn ở chỗ, nếu đọc trọn tác phẩm này, tôi đồ rằng, lòng say mê lao động và khoa học trong mỗi chúng ta sẽ được khơi dậy. Có lẽ, đó chính là thành công lớn của Kehlmann.  Lê Tân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dò theo virus SARS-CoV-2 với trình tự hệ gene      Một công bố mới xuất bản trên tạp chí Cell Reports “High-density amplicon sequencing identifies community spread and ongoing evolution of SARS-CoV-2 in the Southern United States” đã chứng tỏ cách giải trình tự gene thế hệ mới có thể dò theo các đột biến trong virus SARS-CoV-2 có thể hiệu quả trong việc giúp truy dấu lây truyền, tăng độ chính xác xét nghiệm chẩn đoán và sự hiệu quả của vaccine.      “Một khi anh có giải trình tự gene của virus với máy giải trình tự gene thế hệ mới (NGS), anh có thể bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi”, Dirk Dittmer, giáo sư vi sinh vật và miễn dịch học tại trường Y UNC  và là tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Chúng tôi thấy trình tự gene chính xác này trước đây ở đâu chưa? Liệu nó có đến từ bang khác hoặc quốc gia khác? Bệnh nhân đến đó khi nào và ai có thể nhiễm nó?”  Dittmer cho biết, việc kiểm tra dạng virus này là điều quan trọng trong xét nghiệm chẩn đoán. Rất nhiều xét nghiệm phát triển để chẩn đoán COVID-19 chỉ nhìn vào một phần của trình tự gene của loài coronavirus mới này. Nếu trình tự gene có đột biến, xét nghiệm sẽ không còn nhiều chính xác và kết quả cũng bị ảnh hưởng. Trong nghiên cứu của Dittmer và cộng sự, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy rất nhiều biến thể trong trình tự gene của virus, nhưng thật may mắn là không biến thể nào lại ở vị trị được ngắm đích trên virus trong các xét nghiệm chẩn đoán chung.  “Chúng tôi lo ngại về các đột biến trong tương lai”, Dittmer nói. “Nó vốn gắn liền với bản chất tự nhiên của một virus. Những thay đổi trong những khu vực khác nhau của trình tự gene không chỉ làm ảnh hưởng đến xét nghiệm mà còn làm giảm đi hiệu quả của các vaccine”.  Đó là lý do tại sao phòng thí nghiệm của Dittmer đã hợp tác với những phòng thí nghiệm khác ở UNC-Chapel Hill để cập nhật những thông tin mới, phòng khi có bất kỳ thay đổi nào đối với các quy trình thử nghiệm và khả năng phát triển vaccine. Phòng thí nghiệm của Dittmer đã nhận được nhiều mẫu dương tính SARS-CoV-2 từ phòng thí nghiệm của tiến sĩ Melissa Miller, giám đốc Trung tâm các phòng thí nghiệm vi trùng học và vi trùng học phân tử Y sinh UNC, nơi phát triển phương pháp xét nghiệm chẩn đoán COVID-19 của UNC.    Giáo sư Dirk Dittmer, tác giả chính của nghiên cứu  “Do chúng tôi chỉ nhìn vào một trình tự gene của virus, chúng tôi nói với FDA là chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm tra những thay đổi trên trình tự gene này để có thể tin chắc xét nghiệm của chúng tôi vẫn ổn”, Miller, đồng tác giả của nghiên cứu, nói. “Máy giải trình tự gene thế hệ mới sẽ giúp chúng tôi làm điều đó”.  Nghiên cứu của Dittmer là nghiên cứu có quy mô lớn nhất tập trung vào các cộng đồng đô thị và nông thôn. Các nhà nghiên cứu đã có khả năng tái cấu trúc bức tranh đột biến tại Trung tâm Y học UNC ở Chapel Hill một trung tâm y tế cấp ba. Từ 30/3 đến 8/5, họ đã phân tích 175 mẫu lấy từ các bệnh nhân dương tính COVID-19.  Từ các mẫu xét nghiệm, 57% mang biến thể protein gai D614G. Sự hiện diện của biến thể này liên quan đến một số lượng các bản sao hệ gene lớn hơn và sự phổ biến của nó đã được mở rộng khắp nơi diễn ra đại dịch. Các biến thể gene tìm thấy trong các mẫu này cũng ủng hộ giả thiết phần lớn các trường hợp nhiễm ở North Carolina có nguồn gốc từ những người di chuyển trong lòng nước Mỹ hơn là khách quốc tế.  Với kinh phí đầu tư từ Cơ quan N.C. Policy Collaboratory tại UNC-Chapel Hill, phòng thí nghiệm Dittmer sẽ tiếp tục sử dụng máy giải trình tự gene thế hệ mới để dò virus SARS-CoV-2 đến hết năm 2020. Mục tiêu của nghiên cứu để ghi tên từng bệnh nhân tại UNC Hospitals có các triệu chứng cúm hoặc hô hấp khi xét nghiệm chẩn đoán COVID-19. Các mẫu này sẽ được giải trình tự và hình thành một hồ sơ toàn diện nhất trong các loài virus mà các bệnh nhân đó mắc, thông tin đó sẽ tiếp tục hỗ trợ cộng đồng nghiên cứu trong cuộc chiến chống lại SARS-CoV-2 cũng như các coronaviruse mới tiềm năng gây bệnh ở người.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-tracking-sars-cov-virus-genome-sequencing.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dò tìm kim loại quý trong rác thải      Trong các thiết bị điện tử cũ có rất nhiều  kim loại quý hiếm, chẳng hạn từ mỗi tấn rác thải điện thoại di động có  thể thu gom khoảng 350 gr vàng, chưa kể bạc, đồng, iridium, palladium và  các loại đất hiếm khác thậm chí còn quý hơn vàng, với tổng giá trị lên  đến 10.000 Euro.    Vấn đề là mỗi ngày có hàng triệu tấn rác thải, phải làm sao để khai thác được kim loại quý hiếm trong núi rác ấy? Mới đây, các nhà khoa học Đức thuộc Trung tâm nghiên cứu Jülich phát triển một công nghệ mới có tính năng hoạt động như sau: rác điện tử các loại như điện thoại di động, smartphone, lò vi ba, laptop, đồng hồ, máy chụp ảnh số v.v… được đổ lên băng chuyền trong nhà máy tái chế với tốc độ cao và chạy qua một thiết bị quét (scanner).   Thiết bị quét vốn được phát triển vì một mục đích hoàn toàn khác – để xác định các chất có rác hạt nhân và trọng lượng của chúng trong thùng chứa rác mà không cần phải mở thùng để kiểm tra. Nội trong một phần tỷ giây, máy quét xác định được các kim loại có mặt trong rác thải. Một máy phát neutron (Neutron Generator) sẽ bắn liên tục neutron vào rác điện tử chạy qua. Các nguyên tử, thí dụ trong các kim loại của điện thoại di động, sẽ phóng tia gamma, mỗi loại kim loại có bước sóng đặc trưng riêng. Mật độ tia gamma sẽ phản ánh khối lượng, nhờ đó giúp tính ra rất nhanh khối lượng các kim loại trong rác thải. Những rác thải có khả năng tái chế sau đó rơi vào một thùng chứa, số không có khả năng tái chế lại được đưa về bãi rác.   Tuy nhiên, giá của máy phát neutron ít nhất khoảng 25.000 Euro, vì vậy chỉ thích hợp sử dụng ở các cơ sở tái chế lớn. Và những doanh nghiệp tái chế sử dụng máy phát neutron phải có biện pháp bảo vệ đặc biệt để không ai bị dính neutron và nhất là tia gamma.  XH dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồ uống không đường có thể gây thèm ăn      Các nhà khoa học thuộc Đại học Sydney vừa công bố nghiên cứu mới cho thấy đồ uống không đường có thể khiến con người ăn nhiều hơn do cơ thể “thèm” khẩu phần calo đã bị cắt đi.      Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã cho ruồi giấm và chuột một chế độ ăn sử dụng chất thay thế đường, kết quả là chúng ăn nhiều hơn 30% so với bình thường.  Các loại đồ ăn/uống kiêng có nhiệm vụ giúp giảm bớt lượng calo hấp thụ, nhưng chúng lại không giúp kích hoạt một cách đầy đủ phần trung khu tưởng thưởng (reward centre) trong não bộ – phần chịu trách nhiệm về các cảm giác đầy đủ và thỏa mãn. Theo nhóm nghiên cứu, não bộ sẽ bị “bối rối” khi không cảm nhận được vị ngọt gắn liền với calo, từ đó kích thích cảm giác đói.  Nghiên cứu chỉ thử nghiệm trên sucralose, chất làm ngọt trong nước uống Pepsi One, nhưng họ cho rằng hiệu ứng tương tự cũng xảy ra đối với các chất làm ngọt nhân tạo khác như các thành phần tìm thấy trong đồ uống Diet Coke.  Phó Giáo sư Greg Neely, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Khi nghiên cứu một cách hệ thống hiệu ứng này, chúng tôi thấy rằng trong trung khu tưởng thưởng của não bộ, cảm giác ngọt được gắn liền với hàm lượng năng lượng. Khi tỉ lệ giữa độ ngọt và năng lượng bị mất cân bằng trong một thời gian, não bộ sẽ cho rằng chế độ ăn này là chưa đủ năng lượng nên thực hiện điều chỉnh lại và gia tăng tổng lượng calo cần tiêu thụ.”  Hiện nay nhiều người sử dụng chất tạo ngọt nhân tạo, coi đó là một biện pháp để chống béo phì, song họ vẫn chưa hiểu hết về tác động toàn diện của các chất này lên não bộ cũng như đối với việc điều tiết cảm giác đói. Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy các chất tạo ngọt nhân tạo kích thích chứng tăng động, mất ngủ, và giảm chất lượng giấc ngủ.  Thu Trang dịch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồ uống pha chế nóng chứa hàm lượng đường cao      Quỹ từ thiện Action on Sugar của Anh vừa thực hiện phân  tích 131 loại đồ uống pha chế đang được ưa chuộng trên thị trường và  phát hiện ra rằng 98% trong số đó đều chứa hàm lượng đường cao tới mức  nguy hiểm.    Người phát ngôn của tổ chức trên cho biết, một phần ba số đồ uống được kiểm nghiệm đều chứa lượng đường lớn hơn Coca Cola, vốn chứa 9 thìa đường trong mỗi chai.  Trong số các đồ uống được kiểm nghiệm bao gồm một số loại như cà phê pha chế mocha và latte, nước uống trái cây nóng và chocolate nóng – tất cả đều là những sản phẩm được tiêu dùng nhiều tại các cửa hàng cà phê và chuỗi đồ ăn nhanh nổi tiếng ở Anh quốc.  Đồ uống có hàm lượng đường cao nhất là loại đồ uống trái cây hỗn hợp pha nóng (trọng lượng khoảng 700gr) của Starbucks (bao gồm vị bưởi, trà sữa Ấn Độ, cam và quế) với 25 thìa đường trong mỗi cốc. Đồ uống Chai Latte của Costa cũng chứa đến 20 thìa đường và mocha chocolate trắng kèm kem sữa béo của Starbucks chứa 18 thìa đường. Các loại mocha của KFC và chocolate nóng của Starbucks đều chứa 15 thìa đường.  Giáo sư Graham MacGregor, chủ tịch quỹ Action on Sugar, cho biết: “Đây lại là một bằng chứng nữa cho thấy đồ ăn thức uống hàng ngày của chúng ta có chứa những hàm lượng đường khủng khiếp như thế nào.”  Quỹ này kêu gọi các cửa hàng cà phê nhanh chóng giảm lượng đường trong các loại đồ uống nóng này, đồng thời ngừng bán đồ uống đóng gói cỡ lớn. Họ cũng khuyên người tiêu dùng chỉ nên thi thoảng uống các loại đồ uống pha chế nóng chứ không nên dùng hàng ngày; ngoài ra, khi gọi đồ uống loại này chỉ nên yêu cầu loại đồ uống nóng đơn thuần (không pha chế thêm hương vị) hoặc chứa ít siro với kích cỡ nhỏ nhất có thể.  Nguồn: http://www.telegraph.co.uk/news/health/12160642/Up-to-25-spoons-of-sugar-in-coffee-shop-drinks.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoàn chuyên gia WHO: Giả thiết Covid bắt đầu từ phòng thí nghiệm Vũ Hán “vô cùng khó xảy ra”      Nhóm chuyên gia WHO tại Trung Quốc đang hìm hiểu nhiêu giả thiết, trong đó bao gồm virus nhảy từ động vật sang người hoặc qua chuỗi thực phẩm đông lạnh.      Quang cảnh buổi họp báo. Nguồn: NYT  Đoàn chuyên gia của WHO tới Vũ Hán để điều tra về nguồn gốc của đại dịch coronavirus đã bác bỏ giả thiết là virus này thoát khỏi một phòng thí nghiệm trong khi nêu ra sự tin tưởng vào khả năng virus được vận chuyển thông qua thực phẩm đông lạnh.  Trong một cuộc họp báo kéo dài trong ngày thứ ba, nhóm các chuyên gia của cả WHO và Trung Quốc đã trình bày kết luận ban đầu về những phát hiện trong hai tuần ở hiện trường thành phố Vũ Hán.  Họ cho biết công việc của đoàn chuyên gia không làm thay đổi quá nhiều bức tranh mà họ có trước khi bắt đầu tới Trung Quốc điều tra, tuy nhiên họ cho biết thêm những chi tiết quan trọng về câu chuyện này. Đoàn chuyên gia đã không tìm thấy bằng chứng về sự lưu hành rộng rãi của con virus corona chủng mới tại Vũ Hán trước tháng 12/2019, và cho biết vẫn còn chưa rõ ràng về cách làm thế nào nó xuất hiện tại khu chợ hải sản Huanan, nơi nó được tìm thấy đầu tiên. Tuy nhiên, họ cho biết thêm “tất cả công việc liên quan đến virus đều được thực hiện xong và việc cố gắng để nhận diện nguồn gốc của nó tiếp tục hướng đến một ổ bệnh tự nhiên”.  Đoàn chuyên gia cho biết họ đã kiểm tra bốn giả thiết về việc đưa virus này lên con người.  Ý tưởng virus đến từ một sự tình cờ có liên quan đến một phòng thí nghiệm là “vô cùng khó xảy ra” và “không phải là giả thiết mà chúng tôi đề xuất cần phải nghiên cứu thêm”, Peter Ben Embarek, chuyên gia về an toàn thực phẩm và bệnh trên động vật của WHO và là trưởng đoàn lần này, cho biết.    Embarek cung cấp thêm một số thông tin chi tiết. Nguồn: CNN  Khi được hỏi thêm các chi tiết, Embarek trả lời là đoàn chuyên gia đã xem xét các tình tiết ủng hộ và phản đối giả thiết này, và trong khi “rủi ro có xảy ra… thì không có công bố hoặc nghiên cứu nào về virus corona hoặc một virus gần với nó, ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.  Ông cũng cho biết là đoàn đa phỏng vấn những người làm việc tại Viện nghiên cứu Vi trùng Vũ Hán và xác minh các quá trình kiểm tra sức khỏe khi tới nơi này “và rất khó có khả năng có bất cứ thứ gì từ đây nhảy ra ngoài”.  Giả thiết virus được lây truyền trực tiếp từ vườn thú từ một dộng vật nhảy lên người cần được điều tra thêm, Embarek nói, nhưng bổ sung là cách thức có thể nhất là qua những vật chủ trung gian “có tiềm năng gần cận với con người là nơi virus có thể thích nghi và lưu hành rồi sau đó nhảy lên người”.  Tuy vậy không thể nhận diện được một loài nào đóng vai trò là ổ bệnh. Có những nghiên cứu đề xuất đó có thể là dơi hoặc tê tê nhưng giáo sư Liang Wannian, người phụ trách bộ phận chuyên gia về Covid-19 của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc cho rằng các loài virus được nhận diện trong các loài này “còn thiếu sự tương đồng để xác định là tổ tiên của Sars-Cov-2.” Dẫu vậy, thì nhiều khả năng mèo và chồn đã được đề xuất là những ứng cử viên tiềm năng”.  Giả thiết về vật chủ trung gian “sẽ đòi hỏi nghiên cứu nhiều hơn, cụ thể hơn và hướng đích hơn”, Embarek nói.  “Tương tự, kết nối giả thiết vật chủ trung gian với giả thiết về sự lan truyền qua những thực phẩm đông lạnhs” cần có điều tra thêm “về vai trod có thể của chuỗi đông lạnh, sản phẩm đông lạnh trong việc đưa virus đi xa”.  Dù các phát hiện này đã được nêu ra cạnh nhau nhưng vẫn còn có một số khác biệt quan trọng.    Ông Liang nhấn mạnh, nhiệm vụ này mới chỉ là “phần đầu của những điều tra của WHO về nguồn gốc của virus. Nguồn: CNN  Đầu tiên Liang cho rằng  việc tập trung vào những phát hiện này ủng hộ các đề xuất là virus xuất hiện bên ngoài Trung Quốc – một  ý tưởng mà Trung Quốc thúc đẩy nhiều tháng nay. Ông nói xét nghiệm mở rộng 1 vạn mẫu y tế và dược phẩm đã xác định là “không có khả năng có sự lây truyền đáng kể nào xuất hiện ở Vũ Hán trong suốt hai tháng [từ tháng 10 đến tháng 12]”, và nhấn mạnh khả năng lan truyền qua thực phẩm đông lạnh đã được bán tại chợ Vũ Hán.  Sau đó, Embarek đồng ý khu chợ này cũng có bán các thực phẩm đông lạnh ‘nhưng cũng có người bán cả các sản phẩm hàng hóa được nuôi trồng trong trang trại hoặc được thuần hóa từ tự nhiên”.  Các nhà nghiên cứu đã nhận diện được tất cả những người bán và người cung cấp và đều có tiềm năng để họ tiếp tục theo đuổi các đầu mối đó, nhìn vào chuỗi cung ứng động vật cho khu chợ hoặc cách khác. Ông nói “Chúng tôi biết rằng con virus này có thể tồn tại trong những điều kiện như môi trường nhiệt độ thấp hoặc đông lạnh… nhưng chúng tôi chưa thực sự hiểu là liệu nó có thể lan truyền sang con người và dưới những điều kiện nào thì điều này có thể xảy ra”.  Họ vẫn còn đang nghiên cứu về một giả thiết là nó đưa vào khu chợ này thông qua một người đã bị nhiễm bệnh.  Liang nhấn mạnh, nhiệm vụ này mới chỉ là “phần đầu của những điều tra của WHO về nguồn gốc của virus và Trung Quốc đã hợp tác thực hiện nhiệm vụ. Trên thực tế, nhiệm vụ  này là kết quả trong nhiều tháng đàm phán mà ban đầu Trung Quốc từ chối việc cho phép một chuyến thị sát.  Bất chấp thông báo của các chuyên gia là vẫn còn nhiều điều cần nghiên cứu tiếp thì Liang cho  rằng, nhiệm vụ phía Trung Quốc trong cuộc điều tra này đã hoàn tất. “Việc truy cứu nguồn gốc virus trên quy mô toàn cầu do đó không còn bị ràng buộc vào bất cứ địa điểm nào nữa”, ông nói và cho biết thêm là những phát hiện cuối cùng có thể hữu ích với thế giới.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2021/feb/09/wuhan-laboratory-leak-covid-origin-theory-unlikely-says-who-team  https://edition.cnn.com/world/live-news/coronavirus-pandemic-vaccine-updates-02-09-21/h_1ee4361f01e144266729a2f0ed7d113d       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoàn chuyên gia WHO: Nguồn đưa virus vào Vũ Hán vẫn bí ẩn      Toàn bộ nhiệm vụ tới Trung Quốc tìm hiểu về nguồn gốc đại dịch Covid-19 của WHO diễn ra không mấy suôn sẻ, kết thúc bằng một cuộc họp báo nêu tóm tắt những phát hiện vào ngày 9/2/2021 tại Vũ Hán. Trong cuộc họp báo này, người quản lý chương trình điều tra của WHO Peter Ben Embarek và trưởng nhóm Marion Koopmans đã ca ngợi sự hợp tác của Trung Quốc trong suốt bốn tuần điều tra. Họ nói rằng “vô cùng khó xảy ra” việc SARS-CoV-2 thoát khỏi một phòng thí nghiệm Trung Quốc và cho biết là đoàn có thể không điều tra hơn nữa giả thuyết này. Tuy nhiên họ vẫn mở khả năng có thể là virus tới Vũ Hán qua mặt hàng thực phẩm đông lạnh, một giả thuyết mà truyền thông Trung Quốc từng đề xuất với ngụ ý virus có thể đến từ bất cứ nơi nào trên thế giới.  Một số nhà báo và nhà khoa học gọi sự kiện này là chiến thắng kép của Trung Quốc và yêu cầu có thêm bằng chứng cho việc loại bỏ thuyết phòng thí nghiệm. Vào ngày 12/2/2021, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus xuất hiện, dường như công khai quan điểm đi ngược lại đoàn chuyên gia khi nói rằng “tất cả các giả thuyết đều được tính đến”. Trong khi đó, giới truyền thông lại cho là các thành viên đoàn chuyên gia WHO thất vọng về việc không được truy cập vào dữ liệu sẵn có, bao gồm những trường hợp sớm nhất mắc Covid-19. Science đã có một cuộc phỏng vấn kéo dài với Ben Embarek ngay sau khi ông trở lại Geneva.      Là một nhà miễn dịch học và an toàn thực phẩm, Ben Embarek đã có mặt tại Trung Quốc khi làm việc ở văn phòng đại diện của WHO tại Bắc Kinh vào năm 2009 và 2011, và từng phụ trách nhiệm vụ điều tra của WHO về nguồn gốc động vật của virus hội chứng đường hô hấp Trung Đông sau khi nó xuất hiện vào năm 2012. Nguồn: UN    Điều gì là trải nghiệm ngạc nhiên nhất của ông trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ này?    Toàn bộ bốn tuần là một chuỗi dồn dập cảm nhận và trải nghiệm. Sự chú ý từ bên ngoài thế giới vào đó thật đặc biệt. Với chúng tôi, việc không chỉ đến các phòng thí nghiệm mà còn cả khu chợ Huanan đã bị đóng cửa một năm rất quan trọng và vô cùng hữu dụng bởi nhờ đó mà chúng tôi có được hiểu biết sâu hơn về môi trường xảy ra lây nhiễm. Một số cuộc gặp gỡ mà chúng tôi có với các bệnh nhân của Covid-19 và với những thứ liên quan đến họ cũng rất đặc biệt.     Tại cuộc họp báo ở Geneva, Tổng giám đốc WHO Tedros dường như mâu thuẫn với ông khi cho rằng “tất cả mọi giả thuyết về nguồn gốc của SARS-CoV-2 đều được tính đến”. Có phải sai lầm khi gọi giả thuyết nguồn gốc từ phòng thí nghiệm là “vô cùng khó xảy ra”?    Ồ không. Ban đầu chúng tôi đi theo một lộ trình bao quát tất cả các phần giả thuyết là virus có thể lây nhiễm lên người vào cuối năm 2019, trong đó một tai nạn tình cờ ở phòng thí nghiệm là một giả thuyết, một giả thuyết khác là lây nhiễm trực tiếp qua một vật chủ, những giả thuyết khác là những phiên bản khác nhau về các vật chủ trung gian.    Với mỗi giả thuyết, chúng tôi cố gắng nêu các sự kiện ra, nhìn vào những gì mà chúng tôi có và sau đó đánh giá về mỗi giả thuyết. Các đồng nghiệp Trung Quốc cùng tham gia đánh giá những giả thuyết đó. Đúng là các tai nạn phòng thí nghiệm vẫn xảy ra trên khắp thế giới; chúng cũng từng xảy ra trong quá khứ. Sự thật khác là nhiều phòng thí nghiệm liên quan đều tập trung quanh Vũ Hán và đang nghiên cứu về coronavirus. Ngoài điều đó thì chúng tôi không có nhiều điều kiện để xem xét giả thuyết này và coi đó là một lựa chọn khả dĩ.      Nhưng điều gì khiến ông gọi đó là “vô cùng khó xảy ra”? Ông đã nghiên cứu được điều gì mà có thể coi là ít có khả năng xảy ra hơn?    Chúng tôi không đặt quá nhiều trọng tâm vào câu chữ. Chúng tôi đã nhìn vào những lựa chọn khác nhau. Tại một số điểm, chúng tôi nghĩ là “phải chăng chúng ta nên sử dụng cách xếp hạng, ví dụ như tính điểm với 1 điểm là vô cùng khó xảy ra, 5 điểm là rất có thể xảy ra, hoặc chúng tôi nên sử dụng màu sắc hoặc sử dụng một thang bậc đánh giá khác”? Cuối cùng chúng tôi kết thúc với một thang đánh giá theo năm cụm từ “vô cùng khó xảy ra”, “khó xảy ra”, “không thể”, “có thể” và “rất có thể”. Thang đánh giá này còn giá trị hơn cả một bức họa khi vẽ ra điểm các giả thuyết xuất hiện để giúp chúng tôi có thể lên kế hoạch cho những nghiên cứu tương lai.     Liệu ông có học hỏi được điều gì mới ở Trung Quốc. Ông đã từng ở đó và ông có nhiều lý do để nói là nó “vô cùng khó xảy ra” hơn trước đây chứ?    Đúng vậy. Chúng tôi có những cuộc gặp gỡ khá lâu với các thành viên của Viện Vi trùng Vũ Hán và ba phòng thí nghiệm ở Vũ Hán. Họ đã nói về những tuyên bố này một cách cởi mở. Chúng tôi đã cùng thảo luận: Anh làm gì trong năm qua để loại bỏ tuyên bố đó? Anh đã tự xây dựng những lập luận gì? Anh có tự kiểm tra chính mình không? Anh có xem xét hồ sơ ghi chép của mình không? Anh có xét nghiệm đồng nghiệp của anh không? Và họ giải thích cách họ làm việc, hệ thống kiểm tra mà họ có. Họ cũng đã xét nghiệm huyết thanh nhân viên của mình trước đây. Họ xét nghiệm các mẫu thu được từ đầu năm 2019 và từ năm 2020. Có nhiều cuộc thảo luận mà chúng tôi không thể có nếu như không tới Vũ Hán. Những gì chúng tôi thấy đã đem lại cho chúng tôi thêm nhiều tự tin cho đánh giá của mình. Sự nhất trí này là một kịch bản mà chúng tôi không chờ đợi.    Chúng tôi cũng có những khó khăn xảy ra trong nhóm hợp tác của chúng tôi khi thiết kế những nghiên cứu tương lai để xem xét những nghi ngờ về phòng thí nghiệm Vũ Hán, bởi vì nếu anh muốn khai phá xa hơn một giả thuyết thì anh cần một cơ chế khác biệt. Anh cần thực hiện một kiểm tra thông thường và điều đó vượt ra khỏi những gì mà nhóm chuyên gia của chúng tôi được ủy thác hoặc phải có những công cụ và năng lực để làm. Nhưng chúng tôi không hoàn toàn đóng cánh cửa lại với giả thuyết này.     Vì vậy sẽ cần điều tra thêm, chỉ là không phải do ông hoặc nhóm của ông thực hiện?    Dù không phải là những gì chúng tôi sẽ theo đuổi trong vài tuần tới hoặc vài tháng tới nhưng chủ đề này đã được đặt ra. Với tôi, chuyến đi tới Vũ Hán là một thành quả lớn bởi vì trong năm qua, đó là nhiệm vụ bất khả thi, không thể thảo luận về nó hoặc thậm chí không thể đặt nó lên bàn làm việc hoặc trong chương trình nghị sự của bất cứ cuộc họp nào.     Nhưng sẽ có ai đó tham gia điều tra chứ?    Hãy nhớ rằng báo cáo này là kết quả của một nhóm hợp tác gồm các chuyên gia Trung Quốc và quốc tế, nó đã được thảo luận một cách cởi mở và đã được công nhận. Như tôi đã nói, nhiệm vụ này có thể do nhóm nghiên cứu này hoặc tôi tin ngay cả chỉ có chuyên gia của WHO, cũng có thể thực hiện được. Nhưng tôi tin là nhiệm vụ này sẽ phải có một cách tiếp cận rộng kiểu Liên Hợp Quốc với sự hỗ trợ của các thành viên, nếu đó là những gì mà cộng đồng quốc tế muốn hướng tới.      Đoàn chuyên gia WHO trao đổi với các đồng nghiệp Trung Quốc về những ca nhiễm bệnh đầu tiên. Nguồn: NDKV.com     Nhưng cách phần lớn các nhà báo hiểu, cách tôi hiểu là giả thuyết virus lọt khỏi phòng thí nghiệm Vũ Hán đã bị bác bỏ.    Hãy để tôi nói thêm cho rõ ràng: sự thật là tôi đánh giá giả thuyết vô cùng khó xảy ra không có nghĩa là bác bỏ… Chúng tôi tuyên bố trong báo cáo là tất cả mọi đánh giá về giả thuyết sẽ được xem xét trên một cơ sở chặt chẽ. Chúng tôi có thể chọn ra một giả thuyết nếu có bằng chứng mới khiến cho nó có thêm nhiều khả năng. Công việc vẫn trong tiến trình thực hiện.     Một kịch bản khác mà ông đã phác thảo là virus đã lan truyền qua thực phẩm đông lạnh. Vậy có gì là bằng chứng cho điều đó?    Kịch bản này thú vị bởi những phát hiện mà chúng tôi thấy khi tới chợ Huanan, vốn là một nơi bán sỉ rất nhiều thực phẩm đông lạnh – động vật, thịt và hải sản. Và chúng tôi biết rằng virus này tồn tại trên sản phẩm đông lạnh trong cả một thời gian dài. Trung Quốc đã từng báo cáo trong nhiều tháng trước là có một số nơi nhất định người ta đã cô lập được virus và các mẫu dương tính thu được trên mặt hàng đông lạnh nhập khẩu.    Nhưng chuyện đó xảy ra trong năm 2020, thời điểm nơi virus đã lưu hành rộng rãi trên thế giới, nơi những cơn bùng phát cũng diễn ra trong các nhà máy chế biến thực phẩm ở khắp nơi trên thế giới. Đó có lẽ là một sự kiện rất hiếm khi xảy ra; chúng tôi có thể thấy từ một vài chục mẫu dương tính được phát hiện ở Trung Quốc trong số 1,4 triệu mẫu đã được lấy. Nó có khả năng xảy ra nên nó đáng được khám phá. Tuy nhiên chúng tôi phân vân vì tình trạng nhập khẩu hàng hóa năm 2020 của Trung Quốc, và tình trạng năm 2019, nơi rõ ràng không phải là một tuyến đường khả thi trong việc lan truyền virus. Dịch bệnh Covid-19 chưa bùng phát trên diện rộng trong các nhà máy chế biến thực phẩm trên khắp thế giới.    Có rất nhiều kịch bản tương tự. Một số người buôn bán ở chợ Huanan đã mua bán các loài vật có nguồn gốc hoang dã nhưng được nuôi trong các trang trại – lửng, dúi, thỏ, cá sấu… Phần lớn các con vật này được biết là dễ bị mắc các loại virus SARS. Một số trong đó được nuôi trong các trang trại ở những vùng có corona virus từng được phân lập từ dơi: Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam. Có thể có tiềm năng một số loài trong đó bị lây nhiễm ngay từ trang trại và chúng mang virus vào chợ.    Đây là thời điểm trở lại với những nhà cung cấp và trang trại, và khám phá ra loại nào đã từ đó mà ra. Có chuyện lai giữa các loài không? có loài vật nào mới như là một giống mới được đưa tới các trang trại một cách đều đặn không? họ có nhận cung cấp các vật nuôi từ nơi khác đến không? những trang trại khác gần đó mà họ quan tâm không? Và tất nhiên, thực hiện nhiều xét nghiệm tất cả các loài vật ở xung quanh và môi trường nữa.    Như thế với dơi: trong những tuần gần đây, chúng tôi đã có báo cáo về những virus mới rất thú vị từ Thái Lan và Campuchia. Chúng tôi cũng quan tâm đên quần thể dơi ở một vùng rộng hơn; tìm kiếm thêm nhiều virus có thể giúp chúng tôi thu hẹp con đường tiến hóa của coronavirus. Và thực hiện nhiều nghiên cứu mang tính hệ thống về những loài đặc biệt quan tâm, cụ thể tại Trung Quốc mà chúng tôi biết dễ bị nhiễm: chồn, lửng chó, cáo. Có một số lượng các hệ thống trang trại đáng quan tâm.     Ông sẽ thực hiện nghiên cứu theo hướng này?    Chúng tôi đang thảo luận về những bước tiếp theo, gắn kết các ý tưởng và chiến lược về những gì các thành viên Trung Quốc trong đoàn có thể làm, những gì chúng tôi có thể làm. Nhưng cần có thỏa thuận về những nghiên cứu tương lai, chúng tôi không muốn bắt đầu xét nghiệm hàng triệu con vật ở khắp mọi chốn bởi vì sẽ tốn rất nhiều nguồn lực mà có thể chỉ mang về một kết quả không đáng kể.     Tại cuộc họp báo, ông đã nói rằng đã rõ ràng hơn là không có lây truyền virus trước tháng 12/2019. Nhưng cũng có thông tin cho biết là Trung Quốc không chia sẻ dữ liệu năm 2019 về 92 bệnh nhân có triệu chứng giống cúm. Vậy ông tin tưởng như thế nào về không có sự lây truyền virus trước tháng 12/2019, dữ liệu bị thất lạc là gì và tại sao?    Một phần của tiến trình này là cố gắng tìm ra những ca ban đầu vào đầu tháng 12 qua dữ liệu đến từ những hệ thống giám sát khác nhau. Các đồng nghiệp Trung Quốc trước khi chúng tôi đến đã xác nhận được 72.000 ca từ hệ thống giám sát y tế là ca có triệu chứng giống cúm, sốt, và viêm phổi. Theo nguyên tắc, những ca này có tiềm năng là những ca Covid. Vì vậy họ cố gắng áp dụng một số bộ tiêu chí hợp lý để sàng lọc ra một số lượng nhỏ hơn các ca có thể có giá trị tìm hiểu sâu hơn. Và kết quả là họ đã chọn ra được 92 ca. Họ đã tìm kiếm trong thời kỳ đầu của tháng 10 đến tháng 12/2019, và không có manh mối theo bất cứ cách nào trong số 92 ca đó. Sau khi sử dụng các xét nghiệm huyết thanh học [xét nghiệm để tìm kiếm các kháng thể trong máu người –loại protein hình thành để phản ứng với virus trong quá khứ], họ đã có được 67 trong số 92 ca này; những trường hợp khác thì không sẵn sàng, không thể truy dấu được hoặc đã qua đời. Nhưng cả 67 trường hợp được sàng lọc này đều âm tính.      Đoàn chuyên gia WHO tới Viện Vi trùng Vũ Hán, nơi bị cho là để virus “sổng” khỏi phòng thí nghiệm. Nguồn: AFP    Chúng tôi đã đánh giá tất cả các trường hợp và đề xuất những nghiên cứu tiếp theo. Ý tưởng hiện tại là cố gắng sử dụng chiến lược khác để đánh giá tốt hơn 67 ca hoặc cả 92 ca. Ví dụ, bằng việc sử dụng các xét nghiệm huyết thanh học trên một số ca được xác nhận từ tháng 12/2019 nhưng hạn chế của nó là có thể cho tỷ lệ xét nghiệm dương tính giả cao (do có thể từng lây nhiễm các virus họ corona trước đó); nếu trường hợp nào trong số các ca được xác nhận là hiện âm tính, nó sẽ đặt một câu hỏi về giá trị của xét nghiệm huyết thanh học.    Một điều khác là việc giảm từ 72.000 ca xuống còn 92 ca cho thấy việc hình thành tài liệu đó có lẽ là quá chặt chẽ. Có thể có một ý tưởng tốt hơn là lặp lại quá trình này và lập bộ dữ liệu mở rộng hơn, nhờ thế chúng tôi có thể có được 1000 ca hoặc nhiều hơn và sau đó thực hiện đánh giá theo cách tương tự.     Nhiều người nói là có cuộc tranh cãi nảy lửa về vấn đề này. Tại sao?    Bởi vì chúng tôi muốn trở lại ngay lập tức và nhìn vào 72.000 ca theo một cách khác – thảo luận với nhau về tài liệu và tiến trình mỗi cơ sở y tế sử dụng để giảm số lượng từ 72.000 xuống 92. Vì có một thảo luận về việc liệu có thể thực hiện ngay hay không, hay liệu chúng tôi phải chờ đợi. Đó là một tranh luận thuần túy khoa học. Nó đem đến kết quả là thật may mắn, chúng tôi không phải chuyển hướng theo những phân tích mới. Và mọi người đừng quên là những điều kiện để thực hiện điều đó thực sự khó khăn. Chúng tôi đã bị cách ly trong vòng bốn tuần, không thể di chuyển một cách dễ dàng… Trong những điều kiện đó, không ngạc nhiên là chúng tôi đã bất đồng.      Có cuộc tranh luận nào khác diễn ra theo cách tương tự không?    Dĩ nhiên có nhiều cuộc tranh luận và tranh cãi về từ ngữ trong báo cáo, về cách diễn đạt những phát hiện, về cách diễn đạt kết luận. Và chúng tôi không được quên bởi vì tất cả các áp lực lên các nhiệm vụ từ thế giới bên ngoài và ở lãnh thổ Trung Quốc từ những phần của… của hệ thống quản lý, đó là một vấn đề vô cùng nhạy cảm.     Nếu ông kết hợp tất cả điều đó lại với nhau thì chúng ta có thể biết điều gì? Kịch bản nào thích hợp nhất cho việc khi nào và bằng cách nào SARS-CoV-2 bắt đầu lưu hành?    Rõ ràng là trong nửa cuối tháng 12 đã có sự lưu hành rộng rãi của virus này ở Vũ Hán. Sự phân bố ở chợ vào thời điểm đó không quan trọng thêm chút nào bởi vì virus đã lưu hành khắp mọi nơi trong thành phố. Với tôi đó là phát hiện lớn nhất. Đó không phải là bức tranh mà chúng tôi có trước đó. Các ca ngoài chợ đang chứng tỏ những điều khác biệt theo góc độ sự đa dạng về trình tự gene của virus. Liệu việc này có chỉ dấu sự đa dạng về việc đưa virus vào thành phố này hay một nguồn đơn lẻ ban đầu, tiếp nối bằng sự lan truyền theo nhiều khu khác nhau của thành phố? Điều này vẫn còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên tất cả các điểm đều hướng đến một nguồn trong quần thể là khu vực trong giai đoạn tháng 10 đến đầu tháng 12/2019 – có lẽ phần lớn là cuối tháng 11, không lâu trước những ca sớm nhất được phát hiện ra. Nhưng nguồn đưa virus vào thành phố vẫn còn là điều bí ẩn.     Cả thế giới dõi theo ông. Ông thực hiện nhiệm vụ trong một quốc gia tuân theo những quy định của riêng mình. Có không sự nguy cơ khi ông tập trung vào khoa học mà trở nên ngây thơ về chính trị? Một vài người nói là cuộc họp báo ở Vũ Hán về cơ bản là một thắng lợi mang tính quảng cáo cho Chính phủ Trung Quốc.    Chính trị luôn luôn có mặt cùng chúng tôi ở những khía cạnh khác nhau. Chúng tôi có khoảng 30 đến 60 đồng nghiệp Trung Quốc ở khắp mọi nơi và một số lượng lớn những người không phải nhà khoa học và cũng không phải thuộc ngành y tế công cộng. Chúng tôi biết có sự kiểm tra kỹ lưỡng nhóm các nhà khoa học từ những lĩnh vực khác. Chúng tôi không ngây thơ và tôi cũng không ngây thơ về môi trường chính trị mà trong đó chúng tôi đang cố gắng vận hành và đối mặt, các đồng nghiệp của chúng tôi cũng vậy.    Tôi không nghĩ cuộc họp báo đó là một chiêu quảng cáo cho Trung Quốc. Tôi nghĩ kết quả của nhiệm vụ này là một chiến thắng cho cộng đồng khoa học quốc tế. Chúng tôi cố tìm ra cách để hoàn thành các nghiên cứu mà nếu không làm như vậy thì không thể thực hiện. Sự chính trị hóa của các sự kiện này đã không giúp công việc tiến triển trong năm qua nhưng tôi nghĩ là chúng tôi đã có cách tận dụng được nó một cách tốt nhất.□     Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/02/politics-was-always-room-who-mission-chief-reflects-china-trip-seeking-covid-19-s    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoàn điều tra của WHO: Đặt câu hỏi với Viện Vi trùng Vũ Hán      Hôm nay ngày 3/2/2021, các nhà nghiên cứu của WHO đã bước vào Viện nghiên cứu Vi trùng Vũ Hán, một trong những nơi thu hút sự chú ý của toàn cầu trong đại dịch COVID-19 bởi theo thuyết âm mưu thì có thể virus corona chủng mới “sổng” ra từ nơi này.      Bên ngoài Viện nghiên cứu Vi trùng Vũ Hán. Nguồn: CNN  Đoàn điều tra của WHO mong muốn được gặp những nhân vật chủ chốt và trao đổi với họ về những vấn đề quan trọng. “Tôi mong chờ đến một ngày làm việc hiệu quả, gặp gỡ những nhân vật chủ chốt tại đây và đặt những câu hỏi quan trọng cần hỏi”, Peter Daszak, chủ tịch của NGO EcoHealth Alliance và là trưởng đoàn chuyên gia WHO, nói khi bắt đầu tới Viện nghiên cứu Vi trùng Vũ Hán.  Vào nơi thuyết âm mưu bủa vây   Cơ sở nghiên cứu bị đặt nhiều nghi vấn này thuộc quyền quản lý của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, nơi duy nhất ở Trung Quốc đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học ở mức cao nhất – an toàn sinh học cấp bốn (Biosafety Level 4 BSL-4) – vốn được thiết kế để nghiên cứu những mầm bệnh nguy hiểm nhất thế giới, những mầm bệnh ẩn chứa những nguy cơ rủi ro về lan truyền, có khả năng dẫn đến tử vong và phần lớn là chưa có phương thuốc điều trị hiệu quả như các loài virus họ corona.  Phòng thí nghiệm Vũ Hán được xây dựng trong bối cảnh dịch SARS diễn ra, càn quét từ Trung Quốc sang các vùng khác của châu Á trong năm 2002 và 2003. Nhà vi trùng học Shi Zhengli, người còn được biết đến tên là “bà dơi” sau nhiều năm nghiên cứu về các virus trên các con dơi sống trong hang động, là phó giám đốc phòng thí nghiệm. Nơi này tập trung vào tìm hiểu các loài virus corona trên dơi, chính xác là những gì được cho là nơi bắt nguồn của đại dịch.  Dơi là một trong những “bể chứa” virus, và dẫu chúng không bị nhiễm bệnh do sức đề kháng tự nhiên, chúng vẫn được coi là những vật mang rất nhiều mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với con người, bao gồm virus gây bệnh Ebola, virus dại, SARS và MERS. Hiện khoa học nhất trí là SARS-Cov-2, con virus gây ra đại dịch Covid-19, đã được tiến hóa từ dơi và sau đó lan truyền sang người, có tiềm năng là thông qua một vật chủ trung gian nào đó.    Đoàn điều tra của WHO. Nguồn: AP  Điều này khiến cho công việc của các phòng thí nghiệm như Vũ Hán trở nên hết sức quan trọng, như để hiểu về cách virus tiến hóa và lan truyền từ dơi sang người, qua đó có thể cho phép các nhà khoa học có được vũ khí để kiểm soát được những dịch bệnh tương lai. Điều đó có nghĩa là rất nhiều phòng thí nghiệm có thể là nơi chứa nhiều mầm bệnh có khả năng cướp đi mạng sống của con người và phải được kiểm soát một cách chặt chẽ để chúng không thể bị sổng ra ngoài.  Dẫu cho có ý kiến từ chính quyền Mỹ thời tổng thống Trump từng đề xuất là Vũ Hán có thể là nơi để sổng virus nhưng phần lớn các chuyên gia đều bác bỏ. Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Nature Medicine vào tháng 3/2020 của các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm hàng đầu ở Mỹ, Anh và Australia “không chắc” là virus corona mới xuất hiện từ một phòng thí nghiệm, theo kết quả phân tích từ dữ liệu hệ gene. “Phân tích của chúng tôi cho thấy một cách rõ ràng SARS-CoV-2 không phải là một sản phẩm được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc một loại virus được ‘chỉnh sửa’ có mục đích”, theo bài báo này.  Vào tháng 6/2020, Shi Zhengli đã trả lời phỏng vấn tạp chí Scientific American, trong đó bà cho biết ban đầu bà cũng hết sức căng thẳng về việc liệu virus có bị thoát ra khỏi phòng thí nghiệm không. Nhưng  kiểm tra cho thấy không kết quả giải trình tự gene virus corona chủng mới nào trùng khớp với các virus có trong phòng thí nghiệm Vũ Hán. Shi Zhengli nói “Tôi đã mất ngủ nhiều ngày”.  Đài truyền hình quốc gia Trung Quốc CGTN nói đoàn điều tra của WHO có thể “tới phòng thí nghiệm an toàn sinh học quốc gia và trao đổi các ý tưởng với các chuyên gia nơi này về công việc hàng ngày, hợp tác quốc tế, các nỗ lực kiểm soát bệnh dịch và đóng góp của họ”.  Ghi nhận nhiều thông tin     Ông Peter Daszak cho biết các chuyên gia của WHO đã thấy những dữ liệu mà chưa từng được tiết lộ trước đây. Nguồn: AP  Đoàn điều tra của WHO vào Phòng thí nghiệm Vũ Hán lúc 9h30 giờ địa phương và rời đi sau ba giờ làm việc mà không trao đổi với các phóng viên đang chờ bên ngoài.  Qua một số thông tin hiếm hoi của Peter Daszak thi ông cảm thấy tin tưởng vào các quy trình an toàn của phòng thí nghiệm này: “Tôi biết phòng thí nghiệm này rất rõ”. Daszak đã từng làm việc với nhà vi trùng học Shi trước đây.  “Đây là một phòng thí nghiệm vi trùng học được trang bị tốt và cũng đang thực hiện nghiên cứu về loại virus corona có liên quan đến SARS. Những gì họ tìm thấy rất mới nhưng thật không may là nó có thể bị đóng cửa vì người ta đã bắt đầu đổ lỗi cho nó”.  Daszak cho biết ông hi vọng mối quen biết cá nhân với các nhà lãnh đạo phòng thí nghiệm này cũng có thể góp phần đem lại cho đoàn của WHO tất cả những gì họ cần. “Chúng tôi mới nói chuyện với Shi Zhengli, và bà ấy rất cởi mở. Tôi đang hi vọng là chúng tôi có cùng quan điểm về độ cởi mở và minh bạch”, ông nói.    Bà Shi Zhengli và ông Peter Daszak trong Phòng thí nghiệm Vũ Hán. Nguồn: CNN.  Tuy vậy, Daszak cũng lo ngại về việc thực hiện cuộc điều tra này có thể là quá muộn để tìm ra những thông tin quan trọng ở Vũ Hán. “Chúng tôi lẽ ra phải ở đây một năm trước để thực hiện công việc này”, Daszak nói và cho biết thêm là “chúng tôi được quyền vào các nơi… mọi thời điểm, chúng tôi đang đào xới để tìm ra nhiều hơn nữa thông tin về các cách dịch bệnh có thể xuất hiện”.  WHO sẽ kết luận dựa trên bằng chứng. “Chúng tôi đều nhận thức được các giả thiết liên quan đến khả năng virus từ phòng thí nghiệm này và dĩ nhiên là chúng tôi sẽ đặt các câu hỏi về tất cả các khía cạnh quan trọng về Viện nghiên cứu Vũ Hán”, Peter Daszak trả lời Sky News trước khi tới đây làm việc.  “Nếu có dữ liệu nêu ra khả năng có xu hướng gần với bất kỳ giả thiết gì, chúng tôi sẽ theo sát dữ liệu đó, chúng tôi sẽ theo sát bằng chứng dẫn dắt chúng tôi. Nếu nó dẫn chúng tôi tới một chợ cá và một mắt xích nào đó, chúng tôi sẽ đi theo nó. Còn nếu nó dẫn chúng tôi đến một trang trại nuôi động vật hoang dã hoặc chợ bán động vật hoang dã, chúng tôi cũng sẽ đến đó. Nếu nó dẫn chúng tôi đến một phòng thí nghiệm thì chúng tôi cũng làm như vậy. Tất cả đều trên bàn làm việc và chúng tôi đều giữ quan điểm cởi mở”.  Anh Vũ tổng hợp   Nguồn: https://edition.cnn.com/2021/02/03/asia/wuhan-coronavirus-who-bat-lab-intl-hnk/index.html  https://www.dw.com/en/coronavirus-who-investigators-visit-wuhan-institute-of-virology/a-56436020  https://news.sky.com/story/covid-19-who-team-in-wuhan-sees-data-no-one-has-seen-before-and-does-not-rule-out-coronavirus-escaped-from-a-lab-12206781  https://www.france24.com/en/live-news/20210203-who-team-to-visit-chinese-virus-lab-in-wuhan-state-media    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoàn điều tra của WHO tới khu chợ Vũ Hán để thu thập dữ liệu      Một đoàn điều tra của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) gồm 13 thành viên đã kết thúc đợt cách ly và tới khu chợ Vũ Hán, nơi bị nghi là nơi xuất hiện ca mắc virus corona đầu tiên. Họ cho biết, dự kiến sẽ dành nhiều tháng để thu thập manh mối về dữ liệu cúm, vốn chứa nhiều manh mối sống còn về đợt lan truyền sớm của virus này.      Các chuyên gia WHO rời khách sạn để tới khu chợ hải sản Huanan. Nguồn: The Guardian  Họ đã bước vào một thành phố từng là tâm điểm của đại dịch toàn cầu nhưng ở thời điểm hiện tại, sau một năm thì dường như mọi thứ đã trở lại bình thường. Sự giám sát của đoàn chuyên gia WHO sẽ đóng vai trò rất quan trọng vì họ sẽ khám phá cách con virus đã đưa phần lớn thế giới vào trạng thái dừng hoạt động ở đợt xuất hiện đầu tiên như thế nào. “Cặp mắt của cả thế giới đã dồn vào nơi này, các quan điểm của thế giới đã tập trung vào nơi này”, nhà vi trùng học người Hà Lan và là thành viên của đoàn Marion Koopmans nói với CNN. “Chúng tôi nhận thức được rằng, không có cách nào khác. Vì vậy chúng tôi cần phải giữ sự tập trung, chúng tôi là nhà khoa học, không phải nhà chính trị, chúng tôi chỉ đang cố gắng nhìn từ nhãn quan khoa học”,  Vào ngày 1/2/2021, họ đã tới khu chợ được cho là tâm điểm của lan truyền bệnh dịch: khu chợ hải sản Huanan đã được khử trừng và đóng cửa, nơi phát sinh một loạt chứng ban đầu giống bệnh viêm phổi đã được một bác sĩ địa phương phát hiện vào trung tuần tháng 12/2019. Theo “giai thoại”, khu chợ này đã trở thành một “vùng phát sinh” COVID-19, ngay cả khi những nghiên cứu mới nhất đề xuất là dịch bệnh có thể bắt nguồn ở nơi khác.    Các thành viên của đoàn chuyên gia WHO, bao gồm Peter Daszak (trái), Ken Maeda (phải) và Vladimir Dedkov (thứ hai bên phải) chuẩn bị rơi khách sạn ở Vũ Hán tới thực địa. Nguồn: AP Photo/Ng Han Guan  Peter Ben Embarek, trưởng đoàn chuyên gia WHO và là chuyên gia về an toàn thực phẩm, nói với CNN là “ngay cả nếu trong trường hợp nơi này từng được khử trùng thì tất cả các gian hàng đều vẫn ở đó – và các đồ đạc vẫn ở đó. Nó sẽ trao cho anh ý tưởng tốt về trạng thái của chợ theo đúng nghĩa về sự duy trì tình trạng, cơ sở hạ tầng, vệ sinh và dòng chảy thực phẩm đến con người”. Nhóm nhiên cứu có thể trò chuyện với người dân và lao động địa phương, Ben Embarek nói đồng thời lưu ý còn quá sớm để đoàn điều tra rút ra được kết luận.  “Rõ ràng là có điều gì đó xảy ra trong chợ này”, Ben Embarek cho biết. “Nhưng cũng có thể có những nơi khác có cùng vai trò và một nơi trong số này được chọn bởi một số bác sĩ đủ khả năng suy luận đã kết nối một số trường hợp riêng lẻ lại với nhau”.  Một thành viên khác của đoàn chuyên gia WHO là giáo sư Thea Fisher, cho rằng bà đã từng ngạc nhiên vì “sự hữu ích” của việc xem xét lại một khu chợ đã vắng khách trong năm qua. “Chúng tôi có một vài chuyên gia y tế công cộng rất giỏi, họ đã lấy mẫu từ môi trường của khu chợ này, họ giải thích với chúng tôi chính xác nơi nào họ lấy mẫu từ hệ thống thông gió”.       Bức ảnh chụp chợ Huanan vào ngày 20/1/2020. Nguồn: AP Photo/Dake Kang  “Tôi hoàn toàn sốc khi thấy nơi này”, một thành viên khác là nhà sinh thái học và động vật học Peter Daszak nói. “Tất cả các gian hàng đều vắng người nhưng đồ đạc thì vẫn nguyên vẹn. Khá kì lạ”.  Theo Ben Embarek, nhóm nghiên cứu lên lịch trình cho chuyến đi tiếp theo tới Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh ở Hồ Bắc và Viện nghiên cứu vi trùng Vũ Hán, nơi họ chờ đợi gặp She Zhengli, nhà vi trùng học vẫn được gọi là “Bà dơi” bởi bà là một chuyên gia về các loài virus corona ở dơi, vốn được các nhà khoa học cho là họ hàng gần với SARS-COV-2. Viện nghiên cứu Vũ Hán còn bị tai tiếng sau một loạt lời tuyên bố không bằng chứng và không có căn cứ là phòng thí nghiệm này là nguồn gốc của virus đang làm lây nhiễm trên 100 triệu người trên toàn thế giới.  Ben Embarek cũng tiết lộ là các quan chức Trung Quốc đã trao cho đoàn một dữ liệu quan trọng về cúm hoặc các bệnh giống cúm do các hệ thống giám sát bệnh dịch “thiện chiến” ở trong và ngoài vùng Hồ Bắc thu thập trong những tháng trước khi bệnh dịch bùng phát vòa tháng 12/2019. “Chúng tôi có dữ liệu từ toàn bộ vùng và cả xung quanh – hãy nhìn vào dữ liệu từ các vùng lân cận và vài tháng trước đó… Có rất nhiều manh mối để tìm kiếm. Quan trọng là có khả năng trong nhiều tháng trước khi thành dịch thì nó xuất hiện ở mức độ thấp cần cố gắng chọn lấy các dấu hiệu và xem bất cứ thứ gì có thể liên kết [với dịch bệnh này]”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://edition.cnn.com/2021/01/31/world/who-team-investigating-pandemic-visits-wet-market-receives-flu-data/index.html  https://edition.cnn.com/2021/01/26/asia/who-coronavirus-team-wuhan-china-intl-hnk/index.html  https://apnews.com/article/pandemics-coronavirus-pandemic-wuhan-china-united-nations-bc94a13c41dbb44e009d45925bdb1085    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoán họ tên từ ADN?      Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc đại học Leicester (Anh) cho phép các chuyên gia khoa học hình sự sử dụng mẫu ADN thu lượm từ hiện trường để đoán họ tên thủ phạm của vụ án.    Phương pháp này dựa trên sự giống nhau về mặt di truyền của những người đàn ông có cùng họ, chủ yếu là so sánh mẫu nhiễm sắc thể Y của những người cùng họ (chỉ có ở đàn ông), giúp các nhà chuyên gia hình sự thu nhỏ phạm vi điều tra của họ.   Tiến sĩ Mark Jobling, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết phân tích nhiễm sắc thể Y chỉ là một công cụ để thu nhỏ phạm vi điều tra chứ không phải là biện pháp duy nhất để tìm được thủ phạm các vụ án.  Tuy nhiên, để áp dụng được phương pháp này, người ta phải xây dựng một cơ sở dữ liệu gồm ít nhất 40.000 họ tên người kèm theo thông số nhiễm sắc thể Y của những người này. Điểm bất lợi duy nhất của phương pháp này là đối với những họ quá phổ biến (thí dụ như Smith, Taylor hay Williams ở Anh) thì phương pháp này có hiệu quả rất thấp.  PV    Nguồn tin: BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoàn thám hiểm 49 trở về Trái đất an toàn từ ISS      Đoàn thám hiểm Expedition 49 gồm ba phi hành gia: Anatoly Ivanishin của Cơ quan Vũ trụ Roscosmos, Nga; Takuya Onishi thuộc Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Hàng không Vũ trụ Nhật Bản (JAXA); và Kate Rubins thuộc Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã trở về Trái đất an toàn sau bốn tháng làm việc trên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS.      Tàu  Soyuz MS-01 chở ba phi hành gia đã hạ cánh trên thảo nguyên ở phía đông nam Dzhezkazgan, Kazakhstan, vào lúc 9h58 sáng 30/10 theo giờ địa phương (khoảng 12h, theo giờ Việt Nam), hoàn thành sứ mệnh bốn tháng bao gồm lần đầu tiên sử giải trình tự chuỗi DNA trong không gian và lắp đặt điểm đỗ cho những chuyến tàu thương mại sắp tới.  Kate Rubins, người có bằng trong lĩnh vực sinh học phân tử, đã đóng góp cho nhiều nghiên cứu mới tiến hành lần đầu tiên trên trạm vũ trụ, bao gồm thí nghiệm Giải trình tự chuỗi phân tử sinh học. Khả năng giải trình tự DNA của những sinh vật sống trong không gian cho phép các nhà du hành chẩn đoán bệnh, hoặc nhận diện các vi khuẩn phát triển trên trạm không gian và xác định xem liệu chúng có tạo ra mối đe dọa nào đối với sức khỏe hay không.  Trong khoảng thời gian làm việc trên ISS, Rubins đã hai lần đi bộ ra ngoài. Trong lần đi ra ngoài đầu tiên vào ngày 19/8, cô và nhà du hành Jeff Williams của NASA đã lắp thiết bị tiếp hợp quốc tế đầu tiên. Được lắp đặt một loạt các hệ thống và cảm biến, mục đích chính của thiết bị tiếp hợp là cung cấp một cổng cho tàu vũ trụ đưa các nhà du hành lên trạm ISS trong tương lai. Dự kiến những tàu đầu tiên sẽ sử dụng cổng này là tàu Starliner của Boeing và Crew Dragon của SpaceX, hiện đang được xây dựng với sự hợp tác của Chương trình Chuyến bay thương mại thuộc NASA. Trong lần thứ hai đi ra ngoài không gian vào ngày 1/9, Rubins và Williams đã rút lại một bộ tản nhiệt kiểm soát nhiệt dư thừa và lắp đặt hai camera mới có độ phân giải cao.    Nhà du hành Kate Rubins gọi điện cho người thân sau khi tàu Soyuz MS của Nga  hạ cánh xuống gần một thị trấn ở Kazakhstan  Các thành viên phi hành đoàn Expedition 49 đã cùng nhau đóng góp hàng trăm thí nghiệm sinh học, công nghệ sinh học, khoa học vật lí và khoa học trái đất ở phòng thí nghiệm vệ tinh tầm cỡ thế giới trong 115 ngày trên không gian.  Bộ ba nhà du hành cũng đã đón ba tàu chở hàng cung cấp nhiều tấn vật tư và thiết bị thí nghiệm, trong đó Rubins tham gia vào lần đón tàu chở hàng Cygnus của công ty Orbital ATK hồi tháng Mười – đây là chuyến tiếp tế lần thứ sáu của công ty này, và chuyến hàng thứ chín của tàu Dragon theo hợp đồng với SpaceX hồi tháng Bảy. Tàu Progress của Nga cũng chở một chuyến hàng lên trạm hồi tháng Bảy.  Robin và Onishi mỗi người làm việc tổng cộng 115 ngày trên không gian trong chuyến du hành đầu tiên của họ. Còn phi hành gia Ivanishin (trạm trưởng) hiện đã có 280 ngày trên vũ trụ sau hai chuyến du hành.  Đoàn thám hiểm Expedition 50, với Shane Kimbrough của NASA là chỉ huy, và người cùng bay Sergey Ryzhikov và Andrey Borisenko của Roscosmos, sẽ vận hành trạm trong ba tuần cho đến khi ba phi hành gia mới đến nơi. Theo kế hoạch, đó là Peggy Whitson của NASA, Thomas Pesquet của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Oleg Novitskiy của Roscosmos – những người sẽ khởi hành vào ngày 17/11 từ sân bay vũ trụ Baikonur, Kazakhstan.  Vũ Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn:   http://www.newsweek.com/crew-back-safe-international-space-station-515058  https://www.nasa.gov/press-release/nasa-astronaut-kate-rubins-crewmates-safely-return-from-the-space-station       Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp trong môi trường công nghệ thông tin năng động      Ngày 28/8 tại Hà Nội, Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDG) tại Việt Nam tổ chức cuộc bình chọn “Lãnh đạo CNTT xuất sắc nhất Việt Nam và khu vực Đông Dương” lần thứ hai.    7 nhân vật được bình chọn  là  những người hoạt động trong lĩnh vực CNTT có sáng kiến và đóng góp thiết thực cho phát triển doanh nghiệp. Cùng với cuộc bình chọn, IDG còn tổ chức hội thảo xoay quanh vấn đề cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp trong phòng thí nghiệm      Mô hình doanh nghiệp spin-off (tạm dịch là “doanh nghiệp khởi nguồn” hay “doanh nghiệp công nghệ cao”) trong các viện nghiên cứu, trường đại học trên thế giới rất thành công từ hơn 50 năm trước. Hiện nay, Viện Vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học đang tiên phong trong việc thành lập một doanh nghiệp spin-off đầu tiên của Việt Nam.    Khởi nguồn của  “DN khởi nguồn”  Giáo sư, Viện trưởng Viện vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học Trần Xuân Hoài cho chúng tôi xem tờ giấy đánh máy đã cũ, đó là bản “Phương án xây dựng Trung tâm Ứng dụng Vật lý vào sản xuất”, nội dung đề nghị thành lập một trung tâm có đủ tư cách pháp nhân, huy động mọi nguồn tài chính kể cả từ bên ngoài để áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất vào sản xuất. Vào thời điểm 1988, nó dường như là đề nghị quá táo bạo và… không được chấp thuận. Cũng vì đề xuất đó mà ông phải chịu một thời gian khốn đốn.  Không buông xuôi, GS Hoài cùng một số nhà khoa học tại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam) triển khai Trung tâm ứng dụng vật lý, sau đó sáp nhập Trung tâm thiết bị khoa học để hình thành Viện Vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học. Có thể coi Viện Vật lý ứng dụng của GS Hoài như một “DN spin-off không chính thức”.  Bắt đầu gần như từ tay trắng, chỉ với hơn mười người “thực sự làm khoa học”, kinh phí chiếm không đến 0,3% ngân sách của Viện Khoa học Việt Nam, Viện đã thành công với loạt sản phẩm công nghệ cao như hệ thống hiển vi quét đầu dò có thể “nhìn” đến phần tỷ mét, sơn quang xúc tác nano TIO2 tự làm sạch và khử trùng, thiết bị diệt khuẩn bằng công nghệ nano…        “Điều quan trọng, chúng tôi bằng chính lao động khoa học của mình, đã cho thấy rõ việc ứng dụng và triển khai công nghệ không làm giảm, mà ngược lại, càng nâng cao chất lượng khoa học, kể cả khoa học cơ bản”.         “Số kinh phí đầu tư mà chúng tôi phải tự tìm kiếm đã gấp hơn chục lần kinh phí thường xuyên của Nhà nước cấp” – GS Hoài nói – “Điều quan trọng, chúng tôi đã nghiệm ra rằng việc ứng dụng và triển khai công nghệ không làm giảm, mà ngược lại, càng nâng cao chất lượng khoa học, kể cả khoa học cơ bản” Tuy nhiên, với cơ chế quản lý cũ, nhà khoa học không “gắn chặt” với công trình của mình. “Về thực tế, không có động lực nào cho người khoa học làm việc cả. Các cán bộ khoa học chỉ làm việc giống như xã viên hợp tác xã nông nghiệp ngày xưa làm theo tiếng kẻng gọi ra đồng”. Các nhà khoa học trẻ tài năng phải chịu ‘chiếu dưới’ trong thứ bậc hành chính và đãi ngộ, nhiều người đã bỏ khoa học hoặc chuyển đi.  Tuy nhiên tình hình dường như đang thay đổi, Bộ KH&CN đã có quy chế công khai đấu thầu các đề tài khoa học, nhất là Chính phủ đã ban hành Nghị định 115 “Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập” ra đời. “Thực ra từ lâu chúng tôi đã làm “gà tự kiếm mồi” nên việc tự chủ không xa lạ gì. Điều mong muốn lúc này là làm sao để có thể dành sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính nhà khoa học để họ có động lực sáng tạo” – GS Hoài nói. Đây có thể chính là thời điểm để ông thực hiện ý tưởng ấp ủ từ rất lâu: thành lập một công ty công nghệ cao theo mô hình spin-off.    “Làm” spin-off không dễ  “Giáo sư Inoue, một trong số nhà khoa học Nhật Bản làm ra máy photocopy đầu tiên, nói với tôi: Các nước phát triển có thể bán hoặc chuyển giao mọi thứ, nhưng đừng bao giờ hy vọng họ chuyển giao công nghệ cao. Chỉ có tìm mọi cách để giành lấy mà thôi!” – GS Hoài kể. Mô hình DN spin-off mà GS Hoài đề nghị thành lập thí điểm xuất phát từ thực tế công nghệ cao cần nhanh chóng ứng dụng, tuy nhiên rất khó có thể mua bán hay chuyển giao theo cách thông thường. Công nghệ cao bao giờ cũng mới mẻ, nhà đầu tư chưa có điều kiện hiểu hay để đầu tư, bản thân công nghệ cũng cần hoàn thiện trong quá trình đưa ra ứng dụng.  “Với công nghệ quá cao, dù các DN có muốn cũng không đủ trình độ để tiếp nhận chuyển giao, bởi chất xám là “thành phần chính” của sản phẩm” – GS Hoài nói – “Như hệ thống kính hiển vi đầu dò của Mĩ, giá linh kiện chỉ 5.000 đôla Mỹ, nhưng có thể tới 295.000 đôla Mỹ là giá chất xám”.             Vị trí của doanh nghiệp Spin- Off trong môi trường tương tác nghiên cứu -thị trường          DN spin-off là một bộ phận hữu cơ của cơ sở nghiên cứu (viện hay trường đại học) nhưng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Song “hàm lượng chất xám” chính là điều kiện tiên quyết của DN spin-off và khiến nó khác biệt với các DN khoa học khác. DN spin-off là một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm – nhà khoa học – nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà khoa học, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm công nghệ cao ra thị trường. Trong hơn 50 năm qua, chỉ với khoảng 20% DN spin-off trên thế giới chuyển giao ra thị trường thành công, nền công nghệ đã thay đổi mạnh mẽ.  Ngoài spin-off, còn một loại hình DN khoa học nữa là DN start-up (hay “DN khởi nghiệp”). Nhưng khác với DN spin-off, DN start-up chỉ nằm trong khu vực “vườn ươm” (technology park) và không nhất thiết phải gắn với cơ sở nghiên cứu. Công nghệ của DN start-up không nhất thiết phải là công nghệ cao, kết quả nghiên cứu cũng có thể lấy từ nơi khác đến. Nếu như người thành lập và điều hành DN spin-off nhất thiết phải chính là nhà khoa học chủ nhân của phát kiến công nghệ cao, thì ai cũng có thể thành lập và điều hành DN start-up. Trong các DN khoa học, có thể có hàng trăm DN start-up, nhưng chỉ rất ít trong đó là DN spin-off.  Vậy hiện tại, Việt Nam có thể thành lập được bao nhiêu DN spin-off? Sau một thoáng ước lượng, GS Hoài thận trọng: “Năm, hoặc cùng lắm là mười”.  Cần cơ chế hơn tiền bạc             Định nghĩa doanh nghiệp spin-off Của ETH Zurich Thuỵ sĩ:  Một doanh nghiệp Spin-off  của ETH là một doanh nghiệp mới được thành lập dựa trên kết quả nghiên cứu cuả ETH do các cán bộ của ETH hoặc học viên của ETH tham gia. (http://www.transfer.ethz.ch/firmgruend/index_EN)    Của Đại học Alberta (Canada)    Một công ty spin-off của Đại học Alberta là một doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất kinh doanh của nó chủ yếu khởi nguồn từ sự ứng dụng hoặc sử dụng một công nghệ và/hoặc một Know-how do một chương trình nghiên cứu của Đại học Alberta đã hoặc đang phát triển ra. Doanh nghiệp mới này được lập ra nhằm  (1) chuyển giao một bản quyền phát minh, (2) để tài trợ nghiên cứu để phát triển tiếp một công nghệ hoặc phát minh mà công ty sẽ chuyển giao, hoặc (3) để cung cấp một dịch vụ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của Đại học tạo ra.          Để xây dựng thí điểm mô hình DN spin-off, GS Hoài đã phải thực hiện cuộc “marathon hành chính” trong suốt hơn một năm, đến tháng 3/2006 thì Chính phủ đồng ý về nguyên tắc cho thành lập thí điểm. “Cấp cao thông qua rất nhanh, vướng mắc hóa ra lại ở cấp trung gian”. – GS Hoài cho biết.  Mất 18 năm, ý tưởng về thành lập một đơn vị khoa học tự chủ mới có cơ sở thành hiện thực. Trong thời gian đó, nhiều người khuyên ông ra mở công ty riêng, có người đề nghị góp vốn hàng trăm nghìn đôla Mỹ, song họ không hiểu điều GS Hoài thực sự cần là một cơ chế “chính tắc” để nhà khoa học tài năng tiếp tục con đường nghiên cứu, không phải phụ thuộc vào sự xin-cho nào. “Trong khoa học, chỉ có ba mối quan hệ: thày trò, đồng nghiệp và người điều hành. Người phụ trách hành chính không thể bảo “tôi lãnh đạo khoa học được” – GS Hoài nói – “Còn nếu vì tiền, Viện tôi chỉ cần nhận làm tư vấn bán máy SPM cho nước ngoài, hưởng hoa hồng 10% là đủ”.  Trước mắt, dù nhiều vấn đề còn đang tranh cãi, nhưng đề án thành lập DN spin-off này đã tìm ra được nhiều giải pháp thí điểm. Tuy nhiên, để vượt qua được rào cản của lối tư duy cũ đối với khoa học công nghệ, kiểu như quản lý hợp tác xã nông nghiệp, thì không phải dễ dàng. Thậm chí GS Hoài đã xin tự nguyện rút ra khỏi biên chế nhà nước để khỏi vi phạm quy định công chức không được điều hành công ty TNHH (cho dù đây là mô hình công ty nhiều sở hữu, trong đó có phần sở hữu của nhà nước).  Hơn một lần GS Hoài phát biểu, tất cả những việc ông làm là cho ra đời mô hình DN spin-off đầu tiên ở Việt Nam, để mở thêm một con đường đi cho khoa học công nghệ, đặc biệt là cho những nhà khoa học thực sự chỉ làm khoa học. GS Hoài hy vọng trong vòng hai, ba năm nữa, ở các viện nghiên cứu và trường đại học sẽ ra đời hàng loạt các công ty spin-off, và chỉ cần khoảng 10% các công ty đó được chuyển giao là thành công.  MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆN VẬT LÝ ỨNG DỤNG VÀTHIẾT BỊ KHOA HỌC  Máy  hiển vi quét đầu dò (SPM)  Đo chính xác mặt mẫu về các biến thiên chiều cao. Hình ảnh bề mặt được quan sát với độ phóng đại từ hàng ngàn cho đến vài triệu lần đối với mọi chất liệu như kim loại, bán dẫn, sứ, hữu cơ, đại phân tử và sinh học… trong môi trường không khí mà không cần xử lý trước như mạ, phủ…  Thiết bị diệt khuẩn bằng công nghệ Nano.  Dùng diệt khuẩn từ hơi thở bệnh nhân nhiễm trùng nặng như Lao, SARS, H5N1…  Sản phẩm quang xúc tác TiO2 Nano.  Diệt khuẩn, diệt nấm mốc và khử mùi, phân hủy các chất hữu cơ dưới tác dụng của ánh sáng.  Bộ điều khiển đa năng cho mô-tơ bước.  Cho các phòng thí nghiệm và công nghiệp. Thiết bị hoạt động vạn năng trên nền Microprocessor, theo điều khiển tự động của máy tính qua RS232, LPTPort, USB hoặc điều khiển bằng tay hoặc bằng tín hiệu analog.    Thạch Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp trong phòng thí nghiệm      Mô hình doanh nghiệp spin-off (tạm dịch là “doanh nghiệp khởi nguồn” hay “doanh nghiệp công nghệ cao”) trong các viện nghiên cứu, trường đại học trên thế giới rất thành công từ hơn 50 năm trước.&#160;    Hiện nay, Viện Vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học đang tiên phong trong việc thành lập một doanh nghiệp spin-off đầu tiên của Việt Nam.  Thạch Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp ươm mầm doanh nghiệp      Ngày nay, việc doanh nghiệp lớn “dung dưỡng” những doanh nghiệp nhỏ có công nghệ đặc thù đã trở thành một nhân tố quan trọng tạo thêm sức mạnh cho sự phát triển của doanh nghiệp lớn.    Những nhà khoa học và sinh viên có sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao, có ý tưởng kinh doanh táo bạo nhưng thiếu vốn, thiếu môi trường phát triển, thiếu kinh nghiệm kinh doanh. Họ là những “cây non” đầy sinh lực. “Vườn ươm công nghệ” có mục đích ươm những “cây non”này trưởng thành, đơm hoa, kết trái, tạo những điều kiện tối ưu để “cây non” phát triển. Ngoài việc đầu tư về vốn, cơ sở hạ tầng, giải pháp công nghệ, “Vườn ươm” còn hỗ trợ những thủ tục pháp lý, tư vấn đào tạo kinh nghiệm quản lý, kinh doanh cho những bạn trẻ, nhà khoa học. Đối với ươm doanh nghiệp công nghệ thì đây là sự kết hợp giữa khoa học, kinh tế và đầu tư mạo hiểm. Trong đó các doanh nghiệp hoạt động và phát triển bằng việc ứng dụng những kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ mới. Một đặc điểm khác đó là hầu hết những doanh nghiệp công nghệ đều là những doanh nghiệp nhỏ thuộc các trường đại học và viện nghiên cứu. Theo đánh giá, trên thế giới có khoảng 10% doanh nghiệp tự phát triển tồn tại, những doanh nghiệp có sự hỗ trợ của vườn ươm thì tỷ lệ này là 20-40%. Những doanh nghiệp trẻ bị “sập” có thể là do nguồn nhân lực chưa đủ mạnh, chưa có kinh nghiệm kinh doanh, thiếu vốn hoặc nếu có đủ vốn thì năng lực cạnh tranh còn yếu.  Mô hình vườn ươm đã phát triển khá lâu ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,…và mô hình hiệu quả nhất đều liên kết với các trường đại học. Xu thế này đang lan rộng sang những quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật, Singapore. Ở Việt Nam, mô hình này mới chỉ được phát triển cách đây vài năm. Những vườn ươm như CRC, FPT, Tinh Vân đã tạo điều kiện cho nhiều ý tưởng sáng tạo, nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tế. Tuy nhiên, vẫn chưa có được sự thống nhất và liên kết chặt chẽ giữa các vườn ươm nên mỗi nơi hoạt động theo một cách riêng.  TVi- Ươm công nghệ, ươm nhân tài                     Theo thống kê của Hội Tin học Việt Nam: Có 100 sinh viên công nghệ thông tin ra trường, với chất lượng đào tạo hiện nay ở Việt Nam, sẽ có 5 người giỏi có khả năng lèo lái doanh nghiệp riêng, 15 người có khả năng trở thành những manager hoặc chuyên gia công nghệ, 30 người được làm việc và 50 người còn lại gần như không thể được nhận vào các doanh nghiệp làm ăn chuyên nghiệp. Là doanh nghiệp lớn vừa ở Việt Nam, trước sự cạnh tranh nhân lực khốc liệt, tập đoàn Tinh Vân đã thành lập vườn ươm TVi để chiêu mộ nhân tài công nghệ thông tin.  Được thành lập đầu năm 2006, TVi cần nửa năm hoạt động để chứng minh và khẳng định mình với ban lãnh đạo Tập đoàn Tinh Vân. TVi thực hiện hai nhiệm vụ: ươm con người và ươm doanh nghiệp, sản phẩm. “TVi đã và đang lựa chọn, đào tạo và hỗ trợ phát triển để có được những người có tài năng đang ngồi trên ghế trường ĐH, tâm huyết và phù hợp với văn hóa của Tinh Vân. Đồng thời lựa chọn, hỗ trợ các dự án, ý tưởng kinh doanh sáng tạo, có tiềm năng để đưa thành những sản phẩm hoàn thiện, hoặc những công ty thành viên của tập đoàn”, anh Vũ Trường Giang-Giám đốc TVi-cho biết.  Các thành viên của TVi được đào tạo, rèn luyện trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, tham gia trực tiếp vào các dự án nghiên cứu, phát triển để biến những ý tưởng sáng tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh, đồng thời phát triển những kỹ năng mềm vốn là điểm yếu của sinh viên công nghệ. Qua những vòng phỏng vấn và kiểm tra nghiêm ngặt, những sinh viên năm cuối đại học có thể tham gia bán thời gian vào các dự án với mục đích phát huy khả năng, tích luỹ kinh nghiệm để khi ra trường có được giá trị nghề nghiệp bản thân tốt.  Để một dự án được ươm trong TVi thì phải hội đủ ba điều kiện: ý tưởng có thị trường, kế hoạch kinh doanh khả thi và nhân sự đảm bảo thành công. Hiện tại TVi đã tiến hành ba dự án nội bộ gồm: Dự án quản trị thiết bị (phục vụ quản lý thiết bị trong công ty), Dự án phần mềm lưu trữ thông tin về ứng viên nhân sự, Dự án nghiên cứu Microsoft SharePoint. Ngoài ra, TVi cũng đã khởi động hai dự án là Trung tâm từ điển và dịch thuật trực tuyến và Amazon Việt Nam đang phát triển tốt.  Theo anh Vũ Trường Giang, để vườn ươm phát huy hiệu quả hơn nữa thì cần thiết phải hình thành một mạng lưới vườn ươm chung trong cả nước.  Vườn ươm FPT: đầu vào ý tưởng, đầu ra doanh nghiệp  Ra đời trước TVi, “Vườn ươm FPT” đã ươm trồng được nhiều “hạt giống”. Mục tiêu của “Vườn ươm FPT” là đưa những nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng cao vào cuộc sống, hỗ trợ những người muốn khởi nghiệp, những doanh nghiệp còn non trẻ thông qua hỗ trợ cơ sở hạ tầng, dịch vụ tư vấn, thủ tục pháp lý, kế hoạch kinh doanh, giải pháp công nghệ, liên kết với các chuyên gia, nhà đầu tư.  Nhiều dự án được đầu tư và đã có nhiều “mầm ươm” phát triển thành những doanh nghiệp độc lập. Những dự án gắn chặt với đặc thù và định hướng của FPT được ưu tiên lựa chọn đầu tư. Khi xét duyệt một dự án thì yếu tố con người luôn được FPT đặt lên hàng đầu. Sau 18 tháng ươm, những dự án có đủ điều kiện và khả năng tiếp tục được đầu tư và phát triển thành công ty con độc lập trực thuộc và bắt đầu bước vào hoạt động kinh doanh thực sự. Đã có những dự án được ươm tạo thành công như: FPT Media-Công ty phân phổi bản quyền về truyền hình và đã phối hợp với VTV thực hiện các chương trình truyền hình như Bản tin tài chính, Tôi yêu thể thao; FPT Music-Trang web nhạc số bản quyền đầu tiên và đứng đầu Việt Nam; FPT Đông Du-Đào tạo tiếng Nhật cho lập trình viên IT. Những dự án đang hoạt động như: FPT Game (Trò chơi trực tuyến), FPT Game Plaza, Website đấu giá trực tuyến, Hệ điều hành mạng. Bên cạnh đó, có những dự án không đưa ra được định hướng phát triển phù hợp bị “khai tử”sớm như dự án Phần mềm hỗ trợ bài giảng.  Không chỉ ươm tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin, “Vườn ươm FPT” còn mở rộng ra các lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ nano. Bà Lê Kim Thành-Phó giám đốc Trung tâm Phát triển Công nghệ FPT- cho biết, “Hiện tại chúng tôi đang triển khai dự án tiềm năng như Dự án phát triển trung tâm chăm sóc sức khoẻ công nghệ cao. Theo đó, Trung tâm sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ điều trị từ xa những bệnh như tim mạch, huyết áp. Những thông tin về tình trạng bệnh nhân sẽ được truyền qua điện thoại hoặc internet tới tổng đài lưu trữ hệ thống dự liệu. Bác sỹ ở tổng đài sẽ trực tiếp tư vấn cho người bệnh”.  “Vườn ươm FPT” ươm tạo theo một quy trình khép kín: đầu vào là ý tưởng, đầu ra là sản phẩm hoàn chỉnh hoặc những doanh nghiệp độc lập-bà Lê Kim Thành cho biết.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh thu của ngành công nghiệp du lịch sụt giảm 50% do dịch bệnh      Trong bối cảnh dịch bệnh lây lan, mọi người trên khắp thế giới đã hủy bỏ chuyến du lịch của mình. Chính phủ và các quan chức y tế đã cảnh báo người dân tránh di chuyển bằng tàu thủy hoặc lên các chuyến bay dài. Những sự kiện lớn bao gồm hội nghị, triển lãm thương mại và Olympic Tokyo đã bị hủy bỏ hoặc tạm hoãn.    Giáo sư Cihan Cobanoglu của trường Đại học South Florida và cộng sự, đã thực hiện một nghiên cứu về hành vi du lịch trong đại dịch. Thông qua Amazon Mechanical Turk, họ đã thực hiện một nghiên cứu trong tuần thứ ba của tháng ba với hơn 2.000 khách du lịch từ 28 quốc gia. Kết quả cho thấy 63,8% du khách sẽ cắt giảm kế hoạch du lịch trong 12 tháng tới. Hơn một nửa đã hủy bỏ chuyến công tác của họ ngay lập tức do coronavirus trong tuần thứ ba của tháng ba.   Do đó, nhiều doanh nghiệp trong ngành công nghiệp du lịch và lữ hành đang lâm vào tình thế nguy hiểm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý, việc dự đoán tác động của coronavirus lên ngành kinh tế vào lúc này cũng giống như tham gia vào một cuộc thi chạy mà không biết vòng chạy dài bao nhiêu. Họ cho rằng có một số điểm cần lưu ý.  Ngành du lịch thất thu  Kết quả nghiên cứu khiến họ dự đoán, so với năm ngoái, ngành công nghiệp du lịch, bao gồm các doanh nghiệp như hãng hàng không, khách sạn và nhà hàng, sẽ giảm 50% lượng khách vào năm 2020, điều này dẫn đến tình trạng mất việc và sụt giảm doanh thu đáng kể.  Số lượng khách du lịch quốc tế có thể thu hẹp từ 1,4 tỷ xuống dưới 1 tỷ người. Đó là mức thấp nhất kể từ năm 2015.  Khi được yêu cầu đánh giá cảm nhận về Trung Quốc và Ý, hai trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch, điều thú vị là hình ảnh của du khách Hoa Kỳ về Trung Quốc và Ý đã xấu đi. Hình ảnh của Trung Quốc bị tổn hại đáng kể nhất, vì một số người đổ lỗi cho Trung Quốc là nguyên nhân gây lây lan virus.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hy vọng, hình ảnh này có thể sớm phục hồi, vì nghiên cứu cho thấy khách du lịch có trí nhớ ngắn hạn về những ấn tượng tiêu cực sau một thảm họa.  Người lao động mất việc  Trong quá khứ, ngành công nghiệp du lịch đã phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm vụ khủng bố 11/9 và Cuộc Đại suy thoái, nhưng không có cuộc khủng hoảng nào gây tác động nghiêm trọng như coronavirus. Vụ khủng bố 11/9 cũng khiến ngành du lịch giảm 31,6% – ít hơn so với con số 63,8% mà coronavirus gây ra.  Tại Hoa Kỳ, trong năm 2017, ngành du lịch và lữ hành đã góp 1,6 nghìn tỷ USD vào tổng sản lượng quốc gia.   Một nghiên cứu từ Tourism Economics, một công ty tư vấn trong lĩnh vực du lịch, dự đoán rằng ngành du lịch Hoa Kỳ sẽ mất ít nhất 24 tỷ USD vào năm 2020, do tình hình buôn bán ế ẩm của các nhà hàng, khách sạn, công viên giải trí….  Sự ế ẩm này sẽ kéo dài bao lâu tùy thuộc vào thời gian mà các hạn chế và cảnh báo được thực hiện. Nhưng không chỉ ngành du lịch, mà những ngành công nghiệp khác cũng sẽ cảm nhận được “nỗi đau” mà coronavirus mang lại. Bởi chuỗi cung ứng du lịch liên quan đến mọi ngành nghề – từ nông nghiệp lương thực cho đến đánh bắt cá, từ ngân hàng cho đến bảo hiểm. Ngành dịch vụ lưu trú, thực phẩm và đồ uống, vui chơi giải trí, vận tải và dịch vụ du lịch… – các ngành công nghiệp cốt lõi – sẽ gánh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.   Gloria Guevara, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) lo ngại rằng tình trạng dịch bệnh có thể gây ảnh hưởng lâu dài đến lĩnh vực này. Bà cho rằng coronavirus không ảnh hưởng trực tiếp lên nền kinh tế nhiều bằng việc đóng cửa sân bay, hủy chuyến bay và đóng cửa biên giới. Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, với tư cách là cơ quan đại diện cho khối kinh doanh tư nhân Du lịch và Lữ hành trên toàn cầu, dự đoán khoảng 50 triệu người trong ngành công nghiệp này sẽ mất việc trong thời gian tới. □  Anh Thư tổng hợp  Nguồn: https://theconversation.com/global-tourism-industry-may-shrink-by-more-than-50-due-to-the-pandemic-134306  https://medicalxpress.com/news/2020-02-coronavirus-tourism-sector-hard.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc “Nội dung xã hội Truyện Kiều”, ngẫm lại thân phận một triết gia      Vậy là 20 năm tròn đã trôi qua, tính từ ngày  GS Trần Đức Thảo trút hơi thở nhẹ cuối cùng ở đâu đó phía chân trời Tây  xa lắc. Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ đôi điều về sự chuyển biến tư  tưởng triết học của Trần Đức Thảo, và trở lại bài viết “Nội dung xã hội Truyện Kiều” để ngẫm về thân phận của một triết gia Việt Nam đích thực.    Về sự chuyển đổi lập trường triết học  Năm 2005, khi đang soạn công văn xin phép xuất bản (xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt) hai cuốn sách nổi tiếng quốc tế: Sự hình thành con người, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng) và tổ chức soạn thảo cuốn sách Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo, tôi nhận được một ý kiến nghiêm túc và có phần nghiêm trọng từ nhà tâm lí học Nguyễn Thị Nhất – nguyên phu nhân của nhà triết học. Bà muốn sửa nội dung một bài báo vì không tán thành nhận định của GS Phan Ngọc. GS Phan Ngọc cho rằng, Trần Đức Thảo “chuyển sang chủ nghĩa Mác do tình cảm yêu nước”.  Vấn đề đặt ra là: nếu đến với chủ nghĩa Mác, chuyển sang chủ nghĩa Mác từ lập trường yêu nước thì có gì sai, có gì bất ổn? Sự chuyển đổi này phải chăng là phi l‎í tính, là bị dẫn dắt từ tình cảm, cảm xúc chứ không phải bằng trí tuệ?  Tôi nghĩ, có nhiều con đường đến với chủ nghĩa Mác, trong đó có cả con đường tình cảm. Có người hiểu rồi mới yêu, có người yêu trước rồi mới hiểu, càng yêu, càng hiểu. Cũng như Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác – Lênin vì động cơ dân tộc, vì tình cảm yêu nước, vì tìm thấy ở đó con đường ngắn nhất đi tới thắng lợi của công cuộc giải phóng dân tộc. Còn hiểu được chủ nghĩa Mác một cách hệ thống, sâu sắc là câu chuyện đường dài, sôi kinh nấu sử, mang tính quá trình. Là một triết gia, Trần Đức Thảo tất nhiên tìm thấy những khả năng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác trong việc giải quyết nhiều vấn đề của thực tiễn lịch sử mà Hiện tượng học dừng chân, bất lực. Ông bị hấp dẫn trước hết bởi nội dung khoa học và tính hệ thống của nó; thứ nữa, mới là hấp dẫn bởi tính chiến đấu, khả năng cải tạo thế giới của nó. Nhìn vào hồ sơ lí‎ lịch và thư mục khoa học của ông, chúng ta có thể biết rằng cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của ông được nung nấu, thai nghén ngay trong ba tháng nằm tù do lời tuyên bố “phải nổ súng” vào quân xâm lược Pháp. Phải chăng đây chính là thời kỳ mà tình cảm yêu nước trở thành động lực thúc đẩy cho trí tuệ đi đến nhanh hơn với chủ nghĩa Mác.  Cũng phải nói thêm rằng, Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa Mác bằng tài liệu tiếng Pháp và tiếng Đức, tức là đến với một hệ thống triết học trong trạng thái tinh khôi, nguyên chất của nó. Tôi đồ rằng, nếu như ông đọc những tài liệu về chủ nghĩa Mác được xuất bản bằng tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tức là tiếp xúc với những dạng chủ nghĩa Mác dân tộc, đã được Hán hóa, Nga hóa, dân tộc hóa, khu vực hóa, chắc chắn con đường đi tới sẽ rất gian nan, thậm chí ông sẽ chối từ. Có ý‎ kiến cho rằng, Chủ nghĩa Mác mà Trần Đức Thảo giác ngộ thuộc hệ thống chủ nghĩa Mác phương Tây, với hàm ý đối lập với phương Đông xã hội chủ nghĩa, một chủ nghĩa Mác “kiểu Hegel”, chưa bị xuyên tạc, tha hóa. Tôi nghĩ đó cũng là một ‎‎‎ý‎ kiến cần cân nhắc, nhưng rất nên tham khảo. Bởi vì rõ ràng là những nhà trước tác kiêm lãnh tụ cao nhất của hai đất nước “anh cả” trong phe XHCN anh em xưa là Stalin và Mao Trạch Đông đều trở thành đối tượng phê phán, canh chừng của GS Trần Đức Thảo.    Từ “Nội dung xã hội Truyện Kiều”…  Do điều kiện sống thiếu thông tin trầm trọng, phải đợi đến khi xuất bản sách Trần Đức Thảo và về Trần Đức Thảo (2005) tôi mới có trong tay trọn vẹn văn bản “Nội dung xã hội truyện Kiều”mà ông viết cho Tập san Đại học Sư phạm, số 5, quý‎ I, năm 1956. Bài viết phê bình văn học sử này làm tôi đi từ ngạc nhiên này tới các ngạc nhiên khác:  Thứ nhất, “Nội dung xã hội Truyện Kiều” khiến tôi có cảm giác như đã được đọc ở đâu rồi, những ý‎ kiến này có vẻ trùng lặp với một số quan niệm, luận điểm trong các chuyên luận hay giáo trình đại học nào đó. Đọc lại nhiều lần, đưa ra so sánh, tôi mới biết các tác giả chuyên luận và một số nhà phê bình đàn em đã thực sự kế thừa các luận điểm của Trần Đức Thảo mà không hề mở ngoặc, chú thích nguồn xuất xứ. Tôi nghĩ, chắc các tác giả đó cũng không có điều kiện hoặc không có đủ dũng khí đến gặp mà “có nhời” với cụ. Sau sự kiện Nhân văn – Giai phẩm, Tập san Đại học Sư phạm, số 5 chắc chắn thuộc số những tư liệu kín, độc giả phổ thông rất khó có điều kiện tiếp xúc. Hơn nữa, việc chú thích ‎‎y kiến của một nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân văn – Giai phẩm ắt hẳn sẽ dẫn tới những tai ương, hệ lụy khó lường. Như vậy, có thể nói, “Nội dung xã hội truyện Kiều” là bài phê bình đã đi vào lịch sử nghiên cứu và phê bình Truyện Kiều cũng như lịch sử văn học Việt Nam trung đại nói chung như một hiện tượng gắn liền với vấn đề bản quyền tác giả.  Thứ hai, “Nội dung xã hội Truyện Kiều” là bài báo tiêu biểu cho phong cách phê bình xã hội học, trong đó giai cấp luận đã trở thành lăng kính chủ yếu soi chiếu nội dung hiện thực của Truyện Kiều. Đây không hẳn là hạn chế của phê bình văn học. Không phải phê bình văn học theo kiểu xã hội học chỉ đem tác phẩm “trở về mor”, trở lại con số không tròn trĩnh. Trong chừng mực nhất định, cách đánh giá tác phẩm từ góc nhìn xã hội học đều ít nhiều đem lại cho ta những nhận thức nhất định về nội dung hiện thực khách quan mà tác phẩm văn học tự có. Bởi vì tác phẩm văn học nào cũng có khía cạnh xã hội học của nó, đặc biệt là đối với những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, được sáng tác trong thời kỳ có đấu tranh giai cấp và những biến động xã hội khốc liệt. Có điều, khía cạnh không thể chuyển hóa thành tổng thể. Văn học dẫu phản ánh hiện thực nhưng bản chất ưu tiên hàng đầu của nó vẫn là một hoạt động sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo theo quy luật thẩm mỹ.  Đọc “Nội dung xã hội truyện Kiều”, ta vừa tâm đắc trước những phát hiện thú vị, vừa thất vọng vì quan điểm giai cấp luận cứng nhắc của nhà triết học. Tác giả một mặt soi chiếu những khía cạnh tâm lí‎ giai cấp khá tinh tế ẩn tàng trong tính cách các nhân vật, đồng thời dẫn dắt luôn người đọc vào ma trận của cuộc chiến giai cấp âm thầm mà khốc liệt xuyên suốt 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều. Phương pháp nghiên cứu xã hội học này đã đạt tới đỉnh điểm của sự cực đoan khi nhà triết học phê phán Nguyễn Du là đã quên “không biểu dương những thành phần nhân dân trong quân đội khởi nghĩa” của Từ Hải.  Tuy nhiên, điều ngạc nhiên thứ hai này đã dẫn tới sự ngạc nhiên thứ ba, kéo theo, đó là sự mâu thuẫn trong bài báo. Tác giả tự mâu thuẫn với chính mình trong bài báo. Dẫn chứng ở đây là:  1- Mặc dù xem Truyện Kiều như một bức tranh xã hội của những quan hệ giai cấp, quan hệ nhân vật đồng nghĩa với quan hệ giai cấp, nhưng có chỗ tác giả lại xem Truyện Kiều như một thế giới nghệ thuật độc đáo. Tác giả viết: “Với việc gieo mình xuống sông Tiền Đường, đời nàng Kiều đã kết thúc. Đoạn tái hồi Kim Trọng, theo thực chất của nó là một đoạn thần thoại”. Như vậy là tác giả bài báo đã chấp nhận sự cộng sinh của phần hiện thực và phần thần thoại trong một văn bản nghệ thuật, phần logic khách quan của thực tại lịch sử với cái logic chủ quan trong ước mơ, l‎í tưởng của nhà thơ.  2- Mặc dù trách cứ Nguyễn Du “không diễn tả được cái hiện thực tiến hóa xã hội trong cuộc biến chuyển cách mạng của nó” nhưng nhà triết học vẫn chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa tư tưởng lí‎ luận và cảm hứng thi văn của Nguyễn Du, đồng thời khẳng định: “Truyện Kiều là một trước tác văn nghệ, không phải là một cuốn sách l‎í luận, phần tiến bộ phải được coi là phần chủ yếu, vì chính đấy là phần giá trị thi văn, phần mà chúng ta thông cảm và thưởng thức”. Kết thúc bài báo khoa học của mình bằng câu trên, phải chăng tác giả hé mở cho độc giả văn nghệ một lời hẹn xa xôi rằng: tôi sẽ trở lại với Truyện Kiều bằng một thước đo khác. Đó là thước đo đích thực cho văn nghệ. Còn thước đo hiện tại (thước đo giai cấp tính) là thước đo người khác bắt phải cầm.  Đọc bài báo của Trần Đức Thảo hôm nay, ta có thể băn khoăn đặt câu hỏi: Phải chăng đây là một bài báo không thuần túy xuất phát từ động cơ văn hóa, động cơ học thuật? Phải chăng ông viết để tự chứng tỏ lập trường tư tưởng của mình? Những điều ông viết ra năm ấy có phải là tâm sự thật, quan niệm thật của ông? Phải chăng những năm tháng ông tham gia công tác Cải cách ruộng đất đã rèn đúc cho ông một nhãn quan giai cấp quá sắc bén, lạnh lùng trước mọi hiện tượng tinh thần, kể cả với nghệ thuật – một dạng hiện tượng tinh thần mong manh, dễ vỡ nhất.   … ngẫm lại thân phận của một triết gia  Đọc một bài báo nhỏ của Trần Đức Thảo hôm nay, tôi không khỏi áy náy vì một việc khó làm nhưng may là chưa hứa với Nhà thơ Việt Phương, khi tôi với tư cách đại diện của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận bàn giao phần di cảo triết học Trần Đức Thảo, vốn được ông tin cậy trao gửi và chia sẻ với Nhà thơ cùng Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cho đến nay, vì lý‎ do kinh phí và chút vướng mắc về bản quyền, di cảo đó vẫn chưa được công bố. Tuy vậy, trước những tập thảo đánh máy lẫn viết tay nhạt nhòa vì năm tháng, tôi trộm nghĩ: đây khó có thể trở thành những túi cẩm nang triết học. Bởi vì cũng giống như mọi công trình khoa học xã hội nhân văn thực thụ lâu nay, hàm lượng trí tuệ và hàm lượng thông tin nói chung không bao giờ đạt tỷ lệ tới hạn. B.M. Eikhenbaum (1886-1959) – một nhà khoa học ngữ văn Nga, khẳng định: “Khoa học không phải đi lên từ những phòng trưng bày chân l‎í mà là bằng con đường khắc phục những sai lầm”. Trần Đức Thảo có công trình mang tên “Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ‎ý thức”. Tên cuốn sách làm nảy sinh trong tôi một ý nghĩ: Quả thực cuộc đời ông là cuộc đời đi tìm chân lí. Ở đó ông gặp không ít những vấp váp đắng cay và cũng phải “khắc phục những sai lầm”. Điều này chính ông đã nhiều lần chân thành thừa nhận. Ông đã làm triết học nhưng là một thứ triết học gắn chặt với đời sống, bám chặt lấy số phận con người dân tộc mình. Như một nhà triết học dấn thân, từ Paris ông lặn lội về nước, dấn thân vào kháng chiến rồi sau đó dấn thân vào cả những khu vực mà cái tố chất triết gia trong sáng đến ngây thơ như ông không cho ông khả năng đề kháng. Trong số những trí thức Tây học yêu nước về với kháng chiến, Trần Đức Thảo thuộc trường hợp “để dành”, vì khó “phân công công tác”. Trần Đại Nghĩa được Hồ Chủ tịch giao chế súng, là đúng sở nguyện sở trường nhất. Thạc sỹ Vật lí‎ hạt nhân Ngụy Như Kontum không có phòng thí nghiệm, tạm đi làm quản lí‎ giáo dục. Riêng với Trần Đức Thảo, Hồ Chủ tịch bình luận vui: “Chú Thảo không có đất cắm dùi”. Trần Đức Thảo vui vẻ đi làm thư kí‎ cho Tổng Bí thư. Kháng chiến không cần triết học.   Nhưng rồi ngay cả khi kháng chiến thành công, đất nước trở lại hòa bình, triết học vẫn chỉ được xem như một món ăn tinh thần xa xỉ. GS Trần Văn Giàu đã có lần từ chối danh hiệu nhà triết học mà học trò mình tôn vinh. Ông cho rằng mình chỉ là giáo sư triết học hay nhà nghiên cứu triết học, “nếu có thể nói có một nhà triết học… người đó chính là Trần Đức Thảo”. Điều đó phản ánh đúng một thực tế: Lận đận trong chiến tranh và trong cả hòa bình, đất nước người Việt chúng ta suốt nhiều thập kỷ đã trở nên xa lạ và ghẻ lạnh với kiểu tư duy trừu tượng của triết học. Với triết học, chúng ta chỉ cần phổ biến, tuyên truyền, minh họa cho những định đề có sẵn, nhập khẩu, chứ không cần sự tìm tòi, phát hiện. GS Trần Đức Thảo, cho dù thiên tư anh minh, lại không ý ‎ thức được hoàn toàn điều đó. Ông vẫn mải mê trong những suy tư triết học. Nhưng trong số hàng ngàn trang viết (được in và cả chưa in) của ông, chắc chắn có nhiều trang rơi vào tư biện, vì ông đã viết trong hoàn cảnh thiếu thông tin khoa học: Ông không được đi xa, nhiều lúc không được nhận sách báo, tạp chí từ các đồng nghiệp nước ngoài. Ông làm triết học trong bầu sinh quyển phi triết học. Bi kịch của ông bắt đầu từ đó.  Chính vì vậy, nghiên cứu và xuất bản di sản triết học của Trần Đức Thảo hôm nay, theo tôi, có thể đem lại cho ta hai bài học. ‎Bài học thứ nhất là bài học về phương pháp tư duy. Những đồng nghiệp và môn sinh của ông sẽ tìm được biện chứng pháp trong những tìm kiếm trí tuệ của ông, đặng tự xác định cho mình con đường đi riêng, phương pháp riêng. Trong số những đồng nghiệp hậu sinh đó, hy vọng sẽ có người kế thừa và tiếp tục những phát hiện của ông trên con đường đến với chủ nghĩa Mác và cả với Hiện tượng học. Bài học thứ hai, không kém phần quan trọng, đồng thời là bài học dễ có nhất, là bài học về nhân cách người trí thức Việt Nam, mà tựu chung cũng là bài học làm người.   *  Để kết thúc bài viết nhỏ của mình, tôi muốn dẫn ra ‎ý kiến của nhà thơ Việt Phương, người không ít những tâm giao với triết gia Trần Đức Thảo. Ông cho rằng khi nghiên cứu về Trần Đức Thảo, có những điều thuộc về thời thế có thể bỏ qua thì bỏ qua đi, nhưng cái gì có thể làm rõ thì cố làm cho rõ. Lời khuyên này cho tôi đi đến một ‎ nghĩ: Điều có thể làm rõ, không cần phải cố gắng nhiều, đó là tính lịch sử của hiện tượng triết học Trần Đức Thảo.   Rõ ràng Trần Đức Thảo là hiện tượng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam thế kỷ XX, người vừa là sản phẩm vừa là nạn nhân của thời đại, đồng thời cũng là người góp phần tạo ra thời đại. Đó là thời đại mà, nói như nhà thơ Trần Dần, “nạn hữu”một thời với ông, khi thì “có chân trời nhưng không có người bay”, khi thì “có người bay nhưng không có chân trời”. Ông không thể thành một thiên tài mà chỉ là một “thần đồng triết học”(như cách gọi của một số người), vì ông đã chấp nhận thân phận một trí thức hiến tế của cách mạng. Như trong bài “Nội dung xã hội Truyện Kiều”nhà triết học của Việt Nam đã ít nhiều tỏ tâm đắc với lời khuyên của Nguyễn Du: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Tôi tin là nhiều lúc ông chấp nhận thân phận làm một triết gia, cái thân phận của “những con tàu phải lòng muôn hải lí‎,… bỏ sau lưng nghìn hải cảng mưa buồn” (Trần Dần). Ông là con tàu trên biển xa. Con tàu mà cái lí‎ tồn tại và niềm vui của nó là biển cả xa xôi.   —  * PGS.TS. Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc sách: “Thay đổi tư duy” của Howard Gardner      Trong cuốn “Thay đổi tư duy”, nhà tâm lý học  của ĐH Harvard, Howard Gardner – chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực lý  thuyết nhận thức, đưa ra một “khung” chung cho việc nhận biết chính xác  điều gì xảy ra trong quá trình thay đổi tư duy, và cho thấy chúng ta có  thể ảnh hưởng bởi quá trình đó ra sao.    Nghiên cứu của Gardner và nội dung trong cuốn “Thay đổi tư duy” tập trung vào các tình huống mà một người từ bỏ thói quen suy nghĩ về một vấn đề quan trọng, và giờ đây tư duy về vấn đề đó theo một cách hết sức mới mẻ. Những thay đổi này được tạo ra một cách có chủ ý, như là kết quả của những ảnh hưởng có thể nhận biết (hơn là kết quả của sự vận động, lôi kéo), và những thay đổi của tư duy như là kết quả của sự thay đổi hành vi.  Thông qua “Thay đổi tư duy”, Gardner mô tả bảy nhân tố, hoặc bảy mức độ, có thể được một cá nhân sử dụng để thay đổi tư duy thành công:  •    Lý luận. Một sự tiếp cận dựa trên lý trí bao gồm nhận biết các yếu tố có liên quan, cân nhắc từng yếu tố và đi đến đánh giá toàn diện. Lý do có thể bao gồm tính logic tuyệt đối, việc vận dụng phép loại suy hay sự sáng tạo của các nguyên tắc phân loại.  •    Nghiên cứu. Bổ sung cho vai trò của lý luận là thu thập những dữ liệu có liên quan. Tuy vậy, việc nghiên cứu không phải lúc nào cũng mang tính chất chính quy; mà chỉ cần xác định những trường hợp có liên quan và đánh giá xem chúng có tác động đến việc thay đổi tư duy hay không.  •    Sự cộng hưởng. Một quan điểm, một ý tưởng, hay một cách nhìn phải tạo sự cộng hưởng khiến người ta cảm thấy nó đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, và thuyết phục người đó không cần phải xem xét gì thêm. Gardner cũng chỉ ra rằng thuật hùng biện là phương tiện cốt yếu cho sự thay đổi tư duy. Ông giải thích rằng thuật hùng biện có hiệu quả nhất khi chứa đựng logic chặt chẽ, rút ra từ những nghiên cứu có liên quan, và có tác động cộng hưởng với người nghe.  •    Tiếp cận ý tưởng theo nhiều cách khác nhau (hay còn gọi là Tái diễn giải). Sự thay đổi tư duy trở nên thuyết phục hơn khi nó được thể hiện ở những hình thức khác nhau, bổ sung lẫn nhau. Từ cái nhìn tâm lý học, việc cung cấp nguồn hậu thuẫn là một trường hợp tăng cường mang tính tích cực. Tuy nhiên, rốt cuộc nếu cách suy nghĩ mới không phù hợp với những tiêu chí khác – như lý luận, nghiên cứu, sự cộng hưởng – thì nó sẽ không thể tồn tại khi không còn nguồn hậu thuẫn.  •    Những biến cố trên thế giới. Đôi khi, một sự kiện lớn diễn ra trong xã hội có ảnh hưởng đến nhiều người, không chỉ những cá nhân muốn thay đổi tư duy. Những sự kiện này bao gồm chiến tranh, bão tố, khủng bố, hay sự suy thoái kinh tế.  •    Những sự phản kháng. Không phải mọi yếu tố đều giúp thay đổi tư duy. Muốn tìm hiểu về thay đổi tư duy phải xét đến sức mạnh của những ý nghĩ phản kháng khác nhau.  Cuốn “Thay đổi tư duy” xem xét cụ thể cách thức mà bảy đòn bẩy được sử dụng trong sáu địa hạt – hay sáu vũ đài – mà qua đó những thay đổi tư duy diễn ra. Sáu vũ đài mà ông miêu tả bao gồm:  1.    Những thay đổi trên quy mô lớn liên quan đến sự đa dạng hoặc những nhóm khác nhau,  chẳng hạn như dân số một quốc gia.  2.    Những thay đổi liên quan đến sự da dạng của một nhóm đồng nhất hoặc thống nhất hơn, chẳng hạn như một tập đoàn hoặc một trường đại học.  3.    Những thay đổi được mang đến thông qua các tác phẩm nghệ thuật, khoa học hoặc sự uyên bác, chẳng hạn như các tác phẩm của Freud, các lý thuyết của Darwin, hay các tác phẩm của Picasso.  4.    Những thay đổi trong các cách thiết lập giảng dạy chính quy, chẳng hạn tại các trường học hoặc các khóa đào tạo.  5.    Những hình thức thân mật của sự thay đổi tư duy liên quan tối hai con người hoặc một nhóm nhỏ, chẳng hạn các thành viên trong gia đình.  6.    Những thay đổi trong tâm trí của một cá nhân.  “Thay đổi tư duy” đưa ra cái nhìn sắc sảo về vấn đề của sự ảnh hưởng tới người khác và tới bản thân mỗi người. Cuốn sách này phản ánh quan điểm của Gardner, được viết bằng văn phong dễ hiểu, dễ nắm bắt. Với rất nhiều những nghiên cứu liên quan và các câu chuyện hấp dẫn từ lịch sử hiện đại cũng như kinh nghiệm đời sống cá nhân của Gardner, “Thay đổi tư duy” hé lộ những bí quyết và kế sách hữu dụng có thể giúp một người hiểu chức năng nhận thức của tâm trí và sử dụng chúng vào các chiến lược thương thuyết và các tình huống thay đổi tư duy đem lại lợi ích thiết thực.             Howard Gardner là Giáo sư khoa Nhận thức và  Giáo dục do John H. và Elizabeth A. Hobbs sáng lập thuộc Trường Sư phạm  Harvard. Ông cũng nắm giữ vị trí trợ lý Giáo sư Tâm lý học đại học  Harvard, trợ lý Giáo sư Thần kinh học Đại học Boston khoa Y khoa, và  Giám đốc cao cấp dự án Zero của Harvard.   Gardner  nổi tiếng trong giới giáo dục vì lý thuyết trí thông minh đa dạng của  ông (Multiple Intelligences), một lý thuyết phê bình ý niệm cho rằng chỉ  tồn tại đơn lẻ một loại trí thông minh con người và loại thông minh này  có thể được đánh giá thông qua các công cụ tâm thần học tiêu chuẩn.  Trong hai thập kỷ vừa qua, ông và các đồng nghiệp trong dự án Zero đã  nghiên cứu về các hình thức đánh giá dựa trên mức độ thể hiện; về giáo  dục kiến thức; về việc sử dụng các loại thông minh để có được những giáo  trình, hướng dẫn và đánh giá phù hợp với từng cá nhân hơn; và về bản  chất của các ứng dụng liên kiến thức trong giáo dục. Trong những năm vừa  qua, hợp tác với các nhà tâm lý học Mihaly Csikszentmihalyi và William  Damon, Gardner đã bắt đầu một nghiên cứu về Việc tốt – một công trình  xuất sắc về chất lượng cùng với tinh thần trách nhiệm xã hội. Dự án Việc  tốt bao gồm các nghiên cứu về những nhà lãnh đạo xuất chúng trong một  số ngành nghề – trong đó có báo chí, luật, khoa học, y khoa, kịch nghệ,  và từ thiện – cùng với những tấm gương trong các cơ quan và tổ chức.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc sách: Tri thức luận phức hợp      Vấn đề tri thức cũng lâu đời như chính con người. Thời nào cũng thế và ở đâu cũng vậy, con người không thể sống được nếu không có tri thức. Đúng như Francis Bacon nói, tri thức là sức mạnh, là quyền lực của con người. Và những bước tiến khổng lồ về tri thức chỉ có thể thực hiện được trong sự thử thách khắc nghiệt của thực tiễn và sự tự nhận thức lại rất nghiêm khắc của con người. Edgar Morin viết: “Phải chăng chúng ta cần biết rằng Kỷ nguyên Ánh sáng của chúng ta là ở trong Đêm tối và Sương mù? Phải chăng cần đặt lại thành vấn đề tất cả những gì chúng ta coi là hiển nhiên và phải xem xét lại tất cả những gì làm cơ sở cho những chân lý của chúng ta? Chúng ta có một nhu cầu sống còn là xác định, suy nghĩ và tự tra vấn lại tri thức của chúng ta, nghĩa là biết những điều kiện, những khả năng và giới hạn của những năng lực đạt tới chân lý mà tri thức nhằm tới… Sự tìm tòi chân lý từ nay gắn liền với sự tìm tòi về khả năng đạt tới chân lý. Do đó, nó mang theo sự cần thiết phải tìm hiểu về bản chất của tri thức để xem xét giá trị của tri thức” (tr.19).    Nghiên cứu về tri thức như vậy không phải là lĩnh vực đặc quyền của các nhà triết học, càng không thể theo con đường mòn dễ dãi quen thuộc. Rất cần phải đổi mới căn bản việc nghiên cứu tri thức, phát triển tri thức luận mới – tri thức luận phức hợp (épistémologie complexe). Đó là “một nhiệm vụ lịch sử đối với mỗi người và đối với tất cả mọi người” (tr.50).  Thực hiện nhiệm vụ lịch sử này, ông đã tiến hành nghiên cứu cơ bản và hệ thống về tri thức trong sách “Phương pháp” (La Méthode) gồm 5 tập, lần lượt được xuất bản trong suốt một phần tư thế kỷ. Dựa trên những thành tựu mới của nhiều ngành khoa học, tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới trong tri thức vật lý và vật lý học về tri thức (Phương pháp 1. Tự nhiên về Tự nhiên hay Bản tính của tự nhiên – La Nature de la Nature, năm 1977); tri thức sinh học và sinh học về tri thức (Phương pháp 2. Sự sống về Sự sống – La Vie de la Vie, năm 1980); nhân học về tri thức (Phương pháp 3. Tri thức về Tri thức – La Connaissance de la Connaissance, năm 1986); xã hội học và sinh thái học về tri thức (Phương pháp 4. Tư tưởng – Les Idées, năm 1991) và liên kết tri thức, suy nghĩ về tính phức hợp của nhân loại (Phương pháp 5. Nhân loại về Nhân loại – L’Humanité de l’Humanité, năm 2001).  Cách tiếp cận mới mẻ và độc đáo của Edgar Morin về tri thức thể hiện nổi bật ở cuốn Phương pháp 3 “Tri thức về Tri thức”, trong đó ông chủ trương “tổ chức lại tri thức luận” (réorganisation épistémologique), xây dựng tri thức luận phức hợp.  Sở dĩ phải “tổ chức lại tri thức luận”, tiến hành “một cuộc cách mạng trong việc tổ chức tri thức” là vì chính “sự tổ chức tri thức trong nền văn hoá của chúng ta” ngày càng tỏ ra bất cập và sai lệch nghiêm trọng. Sự gia tăng theo cấp số nhân của những tri thức tách rời trong các bộ môn khép kín không biết đến tính liên ngành đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa và thiếu tri thức – thừa những tri thức cắt xén, vụn mảnh; thiếu những tri thức phức hợp (connaissance complexe).  Viết về nghịch lý này, tác giả nhấn mạnh: “Chúng ta sống trong một thời đại rực rỡ nhất về tiến bộ của tri thức, đồng thời cũng tạo ra những ngu dốt mới, một chủ nghĩa ngu dân mới”. Trong khi dựng lên một Tháp Babel cao chất ngất của những tri thức, thế kỷ chúng ta cũng lặn sâu đến chóng mặt vào cuộc khủng hoảng của những nền tảng của tri thức. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu trong triết học. Cuộc khủng hoảng của những nền tảng tri thức triết học đang liên kết với khủng hoảng của những nền tảng tri thức khoa học đưa chúng ta tới khủng hoảng của những nền tảng của tư duy. Điều này đặt ra cho chúng ta một vấn đề then chốt và sống còn của nền văn minh, mà chỉ riêng triết học hay chỉ riêng khoa học không thể nào giải quyết nổi.  Để tổ chức lại tri thức luận, trước hết phải xác định tri thức luận là lĩnh vực “giáp ranh” giữa triết học và khoa học, mà chỉ riêng triết học hay riêng khoa học không thể hiểu được tri thức. Triết học và khoa học có thể được quan niệm một cách quy ước như là hai cực đối lập của tư duy: Triết học thiên về suy nghĩ và tư biện, khoa học thiên về quan sát và thực nghiệm. Cần thực hiện “một sự giao lưu vòng tròn”, sự phản xạ thường xuyên của khoa học và triết học theo quan điểm tư duy phức hợp trong việc xây dựng “một tri thức bậc hai về tri thức”. Khi đó tri thức về tri thức, hay tri thức luận phức hợp sẽ trở thành khoa học 100%, do đối tượng hoá đến mức tối đa tất cả các hiện tượng nhận thức, đồng thời vẫn có thể và phải là triết học 100% (xem tr.39).  Điểm xuất phát của tri thức luận phức hợp là tri thức trong tính đa dạng và nhiều chiều của nó. “Tri thức vừa là hoạt động (nhận thức-cognition) vừa là sản phẩm của hoạt động ấy” (tr.380). Khả năng và hoạt động nhận thức của con người cần có một bộ máy nhận thức, tức là bộ não. Não người là “một cỗ máy siêu phức hợp”, hoàn toàn mang tính chất vật lý – hóa học trong những tương tác của nó; hoàn toàn sinh học trong tổ chức của nó; hoàn toàn con người trong những hành động, suy nghĩ và có ý thức của nó. Do vậy tri thức là một hiện tượng nhiều chiều, theo nghĩa cùng một lúc nó là vật lý, sinh học, não, tinh thần, tâm lý, văn hoá, xã hội, không tách rời nhau.  Nhiệm vụ trung tâm của tri thức luận phức hợp là tìm tòi xây dựng một phương pháp nhằm tới tư duy ít bị cắt xén nhất để đối thoại với thực tại. Ngay từ đầu, khi bắt tay xây dựng bộ sách có tên chung là “Phương pháp”, Edgar Morin đã đề ra nhiệm vụ “nghiên cứu một phương pháp nhằm nối lại những cái bị phân cách và liên kết những gì bị tách biệt” (Phương pháp 1, 1977, tr.15). Đến Phương pháp 3 này ông khẳng định: “Phương pháp hướng dẫn chúng tôi để xây dựng tri thức luận phức hợp cũng chính là phương pháp do tri thức luận phức hợp đưa lại”. Nói cách khác “tính phức hợp không phải chỉ là vấn đề đối tượng của tri thức; nó còn là vấn đề phương pháp nhận thức cần thiết cho đối tượng ấy”. Cùng với việc vạch rõ tình trạng bất cập trong các nguyên lý của khoa học cổ điển (nguyên lý trật tự của quyết định luận phổ quát, nguyên lý phân cách, nguyên lý quy giản, nguyên lý lôgic diễn dịch – quy nạp – đồng nhất, bao gồm cả nguyên lý nhân quả tuyến tính), tác giả nêu lên ba nguyên lý của tư duy phức hợp. Đó là nguyên lý đối hợp lôgic, nguyên lý hồi quy và nguyên lý toàn ảnh, hay toàn hình (principe dialogique, principe récursif, principe hologrammatique – xem chú thích tr.42 và tr,185-192).                  Nếu tri thức luận phức hợp hình thành thì đó sẽ là “một cuộc cách mạng siêu Copernic” hay còn gọi là “cách mạng kiểu Hubble trong tri thức luận”. (Theo Edwin Powell Hubble – nhà thiên văn học Mỹ (1889 – 1953) vũ trụ không có trung tâm. Tri thức luận phức hợp không có nền tảng, cấu trúc của nó không theo thứ bậc, mà là một hệ thống theo kiểu mạng). Khoa học đương đại với những khám phá mới không phục tùng các nguyên tắc trí tuệ cũ nữa. Cách đây 120 năm (năm 1886) F.Engels nói rằng: “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực lịch sử – khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó…” (Toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tập 21, tr.409). Bất chấp những phát minh khoa học vĩ đại trong 120 năm qua, chủ nghĩa duy vật mà Engels nói tới vẫn lạc lõng ở bên ngoài/bên trên khoa học, làm vật cản đáng sợ cho  mọi sự đổi mới và sáng tạo. Cuộc cách mạng kiểu mới trong tri thức luận sẽ thay đổi căn bản việc tổ chức tri thức, nâng cao năng lực trí tuệ của con người trong việc giải quyết những vấn đề phức hợp mà nhân loại đang đối mặt.  Công trình khoa học tiêu biểu này của Edgar Morin là một cuốn sách hay, rất cần cho sự hiểu biết về tri thức và tư duy hiện đại.  PHẠM KHIÊM ÍCH  * Giới thiệu cuốn sách của Edgar Morin. Phương pháp 3. Tri thức về Tri thức. Nhân học về tri thức (La Méthode 3. La Connaissance de la Connaissance. Anthropologie de la connaissance). Lê Diên dịch. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2006, 472 tr.  Wd  Cách đây 120 năm (năm 1886) F.Engels nói rằng: “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực lịch sử – khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó…”. Bất chấp những phát minh khoa học vĩ đại trong 120 năm qua, chủ nghĩa duy vật mà Engels nói tới vẫn lạc lõng ở bên ngoài/bên trên khoa học, làm vật cản đáng sợ cho  mọi sự đổi mới và sáng tạo.    Phạm Khiêm Ích      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đọc sách “Việt Nam thời Pháp đô hộ” của Nguyễn Thế Anh      Nhiều người viết sử thường có khuynh hướng dẫn dắt cảm xúc và nhận thức người đọc khiến họ hoặc thăng hoa phấn khích, hoặc trầm lắng bi hùng theo giọng văn và cái nhìn của tác giả. Đọc Việt Nam thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh thì khác: trang sử Việt của một giai đoạn không tiền khoáng hậu được tái hiện với sự điềm đạm trong quan sát và sự trung chính trong nhận xét của người viết sử.      Bìa cuốn sách trong lần tái bản năm 2017.  Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ (ấn bản năm 1970 và 1974), còn có tên Việt Nam thời Pháp đô hộ (ấn bản năm 2008, 2017) được ấn hành lần đầu tiên tại Sài Gòn, là giáo trình tâm huyết của GS Nguyễn Thế Anh dành tới sinh viên sử học khi ông nhận trọng trách điều khiển Ban Sử thuộc Đại học Văn khoa Sài Gòn.  Thời điểm ra đời của công trình sử học Việt Nam này cũng là khi nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đang tiếp thu và hòa nhập đầy sức sống theo mô hình đại học thực dụng và tự trị của Mỹ, trong tương quan với giai đoạn ngay trước đó được kiến tạo trên nền tảng của mô hình đại học Pháp thiên về tính hàn lâm[1]. GS Nguyễn Thế Anh là người được hấp thụ cơ bản nền giáo dục Pháp, đồng thời tiếp nhận các nguồn tư liệu và thành tựu nghiên cứu từ cộng đồng Anh ngữ toàn cầu (New York, Cambrigde-Harvard, London-Oxford, …).  Được viết bằng tiếng Việt, Việt Nam thời Pháp đô hộ cung cấp cho độc giả ở miền Nam Việt Nam thời ấy những cách tiếp cận trước đó chưa từng có: quan sát sự kiện theo vấn đề, phân tích sử liệu từ nhiều giác độ: Việt Nam-khu vực-toàn cầu, vi mô-vĩ mô, khách quan nhìn nhận các nhân tố kinh tế chủ về thực dụng đồng đẳng với các nhân tố quốc gia-dân tộc chủ về tinh thần vốn là nếp nghĩ lâu đời của người Việt. Cùng với Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn chung một tác giả cũng được ấn hành ở Sài Gòn trước năm 1975, đường hướng nghiên cứu và phương pháp chép sử – viết sử cùng  nhãn quan sử học của GS Nguyễn Thế Anh là một nguồn hứng khởi đối với không ít nhà nghiên cứu sử Việt thủa đương thời, như Tạ Chí Đại Trường, Hà Mai Phương, Trương Ngọc Phú…  Nhiều người viết sử thường có khuynh hướng dẫn dắt cảm xúc và nhận thức người đọc khiến họ hoặc thăng hoa phấn khích, hoặc trầm lắng bi hùng theo giọng văn và cái nhìn của tác giả. Đọc Việt Nam thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh thì khác: trang sử Việt của một giai đoạn không tiền khoáng hậu được tái hiện với sự điềm đạm trong quan sát và sự trung chính trong nhận xét của người viết sử. Người đọc mặc dầu tiếp nhận lịch sử thông qua lăng kính của tác giả, nhưng không bị chi phối thiên lệch bởi cảm xúc cá nhân của người viết. Với những người theo đường nghiên cứu lịch sử, từng vấn đề mà tác giả là nhà nghiên cứu-giảng dạy đặt ra khơi gợi nhiều chủ đề hứng thú khích lệ đồng nghiệp nhiều thế hệ dấn bước. Đó cũng là điều mà Nguyễn Thế Anh đã tiếp thu từ các tác phẩm sử học của tiền nhân, những người đã mở lối, nối đường để hậu sinh dựa vào đó mà kế thừa tri thức và tiếp tục sáng tạo phương pháp.  Việt Nam thời Pháp đô hộ được tái bản năm 2017[2] cập nhật nhiều ưu thế công nghệ – kỹ thuật, cho ra mắt một ấn bản đẹp mắt, tạo sự trang trọng. Dù vậy, một số thay đổi của ấn bản này so với các bản in trước năm 1975 lẽ ra nên được chỉnh sửa đồng bộ. Như trong ấn bản 2017, các phụ lục hình ảnh gồm biểu đồ, sơ đồ, bản đồ, hình chân dung… được nhóm lại, đặt ở cuối sách, thay vì xen kẽ trong tương quan với nội dung nghiên cứu như ấn bản 1970 và 1974 đã trình bày. Tuy nhiên, các chú thích cho hình ảnh vẫn được giữ nguyên theo ấn bản cũ, thành có khi dòng chú thích bị hụt hẫng. “Thỉnh nguyện thư năm 1925” là một điển hình, đáng lẽ nên được nói rõ hơn là “Thỉnh nguyện thư năm 1925 do Đảng Lập Hiến gửi Toàn quyền Đông Dương Varenne” khi đứng rời ngữ cảnh liên quan.  Trong bản in ở Sài Gòn, hai sơ đồ phân bố dân cư ở Bắc kỳ và Nam kỳ (dẫn theo Pierre Gourou) được đặt nối nhau, sau đó là một chú dẫn chung cho cả hai: “Sự phân phối dân cư ở Bắc kỳ và Nam kỳ”. Ấn bản năm 2017 có sự nhầm lẫm khi tách hai sơ đồ với hai chú thích biệt lập nhưng đối với sơ đồ Nam kỳ, vẫn lặp lại chú thích “Sự phân bố dân cư ở Bắc kỳ”.  Ấn phẩm tái bản 2017 bổ sung mới công cụ hữu ích cho độc giả là Sách dẫn gồm chung tên người và tên đất. Bản in lần thứ nhất và những lần tái bản sau đó chưa từng có sách dẫn. Có điều ở phần Sách dẫn này, thứ tự a,b,c được xếp theo họ-tên của người Việt Nam trong khi lại theo trật tự tên-họ đối người phương Tây.  Dầu vậy, sự tái bản Việt Nam thời Pháp đô hộ sau gần nửa thế kỷ, trong thời điểm nhiều thử thách của sử Việt chứng minh giá trị qua thời gian của tác phẩm, phản ảnh sự công nhận của hậu thế bao hàm cả nhu cầu của thị trường sách; đồng thời cũng là thêm một lần “lửa thử vàng”  đối với tác phẩm nghiên cứu này.  ———–  Chú thích:   [1] Theo Gs. Lê Xuân Khoa (2011), “Đại học miền Nam trước 1975: Hồi tưởng và Nhận định” trong Kỷ yếu Đại học Humbold 200 năm (1810-2010): Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam. Hà Nội: Tri Thức. Tr.535-550.  [2] DT Books, 03/2017.    Author                Việt Anh        
__label__tiasang Đọc “Sapiens: Lược sử về loài người”: Loài người trở nên thông minh như thế nào?      Nhân dịp cuốn “Sapiens: Lược sử về loài người”1 của nhà nghiên cứu lịch sử người Israel Yuval Noah Harari được xuất bản ở Việt Nam, xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết về cuốn sách khoa học khám phá tạo nên nhiều hứng thú cũng như tranh cãi này của doanh nhân, người đồng sáng lập tập đoàn Microsoft Bill Gates trên blog của ông.      Nhà nghiên cứu lịch sử Yuval Noah Harari.  Harari, nhà sử học người Israel, đã đảm nhận một thách thức dễ gây choáng ngợp với nhiều người: kể lại toàn bộ lịch sử của loài người chúng ta trong vẻn vẹn 400 trang giấy. Tôi vốn luôn ngưỡng mộ những tác giả muốn tìm ra sợi dây liên hệ giữa mọi thứ và làm rõ những khúc quanh của lịch sử. Có lẽ cho đến giờ vẫn chưa có ai làm điều đó tốt hơn David Christian qua những bài giảng trong lĩnh vực Đại sử (Big History2). Những bài giảng này “chưng cất” 13,7 tỉ năm lịch sử, từ thời điểm Big Bang trở đi, vào một khuôn khổ khả thi trải rộng trên các lĩnh vực sinh học, vật lý, các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Tuy Harari tập trung vào một giai đoạn ngắn hơn – 70.000 năm vừa qua trong lịch sử loài người – song công việc của anh không vì thế mà bớt khó khăn. Mục tiêu của anh là lý giải vì sao chúng ta, loài Homo sapiens (từ Latin, có nghĩa “người tinh khôn”), lại thống trị Trái đất và tương lai nào đang chờ đợi chúng ta.  Hầu hết chúng ta đều đinh ninh rằng giống loài mình luôn luôn đứng đầu, cai quản toàn bộ các loài động vật khác. Nhưng Harari nhắc chúng ta nhớ rằng từ rất lâu trước khi chúng ta xây dựng nên các kim tự tháp, viết những bản giao hưởng, hay dạo bước trên Mặt trăng, chúng ta không có gì đặc biệt cả. “Điều quan trọng nhất cần biết về người tiền sử,” Harari viết, “là họ là những động vật nhỏ bé, sức tác động tới môi trường xung quanh không vượt quá loài khỉ, đom đóm, hay sứa.”  100.000 năm trước, Homo sapiens chỉ là một trong nhiều loài người khác nhau đang cạnh tranh giành quyền thống trị. Cũng như ngày nay chúng ta thấy nhiều loài gấu hay lợn khác nhau, khi ấy cũng có nhiều loài người khác nhau. Tổ tiên của chúng ta sinh sống chủ yếu ở khu vực Đông Phi, nhưng những người họ hàng Homo neanderthalensis, còn có tên gọi khác phổ biến hơn là người Neanderthal, sinh sống ở châu Âu. Các loài khác là Homo erectus sống ở châu Á, còn hòn đảo Java là nơi ở của Homo soloensis.  Yuval Noah Harari, sinh năm 1976, là nhà nghiên cứu lịch sử người Israel. Ông nhận bằng Tiến sĩ của Đại học Oxford năm 2002, hiện là giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Hebrew ở Jerusalem. Ông chuyên nghiên cứu về lịch sử thế giới, lịch sử thời Trung cổ và lịch sử quân sự. Ông cũng hướng tới nghiên cứu những vấn đề lớn mang tính khái quát về mối quan hệ giữa lịch sử và sinh học. Hai cuốn sách nổi bật nhất của ông là Homo Deus: A Brief History of Tomorrow (2016), và Sapiens: A Brief History of Humankind (2014).    Mỗi loài thích nghi với môi trường sống riêng của mình. Có loài là những thợ săn to lớn, đáng sợ, có loài lại là những người hái lượm thấp bé. Tuy mỗi loài mỗi khác nhau, nhưng có bằng chứng cho thấy hiện tượng lai giống giữa các loài. Chẳng hạn, các nhà khoa học khi lập bản đồ gene của người Neanderthal đã phát hiện ra rằng những người có nguồn gốc châu Âu ngày nay mang một tỉ lệ phần trăm nhỏ gene từ các tổ tiên người Neanderthal của họ. (Điều đó sẽ mang đến một sự bổ sung thú vị cho gia phả của nhiều dòng họ đây!)  Ngày nay, dĩ nhiên chỉ còn lại một giống loài người sinh sống. Làm thế nào mà Homo sapiens lại trở nên thành công như vậy trong khi những loài khác thì không? Harari cho rằng sự khác biệt nằm ở năng lực nhận thức độc đáo của chúng ta. Ông viết, khoảng 70.000 năm trước, Homo sapiens đã trải qua một “cuộc cách mạng nhận thức”, qua đó mang lại cho chúng ta ưu thế nổi trội so với các đối thủ khác để có thể từ Đông Phi nhân rộng khắp hành tinh.  Các loài khác cũng có bộ não lớn, nhưng điều khiến Homo sapiens thành công nằm ở chỗ chúng ta là những động vật duy nhất có khả năng phối hợp ở quy mô lớn. Chúng ta biết cách tổ chức thành các quốc gia, công ty, tôn giáo, và điều đó cho chúng ta sức mạnh để hoàn thành những nhiệm vụ phức tạp. Khái niệm của Harari về “cuộc cách mạng nhận thức” nhắc tôi nhớ đến quan điểm của David Christian trong Đại sử về “học tập tập thể”, theo đó năng lực chia sẻ, lưu trữ và tiếp tục xây dựng từ những thông tin có sẵn là điều thực sự đã phân biệt chúng ta trên cương vị loài người và cho phép chúng ta phát triển.  Điểm độc đáo trong quan điểm của Harari là anh tập trung vào sức mạnh gắn kết người với người của những câu chuyện và những điều huyền hoặc. Dĩ nhiên, khỉ đầu chó, chó sói, và các loài động vật khác cũng biết cách vận hành như một nhóm, nhưng các nhóm của chúng lại bị giới hạn trong những mối quan hệ xã hội chặt chẽ, làm hạn chế nhóm ở số lượng nhỏ. Homo sapiens có năng lực đặc biệt là đoàn kết hàng triệu người xa lạ với nhau xung quanh những điều huyền hoặc chung. Những ý tưởng như tự do, nhân quyền, các vị chúa, luật pháp v.v tồn tại trong trí tưởng tượng của chúng ta, nhưng chúng lại có thể gắn kết chúng ta với nhau và khích lệ chúng ta cùng phối hợp thực hiện những nhiệm vụ phức tạp.  Tuy tôi rất thích Sapiens, song cuốn sách vẫn có nhiều điểm cần tranh cãi. Chẳng hạn, Harari muốn chứng minh rằng cuộc cách mạng nông nghiệp là một trong những sai lầm lớn nhất trong lịch sử loài người. Theo anh, cuộc cách mạng này đã giúp các nền văn minh phát triển, song ở cấp độ cá nhân, nếu chúng ta cứ giữ nguyên cuộc sống của những người săn bắt và hái lượm thì sẽ tốt hơn. Trong vai trò nông dân, con người phải làm việc vất vả hơn nhiều và đổi lại, chế độ ăn uống của họ lại kém hơn so với thời kỳ hái lượm. Các xã hội nông nghiệp cũng tạo ra thứ bậc trong xã hội, theo đó đại đa số phải lao động khổ cực và một thiểu số tinh hoa cai trị họ.  Dĩ nhiên, đó là một luận điểm thú vị, nhưng tôi không thấy thuyết phục. Thứ nhất, việc cho rằng chúng ta săn bắt và hái lượm sẽ tốt hơn làm nông nghiệp vô tình mang đến một sự lựa chọn trong khi trên thực tế lại không hề tồn tại sự lựa chọn đó. Chúng ta không thể quay ngược thời gian để bắt đầu lại cuộc sống của những người săn bắt và hái lượm, hay chúng ta cũng không thể thực hiện một thí nghiệm nào để chứng minh cách sống này thì tốt hơn cách sống kia. Thứ hai, tôi nghĩ Harari đã đánh giá thấp những nỗi gian nan trong cuộc sống của người săn bắt và hái lượm. Anh cho rằng tỉ lệ tử vong và bạo lực trong các xã hội săn bắt và hái lượm thấp hơn nhiều so với thời kỳ sau khi diễn ra cuộc cách mạng nông nghiệp. Nhưng nhiều khả năng là tình trạng bạo lực xảy ra khi đó thường xuyên hơn do những cạnh tranh về nguồn lực. Một xã hội nông nghiệp có thể nuôi sống nhiều người trên mỗi đơn vị diện tích đất hơn so với một xã hội săn bắt và hái lượm. Để duy trì mật độ dân số thấp, mâu thuẫn giữa các nhóm săn bắt-hái lượm là điều không thể tránh khỏi. Cuối cùng, khi gọi cuộc chuyển mình sang nông nghiệp là một “sai lầm”, tác giả đã bỏ qua thực tế rằng các xã hội nông nghiệp có khả năng chuyên nghiệp hóa, từ đó dẫn tới sự ra đời của chữ viết, các kỹ thuật mới, và nghệ thuật – những thứ mà chúng ta vẫn trân trọng ngày nay.  Tuy vậy, tôi vẫn muốn giới thiệu cuốn sách này cho những ai muốn có một cái nhìn vui vẻ, lý thú về lịch sử ban sơ của loài người. Tương tự như Đại sử, cuốn sách mang lại cho tôi một cấu trúc lịch sử tổng quan để từ cơ sở đó tôi có thể tiếp tục xây dựng nên kiến thức của mình. Không những thế, Harari còn kể chuyện lịch sử với một phong cách gần gũi đến mức một khi đã cầm cuốn sách lên, nhất định bạn sẽ khó lòng bỏ nó xuống. Anh sử dụng lối văn phong, các hình ảnh và biểu đồ đầy sống động để minh họa cho các luận điểm của mình. Anh còn là một cây viết sắc sảo, biết khéo léo lồng ghép những câu chuyện lịch sử thú vị, chẳng hạn như tầm quan trọng của món dưa cải muối Đức trong công cuộc khám phá biển, và tại sao những chữ viết cổ xưa nhất được phát hiện, với tuổi đời từ cách đây 5.000 năm, lại không có ảnh hưởng gì đáng kể.  Tôi cho rằng nhiều độc giả sẽ đặc biệt hứng thú với phần cuối của cuốn sách. Sau khi du hành qua hàng chục nghìn năm lịch sử, Harari lại mang dáng vẻ của một triết gia khi anh viết về loài người chúng ta hiện nay và cuộc sống của chúng ta trong tương lai. Anh băn khoăn không biết trí thông minh nhân tạo, biến đổi gene, và các công nghệ khác sẽ thay đổi giống loài chúng ta ra sao.  Anh cũng đặt ra một số câu hỏi cơ bản về hạnh phúc. Trong lịch sử lâu dài của Homo sapiens, khi nào thì chúng ta có cuộc sống mãn nguyện nhất? Khi là những người săn bắt-hái lượm vây đuổi những con voi ma mút? Khi làm nông dân cuốc đất? Hay khi là những người nông dân sợ sệt Chúa trời trong thời kỳ Trung cổ? Nhưng những câu hỏi cốt lõi hơn mà anh đặt ra là: Với tư cách một giống loài, chúng ta là ai? Và chúng ta đang đi về đâu?  Đó là những câu hỏi lớn và cổ xưa như chính lịch sử giống loài chúng ta. Sau khi bạn đọc xong cuốn sách này, tôi cam đoan rằng giống như tôi, bạn cũng sẽ muốn ngồi lại với một vài người bạn Homo sapiens của mình để cùng tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó.  Trang Bùi dịch  Nguồn: https://www.gatesnotes.com/Books/Sapiens-A-Brief-History-of-Humankind  —-  1 Nguyên tác: Sapiens: A Brief History of Humankind, được xuất bản tại Việt Nam bởi Nxb Tri thức và Omega qua bản dịch của Nguyễn Thủy Chung và hiệu đính của Võ Minh Tuấn.  2 Big History: một lĩnh vực học thuật mới xuất hiện nhằm nghiên cứu lịch sử từ giai đoạn Big Bang cho đến ngày nay, sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành.  ——————————–  Ông nói rằng thiên hướng của chúng ta trong việc tạo ra những khái niệm trừu tượng như tôn giáo, quốc tịch,… là phẩm chất tách biệt sapiens khỏi các tông người khác. Nếu cho rằng đó cũng là nguồn gốc tạo nên những cuộc chiến tranh có thể dẫn đến sự hủy diệt cho chính chúng ta, thì rốt cuộc đây là một điểm yếu hay một điểm mạnh?’  Yuval Noah Harari: Xét về sức mạnh thì rõ ràng khả năng này đã giúp cho Homo sapiens trở thành loài động vật mạnh mẽ nhất thế giới, và giờ đây nó mang lại cho chúng ta quyền kiểm soát toàn bộ Trái đất. Từ góc nhìn đạo đức rằng điều đó tốt hay xấu thì đây là một câu hỏi phức tạp hơn rất nhiều. Vấn đề chính ở đây là vì sức mạnh của chúng ta dựa vào trí tưởng tượng tập thể, chúng ta không giỏi phân biệt giữa tưởng tượng và thực tế. Loài người rất khó phân biệt được đâu là thực tế và đâu là câu chuyện tưởng tượng trong tâm trí họ, và điều này gây ra nhiều thảm họa, chiến tranh, và những rắc rối khác.  Phép thử tốt nhất để biết một thực thể là có thật hay do tưởng tượng là phép thử về sức chịu đựng. Một quốc gia không thể chịu đựng, nó không thể cảm nhận nỗi đau, nó không thể cảm nhận nỗi sợ, nó không có ý thức. Ngay cả khi nó bị thua trong một cuộc chiến, thì đối tượng phải chịu đựng là những người lính, những người dân thường, chứ quốc gia thì không chịu đựng. Tương tự, một doanh nghiệp không biết chịu đựng; khi bị mất giá, đồng tiền cũng không phải chịu đựng. Tất cả những thứ đó đều là tưởng tượng. Nếu loài người lưu ý về sự khác biệt này, họ có thể cải thiện cách cư xử với nhau và với các loài động vật khác. Không có gì hay ho khi gây ra nỗi đau cho những thực thể có thật chỉ để phục vụ cho những câu chuyện tưởng tượng cả.  Nguồn: https://www.theguardian.com/culture/2017/mar/19/yuval-harari-sapiens-readers-questions-lucy-prebble-arianna-huffington-future-of-humanity          Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi chân siêu mẫu      Chắc chắn không có cô gái nào muốn khoe cặp đùi thon dài trong chiếc váy mini nếu trên bắp chân như có ai nhẫn tâm khảm vài con đỉa ngoằn ngoèo xanh rờn. Không chỉ vì lý do thẩm mỹ, suy yếu tĩnh mạch trước sau vẫn là lý do gây nhiều trăn trở cho phái nữ, đặc biệt cho quý bà vào tuổi mãn kinh, vì khả năng dẫn đến nhiều biến chứng nhiêu khê. Vấn đề vừa đề cập càng trở nên phức tạp hơn nữa khi bệnh lý tĩnh mạch theo thống kê gần đây là bệnh chứng thường gặp ngay cả trên nhiều phụ nữ hãy còn rất trẻ!    Khó tìm được thí dụ nào có giá trị biện luận hùng hồn hơn cấu trúc của tĩnh mạch, nếu muốn tìm một dẩn chứng về tính chất bất bình đẳng giữa nam và nữ. Để đẩy máu về tim cơ thể phải trông cậy vào hai cơ chế có tính hỗ tương. Đó là hệ thống van rải đều bên trong tĩnh mạch có công dụng ngăn không cho dòng máu chảy ngược, và hệ thống bắp thịt nằm dọc tĩnh mạch của chi dưới với chức năng đẩy máu xuôi dòng bằng cách co thắt để tạo sức ép vào thành tĩnh mạch. Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn vì hệ thống van bị suy yếu do bị viêm nhiễm nhiều lần, hay vì bắp thịt co thắt trật nhịp do rối loạn dẫn truyền thần kinh, dòng máu trong tĩnh mạch sẽ trì trệ, nghĩa là chảy chậm hơn vận tốc mong muốn. Trong tình trạng đó, máu dễ bị đóng cục trong mạch và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường, từ viêm tấy cho đến tắc tĩnh mạch. Thành mạch máu khi đó khó giữ được cấu trúc khỏe mạnh. Tĩnh mạch đã thế, không như động mạch, lại có rất ít sợi đàn hồi trên thành mạch máu. Tĩnh mạch trên phái yếu, đúng như tên gọi, yếu hơn ở nam giới nhiều. Tĩnh mạch trên chi dưới của các bà, các cô vì thế rất dễ phình dãn khiến đôi chân siêu mẫu dễ dàng mất giá.  Với cơ chế ứ huyết vừa mô tả không có gì khó hiểu khi đôi chân bỗng sưng mỏi sau nhiều giờ đứng bên dàn máy, hay thường gặp hơn nữa, do ngồi bó gối trên máy bay, xe khách… Tình trạng này càng dễ trở thành trầm trọng do khả năng hình thành cục máu đông trong môi trường có nhiệt độ thấp, như biến chứng thường gặp ở người làm việc trong phòng có máy điều hòa không khí. Cục máu đông trong tĩnh mạch không chỉ là nguyên nhân dẫn đến cơn đau như dao cắt. Cục máu đông nếu không may, dù với xác suất tương đối thấp, gây tắc nghẽn trong phổi, hay trên thành tim, thì hậu quả nghiêm trọng đến độ gây tử vong là điều không phải hiếm thấy.  Do đó, phương án điều trị viêm tắt tĩnh mạch với hiệu năng cao nhất chính là biện pháp phòng ngừa, càng sớm càng tốt, thay vì chạy theo triệu chứng, vì không dễ chữa khi bệnh đã thành hình. Câu hỏi thực tế chỉ còn là làm sao biết được hệ thống tĩnh mạch đang bị đe dọa đến mức độ nào? Không khó, chỉ cần thành thật trả lời các câu hỏi dưới đây:     1. Bạn thường bị sưng mỏi đôi chân, nhất là mắt cá chân, hay thậm chí chuột rút, vào buổi tối?     2. Bạn phải thường xuyên làm việc trong tư thế đứng hay ngồi?     3. Bạn đang chơi môn thể thao dễ gây áp lực cho hệ thống tĩnh mạch chi dưới như quần vợt, cầu lông…?     4. Bạn có thể trọng thuộc loại béo phì?     5. Bạn hay mặc quần áo bó sát người và mang giày cao gót?     6.Bạn đang mang bầu hay đã làm mẹ?     7.Bạn đang dùng thuốc có nội tiết tố như thuốc ngừa thai, thuốc trị hội chứng mãn kinh, thuốc điều chỉnh chức năng tuyến giáp…?     8.Bạn vừa trải qua cuộc giải phẫu hay bị chấn thương?    9.Bạn hay thân nhân đã có vấn đề với tĩnh mạch như bệnh trĩ, viêm tắc tĩnh mạch…?  Chỉ cần có Một trong các tiêu chí kể trên thì bạn nên cẩn trọng với chuyến đi xa, khi đi bộ nhiều hay phải ngồi bó gối. Quan trọng hơn nữa, bạn nên tìm đến thầy thuốc chuyên khoa, càng sớm càng tốt, nếu đôi chân đã có lần bị sưng đau ngay sau chuyến du lịch gần đây.  Bên cạnh việc áp dụng các loại tất chun đặc hiệu cho đối tượng đã có vấn đề với tĩnh mạch theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa, người muốn phòng ngừa bệnh tĩnh mạch nên lưu ý:     1.Chọn y phục rộng rãi thoải mái, đặc biệt nên tránh các loại quần quá chật.     2.Tránh giày cao gót, giày quá chật để ngừa dòng máu đọng lại ở bàn chân.     3.Uống đủ nước với biện pháp dùng một ly nước mỗi giờ trong ngày, cụ thể từ 7 giờ đến 17 giờ.     4.Giảm hay tốt nhất, bỏ hẳn thói quen dùng cà phê, trà, rượu.     5.Giữ dáng ngồi cho đúng, tránh ngồi tréo chân quá lâu.     6.Đừng quên thỉnh thoảng tập thể dục bàn chân với động tác xoay tròn cổ chân, nhón gót và đứng trên ngón chân ngay trong giờ làm việc.     7.Đi chân đất ít phút trong ngày và ngâm chân trong nước lạnh vài phút mỗi tối.     8.Đừng ngâm chân nước nóng trong giai đoạn viêm tắc tĩnh mạch cấp tính.     9. Chú trọng các món ăn vừa làm bền thành tĩnh mạch, vừa giữ máu loãng như rau diếp cá, dứa, đu đủ, dưa gang…  Cẩn tắc vô áy náy, điều đó càng đúng hơn nữa với hệ thống tĩnh mạch. Làm sao có thể bình thản với cấu trúc mong manh của mạch máu trước áp lực chỉ tăng chứ không giảm của cuộc sống mà chúng ta đang gọi là văn minh!  Thanh Mai      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dơi – Chìa khóa ngăn dịch bệnh trong tương lai?      Các nhà nghiên cứu từ các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới đang tìm hiểu về hệ miễn dịch kỳ thú của loài dơi với mong muốn ngăn chặn những đợt bùng dịch trong tương lai.     Một tổ dơi móng ngựa miền Đông (Rhinolophus megaphyllus) trong một hầm mỏ ở Úc. Dơi móng ngựa có khả năng chứa vi rút corona. Nguồn: Bruce Thomson/ Nature Picture Library  Rando Foo đang hút đầy pipet với nước cam từ chiếc bình dán nhãn “CHỈ dành cho dơi”. Ông và đồng nghiệp Rommel Yroy đang ngồi trước tủ an toàn sinh học, mặc áo choàng xanh, đeo trang bị bảo hộ mặt, găng tay, quần ống rộng và bọc giày. Hé nhìn từ bàn tay nắm chặt của Yroy là cặp mắt đen bóng, tròn xoe, đôi tai nhọn và chiếc mõm đầy lông của một con non thuộc loài dơi mật hoa hang động (Eronycteris spelaea). Thỉnh thoảng nó vặn vẹo, kêu lên the thé, thè cái lưỡi dài, phớt hồng để liếm những giọt nước ngọt lịm. Đây là phần thưởng bù đắp sau khi bị di chuyển trong một chiếc túi cotton xanh từ lồng nuôi đến phòng thí nghiệm, tiếp theo nó được kiểm tra nhanh cân nặng và các vết thương dọc theo đôi cánh trải rộng cùng lớp lông dày.  Cá thể dơi nằm trong tay Yroy là một trong 140 cá thể dơi mật hoa hang động từ một đàn nhân giống nghiên cứu ở Singapore – địa điểm đầu tiên tại châu Á. Foo – người quản lý đàn làm việc hợp tác với trường Y Duke-NUS thuộc Đại học Quốc gia Singapore, và Yroy – kỹ thuật viên thú y tại Trung tâm Y học Thực nghiệm SingHealth cũng là người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng đàn dơi trong nhiều năm. Ban đầu, đàn dơi có 19 cá thể được thu thập bằng cách sử dụng lưới bướm quanh đường cao tốc Singapore vào năm 2015 và 2016; sau đó vài năm, những con non đầu tiên đã được chào đời.  Đàn dơi được bố trí bởi Lin-fa Wang, nhà vi rút học tại trường Y Duke-NUS, nhằm tạo ra một môi trường được kiểm soát, phù hợp cho các nghiên cứu đặc tính sinh học của dơi, bao gồm cả tương tác bên trong hệ thống miễn dịch.  Đối với Wang, người đã dành nhiều thập kỷ nghiên cứu dơi và bệnh truyền nhiễm, quần thể này tạo nhiều lợi thế nghiên cứu cho phép ông đặt ra những câu hỏi chẳng hạn như tế bào nào đã hình thành hệ thống miễn dịch của dơi, và chúng đã làm cách nào để tránh được lây nhiễm. Hiện tại đàn dơi đã được nhân giống hiệu quả, cho phép nghiên cứu của nhóm được lặp lại dễ dàng. Mô dơi đã được chia sẻ cho khoảng chục nhóm khác trên khắp thế giới.  Nhánh nghiên cứu dơi của Wang đã trở nên nhộn nhịp hơn do nhu cầu khẩn cấp từ đại dịch SARS-CoV-2. Lượng người tham dự các buổi tọa đàm và hội nghị về dơi tăng cao – tại một hội nghị chuyên đề được tổ chức năm ngoái tại Hoa Kỳ, số lượng người tham dự nhiều hơn 30% khi so cùng một sự kiện được tổ chức trước đại dịch – đồng thời các quỹ đầu tư cũng đang rót tiền vào những dự án về dơi và bệnh truyền nhiễm. Đơn cử trong năm 2021, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều công bố những nguồn tài trợ khổng lồ cho những nghiên cứu cụ thể về dơi và vi rút.  Một tổ dơi móng ngựa Địa Trung Hải (Rhinolophus euryale) treo mình trong một hang động ở Catalonia, Tây Ban Nha. Nguồn: Roland Seitre/ Thư viện Hình ảnh Nature  Hệ thống miễn dịch của dơi đang nhận được sự quan tâm hơn bao giờ hết, đặc biệt là khả năng chống chịu các loại vi rút đe dọa tính mạng con người và những động vật có vú khác – ví dụ như Ebola, Nipah và hội chứng hô hấp cấp tính (SARS). Mặc dù hệ thống miễn dịch của dơi vẫn chưa được hiểu rõ nhưng hậu quả trước mắt đã rất rõ ràng: dơi được cho là nguồn gốc của nhiều đợt bùng phát vi rút thảm khốc ở người.  Lĩnh vực nghiên cứu đang đạt đến điểm cong của đồ thị, phần nhiều do đại dịch gây ra. Từ những nhà nghiên cứu lâu năm đã dành nhiều thập kỷ tìm hiểu về lây nhiễm trên dơi đến những thành viên mới đầy nhiệt huyết cùng nhau phát triển và áp dụng những kỹ thuật tiên tiến để trả lời cho câu hỏi: làm cách nào dơi có thể sống chung với những mầm bệnh nguy hiểm như vậy. Một số hy vọng rằng bằng những hiểu biết sâu sắc này, một ngày nào đó, các phương pháp điều trị xử lý lây nhiễm ở người và ngăn chặn vi rút thoát ra từ dơi sẽ được phát triển.  Xoài và dưa  Đàn dơi của Wang là nguồn tài nguyên quý giá, và những nhà nghiên cứu đối đãi với chúng đúng như vậy. Trong nhiều năm, chế độ ăn uống và môi trường sống được điều chỉnh để đàn dơi có thể sống thật khỏe mạnh. Món khoái khẩu của chúng là dưa, xoài, đu đủ được cắt nhỏ, sữa bột và những chất lỏng có mùi ngọt giống như mật hoa.  Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về bộ gene cũng như sự đa dạng chủng loại vi rút có dơi là vật chủ. Tế bào dơi cũng được sử dụng để phát triển các cơ quan trong khí quản – những cơ quan nhỏ phát triển từ tế bào gốc. Hiện tại, các thí nghiệm tập trung vào phản ứng lây nhiễm, quá trình lão hóa và quá trình trao đổi chất tích cực trong lúc bay của dơi. Đàn dơi quả thực là một nguồn nghiên cứu đầy giá trị.     Những nhà nghiên cứu thực hiện kiểm tra sức khỏe trên một cá thể dơi con loài dơi mật hoa động. Nguồn: Randy Foo, trường Y Duke-NUS.  Tuy nhiên, nghiên cứu về dơi và vi rút lây nhiễm vướng phải khó khăn liên tục vì những kỹ thuật sẵn có phục vụ nghiên cứu còn khá hạn chế. Hình thành và duy trì đàn rất tốn kém, dơi có thời gian mang bầu lâu và ít con non được sinh ra hơn so với chuột thí nghiệm tiêu chuẩn. Chỉ một số ít trong hơn 1450 loài dơi được nuôi giống trong các quần thể nghiên cứu trên thế giới. Trong số đó bao gồm đàn dơi mật hoa hang động của Wang, đàn dơi quả Jamaican (Artibeus jamaicensis) ở Fort Collins, Colorado, đàn dơi quả Ai Cập (Rousettus aegyptiacus) trên đảo Riems, Đức và đàn dơi nâu lớn (Eptesicus fuscus) tại Hamilton, Canada. Không có bất cứ đàn nào mang đặc tính của loài dơi móng ngựa chủ chốt mang trong mình vi rút corona. (Rhinolophus spp). Aaron Irving, nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đại học Chiết Giang, Hải Ninh, Trung Quốc, nói: “Tất cả đã thử nghiệm và thất bại trong việc cố gắng nhân giống những loài dơi này, có lẽ vì chúng ta không thực sự hiểu rõ về tập tính làm tổ của chúng.”  Việc bẫy dơi hoang dã đi kèm với những thách thức về an toàn và chuẩn bị hậu cần, đồng thời, tế bào dơi nổi tiếng rất khó nhân giống trong nuôi cấy tế bào.  Bộ kit sử dụng cho hầu hết động vật thí nghiệm thiếu một vài thành phần khi áp dụng cho dơi như là thiếu các kháng thể đơn bào mà những nhà miễn dịch học dùng để gắn tag cho tế bào miễn dịch và protein. Trong một thời gian dài, không có bất cứ nguồn tin nào về một bộ gene dơi đảm bảo chất lượng.  Peng Zhou, nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại phòng thí nghiệm Quảng Châu, Trung Quốc cho biết: “Việc thiếu hụt các công cụ cần thiết khiến các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được bức tranh rõ ràng về “kiến trúc cơ bản” của hệ miễn dịch dơi”.  Tuy nhiên, thành quả trong nhiều năm dày công nghiên cứu của các nhà nghiên cứu kỳ cựu cùng bộ phận lớp trẻ mới đến đang tạo ra những công cụ và phương pháp mới, bao gồm những bộ gene chất lượng cao và mô dơi nuôi cấy từ phòng thí nghiệm. Emma Telling, nhà sinh vật học về dơi tại Đại học Dublin, Ireland phát biểu: “Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ được chứng kiến những khám phá đầy thú vị. Và lý do duy nhất để làm được điều này chính là nhờ thế hệ công nghệ mới.”  Hơn nữa, cũng có nhiều nguồn vốn đầu tư và bài báo nghiên cứu về dơi hơn. Theo cơ sở dữ liệu học thuật Dimensons, đề cập về dơi trong các bài báo miễn dịch học đã tăng gấp ba lần, từ khoảng 400 trong năm 2018 đến 1500 trong năm 2021. Một công ty khởi nghiệp đã huy động được 100 triệu USD tài trợ vốn mạo hiểm, với kỳ vọng sử dụng kiến thức thu được từ các nghiên cứu về dơi để phát triển các liệu pháp cho nhiều tình trạng bệnh, từ ung thư đến viêm nhiễm và cả lão hóa.  Nghiên cứu mới nhất đang bổ sung đầy đủ chi tiết về các cơ chế sinh học hỗ trợ phản ứng miễn dịch của dơi, bao gồm việc xác định tế bào nào mang những tính chất độc đáo tiềm ẩn trong dơi. Các nhà nghiên cứu cũng đang tìm ra nhiều cách khác nhau mà loài dơi có thể chịu đựng được vi rút lây nhiễm. Điều này giúp xác định liệu “có một cơ chế toàn cầu nào áp dụng cho tất cả các loài dơi và tất cả các loài vi rút hay không. Chúng ta vẫn chưa chắc được liệu điều đó có phải là sự thật.” Diane Bimczok, nhà miễn dịch học tại Đại học bang Montana, Bozeman.  Hannah Frank, nhà sinh thái học tiến hóa tại Đại học Tulane, New Orleans, Louisiana, người nhận được tài trợ từ một quỹ do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) thành lập cho nghiên cứu miễn dịch ở dơi cho biết: “Tôi thực sự phấn khích về vị trí của chúng ta hiện nay trên chặng đường nghiên cứu này. Tuy nhiên, nếu càng nhiều nhà khoa học đào sâu vào phản ứng miễn dịch của dơi giữa muôn loài, ta sẽ càng khó kết luận. Chúng ta đang ngày càng nhận ra câu hỏi này phức tạp đến nhường nào”.  Véc tơ vi rút  Các nhà nghiên cứu tìm thấy nhiều vấn đề hóc búa ở dơi. Zwaka nói dơi là loài động vật “siêu ngầu”. Chúng là loài động vật có vú duy nhất tiến hóa để có thể bay được, và sử dụng sóng âm để định vị vật thể trong bóng tối. Chúng cũng có tuổi thọ đặc biệt dài so với kích thước nhỏ nhắn và tỷ lệ mắc ung thư thấp.  Tế bào dơi tái lập trình chuyển hóa thành các tế bào gốc gốc đa năng. Nguồn: M. Déjosez et al./Cell  Tuy nhiên, đặc điểm đã đưa dơi vào tầm chú ý trong những thập kỷ gần đây chính là khả năng sở hữu một bộ sưu tập vi rút cực kỳ phong phú. Một số loài nhất định, đặc biệt là dơi móng ngựa, là nơi cư ngụ của một số lượng đa dạng hiếm có nhiều loại vi rút corona, bao gồm cả những loại có quan hệ gần với SARS-CoV-2. Vài loài cũng chứa những vi rút khác như vi rút bệnh dại, Ebola và Marburg. Giải trình gen của dơi rải đầy dấu vết tàn dư của vi rút.  Điều gì ở loài dơi cho phép chúng chịu được vi rút mà không hề có dấu vết gì của nhiễm trùng? Sau nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã đề xuất một vài lý luận được làm rõ nhờ những công nghệ mới.  Nghiên cứu cho thấy một số loài dơi được trang bị lá chắn phòng thủ cực kỳ mạnh mẽ, có khả năng chống lại những kẻ xâm phạm. Ngay cả khi không có mối đe dọa nào từ bên ngoài, một số loài vẫn duy trì nồng độ interferons ở mức cao – là các phân tử có vai trò cảnh báo và tăng cường nỗ lực vô hiệu hóa vi rút – cho phép sinh vật dập tắt quá trình nhân bản vi rút nhanh chóng. Dơi cũng sở hữu một chuỗi gen mở rộng giúp mã hóa những protein cản trở việc nhân bản vi rút hoặc ngăn chặn vi rút thoát khỏi tế bào. Tế bào dơi cũng được trang bị một hệ thống xử lý hiệu quả các thành phần tế bào bị thương tổn, gọi là autophagy, quá trình đã được chứng minh giúp loại bỏ vi rút khỏi tế bào con người.  Khi mầm bệnh xâm nhập, dơi không phản ứng quá gay gắt với phản ứng viêm ngoại cỡ, nguyên nhân gây ra nhiều tổn thương do nhiễm trùng. Dơi có nhiều cách để điều tiết phản ứng viêm, chẳng hạn như ức chế hoạt động của các phân tử đa protein hay còn được biết đến là các thể gây viêm (inflammasomes). Irving cho biết: “Thay vì tiêu tốn một lượng năng lượng khổng lồ để loại bỏ hoàn toàn vi rút, chúng chấp nhận sự tồn tại của vi rút ở nồng độ thấp”. Joshua Hayward, nhà vi rút học tại Viện Burnet, Melbourne, Úc cho biết thêm: “Có một hiệp ước hòa bình giữa dơi và những mầm bệnh ký sinh”.  Cả những nhà nghiên cứu kỳ cựu và những người mới trong ngành đều đang bắt đầu xem xét bên ngoài đặc điểm phòng thủ tốc độ và không chọn lọc của dơi – một cơ chế miễn dịch bẩm sinh – mà hướng tới một phản ứng thích nghi có chọn lọc hơn, chậm rãi hơn, giữ lại thông tin về mầm bệnh để nổi dậy khi gặp lại kẻ thù. Miễn dịch thích ứng chỉ giới hạn ở một vài loại tế bào cụ thể, thực sự là vấn đề khó nhằn trong nghiên cứu.  Một số nhà nghiên cứu cũng đang tìm hiểu mối liên hệ giữa phản ứng miễn dịch ở dơi và hệ sinh thái của chúng để hiểu sâu hơn về thời gian, cũng như địa điểm tỏa ra vi rút và nguy cơ lây lan sang các loài động vật khác. Công trình này có thể làm sáng tỏ các yếu tố môi trường gây căng thẳng cho dơi, đồng thời giải đáp xem liệu điều đó có làm tăng nguy cơ lây nhiễm hay không.  Sâu trong hang dơi  Những câu hỏi quẩn quanh trong đầu đã dẫn bước Javier Juste đến một con đập bị bỏ hoang ở Casdiz, Tây Ban Nha, vào một đêm tháng 5/2020. Ông lẻn vào đường hầm bê tông tại một con đập, thu thập hai con dơi móng ngựa từ tổ của chúng.  Giữa vòng xoáy tâm dịch vi rút corona, các nhà khoa học đã biết rằng vi rút có thể bắt nguồn từ dơi. Các đồng nghiệp của Juste ở Mỹ rất mong được chạm tay vào mô dơi, hy vọng một ngày có thể nuôi cấy tế bào và sử dụng chúng để khám phá cách thức những vi rút chết chóc này nhảy từ dơi sang người.  Dơi có khả năng chứa chấp vi rút corona không phổ biến ở Bắc Mỹ, nhưng lại có mặt khắp châu Âu. Do đó, Juste – công tác tại Trạm Sinh học Doñana ở Seville, Tây Ban Nha, đã đồng ý giăng lưới và gửi dơi từ một tổ gần Cádiz đến thành phố New York – ngay giữa đợt phong tỏa COVID-19 nghiêm ngặt nhất trên thế giới và quy định hạn chế hàng loạt các chuyến bay quốc tế được tiếp đất.  Phóng xe lao đi trên các đại lộ vắng người với hai cá thể dơi, Juste và một đồng nghiệp đã đến sân bay Madrid vào sáng hôm sau. Bên ngoài kho hàng của FedEx, hai nhà nghiên cứu đã kết thúc cuộc sống của con vật trong cốp xe, cắt, ép xương cùng nội tạng vào sáu ống mẫu, lưu trữ các ống trong hộp đông lạnh để giữ cho các tế bào sống sót.  Khoảng 26 giờ đồng hồ sau đó, mẫu vật đã được chuyển đến phòng thí nghiệm của Zwaka. Phòng thí nghiệm gần như vắng bóng sự sống, và gói hàng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu khi rất nhiều tế bào đã chết. Zwaka, người chưa từng xử lý tế bào dơi trước đây, đã vội vã lấy tủy từ xương cánh và cắt da từ đôi cánh trong suốt như cao su thành những miếng vuông vức.  Nhóm của ông đã sử dụng các mẫu vật để nuôi cấy tế bào gốc – một công cụ phổ biến trong nghiên cứu sinh học và bệnh tật ở các loài khác nhưng lại gây nhiều khó khăn ở dơi. Những tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPS) đã được miêu tả trong một bài báo trên tờ Cell vào tháng hai, tiết lộ những phát hiện hấp dẫn về mối quan hệ tiến hóa gần gũi giữa dơi và vi rút. Zwaka nói rằng: “Các tế bào đã dẫn nhóm của tôi lạc vào một hang động kỳ diệu về sinh học”.  Cùng Telling và những đồng nghiệp khác, Zwaka đã xác định trình tự RNA được biểu hiện bởi các tế bào này và tìm thấy cơ man các mảnh vi rút, nhiều phần trong đó ban đầu là bộ gen của corona vi rút. Biểu hiện gen vi rút ở tế bào gốc đa năng cao hơn và đa dạng hơn so với ở tế bào da dơi và ở tế bào đa gốc đa năng từ chuột và người. Hơn nữa, các tế bào gốc đa năng của dơi đã thực sự sử dụng các mảnh vi rút để tạo ra các mảnh tương tự vi rút.             Telling hào hứng: “Kết quả thật phi thường. Khi tế bào dơi được nuôi cấy, toàn bộ “hóa thạch” vi rút trong bộ gen bị đánh thức.” Các tế bào hấp thụ một cách có hệ thống thông tin di truyền của vi rút trong bộ gen của chính nó – “như thể một miếng bọt biển” – sau đó biểu hiện lại mã gen đó. Zwaka cho biết điều này khiến tế bào dơi trở thành môi trường có lợi cho vi rút. Nhưng chính xác thì điều này có ý nghĩa gì trong công cuộc học hỏi để cùng chung sống với vi rút của dơi? Telling cho biết một khả năng có thể xảy ra là thông tin di truyền được ghi chèn vào bằng một cách nào đó bảo vệ dơi khỏi những hậu quả tiêu cực khi nhiễm vi rút, cũng giống như phương thức hoạt động của vắc xin.  Các nhà nghiên cứu hiện đang lên kế hoạch sử dụng tế bào gốc để nuôi tạo phổi, ruột và mô máu, cũng như lây nhiễm tế bào với các loại vi rút. Zwaka hy vọng sử dụng mô để hiểu hơn về khả năng miễn dịch của dơi, và cuối cùng “để phát triển các chiến lược bảo vệ sức khỏe con người”. Những nhà nghiên cứu khác sử dụng các cơ quan nội tạng của dơi được tạo ra từ tế bào gốc chiết xuất trực tiếp từ dơi nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi tương tự.       1000 bộ gene  Tế bào và mô là một, nhưng một trong những nguồn quan trọng nhất cho sinh học tế bào là hệ gen di truyền. Trước năm 2020, có khoảng chừng một chục bộ gen của dơi được giải mã nhưng với chất lượng không đồng đều. Cùng kỳ năm đó, Telling và đồng nghiệp đã công bố giải mã bộ gen chất lượng cao đầu tiên của sáu loài dơi, mỗi loài thuộc về một giống khác nhau và đều có gen mã hóa protein được đánh dấu rõ ràng.  Dự án là một phần trong dự án gen liên doanh toàn cầu Bat1K, đồng sáng lập bởi Telling với mục tiêu tạo ra những bộ gen chất lượng cao cho toàn bộ loài dơi. Sự quan tâm và tài trợ dành cho dự án đã tăng vọt kể từ đại dịch, bao gồm cả những công ty công nghệ sinh học, đem lại thành quả với khoảng 80 bộ gen của dơi đã được giải mã tính đến thời điểm hiện tại.  Sự khả dụng của những bộ gen chất lượng cao đã thay đổi cục diện ngành miễn dịch học ở dơi, tạo điều kiện cho các nghiên cứu phân tử RNA ở quy mô lớn được tiến hành, cung cấp phương pháp phân loại tế bào miễn dịch, đồng thời phần nào khắc phục tình trạng thiếu hụt các kháng thể đơn dòng. “Bộ gen sẽ là nền tảng cho muôn vàn nghiên cứu.” Marcel Müller, nhà vi rút học tại Bệnh viện Đại học Charité, Berlin, kỳ vọng.  Irvinig đang làm việc với dự án Bat1K nhằm mở rộng bộ sưu tập đến loài dơi móng ngựa Trung Quốc (Rhinolophus sinicus), chính là vật chủ có mối liên hệ mật thiết nhất với SARS-CoV-2. Họ đã giải mã được 10 bộ gen mới – bao gồm 4 bộ từ dơi móng ngựa, thuộc họ rhinolophid. Trong một bản thảo chưa qua bình duyệt đăng vào tháng hai, Irving, Telling và đồng nghiệp phát hiện rằng bộ gen của dơi chứa nhiều gen liên quan đến miễn dịch và trao đổi chất qua quá trình chọn lọc tích cực hơn là những loài động vật có vú khác. Một loại gen được chọn để xem xét kỹ hơn, ISG15 – đã biểu hiện protein kháng vi rút, đóng vai trò quan trọng trong hiện tượng viêm nhiễm tăng cường ở các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2.  Trong thí nghiệm tế bào, protein thuộc họ rhinolophid và hipposiderid được phát hiện thiếu các amino acid thông thường tìm thấy ở những động vật có vú khác. Khác biệt này cản trở protein rời khỏi tế bào, theo đó ngăn chặn kích hoạt phản ứng viêm. Loại protein này nắm giữ những bằng chứng quan trọng cho thấy phương pháp sống sót của dơi cùng vi rút, đồng thời truyền cảm hứng nghiên cứu cho các phương pháp trị liệu ở người.                            Một trong số các kỹ thuật tiên tiến nhất được ứng dụng nhờ bộ gen chất lượng cao là giải trình tự RNA đơn bào, trong đó các nhà nghiên cứu chọn một tế bào, sau đó phân tích thành phần RNA để khám phá các cấu tử của tế bào và cách thức hoạt động của chúng.  Tháng 11/2022, nhóm của Wang đã công bố kết quả xác định trình tự đơn bào đầu tiên của mình. Các nhà khoa học đã tiến hành lây nhiễm dơi mật hoa hang động với vi rút Pteropine orthoreovirus, một loại vi rút thường tìm thấy ở loài này nhưng không làm chúng nhiễm bệnh. Trong tế bào phổi của dơi, họ xác định dấu vết của rất nhiều tế bào miễn dịch quen thuộc, bao gồm cả tế bào T, cùng cả những tế bào ít quen thuộc khác.  Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đơn bào ở dơi chỉ đơn giản là danh mục hoạt động của tế bào miễn dịch. Trong một bài báo chưa được công bố, Schountz và đồng nghiệp đã gây nhiễm dơi quả Jamaican với vi rút cúm A H18N11 và quan sát xem tế bào nào sẽ bị nhắm đến. Họ phát hiện ra rằng vi rút đã nhắm đến đại thực bào – tế bào miễn dịch có nhiệm vụ tuần tra khắp cơ thể và ngấu nghiến những mầm bệnh – điều chưa từng được chứng kiến ở vi rút cúm A. Nghiên cứu đơn bào đem đến cho những nhà nghiên cứu một khởi đầu hứa hẹn về những thí nghiệm nuôi cấy tế bào chi tiết hơn. Schountz cho biết: “Ít nhất chúng đem đến cho bạn ý tưởng về nơi mà bạn nên bắt đầu tìm kiếm”.  Những nhà khoa học khác sử dụng chuỗi RNA để so sánh giữa tế bào dơi và tế bào người. Chẳng hạn, Jouvenet Nolwenn, nhà vi rút học tại Viện Pasteur, Paris, một người mới gia nhập vào ngành, đang kết hợp kỹ thuật này với công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR lên các dòng tế bào dơi từ nhiều loài để tìm kiếm sự khác biệt trong phản ứng miễn dịch của dơi và tế bào người. Sau cùng, Jouvenet hy vọng xác định được những gen chịu trách nhiệm kiểm soát việc nhân bản vi rút.  Đôi khi có những câu hỏi chỉ có dơi mới có khả năng giải thích. Schountz muốn thử nghiệm trên đàn của mình, liệu dơi ăn quả, không phải vật chủ tự nhiên của SARS-CoV-2, có thể chịu được vi rút này hay không. Do đó, nhóm của ông đã sử dụng một véc tơ vi rút để biểu thị thụ thể tế bào ACE2 mà SARS-CoV-2 sử dụng để xâm nhập vào tế bào phổi của dơi, sau đó lây nhiễm SARS-CoV-2 cho dơi. Họ phát hiện rằng dơi sản xuất các tế bào T hỗ trợ đặc biệt cho vi rút; những tế bào này đóng vai trò then chốt trong phản ứng miễn dịch đáp ứng có mục tiêu. Kích thích tế bào T tạo ra những protein nhỏ được biết đến với vai trò giảm viêm, giải thích hiện tượng phản ứng viêm ôn hòa ở dơi. Kết quả đã được đăng trên một bài báo vào tháng hai. Schountz đang lên kết hoạch xây dựng một cơ sở nuôi dơi mới sẽ khởi công vào tháng sáu và hoàn thành đến năm 2024, với phòng và nhà bay cho những loài dơi lớn như dơi quạ bay (Pteropus). Những nhóm khác cũng dự định gây dựng đàn, bao gồm một đàn cho dơi quả Jamaican tại Đại học bang Montana.  Trở lại Singapore, dưới ánh nắng giữa trưa gay gắt, kèm thời tiết nóng ẩm, bên trong Vivarium lại mát mẻ hơn đáng kể. Yroy và Foo đang nói chuyện lớn tiếng bên âm thanh ồn ào phát ra từ động cơ một chiếc máy bay bên ngoài.  Những con dơi không hề hoảng hốt, cuộn vào nhau, treo mình lộn ngược trên góc tối của chiếc chuồng, thỉnh thoảng lại phát ra tiếng kêu lách cách. Ông Foo nói: “Chúng đã quen với việc mọi người đến và dạo vòng quanh lồng,” Sáng sớm nay, Yroy đã trải những tấm nhựa mới để dọn phân và treo những bát nước ngọt. Sắp đến giờ ăn rồi. “Tính đến thời điểm hiện tại, đàn dơi khá hạnh phúc với cuộc sống này.”□      Đoàn Lê Uyên Kha dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-023-00791-x    Author                .        
__label__tiasang Đối đầu với dịch cúm      Những điểm bùng phát dịch cúm gia cầm tiếp tục xuất hiện ngày càng nhiều trên bản đồ, các lãnh đạo Chính phủ chia nhau đi khắp các tỉnh, thành để lo đối phó với dịch cúm, tin tức của các bệnh nhân cúm gia cầm cũng xuất hiện ngày một dày đặc hơn, số lượng người buôn bán gia cầm ít dần tại các thành phố lớn… Tất cả những diễn biến trên cho thấy chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ bùng phát thực sự của một đại dịch cúm chứ không còn chỉ là những mối lo tiềm ẩn nữa    Tập trung sức đối phó với dịch bệnh  Cách đây khoảng nửa tháng, trong cuộc họp thường kỳ tháng 10, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “Bằng giá nào cũng cố gắng tránh để dịch cúm gia cầm bùng phát”. Để làm được điều này, hàng loạt biện pháp cứng rắn đã được đưa ra: khoanh vùng các ổ dịch mới phát hiện để tiêu diệt gia cầm bị bệnh, hạn chế lây lan ra các vùng khác; giám sát bệnh dịch tại các thành phố lớn; cấm buôn bán gia cầm và các thực phẩm làm từ gia cầm tại các thành phố lớn. Hầu hết các thành viên của Chính phủ, trong đó có cả Thủ tướng và các Phó thủ tướng đều đã tới các địa phương trong cả nước để chỉ đạo trực tiếp việc phòng chống dịch bệnh. Toàn bộ hệ thống chính trị đã được huy động để tham gia vào việc ngăn chặn sự lây lan của dịch cúm gia cầm.   Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã công bố Kế hoạch hành động khẩn cấp, phòng và chống dịch gia cầm và đại dịch cúm ở người với 4 giai đoạn. Giai đoạn 1 bao gồm: xây dựng các phương án ứng phó với đại dịch, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường do dịch bệnh gây ra. Giai đoạn 1 là thực hiện các phương án cụ thể để cô lập, xử lý ô nhiễm môi trường tại các khu vực có dịch và các vùng phụ cận, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các qui định về tiêu huỷ, chôn lấp gia cầm và mai táng người chết do dịch bệnh (nếu xảy ra). Bên cạnh đó thiết lập đường dây nóng để kịp thời thu thập, xử lý thông tin về đại dịch phục vụ chỉ đạo chống dịch. Giai đoạn 3: duy trì 24/24h đường dây nóng kết nối thông tin giữa Ban chỉ đạo Quốc gia với các bộ, ngành và địa phương, với các nhóm tư vấn, các trạm quan trắc và cộng đồng; tiếp nhận và xử lý thông tin về đại dịch để báo cáo Ban chỉ đạo Quốc gia và Thủ tướng Chính phủ để giải quyết kịp thời các tình huống… Giai đoạn 4 (sau đại dịch): tổ chức đánh giá tổng thể về ô nhiễm môi trường, tính toán thiệt hại và dự báo rủi ro môi trường do đại dịch gây ra; công bố tình trạng môi trường, nguy cơ ô nhiễm môi trường và các rủi ro đối với sức khoẻ của cộng đồng; xây dựng kế hoạch làm sạch môi trường và phương án ứng phó khi dịch tái phát…           Việc giám sát việc lưu thông, buôn bán gia cầm cũng được xiết chặt trên toàn quốc. Trong ảnh là cảnh phun thuốc tiệt trùng cho gia cầm trước khi đưa ra thị trường. ảnh: Lê Anh Tuấn          Nỗ lực của các nhà khoa học  Viện Pasteur TP HCM vừa cho biết những mẫu virut H5N1 lấy từ người và gia cầm ở miền Nam trong đợt dịch đầu năm đã có những biểu hiện đột biến nghiêm trọng. Đặc biệt là một số đột biến gien đã cho phép loại virut này dễ sinh sản hơn trên động vật có vú. Những diễn biến lạ ở một số ca nhiễm virut gia cầm tử vong thời gian gần đây cũng khiến nhiều người lo âu. Tuy nhiên, giới khoa học vẫn chưa bình luận gì về các trường hợp tử vong gần đây vì các mẫu bệnh phẩm vẫn đang được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.  Những vấn đề cần thiết nhất hiện nay để phòng chống dịch gia cầm, đứng về mặt y học là có được vacxin phòng bệnh hoặc chí ít có đủ lượng thuốc Tamiflu để sử dụng khi cần thiết. Về mặt này, những diễn tiến cho thấy có nhiều tín hiệu lạc quan. Hãng dược phẩm Roche của Thuỵ Sĩ đã đồng ý để Việt Nam sản xuất dưới hình thức nhượng quyền thuốc Tamiflu và loại thuốc này sẽ được sản xuất trong vòng hai năm nữa tại Việt Nam. Roche cũng cam kết sẽ giúp thực hiện kế hoạch dự trữ, cung ứng thuốc điều trị và dự phòng (khoảng 25 triệu viên Tamiflu) đề phòng trường hợp đại dịch xảy ra. Bên cạnh đó, các nhà khoa học của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cũng khẳng định được rằng Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được vacxin phòng H5N1 (xem bài: Bao giờ có vacxin cúm gia cầm cho người).  Thiệt hại như thế nào khi đại dịch nổ ra  Theo ước tính của Bộ Y tế, khi đại dịch nổ ra sẽ có khoảng 8, 2 triệu người tại Việt Nam (10% dân số) có khả năng nhiễm virut cúm gia cầm biến thể. Với một số lượng người lớn như vậy, hệ thống y tế hiện tại ở Việt Nam hoàn toàn chưa đủ năng lực để đáp ứng khám và chữa cho các bệnh nhân. Những kế hoạch được đưa ra là sẽ sử dụng các trường học hoặc doanh trại dã chiến để làm nơi điều trị cho bệnh nhân khi đại dịch xảy ra. Về mặt kinh tế, Ngân hàng Thế giới cho rằng đại dịch cúm gia cầm có thể gây thiệt hại cho Việt Nam khoảng 0,1% tổng thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, cũng có những dự báo khác cho rằng con số này có thể còn lớn hơn. Các ngành dịch vụ đầu tiên sẽ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất sẽ là giao thông và du lịch.  Theo các chuyên gia y tế, điều cần thiết nhất hiện nay là người dân phải tự bảo vệ mình trước dịch cúm gia cầm, theo dõi sát sao các thông tin thời sự và không nên tiêu thụ thịt gia cầm cũng như các thực phẩm làm từ gia cầm. A.T    Những điều cần biết về cúm gia cầm   -Hiện có tới 15 chủng cúm gia cầm khác nhau trong đó các chủng dễ lây lan nhất là H5 và H7. Tuy nhiên, khả năng gây tử vong cao nhất là virut H5N1. Các chuyên gia y tế hiện lo ngại nhất là khả năng virut cúm gia cầm kết hợp với virut gây cúm ở người để trở thành một biến thể mới lây từ người sang người. Trong trường hợp này, đại dịch sẽ nổ ra không chỉ ở Việt Nam mà cả trên phạm vi thế giới.  – Triệu chứng mắc bệnh: khi nhiễm virut H5N1, người bệnh có thể bị sốt cao, đau họng và ho. Sau đó đường hô hấp sẽ bị viêm nhiễm, huỷ hoại và có thể dẫn tới tử vong. Các trường hợp mắc bệnh tại Việt Nam cho thấy virut cúm gia cầm có thể ảnh hưởng tới nhiều bộ phận chứ không chỉ riêng phổi  – Hiện chưa có một loại vacxin nào hiệu quả để ngừa hữu hiệu cúm gà do H5N1 gây ra. Các loại vacxin hay thuốc kháng virut (như Tamiflu) chỉ có thể hạn chế biểu hiện của bệnh cúm hay giảm khả năng lây lan chứ hoàn toàn không có khả năng chữa trị lành bệnh. Một số trường hợp bệnh nhân đã cho thấy có khả năng cơ thể nhờn thuốc Tamiflu, như vậy loại thuốc này chưa hẳn là thứ cần phải tích trữ trong gia đình và sử dụng một cách bừa bãi. Cách tốt nhất khi phát hiện ra các triệu chứng nhiễm bệnh là tới các cơ sở y tế gần nhất để các nhà chuyên môn can thiệp.  (Theo WHO)    Anh Trí      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối đầu với thử thách      Trên con đường học thuật, các bạn trẻ làm toán hiện nay có rất nhiều cơ hội để tiến thân đồng thời cũng có không ít thách thức. Thách thức dễ thấy nhất là sự cạnh tranh quyết liệt. Nhưng thách thức nghiêm trọng hơn, ít được nhận ra, đó là sa đà vào cái dễ, ngại đối đầu với thử thách.      Dự mít tinh kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, Minsk,  tháng 11/1977. Từ trái sang: GS. Nguyễn Quốc Thắng, TS. Tạ Hồng Quảng (huy chương Đồng IMO 1974), tác giả, GS. Phạm Đức Chính. Ảnh: NVCC.  Một buổi chiều đầu tháng bảy năm 1989, nhận được tin nhắn của GS. Ngô Huy Cẩn, tôi ra sân bay Schoenefeld của thủ đô Đông Đức lúc bấy giờ để gặp Ngô Bảo Châu đi thi Toán quốc tế – được tổ chức tại thành phố Braunschweig (Tây Đức). Máy bay đến hơi muộn. Hai thầy hướng dẫn đoàn là GS. Đoàn Quỳnh và thầy Phạm Văn Hùng cho tôi biết sẽ có xe Sứ quán ra đón. Sau hơn một giờ, trời bắt đầu nhá nhem, trở lạnh, mà vẫn không có xe. Tôi đành ra cây điện thoại gọi hỏi sứ quán, thì lúc đó họ mới tá hoả lên bảo không hề nhận được thông tin gì. Họ hẹn sẽ bố trí xe và nhắn Đoàn cứ chờ. Nếu vậy, ít nhất các em phải chờ thêm hơn một tiếng nữa. Vì vậy tôi quyết định chiêu đãi gọi ba taxi để đưa Đoàn về. Đó là lần đầu tiên tôi sử dụng taxi, và thấy cũng liều, vì không biết đắt rẻ thế nào. May mà mất chưa đến 30 Mark tiền Đông Đức thời bấy giờ.  Kể lại kỷ niệm trên để nói rằng thời đó đi nước ngoài làm gì có một xu ngoại tệ dính túi. Không chỉ vì nghèo, không có chỗ đổi tiền trong nước, mà nếu ai đó được tặng dăm ba đồng ngoại tệ, cũng không dám đem đi. Vì nếu lén lút đem đi để dự phòng, lên đến sân bay mà bị hải quan phát hiện ra thì thôi rồi, đừng nói đến chuyện xuất ngoại nữa. Đi nước ngoài, không một xu dính túi, nên luôn phải bố trí người đón. Lạ một nỗi, khi đó người Việt lấy đâu ra điện thoại tư (dù là điện thoại bàn), chỉ qua thư từ, mà hầu như đều liên lạc, đón được trơn tru! Đương nhiên thời đó cụ Google chưa ra đời, trục trặc với chuyện đón đưa thì dở khóc, dở cười. Không ít người, trong đó có tôi, đã bị một số lần rơi vào hoàn cảnh đó. Thế mà không hiểu sao vẫn thoát ra được, vẫn đi đến nơi, về đến chốn! Bây giờ mỗi lần nhớ lại vẫn phát hoảng.  Một số người khi làm luận án tiến sĩ có năng lực rất tốt. Thế nhưng sau khi bảo vệ, vẫn cứ gặm nhấm mấy vấn đề tương tự. Số công bố cứ ra đều đều, cá biệt có người mỗi ngày một tăng tốc. Nhưng chất lượng thì cứ giảm. Không phải là xuống dốc không phanh để cho người đó nhận ra, tránh đi, mà nó xuống từ từ. Đến khi biết thì do đã quen với sự dễ dãi, không còn khả năng để làm vấn đề nghiêm túc nữa. Tự bản thân đã trở thành người tầm thường.  Dù sao, chuyện đi lại chỉ diễn ra chốc lát. Chuyện học hành đương nhiên phiêu lưu hơn nhiều. Phần lớn nghiên cứu sinh khi được Nhà nước cho ra nước ngoài học không hề biết tên thầy hướng dẫn của mình là gì. Thầy hướng dẫn là do Đại sứ quán của nước sở tại đàm phán, liên hệ với các trường, đương nhiên thông qua Bộ Đại học ở đó. Còn sau khi đã tốt nghiệp đại học hay nghiên cứu sinh về, việc liên hệ với thầy cô vô cùng khó vì một chiều thư đi, về, nếu không bị thất lạc (chuyện thường tình như thiếu ăn khi đó), thì thường cũng mất 2-3 tháng. Tài liệu đương nhiên là gần như bằng không. Khi thấy một bài báo hay, gửi thư xin tác giả, nếu thư không thất lạc, thì thường 5-6 tháng sau mới nhận được tài liệu đó. Đó là không kể giữa cái sống và chết thời chiến tranh, mọi việc còn khó gấp trăm, gấp nghìn lần.  Giữa vô vàn khó khăn như vậy, nhiều bậc cha chú và anh chị thế hệ trước tôi, cũng như thế hệ tôi đã từng bước đi lên, hòa nhập vào cộng đồng khoa học thế giới. Để rồi không lâu sau đó, thế hệ đàn em (về mặt tuổi thôi) đã nhanh chóng vươn lên trong nhóm đỉnh cao của thế giới. Trong giới toán học, có thể kể đến (theo tuổi) Phạm Hữu Tiệp, Lê Tự Quốc Thắng, Vũ Hà Văn, Ngô Bảo Châu, Đinh Tiến Cường và nhiều người khác nữa.  Ngày nay, các bạn trẻ muốn đi theo con đường học thuật, gặp nhiều thuận lợi. Từ khi lọt lòng, nhiều em đã được bố mẹ lên kế hoạch và tạo mọi điều kiện để bồi dưỡng thành các sao, thậm chí là siêu sao. Việc được học với các thầy cô giỏi nhất của vùng ở mọi cấp học không phải là chuyện khó khăn. Kết thúc từng cấp học, kể từ Trung học cơ sở, muốn đi du học đều có người giới thiệu đến những trường tốt và thầy cô hướng dẫn rất giỏi. Không phải cảnh tù mù như ngày trước. Chuyện tiền nong thì không bao giờ có cảnh như ở đầu bài này. Nếu bố mẹ không đủ tiềm lực tài chính để bao, mà có học lực tốt, thì cũng có rất nhiều cơ hội kiếm được học bổng du học. Thông tin liên lạc thì khỏi phải nói: ngồi tại nhà cũng biết rõ từng góc phố mà mình sẽ tới nơi để học/làm việc, …. Ai đó chưa có điều kiện du học nước ngoài, thời gian học đại học, cao học, thậm chí nghiên cứu sinh trong nước, vẫn có thầy cô hướng dẫn trình độ cao – những người hướng dẫn mà rất nhiều người thế hệ chúng tôi ngay khi học ở nước ngoài cũng không có nổi. Học hoặc làm một thời gian trong nước, được giới thiệu đi nước ngoài tới những trường viện đầu ngành, một số bắt kịp được ngay với đề tài nghiên cứu ở đó. Sau khi bảo vệ tiến sĩ, có nhiều cơ hội xin việc làm ở các trường đại học, viện nghiên cứu khắp thế giới, đương nhiên trong đó có nhiều trường đại học hàng đầu ở Việt Nam luôn luôn chào đón. Cá biệt, có những người nhanh chóng thành đạt, trở thành chuyên gia xuất sắc.   Điển hình gần đây là anh Phan Thành Nam, quê Phú Yên. Anh học phổ thông tại trường THPT Lương Văn Chánh, Phú Yên. Dù có đạt giải nhì môn Toán trong Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia (năm 2002), nhưng chưa đến mức siêu sao để được tham dự đội tuyển IMO. Anh học đại học tại Đại học Khoa học Tự Nhiên – Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, và tốt nghiệp lúc 22 tuổi. Có nghĩa là rất chính quy! Tuy nhiên, sau đó một năm, anh nhận học bổng sang Đan Mạch làm tiến sĩ tại Đại học Copenhagen. Ba năm sau, anh bảo vệ luận án tiến sĩ Toán – Lý. Câu chuyện có vẻ không có gì đột biến. Thế nhưng, chỉ ít lâu sau, vào năm 2017, khi mới 32 tuổi, anh được nhận làm giáo sư (hạng W2) – một vị trí rất khó đạt được – tại Đại học Ludwig Maximilian Munich ở CHLB Đức. Đây là một bất ngờ lớn và tên tuổi của anh lập tức được giới Toán học Việt Nam biết đến. Đặc biệt hơn, năm 2020, GS. Phan Thành Nam là một trong 10 nhà toán học nhận được Giải thưởng của Hội Toán học Châu Âu, trao 4 năm một lần cho những nhà toán học tài năng dưới 35 tuổi có quốc tịch châu Âu, hoặc làm việc tại đó. Anh đã thực sự trở thành ngôi sao.    GS. Phan Thành Nam và GS. Mathieu Lewin, người đồng hợp tác với anh trong các nghiên cứu về khí Bose, tại Đại hội Vật lý Toán quốc tế ICMP Montreal năm 2018, sau khi GS. Phan Thành Nam nhận giải thưởng Nhà khoa học trẻ của Hội quốc tế về vật lý ứng dụng và lý thuyết (IUPAP). Ảnh: NVCC.  Những trào lưu kể trên không chỉ diễn ra trong giới Toán, mà ở tất cả các ngành nghề. Ai chẳng biết nhạc sĩ Đặng Thái Sơn hay nhà vật lý Đàm Thanh Sơn,… Hơn thế nữa, ngày nay, sau khi tốt nghiệp đại học, thậm chí sau tiến sĩ thuộc loại giỏi, không phải ai cũng muốn tiếp tục con đường hàn lâm. Đó là chuyện thường tình. Với các bạn này, khả năng lựa chọn tiếp theo còn phong phú gấp nhiều lần. Ai cũng có thể tìm ra những tấm gương sáng giá trong số những người không xa mình lắm. Có thể nói một cách ngắn gọn là các bạn trẻ hiện nay có rất nhiều cơ hội để tiến thân.  Nói như vậy, không phải không có thách thức. Ở đây tôi chỉ đề cập đến một vài thách thức đối với những bạn theo đuổi con đường hàn lâm. Thách thức dễ thấy nhất là sự cạnh tranh quyết liệt. Sự thuận lợi với mình cũng là thuận lợi với tất cả người khác trên hành tinh này. Vì vậy, khi phát hiện ra một vấn đề hay mà không tập trung sức lực vào để nghiên cứu, giải quyết, thì rất dễ bị chậm hơn người khác. Và như vậy là mất một miếng mồi ngon!   Nhưng thách thức nghiêm trọng hơn, ít được nhận ra, đó là sa đà vào cái dễ, ngại đối đầu với thử thách. Không đối đầu với thử thách, không thể làm được việc lớn. Chuyện xảy ra khá đại trà, trong nhiều gia đình, là chuyện được bố mẹ “ôm” từ nhỏ. Hơi gặp khó một tý – dù là giải bài tập, hay bị cảnh sát phạt vi phạm luật đi đường – là đã được ông bố hay bà mẹ đứng ra “giúp”, “đỡ”. Đó là những chuyện dài nhiều tập, dông dài, lại toàn chuyện trẻ con. Dưới đây tôi muốn kể vài chuyện nghiêm túc.  Tối hôm đoàn Việt Nam tổ chức chúc mừng GS. Ngô Bảo Châu được trao Giải thưởng Fields danh giá tại Hyderabad, Ấn Độ, thầy hướng dẫn luận án – GS. Laumon – phát biểu, đại ý: biết anh Châu rất giỏi, nên đã giao anh một đề tài rất khó đề làm luận án tiến sĩ. Hơn hai năm – trong thời hạn ba năm làm nghiên cứu sinh – trôi qua, anh Châu vẫn không tìm ra cách giải quyết. Ông rất băn khoăn, vì khi hết hạn, nếu tiếp diễn như vậy, anh Châu sẽ về nước mà không có tấm bằng nào. Trong khi đó, ông thừa biết, giao cho một đề tài khác tuy khó, anh Châu có thể dễ dàng làm xong trong vòng sáu tháng. Đã có lúc lung lay, nhưng cuối cùng ông vẫn kiên quyết giữ nguyên ý định ban đầu. Bởi ông bảo, nếu thối chí, ông sẽ mất một học trò xuất sắc. Thực tế đã chứng minh ông đúng: sáu tháng trước khi hết hạn, anh Châu tìm ra cách giải quyết – và đó là bước khởi đầu làm nên sự nghiệp xuất sắc sau đó của GS. Ngô Bảo Châu.  Tôi biết một số người khi làm luận án tiến sĩ có năng lực rất tốt. Thế nhưng sau khi bảo vệ, vẫn cứ gặm nhấm mấy vấn đề tương tự. Số công bố cứ ra đều đều, cá biệt có người mỗi ngày một tăng tốc. Nhưng chất lượng thì cứ giảm. Không phải là xuống dốc không phanh để cho người đó nhận ra, tránh đi, mà nó xuống từ từ. Đến khi biết thì do đã quen với sự dễ dãi, không còn khả năng để làm vấn đề nghiêm túc nữa. Tự bản thân đã trở thành người tầm thường. Nguy hiểm hơn nữa, nó kéo theo một số sinh viên có năng lực thấy thầy nọ, thầy kia sản xuất ra nhiều bài, hướng dẫn bạn nào bạn đó cũng ra bài ầm ầm, liền cắp sách đến theo. Rồi cũng đăng bài, rồi ảo tưởng. Nhưng làm sao mà có ý tưởng trong những bài như thế? Sau một thời gian ngắn mới nhận ra thực tế phũ phàng chẳng ai coi trọng mình. Đi xin việc thành ra khó khăn.   Nhận biết được cái dở trong thách thức trên không hề đơn giản. Thậm chí đôi khi ngược lại, có người còn biến thành một cách làm béo bở. Mấy năm gần đây, một số “chuyên gia” sản xuất bài kiểu trên được trả nhiều tiền nhờ việc đăng bài nhưng lấy địa chỉ ở nơi mình không làm việc hay cộng tác – mà có người gọi thẳng là bán bài. Ở đây tôi không bàn đến tính liêm chính trong khoa học, và cũng không hề có ý định khuyên nhủ những “chuyên gia” như vậy thôi làm chuyện đó – một việc hầu như bất khả thi. Điều tôi muốn nói với các bạn trẻ rằng đó không những không phải là con đường làm khoa học, mà cách kiếm sống kiểu dễ dãi đó không kéo dài được đâu. Trót dại lao vào chiều hướng đó là một cách làm thui chột khả năng và cơ hội của mình nhanh nhất.  Không có cơ hội thì không thể thành đạt. Nhưng không có thành công nào mà không trả bằng mồ hôi và nước mắt. Trên đường đi của mỗi người thế nào cũng xuất hiện chướng ngại vật rất lớn. Những thời điểm đó, phải kiên trì, biết dũng cảm vượt qua, thì mới đi đến đích! Tránh thách thức bằng cách đi đường vòng, vô tình đánh mất cơ hội của mình.□    Author                Lê Tuấn Hoa        
__label__tiasang Đôi điều về nghiên cứu tiểu sử: Đằng sau chân dung quen mắt      Điều nhận thấy trong cách viết tiểu sử nhân vật ở Việt Nam thời xưa là tính “đồng phục hóa”. Các giá trị thường được quy về hai cực tốt đẹp – xấu xí; còn tính cá biệt, sự khác biệt, cái độc đáo thuộc phần thiểu số không được ghi chép lại. Nhân vật được chọn để viết tiểu sử đã được mặc định là khuôn mẫu cho số đông, văn bản tiểu sử với giá trị mặc định là “lưu truyền vạn đại” lại còn được cân nhắc, chọn lọc, chỉnh sửa kỹ càng hơn, bất chấp nguy cơ khác xa thực tế. Trong bầu không khí xã hội như thế, tác giả viết tự truyện khó có nhiều đột phá. Chưa kể, tác giả tự truyện dù cho dám bộc lộ bản thân, thì văn bản ấy có thể còn phải trải qua nhiều cửa ải “kiểm duyệt” của gia tộc, cộng đồng… trước khi được lưu hành, công bố.  Trường hợp tiểu sử-tự truyện nhân vật giai đoạn thuộc Pháp sau đây, được nhìn từ giác độ là sử học, góp phần nhấn mạnh thực tế đa dạng hơn quan niệm hai cực trong bối cảnh xã hội Việt Nam thuộc địa.      Những tên lính phía thực dân Pháp dìu một số tên bị thương khi giao chiến với Nghĩa quân Yên Thế, ngày ghi trên ảnh là 11/02/1908. Nguồn ảnh: https://www.cartacaro.fr/spip.php?article502).  Lê Hoan (1857-1915) xuất thân võ tướng, cũng là một tác giả sử học, tác giả tiểu thuyết lịch sử Việt Lam xuân thu (Roman historique sur l’insurrection deLam Sơn contre l’invasion de la Chine en XVe siècle), trong đó ông “bày tỏ lập trường minh bạch đối với những tấm gương yêu nước chống ngoại xâm”. Lê Hoan từng đảm nhiệm Khâm sai tại Bắc kỳ của Hoàng đế Nam triều, từng được giới chức Pháp tại Đông Dương hy vọng là quan chức đủ năng lực giải quyết phong trào đối kháng quân sự của thủ lãnh địa phương là Hoàng Hoa Thám (?-1913) đã kéo dài ở thượng du Bắc Kỳ hàng chục năm. Với kinh nghiệm ba thập niên giao tranh quân sự với người Pháp trong địa bàn miền núi phía Bắc Việt Nam, Hoàng Hoa Thám và phong trào của ông là một trong những mối lo của chính phủ bảo hộ Pháp ở Đông Dương. Theo quan điểm chính thống trong giới sử học, Hoàng Hoa Thám được nhìn nhận và khảo cứu theo hướng chủ đạo là anh hùng dân tộc. Trong hồ sơ lưu trữ Pháp, nhân vật này được gọi là “kẻ nổi loạn”. Tự thuật của Lê Hoan từ vị trí của vị tướng dẹp loạn sẽ có khả năng góp phần nhận thức rõ nét hơn về cả hai nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi này.    Lê Hoan với thâm niên cầm quân dẹp yên nhiều cuộc khởi nghĩa chống chế độ bảo hộ Pháp ở Bắc Kỳ, từ năm 1909 được chính phủ Nam triều và chính phủ bảo hộ Pháp trao trọng trách dẹp loạn này. Sau 7 tháng cầm quân từng trải 4 tỉnh miền núi lam sơn chướng khí, Lê Hoan trở thành nhân vật chịu đánh giá xấu của cả hai phía Đại Nam và Pháp quốc. Ông được mô tả là “kẻ bất hảo”, “kẻ phản quốc”, kẻ ăn “hối lộ”. Nhiều cơ quan báo chí đương thời được chính phủ thuộc địa Pháp bật đèn xanh, đã mở chiến dịch công kích Lê Hoan.    Văn bản tự truyện của Lê Hoan có tên Tuyết thư 雪書 [thư rửa oan], hiện tại nằm trong Văn khố hải ngoại Pháp, được ông soạn bằng Hán văn vào ngày 21 tháng Ba âm lịch năm 1910, nhằm gửi tới chính quyền bảo hộ Pháp ở Đông Dương và các tòa báo. Đây là những đối tượng đương thời ráo riết nhất đưa ra những lời kết tội nặng nề đối với Lê Hoan. Sức ép dư luận này lớn tới mức, nhân vật bộc bạch :  “Tôi dù đang bệnh, bất đắc dĩ phải dốc lòng cho tỏ với nước nhà cùng các bậc chính nhân quân tử để cùng biết cho”.    Cần nói thêm, trước khi công bố thư tự giải oan này, cùng trong năm 1910, vào ngày 19 tháng Hai âm lịch, Lê Hoan đã gửi tờ trình tới Thống sứ Bắc Kỳ để thông báo. Trong đó, ông cho biết việc công bố Tuyết thư tự thuật hành trạng của bản thân là để dư luận có thể so sánh với những lời công kích, từ đó tự phân biệt thực giả.    Trong khi quan sát cách đánh giá lịch sử của hậu thế, cần tránh bị ảnh hưởng của tư duy hai cực : tốt – xấu, thiện – ác. Để xây dựng tiểu sử nhân vật với tư cách là một phần chân thực của lịch sử, còn cần thoát khỏi ham muốn phải kiến tạo hình tượng anh hùng, thần thánh, toàn mỹ.    Theo tự thuật, trong thời gian cầm quân giao chiến với Hoàng Hoa Thám, Lê Hoan đạt được nhiều thành tựu: giết được một người con trai của Hoàng Hoa Thám (là Cả Trọng), khiến được một người con trai khác của thủ lĩnh họ Hoàng (là Cả Dinh) ra hàng, hơn một lần khiến Hoàng Hoa Thám cùng vợ ba bỏ chạy khỏi căn cứ, rồi bắt sống được người vợ rất thông minh này (là Đặng Thị Nhu). Các chi nhánh thuộc lực lượng chống đối của Hoàng Hoa Thám mau chóng tan rã trong vòng 7 tháng Lê Hoan cầm quân chinh phạt. Chỉ còn Hoàng Hoa Thám khéo ẩn náu nên chưa thể bắt sống. Thực tế, phong trào chống đối của Hoàng Hoa Thám tính đến năm 1910 này đã kéo dài 30 năm. Lê Hoan tự tin bản thân đã làm được không ít trong thời gian ngắn. Trong khi đó, mức độ đố kỵ mà dư luận dành cho ông lại tăng cao:    “Có kẻ thuê tòa báo ra hẳn chuyên san, có kẻ đặt điều rằng tôi thông đồng với Hoàng Hoa Thám mà không giao chiến. Hoặc có kẻ nói khi giao chiến, quân của Thám đầu hàng quân của tôi để kiếm thức ăn. Hoặc có người thêu dệt việc tôi kiếm người khác giả làm Cả Dinh ra hàng. Hay là có kẻ đặt điều Cả Dinh trá hàng… Tôi còn nhận được điện của ngài Thống sứ cho biết có một vị đại quan âm mưu xúi giục những người đã đầu thú làm phản, [nhắc tôi] hãy cẩn thận phòng thủ, chớ có lòng nghi ngại. Như thế ắt là ngài Thống sứ đã biết người ấy. Xem thế mới hay, lòng người hiểm hơn sông núi”.  Tự thuật của Lê Hoan thẳng thắn nhận định về hai quan chức Toàn quyền Đông Dương kế nhiệm nhau:    “Từ buổi đầu Tân Toàn quyền là Picquié tới Hà Nội, những người đố kỵ [tôi] kẻ vào cửa trước, kẻ luồn cửa sau, đặt điều sàm tấu. Có kẻ nói Hoàng Thám chỉ là giặc cỏ mà ngài Toàn quyền trước vì tham công đã cử đại quân, đến mức tổn hại ngân sách quốc gia; lại sinh sự mà đặt chức Khâm sai, không những hại nước mà còn bán bằng sắc, thu về hơn mười vạn bạc chia đều với ngài Thống sứ [Bắc Kỳ], đều là việc sai lầm của ngài Toàn quyền trước. Lời nói ấy có ý muốn triệt Thống sứ, bỏ Khâm sai, đổ lỗi cho ngài cựu Toàn quyền để [ngài] không thể quay lại [Đông Dương].”    Lê Hoan cũng không ngại thẳng thắn xác nhận ưu điểm trong đường lối dân vận của Hoàng Hoa Thám – đối thủ trên chiến trường.     “… vốn trước đây Hoàng Thám  ở vùng Yên Thế chi nhiều tiền bạc tu tạo đình chùa các xã, lại cấp cho [dân] trâu cày, cho [dân] vay tiền bạc, không nơi nào không tạo ơn nên thu được lòng trung thành [của dân]. Vì thế khi Hoàng Thám đến, dân dù chết cũng không khai báo… Tôi ở Yên Thế hơn ba tháng trời không thấy một ai khai báo một việc gì. Tôi tra xét được có 6 người trong hạt này thông đồng với Hoàng Thám, ngầm đem lương thực thực phẩm tặng cho giặc cướp. Bèn xử án lưu đầy, nhưng dân kiên quyết xin phóng thích.”    Không thể phủ nhận, Hoàng Hoa Thám giữ một vị trí đáng kể, thậm chí là một nhân tố chính yếu gây trắc trở cho sự nghiệp chính trị của đại quan chức Lê Hoan. Một phần quan trọng trong sự nghiệp của Lê Hoan gắn liền với phong trào chống chính phủ của Hoàng Hoa Thám.      Nghiên cứu tiểu sử Lê Hoan có thể cho thấy mối quan hệ giữa ông và nghĩa quân Yên Thế. Ảnh: Công sự phòng thủ của Đề Thám. Nguồn ảnh: https://www.cartacaro.fr/spip.php?article502  Trước đây, giới nghiên cứu trong và ngoài Việt Nam nghiên cứu về lập trường chính trị của Lê Hoan từng xôn xao khi Charles Founiau công bố lá thư mật mà Lê Hoan trao đổi với Hoàng Hoa Thám về chủ trương hòa hoãn hay đối đầu với người Pháp. Bức thư nằm trong Văn khố hải ngoại này càng khiến những người tin rằng Lê Hoan là nhà ái quốc, âm thầm kết giao với những lực lượng khởi nghĩa bản địa như Hoàng Hoa Thám và việc ông phục vụ người Pháp chỉ là kế sách tạm thời có thêm căn cứ.     Nhưng trong Tuyết thư do Lê Hoan viết, ông xác định để “an dân lành”, “tôi chỉ biết dẹp yên giặc loạn, làm hết chức phận của mình” khi đã được giao phó. Với bản tự sự của Lê Hoan, có vẻ tư liệu mới này không đáp ứng được sự chờ đợi theo lối truyền thống của dư luận ở Việt Nam. Bản tự sự không góp phần xác quyết được lập trường chính trị của Lê Hoan: theo Pháp hay chống Pháp. Nó chỉ tô đậm thái độ cương quyết của một quân nhân trên chiến trận, xác định minh bạch mục đích lâm trận là vì sự yên ổn của dân lành. Thái độ này có vẻ không phù hợp với tập quán trong xã hội Việt Nam đương thời, thậm chí không phù hợp cả với quan điểm lịch sử của giới nghiên cứu sử học chính thống ở Việt Nam thế kỷ XX. Nỗi uất ức của tác giả được thể hiện đậm màu trong Tuyết thư nhấn mạnh sự bấp bênh của số phận con người trong xã hội nhiều biến động ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX. Một tương lai “lên voi xuống chó” có thể chờ đợi bất cứ ai, không phân biệt quan chức hay dân thường.  ***   Thực tế, cần chú ý những vấn đề gì trong công việc khảo cứu về tiểu sử nhân vật giai đoạn quân chủ-thuộc pháp? Việc xây dựng chân xác tiểu sử của Lê Hoan hay bất cứ nhân vật nào đều cần nhận thức sâu sắc về bối cảnh của xã hội, phương cách tư duy của nhân vật và tập quán tư duy của dư luận thời ấy. Để tiếp cận tư liệu viết, sự am hiểu các văn tự Hán-Nôm-Pháp văn-Quốc ngữ là yếu tố thuận lợi đáng kể, bởi đây là bốn loại chữ viết được đồng thời sử dụng ở đương thời, mặc dù sự chênh lệch về tần suất giữa chúng.     Trong khi quan sát cách đánh giá lịch sử của hậu thế, cần tránh bị ảnh hưởng của tư duy hai cực : tốt – xấu, thiện – ác. Để xây dựng tiểu sử nhân vật với tư cách là một phần chân thực của lịch sử, còn cần thoát khỏi ham muốn phải kiến tạo hình tượng anh hùng, thần thánh, toàn mỹ.       Một trang trong tài liệu lưu trữ tự bạch của Lê Hoan.   Cần những điều này trong khi hướng tới sự chân xác của tiểu sử nhân vật, bởi vì đã có nhiều kinh nghiệm được rút ra trong khảo cứu thư tịch cổ Việt Nam thời quân chủ cũng như trong khảo cứu lịch sử đảng phái ở Việt Nam đương đại. Kinh nghiệm đó là: khi tiểu sử một nhân vật được tái tạo với mục đích làm biểu trưng cho một tập thể, hoặc đại diện cho ý đồ của một số đông, tiểu sử ấy có xu hướng bị hư cấu hóa.     Ngoài ra, việc nghiên cứu tư liệu về những người dân thường không nhiều tiếng tăm cũng sẽ mang lại những bức tranh thú vị về lịch sử. Họ tên và lai lịch của một thường dân nào đó được nhắc tới trong châu bản, hành trạng chi tiết của một thường dân nào đó được tập hợp thành hồ sơ riêng, lời khai của một người lính quèn về dự định sâu kín của một vị vua trên đường tỵ nạn,… đều có thể hé mở những điểm nhìn bất ngờ về quá khứ. Sử liệu được nhìn nhận khách quan có thể dẫn dắt tới những trang tiểu sử nhân vật đậm vị đời thực, không trang điểm.□  ——–  Tài liệu tham khảo  Fonds des Amiraux – GGI (Archives nationales d’outre-mer – ANOM, France)   Fonds du Gouvernement général de l’Indochine – GGI (ANOM, France)   Fonds de la Résidence Supérieure du Tonkin – RST (ANOM, France)   Fonds de la Résidence Supérieure en Annam – RSA (ANOM, France)  Fonds Ministériels – FM (ANOM, France)  – Khổng Đức Thiêm (2014), Hoàng Hoa Thám. Hà Nội : Tri Thức.  NGUYỄN Thế Anh,  Le genre autobiographique dans la littérature vietnamienne, à travers les mémoires de Phan Bội Châu.   Trong En suivant la Voie Royale. Mélanges en hommage à Léon Vandermeersch, chủ biên bởi Jacques Gernet et Marc Kalinowski (Paris, EFEO, Études thématiques n° 7, 1997), tr.. 333-342.  Tái bản trong Nguyễn Thế Anh, Parcours d’un historien du Viêt Nam, Paris, Les Indes Savantes, 2008, tr. 887-896  – Vũ Xuân Mai và Lê Hoan,Việt Lam xuân thu (1908). Trần Nghĩa (dịch), Hà Nội: Thế Giới, 1999  – Thư của Charles Founiau (1998), Tạp chí Xưa và nay, số 55.  – François Dosse (Cao Việt Dũng traduction), Nghìn lẻ khuôn mặt của tiểu sử.  https://phebinhvanhoc.com.vn/nghin-le-khuon-mat-cua-tieu-su/    Author                Việt Anh        
__label__tiasang Đời du mục ở Ấn Độ      Cuộc sống của 80 triệu người dân du cư Ấn Độ đang bị đe dọa khi bản sắc của các tập tục truyền thống ngày càng bị thế giới hiện đại lấn át.      Ở thời quá khứ huy hoàng của mình, người Gadulia Lohar chính là những người rèn vũ khí cho các vị vua Hindu. Ngày nay, những lò rèn chỉ còn thấy ở những ngôi làng nhỏ ở Ấn Độ và chúng được dùng để chế tạo những đồ gia dụng đơn giản từ những phế thải kim loại.  Tôi tới một ngôi làng làm nghề rèn như vậy ở bang Rajasthan, nằm phía Tây Bắc Ấn Độ vào một ngày ấm áp của tháng Hai. Khi tới gần ngôi làng, đàn ông, đàn bà và cả trẻ con ùa ra, vây quanh tôi. Họ túm lấy túi đồ của tôi, xé ra và làm tung cả những bánh xà phòng tôi mang theo xuống các vũng nước bẩn. Những xoáy bọt tròn từ bên dưới nổi lên, vỡ ra rồi dạt vào gờ của các vũng nước. Ít nhất, quang cảnh đó cũng khiến một đứa trẻ lớn tuổi ngừng khóc.  Người Gadulia Lohar (tiếng Hindi gaadi, nghĩa là xe bò và lohar nghĩa là lò rèn) là trong số những nhóm người du cư được biết đến nhiều nhất ở Ấn Độ. Họ đã sống cuộc đời du cư từ hàng trăm năm, thậm chí cả nghìn năm nay. Họ nổi tiếng với những trang phục như đội mũ xếp lớn và đặc biệt rất thân thiện với lạc đà. Một số người trong họ làm nghề săn bắn và hái lượm. Số khác thì lại làm dịch vụ như buôn muối, bói toán, huấn luyện rắn, pháp sư, thầy lang… Có người thì lại làm xiếc, leo dây, nhào lộn, làm đá mài, làm nghề kể chuyện, chữa bệnh cho thú vật, làm nghề xăm mình… Các nhà nhân chủng học đã xác định được khoảng 500 nhóm người du cư ở Ấn Độ, với dân số lên tới 80 triệu người và chiếm khoảng 7% tổng số dân của đất nước hơn tỉ dân này.    Nhóm người bị thua thiệt  Những người du mục luôn là một phần của Ấn Độ. Họ sống rất hòa thuận với những người dân ở ngôi làng nằm dọc đường du cư của họ. Vào thế kỷ 19, thái độ này bắt đầu thay đổi. Giới cầm quyền Anh coi họ như là những kẻ tội phạm lang thang và đặt họ dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa. Quá trình hiện đại hóa nhanh chóng của Ấn Độ với sự hình thành các trung tâm dịch vụ (call centers) và những nhãn hiệu cuốn hút giới trẻ đã khiến những người du mục trở thành kẻ thua cuộc. Bị xé lẻ và cách biệt bởi địa vị xã hội, ngôn ngữ và vị trí địa lý, những người dân du mục đã bị các nhà chính trị bỏ quên và ít được hưởng lợi ích từ các hệ thống phúc lợi xã hội.  Chỉ riêng chuyện định nghĩa được khái niệm “du cư” đã là vấn đề đau đầu ở Ấn Độ. Nhiều nhóm du cư phù hợp với các tiêu chí mà định nghĩa đưa ra thì hiện lại đang trong tiến trình, theo các nhà nhân chủng học gọi là “hướng tới định cư” (sedentarization). Ấn Độ hiện vẫn còn là một xã hội phân tầng rõ rệt trong đó khi con người sinh ra thường được coi là gắn liền với số phận. Do đó, dù có sống cuộc đời du mục hay không, nhóm người du cư thường gắn liền với khái niệm đói nghèo và sống bên lề, trong quá khứ và cả hiện nay.  Đối với những người vẫn tiếp tục cuộc sống du mục, phần lớn các giải pháp mà các nhà hoạt động nhân quyền đưa ra là cung cấp cho họ một mái nhà để họ sinh sống, hoặc ít nhất là có một địa chỉ để họ có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận những phúc lợi xã hội hay cho con đi học. Nhưng những cố gắng đó lại gặp sự phản kháng quyết liệt từ những người dân làng hoặc chính quyền khu vực. Những người luôn coi họ là những kẻ sống bên lề xã hội. Nhưng câu hỏi chính vẫn là: Liệu những người du cư có muốn dừng cuộc sống du mục của họ để tiếp tục tồn tại?  Cuộc sống khốn khó          Cuộc sống của người Lohar gắn liền với chiếc xe kéo (mái nhà của họ) và bếp lò rèn (dụng cụ để kiếm sống)        Sau vụ om xòm liên quan đến xà phòng, sự xuất hiện của tôi ở đây không làm mọi người chú ý nhiều nữa. Ngày hôm sau, khu trại của người du mục hoàn toàn im ắng, ngoại trừ những tiếng động thỉnh thoảng vọng đến từ phía lò rèn. Khói tỏa ra từ phía lò rèn bằng đất nung xấu xí. Những người phụ nữ hướng về những ống bễ làm bằng da dê trong khi những người đàn ông và những đứa trẻ nện búa vào những mảnh phế thải kim loại hoặc những chiếc đe nhỏ, biến chúng thành những chiếc thìa làm bếp, những chiếc rìu hai đầu và các vật dụng đơn giản khác.  Người phiên dịch và tôi đếm được 23 người trong các gia đình Lohar, họ có họ hàng huyết thống với nhau. Họ cùng người thân đến đây trong 5 chiếc xe bò, làm từ gỗ keo và gỗ tếch, trang trí bằng những hình chạm khắc hoa sen, tán bằng những đinh đồng thau và các hình chữ vạn Hindu. Tất cả dường như dừng hết công việc lại khi nhận thấy chúng tôi, một số người trong số họ còn có dấu hiệu thù địch. “Khi muốn nói hoặc làm điều gì thì họ viết nó ra”, người phiên dịch giải thích. Nhưng cũng có một số người có vẻ chào đón sự có mặt của chúng tôi. Lallu và Kailashi là một cặp vợ chồng cỡ 40 tuổi-bạn chỉ có thể đoán tuổi của người Lohar qua hình dạng bên ngoài. Họ có 4 con Lallu, mặc một cái khố bằng vải cotton cáu bẩn,  trông có vẻ nhỏ bé và dẻo dai. Ông đeo những chiếc hoa tai bằng vàng có hình quả đậu và một sợi bùa lủng lẳng trên cổ. Kailashi có thân hình mảnh dẻ, mắt hõm, xương ức xăm những hình như huy chương và nước da tai tái hiện ra sau chiếc khăn quàng màu tía. Cả hai đều có răng rất xấu và chốc chốc lại bảo thợ ngừng tay để hút những điếu thuốc lá cuốn bằng tay, rẻ tiền.  Kailashi có vẻ bối rối vì vụ lộn xộn tranh cướp xà phòng. “Tôi nghèo nhưng tôi vẫn còn lương tâm. Những người đó đã mất hết lương tâm rồi”, bà nói.  Đứa con lớn nhất của bà, Kanya với lấy cái võng làm bằng dây thừng và mời tôi ngồi. Tầm khoảng 20 tuổi, Kanya trông rất nhanh nhẹn và xinh xắn với gò má cao và lông mày được nhổ rất cẩn thận. Cô bé cũng có tính cách mạnh mẽ. “Thôi ngay cái kiểu du côn ấy đi”, cô rầy la một đứa em trai khi nó cứ quấy rầy, xin xỏ tôi. Kanya vừa bỏ người chồng, hay ngược đãi và quay lại với gia đình bố mẹ đẻ.  Quá khứ hào hùng  Tôi hỏi Lallu xem anh từ đâu đến, với hy vọng anh ta nói nơi sinh của mình, hoặc ít nhất thị trấn nơi gia đình của anh cắm trại vào mùa hè, khi thời tiết quá nóng để di chuyển. Thay vào đó, anh ta lại nói đến một nơi mà anh chưa bao giờ tới.  “Chittaurgarh”, anh ta nói. Và rồi anh ngẩng đầu lên như một dấu hiệu chào hỏi.  Chittaurgarh là một pháo đài lớn bằng đá nằm tại cao nguyên ở phía Nam Rajasthan. Được xây dựng từ thế kỷ 7, Chittaurgarh là thủ phủ của Mewar, một vương quốc hùng mạnh của những chiến binh Hindu thượng đẳng, thường được gọi là Rajputs. Người Lohar cũng chính là người Rajputs, theo lời truyền miệng của tổ tiên để lại. Họ phục vụ vương quốc với tư cách những người làm vũ khí. Nhưng vào năm 1568, Akbar, vị hoàng đế vĩ đại người Mogul đã chiếm đóng Chittaurgarh và người Lohar đã phải bỏ nơi này để chạy trốn.          Người du mục Nat thì hành nghề bằng các trò biểu diễn xiếc, đi thăng bằng trên dây, nhào lộn…        Xấu hổ, họ bắt đầu cuộc sống lang thang, vô định và ép xác, thề sẽ không bao giờ nghỉ quá một đêm tại bất cứ một ngôi làng nào, không thắp đèn khi đêm xuống và chỉ sử dụng dây thừng để múc nước giếng. Những lời thề đối với họ như lời nguyền rủa (họ cũng thề là không bao giờ nằm trên những giường tiện nghi, di chuyển trên những chiếc võng lật ngược, tất cả để chứng tỏ sự khổ hạnh như lời nguyền từ xa xưa).  Mặc dầu vậy, họ vẫn cần phải kiếm sống. Họ sử dụng các kỹ năng của nghề làm sắt để chế tạo ra các đồ vật cho hoạt động bình thường của người dân. Đồ làm bếp và dụng cụ nông nghiệp mà họ làm ra nổi tiếng là bền, vì vậy vào trước thời kỳ hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập thị trường, đồ của người Lohar được người tiêu dùng ưa chuộng và rất đắt khách.  Thành kiến của xã hội  Ấn Độ đã từng có hàng đoàn nhân công như vậy đi lang bạt khắp nơi. Rất nhiều người trong số đó đã được một công chức người Anh, Denzil Ibbetson miêu tả chi tiết trong một bản báo cáo vào năm 1883, dựa trên các dữ liệu điều tra dân số ở vùng Punjab thời đó. Trong số họ có người Qalandari (dạy thú rất giỏi, thí dụ như gấu, khỉ và một số loài thú xiếc khác), người Nat (chuyên các mánh nhào lộn và bị coi là thuộc tầng lớp dưới), người Gagra (làm nghề thuốc) và người Kanjar (chuyên chữa các bệnh mụn, nhọt). “Họ quả là những người khó chơi, chúng tôi đã cố gắng nhưng rất khó tiếp cận được với họ”, Ibbetson kết luận.          Một bé gái du mục người Lohar        Quan sát của Ibbetson phản ánh các thành kiến ngày nay và cũng là quan niệm phổ biến trong đầu của người Anh – đặc biệt về người da màu Romany mà người ta hay gọi là Gypsies-rằng người du mục là những kẻ trụy lạc. Những quan niệm như vậy nhanh chóng được chuyển về lục địa. Năm 1871, nhà cầm quyền thuộc địa đã thông qua một đạo luật có tên Đạo luật chống Bạo lực du mục, trong đó xác định khoảng vài chục nhóm dân du mục như là những tội phạm nguyên thủy. Các gia đình du mục được yêu cầu phải đăng ký với cảnh sát và hàng nghìn đàn ông, đàn bà và trẻ con đã bị ép dồn vào các trại tập trung, một số trại do quân đội quản lý. Đây là những chi tiết được viết trong cuốn sách Dishonoured by History (Bôi nhọ lịch sử) của nhà xã hội học Meena Radhakrishna người Ấn Độ.  Sau khi độc lập vào năm 1947, bộ luật này đã được thay thế bởi các biện pháp bớt hà khắc hơn ghi trong Đạo luật Tội phạm Thông thường (Habitual Offenders Act), nhưng vết nhơ của nó thì vẫn còn đó. “Tôi chẳng bao giờ hình dung được rằng hậu duệ của các cộng đồng nói trên vẫn bị nhìn nhận với các thành kiến như vậy. Không phải họ không muốn trở thành một bộ phận của xã hội mà họ đã không được phép làm như vậy”, Radhakrishna nói.   Những nỗ lực tái định cư  Người phụ nữ chuẩn bị bữa tối. Với chiếc chày và cối, Kailashi giã hạt tiêu để chuẩn bị cho món rau hầm, trong lúc Kanya nấu món chapatis, món mỳ độc đáo của Ấn Độ trên bếp lửa. Đêm đang đến, vì vậy họ phải nhanh tay làm việc hơn bởi buổi tối là lửa bị cấm. Người Lohar đã đến ngôi làng này vài hôm trước và không biết họ sẽ còn ở bao lâu nữa. Điều đó phụ thuộc vào công việc họ có ở làng này. Một trong số họ nói trong khi ngoảnh đầu về phía một con bò mộng đứng gần đó: “Chả có nhiều khác biệt gì về cuộc sống của tôi với con bò kia. Nó cần thức ăn và chúng tôi cũng thế”.          Trong truyền thuyết, người Lohar là những thợ rèn vũ khí cho nhiều đời vua Ấn Độ, còn giờ thì sản phẩm rèn của họ là những vật dụng gia đình thông thường, rẻ tiền nhưng có chất lượng rất tốt        Gắn mảnh đời với chiếc xe bò kéo, tương lai của người Lohar là một câu hỏi chưa có lời giải đáp        Đúng là khó có thể tranh luận với kiểu so sánh như vậy. Người Lohar chẳng bao giờ đến trường. Họ an phận với các đồng cỏ và tối thì ngủ dưới ánh trăng, sao. Vào lúc có gió mùa, họ tập trung các xe bò lại với nhau, buộc các tấm bạt bên ngoài thành bức tường chắn gió. Họ chưa bao giờ nghe thấy nước Mỹ. Khi lần đầu tiên tôi đến, Kanya đoán tôi, mặc dù nước da trắng, là một người từ Jaipur, thành phố thủ phủ của bang nằm cách đó 40 dặm (gần 65 cây số) đến. “Ahhh, ông đến bằng một cheel gaadi”, cô thốt lên khi nghe tôi giải thích về chiếc máy bay. Cheel Gaadi trong tiếng của người Lohar có nghĩa là chiếc xe bò bay.  Cũng như các nhóm du mục khác, người Gadulia Lohar luôn là mục tiêu cho những nỗ lực tái định cư. Năm 1955, Jawaharlal Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ trong bài phát biểu của mình ở Chittaurgarh đã nhấn mạnh rằng danh dự của những người thợ lò rèn đã được khôi phục với việc Ấn Độ giành được chủ quyền và ông kêu gọi họ chấm dứt cuộc đời lang thang. Hàng ngàn người đã tới pháo đài bằng xe bò và xe lửa để chứng kiến buổi lễ. Sau đó họ được mời đi qua chiếc cầu rắc đầy cánh hoa hồng. Một ngôi trường nội trú đã được thành lập ngay gần đó, dành cho các cậu con trai người Lohar. Những kế hoạch xây dựng nhà ở và tạo công ăn việc làm cũng đã được đưa ra.  Nhưng các sáng kiến dường như chẳng thể đi vào thực tế được. Một khu định cư dự kiến là nơi các thợ lò rèn được học cách làm nông nghiệp đã bị huỷ bỏ sau cái chết của hai cô gái vì bệnh tật. Người Lohar cho rằng đây là một lời cảnh báo cho những người vi phạm truyền thống. Những chương trình khác thất bại bởi vì nạn tham nhũng hoặc do việc lập kế hoạch kém.   Năm 2005, Quốc hội Ấn Độ đã thành lập một ủy ban tạm thời để giải quyết tình trạng khó khăn của người Lohar. Chủ tịch ủy ban, ông Balkrishna Renke, thực sự là người duy nhất thích hợp cho công việc: sinh ra trong một nhóm ăn mày người Lohar, ông đã trải qua thời thơ ấu lang thang khắp các làng ở miền Tây Ấn Độ, hát rong để xin cơm, trước khi ông được một tổ chức từ thiện thu nhận và dạy học.  Đối với Renke, mục tiêu rất rõ ràng. “Nếu họ muốn có quyền công dân, được giáo dục và tham gia vào tiến trình hiện đại, họ phải giải quyết vấn đề của chính họ”, ông nói. Renke không phải là con người ảo tưởng về quy mô của các thách thức. Ấn Độ còn yếu kém nhưng việc mở rộng hệ thống an sinh xã hội từ lâu đã được coi là cách để khắc phục sự bất bình đẳng trong các đẳng cấp xã hội. Bởi vì dân du mục vốn tản mát trong nhiều đẳng cấp khác nhau, họ ít được chú ý bởi các nhóm lợi ích. “Không có tổ chức, không có người thức tỉnh, họ là những người không có tiếng nói trong xã hội”, Renke nói.   Bản sắc truyền thống  Sau một tuần sống trong nhóm người Lohar, tôi đã bắt đầu hiểu một lý do: Họ thực sự không phải là những người dễ sống. Ngay từ đầu tôi xác định rõ rằng tôi sẽ không cho họ tiền, tôi đã cố gắng lấy được thiện cảm của họ bằng cách đưa cho họ những món quà nhỏ, thí dụ như các bao đậu lăng, bột mì hoặc chai (gia vị trà) mà tôi thường mua từ một nhà cung cấp gần đó. Nhưng có vẻ điều này không bao giờ đủ. Kartar, anh trai của Lallu, thường xuyên nài nỉ xin tôi kalakand, một loại bánh sữa, và hờn dỗi khi tôi làm điều đó. Vợ ông, Pooni, cũng liên tục van lơn với tôi: “Hãy cho tôi tiền để mua chai!”. Cô nói như thể một lời chào buổi sáng hay vào bất cứ khi nào tôi nhìn thấy cô ấy. Cô còn giật cái áo rách rưới của mình hoặc báo hiệu muốn được hút bidis (một loại thuốc lá của người nghèo Ấn Độ) bằng cách giơ hai ngón tay lên môi cô ấy. Tôi đã học được cách lờ cô ấy đi khi tình cờ gặp mặt.  Tất nhiên, tôi không thể giúp đỡ được họ nhưng tôi vẫn cảm phục người Lohar. Họ là những người thợ có kỹ năng và làm việc chăm chỉ. Họ đáng ra phải được hưởng các thành quả xứng đáng với những điều họ đã làm ra. Vào một buổi chiều xám xịt, có một người phụ nữ với mái tóc màu xám từ ngôi làng gần đó tới để mua một chiếc muỗng. “Tôi phải tính giá cao hơn vài rupee vì đồ của tôi làm ra có chất lượng rất tốt”, Kartar nói. Ngồi dưới bóng râm của một cây neem, ông nung một thanh sắt đến khi nó nóng rực rồi đặt lên cái đe, và Pooni thì cầm búa tạ thì choãi chân nện thật lực vào thanh sắt. Khi thanh sắt dẹt đi và dễ uốn hơn, Kartar dùng một chiếc búa nhỏ hơn để đập và uốn thành hình một chiếc thìa dài, với cái miệng lõm bóng láng.            Một gia đình du mục với chiếc xe kéo tay         Ông tiếp tục giũa thêm cho cạnh chiếc thìa mịn rồi đưa cho người phụ nữ một cách rất nâng niu và trịnh trọng: “Này bà, hãy cầm lấy”. Đổi lại, ông nhận 30 rupee (khoảng 12.000 đồng).   Những người Lohar nâng niu nghề truyền thống bởi họ muốn giữ gìn bản sắc của chính mình. Những đứa trẻ từ khi còn rất bé đã được nghe câu chuyện về Chittaurgarh và khi chúng khóc, chúng thường được dỗ nín với những câu mệnh lệnh như: “Đừng khóc nữa, hãy xứng đáng là một người Lohar”. Arjun, con trai của Kartar có thể là bằng chứng sống cho một niềm tự hào như vậy. Vào lúc 10 tuổi, cơ thể của cậu đã phổng phao, mạnh khỏe, báo hiệu một nhà vô địch đấu vật trong tương lai. Cậu luôn vui vẻ và dẻo dai khi quai búa, và hầu như không bao giờ mệt mỏi khi cha cậu hét lên: “Mạnh hơn, nhanh hơn nào”.   Đã vài lần, tôi hỏi những người Lohar ở đó rằng bao giờ họ sẽ đi chỗ khác, câu trả lời bao giờ cũng vậy: “Ngày mai”. Cuối cùng thì “ngày mai” đó cũng đã đến. Một buổi sáng, khi tôi có mặt tại địa điểm của khu trại, tôi thấy họ đang sắp xếp những chiếc xe bò. Dụng cụ làm nghề của họ được xếp trong các ngăn hàng, những con bò được đóng vào xe, những bộ phận của giường, lều, các ống thổi bếp đen kịt và các thành viên bé nhất, ốm yếu nhất được huy động ra để đi cạnh chiếc xe bò. Cuối cùng, với những tín hiệu qui ước không thành lời, những chiếc caravan cũ nát tròng trành nối đuôi nhau tiến về phía trước. Tiếng bánh xe sắt nghiến vào mặt đường kêu ken két. Trên đường, những chiếc xe máy hoặc xe jugard (xe cá nhân tự tạo chạy dầu diesel) đang chạy bon bon vội vàng nhường đường khi các xe của người Lohar trờ tới. Họ chậm rãi đi qua những cánh đồng mù tạt và lúa mì vụ đông.  Quang cảnh trông chẳng thơ mộng chút nào. Rõ ràng, đó là hình ảnh di động của một bộ lạc bị quên lãng. Giữa những chiếc xe máy “made in India” và những tòa cao ốc màu vàng trắng trông như những chiếc lò vi ba, người Lohar dường như bị chìm nghỉm và khó có thể nhận biết được họ chính là hậu duệ của các thợ thủ công Rajput lừng danh đã từng chạy trốn khỏi Chittaurgarh cách đây gần nửa thiên niên kỷ. Họ sẽ giữ lại được điều gì trong di sản của cha ông họ để lại từ thời Trung cổ nếu như họ ngừng cuộc sống lang thang vô định của mình và gia nhập vào dòng chảy của xã hội? Có thể họ sẽ đánh mất tất cả về mặt văn hóa và truyền thống.  Có vẻ như đó là cái giá rất đắt mà họ sẽ phải trả. Người Lohar mà tôi gặp ở bất cứ đâu đều giữ chặt bản sắc du mục của họ. Phần lớn những người trong số họ đều nói rằng họ không thể sống ngoài chiếc xe bò của họ, đơn giản bởi họ không hề có sự lựa chọn nào khác.  Mong muốn nhỏ nhoi  “Tôi sẽ là người hạnh phúc nhất thế giới nếu tôi có được ít đất và một ngôi nhà”, một đêm, Lallu đã nói với tôi như vậy. Kanya cũng vậy, cô nức lòng khi nghe về những tiện nghi của ngôi nhà mà cô chưa hề biết đến. Mong mỏi của họ quả là điều dễ hiểu.  Ngay cả ở ngôi làng Rajasthan nhỏ xíu, người ta cũng dễ dàng nhận thấy dấu hiệu chuyển đổi của nền kinh tế Ấn Độ, nơi rất nhiều khách hàng của người Lohar đã sở hữu những chiếc điện thoại di động và những chiếc ăng ten chảo xuất hiện ở những nông trại lớn. Nhưng người Lohar thì chẳng thể có được những thứ này dù trong tiềm thức của mình, họ cũng muốn thừa hưởng một phần của sự thịnh vượng này.  Hơn thế nữa, nhận thức của họ cũng đã được gia tăng. Như nhiều nhóm du mục ở phía Bắc Rajasthan, người Lohar đã được các nhà hoạt động địa phương khích lệ để nộp đơn xin đất và nhà tới các hội đồng quản lý địa phương. Việc cung cấp nhà, đất không chỉ là để tạo chỗ ở cho họ, mà còn giúp các nhà quản lý hành chính có địa chỉ cần thiết cho các cung ứng phúc lợi xã hội, thí dụ như các khoản tài trợ dầu ăn, chăm sóc y tế miễn phí, vốn cực kỳ khó khăn đối với những người du mục.          Chittaurgarh, pháo đài đá lớn của các chiến binh Rajputs, tổ tiên của người Lohar bây giờ        Nhưng cho đến nay, các nỗ lực của họ gần như chẳng thu được kết quả gì cả. Các quan chức nơi người Lohar đã nhiều lần nộp đơn xin đất nói rằng họ không còn đất để cho nữa. Và rằng dù họ có đất, họ cũng chẳng tin là người Lohar sẽ lấy những mảnh đất đó. “Họ là những người không muốn định cư, họ thích sống cuộc đời lang thang trên các nẻo đường”, một viên chức địa phương nói với giọng thô bạo.   Phản ứng tương tự như vậy cũng đã diễn ra ở Thana Ghazi, một địa điểm cách Jaipur gần 100 cây số về phía Bắc. Các viên chức địa phương đã cung cấp những mảnh đất cho hơn một chục hộ người Lohar tại một con đường nhộn nhịp của thị trấn. Những người thợ lò rèn đã ở trong các ngôi nhà một phòng, xe ngựa và lò rèn của họ để trước cửa. Nhưng chỉ 5 năm sau, thị trấn đã bị cắt điện và ngay cả việc xây dựng một nhà vệ sinh chung cũng đã bị từ chối.  Người pradhan (tỉnh trưởng), khẳng định rằng ông ta phản đối việc cung cấp các dịch vụ cho khu định cư vì ông không nghĩ rằng người Lohar được phép định cư ở nơi đó, lại vào một vị trí đắc địa như vậy. Nơi đó rất gần một khu nội trú nữ và một trường trung học, ông giải thích và tốt hơn là họ dời nơi ở xuống một địa điểm ở bên ngoài thị trấn.  Vài ngày sau khi tôi yêu cầu mở điện lại, các công nhân đã tới khu định cư để bắt đầu nối dây điện. Một số người dân của thị trấn đã không hề che dấu sự thù địch của họ. Khi tôi rời khu định cư vào một buổi chiều với một nhân viên từ thiện, ba nam thiếu niên đã hét lên hỗn láo từ mái của trường trung học kề đó” “Ông muốn làm gì cho chúng? Chúng là những kẻ du mục và mãi mãi cũng chỉ là những kẻ du mục”.  Hiểu lầm đáng tiếc  Lúc đó là đầu tháng Ba, vụ xuân đã gần được thu hoạch hết quanh khu vực Lallu và Kailashi cùng gia tộc của họ sống. Những cánh đồng lúa mì vàng rực rỡ dưới ánh nắng ngày càng nóng rực của Mặt trời. Tại khu cắm trại gần một ngôi làng mới, người Lohar tìm các bóng mát làm nơi ẩn nấp cho những chiếc xe bò và chính bản thân họ.  Mùa xuân thường là thời kỳ tràn đầy hy vọng tại khu làng Rajasthan, nhưng đối với Kanya, đây lại là thời gian của sự khốn khổ, sợ hãi. Cha mẹ cô đã quyết định sau mùa lễ Akha Teej của người Hindu vào tháng Tư, cô phải trở về sống với người chồng và gia đình của anh ta. “Hắn là một thứ súc sinh”, cô nói với tôi. Cô cũng kể rằng anh ta và mẹ anh ta luôn bắt cô làm việc quần quật cả ngày với cái ống thổi và anh ta sẽ đánh cô khi cô không chịu làm. “Tôi chẳng thể làm được gì cả, nếu tôi tiếp tục sống ở đó, tôi sẽ tiếp tục phải chịu đựng. Phải chăng đó là số phận!”, cô than vãn.           Từ năm 1955, Jawaharlal Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ đã kêu gọi những nhóm người du mục ngừng cuộc sống lang thang, nhưng giờ thì họ vẫn chưa thể định cư được vì nhiều lý do khác nhau        Sự bất lực của Kanya là sự hòa trộn của phái yếu, cộng với thứ hạng thấp kém của người Lohar, vốn thường bị miệt thị và thành kiến ở vùng nông thôn Ấn Độ. Một buổi chiều, tôi đã tới khu cắm trại và biết được rằng ngày hôm trước đó, những người theo nhóm RSS (Rashtriya Swayamsevak Sangh), nhóm theo chủ nghĩa dân tộc chính ở Ấn Độ đã đến thăm những người Lohar. Những người theo phái cực đoan của nhóm đã phát hoảng khi thấy sự có mặt của tôi và cho rằng tôi là một nhà truyền đạo Thiên chúa giáo. Họ dọa sẽ đánh tôi. Những người Lohar sợ quá và đã cầu xin tôi để rời đi chỗ khác.  Khi tôi giải thích rằng mình chỉ là nhà báo chứ không phải nhà truyền giáo, các công nhân thuộc RSS đã xin lỗi và thậm chí còn theo tôi đến gặp người Lohar. Còn những người Lohar thì đã chuyển nơi dựng trại đến hai lần, đến một đồng cỏ hoang ở ngoại ô của một ngôi làng khác. Những người RSS kêu gọi dân Lohar hợp tác nhưng quan hệ giữa tôi và những người thợ rèn đã không thể hồi phục lại như trước.   Họ luôn cảnh giác bởi họ ít thấy những lý do để tha thứ cho tôi sau sự cố với những người thuộc RSS. “Ông cho chúng tôi một ít bột nhưng lại viết rất nhiều, Hãy đi đi, chúng tôi đã ngán ông lắm rồi”, Karta nói.  Một buổi chiều, tôi lái xe ra khỏi Jaipur với một hy vọng hòa giải cuối cùng. Thật không may, Lallu và Kailashi đã không có ở đó để hỗ trợ. Họ đã bắt xe buýt đi thủ phủ Rajasthan để kiếm nơi điều trị bệnh ho và sốt mãn tính của bà. Những người khác thì chẳng thèm nói chuyện với tôi, thậm chí có người còn quay lưng lại khi thấy tôi tiến đến. Tôi đưa ra lời gợi ý và quay lại chiếc xe của mình. “Đừng quay lại nữa”, Kartar hét lên.  Trước khi lái xe đi, tôi ngoảnh lại nhìn những người Lohar lần cuối. Công việc kinh doanh của họ đã khánh kiệt và các lò rèn thì lạnh giá vì không có khách. Có thể ngày mai, hay một ngày sau đó nữa, họ sẽ lên những chiếc xe bò và tiếp tục hành trình, như họ đã làm rất nhiều lần trước đây. Nhưng giờ nhìn họ thật bơ phờ và mệt mỏi. Nhìn họ như những du khách đã đi đến tận cùng của con đường.   Hoàng An dịch từ National Geographic  ———————–  * John Lancaster từng là Trưởng văn phòng khu vực Đông Á của tờ Washington Post    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi giới tính cho cá ở Trung Đông      Các nhà nghiên cứu Israel, Palestine và Đức muốn biến những con cá cái nước ngọt thành cá đực, một sự chuyển đổi giới tính mà họ hy vọng sẽ tạo ra con cá to hơn trên bàn ăn.    Thí nghiệm là một phần của dự án giữa Đại học Hebrew ở Jerusalem với Đại học Hohenheim của Đức. Theo đó, người ta sẽ bổ sung các hợp chất lấy từ thực vật sống ở khu Bờ Tây vào thức ăn của loài cá Nile tilapia mới sinh.  “Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của cá. Nó sẽ biến cá cái thành cá đực”, trợ lý giáo sư Mutaz Qutob, một nhà nghiên cứu Palestine tham gia thí nghiệm cho biết.  Cá đực to hơn, lớn nhanh hơn và nặng hơn khoảng 1/3 so với cá cái. “Đây là một dự án rất quan trọng. Chúng tôi đang giới thiệu một nguồn thức ăn mới cho người Palestine”, Qutob nói.  Các nhà khoa học tại Đại học Hebrew trước kia đã sử dụng các steroid tổng hợp (bị xem là kém an toàn hơn) để tạo ra những con cá đực.  Người Palestine ở khu Bờ Tây nhập khẩu hầu hết cá từ Israel và duyên hải Gaza. Tuy nhiên, việc tiêu thụ cá của họ, đặc biệt là cá nước ngọt, đã giảm xuống trong những năm gần đây do giá tăng cũng như do các quy định chặt hơn về việc buôn bán và đi lại với Israel.  (theo ABConline)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đôi nét về “làng” xuất bản ấn phẩm khoa học quốc tế      Khuyến khích các nhà nghiên cứu công bố các công trình khoa học trên các tạp chí quốc tế, đang trở thành một xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập và nâng cao chất lượng của khoa học và giáo dục đại học Việt Nam.      Biển hiệu Springer Nature và wiley trong một hội chợ sách ở Bắc Kinh. Nguồn ảnh: Nytimes.  Tuy nhiên, công bố quốc tế cũng có đủ loại thượng vàng hạ cám: có những tạp chí uy tín, nhưng cũng tồn tại rất nhiều tạp chí bị nghi ngại. Bài viết giới thiệu đến bạn đọc một bức tranh khái quát về một số nhà xuất bản giàu truyền thống, nơi thường được các nhà nghiên cứu tin cậy tìm đến bởi các tạp chí khoa học chất lượng.  Elsevier  Elsevier ngày nay được xem là nhà xuất bản (NXB) ấn phẩm khoa học lớn nhất thế giới. NXB có trụ sở tại thủ đô Hà Lan, sở hữu khoảng 2.500 tạp chí khoa học đa lĩnh vực với đội ngũ các chuyên gia tham gia ban biên tập lên đến 20.000 người. Mỗi năm, Elsevier “cho ra lò” chừng 420.000 bài báo khoa học đã qua bình duyệt, với gần 1 tỷ lượt tải báo.  Ngược dòng lịch sử gần 140 năm. Trước cảnh sách báo in ra bán không chạy, chủ một nhà sách ở thành phố Rotterdam (Hà Lan) có tên Jacobus George Robbersbèn đứng ra kêu gọi một số nhà sách và NXB nhỏ khác liên minh lại để trở nên hiệu quả hơn. Họ thành lập NXB năm 1880, chọn cái tên chung là Elsevier, lấy cảm hứng từ tên gọi Elzevir của nhà sách gia đình truyền thống của Hà Lan ra đời trước đó ba thế kỷ, nhưng đã lụi tàn. Tinh thần gắn kết ấy thể hiện trên dòng chữ latinh giữa logo của Elsevier: non solus, nghĩa là không đơn độc. Sau khi thành lập ít lâu, Elsevier chuyển trụ sở đến Amsterdam, từ đó mở thêm nhiều chi nhánh ra nhiều thành phố khác trên thế giới.  Vào những ngày đầu, Elsevier chủ yếu bán sách văn học và làm từ điển. Đến năm 1930, Elsevier mở rộng sang làm các ấn phẩm đủ loại. Nhờ sự phát triển lớn mạnh, hơn 20 năm sau, Elsevier tiếp tục thâu tóm hai đối thủ khác trong nước là NXB Bắc Holland và Excerpta Medica. Hiện nay, Elsevier là một tập đoàn toàn cầu có doanh thu tới 2,3 tỷ USD.    Tinh thần liên minh trong xuất bản thể hiện ở logo của Elsevier “non solus”. Ảnh: Elsevier  Springer-Nature  Cách đây 175 năm, chủ một tiệm sách gốc Do Thái ở Berlin (Đức) tên là Julius Springer quyết định thành lập công ty mang tên mình chuyên về xuất bản. Khởi đầu năm 1842 với vỏn vẹn bốn người kiêm mọi việc từ in ấn, biên tập đến bán sách, Springer nhanh chóng vươn lên trở thành NXB lớn thứ hai nước Đức thời bấy giờ, chỉ trong vòng 30 năm.  Ngày nay, công ty có chi nhánh tại các thành phố lớn, gồm New York, Tokyo, Paris, Milan, Hong Kong và Delhi. Julius Springer sau này được bầu làm chủ tịch hiệp hội Nhà sách Đức, và là một trong những người đi đầu đấu tranh bảo vệ bản quyền xuất bản.  Trong quá trình phát triển, Springer đã liên tục thâu tóm và sáp nhập với các công ty xuất bản phẩm khác. Năm 2004, Springer mua NXB Kluwer Academic có trụ sở tại Hà Lan, chuyên làm sách khoa học. Năm 2008, Springer thâu tóm NXB truy cập mở có tiếng là BioMed Central. Ba năm sau đó, Spring thành lập Wolters Kluwer dựa trên Pharma Marketing & Publishing Services.  Danh mục công ty con của Springer còn bao gồm: Apress, Palgrave MacMillan, MacMillan Education và tạp chí phổ biến kiến thức Scientific American. Năm 2015, Springer sáp nhập với Nature Publishing Group, chủ sở hữu của tạp chí khoa học Nature và các ấn phẩm theo chuyên ngành (Nature Physics, Nature Medicine, Nature Materials…), để tạo nên một NXB lớn hơn mang thương hiệu Springer-Nature.  Ngày nay, Springer-Nature sở hữu hoặc đồng sở hữu khoảng 2.500 tạp chí khoa học chuyên ngành bằng tiếng Anh và 200 ấn bản tiếng Đức và cổng thông tin tra cứu SpringerLink. Doanh thu của NXB này hàng năm đạt khoảng 0,6 tỷ USD.  Wiley  Wiley là một tập đoàn lớn trong ngành xuất bản phẩm khoa học có truyền thống lâu đời hơn 200 năm. Năm 1807, Charles Wiley mở một hiệu in nhỏ trên khu phố sầm uất bậc nhất của Manhattan, thành phố New York (Mỹ). Qua thời gian, công ty dần trở thành nơi được tin tưởng gửi gắm tác phẩm của nhiều nhà văn Mỹ nổi tiếng thời bấy giờ. Ban đầu, Wiley theo đuổi dòng ấn phẩm luật pháp, tôn giáo, văn học hư cấu và hiện thực. Sau này, Wiley chuyển hẳn sang các ấn phẩm thuần tuý khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Năm 2007, Wiley sáp nhập với công ty Blackwell để thành lập một NXB mới, quản lý các thương hiệu John Wiley & Sons, Wiley-Blackwell, Wiley-VCH và Jossey-Bass.  Thư viện trực tuyến của Wiley gồm 1.500 tạp chí khoa học, 14.000 đầu sách và các ấn phẩm khoa học với dung lượng lên đến 8,2 triệu trang. Tính đến nay, đã có hơn 450 học giả đạt giải Nobel đã có công trình công bố trên các ấn phẩm xuất bản bởi Wiley.Hiện Wiley còn mở rộng sang đào tạo và giáo dục; với doanh thu gộp lên đến 1,7 tỷ USD.  Taylor & Francis  Sinh ra tại một thị trấn nhỏ miền Đông nước Anh, cậu bé Richard Taylor không chỉ ham học, mà cũng thích công việc in ấn. Sau khi dành thời gian học việc về in tại thủ đô London, Taylor quyết định tham gia kinh doanh in ấn khi mới chỉ 17 tuổi. Say mê với khoa học, ông còn cho ra đời Tạp chí Triết học, hay cho xuất bản cuốn Biên niên sử về Khoa học Tự nhiên. Không chỉ làm kỹ thuật, ông từng bước chân vào lĩnh vực giáo dục bằng cách ủng hộ thành lập trường trung học London và đặt nền móng cho sự ra đời của đại học London (sau này đổi tên thành University College London), một cơ sở giáo dục hàng đầu của Anh.  Năm 1852, Taylor mời William Francis tham gia điều hành và chính thức thành lập NXB có tên gọi chung Taylor & Francis. Năm 2004, Taylor & Francis sáp nhập với tập đoàn truyền thông Informa, nhưng vẫn giữ thương hiệu Taylor & Francis cho các ấn phẩm.  Ngày nay, Taylor & Francis quản lý danh mục gồm 2.500 tạp chí khoa học nhiều thể loại. Hàng năm cho ra đời khoảng 6.500 đầu sách mới, bổ sung vào danh sách 130.000 đầu sách in và điện tử đang có. Ngoài đại bản doanh tại Oxford, Taylor & Francis hiện có chi nhánh tại 18 thành phố lớn trên thế giới, với doanh thu hàng năm đạt khoảng 0,7 tỷ USD.  Và những “ông lớn” khác  Sân chơi xuất bản phẩm khoa học không chỉ bao gồm nhóm Big4 gồm NXB chuyên nghiệp kể trên, mà rộng lớn hơn rất nhiều, với hàng ngàn các NXB lớn nhỏ của các NXB chuyên nghiệp; các NXB thuộc trường đại học và viện nghiên cứu; các NXB trực thuộc hiệp hội khoa học chuyên ngành; và các tổ chức, cá nhân khác.  Các trường đại học hoặc viện nghiên cứu lớn thường thành lập các NXB hỗ trợ cho việc xuất bản của cán bộ trong và ngoài trường. Họ không chỉ làm sách, từ điển, mà còn mở rộng ra cả tạp chí khoa học. Đại học Cambridge được xem là nơi có NXB lâu đời nhất thế giới với hơn 480 năm lịch sử.  Năm 1893, NXB đại học Cambridge lần đầu cho ra đời tạp chí của mình, và ngày nay là nơi chịu trách nhiệm xuất bản khoảng 300 tạp chí khoa học uy tín trong nhiều lĩnh vực khác nhau, với doanh thu 0,4 tỷ USD. Ra đời sau 50 năm, NXB đại học Oxford cũng là đại bản doanh của khoảng 200 tạp chí đa ngành. Hầu hết các đại học lớn khác đều có NXB của mình, như đại học Harvard với khoảng 200 đầu sách mỗi năm; đại học California quản lý 30 đầu tạp chí khoa học và danh mục 4.000 đầu sách do mình phát hành.  Các hội khoa học chuyên ngành quốc tế cũng tham gia tích cực vào phát triển các ấn phẩm khoa học, nhờ tận dụng lợi thế là mạng lưới đông đảo các chuyên gia và hội nghị uy tín. Xin điểm qua một vài con số ví dụ: hội Kỹ sư điện và điện tử (IEEE) có khoảng 425.000 hội viên ở 160 nước, quản lý 175 đầu tạp chí khoa học trong lĩnh vực hẹp, gồm cả các tạp chí liên kết với Wiley.  Với 62.000 hội viên toàn cầu, hội Địa vật lý Mỹ (AGU) duy trì song so ng 20 tạp chí; hội Các Khoa học về địa châu Âu (EGU) cũng cạnh tranh với 17 tạp chí, nhờ mạng lưới khoa học gồm 11.000 chuyên gia. Trong lĩnh vực vật lý, hội Vật lý Mỹ (AIP) có khoảng 135.000 hội viên, với đầu mục 19 tạp chí có chất lượng và nhiều ấn phẩm phổ biến kiến thức.  Một số tổ chức, cá nhân hoặc trung tâm cũng cho ra đời và phát triển các tạp chí khoa học. Dù vậy, các tạp chí này thường khó cạnh tranh với các NXB hay hiệp hội chuyên ngành, trong việc thu hút các nhà nghiên cứu gửi bài, do nguồn lực về tài chính và con người hạn chế.  Đứng trên khía cạnh một nhà nghiên cứu, lựa chọn một địa chỉ phù hợp để gửi gắm công trình khoa học của mình, không phải lúc nào cũng dễ dàng. Hiểu về NXB định gửi bài chỉ là bước đầu tiên. Nhà nghiên cứu còn phải tự trả lời những câu hỏi khác sâu hơn: ban biên tập gồm những chuyên gia nào, quy trình biên tập có nghiêm mật không, tạp chí có thuộc danh mục Clarivate Analytics (trước là ISI) hay không, chỉ số ảnh hưởng (impact factor) bao nhiêu, kết quả của bài báo có phù hợp với chủ đề của nó không.  Trên thực tế, nhà nghiên cứu thường “đo ni đóng giầy”: ngắm trước nơi sẽ gửi đăng, trước khi bắt tay vào viết bài báo. Nhìn chung, hành trình để có được một công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín và chất lượng không rải hoa hồng. Bù lại, một trong những giây phút hạnh phúc của nhà nghiên cứu là nhận tin những tìm tòi của mình được nhận đăng trên một địa chỉ khoa học đáng tin cậy.  Việt Nam hiện cũng đã có một số tạp chí quốc tế trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ. Trên con đường hội nhập, hy vọng các hiệp hội khoa học chuyên ngành, các đại học trong nước và cơ quan quản lý tiếp tục có những bước đi tiến bộ trong xây dựng đội ngũ biên tập, chú trọng chất lượng ấn phẩm, chủ động liên kết với đối tác có kinh nghiệm và đầu tư nguồn lực hợp lý giúp các tạp chí nâng cao chất lượng và vị thế của mình. Các nhà nghiên cứu trẻ nhờ vậy sẽ có thêm những địa chỉ tin cậy để gửi gắm công trình nghiên cứu, qua đó góp phần thúc đẩy chất lượng khoa học và giáo dục đại học trước ngưỡng cửa của giai đoạn phát triển mới với nhiều thách thức.  Tác giả cảm ơn TS Ngô Đức Thế và TS Trần Vũ Hùng đã có những góp ý và biên tập quan trọng cho bài viết.  Nguồn tham khảo:   https://www.elsevier.com/about/our-business/history  https://www.springer.com/us/about-springer/history  https://www.timeshighereducation.com/news/nature-publisher-to-merge-with-springer/2017985.article   https://www.statista.com/statistics/272557/reveune-of-springer-science-and-business-media/  https://www.wiley.com/legacy/about/grolierexhibit/index.html  http://taylorandfrancis.com/about/history/  https://www.ieee.org/publications_standards/publications/periodicals/index.html  https://publications.agu.org/journals/  https://www.egu.eu/publications/open-access-journals/  http://aip.scitation.org/  http://iopscience.iop.org/journalList  http://pubs.rsc.org/en/journals  http://www.math.ac.vn/publications/vjm/Aims_Scope.htm  https://www.journals.elsevier.com/journal-of-science-advanced-materials-and-devices  http://iopscience.iop.org/journal/2043-6262  Nguồn tin: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/doi-net-ve-lang-xuat-ban-an-pham-khoa-hoc-quoc-te/20180301084552450p1c160.htm    Author                Lưu Quang Hưng        
__label__tiasang Đối phó với đại dịch Covid-19: Sự chuẩn bị trong 10 năm      Kinh nghiệm và những hiểu biết về các virus cúm mà Phòng thí nghiệm Cúm (Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương NIHE) có được từ những năm 2000 đã trở thành “vũ khí đặc biệt” để họ có thể tham gia tư vấn và góp phần giải quyết các vấn đề chuyên môn mà Việt Nam gặp phải trong đại dịch Covid-19, ngay cả khi phải đối mặt làn sóng thứ ba với biến thể mới của SARS-CoV-2 vào giáp Tết Nguyên đán.      Các nhà nghiên cứu Phòng thí nghiệm Cúm (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương). Ảnh: nhandan.con.vn  Có lẽ, ở thời điểm này, rất nhiều người ngoài ngành y đều đã biết đến tập thể các nhà khoa học Phòng thí nghiệm Cúm. Hẳn ai cũng rõ những thông tin “bề nổi” như việc họ được trao giải Kovalevskaia, thực hiện các xét nghiệm phát hiện SARS-CoV-2 hay có mặt tại các điểm nóng dịch bệnh… nhưng ít ai biết, những năng lực chuyên môn và kinh nghiệm họ áp dụng đã được tích lũy thông qua quá trình ứng phó nhiều dịch bệnh từ những năm 2000.  Vì vậy trong lễ kỷ niệm 90 năm ngành Tuyên giáo ngày 31/7/2020, PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai, Viện phó Viện NIHE, cho rằng, sự từng bước trưởng thành của y học dự phòng Việt Nam thể hiện rõ qua các mốc dịch bệnh: “Khi có dịch SARS vào năm 2003, công việc giám sát cách ly của chúng ta vẫn còn non nớt do chưa có kinh nghiệm, các tổ chức quốc tế phải cử các chuyên gia tới hỗ trợ xây dựng hệ thống giám sát cúm quốc gia. Sáu năm sau, khi phải đối mặt với cúm A/H1N1, chuyên gia nước ngoài giúp chúng ta xây dựng chương trình ứng phó. Tuy nhiên với SARS CoV-2, toàn bộ chiến lược phòng chống và tổ chức thực hiện đều từ nỗ lực của các cán bộ của y học dự phòng Việt Nam. Các chuyên gia nước ngoài vẫn có mặt nhưng chỉ trong vai trò quan sát và tất cả những hỗ trợ về kỹ thuật, sinh phẩm của các tổ chức quốc tế cũng chỉ mang ý nghĩa phụ thêm”.  Kết quả của những tích lũy lâu dài  Lời bộc bạch của PGS. TS Trương Thị Quỳnh Mai đã tóm gọn quá trình đạt tới trình độ quốc tế của đội ngũ các nhà khoa học ở NIHE. Là một người của NIHE, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng – một trong ba nhà khoa học nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2019, nhớ lại vào dịch SARS năm 2003, “ban đầu mình cũng chẳng hiểu biết gì nhiều, chỉ nghĩ là lây qua đường hô hấp thì đeo một cái khẩu trang y tế chắc là đảm bảo”, dù thời điểm đó, các chuyên gia quốc gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cảnh báo đây là một virus lây truyền qua đường hô hấp hết sức nguy hiểm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến suy nghĩ phổ biến này của các nhà nghiên cứu NIHE là do “khi đó, hoàn cảnh chưa cho phép chúng tôi làm việc trong điều kiện tốt về vật chất, trang thiết bị như bây giờ. Mặt khác kiến thức của mình về các loại virus cúm cũng còn rất hạn chế”, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng nhìn nhận lại quá trình vỡ vạc như thế.   Suy nghĩ này chỉ thực sự thay đổi khi chỉ trong vòng một tuần, tình trạng chuyển biến lâm sàng hết sức trầm trọng, thậm chí chuyên gia quốc tế cũng tử vong. “Lúc đó, mọi nhận thức của mình đã thay đổi hẳn nhưng cũng chưa biết làm thế nào để đối phó với dịch bệnh cả, chỉ có mỗi cách là tạm thời dừng những việc tiếp xúc không cần thiết lại để cường độ tiếp xúc với những tác nhân gây bệnh có thể giảm đi”, chị nói. Giữa những lúc cam go, những người làm nghiên cứu về virus cúm đã may mắn nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tận dụng cơ hội để không ngừng cập nhật những hiểu biết mới, “vì tại thời điểm đấy, chúng tôi mới lần đầu biết thế nào là trang bị phòng hộ cá nhân (PPE), khẩu trang N95, tấm che mặt (mask shield), máy thở trong phòng thí nghiệm… nhưng nhận thức về an toàn sinh học của mình lúc đấy chưa đầy đủ, sử dụng mọi trang bị phòng hộ lúc thì đơn giản quá, lúc thì thái quá”.   “Những gì thế hệ các thầy đi trước như các giáo sư Hoàng Thủy Long, Hoàng Thủy Nguyên, Huỳnh Thị Phương Liên… truyền lại đã đem lại những kinh nghiệm quý báu cho lứa các nhà nghiên cứu thế hệ sau như chúng tôi. Nhờ có sự nối tiếp thế hệ như vậy mà chúng tôi không chỉ không quá hoang mang khi đối mặt với virus corona chủng mới mà còn giữ được niềm say mê thực sự trong công việc. Tôi cảm thấy rất vui khi thấy điều đó ở các nhà nghiên cứu lứa sau nữa, nếu không thật khó thuyết phục được mọi người bám trụ giữa sự nguy hiểm và vất vả. Trong những hình huống nguy cấp nhất thì tất cả vẫn sẵn sàng chia sẻ công việc, có mặt tại Viện đến 8 – 9 giờ tối. Đương nhiên trong dịch có những ngày bơ phờ lắm, nhìn nhau cũng chẳng muốn chào, nhưng không ai nản và ai cũng ở tâm trạng sẵn sàng hôm sau có thể lên đường vào tâm dịch”. (PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng – một trong ba nhà khoa học nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2019).    Điểm quan trọng mà các nhà nghiên cứu NIHE học hỏi được là cập nhật khái niệm và thực hành về an toàn sinh học thông qua việc xây dựng, vận hành một phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 2 +, nơi làm việc với các vi sinh vật có khả năng gây bệnh nặng cho người, có khả năng lây truyền sang người, với kinh phí do JICA tài trợ.   Có lẽ, hiếm ở đâu người ta lại thấm thía câu nói “học qua hành” như NIHE. Những kiến thức về virus cúm được bổ sung theo từng đợt ứng phó với nhiều loại cúm khác, ví dụ vào năm 2005, khi Việt Nam xuất hiện cúm A/H1N1 – một chủng virus cúm A là nguyên nhân của hầu hết bệnh cúm trên người và có đặc điểm là lây lan nhanh trên diện rộng. Theo nhận xét của PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng thì mức độ hiểu biết và khả năng ứng phó đã được nâng lên: “Lúc đấy thì mình đã hiểu biết là tác nhân gây bệnh lây qua đường hô hấp, cần được bảo hộ đầy đủ và đúng mức bởi mỗi loại cúm A hoặc cúm B sẽ có những quy định về trang phục riêng”. Do đó, khi xuất hiện ca cúm gia cầm H5N1 đầu tiên lây nhiễm trên người vào cuối năm 2005 là các nhà nghiên cứu đã thành thạo với việc sử dụng trang thiết bị bảo hộ cá nhân thế hệ mới và bắt đầu tự tin cho những nghiên cứu về cúm A.     PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng – một trong ba nhà khoa học nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2019. Ảnh: Thanh Nhàn  Việc tích lũy hiểu biết qua thời gian khiến những người như chị có thể đưa ra nhận xét khái quát về virus cúm A và cúm B – những loài vi sinh vật nhỏ bé không thể quan sát bằng mắt thường nhưng là tác nhân gây bệnh ở quy mô thế giới, “người ta vẫn sợ nhất là cúm gia cầm (cúm A) vì tỉ lệ tử vong của nó cao, dù lây lan không nhanh và hiện mới được đánh giá là chỉ lây truyền trực tiếp từ gia cầm sang người, chưa lây lan từ người sang người. Còn cúm mùa (cúm B) lây lan rất nhanh giữa người với người nhưng bệnh cảnh lâm sàng trầm trọng ghi nhận rất thấp. Thực ra cúm A hay gây bệnh cảnh trầm trọng hơn và việc tổ hợp giữa 16 kháng nguyên H (hemagglutinin) và 15 kháng nguyên N (neuraminidase) thể có tạo ra ít nhất gần 200 tổ hợp virus cúm khác nhau, vô cùng phức tạp”.  Tâm thế chủ động của nhà nghiên cứu  Có một điểm trùng hợp giữa những người đi tiên phong trong ứng phó với dịch bệnh Covid-19 như các nhà nghiên cứu ở Học viện Quân y, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hay NIHE…  là sự chủ động trong tìm hiểu và nghiên cứu những tác nhân gây bệnh, ngay cả khi chúng chưa đến Việt Nam. Việc hoàn thành nhanh chóng bộ kit xét nghiệm SARS CoV-2 bằng kỹ thuật “chuẩn vàng” PCR-RT của các nhà nghiên cứu Học viện Quân y một phần nhờ việc chủ động đề xuất với Bộ KH&CN đề tài phát triển bộ kit phát hiện nhanh virus Ebola vài năm trước cũng như chủ động cập nhật tình hình quốc tế như một phản xạ tự nhiên khi dịch Covid-19 mới nhen nhóm xuất hiện ở Trung Quốc. Với các nhà nghiên cứu ở NIHE cũng vậy, họ chú ý ngay tới những ca đầu tiên ở Trung Quốc giữa những thông tin dịch bệnh khác. “Đương nhiên mình lúc nào cũng phải cập nhật thông tin của WHO, ngay từ khi mới xuất hiện virus mới ở Trung Quốc trong những ngày đầu tháng 12/2019 và khi Việt Nam chưa có ca bệnh thì ở đây mình đã phải chuẩn bị hết rồi”, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng nói.  Sự chủ động của chị và đồng nghiệp chính là việc chuẩn bị sẵn dòng tế bào nuôi cấy và một tâm thế sẵn sàng thực hiện khi có mẫu bệnh phẩm gửi đến. Việc cập nhật thông tin của WHO và kinh nghiệm tích lũy từ năm 2003 giúp họ xác định được ngay con virus họ corona này thích hợp với dòng tế bào Vero E6. Họ đề nghị phòng thí nghiệm hữu nghị Nagasaki trong khuôn viên NIHE chuyển cho hai dòng, mặc dù chưa có mẫu bệnh phẩm. “Ngay từ thời điểm đó, chúng tôi đã nghĩ đến chuyện này rồi. Với phòng thí nghiệm, ngoài việc chẩn đoán thì mục tiêu sâu hơn là phải nghiên cứu. Do vậy, khi có những bệnh phẩm dương tính đầu tiên vào ngày 30/1/2020, tức ngày mồng 6 Tết năm ngoái, chúng tôi đã sẵn sàng cho việc phân lập virus, một trong những công việc cơ bản trong nghiên cứu”.      Điểm trùng hợp giữa những người đi tiên phong trong ứng phó với dịch bệnh COVID-19 như các nhà nghiên cứu ở Học viện Quân y, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hay NIHE… là sự chủ động trong tìm hiểu và nghiên cứu những tác nhân gây bệnh, ngay cả khi chúng chưa đến Việt Nam.      Mặc dù việc phân lập thành công virus SARS CoV-2 dựa trên rất nhiều yếu tố về cơ sở vật chất, kinh nghiệm trên những loại virus khác nhau… nhưng PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng vẫn cho rằng, thành công ngay từ lần đầu tiên nuôi cấy còn có thêm yếu tố may mắn. “Mẫu bệnh phẩm mình làm nếu có nồng độ virus cao vì được lấy khi bệnh nhân ở giai đoạn đỉnh bệnh, thì tỉ lệ thành công lớn, còn nếu ở giai đoạn mới bắt đầu hay giai đoạn bệnh đã thoái lui rồi thì sẽ không có khả năng phân lập được. Do vậy ngày 30/1/2020 có mẫu dương tính gửi về đến ngày 7/2, sau 96 giờ theo dõi hồi hộp, chúng tôi đã phân lập được virus rồi”, chị kể.   Câu chuyện này đã diễn ra tới một năm trước nhưng chị vẫn còn cảm thấy mọi thứ hiển hiện trước mắt “Thường thì chúng tôi sẽ mất hai ngày để chuẩn bị tế bào, sau đó đưa cho mẫu bệnh phẩm vào đấy để nuôi cấy. Nếu như bình thường mình chỉ nhìn thấy hiện tượng hủy hoại tế bào thì cũng chưa thể xác định được virus mình nuôi cấy đấy là gì, nhất là trường hợp này khó hơn vì là virus mới. Nhiệm vụ lúc đó của chúng tôi là làm tiêu bản, sau đó mình thực hiện những biện pháp cho nó hết lây nhiễm và soi để xác định bằng hình thái”.   Một thuận lợi lớn của NIHE trong việc xác định virus là có kính hiển vi điện tử, một thiết bị rất hữu hiệu trong việc xác định hình thái, cấu trúc của mẫu virus ở cấp độ nano. Cái cảm giác chạm vào một cái mốc quan trọng trên chặng đường “chiến đấu” với virus như vỡ òa. “Sau một tiếng, chúng tôi nhìn ra đúng con virus mình mong muốn cả về kích thước và hình thái. Người ta đặt tên cho virus họ này là corona (vương miện) và khi nhìn thấy hình thái dưới kính hiển vi điện tử đúng chuẩn thế, kích thước ở mức 97 nanomet rồi 101 nanomet. Mình đã xác định được nhiều con virus khác nhau trên tiêu bản, vì vậy mình có quyền khẳng định con virus phân lập được là nó”.    Bức ảnh tiêu bản virus corona chủng mới do Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương phân lập, nuôi cấy hiển thị trên kính hiển vi điện tử. Nguồn: NIHE.   Việc phân lập được virus corona chủng mới ở thời điểm đại dịch mới chạm đến Việt Nam có ý nghĩa rất lớn. “Nếu không thành công, mình có thể ‘xin’ mẫu của bạn bè quốc tế nhưng việc có được nó từ mẫu bệnh phẩm ở Việt Nam đem lại nhiều thuận lợi hơn cho những nghiên cứu ở giai đoạn sau”, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng nói một cách ngắn gọn về ý nghĩa của công việc mà NIHE đã làm được. Tuy nhiên, đồng nghiệp của chị, PGS. TS Hồ Anh Sơn – trưởng nhóm phát triển bộ kit phát hiện nhanh SARS CoV-2 ở Học viện Quân y, thì không khỏi cảm thấy “hàm ơn” về nỗ lực này: “Con virus mà Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương phân lập được sớm trên mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân Việt Nam đã giúp chúng tôi có thể phân tích sâu hơn về đặc điểm trình tự gene của virus và so sánh với các trình tự gene virus do các nước đã công bố. Nếu không có mẫu của Viện thì chúng tôi khó có thể thiết kế bộ kit được tối ưu hơn và nhanh hơn”. Bên lề cuộc họp báo công bố bộ kít tại Bộ KH&CN vào ngày 5/3/2020, tiến sĩ Hoàng Xuân Sử, một thành viên của nhóm cho biết, trong giai đoạn đầu đại dịch, bộ kit đầu tiên của CDC Hoa Kỳ từng thất bại bởi phát triển và đánh giá trên mẫu bệnh phẩm giả định chứa tiểu phần virus để mô phỏng giống bệnh phẩm lâm sàng do lúc đầu ở Mỹ chưa có nhiều người mắc và chưa có nhiều mẫu bệnh phẩm.  Năm 2020 là một năm bận rộn về nghiên cứu của NIHE. Ngoài việc tham gia một nhánh của đề tài “Phát triển Vaccine chống lại chủng mới của virus corona trên giá thể baculovirus ở quy mô phòng thí nghiệm” do Vabiotech chủ trì, họ còn thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và virus bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus corona mới 2019 tại Việt Nam” cùng đồng nghiệp TPHCM – một đề tài nghiên cứu cơ bản về tất cả đặc trưng dịch tễ học, virus học, huyết thanh học của virus. Bên cạnh đó, NIHE còn phối hợp với các viện như Viện Tế bào gốc và Công nghệ Gene Vinmec, Viện Y học lâm sàng nhiệt đới, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Viện Huyết học truyền máu Trung ương tìm hiểu về những bệnh nhân ở thể trạng trung bình nặng để nghiên cứu điều trị huyết tương. Song song với quá trình này, các nhà nghiên cứu của NIHE tiếp tục giải trình tự gene, tham gia chia sẻ các kết quả giải trình tự các chủng virus ở những vị trí địa lý khác nhau để cùng đồng nghiệp trên thế giới cập nhật thông tin mới phục vụ ứng phó dịch bệnh và nghiên cứu lâu dài.    Thật khó đánh giá hết một chuỗi nỗ lực của các nhà nghiên cứu ở NIHE ở thời điểm dịch bệnh chưa lui nhưng việc phân lập được virus corona chủng mới, tạo điều kiện phát triển và đánh giá độ đặc hiệu của bộ kit xét nghiệm nhanh, phát triển vaccine, đưa ra những tư vấn để góp phần xây dựng chiến lược ứng phó, ngăn chặn cũng như tập huấn quy trình xét nghiệm cho các Trung tâm kiểm soát dịch bệnh địa phương, bệnh viện địa phương… của họ đã tham gia vào việc cùng cả nước đẩy lui các làn sóng lây nhiễm. “Tôi có cảm nhận là chưa bao giờ hệ thống y học dự phòng được nhắc nhiều đến thế, chưa khi nào NIHE làm được nhiều việc như thế và được xã hội quan tâm nhiều như thế. Tất cả những điều đó đã trở thành động lực để chúng tôi có thể dành hết tâm sức vào việc tham gia kiểm soát và ngăn ngừa đại dịch”, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng nói một cách giản dị, dù biết rằng các nhà nghiên cứu ở viện “mất” thêm cái tết Nguyên đán nữa vì virus corona. □          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Đối thoại: phẩm chất cần thiết của nhà khoa học      Đối thoại là gì, tại sao và khi nào cần đối thoại, chúng ta có thể đối thoại tốt hơn bằng cách nào và liệu chúng ta có tiến bộ hơn nhờ đối thoại? Tiếp xúc thực tế là một phần hoạt động mà các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách cần làm để hiểu công chúng và ngược lại. Cần lắng nghe mọi người trước khi chúng ta bắt đầu nói và làm một điều gì đó.    Có rất nhiều người, trong đó có Nancy Rothwell (một nữ giáo sư có tiếng của Anh quốc trong lĩnh vực nghiên cứu y khoa), đã nói “Nhiều người đã đặt cho tôi những câu hỏi mà từ đó dẫn tới cả một đường hướng nghiên cứu mới vì chúng xuất phát từ những cái nhìn hoàn toàn khác”. Đối thoại nghĩa là nói chuyện với công chúng về các vấn đề đạo đức trong một không khí cởi mở. Nó không phải là việc gợi ý để công chúng đưa ra quyết định. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể có những quyết định đúng đắn hơn nếu chúng ta hiểu công chúng tốt hơn. Công chúng sẽ nói ra những quan ngại mà chúng ta chưa nghĩ tới. Và công việc của chúng ta, những nhà khoa học là phải tìm cách giải quyết các mối quan ngại này.  Tại sao cần đối thoại? Bởi vì nếu làm tốt được điều này thì chúng ta sẽ gia tăng được lòng tin của công chúng đối với khoa học. Từ đó, chúng ta sẽ có những cuộc thảo luận bổ ích hơn về khoa học và có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn hơn cho cộng đồng. David King, Cố vấn trưởng về khoa học của Chính phủ Anh nói: “Nếu chúng ta không đối thoại được tốt thì sẽ không thể có khoa học. Điều này cũng quan trọng như chính bản thân khoa học”.  Một trong những câu mà tôi thích nhất trong Báo cáo Jenkin, một báo cáo về khoa học xã hội của Anh là: “Những người làm khoa học bao giờ cũng đề cao tinh thần và giá trị”. Rất nhiều nhà khoa học miệt mài với công việc vì họ tin vào những giá trị và hiệu quả mà các công việc họ làm đem lại. Tuy nhiên chúng ta, với tư cách là những nhà khoa học, lại có xu hướng không nói đến vấn đề đạo đức và cho rằng chúng ta chỉ làm khoa học, đạo đức không thuộc lĩnh vực của chúng ta. Nhưng, chúng ta lại yêu cầu công chúng phải tin vào giá trị, đạo đức. Nếu các nhà khoa học bắt đầu bằng việc nói với công chúng về niềm tin đạo đức của chính họ, tôi tin rằng điều này sẽ có tính nhân bản hơn. Báo cáo Jenkin cũng yêu cầu các nhà khoa học nói về những giá trị của chính họ. Nhờ đó, họ sẽ có nhiều sự hỗ trợ của công chúng hơn.  Năm 1994, trước khi vấn đề biến đổi gien (BĐG) thực sự trở thành điểm nóng, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học trong các lĩnh vực Công nghệ Sinh học và Sinh vật học đã tổ chức một cuộc hội thảo để lấy ý kiến đồng thuận Bảo tàng Khoa học (Anh). Cụ thể cách tiến hành là: một nhóm người dân bình thường gặp và làm quen với nhau trong khoảng thời gian vài tuần. Họ được thông tin đầy đủ về các chủ đề bàn luận. Trong thời gian đó, họ được nghe rất nhiều quan điểm và cũng đã đưa ra một số gợi ý rất có giá trị. Thí dụ như việc cần in rõ ràng trên nhãn thông tin: thực phẩm biến đổi gien và điều này cần phải được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn thế giới. Hay họ cho rằng phần luật sở hữu trí tuệ liên quan tới thực phẩm biến đổi gien thực sự quá rắc rối. Những người tham gia hội thảo cũng cho rằng công nghệ biến đổi gien đem lại lợi ích rất lớn và có thể tạo ra đủ lượng thực phẩm nuôi sống cả thế giới. Nhưng họ cảnh bảo rằng nếu các nước đang phát triển không được tham gia vào quá trình ứng dụng thực tế thì công chúng sẽ không chấp nhận khi công nghệ này chính thức được thương mại hóa…  Biến đổi gien có những lợi ích và tiềm năng to lớn. Lẽ ra chúng ta phải có những đối thoại tốt hơn với đầy đủ thông tin hơn để đáp ứng sự mong muốn và giải tỏa được nỗi lo lắng của công chúng.  Vậy thì khi nào chúng ta cần đối thoại? Nếu tất cả chúng ta chỉ tiếp xúc với công chúng khi chuẩn bị công bố dự án hoặc công nghệ thì chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh giá xem liệu có cách nào khác tốt hơn để ứng dụng khoa học và công nghệ. Ví dụ điển hình là tranh luận xung quanh biến đổi gien. Chúng ta thử nghiệm thị trường trong khi sự thận trọng về biến đổi gien đang gia tăng. Tôi chắc chắn rằng nếu chúng ta hiểu rõ hơn về ý kiến của công chúng thì chúng ta sẽ có kết quả khả quan hơn.  Trong một lĩnh vực khác mà chúng tôi thử nghiệm (ví dụ Báo cáo của Warnock), hiệu quả thu được tốt hơn hẳn. Trong lĩnh vực công nghệ nano, báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Anh (Royal Society) và Học viện Cơ khí Hoàng gia đã tôn trọng quan điểm của công chúng và chuẩn bị được các điều kiện chín muồi trước khi thực hiện.  Để đối thoại hiệu quả hơn, chúng ta cần có hình thức đối thoại linh hoạt để mọi người có thời gian nói chuyện với gia đình của họ, hoặc suy ngẫm sau đó quay lại xem xét vấn đề sâu hơn. Cần có mục tiêu, phạm vi và cách thức rõ ràng khi đưa ra chính sách, và cũng cần chuẩn bị một cách toàn diện. ở đây tôi không ám chỉ là cần có một bàn tròn gồm đầy đủ người từ các lĩnh vực đối lập để tranh luận. Từ nhóm người lựa chọn ngẫu nhiên, có thể chọn người đại diện cho các khía cạnh khác nhau trong công chúng và tạo điều kiện cho họ tiếp cận với những nhóm đối lập, với báo đài, với các nhà khoa học kể cả những nhà khoa học cực đoan nhất. Nhưng nhóm người đó phải không có lợi ích cá nhân trong công việc đang được thực hiện. Khi đó nhóm người này sẽ có thể cho ra những ý kiến khách quan nhất về vấn đề cần thảo luận. Nếu bạn đồng thời tiếp xúc với các nhà khoa học cũng như những người khác sẽ có thể xử lý được những câu hỏi rất phức tạp. Bạn không hỏi liệu chúng ta có nên thương mại hóa thực phẩm biến đối gien hoặc liệu chúng ta có nên tiếp tục sử dụng năng lượng nguyên tử. Bạn cần hỏi chúng ta làm thế nào để cung cấp năng lượng trong tương lai hoặc chúng ta có thể cung cấp thực phẩm như thế nào sau này và liệu thực phẩm biến đối gien có thích hợp hay không. Bạn cũng cần thu thập phản hồi từ những người tham gia và phải đánh giá lại những phản hồi đó.  Bạn có cho rằng các nhà khoa học thường được chuẩn bị kỹ lưỡng khi đối thoại? Nghiên cứu của Diana Hess với các trường tiểu học chỉ ra rằng, trừ khi bạn dạy người khác kỹ năng thảo luận và tranh luận – ví dụ như lắng nghe, tái hiện và xem xét các khía cạnh khác nhau – thì họ sẽ khá khó khăn để làm việc đó. Các nhà khoa học không được đào tạo đầy đủ về những kỹ năng này. Trong khoa học, chiến thắng là một điều thực sự quan trọng. Chúng ta đến dự một cuộc hội thảo, tranh luận gay gắt nhưng điều này liệu có ích khi đối mặt với công chúng. Chúng ta nghĩ rằng nếu sử dụng logic thì có thể hiểu được bản chất của sự việc và đưa ra một kết quả tất yếu. Nhưng chúng ta quên mất các khía cạnh về đạo đức, môi trường hoặc những vấn đề xã hội khác.  Chúng ta có thể giáo dục con người trong nhà trường và ngoài xã hội, có thể tạo ra những nguyên tắc đạo đức cho các nhà khoa học, có thể giúp đỡ các nhà khoa học khơi dậy các giá trị xã hội, và có thể đánh giá tốt hơn những nhà khoa học thực hiện đối thoại và đối thoại một cách hiệu quả. Nhưng điều quan trọng nhất là khuyến khích các nhà nghiên cứu, các học viện… để nhận thức tốt hơn giá trị của đối thoại. Bởi điều này rất cần thiết đối với khoa học nói chung và các nhà khoa học nói riêng.  B.C lược dịch (Theo British Council)  ———–  * Giáo sư Đại học Bristol (Anh)  Kathy Sykes, Giáo sư vật lý phụ trách đối ngoại của Đại học Bristol (Anh quốc) kiêm người dẫn chương trình truyền hình, thông qua sự tài trợ và tổ chức của Hội đồng Anh dự kiến sẽ thăm và làm việc tại Việt Nam trong tháng 12/2006.  Thành tích mới nhất của nhà khoa học nữ này là nhận giải thưởng cao quý Royal Society Kohn vào tháng 9/2006 vì những đóng góp trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà khoa học và công chúng.  Những đóng góp cụ thể của Giáo sư Sykes là: tổ chức thảo luận về các vấn đề khoa học mà dân chúng quan tâm tại các cộng đồng dân cư nghèo ở Bristol, kêu gọi tài trợ cho hoạt động đối ngoại, thành lập các nhóm thành viên để chia sẻ kinh nghiệm làm việc, khuyến khích các nhà khoa học quan tâm hơn đến các trường học, khuyến khích các nhóm làm việc của đại học Bristol tham gia các buổi triển lãm khoa học…  Kathy Sykes*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đốm sáng *      Bây giờ ở Hà Nội lại có nhiều quán nước vối, nấu cả nụ lẫn lá. Thế là, thức uống ngàn đời của người Việt mà cách đây gần một trăm năm cụ Nguyễn Công Tiễu, một nhà khoa học hàng đầu về lĩnh vực nông nghiệp, đã có một công trình về giá trị dinh dưỡng của nó sau một hồi thời thế xoay vần đã quay trở lại, bình thường như lẽ sống, sự sống. Nước vối khiêm nhường, nhưng đã đủ khỏe khoắn để vượt qua những thách thức của nước ngọt, đồ uống có ga, những thương hiệu lẫy lừng.      Ảnh chứng minh thư cụ Nguyễn Công Tiễu năm 1921  Đốm sáng?  Trên thế giới, bản thân chữ “nhà khoa học” trong ngôn ngữ thông dụng nhất là tiếng Anh, cũng có lịch sử tương đối ngắn. Trước kia, nhà khoa học được gọi bằng những từ khác, ví dụ: nhà triết học tự nhiên. Tra cứu trên dữ liệu Google thì thấy tần suất sử dụng khái niệm “scientist” chỉ bắt đầu trở nên phổ biến ở giai đoạn sau 1850, tức là khi cách mạng công nghiệp đã đi được chặng đường hơn một thế kỷ. Tính phổ biến của khái niệm này đạt đỉnh cao khoảng thập niên 1970-1980, sau đó có lẽ giảm đi một cách tương đối do sự phân chia sâu các lĩnh vực khoa học hẹp và rất hẹp làm xuất hiện những từ chỉ nghề nghiệp chuyên sâu mới.  Ấy vậy mà nước Việt ta ở đầu thế kỷ XX cũng kịp góp một gương mặt khoa học gia thực thụ – cụ Nguyễn Công Tiễu (1892-1976).  Tư liệu khoa học phổ biến hiện đại thường gắn các loài cây cỏ có dược tính với cố giáo sư Đỗ Tất Lợi với tác phẩm nổi tiếng Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, tới nay đã tái bản có bổ sung tới 12 lần. Thực tế ấy khiến cho không hẳn ai cũng biết một thực tế người đi tiên phong mở màn là cụ Nguyễn Công Tiễu.  Thông tin về cụ Tiễu không có nhiều, mặc dù rải rác đây đó cũng có lưu chút vết tích về cuộc đời, sự nghiệp.  Cụ là một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam ngay từ thời Pháp thuộc cho đến thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, suốt cuộc đời luôn gắn bó với người nông dân và nền nông nghiệp của đất nước.  Khi liệt kê những nhà khoa học thuở bình minh đất nước, thường các bài báo hay gộp chung những danh nhân như cụ Nguyễn Công Tiễu và Hoàng Xuân Hãn vào cùng thế hệ, nhưng có lẽ chưa hẳn phù hợp. Cụ Tiễu tốt nghiệp và bắt đầu nghiên cứu với công trình đầu tay vào năm 1922, trong khi đó giáo sư Hoàng Xuân Hãn mãi tới năm 1930 mới bắt đầu nhập học Bách khoa Paris. Trên thực tế, cụ Tiễu cũng lớn hơn tới 16 tuổi.  Trong khi tìm kiếm tư liệu khoa học, chúng tôi bắt gặp tác phẩm năm 1940 của Auguste Chevalier khẳng định công lao đóng góp những hiểu biết khoa học xác thực đầu tiên của cụ Tiễu về giá trị dinh dưỡng và dược học của cây vối đăng trong Le Paysan de Cochinchine (7 déc. 1939, n° 237).1  Trước đó, báo chí Việt Nam đã có dịp giới thiệu cụ tới công chúng rộng rãi qua sự kiện lần đầu tiên có nhà khoa học Việt Nam được chính thức bổ nhiệm trong Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Đông Dương, năm 1929; tin của Hà thành Ngọ báo (ngày 26-12-1929) dưới đây là một ví dụ xác thực.      Một tờ báo cũng hay châm chích các chuyện thế gian thời đó là Thực nghiệp Dân báo trong hai bài cùng xuất bản năm 1933 (S. 70, 13-6-1933), tr. 1; và S. 72, 15-6-1933, tr. 1-2) cũng khẳng định vị trí của cụ Tiễu được công nhận không chỉ là nhà khoa học đầu tiên, mà là “độc nhất” ở Việt Nam ta lúc đó.  Ngay cả trong một bài phê phán quan lại người Pháp qua chuyện diệt ve sầu (được giao cụ Tiễu nghiên cứu cách giải quyết), một trí thức lớn Việt Nam thời đầu thế kỷ XX là cụ Phan Khôi cũng thừa nhận vị trí đứng đầu về khoa học của cụ Tiễu (“Con mắt xanh Phan Khôi”; Báo Quảng Nam, 06-10-2014.).  Bản thân cái tin cụ Tiễu được giao kinh phí 100 đồng để diệt ve sầu cũng làm tốn giấy mực của báo giới Việt Nam lúc đó, như tin dưới đây của Tràng An Báo (30-8-1935).       Ở thời kỳ nền khoa học còn mong manh, chủ yếu áp dụng những kiến thức của người Pháp mang tới, sự xuất hiện và công nhận vai trò nhà khoa học đầu đàn người Việt khiến ta cảm thấy hình ảnh cụ Nguyễn Công Tiễu quả thật là một đốm sáng hiếm hoi trong bầu trời đêm tri thức.  Người đi đầu, dẫn đường…  Những thành tựu và phương pháp, tinh thần khoa học trọn đời của cụ Tiễu đã đóng vai nhà khoa học đầu tiên dẫn “đội quân ánh sáng” Việt Nam bước vào kỷ nguyên hiện đại – chúng tôi đi đến nhận định này sau khi lục lọi rất nhiều, có cả tình cờ lẫn chủ ý.  Sử dụng Google Scholar, chúng tôi tìm được một số tác phẩm (và cũng biết đến được nhiều ấn phẩm khác, dù không có bản sao lưu điện tử mà chỉ tìm được thông tin thư viện), ví dụ:  Tieu, N. C. (1922). Note sur une Cécidomyie du Riz. Bull. Econ. de l’Indochine, 25:590-593; Tieu, N. C. (1928). Notes sur les insectes comestibles au Tokin. Bull. Econ. de l’Indochine, 31, 735-744; Tieu, N. C. (1930). L’Azolle cultivee comme engrais vert. Bull. Econ. de l’Indochine, 33, 335-350.  Đây là các tác phẩm bằng tiếng Pháp, ngôn ngữ quốc tế được trao đổi khoa học rất rộng rãi vào thời kỳ đó, và cũng thường được đọc trích dẫn. Thực tế cho tới tận gần đây, chúng tôi vẫn thấy có những tác giả hiện đại dẫn chiếu đến kiến thức đóng góp từ đầu thế kỷ trước của cụ Tiễu. Nói một cách “tân kỳ” thì chu kỳ sống của sản phẩm tri thức do cụ đóng góp rất bền.  Tuy nhiên, cụ cũng viết và phổ biến kiến thức khoa học cho nông dân, người làm kỹ thuật canh nông qua các tác phẩm vẫn còn nhiều người biết đến như sách Những kỳ quan vũ trụ (1929), Những điều bí mật về bèo hoa dâu (1934)…  Chưa hết, cụ còn đi tiên phong trong việc sản xuất ấn phẩm khoa học, bằng việc sáng lập và làm chủ bút tờ Khoa học Tạp chí của Việt Nam, có lẽ là ấn phẩm khoa học đầu tiên, vào năm 1931. Tạp chí khoa học này ấn hành được 10 năm, ra một tháng hai kỳ (tức là tương đương với Tia Sáng ngày nay) trong điều kiện kỹ thuật, bài vở và đội ngũ khoa học đầy hạn chế và khó khăn. Tạp chí này ấn hành được 232 số, và đình bản vào tháng 8-1941; và hiện nay vẫn được hệ thống tư liệu báo chí ngoại văn Việt Nam lưu giữ thông tin thư viện.2 (Bây giờ vẫn có thể tìm thấy thông tin thư viện của một số tạp chí nhờ dự án số hóa của Google Books: Khoa Học. [Revue scientifique.] Bimensuel. Dir.: Nguyễn Công-Tiễu. 1re année. N° 4, 15 août 1931.)  Có thể thấy tinh thần cống hiến khoa học của cụ Tiễu  qua cống hiến suốt đời của cụ. Tuy vậy, còn có thể minh chứng qua một chi tiết. Do làm việc nhiều với kính hiển vi, cụ bị suy giảm thị lực trầm trọng. Đến năm 50 tuổi thì lòa hẳn. Cụ không tuyệt vọng, mà học chữ nổi để tiếp tục nghiên cứu. Đã vậy, tới khi thành thạo, cụ lại còn thành người dạy đọc chữ nổi và có thời kỳ làm chủ tịch Hội người mù, đóng góp trong việc phổ biến kiến thức và đọc sách.  Có thể nói, cụ Tiễu thực sự là người đi đầu dẫn đường, tạo nên phong cách sống, làm việc, cống hiến với tinh thần khoa học rất cao cả, người mà nhà văn hóa Hữu Ngọc khi đã 93 tuổi trao đổi trong bài viết của Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam nói: “là ông tổ, là người tiên phong trong truyền bá tri thức khoa học ở Việt Nam.”3  Tuy nhiên, không chỉ báo chí Việt Nam, mà cả hệ thống các cơ quan lưu trữ của Pháp cũng có những tài liệu phong phú, quý hiếm về nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu, ví dụ như Agence Bibliographique de l’Enseignement Supérieur.4 Trên thực tế, trong quá trình tìm kiếm thông tin, ba tác phẩm liệt kê ở trên của cụ Tiễu được tìm thấy nhờ truy cập vào trang web lưu trữ của Thư viện Quốc gia Pháp, trong đó chứa gần như trọn vẹn các công trình nghiên cứu đã đăng tải của cụ Tiễu trên tạp chí khoa học rất có giá trị thời đó là  Bản tin Kinh tế Đông dương (Bulletin économique de l’Indochine).5  Lại nói chuyện công bố khoa học  Sau khi trình bày một số thông tin và tài liệu xác thực về vai trò tiên phong, ngọn đuốc thắp lên ánh sáng khoa học ở đầu thế kỷ XX tại Việt Nam của cụ Nguyễn Công Tiễu, chúng tôi nhận thấy có mối liên hệ với cuộc thảo luận rộng rãi trong xã hội Việt Nam, cũng như trên diễn đàn khoa học Tia Sáng về vấn đề công bố ấn phẩm khoa học, nhìn từ tấm gương lao động và cống hiến của cụ Tiễu.  Xin nêu lên vài điểm đáng suy nghĩ như sau:  Thứ nhất, từ đầu thế kỷ XX cụ Tiễu đã ngay lập tức hiểu rằng, công bố khoa học quốc tế là công việc quan trọng hàng đầu. Cụ làm công việc ấy ngay từ khi còn rất trẻ, và bền bỉ. Cụ Tiễu cũng hiểu rằng, phải có sự trao đổi, phản biện khoa học thì mới nâng cao được chất lượng. Việc công nhận vai trò nghiên cứu của cụ trong Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Đông dương là ghi nhận rõ ràng cho ý thức và công cuộc bền bỉ ấy. Mục tiêu tri thức là quan trọng; cũng chẳng cần ai gọi là giáo sư hay tiến sỹ, hay danh tước gì khác. Nhưng cái bản chất của sản xuất tri thức mới thực chất và đậm đặc làm sao.  Thứ hai, công bố quốc tế giúp việc lưu trữ và bảo tồn thông tin – vốn rất quan trọng với việc sử dụng lâu dài của các thế hệ tương lai – trở nên an toàn, bền vững hơn nhiều. Đó là một giá trị lớn của khoa học hiện đại; trong đó có phần đóng góp của các ấn phẩm và hệ thống tạp chí, sách chuyên khảo… Trên thực tế, nếu không có những ấn phẩm và lưu trữ điện tử, chúng tôi cũng không có cách nào tìm hiểu về cụ Tiễu ngoài một vài dòng thông tin sơ lược ngắn ngủi qua những bài báo.  Thứ ba, đã gần 90 năm trôi qua kể từ những công trình đầu tiên như khảo cứu về bèo hoa dâu, cũng là lúc để thấy sự tri ân với ngọn đuốc khoa học như cụ Tiễu là điều cần thiết; và đó cũng là điều để động viên thế hệ khoa học trẻ tiếp bước. Trong những điều kiện thiếu thốn, khắc khổ và công nghệ hạn chế như vào đầu thế kỷ XX, nhà khoa học như cụ Tiễu còn làm được những việc mà tới thế kỷ XXI, hậu sinh vẫn phải sử dụng, tham khảo, trích dẫn – tới tận năm 2005, chúng tôi vẫn thấy có công trình mới xuất bản sử dụng và trích dẫn thông tin khoa học của cụ Tiễu công bố từ năm 1930, ví dụ 6 – thì chẳng có lý do gì để chúng ta từ chối trách nhiệm nghiên cứu và cọ xát chất lượng, công bố tri thức đứng đắn tới cộng đồng nghiên cứu nói riêng và xã hội nói chung, trong bối cảnh điều kiện kinh tế tốt hơn nhiều, tiện nghi đời sống đầy đủ và phương tiện vật chất thông tin cho khoa học về cơ bản khá sẵn sàng, dồi dào.  Điều đáng tiếc nhất là vẫn chưa thể tìm được một bức ảnh nào của cụ Nguyễn Công Tiễu ngoài bức ảnh ở chứng minh thư.    Author                Vương Quân Hoàng        
__label__tiasang Đón đọc Tia Sáng số 20 tháng 10/2022      Một số báo với nội dung đặc biệt, mỗi năm chỉ xuất hiện một lần, sẽ mở ra cho chúng ta một chân trời với nhiều ước vọng cũng như những giá trị đặc biệt mà khoa học đã đem lại cho thế giới này. Tất cả vì một thế giới tốt đẹp hơn.     Chuyên đề Nobel 2022 được chúng tôi kỳ vọng sẽ đem lại những thông tin hữu ích và những đánh giá xác đáng từ chính những nhà nghiên cứu, khi viết về các đồng nghiệp được cộng đồng khoa học ghi nhận sau biết bao nỗ lực họ bỏ ra trong hàng thập kỷ.  Thông thường, công chúng chỉ biết đến nhà khoa học khi tên tuổi và thành công của họ được xướng lên ở một giải thưởng lớn. Nhưng kể cả như vậy, không mấy khi mọi người hiểu rõ những chông gai đằng sau hào quang đó. Ban đầu, đó có thể là một con đường của một vài nhà khoa học khai mở từ trí tò mò dẫn dắt, về sau phải có nỗ lực bồi đắp của hàng thế hệ nhà khoa học, nó mới mở ra đại lộ dẫn đường cho những công nghệ mới phục vụ đời sống con người.  Từ con đường đến đại lộ có khi phải trải qua không ít những lầm lạc. “Không bao giờ quá muộn để hiểu đúng”, giáo sư Pierre Darriulat đã nhận định như vậy trong bài viết về giải Nobel Vật lý. “Lý thuyết cũ thường trở nên quá quen thuộc đến mức chúng ta chấp nhận nó như là mô tả của ‘thực tại’… Các nhà khoa học sau nhiều thập kỷ nghiên cứu về các hiện tượng thống trị bởi lý thuyết mới, cuối cùng lại trở nên quen thuộc với nó đến mức họ lại chấp nhận nó, bất chấp những vi phạm mà nó vẫn tiếp tục tác động lên trực giác thông thường của họ…”. Câu chuyện lịch sử về cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học, giữa những tên tuổi lừng lẫy như Einstein, Niels Bohr…, nỗ lực bồi đắp của những người như John Bell…, và được kế thừa bởi ba nhà vật lý được trao giải Nobel năm nay không chỉ cho chúng ta thấy chặng đường gian nan để hiểu đúng, chứng minh đúng trong thế giới khoa học mà còn gợi mở cho mỗi người trong chúng ta một phần ý nghĩa của cuộc sống: hãy mơ, hãy kiên trì theo đuổi và vun đắp cho mục tiêu của mình, có ngày sẽ đến đích.  Mặt khác, bản chất của chính cơ học lượng tử cũng như cuộc chứng minh lịch sử này cũng mở ra cho chúng ta một “thực tại”: hãy học cách chấp nhận sự khác biệt trong thế giới đa dạng này.  Không chỉ có giải Nobel Vật lý, trong số báo này, các bạn sẽ thấy những lý giải và đánh giá về các giải ở những hạng mục khác “Giải Hóa học: Mở ra lĩnh vực nghiên cứu mới” (Nguyễn Thanh Sơn), “Giải Kinh tế: Sao phải cứu các ông chủ ngân hàng?” (Lê Hồng Giang), “Giải Văn chương: Annie Ernaux – Từ một trải nghiệm riêng tư” (Trần Ngọc Hiếu). Thật thú vị khi biết rằng, cuộc sống của chúng ta đã ít nhiều có những liên đới, ràng buộc với những vấn đề đó, ví dụ nhiều người trong chúng ta đã từng đọc những tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của Annie Ernaux như “Hồi ức thiếu nữ”, “Một chỗ trong đời” hay từng gửi tiền vào ngân hàng…  Giữa những bài báo giới thiệu về giải Nobel, “Phối ngẫu với kẻ thù” là một cái nhìn sâu hơn về chân dung của Svante Pääbo, nhà khoa học đoạt giải Nobel Y sinh – một con người cởi mở, thành thực và tràn đầy đam mê đã phát kiến ra ngành nghiên cứu về DNA cổ đại, và chứng minh đâu đó trong cơ thể chúng ta có sự tồn tại của vài phần trăm gene người Neanderthal…  Trong dòng chảy thông tin của số báo này, không chỉ là những câu chuyện truyền cảm hứng về khoa học mà còn có cái nhìn trực diện về những vấn đề của xã hội mà đôi khi chúng ta chưa hiểu rõ, hoặc thiếu thông tin để hiểu một cách ngọn ngành: giao thông công cộng “Sứ mệnh khác của xe buýt Hà Nội” (Nguyễn Minh Hiếu), giáo dục “Hệ thống giáo dục và SGK phổ thông: Định hướng triết lý hệ thống” (Đỗ Thị Ngọc Quyên)…  Không bao giờ quá muộn để hiểu đúng và không bao giờ quá muộn để đọc và suy ngẫm, từ những trang báo Tia Sáng.  BBT  ————————  Tất cả những ai quan tâm và yêu quý Tia Sáng đều có thể đăng ký mua bản giấy, bản PDF và đọc thử các số Tia Sáng trước tại đây: https://bit.ly/DatmuaTiaSang  Ngoài ra, các bạn có thể mua lẻ từng số tại:  Hà Nội: Tạp chí Tia Sáng, 70 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội  TP.HCM: Nhà sách Huy Hoàng, 357A Lê Văn Sỹ – Phường 1 – Quận Tân Bình – TP. Hồ Chí Minh    Author                .        
__label__tiasang Đơn vị đo lường: Từ đời sống đến khoa học      1 năm cũ tr&#244;i qua, 1 năm mới lại đến&#8230; Đầu năm xin được đề cập đến c&#225;i ta: &#8220;Ta l&#224; một, l&#224; ri&#234;ng, l&#224; thứ nhất&#8221;, v&#224; cũng xin được n&#243;i ngay c&#225;i &#8220;ta&#8221; được n&#243;i đến ở đ&#226;y ch&#237;nh l&#224; con số 1 – đơn vị đo lường!    1. Đơn vị trong đời sống: Trong đời sống thường nhật ai trong chúng ta mà lại không phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến chuyện “cân, đong, đo, đếm” và ai không từng ít nhất một lần gặp rắc rối hay ít ra là “một thoáng bối rối” về vấn đề do các đơn vị trong lĩnh vực “đo lường” này gây ra. Đơn giản nhất là mỗi buổi sáng khi mở tờ báo ra, có thể các thông tin vui cũng như không vui liên tiếp đập vào mắt chúng ta và kèm theo đó là những con số, những đơn vị có thể làm chúng ta cảm thấy khó hình dung hay mơ hồ về chúng và hệ quả là có thể làm giảm hứng thú, khó nắm bắt trọn vẹn thông tin khi đọc những bài báo đó. Cụ thể như trước các thông tin “ngưỡng an toàn của melamine đối với thực phẩm cho trẻ dưới 36 tháng tuổi là 1ppm”, hay “kích cỡ các vật liệu đó chỉ vào khoảng 20 nm (nano mét)”; làm sao có thể hình dung các liều lượng, kích cỡ đó nhiều, ít, to, nhỏ đến mức nào? Nếu chúng ta có một sự liên hệ, so sánh, đối chiếu cụ thể giữa những đơn vị trong khoa học đó với những hình ảnh chúng ta gặp hằng ngày như hạt mè (vừng), hạt gạo, đồng tiền xu…thì việc “tưởng tượng” ra kích cỡ to nhỏ, khối lượng nặng nhẹ, hàm lượng ít nhiều của các đơn vị đó có thể dễ hình dung và dễ “tiêu hoá” hơn.  Những việc lúng túng, khó xử, rắc rối do các vấn đề đơn vị gây ra có thể đặt chúng ta vào thế phải “đương đầu” với những hệ lụy từ đơn giản, vô hại đến những hệ lụy – trong trường hợp xấu nhất – có tác hại “khôn lường”. Hãy bắt đầu bằng một câu chuyện về “tác hại khôn lường” rất thiết thực liên quan đến lĩnh vực có cái đơn vị mà có lẽ mỗi người chúng ta hay sử dụng nhất: “Tiền” với đơn vị thường dùng là đồng Việt Nam hay USD. Anh A có một ngôi nhà cần bán, anh B muốn mua ngôi nhà đó. Hai bên thoả thuận giá cả ngôi nhà là 100.000USD rồi tiến hành làm hợp đồng mua bán và đặt cọc 10.000 USD. Để chắc chắn, anh B còn mời thêm 2 người hàng xóm làm chứng cho việc đặt cọc. Sau đó vì bất động sản lên giá, anh A “lật kèo” không bán nữa và trả lại tiền cọc; anh B đòi bồi thường gấp đôi tiền cọc, anh A không chịu. Hai bên lôi nhau “đáo tụng đình”. Kết quả toà xử anh A thắng kiện! Nguyên nhân: chính vì cái “đơn vị tiền tệ”: theo pháp luật Việt Nam các cá nhân không được tiến hành các giao dịch bằng ngoại tệ (ở đây là USD). Hệ quả là hợp đồng mua bán, đặt cọc mà cả hai đã ký kết là “hợp đồng vô hiệu”; mà khi một hợp đồng bị toà tuyên là vô hiệu thì các bên phải hoàn trả lại những gì đã nhận của nhau; nghĩa là anh A chỉ phải trả lại đúng số tiền cọc đã nhận: 10.000USD. Nếu hai bên ký hợp đồng mua bán bằng đơn vị là tiền đồng Việt Nam thì mọi việc đã khác. Qua đó mới thấy cái “đơn vị” nó quan trọng đến mức nào.  Với đơn vị thời gian, bài viết chỉ xin đề cập đến một vấn đề lý thú là việc báo thời gian trên đài Tiếng Nói Việt Nam: mốc thời gian 6 giờ vào buổi sáng được báo bằng các tiếng “Tít…tít…tít…”, vậy nhưng thời điểm đúng 6 giờ 0 phút 0 giây sẽ “rơi” vào đâu? Vào đầu tiếng tít thứ nhất? Thứ hai?  Thứ ba? Hay vào cuối tiếng “tít” nào trong số đó? Trong cuộc trao đổi của người viết với ông Lê Tâm – Nguyên Cục trưởng Cục Đo lường Trung ương và cũng chính là nhà sáng chế ra súng “SS” – Súng Sát – (ông Lê Tâm cho biết: chữ “SS” cũng nhằm “hù doạ” quân Pháp, thời bấy giờ, luôn có tâm lý sợ lực lượng SS của Đức Quốc Xã ; Báo Tuổi Trẻ cũng đã đề cập đến sáng chế này trong loạt bài “Vũ khí tự tạo” số báo ngày 21-12-2008) –  cho biết: thời điểm 6 giờ rơi vào đúng đầu tiếng tít thứ 3.   Cần lưu ý là việc sử dụng các đơn vị đo lường không phải là “ngẫu hứng” hay “tuỳ nghi”, mà thực chất đã được quy định một cách chính thức bằng văn bản: mới nhất là quy định chính thức trong Nghị định của Chính phủ số 65/2001/NĐ-CP về việc “Ban hành hệ thống đơn vị đo lường hợp pháp của nước CHXHCN Việt Nam”, do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 28-9-2001.   Cũng xin mở ngoặc lưu ý thêm là theo nghị định này các đơn vị như lạng (lượng), chỉ là các đơn vị được sử dụng có thời hạn (đến ngày 31-12-2010). Sau thời điểm đó, việc sử dụng chúng có thể sẽ được quy định bằng những nghị định khác.     2. Đơn vị  trong khoa học:     Quay trở lại với những đơn vị ít thông dụng hơn nhưng thường vẫn gặp. Đầu tiên xin được nói về đơn vị khối lượng: kilogam; 1kg thì dễ hình dung rồi, thế nhưng với đơn vị khối lượng nhỏ hơn, như 1 gam chẳng hạn, làm sao “ước lượng” nó? Để có một hình ảnh cụ thể xin được lấy ví dụ: một đồng xu 200 đ nặng khoảng 3 g đồng xu 2000 đ nặng khoảng 5 g, 1 chỉ (vàng) nặng 3,75 g (vậy một lượng vàng nặng 37,5 g).Với đơn vị nhỏ hơn nữa như 1 mg xin được lấy một “điển hình”: một hạt mè (vừng) nặng trung bình khoảng 2,5 mg, một hạt gạo nặng khoảng 25mg (có hạt gạo “lực sỹ ” có thể tới 78mg). Vậy với thông tin “ngưỡng an toàn của melamine đối với thực phẩm người lớn là 2,5 mg/1kg thực phẩm”, có thể được hình dung là: lượng melamine chỉ vào khoảng 1 hạt mè trong 1kg thực phẩm ( như sữa chẳng hạn).   Bên cạnh các đơn vị đo khối lượng nêu trên, các đơn vị đo độ dài cũng đóng một vai trò rất quan trọng xét theo tần suất xuất hiện của chúng trên các mặt báo. Với đơn vị độ dài là mét thì ai cũng biết và có thể “ước lượng nó dễ dàng, tuy nhiên xin được nhắc lại một điều thú vị  là khởi thuỷ, độ dài mét được xây dựng dựa trên cơ sở 1 phần 40 triệu độ dài của kinh tuyến đi qua Paris (nay thì cách xác định độ dài của mét đã có nhiều thay đổi theo sự phát triển của khoa học).Trong thế kỷ 21 này, độ dài mét thật sự là “quá dài” đối với khoa học và công nghệ. Như chúng ta đều biết, công nghệ nano là một mũi nhọn của khoa học kỹ thuật thế giới hiện đại; thế nhưng, khi đề cập đến vật liệu có kích thước nano, hay vật liệu nano (hoặc nano mét: ký hiệu nm), thì dẫu biết rằng 1 nm = 1 phần tỉ mét cũng vẫn khó để mà hình dung con số này. Vậy xin được nêu một hình ảnh cụ thể như sau: nếu phóng đại độ dài 1nm đạt đến chiều dài của con kiến thì tương ứng con kiến sẽ được phóng đại bằng chiều dài của con đường từ Huế đến… Sài Gòn. Cũng xin được nói thêm: kích thước một nguyên tử chỉ vào khoảng mười nano mét.                Kích thước vi khuẩn so với đầu kim may        Khi chúng ta đề cập đến các loại vi khuẩn, bởi vì hầu hết các loại vi khuẩn đều có kích thước nhỏ – thường chỉ khoảng từ 0,5 đến 5,0 micro mét (hay micromet, ký hiệu là μm) – nên đây là đơn vị hay được sử dụng trong lĩnh vực này. Vậy micro mét nó to nhỏ ra sao? Một micro mét bằng một phần triệu mét, con số này thật ra vẫn khó hình dung. Vậy xin minh hoạ bằng hình bên cạnh (đã được phóng đại và nhuộm màu kích thước vi khuẩn (những hạt nhỏ màu vàng) so với đầu mũi kim may (hình chóp màu tím).  Tiếp theo, xin được đề cập đến một số các đơn vị nồng độ hay được sử dụng trong lĩnh vực nhiễm bẩn (thực phẩm) hay ô nhiễm (môi trường) mà mới thoạt nhìn thì có vẻ như là “đánh đố”: ppm (phần triệu) và ppb (phần tỉ). Ví dụ trong đoạn tin sau: “hàm lượng chì trong nước thải là 3 ppm”, có nghĩa là có 3 phần triệu khối lượng chì (ở dạng hoà tan) so khối lượng nước; hoặc rõ hơn là có 3 mg chì trong 1 lít nước (1lít nước nặng 1000g hay 1 triệu mg, do đó 3mg chì trong 1 triệu mg nước là 3 phần triệu: 3ppm).  Một ví dụ khác với chất rắn: trở lại với thông tin ở đầu bài viết: “ngưỡng an toàn của melamine đối với thực phẩm cho trẻ dưới 36 tháng tuổi là 1ppm”. Có thể hiểu 1 ppm = 1 phần triệu, cứ 1kg = 1 triệu mg thực phẩm chỉ được phép có không quá 1 mg melamine.    Bên cạnh đơn vị chúng ta còn có thể gặp một từ “tương tự“ nó, đó là thứ nguyên. Xin tạm hiểu: thứ nguyên là biểu thức thể hiện mối quan hệ giữa một đại lượng thông thường với một số các đại lượng cơ bản: như kg, m…Ví dụ như thứ nguyên của đơn vị lực Newton (N) là [kg·m/s²], thứ nguyên của đơn vị vận tốc là [m/s]. Trong một số lĩnh vực” thứ nguyên” có thể được gọi là chiều (như mô hình 3 chiều trong khoa học môi trường). Trong toán học “thứ nguyên” có thể  mang một ý nghĩa khác: như đường cong Koch là vật thể có “thứ nguyên” bằng 1,26; trường hợp này không nên sử dụng thuật ngữ “chiều” thay cho “ thứ nguyên”)   Hy vọng bài viết này đã cung cấp một số “hình ảnh” hữu ích giúp cho việc hình dung những đơn vị liên quan đến chuyện “cân, đong, đo, đếm” và làm giảm đi phần nào sự “dị ứng” khi phải đối mặt với những đơn vị đo lường trong việc tiếp cận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng. Xin hãy cảm thấy thoải mái khi gặp những con số kèm theo đơn vị trong cuộc sống thường nhật và mỉm cười thay cho lời nói: “Ồ! Đơn vị đo lường: Thật là đơn giản!”   ————  * Giảng viên Đại học GTVT TP. HCM    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đóng băng khối u để điều trị ung thư vú      Các bác sĩ tại Trung tâm y học IceCure –  Israel đã phát triển một phương pháp điều trị bệnh ung thư vú bằng cách  sử dụng một đầu kim siêu lạnh liên tục đóng băng khối u sau đó rã đông  chúng để các mô xấu bị hủy và cuối cùng “chết” đi.    Thông thường trong một số trường hợp, bệnh nhân ung thư vú sẽ được chỉ định phẫu thuật. Phương pháp này đòi hỏi phải tiến hành gây mê toàn thân và người bệnh phải được theo dõi chặt chẽ trong bệnh viện ít nhất trong một tuần. Ngoài ra nó còn để lại sẹo. Với kỹ thuật mới này, bệnh nhân không cần phải gây mê toàn thân và có thể được hoàn thành trong khoảng 15 phút. Kim được làm lạnh đến -274F (-170C) bằng cách bơm nitơ lỏng thông qua một mạng lưới các ống nhỏ, cho phép các bác sĩ phẫu thuật để kiểm soát kích thước của khối băng để đảm bảo nó làm đóng băng toàn bộ khối u.  Các nhà nghiên cứu cho biết nó có thể điều trị khối u có kích thước bằng một quả bóng golf.  Bệnh ung thư vú có thể được điều trị bằng những cây kim siêu lạnh  Ông Hezi Himmelfarb, giám đốc điều hành của Trung tâm Y học IceCure  cho biết các tế bào trong cơ thể con người được cấu tạo chủ yếu từ nước, có nghĩa là chúng sẽ đóng băng. Trước đây đã có những nỗ lực trong việc sử dụng nhiệt để tiêu diệt các tế bào ung thư như thế này nhưng điều đó có thể cực kỳ đau đớn bởi vì cơ thể con người rất nhạy cảm với nhiệt. Lạnh có tác dụng gây tê, do đó, các bệnh nhân cảm thấy đau rất ít trong khi hoặc sau khi làm thủ thuật.  Thủ thuật này, được gọi là cryoablation, kiểm soát kích thước của khối băng được tạo ra để đảm bảo rằng khối u có thể bị phá hủy mà không làm tổn hại các mô khỏe mạnh. Thiết bị này đã được chấp thuận cho sử dụng tại Hoa Kỳ và IceCure hy vọng có thể được Châu Âu chấp nhận trong năm tới.  Tiến sĩ Eisuke Fukuma, giám đốc bệnh ung thư vú tại Trung tâm y tế Kameda ở Chiba, Nhật Bản, người đang tiến hành thử nghiệm, đã điều trị cho 13 bệnh nhân và không có dấu hiệu tái phát. Ông nói: “Cryoablation là một công cụ rất tốt cho việc điều trị ung thư vú.”  Các nhà nghiên cứu cũng tin rằng cryoablation cũng có thể được sử dụng để điều trị thận, tuyến tiền liệt và ung thư gan.  Theo Telegraph    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng chảy bùn, cát khổng lồ dưới đáy biển      Các nhà nghiên cứu người Anh vừa phát hiện dấu tích một vụ trượt lở đất khổng lồ dưới đáy biển cách đây 60.000 năm, tạo ra một dòng chảy bùn, cát cực lớn trên Trái đất.      Vụ trượt lở đất này nằm ven biển tây bắc châu Phi, đổ ra đại dương ước tính khoảng 225 tỷ m3 trầm tích và có thể kéo dài trong nhiều ngày. Dòng chảy đất đá này kéo dài 1500km, bằng chiều dài từ Luân Đôn (Anh) đến Rome (Ý), trước khi lắng xuống. Hiểu được nguyên nhân và diễn biến của những dòng chảy hiếm gặp như thế này có thể giúp ích nhiều trong việc khám phá đáy biển, tìm kiếm, khai thác dầu mỏ, khí đốt.  Theo BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng chảy electron có thể điều khiển được trong dây dẫn lượng tử      Các nhà nghiên cứu của trường đại học Princeton đã chứng minh một cách mới của việc tạo ra “các dây dẫn lượng tử” có thể điều khiển được trong từ trường, theo công bố mới xuất bản trên Nature.      Hình ảnh chụp trên kính hiển vi điện tử quét đường hầm cho thấy một biên giới giữa các vùng với các quỹ đạo định hướng electron khác nhau. Nguồn: Nhóm nghiên cứu Ali Yazdani tại trường Princeton.  Họ đã dò được các kênh của những electron dẫn điện được hình thành giữa hai trạng thái lượng tử trên một bề mặt tinh thể bismuth trong một từ trường cao. Hai trạng thái này gồm có các hạt electron di chuyển trong các quỹ đạo hình elip với những định hướng khác nhau.  Họ tìm thấy dòng chảy điện từ trong các kênh này có thể được bật và tắt, khiến cho các kênh này thành một kiểu mới của dây điện lượng tử có thể điều khiển.  “Các kênh này hết sức khác thường bởi chúng hình thành một cách tự động tại các biên giới giữa các trạng thái lượng tử khác nhau, trong đó các hạt electron sắp hàng chung theo các quỹ đạo hình elip”, Ali Yazdani, giáo sư vật lý, giám đốc Trung tâm Vật liệu phức hợp Princeton và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. “Thật phấn khích khi thấy sự tương tác giữa các hạt electron trong các kênh được kiểm soát một cách rõ nét, dù chúng có được điều khiển hay không”.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một kính hiển vi điện tử đường hầm quét – một thiết bị có khả năng chụp ảnh các đơn nguyên tử và vẽ bản đồ chuyển động của các eletron trên bề mặt một vật liệu – để hình dung các tính chất của electron trên bề mặt một tinh thể được làm từ nguyên tố bismuth nguyên chất.  Với công cụ này, nhóm nghiên cứu đã chụp ảnh thẳng các chuyển động của các electron trong sự hiện diện của từ trường hàng trăm lần lớn hơn một nam châm lạnh. Ứng dụng này của từ trường nam châm lớn đẩy các electron chuyển động theo các quỹ đạo hình elip, thay vì chuyển động theo dòng chảy electron song song với hướng của điện trường.  Họ đã tìm thấy các kênh dẫn điện hình thành tại biên giới, nơi họ gọi là bức tường miền thung lũng phân cực (valley-polarized domain wall) giữa hai vùng trên tinh thể bismuth, nơi các quỹ đạo electron được chuyển theo các định hướng khác nhau một cách bất ngờ.  Mallika Randeria, người thực hiện các thí nghiệm, cho biết: “Chúng tôi đã tìm thấy các kênh hai làn và bốn làn trong đó các hạt electron có thể chảy, phụ thuộc vào giá trị chính xác của từ trường”. Cô và đồng nghiệp quan sát thấy khi các hạt electron được hướng và chuyển động trong kênh 4 làn, chúng có thể bị mắc kẹt nhưng chúng cũng có thể chảy một cách dễ dàng khi chỉ hạn chế chuyển động trong kênh 2 làn.  Để cố gắng hiểu được hành vi này, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra những quy luật mới, theo đó các quy luật của cơ học lượng tử điều khiển lực đẩy giữa các hạt electron trong các dây dẫn lượng tử đa kênh. Trong khi số lượng các làn có thể được xem như đề xuất về tính truyền dẫn tốt nhất, lực đẩy giữa các electron là nguyên nhân khiến chúng chuyển làn, chuyển hướng, bị mắc kẹt, dẫn đến tính chất cách điện. Với số ít kênh, electron không có lựa chọn nào để chuyển làn và phải truyền thành dòng điện ngay cả khi chúng phải di chuyển “xuyên qua” nhau – một hiện tượng lượng tử chỉ có thể xảy ra trong các kênh một chiều.    Sự truyền dẫn được bảo vệ tương tự dọc theo các biên giới như vậy còn được gọi là các trạng thái tô pô của vật chất – vốn là chủ đề nghiên cứu của F. Duncan Haldane ở trường đại học Princeton– nhà khoa học đoạt giải Nobel vật lý 2016. Các giải thích về mặt lý thuyết cho những khối cơ bản mới được phát hiện này đã được hai thành viên của nhóm nghiên cứu, Siddharth Parameswaran – sinh viên tốt nghiệp tại Princeton và hiện giảng dạy tại trường đại học Oxford, và Shivaji Sondhi – giáo sư vật lý Princeton và các cộng sự.  “Mặc dù đã có sẵn một vài ý tưởng về mặt lý thuyết mà chúng tôi áp dụng trong nghiên cứu này nhưng vẫn còn nhiều thách thức để xem cách chúng phù hợp với giải thích của một thí nghiệm trên thực tế như thế nào, và sự hồi hộp thực sự khi chứng kiến nó xảy ra”, Parameswaran nói. “Đây là một ví dụ hoàn hảo về cả công việc thực nghiệm lẫn lý thuyết nối tiếp nhau: không có dữ liệu thực nghiệm mới, chúng tôi có thể không bao giờ có thể tái trở lại với lý thuyết của mình, và nếu không có một lý thuyết mới có thể vô cùng khó khăn để hiểu được thực nghiệm”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-02-electron-quantum-wires.html#jCp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Động cơ đầu tiên hoạt động bằng vi khuẩn      Một loại động cơ mới đã được các nhà khoa học Nhật Bản thiết kế, dựa trên cả hai nhân tố: hữu sinh và vô sinh. Cái động cơ tí hon này hoạt động bằng sự di chuyển của các vi khuẩn trên một đường đi silicon và làm quay một rôto bằng silicon dioxide. Đây là một tiến bộ của lĩnh cơ khí chính xác và cũng là một cỗ máy có hiệu suất năng lượng cao, có khả năng được áp dung cho những hệ sinh học tự sửa chữa trong tương lai.    Yuichi Hiratsuka và các cộng sự đã sử dụng một loại vi khuẩn có tên là Mycoplasma mobile (M. mobile) để chế tạo loại động cơ này. M. mobile có kích thước tế bào cỡ micromet và có thể trượt liên tục trên các bề mặt rắn với tốc độ lên tới 5 micromet mỗi giây. Các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn được nguyên nhân khiến các vi khuẩn này di chuyển, có lẽ là có sự tham gia của một số protein.  Hiratsuka nói: “Dựa trên việc sử dụng những con vi khuẩn như thế này, có lẽ chúng tôi cũng có thể chế tạo những máy phát điện nhỏ xíu, biến năng lượng hoá học dồi dào trong cơ thể thành điện năng. Trong tương lai xa, chúng tôi muốn làm những con robot tí hon, hoạt động bằng những động cơ sinh học này”.  Mặc dù được thiết kế một cách đơn giản và hiệu quả như vậy nhưng loại động cơ này (có đường kính rôto 20 micromet) đòi hỏi những kỹ thuật bôi trơn đặc biệt. Các tế bào M. mobile cần đến các protein sialic (ở đây, loại fetuin được sử dụng) để có thể trượt trên những bề mặt rắn.  Nhóm của Hiratsuka đã sử dụng một chủng M. mobile bị làm đột biến cho chuyển động chậm đi. Rôto quay với tốc độ 2,6 vòng mỗi phút. Mặc dù các nhà khoa học đã không thể quan sát được số tế bào đã đẩy rôto trong trường hợp này, nhưng họ đã nhận định rằng, chỉ một số tế bào là cần thiết cho sự quay của động cơ. Họ cũng hy vọng rằng, việc làm các vi khuẩn hoạt động đồng bộ hơn cùng sự tăng cường cơ chế bôi trơn sẽ làm tăng tốc độ quay của rôto.  Hiratsuka và các cộng sự cũng đề xuất đến việc sử dụng các kỹ thuật gien để tạo ra những M. mobile có khả năng liên kết mạnh hơn với đường trượt và rôto. Họ cũng có thể thêm vào những chất hoá học để kích thích các vi khuẩn chuyển động theo cùng một hướng. Tuy nhiên, để tránh những nguy hại sinh học, các nhà khoa học cũng đang xem xét một loại thay thế, được mô tả trong nghiên cứu của các nhà khoa học Uenoyama và Miyata. Đó là “những con ma” M. mobile, tuy đã chết vì màng tế bào bị hủy hoại nhưng vẫn có thể di chuyển được.   P.V (Theo www.physorg.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Động cơ sinh học vận chuyển các phân tử      Các nhà nghiên cứu của Đại học Delft đã phân loại các phân tử theo màu sắc của chúng. Giáo sư Hess thuộc Đại học Florida đã gọi kết quả này là “Hệ thống điều khiển giao thông đầu tiên trong công nghệ nano động cơ sinh học phân tử”.    Tế bào sinh học là một phức hợp của nhiều nhà máy protein nhỏ bé khác nhau. Các động cơ sinh học phân tử, chẳng hạn như các enzyme kinesin, có thể di chuyển những bước nhỏ (cỡ 8 nanometer) để vận chuyển các vật liệu sinh học theo những mạng lưới các microtubule (ống nhỏ) và từ đó tạo nên hệ thống giao thông bên trong tế bào.     Các nhà nghiên cứu hiện đang tìm hiểu khả năng đưa những động cơ kinesin và những microtubule này vào một hệ thống vận chuyển điều khiển bằng điện, việc này được thực hiện bằng sự ứng dụng các kỹ thuật bôi trơn nano.  Với những bước tiến về kênh dẫn nano (nano-channel), các nhà nghiên cứu đã một mũi tên bắn trúng hai con chim. Ngoài khả năng điều khiển các microtubule, họ còn có thể ngăn cản các ống nhỏ này khỏi bị trệch khỏi đường đi của chúng. Và các nhà khoa học cũng khám phá được rằng, các kênh dẫn kín cung cấp khả năng quan sát sự vận chuyển điện của những microtubule để tự do, từ đó chứng tỏ rằng, tốc độ của các ống nhỏ này dưới tác dụng của điện trường ngoài là phụ thuộc mạnh vào sự định hướng của các phân tử hình trụ.  P.V    Nguồn tin: Đại học Công nghệ Delft      Author                Quản trị        
__label__tiasang Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ-Syria: Khoa học biết điều gì?      Các tòa nhà ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria dễ bị hủy hoại vì động đất – chiến tranh cũng làm cho những điều đó trở nên tồi tệ hơn.    Một trận động đất 7,8 Magnitude đã xảy ra ở Tây nam Thổ Nhĩ Kỳ và một phần của Syria trong những giờ đầu tiên của buổi sáng ngày 6/2/2023. Đã xác định được hơn 2.500 người thiệt mạng và hàng ngàn người khác bị thương. Trận động đất tiếp theo ở mức 7,5 Magnitude thậm chí diễn ra chỉ sau chín giờ cũng như 200 dư chấn.  Trận động đất này và các dư chấn đã san phẳng các tòa nhà và khiến những người cứu hộ đào bới qua lớp bê tông để tìm những người sống sót, có thể chỉ dấu là lượng tử vong còn tăng nhiều hơn nữa. Nature đã trao đổi với bốn nhà nghiên cứu về địa chấn trong vùng và những gì sẽ đến trong những ngày tới.  Thổ Nhĩ Kỳ là một khu vực động đất hoạt động  Phần lớn diện tích Thổ Nhĩ Kỳ đều ở trên mảng Anatolia giữa hai đứt gãy lớn, Đứt gãy Bắc Anatolia và Đứt gãy Đông Anatolia. Mảng kiến tạo mang Arabia, bao gồm Syria, đang va chạm về phía bắc vào biên giới phía nam của Mảng Á Âu và khiến Thổ Nhĩ Kỳ bị nén về phía Tây, theo David Rothery, một nhà khoa học địa lý tại ĐH Mở Anh. “Thổ Nhĩ Kỳ đang chuyển về phía Tây hai cm mỗi năm dọc theo đứt gãy Đông Anatolian”, ông cho biết thêm. “Một nửa chiều dài của đứt gãy này hiện đang bị ảnh hưởng của các trận động đất”.  Seyhun Puskulcu, một nhà địa chấn học và điều phối của Quỹ Động đất Thổ Nhĩ Kỳ có trụ sở ở Istanbul, nói những người ở Thổ Nhĩ Kỳ đều nhận thức rõ về khả năng dễ bị tổn thương của mình trong động đất. “Điều này không gây ngạc nhiên nữa”, Puskulcu nói. Hiện anh đang đi tổ chức các hội thảo về nhận thức của công chúng về động đất ở các thành phố Adana, Tarsus, Mersin và Tây Thổ Nhĩ Kỳ từ tuần trước.  Chấn tâm động đất cách 26km về phía Tây của thành phố Nurdagi, tỉnh Gaziantep, Thổ Nhĩ Kỳ, và sâu 17,9 km. Trận động đất 7,5 Magnitude mới đây ở cách 4km về phía Đông nam của Ekinözü, tỉnh Kahramanmaraş.  Các tòa nhà ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria đều bị tổn hại – chiến tranh làm điều này trở nên xấu hơn  Thông thường, người chết trong động đất là do bị gạch đá xây dựng rơi. Theo Cơ quan Khảo sát Địa lý Mỹ, người dân ở Nam Thổ Nhĩ Kỳ sống trong những tòa nhà xây dựng chất lượng kém, không có cốt thép và khung bê tông thấp tầng bị rủi ro bậc nhất do rung lắc động đất.  Trong một nghiên cứu xuất bản vào tháng ba năm 2022 trên tạp chí Soil Dynamics and Earthquake Engineering, Arzu Arslan Kelam của ĐH Kỹ thuật Trung Đông Ankara, và đồng nghiệp đã đề xuất là trung tâm Gaziantep có thể có tiềm năng nếm trải thiệt hại tầm trung trở lên với động đất 6,5 Magnitude. Nguyên nhân chính là do các tòa nhà hiện có đều là các cấu trúc gạch thấp tầng, được xây dựng ở rất gần nhau.  Vào năm 1999, một trận động đất 7,4 Magnitude xảy ra ở ở cách Đông Nam Izmit, Thổ Nhĩ Kỳ 7 dặm, gây ra cái chết của hơn 17.000 người và khiến 250.000 người mất nhà cửa. Sau thảm kịch này, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã đưa những quy tắc xây dựng mới và một hệ thống bảo hiểm động đất bắt buộc vào áp dụng. Nhiều tòa nhà bị ảnh hưởng trong động đất mới đây đều xây dựng trước năm 2000, Mustafa Erdik, một kỹ sư xây dựng dân dụng tại ĐH Bogazici, Thổ Nhĩ Kỳ nói.  Tình trạng tồi tệ nhất diễn ra ở Syria, nơi phải chịu đựng xung đột kéo dài 12 năm đã làm mất đi các tiêu chuẩn xây dựng. Động đất ngày nay tác động vào vùng tây bắc Syria với các tòa nhà ở Aleppo và Idlib. Vốn đã bị chiến tranh hủy hoại, chúng được tái thiết với những vật liệu chất lượng thấp hoặc “bất cứ vật liệu nào có sẵn”, Rothery nói. “Chúng có thể đã đổ xuống nhanh hơn so với những tòa nhà được xây với chất lượng xây dựng tốt hơn và giá thành cao hơn một chút. Chúng tôi mới phát hiện ra”, anh cho biết thêm.  Cái gì tiếp theo?  Các nhà nghiên cứu cho biết con người cần sẵn sàng cho những trận động đất và dư chấn tiếp theo cũng như với tình trạng thời tiết ngày một xấu hơn. “Khả năng có thể xảy ra những dư chấn lớn, thậm chí còn có thể dẫn đến phá hủy nhiều hơn, sẽ tiếp tục trong nhiều tuần và nhiều tháng”, Ilan Kelman, người nghiên cứu về thảm họa và sức khỏe ở University College London, Anh, nói.  “Dự báo thời tiết cho vùng này là đêm nay sẽ có mưa tuyết. Điều đó có nghĩa là con người đang bị mắc kẹt trong đổ nát, những người có thể được cứu, có thể bị đóng băng đến chết. Vì vậy thảm họa sẽ còn tiếp tục”, Kelman cho biết thêm.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-023-00364-y  https://edition.cnn.com/2023/02/05/europe/earthquake-hits-turkey-intl-hnk/index.html    Author                .        
__label__tiasang Động đất sẽ tăng trong năm 2018 do Trái Đất quay chậm lại      Các nhà khoa học nói rằng số lượng các trận động đất sẽ gia tăng mạnh mẽ trong năm tới bởi vòng quay Trái đất chậm lại theo chu kỳ.      Một cậu bé đứng trước đống đổ nát sau trận động đất vừa qua tại Iraq. Nguồn ảnh: Getty Images.    Các nhà khoa học cảnh báo rằng số lượng các trận động đất có sức tàn phá lớn sẽ gia tăng trên thế giới trong năm tới. Họ tin rằng sự thay đổi trong tốc độ quay của Trái Đất có thể kích hoạt các hoạt động địa chấn mạnh mẽ, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới đông dân cư.  Dù cho sự thay đổi trong vòng quay chỉ ở mức nhỏ – thay đổi độ dài một ngày với mức 1/1000 giây – thì chúng vẫn có thể kéo theo việc giải phóng lượng lớn các năng lượng trong lòng đất, các nhà khoa học lập luận.  Mối liên hệ giữa vòng quay Trái Đất và hoạt động địa chấn đã được nhấn mạnh trong báo cáo của Roger Bilham (Đại học Colorado, Boulder) và Rebecca Bendick (Đại học Montana, Missoula), trình bày tại cuộc gặp thường niên của Hiệp hội Địa lý Mỹ vào tháng trước.  “Sự tương quan giữa vòng quay Trái đất và động đất rất rõ rệt và nó đưa ra khả năng gia tang số lượng các trận động đất có cường độ cao vào năm tới”, Bilham trao đổi với Observer.  Trong nghiên cứu của mình, họ đã quan sát các trận động đất có độ lớn từ 7 ritcher trở lên xảy ra kể từ năm 1900 và phát hiện ra năm giai đoạn tăng đáng kể số lượng trận động đất. Điều thuận lợi là phần lớn các trận động đất trong vòng một thế kỷ đều được  ghi chép rất cẩn thận và điều đó giúp chúng tôi có một hồ sơ tốt để nghiên cứu”, Bilham cho biết.  “Trong những thời kỳ này, có khoảng 25 đến 30 trận động đất đã tăng mỗi năm,” Biham nói. “Thời gian còn lại thì trung bình khoảng 15 trận mỗi năm.”  Các nhà nghiên cứu tìm kiếm tương quan giữa những thời kỳ hoạt động địa chấn có cường độ cao này với các yếu tố khác và khám phá ra rằng khi tốc độ quay của Trái Đất giảm nhẹ thì tiếp theo sau đó sẽ là sự gia tăng các trận động đất. “Vòng quay trái đất thay đổi ở mức rất nhỏ – bằng một phần nghìn giây trong một ngày – và chỉ có thể đo đạc được sự thay đổi này bằng đồng hồ nguyên tử”, Biham giải thích.  Hai nhà khoa học cũng nhận thấy chu kỳ chậm lại của Trái Đất diễn ra trong khoảng 5 năm và vòng quay Trái Đất đã bắt đầu chậm lại trong suốt 1,5 thế kỷ qua. Quan trọng hơn, các chu kỳ này đã kéo theo sau một số lượng lớn các trận động đất có cường độ cao.  Mối liên hệ này rất quan trọng bởi vòng quay trái đất đã bắt đầu một trong những chu kỳ quay chậm hơn bốn năm trước đây. “Suy luận này rất rõ ràng. Vào năm tới, chúng ta có thể thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng các trận động đất có cường độ lớn. Chúng ta có một năm để dễ dàng kiểm chứng điều đó khi chỉ có 6 trận như vậy. Chúng ta có thể có tới 20 trận một năm và bắt đầu ngay trong năm 2018”, Bilham dự đoán.  Dù chưa tìm ra nguyên nhân chính xác mối liên hệ giữa độ dài ngày và số trận động đất nhưng các nhà khoa học đoán rằng sự thay đổi nhẹ trong lõi Trái Đất có thể gây ra cả hai hiệu ứng trên.  Thêm vào đó, rất khó để dự đoán chính xác nơi các trận động đất sẽ xảy ra – dù cho Bilham nói rằng họ nhận thấy các trận động đất mạnh mẽ phản ứng lại sự thay đổi trong độ dài ngày – xảy ra ở gần vùng xích đạo. Hiện nay có khoảng một tỷ dân sống tại vùng nhiệt đới.  Minh Thuận lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2017/nov/18/2018-set-to-be-year-of-big-earthquakes    Author                Quản trị        
__label__tiasang Động đất và sóng thần: nguồn năng lượng hủy diệt      Trận động đất cường độ 9 độ Richter xảy ra ngoài khơi vùng biển Đông Bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011 và đợt sóng thần tiếp theo đó đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho đất nước Nhật Bản. Để có một khái niệm về cường độ năng lượng giải phóng, ta có thể nói là quả bom hạt nhân ném xuống Hiroshima năm 1945 chỉ tương đương với một trận động đất 5,7 độ Richter.     Động đất  Trận động đất vừa qua ở Nhật Bản gây nhiều thiệt hại do các xung động của chính nó hay của các dư chấn mà cường độ có thể lên đến 6 độ Richter. Những thiệt hại về tài sản trên các công trình xây dựng đều rất lớn, đó là chưa kể đến thảm hoạ hạt nhân, mặc dù được hạn chế đến mức tối đa, xảy ra khi lò phản ứng Fukushima 1 bị nóng chảy tâm lò sau sự cố LOCA (mất nước làm lạnh) và gian lò bị nổ. Năm 2007, một trận động đất gây ảnh hưởng đến nhà máy điện hạt nhân Kashiwazaki-Kariwa lớn nhất ở Nhật Bản, nhưng may là người ta đã ngừng lò kịp.  Trong lịch sử thế giới, các trận động đất lớn đã gây tử vong cho khoảng 6,5 triệu người, chủ yếu là ở Trung Quốc (3 triệu) và Trung Đông (1,5 triệu). Bảng 1 liệt kê 10 trận động đất lớn nhất trong thế kỷ 20 và số tử vong chúng gây ra. Trong trường hợp trận động đất ở Sumatra-Andaman năm 2004, số tử vong cao là hậu quả của đợt sóng thần lan đến nhiều nước trong vùng Ấn Độ dương. Số tử vong ở Haiti năm 2010 lên rất cao vì đây là một nước nghèo, các điều kiện bảo vệ và chống động đất quá yếu kém. Trận động đất ở Nhật Bản lần này, theo nhiều chuyên gia, có thể được xem là trận lớn thứ 5 trong lịch sử.  Bảng 1    Mười trận động đất lớn nhất trong thế kỷ 20  Năm    Địa điểm                           Cường độ        Số tử vong  2010    Haiti                                     7                    200.000-300.000  2004    Sumatra-Andaman                9,3                  283.100  1976    Đường Sơn (Trung Quốc)      7,5                  255.000  1920    Hải Nguyên (Trung Quốc)       7,8                 200.000  1923    Kanto (Nhật Bản)                  7,9                 142.800  1948    Ashgabat (Turkmenistan)       7,3                 110.000  2005    Pakistan                               7,6                  86.000  1908    Messina (Ý)                          7,2                  72.000  1970    Chimbote (Pêru)                    7,9                  70.000  1990    Iran                                      7,4                   40.000-50.000  Động đất liên quan đến các mảng kiến tạo của Trái Đất và chúng xảy ra ở những nơi các mảng này tiếp xúc với nhau, ở đây có những chuyển động của vỏ Trái Đất. Nếu một mảng kiến tạo chui xuống dưới một mảng khác thì ta có hiện tượng hút chìm-nơi tích tụ nhiều năng lượng của các lực căng chỉ đợi được giải phóng ra bằng các trận động đất. Trên thế giới, người ta biết là có đến 4000 km biên giới của các vùng hút chìm và Nhật Bản nằm trên một vùng hút chìm quan trọng, nơi mảng kiến tạo Thái Bình Dương đang chìm xuống dưới nước Nhật. Tiêu điểm của trận động đất (chấn tiêu) thường nằm sâu dưới mặt đất. Từ đấy các sóng địa chấn được truyền đi và các máy ghi địa chấn có thể xác định vị trí của chấn tiêu cũng như của tâm chấn ngoài, tức là điểm trên mặt đất nằm ngay trên chấn tiêu. Trên hình 1, ta có bản đồ các trận động đất gần đây nhất đã được Cục Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) vẽ ngày 27 tháng 1-2011. Các địa điểm động đất đều nằm trên các đường nứt gãy có liên quan đến các mảng kiến tạo. Ta cũng thấy là USGS có ghi trận động đất xảy ra tháng 11/2007 có cường độ 4,5-5 độ Richter ngoài khơi Vũng Tàu trên đới đứt gãy dọc bờ biển miền Nam Trung Bộ.          Hình 1     Bản đồ các trận động đất trên thế giới (USGS, IRIS)            Các trận động đất thường chỉ kéo dài vài giây đồng hồ nhưng cũng đủ để gây ra những thiệt hại vô cùng lớn. Trận động đất năm 2004 ở Sumatra kéo dài đến 9 phút, trong khi trận động đất vừa qua ở Nhật Bản kéo dài 2 phút.  Sóng thần  Nếu động đất xảy ra trong đất liền thì ít có khả năng có sóng thần đi kèm theo trừ khi các biển nội địa hay các hồ nước lớn bị tác động bởi những dịch chuyển của đất đá dưới mặt nước. Nhưng khi động đất xảy ra ngoài biển và có cường độ hơn 6,5 độ Richter thì có thể sinh ra sóng thần có sức tàn phá rất lớn như chúng ta thấy tại Nhật  vừa qua hay ở các nước Nam Á năm 2004. Các đợt sóng thần mang theo lượng năng lượng khổng lồ vì chúng do những khối lượng nước rất lớn tạo ra sau khi có một trận động đất bất thình lình dịch chuyển một diện tích đáy biển hàng nghìn cây số vuông chỉ trong vài giây đồng hồ rồi truyền năng lượng thẳng lên bề mặt.  Sóng thần có thể gây ra do lở đất dưới biển hoặc do các trường hợp hiếm gặp hơn như phun trào núi lửa hay phun trào dung nham dưới nước. Nó cũng có thể có nguồn gốc từ một vụ va chạm của một hành tinh nhỏ khi rơi xuống đáy đại dương. Ngày 18/11/1927, một trận động đất M7,2 ở 300 km phía nam Newfoundland (Bắc Canada) đã gây ra một vụ lở đất dưới biển làm dịch chuyển 200 km3 đất và vụ lở đất ở Storegga ngoài khơi Na Uy 79.000 năm trước đây làm cho 1000 km3 trầm tích biển sụp đổ. Ngày 26/12/2004, trận động đất M9 ngoài khơi Sumatra (Indonesia) đã nâng một dải đáy biển dài 1200 km lên cao 8 m, chấn tiêu của nó nằm dưới sâu 30 km.  Lực duy trì sóng trong cột nước biển sau khi đáy biển bị nhiễu loạn là lực trọng trường. Sức mạnh của nó tuỳ thuộc vào cường độ của nhiễu loạn ban đầu, khoảng cách di chuyển của sóng, hình thái mặt đáy biển, khả năng các lớp đất đá hấp thụ hết năng lượng cũng như hình dáng bờ biển. Tốc độ di chuyển của sóng có thể lên đến vài trăm cây số một giờ và sóng thần có thể vượt qua hàng nghìn cây số đại dương trong vài tiếng đồng hồ. Bước sóng của nó – khoảng cách giữa hai làn sóng nối tiếp nhau – có thể là vài trăm cây số. Ngoài biển khơi, sóng thần rất khó phát hiện và chiều cao của sóng chỉ là vài chục cm gần nơi xảy ra nhiễu loạn. Các vệ tinh như Topex-Poseidon hay ERS-1 đã có thể đo độ cao sóng biển với độ chính xác vài cm. Tuy nhiên, cũng như các loại sóng khác, khi chúng tiến vào các vùng nước cạn gần bờ, nhiều thay đổi sẽ xảy ra, bước sóng rút xuống còn từ 10 đến 20 km, khi nước có tốc độ cao đến đẩy các luồng sóng đi trước, chiều cao của chúng tăng lên, đôi khi đạt đến vài chục mét và tiến sâu vào đất liền, tàn phá những vùng đất thấp dọc bờ biển. Sóng thần ở Sendai, Nhật Bản hôm 11/3 vừa qua cao đến 10 mét. Năm 1755, tiếp theo một trận động đất M9, đợt sóng thần ở Lisbon (Bồ Đào Nha) có độ cao trên 30 mét và năm 1883, sóng thần do hoạt động núi lửa Krakatoa ở Indonesia gây ra có độ cao lên đến 40 mét. Năm 1737, một trận động đất gần bán đảo Kamchatka gây nên một đợt sóng thần cao 50 mét khi chúng tiến đến đảo Kurile.  Những vùng nhạy cảm nhất đối với sóng thần nằm dọc bờ biển Thái Bình Dương, ở đây có đến 85% toàn bộ các đợt sóng thần do động đất gây ra vì đại dương rất rộng và có nhiều hoạt động địa chấn và núi lửa của mảng kiến tạo Thái Bình Dương. Theo ước tính, trong thế kỷ 20 vừa qua có chừng 50.000 người tử vong do khoảng 400 đợt sóng thần gây ra. Bước vào thế kỷ 21, đợt sóng thần Sumatra-Andaman cuối năm 2004 đã làm 230.000 người chết chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ và có đến hàng triệu người bị mất nhà cửa. Bảng 2 liệt kê 10 đợt sóng thần gây nhiều thiệt hại nhất trong lịch sử, các số liệu ở các thế kỷ 18-19 chỉ có một độ chính xác tương đối.  Bảng 2    Những đợt sóng thần gây nhiều thiệt hại nhất trong lịch sử  Số nạn nhân     Năm   Địa điểm  230.000              2004  Sumatra-Andaman (Indonesia)    60.000             1755   Lisbon (Bồ Đào Nha)    40.000             1782   Đài Loan    36.500             1883   Krakatoa (Indonesia)    30.000             1701   Tokaido-Nankaido (Nhật Bản)    26.360             1896   Sanriku (Nhật Bản)    25.674             1868   Bắc Chi Lê    15.030             1792   Kyushu (Nhật Bản)    13.481             1771   Ryukyu (Nhật Bản)     8.000              1976   Vịnh Moro (Philippin)  Dự báo sóng thần và các phương pháp tiếp cận giảm thiểu tác hại  Sóng thần được hiểu rõ hơn động đất nhưng đối với các sóng thần do động đất gây ra, việc dự báo dài hạn cũng rất khó. Mặt khác, nguyên tắc dự báo ngắn hạn thì tương đối đơn giản, ít ra cũng trên mặt lý thuyết: thu thập các thông tin về biến dạng của đáy biển trong các đại dương rồi truyền theo thời gian thật đến các chuyên gia ở các trung tâm chuyên trách để tính cường độ của hiểm hoạ và lấy quyết định sơ tán vùng bị đe doạ. Đối với các sóng thần vượt đại dương, người ta có thể có khoảng thời gian nhiều giờ giữa trận động đất và lúc sóng thần ập đến. Vị trí và quy mô của trận động đất có thể được xác định nhanh chóng và chính xác nhờ các quan trắc địa chấn và sự hình thành cũng như sự lan truyền của sóng thần có thể được xác nhận bởi các hệ thống quan sát mực nước biển ngoài khơi như các cảm biến đo áp suất đặt dưới đáy biển. Khoảng 10 phút giữa chấn động đầu tiên và lúc các luồng sóng gây chết người ập đến cũng đủ để người dân chạy thoát khỏi các vùng nguy hiểm, cứu được hàng trăm nghìn nhân mạng và cả tài sản của họ.          Hình 2 Bản đồ các trạm DART tại khu vực Thái Bình Dương            Một loạt trạm cảnh báo đặt chung quanh Thái Bình Dương để đo bất kỳ một hoạt động bất thường nào của thuỷ triều hay sóng biển tiếp theo một sự kiện địa chấn. Hệ thống Cảnh báo Đánh giá Sóng thần ngoài Biển khơi (DART, Deep Ocean Assessment Reporting of Tsunami) đã được đặt ở Thái Bình Dương, dọc vùng hút chìm Alaska, nơi phát sinh nguy hiểm của các đợt sóng thần trên bờ biển phía Tây nước Mỹ và Hawaii cũng như đối với các nước khác ven bờ Thái Bình Dương. Trên hình 2, ta có hệ thống các trạm DART đã có (6 trạm) và gần 40 trạm đã lên kế hoạch xây dựng tiếp theo thảm hoạ sóng thần Sumatra-Andaman năm 2004. Mỗi trạm gồm một địa chấn kế, máy đo áp lực của sóng trên đáy biển, các cột mộc thuỷ triều và các hệ thống truyền tín hiệu đến các nhà khoa học để đánh giá tính nguy hiểm của chúng. Ở Nhật, cảnh báo sóng thần được truyền đi chỉ từ 2 đến 5 phút  sau động đất rồi chuyển đến dân cư vùng biển nhờ các phương tiện truyền thông.  Người dân Nhật được giáo dục kỹ về các hiểm họa của sóng thần và cách ứng xử khi nhận được cảnh báo nhờ thế mà số thương vong có thể được giảm đi rất nhiều. Các hướng dẫn về những điều phải làm sau cảnh báo sóng thần đầu tiên do cơ quan khí tượng Nhật Bản phổ biến (xem dưới đây) hay các lộ trình thoát  khỏi vùng bờ biển bị sóng thần ập vào ở Mỹ là những biện pháp tích cực nhằm giảm thiểu các tác hại do sóng thần gây ra.          Các hướng dẫn những điều phải làm sau cảnh báo sóng thần đầu tiên  1. Rời ngay khỏi bờ biển và trú ẩn ở một nơi an toàn khi cảm thấy một chấn động mạnh hay một chấn động yếu, chậm nhưng kéo dài.              2. Rời ngay khỏi bờ biển và trú ẩn ở một nơi an toàn khi có thông báo sóng thần.              3. Tìm thông tin đúng đắn từ truyền hình, truyền thanh hay internet.              4. Đừng đến bờ biển để tắm hay câu cá khi có khuyến cáo về sóng thần hay khi một cảnh báo về sóng thần đã được phát ra.              5. Đừng mất cảnh giác cho đến khi cảnh báo được bãi bỏ vì sóng thần có thể lặp đi lặp lại.  (Cơ quan Khí tượng Nhật Bản)              Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng hồ thông minh dự báo tuổi thọ      Các nhà khoa học ở trường Đại học Lancaster  (Anh Quốc) vừa sáng chế một thiết bị công nghệ dự đoán tuổi thọ con  người. Báo chí gọi đây là biện pháp “xét nghiệm chết” không xâm nhập  (non-invasive “death test”).     Trong tương lai, thiết bị này sẽ được chế tạo dưới dạng đồng hồ đeo tay nhằm khuyến khích người đeo thay đổi lối sống để kéo dài tuổi thọ.   Thiết bị nói trên áp dụng nguyên lý dùng chùm tia laser không gây đau để phân tích các tế bào nội mô (endothelial cells) trên thành các vi ti huyết quản (tiny blood vessels).  Nhà phát minh cho biết: tế bào nội mô là bộ chỉ báo quan trọng tình trạng sức khỏe của con người. Quan trắc các tế bào này sẽ giúp xác định tốc độ già hóa của cơ thể có vượt quá mức bình thường hay không, và căn cứ vào kết quả đó để dự đoán người ấy còn sống được bao lâu nữa. Thí dụ, thiết bị xét nghiệm laser sẽ báo cho biết nếu không thay đổi lối sống thì người đó sẽ chết trong vòng 20 năm tới. Ngoài ra, nó còn có thể chẩn đoán khả năng mắc bệnh ung thư hoặc bệnh mất trí nhớ ở tuổi già (dementia).  Các nhà khoa học hy vọng công nghệ mới này có thể giúp mọi người quan tâm tới việc tự cải thiện sức khỏe bằng những cách như bớt ăn chất béo, bỏ thuốc lá, rượu, thường xuyên đi bộ v.v… Tuy vậy cũng có ý kiến cho rằng những người tin vào thuyết định mệnh sẽ không vì biết trước tuổi thọ của mình mà thay đổi lối sống. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ hưu trí sẽ có thể lợi dụng công nghệ dự báo nói trên để điều chỉnh tiền bảo hiểm và lương hưu của người được họ cung cấp dịch vụ.  Thiết bị được chế tạo tại phòng thí nghiệm của Đại học Lancaster hiện nay có kích thước khá lớn, các nhà khoa học đang nghiên cứu thu nhỏ để cuối cùng có thể biến nó thành đồng hồ đeo tay. Nếu được cấp đủ kinh phí nghiên cứu, loại đồng hồ này có thể xuất hiện trên thị trường trong vòng một năm.  Giá thành thiết bị nói trên vào khoảng vài trăm Bảng. Kết quả một đợt thử dùng thiết bị để kiểm tra sức khỏe của 220 người khỏe mạnh cho thấy tốc độ già của một số người rõ ràng vượt quá hoặc thấp hơn tốc độ dự kiến.  Giáo sư Aneta Stefanovska, phụ trách dự án nghiên cứu, nói: “Trong tương lai không xa, một thiết bị giá từ 200 đến 300 Bảng sẽ có thể được sử dụng phổ biến trong các gia đình. Mong rằng công nghệ chúng tôi nghiên cứu sẽ có thể khuyến khích mọi người quan tâm hơn tới sức khỏe của bản thân.” Bà cùng cộng sự là GS Peter McClintock đã đăng ký sáng chế kể trên.   Ông McClintock nói: “Chúng tôi hy vọng sẽ thấy thiết bị này có mặt trong mỗi phòng mạch. Nó sẽ trở thành một loại thiết bị vô giá cho các thầy thuốc. Nhờ thiết bị này, họ có thể hiểu rõ hệ thống tim mạch của bạn, chẩn đoán xem bạn có khả năng bị đột qụy hoặc đau tim hay không, hệ thống nội mô có trục trặc hay không. Nội mô tiết ra các hóa chất ảnh hưởng tới các mô còn lại. Nội mô là một cơ quan quan trọng trong cơ thể nhưng chưa được mọi người coi trọng.”  Theo một nguồn tin khác, nhà phát minh người Thụy Điển Fredrik Colting mới đây đã sáng chế được loại đồng hồ đeo tay thông minh đếm ngược thời gian còn lại trên cõi đời của bất cứ người nào, chính xác tới từng giây từng phút (?). Người dùng đồng hồ phải điền vào một bản điều tra lý lịch sức khỏe của bản thân và cha mẹ cùng với thói quen sinh hoạt v.v. Loại đồng hồ điện tử nhãn hiệu Tikker này dự kiến có giá 60 USD.          Nguyễn Hải Hoành dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đông Nam Á đang xem xét giải pháp điện hạt nhân      Cuộc khủng hoảng hạt nhân ở nhà máy Fukushima Daiichi bắt đầu hồi tháng 3 đã khiến nhiều Chính phủ trên khắp thế giới tạm dừng, xem xét các biện pháp an toàn và điều chỉnh lại kế hoạch phát triển điện hạt nhân.        Một số quốc gia như Đức và Bỉ thậm chí đã quyết định ngừng hoạt động nhà máy điện hạt nhân trong 10 tới 15 năm tới và chuyển sang dùng các nguồn năng lượng khác, trong khi Chính phủ Nhật Bản đang đánh giá lại cam kết của mình với năng lượng hạt nhân.  Mặc dù vậy, tiến độ xây dựng các nhà máy điện hạt nhân dự kiến sẽ được tiếp tục duy trì ổn định ở nhiều nước, đặc biệt là châu Á – nơi mà Ấn Độ và Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng thêm các nhà máy để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.  Trong tháng này, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế dự đoán rằng các nhà máy sẽ được xây dựng không nhanh như dự đoán, tuy nhiên ông Yukiya Amano – tổng giám đốc cơ quan này cũng chỉ ra rằng những tác nhân góp phần vào mối quan tâm ngày càng lớn tới điện hạt nhân vẫn không hề thay đổi.  “Chúng bao gồm nhu cầu năng lượng toàn cầu ngày càng tăng cũng như những mối quan ngại về biến đổi khí hậu, biến động giá nhiên liệu hóa thạch và an ninh năng lượng” – ông nói trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York.  Ở khu vực Đông Nam Á – nơi không có nhà máy điện hạt nhân nào đang vận hành, có 6 quốc gia đã bày tỏ sự quan tâm tới điện hạt nhân hoặc đang xem xét nó như một sự lựa chọn.  Đến năm 2020, Việt Nam có thể sẽ là quốc gia đầu tiên trong khu vực có nhà máy điện hạt nhân. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã tái khẳng định cam kết sẽ xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Ninh Thuận được công ty Atomstroyexport của Nga xây dựng và sử dụng 2 lò phản ứng VVER-1000 hoặc VVER-1200.  Chính phủ Việt Nam – những người muốn xây dựng ít nhất 8 nhà máy hạt nhân – cũng công bố kê hoạch hợp tác với Nhật Bản để xây dựng 2 lò phản ứng tại một địa điểm nhà máy hạt nhân thứ hai thuộc tỉnh Ninh Thuận. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản đã bắt đầu một luận chứng về tính khả thi cho dự án đó và dự kiến sẽ trình một báo cáo vào tháng 3 năm 2013.  Mới đây, bà Selena Ng, giám đốc khu vực Đông Nam Á của Areva – nhà cung cấp các dịch vụ và thiết bị hạt nhân lớn nhất thế giới – cho biết tại hội nghị Tuần Năng lượng quốc tế Singapore rằng: “Sau vụ việc xảy ra ở Fukushima, trong 6 quốc gia đã từng bày tỏ sự quan tâm tới điện hạt nhân, không có quốc gia nào thể hiện sẽ tẩy chay nó, mặc dù sự cố này đã nhấn mạnh với họ về tầm quan trọng của các yếu tố phi kĩ thuật cần thiết cho an toàn hạt nhân như: phải có những nhân viên có kinh nghiệm, đã qua đào tạo để vận hành các nhà máy, có một tổ chức thể chế vững chắc có thể quản lý một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra”.  Bà nói thêm rằng: “Malaysia đang tiếp tục kín đáo nghiên cứu một luận chứng khả thi. Chính phủ mới của Thái Lan cũng không loại trừ điện hạt nhân bất chấp sự phản đối mạnh mẽ trong nội bộ. Chính phủ Indonesia cũng đang nghiên cứu luận chứng khả thi một cách chậm chạp, mặc dù không chắc rằng Tổng thống hiện tại sẽ thông qua nó. Philippines cũng đang xem xét lại xem có nên tiếp tục nghiên cứu tiền khả thi nữa hay không”.  Philippines đã xây dựng nhà máy điện hạt nhân Bataan vào những năm 70, nhưng 2 lò phản ứng của họ chưa bao giờ được nạp nhiên liệu hay hoạt động. Năm 2008, một phái đoàn của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế được ủy nhiệm bởi Chính phủ nước này cho biết nhà máy Bataan có thể được tân trang lại với chi phí từ 800 triệu tới 1 tỷ USD và được hoạt động một cách kinh tế và an toàn trong 30 năm. Mặc dù một nghiên cứu khả thi độc lập khác của Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc cũng kết luận rằng Bataan nên được tân trang lại, nhưng Chính phủ nước này vẫn không đưa ra bất cứ quyết định nào trước sự phản đối mạnh mẽ từ dư luận.  Bất chấp cuộc khủng hoảng ở Fukushima, Singapore cũng tái khẳng định rằng nước này đang tiến bước với một luận chứng tiền khả thi để hiểu rõ hơn về ngành công nghiệp hạt nhân. Phát biểu bên lề hội nghị, ông S.Iswaran – Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp thứ hai của quốc gia này nói: “Chúng tôi hi vọng rằng nó sẽ kết thúc với một số kết quả ban đầu vào năm tới”.  “Chúng tôi không muốn loại bỏ bất cứ sự lựa chọn nào, vì trước hết Singapore thực sự không có quá nhiều sự lựa chọn” – ông Iswaran nói. “Do nhiều nguyên nhân mà chúng tôi sẽ cân nhắc khá lâu trước khi đưa ra một quyết định về năng lượng hạt nhân trên cơ sở quan điểm lợi ích của Singapore. Nhưng điều đó không loại trừ khả năng đây là một công nghệ phù hợp và quan trọng trong tương lai của quốc gia chúng tôi, xét từ đặc thù quá trình phát triển của ngành công nghiệp này và từ đặc thù phát triển của môi trường năng lượng toàn cầu.  Trong một báo cáo gần đây, công ty Wood Mackenzie – cố vấn trong ngành công nghiệp kim loại và năng lượng cho biết nhu cầu về thế hệ năng lượng mới của Đông Nam Á cao đến mức từ nay đến năm 2020 cần ít nhất 125 tỷ USD chi phí đầu tư. Ông Graham Tyler – người chủ trì nghiên cứu về điện và khí của châu Á cho Wood Mackenzie – viết: “mức tăng trưởng về nhu cầu điện của Đông Nam Á sẽ vượt qua mức tăng trưởng GDP trong thập kỉ tới” và rằng nhu cầu điện thường niên ở những khu vực đô thị lớn có thể tăng gần gấp đôi vào năm 2020.  Báo cáo cho biết Indonesia và Việt Nam là 2 quốc gia có nhiều nguy cơ thiếu hụt năng lượng trầm trọng nhất và cần đầu tư nhiều nhất.  Những khu vực như Tây Java và miền nam Việt Nam đặc biệt cần tăng sản lượng cung ứng vì họ quá lệ thuộc vào nhập khẩu điện từ các khu vực khác.  Ông Nobuo Tanaka – cựu giám đốc điều hành của Cơ quan Năng lượng quốc tế cho rằng nếu coi các nước ASEAN là một thực thể chung thì thực thể này bấy lâu nay đã tự cung tự cấp điện nhờ vào thủy điện và năng lượng tái tạo.  “Vì vậy, hiện tại Asean có thể không cần điện hạt nhân” – ông phát biểu với tờ International Herald Tribune bên lề hội nghị năng lượng ở Singapore, “bởi vì nếu các quốc gia Asean được kết nối với nhau bằng một mạng lưới điện hoặc mạng lưới đường ống dẫn thì có thể hiện tại họ vẫn có đủ nguồn lực”.  Tuy nhiên, các nguồn năng lượng hiện tại “có giới hạn nhất định” và chúng sẽ cạn kiệt. “Vì thế, hạt nhân là một sự lựa chọn rất quan trọng cho an ninh và bền vững năng lượng bởi những nền kinh tế đang phát triển sẽ cần ngày càng nhiều năng lượng”.  “Tôi hoàn toàn cho rằng Asean nên thảo luận về hạt nhân như một sự lựa chọn – một phần của chính sách năng lượng tổng thể của mình” – ông nói. “Ấn Độ đang sử dụng hạt nhân, Trung Quốc đang sử dụng hạt nhân, Nga cũng vậy. Nếu thế, Asean liệu có thể phát triển mà không cần hạt nhân không? Họ phải chuẩn bị cho nhu cầu trong tương lai và vì thế, hạt nhân là một sự lựa chọn rất quan trọng”.  Ông Tanaka cho biết Singapore quá nhỏ bé để xây dựng một lò phản ứng hạt nhân lớn. Ông giải thích rằng “quốc gia này sẽ không sống sót nổi nếu có sự cố hạt nhân xảy ra”. Nhưng ông cũng nói rằng “nếu một số công nghệ mới cho phép một lò phản ứng hạt nhân quy mô nhỏ thì tại sao không?”  Gần đây, hợp tác về an toàn hạt nhân được bàn tới nhiều trong chương trình nghị sự thảo luận của Asean.    “Về lâu dài, chúng tôi không thể bác bỏ khả năng phải xem xét đến hạt nhân” – ông Idris Jala, Bộ trưởng Văn phòng Thủ tướng ở Malaysia cho hay.  “Đã có nhiều phản ứng sau vụ Fukushima. Nhưng tôi nghĩ rằng thế giới không thể có một phản ứng hấp tấp về việc này. Chúng ta cần tỉnh táo suy nghĩ và đặt ra câu hỏi ‘Chúng ta có thể đối phó với công nghệ hạt nhân một cách an toàn như thế nào?’ Sau đó chúng ta có thể phân phối năng lượng rẻ hơn nhiều bằng cách sử dụng hạt nhân”.  Ông Jala nói thêm rằng điều quan trọng với Asean là phải đảm bảo rằng các biện pháp an toàn được thực thi “để mọi người trong khu vực cảm thấy yên tâm rằng sự phát triển và sử dụng điện hạt nhân đang được tiến hành một cách an toàn cho tất cả mọi người ở Đông Nam Á”.  Nguyễn Thảo (dịch từ New York Times)  http://www.nytimes.com/2011/11/28/business/global/28iht-RBOG-NUKE-SEA28.html?pagewanted=1&_r=3       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đông Nam Á học ở Việt Nam: Chưa là khoa học về khu vực      Nghiên cứu Đông Nam Á học ở Việt Nam thực chất mới chỉ dừng lại ở đất nước học, tức là đào tạo tập trung vào việc phổ biến ngôn ngữ và văn hoá theo từng quốc gia trong khu vực thay vì nghiên cứu với tư cách là một khoa học về khu vực.      Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Thanh Hà.  Nhận định này của PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV Hà Nội (ĐHQGHN) đã trở thành chủ đề thảo luận tại hội thảo “Đông Nam Á học ở Việt Nam: Triển vọng và Thách thức” do trường ĐH KHXH&NV tổ chức ngày 14/11/2018.  Ra đời đầu tiên ở Bắc Mỹ từ sau Thế chiến II, nghiên cứu Đông Nam Á học vẫn tiếp tục phát triển ở các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc). Tại Việt Nam, nghiên cứu Đông Nam Á bắt đầu hình thành từ rất sớm so với nhiều nước trong khu vực, với sự ra đời của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) từ năm 1973. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính, do điều kiện tiềm lực kinh tế có hạn, hầu hết các nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á ở Việt Nam chỉ mới được thực hiện qua các nguồn tài liệu thứ cấp trong khi các nhà nghiên cứu lại ít có điều kiện thực hiện các cuộc nghiên cứu thực địa tại các nước trong khu vực. Còn đào tạo Đông Nam Á học ở bậc đại học mới chỉ thực sự được quan tâm từ năm 1995, sau khi Khoa Đông phương học được thành lập ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Và đáng lưu ý là “nghiên cứu thực chất mới chỉ dừng lại ở đất nước học, tức là tập trung vào việc phổ biến ngôn ngữ và văn hoá theo từng quốc gia trong khu vực thay vì nghiên cứu khu vực và mối liên hệ khu vực với tư cách là một khoa học về khu vực”. Đây cũng là hiện trạng của đào tạo Đông Nam Á học tại các trường đại học.   Hiện nay cả nước có 4 trung tâm đào tạo chuyên ngành Đông Nam Á – bao gồm ĐHQG TP HCM, Đại học Hồng Bàng, Bà Rịa – Vũng Tàu và từ năm nay là Khoa Đông Phương của ĐH KHXH&NV (ĐHQGHN) và giảng dạy ngôn ngữ chiếm vị trí chủ đạo trong các chương trình học. Ví dụ,  60/132 tín chỉ trong ngành Đông Nam Á học ở ĐHQG TP HCM dành cho giảng dạy ngôn ngữ; ở ngành Thái Lan học tại ĐHQGHN thì tỷ lệ này là 34/139 (không tính đến ngoại ngữ Anh bắt buộc).  Mặt khác, rào cản ngôn ngữ cũng được coi là khó khăn chính với các nhà nghiên cứu Việt Nam khi nghiên cứu về các nước khu vực,  theo TS. Nguyễn Thị Thùy Châu (Khoa Đông Phương học, ĐH KHXH&NV). Cụ thể, trong khi nghiên cứu Thái Lan rất cần cập nhật nhiều tài liệu nghiên cứu tiếng Thái thì nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam mới chỉ tham khảo được thông qua các nguồn tiếng Anh. Từ sau năm 1990 đến nay, không còn các công trình nghiên cứu về tiếng Thái ở Việt  Nam.   Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu đang giảng dạy tại Khoa Đông Phương học như GS. Mai Ngọc Chừ và TS. Hồ Thị Thành lại cho rằng, chương trình Đông Nam Á học phải tập trung vào giảng dạy ngôn ngữ nhằm giúp cho sinh viên có được việc làm, “bởi hiện nay sinh viên ra trường chỉ có một người làm nghiên cứu, trong khi 80 người còn lại phải dùng ngôn ngữ để kiếm tiền.” Đó là “thực tế mà các trường phải đối mặt trong kinh tế thị trường hiện nay”, GS Mai Ngọc Chừ nhấn mạnh.    Do vậy, một giải pháp “dung hòa” được đưa ra là, nên linh hoạt trong đào tạo Đông Nam Á học, theo PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, phó hiệu trưởng trường ĐH KHXH&NV. Nghĩa là, các đơn vị vẫn tiếp tục đào tạo như hiện nay, còn với những sinh viên có định hướng nghiên cứu sẽ được khoa và nhà trường đầu tư đào tạo chuyên sâu về nghiên cứu một cách “cá nhân hóa”.    Author                Tuấn Quang        
__label__tiasang Đông Nam Á: Lún và những bài học khác      Không riêng gì Hà Nội, lún hiện hữu ngày một đậm nét ở các thành phố lớn khác ở Đông Nam Á.    Jakarta đã phải xây một bức tường đê bao cỡ lớn để bảo vệ thủ đô đang lún trước sự xâm thực của biển. Nguồn: Indiatimes.  Lún ở khắp nơi  Hà Nội hay những thành phố ở Đông Nam Á như Bangkok (Thái Lan), Manila (Philippines), Jakarta (Indonesia), Yangon (Myanmar) đều là những đô thị quy mô lớn, phát triển trên các đồng bằng châu thổ – nơi có nhiều hệ tầng đất đan xen được hình thành từ hàng chục triệu năm trước và có quá trình khai thác nước ngầm tương đối liên tục để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, tưới tiêu nông nghiệp. Có lẽ, sự phồn thịnh của những vùng đất hứa – thuận lợi cho giao thông, phát triển kinh tế và cơ hội việc làm cho hàng triệu người… – đã thu hút những dòng người di cư lập nghiệp. Tất cả các thành phố này đều đang trên đường trở thành những siêu đô thị, đặc biệt như Bangkok và Jakarta đều có số dân ước tính trên 10.500.000 người, mật độ dân số cỡ hơn 10.000 người/km2.        Theo cảm quan ban đầu của những người nghiên cứu về lún cũng như về địa chất thủy văn, các thành phố này đều ẩn chứa nhiều nguy cơ tiềm năng về lún. “Những khu vực có nguy cơ rủi ro lún cao đều gần các đồng bằng châu thổ và những lưu vực trầm tích phẳng vùng duyên hải”, nhà địa vật lý Roland Burgmann (ĐH California, Berkerley) nói trên Wired. Và trên thực tế, từ hàng chục năm nay, Thái Lan hay Jakarta đã được mệnh danh là thành phố “đang chìm”. “Là một trong những thành phố phát triển sớm ở Đông Nam Á nên Bangkok đã nếm trải quá trình lún từ khá lâu rồi”, Nguyễn Minh (Viện Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học Đài Loan – Academia Sinica) cho biết.  Quả thật, “lún đất từ việc khai thác nước đã ảnh hưởng đến Bangkok trong suốt 35 năm qua”, nhóm nghiên cứu của PGS. TS Phạm Huy Giao đã mở đầu như vậy trong bài báo xuất bản vào năm 2005 “Land subsidence in Bangkok, Thailand” (Lún đất ở Bangkok, Thái Lan) xuất bản trên Engineering Geology. So với các thành phố khác của Đông Nam Á, Bangkok phát triển tương đối sớm và quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh chóng. Vào đầu những năm 1900, việc khai thác nước ngầm ở thành phố này đã được bắt đầu, cho đến những năm 1950, quá trình này đã được mở rộng về quy mô cũng như độ sâu khi các mũi khoan chạm đến hệ tầng chứa nước (aquifer system). Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bangkok gắn liền với tốc độ bơm hút nước ngầm bởi sau khi tốc độ khai thác được giảm xuống trong giữa những năm 1980 đến đầu những năm 1990 thì “một làn sóng tăng trưởng kinh tế mới đã làm gia tăng một cách nhanh chóng tốc độ khai thác nước. Kể từ năm đó, vùng trung tâm đã được mở rộng ra những khu vực ngoại ô, nơi hệ thống cung cấp nước còn chưa sẵn sàng”, nhóm nghiên cứu viết. Do đó, tốc độ khai thác nước của Bangkok không ngừng gia tăng theo thời gian: 0,65 triệu m3/ngày đêm vào năm 1975, lên tới 1,2 triệu m3/ngày đêm vào năm 1980 nhưng tăng gần gấp đôi vào năm 2000.    Câu chuyện về lún luôn ẩn chứa những bất ngờ, người ta thôi xem nhẹ lún cho đến lúc chứng kiến những tác động dài hạn của nó lên môi trường và đời sống đô thị.    Hệ quả là mực nước ngầm ở Bangkok đã hạ xuống vào mức 40 – 50 mét trong các tầng ngậm nước thì tới đầu những năm 2000 là 65 mét so với bề mặt đất (sâu hơn 15 mét so với năm 1981). Và tiếp theo là khi đó, mặt đất Bangkok đã lún sâu hơn một mét, sau 35 năm khai thác nước ngầm. “Những bài học kinh nghiệm từ nhiều quốc gia, đặc biệt là Bangkok, Thái Lan, chứng minh việc khai thác nước ngầm có thể dẫn đến không sớm thì muộn khả năng lún của thành phố, nếu không được quy hoạch và quản lý tốt”, giáo sư Ariel Dinar (ĐH California, Riverside) đã viết như vậy trong “We lose ground: Global assessment of land subsidence impact extent” (Chúng ta mất đất: Đánh giá toàn cầu về tác động mở rộng của lún đất), xuất bản tại Science of the Total Environment.  Lún đất là điểm chung giữa Bangkok và các thành phố lớn ở Đông Nam Á, tuy nhiên tình trạng lún giữa chúng lại ở những mức độ khác nhau. “Giữa sáu thành phố này, Jakarta được biết đến nhiều nhất bởi vấn đề nghiêm trọng của nó trong vòng hai thập kỷ qua. Nó phải đối mặt với tốc độ lún lớn nhất là hơn 22 cm/năm, cao hơn 45% so với thành phố đứng thứ hai là Manila, khoảng 15 cm/năm. Yangon xếp thứ ba với tốc độ lún cao khoảng 11 cm/năm. Ba thành phố khác là Bangkok, TP.HCM và Hà Nội có tốc độ lún thấp hơn, dưới 7 cm/năm”, Nguyễn Minh và cộng sự viết như vậy trong “Assessment of long-term ground subsidence and groundwater depletion in Hanoi, Vietnam” (Nghiên cứu tổng thể về quá trình lún bề mặt đất và suy giảm nước ngầm dài hạn ở Hà Nội) trên Engineering Geology.  Đáng chú ý, dù cũng là lún do khai thác nước ngầm nhưng số phận của Jakarta lại bi thảm hơn bởi lún còn được tiếp tay bởi mối nguy từ biển vào – nước biển dâng. Nằm trên bờ biển Tây Bắc của đảo Java, ngay tại cửa sông Ciliwung đổ ra vịnh Jakarta, nối với biển Java, Jakarta phải đối diện với tình trạng nước biển dâng hằng năm là 3,6mm, theo bài viết của giáo sư Edvin Aldrian (Cơ quan Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Indonesia) trên The Conversation. Mực nước biển dâng vào năm 2018 cao hơn năm 1900 từ 13 đến 20cm. Một số mô hình ước tính rủi ro đã dự báo một tương lai bất ổn cho thành phố này: trong vòng ba thập kỷ tới, rất có thể 95% diện tích Bắc Jakarta có thể chìm dưới mặt nước biển do lún và nước biển dâng.  Bởi vậy, giữa các thành phố cùng chung tình trạng lún do khai thác nước ngầm, Hà Nội được đánh giá là ở vị thế “an toàn” nhất. “Sau khi nghiên cứu về Hà Nội, tôi đánh giá mức độ nghiêm trọng của Hà Nội không bằng Bangkok vì đất ở đây tốt hơn nhiều”, một nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm và có nhiều công bố về lún ở Bangkok, Yangon… cho biết như vậy. Tuy nhiên, ông cảnh báo “chúng ta vẫn phải chú ý theo dõi lún ở Hà Nội vì ở đây vẫn còn đang khai thác nước ngầm”.  Những hệ quả của lún  Lún sẽ dẫn đến điều gì? Có lẽ ai cũng tự hỏi như vậy, khi không khỏi tò mò về một hiện tượng mà tốc độ chậm chạp của nó dường như khó có thể liên quan đến những tác động quá lớn ở tương lai. Thế nhưng câu chuyện về lún luôn ẩn chứa những bất ngờ, người ta thôi xem nhẹ lún cho đến lúc chứng kiến những tác động dài hạn của nó lên môi trường và đời sống đô thị.  Vào tháng 8/2021, quân đội và đội tình nguyện phải hỗ trợ người dân Bangkok di chuyển trong trận lụt. Nguồn: Bangkokpost  Bởi lún đất có thể dẫn đến rất nhiều điều, trước hết nó gợi người ta nghĩ trước việc làm giảm khả năng trữ nước trong các tầng chứa nước. “Khi thực hiện nghiên cứu tổng thể về lún bề mặt đất và suy giảm nước ngầm dài hạn ở Hà Nội, tôi nhận thấy nước ngầm ở Hà Đông trong giai đoạn 1997-2018 sụt giảm mạnh nhất so với vùng đô thị Hà Nội, vào khoảng 25 mét nước”, Nguyễn Minh nhận xét. Anh đề xuất một lý giải, thứ nhất là do Hà Đông nằm xa các nguồn bổ cập chính như sông Hồng, ao hồ lớn như hồ Tây, trong khi đó các khu đô thị mới liên tục xuất hiện làm gia tăng nhu cầu nước sinh hoạt khiến cho các hoạt động khai thác nước ngầm cũng được mở rộng. Nhu cầu gia tăng đột biến từ hoạt động khai thác nước ngầm và nguồn bổ cập hạn chế khiến nước ngầm bị suy giảm nhanh chóng.  Nhưng hậu quả của lún không chỉ vậy, ở mức độ lớn, nó có thể dẫn đến các vấn đề khác như mở rộng các khu vực ngập lụt, thay đổi độ dốc địa hình, phá vỡ bề mặt đất… Shagun Garg, một kỹ sư dân dụng và nhà nghiên cứu ở ĐH Cambridge, trao đổi với Mongabay.com, nếu lún đất trải rộng trên một diện tích lớn thì nhiều khả năng, vùng đất đó sẽ bị ngập lụt. trong nhiều trường hợp, nếu bề mặt đất biến dạng không đều và tốc độ lún khác nhau thì nó có thể ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng xây dựng như đường xá, cầu cống, nhà cửa…, ví dụ như có thể làm yếu nền móng và góp phần kích hoạt các vết nứt trong các tòa nhà.  Ở các thành phố có tình trạng lún khá nghiêm trọng của Indonesia như Jakarta, Bandung và Semarang, người ta đã nhìn thấy các hậu quả đó. Trong trường hợp của Jakarta, lún làm trầm trọng hơn tình trạng ngập lụt bởi nó làm suy giảm các cao trình của đê kè và làm giảm chức năng của hệ thống thoát nước của thành phố trong khu vực bị lún và có thể dẫn đến tình trạng ngập lụt hơn nữa vào mùa mưa, nhà nghiên cứu Hasanuddin Z. Abidin (Viện Công nghệ Bandung) cho biết như vậy vào hơn 10 năm trước, trong công bố “Land subsidence of Jakarta (Indonesia) and its relation with urban development” trên Natural Hazards.  Bên cạnh việc làm biến dạng bề mặt đất và cơ sở hạ tầng, chi phí xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi sụt lún thường sẽ cao hơn so với khu vực không có hiện tượng lún. Thậm chí, có những nơi chưa lâm vào tình trạng báo động như Jakarta nhưng cũng đã phải nếm trải ảnh hưởng của lún, ví dụ như trường hợp ở sân bay Kuala Lumpur (Malaysia) vào năm 2015. “Sân bay cần có nền đất ổn định bởi vì nguy cơ các chuyến bay bị gián đoạn nếu nền bị lún. Sân bay Kuala Lumpur là một ví dụ cho chúng ta thấy tác động của lún dẫn đến nứt vỡ đường băng và đọng nước do lún”, Shagun Garg nói. Vào thời điểm đó, sân bay Kuala Lumpur thừa nhận hiện trạng này là do sự biến dạng không đều của đường băng cất cánh, hạ cánh và khu vực đỗ của máy bay, nơi được xây trên các cọc móng, nơi được đặt trên nền tự nhiên.  Do đó, các nhà khoa học cho rằng chi phí xã hội và môi trường do tác động trực tiếp và gián tiếp của lún đất cũng khá đáng kể. Ví dụ năm 2021, các nhà khoa học Tây Ban Nhà và Mỹ cho rằng Indonesia với mật độ dân số ở những nơi có nhiều tiềm năng lún cao nhất sẽ là một trong số bảy quốc gia hàng đầu thế giới sẽ phải chịu nhiều chi phí xã hội do lún. Theo mô hình tính toán, giữa năm 2010 và 2040, dân số phải sống chung với lún gia tăng hơn 80% ở Philippines, Indonesia và một số quốc gia khác.  Những điều như vậy cũng xảy ra ở Hà Nội? Cho đến hiện nay, về tổng thể, chưa có nhiều vấn đề lớn về lún với hạ tầng cơ sở ở Hà Nội, “phần vì tốc độ lún nhỏ hơn so với các thành phố khác ở Đông Nam Á, chưa tạo ra tác động ở quy mô lớn, phần vì chúng ta có thể xử lý được nền đất cho tốt lên hoặc cho tải trọng xuống tầng đất chịu lực trước khi xây dựng. Hiện giờ, chúng ta đã có tri thức và công nghệ để có thể xử lý được các vấn đề liên quan đến cơ sở hạ tầng. Vấn đề là mình cần phải dự báo được đầy đủ vấn đề. Tất nhiên, càng nhiều vấn đề thì chi phí [cho các công trình] càng đắt”, TS. Nguyễn Văn Phóng (trường ĐH Mỏ Địa chất) giải thích.  Dẫu vậy, đây đó ở Hà Nội có thể thấy phần nào mức độ ảnh hưởng của lún. “Tuy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có tương quan rõ ràng giữa lún bề mặt đất và mật độ công trình xây dựng nhưng đã cho thấy có tương quan giữa loại công trình với lún bề mặt đất”, TS. Trần Quốc Cường, Viện phó Viện Địa chất (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) viết như vậy trong một tài liệu trao đổi với Tia Sáng. “Phần lớn lún đã xuất hiện ở một số công trình thấp hơn 7 tầng và tập trung nhiều vào nhà dân, có mức độ lún cao. Nguyên nhân liên quan trực tiếp đến kết cấu móng của các công trình đó”.  Việc đi tìm hiểu tình trạng lún và nguyên nhân dẫn đến lún cũng giải đáp được phần nào thắc mắc của chính Nguyễn Minh. “Tôi sống ở Hà Đông, thường tự hỏi là tại sao khu vực này hay ngập dù mưa không lớn? Có thể do nhiều nguyên nhân, do đô thị hóa diễn ra quá nhanh? do khu vực này địa hình thấp hơn và bị trũng so với xung quanh? Tôi không lý giải được điều đó cho đến khi bắt tay vào làm nghiên cứu về lún thì tôi mới hình dung được tình trạng ‘nước chảy chỗ trũng’ theo đúng nghĩa cho Hà Đông…”.  Giảm thiểu rủi ro trong tương lai  Dù xảy ra ở thành phố nào và bắt đầu từ bao giờ thì câu chuyện về lún trong quá khứ và hiện tại đã là một hành trình không thể đảo ngược. Vì vậy có lẽ, để có thể giải quyết vấn đề một cách thấu đáo hơn trong tương lai, các thành phố đang phải đối mặt với lún ở Đông Nam Á cần những phản hồi chính sách, yếu tố mà theo các nhà khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng.  Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó với các chính quyền bởi theo nhận định của Dimas Fauzi, một nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Môi trường Stockholm (SEI), lún đất là một bài toán phức tạp và quá khó để điểm ra một vài nguyên nhân đóng vai trò trung tâm nhằm giải quyết được tận gốc rễ vấn đề, nhất là khi nó lại được biến đổi khí hậu tiếp tay. Ông mường tượng, việc xây dựng chính sách và thực thi chính sách phản hồi lún sẽ phải gồm rất nhiều bên tham gia, trong đó có quản lý nước ngầm, dịch vụ nước đô thị, khí tượng/khí hậu, địa chất thủy văn, môi trường sinh thái, cơ sở hạ tầng đô thị… Mặt khác, trong số rất nhiều các biện pháp can thiệp thì chỉ có số ít là đạt hiệu quả, ví dụ như chính sách quản lý sử dụng nước, giáo sư Ariel Dinar nhấn mạnh. Thậm chí, ở những quốc gia đang phát triển, nhiều chính sách có thể sẽ không đạt như kỳ vọng do hạn chế vận hành của cơ chế quản lý nước.  Có lẽ, giữa những giải pháp giảm thiểu rủi ro về lún mà các chính phủ Đông Nam Á có thể thực thi, cách làm hiệu quả nhất và ít tốn kém nhất vẫn là đầu tư cho khoa học để từ đó, có thể hiểu sâu sắc hơn bản chất và cơ chế vận hành của đất, nước và không gian quanh nó.  Rút cục, câu chuyện về lún cho thấy khoa học cơ bản có thể có những đóng góp quan trọng để hướng tới giải quyết những vấn đề lớn của xã hội. Bởi xét cho cùng, trong tương lai, chi phí của việc không làm gì cả hoặc làm sai sẽ ở mức rất cao.□    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang “Đông Phương Học”, “Orientalism” và sự hội nhập của tri thức Việt      Một hội thảo khoa học quốc tế gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm “Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông”, tên này được dịch ra tiếng Anh là “Oriental Cultural Exchanges”. Hội thảo được đánh giá là được tổ chức công phu và tập hợp của nhiều báo cáo có giá trị học thuật. Việc dịch tên gọi hội thảo sử dụng khái niệm “Oriental” cũng được coi là điều hoàn toàn “bình thường” vì đối với các học giả Việt Nam, “Đông Phương học” là một khái niệm trung tính, thậm chí còn tích cực (“positive”) vì nó giúp định hình không gian của ngành một cách rõ ràng, thậm chí còn mang màu sắc hàn lâm cổ điển. Tuy nhiên, khái niệm “Orient”, “Oriental” và “Orientalism” lại có hàm nghĩa hoàn toàn ngược lại, thậm chí rất tiêu cực trong học thuật phương Tây ngày nay.      Bìa sách Orientalism của Edward W. Said, xuất bản năm 1979.  Vì vậy, bài viết này sẽ đề cập đến nguồn gốc của sự phê phán khái niệm này và gợi ý về sự cẩn trọng đối với các học giả Việt Nam khi sử dụng các khái niệm quan trọng này trong công bố học thuật quốc tế.  Hãy bắt đầu bằng một câu hỏi: vùng Trung Đông trong trí tưởng tượng của quý vị có gì?  Chắc hẳn quý vị sẽ nghĩ đến các sa mạc, cây đèn thần, tên trộm ở thành Bagdad, tấm thảm bay, bọn khủng bố, những người phụ nữ đeo mạng, và tất nhiên là những con rắn uốn éo theo tiếng nhạc… Trừ cây đèn thần và tấm thảm bay (do Hollywood mang đến), có lẽ tất cả những yếu tố khác đều có thật. Tuy nhiên, đó là điều mà phần lớn mọi người trên thế giới hình dung về Trung Đông: vùng đất hoang dã, xa lạ, với những điều kỳ cục, bí hiểm, phong tục khó hiểu và con người “không thân thiện”…  Đó chính là hình ảnh Trung Đông được mang đến và giới thiệu qua các câu chuyện cổ, phim ảnh, quảng cáo và các bản tin thời sự (chủ yếu đưa tin về chiến tranh, khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ…). Bạn hầu như quên mất ở đó cũng có các thi sĩ và nhà triết học. Cuộc sống của họ cũng có trường học, chợ búa, trẻ con cũng đến trường, cũng hát đồng dao, người lớn ngồi tán gẫu trong các quán trà, thanh niên cũng chơi games, lướt facebook, và ăn KFC.  Sự mô tả khái quát mang tính “xa lạ hóa”, “huyền bí hóa”, “kì dị hóa” các vùng đất, xã hội, và con người tại các thế giới xa xôi như Trung Đông, hay nói chung ở châu Á, châu Phi như thế được giới học thuật phương Tây gọi là “Orientalism”. Khái niệm này bắt đầu vào năm 1978, khi GS.  Edward W. Said (ĐH Columbia) xuất bản cuốn sách với cùng tựa đề, trong đó ông phê phán cách phương Tây nhìn thế giới phương Đông một cách miệt thị và định kiến với đầy những hình ảnh xa lạ, kỳ cục, kỳ thị, bị bóp méo, phản ánh các xã hội khác bằng con mắt của kẻ “văn minh” hiếu kỳ, tò mò, định kiến có sẵn. Thực tế, hầu như các tri thức này là sự tưởng tượng, cường điệu từ cách người ta ăn mặc, đi lại, giao tiếp, cư xử, cho đến tôn giáo, lễ nghi… dù đa phần người phương Tây chưa từng đến vùng đất này, thậm chí là chưa từng gặp một người nào đến từ vùng đất đó.  Sự ra đời của “Orientalism” gắn liền với lịch sử thực dân    Những người phụ nữ Algiers, tranh của Eugène Delacroix, 1834.  Lịch sử về cách “phương Tây” nhìn “phương Đông” đã kéo dài nhiều nghìn năm, từ sử gia Herodotus của Hy Lạp cổ đại, sứ thần Hy Lạp Megasthenes đến Ấn Độ cho đến cuộc hành trình của Marco Polo xuyên qua đế chế của Hốt Tất Liệt (Kublai Khan), nơi ông mô tả những túp lều dựng bằng vàng, thành phố thịnh vượng của hàng triệu cư dân và những dòng sông đầy thuyền bè…1  Tuy nhiên, lịch sử hiện đại của “Orientalism” được bắt đầu vào năm 1798.  Đó là năm vị tướng nước Pháp, Napoléon Bonaparte cùng 40,000 lính và 10,000 thủy thủ rời khỏi cảng Tuolon bắt đầu cuộc viễn chinh 3 năm ở Ai Cập và Syria. Mục đích của cuộc hành quân là mở rộng ảnh hưởng của nước Pháp và nhằm suy yếu nước Anh. Thực tế, đó là một dự án thực dân. Điều thú vị ở chỗ đi cùng Napoleon không chỉ có binh lính mà còn một đạo quân các nhà khoa học khảo cổ, văn bản học, cổ tự học, bia ký, sử học, kỹ sư…      Khái niệm “Orientalism” bắt đầu vào năm 1978, khi GS. Edward W. Said xuất bản cuốn sách với cùng tựa đề, trong đó ông phê phán cách phương Tây nhìn thế giới phương Đông một cách miệt thị và định kiến với đầy những hình ảnh xa lạ, kỳ cục, kỳ thị, bị bóp méo, phản ánh các xã hội khác bằng con mắt của kẻ “văn minh” hiếu kỳ, tò mò, định kiến có sẵn.      Không thể phủ nhận vai trò của các nhà khoa học tiên phong này, lần đầu tiên họ đưa Ai Cập, đưa Trung Đông trở thành một chủ đề của khoa học hiện đại. Một trong các thành tựu nổi bật là việc Jean-François Champollion (1822) giải mã thành công chữ cổ Ai Cập và công cuộc khảo cổ kéo dài hàng thế kỷ sau đó. Tuy nhiên, tri thức của họ được tạo ra không phải cho người Ai Cập. Tri thức của họ không nhằm giúp người Ai Cập hiểu về đất nước, văn hóa của mình, mà là giúp người Pháp/ người châu Âu hiểu biết và cai trị Ai Cập, phục vụ trực tiếp cho dự án thực dân của họ. Tri thức này, vì thế là một phần của chủ nghĩa đế quốc.  Sự phát triển của khoa học hiện đại ở châu Âu thời cách mạng công nghiệp đã giúp phổ biến “Đông phương học” một cách rộng rãi, từ thế giới học thuật đến thế giới thực dân, tới các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, kiến trúc sư, và họa sĩ bậc thầy như Eugène Delacroix, Jean-Léon Gérôme, Gerard de Nerval….  “Orientalism” vì thế trở thành một phần trong hành trang của chủ nghĩa đế quốc và quá trình mở rộng thực dân hóa tới các vùng lãnh thổ châu Á, châu Phi, trong một sứ mệnh mà họ gọi là “la mission civilisatrice” (khai hóa văn minh). Nếu quyền lực quân sự thống trị lãnh thổ và chính trị, “Orientalism” chinh phục trí tuệ và tri thức của người “thuộc địa” nhằm trả lời câu hỏi của tên thực dân: làm thế nào để hiểu về xã hội bản địa, qua đó mà chinh phục và cai trị họ một cách hiệu quả?  Sự phê phán của “Orientalism” nằm ở chỗ nó giải thích tại sao khi chúng ta nghĩ về những vùng đất như Trung Đông, tri thức và trí tưởng tượng của chúng ta bị giới hạn và mặc định trong những hình ảnh có sẵn, những hình ảnh được đưa đến qua truyện kể, các huyền thoại, quảng cáo, phim ảnh, và sản phẩm của Hollywood, chứ không phải là trải nghiệm thực tế hay sự tìm hiểu một cách kỹ lưỡng và có phê phán của chúng ta về nó. Xét về nghĩa rộng hơn, sau góc nhìn bị giới hạn đó chính là bức thông điệp về văn hóa, văn minh, và chính trị, vì phần lớn các tri thức này đến từ “phương Tây”, lấy “phương Tây” làm trung tâm, phản ánh giá trị của “phương Tây”, và quan trọng hơn, được nhìn qua lăng kính bị bóp méo nhằm hợp thức hóa công cuộc thực dân. Ở đó, chỉ có phương Tây là “văn minh”, “phát triển”, và “bình thường”, còn phần còn lại của thế giới là “kỳ lạ”, “huyền bí”, “không bình thường”, không được khai hóa, và hầu như “trì trệ” trong hàng nghìn năm, mà không hề có sự tiến hóa. Chính vì thế, sứ mệnh của phương Tây là khám phá thế giới, chinh phục các miền đất xa lạ, giúp người “bản địa” có tri thức để hiểu về chính mình, và từ đó giúp khai hóa người bản địa, giúp cho quá trình hiện đại hóa.    Phê phán Orientalism và xu hướng giải thực dân    Các nhà nghiên cứu Pháp là Henri Parmentier- bìa trái và Charles Carpeaux ở Đông Dương (Quảng Nam) năm 1902 (photothèque EFEO, PAR00952, cliché H. Parmentier)  Công trình của Said về “Orientalism” không chỉ tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực nghiên cứu vùng Trung Đông, mà còn mở ra giai đoạn mới trong cách thức phương Tây tiếp cận các vùng còn lại của thế giới. “Orientalism” đồng thời giúp định hình một loạt các lĩnh vực nghiên cứu mới như “post-colonial theories” – lý thuyết hậu thuộc địa, “English” – tiếng Anh, “history” – lịch sử, “art history” – Lịch sử nghệ thuật, “paleography” – Văn khắc, “anthropology” – Nhân học, “political sciences” – chính trị học, “manuscript studies” – văn bản học, “Philology” – nghiên cứu văn bản và ngôn ngữ cổ, và “Cultural Studies”- văn hóa học…  Phê phán “Orientalism”/ “Đông phương học” của Said giúp định hình nên cuộc cách mạng trong cách thức tổ chức hệ thống học thuật và tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở phương Tây, trong đó có xu thế giải thực dân (Decolonization) trong học thuật và sự phê phán chủ nghĩa lấy châu Âu làm trung tâm (Euro-centralism). Thực tế, dù nhiều trường, viện trên thế giới trong tên gọi vẫn dùng từ “phương Đông”: Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO, Paris), Trường phương Đông và châu Phi (SOAS, London)… như một cách thức để “tưởng niệm” về quá khứ và danh tiếng; tên gọi này không ngăn được việc họ đã phải thay đổi cách thức tiếp cận, nơi mà các học giả từ lâu không còn gọi ngành của mình là “Oriental studies” và gọi vùng đất mình nghiên cứu là “Orient” nữa. Lí do nằm ở sự phê phán cách thức ngành “Oriental studies” được tạo ra và tri thức liên quan đến các vùng đất “xa xôi” được sản xuất.      Từ năm 2009, New York và sau đó là bang Washington đã cấm tất cả các văn bản hành chính nhắc đến từ “Oriental”. Năm 2016, Tổng thống Barack Obama đã ký ban hành luật trong đó cấm sử dụng các từ “Negro” và “Oriental” trong văn bản luật liên bang.      Các trường đại học ở Việt Nam cũng có khoa “Đông phương học”, hay chương trình đào tạo “Đông phương học”. Mặc dù vậy, sự tồn tại của ngành này hầu như chưa được định vị một cách rõ ràng và thống nhất, ví như việc coi Úc như một phần của “Đông phương”. Bản thân khái niệm “phương Đông” cũng có vấn đề, vì nó được người phương Tây tạo ra nhằm chỉ các vùng đất ở phía Đông của châu Âu. Trong hệ định vị địa lý của người Việt Nam thì rõ ràng là Ấn Độ và Tây Á không nằm ở phía Đông.  Khái niệm “Orientalism” đã gia nhập vào tiếng Việt và được hiểu đơn giản là “Đông phương học”. Tương tự, “Oriental Studies” cũng đang được dịch là “Đông Phương học”. Về điểm này, đang có khoảng cách lớn trong nhận thức giữa “Orientalism” trong tiếng Anh đến “Đông phương học” trong tiếng Việt. Dù cuốn sách kinh điển về chủ đề này của E. Said, bản tiếng Anh được xuất bản cách nay 40 năm và bản dịch tiếng Việt đầu tiên ra đời năm 1998, các học giả Việt Nam dường như vẫn chưa quan tâm đúng mức đến tính chất phê phán của khái niệm “Orientalism”, điều mà giới học thuật phương Tây hầu như đã không còn sử dụng nữa. Khái niệm này, thực tế vẫn thường được chuyển ngữ một cách giản đơn là “Đông phương học”.  Điều này rõ ràng đang gây trở ngại cho các học giả trong nước trong việc tiếp cận với các thảo luận học thuật quốc tế, nơi mà người ta không còn nói đến “Oriental” hay “Negro” nữa. Từ năm 2009, New York và sau đó là bang Washington đã cấm tất cả các văn bản hành chính nhắc đến từ “Oriental”. Năm 2016, Tổng thống Barack Obama đã ký ban hành luật trong đó cấm sử dụng các từ “Negro” và “Oriental” trong văn bản luật liên bang.  Một ví dụ nhỏ trong những tác động đến cách thức học giả bên ngoài mô tả Việt Nam đó là đặt lịch sử vùng đất này trong khung cảnh của “Ấn Độ hóa” và “Trung Hoa hóa” (George Cœdès 1944). Joseph Buttinger (1958) thì gọi Việt Nam là “Rồng nhỏ” để ám chỉ mối quan hệ với Trung Hoa. Theo đó, lịch sử và văn hóa Việt Nam nằm dưới các làn sóng văn minh lớn hơn mà nhờ xúc tác của nó người Việt mới có được các thành tựu. Điều này mang theo những ẩn ý thực dân quan trọng:  Thứ nhất, người Pháp sẽ giúp người Việt Nam khai hóa bằng cách giúp đỡ nhằm vượt qua những giá trị phương Đông (Ấn Độ, Trung Hoa) “xưa cũ” để hiện đại hóa và tiếp cận văn minh phương Tây.  Thứ hai, không có “bản sắc” Việt Nam, hay ít nhất là người Việt phải nhờ vào “Ấn” và “Hoa” thì mới có được sự phát triển. Vì thế, đây là lúc người Pháp thay thế Ấn và Hoa để giúp Việt Nam trở nên văn minh. Sự “khai hóa” từ bên ngoài là một quá trình bình thường của lịch sử Việt Nam. Hơn nữa, người Việt cũng không có “bản sắc riêng” để giữ, thì tại sao lại phải chống Pháp?  Cuối cùng, bài viết nhỏ này không phải để phê phán một nhận thức cụ thể nào đó của học giới Việt Nam, nó đơn giản chỉ ra cách thức một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực khoa học xã hội, được dùng phổ biến trong tiếng Anh, đã thay đổi mạnh mẽ bên ngoài Việt Nam bốn thập kỷ vừa qua, nơi mà người ta không còn sử dụng hay chào đón nữa. Tuy nhiên, khái niệm và cách tiếp cận này đã được dịch ra tiếng Việt và sử dụng với những hàm ý hoàn toàn khác mà hầu như không có sự cập nhật hay đối chiếu với sự chuyển dịch của hệ thống tri thức bên ngoài. Dĩ nhiên việc du nhập một khái niệm bên ngoài vào ngôn ngữ bản địa và gắn cho nó những nội hàm mới là điều bình thường. Tuy nhiên nếu việc du nhập này nhằm mục đích tham gia vào nền học thuật toàn cầu thì ít nhất cũng nên bảo đảm những hàm ý phổ quát của nó được tôn trọng. Với ý nghĩa đó, đã đến lúc đưa “Orient”,  “Oriental”, “Orientalism” vào bảo tàng.  ———  1. Dĩ nhiên “phương Đông”, “phương Tây” là những khái niệm phức tạp và có diễn trình lịch sử lâu dài. Ở đây phương Tây chỉ châu Âu và Bắc Mỹ, phương Đông chỉ các khu vực nằm về phía Đông của châu Âu.    Tham khảo  Chen Kuan-hsing. Asia as Method: Toward Deimperialization. Durham, N.C.: Duke University Press, 2010.  Edward W. Said. Orientalism. Knopf Doubleday Publishing Group, 2014.  George Cœdès. Histoire ancienne des états hindouisés d’Extrême-Orient. Hanoi: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1944.  Joseph Buttinger. The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam. NY: Praeger, 1958.  Oliver W. Wolters. History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives History. Southeast Asia Program Publications, Southeast Asia Program, Cornell University, 1999.       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Dòng plasma hàng triệu độ trong Ngân hà      Nhà nghiên cứu Manuel Güdel thuộc Viện Paul Scherrer, Thụy Sĩ và cộng sự từ Thụy Sĩ, Pháp và Mỹ gần đây đã quan sát được sự tồn tại của dòng plasma nóng hàng triệu độ chảy từ tinh vân Orion sang môi trường giữa các vì sao gần đấy và sau đó chảy vào superbubble Eridanus ngay bên cạnh.      Các nhà khoa học tin rằng gió từ những vì sao Tranpezium va đập với khí bao quanh có thể gây ra nguồn động năng đủ để tạo ra sóng xung kích có thể làm nóng khối khí lên hàng triệu độ. Nếu hiểu biết thêm về khả năng điều đó có thể xảy ra trong dải Ngân hà của chúng ta, họ cũng sẽ hiểu hơn về lịch sử sơ khai của Mặt trời và Thái dương hệ và những hệ khác tương tự.   Tuệ Minh (Theo PhysOrg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng sông bao la      Bao nhi&#234;u năm rời ghế giảng đường, b&#226;y giờ thảng hoặc, trong đ&#244;i ph&#250;t thư thả ngẩng nh&#236;n bầu trời cao, vẫn như ng&#224;y xưa t&#244;i c&#242;n đầy thắc mắc. Năng lượng tối đến từ đ&#226;u ? Đ&#227; c&#243; những chứng nghiệm thực tế về c&#225;c hạt quang tử vượt qu&#225; vận tốc &#225;nh s&#225;ng mấy lần nhờ t&#225;c dụng của &#8216;&#8216;hiệu ứng đường hầm&#8217;&#8217; th&#236; nay, nếu tin v&#224;o Einstein: Khi một vật đi nhanh hơn &#225;nh s&#225;ng l&#224; n&#243; trở ngược thời gian, ta sẽ đặt c&#226;u hỏi : Vậy bao giờ con người c&#243; thể bắn t&#237;n hiệu về qu&#225; khứ ? V&#224; những người &#8211; người thường hay khoa học gia &#8211; quan t&#226;m đến vũ trụ, vật chất, vẫn thấy con s&#244;ng ấy m&#227;i rộng bao la, chẳng c&#243; bến bờ.    Tôi chỉ thật sự thích vật lý vào năm thi bằng cử nhân. Hai năm đầu trên băng ghế một giảng đường chứa hơn bốn trăm sinh viên dự bị lý hoá, tôi học thì có học, hiểu thì cũng tạm hiểu – phải vào thư viện tìm sách đọc thêm – làm bài tập và vào phòng thực nghiệm cũng khá đều đặn. Sinh viên du học với học bổng bị đè trên vai một thứ bổn phận nặng hơn bình thường. Trước mặt ông tuỳ viên văn hoá ở Toà đại sứ Pháp, tôi cũng như các bạn cùng trường hợp phải nghe thêm một câu mà dặn dò thì ít, đe doạ nhiều hơn: Nếu thi hỏng hai năm liền sẽ bị cúp học bổng và ‘‘cho về nước’’. Thời ấy, tôi còn nhiều hiếu thắng của tuổi trẻ, không muốn bị ai ‘‘cho về nước’’, tự nhủ sẽ chính mình quyết định một khi học xong như đã hứa với mẹ, một người mẹ đau lòng để đứa con độc nhất đi xa vạn dặm.  Bản tính thích xã hội văn chương hơn khoa học nhưng tôi vẫn theo ban toán thời trung học, do bạn bè thân đều chọn ban này. Một cách khác, tôi quí bạn nên đi theo. Cũng nhờ bạn mà thời đầu khi sang xứ người tôi dần dần vượt qua những khó khăn ngôn ngữ và thiếu sót kiến thức khoa học, so với đa số bạn bè Tây – đầm cùng lớp ở đất mới này. Và cũng do bạn, nhờ thầy, tôi bắt đầu yêu khoa học nói chung, vật lý nói riêng.  Tôi đã may mắn có được một người bạn Pháp tử tế thông minh nhận làm bạn đồng hành trong giờ làm thực nghiệm. Tử tế, không bao giờ anh ta tỏ vẻ khó chịu trước trăm câu hỏi của tôi, nhiều câu chẳng liên quan gì đến thí nghiệm đang thực tập. Lại còn giảng giải thêm y như một người anh cả trước cô em út trong nhà, dù chỉ hơn tôi một tuổi. Dĩ nhiên tầm vóc cao lớn và ngôn ngữ cho anh ta sự vững vàng ấy trước một cô sinh viên ngoại quốc bé nhỏ, ngỡ ngàng. Thông minh, anh ta không học gạo mà biết cách chỉ giữ trong đầu những điểm chính yếu. Tôi từng cười chế: ‘‘Moa’’ bảo ‘‘toa’’ khôn, chẳng phải qua cái gì lớn lao mà chỉ vì ‘‘toa’’ biết hết nhược điểm của ‘‘moa’’.  Buổi trưa đầu tháng sáu trên đồi cỏ khuôn viên đại học, bọn chúng tôi ngồi ôn bài thi cuối năm thứ hai dự bị. Nhìn các nhành hoa dại phởn phơ hứng nắng sau suốt một mùa đông giá và những ngày xuân mưa phùn ủ ê, tôi nhớ nắng quê nhà hơn bao giờ, rồi lại lo ra. Quay sang nói với cô bạn đầm khá thân và anh ta rằng tôi không biết năm sau ra sao, nếu thi đậu tôi sẽ tiếp tục học cử nhân hay xin đổi sang học dược như một số bạn người Việt đã làm. Họ cho rằng theo ngành ấy chỉ cần giỏi học thuộc lòng, và như mẹ tôi gửi thư sang nhắn nhủ: Liệu con thích nghề kỹ sư không và phán: ‘‘Toa tưởng mình có nhiều trí nhớ lắm sao !’’  Ngày kết quả vừa niêm yết, tôi khuân đi trả anh ta mấy cuốn sách đã mượn và từ giã nhau cho một cuộc nghỉ hè háo hức. Trong niềm vui chắc chắn sẽ được Chính phủ Pháp cấp vé máy bay cho về thăm gia đình bè bạn, hồn tôi bay bổng, nhưng anh kéo tôi về thực tại với một giọng già dặn: ‘‘Có bao giờ khi ngồi học, toa nghĩ đến quá trình, chuyển biến của các phát minh khoa học, đến những lập luận dẫn tới các phát minh ấy, nhất là về vật lý không ? Hay toa chỉ biết cho vào đầu những kết quả của chúng bằng cách ghi nhớ phương trình công thức mà thôi ?’’ Mới nghe câu hỏi, tôi tưởng anh ta chê hay trách móc, giương mắt nhìn thẳng vào bạn mình. Nhưng anh không để ý đến nét mặt người đối diện cũng chẳng đợi tôi trả lời, đã nói luôn rằng đấy là điều anh ta tự đặt ra để hỏi chính mình trong thời gian qua.  Tiếc là người bạn tốt ấy không tiếp tục ngồi trên băng ghế giảng đường cùng tôi, tựu trường niên học mới tôi được chọn vào trường kỹ sư, còn anh ta đổi đi thành phố khác. Nhưng những trao đổi với anh làm tôi suy ngẫm và mở đường, trước nhất cho sự tiếp cận với vật lý, rồi sau đó đi theo ngành nghiên cứu của mình. Học để hiểu đại khái hiện tượng khoa học và thuộc công thức, biết cách áp dụng chúng chỉ là để thi đậu lên lớp. Nhưng muốn yêu cái mình học thì bạn tôi bảo phải có óc tò mò, tìm hiểu ngọn ngành mới thấy thích thú.              Cách mạng lượng tử có thể sẽ chuyển nhiều ý tưởng của khoa học viễn tưởng trở thành khoa học thực sự – từ siêu vật liệu với tính năng như vô hình nhờ sự vô hạn của năng lượng lượng tử và chất siêu dẫn ở nhiệt độ phòng cho đến thang máy không gian của Arthur C Clarke. Một số nhà khoa học thậm chí còn tiên đoán rằng trong nửa sau của thế kỉ, mỗi người sẽ có một nhà sản xuất của riêng mình mà có thể sắp xếp lại phân tử để sản xuất mọi thứ từ hầu như bất cứ thứ gì.        Sau năm cử nhân, sinh viên lớp maitrise (một năm sau cử nhân, theo học trình nước Pháp thời ấy) chúng tôi học vật lý với một ông thầy vốn là nhà khoa học tài danh nhưng không nổi tiếng nhưng là một người thầy giỏi. Sinh viên chới với sau những giờ dạy của ông, tất cả đều phải chạy vào thư viện tìm sách đọc thêm hay đợi đến những buổi làm bài tập với giảng viên. Không viết dàn bài trên bảng đã đành – sinh viên ở trình độ này hẳn khỏi cần – ông lại ít khi ghi rõ các công thức, phương trình, thảng hoặc ông có viết gì trên ấy thì chữ nhỏ li ti. Ông luôn bước vào lớp với một chồng sách khệ nệ trĩu hai cánh tay, rồi vừa nói thao thao vừa giở một số trang ra chỉ cho chúng tôi những hình ảnh. Khi thì hình các thí nghiệm, khi hình các cấu trúc vật thể, lúc đường biến thiên giữa hai thông số, hoặc chân dung vài nhà bác học. Hàng ghế đầu cách ông ít nhất hai mét, bọn học trò nào thấy gì. Chúng tôi có kêu lên thì ông gục gặc đầu xin lỗi, xích lại gần một tí, nhưng rồi buổi giảng sau vẫn vậy. Suốt năm chúng tôi ngao ngán, tuy thế tính ông rất dễ thương. Nhiều lần vừa vào lớp, đặt chồng sách xuống ông xoa tay, ngước mắt nhìn đám sinh viên: – Các anh chị có cần hỏi gì không? Tất cả im lìm. Ông gật gù: – Như thế tôi có hai kết luận, một là các anh chị lười chưa xem lại cua lần trước, hai là tôi giảng quá rõ ràng. Chúng tôi chỉ nháy mắt ngó nhau. Nghĩ lại, mấy mươi năm trước, sinh viên Tây cũng còn sợ thầy ra gì, dù buổi ấy có nhiều đứa đã rất nhiệt tình.   Không ngờ, chính tôi lại là người nói với ông sự thật. Vào kỳ vấn đáp, tôi bốc nhằm một đề tài mà tôi nhớ rõ là buổi ông dạy xong, đi ra khỏi giảng đường chúng tôi cùng nhìn nhau lắc đầu. Nó lại nằm trong những cua cuối của niên khoá. Khi ôn thi, chẳng còn thời giờ nên tôi đành bỏ qua. Lúc đến phiên tôi lên bảng, ông hỏi ngay: – Sao không thấy cô sửa soạn câu trả lời? Tôi cúi đầu ngượng ngập: – Khi ông giảng về đề tài này, hôm đó tôi không hiểu gì cả. Ông rất ngạc nhiên: – Thế mấy người trong lớp thì sao? Tôi đành đáp: – Tôi không biết chính xác, nhưng những bạn tôi quen đều vậy. Ông thở dài bảo: – Thôi, cô cứ chọn chương nào cô hiểu. Khi tôi mở cửa bước ra, ông dặn theo: – Hôm nào đến văn phòng gặp tôi.  Trong khi chờ đợi kết quả chứng chỉ vật lý ấy, tôi vừa thắc thỏm vừa e ngại không hiểu ông thầy muốn nói gì với mình. Cuối cùng, sau hôm gặp ông tôi đã thích thú khám phá ra một người thầy lạ lùng, ngoài tưởng tượng. Cứ ngỡ ông sẽ quay lại với đề tài mà tôi bị bí hôm thi vấn đáp hay hỏi thêm về cách giảng bài của ông trong lớp. Nhưng không, chỉ sau vài trao đổi thông thường, bỗng nhiên cao hứng, ông vui thú nói về con đường đi đến với khoa học, với vật lý. Từ những suy ngẫm mang tính triết lý khoa học ông tung mình vào những định luật chế ngự không gian vũ trụ rồi rớt xuống đời sống con người trên Trái đất. Rồi cũng từ con người ông trở lại với vật lý. Bước khỏi văn phòng ông, tôi bật cười một mình, thấy cái lỗ đen hôm thi vấn đáp vẫn tối mịt mùng, nhưng có một thúc đẩy nhóm lên khiến tôi quyết định phải dành thời gian vẽ lại/ngẫm lại con đường đã qua để xem mình đã học/tiếp cận với vật lý như thế nào.   Tôi đã làm việc ấy sau tháng hè về thăm quê nhà rồi trở sang Pháp. Nhưng điều làm tôi thích thú không phải là con đường tôi đi – dĩ nhiên thôi – mà là biến chuyển nhanh chóng của vật lý từ cuối thế kỷ XIX trở về đây. Nó toả ra sức hấp dẫn lạ lùng khi tôi ngồi lại làm một đúc kết tổng hợp cho mình về quá trình suy luận và khám phá của một số khoa học gia. Vào thời điểm ấy, khi đa số các nhà vật lý cho rằng họ đã hiểu hết về vật thể, hay nếu không, chỉ còn thiếu vài chi tiết mà thôi, thì bỗng nhiên năm 1900 Max Planck trong cuộc nghiên cứu hoàn toàn lý thuyết đã khám phá ra điều cốt lõi của khoa học lượng tử: Năng lượng không phát ra một cách liên tục (mang tính chất sóng) như vật lý cổ điển đã quan niệm. Nói một cách khác, ông cho rằng năng lượng bức xạ là những chùm hạt ‘‘quanta’’ (số nhiều của ‘‘quantum’’). Ở thời thượng cổ Hy Lạp, nguyên tử được xem là một đơn vị nhỏ nhất bất – khả – phân (từ chữ Hy Lạp ‘‘atomos’’), nhưng đến cuối thế kỷ XIX, những thí nghiệm của Ernest Rutherford cho thấy nguyên tử là một kết hợp giữa các proton và electron. Quantum của Max Planck giờ mới là đơn vị nhỏ nhất bất – khả – phân ấy. Phát hiện về sự nguyên – lượng – hoá các trao đổi năng lượng này của ông đã khởi nguồn cho những công trình nghiên cứu của nhiều khoa học gia khác như Einstein, de Broglie, Schrödinger, Heisenberg… về tính nhị nguyên hạt/sóng, phương trình sóng, nguyên lý bất định… Đặc biệt, sự tương quan giữa phát hiện của Planck với ‘‘hiệu ứng quang – điện’’ đã đưa đến khái niệm ‘‘quang tử’’ mà Einstein sáng chế ra năm 1905 và đoạt giải Nobel Vật lý mười mấy năm sau.    Điều khiến tôi thú vị là nếu khởi đầu Einstein không hề tin vào sự hiện hữu của các hạt và đã công nhận là mình không hiểu nguyên nhân của sự chuyển năng lượng không liên tục vốn trái ngược với thuyết liên tục của điện-từ-trường, thì sau đó, qua khám phá về quantum của Planck, Einstein đã giải thích được những kết quả ông thu nhận từ công trình nghiên cứu về ‘‘hiệu ứng quang-điện’’ ấy.    Khoa học vật lý cứ như thế xuất hiện dàn trải trong đầu cô sinh viên bé nhỏ là tôi như một con sông bao la không thấy bờ bên kia, càng lúc càng dồn dập cuốn hút. Một cánh lá nhỏ xíu rơi vào đó lúc nào không hay.  Gần đây, những nhà khoa học quan tâm tới ngành vật lý nước Pháp nhận ra sinh viên không còn tha thiết theo học, các nghiên cứu viên bỏ mặc hoặc đi làm vật lý ở một vài quốc gia khác như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, những nơi mà ngành này là một trong các tâm điểm của chiến lược mở mang khai phá. Để lôi kéo họ trở lại, nhân dịp vinh danh ‘‘Năm Thế giới về Vật lý – 2005’’ nhiều chương trình, hội thảo đã được giới quan tâm ấy tổ chức trên toàn nước Pháp. Chủ tịch Hàn lâm viện về Khoa học và cũng là nhà nghiên cứu cơ học lượng tử, Edouard Brézin, tuyên bố rằng : ‘‘Vật lý hẳn là một ngành khoa học cơ bản, không chỉ cho kiến thức của chúng ta về thế giới – còn lâu lắm chúng ta mới phá được bức màn bí mật của vật chất và vũ trụ – nó cũng đem đến vô số ứng dụng cho đời sống hằng ngày’’. Hẳn, thế giới vật chất còn chứa vạn điều ẩn mật. Biết bao nhiêu lý thuyết đã được đưa ra ngõ hầu cung ứng cho con người những giải đáp, tuy trong đó có nhiều câu trả lời chưa thạt đúng, nhưng chính chúng đã góp phần làm cho khoa học tiếp tục đi tới. Có người còn bảo rằng ngay cả các lý thuyết hiện đại như thuyết tương đối, lượng tử đều giản dị là những điều cho đến nay chưa bị phản bác mà thôi.   Còn về ứng dụng vào đời sống thường nhật của con người, những thành quả nghiên cứu của vật lý và các đóng góp của kỹ thuật tối tân trong thế kỷ XX vừa qua, cho đến nay đã đem lại những tiến bộ thật quan trọng trong rất nhiều lãnh vực: Điện tử, kỹ thuật truyền thông, công nghệ nano, y khoa, vi tính, khí tượng thời tiết…   Chẳng hạn khoa học nano đã trở thành một điều cụ thể từ cách đây khoảng hơn 25 năm, nhờ sự sáng chế ra kính hiển vi điện tử cho phép quan sát trạng thái, vị trí, cách xếp đặt các phân tử, nguyên tử, ion của vật liệu trong những môi trường tiếp cận khác nhau. Rồi sau đó, người ta có thể biến hoá môi trường ấy bằng cách thay đổi nhiệt độ, áp suất, thành phần hoá học, điện-từ-trường v.v… để các phần tử trong vật liệu ấy chuyển đổi vị trí, các ion thay hoá trị tạo thành một cấu trúc như ý muốn, đưa đến một sản phẩm mới có tính chất vật lý đặc thù hoặc có mức độ áp dụng kỹ nghệ cao hơn. Vật liệu mới ở tầm mức nano (1 nm = một phần tỉ mét, 10-9 m) như thế đang được khai thác ráo riết trong nhiều phạm trù của đời sống hằng ngày.  Thí dụ, trong ngành thực phẩm, các nhà hoá học Hoa Kỳ đã chế ra các ‘‘bọt nano’’ (nanobubbles); chúng được bọc trong lớp vỏ mang cấu trúc riêng biệt có khả năng kháng cự tác hại của áp suất bên ngoài. Chất bọt nano này sẽ giúp bảo toàn thực phẩm và giữ được hương vị chúng lâu dài. Theo giới quan sát các tiến triển kỹ nghệ, chỉ trong vòng vài ba năm nữa thôi những nước Á châu với ít nhất phân nửa dân số toàn cầu sẽ là một thị trường lớn cho ngành thực phẩm nano.  Các ống than nano đã được đưa vào thử nghiệm y khoa trong nghiên cứu chữa trị ung thư bằng phương pháp hoá học. Một nhóm nghiên cứu viên của đại học Texas – Hoa Kỳ đã làm thử nghiệm: Cho thêm ống than nano vào một đĩa cực nhỏ (khoảng hai lần bé hơn một hồng huyết cầu) rồi chích đĩa ấy vào một môi trường cấy tế bào. Sau vài giờ đĩa sẽ vỡ, tiết ra các hoá chất nó chứa đựng. Các ống than sẽ ngấm vào tế bào và tác dụng vào đúng những vị trí cần thiết. Điều sau cùng này là một bước tiến quan trọng so với cách hoá học trị liệu từ trước đến nay vốn chưa được hiệu quả lớn và có thể gây tác dụng xấu cho những tế bào lành mạnh chung quanh bứu ung thư. Ống than nano cũng sẽ có ứng dụng hiệu quả trong xây dựng nhờ chúng cứng rắn hơn thép 100 lần và nhẹ hơn khoảng 10 lần. Về năng lượng, người ta đang tính chuyện phủ ngoài các toà nhà bằng những lớp vật liệu nano để làm công cụ tạo năng lượng Mặt trời thay cho điện.    Trả lời câu hỏi những vật dụng gì trong đời thường đã tập hợp nhiều thành quả của vật lý ? E. Brézin không ngần ngại cho rằng đấy là điện thoại và máy vi tính di động. Đầu đọc của chúng là một ứng dụng của spin điện tử. Và có thể trong tương lai chẳng mấy xa, người ta sẽ thấy xuất hiện máy vi tính nano. Không gian sẽ mở rộng mênh mông, còn thời gian càng thu ngắn lại.   Cách đây hơn 12 năm, khi đọc thấy tin một thí nghiệm do 23 nhà nghiên cứu vật lý Ý và Đức với Walter Oelert là người hướng dẫn, thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN, Genève), đã cho ra đời 9 phản nguyên tử hydrogen đầu tiên, thì tôi lại lan man tự hỏi: Liệu chắc rằng phản vật chất và vật chất có những phản ứng hoàn toàn khác nhau dưới tác động của các định luật vật lý? Chúng có mặt ngay từ thời big-bang và đã bị triệt tiêu từ trong trứng nước? hay còn ẩn náu nơi nào trong cái vũ trụ xem chừng vẫn tiếp tục bành trướng nhưng còn đầy bí mật này? Và giả dụ một ngày kia, dưới tác dụng biến đổi của áp suất, nhiệt độ, trường gia tốc, trường hấp dẫn v.v… của vũ trụ, chúng ló đầu ra rồi đụng độ với vật chất thì khi ấy sự nổ bùng của phản ứng huỷ diệt, theo qui định vật lý mà ta biết, sẽ đưa đến hậu quả khủng khiếp ở mức độ khó lường nào?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Dòng sông và phát triển lãnh thổ      1. Nước l&#224; yếu tố cần thiết cho sự sống tr&#234;n h&#224;nh tinh của ch&#250;ng ta, đến khi lo&#224;i người th&#225;m hiểm c&#225;c h&#224;nh tinh kh&#225;c, một trong những điều m&#224; c&#225;c nh&#224; khoa học t&#236;m kiếm đầu ti&#234;n l&#224; dấu vết của sự hiện diện của nước ở đ&#243;.  V&#236; vậy, một v&#249;ng l&#227;nh thổ1 c&#243; được một d&#242;ng s&#244;ng chảy qua l&#224; một điều may mắn cho v&#249;ng, cho người d&#226;n sinh sống ở nơi đ&#243;. Nhận thức n&#224;y cần được nhấn mạnh để biết qu&#253; trọng d&#242;ng s&#244;ng, giữ g&#236;n v&#224; t&#244;n tạo để n&#243; c&#243; thể đ&#243;ng g&#243;p cho sự ph&#225;t triển bền vững của v&#249;ng l&#227;nh thổ.    Dòng sông tích và chuyển nước với phù sa, nhiều loài thủy sản và mang theo đó một nguồn năng lượng, thế và động năng, quý báu cho sự phát triển. Nếu dòng sông ra biển lớn, nó còn truyền tải vào một lượng năng lượng triều và tạo ra một vùng sinh thái nước lợ, đệm giữa vùng ngọt và vùng mặn.   Năm yếu tố cơ bản của cuộc sống là Nước, Năng lượng, Nông nghiệp, Sức khỏe và Đa dạng sinh học, có quan hệ mật thiết với nhau, đều gắn chặt với dòng sông.   Dọc theo sông và các phụ lưu, kinh rạch của nó còn là địa bàn sinh sống của người dân với nhiều ngành nghề khác nhau nhưng tất cả đều gắn kết với dòng sông.                      Hình 2. Hai đề xuất định vị châu thổ sông Mêkông  Chính vì vậy dòng sông luôn là khởi điểm, là yếu tố nền cho một dự án phát triển vùng đồng thời cho nhiều dự án phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, …) và phát triển các tiểu vùng trong vùng lãnh thổ đó.   Vấn đề đặt ra là bảo đảm giữa “dự án phát triển vùng” và “những dự án phát triển của vùng” có được sự hài hòa cần thiết để dòng sông không bị hủy hoại, để chính vùng không bị mai một. Nói một cách tích cực hơn, làm gì để dòng sông “sống” với vùng, với con người và phục vụ con người?  Làm sao thực hiện được sự hài hòa này? Đây là câu hỏi mà trong quá trình triển khai Chương trình khoa học Nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long” (1983-1990), Ban chủ nhiệm Chương trình 2 đã tự đặt cho mình ngay từ đầu và xuyên suốt quá trình điều tra và tổng hợp. Khi đặt tên “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” cho báo cáo tổng hợp 3, quan điểm của chúng tôi là bộ ba Tài nguyên – Môi trường – Phát triển phải là một thể thống nhất: khai thác tài nguyên để phát triển nhưng để phát triển bền vững, việc khai thác phải phù hợp với quy luật, trước tiên của môi trường tự nhiên, nhớ rằng nước, đất, sinh vật, khí hậu, … là tài nguyên đồng thời cũng là những thành tố cấu tạo nên môi trường.  Trở lại với dòng sông, khai thác nó để phát triển, vậy đâu là những cột mốc cảnh báo giới hạn không được vượt qua?  2. Gắn bó với sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long trong suốt ba mươi năm qua, chứng kiến thực tế khai thác dòng sông để phát triển của vùng đất này, tôi luôn nghĩ về nhiệm vụ phải bảo vệ sông Mêkông và thấy nó cần được xem như một cơ thể sống. Cũng như mọi dòng sông khác trên thế giới, nó có cuộc sống của nó, với nhịp điệu và trao đổi, có quá khứ, hiện tại và tương lai mà chúng ta cần biết, càng rõ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.  2.1. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu châu thổ sông  Mêkông hiện nay mang tính chất sông chi phối, triều chi phối hay sóng chi phối và nằm ở vị trí nào trong tam giác phân loại châu thổ Galloway 4 ? (Hình 1). Hiện nay có một số đề xuất định vị khác nhau (Hình 2). Một báo cáo khoa học gần đây nhận định rằng châu thổ sông Mêkông chuyển dần từ dạng triều chi phối sang dạng sóng – triều chi phối 5. Định vị châu thổ sông Mêkông trong tam giác phân loại Galloway không phải là một vấn đề học thuật mang tính hàn lâm, bởi lẽ nó giúp chúng ta hiểu được quá trình hình thành và phát triển của dòng sông, địa mạo của châu thổ, đặc biệt tiểu vùng rìa của nó trong mối tương tác sông – biển (sóng, gió và triều), và dự báo được diễn biến sắp tới của tiểu vùng này.   2.2. Dòng sông sẽ chết nếu không có nước. Vì vậy, những dự án chuyển nước từ lưu vực của dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác cần phải được tính toán, thuyết minh rõ ràng tới một giới hạn nào là chấp nhận được, với những thiệt hại gì cho dòng sông và cho các quốc gia có liên quan, những giới hạn và nghĩa vụ gì tương ứng khi dòng sông chảy qua nhiều quốc gia.                Hình 3. Dự án Kênh đào Seine Bắc, chuyển nước giữa  lưu vực sông Seine (Pháp) và lưu vực sông Scheldt         Điều này đã được thực hiện khá cụ thể, chi tiết trong dự án Kênh đào Seine Bắc, nối liền sông Seine (qua sông Oise) với sông Sheldt 6, dài 106 km, có 7 âu thuyền và hai đập trữ nước. Mặc dù biết rằng kênh đào sẽ phục vụ vận tải thủy, góp phần giảm bớt khí thải CO2 so với vận tải bộ, nhưng không phải đã hết những băn khoăn về môi trường, về những thay đổi đối với hai sông và vùng đất mà kênh đào sẽ đi qua, được đào sâu 4,5 m, rộng 54 m và lượng đất phải di chuyển là 55 triệu m3. (Hình 3).   Liên hệ đến sông Mêkông, những dự án chuyển nước của sông này, kể cả phần trên thượng lưu, sang những lưu vực khác cần được Nhà nước các quốc gia ở hạ lưu theo dõi sát sao, tính toán kỹ lưỡng hậu quả để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, trong tinh thần hợp tác cùng phát triển.   2.3. Lợi dụng địa hình để khai thác thế năng dọc một dòng sông là việc làm được thực hiện từ nhiều thế kỷ. Nhưng với khả năng tầm nhìn ngày càng được mở rộng, với nhận thức về môi trường ngày càng sâu sắc, việc xây dựng các đập thủy điện được yêu cầu phải có đánh giá tác động môi trường, không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà trong phạm vi cả lưu vực nhất là khi liên quan đến một dòng sông quốc tế. Cần nhớ rằng thời gian thích hợp cho việc khai thác ở đầu nguồn chưa hẳn đã phù hợp với thời vụ sản xuất và sinh hoạt ở hạ du ở cách đó hàng ngàn km. Đó là chưa nói tới nguồn lợi về thủy sản có nguy cơ bị cạn kiệt, môi trường có thể bị đảo lộn.   Nước trong lưu vực của một dòng sông cũng giống như máu lưu thông trong hệ thống các mạch máu của cơ thể của con người. Có quyền khai thác nguồn nước phải đi đôi với trách nhiệm đối với toàn bộ lưu vực; quyền lợi một quốc gia phải hài hòa với quyền lợi các quốc gia khác trong lưu vực; nhận cái lợi trước mắt, phải có trách nhiệm với những gì xảy ra trong trung và dài hạn có liên quan trong cả lưu vực. Đó là những ý kiến khách quan, sâu sắc của nhiều nhà khoa học sau khi nghiên cứu các đập thủy điện đã hoàn thành và dự kiến sẽ được xây dựng trên toàn bộ lưu vực sông Mêkông trong thời gian tới đây 7 8. (Hình 4).                  Hình 4.Vị trí các đập đã và dự kiến sẽ xây dựng trên dòng chính sông MêKông                   2.4. Mỗi dòng sông, mỗi đoạn sông có một khả năng tự làm sạch khỏi những chất ô nhiễm thải vào nó. Khả năng này tùy thuộc vào nhiều thông số nhưng không phải là vô hạn. Nói một cách khác, mỗi dòng sông có một sức chịu tải về ô nhiễm môi trường. Tôi càng khẳng định như vậy khi chứng kiến nước thải từ không ít nhà máy đông lạnh thủy sản và các thứ nước thải khác từ nhiều khu công nghiệp, nhà máy dọc sông Hậu được thải một cách “vô tư” ra sông này từ An Giang dọc trở xuống mà không qua xử lý bắt buộc theo luật định. Sông Thị Vải, sông Thị Tính ở miền Đông Nam Bộ là những ví dụ dòng sông bị ô nhiễm khác cần báo động 9. (Hình 5).  Nhìn trên ảnh vệ tinh SPOT ngày 10/1/2008, với các khu công nghiệp và nhà máy phía Nhơn Trạch (Đồng Nai) và phía Phú Mỹ dọc trở ra cửa sông Thị Vải (Bà Rịa Vũng Tàu), tôi tự hỏi: (1) Liệu sông Thị Vải, đã bị ô nhiểm đến mức độ hiện nay, sẽ cưu mang như thế nào các khu công nghiệp và các nhà máy này về mặt môi trường?; (2) Liệu phát triển công nghiệp độc chiếm sông Thị Vải có tốt hay không cho sự phát triển về lâu dài và bền vững của Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh?  2.5. Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề khác đối với dòng sông, nhất là ở các vùng nhiệt đới. Mất rừng kéo theo xói mòn, lũ quét và rửa trôi đất mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của vùng, của lòng sông và chế độ thủy văn.   Liên hệ đến sông Mêkông, nguy cơ này dường như chưa được nhận thức đúng mức. Cái lời trước mắt vẫn được chọn mặc cho nguy cơ triệt tiêu cái lợi lâu dài. Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ Tonlé Sap trong những thập niên gần đây, đáy hồ này mỗi năm đang nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi nhanh chóng, chức năng trữ và điều tiết của hồ này sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình phá rừng hiện nay.   3. Phát triển một vùng lãnh thổ với một dòng sông chảy qua là một công trình hết sức quan trọng, thường mang tính chiến lược đối với đất nước, như đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Những công trình của dự án tổng thể cũng như của các dự án ngành hoặc tiểu vùng phải đứng vững và hoạt động tốt trong nhiều thập kỷ nếu không phải là lâu hơn nữa. Như vậy, không thể không đặt dòng sông và vùng lãnh thổ đó vào bối cảnh của biến đổi khí hậu và của mực nước biển dâng đang diễn ra.   Đối với châu thổ sông Mêkông, trên phần lãnh thổ Việt Nam, trong một báo cáo, chúng tôi đã bước đầu chỉ ra những tác động lên môi trường tự nhiên và lên đời sống kinh tế xã hội, những luồng “di dân sinh thái” có nhiều khả năng xảy ra, cùng với những công việc cần triển khai, trong đó có các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng 10.                 Ô nhiễm nhiệt từ Nhà máy điện Phú Mỹ   (ảnh trên)      Ô nhiễm từ Nhà máy Bột ngọt Vedan   và các nhà máy kế cận (ảnh trái)                             Các KCN và nhà máy tại Nhân Trạch và Phú Mỹ dọc theo sông Thị Vải  nhìn từ ảnh vệ tinh SPOT ngày 10.01.2008         Hình 5. Ô nhiễm sông Thị Vải  Đối với một châu thổ, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng sẽ tác động lên môi trường tự nhiên của vùng lãnh thổ. Là một thành tố của môi trường, dòng sông bị tác động suốt dọc cơ thể của nó, từ đầu nguồn đến cửa biển hoặc nơi nhập lưu với một dòng sông khác. Do quá trình biển mạnh lên, vị trí của châu thổ sẽ đổi chỗ trong tam giác phân loại Galloway. Mặt khác, quá trình sông yếu đi vì bị “chia nước” hoặc bị các đập ở thượng nguồn ngắt đoạn, vi trí của châu thổ cũng sẽ dịch chuyển. Sự dịch chuyển sẽ là kép, cộng hưởng cả hai tác động, từ phía nguồn và từ phía biển, khi chúng diễn ra cùng một lúc. 
__label__tiasang Động vật có vú chứa tới 320.000 loại virus mới      Một nhóm nhà  nghiên cứu quốc tế ước tính các loài động vật có vú trên thế giới chứa  ít nhất khoảng 320.000 loại virus mới, chưa hề được biết đến. Con số này xuất phát từ  nghiên cứu của họ đối với loài dơi quạ Ấn Độ.      Nhà nghiên cứu Simon Anthony thuộc ĐH Columbia ở New York, tác giả quan trọng của công trình nghiên cứu, nói, “cách tiếp cận của chúng tôi trong quá khứ nói chung mang quá nhiều tính ngẫu nhiên. Những gì chúng ta biết về virus dựa chủ yếu vào những loại virus lây lan từ động vật sang con người và gây bệnh. Tuy nhiên vùng cư trú của virus trong tự nhiên và mối đe dọa tiềm ẩn của chúng đối với con người thực chất sâu xa hơn nhiều.”   Để ước lượng được con số này, các nhà khoa học đã nghiên cứu loài dơi quạ khổng lồ Ấn Độ (Pteropus giganteus) sinh sống ở vùng rừng rậm Bangladesh. Dơi quạ Ấn Độ có sải cánh rộng tới 1,50 mét và là một trong những loài động vật có vú có khả năng bay lớn nhất thế giới. Các nhà nghiên cứu đã phân tích gần 1.900 mẫu mô và xác định ở các mẫu này gần 60 loại virus thuộc chín họ khác nhau, trong số đó họ chỉ mới biết về năm loại. Trên thế giới có khoảng 5.500 loài động vật có vú, bởi  vậy nhóm nghiên cứu ước đoán chúng có thể chứa tới 320.000 loại virus mới.  Peter Daszak, đồng tác giả công trình nghiên cứu, thuộc tổ chức công ích EcoHealth Alliance, nói “không có tới hàng triệu mà chỉ có khoảng vài trăm ngàn loại virus. Với các công nghệ hiện có, chúng ta có thể nhận biết mọi loại virus hiện có trên trái đất.”  Các nhà nghiên cứu ước đoán chi phí cho công việc này tốn khoảng 6,3 tỷ USD. Đối với 85% virus thuộc diện phổ biến nhất thì con số này chỉ khoảng 1,4 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này chỉ là một phần rất nhỏ so với phí tổn khi dịch bệnh xảy ra. Riêng việc bùng nổ bệnh SARS đã gây tổn thất khoảng 16 tỷ USD.  Tác giả Anthony nói, “chúng tôi không khẳng định công việc này sẽ ngăn ngừa không để xảy ra một vụ dịch SARS tiếp theo. Nhưng việc nghiên cứu về sự đa dạng của các loại virus sẽ giúp chúng ta giám sát tốt hơn và phát hiện sớm hơn từ đó có thể giảm nhẹ sự bùng nổ dịch bệnh.”     NXH dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật có vú phát triển rất đa dạng trước thời điểm khủng long tuyệt chủng      Các phát hiện khảo cổ học mới nhất cho thấy động vật có vú đã phát triển đa dạng với kích thước lớn trước thời điểm khủng long tuyệt chủng. Phát hiện này đem tới những bằng chứng hoàn toàn mới về lịch sử phát triển của động vật có vú.      Nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở Đại học Southampton đã cho thấy, động vật có vú có thể đã phát triển rất đa dạng với kích thước lớn trước khi khủng long tuyệt chủng khoảng 10 đến 20 triệu năm. Phát hiện hoàn toàn mới so với quan điểm trước đây cho rằng động vật có vú không phát triển mạnh khi khủng long tồn tại và chỉ có cơ hội phát triển mạnh mẽ sau khi khủng long tuyệt chủng vào khoảng 66 triệu năm trước.  Giả thuyết cũ được xây dựng dựa trên các dấu tích khảo cổ học trước đây – tìm thấy các hoá thạch động vật có vú chỉ là những loài ăn côn trùng và không có sự đa dạng. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, các hoá thạch động vật có vú sớm hơn được tìm thấy, trong đó có cả những động vật có móng guốc với kích thước lớn bằng con chó.  Các mẫu răng rất đa dạng của hoá thạch động vật có vú.Ảnh: http://www.dailymail.co.ukCác nhà khoa học cũng đã phân tích hàng trăm mẫu răng của các hoá thạch động vật có vú này và phát hiện ra các mẫu, hình dạng răng rất đa dạng. Điều này này cho thấy các loài động vật có vú thời kỳ này có chế độ ăn rất phong phú, đa dạng chứ không đơn thuần chỉ ăn các loài côn trùng. Những chế độ ăn khác nhau này là minh chứng quan trọng để thấy được sự phát triển một cách đa dạng của các loài động vật có vú này trước mốc chúng cũng bị tuyệt chủng hàng loạt cùng với khủng long.  Tuy nhiên, tại sao các loài động vật có vú lại phát triển đa dạng được như vậy trước khi bị tuyệt chủng cùng khủng long vẫn là một bí mật mà các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm hiểu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật có vú sống về đêm để né người      Theo một nghiên cứu công bố trên Science, các hoạt động đi săn và đi bộ của con người khiến các loài động vật trên toàn thế giới hoạt động về đêm nhiều hơn, vì khi đó chúng ít gặp phải con người hơn. Hệ quả của sự thay đổi này vẫn chưa rõ ràng, nhưng các nhà khoa học nghi ngờ rằng điều này có thể đe dọa tới khả năng sinh tồn của nhiều loài động vật.       Các loài động vật có vú có xu hướng chuyển hoạt động về đêm. Ảnh: Science  Trên cơ sở phân tích 76 nghiên cứu giám sát hoạt động của 62 loài động vật có vú, bao gồm cả những loài chuyên sống về đêm trên 6 châu lục, các nhà nghiên cứu đã so sánh hoạt động về đêm của mỗi loài theo chu kỳ thời gian (ví dụ như trong mùa đi săn) và trong vùng chịu nhiều tác động của con người (như những vùng có giao thông phát triển) với hoạt động về đêm của các loài theo chu kỳ thời gian và trong vùng có bí bị tác động của của con người. Kết quả cho thấy, hầu hết các loài động vật có vú tại những vùng chịu nhiều tác động của con người hoạt động về đêm nhiều hơn 20%.  Các loài động vật như chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ (Canis latrans) có đặc trưng là chia đều thời gian hoạt động ban ngày và ban đêm, nhưng ở những vùng hay được chọn làm điểm đi bộ khám phá của con người gần dãy núi Santa Cruz ở California, nghiên cứu cho thấy thời gian hoạt động về đêm của chúng lên tới gần 70%. Theo Kaitlyn Gaynor – nhà sinh thái học về động vật hoang dã ở Đại học California, Berkeley và  là tác giả chính của công trình nghiên cứu này, với một số trường hợp, tỷ lệ này còn cao hơn rất nhiều, ví dụ, linh dương đen (Hippotragus niger) là loài chủ yếu hoạt động ban ngày, nhưng ở Công viên Quốc gia Hwange, Zimbabwe – một khu bảo tồn thiên nhiên và công viên săn bắn, 50% hoạt động của chúng đã chuyển về đêm.  Mặc dù trước đó đã có nhiều nghiên cứu riêng biệt về sự ảnh hưởng của con người tới hoạt động các loài vật nhưng đây là khảo sát trên quy mô lớn đầu tiên xác định  được cách các loài động vật có vú thay đổi các mẫu hoạt động theo thời gian như thế nào, theo Marlee Tucker – nhà nghiên cứu các mô hình sinh thái mở rộng ở Trung tâm nghiên cứu Đđa dạng sinh học và khí hậu Senckenberg ở Frankfurt, Đức. Bà cho rằng, bước tiếp theo là tìm hiểu ảnh hưởng của việc thay đổi hành vi này tới khả năng sinh sản và tìm mồi của các loài động vật.  Chuyển hướng về đêm  Theo Chris Darimont – nhà khoa học bảo tồn ở đại học Victoria ở Canada, kết quả này đã xác nhận những giả thuyết trước đây rằng động vật có xu hướng né tránh con người vì chúng nhận thấy mối đe dọa từ con người. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra những kết quả đáng kinh ngạc. Đó là những hoạt động tưởng chừng vô hại của con người gồm đi bộ, trồng trọt với hoạt động gây hại rõ ràng như đi săn có ảnh hưởng như nhau tới các loài động vật có vú. Darimont nhận xét: “Dù chúng ta đi dã ngoại trong công viên hay chặt cây cối, động vật hoang dã xung quanh chúng ta đều coi đó là hiểm họa đối với sự sinh tồn của chúng”.  Theo Ana Benítez-López – nhà sinh học bảo tồn ở Đại học Radboud, Nijmegen, Hà Lan, việc chuyển sang hoạt động về đêm tuy giúp các loài động vật có vú giảm bớt những cuộc chạm trán đầy nguy hiểm với con người, nhưng cũng có những tác động xấu. Nhiều loài đồng vật ăn thịt săn mồi dựa vào thị lực nên chúng kiếm ăn tốt hơn vào ban ngày, nếu chuyển sang hoạt động về đêm, chúng sẽ săn được ít mồi hơn. Nếu không có đủ thức ăn hoặc không được giao phối hợp lý thì về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng.  Gaynor cho rằng, giải pháp hữu ích là hạn chế các hoạt động giải trí trong những giờ nhất định. Các chính sách tương tự đã hạn chế hoạt động của con người ở những thời gian xác định trong năm: ví dụ một số tuyến đường leo dãy núi Adirondack ở New York phải đóng cửa trong suốt mùa sinh sản của chim cắt lớn (Falco peregrinus). Gaynor nhấn mạnh rằng điều quan trọng là phải ý thức được hoạt động của con người có thể ảnh hưởng tới hành vi của động vật như thế nào. “Chỉ bởi vì chúng ta không nhìn thấy cuộc sống hoang dã hàng ngày, không có nghĩa là nó không tồn tại ở ngoài kia”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05430-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật cũng có ý thức?      Con người không phải là động vật duy nhất sở hữu các chất nền tế bào thần kinh tạo ra ý thức, các loài động vật khác cũng có những chất nền tế bào này.    Động vật có ý thức không? Đây là câu hỏi muôn thuở và vẫn chưa có lời giải đáp.  Charles Darwin đã đặt câu hỏi này khi suy nghĩ về sự phát triển của ý thức. Quan điểm của ông về tính tiến hóa liên tục đã dẫn tới một kết luận rằng nếu chúng ta có cái gì thì các loài động vật khác cũng có cái đó.  Tháng 7 vừa qua, một nhóm các nhà khoa học tham gia hội nghị tưởng niệm Francis Crick để cùng bàn bạc về câu hỏi còn gây tranh cãi này. Francis Crick là người đồng khám phá ra DNA, đã dành nửa cuối cuộc đời mình nghiên cứu về ý thức và đã xuất bản cuốn sách “Giả thuyết kinh ngạc: Nghiên cứu khoa học về tâm hồn”(The Astonishing Hypothesis: The scientific search for the soul) về đề tài này năm 1994.  Sau cuộc họp, ba nhà thần kinh học nổi tiếng: David Edelman thuộc Viện Khoa học thần kinh ở La Jolla, California; Philip Low thuộc Đại học Standford và Christof Koch ởViện Công nghệ California đã kết luận rằng động vật không phải là con người (non-human animals) đều có ý thức; con người không phải là động vật duy nhất sở hữu các chất nền tế bào thần kinh tạo ra ý thức. Các loài có vú, các loài chim và nhiều sinh vật khác, bao gồm cả bạch tuộc, cũng có những chất nền tế bào thần kinh.  Tuy nhiên, kết luận này vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ. Các loài động vật được cho là có ý thức bao gồm các loài linh trưởng, các loài ăn thịt, động vật biển có vú, động vật gặm nhấm và các loài chim. Kết luận này không nói tới các loài cá.  Liệu với kết luận này, các loài động vật sẽ được bảo vệ khỏi những hành động đối xử thô bạo và vô nhân tính?  Hiện nay, pháp luật về quyền lợi động vật không tính đến nhận thức, cảm xúc, tri giác của. Ví dụ, chuột và gà cũng có ý thức nhưng vẫn bị đem ra làm thí nghiệm và các nghiên cứu về ý thức của chúng không mảy may tác động tới Đạo luật về Quyền lợi động vật ở Mỹ. Khoảng 25 triệu động vật được sử dụng trong các nghiên cứu mỗi năm, và 95% trong nghiên cứu này được thực hiện ở Mỹ.   Hiệp ước Lisbon của EU có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2009 đã công nhận rằng động vật cũng có tri giác và kêu gọi các nước thành viên phải “đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quyền lợi của động vật” trong nông nghiệp, thủy sản, nghiên cứu và phát triển các chính sách không gian.  Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn hoài nghi ý thức ở loài vật. Trong cuốn sách mới đây của mình, Marian Stamp Dawkins ở Đại học Oxford cho rằng vẫn chưa thể biết thực sự loài vật có ý thức hay không và vẫn nên tiếp tục đặt câu hỏi.            Tác giả bài viết:               Marc Bekoff là giáo sư sinh thái học và sinh  học tiến hóa tại Đại học Colorado Boulder ở Mỹ. Ông đã viết nhiều bài  luận và sách về cảm xúc, ý thức ở động vật và bảo vệ động vật.          Hoàng Nhu lược dịch theo Newscientist.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Động vật linh trưởng đầu tiên được tạo ra bằng tinh trùng từ mô cấy ghép      Kỹ thuật này có thể giúp những cậu bé bị vô sinh do điều trị ung thư có cơ hội được làm cha khi trưởng thành.    Một chú khỉ có tên là Grady, thuộc loài khỉ rhesus macaque (Macaca mulatta) đang được tập trung nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu linh trưởng quốc gia Oregon ở Beavertom, Mỹ. Grady có một phả hệ khác thường: các nhà nghiên cứu đã tạo ra nó bằng cách sử dụng tinh trùng được sản sinh từ mô tinh hoàn của khỉ bố lúc nhỏ, sau đó ghép vào cơ thể khỉ bố lúc trưởng thành. Nếu Grady phát triển bình thường thì kỹ thuật này có thể được sử dụng để khôi phục khả năng sinh sản ở cậu bé bị vô sinh do điều trị ung thư.  Sự ra đời của Grady đã được công bố trên tạp chí Science vào ngày 21/3, đánh dấu một thành công quan trọng trong nỗ lực lâu dài nhằm khôi phục khả năng làm cha cho những cậu bé phải điều trị ung thư trước khi đến thời điểm sản sinh tinh trùng để đông lạnh và dự trữ để sử dụng trong tương lai. Các nhà sinh học sinh sản phát triển phương pháp này đang theo dõi Grady trong gần một năm nay để xem liệu nó có phát triển bình thường hay không.  Kyle Orwig, một nhà sinh học sinh sản ở Trường Y, Đại học Pittsburgh, Pennsylvania, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết các nhà nghiên cứu trước đây đã tạo ra chuột và lợn con từ kỹ thuật này. Nếu Grady lớn lên mà không gặp bất cứ vấn đề nào thì phương pháp này có thể sẵn sàng để thử nghiệm trên người, ông cho biết thêm.  Cấy ghép cho tương lai  Nhóm nghiên cứu của Orwig đã lấy các mô từ tinh hoàn của năm chú khỉ – trong đó có bố của Grady – khi chúng còn rất nhỏ, chưa có khả năng tạo ra tinh trùng. Họ đông lạnh các mô này cho tới khi các chú khỉ đến tuổi dậy thì, sau đó rã đông các mẫu mô, ghép vào dưới lớp da lưng và tinh hoàn của năm chú khỉ này.  Chưa đầy một năm sau, các phần mô này đã sản xuất testosterone và tất cả các mô đã phục hồi từ cả hai vùng ghép đều tạo ra tinh trùng. Sau đó, nhóm nghiên cứu của Orwig đã lấy tinh trùng từ bố của Grady và sử dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm để tạo phôi.  Các nhóm nghiên cứu khác đang áp dụng những phương pháp tương tự trên các loài vật được nuôi ở nông trại bằng cách cấy ghép những tế bào gốc có khả năng tạo ra tinh trùng của những vật nuôi có nhiều đặc điểm tốt sang những con kém hơn – với kỳ vọng rằng loại tinh trùng này sẽ được sản xuất trong quá trình xuất tinh của những con đực kém hơn. Điều này có thể thúc đẩy chăn nuôi thông qua việc tạo ra nhiều con đực có khả năng sinh sản ra những lứa con mang “giá trị cao”.  Vào năm 2012, nhóm nghiên cứu của Orwig đã báo cáo thành công đầu tiên khi sử dụng một kỹ thuật cấy ghép tế bào gốc tương tự ở khỉ. Nhưng lúc đó các nhà nghiên cứu chưa xác định được khỉ con được tạo ra từ phương pháp này là nhờ tinh trùng của tế bào nuôi cấy hay tinh trùng của tế bào vốn có ở khỉ đực – đã phục hồi một số chức năng sau khi bị hủy hoại.  Tuy nhiên, thành công này đủ thuyết phục Orwig là việc áp dụng phương pháp này ở người sẽ khả thi trong một vài thập kỷ tới, vì vậy ông nỗ lực thu thập các mô tinh hoàn của những bé trai đang được điều trị y tế bằng những phương pháp có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản. Nhóm nghiên cứu của Orwig, cùng với cộng tác viên ở các trung tâm y tế khác đã thu thập các mẫu mô này từ 200 bé trai. Các mô này có thể được sử dụng theo một trong hai phương pháp của Orwig – cấy ghép tế bào gốc hoặc ghép mô theo phương pháp mới được nêu trong báo cáo – nếu chúng có hiệu quả ở người.     Một bước nhảy vọt  Đối với Stefan Schlatt, nhà sinh vật học sinh sản ở Đại học Münster, Đức, thành công của Orwig đủ khả năng mở đường cho các thử nghiệm lâm sàng. “Tôi nghĩ rằng với công bố này, các ủy ban đạo đức trên toàn thế giới sẽ chấp thuận các nghiên cứu lâm sàng”, ông cho biết.  Nhưng Ellen Goosens, một nhà sinh học sinh sản ở Đại học Tự do Brussel, cảnh báo rằng việc cấy ghép mô từ những người bị ung thư có nguy cơ gây ra những khối u mới. Theo bà, các nhà nghiên cứu cần phát triển các phương pháp để đảm bảo những phần được cấy ghép sẽ không bị ung thư.     Dù sao chăng nữa, thành công trên loài khỉ có ý nghĩa rất quan trọng trong lĩnh vực này, Goosens cho biết. Trước đây, phương pháp này đã thành công trên các động vật thuộc bộ Gặm nhấm, bà nhấn mạnh, nhưng việc sản xuất tinh trùng ở bộ Gặm nhấm khác với bộ Linh trưởng. Theo bà, “Đây là một bước tiến lớn, có thể ứng dụng phương pháp này trên các động vật thuộc bộ Linh trưởng”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00938-9       Author                Thanh An        
__label__tiasang Động vật tự làm mát cơ thể như thế nào?      Để chống lại nhiệt độ thường xuyên cao, các  loài động vật ở châu Úc làm cách nào? Các nhà khoa học Australia đã tìm  ra câu trả lời, đầu tiên là với gấu túi Koala.     Koala có bộ lông dày, trông rất bức bối, nhất là khi nhiệt độ ngoài trời lên trên 35 độ C. Đã thế, Koala lại còn ít uống nước.   Một nhóm nhà nghiên cứu, trong đó có Natalie Briscoe và Michael Kearney thuộc Đại học Melbourne, đã theo dõi khoảng 30 con Koala ngoài tự nhiên với sự hỗ trợ của máy phát tín hiệu đeo cổ. Đồng thời, một trạm di động thu thập những dữ liệu cập nhật về thời tiết, trong đó, thiết bị chụp nhiệt sẽ ghi lại nhiệt độ cành và thân các loại cây có ở khu vực cư trú của Koala.  Kết quả thu được rất rõ ràng: hễ nhiệt độ lên trên 30 độ C, gấu túi thường rời khỏi cây bạch đàn – nguồn thức ăn chính của chúng – và di chuyển sang cây cây keo (akazie) mặc dù lá keo không thuộc loại thức ăn phổ biến của chúng, bởi nhiệt độ thân cây keo thường chênh khoảng 8 độ C so với nhiệt độ ở môi trường xung quanh – điều này được chứng minh qua số liệu mà thiết bị chụp nhiệt ghi lại. Trong khi đó, nhiệt độ thân cây bạch đàn chỉ thấp hơn nhiệt độ môi trường xung quang khoảng 2 độ C.   Koala sẽ ôm chặt lấy thân hoặc cành lá cây keo, dùng nhiệt độ thấp của cây điều chỉnh thân nhiệt của chúng. Có lẽ không chỉ duy nhất Koala dùng cách điều hoà nhiệt độ tự nhiên này. Các nhà nghiên cứu cho rằng, một số loài thú như khỉ, rắn hay báo cũng tìm cách hạ nhiệt tương tự.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột biến Brazil tấn công cả người từng nhiễm Covid-19      Đột biến corona “P1” được tìm thấy ở Brazil có khả năng lây lan rất cao, thậm chí có thể tấn công cả những người từng bị lây nhiễm.      Đột biến Brazil P1 đã được tìm thấy ở 24 quốc gia  Hồi tháng chín, tin tức phát đi từ Manaus khiến mọi người chú ý. Theo đó, lúc đầu người ta nghĩ rằng tiểu bang 2 triệu dân này đã đạt được miễn dịch cộng đồng, khi có 66% số dân nhiễm virus corona và sắp đủ số người có miễn dịch.  Tuy nhiên niềm hy vọng này đã tan ra mây khói. Đầu năm nay các nhà dịch tễ học phát hiện một sự kiện gây bàng hoàng dư luận, ở Manaus không đạt được miễn dịch cộng đồng. Số ca nhiễm trong các bệnh viện và số ca tử vong bỗng nhiên lại tăng vọt.  Nhà dịch tễ học Nuno Faria, tại Imperial College London cho rằng, ông đã tìm được lời giải thích cho tình trạng này. Và đây chính là thông tin khiến nhiều người lo lắng. Ông nói tại một cuộc họp báo “chúng tôi đoán, có một đột biến mới gây ra tình trạng hiện nay”. Ông và các đồng nghiệp gọi biến thể mới này là P1. Hiện nay đột biến này đã có mặt trong 87% số lượng mẫu xét nghiệm.  Gây tái nhiễm với tỷ lệ hơn 60%  Các quan sát cho thấy, loại mầm bệnh mới này có thể đã xuất hiện lần đầu tiên từ tháng 11, chúng có khả năng lây lan mạnh hơn nhiều so với virus “nguyên thủy” chưa đột biến. Theo Nuno Faria và đồng nghiệp, đột biến mới này lây lan từ người sang người nhanh gần như gấp đôi so với trước.  Người ta chưa biết thật chính xác nhưng hệ số lây nhiễm dao động từ 1,4 đến 2,2. Theo các nhà khoa học, P1 lây lan trong cộng đồng khá thuận lợi vì các nhà quản lý ở Manaus đã nới lỏng các quy định về biện pháp đề phòng dịch bệnh.  Chỉ điều đó thôi cũng không gây ngạc nhiên, một biến thể có thể lây lan nhanh hơn các biến thể trước đó và chúng sẽ “tìm” được đường để lan ra khắp thế giới. Nhưng các chuyên gia còn lo ngại đột biến P1 này hơn rất nhiều vì chúng dường như có khả năng tấn công cả những người đã từng bị lây nhiễm Covid-19. Mặc dù những bệnh nhân này đáng ra phải có sự miễn dịch và có sức đề kháng sau khi từng bị nhiễm, nhưng giờ đây đây họ vẫn bị P1 tấn công.  Các nhà khoa học, trong đó có cả những người thuộc đại học São Paulo, đã quan sát qua nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thấy kháng thể ở những người từng bị lây nhiễm tỏ ra yếu ớt rõ rệt khi chống lại đột biến.  Các nhà khoa học đã đưa ra tính toán bước đầu, cứ 100 người từng bị bệnh sẽ có tới 61 người tái nhiễm khi đối diện với biến thể P1. Đây mới chỉ là con số thống kê sơ bộ, chưa được bình duyệt và công bố trên các tạp chí uy tín.  Tình hình tái lây nhiễm ở Manaus không có nghĩa vaccine không có hiệu quả đối với P1. Cho đến nay Brazil sử dụng vaccine CoronaVac của Trung Quốc là chủ yếu và theo một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thì vaccine này cũng không thể chặn đứng được P1. Và đành rằng cho đến nay vaccine của AstraZeneca cũng như của Biontech chưa thử nghiệm đối với P1 nhưng một điều rõ ràng là tiêm chủng có tác dụng bảo vệ hơn hẳn lây nhiễm trong tự nhiên.   Liệu đột biến này có thể ngăn chặn đột biến khác?  Một số nhà khoa học cũng bắt đầu đưa ra một số phỏng đoán về việc có thể P1 lại “chịu thua” biến thể B.1.1.7 của Anh vì dường như P1 khó xâm nhập vào nước Anh hơn. Tương tự ở Nam Phi, cho đến nay P1 cũng chưa có khả năng “vượt mặt” biến thể B.1.351.  Các nhà khoa học đang hồi hộp hướng về São Paolo, nơi hai biến thể virus này đang đối đầu với nhau. Nếu B.1.1.7 vượt qua được thì có lẽ P1 không có cửa để lây lan sang những vùng còn lại của thế giới.  Các nhà sản xuất vaccine đã tiến hành tối ưu hóa các loại vaccine của họ đối với các loại biến thể khác nhau. Theo Sharon Peacock, hiện các vaccine đang được điều chỉnh và thử nghiệm. Ngoài ra, hãng Biontech còn xem xét liệu có nên thêm liều thứ ba để làm tăng khả năng bảo vệ hay không.  Sharon Peacock phỏng đoán, những biến thể vẫn sẽ xuất hiện nhưng cũng không quá lo ngại vì có thể chúng không thể lây nhiễm nhiều hơn B. 1.351, B 1.1.7 hoặc P1.  Xuân Hoài tổng hợp  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/plus227457903/Wie-gefaehrlich-ist-das-neue-Coronavirus-aus-Brasilien.html  https://www.businessinsider.de/wissenschaft/gesundheit/brasilianische-mutante-p1-von-100-infizierten-stecken-sich-61-wieder-an-2021-2/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột biến Corona từ Ấn Độ đã tới châu Âu      Tại các thành phố lớn ở Ấn Độ số bệnh nhân nhiễm corona đang tăng phi mã. Các nhà nghiên cứu lo ngại nguyên nhân có thể do đột biến mới ở viruscorona và đột biến này cũng đã lan sang tới châu Âu.      Ấn Độ đang phải chịu làn sóng Corona thứ hai nặng nề hơn cả lần trước. Nguồn ảnh: Reuters  Cho đến nay đất nước một tỉ dân này đã vượt đại dịch corona tương đối tốt – mặc dù điều kiện sống của hàng triệu người ở các thành phố lớn còn rất nhiều khó khăn. Nhưng trong tuần này số người bị lây nhiễm Covid-19 ở New-Delhi và Mumbai, hai thành phố lớn nhất nước, tăng đến mức bùng nổ: có ngày số người bị lây nhiễm corona lên đến 200.000, cao chưa từng có kể từ ngày bùng phát đại dịch.  Nguyên nhân dẫn tới các vụ lây nhiễm khủng khiếp này có thể là do một loại đột biến mới của virus corona. Kết quả nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm ở tiểu bang Maharashtra nói lên điều đó. Các nhà nghiên cứu phát hiện trong hơn 60% thí nghiệm giải trình bộ gene có các biến thể B.1.617 mới. Biến thể này được coi là sự kết hợp nguy hiểm hai đột biến virus ở Anh và Nam Phi. Tuy nhiên đó cũng mới chỉ là dự đoán bước đầu, không ai có thể dám chắc liệu các đột biến có hình thành từ Anh Quốc hay Nam Phi hay không. Có thể các biến thể của virus ở đây nổi bật vì cả hai quốc gia thường xuyên giải mã bộ gene của virus Sars-CoV-2 nhiều hơn so với những quốc gia khác. Các biến thể này đã tích lũy một số đột biến nổi bật.   Thực ra đột biến ở Coronavirus hoàn toàn không có gì là bất thường, có điều một số đột biến nhiều khi lại nguy hiểm hơn nhiều so với virus ban đầu. Để xác định các biến thể mới, các phòng thí nghiệm phải thường xuyên giải trình tự các mẫu viruscorona dương tính. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không thể biết chính xác ngay cách thức hoạt động của các biến thể virus và liệu chúng có khả năng lây nhiễm gây chết người cao hơn hay không.    Các biến thể Ấn Độ mới đã xuất hiện tại nước Anh trong tuần này. Cho đến giữa tuần Dịch vụ thông tin y tế của Chính phủ Anh (PHE) đã báo cáo có 77 trường hợp nhiễm biến thể Ấn Độ. Tại đây người ta còn lo lắng hơn so với ở Ấn Độ. “Biến thể mới khó kiểm soát bằng vaccine hơn so với các biến thể từng xuất hiện tại Brazil và Nam Phi”, theo bác sỹ người Anh Paul Hunter làm việc tại Đại học East Anglia. Nguyên nhân có thể là do B.1.617 có sự phối hợp của ít nhất hai biến thể nguy hiểm.  So với các đồng nghiệp người Anh các nhà virus học người Đức thận trọng hơn trong việc đánh giá. Jörg Timm, Giám đốc Viện Virus học ở Düsseldorf cho hay hiện chưa thể đánh giá đặc tính sinh học của biến thể B.1.617. Có thể hiểu về cơ chế các đột biến trong Spike-Protein của B.1.617 qua việc hiểu về các biến thể khác trước đây, theo Timm. Có thể giả định rằng những thứ này cũng đều có thể “qua mặt” hệ thống miễn dịch – trước sự tấn công của virus cơ thể chỉ phản ứng một cách miễn cưỡng hoặc hoàn toàn không có phản ứng miễn dịch.  Các Spike-Protein, bám vào vỏ virus, giúp cho virus có thể thâm nhập được vào tế bào con người.Các đột biến có thể làm cho tính chất đeo bám này được cải thiện và qua đó làm cho khả năng lây nhiễm tăng lên. Hơn nữa những cái gai (Spike) này là một đặc điểm nổi bật của virus, qua nó mà hệ miễn dịch của người nhận mặt được kẻ tấn công, thì những đột biến làm mờ đặc điểm này, từ đó có thể gây khó dễ cho hoạt động miễn dịch.  Nhà virus học Timm nhận xét: “Hiện tại tôi cho rằng hiệu ứng này có thể so sánh với các biến thể từ Nam Phi và Brazil. Những người mới được tiêm chủng một lần hoặc chỉ bị bệnh Covid nhẹ cũng có thể bị tái nhiễm. “Tuy nhiên, những trường hợp nghiêm trọng với khả năng miễn dịch hiện có hoặc sau khi tiêm chủng có lẽ khá hiếm hoi”.□  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: DER SPIEGEL, Corona-Mutation aus Indien erreicht Europa – nach Varianten aus Südafrika und Brasilien.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá trong điều trị AIDS      Trong sự hợp tác của các nhà khoa học Trường Y Harvard (Mỹ), các nhà khoa học Hàn Quốc đã tạo cú đột phá trong y học với việc tìm ra phương pháp điều trị bằng liệu pháp gene ngăn virus HIV phát triển trong tế bào.      Họ đưa các RNA can thiệp nhỏ vào tế bào T, hoặc tế bào bạch cầu điều khiển sự đáp ứng của hệ thống miễn dịch đối với việc lây nhiễm và chính là mục tiêu tấn công đầu tiên của HIV, để tiêu diệt những tế bào nhiễm bệnh. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học đã “nhân hóa” chuột thí nghiệm, để có được những kết quả gần với khả năng phát triển thuốc cho người hơn. Trước tiên các nhà khoa học làm suy yếu hệ thống miễn dịch của chuột và tiêm vào cơ thể chúng tế bào bạch cầu của người theo một phương pháp có thể giữ máu người trong cơ thể chuột trong vòng hai tháng, sau đó lại tiêm vào các gene CD7 trên tế bào T của chuột kháng thể CD7, agrine peptide và siRNA kết hợp trong các hạt nano. Phương pháp này ngăn chặn việc lây lan HIV rất thành công, đồng thời duy trì số lượng tế bào T CD4 ở chuột bị nhiễm bệnh. Đây là mô hình nghiên cứu cận lâm sàng mang tính khả thi.   Thủy Tùng (Theo Korea Times)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đột phá trong vật liệu lượng tử từ giúp tiến gần hơn tới máy tính siêu nhanh, bền vững      Khám phá ra các vật liệu lượng tử mới với những đặc tính từ có thể giúp tiến tới những máy tính, thiết bị di động hiệu quả hơn về năng lượng nhưng vẫn có tốc độ vận hành siêu nhanh và có giá cả phải chăng. Tuy nhiên những dạng vật liệu này chỉ hoạt động trong những điều kiện nhiệt độ cực thấp.    Hiện tại, một nhóm nghiên cứu ở ĐH Công nghệ Chalmers, Thụy Điển là nhóm đầu tiên trên thế giới công bố một thiết bị được làm từ vật liệu lượng tử từ hai chiều có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng.  Ngày nay, sự mở rộng của các thiết bị IT đang làm tăng lượng dữ liệu số, vì vậy cần phải được lưu trữ, xử lý và truyền thông. Điều này khiến làm gia tăng năng lượng – dự đoán tổng lượng năng lượng tiêu thụ trên toàn thế giới sẽ tăng lên hơn 30% vào năm 2050. Để góp phần giải quyết vấn đề này, cộng đồng nghiên cứu đã cùng đi tìm một mô thức mới trong khoa học vật liệu. Nghiên cứu và phát triển về vật liệu lượng tử hai chiều, hình thành các tấm có độ dày vài nguyên tử, đã mở cánh cửa mới cho việc lưu trữ và xử lý dữ liệu trong các máy tính và thiết bị di động hiệu quả về năng lượng hơn, bền vững hơn.  Vật liệu có độ dày ở mức độ nguyên tử đầu tiên được thực hiện trong một phòng thí nghiệm là graphene, một tấm lát có độ dày vài phần tử của chì (graphite) là kết quả của giải Nobel vật lý năm 2010. Và năm 2017, vật liệu hai chiều với đặc tính từ đã được khám phá lần đầu tiên. Từ đóng một vai trò cơ bản trong đời sống hằng ngày của chúng ta, từ các cảm biến trong ô tô, các ứng dụng gia đình cho lưu trữ dữ liệu máy tính và các công nghệ ghi nhớ. Khám phá này mở ra những giải pháp mới và bền vững hơn cho một phạm vi rộng lớn các thiết bị công nghệ.  “Vật liệu từ hai chiều bền vững hơn bởi vì chúng có độ dày cỡ nguyên tử và có những đặc tính từ độc đáo khiến chúng được coi là có thể phát triển những ứng dụng hiệu quả về năng lượng mới và siêu nhanh cho các cảm biến và bộ nhớ từ tiên tiến, các khái niệm tính toán… Điều này khiến chúng trở thành những ứng cử viên hứa hẹn cho một phạm vi công nghệ khác nhau”, một giáo sư vật lý thiết bị lượng tử Saroj Dash tại ĐH Công nghệ Chalmers.  Cho đến nay, các nhà nghiên cứu chỉ có thể chứng minh được vật liệu từ hai chiều trong những nhiệt độ cực thấp ở môi trường phòng thí nghiệm, hay còn gọi là mức nhiệt độ cryo, khiến cho việc sử dụng chúng trong đời sống bị giới hạn. Hiện tại một nhóm các nhà nghiên cứu ở ĐH Công nghệ Chalmers đã có thể làm được điều này, lần đầu tiên, một thiết bị được làm từ vật liệu từ hai chiều mới ở nhiệt độ phòng. Họ sử dụng một hợp kim chứa sắt (Fe5GeTe2) với graphene có thể được sử dụng như một nguồn và máy dò cho các electron phân cực spin. Và đột phá này hiện được tin là có thể dùng cho một phạm vi rộng các ứng dụng công nghệ trong nhiều ngành công nghiệp cũng như đời sống hằng ngày của chúng ta.  “Các vật liệu từ 2D có thể được sử dụng để phát triển các thieeys bị nhớ hiệu quả về năng lượng, tốc độ siêu nhanh và siêu compact trong các máy tính. Có thể dùng chúng để phát triển các cảm biến từ siêu nhạy cho nhiều ứng dụng, bao gồm y sinh, giám sát môi trường, định vị, truyền thông”, theo Bing Zhao, một postdoc Vật lý thiết bị lượng tử và là tác giả đầu của công bố trên Advanced Materials 1.  Các thiết bị logic điện tử thông thường được làm từ các vật liệu bán dẫn phi từ và sử dụng dòng điện tích để xử lý thông tin và truyền thông. Các thiết bị spintronic, mặt khác, lại khai thác spin của các electron để tạo và kiểm soát dòng điện tích, và để hoán chuyển các tín hiệu điện và từ. Bằng việc kết hợp xử lý, lưu trữ, cảm biến và logic bên trong một nền tảng tích hợp, spintronics có thể thực hiện được, và trong một số trường hợp có thể vượt qua cả thiết bị điện tử từ vật liệu bán dẫn, đưa ra những tiên tiến mới về quy mô sản xuất, mức năng lượng tiêu thụ và tốc độ xử lý dữ liệu.  Thanh Phương tổng hợp  Nguôn: https://phys.org/news/2023-04-breakthrough-magnetic-quantum-material-paves.html  https://www.lifetechnology.com/blogs/life-technology-science-news/breakthrough-in-magnetic-quantum-material-paves-way-for-ultra-fast-sustainable-computers  ————————————  1. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/adma.202209113    Author                .        
__label__tiasang Đốt rác phát điện, tiềm năng và hiện thực cho Việt Nam      Là một dạng công nghệ được áp dụng khá phổ biến tại các nước phát triển, đốt rác phát điện đã đem lại những hiệu quả nhất định trong việc xử lý rác, giảm ô nhiễm môi trường với khả năng xử lý lượng rác lớn một cách triệt để. Vì vậy, công nghệ này đã trở thành lựa chọn hàng đầu của các nước có nguồn đất đai và năng lượng hạn hẹp.      Nhà máy đốt rác phát điện được xây dựng tại phía bắc Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.  Những kinh nghiệm từ thế giới  Sự thiêu hủy rác thải đô thị được tồn tại ở châu Âu từ những năm 1930 nhằmlàm giảm đi khối lượng và thể tích rác thải. Hiện nay, các nhà máy thiêu hủy rác hiện đại có thể giảm 90% khối lượng chất thải rắn, tuy nhiên điều đó đồng nghĩa với việc thời gian sử dụng của bãi chôn lấp chất thải sẽ tăng lên 10 lần đồng thời chất thải là chất vô cơ không gây ra các hậu quả ô nhiễm khác như mùi, nước rỉ rác và trở thành khu vực dễ phát triển các vi khuẩn gây bệnh như rác thông thường. Bảng 1 cho ta thấy tình hình xử lý rác bằng thiêu hủy ở một số nước trên thế giới.    Các loại hình lò đốt rác được sử dụng cũng bao gồm nhiều loại với các phương thức đốt khác nhau như lò đốt hở thủ công, lò đốt một cấp, lò đốt nhiểu cấp, lò đốt thùng quay, lò đốt tầng sôi, lò đốt nhiều tầng, lò đốt kiểu nhiệt phân, lò đốt kiểu khí hóa.  Việc xử lý rác thải thành năng lượng (Waste to Energy) đã tồn tại từ lâu ở các nước phát triển do lượng nhiệt sinh ra từ quá trình đốt rác có thể sử dụng để sản xuất hơi nước hay nước nóng trong các lò hơi phục vụ cho nhu cầu sưởi ấm ở các nước ôn đới, còn để phát điện thì muộn hơn nhiều. Một số sáng chế nộp đơn đăng ký bản quyền từ đầu những năm 1980 cho việc đốt chất thải phát điện. Khoảng đầu những năm 2000, những lò đốt rác và những trung tâm xử lý rác lớn ra đời và phát triển mạnh hơn với lượng rác đốt lớn để có thể sản xuất hơi quá nhiệt để làm quay turbine cho sản xuất điện.  Vậy công nghệ đốt rác phát điện hoạt động thế nào? Chúng ta hãy xem quy trình cơ bản của một mô hình đốt rác phát điện:    Thu gom và phân loại rác. Việc thu gom và phân loại rác thải là vấn đề quan trọng để xử lý rác hiệu quả. Đặc điểm chung của rác thải là tính chất đa dạng với nhiều loại hình từ kim loại, mảnh sành sứ, rác thải hữu cơ từ thực phẩm, giấy, nilon và các sản phẩm cao su, plastic và nhiều khi có cả đất đá nữa. Trong các thành phần rác thải như vậy, việc thu gom và đốt rác sẽ gặp các vấn đề sau:  – Nếu rác thải có quá ít thành phần cháy được hoặc rác quá ẩm, việc đốt rác là không khả thi vì lượng nhiệt sinh ra không đủ cho quá trình cháy tiếp diễn lâu dài. Điều này thường xảy ra với những khu vực có nhiều lượng rác hữu cơ;  – Thành phần rác có chứa nhiều nilon hay các hợp chất nhựa, thực phẩm dạng thịt, cao su, vải vụn, pin v.v thì hàm lượng chất cháy nhiều hơn nhưng thường có những phát thải độc hại có tính axit cao và những phát thải furan, Dioxin, hơi chì gây độc hại cho môi trường;  – Thành phần rác thải chứa nhiều cục lớn, cứng, cồng kềnh gây khó khăn trong việc chuyên chở, phân loại loại bỏ;  – Việc thu gom và tập kết rác thải luôn gây ô nhiễm mùi khiến cho người lao động và các hộ dân sống gần nơi tập kết và nhà máy xử lý chịu ảnh hưởng trực tiếp và trong nhiều trường hợp sẽ phát sinh những phản đối mạnh mẽ.  Chế biến rác thải thành nhiên liệu. Với đặc tính rác thải đa dạng như vậy, việc chế biến rác thải thành nhiên liệu bao gồm các công đoạn sau:  – Phân loại thành phần rác thải thành dạng cháy được bao gồm có các loại giấy, nilon, cao su v.v.; dạng hữu cơ ngâm ủ được bao gồm các loại phế thải rau, củ, quả và thực phẩm thừa, dạng chất trơ không cháy được bao gồm các loại đất đá, sành sứ, vật liệu xây dựng v.v. Việc phân loại này chỉ có thể thực hiện một cách tương đối với các hệ thống máy phân loại hiện nay.  – Các hợp chất cháy được có thể được tách ra cho ráo nước để sấy khô, nghiền chế biến thành các viên nhiên liệu hoặc đốt luôn tùy theo dạng công nghệ sử dụng.  – Các hợp chất hữu cơ có thể đem chôn lấp đúng kỹ thuật hoặc ngâm ủ để sản sinh khí sinh học CH4 và sau đó đốt khí này trong lò hơi.  – Các chất trơ có thể đem chôn lấp.  Việc phân loại cũng có thể tách ra các chất, vật liệu có khả năng tái sử dụng hoặc tái chế như nhựa, nilon, các loại kim loại để bán.  Đốt rác trong lò hơi để sản xuất hơi nước quá nhiệt. Việc đốt rác cần được thực hiện trong lò đốt rác đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt QCVN61-MT: 2016/BTNMT hoặc các quy chuẩn chuyên biệt khác cho rác thải công nghiệp hay rác thải y tế. Điều đáng chú ý là quá trình cháy sinh ra một lượng nhiệt nhất định, vì thế có thể tận dụng lượng nhiệt “thừa” này để biến thành năng lượng sử dụng cho các mục đích khác nhau như sấy, sưởi và các ứng dụng nhiệt năng trong công nghiệp. Tuy nhiên do rất khó khăn để có được các ứng dụng nhiệt năng này gần khu vực tập kết rác thải nên sản xuất điện năng sẽ là ứng dụng mang tính thực tế cao nhất có thể triển khai.  Đối với mục tiêu sản xuất điện thì năng lượng sản xuất ra sẽ ở dạng hơi nước quá nhiệt. Như vậy lò đốt rác trong trường hợp này sẽ là một lò hơi sản xuất hơi quá nhiệt có khu vực buồng đốt đáp ứng được yêu cầu của một lò đốt rác thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Việt Nam.    Lò hơi đốt rác sản xuất hơi quá nhiệt  Các lò hơi đốt rác có các kết cấu kim loại chịu áp lực nên cũng rất dễ bị ăn mòn trong môi trường khói thải từ rác có nhiều hơi axit đồng thời, nhiều thành phần khí thải độc hại sinh ra trong quá trình đốt các loại nhiên liệu đa thành phần nên hệ thống xử lý khói thải của lò đốt rác hết sức phức tạp và đắt tiền. Điều này dẫn tới chi phí đầu tư cho một hệ thống đốt rác phát điện và vận hành nó đắt đỏ hơn những hệ thống xử lý và đốt rác thông thường. Ngoài ra, do đặc tính nhiên liệu của rác là kém và không ổn định nên các lò đốt rác thường xuyên phải đốt dầu kèm để duy trì nhiệt độ ổn định trong lò. Dầu là loại nhiên liệu đắt tiền nên việc đốt kèm dầu với lượng lớn sẽ làm tăng chi phí xử lý rác thải.    Mô hình lò hơi đốt rác phát điện Mullkraftwerk Schwandorf của Đức  Sử dụng hơi nước quá nhiệt để làm quay turbine và phát điện. Hơi nước quá nhiệt sinh ra từ lò hơi sẽ được đưa tới tua bin ngưng hơi để làm quay turbine. Turbine gắn với máy phát điện sẽ sinh ra điện để phát vào lưới điện. Hơi nước sau khi giãn nở sinh công làm quay turbine sẽ được ngưng tụ thành nước tại bình ngưng nhờ một nguồn nước làm mát bên ngoài và bơm trở lại lò hơi để hoàn thành một chu trình kín.  Đây là mô hình phát điện phổ biến sử dụng chu trình Rankin cho việc sản xuất điện trong các nhà máy nhiệt điện đốt than hiện nay, tuy nhiên ở đây ta dùng rác làm nhiên liệu. Tùy thuộc vào quy mô của nhà máy, điện năng sản xuất ra có thể từ vài MW đến vài chục MW. Việc sản xuất điện theo chu trình Rankin của hệ thống đốt rác có hiệu suất không cao do cỡ lò nhỏ và nhiệt độ hơi quá nhiệt thấp. Hiệu suất biến đổi năng lượng nằm trong khoảng 25 – 30%.  Việt Nam có thể áp dụng được những gì?   Khái niệm “điện rác” đã trở nên khá quen thuộc với Việt Nam từ vài năm trở lại đây. Để có được điều đó, từ khoảng năm 2004, khái niệm và dự án WtE (dự án chuyển hóa rác thải thành năng lượng) đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Cho đến nay, đã có một số nhà đầu tư liên hệ với các địa phương để đề xuất thực hiện dự án đốt chất thải phát điện như:  – Dự án đốt chất thải rắn kết hợp phát điện của Công ty Waste to Energy Pte.Ltd. (Singapore).  – Dự án đốt chất thải rắn kết hợp phát điện tại TP.HCM, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Khu kinh tế Dung Quất của Công ty Fluid Tech (Australia).  – Dự án xử lý rác bằng nhiệt phân (Liên doanh giữa Công ty Đại Lâm và Entropic Energy Co, Hoa Kỳ).  – Dự án đốt chất thải rắn kết hợp phát điện của Công ty Keppel – Singapore đãnghiên cứu khả thi cho dự án xây dựng nhà máy đốt rác phát điện công suất 1.000-2.000 tấn/ngày cho TP.HCM.  Từ kinh nghiệm thế giới, có thể thấy, dù lựa chọn loại công nghệ đốt rác phát điện nào thì chúng ta cũng cần áp dụng một cách đồng bộ và nhất quán các quy trình công nghệ, không nên bỏ qua một công đoạn nào.  Nhìn vào quy trình cơ bản của một mô hình đốt rác phát điện, có thể thấy có khó khăn đầu tiên mà Việt Nam gặp phải không phải vấn đề lựa chọn công nghệ nào mà trước hết là việc phân loại rác thải. Vòng qua các đô thị Việt Nam, chúng ta có một vài con số đáng chú ý: năm 2015, dân số đô thị là 35 triệu người chiếm 38% dân số cả nước, ước tính đến năm 2020 là 44 triệu người chiếm 45% dân số cả nước và năm 2025 là 52 triệu người chiếm 50% dân số cả nước.Chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam vào khoảng 19 triệu tấn/năm, trong đó chất thải rắn sinh hoạt đô thị ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm. Trong khi đó, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại ước tính hàng năm khoảng 6,88 triệu tấn/năm, trong đó chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghệ khoảng 3,2 triệu tấn. Dự kiến, khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghệ sẽ tăng lên khoảng 9,0 đến 13,5 triệu tấn vào năm 2020. Hiện có tới 85% đô thị từ thị xã trở lên sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh. Với 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy mô trên 1ha chỉ có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ.  Ở các nước phát triển, chính quyền thường có chính sách khuyến khích người dân tự phân loại rác thải tại nguồn để giảm thiểu công phân loại khi đưa nguồn nguyên liệu này vào các nhà máy đốt rác phát điện. Còn tại Việt Nam, 10 năm trước, chuyện phân loại rác đã được tính đến thông qua dự án phân loại rác tại nguồn do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ, phối hợp với Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) thực hiện thí điểm ở bốn phường nội thành Hà Nội là Phan Chu Trinh, Nguyễn Du, Thành Công, Láng Hạ. Tuy nhiên, dự án đã không thành công, nguyên nhân do cả phía người tổ chức còn lúng túng trong cách thực hiện còn người dân chưa tuân thủ chặt chẽ yêu cầu phân loại rác 1. Sự thất bại của dự án không chỉ đem lại cho nhiều bài học kinh nghiệm về quy trình thực hiện, thiết kế, trang bị các công cụ thu gom và nơi tập kết cần khoa học, kín đáo nhằm giảm thiểu ô nhiễm mùi cho khu vực xung quanh và trên đường vận chuyển… mà còn cho thấy, việc phân loại rác nếu như không thực hiện một cách quyết liệt sẽ khó có thể thực hiện được, và do đó là một bài toán khó cho các nhà đầu tư dự án nhà máy đốt rác phát điện. Về lý thuyết chúng ta biết rằng, việc xử lý rác cần có những mô hình tổ chức đồng bộ từ các khâu thu gom, phân loại tại nguồn, xử lý nhiên liệu để cho công nghệ đốt rác phát điện có khả năng ứng dụng thuận lợi và phát huy hiệu quả.  Khó khăn thứ hai là khi áp dụng công nghệ nào thì chúng ta phải có đủ năng lực giám sát chặt chẽ mô hình công nghệ đó. Về nguyên tắc thì mô hình công nghệ nào cũng cần được giám sát bởi việc đốt rác cũng tiềm ẩn nguy cơ lớn về ô nhiễm môi trường khí thải với các phát thải gây mưa axit hay các hợp chất Dioxin, Furan thuộc nhóm các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) theo quy định của Công ước Stockholm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Việc giám sát rất cần sự chặt chẽ bởi lẽ nhiều cơ sở đã “đi tắt, làm tắt” để tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận mà quên đi những thiệt hại môi trường. Việc phát sinh Dioxin-Furan diễn ra khi đốt các chất thải có chứa clo với một cơ chế đốt không phù hợp. Tuy nhiên các hợp chất Dioxin, Furan cũng bị phân hủy ở nhiệt độ cao nên ở Việt Nam, quy chuẩn cho các lò đốt rác thải đều có quy định về việc buồng đốt phải phân làm hai vùng đốt sơ cấp và thứ cấp trong đó nhiệt độ các vùng được quy định rõ với mỗi loại rác thải khác nhau. Đối với chất thải rắn sinh hoạt, quy định về nhiệt độ vùng đốt sơ cấp là lớn hơn 400oC còn vùng đốt thứ cấp là lớn hơn 950oC. Với chất thải nguy hại và chất thải y tế thì nhiệt độ này còn cao hơn. Ngoài ra việc làm nguội nhanh khói thải sau các vùng đốt cũng có tác dụng tốt ngăn cản sự tái tạo của Furan, Dioxin. Việc duy trì nhiệt độ tại các vùng là một khó khăn đối với loại nhiên liệu không ổn định như rác nên các lò đốt rác thường phải trang bị các vòi đốt dầu kèm để bổ sung nhiệt giúp đảm bảo nhiệt độ vùng thứ cấp. Các lò đốt rác khi đó sẽ đảm bảo được các điều kiện môi trường trong khi thử nghiệm và cấp phép đồng thời khi việc kiểm tra môi trường được thực hiện. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động bình thường, việc sử dụng dầu đốt sẽ làm tăng chi phí vận hành và do đó các cơ sở sẽ không vận hành vòi đốt dầu kèm này. Đây là nguyên nhân khiến cho việc đốt rác thải ở Việt Nam khó đảm bảo về giảm thiểu ô nhiễm môi trường khí thải. Để thực hiện việc giám sát phát thải môi trường, các nước phát triển đều yêu cầu việc trang bị hệ thống giám sát độc lập có nối mạng và lưu giữ số liệu độc lập và có thể truy xuất các số liệu quá khứ bất cứ lúc nào. Một số nhà máy xử lý rác thải lớn cũng đưa cả bảng hiển thị quan trắc khí thải ra bên ngoài nhà máy để người dân có thể giám sát. Việc giám sát độc lập này có chi phí đầu tư khá lớn và chỉ phù hợp với các nhà máy xử lý rác có quy mô lớn. Những cơ sở nhỏ sẽ khó trang bị những trang thiết bị này.  Các dự án nhà máy đốt rác phát điện tại Việt Nam không dừng lại ở một vài con số như trên. Hiện nay nhiều dự án còn nằm trên giấy vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu nhất là chưa đạt được thỏa thuận về chi phí xử lý rác và giá bán điện. Do nguyên liệu khác biệt nên nếu không phân loại tại nguồn tốt, để lẫn nhiều rác hữu cơ từ thực phẩm, vốn có đặc tính nhiên liệu kém, việc đốt rác trở nên vô cùng khó khăn và tốn kém do phải đốt kèm dầu. Vì thế, chỉ khi giải quyết được vấn đề phân loại rác và có những chính sách về chi phí xử lý rác cũng như giá bán điện hợp lý thì chúng ta mới thu hút được đầu tư giúp xử lý triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường cho các đô thị lớn.  Bài toán cân bằng giữa chi phí – lợi nhuận cho nhà đầu tư luôn luôn là bài toán khó bởi lẽ đây là loại hình công nghệ cao, hiện đại đắt tiền mà Việt Nam chưa nghiên cứu được một cách bài bản để có khả năng tự chủ. Ví dụ, với các nhà máy này, việc xử lý khí thải sẽ là cả một hệ thống bao gồm xử lý bụi, khử NOx, SOx, và việc giảm thiểu việc phát thải các hợp chất Dioxin, Furan ra ngoài môi trường cần có các hệ thống hấp thụ với các hóa chất hấp thụ đắt đỏ mà chúng ta chưa tự chủ được. Để giải quyết được tình trạng này, trước mắt chúng ta cần thực hiện những nghiên cứu khoa học và từng bước nội địa hóa hệ thống lọc khói cũng như một số chi tiết, thiết bị quan trọng khác của nhà máy đốt rác phát điện.  Chú thích:  1. http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/835416/phan-loai-rac-thai-tu-nguon-10-nam-lai-tro-ve-con-so-0    Author                Nguyễn Xuân Quang        
__label__tiasang Dự án Điện mặt trời – Sahara      Một Consortium quốc tế đang l&#234;n kế hoạch khai th&#225;c nguồn năng lượng tr&#234;n sa mạc Sahara. C&#225;c tập đo&#224;n lớn&nbsp; sẽ đầu tư h&#224;ng tỷ Euro&nbsp; để x&#226;y dựng một loạt&nbsp; nh&#224; m&#225;y nhiệt Mặt trời cũng như hệ thống dẫn điện từ Bắc Phi tới&nbsp; ch&#226;u &#194;u. C&#244;ng nghệ đ&#227; trải qua thử th&#225;ch. Tuy nhi&#234;n dự &#225;n&nbsp; Desertec&nbsp; vẫn bị coi l&#224; một cuộc chơi&nbsp; với nhiều ẩn số.    Dự án Desertec là một dự án khổng lồ, đầy tham vọng  nhằm tận dụng nguồn nhiệt Mặt trời vô tận trên sa mạc Sahara để cung cấp điện cho châu Phi và châu Âu. Nếu dự án này trở thành hiện thực thì công trình vĩ đại này sẽ được tôn vinh là một kỳ quan thế giới của thế kỷ 21. Châu Âu sẽ không còn bị lệ thuộc vào nguồn dầu mỏ và khí đốt của Nga cũng như các nước khác.     Dự án mang tính viễn tưởng này hoạt động như sau: Người ta sẽ xây dựng các nhà máy nhiệt Mặt trời khổng lồ trên vùng sa mạc Bắc Phi  để tận dụng nguồn năng lượng Mặt trời không bao giờ hết ở đây để sản xuất điện mà không tạo ra khí thải  CO2 và giá cả của nguồn năng lượng này lại rất ổn định. Năm 2005 Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức (DLR) đã nghiên cứu về tính khả thi của công nghệ này và kết quả được đánh giá là tích cực.   Hiện nay đã có ít nhất là 15 tập đoàn lớn cũng như các cơ quan, tổ chức và một số nhân vật có tên tuổi liên kết với nhau nhằm đóng góp tài chính và sức lực để thúc đẩy việc thực hiện dự án đầy tham vọng này.     Nguồn năng lượng Mặt trời               Nhà máy điện máng parabol  “AndaSol 1” đã được thử thách hàng chục năm nay        Mỗi năm có khoảng 630.000 Terawatt giờ năng lượng Mặt trời đổ xuống vùng sa mạc ở Cận Đông và Bắc Phi và nguồn năng lượng này hoàn toàn không được sử dụng. Trong khi toàn bộ châu Âu mỗi năm tiêu thụ khoảng 4000 Terawatt giờ.   Đề án DeSertec  Nếu như người ta xây dựng các nhà máy điện nhiệt Mặt trời ở vùng sa mạc Bắc Phi trên một vùng rộng 20.000 km2 thì về lý thuyết sẽ đủ điện cung cấp cho toàn châu Âu. Loại điện sạch thu được sẽ truyền qua hệ thống đường dẫn cao thế điện một chiều tới châu Âu.  Nhiệt Mặt trời  (Solarthermie)  Cơ chế hoạt động của nhà máy điện nhiệt Mặt trời như sau: Các tia sáng Mặt trời tích tụ qua gương – máng – parabol tạo thành nhiệt đun nóng nước, hơi nước chạy tuốc bin và từ đó tạo ra điện. Nhờ có công nghệ để tích nhiệt nên ban đêm nhà máy vẫn hoạt động. Công nghệ này đã có từ lâu và đã trải qua thử thách: Ngay từ những năm 1980 ở California đã có nhà máy nhiệt Mặt trời theo công nghệ này và ngày nay vẫn hoạt động. Hồi đó giá dầu mỏ quá rẻ nên người ta không mấy quan tâm đến thành tựu này. Nhưng nếu giá dầu mỏ, khí đốt tăng lên như hiện nay thì Solarthermie lại được đặc biệt quan tâm.  So với tế bào quang điện, Solarthermie có nhiều mặt lợi hơn: Loại nhà máy điện này rẻ hơn và không có chế độ bảo dưỡng phức tạp. Hơn nữa việc tích điện ở tế bào quang điện để sử dụng lúc trời tối khá tốn kém. Trong khi tế bào quang điện chuyển hóa năng lượng Mặt trời trực tiếp thành điện thì Solarthermie lại phải đi đường vòng thông qua hơi nước để chạy tuốc bin để phát điện.              Một công nghệ đã trải qua thử thách: Nhà máy điện máng parabol ở California hoạt động liên tục từ những năm tám mươi đến nay        Một số nhà máy nhiệt Mặt trời thí điểm đã được xây dựng ở Ma Rốc, Ai Cập và Angiêri, công suất những nhà máy này thường từ 15 – 30 Megawatt. Hiện tại ở miền Nam Tây Ban Nha đã có 4 nhà máy đi vào hoạt động, nhà máy lớn nhất có công suất 50 Megawatt đủ cung cấp điện cho 200.000 người.   Chi phí   Theo báo cáo khả thi của DLR thì từ nay đến năm 2050 cần khoản đầu tư lên đến 400 tỷ Euro để xây dựng một loạt nhà máy nhiệt Mặt trời để đáp ứng 15% nhu cầu về năng lượng điện của châu Âu. Trong đó 350 tỷ Euro dành cho việc xây dựng các nhà máy điện và 50 tỷ Euro để xây dựng hệ thống mạng lưới điện một chiều (HVDC) để dẫn điện từ vùng sa mạc Bắc Phi tới châu Âu trên một quãng đường dài 3000 km. Tỷ lệ tổn thất trên đường dây HVDC khoảng 3% trên 1000 km. Công nghệ HVDC cũng đã có và cũng đã trải qua thử thách.  Những lợi thế  Solarthermie là Low-Tech – có độ tin cậy cao và không có rủi ro. Các nhà máy điện loại này không sợ bị nổ, không có chất thải phóng xạ hay khí thải có hại như  CO2, không cần dầu mỏ, than hoặc uran để vận hành. Modull – gương nào bị hỏng thì thay modull đó. Vì thế nhà máy không khi nào phải ngừng hoạt động hoàn toàn. Một lợi thế lớn nữa là, nếu xây dựng nhà máy điện gần bờ biển thì có thể dùng điện để biến nước biển thành nước ngọt  phục vụ đời sống người dân địa phương. Các nước ở vùng Cận Đông và Bắc Phi có thể xuất khẩu năng lượng điện sạch, từ đó cải thiện điều kiện kinh tế và cải thiện đời sống của người dân ở khu vực này.  Những điều bất lợi  Một số nhà chính trị e ngại với dự án này, châu Âu có nguy cơ phụ thuộc vào các quốc gia thiếu ổn định chính trị ở Bắc Phi và Cận Đông. Hệ thống dẫn điện có thể trở thành mục tiêu phá hoại của lực lượng khủng bố. Để thực hiện dự án Desertec cần có sự hợp tác chặt chẽ của nhiều nước châu Âu với nhau cũng như của các quốc gia ở Bắc Phi và Cận Đông và giữa châu Phi với châu Âu. Tuy nhiên trong lịch sử những mối quan hệ này từng có vấn đề và không mấy êm thấm.  Dự án với nhiều ẩn số               Nhà máy nhiệt Mặt trời đang được xây dựng ở tỉnh Granada (Tây Ban Nha)        Những thành viên của Desertec – Consortium cảnh báo không nên quá lạc quan. Dự án tuy rất ấn tượng nhưng cho đến thời điểm này có nhiều điều còn chưa được làm sáng tỏ hoặc còn cần phải hoàn thiện, thí dụ phải nghiên cứu sâu hơn nữa về tính khả thi. Cho đến thời điểm này hoàn toàn chưa có các cam kết cụ thể giữa các bên tham gia. Mục tiêu đề ra là trong ba năm tới phải xây dựng được đề án triển khai cụ thể, cụ thể là kế hoạch xây dựng các nhà máy nhiệt Mặt trời ở các địa điểm khác nhau ở Bắc Phi.     Theo tính toán của các chuyên gia thì vấn đề tiêu thụ điện sa mạc sẽ không có gì khó. Theo tạp chí chuyên ngành “Photon” thì giá bán điện vào năm 2020 trên thị trường Đức 1 KW/ giờ là 6 Cent và giá này sẽ ổn định lâu dài. Điều này có nghĩa là điện sa mạc hoàn toàn có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới vì giá điện hiện nay trên thị trường dao động từ 2,5 đến 5 Cent một KW/giờ. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng trong những năm tới giá điện sẽ tăng lên.   HOÀI TRANG  Spiegel 16.6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án Đột phá – Tạo nền tảng công nghệ hạt nhân thế hệ mới      LTS: Trong chuyến thăm và làm việc tại LB Nga từ ngày 5 đến 7/9 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bộ KH&CN và Rosatom – Tập đoàn năng lượng hạt nhân quốc gia Nga, đã ký biên bản ghi nhớ về định hướng dư luận đối với dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia. Nhân dịp này, Báo Khoa học và Phát triển giới thiệu với bạn đọc dự án Đột phá (Proryu) – một phần của Chương trình Mục tiêu quốc gia: Các công nghệ hạt nhân tiên tiến 2010-2020 do Rosatom bắt đầu thực hiện từ năm 2011 để có thêm những hiểu biết mới về nền KH&CN hạt nhân Nga.      Mô hình lò phản ứng neutron nhanh tiên tiến. Nguồn: Sputnik  Rosatom – nhà công nghệ hàng đầu thế giới về công nghệ hạt nhân, đã đặt cho mình mục tiêu tạo ra một nền tảng các công nghệ hạt nhân thế hệ mới trên cơ sở chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín (nuclear fuel cycle) sử dụng trong lò phản ứng neutron nhanh. Để đạt mục tiêu này, Rosatom đã bắt tay thực hiện dự án Đột phá – một trong những dự án tham vọng bậc nhất thế giới trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân.  Những thách thức về công nghệ  Những ý tưởng ban đầu về dự án Đột phá đã xuất hiện từ nhiều năm trước, khi các chuyên gia hạt nhân của Rosatom nhận thấy, sự phục hưng của điện hạt nhân vào những năm 2000 có thể dẫn đến hai khả năng: tăng giá thành uranium và cạn kiệt nguồn uranium trong tự nhiên. Vì vậy, họ đã nghĩ đến một phương án tối ưu các nguồn lực hiện có với một chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín, nhiên liệu có khả năng tái sử dụng nhiều lần và áp dụng trên lò phản ứng neutron nhanh.  Được Rosatom đề xuất với chính phủ, Đột phá trở thành một phần của Chương trình Mục tiêu quốc gia: Các công nghệ hạt nhân tiên tiến giai đoạn 2010-2020 bởi nó không chỉ đem lại khả năng làm chủ những công nghệ đột phá mà còn đem lại lợi thế cho Nga trên thị trường năng lượng hạt nhân thế giới.  Trên trang web dự án, ông Vyacheslav Pershukov- Phó tổng giám đốc Rosatom và Giám đốc bộ phận Đổi mới sáng tạo của Rosatom, nhấn mạnh đến mục tiêu tập đoàn đặt ra: “Dự án Đột phá mà chúng tôi đang thực hiện ngày hôm nay sẽ đem đến khả năng tương thích về môi trường giữa việc phát điện năng và tái chế chất thải nhờ chu trình nhiên liệu hạt nhân kín ở mức cao hơn trên lò tái sinh nhanh. Công nghệ này sẽ cho phép chuyển đổi sang một nền tảng mới của các hệ thống điện hạt nhân đi kèm với việc giảm thiểu chất thải phóng xạ và hoàn thiện nguyên tắc của cân bằng phóng xạ tự nhiên”.  Bản thân chu trình nhiên liệu khép kín đã là một vấn đề hết sức phức tạp về công nghệ nhưng tái sử dụng nhiên liệu nhiều lần còn phức tạp hơn – Nga là một trong số vài quốc gia có đủ khả năng làm chủ trọn vẹn chu trình này, cùng với Mỹ, Canada, Ấn Độ, Pháp.  Để giải quyết vấn đề thách thức này, Rosatom đã tập hợp một đội ngũ nhà nghiên cứu, kỹ sư của hơn 20 viện nghiên cứu Nga cũng như các chuyên gia từ các trường đại học hàng đầu đất nước, đặc biệt là trường Đại học Quốc gia Moscow, MIPT và MEPhI, đồng thời lên kế hoạch xây dựng một tổ hợp mang tên ODEK tại Công ty liên hợp hóa chất Siberia ở Seversk vùng Tomsk – một công ty con của Công ty nhiên liệu hạt nhân TVEL trực thuộc Rosatom – và một lò phản ứng nghiên cứu neutron nhanh MBIR.  Đổi mới sáng tạo trong cách tiếp cận và quản lý dự án  Ở các dự án nghiên cứu về công nghệ hạt nhân trước, Rosatom thường thành lập các công ty mới phụ trách từng vấn đề cụ thể. Đây cũng là cách làm của nhiều quốc gia trên thế giới bởi các dự án về công nghệ hạt nhân không chỉ phức tạp mà còn đòi hỏi sự triển khai trên thực tế trước khi được cấp giấy phép về an toàn pháp quy, về thương mại…  Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này thường đi kèm với việc phát sinh chi phí và làm gia tăng sự cồng kềnh của bộ máy hành chính. Với kinh nghiệm về quản lý các dự án về công nghệ hạt nhân hàng đầu thế giới, Rosatom đã triển khai một chu trình quản lý mới vừa đảm bảo công việc được “chạy” tốt, vừa tối ưu hóa các sản phẩm R&D mà không làm gia tăng chi phí quản lý: thay vì các công ty mới, họ lập các Trung tâm Trách nhiệm (Responsibility Centres RC).  Vậy các Trung tâm Trách nhiệm này có điểm gì mới? Mỗi trung tâm thường bao gồm một bộ phận chuyên trách của một công ty trực thuộc Rosatom với một nhóm chuyên gia trình độ cao ở các trường, viện nghiên cứu để thực hiện các mục tiêu R&D riêng biệt. Nhiệm vụ của họ là quản lý các vấn đề lò phản ứng nghiên cứu, phát triển các công nghệ về nhiên liệu uranium-plutonium, tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng (SNF), quản lý chất thải phóng xạ, phát triển các mã chương trình thế hệ mới đang được áp dụng tại Rosatom. Dữ liệu của các Trung tâm Trách nhiệm này đều được tích hợp và đặt dưới sự quản lý về khoa học và hành chính của Trung tâm Đổi mới sáng tạo và công nghệ cho dự án Đột phá (ITCP).    Công ty TVEL thử nghiệm thành công nhiên liệu hỗn hợp cho lò nghiên cứu neutron nhanh làm mát bằng chì. Nguồn: Sputnik  ITCP quản lý 9 trung tâm trách nhiệm:  1. Trung tâm Phát triển các công nghệ tái xử lý SNF và quản lý chất thải phóng xạ với mục đích chính là phát triển các công nghệ lõi và cơ sở thực nghiệm cho module tái xử lý (RM) của tổ hợp năng lượng thí điểm (PDEC) – phần không thể thiếu để phát triển an toàn hạt nhân trên quy mô lớn ở Nga.  2. Trung tâm Phát triển, sản xuất và vận hành thử các dây chuyền sản xuất thử nghiệm cho chu trình nhiên liệu hạt nhân tại chỗ nhằm giám sát quá trình thực hiện và việc tuân thủ các yêu cầu trong quá trình phát triển, sản xuất và vận hành tại các cơ sở.  3. Trung tâm tích hợp có nhiệm vụ tạo ra một nguồn thông tin có cấu trúc thống nhất về dự án Đột phá với dự tính chi phí tối ưu về thiết kế, kỹ thuật và tài liệu kỹ thuật cho các cơ sở nghiên cứu, sản xuất. Cách tiếp cận này khiến các chuyên gia có thể mô phỏng một vòng đời sản phẩm để phân tích trước khi đưa nó vào vận hành để tối ưu nó về mặt kỹ thuật cũng như đưa ra các phương án về tháo dỡ sau khi sử dụng hoặc tái khôi phục nó.  4. Trung tâm phụ trách yếu tố nhiên liệu hỗn hợp nitride uranium-plutonium (MNUP), phát triển công nghệ chế tạo (nhiên liệu nặng và CM) đặt tại Viện nghiên cứu quốc gia về vật liệu vô cơ Bochvar nhằm phát triển các yếu tố nhiên liệu và tổ hợp nhiên liệu với nhiên liệu MNUP, cũng như các công nghệ tương ứng cần thiết cho chế tạo và những vật liệu tạo ra nhiên liệu cần thiết.  5. Trung tâm BRESR được đặt tại JSC NIKIET – công ty chuyên cung cấp công nghệ và thiết bị hạt nhân của Rosatom, nhằm phát triển dự án thành phần: phát triển lò phản ứng BREST-OD-300, nơi triển khai các kỹ thuật chính sẽ sử dụng trên các lò phản ứng làm mát bằng chì với một chu trình nhiên liệu khép kín và những ý tưởng cơ bản về an toàn vốn có.  6. Trung tâm BN -1200 đặt tại JSC Afrikantov OKBM với mục tiêu chính là phát triển các vật liệu của các lò phản ứng năng lượng thế hệ tiếp theo với lò phản ứng neutron nhanh làm mát bằng muối BN-1200.  7. Trung tâm Mã thế hệ mới được thành lập với sự tham gia của Viện An toàn hạt nhân (Viện Hàn lâm KH Nga) nhằm phát triển các mã máy tính toàn cầu cho các mô hình vận hành khác nhau ở các nhà máy điện hạt nhân của Nga, các lò phản ứng nhanh làm mát bằng kim loại lỏng, các cơ sở nghiên cứu chu trình nhiên liệu kín cũng như đánh giá tác động của các cơ sở này lên môi trường và con người.  8. Trung tâm Mã dự án đặt tại Viện nghiên cứu Vật lý và kỹ thuật điện phát triển các mã dự án.  9. Trung tâm Kỹ thuật thiết kế PDEC và IEC phụ trách phần kỹ thuật thiết kế tổ hợp năng lượng thí điểm (PDEC) và phát triển tổ hợp năng lượng trên quy mô công nghiệp (IEC).  Do được xây dựng trong thời kỳ bùng nổ về khoa học máy tính và khoa học dữ liệu, việc chia sẻ thông tin và hợp tác giữa các Trung tâm đều được thực hiện qua một Không gian thông tin chia sẻ (SIS) – nơi kết hợp các kênh truyền dữ liệu, phần mềm, cơ sở hạ tầng và cho phép phát triển, chỉnh sửa và sử dụng các mô hình thông tin của dự án cũng như tích hợp với các hệ thống công nghệ thông tin riêng biệt của Rosatom.  Trên trang web của dự án, những nhà quản lý bày tỏ ý định của mình khi áp dụng cách làm mới này: đây sẽ là một phương pháp quản lý mang tính thí điểm cho ngành công nghệ hạt nhân với nhiều đổi mới sáng tạo nhất. Nếu thành công, nó sẽ được Rosatom áp dụng rộng rãi trong tương lai.  Sự can thiệp của chính phủ Nga    Lò phản ứng neutron tiên tiến sẽ hoàn thành vào năm 2020. Nguồn: twitter  Mặc dù Rosatom là một tập đoàn mạnh về xuất khẩu công nghệ hạt nhân và có nguồn vốn lớn nhưng việc đảm bảo cho dự án Đột phá được thực hiện, vẫn cần vai trò của Chính phủ Nga trong đầu tư kinh phí và chỉ đạo. Đó là nguyên nhân vì sao Đột phá lại trở thành một phần của Chương trình mục tiêu quốc gia 2010-2020 thể hiện sự cam kết thúc đẩy dự án được hoàn thành và đạt được kết quả như kỳ vọng của Chính phủ Nga.  Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, không phải bao giờ mọi việc diễn ra dễ dàng. Nước Nga trong bối cảnh phải chịu sự trừng phạt của Mỹ và phương Tây gặp không ít khó khăn trong việc điều phối các dự án ưu tiên của đất nước.  Do đó vào năm 2017, tiến độ dự án dường như chậm hẳn lại và đâu đó xuất hiện “tin đồn” là việc xây dựng lò phản ứng nghiên cứu có thể bị “đóng băng” vì thiếu kinh phí. Sang đầu tháng 1/2018, Rosatom một mặt tuyên bố không có chuyện hoãn dự án mà chỉ điều chỉnh dự toán kinh phí để tối ưu nguồn lực trong bối cảnh nền kinh tế Nga phải đối mặt với nhiều khó khăn, mặt khác đề nghị được làm việc với Tổng thống Putin về dự án.  Trong buổi làm việc diễn ra vào cuối tháng 2/2018 tại điện Kremlin, tổng giám đốc Rosatom Alexey Likhachov – cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại và phát triển kinh tế Nga, nêu những ưu điểm của dự án, trong đó nhấn mạnh đến “cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt [trên thị trường công nghệ hạt nhân] và sớm hay muộn thì các đối tác nước ngoài, các đối thủ sẽ có khả năng là chủ được các công nghệ hiện có. Đây là lý do vì sao chúng tôi đang tập trung vào việc khám phá những lĩnh vực mới”.  Với tầm nhìn về tiềm năng mà dự án sẽ đem lại do nước Nga khi hoàn thành, Tổng thống Putin đã đồng ý với những đề xuất của Rosatom. Ở đây, quan điểm của những nhà chính trị và nhà khoa học đã gặp nhau: đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho tiềm lực tương lai của đất nước.  Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tạp chí “Economics and Fuel of Russia” vào năm 2017, ông Evgeny Adamov – giám đốc dự án Đột phá, cho rằng: “Việc đảm bảo ưu tiên thực hiện dự án trong điều kiện kinh phí khó khăn hiện nay và những âu lo thường nhật sẽ cho phép chúng ta trong vài thập kỷ tới không chỉ giải quyết được những vấn đề nội tại của đất nước để tối ưu hóa sản xuất điện năng bằng nguồn năng lượng hạt nhân mà còn làm tăng cường vị trí hàng đầu của Nga trên thị trường công nghệ hạt nhân thế giới”.  Tại Diễn đàn đầu tư Nga ở Sochi vào tháng 2/2018, chủ tịch công ty TVEL Natalya Nikipelova thông báo, việc xây dựng lò phản ứng BREST-300 năm 2017 đã được giải ngân 420 triệu ruble, “năm nay Rosatom lập kế hoạch tiếp tục đầu tư nửa tỷ ruble nữa”.  Đến nay, sau gần 10 năm thực hiện, “hơn một nửa khâu R&D của dự án đã hoàn thành” như lời của giám đốc khoa học dự án Evgeny Adamov. Điều này dường như khớp với những gì diễn ra trong thực tế: AEM-Technology, công ty con của Atomenergomash – nhà cung cấp kỹ thuật cơ khí cho Rosatom, đã thông báo xong phần hàn chính trên thùng lò BREST-300 và đảm bảo việc hoàn thành lắp đặt và xây dựng lò phản ứng đúng tiến độ dự kiến vào năm 2020.  Thanh Nhàn tổng hợp từ http://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-os/russia-nuclear-power.aspx; http://proryv2020.ru/en; https://www.rosatom.ru/en/press-centre/industry-in-media/russia-reaches-welding-milestone-with-fast-neutron-reactor; http://en.kremlin.ru/events/president/news/56946  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án giải mã 600 giống lúa Việt Nam: Mới chỉ là bước khởi đầu      Việc có một cơ sở dữ liệu quý hệ gene các giống lúa bản địa không chỉ đem lại cho các nhà nghiên cứu Việt Nam những hiểu biết sâu sắc hơn về loại cây lương thực quan trọng này mà còn mở ra cơ hội chọn tạo những giống lúa mới có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng hay phù hợp với điều kiện môi trường ngày càng khắc nghiệt. Tuy nhiên, để có được điều đó, cần có những chiến lược đầu tư dài hạn và bài bản về cả nhân lực lẫn kinh phí.      Các nhà nghiên cứu trẻ của Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam  Xu hướng giải mã hệ gene các loài cây lương thực trên thế giới bắt đầu xuất hiện sau sự thành công của Dự án Giải mã hệ gene người (The Human Genome Project), một dự án nghiên cứu quốc tế bắt đầu từ năm 1990 và thành công vào năm 2003. Cùng với sự ra đời của các thiết bị giải trình tự gene thế hệ mới (NGS) và các hệ thống tính toán hiệu năng cao (HPC) – yếu tố giúp rút ngắn việc thực hiện giải mã hệ gene cũng như giảm kinh phí đầu tư, các dự án giải mã hệ gene cây lương thực đã phổ biến trên thế giới, từ lúa gạo đến lúa mì và gần đây nhất là cây lạc.  Cũng trong xu hướng đó, Viện Di truyền nông nghiệp VN (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) và Trung tâm Phân tích genome Anh (The Genome Analysis Centre TGAC) thực hiện dự án hợp tác “Giải mã và khai thác đa dạng di truyền nguồn gene lúa bản địa của Việt Nam phục vụ các chương trình nghiên cứu và chọn tạo giống lúa” qua hai pha, pha 1 giải mã 36 giống lúa (2011-2013) và pha 2 là 600 giống lúa (2014-2018). “Đây là dự án có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một quốc gia có nền văn minh trồng lúa nước lâu đời và gạo là mặt hàng quan trọng với cả thị trường trong nước cũng như xuất khẩu”, PGS. TS Khuất Hữu Trung, Phó Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam (AGI) và là một trong những thành viên thực hiện dự án, đánh giá.  “Đọc hiểu” mã di truyền các giống lúa quý  Việc thực hiện thành công pha 1 vào năm 2013 với 36 giống lúa đầu tiên đã đem lại cơ hội để AGI tiếp tục đề xuất thực hiện pha 2 với quy mô lớn hơn, gồm những dòng/giống lúa bản địa có đặc điểm sinh học như kháng sâu bệnh, kháng bạc lá, chống chịu được những điều kiện bất lợi của môi trường như chịu hạn chịu mặn hay vượt trội về năng suất, chất lượng… “Những kinh nghiệm rút ra từ pha 1 cho thấy, các nhà nghiên cứu của Viện có thể tiếp tục học hỏi và hợp tác với đối tác Anh”, PGS. TS Khuất Hữu Trung nhấn mạnh đến một trong những điểm xuất phát của pha 2 dự án.  Trong cả hai pha của dự án, TGAC – một trong những cơ sở nghiên cứu về khoa học sự sống hàng đầu thế giới, chịu trách nhiệm toàn bộ phần giải mã hệ gene các giống lúa Việt Nam “vì mình không có đầy đủ thiết bị và chuyên gia tin sinh học (bioinformatics)”, anh giải thích. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa hai pha, “nếu pha 1 phải mang hạt giống sang gieo trồng và tách chiết DNA từ cây mạ dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Anh thì sang pha 2, chúng tôi đã có thể tự tách chiết DNA, mang sang bên đó, dùng sóng âm để cắt thành từng đoạn dài rồi cùng với họ làm giàu và tinh sạch để đưa vào máy giải trình tự gene”.  Việc hợp tác với các chuyên gia hàng đầu thế giới đã giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam không chỉ tiếp xúc với các thiết bị giải trình tự gene thế hệ mới mà còn được nâng cao “tay nghề” chuyên môn của mình, ví dụ như kỹ thuật tách chiết DNA, tưởng từng đã quen thuộc với các nhà di truyền học nhưng “có nhiều ngưỡng yêu cầu khác nhau, trước đây mình chưa làm được đúng theo yêu cầu của họ đâu vì mình mới quen làm trên các đoạn ngắn ”, ThS. Đặng Thị Thanh Hà – một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết. PGS. TS Khuất Hữu Trung giải thích thêm về những điều cơ bản mà anh và các thành viên trong nhóm nghiên cứu kỹ thuật di truyền AGI học hỏi được: “Tách chiết DNA đạt yêu cầu của họ không dễ vì yêu cầu của họ là chất lượng phải rất tốt, ví dụ cái sợi nhiễm sắc thể rất dài, nếu biết cách tách thì nó liền mạch và chỉ bị đứt ở vài điểm thôi, còn nếu không biết cách tách chiết thì nó bị sẽ đứt đoạn. Do đó, chúng tôi phải làm rất cẩn thận và thường thì chỉ cần một lúc là xong nhưng với yêu cầu của họ thì mất hai ngày mới được một mẻ”. Việc trực tiếp sang TGAC và được các chuyên gia ở đó hướng dẫn đã đem lại cho PGS. TS Khuất Hữu Trung cơ hội biết thêm một phương pháp tách chiết DNA hiện đại và trở về hướng dẫn tại ARI. Kết quả là “khi học được rồi, mình có thể tự tách chiết ở đây hơn 600 mẫu rồi tự gửi sang Anh giải trình tự gene”, ThS Đặng Thị Thanh Hà kể.  Với một dự án giải mã hệ gene, sau khi có được mẫu chuẩn để đưa vào máy giải trình tự gene và để có được dữ liệu mới chỉ hoàn thành một phần công việc. “Phần công việc quan trọng còn lại là phân tích, chú giải hệ gene để qua đó, lập được bản đồ gene và xác định được chức năng gene”, PGS. TS Khuất Hữu Trung nói.  Đó cũng là cách làm của các nhà nghiên cứu thế giới. TS. Curtis Pozniak, ĐH Saskatchewan (Canada) – mới công bố kết quả giải mã thành công hệ gene lúa mì cứng vào tháng 4/2019, trả lời trên eurekalert.org: “Chúng tôi có thể kiểm tra các gene, bộ Lúa, cấu trúc của chúng để tập hợp thành một bản chi tiết về lúa mì cứng, qua đó đem lại cách hiểu về các gene hoạt động và liên kết với nhau như thế nào. Bây giờ có thể thấy được các ký tự DNA khác biệt đóng vai trò quan trọng với quá trình tiến hóa và nhân giống, cho phép chúng ta hiểu được sự kết hợp của các gene đang tạo ra một ký tự nucleaobase riêng lẻ một cách đặc hiệu và duy trì các vùng đích của hệ gene để cải thiện giống trong tương lai”.  Với các nhà nghiên cứu AGI, trình tự hệ gene các dòng/giống lúa bản địa mà họ có trong tay sẽ là nền tảng cho các phân tích và chú giải như xác định từng gene, tìm hiểu cấu trúc gene, phân loại các gene chức năng quy định tính trạng của từng giống lúa và sự tương tác giữa các gene với nhau cũng như tương tác với các điều kiện môi trường, canh tác… “Đơn giản như việc tìm được các gene chức năng gì cũng là một thành công và mở ra cơ hội tạo ra giống lúa kháng bạc lá, kháng rầy nâu, chịu hạn…”, PGS. TS Khuất Hữu Trung cho biết.  Mặc dù chỉ là nghiên cứu cơ bản nhưng theo đánh giá của anh, “dự án này đem lại nhiều cơ hội nghiên cứu tiếp trong tương lai, không chỉ về cấu trúc, chức năng gene, lập bản đồ các gene qui định các tính trạng nông học quí để tích hợp một cách chính xác những gene có ích vào cùng một giống tạo ra các giống kháng đa yếu tố mà còn nghiên cứu về quá trình tiến hóa, tiến tới bảo tồn các gene quý, những gene đã bị mất đi ở hầu hết các giống sản xuất trong suốt quá trình nhân giống nhiều thế kỷ”. Hơn hết, với Việt Nam – một trong những quốc gia đang bị ảnh hưởng biến đổi khí hậu và lúa gạo là cây lương thực chính thì việc chọn tạo được những giống lúa kháng đa yếu tố với các đặc điểm sinh học kháng sâu bệnh như rầy nâu, đục thân, khô vằn hay phi sinh học như kháng hạn, mặn, ngập úng… mang ý nghĩa rất lớn bởi nó đưa ra “một cách thức tìm ra giống mới, có thể rút ngắn được thời gian chọn tạo và có chính xác ưu điểm mình cần bên cạnh những cách chọn tạo cổ điển dựa trên hình thái, biểu hiện bên ngoài’, anh nói.  Mới bước qua vạch xuất phát    PGS. TS Khuất Hữu Trung cho rằng, cái khó hiện nay là phải khai thác được dữ liệu quý.   Không phải là những người tiên phong trong giải mã thành công một hệ gene hoàn chỉnh ở Việt Nam nhưng các nhà nghiên cứu AGI lại vượt trội ở ưu điểm: có trong tay một dữ liệu gene khổng lồ của gần 650 giống/dòng lúa bản địa. “Vấn đề còn lại là chúng ta có thể xử lý chúng như thế nào và làm gì với nó”, PGS. TS Khuất Hữu Trung nhấn mạnh đến tình trạng “hậu dự án”. Đó cũng là cái nhìn chung của các thành viên tham gia thực hiện dự án, “Việc thực hiện dự án thực ra không có gì quá khó với các nhà nghiên cứu Việt Nam nhưng khai thác được các dữ liệu mới khó”, ThS. Đặng Thị Thanh Hà bổ sung.  Để có thể khai thác được cơ sở dữ liệu quý như thế này, cần phải có các chuyên gia tin sinh học giỏi. GS. TS Trương Nam Hải, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người đã có nhiều kinh nghiệm thực hiện những dự án nghiên cứu về tin sinh học, cho biết, hiệu quả khai thác dữ liệu thường phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các chuyên gia di truyền và tin sinh học, trong đó, người làm di truyền thường nêu bài toán và yêu cầu cần giải quyết để những người làm tin sinh phân tích và chú giải bằng các công cụ chuyên biệt.  Điều khó lúc này, đối với AGI chính là việc tuyển dụng các chuyên gia tin sinh thực thụ, không chỉ cho dự án gene lúa mà còn những kế hoạch khác của Viện liên quan đến hệ gene, “mặc dù cũng mời nhiều chuyên gia Việt Nam giỏi tin sinh học ở nước ngoài về hoặc ở đơn vị khác về viện nhưng khó đáp ứng được yêu cầu về lương của họ”, PGS. TS Khuất Hữu Trung đề cập đến khó khăn của AGI.  Hiện tại, “kho vàng” dữ liệu mà các nhà nghiên cứu AGI có mới chỉ khai thác một cách nhỏ giọt và dè dặt với một số công bố quốc tế và một vài dự án nhỏ. “Mình có thể giải quyết được vấn đề về sinh học di truyền, có dữ liệu, máy móc nhưng không tìm được chuyên gia tin sinh để thực hiện những nghiên cứu tiếp theo. Không chỉ viện này mà còn rất nhiều dự án khác và nơi khác đều trong tình trạng đó”, anh Trung cảm thấy day dứt về những điều ngoài tầm với của mình. Viễn cảnh “chỉ cần có một người giỏi về tin sinh cùng làm việc chẳng hạn, chúng tôi có thể công bố được nhiều bài báo trên tạp chí IF cao” thông qua con đường hợp tác cũng không dễ bởi theo anh, “họ sẽ không dành thời gian nhiều cho mình để cùng làm nghiên cứu ra bài báo được. Rút cục phòng máy hiện đại với thiết bị như thế nhưng chưa có người sử dụng hiệu quả”.  Cách đây một vài năm, GS. Trương Nam Hải đã từng nêu hiện trạng thiếu nhà nghiên cứu tin sinh ở Việt Nam… Vậy có cách nào giải quyết được tình trạng đó? PGS. TS Khuất Hữu Trung cho rằng, “có lẽ cách tốt nhất là phải cử người có chuyên môn di truyền đi học tin sinh học, dù như vậy thì rất chậm nhưng nếu mình bắt đầu thì nó còn có chứ nếu không bắt đầu thì không bao giờ có cả”.  Với quan điểm như vậy, khi dự án bắt đầu, anh đã lựa chọn ra một số gương mặt có khả năng phát triển theo hướng tin sinh học để nhờ các đối tác Anh đào tạo. “Ban đầu, tôi tìm hiểu về tin sinh trên những phần mềm đơn giản, lắp ráp gene, tìm một số trình tự gene kháng mà thế giới họ đã công bố trong các giống lúa bản địa của mình, sau đó bắt đầu có khả năng so sánh tham chiếu với các giống lúa đã được giải trình tự rồi để phân loại và tìm ra những gene đặc thù như gene kháng bạc lá, kháng rầy nâu…”, Nguyễn Trường Khoa – một kỹ sư trẻ của AGI, kể lại quá trình học hỏi về tin sinh học dưới sự hướng dẫn của các nhà nghiên cứu Anh.  Quá trình học hỏi diễn ra một cách dần dần, tuy chậm chạp nhưng chắc chắn, “qua pha 1 đến pha 2, chúng tôi đã có thể lắp ráp hệ gene từ trình tự thô mà đối tác giao lại hoặc tìm các gene ứng viên có tính trạng kháng bạc lá, đạo ôn, rầy nâu hay chịu hạn chịu mặn… để tầm soát, thiết kế mồi, nhận dạng các gene đó trong cây giống bản địa, sau đó phục vụ lai tạo cho các giống lúa có đặc tính tốt của các giống bản địa để có được các giống lúa ưu tú”, NCS. Nguyễn Thị Điệp – người đang hoàn thành luận án tiến sỹ qua dự án, kể về những điều mới mẻ mà chị và đồng ngiệp đã học hỏi được.  Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là ở giai đoạn bắt đầu, Nguyễn Trường Khoa nhắc đi nhắc lại như vậy khi đề cập đến quá trình học hỏi này. ThS. Đặng Thanh Hà cũng lưu ý:“Bây giờ mọi người mới chỉ tìm được ở trong dữ liệu của mình những gene ứng viên hoặc tự so sánh các đoạn gene ngắn của mình có cái gì mới so với các gene mà quốc tế đã công bố hay không. Mình vẫn còn làm ở mức cơ bản thôi, chưa thể nâng cao tìm ra cái gì đó mới, hoặc nếu tìm ra cái mới thì mình cũng chưa thể chắc chắn là mới vì không biết cách xử lý của mình có chính xác hay không. Do đó, mình vẫn chưa thể khai thác hết được cơ sở dữ liệu của mình”.  Rất may cho Khoa và với cả các nhà nghiên cứu trẻ của AGI là họ có thể áp dụng điều mới học hỏi này vào một dự án nhỏ, “Phát triển phương pháp chọn giống phân tử kết hợp với lai trở lại (MABC) để quy tụ các gene chịu ngập yếm khí ở giai đoạn nảy mầm, nhằm tăng năng suất lúa trong hệ thống canh tác gieo sạ” – dự án nằm trong hạng mục nâng cao năng lực của các tổ chức khoa học do Dự án FIRST (Bộ KH&CN) tài trợ cho AGI, giai đoạn năm 2017 – 2019.  Với dự án do FIRST tài trợ, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu ứng dụng tìm ra nhiều gene mới để tự tích hợp nhiều gene vào một giống lúa. “Trước đây chưa từng áp dụng việc tích hợp nhiều gene vì mình không biết chắc là trong giống bản địa của mình có gene đó. Bây giờ do đã giải mã hệ gene thì mới biết là giống lúa này có gene đó tồn tại”, chị Hà giải thích.  Do mới khảo nghiệm được một vụ nên cả nhóm nghiên cứu đều cảm thấy chưa chắc chắn với kết quả công việc. “Cái chính là mình đã bắt đầu tận dụng các cơ hội có thể để ứng dụng những gì học hỏi được từ dự án. Nhưng để khai thác một cách hiệu quả và lâu dài những điều mình có, cần phải có những dự án dài hơi, đi kèm với những đầu tư tiếp theo về cả kinh phí lẫn nguồn nhân lực”, PGS. TS Khuất Hữu Trung nhận định.  Với các nhà nghiên cứu AGI, trình tự hệ gene các dòng/giống lúa bản địa sẽ là nền tảng cho các phân tích và chú giải như xác định từng gene, tìm hiểu cấu trúc gene, phân loại các gene chức năng quy định tính trạng của từng giống lúa và sự tương tác giữa các gene với nhau cũng như tương tác với các điều kiện môi trường, canh tác…và mở ra cơ hội tạo ra giống lúa kháng bạc lá, kháng rầy nâu, chịu hạn…, theo PGS. TS Khuất Hữu Trung.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/du-an-giai-ma-600-giong-lua-viet-nam-moi-chi-la-buoc-khoi-dau/2019053003394289p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án không gian mới của Trung Quốc có thể quan sát sự sáp nhập lỗ đen và bùng nổ mặt trời      Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc (CAS) mới đây đã thông báo, sau thành công của 4 vệ tinh pha 1, trong đó có một vệ tinh phục vụ nghiên cứu thiên văn học tia X, một vệ tinh nghiên cứu rối lượng tử ở khoảng cách trên 1200km, bắt đầu từ năm 2020 sẽ lắp đặt 4 vệ tinh mới thuộc pha 2 của các dự án này. Mục tiêu của giai đoạn này là khảo sát các lĩnh vực vật lý mặt trời và săn tìm các tín hiệu điện từ liên quan với sóng hấp dẫn.      Đài quan sát Tử Kim Sơn. Nguồn:  timely-629f1213b7  Mới chỉ bắt đầu 10 năm trước, chương trình khoa học không gian của Trung Quốc đã đạt được kỷ lục về truyền thông lượng tử đường dài “rất ấn tượng nhưng một quốc gia lớn với một cộng đồng khoa học lớn vẫn cần thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khoa học không gian khác”, Xin Wu – một nhà vật lý gốc Trung Quốc đang làm việc tại trường đại học Geneva, Thụy Sỹ và đang hợp tác nghiên cứu về vật lý thiên văn với Trung Quốc. “Đây là một yêu cầu đầy dồn nén” với các nhà khoa học Trung Quốc, ông nói.  CAS đã phá vỡ truyền thống này bằng một trong số các nhiệm vụ mới, Thiết bị giám sát vũ trụ đối xứng điện từ năng lượng cao sóng hấp dẫn (GECAM). Với sự đề xuất của Xiong Shaolin – nhà vật lý thiên văn tại Viện nghiên cứu Vật lý năng lượng cao (CAS) tại Bắc Kinh, dự án này được lựa chọn đầu tư rất nhanh chóng để Trung Quốc có thể kịp thời nắm bắt lấy cơ hội khoa học mới ngay sau khi Đài Quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế Laser Mỹ (LIGO) thông báo cuộc dò tìm sóng hấp dẫn lịch sử vào tháng 2/2016. Họ đề xuất đặt hai vệ tinh vào quỹ đạo ở hai phía đối diện Trái đất để cùng quan sát trên toàn bộ bầu trời các tia gamma phát ra từ những sự kiện vốn tạo ra sóng hấp dẫn. Mới được cấp kinh phí cho những nghiên cứu công nghệ vài tháng trước nhưng nhiệm vụ này đã được cấp tập thực hiện để kịp thời hạn 2020. “Khi anh có một cơ hội nghiên cứu dạng này, anh không thể coi nó như một nhiệm vụ thông thường với việc lựa chọn và xét duyệt mất 10 đến 20 năm được”, Xiong cho biết.  Không chỉ dò được các tia gamma và những tín hiệu điện từ khác từ một nguồn sóng hấp dẫn, sự sáp nhập của ngôi sao neutron, thiết bị quan sát này mà còn đem lại những thông tin chi tiết về sự kiện bí ẩn này. Các nhà vật lý thiên văn vẫn còn tranh cãi là liệu các vụ sáp nhập lỗ đen có tạo ra phát xạ điện từ hay không (các nguồn phát khác đều đã được xác nhận là nguồn phát sóng hấp dẫn). Nhóm nghiên cứu GECAM đang đánh cuộc là nó có – và có thể nghiên cứu được nhiều từ các tín hiệu này. “Tôi nghĩ có thể chúng ta sẽ tìm được cái gì đó”, Xiong dự đoán.  Các quan sát của GECAM sẽ được bổ sung thêm thông tin từ Thí nghiệm Einstein (EP) – một nhiệm vụ pha 2 nhằm khảo sát bầu trời cho những tia X năng lượng thấp kết hợp với những hiện tượng dữ dội như các vụ bùng phát tia gamma và các vụ sáp nhập lỗ đen. Việc kết hợp các thí nghiệm GECAM, EP và những quan sát sóng hấp dẫn “sẽ cho phép chúng ta có được những hiểu biết tốt hơn về bùng phát tia gamma”, Ik Siong Heng – nhà vật lý thiên văn ở trường đại học Glasgow, Scotland, cho biết.  Các nhà khoa học vũ trụ Trung quốc cũng hướng mục tiêu đến lĩnh vực khác: vật lý mặt trời. Hiện nay chỉ có Mỹ mới xuất bản được bài báo trong lĩnh vực này hơn họ. “Nhưng các bài báo của Trung quốc sử dụng dữ liệu từ các nhiệm vụ do Nhật Bản và Mỹ và một số quốc gia khác thực hiện”, Gan Weiqun – một nhà vật lý mặt trời tại Đài Quan sát Tử Kim Sơn (CAS)  ở Nam Kinh nhận xét. Ông cũng cho biết thêm là các nhà nghiên cứu Trung quốc trong lĩnh vực này đã được thúc đẩy nghiên cứu thông qua nhiệm vụ trong 40 năm qua; cuối cùng họ cũng được đầu tư kinh phí cho Đài quan sát Mặt trời tiên tiến (ASO-S). “Điều này rất quan trọng để chúng tôi có thể đem đến những đóng góp về phần cứng và dữ liệu của chính mình”, Gan nói và giải thích, ASO-S sẽ là đài quan sát vũ trụ đầu tiên có thể giám sát từ trường của mặt trời trong khi quan sát những ánh sáng lóe ra từ mặt trời và các vụ nổ lớn mà người ta vẫn gọi là các vụ phun trào vật chất vùng nhật hoa (coronal mass ejections). Các quan sát đồng thời có thể cung cấp manh mối để các nhà khoa học giải thích được các phun trào này được “khai hỏa” như thế nào.  Nhiệm vụ cuối cùng đã được đưa vào danh sách ưu tiên nhiều năm trước đây: Khám phá sự liên kết tầng điện ly từ quyển gió mặt trời (SMILE), một dự án do CAS thực hiện cùng Cơ quan Vũ trụ châu Âu (European Space Agency) sẽ mở đường cho một kỹ thuật mới về hình ảnh từ quyển trái đất. Những vệ tinh trước đây đã có được các phép đo khi băng qua vùng từ quyển này. Nhưng mới đây các nhà khoa học đã nghiên cứu được các vụ va chạm giữa các hạt của gió mặt trời và các hạt phân tán trôi nổi trong bầu khí quyển trái đất cũng tạo ra các tia X năng lượng thấp và phát sáng trong từ quyển. Bằng việc quan sát các tia X này, SMILE sẽ “bắt” được trạng thái động lực của chúng.  Thông báo vào tuần trước cũng cho thấy chương trình khoa học không gian của Trung Quốc không chỉ có 4 dự án này. Ngân sách 4 tỷ nhân dân tệ (tương đương 605 triệu USD) còn đầu tư cho các dự án tương lai khác, trong đó có Đo phân cực và định thời gian tia X, một dự án quốc tế nhiều tham vọng do các nhà khoa học trung quốc phụ trách, nghiên cứu về các lỗ đen, sao neutron, sao từ.  Khám phá hành tinh và các chương trình du hành vũ trụ sẽ tiếp tục làm nên lịch sử, dự kiến cuối năm nay hoặc đầu năm sau sẽ là kế hoạch lần đầu hạ cánh xuống phần xa của mặt trăng. Có thể nói, tương lai của những nỗ lực về khoa học không gian của Trung Quốc dường như đã được đảm bảo.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/07/new-china-space-missions-will-watch-colliding-black-holes-solar-blasts    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án kính thiên văn JWST của NASA: Tham vọng kỳ vĩ, rủi ro khôn lường      Nó buộc phải vận hành thành công – vì người ta chẳng có phương án B nào khác. Chiếc kính viễn vọng James Webb Space Telescope (JWST) của NASA, dự kiến sẽ được phóng lên không gian vào năm 2014, sẽ thay thế cho kính viễn vọng không gian Hubble và sẽ là chìa khóa giải đáp cho mọi câu hỏi lớn mà các nhà thiên văn hi vọng sẽ trả lời được trong các thập kỷ tới.      Khả năng được hứa hẹn của nó về nhìn xuyên qua không gian, thời gian, để thấu tỏ sự hình thành các thiên hà đầu tiên, khiến cho chiếc kính viễn vọng này trở thành ưu tiên hàng đầu trong bản trưng cầu ý kiến năm 2001 của ngành thiên văn học và vật lý thiên văn – bản trưng cầu định kỳ này được cộng đồng thiên văn học Mỹ xây dựng 10 năm một lần. Và tới nay, sự trông đợi còn cao hơn. Nếu không có JWST, những mục tiêu khoa học được xây dựng căn cứ trên bản trưng cầu của thập kỷ sắp tới (vừa được công bố hồi tháng 8 năm 2010) sẽ không thể thành hiện thực.   “Chúng tôi nghiễm nhiên giả định rằng JWST sẽ được phóng lên và sẽ là một thành công lớn”,  Michael Turner, nhà vũ trụ học từ Đại học Chicago, Illinois, đồng thời là thành viên hội đồng xây dựng 2 bản trưng cầu thập kỷ gần đây, cho biết. “Mọi mục tiêu đều được xây dựng dựa trên điều kiện này”. Vì vậy nên các nhà thiên văn có lý do để lo lắng: rủi ro sắp tới đây thật quá lớn. Thấu kính chính của JWST sẽ có đường kính dài 6,5 m, gần gấp 3 lần bán kính của Hubble, và sẽ là chiếc kính thiên văn lớn nhất từng được phóng vào không gian. Chiếc kính này sẽ được xây dựng dựa trên một loạt các công nghệ chưa từng được thử nghiệm, từ các thiết bị nhận biết ánh sáng tân tiến nhất, tới hệ thống làm mát với nhiệm vụ luôn duy trì chiếc kính dưới 50 độ Kelvin. Chiếc kính sẽ buộc phải hoạt động hoàn hảo ngay từ lần thử nghiệm đầu tiên khi đang ở cách Trái đất 1,5 triệu km – 4 lần xa hơn Mặt trăng, và nằm ngoài tầm với của bất kỳ nhiệm vụ sửa chữa nào. Nếu chẳng may JWST – được đặt tên theo nhà quản lý người từng dẫn dắt NASA thành công các nhiệm vụ Apollo – thất bại, thì sự phát triển của thiên văn học sẽ bị kéo lùi lại cả một thế hệ.              Tương quan kích thước giữa gương của JWST và gương của Hubble          Tới nay, quan điểm của các nhà thiên văn về JWST vẫn chưa thực sự thống nhất. Để đáp ứng chi phí chế tạo lên tới 5 tỷ USD, JWST đã ngốn hết nguồn lực có thể dành cho các dự án quan trọng khác, khiến các dự án này không thể được phát triển đúng nghĩa cho tới khi có nguồn kinh phí mới. Những nhiệm vụ như chế tạo Kính Viễn vọng Điều tra Hồng ngoại Diện rộng, được thiết kế để nghiên cứu vật chất tối trong vũ trụ– một trong số các mục tiêu ưu tiên hàng đầu được đặt ra trong bản trưng cầu thập kỷ gần đây nhất, sẽ phải trì hoãn lại cho tới khi JWST được phóng lên. “Cho tới khi đó, chúng ta sẽ không được đầu tư gì nhiều nhặn” cho các nhiệm vụ khác, nhận định từ Jon Morse, giám đốc của bộ phận vật lý thiên văn của NASA. Trong khi đó, tất cả mọi kính viễn vọng đang hoạt động hiện nay của NASA và Cơ quan Không gian Châu Âu sẽ hết tuổi hoạt động trong ít năm tới. Điều tệ hơn nữa là dự toán chi phí chế tạo JWST liên tục gia tăng. Trong năm 2009, NASA phải tăng dự toán thêm 95 triệu USD. Năm 2010, nó lại dự toán tăng thêm 20 triệu USD nữa. Và cho năm 2011, nó đòi hỏi thêm 60 triệu USD – và người ta đồn đại là chi phí thực tế sẽ còn tiếp tục tăng nhiều nữa.  Phản ứng lại những đòi hỏi liên tục tăng này đối với ngân sách, Thượng Nghị sĩ Barbara Mikulski (của Đảng Dân chủ từ bang Maryland), Chủ tịch Ủy ban phụ trách ngân sách dành cho NASA của Chính phủ, hồi tháng 6 đã yêu cầu thành lập một Ủy ban độc lập để điều tra nguyên nhân khiến chi phí chế tạo JWST liên tục tăng và tiến độ hay bị trì hoãn, nhằm tìm ra phương án giải quyết. “Chế tạo JWST là một thách thức công nghệ hấp dẫn”, Mikulski nói. “Nhưng chúng ta không được phép để vượt dự toán”.   John Casani, Chủ tịch Ủy ban điều tra theo yêu cầu của Mikulski, đồng thời là giám đốc các dự án Voyager, Galileo, và Cassini của NASA, nhấn mạnh rằng Ủy ban sẽ chỉ đưa ra các đề xuất chứ không phải quyết định. NASA sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, và dự kiến sẽ công bố một kế hoạch chi ngân sách mới căn cứ theo các đề xuất của Ủy ban điều tra dự kiến được công bố vào 2/11.  Tuy nhiên, trong việc tìm kiếm các giải pháp giải quyết những vấn đề của JWST, Casani khẳng định rằng “tất cả đều có thể được cân nhắc” – bao gồm việc đình chỉ chế tạo thiết bị, hoặc hạ chỉ tiêu chương trình.    Cơ hội cho Goldin  Khái niệm đầu tiên về một kính thiên văn thay thế cho Hubble đã bắt đầu xuất hiện từ năm 1989, khi vẫn còn cách một năm cho tới khi Hubble được phóng lên không gian. Các nhà thiên văn khi đó đã biết rằng Hubble chưa đủ khả năng nhìn xa để có thể soi chiếu lại thời kỳ “bình minh của vũ trụ”, tức là khoảng 500 triệu năm sau Big Bang, khi các vì sao đầu tiên và các thiên hà hình thành. Vì vậy, nhu cầu chế tạo một kính thiên văn dành cho thế hệ sau nhằm hoàn tất nhiệm vụ còn dang dở là điều dễ hiểu.   Vào năm 1993, NASA yêu cầu một hội đồng các nhà thiên văn, đứng đầu là Alan Dressler của đài thiên văn Carnegie Observatories tại Pasadena, California, về việc xác định rõ các yều cầu cần thiết để chế tạo một kính thiên văn như vậy. Gương của kính thiên văn mới sẽ phải đủ lớn để thu được ánh sáng mờ tối từ các thiên hà khởi nguồn đầu tiên. Vì vậy, hội đồng đã đề xuất rằng tấm gương chính phải có đường kính tối thiểu là 4 m.    Chiếc kính thiên văn cần phải được giữ lạnh, vì bất cứ nhiệt độ nào lớn hơn 50 độ Kelvin cũng sẽ khiến bức xạ hồng ngoại từ thiết bị làm xóa đi những photon yếu ớt mà các nhà thiên văn đang cần tìm kiếm. “Đây là mấu chốt khoa học cơ bản khiến người ta phải chế ra chiếc kính này”, Dressler cho biết.           Mô hình kính thiên văn JWST bằng kích cỡ thật tại NASA           Thêm vào đó, thiết bị cần phải được vận hành khoảng cách xa đối với Trái đất. Dưới bức xạ hồng ngoại, hành tinh của chúng ta sẽ sáng chói như một bóng đèn, gây ảnh hưởng tới tầm nhìn của thiết bị. Vì vậy hội đồng đề xuất rằng chiếc kính được đặt ở vị trí cách quỹ đạo Trái đất 1,5 triệu km, tại điểm Lagrange thứ 2 (L2), nơi lực hấp dẫn từ Mặt trời và Trái đất tạo ra trạng thái cân bằng. Các thiết bị nằm trên đường L2 cũng cần phải nằm trong bóng râm của Trái đất để có thể dễ làm mát hơn.   Tới tháng 12 năm 1995, Dressler làm báo cáo vắn tắt về các đề xuất lên giám đốc của NASA khi đó là Daniel Goldin. Goldin vô cùng quan tâm. Ông ta lúc này đang gây ảnh hưởng lên toàn bộ các chương trình của NASA nhằm xây dựng một chiến lược “nhanh hơn, tốt hơn, rẻ hơn” để thực hiện các nhiệm vụ đạt kết quả cao hơn và với chi phí thấp hơn. Lấy kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon và các dự án không gian trước đây – trong đó các đơn vị nhỏ trong một tổ chức lớn chủ động tìm kiếm các cải cách  — Goldin thúc đẩy việc thu nhỏ các thiết bị lớn, tăng các bộ phận cơ động, tăng tính trực tiếp điều hành của cơ cấu tổ chức, và liên tục thúc đẩy vươn xa các mục tiêu cho từng nhiệm vụ. Báo cáo của Dressler là cơ hội hoàn hảo để Goldin thử nghiệm phương pháp làm việc của mình.  Thay vì chế tạo một kính thiên văn có đường kính 4 m, vì sao không tạo ra một kính thiên văn có thấu kính chính với đường kính 6-8 m, Goldin đặt câu hỏi. Một số công nghệ mới có thể được tận dụng: NASA khi đó đang phát triển kính thiên văn hồng ngoại Spitzer Space Telescope với đường kính của gương là 0,85 m, làm từ beryllium, một loại kim loại đặc biệt có khả năng ăn mòn da tay ngay khi chạm vào, nhưng rất nhẹ và có thể duy trì hình dạng khi thời tiết thay đổi khắc nghiệt. Cải tiến này và các cải tiến khác sẽ cho phép chế tạo cho JWST một tấm gương khổng lồ với chi phí thấp hơn. Như Goldin từng nói trong bài diễn văn: “Hãy quên thủy tinh đi. Thủy tinh chỉ dành cho kính thiên văn trên mặt đất”.   Một số nhà thiên văn đã bày tỏ sự nghi ngại về chi phí dự kiến ban đầu của nhiệm vụ tham vọng này, khoảng 500 triệu USD tới 1 tỷ USD. Nhưng vào lúc đầu, các phương pháp và kế hoạch của Goldin có vẻ khả thi: các nhiệm vụ ban đầu theo sự chỉ đạo của Goldin đều thành công rực rỡ. Trong đó phải kể đến nhiệm vụ Mars Pathfinder năm 1997, đưa xe tự hành Sojourner lên Sao Hỏa, và nhiệm vụ Lunar Prospector năm 1998, mà gần đây giúp tìm thấy nước đá trên Mặt trăng. Tuy nhiên, tới năm 1999, NASA gặp thất bại thảm họa với kính thiên văn Wide-Field Infrared Explorer, và thất bại với các nhiệm vụ Mars Climate Orbiter và Mars Polar Lander. Những thất bại này làm giảm uy tín của NASA và nhắc nhở mọi người rằng “nhanh hơn, tốt hơn, rẻ hơn” cũng đồng nghĩa với rủi ro cao hơn. Tới 2001, năm cuối nhiệm kỳ của Goldin, NASA đã bắt đầu trở về chiến lược phát triển truyền thống, ít rủi ro, chi phí rất cao với vô vàn các thử nghiệm và đánh giá.   Sự thay đổi chiến lược này khiến chi phí chế tạo JWST vượt xa con số 1 tỷ USD. Đường kính của gương đã phải giảm từ 8 m xuống 6,5 m để giảm chi phí. Đồng thời, trong khi NASA triển khai nhiều nghiên cứu tìm cách khắc phục hạn chế kỹ thuật do việc cắt giảm này và các nghiên cứu tìm cách làm tăng độ bền vững trong thiết kế của chiếc kính, một yếu tố tiêu cực mới xuất hiện: có quá nhiều quan điểm khoa học đổ dồn vào nhau.    Điều này xảy ra đối với mọi nhiệm vụ quan trọng, nhận xét từ Peter Stockman, cựu trưởng văn phòng của nhiệm vụ JWST tại Viện Khoa học Kính Thiên văn ở Baltimore, tại Maryland. “Mọi người đều muốn tham gia như thể đây là cơ hội đóng góp cuối cùng trong đời làm khoa học của mình”. Vậy nên trong giai đoạn thập kỷ 1990, khi thiết kế trong quá trình hoàn thiện, dự kiến ngân sách của NASA phải dành cho dự án cứ tăng đều đặn vài phần trăm một năm.   Ngân sách quá tải  Với mỗi thay đổi trong thiết kế JWST, mục tiêu khoa học của nó lại mở rộng thêm. Thiết kế cơ bản của nó sẽ bao gồm một camera hồng ngoại quay diện rộng (NIRCam); máy ghi phổ cận hồng ngoại đa đối tượng (multi-object near-infrared spectrograph – NIRSpec) chủ yếu để khám phá các vì sao và thiên hà cổ xưa nhất; một camera đa năng hồng ngoại tầm trung và một máy ghi phổ nhằm quan sát các đối tượng bị bụi che trong Dải Ngân hà; và một cảm biến định hướng cùng màng lọc điều chỉnh được để hỗ trợ ba thiết bị kia.   Những thiết bị này đòi hỏi chi phí cao, và cần dùng những công nghệ chưa được chứng minh. Các thiết bị này cần đến các công cụ dò hồng ngoại lớn ngoại cỡ, có độ ổn định rất cao. Một lớp màng chống nắng dày 5 lớp cần phải được bọc xung quanh thiết bị trước khi được phóng lên, sau đó sẽ giúp làm lạnh cho thiết bị. Khi trải ra, mỗi lớp màng rộng tương đương một sân tennis. Chiếc gương cơ bản, hiện quá lớn để gá vào tên lửa, sẽ phải được ghép vào từ 18 miếng 6 cạnh có thể điều chỉnh được, và cũng sẽ được mở ra tại quỹ đạo. Mỗi miếng đều được chế tạo chính xác tỉ mỉ từ beryllium, sau đó được tráng vàng và đánh bóng. Một chuỗi các thiết bị điện cơ gọi là microshutter sẽ cho phép máy NIRSpec ghi phổ của 100 đối tượng cùng một lúc, cho dù đó có thể là các đối tượng rất mờ và nằm ngay cạnh một ngôi sao khác sáng hơn. Mỗi thiết bị microshutter có độ dày chỉ bằng vài sợi tóc người, và NIRSpec sẽ cần đến hơn 62.000 thiết bị như vậy.          Các cấu phần được thiết kế để JWST đáp ứng được nhiều mục tiêu          Bên cạnh đó, mọi mảnh linh kiện trong thiết bị đều phải được chế tạo sao cho chịu được lực rung rất mạnh từ đợt phóng lên không trung, tồn tại được trong chân không, và chịu được quá trình hạ nhiệt độ xuống cực lạnh. Bề mặt quang học của chiếc kính thiên văn sẽ phải tồn tại trong suốt hành trình, và vẫn phải gắn chặt cố định chính xác tới hàng nanomet. Tất cả mọi thứ sẽ phải vận hành hoàn hảo trong tối thiểu là 5 năm, kịch bản cơ bản của nhiệm vụ.  Kỳ quan mới này của NASA tiêu tốn tới gần 2 tỷ USD chỉ mới trong giai đoạn phát triển công nghệ ban đầu. Tuy nhiên, cơ quan đã không cắt giảm quá nhiều các chỉ tiêu kỹ thuật nhằm giảm chi phí. Thay vào đó, NASA tìm các đối tác, kêu gọi đóng góp từ các cơ quan không gian của châu Âu và Canada. NASA cũng tối đa hóa sự ủng hộ từ Quốc hội Mỹ bằng cách giao thầu hợp đồng sản xuất các cấu phần thiết bị cho những công ty và trường học rải rác khắp các hạt cử tri. Tập đoàn không gian khổng lồ Northrop Grumman của Los Angeles, bang California, trở thành nhà thầu lớn nhất của JWST dưới giám sát của Trung tâm Goddard Space Flight Center thuộc NASA tại Greenbelt, Maryland, nơi quản lý toàn bộ dự án.  Tới khi JWST được thông qua thiết kế cơ sở vào mùa xuân năm 2008, và NASA chính thức cam kết đầu tư chế tạo, dự án đã được chuyển từ mô hình “nhanh hơn, tốt hơn, rẻ hơn” ban đầu thành một dự án khổng lồ quy mô vài tỷ USD, có nhiều thiết bị cấu phần tham gia của nhiều tổ chức, quốc gia, và lục địa.  Vượt qua kỳ thẩm định  Từ gần một năm nay, mô hình cơ khí các cấu phần của JWST nằm trong các thử nghiệm kiểm tra tại tòa nhà 29, trung tâm Goddard. Dự kiến tới mùa xuân và hè 2011, các mảnh tàu vũ trụ cũng sẽ được nhập vào các phòng thử nghiệm này. Tới nay tất cả mọi công nghệ mới mẻ nhất liên quan tới JWST đều đã vượt qua được kỳ thẩm định và dự kiến sẽ sẵn sàng cho đợt phóng năm 2014.   Thử thách đáng kể nhất trước đợt phóng là việc gắn kết và thẩm định các cấu phần của thiết bị nhằm đảm bảo chúng hoạt động được trong một thể thống nhất – và tất nhiên là làm sao để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật mà không để vượt dự toán chi phí còn lại. Phương châm truyền thống của NASA là “hãy thẩm định như thể chính bạn đang bay cùng thiết bị” – nhằm đảm bảo con tàu và các thiết bị được thử nghiệm trong môi trường gần gũi nhất với điều kiện thật ngoài không gian. Vấn đề là một khi lắp ghép đầy đủ, chiếc kính thiên văn sẽ quá lớn để có thể đưa lọt vào bất kỳ lồng chân không hiện có nào. Cũng tương tự như việc đáp ứng JWST đòi hỏi phát triển các công nghệ mới, các nhà hoạch định dự án cũng phải xây dựng ra những quy trình thẩm định hoàn toàn mới.   “Đối với JWST chúng tôi phải xây dựng từng bước mô hình hóa, chế tạo, và thử nghiệm, kiểm tra đánh giá mô hình ở từng bước và chuyển tiếp lên bước lắp đặt cao hơn”, Phil Sabelhaus, trưởng dự án JWST tại Goddard cho biết. “Chúng tôi không chỉ kiểm tra – chúng tôi còn phải chứng minh khả năng lập mô hình chính xác, để đảm bảo là chúng tôi luôn đánh giá rõ sự vận hành của JWST trên quỹ đạo”. Quy trình lắp đặt, kiểm tra, mô hình hóa này đòi hỏi nhiều công sức và thời gian, như là chúng tôi đang chế tạo vài chiếc kính thiên văn cùng một lúc, và đây chính là nguyên nhân chính gây tăng chi phí cho phần việc còn lại của dự án JWST. Vậy nên, dễ thấy rằng đây cũng là đối tượng được người ta xem xét điều chỉnh để giảm chi phí.          Những chiếc gương của JWST phải vượt qua kỳ kiểm định khả năng hoạt động trong điều kiện cực lạnh, tới dưới -248 độ C          “Có những cuộc thử nghiệm thực sự cần phải tiến hành, và có những cuộc thử nghiệm nếu làm thì sẽ tốt hơn”, Dressler nói. “Với những dự án quy mô thế này, người ta có xu hướng kiểm tra lại 1 lần hoặc 2 lần, và có thể chúng ta không có đủ kinh phí để làm như vậy.” Mặt khác, ông nói, cũng có thể chúng ta không thể mạo hiểm mà không làm như vậy: chính một quyết định được đưa ra nhằm cắt giảm chi phí thử nghiệm đã cho phép tồn tại một sai lệch trên tấm gương chính của Hubble, chỉ được phát hiện ra khi thiết bị đã ở trên quỹ đạo, và suýt nữa đã làm phá sản toàn bộ dự án.    Những người ủng hộ dự án JWST cảm thấy chấp nhận được đối với việc chi cho dự án có thể sẽ tiếp tục phải vượt dự toán, vì cho dù như vậy thì đây vẫn sẽ là dự án chế tạo kính thiên văn hiệu quả nhất trong lịch sử. “Chưa tính đến bốn chuyến bay bảo trì sửa chữa cho Hubble thì chi phí chế tạo và phóng Hubble vào không gian đã vào khoảng 4-5 tỷ USD tính theo giá trị đồng tiền hiện nay”, Dressler lưu ý. “Nay chúng ta chế tạo một kính thiên văn mới lớn hơn thế gần 7 lần, hoạt động trong điều kiện cực lạnh, vận hành cách xa 1,5 triệu km, vậy mà chi phí chỉ xấp xỉ Hubble nếu không nói là ít hơn. Điều này thật đáng kể, và đây có lẽ là dự án làm kính thiên văn có quy mô lớn nhất mà chúng ta dám cân nhắc tiến hành ở đất nước này.”    Cho dù như vậy, những quan điểm bất đồng vẫn tồn tại xung quanh JWST. Thất bại là điều không thể chấp nhận được, đối với NASA cũng như với giới thiên văn. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách không tăng hay thậm chí đang bị cắt giảm, các nhiệm vụ vật lý thiên văn khác đang tới kỳ mãn hạn, và công chúng ngày càng bất mãn, cho rằng Chính phủ đang không kiểm soát nổi chi ngân sách, thì những câu hỏi thách đố là không tránh khỏi. Trong một cuộc họp trung tuần tháng 9 của Ủy ban vật lý thiên văn ở NASA, các nỗ lực nhằm xác định chính xác số tiền cần phải tiêu từ này tới lúc JWST tới đích tại L2 không đưa đến kết quả nào khác ngoài sự im lặng. Cho tới khi Ủy ban này được nghe công bố về ngân sách và lịch trình mới, có lẽ sẽ chẳng ai nhận được câu trả lời nào tốt hơn.                 (Lee Billings, Nature News)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án Laptop 100 USD dành cho học sinh các nước thế giới thứ ba      Màn hình có độ phân giải cao, tiêu thụ năng lượng điện rất thấp, có khả năng hòa mạng thuận lợi: cho đến lúc này Laptop 100 USD vẫn đang ở giai đoạn dự án tuy nhiên đầy triển vọng. SPIEGEL ONLINE giới thiệu về loại máy tính học sinh từng gây nhiều tranh cãi này.    Alan Kay (người Mỹ) là “cụ tổ”  về computer, ông là người đầu tiên có ý tưởng sản xuất “Dynabook”,  một loại computer giành cho trẻ em, ngay từ những năm 1970. Mong muốn của ông là loại máy tính này phải đơn giản đến mức đứa trẻ lên sáu cũng có thể xử dụng được và thậm chí còn có thể tự tạo phần mềm. Tuy nhiên ý tưởng này vào thời điểm đó chưa thể thực hiện được.  Dưới sự lãnh đạo của Nicholas Negroponte, người đồng sáng lập MIT-Media-Lab, ý tưởng về một Dynabook đang trở nên hiện thực dưới dạng Laptop 100 USD trong khuôn khổ dự án One-Laptop-Per-Child-Projekts (OLPC).  Theo kế hoạch thông qua OLPC các nước đang phát triển sẽ có hàng triệu Laptop để hiện đại hóa nền giáo dục của mình. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại Laptop 100 USD vẫn còn đang ở giai đoạn tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện. Giai đoạn sản xuất với số lượng lớn sẽ được thực hiện trong vòng dăm ba tháng nữa. Tham gia dự án này là các nhà công nghệ, các kỹ sư, các nhà lập trình và chuyên gia đồ họa trên khắp thế giới trong đó có kỹ sư phần mềm người Đức là Bert Freudenberg.            Kỹ sư phần mềm Bert Freudenberg giới thiệu về dự án Laptop 100 USD          Kỹ sư Freudenberg rất hồ hởi mỗi khi nói đến Laptop 100 USD: “Khi được tận dụng hết cỡ máy chỉ cần không quá 3 Watt, nghĩa là chỉ tương đương số năng lượng mà một Notebook bình thường cần có ở chế độ nghỉ (Standby)”.  Freudenberg giải thích tại sao loại Laptop này chỉ được có giá không quá 100 USD: “Mỗi học sinh ở các nước đang phát triển mỗi năm chi không quá 20 USD để mua sách giáo khoa. Tuổi thọ của OLPC dự tính là 5 năm. Để người ta chấp nhận mua máy thay thế cho sách giáo khoa thì máy không được có giá cao hơn số tiền mà các bậc cha mẹ bỏ ra để mua sách cho con cái trong vòng 5 năm”.  Cho đến thời điểm này giá thành một máy còn cao hơn nhiều so với chỉ tiêu phấn đấu. Theo tính toán hiện tại giá một computer vẫn  còn cao, khoảng 176 đôla một chiếc. Tuy nhiên khi sản xuất với số lượng lớn thì giá sẽ rẻ hơn. Theo ước tính trước mắt cần có khoảng 5 triệu chiếc. Hiện tại kỹ sư Freudenberg đang tiến hành khảo sát 2000 OLPC ở giai đoạn hai. Nhiều chiếc đã bị hư hỏng khi thử về khả năng chịu va đập và rơi. Freudenberg nói: “Trẻ em thường không cẩn thận vì thế loại laptop mà chúng xử dụng phải thuộc diện “nồi đồng cối đá”.  Từ những kết quả thu được của vòng khảo nghiệm thứ hai người ta tiến hành vòng khảo nghiệm thứ ba. Ở vòng này những chi tiết được sản xuất bằng nhựa, kể cả ăng-ten, tới đây sẽ thay thế bằng cao su để hạn chế vỡ, gẫy khi va đập hoặc rơi.           Nhà tài trợ Nicholas Negroponte và cựu tổng thư ký LHQ  Kofi Annan: Loại  Mini-Laptop sẽ giúp trẻ em bị thiệt thòi các nước thế giới thứ ba tiếp cận nhanh hơn với xã hội thông tin        Đối với màn hình của Laptop học sinh ông Freudenberg giải thích: “Người ta đã viết nhiều điều không đúng về Display. Màn hình này cỡ 1200 x 900 Pixeln và có độ phân giải là 200 chấm trên một  Zoll (dpi). Để so sánh: loại Notebook-tiêu chuẩn màn hình có độ phân giải cao ít khi cao hơn 110 đến 120 dpi.  Khác với màn hình máy tính thông thường, loại màn hình máy tính của học sinh, khi ngồi ngoài trời và bị ánh sáng trời chiếu trực tiếp người sử dụng vẫn có thể đọc dễ dàng.    Vấn đề cung cấp năng lượng phù hợp với  điều kiện các nước đang phát triển cũng đã được giải quyết. Ở những máy thử nghiệm đầu tiên học sinh tự quay một trục quay để nạp điện vào bình ắc-quy, đây là một ý tưởng hay, nhưng trục quay này lại quá nhạy cảm, dễ bị gẫy, vỡ. Kỹ sư Freudenberg kể: “Khi ông Negroponte trình diễn chiếc máy đầu tiên với Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan, trục quay đã bị gẫy”.  Để khắc phục tình trạng này người ta đã thực hiện một giải pháp khác, thay thế cho quay trục học sinh chỉ cần kéo đi kéo lại  một sợi dây đấu với thiết bị kiểu Jojo và từ đó tạo ra năng lượng điện  để tích vào bình ắc- quy.  Kỹ sư  Freudenberg nói: “Chúng tôi đang phấn đấu để đạt tỷ lệ 1/10, nghĩa là kéo trong một phút thì đủ điện để hoạt động mười phút”. Cạnh đó còn có một trạm điện mặt trời. Trạm này đặt tại trường và mỗi lần có thể nạp điện cho mười Laptop cùng một lúc.  Việc nối mạng cũng được xử lý rất khôn ngoan. Ở loại Laptop thông thường ăng- ten W-Lan nằm gọn trong hộp máy nhưng ở máy tính OLPC ăng ten này có thể kéo ra vì thế ở điều kiện ngoài trời máy đạt tầm xa tới 2 km còn trong điều kiện thông thường, nơi có các công trình xây dựng, tầm xa đạt trên dưới 100 mét. Điều quan trọng là nhờ hệ thống – Mesh các Laptop có thể tự động kết nối với nhau khi chúng gần nhau. Chính nhờ đặc điểm này các học sinh có thể cùng chơi, cùng xử lý ảnh  hoặc cùng làm một bài tập với nhau.   Chính nhờ có Mesh nên các Laptop trong mạng có thể vào mạng Internet. Để làm được điều này chỉ cần nhà trường có một Server online.  Đối với phần mềm dự án này dựa vào Open Source, nghĩa là các chương trình mà bất kỳ ai cũng có thể xử dụng và biến cải được. Thí dụ Webbrowser của Laptop dựa trên cơ sở Firefox và chương trình soạn thảo văn bản Abiword. Các em học sinh cũng sẽ rất hứng thú với chương trình âm nhạc “TamTam”.  Bản thân Freudenberg thì đặc biệt tâm đắc với  Etoys, một phần mềm mà qua đó các em học sinh có thể kết nối các phương tiện khác nhau thành một khối. Nhờ đó các em học sinh thậm chí có thể tự dựng nên những tiểu phẩm hoạt hình ngắn. Xét cho cùng với phần mềm Etoys các em học sinh có thể tự biến cải phần mềm điều mà Alan Kays đã đặt thành yêu cầu đối với  Dynabook của ông.  Freudenberg nhận xét với chương trình này: “Các em học sinh lập trình mà không biết mình đang lập trình”.  Nguyễn Xuân Hoài (Spiegel 6.2007)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo dân số thế giới sẽ có khoảng 8.8 tỉ người vào năm 2100      Dân số thế giới có thể tiếp tục tăng đến năm 2064 rồi sau đó sẽ chững lại và có sự thay đổi mạnh về cấu trúc dân cư toàn cầu, theo mô hình tính toán của một công bố mới trên tạp chí Lancet.      Richard Horton, tổng biên tập tạp chí The Lancet nói “Sẽ có một cuộc cách mạng trong lịch sử văn minh nhân loại trong thế kỷ 21” để bình luận về một nghiên cứu của các nhà khoa học ở ĐH Washington, Seattle, Mỹ đăng trên Lancet mới đây. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một dự báo mới về sự phát triển của dân số thế giới: đến năm 2100 trên trái đất sẽ có khoảng 8,8 tỷ người.   Đây là một dự báo đầy bất ngờ bởi lẽ con số này ít hơn gần 2 tỷ người so với dự báo của Liên Hiệp Quốc mới thông báo hồi năm ngoái. Các nhà nghiên cứu ở Viện đo lường và đánh giá Sức khỏe IHME ở ĐH Washington dự đoán, đến khoảng năm 2064 dân số thế giới sẽ lên đến đỉnh điểm, đạt khoảng 9,7 tỷ người, sau đó bắt đầu đi xuống.  Già hóa dân số   Tuy nhiên điều mà Horton quan tâm nhiều hơn là những xê dịch tương đối mà các nhà nghiên cứu ở ĐH Washington đã dự đoán. Tại 23 quốc gia, chủ yếu ở Châu Âu và Châu Á, dân số sẽ giảm hơn một nửa so với hiện tại. Richard Horton rút ra từ các dữ liệu của bài báo: “Châu Phi và Thế giới Ả Rập sẽ định hình tương lai của chúng ta, trong khi đó tầm ảnh hưởng của Châu Âu và Châu Á sẽ giảm. Đến cuối thế kỷ chúng ta sẽ chứng kiến một thế giới đa cực, trong đó Ấn độ, Nigeria, Trung quốc và Hoa Kỳ sẽ là thống trị”.  Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học tiên đoán tỷ lệ sinh đẻ toàn cầu giảm từ  2,37 trẻ trên một phụ nữ (2017) xuống 1,66 vào cuối thế kỷ. Tại 183 quốc gia tỷ lệ sinh đẻ giảm đến mức ảnh hưởng đến năng lực kinh tế, do đó muốn duy trì được nền kinh tế cần có dân nhập cư. Các nhà nghiên cứu dự báo thậm chí ngay cả ở Trung Quốc dân số cũng sụt giảm mạnh  – từ 1,4 tỷ dân năm 2017 chỉ còn  732 triệu vào năm 2100.  Đồng thời các nhà nghiên cứu còn thấy sẽ có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc nhân khẩu học của nhân loại. Trong năm 2100 thế giới có 2,37 tỷ người trên 65 tuổi và chỉ có 1,7 tỷ dưới tuổi 20. Theo các nhà nghiên cứu sự thay đổi này tác động mạnh mẽ đến trật tự kinh tế toàn cầu.  Theo tính toán của các nhà nghiên cứu thì Đức, Pháp và Anh quốc vẫn ở trong số mười nền kinh tế mạnh nhất thế giới. Còn tình cảnh có vẻ ảm đạm với Italia và Tây Ban Nha: nghiên cứu dự báo đến năm 2100 dân số hai nước này sẽ giảm khoảng một nửa. Điều này đánh tụt bảng xếp hạng về năng lực kinh tế của hai nước này từ thứ hạng 9 và 13 đến cuối thế kỷ này tụt xuống hạng 25 và 28.  Giáo sư Wolfgang Lutz, giám đốc Trung tâm Wittgenstein về nhân khẩu học và nguồn nhân lực toàn cầu (Centre for Demography and Global Human Capital) ở Vienna nhất trí với dự báo của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ về phát triển dân số toàn cầu. “Kết quả này về cơ bản trùng hợp với dự báo của cơ quan chúng tôi, chúng tôi cũng đã công bố điều này từ năm 2018”, giáo sư Lutz nói. “Chúng tôi dự báo đỉnh của dân số thế giới sẽ rơi vào trong khoảng thời gian từ năm 2060 đến 2070 với số dân cũng là 9,7 tỷ và giảm xuống chỉ còn  9,2 tỷ vào năm 2100”. Hiện tại chỉ còn dự báo của Liên Hiệp Quốc là vẫn trước sau không thay đổi – không dự báo về một bước ngoặt dân số.  Nhưng tại sao đối với một vấn đề then chốt như vậy mà lại có sự đánh giá khác nhau? Giáo sư Lutz đưa ra lý giải: “Trong tính toán của mình Liên Hợp Quốc chỉ chú ý đến độ tuổi và giới tính. Trong khi chúng tôi phân chia người dân theo năm bậc học vấn khác nhau”.  Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cũng đưa yếu tố giáo dục vào nghiên cứu đăng trên Lancet này. “Tuy nhiên họ chỉ coi trình độ học vấn là yếu tố liên quan đến tỷ lệ sinh đẻ và tỷ lệ tử vong“, giáo sư Lutz giải thích. Như vậy có nghĩa là, bằng tính toán mô hình của mình, các nhà nghiên cứu ở ĐH Washington chỉ dự báo về sự phát triển dân số và cấu trúc về tuổi tác, họ không đề cập tới sự phân bổ về giáo dục trong tương lai.  Vai trò của người nhập cư   Giáo sư Lutz cho rằng “Cấu trúc dân số về tuổi tác cũng như số dân không phải là yếu tố quyết định đối với năng lực kinh tế của một quốc gia, mà chất lượng của dân số”. Ông lấy Nigeria làm ví dụ, nước này cũng được đề cập trong nghiên cứu này. “Nigeria hiện nay đã có dân số nhiều hơn Đức tuy nhiên vai trò của Nigeria trong nền kinh tế thế giới lại nhỏ bé hơn rất nhiều”. Vấn đề không phải là số dân mà mà trình độ học vấn.  Lutz cũng phê phán giả định được nêu trong nghiên cứu của ĐH Washington, về ý kiến cho rằng chỉ những người ở độ tuổi từ 20 đến 65 là có đóng góp tích cực cho xã hội và sau đó là gánh nặng: “Đánh giá chung chung như vậy là không đúng. Ngày nay sức khỏe của con người bền bỉ hơn, năng lực làm việc cũng lâu dài hơn”. Ngay cả khi dân số ít, nhưng những nước như nước Đức có thể khắc phục thách thức về nhân khẩu học, khi trình độ học vấn đạt được một mức độ nhất định. Giáo sư Lutz cho rằng “với số dân ít hơn, nhưng biết phát huy khả năng trí tuệ nhân tạo và xử dụng người máy người ta thậm chí còn có thể tránh được tình trạng thất nhiệp đại trà”.  Các nhà khoa học khác thừa nhận về sự cần thiết đối với vấn đề nhập cư như đã được các tác giả đề cập trong nghiên cứu đăng trên Lancet. Giáo sư Ibrahim Abubakar, ở University College London nhận xét: “Vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh vượng. Nhập cư giúp giải quyết việc thiếu hụt dân số trong độ tuổi lao động. Ở đây cần xem xét lại chính sách toàn cầu đối với vấn đề này”.  Giáo sư Lutz cũng không loại trừ những nước như nước Đức sẽ được hưởng lợi do nhập cư trong tương lai. Song ở đây yếu tố học vấn cũng có ý nghĩa quyết định. Những người trình độ học vấn thấp nhiều khi lại trở thành gánh nặng đối với xã hội. Ngược lại một xã hôi mà dân số đang có xu hướng sụt giảm sẽ được hưởng lợi khi được bổ sung lực lượng nhập cư có trình độ chuyên môn cao. Có thể lấy Canada là một ví dụ điển hình – Canada tuyển mộ người nhập cư theo các tiêu chuẩn như trên.  Xuân Hoài lược dịch   Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/wissenschaft/plus211624261/Weltbevoelkerung-Neue-Prognose-Afrika-und-die-arabische-Welt-werden-Zukunft-praegen.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo động đất từ không gian      Công ty Surrey Satellite Technology Limited đã quyết định trong vòng hai năm tới sẽ phóng khoảng hai chục vệ tinh theo dõi để phát hiện khả năng xảy ra động đất dựa trên lý thuyết theo đó các lực cưỡng bức sinh ra trước khi xảy ra động đất là nguyên nhân sinh ra một tích điện dương hút các ion âm của tầng điện li về phía bề mặt, điều này tạo ra một lỗ hổng trong cấu trúc của khí quyển.    Lỗ hổng này sẽ được định vị bằng cách phân tích các chệch hướng của một tín hiệu được truyền từ vệ tinh qua tầng điện li. Các nhà khoa học nghĩ ra dự án này, trong đó có một nhà nghiên cứu của NASA, giải thích rằng các lớp đá ngầm, vốn đã chịu một áp lực lớn và một nhiệt độ cao, chứa các tinh thể dẫn điện cũng như các phụ phẩm của oxy. Khi sắp có động đất, áp lực tăng lên và khởi phát các phản ứng hóa học làm thay đổi các phân tử của oxy, một hoạt động sinh ra một điện trường tích điện dương. Điện trường này bức xạ trên bề mặt của Trái đất và cũng có thể được phát hiện bởi các camera hồng ngoại gắn trên các vệ tinh.  Anh Thư (Theo Sciences et Avenir)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo động đất và sóng thần      Dự báo động đất và sóng thần là mục tiêu của nhiều nghiên cứu khoa học hiện nay vì các trận động đất xảy ra gần đây có cường độ lớn, số thiệt hại về nhân mạng và tài sản rất cao, một phần vì mật độ dân số ở các vùng hay xảy ra động đất đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, khoa học trên thế giới vẫn chưa đạt đến trình độ có thể dự báo động đất và sóng thần một cách chính xác.    Khó dự báo động đất và sóng thần  Động đất là kết quả của một loạt quá trình phức tạp cho nên dù có những lý thuyết hoàn chỉnh, hiện nay người ta cũng khó lòng đạt đến khả năng dự báo ngắn hạn chính xác, mà chỉ có thể tính xác suất của các trận động đất tại một vùng nhạy cảm nào đó. Từ các tính toán dựa trên lịch sử địa chấn vùng Vịnh San Francisco, các nhà khoa học của Cục Khảo sát Địa Chất Hoa Kỳ (USGS) đã dự đoán là trước năm 2032, xác suất xảy ra một trận động đất lớn cường độ trên 7 độ Richter tại vùng này sẽ là 62%. Người dân ở đây vẫn đang thấp thỏm chờ đợi trận động đất lớn ấy (The Big One).   Nếu có một đoạn phay đứt gãy nào đó của vỏ trái đất được biết là đã có một trận động đất lớn thì thời gian xuất hiện trở lại và cường độ của trận động đất tiếp theo có thể tính dựa trên kích thước của phay đứt gãy, sự phân tích lịch sử địa chấn của nó và sự tích luỹ lực căng trong đất. Tuy nhiên, ở những nơi có lịch sử động đất lâu dài  thì tần suất của các trận động đất cũng khá thất thường. Nhiều trận động đất lớn đã xảy ra ở những nơi không có lịch sử động đất rõ rệt, hoặc nếu có thì cũng ở quá xa trong lịch sử. Trận động đất cường độ 9,3 độ Richter ngoài khơi đảo Sumatra (Indonesia) cuối năm 2004 đã xảy ra tại một nơi mảng kiến tạo Ấn Độ chui xuống duới mảng Burma, hay theo cách nói của các nhà địa chất tại một vùng hút chìm dưới đáy biển nhưng đặc biệt là trước đấy tại vùng này chỉ có những trận động đất nhỏ.   Mỗi khi mặt đất được yên tĩnh trong một giai đoạn dài hơn nhiều so với thời gian tái xuất hiện trung bình thì phải xem đó là một lý do để quan tâm đến nó. Điều này có nghĩa là lực căng mà khối đất phải chịu đựng do các chấn động và các áp lực động học của các mảng kiến tạo đang tích luỹ năng lượng và sự kiện tiếp theo có thể còn khủng khiếp hơn sự kiện trước đấy. Thí dụ như ngày nay, người ta có những dấu hiệu rõ rệt qua các phân tích thống kê và đánh giá các ứng lực tích luỹ là sẽ có một sự kiện địa chấn lớn xảy ra trong vùng Himalaya, nơi có khoảng 50 triệu dân sống trong đồng bằng sông Ganges. Vùng chịu ảnh hưởng được biết là nơi có mảng kiến tạo Ấn Độ đang chui xuống mảng Á-Âu với tốc độ 2 cm mỗi năm. Theo dự đoán của Feldl và Bilham (Nature 444, 2006) khi có một sự kiện xảy ra ở đây thì sẽ có một khoảng trượt dài hơn 20 mét tạo ra một trận động đất có chấn cấp tối thiểu là 9 độ Richter. Như vậy thì với tốc độ dịch chuyển như trên, phải cần 1000 năm mới có một trận động đất M9 tái xuất hiện ở đây, nhưng vì có nhiều yếu tố khác tác động nên các tác giả đã giới hạn thời gian xuất hiện trở lại của trận động đất lớn là 500 năm.  Sóng thần do những trận động đất lớn dưới đại dương gây ra cho nên dự báo sóng thần cũng khó như dự báo động đất. Những trận động đất dưới đại dương, đặc biệt là tại các đới hút chìm dưới Thái Bình Dương là nguyên nhân của đến 85% các đợt sóng thần trên thế giới. Theo giáo sư Robert McCaffrey thuộc trường đại học Rensselaer ở Mỹ (Science 315, 2007) thì nếu có sự dứt gãy trên một đoạn hút chìm nào đó dài khoảng 800 km thì sẽ rất có khả năng xảy ra một trận động đất M9 theo sau là một đợt sóng thần khủng khiếp. Đó là trường hợp của trận động đất và sóng thần ngoài khơi bờ biển Đông Bắc Nhật Bản tháng Ba vừa qua. Trận động đất tai hại này có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên khoảng 40.000 km hút chìm trên thế giới, ở những nơi không ai ngờ tới. Điều này đã xảy ra tại vùng biển Sumatra ngày 26 tháng 12 năm 2004 và cũng có thể xảy ra ở nhiều vùng khác. Trên bản đồ do McCaffrey cung cấp (hình 1), các đới hút chìm (đường màu xanh) là những nơi xảy ra những trận động đất cường độ M7,5 hay lớn hơn kể từ năm 1900, các vòng tròn không tô đậm là những trận động đất lớn giữa các năm 1700 và 1900 và trên biên giới các mảng kiến tạo địa tầng (đường màu vàng), người ta chỉ ghi được những trận động đất nhỏ. McCaffrey viết, “Những hiểu biết của chúng ta về việc một trận động đất lớn sẽ xảy ra ở đâu và khi nào thì cũng chỉ ở trạng thái sơ khai.” Theo ông, tất cả các đới hút chìm đều nguy hiểm, “tập trung sự chú ý vào một vài vùng mà quên các vùng khác thì có thể là một sự sai lầm.”                                            Nguồn: Robert McCaffrey, Rensselaer Polytechnic Institute, 2007  Các nhà địa chất Việt Nam đang quan tâm nhiều đến một đới hút chìm lớn chạy theo trũng Manila ở bờ Tây Philippin, các số liệu trước đây cho là đới hút chìm này nằm ở phía Đông Philippin. Theo các số liệu vệ tinh của hệ thống định vị toàn cầu (GPS), mảng kiến tạo Đông Dương đang dịch chuyển về phía Đông với tốc độ 3 cm/năm và mảng Philippin dịch chuyển về phía Tây với tốc độ 8 cm/năm, hai mảng đang chuyển dịch với tốc độ tương đối trên 10 cm/năm, một tốc độ rất lớn so với các vùng hút chìm khác. Nếu có một trận động đất lớn (≥M8,5) xảy ra ở đây thì sóng thần cao trên 10 m có thể ập đến bờ biển miền Nam Trung bộ (từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận) chỉ sau 2 giờ (Hình 2). Nguy cơ động đất và sóng thần khác cũng có thể tác động đến vùng này có thể có xuất xứ từ đới dứt gãy theo kinh tuyến 109 nằm cách bờ biển Ninh Thuận vài chục km.                                 Nguồn: Phan Trọng Trịnh, Viện Địa chất, 2006  Các kỹ thuật mới để nghiên cứu động đất  Nghiên cứu động đất rõ ràng là một lĩnh vực cần đến sự kết hợp của các quan trắc trên mặt đất và từ không gian và người ta cũng cần thăm dò sâu trong lòng đất và theo dõi những diện tích lớn dọc theo 40.000 km đường hút chìm dưới đáy đại dương. Ngày nay người ta đang xây dựng những phương pháp mô hình hoá hiện đại và nhờ các tiến bộ của ngành của ngành máy tính, nhiều kỹ thuật mô phỏng tiên tiến được đem ra ứng dụng. Các thiết bị đo đạc như từ kế, máy đo lực căng, đo độ nghiêng, đo mực nước, đo các giãn nở và co rút của mặt đất cũng được cải tiến rất nhiều. Mạng lưới địa chấn có thể theo dõi những chuyển động chỉ vài milimet của mặt đất trong một năm với độ chính xác cao.  Theo Olsen và Allen (Nature 438, 2005), tần số các sóng địa chấn sơ cấp lan ra từ chấn tiêu với tộc độ từ 4 đến 6 km/s có thể giúp người ta đánh giá cường độ của trận động đất và cảnh báo gấp vì các sóng nén có sức tàn phá lớn chỉ theo sau vài giây đồng hồ! Những kỹ thuật không gian trong hệ thống định vị toàn cầu (GPS) có thể theo dõi chính xác chuyển động của vỏ Trái Đất với độ chính xác vài milimet. Các kỹ thuật quan trắc khác từ không gian như giao thoa rađa, đo trọng lực, đo phát xạ hồng ngoại cũng là những công cụ cần thiết để nghiên cứu và hy vọng dự báo động đất và sóng thần. Người ta đang nghiên cứu hiện tượng phát xạ hồng ngoại đi theo sự biến dạng của vỏ Trái Đất dưới tác động của các ứng suất cao. Vài tuần trước các trận động đất ở Izmit (Thổ Nhĩ Kỳ) năm 1999 và Bhuj (Ấn Độ) năm 2001, các vệ tinh đã ghi được những đỉnh phát xạ hồng ngoại ở các bước sóng khoảng 10 micron. Năm 2001, các nhà khoa học Đài Loan cũng thông báo là từ 1 đến 4 ngày trước trận động đất Chi-Chi M7,7 năm 1999, họ đã đo được những thay đổi lớn trong số lượng electron toàn bộ, các sóng địa chấn phát ra có thể gây nhiễu loạn trên tầng điện ly mà các vệ tinh chuyên dụng như DEMETER (Director for Electromagnetic Emission Transmitted from Earthquake Regions) của Pháp có thể phát hiện, tuy với những tín hiệu quá yếu.  Giảm thiểu các tác hại  Trước sự bất lực của hệ thống dự báo dài hạn cho động đất và sóng thần, người ta chỉ có thể giảm thiểu các tác hại của các thảm hoạ thiên nhiên này bằng cách cải tiến các tiêu chuẩn xây dựng như Mỹ và Nhật đã làm. Trận động đất M7,9 năm 1906 ở miền Trung California đã làm 225.000 người chết. Nhưng với những tiêu chuẩn xây dựng cải tiến, số tử vong ở San Francisco trong trận động đất M7,1 năm 1989 chỉ giới hạn ở mức 64 người. Với những biện pháp bảo vệ và giảm thiểu tác hại tiên tiến nhất, Nhật Bản đã hạn chế số tử vong gây ra do động đất rất nhiều, con số hàng chục nghìn người chết chủ yếu là do sóng thần mang đến. Tuy nhiên, điều người ta không ngờ đến là động đất và sóng thần lại có thể phá huỷ bốn trong sáu lò phản ứng của nhà máy điện hạt nhân Fukushima Dai-ichi. Tổn thất về kinh tế sẽ vô cùng lớn, người ta tính rằng phải ít nhất là sáu năm mới vào được nhà máy điện hạt nhân để dọn dẹp (như ở Three Mile Island, Mỹ) và ba thập kỷ sau mới dỡ bỏ hoàn toàn, chi phí lên đến hàng chục tỷ USD. Người Nhật đã không ngờ đến tác hại này khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở những vùng có khả năng xảy ra động đất và sóng thần nên phải trả một giá quá đắt.        Trong lịch sử, chỉ có một trận động đất được dự báo thành công, đó là sự kiện địa chấn Hải Thành M7,3 năm 1975 ở Trung Quốc. Trận động đất này gây 2000 tử vong, một con số không lớn lắm so với các sự kiện tương tự khác. Nhiều tháng trước, người ta đã nhận thấy dấu hiệu của những chuyển động dưới mặt đất và mặt đất nâng cao đến mức có thể đo được, động vật trong vùng có những thái độ bất thường và ngày càng nhiều trận động đất nhỏ. Các nhà chức trách ở đây đã cho di tản cả một triệu người dân trong thành phố. Việc cảnh giác này cùng với kiểu xây dựng nhà cửa ở địa phương và thời điểm xảy ra chấn động chính, lúc 7 giờ 36 phút chiều, đã cứu được hàng nghìn sinh mạng.               Đây là một thành công thật sự hay chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Trận động đất ở Đường Sơn xảy ra chỉ một năm sau lại không được dự báo, gây tử vong cho khoảng 255.000 người. Trước trận động đất M7,6 năm 1976 ở Đường Sơn, người ta cũng có thấy những quả cầu lửa và những chớp nhoáng bí ẩn, nhưng không ai có thể kết nối các hiện tượng ấy với một trận động đất sắp xảy ra.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo giải Nobel 2011      Trước ngày Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố danh sách những người trúng giải Nobel vào đầu tháng 10 tới, một số cơ quan thông tấn, tổ chức xã hội đã sớm đưa ra dự đoán của họ về những người có khả năng được trao giải.  &#160;    Từ năm 1989, hãng thông tấn Thomson Reuters (Mỹ) hàng năm đều đưa ra danh sách dự đoán các chủ nhân giải Nobel về y học, hóa học, vật lý  và kinh tế. Những  người này được gọi là “Người trúng giải trích dẫn Thomson Reuters” (Thomson Reuters Citation Laureates). Gọi như thế là do khi tiến hành công tác dự đoán, Hãng Thomson Reuters dựa vào tần suất trích dẫn các bài báo của tác giả. Kể từ năm 2002, có 22 vị trong danh sách dự đoán của họ sau đó đã thực sự được Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải.  Vừa qua, Thomson Reuters đã công bố danh sách “Người trúng giải trích dẫn Thomson Reuters”.  Dưới đây là 24 người trong danh sách dự đoán này :  Hóa học  •    Allen J. Bard (Mỹ)  •    Martin Karplus (Pháp)   •    Jean M. J. Fréchet (Mỹ) , Donald A. Tomalia (Mỹ), Fritz Vogtle (Đức)  Vật lý  •    Alain Aspect (Pháp), John F. Clauser (Mỹ), Anton Zeilinger (Áo)  •    Sajeev John (Canada), Eli Yablonovitch (Mỹ)  •    Hideo Ohno (Nhật)   Sinh học/Y học  •    Brian J. Druker (Mỹ), Nicholas B. Lydon  (Mỹ), Charles L. Sawyers (Mỹ)  •    Robert S. Langer (Mỹ), Joseph P. Vacanti (Mỹ),   •    Jacques F. A. P. Miller (Úc) , Robert L. Coffman (Mỹ), Timothy R. Mosmann (Mỹ)  Kinh tế  •    Douglas W. Diamond (Mỹ)   •    Anne O. Krueger (Mỹ), Gordon Tullock  (Mỹ),   •    Jerry A. Hausman (Mỹ), Halbert L. White, Jr. (Mỹ)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo khủng hoảng lương thực toàn cầu      David Frum là một cộng tác viên – biên tập viên của các tờ báo nổi tiếng của Mỹ như Newsweek, Daily Beast và CNN, ngoài ra ông cũng là tác giả của 7 quyển sách. Gần đây, ông đưa ra dự báo rằng năm 2013 sẽ là một năm khủng hoảng lương thực nghiêm trọng trên quy mô toàn cầu.      Cuộc khủng hoảng này hoàn toàn có thể được thấy trước, và thực tế là nó đã bắt đầu, xuất phát từ đợt thời tiết hết sức khắc nghiệt trong mùa hè này tại Mỹ. Khoảng 80% lục địa Mỹ chịu hạn hán, Nga và Australia cũng tương tự. Vụ thu hoạch ngô đã sụt giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1995. Chỉ riêng trong tháng 7/2012, giá ngô và lúa mì đã tăng đến 25%, giá đỗ tương tăng 17%. Giá các loại ngũ cốc này tăng cao cũng đồng nghĩa sẽ đẩy giá lương thực lên cao hơn.  Đối với người tiêu dùng tại các quốc gia phát triển, giá thực phẩm cao quả là một gánh nặng – nhưng trong đa số các trường hợp, nó là một gánh nặng có thể kiểm soát được. Nhưng ở các nước đang phát triển, giá lương thực là vấn đề quan trọng nhất. Ở các quốc gia nghèo, người dân thường chi tiêu một nửa thu nhập vào việc mua thực phẩm. Khi giá ngũ cốc tăng vọt trong niên khoá 2007-2008, những “cuộc bạo loạn bánh mì” đã gây chấn động ở 30 nước đang phát triển, từ Haiti đến Bangladesh, theo kết quả báo cáo của tờ Thời báo Tài chính. Đợt hạn hán ở Nga vào năm 2010 đã buộc Nga phải đình chỉ xuất khẩu ngũ cốc trong năm đó, và đây chính là một trong những tác nhân đầu tiên dẫn đến cái gọi là “Mùa Xuân Arập”.  Kể từ những ngày cầm quyền của Gamal Abdel Nasser, chính phủ Ai Cập đã cung cấp bánh mì có trợ giá cho người dân. Tuy nhiên vào cuối thập niên 2000, chính quyền Hosni Mubarak đã không còn gánh nổi việc trợ cấp để bình ổn các chi phí ngũ cốc đang tăng vọt. Dân số Ai Cập đã tăng gấp đôi từ 20 triệu (năm 1950) lên thành 40 triệu (năm 1980) và ngay nay đã đạt đến hơn 80 triệu người, lần đầu tiên Ai Cập đã dành vị trí trở thành nhà nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới. Giá cả leo thang trong niên khoá 2007-2010 đã vượt quá nguồn ngân sách dành cho hỗ trơ bình ổn giá của chính quyền Mubarak. Bánh mì rẻ tiền đã biến mất khỏi các cửa hiệu và bất mãn tích tụ.  Và nếu sắp tới giá lương thực tăng một lần nữa thì sao? Trung Quốc sẽ là nước dễ bị tổn thương nhất vì lạm phát chi phí thực phẩm. Chỉ trong vòng 1 tháng, chính xác là tháng 7/2011, chi phí sinh hoạt Trung Quốc tăng vọt 6,5%. Lạm phát lắng xuống trong niên khoá 2012. Trước đó, người ta hy vọng thời gian sang xuân sẽ làm tăng vụ ngũ cốc Mỹ trong năm 2012, vì vậy các ngân hàng trung ương Trung Quốc nới lỏng tín dụng vào đầu hè 2012. Nhưng đến lúc này chính quyền Trung Quốc sẽ đối mặt với một số lựa chọn khó khăn khi phải quyết định sẽ làm gì trong thời gian tới.  “Mùa xuân Arập” năm 2011 đôi khi còn được so sánh với các cuộc cách mạng năm 1848. Thập niên 1840 là những năm mùa màng bết bát trên khắp Châu Âu. Người dân bị đói sẽ trở nên tức giận và có thể lật đổ các chính phủ. Liệu năm 2013 có đem đến bạo động xã hội ở Brazil, các cuộc đình công ở Trung Quốc hay cuộc cách mạng ở Pakistan? Câu trả lời đang nằm ở các chỉ số giá giao dịch hàng hoá.   Nguyễn Thanh Hải lược dịch theo CNN   Nguồn: http://edition.cnn.com/2012/09/03/opinion/ frum-food-price-crisis/index.html?hpt=wo_t4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo nóng lên toàn cầu sẽ vượt mức 1,5 độ C vào năm nay      Các nhà khoa học vẫn chưa thể dự đoán chính xác quy mô El Niño sẽ xảy ra trong năm nay. Tuy nhiên, một số mô hình dự báo các tình trạng El Niño vừa phải sẽ xuất hiện từ tháng Sáu.    Nhiệt độ bề mặt đại dương và gió trên Thái Bình Dương tạo ra các dao động tự nhiên là El Niño (nước biển ấm lên), La Niña (chu kỳ mát hơn đối ngược với nó) và các tình trạng trung tính. Trong ba năm qua, chúng ta đã chứng kiến một loạt các sự kiện La Niña diễn ra liên tiếp.    Năm nay được dự đoán sẽ nóng hơn năm 2022, vốn xếp hạng thứ năm hay thứ sáu trên bảng đánh giá những năm nóng nhất theo các bộ dữ liệu toàn cầu. (Năm nóng nhất trong lịch sử – năm 2016 – là do El Niño gây ra.) El Niño xảy ra giữa mùa đông ở bắc bán cầu và hiệu ứng tăng nhiệt của nó mất hàng tháng mới gây tác động. Như vậy, nhiều khả năng năm 2024 sẽ thiết lập kỷ lục nhiệt độ toàn cầu mới.        Cho đến nay, các khí nhà kính do hoạt động của con người thải ra đã đẩy nhiệt độ toàn cầu lên khoảng 1,2 độ C, dẫn tới những tác động kinh hoàng trên khắp thế giới, từ những đợt nóng gay gắt ở Mỹ và châu Âu cho tới những trận lũ lụt khốc liệt ở Pakistan và Nigeria, gây phương hại cho hàng triệu người.    “Nhiều khả năng là đợt El Niño lớn tiếp theo sẽ khiến nóng lên toàn cầu vượt mức 1,5 độ C. Trong chu kỳ 6 năm tiếp theo, xác suất chúng ta có năm đầu tiên mà nóng lên toàn cầu vượt 1,5 độ C là khoảng 50:50”, theo GS Adam Scaife, người đứng đầu nhóm dự đoán dài hạn tại Cục Khí tượng của Vương quốc Anh.    Do biến đổi khí hậu, những hiệu ứng từ các sự kiện El Niño đang ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, sau đó nó tác động ngược lại lên biến đổi khí hậu. Khi hai tình trạng này kết hợp với nhau, nhiều khả năng những đợt nóng lớn chưa từng có sẽ xảy ra trong lần El Niño tiếp theo.    “Hiện nay khoa học có thể dự báo những sự kiện này từ hàng tháng trước. Vì thế chúng ta thực sự cần sử dụng nó để chuẩn bị nhiều hơn, từ các dịch vụ khẩn cấp cho tới nên canh tác giống cây gì,” Scaife nói.    Các kết quả của mô hình khí hậu do Cục Khí tượng Úc công bố vào đầu tháng Một chỉ ra nước này sẽ chuyển từ ba năm có lượng mưa trên trung bình sang một năm có những giai đoạn El Niño nóng nhất, khô hạn nhất từng được ghi nhận, gia tăng nguy cơ xảy ra các đợt nóng, hạn hán và cháy rừng nghiêm trọng. Tháng 12 vừa qua, Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia của Mỹ đã đánh giá xác suất El Niño hình thành vào tháng Tám – tháng Chín là 66%.    Các quốc gia giáp phía tây Thái Bình Dương – gồm Indonesia và Úc – sẽ phải chịu tình trạng nóng và khô hơn, nhiều trận hạn hán và cháy rừng hơn; trong khi Trung Quốc có thể sẽ có lũ lụt ở lưu vực sông Dương Tử sau các chu kỳ El Niño lớn.    Bên cạnh đó, những đợt gió mùa ở Ấn Độ và các cơn mưa ở Nam Phi cũng có thể bị ngăn chặn. Các khu vực khác, như Tây Phi và miền nam nước Mỹ, những nơi gần đây đã phải chịu những đợt hạn hán, có thể sẽ có mưa nhiều hơn và xuất hiện lũ lụt. Ở Nam Mỹ, các vùng phía nam sẽ ẩm ướt hơn, trong khi vùng Amazon trở nên khô hạn hơn. Đây là một điều nguy hiểm vì rừng nhiệt đới Amazon vốn đang tiến gần đến “điểm tới hạn” – thời điểm rừng mất đi hoàn toàn và biến thành đồng cỏ, giải phóng một lớn carbon, đồng thời làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu.    Theo GS Tim Palmer tại Đại học Oxford, câu hỏi lớn nhất vẫn chưa được giải đáp là liệu biến đối khí hậu tạo điều kiện thuận lợi cho các sự kiện El Niño nhiều hơn hay La Niña nhiều hơn. Điều này vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong việc xem xét cách thích ứng về dài hạn.    Palmer đã cùng đồng nghiệp kêu gọi thành lập một trung tâm quốc tế trị giá 1 tỷ USD để xây dựng các mô hình khí hậu chi tiết hơn, giống như máy gia tốc hạt lớn Large Hadron Collider cho phép các nhà vật lý học phân tử quốc tế cùng nhau thực hiện điều mà không một quốc gia nào có thể làm một mình.    Khúc Liên     Author                .        
__label__tiasang Dự báo thời tiết sẽ luôn có sai sót?      TS. Jon Shonk, Khoa Khí tượng, trường Đại học Reading (Úc) – người tập trung vào nghiên cứu về nguyên nhân của sự sai số có hệ thống trong các mô hình khí hậu, đã giải thích vì sao tồn tại những sai sót trong các bản tin dự báo thời tiết và trong tương lai, chúng ta có thể cải thiện điều đó không.      Dự báo của ECMWF-HRES về nơi hai cơn bão nhiệt đới có thể đổ bộ. Nguồn: eldersweather.com.au  Công chúng “săm soi” khoa học dự báo thời tiết từng ngày. Khi các bản tin dự báo đúng, chúng ta hiếm khi nói gì nhưng mỗi khi bản tin đó sai sót thì chúng ta phản ứng tức thì. Vậy chúng ta thích có một bản dự báo hoàn hảo chính xác theo giờ?  Có nhiều bước để chuẩn bị cho một bản dự báo thời tiết. Nó bắt đầu từ một “cú chụp nhanh” bầu khí quyển trong một khoảng thời gian đã cho, được đặt lên một bản đồ ba chiều với các điểm nối toàn cầu và kéo dài từ bề mặt Trái đất đến tầng bình lưu (và thi thoảng ở mức cao hơn).  Sử dụng một siêu máy tính và một mô hình phức tạp để miêu tả tính chất của bầu khí quyển với các phương trình vật lý, cú chụp nhanh này được phân kỳ theo thời gian, và tạo ra hàng terabyte dữ liệu dự báo thô. Sau đó, những người làm công tác dự báo thời tiết sẽ diễn dịch dữ liệu này và đem lại cho nó ý nghĩa về dự báo thời tiết để truyền đạt cho công chúng.  Thời tiết trong thời tiết   Công việc dự báo thời tiết luôn là thách thức lớn. Ngay từ đây, chúng ta cố gắng dự báo những thứ vốn đã không thể dự báo. Bầu khí quyển là một hệ hỗn loạn – một thay đổi nhỏ trong trạng thái này của khí quyển tại một địa điểm cũng có thể dẫn đến những hệ quả khác lạ ở bất cứ nơi nào theo thời gian, vốn được một nhà khoa học gọi đó là hiệu ứng cánh bướm.   Bất kỳ lỗi nào trong một bản tin dự báo sẽ là nguyên nhân để phát triển thành các lỗi trên quy mô lớn hơn. Và khi chúng ta đặt ra nhiều giả thiết trong mô phỏng khí quyển, các lỗi này rút cục tạo ra các thông tin dự báo sai. Để có được một bản dự báo thời tiết hoàn hảo, chúng ta cần loại bỏ từng lỗi nhỏ nhặt.  Kỹ năng làm công tác dự báo đã được cải thiện theo thời gian. Trong kỷ nguyên của siêu máy tính, các vấn đề dự báo hiện đại đang ngày càng đáng tin cậy hơn trước đây. Bản tin dự báo thời tiết sớm nhất của Anh có từ năm 1861, khi nhà khí tượng học kiêm thành viên lực lượng Hải quân hoàng gia Robert Fitzroy bắt đầu xuất bản các bản tin trên tờ The Times. Các phương pháp của ông bao gồm việc vẽ các biểu đồ thời tiết có sử dụng những dữ liệu quan sát ở các khu vực và đưa ra các dự đoán trên cơ sở thời tiết trong quá khứ khi các biểu đồ hiển thị tình trạng tương tự. Nhưng dự báo của ông thường sai và tờ báo này nhanh chóng nhận phải những lời chỉ trích.  Một bước nhảy vọt đã được tạo ra khi các siêu máy tính được đưa vào cộng đồng dự báo thời tiết trong những năm 1950. Mô hình máy tính đầu tiên đơn giản hơn nhiều so với hiện nay, dự đoán chỉ một biến trong một khung lưới với không gian khoảng 750km. Chính nó đã mở ra cách dự báo thời tiết hiện đại, vốn có những nguyên lý chính vẫn dựa trên cách tiếp cận tương tự, dẫu cho những mô hình ngày nay phức tạp hơn và dự đoán trên nhiều biến hơn.  Ngày nay, một bản dự báo thời tiết bao gồm những chuyển động phức tạp của một mô hình thời tiết. Các trung tâm dự báo thời tiết thông thường chạy một mô hình toàn cầu với một không gian lưới khoảng 10km, kết quả của nó là một mô hình địa phương có độ phân giải cao.   Để đưa ra một con số ước lượng trong dự báo, nhiều trung tâm dự báo thời tiết có thể chạy nhiều mô hình dự báo song song, mỗi mô hình hiển thị những thay đổi nhỏ được tạo ra từ “cú chụp nhanh” bầu khí quyển ban đầu. Những thay đổi nhỏ này tiến triển trong suốt dự báo và giúp người dự báo đưa ra một khả năng có thể đến của những gì đang diễn ra – ví dụ như tỷ lệ phần trăm về khả năng có mưa.     Tương lai của dự báo  Thời đại siêu máy tính đã góp phần phát triển khoa học dự báo thời tiết (và thậm chí là dự báo biến đổi khí hậu. Các siêu máy tính hiện đại đang có khả năng trình diễn hàng trăm nghìn tỷ phép tính mỗi giây, và có thể lưu trữ, xử lý hàng petabytes dữ liệu. Siêu máy tính Cray tại Văn phòng Met của Anh có năng lực tính toán và lưu trữ dữ liệu tương đương với một triệu điện thoại thông minh Samsung Galaxy S9.  Điều đó nghĩa là chúng ta có năng lực tính toán để chạy các mô hình với độ phân giải cao và bao gồm các biến đa dạng trong dự báo. Nó cũng có nghĩa là chúng ta có thể xử lý nhiều dữ liệu đầu vào khi tạo ra nhiều “cú chụp nhanh” ban đầu, tạo ra một bức tranh khí quyển chính xác hơn để bắt đầu dự đoán.  Quá trình này dẫn đến việc phải tăng cường kỹ năng dự báo. Theo một công bố trên Nature năm 2015 của Peter Bauer, Alan Thorpe và Gilbert Brunet, sự lượng hóa rõ ràng trong dự báo đã được miêu tả những tiên tiến trong dự báo thời tiết như một “cuộc cách mạng thầm lặng”. Độ chính xác của dự báo thời tiết 5 ngày hiện nay cao hơn rất nhiều so với dự báo 3 ngày ở thời kỳ 20 năm trước đây, và cứ mỗi thập kỷ, kỹ năng dự báo của chúng ta lại tăng lên một ngày. Về cơ bản, dự báo thời tiết ba ngày chính xác như dự báo hai ngày của 10 năm trước.   Nhưng kỹ năng dự báo có tiếp tục được nâng cao trong tương lai? Điều này phụ thuộc một phần nào những gì mà chúng ta có thể tạo ra với công nghệ siêu máy tính. Các siêu máy tính có tốc độ tính toán nhanh hơn có nghĩa là chúng ta có thể chạy các mô hình của chúng ta ở độ phân giải cao hơn và tái lập được các quá trình diễn ra trong khí quyển nhiều hơn, theo lý thuyết thì nó dẫn đến việc cải thiện kỹ năng dự báo thời tiết.  Theo định luật Moore – “Số lượng transistor trên mỗi đơn vị inch vuông sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi năm” (1 inch vuông xấp xỉ 6,45 cm²), năng lực tính toán của máy tính sẽ được tăng lên gấp đôi sau hai năm, kể từ những năm 1970. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tốc độ này đã giảm xuống, vì vậy cần có những cách tiếp cận khác để tạo ra những tiến bộ trong tương lai, như tăng hiệu suất tính toán của các mô hình.  Vậy chúng ta có đủ khả năng dự đoán thời tiết chính xác 100%? Trong thời gian ngắn thì chưa. Có 2×1044 (200,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000) phân tử chuyển động ngẫu nhiên trong khí quyển– nỗ lực tái hiện tất cả mọi thứ là điều không thể. Bản chất hỗn loạn của thời tiết có nghĩa là chỉ cần chúng ta tạo ra các giả thuyết về những quá trình diễn ra trong khí quyển thì luôn luôn có khả năng để một mô hình đưa ra sai sót trong dự báo.   Sự tiến triển trong các mô hình thời tiết có thể cải thiện những phép biểu diễn thống kê và cho phép chúng ta tạo ra nhiều giả thuyết thực tế hơn, và các siêu máy tính có tốc độ tính toán nhanh hơn có thể cho phép tăng thêm các chi tiết hoặc độ phân giải cho các mô hình thời tiết, nhưng bản chất của dự báo thời tiết vẫn là một mô hình luôn luôn đòi hỏi một số giả thuyết. Dẫu sao, miễn là nghiên cứu để cải thiện các giả thuyết này, tương lai của dự báo thời tiết vẫn hết sức tươi sáng và chúng ta có thể tiến gần đến sự dự báo hoàn hảo.   Anh Vũ dịch  Nguồn: https://theconversation.com/why-the-weather-forecast-will-always-be-a-bit-wrong-101547    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự báo thời tiết thời Trung cổ      Kế thừa di sản từ thiên niên kỷ đầu tiên trong lịch sử loài người, các nhà khoa học thời Trung cổ đã cải tiến các phương pháp khí tượng và phổ biến nó trên toàn thế giới.      Một bức tranh miêu tả quan sát sao chổi Halleys xuất hiện năm 1456. Bức họa minh họa trong “The Luzerner Schilling” (Lucerne Chronicle) xuất bản năm 1513. Nguồn: medievalists.net  Bản tin “Dự báo thời tiết hằng ngày” đầu tiên trên thế giới xuất hiện vào tháng 8/1861 trên tờ The Times tại London. Thuật ngữ này của Robert FitzRoy đã đánh dấu một quan điểm mới: dự báo thời tiết là một hiện tượng hoàn toàn hiện đại, không giống như trong các thời kỳ trước đó khi người ta chỉ dùng các câu truyện dân gian liên quan đến thời tiết hoặc đơn giản là phỏng đoán.  Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã cho thấy các kiến thức thời cổ đại Hy Lạp, Ấn Độ, Ba Tư và La Mã đã được các nhà thiên văn và chiêm tinh học trong thế giới Hồi giáo thời Trung cổ sử dụng để tạo ra ngành khoa học mới gọi là khí tượng thiên văn. Nguyên nhân cơ bản là vì họ cho rằng các hành tinh và chuyển động của chúng xung quanh Trái đất ảnh hưởng đến khí quyển và thời tiết trên Trái đất. Luận điểm này cũng được đón nhận nhiệt tình ở châu Âu Latinh Cơ đốc giáo và được Tycho Brahe, Johannes Kepler, và các nhà thiên văn học khác phát triển thêm. Để đưa ra được các dự báo thời tiết đáng tin cậy, các nhà khoa học cũng cho rằng các dự báo khí tượng cần kết hợp thêm những quan sát và ghi chép chính xác về thời tiết để tinh chỉnh dự báo cho các địa phương cụ thể. Những hồ sơ như vậy được lưu giữ trên khắp châu Âu từ thế kỷ 13 và đồng bộ với dữ liệu thiên văn, là cơ sở cho các dự báo theo hướng dữ liệu do FitzRoy đưa ra.  Triển vọng có được những dự báo thời tiết đáng tin cậy liên kết chặt chẽ với yếu tố sức khỏe con người và sản xuất nông nghiệp khiến ngành khí tượng thiên văn mới cũng trở nên hấp dẫn ở châu Âu Cơ đốc giáo. Họ tự hào về những giải đáp thời tiết mới có được mà các nhà khí tượng học cổ điển đã không thể tìm ra. Ví dụ như vì sao thời tiết có thể thay đổi quá nhiều từ năm này sang năm khác khi mà các mùa chỉ là do Trái đất có hình cầu và nó quay quanh Mặt trời hàng năm?     Các nhà khí tượng thiên văn Hồi giáo là những người đầu tiên thay thế tập quán cổ xưa chỉ quan sát các dấu hiệu ngắn hạn, chẳng hạn như mây hay hướng bay của các loài chim để dự đoán thời tiết. Họ đã dựa trên giả thuyết thời tiết bị ảnh hưởng bởi chuyển động của các hành tinh và được điều chỉnh bởi các điều kiện khí hậu theo khu vực và theo mùa. Các tiến bộ về việc tính toán quỹ đạo hành tinh, thông tin địa lý và khí tượng đã làm cho ngành khoa học mới dự báo thời tiết trở nên khả thi và hấp dẫn.  Với khả năng dự báo thời tiết được cải thiện, các nhà cai trị đã giải quyết tốt hơn sự vận hành xã hội, chẳng hạn như chiến lược quân sự và cung cấp lương thực, những hoạt động ảnh hưởng lớn bởi thời tiết. Các chủ ngân hàng và thương nhân cũng sẵn sàng trả tiền cho những thông tin có giá trị như vậy. Kết quả là khí tượng thiên văn tiếp tục phát triển trong suốt thế kỷ 14 và 15, số người quan tâm càng đông hơn trong thế kỷ 16 và 17. Nó chỉ thoái trào vào thế kỷ 18 khi các nhà dự báo bắt đầu dựa trên các công cụ khí tượng và xem thường chiêm tinh học.  Cách hoạt động của khí tượng thiên văn  Các nhà khoa học thời Hy Lạp, đặc biệt là Ptolemy ở Alexandria, đã đạt được những tiến bộ lớn trong việc tạo ra các mô hình hình học và toán học về chuyển động của các hành tinh dựa trên những quan sát được ghi lại qua nhiều thế kỷ và những quan sát mới do chính ông thực hiện. Các công trình cơ bản của ông thường được biết đến trong thời kỳ Trung cổ với tên gọi Almagest và Tetrabiblos đã cung cấp phương tiện để tính toán các vị trí hành tinh và các hướng dẫn để giải thích dữ liệu.  Trong khí tượng thiên văn, mỗi hành tinh có những đặc tính cụ thể ảnh hưởng đến các hiện tượng liên quan trên Trái đất. Sao Thổ – có đặc điểm là xa xôi, di chuyển chậm và có màu lạnh – được liên kết với nguyên tố khô, lạnh của Trái đất. sao Thủy, nhỏ, di chuyển nhanh, và thường gần với sao Kim và Mặt trăng, có liên quan đến nguyên tố ấm và ẩm của không khí. Các nhà triết học – khoa học đã tranh luận về những ảnh hưởng của các hành tinh đến thời tiết như thế nào, và lập luận được chấp nhận rộng rãi nhất là các hành tinh phát ra các tia mang theo những đặc tính riêng của hành tinh đó đến Trái đất.    Hình 1: Các cung hoàng đạo. Hình minh họa này của Johannes de Sacrobosco’s De sphaera, in năm 1488, cho thấy vòng tròn của hoàng đạo và các dấu hiệu khác nhau của nó bao quanh một số đường vĩ độ phân định các vùng xích đạo, vùng nhiệt đới và vùng cực. Đối với các nhà khoa học – triết học thời Trung cổ, các đới khí hậu và các thiên thể là cơ sở để đưa ra các dự đoán khí tượng thiên văn. (Được phép của Bộ sưu tập Lịch sử Khoa học, Thư viện Đại học Oklahoma).  Mặt trời và Mặt trăng là những thiên thể quan trọng nhất. Mặt trời ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu thông qua ánh sáng và nhiệt của nó đã được biết đến từ lâu, và ảnh hưởng của Mặt trăng đối với thủy triều, chất lỏng trong cơ thể và sự phát triển của thực vật cũng đã được công nhận rộng rãi trong giới tri thức. Các nhà khí tượng học thiên văn cho rằng Mặt trời và Mặt trăng mạnh đến mức chúng thậm chí có thể điều chỉnh ảnh hưởng của các hành tinh yếu hơn.   Như vậy bước đầu tiên của các nhà khí tượng học thiên văn là tính toán vị trí của tất cả các hành tinh vào một ngày đã chọn so sánh với cung và đường hoàng đạo – đường đi biểu kiến của Mặt trời xung quanh đường chân trời. Cả hai đều có hình tròn và cung hoàng đạo được chia thành 12 cung hoặc dấu hiệu bằng nhau, như thể hiện trong hình 1. Ptolemy đã hệ thống hóa các phần của bầu trời và giải thích rằng mỗi cung có những đặc điểm riêng, tác động lên bất kỳ hành tinh nào đi qua các cung.  Các nhà khí tượng học thiên văn đã nhận ra mối quan hệ góc giữa các hành tinh rất quan trọng để xác định các tác động lẫn nhau của chúng. Các hành tinh đối mặt với nhau trên cung hoàng đạo có quan hệ tiêu cực; góc 45° cũng có vấn đề và có khả năng tạo ra nhiễu động khí quyển. Tuy nhiên, các hành tinh ở 60° hoặc 120° sẽ tương tác tích cực hơn và tạo ra thời tiết ôn hòa hơn. Khi các hành tinh ở gần nhau, cường độ ảnh hưởng của chúng sẽ tăng lên tùy thuộc vào bản chất và vị trí của các hành tinh liên quan. Các nhà dự báo cũng cần tính đến vùng khí hậu của địa điểm đã chọn và mùa hiện tại. Ví dụ, sự gia tăng nhiệt trong khí quyển sẽ có một số tác động vào mùa hè gần xích đạo và một tác động khác vào mùa đông gần chí tuyến. Tập hợp các nguyên tắc đơn giản và rõ ràng như vậy giúp các nhà dự báo đưa ra các phán đoán là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố đang diễn ra.    Hình 2: Một vật thể thiên văn Astrolabes của người Anh thế kỷ 14 dựa trên các mô hình Islamicate được đặt tại Bảo tàng Anh. Nó bao gồm bản đồ các ngôi sao và hành tinh được hiệu chỉnh theo vĩ độ đã chọn với các con trỏ đến các ngôi sao được đặt tên. (Ảnh của Marie-Lan Nguyen, Wikimedia Commons, CC BY 2.5.)  Các dự báo thời tiết thiên văn được cải tiến rất nhiều bởi các thành tựu của các nhà thiên văn  Hồi giáo, những người đã xây dựng các mô hình và bảng chính xác và cập nhật về cấu trúc và chuyển động của thiên thể. Những kết quả đó đã tạo ra những tiến bộ trong toán học và sự cải tiến trong các công cụ và dụng cụ khoa học.  Các nhà thiên văn đã kiểm tra và sửa đổi các luận điểm của Ptolemy để đưa ra dự báo thời tiết và nhiều người trong số họ đã đưa ra các luận thuyết của riêng mình về chủ đề này. Những công việc chuyên môn đó không chỉ cung cấp nền tảng cơ bản của ngành khí tượng thiên văn mà còn bổ sung kiến thức về dữ liệu hành tinh và các mô hình vũ trụ mới. Kết quả là chúng ta có được một lượng tài liệu lớn, chất lượng, tinh vi, và hấp dẫn.  Chuyên gia dự báo thời tiết lên ngôi  Những tiến bộ khoa học của thế giới Hồi giáo lần đầu tiên được công nhận ở châu Âu Latinh vào thế kỷ 11 và đã kích thích sự tò mò, tưởng tượng chứ không loại bỏ. Ví dụ, hình 2 biểu diễn một vật thể thiên văn của Anh được vẽ trên một biểu tượng Hồi giáo. Các cuộc chinh phục lãnh thổ của các lực lượng Bắc Âu ở bán đảo Iberia của al-Andalus đã mang lại những học giả, thủ thư và dịch giả về phục vụ các nhà cai trị Cơ đốc giáo mới. Điều đó đã tạo ra một trong những phong trào giao lưu tri thức và văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử châu Âu, và các tài liệu khí tượng thiên văn chiếm một vị trí đáng trân trọng trong phong trào đó. Ví dụ, các học giả đã nhiệt tình dịch lại các tài liệu cập nhật của bảng Ptolemy về chuyển động của các hành tinh. Các bản dịch đã được đón nhận nồng nhiệt mặc dù khiến cho người dùng phải vật lộn với hệ thống lịch và niên đại mới, với các chữ số Hindu – Ả Rập và các khái niệm toán học xa lạ bên trong chúng.      Các dự báo thời tiết thiên văn được cải tiến rất nhiều bởi các thành tựu của các nhà thiên văn Hồi giáo, những người đã xây dựng các mô hình và bảng chính xác và cập nhật về cấu trúc và chuyển động của thiên thể.      Một số nhà triết học và khoa học Hồi giáo đã trở thành chức sắc quan trọng trong giới cầm quyền ở châu Âu Cơ đốc giáo, mang những tên Latinh hóa mới. Một người là Abu Ma’Shār – được biết đến trong tiếng Latinh là Albumasar – người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Baghdad, nơi ông đã viết một loạt các tác phẩm quan trọng trong thế kỷ thứ chín. Một người khác là Māshā’allāh, hay Messehalla; ông cũng làm việc ở Baghdad trong thời kỳ hoàng kim của khoa học về các vì sao và viết một cuộc khảo sát có ảnh hưởng về thiên văn học và chiêm tinh học, dành sáu trong số 12 chương của nó cho khí tượng thiên văn.  Có lẽ người nổi tiếng nhất về ngành khí tượng, ít nhất là ở thế giới Latinh, là al-Kindi. Các luận thuyết về dự báo thời tiết được trích từ các tác phẩm dài hơn của ông và được lưu hành bằng tiếng Latinh vẫn phổ biến trong thời kỳ Phục hưng. Chúng đưa ra lời giải thích rõ ràng về các nguyên nhân cụ thể của nóng, lạnh, hạn hán và mưa và cách tương tác của chúng trong khí quyển tạo ra thời tiết.    Regiomontanus, tên Latinh của Johannes Müller, đã tạo ra Ephemerides để ghi lại quỹ đạo của các vật thể thiên văn. Cùng với các hướng dẫn khác, công trình này đã thúc đẩy ngành khí tượng thiên văn hiện đại, tiền thân của dự báo thời tiết hiện đại. (Chân dung từ Thư viện Quốc gia Áo, phòng công cộng).  Những khái niệm của Al-Kindi và ý tưởng trung tâm trong các lý thuyết của ông là nhiệt tạo ra bởi các chuyển động của hành tinh là động lực của thời tiết, theo trường phái Aristot. Khái niệm này được liên kết với ý tưởng về bốn nguyên tố tạo nên vùng cận chính – đất, không khí, lửa và nước – và các mối liên hệ nội tại của chúng với các đặc tính cơ bản của nóng, lạnh, khô và ẩm. Các nhà chiêm tinh tin rằng các hành tinh và các ngôi sao cố định, bao gồm cả những ngôi sao tạo nên các chòm sao trên hoàng đạo được liên kết với nhau, có mối quan hệ đặc biệt với các yếu tố và phẩm chất riêng biệt. Những mối quan hệ đó xác định cách mà mỗi hành tinh tác động lên mặt đất khi nó di chuyển qua các tầng trời.  Bước đầu tiên trong phương pháp dự báo của al-Kindi, phương pháp điển hình của khí tượng thiên văn, là tính toán các vị trí và hướng hành tinh có liên quan. Tiếp theo, các nhà dự báo sẽ bắt đầu diễn giải thời tiết với vị trí và cường độ của Mặt trời. Trong mô hình của al-Kindi, Mặt trăng có sức mạnh đặc biệt đối với các nguyên tố đất và nước, cả hai yếu tố này sẽ được điều chỉnh vào bất kỳ ngày nào cụ thể theo vị trí của nó so với Mặt trời. Các nhà dự báo cần đánh giá sự tương tác đó để dự đoán gió vì họ tin rằng ảnh hưởng chung của Mặt trời và Mặt trăng quyết định không khí ở một khu vực cụ thể sẽ nóng hay lạnh. Sau đó, họ xem xét năm hành tinh đã biết khác và tính toán các yếu tố ảnh hưởng đến từng hành tinh riêng lẻ trước khi kết hợp các nhóm hành tinh và tương tác của chúng.      Người nổi tiếng nhất về ngành khí tượng, ít nhất là ở thế giới Latinh, là al-Kindi. Các luận thuyết về dự báo thời tiết được trích từ các tác phẩm dài hơn của ông và được lưu hành bằng tiếng Latinh vẫn phổ biến trong thời kỳ Phục hưng. Chúng đưa ra lời giải thích rõ ràng về các nguyên nhân cụ thể của nóng, lạnh, hạn hán và mưa và cách tương tác của chúng trong khí quyển tạo ra thời tiết. Ý tưởng trung tâm trong các lý thuyết của ông là nhiệt tạo ra bởi các chuyển động của hành tinh là động lực của thời tiết.      Các kỹ thuật trong phương pháp của al-Kindi yêu cầu các nhà dự báo đánh giá yếu tố nào sẽ có tác động lớn nhất và trong thời gian bao lâu, và họ chấp nhận rằng kinh nghiệm là yếu tố quan trọng để đưa ra dự đoán thành công. Các chuyên gia chia sẻ phương pháp đáng tin cậy của họ vào hồ sơ chung để mọi người cùng tham khảo. Đặc biệt có ảnh hưởng là việc al-Kindi áp dụng khái niệm được gọi là “mở cửa”. Các tài liệu không giải thích rõ cụm từ này nhưng nó hàm ý rằng mưa là do sự thay đổi vật lý trong khí quyển, được thúc đẩy bởi sự kết hợp cụ thể của các hành tinh và chuyển động của chúng trong mối quan hệ với nhau.  Thời gian và mức độ mưa quan trọng trong thế giới Hồi giáo đến mức tài liệu về dự báo thời tiết còn được gọi là “sách về mưa”. Một bổ sung có giá trị khác cho mô hình Ptolemaic cơ bản là khái niệm “biệt thự trên Mặt trăng”. Được các nhà chiêm tinh Ấn Độ ghi nhận, chúng dựa trên 28 ngôi sao cố định hoặc nhóm sao, mỗi ngôi sao trong số đó chiếm một khu vực trên đường đi của Mặt trăng qua cung hoàng đạo. Mỗi “dinh thự” với đặc trưng bởi độ ẩm của nó sẽ ảnh hưởng đến Mặt trăng.  “Dinh thự” nào đang bị Mặt trăng chiếm đóng sẽ đặc biệt ảnh hưởng đến thời tiết bốn lần mỗi tháng. Mô hình thời tiết chung hằng tháng có thể được dự báo bằng cách vẽ biểu đồ cho từng thời điểm trong số bốn thời điểm trên. Ví dụ, nếu Mặt trăng ở trong hoặc di chuyển vào một dinh thự ẩm ướt, thì kết quả thông thường sẽ là mưa. Tuy nhiên, một sự tương tác đáng kể của Mặt trăng và sao Thổ sẽ thay đổi kết quả đáng kể. Tương tự, ảnh hưởng gián đoạn của sao Hỏa sẽ khiến khả năng xảy ra bão, sấm sét và mưa đá cao hơn. Các yếu tố sẽ giảm dần sức mạnh khi Mặt trăng di chuyển trên quỹ đạo của nó và sẽ bị thay thế khi đạt đến điểm quan trọng tiếp theo.  Sự lan tỏa của khí tượng thiên văn  Mối quan tâm đến các luận thuyết về khí tượng thiên văn tiếp tục phát triển sau thế kỷ 13 ở Latinh và không bị ảnh hưởng bởi các lãnh đạo tôn giáo. Các nhà thần học xem dự báo thời tiết khác với việc đưa ra các dự đoán chiêm tinh cá nhân cho mỗi người. Cái sau này là lừa đảo, dị giáo và nguy hiểm nhất là vì nó đụng độ với những lời dạy quan trọng về ý chí tự do. Nhưng một chứng thực quan trọng cho dự báo thời tiết đến từ nhà thần học vĩ đại thế kỷ 13 Thomas Aquinas. Trong cuốn Summa Theologiae của mình, ông đã viết về sức mạnh của các ngôi sao đối với các vật trên Trái đất và trích dẫn tuyên bố của St Augustine rằng các thiên thể có thể gây ra các tác động vật lý trên Trái đất. Các nhà thần học không lên án nó là ma quỷ hay thần học.    Hình 3: Dự báo Almanac. Trang này từ niên giám của Thomas Buckminster cho năm 1590 ghi lại các dự đoán thời tiết của ông cho miền Nam nước Anh vào tháng 7 và tháng 8. (Hình ảnh từ Đại học Reading, Bộ sưu tập đặc biệt.)  Đối với những học giả đặc biệt là ở Paris, cuộc khảo sát hiện đại có thẩm quyền về tất cả các dạng chiêm tinh học là Speculum astronomiae (Gương thiên văn học). Công trình của nhà thần học thế kỷ 13 Albert Đại đế đã ca ngợi giá trị của việc hiểu biết các biến thể trong các thiên thể có thể gây ra những thay đổi như thế nào đối với những thứ trên đất, bao gồm cả thời tiết. Thay vì bác bỏ dự báo thời tiết thiên văn như những thứ ngoại lai và nghi ngờ, Speculum astronomiae ủng hộ phương pháp này. Các phát triển công nghệ đã giúp phổ biến khoa học mới. Đáng chú ý nhất là nhà máy in ấn đến Bắc Âu vào thế kỷ 15 đã giúp cho các dự báo thời tiết dài hạn, lịch và các dự đoán về sức khỏe và xu hướng chính trị được xuất bản dưới dạng nhật ký hằng năm.  Những dự báo khí tượng của các nhà khoa học nổi tiếng và ở trong những khoa thiên văn ở trường đại học được tích lũy dần dần. Rồi nhu cầu lan tỏa nhanh chóng ngay sau khi ngành khí tượng mới được truyền đến châu Âu Latinh. Một điển hình là nhà chiêm tinh Guido Bonatti, người đã cố vấn cho Guido da Montefeltro, người cai trị Urbino và các nhà lãnh đạo khác vào thế kỷ 13. Bonatti đã ghi lại các phương pháp dự báo thời tiết của mình trong một chương dài của cuốn sách của ông. Cuốn sách đã được sao chép rộng rãi trong hai thế kỷ tiếp theo và sau đó được nhân rộng khi công nghệ in ra đời.  Các vua chúa đầu tư rất nhiều vào các trường đại học trên khắp châu Âu trong thế kỷ 13 và 14 cũng một phần không nhỏ vì các ngành thiên văn, chiêm tinh và khí tượng học. Các nhà thiên văn và các nhà chiêm tinh chuyên nghiệp được chào đón ở nhiều nơi, ví dụ như Georg Peurbach, người đã học ở Ý, Pháp và Đức trước khi trở thành giáo sư thiên văn học tại Đại học Vienna. Ông làm việc cho Ladislaus V của Hungary và Bohemia và Hoàng đế La Mã Thần thánh Frederick III. Các dự báo và dự đoán cho vua chúa được giữ kín, nhưng cũng có những dự đoán đưa ra cho công chúng. Những dự đoán đó sẽ do các thành viên của trường đại học và những người bảo trợ trình bày vào những buổi thảo luận hằng năm, bao gồm cả dự báo về thời tiết theo mùa. Những hoạt động đó tồn tại từ đầu thế kỷ 15 và trở thành một hoạt động xã hội được ưa thích và tự hào.  Một trong những dự báo được đặc biệt quan tâm là của Peter xứ Monte Alciano, sống ở Pavia, Ý. Những dự báo của ông về năm 1419, 1421, 1430 và 1448 được thấy đúng với không chỉ Đế quốc La Mã Thần thánh (“the Holy Roman Empire”) mà còn cả với Pháp và Anh. Có lẽ người dự báo có ảnh hưởng nhất là Joannes Vesalius – ông cố của Andreas Vesalius, một bác sĩ còn nổi tiếng hơn và là tác giả của cuốn sách giải phẫu nổi tiếng Cấu trúc của cơ thể người (“De human corporis fabrica”). Joannes Vesalius làm việc tại Đại học Louvain vào năm 1429 trước khi trở thành cố vấn cho Công tước Philip the Good of Burgundy. Hội đồng thành phố Louvain đã xác nhận một dự báo của Vesalius năm 1431 mà ông đã đọc trước đó vào cuối năm 1430 cho một khách mời. Khi người thợ in đầu tiên của Louvain, Jan van Westfalen, xuất hiện, ông đã nhanh chóng xuất bản những dự báo hằng năm dựa trên mô hình của Vesalius.  Đáng chú ý là Đại học Bologna đã tuyển dụng hai giáo sư thiên văn học và chiêm tinh học vào thế kỷ 15. Một người được yêu cầu biên soạn niên giám hằng năm cho biết vị trí của tất cả bảy hành tinh trên cơ sở hằng ngày cho năm tới và lập bảng các góc của các hành tinh với Mặt trăng và với nhau. Còn giáo sư kia thì sử dụng dữ liệu để đưa ra dự báo, Các cuốn niên giám ngày nay vẫn tiếp tục được in theo cách tương tự.   Phần lớn công việc tốn thời gian trong việc tính toán vị trí của các hành tinh đã được giảm bớt nhờ sự đóng góp của nhà thiên văn Regiomontanus, trong hình 3. Ông đã tạo ra một cuốn lịch và Ephemerides, một cuốn sách về bảng thiên văn. Cả hai được in từ năm 1476. Các cuốn sách đồ sộ đó không chỉ cung cấp dữ liệu hành tinh đầy đủ mà còn bao gồm hướng dẫn giải thích chúng và bảng hiệu chỉnh để áp dụng khi điều chỉnh tọa độ cho một thành phố hoặc khu vực cụ thể ở châu Âu. Sức ảnh hưởng của các hành tinh trong mỗi dấu hiệu và khía cạnh được lập bảng dưới dạng số, và các cung Mặt trăng cũng được đưa vào một bảng.   Regiomontanus đã đưa ra các nguyên lý của bài toán dự đoán, và phần đầu tiên áp dụng cho dự báo thời tiết. Các quy tắc này dựa trên những phương pháp tiêu chuẩn của thời đó và được chính Regiomontanus áp dụng hằng ngày. Ông xác định rõ thời điểm các hành tinh xuất hiện và ảnh hưởng mạnh. Ví dụ như khi Mặt trăng nằm đối diện với sao Mộc ở vị trí cung lửa của Bạch Dương và cung nước của Hổ Cáp, sẽ tạo ra những đám mây. Nếu Mặt trăng di chuyển về phía sao Thủy, Regiomontanus dự báo các cánh cửa của gió sẽ mở ra. Nhưng đối với những người theo chủ nghĩa truyền thống thì ông đã thêm vào sau các quy tắc của mình một số những quy tắc dự báo phổ biến, theo trường phái al-Kindi chẳng hạn.  Thời đại cách mạng khoa học  Nhu cầu đối với các tác phẩm của Regiomontanus khá cao đồng nghĩa với việc các bản in nhanh chóng xuất hiện, nhiều phiên bản trong đó còn vi phạm bản quyền. Ông được ca ngợi là nhà chiêm tinh vĩ đại nhất trong thời đại của mình: Hồng y Bessarion và Vua Matthias Corvinus của Hungary đã tuyển dụng ông, lý thuyết của ông cũng được Christopher Columbus sử dụng để tính toán ngày của những cơn bão sắp tới. Các nhà khoa học hiện đại tán thành khí tượng thiên văn bao gồm Tycho Brahe và Johannes Kepler. Sự chấp nhận ngày càng tăng của quan điểm vũ trụ nhật tâm cũng không làm lung lay niềm tin rằng các thiên thể ảnh hưởng đến khí quyển, thời tiết của Trái đất và sức khỏe của cơ thể con người. Thật vậy, những cải tiến liên tục của các phương pháp dự báo thời tiết trong giới khoa học đã củng cố vị trí của khí tượng thiên văn trong nền văn hóa khoa học và đại chúng.  Sự ủng hộ khí tượng thiên văn đã xuất hiện ở nhiều nơi từ giữa thế kỷ 14. Từ khoảng năm 1340, các nhà thiên văn học và khoa học ở Đại học Merton ở Oxford, Anh, bao gồm cả John of Ashenden nổi tiếng, đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến ngành thực hành này. Ashenden đã soạn một tài liệu tóm tắt đồ sộ về chiêm tinh học, trong đó khí tượng thiên văn thống trị phần thứ hai của nó. Ông trở nên nổi tiếng vì đã dự đoán về Cái chết Đen trong năm 1348–1349 và dự báo thời tiết của ông cho năm 1368–1374 nhấn mạnh các liên hợp hành tinh chính xảy ra vào năm 1365 và 1369. Các liên kết này cho thấy rằng một thời kỳ mưa lớn và lũ lụt sẽ kéo theo ba năm hạn hán và hậu quả là mất mùa và thiếu lương thực.  Song song với công việc của Ashenden, nhiều nghiên cứu địa phương về thời tiết và các dự báo cũng được ghi lại trong các chuyên luận và được William Reed, giám mục của Chichester trình bày ở Đại học Merton từ năm 1369 đến năm 1385. Một chuyên luận khác có tựa đề Quy tắc Dự báo Thời tiết được trình bày bởi Thạc sĩ William Merle. Các quy tắc này đi kèm với các số liệu quan sát thời tiết chi tiết trong năm 1337–1344, thực hiện chủ yếu ở Lincolnshire và Oxford. Mục đích chính là tìm ra mối tương quan giữa các yếu tố khí tượng thiên văn và các số liệu thời tiết thực tế, từ đó xác định các yếu tố nào là quan trọng nhất để đưa ra dự đoán. Nghiên cứu trên có lẽ được truyền cảm hứng từ công trình tiên phong của giáo sĩ dòng Phanxicô Roger Bacon, người đã thực hiện các nghiên cứu của mình ở Oxford trong cuối thế kỷ 13. Một trong số những công trình của ông là một bản lịch với các vị trí hành tinh hằng ngày và ghi chú thời tiết chi tiết.  Trong một dự án tương tự độc lập với Bacon, Eyno ở Würzburg cũng dựa trên các ghi chú thời tiết từ năm 1331 đến năm 1355. Giống như nhóm Oxford, Eyno đặc biệt chú trọng đến việc dự báo trước những thời tiết có khả năng gây hại; ông tự hào ghi lại chẳng hạn như đã dự báo thành công tuyết rơi dày đặc vào ba dịp riêng biệt.  Một tài liệu có nguồn gốc không chắc chắn của Dominicans từ Basel cũng mô tả kết quả tương tự từ năm 1399 đến năm 1406. Tài liệu bao gồm các quy tắc về dự đoán khí tượng thiên văn kèm theo các bộ hồ sơ và quan sát thời tiết. Các ghi chú xác định các yếu tố khí tượng thiên văn nào sẽ phù hợp với thời tiết được ghi lại. Ví dụ, ngày 7/4/1400 được báo cáo là nhiều mây với khoảng thời gian nắng ngắn và gió Tây mạnh. Một ghi chú chỉ ra rằng Mặt trăng đã di chuyển ra khỏi một hành tinh của sao Mộc đi về phía sao Thủy, là một hành tinh được cho là gây ra nhiễu động không khí.  Theo hướng ngược lại, lập luận về những nghiên cứu thời tiết cũng cải thiện và làm rõ ràng hơn ngành khí tượng thiên văn, thay vì thách thức nó, cũng được thừa nhận trong giới khoa học trong thế kỷ 15 và 16. Ví dụ vào thế kỷ 16, nhiều nhà khoa học nghiệp dư cũng đưa ra các dự báo của riêng họ và lượng công bố về dự báo thời tiết hằng năm ngày càng tăng lên.  Sách dành cho người không chuyên cũng được xuất bản bằng tiếng địa phương thay vì tiếng Latinh. Tài liệu tiếng Anh có lợi thế hơn bởi những từ vựng trong ngành đã được dùng từ lâu. Ví dụ, cuốn “Một niên giám dự báo cho Năm 1598” của Thomas Buckminster chỉ ra rằng đầu tháng tư sẽ có thời tiết “đẹp” và “trong lành”. Quý đầu tiên của Mặt trăng vào ngày 3/4 đã chứng kiến ​​sự thay đổi của thời tiết có mây, lạnh và sẽ trở thành “thô” vào ngày 6/4. Vào lúc Trăng tròn vào ngày 11/ 4, thời tiết được dự đoán là trở nên “đẹp” và “trong lành”.   Công trình của Tycho củng cố thêm bằng chứng về giá trị của khí tượng thiên văn. Ông đã dành một thời lượng lớn đến ngạc nhiên cho chủ đề này trong chuyên luận năm 1572 của mình, nói về một ngôi sao mới xuất hiện ở Cassiopeia. Tycho đã đưa ra những quan sát và tính toán về khí tượng và hỗ trợ việc xuất bản các dự báo thời tiết hằng ngày. Ông thừa nhận sự không chính xác của các dự đoán, nhưng ông cho rằng việc lưu giữ hồ sơ thời tiết sẽ củng cố việc thực hành khí tượng thiên văn.14 Học trò của Tycho, Kepler, đã làm theo lời khuyên của ông và ghi chép hằng ngày về thời tiết. Lịch và lịch biểu được xuất bản của Kepler bao gồm các quan sát và dự báo thời tiết của ông. Giống như các học viên khác trước đó, Kepler xác định những yếu tố quan trọng nhất để dự đoán thời tiết — trong trường hợp này là các hành tinh.  Sự ủng hộ như vậy đối với khí tượng thời Trung cổ cho thấy nó không phải là kết quả của sự mê tín và thiếu hiểu biết. Các quan sát thực nghiệm và hiệu chỉnh về chuyển động của các hành tinh mà các nhà khoa học như Tycho và Kepler tạo ra đã giúp cải thiện bảng hành tinh và được các nhà khí tượng học thiên văn sử dụng. Việc ghi lại thời tiết một cách chính xác và các kỹ thuật dự báo đó có lẽ là di sản lớn nhất của khí tượng thiên văn đối với thế hệ hiện đại sau này.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/full/10.1063/PT.3.4724  —–  * Anne Lawrence-Mathers là giáo sư sử học trường đại học Reading, Anh.    Author                Anne Lawrence-Mathers        
__label__tiasang Dự đoán của nhà khoa học: Tây Ban Nha sẽ vô địch WC      Dựa trên phương pháp Giá trị thị trường, các  nhà khoa học Đức dự đoán Tây Ban Nha sẽ vẫn giữ được ngôi vị vô  địch tại World Cup 2014. Các nhà khoa học còn tính được cả thời điểm  đội Đức bị loại.     Người ta nên thận trọng trước những dự báo về kinh tế – các chuyên gia kinh tế biết rõ điều này hơn ai hết. Tuy nhiên tỷ lệ dự đoán trúng của các chuyên gia kinh tế hoặc của Viện Nghiên cứu kinh tế Đức (DIW) lại chính xác đến kỳ lạ: Từ năm 2006 các nhà nghiên cứu ở đây luôn luôn tiên đoán chính xác về các nhà vô địch bóng đá thế giới và châu Âu.   Vì vậy Gert Wagner thuộc DIW, Jürgen Gerhards thuộc Đại học Tự do Berlin và Michael Mutz thuộc Đại học Göttingen rất tự tin công bố dự báo kết quả World Cup sẽ khai mạc hôm nay ở Brazil. Theo họ, nhà vô địch sẽ không ai khác ngoài Tây Ban Nha; và Đội tuyển Đức có thể đi tới vòng chung kết, sau khi hạ Nga ở vòng loại gồm tám đội và thắng Pháp ở vòng tứ kết, để rồi tới vòng bán kết đối mặt với Brazil.  Đằng sau dự báo về bóng đá của họ là phương pháp Giá trị thị trường: đội thắng là đội có giá thị trường cao nhất và là đội có chất lượng đồng đều nhất. Họ viết trên tạp chí Tạp chí Xã hội học (Zeitschrift für Soziologie): “Giá trị thị trường có vai trò quan trọng nhất trong việc dự báo về thắng lợi.” Theo họ, nó là một chỉ số tốt hơn so với bảng xếp hạng của FIFA và nó cũng “không chịu tác động của yếu tố tình cảm hoặc sự mê tín”, như từng diễn ra đối với các vụ cá cược. Ngay trong các trận đấu vòng loại của châu Âu, các đội cao giá nhất là Bỉ, Italia, Đức, Hà lan, Thuỵ Sỹ, Bosnia-Herzegovina, Anh và Tây Ban Nha đều giành được tấm vé đến World Cup. Trong nhiều giải tranh danh hiệu vô địch châu Âu, đội đắt nhất cũng là đội giành vị trí số 1.   Tuy nhiên các nhà dự báo về World Cup cũng để ngỏ cánh cửa hậu nhỏ. Việc dự báo năm nay “khó hơn so với lần trước vì giá trị của các đội hàng đầu khá sát nhau”. Do đó xác suất giành danh hiệu vô địch World Cup 2014 sẽ lệ thuộc vào yếu tố phong độ trong ngày và cả yếu tố ngẫu nhiên nữa.  Sáu đội bóng đắt giá nhất hiện nay là Tây Ban Nha (622 triệu Euro), Đức (526 triệu), Brazil (468 triệu), Argentina (392 triệu), Pháp (379) và Bỉ (349 triệu).  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự đoán đại dịch COVID-19 dựa trên các biến thể mới      Sáu tháng sau khi biến thể Omicron xuất hiện, hai biến thể phụ BA.4 và BA.5 lại đang gây ra làn sóng COVID-19 mới, nhưng đây cũng là dấu hiệu giúp dự đoán tương lai đại dịch.    Kể từ khi BA.4 và BA.5 lần lượt xuất hiện vào tháng 12/2021 và tháng 1/2022, số ca nhiễm hai biến thể này liên tục gia tăng; BA.4 và BA.5 hiện chiếm 60–75% các trường hợp COVID-19 ở Nam Phi. Các nhà nghiên cứu cũng đã xác định được BA.4 và BA.5 ở hơn một chục quốc gia khác, chủ yếu ở châu Âu.    Hiện nay ở Nam Phi trung bình mỗi ngày có thêm 5.000 ca nhiễm BA.4 và BA.5, vào tháng 3/2022 con số này vào khoảng 1.200 ca. Các biến thể này đang lây lan nhanh hơn một chút so với biến thể BA.2 và bản thân BA.2 cũng lây lan nhanh hơn so với phiên bản Omicron đầu tiên, BA.1.        Khả năng lây nhiễm nhanh là một lợi thế tiến hóa, giúp Delta chiếm ưu thế so với Beta, và Omicron ban đầu chiếm ưu thế so với Delta. Từ các dữ liệu đã có, khá chắc chắn sẽ có một làn sóng COVID-19 mới do BA.4 và BA.5 lây lan nhanh hơn các dạng Omicron khác, có thể do khả năng né tránh miễn dịch hiệu quả hơn.    BA.4 và BA.5 đều mang một đột biến quan trọng trong protein gai (công cụ để virus lây nhiễm vào tế bào, và là mục tiêu các phản ứng miễn dịch nhắm đến) – đột biến F486V giúp virus né tránh các kháng thể. Biến thể phụ của Omicron ở Bắc Mỹ, BA.2.12.1, cũng có một số đột biến protein gai giống BA.4 và BA.5.    Đáng chú ý, một nhóm tại Viện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi ở Durban, Nam Phi, phân tích mẫu máu của 39 người nhiễm COVID-19 trong làn sóng BA.1, 15 người trong số đó đã chủng ngừa. Kết quả: kháng thể ở những người đã chủng ngừa chống lại BA.4 và BA.5 hiệu quả hơn so với kháng thể ở những người sinh miễn dịch do đã từng nhiễm BA.1. Một nghiên cứu khác của Đại học Bắc Kinh cho kết quả tương tự.    Khả năng né tránh miễn dịch của BA.4 và BA.5, mặc dù không đáng kể, “đủ để dẫn đến một làn sóng lây nhiễm,” theoViện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi.    Dự báo đại dịch    Các biến thể phụ này cho thấy dòng Omicron đang tiếp tục chiếm ưu thế bằng cách phát triển khả năng né tránh miễn dịch do các biến thể phụ trước đây sinh ra. Nếu tiếp tục phát triển theo con đường này, quá trình tiến hóa của SARS-CoV-2có thể giống với các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác, chẳng hạn như cúm.Các đột biến trong tương lai sẽ né tránh miễn dịch do các biến thể đang lưu hành sinh ra, giống như BA.4 và BA.5 né tránh miễn dịch do BA.1 sinh ra.    Kết hợp với sự suy giảm khả năng miễn dịch trên toàn quần thể theo thời gian, các biến thể phụ mới sẽ gây ra các làn sóng định kỳ, có khả năng là sáu tháng một lần.    Các nhà khoa học cho rằng, từ những dữ liệu quan sát được đến nay thì đó là một khả năng, nhưng nên thận trọng khi ngoại suy các quy tắc chung từ một khung thời gian quan sát khá ngắn. Ngoài ra, không thể loại trừ những kịch bản bất ngờ khác. Ví dụ: Delta vẫn chưa hoàn toàn biến mất và khi quần thể đã miễn dịch Omicron và các biến thể phụ của Omicron, một hậu duệ của Delta có thể chiếm ưu thế trở lại.    B.N    Author                .        
__label__tiasang Dự đoán giới hạn của hạt nhân nguyên tử: Mô phỏng các vùng rộng của sơ đồ nuclit      Các tính toán mới có thể làm thúc đẩy nghiên cứu về gần 700 đồng vị phóng xạ giữa heli và sắt, đồng thời chứng tỏ trong đó các hạt nhân có thể tồn tại và không tồn tại.      Các tính toán theo nguyên lý ban đầu mới toàn cầu từ heli tới sắt (nguyên tố He và Fe). Vùng xám chứng tỏ tất cả 700 hạt nhân nguyên tử được tính toán, trong khi vùng màu sắc (và cao) cho mỗi đồng vị với con số N và số Z proton Z tương ứng với xác suất là đường biên (đường biên xác suất). So sánh, đường biên giới hạn neutron và proton đã biết trong thực nghiệm và đồng vị đã được khám phá mới nhất đã được chứng tỏ với việc lấp đầy và rỗng. Nguồn: Technische Universitat DarmstadtaC  Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters, các nhà khoa học từ TU Darmstadt, trường đại học Washington, Phòng thí nghiệm TRIUMF Canada và trường đại học Mainz cho biết cách họ mô phỏng dựa trên những phương pháp lý thuyết đầy sáng tạo một vùng rộng của sơ đồ các nuclit – những nguyên tử có đặc tính do số lượng protons, số lượng neutrons, và mức năng lượng hạt nhân. Các phương pháp này được xây dựng trên lý thuyết về tương tác mạnh.  Hạt nhân nguyên tử liên kết với nhau bằng lực tương tác mạnh giữa các neutron và proton. Chỉ có khoảng 10% hạt nhân chúng ta biết là hạt nhân bền. Khởi nguồn từ những đồng vị bền đó, hạt nhân ngày càng trở nên không bền khi các neutron được thêm vào hoặc mất đi; chỉ cho đến khi các neutron có thể không liên kết lâu hơn với các hạt nhân và mất dần. Giới hạn của sự tồn tại, điều mà chúng ta vẫn gọi là “đường biên giới hạn” neutron, đã được khám phá qua thực nghiệm trên các nguyên tố nhẹ như neon. Hiểu về “đường biên giới hạn” neutron và cấu trúc của hạt nhân giàu neutron cũng đóng vai trò quan trọng trong chương trình nghiên cứu của thiết bị máy gia tốc tương lai FAIR tại Trung tâm nghiên cứu Ion nặng Helmholtz GSI ở Darmstadt.  Trong nghiên cứu mới “Ab Initio Limits of Nuclei” (Các giới hạn hạt nhân theo nguyên lý ban đầu), xuất bản trên Physical Review Letters, được ban biên tập giới thiệu kèm tóm tắt trong APS Physics, giáo sư Achim Schwenk, làm việc ở TU Darmstadt và là một Max Planck Fellow tại Viện nghiên cứu Vật lý hạt nhân Max Planck ở Heidelberg, cùng với các nhà khoa học từ trường đại học Washington, TRIUMF và trường đại học Mainz, đã thành công trong việc tính toán các giới hạn của hạt nhân nguyên tử bằng việc sử dụng các phương pháp lý thuyết mới cho hạt nhân có khối lượng trung bình. Kết quả nghiên cứu đem lại một lượng thông tin lớn và quý giá về những đồng vị mới có thể tạo ra, cũng như đem lại một lộ trình cho các nhà vật lý hạt nhân để xác nhận chúng.    Giáo sư Achim Schwenk, TU Darmstadt, là người dẫn dắt nghiên cứu này. Nguồn: TU Darmstadt  Nghiên cứu này không phải là nỗ lực đầu tiên để khám phá về lý thuyết vùng giàu neutron của bức tranh hạt nhân. Nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng thuyết phiếm hàm mật độ để dự đoán mối liên kết của các đồng vị giữa heli và các nguyên tố nặng. Nói theo cách khác, giáo sư Schwenk và đồng nghiệp lần đầu tiên khám phá sơ đồ của các nuclit trên dựa trên lý thuyết hạt nhân theo nguyên lý ban đầu. Bắt đầu từ các tương tác hai hạt và ba hạt ở cấp độ vi mô, họ giải quyết phương trình Schrödinger cho nhiều hạt để mô phỏng các đặc tính của hạt nhân nguyên tử từ heli đến sắt. Họ đã hoàn thành điều này bằng việc sử dụng một phương pháp hệ nhiều hạt theo nguyên lý ban đầu mới – Nhóm tái chuẩn hóa đồng đẳng trung bình – kết hợp với phần mở rộng để tính các quỹ đạo, qua đó có thể xác định tất cả các hạt nhân một cách đáng tin cậy.  Bắt đầu từ các tương tác hai hạt và ba hạt nucleon trên cơ sở lực tương tác mạnh, sắc động lực học lượng tử, các nhà nghiên cứu tính toán các mức năng lượng ở trạng thái nền ở gần 700 đồng vị phóng xạ. Các kết quả thu được đều phù hợp với những đo đạc trước đây và đóng vai trò như cơ sở để xác định vị trí của các đường biên giới hạn của neutron và proton. So sánh với những đo đạc khối lượng thực nghiệm và một phân tích thống kê cho phép xác định những bất định về lý thuyết cho những dự đoán của họ, như các mức năng lượng phân tách của hạt nhân cũng như xác suất về một đồng vị xuất hiện hoặc không tồn tại.  Nghiên cứu mới được coi như một cột mốc đáng nhớ về cách hiểu sơ đồ các nuclit và cấu trúc hạt nhân đột sinh từ tương tác mạnh. Đây là vấn đề quan trọng của Trung tâm hợp tác 1245do DFG tài trợ “Nuclei: From Fundamental Interactions to Structure and Stars” (Hạt nhân: Từ các tương tác cơ bản đến cấu trúc và các ngôi sao) tại TU Darmstadt, nơi thực hiện nghiên cứu này. Bước tiếp theo, các nhà nghiên cứu muốn mở rộng áp dụng các tính toán của họ cho các nguyên tố nặng hơn theo trật tự để cải thiện đầu vào cho mô phỏng về tổng hợp các nguyên tố nặng. Tiến trình đó có trong các môi trường giàu neutron theo hướng đường biên giới hạn neutron và xuất hiện trong tự nhiên khi các ngôi sao neutron sáp nhập hoặc trong các siêu tân tinh ở trạng thái tới hạn.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-limits-atomic-nuclei-scientists-simulate.htmla  http://dx.doi.org/10.1103/PhysRevLett.126.022501    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự đoán về giải Fields năm 2010      Rất khó dự đoán về các chủ nhân tương lai của giải Fields, vì trên mạng và trên báo&#160; không có nhiều thông tin về giới toán học, các chuyên gia toán cũng ít viết về giải này. Trong khi đó, giới toán học nói riêng và người Việt Nam nói chung đặc biệt quan tâm tới giải Fields 2010, bởi lẽ năm nay chúng ta hy vọng có một người Việt đoạt giải – đó là nhà toán học Ngô Bảo Châu – người có công trình được tạp chí Time tôn vinh là một trong 10 khám phá khoa học quan trọng nhất của năm qua.     Ngày 19/8 năm nay, Đại hội quốc tế các nhà toán học (ICM – International Congress of Mathematicians) lần thứ 26 họp tại Hyderabad (Ấn Độ) sẽ tổ chức lễ trao giải Fields năm 2010 cho các nhà toán học trẻ tuổi xuất sắc nhất thế giới đương đại.  Rất khó dự đoán về các chủ nhân tương lai  của giải Fields, vì trên mạng và trên báo  không có nhiều thông tin về  giới toán học, các chuyên gia toán cũng ít viết về giải này. Trong khi  đó, giới toán học nói riêng và người Việt Nam nói chung đặc biệt quan  tâm tới giải Fields 2010, bởi lẽ năm nay chúng ta hy vọng có một người  Việt đoạt giải – đó là nhà toán học Ngô Bảo Châu – người có công trình  được tạp chí Time tôn vinh là một trong 10 khám phá khoa học quan  trọng nhất của năm qua.   Giáo sư Châu đã được mời đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể tại Đại hội quốc tế các nhà toán học năm 2010. Thông thường, vinh dự ấy gắn liền với khả năng được trao giải Fields. Nếu Ngô Bảo Châu được tặng giải Fields năm nay, anh sẽ trở thành công dân Việt Nam đầu tiên mang lại cho Tổ quốc mình một trong những vinh dự khoa học cao quý nhất thế giới. Xin nói thêm, cho tới nay châu Á mới có ba công dân Nhật Bản được tặng giải thưởng Fields, nếu không kể đến hai người Hoa quốc tịch Mỹ và Australia đoạt giải.   Ngô Bảo Châu xuất hiện trong nhiều danh sách dự đoán các ứng viên giải Fields năm nay. Thí dụ anh đứng đầu danh sách một dự đoán trên mạng mathoverflow.net; một bài trên mạng math.columbia.edu khẳng định: nhiều người nghĩ rằng “Ngô là người chắc chắn thắng nhờ công trình của ông về bổ đề cơ bản” (Ngo is a shoo-in for his work on the fundamental lemma).  Dưới đây xin giới thiệu một số dự đoán về giải Fields năm nay, lấy từ các mạng của nước láng giềng Trung Quốc, nơi “khát” các giải thưởng quốc tế nhất:   Tình hình gần đây của giới toán học quốc tế có vẻ trầm lắng, không ồn ào như mấy năm trước, nhất là khi cả thế giới sững sờ trước tin nhà toán học tài ba Perelman từ chối nhận giải Fields 2006 và giải thưởng 1 triệu USD của Viện Clay tặng cho người chứng minh được giả thuyết Poincaré. Hồi ấy các mạng Trung Quốc còn xôn xao với tin một người Hoa là Khưu Thành Đồng (Shing-Tung Yau, sinh năm 1949, giải Fields 1982 và giải Wolf) và hai nhà toán học Trung Quốc khác “có liên quan” tới công trình của Perelman. Họ cũng tranh cãi về việc nhà toán học Terence Tao giải Fields 2006 (tên chữ Hán là Đào Triết Hiên) có phải là người Trung Quốc hay không.  Theo thông lệ, Hội Liên hiệp Toán học quốc tế (IMU, International Mathemathical Union) sẽ cử ra một tiểu ban xét chọn giải Fields gồm khoảng 10 người, đứng đầu là đương kim Chủ tịch IMU – ông Laszlo Lovasz, nhà toán học người Hungary. Chức vụ trưởng tiểu ban có ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả xét chọn giải Fields. Nghe nói năm xưa Atiyah, khi làm trưởng ban xét chọn giải Fields, đã bỏ ngoài tai mọi xì xào, nhất quyết chọn nhà vật lý người Mỹ Witten làm chủ nhân giải Fields 1990. Từ đó tới nay, ngành toán-vật lý luôn hoạt động sôi nổi, chứng tỏ Atiyah là người có tầm nhìn.            Giải Fields (Fields Medal Prize) gồm một huy chương vàng và tiền thưởng 15.000 USD, còn gọi là “giải Nobel Toán”, bốn năm mới trao một lần và chỉ trao cho người dưới 40 tuổi (tính đến ngày 1/1 năm xét giải). Giải Fields không trao cho quá bốn người mỗi lần, thông thường là hai người. Trong thời gian 70 năm, từ năm 1936 đến 2006 có 48 người được tặng giải này.          Vì thế để dự đoán giải Fields năm nay, có lẽ cũng nên xem Laszlo Lovasz có sở thích gì. Ông này khi học trung học đã giành ba huy chương vàng Olympic Toán quốc tế (IMO – International Mathemathical Olympiad) các năm 1964, 1965 và 1966. Một điều thú vị: con trai ông cũng đoạt huy chương vàng IMO 2008. Lovasz chủ yếu chuyên làm về lĩnh vực tổ hợp học (combinatorics), từng đoạt giải Wolf lĩnh vực này.   Gần đây trang bìa tạp chí Nature số tháng 8 có đưa tin về hai nhà toán học ở Princeton là Salvatore Torquato và Yang Jiao đã có thành tựu lớn về cải tiến năm loại khối đa diện Plato và các bố trí của khối đa diện Archimedes; Yang Jiao là nghiên cứu sinh ở Princeton. Nhưng thành tựu trên còn xa mới với tới giải Fields, vì hai người này thậm chí không được mời làm báo cáo về tổ hợp học. Cho nên có lẽ lĩnh vực này khó có ứng viên cho giải Fields, dù nhà tổ hợp học Lovasz làm trưởng ban xét chọn; tương tự như Trung Quốc năm 2002 là nước chủ nhà của Đại hội quốc tế các nhà toán học nhưng không người Trung Quốc nào đoạt giải Fields.  Về lĩnh vực xác suất (probability theory), vì năm 2006 Werner và Okounkov đã nhận giải Fields ở Madrid rồi nên năm nay lĩnh vực này sẽ không có dịp được xét tặng giải nữa.  Vậy ta hãy xem trong số các nhà toán học dưới 40 tuổi được mời đọc báo cáo tại phiên họp toàn thể Đại hội quốc tế các nhà toán học 2010, ai xứng đáng là ứng viên giải Fields năm nay?  Nói chung những người này đều là nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực của họ, có nhiều khả năng đoạt giải Fields.  Lĩnh vực đại số có Bao-Chau Ngo (tức Ngô Bảo Châu), người Việt Nam, có lẽ là nhà đại số học danh tiếng nhất hiện nay. Trên mạng có rất ít tư liệu về ông, tư liệu hiện có chủ yếu bằng tiếng Việt Nam, khi dùng công cụ dịch của Google dịch ra tiếng Trung Quốc thì không tài nào hiểu được. Các bloger Trung Quốc đành trước tiên dịch ra Pháp ngữ (vì họ cho rằng tiếng Việt gần với tiếng Pháp), sau đó dịch ra tiếng Anh, thấy hiệu quả rất tốt.  Cống hiến chính của Ngo là đã cùng thầy mình là Gerard Laumon chứng minh được bổ đề cơ bản cho các nhóm Unita, kết quả này có thể dẫn tới việc chứng minh nhiều định lý quan trọng khác của đại số học. Ngo sinh năm 1972 tại Hà Nội, học trung học ở trường chuyên toán thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, có tài năng toán học cực cao, hai lần đoạt huy chương vàng IMO các năm 1988, 1989 với số điểm tối đa. Sau đó ông nhận học bổng toàn phần tại Đại học Sư phạm Paris. Trường này từng có bảy người đoạt giải Fields, so với Đại học Princeton chỉ có hai. Hiện nay ông làm việc tại Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton. Nghe nói năm 2008 Ngo lại chứng minh được bổ đề cơ bản trong chương trình Langlands, vì thế giới toán học quốc tế lại một lần nữa quan tâm tới ông.   Nếu dịch hết các trang mạng Việt Nam viết về Bao-Chau Ngo thì có thể thấy họ hết sức đề cao ông. Nhưng khả năng đoạt giải Fields của Ngo thì tuyệt đối là dựa vào thực lực của ông, chứ không phải do dư luận tâng bốc.   Một nhà toán học khác rất có triển vọng là Artur Avila, sinh năm 1979 tại Brazil, 16 tuổi đoạt huy chương vàng IMO, 19 tuổi viết bài báo đầu tiên về toán học, 21 tuổi đi Pháp học, lấy bằng tiến sĩ, đúng là lý lịch chuẩn của một thiên tài thiếu niên. Avila chủ yếu làm về lĩnh vực hệ thống động lực, đã đạt nhiều thành tựu có tính sáng tạo đầu tiên, từng nhận giải Grand Prix Jacques Herbrand của Viện Khoa học Pháp giành cho các nhà khoa học dưới 35 tuổi (Werner năm 2003 cũng đoạt giải này, sau đó năm 2006 đoạt giải Fields). Avila hiện làm việc tại Viện Toán Clay.  Dĩ nhiên, trong số các nhà khoa học không được mời đọc báo cáo tại phiên họp toàn thể Hội nghị toán học thế giới 2010 tổ chức ở Ấn Độ cũng có nhiều tài năng xuất sắc. Thí dụ Damny Calegari, hiện là giáo sư Viện Công nghệ California, năm 2009 từng được tặng giải Clay. Ngoài ra Calegari còn là một nhà văn. Truyện ngắn A Green Light của ông từng được Hội Nhà văn quốc tế tặng giải Truyện ngắn hay nhất năm 1992.  * * *  Tóm lại qua dự đoán của các blogers Trung Quốc nói trên, có thể thấy Ngô Bảo Châu rất có triển vọng trở thành chủ nhân giải Fields năm nay, như mong muốn tự đáy lòng của chúng ta. Con người khiêm tốn hiền lành ấy sẽ đem về cho nền khoa học của đất nước giải thưởng danh giá nhất trong giới toán học. Cầu cho mong ước của chúng ta sẽ trở thành sự thật!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự đoán về năng lượng trong tương lai      Dự đoán của Fatih Birol, kinh tế trưởng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và là người chịu trách nhiệm xây dựng báo cáo Triển vọng Năng lượng Thế giới.      1. Mỹ sẽ không còn là nhà nhập khẩu dầu hàng đầu  Đã nhiều thập kỉ Mỹ là quốc gia nhập khẩu dầu mỏ số 1 thế giới với việc mua 11 triệu thùng dầu mỗi ngày vào năm 2010. Sự mất cân bằng đó đã tiêu tốn của người Mỹ rất nhiều tiền – trên 300 tỷ USD vào năm ngoái – và ảnh hưởng sâu sắc tới chính sách đối ngoại của Mỹ.   Tuy nhiên, nhờ hiệu quả năng lượng được cải thiện và các nguồn dầu thô mới ở Mỹ, người Mỹ đang bắt đầu nhập khẩu dầu mỏ ngày càng ít hơn. IEA dự đoán rằng nhập khẩu dầu mỏ của Mỹ sẽ bằng một nửa mức hiện tại vào năm 2035 trong khi nhập khẩu dầu mỏ của châu Âu sẽ tiếp tục tăng. Đến năm 2015, ông Fatih Birol- Chủ tịch IEA dự kiến rằng Liên minh Châu Âu sẽ nhập khẩu nhiều dầu mỏ hơn Mỹ, và tới năm 2035, Trung Quốc có thể nhập khẩu gấp đôi Mỹ.   2. Tương lai là khí đốt   Chúng ta thường cho rằng các nguồn cung dầu mỏ và khí đốt về cơ bản không thể mở rộng, rằng sự phát triển công nghệ là thứ chỉ xảy ra ở công nghệ sạch. Nhưng không phải như vậy. Thăm dò dầu mỏ và khí đốt đòi hỏi công nghệ cao, và các phương pháp mới có thể cho phép ngành công nghiệp này khai thác những nguồn cung mới. Điển hình là các phương pháp nứt vỉa thủy lực và khí đá phiến sét đã mở rộng đáng kể nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên ở Mỹ đã tạo ra ảnh hưởng mang tính dây chuyền trên toàn thế giới. Kết quả là, nhìn chung khí đốt tự nhiên sạch hơn đã sẵn sàng để cạnh tranh với than đá về giá cả.   3. Con người ngày càng bẩn hơn  Điều đáng buồn là thế giới đang sử dụng năng lượng ngày càng kém hiệu quả. Số liệu của IEA cho thấy trong vài năm qua, trên toàn cầu con người đang thải ra nhiều carbon hơn trên mỗi đơn vị sản lượng kinh tế. Điều này trái với xu hướng giảm trừ carbon mà chúng ta vẫn mong muốn. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng lên của năng lượng bẩn như than đá và tình trạng sản xuất một cách thiếu hiệu quả ở các quốc gia phát triển nhanh như Trung Quốc và Ấn Độ.   4. Than đá: Nguồn năng lượng cho tương lai và quá khứ  Sự thật là than đá giúp tạo ra hầu hết sản lượng điện của chúng ta trong quá khứ cũng như hiện tại. Trong 10 năm qua, 50% lượng tăng trưởng trong tiêu thụ năng lượng toàn cầu được cung ứng từ than đá. Thực tế đó giải thích lý do tại sao chúng ta lại đang ở trong một hành tinh đang ngày càng nóng lên. Các quốc gia phát triển đang từ bỏ than đá, nhưng các nước như Trung Quốc lại sử dụng ngày càng nhiều hơn, như bạn có thể thấy trên bầu trời đầy sương mù của Bắc Kinh.   5. Tiếp cận năng lượng: 2 tỷ người bị lãng quên  Đối với ai chỉ lo lắng về giá dầu cao đỉnh điểm và thay đổi khí hậu, cần lưu ý họ rằng có gần 2 tỷ người trên hành tinh này hằng đêm đang sống trong bóng tối, thiếu cơ hội tiếp cận các nguồn năng lượng hiện đại. Trong khi chúng ta đang vẽ ra một tương lai năng lượng xanh hơn, sạch hơn, thì không được phép bỏ qua họ.   Liên Hiệp Quốc đã chỉ định năm 2012 là Năm Năng lượng bền vững quốc tế cho tất cả mọi người. Điều này sẽ giúp vấn đề tiếp cận năng lượng xuất hiện nhiều hơn trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu. Nhưng nếu chúng ta thực sự muốn tìm cách đưa ánh sáng điện tới những nơi nghèo khó ở châu Phi thì không thể thiếu sự tham gia của các công ty năng lượng lớn.   Nguyễn Thảo  (lược dịch từ Time)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Du hành qua không gian và thời gian      Khoảng cách trung bình từ các ngôi sao tới chúng ta là rất lớn, từ vài năm đến vài chục năm ánh sáng (một năm ánh sáng bằng khoảng 10 nghìn tỉ km). Ví dụ là sao Beta Andromedae, nằm cách chúng ta khoảng bảy mươi lăm năm ánh sáng. Giả sử rằng Beta Andromedae nổ tung thứ ba vừa rồi, chúng ta sẽ không biết điều này cho tới bảy mươi lăm năm sau, bởi vì thông tin thú vị này được truyền đi với tốc độ ánh sáng cần phải có bảy mươi lăm năm để băng qua khoảng cách liên sao khổng lồ.                          Hai tàu du hành vũ trụ liên sao Voyager, cỗ máy di chuyển nhanh nhất trong lịch sử được phóng từ trái đất, đang bay với tốc độ chỉ bằng một phần mười nghìn tốc độ ánh sáng. Với hai tàu này, chúng mất tới 40.000 năm để đi đến được ngôi sao gần nhất.  Einstein tự hỏi thế giới sẽ ra sao nếu bạn có thể di chuyển trên một làn sóng ánh sáng. Ông chỉ ra trong lý thuyết tương đối hẹp rằng ánh sáng (phản xạ hay phát xạ) từ một vật thể là bằng nhau cho dù vật thể đó đang chuyển động hay đứng yên, và không có vật thể nào có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Không có gì trong vật lý ngăn không cho bạn di chuyển gần tốc độ ánh sáng nếu bạn muốn. Bạn có thể đi với 99,9 9999999 phần trăm của tốc độ ánh sáng nhưng không thể là 100 phần trăm.  Chúng ta nghe thấy tiếng rắc khi quất một sợi dây da dài vào không khí bởi vì đầu của nó di chuyển nhanh hơn tốc độ âm thanh, thành một dạng sóng xung kích tạo nên một tiếng nổ nhỏ. Có thời người ta nghĩ rằng máy bay không thể đi nhanh hơn âm thanh. Ngày nay máy bay siêu âm quá là phổ biến. Nhưng rào cản ánh sáng rất khác so với rào cản âm thanh. Đây không chỉ đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật như vấn đề của máy bay siêu âm. Đây là một quy luật cơ bản của tự nhiên mà ta đã chứng thực, ít nhất là cho đến lúc này. Máy gia tốc hạt nhân và đồng hồ nguyên tử đưa ra những đo đạc phù hợp một cách định lượng và chính xác với thuyết tương đối hẹp.                                      Carl Sagan (1934-1996) một nhà thiên văn học nổi tiếng  người Mỹ nổi tiếng với các nghiên cứu về sự sống bên ngoài trái đất. Ông  đồng sáng lập hội hành tinh học của Mỹ và là người đề xuất nhiều ý  tưởng tìm kiếm sự sống bên ngoài trái đất. Một trong những ý tưởng đó là  gửi các thông điệp lên không gian trên hai vệ tinh Voyager 1 và 2 thông  báo về sự tồn tại của con người ở trái đất, với hy vọng một ngày nào đó  các thông điệp này sẽ đến được người ngoài hành tinh, nếu có. Ông còn  một cây bút rất nổi tiếng chuyên viết sách khoa học và tiểu thuyết khoa  học viễn tưởng, từng đoạt giải Pulitzer năm 1978. Bộ phim tài liệu Vũ  trụ của ông là một trong những bộ phim ăn khách nhất trên thế giới, thậm  chí cho đến nay.          Hãy tưởng tượng rằng bạn đang đi với tốc độ ánh sáng trên một chiếc xe tay ga. Khi tốc độ tăng lên, bạn bắt đầu nhìn thấy xung quanh góc cạnh của các vật thể mà bạn vừa vượt qua. Trong khi để mắt về phía trước, những vật thể phía sau bạn xuất hiện trong khu vực tiếp theo của tầm nhìn. Gần tốc độ ánh sáng, từ góc nhìn của mình, thế giới trông rất kì lạ – gần như tất cả mọi vật co lại trông một khung cửa tròn bé tí nằm trước mắt. Từ góc độ của một người quan sát đứng yên, ánh sáng phản xạ từ bạn chuyển sang đỏ khi bạn đi ra xa và chuyển sang xanh khi bạn hướng ngược trở lại. Nếu di chuyển hướng tới người quan sát gần với tốc độ ánh sáng, bạn dường như được bao bọc trong một vỏ bọc bức xạ sáng rực một cách kì lạ: bức xạ hồng ngoại thường không nhìn thấy được của bạn bị xê dịch qua các bước sóng ngắn hơn nhìn thấy được. Bạn bị nén trong hướng chuyển động, khối lượng gia tăng, và thời gian mà bạn cảm thấy chậm lại, một hệ quả quan trọng của việc di chuyển gần tốc độ ánh sáng được gọi là sự giãn nở thời gian. Nhưng từ góc độ của một người quan sát chuyển động cùng với bạn-có lẽ trong chiếc ghế khác của chiếc xe- không có tác động nào xảy ra.  Di chuyển gần tốc độ ánh sáng sẽ khó làm bạn già đi, nhưng bạn bè và người thân của bạn ở nhà của bạn sẽ lão hóa như bình thường. Khi bạn quay về nhà sau cuộc hành trình theo thuyết tương đối, bạn trở nên quá khác biệt so với bạn bè, họ đã già đi nhiều chục tuổi, trong khi bạn hầu như chẳng già đi tí nào cả! Bởi vì thời gian chậm lại khi đi gần với tốc độ ánh sáng, thuyết tương đối hẹp cung cấp chúng ta một phương tiện để đi đến các vì sao. Nhưng liệu nó có khả thi về mặt kỹ thuật thực tế để di chuyển gần tốc độ ánh sáng hay không? Liệu tàu liên sao có khả thi?    Các dự án tàu liên sao  Năm 1939 khi một nhóm kỹ sư người Anh tự nhận là hội liên hành tinh vương quốc Anh thiết kế một con tàu để đem người lên Mặt Trăng – sử dụng công nghệ năm 1939. Đương nhiên là nó chẳng giống thiết kế của con tàu vũ trụ Apollo được hoàn thành đúng ba thập lỷ sau đó tí nào, nhưng nó gợi ý rằng sứ mệnh lên mặt trăng có thể ngày nào đó sẽ khả thi về mặt kỹ thuật thực tế.  Hiện nay chúng ta đã thiết kế sơ bộ cho tàu đưa người đến các ngôi sao. Không có chiếc nào được thiết kế để phóng trực tiếp từ trái đất. Thay vào đó, chúng được xây dựng trên quỹ đạo trái đất mà từ đó chúng bắt đầu cuộc hành trình liên sao dài dằng dẳng. Một trong những dự án đó là kế hoạch Orion, được đặt tên theo tên của chòm sao, một lời nhắc nhở mục tiêu cuối cùng của con tàu là các ngôi sao. Orion được thiết kế để sử dụng một chuỗi các vụ nổ của bom hydrogen, vũ khí hạt nhân, đẩy vào một tấm chắn quán tính. Orion có vẻ như hoàn toàn khả thi về khía cạnh kỹ thuật. Nhưng vì lượng lớn các mảnh vỡ phóng xạ mà nó phóng ra trong môi trường trống rỗng liên hành tinh hoặc liên sao, Orion chỉ phát triển tại Hoa Kỳ cho đến khi việc ký kết hiệp ước quốc tế cấm các vụ nổ vũ khí hạt nhân trong không gian. Đối với tôi đây là một điều đáng tiếc lớn. Tàu liên sao Orion là trường hợp sử dụng tốt nhất vũ khí hạt nhân cho các mục đích tốt đẹp mà tôi có thể nghĩ đến.  Dự án Daedalus là một thiết kế gần đây của Hội liên hành tinh vương quốc Anh. Dự án giả sử sự tồn tại của một lò phản ứng nhiệt hạch hạt nhân – một cái gì đó an toàn hơn và hiệu quả hơn nhiều so với các nhà máy điện phân hạch hiện nay. Ta chưa có lò phản ứng nhiệt hạch, nhưng người ta đang chờ đợi nó xuất hiện trong vài thập niên tới. Orion và Daedalus có thể bay với tốc độ bằng 10 phần trăm tốc độ ánh sáng. Một chuyến đi đến Alpha Centauri, cách ta 4,3 năm ánh sáng, sẽ mất bốn mươi ba năm, ít hơn một đời người. Con tàu như vậy không thể di chuyển đủ gần với tốc độ ánh sáng để sự giãn nở thời gian tương đối đặc biệt trở nên quan trọng. Ngay cả với các dự án lạc quan về phát triển công nghệ của chúng ta, việc chế tạo Orion, Daedalus hay cái gì đó tương tự chưa trong nửa đầu thế kỷ XXI, mặc dù nếu muốn chúng ta vẫn có thể chế tạo Orion ngay từ bây giờ.          Tàu Orion          Đối với chuyến đi vượt ra ngoài các ngôi sao gần nhất, người ta phải làm cái gì khác. Có lẽ Orion và Daedalus có thể được sử dụng như tàu đa thế hệ, như vậy những người đi đến một hành tinh ở một ngôi sao khác sẽ là hậu duệ xa của những người đã đề ra dự án một vài thế kỷ trước. Hoặc có lẽ một phương pháp ngủ đông an toàn cho con người sẽ được tìm ra, để các nhà du hành vũ trụ có thể ngừng hoạt động và thức tỉnh lại vài thế kỷ sau đó. Những con tàu-liên-sao-phi-tương-đối vô cùng tốn kém, có vẻ tương đối dễ dàng thiết kế, chế tạo và sử dụng so với tàu liên sao bay gần tốc độ ánh sáng.  Tàu vũ trụ liên sao tốc độ cao – với vận tốc tàu gần bằng tốc độ ánh sáng không phải là mục tiêu trăm năm mà là mục tiêu một ngàn thậm chí mười ngàn năm. Nhưng về nguyên tắc điều đó có thể. Một loại máy bay phản lực liên sao được đề xuất bởi R.W. Bussard sẽ hút lấy các vật chất khuếch tán, chủ yếu là nguyên tử hydro, trôi nổi giữa các vì sao, gia tốc nó thành một động cơ nhiệt hạch rồi tống nó trở lại ra ngoài. Hydro vừa được sử dụng làm nhiên liệu vừa là và chất xúc tác. Nhưng trong không gian sâu thẳm chỉ có khoảng một nguyên tử hydro mỗi mười cm3, thể tích của một quả nho. Để các máy bay phản lực hoạt động được, nó cần phải nuốt hết vật chất trong hàng trăm cây số trước mặt. Khi tàu đạt đến vận tốc tương đối, các nguyên tử hydro sẽ di chuyển đối với tàu không gian ở gần tốc độ ánh sáng. Nếu không xem xét các biện pháp phòng ngừa thích hợp, các tàu không gian và hành khách trên đó sẽ bị chiên giòn bởi các các tia vũ trụ vừa mới tạo ra này. Một giải pháp được đề xuất là sử dụng tia laser để tách electron ra khỏi nguyên tử trong môi trường liên sao và làm cho chúng tính điện khi chúng vẫn còn nằm ở khoảng cách rất xa, dùng một từ trường cực mạnh làm chệch hướng các nguyên tử tích điện vào cái muỗng hứng nằm cách xa phần còn lại của con tàu.  Các mẫu thiết kế của tàu Orion, Daedalus và tàu phản lực Bussard có lẽ khác hơn rất nhiều các tàu liên sao mà ta sẽ chế tạo trong thực tế một ngày nào đó so với sự khác nhau giữa mô hình máy bay của Leonardo ngày xưa với máy bay siêu thanh bây giờ. Nhưng nếu chúng ta không tự hủy diệt chính mình, tôi tin rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ có khả năng đến được các vì sao khác. Khi hệ mặt trời đã được khám phá, hành tinh của các ngôi sao khác sẽ phất cờ vẫy gọi.  Di chuyển trong không gian và thời gian luôn quan hệ với nhau. Chúng ta chỉ có thể đi nhanh vào không gian bằng cách đi nhanh vào tương lai. Nhưng liệu ta có thể quay trở về quá khứ và thay đổi quá khứ? Liệu chúng ta có thể làm các sự kiện diễn ra khác với những gì mà các cuốn sách lịch sử khẳng định? Chúng ta luôn đi vào tương lai theo tốc độ một ngày trên một ngày. Với tàu vũ trụ tương đối chúng ta có thể đi nhanh hơn vào tương lai. Tuy nhiên, nhiều nhà vật lí tin rằng di chuyển ngược về quá khứ là không thể. Thậm chí nếu bạn có một thiết bị có thể đi ngược thời gian, họ nói, bạn sẽ chẳng thể thay đổi bất cứ điều gì cả. Nếu bạn đi vào quá khứ và ngăn chặn bố mẹ bạn gặp nhau thì bạn sẽ chẳng bao giờ được sinh ra- đây là một mâu thuẫn bởi rõ ràng là bạn đang tồn tại.   Một số nhà vật lý khác đề nghị hai lịch sử thay thế, cả hai đều thực như nhau, có thể tồn tại bên cạnh nhau – một thế giới mà trong đó bạn biết và thế giới khác mà trong đó bạn chưa bao giờ được sinh ra. Có lẽ chính thời gian có quá nhiều chiều tiềm năng, nhưng trong thực tế ta chỉ cảm thấy một trong số đó. Giả sử bạn có thể quay trở lại vào quá khứ và thay đổi nó thì bạn có thể đã thiết lập một chuỗi các sự kiện lịch sử khác, mà những người ở trong thời của chúng ta sẽ không bao giờ biết đến. Nếu khả năng du hành qua thời gian đó là có thể, thì các lịch sử thay thế ảo theo một cách nào đó có lẽ đã thực sự tồn tại.  Trong tất cả những thế giới khác trong không gian đó, có những sự kiện diễn ra xác định tương lai của họ. Và trên hành tinh bé nhỏ của chúng ta, thời khắc lịch sử này là ngã rẽ cũng sâu sắc như những cuộc đối đầu của các nhà khoa học Ionia đối với sự thần bí 2500 năm trước. Những gì chúng ta làm đối với thế giới này sẽ lan truyền qua nhiều thế kỉ và định hình một cách mạnh mẽ vận mệnh và số phận của con cháu chúng ta, nếu có, giữa các vì sao.    Nguyễn Quang lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Du hành trong thời gian về quá khứ      Để kỷ niệm 100 năm Lý thuyết Tương đối rộng, tạp chí&#160; Scientific American ra số tháng 9/2015 gồm loạt bài viết của một số nhà khoa học có uy tín với nhiều nội dung quan trọng.  Sau đây là bài viết của Tim Folger, cộng tác viên National Geographic, về một vấn đề rất hấp dẫn, luôn gây ấn tượng: Lược sử Du hành trong thời gian (A brief history of Time Travel).    Năm 1895 H.G.Wells viết cuốn truyện viễn tưởng Cỗ máy thời gian (The time machine) nêu ý tưởng du hành trong thời gian. Chỉ sau khi Lý thuyết Tương đối hẹp (Special relativity – SR) và Lý thuyết Tương đối rộng (General relativity – GR) của Einstein ra đời, người ta mới biết đến khả năng thực tế du hành trong thời gian.  A/ Du hành trong thời gian vào tương lai   Việc du hành trong thời gian vào tương lai không những là khả dĩ mà thực tế đã được thực hiện. Nhà du hành vũ trụ người Nga Sergei K.Krikalev đã ở trong không gian 803 ngày trên trạm vũ trụ MIR. Theo lý thuyết Einstein, thời gian chảy chậm hơn trong một con tàu chuyển động so với lúc đứng yên. Krikalev đã chuyển động với vận tốc 17.000 dặm/giờ. Krikalev trẻ hơn đồng nghiệp trên mặt đất 1/48 giây. Nếu Krikalev đã đi vòng quanh đến sao Betelgeuse – cách Trái đất 520 năm ánh sáng – với vận tốc 99,995 vận tốc ánh sáng – và trở về Trái đất vào năm 2015 [theo thời gian của nhà du hành vũ trụ], thì ông chỉ già thêm 10 tuổi, trong khi 1.000 năm đã trôi qua trên Trái đất, đó là năm 3015. Đây là nghịch lý anh em sinh đôi, song thực tế không phải là một nghịch lý mà một hiện tượng hoàn toàn logic trong SR và GR. Hiện tượng này hiện nay đã được dùng trong công nghệ cao GPS (Global Positioning System).    Vậy du hành vào tương lai là chuyện có thể làm được, chỉ cần kinh phí, công nghệ và thời gian!  B/ Du hành trong thời gian về quá khứ  Song du hành về quá khứ là vấn đề nan giải. SR không cho phép nhưng GR cho phép. GR cho nhiều lời giải trong đó có những lời giải tạo điều kiện du hành về quá khứ. Liệu vũ trụ thực tại có ngăn cấm một cuộc du hành về quá khứ chăng?     Một cuộc du hành về quá khứ không hề bị ngăn cấm bởi GR. Sau đây là nghịch lý du hành trong thời gian về quá khứ: Giả sử một nhà du hành đi về quá khứ và giết mẹ của mình (giả sử hơi cực đoan) khi bà ta còn là con gái. Điều này có nghĩa thế nào?    Nếu người con gái chết thì cô ta không thể là mẹ của nhà du hành. Song nếu nhà du hành không được sinh ra thì anh ta không thể đi ngược thời gian để về giết mẹ. Đây là một nghịch lý!    Tuy nhiên có thể xảy ra một kịch bản dễ chấp nhận hơn. Giả sử nhà du hành quay về quá khứ và cứu được một người con gái khỏi bị giết chết bởi một kẻ nào đó, người con gái này lớn lên và trở thành mẹ của nhà du hành. Bây giờ vòng nhân quả là hợp lý và không còn chứa nghịch lý nào.    Như vậy nguyên lý nhân quả đã áp đặt một số hạn chế vào các kịch bản phát biểu nghịch lý du hành về quá khứ nhưng không loại trừ khả năng du hành về quá khứ.  C/ Vũ trụ lạ lùng của GODEL  Người đầu tiên sử dụng GR để mô tả một vũ trụ cho phép du hành về quá khứ là Kurt Godel. Ông chính là tác giả của những định lý bất toàn nổi tiếng hạn chế toán học về những điều chứng minh được và không chứng minh được.    Godel đã trình bày mô hình này với Einstein. Vũ trụ của Godel có hai đặc trưng. Thứ nhất, vũ trụ này có chuyển động quay ngăn cản lực hấp dẫn làm co vũ trụ và tạo nên ổn định cho một vũ trụ Einstein. Thứ hai, trong vũ trụ Godel, nhà du hành có thể vượt ra xa và trở về lại một điểm trong quá khứ của mình sau khi thực hiện một quỹ đạo quanh một mặt của hình trụ khổng lồ. Các nhà vật lý gọi những quỹ đạo như thế trong không thời gian là “những đường cong kín đồng dạng thời gian (closed timelike curves – CTC)”.     Những đường cong kín đồng dạng thời gian là những quỹ đạo xuyên qua không thời gian rồi trở lại khép thành một vòng kín. Trong vũ trụ quay của Godel những đường cong này đi vòng quanh khắp vũ trụ tương tự như những đường vĩ tuyến trên mặt Trái đất.    Song người ta không có bằng chứng nào về sự tồn tại một vũ trụ quay. Godel chỉ có thể chứng minh rằng GR chấp nhận sự tồn tại của CTC và GR không loại trừ việc du hành về quá khứ còn mô hình Godel thì không phù hợp với thực tế.     Theo Julian Barbour một nhà vật lý lý thuyết thì Einstein đã biết sự tồn tại của CTC từ năm 1914.          Hình 1. Lỗ sâu đục trong không thời gian. Những đường cong CTC đi vào và thoát ra khỏi lỗ sâu đục.          D/ Một khả năng   Nhiều thập kỷ các nhà vũ trụ học tìm cách xây dựng những CTC. Hiện nay, các nhà vật lý tìm CTC trong những vùng của vũ trụ (trong khi Godel tìm CTC trong vũ trụ toàn bộ).    Trong GR các hành tinh, sao, thiên hà và mọi vật thể có khối lượng đều làm cong không thời gian. Và ngược lại không thời gian cong lại điều khiển chuyển động của những vật thể đó. Trong những điều kiện cực đoan (extreme), không thời gian có thể tạo nên những quỹ đạo đi từ hiện tại đến quá khứ. Năm 1983, Lip S.Thorne (Viện Công nghệ California – Caltech) tìm khả năng tạo CTC nhờ lỗ sâu đục (wormhole) – đây là một loại đường hầm nối liền hai vị trí khác nhau trong không thời gian – cho phép du hành trong thời gian về quá khứ. Lỗ sâu đục khác lỗ đen ở chỗ: lỗ sâu đục có miệng vào (tiếng Anh là mouth) và miệng ra (lối ra) trong khi lỗ đen chỉ có một miệng vào.    Sean M.Carroll (ở Caltech) phát biểu rằng trong GR nếu ta nối hai địa điểm khác nhau trong không gian thì ta cũng đã nối hai vùng thời gian khác nhau.    Miệng vào của một lỗ sâu đục có thể là một lối vào ba chiều dẫn vào một đường hầm bốn chiều trong không thời gian. Mặc dầu các nhà vật lý đã viết ra những phương trình mô tả CTC, mọi mô hình đưa ra vẫn còn chứa nhiều vấn đề.    Theo Carroll, muốn tạo nên một lỗ sâu đục, trước hết cần một năng lượng âm. Năng lượng âm là năng lượng tự phát thăng giáng xuống dưới số không. Nếu không có năng lượng âm, lỗ sâu đục sẽ tức thì nổ vào trong (implode). Song năng lượng âm là một điều gay cấn trong vật lý. Điều này dẫn đến phản hấp dẫn, phản hấp dẫn cần một năng lượng âm để được tạo nên. Năng lượng âm tồn tại trong một số hệ Cơ học Lượng tử (Quantum mechanics – QM).    Paul Davies đưa ra một viễn cảnh: có thể chế tạo một lỗ sâu đục nhờ máy gia tốc. Sau đó cần phóng đại lỗ sâu đục này. Dùng năng lượng âm (như trong hiệu ứng Casimir) để giữ ổn định lỗ sâu đục ngăn nó không biến nó thành một lỗ đen và đưa nó vào vũ trụ.    Một con tàu vũ trụ đi vào lỗ sâu đục. Miệng số 2 của lỗ sâu đục ở gần sao neutron, sao này tạo ra một trường hấp dẫn mạnh, làm cho thời gian chậm lại. Bởi vì thời gian ở miệng kia của lỗ sâu đục số 1 chảy nhanh hơn do đó hai miệng lỗ sâu đục sẽ cách nhau không những trong không gian mà còn trong thời gian.    Cho rằng lỗ sâu đục đã được tạo nên (nhờ năng lượng âm) chúng ta cần biến nó thành một cỗ máy thời gian: hạt phải đi vào lỗ sâu đục và thoát ra làm thành một vòng kín nhiều lần như vậy (xem hình 2).    Carroll nói rằng lỗ đen là hiện tượng không tránh khỏi trong GR còn CTC lại là một hiện tượng khó tạo nên.    Một nhà du hành khi đi vào và thoát ra khỏi một lỗ sâu đục thì đã du hành từ hiện tại về quá khứ (hay vào tương lai). Như trên đã nói một miệng của lỗ sâu đục phải nằm sát bề mặt một sao neutron. Trường hấp dẫn của sao neutron sẽ làm chậm thời gian ở đầu miệng đó. Và hiệu thời gian sẽ được tích lũy giữa hai miệng của lỗ sâu đục. Giả sử hiệu thời gian là 10 năm thì nhà du hành thứ nhất đi vào lỗ sâu đục theo chiều này sẽ làm một bước nhảy 10 năm vào tương lai. Còn nếu nhà du hành thứ hai đi theo chiều ngược lại thì sẽ làm một bước nhảy lùi 10 năm về quá khứ và nếu anh quay về điểm cũ trong quá khứ thì có thể xảy ra hiện tượng anh ta trở về nhà trước cả lúc anh rời nhà lên tàu vũ trụ!    Điều đáng chú ý là CTC không trái ngược với GR, ta muốn chứng minh rằng CTC là không thể có được song ta lại không thể chứng minh điều đó được. Lý thuyết GR của Einstein đã tạo nên những điều tưởng chừng như không khả dĩ, nhưng nghiên cứu những điều tưởng chừng như bất khả dĩ đó các nhà vật lý lại thêm một bước hiểu sâu vũ trụ.                         Hình 2. Miệng số 2 của lỗ sâu đục nằm sát một sao neutron với trường hấp dẫn rất mạnh        E/ Có phải vũ trụ đã được hình thành từ chính vũ trụ không?  Theo một ý tưởng lý thú gần đây nếu vũ trụ không cho phép du hành về quá khứ thì bản thân vũ trụ cũng không thể hình thành được.    GR mô tả vũ trụ ở mức vĩ mô còn QM (Quantum mechanics) mô tả vũ trụ ở mức vi mô. Song QM lại tạo nên khả năng tiếp cận CTC – xét từ thời sơ sinh của vũ trụ.    “Ở kích thước nhỏ 10-30cm – thì topo của không thời gian thăng giáng và những thăng giáng ngẫu nhiên đó có thể tạo nên những CTC” John Friedman (Đại học Wisconsin – Milwaukee) đã phát biểu như vậy. Có thể chăng phóng đại những thăng giáng đó để tạo nên cỗ máy thời gian?    Chắc rằng việc tạo nên những vòng kín trong không thời gian ở qui mô lượng tử hay vũ trụ sẽ đòi hỏi một vật lý cực đoan (extreme). Và vật lý cực đoan đó thực tế đã tồn tại ở buổi sơ sinh của vũ trụ, Gott đã nói như vậy.    Năm 1998, Richard Gott (Đại học Princeton) và Li-Xin Li (Đại học Bắc Kinh) đã công bố một bài báo nêu ý tưởng rằng những CTC không những khả dĩ mà còn là nhất thiết đề giải thích nguồn gốc của vũ trụ. “Chúng tôi nghiên cứu vấn đề liệu vũ trụ có phải chính là mẹ đẻ của nó và liệu có phải các CTC ở thuở sơ sinh của vũ trụ đã cho phép vũ trụ tạo ra chính mình hay không?”, Gott phát biểu như vậy.    Gott và Li bắt đầu với một lạm phát (inflation) – như trong mô hình chuẩn của vũ trụ học – trong đó mọi năng lượng đã kích động sự dãn nở ban đầu. Hiện nay nhiều nhà vũ trụ học cho rằng lạm phát đã sinh ra nhiều vũ trụ ngoài vũ trụ của chúng ta. Gott nghĩ rằng, “Một khi đã bắt đầu thì lạm phát khó lòng dừng lại”. Và điều đó tạo nên vô cùng nhiều nhánh cây. Chúng ta là một nhánh trong các nhánh đó. Song ta phải tự hỏi thế thân cây ở đâu? Li-Xin Li và Gott cho rằng một nhánh đã cuộn vòng lại (loop around) và phát triển thành thân cây.    Một phác họa đơn giản hai chiều có biểu diễn tương tự như hình con số 6 trong đó vòng không thời gian ở phía dưới còn vũ trụ hiện tại là nhánh phía trên. Một bùng nổ của lạm phát theo Gott và Li cho phép vũ trụ thoát khỏi vòng thời gian và dãn nở thành vũ trụ hiện nay.    Thật khó lòng mà chiêm ngưỡng mô hình này song chính mô hình này lại loại trừ được khẳng định vũ trụ đột sinh từ cái không có gì cả.                          Hình 3. Vũ trụ thoát thân từ chính vũ trụ         Alexander Vilenkin (Đại học Tufts), Stephen Hawking (Đại học Cambridge) và James Hartle (Đại học California) lại đưa ra mô hình vũ trụ đột sinh từ cái không có gì cả. Theo QM, chân không không phải là trống trơn mà chứa đầy những cặp hạt ảo hủy và sinh liên tục. Như vậy, các tác giả này cho rằng vũ trụ đột sinh từ môi trường đó. Còn Gott thì cho rằng vũ trụ đột sinh từ chính bản thân vũ trụ.  G/ Một trò chơi cờ vũ trụ  Richard Feynman lại so sánh vũ trụ với một trò chơi cờ của Thượng đế. Các nhà khoa học muốn tìm hiểu trò chơi này nhưng lại không biết các quy tắc của nó. Chúng ta thấy Thượng đế chuyển động con tốt từng bước một lên phía trước, và tưởng rằng con tốt luôn là con tốt mãi đến khi nó biến thành con hậu. Ta tưởng rằng sai luật song Thượng đế nói rằng đây là điều kiện cực đoan. Vấn đề du hành trong thời gian cũng tương tự như vậy. Ta phải xét vật lý dưới những điều kiện cực đoan. Du hành về quá khứ không phải là điều bất khả dĩ: biến con tốt thành con hậu là một phần của GR.    Những ý tưởng như vậy dường như gần với triết học hơn vật lý. Song QM và GR cho phép chúng ta nghĩ rằng những ý tưởng như vậy cũng rất gần vật lý.    Liệu trong tương lai, lý thuyết có thể loại trừ được khả năng du hành về quá khứ? Chắc là không; ngoài ra, vũ trụ lại có thể còn lạ lùng hơn chúng ta tưởng nhiều? Có thể nghĩ đến một đối xứng nào đó cho phép du hành về quá khứ.    Du hành trong thời gian về quá khứ là điều không cấm đoán bởi GR, song để thực hiện chuyến du hành đó, các nhà khoa học còn gặp nhiều gian nan, thách thức mà hiện nay các nhà khoa học muốn tìm cách vượt qua.   CC. biên dịch   ————  Tài liệu tham khảo   Paul Davies, How to build a time machine, Scientific American số tháng 9/2002.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Du lịch không gian tăng giá      Ông Nikolai Sevastianov, Chủ tịch Công ty Xây dựng Không gian Nga Energuia RKK, vừa cho biết giá cho một chuyến bay vào không gian đã tăng từ 20 lên 21 triệu USD do sự tăng giá các vật liệu và bộ phận lắp ráp tàu vũ trụ.    Du lịch không gian hiện rất phát triển, nhất là tại các nước phương Tây. Theo ông Sevastianov, người ta không thể xem các phi hành gia này là du khách không gian, mà đây là những nhà du hành không chuyên. Chuyến bay của họ được tài trợ bởi các nhà đầu tư tư nhân và họ thực hiện một chương trình khoa học quan trọng trên Trạm không gian quốc tế ISS.  Số tiền được chi bởi các nhà du hành không chuyên sẽ dùng để tài trợ cho việc chế tạo các tàu vũ trụ có người lái Soyuz.  “Khi chúng tôi phóng một tàu Soyuz với 3 thành viên phi hành đoàn, hai trong số họ sẽ tài trợ cho chuyến bay. Hai người này thường là một phi hành gia của NASA thanh toán tại Roskosmos tiền du lịch với tư cách là thành viên phi hành đoàn và một nhà du hành không chuyên được đưa vào không gian nhờ quỹ tư nhân. Chỉ huy tàu luôn luôn là một phi hành gia Nga được tài trợ chuyến bay trong khuôn khổ chương trình không gian Nga”, ông Sevastianov giải thích.  (Theo HTV, Ria Novosti)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu ba mươi năm tiết lộ nguyên nhân phá hủy các rạn san hô      Các rạn san hô, một trong những hệ sinh thái bị đe dọa nhất trên hành tinh, đang chết dần với tốc độ đáng báo động. Theo các nhà khoa học, một số tác nhân là ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nhiệt độ nước ấm lên do biến đổi khí hậu, đã tẩy trắng và khiến hàng loạt rạn san hô chết.      Những rạn san hô này đã chết rất lâu trước khi chúng bị ảnh hưởng từ nhiệt độ nước tăng. Ảnh: The Conversation  Dữ liệu 30 năm từ rạn Looe Key ở hạ lưu Florida của các nhà nghiên cứu ở Viện Hải dương học Harbor Branch của Đại học Florida Atlantic cho thấy: hiện tượng tẩy trắng san hô không chỉ do hiện tượng nóng lên toàn cầu mà còn do hành tinh luôn được bổ sung nitơ tự do từ nhiều nguồn khác nhau. Công trình được xuất bản trên tạp chí Marine Biology.  Nước thải được xử lý không đúng cách, phân bón và tầng đất mặt đang làm tăng nồng độ nitơ, gây ra tình trạng thiếu phốt pho trong san hô, làm giảm ngưỡng nhiệt độ của chúng để “tẩy trắng”. Những rạn san hô này đã chết rất lâu trước khi chúng bị ảnh hưởng từ nhiệt độ nước tăng. Nghiên cứu này là tài liệu dài nhất về chất dinh dưỡng phản ứng và lượng tảo ở các rạn san hô. “Kết quả của chúng tôi cung cấp bằng chứng thuyết phục việc tăng nồng độ nitơ ở quần đảo san hô Florida Keys và hệ sinh thái Everglades là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái rạn san hô ở Khu bảo tồn Looe Key Sanctuary”, Brian Lapointe, giáo sư nghiên cứu tại Viện Harbor Branch và là tác giả chính của nghiên cứu, nói.  Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là dòng chảy dinh dưỡng trên đất liền đã làm tăng tỷ lệ nitơ:phốt pho (N:P) trong tảo sống ở các rạn san hô, làm tăng giới hạn phốt pho và gây ra áp lực chuyển hóa, cuối cùng khiến san hô chết vì thiếu dinh dưỡng. Nồng độ của nitơ cũng như mức thực vật phù du ở các rạn san hô ngoài khơi vượt ngưỡng thiết lập trước đây của hệ sinh thái cho Florida Keys.  Các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ năm 1984 đến 2014 và thu thập các mẫu nước biển trong mùa mưa và mùa khô. Lapointe và các cộng tác viên ở Đại học Georgia và Đại học Nam Florida cũng theo dõi san hô sống và thu thập nhiều loài rong biển (macroalgae) để phân tích dinh dưỡng mô. Họ đã theo dõi độ mặn, nhiệt độ và thành phần dinh dưỡng của nước biển giữa Everglades và Looe Key để hiểu rõ hơn về cách nitơ di chuyển từ hạ lưu Everglades đến các rạn san hô của Florida Keys, nơi có lượng san hô thấp nhất trong số các rạn san hô ở khu vực Caribe hiện nay.  Dữ liệu tiết lộ, độ bao phủ của san hô tại Khu bảo tồn Looe Key Sanctuary đã giảm từ gần 33% vào năm 1984 xuống dưới 6% vào năm 2008. Tỷ lệ mất san hô hằng năm thay đổi, ví dụ tăng từ 1985 đến 1987 và 1996 đến 1999 sau các giai đoạn lượng mưa lớn và tăng lượng nước chuyển đến từ Everglades. Từ năm 1991 đến năm 1995, sự gia tăng đáng kể dòng chảy của Everglades và lượng mưa lớn dẫn đến sự gia tăng nồng độ nitơ hoạt động và mức thực vật phù du tại Looe Key vượt quá mức đã góp phần hủy diệt các rạn san hô. Mặc dù dòng chảy từ Everglades đã giảm, chất lượng nước vẫn chưa phục hồi đến mức của những năm 1980.  “Thành công của Kế hoạch phục hồi toàn diện Everglades sẽ phụ thuộc vào việc công nhận mối liên hệ về thủy văn và nitơ giữa Everglades, vịnh Florida và Florida Keys”, Lapointe cho biết. “Tin tốt là chúng ta có thể giải quyết vấn đề nitơ như xử lý nước thải tốt hơn, giảm đầu vào phân bón, tăng lưu trữ và xử lý nước mưa trên đất liền Florida”.  Để giảm thiểu nồng độ nitơ trong nước nước thải sinh hoạt của 76.000 cư dân và khoảng 3,8 triệu khách du lịch ở Florida Keys, người ta đã tiến hành thu gom nước thải tập trung, phát triển các nhà máy xử lý nước thải tiên tiến… “Nếu coi biến đổi khí hậu là nguyên nhân duy nhất gây ra sự sụp đổ rạn san hô trên toàn thế giới đồng nghĩa với việc bỏ lỡ một điều quan trọng: chất lượng nước”, Porter nói. “Mặc dù cộng đồng sống gần các rạn san hô không thể làm gì nhiều để ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu, nhưng họ có thể làm rất nhiều trong việc giảm dòng chảy chứa nitơ. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng cuộc chiến bảo tồn các rạn san hô đòi hỏi phải có hành động tại chỗ cũng như toàn cầu”.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-07-years-unique-reveal-coral-reefs.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu lớn: Cơ hội và thách thức lớn      Về những công nghệ nổi trội trong năm 2012 vừa qua, có thể nói đến Dữ liệu lớn (Big Data)1,  là một trong ba lĩnh vực của công nghệ thông tin (CNTT) được cho là  đang và sẽ có ảnh hưởng khắp nơi – ngoài dữ liệu lớn, hai lĩnh vực còn  lại là thiết bị thông minh, điện toán đám mây.     Dữ liệu lớn là gì?  Nói một cách đại thể thì big data là các tập dữ liệu rất lớn và/hoặc rất phức tạp mà những phương pháp hiện tại của CNTT chưa phân tích và xử lý tốt được chúng.  Tên gọi dữ liệu lớn khiến đa số chúng ta chỉ hình dung tính chất lớn mà không hình dung về tính phức tạp, nhưng hai tính chất này ở dữ liệu lớn luôn đi cùng nhau, trong đó tính chất ‘phức tạp’ còn đặc trưng và thách thức hơn vấn đề về độ lớn của dữ liệu. Ta có thể tạm hình dung về điều này qua định nghĩa của IBM về dữ liệu lớn với ba chữ V: Variety, Velocity và Volume. Chữ V đầu tiên chỉ sự đa dạng, sự liên kết chằng chịt của dữ liệu với nhiều cấu trúc khác nhau, từ dữ liệu quan hệ, đến dữ liệu không cấu trúc như các văn bản thô… Chữ V thứ hai chỉ tính chất chuyển động liên tục của dòng dữ liệu rất lớn cần xử lý, khác với cách truyền thống ta thu nhận và xử lý dữ liệu theo từng mẻ (batch). Chữ V thứ ba chỉ độ lớn của dữ liệu ở mức terabytes (1012), rồi petabytes (1015 bytes), và cả exabytes (1018 bytes).   Ai cũng biết dữ liệu là nguồn chứa hầu hết mọi thông tin của con người, nhưng những thông tin này không lồ lộ ra cho ta dùng ngay mà ta chỉ có thể tìm ra chúng khi phân tích (xử lý) được dữ liệu, nhưng việc xử lý dữ liệu lớn là một vấn đề khó, và hiện nay con người chưa có cách làm được tốt việc này.   Dữ liệu lớn từ đâu ra?          Lớn mà không to, to mà không lớn   Như  trên đã nói độ phức tạp lớn vốn thách thức nhiều hơn kích thước lớn của  dữ liệu. Chẳng hạn mỗi hệ thống như lò hạt nhân, máy bay… đều gồm hàng  trăm nghìn bộ cảm ứng, và hoạt động của các hệ thống phải dựa vào quyết  định được đưa ra theo kết quả tính toán và phân tích những tổ hợp dữ  liệu của các cảm biến này. Sự tổ hợp các nguồn dữ liệu này là hết sức  phức tạp dù kích thước của chúng không lớn. Chẳng hạn một máy bay với  một trăm nghìn bộ cảm biến trong một giờ bay chỉ tạo ra 3 gigabytes dữ  liệu (100,000 bộ cảm biến x 60 phút x 60 giây x 8 bytes = 3Gb), nhưng  chính độ phức tạp của tổ hợp dữ liệu từ các bộ cảm biến này tạo ra tình  huống “dữ liệu lớn mà không to”. Ngược lại trong nhiều tình huống lượng  dữ liệu được sinh ra đều đặn và rất lớn về kích thước, nhưng nếu các dữ  liệu này có cấu trúc đơn giản, có quy luật, thì đây lại là tình huống  của “dữ liệu to mà không lớn”.        Việc lượng dữ liệu lớn đang ngày càng rất nhiều quanh ta là một hiện thực khách quan. Dữ liệu lớn có ở rất nhiều tổ chức, nhiều hoạt động xã hội, kinh doanh, khoa học và tiềm ẩn nhiều giá trị to lớn. Nhưng dữ liệu lớn ấy đến từ đâu?   Chúng đến từ rất nhiều nguồn và ba nguồn chính là: (1) Các phương tiện truyền thông xã hội, như mỗi ngày trên toàn thế giới có 230 triệu mẩu tin trao đổi trên các twitters, có 2,7 tỷ ý kiến trao đổi trên các facebooks, và số video mỗi ngày đưa lên Youtube cần đến 86.400 giờ để xem hết; (2) Các máy móc thu nhận dữ liệu, các thiết bị công nghiệp, các cảm biến (sensors), các dụng cụ giám sát… như máy gia tốc hạt lớn của CERN (tổ chức nghiên cứu nguyên tử châu Âu) tạo ra 40 terabytes dữ liệu mỗi giây… (3) Giao dịch kinh doanh, từ số liệu giá cả sản phẩm, thanh toán, dữ liệu chế tạo và phân bố… như số sản phẩm Amazon.com bán trong Quý 3 năm 2011 có giá trị 10 tỷ USD, như dãy các nhà hàng Domino bán pizza trên toàn nước Mỹ đạt 1 triệu khách mỗi ngày…  Dữ liệu lớn và lợi ích chiến lược của quốc gia  Ngày 29 tháng 3 năm 2012, Văn phòng chính sách khoa học và công nghệ của Mỹ thuộc Văn phòng điều hành của Tổng thống Mỹ đã công bố 84 chương trình về dữ liệu lớn thuộc 6 Bộ của Chính quyền Liên bang. Những chương trình này đề cập đến thách thức và cơ hội của cuộc cách mạng dữ liệu lớn và xem việc tìm lời giải cho vấn đề dữ liệu lớn là sứ mệnh của các cơ quan chính phủ cũng như của việc cách tân và khám phá khoa học. Tóm tắt các chương trình này có ở [2], và ở đây ta chỉ đưa ra một vài minh hoạ.  Ở Bộ Quốc phòng Mỹ, một kinh phí 250 triệu USD hằng năm được dành cho 8 chương trình của ‘sự đánh cuộc lớn với dữ liệu lớn’, nhằm khai thác và sử dụng dữ liệu lớn bằng những cách mới để giúp các hệ thống tự động ra quyết định, nâng cao khả năng máy tự nhận biết và đánh giá các tình huống phức tạp để hỗ trợ tác chiến. Chẳng hạn chương trình CINDER (Cyber-Insider Threat) nhằm phát triển các phương pháp mới để phát hiện các hoạt động gián điệp trên mạng máy tính quân sự. Một cách nhằm phát hiện các hoạt động gián điệp ẩn giấu là CINDER sẽ áp dụng rất nhiều mô hình hoạt động của đối phương để điều chỉnh các hoạt động trên mạng máy tính nội bộ. Chương trình đọc máy (machine reading) nhằm ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát triển các hệ thống có thể ‘hiểu’ và định được nghĩa của văn bản thay cho con người làm việc này vốn rất tốn kém và chậm chạp.          Có thể lấy thí dụ từ việc Tổng thống Mỹ  Barack Obama dùng công nghệ khai phá dữ liệu (data mining) trong cuộc  chạy đua với Mitt Romney vào Nhà Trắng để thấy giá trị của dữ liệu lớn.               Tại  trụ sở của Obama ở Chicago, một đội quân gần 150 kỹ thuật viên từ đầu  năm 2012 đã không mệt mỏi thu thập và tạo ra một cơ sở dữ liệu lớn chứa  tiểu sử riêng của các cử tri tiềm năng, đặc biệt những cử tri chưa rõ sẽ  bầu cho ai. Họ thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là các  nguồn trên mạng như từ 16 triệu người đăng ký vào twitter của Obama (so  với 500 nghìn của Romney), và gần 27 triệu người đăng ký vào facebook  của Obama (so với 1.8 triệu của Romney). Các dữ liệu này cho biết nhiều  chi tiết như mỗi cử tri thường đọc sách gì, mua sắm ở đâu, công ăn việc  làm là gì, bạn bè là ai, thậm chí mẹ của cử tri lần trước bầu cho ai… Do  tiếp cận và phân tích được nguồn dữ liệu lớn này, đội quân của Obama đã  có những vận động thích hợp với cử tri, góp phần đáng kể vào chiến  thắng cuối cùng.        Còn tại Bộ Năng lượng Mỹ, nhiều chương trình được xây dựng nhằm tạo ra khả năng dẫn đầu về các kỹ thuật quản lý, hiển thị và phân tích dữ liệu lớn. Chẳng hạn chương trình ‘Toán học phục vụ phân tích dữ liệu cỡ peta’ đề cập các thách thức toán học nhằm thấu hiểu được các tập dữ liệu khổng lồ, hoặc tìm ra các thuộc tính cốt lõi từ dữ liệu và hiểu được mối quan hệ giữa các thuộc tính này. Đây cũng là mục tiêu của nhiều chương trình do Quỹ khoa học quốc gia (NSF) tài trợ cho nhiều đại học và viện nghiên cứu nhằm xây dựng các kỹ thuật và công nghệ nền của dữ liệu lớn.   Ngoài ra có nhiều chương trình ở các lĩnh vực khác như an ninh quốc gia (từ phân tích và dự báo các thảm họa thiên nhiên đến các vụ tấn công khủng bố), dịch vụ cho sức khoẻ con người (ngăn chặn và điều khiển dịch bệnh, chế tạo thuốc…), nghiên cứu không gian, nghiên cứu trái đất… tất cả đều liên quan đến dữ liệu lớn.  Các quốc gia khác cũng có những chương trình khoa học về dữ liệu lớn, ví dụ như chương trình FIRST của Nhật (the Funding Program for World-leading Innovative R&D on Science and Technology) nhằm thúc đẩy các nghiên cứu cách tân và dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh quốc tế trung và dài hạn, có một phần lớn gồm gần 50 đề tài nhánh về phát triển các phương pháp khai thác cơ sở dữ liệu rất lớn cho phép thực hiện và đánh giá các dịch vụ xã hội có tính chiến lược. Ngày 2 tháng 6 năm 2012, giám đốc NSF Subra Suresh của Mỹ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ (MEXT) Hirofumi Hirano của Nhật đã ký một thỏa thuận hợp tác nghiên cứu về dữ liệu lớn và thảm họa thiên nhiên.   Dữ liệu lớn và công nghiệp  Nhưng chính các doanh nghiệp và các công ty công nghiệp là những nơi đang quan tâm nhiều hơn cả đến dữ liệu lớn, coi đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới tình hình kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Chúng ta đã nghe nói về các nhà khoa học đang dùng siêu máy tính để phân tích những lượng dữ liệu khổng lồ trong nghiên cứu. Hiện nay, sau những bước đi tiên phong của khoa học, không chỉ giới khoa học mà những người làm kinh doanh thông minh (business intelligence) đã có thể truy nhập tới các nguồn dữ liệu lớn, và các doanh nghiệp đã bắt đầu có thể khai thác dữ liệu lớn.     Hình bên chỉ ra các công cụ quản trị dữ liệu lớn tiêu biểu hiện nay,   phân loại theo hai trục về dữ liệu có cấu trúc hay không có cấu trúc,   và mã nguồn mở hay thương mại.     Để hiểu được tại sao nhiều công ty quan tâm tới dữ liệu lớn, cần biết xu hướng là một số công ty lớn rất nổi tiếng về chế tạo thiết bị trong quá khứ hiện đang chuyển dần thành các công ty cung cấp dịch vụ, chẳng hạn hướng tới cung cấp phân tích kinh doanh (business analytics). Một thí dụ là IBM. Trước kia IBM chế tạo các máy chủ, máy tính để bàn, máy tính xách tay, và thiết bị cho hạ tầng cơ sở. Hiện nay IBM đã ngừng sản xuất một số loại thiết bị như máy tính xách tay (IBM ThinkPad) và thay vào đó đầu tư hàng tỷ đôla để gây dựng và nhằm đạt được vị trí dẫn đầu trong phân tích kinh doanh. IBM đã đầu tư hơn một tỷ USD dùng SPSS trong phân tích kinh doanh để giành được thị phần bán lẻ. Đối với các kinh doanh thương mại lớn IBM dùng Cognos để cung cấp toàn bộ phân tích dịch vụ.           Để hiểu được tại sao nhiều công ty quan tâm  tới dữ liệu lớn, cần biết xu hướng là một số công ty lớn rất nổi tiếng  về chế tạo thiết bị trong quá khứ hiện đang chuyển dần thành các công ty  cung cấp dịch vụ, chẳng hạn hướng tới cung cấp phân tích kinh doanh  (business analytics).        Một ví dụ điển hình khác là, Google, một đại gia về dữ liệu lớn. Mấy ai không từng kinh ngạc sao Google có thể tìm kiếm rất nhanh thông tin trên không gian bao la các trang web chỉ với mấy từ khóa ta đưa vào. Có thể coi Google là người tiên phong trong quản lý và xử lý các lượng dữ liệu khổng lồ. Hiện nay, trên con đường làm chủ dữ liệu lớn, Google đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ riêng của mình để phân tích nhanh và tương tác với những lượng dữ liệu khổng lồ: Quản trị dữ liệu bởi Cloud Storage và phân tích dữ liệu bởi BigQuery (nối với công cụ hiển thị của công ty Tableau).  Theo số liệu ngày 15/10/2012 của các tổ chức nghiên cứu thị trường toàn cầu Forbes và Gartner, đầu tư của các doanh nghiệp cho dữ liệu lớn chiếm 88% trên tổng đầu tư. Các công ty đầu tư cho dữ liệu lớn vì họ nhìn thấy việc làm chủ được dữ liệu lớn sẽ cho phép giải quyết nhiều vấn đề phức tạp trước kia không thể làm được hoặc có thể tạo ra các quyết định và hành động tốt hơn. Và điều này cho phép họ có được các ưu thế cạnh tranh, điều cốt tử trong bối cảnh toàn cầu hiện nay. Ngoài ra, làm chủ dữ liệu lớn từ các mạng xã hội cho phép thấu hiểu các hành vi phức tạp của xã hội con người, và nhiều hy vọng ở những đột phá trong khoa học.  Theo dự đoán của Gartner, trong 5 năm 2012-2017 thế giới sẽ đầu tư 232 tỷ USD cho dữ liệu lớn. Tuy nhiên, Gartner cũng dự đoán cho đến cuối 2015, 85% công ty trong bảng xếp hạng 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ (Fortune 500) sẽ thất bại trong việc khai thác dữ liệu lớn. Đơn giản vì các phương pháp và kỹ thuật cho dữ liệu lớn trong ba năm tới chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng, và nhiều phương pháp mới đang được hy vọng sẽ sớm xuất hiện.  Chìa khóa của dữ liệu lớn  Vậy đâu là chìa khóa khoa học và công nghệ của dữ liệu lớn?  Hình bên giới thiệu một mô hình tổng quát về khai thác dữ liệu lớn. Mặc dù đang còn phát triển, ba chìa khóa chính của khai thác dữ liệu lớn luôn được xem là: (1) Quản trị dữ liệu, tức lưu trữ, bảo trì và truy nhập các nguồn dữ liệu lớn; (2) Phân tích dữ liệu, tức tìm cách hiểu được dữ liệu và tìm ra các thông tin hoặc tri thức quý báu từ dữ liệu; (3) Hiển thị (visualization) dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu.  Phát triển công cụ quản trị dữ liệu lớn, nghiên cứu về các kỹ thuật hiển thị dữ liệu lớn, về mối quan hệ phức tạp trong chúng, là những thách thức không nhỏ, nhưng thách thức chính của dữ liệu lớn là các phương pháp phân tích dữ liệu, trong đó chủ yếu là các phương pháp của hai lĩnh vực học máy và khai phá dữ liệu.     Học máy (machine learning) là một lĩnh vực của CNTT nhằm làm cho máy tính có một số khả năng học tập của con người, chủ yếu là học để khám phá. Cốt lõi của việc tạo ra khả năng tự học này của máy là việc phân tích các tập dữ liệu để phát hiện ra các quy luật, các mẫu dạng, các mô hình. Lĩnh vực học máy đã phát triển quãng 40 năm, và đặc biệt bùng nổ trong vòng hơn mười năm qua. Kết hợp ngày càng nhiều hơn với toán học, đặc biệt với hai ngành thống kê và tối ưu, các phương pháp học máy càng mạnh hơn khi phân tích các dữ liệu phức tạp.  Khai phá dữ liệu (data mining) là một lĩnh vực phát triển trong khoảng gần hai mươi năm qua, tập trung vào việc đưa các phương pháp học máy vào phân tích, khai thác các tập dữ liệu lớn có trong các lĩnh vực khác nhau. Những hướng nghiên cứu gần đây về mô hình làm thưa, giảm số chiều, mô hình đồ thị xác suất… trong hai lĩnh vực học máy và khai phá dữ liệu chính là những hướng đi tới các phương pháp phân tích dữ liệu lớn trong những năm tới đây.  Chúng ta có cần quan tâm đến dữ liệu lớn?  Đây là câu hỏi nhiều người đã đặt ra trong các seminar khi chúng tôi giới thiệu về dữ liệu lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Số đông người hỏi đều nghĩ là Việt Nam ta chưa có những tập dữ liệu lớn.   Câu trả lời của chúng tôi là cần lo ngay cho dữ liệu lớn, vì rất nhiều lý do. Thật ra các lĩnh vực truyền thông, thương mại, giao thông, các mạng xã hội, v.v ở trong nước cũng đã có những tập dữ liệu lớn, nhất là khi xét theo khía cạnh độ phức tạp. Ngay trong nền kinh tế nội địa, ai phân tích được những nguồn dữ liệu lớn đều có cơ hội tìm ra những lợi thế kinh doanh. Về giao thông ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh hay Hà Nội, nếu đã đặt được nhiều bộ cảm ứng ở rất nhiều điểm và lượng dữ liệu thu được cũng có thể coi là khổng lồ và phức tạp. Muốn giải quyết bài toán giao thông đô thị ta không thể không xem xét dựa trên dữ liệu lớn này. Cũng tương tự như vậy, nếu muốn giải bài toán dự đoán lũ lụt miền Trung, ta phải thu được rất nhiều dữ liệu phức tạp về dòng chảy các sông ngòi, về lượng mưa, v.v. Ở đây, dễ dàng thấy mối liên quan chặt chẽ giữa dữ liệu lớn với khoa học và kỹ thuật tính toán 2.  Đứng ngoài xu thế chung của thế giới sẽ tất yếu khiến chúng ta bị lúng túng khi bắt buộc phải đối đầu với dữ liệu lớn. Đột phá về phương pháp phân tích dữ liệu lớn cũng có thể mở ra cho ta những con đường sản xuất kinh doanh trong ngành CNTT ở trong và ngoài nước. Và chắc chắn dữ liệu lớn đang là vấn đề được quan tâm bởi các công ty CNTT hàng đầu trong nước.   Tài liệu tham khảo   1 Trong bài này từ ‘big data’ đôi khi được dùng xen kẽ với ‘dữ liệu lớn’ để nhấn mạnh ‘big data’ đã thành từ cửa miệng trong nhiều câu chuyện của giới khoa học, doanh nghiệp, của các nhà quản lý quốc gia… ở nhiều nơi trên thế giới.  2 Phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán ở Việt Nam: Bài học và ý kiến, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid= 62&CategoryID=2&News=5916.  -Big Data Across the Federal Government – The White House, March 2012.  http://search.whitehouse.gov/search?affiliate=wh&query=Big+data+fact+sheet+&form_id=usasearch_box   -Bill Franks, Taming the Big Data Tidal Wave, Wiley, 2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu lũ lụt 500 năm trước cho thấy biến đổi khí hậu và sông ngòi ở châu Âu      Mới đây, GS. Günter Blöschl, chuyên gia về lũ ở Đại học Công nghệ Viena (TU Wien), Vienna, Áo đã thực hiện một nghiên cứu lớn với sự tham gia 34 nhóm nghiên cứu quốc tế đã cung cấp bằng chứng rõ ràng, ba thập kỷ vừa qua là một trong những giai đoạn châu Âu gặp nhiều lũ lụt nhất trong vòng 500 năm trở lại đây, và lũ lụt ở giai đoạn này cũng khác so với những giai đoạn khác về quy mô, nhiệt độ không khí và thời gian diễn ra.      Lũ lụt ở thành Vienna năm 1830. Nguồn: TU Wien  Lũ từ các dòng sông có thể gây ra các vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Trên toàn thế giới, thiệt hại hằng năm do các trận lũ sông gây ước tính hơn 100 tỷ USD – và vẫn tiếp tục gia tăng. Cho đến nay, từ góc nhìn dài hạn, người ta vẫn chưa rõ liệu châu Âu có đang trong thời kỳ nhiều lũ lụt hay không. Theo kết quả nghiên cứu đăng trên Nature, so với trước đây, các trận lũ lụt hiện nay thường có quy mô lớn hơn, thời điểm xảy ra lũ thay đổi, đồng thời mối quan hệ giữa các trận lũ và nhiệt độ không khí cũng bị đảo ngược. Trong quá khứ, lũ lụt có xu hướng diễn ra thường xuyên hơn trong những giai đoạn thời tiết lạnh, còn hiện nay, sự nóng lên toàn cầu lại là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng các trận lũ.  “Từ những nghiên cứu trước đây của mình, chúng tôi đã biết biến đổi khí hậu tác động đến các trận lụt ở châu Âu trong 50 năm qua như thế nào”, Alberto Viglione từ Đại học Politecnico di Torino, một trong những tác giả chính của công bố, cho biết. “Tuy nhiên, để đưa ra được dự báo cho các thập kỷ tới thì việc hiểu rằng liệu đây là một tình huống hoàn toàn mới hay chỉ là sự lặp lại của những gì đã diễn ra là yếu tố quan trọng. Cho đến nay, các dữ liệu sẵn có vẫn chưa đủ để xác định đây có phải là trường hợp mới hay không. Bởi vậy, chúng tôi đã kiểm nghiệm câu hỏi này một cách chi tiết và hiện có thể khẳng định: các đặc điểm lũ lụt trong những thập kỷ gần đây không giống với các đặc điểm trong những thế kỷ trước”.  Các nhà khoa học đã phân tích hàng chục ngàn tài liệu lịch sử gồm các báo cáo lũ lụt đương đại từ giai đoạn 1500 đến 2016. Nhóm nghiên cứu TU Wien đã làm việc với các nhà sử học trên toàn châu Âu. “Điều đặc biệt khó khăn trong nghiên cứu này là phải so sánh các văn bản rất khác nhau đến từ các thế kỷ và vùng miền văn hóa khác nhau”, Andrea Kiss của TU Wien, nhà nghiên cứu và nhà sử học, một trong những tác giả chính của công bố, giải thích. “Chúng tôi đã làm được điều này bằng cách đặt tất cả các văn bản vào bối cảnh lịch sử tương ứng của chúng một cách cẩn trọng đến từng chi tiết”.  Các phân tích dữ liệu đã xác định được 9 giai đoạn hay xảy ra lũ cũng như các khu vực có liên quan. Trong số đó, các giai đoạn đáng chú ý nhất bao gồm: năm 1560-1580 (tây và trung Âu), 1760-1800 (hầu hết châu Âu), 1840-1870 (tây và nam Âu) và 1990-2016 (tây và trung Âu). Các nhà nghiên cứu cũng tái hiện nhiệt độ không khí trong quá khứ và so sánh với hiện nay, họ nhận thấy các giai đoạn lũ lụt trong lịch sử nhìn chung mát hơn so với các giai đoạn xen giữa. “Phát hiện này dường như trái ngược với các quan sát ở một số vùng như phía tây bắc châu Âu, khí hậu ấm áp gần đây có liên quan đến các trận lũ lớn”, Günter Blöschl nói. “Nghiên cứu của chúng tôi đã lần đầu tiên cho thấy sự thay đổi của các cơ chế nền tảng: trước đây, các trận lũ lụt diễn ra thường xuyên hơn trong điều kiện thời tiết lạnh, còn bây giờ thì ngược lại. Các điều kiện thủy văn hiện nay rất khác so với các điều kiện trong quá khứ”.  Thời điểm diễn ra lũ lụt trong năm cũng đã thay đổi. Trong quá khứ, 41% các trận lụt Trung Âu diễn ra vào mùa hè, trong khi hiện nay là tỉ lệ này 55%. Sự dịch chuyển trên có liên quan đến sự thay đổi về lượng mưa, sự bốc hơi và tuyết tan, đồng thời là một chỉ số quan trọng để phân biệt vai trò của biến đổi khí hậu với các yếu tố tác động khác như chặt phá rừng hay quản lý sông.  Có được các phát hiện này là nhờ một cơ sở dữ liệu mới do các tác giả nghiên cứu biên soạn, trong đó có thời gian chính xác của hầu hết các sự kiện lũ lụt được báo cáo thông qua các văn bản. Trước đây, người ta thường phải dựa vào các nguồn thông tin khác ít chính xác hơn, ví dụ như trầm tích hồ. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới đánh giá các giai đoạn lũ trong lịch sử trên toàn bộ lục địa một cách chi tiết như vậy.  Dữ liệu tốt hơn – dự báo tốt hơn  Do sự thay đổi trong cơ chế tạo ra lũ, Günter Blöschl ủng hộ việc sử dụng các công cụ đánh giá nguy cơ lũ lụt để nắm bắt được các quy trình vật lý liên quan, cùng các chiến lược quản lý có thể kết hợp với những thay đổi gần đây về nguy cơ. “Bất kể những nỗ lực cần thiết để giảm thiểu biến đổi khí hậu, chúng ta vẫn sẽ thấy những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong các thập kỷ tới”, Blöschl nói. “Việc quản lý lũ lụt phải thích ứng được với thực tế mới này”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-years-rivers-climate-europe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu mới tiết lộ biến đổi khí hậu có thể diễn ra nhanh hơn dự đoán      Khoảng 30 mạng lưới máy tính tiên tiến đã hỗ trợ các nhà khoa học tại mặt tiền nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Mỗi mạng lưới máy tính đều chạy một chương trình phần mềm bao gồm ahngf triệu dòng mã. Các chương trình này đều là những mô hình máy tính kết hợp vô số các hiện tượng vật lý, hóa học và sinh học lại với nhau hình thành nên khí hậu của hành tinh chúng ta. Các mô hình tính toán trạng thái của bầu khí quyển, đại dương, đất liền, băng trên trái đất, nắm bắt các biến khí hậu quá khứ và hiện tại, sử dụng dữ liệu để dự đoán biến đổi khí hậu tương lai.       Các kết quả này được các viện nghiên cứu hàng đầu trên khắp toàn cầu phân tích, bao gồm Viện Khoa học Weizmann, sau đó tích hợp chúng vào báo cáo đánh giá của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). Các nhà hoạch định chính sách sẽ phụ thuộc vào báo cáo của IPCC khi họ hình thành những chiến lược phản hồi và di dân vì biến đổi khí hậu, một trong những khủng hoảng lớn nhất thời đại chúng ta.  Một nghiên cứu mới, xuất bản trên Nature Climate Change 1, sẽ chắc chắn được IPCC và những cơ quan về khí hậu khác phải lưu ý. Một nhóm các nhà khoa học do tiến sĩ Rei Chemke ở Ban Các môn khoa học trái đất và hành tinh của Viện Weizmann dẫn dắt đã tiết lộ một cường độ đáng kể các cơn bão mùa đông ở bán cầu nam. Nghiên cứu này, được thực hiện với sự hợp tác của tiến sĩ Yi Ming (trường đại học Princeton) và tiến sĩ Janni Yuval (MIT), chắc chắn là nguyên nhân dẫn đến những làn sóng tranh luận về khí hậu. Bởi cho đến hiện nay, các mô hình khí hậu đã dự đoán cường độ của các cơn bão mùa đông do con người gây ra sẽ chỉ đến vào cuối thế kỷ nhưng trong nghiên cứu mới, Chemke và cộng sự do sánh các mô phỏng mô hình khí hậu với những quan sát bão hiện tại. Họ phát hiện ra: rõ ràng là cường độ bão trong vài thập kỷ gần đây đã chạm đến các mức được dự đoán sẽ xuất hiện vào năm 2080.  “Một cơn bão mùa đông là một hiện tượng thời tiết chỉ kéo dài trong vài ngày. Mỗi cơn bão như vậy không đáng quan tâm ở quy mô khí hậu. Tuy nhiên, hiệu ứng hạn dài của các cơn bão mùa đông trở nên rõ ràng khi đánh giá dữ liệu được thu thập trong những giai đoạn dài”, Chemke giải thích. Khi được tích tụ, các cơn bão này có một tác động đáng kể, ảnh hưởng đến sự vận chuyển nhiệt, độ ẩm và động năng bên trong khí quyển nên tạo ra ảnh hưởng nên nhiều vùng khí hậu khác nhau của trái đất. “Một ví dụ của hiện tượng này là việc bão đóng vai trò điều hòa nhiệt độ ở các vùng cực của trái đất. Bão mùa đông phản hồi đến sự truyền tải nhiệt khỏi vùng nhiệt đới hướng về các vùng cực. không có sự đóng góp của chúng, các mức nhiệt trung bình ở vùng cực có thể là 30°C thấp hơn”. Tương tự, cường độ bão là một mối đe dọa đáng kể với các xã hội trong khu vực bán cầu nam trong những thập niên tới.  “Chúng tôi hướng sự tập trung vào bán cầu nam bởi vì cường độ bão ở đây mạnh hơn bán cầu Bắc”, Chemke nói. “Nếu xu hướng này được duy trì, chúng tôi sẽ được quan sát thấy nhiều cơn bão đông có cường độ lớn hơn nhiều trong những năm đến và thập kỷ đến.  Trong phòng thí nghiệm của ông ở Viện Weizmann, Chemke nghiên cứu cơ chế vật lý bên trong biến đổi khí hậu quy mô lớn. Trong nghiên cứu này, họ muốn tìm hiểu là liệu những thay đổi đó trong các mô hình khí hậu có bắt nguồn từ những yếu tố bên ngoài, ví dụ như các hoạt động của con người, hay liệu chúng có là kết quả của những nội dao động của hệ thông khí hậu trái đất. Họ phân tích các mô hình khí hậu mô phỏng các mẫu hình cường độ bão dưới sự ảnh hưởng của các nguyên nhân nội khí hậu, không có những tác động bên ngoài. Họ đã chứng tỏ rằng, hơn hai thập kỷ qua, các cơn bão đã được gia tăng cường độ nhanh hơn và có thể giải thích điều này chỉ bằng các hành vi nội khí hậu.  Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu phát hiện ra quá trình vật lý bên trong cường độ bão. Một phân tích tr lệ tăng trưởng của bão cho thấy những thay đổi trong các luồng tia khí quyển ở vài thập kỷ uqa là nguyên nhân dẫn đến những gia tăng đó, và những mô hình khí hậu hiện tại không thể phản ánh được những thay đổi đó một cách chính xác.  Nghiên cứu của Chemke, Ming và Yuval có hai ý nghĩa đáng kể. Thứ nhất, nó chứng tỏ là không chỉ có dự đoán khí hậu cho những thập kỷ đến đáng chú ý hơn những trước đây mà còn cho thấy những hành động của con người có thể có tác động lớn hơn vào nam bán cầu hơn trước đây từng nghĩ. Điều đó nghĩa là cần có biện pháp can thiệp nhanh để ngăn chặn những hủy hoại có thể đến ở vùng này. Thứ hai, cần thiết điều chỉnh độ chênh lệch trong các mô hình khí hậu để chúng có thể đem lại những dự đoán khí hậu chính xác hơn trong tương lai.  Có thể các mô hình khí hậu này đang dự đoán một cách thiếu chính xác những hiệu ứng quan trọng khác? “Các mô hình này hết sức hữu dụng trong dự đoán tất cả các tham số gần”, Chemke nói. “Chúng tôi đã khám phá một tham số về độ nhạy của các mô hình cần được điều chỉnh. Những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, băng biển và những hình thế bão mùa hè, ví dụ như vậy, đang được mô phỏng lại một cách chính xác”.  Những phát hiện của nghiên cứu đang được kỳ vọng là sẽ giúp các nhà khoa học khí hậu trên khắp thế giới hiệu chỉnh lại độ sai lệch trong các mô hình và có được những dự đoán chính xác hơn trong các hình thế khí hậu tương lai. Thêm vào đó, việc có thêm những hiểu biết mới về cường độ của bão mùa đông trong vài thập kỷ qua cũng sẽ giúp chúng ta có được hiểu biết tốt hơn về trạng thái này của khí hậu trái đất. Các nhà khoa học khí hậu sẽ có thể ước tính chính xác hơn về sự tác động trên diện rộng của những hậu quả mà biến đối khí hậu gây ra – sự phá hủy sẽ chỉ được giảm bớt khi con người có những biện pháp can thiệp và có trách nhiệm cho tương lai của hành tinh này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-05-reveals-climate-rapid.html  https://www.israelnationalnews.com/news/328242  ——————————-  1. https://www.nature.com/articles/s41558-022-01368-8             Author                .        
__label__tiasang Dữ liệu vệ tinh cho thấy các sông băng trên thế giới đang tan chảy nhanh hơn      Theo kết quả đo đạc từ các vệ tinh ba chiều, các sông băng trên thế giới đang tan chảy nhanh hơn và mất thêm 31% băng tuyết mỗi năm so với 15 năm trước đây.      Bức ảnh chụp sông băng Klinaklini ở British Columbia, Canada, do nhà nghiên cứu Brian Menounos chụp vào tháng 9/2017. Sông băng này và các vùng băng liền kề đã mất gần 16 tỷ tấn băng tuyết từ năm 2000, trong số đó mất 10,7 tỷ tấn kể từ 2010. Ảnh: Brian Menounos/AP.  Các nhà khoa học cho rằng, biến đổi khí hậu do con người gây ra chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.  Theo một nghiên cứu mới xuất bản trên Nature, bằng cách sử dụng dữ liệu vệ tinh trong 20 năm mới được tiết lộ gần đây, các nhà khoa học đã tính toán được rằng, 220.000 con sông băng trên thế giới đang mất đi hơn 328 tỉ tấn băng tuyết mỗi năm, kể từ năm 2015. Lượng nước tan chảy vào các đại dương đang ngày một dâng lên này đủ để khiến Thụy Sĩ chìm xuống dưới mực nước biển gần 24 feet (7,2m) mỗi năm.  Tốc độ tan chảy băng hằng năm từ 2015 đến 2019 cao hơn 78 tỉ tấn một năm so với tốc độ từ 2000 đến 2004. Tốc độ làm mỏng băng toàn cầu (global thinning rates), một khái niệm khác với lượng nước bị mất đi, cũng đã tăng gấp đôi trong 20 năm qua và “đây là một con số rất lớn”, Romain Hugonnet, nhà nghiên cứu về băng tại ETH Zurich và Đại học Toulouse ở Pháp, người dẫn dắt nghiên cứu, nhận xét.  Một nửa số băng bị mất trên thế giới đều thuộc Mỹ và Canada. Trong đó, tốc độ tan băng ở Alaska “thuộc hàng cao nhất hành tinh”, với con sông băng Columbia mỗi năm lại rút đi 115 feet (35 mét).  Nghiên cứu mới cho thấy, hầu như rất cả sông băng trên toàn cầu đều đang tan chảy, kể cả những con sông vốn từng rất ổn định như ở Tây Tạng. Ngoại trừ một số ít sông băng ở Iceland và Scandinavia được “nuôi dưỡng” bởi lượng mưa gia tăng, tốc độ tan chảy của băng đang tăng nhanh trên toàn thế giới. Theo Hugonnet, sự tan băng gần như đồng đều này “phản ánh sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu” và bắt nguồn từ việc đốt than, dầu và khí đốt. Không chỉ vậy, một số sông băng nhỏ đã biến mất hoàn toàn. Cách đây hai năm, các nhà khoa học, nhà hoạt động và nhân viên cơ quan Chính phủ ở Iceland đã tổ chức “tang lễ” cho một con sông băng nhỏ như vậy.  “Mười năm trước, chúng ta đã nói rằng các sông băng là chỉ dấu cho sự biến đổi khí hậu, nhưng hiện nay nó thực sự đã trở thành một đài tưởng niệm cho cuộc khủng hoảng khí hậu ấy”, Michael Zemp, Giám đốc Dịch vụ Giám sát Sông băng Thế giới, người không tham gia vào nghiên cứu, nhận định.  Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng hình ảnh vệ tinh 3D để đánh giá tất cả các sông băng (không liên kết với các dải băng ở Greenland và Nam Cực) trên thế giới. Trước đây, các nghiên cứu hoặc chỉ sử dụng một phần nhỏ của sông băng hoặc chỉ ước lượng sự mất mát của sông băng trên Trái đất dựa trên các phép đo trọng lực từ quỹ đạo. Tuy nhiên, Zemp cho biết, những kết quả đo trọng lực ấy có biên độ sai số cao và không thực sự hữu ích.   Lonnie Thompson ở Đại học bang Ohio đánh giá, nghiên cứu mới đã khắc họa nên một “bức tranh đáng báo động”. Theo Hugonnet, các sông băng đang ngày càng co ngót lại là một vấn đề đối với hàng triệu người sống dựa vào sự tan băng theo mùa để lấy nước dùng hằng ngày, đồng thời tốc độ tan băng nhanh chóng ấy cũng có thể dẫn đến sự bùng nổ nguy hiểm từ các hồ băng ở những nơi như Ấn Độ.  Tuy nhiên, mỗi đe dọa lớn nhất của hiện tượng này là sự gia tăng của mực nước biển. Theo nghiên cứu mới, các đại dương trên thế giới vốn đã đang dâng lên do sự giãn nở của nước ấm và sự tan chảy của các dải băng ở Nam Cực và Greenland, tuy nhiên các sông băng mới là nguyên nhân gây ra 21% sự gia tăng của mực nước biển, nhiều hơn so với sự đóng góp các dải băng. “Có một điều đang ngày càng rõ ràng, đó là mực nước biển dâng sẽ dần trở thành một vấn đề lớn hơn khi chúng ta bước qua thế kỷ 21”, Mark Serreze, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Băng tuyết Quốc gia, nhận định.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-satellites-world-glaciers-faster.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dữ liệu y tế Việt Nam trong thời đại số: Quyền riêng tư của chúng ta ở đâu?      Dữ liệu về sức khỏe của chúng ta hiện nay do những ai nắm giữ và khai thác, được lưu trữ và chia sẻ cho những đâu, chính chúng ta có được tiếp cận chúng không? Có lẽ là không. Buổi hội thảo “Chuyển đổi số và an toàn dữ liệu trong lĩnh vực y tế” do Hội Truyền thông số Việt Nam tổ chức vào ngày 18/11 cho biết rằng: trong gần 20 năm đẩy mạnh “chuyển đổi số”, số hóa các hoạt động trong lĩnh vực y tế, nhà nước chưa có quy định nào về quyền của chủ thể dữ liệu. Nói cách khác, chúng ta chưa có quyền gì đối với những dữ liệu về sức khỏe của chính chúng ta và do chúng ta góp phần tạo ra.      Y bác sĩ ở Đại học Y Dược TP.HCM đang hội chẩn dựa trên bệnh án điện tử. Ảnh: Hoàng Hưng/báo Sài Gòn giải phóng.  Khi thông tin bị “thả trôi”     Hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu những thông tin này bị công khai ngoài ý muốn, ta sẽ không chỉ khó chịu khi nhận được những quảng cáo thuốc và các thiết bị y tế “từ trên trời rơi xuống” mà còn bao chuyện khó xử trong các mối quan hệ xã hội, rồi ngân hàng từ chối cho ta vay, bảo hiểm nhân thọ từ chối cho ta mua vì ta bị mắc bệnh hiểm nghèo…    Xét một cách công bằng, không phải chưa có quy định nào về quyền của chúng ta với tất cả các dữ liệu sức khỏe của mình. Luật khám chữa bệnh ra đời năm 2009 đã bảo vệ bệnh án của người dân hết sức chặt chẽ. Thông tin bệnh án được xếp vào “bí mật nhà nước” và bệnh viện chỉ được phép công bố hoặc chia sẻ cho bên thứ ba chỉ khi có sự đồng ý của người bệnh. Người bệnh cũng có quyền tiếp cận với thông tin bệnh án. Nhưng dữ liệu sức khỏe của một người đâu chỉ nằm trong bệnh án? Ngoài bệnh án, hiện nay các cơ quan y tế, cơ sở khám chữa bệnh còn có các cơ sở dữ liệu riêng khác về tiêm chủng, về thai sản, về nhân khẩu để phục vụ công tác kế hoạch hóa gia đình, về những người bị nhiễm HIV/AIDS, về những người mắc bệnh truyền nhiễm,..Hơn nữa, đâu phải dữ liệu sức khỏe của một người chỉ nằm ở Bộ Y tế? Dữ liệu về bảo hiểm là do cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam phụ trách. Bộ Lao động Thương binh Xã hội còn quản lý những dữ liệu về người khuyết tật. Không loại trừ những thông tin dân cư do Bộ Công an quản lý cũng chứa những dữ liệu về tình trạng sức khỏe của người dân. Cũng trong buổi hội thảo, ông Trần Quốc Anh, Giám đốc Trung tâm Giải pháp Y tế điện tử VNPT cho biết, VNPT trong tháng 12/2020 sẽ hoàn thành dự án về cơ sở dữ liệu dân cư theo đặt hàng của Bộ Công an. Theo đó, mỗi công dân có mã định danh “từ khi chưa sinh ra, từ lúc người mẹ đang mang bầu” và thông tin về công dân sẽ được cập nhật và “theo suốt quá trình vòng đời của một con người”. Dự kiến thông tin dân cư này sẽ mở để các doanh nghiệp vào khai thác, tuy nhiên ông Quốc Anh cũng chưa tiết lộ các thông tin này được xử lý ẩn danh ra sao hoặc doanh nghiệp được tiếp cận ở mức độ nào. Những thông tin sức khỏe ngoài bệnh án của chúng ta dường như đang bị “thả trôi” bởi pháp luật.     Trong quá trình số hóa, việc thu thập, xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu không còn là chuyện giữa người dân và các cơ quan, cơ sở y tế mà giờ xuất hiện cả các công ty công nghệ. Các công ty này trong quá trình tham gia thiết kế các giải pháp phần mềm quản trị, nhập liệu cho các bệnh viện sẽ tiếp cận thông tin y tế ở mức độ nhất định. Thậm chí có công ty còn tham gia nhập liệu, chuyển các thông tin từ hồ sơ trên giấy sang dạng điện tử. Ông Nguyễn Đức Ninh, Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp công nghệ NIDI, đã có 15 kinh nghiệm trong việc cung cấp giải pháp quản trị bệnh viện, quản lý y tế xã phường chia sẻ trong hội thảo rằng có sở y tế gửi dữ liệu của một triệu hộ dân trong tỉnh cho công ty để nhập vào hệ thống mà không hỏi ý kiến hay thông báo gì tới người dân. Ngoài ra, các công ty công nghệ cũng lưu trữ dữ liệu y tế người dân trong máy chủ của mình. Ví dụ, theo ông Nguyễn Dương Anh, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Đô thị thông minh của tỉnh Thừa Thiên Huế, dữ liệu y tế của tỉnh này được lưu trên máy chủ của Viettel. Mặc dù tỉnh Thừa Thiên Huế đã ràng buộc Viettel bằng hợp đồng, yêu cầu công ty này chỉ được tra cứu hoặc khai thác dữ liệu khi có sự đồng ý của tỉnh nhưng không có quy định nào xử phạt vi phạm như vậy.     Kể cả có vi phạm, cũng không dễ để phát hiện vì hầu hết các tỉnh không có cán bộ chuyên trách giám sát các công ty công nghệ trong việc thu thập, xử lý và quản lý dữ liệu y tế. Ông Đức Ninh than thở rằng, ở cấp xã phường, người phụ trách công nghệ thông tin chính là bác sĩ và y tá và ông vẫn không hiểu nổi tại sao các Sở Y tế, cơ quan đứng đầu về y tế của tỉnh đến giờ vẫn không có phòng công nghệ thông tin. Tất cả các dự án liên quan đến số hóa các cơ sở y tế đều do các công ty chịu trách nhiệm từ A-Z. Vậy thì làm sao để kiểm chứng được các dữ liệu chứa sai sót, có “rơi rớt” trong quá trình số hóa hay không? Với thực trạng như vậy, kể cả bệnh án điện tử, khu vực thông tin duy nhất được bảo vệ bởi luật, cũng không phải là thành trì riêng tư “bất khả xâm phạm”. Đặc biệt là đối với dữ liệu bệnh án điện tử ngoại trú vốn phải chia sẻ cho nhiều đơn vị, theo ông Nguyễn Thế Vinh, Phó phòng Công nghệ thông tin, Bệnh viện Nhi Trung ương, bảo mật đến đâu là “tùy vào cơ sở chữa bệnh và doanh nghiệp vận dụng”.      Tìm điểm cân bằng     Không có một quyền riêng tư tuyệt đối với dữ liệu y tế của người dân trong thời kì dữ liệu quý như dầu mỏ. Nhất là khi, chưa tính đến các dữ liệu y tế lưu trong các cơ quan nhà nước, thì các chỉ số về nhịp tim, nhịp thở, giấc ngủ, bước chạy mỗi ngày của mỗi người đã bị đủ loại ứng dụng và các thiết bị thông minh của các công ty nước ngoài khai thác. Nhất là khi, kể cả dữ liệu y tế trong các cơ quan nhà nước cũng cần phải xử lý và chia sẻ cho các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu khai thác, để gánh vác bài toán chăm sóc sức khỏe cho 100 triệu dân đang già hóa ở Việt Nam khi hệ thống y tế công cộng đang quá tải.     Trong buổi hội thảo, theo bà Angela Ballantyne, phó giáo sư nghiên cứu về đạo đức y sinh (Bioethics) tại Đại học Otago, New Zeland, dữ liệu y tế là riêng tư nhưng cá nhân không phải là chủ thể duy nhất tạo ra dữ liệu y tế mà còn có nhiều trí tuệ của các y bác sĩ; dữ liệu y tế cá nhân còn phản ánh cả về bệnh dịch, về hiệu quả của các phương thức chữa trị, về sức khỏe của một cộng đồng. Chính vì vậy, khai thác dữ liệu y tế là việc cần thiết nhưng nó là sự trao đổi giữa riêng tư cá nhân và lợi ích kinh tế của một đất nước.       Một trong những kiến nghị mà Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS) đề xuất là nhà nước cần gấp rút ban hành luật về bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân và quyền riêng tư trong thời đại số. Trong đó xác định rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong việc thu thập, xử lý, phân tích và sử dụng dữ liệu. Khuôn khổ pháp luật này chính là sự lựa chọn của nhà nước để cân bằng giữa quyền riêng tư của người dân và lợi ích kinh tế.    Viện IPS cũng cho rằng, khi xây dựng luật này, “nhất thiết” không chỉ cần sự tham gia của tất cả các bên liên quan (bao gồm người dân, công ty công nghệ, các cơ quan nhà nước thu thập thông tin) mà còn cần sự góp mặt của “các chuyên gia luật nhân quyền, các nhà nghiên cứu chính sách, sự giám sát của các tổ chức xã hội dân sự”. Viện này cũng nhấn mạnh: “nhất thiết phải có kênh giám sát, khiếu nại, tố cáo để các quyền của chủ thể dữ liệu có thể được bảo đảm”. □  ——  1 https://vnhacker.blogspot.com/2020/04/lo-hong-nghiem-trong-trong-phan-mem.html    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang “Dụ” máy tính suy nghĩ như con người      Các nhà nghiên cứu vừa tạo ra một mô hình máy tính cũng có khả năng đặc biệt  như ở con người là nắm bắt được khái niệm mới chỉ qua một lần xem làm  mẫu.      Theo các chuyên gia, để các loại máy móc thông minh và mang trí thông minh nhân tạo thật sự phát triển, những chiếc máy tính sẽ phải có khả năng tư duy giống con người nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu vừa có bước tiến đáng kể theo hướng này khi tạo ra một mô hình máy tính cũng có khả năng đặc biệt như ở con người là nắm bắt được khái niệm mới chỉ qua một lần xem làm mẫu.    Nhà khoa học nhận thức và dữ liệu Brenden Lake ở ĐH New York, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science này có mục tiêu kép là tìm hiểu rõ hơn về cơ chế học tập của con người và phát triển các thuật toán mới có khả năng học tập giống như con người.     Thuật toán mới được thiết kế sao cho máy tính có khả năng học hỏi nhanh từ một ví dụ minh họa, giống như cách học hỏi của con người.    Giáo sư khoa học nhận thức Joshua Tenenbaum ở Viện Công nghệ Massachusetts cho biết: “Bạn làm mẫu cho một đứa trẻ cách cưỡi ngựa hay trượt ván, và chúng học được luôn chỉ sau một vài lần bạn làm mẫu.” Tuy nhiên, theo Tenenbaum, các thuật toán hiện nay cần đến hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn ví dụ mới có thể cho ra kết quả tương tự.     Trong nghiên cứu trên, các máy tính sử dụng thuật toán mới và những người tham gia thí nghiệm được cho xem một số chữ cái trong bộ dữ liệu gồm khoảng 1.600 chữ cái viết tay từ 50 bảng chữ cái trên thế giới, trong đó có cả bảng chữ cái giả tưởng của người ngoài hành tinh lấy từ chương trình truyền hình “Futurama”. Cả máy tính và tình nguyện viên được yêu cầu viết lại các chữ cái đó sau khi được làm mẫu một lần. Một số chuyên gia có nhiệm vụ xác định xem những chữ nào do máy tính tạo ra và họ kết luận hầu như không thể phân biệt chữ do máy tính hay con người tạo ra.    Brenden Lake cho biết, hướng tiếp cận của nghiên cứu này có thể áp dụng để giúp máy móc học được cách thực thi nhiều nhiệm vụ khác như nhận biết giọng nói và nhận biết vật thể.   Trang Bùi lược dịch  Nguồn:  http://www.reuters.com/article/us-science-learning-idUSKBN0TT2WK20151211      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự thảo Luật Công nghệ cao      Luật Công nghệ cao do Bộ KH&amp;CN soạn thảo sẽ được Quốc hội cho ý kiến vào ngày 28/5, sau đó Ban soạn thảo sẽ tiếp tục xây dựng và dự kiến đến cuối tháng 10, Quốc hội sẽ cho ý kiến và thông qua Luật này.  Mong bạn đọc đóng góp ý kiến cho Dự thảo.       down           QUỐC    HỘI       Luật số:         /2008/QH12    CỘNG HOÀ    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  Độc lập    – Tự do – Hạnh phúc       Hà Nội,    ngày        tháng          năm 2008          Dự  thảo dự kiến tiếp thu ý kiến  của UBTVQH và UBKHCN&MTQH        QUỐC HỘI     NƯỚC CỘNG  HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  Khóa XII, kỳ  họp thứ ……       LUẬT CÔNG  NGHỆ CAO   Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;   Quốc  hội ban hành Luật Công nghệ  cao.     Chương  I  NHỮNG QUY  ĐỊNH CHUNG      Phạm vi điều      chỉnh       Luật  này quy định về hoạt động công nghệ cao và các biện  pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao.      Đối tượng      áp dụng       Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.      Giải thích      từ ngữ       Trong  Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:      Công nghệ    cao là công nghệ tiên tiến, mới, được tích hợp    từ các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại;  tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, tính năng vượt trội và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới, hiện đại hoá    và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nhiều ngành,    lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh.  Hoạt động    công nghệ cao    là nghiên cứu    và phát triển, ứng    dụng    công nghệ    cao; sản    xuất    sản    phẩm,    cung ứng    dịch    vụ    công nghệ    cao; ươm    tạo    công nghệ, ươm    tạo    doanh nghiệp    công nghệ    cao; phát triển doanh nghiệp, công nghiệp công nghệ cao.  Sản phẩm    công nghệ cao là sản phẩm mới do công nghệ    cao tạo ra, có chất lượng cao, tính năng vượt trội và    giá trị gia tăng cao.  Doanh nghiệp    công nghệ cao    là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; có năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.  Công nghiệp    công nghệ cao    là ngành kinh tế – kỹ thuật sản xuất sản phẩm công nghệ cao và cung ứng dịch vụ công nghệ cao.  Ươm tạo công nghệ    cao là hoạt động trợ giúp tổ chức, cá nhân tạo ra, hoàn thiện công nghệ cao có triển vọng thương mại hóa từ ý tưởng công nghệ hoặc kết quả nghiên cứu và phát triển.  Ươm tạo doanh nghiệp    công nghệ cao là hoạt động    trợ    giúp tổ    chức,    cá nhân các điều kiện cần thiết để thành lập và hoạt động trong giai đoạn ban đầu của doanh nghiệp công nghệ cao.  Cơ    sở ươm tạo công nghệ    cao, ươm tạo doanh nghiệp    công nghệ cao  là cơ sở cung cấp các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết để thực hiện việc ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.   Khu công    nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao; có ranh giới địa lý xác định, được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.          Áp dụng pháp      luật          Hoạt động công nghệ cao và các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.  Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của luật này với các quy định của pháp luật có liên quan về cùng một nội dung thì áp dụng các quy định của Luật này.  Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.          Chính sách      đối với hoạt động công nghệ      cao          Nhà nước huy động mọi nguồn lực, tập trung đầu tư, ưu tiên phân bổ ngân sách và đảm bảo tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động công nghệ cao.  Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất cho các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế thực hiện hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.  Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và có chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ phù hợp với đặc thù của công nghệ cao.  Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp, cơ chế đối với một số dự án phát triển công nghệ cao đặc biệt theo lĩnh vực công nghệ cao được quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 của Luật này.          Lĩnh vực công      nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển          Nguyên tắc xác    định lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên phát triển:      Phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cao của thế giới, chính sách của nhà nước và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước;      Có hiệu quả    lớn đối với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế,    lĩnh vực kinh tế – xã hội;  Hình thành một số ngành công nghiệp, ngành dịch vụ mới có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế – xã hội cao, đóng góp quan trọng vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.        Các lĩnh vực    công nghệ cao sau đây được ưu tiên phát triển:        Công nghệ thông      tin;  Công nghệ sinh      học;  Tự động hóa;   Vật liệu mới.          Căn cứ vào Khoản 1 Điều này, Chính phủ quy định chi tiết về các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên phát triển; sửa đổi, bổ sung các lĩnh vực công nghệ cao quy định tại Khoản 2 Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội theo từng thời kỳ          Sản phẩm,      dịch vụ công nghệ cao được khuyến khích phát triển       1.  Nguyên tắc xác định sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao  được khuyến khích đầu tư phát triển:      Được tạo ra    từ công nghệ cao thuộc các lĩnh vực quy định tại Khoản    2 và Khoản 3 Điều 6 Luật này;  Có tiềm năng thị trường lớn, có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế – xã hội cao, thân thiện môi trường, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững;  Đáp ứng nhu    cầu cấp thiết của phát triển kinh tế – xã hội, quốc    phòng, an ninh trong từng giai đoạn;  Có khả năng    xuất khẩu, thay thế sản phẩm nhập khẩu;        đ) Góp  phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.     2. Chính phủ công bố Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích đầu tư phát triển quy định tại Khoản 1 của Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.      Trách nhiệm      quản lý nhà nước           Chính phủ thống    nhất quản lý nhà nước về hoạt động công nghệ cao.  Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan thực hiện quản lý nhà nước về công nghệ cao.  Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhà nước về công nghệ cao theo phân công của Chính phủ.  Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công nghệ cao tại địa phương.          Chương trình      quốc gia về công nghệ cao          Chương trình quốc gia về công nghệ cao có mục tiêu nâng cao năng lực, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quốc gia, ứng dụng công nghệ cao, phát triển công nghiệp công nghệ cao phục vụ có hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.  Chương trình quốc gia về công nghệ cao tập trung đầu tư cho những hoạt động sau đây thuộc các lĩnh vực công nghệ cao ưu tiên phát triển quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 Luật này:         Xây dựng cơ    sở hạ tầng cho phát triển công nghệ cao;        Đào tạo nguồn    nhân lực công nghệ cao;  Thực hiện các    dự án nghiên cứu và phát triển, ươm tạo công nghệ cao,    ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;  Hỗ trợ các    tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động công nghệ    cao phù hợp với mục tiêu và nội dung của Chương trình.      Chính phủ tổ chức xây dựng Chương trình quốc gia về công nghệ cao, có các biện pháp đặc biệt và bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện Chương trình phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.      Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình, dự án, nhiệm vụ của Chương trình quốc gia về công nghệ cao trong lĩnh vực quản lý của bộ ngành, địa phương.          Hợp tác quốc      tế về công nghệ cao       Nhà  nước có chính sách và biện pháp sau đây nhằm thúc đẩy  hợp tác quốc tế về công nghệ cao:      Khuyến khích mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, đặc biệt là với các nước có trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến; tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, các tập đoàn công nghiệp và tài chính nước ngoài trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, lợi ích quốc gia và cùng có lợi.      Tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước tham gia các dự án, chương trình hợp tác nghiên cứu khu vực và quốc tế về công nghệ cao; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các tổ chức quốc tế triển khai các hoạt động hợp tác phát triển công nghệ cao tại Việt Nam.       Đặc biệt coi trọng hợp tác trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, ưu tiên đào tạo sinh viên ngành kỹ thuật công nghệ cao tại các trường đại học tiên tiến khu vực và thế giới, đồng thời, có chính sách thu hút lực lượng khoa học trẻ đã tu nghiệp ở nước ngoài về nước nghiên cứu, giảng dạy, ươm tạo công nghệ hoặc thành lập doanh nghiệp công nghệ cao.      Thúc đẩy lộ trình hội nhập quốc tế về công nghệ cao, đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm, chuyển giao các công nghệ tiên tiến vào Việt Nam nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực làm chủ và sáng tạo công nghệ của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nước, rút ngắn khoảng cách về trình độ công nghệ với khu vực và thế giới, đóng góp có hiệu quả cho tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.          Các hành vi      bị nghiêm cấm          Lợi dụng hoạt    động công nghệ cao để gây phương hại đến lợi ích    quốc gia, quốc phòng, an ninh.  Lợi dụng hoạt    động công nghệ cao để gây phương hại đến quyền và    lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.  Hoạt động công    nghệ cao gây hậu quả xấu cho sức khỏe, tính mạng con    người và môi trường.  Hoạt động công nghệ cao hoặc sử dụng kết quả hoạt động công nghệ cao gây hậu quả trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc.  Tiết lộ bất    hợp pháp bí mật về công nghệ cao.  Giả mạo, gian    dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước    trong hoạt động công nghệ cao.           Chương  II     ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ  CAO       Ứng dụng công nghệ      cao       Ứng dụng công nghệ cao là việc tiếp nhận, áp dụng công nghệ cao vào hoạt động sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bao gồm:    Tiếp nhận và    áp dụng công nghệ cao đã được thương mại hóa.  Tiếp nhận, áp    dụng kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.         Ứng dụng      công nghệ cao được khuyến khích, hỗ      trợ              Ứng dụng công nghệ cao đáp ứng một  trong các yêu cầu sau đây được Nhà nước khuyến khích,  hỗ trợ:   1.  Tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao.   2.  Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu.   3.  Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.   4. Bảo vệ sức khỏe con  người.   5.  Phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.   6.  Sản xuất sạch, thân thiện môi trường.   7.  Phục vụ quốc phòng, an ninh.      Biện pháp      khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng công nghệ      cao          Tổ chức, cá nhân đầu tư thực hiện dự án ứng dụng công nghệ cao đáp ứng các quy định tại Điều 13 của Luật này được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ sau đây:      Được ưu đãi    thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu ở mức cao    nhất theo quy định của pháp luật;      Được trích khấu hao nhanh đối với tài sản cố định đầu tư cho dự án ứng dụng công nghệ cao nhưng không quá 2 lần mức khấu hao theo quy định hiện hành;  Được Chương trình quốc gia về công nghệ cao xem xét hỗ trợ một phần chi phí đào tạo nhân lực, chi phí nghiên cứu làm chủ, thích nghi, đổi mới công nghệ cao phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ cao.      Nhà nước đầu    tư ứng dụng công nghệ cao để thực hiện các nhiệm vụ    công ích.          Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan quy định tiêu chí xác định các dự án ứng dụng công nghệ cao để được hưởng các ưu đãi quy định tại Khoản 1 Điều này phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.          Nghiên cứu      và phát triển công nghệ cao           Nghiên cứu và phát triển công nghệ cao tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên phát triển quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 6 Luật này; định hướng vào việc thích nghi, đổi mới các công nghệ cao chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam, tạo được một số công nghệ cao trong nước có điều kiện và lợi thế phát triển.  Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách Nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều này.      Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số hạ tầng cơ sở kỹ thuật hiện đại, tiên tiến phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao sau đây:    Phòng thí nghiệm    trọng điểm quốc gia;   Hạ tầng thông    tin;  Tổ chức nghiên    cứu và phát triển;  Các cơ sở hạ    tầng kỹ thuật khác.        Các biện      pháp thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ      cao           Tổ chức, cá nhân tự đầu tư nghiên cứu công nghệ cao và có kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích cao về kinh tế và xã hội của Việt Nam được Chương trình quốc gia về công nghệ cao hỗ trợ một phần hoặc toàn phần chi phí hoạt động nghiên cứu và phát triển đã bỏ ra.  Tổ chức, cá nhân tài trợ, đóng góp tự nguyện cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao được khấu trừ phần tài trợ, đóng góp khi xác định thu nhập chịu thuế và được tôn vinh theo quy định của pháp luật.  Tổ chức, cá nhân nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân khác để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao được miễn các khoản thuế, lệ phí liên quan đến khoản được tài trợ.  Các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm trên cơ sở liên doanh, liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu, đào tạo với doanh nghiệp được Chương trình Quốc gia về Công nghệ cao hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư cho trang thiết bị nghiên cứu.  Các dự án đầu    tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển công    nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau:      Được ưu đãi    thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế xuất    khẩu ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật;      Được giao đất không thu tiền đối với đất được sử dụng để thực hiện dự án ở vị trí thuận lợi; miễn thuế sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;  Được Chương    trình quốc gia về công nghệ cao hỗ trợ kinh phí đào tạo,    nghiên cứu và phát triển, sản xuất thử nghiệm;  Được Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia tài trợ kinh phí, cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh vay vốn theo quy định của pháp luật;       đ) Được trích khấu hao nhanh đối với tài sản cố định đầu tư cho dự án ứng dụng công nghệ cao nhưng không quá 2 lần mức khấu hao theo quy định hiện hành.      Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm, thủ tục hành chính để xây dựng cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm, thử nghiệm phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.           Chuyển giao      công nghệ cao, nhập khẩu      máy móc, thiết bị công nghệ      cao          Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao công nghệ cao phục vụ nghiên cứu và phát triển, sản xuất, kinh doanh được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.  Nhà nước dành kinh phí để nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cao thiết yếu để phục vụ mục tiêu nghiên cứu, phát triển, nhân rộng công nghệ cao; nhập khẩu một số công nghệ cao mà trong nước chưa tạo ra được phục vụ các dự án kinh tế – xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.  Chính phủ hướng    dẫn cụ thể việc nhập khẩu công nghệ cao, máy móc, thiết    bị công nghệ cao quy định tại Khoản 2 Điều này.          Thông tin về      công nghệ cao          Chính phủ tổ    chức xây dựng hệ thống thông tin về công nghệ cao, đầu    tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ cao.   Nhà nước có biện pháp hỗ trợ tổ chức, cá nhân có công nghệ cao mới được tạo ra trong nước thực hiện việc công bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ cao và tham gia chợ, hội chợ công nghệ ở trong nước và nước ngoài.  Nhà nước thông qua Chương trình quốc gia về công nghệ cao để hỗ trợ cho việc xúc tiến tìm kiếm, phổ biến thông tin về công nghệ cao, máy móc, thiết bị công nghệ cao trong và ngoài nước bằng các hình thức thích hợp.            Chương  III  CÔNG NGHIỆP  CÔNG NGHỆ CAO VÀ  DOANH NGHIỆP  CÔNG NGHỆ CAO       Phát triển      công nghiệp công nghệ cao          Chính phủ xác định và xây dựng chiến lược phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao thuộc các lĩnh vực ưu tiên đầu tư phát triển quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 Luật này.  Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ của Chương trình quốc gia về công nghệ cao được giao như sau:          Sản xuất sản    phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao;      Xây dựng cơ    sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công    nghệ cao, khu công nghệ cao;  Hình thành và    phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao;       d)  Xây dựng công nghiệp phụ trợ cho phát triển công nghiệp  công nghệ cao.      Dự án sản      xuất sản phẩm công nghệ cao, dự án cung      ứng dịch vụ công nghệ cao          Dự án sản xuất    sản phẩm công nghệ cao, dự án cung ứng dịch vụ công    nghệ cao phải đáp ứng các yêu cầu sau:      Các sản phẩm, dịch vụ được tạo ra thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ công nghệ cao được quy định tại Khoản 3 Điều 6;      Có đầu tư liên    tục và thực hiện  nghiên cứu và phát triển cho việc    đổi mới công nghệ;  Có đủ đội    ngũ cán bộ trình độ cao làm công tác nghiên cứu và phát    triển;  Đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng sản phẩm thuộc lĩnh vực chuyên ngành và tiêu chuẩn về môi trường và các quy định liên quan khác.      Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan quy định cụ thể các yêu cầu tại Điểm b, c, d Khoản 1 Điều này trong từng thời kỳ; tổ chức việc công nhận dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao, dự án cung ứng dịch vụ công nghệ cao và định kỳ kiểm tra việc đảm bảo yêu cầu đó trong quá trình hoạt động của dự án.      Tổ chức, cá nhân đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao, dự án cung ứng dịch vụ công nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau:       a)  Được ưu đãi theo được quy định tại các Điểm a, c,  d, đ Khoản 5 Điều 16 của Luật này;   b) Được giao đất không thu tiền đối với đất được sử dụng, thuê đất để thực hiện dự án ở vị trí thuận lợi, miễn, giảm thuế sử dụng đất, các khoản thu đối với đất theo quy định của Luật Đất đai.      Doanh nghiệp      công nghệ cao        Doanh nghiệp công    nghệ cao phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:     a)  Sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công  nghệ cao quy định tại Điều 7 của Luật này;   b) Đảm bảo mức chi cho nghiên cứu và phát triển, có đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, có doanh thu chủ yếu từ sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng sản phẩm thuộc lĩnh vực chuyên ngành và tiêu chuẩn về môi trường.       Doanh nghiệp công    nghệ cao được hưởng các ưu đãi được nêu tại các    Điểm a, c Khoản 5 Điều 16 của Luật này.       3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan quy định tiêu chí, trình tự và thủ tục công nhận doanh nghiệp công nghệ cao.      Khởi nghiệp      doanh nghiệp công nghệ cao của các tổ      chức khoa học và công nghệ          Tổ chức khoa học và công nghệ có quyền thành lập hoặc hợp tác với tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoạt động ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, thành lập doanh nghiệp công nghệ cao.  Tổ chức khoa    học và công nghệ trong quá trình thành lập doanh nghiệp    công nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau đây:      Được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước;      Được góp vốn bằng một số tài sản của tổ chức khoa học và công nghệ công lập để thành lập doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật;      Giảng viên, cán bộ nghiên cứu của tổ chức khoa học và công nghệ được phép thành lập doanh nghiệp công nghệ cao và thực hiện các hoạt động công nghệ cao.        Cơ sở ươm      tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ      cao        Cơ sở sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao phải trợ giúp các tổ chức, cá nhân để tạo ra công nghệ cao, hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao.   Cơ sở ươm tạo    công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp cao phải đáp ứng    các yêu cầu chủ yếu sau đây:       a) Có hạ tầng cơ sở làm việc, thông tin liên lạc, Internet, cơ sở nghiên cứu và thí nghiệm để trợ giúp thuận lợi cho các tổ chức cá nhân thực hiện việc tạo ra công nghệ cao, hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao;   b) Có đội ngũ chuyên gia tư vấn, mạng lưới chuyên gia tư vấn về công nghệ, sở hữu trí tuệ, pháp lý, tài chính, quản lý và các vấn đề liên quan đến thành lập doanh nghiệp;   c)  Có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu  và đào tạo;   d)  Có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp.      Bộ Khoa học và Công nghệ quy định cụ thể các yêu cầu đối với các cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở nghiên cứu xây dựng kế hoạch xây dựng các cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao ở một số trường đại học và cơ sở nghiên cứu để tạo ra công nghê cao và thực hiện việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu về công nghệ cao.         Các biện      pháp khuyến khích cơ sở ươm tạo công nghệ      cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ      cao        Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao thuộc các lĩnh vực quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 của Luật này.   Nhà nước khuyến khích các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.  Tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau:        a)  Được ưu đãi theo các Điểm a, b Khoản 5 Điều 16 của  Luật này;      b) Cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao có sử dụng kinh phí của nhà nước được giữ lại các nguồn thu cho tái đầu tư.        Ươm tạo      công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ      cao        Hoạt động ươm    tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao:      Tổ chức, cá nhân có ý tưởng công nghệ cao, kết quả nghiên cứu công nghệ cao, công nghệ cao chưa được hoàn thiện và có mục tiêu thương mại hóa công nghệ cao có quyền đăng ký thực hiện ươm tạo công nghệ cao tại các cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;      Tổ chức, cá nhân có sở hữu công nghệ cao và có mục tiêu thành lập doanh nghiệp công nghệ cao để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao được quyền đăng ký thực hiện ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao tại các cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp cao;  Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao mới thành lập, có quy mô rất nhỏ và có mục tiêu phát triển thành doanh nghiệp công nghệ cao được quyền đăng ký thực hiện ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao tại các cơ sở ươm tạo công nghệ cao, uơm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;  Tổ chức, cá nhân thực hiện ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao tại cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao có trách nhiệm tạo ra công nghệ cao, hình thành, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao theo hợp đồng với cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.      Tổ chức, cá nhân thực hiện việc ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau đây:       a)  Các ưu đãi quy định tại các Điểm a, c  Khoản 5 Điều  16 của Luật này;   b) Được Chương trình quốc gia về công nghệ cao hỗ trợ kinh phí ươm tạo, lãi suất vay vốn của ngân hàng, các tổ chức tín dụng, kinh phí thuê văn phòng, phòng thí nghiệm, dịch vụ thông tin, dịch vụ tư vấn chuyên môn, thương mại, pháp lý, tài chính và các dịch vụ cần thiết khác để thực hiện việc ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.   c)  Được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập  cá nhân theo quy định của pháp luật.      Đầu tư mạo      hiểm cho công nghệ cao          Đầu tư mạo hiểm công nghệ cao là đầu tư phát triển công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao, có khả năng mang lại lợi nhuận lớn, có tính rủi ro cao, được thực hiện bằng hình thức góp vốn và tư vấn cho tổ chức, cá nhân được đầu tư.  Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm công nghệ cao, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao tại Việt Nam.  Các tổ chức thực hiện đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quy định tại Khoản 2 Điều này được hưởng mức ưu đãi cao nhất thuế thu nhập doanh nghiệp.  Chính phủ quy    định việc thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ    cao.           Chương  IV  PHÁT TRIỂN  NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ CAO      Quy hoạch,      kế hoạch phát triển nhân lực công nghệ      cao          Việc phát triển nhân lực công nghệ cao được thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 của Luật này.  Quy hoạch, kế hoạch quốc gia phát triển nhân lực công nghệ cao phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ cao, đồng bộ, theo ê-kíp để đáp ứng mục tiêu phát triển các công nghệ cao được ưu tiên phát triển.  Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ ngành có liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch quốc gia phát triển nhân lực công nghệ cao.   Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch quốc gia phát triển nhân lực công nghệ cao, các bộ ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực công nghệ cao phục vụ yêu cầu phát triển công nghệ cao thuộc ngành, lĩnh vực, địa phương mình.        Đầu tư phát      triển cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ      cao        Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế; hỗ trợ xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao có liên doanh, liên kết với nước ngoài.  Cơ sở đào tạo    nhân lực công nghệ cao được hưởng các ưu đãi sau đây:      Được hưởng    các ưu đãi được quy định tại Khoản 5 Điều 16 của    Luật này;       Được Chương trình quốc gia về công nghệ cao hỗ trợ tối đa 50% kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ đào tạo nhân lực công nghệ cao.      Cơ sở đào tạo tham gia đào tạo nhân lực công nghệ cao được hưởng các ưu đãi quy định tại Điểm a, c, d Khoản 5 Điều 16 của Luật này.        Đào tạo      nhân lực công nghệ cao        Nhà nước dành    kinh phí cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng    nâng cao trình độ nhân lực công nghệ cao.  Chương trình, dự án về ứng dụng và phát triển công nghệ cao sử dụng ngân sách nhà nước phải có hạng mục đào tạo nhân lực công nghệ cao.  Chi phí của các tổ chức, cá nhân cho việc thu hút chuyên gia công nghệ cao tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhân lực công nghệ cao được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.   Nhà nước thực hiện việc bảo lãnh đối với số tiền vay của các cá nhân được đào tạo về công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển.  Hoạt động đào tạo nhân lực công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định pháp luật.        Sử      dụng nhân lực công nghệ cao        Nhà nước có chế độ lương, nhà ở và điều kiện làm việc thuận lợi để thu hút nhân lực công nghệ cao vào làm việc tại các cơ sở do Nhà nước quản lý.  Người thực hiện các hoạt động công nghệ cao được ưu tiên xét tuyển trong các chương trình của Nhà nước về đào tạo, thực tập nâng cao nghề nghiệp trong và ngoài nước.        Ưu đãi đối      với chuyên gia công nghệ cao        Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với chuyên gia trong nước và ngoài nước thực hiện các hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.  Nhà nước tạo điều kiện làm việc để chuyên gia công nghệ cao thực hiện các hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng.  Chuyên gia là    người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước    ngoài tham gia hoạt động công nghệ cao ở Việt Nam được:       Hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về thuế;       Phong tặng học    hàm, học vị, danh hiệu vinh dự của Nhà nước theo quy    định của pháp luật;  Hưởng các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế khác mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.      Chuyên gia công nghệ cao trong nước đảm nhận các nhiệm vụ tương đương như các chuyên gia công nghệ cao nước ngoài trong các hoạt động công nghệ cao được hưởng các điều kiện sống và làm việc như đối với chuyên gia công nghệ cao nước ngoài làm việc tại Việt Nam.      Bộ Khoa học    và Công nghệ quy định tiêu chí xác định chuyên gia công    nghệ cao.       Chương  V  KHU CÔNG  NGHỆ CAO        Yêu cầu đối      với khu công nghệ cao        Khu công nghệ cao phải là nơi tạo ra được các công nghệ cao, sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao; trình diễn các mô hình sản phẩm công nghệ cao trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:      Có vị trí địa lý, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, trình diễn các mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng cao;      Có mối liên    hệ chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo;  Có đội ngũ    quản lý chuyên nghiệp.      Thủ tướng Chính    phủ quyết định thành lập khu công nghệ cao theo đề nghị    của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.        Chức năng,      nhiệm vụ của khu công nghệ      cao              Khu công nghệ    cao thực hiện một hoặc một số chức năng chính sau đây:        Nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao;       Sản xuất sản    phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao;   Sản xuất và trình diễn các mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao dựa trên kết quả nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao.      Khu công nghệ    cao có các nhiệm vụ chính sau đây:      Thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước để thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm công nghệ cao và dịch vụ công nghệ cao;  Gắn kết nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao;  Tăng cường năng    lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.          Quy hoạch      phát triển các khu công nghệ      cao        Căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ trong từng thời kỳ, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển các khu công nghệ cao trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.      Đầu tư xây      dựng và quản lý khu công nghệ      cao           Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số khu công nghệ cao tại các vùng kinh tế trọng điểm và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, xây dựng, kinh doanh hạ tầng ở các khu công nghệ cao đã được phê duyệt.  Tổ chức, cá    nhân đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu công nghệ    cao được hưởng các ưu đãi sau:      Giao đất không thu tiền đối với đất để xây dựng khu công nghệ cao. Chính phủ quy định cụ thể thời hạn miễn tiền sử dụng đất đối với từng loại hình khu công nghệ cao cụ thể;      Hỗ trợ một phần kinh phí từ Chương trình quốc gia về công nghệ cao để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong khu công nghệ cao;  Kinh doanh cơ sở    hạ tầng kỹ thuật theo đúng chức năng trong dự án đã    được phê duyệt;  Hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng trong các khu chức năng và tái định cư, tái định canh cho các hộ gia đình bị thu hồi đất;       đ)  Hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật.      Nhà nước ưu tiên kêu gọi vốn đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và các nguồn vốn đầu tư hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước để xây dựng khu công nghệ cao.  Chính phủ ban    hành quy chế quản lý các khu công nghệ cao.       Chương  VI  ĐIỀU KHOẢN  THI HÀNH      Hiệu lực      thi hành       Luật  này có hiệu lực  kể từ ngày …. tháng … năm 200….       Hướng dẫn      thi hành       Chính phủ quy định chi tiết  và hướng dẫn thi hành Luật này.   Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ …. thông qua ngày ….. tháng……năm 2008.                 CHỦ  TỊCH QUỐC HỘI                      Nguyễn  Phú Trọng                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa công nghệ hạt nhân thành một động lực kinh tế xã hội      Vừa qua, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã họp bàn về bản dự thảo “Kế hoạch tổng thể của Chính phủ thực hiện chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” do Bộ Khoa học và Công nghệ biên soạn.    Mục tiêu chung của Kế hoạch tổng thể là phát triển tiềm lực công nghệ hạt nhân đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước phát triển ngành công nghiệp công nghệ hạt nhân trên cả hai lĩnh vực điện hạt nhân và ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để phát triển kinh tế.  Dự kiến việc thực hiện kế hoạch tổng thể này sẽ chia làm 3 giai đoạn. Từ nay đến 2010, sẽ xây dựng Trung tâm quốc gia về y học hạt nhân và xạ trị; hoàn thành việc phê duyệt báo cáo đầu tư dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, hoàn thành cơ bản việc thăm dò, dánh giá trữ lượng tài nguyên uran trong khu vực có triển vọng; phê duyệt và triển khai chương trình đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân quốc gia; quy hoạch hệ thống ngành năng lượng nguyên tử, ban hành Luật Năng lượng nguyên tử và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cơ bản cho hoạt động ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ.  Đến năm 2015, dự kiến sẽ hoàn thành Trung tâm quốc gia về y học hạt nhân, sản xuất và cung cấp 80% nhu cầu về đồng vị, dược chất phóng xạ trên lò phản ứng; triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, các doanh nghiệp trong nước tham gia ít nhất 20% khối lượng đầu tư, vận tải và xây lắp nhà máy; hoàn thành việc phê duyệt báo cáo đầu tư dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân thứ hai.  Bản dự thảo Kế hoạch tổng thể đặt mục tiêu nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam sẽ đi vào hoạt động vào năm 2020. Đến thời điểm này, mạng lưới cơ sở y học hạt nhân và xạ trị trong cả nước gồm Trung tâm quốc gia và 10 trung tâm khu vực sẽ đảm bảo đáp ứng 100% nhu cầu trong nước về chẩn đoán và điều trị bằng kỹ thuật y học hạt nhân và xạ trị. Khi đó sẽ đạt mục tiêu đào tạo 500 cán bộ khoa học và công nghệ hạt nhân, trong đó có 100 chuyên gia có trình độ quốc tế.  Các đề án triển khai  Theo dự thảo Kế hoạch tổng thể, điện hạt nhân sẽ là lĩnh vực do Nhà nước đầu tư và quản lý. Việc xây dựng nhà máy sẽ thực hiện theo phương thức chìa khoá trao tay với đối tác nước ngoài để đảm bảo an toàn. Kinh phí xây dựng nhà máy, sẽ vay vốn tín dụng xuất khẩu của nước cung cấp nhà máy (khoảng 70 – 75% tổng trị giá nhà máy), phần còn lại Nhà nước sẽ huy động vốn trong nước. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân sẽ do nhà nước chịu trách nhiệm, cũng có thể đầu tư từ vốn vay ODA. Nội dung cụ thể đề án “Phát triển điện hạt nhân” sẽ do Bộ Công nghiệp chủ trì.  Khác với đầu tư cho nhà máy điện hạt nhân, việc đầu tư trong lĩnh vực ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ sẽ được xã hội hóa. Nhà nước chỉ ưu tiên đầu tư xây dựng tiềm lực về nghiên cứu và triển khai để chuyển giao công nghệ ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ. Các đề án cụ thể về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong y tế, địa chất, khoáng sản, công nghệ sinh học, thủy sản, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế sẽ do các bộ Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ chủ trì.  Để phát triển nguồn nhân lực thực hiện Kế hoạch tổng thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chủ trì đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho chương trình năng lượng nguyên tử”. Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì đề án “Đẩy mạnh nghiên cứu  khoa học và phát triển công nghệ về năng lượng nguyên tử, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật, đảm bảo an toàn, an ninh phục vụ phát triển ứng dụng bức xạ và điện hạt nhân đến năm 2020” và đề án “Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý và hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”.  “Ai có thể duyệt những bản vẽ thiết kế của dự án điện hạt nhân?”  Về bản Kế hoạch tổng thể này, GS Phạm Duy Hiển cho rằng phải có cách tiếp cận theo cơ chế thị trường về năng lượng nguyên tử. Nhà nước chỉ nên hoạch định chương trình phát triển năng lượng nguyên tử như những định hướng, không nên làm thay thị trường. Nhà nước chỉ nên nhận lấy trách nhiệm về các mặt đầu tư cho đội ngũ chuyên gia, xây dựng hạ tầng cơ sở luật pháp về an ninh hạt nhân và thực hiện các cam kết quốc tế.  “Việc xây dựng lò phản ứng nghiên cứu mới cũng vậy. Không thể bỏ ra hàng trăm triệu USD mà lại thiếu luận chứng thuyết phục. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã tiến hành một số đề tài với kinh phí hàng trăm triệu để nghiên cứu vấn đề này, nhưng chưa đề tài nào lý giải tại sao phải có một lò phản ứng mới”.  “Một lò phản ứng mới công suất trên 10MW chắc chắn rất cần, chẳng những cho ngành hạt nhân, mà còn cho nhiều ngành khoa học khác. Nhưng cần đến mức nào, có nhất thiết phải xây hay không là điều còn phải tiếp tục bàn luận”.  “Đào tạo cán bộ và chuyên gia là một thí dụ. Viện Năng lượng nguyên tử liên tục tổ chức hội thảo, mời chuyên gia nước ngoài, triển lãm và tham quan về điện hạt nhân, nhưng số người có trình độ ngày càng vơi đi. Vài hôm nữa, một công ty nước ngoài nào đó mang đến chào hàng một dự án nhà máy điện hạt nhân, ai sẽ duyệt hàng đống bản vẽ thiết kế đó?” – GS Phạm Duy Hiển phát biểu.  GS Nguyễn Viễn Thọ thì cho rằng: “Mục tiêu của dự thảo Kế hoạch tổng thể còn chung chung, chưa rõ ràng. Có hai hướng phát triển điện hạt nhân, một hướng là cố gắng làm chủ công nghệ hạt nhân, hướng kia là nhập khẩu, khai thác  ứng dụng. Nếu theo hướng thứ nhất thì Nhà nước mới nên tập trung nguồn lực quốc gia để đầu tư”. GS Thọ nhận xét thêm: “Bản dự thảo Kế hoạch tổng thể có vẻ dao động giữa hai hướng, song có thiên về nhập khẩu”.  Điện hạt nhân phải nằm trong chiến lược tổng thể về năng lượng  Phần lớn các ý kiến đóng góp cho dự thảo Kế hoạch tổng thể đều cho rằng nên tách các mục tiêu về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân khỏi Kế hoạch tổng thể. GS Nguyễn Văn Hiệu cho rằng: “Tốt nhất bản Kế hoạch tổng thể chỉ nên tập trung vào năng lượng hạt nhân. Trong việc xây dựng cơ sở sản xuất đồng vị phóng xạ trên máy gia tốc, cũng không nên đặt mục tiêu đáp ứng 100% nhu cầu trong nước, mà chỉ nên sản xuất đồng vị phóng xạ ngắn ngày là thứ Việt Nam không thể nhập khẩu được (do phân rã nhanh)”.  GS Đỗ Huy Định đề xuất việc phải xây dựng chiến lược tổng thể quốc gia về năng lượng. Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng về năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học. Nếu xây dựng nhà máy điện hạt nhân thì phải căn cứ theo chiến lược tổng thể về năng lượng này. Tuy nhiên, là người không ủng hộ xây dựng nhà máy điện hạt nhân, GS Đỗ Huy Định cho rằng: “Nếu sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng, Việt Nam không cần xây dựng nhà máy điện hạt nhân”.  Nếu xây dựng nhà máy điện hạt nhân thì nhất thiết phải có đầy đủ thông tin và minh bạch. GS Phạm Duy Hiển kể: “Thời trước, tôi thường đại diện cho Việt Nam dự các hội nghị khối SEV về năng lượng nguyên tử, cuộc nào cũng thấy ca ngợi điện hạt nhân của Liên Xô rất an toàn và ưu việt. Cho nên khi lò phản ứng nổ, chất phóng xạ bay xa đến giữa Đại Tây Dương và Nhật bản, các nước Tây Âu làm ầm lên, mà Gorbachev vẫn không hay biết gì, đám sinh viên Việt Nam vẫn rủ nhau đi tắm trên biển Kiev”. Vì thế phải tránh cách đưa thông tin thiếu chuẩn xác, thiên lệch, dễ tạo nên ngộ nhận cho lãnh đạo. Những thông tin về điện hạt nhân một chiều, sẽ gây ra chủ quan trong nhân dân và lãnh đạo. Không thể “xây dựng chiến lược về điện hạt nhân của một đất nước mà lại trích dẫn ngay trên trang nhất dự báo của một nhóm nghiên cứu ở trường đại học MIT, xem đó là luận cứ”.  “Hoan nghênh quyết tâm của Nhà nước có điện hạt nhân trước năm 2020”, song GS Phạm Duy Hiển cũng nhấn mạnh: “Nhất thiết không bám giữ tiến độ 2020, nếu điều kiện chưa cho phép. Từ nhiều năm nay, một số công ty nước ngoài thi nhau “ve vãn” ta về điện hạt nhân. Không được để cho họ gây sức ép. Phải triệt để chống tham nhũng và hối lộ trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Nếu không, hậu quả sẽ khôn lường, như bài học ở Philippines. Cần đề cao tính minh bạch đối với công chúng, giới chuyên môn và quản lý trong việc phát triển điện hạt nhân. Ngay bản thân tôi cũng không hề được biết bản Dự án tiền khả thi xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên do Bộ Công nghiệp soạn trình Chính phủ, mặc dù trong đó có đoạn nói rằng Bản Dự án đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong giới chuyên môn. Tôi cũng được biết rằng rất nhiều chuyên gia lâu năm trong và ngoài ngành hạt nhân cũng không biết gì về nội dung bản Dự án này. Điện hạt nhân là vấn đề rất phức tạp, do đó cố tình không để ý và nghe những ý kiến phản biện là mở đầu cho cả quá trình thiếu minh bạch rất nguy hiểm trong tương lai”.    Chú thích ảnh: Một số công ty nước ngoài thi nhau “ve vãn” ta về điện hạt nhân  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa hội nghị hạng A tới Việt Nam      Khi tiến hành tổ chức hội nghị châu Á – Thái  Bình Dương PAKDD 2015 về Phát hiện Tri thức và Khai phá Dữ liệu  (Pacific – Asia Conference on Knowledge Discovery and Data Mining,  PAKDD), động lực chủ yếu của những người tổ chức là mang những hội nghị  chất lượng tốt đến Việt Nam để nhiều người có thể tham dự.      Sự phát triển của lĩnh vực Khai phá dữ liệu  Phát hiện tri thức và Khai phá dữ liệu (viết tắt là KDD trong tiếng Anh, có gốc là từ Knowledge Discovery in Databases) là một lĩnh vực của công nghệ thông tin (CNTT), còn được gọi ngắn gọn là  Khai phá dữ liệu (data mining). Khai phá dữ liệu phân tích các tập dữ liệu lớn và phức tạp để phát hiện và tìm ra các tri thức mới và quý ẩn chứa trong dữ liệu, dưới dạng các mẫu dạng (pattern) hay mô hình (model). Do quanh ta ngày càng nhiều dữ liệu và nhu cầu phân tích để hiểu và dùng chúng ngày càng tăng, Khai phá dữ liệu đã phát triển rất nhanh và sôi động trong giới nghiên cứu và công nghiệp suốt hai mươi năm qua. Khi Dữ liệu Lớn (big data) được nhận ra trong những năm gần đây như một thách thức công nghệ và một động lực của sự phát triển1, các kỹ thuật Khai phá dữ liệu càng được quan tâm vì chúng đóng vai trò trung tâm trong phân tích dữ liệu lớn.  Đánh dấu sự ra đời của ngành Khai phá dữ liệu là hội nghị quốc tế KDD lần đầu tiên được tổ chức vào tháng Tám năm 1995 tại Montreal, Canada. KDD 1995 được tổ chức bởi Hiệp hội Máy tính ACM (Association for Computing Machinary), là tổ chức nghề nghiệp về khoa học và công nghệ máy tính có hơn 100 nghìn hội viên trên toàn thế giớ ivới trụ sở chính tại thành phố New York. Trong 15 năm đầu, KDD chỉ tổ chứcở Bắc Mỹ (vào tháng Tám, ba lần ở Mỹ tiếp theo lần đầu ở Canada), và gần đây thỉnh thoảng ra ngoài khu vực này (KDD 2009 tại Paris, KDD 2012 tại Bắc Kinh, KDD 2015 tại Sydney). Hai năm sau, KDD 1995, hai hội nghị quốc tế khác về Khai phá dữ liệu đã ra đời: PKDD do cộng đồng nghiên cứu tại châu Âu (tổ chức vào tháng Chín hằng năm) và PAKDD do cộng đồng nghiên cứu tại châu Á và châu Úc (tổ chức vào tháng Năm hằng năm). Năm 2000, IEEE (Hiệp hội quốc tế về Kỹ nghệ Điện và Điện tử) tổ chức hội nghị ICDM (International Conference on Data Mining) về Khai phá dữ liệu (vào tháng 12 hằng năm).  Năm 2001, SIAM (Hội toán học ứng dụng và toán cho công nghiệp) tổ chức hằng năm vào đầu tháng Tư hội nghị SDM (SIAM International Conference on Data Mining) về Khai phá dữ liệu. Từ đó có thêm một số hội nghị quốc tế khác về ngành này, nhưng có thể nói hiện nay KDD, PKDD, PAKDD, ICDM và SDM là năm hội nghị quốc tế có uy tín trên thế giới về Khai phá dữ liệu.  Đánh giá phân loại các hội nghị trong một ngành khoa học là việc có phần khó so với đánh giá các tạp chí của ngành. Hiệp hội nghiên cứu và giáo dục về khoa học máy tính của Úc (http://www.core.edu.au/index.php/conference-rankings) đánh giá xếp hạng 1703 hội nghị quốc tế ngành CNTT theo năm nhóm: A* (ngoại lệ, exceptional, chiếm 3.7%), A (xuất sắc, excellent, 19.1%), B (tốt, good, 26.1%), C (thỏa mãn các chuẩn tối thiểu, chiếm 50.7%), và chưa xếp hạng (unrank, 0.5%). Rất nhiều hội nghị về CNTT không có trong danh sách xếp hạng của CORE, chủ yếu là các hội nghị quốc tế luôn tổ chức ở một nước, người tổ chức và tham gia hội nghị hầu hết ở nước này. Theo xếp hạng của CORE năm 2014, KDD và ICDM thuộc hạng A*, và PKDD, PAKDD, SDM thuộc hạng A.  Khai phá dữ liệu rất gần với hai lĩnh vực Học máy (machine learning) và  Thống kê toán học (Statistics) ở mục tiêu cùng phân tích các tập dữ liệu, tuy điểm xuất phát, bài toán, và phương pháp ít nhiều khác nhau. Các phương pháp Khai phá dữ liệu và Học máy đều ngày càng dựa nhiều hơn vào Thống kê toán học, ngành khoa học phát triển lâu năm với nền tảng vững chắc. Cũng vì vậy, từ 2001 hai hội nghị PKDD và ECML (Hội nghị châu Âu về Học máy, vốn có từ 1989) đã hợp nhất  với nhau thành ECML – PKDD.            Để giữ chất lượng cao, PAKDD lâu nay đã quy  ước các bài báo nộp không đề tên tác giả, mỗi bài được ba thành viên Ban  chương trình đọc và đánh giá độc lập, và một thành viên chủ chốt chịu  trách nhiệm cùng ba thành viên đánh giá thảo luận để đưa ra quyết định  chọn hay không chọn. PAKDD cũng quy định các trưởng Ban Chương trình  không được nộp bài cho hội nghị.               Hội nghị PAKDD được tổ chức lần đầu tại Singapore vào năm 1997 và tiếp theo đượctổ chức hằng năm tại các nước khác nhau (Singapore, Melbourne, Bắc Kinh, Kyoto, Hong Kong, Taipei, Seoul…). Ban Điều hành của PAKDD gồm các nhà nghiên cứu uy tín từ nhiều nước về khai phá dữ liệu đã cùng bàn bạc, đưa ra các chính sách và quy định để vận hành hoạt động này. Nước nào muốn tổ chức một PAKDD, cần đăng ký và có đại diện đến trình bày đề nghị và kế hoạch chuẩn bị trong cuộc họp của Ban Điều hành từ hai năm trước. Một trong các tiêu chuẩn để xét duyệt đề nghị là sự tham gia tổ chức của những người có kinh nghiệm hoạt động từ nhiều nước khác nhau. Sau khi được xét chọn, nhóm đăng ký cần đến trình bày kết quả chuẩn bị ở hội nghị một năm trước khi mình tổ chức.   Dấu ấn PAKDD 2015  So với nhiều ngành khoa học khác, CNTT có “văn hóa ngành” riêng về các hội nghị khoa học: Bài gửi hội nghị được đánh giá kỹ và tuyển chọn, in trong tuyển tập trước hội nghị2. Với PAKDD 20153, các bài báo nộp để tuyển chọn từ đầu tháng 12 năm 2014. Để giữ chất lượng cao, PAKDD lâu nay đã quy ước các bài báo nộp không đề tên tác giả, mỗi bài được ba thành viên Ban chương trình đọc và đánh giá độc lập, và một thành viên chủ chốt chịu trách nhiệm cùng ba thành viên đánh giá thảo luận để đưa ra quyết định chọn hay không chọn. PAKDD cũng quy định các trưởng Ban chương trình không được nộp bài cho hội nghị.   Năm nay, PAKDD 2015 có 405 bài gửi tham gia và chọn 117 bài, với tỷ lệ 28.9%. Các bài này được xuất bản bởi Springer trong hai tập sách hơn 1.000 trang. Cùng với các bài được chọn trình bày ở hội nghị chính, PAKDD 2015 còn tổ chức sáu hội thảo (workshop) trong đó có hội thảo VLSP về Xử lý tiếng nói và văn bản tiếng Việt, ba bài giảng chuyên đề (tutorial) về các vấn đề mới của Khai phá dữ liệu, và một cuộc thi quốc tế (Contest) về phân tích dự đoán từ một tập dữ liệu phức tạp do công ty FPT cung cấp. Đặc biệt, PAKDD 2015 đã mời được ba nhà khoa học xuất sắc trình bày các báo ở phiên toàn thể (keynote): giáo sư Thorsten Joachim (Đại học Cornell), giáo sư Masashi  Sugiyama (Đại học Tokyo) và giáo sư Nguyễn Xuân Long (Đại học Michigan).  PAKDD 2015 không thể tiến hành nếu không có sự chuẩn bị công phu nhiều tháng trời của nhiều thầy cô giáo và sinh viên của Viện John von Neumann  (JVN), Đại học Bách khoa và Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. PAKDD 2015 còn có sự góp sức quý báu của nhiều nhà khoa học người Việt ở nước ngoài: Giáo sư Nguyễn Hùng Sơn ở Đại học Warsaw (Ba Lan) lo việc tổ chức thi phân tích dữ liệu (với 320 người dự thi và 2.800 lượt gửi bài); giáo sư Phùng Quốc Định ở Đại học Deakin (Úc) lo việc mời chuyên gia và tổ chức các bài giảng chuyên đề; giáo sư Nguyễn Xuân Long ở Đại học Michigan trình bày rất hấp dẫn một kết quả nghiên cứu xuất sắc (bài báo nhận giải “Best paper award” tại hội nghị hàng đầu ICML – A* theo CORE – ngành Học máy).   Do có được thỏa thuận với Ban điều hành và nỗ lực tìm kiếm tài trợ, Ban tổ chức đã lo được các mức hội nghị phí thấp cho đại biểu trong nước, chỉ bằng 1/3 mức của đại biểu nước ngoài. Đặc biệt, sinh viên và nghiên cứu sinh được mời tham gia và miễn phí hoàn toàn. Đây là động lực chủ yếu của những người tổ chức: Mang những hội nghị chất lượng tốt đến Việt Nam để nhiều người có thể tham dự. Thông thường, mỗi chuyến ra nước ngoài dự một hội nghị quốc tế đòi hỏi chi phí tối thiểu chừng 2.000 USD (mà không phải hội nghị  nào cũng có chất lượng tốt).  PAKDD 2015 có 246 đại biểu từ 27 nước tham gia, trong đó có 31 từ Úc, 49 từ Trung Quốc, 18 từ Mỹ, 17 từ Nhật,  24 từ châu Âu, 27 từ các nước khác và 67 từ Việt Nam.   Hội nghị năm nay được Ban điều hành nhận định là một trong những PAKDD rất thành công. Quan trọng hơn, PAKDD 2015 đã góp thêm một hoạt động khoa học có chất lượng vào các hoạt động của giới CNTT nước ta.            Hội nghị châu Á-Thái Bình Dương PAKDD 2015  về Phát hiện Tri thức và Khai phá Dữ liệu (Pacific-Asia Conference on  Knowledge Discovery and Data Mining, PAKDD)  được tổ chức trong các ngày  từ 19 đến 22/5/2015 tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là lần tổ chức thứ 19 của PAKDD và  lần thứ hai PAKDD đến Việt Nam (lần đầu vào năm  2005 tại Hà Nội).             Chú thích:  1.    Hồ Tú Bảo, “Dữ liệu lớn: Cơ hội và thách thức lớn”, Tia Sáng 2013, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=2&News=6103  2.    Ngô Quang Hưng, “Văn hóa ngành” trong tiêu chí đánh giá, Tia Sáng 2007, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=82&CategoryID=17&News=1766  3.  Những ai quan tâm về hội nghị có thể tham khảo thêm thông tin trên trang web: http://www.pakdd2015.jvn.edu.vn/         Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa khoa học ra khỏi tháp ngà      Tôn trọng tri thức từ cộng đồng cũng như chia sẻ quyền lực, trách nhiệm với cộng đồng trong suốt quá trình nghiên cứu là cách tốt nhất để các nhà khoa học đảm bảo rằng nghiên cứu thực sự hữu dụng với xã hội.      Dân địa phương và các nhà nghiên cứu phối hợp thực hiện khảo cổ tại Morombe. Nguồn: Nature  GS. Nicky Edeltyn (Trường Tâm lý học, ĐH Keele) quyết định thực hiện một nghiên cứu quy mô về ảnh hưởng của thời gian uống thuốc đối với việc điều trị bệnh Parkinson sau khi nhận được nhiều phản hồi từ bệnh nhân là họ cảm thấy trí nhớ tốt hơn nếu uống thuốc vào đầu bữa sáng.  Cô đã tìm đến cơ quan Nghiên cứu và Phát triển địa phương để tìm kiếm nguồn tài trợ và nhận được đề nghị là họ sẽ không chỉ cấp kinh phí cho việc nghiên cứu mà còn chi trả cả các khoản trợ cấp để Nicky mời những bệnh nhân và người chăm sóc cùng tham gia vào hoạt động nghiên cứu này. Vì thế, Nicky quyết định mời nhóm 4 đến 5 bệnh nhân cùng người chăm sóc – được giới thiệu qua Hiệp hội Parkinson tại địa phương, tới cùng ăn trưa và thảo luận đề xuất dự án. Hoạt động này tiếp tục được duy trì cho đến khi kết thúc dự án.  Kết quả thật đáng ngạc nhiên. Những cuộc thảo luận đã giúp Nicky nhận ra trước giờ cô, và cả các nhà khoa học khác, mới chỉ tập trung đến ảnh hưởng của việc uống thuốc đến hiệu năng trí nhớ mà chưa từng cân chắc ảnh hưởng của sự suy giảm trí nhớ đến hành động của bệnh nhân hằng ngày, đến sự tự tin và tự tôn của họ.  Nhờ đó, Nicky đã bắt đầu định hướng đến việc đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đồng thời, họ cũng giảm số lượng đánh giá [tác động thuốc] xuống sau khi bệnh nhân phản hồi rằng 2 lần/tuần là quá nhiều và bệnh nhân cần thời gian phục hồi (vì trước mỗi lần đánh giá cần một khoảng thời gian dừng thuốc). Đây là những vấn đề hoàn toàn mới mà Nicky chưa từng biết đến trước nay, kể cả qua các cuộc phỏng vấn sâu đối với bệnh nhân.  Để khoa học có thể hành động  Các dự án như của Nicky được gọi là nghiên cứu đồng sản xuất, trong đó các nhà nghiên cứu và cộng đồng cùng nhau hợp tác, chia sẻ tri thức, trách nhiệm và quyền quyết định trong mọi khâu của quá trình nghiên cứu, từ khung ban đầu của dự án đến theo dõi sau kết thúc. Hình thức nghiên cứu này bắt đầu phổ biến từ những năm 1970 trong cộng đồng các nhà khoa học xã hội khi họ cố gắng giúp các chính sách trở nên “gần gũi” với dân chúng. Bởi sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa để đảm bảo rằng nghiên cứu tập trung vào những gì thực sự quan trọng với cộng đồng.  Thậm chí đối với cộng đồng thiểu số, đồng sản xuất từ lâu đã trở thành phương pháp chính, thậm chí là bắt buộc. Đây là cách duy nhất để tiếp cận cộng đồng này, để thực sự hiểu nhu cầu của họ và xóa bỏ đi những ấn tượng tiêu cực về các “nhà khoa học trực thăng” trong quá khứ – việc các nhà khoa học bay đến, thu thập dữ liệu và mẫu máu, rồi rời đi. Người thiểu số chỉ được coi như những đối tượng thí nghiệm thay vì được tôn trọng, và họ cũng không nhận lại được lợi ích từ những nghiên cứu kiểu cũ.  Ngày nay, ngày càng nhiều dự án áp dụng phương pháp tiếp cận đồng sản xuất khi thực hiện nghiên cứu, với mong muốn”đưa khoa học ra khỏi tháp ngà”. Ví dụ, Carolina Vera, giáo sư ĐH Buenos Aires-CONICET đã trăn trở nhiều khi những nghiên cứu khí hậu của mình ít được cộng đồng sử dụng, mặc dù bà đã cho xây dựng một trang web, phát triển các công cụ dự đoán tuần khí hậu.  Mọi việc chỉ thay đổi cho đến khi Carolina quyết định có cuộc đối thoại với những người được nhắm đến sẽ hưởng lợi từ nghiên cứu của bà và bắt tay với họ phát triển thông tin khí hậu có ích cho các hộ chăn nuôi gia súc nhỏ và trồng rau, ngô, khoai tây. Qua quá trình hợp tác, Carolina nhận ra trước đây mình đã bỏ qua một số hiện tượng không được coi là cực đoan theo số liệu thống kê nhưng lại tác động lớn đến cuộc sống của nông dân – “Các cộng tác viên của chúng tôi cho biết về một chuỗi bất thường của hơn 15 ngày nhiều mây trong năm 2016 đã khiến sản lượng ớt và cà chua mùa đông giảm đáng kể”.  Bên cạnh đó, việc để những người được hưởng lợi từ nghiên cứu có quyền tham gia nhiều hơn, thay vì giới hạn ở phỏng vấn lấy ý kiến hay tham gia thử nghiệm, thường dẫn đến kết quả nghiên cứu tốt hơn. Tương tự trường hợp của Nicky, sau khi tổ chức các buổi sinh hoạt với gia đình có trẻ em khuyết tật, lần đầu tiên các chuyên gia công nghiệp và học giả nghiên cứu thuộc chương trình Hợp tác Nghiên cứu Chi giả Trẻ em của Bộ Y tế Anh được nghe một cách chi tiết về cách một chân/tay giả không phù hợp có thể ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của đứa trẻ trên lớp, ở nhà và sân chơi.  Carolina nhận xét: “Mọi người ngày càng thừa nhận rằng tri thức và kinh nghiệm địa phương có thể làm phong phú thêm chất lượng và tác động của nghiên cứu. Công việc phản hồi nhanh hơn, phù hợp về mặt xã hội và kết nối với cộng đồng bị ảnh hưởng.”    Trẻ em khuyết tật và gia đình nói chuyện với các chuyên gia ngành công nghiệp và viện nghiên cứu để cải thiện công nghệ chi giả. Nguồn: Nature  Tôn trọng kiến thức từ cộng đồng  Trước những lợi ích của nghiên cứu đồng sản xuất, năm 1996, Viện Nghiên cứu Y tế Anh đã thành lập INVOLVE – nhóm tư vấn quốc gia nhằm thúc đẩy sự tham gia của công chúng vào nghiên cứu chăm sóc sức khỏe và xã hội. Sau nhiều cuộc thảo luận với cộng đồng, nhóm INVOLVE đã xác định một trong những rào cản chính hạn chế sự phát triển của các nghiên cứu đồng sản xuất là các thành viên cộng đồng cảm thấy các nhà nghiên cứu không đủ tôn trọng kiến thức của bệnh nhân.  Nhiều nhà khoa học không đánh giá cao kiến thức từ những người không được đào tạo bài bản, tuy nhiên điều này hoàn toàn sai lầm. Lấy ví dụ, bản đồ nguy cơ lũ lụt cho những người sống ở lưu vực sông Matanza, miền đông Argentina lập ra về cơ bản là giống với kết quả mà các nhà khoa học thực hiện với các phép đo thủy văn và lưu vực đầu nguồn.  Dù vậy, tiếng nói từ cộng đồng vẫn có thể bị lấn át khi đối mặt với những người có danh hiệu “bác sĩ” hay “giáo sư”, vì thế, điều quan trọng nhất để đảm bảo nghiên cứu đồng sản xuất thành công là chia sẻ quyền lực – không để tình trạng các nhà nghiên cứu thực hiện tất cả các quyết định quan trọng hoặc đảm nhiệm tất cả trách nhiệm. Chia sẻ quyền lực phụ thuộc vào việc xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa các nhà nghiên cứu, các học viên và các thành viên công cộng của một nhóm nghiên cứu.Tổ chức các cuộc họp trong môi trường trung lập, như tại thư viện – hoặc một quán ăn như cách Nicky đã làm, và tạo cơ hội cho phản hồi thường xuyên, là cách xây dựng mối quan hệ cởi mở và tin tưởng giữa các thành viên trong nhóm.  Ngoài ra, tất cả các quan điểm và kỹ năng có liên quan cũng cần được xem xét khi bắt đầu tập hợp nhóm nghiên cứu, để đảm bảo sự đa dạng và công bằng. Tất cả các kiến thức của các thành viên đều nên được tôn trọng như nhau. Ví dụ, trong một dự án đồng sản xuất giữa các điều dưỡng viên, hộ sinh và đơn vị nghiên cứu từ ĐH Glasgow Caledonian (Anh) về đánh giá hệ thống liệu pháp vật lý đột qụy, nhóm nghiên cứu đã phát triển một bộ quy tắc, trong đó không ai được tự ý chen ý kiến trong cuộc thảo luận nhóm mà không giơ tay. Đồng thời, để tránh một số cá nhân “áp đảo” toàn bộ cuộc thảo luận, không ai được nói quá 2 phút. Luôn luôn tồn tại những rào cản khi các nhóm đối tượng khác nhau cùng hợp tác, và nghiên cứu đồng sản xuất chỉ có thể thành công khi phá vỡ những rào cản đó.  Một cách tiếp cận khác  Mặc dù vậy, nghiên cứu đồng sản xuất gặp nhiều khó khăn khi cơ chế tài trợ hiện nay chưa đủ linh hoạt để trả tiền công cho những người tham gia nằm ngoài danh sách nhân viên viện, trường; chưa kể đến các chi phí các buổi thảo luận, sinh hoạt chung. Kristina Douglass, người chỉ đạo Dự án khảo cổ Morombe mong muốn đưa các thành viên cộng đồng trong nhóm tới Pennsylvania để làm việc trực tiếp thay vì mất thời gian bay qua bay lại mỗi khi muốn thảo luận một vấn đề. Tuy nhiên, các nhà tài trợ phản đối đề nghị này, họ thậm chí còn phê bình ngân sách dự án mà Douglass dùng để thanh toán cho người dân địa phương – khoảng 200 USD/tháng, là quá cao so với mức lương trong khu vực.  Bên cạnh đó, việc tài trợ dựa trên kết quả đầu ra nghiên cứu như hiện tại – ví dụ như số lượng công bố hay chỉ số h-index, sẽ hạn chế số lượng các nghiên cứu được thực hiện theo hình thức đồng sản xuất do loại nghiên cứu này thường mất thời gian và không nhất thiết tạo ra các bài báo hàng đầu. Các nhà xuất bản khoa học cũng cần thay đổi cách thức đánh giá hiện tại, khi quá chú trọng về tính hàn lâm mà bỏ qua sự liên quan xã hội của nghiên cứu cũng như cách tiếp cận đa dạng để tạo ra kiến thức về các vấn đề xã hội.  Cư dân ở Bronx (New York) đã cùng các nhà nghiên cứu của Dự án Khoa học Cộng đồng của City University of New York triển khai ngăn chặn bạo lực súng đạn. Họ điều tra chính sách kiểm tra đột xuất (Stop and Frisk) của Sở cảnh sát New York và phát hiện trong năm 2011, người dân Bronx đã bị cảnh sát yêu cầu dừng lại 4882 lần, tuy nhiên chỉ có 8 cây súng được tìm thấy.  Điều này cho thấy cảnh sát đang lạm dụng chính sách này và khiến người dân e ngại, nhờ đó nghiên cứu đã đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh của toàn thành phố. Dự án đồng sản xuất này đã giúp cải cách pháp luật tại thành phố và hỗ trợ một số vụ kiện lớn. Và dù không có kết quả là một bài báo khoa học, không thể phủ nhận được giá trị của các nghiên cứu như vậy.  Một vấn đề nữa đối với các nghiên cứu đồng sản xuất là những người tham gia từ phía cộng đồng chưa nhận được xứng đáng những lợi ích mà họ đáng lẽ nên được hưởng từ công việc dự án. “Có qua có lại” là điều kiện bắt buộc và mọi người nên nhận lại được những thứ như tiền công hay có tên trong bài báo quốc tế.  Tuy nhiên, những tác giả từ phía cộng đồng thường không được liệt kê là đồng tác giả. George ‘Bic’ Manahira – người đến từ Morombe và biết 5 ngôn ngữ, đã tham gia làm quản lý cho dự án Dự án khảo cổ Morombe từ những ngày đầu tiên nhưng chưa một lần được đứng tên trên công bố, mặc dù ông rất muốn. Sarah Buckley của Cơ quan Bảo vệ Biển-Thủy sản ở Ireland, người đang dẫn dắt một dự án hợp tác với ngư dân dọc bờ biển Kenya nhận xét: “Có một người mà tôi muốn đưa tên làm tác giả, nhưng theo tiêu chí của tạp chí thì tôi không thể thêm tên họ vào.”  Nghiên cứu đồng sản xuất mang đến nhiều tác động tích cực nhưng nó không thể được phổ biến rộng rãi nếu như cách thức nghiên cứu được tài trợ và tổ chức không có sự thay đổi. Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan tài trợ, tạp chí khoa học… cần thay đổi các thực hành và văn hóa cũ để tạo điều kiện cho sự kết nối với cộng đồng, chia sẻ quyền lực và trách nhiệm.  Minh Thuận tổng hợp từ Nature  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/tap-chi-kh-viet-nam-goi-y-giai-phap-hoi-nhap-quoc-te/2018110108378828p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa nhiên liệu mới ra thị trường      Các nhà khoa học thuộc chính phủ Mỹ đã phát triển một cách thức mới giúp đưa các loại nhiên liệu diesel tái định dạng (reformulated) nhanh chóng phổ biến trên thị trường.    Bộ Năng lượng Mỹ mới đây đã cấp pa-tăng cho công nghệ tái định dạng được phát triển bởi Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge. Những nhiên liệu tái định dạng này được kỳ vọng là ít làm ô nhiễm không khí hơn và tiết kiệm được chi phí hơn.    Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, phương pháp của họ đã giúp chứng minh cho sự giảm đáng kể lượng oxít ni-tơ thải ra cũng như khả năng thương mại hóa cao của loại nhiên liệu diesel tái định dạng. Thêm vào đó, loại nhiên liệu mới này còn cải thiện được các đặc trưng vận hành của phương tiện giao thông.  Nguồn: United Press International      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dubna: Thành phố của “nguyên tố 105”      Nằm bên bờ Volga, dòng sông dài nhất châu Âu, và cách Moscow khoảng 120 km về phía đông bắc, Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna (JINR) đã đưa Dubna – một thành phố nhỏ trước năm 1956 còn gần như vô danh của vùng Oblast thành điểm đến quan trọng của các nhà khoa học thế giới và chứng kiến khoảng 40 khám phá quan trọng về vật lý hạt nhân của Liên Xô trước đây.      Các nhà nghiên cứu trong phòng làm việc của viện sỹ Georgy Flyorov tại Viện Dubna, từ phải qua trái: Georgy Flyorov, Vyacheslav Volkov, Yuri Lazarev và Boris Pustylnik. Bức ảnh phía sau bên phải là Igor Kurchatov.  Kể từ ngày ra đời, Dubna đã được coi là một trong những thành phố khoa học quan trọng của Liên Xô  – naukograd. Điều đó hiển hiện ngay trên con đường dẫn đến Viện Dubna với bức tượng bán thân của những biểu tượng khoa học Nga như Dmitri Mendeleev, Georgy Flerov cùng những bức bích họa miêu tả phản ứng nhiệt hạch. Ra đời vào ngày 26/3/1956 trên cơ sở hợp nhất Viện nghiên cứu các vấn đề hạt nhân (INP) và Phòng thí nghiệm Vật lý Electron (EFLAN) của Viện Hàn lâm KH&CN Liên Xô, Viện Dubna bắt đầu tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và thực nghiệm của vật lý hạt cơ bản, vật lý hạt nhân, vật lý các chất đậm đặc. Trước đó hai năm, Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) được thành lập để kết nối các nguồn lực của các quốc gia Tây Âu trong tìm hiểu các tính chất cơ bản của thế giới vi mô.  Lịch sử phát triển của Dubna gắn liền với những tên tuổi xuất sắc, những người đi tiên phong về khoa học hạt nhân như Nikolai Boroliubov, Dmitrii Blokhintsev, Igor Kurchatov, Igor Tamm, Aleksandr Topchiev, Yefim Slavsky (Nga), Lajos Janossy (Hungary), Horia Hulubei (Romania), Leopold Infeld, Henryk Niewodniczański (Ba Lan) và nhiều người khác.  Trung tâm nghiên cứu hạt nhân hàng đầu thế giới  Trong hơn sáu thập kỷ, Dubna đã trở thành một trung tâm nghiên cứu về nhiều lĩnh vực đa dạng của vật lý hạt nhân với sự tham gia thường xuyên của hơn 6000 người, trong đó có 1000 nhà khoa học (8 viện sĩ hàn lâm, khoảng 230 giáo sư, tiến sĩ, 680 nghiên cứu sinh), 2000 kỹ sư và nhân viên kỹ thuật. Họ làm việc ở 8 phòng thí nghiệm (PTN Vật lý lý thuyết Bogoliubov BLTP; PTN Năng lượng cao Veksler & BaldinVBLHE; PTN Vật lý hạt LPP; PTN Các vấn đề hạt nhân Dzhelepov DLNP; PTN Các phản ứng hạt nhân FlerovFLNR; PTN Vật lý neutron Frank FLNP; PTN Công nghệ thông tin LIT và PTN Sinh học phóng xạ LRB). Mỗi năm tại đây có khoảng 1.500 công bố quốc tế và báo cáo khoa học.  Để khám phá những hiểu biết mới, Dubna có nhiều thiết bị nghiên cứu chuyên biệt về những hạt mang điện tích và hạt nhân, chúng cũng là những thiết bị hiện đại bậc nhất trong thế hệ của mình, ví dụ như phasotron, synchrophasotron – những máy gia tốc hạt ion nặng U200, U400. Năm 1993, một chùm tia ion đã được tạo ra từ máy gia tốc mới U400M trong lần vận hành đầu tiên. Trong các năm tiếp theo, nuclotron 7 GeV– chiếc máy gia tốc siêu dẫn đầu tiên trên thế giới được đưa vào hoạt động tại Dubna  cùng lò phản ứng neutron nhanh IBR-2, lò phản ứng khuếch đại neutron IBR -30…  Sau nhiều năm bàn thảo với Viện Hàn lâm KH&CN Nga (RAS) và được sự đồng ý của chính phủ Nga, năm 2017 Dubna đã bắt tay vào thực hiện siêu dự án NICA với mục tiêu xây dựng một máy gia tốc siêu dẫn gia tốc các hạt ion của các nguyên tố nặng, qua đó “nghiên cứu các khối vật chất phức tạp hơn” như lời giải thích của chủ tịch RAS. Dù tới năm 2019 mới dự kiến hoàn thành nhưng hiện tại, đã có hơn 16 viện nghiên cứu Nga và 79 viện nghiên cứu thuộc 30 quốc gia trên thế giới đã đăng ký tham gia NICA.  Trên các thiết bị hiện đại ở Dubna cũng như của các trung tâm khác như CERN, Viện vật lý năng lượng cao IHEP (Nga), Phòng thí nghiệm máy gia tốc Fermi quốc gia Mỹ FLAP, Trung tâm Gia tốc Electron DESY (Đức), các nhà nghiên cứu Nga và quốc tế đã tập trung vào ba lĩnh vực chính: vật lý hạt cơ bản để tìm hiểu quá trình chế tạo và tương tác của các hạt là cách làm trực tiếp nhất để hiểu về cấu trúc vật chất; vật lý hạt nhân nghiên cứu các tính chất mới của hạt nhân, các tương tác hạt nhân, các nguyên tố mới, bao gồm nguyên tố siêu urani và siêu nặng (Dubna được đánh giá ở vị trí dẫn đầu thế giới về lĩnh vực này); vật lý các chất đậm đặc: lĩnh vực khoa học cơ bản này đã đạt được sự tiến bộ nhanh chóng, đặc biệt trong những năm gần đây. Các phương pháp thực nghiệm của vật lý hạt nhân đã được Dubna ứng dụng để nghiên cứu về các hiện tượng vật lý trong chất rắn và chất lỏng, những đặc tính mới của vật liệu…  Nhiều thành tựu của thế giới trong ba lĩnh vực này thuộc về các nhà vật lý Dubna. Họ chiếm tới hơn một nửa khám phá xuất sắc của Liên Xô cũ. Nhiều kết quả nghiên cứu ở Dubna đã được trao giải thưởng quốc gia và quốc tế, ví dụ phát hiện về chuyển dịch không phát bức xạ trong các hạt nhân meso (nonradiative transitions in mesoatoms) năm 1959; phản hạt hyperon-trừ-sigma (antisigma-minus hyperon) năm 1960; sự tái tạo của các tế bào (postradiative regeneration of cells) năm 1972; quy tắc tính hạt quark (quark counting rule) năm 1973; hiện tượng neutron chậm (phenomenon of slow neutron) năm 1975; quy tắc cộng hưởng hình thành của các phân tử muon trong deuterium (regularity of resonant formation of muonic molecules in deuterium) năm 1988 và việc tìm ra các nguyên tố mới bổ sung vào bảng tuần hoàn – “giấc mơ của các nhà vật lý hạt nhân” như flerovium, moscovium, oganesson, copernicium…  Khoa học kết nối các quốc gia  Slogan của Dubna là “Khoa học kết nối các quốc gia” (Science bringing nations together). Với tầm nhìn của các nhà khoa học, Dubna tự nó đã trở thành một trung tâm nghiên cứu quốc tế bởi từ những năm 1950, họ đã nhận ra rằng việc mở cửa phòng thí nghiệm và hợp tác quốc tế mới có thể đem lại những hiểu biết mới của con người và đẩy mạnh ứng dụng của năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình.  Tinh thần khoa học phi biên giới đã hiện diện ở Dubna ngay từ ngày đầu thành lập: nếu giám đốc đầu tiên của Dubna là Dmitrii Blokhintsev – nhà vật lý Liên Xô mới hoàn thành việc thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới ở Obninsk (Nga) thì hai phó giám đốc không phải người Nga: Marian Danyzs (Ba Lan) và Vaclav Votruba (Séc).  Các chính sách khoa học của Dubna do Hội đồng Khoa học viện quyết định, hội đồng này bao gồm các nhà khoa học hàng đầu từ các quốc gia thành viên và những nhà khoa học của CERN, Pháp, Đức, Ý và Mỹ.  Ngay sau khi thành lập, Dubna đã kết nối với nhiều trung tâm nghiên cứu khác của thế giới để cùng giải quyết những vấn đề chung của vật lý hạt nhân. Thậm chí mối quan hệ giữa các nhà khoa học Dubna và đồng nghiệp quốc tế vẫn được duy trì một cách chặt chẽ ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Giáo sư Mark Stoyer (Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore, Mỹ) – một trong những cộng tác viên tích cực của Dubna nói về những nỗ lực của các nhà khoa học trên tạp chí của Hội Hóa học Hoàng gia Anh: “Khi các nhà chính trị xung đột thì các nhà khoa học vẫn cùng nhau làm việc. Chúng tôi cố gắng giữ không cho chính trị xen vào công việc của mình”. Tinh thần vì khoa học ấy đã góp phần đem lại những nguyên tố mới, với sự trao đổi kết quả nghiên cứu và xuất bản công trình cùng nhau, ví dụ giáo sư Oganessian – tên ông được đặt cho nguyên tố 118, và giáo sư Joseph Hamilton (trường Đại học Vanderbilt ở Nashville, Mỹ) – “cha đẻ của nguyên tố 117” trong thời gian 20 năm hợp tác đã có chung hơn 200 bài báo.  Truyền thống ấy đã được tiếp nối đến ngày nay. Hiện Dubna hợp tác với 800 trung tâm khoa học và trường đại học trên khắp thế giới, chỉ riêng ở Nga – đối tác lớn nhất của Dubna, có hơn 170 trung tâm, trường viện, công ty ở 55 thành phố của Nga kết nối trực tiếp với Dubna trong nhiều khía cạnh: đào tạo, trao đổi chuyên gia, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ… Mỗi năm, hơn 1000 nhà khoa học từ các tổ chức đối tác của Dubna tới đây làm việc, Dubna cũng dành một khoản kinh phí cấp học bổng cho các nhà vật lý từ các quốc gia đang phát triển. Song song với đó, Dubna tổ chức khoảng 10 hội nghị lớn và khoảng 30 hội thảo quốc tế và một trường hè truyền thống hằng năm dành cho các nhà khoa học trẻ. Mridupawan Deka – một nhà vật lý lý thuyết trẻ người Ấn Độ, chia sẻ nguyên nhân vì sao anh lại chọn Dubna, sau khi từng tới Mỹ hay Đức, “trong đầu tôi luôn luôn trở đi trở lại ý nghĩ một ngày nào đó sẽ tới thành phố của ‘nguyên tố số 105’ (các nhà khoa học đã lấy Dubna để đặt tên cho nguyên tố này)”. Tính chuyên nghiệp, động lực nghiên cứu cao và sự chân thành của các nhà khoa học Nga đã thuyết phục anh. “Nếu bắt đầu thảo luận về một vấn đề khoa học thì không bao giờ là một thảo luận chớp nhoáng cả, nó không giới hạn về thời gian và chỉ kết thúc khi mọi người đều hiểu rõ từ đầu đến cuối. Điều này hiếm thấy ở nhiều quốc gia khác”, anh giải thích.  Đi đầu về đổi mới sáng tạo  Vào cuối những năm 1990, Dubna được định hướng trở thành một hệ sinh thái công nghệ cao. Vào cuối những năm 2000, Chính phủ Nga đã quyết định quy hoạch thành phố thành khu kinh tế tự do (free economic zone) nhằm thu hút sự đầu tư của các công ty công nghệ cao của Nga đầu tư và xây dựng Dubna trở thành một Thung lũng Silicon, hay ít nhất là một Bangalore thứ hai. Dubna sẽ chính thức trở thành một trong bốn Khu kinh tế đặc biệt cho đổi mới sáng tạo của Nga (SEZ for Innovation) vào năm 2020.  Bất chấp rủi ro trong đầu tư có thể đến nhưng nhìn thấy tiềm năng ở thành phố này, tiềm năng trong việc đầu tư vào R&D và liên kết với các nhà khoa học Dubna, nhiều công ty công nghệ  cao đã tới đây, có thể điểm một vài gương mặt: Svyaz Engineering – một trong những nhà sản xuất lớn nhất châu Âu về các bảng điện tử công nghệ cao, chống bức xạ trong các thiết bị ứng dụng trong không gian; NanoCascad sản xuất các thiết bị và vật liệu lọc plasma (họ sử dụng máy gia tốc cyclotron của Viện Dubna để tạo các màng lọc đặc biệt); Fresenius/Konkor sản xuất các thiết bị thận nhân tạo và thiết bị lọc máu; Arkray công ty sản xuất đường kế; Promtech sản xuất thiết bị hàng không; Nordavind Dubna: sản xuất thiết bị soi tim và có khả năng phát hiện bệnh tim; Kameny Vek: sản xuất các vật liệu composit siêu nhẹ từ bazan; NanoBrakhiTech sản xuất đồng vị phóng xạ cho điều trị ung thư tuyến tiền liệt; BioGenius – một dạng công ty spinoff của các nhà khoa học Moscow về điều trị ung thư máu.  Để chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, Viện Dubna đã xây dựng trường đại học quốc tế Khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn và bắt đầu tuyển sinh lứa đầu tiên từ năm 1994. Họ hi vọng, hằng năm khoảng 70% sinh viên ra trường sẽ ở lại thành phố làm việc và một phần xuất sắc trong số đó sẽ làm việc ở Viện. Ông Boris Starchenko, người phụ trách bộ phận báo chí của Viện Dubna nhận xét, Dubna vẫn là nơi thực hiện nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực liên quan tới cấu trúc của vật chất nhưng kết hợp chặt chẽ với sự phát triển, ứng dụng các công nghệ mới cùng đầu tư vào giáo dục đại học để xây dựng Dubna trở thành thành phố đổi mới sáng tạo.  Thanh Nhàn tổng hợp từ jinr.ru, rbth.com, economist.com, chemistryworld.com, schillerinstitute.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đức đàm phán về truy cập mở với Elsevier      Các cuộc đàm phán để giảm giá tạp chí và thúc đẩy truy cập mở đang tiến triển chậm chạp.      Free University (Berlin, Đức) là một bên tham gia liên doanh hợp tác với nhà xuất bản Elsevier.  Khoảng 200 đại học Đức đã mất quyền truy cập trên các tạp chí chuyên ngành do nhà xuất bản Elsevier ấn hành trong vài tuần, bởi cuộc đàm phán về một hợp đồng dài hạn đã thất bại.  Mâu thuẫn giữa Elsevier – nhà xuất bản tạp chí khoa học lớn nhất thế giới, và hệ thống các trường đại học Đức đã kéo dài từ năm 2015. Hồi đầu năm nay, các nhà nghiên cứu Đức đã mất quyền truy cập vào các nội dung xuất bản của Elsevier trong một thời gian ngắn trước khi cuộc đàm phán gần nhất được nối lại.  Những người ủng hộ truy cập mở đối với các ấn phẩm khoa học trên thế giới nói rằng, nếu giành chiến thắng, các trường đại học Đức có thể sẽ giáng một cú mạnh vào mô hình xuất bản khoa học truyền thống dựa trên phí đặt mua (subscription fee). Việc các doanh nghiệp Đức cũng tham gia cuộc tranh luận để giảm phí đặt mua và thúc đẩy truy cập mở có thể là tín hiệu dự báo những thay đổi sâu sắc đối với ngành công nghiệp xuất bản học thuật toàn cầu.  Paul Ayris – Phó giám đốc Dịch vụ thư viện tại University College London (UCL), nhận xét: “Không nghi ngờ rằng những gì các trường đại học Đức đang yêu cầu sẽ là chỉ hướng cho xuất bản học thuật. Nếu Đức đạt được thỏa thuận, các nước khác sẽ học theo.”  Một hội đồng thư viện các trường đại học và nghiên cứu đã được thành lập “Dự án DEAL” và tiến hành đàm phán với Elsevier trong hơn hai năm. Họ muốn một thỏa thuận cho phép các nhà khoa học Đức được toàn quyền truy cập online vào hơn 2.500 tạp chí của Elsevier với mức giá chỉ còn một nửa so với mức trong quá khứ mà thư viện của các trường phải trả. Truy cập mở được cho là điểm gắn kết của cuộc đối thoại: trong thỏa thuận, tất cả các tác giả liên hệ (corresponding author) có liên quan tới các viện nghiên cứu Đức đều được phép đưa “công bố mở’ công trình của họ để mọi người có thể cùng đọc và chia sẻ.  Horst Hippler – Chủ tịch Hiệp hội Các hiệu trưởng đại học Đức (German Rectors’ Conference) và là người phát ngôn của Dự án DEAL, nói: “Mô hình kinh doanh Nhà xuất bản kiểu cũ đã trở nên lỗi thời. Kết quả nghiên cứu phải được mở cho cộng đồng và chi phí truy cập mở cũng cần ở mức hợp lý.”  Các viện và quỹ nghiên cứu trên khắp thế giới đang theo đuổi chính sách truy cập mở. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 vừa qua do nhà khoa học thông tin Heather Piwowar (ĐH Pittsburgh, Pennsylvania, Mỹ) và Jason Priem – người đang điều hành một dịch vụ online, thực hiện, đã phát hiện khoảng 28% tài liệu học thuật toàn cầu đã sẵn sàng cho truy cập mở ở nhiều hình thức, bao gồm hình thức kho lưu trữ của trường đại học (University repositories). Tốc độ tăng trưởng của các tài liệu truy cập mở cao hơn nhiều tài liệu phải trả phí.  Vào tháng 9, một liên doanh các trường đại học Phần Lan khi đàm phán một hợp đồng về quyền truy cập các công bố trong phạm vi Phần Lan với Elsevier đã đi đến  thỏa thuận sơ bộ với các công ty sau cuộc đàm phán kéo dài và cuộc đình công ngắni của những người bình duyệt.  Chi tiết trong thỏa thuận không được tiết lộ tuy nhiên nhiều nguồn tin cho biết, nó bao gồm việc giảm giá tạp chí và cho phép truy cập mở đối mà không phải trả phí đối với một số công bố của các tác giả Phần Lan.  Gerard Meijer, nhà vật lý Hà Lan làm việc tại Viện nghiên cứu Fritz Haber thuộc Hiệp hội Max Planck, đã tham gia đàm phán về truy cập mở với Elsevier ở Hà Lan vào năm 2015. Kết thúc đàm phán là việc hình thành một thỏa thuận để các nhà khoa học tại 14 trường đại học ở Hà Lan cung cấp quyền truy cập mở với 30% công trình của mình trên một danh sách chọn lọc các tạp chí mà không mất phí. Ông nói: “Đây là những gì tốt nhất chúng tôi có thể đạt vào lúc bấy giờ. Khi nhìn lại, tôi nghĩ chúng ta đáng lẽ nên đẩy mạnh hơn.”  Trong năm 2016, khoảng 19% các công bố của các nhà khoa học Đức được xuất bản trên tạp chí Elsevier. Hannfired von Hindenburg, phát ngôn viên của Elsevier nói rằng: “Cần nên trao quyền truy cập mở vàng (gold open access) đối với 100% tài liệu khoa học 1, vì thế chúng tôi sẵn lòng hỗ trợ cho mục tiêu này”. Thách thức hiện nay là phải đảm bảo quá trình chuyển đổi từ truy cập trả phí sang truy cập mở diễn ra một cách thuận lợi với tất cả các bên. Việc yêu cầu các liên minh quốc gia trả tiền cho phí đặt mua và cho truy cập mở có thể khá đắt đối với quốc gia công bố nhiều như Đức.  Đức hiện cũng đang đàm phán thỏa thuận về truy cập mở với Springer Nature – bên xuất bản Nature. Để có thêm thời gian [đàm phán], cả hai bên đồng ý gia hạn thêm một năm đối với các hợp đồng truy cập (sẽ hết hạn vào ngày 31/12/2017).  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-017-07817-1  ——  1. Truy cập vàng (gold open access)  là việc các công bố được xuất bản với cách thức cho phép bất cứ những ai quan tâm đến công bố đều được quyền truy cập tức thì. Truy cập xanh (green open access) là gửi kết quả nghiên cứu đã được bình duyệt vào kho lưu trữ điện tử, việc truy cập vào kết quả nghiên cứu có thể được trao tức thì hoặc sau một thời gian “cấm vận”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng bàn phím máy tính để phát hiện sớm bệnh Parkinson      Qua nghiên cứu, một nhóm nhà khoa học của Học viện Massachusetts (MIT) cho rằng thao tác gõ bàn phím máy tính thể hiện rất nhiều thông tin liên quan tới kỹ năng vận động của người thao tác. Hiện nay họ đang thiết kế loại bàn phím có khả năng chỉ qua việc phân tích cách gõ bàn phím mà biết được một người có tổn thương về thần kinh hay không.    Khi cơ thể con người bắt đầu một động tác nào đó thì lớp da vận động (primary motor cortex) của não người ấy sẽ phát tín hiệu đến một số vùng của não, gồm vùng phụ trợ vận động, tiểu não và hạch thần kinh. Những vùng này kích hoạt thần kinh tủy sống, qua đó kích thích cơ bắp hoàn thành động tác.  Có nhiều nhân tố can nhiễu năng lực vận động, thí dụ thiếu ngủ sẽ làm giảm độ nhạy vận động.  Ở bệnh nhân Parkinson, do tế bào sinh ra chất dopamine trong não – gọi là tế bào liềm đen – bị chết mà dẫn đến hậu quả người bệnh bị run chân tay, động tác chậm chạp và đi lại khó khăn.  Nhóm nhà khoa học của MIT đang nghiên cứu lập ra một thuật toán có thể xác định tính hữu hiệu gõ bàn phím. Thí dụ, nó có thể phân biệt được động tác gõ phím vào nửa đêm với động tác gõ phím khi người gõ được nghỉ ngơi đầy đủ, hoàn toàn thư giãn. Gõ bàn phím vào nửa đêm có nghĩa là người đó thiếu ngủ, sẽ tổn hại tới kỹ năng vận động.Ở đây đã áp dụng nguyên lý phân tích “thời gian gõ phím”, tức quãng thời gian từ lúc phím bị ấn xuống cho tới lúc được nhả ra.   Nghiên cứu sơ bộ hơn 20 bệnh nhân Parkinson cho thấy, sử dụng thuật toán phân tích động tác gõ bàn phím có thể phân biệt được người khỏe mạnh với người mắc chứng Parkinson.  Nhà khoa học Ian Butterworth nói, dự án nghiên cứu này dựa trên tiền đề giả thiết là “có lẽ cách gõ phím của chúng ta ẩn chứa một số thông tin nào đó”. Các nhà nghiên cứu chú trọng xem xét ảnh hưởng của sự mệt mỏi, và cho biết họ có thể chẩn đoán được từ rất sớm những bệnh gây tổn hại cho cơ năng vận động, như bệnh Parkinson.  Các nhà khoa học nói, thông thường y học chỉ chẩn đoán được bệnh Parkinson sau khi nó đã phát bệnh được 5 đến 10 năm, tức là khi đã xảy ra rất nhiều tổn thương. Bởi vậy phát hiện sớm bệnh Parkinson là điều rất quan trọng.John Growdon, Chủ nhiệm Khoa Rối loạn ký ức và vận động của Bệnh viện tổng hợp Massachusetts, nói, điều quan trọng trong nghiên cứu tiếp theo là cần chứng minh được mối quan hệ giữa các khiếm khuyết về gõ bàn phím với mức độ nặng nhẹ của bệnh Parkinson. Ông nói, “Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là việc này có tiềm năng lớn giúp phát hiện các tổn thương nhỏ sớm hơn rất nhiều so với khả năng chẩn đoán của các thầy thuốc.”   Nhóm nghiên cứu tin rằng biện pháp nói trên có thể dùng để chẩn đoán cả những bệnh ảnh hưởng tới kỹ năng vận động khác, như bệnh thấp khớp.  N.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đứng cạnh những tên tuổi lớn      Việc được bầu vào Viện Hàn lâm Nghệ thuật và  Khoa học Mỹ là điều đáng tự hào cho GS. Đàm Thanh Sơn, bởi đây là tổ  chức tập hợp những nhà khoa học và trí thức hàng đầu của thế giới, với  hơn 250 người từng đoạt giải Nobel, và hơn 60 người từng đoạt giải  Pulitzer.&#160;     Đây cũng là một trong những tổ chức học thuật lâu đời nhất của Mỹ, được thành lập vào ngày 4/5/1780 khi quốc gia non trẻ này còn chưa chính thức ra đời. Trong lúc cuộc chiến giành độc lập của Mỹ vẫn đang diễn ra và Hiến pháp Mỹ còn chưa được soạn thảo, các nhà sáng lập, John Adams và James Bowdoin đã nhìn xa vào tương lai, thấy trước sự phát triển của đất nước sẽ cần đến vai trò trọng yếu của tri thức. Bởi vậy, từ khi thành lập đến nay Viện luôn là nơi tập hợp những bộ óc xuất sắc nhất như Albert Einstein, Niels Bohr, Alexander Graham Bell, Stephen Hawking, v.v. Đó là các nhà khoa học làm lý thuyết và cả những người ứng dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề trọng yếu đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, các thành viên của Viện không chỉ là các nhà khoa học, mà cả những người kiệt xuất trong các lĩnh vực khác, như George Washington, Alexander Hamilton, John Stuart Mill, Woodrow Wilson, Martin Luther King, Jawaharlal Nehru, v.v.  Trong số 204 thành viên mới của Viện năm 2014, GS. Đàm Thanh Sơn đứng cùng những tên tuổi xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên như nhà thiên văn Neta A. Bahcall, người kết hợp dữ liệu quan sát được từ những cuộc khảo sát quy mô lớn để xác định cấu trúc của vũ trụ; Jerry F. Franklin, nhà sinh thái và bảo tồn rừng hàng đầu thế giới; Tamás F. Freund, người phát hiện ra kênh liên lạc phân tử mới trong tế bào thần kinh; Dan Shechtman, người đoạt giải Nobel Hóa học 2011; Anthony Zee, nhà lý thuyết lượng tử hàng đầu thế giới; Stephen Quake, người có những nghiên cứu hướng tới cải thiện kỹ thuật đo lường sinh học, v.v. Bên cạnh đó là các nhà khoa học xã hội như George W. Breslauer, cựu hiệu trưởng Đại học Berkeley, nhà nghiên cứu về Soviet và hậu-Soviet; Raj Chetty, nhà kinh tế học trẻ tuổi được trích dẫn nhiều nhất hiện nay; Michael Greenstone, cựu kinh tế trưởng trong Hội đồng Tư vấn Kinh tế của Tổng thống Obama; Deborah Loewenberg Ball, nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu (tập trung vào giáo dục toán học). Trong số các nhà nghiên cứu nhân văn và nghệ sỹ phải kể đến Jules Feiffer và Annie Proulx, những người từng đoạt giải Pulitzer; họa sỹ Chris Burden; triết gia John B. Cobb; nhà thơ Linda Gregerson; diễn viên Al Pacino. Ngoài ra là các nhà báo, chính trị gia, doanh nhân có những đóng góp xuất sắc như William Kling, Sherry Lansing, John W. Rogers, Jr., Jerry I. Speyer, v.v.   Việc GS. Đàm Thanh Sơn tiếp bước GS. Ngô Bảo Châu1 trở thành viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nghệ thuật và Khoa học Mỹ và sánh vai cùng những tên tuổi trí thức lừng danh của thế giới là một tin vui, tuy nhiên đây không phải là điều bất ngờ, mà là “hệ quả tất yếu cho những thành tựu nghiên cứu” của ông, như nhận xét của TS. Giáp Văn Dương. Trong đó, thành tựu nổi bật nhất mà GS. Đàm Thanh Sơn và các cộng sự (nhóm KSS) đạt được, theo TS. Giáp Văn Dương, là xây dựng “lý thuyết về độ nhớt của các hệ lượng tử tương tác mạnh, chẳng hạn các lỗ đen, các hệ khí Fermi suy biến hoặc chính vũ trụ ở thuở sơ khai”, một công trình đã xâu chuỗi một loạt các lĩnh vực khác nhau của vật lý, như thủy động lực học, thiên văn học, vật lý hạt, vật lý chất rắn và siêu dẫn, lý thuyết dây…, những lĩnh vực tưởng chừng chẳng có chút liên hệ gì với nhau, qua đó mở ra nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới có tính liên ngành. “Nếu đặt trong một kỳ vọng lớn hơn của giới vật lý về việc tìm ra một lý thuyết thống nhất các lý thuyết hiện có, thì nghiên cứu này lại càng có ý nghĩa”, TS. Giáp Văn Dương nhận định.  Thanh Xuân tổng hợp  Nguồn tham khảo:  https://www.amacad.org/  http://www.giapvan.info/    —      1 Năm 2012, GS. Ngô Bảo Châu cũng vinh dự được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Nghệ thuật và Khoa học Mỹ        Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng cây để phát hiện ô nhiễm trong đất      Bằng cách gắn ống nano carbon vào lá cây cải bó xôi, các kĩ sư của MIT đã biến những cây này thành những cảm biến có thể phát hiện chất nổ và truyền thông tin đến thiết bị cầm tay như điện thoại thông minh.        “Qua việc cấy hạt nano vào cây, mục tiêu của chúng tôi là biến cây thông thường thành cây điện tử sinh học nano với những chức năng mới”, theo GS Michael Strano, Khoa Kỹ thuật hóa học tại MIT và là người đứng đầu nhóm nghiên cứu. Trong trường hợp này, cây được thiết kế để phát hiện hợp chất hóa học nitroaromatic, thường được sử dụng để chế mìn và các loại chất nổ khác. Khi cây hút phải nước ngầm có chứa nitroaromatic, những ống nano carbon được gắn trên lá sẽ phát ra tín hiệu huỳnh quang. Camera hồng ngoại gắn trên một máy tính nhỏ giống như điện thoại thông minh có khả năng đọc tín hiệu huỳnh quang và gửi dữ liệu qua e-mail đến người dùng. Hiện tại thiết bị chỉ thu được tín hiệu ở khoảng cách 1m và các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tăng khoảng cách này lên. Theo họ, thiết bị này cũng có thể được thay thế bằng những chiếc điện thoại di động với loại camera phù hợp, chẳng hạn như loại có gắn bộ lọc hồng ngoại.  Dữ liệu dồi dào  GS Strano cho biết, “Thực vật là những nhà hóa học phân tích rất giỏi. Chúng có một mạng lưới rễ sâu rộng trong lòng đất, liên tục lấy mẫu nước ngầm và đưa lên lá”, nếu hiểu được những tín hiệu hóa học này thì chúng ta sẽ có một lượng thông tin rất dồi dào về những thay đổi trong các thuộc tính của đất và nước để cảnh báo về những chất ô nhiễm và tình trạng môi trường như hạn hán.  Cách đây hai năm, GS Strano đã cùng đồng nghiệp sử dụng hạt nano để tăng khả năng quang hợp ở cây, biến cây thành cảm biến có khả năng phát hiện nitric oxide, một chất gây ô nhiễm do quá trình đốt cháy gây ra. Tiếp đó, phòng thí nghiệm của ông phát triển các ống nano carbon có chức năng như những cảm biến có khả năng phát hiện một loạt các phân tử, bao gồm hydrogen peroxide, chất nổ TNT, và khí độc sarin. Khi các phân tử này bám vào màng polymer bao quanh ống nano carbon, huỳnh quang của ống sẽ bị thay đổi.  Trước đây, phòng thí nghiệm của GS Strano sử dụng loài sinh vật mô hình Arabidopsis thaliana trong các thí nghiệm. Bằng việc chuyển đối tượng thí nghiệm sang cây cải bó xôi, các nhà nghiên cứu muốn chứng minh rằng, kỹ thuật này có thể áp dụng với bất kỳ loại thực vật nào.    Các nhà nghiên cứu dùng kĩ thuật truyền mạch để đưa hạt nano vào lớp tế bào diệp nhục (thịt lá), nơi diễn ra phần lớn quá trình quang hợp. Đồng thời họ cũng gắn vào lá các ống nano carbon liên tục phát ra tín hiệu huỳnh quang như một nguồn tham chiếu. Qua so sánh hai nguồn tín hiệu huỳnh quang, các nhà nghiên cứu sẽ dễ dàng hơn trong việc nhận biết các cảm biến có phát hiện gì không. Nếu có bất kì phân tử chất nổ nào trong nước ngầm, sẽ chỉ mất khoảng 10 phút để cây hút nó lên lá, nơi các cảm biến đã chờ sẵn. Nhờ vậy việc phát hiện nhanh hơn rất nhiều so với những phương pháp trước kia vốn chỉ dựa vào việc kiểm soát những thay đổi như lá héo hay úa vàng, tốn nhiều giờ hoặc nhiều ngày.  Theo nhóm nghiên cứu, trong thời đại của nông nghiệp chính xác, những thông tin như vậy có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và lợi nhuận của người nông dân.  Nguồn:  http://www.livescience.com/56698-bomb-sniffing-bionic-plants-detect-pollution.html  http://news.mit.edu/2016/nanobionic-spinach-plants-detect-explosives-1031             Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Dùng chim để giám sát ô nhiễm môi trường      Chim nhạn và chim bồ câu có thể giúp giám sát môi trường.    Theo nghiên cứu mới đây của các nhà khoa  học Mỹ, những con chim làm tổ có thể được dùng làm công cụ hữu hiệu  giúp theo dõi những nỗ lực làm sạch môi trường.  Các loài chim này làm tổ và ăn các loại trùng nở trong hồ hoặc các lòng sông. Chúng có thể trở thành những công cụ giám sát sinh học về mức độ ô nhiễm, nhà nghiên cứu Thomas Custer thuộc Trung tâm Khoa học Môi trường tại La Crosse, Wisconsin, cho biết. Đó là bởi vì mọi ô nhiễm trong trầm tích sẽ dần hấp thụ vào các con chim, trứng và chim non.  Custer lấy ví dụ loài chim nhạn cây (Tachycineta bicolor) cho thấy lượng chất độc “đáng kể” có tên gọi polychlorinated biphenols, xuất hiện trong trứng và chim con sau 7 năm con người nỗ lực khắc phục hậu quả tại một nhà máy sản xuất tụ điện cũ ở miền nam Illinois. Phát hiện này đã “thúc đẩy những nỗ lực tiếp theo nhằm làm sạch trầm tích bị ô nhiễm”, Custer nói.  Phát biểu tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Độc học và Hóa học Môi trường ở Long Beach, California, tuần trước, Custer cho biết nhóm của ông cũng đã sử dụng phương pháp trên để giám sát một dự án năm 2010 nhằm mục đích loại bỏ các trầm tích bị ô nhiễm từ sông Ohio Ottawa gần Toledo. Tuy chưa thu thập hết các dữ liệu, nhưng mọi chuyện có vẻ tốt, ông nói. “Đối với các loài chim, đây không phải là một điểm nóng.”  Một lợi thế của việc dùng loài chim nhạn cây cho việc theo dõi mức độ ô nhiễm của một khu vực là ở đặc tính loài chim này chỉ kiếm ăn trong khoảng cách 500 m tính từ tổ chim. “Mức độ ô nhiễm của một khu vực được thể hiện rất sát khi kiểm định chúng”.  Như vậy, các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng thu hút chúng chỉ đơn giản bằng cách đưa ra các hộp làm tổ trên cột để nghiên cứu, vì đặt tổ ở đâu thì chúng sẽ giới hạn phạm vi sinh hoạt ở quanh đó, Custer nói.   Roger Helm, người đứng đầu của chương trình chất gây ô nhiễm môi trường đối với các và động vật hoang dã tại Arlington, Virginia, đồng ý với phương thức nghiên cứu trên. Một lợi thế rất lớn của việc sử dụng loài chim nhạn cây, ông nói, là chúng cung cấp một phương pháp thử nghiệm có thể “lặp đi lặp lại” ở các khu vực khác nhau, và điều này hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp thu thập “từng mẩu dữ liệu” từ những động vật được thu thập ngẫu nhiên.  Hơn nữa, ông nói thêm, thậm chí nó có thể giúp những con chim, bởi vì sự hiện diện của hộp làm tổ giúp cải thiện môi trường sống của chúng. Một vài quả trứng và chim non bị mất vào tay các nhà nghiên cứu sẽ không gây thiệt hại gì lớn cho loài chim này, Helm nói, vì “đằng nào thì cũng hiếm khi số lượng chim non sống sót trong tự nhiên vượt quá 50%.   Ngoài chim nhạn, chim bồ câu nhà cũng được sử dụng để giám sát chất lượng không khí.  Trong một nghiên cứu thí điểm liên quan đến chim mua từ các nhà sưu tầm ở Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ, Halbrook – nhà nghiên cứu ảnh hưởng chất độc trong môi trường hoang dã từ trường Southern Illinois University, Carbondale – tìm thấy sự khác biệt trong mối quan hệ sức khỏe và chất lượng không khí. Như tại Bắc Kinh và Manilla, phổi của các con chim có màu đen và tinh hoàn rất to. Tuy nhiên, tại những thành phố ít ô nhiễm hơn ở Trung Quốc, và ở Hoa Kỳ, các bộ phận cơ thể của loài chim này lành mạnh hơn nhiều.  “Điều này gợi mở về nguy cơ rằng các loài khác, bao gồm cả con người, cũng có thể có tác dụng phụ tương tự” từ những chất gây ô nhiễm môi trường, ông nói.  Nguyễn Bình dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/how-birds-are-used-to-monitor-pollution-1.11848    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng côn trùng làm máy bay không người lái      Vừa qua, các nhà nghiên cứu tại Đại học California Berkeley và Đại học Công nghệ Nanyang của Singapore (NTU) đã thành công trong việc đeo “ba lô” đựng máy phát vô tuyến lên lưng bọ cánh cứng và dùng chiếc ba lô đó điều khiển quá trình bay của con bọ. Đây là lần đầu tiên con người tạo ra loại côn trùng bán điện tử.  &#160;    Loài bọ cánh cứng được nhóm nghiên cứu sử dụng có tên khoa học là Mecynorrhina torquata, thân bọ có chiều dài bình quân 6 cm và nặng khoảng 8 gram.   Nhóm nghiên cứu có thể làm cho bọ cánh cứng cất cánh và hạ cánh cũng như bay lượn, rẽ trái rẽ phải tùy ý. Bản báo cáo kết quả công trình nghiên cứu nói trên được công bố trên tạp chí Current Biology.  Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu cơ bắp chuyển hướng của bọ cánh cứng. Họ lắp máy tính mini và máy phát vô tuyến lên lưng con bọ và ghi lại các dữ liệu thần kinh cơ bắp. Qua đó họ phát hiện một cơ bắp kiểm soát sự gấp cánh có vai trò rất quan trọng trong việc chỉ huy quá trình chuyển hướng khi bay. Họ đã sử dụng các thông tin đó để cải thiện độ chính xác việc chuyển hướng điều khiển từ xa của bọ cánh cứng.  Công trình nghiên cứu này chẳng những mở ra tiềm năng sử dụng bộ cảm biến vô tuyến trong nghiên cứu sinh vật học, mà còn có thể dẫn đến một số ứng dụng. Chẳng hạn, có thể làm được những công cụ hỗ trợ hoạt động tìm kiếm cứu nạn tại khu vực quá nguy hiểm đối với con người.  “Bọ cánh cứng là đối tượng nghiên cứu lý tưởng vì chúng có thể mang được trọng tải khá nặng,” Hirotaka Sato, phó giáo sư tại NTU, cho biết.”Chúng tôi có thể dễ dàng lắp thêm một microphone nhỏ và bộ cảm biến nhiệt dùng trong nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn. Với công nghệ này, chúng tôi có thể khám phá một cách an toàn những khu vực trước đây con người không thể tiếp cận, chẳng hạn những ngóc ngách nhỏ và các khe hở trong một tòa nhà đổ nát.”   Michel Maharbiz, phó giáo sư tại Đại học Berkeley, thì nói: “Dự án nghiên cứu cho thấy thiết bị điện tử cực nhỏ có thể giúp giải đáp một số câu hỏi cơ bản của giới khoa học. Để nghiên cứu côn trùng biết bay, thông thường các nhà sinh vật học không thể không dùng dây để buộc chúng lại; nhưng cách này làm cho họ rất khó xác định sợi dây buộc ấy có ảnh hưởng gì đối với động tác bay tự nhiên của côn trùng.”   Trước đây, người ta khó có thể giải thích vai trò của cơ bắp nhỏ trong chuyển hướng bay. Nghiên cứu nói trên cho thấy cơ nách thứ ba (3Ax), – được tìm thấy ở các khớp nối bộ cánh côn trùng – có tác dụng quan trọng trong quá trình quay trái hoặc quay phải của con bọ.   Bọ cánh cứng dùng trong nghiên cứu tuy không bị buộc dây nhưng chỉ được bay trong một phòng kín có lắp 8 camera ghi lại động tác bay của chúng. Phó giáo sư Maharbiz cho biết: “Phát hiện về các cơ bắp liên quan đến quá trình bay cho phép chúng tôi lần đầu tiên xác minh chất lượng hệ thống thiết bị đã được cải tiến dùng để điều khiển bọ cánh cứng bay lượn tự do. Đây là sự hợp tác tuyệt vời giữa kỹ thuật với khoa học.”  H.H tóm lược       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng để “triều cống” đánh lừa: Quan hệ Trung Hoa và Đông Nam Á thời Tống      Bài viết này đặt lại vấn đề tiếp cận quan hệ “triều cống” như mô thức trung tâm trong các nghiên cứu quan hệ giữa Đông Nam Á với Trung Hoa. Thông qua việc khảo sát tương tác giữa các vương quốc Đông Nam Á với nhà Tống (thế kỷ X-XIII), bài viết lập luận rằng có sự dịch chuyển liên tục trong cấu trúc tương tác giữa Trung Hoa với Đông Nam Á mà khái niệm “triều cống” tỏ ra cứng nhắc và không phản ánh hết được những thay đổi của mô hình tương tác này, bao gồm việc di cư và sự bùng nổ của thương mại tư nhân. Điều này có thể gợi ý về sự cần thiết phải đặt triều cống trong khung cảnh của các mối tương tác hơn là đặt các mối tương tác trong khung cảnh triều cống. Với cách thức đó, bài viết này thách thức góc nhìn truyền thống về vai trò và quyền lực của ‘triều cống’ trong lịch sử bang giao Đông Á.          Trích đoạn họa phẩm Cừu Anh chức cống đồ do họa gia Cừu Anh của Trung Quốc vẽ khoảng đầu thế kỷ XVI, mô tả sứ đoàn được cho là Đại Việt (triều Lý) đem theo một con voi đen và hai con voi trắng sang triều cống hoàng đế Tống.   Triều cống: ‘mô hình tưởng tượng’ trong trật tự thế giới Trung Hoa     Triều cống là cách tiếp cận truyền thống đối với mô thức quan hệ phức hợp giữa Trung Hoa với các chính thể bên ngoài trên nhiều khía cạnh: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, quân sự. Mô hình này được coi là trụ cột trong “Trật tự thế giới của Trung Hoa” thời tiền hiện đại và dẫn dắt các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của nó với tất cả các quốc gia lân bang.1 Theo đó, tất cả các chính thể hay thần dân ngoại quốc (có địa vị thấp kém hơn) muốn thiết lập và duy trì quan hệ với Trung Hoa (trung tâm văn minh), phải thừa nhận và phục tùng hoàng đế thiên triều, tuân theo các nguyên tắc do Trung Hoa đặt ra, bao gồm nghi lễ bang giao, cách thức tiến cống, tới trao đổi thương mại.  Tuy nhiên, khái niệm này được hiểu theo những chiều hướng hoàn toàn khác nhau giữa Trung Hoa (người thiết lập hệ thống) và các quốc gia láng giềng (người can dự vào hệ thống). Sự khác biệt đó là rất lớn nếu chúng ta xem xét cách thức khái niệm này được sử dụng ở Bắc Kinh và phần còn lại của các chính thể ngoại vi ‘văn minh’ như Thăng Long, Ayuatthaya, Malacca, hay Angkor. Vì vậy, bản thân việc xem xét các mối quan hệ song phương từ một ý niệm đơn phương và có phần tưởng tượng đặt ra vấn đề về tính thực chất của mối quan hệ này.Vì đó là một thế giới được ‘xác lập’ bởi một bên, ‘áp đặt’ bởi một bên, phải chăng có phải tất cả các sử gia chúng ta đang bị ‘đánh lừa’ để nhìn qua lăng kính của người khác hay không?  Lấy Việt Nam làm ví dụ. Sử gia Hàn Quốc Yu Insun nhấn mạnh tính chất “huyền thoại, hư cấu” của triều cống hơn là các quan hệ thực chất. Ông thông báo rằng không hề có một từ “triều cống” nào trong các bộ biên niên sử của người Việt trong nhiều thế kỷ. Nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn sử dụng “bang giao” để mô tả về hành động phái sứ đoàn của mình.2 Với họ, đó là ‘đi sứ’ chứ không phải ‘triều cống’. Những người bên ngoài có vẻ như đã tiếp nhận “triều cống” và “tái tạo” lại nội hàm của nó trong các biên niên sử của họ và coi nó là một phương tiện để “chung sống” với kẻ mạnh và “thu lợi” từ chính các quy tắc của kẻ mạnh, hơn là ý niệm nghiêm túc về một sự lệ thuộc hay thần phục.     Thương mại tư nhân và các làn sóng di dân đầu tiên     Khi đặt “triều cống” ở trung tâm của các tương tác, sử gia có xu hướng ‘đặt ra ngoài lề’ và đánh giá thấp các “quan hệ phi quan phương”. Đến đây, bài viết gợi ý về hạn chế của việc sử dụng “khung cảnh triều cống” trong nhận thức về quan hệ giữa Trung Hoa với Đông Nam Á thông qua khảo sát một giai đoạn cụ thể của tương tác này, thế kỷ X-XIII. Các vấn đề được khảo sát bao gồm sự mở rộng của quan hệ thương mại tư nhân, việc di cư của người Hán và sự rạn nứt của bản thân cấu trúc “triều cống”. Tất cả những nhân tố này sẽ không thể hiểu được nếu như chỉ được phản ánh thông qua khung cảnh của hoàng cung và các sứ đoàn.  Các biên niên sử thế kỷ XII-XIV cho chúng ta thông tin quý giá về sự bùng nổ thương mại tư nhân ở miền Nam Trung Hoa thông qua tổ chức phức tạp của hệ thống thương mại ven biển (hai trong số các tác giả đương thời là quan chức tại các cảng này: Chu Khứ Phi và Triệu Nhữ Quát) và dòng di cư quy mô lớn đầu tiên của người Hoa. Nghiên cứu lịch sử kinh tế cũng gợi ý về sự bùng nổ của thương mại hàng hải tư nhân, đặc biệt là nhà Nam Tống khi Quảng Châu trở thành hải cảng quan trọng nhất và trung tâm đóng thuyền của đế quốc.3   Tống sử cho biết các thương nhân Trung Hoa đã giao thiệp với các sứ đoàn và thương nhân Đông Nam Á ít nhất là từ thế kỷ thứ X. Ghi chép năm 992 đề cập một thương nhân Phúc Kiến đã hướng dẫn cho sứ đoàn đến từ Java vì ông này thường xuyên đến buôn bán ở hòn đảo này và có mối quan hệ với thủ lĩnh của vương quốc. Một thương nhân khác vào năm 1116 dẫn đầu 5 thuyền mành giao chiến với cư dân địa phương ở vùng biển Champa, sau đó quay về với ngà voi, trầm hương và một sứ đoàn triều cống của Champa. Các thương nhân Phúc Kiến cũng “tình cờ” trôi dạt vào bờ biển Champa (1173), chứng kiến cuộc chiến giữa người Champa và Khmer. Bằng việc thuyết phục nhà vua Champa từ bỏ voi và sử dụng kỵ binh với cung nỏ, họ đã được giao cho một món tiền đồng lớn để mua ngựa và các vật phẩm chiến tranh cần thiết. Sau đó, ngựa từ Trung Hoa được gửi tới và người Cham giành thắng lợi ở cuộc chiến tranh trong năm tiếp theo.4 Sự phát triển của kỹ thuật hàng hải ở giai đoạn này là đặc biệt quan trọng giúp đưa thương nhân và di dân người Hán tới Đông Nam Á, trong đó có sự xuất hiện của bánh lái, la bàn và thuyền mành. Con tàu đắm trên biển Java (thế kỷ XIII) được cho là đang trong cuộc hành trình từ Trung Hoa tới Java mang theo 200 tấn sắt được đúc thành những chiếc bình hay luyện thành thỏi. Trên tàu cũng có 100.000 mảnh sứ và khoảng 12.000 đồ sứ nguyên vẹn, chủ yếu là bát và đĩa từ các lò ở miền Nam Trung Hoa.5      Biểu đồ số lượng các sứ đoàn từ Đông Nam Á và ‘phía nam’ đến nhà Tống, 960-1279. Nguồn: Thống kê của GS. Momoki Shiro (1998). Về các tên gọi và thông tin về vương quốc này, xem Chư phiên chí 諸蕃志 (của Triệu Nhữ Quát 趙汝適) và Vũ Đức Liêm (2010).7  Sự xuất hiện của thuyền buôn các dòng di dân Hán ở Đông Nam Á là nhân tố mới. Chúng cho thấy “triều cống” không còn là kênh duy nhất nối Trung Hoa với các chư hầu phía nam và làm đa dạng hóa tương tác này bao gồm cả ở góc độ sứ đoàn và ngoài sứ đoàn. Quan trọng hơn, quá trình tương tác dân cư mở đường cho các mô hình giao lưu mới, từ cướp biển, quân sự lưu vong, vong thần cho đến trí thức, những người sẽ đóng vai sứ giả kết nối hai “thế giới” Trung Hoa và Đông Nam Á, cũng như can dự vào các xã hội bản địa trong khu vực.     Các sứ đoàn ‘giả mạo’, các thương nhân thực thụ     Có sự dịch chuyển tương tự từ Đông Nam Á tới Trung Hoa thông qua sự di chuyển đáng ngạc nhiên của các trung tâm quyền lực vùng hướng ra biển và gia tăng của các đoàn “triều cống”. Hai xu thế này là nhân tố góp phần làm thay đổi cấu trúc của hoạt động triều cống theo hướng thương mại hóa. Sự bùng phát của dòng chảy giao thương và di dân dọc theo biển Đông có thể được coi là thử thách đầu tiên đối với khuôn khổ chật hẹp của tương tác “nhà nước/ triều đình”. Thu nhập từ thuế đánh vào thương mại biển của nhà Tống là một chỉ số cho thấy sự bùng nổ của hoạt động trao đổi tư nhân đến từ Đông Nam Á. Con số này tăng từ 530.000 quan tiền vào giữa thế kỷ XI lên 2.000.000 quan vào giữa thế kỷ XII.6  Ngoại trừ Đại Việt với những liên hệ lãnh thổ trực tiếp và tương tác quân sự phức tạp, đáng ngạc nhiên là các đầu mối hàng hải của khu vực như Arab, Champa, Srivijaya, Tambralinga hay Butuan là những “chư hầu” đều đặn của Trung Hoa. Lập luận này có thể làm sáng tỏ logic rõ ràng về các quyền lợi thương mại ẩn đàng sau ngôn từ về sự “thần phục”. Bản thân Đại Việt cũng được mô tả như một quốc gia có nhiều lợi ích gắn liền với các tuyến giao thương biển mà các sứ đoàn này là một sự đảm bảo. Việc dời đô ra vùng châu thổ rộng ở thế kỷ XI không đơn thuần là cam kết của người Việt với thế giới nông nghiệp. Nhà Lý-Trần đã mở rộng tương tác của mình ra thế giới hàng hải. John Guy mô tả gốm sứ thời Lý Trần như là một “căn cước văn hóa” cho sự hiện diện của Đại Việt trên biển Đông.8 John K. Whitmore đề cập đến sự hưng thịnh của miền duyên hải Bắc Bộ và Li Tana gợi ý nếu nhìn từ biển vào đất liền, toàn bộ miền duyên hải miền Trung và miền Bắc Việt là một phần liên hợp của Giao Chỉ dương và là trung tâm của khu vực được người Hán mô tả là Thông lộ Tây Dương.9      Thương mại tư nhân làm thay đổi sâu sắc cấu trúc truyền thống của thương mại triều cống vốn được thiết lập hàng nghìn năm giữa Trung Hoa với Đông Nam Á. Điều này dẫn đến yêu cầu mở rộng cách hiểu của chúng ta về những thay đổi liên tục của tương tác trên biển Đông mà “triều cống” dường như đưa lại những khung cảnh chật hẹp và bất biến.      Không chỉ ở Đại Việt, trỗi dậy của miền duyên hải còn là xu thế ở Đông Nam Á.10 Champa thời Vijaya ở các thế kỷ XI-XIII trở thành đối thủ thường trực của Đại Việt với các cuộc viễn chinh cướp bóc đều đặn hằng năm. Sự tranh chấp về thương mại và nguồn hàng trong tương tác với thị trường Trung Hoa có thể là nguyên nhân của sự gia tăng này. Các tư liệu cho thấy rõ Champa gia tăng hoạt động hàng hải và việc mở rộng các hạm đội để chinh phục phía Bắc (Đại Việt) và phía Nam (Angkor).11  Xu thế này phản ánh nhu cầu kết nối với dòng thương mại hàng hải đi qua biển Đông, kết nối Đông Nam Á với Nam Trung Hoa. Như một hệ quả, vấn đề an ninh và thủy quân trở thành một mối đe dọa mới. Đại Việt đã bị đặt trong một sức ép mới dọc theo các miền duyên hải khi cả Champa và nhà Tống đều tăng cường hải quân. Từ 1130 đến 1237, lực lượng hàng hải chính thức của nhà Tống được xây dựng và phát triển từ 11 hạm thuyền với 3,000 người lên 24 hạm thuyền với 52,000 người.12 Vì thế, dễ hiểu khi nhà Lí tăng cường hoạt động quân sự nhằm kiểm soát Vân Đồn và khu vực biển Đông Bắc, nơi Trần Hưng Đạo “cử” một trong số các con trai của mình ra trấn trị. Và các vua Trần đã chọn Yên Tử làm nơi tu luyện, nơi họ có thể dễ dàng nắm bắt được những biến động diễn ra xung quanh vùng duyên hải chiến lược của vịnh Bắc Bộ này.  Sự thay đổi chính sách của các vương triều Trung Hoa đối với “triều cống” và quản lí ngoại thương góp thêm bằng chứng cho thấy thương mại tư nhân ngày càng lấn át tính chất “thiêng liêng” của “triều cống”. Một ví dụ điển hình là việc hạn chế triều cống với một trong các chư hầu quan trọng nhất ở Đông Nam Á, Srivijaya. Vương quốc được coi là “phiên thuộc” giành được vị trí quan trọng trong quan hệ với Trung Hoa. Điều này một phần là do họ kiểm soát eo Malacca và có những trung tâm Phật giáo lớn nơi các nhà sư Trung Hoa thường xuyên qua lại. Srivijaya là người độc quyền nhiều mặt hàng từ khu vực hải đảo cung cấp cho Trung Hoa. Quan hệ này đã từng tốt đẹp đến mức hai sứ thần Srivijaya được phái đến triều đình năm 1003 thông báo vương quốc đã xây dựng một ngôi đền Phật giáo để chúc thọ Hoàng đế, thỉnh cầu hoàng đế đặt tên và ban cho chuông đồng. Vua Tống sau đó ban tên cho chùa là Trường thiên vạn thọ và đúc chuông trao cho sứ giả.13 Tuy nhiên, năm 1178, Maharaja (Đại Vương) của Jambi, Trailokaraja Maulibhusana Varmdeva nhận được yêu cầu của hoàng đế Hiếu Tông rằng từ nay, sứ thần Srivijaya không được phép tới Hàng Châu, kinh đô của Nam Tống.14 Phản ứng này có thể được lí giải hoàn toàn dựa trên góc độ kinh tế. Sức ép từ phía Bắc làm nhà Tống mất đất, mất dân và nguồn thu. Một triều đình như vậy chắc chắn không thể dư giả để ban phát rộng rãi như trước. Trong khi đó, thương mại tư nhân làm cho các hàng hóa phương Nam, dù là hương liệu, gia vị cũng có thể dễ dàng mua được ở Quảng Châu, Phúc Kiến. Triều cống đã trở nên tốn kém cho ‘thiên triều’.  Trong khi đó, quy mô của thương mại tư nhân làm tăng dòng chảy kim loại, tiền đồng ra bên ngoài mà bản thân người Hán đang cần cho chiến tranh và lưu thông kinh tế. Các con tàu đắm mang theo hàng trăm tấn kim loại và gốm sứ đã được đề cập ở trên. Các luật lệ hà khắc vì thế được ban ra đối với buôn bán tiền đồng. Năm 1041, luật pháp quy định đem 2,000 quan tiền đồng ra khỏi Trung Hoa sẽ bị xử đi đày, 3,000 quan bị tử hình. Sau đó, mức phạt tử hình được áp dụng cho 1,000 quan.15 Một lượng tiền đồng phong phú được phát hiện tại miền đông Java và hơn 90% trong số này là tiền nhà Tống.16  Cuối cùng, quy mô và cấu trúc của hệ thống trao đổi mới ở biển Đông cho thấy mạng lưới “triều cống” giữa Đông Nam Á và nhà Tống đã bị xáo trộn sâu sắc, thậm chí vượt ra khỏi sự kiểm soát của “người xác lập hệ thống” và gây ra biến động trong trật tự của “người tham gia vào hệ thống”. Sự suy sụp của Srivijaya là một biểu hiện rõ ràng cho thấy “sự rạn nứt của khung cảnh triều cống” đã tác động như thế nào đến cấu trúc của lịch sử và cách thức vận hành quyền  lực ở Đông Nam Á. Vương quốc này bắt đầu chuyển sang những hình thái cướp bóc khi quan hệ với Trung Hoa “lạnh nhạt”, thương mại tư nhân lan tràn, và các cảng “chư hầu” của Srivijaya có thể dễ dàng trao đổi với Hoa thương.  Thương mại tư nhân làm thay đổi sâu sắc cấu trúc truyền thống của thương mại triều cống vốn được thiết lập hàng nghìn năm giữa Trung Hoa với Đông Nam Á. Người Hoa đã tự tin rằng họ có thể chỉ cần nắm giữ quan hệ với một “đế quốc” khu vực là có thể “kiểm soát” được tình hình chính trị và có được các hàng hóa thiết yếu cho hoàng gia. Tuy vậy, khi dòng người Hán đổ xuống phía Nam và một sự chuyển dịch tương tự của thương nhân đến miền Nam Trung Hoa, “triều cống” đã không còn là kênh trung tâm của mạng lưới tương tác mới. Điều này dẫn đến yêu cầu mở rộng cách hiểu của chúng ta về những thay đổi liên tục của tương tác trên biển Đông mà “triều cống” dường như đưa lại những khung cảnh chật hẹp và bất biến. Triều cống sẽ không mất đi. Vai trò của sự công nhận ngoại giao vẫn là cơ sở của thương mại, tuy nhiên rõ ràng là bá quyền của kênh tương tác này đã bị thách thức nghiêm trọng bởi sự đa dạng hóa phương thức trao đổi giữa Trung Hoa và Đông Nam Á.  Chính vì thế, đừng để bị ‘triều cống’ đánh lừa. Hãy tìm kiếm những cách hiểu mới và đa dạng về bang giao Đông Á và tìm cách định vị một Trung Hoa khác: Trung Hoa ở bên ngoài các bức tường hoàng cung và thương mại độc quyền nhà nước, một Trung Hoa không phải được nhìn từ các cửa sổ của Tử Cấm Thành.□  ———-  Chú thích:  * John K. Fairbank (ed.,). The Chinese World Order; Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1968), Rossabi, Morris, China Among Equals: The Middle Kingdom and Its Neighbors, 10th-14th Centuries (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1983).  1 John K. Fairbank (ed.,). The Chinese World Order; Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1968), Rossabi, Morris, China Among Equals: The Middle Kingdom and Its Neighbors, 10th-14th Centuries (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1983).  2Yu Insun, “Vietnam-China Relations in the 19th Century: Myth and Reality of the Tributary System,” Journal of Northeast Asian History, Vol.6, No. 1 (June 1999): 81-117 (Bản tiếng dịch tiếng Việt, Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thế  kỷ XIX: Thể chế triều cống, thực và hư (Tiếp theo và hết), Nghiên Cứu Lịch sử, 10 (2009), tr. 8.  3 James K. Chin, Bridging east Ocean and West Ocean: Hokkien Merchants in Maritime Asia Prior to 1683, with a special Reference to the Ports of East Asia, in Workshop of “Northeast Asia in Maritime Perspective: A Dialogue with Southeast Asia, (Okinawa, 2004), tr. 123.  4 James K. Chin, Bridging east Ocean, tr. 123-24.  5 Wade, Geoff. “An Early Age of Commerce in Southeast Asia, 900-1300 CE.” JSAS, Vol. 40, no. 2, 2009: 239-240.  6 Paul Wheatley, Geographical Notes on Some Commodities Involved in Sung Maritime Trade.” JMBRAS, vol.32, no. 2 (186), 1959: 196.  7 Triệu Nhữ Quát趙汝適. Chư phiên chí 諸蕃志, https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&res=520299 (truy cập 15/12/2018). Về các vương quốc hải đảo Đông Nam Á, xem Vũ Đức Liêm. Quan hệ thương mại giữa Srivijaya và các vương quốc trên đảo Java với Đông Nam Á lục địa (Thế kỷ VII-XIII). Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010.  8 John S. Guy, Vietnamese Ceramics and Cultural Identity: Evidence from the Ly and Tran Dynasties, in David G. Marr & A. C. Milner, eds., Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, (Singapore: Research School of Pacific Studies, Australian National University and ISEAS, 1986), tr. 255-269.  9 John Whitmore, The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Dai Viet, JSAS, 37. 1(2006), tr. 103-122.  10 Whitmore, The Rise of the Coast, tr. 109.  11 Kenneth R. Hall, Eleventh-Century Commercial Developments in Angkor and Champa, JSAS, Vol. 10. 2 (Sep., 1979), tr. 420-434. Geoff Wade, The “Account of Champa” in the Song Huiyao Jigao, in The Cham of Vietnam: History, Society and Art, eds., Tran Ky Phuong and Bruce Lockhart (Singapore: NUS Press, 2011), tr. 138-167.  12 C. Simkin, The Traditional Trade in Asia, (London: Orford University Press, 1968), tr. 99.  13 Paul Michel Monoz, Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula (Didier Millet, 2006), tr. 152.  14 Monoz, Early Kingdoms, tr. 168-69.  15 H. R. Williamson, Wang An Shih: A Chinese Statesman and educationist of the Sung Dynasty, Vol. 1 and 2 (London: Arthur Probsthain, 1935), tr. 246-47.  15 Derek, Export Commodity, tr. 186, Jan Wisseman Christie, Money and Its Uses in the Javanese States of the Ninth to Fifteenth Centuries A.D., JESHO, Vol. 39, No. 3 (1996), tr. 267-68.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Dung dịch nhỏ mắt giúp con người nhìn trong bóng tối      Mới đây, một nhóm nhà khoa học California, –  những người tự xưng là Biohackers – tuyên bố đã phát hiện ra cách giúp  con người có thể nhìn được trong bóng tối mà không cần sử dụng kính bảo  hộ đặc biệt.     Nhóm này đã tiến hành một thí nghiệm có tên Khoa học phục vụ đại chúng (Science for the Masses, SftM), trong đó họ nhỏ vào mắt tình nguyện viên một dung dịch có tác dụng tăng cường thị lực dưới điều kiện môi trường xung quanh có độ sáng thấp.  Dung dịch đó là một hỗn hợp gồm chất Chlorin e6 (Ce6), insulin và muối sinh lý (saline). Chất Ce6 tìm thấy ở một số loài cá sống dưới biển sâu, có đặc tính khuếch đại quang học và đã được dùng trong nghiên cứu điều trị bệnh ung thư.  Người tình nguyện làm thí nghiệm SftM là nhà nghiên cứu Gabriel Licina. Khi dung dịch nói trên nhỏ vào các túi kết mạc, nó tác động tới các võng mạc của anh. Thoạt tiên, dung dịch này làm mắt anh trở nên có màu đen. Sau khi dung dịch được hấp thu hết thì mắt lại trở về màu tự nhiên như cũ. Không đầy một giờ sau, thị lực nhìn dưới điều kiện độ sáng thấp của Licina được nâng cao rõ rệt.   Để kiểm chứng hiệu quả, Licina cùng nhóm đối chiếu gồm bốn người (không nhỏ mắt dung dịch nói trên) được dẫn vào một “vùng tối”. Họ có nhiệm vụ phải nhận biết các biểu tượng di động hoặc tĩnh tại, và những người di chuyển trong khu rừng nhỏ.  Trong vòng một giờ, Licina liên tục nhận biết chính xác các vật có cỡ tương đương bàn tay ở cách xa 10m trong bóng tối mà các thành viên của nhóm đối chứng không nhận biết được. Licina cũng nhận biết chính xác 100% những người chạy giữa các gốc cây ở xa (xa nhất tới 50 m) trong toàn bộ thời gian quan sát, trong khi tỷ lệ nhận biết của những người thuộc nhóm đối chiếu chỉ đạt 33%. Khả năng nhìn trong bóng tối của Licina được duy trì lâu vài giờ.  Sau thí nghiệm nói trên, Licina được yêu cầu đeo kính râm khi ngủ; sáng hôm sau, khi thức dậy, thị lực của anh lại phục hồi bình thường. Trong 20 ngày sau đó, người ta không phát hiện thấy việc nhỏ dung dịch nói trên có tác dụng phụ rõ rệt nào.   Nhóm nghiên cứu SftM kết luận: cần phải làm tiếp các thí nghiệm để xác định và đo lường mức độ cải thiện sức khỏe của tình nguyện viên.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng khí cầu đưa kính thiên văn lên cao quan sát dấu vết Big Bang      Các nhà khoa học đang thí  nghiệm dùng khí cầu đưa kính thiên văn vô tuyến lên cao để quan sát bức xạ nền vi sóng vũ trụ.    Vũ trụ ra đời cách đây 13,8 tỷ năm, sau khi  trải qua một vụ nổ lớn (Big Bang), vũ trụ giãn nở và cuối cùng hình  thành như hiện nay.     Giờ đây, khoa học đã biết bức xạ nền vi sóng vũ trụ (CMBR) là dấu vết Big Bang để lại, vì thế nghiên cứu bức xạ nền vi sóng vũ trụ là khâu đột phá để khám phá sự thật về Big Bang, qua đó hiểu biết hơn về nguồn gốc vũ trụ. Việc này đang được thực hiện bằng cách quan sát qua kính thiên văn BICEP2 của NASA đặt tại Nam Cực.   Hiện nay, các nhà khoa học ở đây đang làm một thí nghiệm: dùng khí cầu đưa kính thiên văn vô tuyến lên cao, như vậy có thể tránh được sự can nhiễu của bầu khí quyển, nhờ đó dễ quan sát CMBR hơn; mặt khác, chi phí rẻ hơn rất nhiều so với việc dùng tên lửa đưa kính thiên văn lên quỹ đạo Trái đất.  Nhiệm vụ này được đặt tên là SPIDER (viết tắt của Suborbital Polarimeter for Inflation, Dust and the Epoch of Reionization): dùng khí cầu đưa một bộ sáu kính thiên văn vô tuyến lên không gian thượng tầng bầu khí quyển, từ đó quan sát vũ trụ. Thí nghiệm này do các nhà khoa học ở Đại học Princeton và Học viện Công nghệ California (Caltech) tiến hành. Họ hy vọng sẽ quan sát thấy các gợn sóng của lực hấp dẫn gây ra bởi sự giãn nở ngay sau Big Bang.   Trên thực tế SPIDER được tiến hành kết hợp với dự án BICEP2. Giữa năm 2014 các nhà khoa học của dự án BICEP2 tuyên bố họ đã quan sát thấy tín hiệu cực hóa mô hình B của bức xạ nền vi sóng vũ trụ, qua đó mạnh mẽ chứng minh giả thuyết có tính tiên đoán của thuyết tương đối rộng, đồng thời kết quả này cũng là chứng cớ xác thiết về sự giãn nở vũ trụ. Giả thuyết nói trên cho rằng vũ trụ nhanh chóng giãn nở trong thời gian bằng 10-36 giây đồng hồ sau Big Bang.  Nhưng không lâu sau khi nhóm BICEP2 công bố kết quả quan sát, các nhà khoa học khác đã lên tiếng tỏ ý nghi ngờ sự chuẩn xác của số liệu. Cuối cùng, nhóm BICEP2 thừa nhận việc quan sát có sai số, nguyên nhân do tương tác giữa từ trường của hệ Ngân hà với bụi vũ trụ. Bởi vậy, để xác nhận nguồn gốc của sai số này, dự án SPIDER cần tiến hành quan sát từ trên cao nhằm xác định xem rốt cuộc có phải là tương tác bụi và từ trường hệ Ngân hà gây ra sai số trong kết quả quan sát bằng kính thiên văn BICEP2 hay không.  Có lẽ nhiều người ngạc nhiên vì sao khí cầu bay lơ lửng trên bầu trời cao ở Nam Cực lại là cách tốt nhất để thu thập các số liệu. Thực ra dùng tên lửa đưa kính thiên văn lên quỹ đạo Trái đất để quan sát là lựa chọn lý tưởng nhất, nhưng cách này quá tốn kém. Ngoài ra, việc dùng kính thiên văn vô tuyến quan trắc đòi hỏi phải có môi trường khô ráo; Nam Cực là địa điểm tương đối lý tưởng, sa mạc cũng vậy, thí dụ sa mạc Atacama ở Chile là một địa điểm tốt để quan sát các thiên thể.  Khí cầu của SPIDER sẽ làm việc trên không trung trong 20 ngày và hạ cánh trong vài ngày tới, khi ấy nhóm nghiên cứu có thể xác định kết quả quan sát của BICEP2 có sai số hay không.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng nước tiểu để nạp điện cho điện thoại di động      Tạp chí Physical Chemistry Chemical Physics  của Hội Hóa học Hoàng gia Anh quốc bản online ngày 18/7 vừa qua đăng bài  về một sáng chế mới rất thú vị là pin nhiên liệu vi khuẩn (MFC,  Microbial Fuel Cells).     Tác giả của sáng chế là nhóm chuyên gia làm việc tại Phòng Thí nghiệm Bristol Robotics, một cơ quan hợp tác của trường ĐH Bristol và trường ĐH West of England. Hội Nghiên cứu công trình và khoa học vật lý, Quỹ Gates và Ủy ban Chiến lược công nghệ tài trợ dự án nghiên cứu này.  MFC là bộ biến đổi năng lượng, trực tiếp chuyển vật chất hữu cơ thành điện năng thông qua tác dụng chuyển hóa của các vi khuẩn sống. Về thực chất, điện năng là một sản phẩm kèm theo trong chu kỳ sống tự nhiên của vi khuẩn; vi khuẩn ăn càng nhiều thức ăn (nước tiểu cũng là thức ăn của chúng) thì càng sản xuất ra nhiều điện năng. Bộ pin nhiên liệu hiện nay các nhà khoa học làm được có kích thước gần như bộ ắc-quy ô tô.   Điểm độc đáo và thú vị nhất là ở chỗ loại pin này dùng nước tiểu làm nhiên liệu, nói chính xác là dùng các vi khuẩn phân hủy nước tiểu, trong quá trình đó sẽ sinh ra điện năng.   TS Ioannis Ieropoulos, thành viên nhóm nghiên cứu, nói, xưa nay chưa ai sử dụng nước tiểu để phát điện, vì thế sáng chế này làm mọi người phấn khởi. Ông nói: “Nét đẹp của loại nhiên liệu này là chúng ta sử dụng chất thải để sinh ra năng lượng chứ không cần phải dựa vào sức gió hoặc ánh nắng để phát điện. Nước tiểu là thứ dùng không bao giờ hết, có thể cung cấp lâu dài. Bằng cách cho nước tiểu đi qua một chuỗi pin nhiên liệu vi khuẩn, chúng tôi đã nạp được điện cho một chiếc điện thoại di động Samsung,” Ieropoulos cho biết.   Nhóm nghiên cứu nuôi vi khuẩn trên các điện cực sợi các-bon, điện cực này được đặt trong một ống gốm sứ, khi nước tiểu chảy qua ống, vi khuẩn sẽ phân hủy các hóa chất có trong nước tiểu, qua đó sinh ra electron. Số electron ấy tích lũy lại thành điện tích rồi được nạp vào một tụ điện để trữ lại, làm thành một chiếc pin. Hiện nay pin nhiên liệu nạp điện cho điện thoại di động có thể chứa được khoảng 50 ml nước tiểu; điện năng của nó đủ để điện thoại di động thông minh gửi tin nhắn, lên mạng, gọi một cuộc điện thoại ngắn; chi phí làm ra lượng điện ấy chỉ bằng một đồng penny (0,01 bảng Anh). Trước đây nhóm nghiên cứu từng làm được loại pin chỉ chứa được 1 ml nước tiểu.  Loại pin nhiên liệu nói trên hiện nay còn đang ở giai đoạn đầu, chưa thể cấp được lượng điện lớn. Giá thành làm một pin nhiên liệu như vậy chỉ bằng 1 bảng Anh (khoảng 33.000 VND), hứa hẹn mở ra một hướng mới trong sản xuất điện năng giá rẻ.  TS Ieropoulos cho biết, loại pin nhiên liệu này có thể đặt trong nhà vệ sinh để cấp điện chiếu sáng, chạy máy cạo râu, qua đó biến thành nhà vệ sinh thông minh. Do giá thành thấp nên các nước đang phát triển có thể dùng pin nước tiểu cho những vùng hẻo lánh.    TS Ieropoulos và một số nhà khoa học khác từng đăng bài “Nước tiểu sử dụng trong pin nhiên liệu vi khuẩn: nhiên liệu năng lượng cho tương lai” trên tạp chí Physical Chemistry Chemical Physics số 14 năm 2012, chứng minh nước tiểu có vai trò đáng kể trong phát điện dân dụng.  Ước tính mỗi ngày các loài gia súc và động vật trên thế giới thải ra một lượng nước tiểu vào khoảng 38 tỷ lít; nếu có thể tận dụng hết thì sẽ sản xuất được khá nhiều điện năng.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp từ các mạng.  Hải Hoành tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng quên CH4      Cuộc chiến chống lại hiện tượng Trái Đất nóng lên không nên chỉ dừng lại ở việc giảm lượng khí CO2 thải ra. Khí mê-tan, một loại khí gây hiệu ứng nhà kính (HƯNK) khác cũng gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Ấy thế mà những số liệu tính toán tác động của loại khí này vẫn đang còn được bàn thảo.    Nhằm ngăn không cho Trái Đất nóng thêm hai độ nữa, Hội đồng các bộ trưởng môi trường của Liên minh Châu Âu (EU) nhóm họp hôm 30 tháng 10 năm 2007 khuyến nghị các nước “giữ lượng khí gây HƯNK trong không khí ở mức gần bằng mức ổn định thấp nhất tức ứng với khoảng 450 phân tử CO2 trong một triệu phân tử không khí theo thể tích (ppmv)”. Cũng theo Hội đồng này, từ nay đến năm 2050 thì trong vòng 10 hay 15 năm nữa, lượng khí thải ra sẽ đạt mức cao nhất trước khi giảm xuống mức thấp hơn: giảm ít nhất 50% lượng khí đã thải ra năm 1990. Ta chẳng thể nói gì hơn là hoan nghênh quyết định này. Rốt cuộc cũng sắp có kế hoạch triển khai các biện pháp cắt giảm khí thải gây HƯNK. Tuy nhiên, khi đi sâu xem xét vấn đề một cách cụ thể, cần phải cẩn trọng vì cụm từ “lượng khí CO2 tương ứng”, vốn dùng để chỉ cả nồng độ và các khí gây HƯNK, có thể gây nhầm lẫn nếu như định nghĩa và các nghĩa liên quan của cụm từ này không được các chuyên gia, cố vấn của các nhà chính trị, hiểu rõ.  LƯỢNG KHÍ CO2 TƯƠNG ỨNG  Trước khi đi sâu tìm hiểu vấn đề này, cần nhắc lại một số khái niệm. Các-bô-nic là khí gây HƯNK chính nhưng không phải là duy nhất. Còn rất nhiều loại khí khác cũng góp phần làm gia tăng HƯNK. Đó là ô-xít ni-tơ (N2O), ô-zôn (O3) ở tầng đối lưu, clo-rua flu-ô các-bon (CFC) và cả mê-tan (CH4). CH4 được sinh ra từ hoạt động khai thác than, ga, dầu mỏ, từ chất thải các loài nhai lại, hay ở các vùng đất ẩm ướt, ở những bãi rác ngoài trời khi các chất hữu cơ phân hủy. Mỗi khí gây HƯNK một cách khác nhau. Mỗi khí hấp thụ và phản xạ lại các tia sáng một khác và thời gian tồn tại của chúng trong không khí trước khi chuyển hóa cũng khác nhau. Để đoán biết những diễn biến của khí hậu, các nhà khí hậu học sử dụng các mô hình mô phỏng: họ lấy các số liệu cụ thể và áp chúng lên các kịch bản khác nhau và từ đó đưa ra các dự báo khác nhau. Nhằm đơn giản hóa việc công bố kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã quy nồng độ các loại khí gây HƯNK khác nhau về nồng độ CO2 tương ứng, tức khi nói nồng độ CO2 tương ứng thì cần hiểu đó là nồng độ của nhiều loại khí.                   Liên minh Châu Âu khuyến nghị duy trì trong không khí lượng khí CO2 tương ứng ở mức ổn định là 450 ppmv. Nó dựa trên các kịch bản chi tiết do các nhà khoa học đưa ra và đã tính đến tác động của mỗi loại khí. Có thể đạt được mục tiêu này nếu đến năm 2050, nhân loại cắt giảm được 50% lượng CO2, 30% lượng CH4 và 30% lượng N2O  thải ra so với lượng khí đã thải ra năm 1990. Nếu chỉ giảm mỗi 50% lượng CO2 thải ra thì không thể nào đạt mục tiêu ổn định lượng khí CO2 tương ứng ở mức 450 ppmv được, đây là nồng độ khí gây hiệu ứng nhà kính nhất thiết phải giảm để tránh cho Trái đất nóng thêm 2oC. Do vậy, cần cắt giảm đồng loạt mọi loại khí thải.  Tuy nhiên, ở các phần tiếp theo, tài liệu của Hội đồng châu Âu chỉ đề cập đến việc giảm khí CO2. Tương tự như thế, trong bản kết luận về vấn đề môi trường của Pháp, sau khi khẳng định mong muốn tuân thủ các khuyến nghị của EU, Pháp chỉ đưa ra những biện pháp giảm lượng khí CO2 thải ra mà không lần nào nhắc đến CH4. CH4 và các khí gây hiệu ứng nhà kính HƯNK khác không được nhắc đến trong các bản báo cáo hẳn là do các phương pháp tính toán, đánh giá ảnh hưởng các khí gây HƯNK để từ đó đưa ra các chính sách giảm thiểu các khí trên đã đơn giản hóa vấn đề. Đơn giản hóa đến mức chúng thành ra sai khi quy các lượng khí thải khác nhau ra tấn khí CO2 tương ứng.  Tuy nhiên, tấn khí CO2 tương ứng có ý nghĩa rất chính xác, nhưng lại thường bị lãng quên. Nó được xác định dựa vào mối tương quan giữa tác động làm cho Trái đất nóng lên của một khí gây HƯNK với tác động của khí CO2. Tác động của một loại khí lên khí hậu Trái đất được đo bằng tổng lượng bức xạ của chất đó trong một khoảng thời gian nhất định, 100 năm chẳng hạn, sau khi nó được thải ra. Để xác định được mối tương quan ấy, Ủy ban hợp tác liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đề xuất khái niệm “tiềm năng làm Trái Đất nóng lên” (PRG) tính đến cách chất khí hấp thụ tia hồng ngoại và thời gian chất ấy tồn tại trong không khí. Giá trị của chỉ số PRG sẽ cho ta thấy được mối liên hệ giữa ảnh hưởng lên Trái Đất của một tấn khí gây HƯNK bất kì vừa mới được thải ra tại một thời điểm nhất định và ảnh hưởng của một tấn CO2 vừa mới được thải ra tại cùng thời điểm. Chẳng hạn, theo Nghị định thư Kyoto, vốn dựa trên các số liệu năm 1995 của IPCC, chỉ số PRG của CH4 trong 100 năm là 21. Như vậy, cứ một tấn CH4 thải ra hôm nay thì 100 năm sau nó sẽ tác động lên môi trường Trái Đất tương ứng với ảnh hưởng do 21 tấn CO2 vừa mới được thải ra hôm nay gây ra. Kể từ khi Nghị định thư Kyoto ra đời, chỉ số PRG của CH4 không ngừng tăng lên. Hiện nay, theo ước tính, chỉ số ấy là 25.  Nếu như các cố vấn chính trị chỉ đơn thuần quên cập nhật thông tin, vẫn cứ cho chỉ số PRG của CH4 là 21 thì không có gì nghiêm trọng cả. Thế nhưng, họ lại quên luôn rằng khi sử dụng chỉ số PRG để tính toán lượng khí thải ra, cần phải có thời điểm quy chiếu mới đánh giá được tác động của các khí ấy. Chỉ số PRG của CH4 chỉ có giá trị là 21 trong khoảng thời gian 100 năm. Một tấn CH4 thải ra tại một thời điểm bất kì vào năm 2000 chỉ có thể quy thành 21 tấn CO2 tương ứng trên cơ sở tổng hợp những tác động do cả CH4 và CO2 gây ra trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2100. Đối với một lượng khí thải ra năm 2020, chỉ số PRG trên chỉ có giá trị trong khoảng thời gian từ 2020 đến 2120.  Năm 1992, Hội nghị lần đầu tiên các bên tham gia Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu đã thống nhất khuyến cáo các quốc gia kí hiệp định này rằng họ “có thể” áp dụng các chỉ số PRG trong một khoảng thời gian là 100 năm để thống kê, dự báo lượng khí thải ra và quy chúng ra thành lượng khí CO2 tương ứng. Khoảng thời gian này nhanh chóng được xem như một quy tắc và cũng như nhiều quy tắc khác, nhanh chóng bị lãng quên. Bị quên lãng đến mức đa số những người ra quyết định cho rằng chỉ số PRG luôn là 21 bất kể mốc thời gian nào.                     Khi đánh giá vai trò của CH4 trong mối tương quan với CO2, cách nhìn nhận như trên sẽ để lại những hệ quả nghiêm trọng. Thời gian CH4 tồn tại trong không khí là khoảng 12 năm, ngắn hơn so với thời gian tồn tại của CO2. Do đó, chỉ số PRG của CH4 thay đổi rất nhiều tùy theo khoảng thời gian ta chọn để tính toán. Nếu khoảng thời gian đó không phải là 100 năm thì lượng CO2 tương ứng không phải gấp 21 (hoặc 25) lần nữa. Do vậy, cần tính đến khoảng thời gian kéo dài từ năm thải ra khí này đến năm được lấy làm mốc.  Chẳng hạn, năm 2005, Pháp thải ra 2,65 triệu tấn (tt) CH4 và 341 tt CO2. Hiện tại, lượng khí CH4 thải ra ứng với 56 tt CO2 (tức 16% lượng khí CO2 thải ra). Con số này chỉ đúng khi ta đánh giá các tác động do khí này gây ra cho đến năm 2105 vì chỉ số PRG được sử dụng ở đây là 21. Nếu ta chỉ tính đến năm 2055 thì con số đó không còn đúng nữa. Chỉ số PRG của CH4 tính trong 50 năm là 42. Khi đó, lượng CO2 tương ứng là 111 tt, chiếm 33% lượng khí CO2 thải ra. Như vậy, ảnh hưởng lên khí hậu của khí CH4 thải ra tại một thời điểm nhất định vào năm 2005 nghiêm trọng hơn nhiều. Khối lượng tương đối của CH4 thay đổi tùy theo khoảng thời gian ngắn hay dài.  Tuy nhiên, đó chưa phải là lỗi thông dụng duy nhất. Một lỗi khác là: lẫn lộn giữa lượng khí thải ra tại một thời điểm và lượng khí thải ra lâu dài. Ấy vậy mà, khái niệm PRG chỉ có giá trị đối với lượng khí thải ra tại một thời điểm nhất định. Thế nên, nếu áp dụng không thận trọng khái niệm này để đưa ra các số liệu mang tính lâu dài nhằm xem xét các hậu quả do những loại khí này gây nên trong một khoảng thời gian nhất định có thể dẫn đến những đánh giá sai lầm.  NHÂN TỐ THỜI GIAN  Các nhà khoa học đã tiến hành so sánh hiệu quả đạt được trong 500 năm nếu ngừng thải hoàn toàn, ngay từ năm đầu tiên, một tấn khí CH4 với những hiệu quả mang lại nếu tại cùng thời điểm đó, ngừng thải hoàn toàn một tấn khí CO2. Họ nhận thấy rằng một tấn CH4 chỉ ứng với 21 tấn CO2 trong một khoảng thời gian là 250 năm. Nó ứng với 57 tấn CO2 trong 50 năm và với 39 tấn CO2 trong 100 năm. Như vậy, với mốc thời gian 50 năm, nếu xem chỉ số PRG của CH4 là 21 thì những hậu quả do HƯNK gây ra sẽ bị đánh giá thấp đi rất nhiều: mất 2,7 lần và 1,9 lần với mốc 100 năm. Các nhà khoa học cũng đã thực hiện những phép tính tương tự cho tất cả các năm ngừng thải các khí gây HƯNK và theo từng mốc thời gian khác nhau từ 0 cho đến 500 năm. Chỉ với phương pháp ấy các nhà khoa học mới có thể so sánh được các chính sách giảm lượng khí CH4 và CO2 thải ra khác nhau tại những thời điểm khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau. Cho dù đó là những chính sách lâu dài hay chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian.  Từ những nhận định trên, ta có thể rút ra nhiều kết luận. Trước hết, cần ý thức rõ những hạn chế của việc sử dụng chỉ số “tiềm năng làm Trái Đất nóng lên” để đo lượng khí gây HƯNK (không phải CO2) thải ra vì chỉ số này sẽ làm giảm mạnh vai trò của việc giảm lượng khí gây HƯNK có thời gian tồn tại ngắn.  Việc sử dụng các chỉ số PRG chỉ được xem là phù hợp một khi ta áp dụng chúng, năm này sang năm khác, cho những mốc thời gian đã được các nghiên cứu về khí hậu thừa nhận, đặc biệt là các mốc 2050, 2100 và 2150. Vấn đề càng quan trọng hơn khi hiện nay, sự quan ngại của các nhà khí hậu học càng gia tăng và họ không chỉ khuyến cáo phải duy trì nồng độ khí gây HƯNK ở mức ổn định trong một thời gian dài mà còn cần ngăn chặn tối đa không cho nồng độ các khí này vọt lên ở bất cứ thời điểm nào trong thế kỉ này. Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng là tuân thủ thời gian cắt giảm lượng khí thải đã cam kết vì không thể nào thực hiện được các kịch bản khí hậu đã vạch ra một khi các quyết định lệch pha nhau, cho dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.  LƯỢNG KHÍ THẢI RA THỰC SỰ  Cuối cùng, ta nhận thấy rằng ảnh hưởng của các chính sách cắt giảm lượng khí CH4 thải ra được cam kết trong một thời gian ngắn có thể dài lâu hơn việc chỉ đơn thuần tính đến chỉ số PRG hiện nay. Ít nhiều lờ đi vai trò của khí mê-tan do những tính toán thiếu chính xác sẽ làm tổn hại đến đặc điểm ít nhiều mang tính chuyên nhất của mối liên hệ giữa vấn đề khí thải gây HƯNK và vấn đề năng lượng. Không, cuộc chiến chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu không thể chỉ gói gọn ở việc giảm sử dụng các chất đốt hoá thạch. Ngoài ra, nếu như nồng độ CH4 trong không khí vốn tăng rất nhanh sau khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra đã giảm từ vài năm lại đây vì những lí do vẫn đang còn được bàn cãi thì nồng độ ấy hoàn toàn có thể tăng nhanh trở lại do băng ở Bắc cực tan ra chẳng hạn. Do vậy, điều quan trọng lúc này (trong bối cảnh bản báo cáo mới nhất của IPCC chỉ ra những hậu quả do bất ổn khí hậu gây ra trong tương lai không xa) là các chính sách cắt giảm lượng CH4 và những khí thải gây HƯNK khác phải dựa trên những lượng khí thải thực sự, phải khớp với các kịch bản của IPCC và phù hợp mục tiêu giảm nồng độ các chất này đã được đề ra tại các mốc thời gian quy định. Hơn nữa, ngoài nỗ lực giảm lượng khí CO2 thải ra, trong tương lai gần, cần phải chú ý giảm lượng CH4 thải ra vì trong vài thập kỉ tới, ảnh hưởng của loại khí này lên môi trường sẽ rất nghiêm trọng. Cần phải tận dụng khoảng thời gian hai năm dành để đàm phán một kịch bản hậu Nghị định thư Kyoto, quyết định của Hội nghị Ba-li vừa qua, để đưa ra một cách nhìn nhận mới về vấn đề khí thải gây hiệu ứng nhà kính này.   Bài viết của Benjamin Dessus (kĩ sư và nhà kinh tế, chủ tịch Hiệp hội Global Chance), Bernard Laponche (nguyên Giám đốc Cơ quan kiểm soát năng lượng Pháp, chuyên gia về chính sách năng lượng) và Hervé Le Treut (giám đốc phòng thí nghiệm khí tượng học năng động thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp CNRS) đang trên tạp chí LA RECHERCHE, số 417 ra tháng 3 năm 2008.  Hồ Thuỷ An dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng sao neutron để dò vật chất tối      Việc khám phá bản chất của vật chất tối là một trong những thách thức lớn nhất của khoa học ngày nay, vấn đề quan trọng là cuối cùng hiểu được thứ vật chất bí ẩn đó có thể có trong các ngôi sao trong vũ trụ.      Hoặc chính xác hơn, một dạng cụ thể của sao – sao neutron.  Hiện tại thì các nhà khoa học đã có thể suy ra được sự tồn tại của vật chất tối nhưng chưa thể quan sát nó một cách trực tiếp. Trên thực tế việc dò các hạt vật chất tối trong các thí nghiệm trên trái đất  là một nhiệm vụ vô cùng phức tạp, bởi vì những tương tác của các hạt vật chất tối với vật chất thông thường vô cùng hiếm.  Để nghiên cứu về các tín hiệu vô cùng hiếm gặp đó, chúng ta cần một máy dò vô cùng lớn – có lẽ quá lớn để có thể xây dựng được một máy dò đủ lớn trên trái đất. Tuy nhiên, tự nhiên đem lại cho chúng ta một lựa chọn thay thế dưới dạng các ngôi sao neutron – một ngôi sao neutron có thể đóng vai trò như một máy dò vật chất tối.  Trong nghiên cứu xuất bản trên Physical Review Letters, chúng ta cùng xem xét cách sử dụng thông tin nhiều chính xác hơn từ các máy dò vật chất tối tự nhiên độc nhất vô nhị đó.  Các sao neutron là các ngôi sao kết cấu đặc nhất được biết còn tồn tại và hình thành khi các ngôi sao siêu khổng lồ suy sụp hấp dẫn trong các vụ nổ siêu tân tinh. Trong quá trình suy sụp ở lõi các ngôi sao đó, hấp dẫn nén vật chất đến mức vô cùng chặt, khiến các proton và electron kết hợp thành các neutron. Chúng ta có thể so sánh khối lượng đó với mặt trời – được nén với mức 10km radius – một cái thìa cà phê sao neutron với khối lượng của một vật thể nặng một tỉ tấn!  Các ngôi sao đó là “những phòng thí nghiệm vũ trụ”, cho phép chúng ta nghiên cứu về vật chất tối hành xử trong những điều kiện cực đoan mà chúng ta không thể tái lập trên trái đất.  Vật chất tối chỉ tương tác một cách rất yếu với vật chất thông thường. Về mặt lý thuyết, các hạt vật chất tối có thể va chạm với neutron trong ngôi sao này, mất năng lượng và bị bẫy về mặt hấp dẫn. Theo thời gian, các hạt vật chất tối có thể tập hợp trong lõi của ngôi sao này. Đây là điều được chờ đợi để gia nhiệt cho các ngôi sao đã trở nên lạnh và già, đưa các ngôi sao neutron đạt đến một mức có thể quan sát được trong tương lai. Trong một số trường hợp cực đoan, sự tập hợp của vật chất tối có thể kích hoạt sự suy sụp của ngôi sao thành một lỗ đen.  Điều này có nghĩa là các ngôi sao neutron có thể cho phép chúng ta dò được các dạng cụ thể của vật chất tối mà có thể khó quan sát hoặc không thể quan sát trong các thực nghiệm từ trái đất.  Trên trái đất, các thí nghiệm về vật chất tối tìm những tín hiệu giật lùi hạt nhân nhỏ nhất, do các vụ va chạm hiếm của các hạt vật chất tối dịch chuyển siêu chậm. Để so sánh, trường hấp dẫn mạnh của một ngôi sao neutron gia tốc vật chất tối đến các tốc độ giả tương đối tính, kết quả trong những va chạm ở mức năng lượng cao hơn.  Vấn đề khác với việc dò từ trái đất là các thí nghiệm giật lùi hạt nhân đều nhạy với các hạt vật chất tối vốn có khối lượng tương tự với hạt nhân nguyên tử, điều đó khiến cho khó dò được vật chất tối, vốn có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn hạt nhân nguyên tử.    Tuy vậy, về mặt lý thuyết thì các hạt vật chất tối có thể bị bẫy trong các ngôi sao và các hành tinh  với số lượng lớn, bất chấp chúng nhẹ hơn hay nặng hơn.  Một thách thức lớn khác trong việc sử dụng các ngôi sao neutron để dò vật chất tối là đảm bảo cho các phép tính mà các nhà khoa học sử dụng, tính đến cả môi trường độc nhất vô nhị của ngôi sao dạng này. Dẫu việc nắm bắt vật chất tối trong các ngôi sao neutron đã được nghiên cứu hàng thập kỷ, những tính toán hiện tại đã để lỡ những hiệu ứng vật lý quan trọng.  Vì vậy nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã thiết lập những cải thiện quan trọng cho tính toán việc nắm bắt tỉ lệ vật chất tối…, cách vật chất tối quy tụ nhanh như thế nào trong những ngôi sao neutron – vốn thay đổi đáng kể những câu trả lời.  Nghiên cứu của chúng tôi đã bao gồm một cách chính xác hơn cấu trúc hạt nhân hơn là xử lý các neutron như các hạt điểm, và bao gồm các hiệu ứng tương tác mạnh giữa các nucleon hơn là mô hình hóa các neutron như một dạng hạt khí tự do. Điều này được xây dựng trên công trình nghiên cứu trước đó của chúng tôi, trong đo tích hợp thành phần của ngôi sao, những hiệu ứng liên quan, thống kê lượng tử và tập trung hấp dẫn.  Đơn giản hơn, chúng tôi muốn chứng tỏ cách nghĩ đúng đắn hơn về những va chạm vật chất tối trong môi trường cực đoan của sao neutron, vốn rất khác biệt với những máy dò vật chất tối trên trái đất.  Nghiên cứu mới đã làm tăng thêm độ chính xác và những ước đoán sát thực hơn về việc nắm bắt tỉ lệ vật chất tối. Bài báo này là cách đưa chúng ta đến việc xác định cường độ tương tác của vật chất tối với vật chất thông thường.  Cuối cùng, bằng chứng (hoặc thiếu bằng chứng) về sự tập hợp vật chất tối trong các ngôi sao có thể đem lại nhữn manh mối giá trị về việc định hướng nơi nào trên trái đất cần đặt các thí nghiệm, qua đó giúp chúng ta mở khóa được bí ẩn của vật chất tối.  Anh Vũ tổng hơp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-neutron-stars-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng sợ sự trỗi dậy của robot      Robot ngày càng thông minh và khéo léo hơn, từ việc tự thực hiện các nhiệm vụ cơ học đơn giản đến hợp tác với con người. Trong tương lai, robot có thể tự làm việc nhóm với nhau để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp mà không cần đến sự hướng dẫn. Liệu “sự trỗi dậy của robot” có đáng sợ không?    Nhà kinh tế học được giải Nobel Paul Krugman cho rằng, robot đang dần thay thế vị trí của con người trong mọi lĩnh vực và điều này dẫn đến sự đóng góp của người lao động vào tổng thu nhập quốc dân ngày càng giảm.  Đồng quan điểm với Paul Krugman, trong báo cáo năm 2013 về các công nghệ sẽ làm thay đổi thế giới, các nhà tư vấn quản lý tại McKinsey dự báo, đến năm 2025, robot có thể chiếm 15-25% quỹ công việc tại các nước phát triển trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và 5-15% chỉ riêng trong lĩnh vực sản xuất ở các nước đang phát triển. Họ còn cảnh báo về những chống đối mang tính chính trị – xã hội có thể xảy ra, đặc biệt là khi sự xuất hiện của robot sẽ “xóa sổ” nhiều hơn là tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Để đón đầu nguy cơ này, các nhà tư vấn của McKinsey khuyến cáo nên tổ chức đào tạo thêm cho những người lao động có công việc sẽ bị robot thay thế.   Thái độ của con người sẽ quyết định  Tuy nhiên, để những dự đoán trong báo cáo của mình thành hiện thực vào năm 2025, McKinsey chỉ ra rằng cần khoảng 1.000 tỷ USD để tăng số lượng robot công nghiệp từ 10 triệu lên 25 triệu, và cần thêm khoảng 200-4.000 tỷ USD để tăng lượng robot dịch vụ lên 2,5-2,8 triệu con. Như vậy từ nay đến năm 2025, lượng robot bán ra mỗi năm phải tăng 25-30%, nghĩa là cao hơn nhiều so với mức tăng hằng năm trong hai thập niên gần đây (ngoại trừ giai đoạn 2010-2011).  Bên cạnh đó, báo cáo của McKinsey gần như không hề tính đến yếu tố khủng hoảng kinh tế ở các nước phương Tây khiến kinh phí dành cho nghiên cứu và phát triển giảm đáng kể. Trong khi đó, giá nhân công lao động trẻ và lao động nhập cư lại rẻ. Vậy tại sao trong bối cảnh như vậy, các công ty lại muốn vội vàng đổ tiền vào các máy móc đòi hỏi chuyên môn cao và thay đổi các quy trình sản xuất? Một công ty có thể mua 1.000 robot chỉ với 15.000 USD/con nhưng để xây dựng một đơn vị sản xuất xoay quanh các robot này thì tốn thêm 10 lần số tiền đó.  Nhiều nhà chuyên môn có uy tín tin rằng việc ứng dụng robot ngày càng rộng rãi sẽ làm tăng phân hóa về thu nhập trong xã hội: những người lao động phổ thông sẽ mất việc trong khi những ông chủ tư bản ngày càng giàu lên. Tuy nhiên, họ lại không để ý đến những số liệu cụ thể. Vào năm 2012, lượng bán robot công nghiệp ở Bắc Mỹ đạt con số kỷ lục 22.598 con. Giả sử một cách hào phóng rằng, mỗi robot sẽ thay thế công việc của 10 người lao động, thì với số công việc được tạo ra mỗi năm ở Mỹ1 là 2,1 triệu và ở Canada2 là 250.000 thì lượng công việc biến mất do robot trong cả năm 2012 cũng chỉ tương đương với số lượng công việc mới được sản sinh ở Bắc Mỹ mỗi tháng.  Do đó, tranh luận về việc robot sẽ cướp mất công việc của người lao động là vô nghĩa khi nguyên nhân tạo ra hay làm biến mất các công việc không phải nằm ở bản thân robot, dù chúng có tinh vi đến đâu chăng nữa, mà chính ở thái độ chấp nhận nó của mọi người và nhịp độ tích lũy tư bản trong nền kinh tế. Và hiện nay, hai yếu tố này không hề có lợi cho sự phát triển của robot.  Trên bình diện quốc tế, không có bất kỳ xu hướng nào cho thấy sự ứng dụng nhanh chóng của robot: ở Hàn Quốc, các robot giám sát và an ninh của Samsung Techwin ngày đêm tuần tra dọc khu vực phi quân sự giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên; Tập đoàn Công nghệ Foxconn của Đài Loan có 20.000 robot và dự kiến sẽ có thêm một triệu con nữa. Tuy vậy, trong cả năm 2011 và 2012 thì chỉ có 160.000 robot công nghiệp được bán trên toàn thế giới, và doanh số bán robot hằng năm từ năm 2002-2012 trung bình chỉ tăng có 9%. Đó đúng là một mức tăng ấn tượng, nhưng mới bằng 1/3 mức tăng mà bản báo cáo của McKinsey đòi hỏi cho viễn cảnh 2025 của mình.  Từ lâu, robot đã nằm trong trí tưởng tượng phong phú của con người, và trí tưởng tượng này phóng đại những lo ngại chưa từng thấy về sự xuất hiện và phát triển của robot. Nhiều người sợ rằng tai họa robot như trong các phim khoa học viễn tưởng sẽ xảy ra. Tuy nhiên, trên thực tế, những tiến bộ trong lĩnh vực này còn bị giới hạn rất nhiều.      Nguồn: Theo bài viết của James Woudhuysen, giáo sư Dự báo và Đổi mới tại Đại học De Montfort, Leicester, Anh:  http://www.spiked-online.com/newsite/article/the_robots_are_coming_but_not_  fast_enough/13809#.VHc8-zGUc0z    —      Đọc thêm:  “Sếp của tôi là một cái máy tính”  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&News=8198&CategoryID=7    —  1Theo số liệu của cục thống kê lao động Mỹ năm 2014  2Theo số liệu của cơ quan thống kê Canada năm 2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng tia X nghiên cứu các điều kiện vật chất ở trung tâm trái đất      Một nghiên cứu thử nghiệm nhằm mở rộng hiểu biết về trung tâm trái đất vừa được bắt đầu vào thứ Năm tuần trước.     Trung tâm ID24 của Trung tâm bức xạ gia tốc châu Âu (ESRF) sẽ chiếu tia X vào sắt và một số vật liệu khác khiến chúng phải chịu nhiệt độ và áp suất ở mức rất cao.  Việc các tia X được hấp thụ như thế nào sẽ giúp hiểu tường tận nhiều quá trình bí mật ở trung tâm và gần tâm Trái đất.  Ví dụ, việc làm này sẽ giúp làm sáng tỏ tại sao từ trường của trái đất có thể “đảo” (flip) được.  Các nhà khoa học vốn chưa bao giờ trực tiếp thực nghiệm được khu vực trung tâm trái đất sâu khoảng 3.000 km (khoảng 1.900 dặm) bên dưới mặt nước biển. Thực ra, các nghiên cứu mới chỉ khoan thử nghiệm lớp vỏ ngoài cùng của trái đất. Mà ở nơi mỏng nhất, tận dưới vực sâu của các đại dương thì lớp vỏ trái đất cũng dày tới 10km.  Vì thế, người ta buộc phải nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để mô phỏng các điều kiện ở tâm trái đất, khám phá xem từ trường trái đất hình thành như thế nào, tại sao nó biến đổi, và những đợt sóng chấn động từ các trận động đất được truyền qua nó như thế nào.  Dùng kim cương để tạo áp suất  Mấu chốt của thử nghiệm được tiến hành ở ID24 – là một đầu đe bằng kim cương (diamond anvil cell) – một công cụ vô cùng đơn giản và đáng tin cậy, giúp tạo ra áp suất cao khi kẹp những mẫu rất nhỏ giữa các điểm của hai viên kim cương được cắt gọt chính xác.  Qua đó, các mẫu vật bị nén dưới một áp suất cao hơn hàng triệu lần so với khi nằm trong tầng bề mặt Trái đất.  Các tia lazer cường độ mạnh sau đó được chiếu xuyên qua kim cương tập trung vào các mẫu, đốt nóng chúng với nhiệt độ lớn hơn 10,000oC. Sau đó, tia X được chiếu như một cách thăm dò, giúp xác định một cách rõ ràng cấu tạo và thành phần hoá học của các mẫu vật.  Cơ sở ID24 được nâng cấp mới đây đã có thể chiếu tia X tập trung vào một điểm nhỏ tới 1 phần triệu mét- nhỏ hơn rất nhiều so với khả năng của các thiết bị trước đây.   Hơn nữa, các phản ứng sau khi vật chất được đốt nóng và nén lại, được theo dõi qua những bức ảnh chụp liên tục hàng triệu lần mỗi giây, với độ phân giải cao hàng trăm lần trước đây.   “Các nhà khoa học có thể sử dụng thiết bị gia tốc ở Nhật Bản và Mỹ đo các phổ hấp thụ tia X, nhưng chỉ có ID24 mới quan sát được phân giải chỉ xảy ra trong khoảnh khắc micro giây… cùng với các điểm tập trung có độ lớn chỉ cỡ micron”, Sakura Pascarelli, trưởng nhóm  nghiên cứu tại ID24 cho biết. “Chưa từng ở đâu có khả năng nâng cấp ID24 như ở ESRF và từ trước khi công cụ này được đưa vào sử dụng, chúng tôi đã nhận được lời đề nghị chia sẻ công nghệ”.  ID24 là phòng  đầu tiên trong tám nơi chiếu tia ở ESRF sẽ được tu bổ toàn bộ trong chương trình nâng cấp ESRF, ID24 đặt tại Grenoble, Pháp, với tổng chi phí lên tới 180 triệu Euro.    Thu Quỳnh dịch http://www.bbc.co.uk/news/science-environment-15691038    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Đừng trở thành một nhà khoa học…”      LTS: Người làm khoa học cần phải có lòng đam mê và sự chăm chỉ, nhưng họ cũng cần được bảo vệ, bảo vệ về cuộc sống vật chất cũng như sự tự do nhất định trong nghiên cứu. Bi kịch sẽ diễn ra nếu người làm khoa học không được bảo vệ đúng mức. “Đừng trở thành một nhà khoa học” – bài viết của Giáo sư Vật lý Jonathan I.Katz, Đại học Washington, St. Louis, Mo., (Mỹ) đã trở thành chủ đề tranh luận trên rất nhiều diễn đàn khoa học trên thế giới: từ Mỹ, Canada đến châu Âu cũng như châu Á.  Ban biên tập Tia Sáng mong nhận được ý kiến phản hồi từ độc giả, đặc biệt là các nhà khoa học và nghiên cứu viên trẻ.    Bạn muốn trở thành một nhà khoa học? Ban muốn khám phá những điều bí mật của tự nhiên, bạn muốn làm những thí nghiệm hay thực hiện những phép tính để tìm hiểu về thế giới? Hãy quên điều đó đi.  Khoa học thú vị và hấp dẫn. Cảm giác sung sướng khi phát hiện ra điều mới thật đặc biệt. Nếu bạn thông minh, có tham vọng và chăm chỉ, bạn nên theo học khoa học ở bậc đại học. Nhưng thế là quá đủ. Sau khi tốt nghiệp đại học, bạn phải đối mặt với thế giới thực. Thế có nghĩa là bạn không nên học tiếp khoa học ở bậc sau đại học. Hãy làm một việc gì khác: học dược, học luật, máy tính hay kỹ sư hoặc bất kỳ ngành nào hấp dẫn bạn.  Tại sao tôi (một giáo sư cơ hữu về vật lý) lại ra sức khuyên bạn không theo con đường mà tôi đã thành công? Bởi thời thế đã khác ( tôi lấy bằng tiến sỹ năm 1973 và trở thành giáo viên cơ hữu năm 1976). Nền khoa học Mỹ không còn cho bạn một nghề nghiệp hợp lí nữa. Nếu bạn học tiếp sau đại học về khoa học, thế có nghĩa là bạn sẽ phải dành cả đời để làm những thí nghiệm khoa học, sử dụng tài khéo léo và tính tò mò của bạn để giải quyết những vấn đề thú vị. Chắc chắn là bạn sẽ sớm thất vọng về điều này và lúc đó thì đã quá muộn để chọn một nghề khác.            GS Jonathan I.Katz          Các trường đại học ở Mỹ đào tạo ra gấp hai lần số Tiến sỹ mà xã hội có thế cung cấp việc. Khi mà một thứ tràn ngập ở thị trường, thì giá cả sẽ hạ xuống. Đối với trường hợp các Tiến sỹ, họ sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để làm việc ở vị trí post-doc(*). Người ta vẫn trả lương cao cho những vị trí biên chế như trước kia, nhưng thay vì có thể có được biên chế 2 năm sau khi có bằng tiến sỹ (cách đây 25 năm năm thì thường là như vậy), những nhà khoa học trẻ hiện nay phải mất những năm, mười năm hoặc nhiều hơn làm việc ở vị trí Post-doc. Họ gần như không có hy vọng kiếm được một công việc biên chế và thường lại phải chuyển chỗ làm mỗi hai năm một. Để biết thêm thông tin, bạn có thể tra cứu trên trang Young Scientist’s Network hoặc đọc bản báo cáo tháng Năm, 2001 của tờ Washington Monthly.  Ví dụ như hai trường hợp ứng viên cho vị trí Giáo sư trợ giảng (Assistant Professorship) tại khoa của tôi. Một người 37 tuổi, đã có bằng tiến sỹ được 10 năm (và anh ta vẫn chưa kiếm được việc). Một ứng viên khác, rất xuất sắc, 35 tuổi, có bằng tiến sỹ cách đây 7 năm. Anh ta vừa mới nhận được hợp đồng biên chế cách đây ít lâu, và thôi phải làm công việc nhàm chán là đi xin việc mỗi hai năm một. Ví dụ cuối cùng là một ứng viên 39 tuổi cho vị trí Giáo sư trợ giảng khác; anh ta đã xuất bản tới 35 bài báo. Ngược lại, một tiến sỹ bình thường nếu ra làm tư thì sẽ ở tuổi 29, đối với luật sư thì ở tuổi 25 và họ lập gia đình ở tuổi 31, và một người làm khoa học máy tính với bằng tiến sỹ có thể kiếm được công việc tốt ở tuổi 27 (khoa học máy tính là một trong số it ngành trong công nghiệp đòi hỏi bằng tiến sỹ). Bất kỳ ai có trí tuệ, tham vọng, ước muốn được làm việc và thành công trong khoa học cũng có thể thành công trong bất kỳ ngành nào khác.  Đối với ngành sinh học, lương cho vị trí post-doc thông thường khoảng 27,000 USD/năm và đối với ngành vật lý thì khoảng 35,000 USD/năm (đối với sinh viên thạc sỹ hay tiến sỹ thì học bổng chỉ vào khoảng nửa chừng ấy). Bạn có thể nuôi gia đình với số lương như vậy? Nó chỉ đủ đối với một đôi vợ chồng trẻ để một căn hộ nhỏ. Tôi biết một nhà vật lý trẻ đã bị vợ bỏ bởi cô ta không chịu được viễn cảnh cứ phải thay đổi chỗ ở liên tục. Khi bạn ở tuổi 30, bạn cần hơn nhiều thế: một ngôi nhà tại một quận có trường tốt (**) và cả những nhu cầu cơ bản khác cho một cuộc sống trung lưu. Khoa học là một nghề, chứ không phải là một tôn giáo, và nó không bắt ép ta phải thề rằng sẽ phải sống suôt đời trong nghèo túng và độc thân vì nó.  Đương nhiên, bạn không theo khoa học để trở nên giàu có. Do đó bạn không theo học ngành dược hay luật, y hay luật sư, những nghề thông thường kiếm được gấp đôi hay gấp ba một nhà khoa học (đấy là đối với ai đủ may mắn để kiếm được một công việc biên chế tốt). Tôi cũng lựa chọn nó. Tôi trở thành nhà khoa học để có thể tự do giải quyết những điều lý thú đối với tôi. Nhưng gần như bạn không có sự tự do đó. Với công việc post-doc bạn sẽ phải làm việc trên ý tưởng của người khác, và bạn bị xem như một kỹ thuật viên hơn là một đối tác làm việc độc lập. Rốt cục là bạn hoàn toàn bị ép buộc phải làm khoa học. Bạn có thể có một công việc tốt với nghề lập trình viên máy tính, nhưng tại sao bạn không làm nó ở tuổi 22, hơn là mất cả 10 năm sống trong nghèo khó với khoa học? Càng lâu bạn sống trong khoa học, càng khó để bạn rời khỏi nó.  Có thể bạn đủ tài năng để vượt qua được quãng thời gian làm post-doc; một vài trường đại học sẽ đủ ấn tượng để nhận bạn vào biên chế 2 năm sau khi bạn có bằng tiến sỹ. Có lẽ. Nhưng sự xuống cấp của khoa học khiến cho ngay cả những trường hợp xuất sắc cũng mất nhiều năm làm việc ở vị trí post-doc nhàm chán (xem trường hợp các ứng viên ở trên). Và rất nhiều người xuất sắc, với điểm cao và thư giới thiệu, về sau này cũng sẽ nhận thấy cạnh tranh trong nghiên cứu khó hơn trước rất nhiều, hoặc ít nhất là khác so với sự tưởng tượng của họ.  Giả sử rằng cuối cùng bạn cũng kiếm được một công việc biên chế. Sự cạnh tranh để có được một công việc giờ lại thay thế bởi sự cạnh tranh để xin được tiền tài trợ, và một lần nữa, lại có rất nhiều nhà khoa học. Bạn sẽ phải dành nhiều thời gian để viết đề án hơn là làm nghiên cứu. Thật tồi tệ, bởi đề án của bạn lại được đánh giá bởi chính đối thủ của bạn, và bạn cũng không thể chỉ chạy theo sự tò mò của bạn, thay vì đó bạn lại phải mất công sức và trí tuệ, chỉ để lường trước hoặc tránh những phê bình. Bạn không thể sử dụng những kết quả thành công trong quá khứ, bởi vì bạn đã hoàn thành nó, và những ý tưởng mới, mặc dù rất tốt, lại chưa được kiểm chứng. Như vậy là ngay cả khi đạt được điều bạn hằng mơ ước, bạn lại nhận ra rằng nó lại không hoàn toàn giống như những gì bạn muốn.  Vậy ta có thể làm gì? Thứ nhất đối với các bạn trẻ ( những người chưa kiếm được việc biên chế trong khoa học) thì hãy theo một ngành khác. Bạn sẽ tránh khỏi cảnh nghèo khó và thất vọng. Những người Mỹ trẻ thường nhận ra tiền đồ đen tối và không có lối thoát và quyết định bỏ trốn. Đối với những tiến sỹ trẻ từ Ấn Độ hay Trung Quốc, thì tình hình còn tồi tệ hơn nhiều. Tôi biết nhiều trường hợp mà cuộc sống của họ đã bị hủy hoại bởi việc làm nghiên cứu sinh còn hơn cả việc nghiện ma túy.  Nếu bạn đang ở vị trí lãnh đạo trong khoa học và bạn hãy thuyết phục các quỹ tài trợ để cắt giảm ngân sách cho việc làm tiến sỹ. Việc tràn ngập các nhà khoa học chính là hệ quả của chính sách ngân sách ( phần lớn những cơ sở sau đại học đều được tài trợ bởi quỹ của chính phủ liên bang). Các quỹ tài trợ đang than khóc vì chuyện khan hiếm người yêu thích khoa học trong khi chính họ lại là nguyên nhân dẫn đến sự khan hiếm này. Họ có thể đảo ngược tình thế này bằng cách đào tạo đúng số người mà họ cần, nhưng họ lại không làm việc đó, hoặc thậm chí không đề cập đến nó một cách nghiêm túc ( trong nhiều năm NSF (***) vẫn đưa ra những dự đoán thiếu trung thực về sự thiếu hụt các nhà khoa học, và phần lớn các quỹ đều làm như điều đó là đúng). Kết quả là những người trẻ xuất sắc nhất quay lưng với khoa học, và các nghiên cứu sinh phần lớn chỉ là những sinh viên Mỹ trình độ thấp hoặc sinh viên ngoại quốc, những người bị mê hoặc bởi tấm Visa Mỹ.  Phạm Hiệp dịch từ http://wuphys.wustl.edu  * Ở Mỹ, sau khi có bằng Tiến sỹ, người làm khoa học thường mất khoảng một vài năm làm việc ở vị trí post-doc (hợp đồng ngắn hạn 2,3 năm và thường phải chuyển nơi làm việc sau khi kết thúc) trước khi có đủ kinh nghiệm để xin được một chỗ làm việc biên chế : Giáo sư trợ giảng (Assitant Professor), phó Giáo Sư (Associate Professor) hay Giáo sư (Professor).  ** Học sinh phổ thông ở Mỹ bị bắt buộc học tại các trường đóng ở nơi cư trú. Do đó giá nhà và giá thuê nhà tỷ lệ với chất lượng của trường học tại nơi đó.     *** NSF- National Science Foundation- quỹ khoa học quốc gia của Mỹ.    —————————————————————————————————————      Ý kiến phản hồi:         JasonRox- diễn đàn physicsforum :     Thông tin trên đây hoàn toàn thiên vị. Có bằng PhD về vật lý không có nghĩa là bạn bắt buộc phải làm nghiên cứu. Các nhà vật lý hoàn toàn có thể chuyển sang làm những công việc khác như trong công nghiệp hay thương mại chẳng hạn.  Nhưng đúng là có rất nhiều người đã rời bỏ vật lý.  Drbott-diễn đàn collegeconfidental :  Tôi đồng ý. Những người theo vật lý và toán thường có cuộc sống khá chật vật.  Electric- diễn đàn Jsomers:  “Tôi trở thành nhà khoa học để có thể tự do giải quyết những điều lý thú đối với tôi”. Tôi nghĩ là có một cách khác hợp lí hơn là bạn hãy cố gắng thật giàu trước đã. Rồi sau đó hãy làm tiến sỹ và nghiên cứu những gì bạn thích.  Imy786- diễn đàn physicsforum:  Thật thú vị, ở Ấn Độ cũng tương tự như vậy. Tôi đã từng định học vật lý để đi dạy. Nhưng giờ tôi đã thay đổi ý định, chắc là tôi sẽ đi buôn bán nhà đất.   Excalibur313 – diễn đàn collegeconfidental  Thế còn ngành công nghiệp. Đúng là tiếp tục theo khoa học rất khó, nhưng với tấm bằng PhD, bạn sẽ rất thành công trong công nghiệp. Tôi làm việc cho một công ty về công nghệ sinh học, ở đó người ta trả ít nhất 100 000 USD cho vị trí quản lý.  Dirt McGirt – diễn đàn collegeconfidental  Mặc dù tôi hoàn toàn không đồng ý với ý kiến của anh ta, nhưng tôi tôn trọng quyền anh ấy được nói những gì anh ta nghĩ.  DV Henkel-Wallace – diễn đàn pipeline  Tôi nghĩ Katz đã nhầm. Rõ ràng là không phải ai cũng có thể trở thành giáo sư (và lại càng khó để khái quát hoá mọi thứ bởi mỗi ngành, mỗi trường đại học và mỗi một thời kỳ lại có những đặc điểm khác nhau).  Shramana – diễn đàn physicsforum  Tôi đã đọc bản gốc và đã rất sốc. Rất may là ở đây tôi còn thấy những ý kiến khác, bớt thành kiến hơn. Sau đây là ý kiến của tôi: cha tôi là một giáo sư ngành tài chính và đó không phải là một nghề có thu nhập cao nhất. Tuy nhiên, chưa bao giờ tôi nghe ông tiếc nuối vì đã không làm việc cho ngân hàng giống như phần lớn các bạn của ông.       GS Jonathan I.Katz       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng vi khuẩn chế tạo xăng      Một bài viết trên tạp chí Nature online ngày  30/9/2013 cho biết, lần đầu tiên trên thế giới, một nhóm nhà khoa học  Hàn Quốc đã dùng vi khuẩn chế tạo thành công xăng – loại nhiên liệu phổ  biến nhất để chạy xe hơi.     Họ đã khám phá được loại vi khuẩn đại tràng – tiếng Anh Escherichia Coli, viết tắt E. coli (tức coliform, ta gọi là trực khuẩn đại tràng) – có thể chuyển hóa đường glucose thành xăng. Cụ thể họ đã làm ra 580 gam xăng từ 1 lít dung dịch nuôi cấy khuẩn E.coli. Đây là loại “xăng sinh vật” được chế tạo theo phương pháp sinh khối (biomass) lên men.  Bài viết nói trên dưới đầu đề “Dùng vi khuẩn chế tạo Alkane (trong hóa hữu cơ có thể hiểu là hydrocarbon chuỗi ngắn) sau đó đã được Sciencedaily cùng nhiều báo khác trên toàn thế giới đăng lại với những bình luận lạc quan.  Nhật báo Trung ương (Korea Joongang Daily) của Hàn Quốc và các báo khác cho biết; năm 2010, một nhóm nghiên cứu của Mỹ từng công bố trên tạp chí Science bản báo cáo đưa tin họ đã dùng vi khuẩn chế tạo ra Alkane chuỗi dài chứa 13-17 nguyên tử carbon, một loại “dầu diesel sinh vật” có thành phần như dầu diesel; tuy vậy chưa từng thấy có báo cáo về việc dùng vi khuẩn chế tạo được loại Alkane chuỗi ngắn có thể thay cho xăng.  Xăng là một hỗn hợp của hydrocarbon, các chất phụ gia và chất xúc tác; thông thường được chế ra từ dầu mỏ. Dầu thô khi được làm nóng tới 30-140 độ C sẽ từ thể lỏng biến thành thể khí, qua đó tách ra được xăng; khi làm nóng tới 250 độ C thì sẽ lấy được dầu diesel. Hai loại nhiên liệu này đều là hợp chất hydrocarbon dạng chuỗi (còn gọi là alkane). Xăng và diesel khác nhau ở chiều dài của chuỗi. Số lượng nguyên tử carbon của xăng là từ 4 đến 12, còn diesel có tới 13-17 nguyên tử carbon, tức chuỗi carbon của diesel dài hơn.   Nhóm cán bộ khoa học của khoa sinh hóa Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc KAIST do Lee Sang Yup lãnh đạo đã thực hiện thành công việc nghiên cứu loại vi khuẩn làm ra xăng. Lee Sang Yup là một trong bảy giáo sư công huân của Viện KAIST.  Nhóm nghiên cứu cho vi khuẩn E.coli phân hủy thực vật, qua đó tổng hợp được chất a-xit béo có 16-18 nguyên tử carbon, làm thành màng tế bào. Tuy vậy họ chỉ thu được một lượng cực ít a-xit béo, chưa bằng 1% tổng số tế bào. Nhưng các nhà khoa học đã tìm cách cải tạo gene di truyền của E. coli, qua đó tổng hợp được nhiều a-xit béo có 10-12 nguyên tử carbon. Các gene đã cải tạo bớt được một nguyên tử carbon, cuối cùng E. coli sinh ra loại alkane có 9-11 nguyên tử carbon, tức xăng. Tương tự như nguyên lý nấm men chuyển hóa đường trong công nghiệp làm rượu bia, ở đây vi khuẩn E.coli chuyển hóa các loại cỏ tạp hoặc mùn cưa thành xăng.   Như vậy nhóm nghiên cứu Lee Sang Yup là tác giả đầu tiên của phương pháp dùng vi khuẩn chế tạo loại alkane có chuỗi carbon ngắn.  GS Lee Sang Yup cho biết; Nếu so sánh với kết quả làm ra dầu diesel của nhóm nghiên cứu người Mỹ thì nhóm của ông có hiệu suất cao hơn, tuy rằng lượng xăng làm ra hãy còn quá ít. Ở đây, điều quan trọng là đã chứng minh được việc có thể sử dụng vi khuẩn để làm ra xăng.   Theo Sciencedaily, từ trước tới nay loài người dựa vào các nguồn tài nguyên hóa thạch có sẵn trong thiên nhiên để sản xuất ra những loại nhiên liệu lỏng như xăng, dầu diesel cùng nhiều hóa chất dùng trong công nghiệp và đời sống hàng ngày. Thế nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên hóa thạch đang ngày một cạn kiệt, môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm, bầu không khí toàn cầu ngày một nóng lên — các vấn nạn đó đã làm cho mọi người quan tâm mạnh mẽ tới việc nghiên cứu-triển khai các phương pháp bền vững để sản xuất ra nhiên liệu và hóa chất.  Thời gian qua một số nước đã sản xuất thành công nhiên liệu sinh học Ethanol từ ngô hoặc mía, với quy mô công nghiệp, cũng theo nguyên lý dùng vi khuẩn. Ethanol có thể giúp giải quyết nạn khan hiếm xăng dầu, nhưng dùng ngô với số lượng lớn như vậy là rất phí phạm lương thực, vì trên thế giới hãy còn hàng tỷ người không có ngô mà ăn; ngoài ra việc phá rừng để trồng ngô và mía còn đem lại hậu quả tai hại về môi sinh.   Trong tình hình đó, thành tựu nghiên cứu của nhóm Lee Sang Yup có ý nghĩa rất quan trọng.  Nếu dự án nói trên tiếp tục triển khai thuận lợi, có thể chế tạo xăng với năng suất cao và thương mại hóa thành công sản phẩm này thì loài người sẽ có thể tận dụng mọi nguồn tài nguyên thực vật không ăn được (thực vật phi thực phẩm) để làm ra nhiên liệu chạy xe hoặc các sản phẩm như chất dẻo dễ tự hủy v.v… Tài nguyên thực vật phi thực phẩm vô cùng phong phú, vì thế thành tựu nghiên cứu nói trên sẽ góp phần quan trọng giúp giải quyết khó khăn về năng lượng và bảo vệ môi sinh.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dùng virus biến đổi gene để kéo dài  sự sống của bệnh nhân ung thư      Tạp chí “Tự nhiên – Y học” Nature Medicine  ngày 10/2/2013 đưa tin một nhóm nhà khoa học đã phát hiện bằng chứng cho  thấy có thể sử dụng virus JX-594 để tiêu diệt các tế bào ung thư trong  cơ thể bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, qua đó kéo dài thành công được  thời gian sống của họ.    JX-594 tức Pexa-Vec, là một loại virus đậu mùa đã được biến đổi gene hay một virus vaccine ung thư và liệu pháp miễn dịch (oncolytic and immunotherapeutic vaccinia virus). Trước kia các nghiên cứu về loại virus này cũng chỉ mới ở giai đoạn đầu. Nhà nghiên cứu  David Kirn ở công ty Liệu pháp sinh học Jennerex Biotherapeutics tại bang California (Mỹ) cùng các đồng sự mới đây lần đầu tiên tiến hành nghiên cứu xác định liều lượng dùng JX-594 và phát hiện chứng cứ cho thấy loại virus này có thể gây ra phản ứng miễn dịch chống ung thư.   Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm với 30 bệnh nhân ung thư gan có tính nguyên phát ở thời kỳ cuối và phát hiện: sau khi tiêm virus JX-594 với liều lượng cao cho 16 bệnh nhân, trung bình thời gian kéo dài mạng sống của họ là 14,1 tháng; trong khi đó trung bình thời gian sống thêm của 14 bệnh nhân được tiêm JX-594 với liều lượng thấp chỉ là 6,7 tháng.  Kết quả nghiên cứu nói trên rõ ràng đem lại hy vọng cho việc nghiên cứu phương pháp mới điều trị ung thư. Tuy vậy vẫn còn cần tiến hành nhiều thử nghiệm với quy mô lớn hơn để đối chiếu và xác nhận kết quả đó. Trong giai đoạn tiếp theo, các nhà khoa học sẽ tiến hành thử nghiệm với khoảng 120 bệnh nhân. Ngoài ra cũng cần nghiên cứu xác định cơ chế bảo vệ công hiệu của JX-594.   Trả lời phỏng vấn đài AFP, Tiến sĩ David Kirn nói: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử y học, chúng tôi chứng minh virus biến đổi gene có thể cải thiện xác suất kéo dài sự sống của bệnh nhân ung thư”.  Bài báo trên Nature Medicine viết: “Cho dù trong 30 năm qua, việc điều trị ung thư đã có tiến triển rất lớn do sử dụng hóa trị và liệu pháp sinh học, nhưng phần lớn các thực thể ung thư khi đã di căn tới các bộ phận khác của cơ thể thì chưa có cách nào chữa được (vì thế) cần có những liệu pháp miễn dịch hiệu quả hơn”.  Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Anh quốc (Cancer Research UK) hoan nghênh thành tựu nghiên cứu nói trên như là “một bước tiến nức lòng người”.  Nguồn :  1) http://www.rawstory.com/rs/2013/02/10/genetically-engineered-virus-kills-cancer-study/     2) http://www.cancerresearchuk.org/cancer-info/news/archive/cancernews/2013-02-11-Genetically-engineered-virus-extends-the-lives-of-terminally-ill-liver-cancer-patients    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dưới bóng Covid-19: Nhà có còn là nơi an toàn?      Dù không gây quá nhiều ảnh hưởng đến kinh tế ở Việt Nam nhưng cái bóng đại dịch Covid vẫn tạo ra những khoảng tối mà chúng ta có thể vô tình bỏ qua. Trong khoảng tối đó, những người yếu thế từng bị bạo hành gia đình từ trước Covid lại càng phải chịu đựng thêm sự ngược đãi.      Hình minh họa: Freepik.  Dịch bệnh làm tăng bạo lực     Virus corona khiến cả xã hội phải đối diện, hoặc là với những cái chết không ngừng gia tăng hoặc tạm ngừng các tương tác bên ngoài và hướng về gia đình nhiều hơn. Những tưởng trong cơn sóng gió thì các gia đình càng phải yêu thương, đùm bọc và sẻ chia, nhưng nghiên cứu mới ở trên thế giới đều cho thấy điều ngược lại. Khi đại dịch tràn tới, trước áp lực kinh tế và căng thẳng tinh thần vì bệnh dịch, cách ly xã hội thì những bạo lực, mâu thuẫn trong gia đình càng có cơ hội để tiếp tục bộc lộ, trở nên căng thẳng hơn nhiều. Ngay cả ở các nước nơi phong trào nữ quyền đã đạt được nhiều kết quả đáng kể như châu Âu, các cơ quan bảo vệ phụ nữ còn phải báo động vì số cuộc gọi “cầu cứu” qua đường dây nóng tăng vọt; chỉ trong tuần đầu tiên cách ly xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pháp Barshe Castaner đã phải thông báo “số trường hợp bạo lực gia đình trên khắp nước Pháp đã tăng hơn 30%”, trong đó riêng thủ đô Paris là 36%.    Còn ở Việt Nam thì sao? Dù có dễ thở hơn các nước khác, nhưng có những dấu hiệu cho thấy những áp lực kinh tế, căng thẳng xã hội do Covid, đặc biệt là trong thời kỳ cách ly xã hội, đang phủ bóng đen lên nhiều ngôi nhà. Báo cáo gần đây của Viện Nghiên cứu phát triển Mekong cho thấy, lệnh giãn cách xã hội đầu năm làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp tạm thời, và làm giảm chất lượng công việc (ví dụ, làm giảm số việc có bảo hiểm xã hội), làm giảm số giờ làm và thu nhập của người làm công. Liệu đại dịch, làm ảnh hưởng lên tới hơn ba chục triệu người từ 15 tuổi, lâm vào cảnh mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập, thì có làm gia tăng bạo lực gia đình với phụ nữ?      Bạo lực gia đình có nhiều nguyên nhân, nhưng trong giai đoạn Covid yếu tố kinh tế tác động rõ rệt đến các hộ gia đình được khảo sát. Thu nhập càng giảm hoặc mất thu nhập thì bạo lực và tình trạng kiểm soát phụ nữ, bạo lực thể xác, tinh thần càng tăng lên.      Có kinh nghiệm nghiên cứu gia đình và các giới yếu thế từ nhiều năm nay nên TS. Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) lo ngại và hình dung trước về điều đó ngay từ những ngày đầu đại dịch xuất hiện ở Việt Nam. Những chỉ dấu đầu tiên mà bà và các cộng sự thấy được là trong tháng tư, thời điểm cách ly toàn xã hội do Covid, Ngôi nhà bình yên – nơi trú ngụ của những chị em chịu bạo hành gia đình của Liên hiệp hội Phụ nữ đã nhận được 344 cuộc gọi từ những người phụ nữ muốn được tư vấn hoặc trốn chạy khỏi gia đình mình, tăng gấp bảy lần so với mức thường kỳ của năm 2019. “Vì thế rất cần đo lường, để biết rằng Covid làm gia tăng thêm sức ép lên các gia đình, làm tăng tỉ lệ bạo lực ra sao”, TS Khuất Thu Hồng cho biết.    Do đó, ISDS phối hợp với Đại học Y tế công cộng thực hiện nghiên cứu “Tác động của Covid-19 tới bạo lực gia đình với phụ nữ tại Hà Nội” với nguồn tài trợ của Rosa Luxemburg Stiftung Văn phòng Đông Nam Á tại Hà Nội, làm căn cứ cho những khuyến nghị để các tổ chức xã hội, các cơ quan quản lý kịp thời hỗ trợ cho phụ nữ ứng phó trong những đợt dịch Covid tiếp theo và để dự trù cho những những bối cảnh căng thẳng do đại dịch khác, những cú sốc tương tự có thể làm gia tăng sức ép lên các gia đình.    Nhưng bà cũng cho biết sẽ “không dễ đo lường tác động của đại dịch đến bạo lực gia đình ở Việt Nam nói chung” bởi vì Việt Nam không có những giai đoạn cách ly căng thẳng nhiều ngày, nhiều tuần như ở các nước khác mà chỉ có một đợt cách ly xã hội toàn quốc và những đợt giãn cách xã hội trong thời gian không quá dài, mang tính cục bộ ở một số địa phương xuất hiện các ca nhiễm virus trong cộng đồng. Áp lực kinh tế cũng không đến mức căng thẳng như các nước, vì kinh tế Việt Nam vẫn còn “nhúc nhắc” tăng trưởng được.    Vì vậy, ngay trong những tuần cách ly Covid, TS Khuất Thu Hồng và cộng sự khẩn trương thiết kế một nghiên cứu chỉ chọn riêng những người phụ nữ đã từng chịu bạo hành gia đình ra sao trong bối cảnh đại dịch Covid để đánh giá cơn cuồng phong này đang gây thêm những mối đe dọa nào với họ. Nhóm lựa chọn Hà Nội làm nơi khảo sát vì đây là một trong những thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề hơn cả do các đợt giãn cách, cách ly xã hội. Kết quả cuộc khảo sát 303 phụ nữ ở độ tuổi 18-60, từng là nạn nhân của bạo lực gia đình trước đây đã cho thấy những điều đáng phải suy nghĩ – “nhà không phải là nơi an toàn nhất” vì có tới 81% người trả lời cho biết bị chồng/ bạn đời kiểm soát hành vi, 88% bị bạo hành tinh thần, 59% bị bạo hành thể xác và 25% bị bạo hành về tình dục. Hơn một nửa số phụ nữ tham gia nghiên cứu này cho biết họ bị tát hoặc ném đồ vật vào người, 1/3 số người bị đánh bằng tay hoặc bằng vật dụng hoặc đẩy đồ vật vào người trong thời kỳ dịch bùng phát. Hậu quả là hơn 80% phụ nữ bị bạo lực gia đình dẫn tới thương tích và khoảng 1/3 cần được chăm sóc y tế.      Để giảm bạo lực gia đình, cần thay đổi nhận thức ở cả nam giới chứ không nên chỉ tập trung vào nhóm nữ như các chương trình tuyên truyền thực hiện từ nhiều năm nay. Trong ảnh: Tuyên truyền pháp luật về giới cho nam giới tại huyện Bình Liêu, Quảng Ninh. Ảnh: Quangninh.gov.vn  Bạo lực gia đình có nhiều nguyên nhân, nhưng trong giai đoạn Covid yếu tố kinh tế tác động rõ rệt đến các hộ gia đình được khảo sát. “Bạo lực gia đình liên quan đến thu nhập của các gia đình. Áp lực do mất việc làm, mất thu nhập khiến không khí trong gia đình rất căng thẳng – 100% các gia đình không có thu nhập đều xảy ra bạo lực. Thu nhập càng giảm hoặc mất thu nhập thì bạo lực và tình trạng kiểm soát phụ nữ, bạo lực thể xác, tinh thần càng tăng lên”, TS Khuất Thu Hồng lý giải nguyên nhân. Kết quả khảo sát này cho thấy tỉ lệ bị giảm thu nhập, mất hẳn thu nhập do Covid ở những phụ nữ tham gia khảo sát là rất cao – 78,5% phụ nữ không có thu nhập, 72% các hộ gia đình không có thu nhập trong khi cả vợ cả chồng ở nhà do cách ly phòng dịch.    Ngoài vấn đề kinh tế, căng thẳng tinh thần do phải rơi vào hoàn cảnh cách ly cũng là điều đáng chú ý. Diễn đàn Kinh tế thế giới từng cảnh báo1, vấn đề tâm lý mới là cái giá lớn nhất của cách ly, giãn cách xã hội, vì càng ở nhà nhiều, mọi người càng có khả năng sẽ mắc phải một loạt các triệu chứng căng thẳng và rối loạn tâm lý như tâm trạng không tốt, mất ngủ, căng thẳng, lo âu, tức giận, cáu kỉnh, kiệt quệ tinh thần, trầm cảm và triệu chứng rối loạn căng thẳng.      Cần có cơ chế phản ứng nhanh, các kênh, dịch vụ hỗ trợ kịp thời trong những tình huống bất lợi như đại dịch; ưu tiên lồng thép vấn đề bạo lực gia đình vào các chương trình phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu rủi ro liên quan đến Covid-19.      Đây là những con số đáng báo động, để các cơ quan quản lý phải đưa ra các giải pháp hỗ trợ kịp thời cho phụ nữ chịu ảnh hưởng nặng do Covid. Và không chỉ dừng lại ở Covid, kết quả nghiên cứu này như một hồi chuông cảnh báo những bối cảnh này có thể lan rộng ra nếu trong tương lai có những cú sốc khác về kinh tế, bệnh tật, thảm họa thiên nhiên… đều có thể đẩy những gia đình có dấu hiệu bạo lực từ trước đó vào chỗ bần cùng và chìm trong bạo lực nặng nề hơn.    Đây không phải là những dự báo quá bi quan cho các gia đình Việt Nam. Bởi vì, từ trước khi đại dịch xảy ra thì bạo lực gia đình đã phủ bóng lên không ít gia đình Việt Nam, khi mà gần 1/3 phụ nữ trả lời đã bị ít nhất một loại bạo lực do chồng/ bạn đời gây ra, từ bạo hành về thể xác như đánh đấm cho đến đay nghiến về tinh thần, trong vòng 12 tháng qua, theo cuộc điều tra quốc gia về Bạo lực năm 2019 của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA). Và thực tế, không chỉ có phụ nữ Việt Nam chịu thiệt thòi, nhìn rộng ra trên thế giới lâu nay “tổ ấm” lại chính là một nơi nguy hiểm nhất với phụ nữ. Các thống kê trên thế giới hiện nay đều cho thấy, phụ nữ bị đánh đập, thậm chí bị giết, chủ yếu do chồng/ bạn đời gây ra (cho đến giờ điều đáng kinh sợ là 38% các vụ giết phụ nữ trên thế giới này là do chính bạn tình/bạn đời gây ra)2.     Xấu chàng hổ ai     Nhiều người bộc bạch với nhóm nghiên cứu “chồng cứ bảo là ‘con chó kia mày về đây bố mày đấm chết’”, “nó thấy mình ở nhà không đi làm nó lại chửi, cứ chửi là ‘Mày chết mày không làm ăn gì”… nhưng, khi không thể tự mình giải quyết tình trạng bạo lực thì những người phụ nữ tội nghiệp này có thể nhờ người khác giúp đỡ không? Một nửa số phụ nữ bị bạo hành tìm đến anh em trong gia đình, bạn bè để hỗ trợ, và hãn hữu lắm (khoảng 5% hoặc ít hơn) mới báo cho các cơ quan đoàn thể như đại diện lãnh đạo địa phương, hội phụ nữ nhưng thực ra không có một giải pháp nào triệt để, bạo hành chỉ vơi đi một vài hôm rồi lại vẫn y nguyên. Chưa kể, trong Covid, do điều kiện cách ly nên muốn cầu cứu sự trợ giúp bên ngoài cũng không dễ dàng gì (17% nạn nhân bạo hành cho biết khó khăn khi cầu cứu bên ngoài, và 2% cho biết rất khó tìm người giúp đỡ trong thời gian này).    Thông thường, dù không có dịch Covid thì những người phụ nữ Việt Nam vẫn thường âm thầm chịu đựng trong câm lặng vì không thể “vạch áo cho người xem lưng”, “xấu chàng thì hổ ai”. Khảo sát quốc gia vào năm ngoái của UNFPAcũng cho thấy một nửa phụ nữ từng bị bạo hành do chồng/bạn đời gây ra chưa bao giờ hé răng kể cho bất cứ ai về việc này cho đến khi họ được phỏng vấn trong cuộc điều tra này, và hầu hết họ (90,4%) không tìm đến hỗ trợ của các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ phụ nữ yếu thế của nhà nước hoặc bất kỳ cơ quan chính quyền nào, số còn lại chỉ tìm đến sự hỗ trợ bên ngoài khi “không thể chịu đựng được nữa”.    Nếu những phụ nữ này còn lâm vào điều kiện khó khăn hơn do đại dịch kéo dài và căng thẳng hơn thì sao? Đây chính là điều mà TS Khuất Thu Hồng lo ngại, “chúng ta sẽ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khác trong tương lai, do dịch bệnh, do thiên tai gây ra, chúng tôi sợ là trong những gia đình chịu tác động thì bạo lực vẫn đang âm thầm len lỏi. Vậy làm thế nào để phụ nữ và trẻ em, để thế giới của chúng ta được bình an và hạnh phúc?”. Từ những phát hiện này nhóm nghiên cứu đề xuất khuyến nghị, cần có cơ chế phản ứng nhanh, các kênh, dịch vụ hỗ trợ kịp thời trong những tình huống bất lợi như đại dịch; ưu tiên lồng thép vấn đề bạo lực gia đình vào các chương trình phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu rủi ro liên quan đến Covid-19.  ***  Nhưng những cứu trợ khẩn cấp như “đường dây nóng” trú ngụ tại Ngôi nhà bình yên cũng chỉ là “phần ngọn”. Và trong thời gian đại dịch, dịch vụ thiết yếu này cũng chịu áp lực vì chính cán bộ nhân viên ở Nhà bình yên cũng phải ở lại khu nhà 100% thời gian, cũng không được ra ngoài, cũng gặp quá tải và các vấn đề về tâm lý. Nên khuyến nghị cuối cùng vẫn là nâng cao nhận thức của cả cộng đồng nói chung về bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực trong thời gian đại dịch.    Trong đó, có lẽ các chương trình truyền thông sẽ cần phải nhắm vào nam giới nhiều hơn. Bởi vì chính nam giới, người gây ra bạo lực cho phụ nữ, vẫn giữ nhiều đặc điểm gia trưởng và đòi hỏi phụ nữ phải tuân lệnh – nếu không sẽ dẫn tới xung đột trong gia đình. Nghiên cứu về Nam giới và Nam tính của ISDS mới công bố trong tháng 10 vừa qua cho thấy có những điều hầu như không suy suyển sau hàng thập kỷ, khi mà đa số nam giới (81%) cho rằng “nam giới nên đưa ra quyết định cuối cùng trong tất cả các vấn đề của gia đình” và có đến 78% cho biết “vai trò quan trọng nhất của phụ nữ là chăm sóc nhà cửa và nấu ăn cho gia đình mình”. Thậm chí, gần hai phần ba nam giới (62%) được hỏi tán thành mệnh đề “một khi phụ nữ đã kết hôn sẽ thuộc về gia đình nhà chồng” (tương tự tình trạng mà một nghiên cứu từ cách đây gần một thập kỷ của UNFPA3 chỉ ra). Nam giới có thể thay đổi vì một thế giới tốt đẹp hơn cho phụ nữ ngay trong chính gia đình của mình không? Đây mới thực sự là điều chúng ta cần truyền thông và chờ đợi họ thay đổi. □  —–  1 https://www.weforum.org/agenda/2020/04/this-is-the-psychological-side-of-the-covid-19-pandemic-that-were-ignoring?  2 WHO, Violence against women, https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/violence-against-women  3 Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), Nghiên cứu về giới, nam tính và sự ưa thích con trai ở Nepal và Việt Nam, 2012.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Đường giao thông thành nhà máy sản xuất điện      Hà Lan là nước đầu tiên trên thế giới đưa  vào sử dụng một đoạn đường xe đạp có thể biến năng lượng mặt trời thành  năng lượng điện.     Đoạn đường dài 70 m được xây dựng tại Krommenie ở bên ngoài thành phố Amsterdam được khánh thành và khai trương cho người đi bộ và đi xe đạp sử dụng từ ngày 12/11/2014. Nó trị giá 3 triệu Euro, được coi là bước đầu tiên của một dự án mà chính quyền địa phương hy vọng sẽ nối dài tới 100 m vào năm 2016.    Đây là đoạn đường thử nghiệm do công ty SolaRoad nghiên cứu triển khai. «SolaRoad là công ty đầu tiên sẽ đưa Hà Lan lên bản đồ là một nước dẫn đầu về sáng tạo bền vững » – Henk Kamp Bộ trưởng Bộ Kinh tế Hà Lan nói tại lễ khánh thành.  Điện năng do đoạn đường làm ra sẽ được dùng để thắp sáng đèn đường, đèn tín hiệu giao thông và cấp điện cho các gia đình. Người ta còn dự định cấp điện cho các ô tô chạy điện .  Đoạn đường kể trên được Tổ chức Nghiên cứu khoa học ứng dụng Hà Lan (Netherlands Organization for Applied Scientific Research, TNO) đặt tên là “Đường mặt trời”. Học sinh và dân chúng rất thích đi trên đoạn đường này, bình quân mỗi ngày có khoảng 2000 xe đạp đi qua.  Nền đường là những tấm pin năng lượng mặt trời làm bằng tinh thể silicon (crystalline silicon solar cells) gắn vào các tấm bê tông. Tầng trên cùng là lớp thủy tinh giữ nhiệt rất bền chắc, có tác dụng bảo vệ các tấm pin mặt trời. Ánh mặt trời chiếu qua lớp thủy tinh trong suốt làm cho pin mặt trời phát ra dòng điện.  Dự tính đoạn đường 70 m này có thể cung cấp điện đủ dùng cho 3 gia đình.  Dự án “Đường mặt trời” được khởi công năm 2009. Nhóm dự án gồm đội làm đường và công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật, do TNO chỉ đạo, đã nghiên cứu tiềm năng sử dụng năng lượng mặt trời của các con đường. Trong 3 năm liền, họ đã đo lượng điện do đoạn đường này sản xuất và nghiên cứu tình trạng an toàn của nó dưới các điều kiện thời tiết khác nhau với hy vọng điện sản xuất ra có thể dùng để thắp đèn đường, cung cấp cho các gia đình và ô tô chạy điện.  Thực ra SolaRoad không phải là dự án đầu tiên nhằm biến các con đường và lối đi thành những vật thu nhận năng lượng mặt trời và biến nó thành điện năng. Chẳng hạn nước Mỹ cũng có Solar Roadways do Scott Bursaw phát minh.  Báo The Guardian cho biết : Website Solar Roadways nói rằng nếu tất cả các con đường ở Mỹ đều được cải tạo thành đường mặt trời thì nước Mỹ sẽ sản xuất được một lượng điện lớn gấp 3 lần lượng điện nước này hiện đang sử dụng và giảm được 75% lượng khí thải nhà kính.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  Nguồn :  – http://www.collective-evolution.com/2014/11/09/netherlands-is-the-first-country-to-open-solar-road-for-public/     Netherlands Is The 1st Country To Open A Solar Road For Public Use  – http://www.collective-evolution.com/2014/05/26/solar-roadways-the-mind-boggling-possibilities-of-solar-roadways-are-exciting/   Solar Roadways: The Mind Boggling Possibilities Of Solar Roadways Are Exciting  – http://edition.cnn.com/2014/11/12/tech/solar-road/index.html      Solar road opens in the Netherlands       Author                Quản trị        
__label__tiasang E8- một lý thuyết  hình học cho TOE?      Trên mạng và các tạp chí vật lý xuất hiện nhiều bài viết lý thú về TOE (Theory of Everything-Lý thuyết của Tất cả) của Antony Garrett Lisi (Viện Khoa học Thái Bình Dương, Viện Vật lý lý thuyết Perimeter) dựa trên nhóm Lie E8. Một phần các bài viết cũng được nhen lên vì lối sống lãng tử của Lisi. Nhà vật lý này chia sẻ cuộc sống giữa vật lý lý thuyết và những môn thể thao mạo hiểm (lướt sóng, trượt tuyết, leo núi, môtô địa hình, cùng nhiều môn thể thao ấn tượng khác…).  Có tác giả còn mạnh dạn cho&#160; lý thuyết E8 của Lisi là một phát hiện tầm cỡ Einstein, số tác giả&#160; khác lại cho rằng sơ đồ của Lisi còn hàm chứa nhiều điểm không ổn hoặc chưa hoàn thiện về mặt toán học cũng như vật lý.  Tạp chí khoa học uy tín Scientific American số tháng 11/2010 đã đăng bài viết của Antony Garrett Lisi&#160; &amp; James Owen Weatherall (Đại học California)[1]. Điều này chứng tỏ lý thuyết của Lisi càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu và có thể là xuất phát điểm của những điều kỳ diệu tiếp theo. Về ý kiến phản biện xem tài liệu[2].  Bài viết sau đây nhằm giới thiệu lý thuyết E8 của Lisi.      Thế nào là E8?  E8 là một nhóm Lie. Nhóm Lie (theo tên nhà toán học Na-Uy Sophus Lie thế kỷ 19) là tập các biến đổi liên tục thỏa mãn các điều kiện sau: hai biến đổi liên tiếp cho lại một biến đổi của tập đó, ngoài ra tồn tại một biến đổi đơn vị và một biến đổi đảo ngược. Các biến đổi vi phân làm thành các vi tử, có N vi tử cơ sở của  đại số  nhóm ứng với số các thông số nhóm hay chiều của nhóm.  Nói chung trong đại số của nhóm Lie có R vi tử giao hoán với nhau tạo nên đại số con Cartan, số R gọi là hạng (rank) của nhóm.   Mỗi yếu tố thuộc đại số Cartan tác động lên các vi tử còn lại (tác động phụ hợp-adjoint) cho ta N-R vector riêng khác không gọi vector căn số (root vector) và những trị riêng là những căn số. Trị riêng của mỗi vector căn số có l thành phần như của một vector. Các vector sau làm thành giản đồ căn số.   Trong các nhóm biến đổi liên tục tức nhóm Lie ngoài các nhóm cổ điển AR , BR, CR và DR còn có các nhóm đặc biệt là G2, F4, E6, E7 và E8 (theo sơ đồ Dynkin). Trong đó nhóm E8 là nhóm phức tạp nhất và kỳ ảo nhất.           Hình 2. Giản đồ Dynkin của nhóm E8          Nhóm E8 có N=248, R=8. Nhóm E8 có thể xem như một đối tượng 248 chiều, cũng có thể xem như một đối tượng 8 chiều với 248 đối xứng.             Hình3. Giản đồ căn số E8 khi chiếu thẳng góc xuống một không gian hai chiều          Đại số con Cartan cũng có thể tác động lên các vector thuộc các không gian biểu diễn của nhóm. Trong trường hợp này các vector riêng làm thành các vector trọng số (weight vectors) còn các trị riêng làm thành những trọng số (weight) – những trọng số có thể xem như là những căn số suy rộng trong các biểu diễn).  Mỗi vector trọng số ứng với một loại hạt cơ bản. R tọa độ của mỗi trọng số chính là những số lượng tủ của hạt ứng với các vi tử của đại số con Cartan.  Quá trình thống nhất các hiện tượng vật lý  Năm 1687 Isaac Newton thống nhất mọi chuyển động (chuyển động thiên thể, thủy triều, đồng hồ quả lắc) nhờ định luật hấp dẫn phổ quát.  Giữa thế kỷ 19 James Clerk Maxwell thống nhất điện học và từ học.  Một trăm năm sau điện từ được thống nhất với tương tác yếu nhờ lý thuyết điện yếu.  Các nhà vật lý chia sẻ trực giác khẳng định rằng ở sâu thẳm mọi hiện tượng vật lý tuân theo một cấu trúc toán học tuyệt mỹ nào đó.  Điện từ, tương tác yếu và mạnh được thống nhất vào năm 1970 trong Mô hình chuẩn (SM-Standard Model) với GUT (Grand Unified Theory-Lý thuyết Thống nhất Lớn).  Về mặt toán học các lý thuyết này sử dụng các nhóm Lie và một công cụ toán học hữu hiệu là không gian phân thớ (fiber bundles).  Từ những năm 1960 các nhà vật lý xây dựng lý thuyết dây (string theory) nhằm thống nhất hấp dẫn và SM chọn dây (string) và màng (membrane) dao động trong không thời gian nhiều chiều làm các thực thể cơ bản.  Ngoài lý thuyết dây còn có lý thuyết Hấp dẫn Lượng tử Vòng (LQG-Loop Quantum Gravity).   Năm 2007 Antony Garrett Lisi xây dựng lý thuyết E8. Trong lý thuyết E8 mọi lực và vật chất được miêu tả như chuyển động xoắn (twisting) của một đối tượng hình học.  Mọi ý tưởng mới đều phải trải qua thử nghiệm, lý thuyết E8 cũng vậy. Nhiều nhà vật lý tỏ vẻ bi quan với E8. Song ngay từ những bước đầu lý thuyết E8 đã bộc lộ một cấu trúc tuyệt đẹp và đã tiên đoán được nhiều hạt mới mà LHC (Large Hadron Collider-Máy Va chạm Hadron lớn) có thể tìm ra trong tương lai. Có thể xem E8 như một bước phát triển quan trọng trên con đường tìm lý thuyết thống nhất.  Thế nào là không gian phân thớ?  Trước khi mô tả lý thuyết E8 chúng ta cần nói đến một nguyên lý hình học cơ bản điều khiển mọi lực và hạt trong thiên nhiên. Chúng ta không thể nhìn thấy hình dạng trực tiếp của đối tượng hình học song chúng ta có thể biết được những hệ quả do nguyên lý này đem lại.  Chúng ta có thể hình dung vũ trụ như một khối đất chung quanh mọc đầy các mầm cây. Bề mặt của khối đất chính là không thời gian còn các mầm chính là các thớ. Toàn hệ hình học đó  (không thời gian + các thớ) làm thành không gian phân thớ. Các thớ có thể xem như các không gian nội tại khác nhau gắn liền với mỗi điểm của không thời gian và có hình dạng ứng với các tính chất của hạt.  Khái niệm không gian phân thớ (fibre bundle) xuất hiện những năm 30 trong toán học. Đó là những không gian, trong đó mỗi điểm có một cấu trúc nội tại. Sau khi khái niệm đó xuất hiện thì các nhà vật lý lý thuyết hiểu ngay rằng không gian phân thớ có một ý nghĩa rất quan trọng đối với các lý thuyết vật lý. Ngày nay dùng không gian phân thớ các nhà vật lý có thể mô tả một cách thống nhất tất cả các lý thuyết tương tác của vật chất. Tại mỗi điểm của một không thời gian, gọi là không gian cơ sở, người ta xét một biến đổi định xứ (nghĩa là phụ thuộc vào tọa độ của điểm đang xét), nhóm biến đổi này có tên là nhóm cấu trúc. Muốn so sánh vectơ ở hai điểm khác nhau của không gian cơ sở, người ta phải đưa vào một đại lượng gọi là liên thông. Các nhà vật lý phát hiện ra rằng, tùy theo nhóm cấu trúc mà ta có thể thu được được nhiều liên thông khác nhau mô tả những trường ứng với các lượng tử mang tương tác khác nhau (như photon, gluon, graviton ,…).          Hình 4. Mỗi điểm của không gian phân thớ có một cấu trúc nội tại với nhóm đối xứng G         Ý tưởng này thực ra do Hermann Weyl đưa ra từ năm 1918 và giờ đây trở thành một nguyên lý được kiểm nghiệm của vật lý học. Về định nghĩa toán học của không gian phân thớ (xem tài liệu)[3].  Các trường điện và từ có mặt ở mọi nơi và là những thớ với hình dáng đơn giản nhất – vòng tròn. Một vòng tròn được các nhà vật lý gọi là U(1), một nhóm Lie đơn giản nhất. Vòng tròn có một đối xứng dễ nhận ra: nếu quay vòng tròn ta lại được lại vòng tròn.   Không gian phân thớ của điện từ gồm nhiều vòng tròn gắn với các điểm của không thời gian. Một điều quan trọng là vòng tròn có thể quay một ít so với những vòng tròn khác ở vùng lân cận không thời gian. Trường liên thông của không gian phân thớ sẽ mô tả các thớ lân cận đã liên hệ với nhau như thế nào bởi những phép quay như vậy. Các trường lực (force fields) của điện và từ sẽ ứng với độ cong (curvature) của không gian phân thớ – nói một cách hình học các điện trường và từ trường biểu hiện cung cách các thớ đã xoắn như thế nào trong không gian và thời gian.  Mỗi loại hạt cơ bản ứng với các thớ khác nhau trong không thời gian, nghĩa là ứng với các mầm khác nhau trong hình tượng nói trên đây về không gian phân thớ. Các thớ của các hạt mang điện tích (như electron) sẽ quấn quanh các thớ hình tròn của điện từ trường giống như các sợi chỉ quấn quanh một đinh ốc. Số lần xoắn quanh các thớ vòng tròn sẽ bằng điện tích của hạt và xác định hạt phản ứng mạnh hay nhẹ với các lực của từ trường.  Các phản hạt xoắn quanh theo chiều ngược lại so với các hạt. Khi các hạt va chạm nhau thì số vòng xoắn quanh sẽ cộng với nhau do đó trong va chạm các hạt điện tích là bảo toàn.  Những điều vừa nói trên đối với điện từ được các nhà vật lý ứng dụng vào tương tác yếu và mạnh. Các lực yếu và điện từ được mô tả bởi những thớ phức tạp hơn không còn là những vòng tròn mà là nhiều vòng tròn giao nhau tương tác với nhau và với vật chất tùy theo cung cách xoắn của chúng.  Lực tương tác yếu liên quan đến phân thớ với nhóm cấu trúc là nhóm Lie 3 chiều gọi là SU(2). Thớ này có 3 toán tử đối xứng ứng với 3 hạt boson lực yếu là W+, W- và W3. Các hạt W+, W- xoắn ngược nhau quanh W3 vậy có tích yếu (weak charge) W là  -1 và +1.  Các hạt fermion chia làm hai loại tùy theo spin hướng theo hoặc ngược với chiều xung lượng: fermion phải và fermion trái. Chỉ có các fermion trái là có tích yếu (quark up trái và neutrino với W=+1/2 và quark down trái và electron với W= – 1/2). Với các phản hạt thì chỉ có các phản hạt phải có tích yếu. Nói cách khác vũ trụ của chúng ta không có đối xứng phải-trái. Tính bất đối xứng này là một trong nhiều bí ẩn của vật lý học.  Khi các nhà vật lý thống nhất lực yếu và điện từ họ đã tích hợp các thớ SU (2) với vòng tròn U (1) song vòng tròn này không là vòng tròn trong lý thuyết điện từ mà là vòng tròn ứng với lực siêu tích (hypercharge force), siêu tích được ký hiệu là Y. Trong phép tích hợp đó các vòng tròn W3 kết hợp với các vòng tròn siêu tích làm nên một hình xuyến 2 chiều.  Những thớ của các hạt gọi là Higgs boson xoắn quanh nhóm Lie của điện yếu gây nên một tập các vòng tròn đặc biệt phá vỡ đối xứng, song không xoắn quanh các vòng tròn mà sau này ứng với các photon không khối lượng.  Trực giao với các vòng tròn đó là một tập khác ứng với một hạt gọi là Z boson. Các thớ của các Higgs boson xoắn quanh các vòng tròn ứng với Z boson và W+, W- gây nên khối lượng cho những hạt này. Hạt Z được tìm ra năm 1973, điều này càng chứng tỏ thêm hiệu lực của công cụ cơ sở là không gian phân thớ.  Vật lý màu   Trong SM lực mạnh hạt nhân nối liền các quark trong hạt nhân nguyên tử về mặt hình học ứng với một nhóm Lie rộng hơn là SU (3).Thớ SU (3) trong không gian nội tại 8 chiều gồm 8 tập vòng tròn xoắn với nhau tạo nên tương tác giữa 8 loại hạt (tương tự như photon) gọi là gluon. Có 2 tập vòng tròn không xoắn nhau ứng với 2 toán tử g3 và g8 tạo thành một hình xuyến. Những vòng tròn ứng với 6 toán tử gluon còn lại xoắn quanh hình xuyến này và kết quả là ta có một giản đồ trọng số (weight diagram) hình lục giác với tọa độ g3 và g8.            Hình 5. Các vector trọng số (weight)  SU(3) và tọa độ trọng số (g3 và g8 ) của gluon, quark & phản quark          Các thớ quark xoắn quanh nhóm Lie SU (3) và tích mạnh (strong charge) của chúng làm thành một tam giác trên giản đồ trọng số. Các quark có 3 màu: đỏ, xanh lá cây và xanh da trời. Cách mô tả tương tác mạnh bằng màu gọi là sắc động học lượng tử (quantum chromodynamics-QCD).  Thống nhất QCD với mô hình điện yếu người ta có nhóm Lie tích hợp gồm SU (3), SU(2) và U (1). Điều này dẫn đến những giản đồ trọng số với 4 trục ứng với 4 tích. Quark, electron và neutrino gọi là thế hệ thứ nhất của các fermion, chúng còn có thế hệ 2 và 3 nữa với các tích như nhau song khối lượng lớn hơn. Tại sao như vậy?  Còn vật chất tối và năng lượng tối nữa, chúng nằm ở đâu?  Một lý thuyết thống nhất phải làm sáng tỏ các vấn đề này.  Thống nhất lớn   Tuy rằng lực điện yếu và tương tác mạnh có thể mô tả bằng cách sử dụng không gian phân thớ song những thớ của chúng là những thớ riêng biệt. Các nhà vật lý đặt ra câu hỏi liệu có tồn tại một thớ chung mô tả cả hai lực đó? Như vậy thay vì có nhiều nhóm Lie khác nhau cho các lực khác nhau người ta phải nghĩ đến một nhóm Lie rộng hơn.  Theo hướng này năm 1973 Howard Georgi và Sheldom Glashow đưa ra lý thuyết GUT (Grand Unification Theory) với nhóm Lie SU(5) chứa tích hợp nói ở phần trên như là nhóm con. Trong sơ đồ này các fermion có đúng các siêu tích của chúng ngoài ra cộng vào 12 boson của SM còn có thêm 12 hạt mới có tên là X boson. Ở đây xuất hiện một khó khăn là boson X cho phép proton phân rã thành những hạt nhẹ hơn, điều mà thực nghiệm chưa phát hiện được.  Một GUT khác với nhóm Spin(10) được đưa ra. Lý thuyết này tiên đoán một lực mới tương tự với lực yếu song yếu hơn ứng với các boson W’+, W’- và W’3. Lý thuyết này cũng dẫn đến phân rã của proton song với một tốc độ chậm hơn nhiều so với lý thuyết SU(5) cho nên Spin(10) có cơ đứng vững được.  Giản đồ trọng số (weight diagram) của Spin(10) cho thấy tích của các hạt nằm trên 4 vòng tròn đồng tâm. Điều sâu xa của hình dáng giản đồ trọng số này là: Spin(10) nằm trong nhóm đặc biệt E6.  Những nhóm đặc biệt đóng một vai trò quan trọng trong toán học. Trong số đó ta có các nhóm G2, F4, E6, E7 và E8. Các nhóm này có những cấu trúc phức tạp và có những mối liên quan sâu xa với nhiều lĩnh vực toán học.  Một điều đặc biệt là các boson và fermion của Spin (10) và SM lại phù hợp với cấu trúc của E6 (có 78 toán tử), điều này làm ngạc nhiên các nhà vật lý vốn xưa nay vẫn cho rằng boson và fermion là hoàn toàn khác nhau về bản chất. Chúng thuộc các thớ khác nhau xoắn quanh các nhóm Lie. Song điều gì xảy ra nếu cả boson lẫn fermion đều thuộc về một thớ?  Người ta sẽ nhúng Spin (10) GUT vào E6. Cấu trúc E6 chứa được cả hai loại hạt boson và fermion! Trong việc thống nhất các lực và vật chất boson và fermion được kết hợp như những thành phần của một trường siêu liên thông.  Mặc dầu nhiều người phản đối điều này cho rằng kết hợp boson và fermion theo con đường này là không ổn song điều này đã được chứng minh trên cơ sở chắc chắn của toán học. Và độ cong của siêu liên thông này mô tả sự xoắn của E6 trên không thời gian mô tả được động học và tương tác của boson và fermion trong SM.  Song E6 chưa hàm chứa các boson Higgs và hấp dẫn.  Hấp dẫn và spin   Lúc ban đầu Albert Einstein mô tả hấp dẫn như là độ cong của không thời gian. Song hiện nay các nhà vật lý muốn tìm ra một cách mô tả khác tương đương với lý thuyết Einsstein bằng không gian phân thớ.  Tại mỗi điểm của không thời gian chúng ta hãy tưởng tượng tồn tại bộ 3 thước đo thẳng góc với nhau và một đồng hồ, mà ta gọi là khung quy chiếu (frame of reference). Khi ta chuyển động đến những điểm khác nhau của không thời gian thì chúng ta lại có những tập khác của bộ 3 thước đo và đồng hồ nối liền với khung quy chiếu đầu tiên bởi một phép quay. Cách thức khung quy chiếu đã quay như thế nào được xác định bởi liên thông spin (spin connection) hay nói đơn giản hơn bởi trường hấp dẫn. Nhóm Lie ứng với các phép quay khả dĩ trong 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian là nhóm Spin (1,3), đấy là nhóm của hấp dẫn. Chúng ta cảm thấy lực hấp dẫn bởi vì trường spin liên thông hấp dẫn đã quay khung quy chiếu của chúng ta.  Hoàn toàn như hạt có các loại tích khác nhau mô tả tương tác của chúng với các lực của SM, hạt cũng còn có một loại tích mô tả cách hoạt động của chúng trong không thời gian. Hãy xem điều gì xảy ra nếu ta quay một cái thước một góc 360 độ trong không gian: cái thước trở về trạng thái cũ. Cái thước – và khung hấp dẫn – có tích spin (spin charge) bằng -1 hoặc +1, song nếu ta quay một fermion, như electron, trong không gian một góc bằng 360 độ thì nó không trở về trạng thái cũ, muốn nó trở về trạng thái ban đầu phải quay nó một góc bằng 720 độ. Như vậy fermion có tích spin bằng +1/2 hoặc -1/2.  Tích spin đóng vai trò quan trọng trong hấp dẫn vì hấp dẫn thông qua khung quy chiếu và liên thông spin gắn liền với hình học của không thời gian. Cũng như đối với những lực khác chúng ta có thể xây dựng giản đồ trọng số cho hấp dẫn dựa trên cơ sở spin. Tích spin không gian của một hạt là moment góc nội tại của nó còn tích spin thời gian của nó lại gắn liền với chuyển động của hạt trong thời gian. Người ta phân biệt fermion phải và trái tùy theo chuyển động của nó hướng theo hoặc hướng ngược lại chiều spin. Một điều rất bất ngờ là tích spin có một mối liên quan đặc biệt với lực hạt nhân yếu: chỉ có các hạt trái và phản hạt phải mới có tích yếu và tương tác với lực yếu. Điều này cho thấy rằng lực yếu nhạy cảm với tích spin và như thế hấp dẫn cùng với các lực khác, trông bề ngoài thì khác xa nhau song lại có một mối liên quan rất sâu.      Từ nhiều lý thuyết chỉ còn lại một: lý thuyết E8  Bây giờ mới chính là lúc chúng ta đặt mọi thứ vào  vị trí của chúng. Với hấp dẫn mô tả bởi Spin (1,3) và GUT mô tả bởi Spin (10), một điều tự nhiên là tích hợp hai nhóm đó để có nhóm Spin (11,3) mô tả Lý thuyết thống nhất hấp dẫn lớn (Roberto Percacci & Fabrizio Nesti , Italy). Và điều này sẽ dẫn chúng ta đến một Lý thuyết Đầy đủ của Tất cả – Full Theory of Everything.  Nhóm Lie Spin (11,3) tiên đoán được các tích spin, điện yếu và mạnh. Ngoài ra nhóm này còn bao gồm cả một tập các boson Higgs và khung quy chiếu (frame) hấp dẫn, hai đối tượng này được thống nhất thành toán tử khung – Higgs (frame-Higgs) trong Spin (11,3). Độ cong của không gian phân thớ Spin (11,3) mô tả đúng động học hấp dẫn, các lực khác và Higgs, ngoài ra còn chứa một hằng số vũ trụ cho phép giải thích năng lượng tối. Mọi vật đều nằm vào đúng chỗ của nó.  Những người bi quan cho rằng đây là điều khó tin được.   Giản đồ trọng số của Spin (11,3) lại gợi ý cho một nhóm rộng hơn tương tự (như Spin (10) của GUT đã gợi ý cho những nhóm lớn hơn) đấy là nhóm E8, nhóm đặc biệt lớn nhất trong các nhóm đặc biệt.   Và cuối cùng không gian phân thớ E8 hàm chứa cả hấp dẫn với tất cả các lực đã biết khác, các hạt Higgs và một thế hệ fermion của SM.  Nhóm Lie E8 với 248 toán tử có một cấu trúc kỳ diệu. Ngoài hấp dẫn và các hạt của SM E8 còn chứa các hạt W’, Z’ và X boson, một tập phong phú các hạt Higgs, những hạt mới gọi là fermion gương (mirror fermion) và các hạt axion, ứng viên cho vật chất tối. Hơn nữa E8 còn chứa một đối xứng gọi là đối xứng tam ngẫu (triality). Sử dụng tam ngẫu 64 toán tử của một thế hệ của SM có thể nối với 2 nhóm 64 toán tử khác. Ba blốc này có thể trộn với nhau để cho ta 3 thế hệ fermion đã biết.          Hình 6. Giản đồ  căn số (root)E8, mỗi căn số được gán cho một hạt cơ bản           Kết luận: đối chiếu với thực tại  Theo đó vũ trụ vật lý đã đột sinh từ một cấu trúc toán học không có đối thủ là E8. Lý thuyết đó nói rằng các hạt Higgs là gì, hấp dẫn và các lực khác đã đột sinh như thế nào từ phá vỡ đối xứng, vì sao fermion tồn tại với các tích và spin của chúng và các hạt đã tương tác như thế nào.  Lý thuyết E8 đã hình thành song có lẽ các nhà vật lý cần phải hoàn thiện nó, nhất là vấn đề lý thuyết E8 sẽ làm việc như thế nào trong ngữ cảnh lượng tử.  Nếu E8 là đúng thì máy gia tốc siêu đại LHC (Large Hadron Collider)  phải ghi đo được những hạt mới tiên đoán bởi E8. Lisi đã sơ bộ sắp xếp được 224 hạt đã biết vào sơ đồ của mình còn chỗ trống cho 24 hạt mới.  Nếu E8 là sai thì LHC sẽ ghi đo được những hạt không nằm trong khuôn khổ dự đoán của E8 và đây sẽ là một đòn định mệnh cho lý thuyết này. Dẫu E8 sai người ta cũng không thể không hết bàng hoàng vì vẻ đẹp của lý thuyết này.   Cái đẹp và sự thực thường đi đôi với nhau, nên E8 có nhiều hy vọng là một lý thuyết đúng đắn của thực tại.                                                                                                    ——————–                                                                                                  Tài liệu tham khảo   [1] Antony Garrett Lisi & James Owen Weatherall, A Geometric theory of Everything, Scientific American số tháng 11/2010  [2] Jacques Distler and Skip Garibaldi, There is no “Theory of Everything” inside E8, arXiv: 0905.2658v3[math.RT]    [3] Cao Chi, Lý thuyết trường chuẩn, đối ngẫu điện-từ trong vật lý và chương trình hình học Langlands, Tia Sáng số 02+03-20.1.2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ebola gia tăng mạnh ở Congo do tình trạng bạo lực      Số người mắc tăng gấp đôi và đã lên tới 2000 người chỉ trong hai tháng qua tại Cộng hòa Nhân dân Congo, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).      Một nhân viên y tế của WHO ở Congo.  2.008 người đã bị nhiễm Ebola ở các tỉnh Bắc Kivu và Ituri của nước này kể từ khi bệnh dịch bắt đầu bùng phát vào cuối tháng 7 năm 2018 và 1.346 trong số họ đã tử vong.  Cuộc khủng hoảng y tế này được coi là bắt đầu kể từ khi số người mắc vượt con số 1.000 người vào ngày 24 tháng 3.  “Tôi thực sự rất lo lắng”, Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc WHO  trả lời phỏng vấn tờ Nature và cho rằng đây là sự thất bại trong việc chống dịch bùng phát. Và việc này càng trở nên tồi tệ vào năm nay.  Congo đang không đủ khả năng kiểm soát tình trạng bệnh dịch hiện nay. “Mặc cho những nỗ lực rất lớn của WHO trong việc ngăn chặn dịch bệnh, các xu hướng truyền nhiễm đã có diễn biến phức tạp trong thời gian gần đây”, trích báo cáo của ủy ban nghiên cứu độc lập giám sát hoạt động của WHO trong Hội nghị Y tế Thế giới ở Geneva, Thụy Sĩ, vào ngày 21 tháng năm vừa qua. Ủy ban này tin tưởng vào năng lực của WHO nhưng  họ cũng đồng thời bày tỏ sự lo ngại về tình trạng nhân viên y tế kiệt sức và khó khăn khi phải giải quyết dịch bệnh trong tình trạng xung đột tại đây.   Bạo lực gia tăng  Tình trạng xung đột bạo lực đã diễn ra hàng thập kỷ qua tại khu vực Bắc Kivu – nơi tập trung hàng chục nhóm vũ trang của các cộng đồng phản đối chính phủ. Căng thẳng chính trị càng gia tăng vào cuối năm ngoái trong cuộc bầu cử, khi nguyên tổng thống Congo, đã không cho phép hơn một triệu người ở Bắc Kivu bỏ phiếu vì  nơi đây có dịch Ebola. Hành động này khiến nhiều người cho rằng, đó chỉ là một biện pháp của chính phủ để  ngăn cản phe đối lập nổi dậy, chứ không thực sự là nguyên nhân từ dịch bệnh.   Nhưng chính quyền không thể giải quyết được dịch bệnh khi người dân nghi ngờ ý định của họ. Chẳng hạn, các phản ứng viên của WHO, nhân viên y tế phải thuyết phục người dân đến các trung tâm y tế để điều trị và nhận vaccine Ebola thử nghiệm. Trong khi đó, nhiều người vẫn nghi ngờ dịch bệnh Ebola đang lan rộng và thậm chí có một số người còn tấn công nhân viên y tế.   WHO cho biết đã có 174 cuộc tấn công vào các cơ sở hoặc nhân viên chăm sóc y tế  ở Bắc Kivu đến thời điểm này trong – tăng gấp ba lần so với năm tháng cuối năm 2018. Tình trạng này  gây khó khăn cho công tác kiểm soát dịch bệnh – khi không thể theo dõi được tình trạng diễn biến bệnh tật của những người đã nhiễm bệnh và tình trạng phơi nhiễm có thể gia tăng mà chính phủ không thể nắm bắt được. Một tuần sau vụ một nhà dịch tễ học của WHO bị giết trong tháng tư vừa qua, có tới hơn 70% số người được chẩn đoán là mắc bệnh Ebola mà trước đó không hề được đưa vào danh sách theo dõi  là đã từng tiếp xúc với người mắc bệnh.   Tình trạng này cũng có dấu hiệu giảm đi khi WHO đang nỗ lực tìm kiếm thông tinv ề những người đã mắc bệnh và gặp gỡ lãnh đạo các cộng đồng, nhưng  vẫn chưa rõ ràng. Tarik Jašarević, một nhân viên truyền thông của WHO ở Geneva, nhấn mạnh nỗ lực của các phản ứng viên . “Trung bình, các đội  giám sát bệnh dịch của chúng tôi cần phải cố gắng tiếp cận 20.000 người mỗi ngày”, anh nói, “và không phải lúc nào cũng dễ dàng làm được điều này, đặc biệt là khi bạo lực nổ ra”.  Bảo Như dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01735-0       Author                Quản trị        
__label__tiasang Edison – cha đẻ của công nghệ thu thanh?      Đã hơn một thế kỷ, kể từ lần đầu tiên Edison thu âm thành công lời nhạc “Mary có một con cừu nhỏ” lên một miếng thiếc, và ông luôn được xem là cha đẻ của công nghệ thu thanh. Nhưng gần đây, một nhóm nghiên cứu đã công bố rằng họ vừa phát hiện ra một bản ghi âm khác của một người Pháp, ra đời trước khi Edison phát minh ra máy hát gần 2 thập kỷ.    Một bản nhạc khoảng 10 giây bài hát:”Dưới ánh trăng” (Au Clair de la Lune) mới được một nhóm các nhà lịch sử âm học người Mỹ phát hiện ra tại Paris tháng trước. Nhóm nghiên cứu đến từ phòng thí nghiệm quốc gia Lawerence Berkeley này cho biết bản nhạc này có thể được thực hiện vào ngày 9 tháng 4 năm 1860.  “Đây là một phát hiện lịch sử, bởi nó là bản thu âm sớm nhất”, ông Samuel Brylawski, nguyên trưởng phòng lưu giữ băng nhạc, thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, một người không thuộc nhóm nghiên cứu nhưng rất am hiểu về vấn đề này đánh giá. Người thực hiện bản thu âm này được cho là ông Édouard-Léon Scott de Martinville, một thợ xếp chữ kiêm thợ in, sống ở Paris vào thế kỷ XIX.  Thiết bị thu âm này bao gồm một đầu kim được gắn với một chiếc còi dạng ống, khắc lên một miếng giấy đã được bôi đen bởi khói đèn dầu. Tuy nhiên, bản ghi này lúc đầu không phải để dùng cho việc thu âm; thay vào đó, Scott làm nó với ý định mã hóa giọng nói của người.  Nhóm nghiên cứu đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của các nhà lịch sử âm học và các kỹ sư về âm thanh mới có thể lọc được đoạn thu âm này.          Nhà âm học David Giovannoni với một trong những mẫu ghi âm được cho là sớm nhất trong lịch sử.            David Giovannoni, trưởng nhóm nghiên cứu, đã công bố toàn bộ chứng cứ vào cuối tháng trước, tại một hội nghị của Hiệp hội sưu tầm băng đĩa tại Đại học Stanford, Palo Alto, California.  Bản ghi âm của Scott được thực hiện vào năm 1860, tức là 17 năm trước khi Edison được cấp bằng sáng chế về máy quay đĩa và 28 năm trước khi một đồng nghiệp của Edison thu âm một đoạn trong vở nhạc kịch Handel lên một miếng sáp. Đến tận bây giờ, đây vẫn được coi là bản thu âm cổ nhất.  Triển lãm của Giovannoni vào thứ sáu tới sẽ trưng bày thêm một số bản ghi của Scott được tìm thấy ở Paris, bao gồm hai bản năm 1853 và 1854, là những thí nghiệm đầu tiên trong nỗ lực thu âm giọng nói người và tiếng đàn guitar, nhưng thiết bị của Scott tại thời điểm đó vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết.  “Lúc đầu chúng tôi chỉ tìm được một bản ghi âm bị nhiễu”- ông Giovannoni cho biết.  Nhưng bản thu tháng 4/1860 thì lại rất rõ. Bản copy này đã được cung cấp cho tờ New York Times, là giọng một ca sĩ vô danh, có thể là nữ, tương phản với tiếng huýt gió và tiếng tanh tách trên một nền âm thanh ồn ào. Giọng hát tuy bị cản âm nhưng vẫn có thể nghe được, đó là bài “Dưới ánh trăng” (Au clair de la lune)  với giai điệu 11 nốt du dương, âm điệu có chút ma quái, u ám.  Các nhà sử học từ lâu đã quan tâm đến nghiên cứu của Scott. Nhưng các nhà khoa học Mỹ tin rằng họ mới là những người đầu tiên tiến hành tìm kiếm các bản thu của ông và nỗ lực phát lại chúng.  Vào tháng 12, Giovannoni và trợ lí đến trụ sở cấp bằng sáng chế ở Paris, tại Viện Quốc Gia về Quyền sở hữu Công nghiệp. Tại đó ông tìm ra các bản ghi từ 1857 đến 1859 trong đơn xin cấp bằng sáng chế máy ghi âm của Scott. Giovannoni đã làm việc với các nhân viên lưu trữ, tạo ra những bản cắt kĩ thuật số có độ phân giải cao và được bảo quản cẩn thận.  Một chuỗi các bằng chứng, bao gồm cả những tài liệu có phần khó hiểu trong ghi chép của Scott dẫn các nhà nghiên cứu tới một viện khác ở Paris, Viện hàn lâm khoa học Pháp, nơi lưu trữ một số các bản ghi âm khác của Scott. Giovannoni đã tình cờ tìm ra bản ghi tháng 4/1860, là một mảnh giấy được bảo quản gần như nguyên vẹn cỡ 9×25 inche.  “Nó gần như mới nguyên. Sóng âm thanh rõ ràng và không hề có lỗi.”  Bản cắt của ông được gửi tới phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley, nơi chúng được chuyển thành dạng âm thanh bằng một công nghệ được phát triển cách đây vài năm. Các lớp phân giải cao ược phát trên máy tính nhờ dùng kim máy hát kĩ thuật số. 16 đoạn thu âm riêng rẽ năm 1860 được ghép lại tỉ mỉ và điều chỉnh lại tốc độ.  “Có sự khác biệt về tư duy giữa chúng ta và Léon Scott, bởi vì ông ta cho rằng cách một người nhận được âm thanh đích thực là quan sát nó “- trích lời Jonathan Sterne, giáo sư thuộc đại học McGill, Montreal và là tác giả cuốn sách “Lắng nghe dĩ vãng: Bản chất văn hóa của công nghệ sao chép âm thanh.”  Xét nhiều mặt, Léon Scott không giống một anh hùng của nền thu thanh. Sinh năm 1817 tại Paris, làm nghề thủ thư kiêm thợ in. Ông đã xuất bản một cuốn sách về lịch sử phương pháp tốc kí và rõ ràng nhìn nhận ghi âm như một sự mở rộng của phép tốc kí. Trong quyển kí sự tự xuất bản năm 1878, ông lên án Edison vì chiếm đoạt phương pháp của ông và sử dụng sai mục đích công nghệ thu thanh. Theo Scott, mục đích không phải là sự sao chép âm thanh mà là “ghi lại lời nói, đúng theo nghĩa của từ máy ghi âm”.  Trong thực tế, Edison đã nghiên cứu hoàn toàn độc lập. Không có bằng chứng nào chứng minh Edison dùng nghiên cứu của Scott để phát minh ra máy hát, và sản phẩm của ông có sự khác biệt với sản phẩm mô phỏng đầu tiên.  “Vai trò của Edison không hề bị suy giảm từ phát hiện này”-Giovannoni phát biểu.  Paul Israel, biên tập viên của tờ Thomas Edison tại đại học Rutgers, Piscataway, New Jersey, đánh giá phát hiện này là “thành tựu to lớn” nhưng cũng gọi máy hát của Edison phát minh công nghệ quan trọng.  “Điều làm Edison khác biệt so với Scott là ông cố gắng mô phỏng âm thanh và ông đã thành công.”  Nhưng lịch sử cuối cùng cũng bắt kịp Scott.  Giáo sư Sterne McGill nói: “Chúng ta đang trong thời kì gần với những năm 1860 hơn những năm 1880. Máy tính đã giúp chúng ta có một hình dung hoàn toàn mới về âm thanh, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử.”  PHẠM HUYỀN TRANG tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang EFSA sẽ công khai dữ liệu GMO      Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) hôm  14/1 đã công khai hầu hết mọi tài liệu và dữ liệu nộp bởi Monsanto liên  quan tới việc tập đoàn này cho phép lưu hành ngô biến đổi gien NK603  vào năm 2003.     Các dữ liệu được công bố bên cạnh tuyên bố của EFSA rằng cơ quan này dự định thực hiện một chương trình toàn diện nhằm công khai tới giới khoa học và các bên quan tâm về dữ liệu đánh giá rủi ro về loại ngô này.  Động thái này của EFSA phù hợp với đề nghị của cơ quan kiểm toán Ernst & Young hồi tháng 9 năm ngoái, trong đó đề nghị EFSA tăng tính minh bạch về các quyết định của mình đối với các đơn từ.  James Ramsay, người phát ngôn của EFSA, có trụ sở tại Parma (Ý), tuyên bố rằng kế hoạch công bố thêm dữ liệu trong tương lai hiện vẫn đang trong “giai đoạn rất sơ khai”, và một kế hoạch cuối cùng sẽ được công bố sau khi có sự trao đổi kỹ hơn từ các nhà quản trị của cơ quan. Công bố của EFSA cũng tương tự như công bố của Cơ quan Dược phẩm Châu Âu, rằng trong năm nay sẽ công bố mọi dữ liệu thí nghiệm y học lâm sàng mà cơ quan này nhận được từ các công ty khi họ đăng ký sản phẩm.   EFSA cho biết họ quyết định công bố dữ liệu NK603 công khai vì mức độ quan tâm của công chúng sau khi một công bố của các nhà nghiên cứu Pháp hồi tháng 9 khẳng định rằng chuột được nuôi bằng loại ngô này hoặc thuốc diệt cỏ glyphosate bị những tác động tiêu cực tới sức khỏe, trong đó có hiện tượng gia tăng xuất hiện khối u. 500 MB mà công chúng có thể download về chứa mọi dữ liệu trừ một số ít thông tin thương mại được bảo mật, theo tuyên bố từ Ramsay. Nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp cuối cùng đã bị phê phán bởi giới khoa học và các nhà quản lý, và bị coi là sai về phương pháp.   “Ngoài việc cơ quan chúng tôi đã công khai những dữ liệu này theo một số yêu cầu, tới nay mọi công chúng và thành viên trong cộng đồng khoa học đều có thể kiểm tra và khai thác toàn bộ dữ liệu được dùng trong đánh giá rủi ro”, EFSA tuyên bố trong một thông cáo.  Gilles-Eric Séralini, một nhà sinh học phân tử đại Đại học Caen của Pháp, chủ nhiệm của nghiên cứu gây tranh cãi trên đây, đã từ chối công bố dữ liệu gốc cho tới khi EFSA công khai dữ liệu về NK603. Séralini nói rằng ông hoan nghênh động thái của EFSA nhưng vẫn mong muốn cơ quan này công bố cả dữ liệu về nghiên cứu an toàn thuốc diệt cỏ glyphosate.   Theo   http://blogs.nature.com/news/2013/01/european-food-authority-to-open-up-gmo-data.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Einstein đã đúng      Theo thuyết tương đối hẹp của Einstein, một cái đồng hồ đang bay chạy chậm hơn cái đồng hồ đứng yên.      Các nhà khoa học đã sử dụng một máy gia tốc hạt để chứng minh rằng điều đó đúng. Họ phát đi 2 chùm nguyên tử chạy theo hình một cái bánh rán, sau đó đo thời gian của các chùm nguyên tử này bằng máy đo phổ laser có độ chính xác cao. Khi so sánh với thế giới thực bên ngoài, các nhà khoa học nhận thấy thời gian di chuyển của các nguyên tử quả thực chậm hơn bình thường. “Chúng tôi đã có thể xác nhận hiệu ứng này chính xác chưa từng có”, Gerald Gwinner, Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada, nói.   Thuận An (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Einstein: Thiên tài đứng trên vai người khổng lồ      Michel Janssen và Jürgen Renn kể câu chuyện về những nhà khoa học trẻ và ít tên tuổi hơn đứng đằng sau thuyết tương đối tổng quát của Einstein.       Một thế kỉ trước, vào tháng 11/1915, Albert Einstein công bố thuyết tương đối tổng quát của mình trong bốn bài báo ngắn nằm trong biên bản họp lưu lại của Viện Hàn lâm Khoa học Phổ ở Berlin. Lý thuyết mang tính cột mốc này thường được coi là sản phẩm của một thiên tài đơn độc. Nhưng trên thực tế, Einstein đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ bạn bè và đồng nghiệp, hầu hết trong số họ không bao giờ trở nên nổi tiếng và đều đã bị quên lãng.   Câu chuyện ở đây là về hiểu biết của những con người đã cùng dệt nên phiên bản cuối cùng của thuyết tương đối tổng quát như thế nào. Hai người bạn của Einstein từ thời sinh viên – Marcel Grossmann và Michele Besso – có vai trò đặc biệt quan trọng. Grossmann là một nhà toán học đầy năng khiếu và một sinh viên có tính tổ chức cao, người đã giúp Einstein có tầm nhìn và mơ mộng hơn tại những thời điểm then chốt. Besso là một kỹ sư với tính cách sáng tạo và có phần hơi thiếu tổ chức, là người bạn tận tụy suốt đời với Einstein. Và còn nhiều người khác cũng góp phần.   Einstein gặp Grossmann và Besso tại Trường Bách khoa Liên bang Thụy Sĩ, Zurich – sau này đổi tên thành Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ – nơi từ năm 1896 đến 1900 ông học để trở thành giáo viên vật lý và toán học. Einstein cũng gặp vợ tương lai của mình, chính là bạn cùng lớp Mileva Marić, tại trường này. Có những lời đồn thổi rằng Einstein thường trốn học và phải dựa vào các ghi chép của Grossmann để vượt qua các kì thi.   Cha của Grossmann giúp Einstein có được một vị trí tại văn phòng đăng ký bằng sáng chế ở Berne vào năm 1902, nơi hai năm sau Besso cũng làm việc. Những thảo luận giữa Besso và Einstein trong thời gian đó có ý nghĩa đến nỗi Besso là người duy nhất được Einstein đề lời cảm ơn trong bài báo giới thiệu thuyết tương đối đặc biệt, công trình nổi tiếng nhất của Einstein trong năm 1905. Năm này được coi là năm hoàng kim của Einstein, bởi ngoài việc công bố các công trình quan trọng, ông còn hoàn thành luận án tiến sĩ vật lý tại Đại học Zurich.  Năm 1907, khi vẫn đang làm việc tại văn phòng cấp bằng sáng chế, Einstein bắt đầu suy nghĩ về việc mở rộng nguyên tắc của thuyết tương đối từ chuyển động đều sang chuyển động tùy ý thông qua một lý thuyết mới về hấp dẫn. Tiên đoán được kết quả, Einstein đã viết cho Conrad Habicht – người bạn ông quen biết từ nhóm đọc Olympia Academy ở Berne – để nói rằng ông hi vọng lý thuyết mới của mình sẽ giải thích được sai số khoảng 43” (phút góc) trong mỗi thế kỷ giữa những dự đoán theo thuyết Newton và những gì quan sát được về chuyển động của điểm cận nhật của sao Thủy (điểm trên quỹ đạo của nó gần nhất với Mặt trời).   Einstein chỉ bắt tay vào nghiên cứu nghiêm túc lý thuyết mới này sau khi ông đã rời văn phòng cấp bằng sáng chế vào năm 1909 để bắt đầu công việc giảng dạy, đầu tiên tại Đại học Zurich và hai năm sau tại Đại học Charles ở Prague. Ông nhận ra rằng hấp dẫn phải được đưa vào trong cấu trúc của không-thời gian, như vậy một hạt không chịu tác động của bất cứ lực nào khác sẽ đi theo một quỹ đạo gần nhất khả dĩ trong một không-thời gian cong.  Năm 1912, Einstein trở về Zurich và gặp lại Grossmann tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ. Hai người đã cộng tác để cho ra đời một lý thuyết hoàn thiện. Phần toán học liên quan trong công trình này là thuyết các bề mặt cong của Gauss mà có lẽ Einstein đã học được từ những ghi chép của Grossman. Ta biết được từ những mẩu đối thoại hồi tưởng rằng Einstein đã nói với Grossman: “Cậu phải giúp tôi, không thì tôi sẽ phát điên lên mất.”   Sự hợp tác của họ được ghi lại trong “Cuốn sổ Zurich” của Einstein và đã cho ra kết quả là một bài báo đồng tác giả được công bố vào tháng 6/1913 (Entwurf paper – Phác thảo). Tiến bộ chính giữa lý thuyết Entwurf năm 1913 này với thuyết tương đối tổng quát công bố tháng 11/1915 là các phương trình trường, phương trình xác định vật chất đã làm cong không-thời gian như thế nào. Những phương trình cuối cùng là “hiệp biến tổng quát”: điều đó có nghĩa là những phương trình này không thay đổi mặc dù ta sử dụng hệ quy chiếu nào để mô tả chúng. Ngược lại, những phương trình trường trong bản Phác thảo có tính hiệp biến rất bị hạn chế.  Hai lý thuyết  Vào tháng 5/1913, khi đang cùng Grossmann thực hiện những chỉnh sửa cuối cùng cho báo cáo Phác thảo, Einstein được mời giảng tại buổi họp thường niên của Hội các nhà Khoa học Tự nhiên và Vật lý Đức vào tháng chín tại Vienna. Lời mời này phản ánh sự nể trọng mà nhà khoa học 34 tuổi nhận được từ các đồng nghiệp của mình.  Vào tháng 7/1913, Max Planck và Walther Nernst, hai nhà vật lý hàng đầu từ Berlin, đã đến Zurich để mời Einstein đảm nhiệm một vị trí được trả lương cao và không phải giảng dạy tại Viện Hàn lâm Khoa học Phổ ở Berlin; Einstein nhanh chóng nhận lời và bắt đầu vị trí mới vào tháng 3/1914. Đối với Planck và Nernst, hấp dẫn không phải là một vấn đề thôi thúc mà họ chủ yếu quan tâm đến những gì Einstein có thể làm được cho lĩnh vực vật lý lượng tử.   Một số lý thuyết mới đã được đặt ra, trong đó hấp dẫn, giống như điện từ, được trình bày bởi một trường trong không-thời gian phẳng của thuyết tương đối hẹp. Trong đó, lý thuyết của nhà vật lý trẻ người Phần Lan Gunnar Nordström đặc biệt hứa hẹn. Trong bài giảng ở Vienna, Einstein đã so sánh lý thuyết phác thảo của mình với lý thuyết của Nordström. Ông nghiên cứu cả hai lý thuyết từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8/1913, cùng lúc ông nộp văn bản bài giảng của mình để công bố trong biên bản họp năm 1913 tại Vienna.   Mùa hè năm 1913, Nordström đến thăm Einstein ở Zurich. Einstein đã thuyết phục Nordström rằng nguồn trường hấp dẫn trong cả hai lý thuyết của họ đều cần được xây dựng từ ‘tenxơ năng-xung lượng, trong các lý thuyết có trước thuyết tương đối, mật độ và dòng chảy của năng lượng và động lực được thể hiện bởi các đại lượng riêng biệt; trong thuyết tương đối, chúng được kết hợp vào thành một đại lượng với 10 yếu tố khác nhau.  Khái niệm ‘tenxơ năng-xung lượng’ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1907-1908 trong sự tái lập theo thuyết tương đối hẹp thuyết điện động lực học của James Clerk Maxwell và Hendrik Antoon Lorentz bởi Hermann Minkowski. Việc một tenxơ năng- xung lượng có thể được xác định cho các hệ thống vật lý khác ngoài trường điện từ nhanh chóng trở nên rõ ràng. Tenxơ đóng vai trò trung tâm trong lĩnh vực cơ học tương đối mới được trình bày trong cuốn sách giáo khoa đầu tiên về thuyết tương đối hẹp – Das Relativitätsprinzip – viết bởi Max Laue năm 1911. Năm 1912, nhà vật lý trẻ người Vienna, Friedrich Kottler, đã khái quát diễn giải của Laue từ mặt phẳng sang không-thời gian. Einstein và Grossman dựa vào khái quát này khi đưa ra công thức cho lý thuyết trong bản Phác thảo. Trong bài giảng ở Vienna của mình, Einstein đã mời Kottler đứng lên để công nhận công trình của nhà khoa học này.   Mùa hè năm đó, Einstein cũng cùng làm việc với Besso để tìm hiểu xem liệu lý thuyết trong bản Phác thảo có thể giải thích cho sai lệch 43” mỗi thế kỷ trong điểm cận nhật của sao Thủy. Tuy vậy, họ thấy rằng nó chỉ có thể giải thích được 18” sai lệch. Sau đó, Besso kiểm tra và thấy rằng lý thuyết của Nordström giải thích được 7” sai lệch nhưng lại theo hướng sai. Những tính toán này được lưu lại trong “Bản thảo Einstein- Besso” năm 1913.  Besso đã có đóng góp quan trọng trong những tính toán và đặt ra nhiều câu hỏi thú vị. Ví dụ, ông đặt ra câu hỏi liệu phương trình trường trong bản Phác thảo có hay không một nghiệm rõ ràng có thể duy nhất xác định trường hấp dẫn của Mặt trời. Những phân tích lịch sử các bản thảo còn tồn tại cho thấy câu hỏi này đã cho Einstein ý tưởng về một lập luận giúp ông hòa giải với vấn đề hiệp biến hạn chế (restricted covariance) của phương trình trong bản Phác thảo. ‘Lập luận khiếm khuyết’ này dường như sẽ chỉ ra rằng phương trình trường hiệp biến rộng (generally covariant field equations) không thể duy nhất xác định trường trọng lực và do vậy không thể thừa nhận được.   Einstein và Besso cũng kiểm tra xem phương trình trong bản Phác thảo có đúng trong một hệ tọa độ quay hay không. Trong trường hợp đó, các lực quán tính quay, chẳng hạn như lực ly tâm mà ta cảm nhận khi ngồi trên vòng quay ngựa gỗ, có thể được giải thích là lực hấp dẫn. Vào tháng 8/1913, Besso đã cảnh báo rằng phương trình trong bản Phác thảo không đúng trong hệ tọa độ quay, nhưng Einstein không nghe và đã phải trả giá sau này.  Trong bài giảng tại Vienna vào tháng 9/1913, Einstein kết luận so sánh của mình giữa hai lý thuyết và kêu gọi một cuộc thí nghiệm để quyết định. Lý thuyết trong bản Phác thảo tiên đoán rằng hấp dẫn có thể bẻ cong ánh sáng, trong khi thuyết của Nordström thì không. Erwin Finlay Freundlich, một nhà thiên văn học trẻ ở Berlin, đã liên lạc với Einstein từ thời ở Prague, đã đến Crimea để quan sát nhật thực vào tháng 8/1914 nhằm xác định liệu hấp dẫn có bẻ cong ánh sáng không, nhưng ông bị Nga bắt giữ khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra. Vậy là phải năm năm sau, khi nhà thiên văn học người Anh Arthur Eddington xác minh dự đoán của Einstein khi quan sát sự chệch hướng của các ngôi sao gần rìa Mặt trời trong một lần nhật thực khác, người ta mới có câu trả lời. Tên tuổi Einstein trở nên nổi tiếng khắp mọi nơi.  Quay trở lại Zurich từ Vienna, Einstein lại cùng với nhà vật lý trẻ Adriaan Fokker, một học trò của Lorentz, tái lập lý thuyết của Nordström dựa vào những loại thuật toán giống như ông và Grossmann đã sử dụng để lập công thức cho lý thuyết trong bản Phác thảo Einstein và Fokker chỉ ra rằng trong cả hai thuyết, trường hấp dẫn trọng lực có thể được đưa vào cấu trúc của không-thời gian cong. Công trình này cũng cho Einstein một bức tranh rõ ràng hơn về lý thuyết trong bản Phác thảo, giúp ông và Grossmann trong bài báo viết chung thứ hai về lý thuyết này. Khi bài báo được công bố vào tháng 5/1914, Einstein đã rời Zurich để đến Berlin.   Bước đột phá  Sau khi Einstein chuyển đến Berlin, khủng hoảng bắt đầu xảy đến. Cuộc hôn nhân của Einstein đổ vỡ và Mileva trở lại Zurich cùng hai con trai nhỏ. Einstein quay lại cuộc tình mà ông đã bắt đầu và kết thúc hai năm trước đó với người em họ Elsa Löwenthal. Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra. Giới tinh hoa khoa học Berlin không tỏ ra mặn mà gì với thuyết trong bản Phác thảo nữa, tuy rằng những đồng nghiệp có tiếng ở các nơi khác như Lorentz và Paul Ehrenfest ở Hà Lan vẫn còn quan tâm. Bất chấp những khủng khoảng này, Einstein vẫn tiếp tục nghiên cứu.  Đến cuối năm 1914, Einstein đã đủ tự tin để viết một trình bày dài về lý thuyết này. Nhưng vào mùa hè năm 1915, sau khi một loạt các bài giảng của ông ở Göttingen khơi gợi sự quan tâm của nhà toán học vĩ đại David Hilbert, Einstein bắt đầu có những nghi ngờ thực sự. Ông phát hiện ra rằng thuyết trong bản Phác thảo không làm cho chuyển động quay mang tính tương đối. Như vậy Besso đã đúng. Einstein sau đó phải tìm sự giúp đỡ từ Freundlich nhưng nhà thiên văn học trẻ này cũng không thể giúp ông.   Ít lâu sau, Einstein nhận ra rằng vấn đề nằm ở phương trình trường trong bản Phác thảo. Lo ngại rằng Hilbert có thể đi trước mình một bước, Einstein vội vã đưa các phương trình mới đi in vào đầu tháng 11/1915, sửa đổi chúng vào tuần tiếp theo và một lần nữa vào hai tuần sau đó trong các bài báo nộp cho Viện Hàn lâm Phổ. Các phương trình trường cuối cùng là hiệp biến rộng.  Trong bài báo đầu tiên công bố trong tháng 11, Einstein đã viết rằng lý thuyết này là “thắng lợi thực sự” của hai nhà toán học Carl Friedrich Gauss và Bernhard Riemann. Trong bài, ông nhớ lại rằng ông và Grossmann đã xem xét chính những phương trình này trước đó, và giá như họ để cho toán học thuần túy dẫn dắt thay vì vật lý thì họ đã không bao giờ chấp nhận những phương trình hiệp biến giới hạn (equations of limited covariance) ngay từ đầu như vậy.  Những đoạn khác trong bài báo này và một số bài khác cũng như thư từ của Einstein trong khoảng năm 1913-1915 lại nói theo ý khác. Trong đó Einstein cảm ơn sự giúp đỡ của Grossmann, Besso, Nordström và Fokker trong việc xây dựng lý thuyết trong bản Phác thảo. Nhờ vào cách giải thích vật lý những phương trình trước đây đã đánh bại mình mà ông nhìn ra được cách giải quyết vấn đề.  Khi trình bày về phương trình trường hiệp biến rộng trong bài báo thứ hai và thứ tư, Einstein không đả động gì đến ‘lập luận khiếm khuyết’. Chỉ khi Besso và Ehrenfest ép ông một vài tuần sau khi công bố bài báo cuối cùng (vào ngày 25/11), Einstein mới tìm được lối ra khi nhận ra rằng chỉ những sự kiện trùng hợp chứ không phải các tọa độ mới có ý nghĩa vật lý. Besso đã gợi ý tương tự từ hai năm trước nhưng đã bị Einstein bác bỏ thẳng thừng.  Trong bài báo thứ ba công bố tháng 11, Einstein trở lại với chuyển động cận nhật của sao Thủy. Khi đưa những dữ liệu thiên văn được Freundlich cung cấp vào công thức ông đã xây dựng từ lý thuyết mới của mình, Einstein đã thu được kết quả 43” một thế kỷ, từ đó giải thích được đầy đủ sai lệch giữa lý thuyết Newton và quan sát thực tế. Vào ngày 19/11, Hilbert đã viết thư chúc mừng Einstein vì đã thực hiện được những tính toán quá nhanh. Einstein đã giữ im lặng về việc vì sao ông có thể giải quyết các tính toán nhanh đến vậy: những tính toán này chỉ là những thay đổi nhỏ từ những gì ông đã làm với Besso từ năm 1913.   Einstein đã nhấn mạnh rằng thuyết tương đối tổng quát của ông được xây dựng dựa vào công trình của Gauss và Riemann, những người khổng lồ trong giới toán học. Nhưng nó cũng dựa vào cả kết quả của những tượng đài trong ngành vật lý như Maxwell và Lorentz, và dựa vào công sức của những nhà nghiên cứu có tầm vóc thấp hơn như Grossman, Besso, Freundlich, Kottler, Nordström và Fokker. Như với rất nhiều những đột phá lớn trong lịch sử khoa học khác, Einstein đã đứng trên vai của nhiều người khổng lồ.   Khánh Minh dịch  Cao Chi hiệu đính  Nguồn:  http://www.nature.com/news/history-einstein-was-no-lone-genius-1.18793      Author                Quản trị        
__label__tiasang Einstein và Bergson – Cuộc tranh luận làm thay đổi nhận thức về thời gian      LTS: Bản dịch dưới đây được trích từ ba chương đầu của quyển sách “Nhà vật lý và triết gia: Einstein, Bergson và cuộc tranh luận đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về thời gian” (2015) của Jimena Canales, giáo sư Lịch sử Khoa học tại Đại học Ilinois Ubarna Champaign. Việc Tia Sáng sử dụng nội dung quyển sách đã được sự cho phép của NXB Princeton University Press và tác giả.      Lý do Einstein được trao giải Nobel vì “những khám phá của ông về hiệu ứng quang điện” thay vì thuyết tương đối chính là vì sự phản ứng của Bergson. Ảnh: Einstein nhận giải Nobel năm 1921. Nguồn: Albert Einstein Archives / Princeton University Press.  Ngày mùng 6 tháng 4 năm 1922, Einstein đã gặp một người mà ông sẽ không bao giờ quên. Đó là một trong những triết gia nổi tiếng bậc nhất của thế kỷ, được biết đến rộng rãi vì đã ủng hộ một lý thuyết về thời gian có thể giải thích được những chuyện mà đồng hồ không thể: ký ức, linh cảm, kỳ vọng và dự đoán. Cuộc gặp gỡ đã được sắp xếp dưới hình thức một sự kiện học thuật thân mật. Nhưng mọi chuyện không diễn ra như mong đợi. Nhà vật lý và triết gia đã xung đột, mỗi người bảo vệ một ý kiến trái chiều, thậm chí là xung khắc nhau, trong cách nhận thức về thời gian. Tại Hội triết học Pháp – một trong những tổ chức đáng kính nhất ở Pháp – họ đã đối đầu với nhau trước sự chứng kiến của một nhóm trí thức chọn lọc. “Cuộc đối thoại giữa triết gia vĩ đại nhất và nhà vật lý lỗi lạc nhất của thế kỷ 20” đã được chép lại một cách đầy đủ. Nó hoàn toàn thích hợp cho kịch bản một vở kịch. Cuộc gặp gỡ và những câu từ mà họ phát biểu sẽ còn được nhắc đến trong suốt phần còn lại của thế kỷ.  Triết gia ấy tên là Henri Bergson. Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20, tên tuổi, uy tín và sự ảnh hưởng của ông hoàn toàn vượt trội nhà vật lý, người mà trái lại, ngày nay lại quá nổi tiếng [so với nhà triết học]. Bergson được so sánh với Socrates, Copernicus, Kant, Simon Bolívar, và thậm chí là cả với Don Juan. Nhà triết học John Dewey, được biết đến như người đại diện chính cho chủ nghĩa thực dụng Mỹ, đã khẳng định đầy mạnh mẽ rằng “không có vấn đề triết học nào thể hiện được cùng bộ mặt và khía cạnh như nó đã thể hiện trước Giáo sư Bergson.” William James, giáo sư tại Đại học Harvard và là một nhà tâm lý học nổi tiếng, đã mô tả cuốn Creative Evolution (1907) (Sự tiến hóa sáng tạo) của Bergson là “một phép màu thực sự”, đánh dấu “sự khởi đầu cho một kỷ nguyên mới”.  Với James, Matter and Memory (1896) (Vật chất và Ký ức) [một quyển sách khác của Bergson] đã tạo ra “một dạng lý thuyết mang tính cách mạng kiểu Copernic, tương đương với ‘Principles’ (Các nguyên lý) của Berkeley hay ‘Critique’ (Phê phán) của Kant.” Nhà triết học Jean Wahl có lần đã nói rằng “nếu  được yêu  cầu  nêu  tên bốn  triết gia vĩ đại nhất, thì bạn có thể trả lời rằng: Socrates, Plato – gộp hai người họ làm một – Descartes, Kant và Bergson.”  Danh tiếng của Bergson đã bị nguy hại sau khi ông đối đầu với chàng trai trẻ. Nhưng Einstein cũng vậy. Những chỉ trích hướng về phía nhà vật lý ngay lập tức gây bất lợi cho ông. Vài tháng sau, giải thưởng Nobel được trao cho Einstein không phải nhờ lý thuyết tương đối – lý thuyết đã mang lại danh tiếng cho ông. Thay vào đó, nó được trao cho ông “bởi khám phá của Einstein về hiệu ứng quang điện” – một lĩnh vực khoa học không mang lại sự ngạc nhiên cho trí tưởng tượng của công chúng ở mức mà lý thuyết tương đối đã làm được. Nguyên nhân đằng sau quyết định tập trung vào các công trình khác thuyết tương đối trực tiếp bắt nguồn từ nhận xét của Bergson ở Paris ngày hôm đó.  Chủ tịch Hội đồng xét giải Nobel giải thích rằng mặc dù “hầu hết các thảo luận tập trung vào lý thuyết tương đối của ông ấy,” nhưng nó không xứng đáng với giải thưởng. Tại sao không? Có nhiều lý do phức tạp khác nhau, nhưng nguyên nhân chính được đưa ra buổi tối hôm đó là rất rõ ràng: “Không có gì bí mật là nhà triết học Bergson đã thách thức lý thuyết này ở Paris.” Bergson đã chỉ ra rằng lý thuyết tương đối “đi đôi với tri thức luận” hơn là với vật lý – và do vậy nó “vốn dĩ là chủ đề của các cuộc tranh luận đang diễn ra giữa các nhóm triết học.”  Lời giải thích hôm đó của vị chủ tịch hội đồng chắc hẳn đã nhắc nhở Einstein về những sự kiện mùa xuân năm trước ở Paris. Rõ ràng ông đã khơi lên một cuộc tranh cãi và đây chính là hậu quả. Ông đã không thể thuyết phục nhiều nhà tư tưởng về giá trị định nghĩa của mình về thời gian, đặc biệt là khi lý thuyết của ông bị so sánh với lý thuyết của triết gia nổi tiếng. Trong bài diễn văn nhận giải của mình, Einstein vẫn rất bướng bỉnh. Ông đọc một bài giảng có nội dung không phải về hiệu ứng quang điện, lý thuyết đã chính thức mang lại cho ông giải thưởng, mà về lý thuyết tương đối – công trình đã đưa ông lên vị thế một ngôi sao nổi tiếng khắp thế giới nhưng khi ấy vẫn đang bị đặt nghi vấn.  Việc nhắc đến tên tuổi của Bergson của người trao giải thưởng Nobel là một chiến thắng ngoạn mục cho triết gia, người đã dành trọn một đời và có một sự nghiệp huy hoàng nhờ chỉ ra rằng không nên hiểu thời gian chỉ qua lăng kính khoa học. Ông nhấn mạnh một cách bền bỉ và kiên định rằng phải hiểu thời gian theo kiểu triết học. Nhưng chính xác thì ý ông ta là gì? Hóa ra, triết học của Bergson cũng gây tranh cãi như vật lý của Einstein vậy.  Vào cái ngày “thực sự lịch sử” khi hai người gặp nhau, Bergson đã vô tình bị cuốn vào một cuộc thảo luận mà ông rõ ràng đã có ý tránh. Cho tới thời điểm ấy, nhà triết học có uy tín hơn Einstein rất nhiều. Ông nói trong khoảng nửa giờ. Ông đã bị một người đồng nghiệp xấc xược kích động, để rồi bị người tổ chức sự kiện ép phát biểu. “Chúng tôi còn Einstein hơn cả ngài, Ngài Einstein ạ,” ông nói. Những tiếng nói phản đối ông vang lên khắp phòng. “Tất cả chúng tôi cứ nghĩ rằng Bergson đã chết rồi,”-  nhà văn, họa sĩ Wyndham Lewis giải thích – “nhưng thuyết tương đối, kỳ lạ thay vừa mới nêu ra đã làm ông ấy sống lại.”  Nhà vật lý đáp lại sau không đầy một phút – trong phần trả lời ấy có một câu nói phê phán mà sau này vẫn thường xuyên được người ta trích dẫn: “Chẳng có thời* nào của các nhà triết học cả”1. Một câu trả lời thật khiêu khích.  Những gì Einstein nói sau đó ở buổi tối hôm ấy còn gây tranh cãi hơn nữa: “Chỉ có một loại thời gian khác với thời gian của các nhà vật lý đó là thời gian tâm lý.” Ngay tại thời điểm đó Einstein đã mở màn cho cuộc tranh luận qua việc khẳng định chỉ có hai cách hiểu đúng về thời gian: hiểu theo kiểu vật lý và hiểu theo kiểu tâm lý. Mặc dù gây tranh cãi trong những bối cảnh đặc biệt mà Einstein đề cập, hai cách chiêm nghiệm về thời gian này đã có một lịch sử rất dài. Với Einstein, chúng thậm chí còn có thể có lịch sử dài hơn – trở thành hai lăng kính chính phản chiếu hầu hết những nghiên cứu về bản chất của thời gian trong suốt thế kỷ hai mươi. Viễn cảnh đơn giản, nhị nguyên về thời gian do Einstein chủ trương đã làm Bergson phẫn nộ. Nhà triết học phản ứng lại bằng cách viết hẳn một cuốn sách để đối đầu với Einstein. Lý thuyết của ông ta [Einstein] là “một mớ triết học siêu hình cấy ghép vào khoa học, nó không phải là khoa học,” Bergson viết.  Einstein đã phản công lại với tất cả năng lượng, sức mạnh và nguồn lực của mình. Trong những năm sau đó, hầu hết mọi người đã nhận ra rằng Bergson đã thua trong cuộc tranh luận với nhà vật lý trẻ. Những cách nhìn của nhà khoa học về thời gian chiếm ưu thế trong hầu hết những cuộc thảo luận của các học giả về đề tài này, không chỉ kiềm chế quan điểm của Bergson mà cả những cách tiếp cận nghệ thuật và văn chương khác, bằng cách loại chúng xuống mức quan trọng thứ yếu và phụ trợ. Với nhiều người, thất bại của Bergson đại diện cho một chiến thắng của “tính duy lý” trước “trực giác”. Nó đánh dấu một thời điểm khi các trí thức không còn theo kịp các cuộc cách mạng trong khoa học bởi chúng ngày càng phức tạp. Vì lý do này, có lẽ họ nên đứng ngoài cuộc. Khoa học và các hệ quả của nó chỉ nên để dành cho các nhà khoa học, những người tạm coi là biết đôi chút về chúng. Do vậy bắt đầu “sự thoái trào sau một thời kỳ thành công chưa từng có của triết học Bergson về thời gian tuyệt đối – mà không nghi ngờ gì chính là vì sự ảnh hưởng của thuyết tương đối”.  Quan trọng nhất là, sau đó bắt đầu thời kỳ tầm ảnh hưởng của triết học suy tàn dưới sự đe dọa bởi ảnh hưởng đang lên của khoa học.  Hai người đàn ông này chi phối hầu hết những thảo luận về thời gian trong suốt nửa đầu của thế kỷ hai mươi. Nhờ Einstein, chủ đề thời gian cuối cùng đã “bị phế truất khỏi vị trí cao ngất của nó”, rơi từ đỉnh cao của triết học xuống địa hạt thực tế của vật lý. Ông đã chỉ ra rằng “niềm tin của chúng ta về ý nghĩa khách quan của tính đồng thời” cũng như của thời gian tuyệt đối phải bị “loại bỏ” vĩnh viễn sau khi ông đã “xua tan giáo điều này khỏi tâm trí chúng ta”. Nhà vật lý đã chỉ ra rằng, “tự thân không gian, và tự thân thời gian” là hai khái niệm “bị buộc phải tan khuất hoàn toàn vào bóng tối.”  Bergson, ngược lại, lại khẳng định rằng Thời gian có nhiều ý nghĩa hơn những gì mà các nhà khoa học đã từng đánh cược – và ý của ông là tất cả các nhà khoa học, từ những nhà tiến hóa kiểu Darwin tới các nhà thiên văn hay vật lý. Để giải thích những khía cạnh quan trọng nhất của Thời gian mà các nhà khoa học thường không mấy khi đếm xỉa tới, Bergson thường viết hoa thuật ngữ thời gian. Ông gắn nó với élan vital, một khái niệm được dịch rộng rãi thành “vital impulse” (đà sống). Đà sống này, ông lập luận, xen lẫn nhau xuyên suốt vũ trụ mang tới cho sự sống một lực đẩy và không ngừng dâng lên, nảy sinh ra những sáng tạo hoàn toàn bất ngờ, và khoa học không thể nào hiểu thấu hết được. Mặc dù khoa học không thể hoàn toàn giải quyết nó nhưng nó chính là xương sống của các công trình nghệ thuật và sáng tạo. Ảnh hưởng của Bergson lên văn chương được thấy ở Gertrude Stein, T. S. Elliot, Virginia Woolf, William Faulkner, và nhiều nhà văn khác, những người đã đưa vào những đứt gẫy, xoắn vặn, xoay vòng trong giọng trần thuật nơi tương lai xuất hiện trước quá khứ và quá khứ xuất hiện trước tương lai.  “Vậy, thời gian là gì”, thánh Augustine đã tự hỏi trong Confessions (Tự thú) của ông, chỉ ra một nghịch lý trong nhận thức của chúng ta về thời gian. Chưa có thứ gì lại trực quan hơn nhưng cũng phức tạp hơn như chính thời gian cả: “Nếu không ai hỏi tôi, thì tôi biết; nhưng nếu tôi muốn giải thích cho người đặt câu hỏi, tôi lại chẳng biết gì cả.” Những câu chữ này, viết ở Bắc Phi đâu đó khoảng những năm 397-398, có vẻ như mang tính tiên tri cực kỳ chính xác ở Châu Âu 1500 năm sau. Satosi Watanabe, một trong những người tiếp bước Bergson trung thành nhất, đã khẳng định một cách đơn giản: “Quan điểm này [của Augustine], sau mười lăm thế kỷ trong tiến trình của khoa học của nhân loại, vẫn thể hiện quan điểm hiện nay của các nhà triết học.” Có lẽ không có gì phóng đại khi mô tả thời hiện đại là sự bất lực trong việc xử lý thời gian cũng như với tiền bạc; nó là một chuỗi những nỗ lực bất thành để làm chủ cả hai.  Trong cuốn sách quan trọng đầu tiên của mình, được xuất bản trước khi ông bước vào tuổi ba mươi, Bergson đã phát triển một lý thuyết triết học về thời gian trong đó ông giải quyết các vấn đề về thời gian một cách cụ thể, khác biệt hoàn toàn với những gì người ta nhìn nhận về nó trước đó. “Cái thời gian mà các nhà thiên văn học sử dụng trong công thức của họ,” ông giải thích, “cái thời gian mà đồng hồ chia thành các khoảng bằng nhau, có thể nói rằng nó là một thứ gì đó khác.”  Bergson thấy rằng định nghĩa về thời gian của Einstein qua đồng hồ hoàn toàn sai lạc. Nhà triết học không thể hiểu nổi tại sao ai đó lại chọn để mô tả thời gian của một sự kiện đáng chú ý, như là thời điểm đoàn tàu đến, theo kiểu sự kiện ấy trùng khớp với giờ chỉ trên một cái đồng hồ.  Ông không hiểu được tại sao Einstein lại cố gắng thiết lập cách thức cụ thể này như một cách thức đặc quyền để xác định tính đồng thời. Bergson tìm kiếm một định nghĩa căn bản hơn cho tính đồng thời, một định nghĩa không chỉ kết thúc ở cái đồng hồ mà còn lý giải vì sao cái đồng hồ được người ta dùng đến ngay từ đầu. Nếu khái niệm căn bản hơn rất nhiều về tính đồng thời này là không tồn tại thì “đồng hồ chẳng phục vụ cho bất kỳ mục đích nào cả.” ông lập luận. Phải, người ta mua đồng hồ “để biết bây giờ là mấy giờ,” Bergson thừa nhận.  Nhưng “biết bây giờ là mấy giờ” đã tiền giả định rằng sự tương ứng giữa số giờ chỉ trên đồng hồ và một “sự kiện đang xảy ra” có ý nghĩa với người trong cuộc nên khiến họ lưu tâm tới nó. Một vài sự tương ứng nhất định nào đó giữa các sự kiện có ý nghĩa đáng kể với chúng ta –  trong khi phần lớn những sự tương ứng khác thì không – đã lý giải cảm nhận căn bản của chúng ta về tính đồng thời và việc tại sao đồng hồ được sử dụng rộng rãi.Tự thân đồng hồ không thể giải thích được cả tính đồng thời lẫn thời gian, ông lập luận.  Nếu không tồn tại một cảm nhận về tính đồng thời căn bản hơn những gì thể hiện qua việc khớp một sự kiện với một giờ chỉ trên đồng hồ, thì đồng hồ sẽ chẳng phục vụ cho một mục đích có ý nghĩa nào cả:  Chúng sẽ chỉ là các linh kiện máy móc để chúng ta tự mua vui bằng cách so sánh chúng với nhau; chúng sẽ không được sử dụng để phân loại các sự kiện; nói ngắn gọn, chúng sẽ tồn tại vì chính bản thân chúng  chứ  chẳng vì phục vụ chúng ta. Chúng sẽ mất lý do tồn tại vì nhà lý luận thuyết tương đối cũng như vì mọi người, vì anh ta chỉ dùng chúng để xác định thời điểm diễn ra một sự kiện.  Bergson lập luận rằng, toàn bộ ảnh hưởng của công trình của Einstein có được là nhờ vào việc nó đã vận hành như một “dấu hiệu” đưa ra một hình dung tự nhiên và trực quan về tính đồng thời. “Chẳng qua là vì” khái niệm của Einstein “giúp chúng ta nhận biết tính đồng thời có trong tự nhiên này, bởi vì đây là dấu hiệu của nó, và bởi vì nó có thể được biến đổi thành tính đồng thời mang tính trực quan của chúng ta” ông giải thích. Công trình của Einstein khiến ta cảm thấy đầy tính cách mạng và bất ngờ, bởi niềm tin về tnh đồng thời mang tính trực quan của chúng ta còn mạnh mẽ. Nếu không còn niềm tin trực quan này, công trình của Einstein chỉ đơn thuần là một thứ dấu hiệu đại diện cho đối tượng của nó.    Bergson đã chiêm nghiệm về đồng hồ trong nhiều năm. Ông đồng ý rằng đồng hồ giúp lưu ý về tính đồng nhất nhưng không nghĩ rằng hiểu biết về thời gian của chúng ta lại có thể dựa trên một mình nó. Quay lại năm 1889, ông cũng đã từng nghĩ về giả thiết này và nhanh chóng coi nhẹ nó: “Khi mắt chúng ta dõi theo bề mặt một chiếc đồng hồ, chuyển động của cây kim tương ứng với những dao động của quả lắc, tôi không đo khoảng thời gian, như mọi người có thể nghĩ; tôi chỉ đơn giản đếm những điểm đồng nhất, điều đó rất khác.” Có gì đó khác biệt, có gì đó kì lạ, có gì đó quan trọng và điều gì đó vượt ra ngoài bản thân chiếc đồng hồ cần phải được thêm vào trong hiểu biết của chúng ta về thời gian. Chỉ có điều đó mới giải thích được tại sao chúng ta lại gắn cho đồng hồ một sức mạnh như vậy: tại sao chúng ta mua nó, tại sao chúng ta sử dụng nó, và ban đầu, tại sao chúng ta lại sáng chế ra nó.  Nhà triết học đã mô tả sự thay đổi luôn diễn ra quanh chúng ta, nhưng – thật nghịch lý – hầu hết các nhà khoa học hạ thấp vai trò khía cạnh này của thế giới. Ngay cả trong thuyết tiến hóa (theo cách giải thích của Herbert Spencer) cũng giả định sự sản sinh các dạng tiến hóa mới qua sự tái tổng hợp của các vật liệu cũ. Làm như vậy, nó đã lờ đi sự hình thành những đột biến trong cuộc sống. Bằng việc chỉ tập trung nhìn vào thế giới thực như một thứ gì đó cố định vĩnh viễn, người ta có thể không nhận ra những khả năng mới: “Ta có thể nói rằng trong thời gian trực cảm, được coi như một tiến trình của tạo hóa, có sự hình thành không ngừng những khả năng chứ không chỉ hình thành những thực tại.” Điều gì xảy ra nếu những nhà tư tưởng khắp thế giới tán đồng với thay đổi cấp tiến mà Bergson mô tả? Bergson đã nhận thức rất rõ về các hệ quả ấy. Một ví dụ là các học giả sẽ phải giảm bớt những nỗ lực của họ trong việc hiểu thế giới chỉ qua những gì cấu tạo nên nó. Chủ nghĩa duy vật, một cách nhìn triết học gắn kết chặt chẽ với triết lý của René Descartes, có vẻ như đang gặp phải nguy hiểm. Einstein, nhà triết học lập luận, đã tiếp bước Descartes một cách mù quáng. Bergson đã kết thúc cuốn sách gây tranh cãi của mình với câu nói quả quyết: “Einstein là người tiếp nối Descartes.”  Bergson nghĩ rằng Einstein chưa từng hiểu ông. Một lần ông giãi bày với một người bạn rằng Einstein không thể hiểu ông bởi vì “cậu ta không quen với triết học và đặc biệt là triết học bằng tiếng Pháp nữa.”  Thậm chí có lẽ Einstein còn chưa “đọc cuốn sách của tôi”, [mà anh ta] chỉ dựa vào nguồn khác như “nhà vật lý Pháp này hay kia, những người không hề hiểu tôi, và không có đủ nền tảng triết học để hiểu tôi, thì vẫn chẳng thể tiếp thu được lời giải thích của tôi.”  Trong suốt cuộc tranh luận, Einstein đã khẳng định rõ ràng quan điểm của mình về mục đích của triết học và tại sao triết học lại không đóng vai trò gì trong việc lý giải về thời gian. Đối mặt với người phản đối mình, ông đã đặt cho triết học một vai trò hết sức hạn chế. Ông tiếp tục tự giải thích, đưa ra hai lối suy nghĩ thường thấy về thời gian, thời gian tâm lý và thời gian vật lý. Thời gian tâm lý là thời gian mà một người nhận thức, trong khi thời gian vật lý là thời gian mà một dụng cụ khoa học đo được, như đồng hồ chẳng hạn. Thời gian được đo bởi một dụng cụ thường khác biệt với thời gian mà một người nhận thức. Các nhân tố như sự tẻ nhạt, thiếu kiên nhẫn, hay những thay đổi nho nhỏ về mặt sinh lý học đã ảnh hưởng tới việc nhận thức thời gian tâm lý. Với sự phổ biến của các công cụ đo thời gian, sự khác biệt giữa thời gian theo cảm nhận và thời gian theo đo đạc ngày càng được chú ý. Ví dụ như khi đọc nhật ký của Franz Kafka, chúng ta biết rằng trong một tài liệu riêng tư ở thời kỳ ấy, một “đồng hồ nội tại” thì thường không đồng nhất với một “đồng hồ bên ngoài”.  Nhưng trong hầu hết các trường hợp, nhận thức vật lý và tâm lý về thời gian không cần phải khác nhau quá nhiều. Hầu hết mọi người đều có thể ước lượng thời gian theo một cách khá tương thích với cách thức của đồng hồ, xác định rất chuẩn thời gian ăn sáng, trưa và tối. Hầu hết mọi người có thể đánh giá tính đồng thời của hai sự kiện theo một cái cách tương tự như các dụng cụ đo đạc. Nhưng  khi phải làm việc với các sự kiện cực nhanh thì điều đó không đúng nữa. Trong những trường hợp này (ví dụ như trong vòng cuối của cuộc đua ngựa), sai sót trong nhận thức về tính đồng thời bằng tâm lý khi so sánh với tính đồng thời được xác định bởi một dụng cụ là rất rõ ràng; tính đồng thời qua nhận thức tâm lý khác biệt rất rõ với những gì được xác định với dụng cụ hỗ trợ. Trong một vũ trụ được đánh dấu bởi các sự kiện xảy ra gần với tốc độ của ánh sáng, sự khác biệt giữa chúng [nhận thức tâm lý và vật lý về thời gian] là vô cùng lớn.  Theo Einstein, triết học đã được sử dụng để giải thích mối liên quan giữa tâm lý và vật lý. “Tôi tin rằng, thời gian của các nhà triết học, cùng một lúc vừa là thời gian tâm lý vừa là thời gian vật lý,” ông giải thích ở Paris. Nhưng qua việc tập trung vào những hiện tượng ở tốc độ vô cùng lớn, lý thuyết tương đối đã chỉ ra nhận thức thời gian theo tâm lý thực sự không chính xác như thế nào. Einstein nhấn mạnh, nhận thức về thời gian theo tâm lý, không chỉ đơn giản là sai lầm mà nó cũng không liên hệ với điều gì cụ thể cả. “Chúng chẳng qua chỉ là những cấu trúc trong tinh thần và đối tượng của tư duy logic mà thôi”. Vì tốc độ khổng lồ của ánh sáng, nhân loại đã tổng quát hóa nhận thức của họ về tính đồng thời “một cách bản năng” và đã sai lầm áp dụng chúng lên toàn bộ phần còn lại của vũ trụ. Lý thuyết của Einstein đã sửa chữa sự tổng quát hóa sai lầm này. Thay vì tin vào phần chồng lấn giữa nhận thức thời gian theo tâm lý và vật lý (mà cả hai đều quan trọng, mặc dù một trong hai đã được chấp nhận là ít chính xác hơn cái còn lại), ông lập luận rằng chúng là hai khái niệm riêng biệt: một ước lượng về mặt tinh thần (nhận thức theo tâm lý), hoàn toàn bất bình đẳng khi so sánh với khái niệm “khách quan”: thời gian vật lý.  Bergson và Einstein đều đồng thuận rằng tồn tại một sự khác biệt về mặt bản chất giữa nhận thức thời gian theo kiểu tâm lý và theo kiểu vật lý, nhưng từ đó họ đã đưa ra những suy luận khác nhau. Với Einstein, nó đưa ông đến kết luận rằng, “thời gian của các nhà triết học không tồn tại, chỉ có một thời gian theo kiểu tâm lý là khác biệt với thời gian của các nhà vật lý.” Trái lại, với Bergson, bài học này – rằng sự ước định về mặt tâm lý và vật lý của thời gian được hình thành khác nhau – đã khiến nhiệm vụ của nhà triết học trở nên thú vị hơn, đặc biệt bởi không có ai, kể cả các nhà vật lý có thể lờ đi việc liên kết thời gian với những vấn đề của loài người.  Nguyễn Duy Khánh dịch  ——-  1 Nguyên văn: Il n’y a donc pas  un temps des philosophes. Có thể sẽ có người hiểu câu văn này theo nghĩa “không có thời gian kiểu triết học”. Nhưng cả tôi và tác giả đều chọn hiểu theo nghĩa đã dịch.  * Sửa lại so với bản in là “Chẳng có thời gian nào của các nhà triết học cả”     Author                Jimena Canales        
__label__tiasang Einstein và bổ đề cơ bản của Langlands…      Những người làm việc lặng lẽ trong các lĩnh vực khoa học cơ bản thuộc Toán học, Vật lý lý thuyết, hay Sinh học, v.v. thực sự xứng đáng được đặc biệt tôn trọng. Vì rất có thể, những vấn đề lớn của cả nhân loại như bài toán về nguồn năng lượng trong tương lai, môi trường, hay công nghệ thông tin, công nghệ y sinh học, v.v. sẽ được giải quyết, mà khởi nguồn là từ những nghiên cứu lý thuyết ngày hôm nay – như những gì Einstein vĩ đại đã đem lại cho tất cả chúng ta.        Vào đêm ngày 28 tháng 5 năm 1919, trời vẫn mưa như trút nước tại đảo Príncipe thuộc quần đảo Sãotome & Príncipe cách bờ biển Gabon khoảng 225 km – phía tây lục địa Châu Phi. Mặc dù trời mưa to, một nhóm nhỏ các nhà khoa học của Hội Thiên văn Hoàng gia Anh vẫn đang khẩn trương chuẩn bị cho một thực nghiệm khoa học bậc nhất vô nhị vào thời bấy giờ. Họ lo lắng cho cuộc khảo sát dự định diễn ra vào ngày hôm sau. Arthur Stanley Eddington, 37 tuổi – người dẫn đầu nhóm nghiên cứu đã ngước lên nhìn bầu trời đen đặc trong mưa và nói với giọng xúc động: “Nếu mây trời quang đãng vào khoảng 2 giờ 15 phút chiều mai, chúng ta sẽ có cơ hội nhìn lên “thiên đàng” trên kia, chụp ảnh nhật thực toàn phần, và chúng ta sẽ trở thành những nhà khoa học hiếm hoi trong lĩnh vực này, những người có cơ hội chiêm ngưỡng và kiểm nghiệm sự thơ mộng đến kỳ diệu của tất cả cõi vĩnh hằng này… và nếu Eistein đúng, toàn bộ vũ trụ bao la ngoài kia sẽ mang một diện mạo hoàn toàn mới so với cách mà chúng ta đã hiểu cho đến ngày hôm nay…” Đảo Príncipe được chọn bởi đây là nơi sát ngay đường xích đạo, và theo dự báo của các nhà khoa học, sẽ là một địa điểm lý tưởng nhất để chụp ảnh toàn cảnh nhật thực toàn phần cũng như đĩa mặt trời, hiện tượng sẽ diễn ra vào ngày hôm sau: 29-5-1919…  Suốt ngày hôm sau trời rả rích không ngớt, cho tới tận trưa, và rồi thật kỳ diệu, trời chiều lòng người hay Chúa đã lắng nghe lời cầu khẩn của các nhà khoa học và đồng ý hé lộ điều bí mật? trời đã tạnh mưa vào lúc cần thiết. Khó khăn vẫn còn đó, vì những phim ảnh để chụp hình đã bị hỏng rất nhiều sau chuyến đi hàng ngàn cây số từ Anh quốc tới đây. Cuối cùng, chỉ còn 8 tấm phim để dùng được, và trong vòng 5 phút trưa ngày 29-5 đó Eddington và cộng sự đã kịp chụp hình nhật thực…  Sau khi xử lý, họ thấy chỉ có 2 tấm phim cho ra ảnh đủ chất lượng… Mang những bức hình về lại Anh quốc, họ quyết định tổ chức buổi đối chiếu phim chụp nhật thực với những phim tư liệu lưu trữ sẵn tại Hội Thiên văn Hoàng gia trước sự chứng kiến của công chúng và các nhà khoa học hàng đầu. Vậy họ làm điều đó để làm gì?                  Ngược dòng thời gian, chúng ta biết rằng vào năm 1905 Albert Einstein đã công bố Thuyết tương đối hẹp (còn gọi Thuyết tương đối đặc biệt), và rồi sau đó, vào năm 1915 – khi mới 36 tuổi, ông đã đưa ra Thuyết tương đối rộng (hay Thuyết tương đối tổng quát) trong đó mở rộng các khái niệm và biến thuyết tương đối hẹp trước đây chỉ là một trường hợp đặc biệt. Theo lý thuyết của Einstein, có những khái niệm là tuyệt đối, bất biến theo vật lý học của Newton thì nay trở thành tương đối – chẳng hạn như “thời gian”, có những khái niệm được ông giải thích theo một cách nhìn hoàn toàn mới, mang tính “cách mạng”, chẳng hạn ông đồng nhất trọng lực và lực hấp dẫn, v.v. và ông chỉ ra một đại lượng tuyệt đối mới: vận tốc của ánh sáng – luôn luôn là 300 ngàn cây số trong 1 giây. Những công bố của ông đã trở thành một cuộc cách mạng thời bấy giờ. Song thách thức đặt ra cho các nhà khoa học đương thời là làm sao để “kiểm chứng” những công thức mang tính “cách mạng” trong suy nghĩ về vũ trụ và nhiều ngành khoa học cơ bản khác có liên quan? Câu trả lời đã được một nhà thiên văn học Anh quốc hàng đầu (tuy còn khá trẻ) đề xuất – Eddington. Điều cảm động của câu chuyện này là ở chỗ, lúc đó cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất đang diễn ra mà Đức (nơi Einstein sinh ra và đang làm việc lúc đó) và Anh lại là hai kẻ thù… Bất chấp sự thù nghịch giữa hai quốc gia, hai người vẫn tìm cách trao đổi thư từ cho nhau một cách hết sức khó khăn. Cơ hội kiểm chứng lý thuyết mới dựa trên lập luận về sự “bẻ cong” tia sáng khi nó đi ngang qua những vật thể lớn trong vũ trụ, chẳng hạn như những hành tinh. Hãy tưởng tượng bạn nhờ 4 người bạn đứng cầm 4 góc của một chiếc khăn trải bàn và nâng lên khỏi mặt bàn, kéo thật căng ra, bạn sẽ có một “mặt phẳng” là mảnh vải được kéo căng bốn góc lơ lửng ở trên bàn. Bây giờ bạn cầm một quả bóng đá chẳng hạn, thả lên tấm vải. Bạn sẽ thấy mảnh vải bị chùng xuống một chút, và quả bóng nằm trên đó làm miếng vải lõm xuống. Giờ hãy lấy một quả bóng khác nhỏ hơn, chẳng hạn là bóng tennis, thả lên bất kỳ chỗ nào trên miếng vải đó, bạn sẽ thấy điều gì? Nó sẽ chuyển động theo độ dốc của miếng vải, và vì vải bị quả bóng đá làm lõm ở giữa, quả bóng tennis sẽ lăn về phía đó, chạm vào quả bóng đá… Trong vũ trụ cũng vậy, “không thời gian” quanh những vật thể lớn như các hành tinh (ví như quả bóng đá ở ví dụ trên) cũng dường như bị bẻ cong đi (theo cách tưởng tượng thông thường) như thể mảnh vải trải bàn của chúng ta lõm xuống. Do vậy, các tia sáng đi gần chúng sẽ bị “hút” bởi trường hấp dẫn cực mạnh của các hành tinh đó và không còn đi “thẳng” được nữa (như thể quả bóng tennis ban nãy bị hút về chỗ lõm trên mảnh vải do quả bóng đá tạo ra…). Vậy làm thế nào để đo được cái sự “cong đi” của tia sáng? Cơ hội đến vào chính những lúc có hiện tượng nhật thực toàn phần, mặt trời bị tạm thời che lấp bởi mặt trăng, và chúng ta quan sát được các vì sao ở xa gần đĩa mặt trời, ánh sáng từ chúng đi qua vũ trụ tới được mắt của chúng ta đã phải đi qua trường hấp dẫn cực mạnh của mặt trời và sẽ bị “bẻ cong” đi.                  … Theo những đề nghị của Eddington, Einstein đã dựa trên những công thức của lý thuyết mới của ông và tính toán ra độ sai khác về vị trí của các vì sao có thể quan sát được trong nhật thực toàn phần. Việc cần làm là chụp ảnh các ngôi sao và so sánh với những bức ảnh thông thường về vị trí của các vì sao đó. Nếu không có gì sai khác, hiện tượng “bẻ cong” ánh sáng bởi trường hấp dẫn là không tồn tại. Tuy nhiên cả vật lý học cổ điển của Newton và thuyết tương đối của Einstein đều phủ nhận việc đó, có điều, các phương trình của Einstein cho ra kết quả chênh lệch về vị trí của các vì sao lớn gần gấp đôi so với kết quả tính toán được dựa trên lý thuyết của Newton – vốn vẫn ngự trị cả thế giới khoa học từ hàng trăm năm trước…  Và Eddington đã mang những bức ảnh chụp nhật thực ra đối chiếu trước sự chứng kiến của các nhà khoa học hàng đầu nước Anh. Kết quả so sánh cho thấy những tính toán của Einstein là phù hợp hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc lý thuyết của Einstein được chứng minh bằng thực nghiệm một cách thuyết phục vào năm 1919 – 4 năm sau khi lý thuyết đó được đưa ra, năm đó Einstein tròn 40 tuổi. Phát biểu sau phiên họp so sánh phim chụp, Eddington nói một cách xúc động: “Hãy xem, công trình của một người duy nhất, đã cho chúng ta thấy sự phức tạp, vẻ đẹp diệu kỳ của thế giới này, của một vũ trụ hoàn toàn mới, và tôi vẫn có thể nghe thấy Chúa đang suy nghĩ…”                  Và như là minh chứng cho tất cả câu chuyện trên – khi mà chiến sự nổ ra nhưng các nhà khoa học Đức và Anh vẫn trao đổi hợp tác để có được thực nghiệm kiểm chứng một lý thuyết mới – Eddington cũng nói thêm một câu giản dị, rằng “Trong khoa học, việc theo đuổi sự thật cho đến cùng là một nỗ lực vượt mọi rào cản và biên giới của các quốc gia…” (“the pursuit of truth in science transcends national boundaries…”)…  Vậy, nhiều người sẽ đặt câu hỏi rằng, xét đến cùng thì cái nhà ông Einstein đó đưa ra một lý thuyết trừu tượng và cao siêu đến vậy để làm gì? Giúp ích gì cho nhân loại, và cho chúng ta ? ừ thì tia sáng bị bẻ cong đi đúng như ông ta dự đoán, ừ thì nó bay trong vũ trụ tối om om ngoài kia với một tốc độ không thay đổi, đúng 300 ngàn cây số / giây – không hơn không kém, từ khi loài người còn chưa có mặt trên trái đất, tới lúc chúng ta còn đang ăn lông ở lỗ, cho tới tận bây giờ, sang thế kỷ 21, ánh sáng vẫn cần mẫn đi lại trên cõi đời này với cùng một tốc độ như thế… để làm cái gì cơ chứ? Hiểu biết đó giúp ích gì cho chúng ta? Chả thấy gì thiết thực cả ! Xin thưa rằng nếu nghĩ thế thì bạn đã nhầm. Trong khoa học, có những nghiên cứu thuộc hàng “ứng dụng”, cũng có những công trình là “khoa học cơ bản”. Ví dụ về những phát kiến mang đậm tính “ứng dụng” chính là những công trình của Thomas Edison (1847-1931). Nhà phát minh người Mỹ này trong suốt đời mình đã có tới 1093 bằng phát minh sáng chế tất cả (chỉ tính riêng sáng chế đăng ký tại Mỹ). Từ bóng đèn điện cho tới kỹ thuật quay phim ghi hình,v.v  chúng ta đã được thụ hưởng những sáng tạo của ông rất nhiều…  Nhưng trong khoa học cũng có những phát kiến mang tính đột phá, mà phải về sau này người ta mới thấy hết được tầm quan trọng của nó. Và tôi xin thưa rằng phần lớn chúng ta đang chịu ơn Einstein rất nhiều mà không biết đấy thôi. Vô vàn nhiều những ứng dụng trong công nghệ vũ trụ, trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin,v.v. là dựa trên những công trình liên quan tới lý thuyết mới về vật lý học vừa nói trên. Và các bạn chắc không phải ai cũng biết, kỹ thuật hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (Global Positioning System – GPS) từ những ngày đầu ra đời chỉ dành cho quân đội, nay đã thấm sâu vào đời sống của mọi người, mà nền tảng của nó dựa trên chính những phương trình tính toán của Einstein từ thế kỷ trước. Ngày hôm nay, chúng ta dùng điện thoại di động một cách vô tư, mà đâu ngờ rằng, công nghệ đó dựa trên các kỹ thuật truyền thông hiện đại mà nhiều vấn đề kỹ thuật là nhờ vào lý thuyết của Einstein… Chưa kể, các công trình khác của ông  có những ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nữa của đời sống con người mà nội dung bài viết này không sao mô tả hết nổi…  Đọc đến đây, nhiều người sẽ thắc mắc, vậy tóm lại Thuyết tương đối có liên quan gì tới bổ đề Langlands ??  Gần đây, có khá nhiều dư luận, bàn tán về những thành tựu của nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu, đặc biệt là sau khi anh chứng minh được bổ đề cơ bản trong “chương trình Langlands” – một thành tựu đã mang lại cho anh giải thưởng Fields danh giá, trong đó có không ít ý kiến cho rằng Nhà nước cần có những giải pháp giúp các nhà khoa học trẻ có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng triển khai,thiết thực góp phần vào việc nâng cao mức sống của nhân dân…, còn trong bối cảnh đất nước còn nghèo nàn lạc hậu với quá nhiều bất cập, nhiều cảnh đời éo le, vân vân và vân vân, những thứ “lý thuyết” như bổ đề cơ bản đó thật là xa vời… Những cách nghĩ như vậy thật là thiển cận.  Năm 2002, tôi được mời tham dự và trình bày tại một diễn đàn khoa học tại Đại học Harvard. Sau khi kết thúc hội thảo, tôi tản bộ dọc theo bờ sông Charles và vô tình đi qua khu vực toạ lạc của Viện công nghệ Massachusetts (MIT) đúng lúc hoàng hôn xuống… Còn nhớ, tôi đã sững người xúc động khi thấy tên những nhà khoa học lỗi lạc của nhân loại mà mình vô cùng ngưỡng mộ được khắc bên ngoài các toà nhà lớn của MIT. Dưới ráng chiều vàng rực, những dòng chữ “Newton”, “Galileo”, v.v. được các hàng cột theo kiến trúc La Mã uy nghi tôn lên rực rỡ, v.v. Tất cả những nhân vật xuất chúng của nhân loại cần được tôn vinh, dù họ những nhà phát minh sáng chế trong lĩnh vực khoa học ứng dụng, những nhà khoa học cơ bản, hay những nghệ sĩ tài năng. Quan trọng hơn thế, họ cần được tạo mọi điều kiện tốt nhất để có thể cống hiến tối đa, những cống hiến nhiều khi mang tầm nhân loại, chứ không còn nhỏ hẹp ở tầm quốc gia nữa. Tuy nhiên, những người làm việc lặng lẽ trong các lĩnh vực khoa học cơ bản thuộc Toán học, Vật lý lý thuyết, hay Sinh học, v.v. thực sự xứng đáng được đặc biệt tôn trọng. Vì rất có thể, những vấn đề lớn của cả nhân loại như bài toán về nguồn năng lượng trong tương lai, môi trường, hay công nghệ thông tin, công nghệ y sinh học, v.v. sẽ được giải quyết, mà khởi nguồn là từ những nghiên cứu lý thuyết ngày hôm nay – như những gì Einstein vĩ đại đã đem lại cho tất cả chúng ta.  —————-  Ghi chú: các bức ảnh minh hoạ về Eddington được tôi chụp kết xuất từ phim “Einstein and Eddington”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Elsevier làm “hàng giả”      Trong nhiều năm Elsevier &#8211; nh&#224; xuất bản khoa học c&#243; uy t&#237;n ở Australia đ&#227; nhận tiền của một số tập đo&#224;n dược để tung ra thị trường c&#225;c loại tạp ch&#237; &#8220;ngụy&#8221; tạp ch&#237; chuy&#234;n đề về dược. Một trong c&#225;c tạp ch&#237; n&#224;y l&#224; Australasian Journal of Bone and Joint Medicine đ&#227; li&#234;n quan đến việc h&#224;ng chục ngh&#236;n người từng sử dụng thuốc giảm đau của Vioxx kiện doanh nghiệp Merck v&#224; đ&#242;i bồi thường thiệt hại do những th&#244;ng tin thiếu trung thực về loại thuốc n&#224;y từng được đăng tải tr&#234;n tạp ch&#237; n&#243;i tr&#234;n.    Nhìn thoáng qua, tờ Australasian Journal of Bone and Joint Medicine không khác gì một tạp chí chuyên đề đáng tin cậy. Ngay trên trang đầu là danh sách Ban biên tập với 14 thành viên, trong đó có nhiều giáo sư tiến sĩ. Tạp chí đăng tải nhiều công trình nghiên cứu chuyên đề của các nhà khoa học trên khắp thế giới: Những bài tóm tắt, các loại biểu bảng, đồ thị và cả nguồn tài liệu tham khảo. Trong mục dữ liệu xuất bản, người ta thấy có logo của một trong những nhà xuất bản khoa học thuộc diện danh giá nhất thế giới: Elsevier.         Vụ việc Elsevier làm “hàng giả” là một hồi chuông cảnh báo người tiêu dùng phải hết sức thận trọng khi tiếp thu và xử lý thông tin trên các sách báo, tạp chí, nhất là những thông tin mang tính chuyên sâu vốn rất khó thẩm định đối với các độc giả bình thường.        Thế nhưng, mọi chuyện bắt đầu với vụ bê bối liên quan đến vụ kiện doanh nghiệp Merck, Sharp & Dohme Australia (MSDA), một công ty con của tập đoàn dược phẩm Hoa Kỳ Merck & Co. Tạp chí Australasian Journal of Bone and Joint Medicine từng đăng tải rất nhiều bài viết về thuốc giảm đau Vioxx do doanh nghiệp này sản xuất với những hình ảnh tích cực. Tuy nhiên, năm 2004, Merck đã buộc phải thu hồi thuốc giảm đau Vioxx trên thị trường vì qua nghiên cứu, các nhà khoa học đưa ra kết luận: sử dụng lâu dài loại thuốc giảm đau này làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quị. Hàng chục nghìn người từng sử dụng thuốc giảm đau Vioxx đã phát đơn kiện nhà sản xuất đòi bồi thường thiệt hại. Merck buộc phải chi những khoản tiền lớn để bồi thường và dàn xếp vụ việc.    Chính thông qua phiên tòa xét xử liên quan đến thuốc giảm đau Vioxx, người ta đã phát hiện ra rằng NXB Elsevier đã sản xuất các tạp chí chuyên đề giả theo yêu cầu khách hàng. Bệnh nhân Graeme Peterson từng sử dụng thuốc Vioxx đã khiếu kiện tại Tòa án Liên bang Australia đòi bồi thường thiệt hại vì năm 2003 ông đã bị nhồi máu cơ tim. Cuối tháng tư, báo The Australian viết: theo đơn khiếu kiện thì chính hãng Merck đã sản xuất “trọn bộ các tạp chí chuyên đề”.   Chuyên gia Y học George Jelinek, thuộc Ban chuyên ngành về tạp chí chuyên đề Y học cho hay, ông đã nghiên cứu bốn số báo của Australasian Journal of Bone & Joint Medicine và thấy rằng, nếu người đọc thuộc diện “bạn đọc bình thường” thì dễ ngộ nhận đây là những tạp chí chuyên đề y học có uy tín. Chỉ sau khi đã “nghiên cứu kỹ” các tạp chí trên cơ sở kinh nghiệm về y học của mình ông mới có thể biết rõ “đây không phải là tạp chí chuyên đề Y học với quá trình đăng duyệt (Peer-Review-Prozess), mà chỉ là những bài báo có động cơ quảng bá, tiếp thị…                  Theo Jelinek, khi nghiên cứu một số báo chuyên đề – giả hiệu, ông phát hiện trong tổng số 21 bài thì có bốn bài viết về các sản phẩm của hãng dược Merck, ở một số báo khác trong số 29 bài thì có 21 bài đề cập đến sản phẩm của Merck. Jelinek khẳng định, các bài báo này chủ yếu tạo hình ảnh tích cực đối với các loại dược phẩm của hãng Merck.  Tuy nhiên, Merck viện mọi lý lẽ để bác bỏ những nghi ngờ về việc các bài viết về thuốc giảm đau Vioxx đăng trên tạp chí của Elsevier đều có mục đích tạo hình ảnh tích cực đối với loại thuốc này. Để chứng minh cho tính toàn diện và đầy đủ của các bài báo, Merck đã nói rằng, các bài báo đăng tải trên tạp chí nói trên có nhiều trích dẫn mang tính chọn lọc, những trích dẫn đó đều được nêu rõ xuất xứ, vì vậy không thể nói những bài báo này mang tính chất quảng bá, thương mại.  Báo The Scientist đã hỏi ông Peter Laurie, một chuyên gia thuộc Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Hoa Kỳ “Public Citizen” và ông này cho hay, các tạp chí của  Elsevier có thể gây ra những tác động khác nhau: “Một người quan sát giàu kinh nghiệm có thể nhận thấy ngay đây là những tờ báo nhằm mục tiêu tiếp thị. Nhưng có khả năng nhiều bác sỹ không nhận ra điều đó và sẽ bị tác động bởi những gì họ đọc được trên các tờ tạp chí này.”  Giờ đây, Elsevier buộc phải chính thức giải trình trước thế giới về sai phạm nghiêm trọng của tờ tạp chí chuyên đề giả hiệu này. Michael Hansen, nhà quản lý của Elsevier nói  “Mới đây tôi mới biết, trong những năm từ 2003 đến 2006 công ty con của chúng tôi ở Australia đã nhận tiền của các hãng dược phẩm để công bố những tài liệu tổng hợp trông  như những tạp chí chuyên đề mà không có những chú thích tương ứng”.  Theo như thừa nhận của người phát ngôn Nhà xuất bản Elsevier với tạp chí The Scientist của Hoa Kỳ, sáu tạp chí có liên quan là: Australasian Journal of General Practice, Australasian Journal of Neurology, Australasian Journal of Cardiology, Australasian Journal of Clinical Pharmacy, Australasian Journal of Cardiovascular Medicine, Australasian Journal of Bone & Joint Medicine.  Đại diện Elsevier cũng đã thừa nhận sai sót này với Spiegel Online: “Chúng tôi đã không lưu ý đúng mức đối với các công bố trên”. Tuy nhiên, NXB Elsevier đã từ chối tiết lộ danh tính những người thuê đăng các bài “giả khoa học” đó.  Riêng trong trường hợp tờ tạp chí Australasian Journal of Bone & Joint Medicine, qua vụ kiện về thuốc Vioxx, người ta đã biết rằng doanh nghiệp Merck, Sharp & Dohme Australia (MSDA) có dính líu đến vụ bê bối này. Bản thân doanh nghiệp cũng thừa nhận điều đó và công bố trên trang Web của mình.  Cho đến nay, người ta hoàn toàn không rõ Elsevier sử dụng các tạp chí chuyên đề giả vào mục đích gì và liệu chúng có được phân phát tới tay các thầy thuốc hay không. Mặc dù không đề cập đến vấn đề này, nhưng nhà quản lý Michael Hansen của NXB Elsevier khi tường trình về vấn đề này đã khẳng định: “Việc làm này là điều không thể chấp nhận được và chúng tôi lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra”.                     XUÂN HOÀI  Theo Spiegel    Author                Quản trị        
__label__tiasang Em bé đầu tiên được chỉnh sửa gene: Sáu câu hỏi còn bỏ ngỏ      Tuyên bố bất ngờ gây chấn động toàn thế giới về em bé đầu tiên được chỉnh sửa gene đã làm dấy lên làn sóng phản đối của các nhà khoa học thế giới và cả Trung Quốc. Nhiều câu hỏi được giới khoa học quốc tế đặt ra xung quanh kết quả này.    Ngày 29 tháng 11, Ủy ban tổ chức Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ hai về chỉnh sửa bộ gene người tại Hồng Kông, nơi mà Hạ Kiến Khuê (He Jiankui) tuyên bố công trình của mình, cho biết rất bất ngờ và lo ngại sâu sắc khi được biết việc chỉnh sửa gene đã được tiến hành trên phôi của con người, được cấy ghép và cho ra đời cặp sinh đôi đầu tiên. “Quy trình tiến hành công trình nghiên cứu này là vô trách nhiệm và không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.”, Ủy ban này tuyên bố.  Hạ Kiến Khuê (giữa) đang trả lời các đồng nghiệp trong Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ hai về chỉnh sửa bộ gene người tại Hồng Kông. Ảnh: Nature.  Hạ Kiến Khuê tiết lộ một phần công trình của mình, ông cho biết đã sử dụng kỹ thuật CRISPR-Cas9 để thay đổi gene CCR5 trong bộ gene của hai phôi, sau đó ông cấy vào một người phụ nữ. Gene CCR5 mã hóa một protein mà một số chủng HIV phổ biến sử dụng để lây nhiễm cho các tế bào miễn dịch (nơi cư trú của virus này trên người). Do đó việc tắt hoặc bất hoạt gene này sẽ làm cho virus HIV không thể xâm nhiễm và phát triển bệnh trên người mắc phải.  Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra sau khi công trình được công bố. Tạp chí Nature đã tóm tắt sáu câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ sau sự kiện này:     1. Hạ Kiến Khuê có gặp rắc rối gì sau tuyên bố của mình?  Vào ngày 27 tháng 11, một ngày trước khi Hạ Kiến Khuê phát biểu tại hội nghị, Bộ y tế Trung Quốc đã kêu gọi chính quyền Quảng Đông (nơi ông công tác – trường Đại học Khoa học & công nghệ Nam Trung Quốc) để điều tra ông.   Hai ngày sau, Bộ Khoa học & công nghệ nước này cũng ra quyết định yêu cầu ông ngừng bất kỳ công trình khoa học nào đang tiến hành. Khuê cũng đã xác nhận các thí nghiệm của mình đã ngừng lại.   Thông tin về việc chính quyền Quảng Đông sẽ tiến hành điều tra và xử lý ra sao không rõ ràng. Tuy nhiên, Hạ Kiến Khuê bị cáo buộc vi phạm hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2003 của nước này. Tất nhiên, đây không phải là luật và không có hình phạt rõ ràng cho các vi phạm liên quan.   Đại học Khoa học & công nghệ Nam Trung quốc vẫn chưa có động thái nào trong việc xử lý các tuyên bố của ông này. Trao đổi với Nature, một phát ngôn viên của trường cho biết rằng “không thể tiết lộ thông tin trong lúc này” và cần chờ đợi các tuyên bố chính thức “vào một thời điểm thích hợp.” Hạ Khuê được cho là đã nghỉ phép từ tháng 2 năm 2018 và dự kiến kéo dài cho đến tháng 1 năm 2021.  Ngày 27 tháng 11, trang web chính thức của phòng thí nghiệm thuộc trường đại học nơi Hạ Kiến Khuê đăng tải thông tin giới thiệu về hai em bé chỉnh sửa gene đã được gỡ bỏ, mặc dù một số trang khác liên quan của phòng thí nghiệm vẫn còn tồn tại. Các tuyên bố ca ngợi thành tựu của ông Khuê cũng đã biến mất khỏi các trang web của chính phủ nước này. Một bài đăng khác trên trang web của Bộ khoa học Trung Quốc mô tả công nghệ giải trình tự bộ gene mà Khuê đã phát triển hiện cũng không thể truy cập được. Không rõ liệu các hành động này có liên quan đến các sự kiện gần đây hay không, nhưng các bài đăng vẫn có thể truy cập trước đó.  Theo một tuyên bố được phát ngôn viên của Hạ Kiến Khuê đưa ra, ông Khuê đã quay lại Thâm Quyến, nơi ông đang sống, sau cuộc nói chuyện tại Hội nghị. “Tôi đã trở về Thâm Quyến và sẽ không tham dự hội nghị vào thứ năm. Tôi sẽ ở lại Trung Quốc và phối hợp với các yêu cầu điều tra về công việc của tôi”, tuyên bố nói.     2. Tuyên bố có thật sự chính xác? Việc xác minh công trình sẽ tiến hành ra sao?  Nhiều nhà khoa học cho biết cần một cơ quan độc lập để xác nhận tuyên bố của Hạ Kiến Khuê cũng như tiến hành so sánh cẩn thận và chi tiết gene của hai đứa trẻ và cha mẹ của chúng. Tuy nhiên, hầu như tất cả mọi người đều đồng ý rằng danh tính các em bé và cha mẹ của chúng cần được giữ bí mật.   “Ông ấy đã giữ bí mật và đó là mục đích tốt”, David Baltimore, nhà sinh học đoạt giải Nobel, chủ tịch hội đồng tổ chức Hội nghị thượng đỉnh và là cựu chủ tịch Viện Công nghệ California ở Pasadena cho biết. Nhóm nghiên cứu của Khuê có thể cung cấp các mẫu ẩn danh. Các nhà khoa học bên ngoài cũng có thể ghé thăm phòng thí nghiệm của ông để phân tích dữ liệu.   Trong một tuyên bố được phát ngôn bởi người phát ngôn của mình, Khuê nói sẽ mời các nhà nghiên cứu khác để thực hiện một cuộc điều tra độc lập. “Dữ liệu thô của tôi sẽ được cung cấp để bên thứ ba xem xét.”   Khuê cũng tiết lộ rằng ông đã gửi các dữ liệu về nghiên cứu chỉnh sửa gene của người cho một tạp chí để xuất bản. Ông đã nói với một số nhà khoa học rằng một bài báo sẽ được xuất bản vào cuối năm nay, nhưng không cho biết rõ sẽ đăng trên tạp chí nào. Nhưng ngay cả khi đó, các luật về bảo vệ dữ liệu di truyền rất nghiêm ngặt của Trung Quốc sẽ ngăn cản ông công bố dữ liệu trình tự gene và vì thế các nhà khoa học quốc tế sẽ gặp khó khăn trong việc xác minh các nghi ngờ của mình.    Năm 2016, mặc dù liệu pháp thay thế ty thể chưa nhận được sự chấp thuận của cộng đồng y sinh hoặc FDA, các bác sĩ tại thành phố New York đã sử dụng liệu pháp này để tạo ra một em bé ở Mexico. Ảnh: Nature  3. CRISPR đã chỉnh sửa bộ gene của cặp sinh đôi như thế nào?   Trong trường hợp không có một ấn phẩm xuất bản chính thức – bằng một bài báo khoa học trên tạp chí hoặc một báo cáo chính thức mô tả cách chỉnh sửa gene của Khuê, một số nhà khoa học vẫn đang phân tích bản trình bày của ông này tại hội nghị để thử và tìm hiểu bộ gene của cặp song sinh đã được chỉnh sửa như thế nào, cũng như hình dụng ra các hậu quả tiềm ẩn của những thay đổi này.   Gaetan Burgio, một nhà di truyền học tại Đại học Quốc gia Australia tại Canberra, đang nghiên cứu về chỉnh sửa gene bằng công nghệ CRISPR, nói rằng dữ liệu giải trình tự thô mà Khuê trình bày trong bài phát biểu cho thấy rằng các tế bào của 2 đứa trẻ chứa nhiều phiên bản được chỉnh sửa của gene CCR5, với độ dài DNA khác nhau được xóa bỏ – có thể được tạo ra khi CRISPR chỉnh sửa trong giai đoạn phôi sớm, một số tế bào sẽ được chỉnh sửa khác với các tế bào khác, hoặc một số tế bào có thể vẫn chưa được chỉnh sửa.   Sean Ryder, nhà nghiên cứu RNA, tại Trường Y khoa Đại học Massachusetts ở Worcester, đã bày tỏ thêm những lo ngại khi đăng trên Twitter của mình. Ông cho rằng, Khuê nói với hội nghị rằng ông đã nhắm vào gen CCR5 bởi vì một số người trong tự nhiên mang một đột biến trong CCR5 thuộc trình tự được gọi là delta-32, nhằm làm bất hoạt gene này. Nhưng Ryder nói rằng việc xóa bỏ CCR5 mà Khuê tuyên bố đã đưa vào tế bào phôi của 2 đứa trẻ bằng cách kỹ thuật CRISPR không giống với đột biến delta-32. “Vấn đề là chưa một nghiên cứu nào cho biết đột biến mã bộ ba nào sẽ gây đột biến delta-32 được nghiên cứu kỹ lưỡng, và theo như tôi biết là chưa có ngay cả trên các mô hình động vật”. Ryder đã viết trong bài viết.      Các luật về bảo vệ dữ liệu di truyền rất nghiêm ngặt của Trung Quốc sẽ ngăn cản Hạ Kiến Khuê công bố dữ liệu trình tự gene và vì thế các nhà khoa học quốc tế sẽ gặp khó khăn trong việc xác minh các nghi ngờ của mình.      4. Khi nào sẽ có một người được chỉnh sửa gene khác?   Giáo sư Jennifer Doudna là một nhà khoa học tiên phong trong việc sử dụng CRISPR-Cas9 để “biên tập” chỉnh sửa gene. Khi nghe Khuê trình bày công trình của ông ấy tại Hội nghị thượng đỉnh, bà cho rằng những ý tưởng của bà có thể là tiềm năng cho các nhà khoa học liều lĩnh sử dụng nó theo những cách phi đạo đức. Đó là một nguy cơ thực sự.  Trước những tuyên bố của Khuê, nhiều nhà khoa học đã rất lo lắng về viễn cảnh rằng ai đó đang sắp sửa có ý định tạo ra một con người chỉnh sửa gene.  Nhà sinh vật học George Daley, hiệu trưởng trường y khoa Harvard ở Boston, Massachusetts và là thành viên của Ủy ban tổ chức hội nghị thượng đỉnh, đã đề cập đến một công trình cũng nổi tiếng không kém gần đây – một quy trình thay thế DNA ti thể bị bệnh trong phôi thai với DNA ty thể khỏe mạnh từ người khác. Mặc dù liệu pháp thay thế ty thể chưa nhận được sự chấp thuận của cộng đồng y sinh hoặc Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), các bác sĩ tại thành phố New York đã sử dụng liệu pháp này để tạo ra một em bé ở Mexico vào năm 2016.  Tại Hội nghị thượng đỉnh Hồng Kông, các nhà khoa học cũng đã thảo luận về tương lai sắp tới – liệu sẽ có một công bố khác về việc biên tập chỉnh sửa gene con người hay không và sự biến đổi gene sẽ di truyền đến các thế hệ tương lai như thế nào. “Chúng ta có lý do để quan tâm,” Baltimore cho biết. “Bất cứ ai làm việc trong lĩnh vực này đều biết rằng điều này đang xảy ra, điều quan trọng là cần sự theo dõi từ các nhà chức trách.”     5. Những tiết lộ của Khuê có cản trở những nỗ lực đạo đức để thực hiện việc chỉnh sửa gene không?   Nhiều nhà nghiên cứu sợ rằng sự tiết lộ công trình của Khuê có thể cản trở tương lai của việc chỉnh sửa gene. Ở Mỹ, một số người cho rằng các lệnh cấm hà khắc sẽ chống lại các mục tiêu cao cả của khoa học.  Sau những tiết lộ tại Hội nghị ở Hồng Kông, Ủy viên FDA, Scott Gottlieb cho biết “Chính phủ bây giờ sẽ phải hành động”. Và vào ngày 28 tháng 11, giám đốc Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) Francis Collins nói trong rằng “cần thiết phải có một sự đồng thuận quốc tế nhằm ràng buộc và thiết lập các giới hạn cho loại nghiên cứu này”.   Tuyên bố được công bố tại hội nghị thượng đỉnh là một lời kêu gọi để mở một con đường cho việc ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gene một cách an toàn trở thành các phương pháp điều trị: “Việc chỉnh sửa gene của con người có thể được chấp nhận trong tương lai nếu như những rủi ro được giải quyết.”      6. Các nhà khoa học sẽ đảm bảo quá trình giám sát về chỉnh sửa gene trong tương lai như thế nào?   “Chúng tôi không có kế hoạch chi tiết, nhưng chúng tôi đã hỏi các cơ quan nghiên cứu. Đó là một thách thức đối với thế giới.” Tuyên bố được đưa ra bởi Ủy ban tổ chức của Hội nghị thượng đỉnh Hồng Kông cho thấy rằng các viện khoa học trên khắp thế giới đã đưa ra các khuyến nghị cho chính phủ của họ, đồng thời phối hợp với nhau.   Tuyên bố cũng đưa ra khuyến nghị về việc cần xây dựng một diễn đàn quốc tế – diễn đàn sẽ giúp nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng dễ dàng khi thông qua một cơ quan đăng ký quốc tế, đồng thời thảo luận các vấn đề liên quan khi chỉnh sửa gene.   Alta Charo, thành viên ban tổ chức Hội nghị Hồng Kông, một nhà sinh vật học tại trường Luật Đại học Wisconsin ở Madison, cho biết kỳ vọng phải thực tế. “Bạn không thể mong đợi sự hoàn hảo. Những gì bạn có thể làm là cố gắng giảm thiểu những sự cố này bằng các biện pháp trừng phạt hành vi lừa đảo phi khoa học”.  Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ ba về chỉnh sửa bộ gene người sẽ diễn ra tại London vào năm 2021.     Bùi Nguyễn Tú Anh (Viện Tế Bào Gốc) dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07607-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Emily Whitehead: Nhân chứng sống đưa tới cách mạng trong điều trị ung thư      Trong 10 gương mặt tiêu biểu của năm 2017 được tờ Nature bình chọn, có một cô bé chỉ mới 12 tuổi, không tham gia bất kỳ một nghiên cứu khoa học nào, nhưng lại có vai trò rất quan trọng không chỉ với các nghiên cứu điều trị mà còn với cả quá trình thừa nhận các liệu pháp chữa trị ung thư.      Emily Whitehead  Đó là Emily Whitehead, cô bé được coi là “nhân chứng sống” – cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư bạch cầu (leukaemia) của cô bé đã giúp các nhà khoa học tạo ra một giai đoạn hoàn toàn mới trong liệu pháp chữa ung thư.  Tại cuộc họp của Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ vào tháng 7 vừa qua, cô bé Emily Whitehead đã xuất hiện trước toàn bộ khán phòng, đi đến sau người đàn ông đang trình bày trên bục, không một lời nào, cô nắm lấy bàn tay ông.  “Cháu chỉ nghĩ là cháu sẽ giúp bố mình nếu đứng cạnh ông ấy”, Emily, cô bé là người đầu tiên trên thế giới được điều trị thử nghiệm (nay đã hồi phục hoàn toàn) bằng phương pháp có tên gọi là CAR-T, nhớ lại.  Người đang trình bày là cha cô bé, Tom, đang kêu gọi hội đồng chấp thuận một phương pháp trị liệu, trong đó, các tế bào miễn dịch của bệnh nhân được tái lập trình gene để nhận ra và tấn công các tế bào ung thư. Khi nhìn thấy con mình đứng bên cạnh, Tom bắt đầu khóc. Các thành viên trong hội đồng cố vấn cũng nghẹn ngào. “Chúng tôi thực sự cảm động. Cô bé đúng là một nhân chứng sống”, Timothy Cripe, bác sĩ ung thư chuyên khoa nhi, từ Bệnh viện Nhi đồng Nationwide ở Columbus, Ohio nói.  Hội đồng đã nhất trí bỏ phiếu thông qua cho hình thức điều trị này ở trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh ung thư bạch cầu lymphô cấp tính; FDA đồng ý. Trong vòng vài tháng, một liệu pháp CAR-T khác cũng được chấp thuận, lần này là ung thư hạch lympho không Hodgkin, đã khiến năm 2017 trở thành một năm lịch sử cho tiến trình điều trị loại ung thư này.  “Đó là một bước ngoặt mới”, Crystal Mackall, nhà nghiên cứu về miễn dịch ung thư tại Trường Y thuộc Đại học Stanford, California, nói. Nhưng bà cũng cho biết, hai phương pháp điều trị đầu tiên được chấp thuận thông qua này mới chỉ là những ví dụ hết sức cơ bản về những vì mà CAR-T có thể làm được.  Hàng chục nhóm nghiên cứu và các công ty công nghệ sinh học đang nghiên cứu các liệu pháp CAR-T, cố gắng làm cho các phương pháp điều trị hiện nay trở nên an toàn hơn, có thể kiểm soát được tốt hơn.  Stephan Grupp, chuyên gia ung thư nhi khoa đã điều trị cho Emily tại Bệnh viện Nhi ở Philadelphia, Pennsylvania, cho biết mặc dù đã có những tiến bộ đạt được, nhưng “biên giới giữa thành công và thất bại có thể thực sự, thực sự mỏng”. Một vài ngày sau khi truyền dịch CAR-T, Emily đã có phản ứng miễn dịch nghiêm trọng được gọi là hội chứng giải phóng cytokine. Nếu Grupp không hành động nhanh chóng, can thiệp kịp thời và táo bạo – thì hầu như chắc chắn là cô bé sẽ tử vong. Và bi kịch đó không chỉ làm suy sụp gia đình của Emily, mà còn có thể làm chệch hướng cả hành trình nghiên cứu và phát triển các liệu pháp CAR-T.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Emmy Noether – Nữ thiên tài toán học từng bị bỏ quên      Ngày 26 tháng 7, 2018 vừa qua, tức hai tháng trước, thế giới vật lý và toán học kỷ niệm một trăm năm định lý căn bản Emmy Noether của một người phụ nữ hãy còn được ít biết đến: Định lý tương đương, hay là sự thống nhất giữa hai cột trụ quan trọng trong toán học và vật lý: giữa các phép đối xứng (symmetry) hay bất biến (invariance) trong toán học và các định luật bảo toàn phổ quát trong vật lý, mà tác giả là nhà nữ toán học Đức gốc Do Thái Emmy Noether của đầu thế kỷ 20. Định lý này phát biểu rằng, đối xứng toán học và bảo toàn các đại lượng trong vật lý là tương đương nhau. Một định lý tuyệt đẹp, và một mối liên hệ vô cùng bất ngờ được đưa ra ánh sáng.(1)    Cuộc đời của Emmy Noether là rất gian truân. Bà không phải là thần đồng, mà phát triển tài năng toán học ở tuổi 30. Bà đã gặp khó khăn tại Đại học Göttingen khi được David Hilbert và Felix Klein mời về để tiếp sức làm sáng tỏ về bảo toàn năng lượng trong thuyết tương đối rộng Einstein. Năm 1915, bà gặp sự phản đối của hàng ngũ giáo sư, từ chối Habilitation (quyền giảng dạy trên đại học, venia legendi, dựa trên năng lực nghiên cứu) của bà để làm Privatdozent, ‘giáo sư tư’ không lương nhà nước, một bước để chuẩn bị làm giáo sư thực thụ. Trong những người từ chối này có cả nhà triết học Edmund Husserl. Hilbert giận quá nói: “Aber meine Herren, eine Universität ist doch keine Badeanstalt!” − “Nhưng thưa quý ngài, một đại học đâu phải là nhà tắm công cộng!” Xã hội bấy giờ là xã hội của đàn ông. Bà muốn nghe bài giảng đại học phải xin phép đặc biệt vị giáo sư chủ trì. Bà Lise Meitner cũng thế, phải xin phép Max Planck mới được vào giảng đường.  Lúc đọc bài báo nổi tiếng “Invariante Variationsprobleme” của Emmy Noether, Einstein viết cho nhà toán học Felix Klein ở Göttingen ngày 27, tháng 12, 1918: “Khi nhận được công trình nghiên cứu mới của cô Noether, tôi cảm nhận một sự bất công lớn, rằng người ta đã từ chối venia legendi của cô. Tôi rất tán thành, rằng chúng ta tiến hành một bước mạnh mẽ ở Bộ”. Trước đó, những can thiệp của Klein và Hilbert không đem lại thành công. Nhưng năm sau, Klein tiếp tục lần nữa, với sự gợi ý của Einstein, và đã thành công cho bà. Có lẽ một phần là vì Đức đã thua trận nên bộ máy hành chính ‘cởi mở’ hơn. Lần này, bài luận văn habilitation chính là công trình đột phá “Invariante Variationsprobleme” của bà.  Đương thời, bà không phải là ‘vô danh’ lắm. Hội toán học thế giới năm 1932 họp tại Zurich đã mời bà đọc bài giảng toàn thể. Đó là một vinh dự rất lớn. Cùng năm, bà được trao tặng giải thưởng Ackermann-Teubner danh giá trong toán học.  Tầm quan trọng của công trình đột phá của bà không được hiểu nhiều thập kỷ liền. Các nhà khoa học chỉ nhắc qua loa, như nhà vật lý Mỹ Eugene Wigner nhận xét. Wolfgang Pauli trong công trình Thuyết tương đối viết cho Encyklopädie der Mathematischen Wissenschaften năm 1921 không nhắc đến dù chỉ một sự lưu ý. Hermann Weyl trong quyển sách “Không gian, thời gian, vật chất” năm 1918 cũng thế. Thực tế đề tài đối xứng trong vật lý cũng chỉ được ưa thích vào những năm 1950. Bản dịch tiếng Anh định lý Noether cũng chỉ ra đời năm 1971, của Morton A. Tavel, và lại được phổ biến trên một tạp chí không mấy được biết rộng rãi. Nhưng sự phát triển của vật lý lý thuyết đòi hỏi tìm kiếm các định lý bảo toàn từ góc độ bất biến khiến cho người ta không thể tiếp tục lãng quên công trình của Emmy Noether. Giờ thì tầm quan trọng của định lý bà đã được hiểu đầy đủ. “Định lý này là vì sao dẫn đường cho vật lý thế kỷ 20 và 21”, nhà vật lý hạt giải Nobel Frank Wilczek nói.  Emmy Noether mất sớm vào ngày 14 tháng 4, năm 1935, tại trường Đại học Bryn Mawr, một đại học ưu tú dành cho phụ nữ, bang Pennsyvania, hưởng thọ chỉ 53 tuổi, trong sự tha hương ở Mỹ để trốn khỏi chế độ nazis, rời bỏ đất nước bà yêu thương nhưng đã trở thành “barbarisch” (Người bên lề). Cái chết đột ngột của bà do biến chứng sau một cuộc giải phẫu đang trên đường hồi phục là một tổn thất vô cùng to lớn cho cộng đồng toán học. Bà làm việc tại Bryn Mawr đúng 18 tháng. Viện nghiên cứu cao cấp Princeton được thành lập năm 1935, đồng ý dành cho bà học bổng để đến nghiên cứu. Một sự gặp gỡ lại Einstein, người đã giúp bà có chân tại Bryn Mawr, sẽ là thú vị biết bao. Nhưng mọi sự đều dang dở. Tro của bà được mai táng tại Thư viện Martha Carey Thomas của trường, như một chỗ vinh dự cho bà.  Báo The New York Times có biết một bài điếu văn cho bà, nhưng Einstein đọc thấy ‘tầm thường’ quá, ngắn ngủi quá. Bất bình, ông viết một bài điếu văn khác gửi cho chủ bút tờ báo, ngày 1 tháng 5, 1935, trong đó có những dòng sau đây nói về tầm quan trọng của bà:  Toán học thuần túy là một dạng thi ca trong các khái niệm logic. Người ta đi tìm những khái niệm và phép toán tổng quát nhất như có thể để bắt cầu một vùng rộng lớn nhất như có thể, một cách đơn giản và thống nhất với nhau về mặt lôgic. Với nỗ lực vươn tới vẻ đẹp lôgic, những công cụ tinh thần được nghĩ ra, những thứ mà chúng ta cần đến để thâm nhập sâu hơn vào tính quy luật của tự nhiên”. Albert Einstein  Ngoài điếu văn của Einstein, còn bài điếu văn thứ hai được xem là xuất sắc dành cho bà, của nhà toán học Hermann Weyl, người có quan hệ lâu nhất với bà, vừa là người bạn, vừa là đồng nghiệp. Ông đọc điếu văn ngày 26, tháng 4, 1935 tại buổi lễ tưởng niệm bà ở Đại học Bryn Mawr. Ông viết:  “Bà là một mẫu mực tuyệt vời về sức sống, bà đứng trên quả đất vững chắc và lành mạnh với óc hài hước mạnh mẽ và lòng quả cảm cho cuộc sống mà không ai lường trước được. Bà đang ở đỉnh cao của sức sáng tạo toán học của bà; óc tưởng tượng ảnh hưởng sâu rộng và các năng lực kỹ thuật, được tích lũy bởi kinh nghiệm liên tục, đã làm nên một sự cân bằng hoàn hảo; bà rất hăm hở lao vào những bài toán mới. Và bây giờ − thình lình – sự chấm dứt, tiếng nói của bà im bặt, tác phẩm của bà đột nhiên ngừng lại. […]  Sức mạnh [của bà] nằm ở năng lực thao tác một cách trừu tượng với các con-xếp (concept). […] Bà có một óc tưởng tượng sống động nhất để có thể hình dung ra những mối liên hệ xa nhất; bà luôn luôn phấn đấu hướng về thống nhất hóa (unification). […]  Khi, trong giờ phút này, tôi nghĩ cái gì đã làm nên bà, thì hai điều đã đến ngay tâm trí tôi. Điều thứ nhất là năng lượng sáng tạo độc đáo của tư duy toán học của bà. Giống như một quả trái cây đã quá chín, nó dường như bật tung ra khỏi vỏ con người của bà. Bà tức khắc là công cụ và chỗ chứa cho sức sáng tạo tri thức dâng lên từ bên trong bà. Bà không phải là cục đất sét được nắn nót hài hòa bởi bàn tay nghệ sĩ của Chúa, mà bà là một tảng đá nguyên sơ con người mà Chúa đã thổi vào đó thiên tài sáng tạo.(2)  Thứ hai, trái tim bà không biết ác tâm; bà không tin vào cái ác – thực tế, nó không bao giờ len lỏi vào tâm trí bà để có vai trò ở con người. Điều này chưa bao giờ rõ ràng đối với tôi hơn là mùa hè cuối cùng chúng tôi đã cùng nhau trải qua ở Göttingen, mùa hè giông bão của năm 1933. Giữa sự chiến đấu khủng khiếp, sự tiêu diệt và chấn động diễn ra xung quanh chúng tôi, trong một biển hận thù và bạo lực, của sợ hãi và tuyệt vọng, của buồn nản – bà tiếp tục đi con đường riêng của bà, suy nghĩ những thách thức toán học với cùng sự chăm chỉ trước đó. Khi bà không được phép sử dụng các giảng đường của viện, bà đã tập hợp sinh viên trong nhà bà. Ngay cả những người mặc quần short nâu (của đảng Hitler) cũng được chào đón; không một phút giây bà nghi ngờ sự chính trực của họ. Không để ý đến định mệnh riêng của bà, với trái tim rộng mở, luôn luôn hòa hợp, bà đi tiếp con đường của bà. Nhiều người trong chúng ta đã tin rằng thù hận một khi đã gây ra không thể có lời xin lỗi; nhưng tất cả những thứ đó đều không chạm đến bà […]  Bà là một nhà toán học vĩ đại, vĩ đại nhất tôi tin chắc như thế, mà giới tính của bà từng sản xuất ra, một phụ nữ vĩ đại”.(3)  Trong quyển sách về Hạt Higgs, con đường phát minh và khám phá “Hạt của Chúa” năm 2014, tác giả Jim Baggott đã dành cả chương đầu để nói về tầm quan trọng của định lý tương đương của bà cho sự phát triển của ngành vật lý hạt nửa sau thế kỷ 20:  Hai trường trung học Emmy Noether Gymnasium mang tên bà ở Berlin và Erlangen, nơi bà đã sinh ra, để vinh danh bà. Năm 1980 Hội phụ nữ toán học (Association for Women in Mathematics) cho ra đời Emmy Noether Lecture hàng năm để “vinh danh những phụ nữ có những đóng góp căn bản và có ảnh hưởng lâu dài cho các ngành khoa học toán”. Quỹ học bổng nghiên cứu Đức DFG có mở một “Chương trình Emmy Noether” nhằm tạo cơ hội cho các nhà khoa học trẻ tài năng đặc biệt lãnh đạo một nhóm nghiên cứu trẻ đang lên trong một thời hạn 6 năm: http://www.dfg.de/ foerderung/programme/einzelfoerderung/emmy_noether/  Năm 1993 người ta lấy tên bà để đặt tên cho một hành tinh nhỏ được khám phá năm 1955. Bà như vì sao tiếp tục chiếu sáng.  ——————————  Chú thích:  (1) Xem định lý này bản gốc ở đây: https://de.wikisource.org/wiki/Invariante_Variationsprobleme  (2) Trong Điếu văn của Weyl  (3) M.B.W. Tent, tr. 126 trở đi  Tham khảo:  ScienceNews June 12, 2018: In her short life, mathematician Emmy Noether changed the face of physics:  https://www.sciencenews.org/article/emmy-noether-theorem-legacy-physics-math  Cordula Tollmien, Hundert Jahre Noether-Theoreme. „Invariantentheorie ist jetzt hier Trumpf“: https://doi.org/10.1002/piuz.201801513  Điếu văn của Hermann Weyl:  http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/ Extras/Weyl_Noether.html  M.B.W. Tent, Emmy Noether. The Mother of Modern Algebra. A. K. Peters, Ltd., 2008.  Dwight E. Neuenschwander, Emmy Noether’s Wonderful Theorem. Johns Hopkins University Press; revised and updated edition edition (March 6, 2017)  Công trình nổi tiếng của bà được công bố ngày 26, tháng 7, năm 1918 với cái tên “Các bài toán biến phân bất biến” (Invariante Variationsprobleme), một trong hai định lý bà đưa ra trong đó có tính đột phá cho vật lý. Định lý này (thứ nhất) nói rằng, cứ đối với mỗi sự đối xứng liên tục của một hệ thống vật lý thì có một đại lượng vật lý được bảo toàn, và ngược lại. Đối xứng ở đây cần phải có tính liên tục, nghĩa là đối với một thông số liên tục, như đối với thời gian hay với phép quay trên mặt phẳng, hoặc phép tịnh tiến trong không gian. Nó không áp dụng cho các đối xứng rời rạc như đối xứng gương. Như hệ quả của định lý Noether, bảo toàn năng lượng là hệ quả của sự đối xứng đối với tịnh tiến thời gian. Tương tự, bảo toàn động lượng (momentum) là hệ quả của sự đối xứng tịnh tiến không gian. Và bảo toàn mômen quay (angular momentum) từ đối xứng quay. Một người nghệ sĩ trượt băng có thể gia tăng tốc độ quay của mình bằng cách kéo hai tay vào gần cơ thể hơn để giảm quán tính quay. Bảo toàn điện tích xuất phát từ một dạng đối xứng trừu tượng hơn, gọi là “bất biến chuẩn” (gauge invariance). Tương tự cho các bảo toàn các loại “tích” bí truyền khác, như “sắc tích” của quark (quark color), hay isopin yếu, liên quan đến những đối xứng đối với các phép biến đổi được gọi là “internal degrees of freedom”. Định lý thứ hai của Emmy Noether liên quan đến thuyết tương đối rộng và bảo toàn năng lượng của Einstein.    Author                Nguyễn Xuân Xanh        
__label__tiasang Emmy Noether và vấn đề bảo toàn năng lượng      Năm nay vừa đúng 100 năm từ năm 1918  Noether (23/3/1882 – 14/4/1935)  công bố công trình “Invariante   Variationsprobleme – Các bài toán biến phân bất biến”. Năm này, Noether vừa tròn 36 tuổi.      Trên hình vẽ là con đường Đại học Erlangen,năm 1916. Emmy Noether (23/3/1882-14/4/1935) đã sinh ra trong thành phố này và ở đây đến năm 1925 và rời thành phố để đến Gottinger theo lời mời của David Hilbert và Felix Klein.  Công trình với các định lý Noether hiện nay được xem là một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của vật lý hiện đại thế kỷ 20.  Cũng nói thêm, công trình chỉ nổi tiếng sau Noether đã mất.  Điều lý thú đối với các nhà vật lý là tên tuổi Noether lại gắn liền đến một vấn đề lớn trong vật lý là vấn đề bảo toàn năng lượng trong GR (General Relativity – Lý thuyết tương đối tổng quát).  Emmy Noether chứng minh hai định lý quan trọng liên quan đến đối xứng và các định luật bảo toàn.  Định lý thứ I liên quan đến những nhóm biến đổi chỉ phụ thuộc vào một số hữu hạn thông số (ví dụ nhóm quay trong mặt phẳng chỉ phụ thuộc vào một thông số là góc quay), xem tài liệu1.  Định lý thứ II liên quan đến một số hữu hạn các hàm số và đạo hàm của hàm số.  Noether gọi nhóm thứ nhất là “nhóm liên tục hữu hạn” còn nhóm thứ II là các “nhóm liên tục vô hạn”. Hai định lý đó được mang tên là các định lý Noether.  Các định lý được hoàn thành sau khi Hilbert tìm ra nguyên lý biến phân (variational principle) và ứng dụng vào lý thuyết tương đối tổng quát.  Định lý II Noether và vấn đề bảo toàn năng lượng trong GR  Hiện tượng không tìm ra biểu thức mô tả bảo toàn năng lượng định xứ (local) trong GR vào thời bấy giờ đã làm đau đầu những bộ óc vĩ đại như David Hilbert, Felix Klein và thậm chí Albert Einstein.  Các định lý của Noether đã giải quyết được vấn đề đó!  Emmy Noether công bố công trình dưới tiêu đề “Invariante Varlationsprobleme” (viết tắt là I.V.) Hai định lý trong công trình này bộc lộ được mối quan hệ giữa đối xứng và các định luật bảo toàn trong vật lý.  Lúc bấy giờ, Hilbert, Felix Klein đang quan tâm đến việc hoàn thiện GR (General Relativity). Một vấn đề quan trọng là bảo toàn năng lượng trong GR.  Trong GR, năng lượng không được bảo toàn một cách định xứ như trong các lý thuyết trường cổ điển khác (hấp dẫn Newton, điện từ, thủy động học…). Vấn đề bảo toàn năng lượng trong GR đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ.    Emmy Noether.  Trong ngôn ngữ hiện đại GR là một trường chuẩn (gauge). Nhóm đối xứng của lý thuyết là một nhóm chuẩn. Đây là nhóm biến đổi tọa độ tổng quát (group of general coordinate transformations) có một số vô hạn liên tục các vi tử (generator) vi phân độc lập với nhau. Noether gọi nhóm đó là nhóm liên tục vô hạn (an infinite continuous group). Nhóm Poincare là nhóm con của nhóm này có 7 vi tử vi phân độc lập với nhau. Noether gọi những nhóm như thế là nhóm liên tục hữu hạn (finite continuous group).  Sự khác nhau giữa hai nhóm đó cũng là sự khác nhau giữa 2 định lý của Noether trong công trình I.V.   Định lý I được áp dụng khi ta có nhóm đối xứng liên tục hữu hạn.  Định lý II được áp dụng khi ta có nhóm đối xứng liên tục vô hạn.  Về mặt vật lý trong trường hợp thứ nhất ta có một mật độ năng lượng bảo toàn định xứ. Lúc này tensor năng – xung lượng  có div = 0 (divergence free).  Trong trường hợp thứ hai  (GR) không có ý nghĩa khi nói đến sự định xứ của năng lượng (definite localization of energy).  Ta cũng có thể thành lập một đại lượng với div = 0 (divergence free) như tensor năng xung lượng như trong SR (Special relativity), song tensor này trong GR lại phụ thuộc vào điều kiện chuẩn (gauge) có nghĩa là không hiệp biến (covariant) dưới các biến đổi tọa độ. Như vậy nếu lấy tensor này dù là có div = 0 thì cũng không có nghĩa là ta có một định luật  bảo toàn năng lượng định xứ.  Trong GR biểu thức bảo toàn năng lượng sẽ có một dạng khác. Vì lý thuyết là chuẩn nên ta có nhóm đối xứng liên tục vô hạn mà dịch chuyển thời gian (time translation) là nhóm con.  Định lý II Noether hàm ẩn con đường dẫn đến phương pháp tìm  đại lượng  gọi là giả tensor (pseudotensor-tiền tố pseudo có nghĩa là “giả”, đại lượng này được gọi như thế vì  không hiệp biến dưới các biến đối tọa độ tổng quát).  Một giả tensor lại hiệp biến với các biến đổi tuyến tính của nhóm Poincare và có thể dùng cho các vùng không – thời gian xa các nguồn hấp dẫn để suy ra nguyên lý bảo toàn năng lượng.  Định lý I Noether: ƌνTμν = 0 Khi tác động (action) bất biến đối với dịch chuyển không thời gian thì divergence    Điều này dẫn đến bảo toàn năng lượng định xứ.  Định lý I và cuộc đời của Noether được trình bày đầy đủ  trong bài viết lý thú gây nhiều cảm xúc của tác giả Nguyễn Xuân Xanh3 và theo gợi ý của NXX chúng tôi viết bài này nhằm cung cấp thêm một số thông tin về định lý II của Noether.  Song nếu chuyển sang GR thì metric tensor gμν phụ thuộc vào không thời gian. Ta có phương trình Rμν -1/2Rgμν = xTμν  Tensor Tμν mô tả đóng góp của điện từ và các trương vật chất khác song không có đóng góp của hấp dẫn. Vậy T00 không phải là năng lượng toàn phần. Vậy tensor đó không có div = 0. Điều này Hilbert đã hiểu từ năm 1915 song vấn đề chưa hiểu được là làm thế nào mà xác định được nguyên lý bảo toàn năng lượng trong GR.  Hãy đi sâu hơn vào định lý II của Noether.  Định lý II Noether:  Nếu hàm tác động (action) S bất biến đối với nhóm G∞ρ thì tồn tại ρ hệ thức    Như vậy định lý II nói rằng có những “đẳng thức phụ thuộc” (dependencies – từ của Noether) giữa các biểu thức Lagrange [Ψ] và các đạo hàm của chúng.  Nhóm G∞ρ = nhóm biến đổi vô hạn chiều phụ thuộc vào ρ hàm bất kỳ, ρ∞ (xμ) , (α = 1,2… ρ) và các đạo hàm bậc một của chúng và cuối cùng là:    [Ψ]i = 0 là các phương trình Euler – Lagrange cho [Ψ].  Ở đây ta thấy phương trình liên tục dòng có thể suy ra từ đối xứng chuẩn định xứ nhờ Định lý II Noether  Theo định lý II thì phương trình liên tục lẽ dĩ nhiên cũng có thể suy từ các phương trình trường song định lý II cho ta thấy rằng các phương trình trường chỉ là điều kiện đủ (sufficient) mà không là những điều kiện cần (necessary). Điều này trái với trường hợp đối xứng toàn bộ (global) ở đấy phương trình liên tục phải là hệ quả của các phương trình trường xuyên qua định lý I. Ở đấy các phương trình trường vùa là cần và đủ để suy ra phương trình liên tục.  Có thể nói phát biểu gọn hơn.  Định lý II Noether: Tồn tại một số “đẳng thức phụ thuộc” (gọi là dependencies) giữa các hàm Lagrange và các đạo hàm. (derivatives). Những đẳng thức đó trong GR là những đẳng thức Bianchi.  Dependencies = đẳng thức phụ thuộc giữa các trường không xác định bới các phương trình chuyển động.  Theo tài liệu 1 trang 234 định lý II Noether (với các dependencies) đã mở ra “con đường hoàng gia” (royal road) để tiếp cận vấn đề bảo toàn năng lượng trong GR.  Giả tensor (pseudotensor) năng xung lượng trong GR  Trên con đường hoàng gia đó, nhiều nhà vật lý (Jackiw, Weinberg) đã tìm ra một đại lượng quan trọng là giả tensor (pseudotensor-tiền tố pseudo có nghĩa là giả) với div = 0.  T μν eff  = T μν  + t μν  Ngoài ra Landau &Lifshitz cũng tìm ra được giả tensor theo cách riêng (xem7, Landau & Lifshitz trang 360,…).  Nếu phân tích sâu quá trình tính toán pseudotensor trong7 ta nhận thấy rằng Landau & Lifshitz đã sử dụng hệ thức Bianchi (dùng công thức (92,1) trang 334) nghĩa là đã sử  dụng Theorem II Noether.  Pseudotensor này thỏa mãn  điều kiện div = 0, và biểu diễn luật bảo toàn năng lượng trong GR 7, trang 361: T μν eff , μ = 0                                                   Các đại lượng t μν phụ thuộc chuẩn, không biến đổi như tensor cho nên được gọi là giả tensor (pseudotensor). Các đại lượng này phụ thuộc các ký hiệu Christofell (xem 7 trang 380).  Sử dụng pseudotensor đó người ta có thể phát biểu một nguyên lý cho việc bảo toàn năng lượng bằng cách lấy tích phân trên một siêu mặt đồng dạng không gian rộng và tiệm cận phẳng.  Và từ đó chúng ta có được một 4-vector Pα năng xung lượng mang cả năng – xung lượng của bức xạ hấp dẫn và là constant theo thời gian.  Vector này hành xử giống như trong SR đối với các biến đổi Lorentz và không phụ thuộc vào tọa độ sử dụng.  Kết luận  Hai định lý quan trọng của Noether là một đóng góp lớn cho vật lý hiện đại. Định lý thứ II đã giúp giải quyết vấn đề bảo toàn năng lượng trong GR, một vấn đề mà những nhà toán học và vật lý, những bộ óc vĩ đại như David Hilbert, Felix Klein và thậm chí Albert Einstein đều phát biểu là một bài toán khó, họ đều khen ngợi Emmy Noether vì thành công này.  ——-  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1 Dwight E.Neuenschwander,Emmy Noether’s wonderful theorem, Johs Hopkins University Press, Baltimore  2 Katherine Brading and  Harvey R. Brown Noether’s Theorems and Gauge Symmetries  arXiv:hep-th/0009058v1  8 Sep 2000  3 Nguyễn Xuân Xanh, Emmy Noether, Tạp chí Tia Sáng số 19-05.10.2018.  4 DAVID E. ROWE,  Emmy Noether le centenaire d’un théorème, Pour la Science tháng 9/2018Science No 490, tháng 8/2018  5 Nina Byer, E. Noether’s Discovery of the Deep Connection Between Symmetries and Conservation Laws  THE HERITAGE OF EMMY NOETHER IN ALGEBRA, GEOMETRY, AND PHYSICS  http://cwp.library.ucla.edu/articles/noether.asg/noether.htm  6 Hans Ohanian &Remo Ruffini,Gravitation and spacetime  W.WNorton and Company.New York *London,1994,page 358  7 Л .Д  Ландау & Е .М Лифшиц  ТЕОРИЯ ПОЛЯ, НАУКА 1973    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Entropy – động lực của vũ trụ      Chúng ta đã biết  định luật 2 nhiệt động học khẳng định rằng: entropy của một hệ kín luôn luôn tăng. Điều đó có nghĩa là hệ kín ngày càng trở nên mất trật tự.  Thế tại sao hiện nay vũ trụ ta quan sát được dường như không tiến triển như vậy. Bài viết này nhằm chứng minh rằng định luật 2 vẫn là định luật cơ bản đối với quá trình tiến triển của vũ trụ.        Thế nào là entropy?     Có hai định nghĩa của entropy: định nghĩa nhiệt động học và định nghĩa cơ học thống kê. Định nghĩa nhiệt động học được phát triển đầu tiên.  1/ Từ quan điểm nhiệt động học hệ gồm nhiều thành phần (nguyên tử, phân tử) và trạng thái của hệ được miêu tả bởi các tính chất trung bình của những thành phần đó. Chi tiết các thành phần của hệ không được xét đến tuy nhiên cách hành xử của chúng được được mô tả bằng những tính chất trung bình vĩ mô như T (nhiệt độ), Q (nhiệt lượng)…  Hãy xét để minh họa chu trình Carnot.  Trong chu trình Carnot nhiệt lượng Q N được hấp thụ ở nhiệt độ  TN từ một bình chứa nóng rồi từ đó một nhiệt lượng QL  được chuyển sang một bình chứa lạnh ở nhiệt độ TL.  Theo nguyên lý Carnot, công W chỉ sản  ra nếu QN > QL. Và ta có:    Hệ số            gọi là hệ số hữu dụng Carnot (Carnot efficency) là một số nhỏ hơn một.  Khi TL = TN  thì không có công nào được sản ra.  Song thực tế công W không đạt được trị số max trên đây và thực tế ta có (Clausius)    Ta lại có    Vì vậy nếu gọi entropy S = Q/T  Từ đó ta có SN < SL.  Trên đây là một minh họa ứng dụng khái niệm entropy.  2/ Tiếp theo là định nghĩa cơ học thống kê dựa trên chuyển động của các thành phần vi mô (cổ điển là các hạt Newton và lượng tử là các hạt như photon, phonon, spin,…).  Entropy tính qua số trạng thái vi mô i và xác suất pi  của trạng thái đó.    Khái niệm entropy đã tiến triển nhiều từ thế kỷ 19.  Theo Leonard Susskind thì entropy là khái niệm thông tin ẩn (information cachées), tức số đo độ không hiểu biết của chúng ta về một hệ.  Theo Roger Penrose, entropy là số đo độ hỗn độn (randomness), vì vậy sự tiến triển của hệ là không tiên đoán được (nói cách khác hệ chứa nhiều thông tin khác nhau và bất cập đối với chúng ta).  Định luật 2 nhiệt động học theo tinh thần thế kỷ 19 sẽ dẫn đến tình trạng gọi là chết nhiệt của vũ trụ (mort thermique): vũ trụ kết liễu đời mình bằng một trạng thái hỗn độn, không trăng, không sao, không thiên hà.  Song với người ta đã quan sát trong 14 tỷ năm qua, dường như không phải một trạng thái hỗn độn tiên đoán bởi định luật 2 nhiệt động học mà một quá trình hình thành nguyên tử, phân tử, các tế bào sống. Làm thế nào để giải thích những điều đó không mâu thuẫn với quan điểm nhiệt động học?  Để giải thích điều đó chúng ta cần biết định luật 2 đã thu nhập được nhiều nội dung mới làm tăng số nguồn entropy lên rất nhiều. Yếu tố chính là chúng ta phải đưa vào lý thuyết các tương tác hấp dẫn, hạt nhân, điện từ,… trong thế entropy luôn tăng.  Entropy luôn là nguồn gốc để hiểu động học (dynamique) của các thiên hà, của vũ trụ. Nói chung entropy nằm ở mọi nơi luôn là một yếu tố tế nhị và độc tôn.  Các thiên hà được điều khiển bởi entropy, xem một hiện tượng vũ trụ minh họa ở hình 1.     Entropy xét song song với hấp dẫn, hạt nhân, điện từ    Hình1. Những thiên hà Antennes NGC4038 (phía dưới) và NGC4039 đang va chạm nhau, chúng tương tác qua hấp dẫn, hấp dẫn này gắn liền với entropy.     Hấp dẫn có thể có nguồn gốc từ entropy (xem hình 1)  Erik Verlinde cho rằng, hấp dẫn là một lực entropic, xin tham khảo tài liệu1 trang 78. Fa = -meΦ∇aΦ trong đó Φ = thế hấp dẫn.  Như vậy hấp dẫn có nguồn gốc entropy. Đây là hệ quả của khuynh hướng của một hệ muốn tăng entropy.  Vào đầu thế kỷ 20, người ta chú ý nhiều đến hấp dẫn và điều này dẫn đến việc đào sâu khái niệm entropy.  Giống như một chất khí (ban đầu là homogene) khi bị nung nóng sẽ trở thành một hệ (không còn homogene nữa) của các ion và electron (một loại plasma), và tương tự một hệ lớn nguyên thủy cũng có thể được xem như một gaz gồm nhiều sao tương tác hấp dẫn với nhau.  Điều thấy được là dưới tác động của hấp dẫn một hệ đồng nhất- homogene (nhẵn đều) có thể biến thành một thể không đồng nhất-non homogene (gồm các khối tụ bao quanh bởi chân không) đúng theo định luật 2 nhiệt động học. Đây chính là sự hình thành các sao, từ đó hình thành sự sống như trên trái đất. Có thể nói, đây là nguồn entropy mới cho vũ trụ.  Điểm này gắn liền với hấp dẫn entropic2.  Chúng ta còn biết đến các entropy do các tương tác hạt nhân, điện từ (ngoài hấp dẫn).  Một phần khối lượng mặt trời (trong phản ứng nhiệt hạch) biến thành photon chiếu sáng cũng là một nguồn. Vì lực hạt nhân trong các sao hình thành những nguyên tố nặng (C,N,O) dẫn đến sự xuất hiện các phân tử, yếu tố của sự sống.     Vai trò của photon     Photon rời các sao và đi vào khoảng không vũ trụ. Như vậy, số lượng photon tăng dần và là một nguồn entropy.  Các sao  với khối lượng lớn sẽ biến dần thành lỗ đen (BH-Black hole). Và vào khoảng 1069 năm, tất cả BH sẽ bốc hơi vì bức xạ Hawking và như thế các BH là một nguồn entropy lớn.  Sự hình thành các sao, các thiên hà, các nguyên tử các phân tử, các tế bào sống là những hiện tượng phù hợp với định luật 2 nhiệt động học. Song phải đưa vào lý thuyết tương tác hấp dẫn và các tương tác khác thì điều này mới được sáng tỏ.  Người ta tự hỏi không biết các quá trình đó kéo dài bao nhiêu lâu?  Nhắc lại là quan điểm nhiệt động học thế kỷ 19, 20 về chết nhiệt dựa trên một sự thiếu hiểu biết toàn diện về các tương tác do đó thiếu kết hợp với tương tác hấp dẫn và các tương tác khác.  Chắc rằng chúng ta sẽ phát hiện nhiều thiên thể mới (có thể nhiều tương tác mới) làm tăng các nguồn entropy và đẩy xa chết nhiệt. Tương lai vũ trụ còn chưa tiên đoán được.     Kết luận     Như vậy ta thấy rằng vũ trụ vẫn tiến triển theo định luật 2 nhiệt động học. Song trên quá trình đó chú ý đến tương tác hấp dẫn và các tương tác khác (hạt nhân, điện từ,…) chúng ta thấy xuất hiện sự hình thành những quá trình tạo nên hệ không thuần nhất (non homogene) từ những hệ thuần nhất (homogene) theo đúng định luật 2 nhiệt động học, và đó chính là sự hình thành các thiên hà, các sao. Và dường như quá trình này là một quá trình nhiều cấp (hierarchy) không biết kéo dài bao lâu. Và cũng chú ý rằng trong quá trình đó entropy luôn tăng và bảo đảm định luật 2 mà không mâu thuẫn với hiện trạng vũ trụ mà ta quan sát được. □  ——–  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1 Cao Chi, Những vấn đề mới trong Vật lý hiện đại, NXB Tri Thức, 2018.  2 ENTROPIE L’architecte  de l’Univers, La Recherche số tháng 2/2019.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Ernest Lawrence – Thất bại đáng giá      Lawrence, người tạo ra máy gia tốc cyclotron, cũng từng cố gắng đưa những máy vô tuyến truyền hình màu đầu tiên tới người tiêu dùng Mỹ. Câu chuyện về những nỗ lực của ông tiết lộ mối liên hệ giữa lịch sử vô tuyến truyền hình với vật lý học và quân đội.                    Ernest Lawrence điều khiển máy cyclotron trong những năm 1930.    Ở Mỹ, số ti-vi nhiều hơn số dân. Ba phần tư số gia đình Mỹ có máy tính cá nhân hoặc máy tính bảng, tức là nhiều hơn số gia đình nuôi chó hoặc mèo. Và hiện tại, gần hai phần ba số người Mỹ – tính cả trẻ em – sở hữu một chiếc điện thoại thông minh. Chúng ta nhìn thế giới qua những ô cửa sổ màn hình; chúng ta làm việc, giao tiếp, và giải trí đều thông qua những thứ đồ thủy tinh đó.  Thế mà chỉ 60 năm trước, việc truyền các hình ảnh màu lên các màn hình điện tử mới hơi bắt đầu khả thi. Suốt hai thập kỷ sau Thế chiến II, các công ty bỏ ra hàng trăm triệu đô-la để tìm cách hiển thị các hình ảnh động bằng màu sắc chân thực. Thất bại rực rỡ của họ chỉ bắt đầu mờ nhạt đi trong thập kỷ 1960, nhờ vào sự cải tiến dần dần của bóng đèn điện tử chân không và ngành điện tử. Một số bóng tốt nhất có xuất xứ bất ngờ: từ Ernest Lawrence và các nhà vật lý học ở Phòng thí nghiệm Bức xạ của Đại học California tại Berkeley.  Các nhà vật lý học nhớ đến Lawrence chủ yếu vì ông đã xây dựng máy gia tốc cyclotron, nhờ đó được giải Nobel Vật lý năm 1939. Các nhà sử học lại thường nhìn nhận ông qua một hoạt động nổi tiếng khác: sự ủng hộ vũ khí hạt nhân. Hai phòng thí nghiệm mà ông thành lập ở California để phục vụ cho hai mục đích trên đến nay vẫn mang tên ông: Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley và Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore. Nhưng Lawrence tin rằng mình sẽ luôn được nhớ tới vì một sự nghiệp thứ ba: sự phát triển của vô tuyến truyền hình màu. Ông thậm chí còn lo rằng nó sẽ là tất cả những gì người ta nhớ về mình.  Năm 1948, khi các nhân viên của ông tại Phòng thí nghiệm Bức xạ bắt đầu xây dựng Bevatron, máy gia tốc lớn nhất tại thời điểm đó, Lawrence đã bắt đầu dành năng lượng cho việc khác. Ông cống hiến bản thân cho hai niềm đam mê song song khác: bom nhiệt hạch và vô tuyến truyền hình màu. Tâm huyết ông dành cho cái đầu tiên được cho là do lòng ái quốc, còn sự quan tâm dành cho cái thứ hai chỉ được coi là do sở thích, nhưng động cơ của ông không dễ phân tách như vậy. Màn hình màu không chỉ hiển thị được các chương trình tạp kỹ và thời sự tối; chúng còn có thể làm hiển thị rõ tên lửa và máy bay ném bom nước ngoài. Công trình về vô tuyến truyền hình màu của ông cũng là bằng chứng của lòng yêu nước, và cũng như với bom nguyên tử, nó là kết quả tự nhiên của những nghiên cứu vật lý của ông.      Lawrence tin rằng mình sẽ luôn được nhớ tới vì một sự nghiệp thứ ba: sự phát triển của vô tuyến truyền hình màu. Ông thậm chí còn lo rằng nó sẽ là tất cả những gì người ta nhớ về mình.      Ti-vi vốn là các máy gia tốc hạt. Các trường điện từ phóng các chùm hạt tích điện qua các ống chân không đến mục tiêu của chúng, là các phốt-pho màu trên màn kính. Các gia đình dán mắt vào thứ ánh sáng phát ra từ những va chạm đó, không khác gì các nhà vật lý học rà xét những hình ảnh về sự tán xạ với hy vọng có được khám phá. Vật lý của các chùm electron truyền đi những bộ phim truyền hình cũng giống với vật lý của các chùm electron tìm ra sự tồn tại của những hạt quark.  Các nhà vật lý học thời đó sẵn sàng dùng chuyên môn của mình để cải tiến cả việc phát sóng lẫn máy thu hình. Lawrence còn thành lập một công ty vô tuyến truyền hình, tuyển dụng vài chục nhà vật lý học, trong đó có hai người, Luis Alvarez và Edwin McMillan, về sau cũng được giải Nobel Vật lý. Như vậy, lịch sử vô tuyến truyền hình màu bắt rễ từ nghiên cứu vật lý của Lawrence và nỗi sợ của ông trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh.     Từ đen trắng tới màu     Vào cuối Thế chiến II, tại nước Mỹ lục địa2 có 3000 chiếc ti-vi, và cũng như hầu hết các bức ảnh và phim chiếu bóng khi đó, chúng hiển thị các hình ảnh với các màu đen, trắng, xanh nhợt. Ba năm sau, các công ty Mỹ sản xuất gần một triệu chiếc ti-vi mỗi năm. Sự tăng trưởng quá nhanh của vô tuyến truyền hình khiến Ủy ban Truyền thông liên bang (FCC) phải ngừng cấp giấy phép thành lập đài truyền hình vì lo hết băng thông.  Thượng nghị sỹ Edwin Johnson (đảng Dân chủ, bang Colorado) muốn nhờ một nhà vật lý học thúc ép FCC tăng băng thông và cho phép sản xuất vô tuyến truyền hình màu. Thế là tháng 5 năm 1949, ông yêu cầu Edward Condon, giám đốc Cục Tiêu chuẩn Quốc gia3, nghiên cứu việc phát sóng ở tần số cực cao (UHF) và một tiêu chuẩn cho vô tuyến truyền hình màu. Sáu ngày sau, FCC mời ba công ty RCA, CBS và Color Television trình diễn mẫu vô tuyến truyền hình màu của mình. Lawrence gấp rút chạy đua để cạnh tranh với họ.  Cũng như hầu hết mọi câu chuyện sáng lập trong kinh doanh, câu chuyện mà sau này Lawrence kể với báo chí về khởi nguồn công ty vô tuyến truyền hình của mình hoặc đã được phóng đại quá đáng, hoặc là chuyện bịa. Mối quan tâm của ông chẳng hề được gợi lên vào một buổi sáng Giáng sinh, khi các con ông thắc mắc vì sao máy thu hình nhà mình phát ra màu đen trắng trong khi thế giới tỏa đầy màu sắc. Và ông cũng chẳng hề viết vội những ý tưởng đầu tiên trên giấy gói quà.          Poster quảng cáo của Chromatic Television. Duke Digital Repository – Duke University.    Mùa xuân năm 1948, George Everson, giám đốc nhân sự của Phòng thí nghiệm Bức xạ của Lawrence, giới thiệu với sếp của mình Philo Farnsworth, kỹ sư vô tuyến truyền hình và là nhân vật chính của cuốn tiểu sử mà Everson đang viết. Trước đó, Lawrence từng thiết kế một mẫu vô tuyến truyền hình đen trắng, nó bị mẫu của Farnsworth thế chỗ. Lawrence đang muốn thử lần nữa, lần này với vô tuyến truyền hình màu, vì vậy ông bàn bạc với Farnsworth và một số đồng nghiệp hiểu biết ở Berkeley. Đáng chú ý là Alvarez khi đó đã là một chuyên gia tư vấn công nghệ vô tuyến truyền hình có tiếng, nhờ những đổi mới ông mang đến cho các hệ thống ra-đa trong thời chiến.  Cuối mùa xuân đó, Lawrence đi Mexico cùng Seeley Mudd, một bác sỹ và nhà từ thiện nổi tiếng. Trên máy bay riêng, Mudd cho Lawrence biết rằng George Sleeper, trưởng bộ phận kỹ sư của Color Television, đang phát triển các màn hình điện tử hiển thị đen trắng hoặc màu.  Sau khi trở về từ Mexico, trong lúc lái xe trên đường cao tốc dọc bờ biển California đến ngôi nhà nghỉ mát ở đảo Balboa, Lawrence nảy ra một ý tưởng. Ông hình dung ra một chiếc máy vô tuyến truyền hình có các dây tích điện bẻ cong các chùm electron bắn vào các hợp chất huỳnh quang trên một màn hình thủy tinh. Đầu mùa xuân năm đó, Lawrence đã bắt đầu ghi chép những ý tưởng để cách mạng hóa máy cyclotron. Nhưng chiếc máy gia tốc yêu quý của ông đã bị những thiết kế của Alvarez và McMillan vượt qua. Vì thế, ông ghi lại ý tưởng về vô tuyến truyền hình và dành cuốn sổ ghi chép cho việc cách mạng hóa màn hình màu, thay vì cho máy gia tốc.  Quay lại khu vịnh San Francisco, Lawrence tới công ty luật Lippincott & Smith. Tuy nhiên, Donald Lippincott đã đại diện cho Alvarez và Farnsworth, và đang chuẩn bị nộp hồ sơ bằng sáng chế cho vô tuyến truyền hình màu của Sleeper, vì vậy Lawrence gặp thành viên còn lại, Samuel Smith. Smith cảnh báo rằng RCA đã có bằng sáng chế cho một bóng điện tử chân không giống như cái mà Lawrence hình dung. Ngày hôm sau, Lawrence thiết kế một cặp kính có bánh xe màu, dùng để xem ti-vi. Nhưng Peter Goldmark, người vừa mới đưa ra định dạng đĩa than LP, đã đặt những bánh xe như thế trong các vô tuyến truyền hình của CBS.  Lawrence yêu cầu Alvarez giúp đưa ra một ý tưởng độc đáo. Tại San Francisco, họ chứng kiến chiếc máy của Sleeper hoạt động, và một hai ngày sau, luật sư của Sleeper cho họ xem bằng sáng chế đang chờ duyệt của nó. Ngày tiếp theo, Lawrence phác thảo một chiếc vô tuyến truyền hình mới, với các phốt-pho được sắp xếp tương tự như chiếc của Sleeper. Sau đó, Lawrence làm giống như ông đã làm với máy cyclotron: ông hướng dẫn hai thành viên trẻ của phòng thí nghiệm, Dick Mack và William Ross Aiken, xây dựng một thiết bị hoạt động.     Những thiết kế khác     Phim từng là sự nối tiếp của ảnh chụp – những khoảnh khắc được ghi lại trong các khuôn phim. Máy chiếu quay các khuôn hình tĩnh với cùng tốc độ khi chúng được ghi, và chiếu một luồng sáng qua chúng lên màn ảnh. Rồi bộ não của chúng ra khiến cho những khuôn hình đó chuyển động.  Các camera vô tuyến truyền hình băm vụn hình ảnh. Chúng quét những thứ trước mặt – trái qua phải, trên xuống dưới – và chuyển cường độ ánh sáng thành các tín hiệu điện tử. Các tín hiệu điện tử được truyền tuần tự dưới dạng sóng radio tới máy thu. Quá trình này rất phức tạp, bởi thế truyền hình phát triển sau điện ảnh hàng thập kỷ. Và màu sắc chỉ làm vấn đề phức tạp thêm. Tín hiệu điện tử bị nhân ba: cần một tín hiệu cho mỗi một trong ba màu chính đỏ, xanh dương, xanh lục.  Không chỉ có một cách để phân tích thông tin hình ảnh, vì vậy mỗi công ty làm một kiểu khác nhau. RCA chia hình ảnh thành các chấm. Color Television cắt chúng thành các dòng. CBS chiếu toàn bộ hình ảnh bằng các bánh xe màu cơ học. Tuy nhiên, các hệ thống khác nhau không tương thích với nhau, tín hiệu của hệ thống này không hiển thị được trên máy thu của hệ thống khác.  Thế là năm 1949, trong lúc các trợ lý đang vật lộn để làm ra một chiếc máy mẫu, Lawrence tìm kiếm một cách ưu việt hơn để mã hóa các tín hiệu và nén thông tin sao cho phù hợp với mọi hệ thống. Lippincott bảo Lawrence rằng đó là một ý tưởng kịp thời và sắc bén [1]. Nếu Lawrence làm ra được một máy vô tuyến truyền hình hiển thị được tín hiệu của mọi hệ thống, nó sẽ rất có khả năng cạnh tranh, bất kể FCC chọn tiêu chuẩn nào vào cuối năm đó.          Logo của hãng phim Paramount bao gồm cả tia chớp thể hiện mối quan tâm của công ty này tới TV    Gần cuối mùa hè, Liên Xô cho nổ một quả bom nguyên tử. Ba ngày sau, các phiên điều trần của FCC về vô tuyến truyền hình màu diễn ra, do sự hối thúc của Johnson, người cũng sẽ cố vấn cho Tổng thống Harry S. Truman về một quả siêu bom. Lawrence và Alvarez vừa suy tư về bom nhiệt hạch vừa băn khoăn về vô tuyến truyền hình màu. Vào tháng 10, họ bay tới Washington, DC, và vận động Ủy ban Năng lượng nguyên tử (AEC) xây dựng một máy gia tốc tuyến tính khổng lồ để tạo ra các đồng vị uranium và tritium để sản xuất bom. Họ trở về Berkeley mà không nhận được sự ủng hộ nào, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành các kế hoạch của mình [2].  Mùa thu, Lawrence mua căn nhà thứ ba, ở Diablo, California. Gia đình ông không thích sự biệt lập của nó, vì thế ông mời các đồng nghiệp đến. Họ nghịch ngợm với vô tuyến truyền hình màu và thảo luận về siêu bom trong ga-ra hai chỗ đó.  Ngày 28 tháng 10 năm 1949, FCC hoãn quyết định ra tiêu chuẩn vô tuyến truyền hình màu tới năm sau. Nhưng nó quy định rằng mọi ti-vi màu cũng phải hiện thị được tín hiệu đen trắng. Cùng ngày, các nhà khoa học họp ở Washington, DC, để tư vấn AEC về bom nhiệt hạch. Alvarez có mặt trong thành phố để nghe điều trần của FCC về vô tuyến truyền hình màu, và ông cũng đến để vận động J. Robert Oppenheimer, chủ tịch Hội đồng Cố vấn của AEC, về máy gia tốc tuyến tính.     Trong kinh doanh     Tháng 1 năm 1950, Lawrence yêu cầu AEC cấp 7 triệu USD để xây dựng một nguyên mẫu cho cỗ máy khổng lồ “Máy gia tốc Thử nghiệm vật liệu”, còn gọi là Mark I, của ông tại một căn cứ quân sự cũ ở Livermore. Hai ngày sau, ông ký một thỏa thuận với hai chàng trai đang làm việc cải tiến chiếc vô tuyến truyền hình của mình. Theo lời khuyên của luật sư kiêm doanh nhân Rowan Gaither, Mack và Aiken sẽ nhận một phần ba toàn bộ lợi nhuận từ ti-vi màu của Lawrence.  Trong thời chiến, Gaither từng làm cầu nối giữa các nhà vật lý học chế tạo ra-đa và các công ty sản xuất chúng. Ông lại nhận vai trò đó thêm một lần nữa. Tháng 1 năm 1950, Gaither và Lawrence thành lập công ty Gaither & Company, thông qua đó vị luật sư đầu tư tiền cho các thiết bị của nhà vật lý học. Và một tháng sau, khi các phiên điều trần về vô tuyến truyền hình màu được nối lại ở Washington, DC, hai người thành lập thêm một công ty, Telecolor.  Mẫu vô tuyến truyền hình màu của Lawrence vẫn còn thô, nhưng các mẫu [của các công ty] khác cũng thế. Hệ thống của RCA có những tấm gương dễ vỡ. Các bánh xe màu của CBS không tương thích với tín hiệu đen trắng. Máy của Sleeper thì nhấp nháy nhiều đến mức không thể xem được. Lawrence biết rằng mình có thể cạnh tranh. Vì vậy, trong khi các phiên điều trần của FCC tiếp diễn, ông thương lượng lại với các cộng sự. Bây giờ, ông đồng ý sẽ trả đến một nửa lợi nhuận sẽ thu được, nhưng không quá 20 000 USD (tương đương với 200 000 USD ngày nay). Lawrence biết rằng ý tưởng của mình có giá hơn thế nhiều. Chưa đến một tuần sau, ông đăng ký bằng sáng chế cho một loại vô tuyến truyền hình màu có thể hiển thị nội dung phát sóng từ mọi hệ thống khác – nó có các phốt-pho trên các dải kim loại phía sau màn hình, giống như các tấm mành.  Một ngày sau khi hồ sơ bằng sáng chế được nộp, Gaither khuyên Richard Hodgson, giám đốc phát triển truyền hình của hãng phim Paramount, nên gặp Lawrence. Cuộc đấu dai dẳng giữa điện ảnh và truyền hình vừa mới chỉ bắt đầu. Năm 1948, Tòa án Tối cao chấm dứt sự độc quyền của các hãng phim ở Hollywood4 và lệnh cho Paramount phải từ bỏ các rạp chiếu phim. Vì thế, Paramount đầu tư vào các công nghệ cạnh tranh và trở thành một tập đoàn truyền thông. Giờ thì hãng có thể đầu tư cho Lawrence. Thậm chí Lawrence và Hodgson còn có điểm chung: trước khi tham gia phát triển truyền hình cho một hãng phim, Hodgson từng làm việc với ra-đa và quản lý các nhà vật lý học tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven.  Lawrence và Paramount đạt được một thỏa thuận. Barney Balaban, chủ tịch Paramount, mua một nửa cổ phần của Telecolor với giá 1 triệu USD và đổi tên công ty thành Chromatic Television Laboratories. Hodgson trở thành chủ tịch. Lawrence và Gaither tham gia ban giám đốc. Alvarez, McMillan và các nhà vật lý học khác làm cố vấn. Paramount còn thêm hình một tia chớp vào biểu tượng công ty để thể hiện sự quan tâm đối với điện tử và Chromatic (hình 2).  Lawrence ngay lập tức dùng tiền từ Paramount để trang bị cho ga-ra ở Diablo. Chỗ đó tiện cho những công việc khác của ông: Diablo nằm giữa Berkeley và Livermore, nơi các máy gia tốc của ông đang được xây dựng. Lawrence còn dán nhãn để phân biệt các dụng cụ của Paramount với các dụng cụ được mang đến từ các phòng thí nghiệm khác. Sau đó, ông mua một bàn bóng bàn và một tủ lạnh chất đầy bia, để mọi người có thể thư giãn khi làm công việc thứ ba của mình.□     (Còn tiếp)     Tác giả: Joshua Roebke là một tác giả kiêm nhà nghiên cứu, đồng thời giảng dạy tại Đại học Texas tại Austin. Cuốn sách The Invisible World: The Story of Particle Physics and the Forces That Shaped the 20th Century của ông nhận được tài trợ năm 2016 dành cho tác phẩm không hư cấu của Quỹ Whiting (Whiting Foundation Creative Nonfiction Grant) và sắp được NXB Farrar, Straus and Giroux xuất bản.     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn bài và ảnh: https://physicstoday.scitation.org/doi/full/10.1063/PT.3.4162     Tài liệu tham khảo:   [1] H. Childs, Materials Assembled for a Biography of Ernest O. Lawrence, CU-369, University Archives, Bancroft Library, U. California, Berkeley (Tư liệu cho tiểu sử của Ernest O. Lawrence)  [2] G. Herken, Brotherhood of the Bomb: The Tangled Lives and Loyalties of Robert Oppenheimer, Ernest Lawrence, and Edward Teller, Henry Holt & Co (2002). (Người anh em của bom: Cuộc đời gắn kết và sự trung thành của Robert Oppenheimer, Ernest Lawrence, và Edward Teller)  [3] H. R. Gaither Jr to L. Alvarez (11 October 1950), RG 326, Records of the Atomic Energy Commission, National Archives at San Francisco. (Ghi chép của Ủy ban Năng lượng Hạt nhân)  Chú thích của người dịch:  1 Nguyên văn “brilliant failure”. Ở đây có một chút chơi chữ: brilliant vừa có nghĩa là sáng, rực rỡ (màn hình TV), vừa có nghĩa là tài, xuất sắc (thành quả khoa học).  2 Phần nước Mỹ không tính Hawaii và các đảo thuộc Mỹ, tức là gồm 48 bang liền kề, Alaska và Quận Columbia.   3  National Bureau of Standards, nay là National Institute of Standards and Technology (NIST) – Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia..  4 Kể từ phán quyết này, các hãng phim không còn được phép sở hữu rạp chiếu phim nữa.    Author                Joshua Roebke        
__label__tiasang ESA chuẩn bị gom rác vũ trụ      Con người tạo ra nhiều rác trên vũ trụ, đó là các vệ tinh, các bộ phận của tên lửa, tàn dư của tầu thăm dò vũ trụ cũng như trạm vũ trụ. Do đó, Cơ quan Vũ trụ châu Âu sẽ chi 120 triệu Euro để thu gom rác vũ trụ.      Vệ tinh của sứ mệnh không gian  “ClearSpace-1” (đồ hoạ): Bốn cánh tay để thu gom các mảnh vỡ, đưa chúng trở lại bầu khí quyển,  đốt cháy chúng  Hãy tưởng tượng, những rác thải từ những sứ mệnh chinh phục không gian lao nhanh như những viên đạn xung quanh trái đất và ngày càng trở thành nguy cơ gây tai nạn cho các chuyến bay lên vũ trụ. Những cuộc va chạm như thế giữa các rác thải vũ trụ và Trạm vũ trụ quốc tế ISS cũng như các vệ tinh khác đã diễn ra. Vì thế, Cơ quan Không gian Châu âu ESA lên kế hoạch đầu tiên để thu gom và tiêu hủy chúng. Kế hoạch này đã nhận được sự ủng hộ của những nhân vật chủ chốt.  ESA cho hay, tuy kế hoạch “ClearSpace-1” sẽ khởi động vào năm 2025 với sự tham gia của một startup của Thuỵ Sỹ mang tên ClearSpace nhưng công việc chuẩn bị đã được bắt đầu từ tháng 3.2019. Các chuyên gia làm việc tại Bộ phận Điều hành không gian châu Âu (European Space Operations Centre ESOC) ở Darmstadt được ESA trao nhiệm vụ quản lý dự án trị giá 120 triệu Euro này.  Ý tưởng của dự án là hình thành một tầu không gian với bốn cánh tay có khả năng thu gom một phần của tên lửa ESA cũ rồi đưa chúng vào bầu khí quyển trái đất  để chúng tự bốc cháy. Sau này, các tàu vũ trụ đi theo quỹ đạo sẽ thu gom được nhiều mảnh vỡ lớn hơn. “Đây là một loại công việc với nhiều điều mới lạ mà chúng ta nhất thiết phải thực hiện”, Jan Wörner, giám đốc ESA cho hay.  Một trong những lý di khiến ESA muốn thúc đẩy kế hoạch này là trong những năm tới, số lượng vật thải trên vũ trụ sẽ ngày càng nhiều, ví dụ riêng Elon Musk với doanh nghiệp SpaceX dự kiến sẽ phóng lên vũ trụ 42.000 vệ tinh. Các quốc gia dự định thành lập các dự án quân sự trên vũ trụ. Hàng trăm thậm chí hàng nghìn tàu vũ trụ sẽ được phóng lên quỹ đạo trái đất, Luc Piguet, giám đốc ClearSpace của Thuỵ sỹ đã cảnh báo như vậy.  Đụng độ với tốc độ tới 40.000 km/giờ    Việc phóng các tàu vũ trụ và vệ tinh lên không gian cũng tạo ra rác thải vũ trụ. Nguồn: Nasa  Vấn đề là có thể có những vật thể từ vũ trụ lao xuống trái đất hay đụng độ nhau ngay trong vũ trụ với sức công phá cực kỳ lớn. Theo dự báo của ESA, một khi các vật thể va chạm nhau ở vận tốc lên tới 40.000 km/giờ thì chúng sẽ tạo thành muôn vàn mảnh vỡ lao xuống trái đất. Các cuộc tập dượt tránh va chạm như vậy đã trở thành công việc hàng ngày của hoạt động trên vũ trụ.  Hiện chưa có luật quy định về việc phải thu gom các loại vật thể trong vũ trụ, tuy nhiên “đây là một vấn đề về đạo lý”,  Wörner nhận xét. Ông đưa ra yêu cầu: trong tương lai, ai muốn phóng một vệ tinh lên vũ trụ phải chứng minh hoặc vệ tinh đó sẽ tự động quay trở lại và bốc cháy, hoặc phải ký một hợp đồng với một doanh nghiệp về việc thu hồi vệ tinh đó, hoặc phải đặt cọc một khoản tiền đủ để chi trả cho việc tiêu hủy nó.  Wörner tin rằng, với dự án thu gom phế thải này  Esa sẽ tạo ra một thị trường mới trong tương lai.  Vũ trụ sẽ được xử dụng ngày càng nhiều cho nhiều mục đích khác nhau  –  thí dụ để thu thập dữ liệu cung cấp cho thiết bị định hướng (Navigationsgeräte). Bảo vệ hạ tầng này có giá trị lớn.  Sứ mạng được dự  kiến có nhiều triển vọng để thực hiện vì ngân sách mới được thông qua của Esa đạt mức kỷ lục.  22 quốc gia thành viên hồi tháng 11 vừa qua đã bất ngờ thông qua việc tăng mạnh ngân sách cho Esa trong năm năm tới – lên  14,4 tỷ Euro. Riêng Đức đã nâng khoản tài chính đóng góp từ  1,9 lên 3,3 tỷ và là thành viên có mức đóng góp lớn nhất.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/weltall/esa-startet-weltweit-erste-aufraeumaktion-im-all-kampf-gegen-weltraumschrott-a-1300420.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang EU cấm sử dụng thuốc trừ sâu Chlorpyrifos ở cam chanh      Thuốc trừ sâu Chlorpyrifos, loại thuốc được nông dân sử dụng để loại trừ sâu bệnh trên cây cam chanh, sẽ bị cấm trên toàn bộ lãnh thổ EU. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, chất độc này ảnh hưởng đến quá trình phát triển não của bào thai khi còn trong bụng mẹ.      Do nguy cơ gây hại đến sức khỏe, thuốc trừ sâu Chlorpyrifos sẽ bị cấm sử dụng tại châu Âu từ cuối tháng giêng sang năm, mặc dù hiện vẫn được sử dụng rộng rãi.  Đây là tin tốt lành đối với người tiêu dùng Đức. Dù loại thuốc trừ sâu này từng bị cấm sử dụng ở Đức từ năm 2011 nhưng gần đây nó vẫn bị phát hiện trong cam, chanh nhập khẩu vào thị trường Đức.  Đa số các quốc gia châu Âu tán thành đề nghị không cho lưu hành loại thuốc bảo vệ thực vật này. Chlorpyrifos bị nghi gây tổn thương đến gien di truyền và thần kinh trẻ em. Tám năm trước, trong một nghiên cứu dài hơi, các nhà khoa học đã đi đến kết luận: chỉ cần một lượng nhỏ Chlorpyrifos cũng có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển của bộ não bào thai trong bụng mẹ.  EU cũng xác định ngay cả dạng Chlorpyrifos-Methyl bị cấm sử dụng. Efsa, cơ quan thực phẩm EU, cho rằng, loại thuốc trừ sâu này có thể gây hại tới sức khỏe con người. Vì vậy EU kiến nghị sẽ không tái cấp phép lưu hành cho loại thuốc trừ sâu này từ cuối tháng 1/2020.  “Việc cấm Chlorpyrifos đáng ra phải thi hành từ lâu rồi. Các loại quả có múi và thực phẩm khác đã đến lúc phải sạch, không có chất độc hại thần kinh này”,  Harald Ebner, nghị sỹ thuộc Đảng Xanh trong Nghị viện Đức đã phát biểu như vậy với báo Spiegel. Đáng ra, EU phải ra lệnh cấm với Chlorpyrifos sớm hơn vì ngay từ năm 2006 đã có văn bản đề cập đến mối nguy hiểm của nó, tuy nhiên theo nghị sỹ Ebner, cơ quan cấp phép đã bỏ qua kiến nghị này.  Khi quyết định này được thực thi trong tháng giêng thì tất cả các nước thành viên EU có nghĩa vụ thu hồi giấy phép lưu hành với hai loại hóa chất trên, sau đó các nước có thể quy định về thời hạn quá độ trong việc dùng, bảo quản hay xử lý chúng, thời hạn không quá ba tháng.  Bước tiếp theo, Ebner yêu cầu EU có lệnh cấm nhập khẩu đối với các loại quả có múi như cam, chanh cũng như các loại thực phẩm có dư lượng Chlorpyrifos.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Spiegel online 6.12.2019    Author                Quản trị        
__label__tiasang EU tài trợ 90 triệu euro để phát triển vaccine chống virus corona      Về tổng thể, số tiền Ủy ban châu Âu cam kết đầu tư để đối phó với dịch bệnh virus corona trong bối cảnh Ý trở thành điểm nóng lây nhiễm, đã lên tới 232 triệu euro.      Các công ty trên thế giới đang chạy đua phát triển vaccine. Nguồn:  europeanpharmaceuticalreview.com  EU đang ủng hộ một dự án đối tác công tư mới trị giá 90 triệu euro nhằm phát triển vaccine chống virus corona COVID-19, khi dịch bệnh này ngày càng lan rộng ở châu Âu. Ủy ban châu Âu đã công bố tài trợ ngay sau khi Ý báo cáo số trường hợp nhiễm bệnh tăng đột biến.  Số tiền này đóng góp thêm vào khoản tài trợ 10 triệu euro mà Ủy ban châu Âu đã thông báo cuối tháng 1/2020 cho những nghiên cứu giúp giảm lây lan dịch bệnh. Khoản tài trợ khẩn cấp này được mở ra cho các dự án về dịch tễ học, chẩn đoán, điều trị và quản lý lâm sàng về lây nhiễm.  90 triệu euro sẽ được phân phối thông qua “Sáng kiến y học đổi mới sáng tạo” (Innovative Medicines Initiative), một chương trình hợp tác giữa EU với các doanh nghiệp dược phẩm quốc tế. “Theo quy định, khi tham gia chương trình này, các công ty dược sẽ đóng góp 45 triệu euro, nghĩa là chiếm 50% trong tổng số kinh phí thực hiện”, Janez Lenarčič, ủy viên về quản lý khủng hoảng và là điều phối viên về ứng phó tình trạng khẩn cấp của EU, cho biết.   Một hỗ trợ khác của EU đối với các bên tham gia chương trình này là kết nối với một số cơ quan của châu Âu là Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh châu Âu (ECDC), Cơ quan Y học châu Âu (EMA) và Cơ quan hàng không châu Âu (EASA) để cung cấp những hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến đánh giá rủi ro, xác định các trường hợp nhiễm bệnh qua chẩn đoán và báo cáo những trường hợp nghi ngờ hoặc đã nhiễm bệnh; tư vấn cho khách du lịch, cập nhật thông tin về dịch bệnh và vaccine, liên hệ với hàng không…  Virus corona đang lây lan nhanh chóng ở châu Âu. Vào ngày 24/2, Ý xác nhận đã có 5 bệnh nhân tử vong và ít nhất 219 bệnh nhân khác dương tính với virus này. Chính phủ Ý yêu cầu đóng cửa một số tòa nhà công cộng ở khu vực phía Bắc Lombardia – nơi phần lớn các trường hợp nhiễm bệnh được phát hiện. Những người có nguy cơ phơi nhiễm với virus đã được theo dõi.  “Mục tiêu của chúng tôi là ngăn chặn dịch bệnh bùng phát ở mức độ toàn cầu”, Lenarčič cho biết.  Trung tâm phòng chống bệnh dịch châu Âu (ECDC) lo ngại có thể xảy ra nguy cơ lây lan ở mức độ toàn cầu. Theo dữ liệu của ECDC, tính từ ngày 31/12/2019, đã có gần 80.000 trường hợp nhiễm bệnh và hơn 3.000 bệnh nhân tử vong do COVID-19, phần lớn trong số đó ở Trung Quốc.  Phần lớn ca nhiễm bệnh ở châu Âu được ghi nhận ở Ý. Điều đáng lưu ý là rất ít người trong số này liên quan đến việc di chuyển tới Trung Quốc, trong khi những bệnh nhân ở Bỉ, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Anh bị nhiễm đều liên quan đến việc đi lại tới Trung Quốc.  “Sức khỏe cộng đồng là ưu tiên hàng đầu khi các trường hợp nhiễm virus tiếp tục gia tăng”, bà Ursula von der Leyen, Chủ tịch Ủy ban châu Âu cho biết.  Đóng góp vào những nỗ lực toàn cầu   Bệnh cạnh khoản tiền hỗ trợ nghiên cứu này, Ủy ban châu Âu cũng đóng góp 114 triệu euro  cho Tổ chức y tế thế giới (WHO) để hỗ trợ kế hoạch ứng phó toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia có hệ thống y tế yếu và khả năng phục hồi hạn chế. Ủy ban châu Âu đã dành 15 triệu euro cho Viện Pasteur Dakar ở Senegal để phục vụ cho việc chẩn đoán nhanh và giám sát dịch bệnh ở châu Phi. Ngoài ra, khoản tiền 3 triệu euro cũng được dùng để chi trả cho những chuyến bay của công dân EU trở về từ Vũ Hán.  Ngày 25/2, Stella Kyriakides, ủy viên y tế của EU cho biết Ủy ban châu Âu đã gửi một phái đoàn chuyên gia cộng tác giữa ECDC và WHO để hỗ trợ chính quyền Ý.  Về phía Mỹ, Tổng thống Donald Trump đã yêu cầu Quốc hội phê duyệt kế hoạch tài trợ 2,5 tỷ USD để đối phó với dịch bệnh. Trong số đó, hơn 1 tỷ USD sẽ sử dụng để nghiên cứu vaccine. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu-puts-eu45m-eu90m-public-private-partnership-coronavirus-vaccine-researc    Author                Quản trị        
__label__tiasang EU: Thị trường mua bán carbon vẫn thành công dù giá thấp      Trước đây, người ta thường cho rằng các thị trường carbon phải đạt được mức giá giao dịch cao mới có thể giảm lượng khí thải, nhưng nhiều nhà quan sát thấy thị trường thực tế đang đặt giá khá thấp. Tuy vậy, nghiên cứu của ĐH Strathclyde, Anh và ĐH Pittsburgh (Mỹ) phát hiện ra trong giai đoạn 2008-2016, sàn giao dịch phát thải (ETS) của Liên minh châu Âu đã tiết kiệm được khoảng 1,2 tỷ tấn CO2 – gần một nửa những gì các chính phủ cam kết cắt giảm trong Nghị định thư Kyoto. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ PNAS.    EU triển khai Hệ thống giao dịch phát thải ETS từ năm 2005 để đáp ứng cam kết trong Nghị định thư Kyoto nhằm đạt mục tiêu tới năm 2020 sẽ cắt giảm khí thải xuống 20% so với mức năm 1990. Theo đó, các chính phủ đã đặt ra giới hạn về tổng lượng phát thải cho phép trong khoảng thời gian nhất định và cấp các loại giấy phép phát thải mua bán CO2.   “Hệ thống ETS lập ra để bao quát một số ngành công nghiệp gây ô nhiễm nhất”, TS. Patrick Bayer tại Trường Chính phủ và Chính sách công của ĐH Strathclyde và là tác giả chính của nghiên cứu nói. Hệ thống này tập trung vào các ngành sản xuất chế tạo phát thải nhiều carbon, nhưng một số bằng chứng ở nghiên cứu khác cho thấy các ngành công nghiệp này đã bắt đầu đa dạng hóa mô hình kinh doanh và xem xét áp dụng các công nghệ trung hòa carbon, hoặc ít nhất, họ đã bắt đầu quan tâm suy nghĩ đến cách thức thay đổi vận hành.  Các công ty được phép phát thải một lượng ban đầu miễn phí theo giấy phép, nhưng phải mua thêm nếu lượng khí thải vượt quá mức này. Để công ty thay đổi hành vi trong dài hạn, lúc đầu người ta cho rằng, giá giấy phép càng cao càng tốt. Nhưng “thực tế, giá ở các thị trường carbon khá thấp. Điều này khiến các nhà môi trường và hoạch định chính sách lo ngại, bởi họ cảm thấy như vậy không gây đủ áp lực để công ty thay đổi.”  “Nhưng chúng tôi lập luận rằng nếu các công ty coi quy định về carbon là một dự án dài hơi của mình thì họ sẽ cần phải bắt đầu thay đổi”, TS. Bayer nhận xét.   Nghiên cứu sử dụng số liệu về khí thải trong các lĩnh vực không thuộc EU ETS để từ đó so sánh ước tính lượng phát thải trong các lĩnh vực mà hệ thống này bao phủ. Kết quả cho thấy khí thải trong những ngành được bao phủ đã giảm từ 8,1 – 11,5% so với mức phát thải dự kiến nếu không có hệ thống EU ETS, tương đương với mức giảm khoảng 3,8% so với tổng phát thải của EU trong giai đoạn 2008-2016.  “Trong thị trường năng lượng và điện, chúng tôi đã thấy ngay cả doanh nghiệp lớn cũng bắt đầu nghĩ đến cách vận hành để ít phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch hơn. Nhưng có một mối đe dọa là bất cứ khi nào giá carbon ở những thị trường đó tăng lên thì ngành công nghiệp hoặc doanh nghiệp ở đó sẽ phải đối mặt với vấn đề tăng chi phí” TS. Bayer cho biết.  “Mặt khác, sức hấp dẫn của thị trường mua bán carbon còn là một khi chúng được thiết lập với các quy tắc phù hợp thì nó có thể kết nối với rất nhiều thị trường khác. Nếu có nhiều thị trường carbon rải rác khắp thế giới, ta có thể trao đổi mua bán giữa các thị trường này.”   Tuy nhiên, khi nước Anh tách ra khỏi EU thì sẽ có những thay đổi trong hệ thống thị trường carbon. TS. Bayer cho biết: “Vị trí thị trường hợp đồng carbon tương lai của Anh trong hệ thống ETS vẫn đang được thảo luận. Người ra đã đưa ra tất cả các phương án có thể lên bàn đàm phán nhưng hiện chưa rõ liệu bất kì thị trường carbon nào của Anh có thể được kết nối với thị trường của EU hay không. Điều này phụ thuộc vào kết quả đàm phán với EU và quy định về những luật lệ cần tuân thủ trong tương lai. Giả sử thỏa thuận [Brexit] đạt được và hai bên có được một vài hội nhập kinh tế mạnh thì việc kết nối thị trường carbon là khá hợp lý. Anh đã thành công trong việc giảm carbon của nền kinh tế trong thập kỷ qua và có vai trò mạnh mẽ trong việc tiếp tục vận động cho quá trình khử bỏ cacbon trong tương lai”. □  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-carbon-emission-scheme-succeeding-prices.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Euler người thầy vĩ đại: Một số đóng góp tiêu biểu      Trong hai kỳ trước chúng ta đã tìm hiểu cuộc sống thăng trầm và các đóng góp cơ bản của Euler, kỳ này Tia Sáng giới thiệu tới bạn đọc một số đóng góp tiêu biểu của Euler, nội dung sẽ bao gồm nhiều kiến thức Toán học.      Euler với lý thuyết số  Số hoàn hảo  Ngay từ thời của Pythagoras (thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên) câu hỏi đặt ra với các số hoàn hảo đã được biết tới.   Định nghĩa số hoàn hảo: Số hoàn hảo là một số nguyên dương mà tổng các ước thực sự của nó bằng chính nó.   Ví dụ: Các ước thực sự của 6 là 1,2,3 và 6=1+2+3.  Trong quá trình nghiên cứu về số hoàn hảo, Euler đã đưa ra một số khái niệm và các khái niệm này đều có những đóng góp to lớn không chỉ cho riêng việc nghiên cứu các số hoàn hảo.   Định nghĩa: σ (n) là tổng các ước nguyên dương của n. (Ban đầu Euler sử dụng kí hiệu ∫(n), ngày nay kí hiệu đó được sử dụng cho tích phân.)  Euler cũng đưa chứng minh nhiều khẳng định liên quan tới σ (n).   Mệnh đề: Nếu n là một số hoàn hảo thì σ (n) = 2n.  Định lý: Nếu n là một số hoàn hảo chẵn thì n = 2k-1 (2k-1) và 2k -1 là một số nguyên tố.  Với định lý nêu trên, Euler đã chỉ ra dạng của các số hoàn hảo chẵn, nhưng như vậy vẫn là chưa đủ cho bộ óc vĩ đại của mình, năm 1747 trong một bài báo của mình, Euler đã đưa ra câu hỏi “Liệu có số hoàn hảo nào là số lẻ?” Sau đó, ông gọi đó là vấn đề khó nhất. Vào thời điểm đó tất cả mọi người đều tin rằng đó là một vấn đề thực sự khó, vì ngay cả Euler cũng xác nhận điều đó.   Cho đến ngày nay, vấn đề về sự tồn tại của một số hoàn hảo lẻ vẫn còn là một thách thức cho tất cả các nhà toán học. Họ vẫn chưa thể khẳng định được sự tồn tại của số hoàn hảo lẻ. Ngay cả với sự trợ giúp của các hệ thống siêu máy tính thì câu hỏi trên vẫn là một câu hỏi mở. Có rất nhiều người đã tham gia nghiên cứu vấn đề này và cũng cho ra nhiều kết quả thú vị.   * Một số hoàn hảo lẻ không thể chia hết cho 105.  * Số hoàn hảo lẻ nhỏ nhất lớn hơn 10300  * Một số hoàn hảo lẻ có ít nhất ba thừa số nguyên tố khác nhau.  * Tổng nghịch đảo của các số hoàn hảo lẻ là hữu hạn.   Đây là một điều rất thú vị bởi trong giải tích thì   không hội tụ, nhưng nếu chỉ lấy trên tập các số hoàn hảo lẻ thì nó lại hữu hạn.   Hi vọng trong tương lai gần các nhà Toán học sẽ có câu trả lời cho vấn đề “số hoàn hảo lẻ”.   Số nguyên tố và hàm Zeta  Bắt đầu với bài toán Basel tính tổng nghịch đảo các bình phương     Tổng quát hoá tổng trên ta được hàm Zeta    Euler đã tính được     bằng cách xét đa thức      sau đó Euler viết P(x) dưới 2 dạng khác nhau và đồng nhất hệ số để tính được ζ (2).    Xét hệ số của x2 trong P(x) nói trên, ta có:     Và cuối cùng thu được    Không dừng lại ở đó, Euler còn tính được kết quả tổng quát                             .     Trong đó |B2n| là số Bernoulli   Euler gặp khó khăn với trường hợp s lẻ và ông không tin nó có liên quan tới . Ngày nay thì đây cũng là một câu hỏi mở đang chờ được các nhà toán học giải đáp.   Trong quá trình tính toán với các bài toán trên, Euler đã đưa ra rất nhiều đẳng thức bất ngờ và nhiều điểm độc đáo, sau này trở thành các công cụ tính toán mạnh cho nhiều nhà toán học. Với lý thuyết số, Euler còn chứng minh rất nhiều định lý quan trọng trong lý thuyết đồng dư, số nguyên tố, số Mersenne… do khuôn khổ bài viết nên tôi chỉ trình bày sơ lược các kết quả đại diện trong các lĩnh vực mà Euler để lại.   Euler và định lý cơ bản của đại số  Định lý: Mọi đa thức bậc n với hệ số phức luôn phân tích được thành n nhân tử tuyến tính  Đây là định lý cơ bản của đại số, một trong những định lý quan trọng nhất và được sử dụng rộng rãi không chỉ riêng trong đại số. Các chứng minh của định lý này cho đến nay vẫn chưa có một chứng minh nào là thuần tuý đại số, các chứng minh đã có đều mang chút ít màu sắc của giải tích phức.   Năm 1794, Euler cũng đưa ra một phác thảo chứng minh cho định lý cơ bản của đại số. khi đó Euler mới chỉ cụ thể hoá được trường hợp bậc 4.  Định lý Euler-Fermat và Mật mã  Định lý: Nếu a và n là hai số nguyên tố cùng nhau thì aφ(n) ≡ 1 (mod n). Với φ(n) là phi hàm Euler.  Trong mật mã, ta quan tâm tới việc truyền thông tin một cách an toàn từ người gửi tới người nhận.  Một thông điệp M được mã hoá thành E và người nhận sẽ giải mã từ E thu được M. Sẽ rất thuận tiện nếu mỗi kí tự trong bảng mã ASCII được thay thế bằng các số tự nhiên, khi đó việc biến M → E sẽ chuyển sang ngôn ngữ ánh xạ f : N → N. Vấn đề ta phải tìm một hàm f thoả mãn:   – f là một song ánh  – f có công thức và khó tìm được nghịch ảnh của f.  Một giải pháp cho vấn đề này là chương trình mã hóa RSA đang được sử dụng rộng rãi (đặt theo tên nhà phát minh của nó R. Rivet, A. Shamir và Adleman L.)  Tạo Mã và Mã hoá  * Chọn hai số nguyên tố p,q lớn và khác nhau.  * Tính n = p.q  * Tính giá trị của φ(n) = (p-1) (q-1)  * Chọn 1 số nguyên tố e thoả mãn: 1<e<φ(n) và e nguyên tố cùng nhau với φ(n).  * Tìm d: (d.e) ≡ 1 mod (φ(n))  Mã công khai là n, module và e số mũ công khai, mã bí mật     Người gửi chuyển thông tin M thành số m<n theo một hàm chuyển đổi. Lúc này cả người gửi và người nhận đều có m và n, người nhận tìm c là bản mã hoá của n: c = m2 mod (n)  Bánh răng Euler                Trong quá trình làm việc với thiết kế tua bin nước, Euler đã tối ưu cho các bánh răng để giảm sức lao động, giảm tiếng ồn… Euler không chỉ là người phát minh ra mà còn dự đoán được cả quỹ đạo chuyển động của nó. Bánh răng này được gọi là bánh răng – Euler. Sau này người ta còn gọi đó là phương trình Euler–Savary.    Đĩa Euler    Euler cũng nghiên cứu tới chuyện động của các vật thể xoay quanh một trục, có tính tới ma sát. Một ví dụ thú vị là đĩa Euler, một đĩa tròn (đồng nhất) bằng kim loại được quay trên một bề mặt mịn sạch. Lúc đầu, nó sẽ xoay xung quanh trục thẳng đứng của nó, nhưng do ma sát, trục đang bắt đầu nghiêng và đĩa để cuộn trên một đường tròn. Càng ngày trục nghiêng càng bị nghiêng dần, các vòng tròn thì ngày một rộng ra. Dù có xét đến yếu tố nào đi nữa thì quả bóng vẫn sẽ dừng lại.                   Chìa khóa để giải thích chuyển động này là phương trình Euler, một tập hợp các phương trình vi phân liên quan đến các góc Euler và các thông số khác. Các chi tiết kỹ thuật của các chuyển động, vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu cho tới tận bây giờ.    Lý thuyết đồ thị và Tôpô  Con sông Pregel, chảy qua thành phố Phổ Königsberg, chia thành phố thành một hòn đảo và ba vùng đất riêng biệt, một ở phía Bắc, một ở phía Đông, và một ở phía Nam. Có tất cả bảy cây cầu, sắp xếp như trong bản đồ với các điểm màu xanh lá cây.                  Bài toán: người ta có thể đi dạo từ một điểm ở thành phố khác bằng cách đi qua mỗi cây cầu đúng một lần? Bậc của một đỉnh là cạnh nối với nó; trong đồ thị các cây cầu Königsberg, ba nút có bậc bằng 3 và một nút có bậc 5. Euler đã chứng minh rằng một chu trình có dạng như mong muốn chỉ tồn tại khi và chỉ khi không có nút bậc lẻ. Một đường đi như vậy được gọi là một chu trình Euler. Do đồ thị các cây cầu Königsberg có bốn nút bậc lẻ, nên nó không thể có chu trình Euler.  Lời giải của Euler cho bài toán trên là cơ sở cho nền móng của Topo học. (Xem thêm bài viết của Nguyễn Hữu Việt Hưng trên Tia Sáng số 6 – 20/3/2016.)  Công thức Euler   Với mọi số thực x ta luôn có: eix = cos x + i.sin x . Với e là số vô tỉ được tính qua giới hạn                        công thức Euler là phổ biến trong toán học, vật lý và kỹ thuật. Nhà vật lý Richard Feynman được gọi là phương trình “viên ngọc quý” và “công thức đáng chú ý nhất trong toán học.”  Một công thức tương đương là  ix= ln (cos x + i sin x), công thức này được đưa ra bởi Cotes (1714). Công thức Euler được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực của Toán từ lý thuyết số phức, phương trình vi phân,…từ đơn giản nhất cho đến phức tạp.   Qua ba bài viết, chúng ta đã cùng có một hành trình xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của nhà Toán học vĩ đại Euler, một người thầy vĩ đại bởi tất cả những gì ông để lại đã trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên bộ mặt khoa học và cuộc sống ngày nay.           Đồ thị phần thực của eix.     Đồ thị của eix              Author                Quản trị        
__label__tiasang Exoskelett giúp người bại liệt đi lại      Khi tiếng còi khai cuộc nổi lên vào ngày  12/6 tại World Cup – Brazil thì đây không chỉ là một ngày hội lớn của  thể thao thế giới mà còn là niềm vui của một chàng trai bị liệt từ hông  trở xuống, người sẽ tự mình tiến ra sân cỏ và khởi động trái bóng đầu  tiên của giải. Một bộ xương bên ngoài như giá đỡ toàn thân được điều  khiển bởi luồng suy nghĩ của chính anh tạo nên sự kỳ diệu này.    Để điều khiển bộ xương bên ngoài, có tên gọi là Exoskelett, bằng sức mạnh của luồng suy nghĩ của đương sự thì người tham gia thí nghiệm phải đội một cái mũ cứng gắn với những điện cực không dây. Những điện cực này tạo ra cái gọi là điện não đồ, nghĩa là đo hoạt động điện năng của bộ não trên bề mặt của đầu. Từ đó có thể xác định một cách chính xác tại vị trí nào của bộ não hình thành các xung vận động. Điện cực dẫn các xung này tới computer được gắn trong bộ khung xương bên ngoài bằng cách này bộ não ra lệnh cho máy vận động.   Các nhà nghiên cứu còn tiến thêm một bước nữa: Nhóm nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (EPFL) đã phát triển các cảm biến có chức năng tương tự như da người, qua đó người bị liệt không những thực hiện được các vận động mà thậm chí còn cảm nhận được chúng: “Các cảm biến tạo ra sự rung động. Sự rung động này giúp cho con người có cảm giác chạm mặt đất, chân đang vận động và đụng vào trái bóng.”  Tuy nhiên, theo nhà sinh học thần kinh hàng đầu Niels Birbaumer thuộc Đại học Tübingen, “Để có thể điều khiển cỗ máy này hoạt động thật sự chắc chắn thì đáng ra người ta phải cấy các điện cực trực tiếp lên màng não, tuy nhiên điều này sẽ ngay lập tức làm nổ ra các cuộc tranh luận về đạo đức và đối với khoa học thì điều này lợi bất cập hại.”   Ngoài ra còn nẩy sinh câu hỏi, liệu phát minh này có làm cho hàng triệu người khuyết tật nuôi hy vọng, trong khi điều này còn rất mong manh, ít ra là còn quá sớm vào thời điểm này.   Thoạt đầu Exoskelett được nghiên cứu vì mục đích quân sự, nhằm tăng cường sức mạnh cũng như tính cơ động của người lính lên gấp bội.   Một vài nhà nghiên cứu tham gia dự án Walk Again từng nhận được tài trợ hậu hĩnh của DARPA (Defense Advanced Research Projects Agency), một cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, tuy nhiên Dự án Walk Again không nhận được tài trợ kiểu này. Gordon Cheng thuộc Đại học Kỹ thuật München, một trong những người phụ trách dự án, khẳng định: Dự án này thuộc một tổ chức phi lợi nhuận và có sự tham gia của khoảng 200 nhà khoa học thuộc sáu viện nghiên cứu quốc tế kể từ năm 2008.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Feynman nghĩ về trí tưởng tượng trong khoa học và văn học      Trong quãng thời gian ngắn ngủi ở Caltech, tiến sĩ Leonard Mlodinow đã có cơ hội trao đổi trực tiếp với Richard Feynman và hiểu thêm về con người ông. Các cuộc trao đổi này đã được ghi âm trực tiếp và trở thành nguồn cảm hứng để Mlodinow viết cuốn “Cầu vồng của Feynman”. Dưới đây là trích đoạn một số suy nghĩ của Feynman về sự khác biệt giữa trí tưởng tượng trong khoa học và văn học.     Trí tưởng tượng trong khoa học  “Trong một số trường hợp, việc tìm ra bài toán để giải có thể là kết quả của một trí tưởng tượng và rất sáng tạo. Còn việc giải nó thì không cần phải có cùng kỹ năng như thế. Nhưng trong toán và vật lý lại có những bài toán rơi vào tình huống ngược lại. Đó là những bài toán thuộc loại như hiển nhiên, nhưng giải thì cực khó, các kỹ thuật và phương pháp vào thời gian đó cũng như thông tin mà mọi người biết còn rất ít. Trong trường hợp này lời giải là chuyện của trí thông minh.  Một ví dụ rất hay là thuyết tương đối và hấp dẫn – cũng tức là thuyết tương đối rộng của Einstein. Với thuyết tương đối, rõ ràng là nó phải bằng cách nào đó kết hợp được thuyết tương đối hẹp, lý thuyết cho rằng ánh sáng truyền với một tốc độ c hữu hạn nào đó, với hiện tượng hấp dẫn. Nhưng cậu không thể có điều đó – mà cụ thể là cậu không thể kết hợp lý thuyết hấp dẫn cũ của Newton với các tốc độ vô hạn và thuyết tương đối giới hạn các tốc độ. Do vậy, bằng cách nào đó, cậu phải sửa đổi lý thuyết hấp dẫn hiện có.  Bây giờ hãy trở lại bài toán mà tôi đang nghiên cứu. Nó hoàn toàn hiển nhiên đối với mọi người. Chúng ta đã có một lý thuyết toán học gọi là sắc điện động lực học lượng tử, được coi là có thể giải thích các tính chất của proton và neutron và nhiều nữa… Ở đây bài toán đã rõ ràng nhưng lời giải thì rất khó. Phải dùng rất nhiều mảnh ghép của trí tưởng tượng mới tìm ra lý thuyết này, người ta nhận ra nhiều hình mẫu và rồi dần dần khám phá ra nhiều chuyện và cuối cùng là các hạt quark, và sau đó đang cố gắng tìm ra một lý thuyết đơn giản nhất. Như vậy là có cả một lịch sử khá dài để tạo ra bài toán này. Phải mất nhiều thời gian chúng ta mới tới được đây, nhưng cũng luôn phải nhớ tới nhiều thất bại.  Bây giờ tôi vẫn đang làm việc về bài toán hắc búa này, mà lại ở tuổi xế chiều rồi. Điều trước tiên tôi thử làm với bài toán là tìm ra một phương pháp toán học nào đó để giải nó, giải một số phương trình. Nhưng làm thế nào đây? Phải bắt đầu như thế nào để hình dung ra nó? Có lẽ là do độ phức tạp của bài toán quyết định. Trong trường hợp này, tôi đơn giản là thử tất cả. Tôi mất hai năm trời để vật lộn với hết phương pháp này đến phương pháp khác. Mà có lẽ hiện giờ tôi vẫn đang thử – tôi đã thử rất nhiều các phương pháp khác nhau nhưng đều không có kết quả, và một khi phương pháp này không có kết quả tôi sẽ chuyển sang thử phương pháp khác. Đến đây, sau khi đã thử tất cả, tôi ý thức được rằng tôi không thể làm thế được nữa. Mọi thủ thuật của tôi đều không mang lại kết quả.  Rồi sau đó tôi nghĩ, thôi được, nếu như mình hiểu được một cách đại thể câu chuyện ở đây thì nó có thể ít nhiều gợi ý được cho mình loại toán học nào mình có thể thử. Thế là tôi dành nhiều thời gian để suy nghĩ về cách nó vận hành, tất nhiên là một cách đại thể thôi.  Ở đây cũng có một số vấn đề về tâm lý. Trước hết, trong những năm gần đây, tôi chỉ làm những bài toán khó gặm nhất. Tôi rất thích các bài toán hóc búa. Những bài toán mà không ai giải được, và do đó cơ may mà tôi giải được nó cũng không cao. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy rằng tôi đã có địa vị, có học hàm giáo sư, nên tôi không còn băn khoăn về chuyện tiêu phí thời gian để làm việc cho một dự án dài lâu.     Một nhà văn hay một họa sĩ có thể tưởng tượng ra điều gì đó và chắc chắn có thể không thỏa mãn với nó về mặt nghệ thuật hay thẩm mỹ, nhưng điều đó không cùng một cấp độ tinh tế và tuyệt đối mà nhà khoa học xử lý. Đối với nhà khoa học, vị Thượng đế Thực nghiệm này có thể phán, ‘Đẹp đấy, anh bạn, nhưng nó không thực tế’. Đó là sự khác biệt rất lớn.    Một khía cạnh tâm lý tiếp theo, đó là tôi cần nghĩ rằng, vì một lý do nào đó mà tôi có một chút may mắn hơn những người khác. Trong thâm tâm tôi biết rằng rất có thể cái lý do ấy là sai, và có thể cái thái độ đặc biệt mà tôi có vì nó là do những người khác nghĩ ra. Tôi không quan tâm; có thể tôi đã tự lừa dối mình khi nghĩ rằng tôi có nhiều cơ may hơn. Rằng tôi có gì đó để đóng góp. Nếu không tôi cũng có thể chờ đợi một ai khác làm điều đó, bất kể là ai.  Nhưng cách tiếp cận của tôi không bao giờ y hệt như của ai đó khác. Tôi luôn nghĩ tôi có một đường dẫn dắt bên trong nên luôn thử theo một cách khác. Và tôi nghĩ đó là bởi vì tôi thử một cách khác nên thành công. Những người khác không có cơ may nào. Điều đó là thái quá. Nhưng tôi đã chuẩn bị cho mình đạt tới sự thái quá đó. Tôi luôn coi nó giống như những người châu Phi khua chiêng gõ trống vang trời khi họ ra trận để tự kích thích mình. Tôi tự nhủ và thuyết phục mình rằng bài toán này là có thể giải được theo phương pháp của tôi còn những người khác đã làm không đúng. Lý do là họ không hiểu rằng họ đã làm không đúng. Và tôi định sẽ làm điều đó theo một cách khác. Tôi tự nhủ mình như vậy và dần lấy được sự hăng hái.  Sở dĩ phải như vậy là vì khi có một bài toán khó, người ta sẽ phải làm việc lâu dài và cần phải kiên nhẫn. Để kiên nhẫn, bạn phải khẳng định được với mình rằng nó đáng để làm việc nặng nhọc như vậy, rằng bạn nhất định sẽ đến được đâu đó. Mà đấy cũng là một loại tự lừa dối mình.  Với bài toán cuối cùng này, tôi đã sẵn sàng tự lừa dối mình. Tôi chưa tới đâu cả. Tôi cũng chưa thể nói cách tiếp cận của tôi là rất tốt. Trí tưởng tượng đang khiến tôi thất bại. Tôi đã hình dung ra nó sẽ vận hành như thế nào về mặt định tính, nhưng không thể hình dung ra sự vận hành của nó về mặt định lượng. Khi bài toán cuối cùng được giải quyết, thì đó hoàn toàn là nhờ trí tưởng tượng. Khi đó sẽ có một điều gì đó thật quan trọng về cái cách thức tuyệt vời mà nó đã được làm. Nhưng đơn giản là tất cả đều nhờ vào trí tưởng tượng và sự kiên trì nữa”.  Trí tưởng tượng trong nghệ thuật  “Một lần, trong một khoảng thời gian ngắn, bản thân tôi đã tính tới chuyện viết tiểu thuyết. Tất nhiên là tôi có những bài thuyết trình; nghĩa là tôi nói và người ta ghi âm lại. Đó là lối thoát dễ nhất. Thế cho nên tại một bữa tiệc ở khoa tiếng Anh, tôi có hỏi, cho vui thôi, một vị giáo sư rất thân thiện mà tôi kính trọng, là viết tiểu thuyết như thế nào, và ông ấy trả lời, ‘tất cả những gì anh cần làm là hãy viết đi’.  Feynman từng muồn học theo Truyện cổ Grimm.  Tôi kiếm được cuốn Truyện cổ Grimm. Có thể nói rằng viết những truyện này không khó lắm… họ có thể làm bất cứ thứ gì họ muốn bởi họ có đủ các thiên thần, các loại quỷ, và những thứ đại loại như thế. Vì vậy họ có thể làm bất cứ thứ gì họ muốn, lại còn có đủ thứ pháp thuật nữa. Nên tôi đã nói, ‘Tôi sẽ viết một truyện như thế cho mà xem’.  Nhưng tôi không thể làm được gì ngoài việc kết hợp những cái mà tôi đã đọc. Thật không may là tôi cảm thấy rằng khi kết hợp lại như thế tôi chẳng nhận được một cốt truyện thật sự khác biệt, chẳng có cái gì đó thông minh, bất ngờ, trong khi của người ta, truyện tiếp sau vẫn có những bất ngờ, không giống như các truyện khác. Nó vẫn có những loài quỷ quái trong đó, nhưng bản chất của cốt truyện, cái kết thúc bất ngờ thì lại rất khác… Tôi nghĩ rằng tôi không có đủ trí tưởng tượng để tạo ra một truyện mới thật hay.  Nói thế không có nghĩa là tôi không có trí tưởng tượng tốt. Thực tế, tôi nghĩ làm những thứ mà nhà khoa học làm, nghĩ ra hoặc tưởng ra những cái ở đó thì khó hơn nhiều so với tưởng tượng một cuốn tiểu thuyết, tức là tưởng tượng những cái không có ở đó. Để thực sự hiểu được vạn vật vận hành ở một thang nhỏ hoặc một thang lớn như thế nào, hóa ra nó khác với bạn nghĩ đến nỗi phải cần tới rất nhiều, rất nhiều trí tưởng tượng mới thấy được nó! Chúng ta cần rất nhiều trí tưởng tượng để mô tả nguyên tử, để hình dung ra là có các nguyên tử và chúng có thể hoạt động ra sao. Hoặc như lập ra được Bảng tuần hoàn các nguyên tố, chẳng hạn.  Nhưng trí tưởng tượng của nhà khoa học khác với của nhà văn ở chỗ, nó có thể kiểm tra được. Một nhà khoa học tưởng tượng một cái gì đó và sau đó Thượng đế phán ‘sai’ hoặc ‘ít nhất cho đến lúc này là tốt’. Mà Thượng đế chính là thực nghiệm, và Thượng đế có thể phán, ‘Ồ không, nó không phù hợp’. Bạn nói, ‘Tôi tưởng tượng nó vận hành như thế này. Và nếu đúng như thế thì bạn sẽ quan sát thấy điều đó’. Rồi sau đó, những người khác quan sát, và họ không thấy. Thế là bạn đã phỏng đoán sai. Trong viết văn, bạn không có điều đó.    Không giống như toán học hay khoa học, văn chương không phải một khối kiến thức mở rộng dần và mọi thứ được xếp lại với nhau, mà là một con quái vật khổng lồ được nhiều người cùng nhau dựng nên, trong đó có sự tiến bộ.    Một nhà văn hay một họa sĩ có thể tưởng tượng ra điều gì đó và chắc chắn có thể không thỏa mãn với nó về mặt nghệ thuật hay thẩm mỹ, nhưng điều đó không cùng một cấp độ tinh tế và tuyệt đối mà nhà khoa học xử lý. Đối với nhà khoa học, vị Thượng đế Thực nghiệm này có thể phán, ‘Đẹp đấy, anh bạn, nhưng nó không thực tế’. Đó là sự khác biệt rất lớn.  Giả sử rằng cũng có vị Thượng đế Thẩm mỹ vĩ đại nào đó. Và rồi bất cứ khi nào vẽ một bức tranh, bất kể là bạn thích nó nhiều tới mức nào, nó làm cho bạn thỏa mãn ra sao, thậm chí nếu nó đôi khi có làm cho bạn không thỏa mãn đi nữa, thì dù sao bạn cũng nên gửi nó tới vị Thượng đế Thẩm mỹ vĩ đại và Ngài sẽ phán, “Nó đẹp” hoặc “Nó xấu”. Sau đó một thời gian, vấn đề đối với bạn là bạn cần phát triển cảm giác thẩm mỹ sao cho phù hợp với đánh giá đó, chứ không phải là những tình cảm cá nhân của bạn về nó. Điều đó tương tự hơn với các loại sáng tạo mà chúng ta có trong khoa học.   Ngoài ra, không giống như toán học hay khoa học, văn chương không phải một khối kiến thức mở rộng dần và mọi thứ được xếp lại với nhau, mà là một con quái vật khổng lồ được nhiều người cùng nhau dựng nên, trong đó có sự tiến bộ. Liệu bạn có thể nói, ‘Mỗi một ngày chúng ta sẽ trở thành các nhà văn tốt hơn bởi vì chúng ta đã được xem tất cả những cái mà người ta đã viết trước đó?’. Rằng chúng ta viết tốt hơn là bởi vì những người khác đã chỉ cho chúng ta cách làm điều này hay điều nọ trước đó, nên bây giờ chúng ta có thể tiếp tục và đi xa hơn? Đó chính là cách trong toán học và khoa học. Ví dụ, tôi đã đọc cuốn Madame Bovary mà tôi thấy rất tuyệt. Tất nhiên, đó không gì khác mà chỉ là mô tả về một con người bình thường thôi. Tôi không chắc lắm về kiến thức lịch sử của mình, nhưng tôi nghĩ Madame Bovary là tiểu thuyết khởi đầu viết về những người bình thường. Tôi nghĩ rằng nếu tiểu thuyết của những người khác viết cũng giống như vậy thì tôi sẽ rất thích thú. Nhưng tiểu thuyết hiện đại, người ta không còn viết với sự lão luyện và những chi tiết như thế nữa. Tôi có đọc lướt qua một số cuốn và thấy không thể chịu nổi…  Thật may là tôi đã tìm được chỗ của tôi trong vật lý. Đó là cuộc đời tôi. Đối với tôi, vật lý vui hơn bất cứ thứ gì khác, nếu không tôi không thể làm nó”.□  ———-  * Trích trong cuốn “Cầu vồng của Feynman” của Leonard Mlodinow, dịch giả Phạm Văn Thiều chuyển ngữ và NXB Trẻ ấn hành.    Author                .        
__label__tiasang Flappy Bird của Việt Nam lên số 1 App Store, đem về cho tác giả 50.000 đô-la mỗi ngày      Flappy Bird đã trở thành trò chơi được tải  về nhiều nhất trong tháng 1-2014 trên App Store, gây ra một cơn sốt xôn  xao trên báo chí chuyên về trò chơi di động của thế giới. Điều đáng nói  đây là ứng dụng do một thanh niên Việt Nam 29 tuổi phát triển tại Hà  Nội.    Sự thành công của Flappy Bird, hiện đang chiếm vị trí số 1 cả trên App Store của Apple và Google Play trên hai hệ điều hành iOS và Android, làm nhiều người ngạc nhiên vì thông thường một vị trí như thế phải đi kèm với một chiến dịch tiếp thị, quảng bá rộng khắp, tốn kém. Nhưng Flappy Bird do một mình Nguyễn Hà Đông viết và đưa lên mạng.  Không kèm hướng dẫn chơi, người dùng tự biết phải chạm vào màn hình để chim bay lên – không chạm thì chim rớt xuống đất. Như vậy người chơi phải gõ liên tục vào màn hình để giả lập cú đập cánh cho chim và hướng dẫn chim bay qua những đường ống quen thuộc với những ai từng chơi trò Mario hái nấm ngày xưa. Trò chơi dễ “game over” đến nỗi nhiều tờ báo miêu tả đây là trò chơi làm người dùng muốn quẳng chiếc điện thoại vào tường nhất.  Trò chơi miễn phí và có quảng cáo, ra đời từ tháng 5-2013 nhưng đến đầu năm nay mới trở thành cơn sốt còn hơn cả trò Angry Birds. Truy cập Google Play từ Việt Nam thì không thấy Flappy Bird đứng thứ nhất như truy cập từ Mỹ. Có lẽ số người biết và tải Flappy Bird về chơi ở Việt Nam không nhiều bằng. Các tờ báo Mỹ thì tập trung phân tích nguyên nhân vì sao Flappy Bird lại sốt như vậy. Lý do gồm chu kỳ chơi rất ngắn nên ai cũng muốn thử lại, độ khó lại cao mà trông lại rất dễ dàng; trò chơi gợi nhớ thời đồ họa đơn giản, làm nhiều người vừa chơi vừa hồi tưởng thời chơi game hái nấm, kể cả âm thanh tiếng đồng xu rơi lẻng xẻng. Một số tờ khác miêu tả sự giận dữ của người chơi khi thua liên tục trước một game trông rất đơn giản, thậm chí có tờ còn khuyên mọi người không nên tải về bởi sẽ nổi giận muốn quẳng điện thoại đi một cách phi lý.  Flappy Bird đang thu về cho tác giả của nó 50.000 đô-la Mỹ mỗi ngày nhờ vào doanh thu quảng cáo, trong lần trả lời phỏng vấn hiếm hoi với tờ The Verge, Nguyễn Hà Đông tiết lộ con số doanh thu “ấn tượng” nói trên. Cũng theo The Verge, trò chơi này đã có 50 triệu lượt tải về, 47.000 lượt nhận xét trên App Store, tương đương với các phần mềm nổi tiếng khác như Evernote hay Gmail.  “Lý do Flappy Bird được ưa chuộng đến thế là vì nó khác với các trò chơi di động hiện nay và là trò chơi rất hay để mọi người thi đấu với nhau,” Đông trả lời tờ The Verge.  Hiện nay, mỗi ngày có chừng 2-3 triệu lượt  tải Flappy Bird trên cả iOS và Android. Có báo phỏng đoán Nguyễn Hà Đông  có thể bán trò chơi này cho một công ty game ở Mỹ với giá 600 triệu  đô-la!   Ngoài Flappy Bird, Nguyễn Hà Đông còn có trò Super Ball Juggling hiện đứng thứ nhì và Shuriken Block hiện đứng thứ 6 trong App Store. Theo tờ TechCrunch, Nguyễn Hà Đông không muốn lên báo, đã từ chối trả lời phỏng vấn nhiều báo và cũng không muốn cung cấp thông tin về mình. Anh cũng cho biết sơ là anh đã viết game bốn năm nay và đang hoạt động một mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Frank Kameny – chiến sĩ của những dải cầu vồng      Một trong những giao điểm quan trọng của lịch sử thiên văn học hiện đại và lịch sử LGBT chính là sự việc quân đội Hoa Kỳ sa thải Frank Kameny vào năm 1957. Từ một nhà thiên văn học vừa mới tốt nghiệp bằng Tiến sĩ từ Đại học Harvard, Kameny đã bị đuổi việc vì xu hướng tính dục của mình, để rồi bắt đầu đấu tranh và đi tiên phong cho phong trào vì quyền lợi của những người đồng tính ở nước Mỹ. Nhân dịp Tháng Tự hào (Pride Month) của cộng đồng LGBT (hay chính xác hơn là LGBTQ+), hãy cùng nhìn lại cuộc đời của Frank Kameny, một nhà hoạt động vừa có tầm ảnh hưởng vừa để lại di sản quan trọng trong lịch sử thế kỷ XX.      Frank Kameny tại buổi diễu hành của cộng đồng LGBTQ+ tại Washington, D.C. năm 2009. Ảnh: David B. King/Flickr  Nhà thiên văn học có triển vọng  Franklin Edward Kameny chào đời vào ngày 21/5/1925, trong một gia đình người Do Thái Ashkenazi ở quận Queens, thành phố New York. Năm 7 tuổi, Kameny bắt đầu đam mê thiên văn học, và đến tuổi vị thành niên thì thừa nhận với cha mẹ rằng mình theo chủ nghĩa vô thần. Năm 1941, chàng trai Kameny 16 tuổi bắt đầu theo học ngành Vật lý tại trường Cao đẳng Queens thuộc Đại học thành phố New York, nhưng chưa học xong thì phải tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc và phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Chiến tranh kết thúc, Kameny về Queens học tiếp và tốt nghiệp bằng Cử nhân môn Vật lý năm 1948. Ông nhanh chóng theo học thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Harvard, nơi ông nghiên cứu các sao biến quang dưới sự hướng dẫn của giáo sư Cecilia Payne-Gaposchkin, nhà thiên văn nữ đã phát hiện ra rằng thành phần hóa học của các ngôi sao chủ yếu là hydro và heli.   Nghiên cứu sao biến quang của Kameny đòi hỏi các quan sát có độ chính xác cao. Chính vì vậy, sau khi nhận được sự đồng thuận của ban điều hành Đài thiên văn Steward tại thành phố Tucson, Arizona, ông đã chuyển tới sống giữa vùng đất sa mạc lạ lẫm này trong thời gian một năm. Tại đây, song song với việc phân tích dải quang phổ của các ngôi sao biến quang, nhà thiên văn học nay đã 29 tuổi mới bắt đầu mối tình đầu tiên với một người yêu đồng giới, và có những trải nghiệm đầu tiên tại hộp đêm của người đồng tính. Kết thúc quãng thời gian mà sau này Kameny gọi là “một mùa hè hoàng kim” (a golden summer), ông rời khỏi Tucson với tất cả những dữ liệu cần thiết để hoàn thành luận án tiến sĩ, cũng như là một sự chắc chắn về tình cảm của mình dành cho nam giới. Trên đường trở về Harvard, ông bị cảnh sát mặc thường phục bắt tại một trạm xe buýt ở San Francisco, ngay sau khi những viên cảnh sát này chứng kiến một người đàn ông lạ mặt chạm vào Kameny. Cuối cùng, cảnh sát San Francisco chỉ cho ông án treo ba năm và hứa sẽ xóa án tích, nghĩa là Kameny không cần phải lo rằng lý lịch tư pháp của mình sẽ ảnh hưởng tới cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, ông chỉ tiếp tục quay lại Harvard, nơi mà vào tháng 5/1956, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ mang tên: “Một nghiên cứu quang điện về một số sao biến quang vàng bán đều đặn và sao biến quang bán đều đặn loại RV Tauri” (A Photoelectric Study of Some RV Tauri and Yellow Semiregular Variables).  Tốt nghiệp bằng Tiến sĩ từ Đại học Harvard, Kameny chuyển đến sống tại thủ đô Washington, D.C., nơi ông giảng dạy tại Đại học Georgetown trước khi được tuyển vào Sở Bản đồ Quân đội Hoa Kỳ vào tháng 7/1957. Quân đội Hoa Kỳ rất sẵn lòng tuyển dụng các nhà thiên văn, bởi cách duy nhất để đo khoảng cách giữa các châu lục và vẽ bản đồ địa hình vào thời điểm đó là thông qua việc so sánh độ che khuất Mặt trăng (lunar occultation) từ các đài quan sát khác nhau. Đến tháng 10, trong khi Kameny đang ở Hawaii để làm công tác thực địa, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 lên quỹ đạo, đưa cuộc chạy đua vào vũ trụ giữa Mỹ và Liên Xô lên một tầm cao mới. Kameny đang vui mừng vì các cơ hội việc làm mới có khả năng sẽ đến tay mình thì bỗng nhiên bị triệu tập về thủ đô để Ủy ban Công vụ Hoa Kỳ chất vấn. Trong một cuộc trao đổi ngắn, đại diện của chính phủ nói rằng họ có bằng chứng cho thấy Kameny là người đồng tính, và từ chối tiết lộ thông tin cụ thể khi bị ông gặng hỏi. Không lâu sau, Kameny bị sa thải. Trong khi ông tìm cách kháng cáo, nhà khoa học Wernher von Braun đại diện cho quân đội Hoa Kỳ xuất hiện trên vô số kênh truyền thông, đề nghị các nhà khoa học Mỹ góp sức thành lập một cơ quan vũ trụ quốc gia để đối chọi với Liên Xô. Hai thập kỉ trước, Wernher von Braun vừa là kĩ sư chính trong chương trình vũ khí hạt nhân của Phát xít Đức, vừa là kẻ phát minh ra những quả tên lửa V-2 đã hủy diệt bao nhiêu thành phố châu Âu khi Kameny còn đang tham chiến ở đó. Việc một người có quá khứ tồi tệ đến vậy lại được Chính phủ Mỹ chào đón và cử làm đại diện trước công chúng, trong khi ông thì bị đuổi việc vì là người đồng tính đã khiến cho Kameny cảm thấy mình bị đối xử bất công. Bức thư sa thải mà ông nhận được vào ngày 20/12/1957 càng làm củng cố niềm tin đó, vì kể từ đây, ông biết rằng Chính phủ Mỹ sẽ chẳng bao giờ tuyển dụng mình nữa.    Kameny khi còn là một nhà thiên văn học. Ảnh: Kameny Papers, Library of Congress  “Gay is Good”  Quyết định sa thải Frank Kameny thực chất chỉ là một trong các trường hợp Chính phủ Mỹ kỳ thị người đồng tính vào lúc đó. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh với Liên Xô, chính trường Hoa Kỳ vừa ở trong một “Cuộc khủng hoảng đỏ” (Red Scare) khi mà bất kì ai bị nghi là ủng hộ chủ nghĩa cộng sản đều bị đuổi việc, lại vừa ở trong một tình thế mà các nhà sử học sau này gọi là “Cuộc khủng hoảng oải hương” (Lavender Scare), khi những người bị nghi là người đồng tính cũng bị sa thải khỏi các cơ quan trực thuộc chính phủ. Trên giấy tờ, Chính phủ Mỹ bảo rằng họ cần sa thải những người bị nghi là đồng tính bởi việc những người này không công khai xu hướng tính dục khiến họ dễ bị tống tiền, và từ đó trở thành mối nguy hại đối với an ninh quốc gia. Nhưng trên thực tế, một lý do ít được viện dẫn hơn xuất phát từ các tư tưởng cánh hữu đang rầm rộ ở Mỹ lúc bấy giờ, trong đó tình yêu đồng giới bị coi là hiểm họa đối với gia đình, đối với đất nước và cả văn minh phương Tây. Năm 1952, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ tuyên bố rằng đồng tính luyến ái là một rối loạn tâm thần, và một năm sau, Tổng thống Dwight D. Eisenhower ký Sắc lệnh 10450, chính thức cấm người đồng tính vào làm việc trong chính quyền liên bang và cho phép các ban quản lý sa thải bất cứ nhân viên nào mà họ muốn nếu có bằng chứng rằng nhân viên này là người đồng tính. Tương tự như Frank Kameny, hàng nghìn người đã mất việc và rơi vào cảnh nghèo túng. Một số người trong số đó đã tự kết liễu đời mình.  Ngay sau khi bị đuổi việc, Kameny đã tìm cách kháng cáo ở khắp mọi nơi. Ông nhờ bạn bè chứng minh mình là một người ngay thẳng và sẽ chẳng bao giờ có tư tưởng phản quốc. Hàng loạt các bức thư được gửi tới từ các đồng đội thời chiến, cùng các đồng nghiệp trong ngành thiên văn như Harlow Shapley – người đầu tiên ước tính kích thước của dải Ngân Hà và xác định vị trí của Mặt Trời ở trong đó. Để được hỗ trợ pháp lý, ông cũng liên lạc với Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU), tổ chức nhân quyền đã hỗ trợ và đại diện cho các nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc và của Cuộc khủng hoảng đỏ bấy lâu nay. Ông liên lạc với luật sư của tổ chức này và cùng lập kế hoạch: nếu như Kameny có thể chứng minh mình là một người đồng tính công khai có đạo đức tốt, Chính phủ Mỹ buộc sẽ phải hủy bỏ các bản án liên quan đến sự “suy đồi” mà họ đã gán cho ông, và bản thân việc ông công khai xu hướng tính dục cũng có nghĩa là chẳng ai có thể tống tiền ông cả, nên chính phủ không thể coi ông là mối nguy hại tới an ninh quốc gia. Ba năm sau, vụ kiện ngược của ông tới tận Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, song đến năm 1961 thì bị bãi bỏ.  Kiện tụng thất bại, Kameny cùng nhà văn đồng tính Jack Nichols thành lập chi nhánh ở Washington, D.C. của Hội Mattachine (Mattachine Society), một hội đấu tranh vì quyền của người đồng tính với cơ cấu tổ chức mô phỏng theo Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Ngày 17/4/1965, Hội Mattachine ở D.C. lãnh đạo một trong những cuộc biểu tình đầu tiên của người đồng tính nam và đồng tính nữ trước cửa Nhà Trắng. Với sự giúp đỡ từ khắp bờ Đông nước Mỹ, một chuỗi các cuộc biểu tình do Kameny dẫn đầu nhanh chóng lan sang các địa điểm khác như Lầu Năm Góc, trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York, hay thậm chí là trụ sở của Ủy ban Công vụ Hoa Kỳ – cơ quan chính phủ đã điều tra và đuổi việc Kameny vài năm về trước. Vào năm 1968, Kameny sáng tạo ra khẩu hiệu “Gay is Good” (tạm dịch: Đồng tính thật tốt), lấy cảm hứng từ khẩu hiệu “Black is Beautiful” (tạm dịch: Da đen thật đẹp) của nhà hoạt động xã hội Stokely Carmichael. Giờ đây, cuộc đấu tranh vì quyền của người đồng tính do Kameny lãnh đạo diễn ra song song với phong trào dân quyền của người Mỹ da đen và phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam. Theo sau các cuộc bạo loạn tại quán rượu Stonewall vào mùa hè năm 1969, vấn đề quyền của người đồng tính càng được thảo luận nhiều. Ngày 15/12/1973, dưới sức ép của Kameny và các nhà hoạt động khác, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ chính thức xóa bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách các rối loạn tâm thần. Nghe tin này, Kameny đã nói: “Chúng tôi đã được các nhà tâm thần học chữa tập thể” (“We were cured en masse by the psychiatrists”).    Kameny nói chuyện với người qua đường trước Tòa nhà Độc Lập ở Philadelphia vào ngày Quốc khánh Mỹ năm 1965. Ảnh: New York Public Library  Mâu thuẫn tư tưởng  Bất chấp thành công của Kameny, một số vết nứt về mặt tư tưởng nhanh chóng xuất hiện trong cuộc đấu tranh, như một minh chứng rằng ngay cả khi cùng chí hướng, các cộng đồng bên lề xã hội (marginalized communities) cũng không phải là các thể thống nhất. Ngay từ những ngày đầu của Hội Mattachine, Kameny đã bị chỉ trích vì đưa ra các quy định trang phục gò bó: nam thì phải cạo râu, cắt tóc ngắn và mặc com lê ca vát, còn nữ thì phải mặc váy. Theo nhiều người cùng thời, Kameny theo chủ nghĩa tuân thủ (conformism) và cố gắng khiến người đồng tính trông “tử tế” trong mắt người dị tính bằng cách đồng hóa họ vào các khuôn mẫu độc hại về việc đàn ông hay phụ nữ phải ứng xử thế nào. Điều này không những tiếp tay cho các khuôn mẫu này ăn sâu vào xã hội, mà còn áp đặt lên người đồng tính các tiêu chuẩn mà họ khó lòng thỏa mãn được, bởi nếu cuộc đời họ và người mà họ yêu đều khác hẳn với những người dị tính, làm sao mà họ sống được dưới các tiêu chuẩn về hành vi và lối sống mà xưa nay đã kìm hãm cả những người dị tính? Cuộc tranh cãi nên hay không nên thách thức các tiêu chuẩn vốn có là một chuyện muôn thuở trong các cộng đồng bên lề xã hội, và trong tổ chức của Kameny, đây không phải là cuộc tranh cãi duy nhất.  Do sự chủng tộc hóa (racialization) nặng nề của xã hội Hoa Kỳ, Frank Kameny sống và trải nghiệm cuộc đời như một người đàn ông da trắng. Chính vì thế, ngay cả khi ông cùng chí hướng, cùng tham gia một cuộc đấu tranh với những người đồng tính da màu, trải nghiệm như một người da trắng của ông cũng sẽ tác động tới khả năng đoàn kết trong nội bộ phong trào đấu tranh vì quyền đồng tính. Dù bản thân Kameny không phải một người phân biệt chủng tộc và ra sức ủng hộ phong trào dân quyền của những người Mỹ gốc Phi, sự phân biệt chủng tộc vẫn xảy ra trong Hội Mattachine ở D.C. khi ông chịu trách nhiệm lãnh đạo tổ chức này. Khi một người đàn ông da đen duy nhất tới tham dự một buổi gặp mặt của Hội Mattachine, đa số các thành viên da trắng sinh nghi, hoặc là cho rằng người này đang đột nhập vào tổ chức, hoặc là vu khống người này là gián điệp của chính phủ. Chính Kameny cũng nhận thấy điều này: trong các bài phỏng vấn sau này, ông đã kể lại sự bối rối của mình khi gần như lúc nào cũng chỉ thấy “một biển các khuôn mặt da trắng” tham dự các buổi gặp mặt giữa một thành phố “gần 2/3 là người da đen”. Có lẽ điều duy nhất mà Kameny không nhận ra là chính các lối nói, các cách tranh luận và đặt vấn đề của ông đã góp phần đẩy những người da màu ra xa khỏi tổ chức, bởi trong rất nhiều các bài phát biểu của mình, Kameny đã tuyên bố rằng người đồng tính nay đã “thay thế” người da đen để trở thành cộng đồng bị kỳ thị nhất nước Mỹ. Theo nhà sử học Kent W. Peacock, những luận điểm như thế không chỉ liên hệ đồng tính luyến ái với một mình người da trắng và lờ đi sự tồn tại của người đồng tính da màu, mà còn cố gắng đối xử với chủng tộc và xu hướng tính dục như thể chúng có ảnh hưởng riêng biệt đối với trải nghiệm thường ngày của một người. Có thể kết luận rằng, hướng đấu tranh của Kameny thiếu cái mà giáo sư luật Kimberlé Crenshaw gọi là “tính giao thoa” (intersectionality) – sự xem xét đồng thời các tác động của giới, chủng tộc, xu hướng tính dục, địa vị xã hội, v.v. lên cuộc đời của mỗi cá nhân.       Theo nhà sử học Eric Cervini, Kameny “đã phát minh ra khái niệm ‘kiêu hãnh đồng tính’ (gay pride) như một hành động phản kháng về mặt pháp lý.”      Sau các cuộc bạo loạn Stonewall năm 1969, trong đó cuộc đấu tranh vì quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) được lãnh đạo bởi những người da màu như Marsha P. Johnson, các tổ chức như Hội Mattachine ở D.C. bắt đầu rơi vào quên lãng, bởi những người LGBT trẻ tuổi cảm thấy phong trào vì quyền bình đẳng cần phải có tính cách mạng và sẵn sàng thách thức các khuôn mẫu của xã hội hơn. Sang những năm 1970, ngay cả việc Kameny giúp xóa bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách các rối loạn tâm thần cũng không giúp tổ chức của ông được nhiều người ủng hộ trở lại, và cuộc đấu tranh của Kameny cũng chuyển từ biểu tình ở nơi công cộng sang đóng góp sửa đổi luật và kiến nghị lên các chính trị gia. Ngày 26/3/1977, ông cùng một số nhà hoạt động khác được mời đến buổi thảo luận đầu tiên ở Nhà Trắng về vấn đề quyền đồng tính.  Di sản của một nhà tiên phong  Frank Kameny dành những năm cuối đời của mình tại khu dân cư Palisades ở Washington, D.C., ngay bên cạnh Đại học Georgetown nơi ông từng giảng dạy. Ông thường xuyên viết thư kiến nghị về các vấn đề liên quan tới quyền đồng tính, và nhận làm khách mời cho rất nhiều chương trình vì quyền LGBT trên khắp nước Mỹ. Ngày 29/6/2009, Giám đốc Văn phòng Quản lý Nhân sự – cơ quan hậu thân của Ủy ban Công vụ – thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ gửi lời xin lỗi chính thức tới Kameny và trao cho ông giải thưởng danh giá nhất của họ. Hiệp hội Thiên văn học Hoa Kỳ (AAS) cũng dự kiến vinh danh và trao giải cho ông trong một buổi lễ long trọng, nhưng vào ngày 11/10/2011, Kameny qua đời vì xơ vữa động mạch, nên khi buổi lễ được tổ chức vào tháng 1/2012, một người bạn thân của ông lên nhận giải thay cho nhà thiên văn học quá cố. Tháng bảy năm đó, tên ông được Liên đoàn Thiên văn Quốc tế (IAU) đặt cho một tiểu hành tinh nằm ở giữa quỹ đạo của Sao Hỏa và Sao Mộc.  Dù sự nghiệp thiên văn học của ông bị cắt ngắn bởi sự kỳ thị mang tính hệ thống, cuối cùng Frank Kameny vẫn vươn lên để trở thành một nhà tiên phong trong công cuộc giành quyền của người đồng tính nói riêng và cộng đồng LGBTQ+ nói chung. Trong suốt thời gian vận động cả trên chính trường lẫn trong cộng đồng, không một lần nào Kameny tỏ ra xấu hổ hay tủi nhục vì xu hướng tính dục của mình. Theo nhà sử học Eric Cervini, Kameny “đã phát minh ra khái niệm ‘kiêu hãnh đồng tính’ (gay pride) như một hành động phản kháng về mặt pháp lý.” Những thành công của Kameny để lại tiếng vang trong lịch sử LGBTQ+, và những thất bại trong cuộc đấu tranh của ông – từ xu hướng tuân thủ đến sự thiếu tính giao thoa – không chỉ phản ánh bối cảnh xã hội khi ông sinh ra và lớn lên, mà còn đặt vấn đề cho các thế hệ nhà hoạt động vì quyền LGBTQ+ sau này, những người đã và đang nỗ lực nhận được sự công nhận về mặt pháp lý và xã hội rằng họ cũng là một phần của thế giới đa sắc này như bao người khác.□  —  Cervini, E. (2019), The Proud Plaintiff: The Mattachine Society of Washington, the American Civil Liberties Union, and the Invention of Gay Pride, 1957-1969 (Doctoral thesis).  Crenshaw, K. (1989), “Demarginalizing the Intersection of Race and Sex: A Black Feminist Critique of Anti-discrimination Doctrine, Feminist Theory and Antiracist Politics”, University of Chicago Legal Forum, 140, pp. 139-167.  Peacock, K. W. (2016), “Race, the Homosexual, and the Mattachine Society of Washington, 1961–1970”, Journal of the History of Sexuality, 25(2), pp. 267-296.  Shibusawa, N. (2012), “The lavender scare and empire: Rethinking Cold War antigay politics”, Diplomatic History, 36(4), pp. 723-752.  Stenhoff, M. (2020), “From astronomy to activism”, Astronomy & Geophysics, 61(5), pp. 31-33.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Freud và Phật giáo- Sự tương đồng đến kinh ngạc      Cho đến hôm nay, có thể nói nhân loại đã có 3 lần nhận ra mình bị “hớ”, đến mức nhiều chuẩn mực bị đảo lộn, thậm chí nhiều niềm tin bị sụp đổ sau 3 cuộc “cách mạng” ấy: Đầu tiên là thuyết nhật tâm, khi cả nhân loại đều tin một cách vững chắc rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, trên đó, cả vũ trụ quay quanh mình thì Copecnic bảo không phải vậy, mặt trời mới là trung tâm.    Lần thứ hai là Darwin với học thuyết tiến hóa; khi ai cũng tin rằng con người ta là một sản phẩm đặc biệt của tự nhiên, của Thượng Đế, không có một mối quan hệ nào với động vật cấp thấp thì Darwin bảo không phải vậy, con người là từ khỉ mà thành, chính xác hơn là một nhánh nào đó của động vật linh trưởng mà thành.  Và lần thứ ba là Freud với Phân tâm học; khi ai cũng chắc như đinh đóng cột rằng ý thức của con người ta (trong đó có trí tuệ, nhận thức và sự hiểu biết) là thiêng liêng và mạnh mẽ, nó quyết định mọi hành vi của con người ta, là điểm khác biệt giữa con người và động vật khác; thế nhưng Freud, với sự phân tích tâm lý của con người ta một cách xuất sắc và trung thực của mình đã bảo rằng: Không phải vậy! Vô thức và bản năng, những thứ rất gần, nếu không nói là giống hệt với động vật, mới là những điều quyết định rất nhiều đến hành vi của con người! Có thể ví von để dễ hình dung, ý thức như cái con rối mà vô thức và bản năng là kẻ đứng sau giật dây, điều khiển mọi chuyện. Điều này thì “khó chịu” chẳng khác gì khi nghe Darwin bảo con người ta vốn là từ con khỉ mà thành. Nó khó chịu đến mức con người thường ngụy tạo nên những cái vỏ, cái áo mỹ miều để khoác lên cái động lực rất bản năng chẳng khác với con khỉ, con chó là mấy. Mặc cảm Edip, cái mặc cảm của kẻ giết cha và lấy mẹ của con người thời bầy đàn kéo dài hàng triệu năm (cần nhớ rằng con người văn minh mới chỉ có chừng 20.000, nếu không nói là chỉ 10.000 năm trở lại đây thôi) đến giờ vẫn còn ám ảnh đâu đó trong vô thức con người và tạo nên những hành vi, căn bệnh tâm thần mà chỉ có nhờ Freud với sự Phân tâm mới có thể chữa hết được. Rồi bản năng tính dục, cái chuyện vặt mà ai cũng xấu hổ khi nói đến ấy thì Freud lại bảo rằng chính nó đã khiến cái thế giới này hình thành, nó khiến cái xã hội con người này cứ như sôi lên sùng sục suốt mấy ngàn năm qua; bao cuộc chiến tranh, bao kẻ tội đồ, bao thánh nhân, bao triết gia, bao nhà thơ, bao của cải… là cũng từ cái nguồn năng lượng vĩnh viễn không bao giờ chịu vơi cạn ấy mà hình thành. Đè nén nó là như lấy giấy mà gói lửa. Không tin ư? Bạn hãy cứ hỏi con mắt bạn khắc biết, tại sao cái bóng hồng giữa đám đông kia lại hút ánh nhìn của bạn đến vậy?  Rồi bản năng sống, bản năng sinh tồn, bản năng chết, bản năng sợ hãi, bản năng giận dữ nữa, ý thức chẳng bao giờ điều khiển được nó. Tại sao nói trước đám đông tim bạn cứ đập liên hồi vậy? Tại sao con người ta lại sợ rắn, đỉa, chuột, gián? Tại sao đèn đỏ ở ngã tư lại làm ta cồn cào bất an? Và tại sao con người ta lại không thể kìm chế được sự giận dữ, nhiều khi qua rồi mới thấy là vô cớ và kỳ cục? Vâng, đời sống tinh thần của con người, mặc dù đã được Freud phân tích khá kỹ từ gần 100 năm trước nhưng cho đến nay vẫn còn ẩn chứa rất nhiều bí ẩn, không phải là không nhìn thấy mà giống như là con người đã không chịu nhìn nhận, mặc dù ai cũng có thể nhìn thấy.  Và thật kỳ lạ, những điều Freud phân tích và khám phá ở trên gần như trùng khớp với những khái niệm cơ bản nhất của Phật giáo, chỉ có điều tất cả đều được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác.  Này nhé, bản năng thì tăm tối và hình thành từ thuở con người còn là những động vật bầy đàn hú hét trong rừng sâu. Nhà Phật cũng có khái niệm Vô minh hình thành từ Vô thủy, thường được gọi chung là Vô thủy Vô minh. Thật kỳ lạ, tại sao nhà Phật lại có cái khái niệm và sự diễn đạt chính xác đến vậy về cái tối tăm trong đời sống tinh thần của mình hình thành từ thời con người chưa là NGƯỜI, những điều mà khoa học đã tốn rất nhiều công sức mới dần nhận ra cái phần tâm lý bí ẩn mà Freud gọi là vô thức, bản năng. Mà Freud có được những suy nghĩ ấy chính lại nhờ vào sự quyết liệt và dũng khí của Darwin. Từ hơn 2000 năm trước Phật Thích Ca và các vị tổ sau này nhìn thấy điều gì trong tâm hồn con người rồi gọi tên nó là “cái hầm sâu vô thủy vô minh”? “Cái hầm sâu này” dường như Freud cũng chỉ mới bắt đầu cảm thấy chứ chưa thực sự hiểu cặn kẽ về nó, thậm chí đã tìm ra phương pháp để “phá tan” cái hầm sâu vô thủy vô minh ấy như Phật và các thiền sư nhà Phật đã làm để có được một cái nụ cười tự nhiên, thanh thản, an lạc như thấm đẫm đến từng tế bào như vậy.  Không cần đến cái mục đích cuối cùng là sự giải thoát, giác ngộ, và cũng khó mà yêu cầu Freud “đạt” đến chỗ mục đích cuối cùng như nhà Phật hay nêu; chỉ với những khái niệm cơ bản, những mục đích đạt tới, những cách diễn đạt, những phương pháp sử dụng để khảo sát đời sống tinh thần con người… chúng ta đã thấy Freud và Phật giáo nhiều chỗ tương đồng đến mức kinh ngạc.  Này nhé, nhà Phật không ai không biết đến các khái niệm vạn pháp do tâm tạo và tu là chuyển nghiệp. Freud cũng nói đến rất nhiều khái niệm số phận của mỗi người là do chính người đó, qua sự điều khiển của vô thức mà hình thành nên số phận của anh ta. Có người sống với người vợ nào rồi cũng ly dị, chơi với bạn nào rồi cũng bị bạn phản. Freud đã phân tích khá kỹ rằng chính vô thức đã thôi thúc ở bên trong anh ta để cuộc ly dị xảy ra, cuộc phản bội của bạn hình thành thì anh ta mới thỏa mãn mà không hề tự biết điều đó. Thì ra ta đi đâu cũng gặp người khó tính, người ích kỷ, người thủ đoạn là do chính bởi ta tạo nên họ chứ không phải họ có sẵn đó và ta chỉ gặp. Những khái niệm này là vô cùng gần với Phật giáo, số phận của ta là do chính nhân duyên nghiệp chướng ta tạo nên mà thành. Nhà Phật hay kể một câu chuyện rất hay để minh hoạ là: Có một cô con dâu không chịu nổi bà mẹ chồng khó tính, mới quyết định xin thầy cho loại thuốc nào đó cho bà chết đi. Vị thầy bảo, để cô không phải bị truy tố, ông sẽ cho một loại thuốc uống hằng ngày mà bà mẹ chồng sẽ chết sau một năm không để lại một dấu vết nào, chỉ với một điều kiện, đừng làm cho bà giận, bà chỉ cần giận một lần thôi là thuốc sẽ không hiệu quả. Cô con dâu từ đó cho bà uống thuốc và cố không làm bà giận, mà khi con người ta không giận thì chỉ có vui trở lên. Sau một năm cô con dâu đến gặp thầy và khóc xin sao cho mẹ chồng đừng chết nữa, vì cô đã rất yêu mến mẹ chồng và bà mẹ chồng cũng rất yêu mến cô. Vị thầy cười bảo, thuốc đó là củ sâm, chỉ có tốt chứ không độc, và báo cho cô biết mọi chuyện đã thay đổi kể từ khi chính cô thay đổi cách sống, thay đổi thái độ của cô với bà mẹ chồng.  Tu là chuyển nghiệp, tức sửa chữa mình thì sẽ thay đổi số phận. Đi đến cùng của khái niệm này ta sẽ thấy quả thật là “Vạn pháp do tâm tạo”. Thế giới này xét cho cùng là thế giới ở trong ta, thế giới ta nhận thức. Thế giới được ta quan sát là quan trọng hơn rất nhiều cái thế giới thực mà con người khó có thể nắm bắt. Cái tâm ta đối diện với mặt trăng quan trọng hơn rất nhiều bản thân cái mặt trăng khô khốc bụi đất, hoặc mặt trăng có chị Hằng chú Cuội ở trên. Thượng Đế có thật hay không không quan trọng bằng thái độ của chúng ta khi đối diện với một Thượng Đế thật hoặc không có một Thượng Đế nào cả.  Có nghĩa là, với Phật giáo, thì cái tâm của mình là một thế giới cần được khám phá hơn bất cứ điều gì khác. Các tầng mức giác ngộ, các tầng thánh quả, chính là các tầng mức hiểu biết về cái tâm của mình.   Và Freud cũng vậy, cả sự nghiệp của ông là sự nghiệp khám phá những góc khuất sâu kín, tối tăm thậm chí bỉ ổi, thối tha nhất mà không ai dám thừa nhận trong tâm hồn con người. Kéo con người đừng nhìn ra ngoài nữa mà hãy nhìn vào cái động lực, trên đó từng mỗi hành vi hình thành là mục đích của cả Freud và Phật giáo. Quán nhân duyên, biết mỗi sự việc xảy ra (quả) là từ cái nguyên nhân (nhân) nào đưa đến là trí tuệ cao nhất mà mỗi Phật tử đều mưu cầu.  Làm chủ sanh tử há không phải là làm chủ bản năng đấy sao? Các tổ Thiền tông cũng thường bảo, phá tan được cái hầm sâu vô thủy vô minh ấy thì kiến tánh thành Phật! Có một điều cần chú ý là, nhà Phật hay nói lìa tri kiến, sở tri chướng, tức những hiểu biết, kiến thức, nhận thức luôn là những trở ngại trên con đường đạt đến sự giác ngộ. Chỗ này thì Lão Tử và Đạo Đức Kinh lại có một tương đồng khác nữa. Nếu hiểu bản năng chính là Vô minh thì ta sẽ hiểu một tầng nghĩa khác của nó, đó chính là sự hiểu biết không bao giờ, và sẽ không bao giờ, chế ngự được bản năng. Chỉ có sự không biết, thiền định ở mức độ “vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý” (không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý-Bát Nhã Tâm Kinh); hoặc “tâm như tường bích” (tường đá) (Bồ Đề Đạt Ma); hoặc Vô Sở trụ (kinh Kim Cang); tức ở cái chỗ mà tâm con người ta không đứng, không dựa trên bất cứ điều gì cả, tức chỗ không biết cái gì cả, không ý thức cái gì cả, thì hầm sâu vô minh sẽ bị phá, đó là lúc mà Bản Năng sẽ không còn “quấy rầy” con người nữa, con người thực sự mất đi phần CON để trở thành một NGƯỜI đúng nghĩa.  Đó là nói phần khác nhau trong giải quyết vấn đề, giữa Freud và Phật giáo, sau khi nhìn thấy sự tác động mạnh mẽ của bản năng đến đời sống tinh thần của con người. Freud thì lôi nó ra đặt nó trên mặt bàn của ý thức, và ông đã chữa được nhiều bệnh tâm thần cho con người. Phật giáo thì không vậy, thật ra lôi tất cả ra dưới ánh sáng của ý thức cũng là đường lối của nhiều tông phái Phật giáo, tuy nhiên, cái mục đích cuối cùng của Phật giáo thì phải phá tan cái hầm sâu “Vô thủy vô minh” ấy. Làm sao phá, đó là một chuyện vô cùng lớn và không thể bàn trong một bài báo. Ở đây, chỉ với những cái nhìn ban đầu, chỉ với những bước đi đầu tiên nhằm tìm thấy những góc khuất trong đời sống tinh thần con người chúng ta đã thấy với công cụ “Phân tâm học” do Freud lập nên, có lẽ sẽ là điều kiện tốt nhất để mỗi Phật tử, và để mỗi người có thể nhận ra những động cơ sâu kín nhất trong mình, vẫn thường thôi thúc mình hành động thế này chứ không phải thế khác, tạo nên “quả” này chứ không phải “quả” khác. Để rồi từ đó hình thành nên một con người thực sự thông tuệ, không còn bị những bản năng tăm tối hoặc vô thức vớ vẩn nào đó điều khiển nữa. Đó há không phải là mục đích cao nhất mà nhân loại vẫn mưu cầu từ hàng chục ngàn năm qua đấy sao?  Hồ Trung Tú      Author                Quản trị        
__label__tiasang Fritz Haber: Cha đẻ của vũ khí hóa học      Đã có nhiều nhà nghiên cứu được giải Nobel  từng tham gia phát triển vũ khí hóa học, và giờ đây giải thưởng Nobel  Hòa bình được trao cho các chuyên gia kiểm tra và tiêu hủy loại vũ khí  này.     Kỷ nguyên vũ khí hóa học bắt đầu từ ngày 22.4.1915 ở thành phố Ypern, Bỉ khi quân đội Đức tung ra 150 tấn khí Chlorine, và gió đã thổi khí độc đó vào vị trí của quân đội đối phương. Khí Chlorine vốn nặng hơn không khí đã tràn vào chiến hào và lô cốt của quân đội Anh và Pháp. Hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn thanh niên trai tráng bỏ mạng vì ngạt thở.   Tuy quân đội Pháp ngay từ năm 1914 đã thử nghiệm đưa khí độc vào sử dụng trên chiến trường, song mãi đến ngày 22.4.1915, nó mới thực sự phát huy tác dụng trong chiến tranh. Cha đẻ của loại vũ khí này là một gã đàn ông người Đức, ông ta là một ví dụ điển hình về tính hai mặt của khoa học: Fritz Haber.   Khí độc làm cho nhiều binh lính Anh và Pháp bị chết thảm thương ở Ypern đã tràn ra từ hơn 6.000 bình chứa khí độc bằng thép theo phương pháp thổi của Haber. Nhưng đấy không phải là đóng góp duy nhất của ông: chính nhờ những thí nghiệm của Haber với khí Chlorine và Phosgene nên vũ khí hóa học của Đức mới làm nên công chuyện. Haber để ngoài tai nỗi lo lắng của bà vợ Clara, bà cũng là một nhà hóa học, ngay cả khi bà tự vẫn ông cũng chẳng bận tâm: Chỉ ít ngày sau khi Đức sử dụng vũ khí hóa học ở Ypern, bà Clara đã tự vẫn bằng khẩu súng ngắn của chồng.   Một sự trớ trêu của lịch sử: Haber, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất có một thời gian bị truy nã vì bị buộc tội là tội phạm chiến tranh nhưng năm 1918 ông lại được giải thưởng Nobel Hóa học. Điều này đã xảy ra mặc dù Alfred Nobel, người sáng lập Quỹ Nobel, từng viết trong chúc thư, giải thưởng chỉ dành cho những người “trong năm qua có những cống hiến nhiều nhất cho nhân loại”. Haber được vinh danh vì đã có công tìm ra phương pháp tổng hợp nitrogen và hydrogen thành Ammonia. Nhưng phát minh này không chỉ phục vụ hòa bình: Ammonia là một loại phân bón quý báu đối với nông nghiệp, nhưng nó có thể dùng để thay thế cho Salpeter khi đó còn rất khan hiếm, để chế tạo thuốc nổ.    Những nhà khoa học tạo ra quỷ dữ  Mới đây, Ủy ban Nobel đã tặng giải thưởng Nobel Hòa bình cho Tổ chức Cấm vũ khí hóa học (OPCW). Điều này phơi bầy vai trò đôi khi khá bi thảm của các nhà khoa học: người thì tìm mọi cách, có khi sẵn sàng hy sinh thân mình, để tiêu diệt con quỷ mà các đồng nghiệp của họ đã tạo nên.   Cả hai đã trở thành truyền thống lâu dài: Có lẽ từ khi phát minh ra chiến tranh thì những bộ óc thông minh nhất của mọi xã hội đều được huy động để phục vụ chiến tranh, họ phát minh ra cung, nỏ, kiếm, mác, và bom nguyên tử. Haber không phải là nhà hóa học lão luyện duy nhất đã phát triển vũ khí hóa học trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Thí dụ tham gia dự án khí của Viện Hoàng đế Wilhelm về hóa lý và điện hóa ở Berlin còn có nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu. Hai trong số họ từng được giải Nobel, những người khác sau này cũng được giải thưởng này. Ở các nước khác và các lĩnh vực khác, thí dụ nghiên cứu về nguyên tử và tên lửa, đã có sự tham gia của các nhà khoa học xuất sắc nhất thời đó.  Cho đến nay, việc phát triển vũ khí, nói chung có ba quan điểm khác nhau:   – Quan điểm về lòng yêu nước: Những người tán thành quan điểm này cho rằng họ phục vụ sự thịnh vượng và an ninh của đất nước, nói thoáng ra theo phương châm của Fritz Haber: “Nhà khoa học phục vụ nhân loại trong điều kiện hòa bình, trong chiến tranh thì phục vụ tổ quốc.”  – Quan điểm phi chính trị: Khoa học thì không thiện cũng không ác mà trung dung và nói chung về nguyên tắc không được hạn chế, ngăn cản khoa học. Dùng những phát minh, sáng chế vào việc gì, điều này không còn là trách nhiệm của nhà khoa học. Tuy nhiên ẩn đằng sau thái độ này thường là sự ngây thơ hay cơ hội đơn thuần, theo đó Werner von Braun đã từng bị chỉ trích vì ông là người thời kỳ đầu làm tên lửa cho Quốc xã và sau đó phục vụ Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ NASA.   – Quan điểm thực dụng: những người đại diện cho quan điểm này cho rằng, vũ khí của họ nhằm để tránh những điều còn tồi tệ hơn. Quan điểm thể hiện đặc biệt rõ rệt xung quanh dự án Manhattan, dẫn đến việc làm quả bom nguyên tử đầu tiên. Thí dụ Albert Einstein từng khuyên tổng thống Mỹ Roosevelt phát triển loại vũ khí này, để qua mặt Quốc xã. Trong khi đó, giới quân sự Mỹ lại lập luận cuộc tấn công hạt nhân vào Hiroshima và Nagasaki nhằm để tránh không phải xâm chiếm nước Nhật. Theo đó cuộc tấn công xâm chiếm nước Nhật sẽ làm cho khoảng 300.000 binh sỹ Mỹ và hàng triệu người Nhật phải bỏ mạng, đánh giá này gây nhiều tranh cãi cả trước đây cũng như hiện nay. Lý lẽ thực dụng cũng biện minh cho việc phát triển vũ khí để tự vệ trước kẻ xâm lược.  Nhiều nhà khoa học sau đó đã thay đổi quan điểm – thí dụ như Albert Einstein hay Robert Oppenheimer, cha đẻ của bom nguyên tử. Hàng nghìn nhà nghiên cứu khác, ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp của mình đã chống lại việc phổ biến các loại vũ khí giết người hàng loạt. Việc cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) được tặng giải Nobel Hòa bình năm 2005 và giờ đây việc vinh danh OPCW chỉ nói lên được một số nhỏ trong đội quân các nhà nghiên cứu khổng lồ đang âm thầm làm việc và lánh xa ánh sáng dư luận.   Vì thế việc vinh danh OPCW đã được giới chuyên gia nhiệt liệt ủng hộ. “Tôi thấy điều này thật tuyệt vời”, Stefan Mogl, chuyên gia về vũ khí hóa học thuộc Bộ Liên bang của Thụy Sĩ về bảo vệ dân thường, phát biểu. Trước đó, không ai biết OPCW đã làm được những gì. “Tổ chức này là một minh chứng sống động, giải trừ quân bị quốc tế vẫn có thể diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp.” Đã vậy ngân sách hàng năm lại quá eo hẹp, không quá 74 triệu Euro. Trong bối cảnh đó, một số người không khỏi bất ngờ mãi đến năm 1997, OPCW mới ra đời, đó là năm thế giới cấm vũ khí hạt nhân.   Hơn nữa sự vinh danh này rất quan trọng vì nó góp phần hướng dư luận quan tâm nhiều hơn đến nguy cơ có thể phát triển trong tương lai. Khác với thời kỳ đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, ngày nay sự hiểu biết về chế tạo vũ khí hóa học, sinh học và cả vũ khí hạt nhân khá phổ biến và tương đối dễ dàng tiếp cận – nhất là thông qua Internet. “Sự bùng nổ kiến thức trong ngành khoa học thần kinh và khoa học về cuộc sống có thể làm cho sự việc trở thành hiện thực trong tương lai, điều này làm cho người ta hết sức lo ngại”, chuyên gia Mogl bầy tỏ.   Vậy phải làm gì để tránh những điều đáng ngại đó trở thành hiện thực? Việc kiểm soát chạy đua vũ trang cổ điển có lẽ chỉ là một cách. Ông Mogl cho rằng “Cách suy nghĩ của giới nghiên cứu phải thay đổi”. Những nhà khoa học tương lai ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường phải nhận thức được tính hai mặt trong các hoạt động nghiên cứu của họ – khả năng sử dụng những kiến thức của họ vì mục đích dân sự và quân sự. “Khoa học phải ý thức được về trách nhiệm của mình.”  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang FuturICT – Một  “Khoa học lớn”      Một nghịch lý: hiện nay chúng ta hiểu biết về vũ trụ nhiều hơn xã hội của chính chúng ta. Bây giờ đã đến lúc dùng sức mạnh của thông tin để thăm dò khảo sát cuộc sống kinh tế và xã hội trên Trái đất và dự báo những phương án phát triển cho một tương lai bền vững.    Hãy cùng nhau góp công sức để đối diện với các thách thức của thế kỷ 21 bằng cách tích hợp những kiến thức hiện đại nhất.  Dự án FuturICT là một cố gắng có quy mô chưa từng có mang tính quốc tế, đa ngành, phức hợp nhằm vào mục tiêu là các hệ công nghệ-xã hội-kinh tế-môi trường.   FuturICT có nghĩa là ICT của tương lai, còn ICT có nghĩa là Thông tin-Truyền thông-Công nghệ (I=Information, C=Communication, T=Technology).  Khủng hoảng tài chính Hy Lạp đang làm rách nát bức tranh kinh tế toàn cầu. Không trả được nợ đất nước đứng trước nguy cơ phá sản. Nhiều nhà kinh tế cho rằng Hy lạp sẽ  sớm rời khỏi đồng Euro. Tây Ban Nha, Ý có thể cũng làm như vậy.  Câu hỏi: Hy lạp có rời bỏ đồng Euro? Câu hỏi phức tạp đến mức những bộ óc thông minh nhất thế giới cũng khó có câu trả lời.  Dirk Helbing một nhà vật lý chủ nhiệm khoa xã hội học tại Viện công nghệ liên bang Thụy sĩ Zurich ETH cùng cộng sự là Steven Bishop, UCL (University College London)[1] đưa ra đề nghị  xây dựng một hệ máy tính toàn cầu với kinh phí 1 tỷ Euro với tên gọi là FuturICT[2] để mô phỏng không riêng gì tài chính, chính trị hoặc môi trường mà tất cả trong xã hội chúng ta nghĩa là mọi vật (everything). Điều này làm chúng ta liên tưởng đến TOE-Theory of Everything – Lý thuyết của tất cả trong vật lý học. Hệ máy tính này sẽ đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi hóc búa nhất mà các nhà hoạch định chính sách phải đối diện.          Từ trái sang phải:Dirk Helbing(ETH) và Steven Bishop(UCL) hai nhà khoa học chủ trì FuturICT          Dự án FuturICT là một dự án nhằm xây dựng một mô hình máy tính toàn cầu xã hội, kinh tế, môi trường và khoa học tựa như Dự án Bộ Gene con người (Human Genome Project). Liên minh châu Âu kêu gọi thực hiện dự án “Khoa học lớn” (Big Science) này trong vòng 10 năm đến và hơn nữa. Có thể nói ngắn gọn FuturICT là tích hợp thống nhất ICT+Khoa học phức hợp[3] (Complexity Sciences) + Khoa học xã hội (Social Sciences).  Mục đích cuối cùng của FuturICT là tìm hiểu được và quản lý những hệ xã hội, phức hợp, toàn cục, tương tác với nhau để tìm ra lời giải bền vững (sustainable) và kháng sốc (resilient=có khả năng chịu đựng những cú sốc xã hội, kinh tế và môi trường). Bộc lộ được những quy luật và những quá trình tiềm ẩn trong các xã hội là một thách thức khoa học bức xúc lớn nhất của thế kỷ 21 và là một điều quan trọng bậc nhất cho việc phát triển những ICT khỏe mạnh, đáng tin cậy và có khả năng thích ứng dựa trên cơ sở những hình mẫu (paradigm) mới.  Việc tích hợp ICT, Khoa học Phức hợp và các Khoa học xã hội sẽ tạo ra một dịch chuyển lớn về hình mẫu cho một cuộc tiến hóa cộng sinh giữa ICT và xã hội.  Các dữ liệu thu được từ một hệ toàn cầu sẽ giúp xây dựng những mô hình công nghệ-xã hội-kinh tế. Và ngược lại từ những mô hình đó sẽ giúp sự phát triển của một thế hệ ICT mới có khả năng thích nghi và tự tổ chức (self-organized).  Vì sao chúng ta cần FuturICT  Hiện nay xã hội và công nghệ đã có những bước tiến có nguy cơ vượt khỏi tầm hiểu biết và quản lý của chúng ta.   Hiện nay sự khủng hoảng kinh tế chứng minh rằng những hệ thống mà chúng ta xây dựng để tổ chức cuộc sống của chúng ta  chứa một độ phức hợp chưa từng có và một mối liên thông (interconnection) đa chiều  giữa các thành phần công nghệ xã hội và kinh tế. Sự phức hợp đó dẫn đến những hệ quả trái với trực giác  và gây nên những thất bại liên hoàn theo kiểu dây chuyền domino.  Chúng ta không thể hiểu được và quản lý một mạng phức tạp như vậy bằng những công cụ cổ điển. Ta cần những công cụ mới để quản lý không những thị trường tài chính mà còn các dịch cúm (flu pandemics), những bất ổn xã hội, những mạng lưới tội phạm. Các nhà hoạch định chính trị luôn đối mặt với những quyết định về kiến trúc hạ tầng cơ sở để đáp ứng nhu cầu tương lai một cách bền vững.   FuturICT sẽ hoạt động như thế nào?  Dự án FuturICT sẽ tập hợp hàng trăm  nhà khoa học ưu tú châu Âu và thế giới trong vòng 10 năm, với một kinh phí 1 tỷ Euro vào một chương trình nghiên cứu để phát triển những phương pháp mới, những công cụ mới,  tích hợp nhiều mô hình khoa học, nhiều dữ liệu và nhiều quan niệm, nhiều ý tưởng mới. Đồng thời phát triển những chương trình giáo dục hiện đại cho nhiều nhà khoa học thế hệ trẻ.   FuturICT sẽ phát triển một mặt bằng quy mô lớn để mô phỏng, hiển thị gọi là Mặt bằng FuturICT (FuturICT platform).  FuturICT sẽ gồm ba thành phần chính.  Một hệ Mô phỏng Trái đất Sống LES (Living Earth Simulator) sẽ nhờ các trạm quan sát phát hiện mọi khủng hoảng trong từng lĩnh vực để xây dựng các mô hình.  Các mô hình sẽ được điều khiển và chuẩn hóa nhờ những dữ liệu trong thời gian thực qua một hệ thống số là Hệ thần kinh của hành tinh PNS (Planetary Nervous System). Các mô hình và dữ liệu sẽ hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân xuyên qua một Mặt bằng Tham gia Toàn cầu GPP (Global Participation Platform), nhờ mặt bằng này mà sự tham gia vào hệ được dễ dàng.          Hình 1. Mạng FuturICT với 3 thành phần chính là PNS, LES và GPP.          Chi tiết của FuturICT   Hệ thần kinh của hành tinh  PNS   Có thể hình dung PNS như một mạng các “cảm biến” toàn cầu trong đó “cảm biến” là mọi yếu tố có khả năng cung cấp các dữ liệu tĩnh và động về xã hội-kinh tế-môi trường-công nghệ có thể đo đạc để thu nhận các trạng thái và tương tác giữa các thành phần cấu tạo nên thế giới chúng ta, tạo nên những số liệu chỉ nam về xã hội, môi trường, sức khỏe hữu hiệu hơn GDP.   Mô phỏng Trái  đất Sống LES      LES là một hệ cho phép khai thác những kịch bản tương lai ở nhiều mức độ chi tiết khác nhau, tích hợp các dữ liệu và sử dụng một đa tạp các triển vọng lý thuyết và mô hình toán học đa lớp kết hợp với nhiều tiếp cận thực nghiệm và bán thực nghiệm.   Những mô phỏng ở kích cỡ lớn và các tiếp cận lai tạo (hybrid) đòi hỏi những khả năng siêu máy tính cung cấp bởi nhiều trung tâm siêu máy tính hàng đầu châu Âu.  Mặt bằng tham gia toàn cầu GPP  GPP là một khuôn khổ làm việc (frame world) mở cho mọi công dân, doanh nhân, các nhà hoạch định chính trị và các tổ chức để chia sẻ và khai thác các dữ liệu và mô phỏng để cùng thảo luận.  Mặt bằng Tham gia (Participatory Platforms) giúp các nhà hoạch định chính sách trong các quyết định, giúp các doanh nhân nói chung tạo điều kiện cho một sự tham gia mang tính chính trị, xã hội, và kinh tế.  FuturICT đem lại những lợi ích gì?  FuturICT sẽ đem lại nhiều lợi ích cho khoa học, công nghệ và xã hội nhờ tích hợp mọi tiếp cận riêng lẻ trước đây.  Khái niệm đa ngành của FuturICT sẽ tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) với khoa học phức hợp và các khoa học xã hội để tạo ra đầu ra trong 3 lĩnh vực. Hình số 2 cho chúng ta một hình dung về FuturICT với 3 đầu ra: công nghệ, khoa học và xã hội.          Hình 2. Cấu trúc tổng quan của FuturICT với 3 đầu ra: công nghệ, khoa học và xã hội.          Khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, khủng bố toàn cầu, dịch bệnh lan truyền siêu tội phạm cũng như tăng trưởng dân số thay đổi khí hậu, tiến bộ công nghệ đã đẩy nhân loại trước những thử thách mới.  Những bài toán này không thể giải quyết trong khuôn khổ những hình mẫu (paradigm) cũ được nữa. Để hiểu những hệ phức hợp cần thực hiện một sự dịch chuyển lớn về hình mẫu có thể so sánh với sự dịch chuyển từ hệ địa tâm đến hệ nhật tâm.  FuturICT sẽ phát triển nhiều KH&CN mới để điều khiển trong tương lai một thế giới phức tạp và liên thông tương tác với nhau. Cần tổng hợp sức mạnh của ICT với sự hiểu biết sâu sắc các KH phức hợp và xã hội.  Như chúng ta biết KH phức hợp sẽ cho ta những tia sáng về các hiện tượng đột sinh[3] trong các hệ tương tác tập thể và các KH xã hội sẽ cho ta biết về những biến cố, những rủi ro của các hệ trong mạng ICT. Như thế FuturICT sẽ tạo nên nhiều phương pháp nhiều công cụ để đối diện với các thử thách của thế kỷ 21. FuturICT sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trong khoa học.  Trong những năm 80 các nhà khoa học cũng đã hợp lực nghiên cứu lý thuyết hỗn độn (chaos) từ nhiều chuyên ngành khác nhau để hiểu sự dịch chuyển hình mẫu từ tất định luận (paradigm shift from determinism). Dự án FuturICT hiện nay có quy mô khoa học và xã hội lớn hơn.  FuturICT không phải là bắt đầu bằng số không mà thực tế là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Trước đây đã có những tiếp cận tương tự như Trái đất số (Digital Earth)[4].  Chúng ta đã xây dựng những máy gia tốc để nghiên cứu các lực trong thế giới vật lý. Để lấp đầy những chỗ trống trong tri thức công nghệ-xã hội-kinh tế trong FuturICT người ta còn thiết lập một sơ đồ để  Gia tốc Tri thức KA (Knowledge Acceleration) nhằm thực hiện một bước nhảy trong khả năng bắt kịp những thay đổi nhanh chóng của tri thức về thế giới của chúng ta.          Hình 3. FuturICT  là một dự án đa ngành tích hợp nhiều lĩnh vực nghiên cứu thể hiện trong sơ đồ  Gia tốc tri thức KA ( Knowledge Accelerator).          Trong FuturICT còn có những hệ Thăm dò (Exploratories) để phát hiện và giảm thiểu các khủng hoảng. FuturICT có tham vọng lôi kéo vào guồng hàng nghìn nhà khoa học ưu tú trên thế giới trong vòng 10 năm với một kinh phí khổng lồ bằng 1 tỷ Euro để khảo sát cuộc sống xã hội trên Trái đất và mọi điều liên quan. FuturICT có tham vọng quản lý một hệ vô cùng phức tạp bao gồm cả những khủng hoảng tài chính (hình 4).          Hình 4 .   FuturICT tích hợp nhiều lĩnh vực : xã hội, kinh tế, công nghệ, môi trường và mối tương tác giữa các lĩnh vực đó trong một guồng máy tựa như con tàu “vũ trụ”.          Ai tham gia?  Dự án FuturICT là một dự án lớn huy động hàng trăm nhà khoa học làm việc trong những lĩnh vực khác nhau trên thế giới tại nhiều viện khác nhau và tại nhiều  trường đại học hàng đầu châu Âu và Mỹ, Nhật, TQ, Australia (xem hình 5).          Hình 5. Những đơn vị điều khiển và tham gia FuturICT          Nhờ quy mô lớn và sự tham gia của nhiều nhà khoa học những tác giả của FuturICT hy vọng FuturICT mô tả càng ngày càng đúng thực tế khách quan (xem hình 6) của thế giới phức hợp và biến động.          Hình 6.  Dữ liệu lớn (Big Data) của hệ công nghệ-xã hội-kinh tế-môi trường càng ngày càng tốt hơn.          Một số câu hỏi thường gặp (FAQ-Frequently Asked Questions)  Q. Liệu nhờ FuturICT chúng ta có thể tránh được các sự cố như Fukushima, 9/11 hay khủng hoảng nợ?  A. FuturICT không nhằm mục đích tạo một cỗ máy toàn năng giúp chúng ta tránh thảm họa thiên nhiên nhưng giúp chúng ta hiểu được các điều kiện và cơ chế gây nên các sự cố và những tác động to lớn của chúng. Như vậy FuturICT giúp chúng ta hiểu được những bất ổn định hệ thống và giảm thiểu hệ quả do đó FuturICT xứng đáng để thực hiện.  Q. FuturICT có phải là một dạng AI (Trí tuệ nhân tạo)?  A. FuturICT không tạo ra AI song FuturICT tích hợp được trí tuệ con người với khả năng máy tính và các quyết định cũng như các diễn đoán đều thuộc về con người.  Q.Có phải FuturICT dự báo tương lai?  A. Chúng ta không cần dự báo tương lai, chúng ta chỉ xây dựng những kịch bản ở một mức độ trừu tượng nào đó với những xác suất nào đó.  Q. Vậy trong FuturICT chỉ có những khoa học xã hội định lượng (quantitative social science) và không còn tồn tại những khoa học xã hội định tính (qualitative social science)?  A. Không phải như vậy chúng tôi không loại bỏ khoa học xã hội định tính mà ngược lại kết hợp với nó. Chúng tôi không tiên đoán được hành vi của từng cá nhân song lối hành xử của tập thể thì hy vọng nắm được.  Q.Khi nào thì FuturICT cho kết quả ?  A. FuturICT được kế hoạch cho 10 năm bắt đầu từ 2013, thời gian chuẩn bị để khởi động 2011-2012. Hy vọng có kết quả đầu tiên vào năm 2015.  Một số ý kiến phản biện FuturICT  Một số nhà khoa học như David Weiberger [5] tỏ ý bi quan về một dự án như FuturICT. Các nhà khoa học này cho rằng chúng ta đã đánh giá quá cao khả năng của chúng ta. Tồn tại một con số vô cùng lớn các sự kiện, sự cố trong vũ trụ, trong khi khả năng chúng ta lại bị hạn chế. Khó lòng nắm bắt được những sự kiện đóng vai trò chủ đạo. Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng không thể biết được những sự kiện quan trọng nhất có khả năng kích nổ các biến đổi tiếp theo. Việc dự báo phụ thuộc vào nhiều điều kiện ban đầu và những mối tương tác phức tạp trong hệ thống. Thế giới là tất định song lại là hỗn độn và đột sinh[3].  Liệu có thể mô hình đúng đắn thế giới chăng?  Chắc người ta chỉ có thể nghĩ đến một sự xung đột của rất  nhiều mô hình, nhiều dự báo. Khó lòng gói gọn tất cả tri thức trong một số mô hình. Thế giới là hỗn độn về bản chất như vậy thực tế đây sẽ là cuộc xung đột của nhiều mô hình, nhiều dự báo, nhiều triển vọng khác nhau với nhiều điểm đen bất khả tri khác nhau. Khó lòng tin được máy tính sẽ cho một lời giải đúng đắn vì tính phức hợp của thế giới và sự hạn chế trí óc của con người.  Song đây không phải là lý do để thất vọng. Tri thức mạng là một tri thức luôn biến động và sẽ giúp chúng ta ngày càng hiểu thêm thực tế. Tình huống ở đây của FuturICT tương tự như tình huống  liệu có tồn tại một lý thuyết thống nhất  TOE  (Theory of Everything-Lý thuyết thống nhất vạn vật) trong vật lý học [3] song ở một quy mô lớn hơn nhiều gồm những lĩnh vực đầy trắc trở như khoa học xã hội.   ————  Tài liệu tham khảo  [1]  Dirk Helbing, ETH, FuturICT – New Science and Technology to Manage Our Complex, Strongly Connected World và  Steven Bishop, UCL (University College  London), FuturICT: A Visionary Project to Explore and Manage our Future.   [2]  The FuturICT Project: www.futurict.eu  [3]  Cao Chi, Vật lý hiện đại, những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh, NXB Tri thức,2011.  [4]  http://www.digitalearth-isde.org/  [5]  David Weiberger,The machine that would predict the Future, ScientificAmerican,dec2011.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 1/3 loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng vì thay đổi khí hậu      Trong một bản báo cáo công bố ngày 6-4, các nhà khoa học hàng đầu của Liên Hiệp Quốc cho biết gần 1/3 loài động thực vật trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng do thay đổi khí hậu.    “Khoảng 20-30% các loài động thực vật bị đe dọa tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng quá 1,5-2,5 độ C”, báo cáo nêu.  Theo bản báo cáo này, nhiều hệ sinh thái sẽ bị quá tải trong thế kỷ này do những thay đổi chưa từng có của khí hậu và các thiên tai như lũ lụt, hạn hán và cháy rừng. Các hệ quả do hoạt động của con người như đất đai bị biến đổi, ô nhiễm, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên… làm cho tình hình tồi tệ thêm.  Các chuyên gia cũng cảnh báo sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và lượng khí thải CO2 trong không khí sẽ gây ra những thay đổi lớn ở kết cấu và chức năng của hệ sinh thái.  Tháng 2, Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC) đã có báo cáo cho biết trong thế kỷ qua, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74 độ C và có thể tăng thêm 1,8 – 4 độ C vào năm 2100 so với nhiệt độ hiện nay.   TƯỜNG VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần 40% loài thực vật quý hiếm dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu      Theo một nghiên cứu mới của Đại học Arizona, gần 40% các loài thực vật sống trên đất liền được xếp vào loại rất hiếm sẽ nằm trong nhóm có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất nếu tình trạng biến đổi khí hậu vẫn tiếp diễn.      Những điểm nóng về các loài thực vật quý hiếm trên toàn cầu. Nguồn: Phys.org  Kết quả nghiên cứu này được công bố trong số đặc biệt của tạp chí Science Advances cùng với thời điểm diễn ra Hội nghị Biến đổi khí hậu năm 2019 của Liên Hợp Quốc (COP25) ở Madrid.  “Khi đề cập tới đa dạng sinh học trên toàn cầu, chúng tôi có thể ước lượng gần đúng tổng số các loài thực vật trên đất liền, nhưng chúng tôi không nắm được thực sự có bao nhiêu loài”, GS. Brian Enquist về tiến hóa và sinh học tiến hóa ở Đại học Arizona, người đứng đầu nghiên cứu cho biết.  35 nhà nghiên cứu đến từ các viện nghiên cứu trên toàn thế giới đã làm việc trong vòng 10 năm để tổng hợp 20 triệu hồ sơ quan sát về các loài thực vật trên đất liền. Đây là bộ dữ liệu lớn nhất từ trước đến nay về đa dạng sinh học thực vật. Các nhà nghiên cứu hy vọng những thông tin này có thể giúp giảm tổn thất đa dạng sinh học trên toàn cầu bằng cách cung cấp dữ liệu cho các hành động bảo tồn mang tính chiến lược bao gồm việc xem xét những tác động của biến đổi khí hậu.  Họ đã tìm thấy khoảng 435 000 loài thực vật độc đáo sống ở đất liền. “Việc có được con số này rất quan trọng nhưng điều chúng tôi thực sự muốn là hiểu được bản chất và những gì sẽ xảy đến với sự đa dạng này trong tương lai”, Enquist cho biết. “Một số loài được tìm thấy ở mọi nơi – giống như Starbucks trong các loài thực vật. Nhưng một số khác lại rất hiếm – như một quán cà phê nhỏ riêng biệt”.  Enquist và các cộng sự tiết lộ, 36,5% các loài thực vật trên đất liền được xếp vào loại “vô cùng quý hiếm”, đồng nghĩa với việc chỉ có thể quan sát và ghi nhận sự hiện diện của chúng ít hơn 5 lần so với trước đây. “Theo lý thuyết sinh thái và tiến hóa, chúng tôi đoán được rằng sẽ có nhiều loài quý hiếm, nhưng con số quan sát được trên thực tế vẫn thực sự đáng kinh ngạc”, ông nói. “Có nhiều loài quý hiếm hơn so với dự đoán của chúng tôi”.  Hơn nữa, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những loài quý hiếm có xu hướng tập trung ở một số điểm nóng, chẳng hạn như phía Bắc dãy Andes ở Nam Mỹ, Costa Rica, Nam Phi, Madagascar và Đông Nam Á. Họ thấy rằng khí hậu những vùng này vẫn ổn định kể từ kỷ băng hà cuối cùng, cho phép các loài thực vật quý hiếm có thể tồn tại.  Nhưng việc những loài này thích ứng được với sự ổn định của khí hậu trong quá khứ không đồng nghĩa với việc chúng có thể thích ứng được trong tương lai. Các nhà nghiên cứu dự đoán những điểm nóng của các loài thực vật quý hiếm này sắp trải qua sự biến đổi khí hậu hoàn toàn khác so với trước đó đi kèm với sự tàn phá của con người, Enquist cho biết.  “Chúng tôi nhận thấy ở các vùng này, các hoạt động của con người như nông nghiệp, các thành phố và thị trấn, sử dụng đất và giải phóng mặt bằng đang có xu hướng gia tăng. Đây không phải là một tin tốt”, ông nói. “Nếu chúng ta không làm gì cả, tính đa dạng của các loài thực vật – chủ yếu là các loài quý hiếm sẽ bị suy giảm đáng kể – bởi số lượng thấp khiến chúng càng dễ tuyệt chủng hơn”.  Và các nhà khoa học vẫn chỉ biết rất ít về các loài quý hiếm này.  Bằng cách tập trung vào việc xác định các loài quý hiếm, “công trình này có khả năng nêu bật mối đe dọa kép – bao gồm biến đổi khí hậu và tác động của con người lên những vùng lưu giữ nhiều loại thực vật quý hiếm trên thế giới và nhấn mạnh sự cần thiết của các chiến lược bảo tồn để bảo vệ những cái nôi về đa dạng sinh học này”, Patrick Roehrdanz, đồng tác giả và là một nhà khoa học quản lý ở tổ chức Bảo tồn Quốc tế cho biết. □  Thanh An dịch    Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-species-rare-vulnerable-climate.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần giải được giả thuyết yếu của Goldbach      Các nhà toán học gần tìm được lời giải cho một giả thuyết đã tồn tại qua gần ba thế kỷ.    Một trong những vấn đề chưa giải được cổ nhất của toán học cũng đồng thời là vấn đề dễ hiểu nhất. Giả thuyết yếu của Goldbach nói rằng ta có thể phân chia bất cứ số lẻ nào thành tổng của tối đa là ba số nguyên tố. Ví dụ:  35 = 19 + 13 + 3  hay  77 = 53 + 13 + 11  Nhà toán học Terence Tao của trường University of California, Los Angeles, nay đã gần hoàn tất một lời giải. Ông đã chứng minh được là mỗi số lẻ là tổng của tối đa năm số nguyên tố, và nay ông hi vọng có thể giảm từ năm xuống còn ba.   Tao cho biết rằng, bên cạnh niềm ham muốn hóa giải một trở ngại đã thách đố những trí tuệ siêu việt nhất của nhân loại qua gần ba thế kỷ, việc giải quyết được mục tiêu hấp dẫn này cũng sẽ dẫn các nhà toán học tới những ý tưởng hữu ích trong cuộc sống – ví dụ như mã hóa những dữ liệu nhạy cảm.  Giả thuyết yếu Goldbach được đề xuất bởi một nhà toán học của thế kỷ 18, Christian Goldbach. Nó là họ hàng của một phát biểu khác liên quan tới các số chẵn, có tên là Giả thuyết mạnh Goldbach, nhưng thực ra lại được xây dựng bởi cộng sự của ông, nhà toán học Leonhard Euler. Giả thuyết mạnh khẳng định rằng mỗi số chẵn lớn hơn 2 là tổng của hai số nguyên tố. Như tên gọi của chúng phản ánh, nếu giả thuyết mạnh đúng thì giả thuyết yếu cũng đúng: để phân chia mỗi số lẻ thành tổng ba số nguyên tố, ta chỉ việc trừ 3 để tạo ra một số chẵn, và áp dụng giả thuyết mạnh đối với số chẵn này.    Các nhà toán học đã kiểm chứng cả hai giả thuyết này trên máy tính cho tất cả mọi số nguyên tối đa là 19 ký tự, và họ chưa tìm thấy trường hợp nào bị sai. Hơn thế, với số càng lớn thì càng có nhiều cách để phân chia nó thành tổng của hai hoặc ba số nguyên tố. Nghĩa là giả thuyết càng dễ đúng với với những số lớn. Trong thực tế, các nhà toán học đã chứng minh rằng, giả sử tồn tại những ngoại lệ không đúng với giả thuyết mạnh, thì chúng sẽ càng hiếm với các số lớn dần tới vô cùng. Còn đối với giả thuyết yếu, một định lý cổ điển từ thập kỷ 1930 nói rằng, nếu có thì chỉ là hữu hạn một số những ngoại lệ. Nghĩa là ở những số “đủ lớn” thì sẽ không thể có ngoại lệ.  Cách làm của Tao là kết hợp kết quả kiểm chứng của máy tính ở những số “đủ nhỏ”, với kết quả lý thuyết áp dụng cho những số “đủ lớn”. Bằng việc cải thiện những tính toán với “rất nhiều bước ngoặt nhỏ”, ông nói, chúng ta sẽ thấy là hai tập số có sự chồng lấp nhau, ít ra là ở giả thuyết với năm số nguyên tố.   Tao hi vọng có thể mở rộng cách làm của mình với giả thuyết về năm số nguyên tố. Nhưng cách giải này sẽ không giúp giải được giả thuyết mạnh. Giả thuyết yếu tương đối dễ hơn, Tao nói, vì việc phân chia một số thành tổng ba số khác sẽ “có nhiều cơ hội hơn để bạn gặp may, khi toàn bộ các số thành viên là số nguyên tố”.  Vậy là, sau một phần tư thiên niên kỷ từ ngày Goldbach mất, vẫn chưa ai tìm được một chiến lược để giải giả thuyết mạnh mà ông đặt ra.  TS dịch  http://www.nature.com/news/ mathematicians-come-closer-to-solving-goldbach-s-weak-conjecture-1.10636       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gắn nhãn hóa học – Một phương pháp truy tìm anh chị em của Mặt trời      Theo lý thuyết tiến hóa sao, Mặt trời đã chào đời cùng nhiều ngôi sao khác khi các phần dày đặc của một đám mây phân tử bị sụp vào khoảng 4.6 tỉ năm trước. Dần dần, toàn bộ đám mây phân tử tan mất, và những ngôi sao từ đó chia nhau đi theo các hướng riêng biệt trong vũ trụ. Dựa vào kiến thức này, các nhà thiên văn học đã và đang nỗ lực sáng tạo ra các phương pháp khác nhau để tìm những ngôi sao đã sinh ra cùng với Mặt trời – những “anh chị em ruột” của thứ trao cho chúng ta ánh sáng. Trong một bài viết ngắn, hãy cùng thảo luận về một phương pháp tên là gắn nhãn hóa học, từ cách hoạt động cho đến hiệu quả và những thách thức còn phải đối mặt tính đến thời điểm hiện tại.      Mặt trời. Ảnh: NASA/SDO.  Cơ sở khoa học  Vì thành phần hóa học chủ yếu của sao là hydro và heli, tất cả các nguyên tố được tìm thấy ở các ngôi sao mà không phải hydro và heli đều được thiên văn học gọi chung là “kim loại” – khác hẳn với định nghĩa kim loại trong cuộc sống thường ngày. Từ đó, “độ kim loại” (metallicity) của một ngôi sao ám chỉ lượng các chất hóa học không phải hydro và heli ở ngôi sao này, và một cách nghiên cứu độ kim loại thường thấy là tính tỉ lệ giữa độ giàu về một kim loại X và độ giàu về sắt, do các vạch quang phổ của sắt rất dễ xuất hiện khi phân tích ánh sáng của một ngôi sao. Lấy Mặt trời làm chuẩn, các nhà thiên văn học sử dụng logarit để thiết kế tỉ số [X/Fe], trong đó một ngôi sao có tỉ số [X/Fe] là +1 sẽ có tỉ lệ giữa kim loại X và sắt cao gấp 10 lần so với tỉ lệ của Mặt trời, còn một ngôi sao có tỉ số [X/Fe] là +2 sẽ có tỉ lệ giữa kim loại X và sắt cao gấp 100 lần Mặt trời, và cứ tiếp tục như vậy.  Trong một bài nghiên cứu năm 2002, hai nhà thiên văn học người Úc là Ken Freeman và Joss Bland-Hawthorn đã chỉ ra một độ phân tán lớn về tỉ số [X/Fe] của nhiều ngôi sao được quan sát trong suốt bốn thập kỷ trước đó. Theo Freeman và Bland-Hawthorn, trong số các nguyên tố X được ghi nhận, có những nguyên tố mà quá trình tiến hóa sao thông thường không thể tạo ra được, mà thay vào đó phải cần đến các sự kiện thiên văn có năng lượng khủng khiếp, ví dụ như lúc một ngôi sao sụp lõi và nổ tung thành một siêu tân tinh loại II (type II supernova). Trong trường hợp siêu tân tinh như thế, sự sụp và bùng nổ trong chốc lát của ngôi sao sẽ giải phóng vô số các hạt neutron, và các hạt nhân nặng trong ngôi sao này sẽ tóm được rất nhiều neutron cùng một lúc, rồi nhanh chóng trở thành các nguyên tố nặng hơn. Đây được gọi là quá trình r (r-process, trong đó “r” là viết tắt của từ “rapid” có nghĩa là “nhanh” trong tiếng Anh), và theo Freeman và Bland-Hawthorn, sự tồn tại của các nguyên tố từ quá trình r (r-process element) ở các ngôi sao ngày nay không phải là kết quả từ sự tiến hóa của bản thân các ngôi sao đó, mà thực chất là bằng chứng quý giá về điều kiện của đám mây phân tử nơi các ngôi sao đã chào đời hàng tỉ năm về trước. Ví dụ, nếu sự sụp lõi của một ngôi sao tạm gọi là A tạo ra hai nguyên tố từ quá trình r là samari (Sm) và europi (Eu), vụ nổ siêu tân tinh của sao A có thể thổi Sm và Eu bay đi tứ tung. Một đám mây phân tử ở gần đó sẽ nhận được một lượng lớn Sm và Eu từ vụ nổ, và những ngôi sao B, C, D mà sau này đám mây phân tử sinh ra đều sẽ có một lượng Sm và Eu giống nhau. Nếu các nhà thiên văn học ngày nay đo được chính xác sự tương đồng về lượng Sm và Eu ở các sao B, C, D, họ có thể gộp các ngôi sao này thành một nhóm và kết luận rằng chúng đã chào đời trong cùng một đám mây phân tử hàng tỉ năm về trước, ngay cả khi đám mây phân tử đó đã tan mất từ lâu rồi. Phương pháp như vậy được Freeman và Bland-Hawthorn gọi là “gắn nhãn hóa học” (chemical tagging).  Mặt trời và những vì sao khác  Vào đầu thập niên 2010, nhà thiên văn học người Peru Ivan Ramírez đã cùng cộng sự xem xét tổng cộng 30 ngôi sao khác nhau trong dải Ngân Hà để tìm kiếm những “anh chị em của Mặt trời” (solar sibling). Sau khi đo đạc lượng các kim loại khác nhau ở 30 ngôi sao này, Ramírez và cộng sự lựa chọn các kim loại điển hình để tính toán tỉ số [X/Fe], rồi đối chiếu với tỉ số [Fe/H] giữa lượng sắt và lượng hydro để ước tính tuổi của các ngôi sao. Trong kết quả nghiên cứu được xuất bản năm 2014, nhóm của Ramírez đã ghi nhận hai ngôi sao có khả năng cao là anh chị em của Mặt trời: HD 154747 thuộc chòm sao Thiên Yến (Apus) và HD 162826 thuộc chòm sao Vũ Tiên (Hercules). Trong số hai ngôi sao này, HD 162826 có lượng các nguyên tố từ quá trình r như lanthan (La), xeri (Ce) và neodymi (Nd) gần như là giống hệt với Mặt trời, và dựa theo mô phỏng bằng máy tính, khả năng xảy ra sự giao nhau giữa quỹ đạo của HD 162826 và Mặt trời trong quá khứ cao hơn hẳn so với HD 154747. Chính vì vậy, Ramirez và cộng sự đã kết luận rằng chỉ một mình ngôi sao HD 162826 mới thỏa mãn các tiêu chí động lực học và hóa học để được coi là một anh chị em thực sự của Mặt trời.     Đài thiên văn McDonald ở Texas, Mỹ, nơi Ramírez và cộng sự đã phân tích và xác định được HD 162826 là ngôi sao anh chị em đầu tiên của Mặt Trời. Ảnh: McDonald Observatory, UT Austin.  Nhờ vào các nghiên cứu sau đó, đến nay các nhà thiên văn học đã chắc chắn được rằng HD 162826 và Mặt trời từng cùng tồn tại trong một quần tinh mở (open star cluster) – một nhóm sao cùng tuổi và cùng được hình thành trong một đám mây phân tử. Trước khi quần tinh mở này bị phân tán, Mặt trời, HD 162826 và bất kỳ ngôi sao anh chị em nào khác không hề bị liên kết trọng lực làm cho dính lấy nhau, mà vẫn giữ được một khoảng cách đủ lớn để duy trì đĩa bụi xung quanh Mặt trời mà sau này trở thành hệ hành tinh của chúng ta.  Phát hiện của Ramírez và cộng sự đã chứng minh được triển vọng của phương pháp gắn nhãn hóa học, và trong khoảng thời gian sau đó, các nhà thiên văn trên khắp thế giới tiếp tục sử dụng phương pháp này để tìm kiếm anh chị em của Mặt trời. Vào năm 2018, dưới sự lãnh đạo của một nhà vật lý thiên văn người Armenia tên là Vardan Adibekyan, một nhóm nghiên cứu khác tại Châu Âu đã phân tích 55 ngôi sao từ một cơ sở dữ liệu quan sát và lọc ra 12 ứng viên dựa trên sự tương đồng về độ kim loại so với Mặt Trời. Sau khi ước tính tuổi của 12 ngôi sao này, Adibekyan và cộng sự chỉ chọn ra được 4 ngôi sao, và thông qua phép phân tích chuyển động, họ đi đến kết luận rằng chỉ một mình ngôi sao HD 186302 trong chòm sao Khổng Tước (Pavo) mới có thể được coi là anh chị em của Mặt Trời. Dù cách tiếp cận của Adibekyan và cộng sự có nhiều điểm khác biệt so với nhóm của Ramírez, tầm quan trọng của gắn nhãn hóa học trong cả hai nghiên cứu là một điểm chung không thể không đề cập tới. Dường như gắn nhãn hóa học đã trở thành một phương pháp vô cùng hiệu quả để truy tìm người thân của Mặt Trời, hay nói rộng ra là các ngôi sao trong vũ trụ.  Những thách thức  Bất chấp những thành công mà gắn nhãn hóa học đã gặt hái được, phương pháp này vẫn chưa thể đóng vai trò quyết định trong công cuộc nhóm các ngôi sao thành các “gia đình” riêng biệt. Như đã thảo luận ở phần trên, cả hai đội nghiên cứu của Ramírez và Adibekyan đều sử dụng gắn nhãn hóa học để khoanh vùng những ngôi sao có thể có chung nguồn gốc với Mặt trời, song họ đều phải dùng thêm các phân tích khác để đi đến kết luận cuối cùng. Trong một số trường hợp khác, ví dụ như nghiên cứu năm 2015 của Lưu Thành (Liu Cheng) và cộng sự, gắn nhãn hóa học giúp các nhà thiên văn lọc lấy được một hoặc nhiều ngôi sao, song cuối cùng việc mô phỏng và phân tích chuyển động lại cho thấy những ngôi sao này không thể nào là anh chị em của Mặt trời.   Có hai nguyên nhân chính khiến cho gắn nhãn hóa học chưa thể trở thành một phương pháp đáng tin cậy. Thứ nhất, với các thiết bị đo đạc ở thời điểm hiện tại, các nhà thiên văn vẫn chưa thể đo được chính xác độ kim loại của các ngôi sao. Nhiều tác giả như David W. Hogg và cộng sự (2016) đã cố gắng khắc phục điều này bằng cách chế tạo các chương trình mô phỏng mới, nhưng đến nay, những sáng tạo như vậy mới chỉ áp dụng được trong một vài trường hợp cụ thể. Thứ hai, bản thân phương pháp gắn nhãn hóa học được xây dựng dựa trên rất nhiều giả định. Chính Freeman và Bland-Hawthorn (2002) khi đề xuất ý tưởng này cũng nói rằng để cho gắn nhãn hóa học hoạt động tốt, các kim loại trong đám mây phân tử gốc phải được phân bố một cách đồng đều trước khi các ngôi sao được hình thành tại đây. Sự giàu kim loại của các đám mây phân tử vẫn còn là chủ đề cần được nghiên cứu thêm, nên chúng ta vẫn chưa biết liệu điều kiện phân bố đồng đều nói trên có thực tế hay không. Mặt khác, gắn nhãn hóa học cho rằng chỉ các ngôi sao cùng tuổi, cùng quê quán mới có thành phần hóa học giống hệt nhau. Mọi chuyện không hề minh bạch như vậy: đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các ngôi sao bằng tuổi có thể tương đồng về độ kim loại ngay cả khi khác nơi sinh. Không những thế, các quần tinh mở khác nhau vẫn có thể giống nhau về thành phần hóa học.     Quần tinh mở Tua Rua (Pleiades). Ảnh: Davide De Martin & the ESA/ESO/NASA Photoshop FITS Liberator.  Một số nhà thiên văn đã đề xuất thay đổi cách hoạt động của gắn nhãn hóa học. Sergi Blanco-Cuaresma và Didier Fraix-Burnet (2018) cho rằng thay vì dựa vào Mặt trời, những người sử dụng phương pháp gắn nhãn hóa học nên lấy một quần tinh mở cụ thể làm chuẩn, bởi Mặt trời chỉ là một ngôi sao riêng lẻ, còn một quần tinh mở có đến hàng trăm, hàng nghìn ngôi sao có quan hệ mật thiết với nhau. Việc lựa chọn một quần tinh mở sẽ cho phép nhà thiên văn nghiên cứu theo hướng phát sinh chủng loại học (phylogenetics), nghĩa là không phải đi tìm sự tương đồng về thành phần hóa học ở hiện tại rồi xếp các ngôi sao vào một nhóm, mà dựa trên sự tương đồng của ngày hôm nay để xây dựng một viễn cảnh tiến hóa (evolutionary scenario) thể hiện lịch sử và mối quan hệ giữa các ngôi sao có sự tương đồng nói trên. Theo Blanco-Cuaresma và Fraix-Burnet, một khi đã xác định được mối quan hệ như vậy, các nhà nghiên cứu có thể biết trước được các kim loại mà họ cần phải tập trung phân tích, thay vì phải ngồi đo xem các kim loại khác nhau phong phú đến mức nào, rồi từ đó mới lọc ra vài nguyên tố điển hình như những người đi trước – tiêu biểu là Ramírez và cộng sự (2014) – đã làm.  Tương lai của gắn nhãn hóa học  Ngoài việc giúp con người tìm anh chị em của Mặt trời, gắn nhãn hóa học còn cung cấp những kiến thức mới về các ngôi sao hoặc các quần tinh khác. Vào năm 2018, chính bằng phương pháp này, các nhà thiên văn học thuộc dự án GALAH của Úc đã xác định được hai ngôi sao từng thuộc quần tinh mở Tua Rua (Pleaides), song đã tách ra và ngày nay đang nằm rất xa so với trung tâm của quần tinh này. Một khảo sát tương tự đã được Tabernero và cộng sự (2017) thực hiện ở nhóm di chuyển Ursa Major – một nhóm các ngôi sao có chung vận tốc trong không gian thuộc vào địa phận chòm sao Đại Hùng. Kết quả của khảo sát cho thấy, 29 trên tổng số 44 ngôi sao được quan sát có thành phần hóa học tương đồng với nhau, nghĩa là ít nhất 29 ngôi sao này có cùng nguồn gốc xuất xứ.  Trong khi chứng minh tiềm năng của gắn nhãn hóa học, Hogg và cộng sự (2016) đã nhận xét rằng phương pháp này “đầy hứa hẹn một cách không thể chối cãi và tạo động lực cho các khảo sát phân tích quang phổ có quy mô lớn và chi phí cao.” Thật vậy, việc gom các ngôi sao thành các nhóm cùng nguồn gốc dựa vào thành phần hóa học là một ý tưởng đơn giản mà lại có tầm ảnh hưởng lớn, vì nếu các nhà thiên văn gom được các ngôi sao thành các nhóm như thế, họ thậm chí còn có thể phục dựng được điều kiện hóa học của nhiều phần, nếu không nói là toàn bộ dải Ngân Hà trong quá khứ. Từ góc nhìn này, gắn nhãn khoa học không chỉ hữu ích đối với một mình những người nghiên cứu sao, mà còn với cả cộng đồng khảo cổ học thiên hà (galactic archaeology), và việc khắc phục các hạn chế của phương pháp này ở thời điểm hiện tại là một điều hết sức cần thiết. Gắn nhãn hóa học sẽ còn là một chủ đề đáng để thảo luận, và trong tương lai, phương pháp này có thể sẽ được cải tiến, tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu tìm thêm những anh chị em khác của Mặt trời, hay thậm chí là xác định được “nơi chôn rau cắt rốn” của ngôi sao cô độc này.□  —  Adibekyan, V. et al (2018), “The AMBRE project: searching for the closest solar siblings”, Astronomy & Astrophysics 619, pp. A130.  Blanco-Cuaresma, S. and Fraix-Burnet, D. (2018), “A phylogenetic approach to chemical tagging: Reassembling open cluster stars”, Astronomy & Astrophysics 618, pp. A65.  Freeman, K. and Bland-Hawthorn, J. (2002), “The new Galaxy: signatures of its formation”, Annual Review of Astronomy and Astrophysics 40(1), pp. 487-537.  Kos, J. et al (2018), “The GALAH survey: chemical tagging of star clusters and new members in the Pleiades”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 473(4), pp. 4612-4633.  Hogg, D.W. et al (2016), “Chemical tagging can work: Identification of stellar phase-space structures purely by chemical-abundance similarity”, The Astrophysical Journal 833(2), pp. 262.  Liu, C., Ruchti, G., Feltzing, S., Martínez-Barbosa, C.A., Bensby, T., Brown, A.G.A. and Zwart, S.P. (2015), “Quest for the lost siblings of the Sun”, Astronomy & Astrophysics 575, pp. A51.  Ramírez, I. et al (2014), “Elemental abundances of solar sibling candidates”, The Astrophysical Journal 787(2), pp. 154.  Tabernero, H.M., Montes, D., Hernández, J.G. and Ammler-von Eiff, M. (2017), “Chemical tagging of the Ursa Major moving group: A northern selection of FGK stars”, Astronomy & Astrophysics 597, pp. A33.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Gan nhân tạo sinh học      Các nhà khoa học Scotland đang phát triển và hoàn thiện “gan nhân tạo sinh học” giúp bệnh nhân duy trì sự sống trong thời gian chờ gan hồi phục hoặc cấy ghép gan.      Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tế bào sống của gan đặt trong một thiết bị có cấu tạo đặc biệt. Hệ thống này có khả năng lọc máu và thực hiện các chức năng của gan tự nhiên. Với gan nhân tạo này, những bệnh nhân đang trong tình trạng nguy hiểm như suy gan mãn tính sẽ có thêm thời gian quý báu để duy trì sự sống trong khi chờ đợi cấy ghép gan. Theo các chuyên gia y tế, gan nhân tạo sinh học này sẽ mang lại lợi ích rất lớn vì đa số bệnh nhân không hề biết mình đang mắc bệnh gan, và khi bệnh được phát hiện thì thường đã quá muộn để gan có thể hồi phục.   Quang Thịnh (Theo Scotsman)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần nửa tỷ USD cho nghiên cứu vắc-xin ngừa ba đại dịch      Một liên minh gồm các chính phủ, nhà từ thiện và doanh nhân đã cam kết đầu tư nghiên cứu làm ra các vắc-xin có khả năng phòng ngừa và tiêu diệt những dịch bệnh đe dọa loài người như Ebola.      Tại diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (từ 17-20/1), ba chính phủ Na Uy, Nhật Bản, Đức và hai quỹ Wellcome Trust, Gates Foundation đã loan báo dành 460 triệu USD, một nửa kinh phí cần thiết cho năm năm đầu tiên của sáng kiến này. Ba loại bệnh được nhắm đến đầu tiên gồm Lassa, Mers và Nipah. Cả ba bệnh này đều do lây virus từ động vật truyền sang người và có thể gây ra những dịch bệnh nguy hiểm trên toàn cầu.  Liên minh Đổi mới sáng tạo sẵn sàng ứng phó bệnh dịch (CEPI) sẽ dành tiền cho việc nghiên cứu các loại vắc-xin chủng ngừa bệnh dịch hoành hành ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, vốn không phải là ưu tiên nghiên cứu của các công ty dược bởi vì đây không phải là một thị trường béo bở đối với họ. Một trong những mục tiêu chính của CEPI là đảm bảo cho các loại vắc-xin này có mức giá vừa phải và dễ tiếp cận đối với tất cả những người cần chúng.  Giám đốc điều hành của Quỹ Wellcome Trust, Jeremy Farrar, cho biết những thay đổi trong môi trường, trong sự tương tác của con người với động vật và quá trình đô thị hóa đều là những nhân tố có thể làm bùng phát một bệnh truyền nhiễm mới ở con người. Về loạt dịch bệnh xảy ra trong vài thập kỷ gần đây, ông cho rằng “Tình trạng đó sẽ không dừng lại. Đó là cách thế giới ngày nay được kiến tạo”.   CEPI đặt mục tiêu phát triển vắc-xin ngừa ba bệnh là Lassa, Mers và Nipah, mỗi loại bệnh sẽ có hai vắc-xin, trước khi các bệnh này bùng phát.  Nancy Lee, nhà quản lý chương trình chính sách của Quỹ Wellcome Trust cho biết, hội đồng khoa học chọn ba bệnh này vì việc nghiên cứu vắc-xin phòng ngừa cũng như chuẩn bị đối phó với nguy cơ dịch bệnh bùng phát mới được đầu tư rất ít công sức và tiền bạc.  Các bệnh dịch như bệnh cúm hay Zika, vốn đã được đầu tư nghiên cứu vắc-xin phòng ngừa hoặc đã cho thấy cơ hội thương mại, không được đưa vào danh sách của CEPI.  Sản xuất vắc-xin là một việc khó. Trong một số trường hợp, có thể mất tới vài thập kỷ nghiên cứu, đi kèm theo là một quá trình kiểm soát dài dặc để đưa vắc-xin ra thị trường. Điều đó khiến cho việc nghiên cứu vắc-xin phòng những căn bệnh hiếm trở thành một mảng khó nhằn đối với các công ty dược.    Nancy Lee cho biết thêm, liên minh CEPI sẽ sử dụng tất cả các nguồn tài chính vận động được của mình dưới dạng tài trợ và kỳ vọng những người được nhận tài trợ sẽ chia sẻ dữ liệu và ký các thỏa thuận về sở hữu trí tuệ nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận các vắc-xin ngay khi chúng được nghiên cứu thành công. Các đối tác công nghiệp tham gia sáng kiến này cũng cam kết các vắc-xin sẽ sẵn có trên thị trường với giá phải chăng và không để sản phẩm đội giá trong trường hợp dịch bệnh bùng phát, theo Paul Stoeffels, phó giám đốc điều hành Johnson & Johnson.  Nguồn:  https://www.theguardian.com/society/2017/jan/18/460m-pledged-for-vaccine-initiative-to-prevent-global-epidemics-davos-mers-nipah-lassa  https://www.devex.com/news/coalition-for-epidemic-preparedness-innovations-launches-in-davos-89489    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Gắn với quê hương qua từng cơn bão!      Năm qua, miền Trung nước ta gặp nhiều cơn bão lớn như Xangsane, Chanchu, Cimaron đến Durian và cuối cùng là Utor, Trà My. Khi nhận định về hướng đi của các cơn bão, trên các phương tiện thông tin thường nhắc đến một cái tên, đó là Tiến sỹ Trần Tiễn Khanh (Mỹ). Ông chính là “cha đẻ” của mạng dự báo khí tượng thủy văn vnbaolut.com chuyên cung cấp thông tin miễn phí về bão lụt cho Việt Nam.    Sinh ra và lớn lên trên quê hương Cố đô Huế, tuổi thơ ông cũng như bao đứa trẻ khác, phải sống trong cảnh đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. May mà ông học rất giỏi. Ông từng là học sinh giỏi của Trường Pháp Providence(Huế), Lycee Blaise Pascal (Đà Nẵng) và Trường Lycee Jean Jacques Rousseau Sài Gòn. Năm 1970, sau khi tốt nghiệp tú tài, ông được đi du học ở California (Hoa Kỳ). Năm 1973, ông tốt nghiệp Kỹ sư cơ khí tại Đại học California, 3 năm sau ông lấy bằng Tiến sỹ ngành Môi trường và Khí tượng thủy văn cũng ở trường đại học này.  Từng là người đi tiên phong trong việc giúp ngành Không quân Hoa Kỳ làm nghiên cứu ô nhiễm môi trường và dự báo khí tượng thủy văn trên máy vi tính từ những năm đầu của thập kỷ 80.  Tiến sỹ Trần Tiễn Khanh kể: “ Dạo đó, không những tôi phải tự mày mò làm phần mềm (software), mà còn phải tự cấu tạo máy vi tính. Tự đi mua từng bộ phận từ ổ cứng, ổ mềm, CPU, memory của  nhiều nhà sản suất khác nhau rồi tự lắp ráp lấy. Công việc này mất khá nhiều thời gian, bởi các bộ phận không tuân theo một mẫu hình (standard) nào hết”.   Từng đi giảng ở nhiều trường Đại học của Mỹ, nhưng ông vẫn mong muốn được về nước truyền đạt kiến thức chuyên ngành cho sinh viên Việt Nam. Với ông, công việc chính hiện nay là làm sao cùng với các cộng sự dịch thuật và dự báo một cách chính xác nhất từng cơn bão, qua mạng dự báo của Hải quân Hoa Kỳ. Ông kể, năm nay là một năm có quá nhiều cơn bão tàn phá Việt Nam quê hương ông. Mỗi khi có cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, lòng ông lại xốn xang. Ông nhớ lại: “ Năm 1999 và 2000  có nhiều cơn bão đổ bộ vào Huế và miền Trung quê tôi, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Bản thân tôi đã về thăm Huế và Đà Nẵng ngay sau trận lũ thế kỷ này và tận mắt chứng kiến những mất mát đau thương do bão lụt gây ra. Ngay sau năm đó, trở lại Mỹ tôi đã hạ quyết tâm và bỏ nhiều thời giờ vào công việc nghiên cứu dự báo thời tiết, nhất là bão lụt”. Từ tháng 7 năm 2001, TS.Trần Tiễn Khanh đã chính thức cho ra đời trang Web lấy tên vnbaolut.com. Hàng ngày, trang web này có 4 dự báo thời tiết cho 60 tỉnh thành của Việt Nam với đầy đủ cả hình vệ tinh các cơn bão, thu hút hàng triệu lượt người trên thế giới truy cập. Mỗi khi có bão, vnbaolut.com cung cấp đầy đủ các dự báo quốc tế của Mỹ, Nhật Bản, Philipines, Đài Loan, HồngKong và cả Việt Nam. Các thông tin trên trang Web của ông được cung cấp hoàn toàn miễn phí và ai cũng có thể vào xem được. Ngoài ra ông còn cung cấp thông tin báo bão qua điện thoại di động có kết nối Internet WAP. Và trong tương lai gần đây, ông sắp dự báo qua di động mạng SMS. Ông tâm sự: “ Bà con quê nhà, nhất là đồng bào ở miền Trung quê tôi, năm nào cũng gặp vài cơn bão mạnh. Làm lụng vất vả cả năm trời, chỉ một trận bão đã khuynh gia bại sản. Phải làm sao để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt, nhằm giảm tối thiểu thiệt hại đối với con người là động cơ duy nhất để tôi nung nấu thành lập trang web dự báo thời tiết vnbaolut.com”.  Hôm xuất hiện bão Trà My, trong Email gửi lúc 2 giờ sáng ngày 17/12 ông viết: “Năm hết tết đến rồi mà còn có bão. Không biết dân mình bao giờ mới hết khổ. Cầu mong cho Trà My “chết” trên Biển Đông đừng đổ bộ vào đất liền!”. Đúng như ông nhận định, bão Trà My đã tan thành áp thấp nhiệt đới.  Tết đã về, mùa bão cũng đã đi qua. Nhưng rất nhiều người dân thoát nạn trong các cơn bão vừa qua không hề biết được có bàn tay, khối óc của một người con xứ Huế, một nhà khoa học chuyên ngành trên thế giới về khí tượng thuỷ văn, đang âm thầm giúp đỡ đồng bào mình, dù chỉ là gián tiếp qua những thông tin dự báo thời tiết.  Quốc Hanh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gánh nặng nam tính trên vai người đàn ông Việt      Lâu nay các nghiên cứu về khuôn mẫu giới, bất bình đẳng giới, thúc đẩy cơ hội tham gia của giới yếu thế… chỉ tập trung vào phụ nữ mà đã lãng quên một vế còn lại. Điều đó không chỉ khiến các chiến lược thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng nam – nữ, cải thiện cơ hội của phụ nữ trở nên thiếu hiệu quả mà còn khiến xã hội không có hiểu biết về một nửa của mình – nam giới. Cuộc khảo sát đầu tiên[1] về Nam giới và Nam tính của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) [2], do TS. Khuất Thu Hồng chủ trì đã đem lại những hiểu biết bước đầu.      TS Khuất Thu Hồng trong buổi gặp mặt các nhà khoa học do Tia Sáng tổ chức đầu năm 2020. Ảnh: Hoàng Nam.    Hẳn nhiên, nhiều người vẫn nghĩ đàn ông là phái mạnh, nhiều ưu thế trong gia đình và xã hội. Như thế có cần phải nghiên cứu nam giới và nam tính nữa không?     Đúng là lâu nay người ta vẫn nghĩ vậy! Và trong khoảng hai thập niên vừa qua, các nghiên cứu về giới ở Việt Nam vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào phụ nữ, vô hình trung, nam giới bị gạt ra và bị coi là không cần phải quan tâm. Nhưng nếu chỉ nghiên cứu về phụ nữ sẽ là thiếu hụt, vì phụ nữ là gì? Khái niệm phụ nữ sẽ không có ý nghĩa nếu không được đặt trong cặp phạm trù “phụ nữ và nam giới”.    Chưa nói tới lý do thứ hai là khi xét đến các mục đích phát triển, muốn thúc đẩy bình đẳng giới thì phải hiểu biết cả hai giới (và các giới khác). Bởi vì, nếu muốn can thiệp, nâng cao địa vị của phụ nữ lên mà không biết vế còn lại đang tương tác với phụ nữ, đang cản trở hoặc thúc đẩy tiến bộ của họ như thế nào thì những nỗ lực của mình sẽ kém hiệu quả và lại tạo ra sự bất bình đẳng khác. Thật vậy, ít người nhận ra rằng bất bình đẳng giới gây thiệt thòi cho phụ nữ và trẻ em gái, nhưng nó cũng có tác động tiêu cực đối với nam giới và trẻ em trai.    Chúng ta thử nhìn lại, nghiên cứu về giới bấy lâu nay chủ yếu tập trung tìm hiểu, phân tích những sự thua thiệt của phụ nữ so với nam giới. Nam giới thường bị che khuất đằng sau những thiệt thòi của phụ nữ và thường bị nhìn nhận như là những người (vô tình hoặc cố ý) khiến phụ nữ bị thiệt thòi. Nam giới hay bị “kết tội” là “gia trưởng,” là “độc đoán,”  là vô tâm”, … Và tội vạ đâu thì gán cho truyền thống và Khổng giáo chứ không mấy ai nghĩ đến chuyện hỏi nam giới vì cớ làm sao mà các vị lại hành xử như thế?    Lý do thứ ba để phải nghiên cứu về nam giới là trong những năm qua phụ nữ Việt Nam đã tiến bộ rất nhiều so với nam giới. Một số nghiên cứu trên thế giới đã kết luận rằng nam giới cảm thấy phải chịu áp lực nhiều hơn, thậm chí bị đe doạ vì thấy phụ nữ đang tiến bộ rất nhanh trong nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, nam giới cảm thấy áp lực như thế nào? Sự đe doạ mà họ đang phải đối mặt là gì? Họ đã làm thế nào để sống với/hoặc vượt qua những áp lực hay mối đe doạ đó? Ở Việt Nam có lẽ chưa có ai trả lời câu hỏi đó.     Ồ, vậy là người đàn ông chịu áp lực trong một bối cảnh mới mà vô hình trung họ cũng không nhận ra, và cũng chưa được ai nghiên cứu.     Đúng vậy, những lý do ở trên mới là đặt ra trong mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới. Một động lực khác nữa thúc đẩy chúng tôi làm nghiên cứu này chính là trong nền văn hóa Việt Nam, có quá nhiều trông đợi vào vai trò trụ cột của đàn ông. Ở  cấp độ gia đình, đàn ông phải là trụ cột, ở cấp độ quốc gia họ phải là người trị quốc, phải là rường cột của đất nước. Những người tự nghĩ là mình chẳng đóng được vai trò trụ cột thì thường xuyên bị ám ảnh với suy nghĩ rằng mình thất bại trong vai trò của một người đàn ông “đích thực”. Áp lực gắn với một vai trò như vậy gây ra nhiều vấn đề cho họ về mặt sức khỏe tinh thần. Trong những năm vừa qua, các thống kê cho thấy nam giới thực hiện những hành vi mang lại nguy cơ cho mình nhiều hơn như lạm dụng rượu bia, hút thuốc, sử dụng ma tuý, đua xe, đánh nhau…3. Một điều đáng lo ngại nữa là so với phụ nữ, tỉ lệ nam giới muốn tự tử cao hơn…    Tỷ lệ nam giới trải nghiệm cảm xúc tiêu cực trong 12 tháng trước nghiên cứu chia theo khu vực (số mẫu=2,567).  Ngoài ra, cứ 100 nam giới tham gia nghiên cứu thì có 3 người cho biết từng có ý định tự sát. Đáng chú ý, cứ 100 thanh niên (trong độ tuổi 18-29) thì có 5,43 người cho biết từng có ý định tự sát. Trước đây, khảo sát quốc gia năm 2010 về thanh thiếu niên và thanh niên Việt Nam, 4,1/100 thanh thiếu niên trong độ tuổi 14-25 đã từng nghĩ về việc tự tử. Đánh giá của WHO vào năm 2000 về sức khỏe và sự phát triển của trẻ vị thành niên cũng cho thấy, nhìn chung, trẻ em trai và thanh niên có tỷ lệ tử vong cao hơn trẻ em gái và phụ nữ trẻ do bạo lực, tai nạn và tự tử. Nguồn: ISDS.    Thực trạng này đặt ra nhiều câu hỏi cần phải được giải đáp: tại sao nam giới có xu hướng lái xe không an toàn, sử dụng ma túy, lạm dụng rượu bia và hành xử tiêu cực gây hại tới bản thân và cộng đồng? Có phải nam giới được sinh ra với tính bạo lực hay trấn áp người khác? Có phải đó là bản tính tự nhiên của nam giới?    Trở lại với nghiên cứu giới, chúng ta đã có hiểu biết khá nhiều về việc phụ nữ bị chi phối, bị bó buộc bởi những ý niệm và khuôn mẫu về nữ tính như thế nào nhưng lại biết quá ít về những quá trình tương tự xảy ra với nam giới.     Để lấp đi khoảng trống trong hiểu biết của chúng ta về người đàn ông trong xã hội Việt Nam đương đại, bà đã tiến hành nghiên cứu này như thế nào?    Trước hết tôi tìm hiểu các nghiên cứu về nam giới trên thế giới, qua đó tôi mới thấy rằng họ cũng có vấn đề, trước đây họ cũng đi con đường giống như chúng ta thôi – mới đầu họ nghĩ nam giới là giới “thượng đẳng” nên không có vấn đề gì cả mà chỉ cần tìm hiểu và nâng đỡ phụ nữ. Cuối cùng họ thấy nghiên cứu về phụ nữ sẽ là không đủ nếu không nghiên cứu về nam giới. Mặt khác, giới nghiên cứu quốc tế cũng thấy nam giới ngày càng gặp nhiều thách thức trong xã hội hiện đại.    Về mặt lý thuyết, nghiên cứu của chúng tôi dựa trên hai trụ cột chính:    Thứ nhất là quan điểm kiến tạo xã hội – chúng ta sinh ra với cơ thể là nam hay nữ nhưng chúng ta trở nên một người đàn ông hay đàn bà như thế nào là do môi trường xã hội. Quan điểm này khác với quan điểm mà đến bây giờ vẫn rất phổ biến ở Việt Nam rằng sinh học quyết định nam tính và nữ tính.    Trụ cột thứ hai là lý thuyết nữ quyền, theo đó nam giới không phải là một nhóm đồng nhất hay nam tính chỉ có một phiên bản duy nhất. Trong đàn ông có nhiều nhóm đàn ông, có rất nhiều phiên bản khác nhau của nam tính – nam tính không phải là bất biến trong suốt cuộc đời của một người đàn ông mà sẽ thay đổi tùy theo các giai đoạn khác nhau cũng như những thay đổi trong các bối cảnh xã hội khác nhau. Ví dụ như bạn nhớ lại truyện Kiều kinh điển của chúng ta thì thấy, những người đàn ông khác nhau trong cuộc đời của nàng Kiều. Từ Kim Trọng đến Thúc Sinh, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến… Mỗi người trong số họ đều là một dạng nam tính điển hình. Người thì nho nhã, hào hoa, kẻ thì phong lưu, hào phóng, người thì anh hùng, bất khuất, nhưng lại có kẻ sắt đá, tàn nhẫn …Càng ngẫm về chuyện của nàng Kiều tôi càng tò mò muốn biết đàn ông Việt Nam ở thế kỷ 21 này là những người như thế nào.     Những phát hiện quan trọng nhất trong nghiên cứu này là gì?     Nghiên cứu này đưa ra một phác thảo đầu tiên về nam giới Việt Nam và có nhiều phát hiện trong đó, nhưng có lẽ đáng lưu ý nhất là đàn ông Việt Nam có rất nhiều áp lực. Họ phải là trụ cột cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng, vừa phải là chỗ dựa về mặt vật chất, kinh tế cho gia đình, nuôi vợ con, chỗ nương tựa cho bố mẹ khi về già, về tinh thần anh ta phải là biểu tượng của dòng giống trường tồn,  mang lại vinh dự cho tổ tiên, là niềm tự hào của quê hương. Còn trong xã hội, anh ta vẫn bị ám ảnh bởi áp lực “phải có danh gì với núi sông” hay nói cách khác là phải có một “chỗ đứng” trong xã hội. Đó là những gánh nặng của người đàn ông. Trong thời buổi xã hội đang cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì có thể áp lực ấy càng lớn. Đàn ông thì luôn cạnh tranh, phải nhìn sang anh em như thế nào, nên áp lực lại càng nhân lên. Tất cả những điều đó có thể dẫn tới những hành vi nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy … và hậu quả là những vấn đề về sức khỏe tinh thần như stress, chán nản, cảm giác cô đơn… và thậm chí là muốn tự tử. Trong những năm gần đây ở Việt Nam tỉ lệ nam giới tự tử đều cao hơn so với phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam rất vất vả nhưng tỉ lệ phụ nữ tự tử lại thấp hơn nam giới. Không phải phụ nữ có ít áp lực hơn nam giới nhưng cách phụ nữ đối diện với áp lực và vượt qua nó chắc chắn khác với nam giới. Nhưng chưa có ai tìm hiểu nam giới có những áp lực gì và đối mặt với nó như thế nào. Báo chí thì lại hay đưa tin về phụ nữ tự tử hơn là đưa tin nam giới tự tử. Có rất nhiều những sự thực bị che khuất như vậy nên xã hội không nhìn ra để suy ngẫm và tìm cách giải quyết.      Tỷ lệ thỉnh thoảng/ thường xuyên kiểm soát hành vi đối phương (%) (số mẫu=2,406). Nguồn ISDS.  Một phát hiện nữa rất thú vị về mặt khoa học và thực tiễn là quan niệm thế nào là một người đàn ông “đích thực.” Kết quả phân tích số liệu nghiên cứu đã cho phép chúng tôi dựng nên chân dung “người đàn ông đích thực”. Về sự nghiệp, người đàn ông đích thực có vị trí trong cơ quan nhà nước, có bằng cấp cao, lãnh đạo, làm việc có chuyên môn cao, coi sự nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Về năng lực và tính cách thì người đàn ông đích thực biết chấp nhận mạo hiểm thử thách, mạnh mẽ, không yếu mềm, biết sử dụng công nghệ hiện đại, có cơ thể khỏe mạnh, quan hệ rộng, có phong thái dứt khoát, phấn đấu để mình và gia đình không thua kém người khác; về thể chất thì là người có khả năng tình dục cao, có nhiều kinh nghiệm tình trường, luôn dẫn dắt trong quan hệ tình dục, có khả năng uống rượu bia, luôn hào phóng và che chở phụ nữ, sẵn sàng thể hiện sức mạnh khi cần để bảo vệ danh dự của mình. Có một số chi tiết thú vị là người đàn ông đích thực phấn đấu trở thành Đảng viên. Khi có kết quả này tôi ngạc nhiên vô cùng, rà soát đi rà soát lại và thấy không sai sót. Có thể lý giải cho điều này rằng ở Việt Nam, nếu muốn có vị thế xã hội thì phải làm trong cơ quan nhà nước và là Đảng viên thì cơ hội để thăng tiến sẽ cao hơn.    Một phát hiện khác có ý nghĩa quan trọng về quan hệ giữa nam giới và phụ nữ. Đó là những trông đợi của nam giới đối với phụ nữ vẫn xưa cũ trong khi phụ nữ đã thay đổi rất nhiều. Còn những trông đợi của đàn ông về chính họ lại nhốt họ trong cái khung chật chội cứng nhắc, cản trở sự thay đổi của họ và của cả phụ nữ.     Dường như phụ nữ được giải phóng nhiều hơn, còn với đàn ông, có vẻ là khuôn mẫu nam tính, cái khung “nhốt” họ suốt hàng trăm năm nay gần như không suy suyển.     Chính xác, cái đó chính là bất hạnh của người đàn ông Việt Nam. Phụ nữ được giải phóng tương đối nhiều rồi. Xã hội đã có rất nhiều thay đổi trong quan niệm về vai trò, về sự thể hiện của người phụ nữ, còn về đàn ông thì hầu như vẫn chưa có thay đổi gì cả. Đàn ông vẫn luôn bị chỉ trích là “bảo thủ,” là ‘gia trưởng” nhưng đã ai làm gì cho họ? Họ vẫn luôn bị/ được nghĩ là rất ổn, là phái mạnh thành ra cuối cùng thì họ vẫn quanh quẩn trong cái khung cũ rích như thế. Thế nhưng chúng ta cứ mặc định rằng làm đàn ông thì dễ dàng hơn, thoải mái hơn.    Đứng trước một núi áp lực như thế, để giải tỏa cảm giác bất lực, nhiều người đàn ông trút những bẽ bàng, cay đắng dồn nén xuồng đầu người phụ nữ vì dù sao họ vẫn có lợi hơn phụ nữ ở chỗ trong xã hội này, giới nam vẫn được coi là bề trên. Chúng ta ít nghĩ về điều đó khi tìm cách lý giải nguyên nhân khiến nam giới bạo hành phụ nữ. Nhưng làm đàn ông càng ngày càng không dễ dàng, nhất là tới đây, tất cả được cơ khí hóa, tự động hóa rồi, xã hội càng phát triển thì cơ bắp của người đàn ông sẽ chẳng phải là ưu thế, lúc ấy không khéo đàn ông lại rơi vào tình cảnh bất lợi hơn, vì phụ nữ cũng làm được những việc ấy mà thậm chí còn làm khéo hơn. Rõ ràng đàn ông phải đối diện với nhiều áp lực, mà không được giải tỏa thì họ có thể trở nên bạo lực hoặc tự hủy hoại mình.     Tại sao đàn ông cứ bị ràng buộc trong cái khung cứng nhắc đó mà xã hội chưa bao giờ thách thức cái khung ấy cả?    Sâu xa mà nói, xã hội này vẫn được lãnh đạo và cầm trịch bởi nam giới, nam giới đâu muốn thừa nhận vấn đề của họ? họ vẫn cho là họ ở vị trí cao hơn, là phụ nữ mới cần nâng đỡ. Tôi hay được mời đi nói chuyện ngày 8/3 hoặc 20/10 thì thấy lãnh đạo nam giới thường có thái độ như vậy, các anh ấy đến phát biểu úy lạo chị em vài câu, đại loại họ rất quan tâm đến chị em, thông cảm với chị em chịu nhiều thiệt thòi, đã, đang và sẽ tạo điều kiện cho chị em phát triển. Họ chẳng bao giờ nhìn sự việc theo cách phụ nữ và nam giới phải là “đôi bạn cùng tiến.” Phụ nữ Việt Nam vẫn chưa được nhìn nhận như một đối tác, mà như một đối tượng được nâng đỡ. Nhiều nam giới vẫn nghĩ là đàn ông ban ơn huệ cho phụ nữ, nếu họ không nâng đỡ thì phụ nữ không thể vươn dậy được.    Trở lại truyện Kiều mà tôi vẫn muốn lấy làm ví dụ về những khuôn mẫu giới điển hình ở Việt Nam. Nguyễn Du mô tả Kiều trong thân phận đàn bà bị cuộc đời vùi dập, trải qua vô vàn sóng gió trong một xã hội mà đàn ông là bóng tùng quân còn đàn bà là phận bồ liễu mong manh. Nguyễn Du đã đưa những trang nam tử điển hình của thời đại đến với nàng trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời. Nhưng chừng ấy người đàn ông có người nào “che chở” được cho Kiều? Lúc nào cũng là Kiều tự quyết định số phận của mình, từ việc bán mình chuộc cha, gửi gắm tình duyên cho em gái, cắn răng chấp nhận kiếp lầu xanh, liều mạng trốn theo Sở Khanh, trốn khỏi bàn tay Hoạn Thư, “làm loạn” cùng Từ Hải hay gieo mình xuống sông Tiền Đường vì không cam tâm làm lẽ mọn cho một thổ quan và cuối cùng là từ chối đời sống vợ chồng với Kim Trọng để được ngẩng cao đầu. Tất cả những trang nam tử đó, có ai dám “thách thức” số phận được như Kiều? Phải chăng họ ở vị thế cao hơn mà sinh ra là đàn ông họ đã mặc nhiên có được nên chẳng  thấy cần phải thử thách bản thân. Vì thế, cuối cùng, dưới ngòi bút tài tình của Nguyễn Du, tất cả những trang nam tử đó chẳng ai sánh được với Kiều, cả về tính cách, tài năng, phẩm hạnh và sự quật cường.  Nói theo ngôn ngữ thời nay thì có nghĩa là đàn ông mặc nhiên được cho là ưu việt hơn, hoặc có nhiều đặc quyền hơn phụ nữ nên họ không cần được quan tâm, không cần thay đổi. Nhưng bây giờ không phải là thời đại của Nguyễn Du nữa, do vậy, nếu không thay đổi thì đàn ông, có thể sẽ mãi bị cầm tù trong ngôi tháp cao nhưng ngột ngạt của mình.     Cứ “cũ kỹ” như vậy thì nam giới có khả năng thay đổi không?     Nghiên cứu này cũng chỉ ra, nam giới Việt Nam không phải là một nhóm đồng nhất và nam tính không phải là bất di bất dịch. Nhìn vào đó sẽ thấy được tại sao có những nhóm nam giới này, nhóm nam giới khác, và sự khác biệt của họ là cơ sở cho chúng ta tin rằng họ có thể thay đổi được. Đúng thế, chúng tôi rất mừng là khảo sát cho thấy những người đàn ông trẻ tuổi, ở thành phố, chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa (như dùng internet nhiều, đi du lịch nhiều, học vấn cao…) có tư tưởng thoáng hơn, ít bị ràng buộc bởi các khuôn mẫu truyền thống, họ ít kiểm soát, ít bạo hành phụ nữ hơn, sẵn sàng chia sẻ công việc nhà với phụ nữ, không cho rằng đàn ông ưu việt hơn phụ nữ… Những thay đổi xã hội như vậy đang bắt đầu từ đô thị và hy vọng rằng chúng sẽ khuếch tán rộng hơn và nhanh hơn trong thời gian tới.     Dù khai phá ra một lãnh địa mới trong nghiên cứu về giới ở Việt Nam, nhưng là một nghiên cứu mang tính tiên phong thì nó có những hạn chế gì thưa bà?     Thứ nhất đây là nghiên cứu đầu tiên và hầu như mới chỉ mang tính mô tả. Tuy nhiên, chúng tôi tâm đắc với việc đã dựng nên được chân dung “người đàn ông đích thực” trong xã hội Việt Nam đương đại và tìm ra mối quan hệ giữa hình mẫu “người đàn ông đích thực” với một số thái độ và hành vi tiêu cực của nam giới. Chúng tôi cũng hài lòng với việc đã chỉ ra rằng ý thức của nam giới về vai trò “trụ cột” trong gia đình gây nhiều áp lực cho họ… Tuy nhiên, nghiên cứu này đặt ra nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Còn nhiều vấn đề chúng tôi chưa giải quyết được đến nơi đến chốn. Ví dụ, chúng tôi chưa đo được mối quan hệ nhân quả giữa mức độ ý thức về vai trò trụ cột và mức độ áp lực mà đàn ông phải đối mặt và mối liên hệ giữa chúng với sức khỏe tâm thần của họ. Chúng tôi cũng chưa khai thác được những mức độ “lệch chuẩn” khác nhau ra khỏi hình mẫu “người đàn ông đích thực” và mối quan hệ của những phương án lệch chuẩn đó với những biến số khác nhau… Dù sao, kết quả nghiên cứu cũng mang lại cho chúng tôi rất nhiều cảm hứng.    Mặt khác, nếu có thể so sánh nam giới và phụ nữ trong cùng một nghiên cứu thì kết quả có thể thú vị hơn nhiều nhưng nghiên cứu này không làm được điều đó vì kinh phí hạn chế. Tôi muốn có nghiên cứu ở cấp độ quốc gia để khái quát được cho đàn ông Việt Nam, nhưng khoản tài trợ của Nafosted chỉ đủ khảo sát khoảng hơn 1000 mẫu nam giới, tôi phải tìm kiếm thêm nguồn tài trợ khác mới tăng số mẫu lên được 2567 người. Với cỡ mẫu này cũng chưa thể nói là đại diện cho tất cả nam giới Việt Nam cho dù chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ của chuyên gia chọn mẫu để có được một mẫu khả dĩ nhất, áp dụng khung chọn mẫu của các cuộc khảo sát quốc gia, kết hợp với nghiên cứu định tính. Cuộc nghiên cứu được thực hiện ở Hà Nội, TP HCM là hai đô thị lớn nhất ở miền Bắc và miền Nam, Khánh Hòa ở duyên hải miền Trung và Hòa Bình ở khu vực miền núi-trung du phía Bắc. Nghiên cứu cũng vấp phải một vấn đề là khi triển khai thu thập dữ liệu thì khó tiếp cận nam giới ở độ tuổi từ 15 đến 29 vì nhiều người đi làm ăn xa, vì thế tỉ lệ phỏng vấn được ở nhóm này thấp hơn tỉ lệ trong dân cư.    Mặc dù không thể đại diện cho toàn bộ nam giới Việt Nam nhưng dữ liệu đã cung cấp một số phát hiện quan trọng, cho phép một phác thảo chân dung đầu tiên về người đàn ông Việt Nam trong một xã hội đang đổi thay nhanh chóng.     Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi!     Thu Quỳnh thực hiện  ———-  Chú thích:   1 Đọc toàn văn nghiên cứu tại đây: http://isds.org.vn/en/an-pham/men-and-masculinities-in-a-globalising-viet-nam/  2 Với tài trợ của Quỹ Nafosted, Autralian Aid, Investing in Women.  3 Một số ví dụ: Ở Việt Nam, cứ hai nam giới trưởng thành, có một người (45,3%) hút thuốc lá (theo WHO vào năm 2018); có tới 70% đàn ông Việt Nam uống rượu và/hoặc bia và cứ một trong bốn người sử dụng rượu ở mức độ có hại; đàn ông chiếm 70% trong số 215.000 người nhiễm HIV trên toàn quốc; báo cáo quý I năm 2018 của UB An toàn giao thông quốc gia cho thấy 85% tổng số 2800 vụ tai nạn giao thông do nam giới.    Uống rượu và hút thuốc là hai hành vi nguy cơ đứng đầu của nam giới. Cứ hai người thực hiện hành vi nguy cơ “uống rượu bia” thì một người cho biết đã bị ép uống. Lý do chính được đưa ra phải uống là “sợ làm cho mọi người không vui” (73,62%) và “sợ mất các mối quan hệ” (26,60%). Sử dụng rượu bia là một biểu tượng của sự mạnh mẽ và nam tính ở hầu hết các quốc gia trong nhiều thế kỷ. Nghiên cứu này cũng cho thấy, cho thấy có bốn hoạt động phổ biến nhất mà nam giới thường làm khi gặp nhau: uống bia rượu (77%), hút thuốc lá / thuốc lào (51,2%) , đi hát karaoke hoặc đi quán bar / vũ trường (28,2%) và chơi trò chơi điện tử (10,7%). Nguồn: ISDS.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gấu chó trên bờ vực tuyệt chủng      Đó là cảnh báo của các chuyên gia thuộc Liên minh bảo tồn thế giới (IUNC) đối với loài gấu nhỏ nhất thế giới này.      Nguyên nhân do nạn phá rừng và săn bắt trộm ngay tại “quê hương” Đông Nam Á. Gấu chó sinh sống trên một khu vực trải dài từ Ấn Độ đến Indonesia, được xếp vào nhóm các loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. “Chúng tôi ước tính số lượng gấu chó đã suy giảm ít nhất 30% trong 30 năm qua và đang tiếp tục suy giảm ở tỷ lệ này”, Rob Steinmetz, chuyên gia về gấu của IUNC cho biết. Còn theo Dave Garshelis, đồng chủ tịch nhóm chuyên gia về gấu của IUNC, trong 30 năm qua thế giới mất hơn 10.000 chú gấu chó.   Tường Vi (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gel vá vết thương ở tim      Các chuyên gia thuộc ĐH Ben Gurion (Israel) đã phát triển thành công một loại gel làm từ tảo biển, có khả năng chữa lành các tổn thương ở tim.      Gel sau khi được tiêm vào khu vực mô tim bị hư hại sẽ đông lại, cho phép lớp mô sẹo dày hình thành, giúp quả tim làm việc bình thường. Kết quả thử nghiệm trên động vật cho thấy tỷ lệ sống sót ở vật thí nghiệm sau cơn đau tim và được tiêm loại Gel này là 90%, cao hơn mức 40% ở vật không được trị liệu bằng phương pháp trên. Các cuộc thử nghiệm trên người đã bắt đầu được tiến hành ở Đức, Bỉ và Israel. Nếu thành công, loại Gel trên có thể có mặt trên thị trường vào năm 2011.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gen mới ngăn chặn ung thư      Các nhà khoa học ở Mỹ đã khám phá 28 gen khác có liên quan đến ung thư, mở đường cho việc bào chế những loại thuốc có thể ngăn chặn sự lan ra của bệnh này.      Các gen mới này là một phần trong tiến trình phức tạp của phân tử làm tắt một gen quan trọng gọi là Fas. Gen này ra lệnh cho thế bào ung thư tự tiêu diệt mình. Gọi tắt là RESEs, 28 gen này được một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Y khoa Massachusetts do Michael Green đứng đầu và đã được đăng tải trên tạp chí Nature của Anh số mới nhất. Bằng cách can thiệp vào đường dẫn làm tắt Fas, hi vọng thuốc có thể ngăn chặn sự lan tràn của các tế bào ung thư.   Q.Hương (Theo Sapa)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gen vị kỷ: Tầm ảnh hưởng lớn về tiến hóa và cách tư duy về thế giới sinh vật      Kể từ khi tác phẩm “Bàn về nguồn gốc các loài” (On the Origin of Species) của Charles Darwin được xuất bản lần đầu tiên năm 1859 ở nước Anh, thuyết tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên đã được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, vẫn còn những khúc mắc đây đó về đơn vị của chọn lọc: Khi sinh giới tiến hóa dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên thì cá thể, quần thể, loài, hay quần xã, hệ sinh thái được chọn lọc? Và đơn vị chọn lọc đó có đặc tính gì?      Đối với Richard Dawkins, nhà sinh học tiến hóa và tập tính học động vật người Anh, thì câu trả lời rất rõ ràng. Theo Dawkins, cho dù đơn vị chọn lọc có là gì đi nữa thì nó phải có khả năng tự sao chép – tức một “thể tự sao” (self-replicator), và nó phải có tính “vị kỷ” (selfish) – tức chỉ theo đuổi “mục tiêu” duy trì bản thân và những bản sao của bản thân mình cho đến muôn đời. Đơn vị đó chính là gen (hay nói chính xác hơn là một đoạn DNA trong tế bào sinh vật). Những vấn đề cơ bản này được ông trình bày trong cuốn sách Gen vị kỷ (The Selfish Gene) do Nhà xuất bản Đại học Oxford ấn hành lần đầu năm 1976. Cuốn sách này giải thích một cách hệ thống vì sao gen là trung tâm của quá trình tiến hoá.  Là một người rất giàu kinh nghiệm viết và nói chuyện về khoa học cho công chúng mà đỉnh điểm là thời gian làm giáo sư chuyên về khuyến học khoa học phổ thông (professor for public understanding of science) tại Đại học Oxford (1995–2008), Dawkins thường xuyên sử dụng phép ẩn dụ và so sánh trong các tác phẩm của mình. Những hình ảnh ẩn dụ của ông thường tài tình và hóm hỉnh, nhưng cái tên “vị kỷ” có lẽ đã đi hơi xa, gây nhiều tranh cãi không chỉ trong giới sinh học mà đặc biệt là với giới triết học và tín ngưỡng. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra như: Gen làm sao biết tư duy mà vị kỷ? Nếu vị kỷ là nền tảng của tiến hoá thì tại sao chúng ta lại có biểu hiện vị tha trong đời sống, hay ta có nên quay lại với bản chất vị kỷ của sinh giới? v.v…   Khi đọc kỹ Gen vị kỷ, độc giả sẽ thấy Dawkins nhấn mạnh  nhiều lần rằng cách nói “vị kỷ” của gen chỉ là ẩn dụ, còn gen hoàn toàn không có (và không cần có) tư duy. Ông cũng giải thích một cách logic và chặt chẽ vì sao bản chất “vị kỷ” của gen hoàn toàn có thể đưa đến những biểu hiện vị kỷ lẫn vị tha ở mức cá thể – những thực thể mang theo và biểu hiện gen mà theo lời Dawkins là “những cỗ máy sống (survival machine) – những phương tiện robot được lập trình… để bảo tồn các phân tử vị kỷ được gọi là gen”. Bằng thuyết chọn lọc tự nhiên, xác suất thống kê và mô hình hóa, Dawkins chứng minh cho chúng ta thấy vì sao “ham muốn” duy trì bản sao của gen chính là nền tảng cho tất cả những hành vi từ hoàn toàn vị kỷ (chim non đạp những đứa em chưa nở của mình ra khỏi tổ), rồi vừa vị kỷ vừa vị tha (cùng chia sẻ việc công việc), cho đến hoàn toàn vị tha (cá voi cứu người sắp chết chìm, hay nhiều loài nuôi dưỡng con non của những loài khác). Quan hệ hợp tác hay đấu tranh (giữa hai giới trong cùng loài, giữa các thành viên trong gia đình, giữa các thế hệ, v.v…) hay sự tồn tại của những đoạn DNA không có ích lợi rõ ràng nào cho cơ thể sinh vật cũng có thể được giải thích một cách logic từ góc nhìn của gen.  Gen vị kỷ cũng không chỉ nói về gen, mà còn cho rằng những gì tương tự như gen với đặc tính là “thể tự sao”, có khả năng đột biến và được cá thể mang theo trong mình từ thế hệ này qua thế hệ khác thì đều là đối tượng của tiến hóa. Để gọi tên những thực thể này, Dawkins đặt ra thuật ngữ “meme”, có gốc từ chữ “mimēma” trong tiếng Hy Lạp (nghĩa là “thứ bắt chước”) và gần ăn vần với cách đọc “gen” (gene) trong tiếng Anh. Những ý tưởng hay chủ đề trong văn học, nghệ thuật, khoa học, tín ngưỡng, văn hóa, v.v… đều có thể là meme. Từ đây, Dawkins bàn về mối liên hệ giữa bản chất giới tự nhiên với chuẩn mực đạo đức xã hội con người, và qua đó bác bỏ lập luận cho rằng giới tự nhiên là bản mẫu định đoạt cách thức chúng ta đối xử với nhau. Theo lời tác giả: “Chúng ta được tạo ra là các cỗ máy gen và được nuôi dạy như những cỗ máy meme, nhưng chúng ta có sức mạnh chống lại các đấng tạo hóa đó. Chúng ta, chỉ chúng ta trên Trái đất, là có thể nổi dậy chống lại sự chuyên chế của các thể tự sao vị kỷ”.      “Chúng ta được tạo ra là các cỗ máy gen và được nuôi dạy như những cỗ máy meme, nhưng chúng ta có sức mạnh chống lại các đấng tạo hóa đó. Chúng ta, chỉ chúng ta trên trái đất, là có thể nổi dậy chống lại sự chuyên chế của các thể tự sao vị kỷ” (Richard Dawkins).      Trong lời giới thiệu cho lần tái bản kỷ niệm 30 năm (năm 2006), Dawkins lần đầu tiên thể hiện đôi chút lấn cấn khi đối mặt với khả năng chọn một cái tên khác. Tuy vậy, ông vẫn giữ cái tên Gen vị kỷ. Và đối với những độc giả đã quen với cá tính của Dawkins thì đây dường như là cách ông vẫn thường làm: đưa ra một luận điểm hay cách dùng từ có vẻ gây tranh cãi, rồi bằng lập luận chặt chẽ mà lần lượt bác bỏ lời công kích của những người chỉ đọc sách bằng cái tựa.     Gen vị kỷ đã được Nhà xuất bản Đại học Oxford tái bản nhiều lần, sách cũng đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng trên thế giới. Mặc cho những khám phá, phát minh mới trong sinh học phân tử và di truyền mấy thập kỷ qua, Gen vị kỷ vẫn còn nguyên giá trị vì nó không bị trói buộc vào một vấn đề thực nghiệm nhất thời nào. Ý nghĩa của cuốn sách lớn tới mức cuộc bình chọn đánh dấu 30 năm Giải sách hay của Hội hoàng gia London (tổ chức tương đương với viện hàn lâm quốc gia ở các nước khác) năm 2017 chọn đây là cuốn sách khoa học có ảnh hưởng nhất, hơn cả Bàn về nguồn gốc các loài của Darwin và Nguyên tắc toán học (Principia Mathematica) của Newton. Như chính lời Dawkins nói: “Trong nhiều năm qua, mỗi khi một trong bảy cuốn sách sau này của tôi ra đời, các nhà xuất bản lại tổ chức cho tôi các chuyến đi để quảng bá sách. Bất kể đó là cuốn nào đi chăng nữa, độc giả đều nhiệt tình đón nhận, lịch sự vỗ tay và đặt cho tôi nhiều câu hỏi thông minh. Thế rồi sau đó họ lại xếp hàng mua và yêu cầu tôi ký tặng cuốn… Gen vị kỷ.”  Bản dịch tiếng Việt đầu tiên của Gen vị kỷ được xuất bản năm 2011. Năm nay, bản dịch được hiệu đính lại toàn bộ và tái bản, vừa đúng dịp kỷ niệm 160 năm kể từ khi Darwin trình bày một cách hệ thống thuyết tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên. Tác giả Richard Dawkins được biết đến với khả năng trình bày những vấn đề khoa học mà không cần đến những thuật ngữ chuyên ngành phức tạp, đây là một thuận lợi lớn cho độc giả, dịch giả, lẫn những người hiệu đính. Song cách dùng câu từ đầy ẩn dụ, hài hước thâm thuý, và cách liên hệ đến nhiều vấn đề văn hóa – xã hội có thể còn xa lạ với nhiều người Việt cũng đem đến nhiều kiến thức và thách thức (đối với người hiệu đính) thú vị. Hy vọng bản dịch mới được độc giả đón nhận và phản hồi tích cực để trong tương lai cuốn sách đến tới tay độc giả Việt Nam sẽ ngày càng trọn vẹn hơn.□  ———  Nguyễn Trịnh Đôn – (NCS sau tiến sĩ chuyên ngành sinh hóa – Đại học British Columbia, Okanagan).  Nguyễn Ngọc Kim Vy – (NCS sau tiến sĩ chuyên ngành y sinh – Đại học California, San Diego).     Ghi chú:  – Bản dịch Gen vị kỷ, Dương Ngọc Cường và Hồ Tú Cường dịch, NXB Tri Thức ấn hành tháng 6/2011: http://www.nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654746/16/Gen-vi-ky.html   – Bản dịch Gen vị kỷ, Nguyễn Ngọc Kim Vy và Nguyễn Trịnh Đôn hiệu đính từ bản dịch 2011, NXB Tri Thức và Công ty sách Omega Việt Nam phát hành tháng 11/2019: https://omegaplus.vn/san-pham/gen-vi-ky     Author                Nguyễn Trịnh Đôn - Nguyễn Ngọc Kim Vy        
__label__tiasang Gene gây bệnh Alzheimer hoạt động từ khi bệnh nhân 3 tuổi      Theo một nghiên cứu mới được các nhà khoa học thuộc trường Đại học Hawaii, Yale và Harvard công bố trên Tạp chí Neurology, gene đột biến APOEe4, loại gene có khả năng làm gia tăng nguy cơ mắc chứng mất trí tới 15 lần, bắt đầu hoạt động từ khi người mang gene này lên ba tuổi. Theo thời gian, nó sẽ thu nhỏ não và làm giảm nhận thức của bệnh nhân.      Nghiên cứu này thực hiện các cuộc kiểm tra về gene và quét não bộ cũng như thực hiện một loạt các cuộc kiểm tra nhằm đánh giá kỹ năng tư duy và trí nhớ với 1.187 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 3 – 20. Kết quả cho thấy, những trẻ em mang gene APOEe4 hoạt động kém hơn. Những khu vực trong não chịu ảnh hưởng của bệnh Alzheimer, chẳng hạn như hồi hải mã và thùy đỉnh, cũng có kích thước nhỏ hơn khoảng 22% so với trẻ em bình thường.  Nhóm nghiên cứu cho rằng việc sàng lọc tìm kiếm các gene này là rất quan trọng, bởi nó có thể giúp các bác sĩ đưa ra những can thiệp ban đầu để hạn chế nguy cơ phát triển của bệnh Alzheimer, chẳng hạn như những can thiệp về mặt giáo dục, điều trị phòng ngừa, giám sát sức khỏe và gia tăng tập luyện thể dục thể chất.  Đăng Quang dịch theo Telegraph    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gene loài voi ma mút lông mịn thay đổi thuyết tiến hóa      Một nghiên cứu di truyền lớn mới đây về loài voi ma mút lông mịn đã tuyệt chủng tiết lộ rằng, chúng không phải là một nhóm đồng nhất số lượng lớn và cũng không có tính đa dạng di truyền cao như trước đây vẫn nghĩ.      Trưởng nhóm nghiên cứu Stephan Schuster, ĐH bang Pennsylvania, cho biết: “Quần thể voi ma mút chia thành hai nhóm, một nhóm trong đó tuyệt chủng cách đây 45.000 năm từ rất lâu trước khi con người đầu tiên xuất hiện. Khám phá này tiết lộ biến đổi khí hậu cũng như bệnh tật chính là nguyên nhân có khả năng nhất gây ra tuyệt chủng”. Nghiên cứu đánh dấu lần đầu tiên các nhà khoa học phân tích cấu trúc toàn bộ quần thể loài voi ma mút đã tuyệt chủng bằng cách sử dụng hệ gene ti thể. Dữ liệu thu được từ nghiên cứu cho phép tiến hành thử nghiệm một giả thuyết mới được đưa ra: Có hai nhóm voi ma mút lông mịn. Một phát hiện quan trọng cho thấy các cá thể của mỗi nhóm voi ma mút có mối liên hệ rất gần gũi với nhau.   Trà Mi (Theo Physorg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gene “nhảy” là nhân tố để con người thành hình?      Theo một nghiên cứu mới trên tạp chí Cell, để một phôi hai tế bào có thể phát triển thành bào thai trong tử cung, cần một loại DNA từng bị nhiều nhà khoa học cho là “rác”.      Phôi thai trong giai đoạn hai tế bào cần một trình tự DNA “năng động” để được hỗ trợ phát triển. Nguồn: Science.  Hàng ngàn gene của con người chỉ chiếm một phần nhỏ trong bộ gene của họ, phổ biến hơn cả là các transposon – các trình tự DNA còn được gọi là “gene nhảy” bởi chúng có thể dời chỗ hoặc tự đưa các bản sao của chính mình vào một vị trí khác trong hệ gene. Khoảng một nửa DNA của con người bao gồm transposon, và các nhà nghiên cứu đã từng cho rằng chúng là ký sinh trùng di truyền có khả năng tự tái tạo nhưng không tác động tới vật chủ.  Hiện nay các nhà khoa học cho rằng các dải trình tự gene này đóng vai trò rất quan trọng với sự tiến hóa của hệ gene. Họ phát hiện ra khoảng 25% các trình tự gene giúp điều chỉnh sự đóng mở gene của con người, bao gồm các đoạn transposon, chúng cung cấp chuỗi DNA mới cho con người. Điều đó cho thấy, các transposon thường hành xử như những vị khách không mời. Ví dụ khi xâm nhập vào một vị trí mới trong hệ gene, dù mãn nguyện trước một “ngôi nhà đẹp” nhưng một transposon cũng có thể gây ra đột biến, nguyên nhân dẫn đến ung thư.  Do đó, nhà sinh vật học phát triển Miguel Ramalho-Santos và các đồng nghiệp muốn xác định xem transposon LINE1, chiếm 17% trong DNA của con người, là yếu tố có hại hay có ích trong quá trình phát triển phôi thai. Để tái tạo, đầu tiên LINE1 tạo ra bản sao RNA của chính nó, sau đó một enzyme sẽ biến đổi RNA này trở thành ADN, rồi chèn vào một vị trí bất kỳ trong hệ gene. Theo Ramalho-Santos, nhà nghiên cứu tại Đại học Toronto ở Canada, bởi transposon chuyển động qua lại trong giai đoạn đầu phát triển của phôi thai, những thay đổi về DNA vào lúc này có thể là thảm họa. Thông thường các tế bào có thể kiềm chế được các transposon nhưng các phôi trong giai đoạn đầu dường như lại giải phóng chúng.  Ramalho-Santos và đồng nghiệp đã tìm cách rút ngắn cơ chế “nhảy” của LINE1 và kiểm nghiệm xem điều gì xảy ra ở đó. Các nhà nghiên cứu đã thiết kế các phân tử nhỏ chặn quá trình này và cắt giảm từ 80% đến 90% số lượng RNA LINE1 trong các tế bào. Sau đó, họ đã thử nghiệm ảnh hưởng của việc giảm bớt LINE1 trong tế bào gốc phôi chuột. Các tế bào này phân chia để tạo ra các tế bào chuyên biệt, nhưng chúng cũng cần tạo ra nhiều tế bào gốc phôi hơn để tiếp tục phát triển. Nhóm nghiên cứu nhận thấy, việc loại bỏ RNA LINE1 làm giảm đáng kể khả năng tự phục hồi của các tế bào.  Tuy nhiên, LINE1 lại có một chức năng riêng biệt khác trong quá trình phát triển phôi thai tự nhiên. Theo công bố của nhóm nghiên cứu này, khi RNA LINE1 khan hiếm, các phôi chuột dễ bị chết ở giai đoạn hai tế bào. Con người cũng vậy, phải trải qua giai đoạn này rồi mới đến thời kỳ phôi thai bám lấy thành tử cung. Nếu không vượt qua được giai đoạn này thì phôi thai sẽ không phát triển được đến lúc thành hình.  Mặc dù transposon nổi tiếng với khả năng tự chèn vào hệ gene, nhưng theo các nhà khoa học, vai trò hình thành phôi của LINE1 không liên quan đến khả năng này. Thay vào đó, RNA của transposon hợp sức với hai protein để cho phép phôi hai tế bào tiếp tục phát triển.  Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại hoài nghi khi cho rằng kỹ thuật các nhà nghiên cứu sử dụng để ngăn sản xuất RNA LINE1 cũng có thể chặn hoạt động của các gene này. Do đó, các hiệu ứng mà các nhà khoa học quan sát được có thể là do sự bất hoạt của các gene này, chứ không phải là sự suy giảm của RNA LINE.  Thanh An dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/06/don-t-call-it-junk-jumping-gene-may-be-why-you-made-it-past-embryo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gene thừa hưởng từ người Neanderthal làm tăng độ nhạy với đau đớn      Những người được thừa hưởng các đột biến của sợi thần kinh từ loài người cổ đại có xu hướng trải qua sự đau đớn lớn hơn những người khác.      Người Neaderthal đã trải qua cuộc sống khắc nghiệt khắp miền Tây lục địa Á-Âu trong kỷ băng hà, săn voi ma mút, bò bison và những loài thú nguy hiểm khác.  Mặc dù vẻ ngoài thô kệch và bù xù, người Neanderthal lại mang khuynh hướng sinh học nhạy cảm với đau đớn, đó là kết luận dựa trên bằng chứng về bộ gene công bố trên Current Biology ngày 23/7. Các nhà di truyền học tiến hóa phát hiện những họ hàng cổ đại này mang ba đột biến mã hóa protein NaV1.7 dẫn truyền cảm giác đau đến tủy sống và não. Họ cũng chỉ ra một trường hợp là người Anh, được thừa hưởng phiên bản NaV1.7 của người Neanderthal, có xu hướng trải qua nhiều nỗi đau hơn người khác. “Với tôi, đây là ví dụ đầu tiên về cách chúng ta nắm bắt một ý tưởng về sinh lý của người Neanderthal bằng cách sử dụng mô hình trung gian về gene là người hiện đại,” Svante Pääbo từ Viện Max Planck về Khảo cổ học tiến hóa ở Leipzig, người dẫn dắt nghiên cứu cùng Hugo Zeberg từ Viện Karolinska ở Stockholm, cho biết.  Các nhà nghiên cứu chỉ có thể tiếp cận một số bộ gene của người Neaderthal và việc hầu hết chúng được giải trình tự ở độ phân giải thấp khiến cho việc xác định các đột biến phát sinh sau khi người Neaderthal tách khỏi nhánh tiến hóa của loài người cách đây 500,000 – 750,000 năm gặp khó khăn. Trong vài năm gần đây, Pääbo và cộng sự đã tạo ra 3 bộ gene người Neanderthal chất lượng cao từ DNA trong các hang động ở Croatia và Nga, qua đó cho phép họ tự tin xác định các đột biến có lẽ phổ biến ở người Neanderthal nhưng hiếm gặp ở loài người.  Đột biến ở gene SCN9A mã hóa cho protein NaV1.7 nổi bật lên vì tất cả người Neanderthal đều mang ba đột biến làm thay đổi hình dạng của protein. Phiên bản đột biến ở gene này được xác định trên hai nhiễm sắc thể của cả ba người Neanderthal, gợi ý rằng đột biến này phổ biến trên cả quần thể.  NaV1.7 hoạt động trên các sợi thần kinh của cơ thể, nơi nó liên quan đến việc kiểm soát tín hiệu đau nào và cường độ bao nhiêu được truyền đến tủy sống và não. “Có thể coi nó như núm chỉnh âm lượng của các sợi thần kinh.” Zeberg ví von. Một số người mang đột biến cực kỳ hiếm gặp làm bất hoạt protein này nên họ không có cảm giác đau, trong khi những đột biến khác có thể khiến con người phải chịu các cơn đau mãn tính.  Để tìm hiểu các đột biến làm biến đổi sợi thần kinh của người Neanderthal như thế nào, Zeberg cho biểu hiện protein NaV1.7 trên ếch và tế bào thận của người để mô tả cách chúng kiểm soát các xung thần kinh. Protein hoạt động mạnh hơn trong các tế bào mang cả ba đột biến so với các tế bào không mang đột biến. Trên các sợi thần kinh, điều này nghĩa là ngưỡng tối thiểu để dẫn truyền tín hiệu đau bị giảm xuống.  Sau đó, ông và Pääbo tìm kiếm những người mang protein NaV1.7 phiên bản Neanderthal. Khoảng 0.4% người tham gia cơ sở dữ liệu sinh học gồm nửa triệu công dân Anh (UK Biobank) được ghi nhận có các triệu chứng đau mang một đột biến. Không ai cùng lúc mang hai đột biến (trên cả hai nhiễm sắc thể) như người Neanderthal. Những người này dường như được ghi nhận về đau nhiều hơn khoẳng 7% so với người khác.  Cedric Boeckx, nhà khoa học thần kinh tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Catalan ở Barcelona, nói rằng đây là một nghiên cứu tuyệt vời, cho thấy các khía cạnh sinh lý của người Neanderthal có thể được tái tạo dựa vào nghiên cứu trên người hiện đại. Trong một nghiên cứu năm 2019, Boeckx đánh dấu ba protein khác liên quan đến tiếp nhận đau khác nhau giữa người hiện đại và Neanderthal. Những biến đổi thế này có thể chỉ ra những khác biệt thầm lặng giữa hai loài.   Pääbo và Zebẻg lưu lý rằng phát hiện của họ không nhất thiết có nghĩa là người Neanderthal có cảm giác đau nhiều hơn người hiện đại. Cảm giác được dẫn truyền bởi NaV1.7 sau đó được xử lý và hiệu chỉnh tại tủy sống và não, cũng góp vai trò vào trải nghiệm đau chủ quan.  Chưa rõ liệu những đột biến này có đem lại lợi ích gì không. Quần thể Neanderthal có dân số nhỏ và mức đa dạng di truyền thấp, là điều kiện giúp các đột biến có hại tồn tại được. Nhưng Pääbo cảm giác rằng chúng lại là sản phẩm của chọn lọc tự nhiên, nên ông dự định sẽ giải trình tự bộ gene của 100 người Neanderthal để đưa ra câu trả lời thỏa đáng. □  Cao Chiến lược dịch  Nguồn: https://media.nature.com/lw800/magazine-assets/d41586-020-02202-x/d41586-020-02202-x_18205060.jp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Geoffroy Saint – Hilaire – Nhà sinh học tiên phong      Thính giác của loài cá, cách gập cánh của loài vịt, ngan và những ca song sinh dính nhau: đó là những chủ đề nghiên cứu thú vị của nhà giải phẫu Geoffroy Saint-Hilaire vào đầu thế kỷ 19. Đằng sau cái cớ của chủ nghĩa chiết trung là một mục đích cụ thể: chứng minh sự thống nhất trong cơ thể của các loài động vật. Phải tới 200 năm sau, khi ngành sinh học phân tử ra đời thì người ta mới chứng minh được rằng ông đã hoàn toàn đúng    Tính đồng dạng sinh học  Geoffroy Saint-Hilaire thực sự là một người yêu thiên nhiên. Với công việc của một nhà phẫu tích, ông đắm mình trong các nghiên cứu cơ chế hoạt động trong cơ thể của các loài vật. Thí dụ như làm thế nào cá nhím lại có thể phồng mình lên được? Không chỉ có thế, ông còn cố gắng tìm hiểu các vấn đề rộng hơn và đặc biệt là cất công xây dựng một thuyết về mối quan hệ giữa các “luồng chảy khó xác định” trong vũ trụ (ánh sáng, điện, luồng thần kinh.v.v…). Geoffroy Saint-Hilaire đã tới Ai Cập và ở đó  ông đã tìm được những ý tưởng đầu tiên để viết lên Triết học phẫu tích: một tham vọng lớn nhằm chứng minh “có một đơn vị cơ bản trong cấu trúc của tất cả các loài vật”.  Ông bắt đầu bằng những việc rất đơn giản: thử chứng minh rằng cấu trúc cơ thể của các loài động vật có vú là tương tự như nhau, rồi tiếp đến là các loài động vật khác như cá, bò sát và động vật lưỡng cư. Nói một cách khác, ông cố gắng tìm hiểu và xác định điều mà các nhà sinh học ngày nay đã biết rõ: tính cùng nguồn sinh học. Thí dụ như ông cho rằng các lớp (xương) mang cá chính là lớp vỏ để bảo vệ tai tương tự như các vành sụn là thành phần chính của tai giữa ở các động vật có vú (xương búa, xương de và xương bàn đạp ở trong tai).  Sau đó, Geoffroy Saint-Hilaire cũng đã tìm được sự đồng dạng trong cấu trúc của các loài sinh vật rất khác nhau, thí dụ giữa sâu bọ với cá để mở rộng giả thuyết của mình.  Câu chuyện con vịt và con mực nang          Sinh học phân tử đã chứng minh các suy nghĩ của Geoffroy Saint-Hilaire là hoàn toàn chính xác. Chỉ tiếc một điều là sự công nhận này diễn ra cách thời của ông tới nửa thế kỷ.          Vẫn cảm thấy chưa hài lòng, ông tiếp tục theo đuổi con đường của mình và khẳng định rằng phân tích giải phẫu tôm hùm cho thấy khi quay ngược lưng tôm lại, chúng giống với… động vật xương sống. Cần nhớ là loài tôm hùm có các đường thần kinh chính ở mặt bụng và các mạch máu chính ở phần lưng nhưng ở động vật xương sống, các sắp xếp này lại ngược lại. Tuy nhiên, ông thấy kỳ lạ hơn nhiều ở động vật chân đầu thân mềm: nếu lấy một con vịt và lộn ngược nó lại sao cho đầu chạm vào đuôi, hình phẫu tích của chúng dường như rất giống với … loài mực nang.  Những phát hiện của Geoffroy Saint-Hilaire đã cuốn hút sự chú ý của Cuvier, một trong những nhà phẫu tích tên tuổi nhất lúc đó đồng thời là đối thủ chính của ông ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris. Cuvier đã phát biểu trước Viện Hàn lâm khoa học vào năm 1830 rằng Geoffroy Saint-Hilaire đã nhầm lẫn: một con vịt không thể giống được với một con mực và sự tương đồng giữa mang cá và tai trong của động vật có vú cũng chỉ là sự phỏng đoán mà không phải là một nghiên cứu nghiêm túc. Tuy nhiên, giờ đây đối với bất cứ nhà sinh học nào, tính đồng dạng này là một chuyện bình thường. Không chỉ thế, người ta thấy chúng có ở khắp nơi: chúng ta thấy sự đồng dạng giữa các chuỗi ADN cũng như tính đồng dạng giữa các thành viên của loài động vật xương sống 4 chân. Sự đồng dạng là một kết quả đương nhiên của quá trình tiến hóa.  Câu chuyện con vịt và con tôm hùm nhanh chóng bị quên lãng. Vào đầu thế kỷ XX, tên của Geoffroy Saint-Hilaire dường như cũng không còn xuất hiện trong sách sử của ngành phẫu tích so sánh.  Nhưng lịch sử cuối cùng đã trả lại đúng giá trị cho ông. Tên tuổi của Geoffroy Saint-Hilaire gần đây ngày càng được nhắc tới nhiều hơn. Không những thế, ông còn được coi như là một trong những nhà nghiên cứu đặt nền móng cho một bộ môn mới có tên: ngành sinh học về sự phát triển (biologie de l’évolution du développement). Mục tiêu của ngành nghiên cứu này là hướng tới việc khám phá sự đồng dạng đặc biệt giữa các loài sinh vật khác nhau. Công việc này giờ đã được chứng minh bằng phương pháp di truyền phân tử. Điều thú vị là các công trình Geoffroy Saint-Hilaire tới năm 2004 mới được xuất bản bằng tiếng Anh.  Trở lại quá khứ, như một sự trớ trêu của lịch sử, sau khi bị “ngài” Cuvier “đánh” cho bầm dập, Geoffroy tiếp tục lao vào một dự án nghiên cứu khác. Lần này mục đích không kém phần hão huyền. Và cũng phải tới 500 năm sau đó, người ta mới công nhận sự chính xác của công trình nghiên cứu này.  Vào mùa hè năm 1829, hai chị em cặp song sinh dính liền nhau có tên Ritta và Christina Parodi tới Paris. Cha mẹ của chúng là những người nông dân đảo Xác-đe-nha (thuộc Ý và Địa Trung Hải). Họ mang hai con ra ngoài đường với hy vọng kiếm được tiền. Từ vai trở lên, hai đứa trẻ tách rời nhau ra và dính với nhau ở phần bụng xuống dưới. Mặc dù chúng có bốn tay nhưng lại chỉ có chung một cơ quan sinh dục, một trực tràng, một khung xương chậu và hai chân. Báo chí lúc đó thổi phồng về sự kiện “Ritta-Christina” và coi chúng là một người có…hai đầu. Thực tế không phải vậy, đó chỉ là hai đứa trẻ có chung một thân dưới.  Hai đứa trẻ sinh đôi dính nhau này cuốn hút sự chú ý đặc biệt của Geoffroy Saint-Hilaire. Sự biến dạng          Hai chị em sinh đôi Ritta -Christina là một sự kiện xã hội-khoa học lớn đầu thế              của cặp song sinh dính liền nhau này đối với ông chỉ là một hình thái phụ của một đơn vị cơ bản và sự đa dạng của đời sống sinh vật. Trong cuốn Triết học phẫu tích, ông đã coi những đứa trẻ dị dạng như một trò chơi của tạo hóa. Thực ra các hiện tượng này vẫn tuân theo các qui luật của tự nhiên vốn ngự trị trong cấu trúc tạo lên cơ thể mà thôi. Nói một cách khác, tuy vẻ ngoài dị dạng nhưng cơ thể này vẫn tôn trọng qui luật của tự nhiên.  Ngày 23 tháng 11 năm 1829, Ritta Parodi chết vì bệnh phổi. Cô em Christina cũng từ giã cõi đời 3 phút sau khi cô chị qua đời. Dù cha mẹ cặp song sinh không muốn nhưng hai đứa trẻ vẫn được chuyển tới viện bảo tàng để phẫu tích. Cuộc phẫu thuật khám nghiệm tử thi được tiến hành tại phòng chính của bảo tàng được coi là một sự kiện xã hội và khoa học lớn năm đó. Cuvier cũng tới dự khán cuộc khám nghiệm.  Biên bản chi tiết về cuộc phẫu tích cẩn thận nhất từ trước tới lúc bấy giờ dài tới 400 trang giấy và là một công trình khoa học lớn. Biên bản do Serres, một học trò của Geoffroy Saint-Hilaire viết nhưng toàn bộ chi tiết đều là của ông, trong đó ông muốn đưa ra những lời giải thích về sự phát triển của cơ thể con người.  Geoffroy Saint-Hilaire đã đưa ra được cái giả thuyết mà chỉ có ngành sinh học phân tử mới có khả năng chứng minh là hoàn toàn đúng đắn: sự đa dạng tuyệt vời trong thiên nhiên thực ra đều ẩn dưới một sự thống nhất cơ bản. Không có gì kiểm chứng điều này tốt hơn bằng kết quả của các chương trình giải mã gien các loài động vật. Năm 2001, khi bản đồ gien của người được giải mã, người ta biết được rằng con người chúng ta có khoảng 30.000 gien. Đây thực sự là một kết quả khiêm tốn vì điều này chứng tỏ con người chỉ có số gien bằng 50% gien của Caenorhabditis elegans, một loài giun đất có chiều dài cỡ chỉ… 1 milimet. Geoffroy Saint-Hilaire thực sự trở thành người hùng khi ngành sinh học phân tử xuất hiện và phát triển. Triết lý phẫu tích của ông thất bại đơn giản vì lúc đó ông thiếu các phương tiện khoa học mà chúng ta hiện đang có.  Hoàng An    Nguồn tin: (lược dịch theo Pour La Science No 336-2005)      Author                Quản trị        
__label__tiasang George Box và hành trình đến khoa học thống kê      Trong lúc chúng ta đang bàn về ứng dụng toán, tôi xin trân trọng giới thiệu bài nói chuyện của Giáo sư George Box – là một trong những “đại thụ” của khoa học thống kê trong thế kỉ 20, với rất nhiều đóng góp cơ bản và quan trọng cho khoa học, đặc biệt là những đóng góp về mô hình phân tích số liệu thời gian (time series models), kiểm định chất lượng, nghệ thuật và khoa học.&#160; Ông là tác giả của câu nói nổi tiếng “All models are wrong, but some are useful” (tất cả các mô hình đều sai, nhưng có vài mô hình có ích).&#160; Ông là chủ tịch thứ 73 của Hội Thống kê Hoa Kì (American Statistical Association).&#160; Ông là một nhà khoa học hiền hậu, vui tính – và khiêm tốn.&#160; Ông tự gọi mình là một nhà thống kê bất đắc dĩ, vì ông đến với thống kê học qua chiến tranh.&#160; Năm nay, Giáo sư George Box đã 92 tuổi, vẫn sống ở Madison, Wisconsin – nhân dịp kỉ niệm 50 năm Bộ môn Thống kê học của trường Đại học Wisconsin, do chính ông sáng lập vào năm 1960.  Bài nói chuyện tuy mang tính cá nhân, nói về con đường ông đến với thống kê học, nhưng còn cung cấp vài dữ liệu và bài học quí báu về ứng dụng thống kê trong khoa học và kĩ nghệ.&#160;  Dịch và giới thiệu: Nguyễn Văn Tuấn      Tôi muốn kể cho các bạn nghe câu chuyện tôi đã trở thành một nhà khoa học thống kê như thế nào. Tôi sinh ra ở bên Anh.  Năm 1939 tôi là một thanh niên 19 tuổi đời. Dạo đó, tôi lớn tiếng phê phán Chính phủ Anh hèn nhát vì chẳng dám có hành động gì để ngăn cản Hitler.   Vì thế, khi chiến tranh nổ ra, tôi quyết định nhập ngũ, dù lúc đó tôi sắp xong bằng cử nhân hóa học.  Tôi nhất định bỏ học để đi lính.  Họ sắp xếp cho tôi công tác trong ngành công binh (và khi tôi nhìn thấy cây cầu, tôi nghĩ đến chuyện tính toán làm sao để giật sập được một cây cầu). Nhưng chưa thực hiện được ý định giật sập cầu, thì họ thuyên chuyển tôi sang một trung tâm bí mật chuyên làm thí nghiệm khoa học ở miền Nam nước Anh.  Lúc đó, quân đội Đức đang dội bom London mỗi đêm. Chính phủ Anh nghĩ đến tình huống xấu nhất là Đức sẽ dùng đến khí độc. Công việc của chúng tôi là tìm cách đối phó với tình huống xấu nhất khí Đức ra tay.    Thời đó, trung tâm thí nghiệm tôi làm việc là nơi hội tụ rất nhiều nhà khoa học sáng chói nhất của Anh quốc.  Chúng tôi làm rất nhiều thí nghiệm trên động vật, và tôi lúc đó chỉ là một phụ tá trong phòng thí nghiệm với nhiệm vụ sản xuất những sinh phẩm cần thiết cho thí nghiệm.  Sếp của tôi là một giáo sư sinh lí học, nhưng ông được quân đội Anh cho mang hàm đại tá; còn tôi được đeo lon trung sĩ.  Những kết quả thí nghiệm của tôi dao động rất lớn, và tôi không biết làm gì với những kết quả như thế.  Tôi nói với sếp đại tá rằng “Chúng ta cần một nhà thống kê học”.  Sếp tôi hỏi “Làm sao chúng ta có thể kiếm được một nhà thống kê lúc này, thế anh có biết gì về thống kê không?” Tôi nói “Chẳng biết gì cả, tôi có lần đọc một cuốn sách của một người có tên là R. A. Fisher nhưng tôi chẳng hiểu gì cả.”  Sếp nói “Nếu anh đã từng đọc sách đó thì anh là người có kiến thức nhất về thống kê ở đây rồi, vậy anh thử làm đi”, và tôi nói, “Yes, sir” (tuân lệnh).  Tôi đề nghị cơ quan quân đội cung cấp thêm những bài báo khoa học và sách giáo khoa về thống kê, và họ đáp ứng tất cả đề nghị của tôi.    Trong thời gian 3, 4 năm sau đó, tôi tiến hành thiết kế và phân tích hàng trăm thí nghiệm. Đủ loại thí nghiệm.  Trong danh sách những bài báo khoa học của tôi, 2 bài đầu tiên mô tả một số công trình tôi làm lúc đó.    Có dạo, tôi gặp một vấn đề thống kê mà tôi không giải quyết được, và một nhà khoa học lâu năm đề nghị tôi nên liên lạc R. A. Fisher [1].  Tôi viết thư cho Fisher, và ông mời tôi đến gặp ông ở Đại học Cambridge.  Nhưng cơ quan quân đội không biết cách nào để gửi một trung sĩ đến gặp một giáo sư, và thế là họ ra một công văn đặc biệt để tôi cỡi ngựa đi Cambridge.                  Tôi đến Cambridge vào một ngày tuyệt đẹp. Fisher nói “OK, chúng ta sẽ ngồi dưới tàng cây kia, tôi sẽ tìm hiểu hàm probits và anh sẽ tìm hàm nghịch đảo nhé”  [2]. Và, thế là vấn đề được giải quyết, và đó chính là lúc tôi nghĩ đến vấn đề hoán chuyển số liệu [3].   Khi cuộc chiến sắp kết thúc, chúng tôi phát hiện rằng Đức đã phát triển độc khí: đó là khí Tabun và vài hóa chất khác mà mức độ độc hại rất cao, khoa học chưa bao giờ biết đến. Thế là tôi trở thành một thành viên trong một nhóm nghiên cứu các độc khí này ngay tại trung tâm nghiên cứu của Đức.  Trung tâm này nằm ở phía Bắc nước Đức, lúc đó đang bị bỏ hoang sau khi Đức thất trận.  Đoàn chúng tôi có đến 50 xe tải chở những thiết bị khoa học đi qua những thành phố, thị trấn tiêu điều của Bỉ và Đức.  Khi đến nơi, tôi tiến hành khá nhiều nhiều thí nghiệm hóa học.    Đến khi tôi được giải ngũ, quân đội Anh trao tặng huy chương ghi nhận những đóng góp của tôi cho khoa học trong thời chiến.  Họ còn tử tế trả tiền cho tôi theo học tại Đại học London (University College London, hay UCL). Ở UCL, tôi theo học thống kê học dưới sự hướng dẫn của Giáo sư E. S. Pearson [4].  Tôi phải tiêu ra 18 tháng trời để hoàn tất văn bằng cử nhân.  Sau bằng cử nhân, tôi theo học thạc sĩ và nghiên cứu tiến sĩ.    Trong thời gian tôi theo học tại UCL, tôi có những mùa hè rất có ích.  Thật ra, tôi không có nghỉ hè; tôi dùng thời gian nghỉ hè để thực tập trong hãng hóa chất Imperial Chemical Industries (ICI), hãng hóa chất lớn nhất nước Anh thời đó.  Tôi giúp ICI O.L. Davies biên tập cuốn sách Statistical Methods in Research and Production [5]. Có lẽ qua việc giúp biên soạn cuốn sách trên, nên sau khi tốt nghiệp, ICI mời tôi làm việc cho họ.    Tám năm kế tiếp là thời gian hạnh phúc nhất đời tôi. Phòng khoa học của ICI sản xuất rất nhiều sản phẩm, nào là thuốc nhuộm, vải nylon, áo mưa, v.v…  Một nhóm chuyên gia về hóa chất và kĩ sư cùng nhau hợp lực phát triển và cải tiến rất nhiều qui trình sản xuất.  Tôi là một thành viên trong nhóm đó.  Tôi có cơ hội tiến hành rất nhiều thí nghiệm nhằm gia tăng năng suất với chi phí ít nhất.  Ngoài ra, tôi còn giúp các nhà hóa học thiết kế thí nghiệm để kiểm tra chất lượng sản phẩm.  Trong thời gian làm việc ở đây, tôi rất bận bịu, tối ngày đi lên đi xuống giải thích, hướng dẫn cho công nhân và đồng nghiệp làm thí nghiệm theo những qui trình mới.   Tôi rất thích công việc thí nghiệm, và không có ý định rời bỏ kĩ nghệ để theo đuổi sự nghiệp khoa bảng.  Nhưng trong quá trình giải quyết những vấn đề thực tế, tôi có vài ý tưởng để phát triển phương pháp thống kê.  Tôi có viết một số bài báo và công bố trên các tập san chuyên ngành thống kê.   Năm 1952 tôi ngạc nhiên nhận được thư của Đại học North Carolina (Raleigh) mời làm giáo sư thỉnh giảng (visiting professor) một năm.  Hội đồng quản trị hãng ICI đồng ý cho tôi đi một năm, nhưng họ cũng nói rõ rằng họ muốn tôi quay về Anh sau khi xong việc bên Mĩ.  Họ (ICI) thu xếp để tôi đi Mĩ trên tàu Queen Mary, một chuyến viễn du thú vị.  Tôi có một năm tuyệt vời ở Raleigh, nơi tôi gặp Stu Hunter [6], lúc đó mới là một nghiên cứu sinh.  Chúng tôi làm việc chung với nhau về phương pháp “response surface” [7].   Sau khi xong hợp đồng, tôi quay về Anh và làm việc cho ICI thêm được 3 năm.   Năm 1956, John Tukey [8] ở Bell Labs gọi gọi điện tôi hầu như mỗi buổi sáng.  Ông ấy muốn tôi sang Đại học Princeton làm giám đốc nhóm nghiên cứu kĩ thuật thống kê (Statistical Techniques Research Group — STRG) lúc đó đang được thành lập.  Sau cùng, tôi đành nghe theo lời ông ấy và lại lên đường đi Mĩ vào cuối năm 1956.  Tôi kéo theo Stu Hunter, Don Behnken, Collin Mallows, Geoff Watson, Henry Scheffé, Merve Muller, Norman Draper [9], và nhiều người khác tham gia nhóm nghiên cứu.  Nhóm này rất thành công, vì đã làm nhiều nghiên cứu rất hay, với nhiều công trình khoa học được công bố. Đó cũng là năm tôi gặp Gwilym Jenkins lần đầu tiên [10].  Chúng tôi tin rằng những ý tưởng mới trong thống kê học thường xuất phát từ những vấn đề khoa học đặc thù.  Một ý tưởng mà chúng tôi manh nha lúc đó là làm sao thiết kế và xây dựng được một cái hệ thống tự động tối ưu hóa (automatic optimiser, một kĩ thuật để điều chỉnh đầu vào sao cho đầu ra tối đa), nhưng các nhà hóa học không mặn mà mấy với ý tưởng đó.  Năm 1960, Đại học Wisconsin mời tôi đến nói chuyện trong 2 seminar.  Một seminar về khoa học thống kê, và một seminar về ý tưởng thành lập một bộ môn thống kê.  Tôi nói với họ những ý tưởng của tôi về định hướng nghiên cứu của Bộ môn Thống kê học.  Và, thế là họ nói nếu tôi có ý tưởng như thế, thì tôi là người tốt nhất thực hiện ý tưởng đó. Họ đề nghị tôi tham gia Wisconsin.  Tôi rời Princeton đi Wisconsin.  Đến Wisconsin, tôi bắt tay vào việc thành lập bộ môn thống kê học vào mùa thu năm đó, và địa điểm là một cái chòi tên là Nissen gần bờ hồ. Dạo đó, cái chòi này hay bị ngập lụt, và mỗi lần ngập lụt, sách vở trôi lềnh bềnh, trông rất nhếch nhác.   Một nhà hóa học nổi tiếng tên là Olaf Hougen ở Wisconsin rất thích ý tưởng về hệ thống tự động tối ưu hóa của chúng tôi.  Ông ấy đề nghị chúng tôi xin tài trợ từ Quĩ Khoa học Quốc gia (National Science Foundation — NSF).  Thế là chúng tôi xin được tài trợ từ NSF.  Sau 3 năm trầy trật nghiên cứu, chúng tôi xây dựng được một cái máy tối ưu hóa – và nó có vận hành hiệu quả.  Đây chính là nơi mà Gwilym Jenkins và tôi có thêm kinh nghiệm về sử dụng các mô hình bất ổn (non-stationary), mô hình động (dynamics) và mô hình ước lượng phi tuyến tính (non-linear estimation). Chúng tôi viết thành một cuốn sách Time Series Analysis Forecasting and Control [11]. Cuốn này đã được tái bản lần thứ 4.   Bộ môn Toán của Đại học Wisconsin muốn bỏ tất cả những môn học dính dáng đến thống kê, và họ đề nghị bộ môn chúng tôi phụ trách dạy những môn đó.  Thế là tôi trở thành giảng viên dạy những môn mà sau này người ta gọi là “Advanced Theory of Statistics”.  Lúc đó, tôi có 7 nghiên cứu sinh, trong đó có Bill Hunter, George Tiao và Sam Wu.  Tôi còn nhớ George Tiao là một “bell-wether” của tôi.  Bất cứ lúc nào tôi thấy anh ta có vẻ lo lắng, tôi phải nhìn vào bảng đen xem mình có viết gì sai không.    Ngay từ đầu, tôi đã nhận ra rằng sinh viên học khá nhiều về lí thuyết thống kê, nhưng họ chẳng biết sử dụng thống kê cho việc gì. Thế là tôi thiết lập cái mà sau này người ta gọi là “Monday night beer session”.  Mỗi thứ Hai, chúng tôi tụ tập uống bia và thảo luận khoa học thống kê ngay tại nhà tôi ở.  Đó không phải là một khóa học chính thức, học viên chẳng cần có điều kiện gì để nhập học, cũng chẳng có thi cử hay tính điểm gì cả.  Khóa học mở cho mọi người, ai thích thì đến uống bia và học.  Chúng tôi có nghiên cứu sinh và giảng viên từ các khoa thống kê, kĩ thuật, thương nghiệp, và y khoa tham dự. Chúng tôi còn có nhiều người chuyên đi săn tìm những vấn đề thực tế để đưa vào khóa học và thảo luận.  Trung bình, mỗi vấn đề được trình bày trong khoảng 20 phút, và sau đó là phần thảo luận cách giải quyết vấn đề.  Khóa học được duy trì vài thập niên sau đó, và có thể nói là rất thành công.  Mãi đến nay tôi vẫn nghe nhiều đồng nghiệp đề cập đến khóa học bia vào đêm thứ Hai!  Tôi nghĩ nhiều người học cách giải quyết vấn đề từ “khóa học” đó.   Tôi rất là may mắn trong tình bạn và được sự ủng hộ của nhiều người.  Tôi đã nhận quá nhiều từ bạn bè trong suốt cuộc đời.  Và, với các bạn đó, tôi muốn nói lời “Cám ơn”.           Khoa học thống kê (statistical science) đóng một vai trò cực kì quan trọng trong việc phát triển khoa học thực nghiệm.  Tuy lịch sử của khoa học thống kê rất lâu đời, nhưng khoa học thống kê hiện đại chỉ mới khởi đầu từ những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Cho đến nay, có thể nói khoa học thống kê “chinh phục” hầu như tất cả các lĩnh vực khoa học thực nghiệm, xã hội học, kinh tế học, và thậm chí văn học. Có người ví von về tốc độ phát triển khoa học thống kê ngang hàng với Attila, Mohammed! Trong khi ở các nước tiên tiến hay trong vùng, bất cứ đại học nào cũng có bộ môn thống kê học, ở nước ta không một đại học nào có môn học này.  Số chuyên gia thống kê cũng rất ít. Có thể nói không ngoa rằng khoa học thống kê ở nước ta còn kém hơn khoa học thống kê Âu châu vào thế kỉ 17, 18. Tình trạng “lạc hậu” về khoa học thống kê ở nước ta đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khoa học nước nhà.  Vì các bộ môn khoa học thực nghiệm ở nước ta chưa được sự hỗ trợ từ khoa học thống kê, cho nên rất nhiều nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa có chất lượng cao, và chưa thể công bố trên các tập san khoa học quốc tế.           Ghi chú của người dịch:  [1] Ronald A. Fisher là một nhà sinh học và thống kê học sáng chói nhất trong thế kỉ 20. Có thể nói ông là “cha đẻ” của thống kê hiện đại.  Ông là tác giả của phương pháp điểm định F (F test), Fisher’s exact test, lí thuyết di truyền học, và rất nhiều sáng kiến độc đáo khác. Cuốn sách kinh điển Statistical Methods for Research Workers của ông có ảnh hưởng cực kì lớn đến khoa học hiện đại. Fihser là cha vợ của George Box.   [2] Trong thống kê học, probit là một hàm số nghịch đảo của hàm phân bố tích lũy (inverse cumulative distribution). Hàm probit thường được sử dụng trong các mô hình phân tích nhị phân.   [3] Ở đoạn này, ông muốn nói đến thuật toán hoán chuyển có tên là “Box-Cox transformation”.  Cox là lấy tên của một nhà thống kê học trứ danh tên là David R. Cox, một đại thụ lớn nhất trong ngành thống kê học của thế kỉ 20, người phát minh ra mô hình hồi qui logistic, mô hình phân tích biến cố, làm một cuộc cách mạng trong khoa học thực nghiệm, kể cả y học.   [4] Egon S. Pearson là một nhà thống kê học nổi tiếng vào thế kỉ 20, cùng với Jerzy Neyman “sáng tác” ra Neyman-Pearson lemma và phát triển lí thuyết về kiểm định giả thuyết (test of significance).  Egon Pearson là con trai của Karl Pearson, một người học trò xuất sắc của Francis Galton.  Karl Pearson (hay thường biết đến là KP) là triết gia khoa học (tác giả cuốn “The Grammar of Science” có ảnh hưởng sâu sắc đến Albert Einstein) và cha đẻ của phương pháp kiểm định Chi-square, một trong những người khai sinh ra khoa học thống kê hiện đại vào cuối thế kỉ 19.  KP là người sáng lập Bộ môn Thống kê học tại University College London vào năm 1901, đó là bộ môn thống kê học đầu tiên trên thế giới.   [5] Trong bài nói chuyện trên, ông có kể về sự ra đời của cuốn sách Statistical Methods in Research and Production nhưng ông không kể hết câu chuyện (có lẽ do tính khiêm tốn của ông).  Thật ra, thoạt đầu ông được yêu cầu đọc bản thảo và kiểm tra lỗi biên tập, nhưng trong quá trình đọc ông đã phát hiện và sửa đổi quá nhiều trong bản thảo, nhiều đến nổi tác giả O. L. Davies nhất định đề tên ông là một đồng tác giả.  Cuốn sách có chất lượng hơn so với bản thảo.  O. L. Davies, một nhà thống kê học, tiên phong trong lĩnh vực ứng dụng thống kê trong kĩ nghệ sản xuất và kiểm định chất lượng sản phẩm.  [6] Stuart Hunter, cựu giáo sư thống kê của Đại học Princeton. Hunter là học trò của George Box, là người đề ra ý tưởng “reliability” trong kĩ nghệ sản xuất, và sau này có những đóng góp quan trọng cho khoa học thống kê qua kiểm định chất lượng sản phẩm công nghiệp.   [7] Response surface là thuật ngữ thống kê dùng để mô tả những phương pháp tìm hiểu mối tương quan giữa nhiều biến tiên lượng và nhiều biến phụ thuộc. Phương pháp này được George Box và K B Wilson công bố lần đầu tiên vào năm 1951, và sau này trở nên phương pháp chuẩn trong thiết kế thí nghiệm.    [8] John Tukey, một nhà hóa học sau này trở thành nhà thống kê học, với những đóng góp quan trọng trong việc phát triển thống kê học vào giữa thế kỉ 20.  Tukey là một trong những người đóng vai trò chủ chốt trong Bộ môn Thống kê học của Đại học Princeton trong thập niên 1960s-1970s.  Đóng góp của ông cho thống kê hiện đại bàng bạt trong mọi ngành hẹp, bao gồm lí thuyết đồ thị, tính toán thống kê, khoa học luận, v.v…  [9] Ở đây, Giáo sư Box nhắc đến tên của nhiều nhà khoa học thống kê nổi tiếng như Collin Mallows, Geoff Watson, Henry Scheffé. Collin Mallows là người phát triển chỉ số “Cp” trong phân tích hồi qui tuyến tính. Chỉ số Mallow’s Cp được dùng để xác định số biến cần thiết cho một mô hình hồi qui.  Geoffrey S. Watson là một nhà thống kê học người Úc, nguyên chủ nhiệm Bộ môn Thống kê học của Đại học Princeton. Ông có nhiều đóng góp quan trọng và cơ bản cho vật lí, sinh học phân tử và hành vi động vật. Ông cũng chính là “cha đẻ” của phương pháp kiểm định Durbin-Watson hay sử dụng trong các mô hình hồi qui tuyến tính.  Henry Scheffé, gốc Đức nhưng định cư ở Mĩ, là một nhà thống kê học nổi tiếng với cuốn sách Analysis of Variance (Phân tích Phương sai).    [10] Gwilym Jenkins là một kĩ sư và nhà thống kê học người Anh. Ông là người cùng với George Box phát triển những mô hình về phân tích số liệu thời gian (time series model) có tên là “Box-Jenkins models” hay “Box-Jenkins Methodology”. Ông là đồng tác giả cuốn sách kinh điển và nổi tiếng “Time series analysis: Forecasting and control” mà Giáo sư George Box nhắc đến trong bài nói chuyện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Georges Condominas: Người khổng lồ học “ăn rừng”      Bài viết này không có tham vọng lột tả hết được tầm vóc “người khổng lồ” Condo, chỉ là một sự tri ân đối với một nhân cách lớn trong khoa học, và một sự tưởng nhớ sau 5 năm kể từ ngày ông qua đời (17/7/2011).      Georges Condominas (1921-2011). Nguồn ảnh: vietsach.blogspot.com  Một tâm thế khoa học  Khác với nhiều nhà Dân tộc học phương Tây đương thời, những nghiên cứu của Georges Condominas (Condo) ở Việt Nam xuất phát từ đam mê khoa học thuần túy và ông kịch liệt phản đối việc sử dụng các kết quả nghiên cứu của mình vào mục đích phục vụ chính quyền thực dân cai trị, trấn áp có hiệu quả hơn các dân tộc thiểu số1.     Từ năm 1957 trở về trước, đa phần các nhà Dân tộc học/Nhân học phương Tây thường hướng nghiên cứu của mình đến các cộng đồng nhỏ, khá biệt lập, cư trú ở vùng cao của các nước thuộc địa và luôn có một lằn ranh giới rõ rệt để phân biệt chúng ta (những nhà nghiên cứu, độc giả đến từ cái gọi là Thế giới văn minh) với họ (những cộng đồng được/bị coi là thiểu số, lạc hậu). Condo – một học giả phương Tây (dù ông sinh ra ở Việt Nam, mang một phần dòng máu Việt) cũng chọn một cộng đồng ít về dân số, sống khá tách biệt, cư trú ở địa bàn miền núi. Ấy vậy mà đọc ông, tôi không cảm thấy cái lằn ranh giới cố hữu ấy, đến độ nhiều khi cứ tưởng ông đang viết về chính mình, cộng đồng mình. Cái cách ông đặt nhan đề cho cuốn sách của mình thể hiện rõ tâm thế của ông với đối tượng nghiên cứu: chúng tôi ăn rừng, “chúng tôi” chứ không phải họ, hay tuyệt nhiên không phải là “người Mnông Gar ăn rừng”. Như thể cuốn sách do chính người Mnông Gar viết về chính họ vậy. Trong “Không gian xã hội vùng Đông Nam Á”, ông bày tỏ rõ không chỉ quan điểm khoa học mà cả quan điểm về nghề nghiệp của mình. Không có gì là quá khi nói trong khoảng thời gian ấy, ông là một trong số ít các nhà Dân tộc học luôn đứng về phía các tộc người thiểu số, các dân tộc bị áp bức, sống trong ách nô lệ của các thế lực đến từ bên ngoài.  Lối viết mô tả chủ quan về đối tượng nghiên cứu là một trong những hạn chế căn bản nhất của các nhà Dân tộc học, kì lạ thay không hề thấy trong “Chúng tôi ăn rừng”. Cả cuốn sách được tổ chức như một câu chuyện, sống động, chân thực và gần gũi. Người đọc không hề cảm nhận được bóng dáng của tác giả trong đó. Ông tự hóa thân mình là một phần của câu truyện, bước cả hai chân vào thế giới đầy sinh động, huyền bí của người dân làng Sar Luk. Và cũng tuyệt nhiên không thấy một chút nào trong cuốn sách bóng dáng của hơi hướng “tiến hóa luận”, điều mà rất, rất nhiều đồng nghiệp đương thời mắc phải. Ông đến với người Mnông Gar không phải với tâm thế của một nhà khoa học đi tìm cái kì bí, lạ lẫm, hoang sơ mà dường như để chép nhặt lại lịch sử. Với ông, dân tộc học là một lối sống2, nhà dân tộc học không phải là người nắm giữ tri thức, mà là cầu nối giữa tri thức và cộng đồng, giữa văn hóa và xã hội. Niềm đam mê, theo ông là tố chất tiên quyết cần có để vượt qua mọi rào cản, thách thức trên con đường nghiên cứu vỗn dĩ rất gập ghềnh mà mỗi nhà Dân tộc học phải vượt qua3. Cũng chính nhờ có niềm đam mê mà ông đã vượt qua được mọi rào cản, khó khăn, thậm chí cả một lần ngã bệnh thập tử nhất sinh ở thực địa cũng không làm ông nản chí.  Ở thời của Condo, có thể xếp các nhà Dân tộc học nghiên cứu về Tây Nguyên Việt Nam vào hai trường phái chính: (i) những người chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa luận; và (ii) những người ủng hộ thuyết tương đối văn hóa. Trong khi trường phái tiến hóa luận nhìn về Tây Nguyên như một vùng đất “mông muội”, “vô thần”4, cần phải được “giáo hóa” và “khai sáng”, thì Condo và những người cùng quan điểm với ông (điển hình là Leopold Sabatier) cho rằng đây là vùng đất thấm đượm các giá trị văn hóa để có thể tự phát triển5. Ông phủ nhận quan điểm cho rằng các tộc người thiểu số ở Tây nguyên “lạc hậu”, ở trình độ phát triển thấp hơn so với các tộc người khác. Giống như các học giả trường phái tương đối văn hóa, ông cho rằng sự phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi tộc người không nhất thiết phải giống nhau và vì thế, không thể lấy tiêu chí phát triển của cộng đồng này để đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng khác. Cũng với lăng kính này, ông chứng minh tính khoa học, hiệu quả và hợp lí của các hình thức canh tác nương rẫy, sản xuất truyền thống của người Mnông Gar nói riêng, các tộc người thiếu số nói chung. Phải đặt vào thời của ông, trong bối cảnh của lúc bấy giờ mới thấy giá trị của những quan điểm này. Sau thời ông một chút, Geertz đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm ấy qua các nghiên cứu sâu, có tiếng vang về các hình thức canh tác nông nghiệp truyền thống ở Indonesia.  Một phương pháp nghiên cứu rất “Condo”  Để có một công trình Dân tộc học tốt, theo Condo, phải có một nghiên cứu thực địa chi tiết, toàn diện và hệ thống, đây là quan điểm vô cùng đúng đắn và đã được thừa nhận bởi hầu hết các nhà Dân tộc học trên thế giới (ngoại trừ các học giả “ghế bành”). Ông đề cao tính thông tin cụ thể, cấu trúc rõ ràng, có thể kiểm chứng được của một khảo cứu Dân tộc học (Condominas 1997)6.  Đọc “Chúng tôi ăn rừng”, điều dễ cảm nhận thấy là việc mô tả cực kì sống động, chân thực, tỉ mỉ các hoạt động kinh tế, đời sống tinh thần của dân làng Sar Luk. Cuốn sách như một cuốn phim dài, mà mỗi chương là một tập, đề cập đến một hoạt động cụ thể, song không hề riêng biệt, mà được xâu chuỗi với nhau thật vừa vặn, hệ thống. Bất cứ ai theo nghiệp Dân tộc học đều hiểu rẳng điểm mạnh của Dân tộc học so với các ngành Khoa học Xã hội khác là tính miêu tả sinh động, hệ thống, có chiều cạnh lịch sử về đối tượng nghiên cứu. Thế nhưng, nhìn lại các công trình khảo cứu Dân tộc học ở Việt Nam từ trước đến nay, khó có thể tìm thấy một công trình nào có được miêu tả chi tiết đến thế, sống động và chân thực đến thế như “Chúng tôi ăn rừng”.7 Không gian sinh thái, không gian xã hội của làng Sar Luk được mô tả đến từng chi tiết nhỏ nhất. Các chu kì sản xuất, lễ hội, sinh hoạt tín ngưỡng trong năm của người dân được mô tả như một chu kì khép kín, tuần tự. Sự miêu tả chi tiết, hệ thống cũng có thể tìm thấy ở Biên niên của Sar Luk, Làng Mnông Gar. Để có được những miêu thuật sống động và chính xác đến như thế, hãy xem Condo đã trang bị cho mình những công cụ gì.  Tedlock (1991)8 cho rằng có thể chia các nhà Dân tộc học vào bốn nhóm khác nhau trong lịch sử phát triển của ngành Dân tộc học: (i) người quan sát không chuyên nghiệp (amateur observers); (ii) các nhà Nhân học ghế bành (armchair Anthropologists); (iii) các nhà Dân tộc học chuyên nghiệp (professional ethnographers); và (iv) những nhà thực địa đồng hành cùng người bản địa (tạm dịch: gone-native fieldworker). Nếu coi cách phân loại này là đúng thì có thể nhận thấy Condo là sự kết hợp của cả nhóm (iii) và nhóm (iv). Ông đã đạt đến “cảnh giới” cao trong kĩ năng quan sát – một tố chất mà ông cho rằng mỗi nhà Dân tộc học cần phải có. Song, khác với các nhà khoa học trong những ngành khác, nhà Dân tộc học phải quan sát với tâm thế của người trong cuộc; ghi chép, lựa chọn, diễn giải, đánh giá không phải với tư cách của một người ngoài mà phải từ con mắt của người bản địa. Đây chính là một phương pháp tiếp cận mà Nhân học hiện đại ngày nay đề cao: tiếp cận với cái nhìn từ bên trong, ở tâm thế của chủ thể được quan sát (emic view). Với cách tiếp cận này, mọi phân tích, diễn giải của ông được đặt trên bệ phóng là thế giới quan của người Mnông Gar. Dẫu vậy, ông chưa bao giờ quá “say” để quên mất rằng một nhà Dân tộc học cần đủ tỉnh táo để không bị cuốn theo những vụn vặt của cuộc sống thực địa. Trái lại, cần phải biết chọn lọc để quan sát, chọn lọc để theo đuổi, và chọn lọc để phân tích (Condominas 1997).  Không gian xã hội, một đóng góp quan trọng cho ngành Dân tộc học  Có thể nói tên tuổi của Condo gần như gắn liền với nghiên cứu của ông về người Mnông Gar, song tầm ảnh hưởng và đóng góp của ông không chỉ gói gọn trong tộc người này, trong nửa đầu thập niên của thế kỉ 20, ông là một tên tuổi lớn trong các nhà Dân tộc học phương Tây nghiên cứu về châu Á9. Một đóng góp quan trọng khác của ông là công trình “Không gian xã hội vùng Đông Nam Á”. Cuốn sách là tuyển tập những bài viết, trình bày hội thảo của ông, được sắp xếp thành bốn phần chính, bàn về các vấn đề cốt lõi trong Dân tộc học: đạo đức nghề nghiệp, phương pháp nghiên cứu, không gian văn hóa/xã hội, chiều cạnh lịch sử của mỗi cộng đồng.  Không gian hay không gian xã hội là một khái niệm quan trọng trong ngành khoa học xã hội nói chung, Dân tộc học/Nhân học nói riêng. Nhiều tên tuổi lớn trong ngành đã bàn luận đến khái niệm này: Emile Durkheim, Claudi Levis-Strauss, E.E. Pritchard hay Marcel Mauss. Đứng dưới bóng của những “lí thuyết gia” vĩ đại này, Condo không “ngợp” đến độ đánh mất mình10. Ông kế thừa và phát triển khái niệm không gian xã hội lên một tầm vóc mới, cụ thể hơn, toàn diện hơn, được minh chứng qua các nghiên cứu của ông cũng như đồng nghiệp. Không gian xã hội, theo Condo, ngoài những chiều cạnh vốn có: mang tính không gian và thời gian; còn mang tính lịch sử và mang tính tộc người. Người Mnông Gar quan niệm về không gian xã hội khác người Ê-đê hay người Kinh. Về mặt không gian, trong khi các nhà khoa học chỉ thừa nhận có bốn phương thì người Mnông Gar luôn có kèm thêm khái niệm “trung tâm”; và cùng với nó, các phương của không gian thường được xác định bởi điều kiện tự nhiên ví như “đầu sông”, “cuối sông”, “bên kia suối”… Việc xác định và định vị một thành tố cụ thể trong không gian xã hội, theo Condo, thường bị chi phối bởi các thành tố khác, và đây là một trong những nguyên nhân khiến không phải lúc nào cách phân loại của họ cũng giống với các nhà khoa học.  Trước Condo, một số học giả như Friedrich Ratzel hay Jacques Barrau đã đề cập đến vai trò của môi trường sinh thái trong không gian xã hội. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề thường thiên về hai chiều cạnh: (i) khẳng định vai trò tuyệt đối của các điều kiện sinh thái trong việc quyết định các đặc tính xã hội (Ratzel); hay (ii) đề cao vai trò của văn hóa và phủ nhận ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái (Barrau). Tiếp cận dưới góc độ lịch sử, Condo cho rằng văn hóa và sinh thái luôn có tác động qua lại với nhau, mối quan hệ giữa chúng là biện chứng và đa dạng ở từng tộc người. Quan điểm này nhận được sự đồng thuận của Julian Steward, được coi là người khai sáng ngành sinh thái học văn hóa ở Mỹ, nổi tiếng với khái niệm tiến hóa đa tuyến (multilineal evolution).  Bên cạnh đó, Condo cũng đưa ra hai loại hình không gian xã hội: không gian xã hội giới hạn (chỉ là một hệ thống quan hệ duy nhất); và không gian xã hội rộng (bao gồm nhiều hệ thống quan hệ). Đóng góp quan trọng của thuật ngữ này là sự bổ xung cho một cách tiếp cận khác về một cộng đồng, ngoài cách tiếp cận thông qua những giá trị văn hóa truyền thống trong Dân tộc học. Không gian xã hội mang cả chiều cạnh không gian và thời gian. Biên độ của nó luôn thay đổi tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, đặc điểm kinh tế, xã hội của một cộng đồng. Ẩn chứa trong mỗi không gian này là các mạng lưới quan hệ đa tầng (Condominas 1997). Theo quan điểm của người viết, đây là những tiền đề quan trọng cho việc hình thành các khái niệm mạng lưới xã hội, vốn xã hội, giao thoa văn hóa, hay xuyên biên giới sau này.   ——-  1 Có khá nhiều nhà Dân tộc học trước và cùng thời với ông nhận tiền tài trợ từ chính quyền thuộc địa để nghiên cứu, và những nghiên cứu của họ được sử dụng vào mục đích củng cố sự cai trị của chính quyền thuộc địa. Để tham khảo, xin xem thêm cuốn “Không gian Xã hội vùng Đông Nam Á”.  2 Đây là một quan điểm nối tiếng của Condo. Có bản dịch “dân tộc học là một loại hình sống. Xem thêm Condominas (1997) và bài viết của Nguyên Ngọc tại: http://pleikucafe.com/ver2/tin-tuc-24h/nguyen-ngoc—rung/vinh-biet-g-condominas.html  3 Xin xem thêm tại: http://www.baomoi.com/GS-Condominas-Dan-toc-hoc-la-mot-loi-song/59/1248150.epi  4 Với hàm ý không phải là tín đồ của Thiên chúa giáo  5 Oscar Salemink (2003), the ethnography of Vietnam’s Central Highlander: historical contextualization, 1850-1900, Routledge Curzon, London.  6 Dưới giác độ này, dường như Condominas chịu ảnh hưởng nhiều từ cha đẻ của trường phái cấu trúc- Claude Levis-Strass  7 Dường như ở phương diện này, chỉ có cuốn “người Mường” của nhà Dân tộc học tài danh Trần Từ là có thể so sánh được.  8 Barbara Tedlock (1991), “From Participant Observation to the Observation of Participation: The Emergence of Narrative Ethnography”, Journal of Anthropological Research, Vol. 47, No. 1, pp. 69-94.  9 Xem thêm bài viết của GS Oscar Salemink tại: http://vietnameselanguage.wordpress.com/2011/07/18/a-farewell-to-georges-condominas/  10 Phần này dựa trên những thảo luận của Condominas về khái niệm không gian xã hội trong “ Không gian xã hội vùng Đông Nam Á”, Nxb Văn hóa, 1997, tr. 13-98.    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Ghi nhận ba năm nóng kỷ lục liên tiếp trong lịch sử      Lần đầu tiên các nhà khoa học ghi nhận được ba năm 2014, 2015, 2016 là những năm liên tiếp phá kỷ lục nóng nhất trong lịch sử.      Kỷ lục 12 tháng nóng nhất liên tiếp trong lịch sử của Trái đất đã được ghi nhận từ tháng Năm năm 2015 tới tháng Sáu vừa qua của năm 2016.  Năm 2014 và 2015 đều thiết lập kỷ lục những năm nóng nhất kể từ trong vòng 150 năm qua và năm 2016 lại phá kỷ lục một lần nữa, và đây là lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận ba năm nóng kỷ lục liên tiếp.  Các kỷ lục nóng liên tiếp trước đây đều diễn ra trong đợt El Nino rất mạnh và khiến nước biển ở tất cả các đại dương trên toàn cầu đều bị ấm lên. Để so sánh, năm 1997 – 1998 đã ghi nhận một đợt El Nino khủng khiếp, và tương tự như hiện nay, tại thời điểm đó đã ghi nhận kỷ lục nhiệt độ nóng nhất liên tục trong vòng 12 tháng kể từ tháng Mười năm 1997 đến hết tháng Tám năm 1998. Như vậy, kỷ lục nóng nhất của ba năm liên tiếp lần này đã phá kỷ lục nóng trong đợt El Nino gần đây nhất vào năm 1997 – 1998.  Biểu đồ thể hiện mức thay đổi nhiệt độ trung bình thường niên từ 1860 đến nay. Nguồn: The Guardian.  Hiện nay nhiệt độ toàn cầu bị tăng lên khoảng 0.3oC so với năm 1997 – 1998 (tức là chỉ trong vòng 18 năm), mức tăng nhiệt độ này thực sự rất lớn bởi vì trái đất chỉ tăng lên 1oC kể từ thời kỳ cách mạng công nghiệp bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ 19 cho tới năm 1997.  Trái đất nóng lên một cách quá nhanh chóng với một tốc độ nhanh hơn khoảng từ 20 đến 50 lần so với tốc độ nóng lên toàn cầu một cách tự nhiên trước kia. Trước hiện tượng này, các nhà khoa học không thể không lên tiếng về mối hiểm họa toàn cầu này và đặt câu hỏi cho những nỗ lực thật sự của các quốc gia trong cam kết chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu.  Mặc dù 195 quốc gia đã cam kết cùng chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu bằng cách cắt giảm các công nghệ có hại cho môi trường, phát triển công nghệ xanh nhưng quá trình thực hiện lại không dễ dàng như cam kết. Trong các nước lớn và phát thải nhiều khí nhà kính, dường như chỉ có Canada, Trung Quốc và Ấn Độ đang thực hiện các chính sách năng lượng và môi trường như đã cam kết, các nước như Anh và Australia vẫn đang giậm chân tại chỗ. Còn nước Mỹ đang đứng giữa hai dòng nước khi cuộc bầu cử sắp diễn ra nhưng chưa biết đảng thắng thế sẽ thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính vì mục tiêu chống biến đổi khí hậu mà chính phủ của tổng thống Barack Obama đã đề ra hay không.  Bảo Như lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ghi nhận về Hà Lan đối mặt với biến đổi khí hậu và nước biển dâng*      Hà Lan là một lãnh thổ mà phần lớn là vùng đất thấp, được hình hành từ bốn châu thổ của các sông Rhine (Rhin), Maas (Meuse), Schelde và IJsse (Hình 1). Lịch sử Hà Lan là lịch sử chiến đấu không ngừng và kiên cường với biển và ngập nước để tồn tại từ trên 2000 năm nay.    Hà lan được thế giới biết đến như là đất nước của các polder (pôn-đơ) và hiện có trên 3000 polder ở các quy mô khác nhau (Hình 2).          Hình 2. Sơ đồ phổ biến của các polder          Polder là một vùng đất thấp được đê bao bọc, là một thực thể thủy văn theo nghĩa là nó không có trao đổi nước bên ngoài ngoại trừ những công trình do con người xây nên và vận hành. Cối xay gió, biểu tượng của Hà Lan, là một công trình sử dụng năng lượng gió để bơm và tháo nước cho các polder, kết hợp làm cối xay.  1. Đê Afsluitdijk và hệ thống công trình Delta Works   Nói đến polder là nói đến khả năng đê bị vỡ. Từ 1700 đến năm 1926 đã có 490 lần vỡ đê. Hình 3 chỉ ra vị trí và thời gian xảy ra các vụ vỡ đê này.          Hình 3. Vị trí và thời gian các lần vỡ đê ở Hà lan từ 1700 đến 1950          Những trận vỡ đê xảy ra vào các năm 1134, 1287, 1375, 1404, 1421, 1530, 1570, 1717, 1916 và 1953 thuộc loại thiệt hại nặng nề nhất. 1  Sau thiên tai năm 1916, đê Afsluitdijk được xây dựng, ngăn IJselmeer với Biển Bắc. Polder Weringmeer được cải tạo và ba polder mới rông lớn Noordoost, Oostelijk Fleveland và Zuidelijk Flevoland được hình thành (Hình 4).          Hình 4. Đê Afsluitdijk và các polder mới    Hình 5. Vỡ đê năm 1953. Màu xanh là vùng bị ngập          Đê Afsluitdijk dài 32 km, bề mặt rộng 90 mét, chiều cao thiết kế ban đầu 7,25 mét trên mực nước biển. Ở đầu tây nam, Den Oever, có âu thuyền Stevin và ba dãy mỗi dãy năm cửa cống. Ở đầu đông bắc Kornwerderzand có âu thuyền Lorentz và hai dãy mỗi dãy năm cửa cống. Do nước từ các sông liên tục đổ vào và nước từ các polder mới được hình thành tháo ra, nên định kỳ IJsselmeer được thay nước.  Sau trận vỡ đê ngày 01.02.1953, đề án Delta Plan đề xuất một hệ thống công trình (Delta Works) rất quy mô cho vùng Zeeland và Nam Holland (Hình 6a).          (a) Đề án Delta Plan ban đầu    (b) Đề án Delta Plan cuối cùng                  Đen: nước mặn; Xanh: nước lợ; Xanh lạt: nước ngọt        Đề án ban đầu (Hình 6a) đã được tranh luận rất nhiều vì các tác động to lớn của các công trình đến môi trường. Nếu các cửa sông bị bịt kín lại, chế độ triều trong vùng này sẽ bị thay đổi căn bản. Đặc biệt nghề nuôi trai, ngành công nghiệp chủ lực của vùng sẽ bị mai một. Đề án cuối cùng được thỏa hiệp và được Nghị viện thông qua là đề án thể hiện trong Hình 6b. Delta Works được hoàn tất và đi vào hoạt động từ năm 1978.  2. Những thay đổi về môi trường nhận thấy được  Như dự kiến, chế độ thủy văn trong các thủy vực sau đê đã thay đổi đáng kể. Tất cả các cửa sông trong Delta Plan đều được đóng kín trừ Oosterschelde và Westerschelde. Mặc dù đê mở, ở Oosterschelde, chế độ triều đã giảm đi khoảng 25%. Ở những nơi khác, chuyển động triều bị chặn đứng, và nước mặn trở thành lợ hoặc ngọt. Vận tốc dòng chảy có nơi giảm đến 80 – 100% (Hình 7).          H.7 Giảm tốc độ dòng chảy tại Eastern Scheldt     H.8. Thay đổi địa mạo tại Oosterschelde sau khi có các công trình. Nguồn: Rijkwaterstaaat          Địa mạo lòng sông và nhiều khu vực sau các công trình cũng biến đổi nhiều (Hình 8). Các thay đổi về chế độ thủy văn, về chất lượng nước, và về địa mạo dẫn đến những biến đổi sâu sắc về sinh vật. Các loại cá biển không còn, các loại chim biển không đến nữa. Dần dần các loài thủy sinh vật khác phát triển và thay thế. Theo các chuyên gia tình hình này không thể đảo ngược được.  Ở Zuiderzee, được gọi là IJsselmeer sau khi đê Afsluitdijk hoàn tất, cũng tương tự. Các loại cá như hareng, anchois, tôm và các loài thủy sản khác trước đây rất nhiều, đã dần dần biến mất. Theo ngư dân đây là một hậu quả của con đê.    Các công trình Delta Works và đê Afsluitdijk đã giải quyết được vấn đề an toàn cho người dân, tạo thêm những polder mới, và về phương diện này là những thành công lớn. Thế nhưng đồng thời, các công trình đó đã tạo ra những vấn đề mới và bài toán mới.   Rõ ràng nhiệm vụ quản lý nước bao quát hơn việc xây dựng và bảo trì ngày càng nhiều các đê và cống đập.  Việc đất ở các châu thổ bị sụt lún là một hiện tượng tự nhiên do các chất liệu trầm tích ngậm nước ít hay nhiều, và nền đất yếu.   Tuy chưa có số liệu đo đạc và được theo dõi tại các châu thổ, nhưng có thể ước tính, độ lún tỉ lệ thuận với mức độ thâm canh tăng vụ, với mật độ dân số và khối lượng các công trình được xây dựng bên trên, với mức độ khai thác nước ngầm, dầu mỏ. Mức độ sụt lún có thể từ 1÷10 mm/năm thậm chí đến 300 mm/năm.  Nhiều công trình khoa học đã quan sát, theo dõi quá trình đất lún trong các polder. Hình 9 diễn đạt quá trình này.           H.9.Quá trình sụt lún đất trong polder. Đất canh tác ban đầu trở thành đất  trồng cỏ cho chăn nuôi, và cần xây thêm đê thứ hai. Nguồn: Van de Ven, 1993.        3. Đánh giá mức độ an toàn của hệ thống đê  Có ba nguyên nhân được đưa ra để giải thích trận vỡ đê ngày 01.02.1953:  (a) Đê thấp và mái đê rất dốc;  (b) Cơn bảo phát sinh từ hai áp thấp đến từ Scotland hội tụ lại làm cho nước biển dâng cao, tràn qua đê và xói móc thân đê từ bên trong, làm cho đê yếu và vỡ;  (c) Cơn bão trùng với lúc có triều xuân phân.   Đó là chưa kể đến tình trạng sụt lún đất trước đó làm tăng khả năng đê bị vỡ.  Cũng may là vào ngày vỡ đê không có lũ đổ về từ thượng nguồn các sông. Nếu không thì thảm họa sẽ còn lớn hơn nhiều.  Chính vì lẽ đó, sau khi các công trình Delta Works đi vào hoạt động năm 1978, Luật về an toàn đê đã được Nghị viện Hà Lan ban hành.   Trước những thách thức của biến đổi khí hậu, năm 1996 một Luật mới về an toàn đê (New Dike Safety Act) đã được Nghị viện ban hành.   Theo luật này, mỗi con đê và giồng cát, đặc biệt ở ven biển, phải được khảo sát một lần mỗi năm năm theo các tiêu chuẩn được Chính phủ ban hành để đánh giá khả năng xảy ra các tình huống:  • chảy tràn và/hoặc mực nước cao hơn đỉnh đê;  • trượt đất ở mái trong và mái ngoài của đê;  • xói mòn của lớp phủ thân đê (cỏ, asphalt hoặc khối basalt) có thể dẫn đến đê bị vỡ;  • có mạch rò rỉ nước dưới chân đê và xói mòn thân đê từ bên trong.  Đợt khảo sát thứ nhất, chỉ thực hiện được về chiều cao đê và lớp phủ đê, đã được báo cáo với Nghị viện Hà Lan năm 2002: 50% trong tổng số 3550 km đê và giồng cát đáp ứng các tiêu chí; 35% không đủ thông tin để kết luận; 15% không đáp ứng yêu cầu về an toàn. Báo cáo ước tính cần 2,55 tỉ euros cho việc tăng cường an toàn đê.  Theo kết quả của đợt khảo sát thứ hai chi tiết hơn, báo cáo với Nghị viện cuối năm 2006, tỉ lệ chiều dài đê và giồng cát không đáp ứng các tiêu chí mới về an toàn đê cao hơn. Tổng chi phí cho việc kiện toàn đê theo tiêu chí mới vượt quá ngân sách dành cho công tác này trong năm năm. Kế hoạch High Water Protection Plan thể hiện sự lựa chọn ưu tiên của Chính phủ, được thực hiện thông qua đề án FLORIS (Flood Risks and Safety in Netherlands).  Kết quả khảo sát tình trạng đê và giồng cát tại Hollandse Delta được thể hiện trong Hình 10a. Chỉ trong vùng này, một số không ít polder không đáp ứng các yêu cầu của NBW (National Water Management Agreement) nhằm ứng phó với các thách thức của biến đổi khí hậu (Hình 10b).           Hình 10(a). Tình trạng đê tại Hollandse Delta    Hình 10(b). Tình trạng polder tại Hollandse Delta        4. Hà lan trước thách thức của biến đổi khí hậu và nước biển dâng  4.1. Theo các số liệu được công bố, nhiệt độ ở Hà Lan từ năm 1900 đến nay đã tăng +1,7°C, gần gấp đôi mức tăng trung bình trên thế giới (+0.8 °C).  Nước biển dâng ở Hà Lan bình quân trong thời gian qua là 24cm/100 năm, lớn hơn trung bình của thế giới (khoảng 20cm/100 năm).   Trong 10 năm gần đây mực nước dâng bình quân nhanh hơn 30cm/100 năm.  Lưu lượng max của sông Rhine tăng 12%, và của sông Maas tăng 24%.  Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển sẽ dâng lên từ 0.65 ÷1.3 mét và từ 2 ÷ 4 m cho đến cuối thế kỷ XXII.  Tuy nhiên, trước tốc độ tan băng nhanh chóng ở Bắc Cực mà Hà lan ở cách đó không xa và nằm đúng ở eo nối liền Biển Bắc với Đại Tây Dương qua Biển Manche, phương án mực nước biển dâng đến 5 mét vào một thời điểm sớm hơn cũng đã được xem xét.  4.2. Ở Hà Lan các ủy ban về nước (water board) đã có từ 700 năm nay. Đây là một thể chế bao gồm chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức đại diện cho người dân trên địa bàn cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Năm 1955, có tất cả khoảng 2500 ủy ban. Năm 1969, số ủy ban còn 1000 và hiện nay còn 27.   Trong phạm vi lãnh thổ của mình, ủy ban về nước có các trách nhiệm: (a) quản lý và bảo trì các công trình có tác động đối với dòng chảy của nước như đê, giồng, bến cảng; (b) quản lý và bảo trì các thủy lộ; bảo trì một mực nước thích hợp trong các polder và các thủy lộ; (c) bảo trì chất lượng nước mặt thông qua việc xử lý nước thải. Tuy nhiên, ủy ban về nước không phụ trách việc cung cấp nước sạch và cũng không phải là cơ quan dịch vụ công ích.          Hình 11. Địa bàn 27 UB về nước hiện nay    Hình 12. Tiêu chí an toàn cho mỗi vành đai đê          Số lượng các ủy ban về nước ít đi là để được tăng cường về nguồn lực và sự phối hợp được nhanh chóng và tập trung hơn.   Mặt khác, tháng 12/2007 Chính phủ Hà Lan thành lập Uỷ ban Châu thổ (Delta Commissie) với chức năng tư vấn, trên phạm vi cả nước, với tầm nhìn dài hạn, cho Chính phủ trong việc bảo vệ và phát triển bền vững vùng ven biển và các vùng đất thấp.  Tháng 9/2008, Ủy Ban Châu thổ đã đề xuất kế hoạch tổng hợp cho đến năm 2100 với 12 kiến nghị dưới đây:  1.Nâng cấp độ phòng chống lũ gấp 10 lần hiện nay;  2.Phát triển đô thị mới phải tính đến những chi phí hiện tại và tương lai đối với tất cả các ngành và các bên có liên quan;  3.Việc phát triển mới những vùng nằm ngoài phạm vi bảo vệ của đê phải đảm bảo không gây cản trở cho dòng chảy của sông hoặc ảnh hưởng tới mực nước trong đê trong tương lai;  4.Công tác phòng chống lũ cho các vùng bờ biển của Zeeland, Holland và các đảo ở biển Wadden sẽ được tiếp tục thực hiện bằng biện pháp phun cát nuôi dưỡng đê biển để các vùng bờ biển có thể phát triển ra hướng biển trong thế kỷ tới;  5.Để bảo vệ những vùng trũng và vùng bờ biển bắc Holland, và vùng bờ biển Wadden, cần phun lên vùng bãi đê này 12 triệu m3 cát mỗi năm;  6.Công trình ngăn triều ở Eastern Scheldt đã làm giảm lượng nước vào – ra khi triều cường và triều thấp. Tuổi thọ của các công trình ngăn triều ở Eastern  Scheldt sẽ được kéo dài bằng các biện pháp kỹ thuật. Điều này có thể được thực hiện cho đến khi mực nước biển dâng lên khoảng 1 mét (dự kiến sẽ xảy ra sớm nhất là vào năm 2075). Khi không còn phù hợp nữa, sẽ tìm giải pháp cho vấn đề này bằng cách lưu trữ phần lớn nước triều tại những vùng cửa sông tự nhiên và đồng thời duy trì mức độ phòng chống lũ phù hợp.  7.Ở Western Scheldt phải duy trì một hệ thống triều mở để đảm bảo giao thông thủy đến cảng Anvers (Bỉ) và duy trì giá trị vùng cửa sông. Công tác phòng chống lũ được đảm bảo bằng cách gia cố thêm hệ thống đê sông.  8.Cho phép nước mặn vào hồ Krammer-Volkerak Zoommeer và đưa ra các giải pháp lấy nước ngọt từ vùng khác về để thay thế cho nguồn nước ngọt lấy từ hồ.   Đến 2050 Vùng Krammer – Volkerak Zoommeer, Grevelingen và có thể cả vùng Eastern Scheldt phải được bố trí lại để có khu vực chứa nước tạm thời cho sông Rhine và sông Maas khi dòng chảy ra biển bị ngăn lại vì các cửa cống của công trình ngăn triều đóng lại.  9.Đối với các sông chính, đến 2050 và sau 2050 nhằm nâng cao khả năng chống lũ của các sông không phải bằng biện pháp nâng cao đê, mà cho phép sông tràn vào các không gian dự phòng, gọi là “Room for the River”.  10. Đối với vùng cửa sông Rhine đến năm 2050 chọn giải pháp hệ thống mở, có thể đóng lại khi cần thiết, kết hợp các công tác phòng chống lũ, cung cấp nước sạch, phát triển đô thị, phát triển tự nhiên trong vùng này. Các lưu lượng cực đại của sông Rhine và sông Maas sẽ được chuyển hướng qua vùng đồng bằng tây nam. Nước ngọt cung cấp cho vùng phía tây Hà Lan sẽ lấy từ hồ IJsselmeer.  11.Biến IJsselmeer thành hồ chứa nước ngọt có dung tích lớn nhất vào khoảng 2050 và sau 2050. Sẽ tăng tối đa mực nước hồ 1,5 mét để dòng chảy tự nhiên có thể từ hồ vào biển Wadden sau năm 2100. Mực nước hồ Markermeer sẽ không tăng. Các giải pháp làm tăng mực nước hồ có thể được thực hiện từng bước.   12.Các kiến nghị về chính trị, pháp lý, hành chính và tài chính.  4.3. Nghiên cứu kỹ các kiến nghị này cho thấy có một sự chuyển biến quan trọng: từ chinh phục thiên nhiên chuyển sang thích nghi với thiên nhiên để tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng.   Chuyển hướng này không chỉ có ở Hà Lan mà cũng đang diễn ra tại Anh, Pháp, Đức, Bỉ, … Khởi đầu là ngưng phát triển các polder mới vào cuối thế kỷ XX. Kế đó là tình trạng chểnh mảng tu bổ các đê hiện có như đáng lý phải làm trong thập kỷ 1990. Và từ vài năm gần đây là thực tế “tháo polder” (depolderisation) dưới các hình thức khác nhau.  Tuy diện tích chưa nhiều (có ước tính cho là khoảng 1% tổng diện tích các polder ở các nước Tây Bắc Âu đã được xây dựng cho đến nay) nhưng đây là một chuyển hướng manh nha rất quan trọng cần được phân tích và theo dõi. (Hình 13).          Hình 13. Sơ đồ “tháo polder” tại Anh, Pháp, Bỉ, Đức và vùng Zeeland Hà Lan (bên phải)          Nguyên nhân gì đã dẫn đến sự chuyển hướng này? Để trả lời, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách ở Tây Âu cần giải đáp bốn câu hỏi cụ thể :  + Có lợi ích gì về sinh thái khi làm ngập các polder?   + Có lợi ích gì về kinh tế khi trả đất lại cho biển?   + Có lợi ích gì về cảnh quan và văn hóa – xã hội khi phá đi sức lao động của con Người từ cả ngàn năm qua?  + Có ích gì khi phá bỏ các đê, làm suy yếu khả năng bảo vệ bờ biển trong một vùng thường có bão và sắp tới nước sẽ dâng?  Trong một bài sau, chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề này và các nguyên nhân, đồng thời thử liên hệ từ những ghi nhận trong bài này đến đất nước ta.  Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17.01.2011  ————-  Chú thích    * Bài viết này được chuẩn bị từ đầu năm 2010, được đối chiếu và bổ sung trong chuyến du khảo tháng 10.2010  [1] 1287, đê bị vỡ tạo ra một vịnh mới Zuiderzee; 1421: lụt ở Zeeland và Holland, 30 làng bị ngập và khoảng 2000 người chết; 1570: Vỡ đê làm ngập 2/3 diện tích của Hà Lan. Hơn 2000 người chết, hàng chục ngàn người mất nhà cửa; Giáng sinh 1717, trận bão Biển Bắc tồi tệ nhất trong vòng 400 năm tấn công Hà Lan, Đức và Scandinavia làm 14.000 người chết trong đó Hà Lan có 2276; Năm 1916, nhiều đê điều ở Zuiderzee bị vỡ.; Ngày 1/2/1953, bão lũ đã nhấn chìm phần lớn khu vực phía tây nam của Hà Lan, giết chết 1835 người, làm ngập hơn 150 ngàn ha đất. Xem Hình 5.  Tài liệu tham khảo :   [1] Hollande, Pays d’eau, de digues et de polders, Bears Publishing, Edition française, ISBN 978-90-812970-6-6.  [2] Delta Works, http://www.deltawerken.com/The-Works/318.html  [3] After the Delta Works, http://www.deltawerken.com/After-the-Deltaworks/333.html  [4] Bart ORR, Amy STODGHILL, Lucia CANDU, 2007. The Dutch Experience in Flood Management: A History of Institutional Learning, Case study prepared for the Global Report on Human Settlements 2007,.http://www.unhabitat.org/grhs/2007  [5] NWP (The Netherlands Water Partnership), 2006. Portfolio Dutch Delta Technology. Fact Sheets of Expertise on Water Management & Flood Control. www.nwp.nl  [6] Wil ZONNEVELD. Governing a complex delta, Chapter V, in Delta Urbanism, pp. 101-113.  [7] Richard S. J. TOL and Andreas LANGEN. A concise history of Dutch river floods. Climatic Change 46, pp. 357–369, 2000.  [8] J.P. ERICSON, C.J. VOROSMARTY, S.L. DINGMAN, L.G. WARD, M. MEYBAECK.  Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2000.  [9] DELTA COMMISSIE. Deliberations and final advice of the Delta Committee http://www.deltacommissie.com/en/advies  [10] Arie van der VLIES, Kees STOUTJESDIJK, Hans WAALS. Effects of climate change on water management in the Netherlands. Water authority Hollandse Delta, 2006, Water Environment Foundation.  [11] Klein TANK, A.M.G. and G. LENDERINK (Eds.), 2009, Climate change in the Netherlands, Supplements to the KNMI’06 scenarios, KNMI, De Bilt, The Netherlands.  [12] E. P. QUERNER, P. C. JANSEN and C. KWAKERNAAK, Effects of water level strategies in dutch peatlands: a scenario study for the polder Zegveld, Alterra, Wageningen University and Research, P.O. Box 47, 6700 AA, Wageningen, The Netherlands, in Peatland and Climate, pp. 620-623.  [13] S. ROHDE, M. HOSTMANN, A. PETER and K.C. EWALD, 2005. Room for rivers: An integrative search strategy for floodplain restoration.  http://www.waterland.net/index.cfm/site/Water in the Netherlands new/pageid/5A478034 -C239-11D8-69C38C71E3783F65/index.cfm  [14] PKB Room for Rivers (national spatial river planning process for a region) in ESPACE – Planning in a Changing Climate 2007.  [15] P. KABAT, L.O. FRESCO, M.J.F. STIVE, C.P. VEERMAN, J.L.J. van ALPHEN, Bart W.A.H. PARMAT, W. HAZELEGER, C. A. KATSMAN. Dutch coasts in transition, Nature Geoscience, Vol.2, July 2009, Macmilan Publisher Limited.  [16] Xander OLSTHOORN, Peter van der WERFF, Laurens BOUWER and Dave HUITEMA, Neo-Atlantis1: Dutch Responses to Five Meter Sea Level Rise. (Institute for Environmental Studies, Vrije Universiteit, Amsterdam, De Boelelaan 1087, 1081 HV Amsterdam, the Netherlands). Also in Climate Change 2008, 91, 103-122.  [17] Lydie GOELDNER-GIANELLA, Dépoldériser en Europe occidentale. Annales de Géographie, no 655 Mars 2007.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá thành của điện hạt nhân      Giá thành kinh tế của điện hạt nhân (ĐHN) bằng bao nhiêu? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời.    Mỹ và một số nước khác có nhiều kinh nghiệm về xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN. Hiện nay 438 lò phản ứng hạt nhân với tổng công suất 379.000 MW đang làm ra hơn 10% tổng lượng điện sử dụng trên toàn thế giới.    Mỹ có nhiều nhà máy ĐHN nhất, với 99 lò phản ứng làm ra gần 20% sản lượng điện của nước này. Pháp đứng thứ nhì, với 58 lò phản ứng, sản xuất 77% sản lượng điện. Trung Quốc có 27 lò phản ứng tạo ra gần 3% sản lượng điện.            Việc tìm hiểu giá của ĐHN gặp khó khăn là do sự sút giảm chuỗi cung ứng và sự để mất các kinh nghiệm khó có thể có được về kỹ thuật và xây dựng. Trong khi đó, áp lực xã hội đòi hỏi cải thiện an toàn sau thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật đã buộc phải thay đổi thiết kế ĐHN trong những năm qua, và chúng ta vẫn chưa nhận thấy sự thay đổi đó đã tác động ra sao tới chi phí xây dựng thực tế.           Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề chưa xác định về chi phí xây dựng nhà máy ĐHN mới. Các nhà máy ĐHN hiện có ở Mỹ và các nước phát triển nhất đều đã rất cũ, chúng được xây dựng trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh những năm 1960 và 1970. Tại Mỹ, giấy phép xây dựng gần đây nhất cho một lò phản ứng hoạt động được cấp vào năm 1978, tuy thế việc hoàn thành một vài dự án đã bị đình trệ và tại một số dự án đã xảy ra tình trạng tăng vốn nhằm tăng công suất.    Ở các nước phát triển khác cũng có tình trạng giảm xây dựng nhà máy ĐHN. Một ít công trình mới xây dựng từ năm 1990 trở đi chủ yếu là ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đông Âu, Nga và Trung Quốc.    Tuy vậy, kể từ năm 2000 đã xuất hiện mối quan tâm trở lại đối với việc xây dựng thêm công suất ĐHN mới, nguyên nhân một phần là do giá các loại nhiên liệu hóa thạch đã tăng mạnh trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính và cũng do lo ngại về lượng khí thải CO2 từ nhiên liệu hóa thạch. Thật không may là do thiếu số liệu nên rất khó có thể biết giá thành xây dựng các nhà máy ĐHN mới đó bằng bao nhiêu.    Bảng dưới cho biết kết quả ước tính của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) về giá điện trong tương lai của các nhà máy ĐHN mới xây dựng, so với giá điện của các máy phát điện chạy bằng khí đốt mới và các đơn vị quang điện năng lượng mặt trời (PV) quy mô thực dụng.  Giá thành điện năng đã cào bằng (LCOE)                Giá thành điện   năng đã cào bằng (LCOE)                   Vốn      Vận hành và Bảo trì (bao gồm cả nhiên liệu)      Đầu tư vào tải điện      Tổng cộng          Điện hạt nhân       71,4      23,6      1,1      96,1          Điện (chạy bằng) khí đốt      15,7      47,5      1,2      64,4           Điện mặt trời      114,5      11,4      4,1      130,0          Nguồn: Cơ quan   Thông tin Năng lượng Mỹ. Giá thành đổ đồng (levelized cost) của các thế hệ   phát điện mới trong Biên niên Năng lượng năm 2014, 1/2014            Trong ba phương án trình bày, [giá thành] ĐHN nằm ở giữa là đúng, giá thành điện năng của nó năm 2012 bằng khoảng 96 USD/MWh, hầu hết có liên quan đến chi phí xây dựng cơ bản. Phần phía trên là giá thành điện mặt trời, ở mức 130 USD/MWh, giá thành điện khí đốt nằm ở phía cuối thấp, bằng 64 USD mỗi MWh.  Các ước tính về chi phí vốn của hạt nhân đối với nhà máy đưa vào hoạt động năm 2019 dựa trên giả định rằng các tổ máy có thể được xây dựng mà không có sự chậm trễ và vượt chi thảm hại từng gây khó khăn cho công nghiệp của Mỹ trong quá khứ cũng như gây rắc rối cho một số dự án gần đây. Và ước tính giá thành ĐHN cũng không xét tới các lợi ích của một số khoản trợ cấp nào đó hiện đang có sẵn cho một số công trình mới.    Các chi phí biến động    Việc tìm hiểu giá của ĐHN gặp khó khăn là do sự sút giảm chuỗi cung ứng và sự để mất các kinh nghiệm khó có thể có được về kỹ thuật và xây dựng. Trong khi đó, áp lực xã hội đòi hỏi cải thiện an toàn sau thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật đã buộc phải thay đổi thiết kế ĐHN trong những năm qua, và chúng ta vẫn chưa nhận thấy sự thay đổi đó đã tác động ra sao tới chi phí xây dựng thực tế.    Năm 2005, công ty Pháp Areva khởi công xây dựng tại Olkiluoto (Phần Lan) một nhà máy ĐHN theo thiết kế mới của họ, đó là lò phản ứng EPR [tên đầy đủ là European Pressurized Reactor – Lò phản ứng nước áp lực châu Âu, có thể phát công suất lớn tới 1650 MWe, độ an toàn rất cao và có giá đến 5-7 tỷ USD]. Loại lò phản ứng này được xây dựng nhằm tránh tác động của một vụ tai nạn máy bay thương mại [ý nói vụ 11/9/2001, bọn khủng bố lao máy bay thương mại vào tòa tháp đôi ở New York].    Thật không may là dự án này cho đến nay đã quá hạn năm năm mà vẫn chưa xong và dự kiến chi phí lên tới gấp ba lần dự toán ban đầu. Công trình xây dựng một đơn vị EPR mới thứ hai tại Flammanville, Pháp, khởi công năm 2007 cũng đã quá hạn ba năm và chi phí tăng hơn gấp đôi chi phí dự kiến. Mới đây chính quyền Pháp còn phát hiện ra những điểm yếu “rất nghiêm trọng” trong lò phản ứng ở công trình này.             Cho đến nay vẫn chưa có được các tài liệu công khai ghi chép sự chậm tiến độ xây dựng và vượt chi phí [của các nhà máy ĐHN] ở Trung Quốc. Cũng rất khó sử dụng chi phí xây dựng của họ để dự toán những chi phí có thể là ở Mỹ hay các nước phát triển khác.           Năm 2013, Công ty Phương Nam bắt đầu xây dựng hai đơn vị ĐHN mới tại Vogtle ở bang Georgia (Mỹ), sử dụng thiết kế AP1000 mới của hãng Westinghouse [loại lò dùng vật liệu đặc chế, kiên cố, có khả năng chịu được những cơn địa chấn mạnh]. Các công trình này cũng đều chậm tiến độ và vượt chi phí, mặc dù thời gian chưa đủ để rút ra kết luận chắc chắn về các tác động đối với chi phí. Những trường hợp đó khiến người ta nhớ tới quá khứ rất xấu về sự chậm tiến độ xây dựng và chi phí vượt dự toán từng gây khó khăn cho ngành công nghiệp Mỹ những năm 1970.    Cao trào xây dựng ĐHN ở Trung Quốc    Trên thực tế, phần lớn các công trình mới xây dựng trong những năm gần đây là ở Trung Quốc. Nước này hiện có 27 lò phản ứng đang hoạt động, ba trong số đó đã được xây dựng từ năm 2000. 24 lò phản ứng đang xây dựng ở Trung Quốc chiếm hơn một phần ba tổng số các lò phản ứng đang xây dựng trên toàn thế giới.    Cho đến nay vẫn chưa có được các tài liệu công khai ghi chép sự chậm tiến độ xây dựng và vượt chi phí [của các nhà máy ĐHN] ở Trung Quốc. Cũng rất khó sử dụng chi phí xây dựng của họ để dự toán những chi phí có thể là ở Mỹ hay các nước phát triển khác.    Tính chất chưa xác định của các chi phí xây dựng là yếu tố rất quan trọng trong việc xác định giá thành ĐHN, bởi lẽ công trình xây dựng chiếm gần 80% tổng giá thành. Phần còn lại là nhiên liệu và chi phí vận hành, kể cả xử lý chất thải, là những khoản chi có thể dự đoán được. Việc xử lý chất thải đặt ra vấn đề an toàn quan trọng, gây tranh cãi và các câu hỏi về môi trường, tuy rằng xét về mặt kinh tế, nó không phải là yếu tố chính. Điều này cũng đúng khi xem xét chi phí dùng vào việc ngừng hoạt động của nhà máy. [Dừng hoạt động nhà máy ĐHN là việc rất tốn kém, vì phải giải quyết vấn đề an toàn bức xạ].    So sánh điện hạt nhân với điện khí đốt và điện mặt trời    Ước tính của EIA về các khoản chi phí nhiên liệu của nhà máy điện chạy bằng khí đốt nằm trong bảng ở gần đầu của bài viết, giả định một mức giá tăng từ xấp xỉ 5 USD cho mỗi triệu đơn vị nhiệt Anh, cho tới dưới 8 USD thời gian 2019~2040, phản ánh mức giá thấp hiện nay ở Mỹ. Nhưng nó không bao gồm bất kỳ khoản chi phí hoặc tiền phạt nào đối với phát thải khí nhà kính có liên quan tới máy phát điện chạy bằng khí đốt.    Tương tự, chi phí của ĐHN cũng như của điện mặt trời đều không phản ánh bất kỳ khoản trợ cấp nào của chính phủ hiện nay. Cần xem xét kỹ tất cả những con số giả định về năng lực và các yếu tố khác. Như vậy, bảng nói trên chỉ nêu ra một vài điểm quan trọng mà bỏ sót những điểm quan trọng khác.    Với giá khí đốt hiện nay [đang rất hạ], và không có giá carbon, rõ ràng các nhà máy điện chạy bằng khí đốt có giá thành rẻ nhất. Đây là lý do tại sao phần lớn các nhà máy điện mới xây dựng ở Mỹ đều là nhà máy chạy khí đốt, và cũng là lý do các nhà máy điện hiện có đang chiếm thị phần lớn trong thị trường bán buôn.    Tuy nhiên, mọi người đều biết rằng giá khí đốt rất hay biến động, đó là lý do tại sao nhiều nơi đang quan tâm tới việc đa dạng hóa các nguồn cung cấp điện của họ, cho dù trên thực tế, điện khí đốt hiện nay có giá thành rẻ. Nước Mỹ đã chuyển từ điện than sang điện khí đốt, coi đó là một biện pháp bước đầu nhằm giảm khí thải carbon, nhưng để cắt giảm lâu dài, cuối cùng cần phải cắt giảm toàn bộ lượng khí thải từ thế hệ nhà máy điện chạy khí đốt.    Solar PV là một nguồn điện không có phát thải carbon, nhưng giá thành điện mặt trời hiện nay còn cao hơn ĐHN và điện khí đốt. Trong những năm gần đây, khoản giá thành này đã giảm đáng kể, và chúng ta có thể hy vọng sẽ tiếp tục giảm trong những năm tới.    Trong khi Mỹ có lẽ đủ khả năng chi trả một phần đáng kể của thế hệ điện mặt trời PV, ngay cả khi nó có giá thành cao hơn so với điện sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch, nhưng Mỹ vẫn cần tiếp tục giảm chi phí của điện mặt trời, nhằm để các nước đang phát triển tăng trưởng nhanh cũng làm như vậy.    ĐHN cũng là một nguồn điện không carbon và trong số các phương án năng lượng không phát thải, nền kinh tế ĐHN tỏ ra là tốt. Tuy nhiên, điều đó dựa trên giả định các dự báo chi phí xây dựng là đáng tin cậy. Điều này không phải luôn luôn đúng, và tình hình các nhà máy ĐHN mới đang xây dựng ở châu Âu và Mỹ không giúp người ta tin vào điều đó.    Ngoài ra, mối quan tâm của xã hội về xử lý chất thải và an toàn hạt nhân thường được coi là quan trọng hơn một quan điểm kinh tế phạm vi hẹp.    Trong tương lai, ĐHN có thể thực hiện phát triển kinh tế không có phát thải chất carbon độc hại. Điều đó phụ thuộc vào việc ngành công nghiệp ĐHN có thể đạt được tiến bộ trên mặt kiểm soát chi phí vốn, trong khi phải giải quyết các mối quan tâm của xã hội đối với vấn đề an toàn hạt nhân và xử lý chất thải.    Cao Chi hiệu đính    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giả thiết về vị trí va chạm của tàu Schiaparelli trên sao Hỏa      Chỉ một ngày sau khi tàu Schiaparelli của châu Âu đổ bộ lên sao Hỏa bị mất tín hiệu, NASA đã đưa ra giả thiết tàu bị nổ tung do va chạm với sao Hỏa và chỉ ra vị trí được cho là điểm va chạm.    Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cho biết hai “điểm” mới xuất hiện trên bề mặt sao Hỏa trong những bức ảnh gửi từ Vệ tinh thăm dò sao Hỏa (MRO) của NASA có khả năng là phần còn lại của tàu Schiaparelli.    Những hình ảnh trước và sau khi va chạm do Vệ tinh thăm dò sao Hỏa chụp cho thấy va chạm của tàu đổ bộ Schiaparelli (vùng tối mờ, kích thước 15×40 mét) và dù của tàu (điểm màu trắng sáng) trên sao Hỏa.  Ngày 19/10,  tàu đổ bộ Schiaparelli đã rời tàu mẹ Trace Gas Orbiter (TGO) để hạ xuống bề mặt sao Hỏa. Nhưng trong khoảng thời gian sáu phút của quá trình hạ cánh, những người giám sát tàu Schiaparelli đã mất liên lạc với nó.  Vệ tinh MRO đã chụp được một hình ảnh tĩnh của khu vực hạ cánh của tàu Schiaparelli vào hôm 20 tháng Mười, mà các nhà nghiên cứu đã so sánh với bức ảnh được chụp tại cũng tại khu vực này vào hồi tháng Năm năm nay. Loạt ảnh trước và sau khi tàu đổ bộ hạ cánh cho thấy sự xuất hiện của một vết sẫm màu nằm ở góc phần tư phía trên của vùng tàu hạ cánh, và một điểm màu trắng sáng gần góc dưới bên phải. Chấm sáng này có thể là chiếc dù có đường kính 12m của tàu đổ bộ, được bung ra trong giai đoạn hai của quá trình hạ cánh. Vết mờ có màu tối hơn có khả năng là dấu vết của cú hạ cánh.    Mô hình con tàu Schiaparelli. Nguồn: bbc.com  Dù vụ va chạm của tàu Schiaparelli, hay có thể là một vụ nổ, thì cũng có khả năng làm xáo trộn bề mặt sao Hỏa, thể hiện ở vùng vật chất có màu tối hơn cho kết quả là đốm đen trên bức ảnh, theo tuyên bố do ESA đưa ra. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng việc tắt động cơ đẩy của tàu đổ bộ sớm đã đặt nó vào trạng thái rơi tự do trong khoảng độ cao từ 2 đến 4km. Schiaparelli có thể đã va chạm với bề mặt sao Hỏa ở tốc độ hơn 300 km/h. Vì bình nhiên liệu cho động cơ đẩy có thể vẫn đầy, nên có khả năng tàu đổ bộ đã phát nổ khi va chạm, theo ESA.  Các nhà nghiên cứu vẫn đang xem xét dữ liệu gửi từ TGO, nơi điều khiển việc hạ cánh của tàu đổ bộ hôm 19 tháng Mười. Và họ đã lên kế hoạch chụp những bức ảnh có độ phân giải cao của khu vực hạ cánh, sử dụng camera HiRISE của MRO trong hai tuần tới. Cùng với thông tin từ vệ tinh Mars Express của ESA và dữ liệu từ Kính thiên văn Giant Metrewave Radio gần thành phố Pune, Ấn Độ, các nhà khoa học hi vọng ráp nối lại với nhau chính xác điều gì đã xảy ra với tàu đổ bộ bị mất tích của họ.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/mars-lander-s-potential-crash-site-spotted-1.20860    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giả thuyết mới về sự hình thành của Mặt trăng      Theo một giải thích mới về nguồn gốc Mặt trăng thì Mặt trăng được hình thành bên trong Trái đất khi hành tinh của chúng ta là synestia – một đám mây quay tròn, hóa hơi từ đá. Mô hình mới được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại trường Đại học California ở Davis và trường Đại học Harvard đã giải quyết một vài vấn đề về quá trình hình thành Mặt trăng, vừa được công bố trên tạp chí Geophysical Research.      Nghiên cứu mới giải thích vì sao những thành phần vật chất trên Mặt trăng lại có nhiều điểm tương đồng với Trái đất. Nguồn: Sarah Stewart/UC Davis  Sarah Stewart, giáo sư Khoa học Trái đất và hành tinh tại trường Đại học California ở Davis nói: “Công trình mới giải thích về các đặc điểm Mặt trăng, vốn là vấn đề mà các ý tưởng đương thời khó lòng giải quyết được. Mặc dù phần lớn thành phần của vật chất trên Mặt trăng giống Trái đất nhưng giữa chúng cũng có một số khác biệt. Vì thế đây là mô hình đầu tiên có thể phù hợp với mẫu hình về cấu tạo Mặt trăng.”  Mô hình hiện tại về sự hình thành Mặt trăng của Sarah Stewart và cộng sự đã dự đoán Mặt trăng là kết quả của cú va sượt qua giữa Trái đất ở thời kỳ mới hình thành và Theia – một hành tinh có kích cỡ tương đương sao Hỏa. Cú va chạm giữa Trái đất và Theia đã di chuyển cả đá và kim loại nóng chảy lên quỹ đạo và sáp nhập lại để hình thành Mặt trăng.  Lý thuyết mới đã dựa vào synestia, một dạng vật thể ban đầu của hành tinh do Stewart và Simon Lock, sinh viên tốt nghiệp Harvard và sinh viên ngắn hạn tại UC Davis vào năm 2017 đề xuất. Một synestia được hình thành sau cú va chạm giữa các vật thể có kích cỡ tương đương hành tinh, kết quả của va chạm đó là một lượng lớn đá nóng chảy và bốc hơi quay với tốc độ nhanh vượt ra khỏi quỹ đạo và hình thành dạng đĩa hay bánh donut khổng lồ của đá hóa hơi.  Dường như giai đoạn này của các synestia không kéo dài lâu – chỉ khoảng một trăm năm. Chúng co lại nhanh chóng vì tỏa nhiệt, nguyên nhân dẫn đến hơi đá ngưng tụ thành chất lòng, cuối cùng co lại thành một hành tinh nóng chảy.  Lock giải thích: “Mô hình của chúng tôi bắt đầu với cú va chạm tạo ra synestia. Mặt trăng hình thành bên trong Trái đất bốc hơi ở nhiệt độ khoảng 4 đến 6.000 độ F và áp suất gấp 10 lần áp suất khí quyển.”  Theo anh, điểm tiến bộ của mô hình mới là đem lại rất nhiều cách để tạo thành một synestia phù hợp – không nhất định phải là cú va chạm của những vật thể đúng kích cỡ.  Khi synestia Trái đất được hình thành, các khối đá nóng chảy phun vào quỹ đạo trong suốt quá trình tác động để tạo ra “hạt giống” Mặt trăng. Đá silicate bốc hơi ngưng tụ trên bề mặt synestia và gây ra mưa lên trên Mặt trăng nguyên thủy, trong khi đó synestia Trái đất dần dần tự co lại. Cuối cùng, Mặt trăng sẽ xuất hiện từ những đám mây của synestia và có bầu khí quyển từ hơi đá của mình. Mặt trăng đã được “thừa hưởng” các thành phần từ Trái đất nhưng do hình thành từ nhiệt độ cao nên nó đã mất các nguyên tố dễ bay hơi, điều đó giải thích vì sao thành phần của Mặt trăng lại có điểm khác biệt so với Trái đất.  Các tác giả khác của công bố này là Michail Petaev và Stein Jacobsen tại Harvard University, Zoe Leinhardt và Mia Mace tại University of Bristol (Anh) và Matija Cuk của SETI Institute (Mountain View, Calif). Nghiên cứu này được NASA, Bộ Năng lượng Hoa Kỳ và Hội đồng Nghiên cứu Môi trường Thiên nhiên của Anh tài trợ.  Thanh Trúc dịch  TS. Ngô Đức Thế (trường đại họcManchester, Anh) hiệu đính  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/02/180228103238.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giả thuyết mới về sự sống trong vũ trụ      Mới đây GS Abraham Loeb, nhà vật lý  thiên thể người Mỹ tại ĐH Harvard, đưa ra một quan điểm mới về sự  sống vũ trụ: chỉ 15 triệu năm sau Vụ nổ Lớn, rất có thể là  nước ở thể lỏng – điều kiện tiên quyết của sự sống – đã hình thành trên  các hành tinh nham thạch (rocky planets).    Bởi thế khi vũ trụ còn đang ở  thời kỳ sơ  khai có lẽ đã tồn tại những “người ngoài hành tinh”, và “toàn  bộ vũ trụ  là cái lò ấp sự sống.”   Giả thuyết nói trên được công bố trên trang mạng của tạp chí Nature. Abraham Loeb cho rằng trong vũ trụ thời kỳ đầu, năng lượng cần thiết để giữ cho nước ở trạng thái lỏng có thể lấy từ bối cảnh sóng vi ba trong vũ trụ (the cosmic microwave background) – ánh sáng còn rớt lại (the afterglow) sau vụ nổ lớn – chứ không phải từ các ngôi sao chủ (host stars). Cho dù bức xạ bối cảnh vi ba vũ trụ hiện nay chỉ có nhiệt độ vào khoảng âm 270oC (2,7 kelvin) nhưng Abraham Loeb nói khi vũ trụ ở độ tuổi 15 triệu năm thì bức xạ bối cảnh vi ba vũ trụ đủ làm cho nhiệt độ bình quân của toàn bộ vũ trụ được giữ ở khoảng 27 độ C (300 kelvin).  Abraham Loeb nói, khi ấy có lẽ các hành tinh nham thạch đã tồn tại ở những chỗ lõm trong vũ trụ. Vật chất tại những chỗ này cực kỳ đặc, do đó mà hình thành các định tinh khối lượng lớn nhưng đoản mệnh, làm cho những chỗ lõm ấy chứa các nguyên tố nặng cần thiết cho sự hình thành các hành tinh nham thạch. Ông cho rằng điều đó làm cho vũ trụ tồn tại một thời kỳ thích hợp với sự sống trong khoảng 2 hoặc 3 triệu năm. Trong thời kỳ đó cho dù cách định tinh bao xa thì có lẽ tất cả các hành tinh nham thạch đều có thể đủ điều kiện giữ cho nước duy trì ở trạng thái lỏng – nghĩa là đã tồn tại điều kiện tiên quyết của sự sống. Vì thế ông nói “Toàn bộ vũ trụ là một cái lò ấp sự sống.”   Các nhà khoa học có những ý kiến khác nhau về giả thuyết của Abraham Loeb. Nhà vật lý sinh học Christopher Jarzynski ở Học viện Park thuộc Đại học Maryland nói ông không tin rằng sự sống có thể tồn tại trong một vũ trụ mà mọi chỗ đều ấm như nhau. Ông nhấn mạnh: sinh vật trên trái đất không chỉ sống dựa vào nhiệt do mặt trời phát ra mà cũng còn dựa vào bức xạ bối cảnh vi ba vũ trụ lạnh (the cold cosmic microwave background), là nơi cung cấp một nguồn tản nhiệt (heat sink).   Alexander Vilenkin, nhà vũ trụ học ở Đại học Tufts (Massachussets), nói: vài triệu năm là quãng thời gian quá ngắn để xuất hiện các sinh vật có trí tuệ.   Abraham Loeb là Giáo sư khoa học tại Đại học Harvard, hiện là Chủ nhiệm Khoa Thiên văn học và Giám đốc Viện Lý thuyết và Tính toán (ITC) trong Trung tâm Vật lý thiên thể, cũng là Viện sĩ được bầu vào Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ.               NHH tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giả thuyết SARS-CoV-2 rò rỉ từ phòng thí nghiệm gây chia rẽ tai hại      Mới đây trên tạp chí Nature, một số nhà khoa học cho rằng “cáo buộc SARS-CoV-2 thoát ra từ phòng thí nghiệm sinh học của Trung Quốc” có thể gây chia rẽ tai hại cho hợp tác khoa học quốc tế để kiềm chế đại dịch, và cho cả ngoại giao giữa các quốc gia.    “Phát sốt” về giả thiết cũ  Giả thuyết rò rỉ SARS-CoV-2 từ phòng thí nghiệm Vũ Hán đã nổ ra từ năm ngoái và đặc biệt trở nên lan rộng trong những tháng gần đây, mặc dù chưa có bằng chứng rõ ràng nào. Ngày 14/5, 18 nhà nghiên cứu, do David Relman từ Đại học Stanford đứng đầu, đã đăng một lá thư ngỏ trên tạp chí Science kêu gọi tìm hiểu sâu hơn về giả thuyết SARS-CoV-2 rò rỉ từ phòng thí nghiệm của Trung Quốc và chỉ ra rằng báo cáo điều tra nguồn gốc COVID của WHO hồi tháng ba chỉ tập trung vào khả năng virus bắt nguồn từ động vật. Ví dụ, báo cáo của WHO đã lập bản đồ một khu chợ lớn tại Vũ Hán, Trung Quốc và tuyên bố hầu hết các mẫu SARS-CoV-2 mà các nhà điều tra thu thập được ở đó tìm thấy xung quanh các quầy hàng bán động vật. Các nhà điều tra nói đã tìm hiểu đúng trọng tâm vì hầu hết các bệnh truyền nhiễm mới nổi đều có nguồn gốc tự nhiên, như HIV, Zika và Ebola. Bằng chứng từ bộ gene cũng cho thấy một loại virus có nguồn gốc từ dơi móng ngựa (Rhinolophus spp.) tương tự SARS-CoV-2 đã lây sang một loài động vật chưa xác định rồi sau đó truyền bệnh cho người.    Bên ngoài Viện Virus Vũ Hán, nơi bị một số người theo thuyết âm mưu cáo buộc là nguồn rò rỉ SARS-CoV-2. Ảnh: Thomas Peter/Reuters/Alamy.  Cuộc điều tra của WHO kết luận rằng virus bắt nguồn từ động vật có khả năng cao hơn là giả thuyết nó thoát ra từ một vụ rò rỉ ở phòng thí nghiệm. Nhưng các chính trị gia, nhà báo, và một số nhà khoa học vẫn đưa ra tuyên bố về mối liên hệ giữa coronavirus với Viện Virus học Vũ Hán (WIV) mặc dù không kèm theo cơ sở vững chắc. Một số nghị sĩ Hoa Kỳ và các phương tiện truyền thông còn đi xa hơn, cáo buộc Chính phủ Trung Quốc che đậy vụ rò rỉ, thậm chí họ còn nghi ngờ giám đốc Anthony Fauci của Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ (NIAID), nơi tài trợ một số nghiên cứu tại WIV có liên quan. Cả WIV và cá nhân Anthony Fauci đều phủ nhận cáo buộc này, nói rằng họ không hề biết đến SARS-CoV-2 cho đến khi virus được phân lập từ bệnh phẩm vào cuối tháng 12/2019.  Nhà virus học Angela Rasmussen từ Đại học Saskatchewan, Canada cho rằng ngay cả khi lá thư ngỏ trên Science có mục đích tốt thì nó cũng đã khoét sâu thêm sự chia rẽ trong môi trường chính trị hiện nay.  Tác giả chính của lá thư, nhà sinh vật David Relman vẫn bảo vệ tiếng nói của mình mặc dù không thể ngăn những luận điệu xuyên tạc [mục đích của lá thư]. “Tôi không hề khẳng định virus đến từ phòng thí nghiệm, mà chỉ phê phán sự thiên lệch trong báo cáo điều tra của WHO”. Ông gợi ý các nhà điều tra nên nhìn nhận giả thuyết nguồn gốc tự nhiên là “hấp dẫn” (appealing) chứ không phải là có “khả năng cao” (highly likely), và lẽ ra họ phải viết trong thư là mình chưa đủ thông tin để kết luận về vụ rò rỉ. Các nhà điều tra đã tham quan WIV và phỏng vấn các nhà nghiên cứu tại đây, nhưng không được cung cấp dữ liệu sơ cấp.  Trong lá thư ngỏ, các tác giả cũng lưu ý rằng người gốc Á có thể bị quấy rối bởi những người đổ lỗi cho Trung Quốc đã gây ra COVID-19, và cũng cố gắng hạn chế việc bị lợi dụng. Tuy nhiên, những người theo thuyết âm mưu rằng về một vụ phát tán virus từ phòng thí nghiệm Vũ Hán vẫn cho rằng lá thư ủng hộ họ. Một nhà khoa học thần kinh trong một nhóm kêu gọi điều tra độc lập về COVID-19 đã tuyên bố trên mạng xã hội rằng lá thư là một phiên bản giảm nhẹ các ý tưởng mà nhóm mình đăng lên mạng hồi năm ngoái.  Cũng trong tuần đó, ông ta cũng đả kích Rasmussen vì cô cố gắng giải thích cho công chúng về các nghiên cứu gợi ý nguồn gốc tự nhiên của SARS-CoV-2. Ông ta gọi cô là đồ béo, và sau đó bình luận xúc phạm về giải phẫu chuyển giới tính của. Rasmussen không dám chắc mình có thể tiếp tục tranh luận, vì nó đã bị kéo đi quá xa với các bằng chứng hiện có.  Các yêu cầu điều tra về nơi khởi phát virus càng mạnh mẽ hơn trong kỳ họp của Đại hội đồng Y tế Thế giới bắt đầu từ ngày 24/5. Hoa Kỳ đã yêu cầu WHO tiến hành điều tra nguồn gốc COVID giai đoạn 2 “minh bạch, dựa trên khoa học” và Tổng thống Joe Biden thông báo ông đã yêu cầu cộng đồng tình báo Hoa Kỳ, cùng với các phòng thí nghiệm quốc gia, “thúc ép Trung Quốc tham gia vào một cuộc điều tra”. WHO không có thẩm quyền thực hiện yêu cầu này mà không có sự chấp thuận của quốc gia sở tại, và đang xem xét các đề xuất cho cuộc điều tra giai đoạn 2.  Còn tại Hoa Kỳ, giả thuyết virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm đang trở nên thịnh hành, trong đó phải kể đến hai bài báo trên tờ Wall Street Journal. Một câu chuyện đề cập đến tài liệu mật tiết lộ một quan chức giấu tên thuộc chính quyền cựu Tổng thống Donald Trump, cho biết ba nhà nghiên cứu của WIV bị ốm vào tháng 11/2019. Câu chuyện thứ hai nói chính quyền Trung Quốc đã ngăn một nhà báo vào khu mỏ bỏ hoang có dơi cư ngụ, là nơi các nhà khoa học WIV phân lập coronavirus hồi năm 2012.  Chia rẽ quan hệ ngoại giao  Tranh cãi không chỉ khiến cuộc điều tra nguồn gốc COVID có nguy cơ đổ vỡ các hợp tác khoa học, mà còn gây nhiều hệ lụy khác. Các nhà phân tích chính sách y tế toàn cầu cho rằng điều quan trọng là các quốc gia phải phối hợp cùng nhau để kiềm chế đại dịch và chuẩn bị cách thức đối phó với các đợt bùng phát trong tương lai. Họ nêu các hành động thiết thực hiện nay là mở rộng phân phối vaccine, cải thiện các quy tắc an toàn sinh học, chẳng hạn như tiêu chuẩn báo cáo dữ liệu giám sát virus. Các công việc đó đòi hỏi sự đồng thuận rộng rãi giữa các cường quốc. Amanda Glassman, chuyên gia y tế toàn cầu từ Trung tâm Phát triển Toàn cầu tại Washington DC nói “chúng ta cần nhìn vào bức tranh toàn cảnh và tập trung vào các động lực đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn. Một các tiếp cận đối đầu chỉ khiến mọi thứ tồi tệ hơn”.  Nhưng các cáo buộc vẫn leo thang rầm rộ góp phần gây ra các rạn nứt chính trị vào thời điểm rất cần sự đoàn kết.  Việc điều tra nguồn gốc của các virus, đợt dịch không hề dễ dàng. Mà Eboloa là một ví dụ điển hình, các nhà khoa học đã mất 14 năm mới tìm ra bằng chứng cho thấy dịch SARS giai đoạn 2002-2004 là do một loại virus lây từ dơi sang cầy rồi gây bệnh cho người.  Vì vậy, với nhu cầu cấp thiết về chính sách an toàn sinh học, các nhà khoa học cho rằng, Hoa Kỳ nên tập trung thúc đẩy ngoại giao chống COVID thông qua các cuộc gặp giữa các đại sứ Trung-Mỹ, giống như các cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu hồi tháng tư. Điều quan trọng là, chúng ta thực sự có một số việc cần làm để sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo, sau khi thất bại ở đại dịch này.  “Tôi không hề khẳng định virus đến từ phòng thí nghiệm, mà chỉ phê phán sự thiên lệch trong báo cáo điều tra của WHO”, David Relman từ Đại học Stanford đứng đầu nhóm 18 nhà nghiên cứu đăng thư ngỏ trên tờ Science.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/thuyet-am-muu-sarscov2-ro-ri-tu-phong-thi-nghiem-gay-chia-re-tai-hai/20210603100835887p1c785.htm  Nguồn tin gốc: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01383-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giả tinh thể      Sự phát hiện ra giả tinh thể (QC-quasicrystal) là một thành tựu khoa học xuất sắc xuất phát từ một tư duy mới mẻ gây nhiều ấn tượng và&#160; bất ngờ được tìm thấy&#160; là gắn liền với toán học và nghệ thuật trang trí thời trung cổ.      QC thực hiện một loại trật tự tầm xa chưa được biết đến trước đây ( có  đối xứng quay định xứ  mà không có đối xứng tịnh tiến trong toàn cục).  Nhiều lý thuyết và ứng dụng QC đang phát triển một cách mạnh mẽ.  Sáng ngày 8 tháng 4 năm 1982 Dan Shechtman trong khi nghiên cứu hợp kim aluminium + manganese đã nhìn thấy trong hình nhiễu xạ (diffraction) những vòng tròn với 10 điểm sáng cách đều nhau (hình 1). Nếu hình chứa 4 hoặc 6 điểm sáng thì chấp nhận được song 10 điểm thì dường như trái với các quy luật của tinh thể học.   Hình nhiễu xạ chứng tỏ rằng các nguyên tử trong hợp kim được sắp xếp có trật tự. Song hình nhiễu xạ với 10 điểm sáng là điều chưa thấy bao giờ, không có trong tài liệu  Các bảng hướng dẫn tinh thể học quốc tế (International Tables for Crystallography – the main crystallographic reference guide).             Dan Shechtman, Viện  Tiêu chuẩn và  Công nghệ Quốc gia, Mỹ (NIST-U.S. National Institute of Standards and  Technology), trước tu nghiệp tại Viện Công nghệ Technion Israel (Technion – Israel Institute of Technology),  được tặng giải Nobel Hóa  học 2011 vì đã tìm ra giả tinh thể (QC-Quasicrystal)[1]. Những nguyên tử  trong QC mà Shechtman nghiên cứu đã trình diễn một đối xứng vốn chưa  tồn tại trong tinh thể học.            Khi Shechtman quay mẫu chiếu theo nhiều hướng thì ông tìm thấy mẫu chiếu có đối xứng bậc 5 (5-fold symmetry-5 mặt gặp nhau tại mỗi đỉnh)[2] của khối 20 mặt (icosahedron), (hình 2).   Như vậy Shechtman đã tìm ra một vật liệu vi phạm các định lý cổ điển về tinh thể học. Trong tinh thể tồn tại  những tế bào đơn vị (unit cell) chiếm đầy một cách đều đặn và có chu kỳ tất cả không gian. Một tinh thể không thể có đối xứng điểm bậc 5. Trong không gian 2D với hình 5 góc ta không thể phủ kín mặt phẳng mà không có khe hở (hình 3)[3].  Một đặc trưng quan trọng của tinh thể là tập 230 nhóm không gian (Fedorov, Barlow & Schoenflies) mô tả các đối xứng quay và tịnh tiến. Trong số các đối xứng quay chỉ có các đối xứng bậc 2, 3, 4 & 6 là tương hợp với đối xứng tịnh tiến còn các đối xứng quay bậc 5, 7 và  cao hơn là không tương hợp.   Mọi người đều biết rằng tinh thể là những vật rắn với những  tế bào đơn vị đồng nhất với nhau sắp xếp trong một cấu trúc có chu kỳ.  Trong các tinh thể thì tế bào đơn vị chỉ có thể là các khối lập phương, khối tứ diện (tetrahedron), khối bát diện (octohedron).   Trước đây các nhà vật lý cho rằng khối 20 mặt (icosahedron) không có ý nghĩa đối với tinh thể học. Vì khối này  có đối xứng bậc 5 (5 mặt gặp nhau tại mỗi đỉnh), do đó không thể là tế bào đơn vị cho tinh thể vì không thể dùng khối 20 mặt để lấp đầy không gian  mà không còn khe hở.              Hình1 . Bên trái: hình nhiễu xạ  do Shechtman thu được.               Bên phải: ánh sáng đi qua một lưới nhiễu xạ, các sóng hình thành               giao thoa với nhau cho ta hình nhiễu xạ.                Hình 2 .Khối 20 mặt.               Trong hình học khối 20 mặt là một khối đa diện đều với 20 mặt hình tam giác đều, 30 cạnh và 12 đỉnh.               Khối này là một trong               5 khối rắn Plato.                    Hình 3. Nếu phủ mặt phẳng bằng những hình ngũ giác thì xuất hiện những khe hở.            Trước Shechtman người ta quan niệm rằng một hệ vật lý có trật tự tầm xa (long-rang order) nhất thiết phải có chu kỳ.  QC do Shechtman tìm ra có một trật tự không có chu kỳ (không có  đối xứng tịnh tiến -translational symmetry), điều này có nghĩa rằng khi dịch chuyển tịnh tiến thì hình mẫu có được không  trùng với hình mẫu ban đầu. Chính nhờ đối xứng tịnh tiến mà trong tinh thể thông thường tế bào đơn vị được sắp xếp đều đặn và có chu kỳ.   Để bênh vực những kết quả của mình Shechtman có nguy cơ phải rời bỏ nhóm nghiên cứu vì bị đồng nghiệp trong nhóm phản đối. Shechtman gửi một bài báo về phát hiện của mình đến  Journal of Applied Physics song bị tòa soạn từ chối. Tuy nhiên các kết quả khác thường của Shechtman lại được John Cahn và nhà tinh thể học người Pháp Denis Gratias ủng hộ. Tiếp theo một bài báo của các tác giả Shechtman, Cahn, Blech và Gratias được công bố trên Physical Review Letter [4]. Bài báo này là một quả bom đối với cộng đồng tinh thể học.     Đối xứng ở đây là đối xứng điểm bậc 5 song không có đối xứng tịnh tiến.    Vậy các nguyên tử đã được sắp xếp như thế nào?   Dãy Fibonacci    Dãy Fibonacci là dãy các số hạng sau:  0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144,..  với quy luật: mỗi số hạng  bằng tổng hai số hạng đứng trước, ví dụ 5=2+3, 8=5+3,… 144=55+89.  Nếu chia một số hạng lớn trong dãy với số đứng trước ta có ví dụ 144/89=1,61797752… ≈ 1,618 thương số này gần tỷ số vàng tau  τ (tỷ số vàng-golden ratio)=(√5+1)/2= (2,236067977…+1)/2 =1,618…,   Tỷ số này sở dĩ được gọi là tỷ số vàng vì được xem như một tỷ số giữa các kích thước có khả năng gây nên một hiệu ứng hài hòa trong nghệ thuật.   Trong QC trật tự có quy luật tương tự như quy luật trong dãy Fibonacci và  không có đối xứng tịnh tiến tương tự như trong dãy Fibonacci không có số hạng trùng nhau.    Dãy Fibonacci là một dãy không bao giờ lặp lại, tuân theo một quy tắc toán học. Tương tự như vậy  tỷ số các khoảng cách khác nhau giữa các nguyên tử trong một QC liên quan đến dãy Fibonacci và đến số τ .  Các nguyên tử được xếp theo một trật tự, song trật tự đều đặn này không giống như trong tinh thể vì trong tinh thể thì trật tự này có chu kỳ.   Hình ghép (mosaic) Penrose và những hoa văn thời Trung cổ    Như trên đã nói shechtmanite (tức QC do Shechtman tìm ra) có đối xứng bậc 5 và như ta đã thấy đối xứng này không cho phép thiết lập một lưới phủ đầy không gian mà không có khe hở.   Giữa năm 1970 giáo sư toán học người Anh Roger Penrose tìm ra một hình ghép không có chu kỳ tịnh tiến (aperiodic) bằng cách sử dụng 2 hình thoi gọi là hình thoi béo và hình thoi gầy (hình 4). Hai loại hình thoi có các góc trong là: 36&144 độ  và 72&108 độ. Điều đáng ngạc nhiên là tỷ số giữa hai loại hình thoi đó bằng tỷ số vàng τ =1,618. Bởi vì đây là một số vô tỷ cho nên không thể nào cắt thành những tế bào đơn vị chứa một số nguyên mỗi loại hình thoi được.                      Hình 4. Hình ghép Penrose là một hình với               đối xứng điểm bậc 5 có trật tự tầm xa (long-range order)               song không có chu kỳ tịnh tiến.           Trước đây hình ghép Penrose chỉ được xem như một điều kỳ lạ toán học mãi đến khi Shechtman phát hiện ra QC với đối xứng bậc 5 sau 20 năm người ta mới hiểu được ý nghĩa của nó.  Ngoài mô hình ghép của Penrose còn có nhiều mô hình ghép khác như  hình ghép tổng quát  Penrose (Generalized Penrose Tilings) hay hình ghép 5 góc Penrose (Pentagonal Penrose Tiling) sử dụng các hình ngũ giác thay vì các hình thoi.  Trong trường hợp 3 chiều (3D) chúng ta có hình ghép 3D của Penrose làm thành bằng những khối có 6 mặt hình thoi (rhombohedrons) vào chỗ các hình thoi (rhombus) của trường hợp 2D.   QC có trật tự tầm xa song không có chu kỳ tịnh tiến, thay vào đó có đối xứng tự đồng dạng theo kích thước ( self-similarity by scaling), (hình 5).             Hình 5. Tự đồng dạng theo kích thước. Kích thước tuyến tính giữa các hình ngũ giác là τ còn kích thước giữa diện tích là τ 2.            Lưới phủ của Penrose giúp các nhà nghiên cứu nghệ thuật hiểu được các hình ghép (mosaic) trang trí các nhà thờ đạo Hồi thời Trung cổ và phát hiện rằng các nghệ sĩ Ả Rập đã thực hiện được các hình ghép không chu kỳ (aperiodic). Những mosaic như vậy được tìm thấy ở lâu đài Alhambra (Tây Ban Nha) và trên những cổng vào, những mái vòm của đền Darb-i-Imam ở Iran, (hình 6).              Hình 6.  Một hình ghép QC của Penrose trong đền thờ phụng Darb-i Imam ở Isfahan, Iran, xây dựng năm 1453           Trong vẻ đẹp và sự phức tạp của các hình ghép trên tường của những kiến trúc đạo Hồi thời Trung cổ, các nhà khoa học đã bắt gặp những hình ghép chứng tỏ  các nhà kiến trúc thời bấy giờ đã có một quan điểm đột phá trong toán học từ thế kỷ 15: họ đã tìm ra những hình ghép của QC.  Nhà tinh thể học Alan Mackay sử dụng hình ghép (mosaic) toán học của Penrose bằng cách thay các điểm tương giao trong hình ghép bằng các nguyên tử để có một lưới nhiễu xạ và từ đó thu được một hình nhiễu xạ với 10 điểm sáng. Steinhardt & Dov Levine nối liền kết quả của Mackay với kết quả Shechtman và thấy rằng mô hình Mackay tồn tại thực tế trong QC của Shechtman.    Danh từ  giả tinh thể (QC-quasi crystal) xuất nguyên từ bài báo của Steinhardt & Levine, công bố năm 1984. Trong bài báo đó họ gọi “tinh thể” với hình nhiễu xạ  không có chu kỳ (aperiodic mosaic) là giả tinh thể (quasicristal). Từ đó định nghĩa “tinh thể” được biến dạng như sau. Trước đây người ta có định nghĩa: tinh thể là một cấu trúc trong đó các thành phần nguyên tử, phân tử, ion được sắp xếp theo một trật tự đều đặn lặp lại trong 3 chiều.  Sau phát hiện của Shechtman “tinh thể” được định nghĩa lại như sau:  tinh thể là một vật rắn có một hình nhiễu xạ gián đoạn đặc biệt.    Siêu không gian   Một bước phát triển quan trọng trong quá trình tìm hiểu QC là ý tưởng theo đó một QC trong 3D có thể xây dựng được nhờ phương pháp chiếu một mạng hoàn chỉnh của không gian 6 chiều (6D) xuống không gian con ba chiều (3D) ứng với không gian thực tại của QC.   Hermann chứng minh rằng một đối xứng không phải là đối xứng tinh thể (noncrystallographic) của một mạng 3D sẽ trở thành đối xứng tinh thể (crystallographic) nếu xét trong một siêu không gian nhiều chiều hơn.    Bởi vì QC mất tính chu kỳ (periodicity) ít nhất trong một chiều cho nên không thể mô tả QC trong  không gian 3D như đối với tinh thể thông thường  [5a] [5b]. Trong tinh thể thông thường ta có 3 chỉ số mô tả  3 chiều tịnh tiến. Đối với khối 20 mặt ta cần 6 chỉ số (chỉ số tổng quát hóa Miller).  Trong siêu không gian nD, chúng ta có n vector trương một không gian đảo ngược n chiều (nD-reciprocal space, còn được gọi là không gian Fourier). Do đó cũng tồn tại một không gian trực tiếp n chiều (nD-direct space) trong đó một cấu trúc có thể xây dựng để phục hồi lại hình nhiễu xạ của QC nhờ một phép chiếu với một ma trận M chứa tỷ số vàng τ.  Nói một cách dễ hiểu trong không gian nhiều chiều đó ta có thể  mô tả một cấu trúc không chu kỳ (quasiperiodic) của QC như là một  cấu trúc có chu kỳ (periodic). Và cấu trúc thực tế của QC trong không gian 3D sẽ thu được nhờ một phép chiếu. Chỉ cần xác định một tế bào đơn vị trong cấu trúc nD.  Sau đây là một  minh họa siêu không gian. Ví dụ ta muốn xây dựng một dãy 1D không có chu kỳ  mô tả một QC.   Ta bắt đầu từ một mạng lưới 2D ( x,y)-đóng vai trò siêu không gian –  gồm các hình vuông (xem hình 7). Ta nhúng vào không gian 2D một đường thẳng 1D (trên hình là đường Ve tức Vexterior), đóng vai trò không gian ngoài tức không gian thực tại của chúng ta. Ve làm với Vi hai không gian con trực giao với nhau, Vi gọi là không gian trong (Vi tức Vinterior) [6]. Đường Ve làm một góc anpha với trục x  và tananpha=số vô tỷ tau= 1,618 (tỷ số vàng). Lấy một dải trong không gian (Ve ,Vi). Trong dải đó có nhiều điểm của không gian (x,y). Ta chiếu các điểm đó xuống Ve, ta sẽ thu được  một dãy không chu kỳ (xem đường Ve vẽ nằm ngang ở dưới cùng hình vẽ).              Hình 7. Dãy  1D không có chu kỳ được nhúng vào               không gian 2D. Trong không gian 2D ta có một lưới               với chu kỳ tịnh tiến.           Xét trường hợp lúc không gian ngoài là không gian 3D. Ta cần nhúng không gian này trong siêu không gian 6D làm bằng những khối siêu lập phương (hypercube) ứng với các hình vuông trong trường hợp 2D. Dùng ma trận M thích hợp chiếu các đỉnh của khối siêu lập phương xuống không gian ngoài 3D ta sẽ có các khối 20 mặt (icosahedron).     Tóm tắt bằng tranh              Giữa năm 1970, nhà toán học Roger Penrose chế tạo               một hinh ghép không có chu kỳ (aperiodic mosaic),               một hình vẽ không bao giờ lặp lại bản thân bằng cách sử  dụng hai hình thoi (gọi là hình thoi béo và hình thoi gầy).         Năm 1982 Alan Mackay sử dụng hình ghép của Penrose trong đó đặt các nguyên tử vào các điểm tương giao               trong hình ghép. Dùng mô hình đó Mackay thu được               một hình nhiễu xạ có 10 điểm sáng.         Năm 1982 Dan Shechtman thu được một hình nhiễu xạ mâu thuẫn với logic các tinh thể. Shechtman phát hiện               một hình nhiễu xạ của hợp kim aluminum và maganese               (có được bằng cách làm lạnh đột ngột) với đối xứng bậc 5, một đối xứng vốn bị cấm trong tinh thể. Theo một hướng hình nhiễu xạ có 10 điểm sáng.               Năm 1984 Paul Steinhardt & Dov Levine nối liền mô hình Mackay với kết quả của Shechtman và hiểu  rằng hình ghép không chu kỳ có thể giải thích được các kết quả của Shechtman.           Các loại QC   Sau các kết quả của Shechtman nhiều  phòng thí nghiệm đã tổng hợp được hàng trăm loại QC. Song mãi đến năm 2009 người ta mới tìm được trong thiên nhiên một loại khoáng sản ở sông Khatyrka, miền Đông nước Nga. Khoáng sản này gồm aluminum + đồng + sắt và được gọi là icosahedrite.  Sau đây liệt kê một số hợp kim QC thuộc loại icosahedral:  Al-Mn    Al-Mn-Si    Al-Cu-Fe    Al-Mg-Zn   Ti-TM (TM=Fe, Mn, Co, Ni)     Nb-Fe    V-Ni-Si    Pd-U-Si .   Một bài học quan trọng    Một trong những người trước đây chống đối Shechtman là nhà hóa học nổi tiếng Linus Pauling, đã hai lần đoạt giải Nobel (Hóa học 1954, Hòa bình 1962). Đây là một bài học thấm thía: các nhà khoa học cần phải có tinh thần sáng tạo không rơi vào giáo điều cũ, luôn tìm tòi những điều mới lạ và dũng cảm chống lại những điều tưởng chừng là chân lý đã được thiết lập.   Triển vọng    Quá trình phát hiện QC là một quá trình có nhiều yếu tố kịch tính, để lại nhiều bài học về tư duy sáng tạo trong khoa học. QC đã dẫn đến những phát hiện mới [7] trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học nano đến hóa học siêu phân tử (supramolecular chemistry)[8]. Những siêu vật liệu photonic[9] chế tạo trên cơ sở QC có thể một ngày nào đó thay thế các thiết bị bán dẫn trong công nghệ thông tin và truyền thông. Những mạng  giả chu kỳ (quasiperiodic) có thể sử dụng trong  spintronics[10] và trong quang học biến đổi (transformation optics)[11].  ————   Tài liệu tham khảo & chú thích  [1]  The Nobel Prize in Chemistry 2011 (Press Release, Popular Information, Advanced Information-Scientific Background).  [2]   Trong hình học có 5 hình khối Plato: 4 mặt, 6 mặt, 8 mặt, 12 mặt và 20 mặt. Nhà triết học Hy Lạp Plato đồng nhất 5 hình khối đó với 5 nguyên tố cơ bản của thiên nhiên là: lửa, đất, không khí, nước, ether.                         [3]  David R.Nelson, Quasicrystal, Scientific American, số tháng 8/1986.  [4]  D. Shechtman, I. Blech, D. Gratias, J.W. Cahn (1984) “Metallic phase with long range orientational order and no translation symmetry”,  Physical Review Letters 53(20), pp 1951-1954.  [5]  a/ www.jcrystal.com/steffenweber  (Steffen Weber, Introduction to Quasicrystals)  b/ www.tf.uni-kiel.de/matwis/amat/mw1_ge/kap_3/advanced/t3_1_5.html  [6]  Không gian trong Vi là không gian con (n-3)D của không gian nD. Làm thành không gian bù với không gian ngoài.  Không gian ngoài Ve là không gian con 3D của không gian nD ứng với không gian thực tại vật lý của chúng ta  [7]  Tushna Commissariat, Introducing the latest quasicrystal, Physicsworld  Nov 29, 2011.   [8]   Hóa học siêu phân tủ (supramolecular chemistry) không nghiên cứu trực tiếp các phân tủ mà nghiên cứu các hệ phân tử (xem các hệ như đơn vị hóa học), tiền tố supra có nghĩa là vượt quá.   [9]  Photonics là khoa học nghiên cứu bức xạ, truyền dẫn, điều biến (modulation), xử lý tín hiệu, khuếch đại, ghi đo, cảm biến của ánh sáng.  [10]  Spintronics lĩnh vực vật lý nghiên cứu ứng dụng spin electron ví dụ như trong MRAM (Magnetic Random Access Memory- RAM từ). Nếu xét sóng spin thì chúng ta có lĩnh vực gọi là Magnonics.   [11]  Quang học biến đổi là lĩnh vực hiện đại nghiên cứu thiết kế các thiết bị quang học.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấc mơ vaccine      Tại sao chỉ dừng lại ở vaccine cho SARS-CoV-2? Các nhà khoa học đang phát triển một loại vaccine có thể giúp con người chống lại nhiều virus corona cùng một lúc.      Nhà sinh học cấu trúc Andrew Ward nghiên cứu những “ngóc nghách” trên một protein gai của virus corona và so sánh chúng với các loại protein gai của các con virus khác cùng họ. Ảnh: Science.  Năm 2017, ba nhà nghiên cứu vaccine hàng đầu đã nộp đơn xin tài trợ với một mục tiêu đầy tham vọng: phát triển một loại vaccine chống lại tất cả các chủng coronavirus (pan-coronavirus). Vào thời điểm đó, chưa ai chứng minh được vaccine có thể ngăn chặn ngay cả chỉ một loại virus corona beta – nhóm virus khét tiếng được biết đến là gây ra nhiều bệnh dịch nguy hiểm chết người, trong đó bao gồm hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) và hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS). Nhóm virus corona ngoài ra cũng là nguyên nhân của cảm lạnh thông thường và nhiều loại virus tìm thấy ở dơi.   Dù cho rằng, kế hoạch này là “xuất sắc’ nhưng những người phê duyệt tài trợ tại Viện Quốc gia về Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm (NIAID) đã không ưu tiên cho đề xuất như nó đáng được nhận, lại còn giảm kinh phí với lý do “tầm quan trọng của việc phát triển vaccine chống một loạt các chủng coronavirus (pan-coronavirus) có thể không cao. Dường như họ không hề bị thuyết phục rằng, họ corona có khả năng gây ra mối đe dọa toàn cầu.  Và rồi tất cả đã thay đổi.  Cuối năm 2020, gần 3 triệu ca tử vong do SARS-CoV-2 đã khiến NIAID và các nhà tài trợ thay đổi quan điểm hoàn toàn. Vào tháng 11/2020, họ đã viết đơn xin các “tài trợ khẩn cấp” để phát triển vaccine pan-coronavirus. Vào tháng 3/2021, Liên minh Đổi mới Chuẩn bị sẵn sàng Dịch bệnh (CEPI), thông báo sẽ chi tới 200 triệu USD cho một chương trình mới để đẩy nhanh việc tạo ra vaccine chống lại các chủng corona beta, một nhóm hiện đã bổ sung SARS-CoV-2.  Đi tìm một vaccine phổ rộng  Mối đe dọa của một đại dịch coronavirus khác ngày càng trở nên thực tế. Ngoài dơi, coronavirus còn lây nhiễm sang lạc đà, chim, mèo, ngựa, chồn, lợn, thỏ, tê tê và các động vật, sau đó có thể nhảy lên người với khả năng miễn dịch là rất ít hoặc không có, điều mà như hầu hết các nhà nghiên cứu nghi ngờ là cách SARS-CoV-2 đã làm. Nhà sinh vật học cấu trúc Andrew Ward (Scripps Research), một trong những nhà khoa học đã đưa ra đề xuất năm 2017 và bị NIAID từ chối, dự đoán: “Rất có thể trong 10 đến 50 năm tới sẽ bùng phát một đại dịch khác như SARS-CoV-2”.  Bằng cách tạo ra các chân dung tương tự của các gai từ nhiều virus corona khác nhau với các kháng thể trung hòa diện rộng liên kết với chúng, Ward hy vọng sẽ xác định được các đoạn ngắn của protein – được gọi là epitop – chìa khóa cho sự liên kết đối với tất cả các mầm bệnh. Ward tin rằng, chúng chính là yếu tố chính để thiết kế một loại vaccine có khả năng kích hoạt một cuộc tấn công miễn dịch trên diện rộng đối với coronavirus.  Ông theo đuổi một loại vaccine nhắm vào một nhóm nhỏ các coronavirus beta. Khoảng hai chục nhóm nghiên cứu khác trên khắp thế giới cũng đang tiến hành các dự án tương tự. Các phương pháp tiếp cận của họ bao gồm các công nghệ phát triển vaccine mới như nano và các hạt virus, kỹ thuật mRNA tiên tiến đã được áp dụng trên một loạt các vaccine COVID-19 với hiệu quả đã được chứng minh và các loại công nghệ bất hoạt, trụ cột của vaccine trước đây. Một số nhóm thậm chí đã công bố kết quả đầy hứa hẹn từ các thử nghiệm trên động vật của các ứng viên ban đầu.  Chưa có vaccine pan-coronavirus nào được thử nghiệm trên người. Hơn nữa, việc đánh giá khả năng bảo vệ của các ứng viên chống lại các loại bệnh chưa từng xuất hiện vẫn còn là một thách thức. Cũng không rõ làm thế nào có thể sử dụng một loại vaccine như vậy. Chúng ta có thể nghĩ đến việc giữ nó trong tình trạng dự trữ cho đến khi một mối đe dọa khác xuất hiện? Ward nói: “Chúng tôi có thể giúp mọi người đạt được mức độ miễn dịch cơ bản chống lại một loại virus mới nổi, giúp các nhà khoa học có thời gian để tạo ra một loại vaccine cụ thể hơn”.  Mặc dù vẫn còn nhiều ẩn số, nhưng thành công nhanh chóng của vaccine SARS-CoV-2 đã làm tăng sự lạc quan. Chúng ta hy vọng hệ thống miễn dịch cũng có thể được “đào tạo” để vượt qua các họ hàng khác của virus. Những người sống sót sau bệnh SARS nhiều năm trước cũng là minh chứng: một số kháng thể của họ — những ký ức miễn dịch về lần gặp virus đó – cũng có thể ngăn chặn sự lây nhiễm của SARS-CoV-2 trong phòng thí nghiệm. Barney Graham của NIAID, người đã giúp phát triển vaccine mRNA COVID-19 của Moderna, chia sẻ sự lạc quan về vaccine pan-coronavirus và dự đoán: “So với cúm và HIV, điều này tương đối dễ thực hiện”.  Đầu năm nay, Hannah Turner, một kỹ thuật viên tại Scripps Research, người làm việc với Ward, đã quan sát kĩ các protein gai của SARS-CoV-2. Hầu hết các nỗ lực để tạo ra vaccine pan-coronavirus đều nhằm mục đích kích hoạt phản ứng miễn dịch đối với một số phần của protein gai đột biến. Turner trộn các bản sao protein gai của SARS-CoV-2 với các kháng thể có khả năng “vô hiệu hóa trên diện rộng” lấy từ các bệnh nhân COVID-19. Sau đó, Turner đông lạnh hỗn hợp kháng thể bằng nitơ lỏng và đặt các tinh thể thu được vào một kính hiển vi điện tử cryo-EM trị giá 4 triệu USD có kích thước bằng ba chiếc tủ lạnh. Thiết bị này bắt đầu bắn phá các mẫu với 200 kilovolt electron để lập bản đồ các phức hợp kháng thể được phân giải ở cấp độ nguyên tử.    Nhiều người nghĩ đến việc sử dụng vaccine pan-coronavirus, nếu được cấp phép, cho đại dịch hiện tại. Nguồn: Business insider  Trên bốn màn hình hiện lên một khung cảnh giống như mặt trăng. Với kinh nghiệm của mình, Turner phát hiện ra các protein gai đã kết tụ lại với nhau thành từng nhóm các trimer được gắn với các kháng thể, tạo nên những cấu trúc giống như hình quạt. “Thật tuyệt vời”, cô nói. “Đó chính là những gì bạn muốn thấy”.  Các máy tính trong vài ngày tới xử lý 1.100 góc chụp khác nhau của mẫu và chọn lấy những hình tốt nhất, đưa vào phần mềm để tạo ra một “bản đồ cuối cùng” tuyệt đẹp về các gai đính kèm với một kháng thể ở độ phân giải gần 3 angstrom, khoảng một phần ba chiều rộng của một sợi DNA.   Có thực hiện được giấc mơ?  Bên cạnh các chiến lược tiếp cận, việc phát triển vaccine cũng cần đến cả may mắn. Barton Haynes và nhóm của ông tại Đại học Duke đã làm việc với nhóm của Baric để thiết kế một loại vaccine có chứa miền thụ thể liên kết của SARS-CoV-2 trong một hạt nano ferritin. Dự tính ban đầu là làm liều tăng cường cho vaccine mRNA COVID-19, nhưng hóa ra nó lại tăng độ linh hoạt hơn rất nhiều. Ở khỉ, nó hoạt động như dự định chống lại SARS-CoV-2 nhưng các kháng thể lấy từ những con khỉ được tiêm chủng cũng vô hiệu hóa được SARS-CoV và hai coronavirus dơi có liên quan trong các thí nghiệm.  Manh mối về sự bảo vệ rộng rãi đáng ngạc nhiên này xuất hiện khi nhóm nghiên cứu phân lập được một loại kháng thể từ một người đã khỏi bệnh SARS nhiều năm trước. Nó cũng có thể vô hiệu hóa một loạt các sarbecovirus – hóa ra nó liên kết chặt chẽ với cùng một loại miền liên kết thụ thể được sử dụng trong vaccine tăng cường COVID-19 của họ.   Một số nhóm đã mở tầm nhìn của họ ra miền liên kết thụ thể, về mặt phân tử. Các protein gai của các loại corona virus đều khác nhau rất ít. Jason McLellan, một nhà sinh học cấu trúc tại Đại học Texas, Austin, đồng tác giả của đề xuất tài trợ không thành công với Ward, cho biết: “Tiểu phần S2 (phần thân) là phần được bảo tồn nhiều nhất của các protein gai”.  Một vài năm trước, McLellan đã phát triển một loại vaccine từ S2 của virus MERS để bảo vệ chuột khỏi virus, có hiệu quả như vaccine có đầy đủ tính năng của protein gai. Anh hiện đang tiến hành cryo-EM của các liên hợp gốc-kháng thể, sử dụng S2 từ SARS-CoV-2, để phát triển một loại vaccine cho coronavirus beta.  Cũng giống như hầu hết các nhà phát triển vaccine pan-coronavirus, McLellan đang cố gắng tập hợp các tế bào B sản xuất kháng thể. Tuy nhiên, một số nhóm hy vọng cũng sẽ khơi dậy đội quân mạnh mẽ khác của hệ thống miễn dịch: tế bào T, bảo vệ cơ thể bằng cách tiêu diệt các tế bào bị nhiễm bệnh.       Nhiều người trong đề xuất, nếu vaccine pan-coronavirus được cấp phép, hãy sử dụng nó trong đại dịch hiện tại, như một liều thuốc tăng cường cuối cùng để ngăn chặn khả năng miễn dịch suy yếu và bảo vệ khỏi các biến thể đe dọa mới tiếp tục nổi lên của SARS-CoV-2.      Tế bào T cũng là trung tâm trong nhiệm vụ vaccine của Bette Korber, một nhà sinh vật học tính toán tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos. Cô thiết kế các thuật toán để dò tìm trình tự bộ gene của coronavirus beta, tìm kiếm các vùng của protein nổi bật có thể kích hoạt các phản ứng của tế bào T, và điều đó chỉ khác nhau chút ít giữa các coronavirus. Korber nói rằng những biểu mô tế bào T được bảo tồn đó có thể tạo ra một loại vaccine tốt.  Cô hy vọng bước đầu có thể kết hợp phương pháp tế bào T này với chiến lược tế bào B để bảo vệ chống lại tất cả các biến thể SARS-CoV-2. Việc này được dựa trên phân tích gần một triệu trình tự của virus hiện có trong cơ sở dữ liệu để hiểu “không gian tiến hóa” của mầm bệnh – những thay đổi nào có thể giúp nó tránh được các phản ứng kháng thể và những đột biến nào mà nó không có khả năng gây ra.  Cuối cùng, có một cách tiếp cận kiểu cũ đối với vaccine pan-coronavirus, một loại vaccine có thể gọi là chiến đấu với cả tế bào B và T. Các nhà nghiên cứu bệnh cúm kỳ cựu của NIAID là Matthew Memoli và Jeffery Taubenberger muốn kết hợp các phiên bản bất hoạt của các coronavirus đại diện từ bốn dòng đã biết trong chi Beta. Memoli giải thích rằng vaccine dựa trên toàn bộ virus giúp hệ thống miễn dịch thực hiện “nhiều phát bắn vào một mục tiêu” thay vì tập trung tất cả các phản ứng vào mức độ đột biến hoặc từng phần nhỏ của nó. Ông nói: “Một số kháng nguyên cung cấp cho bạn kháng thể, một số có thể cung cấp cho bạn nhiều phản ứng tế bào T hơn, một số khác có thể làm cả hai. Một vài kháng nguyên có thể tạo ra miễn dịch niêm mạc tốt hơn”. Ông cũng cho rằng “Thực tế là loại vaccine tốt nhất sẽ cung cấp các kháng nguyên tạo ra tất cả các phản ứng này”.  Làm thế nào mà các nhà phát triển vaccine pan-coronavirus có thể chứng minh mũi tiêm của họ bảo vệ khỏi SARS-CoV-3 trên giả thuyết? Baric nhấn mạnh một trở ngại “Bạn cần phải có một danh sách tốt về các loại virus để thực sự bắt đầu thử nghiệm các loại vaccine này” trong phòng thí nghiệm. Chính phủ Hoa Kỳ xem SARS-CoV, MERS và nhiều coronavirus là “tác nhân được chọn”, buộc các phòng thí nghiệm áp dụng các quy tắc nghiêm ngặt.   Một quy định do Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ ban hành sau sự kiện 11/9, khi lo lắng về virus biến đổi gene hoặc các mối nguy hại sinh học khác, có thể mở ra một con đường khác. “Quy tắc động vật” cho biết, một liệu pháp hoặc vaccine có thể nhận được sự chấp thuận mà không cần thử nghiệm về độ hiệu quả nếu như nghiên cứu không thể về mặt đạo đức hay trên thực tế được thực hiện ở người. Vaccine pan-coronavirus có thể tuân theo quy tắc đó nếu buộc phải thực hiện các nghiên cứu phức tạp trên chuột hoặc khỉ để chống lại nhiều loại coronavirus đã biết.  Nếu vaccine pan-coronavirus được cấp phép, liệu các quốc gia có tạo ra các kho dự trữ để nhanh chóng dập tắt sự bùng phát của một loại virus mới không? Hay thay vào đó, họ lên kế hoạch bắt đầu sản xuất vaccine từ bản thiết kế của mình một khi thấy mối đe dọa mới? Đó là những vấn đề mà sáng kiến ​​của CEPI theo sát, nhưng có một lựa chọn thứ ba, đơn giản hơn và được nhiều người trong lĩnh vực đề xuất: sử dụng nó trong đại dịch hiện tại, như một liều thuốc tăng cường cuối cùng để ngăn chặn khả năng miễn dịch suy yếu và bảo vệ khỏi các biến thể đe dọa mới tiếp tục nổi lên của SARS-CoV-2.   Nhiều nơi đã bắt đầu phát triển vaccine COVID-19 thế hệ thứ hai để chống lại những biến thể đó. Nhưng Haynes nói rằng đây là một trò chơi “đập chuột” không có hồi kết. Thay vào đó, ông và những người khác đề xuất vaccine pan-coronavirus có thể làm nhiệm vụ kép. Nếu nó có thể xử lý các virus họ hàng xa của coronavirus thì nó có thể đối phó các biến thể của SARS-CoV-2.  Điều đó có thể giúp chấm dứt đại dịch hiện tại và ngăn chặn đại dịch tiếp theo. Memoli nói: “Một loại vaccine bảo vệ rộng rãi có mục tiêu ngăn chặn đại dịch xảy ra. Vấn đề mà chúng tôi đặt ra ngay bây giờ là nếu một loại virus hoàn toàn mới xuất hiện, chúng tôi không có gì cả”.□  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn:  https://www.science.org/content/article/vaccines-can-protect-against-many-coronaviruses-could-prevent-another-pandemic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Abel 2018: Robert Langlands với Lý thuyết thống nhất Toán học      Giáo sư Langlands, người được trao tặng giải Abel 2018, được tuyên dương vì đã “có viễn kiến về một chương trình nhằm nối liền lý thuyết biểu diễn (representation theory) và lý thuyết số (number theory).” Những dự đoán của ông vươn xa nhằm kết nối nhiều lĩnh vực với nhau, được tập hợp lại trong một chương trình gọi là chương trình Langlands. Nó không những ảnh hưởng sâu rộng đến Toán học mà còn ảnh hưởng lên một phần của Vật lý lý thuyết.      GS. Robert Langlands. Nguồn ảnh: Nature    Viện Hàn Lâm Khoa học và Văn chương Na Uy đã trao tặng giải Abel năm 2018 cho Robert P. Langlands, Giáo sư danh dự của Khoa Toán tại Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Princeton (IAS). Giáo sư Langlands được tuyên dương vì đã “có viễn kiến về một chương trình nhằm nối liền lý thuyết biểu diễn (representation theory) và lý thuyết số (number theory).”  Những dự đoán của ông vươn xa nhằm kết nối nhiều lĩnh vực với nhau, được tập hợp lại trong một chương trình gọi là chương trình Langlands. Nó không những ảnh hưởng sâu rộng đến Toán học mà còn ảnh hưởng lên một phần của Vật lý lý thuyết. Nguồn gốc của chương trình này được tìm thấy trong một bức thư dài mười bảy (17) trang viết tay do Langlands gửi cho André Weil[1] vào năm 1967, khi đó Weil cũng đang là giáo sư tại IAS[2]. Trong thư ấy Langlands có đề nghị một lý thuyết vĩ đại nhằm thống nhất nhiều lĩnh vực Toán học có vẻ như không có gì chung cả: Lý thuyết số, Hình Đại số và lý thuyết các dạng tự đẳng cấu. Weil đánh máy lại bức thư này cho dễ đọc, rồi cho nó luân lưu trong giới các nhà Toán học trong những năm 1960 và 1970. Suốt trong hơn 40 năm sau, rất nhiều nhà Toán học tham gia làm việc trên các dự đoán của Langlands.  Giáo sư Robbert Dijkgraaf, Trưởng Khoa Toán của IAS đã phát biểu: “IAS vô cùng hân hoan và hãnh diện vì Robert Langlands đã được tặng thưởng giải Abel 2018 cao quý vì chương trình nhìn xa trông rộng của ông. Viễn kiến của ông đã là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ các nhà Toán học và họ đã đem lại cho Toán học nhiều kết quả đột phá. Con đường ông đã vạch ra sẽ hướng dẫn cho nhiều nhà Toán học tương lai, và chắc chắn chúng ta sẽ có thêm nhiều khám phá bất ngờ nữa, đó sẽ là những món quà cống hiến cho thế giới.”  Giáo sư Peter Sarnak[3], giáo sư Khoa Toán của IAS, nói thêm: “Chương trình Langlands và những dự đoán cốt lõi của nó đã được sinh ra từ những thành tựu có tính đột phá mà Langlands đã thực hiện được trước đây. Một khi đã nhận biết những chủ đề của sự thống nhất, Langlands, các học trò của ông và những người theo trường phái của ông đã dành nhiều thời gian và nỗ lực để phát triển các công cụ cơ bản nhằm chứng minh các dự đoán của ông, thí dụ công thức về vết (trace formula). Các dự đoán này rất khó chứng minh, và nó được cho thấy là nền tảng kỳ diệu cho những công trình khác (một thí dụ nổi tiếng là Định lý đổi cơ sở của Langlands đã là điểm khởi hành cho Andrew Wiles chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat).”  Giải Abel là một phần thưởng quốc tế dành cho công trình Toán học xuất sắc nhất đi kèm với số tiền khoảng chừng 800.000 USD. Giải thưởng sẽ được vua H.M. Harald V trao cho Langlands vào ngày 22 tháng 5 năm 2018 trong một buổi lễ tại Oslo. Từ ngày giải Abel được thành lập vào năm 2003 đến nay, 17 trong số 19 người được giải hoặc là thành viên của IAS hoặc có liên quan đến IAS.      IAS vô cùng hân hoan và hãnh diện vì Robert Langlands đã được tặng thưởng giải Abel 2018 cao quý vì chương trình nhìn xa trông rộng của ông. Viễn kiến của ông đã là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ các nhà Toán học và họ đã đem lại cho Toán học nhiều kết quả đột phá.      Langlands có những hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực lý thuyết số và lĩnh vực lý thuyết biểu diễn bao gồm sự hình thành các nguyên lý về các dạng tự đẳng cấu, lý thuyết về các số đại số, lớp các L-hàm, cấu trúc tổng quát về chuỗi Eisenstein, những kỹ thuật liên quan đến dự đoán Artin (dùng trong việc chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat), phương pháp endoscopy, và sự phát triển các kỹ thuật liên quan đến hàm zeta của các đa tạp Shimura trong phép tự đẳng cấu các L-hàm.  Langlands sinh tại tỉnh British Columbia (Canada) vào năm 1936. Ông lớn lên trong một thị trấn nhỏ của Canada, ở đó cha ông có một của hiệu tạp hóa. Ông ghi tên vào Đại học British Columbia năm 16 tuổi. Tại đây ông có vẻ thích Toán hơn là Vật lý, nhất là những tính toán đại số. Sau khi tốt nghiệp Cử nhân và Thạc sĩ, ông tiếp tục học tại Đại học Yale và lấy bằng Tiến sĩ vào năm 1960. Ông dạy học tại Đại học Princeton và Đại học Yale, rồi trở thành thành viên của IAS. Ông được bổ nhiệm làm Giáo sư của IAS vào năm 1972.  Những dự đoán Langlands đã thu hút rất nhiều nhà Toán học nổi tiếng, trong đó có Harish-Chandra, Atle Selberg, Goro Shimura, André Weil và Hermann Weyl, những người này hoặc là thành viên của IAS hoặc có liên hệ chặt chẽ với IAS. Nghiên cứu sớm của Langlands về lý thuyết biểu diễn chịu ảnh hưởng từ phương pháp nghiên cứu lý thuyết các dạng tự đẳng cấu của Harish-Chandra, cựu giáo sư của IAS. Langlands nói: “Những bài báo của Harish-Chandra và của Selberg là một trong những bài báo đầu tiên tôi đã nghiên cứu rất kỹ và tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu và sử dụng.”  Lý thuyết endoscopy có mục đích phân biệt cấu trúc nội tại các dạng biểu diễn tự đẳng cấu của các nhóm khác nhau. Lý thuyết này được sinh ra từ việc nghiên cứu các hàm zeta của các đa tạp Shimura (do Goro Shimura, một thành viên của IAS, phát triển nên) và lý thuyết các chuỗi rời rạc tạo nên bởi Harish-Chandra (cũng là một thành viên của IAS) vào thập niên 1960. Lý thuyết hiện đại về các đa tạp Shimura (tên do Langlands đặt ra vào những năm 1970) được bắt đầu bằng sự triển khai lý thuyết về các đa tạp Abel với phép nhân phức do Shimura, Yutaka Taniyama và André Weil sáng tạo ra trong thập niên 1950.  Trong nhiều trường hợp, nguyên lý  functoriality (tạm dịch là nguyên lý hàm tử) của Langlands dùng công thức vết của Selberg và bổ đề cơ bản để kết nối các biểu diễn tự đẳng cấu của các nhóm khác nhau thông qua L-nhóm, nguyên lý này có nguồn từ lý thuyết lớp trường và lý thuyết biểu diễn của các bán nhóm Lie đơn giản dưới dạng Harish-Chander.  Một số khía cạnh của chương trình Langlands đã được chứng minh, thí dụ như Laurent Lafforgue đã chứng minh được “Dự đoán Langlands cho các trường hàm” (Langlands conjecture for function fields) qua nhiều buổi thuyết trình tại Viện vào năm 1999, nhờ đó mà Lafforgue được tặng thưởng Huy chương Fields vào năm 2002. Rồi sau đó Ngô Bảo Châu, một thành viên khác của Viện, chứng minh được bổ đề cơ bản, một công cụ kỹ thuật do Langlands thiết lập, nhằm mục đích kết nối các biểu diễn tự đẳng cấu của các nhóm khác nhau, nhờ đó Ngô Bảo Châu được tặng thưởng Huy chương Fields vào năm 2010. Một số khía cạnh khác của chương trình góp phần chứng minh được các định lý xem ra chẳng có dính líu gì tới chương trình, chẳng hạn như chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat do Andrew Wiles đạt được vào năm 1994.  Nhiều phần của lý thuyết hiện đại về các dạng tự đẳng cấu bị chi phối bởi hai vấn đề cơ bản – hai trọng tâm của chương trình Langlands: Nguyên lý  functoriality và tổng quát hóa dự đoán Shimura-Taniyama-Weil trên các đường cong elliptic có tính modula. Chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat của Andrew Wiles là một công trình rất sâu, có liên hệ chặt chẽ đến hai vấn đề cơ bản này.  Thêm vào đó Langlands làm thay đổi mạnh mẽ lĩnh vực các tự đẳng cấu, làm cho lý thuyết biểu diễn vô hạn chiều của các nhóm thâm nhập vào hoạt động quan trọng của Toán học, và biến các lớp tổng quát của các L-hàm làm cho chúng có vai trò có ý nghĩa trong lý thuyết số. Các dự đoán của Langlands cũng có ảnh hưởng nhất định đối với một vài ngành khác, như Vật lý. Trong chương trình hình học Langlands được sáng tạo nên bởi Vladimir Drinfeld, một thành viên cũ của IAS, một vài ý tưởng đã được chuyển hóa từ lý thuyết số sang thành những phát biểu hình học. Dạng hình học rất thích hợp cho lãnh vực Vật lý lý thuyết, đặc biệt là lý thuyết về dây (string theory). Năm 2006, Edward Witten và Charles Simonyi, giáo sư khoa Khoa học tự nhiên của Viện, cùng viết một bài báo dài 225 trang về mối liên quan của một phần chương trình hình học Langlands với những ý tưởng đối ngẫu giữa Điện và Từ (Duality between Electricity and Magnetism).  Langlands cũng đã nhận được nhiều giải thưởng danh dự khác:      Giải thưởng Shaw (2007)      Giải thưởng Esser Nemmers (2006)      Huy chương vàng của Hàn Lâm Viện Khoa học Pháp (2000)      Giải thưởng Wolf (cùng với Andrew Wiles)(1996).      Giải Hàn Lâm Viện Khoa học Mỹ (1988)      Giải khối thịnh vượng Anh (1984)      Giải của Hội Toán học Mỹ (1982).  (California, 3/21/2018)  —————  [1] Andre Weil là một trong những người sáng lập ra nhóm Bourbaki nổi tiếng vào năm 1935 (LQA).  [2] Nhắc lại rằng khi ấy Langlands mới chưa đến 30 tuổi và chưa có sự nghiệp gì mấy, trong khi đó André Weil đã 64 tuổi và là một nhà Toán học nổi tiếng không những trong IAS mà khắp thế giới.  [3] Giáo sư Peter Sarnak là người đã giúp Andrew Wiles khá nhiều trong việc chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat (LQA).    Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Giải Breakthrough 2016      Giải thưởng Breakthrough là giải thưởng quốc tế hằng năm trao cho tác giả của những phát hiện khoa học nổi bật trong ba lĩnh vực: Toán học, Vật lý cơ bản và Khoa học sự sống do vợ chồng những nhà khởi nghiệp nổi tiếng sáng lập gồm: Mark Zuckerberg, Priscilla Chan, Sergey Brin, Anna Wojcicki, Yuri Milner, Julia Milner, Jack Ma và Cathy Zhang. Breakthrough là giải thưởng khoa học có tiền thưởng lớn nhất thế giới hiện nay với 3 triệu USD cho mỗi giải. Bên cạnh giải Breakthough, còn có giải Breakthrough đặc biệt được và giải thưởng New Horizon dành cho các nhà khoa học trẻ.    Rainer West và Kip Thorne (từ trái qua) – hai trong ba người thiết lập LIGO.  Hội đồng giải thưởng cũng như quá trình xét giải đều được công khai. Lễ trao giải sẽ được truyền hình trực tiếp và những người đoạt giải sẽ tham gia một chuỗi các chương trình giảng dạy và tọa đàm để truyền cảm hứng cho công chúng và thế hệ nhà khoa học tiếp theo. Tia Sáng xin giới thiệu ba giải thưởng đáng chú ý nhất trong năm nay.       Giải thưởng Breakthrough đặc biệt cho Vật lý cơ bản năm 2016 được trao cho nhóm các nhà khoa học và kỹ sư đã phát hiện ra sóng hấp dẫn, một phát hiện được công bố vào tháng hai năm nay.   Giải thưởng Breakthrough đặc biệt cho Vật lý cơ bản có thể được Hội đồng Giám khảo trao ở bất kỳ thời điểm nào nhằm công nhận cho một khám phá khoa học xuất sắc, song song với giải thưởng Breakthrough được trao thông qua quá trình đề cử thường niên.   Giải thưởng 3 triệu đô này năm nay sẽ được chia cho hai nhóm: 1 triệu USD chia đều cho những người sáng lập ra LIGO (máy phát điện sóng hấp dẫn), 2 triệu USD chia đều cho 1012 người tham gia vào thí nghiệm.   LIGO được lên ý tưởng và xây dựng từ những năm 60 thế kỷ trước. LIGO được Caltech và MIT cùng hợp tác với Quỹ Khoa học quốc gia Hoa Kỳ xây dựng từ năm 1994 tới năm 2002, với mục tiêu tìm kiếm các sóng hấp dẫn được tiên đoán từ lý thuyết tương đối rộng của Einstein. Sau bước nâng cấp quan trọng từ 2010 đến 2015, nó gần như ngay lập tức tìm thấy một sóng hấp dẫn xoắn vặn cấu trúc của không-thời gian khi nó đi ngang qua Trái đất.   Những người thiết lập ra LIGO là RonaldW. P. Drever, giáo sư công huân tại Caltech; Kip S. Thorne, giáo sư công huân vật lý lý thuyết Feymann tại Caltech; và Rainer Weiss, giáo sư công huân vật lý tại MIT.   Những người cùng tham gia vào dự án là 1005 tác giả của bài báo viết về phát hiện sóng hấp dẫn từ các viện khác nhau bao gồm LIGO và cả thí nghiệm chị em với nó là Virgo. Cùng chia sẻ giải thưởng với nhóm các nhà khoa học này là bảy nhà khoa học đã có đóng góp quan trọng vào sự thành công của LIGO.  Stephen Hawking, nhà vật lý được trao giải Breakthrough đặc biệt vào năm 2013 phát biểu, “Khám phá này có tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn: trước tiên, nó là bằng chứng cho lý thuyết tương đối rộng và các tiên đoán của nó về các tương tác của lỗ đen; thứ hai, nó khởi phát một nền thiên văn học mới mà sẽ hé lộ vũ trụ qua một lăng kính hoàn toàn khác. Nhóm LIGO hoàn toàn xứng đáng với giải thưởng Breakthrough đặc biệt.”  Edward Witten, thành viên hội đồng giám khảo bình luận rằng, “Khám phá vô cùng ngạc nhiên này lần đầu tiên đã cho chúng ta thấy một trong những kết quả xuất sắc trong lý thuyết của Einstein. Các ý tưởng lý thuyết về lỗ đen gần như khoa học giả tưởng khi tôi còn là sinh viên ngày nay đã trở thành sự thật.”  Giải Breakthrough cho Toán học 2016   Giải thưởng Breakthrough cho Toán học 2016 được trao cho Ian Agol, giáo sư Toán học tại Đại học California, Berkeley. Agol được vinh danh nhờ những đóng góp nổi bật cho lý thuyết tô-pô số chiều thấp, và lý thuyết nhóm hình học, bao gồm công trình về lời giải cho giả thuyết tính thuần của Al Marden, giả thuyết Haken ảo và giả thuyết phân thớ ảo của William Thurston (nhà toán học được giải thưởng Field năm 1982).Theo Tạp chí Scientific American, “thành công của Agol thể hiện tầm quan trọng của sự hợp tác trong toán học”. “Tôi cảm thấy mình chỉ xứng đáng nhận một phần nhỏ của giải thưởng vì tôi đã sử dụng rất nhiều công trình của những người khác và dựa vào rất nhiều cộng sự và những người đi trước” – Agol nói. Lý thuyết của Agol được xây dựng chủ yếu dựa trên công trình của người cùng chia sẻ giải thưởng Oswald Veblen của Hội Toán học Mỹ trong hình học với ông – Daniel Wise và một phần bằng chứng của giả thiết Haken ảo do hai nhà toán học Daniel Groves và Jason Manning thực hiện.Richard Taylor, chủ nhân giải thưởng Breakthrough trong Toán học năm 2015 và thành viên hội đồng xét giải năm nay cho biết: “Công trình của Agol đáp ứng hai điều chúng tôi tìm kiếm. Anh ấy rõ ràng là người đứng đầu trong lĩnh vực của mình và không chỉ có một thành quả. Đây không phải là giải thưởng cho một lý thuyết. Đây là giải thưởng cho người đã có một loạt cống hiến”.    Giải New Horizons trong lĩnh vực Toán học   Giải thưởng New Horizons in Mathematics được thành lập năm 2015 để ghi nhận những nhà nghiên cứu trẻ có công trình xuất sắc. Giải thưởng được trao thường niên, cho nhiều nhất ba nhà toán học, cùng với 100.000 USD cho mỗi người.Larry Guth (Học viện Công nghệ Massachusetts) đã được trao giải thưởng New Horizons in Mathematics cho “những lời giải thiên tài đầy ngạc nhiên cho các vấn đề mở đã tồn tại từ rất lâu trong hình học symplectic, hình học Riemann, giải tích điều hòa và hình học tổ hợp.”Terence Tao nhận xét: Bằng cách sử dụng các kỹ thuật mạnh trong hình học và tôpô, Guth đã giải quyết hoặc tạo ra các bước đột phá trong nhiều vấn đề căn bản và khó trong giải tích điều hòa và lý thuyết số giải tích.[…] Công trình của Guth đã mang tới một vài nhóm công cụ mới để chúng ta có thể tấn công nhiều vấn đề khác trong giải tích cũng như tổ hợp trong những năm tới.Cùng với Alan Guth, André Arroja Neves của Học viện Hoàng gia London cũng được trao giải thưởng New Horizons in Mathematics cho những “đóng góp nổi bật cho một số lĩnh vực của hình học vi phân, bao gồm công trình về độ cong hằng, các dòng hình học và lời giải của anh với Codá Marques cho giả thuyết đã 50 tuổi, giả thuyết Willmore.”50 năm trước, Willmore đặt ra một giả thuyết mà có thể hiểu được bằng hình học vi phân cơ sở rằng chuẩn L2 của độ cong trung bình của một đa tạp có giống dương nhúng trong không gian 3 chiều thì không nhỏ hơn √ 2Π . Chứng minh của Neves và Marques là một tuyệt tác mang tính kỹ thuật cực kỳ tinh tế. Họ cũng sử dụng các phương pháp khác nhau để chỉ ra sự tồn tại của vô hạn các siêu mặt cực tiểu trong một vài lớp diện Riemann, kết quả này mở ra một địa hạt hoàn toàn mới.André Neves sinh năm 1975 tại Lisbon, Bồ Đào Nha, nhận bằng Tiến sĩ ở Đại học Stanford năm 2005 dưới sự hướng dẫn của Richard Schoen. Neves đã được trao giải Leverhulme năm 2012, giải thưởng Whitehead của Hội Toán học London năm 2013, và giải thưởng Oswald Veblen của Hội Toán học Mỹ năm 2016 (cùng với Codá Marques).       Author                Nguyễn Duy Khánh        
__label__tiasang Giải câu đố về quá trình methyl hóa RNA      Các nhà khoa học tại Đại học Chicago (Mỹ) đã phát hiện ra một đặc điểm mới trong quá trình methyl hóa RNA, có ý nghĩa trong việc áp dụng các liệu pháp gene điều trị bệnh, đồng thời giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển, tiến hóa và biểu hiện gene.       Vào thế kỷ 20, mọi người cho rằng DNA là bản vẽ thiết kế cho tế bào và mọi thứ đều được sao chép, tái hiện một cách trung thực từ bản vẽ đó. Nhưng dần dần, người ta khám phá ra đó không phải là tất cả. DNA là sổ tay hướng dẫn cơ bản, nhưng cơ thể sẽ phản ứng với những trải nghiệm và môi trường xung quanh bằng cách bật tắt một số gene khi cần. Chẳng hạn, khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, da có thể phản ứng lại bằng cách tạo ra nhiều hắc tố hơn để bảo vệ da; hoặc trong giai đoạn hạn hán, cây cối có thể thay đổi mô thức phát triển để mọc thấp hơn – nên cần ít nước hơn.  Cơ thể con người cũng làm được điều này thông qua quá trình methyl hóa RNA. Nhìn chung, RNA sao chép lại DNA và đưa các hướng dẫn đến tế bào để tạo ra các loại protein khác nhau. Nhưng trên đường đi, RNA thông tin (mRNA) có thể thay đổi những hướng dẫn đó bằng cách gắn một phân tử nhỏ gọi là nhóm methyl vào để bật tắt một gene cụ thể. Sự thay đổi này được gọi là methyl hóa, có thể sửa đổi các hướng dẫn thực thi của gene, từ đó làm thay đổi quá trình biểu hiện gene.  Các nhà khoa học biết quá trình methyl hóa rất quan trọng và xảy ra ở mọi sinh vật. Nhưng họ không biết chính xác chúng hoạt động như thế nào: Làm sao để tế bào chọn được vị trí để gắn nhóm methyl?  Phòng thí nghiệm của GS. Chuan He ngành Hóa và Sinh học phân tử tại Đại học Chicago đã nghiên cứu về quá trình methyl hóa kể từ năm 2010. Họ phát hiện thay vì chọn một số vị trí nhất định để methyl hóa, các tế bào chọn nơi không thực hiện điều này. GS. He nghĩ rằng cơ chế lựa chọn phụ thuộc vào các mấu nối của mRNA.  Thông thường, sau khi sao chép DNA trong tế bào, RNA sẽ được cắt ra thành nhiều phần. Một số phần bị loại bỏ và những phần còn lại được dán với nhau bằng một phân tử gọi là “phức hệ nối exon”. Trong bài báo mới xuất bản trên tạp chí Science hồi tháng 1/2023, nhóm nghiên cứu của He nhận thấy những phân tử nối exon này ảnh hưởng đến việc methy hóa mRNA: Nếu các mảnh RNA ngắn, hai phân tử nối cồng kềnh ở hai đầu sẽ ngăn chặn quá trình methyl hóa, nhưng nếu các mảnh RNA dài hơn và có nhiều không gian để tiếp xúc hơn thì chúng có thể bị methyl hóa.  Các tác giả cho biết, phát hiện này có ý nghĩa lớn trong cả sinh học và y học. Chẳng hạn như về gene nhân tạo, các nhà khoa học thường tạo ra một số đoạn gene nhân tạo để cấy vào tế bào nhằm điều trị ung thư hoặc sử dụng trong nghiên cứu cơ bản để tìm hiểu cách thức hoạt động của các quá trình sinh học. Nếu khối u của bệnh nhân đang phát triển ngoài tầm kiểm soát, họ có thể tạo ra một gene nhân tạo khiến tế bào dừng phân chia.  Nhưng từ trước tới nay, các gene nhân tạo không có bất kỳ phức hợp nối exon nào trong RNA. Vì các phức hợp này đóng vai trò quan trọng trong biểu hiện gene nên việc bỏ chúng đi có thể dẫn đến tác động ngoài ý muốn. GS. He nói: “Khi phát triển các gene chỉ thị để biểu hiện gene hoặc dùng trong liệu pháp gene, người ta sẽ phải xem xét thêm một yếu tố điều tiết di truyền trong lúc thiết kế. [Các gene] có thể bị methyl hóa quá mức nếu không có bước này, nghĩa là chúng sẽ không bắt chước chính xác được quá trình tự nhiên”.  GS. He cho biết khám phá này là một bước tiến lớn trong nghiên cứu về sinh học và tiến hóa. Nhóm của ông đã quan sát thấy bằng chứng cho quá trình [methyl hóa nhờ các phức hợp nối exon] trong mọi sinh vật, ngoại trừ động vật có vỏ hay côn trùng. “Phát hiện này mang lại một cơ chế điều hòa biểu hiện gene mới và một con đường mới để điều chỉnh sự ổn định của mRNA nói chung. Chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm để hiểu đầy đủ ý nghĩa trong dài hạn”, GS. He nói.  Trang Linh lược dịch  Nguồnhttps://news.uchicago.edu/story/rnas-joints-play-key-role-our-gene-expression-uchicago-scientists-find    Author                .        
__label__tiasang Giải cứu “cơn khát” cho cao nguyên đá      Trong chuyến đi thăm và làm việc ở Hà Giang đầu năm 2007, sau khi chứng kiến những chiếc hồ “treo lơ lửng” giữa bạt ngàn núi đá vôi và núi tai mèo, cảnh bà con vùng cao nô nức gùi nước mang về, những đứa trẻ thích thú vùng vẫy dưới gáo nước mát, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định cấp khoảng 90 tỷ đồng cho tỉnh xây dựng 30 chiếc “hồ treo”- sản phẩm của đề tài “Giải pháp công nghệ hồ treo tạo nguồn nước phát triển bền vững dân cư kinh tế vùng cao” do TSKH Vũ Cao Minh, Viện Địa chất-Viện KH&amp;CN Việt Nam, làm chủ nhiệm.    “Cơn khát” mùa khô trên cao nguyên đá  Cao nguyên đá Hà Giang nằm ở phía Bắc của đất nuớc, nơi đây có bốn huyện nghèo vùng cao là Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh và Quản Bạ với khoảng 29 vạn dân chủ yếu là người H’Mông chiếm 75%, và phần lớn phân bố trên địa bàn đồi núi cao. Nằm ở độ cao trung bình trên 1200 mét so với mực nước biển, thiên nhiên ở đây thật hùng vĩ với những địa hình có độ dốc cao, hiểm trở, những dãy núi xanh tím trùng điệp nổi lên những vách đá dựng đứng, nhăn nhúm đan xen giữa những gân đá thô kệch bạc tuyếch lộ ra sự bào mòn của thời gian đi cùng với điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên. Thế mới biết sự chịu đựng của con người nơi đây phi thường đến nhường nào.  Khí hậu vùng cao này mang đậm màu sắc ôn đới và chỉ có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô nơi đây thường kéo dài từ cuối tháng mười năm trước đến đầu tháng tư năm sau. Tuy thuộc vùng tiểu mưa (1600-1900mm), một năm có khoảng gần 200 ngày mưa, nhưng điều khó hiểu là ở đây người dân vẫn thiếu nước trầm trọng mỗi khi mùa khô đến. Những ngọn núi trọc trơ không giữ nổi cái nước cho bà con dân bản. Mưa bao nhiêu, nước lại ngấm qua những khe đá nứt nẻ “chạy” mất tăm. Nguồn nước sinh hoạt được dân bản lấy từ những mó nước, hốc đá, khe suối hoặc lu chứa nước. Nhưng mùa khô đến, nước ở những hốc đá, khe suối cũng bị khô kiệt. Để săn lùng “cái vô cùng thiết yếu” cho cuộc sống này, bà con phải vượt bộ hàng chục cây số đồi núi, mất cả ngày trời mới gùi nổi một can nước mang về, chưa kể trên đường rơi vãi về đến nơi chẳng còn lại bao nhiêu. Cũng chẳng lấy gì làm lạ khi nhiều hộ vẫn còn phải dùng nước “quay vòng”, thậm chí ở một số nơi, những đứa trẻ một năm chỉ được tắm vài lần. Nước sinh hoạt đã khan hiếm như vậy thì nghĩ gì đến chuyện tìm nước tưới cho cây lúa, cây ngô ngoài nương khiến đời sống dân bản đã nghèo nay lại càng nghèo thêm. Đặc biệt ở thị trấn Mèo Vạc với gần 3 nghìn dân, nguồn nước được lấy từ những khe suối thượng nguồn lưu lượng dao động mạnh theo từng trận mưa, vào cuối mùa khô, lưu lượng chỉ còn 1lít/giây, không đủ dùng cho sinh hoạt buộc phải dùng xe téc chở nước từ nơi khác về cung cấp cho các hộ gia đình với giá đắt đỏ.  Nước ở vùng cao nguyên đá quý như vàng là vậy. Thiếu nước vẫn là nỗi lo đeo đẳng đồng bào vùng cao. Theo đánh giá, có đến 90% dân bản thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô.  Nhằm giải quyết “cơn khát” cho bà con, thực hiện chương trình 134, tỉnh Hà Giang đã tiến hành xây dựng hơn 3000 bể nước mưa, lu chứa nước, hệ thống dẫn nước tự chảy, 152 công trình nước sinh hoạt tập trung với tổng kinh phí hơn 11 tỷ đồng. Nhà nước và địa phương cũng đã trích ngân sách đầu tư hơn 165 tỷ đồng cho việc xây dựng những công trình cấp nước sinh hoạt. Nhưng mỗi khi mùa khô đến, cao nguyên đá vẫn “khát nước” trầm trọng.  Giải cứu “cơn khát” bằng công nghệ “hồ treo”  Qua khảo sát và thăm dò, các nhà khoa học phát hiện ra rằng, trong cái khô hạn của vùng cao lại tiềm ẩn một nguồn nước ngầm phong phú. Do cấu trúc địa hình và kiến tạo địa chất nên vùng cao không tồn tại những ao hồ, sông suối như những nơi khác. Sau mỗi trận mưa, nước trên những đỉnh núi cao nhanh chóng thấm sâu vào lòng đất theo những khe nứt, những đường đứt gãy kiến tạo rồi tập trung chảy dồn về những miền thấp tạo thành những dòng ngầm trong núi hoặc trong lòng đất. Đến một nơi nào đó, nước “xuất lộ” tạo nên những dòng suối, khe nước mà người dân bản thường gọi là mó nước. Nhưng đến lúc này, nguồn nước xuất hiện cách xa khu dân cư đến hàng chục cây số.            Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng quà cho đồng bào dân tộc huyện Đồng Văn        Đã có nhiều đoàn nhà khoa học cả trong và ngoài nước lên khảo sát nhằm tìm lời giải cho bài toán khan nước nơi đây với giải pháp “khoan nước”. Cao nguyên đá bạt ngàn với những dãy núi trùng điệp, cạnh đá tai mèo sắc nhọn thì việc khoan dò khác nào “tìm kim đáy bể”, tốn kém mà hiệu quả lại không cao. Không đi theo lối mòn, hướng nghiên cứu truyền thống, qua phân tích và xác định được nguồn nước vách núi không thường xuyên tiềm ẩn sau những trận mưa và những đặc điểm địa hình, địa chất, các nhà khoa học đã ứng dụng công nghệ hồ treo “giam” nước trên non cho dân bản, một giải pháp đơn giản nhưng đầy sáng tạo và hiệu quả.  Đặc điểm của công nghệ hồ treo là xác định nguồn nước trong núi, sau đó tiến hành “khai sơn phá thạch” bằng công nghệ khoan đào hoặc nổ mìn đưa nước vào hồ chứa. Đây là công nghệ tạo nguồn và quan trọng nhất đối với hồ treo để “mở cửa” kho nước núi. Vùng núi đá vôi có hiện tượng karst hòa tan, xâm thực và bào mòn đá vôi mạnh tạo thành những hang hốc để nước thấm sâu vào. Những phễu sụt karst có đường kính miệng tới 300-400m, sâu 50-70m được các nhà khoa học chọn làm hồ chứa. Công nghệ xử lý phễu karst là công nghệ quan trọng quyết định mức độ trữ nước của hồ treo. Việc gia cố nền hồ chứa là một công việc gian nan đối với các nhà khoa học và kỹ sư xây dựng. Bên cạnh áp dụng những kỹ thuật thông dụng như san lấp, nổ mìn phá đá, đầm nện, đổ bê tông cốt thép…, các nhà khoa học đã ứng dụng những tiến bộ công nghệ như vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp bao gồm vải lọc và màng chống thấm có tác dụng tránh rửa trôi, xói mòn ngầm, chống thấm. Vì đặc điểm hồ treo được xây dựng ở độ cao có cao trình cao hơn khu vực dân cư sinh sống nhằm thuận tiện cho những nơi chưa có điện lưới, buộc các nhà khoa học phải sử dụng công nghệ khoan ngang tạo đường dẫn nước từ phễu karst, qua những gờ núi đá tới khu vực dân cư. Khoan ngang là một công nghệ khó và mới được triển khai trong các ngành mỏ và nước ngầm giúp các kỹ sư không phải nổ mìn phá đá đào kênh. Bên cạnh những khó khăn về địa hình, địa chất, các nhà khoa học còn gặp phải những khó khăn do tập tục, nhận thức của người dân bản. TS Vũ Cao Minh tâm sự, “Khu vực núi đá vôi có rất nhiều phễu karst, và vì vậy phải chọn những phễu thích hợp để làm hồ chứa. Nhưng có một số phễu bà con trồng ngô ở đó và không thể thuyết phục bà con nhổ cây ngô đi để làm hồ chứa”.            Hồ treo Tả Lủng được xây dựng tại xã Tả Lủng, Mèo Vạc, Hà Giang        Đến nay, đã có nhiều hồ treo được hoàn thành và đưa vào sử dụng đáp ứng nhu cầu về nước sinh hoạt và nước tưới cho bà con vùng cao. Ở Hà Giang, chiếc hồ treo đầu tiên được xây dựng thử nghiệm tại bản Xà Phìn B, xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn với dung tích khoảng 3000 m3 đã trở thành giải pháp hiệu quả không chỉ dừng ở việc cung cấp nguồn nước mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh thái. Sau hồ Xà Phìn, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu xây dựng hồ treo Tả Lủng, xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc với dung tích 30.000 m3. Đối với hồ treo Tả Lủng, các nhà khoa học đã áp dụng những giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong việc gia cố đáy, thành hồ để đảm bảo không bị thẩm thấu và đục nước.  Hơn 1000m3 đá vôi được phá nổ, hàng chục hang hốc ngầm, khe nứt có đường kính từ 0,5-1,5m được san lấp và gia cố bằng vật liệu chống thấm. Ngoài hồ treo Xà Phìn và Tả Lủng, qua thăm dò, phân tích nguồn nước và địa hình, địa chất khu vực Nà Phạ, xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, các nhà khoa học tính toán trữ lượng nước nơi đây có thể lên đến 1 triệu m3/năm. TS Vũ Cao Minh cho biết, “Xây dựng hồ chứa nước ngay tại nguồn, nếu khai thác và tận dụng mọi khả năng, có thể cung cấp cho khoảng 3 vạn người với bình quân 150lít/người/ngày”. Những hồ chứa với công nghệ đặc thù cũng đã được xây dựng ở một số tỉnh phía Bắc khác như hồ treo Lúm Pè, Thuận Châu, Sơn La. Áp dụng những giải pháp gia cố, san lấp các cửa hang thoát nước để hình thành nên một hồ treo nhân tạo trông giống như một “Vịnh Hạ Long” thu nhỏ ở lưng chừng núi.  Sẽ có nhiều hồ treo…  Đối với vùng cao Hà Giang, những chiếc hồ treo đã trở thành nguồn “cứu sinh” giữ chân bà con dân bản ở lại với vùng đất đầy khắc nghiệt, là một nét đẹp văn hóa, đồng thời cũng là nơi kết dính và gặp gỡ của những cộng đồng vùng cao. Việc xây dựng hồ treo không chỉ giải quyết tình trạng khan hiếm nước ở các tỉnh miền núi phía Bắc, thay đổi tập quán dùng nước của đồng bào dân tộc thiểu số mà còn góp phần cải thiện, ổn định đời sống đồng bào dân tộc. Nguồn nước hồ treo trên vùng cao tác động mạnh đến cơ cấu mùa vụ và sắc thái kinh tế cho vùng này đồng thời thúc đẩy các hoạt động du lịch. Về hiệu quả kinh tế trong việc cấp nước sinh hoạt cao gấp10-15 lần so với hình thức xây dựng lu bể chứa nước đang được đầu tư. TS Vũ Cao Minh cho biết, “Kinh phí xây dựng 1m3 lu bể khoảng 0,5-1 triệu đồng trong khi kinh phí xây dựng 1m3 dung tích hồ treo chỉ khoảng 50-100 nghìn đồng”.  Niềm vui lại tiếp tục đến với đồng bào vùng cao, sau chuyến làm việc với tỉnh Hà Giang đầu năm 2007, ghi nhận hiệu quả rõ ràng của hồ treo Xà Phìn và Tả Lủng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định xây dựng 30 hồ chứa nước bằng công nghệ hồ treo, mỗi hồ khoảng 2-3 tỷ đồng giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính bố trí nguồn vốn để tỉnh thực hiện trong năm 2007-2008.  Về phía các nhà khoa học, TS Vũ Cao Minh cho biết, “Việc triển khai thành công giải pháp hồ treo đã khẳng định khả năng nhân rộng mô hình và tạo cơ sở công nghệ cho việc xây dựng những hồ trữ nước quy mô lớn 7-10 vạn m3, kết hợp cấp nước với phát triển du lịch tắm hồ, nghỉ mát lần đầu tiên cho đồng bào các dân tộc vùng cao nguyên đá và khách du lịch”. “Trong thời gian tới, giải pháp “hồ treo” sẽ được triển khai rộng rãi ở khu vực dân cư kinh tế vùng núi cao đá vôi Hà Giang, Điện Biên, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Bắc Cạn, Hòa Bình, Yên Bái, và những khu vực dân cư kinh tế ở các khu vực đồi núi vùng Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, miền Trung, Tây Nguyên và các hải đảo”, TS Vũ Cao Minh cho biết thêm.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải đáp bí ẩn dải băng Nam Cực      Nhóm nghiên cứu đại học Cardiff tại Wales đã đến Châu Phi để tìm kiếm những bằng chứng mới về biến đổi khí hậu giúp giải thích những bí ẩn xung quanh sự xuất hiện của những dải băng Nam Cực.      Nghiên cứu lớp vỏ của loài động vật Forams có kích cỡ bằng đầu kim tiết lộ nhiệt độ đại dương thực chất đã giảm 2,5oC. Đội nghiên cứu sẽ tìm kiếm các nguyên nhân cơ bản của hiện tượng hạ nhiệt toàn cầu bằng cách sử dụng forams. Họ tin rằng yếu tố đáng ngờ nhất là sự giảm dần lượng khí cacbonic trong bầu khí quyển kết hợp với khoảng thời gian quỹ đạo trái đất xung quanh mặt trời khiến cho mùa hè ở Nam Cực đủ lạnh để duy trì những dải băng trong suốt một năm.   Trà Mi (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải đoán động lực va chạm của chất rắn ở mức attosecond      Một nhóm nghiên cứu quốc tế từ Đức, Trung Quốc, Israel và Việt Nam đã giải đoán được động lực va chạm của các electron với các nguyên tử ở vùng lân cận trong chất rắn ở quy mô thời gian attosecond. Với phát hiện này, họ là nhóm đầu tiên trên thế giới nhận diện được cấu trúc và động lực của thông tin đã biết được mã hóa trong cấu trúc dải.    Nghiên cứu của họ “Neighboring Atom Collisions in Solid-State High Harmonic Generation” đã được xuất bản trên tạp chí Ultrafast Science. TS. Huỳnh Thanh Đức (Trung tâm Vật lý, Viện Cơ học và Tin học ứng dụng, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) là thành viên Việt Nam duy nhất trong nhóm.  Trong các mô phỏng của mình, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào phát xạ sóng hài bậc cao (HHG). Trong lĩnh vực vật lý chất rắn, thuật ngữ này được sử dụng để biểu thị một dạng rất đặc biệt của dao động ở một số mức cao hơn so với tần số cơ bản. Vai trò quan trọng của phát xạ sóng hài bậc cao trong nghiên cứu này nằm ở chỗ nó có thể tạo ra các xung ở quy mô thời gian attosecond, vốn được cho là “máy ảnh có tốc độ nhanh nhất thế giới” bởi sử dụng quang phổ để hiển thị chuyển động của các electron. Một attosecond là một phần tỉ của một phần tỉ một giây, hay 1 attosecond tương đương 1×10−18 một giây. Vì vậy, nếu trong trường hợp một attosecond tương đương với một giây thì một giây bằng độ tuổi của vũ trụ này.  Chỉ cho đến gần đây thì người ta mới quan sát được HHG trong các chất rắn ở dạng tinh thể, mở ra tiềm năng về cho các nguồn ánh sáng attosecond compact và xác định cấu trúc dải của các vật liệu rắn. Cấu trúc dải được miêu tả là trạng thái của các electron và các lỗ trong chất rắn tinh thể, cung cấp thông tin về trạng thái của cấu trúc electron, còn các lỗ trống như các vật mang điện tích dương của các chất bán dẫn…  Rất nhiều vấn đề của HHGs trong chất rắn vẫn còn chưa được hiểu một cách đầy đủ”, giáo sư Torsten Meier của ĐH Paderborn, trả lời. Đó là những gì mà nhóm nghiên cứu muốn thay đổi. Meier đã miêu tả mô phỏng của nhóm. “Nói một cách đơn giản, đó là các điện trường mạnh đặt vào các nguyên tử của một tinh thể đã tạo ra các điện tích di chuyển và các lỗ trống cùng lúc. Bức xạ xuất hiện khi các electron và các lỗ gặp nhau trong không gian – đó là sự va chạm – và phá hủy lẫn nhau. Đó là những gì chúng tôi muốn tái tổ hợp. Tương tự, chúng tôi quan tâm đến địa điểm diễn ra sự tái tổ hợp, và cách các electron và các lỗ chuyển động bên trong tinh thể. Chúng tôi đã có thể chứng minh bức xạ đã đem lại những thông tin quan trọng về cấu trúc dải, hay nói cách khác là về phạm vi liên kết và chuyển động bên trong tinh thể”.  Bằng việc phân tích các HHG sinh ra trong chất rắn, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc giải đoán động lực của các va chạm đã được mã hóa trong cấu trúc giải. Vì vậy về nguyên tắc thì các HHG sẽ đem lại một sự kết thúc va chạm. Giáo sư Xiaohong Song, một thành viên của nhóm nghiên cứu nói rằng: “Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã mơ về việc có được thông tin về nội cấu trúc và động lực học siêu nhanh. Thông thường chúng tôi không thể quan sát được dạng thông tin này một cách trực tiếp – nhưng các thiết bị quang phổ độ phân giải cao đã khiến cho việc này trở thành có thể. HHG đã chứng minh nó là một công cụ hữu dụng. Các electron có thể được phát ra bằng việc sử dụng các trường laser cường độ cao để kích thích một vật liệu, kết quả là dẫn đến bức xạ ở quy mô attosecond. Nếu electron va chạm với lỗ trống liên kết với nó trong một số điều kiện nhất định, các photon năng lượng cao, hoặc sóng hài cao, sẽ được phát ra. Các photon là những hạt ánh sáng nhỏ nhất tạo nên bức xạ điện từ”.  Các photon này lưu giữ thông tin cấu trúc và động lực học của các cặp electron – lỗ. Quang phổ HHG đã hiển thị mối quan hệ trực tiếp giữa các quá trình động lực của electron và lỗ. Hơn nữa, các nhà khoa học đã chứng tỏ sự va chạm giữa electron – lỗ và các nguyên tử lân cận phụ thuộc vào xung mà chúng nhận được từ trường laser.  Công trình của nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ thông tin va chạm được mã hóa trong cấu trúc dải. Họ đã thiết lập được một bản đồ rõ ràng giữa cấu trúc dải electron – lỗ và phổ sóng hài. Những kết quả này không chỉ đem đến một bức tranh thống nhất cho các quan sát thực nghiệm mà còn cải thiện thêm hiểu biết để có thể giúp thiết kế được bức xạ và có thể tạo ra những xung attosecond ngắn. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/news-releases/934632    Author                .        
__label__tiasang “Giải độc” cho cánh đồng      Từ mấy chục năm nay, thuốc trừ s&#226;u, chất diệt cỏ v&#224; diệt nấm được sử dụng ồ ạt v&#224; g&#243;p phần gi&#250;p gia tăng sản lượng n&#244;ng nghiệp. Tuy nhi&#234;n, t&#225;c động của những chất n&#224;y l&#234;n m&#244;i trường v&#224; sức khỏe con người đ&#227; gieo rắc sự nghi ngờ về t&#237;nh hiệu quả của ch&#250;ng. C&#225;c Ch&#237;nh phủ đang phải t&#236;m kiếm giải ph&#225;p thay thế. V&#224; dưới đ&#226;y l&#224; s&#225;u giải ph&#225;p&#8230;    Đất đai và nguồn nước bị nhiễm độc, cuộc sống của các loài sâu bọ có lợi và động vật hoang dã bị đe dọa, ung thư, tổn thương thần kinh hay rối loạn tuyến hormone và cơ quan sinh sản, cho dù đã được xác nhận hay chỉ mới nghi ngờ, tính hiệu quả của những loại thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ, vốn đã giúp sản lượng nông nghiệp Pháp tăng nhanh kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đang được lật lại. Hiện nỗi lo này đã được cụ thể hóa trong một số văn bản pháp quy. Chẳng hạn, trong đạo luật môi trường của mình, Pháp, nước tiêu thụ nhiều sản phẩm bảo vệ thực vật nhất châu Âu, quyết tâm trong mười năm nữa sẽ giảm đi 50% lượng thuốc trừ sâu sử dụng và đến năm 2010 sẽ loại bỏ tất cả những loại thuốc trừ sâu độc tố cao.   Quyết tâm của Pháp không phải là ngoại lệ. Tháng giêng 2009, Liên minh châu Âu đã quyết định siết chặt các quy định cho phép lưu thông những chất có khả năng gây ung thư hoặc độc hại đối với cơ quan sinh sản và hệ nội tiết con người. Kết quả: thêm hai mươi chất bị cấm lưu thông trên thị trường. Trước đó, nhiều cuộc tranh luận sôi nổi đã nổ ra bởi nhờ có thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, kể từ sau những năm 1960, sản lượng nông nghiệp của các nước châu Âu liên tục gia tăng. Một trong những lý lẽ được các nhà sản xuất đưa ra là nếu không sử dụng các biện pháp diệt nấm, sâu bệnh sẽ làm giảm gần 25% năng suất lúa mì. Mặc dù lý lẽ ấy rất thuyết phục nhưng Liên minh châu Âu vẫn quyết định triển khai chính sách giảm phụ thuộc vào thuốc trừ sâu. Kể từ thời điểm đó, nông dân buộc phải thích ứng với hoàn cảnh mới.   Ngành nông nghiệp sạch, tức không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, để thực hiện một công việc hết sức khó khăn này để thu được lợi nhuận và nhất là để bù đắp lại phần sản lượng giảm sút do không sử dụng thuốc trừ sâu, giá bán phải tăng thêm 30%. Chẳng hạn, với lúa mì, các thành viên của Hiệp hội nông nghiệp sạch Pháp cho biết họ thu được từ 2,5 đến 5 tạ/ha trong khi năng suất trung bình của cả nước Pháp là 7 tạ/ha.   Như vậy, liệu ta có thể giảm, thậm chí không sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp mà vẫn không đẩy giá bán lên cao được không? Một số thí nghiệm kết hợp các giải pháp thay thế với việc phun thuốc sâu chỉ rõ điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Chẳng hạn, thử nghiệm do Hiệp hội chuyển giao tài nguyên và đất đai nông nghiệp Pháp tiến hành trong năm năm (bắt đầu từ năm 2003) tại tám trang trại mẫu ở vùng Picardie cho thấy sản lượng vẫn duy trì ở mức bình thường trong khi lượng thuốc trừ sâu sử dụng giảm 37%. Để đạt kết quả ấy, các nông dân tham gia thử nghiệm đã giám sát cây trồng của mình bằng các dụng cụ dự báo số hóa, lựa chọn giống cây có khả năng chống chịu sâu bệnh cao, gieo hạt thưa hơn, muộn hơn và luân canh nhiều loại cây trồng. Dưới đây là một số giải pháp rất hiệu quả để khỏi phụ thuộc vào thuốc trừ sâu.   Liệu thực phẩm biến đổi gene (TPBĐG) có cho phép chúng ta khỏi sử dụng thuốc trừ sâu không?             Ngô là một trong những thực phẩm               biến đổi gene phổ biến nhất        Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, vào năm 2008, 92% đậu tương, 18% bông và 17% ngô canh tác ở Mỹ – quốc gia gieo trồng hơn 50% số cây biến đổi gene trên thế giới – được biến đổi gene để sản sinh ra chất toxin Bt (có tác dụng trừ sâu hại); 23% ngô và bông canh tác chứa gene có khả năng tiêu diệt cỏ dại; 40% ngô và 45% bông canh tác hội tụ cả hai đặc tính trên. Theo những người ủng hộ TPBĐG, ích lợi của việc gieo trồng các giống cây biến đổi gene này là chẳng cần phun thuốc trừ sâu. Monsanto, công ty đứng đầu thế giới về TPBĐG, khẳng định những giống cây tiết ra chất toxin Bt một cách tự nhiên, chẳng hạn giống ngô Yieldgard miễn dịch với bướm ống và bướm đêm Sesamia nonagrioides, không gây hại cho những loài sâu bọ khác vì tác dụng của Bacillus thurigeneeis chuyên biệt hơn so với các loại thuốc trừ sâu truyền thống. Tuy nhiên, ngoài những bàn cãi xoay quanh TPBĐG, những vấn đề “rất cổ điển” gắn liền với việc sử dụng thuốc trừ sâu cũng được đặt ra. Trước tiên là sự kháng thuốc. Hiện tượng này đã được nhóm nghiên cứu của giáo sư Bruce Tabashnik thuộc trường Đại học Arizona (Mỹ) phát hiện trên những ruộng cây thí nghiệm và mô tả vào tháng 2 năm 2008. Helicoverpa zea, một trong những loài sâu hại bông, đã phát triển khả năng chống chịu chất toxin mà cây bông biến đổi gene tiết ra. Điều này có nghĩa lượng thuốc trừ sâu giảm đi chỉ mang tính chất tạm thời. Theo những người ủng hộ TPBĐG, những giống cây chứa gene có khả năng tiêu diệt cỏ dại (bông, gai dầu, ngô và đậu tương RoundUp Ready của công ty Monsanto) không làm giảm đi lượng thuốc trừ sâu sử dụng mà tạo điều kiện để người nông dân lựa chọn những loại thuốc “phổ rộng”, vốn nổi tiếng ít độc hại cho con người. Nhưng, đây lại là một lý lẽ gây tranh cãi: một số công trình nghiên cứu, trong đó có công trình do các nhà khoa học thuộc trường Đại học Caen (Pháp) công bố hồi tháng 12 năm 2008, cho thấy: dù liều lượng thấp, những chất diệt cỏ ấy vẫn rất độc hại đối với cơ thể con người. Thế nên, ích lợi của việc sử dụng TPBĐG để hạn chế những bất cập của thuốc trừ sâu có lẽ chỉ mang tính tương đối.   1. Đa đạng hóa loại cây trồng  NGUYÊN LÝ  Trồng một loại cây trên cùng một mảnh đất nhiều năm liền sẽ tạo điều kiện cho sâu hại và động vật ký sinh xuất hiện. Do đó, cần đa dạng hóa cây trồng và để cho đất nghỉ một thời gian. Như thế, “kẻ thù” của cây trồng sẽ biến mất trước khi loài cây yêu thích được gieo trở lại bởi loài cây ấy không được trồng quá lâu nên sâu bọ chẳng có điều kiện sinh sôi.   Ứng dụng: cho tất cả các loại cây trồng  THỰC NGHIỆM          Ươm trồng chuối non trong PTN giúp tránh lây lan giun tròn ký sinh.         Tại quần đảo Antilles, phương pháp bỏ hóa đất và đa dạng hóa cây trồng được áp dụng để ngăn không cho giun tròn đục rễ cây chuối. Chẳng hạn, mía được trồng luân canh trên vùng đất chuyên trồng chuối. Ngoài ra, để giun tròn không lây lan sang những thửa đất khác, chuối con được nhân giống trong phòng thí nghiệm. Chỉ trong 10 năm, lượng thuốc trừ sâu sử dụng đã giảm đi 60% trong khi năng suất vẫn không thay đổi thậm chí còn tăng lên.   HẠN CHẾ  Kỹ thuật này cũng đã được áp dụng cho cây chuối trồng ở châu Phi, Nam Mỹ, Trung Mỹ và quần đảo Canaria (ở phía Tây Bắc châu Phi) nhưng lại không khả thi đối với dứa vì chi phí ươm trồng dứa con trong phòng thí nghiệm quá cao. Tuy nhiên, nguyên lý phá vỡ thế độc canh để ngăn chặn sâu hại gắn với một loại cây trồng nào đó (không thể sống được nếu thiếu loại cây trồng ấy) lại rất phổ biến.   2. Dùng thiên địch  NGUYÊN LÝ  Kẻ thù của kẻ thù tôi là bạn của tôi. Đây chính là nguyên lý của phương pháp sử dụng thiên địch. Hiện trên thị trường có bán khoảng năm mươi loài ăn thịt hoặc ký sinh trong cơ thể sâu hại cây trồng.   Ứng dụng: cho các loại cây trồng trong nhà kính, cây ăn quả, nho và ngô  THỰC NGHIỆM          Bướm ống phá hoại ngô. Có thể dùng ong vò vẽ để diệt loài sâu hại này.         Ong vò vẽ đã được sử dụng từ hơn hai mươi năm nay như thiên địch của bướm ống phá hại cây ngô. Chúng đẻ trứng lên trứng của loài bướm ống làm số lượng của loài bướm này giảm sút đáng kể. Ong vò vẽ (được bán theo tấm trên thị trường) có thể thay thế hoàn toàn chất diệt bướm hóa học và hiệu quả của chúng cũng rất cao. Vào năm 2008, ong vò vẽ được sử dụng trên hơn 100.000 ha, tức 1/4 diện tích cây trồng ở Pháp.   HẠN CHẾ  Phương pháp  rất hiệu quả đối với cây ngô này đã được sử dụng cho các loài cây trồng trong nhà kính và đang được triển khai ở các vườn cây ăn quả và các ruộng nho có giá trị gia tăng cao. Tuyển lựa thiên địch cho những giống cây lớn là một công việc khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể tạo điều kiện để sâu bọ có lợi sinh sôi (bằng cách duy trì các dãy hàng rào chẳng hạn). Ngoài ra, cũng có thể dùng phương pháp “đấu tranh sinh học”: cho vi sinh vật rải hormone sinh dục gây rối loạn hoạt động sinh sản của sâu hại (40% số người làm nghề trồng cây ở Pháp sử dụng phương pháp này).   3. Định hướng chọn giống cây trồng  NGUYÊN LÝ  Trong tự nhiên, một số loài cây có khả năng chống chịu sâu bọ. Đặc tính này có thể được bảo tồn bằng cách lai tạp khi chọn giống. Giải pháp này tỏ ra rất hiệu quả trong trường hợp muốn hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và không quá đặt nặng mục tiêu đạt sản lượng cao.   Ứng dụng: có khả năng ứng dụng cho tất cả các loại cây trồng  THỰC NGHIỆM          Chọn giống có khả năng chống chịu sâu bệnh cao sẽ mang lại hiệu quả KT        Thực nghiệm so sánh trên hàng chục ruộng lúa ở vùng Tây-Bắc Pháp vào năm 2006 cho thấy giống lúa mì Caphorn (có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và được gieo thưa hơn 40% so với các giống thông thường để hạn chế ký sinh trùng) đã giúp tiết kiệm 1/3 chi phí canh tác trung bình trên một hecta (năng suất giảm 7% so với giống thông thường). Trong ba năm tiến hành thực nghiệm so sánh, chi phí canh tác tiết kiệm được lên tới 35%.    HẠN CHẾ  Việc chọn ra giống có khả năng chống chịu sâu bệnh cao trong các loại cây trồng là hoàn toàn có thể. Nhưng nó lại đòi hỏi rất nhiều thời gian: cần trung bình mười một năm để chọn ra giống cây trồng trên diện tích lớn có khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Hơn nữa, những giống chống chịu sâu bệnh tốt lại thường có năng suất thấp hơn. Do đó, cần phân tích thật kỹ lợi ích kinh tế của những giống ấy cho người nông dân. Cũng như lúa mì, lúa mạch sắp được đưa vào trồng thử nghiệm so sánh.   4. Dùng cây trồng chăm sóc cây trồng  NGUYÊN LÝ          Cải cay giải phóng những hợp chất rất độc đối với nấm ký sinh ở cây trồng.        Các nhà dược lý học hiểu rất rõ nguyên lý này: cây trồng thường chứa những chất có khả năng tác động lên cơ thể sống chẳng hạn tác dụng chống ung thư của chất taxol chiết xuất từ cây thông đỏ. Trong nông nghiệp cũng vậy, một số chất do cây trồng sản sinh một cách tự nhiên có thể rất có lợi: hoặc chúng rất độc với sâu hại, hoặc chúng kích thích khả năng bảo vệ tự nhiên của cây trồng.   Ứng dụng: tùy theo thực nghiệm  THỰC NGHIỆM   Glucosinolate có trong cải cay tác dụng với enzyme hình thành lúc cây phân hủy để tạo thành hợp chất rất độc đối với một số loài nấm. Do loài cây này sinh trưởng trong vòng khoảng hai tháng nên giữa hai vụ chính có thể gieo cải cay, sau đó phá bỏ, cày nát cây cải này với đất để diệt nấm, bảo vệ cho cây trồng vụ sau. Kĩ thuật này đặc biệt hiệu quả đối với loại nấm gây bệnh nhũn gốc, táp nắng ở lúa mì (hiện vẫn chưa có loại thuốc hóa học nào trị được bệnh này).   HẠN CHẾ  Đã được nghiên cứu tại Viện nghiên cứu nông nghiệp Pháp (INRA), phương pháp này bảo vệ cải đường, cà rốt và khoai tây khỏi sâu bệnh. Tuy nhiên, hiệu quả của những chất chiết xuất từ tảo, hạt, bột cây cỏ hoặc tinh dầu sử dụng theo kinh nghiệm cần được chứng minh và rất khó tìm được những khoản đầu tư R&D cho thị trường ngách này.   5. Diệt cỏ dại tận gốc  NGUYÊN LÝ          Máy diệt cỏ Weedseeker phát hiện cỏ dại nhờ hệ thống cực quang.        Nguyên lý của phương pháp diệt cỏ cơ học là chọn lọc hoặc vùi lấp cỏ dại, còn nguyên lý của phương pháp “phẫu thuật” là sử dụng hệ thống phát hiện cây trồng để tác động theo từng vùng.   Ứng dụng cho loại cây trồng: những giống cây lớn, cây ăn quả, rau, nho  THỰC NGHIỆM  Cùng với nhóm nghiên cứu châu Âu, nhà nghiên cứu Nicolas Munier-Jolain làm việc cho đơn vị nghiên cứu sinh học và Quản lý các loài tự sinh của Viện INRA tại Dijon đã chứng minh: kết hợp phương pháp cơ học và hóa học giúp tiết kiệm 39% lượng thuốc diệt cỏ sử dụng trên các ruộng ngô mà năng suất không hề giảm sút.   HẠN CHẾ  Sử dụng phương pháp cơ học chỉ giúp diệt được khoảng từ 75 đến 85% lượng cỏ dại và không làm sạch cỏ ở giữa các luống cây hoặc trước khi cỏ nảy mầm. Hệ thống phát hiện cỏ dại hiện nay cũng có những hạn chế tương tự như vậy. Quả thật, máy diệt cỏ “Weedseeker” hoạt động dựa trên nguyên tắc nhận ra sự khác nhau giữa màu cây và màu đất không phân biệt được cây trồng và cỏ dại. Khả năng phát triển hệ thống có khả năng phân biệt các loại cây với nhau (giá cả phải chăng) vẫn đang được kiểm chứng. Do vậy, hiện tại, các chuyên gia máy móc đang tập trung chế tạo và điều chỉnh máy phun để hạn chế lượng thuốc trừ sâu sử dụng.   6. Tăng cường công tác dự báo  NGUYÊN LÝ  Một số bệnh nhanh chóng phá hoại cây trồng ngay khi vừa xuất hiện. Do đó, cần phun thuốc ngừa sâu bệnh khi thời tiết có dấu hiệu thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh. Tăng cường công tác dự báo thông qua hệ thống mô hình hóa rủi ro có tính đến những dữ liệu cụ thể (giống cây, đặc điểm thời tiết của địa phương, thời điểm gieo trồng và nảy mầm, tưới tiêu, …) cho phép giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu sử dụng.   Ứng dụng: cho những loại cây trồng đại trà trên cánh đồng  THỰC NGHIỆM                Viện nghiên cứu cây trồng Arvalis cho biết từ 1999 đến 2006, dụng cụ Midi-Lis của họ (giúp phòng bệnh mốc sương ở khoai tây) cho phép giảm trung bình từ hai đến sáu lần phun thuốc sâu so với mười hai lần phun liên tục ở các thửa ruộng canh tác những giống cây dễ nhiễm bệnh. Vào năm 2008, dụng cụ này được sử dụng trên 20.000 ha, tức 15% tổng diện tích canh tác khoai tây ở Pháp.   HẠN CHẾ  Có khoảng vài chục dụng cụ dự báo số hóa đang được sử dụng ở Pháp. Mỗi dụng cụ ứng với một loại cây trồng-sâu bệnh khác nhau. Tuy nhiên, chi phí để triển khai giải pháp này khá lớn và nhất là để có được những dữ liệu về thời tiết vùng chính xác, điều kiện quan trọng để dự báo tốt, cần đầu tư xây dựng một cơ sở nghiên cứu chuyên biệt.  HỒ THỦY AN dịch   (theo Science et Vie số 1099 tháng 4/09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải được bài toán 140 năm qua      Công thức Schwarz-Christoffel được hai nhà toán học phát triển hồi giữa thế kỷ thứ 19 để giúp họ thực hiện loại lập bản đồ, tuy nhiên trong 140 năm qua đã có một khiếm khuyết trong công thức này do chỉ áp dụng được cho các hình dạng không chứa các lỗ hoặc không có các chỗ không đều.      Nay GS.Darren Crowdy, Đại học Hoàng gia London,  đã bổ sung cho công thức Schwarz-Christoffel giúp nó có thể được sử dụng cho các hình dạng phức tạp hơn. Đây được cho là bước đột phá trong một lĩnh vực toán học gọi là lập bản đồ phù hợp và mở ra cho nhiều cơ hội mới, vì cách lập bản đồ phù hợp của ông có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.   Q.Hương (Theo Science Daily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải IgNobel      Trong số 10 giải Ig Nobel được trao tối 22/9 vừa qua tại ĐH Harvard, có cả phần mềm giúp đánh lừa các biện pháp đo lường khí thải trên các dòng xe chạy dầu diesel của hãng  Volkswagen, gây ra bê bối gian lận lớn nhất trong lịch sử xe hơi Đức.      Giải Ig Nobel là giải thưởng nhại theo giải Nobel, được trao tặng vào đầu mùa thu hằng năm, trước khi giải Nobel chính thức được công bố, cho 10 thành tựu “làm con người cười rồi sau đó phải suy nghĩ”. Giải thưởng do tạp chí khoa học hài hước Annals of Improbable Research (tạm dịch: Biên niên sử của những nghiên cứu đâu đâu) của Mỹ lập ra từ năm 1991 và trao hằng năm tại Đại học Harvard, nhằm chỉ ra rằng ngay cả những nghiên cứu tưởng như đâu đâu cũng có thể mang đến những kiến thức có ích. Tên gọi của nó được ghép từ từ ignoble với tên nhà bác học Nobel. Nhà vật lý Andre Geim là người đầu tiên được trao cả hai giải – Nobel 2010 với nghiên cứu về graphene và trước đó, IgNobel 2000 với nghiên cứu về việc cho ếch bay bằng lực từ.  Giải Ig Nobel năm nay được trao hôm 22/9 vừa qua cho các công trình sau:  •    Giải Sinh sản: Được trao cho Ahmed Shafik (Ai Cập) với công trình nghiên cứu về tác động của mặc quần làm từ các chất liệu polyester, cotton, hay len tới đời sống tình dục của chuột.  •    Giải Kinh tế: Được trao cho các nhà khoa học New Zealand và Vương quốc Anh gồm Mark Avis, Sarah Forbes, và Shelagh Ferguson với nghiên cứu đánh giá tính cách được cảm nhận của các loại đá từ góc độ bán hàng và marketing.  •    Giải Vật lý: Được trao cho các nhà khoa học Hungary, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ gồm Gábor Horváth, Miklós Blahó, György Kriska, Ramón Hegedüs, Balázs Gerics, Róbert Farkas, Susanne Åkesson, Péter Malik, và Hansruedi Wildermuth, với nghiên cứu vì sao ruồi trâu kỵ ngựa có lông bờm màu trắng và nghiên cứu vì sao chuồn chuồn cực kỳ thích đậu trên bia mộ màu đen.  •    Giải Hóa học: Được trao cho hãng xe hơi Volkswagen (Đức) với phần mềm có khả năng đánh lừa các biện pháp đo lường khí thải trên các dòng xe chạy dầu diesel của mình.  •    Giải Y học: Được trao cho nhóm gồm các nhà khoa học Christoph Helmchen, Carina Palzer, Thomas Münte, Silke Anders, và Andreas Sprenger (Đức) với khám phá nếu bạn có một chỗ ngứa ở phía bên trái cơ thể của thì bạn có thể làm cho bớt ngứa bằng cách nhìn vào gương và gãi phía bên phải của cơ thể (và ngược lại).  •    Giải Tâm lý: Thuộc về nhóm nhà khoa học Bỉ, Hà Lan, Đức, Canada, Mỹ gồm Evelyne Debey, Maarten De Schryver, Gordon Logan, Kristina Zuchotzki, và Bruno Verschuere với nghiên cứu trên 1.000 người nói dối để tìm hiểu xem bao lâu họ nói dối một lần và liệu có nên tin vào câu trả lời của họ hay không.  •    Giải Hòa bình: Được trao cho nhóm các nhà khoa học Canada và Mỹ bao gồm Gordon Pennycook, James Allan Cheyne, Nathaniel Barr, Derek Koehler, và Jonathan Fugelsang với nghiên cứu học thuật có tên gọi “Tiếp nhận và Phát hiện những chuyện tào lao làm ra vẻ sâu sắc”.  •    Giải Sinh học: Được trao chung cho hai nhà khoa học của Vương quốc Anh là Charles Foster, người đã từng sống hoang dã theo lối của con lửng, con rái cá, con nai, con cáo và con chim; và Thomas Thwaites (trong ảnh), người từng có ba ngày sống theo lối của một con dê. Ông đã chế ra những chân giả cho phép bước đi lâu theo kiểu bốn chân của dê. Ông cũng đã sống như… dê ở chỗ ăn cỏ (tất nhiên đã được nấu chín).  •    Giải Văn học: Được trao cho Fredrik Sjöberg (Thuỵ Điển) với ba tập tự truyện nói về thú vui sưu tập ruồi chết và chưa chết.  •    Giải Cảm nhận: Hai nhà khoa học người Nhật Bản Atsuki Higashiyama và Kohei Adachi đã tìm hiểu liệu các đồ vật trông có khác đi khi khi chúng ta cúi gập người và quan sát chúng qua khe hở của hai chân chúng ta.    Author                Đức Hưng        
__label__tiasang Giải mã bộ gien bạch đàn      Mới đây, các nhà công nghệ sinh học đã giải  mã bộ gien di truyền của cây bạch đàn (Eucalyptus) nhằm giúp con người  khai thác hiệu quả hơn loại cây phát triển cực nhanh này.     Nhà công nghệ sinh học người Nam Phi Alexander Myburg và nhóm các đồng nghiệp quốc tế của ông công bố trên tạp chí Nature: “Chúng tôi dường như đã xác định được hầu hết các gien mà cây bạch đàn cần có để chuyển hoá đường thành Cellulose, Hemicellulose và Lignin. Những thành phần này sẽ được sử dụng để tạo ra nhiên liệu sinh học và các nguyên liệu khác.”   Trong quá trình đó, 80 nhà khoa học thuộc 18 quốc gia đã phát hiện một điều bất ngờ: Khoảng một phần ba trong số 36.376 gien của cây bạch đàn có thể chuyển hoá thành protein, bộ phận cấu thành quan trọng nhất của mọi sinh vật, chúng xuất hiện ở dạng kép và móc nối với nhau. Qua đó có thể giải thích vì sao loại cây này lại lớn nhanh như vậy.  Ngoài ra, nhà nghiên cứu Myburg và nhóm của ông đã phát hiện một số lượng gien nhiều nhất ở cây bạch đàn Eucalyptus grandis trong số những loại cây được nghiên cứu, những gien này mã hoá những chất nhất định ở trong cây. Phổ biến nhất là chất Terpenes và nhiều loại dầu dễ bốc hơi có tác dụng bảo vệ cây trước sự tấn công của côn trùng và vi khuẩn. Nhưng cũng chính vì những loại dầu này, rừng bạch đàn dễ bị hoả hoạn.  “Sau này người ta có thể cấy những gien nhất định của bạch đàn vào vi khuẩn hay một loại men nào đó để sản xuất nhiên liệu sinh học. Trong tương lai có thể máy bay phản lực cỡ lớn dùng nhiên liệu bạch đàn tái sinh để hoạt động,” theo ông Myburg.  Tương lai mà nhà công nghệ sinh học Myburg vẽ ra có thể trở thành sự mở đầu tốt đẹp đối với Brazil, nơi có diện tích rừng bạch đàn lên đến 40.000 km2, lớn nhất thế giới.  Theo nhà nghiên cứu Myburg thì “ngay trong năm nay Brazil có thể bắt đầu trồng trên diện rộng bạch đàn biến đổi gien”. Các nhà khoa học đã can thiệp vào bộ gien di truyền của loại bạch đàn giống mới do đó chúng tạo ra một khối lượng Cellulose cao hơn so với loại bạch đàn thông thường.  Xuất xứ từ Australia, hiện bạch đàn được trồng ở hơn 100 nước, chủ yếu để lấy Cellulose và nguyên liệu làm giấy. Hiếm có loài cây rừng nào có sự phân bố rộng rãi như bạch đàn: Nếu cộng tất cả các vùng trồng bạch đàn trên thế giới lại thì được diện tích tương đương nước Anh.   Tuy nhiên việc trồng loại cây này cũng có những yếu tố bất lợi.  Bạch đàn hút rất nhiều nước và chất dinh dưỡng trong đất có thể làm cho mặt nước ngầm bị giảm sút. Điều này có thể dẫn đến khan hiếm nước ở một số vùng.   Việc trồng những cánh rừng bạch đàn bạt ngàn cũng bị chỉ trích một phần vì lấn đất rừng tự nhiên, mặt khác làm ảnh hưởng xấu  đến cuộc sống của người dân bản địa vì rừng tự nhiên vốn dĩ là nguồn sống của họ. Tuy nhiên nếu biết chọn địa điểm thì những cánh rừng bạch đàn mới trồng cũng có tác dụng phục hồi những vùng đất hoang hoá vì sình lầy.    Nhu cầu của thế giới đối với gỗ và giấy không ngừng tăng, do đó diện tích rừng bạch đàn cũng liên tục tăng. Sau bẩy năm kể từ khi trồng, người ta đã có thể chặt bạch đàn để lấy gỗ và làm bột giấy.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã cuộc sống bí ẩn của ong mật      Các nhà khoa học đã giải mã được bộ gene ong mật, tìm ra đầu mối về những hành vi xã hội phức tạp của chúng. Kết quả đã đưa ong trở thành loài côn trùng thứ 2 sau ruồi giấm và muỗi có bộ gene được giải mã.    Ong mật Apis mellifera tiến hoá chậm hơn các loài côn trùng khác nhưng lại có nhiều gene liên quan tới khứu giác hơn.  “Trong sinh học và y học, ong mật được dùng để nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh vực như bệnh dị ứng, khoa học thần kinh, lão khoa, hành vi xã hội và khoa chất độc”, giáo sư Gene Robinson, Giám đốc Đại học Illinois, nói.  “Dự án giải mã gene ong mật đã mở ra một nghiên cứu mới về ong giúp ích cho ngành nông nghiệp, nghiên cứu sinh học và sức khoẻ con người”.  Với một cơ cấu xã hội phát triển cao gồm hàng chục nghìn con ong thợ do một con ong chúa điều hành, bộ gene ong mật cũng giúp đẩy nhanh cuộc nghiên cứu gene liên quan tới hành vi xã hội.  Ong chúa sống lâu gấp 10 lần ong thợ và đẻ tới 2.000 quả trứng mỗi ngày. Cho dù có một bộ não nhỏ xíu, ong mật thể hiện khả năng nhận thức sâu sắc và biết cách liên tưởng giữa màu sắc, hình dáng và hương vị của bông hoa với thức ăn, gia tăng khả năng kiếm ăn của chúng. Các nhà khoa học đã phát hiện thấy ong mật có nguồn gốc từ châu Phi và phân tán tới châu Âu qua 2 cuộc di cư cổ đại.  Số gene liên quan tới khứu giác của ong mật vượt trội hơn hẳn số gene liên quan tới vị giác. Những con côn trùng này cũng có ít gene miễn dịch hơn so với ruồi giấm hay muỗi. Ong mật sử dụng pheromone để phân biệt giới tính, đẳng cấp và tuổi của các ong khác.  “Trình tự gene này là một bước quan trọng giúp tìm ra câu trả lời về một vấn đề cơ bản của sự tiến hoá xã hội: Tại cấp độ gene, cần phải có những gì để kiến trúc nên một loài côn trùng sống tập thể tiên tiến?”, giáo sư Edward Wilson tại Đại học Harvard, Mỹ, phát biểu.                                                                                                        M.T.(Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã dấu ấn hệ miễn dịch      Cơn cúm đầu tiên trong đời bạn có thể sẽ quyết định vận mệnh của bạn trong đại dịch cúm. Và đó chính là lý do vì sao các nhà khoa học đang cố gắng để giải mã dấu ấn hệ miễn dịch.       Cảnh sát ở Seattle, Washington đeo mặt nạ để phòng chống cúm trong đợt dịch cúm đã gây ra 50 triệu ca tử vong năm 1918. Ảnh: National Archives/Time Life/Getty.  Một đứa trẻ thường sẽ mắc cúm lần đầu khi được khoảng ba tuổi. Nếu đó là một cơn cúm nặng, nhiệt độ cơ thể sẽ tăng lên và các cơ bắp sẽ đau. Đứa trẻ còn quá nhỏ để có bất cứ kí ức nào về lần cúm đầu tiên đó, nhưng hệ miễn dịch của nó lại “ghi nhớ” rất rõ ràng.   Khi virus xâm nhập vào cơ thể trẻ, sự hiện diện của nó thúc đẩy một nhóm các tế bào miễn dịch còn non trẻ và chưa được lập trình cạnh tranh với nhau để trở thành kẻ theo đuổi và tiêu diệt cúm. Các tế bào chiến thắng –  các tế bào “trói chặt” virus nhất – đã lưu trữ những kí ức về mầm bệnh, sẵn sàng nhận ra và tấn công nó vào lần tiếp theo.  Nhưng virus cúm luôn biến đổi về hình dạng. Các vùng của protein ngoài cùng có thể đột biến khi nó sao chép, cho phép virus cúm tránh bị hệ miễn dịch phát hiện. Sau này, khi bị nhiễm các chủng cúm mới, hệ miễn dịch sẽ phản ứng dựa trên lần tiếp xúc đầu tiên với virus cúm: cơ thể chúng ta phản ứng mạnh mẽ với các vùng của virus đã bị nhận diện, nhưng lại bỏ qua bất cứ vùng nào đã biến đổi. Các tế bào miễn dịch đơn giản là không thể sản sinh ra bất kì kháng thể mới phù hợp với virus đột biến.   Chính xác cách mà hệ miễn dịch ghi lại dấu vết của chủng cúm đầu tiên [mà một người] chạm trán vẫn còn là một câu đố trêu ngươi các nhà nghiên cứu cúm. Và lời giải cho câu đố đó có thể giúp chống lại virus cũng như cải thiện vaccine.   Các nhà khoa học cho rằng việc hiểu cách thức hoạt động của dấu ấn miễn dịch có thể giúp dự đoán ai sẽ là người chịu đựng nhiều nhất từ cúm mùa cũng như đại dịch. Bằng chứng cho thấy rằng một số người có xu hướng mắc bệnh nặng hơn trong các đại dịch cúm chết người vì lần đầu tiên mắc cúm họ đã tiếp xúc với một phiên bản khác của virus (so với virus gây ra đại dịch). Các nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là lý do tại sao những người trẻ tuổi lại có tỷ lệ tử vong cao hơn các nhóm tuổi khác trong đại dịch năm 1918, trong đó ước tính khoảng 50 triệu người đã chết trên toàn thế giới.  Kiến thức về dấu ấn miễn dịch có thể giúp các nhà virus học phát triển các loại vaccine mùa hiệu quả hơn, có thể chống lại các chủng virus lưu hành trong vài năm. Đồng thời giúp mở ra cơ hội tìn vaccine cúm vạn năng đã được mong đợi từ lâu để có thể giúp bảo vệ con người khỏi các loại cúm hoàn toàn mới – và có khả năng gây đại dịch.  Dấu ấn miễn dịch dường như cho phép cơ thể chúng ta có thể đối phó với các chủng cúm liên quan đến lần nhiễm cúm đầu tiên. Khả năng miễn dịch rộng như vậy thường được xem là một dấu hiệu cho thấy hệ thống miễn dịch có thể được “huấn luyện” để mang lại một khả năng bảo vệ rộng hơn. Aubree Gordon, một nhà dịch tễ học tại Đại học Michigan ở Ann Arbor cho biết: “Chúng tôi hy vọng chúng ta có thể tạo ra một phản ứng miễn dịch bảo vệ rộng hơn”.   Vaccine cúm có một số hạn chế: Hiệu ứng bảo vệ của chúng biến mất sau vài tháng, và chúng cũng chẳng mấy hiệu quả ngay cả trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó; trong mùa cúm 2017-2018 ở Hoa Kỳ, những người được tiêm vaccine chỉ bị nhiễm cúm ít hơn 36% so với những người chưa được chích ngừa, mặc dù tiêm vaccine có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng ở những người bị bệnh.  Hiểu biết về dấu ấn miễn dịch có thể giúp giải thích những hạn chế đó. Nhưng ngay bây giờ, các cơ chế đằng sau quá trình này vẫn chưa được hiểu rõ, theo Jennifer Nayak, một nhà miễn dịch nhi khoa tại Trung tâm Y tế Đại học Rochester ở New York. Scott Hensley, nhà miễn dịch virus tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia cho biết, việc nắm bắt được cơ chế hình thành dấu ấn miễn dịch rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu đang hy vọng điều chỉnh một loại vaccine phổ quát để phù hợp với những người bị nhiễm cúm trước đây. “Tiêm một loại vaccine giống nhau cho những người khác nhau sẽ có khả năng gợi ra những phản ứng miễn dịch khác nhau, tùy thuộc vào lịch sử nhiễm cúm của họ,” Scott Hensley nói.   Vào tháng Tư năm 2018, Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ (NIAID) tại Bethesda, Maryland, đã kêu gọi các nhà nghiên cứu đưa ra các dự án nhằm tìm hiểu tác động của việc [virus cúm] in dấu ấn lên khả năng miễn dịch, như một phần trong nỗ lực lớn hơn để tài trợ cho việc nghiên cứu vaccine cúm toàn cầu. Cơ quan này có kế hoạch chi 5 triệu USD cho một nghiên cứu lớn nhằm theo dõi trẻ sơ sinh từ ít nhất ba mùa cúm để khám phá ở cấp độ phân tử về cách hệ thống miễn dịch của chúng phản ứng với phơi nhiễm ban đầu, những lần nhiễm sau và việc tiêm phòng cúm sau đó. Chích ngừa cúm thường được khuyến nghị cho bé trên 6 tháng tuổi.   Virus cúm trong thực tế rất đa dạng. Loại virus chính gây bệnh ở người cũng được chia ra làm nhiều loại nhỏ hơn, được đặt tên theo protein trên bề mặt của chúng: có 18 dạng protein haemagglutinin (HA) đã được biết đến và 11 loại protein neuraminidase (NA). Mỗi phân nhóm virus có một biến thể HA và NA. Ghép chúng lại với nhau, chúng ta có thể đặt tên cho virus – chẳng hạn như H1N1 hoặc H3N2. Một số đã được phát hiện chỉ lây nhiễm trong một số nhóm động vật nhất định, nhưng một số khác có thể biến thành các phiên bản mới có khả năng lây nhiễm cho con người.  Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng cơ thể có thể tạo ra một phản ứng rộng đáng ngạc nhiên, thậm chí chống lại virus có thể tự biến đổi như cúm. Theo ông Kelyn Ginto, một nhà dịch tễ học tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), “Influenza [cúm] là một trong những loại virus được nghiên cứu kĩ lưỡng nhất trên hành tinh. Chúng tôi đang khám phá một lục địa hoàn toàn mới trong một thế giới mà chúng tôi cứ nghĩ đã biết rất rõ về nó”.  Nghiên cứu nền tảng  Khái niệm về in dấu miễn dịch được Thomas Francis, nhà virus học và nhà dịch tễ học tại Đại học Michigan đưa ra. Công trình nghiên cứu trong những năm 1940 và 1950 của ông lần đầu tiên cho thấy các cá nhân tạo ra phản ứng kháng thể mạnh hơn khi tiếp xúc lại với chủng cúm mà họ bị nhiễm đầu tiên từ khi còn là một đứa trẻ, so với các chủng cúm khác mà họ gặp phải sau này.  Kể từ đó các nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát triển khái niệm này. Trong một nghiên cứu trên 150 người ở độ tuổi 7 đến 81 ở miền Nam Trung Quốc, các nhà khoa học đã đo nồng độ kháng thể chống lại một số chủng virus cúm khác nhau để xem xét hệ cách thống miễn dịch của họ phản ứng với các chủng cúm mà họ bị nhiễm ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời.     Đóng băng lưu trữ các dòng virus cúm ở Viện Y tế Hoa Kỳ (US National Institutes of Health). Ảnh: Carolyn Kaster/AP/Shutterstock  Họ nhận thấy rằng sau lần nhiễm đầu tiên, các chủng tiếp theo có ảnh hưởng giảm dần đến phản ứng của hệ miễn dịch, theo Justin Lessler, nhà dịch tễ học tại Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins Bloomberg ở Baltimore, Maryland, đồng tác giả của nghiên cứu. Mặc dù dấu ấn miễn dịch đóng một vai trò quan trọng, việc chỉ tập trung vào điều đó có thể khiến chúng ta bỏ lỡ các khía cạnh quan trọng về cách miễn dịch với virus cúm phát triển qua nhiều lần phơi nhiễm, Lessler cho biết.  Vào năm 2009, một loại cúm mới đã xuất hiện ở Mexico, dẫn đến một đại dịch đồng thời mang đến cho các nhà nghiên cứu một trong những cơ hội tốt nhất để nghiên cứu về dấu ấn miễn dịch bằng các phương pháp miễn dịch hiện đại. Một loạt các nghiên cứu cho thấy rằng virus đã tạo ra một phản ứng miễn dịch mạnh đến mức nó đánh thức khả năng miễn dịch cực rộng ở những người mắc bệnh, thứ tưởng như đã ngừng hoạt động kể từ lần in dấu đầu tiên. Cơ thể nhiều người đã tạo ra các kháng thể có thể tấn công không chỉ chủng cúm mới mà cả các chủng tương tự thuộc cùng loại rộng.  Trong một bài báo trên tạp chí Science năm 2016, Ginto và các đồng nghiệp đã phân tích tất cả các trường hợp cúm ở người khi nhiễm hai loại cúm gia cầm là H5N1 và H7N9, đang lây lan ở sáu quốc gia. Hai loại virus ảnh hưởng đến các nhóm tuổi khác nhau. H5N1 chủ yếu lây nhiễm cho người trẻ, trong khi hầu hết tất cả các trường hợp mắc H7N9 là ở người lớn tuổi. Bằng cách thống kê năm sinh của các ca bị cúm, họ thấy rằng sự nhạy cảm đột ngột thay đổi vào năm 1968 – những người sinh ra trước đó dễ bị H7N9 hơn và những người sinh ra sau dễ bị nhiễm H5N1 hơn.  Những người này chưa từng nhiễm cả hai loại trước đây. Nhưng tùy thuộc vào thời điểm họ được sinh ra, họ đã gặp phải các chủng cúm tương tự. Các chủng cúm có thể được chia thành hai nhóm theo các đặc điểm nhất định của protein HA. H5N1 thuộc cùng nhóm rộng với H1N1 và H2N2 – các chủng cúm mùa phổ biến trước năm 1968.  Bất cứ ai sinh ra trước năm đó đều đã được dấu ấn miễn dịch của một trong các chủng nhóm 1 này và được bảo vệ khỏi H5N1. Nhưng vào năm 1968, mọi thứ đã thay đổi: một đại dịch H3N2 xảy ra và trở thành tiểu loại cúm mùa duy nhất. Do đó, hầu hết những người được sinh ra sau năm 1968 đều bị nhiễm chủng H3N2, một loại virus thuộc nhóm 2. Biến thể H7N9 cũng thuộc chung nhóm – rất nhiều người sinh sau năm 1968 đã được bảo vệ chống lại nó.   Phát hiện cho thấy rằng việc nhiễm virus từ một trong hai nhóm HA có thể mang lại sự bảo vệ chéo rộng rãi chống lại các phân nhóm mới trong cùng một nhóm lớn, thách thức các giả định của các chuyên gia y tế công cộng rằng hầu hết mọi người sẽ không có hoặc có rất ít sự bảo vệ trong đại dịch, thường được gây ra bởi sự xuất hiện các tiểu loại cúm mới. Sức mạnh của hiệu ứng bảo vệ chống lại việc nhiễm nghiêm trọng H5N1 và H7N9 là rất đáng chú ý, chuyên gia sinh thái bệnh James Lloyd-Smith, đồng tác giả của bài báo và cũng tại UCLA. Bằng việc mô hình hóa, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc in dấu miễn dịch thời thơ ấu đã bảo vệ tới 75% khi chống lại căn bệnh nghiêm trọng và 80% khỏi tử vong do các loại virus cúm gia cầm này.    Dịch cúm 1918 đã gây ra cuộc khủng hoảng y tế trầm trọng. Ảnh: Time.   Sự khác biệt về tính nhạy cảm giữa các nhóm tuổi khác nhau đã được quan sát thấy trong các đại dịch khác. Trong đại dịch năm 1918, bởi do một tiểu loại bệnh cúm gây ra, những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất là những người trẻ tuổi có khả năng bảo vệ rộng rãi chống lại H3N8, loại virus có mặt rộng rãi từ năm 1889 đến 1918 khi họ còn nhỏ. H3N8 thuộc về một nhóm khác với H1N1. Đại dịch cúm 2009 gây ra bởi một biến thể của bệnh cúm, ngay cả như vậy, rất ít trường hợp người cao tuổi mắc bệnh – những người đã có dấu vết miễn dịch của phiên bản trước đó của H1N1 rất phổ biến sau đại dịch năm 1918, theo Patrick Wilson, nhà miễn dịch học tại Đại học Chicago ở Illinois. Một loại virus H1N1 cũng xuất hiện vào những năm 1970: nó rất giống với một chủng trước đây đến nỗi các nhà khoa học đã nghĩ rằng nó đã vô tình bị thoát ra ngoài từ phòng thí nghiệm hoặc việc thử nghiệm vaccine. “Thật thú vị khi nhìn vào thời điểm bạn sinh ra và suy ra dấu ấn miễn dịch đầu tiên của bạn là gì”, Hesley cho biết.   “Ưu tiên bây giờ là tìm ra cách cơ thể người in dấu chủng cúm đầu tiên bị nhiễm. Chúng tôi cần phải tìm ra cơ sở miễn dịch của điều đó là gì”, Hensley nói.  Trong thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một bảng kỹ thuật để nghiên cứu dấu ấn miễn dịch ở cấp độ phân tử. Chẳng hạn, thật dễ dàng kiểm tra mức độ của tất cả các kháng thể được tạo ra để đối phó với cơn cúm, nhưng để đi đến gốc rễ của việc in dấu miễn dịch đòi hỏi phải có khả năng tập trung vào các tập hợp các kháng thể có khả năng tạo ra khả năng miễn dịch rộng. Ví dụ, các nhà nghiên cứu hiện có thể sắp xếp và phân tích hàng trăm ngàn tế bào đơn lẻ và họ có thể sử dụng trình tự đơn bào để mô tả những thành phần chính của hệ thống miễn dịch trước và sau khi các tế bào phản ứng với  sự nhiễm trùng đầu tiên của chúng. Các nhà khoa học muốn biết làm thế nào những tế bào đó tạo ra một phản ứng lâu dài như vậy đối với bệnh cúm trong tương lai.  “Các công cụ của chúng tôi giờ đây đã được tinh chỉnh hơn nhiều, cung cấp một cái nhìn cực kỳ chi tiết về những gì xảy ra khi tiếp xúc lần đầu, và tiếp xúc lại với vắc-xin cúm và cúm” ông Buddy Creech, giám đốc Chương trình nghiên cứu vaccine Vanderbilt tại Trung tâm y tế Đại học Vanderbilt ở Columbia, Tennessee chia sẻ. Ông chỉ đạo Sáng kiến Vaccine Cúm Toàn cầu, một dự án của nhiều trường đại học được bắt đầu từ tháng 10 năm 2017 để nghiên cứu phản ứng miễn dịch đối với bệnh cúm và khả năng miễn dịch rộng có thể được kích hoạt như thế nào. Một khi các cơ chế đó được hiểu rõ hơn, chúng có thể được tái tạo để giúp vaccine mở rộng phạm vi hoạt động, Nayak nói thêm.  Sức mạnh của cộng đồng  Đối với các nhà nghiên cứu muốn áp dụng các công cụ này, các nhà tài trợ như Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ và Quỹ Bill & Melinda Gates đang từng bước giúp đỡ. Quỹ Gates đã công bố một khoản tài trợ trị giá 12 triệu USD vào tháng Tư năm 2018 để hướng tới các dự án thí điểm nhằm phát triển vaccine cúm phổ thông, bao gồm việc in dấu và các đặc điểm khác của phản ứng miễn dịch, đồng thời ưu tiên các dự án có rủi ro cao hơn.      Chính xác cách mà hệ miễn dịch ghi lại dấu vết của chủng cúm đầu tiên [mà một người] chạm trán vẫn còn là một câu đố trêu ngươi các nhà nghiên cứu cúm. Và lời giải cho câu đố đó có thể giúp chống lại virus cũng như cải thiện vaccine.       Trong cùng tháng đó, NIAID đã đưa ra lời kêu gọi trị giá 5 triệu USD cho các dự án theo dõi một số lượng lớn trẻ em trong ít nhất ba mùa cúm và có khả năng trong nhiều năm sau đó. Mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu, theo NIAID, là cung cấp thông tin giúp các nhà nghiên cứu thiết kế các loại vaccine phổ quát, lâu dài. Cho đến nay, nghiên cứu về phơi nhiễm thời thơ ấu đã bị hạn chế, vì vậy lời kêu gọi của NIAID là cần thiết hơn bao giờ hết. Hầu hết các nghiên cứu về bệnh cúm ở trẻ em đều ở quy mô nhỏ, và chưa chú ý mô tả lịch sử phơi nhiễm của từng cá nhân đủ vững chắc, Nayak nói thêm. Điều này khiến cho việc xác định liệu dấu ấn miễn dịch có xảy ra hay không trở nên khó khăn, chưa nói gì đến việc tìm ra cơ chế hoạt động.   Một phần của vấn đề là việc theo dõi hệ thống miễn dịch trẻ sơ sinh đòi hỏi phải lấy máu nhiều lần. Như cách đây 5 năm, các xét nghiệm yêu cầu rút 10-20 ml máu, khiến việc theo dõi miễn dịch ở trẻ nhỏ trở nên không thực tế (một trẻ sơ sinh nặng 3 kg chỉ có 240 ml máu). Nhưng những tiến bộ trong công nghệ đã vượt qua trở ngại đó. Hensley cho biết, với các xét nghiệm đơn bào, bạn có thể thực hiện nghiên cứu miễn dịch kỹ lưỡng chỉ với 1 đến 2 ml máu.   Những kỹ thuật này cho phép các nhà nghiên cứu xác lập danh mục phơi nhiễm và tiêm chủng cho trẻ sơ sinh chính xác theo thời gian và phác họa một bức tranh chi tiết về mức độ miễn dịch khác nhau khi bị kích thích bởi nhiễm trùng tự nhiên so với tiêm chủng. Lời kêu gọi của NIAID cũng nhằm mục đích bổ sung các nghiên cứu đoàn hệ (cohort studies) khác về bệnh cúm trên toàn thế giới.  Cơ quan này đã hỗ trợ nghiên cứu dịch cúm bằng đoàn hệ tại Nicaragua, Hồng Kông và New Zealand, nhưng không tập trung vào việc in dấu miễn dịch. Gordon điều hành đoàn hệ Nicaragua đang nghiên cứu về tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm ở trẻ em. Đây cũng là đoàn hệ lớn duy nhất được thiết lập để ghi danh và theo dõi trẻ em từ khi sinh ra, do đó rất phù hợp để nghiên cứu dấu ấn miễn dịch.   Đối với các nhà khoa học muốn truy tìm một vaccine cúm phổ thông, các nghiên cứu đoàn hệ là một trong những chiến lược đa hướng. Họ cũng sẽ cần nghiên cứu sinh học virus cơ bản và tìm ra các thành phần mới cho vaccine, Creech nói. “Chúng tôi thực sự phải giải quyết vấn đề từ cả hai phía”. □  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05889-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã hệ gene để cải tạo giống nòi      Nếu được đầu tư bài bản, đến năm 2015, nước  ta có thể thực hiện giải mã hệ gene khoảng 100 người Việt Nam, không chỉ giúp phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh mà còn tìm  kiếm các gene tốt nhằm cải tạo giống nòi.    PGS.TS Nông Văn Hải, Viện Công nghệ sinh học, cho biết như trên tại buổi làm việc giữa Bộ KH-CN Việt Nam với Viện KH-CN Việt Nam về “Dự án khả thi giải trình tự và phân tích bộ gene người Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội ngày 27/6.  Tìm gene tốt  Theo PGS.TS Nông Văn Hải, từ những năm 80 của thế kỷ trước, trên thế giới đã có các chương trình, dự án giải mã gene như dự án Genome người do Mỹ đứng đầu với khoảng 20 nước và vùng lãnh thổ tham gia, thực hiện trong 15 năm (1989-2003) đã giải mã hoàn chỉnh hệ gene người của 5 cá thể đại diện 5 chủng tộc người trên thế giới.  Gần đây, dự án 1.000 hệ gene quốc tế do Anh, Mỹ và nhiều nước khác thực hiện nhằm giải mã, phân tích đặc điểm hệ gene của 1.000 cá thể người trên thế giới, đến nay đã giải mã xong 4 người.   PGS.TS Hải cũng cho biết, kết quả nghiên cứu từ các dự án, chương trình cho thấy, các chủng tộc, các cá thể người giống nhau đến 99,9% và chỉ khác nhau về một tỷ lệ rất nhỏ (0,1%) về cấu trúc hệ gene. Tuy nhiên, phần khác biệt rất nhỏ này lại có ý nghĩa quyết định đối với đặc điểm nhân chủng học, sức khỏe giống nòi của cả một dân tộc, là yếu tố di truyền liên quan đến sức khỏe của mỗi cá thể.  Tại Việt Nam, Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ gene, Viện Công nghệ sinh học đã giải mã thành công hệ gene ty thể hoàn chỉnh người, đại diện cho 3 dân tộc đông dân là Kinh, Tày, Mường, mỗi dân tộc 3 cá thể. Ngoài ra, đã giải mã hàng chục gene khác của người, ứng dụng phân tích gene ty thể để giám định hài cốt liệt sỹ. Viện cũng đang tiến hành một số nghiên cứu phân lập và biểu hiện gene người có giá trị làm dược phẩm, kít chẩn đoán bệnh.  “Việc giải mã, so sánh toàn bộ hệ gene biểu hiện (exome) của một số người mắc các bệnh như các bệnh di truyền, bệnh ung thư, tiểu đường, tim mạch… ở Việt Nam giúp phát hiện các chỉ thị phân tử cho chẩn đoán và điều trị bệnh. Bên cạnh đó, giải mã hệ gene của các cá thể có thể trạng tốt, tuổi thọ cao (trên 100 tuổi), các tài năng đặc biệt về thể thao, toán học, âm nhạc, khoa học, quản lý… sẽ tìm kiếm được các gene có liên quan nhằm cải tạo giống nòi” PGS Nông Văn Hải nói.  Đề xuất lập Viện Nghiên cứu hệ gene  PGS.TS Trương Nam Hải, Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học cho rằng, việc nghiên cứu cấu trúc và chức năng toàn bộ các gene cơ thể là một vấn đề khoa học cơ bản có định hướng ứng dụng hết sức quan trọng. Đặc biệt, mỗi nước phải đầu tư giải mã hệ gene cho người của dân tộc mình và khó ai có thể làm hộ, làm thay.  Theo PGS.TS Nông Văn Hải, để thực hiện mục tiêu, từ nay đến năm 2015 cần phải thành lập ngay Viện Nghiên cứu hệ gene (Genome) thuộc Viện KH-CN Việt Nam với quy mô từ 20- 30 người là các chuyên gia về hệ gene. Viện Nghiên cứu hệ gene sẽ được đầu tư trang thiết bị cần thiết, hiện đại để thực hiện việc giải mã và phân tích hệ gene người Việt Nam. Đến năm 2020, nâng cấp Viện Nghiên cứu hệ gene thành đơn vị nghiên cứu quốc gia thuộc Viện KH-CN Việt Nam với nhân sự từ 50-70 người và đến năm 2030 nâng cấp quy mô Viện Nghiên cứu hệ gene lên mức từ 150-180 người.  Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ KH-CN Lê Đình Tiến cho rằng, nghiên cứu hệ gene người Việt Nam có giá trị khoa học và thực tiễn lớn. Việt Nam với dân số hiện nay xấp xỉ 87 triệu người với 54 dân tộc anh em, Viện KH-CN Việt Nam cần xây dựng ngay một chiến lược lâu dài và chương trình cụ thể về nghiên cứu ứng dụng liên quan đến hệ gene và sức khỏe giống nòi người Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã sự lập trình của tạo hóa      Đã từng có khẳng định rằng, ở đâu mà khoa học còn vắng bóng ở đó có đức tin (tín ngưỡng). Cũng chưa hẳn thế, ngay ở những&#160; nơi, những lúc mà khoa học là chủ đạo thì ở đó vẫn có đức tin, có bí ẩn tâm linh song song tồn tại. Mở đầu một năm mới, cũng là lúc thử luận bàn về khoa học và sự huyền bí tâm linh.      Đức Tin   Với gần một nửa nhân loại đức tin được dành cho một đấng duy nhất, Chúa Trời (God, Alla), đó gọi là tín ngưỡng Đơn Thần. Những nhà tiên tri, đều là người trần, được tôn thờ như là sứ giả của Chúa Trời, mang thông điệp và lời răn của Chúa Trời đến cho con dân của chúa. Từ thuở hồng hoang đến nay, tổng cộng có 25 nhà tiên tri và sứ giả, trong đó 23 của đạo Do Thái, từ Adam là người đầu tiên  đến Yahva (John) là thứ 23, sứ giả thứ 24 là Jesu của Kito giáo và sứ giả thứ 25 là Mohamet của đạo Islam (Hồi) và theo khẳng định của đạo Islam, thì Mohamet cũng là người cuối cùng, từ nay Chúa Trời không gửi sứ giả nào đến nữa. Những lời của Chúa giao cho họ mang đến được  ghi lại trong các Sách mặc khải (revealation Book), ví như Cựu ước của Do Thái, Phúc âm (Gospel) của Jesu hay Q’uran của Mohamet. Với một phần nhân loại còn lại thì đức tin dành cho nhiều thần linh –Đa thần giáo, như Đạo Hindu, Bàlamôn, Bái vật giáo… hoặc dành cho một triết thuyết với người đứng đầu mà họ tôn sùng – Nhân thánh giáo, như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Thần giáo v.v. Và nhóm cuối cùng, không dành đức tin cho Chúa, Thần hay Thánh nào cả, chỉ tin vào nhân loại và vũ trụ, họ tự nhận là người Vô thần. Vì là đức tin, đơn giản “tôi tin như vậy” cho nên dù bài xích lẫn nhau, thậm chí đánh giết nhau, nhưng vẫn song song tồn tại. Tất nhiên lại càng không thể bàn đến chuyện luận cứ khoa học của Đức tin. Tuy đã có đầy đủ các hình thức của Đức tin, được giáo huấn đầy đủ về con người và cuộc đời rồi, nhưng con người vẫn liên tục tìm cách khám phá bí mật của đời người. Dù thuộc nhóm đức tin nào, dù muốn hay không, thì với nhân loại, việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là Bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay, và có lẽ là một trong những môn cổ nhất lịch sử văn minh nhân loại. Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là việc cố mò mẫm để giải đoán lập trình của tạo hóa.  Chiêm tinh học  Ba ngàn năm trước Công nguyên (CN), người Lưỡng Hà (Vùng Irac-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời-Chiêm tinh (Astrology). Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của  Mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định, có tính chu kỳ hằng năm. Và sau đó người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac) đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ Mặt trời ra được 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Họ cho rằng một người sinh ra trong cung nào thì mang đặc tính của cung đó. Đến đây thì người xưa có lý và có thể coi đó là một phát kiến có luận cứ khoa học. Vấn đề trở nên phi khoa học là việc gán cho mỗi cung Hoàng đạo những thuộc tính của con người cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau, là hoàn toàn nhân tạo. Và khi lấy đó làm cơ sở tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay, nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó. Người ta còn kể rằng phu nhân Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan từng tham khảo thường xuyên ý kiến của một nhà chiêm tinh về những vấn đề quan trọng liên quan đến chồng bà. Trong thị trường chứng khoán Wall Street, nhà tài chính J.P. Morgan lúc nào cũng thuê một chiêm tinh gia trong ban bệ mình. Một chiêm tinh gia chuyên làm ăn ở Wall Street có lần khoe rằng ông có đến 15.000 khách hàng!.  Tử vi                    Ở Phương Đông thì cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau CN, và được quy cho Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng, mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi –tức 12 con giáp. Từ các thông số đó và giới tính, theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số. Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Thực tế là do người xưa truyền thế nào thì theo, hoặc nếu không theo người xưa mà theo ngày nay cũng được! Vô lý chưa, vậy nhưng tin thì cứ tin, và sự thực thì bói Tử vi vẫn tồn tại mãi mãi. Con người mà!       Kinh dịch  Phương Đông từ rất sớm, quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn năm ngàn năm trước CN đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số 2. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được 4 tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thì thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 26. Cái vĩ đại của Dịch là ở chỗ đã sơ khởi cho Số học nhị phân (Binary Arithmetic) hiện đại. Cha đẻ của số học nhị phân hiện đại là nhà Toán học thiên tài người Đức, Gottfried Leibnitz (1646-1716). Nhà truyền giáo người Pháp, đã từng ở Trung Hoa vào năm 1685, Joachim Bouvet, đã hướng dẫn cho Leibnitz tìm hiểu về đồ họa 64 quẻ Kinh Dịch. Người ta cho rằng những học hỏi về Quẻ Dịch đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phát kiến về Số học Nhị phân công bố năm 1703 trong công trình Explication de l’Arithmétique Binaire (Giải thích về số học nhị phân). Trên cơ sở số học nhị phân đó, nhà toán học người Anh George Boole năm 1854 đã dựng nên môn Đại số Logic hay còn gọi là Đại số Boole (Boolian Algebra), làm nền tảng cho kỹ thuật Số (Digital) và kỷ nguyên Máy tính và công nghệ tin học, Internet ngày nay. Đáng tiếc là cổ nhân Trung Hoa (hay Việt, vì có người cho rằng Kinh Dịch có gốc từ tộc Việt!) hơn 4000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Tương truyền rằng do hiểu được thâm ý của Phục Hy (năm ngàn năm trước CN) khi chế ra 64 quẻ Dịch, các bậc thánh hiền hậu sinh, mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ, rồi Khổng Tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch.   Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền, theo sáu mặt ngửa (Âm hoặc Dương) của đồng tiền thu được sau sáu lần gieo, ta được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin sái cổ!   Theo nhiều người, các lời viết trong Kinh Dịch là minh triết kỳ diệu của Đông phương, chứa đựng nhân sinh quan và vũ trụ quan sâu sắc. Điều này thì không dám lạm bàn ở đây, chỉ có thể bàn rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch chứa một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa, thủ thuật  xin quẻ cho đối tượng dưa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm ra đời của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử vi sử dụng. Tuy nhiên, con người mà, cứ tin được là tin, càng mơ hồ, bí hiểm, đa dạng, đa nghĩa càng dễ tin…  Khám phá sự lập trình của Tạo hóa  Gần đây, nhiều nhà khoa học các ngành khác nhau ở cả Đông lẫn Tây đưa ra giả thuyết rằng giữa các quẻ Dịch, các sự sắp xếp đồ hình trong Kinh Dịch với Mã Di truyền học DNA có một sự trùng hợp kỳ lạ. Xu hướng này khởi xướng năm 1973 bởi M. Schönberger: The I Ching & The Genetic Code– The Hidden Key to Life.( Kinh dịch và mật mã di truyền ), và hiện nay nhiều nhà khoa học vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu phát triển. Tuy rất hấp dẫn, nhưng hiện tại kết quả còn đơn sơ.  Vào đầu thế kỷ 21, nhà Vật lý lừng danh Stephen Wolfram (Mỹ), người tạo ra bộ công cụ MATHEMATICA nổi tiếng mà các nhà KHCN ngày nay đều sử dụng, đã viết một quyển sách dày nghìn trang, A New Kind Of Science- Một Loại Hình Khoa Học Mới, làm chấn động giới khoa học. Stephen Wolfram muốn phát hiện những viên gạch đầu tiên mà Chúa đã đặt xuống để xây dựng vũ trụ (bằng) Tế bào automat cơ bản (CA-Cellular Automaton)    Tế bào automat là đơn vị nằm trong một ô mạng gián đoạn sử dụng cho tính toán. CA cơ bản có một chiều (dimension), mỗi tế bào có 2 trạng thái: 1 và 0 hay đen và trắng, mỗi tế bào có 2 tế bào lân cận nằm hai bên. Như vậy với các CA cơ bản ta có một tập gồm 3 tế bào vậy có 23 = 8 cấu hình cho một tập như thế. Không khó để nhận ra rằng Tập tế bào Automat này mang hơi hướng của Bát Quái trong Kinh dịch (so sánh hai hàng trên cùng của  hình 1). Nên nhớ rằng nội dung cốt lõi của Dịch là sự biến hóa. Điều này cũng là ý tưởng chính của Wolfram. Sở dĩ các tế bào này được gọi là automat vì chúng tự động phát triển trong thời gian theo những quy tắc nhất định. Các quy tắc này rất đơn giản, logic và chứng minh được. Dễ dàng để xác định rằng, tổng cộng chỉ có 256 quy tắc biến thiên. Bằng những chương trình tính toán đồ sộ, Wolfram đã cho thấy sự ứng dụng CA bao trùm nhiều lĩnh vực: phép tính song song, sự sống nhân tạo (artificial life), xử lý và tạo hình ảnh, mô hình các hệ sinh học, mô phỏng trong hóa học, trong vật lý, chảy cuộn xoáy (turbulence), đồ họa và nghệ thuật… Đó cũng là cơ sở để hy vọng  rằng  sử dụng 256 quy tắc cho sự phát triển của CA, chúng ta có thể tái tạo mọi  sự phức hợp (complexity) trong vạn vật (Hình 1).                         Hình 1          Từ những năm 80, Robin Gandy một nhà toán học và logic học Anh đã đề xuất ý tưởng rằng Vũ trụ có thể mô hình hóa bằng một máy tính cổ điển với bộ nhớ lớn vô cùng. Điều này là  dễ lý giải, vì nếu phân không gian thành những khối lập phương nhỏ thì trạng thái của mỗi hình lập phương ở thời điểm  t+1 sẽ là hàm số của trạng thái các hình lập phương lân cận ở thời điểm t. Các nhà lý thuyết thông tin gọi đây là quy tắc định xứ (local rule). Và như thế trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t+1 có thể tính được từ trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t bằng cách sử dụng quy tắc định xứ. Tiến hành như vậy Gandy đi đến kết luận Vũ trụ là một máy tính khổng lồ song song hay nói cách khác là tập lớn tế bào automat (CA).    Thể xác và Linh hồn  Đơn vị thông tin cổ điển là bit có khả năng lấy hai trị số 0 và 1. Để mô tả vật chất ở mức tận cùng vi mô, thì phải dùng đến thuyết lượng tử. Bởi vì thế giới khách quan vốn phải tuân theo lý thuyết lượng tử , cho nên vấn đề là cần phải lượng tử hóa CA thành Tế bào Automat lượng tử (QCA-Quantum Cellular Automaton). Trong lý thuyết lượng tử đơn vị thông tin là Qubit (Quantum bit-bit lượng tử). Về mặt vật lý một Qubit được biểu diễn bởi một hệ lượng tử có hai trạng thái. Ví dụ photon (với phân cực thẳng đứng và nằm ngang), electron hoặc các hạt spin ½ (với spin ngược-up và xuôi-down) hoặc một hệ lượng tử như nguyên tử hoặc ion với hai mức năng lượng. Các nhà Vật lý đã phát hiện ra rằng, nếu ta có hai Qubit tương tác thì xuất hiện hiện tượng gọi là liên đới lượng tử (quantum entanglement). Khi hai hạt liên đới lượng tử thì chúng tiếp tục tương tác với nhau mặc dầu khoảng cách giữa chúng trở nên vô cùng. Những ai giàu trí tưởng tượng mà nghe qua điều nay thì sẽ liên tưởng ngay đến vẻ huyền bí như linh hồn có thần giao cách cảm (teleparty) vậy.  Trên cơ sở Qubit có thể xây dựng nên những máy tính lượng tử bao gồm các QCA và  Cổng lượng tử QuG (Quantum Gate). Ý tưởng về một máy tính lượng tử như vậy đã được đề xuất bởi nhà Vật lý R.Feynman (Nobel 1965) từ những năm 1982, đến nay đã tìm được nhiều hướng giải quyết và đã có nhiều kết quả. Các nhà Vật lý trên khắp thế giới đang hợp tác với các nhà Toán-Tin học để thực hiện ý tưởng khoa học lớn này với giấc mơ hiểu được sự lập trình của tạo hóa. Lúc đó, hy vọng sẽ có câu trả lời cho nhiều câu hỏi không thể có đáp án, ví dụ như:  Bạn có tin rằng Con người và Vạn vật chỉ là tập hợp của hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn không? Nếu bạn trả lời là có tin, vậy thì bạn có tin có linh hồn không? Nếu bạn lại cũng tin là có linh hồn thì phải chăng Linh hồn cũng là vật chất, và được tạo bởi hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn Mendeleev? Xem ra có vẻ vô lý quá!.   Coi vũ trụ là một hệ máy tính lượng tử song song  khổng lồ như nói ở trên là một quan điểm nhằm tiến đến một lý thuyết thống nhất tối hậu của vật lý. Quan điểm này dẫn đến một hình hệ (paradigm) mới dựa trên thực thể cơ bản rằng không phải chỉ có  vật chất là cấu thành các thực thể của vũ trụ mà thông tin lượng tử cũng là một cấu phần của chính các thực thể đó. Như vậy là vạn vật được cấu thành bởi hai phần: Vật chất và Thông tin lượng tử. Vậy thì câu hỏi về linh hồn có vẻ cũng có hướng giải quyết rồi!  Chúng ta hãy chờ xem bao giờ loài người xây dựng được máy tính lượng tử khổng lồ để giải mã sự lập trình của tạo hóa. Nhưng chờ đến lúc đó thì lâu quá, còn bây giờ thì nhiều người đang lo lắng hỏi nhau những điều cụ thể, gần hơn, ví dụ như:  Tại sao 53 là hạn trung niên;  61, 69  là tuổi đáng ngại cho người cao niên ?  Để giải bài toán (câu hỏi) này chúng ta thống nhất dựa trên những luận cứ khoa học cổ, kim đã được công nhận là đúng đắn sau đây:  Chân lý chỉ có thể tiệm cận. Mọi lời giải chỉ là gần đúng. Chúng ta ở đây tạm thời chỉ sử dụng phép gần đúng bậc một là phép gần đúng kém nhất. (theo Triết học và Khoa học hiện đại).  Con người là một thực thể của vũ trụ. Sự hình thành và phát triển của con người là do trạng thái của vũ trụ quyết định. (Như quan điểm của Chiêm tinh và Tử vi).  Trạng thái của vũ trụ khi một con người sinh ra là khởi điểm cho sự hình thành và từ đó mà biến đổi và phát triển lên (quan điểm của Kinh Dịch , CA và QCA). Trong quá trình phát triển, nếu có các trạng thái vũ trụ như nhau hoặc gần như nhau thì dạng phát triển ở lần sau là đồng dạng hoặc gần đồng dạng về bản chất với lần trước.  Trong phép gần đúng bậc 1 thì đối với con người trạng thái của Vũ trụ là vị trí đối với nhau của tâm Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Quỹ đạo là phẳng. Bài toán là 2D (hai chiều, hình 2). Những tác động của các thiên thể, ngân hà, thiên hà khác là có nhưng ở phép gần đúng này thì bỏ qua  Mặt trời là có ảnh hưởng lớn nhất, vì vậy đơn vị tính thời gian là lấy năm Mặt trời, tức một vòng quay biểu kiến của quả đất quanh Mặt trời. Mặt trăng tuy nhỏ hơn nhiều sao khác nhưng gần Trái đất nhất, nên quỹ đạo Mặt trăng (tháng Mặt trăng) cũng là thông số chính yếu.  Năm số không gần đúng là 9 tháng trong bụng mẹ cộng 3 tháng sau khi chào đời. Đó chính là tuổi tiên thiên trời định. Những trạng thái của vũ trụ lặp lại của tuổi tiên thiên tạo nên sự biến dịch của người đó (dù xấu hay tốt) được xem là bình thường như tạo hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra, không biến đổi đột xuất.  Ngày nay với khoa học kỹ thuật hiện đại và máy tính khổng lồ, con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Nhưng chưa cần phải sử dụng đến độ chính xác này ở phép gần đúng thứ nhất. Chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày Mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ. Vị trí của Trái đất so với Mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời, là năm Mặt trời. Một năm Mặt trời có 365,2425 ngày. Vị trí của Trái đất và Mặt trăng quay quanh Trái đất so với Mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của Mặt trăng quanh Trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của Trái đất quanh mặt trời), tức là tháng Mặt trăng. Một tháng Mặt trăng có 29,53059 ngày. Trạng thái  vũ trụ của một thời điểm, ví dụ tại điểm bắt đầu của năm hình thành nên con người (tuổi số không) được xác định bởi 3 điểm: Tâm Mặt trời (S) , Tâm Trái đất trên Hoàng đạo (E) và Tâm Mặt trăng trên quỹ đạo tháng (L). Hết một năm Mặt trời, Trái đất trở về điểm E còn Mặt trăng trở lại điểm nào đó, L’ chẳng hạn (Xem hình 2).                       Hình 2          Có hai khả năng xảy ra:  Điểm L’ khác L. Trạng thái vũ trụ của năm tiếp đó dĩ nhiên là khác với trạng thái năm số không, tất sẽ có những biến đổi và dịch chuyển mới, khác so với khi tạo hóa ban tặng cho ta lúc ra đời, cho nên  gọi là tuổi Biến dịch.   Cũng có thể sau một (hay nhiều năm) điểm L’ trùng hoặc gần trùng với L, năm tiếp đó có trạng thái lặp lại của năm số không. Con người phát triển là đồng dạng, tức cùng một khuôn mẫu, với năm số không, như là tạo hóa đã ban cho, ta gọi là năm tuổi Bình yên   Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:  Chu kỳ 19: 19 năm Mặt trời =235 tháng Mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác , hơn 4 trăm năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. (Vì lý do này mà trong lịch pháp , cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch phải có 7 năm gồm 13 tháng, tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton, đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen ,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton  là do  hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:  Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris):  8 năm Mặt trời = 99 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.  Tiểu chu kỳ 11: 11 năm Mặt trời =136 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là Chu kỳ DƯƠNG.  Vậy là con người sinh ra (năm số không) tiếp theo bảy năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như)bình yên đầu tiên, 8 tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9,10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) Bình yên, hết một chu kỳ Dương. Quan sát thống kê cho thấy rằng ở đứa trẻ gái, 8 tuổi là tuổi bắt đầu giới tính Nữ hình thành, cho nên tiểu chu kỳ 8 gọi là chu kỳ ÂM. Còn 11 tuổi là tuổi bé trai bắt đầu hình thành giới tính Nam, nên gọi là chu kỳ DƯƠNG. Giới tính của con người hoàn chỉnh ở chu kỳ thứ 2, Nữ là 16 tuổi (2×8) và Nam là 22 (2×11). Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) Bình yên, âm dương hài hòa. Có thể  xác định Tuổi Bình yên (tính chất  chung cho các tuổi “hầu như” hoặc “tuyệt đối” Bình yên) của đời người theo công thức:  TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11, trong đó A và D là những số nguyên dương.  Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên là tuổi Biến dịch (Hình 3)                      Hình 3          Theo công thức đó mà tính, trong trăm năm đời người tuổi biến dịch tập trung nhiều ở tuổi trẻ và đến 69 là tuổi Biến dịch cuối cùng, còn Bình yên thì có đến 66 năm, đó là các tuổi: 8, 11, 16, 19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 70, 71, 72, 73,74, 75, 76,77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92,93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100…  Tuổi Bình yên phân thành tuổi Âm thịnh, tuổi Dương thịnh và tuổi Hài hòa (Hình 4): D-A >0: tuổi Dương thịnh; D-A < 0: tuổi ÂM thịnh;  D-A=0: tuổi Hài hòa  Trong các tuổi Biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị. Theo quy luật Vật lý, với cùng một mức độ thay đổi, nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì độ biến dị càng thấp, nếu có xảy ra ở một điểm thì sự biến dịch sau có thể tự sửa chữa. Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì mức biên dị càng lớn. Để dễ phân biệt, ta quy ước sử dụng các mức biến dị tương ứng với chiều dài chuỗi năm biến dịch như sau: Mức 1 là liên kết chuỗi lớn hơn 3 năm, khó xảy ra đột biến. Mức 2 là ứng với chuỗi 3 năm; mức 3 là chuỗi 2 năm và mức 4 là năm biến dị đơn độc, không có liên kết. Năm đơn độc này (23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69) nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xảy ra thì không có chu trình kế tiếp để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.                      Hình 4          Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Mức biến dị quy ước sẽ tăng thêm 1 nếu khoảng cô đơn là 2, và tăng thêm 1 giá trị nữa khi khoảng cô đơn lớn hơn 3 (Hình 5).                      Hình 5          Dễ dàng thấy rõ các tuổi 53, 61 và 69 là có Mức Biến dị lớn nhất, đó là lý do vì sao những tuổi này là rất đáng quan ngại. Do mức biến dị lớn nên 53 là năm Hạn vì là năm có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 và đặc biệt 69 là nguy hiểm cho người già, vì là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến. Từ sau tuổi 69 là chuỗi tuổi bình yên liên tục, mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời mà không đột biến. Đến mốc 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm thuận ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp 8 chu kỳ Dương), giống như khi mầm sống nảy sinh, người già trở thành như con trẻ. Các mốc 76 và 95 cũng đáng chú ý, đó là điểm Âm-Dương hài hòa. Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.  Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí cả. Ít nhất nó đã được kiểm chứng bởi thực tế với 3 tuổi trong khoảng 53, 61, 69 (có tính đến sai số)  thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần, ốm đau, bệnh tật nhất. Các tiên đoán ở các tuổi Biến dị, Cô đơn, hoặc Bình yên khác có lẽ cần được kiểm chứng bằng các số liệu thống kê khoa học, xem có đúng không. Đây chỉ là những kết quả ở cấp  gần đúng thấp nhất. Khi nâng cao cấp gần đúng và độ phân giải, lưu ý cả không thời gian sinh ra của từng người, ta có thể dự đoán đến chi tiết hằng tháng, hằng ngày… của từng cá thể riêng biệt. Nhiều điều bất ngờ dự đoán quy luật tương lai từng người trên cơ sở khoa học đang được chờ đợi.   Ai đó đã nói rằng, bí ẩn của tương lai chính là động lực huyền diệu của tình yêu cuộc sống. Nhưng nếu biết được hết tương lai rồi thì… còn gì hấp dẫn để sống tiếp nữa! Vậy mà tại sao con người cứ tìm cách giải đoán tương lai?   ————-  Tài liệu tham khảo  1-Der Koran (Kinh Qu’ran), Wilhelm Heyne Verlag GmbH, Munchen 1992  2- Phan Bội Châu: Chu Dịch, NXB Văn Hóa Thông tin 1996  3-Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS | ON LINE, 2007  4-http://tiasang.com.vn/Default. aspx?tabid=111&News=1039&CategoryID=32  5-http://scienceworld.wolfram.com/astronomy/    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giải Nobel” cho thanh thiếu niên      Intel Science Talent Search (Cuộc thi Tìm nhân tài Intel) năm 2014 vừa công bố kết quả, theo đó:     Giải nhất: Eric Chen, 17 tuổi, tìm ra loại thuốc mới ức chế virus, có thể điều trị bệnh cúm.    Giải nhì: Kevin Lee, 17 tuổi, lập được mô hình toán sử dụng cơ học chất lỏng diễn tả trạng thái hoạt động của trái tim, giúp tìm hiểu nguyên nhân gây ra nhịp tim không đều.    Giải ba: William Henry Kuszmaul, 17 tuổi, tìm ra phương pháp mới giải bài toán modular enumeration (đa thức f chia cho Xn-1), có thể ứng dụng để giải quyết các vấn đề trong khoa học máy tính, tin học sinh vật và sinh học tính toán.  Giải tư: Joshua Abraham Meier, 18 tuổi, nhận dạng được gene ức chế sự già hóa nhanh của tế bào gốc nhân tạo, có thể dùng điều trị bênh ung thư. Meier là người lãnh đạo công ty dược phẩm Provita mà toàn bộ nhân viên là học sinh.   Giải năm: Natalie Ng (nữ), 18 tuổi, thiết kế được công cụ chẩn đoán sự di căn tế bào ung thư vú tới các bộ phận khác của cơ thể.  Giải sáu: Aron Coraor, 17 tuổi, nghiên cứu của em giúp giải thích tại sao một khoáng chất nào đó lại tồn tại dưới hai dạng khác nhau trên cao nguyên ở Mặt trăng.  Giải bảy: Zarin Ibnat Rahman (nữ), 17 tuổi, do nghiên cứu ảnh hưởng tăng lên của thời gian quan sát màn hình máy tính đối với giấc ngủ, chứng stress và việc học tập của thanh thiếu niên.  Giải tám: Anand Srinivasan, 17 tuổi, sáng tạo mô hình máy tính RNNScan dựa trên mạng thần kinh, nó “hiểu được” mô thức trong DNA để dự đoán biên giới vùng gene xác định.  Giải chín: John Anthony Clarke, 17 tuổi, do nghiên cứu bức xạ tia X từ sao Mộc (Jupiter), một hành tinh khí khổng lồ có từ trường mạnh.  Giải mười: Shaun Datta, 18 tuổi, do nghiên cứu sử dụng mô hình máy tính và phương trình toán mà cải thiện được nhận thức về tương tác của hạt nhân nguyên tử.  Tổng giải thưởng năm nay trị giá 630.000 USD.   Intel Science Talent Search là cuộc thi nghiên cứu khoa học và toán học dành cho học sinh phổ thông trung học cả nước Mỹ lâu đời nhất, uy tín nhất.  Suốt 73 năm qua, trong số những người đoạt giải này có tám người giành giải Nobel khoa học, hai người giành Huy chương Field, năm người giành giải khoa học nhà nước, 11 người giành học bổng Quỹ Mac Arthur, một người giành giải Oscar vai nữ chính. Vì thế giải Intel Science Talent Search còn được gọi là Giải Nobel con hoặc Giải Nobel thanh thiếu niên.  Tiền thân của giải này là Westinghouse Science Talent Search, do hãng Westinghouse thành lập năm 1942, đến năm 1998 đổi tên như hiện nay.   Người đoạt giải nhất được tặng học bổng trị giá 100.000 USD. Giải nhì – 75.000; giải ba – 50.000 USD; giải tư – 40.000 USD; giải năm – 30.000 USD; giải sáu và bảy – 25.000 USD; các giải tám, chín, mười – 20.000 USD. Ba chục em dự chung kết còn lại mỗi em được nhận 7.500 USD. 300 học sinh dự thi bán kết và nhà trường của các em đó đều được tặng 1.000 USD.  Các công trình nghiên cứu đoạt giải có nội dung rất phong phú. Năm 2008 giải nhất thuộc về em Shivani Sud do đã lập ra mô hình gene nhận biết xác suất tái phát ung thư đại tràng. Đứng đầu hai cuộc thi năm 2009, năm 2011 đều là các em giải quyết được các vấn đề toán học mũi nhọn. Giải nhất cuộc thi 2010 thuộc về nữ sinh 18 tuổi Erika DeBenedictis do sáng chế phần mềm dẫn đường cho tàu vũ trụ khi bay qua hệ Mặt trời. Nithin Tumma đoạt giải nhất năm 2012 với nghiên cứu về liệu pháp điều trị ung thư vú. Giải nhất năm 2013 giành cho Sara Volz vì thành tích điều tra sự tăng thành phần dầu của loài tảo, nhờ đó tạo ra nguồn nhiên liệu sinh học có giá trị kinh tế…  Nguyên Hải tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Hóa học 2012: Tôn vinh nghiên cứu phát triển dược phẩm      Hai nhà khoa học Mỹ đã được trao giải Nobel hóa học 2012 nhờ công trình nghiên cứu về thụ thể tế bào, giúp phát triển các loại thuốc chống những căn bệnh phổ biến như tiểu đường, ung thư, trầm cảm…    Ngày 10-10, Ủy ban Nobel đã xướng tên nhà khoa học Mỹ Robert Lefkowitz (69 tuổi) và Brian Kobilka (57 tuổi), với khám phá về chức năng của thụ thể tế bào bắt cặp với protein G (GPCR). Đó là các thụ thể (phân tử trên bề mặt tế bào) có khả năng cảm nhận các phân tử bên ngoài tế bào, qua đó kích thích quá trình truyền dẫn tín hiệu, tạo ra phản ứng thích hợp cho tế bào.  GPCR có liên quan đến nhiều căn bệnh do chúng đóng vai trò trung tâm trong rất nhiều chức năng sinh học của cơ thể. Tuy nhiên, việc phát triển các loại thuốc nhắm vào GPCR là rất khó khăn do trước đó khoa học chưa hiểu rõ cách vận hành của chúng. “Biết được các GPCR trông như thế nào và hoạt động ra sao sẽ đem lại cho chúng ta công cụ để sản xuất ra những loại thuốc tốt hơn, có ít tác dụng phụ hơn” – giáo sư hóa học Sven Lidin thuộc ĐH Lund, chủ tịch Ủy ban Nobel, nhận xét.  Chữa nhiều căn bệnh nan y  Theo Ủy ban Nobel, khoảng 50% các loại thuốc hiện nay đều tác động đến cơ thể thông qua GPCR. Và các loại thuốc nhắm vào GPCR có khả năng chữa được các căn bệnh nan y liên quan đến hệ thần kinh trung ương, tim mạch, các bệnh viêm nhiễm, rối loạn trao đổi chất…          Giáo sư Lefkowitz là người gốc Ba Lan, sinh  tại New York. Đến nay, ông đã nhận hơn 60 giải thưởng quốc tế cao quý,  trong đó có huy chương khoa học quốc gia Mỹ. Hiện ông đang giảng dạy ở  ĐH Duke tại North Carolina. Trong khi đó, nhà khoa học Kobilka sinh ra  trong gia đình làm bánh ở một vùng tỉnh lẻ tại Minnesota. Các đồng  nghiệp mô tả ông là người rụt rè, ít nói. Ông đang làm việc tại Trường y  ĐH Stanford.        Chuyên gia Mark Downs, giám đốc Hiệp hội Sinh học Anh, đánh giá nghiên cứu của hai nhà khoa học Mỹ có tầm quan trọng lớn trong cả lĩnh vực hóa học và y học. “Nghiên cứu đột phá này, từ gen đến hóa sinh, đã thiết lập nền tảng cho phần lớn hiểu biết của chúng ta về dược học hiện đại” – ông Downs nhận định.  “Trong số khoảng 1.400 loại thuốc đang tồn tại, có 1.000 loại là những viên thuốc nhỏ bé mà chúng ta uống. Phần lớn trong số chúng dựa trên GPCR” – giáo sư hóa học Johan Aqvist thuộc ĐH Uppsala (Thụy Điển) đánh giá.  Giáo sư sinh học phân tử Mark Sansom thuộc ĐH Oxford cũng đánh giá GPCR “đóng vai trò cơ bản trong rất nhiều quá trình sinh lý, từ hệ thần kinh đến khứu giác, vị giác. Chúng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với ngành công nghiệp dược”. Do đó, công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học Lefkowitz và Kobilka đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các tập đoàn dược phẩm.  Khoa học mới chỉ lờ mờ nhận biết sự tồn tại của GPCR vào giữa thập niên 1964 và không có khái niệm gì về hoạt động của chúng. Lefkowitz và Kobilka đã thực hiện các nghiên cứu và đạt được những khám phá quan trọng về GPCR vào giữa thập niên 1980.  “Không biết phải làm gì”  Giáo sư Lefkowitz kể khi Ủy ban Nobel gọi điện báo tin mừng, ông đang ngủ say và không nghe thấy tiếng chuông điện thoại. “Vợ tôi đã lay tôi dậy và bảo rằng có điện thoại này. Tôi vô cùng ngạc nhiên tới mức bị sốc khi nghe tin” – giáo sư Lefkowitz cho biết. Và mọi kế hoạch trong ngày của ông đã bị đảo lộn. “Ban đầu tôi định đi cắt tóc, nhưng có lẽ giờ việc đó sẽ bị hoãn lại. Đây sẽ là một ngày điên rồ ở văn phòng làm việc”.  Giáo sư Kobilka kể ông cũng bị đánh thức giữa đêm. “Đến giờ tôi vẫn còn ngạc nhiên” – Kobilka xúc động nói. Ông tâm sự không biết sẽ phải làm gì với số tiền thưởng. “Tôi có hai con, hi vọng chúng sẽ được hưởng một phần tiền. Thật sự tôi không quen với việc được tôn vinh như vậy”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Hóa học: Mở ra lĩnh vực mới đầy tiềm năng      Giải Nobel Hóa học năm nay được trao cho Carolyn R. Bertozzi (Đại học Stanford), Morten P. Meldal (Đại học Copenhagen) và K. Barry Sharpless (Viện nghiên cứu Scripps) vì những cống hiến to lớn của họ trong việc định hình và phát triển “Click Chemistry” và hóa học sinh trực giao (bioothorgonal chemistry), một lĩnh vực hóa học vô cùng tiềm năng.    “Click Chemistry” là thuật ngữ nghe khá “bắt tai” (click có nghĩa là tiếng lách cách) chỉ một lĩnh vực khá mới trong hóa học, còn “hóa học sinh trực giao” chỉ những phản ứng hóa học có thể xảy ra bên trong các hệ thống sống mà không có sự can thiệp vào quá trình sinh hóa tự nhiên. Vậy thì, chúng ta nên hiểu (một cách đơn giản và chính xác) những lĩnh vực này như thế nào, và tại sao những cống hiến của ba nhà khoa học kể trên lại quan trọng đến mức họ được trao giải thưởng Nobel danh giá? Vậy chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bản chất của Click Chemistry và hóa học sinh trực giao để giải đáp phần nào những câu hỏi này.    Khái niệm Click Chemistry    Về cơ bản, Click Chemistry không phải là một loại phản ứng hóa học, mà là một thuật ngữ/khái niệm. Khái niệm này được đặt ra không phải gần đây mà từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, bởi chính giáo sư Sharpless. Click chemistry đề cập đến tình huống chúng ta có hai phân tử khác nhau và những phân tử đó có thể kết nối để tạo thành một phân tử lớn hơn, một cách dễ dàng. Các nhà hóa học từ lâu đã bị thúc đẩy bởi mong muốn chế tạo các phân tử phức tạp với nhiều tính năng hữu ích, tuy nhiên quá trình chế tạo chúng thường tốn rất nhiều thời gian và chi phí. Click chemistry chính là giải pháp hiệu quả cho vấn đề đó. Để dễ hình dung, bạn hãy tưởng tượng tới một sợi dây an toàn. Một chiếc dây an toàn sẽ có hai phần, thử tưởng tượng mỗi phần cuả nó là một phân tử; giờ khi ta lồng hai phần của chiếc dây vào nhau (tức là khi hai phân tử kết hợp với nhau) ta sẽ nghe phát ra tiếng “click” (hay tiếng “lách cách” nếu nói theo ngôn ngữ Việt). Đó là nguồn gốc ra đời của thuật ngữ “click chemistry”.  Đáng chú ý là, những phân tử rời rạc khi kết hợp với nhau theo cách này thì lại rất chắc chắn, giống như khi chiếc dây an toàn của chúng ta đã được thắt vậy. Đây chính là ý tưởng cơ bản về click chemistry mà giáo sư K Barry Sharpless đã đề cập đến vào năm 1998 khi ông làm việc ở Viện Nghiên cứu Scripps, Hoa Kỳ. Giáo sư Sharpless và các cộng sự sau đó đã lần đầu tiên mô tả cụ thể khái niệm click chemistry trong bài báo nổi tiếng trên tạp chí Angewandte Chemie Intenrational Edition vào năm 2001 (đây cũng là năm giáo sư Sharpless được trao giải Nobel Hóa học lần đầu tiên, vì thế ông là người thứ năm và người duy nhất còn sống có hai giải Nobel). Gần như đồng thời và độc lập với giáo sư Sharpless, bên kia bờ Đại Tây Dương, giáo sư Mortal P. Meldal ở Phòng thí nghiệm Carlsberg, Đan Mạch (cơ quan công tác của ông tại thời điểm đó) cũng nghiên cứu về click chemistry. Cả hai nhóm đã phát triển phản ứng tiêu biểu cho click chemistry, phản ứng đóng vòng azide-alkyne có xúc tác (catalyst) là đồng (thường được viết tắt là phản ứng CuAAC).    Phản ứng xúc tác đồng kinh điển     Phản ứng kinh điển trong Click chemistry là phản ứng có xúc tác đồng giữa hai phân tử: một phân tử có gắn nhóm cuối mạch là azide (R1－N=N+=N-) và phân tử còn lại có gắn nhóm cuối mạch là alkyne (R2 ―≡). Sản phẩm của phản ứng là hai phân tử nối với nhau thông qua cầu nối là nhóm triazole. Phản ứng tổng hợp triazole (không có xúc tác đồng) đã được nhà hóa học người Mỹ là Arthur Michael (1853-1942) báo cáo lần đầu tiên vào năm 1893. Sau đó, vào giữa thế kỷ 20, nhà hóa học người Đức là Rolf Huisgen (1920-2020) đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về động học và điều kiện của họ phản ứng đóng vòng 1,3 lưỡng cực này, và tên của ông đã được dùng để đặt cho chúng (phản ứng Huisgen).  Tuy nhiên, trong phản ứng của Huisgen (không có xúc tác đồng, đun nóng ở 100 ℃), sản phẩm tạo ra gồm cả đồng phân (isomer) 1,4 triazole và đồng phân 1,5 triazole. Trong khi đó, nếu phản ứng được xúc tác bằng đồng thì chỉ tạo ra đồng phân 1,4 triazole, tốc độ phản ứng nhanh hơn ở nhiệt độ bình thường (20-50℃), như so sánh ở Hình 2. Sự dễ dàng trong việc tiến hành phản ứng, hiệu suất cao, và khả năng tổng hợp ra các đồng phân triazole một cách có chọn lọc, đã khiến phản ứng “click” (CuACC) trở nên cực kỳ phbiến trong giới khoa học. Hơn thế nữa, người ta có thể thay đổi chất xúc tác để tổng hợp ra những sản phẩm mong muốn khác, chẳng hạn thay xúc tác đồng bằng ruthenium (và vì thế có tên là phản ứng RuACC) sẽ tạo ra duy nhất đồng phân 1,5 triazole. Kể từ năm 2002, đã có hàng ngàn bài báo khoa học viết về CuAAC và các phản ứng “click”. Click chemistry đã hiện thực hóa mơ ước từ lâu của các nhà hóa học, giúp họ tạo nên vô vàn những phân tử có cấu trúc phức tạp bằng một lộ trình đơn giản, giống như trò chơi logo ghép hình. Chúng đã mở đường cho hàng loạt các ứng dụng như tổng hợp vật liệu mới, phát triển hóa dược phẩm v.v.    Ứng dụng Click chemistry vào hóa sinh trực giao    Mặc dù tiềm năng của CuAAC và các phản ứng click tương tự là rất lớn, chúng có một nhược điểm là chất xúc tác (chủ yếu là kim loại như đồng, rhutenium, niken, palladium…) có độc tính đối với tế bào nên không thể áp dụng vào cơ thể sống. Nhóm của Giáo sư Carolyn Bertozzi, khi đó đang công tác ở Đại học California, Berkeley (Hoa Kỳ), đã phát triển phản ứng click không sử dụng xúc tác đồng để khắc phục nhược điểm này của phản ứng CuAAC. Trong phản ứng của Bertozzi, thay vì dùng đồng để kích hoạt alkyne, họ biến đổi các alkyne sang dạng vòng được làm căng phồng (xem Hình 3). Sự căng phồng này làm giảm tính ổn định của alkyne và làm tăng khả năng phản ứng (để làm giảm sức căng trên các vòng). Phản ứng này vì thế có tên là Strain-promoted azide-alkyne cycloaddition (SpAAC).  Giờ đây, phản ứng click có thể ứng dụng ngay bên trong các cơ thể sống mà không làm gián đoạn quá trình sinh hóa của tế bào. Thử tưởng tượng, giờ đây các nhà khoa học có thể đưa các phân tử dò tìm (có thể phát huỳnh quang) vào trong cơ thể và gắn chúng với các phân tử mục tiêu qua phản ứng “click”, từ đó dễ dàng định vị và quan sát được các phân tử mục tiêu. Bề mặt tế bào sống giờ trở nên dễ dàng theo dõi và đánh dấu hơn rất nhiều. Hơn thế nữa, phương thức này cũng có thể được ứng dụng để vận chuyển các loại thuốc đặc trị đến các tế bào bệnh. Click chemistry hiện đang được thử nghiệm trong việc điều trị ung thư. Ngoài ra, click chemistry còn có thể dùng để nghiên cứu và tinh chỉnh các axit amin, nucleotide và DNA trong cơ thể, gắn thêm cho chúng vô vàn những tính năng mong muốn v.v.  Lời kết   Quả thật, click chemistry nói chung và ứng dụng của nó trong lĩnh vực hóa học sinh trực giao nói riêng có những đóng góp vô cùng lớn trong khoa học và cuộc sống. Rất nhiều ứng dụng hữu ích trong các lĩnh vực khoa học vật liệu, công nghệ nano, sinh học tế bào, kỹ thuật y sinh… đã và đang được phát triển rộng rãi trên cơ sở của click chemistry. Trong tương lai, lĩnh vực này sẽ còn mang đến cho nhân loại nhiều lợi ích to lớn. Có thể nói, giải Nobel Hóa học năm nay là một sự ghi nhận xứng đáng đối với cống hiến đột phá và cực kỳ hữu ích của ba nhà khoa học. Hai giáo sư Sharpless và Meldal là những người tiên phong đặt nền móng cho click chemistry, và giáo sư Bertozzi đã nâng nó lên một tầm cao mới. Đó là một quá trình rất dài, vừa sáng tạo vừa kế thừa và phát triển, thể hiện trí tuệ sắc sảo và tài năng kiệt xuất của họ.      Author                Nguyễn Thanh Sơn        
__label__tiasang Giải Nobel hóa học vinh danh các chất xúc tác ‘tao nhã’ có thể phân biệt trái phải      Benjamin List và David MacMillan cùng chia sẻ giải thưởng cho việc phát triển các chất xúc tác hữu cơ giá rẻ, thân thiện với môi trường.      Hai nhà nghiên cứu phát triển các kỹ thuật để tăng tốc và kiểm soát các phản ứng hóa học đã đạt giải Nobel Hóa học 2021.  Benjamin List và David MacMillan cùng phát triển độc lập một dạng mới của chất xúc tác vào đầu những năm 2000. Kỹ thuật này – hay còn gọi là các chất xúc tác hữu cơ bất đối xứng – ngày nay được sử dụng một cách rộng rãi để chế tạo dược phẩm hoặc các hóa chất khác. Về cơ bản, các chất xúc tác họ phát triển có thể phân biệt đối xứng phải với trái, cho phép tổng hợp các phân tử mà có sự phân biệt giữa chúng và hình ảnh trong gương.  Hai nhà khoa học phát triển “một công cụ thực sự tao nhã để tạo ra các phân tử – đơn giản hơn thứ người ta có thể hình dung”, thành viên Ủy ban Nobel hóa học Pernilla Wittung-Stafshede nói tại lễ công bố giải thưởng. “Cho đến năm 2000, chúng ta chỉ có thể biết đến hai hình thức của chất xúc tác. Nhưng sau đó thì tất cả đã thay đổi. Benjamin List và David MacMillan đã giải thích một cách riêng rẽ rằng anh có thể thấy các phân tử hữu cơ nhỏ cùng làm một việc như những enzyme và những phản ứng xúc tác kim loại chính xác, rẻ, nhanh và thân thiện với môi trường”.  “Tôi hoàn toàn không chờ đợi điều ngạc nhiên lớn này – anh thật sự khiến ngày hôm nay thành một ngày đặc biệt”, List nói với các phóng viên tại một buổi họp báo sau lễ công bố. “Khi lần đầu làm thực nghiệm này, tôi còn không rõ những gì có thể xảy ra và tôi nghĩ nó có thể là một ý tưởng ngốc nghếch, hoặc ai đó đã cố làm ra nó. Khi tôi thấy nó diễn ra, tôi mới cảm thấy là nó có thể thực sự là điều gì đó lớn lao”.   Những chất xúc tác thay thế  Các chất xúc tác, các chất liệu tăng tốc các phản ứng mà không bao giờ bị dùng hết, là các công cụ cơ bản cho các nhà hóa học. List, làm việc tại Viện nghiên cứu Than đá Max Planck ở Mülheim an der Ruhr, Đức và MacMillan, tại trường đại học Princeton ở New Jersey, đã phát triển các chất xúc tác có thể điều khiển quá trình xúc tác bất đối xứng, trong đó phản ứng tạo ra phiên bản đối xứng trái của một phân tử nhiều hơn là phiên bản đối xứng phải và ngược lại.  Vào năm 2000, List đã chứng tỏ proline amino acid có thể đóng vai trò như một chất xúc tác trong một phản ứng aldol, trong đó các nguyên tử carbon từ hai phân tử khác nhau đều liên kết với nhau và có thể được điều khiển thành xúc tác phi đối xứng. Cùng thời điểm đó, MacMillan thiết kế các phân tử nhỏ có thể cung cấp hoặc đón nhận các điện tử và do đó thúc đẩy các phản ứng một cách hiệu quả.  Cho đến khi những đột phá này được họ tạo ra, hiểu biết chung của các nhà hóa học là một xúc tác tổng hợp các phân tử bất đối (những phân tử có độ cứng lớn nhất) đều là một enzyme hoặc chứa một kim loại chuyển pha như sắt. “Đó thực sự là một chuyển đổi về khái niệm,” nhà hóa học Cathleen Crudden của trường đại học Queen ở Kingston, Canada, nói. “Trong một quãng thời gian dài, mọi người đều nghĩ kim loại và enzyme đều chỉ là một”.  “Các xúc tác hữu cơ” do List, MacMillan và đồng nghiệp của họ phát triển đều không chứa kim loại. Và không như các enzyme, chúng là các phân tử hữu cơ nhỏ, “thứ mà tôi nghĩ là vô cùng thú vị”, nhà hóa học Claudia Felser của viện nghiên cứu Hóa Lý chất đậm đặc ở Dresden, Đức, nói. Các chất xúc tác hữu cơ đều rẻ hơn những loại chứa kim loại.  Món quà từ tự nhiên  Trong phạm vi của các hiện tượng và các tỉ lệ khác nhau rất lớn, tự nhiên dường như có khuynh hướng thuận tay này hơn tay khác, Felser cho biết thêm. Điều này cũng được phản ánh một sự thật là từ thuở ban sơ, vũ trụ được tạo ra từ vật chất chứ không phải là phản vật chất, và sự sống sử dụng các amino acids thuận trái và đường thuận phải.  “Tại sao trong thế giới sinh học chỉ thuận một tay? Tại sao chúng ta có sự ưu tiên này trong tự nhiên? Chúng ta không biết”, List nói. “Khuynh hướng thích một hướng thuận này thể hiện rõ ràng trong phản ứng xúc tác lên các chất nền vì vậy anh sẽ có nhiều hơn các phân tử thuận một hướng. Đó là một món quà vĩ đại. Tôi có thể nói, tự nhiên đem lại các phân tử đó cho chúng ta”.  “Với tôi, tính bất đối là câu hỏi thú vị bậc nhất trong vật lý và hóa học, thậm chí có thể là sinh học”, Felser nói và cho biết thêm là việc thông báo giải Nobel Hóa học có thể “truyền cảm hứng cho thế hệ sau nhìn vào các vi phạm đối xứng trong tự nhiên”.  “Theo quan điểm của tôi, cuộc cách mạng thật sự của những gì chúng ta có – trong các phát hiện của chúng tôi – chỉ là một chút trên bề mặt”, List nói và cho biết thêm là việc nhận giải Nobel có thể cho phép ông có thêm sự tự do để theo đuổi các ý tưởng mới trong nghiên cứu của mình/ “Tôi hi vọng tôi sẽ sống với sự ghi nhận này và tiếp tục khám phá những điều thú vị”.  Thanh Nhàn tổng hợp  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-02704-2; https://www.nobelprize.org/    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giải Nobel khoa học máy tính” năm 2014 đã có chủ      Ngày 25/3/2015, Hội Máy tính Mỹ (Association  for Computing Machinery, ACM) thông báo: Giải Turing năm 2014 trị giá  một triệu USD được trao cho Michael Stonebraker của Học viện Công nghệ  Massachusetts vì những cống hiến có tính chất đặt nền móng trong lĩnh  vực khái niệm và ứng dụng thực tiễn các hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại.       Bản tin do ACM phát đi cho biết: Hệ thống cơ sở dữ liệu (database systems) là những ứng dụng quan trọng của khoa học máy tính; chúng lưu giữ, bảo quản rất nhiều dữ liệu quan trọng của thế giới. Stonebraker đã phát minh ra nhiều khái niệm được sử dụng trong hầu như tất cả các hệ thống cơ sở dữ liệu. Ông trình bày cách thiết kế hệ thống cơ sở dữ liệu có thể hỗ trợ các khái niệm đó và công bố các hệ thống này như những phần mềm mở có thể ứng dụng rộng rãi. Mọi người có thể tìm thấy mã nguồn mở của các hệ thống Stonebraker trong nhiều hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại. Trong bốn thập niên làm việc, Stonebraker đã sáng lập nhiều công ty để thương mại hóa thành công các công trình tiên phong của ông về công nghệ cơ sở dữ liệu.  Giới khoa học máy tính cho rằng Stonebraker rất xứng đáng nhận giải thưởng Turing.   Michael Stonebraker sinh năm 1943, tốt nghiệp Đại học Princeton, nhận học vị thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Michigan, từ năm 1997 được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Kỹ thuật Mỹ (U.S. National Academy of Engineering). Hiện nay ông là giáo sư trợ giảng tại Phòng thí nghiệm Khoa học Máy tính và Trí tuệ nhân tạo thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT CSAIL), tại đây ông là người đồng sáng lập và là đồng giám đốc của Trung tâm Big Data Khoa học và Công nghệ Intel, tham gia phát triển các hệ thống cơ sở dữ liệu Aurora, C-Store, H-Store, Morpheus và SciDB. Trước khi đến MIT, Stonebraker từng có 29 năm là giáo sư khoa học máy tính của Đại học California tại Berkeley; trong thời gian đó ông đã phát triển các hệ thống dữ liệu quan hệ Ingres và Postgres.  Ông đã được tặng Huy chương John von Neumann (2005) và giải thưởng sáng tạo SIGMOD Edgar F. Codd.   Stonebraker là người sáng lập một số công ty cơ sở dữ liệu như Ingres, Illustra, Cohera, StreamBase Systems, Vertica, VoltDB, Tamr, Paradigm4, và từng là Giám đốc kỹ thuật (CTO) của Informix, biên tập viên sách Readings in Database Systems.   Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào ngày 20/6/2015 tại San Francisco.  ACM là một hội học tập khoa học tính toán, được thành lập năm 1947, trụ sở đặt tại New York. Chủ tịch ACM thời gian 2012-2014 là nhà khoa học máy tính Mỹ Vint Cerf, người được coi là một trong những cha đẻ của Internet, Chủ tịch ACM thời gian 2014–2016 là Alexander L. Wolf của Imperial College London, Anh Quốc.   ACM có hơn 100.000 thành viên, có 171 phân hội và 37 Nhóm Lợi ích đặc biệt (SIG) chuyên tiến hành các hoạt động của hội; ngoài ra còn có phân hội tại hơn 500 trường cao đẳng-đại học trên toàn thế giới, các phân hội chuyên nghiệp và SIG tại 56 nước, các phân hội học sinh tại 41 nước. ACM đặt ra nhiều giải thưởng nhằm khuyến khích phát triển khoa học tính toán, trong đó có giải Turing (A.M.Turing Award).  Giải Turing còn gọi là “Giải Nobel” về khoa học máy tính được ACM đặt ra để kỷ niệm Alan Mathison Turing (1912-1954), nhà toán học và nhà khoa học máy tính lỗi lạc người Anh, được coi là cha đẻ của máy tính. Ông đã có những cống hiến lớn trong lĩnh vực cấu trúc máy tính, thuật toán, hình thức hóa việc tính toán (formalization of computing), và trí tuệ nhân tạo. Turing góp phần quan trọng vào công tác phá khóa mật mã của phát xít Đức trong Thế chiến II, nhờ đó quân đội Đồng minh đã sớm giành thắng lợi và kết thúc chiến tranh.   Giải Turing được lập năm 1966, trị giá giải là 250.000 USD, được Intel và Google đồng tài trợ; từ năm 2014 tăng lên một triệu USD, do Google tài trợ. Ngoài tiền thưởng, từ 2014 trở đi người nhận giải còn được cấp chi phí đi lại khi đến dự và đọc diễn từ tại buổi chiêu đãi lễ trao giải hàng năm [annual Awards Banquet].  Chủ nhân giải Turing đầu tiên là Alan Perlis của Carnegie Institute of Technology (1966).  Bà Frances E. Allen của IBM là phụ nữ đầu tiên được nhận giải này (2006).   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp         Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel kinh tế 2018: Thay đổi tư duy về biến đổi khí hậu      Viện Hàn lâm Khoa học hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao giải Nobel Kinh tế 2018 cho hai nhà khoa học William D. Nordhaus (Đh Yale) và Paul M. Romer (Trường Kinh doanh Stern, ĐH New York) vì đã “tích hợp biến đổi khí hậu và đổi mới công nghệ vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn.”      Về bản chất, hoạt động kinh tế là việc kiểm soát các nguồn tài nguyên khan hiếm. Phát triển kinh tế gặp phải nhiều rào cản từ tự nhiên cho và tri thức giúp chúng ta xác định cách đối phó những thách thức này. Hai nhà kinh tế học đoạt giải năm nay, William Nordhaus và Paul Romer đã mở rộng đáng kể phạm vi phân tích kinh tế bằng cách xây dựng các mô hình giải thích cách nền kinh tế thị trường tương tác với tự nhiên và tri thức con người. Với những đóng góp của mình, cả hai nhà khoa học đã nhận được giải Nobel Kinh tế từ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển và chia đôi khoản tiền thưởng trị giá 9 triệu krona Thụy Điển.  Là cha đẻ của nghiên cứu về kinh tế biến đổi khí hậu, Nordhaus (ĐH Yale ở New Haven, Connecticut) bắt đầu nghiên cứu các vấn đề môi trường từ đầu những năm 1970 nhằm đưa chi phí kinh tế vào sự nóng lên toàn cầu. Đến đầu những năm 1990, ông là người đầu tiên tạo ra một mô hình đánh giá định lượng sự tương tác giữa nền kinh tế và khí hậu, tích hợp cả các lý thuyết và kết quả thực nghiệm từ vật lý, hóa học và kinh tế. Hiện nay, các mô hình này đang được sử dụng rộng rãi để cân nhắc các chi phí và lợi ích của việc can thiệp giảm phát thải khí nhà kính (ví dụ như thuế carbon) so với việc không hành động. Nghiên cứu của ông là cốt lõi để xác định chi phí xã hội của carbon, một nỗ lực để định lượng tổng chi phí cho xã hội của khí nhà kính, bao gồm các yếu tố ẩn như thời tiết khắc nghiệt và năng suất cây trồng thấp hơn. Phương pháp này ngày càng được sử dụng phổ biến hơn khi thực hiện chính sách về biến đổi khí hậu.  Ottmar Edenhofer, giám đốc Viện nghiên cứu tác động khí hậu Potsdam ở Đức nhận xét: “Nordhaus sớm đã nhìn nhận về biến đổi khí hậu từ quan điểm phúc lợi và thịnh vượng của con người. Nếu không có ông, sẽ không có môn học về kinh tế khí hậu.”  Romer, hiện đang làm việc tại Trường Kinh doanh Stern, ĐH New York, đồng thời vừa trở thành Nhà Kinh tế trưởng của Worldbank vào đầu năm nay, được vinh danh vì công trình về vai trò của thay đổi công nghệ đối với phát triển kinh tế. Nhà kinh tế học này nổi tiếng với những nghiên cứu về cách các lực lượng thị trường và quyết định kinh tế tạo thuận lợi cho sự thay đổi công nghệ – điều mà các nghiên cứu kinh tế vĩ mô trước đây chưa làm được. Được công bố vào năm 1990, giải pháp của Romer đã đặt nền tảng cho “Lý thuyết tăng trưởng nội sinh”, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới về cách các chính sách và quy định có thể thúc đẩy những ý tưởng mới và sự thịnh vượng lâu dài. Các công trình nghiên cứu của Romer cũng có ý nghĩa đối với các chính sách liên quan đến giảm thiểu biến đổi khí hậu. Edenhofer nhận xét: “Ông ấy đã cho thấy rõ ràng rằng các thị trường tự do không được kiểm soát sẽ không đầu tư đầy đủ vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển”.  Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho biết trong thông cáo báo chí: “William D. Nordhaus và Paul M. Romer đã thiết kế các phương pháp để giải quyết một số câu hỏi cơ bản và cấp bách nhất của chúng ta về cách chúng ta tạo ra tăng trưởng bền vững dài hạn và tăng trưởng kinh tế bền vững.”  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn:  https://www.nobelprize.org/prizes/economics/2018/press-release/  https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-10-08/nordhaus-romer-win-2018-nobel-prize-in-economic-sciences  https://www.nature.com/articles/d41586-018-06755-w  http://www.sciencemag.org/news/2018/10/roles-ideas-and-climate-growth-earn-duo-economics-nobel-prize       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Kinh tế cho nghiên cứu về lý thuyết hợp đồng      Hai nhà kinh tế Oliver Hart và Bengt Holmstrom đã được trao giải Nobel kinh tế do những công trình nghiên cứu mang tính chất mở đường về lý thuyết hợp đồng.      Buổi họp báo công bố giải Nobel kinh tế. Nguồn: DW  Oliver Hart là công dân Anh – Mỹ và giáo sư kinh tế tại trường ĐH Harvard, Bengt Holmstrom, sinh ra và lớn lên tại Phần Lan, hiện là giáo sư kinh tế và nhà quản lý tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT).  “Những người được trao giải Nobel kinh tế năm nay đã phát triển lý thuyết hợp đồng, một khuôn khổ toàn diện cho việc phân tích nhiều vấn đề khác nhau trong việc thiết kế hợp đồng, như trả lương cho ban giám đốc dựa trên tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các khoản miễn thường, co-pay trong bảo hiểm và sự tư nhân hóa trong phạm vi lĩnh vực công”, Ủy ban Nobel về kinh tế cho biết.    Những cái tên trượt giải năm này là chuyên gia về thị trường lao động người Mỹ 94 tuổi William Baumol, nhà kinh tế Mỹ gốc Ấn Độ chuyên nghiên cứu về thương mại tự do Jagdish Bhagwati, nhà kinh tế trưởng tại World Bank, Paul Romer.  Trong số 76 nhà kinh tế được trao giải Nobel kể từ năm 1969, các công dân Mỹ chiếm ưu thế với 55 người. Giải kinh tế, không phải là một trong những hạng mục giải thưởng được nhắc đến trong chúc thư của nhà công nghiệp Alfred Nobel (1833-96), vẫn thường được gọi đầy đủ là giải  Sveriges Riksbank về kinh tế để tưởng niệm Alfred Nobel.  Giải thưởng trị giá 8 triệu kronor (tương đương 930. 000 USD hay 827.450 euro) này được Ngân hàng Thụy Điển Central Bank khởi xướng và cấp kinh phí.  Những nhà kinh tế vẫn được coi là ứng viên của giải thưởng là Olivier Blanchard (Pháp), cựu chuyên gia kinh tế trưởng của IMF và giáo sư Thụy Điển và nguyên phó thống đốc ngân hàng Central Bank E.O. Svensson cho những nghiên cứu về chính sách tiền tệ.  “Giống như nhiều người đoạt giải Nobel khác, tôi hết sức bất ngờ, ngạc nhiên và hạnh phúc”, Holmstrom trả lời phóng viên qua điện thoại.  Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/oliver-hart-bengt-holmstrom-win-2016-nobel-in-economics/a-36004979    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giải Nobel và chuyện “học tài thi phận”      Bên cạnh những nụ cười vinh quang, lịch sử giải thưởng danh giá này còn có cả những câu chuyện đầy ngậm ngùi.    Mỗi mùa giải Nobel đến lại có thêm những nhà khoa học khả kính nhận được sự vinh danh có một không hai trong cuộc đời. Nhưng còn những người không được nhận giải thì sao? Đây là câu hỏi đã khiến Nils Hansson, nhà sử học về y khoa người Đức, trăn trở và thôi thúc anh đi tìm hiểu về họ – những người trượt giải Nobel trong tầm tay.    Trong di chúc của mình, Alfred Nobel viết, giải Nobel sẽ được trao cho những người “đã mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại”. Theo Hansson, dựa trên lời ủy thác này, quy trình tuyển chọn người để trao giải diễn ra đơn giản đến khó tin: Ủy ban Giải Nobel mời các nhà khoa học và các cá nhân uy tín gửi đề cử để Ủy ban sàng lọc một danh sách rút gọn. Tiếp đến, bốn học viện sẽ nghiên cứu các đề cử chung cuộc và bầu ra người giành chiến thắng trong mỗi hạng mục [Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển quyết định giải Nobel Vật lý, Hóa học, và Kinh tế; Học viện Karolinska quyết định giải Nobel Sinh lý học hay Y học; Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định giải Nobel Văn học; và Ủy ban Nobel Na Uy quyết định giải Nobel Hòa bình].    Hansson thực hiện cuộc nghiên cứu của mình tại Học viện Karolinska. Ông đã lục tìm tư liệu về các đề cử, các danh sách rút gọn cùng các đánh giá còn lưu lại từ năm 1965 trở về trước (sau thời điểm này, các thông tin về việc đề cử giải Nobel được giữ kín) và nhận thấy cơ chế bình chọn nghiêm ngặt, cẩn trọng, nhưng đôi khi không tránh khỏi việc gây tranh cãi.    Hansson cho biết, vì số lượng giải thưởng hạn chế trong khi các ứng cử viên “người tám lạng, kẻ nửa cân” nên ngoài những tiêu chí đạt, ủy ban trao giải phải cân nhắc những yếu tố như sự độc đáo và tầm ảnh hưởng của phát minh. Và điều đó có thể khiến ngay cả những ứng cử viên xứng đáng nhất cũng phải chịu thiệt thòi.    Chẳng hạn, phẫu thuật tim là lĩnh vực rất phát triển trong giai đoạn 1940 – 1960; các bác sĩ phẫu thuật hợp tác và đưa ra những cải tiến gần như đồng thời với nhau, gây khó khăn cho việc chỉ định một phát minh mang tính đột phá nhất. Trước rủi ro của việc chọn ra một vài cá nhân để trao một giải thưởng lẽ ra có thể vinh danh rất nhiều người cùng lúc như vậy, Ủy ban Nobel đã chọn giải pháp không bầu ai cả.    Qua nghiên cứu của mình, Hansson đưa ra một số lý do chính khiến một học giả tài năng lỗi lạc vẫn có khả năng “trượt” giải Nobel Y học, như sau:    Đề cử không “trúng”    Theo Hansson, người đề cử có vai trò giống như người rao hàng vậy. Nếu người cổ động bạn không chỉ ra rằng thành tựu của bạn mang tính đột phá và có tầm quan trọng sống còn đối với khoa học thì chẳng có cơ may nào cho bạn. Hansson đưa ra ví dụ về trường hợp những người đã đề cử Harvey Cushing, nhà giải phẫu thần kinh tiên phong trong lĩnh vực phẫu thuật não. Theo ông, lẽ ra họ phải tôn Cushing là “Columbus của tuyến yên” đồng thời chỉ rõ rằng những tiến bộ mà ông đạt được trong giai đoạn đầu thập niên 1900 là những bước tiến lớn để tìm hiểu phẫu thuật thần kinh. Nhưng họ đã không làm thế. Và những bản đề cử kém sức thuyết phục có lẽ đã phần nào khiến Cushing trượt mất giải Nobel rất xứng đáng với tầm vóc của mình.    Những vướng mắc trong chính trị    Giải Nobel cũng có thể không được trao do những vấn đề về chính trị nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà khoa học. Nhà phẫu thuật người Đức August Bier là một trường hợp như vậy. Ông là người đầu tiên thực hiện gây tê tủy sống vào năm 1898, nhưng những đề cử dành cho ông lại trùng với giai đoạn Đức Quốc xã đặt lệnh cấm người Đức nhận giải Nobel. Vì thế, ủy ban trao giải đã bỏ qua tên ông.    Tình trạng bão hòa trong nghiên cứu    Theo Hansson, phát minh mang tính đột phá là chưa đủ. Để lọt vào danh sách rút gọn, phát minh của bạn phải thực sự nổi bật trong lĩnh vực liên quan. Năm 1944, hai bác sĩ nhi chuyên khoa tim Alfred Blalock và Helen Taussig đã tìm ra phương pháp phẫu thuật để điều trị chứng methaemoglobinaemia, hay còn gọi là chứng “em bé màu xanh” [điều trị trẻ sơ sinh mắc hội chứng da màu xanh tím do khuyết tật ở tim]. Hai người được đề cử giải Nobel, nhưng theo Hansson, rốt cuộc họ bị loại đơn giản là vì thời đó có quá nhiều tiến bộ trong lĩnh vực giải phẫu tim.     Vấn đề giới tính và chủng tộc    Thật không may, những định kiến về văn hóa và giới tính cũng có ảnh hưởng tới việc bình xét giải Nobel trong lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu, Hansson gặp khá ít ứng cử viên nữ. Hansson cũng dẫn ra trường hợp Vivien Thomas, vị bác sĩ phẫu thuật tài ba đã cùng với Blalock và Taussig phát minh và thử nghiệm phương pháp phẫu thuật điều trị chứng “em bé màu xanh”. Theo Hansson, Thomas là một người da đen có những đóng góp to lớn vào quá trình này, song “tên ông lại không được Ủy ban Nobel nhắc đến dù chỉ một lần”.    Phát minh vi phạm “cấm kị”    Hansson nhận xét: “Có thể coi lịch sử giải Nobel là lịch sử của những cấm kị về y học”, và những công trình gây tranh cãi thường bị ủy ban trao giải “ngó lơ”. Chẳng hạn, năm 1903, Ferdinand Sauerbruch đã phá vỡ lệnh cấm bất thành văn việc phẫu thuật tim, vốn bị các bác sĩ thời bấy giờ coi là quá rủi ro. Sauerbruch đã tạo ra phòng áp suất [có khả năng ngăn ngừa biến chứng bằng cách nâng hoặc giảm áp suất không khí] cho phép các bác sĩ thực hiện phẫu thuật lồng ngực mở. Mặc dù nhận được tới hơn 60 đề cử, song tên ông vẫn bị gạch khỏi danh sách trao giải.     Đi trước thời đại    Theo Hansson, Gustav Zander là “cha đẻ của các phòng tập thể hình hiện đại”. Ông là người đầu tiên chế tạo ra các loại máy có tay quay và quả tạ để tập luyện thể chất từ những năm 1860. Nhưng vì lý do nào đó mà những phát minh đột phá của ông lại phải chờ tới cuối thập niên 1960 mới trở nên thịnh hành, khi những chiếc máy của hãng Nautilus tương tự như máy của Zander ra đời. Vì có tầm nhìn quá xa, Zander đã bị chính thời đại mình lãng quên và ông cũng chưa bao giờ được giải Nobel.    Nếu có quá nhiều nhà khoa học vĩ đại không nhận được giải thưởng xứng đáng với họ như thế, vậy thì có thể suy ra rằng một số người được giải là không xứng đáng hay không? Theo Hansson thì không nhất thiết như vậy. Ông lấy ví dụ về trường hợp của Antonio Egas Moniz, người giành giải Nobel năm 1949 nhờ những cải tiến của ông trong lĩnh vực phẫu thuật thùy não – một quy trình điều trị tâm thần được coi là tiến bộ lớn trong giai đoạn 1930 – 1940. Hansson cho biết: “Vào thời đó, các tạp chí lớn đều đánh giá cao thành tựu của ông ấy. Nó được coi là nghiên cứu mang tính đột phá.” Nhưng quan niệm ngày nay đã thay đổi, và giới chuyên gia tâm thần học ghét cay ghét đắng liệu pháp phẫu thuật thùy não. Vậy có thể qua đó mà nói rằng Moniz không xứng đáng nhận giải thưởng hay không?    Theo Hansson, lịch sử giải Nobel có thể có nhiều câu chuyện đáng tiếc, song ủy ban trao giải thường ít khi trao nhầm người. Ông cũng chỉ ra rằng quy trình xét giải không phải lúc nào cũng đi theo phương án an toàn hay thiên vị những người nổi tiếng. Một minh chứng là trường hợp Werner Forssmann. Vị bác sĩ này sinh sống ở một vùng quê, không có vị trí trong trường đại học nào và ống thông tim của ông cũng chưa từng được biết đến rộng rãi – nhưng ông vẫn được trao giải Nobel Y học vào năm 1956.    Trang Bùi dịch    Nguồn:  http://www.smithsonianmag.com/science-nature/how-not-win-nobel-prize-180956824/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel vật lý 2008      Giải Nobel 2008 vinh tặng ba nhà vật lý Nhật Bản ngành lý thuyết hạt cơ bản, các giáo sư Yoichiro Nambu (1921) một ‘Nhật kiều’ ở Đại học Chicago, Makato Kobayashi (1944) ở Trung tâm Quốc gia Vật lý năng lượng cao ở Tsukuba và Toshihide Maskawa (1940) ở Đại học Kyoto. Cùng với máy gia tốc hạt đầu tàu thế giới LHC ở CERN vừa khởi động chưa đến tháng nay1, giải Nobel này, một trong những thành tựu tuyệt vời của vật lý lượng tử ở lĩnh vực thuộc biên giới của tri thức nhân loại đang nóng bỏng, làm nức lòng những nhà khoa học đang theo đuổi những công trình lý thuyết hạt cơ bản.          Chương trình ưu tiên số một của LHC là săn tìm hạt cơ bản Higgs, hạt tạo nên khối lượng cho vật chất. Ưu tiên số hai là câu hỏi đâu rồi phản vật chất trong hoàn vũ bao la. Cái thứ nhất liên quan mật thiết đến Nambu (công trình của Peter Higgs không thể tách rời khỏi sáng kiến của Nambu như chính Higgs xác nhận trong nhiều bài viết) và cái thứ hai đến Kobayashi và Maskawa. Tiên đoán của hai ông về sự hiện hữu tất yếu của hai quark top và bottom để giải thích sự bất đối xứng vật chất-phản vật chất trong Mô hình Chuẩn (Standard Model, xem phụ chú 1) đều được thực nghiệm xác định với độ chính xác đáng kinh ngạc.     1 – Đối xứng   1a – Đối xứng P và CP. Trong tiến trình tìm hiểu và khám phá các định luật khoa học, ít nhất là trong phạm vi hạt cơ bản, nhiều nhà vật lý lấy nguồn cảm hứng trong cái đẹp cân đối hài hoà của thiên nhiên để tìm tòi, suy luận, sáng tạo. Cái đẹp đó dĩ nhiên chủ quan trong nghệ thuật, văn chương, hội họa, âm nhạc, nhưng trong khoa học nó khách quan, định lượng và mang tên gọi đối xứng. Sự tìm kiếm những đối xứng và sự vi phạm nó xảy ra như thế nào, cũng như tìm kiếm những gì bất biến trong vật lý (dùng công cụ nhóm đối xứng trong toán học) là phương pháp chỉ đường hữu hiệu trong công cuộc khám phá. Đối xứng gương là một thí dụ. Tay phải (trái) của ta có hình trong gương hệt như tay trái (phải), và cái ta gọi là phía phải hay phía trái chỉ là một ước lệ giữa con người. Không có gì cho ta phân biệt được mọi hiện tượng ở ngoài gương và hình chiếu của hiện tượng đó trong gương, hoán chuyển không gian x ↔ – x (đối xứng P) không làm chúng thay đổi, chúng bất biến. Một sáng nắng ấm mùa thu ngả đông với cây đỏ lá vàng của Hà Nội thời xưa, tháp rùa mái cong cổ kính soi hình xuống nước trong vắt pha lê của hồ gươm phẳng lặng, tháp và hình là biểu hiện của đối xứng gương toàn vẹn. Trong vật lý hạt cơ bản, hai nhà vật lý Trung Quốc ở  Mỹ T. D. Lee và C. N.Yang (giải Nobel 1957) khám phá ra là lực hạt nhân yếu (chi phối phóng xạ hạt nhân và sự vận hành của neutrino) vi phạm tối đa cái đối xứng gương P này, spin của electron, của neutrino đều hoàn toàn quay về trái mà không về phải. Một thí dụ khác là đối xứng vật chất-phản vật chất hay đối xứng CP, theo đó các định luật vận hành của electron và của phản hạt positron phải giống hệt nhau. Trong bốn tương tác cơ bản của thiên nhiên thì ba lực hấp dẫn, điện từ và hạt nhân mạnh đều tuân theo phép đối xứng P và CP, chỉ lực hạt nhân yếu mới vi phạm chúng, vi phạm tối đa với đối xứng P, đôi chút với đối xứng CP, tương tác yếu của hạt và của phản hạt khác nhau ở mực độ vừa phải.                     Makato Kobayashi  Toshihide Maskawa  Yoichiro Nambu        1b – Đối xứng chuẩn. Có một đối xứng ngự trị tuyệt đối trong lực điện từ và  lực mạnh của hạt nhân nguyên tử, một đối xứng đặc trưng của vật lý lượng tử, nó mang tên đối xứng chuẩn (gauge symmetry) không hề bị vi phạm. Chính cái đối xứng này đã mở ra một chân trời mới lạ và là gốc nguồn cho sự thành công kỳ diệu của Mô hình Chuẩn để diễn tả ba lực lượng tử cơ bản mạnh, điện từ và yếu. Ai trong chúng ta khi làm quen với cơ học lượng tử đều biết rằng bình phương của hàm số sóng |Ψ(x)|2 cho ta xác suất xảy ra đối với một đại lượng nào đó. Ta thấy ngay hoán chuyển chuẩn Ψ(x) ↔ Ψ(x) Exp[iα(x)] với bất kỳ hàm α(x) nào cũng không làm thay đổi |Ψ(x)|2. Cũng vậy nó không làm thay đổi các định luật của Mô hình Chuẩn, các đại lượng vật lý phải bất biến với hoán chuyển chuẩn. Chính vì vậy mà đối xứng chuẩn chi phối toàn diện sự vận hành của các tương tác mạnh và điện từ. Cụ thể ta mường tượng đối xứng này như sau: điện thế của Trái đất là một triệu volt và hai cực điện trong nhà là 1000000 volt và 1000220 volt, nhưng máy truyền hình của chúng ta chạy với 220 volt không hề trục trặc mặc dầu hàng triệu volt điện thế của quả đất trên đó nó tác động. Cũng như α(x) là bất kỳ hàm gì, có muôn ngàn điện thế khác nhau ở mọi nơi trong hoàn vũ, nhưng định luật chi phối sự vận hành của chúng phải được điều hòa ra sao để cho ta một trường điện từ duy nhất. Định luật điện từ trên máy tính nhỏ bé của chúng ta cũng chi phối lực điện từ trên các thiên thể xa xăm, đó là ý nghĩa vật lý của đối xứng chuẩn. Phương trình Maxwell của tương tác điện từ tuân theo phép đối xứng chuẩn, đối xứng này trở thành nguyên lý chủ trì cho sự phát triển kỳ diệu của Điện động học lượng tử (QED), những tính toán trong lý  thuyết này đưa ra nhiều tiên đoán được thực nghiệm kiểm định tới độ chính xác cao hơn một phần tỷ (momen từ của electron là một thí dụ). Đặc điểm của đối xứng chuẩn là nó đòi hỏi tuyệt đối các boson – làm trung gian sứ giả cho fermion tương tác với nhau qua trao đổi các boson này – phải tuyệt đối không có khối lượng. Hạt photon trong Điện động học lượng tử cũng như gluon trong Sắc động lực học lượng tử (QCD) là thí dụ của boson không có khối lượng. Ta gọi chúng là boson chuẩn (gauge bosons). Ngay từ thời trứng nước của thuyết tương tác yếu chi phối hiện tượng phóng xạ hạt nhân, nhiều nhà vật lý trong đó có Fermi, Feynman, Gell-Mann, Yang, Lee, Glashow đã tinh ý nhận ra là giữa hai tương tác điện từ và yếu có nhiều cấu trúc và tính chất rất giống nhau, vậy hầu như là chuyện đương nhiên nếu ta sử dụng phương pháp rất hiệu lực của đối xứng chuẩn trong điện từ để khám phá những định luật vận hành của lực yếu. Nhưng khốn thay, cái trở ngại cho lực yếu là boson chuẩn W (làm sứ giả cho lực này) lại có khối lượng rất lớn chứ chẳng bằng 0 như photon trong điện từ. Tại sao vậy? Vì lực yếu chỉ tác động trong hạt nhân nguyên tử ở kích thước vi mô, trong khi lực điện từ trải rộng khắp hoàn vũ, mà tầm truyền R của lực lại tỷ lệ nghịch với khối lượng M của boson làm trung gian cho lực truyền đi, một hệ quả của nguyên lý bất định Heisenberg theo đó RM ~ h. Biết tầm truyền R của lực yếu, ta suy ra là boson W phải có khoảng hai trăm ngàn lần khối lượng của electron, như vậy tương tác yếu có vẻ như không có đối xứng chuẩn. Ôi biết bao thất vọng nếu phương pháp diệu kỳ của đối xứng chuẩn – nguyên nhân cho sự thành công tuyệt vời của lý thuyết điện từ – xem ra chẳng sao áp dụng được cho tương tác yếu. Nhưng một chuyện ‘thần kỳ’ đã xảy ra để làm cho lực yếu cũng mang đối xứng chuẩn như điện từ. Trong vật lý, cũng như trong nhiều bộ môn khác, có một số nhỏ nhà khoa học có kiến thức xuyên ngành uyên thâm, nhìn rộng ra ngoài cái chuyên của mình, tìm hiểu những gì phổ quát để mang lại cho ngành mình một luồng gió mới. Yoichiro Nambu là một trong số đó. Chuyên gia về hạt sơ đẳng nhưng ông cũng lưu tâm và có cái nhìn bao quát về vật lý siêu dẫn xa lạ với hạt, ông nhận thấy có cái gì liên kết hai ngành (cấu trúc toán học thì rất giống nhau nhưng vật lý thì khác biệt) và phác họa ra ý tưởng làm cho lực yếu cũng mang đối xứng chuẩn. Nhưng chính Peter Higgs một nhà nghiên cứu ‘bình thường’ của xứ Scotland làm việc tại một Đại học ‘nhỏ’ Newcastle upon Tyne đã tìm ra một kịch bản nhất quán để thực hiện ý tưởng Nambu. Ngoài ra Nambu còn khai sáng ra ý niệm theo đó thành phần cơ bản cấu tạo nên proton, neutron (quark theo ngôn từ hiện đại) phải mang ba đặc tính lượng tử. Ba đặc tính này ngày nay ta gọi là sắc tích, và lực mạnh gắn kết quark trong hạt nhân gọi là Sắc động lực học lượng tử (Quantum ChromoDynamics, QCD). Cũng là người khai sáng ra ý niệm dây thay thế hạt nhiều năm trước thuyết Siêu dây thời thượng ngày nay, ông quả là một nhà vật lý lý thuyết có  cái nhìn xa, uyên thâm, đa ngành và sâu sắc, làm tiên phong sáng tạo nhiều ý tưởng mới.  1c – Siêu dẫn điện từ. Hiện tượng siêu dẫn của vật liệu ở nhiệt độ thấp là một đặc trưng của vật lý lượng tử, dòng điện truyền qua một dây siêu dẫn có thể tồn tại hàng tỷ  năm trên lý  thuyết, trong thực tế vài trăm ngàn năm, nó không có điện trở. Bất kỳ một điện thế dẫu nhỏ đến đâu cũng không áp đặt được vào trong chất siêu dẫn vì nó bị triệt tiêu bởi dòng điện ‘lý tưởng’ nội tại của siêu dẫn. Không những điện mà cả từ trường cũng vậy. Một thỏi nam châm để gần một vật liệu siêu dẫn bị kéo bật ra xa, thông lượng từ trường bị trục xuất một phần ra ngoài vật siêu dẫn, đó là hiệu ứng Meissner. Chính hiệu ứng này là gốc nguồn cho xe lửa trong tương lai ‘nhẹ bay’ làm cho nó chạy nhanh, không bị cản trở bởi ma sát của đường ray. Vật liệu siêu dẫn ngăn chặn tầm truyền của trường điện từ, nó là một hệ thống trong đó điện từ chỉ có thể tác động trong một khoảng cách ngắn, khác với bản chất tự tại của sóng điện từ có thể truyền đi vô hạn. Vậy photon, cái boson chuẩn, khi chuyển động trong vật liệu siêu dẫn như bị cản trở bởi một bức tường chắn gì đó và nó tác động giống như mang một khối lượng khác 0. Bức tường chắn đó trong lý thuyết siêu dẫn của J. Bardeen, L. N. Cooper, J. R. Schrieffer (BCS) chính là thể ngưng tụ của muôn ngàn cặp Cooper, cặp liên kết hai electron có spin up↑ spin down↓ đối nghịch. Mỗi cặp mang điện tích –2e nhưng vì có spin 0 nên theo thống kê Bose-Einstein những cặp này có thể hoà đồng chung sống trong cùng một trạng thái đông tụ. Mỗi electron cô đơn và có cá tính mạnh mẽ, nhưng kỳ lạ thay ở một hoàn cảnh đặc biệt nào đó (nhiệt độ thấp) khi kết bạn, mỗi cặp tuy rất mảnh mai nhưng khi tụ họp quá đông đảo lại vận hành như một dòng chảy thuần khiết đều đặn khiến cho vật liệu trở nên siêu dẫn2. Cái đông tụ Bose của muôn ngàn nguyên tử Helium 4 coi như boson cũng là gốc nguồn của hiện tượng siêu lỏng, luồng thể lỏng bơi ngược trên thành ống nhỏ li ti. Vật liệu sắt từ (ferromagnetic) là thí dụ thứ ba trong đó hàng tỷ electron có spin cùng hướng về một phía duy nhất do tác động của một từ trường ngoài. Vật liệu sắt từ như vậy không đối xứng tuyệt đối trong không gian, mặc dầu định luật cơ bản phân phối spin của nó hoàn toàn đối xứng với sự sắp đặt spin, không có một chiều spin nào giữ ưu thế. Trong ngôn từ của giới chuyên ngành, phương trình của một sự kiện nào đó mang một phép đối xứng, trong khi nghiệm của phương trình ấy lại không có cái đối xứng nguyên thủy, ta gọi hệ thống đó tự phát vi phạm đối xứng (spontaneous breaking of symmetry, SBS).  1d –Thuyết Điện-Yếu thống nhất điện từ và lực hạt nhân yếu. Tính chất SBS là gốc nguồn cho phép thống nhất được hai lực điện từ và yếu, chúng tưởng như khác biệt mà thực ra cùng chia sẻ phép đối xứng chuẩn. Sự thống nhất hai lực điện-từ và yếu thành một quy luật chung duy nhất là cả một bước ngoặt của vật lý ở cuối thế kỷ 20, tầm quan trọng của nó có thể ví như Maxwell ở cuối thế kỷ 19 đã tổng hợp ba hiện tượng điện, từ và quang mà công nghệ hiện đại thông-truyền tin khai thác vô cùng mầu nhiệm. Xin nhắc lại, để thống nhất lực yếu với lực điện từ, ta sử dụng đối xứng chuẩn. Vậy ban đầu cũng như photon của điện từ, boson chuẩn W, sứ giả của lực yếu, không có khối lượng. Sau đó ta cần một trường boson mới lạ nào đó (trường Higgs) để chắn tác động của lực yếu và mang khối lượng cho W, tựa như ngưng tụ của cặp Cooper trong điện từ. Cặp Cooper spin 0 liên kết hai electron trong siêu dẫn điện từ được thay thế bởi trường Higgs cũng spin 0 trong lực yếu. Trường Higgs tràn đầy chân không lượng tử, chân không này là trạng thái của vũ trụ thuở Nổ Bùng (Big Bang) có năng lượng cực tiểu nhưng vô hạn. Không những mang khối lượng cho hạt W, hạt Higgs còn mang khối lượng cho tất cả các hạt khác như quark, lepton. Chính cái cơ cấu SBS phổ biến và chi phối nhiều ngành vật lý là do Nambu, khi suy ngẫm về thuyết siêu dẫn nói trên, đã đề xướng ra và Higgs áp dụng thành công trong vật lý hạt cơ bản. Giải Nobel 2008 để tặng thưởng Nambu đã sáng tạo cái cơ cấu SBS này.   2 – Sáu Quark và Vật chất-Phản vật chất  Sự hiện hữu của phản vật chất là hệ quả sâu sắc nhất của bản giao hưởng tuyệt vời giữa hai thuyết Tương đối hẹp và Cơ học lượng tử do Paul Dirac, một thiên tài của thế kỷ tầm cỡ Newton và Einstein, chứng minh năm 1928 khi ông chưa đến 26 tuổi. Máy chụp hình nổi PET (Positron Emission Tomography) dùng trong y học ngày nay là một ứng dụng trực tiếp của positron, hạt phản electron. Khi positron hòa tụ với electron sẵn có trong cơ thể thì cặp positron-electron biến thành tia bức xạ cực kỳ tinh vi để rọi sáng chi tiết trong não bộ.   Như đề cập sơ qua ở phần 1a, lực hạt nhân yếu vi phạm đối xứng vật chất-phản vật chất (đối xứng CP), một ngạc nhiên lớn vì ba lực cơ bản khác (hấp dẫn, điện từ và mạnh) tuyệt đối  tuân theo phép đối xứng này. Tương tác yếu của hạt và của phản hạt khác nhau. J. Cronin và V. Fitch cùng hai cộng sự viên khám phá ra năm 1964 sự vi phạm CP, và hai vị này nhận giải Nobel 1980. Những năm đầu 1970, trong bối cảnh của vật lý hạt thời ấy với Mô hình Chuẩn đang ở buổi sơ khai, hai nhà vật lý trẻ Kobayashi và Maskawa tiền phong đi tìm hiểu cơ cấu nào cho phép sự vi phạm này. Hai ông, hoàn toàn do suy luận và tính toán, sau nhiều vật lộn với toán học ‘ứng dụng thôi’, đã tìm ra năm 1973 là ít nhất phải có sáu quark (đúng ra là phải có ba ‘họ‘, mỗi họ có hai quark) mới vi phạm được đối  xứng CP. Vào thời buổi ấy quark hãy còn là một giả thiết, một đề tài tế nhị, nhiều người bài bác kể cả những cây đại thụ, và ngay cả nếu chấp nhận giả thiết quark thì lúc ấy người ta chỉ biết có ba quark thôi: up, down và strange quark! Kỳ diệu thay cái tiên đoán của Kobayashi và Maskawa (KM). Thực nghiệm liên tiếp chứng tỏ sau đó sự chính xác của cơ chế vi phạm CP mà KM đề xướng. Năm 1974 quark charm bắt đầu lộ diện, năm 1977 với quark bottom và 1994 với quark top. Khám phá của Kobayashi và Maskawa góp phần quan trọng cho sự hình thành của Mô hình Chuẩn hạt cơ bản, nó diễn tả rất chính xác sự vi phạm đối xứng vật chất-phản vật chất trong các thực nghiệm liên quan đến các meson K(mang strange quark) và B (mang bottom quark).  —————–  1http://www.thesaigontimes.vn/epaper/TB-KTSG/So39-2008(927)/19902/, trong bài này, người viết có giới thiệu Nambu trong phụ chú 3, lỗi typo nhầm là Nambu có giải Nobel mà sau đó tác giả cải chính !  http://www.diendan.org/khoa-hoc-ky-thuat/co-cau-van-vat/  2http://amvc.free.fr/Damvc/Mai%20Ninh/TruyenNgan/HatDienCoDon%20-%20MN%20unicode.htm        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Vật lý 2009      Ngày 6/10/2009 Hàn lâm Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã thông báo trao giải Nobel Vật lý 2009 cho ba nhà khoa học. Công trình của ba nhà Vật lý đã đặt cơ sở cho công nghệ thông tin hiện đại (modern information technology). Charles K.Kao đưa ra ý tưởng truyền thông bằng cáp quang và nghiên cứu cách làm giảm thiểu cường độ ánh sáng khi lan truyền trong các sợi quang học. Willard S.Boyle và George E.Smith sáng chế thiết bị CCD (charge-coupled device) mà hiện nay là linh kiện chính yếu của nhiều camera số và tất cả thiết bị công nghệ cao sử dụng trong y học và trong khoa học nói chung, trong thiên văn, trong vũ trụ (Hubble space telescope).  &#160;    Truyền ánh sáng trong sợi để thực hiện truyền thông quang học  Kính được chế tạo từ 4500 năm về trước ở Mesopotamia và Ai Cập. Con người đã biết tạo ra những hình ảnh lung linh bằng cách tác dụng ánh sáng vào kính. Và 100 năm trước người ta đã tìm cách bắt nhốt các tia sáng. Một tia sáng nếu hướng vào một sợi quang (optical fiber) thì tia sáng sẽ đập vào thành sợi qua lại khi hệ số chiết xuất của kính lớn hơn của môi trường xung quanh (hình 1) và ánh sáng lan truyền về phía trước. Và ý tưởng truyền thông tin bằng cáp quang xuất hiện.   Truyền thông bằng cáp quang trong thời đại ngày nay là một khái niệm thông thường, nhưng khi K.Kao đưa ra ý tưởng này thì nó được đón nhận một cách bi quan.                          Từ trái sang phải:    Charles K.Kao (1/2 giải), Phòng thí nghiệm Standard Telecommunication, Harlow, Anh; ĐH Trung Quốc HongKong, sinh năm 1933, Thượng Hải, Trung Quốc.  Willard S.Boyle (1/4 giải),Phòng thí nghiệm Bell,Murray Hill,NJ.Mỹ, sinh năm 1924,Amherst, NS, Canada  George E.Smith  (1/4 giải), Phòng thí nghiệm Bell, Murray Hill, NJ.Mỹ, sinh năm 1930.  Số tiền thưởng của giải: 10 triệu SEK (krona Thụy Điển), khoảng 1.435.441 USD (8/10/2009)   Các sợi quang ngắn được ứng dụng vào ngành y vào năm 1930. Người ta đã bọc sợi quang bằng một vỏ bọc có hệ số chiết xuất nhỏ hơn. Song đối với một quãng đường dài thì không có hiệu quả. Người ta nghĩ đến việc dùng ánh sáng laser. Mọi thông tin có thể mã hóa thành số 1 & 0, song sau quãng đường 20m thì chỉ còn lại 1% ánh sáng. Nhiều nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm khác nhau trên thế giới đều không dẫn đến kết quả khả quan.                Hình 1. Sợi quang rất mảnh chừng 125 micro mét. Tâm sợi có đường kính khoảng 10 micre mét, nhỏ nhiều hơn một sợi tóc; ánh sáng hồng ngoại với bước sóng 1,55 micro mét sẽ bị giảm cường độ ít nhất dọc sợi quang và hiện nay được dùng trong truyền thông quang học.        Đây là một thử thách lớn đối với Charles Kuen Kao, lúc bấy giờ là một kỹ sư trẻ tuổi tại STL (Standard Telecommunication). Sinh năm 1933 ở Thượng Hải ông bảo vệ Ph.D tại Đại học London năm 1965. Mục đích của ông là làm sao cho 1% ánh sáng nói trên sẽ đi xa hơn. Ngoài việc nghiên cứu sự lan truyền ánh sáng trong sợi quang K.Kao đã đi đúng hướng khi xét đến các tính chất của vật liệu cấu tạo nên các cáp quang.   Tháng giêng năm 1966 K.Kao đưa ra các kết luận nghiên cứu của mình tại London và công bố kết quả vào tháng sáu [1]: sự hao tổn ánh sáng là do hiện tượng hấp thụ (absorption) và khuếch tán (scattering) vì các tạp chất đặc biệt ion sắt. Những tạp chất trong sợi quang làm giảm thiểu cường độ ánh sáng truyền đi.  K.Kao cùng T.W.Davies, M.W.Jones và C.R. Wright đã thực hiện nhiều thí nghiệm đo sự giảm cường độ ánh sáng khi lan truyền trong sợi quang theo độ dài của nhiều bước sóng.   K.Kao đưa ra ý tưởng dùng silica (SiO2) nóng chảy. Nhiệt độ nóng chảy là 2000oC, một nhiệt độ khó điều khiển nhưng có thể giúp chế tạo những sợi siêu nhỏ. Sau 4 năm các nhà công nghệ tại Corning Glass Works (Mỹ) với hơn 100 năm kinh nghiệm đã chế tạo được một cáp quang dài 1km nhờ công nghệ gọi là CVD (Chemical Vapor Deposition) đạt các tiêu chuẩn mà K.Kao đã đề ra.  Hệ thống cáp quang xuyên đại dương được lắp đặt đầu tiên năm 1988 dài 6000 km nối liền châu  Mỹ và châu Âu. Ngày nay độ dài cáp quang lên đến 1 tỷ km (độ dài 25.000 lần quanh Trái đất).  Một ví dụ đặc biệt đáng chú ý là việc sử dụng mạng cáp quang phát triển tại LHC (Máy va chạm hadron lớn) tại CERN để chuyển tải số lượng thông tin khổng lồ thu được từ các detector đến tất cả trung tâm nghiên cứu lớn trên toàn thế giới.  Mạch bán dẫn ghi hình – cảm biến CCD (Imaging semiconductor circuit –the CCD sensor)  Lịch sử phát triển các camera và ghi lại hình là một lịch sử lâu dài trong quá khứ. Có lẽ bức ảnh chụp đầu tiên còn lại hiện nay là do J.N.Niepce thực hiện năm 1826 nhờ một camera với thời gian thu ảnh bằng 8 giờ. Âm bản làm bằng một lớp bitumen. Phim cuộn được sáng chế năm 1887 và năm 1888 camera với phim cuộn được bán trên thị trường.  Năm 1908 G.Lippman đoạt giải Nobel vì phát minh ra ảnh màu.                Hình 2 . Minh họa nghệ thuật truyền thông toàn cầu        Song việc ghi ảnh chỉ trở thành một cuộc cách mạng số nhờ sự phát minh ra CCD.  Năm 1969 Willard S.Boyle và George E. Smith tại Phòng thí nghiệm Bell (Bell Laboratories) phác thảo sơ đồ cấu trúc của CCD và sau đó thực hiện thành công [2]. CCD  là tên do hai tác giả trên đặt cho thiết bị. CCD còn được gọi một cách đơn giản tuy không chính xác lắm là image sensor – cảm biến hình ảnh hoặc electron eye- mắt điện tử . Tiếng Anh: CCD là Charge (Điện tích)- Coupled (Kết nối) Device (Thiết bị). CCD được sáng chế dựa trên các tính chất của MOS (Metal Oxide Semiconductor) để tạo ra một thiết bị tích hợp nhằm thu và đọc thông tin.  Boyle sinh năm 1924 tại Amherst, Nova Scotia. Smith sinh năm 1930 tại NewYork. Cả hai làm việc tại Bell Laboratories.  CCD được làm bằng silicon, kích thước cỡ một con tem, bản silicon này chứa hàng triệu tế bào quang học (photocell) nhạy cảm với ánh sáng (hình 2). Kỹ thuật ghi hình dựa trên hiện tượng quang điện  (Einstein, Nobel 1921): ánh sáng đập vào bản silicon và đánh bật ra các electron trong các tế bào quang điện. Các electron được giải thoát tích tụ lại  trong tế bào như trong một cái giếng. ánh sáng càng mạnh thì số electron càng nhiều và chúng chiếm đầy các giếng đó.  Khi một điện thế được áp vào bề mặt CCD thì nội dung các giếng sẽ được đọc: từng hàng một các electron sẽ trượt khỏi bề mặt để đi vào một băng chuyền (hình 3). Như thế ví dụ một bề mặt 10 x 10 điểm ảnh sẽ biến thành 100 điểm xếp theo một chuỗi dài. Bằng cách đó CCD biến một hình quang học thành một chuỗi số  1 & 0. Mỗi tế bào quang như thế được tái tạo thành một điểm ảnh, một pixel. Ví dụ một CCD chứa 1280 x 1024 pixels sẽ có một dung tích là 1,3 megapixels. Camera video sử dụng CCD xuất hiện vào năm 1970.  Thiết bị CCD cung cấp hình ảnh đen trắng, muốn có màu phải dùng các màng lọc (filter) như màng lọc RGB đặt trên mỗi tế bào quang điện (màng lọc Bayer).  Công nghệ CCD sau này bị cạnh tranh bởi công nghệ CMOS (Complementary Metal Oxide Semiconductor). Cả hai công nghệ đều sử dụng hiện tượng quang điện song trong CCD các electron được tập hợp thành hàng để được đọc ra thì trong CMOS mỗi tế bào được đọc tại chỗ ở vị trí của mình. CMOS ít tiêu năng lượng hơn song chất lượng hình ảnh có phần kém hơn.                Hình 3 . Nguyên lý hoạt động:  CCD chuyển các hình ảnh quang học thành các tín hiệu điện tử, các tín hiệu này sau đó được dịch mã sang số 1 & 0        Hiện nay CCD là thiết bị chính yếu trong tất cả các camera số sử dụng trong mọi lĩnh vực, từ giải trí, y học, nghiên cứu, vũ trụ…Kính viễn vọng không gian Hubble (Hubble Space Telescope) được trang bị nhiều camera CCD trong nhiều mục đích khác nhau.   ***  Những công trình của ba nhà vật lý Charles K.Kao và Willard S.Boyle, George E.Smith đã kiến thiết hai cuộc cách mạng trong công nghệ quang học làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt truyền thông của thế giới số ngày nay. Không thể kể hết các ứng dụng to lớn phong phú do các công trình của họ đem lại cho y học, nghiên cứu khoa học, truyền thông trên Trái đất, trong vũ trụ…Các nhà khoa học trên thế giới chúc mừng quyết định trao giải Nobel Vật lý 2009 cho ba nhà vật lý Charles K.Kao ,Willard S.Boyle, George E.Smith của Hàn lâm Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển.   CC. biên dịch  —————-  [1] C.K.Kao and G.A. Hockham, “Dielectric-Fibre Surface Waveguides for optical frequencies”  Proc. IEEE, 113, 1151 (1966).  [2] W.S.Boyle & G.E.Smith, Bell Systems Technical Journal 49 (1970) 587       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Vật lý 2010      Ngày 5/10/2010 Hàn lâm viện Khoa học Hoàng gia Thụy điển đã thông báo trao giải Nobel Vật lý 2010 cho hai nhà khoa học&#160;(từ trái sang phải): Andre Geim, sinh năm 1958 tại Sochi, Nga, PhD 1987 tại Viện Chất rắn, Hàn lâm khoa học Nga, Đại học Manchester, Anh;&#160; Konstantin Novoselov, sinh năm 1974 tại Nizhny Tagil, Nga, PhD&#160; 2004 tại Đại học Radboud, Hà lan, Đại học Manchester, Anh, vì những thí nghiệm đột phá về vật liệu 2 chiều graphene [1].        Số tiền thưởng của giải là 10 triệu SEK -krona Thụy Điển, khoảng 1.500.000 USD, chia đều cho hai người. Cả hai nhà vật lý này đều bắt đầu con đường học vấn và sự nghiệp khoa học ở Nga và hiện nay là giáo sư tại Đại học Manchester, Anh. Một chi tiết lý thú là năm 2000 Andre Geim đã được giải IgNobel vì con ếch bay trong từ trường (levitating the frog).  1. Graphene là gì ?  Các vật liệu tinh thể hai chiều (2D) hiện nay được nghiên cứu nhiều. Một trong số đó là graphene, một lớp nguyên tử đơn carbon (hình 1). Vật liệu mới này có những tính chất quan trọng đối với các nghiên cứu cơ bản cũng như đối với những ứng dụng kỳ diệu trong tương lại.           Hình 1. Graphene. Đây là một mạng 2D hoàn hảo chỉ dày bằng một nguyên tử. Mạng này gồm những nguyên tử carbon nối liền với nhau theo những hình lục giác.          Sau đây là một số đặc trưng cơ, nhiệt, điện của graphene:                  a. Mật độ của graphene: 0,77 mg/m2, như vậy một cái võng 1m2 làm bằng graphene chỉ có trọng lượng bằng 0,77 mg,  b. Graphene gần như trong suốt,  c. Graphene bền hơn thép 100 lần lại dễ kéo dài, uốn cong,  d. Độ dẫn điện của graphene lớn hơn đồng (0,96.106.W-1cm-1 so với 0,60.106.W-1cm-1),  e. Độ dẫn nhiệt của graphene 10 lần lớn hơn đồng.  Hai nhà khoa học Andre K.Geim và Konstantin S.Novoselov đã thành công trong các thí nghiệm chế tạo, bóc tách riêng lớp 2D graphene, và xác định những tính chất quan trọng của graphene.  2. Các dạng khác nhau của carbon  Như chúng ta biết carbon là nguyên tố cơ sở của DNA và mọi tổ chức của sự sống trên trái đất. Carbon có thể tồn tại dưới nhiều dạng. Dạng thông thường nhất là graphite là những tờ carbon liên kết. Dưới áp suất lớn kim cương sẽ hình thành từ carbon.  Một dạng mới của phân tử carbon là fullerene, thông thường nhất  là C60 gồm 60 nguyên tử carbon trong dạng một quả bóng làm bằng 20 hình tám cạnh và 12 hình năm cạnh, cấu hình này cho phép một diện tích trở thành một mặt hình cầu. Các tác giả (R. F. Curl, Jr., R. E. Smally, and H. W. Kroto ) phát hiện fullerene được tặng giải Nobel Hóa học năm 1996.  Một dạng khác gần như một chiều (quasi-one-dimensional) là ống nano carbon. Chúng được cấu thành từ  những tờ graphene cuốn tròn thành dạng ống với các đầu có dạng bán hình cầu. Các tính chất điện tử và cơ học của ống nano có nhiều điểm tương đồng với graphene.  Như chúng ta biết graphite gồm nhiều tờ carbon chồng lên nhau, song người ta cho rằng không thể bóc từng tờ riêng ra được. Do đó, cộng đồng  vật lý thế giới đã vô cùng ngạc nhiên khi Konstantin Novoselov và Andrei Geim cùng cộng sự đã chứng minh rằng các lớp đơn có thể bóc riêng ra được và các lớp đó là bền. Một lớp đơn như vậy chính là graphene (hình 2).          Hình 2. Các phân tử fullerene C60, các ống nano carbon và graphite đều được cấu thành từ các tờ graphene.          3. Giải năng lượng  Graphene như vậy là một lớp đơn carbon có cấu trúc mạng như mạng lục giác tổ ong với khoảng cách carbon-carbon là 0,142 nm. Đây  là một vật liệu tinh thể  2D (hai chiều) quan trọng.  Các tính toán về cấu trúc giải năng lượng của graphene đã được tiến hành về mặt lý thuyết từ năm 1947, lúc bấy giờ các tính toán này chỉ mang tính hàn lâm. Chỉ 60 năm sau Geim và Kim (Đại học Columbia) mới tiến hành những nghiên cứu thực nghiệm trên graphene.  Trong một bán dẫn thông thường electron được gán một khối lượng hiệu dụng m* để tính đến tương tác của electron với mạng và E phụ thuộc vào bình phương xung lượng theo hệ thức                               trong đó k là vector sóng của electron.  Xét graphite ta thấy các giải năng lượng giao lên nhau, nhưng trong graphene vùng giao nhau thu gọn về một điểm và có sự đối xứng giữa các giải năng lượng của lỗ trống và electron (xem hình 3). Hệ thức tán sắc trong hai giải trở thành tuyến tính khi đến gần điểm gặp nhau đó. Khối lượng electron m* tiến đến số không, do đó mà động học electron được mô hình hóa tốt nhất bởi phương trình tương đối tính Dirac với    trong đó vận tốc Fermi vF thay chỗ tốc độ ánh sáng (hãy so sánh với công thức  ).E phụ thuộc tuyến tính vào xung lượng  [2].   Lẽ dĩ nhiên khối lượng electrron không bằng không song  trong trường hợp này thông số biểu diễn khối lượng tiến đến số không chứng tỏ rằng vận tốc electron trong graphene là một hằng số.  Cấu trúc điện tử của graphene khác hẳn với vật liệu ba chiều. Mặt Ferrmi được đặc trưng bởi sáu hình chóp đôi như ở hình 3. Mức Fermi nằm tại các điểm gặp nhau (điểm Dirac) của các hình chóp đó.  Gần mức Fermi hệ thức tán sắc (tức năng lượng như hàm số của vector sóng  ) của electron và lỗ trống là hàm tuyến tính.            Hình3.  Graphene trong không gian thực và trong biểu diễn xung lượng-không gian. (a) Mỗi nguyên tử carbon trong mạng graphene làm thành những liên kết mạnh chung hóa trị (covalent) với các nguyên tử chung quanh.(b) Cấu trúc giải năng lượng của tinh thể biểu diễn sự phụ thuộc của năng lượng với chuyển động của electron.Trong graphene giải hóa trị (valence) và giải dẫn ( conduction) tiếp nhau tại những điểm của vùng Brillouin. Hệ thức tán sắc năng lượng – xung lượng trở thành tuyến tính ở vùng lân cận các điểm đó, hệ thức tán sắc được mô tả bởi phương trình năng lương tương đối tính E= trong đó vF là vận tốc Fermi còn  là xung lượng . Do đó một electron có khối lượng hiệu dụng bằng không và chuyển động như một photon hơn là một hạt có khối lương thông thường với hệ thức tán sắc là parabolic.            4. Phát hiện graphene  Graphene về mặt lý thuyết được biết từ năm 1947 bởi P.R.Wallace. Năm 1956 phương trình sóng của các mức kích thích được viết ra bởi J.W.McClure và mối tương tự với phương trình Dirac được phát hiện năm 1984.  Trước năm 2004 sự bóc tách các tờ graphene bền được cho là không thực hiện được. Sau đó Andre Geim và Konstantin Novoselov đã thành công trong việc cô lập được tờ graphene riêng lẻ. Các kết quả được công bố trên Science tháng 10/2004.  5. Những tính chất mang tính khoa học cơ bản  Trong lý thuyết dây (LTD) người ta nói đến những không thời gian 10, 11 chiều nhưng chính vương quốc các không gian 2 chiều (flatland) lại chứa đựng nhiều điều kỳ thú . Đây là vương quốc của những chất liệu như graphene. Hai nhà khoa học Geim & Novoselov, tại đại học Manchester đã chế tạo được graphene có chiều dày bằng một nguyên tử. Đây là vật liệu hai chiều mỏng nhất trên thế giới hiện nay và có những tính chất kỳ diệu mà người ta đã để gần một nửa thế kỷ để nghiên cứu về mặt lý thuyết.  Graphene là một bán dẫn không có vùng cách (gapless) trong giải năng lượng [3] . Điều này buộc rằng tốc độ electron trong graphene phải là một hằng số không phụ thuộc vào xung lượng, giống như vận tốc của photon (ánh sáng) luôn bằng  c  vậy. Như vậy cơ học lượng tử của electron trong graphene là đồng nhất với cơ học lượng tử của những hạt tương đối tính với khối lượng rất nhỏ. Các tính chất  tương đối tính này không phải xuất phát từ điều kiện phù hợp với lý thuyết tương đối – hay với bất biến Lorentz- mà đơn giản từ điều kiện đối xứng của mạng hình tổ ong.  Ngoài ra vì Hamilton của chúng tương tự như Hamilton của các hạt tương đối tính không khối lương cho nên graphene có những tính chất mà ta có thể biết được từ bất kỳ một sách giáo khoa nào về lượng tử tương đối tính.  a/ Hiện tượng đường hầm Klein (Klein tunelling, phát hiện năm1929 bởi nhà vật lý Thụy điển Oskar Klein)  Phương trình Dirac nói rằng vì có hiện tượng hủy cặp thành hai hạt ảo cho nên các hạt tương đối tính có thể thâm nhập vào các rào chắn với độ cao và độ rộng  bất kỳ mà không để lại đằng sau một thành phần phản xạ nào cả. Hiệu ứng này gọi là nghịch lý Klein. Đây là một trong những hiện tượng phản trực giác nhất trong QED (Quantum Electrodynamics-Điện động lực học lượng tử). Hiện tượng này đã được tiên đoán từ nhiều thập kỷ nay nhưng chưa được quan sát trong các thí nghiệm về vật lý các hạt cơ bản. Song trong graphene thì hiện tượng hạt fermion Dirac hủy thành electron và lỗ trống này xảy ra thường xuyên và nghịch lý Klein cũng đã được quan sát.  Vì vận tốc của electron trong graphene không bằng vận tốc ánh sáng (chỉ bằng 106 m/s) cho nên một điều đáng chú ý là trong graphene tương tác là mạnh hơn so với QED vì trong QED hạt chuyền tương tác là photon (có tốc độ ánh sáng). Vận tốc lớn của electrron trong graphene mở ra khả năng nghiên cứu một số vấn đề ở kích cỡ nhỏ không phải sử dụng đến máy gia tốc.  b/ . Hiệu ứng Hall lượng tử           Hình 4.  Độ dẫn Hall (độ dẫn đo thẳng góc với dòng điện-transverse conductivity) như hàm của mật độ dẫn có những vùng nằm ngang (plateau) gián đoạn lượng tử hoá trong đơn vị e2/h. Đường sóng phía dưới là độ trở dọc (longitudinal resistivity).            Khi có một từ trường thẳng góc thì các electrron giam giữ trong một mặt sẽ chịu tác dụng lực Lorentz và chuyển động theo một quỹ đạo tròn. Theo lý thuyết lượng tử các vòng quỹ đạo này sẽ chứa một số nguyên độ dài sóng Broglie. Trong vật lý 2D điều kiện đó sẽ dẫn đến một phổ rời rạc các động năng ( mức Landau). Như thế các tính chất điện tử của graphene trở thành lượng tử hóa. Nhóm các nhà khoa học Philip Kim, Novoselov và Geim đã quan sát được hiệu ứng Hall lượng tử nguyên (integer quantum Hall effect) trong graphene (hình 4) ở nhiệt độ phòng. Có một điểm bất thường là phần nằm ngang đầu tiên (first plateau) ứng với 2e2/h, tức bằng một nửa của trị số dự đoán.  6. Các ứng dụng trong tương lai  Vì graphene có nhiều tính chất đặc biệt cho nên sẽ có nhiều ứng dụng trong tương lai (hình 5 mô tả một số ứng dụng). Như đã biết graphene là một vật liệu rất mỏng, có độ bền cơ học lớn, trong suốt và dễ uốn nắn. Độ dẫn có thể thay đổi bằng cách pha tạp chất hoặc bằng điện trường.          Hình 5. Một số ứng dụng của graphene          Graphene có thể có nhiều ứng dụng trong điện tử tần số cao. Vì graphene trong suốt cho nên có thể dùng để làm màn hình cảm ứng  (transparent touch screen), màn hình và pin mặt trời(solar cells) và dần có thể thay thế vật liệu ITO (Indium-Tin-Oxide) vốn đắt tiền và không bền. Những ứng dụng khác là điện tử dẻo (flexible electrronics) và các cảm ứng khí (gas sensors). Màn hình máy tính graphene có thể uốn cong và để vào túi.  Các transistor graphene hoạt động nhanh hơn sẽ thay thế dần các  transistor làm bằng silicon hiện nay.  Nhiều loại composite làm bằng graphene nhờ độ bền lớn và nhẹ sẽ được ứng dụng trong hàng không và vũ trụ.  Phạm vi ứng dụng graphene trong tương lai rất rộng lớn và  khó lòng đoán trước được  theo lời phát biểu của chính các nhà vật lý giải Nobel Vật lý năm nay.  Graphene là vật liệu 2D kỳ diệu nhất vì có những tính chất khoa học cơ bản  và những ứng dụng quan trọng. Thế giới khoa học hoan nghênh hai nhà khoa học Andre Geim và Konstantin Novoselov đoạt giải Nobel Vật lý 2010.  Tài liệu tham khảo và chú thích  [1] Nobel prize in Physics 2010, Press Release, Information for the public & Scientific Background.  [2] Mark Wilson, Electrons in Atomically Thin Carbon Sheets Behave like Massless Particles, Physics Today tháng 1/2006, trang 21  [3] Andrey K. Geim and Allan H. MacDonald,Graphene: Exploring carbon flatland, Physics Today tháng 8/2007, trang 35 & Condensed Matter and Materials Physics (CMMP 2008) tháng 8/2007      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Vật lý 2012      Hai nhà khoa học giành giải Nobel Vật lý 2012 đã phát minh và thực hiện những công  nghệ mới và phương pháp mới để ghi đo và điều khiển những hệ lượng tử  riêng lẻ với độ chính xác cao. Đây là những bước đầu  đột phá để chế tạo máy tính lượng tử và những đồng hồ quang học cực kỳ  chính xác.      Ngày 9/10/2012 GS. Staffan Normak, Thư ký thường trực Hàn lâm viện Khoa  học Hoàng gia Thụy Điển đã thông báo giải Nobel Vật lý 2012 được trao  cho hai nhà khoa học: David J. Wineland – Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ  Quốc gia (NIST-National Institute of Standards and Technology), Đại học  Colorado Boulder, CO, Mỹ và Serge Haroche – Đại học Pháp (Collège de  France), Đại học Sư phạm Cao cấp (Ecole Normale Supérieure), Paris,  Pháp, vì đã tìm ra những phương pháp thực nghiệm có tính đột phá cho  phép ghi đo và thao tác với những hệ lượng tử riêng lẻ.Số tiền thưởng  của giải là 8 triệu SEK – krona Thụy Điển, (khoảng 1.200.000 USD,  £750,000). Hai nhà khoa học sẽ nhận giải vào buổi lễ tổ chức ngày  10/12/2012 tại Stockholm.  Hai nhà khoa học Serge Haroche và David J.Wineland đã độc lập với nhau phát minh và phát triển những phương pháp để làm việc với những hạt riêng lẻ mà không phá hủy bản chất lượng tử của hạt, đây là điều mà trước đây cho là không thể thực hiện được. Alain Aspect (Phòng thí nghiệm Charles Fabry, Paris, người mà nhiều nhà vật lý đoán rằng cũng có hy vọng nhận giải Nobel) đã phát biểu: Schrodinger cho rằng quan sát và điều khiển các hạt lượng tử riêng lẻ là điều không bao giờ khả thi song bây giờ hai nhà vật lý giải Nobel 2012 Serge Haroche và David J.Wineland đã thực hiện được kỳ công này.  Hình 1 lột tả tinh thần giải Nobel Vật lý 2012. Những đối tượng lượng tử riêng lẻ rất khó “thuần phục”, phải nhờ tài nghệ của những nghệ sĩ có biệt tài mới điều khiển được chúng.             Hình 1. Hình vẽ trên đây cho phép hình dung việc ghi đo và thao tác trên các đối tượng lượng tử riêng lẻ là một việc rất khó khăn tương tự như việc thuần hóa các đối tượng đó bởi một nghệ sĩ.           David J.Wineland có công trong việc điều khiển lượng tử các ion. Ông đã tạo một ion riêng lẻ trong trạng thái con mèo Schrodinger (có thể đọc phần nói về con mèo Shrodingger ở phần sau) bằng kỹ thuật bẫy phát triển tại NIST. Các bẫy ion được tạo ra trong chân không cao bằng cách sử dụng những điện trường điều khiển chính xác. Bẫy có thể giam giữ một hoặc vài ion nằm thẳng hàng. Khi đã bị bẫy ion còn có chuyển động dao động. Năng lượng dao động này phải được lấy đi với mục đích làm lạnh ion đến trạng thái năng lượng thấp nhất. Để làm việc này Wineland đã phát triển một kỹ thuật điều khiển nhằm lấy đi các lượng tử của dao động từ ion.  Kỹ thuật này còn dùng để đưa ion vào một trạng thái chồng chất (như trạng thái con mèo Schrodinger). Wineland đã ứng dụng kỹ thuật điều khiển ion để phát triển đồng hồ quang học và các mạch máy tính lượng tử.  Serge Haroche đã phát triển một lĩnh vực mới gọi là CQED (cavity quantum electrodynamics-điện động lực học khoang) nhằm nghiên cứu các tính chất của một nguyên tử được điều khiển bằng cách bẫy nó vào một khoang (cavity) vi sóng hay quang học. Công trình của Haroche cung cấp phương pháp điều khiển tương tác giữa một nguyên tử riêng lẻ và một photon riêng lẻ (trao đổi thông tin giữa nguyên tử và photon). Điều này cho phép các nhà vật lý chế tạo máy tính lượng tử trong đó dữ liệu được lưu trữ trong những qubit (quantum bit-bit lượng tử). Dữ liệu được chuyển giữa các nguyên tử nhờ photon.  Những đối tượng lượng tử – nguyên tử (vật chất) và photon (ánh sáng) – được mô tả bởi CHLT (Cơ học lượng tử). Những hạt này thường không nằm riêng lẻ và luôn tương tác với môi trường xung quanh. Tính chất của một tập các hạt (khác với các hạt đứng riêng) được mô tả bởi cơ học cổ điển. Ngay từ những bước đầu của CHLT người ta đã nghĩ đến việc nghiên cứu cách hành xử của các hạt lượng tử riêng lẻ.  Trong những năm 1980 và 1990 nhiều phương pháp được đề ra để bẫy (hình 2) rồi làm lạnh những ion riêng lẻ và điều khiển trạng thái của chúng nhờ tia laser. Nhiều ion riêng lẻ hiện nay có thể quan sát được và thao tác tại chỗ nhờ tương tác với photon.            Hình 2. Bẫy các ion bằng cách sử dụng các điện cực để giam giữ ion lại        Một loại thí nghiệm khác ngược lại bẫy photon vào một khoang (cavity) rồi quan sát và thao tác với chúng (mà không phá hủy chúng) nhờ tương tác với các nguyên tử (xem hình 3).            Hình 3. Giam giữ photon trong một khoang trống giữa hai gương siêu dẫn rồi nghiên cứu chúng nhờ những nguyên tử Rydberg.        Những kỹ thuật này dẫn đến những nghiên cứu tiên phong để kiểm nghiệm CHLT và sự chuyển tiếp (transition) giữa các thế giới vi mô và vĩ mô. Đây không phải là những thí nghiệm lý thuyết tưởng tượng ‘thought experiments’ mà đã là những thí nghiệm được thực hiện trong thực tế.  Những kết quả khoa học trong hai hướng này của David J. Wineland và Serge Haroche làm cơ sở cho việc phát triển lĩnh vực máy tính lượng tử và chế tạo một thế hệ đồng hồ quang học có độ chính xác rất cao. Chúng thuộc về hai công nghệ liên quan song tách rời nhau: ion trong một cái bẫy điều hòa và photon trong một cái khoang (cavity).  Có rất nhiều điểm tương đồng giữa hai công nghệ đó. Trong cả hai trường hợp những trạng thái lượng tử được quan sát trong quá trình đo đạc không phá hủy trong đó hệ hai mức (two-level systems) tương tác với một dao động tử điều hòa lượng tử (xem hình 4).  Ở đây ta có một ion (với hai mức tương tác với laser) hoặc một nguyên tử bị kích thích cao (với hai mức Rydberg tương tác với trường vi sóng). Dao động tử điều hòa lượng tử mô tả chuyển động của ion trong bẫy hoặc trường vi sóng trong khoang (cavity).  Chúng ta sẽ mô tả các phương pháp trong hai trường hợp và nêu lên những ứng dụng cơ bản trong khoa học và trong công nghệ.          Hình 4. Bên trái ion Be+ nằm trong bẫy.Trạng thái lượng tử của nó (trạng thái trong và chuyển động) được điều khiển nhờ tương tác với những xung laser.Bên phải một photon (hoặc nhiều photon) bị bắt trong một khoang vi sóng tần số cao(high-Q microwave cavity). Trạng thái của trường được đo và điều khiển nhờ tương tác với các nguyên tử Rb.           Các ions bị bẫy  Việc bẫy các hạt mang điện được phát triển trong những năm 1970 (Paul & Dehmelt, Nobel 1989).  Các bẫy ions được tạo trong chân không siêu cao bằng cách sử dụng một hỗn hợp điện trường (xem lại hình 2). Có những bẫy trong đó chỉ một ion bị bắt giữ và cũng có bẫy với vài ions phân bố trên một đường thẳng. Một ion bị bắt có thêm chuyển động dao động, dao động này bị lượng tử hóa ở nhiệt độ thấp. Như vậy một ion có hai tập mức lượng tử: các mode dao động đặc trưng cho chuyển động trong bẫy (gọi là những trạng thái ngoài-external states) và những mode đặc trưng cho trạng thái lượng tử trong của ion (hình 6). Các mức đó có thể tương tác nhờ hấp thụ và bức xạ ánh sáng.  Các ion có thể quan sát được qua những chuyển tiếp quang học. Chúng có thể được quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc nhờ một camera CCD (hình 5).            Hình 5. Hình ảnh huỳnh quang phát đi bởi 3 ions Be+ bị bẫy.          Một bước quan trọng trong việc điều khiển trạng thái của ion là làm lạnh bẫy đến năng lượng thấp nhất. Hình 6 biểu diễn nhiều trạng thái dao động v của một ion trong một bẫy đối với hai mức điện tử U (Up) và D (Down).          Hình 6. Hai mức điện tử U và D và nhiều mức dao động v.           Nhờ một laser với tần số thích hợp người ta làm giảm năng lượng của ion và năng lượng dần dần được làm lạnh đến trạng thái v=0. Kỹ thuật này của Wineland và cộng sự cho phép điều khiển cả hai bậc tự do trong và ngoài của ion.  Kỹ thuật này còn dùng để đưa ion vào một trạng thái chồng chất (như trạng thái con mèo Schrodinger).Ta có thể hình dung điều này như sau: xuất phát từ một trạng thái thấp nhất xung laser kích ion lên giữa hai mức năng lượng như vậy ion rơi vào trạng thái chồng chất của hai mức đó. Nhờ vậy mà ta thu được một trạng thái chồng chất của ion để nghiên cứu.   Nếu bẫy có chứa một ion khác thì ion này sẽ chia sẻ các mode dao động với ion đầu tiên và trạng thái chồng chất bây giờ có thể chuyển cho trạng thái trong của ion thứ hai.  Photon trong một khoang (cavity)  Nghiên cứu về điện động lực học lượng tử khoang (CQED-cavity quantum electrodynamics) đươc tiến hành trong những năm 1980 để tìm hiểu các biến đổi tính chất của một nguyên tử khi nguyên tử lọt vào một khoang vi sóng hoặc quang học. Trong khoang quang học nằm giữa hai gương photon nẩy bật lên xuống nhiều lần.Hai gương được làm bằng chất siêu dẫn làm lạnh đến gần số không tuyệt đối.  Thành phần quan trọng (xem hình 7) trong thí nghiệm của Haroche và cộng sự là một khoang vi sóng chính C gồm hai gương bán cầu đặt cách nhau một khoảng cách bằng 2,7 cm làm bằng chất liệu siêu dẫn (Nb) và được làm lạnh đến nhiệt độ rất thấp khoảng 0.8 K. Trong một khoang như vậy một photon có thể phản xạ giũa hai gương và đi được một quãng đường 40.000 km trước khi biến mất.            Hình 7. Thí nghiệm nghiên cứu trường vi sóng nhờ nguyên tử Rydberg          Haroche chuẩn bị những nguyên tử Rb được chế tạo đặc biệt gọi là nguyên tử Rydberg (theo tên nhà vật lý Thụy Điển Johannes Rydberg) với các số lượng tử n=50, 1|= |m|=49. Các nguyên tử này có bán kính khoảng 125 nm như vậy lớn hơn các nguyên tử thông thường 1000 lần và tương tác rất mạnh với trường nằm trong khoang. Sự chuyển tiếp giữa hai mức n=50 sang n=51 (xem hình 4) có gần tần số của trường trong khoang (51 GHz). Hai khoang phụ R1 và R2 (trên hình 7) dùng để tạo và điều khiển trạng thái chồng chất lượng tử giữa hai mức trên.Một detector dùng để ghi đo trạng thái của nguyên tử.  Năm 1990 Haroche và cộng sự đã tìm được phương pháp đo số photon trong một khoang mà không phá hủy chúng.Những photon riêng lẻ trong một khoang được quan sát nhờ tương tác với các nguyên tử.  Hãy theo dõi lộ trình của một nguyên tử riêng lẻ từ thiết bị B đến detector (xem hình 7).  Một nguyên tử trong trạng thái U được chuẩn bị trong B.Trong R1 một xung laser tạo nên một chồng chất của các trạng thái U và D do đó hàm sóng sẽ là trạng thái chồng chất U+D.  Sau khi đi qua khoang C trong trạng thái chồng chất trên xuất hiện pha s.  Pha s sẽ thay đổi phụ thuộc vào số photon trong khoang.  Nếu khoang không chứa một photon nào cả thì s = 0 mod 2. Trạng thái chồng chất không thay đổi. Đến R2 nhờ tương tác với một xung và ta có trạng thái U. Tiếp sau detector ghi nhận trạng thái U.  Nếu khoang chứa 1 photon thì s = . Trạng thái chồng chất thay đổi thành U-D (dấu trừ xuất hiện vì pha s thay đổi), đến R2 nhờ tương tác với một xung laser khác ta lại có trạng thái D và detector ghi nhận trạng thái D.  Như vậy có thể đo mà không phá hủy hệ để biết rằng có 0 hoặc 1 photon trong khoang. Ngoài ra ta cũng theo dõi được quá trình co (collapse) của các trạng thái chồng chất và hiểu được nghịch lý con mèo Schrodinger.  Nghiên cứu thực nghiệm nghịch lý con mèo Shrodinger          Hình 8. Con mèo Schrodinger          Một điểm khác biệt giữa CHLT và CHCĐ (cơ học cổ điển) là trong CHLT hạt lượng tử có thể nằm đồng thời trong nhiều trạng thái.  Năm 1935 nhà Vật lý người Áo giải Nobel đã đưa ra một thí nghiệm tưởng tượng với một con mèo nằm trong một cái hộp tách biệt khỏi thế giới bên ngoài để minh họa nghịch lý của CHLT giữa thế giới vi mô và thế giới đời thường. Trong hộp có một chai đựng cyanide, một chất độc chết người, chất này sẽ thoát ra sau sự phân rã của một nguyên tử phóng xạ cũng nằm trong hộp. Sự phân rã phóng xạ tuân theo các định luật của CHLT, do đó chất phóng xạ nằm trong một trạng thái chồng chất phân rã và không phân rã. Vì thế mà con mèo cũng phải nằm trong trạng thái vừa sống vừa chết.  Một hệ lượng tử (hạt, nguyên tử) trong thế giới vi mô có thể cùng một lúc nằm trong nhiều trạng thái theo nguyên lý mà các nhà vật lý gọi là nguyên lý chồng chất (superposition of states). Trong thí nghiệm tưởng tượng của Schrodinger con mèo trong hộp nằm trong trạng thái chồng chất vừa sống lại vừa chết.  Nếu ta ghé mắt nhìn vào hộp ta có nguy cơ giết chết con mèo vì trạng thái chồng chất rất nhạy cảm đối với tương tác với môi trường cho nên một ý đồ nhỏ quan sát con mèo sẽ làm cho trạng thái chồng chất của con mèo “co lại” (collapse) thành một trong hai trạng thái:sống hay chết.  Câu hỏi đặt ra: Theo sự tiến triển của thời gian liệu một hệ lượng tử có dừng tồn tại trong trạng thái chồng chất để co lại (collapse) thành một trạng thái này hay trạng thái kia? Giao diện giữa lượng tử-cổ điển được nghiên cứu ngay từ lúc CHLT hình thành.  Các phương pháp của Haroche và Wineland cho phép tiến hành thí nghiệm trong nghịch lý con mèo ngay trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng photon và ion. Một trạng thái chồng chất rất dễ tan vỡ và sẽ bị phá hủy lúc tương tác với môi trường.  Wineland cùng cộng sự đã tiến hành thí nghiệm sử dụng công nghệ bẫy ion.Họ tạo nên “trạng thái con mèo” gồm bằng các ion riêng lẻ.  Haroche và cộng sự đã tạo được những trạng thái con mèo và quay phim để thấy quá trình co (collapse) của các trạng thái chồng chất đối với các hạt riêng lẻ.  Máy tính lượng tử  Từ năm 1995 các nhà vật lý đã nghĩ đến một máy tính lượng tử sử dụng ions mắc bẫy. Các qubits được mã hóa trong các mức siêu tinh vi của ions mắc bẫy vốn tương tác rất yếu với môi trường cho nên có thời gian sống lâu.  Wineland và cộng sự lần đầu tiên thực hiện các toán tử hai qubit (cổng CNOT-xem chú thích) với các ions Be+.  Hiện nay công nghệ tiền tiến của máy tính lượng tử dựa trên các ions mắc bẫy đã thực hiện được nhiều cổng (gate).Phát triển những thiết bị lớn có khả năng thực hiện những phép tính vốn là vô vọng đối với máy tính cổ điển đòi hỏi thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai.  Sức mạnh của máy tính lượng tử ở đâu?   Một ứng dụng quan trọng các ion mắc bẫy là máy tính lượng tử. Hiện nay trong các máy tính cổ điển đơn vị thông tin nhỏ nhất là bit có khả năng lấy trị số 1 hoặc 0. Trong máy tính lượng tử đơn vị thông tin là bit lượng tử tức là qubit (quantum bit) lại có khả năng đồng thời lấy cả hai trị số 1 và 0.  Một đặc tính của các trạng thái lượng tử, khác biệt với các trạng thái cổ điển là hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement) giữa các hạt.  Như vậy 2 qubit có thể đồng thời lấy các trị số 00,01,10 và 11 cho nên một qubit thêm vào sẽ nhân đôi số trạng thái khả dĩ. Với n qubit chúng ta có 2 n (2 lũy thừa n) trạng thái khả dĩ.Và một máy tính với 300 qubit có thể lấy đồng thời 2300 (2 lũy thừa 300) trị số, số này lớn hơn số các nguyên tử trong toàn vũ trụ.  Bước cơ bản trong tính toán lượng tử là phép toán unita trên trạng thái chồng chất gồm n qbit. Trong máy tính lượng tử phép toán unita được thực hiện song song đối với tất cả 2 n (2 lũy thừa n) biên độ phức.Trong máy tính cổ điển một phép toán như vậy đòi hỏi 2 n (2 lũy thừa n) bước tính cơ bản cho mỗi biên độ.  Chính tính chất song song lượng tử này trong các máy tính lượng tử dẫn đến một gia tốc hàm mũ cho quá trình tính toán.Đây là nguồn gốc sức mạnh là ưu thế tuyệt đối của máy tính lượng tử so với máy tính cổ điển thông dụng hiện nay cho phép máy tính lượng tử giải những bài toán mà đối với máy tính thông thường là vô vọng.  Đồng hồ quang học  Một ứng dụng quan trọng của các kết quả của Wineland với những ion mắc bẫy là đồng hồ quang học.Đồng hồ dựa trên sự chuyển tiếp trong vùng phổ quang học là rất lý thú bởi vì tần số của các chuyển tiếp trong vùng phổ thấy được hoặc vùng phổ hồng ngoại nhiều bậc lớn hơn tần số các đồng hồ Cs (Caesium) hoạt động trong vùng vi sóng (microwave). Đồng hồ quang học được phát triển bởi Wineland và cộng sự hiện nay đạt độ chính xác 10-17, nhiều bậc chính xác hơn so với đồng hồ Cs.  Sự chính xác của các đồng hồ quang học cho phép đo những hiệu ứng của lý thuyết tương đối Einstein như sự dãn nở thời gian trong chuyển động hoặc độ biến thiên của thế hấp dẫn giữa hai điểm ở hai độ cao khác nhau.  Một đồng hồ quang học gồm một ion hoặc 2 ion nằm trong bẫy. Với hai ion thì một dùng làm đồng hồ còn ion kia dùng để đọc đồng hồ mà không phá hủy trạng thái của đồng hồ hoặc làm sai lệch quy trình chạy của đồng hồ.            Hình 9. Đồng hồ quang học gồm hai ion, một dùng để làm đồng hồ còn ion kia dùng để đọc đồng hồ mà không phá hủy đồng hồ hoặc làm sai lệch chuyển động của nó.          Độ chính xác của đồng hồ quang học rất cao. Nếu ta đo thời gian từ thuở Bigbang đến giờ (khoảng 14 tỷ năm) thì đồng hồ quang học chỉ sai khoảng 5 giây.  Tài liệu tham khảo và chú thích  – Nobel prize.organization: advanced-physics prize 2012, popular-physics prize 2012, Press Release Nobel 2012, Prize annoucement Nobel 2012.  – Hamish Johnston, Quantum-control pioneers bag 2012 Nobel Prize for Physics,Physicsworld Oct 9, 2012.  – Cổng CNOT: biến 00 thành 00, 01 thành 01 và 10 thành 11 và 11 thành 10.Trong từ CNOT,chữ C = control. Qubit thứ nhất đóng vai trò điều khiển (control). Ta thấy lúc qubit thứ nhất có trị số 0 thì qubit thứ hai không thay đổi gì cả khi qua cổng CNOT, nhưng nếu qubit thứ nhất bằng 1 thì trị số của qubit thứ hai thay đổi 0 thành 1và ngược lại.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Vật lý 2013      Ngày 8/10/2013 Hàn lâm viện Khoa học Hoàng gia Thụy điển đã thông báo giải Nobel Vật lý 2013 được trao cho hai nhà khoa học sau đây (từ trái sang phải): François Englert (Đại học Libre de Bruxelles, Brussels, Bỉ) và Peter W. Higgs (Đại học Edinburgh, Anh) vì sự phát hiện ra lý thuyết của cơ chế giúp chúng ta hiểu nguồn gốc khối lượng của những hạt hạ nguyên tử (subatomic), lý thuyết này đã được kiểm nghiệm nhờ tìm ra hạt cơ bản&#160; tiên đoán trong lý thuyết trên các thí nghiệm ATLAS và CMS tại LHC (Large hadron Collider) tại CERN.  Số tiền thưởng 1 triệu 300 ngàn Mỹ Kim được chia đôi cho hai nhà khoa học.      Thống nhất các tương tác   Thống nhất các  tương tác là vấn đề trung tâm của vật lý hiện đại. Những nhà vật lý kiệt xuất nhất đã tham gia vào công cuộc thống nhất này: Newton thống nhất lý thuyết chuyển động các thiên thể và chuyển động các vật thể trên mặt đất thành lý thuyết hấp dẫn cổ điển, sau đó Einstein sáng tạo lý thuyết tượng đối tổng quát mô tả hấp dẫn tương đối tính, Maxwell thống nhất từ học và điện học thành lý thuyết điện từ, Abdus Salam, Sheldon Glashow và Steven Weinberg (giải Nobel năm 1979)  thống nhất lý thuyết điện từ với tương tác yếu thành lý thuyết điện yếu.  Sau đó lý thuyết GUT (Grand Unification theory-Lý thuyết thống nhất lớn) ra đời để thống nhất ba tương tác điện từ, yếu và mạnh (hai tương tác sau là tương tác hạt nhân). Khó khăn lớn nhất mà các nhà vật lý đối diện hiện nay là thống nhất 3 tương tác trên với hấp dẫn.  Lý thuyết về hạt Higgs nằm trong sơ đồ các lý thuyết thống nhất của Nambu  Cơ chế Higgs là cơ chế tạo khối lượng cho các hạt. Cơ chế này nằm trong khuôn khổ các hiện tượng được phát hiện trước đây bởi Yoichiro Nambu (hình 1) liên quan đến cấu trúc  chân không  của trường lượng tử trong siêu dẫn.  Thế nào là trường chuẩn ( gauge field)  Khi chúng ta biến nhóm đối xứng G thành nhóm đối xứng định xứ (local) G(x) tức là nhóm phụ thuộc vào từng điểm x của không gian thì  lý thuyết chỉ  bất biến đối với nhóm G (x) nếu ta đưa vào lý thuyết các trường chuẩn A,  trường chuẩn A sẽ đóng vai trò các hạt truyền tương tác, vai trò liên thông (connection) giữa các điểm: ví dụ điện từ trường, trường Yang-Mills, trường hấp dẫn (hệ số Ricci).  Sơ đồ Nambu  Xét một  lý thuyết bất biến đối với nhóm G . Các hạt  ban đầu đều có khối lượng = 0. Để thực hiện phá vỡ đối xứng tự phát ta đưa vào lý thuyết  n trường HIGGS ghi là  H và  chọn trị số của trường Higgs sao cho chân không không còn đối xứng G nữa mà chỉ còn lại đối xứng G’ thấp hơn đối xứng G và trong số n hạt Higgs sẽ  có một số hạt biến thành hạt Goldstone không có khối lượng .  Để biến lý thuyết thành lý thuyết định xứ (local), ta phải đưa vào lý thuyết  các  trưòng chuẩn A. Số hạt Goldstone nói trên sẽ biến thành phần dọc của một số trường chuẩn A,  số trường chuẩn A này vốn không có khối lượng nay lại có khối lượng,  như vậy chúng ta còn lại  một số   hạt Higgs  không bị các trường chuẩn nuốt mất, đó là các hạt  Higgs thực (real)  còn các  hạt Higgs đã bị các trường gauge nuốt mất gọi là các hạt  Higgs ma (ghost).   Sơ đồ trên là cơ sở của các lý thuyết thống nhất  như lý thuyết thống nhất điện yếu (mô hình chuẩn – standard model) mà chúng ta sẽ nói đến sau đây. Những công trình của Yoichiro Nambu mang một ý nghĩa  lớn đối với vật lý học hiện đại. Nhiều người cho rằng Yoichiro Nambu là một trong những bộ óc sâu sắc đầy sáng tạo của thời đại chúng ta.  Yoichiro Nambu, giải Nobel Vật lý năm 2008  nhiều năm nghiên cứu hiện tượng siêu dẫn và phát hiện ra rằng chân không là một yếu tố quan trọng liên quan đến phá vỡ đối xứng tự phát khi chân không là trạng thái với năng lượng thấp nhất không có đối xứng G của hệ mà chỉ có một đối xứng G’ thấp hơn.  Hiện tượng luận của siêu dẫn  Xét năng lượng tự do F là hàm số của điện từ trường và hàm sóng  vĩ mô nhiều hạt f , thông số m = a (T- Tc) và  g hằng số tự tương tác của f. Nếu T > Tc ta có năng lượng tự do F tối thiểu (ứng với chân không) lúc  l f l = 0 và đối xứng chân không vẫn chưa bị phá vỡ.  Song nếu  T< Tc thì  l f l 2 = – m /(2g )> 0, lúc này có sự phá vỡ đối xứng tự phát và có thể chứng minh được rằng điện trở lúc này bằng không. Và chúng ta chuyển sang pha siêu dẫn. Hàm f đóng vai trò tương tự của trường Higgs.  Tiếp cận vi mô của  siêu dẫn  Trong chất dẫn điện thông thường, dòng điện được xem như một chất lỏng của các electron chuyển động trong một mạng các ion nặng. Các electron luôn va chạm với các ion của mạng và mỗi lần va chạm một phần năng lượng của dòng sẽ bị hấp thụ bởi mạng ion. Đó là hiện tượng điện trở.  Trong chất siêu dẫn, chất  lỏng không còn là dòng các electron riêng lẻ mà là dòng của những cặp electron nối liền nhau bởi các phonon có tên là cặp Cooper. Phổ năng lượng của dòng các cặp Cooper này chứa một khe năng lượng, điều này có nghĩa cần thiết một năng lượng  dE để có thể kích thích chất lỏng. Nếu dE lớn hơn  năng lượng nhiệt của chất lỏng ( kT) thì chất lỏng không bị khuếch tán bởi mạng  như vậy chất lỏng các cặp Cooper là một chất lỏng siêu chảy chuyển động mà không mất năng lượng  hay nói cách khác ta có được hiện tượng siêu dẫn.  Năm 1960  Nambu đưa ra ý tưởng  rằng hiện tượng phá vỡ đối xứng tự phát trong lý thuyết siêu dẫn cũng tồn tại trong lý thuyết trường lượng tử và các  hạt cơ bản. Nambu đã xây dựng một mô hình động học các hạt cơ bản dựa trên sự tương tự với siêu dẫn. Hai công trình quan trọng của Nambu về vấn đề này được công bố trên tạp chí Physical Review [1],[2].            Hình 1.  Yoichiro Nambu          Hiệu ứng Meissner  Trong một chất siêu dẫn thì từ trường không thể xâm nhập sâu và lịm dần ở một khoảng cách nhất định cỡ chục micron. Vì sao? Mọi việc xảy ra nhu là photon  trong siêu dẫn tự nhiên thu được khối lượng (giống như các hạt gặp phải trường Higgs thu được khối lượng) nên không còn có tương tác  tầm xa (long-range) nữa mà lại có tương tác  tầm gần  ( short-range ) vì đã có khối lượng.Vậy trường các cặp Cooper đóng vai trò như trường Higgs. Và ta có hiện tượng dường như  photon tương tác  với trường các cặp Cooper mà trở nên có khối lượng. Điều này làm cho từ trường mất tương tác tầm xa nên không thâm nhập vào chất siêu dẫn được (hình 2).          Hình2  . Hiệu ứng Meissner. Các đường từ trường B  với mũi tên bị đẩy ra ngoài siêu dẫn khi nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ tới hạn          Thống nhất điện yếu  Tương tác điện từ và tương tác yếu được thống nhất Steven Weinberg and Abdus Salam  1967 trong khuôn khổ của mô hình chuẩn (Standard Model-SM).Tương tác yếu trong phân rã  bêta chỉ tác động lên các hạt trái (left-handed).   Theo sơ đồ Nambu lúc ban đầu ta có lagrangian L=L (l) trong đó l là các lepton không khối lượng tham gia các tương tác điện từ và tương tác yếu.  Một yếu tố quan trọng trong lý thuyết điện yếu là sự phá vỡ đối xứng. Ta cần đưa vào lý thuyết các hạt Higgs. Tác nhân phá vỡ đối xứng đó chính là hạt Higgs. Bây giờ ta có L=L(l,H). Thế năng hạt Higgs có dạng một cái mũ Mexico (hình 3). Nếu chọn chân không tại một điểm ở đáy vành mũ thì chân không mất đối xứng ban đầu.          Hình3  . Thế năng hạt Higgs          Sau khi chân không bị phá vỡ đối xứng một số hạt Higgs biến thành hạt Goldstone. Muốn lý thuyết trở thành định xứ ta đưa vào các trường chuẩn A không có khối lượng và ta có L=L(l,H,A). Nhờ cơ chế Higgs một số lepton thu được khối lượng và một số hạt A nuốt lấy các hạt Goldstone để trở thành các hạt chuẩn có khối lượng và cuối cùng ta có L= L (e,v, W+,W–, Zo, γ ) trong đó e là electron có khối lượng, v là neutrino không có khối lượng, W+,W–, Zo  là các boson có khối lượng và theo thứ tự có điện tích dương, âm và trung tính  chuyển tải tương tác yếu, còn   là photon không khối lượng chuyển tải tương tác điện từ.    Hạt Higgs là một boson  có spin  bằng không, do nhà vật lý Xcốt-len Peter Higgs  đưa vào lý thuyết năm 1964. Như ta thấy hạt Higgs  tạo ra khối lượng cho các hạt khác khi tương tác với chúng. Hạt Higgs được nhà vật lý Leon Lederman, giải Nobel 1988 mệnh danh là hạt của Chúa (particule de Dieu) vì sứ mệnh to lớn của nó là tạo ra khối lượng cần thiết cho các hạt, là trụ cột hạ tầng chống đỡ các lý thuyết hiện hành. 50 năm đã trôi qua đến nay hạt HIGGS – một hạt giả tưởng tối cần thiết không thể thiếu được cho vật lý hiện đại – mới được phát hiện.  Sự tồn tại của hạt HIGGS là  một yếu tố quan trọng của mô hình chuẩn SM ( Standard model ), một mô hình  vốn đã đưa ra được những hệ quả được kiểm nghiệm trong thực nghiệm.  Như vậy một số hạt thu được khối lượng thông qua tương tác với hạt Higgs thay vì sở hữu khối lượng một cách nội tại, người ta xem hạt Higgs như chiếm đầy không gian và tương tác với các hạt khác (xem hình 4).           Hình 4 . Trường Higgs được xem là một trường chiếm đầy không gian như một chất lỏng và đã tạo khối lượng cho các boson W và Z.            Trường Higgs có thể hình dung như một môi trường mật đường (molasses) kết dính với hạt không có khối lượng khi hạt này đi qua và biến  hạt này thành  hạt có khối lượng.   Chúng ta cũng đã biết hạt cơ bản nhất cấu thành vật chất là hạt quark. Có 6 loại quark: up, down, strange, charm, bottom và top, dịch ra tiếng việt là: trên, dưới, lạ, duyên, đáy và đỉnh. Người ta hiện nay đang chú ý nhiều đến hạt quark đỉnh. Hạt quark này được phát hiện lần đầu tiên vào những năm 80 trên máy Tevatron của phòng thí nghiệm Fermilab, một phòng thí nghiệm năng lượng cao ở gần Chicago. Hạt quark  này có đặc điểm quan trọng: nó nặng nhiều lần  hơn proton và nhiều trăm nghìn lần hơn electron. Đây quả là một trong các hạt đỉnh điểm của gia đình các hạt cơ bản.  Khối lượng của hạt HIGGS liên quan nhiều đến khối lượng các hạt khác như các boson  “ W”, “ Z “ và quark đỉnh ( top quark).  Một số sơ đồ để phát hiện hạt Higgs  Sau đây là một số sơ đồ Feymann sử dụng trong các thí nghiệm (xem các hình  5 & 6). Trong sơ đồ ở hình 6 người ta cho proton và phản proton va chạm nhau ở năng lượng cao, sau va chạm ta có hạt Higgs, hạt này phân rã thành các hạt W và cuối cùng ta có các hạt lepton và  neutrino .           Hình 5. Va chạm của proton và phản proton cho ta hạt Higgs.         Hình 6. Các sơ đồ khác có hạt Higgs tham gia, từ trái sang phải: 1/   tống hợp hai gluon (gg fusion), 2/  tổng hợp quark t và phản quark t  (t&anti t fusion), 3/ bức xạ Higgs (Higgs-Strahlung), 4/ tổng hợp  các hạt W và Z (WZ fusion).           Năm 1964 ba nhà vật lý Robert Brout, Francois Englert và Peter Higgs  độc lập với nhau ( Robert Brout đã mất năm 2011, đây là một thiệt thòi cho Brout) đã đưa ra lý thuyết về hạt nay được gọi là hạt Higgs [3],[4].Trong năm 2012 hạt này đã được tìm ra tại CERN.  Theo SM (Standard Model) mọi vật từ hoa cỏ đến con người đến các vì sao và hành tinh đều được xây dựng nên bởi các hạt vật chất . Những hạt này điều khiển bởi các lực chuyển tải bởi các hạt lực (force particles).  Song SM còn thiếu một yếu tố là hạt Higgs vốn chiếm đầy không gian. Nếu hạt này không tồn tại thì mọi hạt như electron, quark,…đều không có khối lượng như photon. Như vậy chúng sẽ khuếch tán trong không gian với vận tốc ánh sáng và không có khả năng nào giam giữ chúng trong nguyên tử và phân tử. Không có điều gì thậm chí cả chúng ta cũng không tồn tại được.  Hạt Higgs đã hoàn thiện được mô hình SM (hình 7).Francois Englert và Peter Higgs giải Nobel Vật lý 2013 đã cứu sống SM khỏi sự sụp đổ.          Hình 7 . Hạt Higgs lấp đầy lỗ trống của SM.          Mô hình SM đã thống nhất 3 trong 4 loại tương tác ( tương tác hấp dẫn còn nằm riêng). Trong lý thuyết lượng tử các hạt được xem là dao động của các trường lượng tử.  Hạt Higgs  là dao động của trường Higgs.   Thiếu hạt Higgs thì mô hình SM không đứng vững. Trường Higgs giống như không khí đối với chúng ta và nước đối với cá. Không có Higgs chúng ta không tồn tại được vì các hạt chỉ thu được khối lượng khi tương tác với hạt Higgs. Nếu Higgs biến mất thì mọi hạt đều không có khối lượng và khuếch tán với tốc độ ánh sáng trong không gian.  Hạt Higgs phá vỡ đối xứng nội tại của vũ trụ. Đối xứng của SM buộc rằng các hạt không có khối lượng, hạt Higgs phá vỡ đối xứng và các hạt thu được khối lượng (hình 8).          Hình 8.Vũ trụ khi tạo ra vốn đối xứng và hạt Higgs lúc bấy giờ cũng đã  có một đối xứng ứng với quả bóng nằm tại điểm đáy của cái chén. Song 10  -11 giây sau Bigbang trường Higgs phá vỡ đối xứng khi nó chuyển mức năng  lượng thấp nhất khỏi điểm đối xứng trung tâm.          Máy LHC (Large Hadron Collider-Máy Va chạm Hadron Lớn)  Một tập thể mạnh các nhà khoa học trên thế giới đang sở hữu  một thiết bị siêu đại  chưa từng có trong lịch sử vật lý : máy LHC.  LHC được xây dựng gần biên giới Pháp-Thụy sĩ. Đây là một máy gia tốc có cấu trúc hướng hai chùm hadron (hadron là các hạt nặng) va chạm nhau  ở vùng năng lượng tera ( TeV = tera electron-volt= 10 12 eV). Một trong các mục tiêu chính của LHC là tìm ra hạt Higgs. Trước đây việc truy tìm hạt Higgs được thực hiện tại  máy gia tốc Tevatron của Fermilab đến khi máy này ngừng hoạt động vào năm 2011.  Khi máy gia tốc Tevatron phòng thí nghiệm Fermi ngừng hoạt động khoảng 2 năm trước thì trung tâm CERN trở thành cơ sở duy nhất săn tìm hạt Higgs.  Tại CERN có LHC (Large Hadron Collider-Máy va chạm lớn các hadron), một siêu máy mà con người từng xây dựng nên. Tại đây có 2 nhóm (mỗi nhóm 3000 người) sử dụng 2 detector lớn là ATLAS (A Toroidal LHC Apparatus-hình 9) và CMS (Compact Muon Solenoid).Các detector này được đặt 100m dưới đất và có thể quan sát 40 triệu va chạm trong một giây. Đó là tần số va chạm khi cho hai hạt chuyển động đối đầu nhau trong LHC ( độ dài bay 27 km).          Hình 9. Detector ATLAS và các bộ phận chính. ATLAS dài 44 m đường kính 25m ghi đo thông tin từ 90 triệu sensor.          Hai proton được phóng ngược chiều nhau, chúng chuyển động với vận tốc gần vận tốc ánh sáng va chạm nhau ở năng lượng 8TeV (TeV= ngàn triệu eV).Năng lượng này sẽ được nâng lên gấp đôi vào năm 2015.  Năm 2012 trong ATLAS và CMS người ta đã tìm thấy hạt Higgs (xem hình 10).Đây là một thành tựu lớn của vật lý hiện đại.          Hình 10 .  Bên trái trong ATLAS ta thấy 4 muon tạo nên khi hạt Higgs phân rã (Image: CERN, http://cds.cern.ch/record/1459496)           Bên phải trong CMS một hạt Higgs đã được hình thành  và lập tức phân rã thành hai photon  (Image: CERN, http://cds.cern.ch/record/1459496)  Sau bí ẩn Higgs còn lại một bí ẩn khác  Hạt Higgs đã được tìm ra , như vậy một bí ẩn của vũ trụ đã được giải mã. Sau hạt Higgs nhiều thí nghiệm nữa còn phải tiếp tục để giải mã một bí ẩn khác (hình 11).Đó là bí ẩn về vật chất tối. Vật chất tối có thể chiếm đến 30% mật độ tới hạn (tức mật độ ứng với lúc không thời gian là phẳng).          Hình 11.Phía sau bí ẩn về hạt Higgs là bí ẩn về vật chất tối.          Trong các thập kỷ  đến các nhà vật lý hy vọng có thể nhờ hạt Higgs để thiết lập được sự tiếp xúc với vật chất tối.  Hơn 70 năm đã trôi qua mà bài toán vật chất tối – một trong những bài toán cơ bản của vật lý – vẫn chưa có lời giải !  Kết luận  Việc tìm ra hạt Higgs  minh chứng cho sự đúng đắn của lý thuyết kỳ diệu xây dựng nên bởi các nhà vật lý [3] trong đó có Francois Englert và Peter Higgs, giải Nobel vật lý 2013.Nhiều nhà vật lý tin rằng  hạt Higgs có thể sẽ dẫn đến việc giải mã nhiều bí ẩn khác của vũ trụ ?   Tài liệu tham khảo   [1] Y. Nambu, G. Jona-Lasinio: ”A Dynamical Model of Elementary Particles based on an Analogy with Superconductivity II”, Physics Review 124 (1961) sid. 246.  [2] Y. Nambu, G. Jona-Lasinio: ”A Dynamical Model of Elementary Particles based on an Analogy with Superconductivity I”, Physics Review 122 (1961) sid. 345.  [3] Scientific Background on the Nobel Prize in Physics 2013.  Một ghi chú: Ý tưởng về cơ chế Higgs còn được ba nhà vật lý khác là Gerard Guralnik, Carl Hagen và Thomas Kibble đề xuất cùng năm 1964.  [4] Popular information (Nobel Prize in Physics 2013).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel Y học cho phát hiện về cơ chế “tự ăn” của tế bào      Giải Nobel năm nay được trao cho nhà sinh học phân tử Yoshinori Ohsumi (Nhật Bản), người đã làm sáng tỏ cơ chế autophagy, một quá trình cơ bản tái tạo các thành phần tế bào.      Nhà sinh học phân tử Yoshinori Ohsumi (Nhật Bản)  Từ “autophagy” từ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp auto có nghĩa là “tự”, và phagein, có nghĩa là “ăn”. Như vậy, autophagy là “tự ăn uống”. Khái niệm này nổi lên từ những năm 1960 khi các nhà nghiên cứu đầu tiên quan sát thấy rằng các tế bào có thể tiêu diệt các thành phần riêng của mình bằng cách bao quanh nó trong một màng, tạo thành các túi bao và được vận chuyển đến một cơ quan tiêu hoá được gọi là lysosome. Khó khăn trong việc nghiên cứu hiện tượng này ít được biết đến cho đến khi, trong một loạt thí nghiệm nở rộ vào đầu những năm 1990, Yoshinori Ohsumi sử dụng nấm men để xác định gen cần thiết cho autophagy. Sau đó ông đã nghiên cứu để làm sáng tỏ các cơ chế cơ bản cho autophagy ở nấm men và cho thấy rằng máy móc tinh vi tương tự được sử dụng trong các tế bào của người. Khám phá Ohsumi đã dẫn đến một mô hình mới trong hiểu biết của chúng ta về cách thức các tế bào tái tạo cơ quan của nó. những khám phá của ông đã mở đường đến sự hiểu biết về tầm quan trọng cơ bản của autophagy trong nhiều quá trình sinh lý, chẳng hạn như đột biến ở gen autophagy có thể gây ra bệnh tật, và quá trình autophagic được tham gia vào một số điều kiện bao gồm cả ung thư và bệnh về thần kinh.  Suy thoái – câu chuyện ở mọi tế bào sống  Năm 1950, các nhà khoa học tìm thấy bào quan có chức năng tiêu hóa, được gọi là lysosome. Nhà khoa học Bỉ Christian de Duve đã được trao giải Nobel Y học năm 1974 cho việc khám phá ra lysosome. Năm 1960, ngoài các chất dinh dưỡng, các nhà khoa học còn tìm ra các bào quan trong lysosome. Các túi vận chuyển vật chất tới lysosome được gọi là autophagosomes.    lysosome và các autophagosomes  Trong suốt những năm 1970 và 1980, người ta tập trung làm sáng tỏ một hệ thống phân hủy protein, cụ thể là “proteasome”. Trong lĩnh vực nghiên cứu này, Aaron Ciechanover, Avram Hershko và Irwin Rose đã được trao giải Nobel Hóa học năm 2004 với đề tài “phát hiện sự thoái hóa protein ubiquitin”. Các proteasome có hiệu quả làm giảm protein một-một, nhưng cơ chế này đã không giải thích được làm thế nào các bào quan đã tách khỏi phức hợp protein lớn. Quá trình autophagy có thể là câu trả lời, và nếu như vậy, các cơ chế là gì?  Một thí nghiệm mang tính đột phá  Yoshinori Ohsumi đã hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, nhưng khi bắt đầu thí nghiệm vào năm 1988, ông tập trung nỗ lực của mình vào sự thoái hóa protein trong không bào, một bào quan tương ứng với các lysosome trong các tế bào của con người. Tế bào nấm men là đối tượng tương đối dễ dàng để nghiên cứu, do đó chúng thường được sử dụng như một mô hình thử nghiệm trước khi chuyển sang các tế bào của con người. Chúng đặc biệt hữu ích cho việc xác định các gen quan trọng trong tế bào phức tạp.  Nhưng Ohsumi phải đối mặt với một thách thức lớn; tế bào nấm men rất nhỏ và các cấu trúc bên trong  không dễ để phân biệt dưới kính hiển vi và do đó ông là không chắc rằng autophagy có tồn tại trong nó? Ohsumi lập luận rằng, nếu ông có thể làm gián đoạn quá trình thoái hoá  không bào trong khi quá trình autophagy là hoạt động, sau đó autophagosomes nên tích lũy trong không bào và có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi. Vì thế, ông nuôi cấy nấm men đột biến thiếu các enzyme phân hủy không bào và kích thích đồng thời autophagy trong các tế bào. Các kết quả thật bất ngờ! Trong vòng vài giờ, các không bào đã được lấp đầy với các autophagosomes nhỏ mà đã không bị suy thoái (Hình 2).    Các autophagosomes và thử nghiệm Ohsumi đã chứng minh rằng authophagy tồn tại trong tế bào nấm men. Nhưng quan trọng là đã có một phương pháp để xác định và mô tả các gen chủ yếu liên quan đến quá trình này. Đây là một chính đột phá mà Ohsumi công bố kết quả vào năm 1992.  Gene Autophagy được phát hiện  Ohsumi đã tận dụng các chủng nấm men của mình, trong đó autophagosomes được tích lũy. Tích lũy này sẽ không xảy ra nếu gen quan trọng cho autophagy là bất hoạt. Ohsumi để các  tế bào nấm men tiếp xúc với một hóa chất gây các đột biến  ngẫu nhiên ở nhiều gen, và cuối cùng với  autophagy. Chiến lược của ông đã được thực hiện Trong vòng một năm, Ohsumi đã xác định được gene đầu tiên cần thiết cho autophagy. Trong loạt bài tiếp theo ông chỉ ra các protein được mã hóa bởi các gene đặc trưng. Kết quả cho thấy autophagy được điều khiển bởi của các protein và phức hợp protein, điều khiển từng giai đoạn riêng biệt của autophagosome (Hình 3).    Autophagy – một cơ chế thiết yếu trong tế bào  Sau khi phát hiện autophagy trong men bia, một câu hỏi quan trọng vẫn còn. Đã có một cơ chế tương ứng để kiểm soát quá trình này trong các sinh vật khác? Không lâu sau nó trở nên rõ ràng, các cơ chế hầu như giống hệt hoạt động trong các tế bào của chúng ta. Các công cụ nghiên cứu cần thiết để điều tra về tầm quan trọng của autophagy ở người  bây giờ đã có.  Nhờ Ohsumi và cộng sự, bây giờ chúng ta biết rằng điều khiển autophagy – chức năng sinh lý quan trọng mà bào quan được tiêu hủy và tái sử dụng. Autophagy có thể nhanh chóng cung cấp nhiên liệu cho các khối năng lượng và xây dựng cho việc đổi mới thành phần tế bào, và đó là điều cần thiết cho các phản ứng của tế bào. Sau khi lây nhiễm, autophagy có thể loại bỏ vi khuẩn xâm nhập tế bào và virus. Autophagy góp phần vào sự phát triển của phôi và biệt hóa tế bào. Các tế bào cũng sử dụng autophagy để loại bỏ các protein lỗi và các bào quan, một cơ chế kiểm soát chất lượng là rất quan trọng để đối phó với những hậu quả tiêu cực của quá trình lão hóa.  Autophagy gián đoạn có liên quan đến bệnh Parkinson, tiểu đường tip 2 và các rối loạn khác xuất hiện ở người già. Đột biến ở gene autophagy có thể gây bệnh di truyền. Rối loạn trong bộ máy autophagic cũng có liên quan đến ung thư. Nghiên cứu hiện đang được tiếp tục phát triển các loại thuốc có thể nhắm mục tiêu autophagy trong các bệnh khác nhau.  Autophagy đã được biết đến hơn 50 năm nhưng tầm quan trọng cơ bản của nó trong sinh lý học và y học chỉ được công nhận khi có nghiên cứu của Yoshinori Ohsumi trong những năm 1990. Với những khám phá này, ông đã được trao giải Nobel Y học năm nay.    Author                Đức Hưng        
__label__tiasang Giải Nobel Y sinh học 2008  và những tranh chấp khoa học      Giải Nobel y sinh học 2008 được trao cho 3 nhà khoa học Âu châu: Harald zur Hausen (Đức), Françoise Barré-Sinoussi, và Luc Montagnier (Pháp). Giáo sư Hausen, 72 tuổi, thuộc Đại học Düsseldorf, được trao giải vì có công khám phá vi khuẩn gây ung thư cổ tử cung. Giáo sư Barré-Sinoussi, 61 tuổi, và Montagnier, 76 tuổi, thuộc Viện Pasteur và Đại học Paris có công khám phá HIV, được xem là một virus gây bệnh AIDS.       Giải thưởng xứng đáng  Ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư hàng đầu ở nước ta. Theo thống kê (có lẽ chưa đầy đủ), tỉ lệ phát sinh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ Việt Nam, nhất là ở các tỉnh phía Nam, còn cao hơn cả ung thư vú. Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, ung thư cổ tử cung ở phụ nữ Việt Nam cao hơn tất cả các sắc dân Á châu khác như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, và người  Mỹ da trắng. AIDS là một vấn nạn y tế cộng đồng mang tính toàn cầu. Tính từ lúc bệnh được phát hiện vào năm 1981 đến nay đã có 25 triệu người trên thế giới chết, và 33 triệu người bị nhiễm HIV. Giải thưởng Nobel năm nay lần đầu tiên ghi nhận các công trình nghiên cứu về ung thư cổ tử cung và AIDS.              Françoise Barré-Sinoussi, Luc Montagnier, Harald zur Hausen           Cũng cần nói thêm là năm 2005, hai nhà khoa học Úc (Barry Marshall và Robin Warren) được trao giải thưởng cao quí này do công trình nghiên cứu liên quan đến H. pylori. Thế là trong vòng vài năm trở lại đây, các công trình nghiên cứu miễn dịch và virus được công nhận hơn là những công trình “thời thượng” như sinh học phân tử và di truyền học.    Giải thưởng Nobel được thiết lập theo di chúc của ông Alfred Nobel, trong đó ông viết rằng giải thưởng nên trao cho “những ai đã đem lại lợi ích lớn nhất cho con người.” Trong những năm mà nghiên cứu về di truyền và sinh học phân tử còn là “thời thượng”, có nhiều nhà nghiên cứu được trao giải Nobel. Điều này dẫn đến nghi ngờ của giới y khoa là giải thưởng này không còn tuân theo hay phù hợp với ước nguyện của ông Nobel nữa, bởi vì nhiều công trình được giải chẳng có giúp ích gì cho bệnh nhân (chứ chưa nói đến “lợi ích lớn nhất”).   Nhưng vài năm gần đây, giải thưởng có vẻ được quay về thời của miễn dịch học.  Thật vậy, đến nay thì ai cũng có thể thấy các bệnh truyền nhiễm vẫn còn hoành hành thế giới. Ở nước ta, bệnh truyền nhiễm vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho dân số. Bệnh AIDS tuy chưa giết chết nhiều người ở nước ta, nhưng ở các nước Phi châu thì số người tử vong rất đáng lo ngại. Tuy nhiên, bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ người Việt tương đối nhiều (cao nhất so với các sắc dân khác). Do đó, trao giải thưởng cao quí này cho hai công trình về HPV và HIV theo tôi là rất xứng đáng và có ý nghĩa.   Tranh chấp khoa học đằng sau giải thưởng   Lịch sử bệnh AIDS cho đến nay ghi nhận Giáo sư Luc Montagnier (Pháp) và Robert Gallo (Mỹ) là hai nhà đồng khám phá (co-discoverers) virus gây bệnh AIDS (sẽ viết tắt là HIV).  Nhưng tại sao giải thưởng năm nay chỉ trao cho 2 nhà khoa học Pháp mà không cho đến nhà khoa học người Mỹ? Có thể suy luận rằng vì theo qui định, giải thưởng Nobel y sinh học chỉ trao cho 3 người là tối đa, nên Gallo không may “lọt sổ”.  Nhưng câu chuyện đằng sau quyết định của Ủy ban Nobel còn có thể cung cấp cho chúng ta một số bài học về đạo đức nghiên cứu khoa học.  Như đề cập trên, AIDS được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1981 (thời điểm này có thể tranh cãi, nhưng tạm xem đó là cái mốc thời gian), nhưng không ai biết được nguyên nhân của bệnh là gì. Trong thời gian đó, Gallo và Montagnier từng hợp tác trong nghiên cứu để truy tìm vi khuẩn gây bệnh AIDS. Vào khoảng đầu năm 1983, Tiến sĩ Francoise Barré-Sinoussi (lúc đó là cộng sự làm dưới sự lãnh đạo của Montagnier) phát hiện một virus từ mô của một bệnh nhân có triệu chứng AIDS. Bà tin rằng chính virút này là nguyên nhân gây bệnh AIDS. Bà viết báo cáo khoa học và đặt tên cho virút là LAV.    Nhưng để cho chắc ăn, Montagnier và bà quyết định gửi mẫu máu và tế bào bị làm cho nhiễm LAV đến phòng thí nghiệm của Gallo. Lúc đó Gallo đã là một nhà khoa học thành danh, là người có công khám phá virút HTLV-I và HTLV-II là những nguyên nhân gây ung thư bạch cầu. Cùng lúc đó, bài báo của Barré-Sinoussi và Montagnier đến tay Gallo bình duyệt (phản biện). Gallo đề nghị Barré-Sinoussi và Montagnier nên đặt tên virus mà họ khám phá là HTLV-III.    Tuy nhiên, trong khi bài báo của Barré-Sinoussi và Montagnier vẫn còn trong tình trạng bình duyệt, một cộng sự trong nhóm của Barré-Sinoussi và Montagnier hỏi Mikulas Popovic (lúc đó là trưởng nhóm nghiên cứu virus học trong labo của Gallo) rằng phân tích kết quả mẫu máu mà họ gửi đến đâu. Popovic trả lời rằng không biết, và còn nói thêm rằng chỉ có Gallo mới có quyền trả lời. Đột nhiên Gallo tuyên bố rằng ông đã khám phá ra virus gây bệnh AIDS và đặt tên là HTLV-III!  Ông còn cho biết virus này ông phát hiện từ một bệnh nhân ung thư máu. Sau này, giới khoa học biết rằng đó là một lời tuyên bố có nhiều nghi vấn, có thể không đúng với sự thật.    Bộ trưởng Bộ Y tế Mỹ lúc đó mở cuộc họp báo để công bố kết quả của Gallo. Bà Bộ trưởng còn tuyên bố rằng Mỹ sẽ nghiên cứu phát triển vaccine phòng ngừa AIDS trong vòng … 6 tháng. Tất cả các nhà khoa học có mặt trong buổi họp báo đều ngẩn ngơ, vì chẳng ai tin rằng có thể phát triển vaccine nhanh như thế. Cho đến nay thì ai cũng biết lời tuyên bố của bà Bộ trưởng trở thành một sự cố, một khôi hài trong khoa học.   Ngày 20/5/1983, tập san Science (của Mỹ) công bố 3 bài báo quan trọng liên quan đến HIV, trong đó hai bài sau này trở thành một sự tranh chấp về công trạng (1, 2). Công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier mô tả một virus được phát hiện từ mô của một bệnh nhân với triệu chứng ban đầu của AIDS. Một năm sau, ngày 4/5/1984, nhóm của Gallo công bố một loạt 4 bài báo trên Science (3-6). Trong đó, họ mô tả HTLV-III và một phương pháp xét nghiệm HIV. Với số lượng bệnh nhân lên đến hàng triệu, phương pháp xét nghiệm và vaccine do họ phát triển có thể đem lại lợi ích kinh tế khổng lồ cho nước Mỹ. Nhận thức được điều này, nhóm của Gallo quyết định đăng kí bằng sáng chế (patent).   Trước những tin tức như thế, Viện Pasteur ở Paris (nơi Gs Montagnier nghiên cứu) rất bực tức. Gs Montagnier nhận ra rằng virus LAV do nhóm ông khám phá và HTLV-III mà Gallo tuyên bố là phát hiện hoàn toàn giống nhau. Montagnier nghi ngờ Gallo đã sử dụng mẫu máu và dữ liệu của mình để làm của riêng và cướp công.    Đến năm 1985, cuộc tranh chấp nổ lớn, chỉ xoay quanh câu hỏi: ai là người đầu tiến khám phá virút HIV?  Phía Mĩ bênh “gà nhà”, với rất nhiều bài báo, sách, và websites từ Mĩ một mực cho rằng Gallo là người có công đầu.  Phía Pháp có vẻ “lép vế” hơn trên mặt trận truyền thông, nhưng Viện Pasteur thì khẳng định Montagnier là người có công khám phá HIV trước Gallo.   Gs Montagnier công khai tố cáo Gallo đạo văn và ăn cắp số liệu của Montagnier để giành công trạng. Trước cáo buộc nghiêm trọng này, Cơ quan về liêm chính trong khoa học của Mỹ (Office of Scientific Integrity, ORI) mở cuộc điều tra. Sau một thời gian xem xét sổ sách thí nghiệm và so sánh với bài báo trên Science, ORI phát hiện hàng trăm vấn đề trong các công trình nghiên cứu của Gallo. Những vấn đề nổi cộm bao gồm:  một bài báo chính trên Science có nhiều câu phát biểu không đúng với sự thật, hay không ăn khớp với số liệu nghiên cứu; có ít nhất là 22 câu văn trong bài báo có thể xem là thiếu dữ liệu làm cơ sở. Nhiều thí nghiệm nhóm Gallo tuyên bố là “chưa làm” nhưng thật ra đã làm – tức thiếu thành thật tri thức. Mật vụ chuyên bảo vệ Tổng thống Mỹ (Secret Service) cũng vào cuộc điều tra và phát hiện nhiều tài liệu trong phòng thí nghiệm được sửa số liệu trong cùng một ngày nhưng ngày thu thập thì khác nhau – tức dấu hiệu gian lận.  Ngoài ra, còn có 2 bệnh nhân bị chết, nhưng Gallo viết trong bài báo là không có ảnh hưởng gì cả! Gallo vi phạm tất cả các qui trình nghiên cứu. Tuy nhiên, ORI kết luận rằng Gallo và đồng nghiệp ông là Mikulas Popovic “trắng án”, không phạm tội đạo văn hay ăn cắp số liệu nào cả!   Cuộc tranh cãi dai dẳng giữa Montagnier và Gallo dẫn đến pháp đình. Tháng 12/1985, Viện Pasteur của Pháp kiện Bộ Y tế Mỹ ra tòa, và cáo buộc rằng Gallo đã vi phạm đạo đức khoa học. Tháng 3/1987, cuộc tranh chấp được dàn xếp hay giải quyết ngoài tòa. Tổng thống Reagan và Chirac lúc đó ra thông cáo chung là tiền thu được từ bản quyền của phương pháp xét nghiệm sẽ được chia đôi giữa Mỹ và Pháp. Ngoài ra, phương pháp xét nghiệm HIV sẽ mang tên Montagnier và Gallo. Hai người sau này còn viết chung một bài báo mô tả tiến trình họ khám phá HIV như thế nào.   Phản ứng của cộng đồng khoa học  Tuy trường hợp này đã dàn hòa, nhưng trong cộng đồng khoa học, thì người ta đã quyết định từ lâu ai là người có công khám phá HIV đầu tiên. Một cách để thăm dò “nhiệt kế” thái độ của giới khoa học là xem qua số lần trích dẫn bài báo. Nhà xã hội học Alison Rawling thuộc Đại học Sydney có làm một phân tích hết sức thú vị về số lần trích dẫn 2 công trình trên của giới khoa học từ 1983 đến 1994 (tôi trình bày lại số liệu đó trong bảng dưới đây):    Số lần trích dẫn hai bài báo của Gallo và Montagnier từ 1983 đến 1994                           Năm      Bài báo của Gallo (2)      Bài báo của Barré-Sinoussi   và Montagnier (1)          1983      44      32          1984      99      143          1985      97      366          1986      58      412          1987      35      401          1988      29      392          1989      30      320          1990      32      326          1991      16      256          1992      19      253          1993      14      202          1994      10      161          Tổng số       483      3264          Khi bài báo của Barré-Sinoussi và Montagnier được công bố gần như chẳng gây chú ý nào. Một bài xã luận trên Science thậm chí lờ đi bài báo của Barré-Sinoussi và Montagnier, mà chỉ đề cập đến bài của Gallo và người khác!    Sáu tháng sau khi công bố, công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier chỉ được trích dẫn 27 lần, còn bài của Gallo thì được trích dẫn đến 70 lần. Nhưng tình hình thay đổi nhanh chóng sau đó. Đến năm 1985 khi mà cuộc tranh chấp giữa Montagnier và Gallo ở vào thời “cao điểm” thì công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier mới được cộng đồng khoa học ghi nhận. Đến nay, Ủy ban Nobel trao giải cho hai nhà khoa học Pháp có thể xem là một cách gián tiếp chính thức ghi nhận công lao của Barré-Sinoussi và Montagnier, chứ không phải Gallo, là người đầu tiên khám phá HIV. Thật vậy, trong thông cáo báo chí, Ủy ban Nobel  rất thẳng thắn: “Chúng tôi nghĩ rằng hai nhà khoa học chúng tôi chọn chính là hai nhà khám phá virus gây bệnh AIDS”.  Không thấy thông cáo nói gì đến Gs Gallo.     Bài học đạo đức khoa học  Thomas Kuhn trong cuốn sách nổi tiếng “The Structure of Scientific Revolution” lí giải rằng trong khoa học, khám phá một điều gì mới là cả một quá trình lâu dài và có sự đóng góp của nhiều người. Do đó, việc định lượng công trạng cho từng cá nhân trong việc khám phá là một việc làm cực kì khó khăn, và thường gây ra tranh cãi giữa các nhà khoa học. Trong lịch sử khoa học không thiếu những trường hợp tranh chấp để dành “ai làm trước”.  Robert Koch và Louis Pasteur từng tranh chấp nhau để giành công trạng ai là người khám phá nguyên nhân bệnh than (anthrax).    James Watson và Francis Crick từng lấy số liệu của cộng sự mình là Roselind Franklin để làm nền tảng cho việc khám phá DNA, nhưng cả hai đều không đề cập đến công trạng của Franklin. Mãi đến sau này khi được đồng nghiệp phanh phui, Watson và Crick mới thú nhận từng lấy số liệu của Franklin (nhưng lúc đó thì bà Franklin đã qua đời vì bệnh ung thư buồng trứng nên không bao giờ được giải Nobel).  Trường hợp của Montagnier thì tích cực hơn vì ông ghi nhận công trạng của học trò mình là Françoise Barré-Sinoussi, và hai người cùng chia sẻ nhau giải thưởng Nobel.   Mỗi giải Nobel y sinh học đều để lại vài “dư âm” trong cộng đồng khoa học, và lần này cũng không phải là một ngoại lệ. Phát biểu trước tin đồng nghiệp mình được trao giải, Gs Robert Gallo nói ông thấy “thất vọng” trước quyết định của Ủy ban Nobel.  Nhưng đồng nghiệp khoa học thì không, vì qua phân tích trích dẫn, rõ ràng cộng đồng khoa học đã quyết định công trạng thuộc về ai.    Đã từ lâu, người trưởng nhóm nghiên cứu thường được chọn để trao giải thưởng và lưu danh hậu thế, còn nghiên cứu sinh của họ hay cộng sự thường là cái bóng bên lề những hào quang của xếp mình. Nhưng năm nay, việc ghi nhận hai thầy trò Montagnier và Barré-Sinoussi là một dấu hiệu rất tích cực cho thấy khoa học hiện đại không chấp nhận những sự “cướp công” đồng nghiệp. Nhìn như thế tôi nghĩ giải Nobel y sinh học năm nay vừa xứng đáng với tầm vóc của công trình nghiên cứu, lại vừa có ý nghĩa đạo đức khoa học.   Ghi chú:  (1) Barré-Sinoussi F, Chermann JC, Rey F, Nugeyre MT, Chamaret S, Gruest J, Dauguet C, Axler-Blin C, Vézinet-Brun F, Rouzioux C, Rozenbaum W, Montagnier L. Isolation of a T-lymphotropic retrovirus from a patient at risk for acquired immune deficiency syndrome (AIDS).. 1983 May 20;220(4599):868-71.  (2) Gallo RC, Sarin PS, Gelmann EP, Robert-Guroff M, Richardson E, Kalyanaraman VS, Mann D, Sidhu GD, Stahl RE, Zolla-Pazner S, Leibowitch J, Popovic M. Isolation of human T-cell leukemia virus in acquired immune deficiency syndrome (AIDS). Science 1983 May 20;220(4599):865-7.  (3) Popovic M, Sarngadharan MG, Read E, Gallo RC. Detection, isolation, and continuous production of cytopathic retroviruses (HTLV-III) from patients with AIDS and pre-AIDS. Science 1984 May 4;224(4648):497-500.  (4) Schüpbach J, Popovic M, Gilden RV, Gonda MA, Sarngadharan MG, Gallo RC.   Serological analysis of a subgroup of human T-lymphotropic retroviruses (HTLV-III) associated with AIDS. Science 1984 May 4;224(4648):503-5.  (5) Sarngadharan MG, Popovic M, Bruch L, Schüpbach J, Gallo RC.  Antibodies reactive with human T-lymphotropic retroviruses (HTLV-III) in the serum of patients with AIDS. Science 1984 May 4;224(4648):506-8.  (6) Gallo RC, Salahuddin SZ, Popovic M, Shearer GM, Kaplan M, Haynes BF, Palker TJ, Redfield R, Oleske J, Safai B, et al. Frequent detection and isolation of cytopathic retroviruses (HTLV-III) from patients with AIDS and at risk for AIDS. Science 1984 May 4;224(4648):500-3.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel y sinh học 2010 đem niềm vui cho người vô sinh      Hàn lâm viện Thụy Điển vừa công bố người được trao giải thưởng Nobel Y sinh học (thật ra, chính xác là sinh lí học hoặc y học), và nhà khoa học được vinh dự này là Giáo sư Robert Geoffrey Edwards, người Anh. Ông là người được công chúng trìu mến gọi là “cha đẻ của kĩ thuật thụ thai nhân tạo” (IVF), là người đem lại niềm vui và hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới. Ông cũng là người sáng lập nên một bộ môn y học mới, dẫn đến những nghiên cứu tế bào gốc sau này.&#160; Giải Nobel Y sinh học năm nay được trao cho một người mà công trình khoa học và ảnh hưởng của nó đúng với ước nguyện của ông Alfred Nobel, đó là công trình khoa học mang tính ứng dụng đem lại phúc lợi cho nhiều người. Cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng là một bài học cho các nhà khoa học trẻ đang muốn vươn lên.     Để thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của công trình nghiên cứu của Gs Robert Edwards, chúng ta cần phải điểm qua thực trạng vô sinh trên thế giới. Thiên chức làm mẹ, làm cha là một trong những mục tiêu phổ quát của con người. Đại đa số những cặp vợ chồng muốn có con, vì ngoài ý nghĩa duy trì nòi giống, sự có mặt của con còn là một trong những niềm vui và hạnh phúc gia đình, là “chất keo” nối kết vợ chồng.  Nhưng trong thực tế, không phải ai cũng may mắn có khả năng có con. Thật vậy, một số nghiên cứu cho thấy khoảng 4 đến 17% (1) cặp vợ chồng trong tình trạng vô sinh, tức không có khả năng có con, vì rối loạn nội tiết và các nguyên nhân khác. Dựa vào tỉ lệ này, các nhà nghiên cứu ước tính rằng trên thế giới, có khoảng 72 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không có khả năng mang thai. Đối với những “bệnh nhân” này, họ phải sống trong đau khổ và mặc cảm [có khi] trầm trọng. Do đó, một liệu pháp điều trị vô sinh phải được xem là một đóng góp vĩ đại cho nhân loại. Sự nghiệp và công trình khoa học của Gs Robert Edwards có ý nghĩa và tầm vóc như thế. Có thể nói không ngoa rằng ông đã gieo niềm vui và đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người.    Công trình mà Giáo sư Robert Edwards, thuộc trường Đại học Cambridge được trao giải là những nghiên cứu và phát triển thụ tinh nhân tạo (thụ tinh trong ống nghiệm, hay còn gọi là IVF). Trước đó gần 10 năm, năm 2001, ông được trao giải thưởng Lasker của Mĩ.  Giải Lasker được xem là giải thưởng “tiền Nobel” bởi vì phần lớn những người được giải sau này cũng được trao giải Nobel. Thế nhưng Gs Edwards phải chờ đến gần 10 năm để được giải Nobel, và điều này đã làm cho nhiều người trong cuộc cao mày ngạc nhiên, vì đáng lẽ giải Nobel phải đến tay ông sớm hơn.  Đại học Cambridge là một đại học lừng danh thế giới, ngang hàng với Đại học Harvard của Mĩ. Giải thưởng về tay một nhà khoa học người Anh từ một đại học Anh một lần nữa củng cố vị trí của nước Anh như là một cường quốc khoa học thứ 2 (chỉ sau Mĩ) trên thế giới. Trong số 205 nhà khoa học được trao giải Nobel y sinh học (tính từ năm 1901 đến 2010), có đến 22 (11%) nhà khoa học người Anh. Đó là một tỉ trọng cao so với dân số của Anh.  Giáo sư Edwards năm nay đã 85 tuổi, và sức khỏe đang trong tình trạng không tốt. Ông không thể trả lời phỏng vấn của báo chí, nhưng qua phu nhân, ông tỏ ý hài lòng về công trình của ông sau cùng cũng được ghi nhận. Tuy đã cao tuổi và đã nghỉ hưu, nhưng ông vẫn còn rất tích cực trong khoa học. Tìm trong y văn cho thấy ông vẫn còn viết bài nghiên cứu và bình luận trên các tập san y học mãi đến … năm ngoái! Từ năm 1986, ông là tổng biên tập tập san Human Reproduction và đã đưa tập san này từ chỗ “vô danh” thành một tập san hàng đầu trong bộ môn như hiện nay.  Con đường đến thành công gian nan  Sự nghiệp khoa học của Gs Edwards là một bài học khá độc đáo. Ông xuất thân từ một gia đình lao động bậc trung, chứ không phải trưởng giả.  Ông khởi đầu sự học với ngành nông, chứ không phải y học. Sau khi xong nghĩa vụ quân sự (4 năm), ông theo học tại Đại học Wales (Bangor) và tốt nghiệp với bằng cử nhân nông học. Nhưng sau một thời gian làm việc, ông cảm thấy không hứng thú và cũng không hợp với nghề nông học. Ông bắt đầu tìm một hướng đi khác, và di truyền học là hướng ông nhắm đến.  Sau một thời gian định hướng, ông quyết định theo học di truyền học tại Đại học Edinburgh. Ông theo học dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Conrad H. Waddington và Alan Beatty, hai nhà di truyền học nổi tiếng vào thời đó.  Năm 1955, ông hoàn tất luận án tiến sĩ về sự phát triển của phôi thai trong chuột. Trong thời gian theo học tại Đại học Edinburgh, ông gặp người vợ tương lai tên là Ruth Fowler, là cháu của nhà khoa học lừng danh Ernest Rutherford (người New Zealand). Đến năm 1956, sau khi Ruth hoàn tất luận án tiến sĩ, hai người làm lễ thành hôn, và sau này bà là một trong những đồng nghiệp đắc lực của ông.  Sau khi học xong tiến sĩ, hai vợ chồng được một học bổng của Mĩ sang làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) ở CalTech (Viện Công nghệ California, hay California Institute of Technology). Sau 1 năm làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, hai vợ chồng quay về Anh. Về đến Anh, ông được Hội đồng Y khoa Anh (Medical Research Council) cấp cho một fellowship 5 năm [2]. Trong thời gian này ông làm nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Alan Parkes, một nhà khoa học rất nổi tiếng về di truyền học.  Năm 1962, Alan Parkes được bổ nhiệm giáo sư thực thụ tại Đại học Cambridge. Giáo sư Parkes mời Robert Edwards về cộng tác với ông tại Cambridge.  Năm 1963, ông chuyển về làm việc tại Đại học Cambridge cho đến ngày nghỉ hưu gần đây. Chức danh sau cùng của ông là giáo sư thực thụ.  Thật ra, Robert Edwards bắt đầu nghiên cứu vô sinh trước khi ông về Đại học Cambridge. Sau khi đã có kinh nghiệm trên chuột ở Đại học Edinburgh, ông bắt đầu nghiên cứu về sinh học tái sản sinh (reproductive biology) ở người. Câu hỏi ông đặt ra là làm cách nào để trứng và tinh trùng có thể “hội tụ” ngoài cơ thể con người. Đó là một câu hỏi táo bạo trong thời gian mà khoa học về tái sản sinh vẫn chưa phát triển. Ông và cộng sự phải tiêu ra 20 năm trời để hoàn thiện kĩ thuật thụ thai nhân tạo.  Sau thành công về kĩ thuật, ông còn phải đương đầu với những gièm pha, phê phán, chỉ trích, thậm chí bị cô lập từ các giới chức tôn giáo, chính trị, thậm chí từ chính đồng nghiệp. Hành trình từ khám phá đến ứng dụng kĩ thuật IVF của ông là một tấm gương sáng cho giới khoa học          Patrick Steptoe và Robert Edwards        Bước ngoặt nghiên cứu của ông xảy ra vào năm 1963. Năm đó ông đi dự hội nghị của Hiệp hội Y khoa Hoàng gia Anh, và ông có dịp nghe Bác sĩ Patrick Steptoe giảng về ứng dụng kĩ thuật soi ổ bụng (laparoscopy). Ông còn nhớ rằng bài giảng hết sức ấn tượng, và ngay sau đó ông đến đặt vấn đề hợp tác với Bs Steptoe, lúc đó đang là bác sĩ chuyên khoa phụ sản ở Bệnh viện Oldham. Sau này, hai người trở thành một đội nghiên cứu rất nhịp nhàng và hiệu quả. Vì từ Bệnh viện Oldham đến Đại học Cambridge tốn đến 4 giờ lái xe, nên ông Robert Edwards quyết định lập một phòng thí nghiệm nhỏ bên cạnh bệnh viện để nghiên cứu. Bs Steptoe chính là người song hành với Robert Edwards qua các công trình dẫn đến giải Nobel. Đáng lẽ Bs Steptoe được chia sẻ giải Nobel với Gs Edwards, nhưng rất tiếc là Bs Steptoe đã qua đời từ năm 1988, và Hàn lâm viện Thụy Điển không có qui chế trao giải cho người quá cố.  Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu và thất bại, đến năm 1968, Gs Edwards đã nắm được kĩ thuật thụ tinh và “thúc ép” chúng thành những phôi để có thể cấy vào người. Năm 1969, sau một loạt khám phá quan trọng về vai trò của hormone trong quá trình thụ thai, Gs Edwards đã thụ thai một trứng trong ống nghiệm, và thành công này được xem là đột phá trong kĩ nghệ thụ thai nhân tạo. Khám phá này công bố trên tập san Nature [3], một tập san khoa học đứng vào hàng số 1 trên thế giới. Bài báo này chính là bài dẫn đến giải Nobel, và cũng là bài mở đầu cho việc phát triển kĩ thuật IVF sau này. Tính đến nay, bài báo này đã được trích dẫn 267 lần.  Nhưng thành công đó cũng bị nhiều người chỉ trích và nghi ngờ. Một số chuyên gia, có lẽ do ganh tị với thành tựu của Edwards, cho rằng thụ tinh trong ống nghiệm là giả tạo.  Giới tôn giáo thì xem thành tựu đó là một đe dọa đến đạo đức, và thể hiện một sự can thiệp với vai trò thượng đế!  Ngay cả người cùng ngành cũng nghi kị.  Một người học trò của Giáo sư Robert Edwards là Martin Johnson (nay là giáo sư y khoa tại Đại học Cambridge) hồi tưởng lại vào thời đó, ít ai quan tâm đến vấn đề vô sinh và ảnh hưởng của vô sinh. Do đó, khi thấy ông (Johnson) theo hướng nghiên cứu về vô sinh dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Edwards, đồng nghiệp đều thấy tội nghiệp cho ông và họ nói rằng “Thầy ông đi sai hướng rồi”. Ngay cả Giáo sư Max Perutz và Giáo sư James Watson (cả hai đều được trao giải Nobel) nói với ông rằng việc can thiệp vào phôi thai như thế là thiếu trách nhiệm. Giáo sư Johnson kể rằng nhiều người không muốn nói chuyện với nhóm nghiên cứu của Edwards, vì họ không thích những gì nhóm nghiên cứu theo đuổi. Nhưng mặc cho ai nói gì thì nói, Giáo sư Edwards và nhóm nghiên cứu của ông vẫn kiên trì theo đuổi ý tưởng thụ sinh nhân tạo IVF. Dưới áp lực chính trị, tôn giáo và thậm chí khoa học, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa cắt tài trợ. Nhưng may mắn thay, nhờ vào tài trợ của một mạnh thường quân người Anh mà công trình nghiên cứu được tiếp tục.  Mãi đến năm 1978 thì nghiên cứu của Gs Edwards và Steptoe mới “đơm bông kết trái”. Ngày 25/7/1978, bằng kĩ thuật IVF của Edwards và Steptoe hai vợ chồng Leslie và John Brown hạ sinh đứa con đầu lòng tên là Louise Brown. Louise Brown đi vào lịch sử y học hiện đại như là “test tube baby” (hàm ý nói được sinh ra từ thụ thai trong ống nghiệm).  Ngày 25/7/1978 cũng là ngày đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử y học hiện đại, vì một bộ môn y học mới ra đời. Nhưng “tai nạn” vẫn chưa hết!  Ngay sau khi Louise Brown chào đời, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa lại cắt tài trợ đến 2 năm rưỡi, vì họ sợ áp lực của công chúng!    Tuy nhiên, trong vòng 5 năm sau ngày Louise Brown chào đời, thế giới có thêm 150 em khác cũng được chào đời bằng kĩ thuật IVF. Sau đó, với sự cải tiến về kĩ thuật, số bệnh nhân vô sinh được điều trị và số trẻ em ra đời từ sự hỗ trợ của kĩ thuật IVF gia tăng nhanh chóng. Chẳng hạn như ở Mĩ, năm 1998 có trên 61,000 trẻ em sinh ra bằng IVF, tăng gấp 30 lần só với 10 năm trước. Một sự tăng trưởng như thế cũng được ghi nhận ở Âu châu.  Tính đến nay, đã có hơn 4 triệu trẻ em trên thế giới được sinh ra bằng công nghệ IVF.            Gs Robert Edwards với Robert Patrick Peter Laird – cậu bé “trong ống nghiệm” thứ 2500, chụp năm 1990          Tuy kĩ thuật IVF càng ngày càng cải tiến tốt hơn, nhưng tỉ lệ thành công cũng chỉ dao động trong khoảng 20-35%.  Ngoài ra, chi phí điều trị vô sinh cũng còn khá đắt, nhất là đối với những nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã ước tính rằng chi phí để thụ thai thành công và cho ra đời một em bé bằng kĩ thuật IVF dao động trong khoảng 17,000 USD đến 56000 USD (cho phụ nữ dưới 30 tuổi). Vì tỉ lệ thụ thai giảm theo độ tuổi, cho nên chi phí IVF ở phụ nữ trên 40 tuổi cao gấp 3 lần so với phụ nữ dưới 40 tuổi.    Cho đến nay, ai cũng phải công nhận công nghệ IVF đã đem lại niềm vui gia đình và hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới. Trong lịch sử y học, khó có một phương pháp nào đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người như IVF. Giáo sư Robert Edwards thật xứng đáng với danh hiệu “Cha đẻ của trẻ em ống nghiệm” (Father of the Test Tube Baby).    Lí tưởng Nobel  Giải Nobel được thiết lập theo di chúc của ông Alfred Nobel. Trong di chúc, ông viết rằng giải thưởng nên trao cho “những ai đã đem lại lợi ích lớn nhất cho con người.”  Thế nhưng trong những năm qua khi sinh học phân tử còn là “thời thượng”, có nhiều nhà nghiên cứu sinh học phân tử được trao giải Nobel. Điều này dẫn đến nghi ngờ của giới y khoa là giải thưởng này không còn tuân theo hay phù hợp với ước nguyện của ông Nobel nữa, bởi vì nhiều công trình được giải chẳng có giúp ích gì cho bệnh nhân (chứ chưa nói đến “lợi ích lớn nhất”).  Nhưng năm nay, giải thưởng được trao cho một người mà công trình nghiên cứu quả thật đem lại phúc lợi lớn nhất cho rất nhiều người.  Đối với những cặp vợ chồng vô sinh, còn hạnh phúc nào lớn hơn là hạnh phúc có con và được làm cha, làm mẹ. Kĩ thuật (và bây giờ là công nghệ) IVF là một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất trong y học hiện đại.  Do đó, giải thưởng năm nay đã đúng với tinh thần của di chúc Nobel.  Như một bài báo trên tập san Nature viết rằng rất ít nhà khoa học nào có thể nói rằng trên thế giới có 4 triệu người ra đời và sống sót nhờ vào nghiên cứu của mình, nhưng Giáo sư Edwards là một người có cơ sở để nói như thế (nếu ông muốn).            Robert Edwards trong phòng thí nghiệm cùng các đồng nghiệp tại Cambridge        Vài bài học   Trong khoa học, có hai con đường chính dẫn đến thành công. Thứ nhất là chọn một đề tài lớn và phức tạp để giải quyết.  Thứ hai là từng bước xây dựng những giả thuyết, và dần dần hình thành một đề tài lớn.  Cố nhiên, còn có một con đường thứ ba là do … may mắn, nhưng tôi không bàn ở đây.  Có thể nói sự thành công của Gs Robert Edwards là nhờ vào lựa chọn hướng đi thứ hai.  Ông đã kiên trì theo đuổi đề tài, từng bước giải quyết các vấn đề kĩ thuật, kiên nhẫn chịu đựng những chỉ trích phi lí của giới “đạo cao chức trọng”, những ganh tị nhỏ nhen của đồng nghiệp để tập trung vào “bức tranh lớn”. Trong bài nói chuyện nhân dịp nhận giải Lasker năm 2001, ông thuật lại những chỉ trích mà ông và đồng nghiệp phải hứng chịu khi dự án nghiên cứu đang tiến triển tốt, nhưng ông vẫn bình thản như … thiền. Ai chỉ trích cứ chỉ trích, ông vẫn theo đuổi mục tiêu cho đến cùng.  Vấn đề phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Những công trình của Gs Edwards là những minh chứng cho vấn đề phân biệt nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, bởi vì lằn ranh giữa hai thể loại nghiên cứu này rất mong manh và không rõ ràng như nhiều người tưởng. Có lẽ những nghiên cứu này được xếp vào nhóm “translation research”, tức những nghiên cứu có ứng dụng tuy có yếu tố cơ bản nhưng có thể trực tiếp chuyển giao cho ứng dụng lâm sàng.   Liên quan đến nghiên cứu tế bào gốc, những công trình nghiên cứu tiên phong của Gs Edwards cũng làm nền tảng cho sự ra đời của lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc. Do đó, có nhiều người vui mừng cho rằng việc Hàn lâm viện Thụy Điển trao giải cho Gs Edwards là một cách gián tiếp công nhận giá trị của nghiên cứu tế bào gốc. Tuy nhiên, người phát ngôn của Hàn lâm viện Thụy Điển nói rõ rằng việc trao giải cho công trình nghiên cứu về IVF không đồng nghĩa với việc ủng hộ nghiên cứu về tế bào gốc.  Nói tóm lại, giải thưởng Nobel y sinh học năm nay thể hiện một sự ghi nhận đóng góp mang tính cách mạng của Gs Robert Edwards.  Sự nghiệp khoa học và hành trình ông đến với kĩ thuật IVF đã đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới là những bài học quí báu cho những ai đang theo đuổi lí tưởng đem lại phúc lợi lớn nhất cho con người.  Tài liệu tham khảo:  [1]  Boivin J, et al. International estimates of infertility prevalence and treatment seeking: potential need and demand for infertility medical care. Hum Reprod 2007; Jun;22(6):1506-12.  [2] Austin CR. Bob Edwards – a profile.  Hum Prod 1991; 6:1-4.  [3] Edwards RG, Bavister BD, Steptoe PC. Early stages of fertilization in vitro of human oocytes matured in vitro. Nature 1969; Feb 15;221(5181):632-5.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp ngăn mưa trong thời gian diễn ra Olympic Bắc Kinh 2008      Để ngày hội thể thao lớn nhất hành tinh Olympic 2008 diễn ra thuận lợi, Bắc Kinh có thể sẽ áp dụng khoa học kỹ thuật để đối phó với thiên nhiên, ngăn không cho trời đổ mưa, ít nhất là trong ngày khai mạc.    Thời gian diễn ra Olympic chính là thời kỳ thời tiết phức tạp nhất ở Bắc Kinh. Thông thường vào trong khoảng thời gian này, tại Bắc Kinh, một số nơi có nhiệt độ cao, một số nơi khác lại mưa và gió mạnh. Các chuyên gia hữu quan căn cứ vào các dữ liệu trước đây dự báo rằng trong ngày khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008, có tới 50% là trời sẽ đổ mưa.Ngay từ năm 2002, cơ quan khí tượng Trung Quốc đã cùng với các chuyên gia về thời tiết hàng đầu của nước này tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm các biện pháp ngăn mưa. Phương pháp mà các nhà khoa học đưa ra là dùng ngoại lực làm thay đổi trạng thái đổ mưa và tốc độ bay của mây tích nước ở phạm vi nhất định, khiến cho mưa có thể đến sớm, hoặc giữ nguyên trạng thái mây không đổ mưa, hoặc đẩy mây tích nước bay sang vùng khác. Hiện nay, tất cả có tới 170 nhà khoa học hữu quan của Trung Quốc tham gia vào công trình nghiên cứu này. Tháng 7 vừa qua, các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm, ngăn một trận mưa đá được dự báo là sẽ xảy ra ngay trong một khu ở nội thành Bắc Kinh, bằng cách trong vòng 10 phút, bắn lên không trung 400 quả đạn pháo I-ốt hóa Argentum cỡ 37 ly và các nhà khoa học đã thành công, ngăn được trận mưa đá này.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thích hấp dẫn không cần lý thuyết dây      Trong nhiều thập kỷ, phần lớn các nhà vật lý đều đồng ý với nhau là lý thuyết dây là mối liên hệ bị mất giữa thuyết tương đối tổng quát của Einstein, miêu tả các lực tự nhiên ở quy mô lớn, và cơ học lượng tử, miêu tả chúng tạ quy mô nhỏ nhất. Mới đây, một nhóm hợp tác quốc tế do các nhà vật lý ở Radboud dẫn dắt đã cung cấp bằng chứng thuyết phục là lý thuyết dây là lý thuyết duy nhất có thể giúp hình thành mối gắn kết này.      Họ đã trình bày một khả năng có thể để xây dựng một lý thuyết hấp dẫn lượng tử tuân theo tất cả các lực cơ bản của vật lý, không chỉ các vật thể một chiều. Họ miêu tả phát hiện của mình trong Physical Review Letters “Finite Quantum Gravity Amplitudes: No Strings Attached (Cán biên độ hấp dẫn lượng tử hữu hạn: Không gắn với lý thuyết dây).  Khi chúng ta quan sát hấp dẫn trong vũ trụ của chúng ta, nhiều chuyển động của các hành tinh hoặc ánh sáng tiến gần đến một lỗ đen, mọi vật dường như tuân theo các lực mà Einstein đã chỉ ra trong thuyết tương đối rộng của ông. Trong khi đó, cơ học lượng tử là một lý thuyết miêu tả các đặc tính vật lý của tự niên tại quy mô nhỏ nhất của các hạt nhân và các hạt hạ nguyên tử. Dẫu hai lý thuyết đó cho phép chúng ta giải thích mọi hiện tượng vật lý cơ bản quan sát được, chúng lại phủ nhận lẫn nhau. Cho đến ngày nay, các nhà vật lý có nhiều cách khác nhau để kết nối hai lý thuyết để giải thích hấp dẫn ở cả hai cấp độ lớn nhất và nhỏ nhất.  Không cần đến lý thuyết dây  Vào những năm 1970, các nhà vật lý đề xuất một nhóm các nguyên tắc vật lý để giải quyết vấn đề này, mở rộng các lực bằng thuyết tương đối rộng. Theo lý thuyết dây, tất cả mọi thứ quanh ta được hình thành không chỉ bằng các hạt mà còn bằng các dây: các vật thể một chiều dao động. Kể từ khi được giới thiệu, lý thuyết dây được cho là đã mở rộng khung lý thuyết để hoàn thiện thuyết tương đối rộng của Einstein với một lý thuyết của cơ học lượng tử.  Dẫu vậy, các nhà vật lý lý thuyết tại trường đại học Radboud đã chứng tỏ lý thuyết dây không chỉ có một cách để thực hiện điều này. “Chúng tôi chứng tỏ là vẫn còn có thể giải thích hấp dẫn bằng cơ học lượng tử mà không cần đến lý thuyết dây”, , nhà vật lý lý thuyết Frank Saueressig nói. “Chúng tôi cho thấy ý tưởng là mọi thứ bao gồm cả các hạt có thể phù hợp với hấp dẫn lượng tử không cần đến việc phải đưa các dây vào. Khung vật lý hạt này cũng đã được sáng tỏ  về mặt thực nghiệm tại Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC tại CERN”.  “Với các nhà khoa học, lý thuyết dây thật hấp dẫn bởi thật vô cùng khó để kết nối lý thuyết với thực nghiệm. Ý tưởng của chúng tôi là sử dụng các nguyên tắc vật lý đã từng được áp dụng trong thực nghiệm. Nói cách khác: chưa có ai quan sát được các dây trong thực nghiệm nhưng các hạt đã được quan sát tại các thực nghiệm ở LHC. Điều này giúp chúng tôi bắc cầu giữa hai dự đoán lý thuyết và thực nghiệm một cách dễ dàng hơn”.  Sau khi đã trình bày là ý tưởng có khả năng giải quyết những vấn đề đã tồn tại trong một quãng thời gian dài của vật lý hạt, nhóm hợp tác này đã khám phá những ngụ ý đem lại trong các lực mới mà họ đề xuất trong nghiên cứu của mình ở quy mô các lỗ đen. “Chỉ có một tập hợp các lực tự nhiên có thể áp dụng để giải thích cho tất cả các loại câu hỏi, bao gồm điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta va chạm các hạt ở năng lượng cực lớn hoặc điều gì xảy ra khi các hạt rơi vào trong một lỗ đen? Nó có thể đem lại thú vị để cho thấy một mối liên hệ thật sự giữa những câu hỏi tưởng chừng không liên quan, vốn cho phép giải được những bí ẩn xuất hiện ở cả hai phía, thuyết hấp dẫn và cơ học lượng tử”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-gravity-theory.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng chất lượng Việt Nam      Có được “bộ tiêu chí” chặt chẽ để đánh giá hoạt động doanh nghiệp, có khả năng để đánh giá chính xác chất lượng, song những nhà tổ chức Giải thưởng Chất lượng Việt Nam sẽ phải nỗ lực lớn để khẳng định uy tín cho giải thưởng này.      Tạo lập danh tiếng  Nếu so sánh về tính chất thì Giải thưởng Chất lượng Việt Nam tương tự  như Giải Malcolm Baldrige ( Giải mang tên vị Bộ trưởng Bộ Thương mại tử nạn trong một vụ tai nạn giao thông do Tổng thống Mỹ Ronald Reagan ký thành lập năm 1987) của Mỹ, Giải thưởng  EQA của châu Âu, Giải thưởng Chất lượng của Thái Lan, Philippines, Ấn Độ hay Giải thưởng Năng suất của Indonesia… Đó đều là những giải thưởng mang tầm quốc gia và uy tín lớn. Riêng giải EQA (European Quality Award) do Quỹ Quản lý chất lượng châu Âu (EFQM) sáng lập với sự ủng hộ của Tổ chức Chất lượng Châu Âu (EOQ) và Ủy ban Châu Âu (EC) – là một “mơ ước” cho mọi công ty hoạt động trên thị trường châu Âu.                     Khởi đầu “Thập niên Chất lượng Việt Nam lần thứ nhất (1996 – 2005)” do Phó Chủ tịch nước lúc bấy giờ là bà Nguyễn Thị Bình phát động, tháng 8/2005, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã thành lập Giải thưởng Chất lượng Việt Nam, hằng năm xem xét, đánh giá và trao các giải thưởng cho những doanh nghiệp nổi bật trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng được giao nhiệm vụ tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động của chương trình này). Mục tiêu của Giải thưởng Chất lượng Việt Nam được xác định là khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế nâng cao chất lượng hoạt động, tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa có chất lượng cao có khả năng cạnh tranh mạnh.  Và cũng tương tự như các giải thưởng chất lượng của quốc tế kể trên, Giải thưởng Chất lượng Việt Nam đánh giá  doanh nghiệp trên các tiêu chí “Vai trò của lãnh đạo”, “Hoạch định chiến lược”, “Định hướng vào khách hàng và thị trường”, “Thông tin và phân tích hoạt động”, “Phát triển nguồn nhân lực”, “Kết quả hoạt động, kinh doanh”… Trong đó các tiêu chí “Kết quả hoạt động kinh doanh” và “Vai trò của lãnh đạo” là những tiêu chí quan trọng nhất.  Nên “Việt hóa” tiêu chí  Đánh giá về Giải thưởng Chất lượng Việt Nam, với tư cách là “người trong cuộc”, Tổng Giám đốc Công ty MTV cơ điện Trần Phú Bùi Tiến Đạt cho rằng: “Các tiêu chí mà Giải thưởng Chất lượng Việt Nam đưa ra rất sát thực với hoạt động của doanh nghiệp chúng tôi, đặc biệt là trong vấn đề quản lý chất lượng. Khi tiến hành lập báo cáo giải thưởng chất lượng Việt Nam, ngoài việc tự thực hiện theo tiêu chí mà giải thưởng đưa ra, chúng tôi còn rút ra được một số vấn đề… Đó là cơ hội để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp theo tiêu chí của giải thưởng chất lượng Việt Nam. Qua quá trình tự xem xét, đánh giá lại doanh nghiệp, nếu phát hiện lỗi thì dù không giải quyết được ngay, chúng tôi sẽ có biện pháp củng cố quản lý, điều hành tổ chức sản xuất”.  Cho rằng “tham gia giải thưởng chất lượng là cơ hội rất tốt để các doanh nghiệp tự đánh giá được hệ thống quản lý chất lượng hiện tại của mình”, song Giám đốc sở KH&CN Quảng Ninh Trần Văn Minh cũng nêu hạn chế của Giải thưởng Chất lượng Việt Nam: “Cũng vì dựa trên tiêu chí của các giải thưởng đã có uy tín của các nước phát triển nên một số thuật ngữ, tiêu chí của giải thưởng chưa được “Việt hóa” hoàn toàn, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc đánh giá hệ thống quản lý chất lượng của mình. Một số tiêu chí còn trừu tượng và thiếu cụ thể, do đó việc chuẩn bị báo cáo của các doanh nghiệp gặp khó khăn, chưa thực sự là công cụ tiện dụng và hữu ích để các doanh nghiệp soi xét, đánh giá và cải tiến hệ thống của mình ngày càng hoàn thiện hơn.”  Giám đốc sở KH&CN Vĩnh Phúc Nguyễn Thế Trường thì cho biết: “Các doanh nghiệp của Vĩnh Phúc tham gia giải thưởng Chất lượng Việt Nam khá ‘hào hứng’. Có doanh nghiệp đã 5 lần tham gia giải thưởng này. Tuy nhiên, giải thưởng này vẫn còn mang tính hình thức nếu so với đúng tiêu chí và quy định xét giải thưởng”. Theo ông: “Việc đánh giá chứng nhận các doanh nghiệp đạt giải thưởng Chất lượng Việt Nam phải công khai, chặt chẽ theo đúng quy chế”.  Ông Vũ Minh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục TCĐLCL tỉnh Phú Thọ thẳng thắn nhận xét: “Giải thưởng chưa tạo được cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia giải thưởng, từ tôn vinh đến chế độ khen thưởng bằng vật chất đối với các doanh nghiệp đạt Giải thưởng Chất lượng Việt Nam”  Có thể nói, Giải thưởng tạo tiếng tăm cho doanh nghiệp, song chính những doanh nghiệp được giải cũng sẽ mang lại danh tiếng cho giải thưởng. Phải thừa nhận một thức tế là uy tín Giải thưởng Chất lượng Việt Nam vẫn chưa nổi bật so với hàng loạt các giải thưởng mới xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây. Vì thế, có tiêu chí đánh giá chặt chẽ đến đâu, phương tiện kiểm nghiệm chất lượng chính xác đến mức nào, thì “con mắt xanh” và sự công tâm của “giám khảo” mới chính là yếu tố quyết định để Giải thưởng Chất lượng Việt Nam “danh xứng thực”.  Các tiếp cận chất lượng của Giải thưởng Chất lượng Việt Nam  Thiết lập tầm nhìn và sứ mệnh vững chắc của doanh nghiệp  Lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp phải thông báo rộng rãi đến người lao động ở mọi cấp biết về tầm nhìn và sứ mệnh đã xác định của doanh nghiệp để khích lệ họ cam kết thực hiện.  Xây dựng các chính sách và chiến lược phù hợp  Tiêu chí  “Hoạch định chiến lược” yêu cầu doanh nghiệp thể hiện việc doanh nghiệp đã thiết lập các mục tiêu chiến lược và kế hoạch hành động như thế nào để đáp ứng nhu cầu của thị trường (luôn thay đổi) và sự cạnh tranh (ngày càng khốc liệt) trên thị trường.  Cam kết phấn đấu vươn tới sự tuyệt hảo về quản lý chất lượng  Sự cam kết này phải được bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất. Ba tiêu chí của giải thưởng  “Định hướng vào khách hàng và thị trường”, “Đo lường và quản lý tri thức” và “Quản lý quá trình” là những tiêu chí có liên quan..  Chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực  Yêu cầu nêu trên không chỉ được đề cập đến trong tiêu chí  “Phát triển nguồn nhân lực” mà còn được quy định trong các tiêu chí “Vai trò của lãnh đạo”  Hướng tới xu thế phát huy sự chủ động của người lao động trong việc cải tiến và sáng tạo đồng thời với việc đảm bảo phúc lợi   Hiện nay, lãnh đạo của nhiều doanh nghiệp đều nhận thấy vấn đề con người trong một tổ chức là vấn đề cần coi trọng. Sử dụng tốt nhân tố con người sẽ dẫn tới việc giảm chi phí và nâng cao năng suất. Giải quyết tốt vấn đề này còn góp phần quan trọng trong việc thiết lập và phát huy nền văn hoá doanh nghiệp.       Động viên và khích lệ người lao động  Sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phụ thuộc nhiều vào sự cam kết, sự tham gia và hưởng ứng của mọi người lao động trong việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.  Chú trọng đến chăm lo khách hàng, dịch vụ khách hàng và sự thoả mãn của khách hàng  Giải thưởng nêu bật vấn đề thu thập và xử lý ý kiến phản hồi của khách hàng.  Quản lý bằng dữ kiện  Phân tích thông tin và dữ liệu sẽ giúp cho việc quản lý – điều hành đạt được hiệu quả mong muốn, đặc biệt trong các lĩnh vực hoạch định, xem xét và đánh giá, cải tiến và thay đổi cũng như so sánh với các đối thủ cạnh tranh và với các chuẩn đối sánh về thực hành tốt nhất.  Chú trọng đến kết quả hoạt động và tạo giá trị  Đo lường và phân tích giúp cho việc xác định các kết quả hoạt động chính. Tuy nhiên, kết quả hoạt động của doanh nghiệp phải được sử dụng một cách cân đối và hài hoà giữa các bên liên quan như: khách hàng, người lao động, người góp vốn, nhà cung ứng, các bên đối tác, cộng đồng xung quanh và xã hội.  Thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội để đảm bảo sự  phát triển bền vững  Chính sách của doanh nghiệp phải được thiết lập sao cho những tác động xấu do hoạt động của doanh nghiệp gây ra đối với cộng đồng xung quanh phải được kiểm soát, giảm thiểu để tiến tới triệt tiêu.  Trần Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Giải thưởng của đất mẹ Việt cho các nhà khoa học Việt Nam”      “Đây là giải thưởng của đất mẹ Việt cho những người con đã gắn cuộc đời mình với nghiên cứu khoa học. Giải thưởng này cũng sẽ khích lệ các bạn trẻ tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học”,GS.TS Đào Tiến Khoa, người vừa đoạt giải nhất Nhân tài Đất Việt, chia sẻ.      Sau khi nhận giải thưởng Nhân tài Đất Việt (NTĐV) về lĩnh vực Khoa học tự nhiên năm 2010, GS.TS Đào Tiến Khoa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu cơ bản và tính toán (Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) đã  trả lời phỏng vấn chia sẻ niềm vinh dự này.  So với nhiều ngành khoa học tự nhiên khác, vật lý hạt nhân là chuyên ngành còn chưa được phát triển mạnh ở Việt Nam. Đây là năm thứ 2 giải thưởng NTĐV về Khoa học tự nhiên và GS đã được vinh danh. GS cảm thấy thế nào khi nhận giải?  Thú thật khi còn là sinh viên đại học ở Liên Xô tôi đã rất ngại học vật lý hạt nhân vì đây là một môn khó và vì thế tôi đã theo học chuyên sâu về vật lý chất rắn. Sau khi về nước nhận công tác tại Trường ĐH tổng hợp Hà Nội, tôi đã được một nhà khoa học đàn anh (GS Cao Chi) chú ý đến và mời sang làm việc tại Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN). Theo nhu cầu phát triển chuyên môn lâu dài của Viện NLNTVN, tôi đã thực sự bước vào lĩnh vực vật lý hạt nhân cách đây đúng 30 năm.   Ngẫm lại quãng đường dài từ đó cho đến nay, với những thành quả đã đạt được, tôi phải thừa nhận rằng được làm nghiên cứu trong lĩnh vực này là một may mắn của đời tôi. Nó đã và đang mang lại cho tôi rất nhiều niềm hứng thú và đam mê. Mỗi khi một công trình nghiên cứu được hoàn thành và công bố trên tạp chí quốc tế là tôi luôn có một cảm giác vui nho nhỏ như của một nhà thơ, một nhạc sĩ tâm đắc với một sáng tác mới của mình. Có lẽ chính niềm đam mê, yêu khoa học này đã giúp tôi vượt qua được rất nhiều khó khăn trong điều kiện làm việc ở Việt Nam.      Tôi rất cảm động được nhận giải thưởng này và cảm nhận rằng đây là giải thưởng của đất mẹ Việt cho những người con Việt Nam đã gắn cuộc đời mình với nghiên cứu khoa học. Những giải thưởng như thế này chắc chắn sẽ khích lệ và động viên các bạn trẻ đi vào con đường nghiên cứu khoa học. Mặc dù nghiên cứu khoa học là công việc không dễ dàng, đôi khi là khổ hạnh và không mang lại một thu nhập như mong muốn, tôi xin khẳng định với các bạn trẻ rằng làm nghiên cứu khoa học là một trong những ngành nghề cao đẹp nhất trong xã hội và rất tuyệt vời khi khoa học nước nhà được tôn vinh hàng năm tại giải thưởng NTĐV.  Cả 2 năm trao giải thưởng NTĐV trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên, người đoạt giải đều là những nhà khoa học “gạo cội”, phải chăng các nhà khoa học trẻ Việt Nam hiện nay chưa thể sánh với thế hệ đàn anh?  Việc các nhà khoa học đang ở tuổi “U60” được vinh danh tại giải thưởng NTĐV năm ngoái và năm nay phản ánh sự đánh giá của đất nước đối với các nhà khoa học đã và đang cặm cụi cống hiến cho nền khoa học nước nhà. Tuy nhiên, việc này hoàn toàn không có nghĩa là thế hệ các nhà khoa học trẻ Việt Nam hiện nay chưa thể sánh được với thế hệ đàn anh.   Dân ta có truyền thống hiếu học và thế hệ các nhà khoa học trẻ ngày nay không thiếu những tên tuổi rất xuất chúng, rất tài giỏi như Ngô Bảo Châu (Toán học), Đàm Thanh Sơn (Vật lý học)… Có điều, đa số các nhà khoa học Việt trẻ này lại đang cư trú và làm việc tại các quốc gia phát triển. Rõ ràng là điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ khoa học trong nước vẫn còn bất cập và chúng ta vẫn chưa thu hút được các tài năng trẻ vào đội ngũ nhân lực khoa học nước nhà.      Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc đổi mới chính sách đầu tư và đãi ngộ khoa học, chúng ta cần  tiến hành những hoạt động quảng bá cho trí tuệ Việt Nam, phổ biến kiến thức khoa học phổ thông cho đông đảo tầng lớp nhân dân để có lại được sự quan tâm của toàn xã hội đối với tri thức và khoa học. Những gì mà Quỹ NTĐV đã và đang làm là những việc vô cùng cần thiết để động viên và khích lệ sự đam mê của thế hệ trẻ đối với khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sẽ rất tốt nếu Quỹ NTĐV đưa ra thêm được một giải thưởng cho nhà khoa học Việt trẻ dưới 40 tuổi trong lĩnh vực khoa học tự nhiên để tạo thêm cơ hội cho các bạn trẻ phấn đấu.  Sau khi đoạt giải NTĐV, GS có định hướng gì tiếp theo cho vật lý hạt nhân và việc đào tạo thế hệ kế cận?  Chúng ta phải thừa nhận rằng trong thế hệ trẻ kế cận hiện nay có ít người thực sự đam mê khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý hạt nhân cơ bản. Cho nên, tôi rất lo là khi thế hệ các nhà khoa học thế hệ chúng tôi về hưu thì sẽ không có những người xứng đáng tiếp tục sự nghiệp. Cũng vì thế mà tôi luôn rất tâm huyết đối với việc đào tạo cán bộ trẻ và đó cũng là một trong những định hướng quan trọng của tôi trong thời gian sắp tới. Cụ thể, sau khi đoạt giải tôi sẽ dùng tiếng nói và kinh nghiệm của mình để giáo dục và động viên thế hệ trẻ, tìm cách “bơm” niềm đam mê khoa học vào trong các em.  GS có nói nhiều về ứng dụng của vật lý hạt nhân trong cuộc sống. Vậy, sự quan tâm đối với ngành hiện nay như thế nào thưa GS?   Mặc dù hiểu biết của xã hội về vật lý hạt nhân còn rất hạn chế, đa số thường chỉ nghĩ đến vũ khí hạt nhân hay nhà máy điện hạt nhân. Các thế hệ lãnh đạo nhà nước ta từ những năm 80 đã xác định được rất rõ ràng mục tiêu phát triển vật lý hạt nhân và triển khai rộng rãi những ứng dụng khác nhau của nó trong cuộc sống, đặc biệt là trong y tế, công nghiệp và nông nghiệp.      Việc quốc hội vừa thông qua kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ký chương trình tổng thể cho ứng dụng năng lượng nguyên tử ở nước ta và việc nhà nước quyết định chi từ ngân sách hàng ngàn tỷ đồng để đào tạo nhân lực hạt nhân là những minh chứng mới nhất cho thấy quyết tâm của lãnh đạo nhà nước trong việc phát triển mạnh mẽ nền khoa học hạt nhân nước nhà.     Xin cảm ơn GS!         Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Đột phá khoa học 2014      Danh sách những người được tặng Giải thưởng  Đột phá khoa học về vật lý cơ bản và khoa học sự sống năm 2014 đã được  công bố trong một buổi lễ đặc biệt cử hành ngày 12/12/2013 tại NASA Ames  Research Center, Mountain View, California, Mỹ.     Trang mạng breakthroughprizeinlifesciences.org cho biết tổng giá trị của các giải thưởng này là 21 triệu USD.   Giải Đột phá về vật lý cơ bản được trao cho Michael B. Green ở ĐH Cambridge (Anh Quốc), và John H. Schwarz ở Học viện Công nghệ California (Mỹ), vì đã mở ra triển vọng mới trong nghiên cứu lực hút lượng tử và lý thuyết về sự thống nhất các loại lực. Hai nhà khoa học này sẽ chia nhau số tiền 3 triệu USD.  Giải Đột phá về các khoa học sự sống được trao cho sáu nhà khoa học dưới đây, mỗi người 3 triệu USD, nhằm vinh danh những thành tựu tuyệt vời của họ trong nghiên cứu điều trị các loại bệnh nan y và kéo dài tuổi thọ con người:   •  James Allison, bác sĩ, tiến sĩ, giáo sư ở Trung tâm Ung thư Anderson (Mỹ)  •  Mahlon DeLong giáo sư ĐH Emory University (Mỹ)  •    Michael Hall , giáo sư ĐH Basel, Thụy Sĩ (quốc tịch Mỹ/Thụy Sĩ)  •  Robert Langer, giáo sư Viện David H. Koch thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ)  •  Richard Lifton giáo sư Viện Y khoa Howard Hughes thuộc ĐH Yale (Mỹ)  •  Alexander Varshavsky giáo sư Học viện Công nghệ California (Mỹ gốc Nga)  Các lĩnh vực họ nghiên cứu liên quan tới tế bào T, bệnh Parkinson, bệnh cao huyết áp, kiểm soát sự sinh trưởng của tế bào, hệ thống kiểm soát sự thoát thải từ thuốc (drug-release), sự suy thoái của protein trong tế bào v.v…   Nghi lễ trao giải nói trên do Kevin Spacey, ngôi sao Hollywood chủ nhân giải Oscar, chủ trì, được tổ chức cực kỳ trọng thể với sự cộng tác của tạp chí Vanity Fair. Nữ danh ca Lana Del Ray biểu diễn tại chỗ. Hơn 200 người, kể cả các nhà tài trợ giải cùng một số nhân vật nổi tiếng đã tới dự. Ngày 27/1/2014, kênh Discovery sẽ phát tường thuật buổi lễ này.  Vào cuối buổi lễ, Mark Zuckerberg và Yuri Milner tuyên bố sáng lập Giải Đột phá về Toán học trị giá 3 triệu USD. Đây là một tin mừng cho các nhà toán học thế giới, vì giải Nobel không dành chỗ cho họ.  Người nhận giải thưởng được lựa chọn bởi các Ủy ban Tuyển chọn với thành phần là những vị từng nhận giải này năm trước. Như vậy các chủ nhân giải 2014 sẽ là thành viên Ủy ban Tuyển chọn cho năm 2015.   Quỹ Giải thưởng Đột phá được sáng lập bởi Arthur Levinson, Chủ tịch Công ty Genentech, cùng các nhà tài trợ gồm ba cặp vợ chồng doanh nhân:   – Sergey Brin (đồng sáng lập Google) và vợ là Anne Wojcicki (sáng lập công ty 23andMe),   – Mark Zuckerberg (sáng lập Facebook) và vợ là Priscilla Chan.  – Yuri và Julia Milner (tỷ phú kinh doanh Internet, nhà đầu tư mạo hiểm người Nga)  Ngày 20/2/2013, họ đã tổ chức lễ công bố sự ra đời Quỹ Giải thưởng Đột phá với tiền thưởng cho mỗi giải là 3 triệu USD, là giải thưởng lớn nhất về khoa học cho tới nay, dùng để tặng các nhà khoa học đã có nghiên cứu đột phá về điều trị bệnh tật và kéo dài tuổi thọ con người. Giải được trao hằng năm, bắt đầu từ năm 2013. Vì mức thưởng cao hơn giải Nobel (1,27 triệu USD) nên giải này còn được gọi là giải Nobel “sang trọng”.  Cũng trong buổi lễ đó, Giải Đột phá khoa học sự sống năm 2013 được trao cho 11 nhà khoa học.  Giải Đột phá khác với giải Nobel ở chỗ áp dụng cơ chế tuyển chọn công khai. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng mạng Internet để đề cử ứng viên cho giải thưởng. Ứng viên không bị hạn chế về tuổi tác. Ngoài ra, cũng không có hạn chế về số lượng ứng viên cũng như số lần được tặng giải.  Nguyễn Hải Hoành tổng thuật    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Fields lần đầu thuộc về phụ nữ      Với những đóng góp cho hiểu biết về tính đối xứng của các  bề mặt cong, Maryam Mirzakhani, nữ giáo sư toán học sinh ra và lớn lên  tại Iran, vừa trở thành một trong bốn người được trao Huy chương Fields  năm nay.    Như vậy, lần đầu tiên giải thưởng danh giá nhất của toán học thế giới, thường được ví như giải Nobel, được trao cho phụ nữ trong lịch sử 80 năm của mình.  Giáo sư Mirzakhani, chuyên gia nghiên cứu hình học về hình dạng khác thường, đã tìm ra phương pháp mới giúp tính toán khối lượng và thể tích của những vật có các mặt cong hyperbol, ví dụ như yên ngựa. Công trình nghiên cứu của cô, chủ yếu về lý thuyết, có thể được áp dụng vào các lĩnh vực vật lý và lý thuyết trường lượng tử.  Tại lễ trao giải diễn ra trọng thể ở Seoul sáng 13-8, Mirzakhani đã vinh dự nhận Huy chương Fields từ tay Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye (ảnh trên).  Thành công của Mirzakhani, 37 tuổi, hiện là giáo sư ở ĐH Stanford, ngay lập tức nhận được lời ca ngợi từ các đồng nghiệp.  “Tôi xúc động vì ngày này cuối cùng đã tới,” Sir Tim Gowers, nhà toán học tại ĐH Cambridge, từng giành Huy chương Fields, nói với The Guardian. “Mặc dù lâu nay phụ nữ đã có những đóng góp ở mức cao nhất cho toán học nhưng điều này không được công chúng biết đến rộng rãi. Tôi hy vọng rằng, sự xuất hiện của một phụ nữ giành Huy chương Fields, chắc chắn là người đầu tiên trong số nhiều người tiếp theo, sẽ giúp chấm dứt những nghi ngờ về năng lực của phụ nữ trong toán học và khuyến khích thêm nhiều cô gái trẻ nghĩ về việc nghiên cứu toán học như một nghề mà họ có thể làm được.”  Christiane Rousse, Phó chủ tịch Hiệp hội Toán học quốc tế, cho biết: “Đó là một khoảnh khắc phi thường. Marie-Curie đã giành giải Nobel về vật lý và hóa học từ hồi đầu thế kỷ 20, nhưng trong toán học thì đây mới là lần đầu, chúng ta có một phụ nữ giành giải thưởng danh giá nhất. Đây là sự vinh danh phụ nữ.”  Sinh ra và lớn lên ở Iran, Mirzakhani hoàn thành học vị tiến sỹ ở ĐH Harvard vào năm 2004. Con đường tiến vào toán học của cô không bắt đầu từ sớm. Khi còn nhỏ, cô say mê văn học chứ không phải những con số. “Tôi từng mơ trở thành nhà văn,” cô kể trong một cuộc trả lời phỏng vấn dành cho ĐH Oxford vào năm 2008. “Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ theo đuổi toán học trước khi tôi bước vào trung học.”  Anh trai của Mirzakhani đã hướng cô quan tâm đến khoa học. Những năm học trung học, Mirzakhani đã tham gia các kỳ Olympic Toán học quốc tế và giành HCV vào các năm 1994 và 1995. Sau khi tốt nghiệp ĐH Sharif, cô đến ĐH Harvard và được làm việc với một nhà toán học từng giành Huy chương Fields, Curt McMullen, và hết sức say mê phong cách của ông.  Từ năm 2004 đến 2008, cô nhận học bổng của Viện Toán học Clay và làm phó giáo sư (assistant professor) tại ĐH Princeton. Năm 2008, cô trở thành giáo sư toán học tại ĐH Stanford, nơi cô hiện sống cùng chồng và con gái ba tuổi.  Ngoài Mirzakhani, Huy chương Fields năm nay còn được trao cho ba nhà toán học khác: Martin Hairer, 38 tuổi, người Australia, đến từ ĐH Warwick, Anh; Manjul Bhargava, 40 tuổi, người Mỹ gốc Canada, đến từ ĐH Princeton, Mỹ; và Artur Avila, 35 tuổi, người Pháp gốc Brazil, đến từ Viện Toán học Jussieu, Pháp.  Huy chương Fields với phần thưởng trị giá 15.000 đô la Canada được Hiệp hội Toán học quốc tế (Internatioal Mathematical Union) trao bốn năm một lần cho những tài năng xuất chúng ở độ tuổi dưới 40, kể từ năm 1936. Đến nay đã có tất cả 55 nhà toán học nhận Huy chương Fields, trong đó có nhà toán học Việt Nam Ngô Bảo Châu được vinh danh ở kỳ trao giải lần trước.              Thanh Nhàn dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Nobel Y học 2009      Ba nhà khoa học Mỹ Elizabeth H. Blackburn, Carol W. Greider và Jack W. Szostak đã giành được giải Nobel Y học 2009 nhờ những công trình nghiên cứu về cơ chế tự bảo vệ của các nhiễm sắc thể, mở ra những hướng mới trong điều trị ung thư và chống lão hóa.  &#160;     Ba nhà khoa học đã tìm ra câu trả lời về cơ chế tự bảo vệ chống lại thoái hóa của các nhiễm sắc thể trong quá trình phân chia tế bào khi nghiên cứu các đầu mút của các nhiễm sắc thể được gọi là telomere, thường được so sánh như phần đầu mút nhựa của dây giày ngăn cho chúng khỏi bị xước.   Công trình nghiên cứu của ba nhà khoa học được tiến hành từ những năm 1970-1980 đã cho thấy các tế bào ung thư sử dụng telomerase để chống lại sự phát triển ngoài tầm kiểm soát. Bên cạnh đó, các nhà khoa học tin rằng sự thoái hóa của DNA được enzim sửa chữa có liên quan tới một vài căn bệnh.   “Những phát hiện của Blackburn, Greider và Szostak đã mở ra kích chiều mới trong việc tìm hiểu các tế bào, rọi luồng ánh sáng vào cơ chế mắc bệnh và thúc đẩy việc phát triển những phương pháp chữa trị mới“, Ủy ban giải thưởng Nobel khẳng định. Mười nhà khoa học nữ đã nhận giải thưởng Y học danh giá kể từ khi giải Nobel ra đời năm 1901 nhưng đây là lần đầu tiên có hai nhà khoa học nữ cùng được nhận giải.   Thành tựu y học bắt đầu từ sự tò mò  Blackburn có hai quốc tịch Mỹ và Áo hiện là Giáo sư Sinh học và sinh lý học tại trường Đại học California-San Francisco. Greider là Giáo sư của khoa Sinh học phân tử và di truyền của trường Y thuộc Đại học Johns Hopkins, Baltimore. Greider giải thích: Nghiên cứu của nhóm bắt đầu bằng những thí nghiệm nhằm hiểu rõ hơn cơ chế hoạt động của các tế bào chứ không phải vì một suy luận về các kết quả y học nào đó. “Nghiên cứu vì sự tò mò khoa học thực sự quan trọng. Nghiên cứu về căn bệnh không phải là cách duy nhất tìm ra câu trả lời, nhưng cả hai phối hợp với nhau”, bà nói.   Szostak 56 tuổi sinh tại London nhưng làm việc tại trường Y Harvard từ năm 1979 và hiện là Giáo sư Di truyền học. Ông cũng cộng tác với Viện Y học Howard Hughes. “Khi bắt đầu nghiên cứu chúng tôi chỉ quan tâm tới câu hỏi về việc sao chép của DNA và tại sao các đầu mút của nhiễm sắc thể lại được duy trì. Tại thời điểm đó chúng tôi không có ý nghĩ liên quan tới những vấn đề khác”, Szostak chia sẻ. Ông nói thêm rằng cơ chế duy trì các đầu mút của các phân tử DNA đóng vai trò quan trọng trong phòng chữa ung thư và lão hóa. Còn rất nhiều việc phải làm để phát triển các phương pháp chữa các bệnh về máu, da và phổi dựa vào kết quả nghiên cứu đoạt giải Nobel này.   Những triển vọng mới trong phòng chống ung thư và lão hóa  Telomerase bắt đầu hoạt động trước khi bào thai được sinh ra khi các tế bào phân chia nhanh chóng. Vào độ tuổi 4-5 hầu hết tách ra khỏi tế bào. Điều này có nghĩa là các telomere thoái hóa theo thời gian dẫn tới sự lão hóa hoặc đôi khi ngưng hoạt động của các tế bào. Theo các nhà khoa học, bổ sung các telomerase vào tế bào người có thể kéo dài vòng đời của chúng vĩnh viễn.   Nghiên cứu này đã gợi mở rằng các telomerase có thể trở thành “suối nguồn thanh xuân”. Nhưng các chuyên gia cho rằng lão hóa phức tạp hơn những thay đổi chỉ diễn ra trong các telomere. Họ vẫn sẽ tiếp tục nghiên cứu những vai trò của telomere và có thể sẽ tìm ra những phương pháp phòng tránh một số biểu hiện của lão hóa.   Một công trình nghiên cứu khác chỉ ra rằng các telomerase giúp các tế bào ung thư chống lại sự phát triển ngoài tầm kiểm soát. “Các nhà khoa học đang cố gắng khai thác đặc điểm này để tạo ra những phương pháp chữa bệnh mới“, Jerry Shay trung tâm Y học, Đại học Texas Southwestern, Dallas nói. Shay cũng hy vọng những phương pháp chữa bệnh dựa vào telomerase sẽ được sản xuất trong vòng 4 năm tới.  Giải thưởng Nobel gồm 10 triệu SEK (Krona Thụy Điển, khoảng 1,4 triệu USD), sẽ được trao cho ba nhà khoa học vào ngày 10/12. Trước đó các nhà khoa học cũng đã nhận được nhiều giải thưởng uy tín cho công trình nghiên cứu của họ. Năm 2006, họ cùng chia nhau giải thưởng Lasker, thường được gọi là giải Nobel của Mỹ.     Theo New York Times       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Tạ Quang Bửu: Lần đầu tiên không trao giải      Kể từ lần trao đầu tiên vào năm 2014, năm 2021 không ai được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu.      Hai nhà khoa học đầu tiên được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu là giáo sư Nguyễn Hữu Việt Hưng (bìa trái) và phó giáo sư Nguyễn Bá Ân (giữa).   Đây là quyết định của Hội đồng giải thưởng Tạ Quang Bửu 2021, bao gồm 10 nhà khoa học, trong đó nhà khoa học nước ngoài là giáo sư Pierre Darriulat (Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài là giáo sư Henry Nguyen. T (Trường Đại học Missouri, Colombia, Mỹ). Tại phiên họp xét chọn diễn ra vào ngày 29/4/2021, các nhà thành viên Hội đồng giải thưởng đã đánh giá bốn hồ sơ thuộc hai ngành khoa học trái đất và khoa học nông nghiệp của các ứng viên PGS. TS Ngô Đức Thành (trường đại học KH&CN Hà Nội), TS. Đỗ Hữu Hoàng (Viện Hải dương học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – giải chính; TS. Bùi Minh Tuân (trường KHTN, ĐHQGHN), TS. Hoàng Thanh Tùng (Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – giải trẻ.  Hội đồng xét chọn, do giáo sư Ngô Việt Trung (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) làm chủ tịch, đã cân nhắc bốn công trình khoa học của các tác giả, trong đó quan trọng là ý nghĩa, tác động của công trình khoa học và chất lượng của tạp chí khoa học đăng tải công trình – thông qua chỉ số tác động và xếp hạng quốc tế tại thời điểm công bố, đúng như quy định của thông tư 01/2015-BKHCN. Trước đó, cả bốn công trình này đã được gửi cho các chuyên gia quốc tế bình duyệt.   Sau khi cân nhắc tất cả những yếu tố đó, các thành viên Hội đồng đã tiến hành bỏ phiếu bình chọn, riêng hai giáo sư Trần Thanh Hải (Trường Đại học Mỏ- Địa chất), Châu Văn Minh (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) bỏ phiếu sau do vắng mặt. Kết quả là không ứng viên nào giành được số phiếu đồng thuận cao để được trao giải. Như vậy, đây là lần đầu tiên kể từ năm 2014, năm đầu tiên Bộ KH&CN tổ chức xét chọn, trao giải thưởng Tạ Quang Bửu, không có nhà khoa học nào được vinh danh ở cả hai hạng mục chính và trẻ.  Vào thời điểm chưa công bố kết quả, giáo sư Ngô Việt Trung cho rằng “khi chúng ta không có đủ hồ sơ tốt thì chuyện không có người đoạt giải cũng là chuyện bình thường. Chúng ta không thể quyết định được năm này hay năm khác có được các hồ sơ đủ điều kiện, điều này còn phụ thuộc vào những người nộp hồ sơ nữa”.   Tuy nhiên, theo đánh giá của một số nhà khoa học thì năm nay không phải không có hồ sơ tốt. Giữa tháng 4/2021, trao đổi với Tia Sáng về công trình của phó giáo sư Ngô Đức Thành “Performance evaluation of RegCM4 in simulating extreme rainfall and temperature indices over the CORDEX-Southeast Asia region” (Đánh giá hiệu suất của mô hình RegCM4 trong mô phỏng các chỉ số cực đoan của lượng mưa và nhiệt độ trên khu vực CORDEX-Đông Nam Á) trên tạp chí International Journal of Climatology, giáo sư Phan Văn Tân (trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) đã nhận xét “Mặc dù trước đó dự án chung về dự tính biến đổi khí hậu chi tiết cho khu vực SEACLID/CORDEX-SEA đã có bài đầu tiên do một đồng nghiệp Malaysia là tác giả chính nhưng bài báo này mới thực sự là một điểm nhấn cho tham khảo về nghiên cứu biến đổi khí hậu ở khu vực Đông Nam Á”. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi thông qua bài báo này, phó giáo sư Ngô Đức Thành được mời là một trong số các tác giả chính tham gia báo cáo lần thứ sáu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC).  Để đánh giá khách quan các công trình, các thành viên hội đồng giải không nên áp những tiêu chuẩn “cứng” của ngành mình lên chuyên ngành khác, một chuyên gia giấu tên cho biết ý kiến về việc bình chọn giải thưởng năm nay. “Tôi cho rằng, dù ở chuyên ngành nào thì yếu tố giá trị và ý nghĩa của bài báo vẫn cần được đặt lên cao nhất bởi có bài báo đăng trên tạp chí không thuộc top đầu nhưng lại được cộng đồng khoa học chuyên ngành hẹp đánh giá cao do đấy là nghiên cứu thực sự sáng tạo và kết quả tạo ra có ảnh hưởng lớn”, ông cho biết.     Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Giải thưởng triệu đô Kavli ghi nhận những nhà khoa học tiên phong nghiên cứu về CRISPR      Giải thưởng được trao cho nhà hóa sinh học Virginijus Siksnys, người đứng đầu phòng thí nghiệm đã phát triển độc lập công cụ trỉnh sửa gene so với Emmanuelle Charpentier và Jennifer Doudna.    CRISPR lại gặt hái thêm một giải thưởng khoa học lớn, và lần này cả những nhà khoa học mà cống hiến của họ cho từ trước đến nay có phần bị bỏ qua cũng được tôn vinh.   Hai nhà sinh hóa được công nhận rộng rãi như đồng phát minh của công nghệ chỉnh sửa gene, Emmanuelle Charpentier và Jennifer Doudna, được xướng tên vào ngày 31/5 là chủ nhân của giải thưởng Kavli năm nay trong lĩnh vực khoa học Nano. Ngoài ra, còn có Virginijus Siksnys, nhà sinh hóa người Lithuania với một công trình độc lập về CRISPR – vốn ít được công chúng chú ý và cũng ít có khả năng được giải Nobel – so với những gì mà Charpentier, Doudna và một số nhà khoa học khác.     Nhà hóa sinh Virginijus Siksnys​, tại Lithuania đứng đầu một nhóm tiến hành nghiên cứu độc lập về công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR. Nguồn ảnh: Vilnius Univ.​    Những nhà khoa học nghiên cứu về cơ chế của việc nghe, và vè sự hình thành của các vì sao và hành tinh đoạt giải Kavli năm nay, lần lượt trong lĩnh vực khoa học thần kinh và thiên văn học.   Quỹ Kavli, được thành lập bởi nhà từ thiện Fred Kavli ở Los Angeles, California, Mỹ và Viện Hàn lâm Khoa học Nauy tại Oslo, tổ chức hai năm một lần, mỗi lần trao ba giải với giá trị mỗi giải là 1 triệu USD được chia đều cho người nhận. Lần đầu tiên ra mắt vào năm 2008, giải thưởng này tôn vinh những nghiên cứu có ảnh hưởng lớn, được lựa chọn bởi ba hội đồng chuyên gia đến từ sáu hiệp hội khoa học và viện hàn lâm trên thế giới.    Những giải thưởng lớn cho những kì quan nhỏ  Hội đồng khoa học nano trao giải thưởng cho Charpentier ở Viện nghiên cứu Max Plank về Sinh học truyền nhiễm ở Berline, Doudna ở Đại học California, Berkeley (UC-Berkeley) và Siksnys tại Đại học Vilnius ở Lithuania cho việc “phát minh ra CRISPR-Cas9, công cụ nano chính xác cho việc chỉnh sửa DNA, tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực sinh học, nông nghiệp và y học”.   Vào năm 2012, một nhóm nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Charpentier và Doudna, và vài tháng sau một nhóm khác ra đời, đứng đầu là Siksnys, công bố về việc lập trình hệ thống CRISPR-Cas9 để cắt DNA ở từng vị trí cụ thể. Từ đó, các hội đồng giải thưởng, truyền thông và nhiều người trong cộng đồng khoa học đã nhấn mạnh vai trò của Doudna và Charpentier trong việc phát triển công cụ chỉnh sửa gene mang tính cách mạng. Chẳng hạn, vào năm 2015, hai người đã cùng nhận giải Breakthrough trong lĩnh vực Khoa học sự sống trị giá 3 triệu USD. Nhưng công trình của Siksnys vể CRISPR thì thường không được nhắc đến. Hội đồng giải Kavli trong lĩnh vực khoa học nano ghi nhận cả ba nhà khoa học đều đã thực hiện “những nghiên cứu tiên phong chủ chốt” trong việc phát triển việc chỉnh sửa hệ gene dựa trên công nghệ CRISPR, chủ tịch hội đồng giải thưởng, Arne Brataas, hiện là nhà vật lý tại Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy ở Trondheim, nói.     Emmanuelle Charpentier (trái) and Jennifer Doudna đã nhận được vô số giải thưởng trong đó có cả giải Breakthrough 2017 cho nghiên cứu của họ về CRISPR. Nguồn ảnh: Miguel Riopa/AFP/Getty​  “Đây là giải thưởng xứng đáng cho ba cá nhân với khám phá có tác động to lớn tới nền sinh học hiện đại” Rotem Sorek, nhà di truyền vi sinh vật học tại Viện Khoa học Weizmann ở Rehovot, Israel nói. Sorek không ngạc nhiên về việc giải thưởng được trao cho Siksnys. “Trong lĩnh vực CRISPR, anh ấy nổi tiếng với vai trò là một trong những người tiên phong về công nghệ này”.  “Thật tốt là sự công nhận đã được mở rộng hơn” Dana Carrol, nhà sinh hóa học tại Đại học Utal, Salt Lake City, Mỹ nói. Nhưng ông nhấn mạnh rằng rất nhiều người khác cũng đã đóng góp cho sự phát triển của CRISPR. “Những đột phá lớn xuất hiện là kết quả của nhiều sự đóng góp kéo dài rất nhiều năm”, bởi vậy rất khó để chốt lại, ai là người nên nhận sự vinh danh, Carrol nói.   Chẳng hạn, nhà sinh vật học tổng hợp Feng Zhang, tại Viện Broad của MIT và Harvard, Cambridge, Massachusetts, Mỹ cũng được nhiều giải thưởng ghi nhận. Nhóm của ông là một trong những nhóm đầu tiên áp dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR với các tế bào động vật có vú, bao gồm chuột và tế bào con người. Nhân viên của Zhang bị kéo vào cuộc tranh cãi nảy lửa về bản quyền công nghệ này với UC-Berkeley, nơi Doudna đang làm việc.   “Các hội đồng giải thưởng thường có xu hướng lựa chọn những chủ nhiệm đề tài” George Church, nhà di truyền học ở Trường đại học Y Harvard, Boston, Masachusetts. Nhóm của ông cũng thử nghiệm CRISPR trên các tế bào người. Những nhà nghiên cứu trẻ như sinh viên và các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ đã góp phần biến CRISPR trở thành công cụ chỉnh sửa gene quyền năng thường bị phớt lờ, ông nói. Nhưng Church cũng tranh luận rằng người ta cần chú ý hơn đến các phương pháp chỉnh sửa DNA khác nữa, như zinc-finger nucleases và TALEN nucleases, được phát triển trước CRISPR và đã được áp dụng trong y tế và nông nghiệp.   Vòng đời của các thiên thể  Giải khoa học thần kinh được trao cho nhà di truyền học Christine Petit của Viện Pasteur, Paris, Pháp và nhà khoa học thần kinh Robert Fettiplace tại Đại học Wisconsin – Madison và James Hudspeth tại Đại học Rockefeller, New York City, Mỹ cho “những công trình tiên phong về cơ chế phân tử và thần kinh của việc nghe”. Những nhà khoa học này đã tiến hành nghiên cứu độc lập nhau về vai trò của những tế bào lông ở tai trong. Những tế bào này, được bao phủ bởi một bề mặt giống như lông, phát hiện các tín hiệu âm thanh và truyền đến bộ não.   Ewine van Dishoeck, người được nhận giải về thiên văn học, trong lĩnh vực hóa học thiên văn tại Đại học Leiden, Hà Lan vì “làm sáng tỏ vòng đời của những đám mây sao và sự hình thành của những vì sao và hành tinh”, theo thông cáo báo chí của giải thưởng.     Ewine van Dishoec (bìa phải). Nguồn ảnh: Universiteit Leiden  Công trình của bà kết hợp giữa những nghiên cứu lý thuyết và bằng chứng quan sát, đặc biệt là bằng quang học hồng ngoại – loại thí nghiệm được tiến hành trong phòng lab để hiểu các hợp chất hình thành ở vũ trụ như thế nào, bao gồm các phân tử hữu cơ có thể đã hình thành nên nền tảng của sự sống. Bà cũng sử dụng kính thiên văn song vô tuyến để nghiên cứu về sự hình thành các hành tinh xung quanh các ngôi sao khác. Van Dishoeck vừa được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Thiên văn quốc tế, và là người điều hành lễ kỉ niệm 100 năm thành lập IAU.   Lễ tổ chức trao giải sẽ được diễn ra tại Oslo vào 4/9/2018.    Hảo Linh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05308-5       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá gốc gác của những “nông dân” đầu tiên      Khoảng trước 12.000 năm trước, những người du mục săn bắn hái lượm ở Trung Đông đã thực hiện một trong những bước chuyển quan trọng nhất trong lịch sử loài người: dừng lại ở một địa điểm để trồng trọt và làm nông nghiệp.    Hai nghiên cứu mới về DNA cổ đại có vẻ như đã tìm ra gốc gác của những “nông dân” đầu tiên này.    Bằng chứng khảo cổ và di truyền đến nay cho thấy, Trung Đông là nơi phát tích của nghề nông. Cụ thể, những người “nông dân” đầu tiên xuất hiện ở bán đảo Anatolia – Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, sau đó di cư sang châu Âu và trở thành tổ tiên của những nông dân châu Âu đầu tiên. Quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp này sau đó cũng diễn ra độc lập ở các khu vực khác trên thế giới, và được gọi là cuộc cách mạng thời đồ đá mới, tạo ra các loài động thực vật thuần hóa đầu tiên.        Điều chúng ta chưa biết là “chuyện gì đã xảy ra trước khi con người bắt đầu phát triển nông nghiệp ở Anatolia?” nhà di truyền học dân số Laurent Excoffier tại Đại học Bern, đặt câu hỏi.    Để tìm câu trả lời, nhóm Excoffier đã giải trình tự bộ gen của 15 người săn bắn hái lượm và những người nông dân sơ khai sống ở Tây Nam Á và châu Âu. Các mẫu hài cốt của những người này được thu thập ở một số địa điểm khảo cổ dọc theo sông Danube – một trong những con đường di cư chính đến châu Âu.    Từ các hài cốt này, nhóm nghiên cứu đã tạo ra được các bộ gen chất lượng cao – một điều hiếm thấy trong các công trình nghiên cứu về gen cổ đại. Nhờ đó, họ thu được dữ liệu chi tiết về nhân khẩu học, chẳng hạn như biến động về quy mô của quần thể; các thông tin này thường nằm ngoài khả năng tìm hiểu của các nghiên cứu DNA cổ đại sử dụng các bộ gen kém hoàn chỉnh hơn.    Nhóm Excoffier phát hiện: những người nông dân Anatolia cổ đại có nguồn gốc từ quá trình hòa huyết liên tụcgiữa các nhóm săn bắn hái lượm riêng khácđến từ châu Âu và Trung Đông. Những nhóm này tách khỏi quần thể ban đầu của họ vào giữa Kỷ Băng hà cuối cùng, khoảng 25.000 năm trước.    Sau khi hình thành ở Anatolia, những quần thể nông dân sơ khai lại di chuyển về phía tây, sang châu Âu từ khoảng 8.000 năm trước. Đôi khi họ giao phối – nhưng không thường xuyên – với những người săn bắn hái lượm ở phương tây khi đó. Excoffier nói: “Chính sự di cư của các cộng đồng nông dân, đã đưa nông nghiệp tiến xa hơn về phía tây.” Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell vào ngày 12/5.    Những phát hiện này nhất quán với những phát hiện của một nghiên cứu gen cổ đại đăng trên bioRxiv vào ngày 5/5. Nhóm nghiên cứu của nhà cổ sinh vật học Eske Willerslev tại Đại học Copenhagen đã giải trình tự bộ gen của 317 người săn bắn hái lượm và nông dân sơ khai từ khắp Âu-Á. Đây là nghiên cứu bộ gen cổ đại lớn nhất về ​​thời kỳ này và cho thấy những người nông dân Anatolia có nguồn gốc từ các nhóm khác nhau, táchra từ các quần thể săn bắt hái lượm phương đông và phương tây, sau đó họ bắt đầu đến châu Âu khoảng 8.700 năm trước.    Các nghiên cứu mới tiết lộ nhiều chi tiết về buổi bình minh của nông nghiệp, thời kỳ mà đến nay chúng ta mới chỉ biết một cách khái quát dựa trên một số lượng nhỏ các bộ gen chất lượng tương đối thấp, Pontus Skoglund, nhà cổ sinh vật học tại Viện Francis Crick ở London, cho biết.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Giảm căng thẳng năng lượng nhờ khí đốt      Cơn sốt khí đốt hiện nay tác động như thế nào đến các doanh nghiệp và người tiêu dùng? Có đúng là kỷ nguyên khí đốt đã bắt đầu và liệu còn tranh cãi nào xung quanh nó?    Nguồn năng lượng giá rẻ  Thống đốc Piyush Jindal bang Louisiana của Mỹ vừa hân hoan tuyên bố: Một lượng khí đốt khổng lồ mới được phát hiện và doanh nghiệp Sasol của Nam Phi sẽ xây dựng nhà máy ở Lake Charles để chế biến khí đốt thành dầu, diesel và kerosin (xăng máy bay). Dự án này trị giá 10 tỷ USD và có thể tạo mới khoảng 5000 việc làm. Ông thống đốc đã đề cập đến một vấn đề quan trọng: dự án này sẽ làm giảm sự lệ thuộc của Hoa Kỳ vào việc nhập khẩu dầu mỏ từ những nước không ổn định về chính trị.  Các nhà địa chất đã phát hiện những mỏ đá phiến chứa lượng lớn khí đốt, và nhờ công nghệ mới, các doanh nghiệp có thể khai thác vùng mỏ đá phiến này để biến khí đốt thành dầu mỏ. Mũi khoan dò tìm đá phiến đầu tiên được tiến hành năm 2008 ở vùng Amwell Township thuộc thành phố Pittsburgh, bang Pennsylvania. Hiện tại bang Pennsylvania có 4.000 tháp khoan đang hoạt động và hàng nghìn tháp khoan mới chuẩn bị đưa vào vận hành. Theo đánh giá của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA), trữ lượng dầu đá phiến của Mỹ là 24 tỷ thùng và 24 nghìn tỷ m3 khí đá phiến, đủ cho nước Mỹ dùng trong một trăm năm. Hiện nay, 1/3 lượng khí đốt của Mỹ lấy từ khí đá phiến, dự kiến đến năm 2035 tỷ lệ này là 1/2. Nhiều nước châu Á, châu Âu cũng hết sức quan tâm đến loại năng lượng này. Người ta hy vọng sẽ tạo ra được bước ngoặt trong ngành năng lượng khi các mỏ khí đá phiến ở Mỹ, Trung Quốc, Argentina đều được đưa vào hoạt động. Các chuyên gia của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự báo từ nay đến 2035 thế giới sẽ đầu tư 2,8 nghìn tỷ USD vào việc khai thác khí đốt từ đá phiến.  Khí đốt giá rẻ sẽ làm dịu những căng thẳng về năng lượng, tạo thêm thời gian để chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Giá khí đốt ở Mỹ chỉ bằng một phần tư giá dầu mỏ. Nếu quy ra hàm lượng năng lượng thì giá một thùng dầu (159 lít) hiện tại là 100 USD phải giảm xuống chỉ còn 22 USD thì mới có thể cạnh tranh được với giá khí đốt. Theo dự đoán của chuyên gia năng lượng Kurt Oswald của A.T. Kearney thì đến năm 2015 giá khí đốt ở châu Âu sẽ giảm tiếp 60%. Tại Mỹ, giá điện từ 2008 đến nay giảm một nửa. Khí đốt giá rẻ đã thay thế than ở các nhà máy nhiệt điện, và số than đó được xuất khẩu sang châu Âu.  Giá năng lượng giảm làm cho tăng trưởng kinh tế ở Mỹ mỗi năm tăng 0,5 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp được hưởng lợi nhiều nhất, đặc biệt là ngành công nghiệp hóa chất vốn tiêu thụ rất nhiều điện và nhiệt. Từ nay đến năm 2025 sẽ có thêm 1 triệu việc làm mới ở các nhà máy trên đất Mỹ. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây cho thấy khi giá năng lượng giảm các doanh nghiệp có thể tăng cường đầu tư ngay tại Mỹ vì có sức cạnh tranh cao và tạo được việc làm tại chỗ. Tập đoàn hóa chất Dow Chemical đã đầu tư nhiều tỷ USD để xây dựng các cơ sở sản xuất hóa chất ngay trên đất Mỹ. Theo Financial Times, “khí đốt đã trở thành nguồn năng lượng quan trọng nhất ở Mỹ”.   Nhờ khí đốt, tương quan lực lượng trên thị trường năng lượng thế giới đang có sự dịch chuyển rõ rệt. Ở châu Âu, tập đoàn Statoil của Na Uy bán khí đốt thông qua “chợ Gas” ngày càng mạnh và cạnh tranh với tập đoàn Gazprom của Nga. Bắc Kinh cũng không chịu mua khí đốt với giá do Nga áp đặt mà mua trực tiếp từ vùng Trung Á. Qatar xuất khẩu một lượng lớn khí hóa lỏng sang Nhật Bản, Trung Quốc và Đông Nam Á. Không lâu nữa Mỹ sẽ trở thành nhà xuất khẩu khí đốt, và khí đốt của Nga sẽ không còn mấy hấp dẫn.  Cơn sốt khí đốt tác động mạnh vào lĩnh vực giao thông vận tải. Nhiều hãng vận tải đã tiến hành cải tạo đội xe dùng khí đốt làm nhiên liệu. Sử dụng khí đốt làm nhiên liệu cho tàu hỏa và tàu biển cũng đang dần phổ biến. Hiện ở Mỹ đã có 110.000 xe ô tô sử dụng khí đốt, Đức có 90.000 xe ô tô chạy khí đốt.  Trong tương lai sẽ có nhiều ngôi nhà chọc trời hoặc nhiều vùng nông thôn dùng khí đốt sản xuất điện và nhiệt để tự phục vụ. Tòa nhà cao 310m Shard Tower ở London vừa mới khánh thành đã sử dụng thiết bị điện-nhiệt của một công ty con thuộc tổng công ty điện lực Áo dùng tuốc bin chạy bằng khí đốt để tự cung cấp nhiệt và điện năng. Đã có một số vùng nông thôn không hòa mạng điện quốc gia mà tự sản xuất điện, nhiệt bằng khí đốt.  Mặt khác, khí đốt ít sản sinh CO2 ra môi trường. Nhờ đó, nước Mỹ đã giảm đáng kể lượng CO2 gây hiệu ứng nhà kính từ năm 2006.    Lo ngại về môi trường  Bên cạnh việc mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn, khí đốt cũng làm dấy lên những băn khoăn về môi trường. Để tiếp cận được khu vực có trữ lượng dầu người ta phải bơm hàng triệu lít nước trộn khoảng 20 loại hóa chất tương đối độc hại xuống lòng đất, trong đó có những chất như benzol có thể gây ung thư. Các nhà địa chất cho rằng bản thân quá trình khai thác (Fracking) không nguy hiểm nhưng tai nạn do bất cẩn và tính toán, thẩm định không chính xác có thể là nguyên nhân gây hiểm họa. Để giảm thiểu rủi ro, ngành công nghiệp khí đốt phát triển công nghệ Fracking sạch. Tập đoàn năng lượng OMV của Áo và tập đoàn Halliburton của Mỹ cùng nghiên cứu về một loại dung dịch sạch dùng cho quá trình Fracking với thành phần là nước, cát thạch anh và tinh bột ngô.  Vấn đề ảnh hưởng tới khí hậu của khí đá phiến cũng khá phức tạp. Các nhà nghiên cứu tranh cãi chủ yếu về lượng khí metal gây hiệu ứng nhà kính thất thoát ra bên ngoài bao nhiêu trong quá trình Fracking. Một số người cho rằng khí đá phiến có hại cho khí hậu gấp đôi than vì một lượng lớn metal thoát ra ngoài trong quá trình khai thác do ống khoan bị hở. Từ năm 2015 các doanh nghiệp sẽ phải trang bị hệ thống gioăng và bình thu hồi ở các tháp khoan để giảm lượng khí thoát ra ngoài.   Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm dần việc ghi danh vào các chương trình cấp bằng 4 năm      Cốt lõi của hệ thống giáo dục đại học truyền thống là bằng cấp. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, việc ghi danh vào các chương trình cấp bằng 4 năm đã giảm dần ở Mỹ và gần đây, xu hướng này lan cả sang các thị trường mới nổi.    Các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động bắt đầu đặt câu hỏi liệu có cách nào tốt hơn các chương trình cấp bằng truyền thống để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và thị trường lao động.    Trong khi đó, một loại hình đào tạo có cấu trúc mới đang nổi lên: các khóa học nhỏ, hoàn vốn nhanh hơn. Khi đại dịch bùng phát, mối quan tâm đối với các mô hình học tập mới cũng bùng nổ.          Chưa có một định nghĩa được chấp nhận trên toàn cầu cho các dạng đơn vị học tập nhỏ hơn, nhưng chứng chỉ nghề (microcredential), có khi được gọi là chứng chỉ thay thế hoặc chứng-chỉ-phi-bằng-cấp, đang là thuật ngữ phổ biến để mô tả loại hình giáo dục này. Chứng chỉ nghề bao gồm chứng chỉ, huy hiệu kỹ thuật số, giấy phép và chứng chỉ học việc. Riêng chứng chỉ học việc có giá trị tương đương với bằng cấp đầy đủ ở Châu Âu.    Đâu là động lực?    Có một số động lực chính. Thứ nhất, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), khoảng cách giữa loại hình giáo dục trong các cơ sở giáo dục đại học truyền thống và các kỹ năng cần thiết để làm việc trong thế giới kỹ thuật số ngày nay đang ngày càng rộng ra.    Thứ hai, việc thiếu cơ hội tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng đã làm nổi lên nhu cầu đối với các giải pháp đào tạo kỹ năng giúp tìm được việc làm, đặc biệt là đối với các nhóm dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội.    Thứ ba, rất nhiều người trên khắp thế giới đã lấy được một số tín chỉ trong chương trình giáo dục đại học, nhưng không lấy được bằng chính thức. 50% sinh viên ở Mỹ dừng hoặc bỏ học tại các cơ sở giáo dục đại học công lập, trước khi hoàn thành chương trình và được cấp bằng.  Tỷ lệ nghỉ việc cũng đã tăng lên trong thời kỳ đại dịch ở các thị trường mới nổi, buộc các cơ sở giáo dục phải phát triển các chiến lược để cải thiện khả năng thành công của người học.    Vai trò của bên thứ ba    Các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục tư nhân, hay bên thứ ba, đang hợp tác với các trường đại học hàng đầu và các công ty lớn để cung cấp các khóa học mở trực tuyến đại chúng – MOOC – nhằm chống lại sự bất bình đẳng và nâng cao kỹ năng.    Ví dụ, edX và Coursera đều cung cấp hàng nghìn khóa học trực tuyến miễn phí, và cấp chứng chỉ (phải trả tiền) cho những học viên muốn chứng tỏ trình độ trong một lĩnh vực hoặc cần chứng chỉ để thăng tiến sự nghiệp của họ.    Các mô hình khác, dựa trên quan hệ đối tác công tư, cũng đang phát triển ở Liên minh Châu Âu, trong đó các liên minh Đại học Châu Âu và Viện Công nghệ Châu Âu đang dẫn dắt sự phát triển chung của các dịch vụ đào tạo.    Trong khi tăng trưởng của thị trường giáo dục đại học truyền thống đã chậm lại ở Mỹ, ngoại trừ các chương trình có nhu cầu cao như điều dưỡng, thì các nhà cung cấp MOOC đang có tốc độ tăng trưởng hai con số.    Nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 40% người trưởng thành ở Mỹ có một số loại chứng chỉ thay thế. Chưa có dữ liệu về các nước đang phát triển và từ Châu Âu.    Phản hồi của nhà tuyển dụng    Ngày càng nhiều bên chấp nhận chứng chỉ có được từ các khóa học trực tuyến. Năm 2013, khoảng 40% công ty Mỹ chấp nhận hình thức học trực tuyến khi đánh giá các ứng viên xin việc. Trong một cuộc khảo sát quốc gia năm 2021, 71% nhà tuyển dụng trả lời rằng chứng chỉ trực tuyến tương đương hoặc tốt hơn so với các dạng chứng chỉ truyền thống.    Dù sao thì việc áp dụng rộng rãi hơn các chứng chỉ nghề phụ thuộc vào đánh giá của người sử dụng lao động đối với những dạng chứng chỉ này.    Nhiều công ty có tầm nhìn xa đang tập trung vào việc xây dựng thay vì săn tìm nhân tài trong thị trường việc làm ngày nay. Các nhà quản lý nhân lực nhìn thấy giá trị của việc đầu tư vào đội ngũ nhân viên hiện có, hơn là tuyển dụng nhân viên mới.    Chi phí cho các dạng chứng chỉ phi bằng cấp để nâng cao kỹ năng của nhân viên thường thấp hơn so với các chương trình giáo dục truyền thống. Một số tập đoàn lớn như Google và IBM đang cấp chứng chỉ nghề cho nhân viên của họ và công chúng. Một ví dụ khác, sáng kiến ​​của Liên minh Kỹ năng Ô tô Châu Âu đang cấp một loạt các chứng chỉ kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xanh.    Tại sao nên quan tâm đến chứng chỉ nghề?    Có một số lý do tại sao các bên liên quan trong chuỗi giá trị nên chú ý đến chứng chỉ nghề.    Theo Ủy ban Châu Âu, các công nghệ mới xuất hiện trong thập kỷ tới có thể định hình lại hàng triệu việc làm.    Ước tính, do quá trình số hóa, 50% nhân viên trên toàn thế giới cần được đào tạo lại vào năm 2025. Trong bối cảnh đó, chứng chỉ nghề trở thành một phương tiện phục vụ hiệu quả việc học tập suốt đời, làm cho các kỹ năng trở nên hữu hình và linh hoạt hơn.    Chứng chỉ nghề cũng cho phép các cơ sở giáo dục đại học truyền thống đáp ứng nhu cầu của sinh viên và lực lượng lao động, đồng thời mở ra các nguồn thu mới.    Như đã thấy trong đại dịch, những nhà quản trị đại học thích ứng được với những cách thức giáo dục mới có khả năng vượt qua sự gián đoạn mạnh mẽ hơn. Ở các thị trường mới nổi, những trường đại học sáng tạo nhất đang bắt đầu nhúng nội dung của bên thứ ba vào các dịch vụ giáo dục của họ.    Sự dịch chuyển mô hình dưới tác động của đại dịch    Từ hai năm qua, chúng ta nhận thấy rằng làm việc tại nhà sẽ còn tiếp diễn, và kéo theo đó là xu hướng học tập trực tuyến nhiều hơn.    Các mô hình học tập từ xa đã tồn tại được một phần tư thế kỷ, nhưng ngay lúc này, chúng ta đang có cơ hội xây dựng một cấu trúc chứng chỉ nghề và mô hình tài chính mạnh mẽ, mang lại lợi ích cho người sử dụng lao động, nhà hoạch định chính sách và lực lượng lao động.    Chứng chỉ nghề cũng đang mở rộng thị trường giáo dục sau trung học. Các công ty Edtech và các nhà cung cấp giáo dục tư nhân đang tạo ra nhiều sản phẩm và chương trình mới nhằm tăng giá trị cho hồ sơ xin việc và hồ sơ chuyên môn. Các nhà cung cấp giáo dục tư nhân đang tăng trưởng với tốc độ từ 70% đến 100% mỗi năm, tuy nhiên cần có thêm dữ liệu để hiểu ai được lợi và xác định đường hướng tương lai.    Ở Mỹ, thế giới chứng chỉ phi truyền thống thiếu sự tập trung hóa, nhưng các sáng kiến ​​như Credential As You Go đang làm việc với chính quyền địa phương ở các bang để tạo những mẫu chứng chỉ chung ở cấp độ đại học và sau đại học.    Tại các thị trường mới nổi, nhiều nhà cung cấp giáo dục đại học đang tham gia hợp tác với Google, Amazons và IBM, tạo ra các lộ trình nghề nghiệp vững chắc cho học viên. UNESCO và Khu vực Giáo dục Đại học Châu Âu gồm 49 quốc gia cũng đã đạt được những bước tiến lớn trong việc phát triển các khuôn khổ chung liên quan đến chứng chỉ nghề.    Bất chấp việc thiếu các tiêu chuẩn chung được chấp nhận trên toàn cầu, chứng chỉ nghề đến nay đã được chứng minh là một cách đầy hứa hẹn để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và thị trường lao động thời đại kỹ thuật số.    Miễn là ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục cung cấp các đơn vị học tập nhỏ hơn có giá trị này, người học ở mọi lứa tuổi và giai đoạn sự nghiệp của họ đều có thể theo đuổi việc học suốt đời.      Liên Khúc    Author                .        
__label__tiasang Giảm lượng oxy trong các đại dương      Do trái đất nóng lên và phân bón dư thừa nên ngày càng có nhiều vùng biển trên thế giới rơi vào tình trạng thiếu oxy. Một bản báo cáo mới và đầy đủ hơn làm rõ hệ quả đầy kịch tính này.      Biển Ban tích cũng thiếu oxy.   Oxy trong biển cả bị giảm trở thành mối đe doạ ngày càng lớn hơn đối với quần thể cá biển. Điều này được thể hiện trong báo cáo của Hội bảo vệ thiên nhiên thế giới  (IUCN) tại Hội nghị khí hậu thế giới ở Madrid. Khoảng 700 vùng biển thế giới bị lâm vào tình trạng này –  trong những năm sáu mươi con số này là 45. Dan Laffoley, một trong các tác giả của bản báo cáo này nói: “Đây có thể là tín hiệu báo động cuối cùng mà chúng ta nhận được từ thử nghiệm không có kiểm soát, mà nhân loại đã gây ra trong các đại dương trên thế giới”.  Theo báo cáo, có hai nguyên nhân chính dẫn đến giảm hàm lượng oxy.  Đầu tiên do khí hậu nóng lên: Nước biển bị nóng lên nên chứa ít oxy hơn.  Mặt khác nước bị ô nhiễm chất dinh dưỡng thí dụ từ nuôi thủy hải sản hay do phân bón trong nông nghiệp điều này dẫn đến sự tăng trưởng nhanh của các loài tảo – đặc biệt ở vùng duyên hải. Trong quá trình phân hủy tảo tiêu thụ nhiều oxy.  Từ lâu các nhà khoa học đã quan sát với nhiều lo lắng về những thay đổi do biến đổi khí hậu gây ra đối với biển cả trên thế giới. Ngay từ năm  2017 các nhà nghiên cứu đã cảnh báo trên tạp chí Nature về việc oxy bị giảm sút và tác động của hiện tượng này đến quần thể sinh vật biển.  Báo cáo mới này đã xác nhận nhận thức trên. Đây là nghiên cứu toàn diện nhất về việc giảm oxy trên các đại dương. 67 nhà nghiên cứu thuộc 51 Viện ở 17 nước đã tham gia cuộc điều tra này. Họ khẩn thiết cảnh báo về hệ quả do con người gây ra đối với sự thay đổi hệ sinh thái biển.  Theo nghiên cứu này thì biển Ban tích và biển Đen cũng bị giảm oxy. Trong khi ở Biển Đen một phần có các nguyên nhân tự nhiên còn đối với biển Ban tích, nguyên nhân chính là do tình trạng sử dụng phân bón và tình trạng nóng lên của trái đất.  Việc thiếu hụt oxy ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài cá lớn như cá mập và cá thu do có nhu cầu cao đối về nguồn năng lượng bổ sung, nhất là đối với oxy. Do thiếu oxy chúng buộc phải bơi ở tầng cao, có nhiều oxy hơn, nhưng lại có nguy cơ bị đánh bắt lớn hơn.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: Spiegel online, 07.12.2019      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảm thiểu ô nhiễm không khí      Nếu không nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc, từ các cấp quản lí tới người dân bình thường, tương lai sẽ phải trả giá rất đắt cho tình trạng ô nhiễm không khí ngày một gia tăng, nhất là tại các thành phố lớn và đông dân như Hà Nội và TP HCM…      Mở mắt đã ngửi thấy mùi ô nhiễm  Ít nhất hơn 8 triệu người ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng hàng ngày đang phải hít một lượng không khí bị ô nhiễm một cách “đáng báo động”. Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia 2005 vừa được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, nồng độ bụi               Cách đơn giản nhất để bảo vệ sức khoẻ trước tình trạng ô nhiễm môi trường là đeo khẩu trang. Ảnh: Quốc Tuấn            trong không khí trung bình cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần. Tại các nút giao thông thì nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn từ 2-5 lần. Còn ở các khu đang xây dựng trong đô thị, nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn là từ 10-20 lần. Bụi trong không khí trên đường phố chủ yếu là bụi đường (trên 80%). Ô nhiễm bụi riêng ở Hà Nội, theo đề tài nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Xuân Cơ (Đại học Khoa học tự nhiên) ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của con người còn gây ra các thiệt hại to lớn khác như giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng tới hệ sinh thái, hư hỏng thiết bị, suy giảm tuổi thọ công trình và làm mất mỹ quan cơ sở hạ tầng. Các thiệt hại về kinh tế có thể lượng hóa bằng tiền với mức thiệt hại ước tính khoảng 200-500 tỉ đồng (12-31 triệu đô la) một năm.  Không chỉ bụi, nồng độ khí CO và NO2 tại các nút giao thông lớn trong đô thị cũng đã vượt tiêu chuẩn cho phép. Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải, do lưu lượng xe lớn và tình trạng kẹt xe liên tục tại các nút giao thông gây ra chiếm tỉ lệ khoảng 70%. Tác hại của ô nhiễm môi trường hiện nay ở Hà Nội, theo Giáo sư vật lý Phạm Duy Hiển tương đương với việc người ta hút… 2 bao thuốc mỗi ngày.         Hạ tầng giao thông đô thị kém               Theo số liệu thống kê, tại các đô thị lớn, các chỉ tiêu về hạ tầng giao thông hiện rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 35-40% so với như cầu cần thiết. Tại Hà Nội, diện tích đất lưu thông chiếm khoảng 7,8%, mật độ đường đạt 3,89 km/km2. Tại thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất giao thông khoảng 7,5%, mật độ đường đạt 3,88 km/km2. Hệ thống giao thông công cộng tại hầu hết các đô thị lớn ở Việt Nam còn rất yếu kém, ở Hà Nội mới đáp ứng được khoảng 10-12% nhu cầu đi lại, ở TP HCM mới đáp ứng được 7%.   Nguồn:Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn-Bộ Xây dựng        Vẫn theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia 2005, y học hiện đại đã ghi nhận nhiều bệnh tật đường hô hấp do môi trường không khí bị ô nhiễm bởi bụi, hơi khí độc CO, CO2, NO và chì như: viêm nhiễm do vi khuẩn, virut, hen, lao, dị ứng, viêm phế quản và ung thư. Các nghiên cứu ở Hà Nội cũng đã xác định có mối quan hệ rõ rệt giữa ô nhiễm không khí và các bệnh đường hô hấp. Trong các năm từ 2001-2003 đã có gần 5.000 trẻ em dưới 15 tuổi điều trị tại các khoa nhi bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội vì mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí. Tỉ lệ mắc hen phế quản của dân cư các quận nội thành cao gấp 1,4 lần dân cư các huyện ngoại thành. Cũng như vậy, thống kê tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỉ lệ mắc bệnh hen phế quản phải điều trị của Hà Nội là 23,52%, cao gần 4 lần so với tỉnh phụ cận Hà Tây (6,75%). Riêng tại khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai, năm 2001 tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp tăng 2,1 lần so với trung bình hàng năm của giai đoạn 1991-1995 và tăng 1,9 lần so với trung bình hàng năm giai đoạn 1996-2000. Trong đó, riêng bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) có chiều hướng gia tăng mạnh nhất với tỉ lệ là 25,2%.  Tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội nhiều và “quen” tới mức có người đã nói đùa “ngủ dậy, mở mắt đã ngửi thấy mùi ô nhiễm”. Mùi ô nhiễm ở đây chính là mùi quạt than tổ ong của nhà… hàng xóm.  Một nghiên cứu mới đây của Giáo sư Phạm Duy Hiển cho thấy một hiện tượng gia tăng ô nhiễm không khí về đêm ở Hà Nội vào mùa đông do nguyên nhân nghịch nhiệt. Những đợt gió mùa đông bắc khiến các chất ô nhiễm sau cả ngày lắng đọng phát tán nhanh hơn vào buổi tối. Cách duy nhất để đề phòng là hạn chế ra đường về ban đêm. Như vậy, những người có thói quen tập thể dục buổi tối, đêm cũng cần đổi sang buổi sáng để tránh những hậu quả đáng tiếc (Xem thêm bài Hà Nội bị ô nhiễm nhiều hơn về mùa đông).  Làm gì để hạn chế ô nhiễm?  Hầu hết các kết quả nghiên cứu về tình hình ô nhiễm không khí ở Việt Nam đều cho thấy các nguồn gây ô nhiễm hiện nay chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp (ở các thành phố lớn) và tiểu thủ công nghiệp (ở các làng nghề), từ các hoạt động giao thông vận tải, do quá trình xây dựng đô thị, hạ tầng kỹ thuật, do sinh hoạt của nhân dân (đun than, dầu, củi) và do cháy hoặc ảnh hưởng từ các quốc gia lân cận.  Bộ Tài nguyên và Môi trường và nhiều thành phố lớn hiện đã và đang thiết lập các hệ thống quan trắc và phân tích môi trường để thu thập các thông tin môi trường nước, không khí, đất và chất thải rắn. Tuy nhiên, hiệu quả của hệ thống quan trắc hiện nay là điều đáng bàn. Với số tiền đầu tư cộng với số tiền bảo dưỡng hàng năm rất lớn mà các kết quả quan trắc mới chủ yếu để cung cấp thông tin nhằm lập báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm thì quả là một sự lãng phí lớn (xem thêm bài Hệ thống quan trắc môi trường: mạnh ai nấy mua).             Sản xuất công nghiệp là một trong những nguồn gây ô nhiễm ở Hà Nội. Ảnh: Quốc Tuấn          Năm 2003, Chính phủ cũng đã ra Quyết định 64 nhằm từng bước loại bỏ những cơ sở cơ sở gây ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn. Theo đó, kế hoạch thực hiện đề ra mục tiêu đến năm 2005 xử lý triệt để 51 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến năm 2007, xử lý 388 cơ sở và đến năm 2012 xử lý hơn 3.800 cơ sở còn lại. Tuy nhiên, số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy đến tháng 9/2005, mới có 104/439 cơ sở áp dụng các biện pháp để không còn gây ô nhiễm môi trường. 335 cơ sở còn lại mới ở các giai đoạn “đang trong quá trình xây dựng hoặc triển khai các biện pháp xử lý ô nhiễm”. Còn tới 70 cơ sở trong số này hoàn toàn chưa có biện pháp nào để triển khai quyết định này của Chính phủ. Như vậy, mục tiêu xử lý triệt để các cơ sở này để khỏi gây ô nhiễm đến năm 2007 quả là điều khó khăn, chưa nói đến mục tiêu tận… 2012. Đơn giản vì 3 năm đầu của chương trình (từ năm 2003) đến nay mới giải quyết được ¼ các cơ sở gây ô nhiễm. Nguyên nhân chủ yếu gây tiến độ chậm là do các cơ sở gây ô nhiễm đều thiếu nguồn vốn để thực thi các biện pháp xử lý triệt để.           Người dân Hà Nội nói gì về ô nhiễm môi trường  Theo tôi thấy, môi trường ở Hà Nội và cả nước nói chung đang trong tình trạng ô nhiễm nặng nề. Trước hết là ô nhiễm bụi trên đường phố, bụi có thể nói là như mưa giăng. Tiếp đến là ô nhiễm về rác thải do cách tổ chức thu gom rác chưa được tốt và ý thức người dân và cộng đồng chưa cao. Người Việt Nam dù sống ở các thành phố lớn vẫn mang đặc tính của người nông dân. Ăn xong thẳng tay vứt rác xuống đường. Hút xong điếu thuốc, đầu mẩu và vỏ bao tiện tay ném ngay bất kể đó là công viên, nhà ga hay bến xe mặc dù cách đó không xa có thùng rác công cộng. Và cuối cùng là môi trường nước, cả nước sinh hoạt và nước thải công nghiệp đều ô nhiễm. Nước sạch cung cấp cho sinh hoạt không đảm bảo. Nước thải công nghiệp tuy đã có điều luật song việc thực thi chưa nghiêm khắc. Đoàn kiểm tra đến thì các nhà máy xử lý nước thải trước khi đưa ra ngoài môi trường nhưng đoàn kiểm tra đi thì đâu lại vào đấy. Điều này dẫn đến hiện tượng ở một làng có hàng trăm người bị ung thư (Lập Thạch, Vĩnh Phú). Chưa kể, người dân có thể khoan nước ngầm vô tội vạ.   Để giải quyết vấn đề này tôi cho cần có chính sách đồng bộ ở tầm vĩ mô và thực thi chính sách đó một cách nghiêm túc. Ngoài ra phải tổ chức tuyên truyền nâng cao ý thức người dân, làm sao để mọi người thấy ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân họ. Bộ Tài nguyên và môi trường cùng các cấp các ngành, các cơ quan đoàn thể, cho tới từng phường, từng cụm dân cư, tổ dân phố phối hợp làm sao để hàng tuần có được ngày toàn dân tổng vệ sinh thôn xóm tiến tới hàng tháng có được 2 – 3 ngày tất cả mọi người đều ra đường khơi thông cống rãnh, thu gom rác thải. Nếu làm được như thế thì dù chưa giải quyết triệt để vấn đề môi trường nhưng trước mắt sẽ có bước tiến.   Hồ Minh Trí, P1 – C3 Tập thể Khí tượng Thủy văn    Ở Hà Nội, tôi thấy hầu hết phụ nữ ra đường đều đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe song trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại không thực hiện tốt việc giữ gìn vệ sinh chung để đảm bảo môi trường sống trong sạch. Thậm chí, ở khu chung cư nơi tôi từng sống (khu tập thể H2 của Tổng công ty xây dựng sông Đà), người dân ở tầng trên cứ vô tư ném rác xuống tầng một, rác chất đống ngày một nhiều đến độ mấy xe rác có lẽ vẫn chưa chở hết. Mọi người đều nói môi trường là vấn đề cấp thiết và quan trọng nhưng người dân thiếu ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, các cơ quan nhà nước đưa ra nhiều văn bản, quy định song thực hiện thì chưa được mấy.   Hàn Nguyệt (Sinh viên lớp K49, Khoa Báo chí, Trường ĐH KHXH&NV)        Riêng tại Hà Nội, để khắc phục tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất đã được đưa ra như khuyến khích sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng (LPG) cho xe taxi, triển khai thực hiện các dự án tăng cường giao thông đô thị (cải tạo hệ thống mạng lưới giao thông lớn, tổ chức quản lý và phát triển giao thông công cộng), di dời các nhà máy gây ô nhiễm… nhưng hiệu quả đạt được còn rất thấp. Những chiếc xe chạy nhiên liệu khí hóa lỏng vẫn chỉ ở giai đoạn thí điểm và ngày càng teo tóp. Hệ thống đường vành đai và các dự án cầu vượt giao thông vẫn ở giai đoạn triển khai, chưa hoàn thiện. Mạng lưới giao thông công cộng, cụ thể là xe buýt có gia tăng nhưng chính số lượng xe buýt ngày càng lớn lại là một trong những nguyên nhân khiến tắc nghẽn giao thông nhiều hơn. Vẫn còn các nhà máy gây ô nhiễm trong nội đô chưa được di dời (Công ty Thuốc lá Thăng Long, Nhà máy rượu Hà Nội…).  Bài học đắt giá của nhiều nước đã và đang phát triển (xem bài Châu Á “khó thở” vì ô nhiễm từ Trung Quốc) dường như ít tác động tới hoàn cảnh của Việt Nam và dường như nền kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục vận động mà ít bị ảnh hưởng của Luật Môi trường. Cụ thể là mặc dù đạo luật này đã được ban hành hơn 10 năm nay (1993) nhưng cho tới nay chưa có bất cứ tội danh nào trong việc hủy hoại môi trường sống và sức khỏe con người được đưa ra xét xử, trừng phạt.            Viện Nhi Trung ương luôn quá tải bệnh nhân trong đó có rất nhiều trẻ em bị các bệnh về hô hấp do lạnh và ô nhiễm môi trường. Ảnh: Quốc Tuấn             Theo PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, tất cả các chương trình giảm thiểu ô nhiễm bụi hiện nay chỉ có thể hiệu quả trong điều kiện có sự quản lý, tổ chức thực hiện tốt và đặc biệt là có đủ… kinh phí. Như vậy, nỗ lực cần có không chỉ từ cơ quan quản lý môi trường mà của nhiều người, nhiều ngành nghề và đặc biệt là của nhân dân. Điều cần làm trước mắt là việc nâng cao nhận thức về môi trường, bảo vệ môi trường của người dân. Trong các chiến dịch truyền thông lớn cần khẳng định rằng trong câu chuyện ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm không khí, mỗi người dân vừa là tác nhân gây ô nhiễm và cũng là nạn nhân của ô nhiễm. Ngay trong đầu năm 2006 này, dự tính bản tin dự báo chất lượng không khí         Ô nhiễm không khí tại các đô thị và vùng kinh tế trọng điểm   Không khí đường phố đô thị nước ta bị ô nhiễm nặng vì bụi, khí CO và hơi xăng dầu. Ô nhiễm không khí ở các vùng kinh tế trọng điểm gây ra bởi các hoạt động xây dựng, sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải với cường độ lớn. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm của nước ta là vùng bị ô nhiễm không khí nhiều nhất.   Ngoài vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn và một số các khu vực khác cũng đang bị ô nhiễm không khí cục bộ bởi bụi, khí dioxit lưu huỳnh SO2, đặc biệt ở các khu vực gần nhà máy xây dựng vật liệu xây dựng.   Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005-Bộ Tài nguyên và Môi trường        sẽ được Viện Khí tượng-Thủy văn đưa lên website www.imh.ac.vn. Hy vọng đây sẽ là bản tin “cảnh tỉnh” về tình trạng ô nhiễm trong không khí đối với mỗi người dân, nhằm hạn chế các hành động gây ô nhiễm môi trường ở nước ta.           Tỷ lệ mắc bệnh do ô nhiễm không khí tại vùng ô nhiễm Thượng Đình (Hà Nội)  Bệnh Tỉ lệ mắc bệnh ở Thượng Đình Tỉ lệ mắc bệnh ở vùng đối chứng  Viêm phế quản mãn 6,4 % 2,8 %  Viêm đường hô hấp trên 36,1 % 13,1 %  Viêm đường hô hấp dưới 17,9 % 15,5 %  Triệu chứng về mắt 28,5 % 16,1 %  Triệu chứng về mũi 17,5 % 13,7 %  Triệu chứng về họng 31,4 % 26,3 %  Triệu chứng về da 17,6 % 6,5 %  Triệu chứng thần kinh thực vật 30,6 % 21,5 %  Triệu chứng đáp ứng thần kinh 40,7 % 37,7 %  Rối loạn chức năng thông khí phổi 29,4 % 2,8 %  Nguồn: Dự án nâng cao chất lượng không khí tại các nước đang phát triển ở Châu Á, 2004                    Người dân Hà Nội nói gì về ô nhiễm môi trường!                              Ở Hà Nội, tôi thấy hầu hết phụ nữ ra đường đều đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe song trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại không thực hiện tốt việc giữ gìn vệ sinh chung để đảm bảo môi trường sống trong sạch. Thậm chí, ở khu chung cư nơi tôi từng sống (khu tập thể H2 của Tổng công ty xây dựng sông Đà), người dân ở tầng trên cứ vô tư ném rác xuống tầng một, rác chất đống ngày một nhiều đến độ mấy xe rác có lẽ vẫn chưa chở hết. Mọi người đều nói môi trường là vấn đề cấp thiết và quan trọng nhưng người dân thiếu ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, các cơ quan nhà nước đưa ra nhiều văn bản, quy định song thực hiện thì chưa được mấy.   Hàn Nguyệt (Sinh viên lớp K49, Khoa Báo chí, Trường ĐH KHXH&NV)          Hoàng An _ Nguyễn Vạn    Nguồn tin: Tia Sáng                Author                Quản trị        
__label__tiasang Giãn cách xã hội không là độc quyền của con người      Con người có thể cảm thấy khó chịu với giãn cách xã hội. Nhưng nó cũng là một phần của thế giới tự nhiên, được phát hiện ở nhiều loại động vật có vú, cá, côn trùng và chim.      Kiến vườn tránh xa tổ của chúng khi biết mình bị mắc bệnh. Chim sẻ nhà tránh tiếp xúc những con chim bị bệnh, nhờ vào các tín hiệu của hệ miễn dịch. Nguồn: Aditya Vistarakula/Getty Images.  Trên một rạn san hô cạn ở Florida Keys, một con tôm hùm gai nhỏ ở biển Caribbean trở về sau một đêm tìm kiếm những loài động vật thân mềm ngon lành và đi vào cái hang nhỏ. Tôm hùm thường chia sẻ những khe đá để cùng trú ngụ và tối nay, căn nhà nhỏ của nó có một con mới đến. Nhưng, có điều gì đó không đúng với kẻ lạ này: Các thành phần hóa học trong nước tiểu của con này có mùi rất lạ. Những chất này được tạo ra khi một con tôm hùm bị nhiễm một loại virus truyền nhiễm có tên là Panulirus argus virus 1, điều mà con tôm hùm khỏe mạnh có thể cảm nhận được. Cũng khó như việc tìm ra một cái hang để bảo vệ nó khỏi những kẻ săn mồi, con tôm hùm gai nhỏ đành phải chấp nhận rời bỏ cái hang để tránh xa mầm bệnh nguy hiểm này.  Những phản ứng của tôm hùm như trên đã được xác thực cả trong thực tế và thí nghiệm, chứng minh điều mà chúng ta đã quá quen thuộc trong năm nay: hạn chế giao tiếp xã hội (hay cách li xã hội). Con người có thể cắt đứt các tương tác gần với gia đình và bạn bè để giảm hoặc chấm dứt sự lây lan của Covid-19. Điều này thật sự khó khăn, và nhiều người đã đặt nghi vấn về sự cần thiết của nó. Nhưng cách li xã hội là một phần của tự nhiên. Ngoài tôm hùm, các loài động vật rất đa dạng như khỉ, cá, côn trùng và chim cũng cho thấy hiện tượng cách li thành viên bị bệnh. Hành vi này rất phổ biến vì nó giúp các quần thể động vật tồn tại. Một số loài vẫn sống chung với các thành viên bị nhiễm bệnh nhưng thay đổi cách tương tác. Ví dụ, kiến hạn chế gặp gỡ giữa các cá thể, nhằm giảm tiếp xúc (râu), làm giảm nguy cơ lây nhiễm.  Đáng để đánh đổi  Panulirus argusvirus 1 giết chết hơn một nửa tôm hùm con bị nhiễm. Đặc điểm “đời sống xã hội” của tôm hùm khiến chúng rất dễ bị lây: Trong một thời điểm, mỗi hang có thể tập trung lên đến 20 con. Khả năng phát hiện và tránh các thành viên trong nhóm bị nhiễm bệnh chính là chìa khóa để tôm hùm đối mặt với dịch bệnh này. Các chỗ trú ẩn an toàn trong bọt biển, san hô hoặc khe đá dọc theo đáy đại dương giúp chúng tránh những kẻ săn mồi háu ăn như cá nóc gai.      Ngoài tôm hùm, các loài động vật như khỉ, cá, côn trùng và chim cũng cho thấy hiện tượng cách li thành viên bị bệnh. Hành vi này giúp các quần thể động vật tồn tại. Trong trường hợp vẫn sống chung với các thành viên bị nhiễm bệnh, chúng sẽ thay đổi cách tương tác. Ví dụ như hạn chế gặp gỡ giữa các cá thể.      Tuy nhiên vào đầu năm 2000, nhà nghiên cứu Don Behringer của Đại học Florida và các đồng nghiệp đã nhận thấy, một số con tôm hùm non chỉ sống một mình trong hang, mặc dù điều này khiến chúng dễ bị tổn thương hơn. Họ phát hiện những con tôm này đã bị nhiễm virus truyền nhiễm. Các nhà khoa học nghi ngờ những con tôm này không chọn cách ở một mình mà chúng có thể đã bị xa lánh.  Để xác nhận, họ đã thực hiện một khảo sát: Đặt một vài con tôm hùm trong bể cá, cho phép chúng có thể chui vào ba loại hang: các hang nhân tạo còn trống, hang đã có các con khỏe mạnh sống hoặc bị nhiễm virus. Bài báo đăng trên tạp chí Nature năm 2006, xác nhận: Khi không mắc bệnh tật, thì những con tôm khỏe mạnh này có xu hướng chọn những cái hang đã có kẻ tới trước đó hơn là những cái hang trống; khi có tôm hùm nhiễm virus, thì chúng tránh những hang có tôm hùm bệnh này, mặc dù điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ chúng phải sống một mình cao.  Trong một nghiên cứu tiếp theo được xuất bản năm 2013 trong seri Sự phát triển sinh thái học biển, Behringer và đồng nghiệp Joshua Anderson đã chỉ ra rằng những con tôm hùm khỏe mạnh phát hiện ra những con tôm bị bệnh bằng cách đánh hơi. Họ chỉ ra trong nước tiểu của tôm hùm bị nhiễm bệnh có hóa chất lạ, đó là một tín hiệu nguy hiểm cho nhóm bạn tình khỏe mạnh. Khi các nhà khoa học sử dụng keo Krazy để chặn các cơ quan giải phóng nước tiểu của tôm hùm bị nhiễm, những con khỏe mạnh không còn trốn tránh những con bị bệnh.  Khi tôm hùm phát hiện một con vật bị nhiễm, chúng sẵn sàng chấp nhận rủi ro đáng kể để không mắc bệnh. Khi Mark Butler, ở Đại học Old Dominion và các đồng nghiệp của mình ép một con tôm hùm bệnh đến hang của những con tôm hùm khỏe mạnh ở Florida Keys, họ thấy những con tôm khỏe mạnh thường rời bỏ nơi trú ẩn an toàn của chúng, mặc dù chúng sẽ đối diện với nguy cơ bị ăn thịt lớn hơn. Trong nghiên cứu của họ được xuất bản năm 2015 trên PLOS One, các nhà khoa học đã sử dụng các mô hình toán học để chỉ ra rằng việc trốn tránh này ngăn chặn sự bùng phát của virus – thứ có thể tàn phá quần thể tôm hùm.  Bảo vệ những thứ giá trị và dễ bị tổn thương  Trong nghiên cứu do Nathalie Stroeymeyt, ở Đại học Bristol, Anh dẫn dắt và xuất bản năm 2018 trên tạp chí Science, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thẻ kỹ thuật số nhỏ để theo dõi quá trình di chuyển của các đàn kiến ​​trong vườn, trong một đợt bùng phát của loại nấm nguy hiểm Metarhizium brunneum. Các bào tử của loại nấm này được truyền từ kiến ​​sang kiến ​​thông qua tiếp xúc vật lý; phải mất một đến hai ngày để các bào tử xâm nhập vào cơ thể của kiến ​​và gây bệnh, thường dẫn đến tử vong. Khoảng trống thời gian giữa mốc phơi nhiễm và phát bệnh cho phép Stroeymeyt và các đồng nghiệp của cô xem liệu kiến ​​có thay đổi “hành vi xã hội” của chúng trong 24 giờ hay không.    Khỉ mặt chó chải chuốt lông cho họ hàng thân thiết ngay cả khi chúng có ký sinh trùng, nhưng tránh các cá thể cùng nhóm khác mang bệnh truyền nhiễm. Cầy mangut phụ thuộc nhiều vào hợp tác nhóm, nên chúng chải chuốt cho cả con ốm và khỏe trong đàn. ảnh: Ralf Gelfand/Getty Images (trái), Mike Hill/Getty (phải).  Để đo lường cách kiến ​​phản ứng khi bệnh xâm nhập tổ lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã chuyển bào tử nấm trực tiếp vào một tập hợp con của kiến ​​đi săn thường xuyên rời khỏi tổ. Những kẻ săn mồi này rất có thể vô tình gặp phải bào tử nấm trong khi ra ngoài tìm kiếm thức ăn, vì vậy phương pháp này bắt chước một cách tự nhiên sự lây nhiễm nấm lên kiến. Các hành vi của 11 đàn kiến nhiễm nấm được so sánh với 11 đàn đối chứng – những con kiến đi săn trong đàn đối chứng được nhúng vào trong dung dịch vô hại. Kiến ở các đàn tiếp xúc với nấm nhanh chóng bắt đầu tự cách li xã hội sau khi bị nhiễm. Trong vòng 24 giờ, những con kiến ​​này đã tự cô lập bản thân bằng cách dành nhiều thời gian rời khỏi tổ hơn so với những con kiến ​​đối chứng.  Những con kiến ​​khỏe mạnh trong đàn thuộc nhóm nhiễm nấm cũng giảm mạnh các tương tác xã hội của chúng, nhưng cách chúng làm như vậy phụ thuộc vào vai trò của mình. Những con kiến không bị nhiễm bệnh, thường xuyên tương tác với những con kiến khác có thể mang mầm bệnh, và giữ khoảng cách với tổ khi phát bệnh. Điều này ngăn cản các nguy cơ cho các thành viên của tổ có giá trị sinh sản (kiến nữ hoàng và kiến “hộ lý” ấp trứng). Các kiến hộ lý cũng hành động, di chuyển đàn con sâu hơn bên trong tổ và tránh xa những kẻ săn mồi, một khi nấm được phát hiện. Các tín hiệu mà kiến ​​sử dụng để phát hiện và phản ứng nhanh với phơi nhiễm nấm vẫn chưa được biết, nhưng chiến lược cách li xã hội này hiệu quả đến mức tất cả các kiến nữ hoàng và hầu hết các kiến “hộ lý” từ các tổ nghiên cứu vẫn còn sống, sau khi kết thúc đợt bùng phát thử nghiệm.  Kiến vườn bảo vệ các thành viên quan trọng nhất trong tổ của chúng, nhưng một số loài chim sử dụng một chiến lược khác, có lẽ được dẫn dắt bởi sức mạnh đáp ứng của hệ miễn dịch trong chúng. Maxine Zylberberg và các đồng nghiệp của cô đã đặt những con chim sẻ trong nhà vào ba cái lồng liền kề. Mỗi con chim trung tâm được vây một bên bởi một con chim khỏe mạnh và một bên là một con chim sẻ có vẻ ốm yếu (bị tác động). Quan sát thời gian con chim ở giữa dành cho mỗi bên lồng của nó, các nhà khoa học phát hiện rằng chim sẻ nhà thường tránh những con chim biểu hiện bệnh. Mức độ tránh này phụ thuộc vào sự giao động hệ miễn dịch của con chim đối diện. Những con chim có nồng độ kháng thể trong máu cao hơn và có một loại protein có thể là tín hiệu kích hoạt miễn dịch mạnh hơn, cho thấy ít bị ác cảm hơn. Nhưng bên cạnh đó, các con chim có mức độ miễn dịch yếu hơn cũng đã tránh những con chim bị bệnh nặng nhất. Các nhà nghiên cứu đã công bố trên tạp chí Biology Letters vào năm 2013.  Một mô hình tương tự đã được thực hiện ở cá bảy màu bị nhiễm một loại giun truyền nhiễm và gây suy nhược có tên là Gyrodactylus Turnbulli. Trong công trình xuất bản năm 2019 trên Biology Letters, Jessica Stephenson, ở Đại học Pittsburgh, đã đặt những con cá bảy màu chưa bị nhiễm giun trong một bể cá trung tâm, ở giữa hai bể. Một bên trống rỗng, và một bên chứa một nhóm ba con cá bảy màu đại diện cho nguy cơ lây nhiễm tiềm ẩn. Nhiều con cá bảy màu ưa thích gần những con cá bảy màu khác, như mong đợi cho một loài sống xã hội. Nhưng một số cá bảy màu đực phản ứng ngược lại một cách mạnh mẽ. Những con cá bảy màu ở bể bên cạnh sau đó đã được chứng minh là rất dễ bị nhiễm giun. Nó có ý nghĩa rằng sự tiến hóa sẽ ủng hộ sự biểu hiện mạnh mẽ của hành vi xa lánh những kẻ có nguy cơ cao nhất.  Quan hệ ràng buộc  Chiến lược xã hội đôi khi có nghĩa là duy trì các mối quan hệ xã hội nhất định, ngay cả khi chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Mandrills (khỉ mặt chó), loài linh trưởng có tính xã hội cao với khuôn mặt đầy màu sắc nổi bật, minh họa cho điều này. Loài này sống thành bầy từ hàng chục đến hàng trăm cá thể trong các khu rừng mưa nhiệt đới ở vùng xích đạo châu Phi. Các bầy thường có sự kết hợp của các thành viên trong các gia đình (quan hệ huyết thống) và thường xuyên chải chuốt lẫn nhau, giúp cải thiện vệ sinh và tạo liên kết xã hội. Nhưng chúng điều chỉnh hành vi chải chuốt của mình theo những cách đặc biệt để tránh những con cùng nhóm truyền nhiễm bệnh, Clémence Poirotte và các đồng nghiệp đã ghi nhận trong một báo cáo được công bố năm 2017 trên tạp chí Science Advances. Các nhà khoa học đã quan sát các tương tác chải lông hàng ngày của các con khỉ tự do trong một công viên ở Gabon và định kỳ thu thập các mẫu phân, để tìm hiểu cá thể nào bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột nặng. Các con khỉ có thể phát hiện tình trạng nhiễm trùng chỉ dựa trên mùi.  Tuy nhiên, đôi khi khỉ Mandrills từ bỏ sự cách li xã hội khi đối mặt với tình trạng lây lan bệnh. Trong một nghiên cứu tiếp theo, cũng do Poirotte dẫn dắt, chúng tiếp tục chải lông cho một số con họ hàng gần nhất, nhưng có mức độ ký sinh trùng cao, ngay cả khi chúng giữ khoảng cách với các thành viên khác trong nhóm bị ký sinh. Trong công bố vào năm 2020 của nhóm đăng trên Biology Letters, các nhà nghiên cứu nói rằng việc duy trì các liên minh mạnh mẽ và vô điều kiện với một số họ hàng nhất định có thể mang lại nhiều lợi ích lâu dài ở các loài linh trưởng, giống như ở người. Trong loài khỉ mặt chó này, con cái có mối quan hệ xã hội mạnh nhất. Chúng có thể bắt đầu sinh sản sớm hơn và có thể có nhiều con hơn trong suốt cuộc đời. Những lợi ích tiến hóa như vậy liên quan đến việc duy trì một số mối quan hệ xã hội có thể có nguy cơ nhiễm trùng.  Mối quan hệ xã hội của một số động vật sống theo nhóm có thể rất quan trọng, đến mức chiến lược lẩn tránh sẽ không bao giờ được ưu tiên. Ví dụ, công trình do Bonnie M. Fairbanks dẫn đầu và xuất bản năm 2015 trên tạp chí Sinh thái học và Xã hội học cho thấy cầy mangut không xa lánh thành viên trong nhóm, ngay cả khi chúng có dấu hiệu bệnh rõ ràng. Đây là một loài có tính xã hội cao có nguồn gốc từ sa mạc Sahara và sống trong các bầy ổn định lên đến 40 thành viên (chung hoặc không chung huyết thống). Các thành viên trong nhóm tham gia vào các tương tác chặt chẽ, bằng cách nghỉ ngơi bên nhau và thay phiên nhau chải chuốt lông theo cách thức chuyên nghiệp.  Kathleen A. Alexander của Virginia Tech, một tác giả khác của bài báo, lưu ý nhiều cầy mangut trong khu vực nghiên cứu của cô ở Botswana bị bệnh rõ rệt – một dạng bệnh lao mới. Bệnh này phát triển ngấm ngầm và phải mất hàng tháng trời mới khiến những con cầy bị chết. Fairbanks sau đó đã dành nhiều tháng theo dõi chặt chẽ sáu bầy bị ảnh hưởng căn bệnh này, quan sát tất cả các tương tác xã hội giữa các thành viên. Đáng ngạc nhiên, cầy mangut khỏe mạnh tiếp tục tham gia vào các tương tác chặt chẽ với các thành viên bị bệnh rõ ràng. Trên thực tế, chúng đã chải lông cho các con bị bệnh đến mức không thể phân biệt cách đối xử với những con khỏe mạnh, mặc dù những con cầy mangut bị bệnh ít có khả năng đáp lại hành động đó. Không có sự phân biệt đối xử ở những loài mà sự hợp tác chặt chẽ với các cá thể khác để săn bắt và phòng thủ ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của chúng.  Thiên nhiên dẫn dắt  Giống như các loài động vật khác, con người có một lịch sử tiến hóa lâu dài với các bệnh truyền nhiễm. Nhiều hình thức miễn dịch hành vi của chúng ta, chẳng hạn như cảm giác ghê rợn trong môi trường bẩn thỉu hoặc đông đúc, có khả năng là kết quả của lịch sử này. Nhưng con người hiện đại, không giống như các loài động vật khác, có nhiều lợi thế khi bệnh dịch bùng phát. Ví dụ, bây giờ chúng ta có thể truyền thông các mối đe dọa của bệnh tật trên toàn cầu ngay lập tức. Khả năng này cho phép chúng ta tạo ra sự cách li xã hội trước khi dịch bệnh xuất hiện trong cộng đồng địa phương. Các nền tảng giao tiếp kỹ thuật số tiên tiến, từ e-mail đến các cuộc trò chuyện video nhóm, cho phép chúng ta giữ khoảng cách vật lý trong khi vẫn duy trì được các kết nối xã hội. Các loài động vật khác mất mối quan hệ và tương tác xã hội đối với khoảng cách thực tế. Nhưng có lẽ, lợi thế lớn nhất của con người là khả năng phát triển các công cụ phi sinh học tinh vi, chẳng hạn như vaccine, ngăn ngừa bệnh mà không cần thay đổi hành vi. Tiêm phòng cho phép chúng ta duy trì cuộc sống tương tác xã hội bình thường, mặc dù các bệnh truyền nhiễm như bệnh bại liệt và bệnh sởi vẫn còn tồn tại.  Tuy nhiên, khi nói đến việc ngăn chặn các bệnh mới lạ như Covid-19, chúng ta đang ở trong cùng một chiến tuyến với các động vật khác. Giống với tự nhiên, hành vi cách li xã hội là một trong những công cụ tốt nhất của chúng ta, cho đến khi vaccine hoặc phương pháp điều trị hiệu quả có thể được phát triển. Nhưng cũng giống như các động vật khác, chúng ta phải có chiến lược. Như giữa kiến ​​và kiến, chúng ta có thể duy trì các tương tác xã hội thiết yếu nhất và giữ khoảng cách với những người dễ bị tổn thương nhất. Thành công của tôm hùm gai chống lại một loại virus tàn phá ở vùng biển Caribbean cho thấy có sự đánh đổi ngắn hạn của việc cách li xã hội. Mặc dù điều này không được bình thường, chúng ta chỉ cần đi theo sự dẫn dắt của tự nhiên.□  Đức Phát dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.scientificamerican.com/article/animals-use-social-distancing-to-avoid-disease1/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gian lận trong khoa học      Tr&#234;n trường khoa học quốc tế, thỉnh thoảng lại thấy rộ l&#234;n một vụ gian lận. (Trong khoa học Việt Nam t&#244;i nghe thấy nhiều hơn, d&#249; phần lớn l&#224; tin kh&#244;ng ch&#237;nh thức. Kh&#244;ng r&#245; c&#243; phải v&#236; thực sự c&#243; nhiều gian lận hơn so với quốc tế, hay v&#236; t&#244;i ch&#250; &#253; đến th&#244;ng tin Việt Nam, v&#224; dễ cập nhật về th&#244;ng tin Việt Nam hơn.) Sự kiện gần đ&#226;y nhất l&#224; vụ b&#234; bối của Scott Reuben, được th&#244;ng b&#225;o tr&#234;n Scientific American. Chuyện nghe tương đối &#8220;phi thực tế&#8221; (unreal) trong giới khoa học; rất tiếc, n&#243; cho thấy hệ thống đăng tải nghi&#234;n cứu, d&#249; dựa v&#224;o đ&#225;nh gi&#225; của đồng nghiệp (peer review), vẫn c&#243; những lỗ hổng gh&#234; gớm.    Tôi đồ rằng trong những ngành khoa học mà việc đăng kết quả chính thức sớm có ảnh hưởng lớn, thì dễ có những vụ bê bối hơn. Lý do là vì quá trình đăng báo chịu nhiều sức ép hơn, và vì thế dễ để lọt những kết quả giả tạo hoặc sai sót.  Tôi thử so sánh hệ thống đăng báo và đánh giá đồng nghiệp của ngành Y với ngành Kinh tế. Các báo lớn trong ngành Y (tôi được biết tường tận về báo New England Journal of Medicine, một trong những báo hàng đầu ngành Y) có tổ chức và mức độ hoạt động rất mạnh: NEJM có nguyên một cơ sở lớn, thuê nhiều người làm bồi bút, việc văn phòng… để giục và đảm bảo quá trình đánh giá bài viết (refereeing) diễn ra đúng tiến độ. Thường bài viết trong ngành được thông báo và đăng trong vòng vài tuần, chậm lắm thì đến bốn tháng nửa năm. Các báo hàng đầu trong ngành kinh tế cũng chỉ có một bộ phận nhỏ giáo sư làm công tác biên tập (editor). Ví dụ, báo Quarterly Journal of Economics, một trong số 5 tập san chuyên ngành hàng đầu của kinh tế học, chỉ có 3 giáo sư kinh tế ở Đại học Harvard làm biên tập, trong khi có hàng ngàn bài được gửi đến hằng năm. Báo có thể sử dụng thời gian của một, hai thư ký, vốn là nhân viên của khoa kinh tế trường Harvard, và chỉ làm bán thời gian (part-time) cho báo. Dù rằng việc xuất bản cuối cùng thuộc về phía nhà xuất bản MIT (MIT Press), song phải nói là với lực lượng của báo rất ít, có ít động cơ để người làm đánh giá thực hiện việc của mình nhanh chóng.  Thành ra, một bài báo Kinh tế học mất hàng năm trời mới ra được mặt báo. (Thời gian kéo dài 5-6 năm không phải là ít, thậm chí có trường hợp đến 9-10 năm.) Trong suốt thời gian đó, bài báo đã được xào đi xào lại dưới dạng bài nghiên cứu (working paper), và được truyền tay (online) trong cộng đồng nghiên cứu. Vì vẫn chưa được đăng, nên tác giả vẫn phải lấy thêm ý kiến từ nhiều hội thảo, seminar, vv. Nhờ đó, khó có khả năng một kết quả sai sót có thể sống sót trong suốt quá trình này. Phải nói là bài làm lý thuyết dễ kiểm chứng hơn, song bài thực nghiệm cũng hay được kiểm chứng, khi mà các giáo sư có thể giao việc kiểm chứng như là bài tập cho nghiên cứu sinh những năm đầu. Việc kiểm chứng kết quả trong kinh tế học cũng tương đối dễ dàng, vì dữ liệu của các bài được đăng báo phải có thể được sử dụng lại cho việc kiểm chứng, và dữ liệu phần nhiều là dữ liệu mở, không làm giả được. Cũng có một vài ví dụ về kết quả sai sót được phát hiện ra, mà ví dụ nổi tiếng là hai bài báo hàng đầu của Steve Levitt, tác giả Freakonomics (dù đây chỉ là sai sót vô ý trong quá trình thao tác, và Levitt tuyên bố sau khi chỉnh sửa lại thì kết luận định tính vẫn tương tự như trước). Tuy vậy, dễ thấy là rất khó có khả năng giả tạo hoàn toàn kết quả một cách có hệ thống như những gì Scott Reuben đã làm.  Tôi không nói sự chậm chạp của quá trình đăng báo là một việc đáng làm và nên làm trong ngành kinh tế. Đặc tính này bị hầu hết các nhà kinh tế học phàn nàn, vì nó làm quá trình xét duyệt biên chế (tenure decision) trở nên rất khó khăn và ngẫu nhiên. (Thử nghĩ, một phó giáo sư muốn có bài báo xét duyệt cho biên chế năm thứ 5, thì bài đó phải hoàn thành và gửi đi đăng từ năm thứ nhất !) Tuy vậy, qua ví dụ về gian lận và bê bối, có thể coi điểm yếu này cũng là một thế mạnh trong việc hạn chế gian lận nghề nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giao ban cây lúa      Trong ảnh là bốn vị viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL chúng tôi chụp được sau hội nghị giao ban về sản xuất lúa năm 2011 tại Viện Lúa ĐBSCL vào đầu tháng 2 năm 2011. Bữa đó, trên ghế chủ tọa, PGS.TS Bùi Bá Bổng (thứ hai, từ trái qua) – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp &amp; phát triển nông thôn (NN &amp; PTNT), nói vui: “Đây là lần đầu tiên Viện Lúa họp mặt đủ bốn đời viện trưởng. Đầu năm mới như vậy chắc là Viện Lúa phát tài rồi”.      Cả hội trường hơn hai trăm người, hầu hết là những nhà khoa học và cán bộ quản lý nông nghiệp khắp ĐBSCL và từ nhiều viện, trường từ TP.HCM về, vỗ tay ầm ầm. Lúc đó mọi người mới nhìn quanh hội trường và thấy bốn ông viện trưởng mỗi ông ngồi mỗi nơi. GS.TS Nguyễn Văn Luật (thứ ba, từ trái qua) – Viện trưởng đầu tiên giờ đã nghỉ hưu, GS.TS Bùi Chí Bửu (phải cùng) – Viện trưởng đời thứ ba sau anh Bổng, hiện là Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam và TS Lê Văn Bảnh (trái cùng) – đương nhiệm Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL.  Tình cờ chụp được tấm ảnh này nhưng lại nghe các anh chị ở Viện Lúa nói, hiếm khi cả bốn ông viện trưởng nối tiếp nhau sum họp như vậy và nó như là hình ảnh đại diện cho những người đã góp sức làm nên câu chuyện lúa gạo ở ĐBSCL mấy mươi năm nay.   Nhớ những năm đầu thành lập Viện Lúa trong thời bao cấp thiếu gạo cơm, GS.TS Nguyễn Văn Luật, ngoài việc chuyên môn về cây lúa, ông còn tập trung lo cho công tác đào tạo nguồn nhân lực. Không phân biệt thành phần xuất thân, ai có khả năng, ông đều tạo điều kiện gửi đi đào tạo ở nhiều nguồn, nhiều nhất là ở Ấn Độ và Viện Lúa Quốc tế (IRRI). Thế là sau ông, có TS Bùi Bá Bổng, đỗ đầu bảng về lúa lai ở Ấn Độ; sau khi anh Bổng về Bộ NN & PTNT, có ngay tiến sĩ Bùi Chí Bửu; tới khi anh Bửu về Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam là có TS Lê Văn Bảnh thay thế. Cả ba đời viện trưởng tiếp sau đều từ phó viện trưởng lên. Như là cây lúa, từ lúc gieo hạt, nảy mầm tới khi cho hạt, đều tươi tốt thuận hòa.   Còn nhớ bữa đó, trước khi vào hội trường, mọi người đã kéo nhau đi tham quan một vòng Viện Lúa và xem xét những trà lúa đông xuân đang chín rộ. Dường như ai cũng hi vọng về cây lúa năm nay. Không thấy ai nói ra, nhưng đi ngang các phòng thí nghiệm trong Viện Lúa, có người tự dưng nghe xúc động trong lòng, hiểu rằng để có được 200 ha lúa giống nguyên chủng tốt tươi ngoài kia, phải chắt chiu từ bao nhiêu mồ hôi và trí tuệ từ nơi này.   Anh Bùi Bá Bổng chủ trì buổi giao ban hết sức nhẹ nhàng. Sau các báo cáo chính của Cục Trồng trọt và Cục Bảo vệ Thực vật thuộc Bộ NN & PTNT, anh nhỏ nhẹ “kính mời thầy Luật”, “thầy Huỳnh” (PGS.TS Nguyễn Văn Huỳnh ở Đại học Cần Thơ), “anh Bửu”, “anh Phụng” (PGS.TS Mai Thành Phụng ở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia), “anh Bảnh”… phát biểu. Giữa các phát biểu ấy, anh Bổng thường gợi ý vui mà nghiêm túc. Tỉ như: “Tham quan ruộng lúa, tôi thấy anh Bảnh làm tốt hơn thời tôi làm viện trưởng rồi, cho nên tôi tin là cây lúa của mình tới đây sẽ càng tốt hơn”. Hay là: “Anh Phụng là người lăn lộn với bà con nông dân nhiều, chắc là anh sẽ phản ánh được đúng nỗi lòng nông dân”. Hoặc: “Thủ tướng vừa yêu cầu Bộ NN & PTNT xem xét đầu tư cơ sở hạ tầng mở thêm vụ lúa thu đông như Kiên Giang đang làm để tăng lượng gạo xuất khẩu, xin các anh có ý kiến về chuyện này”… Tới gần trưa đứng bóng, sau khi kết luận giao ban, anh Bổng lại nói vui: “Trưa nay Viện Lúa mời cơm, chắc là mình sẽ được ăn gạo ngon rồi”.  Tới giờ, tôi vẫn còn nhớ ý kiến thảo luận ngắn gọn của các nhà khoa học này. GS.TS Nguyễn Văn Luật nói: “Không thể chỉ đạo gieo sạ đồng loạt cho cả vùng mà nên linh hoạt theo điều kiện từng nơi, có nơi nước đã rút, có nơi chưa. Cũng không có vụ nào là chính cho mọi nơi mà phải theo điều kiện cụ thể từng nơi; nơi làm xuân hè tốt thì giúp nông dân làm, thu đông cũng vậy. Tóm lại là ta phải tổng kết từ kinh nghiệm thực tế để áp dụng khoa học kỹ thuật và có chủ trương cho đúng”.   GS.TS Bùi Chí Bửu: “Rủi ro về sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL chỉ vài phần trăm trong khi ở đồng bằng sông Hồng là 30%, miền Trung khoảng 50%. Năm 2010 Việt Nam thắng lớn về lúa gạo, đã tăng 1 triệu tấn, chủ yếu cũng tại ĐBSCL. Tuy nhiên dân số cũng tăng mạnh, như vậy là năng suất lúa đứng yên. Trong khi Việt Nam nhắm tới mục tiêu là nước công nghiệp hóa năm 2020, diện tích lúa sẽ giảm. Như vậy phải tổ chức lại cho nông dân sản xuất theo hướng công nghiệp hóa. Và phải làm ưu tiên cho ĐBSCL vì đồng bằng này là vùng có tính sản xuất vô cùng ổn định”.   TS Lê Văn Bảnh: “Để thích nghi với biến đổi khí hậu, Viện Lúa ĐBSCL đã chọn tạo được 30 giống chịu mặn. Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp giống cho các công ty nhưng cần nhắc lại chuyện sở hữu trí tuệ. Viện Lúa đã bán cho các công ty bảy loại giống mới trị giá hơn ba tỉ đồng nhưng chưa có ai trả tiền cả (hội trường cười ầm)… Tôi cũng đề nghị, phải giải quyết phù hợp việc xuất khẩu gạo và tiêu thụ nội địa trong năm nay vì thế giới đang có nguy cơ khủng hoảng lương thực như năm 2008, giá lương thực đang tăng mạnh”.   Chốt lại buổi giao ban hôm đó, ông viện trưởng đời thứ hai, Bùi Bá Bổng, nhấn mạnh: “Sắp tới, Thủ tướng sẽ ban hành qui hoạch đất lúa và nghị định về quản lý đất lúa trong cả nước”. Ông nói, mục đích chính của chủ trương này nhằm bảo đảm an ninh lương thực và gia tăng năng suất, chất lượng lúa gạo xuất khẩu đồng thời tăng được thu nhập cho nông dân. Thứ trưởng Bùi Bá Bổng cũng cho hay, từ vụ hè thu năm nay, các tỉnh làm lúa ở ĐBSCL sẽ đầu tư làm các “cánh đồng lúa mẫu” để tiến tới việc sản xuất lúa gạo hiện đại trong vùng. Theo đó, mỗi cánh đồng rộng ít nhất 300 ha, sử dụng giống xác nhận và áp dụng phương pháp cánh tác và thu hoạch theo tiêu chuẩn VietGAP. Riêng với Viện Lúa ĐBSCL, ông cho biết Chính phủ đã đồng ý sẽ đầu tư khoảng 200 tỉ đồng để viện này làm quy hoạch hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp hiệu quả hơn.   Nhìn lại tấm ảnh, nhớ lại buổi giao ban và cảnh lũ lụt ngập chìm hàng nghìn ha lúa thu đông ở ĐBSCL, thầm nghĩ, cây lúa và đời người làm ra hạt lúa, có không biết bao nhiêu là gian truân mà cũng thật là ân tình sâu nặng…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục phải gắn liền với nhu cầu xã hội      Tốt nghiệp đại học tại Úc, nhận bằng Thạc Sỹ và Tiến Sỹ tại Pháp; là học sinh Việt Nam đầu tiên dành Huy Chương Vàng Lý Quốc Tế. Trần Thế Trung hiện là Chủ nhiệm bộ môn Toán, Đại học FPT. Cuộc trò chuyện với Tia Sáng xoay quanh các vấn đề giáo dục của Việt Nam ở thời điểm hiện tại.    Là tiến sỹ Vật lý thiên văn, nhưng hiện tại anh lại đang là Chủ nhiệm bộ môn Toán học, Đại học FPT. Hình như anh có ý định bỏ nghề?  Không phải là bỏ nghề. Đúng hơn đây là lựa chọn cuối cùng tôi có thể tìm được ở Việt Nam mà vẫn có thể vận dụng được tốt nhất những kiến thức đã tích góp được từ trước.  Lựa chọn cuối cùng? Có vẻ hơi vô lý bởi anh hoàn toàn có cơ hội về công tác tại Viện Vật lý hay Khoa Vật lý, Đại học Khoa học Tự nhiên chẳng hạn?  Đúng là tôi đã có thời gian làm việc ở Viện Vật lý. Nhưng hiện nay, tôi không thể hình dung ra việc mình sẽ làm việc cho một cơ sở đại học hoặc nghiên cứu Nhà nước. Bởi đó là những cơ sở giáo dục theo xu hướng. Nhưng điều tôi mong muốn là được làm việc cho một cơ sở tại đó người ta giáo dục theo nhu cầu xã hội. Tôi vào Đại học FPT làm cũng vì lý do này.  Bản chất của Đại học FPT là cứ những gì phục vụ cho công nghệ và phục vụ cho mục đích công ty thì người ta sẽ dạy.  Hiện giờ, tôi dạy toán ở đây nhưng tôi cũng đang chờ đợi FPT đầu tư vào những ngành liên quan đến hardware, tức là có liên quan đến vật lý và khi đó chắc chắn tôi sẽ quay lại với Vật lý.  Tôi cũng có một ý định là sẽ thuyết phục lãnh đạo FPT đầu tư vào lĩnh vực sản xuất ra điện từ năng lượng Mặt trời. Khi đó, tôi sẽ có thể lắp đặt một bộ thí nghiệm vừa có thể sản xuất ra điện nhưng cũng có thể tận dụng nó để quan sát Mặt trời vào ban ngày và bầu trời vào ban đêm. Đây là một ví dụ về việc kết hợp giữa khoa học cơ bản với nhu cầu xã hội và chỉ có thế thì khoa học mới có thể phát triển bền vững trong hoàn cảnh hiện nay ở Việt Nam.  Anh vừa nói đến chuyện giáo dục theo nhu cầu của xã hội. Anh có nhận xét gì về điều này ở Việt Nam hiện nay?  Những trường đại học tư thì buộc phải theo hướng này, nếu không họ sẽ không thể tồn tại. Còn các đại học công cũng đang có xu hướng nhận thức và ủng hộ cho điều này. Thỉnh thoảng, Đại học FPT vẫn mời nhiều GS đến làm seminar, nói chuyện với sinh viên. Họ bày tỏ mong muốn FPT quan tâm nhiều hơn cho khoa học cơ bản. Nhưng điều này hiện nay vượt quá khả năng của FPT nói riêng cũng như các doanh nghiệp tư nhân nói chung. Bởi ngay cả việc tạo ra nhiều bằng sáng chế công nghiệp cũng là một mục tiêu cần sự nỗ lực rất lớn của các đại học ở Việt Nam. Còn để đạt được những thành tựu về khoa học cơ bản thì chắc còn phải trải qua nhiều chặng đường lắm.  Kinh nghiệm về việc triển khai giáo dục theo nhu cầu xã hội ở Đại học FPT là như thế nào?  Đó là một môi trường làm việc rất dân chủ và thoải mái. Nó khác với môi trường đại học cổ điển của Việt Nam. Mọi người được tự do đưa ý kiến và nếu nó được số đông ủng hộ thì ý kiến đó sẽ được thực hiện ngay lập tức. Nhưng kéo theo đó là yêu cầu về khả năng thích ứng nhanh với công việc. Chương trình toán của chúng tôi luôn được thêm vào hoặc sửa đổi liên tục để phù hợp với tình hình thực tế. Ví dụ như môn Toán rời rạc (rất cần thiết đối với người làm Tin học) hoàn toàn không có trong chương trình giáo dục ở bậc đại học ở các trường công, nhưng học sinh năm nhất của chúng tôi đã phải học trong cả 2 học kỳ. Thậm chí, có những vấn đề ngay cả các thầy giáo cũng cảm thấy mới và phải tự học lại. Kinh nghiệm cho thấy nhiều khi không phải tất cả những người có bằng cấp, học vị cao đều dạy tốt và thích ứng nhanh với công việc.    Một câu hỏi có phần riêng tư, tại sao anh lại quyết định trở về nước làm việc, trong khi nếu ở lại nước ngoài, anh hoàn toàn có thể tiếp tục theo ngay ngành Vật lý mà anh yêu thích.  Lý do lớn nhất là tôi không hợp với văn hóa nước ngoài. Hơn nữa, chưa có nhiều trường hợp thành công khi trở về. Nên tôi muốn góp thêm một tấm gương về một người về Việt Nam và làm được một điều gì đó hoặc là không làm được gì cả.    P.V thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư đa năng và những rủi ro về uy tín      Shirley Ann Jackson, nhà vật lý lý thuyết, Hiệu trưởng của Học viện Bách khoa Rensselaer tại New York, tham gia vào ban điều hành của FedEx từ năm 1999, Steven B. Sample, kỹ sư điện và nguyên là hiệu trưởng của trường Đại học Nam California tham gia vào ban giám đốc của một vài quỹ tín thác (American Mutual, Amcap Mutual funds)… nằm trong số những hiệu trưởng và cán bộ cao cấp của trường đại học tham gia quản lý tập đoàn. Những nhà lãnh đạo này được kỳ vọng mang tới những triển vọng tươi sáng, kinh nghiệm quản lý và danh tiếng của cơ sở đào tạo tới ban lãnh đạo tập đoàn. Tuy nhiên, việc tham gia vào ban điều hành các tập đoàn, bên cạnh lợi ích về tài chính, mối quan hệ đối với bản thân họ, cũng tiềm ẩn rủi ro về uy tín khi các tập đoàn phải đương đầu với khủng hoảng.      Việc hiệu trưởng các trường đại học tham gia vào ban điều hành của các tập đoàn bắt đầu từ cuối những năm 1990 khi các công ty tìm cách phá bỏ truyền thống các ban lãnh đạo chỉ toàn nam giới da trắng. Các hiệu trưởng các trường đại học thường là các lãnh đạo giỏi và nhiều người trong số họ là những người phụ nữ thành danh trong lĩnh vực chuyên môn và có kinh nghiệm điều hành các tổ chức lớn.   Theo điều tra năm 2008 của The Chronicle of Higher Education, giám đốc của 19 trong tổng số 40 đại học nghiên cứu quy mô lớn có tham gia vào ban điều hành của công ty. Xu hướng này trở nên phổ biến trong các trường đại học công, nhưng các trường đại học tư cũng đang đuổi kịp. Ủy ban giáo dục Hoa Kỳ nhận xét, từ năm 2001 tới 2006, tỷ lệ các hiệu trưởng từ các trường đại học nghiên cứu tham gia vào ban lãnh đạo công ty tăng từ 47,8% lên 52,1% trong các trường công, và từ 40,6% lên 50,9% trong các trường tư. Một vài hiệu trưởng các trường nổi tiếng như Đại học Stanford, Đại học California, San Diego tham gia vào ban điều hành của 3 công ty.   Những khoản tiền lớn, mạng lưới quan hệ là hai trong số những lợi thế mà các hiệu trưởng được hưởng khi tham gia vào các tập đoàn. Ruth J. Simmons, hiệu trưởng Đại học Brown là  phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên đứng đầu trường đại học trong nhóm IVY, có mặt trong ban điều hành của Goldman Sachs cho tới năm ngoái. Năm 2009, bà nhận được 323539 USD từ tập đoàn này, bao gồm cả cổ phiếu, ngoài ra lương hằng năm của bà tại Brown là 576.000 USD.   Các công ty cũng hưởng lợi từ các thành viên là giáo sư đại học. Một ưu điểm dễ nhận thấy là người ngoài sẽ dễ đưa ra những giải pháp sáng tạo cho các vấn đề công ty gặp phải. Ngoài ra, nguồn nhân sự mới cao cấp này cũng làm phong phú thêm cho công ty. Phyllis M. Wise, hiệu trưởng của Đại học Washington tham gia vào ban điều hành của Nike. Nike cho rằng thuê Wise-một người Mỹ gốc Á, vì những thành tích đáng ngưỡng mộ của bà và sự độc lập trong suy nghĩ, họ tin rằng thông qua việc trao đổi ý tưởng, cả công ty và Đại học Washington đều có lợi.   Theo James H. Finkelstein, giáo sư trường chính sách công George Mason, có thể lý do chính để các công ty tìm kiếm các học giả là danh tiếng mà họ mang tới. Trường đại học là một trong số ít những thể chế nhận được sự tin tưởng của công chúng và các công ty tin rằng họ có thể gắn mình vào danh tiếng này khi có trong ban điều hành một học giả như vậy. “Các tập đoàn luôn nghĩ đó là cách để tăng cường danh tiếng và sự hợp pháp. Tôi ngờ rằng đây là lý do chính chứ không phải vì óc kinh doanh của người được tuyển dụng”, ông nói.          Ruth J. Simmons, Hiệu trưởng trường Đại học Brown          John Gillespie, người viết cuốn sách về ban lãnh đạo của các tập đoàn “Money for nothing” (tạm dịch Tiền cho không) nói, các học giả thường được chọn vì lý do khác – đó là bởi vì họ ít làm lắc lư “thuyền” hơn giám đốc bên kinh doanh. Các học giả được đào tạo để hỏi những câu hỏi hóc búa trong lĩnh vực của họ nhưng khi họ đối mặt với những vấn đề kinh doanh vượt qua tầm hiểu biết họ trở nên im lặng.   Nell Minow, biên tập viên của Corporate Library, một tổ chức nghiên cứu độc lập chuyên nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp nhận xét, Goldman Sachs bị ảnh hưởng khi tuyển dụng Simmons làm giám đốc vì bà thiếu kinh nghiệm về tài chính và thường quan tâm tới những vấn đề không chính yếu của doanh nghiệp. “Chiếc ghế đó phải dành cho một ai đó am hiểu kinh doanh hơn. Điều mà chúng ta học được từ cuộc khủng hoảng tài chính là ban giám đốc đã thất bại trong quản lý rủi ro. Anh không tham gia vào ban điều hành để tạo quan hệ, tìm kiếm sự cống hiến hay làm việc cho các nhóm thiểu số. Anh ở đó vì mục đích: quản lý rủi ro có thể xảy ra với lợi ích dài hạn của các cổ đông”, Minow nói.   Nhiều chuyên gia về quản trị doanh nghiệp cho rằng một hiệu trưởng tham gia vào ban lãnh đạo mang lợi ích cho cả công ty lẫn trường đại học, nhưng tình hình trở nên phức tạp hơn khi các hiệu trưởng này tham gia vào nhiều ban lãnh đạo. Họ có thể sẽ giảm thời gian cho trường đại học và không có đủ thời gian trở thành một thành viên tích cực trong ban giám đốc.   Theo tính toán của Corporate Library, các thành viên trong ban điều hành phải đầu tư 240 giờ mỗi năm bao gồm cả hội họp, công tác chuẩn bị để có thể làm tròn bổn phận của mình. Nhưng nó sẽ là công việc toàn thời gian nếu công ty gặp rắc rối. Raymond D. Cotton, cộng tác viên của văn phòng luật Mintz Levin chuyên về các hợp đồng với các hiệu trưởng và đại diện cho 250 cơ sở, nói rằng, ông khuyên các trường đại học nên ghi thêm vào hợp đồng điều khoản hiệu trưởng chỉ có thể tham gia tối đa vào 2 ban điều hành.   Tại trường Washington, việc hiệu trưởng Phyllis Wise tham gia vào Ủy ban trách nhiệm xã hội của Nike và nhận được khoản tiền lương hậu hĩnh gây nhiều tranh cãi. Một vài người cho rằng bà nhận được 50.000 USD tiền mặt, 70.000 USD tiền cổ phiếu ngoài khoản tiền lương hằng năm là 559.000 USD cho vai trò mà nó chỉ là kết quả của việc làm hiệu trưởng một trường đại học công. Tuy nhiên, vào tháng 7 vừa qua, Wise tuyên bố rằng bà chuyển thu nhập của mình ở Nike thành tiền học bổng cho sinh viên. Những người khác hỏi liệu bà có làm công việc một cách công tâm khi Nike có hợp đồng cung cấp trang thiết bị thể thao cho trường trị giá 35 triệu USD trong 10 năm qua. Công ty cũng trả cho trường 110.000 USD tiền hoa hồng bán áo hằng năm. Một vài học giả của trường cho rằng việc Wise có mặt trong ban điều hành có nghĩa là họ không thể lên án Nike về các chính sách lao động đặc biệt là đối xử với lao động trong các xưởng tại các nước đang phát triển. Trong một cuộc phỏng vấn, Wise phản bác ý kiến này. Bà cho rằng có thể giải quyết bất cứ sự xung đột lợi ích nào và sẽ rút lui trong các quyết định của trường liên quan tới Nike. Bà cũng nói mình tham gia vào Nike vì điều này mang lại cho bà kỹ năng đưa ra quyết định và kinh doanh có thể áp dụng vào môi trường đại học.               Ngọc Tú lược dịch (New York Times)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Đặng Văn Chí: Người theo đuổi liệu pháp điều trị ung thư mới      LTS: Trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới năm 2019, có một tên tuổi đáng chú ý: giáo sư Đặng Văn Chí, Giám đốc Viện Nghiên cứu ung thư Ludwig, nơi tập trung những nhà nghiên cứu quốc tế với mục tiêu ngăn ngừa và kiểm soát ung thư với sáu trung tâm khắp nước Mỹ và hai văn phòng đại diện tại châu Âu.  Trước khi trở thành một nhà nghiên cứu về ung thư huyết học, giáo sư Đặng Văn Chí theo học ngành hóa ở trường Đại học Michigan, làm nghiên cứu sinh hóa tại trường Đại học Georgetown và trường Đại học Johns Hopkins. Với hơn 200 bài báo, sách và chương sách, ông được đánh giá là người tiên phong trong nghiên cứu về ung thư với liệu pháp thời sinh học.      Giáo sư Đặng Văn Chí. Nguồn: wistar.org  Những thôi thúc đi tìm một liệu pháp điều trị ung thư hiệu quả hơn các biện pháp hiện có đã đưa giáo sư Đặng Văn Chí (Viện Nghiên cứu ung thư Ludwig, Mỹ) theo một con đường khác biệt là thời sinh học (chronotherapy). Dù không được trao giải Nobel như ba nhà khoa học năm 2017 nhưng với những nỗ lực của mình, ông đã khơi gợi được sự quan tâm của mọi người tới lĩnh vực này.   Tiên phong về thời sinh học  Giáo sư Đặng Văn Chí thường từ chối thảo luận về những công trình khoa học đã làm nên tên tuổi ông. Là một trong những tác giả hàng đầu về chuyển hóa ung thư, ông thường được mời thuyết trình về cách các khối u thiết lập lại các con đường sinh hóa để chúng tiêu thụ dưỡng chất, và cách phá vỡ các thích ứng độc hại này lại có thể là một cách tiếp cận hữu hiệu trong việc điều trị ung thư. Thay vào đó, ông hầu như tận dụng mọi cuộc seminar, mọi cuộc thảo luận và mọi lần phát biểu để nói về một thứ hoàn toàn khác: một điều chỉnh đơn giản nhưng triệt để về cách các bác sĩ kiểm soát thuốc điều trị ung thư.  Cách tiếp cận này được gọi là liệu pháp thời gian, nó liên quan đến việc xác định thời gian cung cấp thuốc để giảm thiểu tác dụng phụ của điều trị trong khi vẫn tối đa hóa hiệu quả điều trị. Ý tưởng xoay quanh việc đồng bộ hóa trị liệu với nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể trong suốt 24 giờ, vốn được gọi là đồng hồ sinh học, và sẽ tác động khi các tế bào ung thư dễ bị tấn công nhất hoặc khi các tế bào khỏe mạnh ít nhạy cảm nhất với độc tính (hoặc trong trường hợp lý tưởng là cả hai điều này sẽ xảy ra).  Giáo sư Chí ban đầu không hề đặt mục tiêu trở thành “đại sứ” cho lĩnh vực này. Nhưng với tư cách là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu ung thư Ludwig, một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ cho hàng trăm phòng thí nghiệm ung thư trên toàn thế giới và là chủ tịch hội đồng cố vấn khoa học tại Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, ông thấy mình có một vị trí nhất định để có thể định hình lại chương trình nghiên cứu – và ông tin rằng đây là lúc thích hợp để quảng bá về liệu pháp mà mình theo đuổi.  Tuy nhiên, đây không phải là một khái niệm hoàn toàn mới. Ý tưởng về liệu pháp điều trị theo thời gian đã bắt nguồn từ nhiều thập kỷ trước, một số thử nghiệm ngẫu nhiên trong những năm 1980 và 1990 cho thấy chúng giúp giảm đáng kể độc tính và kéo dài thời gian sống sót cho những bệnh nhân ung thư được điều trị theo phương pháp tối ưu hóa đồng hồ sinh học. Nhưng đối với đa số, “đây vẫn chỉ là một vấn đề bên lề. Không có nhiều nhà sinh học nghiên cứu về ung thư theo đuổi liệu pháp này giống như tôi”, GS Đặng Văn Chí nói.   Thời sinh học tồn tại như một “kẻ bên lề” giữa hàng loạt cách tiếp cận điều trị ung thư mới cho đến năm 2017.  Năm đó, giải thưởng Nobel Y học được trao cho ba nhà sinh vật học Michael Young, Jeffrey C. Hall, Michael Rosbash với phát hiện ra cơ chế phân tử điều khiển nhịp sinh học (circadian rhythms) của các sinh vật theo chu kỳ ngày đêm của Trái đất. Các nhà khoa học nghiên cứu về mối liên hệ giữa nhịp điệu sinh học và ung thư cho biết, mọi người cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến công việc của họ kể từ khi giải thưởng được công bố vào tháng 10/2017.  Nhưng những nỗ lực của riêng giáo sư Chí để thu hút sự chú ý đến mối liên hệ giữa đồng hồ sinh học – ung thư và ý nghĩa trị liệu của nó thậm chí còn được coi là quan trọng hơn để hồi sinh lĩnh vực này. “Đó là nhằm thu hút sự chú ý của mọi người,” ông cho biết, và rõ ràng có sự tăng lên trong số lượng các nhà nghiên cứu về ung thư đang bắt đầu khám phá cách nhịp độ sinh học ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển khối u sau nỗ lực của ông, dĩ nhiên có cả hiệu ứng giải thưởng nữa.      “Việc những người bệnh qua đời mỗi ngày đều nhắc nhở tôi vì sao tôi cần nghiên cứu. Và một nguyên nhân khác mà mọi người đều biết là ung thư đã tác động đến cả cuộc sống riêng tư của tôi. Khi được đào tạo thành một chuyên gia về ung thư, tôi biết rằng mình hoàn toàn nhỏ bé trước căn bệnh khủng khiếp này… Do đó, tôi chỉ cố gắng học hỏi điều mới mỗi ngày”. (giáo sư Đặng Văn Chí)      Họ không chỉ tìm ra những cách mới để theo dõi và kiểm soát các loại thuốc cũ mà còn tạo ra những “chiến thuật” thông minh để chỉnh lại những khác thường của đồng hồ sinh học. Và họ đang dần thay đổi một phương pháp trị liệu vốn từ lâu chỉ được coi là bổ sung hoặc thay thế để dần trở thành một lĩnh vực khoa học thực sự. “Thời gian là một vấn đề đầy phiền phức”  – nhưng các bác sĩ và các nhà nghiên cứu ung thư không thể tiếp lục lờ vấn đề này đi được nữa, giáo sư Chí cho biết.      Những thúc đẩy cá nhân     Rút cục, thời điểm chính là điều cốt yếu trong phương pháp điều trị ung thư.   Giáo sư Chí năm nay đã 64 tuổi, ông có dáng người mảnh khảnh với giọng nói tự tin và chậm rãi của một nhà nghiên cứu dày dạn kinh nghiệm. Ông coi cha mình – Đặng Văn Chiếu, bác sĩ phẫu thuật thần kinh đầu tiên của Việt Nam và cựu hiệu trưởng của Đại học Y khoa Sài Gòn – như một hình mẫu để ông học hỏi và tiến tới những vị trí dẫn đầu trong nghiên cứu ngành y. Cha ông đã qua đời vì ung thư gan năm 2004, đây là nguyên nhân vì sao ông mong muốn tập trung phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.   Và gia đình, một lần nữa, là một yếu tố thúc đẩy đằng sau một bước chuyển sự nghiệp tình cờ đã khiến giáo sư Đặng Văn Chí quan tâm nhiều hơn đến sinh học. Ông từng dành gần 25 năm cho các giảng viên tại Đại học Johns Hopkins, trong thời gian đó, ông đã trở thành phó trưởng khoa nghiên cứu của trường y mà ông thường nghĩ mình sẽ không bao giờ rời đi. Nhưng vào năm 2011, sau khi anh trai qua đời vì căn bệnh ung thư mô mềm di căn, giáo sư Chí tự nghĩ: “Là một bác sĩ chuyên khoa ung thư và nghiên cứu, mình cần phải làm nhiều hơn nữa”. Vì vậy, khi Đại học Pennsylvania mời ông về làm giám đốc của trung tâm ung thư, nơi này từng phát hiện ra nhiễm sắc thể bất thường có thể gây ung thư, và phát triển một thế hệ liệu pháp tế bào T có khả năng cứu sống con người – ông đã ngay lập tức nhận lời.      Giáo sư Đặng Văn Chí (giữa) luôn tận dụng mọi cuộc seminar, mọi cuộc thảo luận để nói về liệu pháp thời sinh học. Nguồn: wistar.org  Thật may mắn, Penn là nơi quy tụ các nhà nghiên cứu về nhịp điệu sinh học của Mỹ, và giáo sư Chí đã có cơ hội chuyện trò rồi sau đó là hợp tác với các nhà nghiên cứu đồng hồ sinh học từ khắp khuôn viên trường ở Philadelphia. Theo ông, những tương tác đó đã thúc đẩy một tiến triển quan trọng: Nếu ung thư là căn bệnh của sự phát triển tế bào và nhịp sinh học kiểm soát chu kỳ tế bào hoạt động thì sự gián đoạn của đồng hồ sinh học bên trong chúng ta chính là điều còn thiếu trong việc nghiên cứu sự phát triển và tăng trưởng của khối u.  Đồng hồ chu kỳ là một chu trình sinh học phức tạp kiểm soát toàn bộ các nhịp điệu sống hằng ngày như ngủ, thói quen ăn uống, nhiệt độ cơ thể và nhiều chức năng sinh lý quan trọng khác. Cơ thể có một đồng hồ chính trong bộ não và nhiều đồng hồ “thứ cấp” trong những cơ quan khác, cũng như các đồng hồ riêng lẻ khác trong từng tế bào một, tất cả đều được một mạng lưới phức tạp gồm những gene và protein kiểm soát.     Khi các đồng hồ đó còn hoạt động một cách nhịp nhàng, cơ thể vận hành như một cỗ máy được bôi trơn dầu mỡ. Nhưng khi đồng hồ của các gene nhất định bị đột biến hoặc bị loại khỏi vị trí do hội chứng rối loạn cơ thể khi thay đổi múi giờ, các hệ thống này có thể mất chức năng, dẫn đến sự phát triển và lan rộng của các khối u.  “Nếu vẫn còn ở Baltimore, có lẽ là tôi vẫn còn tập trung nghiên cứu vào một vấn đề khác”, giáo sư Chí nói. Năm 2017, ông chuyển tới một phòng thí nghiệm mới, Viện nghiên cứu Wistar – một trung tâm nghiên cứu độc lập trong khuôn viên Penn, với vị trí của một giáo sư về chương trình ung thư di truyền sinh học phân tử và tế bào. Và nếu ông không giới thiệu những ưu điểm của hướng nghiên cứu này với các nhà quản lý của Viện Ung thư quốc gia Mỹ, nơi tập trung vào nghiên cứu ung thư hàng đầu thế giới, thì viện có thể sẽ lỡ mất việc phát triển ý tưởng này. Nhờ vậy mà năm ngoái, viện đã mở một đợt tài trợ cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về những quá trình chu kỳ sinh học ảnh hưởng đến sự phát triển khối u và phản ứng của bệnh nhân đối với liệu pháp này.    Mặc dù mọi người cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến mối liên hệ giữa đồng hồ sinh học – ung thư và ý nghĩa trị liệu của nó kể từ khi giải Nobel y sinh được công bố vào tháng 10/2017 nhưng những nỗ lực của riêng giáo sư Chí để thu hút sự chú ý thậm chí còn được coi là quan trọng hơn để hồi sinh lĩnh vực này.    Những thách thức mới     Con đường không bao giờ bằng phẳng và trơn tru, đặc biệt với người như giáo sư Chí. Vài năm gần đây, nghiên cứu về liệu pháp  thời sinh học của ông tập trung một cách chủ yếu vào chứng tỏ MYC, một kiểu gene ung thư liên quan đến việc ngăn chặn các gene nằm ở trung tâm của đồng hồ sinh học trên động vật có vú, ví dụ như BMAL1. Nó làm nhiễu loạn các chu kỳ dao động bình thường của sự điều chỉnh phân tử trên trong tế bào và thay vì thúc đẩy quá trình tổng hợp protein vào một trạng thái bất thường, liên tục của các hoạt động điều khiển sự phát triển của khối u. Phát hiện này hé mở một loại thuốc điều trị đích tiềm năng, loại mà Trung tâm nghiên cứu Ung thư trẻ em Texas đang theo đuổi. Năm ngoái, trung tâm này đã nêu một loại thuốc có thể kích thích hoạt động của BMAL1 một cách trực tiếp, qua đó tác động đến sự phát triển của neuroblastoma, một loại mô thần kinh, ở cả trong nuôi cấy tế bào và mô hình trên chuột.   Giáo sư Chí tiếp tục chuyển hướng. Gần đây ông quan tâm đến một nhóm thuốc hướng đích vào NAMPT, một loại enzyme liên quan đến cả chuyển hóa ung thư và các vòng phản hồi sinh học. Trong khoảng 10 đến 20 năm trước, các chất ức chế NAMPT đã được đưa vào thử nghiệm lâm sàng nhưng tất cả đều gây ra hiện tượng số lượng tiểu cầu thấp ở bệnh nhân. Nghiên cứu chuột mắc bệnh u bạch huyết, giáo sư Chí đã phát hiện ra một điều rất thú vị: việc uống các loại thuốc này vào lúc 10 giờ sáng hoặc 6 giờ chiều là nguyên nhân dẫn đến một sự giảm bớt sự phát triển của khối u nhưng với một sự khác biệt chính: việc dùng thuốc vào lúc 6 giờ chiều, khi biểu hiện NAMPT rõ rệt nhất trong gan, thì dẫn đến số lượng tiểu cầu thấp ở chuột còn vào lúc 10 giờ sáng có hiện tượng này xảy ra.  Giáo sư Chí kiểm tra lại công việc nghiên cứu của mình cẩn thận trước khi gửi công trình đi xuất bản. Ông nghĩ rằng liệu pháp thời sinh học có thể giúp cứu vãn nhóm thuốc trị ung thư mới đầy hứa hẹn này. “Chúng tôi có thể can thiệp vào chức năng gan một cách đơn giản chỉ bằng việc xác định thời gian dùng cho những loại thuốc đó”, ông nói.  Tuy nhiên, việc điều trị ung thư theo liệu pháp thời sinh học gây nhiều tranh cãi. Đó là trường hợp của Joe Kuna, một người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng di căn vào năm 2014 và được dự đoán chỉ còn hai đến năm năm để sống. Bốn năm sau, người đàn ông 61 tuổi này vẫn sống sót với việc mất đi một khối u có kích thước bằng quả bóng tennis ở đại tràng và 15 vết thương ở gan khi tham gia trị liệu theo thời gian tại Trung tâm điều trị ung thư tích hợp ở ở Johnsburg, Illinois.  Trong suốt hai năm sau khi chẩn đoán, Kuna đến trung tâm vào mỗi thứ ba cách tuần, thường là khoảng thời gian từ 1 giờ đến đến 3 giờ 30 phút chiều, để sử dụng liều oxaliplatin. Vì mỗi thuốc chống ung thư tiêu diệt tế bào theo các cách khác nhau, “mỗi thuốc sẽ có một khoảng thời gian khác nhau” mà nó có hiệu quả cao nhất, bác sĩ ung thư Keith Block, giám đốc y tế của phòng khám ở Skokie, Illinois, cho biết. Trong khi oxaliplatin có vẻ như hoạt động tốt nhất vào buổi chiều thì fluorouracil, một loại thuốc khác được coi là nên được sử dụng vào ban đêm – có nghĩa là Kuna phải mang về nhà một chiếc máy bơm đặc biệt mà ông để trong một cái túi đeo ngang lưng. Nó được lập trình để khởi động lúc 10 giờ tối, ban đầu sẽ bắn ra một tia nước chậm. Dòng chảy sẽ tăng lên cho đến 4 giờ sáng trước khi quay lại lần nữa và kết thúc lúc 10 giờ sáng. Kuna nghĩ chính chế độ dùng thuốc bất thường này, cộng với chế độ ăn kiêng và các chất bổ sung theo chỉ dẫn của phòng khám chính là lý do khiến ông sống đến tận hôm nay.  Và mặc dù ảnh chụp từ tháng 1/2018 cho thấy hai điểm ung thư mới trong gan nhưng Kuna tự tin, với việc phẫu thuật và biện pháp uống thuốc theo giờ, ông có thể sẽ thoáng khỏi căn bệnh ung thư một lần nữa. Các bác sĩ đã loại bỏ các khối u vào ngày 26/4/2018. Nhưng không có bằng chứng nào, trừ phi có sự thử nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt, cho thấy liệu pháp mà Kuna nhận được đã tạo ra sự khác biệt. Đáng chú ý là trong số những bệnh nhân khác mà Kuna kết bạn tại Trung tâm trị liệu, không có ai còn sống đến hôm nay. Hầu hết các chiến lược trị liệu theo thời gian hiện nay đều dựa trên sự hiểu biết hạn chế về đồng hồ sinh học – điều làm các chuyên gia như giáo sư Đặng Văn Chí thất vọng.  “Chúng tôi thực sự muốn cung cấp cơ sở khoa học về lý do tại sao bạn điều trị vào một thời điểm nhất định trong ngày”, giáo sư Chí nói, “và không chỉ dựa vào thử và sai”.  Chính việc tìm ra lý do tại sao những điều chỉnh nhỏ trong chế độ thuốc thông thường lại có thể cải thiện kết quả của bệnh nhân đã khiến giáo sư Chí suy nghĩ rất nhiều, ngay cả lúc ông ngồi nhìn ra cửa sổ của chuyến tàu Amtrak trên đường đi làm từ Philadelphia, nơi ông sống và điều hành phòng thí nghiệm của mình, đến New York với công việc văn phòng tại Viện nghiên cứu Ludwig. Giống như một bước chuyển sự nghiệp nhỏ đã định hình lại cả chương trình nghiên cứu của riêng ông, “rất có thể những điều chỉnh đơn giản dựa sẽ tạo ra sự khác biệt to lớn cho bệnh nhân”, giáo sư Chí không nguôi hi vọng. □     Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn: https://www.knowablemagazine.org/article/health-disease/2018/how-ruin-cancers-day        Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Đào Tiến Khoa: Nghề không phụ người đam mê      Dù tự nhận pha chút hài hước về chuyện theo “nghề” vật lý hạt nhân là do “chẳng biết làm công việc nào khác” nhưng chính sự kiên trì và niềm đam mê với nghề đã đem lại cho GS Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân, Viện NLNTVN) một chỗ đứng riêng biệt và một uy tín khoa học mà không phải nhà nghiên cứu Việt Nam nào cũng có được.      Nhìn từ bên ngoài, ai cũng có thể cho rằng chuyện tận lực và kiên trì bám nghề của mỗi người là lẽ đương nhiên, không phải bàn cãi. Thế nhưng trong bối cảnh còn tồn tại những đánh giá sai lệch về nghiên cứu khoa học nói chung, cùng những thăng trầm trong những năm qua của khoa học hạt nhân nước nhà nói riêng, việc tận tụy với sự nghiệp nghiên cứu của các nhà khoa học hạt nhân Việt Nam có một sắc thái khác biệt. Trong một buổi lên lớp giảng về “Thống kê toán học, tư duy nhận diện và xử lý số liệu thực nghiệm” vào tháng 12/2017, GS Phạm Duy Hiển – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (Viện NLNTVN) đã giải đáp câu hỏi “thế nào là một nhà khoa học thực thụ và đàng hoàng?” của các bạn trẻ: “Một nhà khoa học thực thụ và đàng hoàng cần có được hai điều cơ bản: thứ nhất, cống hiến tất cả thời gian cho khoa học bởi nếu anh không bỏ được 80% thời gian có ích vào nghiên cứu khoa học thì xin lỗi đừng nên làm khoa học nữa; thứ hai, đam mê tìm cái đẹp trong nghiên cứu khoa học vì anh có thể dành hết thời gian nhưng không đam mê và không nhìn thấy trong khoa học cái đẹp mà anh cần đam mê tìm thấy thì cũng không làm được khoa học”.   Lời chia sẻ có phần “khắc nghiệt” của GS Phạm Duy Hiển với các bạn trẻ ngành hạt nhân dường như cũng đúng với quan điểm của GS Đào Tiến Khoa, người gần 40 năm chỉ cặm cụi công việc nghiên cứu vật lý hạt nhân với hơn 100 công trình khoa học về phản ứng và cấu trúc hạt nhân được xuất bản trên các tạp chí quốc tế hàng đầu về vật lý hạt nhân. Cũng như đồng nghiệp đàn anh của mình, GS Đào Tiến Khoa luôn động viên, hướng thế hệ trẻ vào công việc nghiên cứu. Trong phiên họp của Hội đồng Khoa học Viện NLNTVN cuối tháng 12/2019, GS Khoa đã chia sẻ: “Một nhà khoa học trẻ phải cố giữ GDP của mình ở mức cao nhất có thể (G là giỏi, D là đam mê và P là phấn đấu không ngừng) thì mới thực sự trưởng thành được”.     Bất biến và vạn biến  Câu nói đó cũng là điều nằm lòng của GS Đào Tiến Khoa. Sau nhiều năm làm nghiên cứu ở nước ngoài, năm 1998, ông đã trở về làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu cơ bản và Tính toán (nay là Trung tâm Vật lý hạt nhân (VLHN), Viện KH&KT hạt nhân, Viện NLNTVN). Dù đã quen làm việc trong các cơ sở khoa học hiện đại, ông vẫn làm quen khá nhanh trở lại với điều kiện khó khăn, kinh phí thiếu hụt trong nước. Trong bối cảnh đó, những nhà nghiên cứu như GS Trần Hữu Phát, Viện trưởng Viện NLNTVN thời kỳ đó, đã luôn động viên ông gây dựng được một nhóm nghiên cứu vật lý hạt nhân tại Viện và chỉ đạo tăng mức trần kinh phí cho đề tài khoa học cấp cơ sở cho hướng nghiên cứu đó lên mức 20 triệu đồng. GS Khoa cho rằng “được tài trợ thế là cao vì trong những năm 1990, các đề tài thường chỉ được kinh phí 5 – 10 triệu đồng. Việc có được hỗ trợ như thế có thể giúp mình duy trì được mạch nghiên cứu, không bị những khó khăn nhất thời ảnh hưởng”.  Trung tâm Vật lý hạt nhân nơi ông làm việc có lẽ là một đơn vị điển hình về khó khăn của ngành hạt nhân: mặc dù có nhiều đóng góp với các đề tài cấp bộ, cấp quốc gia đạt kết quả tốt cùng sản phẩm là các công trình đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín nhưng vẫn luôn ở tình trạng thiếu hụt nhân sự. “Đã nhiều năm nay tôi làm ở đây, nhiều bạn trẻ đã đến rồi lại đi, phần vì không có biên chế để giữ các em lại, phần vì có người chuyển hướng không làm khoa học nữa nên số người hiện tại cũng chỉ có 5 – 6 người”, ông nói. Câu chuyện thiếu hụt nhân lực kéo dài trong nhiều năm và không dễ giải quyết đã ảnh hưởng nhiều đến những dự định của GS Đào Tiến Khoa, người luôn mong muốn xây dựng một nhóm nghiên cứu thực sự về vật lý hạt nhân, gồm cả lý thuyết và thực nghiệm, “muốn là một chuyện nhưng thực tế cũng chỉ có mấy thầy trò loay hoay làm việc với nhau”. Do đã có nhiều năm trực tiếp làm việc với các nhà thực nghiệm trong một trung tâm gia tốc lớn ở châu Âu, ông biết rằng muốn giải quyết được những vấn đề nghiên cứu đủ sâu và hay cần phải có đủ nhân lực cần thiết, “có hướng nghiên cứu rất hay liên quan tới năng lượng đối xứng hạt nhân, cho thông tin về phương trình trạng thái chất hạt nhân bất đối xứng trong lõi sao neutron, hiểu được neutron và proton liên kết với nhau như thế nào trong môi trường chất hạt nhân mật độ và nhiệt độ cao… Đây là chủ đề thời sự và hay, tôi rất muốn làm nghiên cứu cùng 1, 2 bạn trẻ giỏi nhưng hiện nay không có ai cả”.    Giữa cảnh “thiếu trước, hụt sau” vì cơ chế đầu tư như vậy, ông vẫn kiên trì, “đôi lúc chỉ một thầy một trò”, tận dụng mọi nguồn lực để làm khoa học. Vào thời điểm Quỹ NAFOSTED chưa ra đời và quan điểm lấy công bố quốc tế làm tiêu chuẩn đánh giá nghiên cứu vẫn còn chưa phổ biến, ông đã nỗ lực có được những kết quả nghiên cứu tốt nhất có thể và có nhiều công bố quốc tế từ những đề tài của Hội đồng Khoa học tự nhiên quốc gia trong chương trình đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản do Bộ KH&CN quản lý. Đây cũng là cơ sở để ở giai đoạn sau, với sự tài trợ của Quỹ NAFOSTED và Viện NLNTVN, nhóm nghiên cứu của ông tập trung nghiên cứu các phản ứng va chạm ion nặng, đặc biệt là phản ứng với chùm thứ cấp của các đồng vị hạt nhân không bền (với thời gian sống rất ngắn) để tìm hiểu về cấu trúc các hạt nhân này, cũng như nghiên cứu sự hình thành của chúng qua các chuỗi phàn ứng hạt nhân đã và đang xảy ra trong quá trình tiến hóa vũ trụ. “Hướng nghiên cứu này đã mang lại cho Viện NLNTVN những công trình đăng tải trên những tạp chí vật lý hạt nhân quốc tế uy tín cao cũng như thu hút được một số sinh viên giỏi đến tham gia nghiên cứu và làm luận án tốt nghiệp”, ông đã viết như vậy trong một báo cáo về kết quả đề tài.   Với nỗ lực như vậy, trong hơn 20 năm làm nghiên cứu, trung bình mỗi năm GS Khoa cùng đồng nghiệp của mình có 2-3 công trình, tuy không nhiều về số lượng nhưng đều được xuất bản trên các tạp chí hàng đầu của vật lý hạt nhân như Physics Review C, Physics Letters B, Journal of Physics G… Theo thống kê Google Scholar, các công trình của ông có hơn 4.000 trích dẫn quốc tế và chỉ số h-index là 33. PGS. TS Phùng Văn Đồng (trường Đại học Phenikaa), người có hướng nghiên cứu khá gần với ông, đã nhận xét ngắn gọn: “Với các công bố chất lượng, những chỉ số thống kê về trích dẫn và chỉ số ảnh hưởng, GS  Đào Tiến Khoa thực sự là một trong những nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam”.       Câu chuyện thiếu hụt nhân lực kéo dài trong nhiều năm và không dễ giải quyết đã ảnh hưởng nhiều đến những dự định của GS Đào Tiến Khoa, người luôn mong muốn xây dựng một nhóm nghiên cứu thực sự về vật lý hạt nhân, gồm cả lý thuyết và thực nghiệm,      Sau nhiều năm nghiên cứu, giáo sư Đào Tiến Khoa đã có được uy tín quốc tế trong cộng đồng vật lý hạt nhân quốc tế và nhiều năm ông là đại diện chính thức của Việt Nam tại hội Vật lý hạt nhân châu Á – Thái Bình Dương (ANPha). “Hiếm nhà khoa học hạt nhân Việt Nam nào có uy tín như ông, có thể tự đứng ra tổ chức một hội nghị quốc tế lớn (hội thảo quốc tế ISPUN chuyên về vật lý các hạt nhân phóng xạ không bền, tổ chức định kỳ ba năm một lần) với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành, các ‘big name’ (tên tuổi lớn) theo đúng nghĩa”, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện NLNTVN, đánh giá.   Đào tạo những người đam mê nghiên cứu    Giáo sư Đào Tiến Khoa và các đồng nghiệp trẻ trong nhóm VATLY do giáo sư Pierre Darriulat vào thời điểm nhóm VATLY còn tham gia nghiên cứu ở Viện KH&KT hạt nhân.   Mặc dù năm nào cũng được xếp trong danh sách các công trình công bố quốc tế xuất sắc của Viện NLNTVN nhưng GS Đào Tiến Khoa chỉ cho rằng “công bố của tôi không nhiều, cứ đà đà thế thôi”. Ông cảm thấy tự hào hơn khi nhắc đến các học trò của mình, những người thực sự đã bắt đầu đam mê nghiên cứu vật lý hạt nhân và có ý định gắn bó cả cuộc đời với nó như Đỗ Công Cương, Lê Xuân Chung, Nguyễn Hoàng Phúc (Viện KH&KT hạt nhân), Ngô Hải Tân (ĐH Phenikaa), Bùi Minh Lộc (ĐHSP TPHCM), Lê Hoàng Chiến, Nguyễn Trí Toàn Phúc (ĐH Khoa học Tự nhiên TPHCM)… “Tìm học trò khó lắm, thầy lúc nào cũng phải đi tìm trò nhưng lấy đâu ra, tìm có dễ đâu, làm khoa học đâu có ra nhiều tiền như nhiều nghề nghiệp khác”, ông kể về cái khó của người thầy.   Ở một chừng mực nào đó, nhờ sự “sàng lọc” có phần khắc nghiệt nên ai còn trụ lại ở Trung tâm Vật lý hạt nhân với thầy Khoa đều là những người tâm huyết và nỗ lực. “Ví dụ Lê Xuân Chung là người luôn phấn đấu, từ lúc theo tôi làm thạc sĩ đến nay cũng mất một khoảng thời gian khoảng 5 đến 7 năm. Giờ đây bạn ấy bước đầu gặt hái được thành quả, có thể tham gia vào những chương trình nghiên cứu quốc tế lớn với các thí nghiệm vật lý hạt nhân hiện đại”, GS Đào Tiến Khoa cho biết.     Với mong muốn đào tạo được những nhà nghiên cứu giỏi cho ngành hạt nhân, ông luôn tận dụng những mối quen biết, những bạn bè đồng nghiệp thân ở nước ngoài để gửi học trò tới các trung tâm quốc tế lớn để học tập và tham gia nghiên cứu. Theo cách đó, TS. Lê Xuân Chung và một số học trò khác của ông đã có điều kiện theo học những người thầy nước ngoài, quan sát và thực hiện các nhiệm vụ, có thể ban đầu còn “thô sơ” nhưng sau được nâng dần độ khó. “giáo sư bạn tôi ở Viện GSI Darmstadt (CHLB Đức) rất hiểu khả năng của người tôi gửi sang, lúc đầu giao những việc đơn giản, rồi cứ dần dần nâng cao trình độ để mình có thể theo kịp. Mọi kiến thức khoa học cứ tích lũy dần dần như thế, làm khoa học là việc lâu dài, không thể vội được”, ông nói.   Không phải học trò nào của GS Đào Tiến Khoa gửi ra nước ngoài cũng thành công ngay, nhưng ai biết “gạt bỏ mặc cảm tự ti, lăn vào học hỏi” thì đều có thể trưởng thành. “Vật lý hạt nhân hiện đại đòi hỏi việc thực hiện các thí nghiệm hết sức phức tạp tại các trung tâm gia tốc quốc tế lớn để nghiên cứu cấu trúc những hạt nhân đồng vị phóng xạ với thời gian sống rất ngắn. Chỉ qua việc cùng làm thí nghiệm với họ, các em được tiếp cận tới những ý tưởng mới, những yếu tố mà có thể gợi ý về những thí nghiệm vật lý hạt nhân tương lai”, ông chia sẻ điều mà bản thân ông chờ đợi từ các học trò của mình.  Với cách làm như vậy, một vài người trong nhóm của ông  đã được hướng vào mảng thực nghiệm, cơ sở để ông đạt ước mơ xây dựng được một nhóm có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm: sau quãng thời gian TS Lê Xuân Chung và ThS Bùi Duy Linh tham gia SEASTAR, một dự án hợp tác nghiên cứu VLHN quốc tế do Viện nghiên cứu Hóa Lý RIKEN (Nhật Bản) và Viện nghiên cứu các định luật cơ bản của vũ trụ IRFU (Pháp) khởi xướng với sự tham gia của gần 100 nhà nghiên cứu, điều quan trọng mà GS Đào Tiến Khoa cho rằng học trò của mình đã thu nhận được là “lần đầu tiên thực sự tham gia một cách bình đẳng trong nghiên cứu VLHN thực nghiệm quốc tế. Các bạn đã có thể hiểu được công việc mình làm, góp phần thực sự vào những công trình đăng tải trên tạp chí lớn, ví dụ năm 2019, Chung là đồng tác giả của một bài báo của SEASTAR trên Nature”. Theo giải thích của ông, bình đẳng ở đây là “mình có thể tham gia vào tất cả các công việc trong nghiên cứu, từ các công việc ghi đo, thu thập số liệu… đến phân tích số liệu thực nghiệm”. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu trẻ đã tham gia thực sự vào các chương trình trước, trong và sau thí nghiệm với những việc như “xây dựng thuật toán theo dõi quỹ đạo của hạt tương tác, xác định điểm tương tác ‘nhúng’ trong chương trình phân tích chính hay phân tích các thông tin vật lý từ số liệu đo đạc, đưa ra những giải thích cho các kết quả thu được”, theo TS Lê Xuân Chung.   Không chỉ “tự mình khen học trò mình” mà nhiều nhà nghiên cứu bên ngoài cũng nhận xét về học trò của GS Đào Tiến Khoa, “đều là những người có xuất phát điểm rất tốt và sau này đều có thể làm việc độc lập, ngay cả người mới bảo vệ luận án tiến sĩ như Ngô Hải Tân cũng cho thấy tiềm năng đó trong tương lai”, như nhận xét của PGS. TS Phùng Văn Đồng.  ***  Nhìn lại con đường nghiên cứu của mình, có nhiều điều vẫn còn khiến GS Đào Tiến Khoa cảm thấy tiếc nuối, nhiều dự định khó có thể triển khai, ít ra là tương lai gần. Bây giờ, ông xác định cho mình tập trung vào những việc có thể thực hiện được, đó là “làm nghiên cứu vật lý hạt nhân trên cơ sở những mô hình vật lý gọn nhẹ nhưng lại chứa đựng nhiều thông tin vi mô về cấu trúc hạt nhân hơn, như việc tính toán vi mô thế tương tác hạt nhân – hạt nhân để dùng trong mô tả các phản ứng hạt nhân trực tiếp với ion nặng. Trước đây mình cũng từng làm nhiều về hướng này, nay quay trở lại với những ý tưởng hay và mới với việc cập nhật các thành tựu của vật lý hạt nhân hiện đại…”.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giáo Sư Hồ Đắc Di – Nhà nhận thức luận sâu sắc      Kỷ niệm về Giáo sư Hồ Đắc Di (1900-1984) trong hồi ký của GS NGND Đào Văn Tiến (1920-1995), nguyên Chủ nhiệm Khoa Sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội.      Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đại học Y năm 1955, GS. Hồ Đắc Di (thứ hai từ phải sang), lúc đó à Hiệu trưởng.  Bác Di là bạn vong niên của tôi, tôi kém bác tới hai chục tuổi. Có lẽ có điểm nào phù hợp mà bác năng gặp tôi, nhất là từ lúc nghỉ công tác ở trường Đại học Y khoa, và bác thường gọi đùa tôi là conseiller scientifique (cố vấn khoa học) cũng như gọi anh Gi Trọng1 là conseiller politique (cố vấn chính trị) của bác.  Bác, người thấp, gầy, mặt xương xương, tóc chải lật ít bạc, ria con tằm, cái miệng hóm hỉnh, riêng đôi mắt sáng nhìn ai như xoáy vào lòng người. Bác luôn ăn mặc chỉnh tề, mùa nắng thì sơ mi và xăng đan, mùa rét thì complê đại cán, đi giày bốt tin đen đánh bóng. Bác thuộc loại người có duyên, khi nói chuyện, cặp mắt cười trước cái miệng, nên dễ hấp dẫn người nghe. Bác hay gặp tôi vào buổi chiều, cuối giờ làm việc để (theo lời bác) khỏi mất thì giờ của tôi và tiện bác đã đi bộ xong một vòng phố, trước khi về nhà ăn cơm chiều. Bạn bè trong giới Y thường nhìn bác như một ông già vui tính, hóm hỉnh, ứng biến nhanh, chơi chữ rất đắt trong những chuyện nhỏ của đời thường.  Những chuyện kể của bác rất nhiều và được truyền miệng cũng không phải ít. Đại loại như: Về câu nói của văn hào Rabelais: “Khoa học không có ý thức, chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, bác thêm: “Ý thức không có khoa học chỉ là sự hủy hoại thể xác”. Nói về thủ đô xuống cấp dần về nhiều mặt, đã có học giả gọi Hà Nội là một cái làng lớn, bác nói: “Ở nước ngoài, người ta thành thị hóa nông thôn, còn ở ta, lại tiến hành nông thôn hóa thành thị”. Hồi làm giám đốc trường Đại học Y khoa Hà Nội, đang ngồi nói chuyện với bí thư đảng ủy trường, có một sinh viên xin gặp lãnh đạo trường giải quyết việc gì đó, anh này luôn nhắc: “Trăm sự nhờ chính quyền, em không biết thế nào…”. Bác tủm tỉm cười, cắt ngang: “Ấy chết đừng có lẫn lộn, chính là tôi, bác chỉ vào ngực, nhưng quyền lại là ông này, bác chỉ vào bí thư…”. Những chuyện vui của bác khéo chơi chữ để phản ảnh những nghịch lý trong xã hội thời đại có thể viết thành sách, như các cuốn “Suy nghĩ của nhà sinh học” của Jean Rostand. Một vài chuyện nêu trên chứng tỏ bác rất thông minh, nhận thức nhanh và biện bác giỏi.  Những người biết suy nghĩ thì khen bác ở chỗ bác nói to những điều mà người khác không nhận thấy, hay nhận thấy nhưng chỉ dám nói thầm. Riêng tôi học được ở bác tính lão thực của người trí thức chân chính, điều không dễ thấy ở nhiều đồng nghiệp của tôi. Nhưng ít người biết bác còn là nhà giáo dục thâm thúy, có suy nghĩ nhiều về công tác đào tạo, đồng thời là nhà nhận thức luận sâu sắc.  Từ năm 1975, thôi làm Hiệu trưởng trường Y, bác có thì giờ đọc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và thường xuyên đến phòng làm việc của tôi hơn để đàm đạo.  Đa số ý niệm của bác về lĩnh vực này, hay lĩnh vực kia, đều phản ảnh trong các bài diễn văn khai giảng của trường trước kia. Tiếc thay chúng ít được tạp chí chuyên ngành quan tâm phổ biến. Thật là một sự thiệt thòi cho trí tuệ.  Về giáo dục, bác quan tâm tới giáo dục đại học nói chung và nói riêng cho ngành Y. Theo bác, ngành đại học từ khi thành hình, đã có vài nhược điểm mà, theo con mắt nghề nghiệp, bác gọi vui là bệnh: lạm phát đại học, lạm dụng học hàm, ỉa chảy ngôn từ, táo bón trí tuệ… Trong thời gian dài, người ta đã lẫn lộn hai phạm trù, phổ biến khoa học cho đại chúng và đào tạo chuyên gia giỏi cho các ngành kinh tế, xã hội, nên cho mở rất nhiều trường đại học (hiện có tới 97 trường) và lấy sinh viên đại trà không tuyển chọn. Có cấp quản lý quan niệm một cách đơn giản là có nhà, có thầy, có trò, có sách là thành trường đại học. Người ta không hiểu rõ nhu cầu cán bộ của từng ngành, từng thời kì mà mở trường, và ấn định chỉ tiêu tuyển sinh, chỉ lấy con số trường mở và con số sinh viên làm thành tích.  Trong trường, thầy nói nhiều hơn làm thực tập. Sinh viên thụ động nghe liên hồi những tri thức chuyên môn và không chuyên môn, trong khi thực hành lại quá ít. Sản phẩm đào tạo, đến lượt họ, cũng trở thành những người nói nhiều, làm ít, nói giỏi làm dở, hết lớp này đến lớp kia…Còn nói về tri thức, thì vốn tri thức ở mỗi cán bộ ngưng đọng, không được luân lưu qua các thảo luận, qua các nguồn tin mới. Do đó khó nảy sinh ra sáng kiến. Người ta dễ dàng lặp đi lặp lại lời của người xưa: “Tử viết”.  Về mấy nhược điểm quan trọng của ngành đại học nêu trên, các biện pháp sửa chữa gần như buông lỏng hàng chục năm, đã dẫn tới thành hình một đội ngũ cán bộ chuyên môn, đông đảo, nhưng yếu kém về chất lượng, thụ động, ít tư duy độc lập.  Nghe bác nói xong, tôi tần ngần: Giá chúng ta chữa những bệnh này sớm, có lẽ… Bác ngắt lời: “Tôi có nói những điều này cách đây hơn 30 năm, có ai nghe tôi đâu”. Tôi ngạc nhiên: “Bác là Hiệu trưởng trường Y, Bộ trưởng Bộ Giáo dục là người nhà, sao việc phát hiện ra cái nhược điểm của ngành đại học đúng đắn như vậy lại không có ai chú ý để chúng quá kéo dài và để lại hậu quả nặng nề tới ngày nay?”  Nhiều lần nói về khoa học, bác thích thú lặp lại với tôi hình ảnh cây tri thức: Rễ cây là tri thức khoa học cơ bản, thân cây là tri thức khoa học cơ sở và cành cây cùng hoa quả, lá là tri thức chuyên khoa. Nói về các ngành gắn với sinh học, rễ cây là các môn toán, lí, hóa, sinh học đại cương, thân cây là các môn sinh học cơ sở, cành cây là các môn y học, nông học, lâm học… Rễ có vững chắc bám chắc vào đất thì thân cây mới khỏe để vươn lên, thân có khỏe chứa căng nhựa, cành lá mới xum xuê mang đầy hoa quả…  Trong ngành Y, hiện có nhiều bác sĩ thực hành, nhưng bác sĩ khảo cứu quá ít, chính loại sau mới có thể đẩy y học tiến bộ vượt bậc. Chương trình đào tạo ngành y, chưa đáp ứng được yêu cầu đó: Ta mới chỉ lưu tâm tới kiến thức ở ngọn mà coi nhẹ kiến thức ở thân, ở rễ. Tôi hỏi tại sao, thì lời đáp vẫn nhắc lại như một điệp khúc: có ai nghe tôi đâu. Kì quái thật, một hiệu trưởng có ý đồ sáng suốt như vậy mà không sao thực hiện được ngay trong trường của mình? Vướng mắc chỗ nào đây mà kéo dài hàng chục năm trời? Hơn nữa, nhận thức đúng đắn này có thể mở rộng cho các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản… Trách nhiệm về ai? Bộ chủ quản hay Bộ Đại học?  Có một vấn đề, bác thích thú kể lại, thực hiện được theo ý bác là hoàn cảnh chiến tranh, buộc phải có chế độ luân phiên đào tạo cán bộ, để vừa đáp ứng được yêu cầu của tiền tuyến, vừa nâng cao được chất lượng đào tạo.Với vốn kiến thức trong thực tế chiến đấu, về lại trường, sinh viên có được bổ túc thêm về lí luận, và khi ra lại chiến trường, trình độ cao thêm một bước. Rồi lại thêm kinh nghiệm thực tiễn, lại thêm trí thức lí luận. Vốn hiểu biết học và hành của họ cứ tăng theo vòng xoáy trôn ốc đi lên. Có lẽ cách này phù hợp với quá trình hình thành tri thức của loài người: Thực nghiệm -> lí luận -> thực nghiệm… Bác còn nói thêm, hình thức seminar trong giảng dạy ở đại học là rất cần thiết và thích hợp, nhưng ít, nếu không nói là không thầy nào quan tâm tới phương pháp này. Nó đòi hỏi người thầy phải hơn trò một cái đầu tri thức – hiện nay, ít thầy giáo có trình độ như vậy.  Nói chuyện với bác, đôi lúc tôi quên hẳn là mình ngồi cạnh người thầy thuốc, mà là một nhà giáo dục học, một nhà triết học với tính nhân văn rõ nét. Có lúc nhìn bác, tôi lại ngậm ngùi nhớ tới triết gia cổ Diogene đốt đèn đi giữa ban ngày để tìm Người.  Tới phòng làm việc của tôi vào mùa hè, anh em thường lau sạch sàn đi chân đất, lần nào cũng thế, bác ngồi xệp xuống đất để tháo đôi xăng đan nhựa trắng. Tôi cản thế nào cũng không được, bác không muốn khác mọi người.  Những năm 1980 – 1983, bác đã thấy yếu hơn trước, đôi khi đi nằm viện. Tôi tới thăm, bác tâm sự: “Vào đây tôi thấy nhớ nhất cái phòng làm việc của anh…” Tôi rất cảm động, và biết chắc ông bạn già của tôi không phải là người khách sáo. Có một điều, tới giờ tôi còn ân hận là, trước khi đi công tác nước ngoài, đã không gặp bác. Một buổi sáng, bác sang thăm tôi như thường lệ, sau này tôi được nghe kể lại, lúc đó bác đã yếu lắm, lên cầu thang gác phải nghỉ giữa chừng và bác phàn nàn là không biết bao giờ gặp lại tôi. Phải chăng đây là lời trăn trối gián tiếp của người bạn vong niên? Vì sau đó hai tuần, bác mất.  Hôm tôi vừa về nước, đến nhà chia buồn và đứng trước bàn thờ có ảnh bác: vẫn mái tóc đen, đôi mắt cười vui và cái miệng hóm hỉnh như khi nào, tôi đã không cầm được nước mắt. Vào tuổi xế chiều, có một bạn tri kỉ như bác quả là một hạnh phúc… Nhưng bác đã vĩnh biệt tôi.     Hồ Đắc Di (1900 –1984), sinh ra tại Hà Tĩnh, trong một gia đình quý tộc gốc Huế, vốn có truyền thống khoa bảng, được cha mẹ cho sang Pháp du học từ năm 1918-1932. Sau khi học trung học ở Bordeaux, ông theo học Khoa Y tại trường Đại học Tổng hợp Paris, rồi được công nhận là bác sĩ nội trú ngành phẫu thuật. Ông đã công bố 37 công trình nghiên cứu y khoa đứng tên chung với các đồng nghiệp, cộng sự và học trò, chủ yếu tập trung nghiên cứu và giải quyết các bệnh lý đặc trưng ở một nước nhiệt đới, nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam như công trình nghiên cứu về viêm tụy cấp tính, điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn, phương pháp mổ mới trong phẫu thuật sản, nghiên cứu tình trạng sốc do chấn thương… , trở thành tác giả có uy tín với các báo và tạp chí chuyên ngành như báo Y học Viễn Đông, tạp chí Viện Hàn lâm phẫu thuật, báo Y hải ngoại của Pháp… Năm 1931, Hồ Đắc Di trở về nước với mong muốn ứng dụng nghiên cứu vào thực tiễn nước nhà. Cách mạng Tháng Tám thành công, GS Hồ Đắc Di được giao nhiều trách nhiệm quan trọng như Tổng thanh tra Y tế, Tổng giám đốc Đại học vụ, Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy, đặc biệt là việc tổ chức lại trường Đại học Y Hà Nội, nơi ông giữ chức Hiệu trưởng từ năm 1954 đến năm ông nghỉ hưu (1973). Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật năm 1996.  Tia Sáng cảm ơn gia đình cố GS Đào Văn Tiến đã cho phép trích đăng một phần hồi ký cá nhân của ông.  ——  Tít bài do Tia Sáng đặt  1 GS Nguyễn Tấn Gi Trọng (1913-2006), Nguyên chủ nhiệm Bộ môn Sinh lý học, Đại học Y Khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII (chú thích của Tia Sáng).    Author                Đào Văn Tiến        
__label__tiasang Giáo sư Nguyễn Sơn Bình: không trò nào được phép chỉ tin một ai, kể cả thầy      Tôi may mắn được làm việc với giáo sư Nguyễn Sơn Bình thông qua tiểu hợp phần 1a của dự án FIRST “Tài trợ cho chuyên gia giỏi nước ngoài về KH, CN và Đổi mới sáng tạo – FIRST” vào tháng 10/2017. Điều này cũng trùng khớp với mong ước của tôi: có cơ hội kết nối học hỏi và hợp tác với những nhà khoa học quốc tế giỏi về khoa học vật liệu để phát triển những hướng nghiên cứu của mình.      Giáo sư Nguyễn Sơn Bình giảng dạy tại lớp học “Nâng cao kinh nghiệm viết bài báo đăng trên tạp chí quốc tế ISI” tại Hà Nội vào tháng 10/2017.  Tuy ít về Việt Nam kể từ khi định cư cùng gia đình tại Mĩ năm 1984 nhưng giáo sư Nguyễn Sơn Bình vẫn được nhiều đồng nghiệp trong nước biết đến và ngưỡng mộ qua những kết quả nghiên cứu mà ông xuất bản trên các tạp chí uy tín hàng đầu thế giới như Nature, Nature Nanotechnology, Nature Chemistry, Advanced Materials, Nano Letters, ACS Nano, Journal of the American Chemical Society, Advanced Functional Materials, Angewandte Chemie… Bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu độc lập ở Khoa Hóa, trường Đại học Northwestern từ năm 1996, đến nay giáo sư Nguyễn Sơn Bình đã có hơn 250 bài báo trên tạp chí ISI, hơn 30 bằng sáng chế và nhiều giải thưởng khoa học trong các lĩnh vực tổng hợp hóa học, xúc tác, tổng hợp vật liệu mềm và hóa học nguyên liệu được lấy cảm hứng từ sinh học. Các dự án nghiên cứu do ông thực hiện chủ yếu tập trung vào hóa học vô cơ/hóa học hữu cơ kim loại, tổng hợp hữu cơ và khoa học polymer, đồng thời ông cũng quan tâm đến các chất xúc tác thân thiện với môi trường và vật liệu sinh học.  Để xây dựng được kế hoạch về tiểu hợp phần 1a của dự án FIRST mà trong đó ông là một “khách mời” quan trọng, tôi đã chủ động liên hệ với ông trước đó một năm qua email và đề xuất một số hoạt động hỗ trợ các nhà khoa học trẻ Việt Nam về nghiên cứu khoa học và đào tạo. Tôi thực sự thấy mình may mắn khi được giáo sư Nguyễn Sơn Bình chấp nhận lời mời và đồng ý tham gia thực hiện đề xuất trên, đồng thời vào tháng 6/2017, Ban Quản lý dự án FIRST cũng phê duyệt khoản tài trợ tiểu hợp phần 1a do tôi làm chủ nhiệm. Khi gặp giáo sư  Nguyễn Sơn Bình ở Hà Nội, tôi được ông cho biết, một trong những lí do nhận lời mời, đó là chưa khi nào ông thấy có người nhiệt tình và kiên trì liên hệ với ông như vậy.    Khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo  Quãng thời gian giáo sư Nguyễn Sơn Bình có mặt ở Hà Nội không dài nhưng cũng đủ để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. Qua trao đổi với ông, tôi nhận thấy ông không chỉ có những cách thức và phương pháp nghiên cứu mới mẻ mà còn có nhiều quan điểm cởi mở đáng học hỏi. Giáo sư Nguyễn Sơn Bình luôn luôn đề cao tinh thần “lấy khoa học để dẫn cho tất cả những điều khác”, không được để những thứ khác dẫn đường cho khoa học. Giáo sư cũng nói rằng, “nguyên tắc đầu tiên trong phòng thí nghiệm của tôi, đó là không trò nào được phép chỉ tin một ai, kể cả thầy Nguyễn Sơn Bình, có hiểu được như vậy thì các em mới có thể đạt được những kết quả nghiên cứu tốt nhất”. Mặc dù điều đó có vẻ như trái ngược với xu hướng chung ở Việt Nam nhưng lại hết sức đúng đắn, vì khoa học luôn đòi hỏi phải có sự sáng tạo, mới mẻ và phải dám vượt qua những kiến thức đã biết để khám phá được những hiểu biết mới ở trình độ cao hơn.  Giáo sư Nguyễn Sơn Bình cũng là người thầy hết sức khắt khe và luôn đề cao tinh thần tự lập cũng như nỗ lực của học trò trong nghiên cứu khoa học. Ông thường nói rằng có những câu hỏi các vị giáo sư không bao giờ muốn trả lời học viên, đó là những câu hỏi mà họ có thể tự tìm tòi, nghiên cứu để có được câu trả lời. Tuy nhiên, ông cũng khuyến khích những câu hỏi “tốt” thể hiện sự tích cực làm việc, say mê tìm hiểu để tìm ra những kết quả mới.  Tuy khuyến khích tinh thần cởi mở và đổi mới sáng tạo trong khoa học nhưng mặt khác, giáo sư Nguyễn Sơn Bình cũng là người cẩn trọng đến từng chi tiết nhỏ bởi ông cho rằng, từng chi tiết và từng công việc nhỏ nhất trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng giống như từng câu chữ hay từng đoạn văn trong bài báo khoa học, nó cần phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, tỉ mỉ và hoàn hảo để đạt được những kết quả tốt trong nghiên cứu.  Dù đã về nước một vài lần trong vai trò cố vấn của Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) nhưng đến nay, giáo sư Nguyễn Sơn Bình vẫn chưa nhận lời tham gia một hoạt động nghiên cứu nào với các nhà khoa học Việt Nam, không phải do ông không tin cậy các nhà nghiên cứu trong nước mà là ông chưa tìm thấy một dự án chung nào để có thể kết hợp nghiên cứu đồng thời tại phòng thí nghiệm của ông ở Mỹ và phòng thí nghiệm của đối tác ở Việt Nam.   Sẵn sàng truyền đạt kinh nghiệm cho nhà khoa học trẻ  Giáo sư Nguyễn Sơn Bình dành phần lớn quỹ thời gian của mình cho nghiên cứu. Việc về nước tham gia giảng dạy tại lớp học “Nâng cao kinh nghiệm viết bài báo đăng trên tạp chí quốc tế ISI” ở Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) vào tháng 10/2017 vừa qua cũng là cố gắng rất lớn của ông khi phải dừng một số dự án nghiên cứu trong gần nửa tháng. Ông chia sẻ với tôi là rất quan tâm đến các nhà khoa học trẻ Việt Nam, và mong góp phần giúp các nhà khoa học trẻ có thêm các kinh nghiệm để họ có thể tự tin tiếp cận và bắt nhịp với hoạt động nghiên cứu khoa học trên thế giới.  Để tổ chức được lớp học này, tôi và GS. Nguyễn Sơn Bình đã cùng nhau trao đổi rất nhiều nhằm tìm ra phương án tối ưu. Ban đầu, chúng tôi dự kiến số lượng tham dự vào khoảng 40 đến 50 học viên là vừa nhưng không ngờ, số lượng các nhà khoa học trẻ Hà Nội và những vùng lân cận đăng ký tăng đột biến lên tới hơn 130 người, một số học viên ở xa như Thái Nguyên vẫn đều đặn sáng đi, tối về để có thể tham dự lớp học. Số lượng học viên tăng như vậy không chỉ từ uy tín của giáo sư Nguyễn Sơn Bình mà còn là chương trình giảng dạy cho từng kỹ năng do ông chuẩn bị hết sức công phu. Vì thế, ngay cả những nhà nghiên cứu đã có một số bài báo trên các tạp chí quốc tế cũng “lấy” được ở ông những gợi ý có giá trị cho quá trình viết bài của mình. Ông nói rất chân thành với mọi người, do có rất nhiều công bố trong cùng một lĩnh vực nghiên cứu nên nếu muốn đồng nghiệp quan tâm đến công bố của mình thì ngoài việc giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và sâu sắc, cần phải biết cách trình bày nó thật hấp dẫn, dẫn dắt mạch bài theo những chi tiết đắt giá chỉ mình mới có, thu hút như một tác phẩm văn học, như vậy mới thuyết phục được tạp chí và các nhà bình duyệt cũng như để nhiều người cùng biết đến bài báo nhiều hơn.     Sau khóa học, các học viên trẻ đều nhận xét, bài giảng với nhiều kinh nghiệm quý báu mà giáo sư Nguyễn Sơn Bình đúc rút từ giai đoạn dài nghiên cứu của ông rất ý nghĩa đối với với họ, đặc biệt với những người còn mới bước chân vào nghiên cứu và chưa có công bố quốc tế nào.  Giáo sư Nguyễn Sơn Bình tâm sự với tôi, đây là lần đầu tiên ông giảng dạy một cách chi tiết và kéo dài trong nhiều ngày như vậy về kỹ năng viết bài báo quốc tế. Tổ chức một khóa như vậy ở bên Mỹ có thể tiêu tốn lên đến 30.000 USD nhưng về Việt Nam, ông không nhận bất kỳ một khoản chi phí nào.  Nổi tiếng và được nhiều người biết đến khi bốn năm liền lọt vào danh sách nhà khoa học có công trình được trích dẫn nhiều nhất thế giới (highly cited researchers) của Thomson Reuters và Clarivate Analytics nhưng giáo sư Nguyễn Sơn Bình rất giản dị trong cách sống và làm việc. Khi về Việt Nam, ông không muốn ở tại những nơi sang trọng và không muốn ăn những bữa ăn đắt đỏ làm tốn kém kinh phí tổ chức và trong bất kỳ hoạt động nào, ông cũng luôn nhấn mạnh với mọi người cần phải tiết kiệm kinh phí để không lãng phí tiền thuế của nhân dân.  Là một nhà hoạt động bảo vệ môi trường, giáo sư Nguyễn Sơn Bình cũng luôn luôn ý thức từ những việc nhỏ nhất. Mỗi khi đi làm hay đi công tác ở bất kỳ đâu, ông cũng luôn mang theo một bình nước nhỏ. Ông giải thích, ông không thích sử dụng chai nước đóng sẵn vì những vỏ chai khi bỏ đi sẽ ảnh hưởng đến môi trường. Ở Mỹ, giáo sư Nguyễn Sơn Bình cũng gần như không sử dụng ôtô cho những chuyến di chuyển ngắn mà chủ yếu đi xe đạp “để góp phần bảo vệ môi trường”, như lời tâm sự của ông.  Một trong những điểm đặc biệt nữa ở giáo sư Nguyễn Sơn Bình là tấm lòng nhân ái và tinh thần khuyến học. Trước đây, ông từng tặng xe đạp cho các em học sinh nghèo có chí hướng tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam thông qua một số người thân. Ông cũng chủ động trao đổi với tôi về việc thực hiện ý định tương tự tại một vài trường ở miền núi phía Bắc Việt Nam.  Năm 1990, giáo sư Nguyễn Sơn Bình tốt nghiệp ngành Hóa học tại Đại học Pennsylvania State và sau đó theo học tiến sĩ hóa học dưới sự hướng dẫn của GS. Robert Grubbs và GS. Nathan Lewis tại Caltech vào năm 1995. Ông làm hậu tiến sĩ với giáo sư K. Barry Sharpless tại Viện nghiên cứu Scripps rồi về Khoa Hóa, trường Đại học Northwestern. Ngoài công việc nghiên cứu tại đây, ông còn là thành viên chính của phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Argonne. Theo số liệu cập nhật đến ngày 27/12/2017, các công trình của ông có 61.171 lượt trích dẫn còn chỉ số h-index của ông là 86, riêng công trình “Graphene-based composite materials” của ông và cộng sự xuất bản trêm Nature năm 2006 đến nay có 9.565 lượt trích dẫn 1.  ——–  Tác giả làm việc tại Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.  1. https://scholar.google.com/citations? user=0MWnxp4AAAAJ&hl=en          Author                Bùi Hùng Thắng        
__label__tiasang Giáo sư Nguyễn Thục Quyên: Tiên phong nghiên cứu pin mặt trời hữu cơ      Với nỗ lực tìm tòi những đặc tính mới của vật liệu hữu cơ và thiết bị điện tử hữu cơ, trong nhiều năm qua, giáo sư Nguyễn Thục Quyên (trường đại học California ở Santa Barbara, Mỹ) là một trong số các nhà nghiên cứu tiên phong của lĩnh vực đang phát triển rất “nóng” này. Vì thế, với những công bố trong lĩnh vực vật liệu hữu cơ, chị đã có mặt trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều thế giới (highly cited researchers), tức top 1% thế giới (World top 1%), trong ba năm liên tiếp, từ năm 2015 đến 2017.      Giáo sư Nguyễn Thục Quyên và TS. Niva Ran giới thiệu tấm pin mặt trời hữu cơ. Ảnh: Andrew Goodwin, Angstrom Engineering Inc.    Trước khi lọt vào danh sách này của Thomson Reuters và Clarivate Analytics, giáo sư Nguyễn Thục Quyên vốn đã được nhiều đồng nghiệp quốc tế biết đến thông qua những công trình được xuất bản trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành như Nature Materials, Science, Advanced Materials, Advanced Energy Materials, Advanced Functional Materials, Physical Chemistry Chemical Physics, Chemistry of Materials, Applied Physics Letters… do chị và cộng sự thực hiện. Các công trình này chủ yếu tập trung vào việc làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc phân tử, cách thức làm thiết bị và hiệu suất hoạt động của các thiết bị điện tử hữu cơ (organic electronics) – gồm pin năng lượng mặt trời hữu cơ (organic solar cells), transistor hiệu ứng trường hữu cơ (organic field-effect transistor), cảm biến quang điện (photodetectors), và đèn LED (organic light-emitting diodes), đặc biệt là các đặc tính của vật liệu và thiết bị ở kích cỡ nano.  Bên cạnh đó, chị cũng nghiên cứu về tính chất điện tử của polyme liên hợp có chứa ion (conjugated polyelectrolytes) và vật liệu sinh học (biomaterials), cơ sở để tạo ra những vật liệu hữu cơ tiên tiến trong các thiết bị điện tử sinh học (bioelectronics), có khả năng ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, ví dụ như pin nhiên liệu sinh học (microbial fuel cells) và lĩnh vực y học như các thiết bị y tế sinh học hữu cơ (organic biomedical devices).  Sức hút từ vật liệu hữu cơ  Hình thành từ các phân tử hữu cơ (gốc carbon) có kích thước nhỏ hoặc các polymer, lợi thế của các vật liệu điện tử hữu cơ so với các chất dẫn điện và bán dẫn vô cơ là làm ra những thiết bị thân thiện với môi trường và linh hoạt trong ứng dụng. Gần đây, bài báo “Ba cách thiết bị điện tử hữu cơ đang thay đổi công nghệ như chúng ta biết” trên trang web theconversation.com1 đã vẽ ra một viễn cảnh thú vị: một ngày nào đó, thiết bị mà ta thường dùng như điện thoại thông minh không chỉ nằm gọn trong túi áo mà còn có thể quấn quanh cổ tay và gắn chặt với làn da như một lớp thạch cao trong suốt. Vật liệu điện tử hữu cơ chính là yếu tố làm nên điều kỳ diệu này, nó có thể được dùng để tạo ra nhiều loại công nghệ, từ các tấm pin mặt trời đến màn hình máy tính có thể cuộn lại và bỏ túi.  Một phần của câu chuyện này sẽ được giải quyết trong tương lai bởi hiện tại, các nhà nghiên cứu vẫn đi tìm những biện pháp khắc phục những điểm yếu của vật liệu hữu cơ và thiết bị điện tử hữu cơ như hiệu suất điện năng thấp và không bền. Đó cũng là điều mà giáo sư Nguyễn Thục Quyên theo đuổi nhiều năm qua. Năm 2009, trong dịp được trao học bổng Sloan Research Fellowship từ Quỹ Alfred P. Sloan Foundation2, chị đã bày tỏ: “Mục tiêu của tôi là thiết lập cách các cấu trúc phân tử và các phương pháp xử lý để có thể đưa một cách hợp lý [vật liệu hữu cơ] vào ứng dụng như các transistor, pin mặt trời và đèn LED. Nhìn từ góc độ tổng thể, các nghiên cứu [về vật liệu bán dẫn hữu cơ] đã góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản liên quan đến các công nghệ dựa trên chất bán dẫn hữu cơ để có thể tạo ra năng lượng và duy trì năng lượng”3.  Theo mục đích đó, những năm gần đây, giáo sư Nguyễn Thục Quyên vẫn luôn tìm tòi và thực hiện các nghiên cứu góp phần nâng cao tính năng của vật liệu hữu cơ. Ví dụ năm 2016, công trình “Solution-based electrical doping of semiconducting polymer films over a limited depth” do chị và các cộng sự xuất bản trên tạp chí Nature Materials đã đề xuất một kỹ thuật mới để sản xuất ra loại pin mặt trời polyme hữu cơ đơn lớp có khả năng đưa các quang điện hữu cơ vào những thiết bị điện tử có thể đeo, mang trên người (wearable devices) thế hệ mới và phát điện năng ở quy mô nhỏ. Kỹ thuật này có thể thay thế cách tiếp cận phức tạp trước đây (do đòi hỏi trải qua quá trình xử lý chân không) và có tiềm năng sử dụng trên nhiều nền tảng thiết bị, bao gồm các thiết bị điện tử hữu cơ in được (organic printed electronics), cảm biến, cảm biến quang điện (photodetectors) và đèn LED. Với những ưu điểm này, kỹ thuật mới của giáo sư Nguyễn Thục Quyên được đánh giá là có khả năng thúc đẩy việc ứng dụng rộng rãi các thiết bị điện tử được làm từ chất nhựa dẫn điện, trong đó có pin mặt trời.    Giáo sư Nguyễn Thục Quyên.   Giáo sư Nguyễn Thục Quyên luôn tìm thấy những điều thú vị và vẻ đẹp trong công việc xử lý các phân tử nhỏ mà nhóm nghiên cứu của chị phát triển tại trường đại học California ở Santa Barbara (UCSB), “sức hút từ các phân tử [bán dẫn hữu cơ] nhỏ tan được trong dung môi thông dụng mà nhóm nghiên cứu của tôi phát triển tại UCSB là bạn có được chính xác phân tử trong mỗi lần sử dụng (khác với việc sử dụng polyme có thể có khối lượng phân tử khác nhau từ những lần tổng hợp khác nhau). Tính nhất quán này rất quan trọng cho các ứng dụng của thiết bị điện tử. Các phân tử này có thể được hòa tan trong dung môi để tạo ra một dung dịch giống như mực in, điều đó có nghĩa là một tấm pin mặt trời hữu cơ có thể được in thành cuộn ở quy mô lớn tương tự như in một tờ báo”4.  Việc thực hiện những nghiên cứu về vật liệu hữu cơ giúp giáo sư Nguyễn Thục Quyên hiểu được nhiều loại thiết bị điện tử hữu cơ, cơ sở quan trọng để chị và cộng sự “tìm ra các mối tương quan từ cấu trúc phân tử sang cách chế tạo, tính chất của phân tử, và cuối cùng là chức năng và hiệu suất của thiết bị”, chị nói.   Con đường 10 năm đến UCSB  Thế giới khoa học vật liệu hết sức rộng lớn và đa dạng. Vậy tại sao giáo sư Nguyễn Thục Quyên lại chọn vật liệu hữu cơ và pin mặt trời hữu cơ? Trong một cuộc phỏng vấn, chị cho biết: “Cho đến năm 16 tuổi, tôi vẫn sống ở một ngôi làng nhỏ ở Việt Nam, nơi không hề có điện, vì thế tôi có mối quan tâm đặc biệt đến năng lượng mặt trời”.  Năm 1991, chị chuyển đến Mỹ. Cũng như những người dân nhập cư khác, chị phải học thêm tiếng Anh để hòa nhập và tìm một chỗ đứng trong xã hội mới. Sau khi trải qua các khóa tiếng Anh dành cho người lớn tuổi (adult school) trong vòng hai năm, chị nhập học Santa Monica College, một trường công lập cộng đồng ở California có chương trình đào tạo trong vòng hai năm với mức học phí rất thấp. Đây là bước đệm để chị bước vào trường đại học California, Los Angeles (UCLA) và theo học ngành hóa lý của trường từ bậc đại học, cao học đến tiến sỹ. Kết thúc chương trình postdoc tại trường Đại học Columbia, chị mới chính thức về Khoa Hóa và Hóa sinh ở UCSB vào năm 2004 – nơi được giáo sư Nguyễn Thục Quyên đề cập đến một cách tự hào là “xếp ở vị trí hàng đầu thế giới trong lĩnh vực khoa học vật liệu”, “trường đã [đem lại cho chúng tôi] các công cụ máy móc và điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu về vật liệu” và tạo cơ hội “lý tưởng cho nghiên cứu của chúng tôi”. Như vậy, con đường từ Santa Monica College đến UCSB của chị đã kéo dài gần 10 năm với rất nhiều nỗ lực.  “Việc nâng cao hiệu suất của pin mặt trời hữu cơ đòi hỏi một cấu trúc thiết bị đa lớp. Việc làm các quang điện đơn lớp bằng cách tiếp cận của chúng tôi sẽ giúp đơn giản hóa quá trình chế tạo thiết bị và do đó giảm giá thành sản phẩm. Test kiểm tra ban đầu các thiết bị điện tử đơn lớp cho kết quả rất hứa hẹn. Nó sẽ giúp chuyển hóa quang điện hữu cơ thành một công nghệ thương mại” 7 (Giáo sư Nguyễn Thục Quyên)  Trên thực tế, không phải cái gì cũng đến với chị một cách hoàn hảo. Việc học tiếng Anh muộn so với nhiều người cũng để lại “dấu ấn” trong cách phát âm của chị. Trên RateMyProfessors.com (RMP) – trang web do một kỹ sư phần mềm Mỹ xây dựng để sinh viên có thể ẩn danh trong đánh giá, xếp hạng các giáo sư và các trường ở Mỹ, Canada và Anh, vài sinh viên có buông lời phàn nàn “cô Nguyễn Thục Quyên nói khó nghe”. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là chút “rào cản” ban đầu trong quá trình giao tiếp và trao đổi kiến thức bởi phần lớn sinh viên đều bày tỏ sự ngưỡng mộ với chị, “cô Nguyễn là một giáo sư xuất sắc. Tôi không hiểu tại sao người ta lại quá bận tâm đến vấn đề phát âm của cô ấy. Cô ấy thực sự quan tâm đến các thành viên trong lớp và luôn mong muốn thấy các sinh viên của mình làm mọi việc thật tốt…”5.  ***  Trong quá trình nghiên cứu, giáo sư Nguyễn Thục Quyên đã giành được nhiều giải thưởng, gần đây nhất là Humboldt Research Award của Alexander von Humboldt Foundation (Đức), hạng mục dành cho những nhà khoa học có những khám phá mang tính nền tảng, những lý thuyết mới, những kiến thức có sức ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu của họ và những nhà khoa học được chờ đợi sẽ đạt được những thành công vượt trội trong tương lai. Là một người tận tụy với công việc, chị cho rằng, việc nhận giải thưởng sẽ “giúp kết nối nghiên cứu trong tương lai của tôi với các đồng nghiệp Đức”. Hiệu trưởng UCSB, ông Henry T. Yang, đánh giá, “Giải thưởng đã ghi nhận sự xuất sắc, tầm ảnh hưởng và những tác động lớn trong tương lai từ các công trình nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thục Quyên. Cô cũng là một minh chứng cho tinh thần liên kết liên ngành, đổi mới sáng tạo và khám phá của UCSB”6.  Nhận xét của ông Henry T. Yang cũng đã bao hàm một “bí quyết” thành công trong nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thục Quyên, đó là tinh thần đổi mới sáng tạo và yêu khám phá những điều mới mẻ. “Chúng tôi luôn luôn mong muốn nhận diện được những vấn đề quan trọng trong khoa học. Khoa học rất thú vị và còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp. Tuy nhiên cũng như những nhà khoa học khác, chúng tôi không có đủ nguồn nhân lực, thời gian và kinh phí để trả lời mọi vấn đề, [vì thế] chúng tôi chỉ có thể lựa chọn những vấn đề có thể đem lại những tác động lớn trong cộng đồng khoa học và có nhiều tiềm năng [ứng dụng] với xã hội”, chị chia sẻ.  —-  1. http://theconversation.com/three-ways-organic-electronics-is-changing-technology-as-we-know-it-63287  2. Học bổng Sloan Research Fellowships được trao từ năm 1955. Trong số các nhà nghiên cứu đã được trao học bổng, có 38 người sau đó giành giải Nobel và 14 người giành giải Fields.  3. http://www.news.ucsb.edu/2009 /012566/ucsb-assistant-professor-chemistry-and-biochemistry-awarded-sloan-fellowship  4, 6. http://www.news.ucsb.edu/2016 /016593/here-comes-sun  5. http://www.ratemyprofessors.com/ ShowRatings.jsp?tid=956540  7. http://www.news.ucsb.edu/2016/ 017438/game-changer-organic-solar-cells          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu: Người đặt nền móng cho vật lý lý thuyết Việt Nam      Giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, một trong những người đặt nền móng cho ngành vật lý lý thuyết và khoa học vật liệu Việt Nam, đã qua đời ngày 23/1/2022.      Ảnh: Giáo sư, viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Nguồn: Cafebiz  Nhiều người trong giới khoa học Việt Nam đã bày tỏ sự tiếc thương trước sự ra đi của ông và đánh giá sự đóng góp của ông với khoa học nước nhà. Với người có sức ảnh hưởng quá rộng, vượt quá phạm vi chuyên ngành vật lý hạt cơ bản, thông qua vai trò của một nhà quản lý khoa học – Viện trưởng Viện KH&CN Việt Nam (từ năm 1993 đến năm 1994), Giám đốc Trung tâm KH Tự nhiên và Công nghệ QG (1993 – 1994), Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu (1993 – 1998), hiệu trưởng trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN (2004-2005)… như giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, có lẽ thật khó để ngay một lúc đưa ra được một đánh giá tường tận.  Giáo sư Lê Hồng Khiêm, nguyên viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người đón nhận trọng trách là đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna (JINR) từ giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, đã dành những lời chia sẻ về ông “Tôi không biết nói gì hơn… Là người từng tiếp nối vai trò của giáo sư Hiệu ở Viện Viện Vật lý sau các giáo sư Đào Vọng Đức, Nguyễn Ái Việt (A), Nguyễn Đại Hưng, tôi may mắn được hưởng một di sản khá lớn, một tập thể nghiên cứu mạnh với nhiều người tâm huyết và nhiều người từng được ông dìu dắt, được thừa hưởng ý chí làm khoa học của ông. Những người từng làm việc xung quanh giáo sư Hiệu cũng là những người đang góp phần tạo dựng thời kỳ đó nên Viện Vật lý luôn là một trong những nơi có công bố ISI vào top 3, top 5 của viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam”.  Trưởng thành từ Dubna, giáo sư Nguyễn Văn Hiệu cũng là đại diện toàn quyền của Việt Nam tại nơi này, một cơ sở nghiên cứu khoa học đào tạo ra rất nhiều nhà khoa học Việt Nam tài năng, đặc biệt là ngành vật lý. “Do đó, một trong những chủ đề ông quan tâm là làm thế nào để đưa Viện Dubna thành một nơi đào tạo cán bộ cho Việt Nam một cách hiệu quả”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nói. Khi nhắc đến điều này, giáo sư Lê Hồng Khiêm muốn nhắc đến một giai đoạn khó khăn của Dubna, sau khi Liên Xô tan rã, nên “số người Việt Nam ở đó gần như bằng không”. “Lúc đó, giáo sư Hiệu rất trăn trở và nói với tôi ‘cháu phải cố gắng đưa được người trẻ và giỏi sang bên đó vì Dubna vẫn là nơi đào tạo cán bộ tốt nhất cho Việt Nam”, ông cho biết. Hiện tại, số lượng các nhà khoa học trẻ ở Dubna đã gia tăng trở lại, không chỉ ngành vật lý mà mở rộng cho nhiều ngành khác.  Trong sự nghiệp của mình, dù đã chuyển sang quan tâm đến vật lý chất rắn hay khoa học vật liệu, nhưng theo đánh giá của nhiều nhà khoa học hậu sinh, thành công khoa học của giáo sư Nguyễn Văn Hiệu vẫn nằm trọn vẹn ở lĩnh vực vật lý hạt cơ bản. Trong ấn bản “100 năm Đại học quốc gia Hà Nội” (1906-2006), đồng nghiệp của ông đã viết “Trong hai năm 1961 đến 1963, Nguyễn Văn Hiệu đã hoàn thành nhiều công trình về lý thuyết tương tác yếu giữa các hạt cơ bản – một trong những lĩnh vực nghiên cứu đang có tính thời sự lúc đó. Tiếp đó, Anh đã bắt tay vào nghiên cứu một lĩnh vực rất mới: các tính chất của các biên độ tán xạ các hạt nhân năng lượng cao” 1. Đó là quãng thời gian giáo sư Nguyễn Văn Hiệu học tập tại Dubna dưới sự dẫn dắt của nhà vật lý lý thuyết Anatoly Logunov, người nghiên cứu lý thuyết trường lượng tử và có đóng góp quan trọng vào lý thuyết hấp dẫn.    Cuốn “General Principles of Quantum Field Theory” (Các nguyên lý cơ bản của lý thuyết trường lượng tử) của nhà xuất bản khoa học Springer có trích dẫn các công trình khoa học của giáo sư Anatoly Logunov và giáo sư Nguyễn Văn Hiệu. Nguồn: Springer   Trong một cuộc gặp gỡ ở Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam vào ngày 30/12/2020, giáo sư Trần Hữu Phát, nguyên viện trưởng Viện NLNTVN, kể lại “Năm 1964, anh Hiệu đã viết xong luận án tiến sĩ khoa học và làm được một loạt bài báo từ ý tưởng của giáo sư Anatoly Alekseevich Logunov. Tôi mang luận án về nghiên cứu, thấy nghiên cứu va chạm của hai hạt, tính được biên độ tán xạ và tiết diện tán xạ của nó. Logunov chứng minh là trong lý thuyết trường lượng tử định xứ thì biên độ tán xạ có hai đặc điểm, một nó là hàm giải tích của năng lượng trên mặt phẳng năng lượng, thứ hai là tiến tới vô cực chậm hơn một đa thức. Anh Hiệu đã dùng tính chất thứ nhất để tính các hàm lân cận rất nổi tiếng” 2.  Trên Math-Net.Ru, một cơ sở dữ liệu khoa học Nga được trích xuất từ nhiều nguồn khác nhau trong toán học, vật lý, công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan, thư mục “Nguyễn Văn Hiệu” được ghi nhận có 20 công trình, được xuất bản từ năm 1966 đến năm 2002 3. Năm 1990, nhà xuất bản khoa học Springer xuất bản cuốn “General Principles of Quantum Field Theory” (Các nguyên lý cơ bản của lý thuyết trường lượng tử) của các tác giả Nikolay Bogolyubov, Anatoly Logunov, A.I. Oksak, Ivan Todorov. Cuốn sách này có trích dẫn các công trình khoa học của giáo sư Anatoly Logunov và giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, ví dụ như “Asymptotic relations between cross sections in local field theory” (công bố năm 1963), “Asymptotic relations between scattering amplitudes in local field theory” (công bố năm 1966) 4.  Sau này, giáo sư Nguyễn Văn Hiệu có nhiều học trò và một trong số đó là PGS. TS Nguyễn Bá Ân (vật lý lượng tử) – một trong hai nhà khoa học đầu tiên được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu.  Có lẽ, sẽ có nhiều đánh giá và ghi nhận khác nhau về vai trò và đóng góp của giáo sư Nguyễn Văn Hiệu với ngành vật lý Việt Nam nói riêng cũng như khoa học Việt Nam nói chung nhưng có thể nói rằng, khi nói về sự phát triển của khoa học Việt Nam những năm 1980-2010, không thể không nhắc đến tên tuổi của ông.  —–  1. http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7792/  2. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Giao-su-Tran-Huu-Phat-%E2%80%9CNguoi-dac-biet%E2%80%9D-cua-nganh-hat-nhan–26783  3. http://www.mathnet.ru/php/person.phtml?option_lang=eng&personid=20792  4. https://link.springer.com/book/10.1007/978-94-009-0491-0#editorsandaffiliations       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Giáo sư Phạm Lợi Vũ: Niềm vui đến muộn      Con đường đến với khoa học không thật sự bằng phẳng, cũng không có nhiều người đồng hành nhưng với giáo sư Phạm Lợi Vũ, không gì có thể ngăn cản ông tiếp tục cuộc hành trình của mình và trở thành một trong những chuyên gia quốc tế về phương pháp bài toán ngược. Ở tuổi 86, dồn nhiều tâm huyết và công sức xuất bản một cuốn sách chuyên khảo tại nhà xuất bản uy tín CRC Press Taylor Francis Groups – “không nhiều nhà khoa học Việt Nam có được” như nhận xét của giáo sư Phạm Đức Chính, đồng nghiệp ở Viện Cơ học – ông chỉ hi vọng “xếp được một viên gạch để những người đi sau có thể xây thêm những viên gạch khác”.      Giáo sư Phạm Lợi Vũ và cuốn sách chuyên khảo  “Inverse Scattering Problems and Their Application to Nonlinear Integrable Equations”  Với những người nghiên cứu thuần túy lý thuyết, đặc biệt là toán học, sự nở rộ của tài năng thông qua những công trình nghiên cứu thường đến sớm hơn so với đồng nghiệp ở những ngành và lĩnh vực thiên về thực nghiệm, vốn đòi hỏi những tích lũy dày dặn về kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên điều đó dường như không hẳn đúng với giáo sư Phạm Lợi Vũ, người dành cả đời theo đuổi các bài toán ngược – những vấn đề tính toán các nhân tố nhân quả (causal factors) dựa theo tập hợp các quan sát những đại lượng do chúng gây ra – và những ứng dụng của nó trong lĩnh vực toán lý. Một phần vì những truân chuyên mà giáo sư Phạm Lợi Vũ gặp phải sau ba lần đi học ở Liên Xô trở về liên quan tới đơn vị nghiên cứu mà ông làm việc khiến “ở độ tuổi 60 – 70, ông mới đạt tới đỉnh cao lao động sáng tạo, để cứ một hoặc hai năm công bố được một bài báo ở tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, và phần lớn các công trình công bố quốc tế cho mình ông thực hiện ở Việt Nam”, giáo sư Phạm Đức Chính từng chia sẻ suy nghĩ về ông trên Tia Sáng cách đây cả chục năm.  Người tự bày một “mâm cỗ”  Ra đời vào tháng 11/2019, cuốn sách chuyên khảo “Inverse Scattering Problems and Their Application to Nonlinear Integrable Equations” (Những bài toán ngược tán xạ và những ứng dụng cho các phương trình khả tích phi tuyến) là tập hợp những công trình mà giáo sư Phạm Lợi Vũ đã thực hiện trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình, “phản ảnh kết quả giải bài toán ngược tán xạ và mở rộng việc áp dụng kết quả của bài toán ngược tán xạ để giải một lớp các phương trình truyền sóng phi tuyến nổi tiếng”, ông giới thiệu như vậy về công trình tâm huyết.       Điểm khác biệt của cuốn sách này là giáo sư Phạm Lợi Vũ đứng tên một mình. “Thông thường, ít nhà nghiên cứu Việt Nam nào có đủ uy tín và chuyên sâu về nội dung để có thể đứng tên một mình trong xuất bản như vậy”, giáo sư Phạm Đức Chính cho biết.      Điểm khác biệt của cuốn sách này là giáo sư Phạm Lợi Vũ đứng tên một mình. “Thông thường, ít nhà nghiên cứu Việt Nam nào có đủ uy tín và chuyên sâu về nội dung để có thể đứng tên một mình trong xuất bản như vậy”, giáo sư Phạm Đức Chính cho biết.   Dường như việc “đơn thương độc mã” như vậy đã gắn liền với sự nghiệp nghiên cứu của giáo sư Phạm Lợi Vũ, ngay từ lúc công bố các công trình nghiên cứu trên những tạp chí quốc tế chuyên ngành. Trên thực tế, không có nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm đến bài toán ngược, dù đây được coi là một trong số những bài toán quan trọng trong khoa học, có thể cho chúng ta biết về những tham số mà chúng ta không thể trực tiếp quan sát và theo giáo sư Phạm Lợi Vũ, “các phương trình giải được theo phương pháp này ‘bắt rễ’ rộng khắp trong cơ học thủy khí, lý thuyết trường lượng tử, vật lý plasma, quang học phi tuyến, v.v…” Ngay cả khi đã yên tâm làm việc tại Viện Cơ học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), nơi ông gắn bó đến khi về hưu vào năm 2000, thì hầu như ông chỉ làm việc một mình. “Người ta cứ bảo tôi là ‘ông chỉ bày ra một mâm cỗ chỉ để cho ông ăn một mình thôi, đề tài hay công trình của ông chẳng có ai khác đứng tên cả’. Tôi không biết nói thế nào vì tôi không có ê kíp, tôi không có quyền lấy người để tạo nhóm được nghiên cứu cho mình”, ông kể.   “Mâm cỗ” bài toán ngược ấy được ông chăm chút ngay cả khi phải làm những công việc mà hướng của nó không hề trùng khớp như xác định chấn tiêu động đất, xác định hiệu chỉnh động số liệu thăm dò dầu khí, thăm dò nước ngầm…, và cả những lúc bị gián đoạn công bố. “Tôi luôn nhất quán về bài toán ngược và coi đó là công việc quan trọng nhất trong nghiên cứu của mình”, ông đề cập đến lựa chọn của bản thân trong những hoàn cảnh không thuận lợi theo đuổi hướng nghiên cứu này một cách nhất quán. Điều ngạc nhiên là dù lầm lụi làm việc và cuối cùng cũng đến được điểm mốc nhưng ông lại không hề tự hào về tinh thần “tự lực cánh sinh” này. Trái lại, ông không khỏi ngậm ngùi: “Nếu tôi có điều kiện làm việc thuận lợi hơn, có được nhóm nghiên cứu thì tôi đã có sách này từ lâu rồi, có thể cách đây cả chục năm, trước khi tôi về hưu”.   Nỗi ưu tư về việc hình thành nhóm nghiên cứu đeo đẳng ông suốt quá trình nghiên cứu. Hơn ai hết, ông hiểu “muốn thành công và tiết kiệm thời gian thì phải có nhóm nghiên cứu. Lúc nào cũng cần có người phản biện mình, nghi ngờ mình. Nhiều nghi ngờ về cái sai mới như thế mới dẫn đến cái đúng chứ”, tuy nhiên những rào cản về biên chế và chế độ đãi ngộ đã khiến ông không thể thực hiện mong muốn của mình. Mặt khác, những đấu tranh vì khoa học của ông ở Viện Cơ học thời đó, cũng giống như trường hợp đồng nghiệp vong niên Phạm Đức Chính, khiến những đề xuất của ông không được đoái hoài. “Giáo sư  Vũ nằm trong số ít nhà khoa học tâm huyết làm việc ở Việt Nam vẫn có thể vươn tới trình độ quốc tế nhưng không nhận được sự tôn trọng và hỗ trợ thích đáng từ hệ thống quản lý yếu và một số – như ông nói – quyền chức khoa học tham lam, ích kỷ và giả dối”, giáo sư Phạm Đức Chính ngậm ngùi viết như vậy trên Tia Sáng năm 2007.  Nhẫn nại theo đuổi đến cùng công việc     Giáo sư Phạm Lợi Vũ trình bày nội dung cuốn sách trong một seminar tổ chức tại Viện Cơ học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  Xuất bản sách tưởng chừng là niềm vui không chỉ của riêng ông mà còn của cả gia đình, những người tạo điều kiện để ông toàn tâm toàn ý với công việc. “Thực ra ban đầu gia đình cũng muốn tôi hoàn thành cuốn sách nhưng sau ai cũng phản đối, không muốn cho tôi tiếp tục vì công việc kéo dài quá, năm này qua năm khác không xong. Tôi cũng thấy vất vả thật, ngại lắm nhưng bao nhiêu sức lực mình đã bỏ ra rồi, mình muốn kết thúc trọn vẹn”, ông kể về những khó khăn trong quá trình hoàn thiện bản thảo.  Có được sách chuyên khảo in ở nhà xuất bản quốc tế uy tín là điều mơ ước của nhiều nhà nghiên cứu nhưng thuyết phục nhà xuất bản không phải chuyện dễ. “Từ ý tưởng ban đầu đến khi ra đời cuốn sách, tôi cũng phải mất gần chục năm. Tác giả phải trả lời được một số câu hỏi của nhà xuất bản: nội dung sách của anh dựa vào đâu? phục vụ ai? mới ở chỗ nào? khác những cuốn sách khác cùng chủ đề như thế nào? có nhất quán theo cùng một chủ đề không? Tất cả phải được trả lời rất rành mạch và tường minh”, giáo sư Phạm Lợi Vũ kể lại quá trình ông “thư đi, thư lại” với các nhà xuất bản cho đến khi cuốn sách ra đời.  Việc xuất bản sách của giáo sư Phạm Lợi Vũ khởi đầu từ năm 2009, khi ông chủ động gửi thư đề xuất ý tưởng với nhà xuất bản Springer. Qua trao đổi trong gần 4 năm về nội dung và đề cương cuốn sách, hai trong ba phản biện của Springer cho biết, do nội dung của cuốn sách này đều là những công trình xuất bản trên các tạp chí có uy tín như Inversre Problems, Journal of Nonlinear Mathematical Physics nên họ thấy không có vấn đề gì về mặt toán học nhưng “phản biện thứ ba bảo anh viết sai nhiều tiếng Anh, nhiều lỗi ngữ pháp nên bản thảo này chưa sẵn sàng cho Springer xuất bản”. Do đó, họ gợi ý cho ông hai nhà xuất bản là Taylor & Francis Group và SIAM, nơi có cả một đội ngũ riêng chuyên giúp sửa chữa lỗi tiếng Anh, có thể giúp ông được vấn đề này.  Ông bắt đầu một cuộc trao đổi mới với Taylor & Francis Group, nơi ông nhận được những chia sẻ hết sức quý báu. “Đầu tiên họ bảo về toán thì giống như Springer là không có vấn đề gì về mặt toán học cả nhưng nội dung vẫn còn chưa đủ tỉ mỉ, vẫn cần so sánh với những vấn đề cùng chủ đề. Do đó, họ yêu cầu tôi viết thêm một chương, tôi phải viết thêm một chương và mất nửa năm nữa”, giáo sư Phạm Lợi Vũ không dấu nổi niềm vui khi có được người phản biện và giúp mình khai thác mở rộng vấn đề sâu sắc hơn.   Cuốn sách của ông dày gần 390 trang, được chia làm 9 chương, tất cả đều được trình bày một cách tường minh, chặt chẽ và nhất quán, ví dụ chương 1 và 3 giải các bài toán ngược tán xạ đối với hệ hai phương trình vi phân cấp 1 trên nửa trục cho nhiều trường hợp khác nhau với ma trận thế năng không tự liên hợp và giảm theo tốc độ của hàm mũ và cho trường hợp ma trận thế năng tự liên hợp và giảm theo tốc độ của hàm lũy thừa. Các chương 2, 3, 4, 6 và 7 sử dụng kết quả của các bài toán ngược tán xạ ở chương 1 và 3 để giải các bài toán biên và bài toán Cauchy đối với một lớp các phương trình phi tuyến trên nửa trục như phương trình phi tuyến Schrȍdinger đẩy và hút, phương trình phi tuyến bậc 3, modified KdV, sine-Gordon, sinh-Gordon.&nbs      “Người ta cứ bảo tôi là ‘ông chỉ bày ra một mâm cỗ chỉ để cho ông ăn một mình thôi, đề tài hay công trình của ông chẳng có ai khác đứng tên cả’. Tôi không biết nói thế nào vì tôi không có ê kíp, tôi không có quyền lấy người để tạo nhóm được nghiên cứu cho mình”, ông kể.      Một điểm đáng chú ý là dù cuốn sách được tập hợp trên cơ sở nhiều bài báo ông thực hiện trước khi nghỉ hưu vào năm 2000 nhưng cũng có tới 11 bài báo là sản phẩm của các công trình nghiên cứu sau thời gian này, trong đó nhiều bài là sản phẩm của đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ. “Giáo sư Phạm Lợi Vũ là một trong những chủ trì đề tài cao tuổi nhất của NAFOSTED. Sau do không đủ sức khỏe để có thể cáng đáng được công việc của chủ trì đề tài nữa, ông vẫn tiếp tục làm việc với tư cách là thành viên của một nhóm nghiên cứu ở Viện Cơ học”, giáo sư Phạm Đức Chính cho biết. Năm 2015, giáo sư Phạm Lợi Vũ tham gia với phó giáo sư Trần Thu Hà (Viện Cơ học) đề tài “Nghiên cứu thủy động lực học trong dòng chảy”, dù sau đề tài phải gia hạn thời gian nhưng cũng góp phần đem lại cho ông hai bài báo lần lượt xuất bản vào năm 2018, 2019 và đều có mặt kịp thời trong cuốn sách chuyên khảo này.   Nhìn lại cả cuốn sách, giáo sư Phạm Lợi Vũ không khỏi vui mừng về những nội dung được bổ sung vào cuốn sách, điều mà ông còn đắn đo khi bắt tay vào biên soạn. “Theo gợi ý của nhà xuất bản mà tôi có điều kiện thực hiện một bước nâng cao nội dung của mình, đó là trình bày về mối quan hệ giữa phương pháp ngược tán xạ với những phương pháp khác có liên quan ở chương 9. Để so sánh và liên hệ phương pháp mà mình phát triển với những phương pháp khác, tôi phải mất thêm nửa năm để đọc lại các tài liệu cũng như công bố mới về các phương pháp này. Tuy vất vả nhưng tôi lại càng thấm thía điều này: nó cho mình thấy phương pháp của mình có cái hay nhưng phương pháp khác mà người ta dày công phát triển cũng có cái hay không kém. Thế giới khoa học thực sự muôn hình muôn vẻ, điều mình làm ra rất cơ bản nhưng không phải là cuối cùng, mỗi người chỉ có thể giải quyết được một tí thôi, không nên quan niệm bài báo của mình là ‘to đùng vĩ đại’, làm gì có chuyện đấy”, ông nói.  ***  Vào đầu năm 2020, Hội đồng khoa học Viện Cơ học tổ chức seminar giới thiệu nó với sự tham gia của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài viện. Ông vui vì có cơ hội để nhiều người biết đến và sử dụng cuốn sách làm công cụ nghiên cứu. Ông kể, “ông viện trưởng Viện Cơ học đến dự và hỏi ‘sách của anh có phục vụ thực tế không?’, tôi bảo ‘sách của tôi nó rất có ý nghĩa cho các phương trình vật lý toán quan trọng nhưng để nó ứng dụng ngay bây giờ thì không thể”.  Những phương pháp tán xạ ngược chưa thể ứng dụng trong  thực tế nhưng điều đẹp nhất mà nó để lại trong cuộc đời làm khoa học của giáo sư Phạm Lợi Vũ, đó là cho ông một cuốn sách, sự tôn trọng của đồng nghiệp và cả niềm tin vào khoa học mà ông đã truyền cho cả những người thân trong gia đình. Bà Nguyễn Thị Huyền, người bạn đời của ông, im lặng trong suốt thời gian ông kể về cuốn sách, mỉm cười ấm áp vào cuối câu chuyện “say mê khoa học thì làm thôi phải không cháu” như một cách xác quyết về điều ông đã chọn. □    Inverse Scattering Problems and Their Application to Nonlinear Integrable Equations được NXB Taylor & Francis Group xếp vào chùm sách chuyên khảo về các phương trình vi phân và phi tuyến tính. Trong phần nhận xét kết luận của sách đã viết: Các bài toán ngược tán xạ đã được giải một cách trọn vẹn, đã mô phỏng đầy đủ tập các dữ liệu tán xạ, nghĩa là đã thiết lập được điều cần và đủ để cho các đại lượng cho trước là dữ liệu tán xạ đối với bài toán sinh ra từ phương trình vi phân tuyến tính với thế năng giảm nhanh và thỏa mãn các điều kiện biên và ban đầu. Yêu cầu được giải quyết là điều kiện tiên quyết để áp dụng có hiệu quả việc giải các bài toán biên và bài toán Cauchy đối với phương trình tiến hóa phi tuyến. So sánh phương pháp ISM được sử dụng trong sách với các phương pháp khác được viết trong Chương 9. Hai bước tính toán của sơ đồ viết ở trên hoàn toàn nằm trong phương pháp ISM, trong khi đó theo Fokas, Habibullin và các giả khác thì bước 2 được thực hiện bằng cách giải bài toán Riemann-Hilbert. Cuốn sách là tài liệu tham khảo về Bài toán ngược và Vật lý-Toán. Nội dung sách được trình bày hệ thống, các định lý và bổ đề trong sách được chứng minh đầy đủ, được diễn giải chi tiết theo từng bước để có thể sử dụng cho sinh viên, học viên cao học.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giáo sư Phan Đình Diệu: Anh Cả của Tin học Việt Nam      “Nếu có thể Bảo nên chuyển qua làm về trí tuệ nhân tạo vì đấy là tương lai của tin học” là gợi ý trong bức thư Anh Diệu gửi tôi mùa hè 1984, thời kỳ trí tuệ nhân tạo còn ảm đạm. Đã nhiều chục năm trôi qua, nay lĩnh vực này đang là khoa học và công nghệ cốt lõi của kỷ nguyên số. Nhớ lại một kỷ niệm riêng nhân 85 năm ngày sinh của Anh Diệu càng thấy tầm vóc của Anh, người Anh Cả của nền Tin học nước nhà”.      Giáo sư Phan Đình Diệu.  Giáo sư Phan Đình Diệu sinh ngày 12 tháng 6 năm 1936 tại xã Trung Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Sau khi học trường cấp 3 Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, năm 1954 ông ra Hà Nội theo học ngành Toán tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Ông tốt nghiệp xuất sắc và trở thành giảng viên của trường vào năm 1957.   Năm 1962, ông được cử đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Khoa Toán học Tính toán và Điều khiển học, Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva mang tên Lomonosov. Ông theo đuổi nghiên cứu về  Logic toán và Giải tích hàm, cũng như việc xây dựng một nền móng vững chắc của Toán học.   Cuộc khủng hoảng về cơ sở của Giải tích toán học vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến sự ra đời của lý thuyết Cantor về tập hợp, tạo nền móng cho Giải tích toán học và Toán học nói chung. Nhưng việc phát hiện ra những nghịch lý trong bản thân lý thuyết tập hợp đã làm lung lay nền móng này. Giới toán học đứng trước vấn đề cần xem xét tính đúng đắn của một số mệnh đề vốn vẫn mặc nhiên được coi là đúng và cần hoài nghi cả một số quy tắc logic vẫn đang dùng. Một số trường phái về xây dựng nền móng của Toán học đã xuất hiện, nổi bật là ba phái lớn: chủ nghĩa logic (logicism), chủ nghĩa hình thức (formalissm) và chủ nghĩa trực giác (intuitionism).  Phái chủ nghĩa logic, khởi đầu bởi G. Frege và tiếp tục bởi B. Russell, A. Whitehead, chủ trương đưa toàn bộ toán học thành một bộ phận của logic, ở đó các đối tượng của toán học được xem là không tồn tại độc lập và có thể được xác định bởi một chuỗi các định nghĩa, các phán đoán, các suy diễn logic.  Cùng lúc làm luận án tiến sĩ, ông đã dành thời gian tìm hiểu các lý thuyết về thuật toán, tâm huyết với việc gán cho khái niệm “tồn tại” hay “xây dựng được” các nội dung thuật toán một cách chính xác. Đây là những bước chuẩn bị ban đầu của ông cho một sự nghiệp ông sẽ theo đuổi trong suốt quãng đời còn lại. Điều này cũng phần nào giống như câu chuyện hai mươi năm trước đó, khi làm việc ở Pháp và Đức, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã âm thầm tìm hiểu về vũ khí để khi về nước đã gây dựng nên nền quân khí Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến.    Phái chủ nghĩa hình thức, khởi xướng bởi D. Hilbert, tiếp tục bởi P. Bernays, W. Ackermann, J. von Neumann và nhiều người khác, chủ trương cứu toàn bộ toán học cổ điển bằng cách tiên đề hóa rồi hình thức hóa toàn bộ toán học cổ điển thành một lý thuyết tiên đề hình thức và chứng minh tính phi mâu thuẫn của lý thuyết hình thức này.  Phái chủ nghĩa trực giác, với những người đề xướng chủ chốt là L.E.J. Brouwer, A. Heyting, đòi hỏi các đối tượng toán học phải được xây dựng rõ ràng một cách trực giác, muốn chứng minh sự tồn tại của một đối tượng phải chỉ ra được một cách trực giác để tìm ra đối tượng đó.   Lĩnh vực nghiên cứu ông lựa chọn khi đó là toán học kiến thiết của trường phái chủ nghĩa trực giác. Ông làm nghiên cứu với nhà toán học Nga nổi tiếng Andrei A. Markov, người cùng N.A. Shanin đã sáng lập ra lý thuyết toán học đệ quy kiến thiết. Đề tài ông theo đuổi là xây dựng một lý thuyết kiến thiết cho lĩnh vực giải tích hàm. Trên con đường nghiên cứu này ông đã hoàn thành luận án tiến sĩ về “Lý thuyết kiến thiết của các không gian tô-pô tuyến tính lồi địa phương” vào năm 1965 và luận án tiến sĩ khoa học với tiêu đề “Một số câu hỏi về giải tích hàm kiến thiết” vào năm 1967.   Trong thời gian làm luận án ông đã đăng sáu bài báo trên tạp chí rất nổi tiếng ở Nga lúc đó là “Doklady Akademii Nauk”. Với các công trình mang tính đột phá này, chỉ trong 5 năm ông đã xây dựng thành công một nhánh mới trong Toán học: Giải tích hàm kiến thiết. Luận án của ông được in riêng thành một tập trên tạp chí khoa học “Proceedings of the Steklov Institute of Mathematics” của Nga, và năm 1974  Hiệp hội Toán học Mỹ đã dịch và xuất bản luận án này trong cuốn sách tiếng Anh “Some Questions in Constructive Functional Analysis”.  Điều ý nghĩa là cùng lúc làm luận án tiến sĩ, ông đã dành thời gian tìm hiểu các lý thuyết về thuật toán, tâm huyết với việc gán cho khái niệm “tồn tại” hay “xây dựng được” các nội dung thuật toán một cách chính xác. Đây là những bước chuẩn bị ban đầu của ông cho một sự nghiệp ông sẽ theo đuổi trong suốt quãng đời còn lại. Điều này cũng phần nào giống như câu chuyện hai mươi năm trước đó, khi làm việc ở Pháp và Đức, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã âm thầm tìm hiểu về vũ khí để khi về nước đã gây dựng nên nền quân khí Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến.    Giáo sư Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm và Phan Đình Diệu. Nguồn: Trung tâm Di sản các nhà khoa học VN .  Vào giữa năm 1967, Minsk-22– một trong những máy tính hiện đại nhất của Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ 60 của thế kỷ trước– có mặt ở miền Bắc Việt Nam và đặt tại trụ sở của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, một trong những dấu ấn đầu tiên của khoa học máy tính ở Việt Nam.  Cũng vào năm đó sau khi về nước, tiến sĩ khoa học trẻ Phan Đình Diệu được phân công về làm việc ở Ủỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tại Phòng Máy tính. Năm 1972, ông được đề nghị làm Trưởng phòng Máy tính với nhiệm vụ xây dựng những tập thể cán bộ không những biết sử dụng và khai thác máy tính lớn để phục vụ nhu cầu tính toán trong nhiều lĩnh vực ứng dụng mà còn có khả năng nghiên cứu ở trình độ cao về một số hướng phát triển hiện đại của khoa học máy tính. Cũng trong những năm 1970–1975, khi Viện Toán học được thành lập với bốn bộ môn, tiến sĩ khoa học Phan Đình Diệu đã phụ trách bộ môn Điều khiển học gồm hai nhóm “Lý thuyết automat và ngôn ngữ hình thức” và “Điều khiển tối ưu”.  Cũng ngay từ thời gian này, nhận định về sự phát triển trên thế giới và cho rằng khoa học máy tính sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng và là nền tảng của những cuộc cách mạng công nghiệp lớn sẽ thay đổi lịch sử nhân loại, ông chủ trì đề xuất dự án thành lập Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển.   Đầu năm 1977, Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển, thuộc Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chính thức được thành lập, và ông là Viện trưởng đầu tiên. Viện được thành lập trên cơ sở hai đơn vị là Phòng Máy tính và Ban Điều khiển học vốn thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Với khoảng 125 cán bộ nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực– từ lập trình đến kỹ thuật số, từ kinh tế đến điều khiển, từ thống kê và phương pháp tính đến nhận dạng… Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển là cơ quan nghiên cứu và ứng dụng chung của cả nước về hai lĩnh vực này.   Lãnh đạo những cán bộ trẻ hầu hết mới tốt nghiệp đại học của một ngành khoa học non trẻ, giáo sư Phan Đình Diệu đã dành trọn thời gian, sức lực và nhiệt huyết để cùng tập thể này phấn đấu cho các mục tiêu. Một mặt, ông đã truyền được cảm hứng, trách nhiệm và động lực khoa học cho các cán bộ trẻ, tạo ra một không khí làm việc say mê của Viện trong hoàn cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn. Mặt khác, nhận trách nhiệm xây dựng và phát triển một ngành khoa học mới và đa dạng, mới ngay cả với chính mình, ông đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu và tự học những lĩnh vực rất mới và thay đổi rất nhanh của ngành. Phải có niềm đam mê đặc biệt và một trí lực phi thường mới có thể đọc và hiểu được nhiều thứ khác nhau như vậy, để có thể chia sẻ và dẫn dắt một tập thể xuất sắc và năng động như vậy. Có thể nói ông đã gạt bỏ những theo đuổi và đam mê cá nhân về toán học để bước vào một lĩnh vực hoàn toàn mới với mình nhưng rất cần cho đất nước, cùng một số người đi đầu, dẫn đường cho những thế hệ tiếp theo xây dựng nền Tin học nước nhà, nay được gọi phổ biến là Công nghệ thông tin.  Giáo sư Phan Đình Diệu có tầm nhìn chiến lược sâu sắc về con đường phát triển ngành công nghệ thông tin. Đọc nhật ký ông ghi chép trong các chuyến công tác ở châu Âu, ở Mỹ … thấy ông luôn đau đáu nghĩ về tin học nước nhà, nghĩ cách học cái hay xứ người mang về phát triển công nghệ thông tin quốc gia. Tiêu biểu nhất là ba lần ông chủ trì việc xây dựng chương trình quốc gia về công nghệ thông tin.  Cùng với giáo sư Trần Lưu Chương (phụ trách Cục Máy tính của Bộ Khoa học và Công nghệ) ông viết bản đề xuất chương trình quốc gia về Tin học vào năm 1976. Tài liệu này trình bày bức tranh tổng thể về Tin học trên toàn thế giới và đề xuất kế hoạch phát triển ngành Tin học Việt Nam. Bản đề xuất đã được phê duyệt thành Nghị quyết 245-CP/1976 của Chính phủ về xây dựng và phát triển ngành Khoa học tính toán.    Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi trên thế giới máy vi tính còn chưa là sản phẩm hàng hóa phổ biến, đất nước lại đang trong tình trạng bị cấm vận, dưới sự chỉ đạo tâm huyết của ông, nhóm các nhà khoa học trẻ của Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển đã tự thiết kế, lắp ráp các máy vi tính VT80, VT81, và VT82, tự viết hệ điều hành cho máy, và tạo nên ngôn ngữ “BASIC Đồi Thông” cùng với chương trình dịch để sử dụng trên máy. Đó là những kết quả rất đáng tự hào của Tin học Việt Nam thuở ban đầu.  Vào năm 1984 khi Việt Nam đang bị cấm vận, ông lại chủ trì đưa ra đề xuất mới của chương trình Tin học Việt Nam. Ra đời khi xã hội chưa sẵn sàng, những chiếc máy tính đầu tiên và các đề xuất với tầm nhìn xa và sâu sắc này đã là các bước đi đầu cho chặng đường dài của Tin học nước nhà, đúng là “đường xa vạn dặm bắt đầu từ những bước chân”.  Kiên định với tầm nhìn của hai lần đề nghị trước đó, mười năm sau Giáo sư Phan Đình Diệu– người chấp bút không mỏi mệt– đã có một bản dự thảo của “Chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin” được phê duyệt vào mùa hè 1993 theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ, và từ đó một chương trình quốc gia về công nghệ thông tin đã được tiến hành.  Trong Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin này, giáo sư Phan Đình Diệu dành một phần lớn thời gian và công sức cho việc xây dựng và phát triển hệ thống đào tạo và nghiên cứu tiên tiến tại Việt Nam. Ông đề xuất chủ trương xây dựng 7 khoa công nghệ thông tin trọng điểm trên cả nước trong Chương trình này.  Với sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng nghiên cứu và ứng dụng Tin học trên cả nước, Giáo sư Phan Đình Diệu là một trong những người vận động thành lập Hội tin học Việt Nam vào cuối năm 1988 và đảm nhận trách nhiệm Chủ tịch Hội hai khóa đầu tiên.   Giáo sư Phan Đình Diệu luôn trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề của phát triển đất nước. Chính những nghiên cứu của ông trong toán học kiến thiết, lý thuyết tin học đã cho ông một cách nhìn với tư duy hệ thống về các vấn đề xã hội. Do vậy những ý kiến đóng góp của ông về sự phát triển của đất nước luôn đi đến căn nguyên, bản chất vấn đề và từ đó đề xuất những thay đổi căn bản và khoa học. Ông nghĩ xa và sâu hơn người, luôn thẳng thắn nêu những chính kiến của mình. Có thể nói ông là nhà tư tưởng, là người trí thức tâm huyết đóng góp cho đất nước, suốt đời kiên định và nhất quán.  Giáo sư Phan Đình Diệu có mối quan hệ chân tình với bạn bè và đồng nghiệp. Đồng nghiệp nước ngoài đến làm việc ở Việt Nam– từ các nhà khoa học máy tính của các nước Đông Âu đến bạn bè khoa học từ Pháp, từ Mỹ, từ Nhật…, các đồng nghiệp hay bạn bè khoa học người Việt ở nước ngoài– đều luôn dành cho ông sự quý trọng và nể phục. Với anh em làm Tin học– ngày nay gọi là Công nghệ Thông tin– ông luôn chân tình và thân thiết. Với các thế hệ học trò, ông là một người thầy gần gũi, nghiêm khắc và tận tình.   Đóng góp suốt cuộc đời cho nền Tin học nước nhà với trí tuệ, tài năng và nhân cách, Giáo sư Phan Đình Diệu được cộng đồng trìu mến và kính trọng như người Anh Cả của giới Tin học Việt Nam.   Ông là một nhân cách và tài năng lớn, suốt đời vì đất nước và khoa học.□       Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Giáo sư Phan Văn Tân: Năng lực ứng phó bão lũ phụ thuộc một phần vào thông tin dự báo      Qua thực trạng bão chồng bão ở dải đất miền Trung năm nay, người ta càng thấy vai trò hết sức quan trọng của việc dự báo khí tượng thủy văn, vận hành liên hồ chứa và những cánh rừng giữ đất. Trong cuộc trao đổi với Khoa học & phát triển, Giáo sư Phan Văn Tân, Khoa Khí tượng, Khí hậu và Hải dương học (trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) đã phân tích về những yếu tố quan trọng đó.      Giáo sư Phan Văn Tân, Khoa Khí tượng, Khí hậu và Hải dương học (trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN).  Có người cho rằng, hiện tượng bão lũ năm nay ở các tỉnh miền Trung có phần giống với cơn bão lịch sử năm 1999. Ông nghĩ thế nào về nhận định này?  Theo tôi, hình thế gây bão của năm nay và năm 1999 nó na ná như nhau, nghĩa là có sự tương tác giữa hai hệ thống: hệ thống nhiệt đới mà ở đây là dải hội tụ nhiệt đới và xoáy thuận nhiệt đới (tropical cyclone) với hệ thống không khí lạnh từ phía Bắc xuống. Sự kết hợp của chúng cộng với điều kiện địa hình khiến cường độ mưa tăng lên. Có thể thấy nguyên nhân gây ra lũ gần gần giống nhau nhưng năm nay có điểm khác biệt là có mấy cơn bão xuất hiện liên tục. Có lẽ đó là nguyên nhân chính làm cho lượng mưa đo được trong những ngày qua đã gần bằng tổng lượng mưa trung bình cả năm.  Vậy sự bất thường trong những cơn bão năm nay có phải do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu?  Nhìn chung, sự nóng lên toàn cầu không đồng đều ở những nơi khác nhau dẫn đến sự phân bố năng lượng trên bề mặt Trái đất cũng bị biến đổi mà hệ quả là gây nên sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương. Sự biến đổi trong hoàn lưu khí quyển, đại dương là nguyên nhân của những biến đổi bất thường của thời tiết. Các cực trị mới về nhiệt độ và lượng mưa có thể xuất hiện ngày càng nhiều hơn, những đợt nóng/lạnh kỷ lục, những hiện tượng thời tiết cực đoan có thể gia tăng, trong đó không thể không tính đến bão (xoáy thuận nhiệt đới).  Nếu xét tổng thể thì không thể loại trừ nguyên nhân từ biến đổi khí hậu đối với mùa bão năm nay ở miền Trung bởi nó gây lên biến động trong hoạt động của bão.  Và dẫn đến việc tháng 10 năm nay bão nối tiếp bão?  Theo mô hình dự báo của chúng tôi từ đầu năm 2020 thì đã thấy trường hợp tháng 10 năm nay là tháng dồn dập bão. Thông thường thì từ tháng 9 đến tháng 11 phạm vi bão hoạt động là từ khu vực Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, tháng 10 tập trung ở Trung Trung bộ. Không phải năm nay mới xảy ra hiện tượng tháng 10 nhiều bão mà trong quá khứ cũng có những tháng 10 có tới 4, 5 cơn bão, ví dụ như tháng 10 các năm 1971, năm 1973, năm 1974, năm 1978, năm 1983, 1985 đều có 4 cơn; tháng 10 năm 1989 có 5 cơn.    Các cơn bão liên tiếp năm nay gây ra nhiều thiệt hại cho miền Trung. Nguồn: dantri.com.vn     Dựa trên dữ liệu này, có thể kết luận tháng 10 hằng năm có nhiều bão là quy luật?  Nếu tính chung trên toàn khu vực Biển Đông thì mùa bão rơi vào các tháng 6 đến tháng 11, trong đó tần suất hiện nhiều nhất ở các tháng 7, 8, 9. Tuy nhiên tháng 10 là tháng thường có số lượng bão nhiều hơn và điều đáng nói ở đây là bão tháng 10 thường ảnh hưởng đến khu vực miền Trung. Vì vậy sẽ rất ảnh hưởng đến kế hoạch chuẩn bị ứng phó bão lũ hằng năm của chúng ta.  Tần suất của bão trong tháng 10 là kết quả chúng ta ghi nhận trung bình nhiều năm còn trên thực tế, tần suất bão lại tùy thuộc vào điều kiện thời tiết từng năm. Các quy luật về khí tượng khí hậu hết sức phức tạp và khó đưa ra được kết luận chính xác, ví dụ người ta cho rằng do biến đổi khí hậu nên cường độ bão có thể ngày càng mạnh hơn với những cơn bão có cường độ kỷ lục ngày càng nhiều, thời gian hoạt động, vùng hoạt động của bão có thể thay đổi mặc dù số lượng cơn bão trên toàn cầu không thay đổi. Khó có thể chứng minh được những kết luận đó một cách chắc chắn.  Trong bối cảnh đó, chúng ta đã có được những thông tin dự báo về bão tốt?  Thông tin về tình hình khí tượng thủy văn là một trong những thông tin tối cần thiết để các địa phương có thể dựa vào đó lên kế hoạch ứng phó. Có hai loại thông tin mà chúng ta cần quan tâm là dự báo hạn ngắn và dự báo hạn mùa. Với thông tin dự báo thời tiết hạn ngắn (dự báo trước thời điểm mưa bão một đến ba ngày) thì các địa phương có thể lên kế hoạch ứng phó tức thời/khẩn cấp. Để làm tốt điều đó thì độ chính xác của thông tin rất quan trọng vì nó giúp các địa phương, các ban quản lý hồ đập đi đến quyết định quan trọng như có cần phải xả nước trong hồ trước không? Có phải di dân tránh bão không?… Nếu như có được thông tin dự báo dài hơn như dự báo hạn mùa, ví dụ như một vài tháng trước khi xảy ra bão lũ chẳng hạn thì chúng ta hoàn toàn có thể chủ động trong việc điều tiết nước trong các hồ đập. Điều đó đòi hỏi độ chính xác cần thiết của các bản tin dự báo. Nếu dự báo thiếu chính xác thì tất nhiên không ai dám mạo hiểm vì xả hết nước trong hồ đập mà sau đó trời không mưa, hoặc mưa không đúng như dự báo thì không có đủ nước để vận hành cho các hoạt động. Vì vậy thách thức của các nhà dự báo là làm thể nào có bản tin dự báo đúng.  Tại cuộc họp Hội đồng tư vấn KH&CN về an toàn hệ thống thủy điện trên bậc thang thủy điện sông Đà vào tháng 6/2020, đại diện EVN đã đề nghị ngành Khí tượng Thủy văn nâng cao chất lượng dự báo mưa trên khu vực nhỏ, tăng khả năng phát hiện lũ sớm, nhận định thời gian xuất hiện đỉnh lũ… Theo ông, công tác dự báo của Việt Nam cho các vùng trọng điểm về thủy điện như miền Trung hay Tây Bắc đã được như mong muốn chưa?  Bản tin dự báo càng chính xác thì việc chuẩn bị ứng phó càng tốt, đấy chính là tầm quan trọng của bản tin dự báo. Tuy nhiên trên thực tế thì dự báo có thể đúng có thể sai, khó ai có thể dự báo đúng 100%, ngay cả khi nhân lực giỏi và công cụ tốt rồi vẫn chưa nơi nào dám nhận là mình nói đúng được. Do đó câu chuyện ở đây là có thể xảy ra sai số trong dự báo nhưng có thể sai ở mức độ nào? Hiện nay công tác dự báo hạn ngắn với quãng thời gian hơn một hoặc hai ngày của chúng ta có thể đúng, sát yêu cầu, tuy nhiên để vận hành một nhà máy thủy điện hay hồ chứa thì khoảng thời gian cho trước một hoặc hai ngày là không đủ để quyết định có nên xả hay không và mức độ xả (nếu cần) phải như thế nào. Vì thế, hệ thống thủy điện cần biết trước thông tin dự báo dài hơn, chẳng hạn một tuần hoặc trước 10 ngày để chủ động xả nước nhằm đảm bảo mưa xuống, lũ đến thì hồ đập vẫn an toàn, người dân ở dưới này không bị lũ chồng lũ…  Do đó, cái chúng ta cần là dự báo trong thời gian dài hơn và đây chính là điều chúng ta chưa làm tốt, chúng ta còn để trống bài toán dự báo hạn nội mùa (ngoài 10 ngày đến khoảng 2 tháng). Ví dụ bây giờ là ngày 26/10, vậy có mưa hay không ở vùng Trung Trung Bộ trong khoảng thời gian từ ngày 9 đến 14/11, trong khoảng thời gian đấy, liệu có mưa lớn không? tổng lượng của cả đợt là bao nhiêu? v.v. Nếu biết được một cách chính xác thì các nhà máy thủy điện miền Trung mới ước tính được liệu có cần xả đi không? khi nào thì nên xả? sau khi xả mưa sẽ bổ sung đủ không? có cần phải tích đầy nữa hay không? Với sản xuất nông nghiệp cũng vậy, hiện đồng khô cần nước nhưng nếu 20 ngày tới có mưa thì có thể chờ thời điểm đó xuống giống cấy chứ không cần thủy điện xả nước nữa. Những yêu cầu từ thực tế là bài toán tổng hợp và cần chi tiết đầu vào là bài toán dự báo. Nó là thông tin chi tiết để góp phần đem lại các giải pháp ứng phó, tuy vậy hiện nay chỉ tiếc là chúng ta chưa thể đáp ứng được yêu cầu.  Trên cái nền đó, ở góc độ phòng tránh thiên tai, một trong những thách thức lớn nhất của ngành Khí tượng thủy văn hiện nay là dự báo bão và mưa lớn, đặc biệt là miền Trung vì ở đây, thủy điện phần lớn là quy mô vừa và nhỏ trên những con sông có độ dốc lớn, lưu vực sông hẹp nên rất ảnh hưởng đến hạ lưu khi xảy ra sự cố.    Cứu hộ người dân mắc kẹt trong lũ ở Quảng Bình. Ảnh: Thanh Tùng  Vậy trên thế giới, người ta đã có được các bản tin đáp ứng yêu cầu như thế này chưa?  Trên thế giới, độ chính xác của các bản tin dự báo phụ thuộc vào từng khu vực. Hai trung tâm dự báo tiên tiến bậc nhất thế giới là Mỹ và châu Âu cũng chưa thể có bản tin dự báo chính xác hoàn toàn, ví dụ dự báo hạn vừa thì tốt, xa hơn nữa thì độ chính xác đã giảm đi, ví dụ bản tin của Trung tâm dự báo hạn vừa châu Âu có độ chính xác rất cao trong vòng 1 đến 3 ngày nhưng trong vòng 5 ngày và đến 10 ngày thì độ chính xác giảm đi chỉ còn 20%.  Ở Việt Nam, Tổng cục Khí tượng thủy văn đang nghiên cứu để làm thế nào có được thông tin dự báo trong hạn độ 10 ngày trở lên đến hàng tháng nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở mức cảnh báo sơ sơ, chưa chi tiết được. Ví dụ chúng ta có thể có bản tin dự báo bão hạn mùa nhưng những thông tin chi tiết như bão như thế nào, mạnh hay yếu thì không nói được. Chúng ta hiện đã có một số mô hình hỗ trợ công tác dự báo nhưng mô hình thì chỉ là mô hình, thông tin dự báo hạn mùa chỉ cho chúng ta biết là có xoáy thuận nhiệt đới giông giống cơn bão thôi, có thể là bão tiềm năng chứ chưa chắc đã thành bão vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác… Làm việc này không dễ, nó đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu và như vậy cần có kinh phí đầu tư, cần có người thực hiện được những nhiệm vụ đó. Nhìn chung, dự báo là một trong những bài toán nan giải nhất và thách thức nhất mà anh phải đầu tư giải quyết nếu như muốn phòng tránh thiên tai tốt.  Trước độ phức tạp và bất định của khí tượng và khí hậu, chúng ta có thể làm được những gì để hạn chế rủi ro?  Tôi nghĩ, có những hiện tượng thiên tai diễn ra không thể cản được thì con người vẫn có thể làm được một vài điều gì đó để giảm thiểu rủi ro. Ví dụ việc xảy ra lũ ống, lũ quét phụ thuộc rất lớn vào điều kiện địa phương mà một trong những điều kiện địa phương quan trọng là địa phương có giữ được rừng hay không? hệ thống sông ở đấy có bị chẹn dòng, bồi đắp hay không? Nếu có rừng bảo vệ thì nước mưa xuống các lớp đất bề mặt một cách từ từ nên rất ít khi xảy ra trường hợp sạt lở đất, trừ phi nền đất quá yếu. Còn nếu không còn rừng, khi nước đổ xuống, nước trong lớp đất mỏng bão hòa rất nhanh, dễ tạo thành dòng chảy mặt và dẫn đến xói mòn, bóc lớp đất bên trên rồi sạt lở… Trong trận lũ lịch sử năm 1999, gần như không xuất hiện hiện tượng sạt lở đất nhưng nay thì đã xảy ra. Vào thời điểm đó, miền Trung hầu như rất ít thủy điện nhưng đáng chú ý là sau năm 2000, rất nhiều nhà máy thủy điện nhỏ đã xuất hiện trên các con sông miền Trung (Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Nghệ An Trần Quốc Thành mới đây trả lời trên báo Lao Động: việc đầu tư thủy điện miền Trung vừa góp phần phá rừng hợp pháp lại ở nơi đầu nguồn là chính – PV)  Mặt khác, các công trình thủy điện hồ đập trên các dòng chảy về nguyên tắc phải thực hiện đúng yêu cầu là đa mục tiêu: cắt lũ mùa mưa và cung cấp nước mùa hạn, đấy là điều mà nhiều nhà máy thủy điện lớn như Hòa Bình đã làm được. Trên một dòng sông, chúng ta cũng cần đưa vào việc vận hành liên hồ theo thời gian thực với sự phối hợp của liên ngành, liên địa phương, ai cũng có lợi và cũng có trách nhiệm. Ở đây, lưu ý là các địa phương cần phải có cái đầu biết tin và biết nghe, biết sử dụng thông tin từ các nhà chuyên môn.  Chuẩn bị tốt thì rủi ro giảm đi. Vậy ngành Khí tượng Thủy văn sẽ góp gì vào quá trình đó?  Tôi nghĩ, cần phải tăng chất lượng dự báo mà muốn làm được điều đó thì việc đầu tiên là phải có con người. Nhiều năm gần đây, nhân lực ngành khí tượng thủy văn càng ngày càng ít đi, đặc biệt là thiếu người giỏi. Nhiều người được đào tạo bài bản đã chuyển sang làm khác vì chế độ đãi ngộ thấp hoặc bị san sẻ thời gian làm quản lý trong khi để giải những bài toán nhiều yếu tố bất định của ngành Khí tượng đòi hỏi phải dành rất nhiều thời gian nghiên cứu.  Vì vậy muốn có nhân lực tốt thì phải có cơ chế đãi ngộ tốt và một môi trường nghiên cứu tốt. Đã có lúc có người nêu ý tưởng mời công ty nước ngoài vào làm. Tôi cho rằng điều này rất rủi ro vì thông thường doanh nghiệp thì đặt nhiệm vụ lợi ích, lợi nhuận lên hàng đầu; thủy điện vừa và nhỏ cũng vậy, họ phải đặt lợi nhuận của họ lên. Vì vậy làm tốt công việc dự báo khí tượng khí hậu thì trách nhiệm lớn nhất vẫn là nhà nước, nơi đề ra những phương hướng thúc đẩy và đầu tư nguồn lực để theo đuổi bằng được những mục tiêu đó.  Xin cảm ơn ông!  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/gs-phan-van-tan-nang-luc-ung-pho-bao-lu-phu-thuoc-mot-phan-vao-thong-tin-du-bao/20201029090758804p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Phùng Văn Đồng – Người săn hạt      Không hứa hẹn nhiều ánh hào quang rực rỡ, cũng hiếm hoi có sự ghi nhận và tưởng thưởng từ xã hội, vậy điều gì thôi thúc những nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học cơ bản như giáo sư Phùng Văn Đồng (ĐH Phenikaa) theo đuổi con đường mình đã chọn?     Giáo sư Phùng Văn Đồng. Ảnh: NVCC  Nếu rọi cái nhìn tò mò vào các lĩnh vực như toán học và vật lý, có thể nhiều người sẽ sớm cảm thấy thất vọng. Với đông đảo công chúng, các công trình nghiên cứu đều chứa những thông tin khó nắm bắt. Do đó, có lẽ, chỉ nhờ vào những cuộc công bố rộng khắp các giải thưởng như Nobel, Fields, Abel, Breakthrough… đi kèm với những cụm từ năm nào cũng được nhắc đến như “quan trọng và danh giá bậc nhất”, “đột phá”, “mở ra một chương mới”… thì người ta mới “ồ à” về những điều khó hiểu. Đó thực sự là những cơ hội, dẫu thoáng qua nhưng cũng để người ta chú ý đôi chút đến sự tồn tại của khoa học cơ bản và những đóng góp của nó đối với xã hội. Khi tính sốt dẻo của sự kiện qua đi, mọi người nhanh chóng chuyển hướng quan tâm đến vô vàn vấn đề sát sườn và dễ tiếp cận khác, vốn lúc nào cũng đầy rẫy trong xã hội.     Nhưng cũng giống như những quy luật cơ bản của tự nhiên – luôn luôn có mặt quanh chúng ta, bất chấp việc chúng ta có nhận biết được sự tồn tại của chúng hay không – các nhà nghiên cứu vẫn lặng lẽ làm việc và chia sẻ những gì mình làm ra với các cộng đồng chuyên ngành nhỏ. Niềm vui thuần khiết của họ trong những cuộc tìm kiếm cái mới dưới sự dẫn dắt của trí tò mò, hoặc trở lại với bài toán cũ với một cách tiếp cận khác, mang những sắc thái riêng biệt. Riêng với giáo sư Phùng Văn Đồng, địa hạt của anh là vũ trụ sớm – thời điểm cách đây 13,7 tỷ năm, khi vũ trụ được làm lạnh vừa đủ cho các hạt nhân nguyên tử liên kết với nhau và “sau đó thì trong lịch sử vũ trụ, không có cái gì đáng quan tâm nữa”, như nhận xét của Steven Weinberg. Trong vô số vấn đề của vũ trụ sớm, anh tập trung vào neutrino, thứ hạt được Wolfgang Pauli tiên đoán vào năm 1930 và sau đó được “giáo hoàng” Enrico Fermi đặt tên.   Đó là cái đích khao khát của cộng đồng vật lý thế giới, và hơn nữa, của giáo sư Phùng Văn Đồng và nhóm nghiên cứu của anh, trong nỗ lực đơn lẻ mong góp thêm một mảnh ghép vào bức tranh chung, từ Việt Nam, nơi vẫn còn gần như vô danh trên bản đồ vật lý thế giới.   Theo đuổi hạt khó nắm bắt  Vào giữa năm 2019, khi giáo sư Phùng Văn Đồng (khi đó còn là PGS) mới chuyển về ĐH Phenikaa, nhiều giảng đường của ngôi trường này đang trong quá trình xây dựng. Không gian ngổn ngang, gần như chưa định hình, những ô đất dành sẵn để trồng cây vẫn còn trống trơn. Nhóm nghiên cứu nhỏ mới thành lập của anh có năm người, ngoại trừ trưởng nhóm thì ba mới xong tiến sĩ, tân binh chưa có kinh nghiệm còn một có chút kinh nghiệm vẫn chật vật tìm chỗ đứng… Tất cả dường như mới ngơ ngác bắt đầu.    Tồn tại từ thuở bình minh của vũ trụ nhưng neutrino không bao giờ bị cũ đi, ngược lại, những điều bí ẩn khiến nó vẫn mới từng ngày.    Sau ba năm, một diện mạo khác bao trùm nơi này. Các tòa nhà cao tầng nhiều màu sắc mọc lên, những bãi cỏ xanh mướt và các cây bàng lá nhỏ đã vừa xòe tán. Phòng làm việc của giáo sư Phùng Văn Đồng, đặt ở tầng năm một tòa nhà gắn với giảng đường, có cửa sổ nhìn xuống nhà thi đấu đa năng và những tán lá xanh lấp lánh. Trên tường, Albert Einstein trong bức chân dung nổi tiếng một tay đặt lên bàn, đôi mắt vui vẻ, nheo nheo hơi giễu cợt gợi cho đám hậu sinh nhớ đến một câu nói của ông “Học từ ngày hôm qua, sống cho ngày hôm nay, hy vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi”. Có điều gì đó ở đây, trong không gian này, thôi thúc người ta làm việc. Chí ít đó là điều Phùng Văn Đồng và các cộng sự của anh thực hiện trong vòng ba năm qua, với “Cơ chế khối lượng neutrino và hệ quả vũ trụ học”, đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ kèm cam kết bốn công bố trên tạp chí hạng top.  Tồn tại từ thuở bình minh của vũ trụ nhưng neutrino không bao giờ bị cũ đi, ngược lại, những điều bí ẩn khiến nó vẫn mới từng ngày. Có lẽ, với người ngoài, thật khó hình dung ra sự hiện diện của thứ hạt được sinh ra hằng ngày từ bầu khí quyển và mặt trời, với ba dạng (flavor – vị) là neutrino electron, neutrino muon và neutrino tau; lại càng khó tin là cứ mỗi giây, hàng tỉ tỉ các hạt neutrino đâm xuyên qua mọi vật thể và cả trái đất như những tia sáng chiếu qua các ô cửa cửa kính mà không gặp phải trở ngại nào. Nếu một hạt neutrino nào đó bị bắn vào tâm trái đất thì rất nhiều khả năng là người ta sẽ tìm thấy chúng ở bề mặt bên kia. Ngay hiện tại, trong lúc ai đó tình cờ đọc bài báo này, hàng triệu triệu hạt như vậy cũng vô thức xuyên qua cơ thể từng giây nhưng cũng không thể cảm nhận được. “Neutrino hiếm khi tương tác với bất cứ thứ gì. Trong số bốn lực cơ bản của vũ trụ, chúng không tương tác với vật chất bằng lực hạt nhân mạnh – lực liên kết các proton và neutron với nhau để tạo thành một hạt nhân, cũng không tương tác bằng lực điện từ – vốn đòi hỏi sự hiện diện của các hạt mang điện tích, như sự liên kết của các electron với hạt nhân để tạo thành một nguyên tử”, giáo sư Phùng Văn Đồng giải thích. “Trớ trêu là chúng chỉ tương tác duy nhất qua lực hạt nhân yếu – nguyên nhân dẫn đến các quá trình biến đổi hạt nhân, như phân rã phóng xạ của các hạt nhân không bền, và lực hấp dẫn thậm chí bị triệt tiêu do khối lượng cực nhỏ của neutrino”.   Hàng “binh đoàn” neutrino được sinh ra trên máy gia tốc. Nguồn: symmetrymagazine.org  Có lẽ, lường trước được sự bí ẩn này nên vào năm 1930, khi giải thích sự giải phóng ra ngoài hạt nhân của electron và kèm theo một hạt trung hòa về điện tích, cực nhẹ về khối lượng trong phân rã beta, Wolfgang Pauli đã thốt lên “Tôi đã làm một việc khủng khiếp là tiên đoán sự tồn tại của một hạt có thể không ghi đo được”.  Không ai biết chắc về đứa con hơn cha đẻ của nó. Quả thật, neutrino với tính chất và hành xử kỳ lạ nằm ngoài bất cứ phạm vi gì mà các nhà vật lý biết, ví dụ theo Mô hình chuẩn – hệ thống lý thuyết về các hạt cơ bản và lực cơ bản được dùng để miêu tả vũ trụ – thì neutrino không có khối lượng. Trong một thời gian dài, phần lớn các nhà vật lý đã nghĩ như vậy. “Cho đến năm 1998, khám phá ra dao động neutrino mới làm thay đổi tình hình và đem lại manh mối để đi đến kết luận là khối lượng hạt neutrino khác không”, giáo sư Phùng Văn Đồng nói. “Căn nguyên là khi một neutrino được sinh ra và đi qua một quãng đường đủ lớn-ví dụ neutrino muon được sinh ra từ vỏ khí quyển hay neutrino electron được sinh ra từ mặt trời rồi chúng đi đến trái đất-thì neutrino dạng (vị) này đã chuyển hóa sang neutrino dạng (vị) khác với khối lượng khác”. Như vậy, các neutrino có khối lượng khác không và trộn lẫn là cần thiết cho sự chuyển vị – dao động neutrino.   Ý tưởng nghiên cứu về cơ chế sinh khối lượng hạt neutrino không đến một cách ngẫu nhiên vô chừng, giữa lúc xuôi theo dòng chảy chung. Bản năng của một nhà nghiên cứu khiến giáo sư Phùng Văn Đồng bị hút về chủ đề này từ trước khi chọn Phenikaa nhưng chỉ ở đây, anh mới có đủ nguồn lực để tập trung vào, nhằm đánh giá ảnh hưởng của khối lượng neutrino đến các giả thuyết vũ trụ học. Anh giải thích, “vì phát triển của vật lý học là quá trình thống nhất các tương tác, nên cơ chế sinh khối lượng neutrino không phải là ngoại lệ, một khi nó được tìm ra, sẽ đem lại những kiến giải sâu sắc về nhiều vật lý mới khác, chẳng hạn vật chất tối, bất đối xứng vật chất – phản vật chất, lạm phát và tiến triển của vũ trụ sớm, v.v.”. Tất cả như sự sắp đặt vừa khéo cho cuộc “săn hạt” của một nhóm mà người chủ chốt chuyên về vật lý hạt và vũ trụ học, và các thành viên có năng lực nhất định về một trong những hướng này.   Nhưng mọi thứ có bao giờ đến một cách dễ dàng, rất có thể sẽ về tay không – không chỉ ra được một mối liên hệ nào giữa neutrino và vấn đề vũ trụ, bởi neutrino vẫn được coi là thứ vật chất khó nắm bắt. Nhưng việc tìm hiểu một loại hạt mà sự tồn tại đã gắn liền với sự mơ hồ và phù du như vậy lại đầy sức lôi cuốn. “Trong cộng đồng vật lý năng lượng cao, số bài báo liên quan đến khối lượng neutrino và vật chất tối chiếm khoảng 2/3 tổng số công bố mỗi ngày”, anh cho biết.   Nhưng thật ra, có dễ đạt được kỳ vọng, với các nhà nghiên cứu Việt Nam?  Cuộc chiến nội tại   Trong một giai thoại, khi có người tò mò hỏi vợ Einstein là bằng cách nào mà nhà vật lý này lại có được các phát kiến “kinh thiên động địa” thì bà trả lời: ông ấy thường dùng mặt trái của một tấm phong bì cũ. Ngày nay, không chỉ những trang giấy, các nhà lý thuyết đã được trang bị vũ khí tới tận răng với các hệ thống tính toán hiện đại và cả những kết quả từ các thực nghiệm săn hạt lớn ở Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ, Ý… cập nhật miễn phí thường xuyên, và các tạp chí vật lý hạt thì mở cho cộng đồng đọc. Địa hạt vật lý neutrino gần như một trận tiền mở mà người xung trận có thể tiếp cận vấn đề từ bất cứ phía nào, miễn là có thể cắm lá cờ hy vọng của mình ở đó bởi “về lý thuyết, có quá nhiều cách giải thích nó. Không có lý thuyết duy nhất ở hiện tại, thậm chí có nhiều đề xuất khác nhau cùng cho ma trận khối lượng neutrino phù hợp, giải thích chuyển hóa neutrino. Để kiểm chứng những giả thuyết này, cần những kết quả thực nghiệm ở tương lai”, giáo sư Phùng Văn Đồng nói.     Sự mơ mộng của một nhà lý thuyết khiến anh nghĩ đến hệ quả mà cơ chế khối lượng neutrino có thể đem lại: những kiến giải sâu sắc về nhiều vật lý mới, chẳng hạn vật chất tối, bất đối xứng vật chất – phản vật chất, diễn tiến vũ trụ sớm…    Cơ hội được trao cho tất cả các nhà lý thuyết ở khắp mọi nơi trên thế giới. Do đó, để thành công “mình có đủ nghiêm túc và đủ tầm hay không, có đem lại những kết quả thực sự có ý nghĩa phản ánh chân lý hay không?”. Những câu hỏi như vậy cứ trở đi trở lại trong tâm trí anh, ngay cả khi nhóm chỉ có năm người nhưng vẫn tự tin đề xuất một đề tài dạng mạnh. “Với anh em mới về Phenikaa lúc ấy, rất khó để giải thích với hội đồng Vật lý của Quỹ rằng chúng tôi là một tập thể nghiên cứu có gắn kết thực thụ để được công nhận là nhóm mạnh theo một trong các tiêu chuẩn của Quỹ NAFOSTED”, anh kể. Việc đề xuất một đề tài mạnh, nghĩa là phải có kết quả tương đương với nhóm mạnh, đem đến sức ép đáng kể. Hơn thế, phép thử cho một nhóm đang ở giai đoạn bắt đầu, ngay cả khi được đặt dưới sự dẫn dắt của người mà theo đánh giá của giáo sư Phạm Thành Huy, hiệu trưởng ĐH Phenikaa, “không chỉ là một nhà khoa học tài năng trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn là người nghiêm túc, đã ‘đóng cửa’ làm việc là tập trung cao độ”.  Khi nghĩ về các nhà khoa học, người ta thường nghĩ đến sự thông minh, tài năng hơn người. Nhưng trên thực tế, đức tính trước hết phải là nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, bởi nói như giáo sư Đào Tiến Khoa “Làm khoa học mà không tự nghiêm khắc thì khó trưởng thành”. Điều đó có ở giáo sư Phùng Văn Đồng. Ngày ngày, cứ bảy giờ sáng, bất chấp mưa nắng và cả COVID, anh có mặt tại trường, trước cả thời điểm những người lao công bắt đầu dọn dẹp, và chỉ trở về nhà khi việc đã “hòm hòm”. Thường thì khi nào việc hòm hòm? Ồ cũng không cố định lắm, khi thì bảy giờ, khi thì chín mười giờ, cũng tùy.   Bằng cách nào đó, sự nghiêm túc và say mê của trưởng nhóm đã “chuyển vị” sang các thành viên. Ban đầu, lịch seminar được anh ấn định hai tuần một lần nhưng trên thực tế, mọi người thảo luận với nhau thường xuyên. “Khi gặp vấn đề khó thì ai cũng cố gắng sắp xếp thời gian để có thể trao đổi với nhau. Môi trường nghiên cứu chính là thế, làm khoa học không phải chờ lên lịch”, anh nói.   Có lẽ, chỉ khi làm việc một cách say mê, hơn là dưới sức ép của một cam kết, khoa học mới thực sự “nở hoa”. “Khi gửi một thuyết minh, chúng tôi chỉ biết bài toán chứ chưa biết mấy đến kết quả đâu. Mình phải vạch ra được con đường sẽ đi và đưa ra kỳ vọng về kết quả. Nếu biết trước kết quả thì không còn quá nhiều động lực để làm và thuyết minh thực chất là đăng ký kết quả thì đúng hơn”, giáo sư Phùng Văn Đồng nêu quan điểm. Trong hồ sơ, anh đề xuất bốn mô hình dựa trên nguyên lý đối xứng Baryon-Lepton (B-L) để giải thích cơ chế khối lượng hạt neutrino là mô hình với đối xứng B-L Abel; mô hình với đối xứng B-L không Abel; mô hình với đối xứng B-L toàn cục; Lạm phát mô hình 3-3-1, đối ngẫu gauge/gravity, và flip tối thiểu, không chỉ nhằm giải thích khối lượng neutrino, các quá trình vật lý của hương vị, các dị thường vật lý mới ở máy gia tốc, moment từ dị thường muon… mà còn giải thích bất đối xứng số baryon, sự phân bố vật chất tối, sự giãn nở gia tốc của vũ trụ sớm đồng thời hâm nóng vũ trụ… Rút cục, “đề xuất như thế nào thì kết quả như thế, phần lớn như kỳ vọng nhưng cũng có kết quả khá khác, không giống đề xuất”, anh nói.   Khác ư? Nghĩa là cuộc săn hạt về đích với “điểm thưởng”?  Điểm thưởng cho người say mê  Việc theo dấu các hạt neutrino và dao động của chúng giúp con người hiểu về sự tiến hóa của vũ trụ và các quá trình diễn ra trong lòng nó. Neutrino được tạo ra trong giây đầu tiên của vũ trụ, ngay sau Big Bang, khi vũ trụ giãn nở đủ và bắt đầu hâm nóng, tạo ra các loại hạt và phản hạt. Chúng cũng được tạo ra từ mặt trời, từ sự phân rã của các hạt nhân không bền, như uranium và thorium, trong lòng đất, từ những tương tác hạt nhân ở các siêu tân tinh… Do không phân rã, các hạt neutrino vẫn tồn tại, biến vũ trụ thành một “kho lưu trữ” đặc biệt, chờ người khám phá.     “Vật chất tối liên quan chặt chẽ đến neutrino. Trong lý thuyết tôi đề xuất, vật chất tối bền là do một cái thứ mà người ta gọi là tích tối và tích tối rất đơn giản, nó chính là điện tích và mầu tích”. (GS Phùng Văn Đồng)    Khi đề xuất mô hình để giải thích dao động neutrino, giáo sư Phùng Văn Đồng còn đặt cho mình một mục tiêu khác nữa, đó là dùng kết quả để giải thích các hệ quả vật lý khác. “Điều đấy rất quan trọng, bởi vì ngoài neutrino, mình còn phải giải thích rất nhiều thứ, chẳng hạn như vật chất tối. Trong vũ trụ sớm, các vật lý mới được thông nhất, do đó chúng có liên hệ với nhau”. Vũ trụ có khoảng 70% năng lượng tối, 25% vật chất tối, còn lại 5% là vật chất thông thường, trong đó neutrino. Nhiều nhà vật lý nghi ngờ chính neutrino trơ (ngoại lai) là ứng viên của vật chất tối. Anh tự đặt câu hỏi: vật chất tối được biết là trung hoà về điện tích và màu tích, nhưng tại sao nó lại bền vững như thế trong thang đo vũ trụ? Giống như vật chất thông thường bền vững do bảo toàn các tích đã biết, anh tìm thấy “nguyên lý đảo cho khối lượng neutrino và vật chất tối” — một nguyên lý đối xứng khác với các đối xứng đã biết, rút ra từ giả thuyết về sự liên tục của điện tích. Theo cảm nhận của mình, anh nghĩ đó có thể là một nguyên lý còn thiếu sót trong Mô hình chuẩn.   Thực ra, ý tưởng đối xứng đảo dẫn đến một thứ vật lý mới có liên quan không phải là mới nhưng vẫn còn không gian để khai phá bởi nguyên lý của đối xứng đảo vẫn chưa được hiểu một cách rõ ràng và ý nghĩa của nó cũng chưa được nghiên cứu nhiều. Đối xứng đảo của Phùng Văn Đồng khá thú vị: nó cho ngay hệ quả về khối lượng neutrino, hệ quả về vật chất tối và khác hoàn toàn với điều đã biết trước đây. “Vật chất tối liên quan chặt chẽ đến neutrino. Trong lý thuyết tôi đề xuất, vật chất tối bền là do một cái thứ mà người ta gọi là tích tối và tích tối rất đơn giản, nó chính là phiên bản của điện tích và mầu tích”, anh nói.   Einstein từng nói “Chân lý luôn đơn giản”. Nghe thì thú vị nhưng thực ra thường rất khó để hình dung ra sự ‘đơn giản’ ấy bởi cái nhìn của chúng ta thường bị những khái niệm đã biết che mờ. Phải nhìn sự vật với con mắt mới, hiểu được trọn vẹn vấn đề và tưởng tượng cách mọi thứ vận hành thì tất cả mới trở nên đơn giản. Khi tự nhận thấy mình đủ hiểu và đủ tự tin để giải thích vấn đề một cách ngắn gọn và tường minh, giáo sư Phùng Văn Đồng đã trình bày lý thuyết trong bốn trang giấy với tiêu đề “Flipping principle for neutrino mass and dark matter” (Nguyên lý đảo cho khối lượng neutrino và vật chất tối), gửi tới Physical Review D, dưới ở hình thức letter – vốn dành riêng cho những đề xuất ở dạng rất nguyên thủy và ngắn, có thể giải quyết được những bài toán lớn. “Là tạp chí hàng đầu về vật lý hạt, lý thuyết trường, hấp dẫn và vũ trụ, Physical Review D hằng năm xuất bản khoảng 4.000 bài báo nhưng chỉ có khoảng trên dưới 100 bài ở dạng letter”, anh giải thích.   Niềm vui của người làm nghiên cứu, không có gì khác ngoài việc tạo ra một kết quả đẹp và có thể giải thích rất nhiều thứ liên quan một cách trọn vẹn. Cuộc săn hạt của giáo sư Phùng Văn Đồng, bên cạnh điều đó, còn gieo thêm hạt mầm khoa học ở hai nghiên cứu sinh, và đem lại cho những người như TS. Phạm Đình Nguyên, giám đốc Quỹ NAFOSTED, sự ấm áp mỗi khi nghĩ về “nhà khoa học thuần khiết, trung thực”, và cảm thấy thêm lý do để nỗ lực chèo chống cơ quan tài trợ cho khoa học cơ bản lớn nhất Việt Nam này.     ***  Khoa học cơ bản, hay đơn giản như hạt neutrino mà giáo sư Phùng Văn Đồng theo đuổi, thì có ý nghĩa gì với cuộc sống này? Có lẽ, sẽ có nhiều người đặt câu hỏi như vậy, ngay trong lúc hàng triệu triệu hạt neutrino xuyên qua cơ thể mỗi giây. Với cái hữu hạn của đời người, thật khó vặn ngược bánh xe thời gian gần 14 tỷ năm, quay trở lại đúng thời điểm khởi sinh vũ trụ để chứng kiến cả quá trình nóng lên mãnh liệt đến một nghìn nghìn tỉ lần so với điểm nóng nhất vũ trụ ngày nay rồi nguội dần đi, đem lại cả không gian rộng lớn cho các dạng vật chất, các hạt khác nhau sinh ra rồi phân rã ở mức 10-6 giây. Những vòng lặp tái sinh không ngừng. Những hạt như thế cứ chết đi, chết đi để sinh ra vật chất bền, và qua đó là các thiên hà, hệ mặt trời, và cả trái đất chúng ta đang sống. Vũ trụ đã diễn tiến một cách tinh vi để có được trạng thái như ngày nay, có thể là do sự dự phần của các hạt neutrino nhẹ hơn electron cả triệu lần. Do đó, các hạt neutrino sẽ mở ra cánh cửa vào thế giới vật lý mới để chúng ta nhìn vào lịch sử vũ trụ và cách chúng vận hành. Có thể, nó sẽ cho chúng ta lý giải về vật chất tối, năng lượng tối, sự tồn tại của sự phi đối xứng vật chất – phản vật chất…  Giản dị hơn, đó có thể là cách “ghi công” các hạt neutrino. Chúng đã hành xử theo cách riêng biệt để đảm bảo sự hình thành của trái đất. Theo cách đó, cuộc săn hạt neutrino chính là để trả lời câu hỏi mà ai cũng muốn biết “tại sao chúng ta, giống loài homo sapien, lại tồn tại”? □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giáo sư Trần Hữu Phát: “Người đặc biệt” của ngành hạt nhân      Với điểm tựa là niềm đam mê khoa học và một tâm thế rất riêng, trong suốt cuộc đời mình, giáo sư Trần Hữu Phát – nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đã có cả một cuộc hành trình đặc biệt “từ lý thuyết không định xứ đến lý thuyết hấp dẫn Einstein”. Vượt qua không ít trở ngại của thời cuộc và khó khăn riêng có của ngành, ông đã trở thành một trong những người góp phần xây dựng ngành hạt nhân Việt Nam.      Hai thế hệ lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam: giáo sư Trần Hữu Phát và tiến sĩ Trần Chí Thành. Ảnh: Thanh Nhàn   Mặc dù giáo sư Trần Hữu Phát đã thôi giữ chức viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tròn 20 năm nay, một quãng thời gian đủ dài để đong đếm lòng người, nhưng cuộc ra mắt The path from nonlocal theory to gravity theory (Lộ trình từ lý thuyết không định xứ đến lý thuyết hấp dẫn Einstein) – cuốn kỷ yếu tập hợp 44 công trình nghiên cứu của ông trong 50 năm (1970-2020), vào sáng ngày 30/12/2020 tại trụ sở Viện NLNTVN lại quy tụ gần như đông đủ đồng nghiệp chí cốt, học trò, hậu bối trong và ngoài viện… Không ai đến dự lấy lệ, cũng chẳng ai cảm thấy miễn cưỡng đến cho “phải phép”. Có thể trong một quy mô không thời gian hữu hạn nào đó vẫn có những mối quan hệ dựa trên lợi ích vật chất nhưng trong không gian khoa học thuần túy này chỉ tồn tại những gắn bó bền chặt, cảm thông chia sẻ và niềm đam mê bất tận với nghiên cứu. Dường như ai cũng cảm thấy xúc động khi được thấy người anh, người thầy, người lãnh đạo của mình kể về hành trình khoa học và trao đổi về các hướng nghiên cứu theo đuổi trong cả cuộc đời.  Đan xen giữa những câu chuyện vật lý là các dòng chảy ký ức, các mảnh vụn vỡ của thời gian mà ở đó, đắng cay xô dạt của thời cuộc đã trôi đi, chỉ đọng lại những suy nghĩ rất thật. “Đóng góp của tôi có thể không đỉnh cao như người khác nhưng tôi thấy mình cũng có hai đóng góp, thứ nhất là xây dựng đại cục ngành hạt nhân và thứ hai là đào tạo nhân lực. Nhìn lại quãng đường nghiên cứu của mình, tôi thấy mình đã sống với đam mê. Là nhà khoa học, suốt đời vì khoa học thì chúng ta phải có niềm đam mê để vượt qua khó khăn, nếu không vượt qua được thì chúng ta sẽ lụn bại”, giáo sư Trần Hữu Phát chậm rãi chia sẻ.  Mang tư duy toán vào thế giới vật lý    Gắn bó cả sự nghiệp với vật lý lý thuyết nói riêng và ngành hạt nhân nói chung nhưng giáo sư Trần Hữu Phát lại có điểm xuất phát là một sinh viên Toán cơ. “Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, học trò của giáo sư Lê Văn Thiêm, là người đã dạy tôi những năm cuối cùng phổ thông cho đến năm đầu vào đại học năm 1956. Tôi còn nhớ ông nói ‘Phát ơi, theo anh thì em nên vào khoa Toán trường đại học’. Thế là tôi thi vào và đỗ ngay”.  Học toán theo lời gợi ý của thầy “em chỉ cần học đủ để không trượt, em phải dành thời gian học thêm sách”, ông không nghĩ rằng lời nói đó trở thành một nguyên tắc bất đi bất dịch trong suốt cuộc đời mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngay cả “khi bắt đầu đi dạy ở trường nông nghiệp, tôi vẫn say mê học hỏi, ngày đi dạy, tối về đọc sách. Người ta bảo ‘cậu phải gần gũi với anh em, tham gia công tác Đoàn đội, buổi tối phải chơi tú lơ khơ cùng anh em’ nhưng tôi lại thấy việc đó vô bổ, dành thời gian đọc sách còn tốt hơn nhiều”.  Mối nhân duyên với vật lý của ông cũng được nhen nhóm cũng từ giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, cùng với giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Dương Trọng Bái… được cử sang học tập và nghiên cứu ở Viện liên hợp hạt nhân Dubna. “Khi chuyển sang lĩnh vực vật lý, anh Phương bảo ‘Phát ơi, hay là sang vật lý’, thế là tôi bỏ toán sang vật lý. Tôi còn nhớ anh bảo ‘toán là công cụ không bao giờ bỏ được’. Đúng như thế, cả cuộc đời tôi dùng toán để lý giải các vấn đề vật lý”, giáo sư Phát nói. Từng là một học sinh chuyên toán, giáo sư Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân, Viện NLNTVN) cũng chia sẻ “Rất may là anh Phát gặp được chú Phương và bác Bửu (giáo sư Tạ Quang Bửu) mà sang được vật lý. Người giỏi toán có thể làm được rất tốt nhiều vấn đề vật lý”.      “Đóng góp của tôi có thể không đỉnh cao như người khác nhưng tôi thấy mình cũng có hai đóng góp, thứ nhất là xây dựng đại cục ngành hạt nhân và thứ hai là đào tạo nhân lực. Nhìn lại quãng đường nghiên cứu của mình, tôi thấy mình đã sống với đam mê. Là nhà khoa học, suốt đời vì khoa học thì chúng ta phải có niềm đam mê để vượt qua khó khăn, nếu không vượt qua được thì chúng ta sẽ lụn bại” (giáo sư Trần Hữu Phát)      Đúng là với lối tư duy logic, tường minh và thẳng thắn của người làm toán, giáo sư Trần Hữu Phát bước vào thế giới vật lý bằng một tâm thế rất riêng. Điều đó khiến ông có một góc nhìn khác biệt trong đánh giá và nhìn nhận những vấn đề đã được giải quyết. “Năm 1964, vẫn ở trường nông nghiệp nhưng tôi được giáo sư Tạ Quang Bửu cử đi học một lớp Mùa đông ở Dubna, sang đó gặp giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, giáo sư Cao Chi… Lúc đó anh Hiệu đã viết xong luận án tiến sĩ khoa học và làm được một loạt bài báo từ ý tưởng của giáo sư Anatoly Alekseevich Logunov. Tôi mang luận án về nghiên cứu, thấy nghiên cứu va chạm của hai hạt, tính được biên độ tán xạ và tiết diện tán xạ của nó. Logunov chứng minh là trong lý thuyết trường lượng tử định xứ thì biên độ tán xạ có hai đặc điểm, một nó là hàm giải tích của năng lượng trên mặt phẳng năng lượng, thứ hai là tiến tới vô cực chậm hơn một đa thức. Anh Hiệu đã dùng tính chất thứ nhất để tính các hàm lân cận rất nổi tiếng”, ông kể. Nghiền ngẫm một công trình của đàn anh cũng là một việc thú vị vì có thể giúp ông học hỏi được rất nhiều điều. “Tôi nghĩ, mình thử thay nó bằng hàm giải tích mở rộng xem sao. Tôi học toán nên đầu tôi mới có khái niệm giải tích mở rộng thôi. Tôi không ngờ là khi tôi thay biên độ tán xạ từ hàm giải tích của anh Hiệu sang hàm giải tích mở rộng thì tôi lại chứng minh được hàng loạt định lý của anh Hiệu. Lạ quá! Bây giờ đoán nhận ý nghĩa vật lý của nó như thế nào? Tôi cho là cái định lý chứng minh của anh Hiệu để chứng minh cái tính chất đặc thù của lý thuyết cục bộ định xứ thì không phải”.  Từ suy nghĩ như vậy, giáo sư Trần Hữu Phát đã viết luôn một bài báo bằng tiếng Pháp và mang sang giáo sư Tạ Quang Bửu hỏi ý kiến và được ông chấp nhận “Tôi thấy đúng, cậu mang về viết cẩn thận rồi tớ cho in”. Ông Tạ Quang Bửu là người rất tinh tế nên hỏi luôn “thế cậu có tiền để thuê đánh máy không? Nếu không có thì cậu đến Bộ, Bộ sẽ cấp kinh phí cho cậu” (lúc đó là Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp).  Con đường đến với vật lý của ông đã được mở ra như thế, theo sáu hướng là lý thuyết không định xứ của các trường lượng tử và hạt cơ bản, lý thuyết tán xạ năng lượng cao, lý thuyết hạt nhân, lý thuyết chuyển pha, lý thuyết ngưng tụ Bose- Einstein của các khí Bose hai thành phần, lý thuyết hấp dẫn và chuyển pha holographic. Phạm vi theo đuổi của ông rất rộng, không phải ai cũng đủ sức theo những hướng rất khác nhau như thế. Ông lý giải về sự lựa chọn của mình “Tôi thích tò mò, tôi cũng không thích đứng ở một chỗ mãi. Khi có thêm các nghiên cứu sinh thì tôi nghĩ như thế này, họ là những người bước đầu đi vào khoa học, tôi cũng muốn dẫn dắt họ đi qua các khu vườn khác nhau, chứng kiến các loài hoa khác nhau, sau này họ sẽ có thể truyền thụ cho thế hệ sau”.    Từ trái sang: Tiến sĩ Trần Chí Thành, giáo sư Đào Tiến Khoa, giáo sư Đào Vọng Đức và giáo sư Trần Hữu Phát tại buổi ra mắt sách. Ảnh: Thanh Nhàn  Nhưng thật không dễ để một nhà nghiên cứu ở Việt Nam thấy được những khu vườn khác nhau trong thế giới khoa học. Có lẽ phải sống vào thời của ông mới hiểu cái “không dễ” ấy, một trong những nguyên nhân là không có tài liệu để tham khảo. Do đó, người làm khoa học ở Việt Nam “dễ lâm vào tình trạng provincialism (chủ nghĩa tỉnh lẻ) trong nghiên cứu khoa học, tức là đi vào những đề tài quá cũ kỹ, quá xa lạ với các trào lưu chung, không còn ai quan tâm nghiên cứu nữa” như chia sẻ của giáo sư Hoàng Tụy trên Tia Sáng năm 2016. Thật may là giáo sư Trần Hữu Phát đã vượt qua được điều đó, ví dụ trong những năm cuối thập niên 1970, đầu những năm 1980, ông đã nhanh nhạy “bắt” được khuynh hướng mới của vật lý năng lượng cao là tán xạ các hạt với rất nhiều mô hình khác nhau. “Tôi nghĩ không ổn, không có sự thống nhất, phải có một cơ chế nào đó chi phối chứ. Tôi lại quay lại suy nghĩ đi từ nguyên lý tổng quát. Tôi bỏ hai tháng đọc tài liệu và tìm ra đi vào nguyên lý cơ bản lý thuyết trường lượng tử với lý thuyết nhóm tái chuẩn hóa. Trong thời gian chưa đầy 8 tháng, tôi công bố 6 bài”, ông kể. Không tự nhận những nghiên cứu là đỉnh cao nhưng giáo sư Trần Hữu Phát thẳng thắn cho rằng “nghiên cứu của mình có thể không phải nổi tiếng gì nhưng những vấn đề mình làm cũng là những gì thế giới người ta làm”.  Quan tâm đến nhiều hướng khác nhau nên ông cũng quen biết và thân thiết với nhiều nhà vật lý ở từng lĩnh vực, nhiều người trong số đó “nghe tiếng anh Phát từ rất lâu trước khi được gặp mặt”. Tại buổi ra mắt, giáo sư Trần Đức Thiệp, một chuyên gia vật lý thực nghiệm ở Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), nhận xét “Tôi thấy là anh Phát là người làm khoa học rất lớn, nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực, lĩnh vực nào cũng rất khó, hiện đại, thời sự, cấp bách”. Nhiều công trình của ông cũng khiến đám hậu bối phải kiêng nể. “Giáo sư Trần Hữu Phát là người xuất sắc, ngay cả những công trình giai đoạn đầu đã thể hiện hiểu biết rất sâu sắc về vật lý và có chất lượng chuyên môn cao, dù giáo sư làm việc một cách độc lâp”, PGS. TS Phùng Văn Đồng, trưởng nhóm nghiên cứu Vật lý năng lượng cao và vũ trụ học (trường ĐH Phenikaa), nói.      Nhìn lại chặng đường nghiên cứu của giáo sư Trần Hữu Phát, giáo sư Đào Tiến Khoa phải thốt lên “Với trí tuệ như vậy, nếu như anh ấy [được nghiên cứu] ở Dubna hoặc đâu đó bên Tây Âu những năm 1970 thì anh ấy hoàn toàn có thể trở thành một nhà khoa học tầm cỡ không kém gì Nikolay Bogolyubov, Alexander Baldin…”      Nhìn lại chặng đường nghiên cứu của giáo sư Trần Hữu Phát, giáo sư Đào Tiến Khoa phải thốt lên “Với trí tuệ như vậy, nếu như anh ấy [được nghiên cứu] ở Dubna hoặc đâu đó bên Tây Âu những năm 1970 thì anh ấy hoàn toàn có thể trở thành một nhà khoa học tầm cỡ không kém gì Nikolay Bogolyubov, Alexander Baldin…”1.  Tinh thần khoa học trong đời thường  Xuất thân là một người làm khoa học, bắt đầu làm việc ở Viện 481 – một cơ sở nghiên cứu hạt nhân của quân đội, và Viện NLNTVN, không khi nào giáo sư Trần Hữu Phát quên đi gốc gác của mình. Những ý kiến mà ông nêu tại các cuộc họp đều dựa trên tinh thần khoa học. Trong phiên họp Hội đồng KH&CN Viện NLNTVN mới đây, ông có kể lại một kỷ niệm từ ngày còn làm ở Viện 481, “lúc đó tôi quân hàm ‘bét dem’, Tổng cục trưởng toàn các anh quân hàm đại tá, thiểu tướng cả; khi các ông ấy kết luận, tất cả mọi người giơ tay đồng ý nhưng tôi thấy cái gì không đúng thì mình phải nêu ý kiến ‘tôi không đồng ý ở một số điểm’. Lúc tan họp, nhiều anh cứ bảo ‘cậu dại quá’… Có thể mình dại thật nhưng mình là người làm khoa học, không thể nói ngược lại được điều mình tâm niệm”.  Có lẽ, với tinh thần của người làm khoa học và tinh thần của người lính, ông trở thành người rất nguyên tắc trong công việc, không có ngoại lệ với cả những cán bộ quản lý cấp trên. PGS. TS Vương Hữu Tấn nhớ lại kỷ niệm về “một cuộc họp do Bộ trưởng triệu tập để nghe Viện NLNTVN báo cáo. Khi đó với tư cách Viện trưởng (PGS Vương Hữu Tấn là Viện trưởng giai đoạn 2001-2012), tôi mời giáo sư Phát là Chủ tịch Hội đồng KHCN&ĐT của Viện tham dự. Dự kiến, cuộc họp diễn ra vào lúc 13h30 mà đến gần 14h00 vẫn không thấy Bộ trưởng đến do ông quên hay sao đó, tôi phải lên tận nơi mời Bộ trưởng xuống. Với sự thẳng thắn sẵn có, giáo sư Phát đã phê bình trực tiếp Bộ trưởng rất gay gắt tại cuộc họp” 2.      Với tinh thần của người làm khoa học và tinh thần của người lính, ông trở thành người rất nguyên tắc trong công việc, không có ngoại lệ với cả những cán bộ quản lý cấp trên      Nguyên tắc là vậy nhưng giáo sư Trần Hữu Phát lại là người rất quan tâm đến anh em, không phải theo cách hời hợt lấy lệ mà luôn cởi mở, quan tâm và trao đổi với mọi người một cách thoải mái. Vì thế, sau mấy chục năm thì ấn tượng của những đồng nghiệp như giáo sư Trần Đức Thiệp vẫn là “anh Phát là người rất đẹp, rất đàng hoàng, dù lần đầu gặp gỡ vẫn đón tiếp tôi nồng hậu”. Giáo sư Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người tự nhận là “chuyên môn có nhiều nét khác anh” nhưng vẫn giữ mối quan hệ thân thiết, đồng cảm từ năm 1962 đến nay, thì cho rằng điểm trân quý ở ông là việc không giữ “tủ”: “Tôi có làm một số công trình, người đầu tiên tôi trao đổi là giáo sư Phát, người khiến tôi rất xúc động vì luôn khích lệ tôi một cách chân thành và không ngại đề cập tới một số vấn đề mà tôi cũng còn chưa nghĩ đến. Tôi rất cảm kích về điều đó”    Trong quá trình gắn bó với ngành hạt nhân, dù với vai trò quản lý hay chuyên môn thuần túy, dường như bao giờ giáo sư Trần Hữu Phát cũng trân trọng chữ tín. “Một trong những điểm hay của giáo sư Phát là khi cam kết điều gì, bao giờ ông cũng cố gắng làm được đúng điều đó”, phó giáo sư Phùng Văn Đồng – một thành viên trong hội đồng khoa học ngành vật lý NAFOSTED, không giấu nổi sự thán phục. Là một trong những chủ trì đề tài cao tuổi nhất ngành vật lý, qua bốn đề tài do Quỹ tài trợ lần lượt từ năm 2009 đến 2020 về chuyển pha, tính chất trong hệ hai thành phần, cấu trúc pha trong các hệ tương tác mạnh và chuyển pha holographic, bao giờ giáo sư Trần Hữu Phát cũng đạt được đúng những yêu cầu của Quỹ với “nhiều công bố xuất bản trên các tạp chí hàng đầu chuyên ngành”, phó giáo sư Phùng Văn Đồng nhận xét.  Chữ tín ấy ông đã mang theo bên mình, từ khoa học đến cuộc sống thường nhật. “Sau ấn tượng ban đầu, tôi còn ấn tượng là anh phát biểu chỗ nào cũng giống nhau, không có chuyện ở nơi này nói thì thế này mà sang nơi khác lại nói thế khác, không chỉ trong khoa học mà còn trong cuộc sống. Chúng ta phải học những gương như vậy, học về cách làm khoa học, học về cách làm người”, giáo sư Trần Đức Thiệp nói về người anh của mình. Không chỉ những bạn bè thân thiết mà những học trò theo ông làm nghiên cứu sinh cũng cảm nhận được những đức tính đó. “Tôi đã học được nhiều thứ ở thầy, trong đó tôi tâm đắc là những đức tính của một nhà khoa học chân chính, đó là trung thực, nghiêm túc, không lùi bước trước cái gì, luôn luôn tìm tòi khám phá để tìm hiểu những lĩnh vực rất khó và rất thời sự. Khi đặt ra một vấn đề nghiên cứu, thầy không bao giờ dừng lại ở chỗ mà đi đến tận cùng, khi đưa ra một kết luận thì thầy luôn xem xét rất kỹ mọi khía cạnh, mọi khái niệm để tránh đi đến kết luận sai lầm”, PGS. TS Lê Viết Hòa (Đại học Sư phạm HN) trả lời trong một thước phim tài liệu về người thầy của mình.  ***  Trong một buổi sáng mùa đông cuối năm, những câu chuyện đời, chuyện nghề từ hơn 50 năm trước đã được gợi lại, có những thời điểm theo giáo sư Trần Hữu Phát “rất khủng khiếp” như chuyện sống trong bối cảnh ‘phê đấu’, bị gán là ‘làm thơ chống Đảng’ khi ở trường đại học Tổng hợp, chuyện kéo cày thay trâu khi tăng gia sản xuất… Những vui buồn như thế rồi cũng vụt qua, chữ tình ở lại. Ở thời điểm chỉ còn cách vài ngày là tròn tuổi 80, giáo sư Trần Hữu Phát xúc động nói “Trong đời người làm khoa học thì đây là cái hạnh phúc nhất – hạnh phúc ngồi cùng với các đồng nghiệp, được chia sẻ và được thông cảm, cũng như được tổng kết những đóng góp khoa học cho ngành cũng như cho đất nước. Trước đây lúc anh Tấn còn làm viện trưởng thì Viện có đề nghị tôi làm tờ khai để được khen thưởng. Tôi có nói với mọi người ‘tớ không có khai, nếu cậu làm được giúp tớ thì cậu cứ làm’. Cuối cùng thì việc này cũng không thành nhưng với tôi, điều đó cũng không quan trọng bởi cuộc đời làm khoa học không phải vì huân chương, có thì tốt mà không có cũng không sợ. Dù thế nào trước sau tôi vẫn là nhà khoa học; đóng góp của tôi có hai điểm, một là công bố quốc tế nhiều người biết, hai là đóng góp cho viện, thế là đủ lắm rồi. Cho nên hôm nay, sự có mặt của tất cả các bạn ở đây chính là huân chương cao quý nhất, đẹp nhất dành cho tôi”.  “Nhìn lại, có thể thấy Giáo sư Trần Hữu Phát là người rất đặc biệt, cả ba lĩnh vực quan trọng cho khoa học, mà ngày nay chúng ta đang rất quan tâm là lĩnh vực nghiên cứu, quản lý và đào tạo nhân lực đều làm xuất sắc. Vinh dự lớn của Viện NLNTVN là có Giáo sư luôn luôn nỗ lực và tâm huyết thúc đẩy nghiên cứu của Viện. Trước đây, ông từng là một cán bộ lãnh đạo của Viện 481 tại Phùng, nơi bắt đầu cho hướng nghiên cứu, triển khai ứng dụng quan trọng nhất của Viện NLNTVN sau này bởi các đơn vị lớn của Viện NLNTVN như Viện KH&KT hạt nhân, Viện Công nghệ xạ hiếm cũng đều bắt nguồn từ đây. Trong suốt thời kỳ là Viện trưởng Viện NLNTVN, Giáo sư Trần Hữu Phát đã đưa kiến thức và kinh nghiệm để thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng của Viện NLNTVN theo cách đặc biệt. Cùng với Giáo sư Nguyễn Tiến Nguyên, ông đã xây dựng lộ trình để Viện có đơn vị dịch vụ quan trọng như VINAGAMMA, đơn vị đã đóng góp hết sức quan trọng vào thúc đẩy xuất khẩu thương mại của Việt Nam khi đất nước mới mở cửa. Đặc biệt, trong thời gian làm Viện trưởng, Giáo sư Trần Hữu Phát đã đóng góp lớn cho việc thúc đẩy chương trình điện hạt nhân của Việt Nam. Với nỗ lực và sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ thời kỳ đó, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu tiền khả thi để đưa điện hạt nhân vào Việt Nam từ 2002, được Quốc hội phê duyệt năm 2009, sau đó ký kết với Nga và Nhật Bản để tiến hành nghiên cứu khả thi xây dựng hai nhà máy tại Ninh Thuận năm 2010. Rất tiếc là do điều kiện kinh tế nên Việt Nam đã tạm dừng chương trình vào cuối năm 2016. Những đóng góp của Giáo sư Trần Hữu Phát cho ngành hạt nhân nói chung và cho Viện NLNTVN nói riêng thực sự đáng kể và lớn lao, tạo nền tảng cho sự phát triển như ngày nay. (TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện NLNTVN)       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giáo sư Vật lý thiên văn Nguyễn Quang Riệu qua đời ở tuổi 89      Người thân của GS. Nguyễn Quang Riệu cho biết, ông đã từ trần tối ngày 5/1 theo giờ Pháp. Là một nhà khoa học thành danh trong môi trường quốc tế, ông thường xuyên về nước tham gia phát triển và phổ biến ngành vật lý thiên văn và vật lý môi trường.      GS. Nguyễn Quang Riệu, sinh năm 1932 tại Hải Phòng, là nhà vật lý thiên văn Việt kiều định cư tại Pháp. Ông là con cả trong một gia đình có ba anh em trai sau này đều trở thành những nhà khoa học tên tuổi như Nguyễn Quang Quyền (sinh năm 1934)  nhà giải phẫu học và nhân trắc học và Nguyễn Quý Đạo (sinh năm 1937) nhà hóa học.  Du học Pháp từ năm 18 tuổi, ông trở thành Giáo sư-Tiến sĩ tại Đại học Sorbonne và giữ chức Giám đốc nghiên cứu tại Đài Thiên văn Paris. Ông cũng là Giám đốc Nghiên cứu Danh dự của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp CNRS. Năm 1973, ông nhận giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp sau khi phát hiện và xác định chính xác vị trí xảy ra vụ nổ trong chòm sao Thiên Nga và sau đó được đặt tên là Cygnus X3. Phát hiện của ông được tạp chí Nature dành toàn bộ một số để giới thiệu. Với phát hiện thiên văn quan trọng này, ông được nhiều đài thiên văn và trường đại học trên thế giới mời đến thuyết giảng.  Từ năm 1976, ông thường xuyên về nước tham gia phát triển và phổ biến ngành vật lý thiên văn và vật lý môi trường tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là chương trình do ông tự khởi xướng, kết hợp giữa Đài Thiên văn Paris, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Pierre và Marie Curie (Paris) với sự tham gia của Hội Thiên văn Quốc tế. Không chỉ vận động nhiều nhà khoa học nước ngoài cùng về thỉnh giảng, ông còn là người đứng ra xin tài trợ học bổng của Chính phủ Pháp cho nhiều sinh viên Việt Nam và hướng dẫn họ làm luận án tiến sĩ tại Pháp.  Vào thời điểm diễn ra hiện tượng nhật thực toàn phần ngày 25/10/1995 tại Việt Nam, GS Nguyễn Quang Riệu được Bộ Ngoại giao Pháp cấp kinh phí để xây và mua thiết bị thiên văn mang về Việt Nam. Sau đó, ông đề nghị để lại thiết bị tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Đài thiên văn Phủ Liễn (Kiến An, Hải Phòng), giúp sinh viên thực tập quan sát bầu trời. Cũng trong dịp này, cùng với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Việt Nam, ông tham gia tổ chức một hội thảo quốc tế với mục đích giải thích những hiện tượng thiên nhiên.  Trong cuộc đời của mình, GS. Nguyễn Quang Riệu đã công bố hơn 150 công trình khoa học về vật lý thiên văn, đặc biệt trong lĩnh vực thiên văn vô tuyến, trên các tạp chí nổi tiếng; và viết nhiều sách chuyên ngành cũng như sách phổ biến khoa học bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt. Cùng với GS Trịnh Xuân Thuận, GS Nguyễn Quang Riệu được coi là một trong số rất ít nhà khoa học gốc Việt trên thế giới không ngại dấn thân và đạt được những thành công trong ngành thiên văn học. Ông cũng là một trong những nhà khoa học quan tâm vun đắp đam mê đối với môn thiên văn học cho nhiều bạn trẻ Việt Nam. Một số cuốn sách nhằm mục tiêu gợi mở trí tò mò và sự ham hiểu biết của độc giả đại chúng của ông đã đượcxuất bản như “Vũ trụ – phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại”, “Lang thang trên dải Ngân Hà”, “Sông Ngân khi tỏ khi mờ”, “Bầu trời tuổi thơ”. Ngoài ra, ông còn tham gia soạn một cuốn giáo trình chuyên ngành thiên văn vật lý song ngữ Việt-Anh dành cho sinh viên trong nước.  Với những đóng góp ý nghĩa cho nền khoa học tại quê nhà, ông đã được trao tặng Giải thưởng Vinh danh nước Việt (năm 2004) và Kỷ niệm chương của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (năm 2006).  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/tin-tuc/giao-su-vat-ly-thien-van-nguyen-quang-rieu-qua-doi-o-tuoi-89/2021010702430197p1c882.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy biết nói      Các nhà khoa học thuộc Đại học Mid Sweden (Thụy Điển) đã chế tạo được một loại giấy có thể phát ra âm thanh khi người sử dụng sờ tay vào chúng.    Loại giấy này có thể dùng để làm các bảng quảng cáo hoặc bảng hiệu. Sản phẩm này cũng có thể sử dụng để tiếp thị các địa điểm du lịch. “Khi bạn tiến đến bảng quảng cáo, đặt tay lên một tấm bưu thiếp có phong cảnh biển, bạn có thể nghe tóm tắt sơ lược về bãi biển đó”, Tiến sĩ M.Gulliksson, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết. Trong tương lai, loại giấy này còn có thể dùng để đóng gói sản phẩm, chẳng hạn như bao bì thuốc lá. Thay vì dùng thông điệp cảnh báo hút thuốc lá nguy hiểm cho sức khỏe bằng chữ viết, nhà sản xuất có thể dùng loại giấy này để phát ra thông điệp bằng giọng nói hẳn hoi.  H.Y (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy siêu bền không cháy      Các nhà nghiên cứu tại Đại học Arkansas ở Fayetteville (Mỹ) đã phát triển một loại giấy cực bền, có khả năng cháy chậm, kháng khuẩn, tái sử dụng và diệt mầm bệnh.    Trong khi hầu hết các loại giấy được làm từ sợi xenlulo, thì loại vật liệu mới được làm từ các sợi nano titan dioxide – một hoá chất thường gặp trong chất nhuộm trắng.  “Vật liệu cơ bản này đơn giản, không độc hại và không đắt”, Ryan Tian, trợ lý giáo sư về hoá học và hoá sinh học tại đại học cho biết.  Để làm ra những sợi nano như vậy, trước hết người ta trộn bột titan dioxide với một dung dịch kiềm và đặt trong một thùng chứa bọc ngoài bằng Teflon. Sau đó họ nung hỗn hợp trên một cái lò ở nhiệt độ 150 đến 250 độ C trong một vài ngày. Khi phần kiềm bốc hơi, trong thùng còn lại những sợi trắng, dài.  Các sợi nano này được rửa trong nước cất, và khi vẫn còn ở dạng bột ướt, nó được đổ khuôn thành những hình dạng 3 chiều như ống, bát hoặc các loại cốc. Khi giấy khô đi, nó có thể được uốn cong, gấp hoặc cắt gọt bằng kéo.  Sản phẩm sau cùng có thể chịu được nhiệt độ tới 700 độ C, làm cho quá trình cháy chậm lại.  Sản phẩm có thể sẽ có nhiều ứng dụng, từ việc chế tạo bộ lọc vi khuẩn có thể dùng lại nhiều lần, giấy dán tường chậm cháy có khả năng tự động phân huỷ chất độc trong không khí, tới các loại bảng quảng cáo chịu nhiệt, có thể xoá đi viết lại dọc theo các đường cao tốc.  Nhóm nghiên cứu đã đăng ký bằng sáng chế cho quá trình này và đang tìm kiếm đối tác để thương mại hoá sản phẩm.   (theo Discovery)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy siêu bền làm từ oxide graphene      Một loại vật liệu mới gọi là “giấy” oxide graphene đã được tạo ra, nó có thể gấp được, vò được và ở một mức độ nào đó có thể co dãn được. Mặc dù có cùng độ dày như giấy thường nhưng nó rất dai và cực kỳ bền. Các nhà khoa học tin rằng loại vật liệu mới này có thể thích hợp cho các ứng dụng như lưu trữ phân tử, các vật dẫn ion và các siêu tụ điện. (Nature 448 457)    Lần đầu tiên được phân lập vào năm 2004, graphene là một lớp than chì có độ dày 1 nguyên tử, nó có những tính chất điện học độc nhất vô nhị và rất bền. Mới đây, một nhóm nhà khoa học ở Đại học Northwestern của Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng, những lượng lớn graphene được oxi hóa có thể được “dệt” lại với nhau để tạo ra một loại “giấy” dai và bền hơn các vật liệu mỏng khác.  “Giấc mơ của tôi là tách cấu trúc than chì thành những lớp riêng biệt rồi lại ghép chúng lại theo những cách khác nhau,” Rodney Ruoff, một thành viên của nhóm nghiên cứu nói.  Để làm điều này, nhóm của Ruoff đã oxi hóa than chì để tạo ra “oxide” than chì, tức là mỗi nguyên tử carbon trong một nửa số nguyên tử của cấu trúc được gắn với một nguyên tử oxy. Khi loại oxide này được trộn với nước, những nguyên tử oxy sẽ đẩy các phân tử nước. Sự “giằng co kéo đẩy” này sẽ “chẻ” oxide thanh chì thành các lớp riêng biệt – chúng chính là oxide graphene. Các nhà khoa học sử dụng một lớp màng để lọc hỗn hợp thu được, từ đó họ có thể thu được nguyên liệu để làm ra giấy oxide graphene.  Than chì thông thường có cấu trúc khá yếu, do đó chỉ cần một lực nhỏ để tách nó ra thành các lớp. Ngược lại, khi các lớp này được đan vào nhau để tạo thành loại “giấy” mới, sự chịu lực sẽ được phân bố đều qua toàn bộ cấu trúc. Điều này khiến nó trở nên bền hơn các phiến than chì và loại “giấy bucky”-làm từ các ống nano carbon. Trên thực tế, theo lời Ruoff, chỉ có kim cương mới khoẻ hơn loại vật liệu mới này.  Một điều quan trọng là, loại giấy này có thể được điều chỉnh thành phần hóa học bằng việc thay đổi lượng oxy trên các lớp. Chẳng hạn, việc giảm lượng oxy sẽ có thể biến nó từ một vật cách điện thành một vật dẫn điện tốt. Hơn nữa, loại giấy này có thể được pha trộn với các polymer, gốm và kim loại để tạo ra các vật liệu tổ hợp mới.  Theo Physics Web      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giày siêu tốc      Theo tờ New York Times, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kỹ thuật hàng không quốc gia Ufa (Nga) đã chế tạo thành công loại giày có thể giúp người di chuyển với tốc độ cực nhanh.    Theo nhà thiết kế R.Enikeev, nguyên lý hoạt động của đôi giày trên giống như giày đế mềm. Khi người sử dụng bước chân về phía trước, bộ chế hòa khí nhỏ xíu được lắp trong mỗi chiếc giày bơm xăng vào khoang có không khí đang bị nén, đẩy người này về phía trước. Với đôi giày này, một người bình thường có thể chạy với tốc độ khoảng 35 km/giờ.  T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấy tự xóa theo thời gian      Nhận thấy một ngày nào đó giấy tờ sẽ trở nên thừa thãi trong văn phòng, một nhóm nhà hóa học Canada đã chế tạo một loại giấy tự xóa. Thông tin in trên giấy sẽ tự động xóa sau một ngày, cho phép tờ giấy được in mới lại.    Mỗi người chúng ta tiêu thụ khoảng 91 kg giấy, tức khoảng 20.000 trang. Giấy sẽ không là mặt nền trữ thông tin mà trở thành một phương tiện chia sẻ, được dùng để trao đổi, soạn hay xem thông tin.  “21% các bản sao chụp bị ném vào sọt rác ngay trong ngày được in và 44,5% trong số 1.200 trang giấy mà mỗi người in trong một tháng ở văn phòng chỉ được sử dụng một lần”, nhà nhân chủng học Brinda Dalal thuộc Trung tâm Nghiên cứu Xerox ở Palo Alto (Canada) giải thích.  Quá trình in giấy tự xóa không hoạt động bằng mực toner và sử dụng một loại giấy màu vàng nhạt, chữ in có độ phân giải thấp nhờ một loại mực màu tía. Các thông tin được in trên nền giấy này tự động biến mất trong vòng 16 tiếng, thậm chí trong thời gian ngắn hơn nếu giấy được hơ nóng.  Các nhà nghiên cứu cho biết phương pháp này sử dụng những thành phần làm thay đổi màu khi hấp thu ánh sáng với một độ dài sóng nào đó, cho phép giấy dần dần trở lại trạng thái ban đầu. Chỉ có tuổi thọ của trang giấy hạn chế việc tái sử dụng.  Cho tới nay, phương pháp này vẫn còn ở giai đoạn nguyên mẫu và các nhà nghiên cứu đang tìm cách làm cho nó mang tính tiết kiệm hơn so với các loại giấy in cổ điển.  (Theo HTV,Techno-Science)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gió Nam Cực      Tùy bút nhân năm quốc tế về vùng cực – International Pole Year, 2007-2009    Tọa lạc trên một bình nguyên bao la, cao gần 3000m trên mực nước biển, Nam Cực vốn không phải là một nơi lộng gió. Người ta thường nói, đây là châu lục gió lớn lắm. Điều này có lẽ đúng với những vùng ven rìa của bình nguyên, giáp với biển chẳng hạn, hay ở đâu đó. Chứ ở ngay vĩ độ 90 Nam, sức gió thường chừng 15km/h, có khi cao lắm cũng chỉ 60-70km/h. Đây là chuyện nhỏ. Người miền Trung nước mình, chỉ mới đây thôi, cũng đã phải hứng chịu những cơn gió mang lại từ các cơn siêu bão, có khi giật đến hơn 140 km/h.                       Những cơn gió nghe như thoảng qua, vậy mà cũng gây nên bao chuyện.   Những đợt không khí lạnh và đặc khi đi qua bình nguyên Nam Cực, có khi thổi bùng lớp tuyết khô trên mặt băng, tạo nên cơn bão tuyết cục bộ mà trên cao trời thì vẫn trong, tuyết không rơi. Người ta gọi chúng là gió katabatic, loại gió thổi từ trên cao xuống (để phân biệt với gió anabatic, thổi từ dưới thấp lên). Khi còn trên cao nguyên thì nhẹ như phủi, nhưng nghe nói, lúc đổ ra đến biển thì cuồng nộ giận dữ tàn phá mọi thứ vô phúc nằm trên đường cơn gió đi qua.                     Ngay tại Cực Nam, những cơn gió ấy vẫn còn nhẹ vậy mà ngày qua ngày đã vùi lấp hết mọi dấu vết mà con người đã khó nhọc làm nên.  Mái vòm Nam Cực, đi vào hoạt động từ 1975, để thay thế Trạm Nam Cực đầu tiên, xây nên hồi 1957. 18 năm, hàng trăm chuyến bay, là kỳ công và lòng dũng cảm của cả trăm người. Cực Cũ hay Old Pole – tên chúng tôi gọi Trạm Đầu Tiên – đã lâu nằm vùi dưới lòng tuyết lạnh. Người ta đánh dấu Cực Cũ bằng vài ngọn cờ lẻ tẻ, nhìn xa xa như những nấm mộ hoang từ lâu không người thân thuộc viếng thăm. Quả thật, tôi nhìn cũng không nhận ra đâu là Cực Cũ bây giờ?                     Mái Vòm Nam Cực, nơi chúng tôi đã ở suốt 12 tháng trường hồi cuối thế kỷ trước, giờ đây đã nằm gọn trong lòng chảo. Vùng băng chung quanh Mái Vòm ngày càng dày lên, chỗ trũng xuống phía trước là do người ta phải liên tục xúc tuyết đi. Nếu không thì Mái Vòm Nam Cực, biểu tượng của vĩ độ 90 Nam, đã bị chôn vùi từ bao năm nay rồi.  Cũng vì mối nguy ấy mà Trạm mới đã được xây lên để thay Mái Vòm thân yêu. Trạm mới như là một nhà kính liên hợp, người ta đi lại bên trong mà không phải mặc áo lạnh.  Nơi này có đầy đủ tiện nghi cho hơn 150 cư dân. Trạm mới nằm trên mấy chục cây cột chống kiên cố. Những nhà thiết kế hy vọng là những cơn gió cùng những đám tuyết khô sẽ thổi luồn qua những cây cột này, và Trạm mới sẽ thoát được cơn vùi lấp của thời gian.                       Cũng chẳng biết là sẽ thoát được hay không? Chỉ có một điều, hướng gió ngay tại Cực Nam luôn trở thành chỉ dẫn tin cậy nhất để biết trời sẽ trong hay mù. Từ Cực Chào Đón nhìn về trạm, gió thổi về bên trái dự báo trời sẽ mù, mà thổi về bên phải bầu trời sẽ trở nên trong xanh.  Xem hướng gió, các nhà khoa học sẽ liệu được công việc của ngày hôm sau, nghĩa là ra đài quan sát hay cứ nằm dài trong trạm.  Tác giả cảm ơn Cynthia Chiang, Steffen Richter và Kiwon Yoon đã cung cấp một số ảnh cho bài viết này.      Nguyễn Trọng Hiền      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gió sinh ra sóng thế nào?      Hơn 50 năm trước, nhà thơ Xuân Quỳnh đã đưa một vấn đề vật lý vào thi ca.      Bản in “Sóng lừng” tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan (JP1847). Nguồn: Wikipedia  Sóng bắt đầu từ gió  Gió bắt đầu từ đâu  Em cũng không biết nữa  Khi nào ta yêu nhau   (Sóng)  Với những nhà khoa học trái đất hiện đại, sóng biển rất quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến sự vận động ở khoảng tiếp giáp giữa không khí và biển. Sóng làm dịch chuyển nước và sự dịch chuyển khối lượng  đó làm thay đổi động lực học của tầng trên đại dương: sóng hòa trộn các lớp nước trên bề mặt và điều chỉnh nhiệt độ của chúng, vốn là điều kiện biên quan trọng của các mô hình kết hợp giữa thời tiết và khí hậu (giữa khí quyển và đại dương) của Trái đất. Thực tế hơn, các mô hình thống kê sóng mô tả cách sóng được sinh ra và lan truyền trên bề mặt đại dương trong các điều kiện môi trường khác nhau – chẳng hạn như gió thấp và gió lớn – và định lượng cách chúng ảnh hưởng đến dòng chạy đại dương cũng như giao thông của máy bay phản lực, tàu nổi hay ô nhiễm trên bề mặt biển.  Gió tạo ra sóng trong nước là điều hiển nhiên ai cũng thấy. Điều này đã thu hút các nhà toán học và vật lý từ nhiều thế kỷ trước. Mặc dù vậy, việc mô tả đầy đủ hiện tượng này vẫn chưa được các nhà nghiên cứu hiện đại quan tâm. Khó khăn ở đây là do quá trình tạo sóng xảy ra tại mặt phân cách của hai chất dạng lỏng (không khí và nước), và dòng chảy của mỗi chất lỏng đều có tính hỗn loạn. Sóng còn diễn ra trên phạm vi từ milimét đến kilômét trong không gian, từ giây đến giờ trong thời gian nên có thể được coi là ngẫu nhiên. Phạm vi tương tác rộng đó khiến tiến trình phân tích và mô tả số học trở nên vô cùng khó khăn.  Thách thức nghiên cứu là phải giải quyết đồng thời dòng chảy hỗn loạn của không khí và nước trong phạm vi rộng lớn đó trên một bề mặt cong và thay đổi nhanh chóng. Các nghiên cứu thực địa gặp khó khăn khi thực hiện các phép đo trên biển, đặc biệt là khi phép đo gió bị ảnh hưởng bởi sự biến dạng do sự hiện diện của tàu nghiên cứu. Bất chấp những trở ngại đó, nhiều tiến bộ đã được thực hiện trong thực nghiệm, ví dụ lập một giàn nghiên cứu trên biển giúp tránh ảnh hưởng đến dòng chảy như tàu nghiên cứu gặp phải. Và cả về lý thuyết cũng có những tiến bộ rõ rệt.   Điều gì ảnh hưởng đến sóng?  Giả sử một cơn gió thổi ngang qua đại dương tĩnh lặng, điều kiện nào sẽ tạo ra sóng? Các lực ở đây gồm có lực hấp dẫn và sức căng bề mặt nước. Lý thuyết động lực học của mặt phân cách giữa không khí và biển dẫn đến lực ép phải liên tục và động lượng được bảo toàn trong cả hai chất lỏng. Có thể mô tả các điều kiện đó bằng phương trình Navier – Stokes. Trong trường hợp sóng nhỏ và chất lỏng không chứa xoáy, phương trình này có dạng tuyến tính và hoạt động giống như một bộ dao động điều hòa đơn giản, và sóng sẽ phát ra và truyền theo phương ngang và có tính phân tán.    William Thomson, (sau này là Lord Kelvin) lên lớp giảng bài lần cuối tại trường ĐH Glasgow năm 1899. Nguồn: Wikipedia  Nhưng hệ thống sẽ trở nên phức tạp hơn khi các sóng không còn tuyến tính, hoặc khi dòng chảy trong không khí hoặc nước có chứa xoáy. Hơn nữa các điều kiện biên phải được giải lại ngay khi sóng thay đổi, bản thân nó là một biến phụ thuộc của hệ thống. Điều đó khiến cho bài toán trở nên rất phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng các phương trình Navier – Stokes phi tuyến tính tại tất cả các điểm trong ranh giới không khí – mặt biển và trên nhiều tỷ lệ khác nhau.  Phương pháp thống kê áp dụng cho sóng đang được sử dụng nhiều nhất. Chúng giúp giải ra các trường hợp thực tiễn và mang lại giá trị lớn đối với các nhà hàng hải, các hoạt động an ninh quốc gia và cả những người lướt sóng. Các mô hình dựa trên số liệu thống kê về độ cao của sóng. Một đại lượng được gọi là tác động của sóng, có tính đến ảnh hưởng của dòng điện lên sóng, là đại lượng bảo toàn cơ bản. Người ta ví sóng trong dòng chảy như một con lắc có chiều dài dây thay đổi được. Khi chiều dài của con lắc thay đổi thì năng lượng của hệ cũng vậy. Tương tự, sóng nước trao đổi năng lượng với các dòng chảy, nhưng tác động của sóng vẫn được bảo toàn, điều này làm cho nó trở thành đặc điểm trung tâm trong các mô hình sóng thống kê.  Cơ chế tạo ra gió trong lịch sử  Các nền văn hóa đều có những giải thích trực quan về mối quan hệ giữa gió và sóng. Ví dụ người Micronesia và người Polynesia nổi tiếng với việc nhìn vào bọt nước trắng ở ngọn sóng để định vị hướng đi. Khoa học hiện đại sau này cũng giải thích mối quan hệ này bắt đầu với hai nhân vật quan trọng của vật lý thế kỷ 19, Hermann von Helmholtz và William Thomson (sau này là Lord Kelvin). Các ông đã lập luận rằng gió tạo ra sóng thông qua sự không ổn định của dòng chảy. Hai nhà khoa học thường thảo luận về vấn đề này trong các chuyến du ngoạn trên thuyền của Kelvin.      Sự kết hợp của các mô hình lý thuyết, dữ liệu số có được từ thí nghiệm mô phỏng trong phòng thí nghiệm hay đo từ thực địa đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự hình thành nên sóng từ gió. Câu hỏi đơn giản về cách nó xảy ra, không nghi ngờ gì nữa, sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho nghiên cứu về cấu trúc cơ bản của đại dương và các mô hình đại dương – bầu khí quyển kết hợp trong bối cảnh khí hậu ấm lên.      Quá trình này được gọi là sự mất ổn định Kelvin-Helmholtz, nó xảy ra bất cứ khi nào chất lỏng thay đổi tốc độ xuyên qua các lớp có mật độ thay đổi. Để cơ chế hoạt động và tạo ra sóng trong điều kiện thực tế, cần phải có tốc độ gió 6,5m/s. Nhưng một số thí nghiệm đã ghi nhận có thể tạo sóng ở tốc độ gió thấp hơn nhiều. Rõ ràng, câu chuyện còn nhiều điều hơn những gì Kelvin và Helmholtz đã đề xuất.   Năm 1925, Sir Harold Jeffreys lập luận rằng không khí chảy qua sóng nước giống như không khí chảy qua một quả cầu, sẽ bị lệch hướng bởi hình học của bề mặt. Sự so sánh này đã dẫn đến lý thuyết về sự phân tách luồng không khí chúng ta có được ngày nay. Đó là sự đảo ngược hướng của luồng không khí trên mặt phẳng của đỉnh sóng (xem hình 1). Sự ảnh hưởng của hình học này mà Jeffreys gọi là nơi trú ẩn, phát sinh từ sự chênh lệch áp suất giữa mặt đón gió và mặt phẳng của sóng. Áp lực gió và độ dốc của sóng nước đều có tính dao động, và khi cả hai dao động lệch pha với nhau, công được thực hiện trên sóng làm cho nó lớn lên. Lý thuyết có một tham số tỷ lệ không bị giới hạn, được gọi là hệ số trú ẩn, ước tính công được thực hiện trên sóng bởi gió. Các thí nghiệm sơ bộ trong phòng thí nghiệm về gió trên các vật thể rắn cho thấy hệ số trú ẩn phụ thuộc cốt yếu vào hình dạng hình học cụ thể của vật thể, điều mà lý thuyết Jeffreys chưa tính đến.  Bài toán này nằm im trong suốt 15 năm mãi cho đến Thế chiến Thứ hai mới được tìm hiểu trở lại. Khi đó, các dự đoán khí tượng chính xác về sóng và lướt sóng trở nên rất quan trọng đối với việc vận chuyển và đổ bộ của vật tư và binh lính. Các nhà nghiên cứu làm việc ở Mỹ- chủ yếu là Harald Sverdrup và Walter Munk tại Viện Hải dương học Scripps ở California – cần những dự đoán về độ cao của những con sóng được tạo ra tại địa phương ở những vùng biển yên lặng, hay các loại sóng bão ập vào các bãi biển gần Normandy, Pháp, trong ngày D-Day. Họ sử dụng các đối số tỷ lệ đơn giản để ước tính chiều cao sóng đó từ cường độ và thời gian mà gió thổi. Mối quan hệ giữa các biến đó tạo thành nền tảng của mô hình thực nghiệm về cách gió tạo ra sóng và những mối quan hệ này vẫn được sử dụng ngày nay.    Hình 1. Các cơ chế tạo sóng. (a) Các dòng xoáy hỗn loạn trong không khí làm xáo trộn một đại dương yên tĩnh ban đầu và tạo ra các gợn sóng có bước sóng cỡ vài cm. (b) Những gợn sóng đó phát triển thành sóng có bước sóng cỡ mét, và gió sẽ “được trú ẩn” ở phía hạ lưu (leeward) của đỉnh sóng. Sự chênh lệch áp suất giữa mặt đón gió (trái) và mặt phẳng (phải) của đỉnh truyền năng lượng từ gió sang sóng khiến nó lớn dần lên. (c) Tốc độ của gió ở mức cao nhất ở bên trên mặt nước và giảm về 0 trên bề mặt đại dương. Ở độ cao tới hạn mà tốc độ của gió bằng với tốc độ pha của sóng, lực cắt của gió cộng hưởng với sóng và truyền thêm năng lượng cho nó. (Hình ảnh của Donna Padian.)  Trong khi đó ở Anh, nhóm W – mà ban đầu là viết tắt của “sóng” – chủ yếu tập trung vào các đợt lũ ảnh hưởng đến Nam Thái Bình Dương trong thời chiến. Nhóm bắt đầu quan tâm đến việc những sóng có bước sóng dài di chuyển những khoảng cách xa như thế nào. Họ tìm hiểu kết quả của các nhà toán học thế kỷ 19 là Augustin Louis Cauchy và Siméon Poisson, những người làm về tính chất phồng. Họ trả lời câu hỏi làm thế nào sóng phát ra từ một tảng đá thả xuống ao. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng cách mô hình hóa đó – tức là mô tả các cơn bão ở xa như “tảng đá rơi xuống ao” – để dự đoán thời gian đến của những ngọn sóng đó.  Trong khoảng thời gian nhóm W nghiên cứu các dự đoán về độ phồng, nhà vật lý đoạt giải Nobel Pyotr Kapitsa đã tìm hiểu lại cơ chế trú ẩn của Jeffreys. Nhưng thay vì tập trung vào sự phân tách luồng không khí trong lớp không khí mỏng gần với bề mặt nước, ông đã xem xét các sự kiện phân tách luồng không khí trên thang đo của một bước sóng. Và mặc dù công trình đó ít được chú ý nhưng trực giác của ông về các sự kiện phân tách luồng không khí lớn gần đỉnh sóng đã có cơ sở.  Munk đã bổ sung những công trình lý thuyết đó với một số quan sát quan trọng. Ông không hạn chế sự chú ý của mình vào việc tìm kiếm các mối quan hệ. Ông làm việc với Charles Cox trong nghiên cứu chi tiết về các bức ảnh chụp từ máy bay ném bom B-17, và tìm hiểu mối liên hệ giữa tốc độ gió và độ dốc của mặt biển. Các quan sát của họ chỉ ra rằng hai biến có tương quan chặt chẽ với nhau. Dựa trên công trình nghiên cứu đó, Munk đề xuất thêm rằng các sóng có bước sóng ngắn là những sóng được kết hợp tích cực nhất với gió và cường độ của sự kết hợp đó, đại diện cho sự tăng trưởng sóng, phụ thuộc vào độ dốc của chúng. Mặc dù vậy, cơ chế đằng sau quá trình cơ bản đó được Munk gọi là “một sự thật bất tiện trên biển”, vẫn chưa được tìm hiểu rõ.  Bổ sung những hiểu biết mới  Trong một bài tổng hợp vào năm 1956 về chủ đề này, Fritz Ursell, thành viên nhóm W đã viết rằng hiểu biết của các nhà hải dương học về sự tạo sóng do gió là “chưa thỏa mãn.” Và hai nhà khoa học trẻ đã đáp lại lời kêu gọi hành động của ông: John Miles của Đại học California và Owen Phillips của Đại học Cambridge.  Cơ chế Miles là một sự không ổn định của dòng cắt theo tinh thần của lý thuyết ban đầu của Kelvin và Helmholtz. Tuy nhiên Miles có cái nhìn đặc biệt quan trọng và tính toán ra cấu hình gió trung bình dựa trên các đặc tính của dòng chảy gần với một ranh giới. Ông đưa ra mô hình bảo toàn bán nguyệt, trong đó sự không ổn định của dòng chảy xảy ra ở độ cao tới hạn – cụ thể là ở nơi tốc độ gió khớp với tốc độ pha của sóng đang phát triển (xem hình 1). Sự không ổn định là kết quả của tương tác giữa sóng bề mặt và sự nhiễu loạn nó gây ra ở độ cao đó. Tương tác này đến lượt nó loại bỏ năng lượng và động lượng từ gió và tạo ra sóng. Tốc độ phát triển của những con sóng đó không phụ thuộc vào tốc độ gió hoặc độ thay đổi của nó mà phụ thuộc vào độ cong của mặt cắt gió ở độ cao tới hạn.  Cũng giống như Miles, Phillips đã đề xuất một cơ chế dựa trên sự cộng hưởng giữa sóng bề mặt và dao động áp suất trong gió. Nghĩa là, gió có một thành phần hỗn loạn là một tập hợp các dòng xoáy khi nó thổi trên mặt nước. Các nhiễu loạn áp suất liên quan đến các dòng xoáy đó hoạt động trên bề mặt nước, tạo ra các sóng nhỏ (wavelets). Nếu những wavelet đó cùng với áp suất nhiễu loạn di chuyển với tốc độ của sóng trọng lực bề mặt tự do, thì một sự cộng hưởng xảy ra và wavelet có thể phát triển thành sóng.     Nguồn: jonathanmorice.com  Lý thuyết Phillips mới chỉ được khẳng định gần đây thông qua các thí nghiệm chi tiết trong phòng thí nghiệm và mô phỏng số của dòng chảy hỗn loạn. Kết quả cho thấy lý thuyết này chính xác ở những giai đoạn đầu của quá trình tạo sóng và cung cấp một cơ chế mà bề mặt đại dương chuyển từ hoàn toàn nhẵn sang gợn sóng. Khi những gợn sóng đó đạt được biên độ vài mm, các cơ chế tăng trưởng khác sẽ xảy ra và sự truyền năng lượng phi tuyến giữa các sóng trở nên chiếm ưu thế.  Mặc dù có nhiều điều hấp dẫn nhưng cả hai lý thuyết đều có những hạn chế. Một mặt, lý thuyết Phillips dự đoán rằng các biên độ sóng phát triển tuyến tính theo thời gian nhưng yếu. Và như đã đề cập ở trên, điều đó dường như chỉ áp dụng trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng. Một khi sóng lớn hơn và dài hơn, cơ chế Miles trở nên thống trị: Sóng phát triển theo cấp số nhân trong thời gian và với tốc độ phát triển lớn hơn nhiều so với cơ chế Phillips.  Cơ chế của Miles còn bỏ qua sự hỗn loạn và ảnh hưởng của nó đối với sự nhiễu loạn do sóng gây ra đối với dòng khí quyển. Đối với sóng ngắn, độ cao tới hạn nằm gần với bề mặt – một vùng mà các dòng xoáy hỗn loạn được hình thành từ từ so với thời gian tồn tại của chúng. Sau đó thì những xoáy nước đó có thể tương tác với các sóng và các quá trình khác thay thế, có thể là hỗn loạn, sẽ trở nên chi phối trong phạm vi các bước sóng ngắn đó. Các hạn chế khác của cơ chế Miles bao gồm nó không xử lý các hiệu ứng phi tuyến trong dòng chảy, ảnh hưởng của độ nhớt và tương tác giữa các sóng có bước sóng ngắn và dài.  Khó khăn trong hòa hợp các lý thuyết  Các lý thuyết Phillips và Miles giả định rằng sóng biển không dốc, coi sóng là (gần như) đơn sắc và không tính đến tính đa quy mô của dòng chảy hỗn loạn. Trong nỗ lực để khắc phục những thiếu sót đó, Stephen Belcher và Julian Hunt đã đề xuất mở rộng cơ chế cư trú của Jeffreys thành dòng chảy xoáy vào năm 1993. Họ đã sử dụng các công cụ từ lý thuyết nhiễu loạn để định lượng mức độ chênh lệch áp suất do nơi trú ẩn bị ảnh hưởng như thế nào khi có dòng xoáy hỗn loạn. Cơ chế được tạo ra bằng cách dựa trên sự biến dạng của luồng không khí trên mặt phẳng của sóng. Và nó tạo ra các ước lượng thực tế về sự phát triển của sóng đối với các sóng ngắn.  Trong điều kiện thực tế bề mặt biển có thể được mô tả bằng một phổ sóng băng thông rộng tương tác với không khí hỗn loạn. Do đó tốc độ phát triển sóng dự đoán bởi lý thuyết cần được kiểm tra dựa trên các quan sát trong phòng thí nghiệm và trên thực tế. Tuy nhiên, việc kiểm chứng đầy đủ lý thuyết này sẽ cần số liệu về cấu trúc luồng không khí. Hơn nữa, độ cao tới hạn của Miles tỷ lệ thuận với độ dài của sóng, do đó đối với sóng ngắn, được cho là sẽ kết hợp mạnh với gió, độ cao đó chỉ bằng một phần mười cm tính từ bề mặt với nhiều thay đổi. Điều đó làm cho các đặc tính khí quyển ngay trên sóng trở nên cực kỳ khó đo lường.  Để xác nhận bằng thực nghiệm các lý thuyết về sự hình thành của sóng các nhà nghiên cứu sẽ phải xác minh các hệ quả của lý thuyết Miles. Những hệ quả đó bao gồm dạng của các đường hợp lý được dự đoán bởi lý thuyết và tỷ lệ của tốc độ phát triển sóng với tốc độ gió. Hơn nữa, vì sự khan hiếm của các phép đo chính xác gần bề mặt đại dương, người ta thường phải tính gần đúng biểu thức cho cấu hình gió từ lý thuyết lớp biên. Một số tham số tỷ lệ quan trọng phát sinh từ lý thuyết đó – thang đo độ dài nhám là một ví dụ – và chúng đã được chứng minh là khó bị ràng buộc bởi vì chúng bị ảnh hưởng mạnh bởi trường sóng. Bất chấp những khó khăn, các dự đoán và quan sát về sự hình thành của sóng phần lớn phù hợp cho các sóng dài.  Việc sử dụng lý thuyết Miles và các phần mở rộng đơn giản của nó tạo thành cơ sở cho việc xác định tham số cho mô hình tạo sóng từ gió ngày nay – nghĩa là đại lượng Sin – và được sử dụng trong các mô hình phổ sóng. Các mô hình đó thường không giải thích được sóng ngắn, vì vậy mô hình sóng quang phổ và phản ứng của chúng với sức gió chỉ được sử dụng cho việc xác định tham số (có thể không đầy đủ) của các nền tảng vật lý cơ sở.  Những thách thức trong nghiên cứu hiện tại  Những tiến bộ gần đây về mô hình giải thích cách gió tạo ra sóng đã được hỗ trợ bởi sự phát triển của công nghệ tính toán và quan trắc, và cả bởi các mô hình lý thuyết cải tiến.  Các phép đo được thực hiện trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa đã cho thấy sự tồn tại của độ cao tới hạn – một đặc điểm cần thiết của lý thuyết Miles – và tầm quan trọng của nó trong việc kiểm soát dòng xung lượng đối với sóng dài. Sử dụng các hệ quy chiếu tự nhiên, máy móc đo được ở những khoảng cách pháp tuyến và tiếp tuyến với bề mặt chứ không phải từ một điểm cố định nào đó, và đã làm rõ hơn rất nhiều dữ liệu quan sát. Sự phát triển của các mô phỏng xoáy lớn của lớp ranh giới khí quyển cũng đã làm sáng tỏ các chế độ khác nhau, đặc biệt là đối với gió thấp và sóng dài. Trong các chế độ đó, một phần động lượng đáng kể có thể được chuyển từ sóng trở lại bầu khí quyển.  Động lực học của sóng ngắn phức tạp hơn sóng dài vì ảnh hưởng của sự vỡ sóng. Độ dốc lớn xảy ra khi sóng bị phá vỡ tạo ra luồng gió phân tách luồng không khí 3D của đỉnh sóng. Việc sóng bị vỡ thậm chí còn ảnh hưởng mạnh khi sức gió tăng lên đến cấp bão. Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm có khả năng tạo ra các điều kiện khắc nghiệt như vậy chỉ ra rằng sự gắn kết lại của các luồng không khí tách biệt xảy ra ít thường xuyên hơn ở tốc độ gió cao hơn ở tốc độ thấp hơn và cô lập sóng khỏi luồng không khí lớn. Sự thay đổi tính chất đó của dòng chảy gần bề mặt đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong các điều kiện tiệm cận cường độ bão và là một lĩnh vực nghiên cứu tích cực.  Một số thí nghiệm và mô phỏng tính toán giải bài toán hỗn loạn của hệ không khí – nước kết hợp đã đạt được kết quả và đang trở nên phổ biến hơn. Về mặt thực nghiệm thì thử thách là thực hiện đồng thời các phép đo độ nhiễu loạn trong không khí và nước. Về mặt tính toán, thách thức là giải các phương trình Navier – Stokes hai pha trên phạm vi rộng và có quan hệ.  Cả hai nghiên cứu đều làm nổi bật sự tương tác phức tạp giữa sóng nước và gió hỗn loạn. Các mô phỏng số đã tạo cơ sở cho các nghiên cứu tra về tất cả các đại lượng trong không gian 3D, chẳng hạn như trường áp suất trên bề mặt đại dương. Đó là một trường nổi tiếng khó đo trong phòng thí nghiệm vì sóng di chuyển rất nhanh. Một phân tích về năng lượng và động lượng truyền từ gió sang sóng là một ví dụ khác. Nó có thể giúp kiểm tra thêm các lý thuyết được đề xuất về sự hình thành của sóng trong các chế độ khác nhau.  Mặc dù nhiều chi tiết vẫn còn khó giải chi tiết, sự kết hợp của các mô hình lý thuyết, dữ liệu số có được từ thí nghiệm mô phỏng trong phòng thí nghiệm hay đo từ thực địa đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự hình thành nên sóng từ gió. Câu hỏi đơn giản về cách nó xảy ra, không nghi ngờ gì nữa, sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho nghiên cứu về cấu trúc cơ bản của đại dương và các mô hình đại dương – bầu khí quyển kết hợp trong bối cảnh khí hậu ấm lên.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4880     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới hạn của năng lượng sạch      Nếu không cẩn thận, năng lượng tái tạo cũng có thể trở nên tàn phá thế giới như nhiên liệu hóa thạch.      Minh họa của Foreign Policy.  Gần đây câu chuyện về biến đổi khí hậu đã trở nên gay gắt. Được thúc đẩy bởi các cuộc đình công khí hậu trong học đường và các phong trào xã hội như “Cuộc nổi loạn tuyệt chủng”, một số chính phủ đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về khí hậu, và sau cùng các đảng chính trị cấp tiến đang lên kế hoạch cho một chuyển đổi nhanh chóng sang năng lượng sạch theo ngọn cờ “Thỏa thuận xanh mới.”  Đây là một sự thay đổi đáng hoan nghênh, và chúng ta cần nhiều thay đổi hơn nữa. Nhưng một vấn đề mới đang bắt đầu xuất hiện đáng cho chúng ta chú ý. Dường như một số người đề xướng “Thỏa thuận xanh mới” tin rằng nó sẽ mở đường đến một miền lý tưởng của Tăng trưởng xanh. Một khi chúng ta đánh đổi nhiên liệu hóa thạch bẩn để lấy năng lượng sạch, thì không có lý do gì chúng ta không thể tiếp tục mở rộng nền kinh tế vĩnh cửu.  Thoạt nghe, chuyện kể này có vẻ rất hợp lý, nhưng có những lý do chính đáng để suy nghĩ lại về nó. Một trong số lý do đó chính là năng lượng sạch.  Cụm từ ‘năng lượng sạch’ thường gợi lên những hình ảnh vui sướng, hồn nhiên của ánh nắng ấm áp và gió trong lành. Nhưng trong khi ánh nắng và gió rõ ràng là sạch, cơ sở hạ tầng chúng ta cần để thu nhận chúng thì không. Càng tồi tệ hơn. Việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ đòi hỏi một sự gia tăng mạnh mẽ trong việc khai thác kim loại và khoáng sản từ đất hiếm, với phí tổn sinh thái và xã hội thực sự.  Chúng ta cần một sự chuyển đổi nhanh chóng sang năng lượng tái tạo, vâng, nhưng các nhà khoa học cảnh báo rằng chúng ta không thể tiếp tục sử dụng năng lượng ngày càng tăng với tốc độ hiện có. Không có năng lượng nào là vô tội. Năng lượng duy nhất thực sự sạch là ít năng lượng.      Chúng ta cần một sự chuyển đổi nhanh chóng sang năng lượng tái tạo, vâng, nhưng các nhà khoa học cảnh báo rằng chúng ta không thể tiếp tục sử dụng năng lượng ngày càng tăng với tốc độ hiện có. Không có năng lượng nào là vô tội. Năng lượng duy nhất thực sự sạch là ít năng lượng.      Năm 2017, Ngân hàng Thế giới đã công bố một báo cáo ít được chú ý, đưa ra cái nhìn toàn diện đầu tiên về câu hỏi này. Báo cáo này mô phỏng sự gia tăng trong khai thác vật liệu cần thiết để xây dựng đủ các tiện ích để thu nhận năng lượng Mặt trời và gió để tạo ra sản lượng hằng năm khoảng 7 terawatt điện vào năm 2050. Sản lượng đó đủ để cung cấp năng lượng cho một nửa nền kinh tế toàn cầu. Bằng cách nhân đôi số liệu của Ngân hàng Thế giới, chúng tôi có thể ước tính những gì sẽ cần để đạt được mức phát thải bằng 0 và kết quả thật đáng kinh ngạc: 34 triệu tấn đồng, 40 triệu tấn chì, 50 triệu tấn kẽm, 162 triệu tấn tấn nhôm, và không dưới 4,8 tỷ tấn sắt.  Trong một số trường hợp, việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ đòi hỏi một sự gia tăng khổng lồ so với mức độ khai thác hiện có. Đối với neodymium, một nguyên tố thiết yếu trong tuabin gió, lượng khai thác sẽ cần tăng gần 35% so với mức hiện tại. Ước tính mức cao trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy nó có thể tăng gấp đôi.  Cũng tương tự thế đối với kim loại bạc – thành phần rất quan trọng trong các tấm pin Mặt trời. Nhu cầu khai thác mỏ bạc sẽ tăng 38 phần trăm và có thể lên tới 105 phần trăm. Nhu cầu về indium, cũng rất cần thiết cho công nghệ năng lượng Mặt trời, sẽ tăng hơn gấp ba và có thể sẽ tăng vọt lên tới 92%.  Và kế đó là tất cả các loại pin mà chúng ta sẽ cần để lưu trữ năng lượng. Để giữ năng lượng liên tục khi không có ánh nắng Mặt trời và không có gió sẽ cần pin (ắc-qui) khổng lồ cho mạng lưới điện. Điều này có nghĩa là 40 triệu tấn lithium – một lượng tăng đáng kể – 2.700 phần trăm so với mức khai thác hiện tại.  Đó mới chỉ nói về điện. Chúng ta cũng cần suy nghĩ về các loại xe cộ. Năm nay, một nhóm các nhà khoa học hàng đầu của Anh đã gửi thư cho Ủy ban về biến đổi khí hậu của Anh quốc nêu rõ mối lo ngại của họ về tác động sinh thái của ô tô điện. Tất nhiên, họ đồng ý rằng chúng ta cần chấm dứt việc bán và sử dụng động cơ đốt trong. Nhưng họ chỉ ra rằng trừ khi thay đổi thói quen tiêu dùng, việc thay thế đội xe dự kiến 2 tỷ chiếc ​​của thế giới sẽ đòi hỏi sự gia tăng bùng nổ trong khai quặng: Khai thác neodymium và dysprosium hằng năm sẽ tăng thêm 70%, sẽ cần khai thác đồng hằng năm đến hơn gấp đôi, và coban sẽ cần tăng theo hệ số gần như bốn lần – tất cả cần trong suốt thời gian từ nay đến năm 2050.  Vấn đề ở đây không phải là chúng ta sẽ hết các khoáng sản quan trọng, mặc dù điều đó thực ra có thể trở thành một mối lo ngại. Vấn đề thực tế là nếu khai thác triệt để như thế sẽ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng khai khoáng quá mức hiện nay. Khai thác khoáng sản đã trở thành một trong những động lực lớn nhất của nạn phá rừng, phá vỡ hệ sinh thái và hũy diệt đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Các nhà sinh thái học ước tính rằng ngay cả với mức sử dụng vật liệu toàn cầu hiện nay, chúng ta đang vượt quá mức bền vững tới 82%.  Lấy kim loại bạc chẳng hạn. Mexico là quê hương của mỏ Peñasquito, một trong những mỏ bạc lớn nhất thế giới. Diện tích mỏ chiếm gần 10.360 hecta, các hoạt động khai thác mỏ với  quy mô kinh khủng: một hố sâu lộ thiên vĩ đại phức tạp tách thành rãnh chạy vào những ngọn núi, hai bên là hai dãy chất thải mỗi dãy dài gần 2 km, và một bờ đập chặn chất thải đầy bùn độc giữ lại bởi một bức tường dài 11,2 km xung quanh và cao như một tòa nhà chọc trời 50 tầng. Mỏ này sẽ đem lại 11.000 tấn bạc trong 10 năm trước khi trữ lượng của nó, lớn nhất thế giới, bị cạn kiệt.    Cát bụi cuốn lên liên tục trên những trang trại điện gió ở California. Ảnh: MARIO TAMA/GETTY IMAGES  Để chuyển đổi nền kinh tế toàn cầu sang năng lượng tái tạo, chúng ta cần có thêm tới 130 mỏ với quy mô Peñasquito. Đó mới chỉ cho kim loại bạc.  Nguyên tố lithium là một thảm họa sinh thái khác. Phải mất 2 triệu lít nước để sản xuất một tấn lithium. Ngay cả ở mức độ khai thác hiện nay, điều này đang gây ra vấn đề. Ở vùng Andes (Nam Mỹ), nơi chứa phần lớn trữ lượng lithium thế giới, các công ty khai thác mỏ đang khoan giếng sâu rút các tầng nước khiến nông dân không còn gì để tưới cho cây trồng của họ. Nhiều người không có lựa chọn nào khác ngoài việc từ bỏ đất đai của họ hoàn toàn. Trong khi đó, rò rỉ hóa chất từ ​​các mỏ lithium đã đầu độc các dòng sông từ Chile đến Argentina, Nevada đến Tây Tạng, giết chết toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt. Sự bùng nổ của lithium mới chỉ bắt đầu, mà nó đã tạo nên một cuộc khủng hoảng rồi.  Và tất cả những điều này mới chỉ để cung cấp năng lượng cho nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Mọi thứ trở nên cực đoan hơn khi chúng ta bắt đầu chiết tính cho sự tăng trưởng. Khi nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng, việc khai thác nguyên liệu cho năng lượng tái tạo sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và tốc độ tăng trưởng càng cao thì tình trạng càng tệ.  Điều quan trọng cần ghi nhớ là hầu hết các nguyên liệu chính cho quá trình chuyển đổi năng lượng đều nằm ở phía Nam bán cầu. Nhiều vùng của châu Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á có thể sẽ trở thành mục tiêu của một cuộc tranh giành tài nguyên mới và một số quốc gia có thể trở thành nạn nhân của các hình thức thực dân mới. Nó đã xảy ra vào thế kỷ 17 và 18 với việc săn lùng vàng và bạc từ Nam Mỹ. Vào thế kỷ 19, săn lùng vùng đất trồng bông vải và mía ở vùng biển Caribbean. Vào thế kỷ 20, săn lùng kim cương từ Nam Phi, coban từ Congo và dầu khí từ Trung Đông. Không khó gì để tưởng tượng rằng sự tranh giành năng lượng tái tạo có thể trở nên bạo lực tương tự.      Khai thác khoáng sản đã trở thành một trong những động lực lớn nhất của nạn phá rừng, phá vỡ hệ sinh thái và hủy diệt đa dạng sinh học trên toàn thế giới. Các nhà sinh thái học ước tính rằng ngay cả với mức sử dụng vật liệu toàn cầu hiện nay, chúng ta đang vượt quá mức bền vững tới 82%.      Nếu chúng ta không đề phòng, các công ty năng lượng sạch có thể trở nên tàn phá như các công ty nhiên liệu hóa thạch –họ mua chuộc các chính trị gia, phá hoại hệ sinh thái, vận động hành lang chống lại các quy định môi trường, thậm chí ám sát các nhà lãnh đạo cộng đồng cản đường họ.  Một số người hy vọng rằng năng lượng hạt nhân sẽ giúp chúng ta khắc phục những vấn đề này và chắc chắn nó cần phải là một phần của hỗn hợp. Nhưng hạt nhân đi kèm với những hạn chế riêng của nó. Đối với một người, phải mất nhiều thời gian dài để xây được nhiều nhà máy điện mới hoạt động mà chúng chỉ có thể đóng một vai trò nhỏ trong việc đưa chúng ta đến mức phát thải bằng không vào giữa thế kỷ. Và thậm chí về lâu dài, hạt nhân chỉ có thể được quy mô không vượt quá 1 terawatt. Không có một phép màu cho bước đột phá công nghệ, phần lớn năng lượng của chúng ta sẽ phải đến từ năng lượng Mặt trời và gió. (Thực ra hiện nay chúng ta cũng đang khai thác điện sinh khối sử dụng từ rác thải, bã mía, bã sorgo sinh khối – Lời người dịch)  Không có gì trong bài này để nói rằng chúng ta không nên theo đuổi quá trình chuyển đổi nhanh chóng sang năng lượng tái tạo. Chúng ta hoàn toàn phải làm và khẩn trương. Nhưng nếu chúng ta đeo đuổi một nền kinh tế xanh hơn, bền vững hơn, chúng ta không nên tự đánh lừa mình với ảo tưởng rằng chúng ta có thể tiếp tục nhu cầu năng lượng ngày càng tăng này với tốc độ hiện có.  Tất nhiên, chúng ta biết rằng các nước nghèo vẫn cần tăng sử dụng năng lượng để đáp ứng nhu cầu cơ bản. Nhưng những nước giàu hơn, may mắn thay, không cần. Ở các quốc gia thu nhập cao, việc chuyển đổi sang năng lượng xanh cần phải đi kèm với việc giảm sử dụng năng lượng tổng hợp theo kế hoạch.  Làm thế nào điều này có thể được thực hiện? Do phần lớn năng lượng của chúng ta được sử dụng để cung cấp năng lượng cho việc khai thác và sản xuất hàng hóa vật chất, Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu đề nghị các quốc gia có thu nhập cao nên giảm thông lượng vật chất của họ – có luật pháp để kéo dài tuổi thọ và quyền sửa chữa sản phẩm, cấm cách sử dụng theo hạn kỳ lỗi thời phải vứt đi, chuyển từ ô tô tư nhân sang giao thông công cộng, đồng thời giảm bớt các ngành công nghiệp không cần thiết về mặt xã hội và tiêu thụ xa xỉ lãng phí như buôn bán vũ khí, đi xe thể thao thông dụng (SUV) và ở nhà biệt thự to rộng (McMansions).  Giảm nhu cầu năng lượng không chỉ cho phép chuyển đổi nhanh hơn sang năng lượng tái tạo mà còn đảm bảo rằng quá trình chuyển đổi không kích hoạt làn sóng hủy diệt mới. Bất kỳ Thỏa thuận xanh mới nào muốn được hợp lý về mặt xã hội và sinh thái cần phải nắm những nguyên tắc trung tâm này. □  V õ Tòng Xuân  dịch  Nguồn: https://foreignpolicy.com/2019/09/06/the-path-to-clean-energy-will-be-very-dirty-climate-change-renewables/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới hạn về tuổi thọ của con người?      Trái với những quan điểm trước đây về giới hạn của tuổi thọ con người, một nghiên cứu mới đây minh chứng rằng tuổi thọ con người có thể không có giới hạn cố định.    Kết luận này dựa trên một phân tích thống kê được công bố hôm 29/6 trên tạp chí Science về xác suất tuổi thọ của gần 4.000 người ‘siêu cao tuổi’ ở Ý, tất cả đều từ 105 tuổi trở lên.  Một nhóm nghiên cứu do nhà dân số học Elisabetta Barbi ở Đại học Sapienza và nhà thống kê học Francesco Lagona ở Đại học Roma Tre làm chủ trì, có trụ sở tại Rome, đã phát hiện ra nguy cơ tử vong – dường như tăng dần theo độ tuổi trong đa số trường hợp – nhưng đến sau độ tuổi 105 thì ngừng tăng, tạo ra một “điểm cân bằng sinh tử (mortality plateau)”. Cụ thể, các nhà nghiên cứu giải thích, từ thời điểm này trở đi, xác suất tử vong của một người qua mỗi năm không đổi, là khoảng 50%. Điều này khác với định luật tử vong Gompertz-Makeham: sau 8 năm, xác suất tử vong của con người lại tăng gấp đôi.  Jean-Marie Robine, một nhà dân số học thuộc Viện Y tế và Sức khỏe Quốc gia Pháp, ở Montpellier, là người không tham gia nghiên cứu, đưa ra nhận định: “Nếu có một điểm cân bằng sinh tử, tức là tuổi thọ con người không có giới hạn.”  Như vậy là những người như bà cụ Chiyo Miyako – một bà cụ già người Nhật 117 tuổi, được biết đến là người già nhất thế giới, có thể sống tiếp trong nhiều năm tới – hoặc thậm chí mãi mãi, ít nhất là về mặt giả thuyết.  Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã tranh luận liệu con người có một điểm cận trên của tuổi thọ hay không. Tất cả đều có chung quan điểm rằng nguy cơ tử vong tăng dần ở tuổi trưởng thành cho tới khoảng 80 tuổi. Nhưng có sự bất đồng kịch liệt về những gì xảy ra khi con người bước vào tuổi 90 và 100.  Một số nhà khoa học đã xem xét dữ liệu dân số học và kết luận rằng các con người có một “thời hạn sử dụng” tự nhiên cố định và tỉ lệ tử vong cứ thế tăng lên. Những người khác đã xem xét dữ liệu tương tự và kết luận rằng nguy cơ tử vong chỉ giảm xuống trong những năm con người ở “độ tuổi cực thọ” (ultra-golden), như vậy tuổi thọ con người không có điểm cận trên.  Cuộc tranh luận về tuổi tác  Năm 2016, nhà di truyền học Jan Vijg và các cộng sự của ông tại trường Cao đẳng Y khoa Albert Einstein ở thành phố New York đã phân tích các báo cáo về độ tuổi tử vong của những người sống lâu nhất thế giới trong hơn nửa thế kỷ, họ đã khơi lại cuộc tranh luận về vấn đề tuổi tác. Họ ước tính rằng mức tuổi thọ tối đa của con người là khoảng 115 – 125 tuổi.  Vijg và nhóm nghiên cứu cho rằng một số người, nếu có, đã đạt tới tuổi thọ tối đa từ giữa những năm 1990, tuổi thọ con người đã đạt đến giới hạn tự nhiên. Người có tuổi thọ cao nhất thế giới được công nhận là Jeanne Calment, một người Pháp đã qua đời năm 1997 ở tuổi 122.  Các nhà nghiên cứu như Barbi và Lagona không thừa nhận phương pháp thống kê này. Cùng với các cộng sự ở Viện Thống kê Quốc gia Ý, hai nhà khoa học đã thu thập hồ sơ của những người Ý từ 105 tuổi trở lên trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 – thu thập giấy chứng tử, khai sinh để cố gắng làm giảm thiểu khả năng “phóng đại tuổi tác”, một vấn đề khá phổ biến ở những người già nhất thế giới. Họ cũng theo dõi cuộc đời mỗi cá nhân theo từng năm, chứ không phải gộp lại theo độ tuổi và sử dụng những dữ liệu tổng hợp như các nghiên cứu trước đây. Và bằng cách tập trung vào Ý, nơi có tỷ lệ người sống hơn trăm tuổi cao nhất trên thế giới, họ tránh được vấn đề sai số trong dữ liệu thu thập được ở các khu vực khác nhau.  Theo Kenneth Howse, một nhà nghiên cứu chính sách y tế tại Viện lão hóa dân số Oxford, Vương quốc Anh: “Những dữ liệu này là bằng chứng tốt nhất để xác định điểm cân bằng sinh tử của con người”.  Ken Wachter, một nhà dân số học định lượng tại Đại học California, Berkeley, đồng tác giả cùng với Barbi và Lagona, nghi ngờ những bất đồng trước đây về các mô hình tỉ lệ tử vong chủ yếu xuất phát từ các hồ sơ và thống kê sai lệch. “Lợi thế của chúng tôi là có dữ liệu tốt hơn”, ông nói. “Nếu có được dữ liệu với chất lượng tương tự ở các quốc gia khác, tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy nhiều mẫu tương tự.”    Robine thì không chắc chắn về điều này. Ông lập luận rằng các dữ liệu không được công bố ở Pháp, Nhật Bản và Canada cho thấy sự tồn tại điểm cân bằng sinh tử là “chưa thực sự sáng tỏ”. Theo ông, cần có một phân tích mang tính toàn cầu để xác định liệu những phát hiện ở Ý có phản ánh một đặc tính chung về sự lão hóa của con người hay không.  Vượt ra ngoài những giới hạn  Joop de Beer, một nhà nghiên cứu tuổi thọ tại Viện Dân số học Liên ngành Hà Lan ở Hague, cho biết trên thế giới có khoảng 500.000 người có tuổi thọ từ 100 tuổi trở lên – một con số được dự đoán sẽ tăng gần gấp đôi trong mỗi thập kỷ tới. Cứ cho rằng nguy cơ tử vong cuối đời không đổi ở tỉ lệ 50-50 thì thành viên gia nhập trong câu lạc bộ người già trên 100 tuổi trên toàn cầu sẽ có xu hướng gia tăng một cách kì dị cứ mỗi năm trong một thập kỉ.     Nhiều nhà nghiên cứu hy vọng sẽ hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tỉ lệ tử vong sẽ giảm xuống trong tương lai. Siegfried Hekimi, một nhà di truyền học tại Đại học McGill ở Montreal, Canada, suy đoán rằng các tế bào trong cơ thể sẽ đạt đến khả năng ngừng lão hóa để giữ nguy cơ tử vong ở mức ổn định.  Hekimi đặt vấn đề: “Tại sao cái “điểm cân bằng sinh tử” này lại xuất hiện và nó có ý nghĩa gì tới quá trình lão hóa – chúng ta không biết gì về điều này cả”.  Theo James Kirkland, một bác sĩ lão khoa tại bệnh viện Mayo ở Rochester, Minnesota, bằng chứng thuyết phục về “điểm cân bằng sinh tử” dẫn đến khả năng có thể kiểm soát tử vong ở bất kì lứa tuổi nào. Một số chuyên gia nhận định không thể khắc phục được sự suy yếu của cơ thể theo thời gian. Nhưng ông cũng cho biết nếu tỷ lệ tử vong không tăng theo thời gian, các biện pháp làm chậm quá trình lão hóa sẽ có tác dụng, thậm chí đối với cả những người cực già.  Không phải ai cũng đồng ý với lập luận đó – hoặc với kết luận của nhóm Barbi.  Brandon Milholland, một tác giả đã công bố về vấn đề này trên Nature năm 2016, cho rằng bằng chứng về một điểm cân bằng sinh tử là “không xác thực”, bởi vì chỉ có khoảng gần 100 người từ 110 tuổi trở lên tham gia nghiên cứu. Leonid Gavrilov, một nhà nghiên cứu tuổi thọ tại Đại học Chicago ở Illinois, nhấn mạnh rằng ngay cả những sai số nhỏ trong các hồ sơ tuổi thọ của người Ý có thể dẫn đến một kết luận sai lầm.  Những người khác cho rằng kết luận của nghiên cứu này không hợp lý về mặt sinh học. Jay Olshansky, một nhà sinh học- dân số học ở Đại học Illinois ở Chicago, cho biết: “Có những hạn chế cơ bản do cấu trúc cơ thể gây ra”, chẳng hạn như các tế bào không thể tái tạo như tế bào thần kinh sẽ tiếp tục khô héo và chết, điều này tạo ra giới hạn trên cho tuổi thọ tự nhiên của con người.  Do đó, nghiên cứu này không phải là ý kiến cuối cùng trong cuộc tranh luận về giới hạn tuổi tác, Haim Cohen, một nhà sinh học phân tử tại Đại học Bar-Ilan ở Ramat-Gan, Israel cho biết. “Tôi chắc chắn rằng cuộc tranh luận sẽ tiếp tục.”                Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05582-3       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới học thuật Đức và Elsevier: Một cuộc chiến gay cấn      Nước Đức kỳ vọng, cuộc đàm phán không khoan nhượng của họ với Elsevier – nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới hiện nay có thể tạo ra một cuộc dịch chuyển toàn cầu sang truy cập mở và thay đổi một cách toàn diện mô hình xuất bản.      Thư viện trường Đại học Humboldt (Berlin) là một trong những nơi không tái ký hợp đồng thuê bao tạp chí với Elsevier. Nguồn: Science.  Trong phòng hội nghị ở tầng 3 nhìn qua quảng trường Potsdamer nổi tiếng, nơi từng bị Bức tường Berlin chia đôi, người ta đang đàm phán về tương lai của ngành xuất bản. Lịch sử đang được hình thành, vì nếu các thủ thư và các các nhà quản lý nghiên cứu có được điều họ muốn, một ranh giới khác sẽ bị bãi bỏ: bức tường phí bao quanh hầu hết các bài báo khoa học.  Trong vòng 2 năm qua, hơn 150 thư viện, đại học, và viện nghiên cứu ở Đức đã hình thành liên minh thống nhất cố gắng ép các nhà xuất bản hàn lâm chuyển sang một mô hình kinh doanh mới. Thay vì trả một cái giá rất cao để được đọc những tạp chí nhất định, thành viên trong nhóm liên minh muốn tài trợ trước cho các nhà xuất bản một chi phí để đăng tất cả những bài báo có tác giả thứ nhất là người Đức. Rồi, những bài báo đó sẽ được truy cập miễn phí trên khắp thế giới; Còn riêng các viện nghiên cứu, trường đại học của Đức sẽ được truy cập tới tất cả những nội dung trực tuyến của các nhà xuất bản.  Liên minh thư viện và trường đại học ở Hà Lan, Phần Lan, Áo, và Vương quốc Anh cũng thúc đẩy tới các thỏa thuận tương tự, nhưng đã phải chấp nhận kết quả ít hơn những gì họ mong muốn. Ở Hà Lan, ví dụ, Elsevier – nhà xuất bản hàn lâm lớn nhất thế giới – chỉ đồng ý cho 30% bài báo có các tác giả người Hà Lan truy cập mở vào năm 2018, và chỉ sau khi các thư viện phải tăng tiền tài trợ hằng năm đáng kể.  Ở nước Đức, cũng vậy, đạt được một thỏa thuận với Elsevier dường như quá mơ hồ. Tuy nhiên, liên minh của Đức, Projekt DEAL, nhất quyết không thỏa hiệp, tin rằng kết quả đầu ra thành công có thể thúc đẩy một cuộc đảo ngược tình thế ngoạn mục, một cuộc chuyển đổi toàn cầu sang truy cập mở. “Nếu điều đó thành sự thực, nó có thể là mô hình cho phần còn lại của thế giới”, một nhà đàm phán, nhà toán học Günter Ziegler của Đại học Tự do Berlin nói.  Đề xuất thương vụ “xuất bản và đọc” không chỉ có thể làm cho nghiên cứu của Đức được truy cập nhiều hơn, mà còn tiết kiệm chi phí. Dù tạp chí truy cập mở – OA (Open Access) đang gia tăng nhanh chóng, hàng ngàn tạp chí vẫn áp dụng mô hình phải trả phí định kì. Tổng cộng, các thư viện hàn lâm của thế giới trả khoảng 7.6 tỷ Euro cho các gói thuê bao để truy cập tới khoảng 1,5 – 2 triệu tài liệu mới hằng năm, hoặc trong khoảng 3800 Euro và 5000 Euro cho từng bài báo, theo ước tính của Hiệp hội Max Planck. Điều đó tạo ra một món hời cho các nhà xuất bản như Wiley, SpringerNature, và đặc biệt Elsevier, với biên lợi nhuận đạt tới 37% năm ngoái. “Khoảng 60% ngân sách của chúng tôi là để trả tiền cho ba nhà xuất bản đó”, Andreas Degkwitz, thủ thư trưởng của Đại học Humboldt ở Berlin, nói. “Điều đó không thể tiếp tục được nữa”.  Đoàn đàm phán của Đức được định hướng bởi một công thức đơn giản: Hãy lấy số lượng bài báo mà tác giả thứ nhất đến từ các viện của Đức được phát hành bởi các nhà xuất bản và nhân lên với một chi phí hợp lí cho từng bài báo. Đó là những gì nước Đức sẽ trả cho nhà xuất bản đó – và tổng tiền có khả năng sẽ thấp hơn rất nhiều so với chi tiêu cho các gói thuê bao hiện hành.  Sau nhiều tháng thương lượng, Springer Nature và Wiley cũng có vẻ chấp nhận mô hình này, tương tự như những thương vụ mà hai công ty này gặp phải ở Hà Lan, nên họ cũng quen với yêu cầu mà các đoàn đám phán đưa ra. Bây giờ các bên chỉ cần đạt được đồng thuận về chi phí đặt ra cho từng bài báo. Cận dưới là khoản phí trung bình xử lý bài báo được thu bởi các tạp chí truy cập mở hiện hành, vào khoảng 1300 Euro. Quỹ Nghiên cứu Đức, cơ quan cấp vốn khoa học chính của nước này, đã thiết lập giá trần là 2000 Euro cho từng bài báo được xuất bản. “Chúng tôi sẽ không đạt được mức 1300 Euro, nhưng chúng tôi cần bắt đầu theo hướng đặt ra giá thành thấp hơn để đưa con người (cộng đồng khoa học ở các nước khác nhau, giữa nhà khoa học và công chúng) lại gần nhau hơn”, Degkwitz nói.  Nhưng việc thương thảo với Elsevier ngày càng bộc lộ nhiều khó khăn. “Elsevier là lớn nhất trong 3 nhà xuất bản đó, và họ sẽ bị mất nhiều nhất“, Degkwitz nói. Vào ngày 1/1/2017, các gói thuê bao tạp chí của Elsevier đã mất hiệu lực ở hơn 60 cơ sở nghiên cứu, dù Elsevier đã khôi phục sự khả năng truy cập cho các đơn vị này vào tháng 2, cuộc trao đổi vẫn tiếp tục. Việc đàm phán đã đình trệ một lần nữa vào tháng 3, và chào hàng mới của Elsevier vào đầu tháng 7 “một lần nữa, còn xa mới đạt đến yêu cầu của chúng tôi”, người phát ngôn của DEAL Antje Kellersohn, giám đốc thư viện Đại học Freiburg, nói.  Elsevier muốn một thỏa thuận, Nick Fowler, giám đốc quản lý các mạng nghiên cứu ở tổng hành dinh ở Amsterdam của công ty, nói, nhưng mô hình “xuất bản và đọc” là không thực tế. Elsevier sẽ bằng lòng để các tác giả Đức trả tiền để các bài báo của họ thành truy cập mở, ông nói, nhưng các thư viện của Đức không thể kỳ vọng việc thanh toán đó cũng trang trải luôn phí truy cập của những bài báo này cho cả phần còn lại của thế giới.  Công ty này cũng đã nhượng bộ các điều khoản khác, nhưng việc nó nhất quyết từ chối tuân theo những nguyên tắc căn bản khiến giới học thuật vô cùng bực bội. “Nó giống như việc bạn đang ở một cửa hàng bán xe để mua một cái ô tô nhưng anh bán hàng cứ cố ép bạn phải mua một cỗ xe ngựa”, Ziegler nói. “Bạn nói cho anh ta ‘Tôi không muốn mua xe ngựa, tôi chỉ muốn mua ô tô’. Và anh ta nói: ‘Thôi nào, nếu như ông mua cỗ xe ngựa này, thì tôi sẽ đưa ông con ngựa miễn phí luôn”.  Elsevier cũng bác bỏ yêu cầu thứ hai của các cơ sở nghiên cứu ở Đức: giới học thuật muốn giá trị của thỏa thuận được công khai. Trong khi đó, Elsevier trong hầu hết các trường hợp đều yêu cầu các thư viện giữ bí mật thỏa thuận giá với mình. “Nhưng sự minh bạch sẽ nâng cao nhận thức về chi phí xuất bản và giúp thúc đẩy cạnh tranh”, Leo Waaijers, là người ủng hộ cho truy cập mở và một thủ thư đã về hưu ở Đại học Công nghệ Delft ở Hà Lan, nói. Một phần nhờ vào nhiều cuộc chiến pháp lý, chi phí trả cho các gói tạp chí ở Hà Lan đã trở nên công khai, và các tính toán của Waaijers đã chỉ ra rằng Elsevier thu tiền gấp đôi, thậm chí gấp ba lần đối với mỗi bài báo của các tác giả Hà Lan so với ba nhà xuất bản lớn khác.  Đức là thị trường lớn hơn nhiều so với Hà Lan, và những đàm phán hiện giờ có lẽ là cơ hội tốt nhất để tạo ra cuộc chuyển đổi ngoạn mục. Hội nghị các Hiệu trưởng của Slovenia đã đi đến giải pháp áp dụng cách tiếp cận của Projekt DEAL trong các thương thảo với Wiley và SpringerNature vào đầu năm 2018, và với Elsevier trong năm 2019. Nhưng Fowler nghi ngờ rằng cách tiếp cận của Projekt DEAL có thể lan truyền truy cập mở mạnh mẽ hơn: Ông lưu ý là các nhà cấp vốn nghiên cứu chủ chốt của Mỹ, như Viện Y tế Quốc gia và Quỹ Khoa học Quốc gia, có các chính sách cho phép duy trì các công trình đằng sau bức tường phí khoảng một năm sau ngày xuất bản.  Để thành công, Waaijers nói, các nhà đàm phán Đức phải dám bước ra khỏi cuộc thương lượng nếu không đạt được bất kì sự đồng thuận nào từ phía Elsevier. Các thành viên của DEAL nói họ sẵn sàng cho điều đó. Từ tháng 6 năm 2017, các nhà quản lý nghiên cứu và lãnh đạo đại học ở Berlin, bang Baden-Wurttemberg, và Viện Robert Koch đều khẳng định họ sẽ không tiếp tục trả phí cho các gói tạp chí của Elsevier sau khi gói năm 2016 của họ đã hết hiệu lực. Như vậy trong trường hợp Elsevier cắt truy cập một lần nữa, thì để đọc các bài báo từ các tạp chí của Elsevier, trong đó có Cell, The Lancet, và Physics Reports, các nhà nghiên cứu Đức sẽ phải viện tới phương thức như mượn lẫn nhau giữa các thư viện – hoặc đi tới các trang lậu như SciHub.  “Cuối cùng, đây là vấn đề về sự kiên nhẫn”, Degkwitz nói. Nước Đức đã từng cho thấy rằng quốc gia này có thể kiên nhẫn thế nào khi phải đối mặt với một bức tường.  Lê Trung Nghĩa lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/08/bold-open-access-push-germany-could-change-future-academic-publishing       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới khoa học thương tiếc Stephen Hawking      Stephen Hawking, một trong những nhà vật lý có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20, và có lẽ là một biểu tượng nổi tiếng nhất của khoa học đương đại, đã qua đời ở tuổi 76.      Stephen Hawking tại Trung tâm Vật lý lý thuyết và Toán ứng dụng tại Đại học Cambridge (2013).   Đại học Cambridge đã xác nhận nhà vật lý qua đời vào sáng sớm ngày 14/33 tại nhà riêng ở Cambridge, Anh.  Từ những năm đầu tuổi 20, Hawking đã phải sống chung với căn bệnh xơ cứng cột bên teo cơ (amyotrophic lateral sclerosis – ALS), căn bệnh khiến các neuron thần kinh vận động mất đi khả năng kiểm soát cơ bắp. Sức khỏe của ông ngày càng suy yếu. Ông đã phải nằm viện trong chuyến đi đến Rome hơn một năm trước.  Các nhà khoa học trên khắp thế giới đều bày tỏ nỗi buồn về cái chết của Stephen Hawking. Nhà thiên văn học Neil DeGrasse Tyson, giám đốc Đài thiên văn Hayden Planetarium (New York) đã viết trên Twitter: “Sự ra đi của ông đã để lại một khoảng trống về trí tuệ. Nhưng nó không hề trống rỗng. Hãy nghĩ điều đó như một dạng năng lượng chân không tỏa ra bề mặt không thời gian, thách thức mọi giới hạn”.  Một trong những cựu sinh viên của Hawking tại Cambridge, nhà vật lý lý thuyết Raphael Bousso đã nói với Nature rằng người thầy của anh là một nhà vật lý xuất sắc và vượt trội trong việc truyền thông khoa học tới công chúng. “Đây là hai kỹ năng hoàn hoàn khác nhau và Stephen vượt trội cả hai kỹ năng”.  Bousso hiện làm việc tại trường đại học California tại Berkeley, Mỹ, kể lại anh đã học cách gần gũi với Hawking như thế nào. “Stephen là một người vui vẻ và vô tư lự, không bao giờ để danh tiếng ảnh hưởng đến mình”.  Sinh tại Oxford (Anh) năm 1942, Hawking được chẩn đoán mắc chứng ALS vào năm 21 tuổi, khi đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành vũ trụ học (cosmology) tại trường đại học Cambridge. Trong bài phát biểu nhân dịp sinh nhật 75 tuổi vào năm ngoái, ông cho biết, ông cảm thấy có gì không ổn khi đi trượt băng với mẹ, “Tôi ngã xuống và thấy rất khó khăn để đứng dậy. Lúc đó, tôi cảm thấy tuyệt vọng và suy sụp nhanh chóng”.  Mặc dù ban đầu các bác sĩ chỉ kỳ vọng ông sống được một vài năm, nhưng may mắn là căn bệnh này lại tiến triển chậm hơn dự kiến. Hàng thập niên sau đó, sự nghiệp của ông vẫn phát triển một cách tích cực trên cả hai phương diện, vừa là nhà vật lý lý thuyết lẫn nhà truyền bá khoa học cho đại chúng. Tuy nhiên, hầu hết các cơ bắp của ông đã dần mất đi chức năng, và trong ba thập niên cuối của cuộc đời, ông phải giao tiếp nhờ vào sự trợ giúp của một thiết bị tổng hợp giọng nói.    Sau nhiều năm, Hawking đã trở thành một trong những cái tên nổi tiếng nhất trong khoa học đương đại. Các tác phẩm của ông, đặc biệt là Lược sử Thời gian (A Brief History of Time), đã trở thành bom tấn ngành xuất bản khoa học. Ông cũng tỏ ra thích thú khi xuất hiện nổi bật trên các chương trình truyền hình như Star Trek: The Next Generation, The Simpsons và The Big Bang Theory.  Về mặt khoa học, tên tuổi của ông hầu hết gắn liền với vật lý lỗ đen mà ông bắt đầu theo đuổi khi lĩnh vực này vẫn chỉ được coi như một sự tò mò thuần túy về yếu tố toán học trong thuyết tương đối rộng của Einstein. Vào đầu thập niên 1970, ông bắt đầu nghiên cứu về những gì mà vật lý lượng tử có thể tiết lộ về chân trời sự kiện (event horizon) – bề mặt của lỗ đen có lực hấp dẫn mạnh tới mức không để bất cứ loại vật chất gì thoát khỏi nó. Hawking đã gây chấn động giới vật lý khi tính toán được bề mặt lỗ đen sẽ từ từ phát ra bức xạ (có lẽ sẽ sớm được gọi là bức xạ Hawking). Các lỗ đen không thật sự là màu đen.       Ông giải thích, sự phát xạ này cuối cùng sẽ dẫn tới việc lỗ đen bị co lại và biến mất. Nhưng điều gây sốc các nhà nghiên cứu hơn là bức xạ Hawking sẽ xóa đi những thông tin từ vũ trụ, rõ ràng trái ngược với một vài nguyên lý căn bản của lý thuyết trường lượng tử, như ông đã chỉ ra vào năm 1976.     Có lẽ vì hầu hết các công trình của ông đều là suy đoán tự nhiên và rất khó để kiểm chứng bằng thực nghiệm nên Hawking không bao giờ được trao giải Nobel. Năm 2016, một số người băn khoăn: liệu cuối cùng, ông có được nhận vinh dự khi Jeff Steinhauer, nhà vật lý tại Viện Công nghệ Technion ở Haifa (Israel) thông báo đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục cho sự tồn tại của bức xạ Hawking – không phải từ một lỗ đen thực sự mà là từ thí nghiệm tương tự trong phòng thí nghiệm với các nguyên tử vô cùng lạnh. Tuy nhiên, một vài chuyên gia vẫn nghi ngờ tính thuyết phục của các kết quả thí nghiệm và cho rằng sự liên quan của chúng tới các lỗ đen vẫn chưa chắc chắn.  Một khảo nghiệm mang tính trực tiếp hơn về những phát hiện của Hawking có thể tới từ việc nghiên cứu các lỗ đen trong vật lý thiên văn thông qua sóng hấp dẫn do Trạm quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế Laser tại Mỹ (LIGO) khởi xướng. Hawking cùng nhiều người khác đã liên kết bề mặt chân trời sự kiện của lỗ đen với entropy của nó (entropy của một lỗ đen tỷ lệ với diện tích bề mặt của chân trời sự kiện). Năm 2016, khi trả lời phỏng vấn của Nature nhân sự kiện LIGO lần đầu tiên dò được sóng hấp dẫn phát ra từ vụ sáp nhập các lỗ đen, Hawking hy vọng những phát hiện trong tương lai sẽ đủ nhạy để có thể kiểm chứng được dự đoán mà ông đã nêu vào năm 1970: diện tích bề mặt lỗ đen sau khi sáp nhập phải lớn hơn diện tích bề mặt các lỗ đen ban đầu cộng lại – vì entropy của lỗ đen được dự đoán là không thể giảm. “Tôi mong muốn những phát hiện này có thể kiểm chứng lập luận của tôi”, ông nói.  Thế Hải dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-02957-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới nghiên cứu Iran hoan nghênh thỏa thuận hạt nhân      Việc gỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Iran sẽ thúc đẩy sự hợp tác khoa học trên toàn thế giới.    Thỏa thuận giữa sáu cường quốc thế giới và Iran nhằm khép lại chương trình hạt nhân của nước này là một bước tiến lịch sử hướng tới bình thường hóa quan hệ quốc tế của Iran – và mang ý nghĩa sâu sắc đối với tiềm năng của khoa học, các nhà nghiên cứu Iran cho biết.  Việc đi đến thỏa thuận giữa sáu cường quốc thế giới và Iran về chương trình hạt nhân được ký vào ngày 14/7 vừa qua tại Vienna, Áo, không chỉ chấm dứt các biện pháp trừng phạt từng làm tê liệt nền kinh tế Iran thời gian qua, mà còn tác động đến giới khoa học trong và ngoài nước.   “Thỏa thuận này về tổng thể sẽ ảnh hưởng sâu rộng đối với ngành khoa học Iran”, ông Reza Mansouri, nhà thiên văn học thuộc Viện nghiên cứu khoa học cơ bản (IPM) có trụ sở tại thủ đô Tehran và nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Iran, đánh  giá. Ông Mansouri coi thành công của các cuộc đàm phán mang ý nghĩa quan trọng bởi “nó là thực tế chứng tỏ khả năng và nỗ lực của cộng đồng quốc tế cũng như các nhà thương thuyết”.   Các biện pháp trừng phạt đã làm giảm thiểu các hoạt động hợp tác quốc tế [của khoa học Iran], nhà vật lý Shahin Rouhani, thành viên của IPM và chủ tịch của Hiệp hội Vật lý Iran, cho biết.  Một khi các rào cản được dỡ bỏ, ông nói, các nhà khoa học Iran sẽ thuận lợi hơn trong việc tham gia hội nghị quốc tế cũng như tạo điều kiện cho các nhà khoa học nước ngoài đến Iran làm việc. Các phòng thí nghiệm khoa học trong nước cũng dễ dàng hơn trong việc đặt mua thiết bị thí nghiệm của nước ngoài.  Các biện pháp trừng phạt từng khiến Iran gặp nhiều khó khăn khi tham gia vào các dự án hợp tác quốc tế như dự án Nguồn sáng Synchrotron dành cho Khoa học thực nghiệm và ứng dụng tại Trung Đông SESAME (Synchrotron-light for Experimental Science and Applications in the Middle East), một nguồn bức xạ ánh sáng synchrotron (synchrotron-light) đang được xây dựng ở Jordan với nhiều quốc gia thành viên bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Israel và một số quốc gia Ả Rập. Nhà vật lý Herman Winick, Đại học Stanford (Mỹ) và là thành viên Ủy ban Tư vấn  khoa học SESAME, nhận xét, việc dỡ bỏ những hạn chế trong cả lĩnh vực ngân hàng sẽ cho phép Iran có thể thực hiện các khoản đóng góp cho dự án SESAME theo đúng cam kết.  “Tôi hy vọng rằng thỏa thuận [về chương trình hạt nhân giữa sáu cường quốc và Iran] cũng sẽ tăng cường sự kết nối của Iran với cộng đồng khoa học quốc tế”, ông Winick cho biết thêm, “qua đó tạo điều kiện cho tôi và những nhà nghiên cứu khác đến đây để nối lại quan hệ làm việc với những đồng nghiệp cũ.”  Hơn nữa, Fordow – một trong những địa điểm làm giàu uranium của Iran, một cơ sở đặt dưới lòng đất, có thể sớm trở thành một phòng thí nghiệm vật lý lớn. Theo một dự thảo không chính thức của thỏa thuận, Fordow “sẽ được chuyển đổi thành một trung tâm vật lý và công nghệ hạt nhân, còn các cơ hội về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu do nới lỏng thỏa thuận sẽ được khuyến khích”.  Đề xuất này đã được đưa vào trong các chương trình hoạt động từ tháng Tư, khi Iran đồng ý một thỏa thuận sơ bộ; và như Nature đã phản ánh vào thời điểm đó, các đường hầm Fordow có thể, ví dụ, đặt một máy gia tốc hạt hoặc các máy dò (detectors) để nghiên cứu các tia vũ trụ hoặc neutrino; và những máy ly tâm còn lại có thể được chuyển đổi mục đích để sản xuất đồng vị phóng xạ dùng trong chẩn đoán hình ảnh y tế. Tuy nhiên Mansouri cho biết, vẫn còn quá sớm để thảo luận về triển vọng cụ thể cho việc nghiên cứu và ông vẫn để ngỏ phương án lựa chọn các những lĩnh vực vật lý sẽ tham gia nghiên cứu tại Fordow.  Triển vọng phương án nào được lựa chọn trước tiên sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận được ký kết tại Vienna, Áo, vốn phụ thuộc vào những thách thức chính trị – đặc biệt là trong Quốc hội Mỹ – và phụ thuộc vào sự xác nhận tuân thủ đầy đủ thỏa thuận của Iran từ các nhà quan sát quốc tế.        Trụ sở SESAME được đặt tại Jordan, quy tụ nhiều quốc gia bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Israel   và một số quốc gia Ả Rập  Các chính sách phòng ngừa  Thỏa thuận này hướng tới mục tiêu đảm bảo chương trình hạt nhân của Iran là dành cho các mục đích hòa bình chứ không phải làm ra bom nguyên tử. “Mọi con đường dẫn đến khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân đã bị cắt đứt,” Tổng thống Mỹ Barack Obama đã khẳng định trong tuyên bố từ Nhà Trắng vào sáng sớm ngày 14/7.  Iran đã cam kết: loại bỏ hai phần ba số các máy ly tâm vốn được sử dụng để làm giàu uranium; không sử dụng bất kỳ máy ly tâm còn lại nào để sản xuất các cấp độ vũ khí, uranium làm giàu cao; thanh trừ 98% lượng uranium đã được làm giàu hiện có.  Iran cũng sẽ chuyển đổi lò phản ứng hạt nhân ở Arak sang công nghệ không sản xuất plutonium ở cấp độ vũ khí. Iran cam kết cho phép giám sát quốc tế toàn bộ  hệ thống  cung ứng hạt nhân của mình, để đảm bảo không vật liệu nào được chuyển sang chương trình quân sự bí mật. Các biện pháp trừng phạt sẽ dần dần được xóa bỏ, song lệnh trừng phạt sẽ có hiệu lực trở lại  ngay lập tức nếu Iran vi phạm bất kỳ điều kiện  nào.  Frank von Hippel, nhà vật lý về lĩnh vực không phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hạt nhân tại Đại học Princeton ở New Jersey (Mỹ) đánh giá thỏa thuận này là “tin tốt”. “Bây giờ chúng ta nên hướng tới việc thiết lập một chuẩn mực mà các chương trình làm giàu [uranium] do các tổ chức đa quốc gia chứ không phải là do các nước riêng lẻ quản lý”, điều này hết sức quan trọng với việc gia tăng việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì hòa bình song song với việc ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, ông nói.  Thỏa thuận này được thiết lập – ít nhất là trong thập kỷ tới – phòng trường hợp nếu không tuân thủ [các điều kiện nêu ra trong thỏa thuận] thì Iran cũng phải mất tối thiểu một năm mới sản xuất đủ nhiên liệu hạt nhân cho một quả bom nguyên tử. Von Hippel cho biết, thỏa thuận này phải được soạn thảo để phù hợp với mục tiêu đó. “Thời gian sản xuất uranium làm giàu cao đủ cho một quả bom sẽ vào khoảng một năm, còn để sản xuất đủ plutonium trong một lò phản ứng nghiên cứu sẽ phải mất nhiều năm”.  Nguyễn Thị Thu Hà  dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/iranian-researchers-welcome-nuclear-deal-1.17984  Đọc thêm: Thỏa thuận hạt nhân của Iran tăng hy vọng cho khoa học  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=8618&CategoryID=2      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới thiệu số p-adic – một công cụ toán học cho lý thuyết thống nhất      Phần I: Ứng dụng vào CHLT(Cơ học Lượng tử) &amp; MTĐĐ( Môi trường đông đặc).  Một trong những vấn đề được các nhà khoa học đặc biệt chú ý đến gần đây là ứng dụng các số p-adic vào vật lý học và nhiều lĩnh vực khoa học khác.  Các số p-adic được&#160; nhà toán học Kurt Hensen&#160; tìm ra từ cuối thế kỷ 19 (năm 1897 ) để bổ sung cho tập các số thực , hữu tỷ, số phức. Các số p-adic dẫn đến metric không-Archimedean thích hợp cho sự mô tả không- thời gian rời rạc. Cùng với vẻ đẹp toán học, các số p-adic&#160; trở thành một công cụ hữu hiệu giúp các nhà vật lý mô tả chính xác hơn thế giới khách quan trong nhiều lĩnh vực từ vi mô đến vĩ mô: cơ học lượng tử, lý thuyết dây, môi trường đông đặc, vũ trụ học,… và&#160; khoa học nhận thức.&#160;    Bài viết được sắp xếp theo hình cây  sau đây và gồm hai phần I & II:                   1. Tổng quan   Các trường Qp của các số p-adic (trong đó p=2,3,…1999,... là những số nguyên tố) lần đầu tiên được đưa vào toán học bởi nhà toán học Đức K.Hensel  cuối thể kỷ 19 (hình 1). Trường số Qp sẽ được trình bày ngắn gọn ở mục 2.  Lý thuyết  các số p-adic được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những nghiên cứu cơ bản đầu tiên là những nguyên cứu xây dựng giải tích p-adic  tức là giải tích trên các số p-adic: các phép tính vi phân, phương trình vi phân, tích phân, các hàm giải tích, biến đổi Fourier, lý thuyết nhóm… được tiến hành bởi nhiều nhà toán học.   Sau đó p-adic được ứng dụng trong vật lý. Năm 1987 xuất hiện công trình ứng dụng p-adic vào lý thuyết dây. Các nhà vật lý cảm thấy không-thời gian ở những khoảng cách Planck (lP = 10-34 cm) có những tính chất đặc biệt không thể mô tả được bởi những mô hình toán học dựa trên trường các số thực R trong lúc đó thì trường các số p-adic Qp lại tỏ ra thích hợp hơn.  Một lý do nữa để sử dụng Qp là trường các số này là trường không-Archimedean và không thời gian ở kích thước Planck có thể cũng là không-Archimedean. Các số p-adic cũng được ứng dụng trong spin glass thuộc lĩnh vực vật lý các môi trường đông đặc. Hiện nay các số p-adic lại được ứng dụng rộng rãi vào khoa học nhận thức (cognitive sciences) và tâm lý học.[1]   2. Thế nào là số p-adic?  Như chúng ta biết trong lý thuyết số có nhiều loại số. Số tự nhiên (natural-nguyên không âm) N, số nguyên Z, số hữu tỷ Q, các số thực R và các số phức C.  Song người ta còn tìm thấy một loại số gọi là số p-adic.Tập các số p-adic là sự mở rộng tập các số hữu tỷ. Định lý Ostrowski phát biểu rằng các số p-adic đã vét cạn mọi cách mở rộng số hữu tỷ.  Người ta viết một số p-adic bằng một dãy nhiều digit ai, mỗi digit có thể lấy các trị số từ 0 ,… đến p-1 và ta viết dãy các digit đó như sau: …ai…a2a1a0  Những phép toán cộng, trừ, nhân, chia được trình bày dễ hiểu trong các tài liệu [2a],[2b].   Nói chung ta có  x=Tổng aipi   (i=  k,…) (lũy thừa tăng từ trái sang phải) với k là một số nguyên âm hay dương. Nếu ai =0 lúc i < 0 thì ta có số nguyên p-adic.  Tô pô và metric  Để tìm định giá (absolute value) của một số p-adic ta làm như sau. Cho n là một số nguyên thì ta trước hết tìm số mũ u của lũy thừa bậc cao nhất của p (mà n chia đúng cho pu), và gọi số mũ đó là  up(n).  Bây giờ ta định nghĩa định giá (giá trị tuyệt đối) của một số hữu tỷ r là   |r|p = p-up(r).         Trong khi định giá thỏa mãn bất đẳng thức tam giác |x+y| ≤ |x| + |y| (định giá Archimedean), thì định giá  |r|p thỏa mãn bất đẳng thức tam giác mạnh hơn x+y| ≤ |x+y|p ≤ max (|x|p, |y|p) (định giá không-Archimedean). Tiếp theo ta đưa vào metric (khoảng cách giữa hai số hữu tỷ r và r’) là  dp(r’,r)  = |r’-r|p.  Metric này xác định tô pô của không gian p-adic. Metric p-adic còn được gọi là siêu metric (ultrametric). Có thể chứng minh rằng trong không gian siêu metric thì metric thỏa mãn bất đẳng thức tam giác mạnh và trong không gian siêu metric ta không thể có được một tam giác với 3 cạnh không bằng nhau ở đây chúng ta chỉ có thể xây dựng những tam giác cân mà thôi nghĩa là phải có hai cạnh bằng nhau.    Một số tính chất chung của các số p-adic  Như vậy ngoài các số thực các nhà toán học đã tìm ra các số p-adic để lấp chỗ trống giữa các số nguyên và các phân số nguyên (integer fraction) để có được một dãy số  không còn gián đoạn  (định lý Ostrowski).  Xét 3 số p-adic ta có thể hình dung chúng như ba góc của một hình tam giác. Lạ thay là ít nhất 2 cạnh của một tam giác phải bằng nhau. Đối với số p-adic (khác với số thường) không cho phép chúng ta tự do xây dựng một tam giác với 3 cạnh khác nhau.  Ngoài ra khoảng cách là hữu hạn, không có vi phân p-adic hay nói cách khác không có khoảng cách vô cùng nhỏ như dx và   dy mà chúng ta học trong trường. Như vậy người ta nói p-adic là   không-Archimedean. Các nhà toán học phải xây dựng môn giải tích mới p-adic.  Các nhà vật lý cũng nghĩ rằng vũ trụ có một độ dài nhỏ nhất khả dĩ đó là độ dài Planck, dưới dộ dài đó hấp dẫn mạnh đến nỗi khái niệm về không gian mất hết ý nghĩa. Số thực dẫn đến những khoảng cách có khả năng tiến đến không như vậy không thích hợp cho một không gian rời rạc, sử dụng chúng có thể vi phạm những đối xứng của vật lý hiện đại.  Viết lại các phương trình sử dụng p-adic các nhà lý thuyết hy vọng nắm bắt được tính rời rạc của không thời gian một cách có hệ thống như Igor Volovich (Viện toán học Steklov, Moscow) đã chỉ rõ năm 1987.   Khó lòng tưởng tượng đến tình huống ở đấy tiên đề Archimedean không còn đúng nữa, tuy nhiên tiên đề này thật sự không còn áp dụng được nữa trong các khoảng cách Planck (10-33 cm , 10-44s). Nói cách khác ta phải chia tay với tiên đề Archimedean để du nhập tiên đề không-Archimedean ở những khoảng cách nhỏ.  Theo định lý Ostrowski mọi định giá trên Q là định giá thông thường hoặc là định giá p-adic (với p là một số nguyên tố). Trường p-adic là không-Archimedean và việc xây dựng vật lý trên Qp thay vì trên Q là cần thiết. Tồn tại một bất định thức hấp dẫn khi chúng ta tiến hành những phép đo chung quanh những khoảng cách  Planck l0 . Điều này buộc chúng ta hạn chế ưu tiên của hình học Archimedean dựa trên những số thực mà phải sử dụng hình học không-Archimedean gắn liền với các số p-adic.  3. Ứng dụng vào CHLT  Người ta đã ứng dụng giải tích p-adic vào lý thuyết dây và lý thuyết trường lượng tử. Nhiều nhà vật lý cho rằng hình học và tô pô của vùng không gian dưới độ dài Planck có thể không còn các tính chất của hình học và tô pô thông thường. Một lý do quan trọng khác để áp dụng giải tích p-adic vào vật lý học liên quan đến những đại lượng  phân kỳ trong tính toán vốn là những đại lượng gây tai họa trong lý thuyết trường lượng tử. Đây là một bài toán lớn. Nhờ ứng dụng p-adic giải tích người ta có hy vọng giải quyết bài toán các phân kỳ đó, như thế thủ thuật tái chuẩn hóa (renormalization) vốn là một thủ thuật không đẹp sẽ không còn chỗ đứng nữa.  Cơ học lượng tử (CHLT) p-adic là một ứng dụng giải tích p-adic (p-adic analysis) vào CHLT.  Trong cơ học ta dùng R (số thực) trong CHLT ta dùng các số phức C.  Các số p-adic Qp là sự mở rộng các tập số trên. Theo định lý Ostrowski các tập R và  Qp vét cạn (exhaust) mọi mở rộng của Q (số hữu tỷ).  Dùng tổ hợp adele (số thực + số p-adic) ta có hy vọng mô tả một hệ toàn diện  hơn là dùng các số thông thường.   Một adele là một dãy vô cùng như sau kết hợp p-adic và R  a=(aR,a2,…ap,…)  trong đó aR thuộc về R còn ap thuộc về Qp (xem hình 2).          Hình 2. Tập adelic          Các số p-adic với các tính chất không-Archimedean có thể thực hiện trong những hệ lượng tử ở các khoảng cách rất ngắn. Khả năng không – thời gian ở kích cỡ Planck biểu hiện những cấu trúc p-adic và adelic.  Không gian Hilbert L2(Qp) chứa những hàm phức  trên Qp. Và ta có toán tử tiến triển (evolution) Up(t) tác dụng lên L2(Qp).  Các hàm cơ bản p-adic như expx, sinx, cosx được cho dưới dạng các dãy như trong trường hợp R. Đạo hàm các hàm p-adic được định nghĩa như trong trường hợp R song với giá trị tuyệt đối p-adic thay vì giá trị tuyệt đối thông thường.   Tồn tại một số định lý toán học để chuyển từ R giải tích sang p-adic giải tích, đây là một sự mở rộng đương nhiên từ giải tích R và Q sang giải tích R và   Qp và từ giải tích trên R và   Qp sang giải tích trên A.  Bài toán trị riêng trong CHLT được mô tả bởi phương trình   fa(x) =Ea(t) fa(x),  fa(x) là các hàm riêng adelic còn Ea là năng lượng adelic.  Các kết quả tính toán trong[3] cho trường hợp dao động tử dẫn đến kết quả:  Hàm f(x,t) adelic chứa nhiều thông tin hơn hàm fR(xR,tR) thông thường.   Hàm adelic f(x,t) trình bày một cấu trúc rời rạc của không gian tại độ dài l0 và tọa độ x chỉ có thể lấy những trị số gián đoạn. Để kiểm nghiệm điều này phải xét hệ ở những kích thước l0.  Ở những kích thước thực lớn nhiều lần hơn l0 các hiệu ứng p-adic bị che khuất và CHLT adelic được quy về CHLT thông thường.  Như vậy CHLT thông thường có thể xem như một xấp xỉ hữu hiệu của CHLT adelic.  Chúng ta có thể tổng quát hóa khái niệm vật chất: các hạt thực (real) và p-adic thuộc về hai thành phần khác nhau là thực và p-adic của không gian adelic và chúng có thể không tương tác với nhau.  Các hạt adelic không bền vững và phân rã thành các hạt real và p-adic.  4. Siêu metric xuất hiện trong spin glass (môi trường đông đặc)  Thế nào là spin glass?[4a,4b,4c]  Spin glass (SG) là một vật liệu từ vô trật tự với những spin nằm hỗn độn (hình 3). SG khác vật liệu sắt từ (FM-ferromagnetic) ở chỗ sau khi đã lấy đi từ trường ngoài thì  sắt từ vẫn giữ được vĩnh viễn từ tính (magnetization).              Hình 3.  Phía trên là biểu diễn sơ đồ của  cấu trúc không trật tự của spin glass (SG) và phía dưới là cấu trúc trật tự của sắt từ (ferromagnet).          Còn vật liệu thuận từ (PM-paramagnetic) khác SG ở chỗ sau khi lấy đi từ trường ngoài thì thuận từ có từ tính giảm đi về số không nghĩa là không còn từ tính tồn dư (xem hình 4).          Hình 4.  Sơ đồ pha của một mô hình spin glass tiêu biểu.Trên hình vẽ ta có ba pha: PM-paramagnetic,FM –ferromagnetic và Spin Glass (SG)          Sự khác nhau giữa PM và SG có thể được hình dung như sau: nếu chụp ảnh  hướng của các spin của PM và SG thì chúng ta thấy hướng các spin hỗn độn như nhau. Song nếu tiếp sau đó chụp một ảnh khác thì ta thấy bức ảnh này giống bức ảnh trước đối với SG song đối với PM thì ta có một bức ảnh khác, nói cụ thể hơn trong SG các spin giữ lại hướng trong một thời gian  dài.                   Hamilton của SG trong mô hình Edwards-Anderson (EA) có dạng:                  Tổng ở đây lấy các vị trí gần nhau nhất của mạng, còn trong mô hình Sherrington-Kirkpatrick (SK) mặc dầu người ta vẫn lấy tương tác giữa hai spin song tầm tương tác có thể là vô cùng (cỡ kích thước của mạng).  Trong đó các spin là các bậc tự do còn các hệ số tương tác (couplings) là những biến số tuân theo một xác suất phân bố.  Các đại lượng đều phụ thuộc vào J. Nếu muốn lấy trung bình của năng lượng tự do  theo J ta phải lấy tích phân theo J.   Tích phân này khó thực hiện. Để tính tích phân này người ta sử dụng thủ thuật gọi là   thủ thuật phiên bản (replica trick): nhân hệ thành n phiên bản, sau đó tính tích phân và tiếp theo cho n tiến đến không.  Độ chồng chéo (overlap) giữa hai phiên bản  a và   b  khác nhau là   Qab.  Trong tiếp cận phiên bản (replica) thông số trật tự là một ma trận n x n: Qab.  Khi n tiến đến số không thì ma trận Q được đặc trưng bởi hàm Q(x) trùng với với hàm q(x) = độ chồng chéo giữa hai trạng thái ban đầu.  Trong một SG thực đối xứng phiên bản phải bị phá vỡ, điều đó có nghĩa là ta không có ma trận chéo vì lúc này ta chỉ có một trạng thái với độ tự chồng chéo (self-overlap). Do đó trong thực tại phải có một ma trận Qab phức tạp hơn dẫn đến sự tồn tại của nhiều trạng thái.   Sau đây là phương thức Parisi để mô tả sự phá vỡ có thứ bậc của đối xứng phiên bản.  (1) Trước hết chia n phiên bản thành n/m1 cụm (clusters), mỗi cụm chứa m1 phiên bản. Hai phiên bản với a khác b trong cùng một cụm có độ chồng chéo là   Qab = q1 trong khi đó phiên bản trong các cụm khác nhau có độ chồng chéo Qab= q0 nhỏ hơn hay bằng q1.     (2) Lại chia mỗi cụm  kích thước m1 thành m1/m2 cụm con, mỗi cụm con này chứa m2 phiên bản, hai phiên bản trong một cụm con có độ chồng chéo q1 nhỏ hơn hay bằng q2.   Và tiếp tục quá trình đó cuối cùng ta có (hình 5).          Hình 5. Phương thức Parisi để phân các phiên bản thành cụm (cluster)          Độ chồng chéo càng nhỏ có nghĩa là hai phiên bản tương ứng càng ở xa nhau (cho nên q có ý nghĩa như là “khoảng cách” tức metric).  Ma trận thu được trong quá trình trên được mô tả bởi một cây thế hệ (hình 6).          Hình 6.   Phương thức phá vỡ đối xứng phiên bản của Parisi với n =12 , m1=6 , m2=2. Các chỉ số phiên bản a,b = 1,…12 là điểm cuối của các cành.           Trị số của yếu tố ma trận Qab là   q0 , q1 hoặc q2 phụ thuộc vào tổ tiên chung gần nhất  của a và b. Ví dụ Q61 = q1, Q67 = q0. Phiên bản 6 trông như ở gần phiên bản 7 hơn là phiên bản 1, song thực tế vì q1> q0 cho nên độ chồng chéo giữa 6 và 1 lớn hơn điều đó cũng có nghĩa là 6 và 1 gần nhau hơn.  Ta thấy rõ từ cây thế hệ rằng nếu xét ba phiên bản a, b, c thì hai trong 3 độ chồng chéo Qab, Qbc và Qac phải bằng nhau.   Ví dụ Q36=q1,Q39=q0,Q96=q0.  Đó chính là những đặc trưng của cấu trúc siêu metric (ultrametric) và siêu metric xuất hiện trong SG. Từ đó nhiều mô hình p-adic về SG đã được xây dựng [4d].     Còn tiếp Phần II: Ứng dụng vào Vũ trụ học và Khoa học nhận thức).                         —————  [1] Andrei Khrennikov,p-adic discrete dynamical systems and their  applications in physics and cognitive sciences,arXiv:nlin/0402042v1 [nlin.AO]23 Feb 2004.  [2a]  David A.Madore. A first introduction to p-adic numbers  [2b] Lovisa Nordlöf,Differential Calculus over Number Fields  (Real, complex, p-adic)  [3]  Goran S. Djordjevi´c  and Branko Dragovich, p-adic and adelic harmonic oscillator with time-dependent frequency,  arXiv:quant-ph/0005027v,6 May 2000  [4a] Tommaso Castellani, Andrea Cavagna,Spin glass Theory for pedestrians  arXiv :cond-matter/0505032v[cond-mat,dis-nn] 2 May 2005  [4b] DJ Gross,M.Mezard, The simplest Spin Glass,Nuclear Physics B240[FS12] 431-452  [4c]  M.Mezard, G.Parisi,N.Sourlas, G.Toulouse &M.Virasoro,Replica symmetry breaking and the nature of spin glass phase , J.Physique 45(1984) 843-854  [4d] V.A.Avetisov, A.H.Bikulov, S.V. Kozyrev, Application of p-adic models of spontaneous breaking of the replica symmetryarXiv:cond-mat/9904360v1 [cond-mat.dis-nn] 26 Apr 1999    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giống ngô biến đổi gen mới có khả năng kháng thuốc diệt cỏ mạnh hơn      Một công ty công nghệ sinh học của Mỹ đã đưa ra giống ngô biến đổi gen mới giúp nông dân chống lại cỏ dại kháng thuốc diệt cỏ hiện nay.    Nông dân trên khắp nước Mỹ đang phải đối mặt với những loại cỏ dại có khả năng kháng thuốc diệt cỏ đang ảnh hưởng đến khoảng 15 triệu mẫu cây trồng tại Mỹ.  Đối với những nông dân như Jeremy Leech ở tiểu bang Nebraska, cỏ dại kháng thuốc diệt cỏ là mối đe doạ thường trực. Năm  2011, Jeremy tốn khoảng 7.500 USD tiền phun thuốc để đập tan nỗi lo ngại sa sút mùa màng. Nhưng các loại thuốc hiện nay đã không thể diệt hết những loài “siêu cỏ dại” ớ trên khắp cánh đồng. Cho dù có phun thuốc liên tục 24 lần/ngày vẫn không thể đủ sức quật ngã những loài cỏ dại siêu khủng lớn nhanh như thổi này.  Mới đây, hãng Dow Agrosciences đã giới thiệu một loại ngô biến đổi gen (GM – viết tắt của từ “genetically modified”) mới có khả năng giúp nông dân chống lại các loại cỏ kháng thuốc này. Sản phẩm GM mới này có thể chống chịu một loại chất hoá học từng là thành phần tạo nên chất diệt cỏ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam: chất độc màu da cam.  Ngành công nghiệp công nghệ sinh học tin rằng những dạng cây trồng biến đổi gen mới là một giải pháp đúng hướng. Hãng Dow Agrosciences đưa ra một loại cây mới có thể kháng cự với loại thuốc trừ sâu mới trộn nhiều loại hóa chất mạnh hơn. Theo đó, loại cây trồng này có khả năng kháng 2 chất hoá học là 2,4-D, loại thuốc diệt cỏ mạnh này là một thành phần của chất độc da cam được sử dụng nhiều trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. 2,4-D hiện đang được sử dụng như là một loại thuốc diệt cỏ trong nông nghiệp, nhưng được sử dụng ở mức rất hạn chế so với loại thuốc diệt cỏ thông thường. Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) nói rằng 2,4-D an toàn cho nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp Mỹ dự kiến sẽ sớm phê chuẩn đưa 2,4-D vào sử dụng đầu vụ xuân tới. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu về cỏ dại đang lo ngại rằng nếu những nông dân không được đào tạo về cách thức sử dụng sản phẩm biến đổi gen mới một cách hợp lý thì khả năng cỏ dại kháng thuốc vẫn sẽ quay trở lại.  Jeremy cũng có đôi chút hoài nghi về loại thuốc trừ sâu mới: “Tôi nghĩ 2,4-D sẽ phát huy hiệu quả tốt nhưng tôi vẫn e ngại không biết chuyện gì sẽ xảy ra trong vòng 4-5 năm tới nếu chúng ta sử dụng nó. Tôi lo rằng cỏ sẽ lại kháng thuốc”.   Nguyễn Thanh Hải lược dịch  Nguồn:  http://www.bbc.co.uk/news/science-environment-19585341    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giống nòi hỗn huyết và sự dung hội Đông-Tây      LTS: Trong kỳ 1 của loạt bài “Nguồn gốc người Việt: Một lược sử tư tưởng”, TS Trần Trọng Dương đã phân tích vấn đề này trong dòng sử chí Nho giáo, mà các đại diện tiêu biểu như Ngô Sĩ Liên đã “kiến tạo” nên một phả hệ người Việt “gốc Hán”, mà ta thấy hàng loạt các vị Hoàng đế viễn cổ huyền thoại của Hoa Hạ đã được lắp ghép vào bảng phả hệ chính trị Đại Việt. Nhưng bước vào thời kỳ Pháp thuộc, cú sốc lớn về chính trị đã khiến cho toàn bộ xã hội và đời sống tư tưởng phải rung chuyển. Sự va chạm với một nền văn minh mới sẽ khiến giới trí thức thời đó tái xác lập, xác minh lại nguồn gốc dân tộc như thế nào là nội dung bài kỳ 2 trong loạt bài của TS. Trần Trọng Dương.         Khái niệm “Hán nhân” được thay thế bởi các phạm trù mới như “nation Annamite” dưới thời Pháp thuộc. Ảnh: Tranh về Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Nguồn: Aavh.org    Thực trạng bị trị là cú đấm thép vào não trạng đã xơ cứng trong gần hai thiên niên kỷ. Người Việt buộc phải nghĩ khác đi cho đúng với thời đại, dù ý thức hệ xưa cũ vẫn còn. Đức trị Nho giáo dần được thay thế bằng kỹ trị. Máy móc và xe lửa sẽ thay cho văn chương và khoa cử chữ Hán. Khái niệm “Hán nhân” được thay thế bởi các phạm trù mới như “nation Annamite”. Lý thuyết Hoa-Di lỗi thời, và chuyển sang các lý thuyết nhân chủng học (anthropologique). Ý thức hệ về chính thống (của huyết thống gia tộc) chuyển chỗ cho dân tộc- quốc gia (nation) và thuyết tiến hóa xã hội.  Cuối thế kỷ XIX, Pháp dần dần sử dụng sức mạnh quân sự và văn minh phương Tây để thiết lập chế độ cai trị ở Việt Nam. Cú sốc lớn về chính trị đã khiến cho toàn bộ xã hội và đời sống tư tưởng phải rung chuyển và thay đổi. Sau 2000 năm chỉ biết đến văn hóa Hán, người ta lần đầu va đập với một nền văn minh mới, một truyền thống khoa học mới và tư tưởng đang trên đà tỏ rõ uy quyền. Triều Nguyễn từ vị thế của một Đại Việt Nam- trung tâm Hoa Hạ, đã đi theo vết xe đổ của Thanh triều khi bị đám “Dương di” chinh phục và cai trị. Người Việt buộc phải nghĩ khác đi cho đúng với thời đại, dù ý thức hệ xưa cũ vẫn còn. Lý thuyết Hoa-Di lỗi thời, và chuyển sang các lý thuyết nhân chủng học (anthropologique). Ý thức hệ về chính thống (của huyết thống gia tộc) chuyển chỗ cho dân tộc- quốc gia (nation) và thuyết tiến hóa xã hội. Chủ nghĩa quốc dân đã được tạo nên bằng nhiều cách khác nhau, từ hệ thống nhà tù, hệ thống trường Pháp Việt, chính sách ngôn ngữ, hệ thống bảo tàng thực dân, đến trường Đông Kinh Nghĩa Thục của các nhà Nho yêu nước, nguồn sách tân thư từ Trung Quốc và Nhật Bản, hệ thống báo chí, văn hóa in ấn tư bản,… Những nhà Nho được biết đến quan niệm nationalism, họ tái xác minh lại nguồn gốc dân tộc và bắt đầu ấp ủ giấc mơ giành độc lập dân tộc1.     Người Pháp kiến giải bằng tiến hóa luận     Trước năm 1870, Théophile Marie Legrand de la Liraye đã công bố cuốn Notes Historiques sur la Nation Annamite (Những ghi chú lịch sử về dân tộc An Nam, sun date ni nom d’éditeur). Liraye là học giả đầu tiên hiện biết sử dụng thuật ngữ “nation Annamite” với hàm nghĩa “người trong một nước An Nam” và “peuple An-Nam”. Ông đã tái sử dụng từ “An Nam”- một danh từ do các triều đình Trung Hoa dùng với hàm nghĩa “[kẻ cai trị] làm cho dân Nam được yên ổn”, tức là kẻ thực dân đến sau mượn lại chữ của thực dân trước đó. Sau Liraye, có không ít học giả đã công bố các nghiên cứu để góp phần tạo nên những tri thức mới viết về lịch sử Việt Nam và nguồn gốc người Việt, có thể kể đến Trương Vĩnh Ký với cuốn Cours d’histoire Annamite a l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine (Saigon: Imprimerie du Governement, 1875, 278p), Louis-Alfred Schreiner với Abrégé de l’histoire Annamite (Saigon: Chez l’Auteur: 37, rue de Bangkok, 1906, 587 p), Pierre Marie Antoine Pasquier với L’Annam d’autrefois (A. Challamel, 1907, 339p). Các tác giả chú ý đến khái niệm “người Giao Chỉ” với mô tả hai đầu ngón chân cái giao nhau, và coi đó như là một chỉ dấu nhân chủng. Lý thuyết về nhân chủng chỉ giúp tác giả đề xuất một khái niệm mới về nhận thức nguồn gốc người Việt, còn trong các trang sách khảo cứu, các vị không có cách nào khác ngoài việc phải trích dẫn lại những kiến tạo truyền thống mà Ngô Sĩ Liên đã đề xuất: từ Thần Nông đến Hùng Vương, Triệu Đà. Toàn bộ các cuốn sách lịch sử này về cơ bản vẫn là lịch sử của các dòng họ nắm quyền “le royaume d’Annam” (từ Première Dynastie Hồng Bàng thị đến Dynastie des Nguyễn). Họ đã “theo dòng lịch sử” mà thừa nhận rằng “người Việt vốn là một nhóm người Hán di cư”. Ý nghĩa lớn nhất của các công trình là trình bày lịch sử liên tục của người An Nam bằng tiếng Pháp, đó là một sự dung hội Đông-Tây về quan điểm sử. Các tác phẩm của học giả Pháp hướng đến hai nguồn độc giả: những người châu Âu muốn tìm hiểu về An Nam để phục vụ công tác thực dân, và những học giả bản địa biết tiếng Pháp. Chính nhóm độc giả thứ hai này chiếm một vai trò quan trọng trong quá trình hấp thu tư tưởng và quan điểm sử. Họ đồng thời là các học giả đa ngữ (viết lịch sử bằng cả tiếng Hán, tiếng Việt và tiếng Pháp). Chính họ, chứ không phải người Pháp, đã kiến tạo một hệ hình viết sử mới ở Việt Nam thông qua các sử phẩm tiếng Việt, tiếng Hán, mà người đứng đầu (như tôi biết) chính là Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim.        Với “Việt Nam quốc sử khảo”, Phan Bội Châu đã từ khước nội hàm Nho giáo Quốc sư, và gia cố bằng nghĩa “lịch sử của người trong cùng nước Việt Nam”. Đây là một chỉ dấu quan trọng cho thấy sự thay đổi hệ hình viết sử: bỏ dòng sử chí viết của dòng họ cầm quyền và chuyển sang viết sử cho “người trong nước”.      Nhưng trước hai học giả bản địa này, ta còn biết đến Paul Giran với tác phẩm Psychologie du peuple Annamite: le caractère national- l’évolution historique- intellectuelle, sociale et politique xuất bản năm 1904 (bản dịch Tâm lý dân tộc An Nam: đặc điểm quốc gia- sự tiến hóa lịch sử, trí tuệ, xã hội và chính trị, Omega+ – NXB Hội nhà văn, 2019). Từ góc độ nhân chủng học, tác giả đã dành riêng chương một để viết về nguồn gốc người An Nam trong so sánh với tiền thân “người Giao Chỉ” và người Hoa- người Mã Lai. Ông coi chủng tộc là một đặc điểm để tạo thành “quốc gia” (nation), ông mô tả người An Nam là một nhóm thuộc chủng tộc da vàng thuộc Đại Chủng Á (Mongoloides), và họ nằm ở đâu đó giữa hai nhánh chủng Đột Quyết (Turc) và chủng Hán Hoa. Cái nôi cư trú của chủng tộc An Nam là ở Bắc Kỳ. Làn da của họ chứng minh một sự pha màu chuyển tiếp giữa người Hán Hoa và người Mã Lai. Vóc dáng nhỏ nhắn, cấu trúc giải phẫu mảnh mai nhưng lại đem đến một kháng thể bền bỉ trong nền khí hậu nóng bức và ẩm thấp. Các số liệu hộp sọ, thùy não (đầu ngắn: brachycéphale) khiến cho người An Nam về cơ bản là “dửng dưng, bình thản, vô cảm, tàn ác lạnh lùng, vô thức, thiếu trí tưởng tượng và trí tuệ trung bình” (2019: 38). Ông có dẫn lại quan điểm của Quatrefages xếp người An Nam vào trong số “người Indo-Mongol” cùng với Miến Điện và Xiêm. Nhưng đặc điểm hộp sọ cũng không cho phép nhận định rằng người An Nam gần gũi người Xiêm- Miến Điện hơn là người Hán Hoa. Để trả lời câu hỏi về nguồn gốc của người An Nam, Paul Giran đã giả định về một nguồn gốc Mông Cổ di cư từ khối núi trung tâm châu Á đẩy về phía biển, thông qua các lưu vực sông, phân hóa thành các tộc Tartar, Mãn, Hán,… Người An Nam là một nhánh phân hóa theo ngả đường sông Hồng về phía Đông Nam. Huyết thống trực hệ của họ gần với cư dân miền Nam Trung Hoa biểu hiện qua ngôn ngữ, tính cách và thói quen. Những khác biệt giữa hai nhóm này chỉ là sản phẩm của môi trường, khí hậu, quy luật xã hội và quá trình giao phối lai tạo. Một mặt, người An Nam mang nhiều đặc điểm của chủng tộc Hán Hoa do tiếp xúc trực tiếp liên tục và với chủng tộc chiến thắng; mặt khác sự tiếp xúc với chủng tộc Mã Lai đã khiến cho họ có những đặc điểm dần rời khác chủng Hán Hoa. Luận điểm cơ bản của tác giả là người An Nam là một sản phẩm di cư từ phía lục địa xuôi về đông nam, hòa huyết với các dân tộc bản địa khác nhau, với người Nam Trung Hoa và với người Mã Lai, nhưng yếu tố cơ bản nhất chính là “những cuộc chinh phạt của người Trung Hoa đã làm nên dân tộc An Nam ngày nay” (2019: 51). Sự lai tạp giữa kẻ bị trị và kẻ xâm lược là một quá trình đồng hóa hai chiều. Người Giao Chỉ có kỹ năng đồng hóa mạnh mẽ trong quá trình chìm đắm trong văn minh Trung Hoa, đến mức không thể phân biệt kẻ bị đồng hóa và người đi đồng hóa. Sự đồng hóa- lai tạo này đã tạo nên đã tạo thành một dân tộc mới- dân tộc An Nam: mạnh mẽ hơn, tổ chức tốt hơn, văn minh hơn, và nhiều khao khát độc lập hơn (2019: 53). Giran cùng lúc sử dụng các phương pháp của khoa sinh học, nhân chủng học, thuyết di cư, và thuyết tiến hóa xã hội, từ đó đưa ra các giả thuyết về nguồn gốc và quá trình tiến hóa của người An Nam. Nếu để ý, ta có thể nhận ra rằng, tác giả không hề đề cập đến Kỷ Hồng Bàng- Hùng Vương, mà chỉ quan tâm đến “người Giao Chỉ”- với tư cách là một tiền thân của người An Nam hiện đại.      Người Giao Chỉ có kỹ năng đồng hóa mạnh mẽ trong quá trình chìm đắm trong văn minh Trung Hoa. Ảnh: Thầy đồ dạy chữ Hán và truyền đạt các quy tắc đối nhân xử thế mang ảnh hưởng Nho giáo. Nguồn: Wikipedia.    Song trên hết, quan điểm của thuyết tiến hóa xã hội cho rằng các dân tộc văn minh (thượng đẳng) có sứ mệnh khai hóa đối với các dân tộc man rợ (hạ đẳng, dân tộc cần được khai hóa). Người Pháp khi ấy cho rằng, họ là “những người Hy Lạp của thế giới”, dân tộc Pháp đang đứng ở đỉnh cao nhất trong quá trình tiến hóa của nhân loại2. Việc xác định “nguồn gốc người An Nam” thực chất là nhằm đặt họ dưới chế độ thuộc địa mới mục đính của chủ nghĩa thực dân Pháp. Như vậy, thuyết tiến hóa xã hội, thuyết cứu thế Pháp, thuyết văn minh đã được người Pháp sử dụng cho mục đích thống trị cả về tư tưởng và xã hội ở Việt Nam. Và diễn ngôn về nguồn gốc của người An Nam thực chất là những ngụy biện đã tráng màu men khoa học, đó chỉ là biểu hiện của sự phân biệt chủng tộc để người Pháp tự cho mình cái quyền được giết chóc và khai sáng những dân tộc khác (Nguyễn Thụy Phương, 2019).     Sử gia Việt thực hiện “cách mạng về tư tưởng sử”     Năm 1906, Phan Bội Châu xuất bản cuốn “Việt Nam quốc sử khảo” (Hán văn), đây là một cuốn sử do cá nhân biên soạn, nhưng soạn giả tuyên bố rằng: sách này lấy tên “quốc sử” vì “hễ là người trong nước thì đều là người ở trong sách này”3 (TTD nhấn mạnh). Rõ ràng, Phan Bội Châu đã “tiêu hóa” khái niệm “nation” của phương Tây để soạn nên một sử phẩm đề cập đến lịch sử của mọi thành viên của cộng đồng quốc gia dân tộc, mà độc giả (người trong nước) phải có trách nhiệm đọc và hiểu nó. “Quốc sử” (trong “Quốc sử quán” của triều Nguyễn) vốn là chỉ lịch sử của nhà nước do các sử gia của triều đình kiến tạo (tương đương với chính sử/ standard history). Phan Bội Châu đã từ khước nội hàm Nho giáo này, và gia cố bằng nghĩa “lịch sử của người trong cùng nước Việt Nam”. Đây là một chỉ dấu quan trọng cho thấy sự thay đổi hệ hình viết sử: bỏ dòng sử chí viết của dòng họ cầm quyền và chuyển sang viết sử cho “người trong nước”. Cũng chính từ đây, Phan Bội Châu đã thực hiện một “cách mạng về tư tưởng sử” ở Việt Nam.   Vốn là một nhà Nho, Phan Bội Châu đã thừa tiếp quan điểm hình dung một nhà nước như một truyền thừa huyết thống theo mô hình gia tộc. Ông viết: “tổ tông cha mẹ ở đâu ra, con cháu chắt chút ta nương tựa vào đâu, suy đi tính lại, chẳng phải là nước ta (TTD nhấn mạnh) đó sao?” (tr.33). Trong đoạn sau, ông dùng bốn chữ “tổ quốc chúng ta” với vị thủy tổ dựng nước là Hùng Vương. Niên đại 1909 là thời điểm sớm nhất hiện biết xuất hiện chữ “tổ quốc” (祖國) ở Việt Nam. “Tổ quốc” được hiểu là “nước của tổ tiên mình” tương ứng với từ “patrie” của tiếng Pháp4. Tư tưởng dung hội Đông – Tây này về sau đã được Nguyễn Văn Tố phát triển và thảo luận sâu hơn5.   Cấu trúc tư tưởng về “tổ quốc” bao gồm hàng loạt khái niệm rất mới mẻ như “nhân chủng”, “nhân khẩu”, “địa lý” (đất đai nước ta), “nhà nước”, “nước nhà”, “quốc quyền” (chủ quyền nước ta), “dân quyền”, “độc lập”. Ta thấy bối cảnh tri thức đậm chất Tây học trong đầu óc của một nhà Nho không biết tiếng Pháp, nhưng lại hiểu về tư tưởng phương Tây (của những Rousseau, Voltaire, Darwin) thông qua luồng sách tân thư từ Nhật Bản và Trung Quốc6. Ông đang tái thông diễn lịch sử và nguồn gốc của nước mình bằng một sử phẩm viết bằng Hán văn được xuất bản tại Nhật Bản. Phan Bội Châu đã kết hợp khái niệm “nhân chủng” với Hùng Vương- “thủy tổ nước ta”. Ông cho rằng: nguyên tố nhân chủng của nước ta là giống người rợ phía Nam Trung Quốc (2015: 53). Trong quá trình “hỗn hóa về nhân chủng” với giống người Hán, thì người Giao Chỉ “ngớ ngẩn, chất phác, thật thà” dần dà đã biến thành “người văn minh xinh đẹp, áo mũ chững chàng” (2015: 56). Dù nguồn gốc là từ phía Bắc, dù sản phẩm huyết thống là kết quả của sự hỗn hóa đa tạp lâu dài, song theo ông, bất kỳ ai “đã cùng sinh ra và cùng lớn lên trong một đất nước của cha mẹ, tức đã là người một nước, đều là anh em một nhà với nhau”. Quan niệm “đồng bào” (compatriot: cùng chung dòng máu, cùng chung bào thai) của Nho giáo thời Nguyễn Trãi đã được Phan Bội Châu tái dụng trong khái niệm mới “đồng chủng”. Tất cả lý luận về chủng tộc này được điều hướng đến một mục đích xuyên suốt trong cuốn sách, mà ông đã phát biểu hiển minh rằng: “cùng chủng tộc biết thương yêu nhau mới gọi là người… ở trong thì che chở được cho đồng bào, với ngoài thì tranh hùng được với dị tộc” (tr.52). Công thức {đồng chủng + huyết thống lịch sử} được ông coi như là thứ vũ khí chính trị phục vụ cho mục đích mà suốt đời ông đeo đuổi: dùng sức mạnh để đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập, giành lại quốc quyền cho nước nhà. Chủ nghĩa huyết thống tập thể của họ Phan có thể coi là một biểu hiện cho nationalism ở Việt Nam trước Thế chiến thứ nhất7. Sự va đập Đông – Tây khiến ông chuyển từ “trung quân” sang “ái quốc” và trở thành ngọn cờ đầu cho chủ nghĩa yêu nước (patrotism) đầu thế kỷ XX. Lưu ý cuối cùng là Phan Bội Châu đã gạt bỏ Thần Nông thị (dòng họ Hán truyền theo quan điểm Nho giáo) ra khỏi phả hệ của nước Việt, và đặt Hùng Vương như là vị thủy tổ đầu tiên của giống nòi Việt Nam.      “Thiên chức của giống Việt Nam ta là phải thực dân cả cõi Đông Dương này, đem cờ hiệu Chi-na mà chiến đấu với thế với Ấn Độ, khiến cho dân Ấn- Độ Chi-na này thành một đất Chi-na dòng” – Phạm Quỳnh. Tư tưởng Phạm Quỳnh là một sản phẩm hỗn hợp của cả chủ nghĩa bành trướng Đại Hán và chủ nghĩa thực dân của Pháp. Cái ham muốn hào sảng về quyền lực chính trị này phản ánh não trạng tự tôn trong tiềm thức, và mặt bên kia chính là sự tự ti của ông trước thực trạng thực dân của Pháp tại Đông Dương và sức mạnh của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam.      Năm 1920, Trần Trọng Kim công bố “Việt Nam sử lược”8, trong đó kế thừa quan điểm của người Pháp về nguồn gốc dân tộc. Đáng chú ý, ông là người đầu tiên sử dụng hai khái niệm “người Việt Nam” và “dân tộc Việt Nam” song song với “dân” (dân Thái, dân Mán, dân Mọi,…) và “giống” (giống Hán tộc, giống Tam Miêu), “loài” (loài Tam Miêu). Dù chỉ ngắn gọn trong hai trang viết, nghiên cứu của Lệ Thần là một hiện trường ngổn ngang của các khái niệm đang hình thành: “người Việt Nam có nhiều dân tộc, như là ở về miền thượng du Bắc Việt thì có dân Thái (tức là dân Thổ), Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung Việt thì có dân Mọi và Chàm (từ là Hời); ở về Miền Nam thì có dân Mọi, Chăm, Chà Và, và Khách. Những dân ấy ở trong ba nơi tất cả đến non một triệu người, còn thì dân tộc Việt Nam ở hết cả.” (2005: 13) Đoạn văn này cho thấy, tác giả coi “dân” = “dân tộc”, và các tập hợp khác nhau của các dân tộc (dân tộc Việt Nam, dân Thái, dân Mọi,…) trên lãnh thổ Việt Nam tạo nên “người Việt Nam”. Trần Trọng Kim là người đầu tiên hiện biết dùng quốc hiệu “Việt Nam” của triều đình nhà Nguyễn để dựng nên khái niệm “dân tộc Việt Nam”/ “dân Việt Nam” và “người Việt Nam”.Trong quan niệm của ông, “dân” hay “dân tộc” là dịch từ “ethno” (nay là “tộc người”), còn “người Việt Nam” (mang tính quốc tịch, nationality) thì là tập hợp bao gộp tất cả các dân/ dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam khi ấy. Có thể biểu diễn bằng công thức sau: {dân Việt Nam + dân Thái + dân Mường + dân Mán + dân Mèo + dân Mọi + dân Chàm + Chà Và + Khách,…. = NGƯỜI VIỆT NAM}. Như vậy là từ Phan Bội Châu, đến Trần Trọng Kim, ta thấy một sự “bứng trồng” của nationalism của châu Âu vào nền học thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX. Người Pháp đã đem ý thức hệ này đến đất này, dùng nó như là công cụ để cai trị và khai thác thuộc địa, và đồng thời những hạt giống của nó đã bật chồi trên mảnh chất thuộc địa. Những người trí thức Việt Nam khi ấy đã tái dụng nationalism để trở thành công cụ của tư duy, họ nhìn nhận lại mình và những người xung quanh bằng một nhãn quan mới trong tương quan với kẻ đang thống trị họ. Và cuối cùng họ dùng nó như là một công cụ chính trị để chống lại những diễn ngôn và các quyền lực đã nhào nặn nên mình. Tư tưởng về nation và nationhood trong các sử phẩm của giới trí thức sẽ được lan tỏa đến đầu óc của các tầng lớp bình dân trong xã hội, nhào nặn nên tình cảm, ý thức, trách nhiệm và những ham muốn chính trị liên quan mật thiết đến từng quyền lợi cá nhân và cộng đồng. Điều này lý giải vì sao, các sử phẩm của họ Phan – họ Trần (những elite tiêu biểu khi ấy) đã được tái bản rất nhiều trong thế kỷ XX, thậm chí cho đến cả hôm nay (2010). Có thể khẳng định rằng, các trí thức này đã kiến tạo nên một hệ hình viết sử mới (paradigm shift) bằng con mắt của người phương Tây (đúng hơn là European nationalism, và cả colonialism). Trong đó, quan trọng nhất, họ đã sáng tạo và truyền bá các khái niệm “dân tộc Việt Nam”, “người Việt Nam” v.v. vào trong đầu não của nhiều triệu người, người Việt đã vui vẻ cắt bỏ ý niệm về “miêu duệ Hán tộc”, tập trung hơn cho biểu tượng dân tộc “Hùng Vương” (ethno-symbolism). Và những “sản phẩm chính trị” này sẽ góp phần làm nên cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập dưới sự dẫn dắt bởi một hệ tư tưởng khác: Marxist!      Chuyển đổi hệ hình tư duy trên báo chí      Sự chuyển đổi hệ hình tư duy không những thể hiện trong sử phẩm mà còn được lan tỏa mạnh mẽ và rộng rãi trên báo chí. Phạm Quỳnh trên Nam phong tạp chí (1931) đã có những phát biểu cho thấy lúc đó người Việt đang nghĩ gì về nguồn gốc dân tộc của mình. Trong bài “Du lịch xứ Lào”, ông mô tả rằng, phía Đông của Trường Sơn là “chủng tộc thuần một giống An Nam, văn hóa truyền thụ tự nước Tàu, nghiễm nhiên thuộc về thế giới Chi-na… Giống Giao Chỉ ngoài nghìn năm đúc trong cái khuôn lễ nhạc của Trung Hoa, càng ngày càng sinh sôi nảy nở, khu trú trong triền sông Hồng Hà, lấy làm chật hẹp, thế tất phải bành trướng về phía Nam, bèn vượt Đèo Ngang mà tràn xuống Chiêm Thành”9. Ngoài các chữ “[nòi] giống An Nam”, “giống Giao Chỉ” (được sử dụng để chỉ các thực thể cũ trong lịch sử), Phạm Quỳnh còn sử dụng “giống Việt Nam”. Hãy đọc một đoạn nguyên văn mà ông viết như sau: “thiên chức của giống Việt Nam ta là phải thực dân cả cõi Đông Dương này, đem cờ hiệu Chi-na mà chiến đấu với thế với Ấn Độ, khiến cho dân Ấn- Độ Chi-na này thành một đất Chi-na dòng.” (1931: 6)     Người Pháp đã đem ý thức hệ nationalism đến đất này, dùng nó như là công cụ để cai trị và khai thác thuộc địa, và đồng thời những hạt giống của nó đã bật chồi trên mảnh đất thuộc địa. Những người trí thức Việt Nam đã tái dụng nationalism, nhìn nhận lại mình và những người xung quanh bằng một nhãn quan mới trong tương quan với kẻ đang thống trị, và dùng nó như là một công cụ chính trị để chống lại những diễn ngôn và các quyền lực đã nhào nặn nên mình.    Đây là một phát ngôn rất hào sảng của Phạm Quỳnh về vấn đề “thiên chức nòi giống”. Ông cho rằng, giống Việt Nam là một chủng tộc nằm trong văn hóa Chi-na, thuộc về thế giới Chi-na. Giống nòi ấy có thiên chức bành trướng để thực dân cả cõi Đông Dương. Tức là, tư tưởng Phạm Quỳnh là một sản phẩm hỗn hợp của cả chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, và chủ nghĩa thực dân của Pháp. Cái ham muốn hào sảng về quyền lực chính trị này phản ánh não trạng tự tôn trong tiềm thức, và mặt bên kia chính là sự tự ti của ông trước thực trạng thực dân của Pháp tại Đông Dương và sức mạnh của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam. Nghĩa là kẻ yếu hơn/ đồng thời là kẻ bị trị kia, đang mang trong mình giấc mơ cai trị những dân tộc khác yếu hơn mình, trong khi chính bản thân anh ta không có một đề kháng nào trước người Pháp. Đây là một não trạng phức tạp của Phạm Quỳnh, một nạn nhân của thực dân đang nghĩ rằng “giống Việt Nam” nhà mình là một giống nòi có thiên chức thực dân, thiên chức ấy đã được chứng minh bằng truyền thống bành trướng Nam tiến của dân tộc trước người Chăm và người Miên. Nhưng cơn mơ suy tưởng lập tức bị choàng tỉnh bởi thực tại, khi ông thẹn thùng nhận ra rằng, nước Xiêm đã thành một nước độc lập, Cao Miên và Ai Lao cũng đã được Pháp bảo hộ. Giấc mơ thiên chức của Phạm Quỳnh không phải chỉ có một mình ông, mà có lẽ còn triển nở trong nhiều nhóm chính trị khác, để có lúc một số đảng phái sau này mang trên mình hai chữ “Đông Dương”. Diễn ngôn chính trị của Phạm Quỳnh về cơ bản lấy “giống nòi Việt Nam” làm hạt nhân, nó vừa tích hợp tư duy lịch sử của nhà Nho, vừa cộng gộp cả thuyết tiến hóa xã hội của Montesquieu. Nhưng tính chất “cải lương” trong hoạt động chính trị của Phạm Quỳnh, khiến cho ông nhanh chóng rơi vào quá khứ, khi một làn sóng mới nhiệt thành hơn xuất hiện. □     Đón đọc kỳ tới: Dân tộc và dân tộc Việt Nam: từ Stalin đến Đào Duy Anh  —  1. Alexander J. Motyl (editer-in-chief), Encyclopedia of Nationalism (Vol.2), San Diego: Academic Press, p.572.  2. Nguyễn Thụy Phương, 2019, “Sứ mệnh khai hóa: nguồn gốc của những ngụy biện phân biệt chủng tộc”, Tia sáng, ngày đăng tải: 1-8-2019. http://tiasang.com.vn  3. Phan Bội Châu, 1909, Việt Nam quốc sử khảo 越南國史考, Shoransa, Tokyo,  VHv.1332 Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Chương Thâu dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2015.  4. Vệ Thạch Đào Duy Anh, 1932, Hán Việt từ điển, Hãn Mạn Tử – Giao Tiều hiệu đính, Huế: Impremerie Tieng Dan, tr.303. Hue, Gustave, 1937, Dictionnaire Vietnamien- Chinois- Français, Imprimerie Trung Hoà, p.922. Xem thêm định nghĩa về từ nguyên của “patrie” như sau: “erre des ancêtres, pays natal. Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie? Dans son brillant exil mon coeur en a frémi” [LAMART., Harm., 1830, p.392]  5. Trần Trọng Dương, 2019, Đối thoại đa thanh trong các sử phẩm của Nguyễn Văn Tố, Tia sáng, số tháng 07-2019.  6.  羅景文:〈東亞漢文化知識圈的流動與互動─以梁啟超與潘佩珠對西方思想家與日本維新人物的書寫為例,《臺大歷史學報》第48期(2011年12月),頁51-96.  7.  William J. Duiker, Phan Boi Chau: Asian Revolutionary in a Changing World, The Journal of Asian Studies, Vol. 31, No. 1 (Nov., 1971), p. 77.  8.  Trần Trọng Kim, 1920, Việt Nam sử lược (越南史略; Précis d’histoire de Việt Nam), Imprimerie du Trung-Bac-Tan-Van, Ha Noi; tb. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005.  9. Phạm Quỳnh. 1931a. “Du lịch xứ Lào” (kì I /2),. Nam Phong tạp chí, số 158, tháng 1/1931, tr.5.        Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Giữ vẹn đạo thầy trò      Tên tuổi của nhiều nhà khoa học lớn thường gắn liền với những thứ họ tạo dựng nên – những trường, viện, lĩnh vực nghiên cứu, đội ngũ học trò… Với giáo sư Nguyễn Văn Chiển, điều ông để lại cho ngành địa chất Việt Nam không chỉ ở những dấu ấn quan trọng như thế mà còn từ những điều thật giản dị như lời bộc bạch của giáo sư Tống Duy Thanh, một trong những học trò gần gũi nhất của ông, “bài học lớn nhất mà tôi học được ở Thầy Chiển là bài học làm người và làm thầy”.      Những ký ức về giáo sư Nguyễn Văn Chiển được gợi lại trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông tại hội trường Ngụy Như Kon Tum. Thật khéo khi lựa chọn nơi này – một giảng đường quan trọng của Viện Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) trước kia và đại học Quốc gia Hà Nội sau này (có giai đoạn được mang tên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) và sau được mang tên nhà vật lý Ngụy Như Kon Tum. Từng chứng kiến những ngày đầu sinh viên Nguyễn Văn Chiển đến với ngành địa chất dưới sự hướng dẫn của giáo sư Pháp Josué-Heilman Hoffet, những ngày ông gây dựng Khoa Địa lý- Địa chất ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và cả lễ sinh nhật 80 tuổi của ông, nay không gian này quy tụ nhiều thế hệ học trò của ông, có người tuổi ngoài 80, để cùng nhớ về người thầy hết mực khiêm nhường của mình.   Trọn phận làm trò  Lời kể của giáo sư Tống Duy Thanh, người được “Thầy Chiển cho thấy những điều kỳ diệu từ những viên đá” và trở thành chuyên gia hàng đầu Việt Nam về Cổ sinh – Địa tầng, khiến tất cả hội trường lặng đi: “Tôi rất xúc động vì Thầy Chiển của tôi, dù lớn tuổi rồi, vẫn không quên những người thầy từ lúc học trung học”. Những người thầy ấy của giáo sư Nguyễn Văn Chiển đều là những nhân vật được nhiều thế hệ người Việt Nam biết đến: Nguyễn Mạnh Tường (văn học Pháp), Hoàng Xuân Hãn (toán), Ngụy Như Kon Tum (lý)…  Không ai biết giáo sư Nguyễn Văn Chiển theo học những người thầy uyên bác này như thế nào từ ngày ở trường Bưởi vào cuối những năm 1930 và đầu những năm 1940 nhưng chắc hẳn ngoài kiến thức, ông học được rất nhiều từ nhân cách và sự tận tụy với công việc của họ.       “Người ta nói ‘con hơn cha là nhà có phúc’. Trong cuộc đời mình, niềm hạnh phúc nhất của tôi là được thấy những học trò thành công và giỏi giang hơn tôi”. (Giáo sư Nguyễn Văn Chiển)      Chính giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người từ năm 1936 dạy các lớp đệ nhất ban toán trường Bưởi, là người đã khuyên cậu học trò đỗ đầu kì thi tú tài Đông Dương năm 1941 theo học ngành địa chất, cậu học trò mà ông phê trong học bạ “học sinh ưu tú, trí lực rất hài hòa, chăm chỉ và có phương pháp”. Tại sao không phải toán và lý, những môn mà ông học rất giỏi? Trong một cuộc trò chuyện với giáo sư Tống Duy Thanh tại nhà riêng ở Paris năm 1989, giáo sư Hoàng Xuân Hãn lý giải: “Tôi còn nhớ, khi Chiển tốt nghiệp, tôi đã bảo Chiển, ‘học toán như tôi thì chỉ đi dạy được thôi, nếu đi học Lý thì lấy đâu ra phòng thí nghiệm mà làm. Em nên học ngành gì mà có điều kiện để phát huy cái năng lực của mình và có nhiều đóng góp hữu ích cho đất nước mình. Tốt nhất là làm địa chất, đất nước bao la sẽ là phòng thí nghiệm cho em tha hồ vùng vẫy’. Khi ấy, Chiển đã nghe theo lời khuyên của tôi”.   Do đó, giáo sư Nguyễn Văn Chiển đã đi theo ngành Địa chất và trở thành người gây dựng ngành địa chất Việt Nam. Tuy nhiên ông không có điều kiện gặp gỡ giáo sư Hoàng Xuân Hãn bởi từ năm 1951 – thời điểm trước khi ông sang Liên Xô học tiến sĩ, giáo sư Hãn đã sang Pháp sinh sống và làm việc. Gần 40 năm sau, nhân chuyến công tác của học trò Tống Duy Thanh theo lời mời của Hội sinh vật Paris, giáo sư Chiển đã viết một bức thư hỏi thăm người thầy năm xưa của mình và dặn học trò trao tận tay cho ông. Trước lời dặn của thầy, “tôi sốt ruột muốn chuyển sớm thư ngay khi đến Paris nên đến gặp ông Hoàng Xuân Hãn ở nhà riêng. Sau khi nhận được, ông cũng sốt ruột không kém, bóc thư đọc ngay”, giáo sư Tống Duy Thanh nhớ lại. Ông không rõ lá thư dài Thầy Chiển viết những gì nhưng sau khi đọc xong thư, thái độ giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ lịch sự chuyển sang thân tình, “ông nói ‘hôm nay ở nhà sang, tiện bữa cơm, cháu ăn cơm cùng bác rồi kể bác nghe chuyện công việc và gia cảnh của Chiển nhé’”. Trước sự quan tâm của một người thầy với học trò từng theo học mình gần 80 năm trước, giáo sư Tống Duy Thanh không khỏi xúc động, “tôi đã được nghe mọi người kể về tình cảm thầy trò của thầy Chiển với giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhưng đến khi trực tiếp gặp giáo sư Hãn thì tôi mới biết sự gắn bó giữa hai bậc trí thức lớn này thân tình đến mức nào”.     TBT Tạp chí Tia Sáng Hoàng Thu Hà chúc mừng sinh nhật Thầy Chiển. Ảnh: Tư liệu  Trong số các học trò của giáo sư Chiển, ông Tống Duy Thanh là người thân cận nhất với Thầy nên có nhiều điều kiện chứng kiến những câu chuyện đời thường của ông. “Tôi nhớ vào thập kỷ 1960, khi trường sơ tán lên Đại Từ, Bắc Cạn (nay thuộc Thái Nguyên). Lúc đó, các thầy cũng ở cách xa nhau, Thầy Ngụy Như Kon Tum cách Thầy Chiển tới 4km. Giữa bom đạn, đường xá như vậy mà năm nào mùng 1 Tết Nguyên đán, Thầy cũng đạp xe đến chúc tết giáo sư Ngụy Như Kon Tum, Thầy của Thầy ở trường Bưởi, chứ không phải đến chúc tết thầy hiệu trưởng trường Tổng hợp”, giáo sư Tống Duy Thanh nhớ mãi hình ảnh Thầy Chiển trên chiếc ‘xe trâu’ cọc cạch như thế.  Phận làm trò được giáo sư Chiển gìn giữ suốt cuộc đời mình. Trong hoàn cảnh nào, ông cũng hết sức chu đáo với thầy giáo cũ, kể cả những người từng bị rơi vào thế bị “phê đấu” vào những năm 1950, 1960 như giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, người từng giảng dạy tại trường Đại học Văn khoa, Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội và sau chuyển sang làm chuyên viên nghiên cứu văn học nước ngoài tại Viện Nghiên cứu phương pháp và chương trình giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT. Ông chu đáo với giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ngay cả khi giáo sư qua đời. “Tháng 6/1997, tôi đến nhà không thấy Thầy Chiển đâu. Lúc đó, vợ thầy nói ‘anh cứ ngồi chơi, anh Chiển đang cặm cụi ngồi viết lại điếu văn thầy Nguyễn Mạnh Tường’. Khi hỏi, tôi mới biết, vì Thầy không hài lòng về điếu văn mà người ta viết nên quyết định soạn lại với mong mỏi là phản ánh đúng công lao đóng góp của Thầy Nguyễn Mạnh Tường để người ta hiểu hơn về ông”, giáo sư Tống Duy Thanh kể.   Luôn tôn trọng và yêu thương trò  Trong cuộc đời nghiên cứu của mình, giáo sư Nguyễn Văn Chiển có nhiều công trình nghiên cứu về thạch học, Điều tra tổng hợp Tây nguyên, Atlas quốc gia… nhưng ông cho rằng, “công trình” đáng giá nhất của mình là đào tạo ra một đội ngũ học trò. 20 năm trước, trong lễ sinh nhật 80 tuổi ở hội trường Ngụy Như Kon Tum, ông cho biết: “Người ta nói ‘con hơn cha là nhà có phúc’. Trong cuộc đời mình, niềm hạnh phúc nhất của tôi là được thấy những học trò thành công và giỏi giang hơn tôi”.   Dù là người đặt nền móng xây dựng ngành địa chất, thành lập Bộ môn Địa chất ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội, xây  dựng trường Đại học Mỏ địa chất, xây dựng Khoa Địa lý – địa chất trường Đại học Tổng hợp… nhưng ông vẫn luôn khiêm nhường, luôn tôn trọng học trò và coi học trò ở mức ngang hàng với mình. “Trong mấy chục năm làm việc bên cạnh Thầy, tôi chưa từng thấy Thầy xưng thầy với học trò mà chỉ xưng tôi”, giáo sư Tống Duy Thanh nhận xét. Có lần ông mạo muội hỏi Thầy thì được giải thích “nếu mình xưng thầy – trò với họ thì tức là tự nhiên mình tạo ra khoảng cách để họ không dám nói ý kiến thật của họ với mình, đấy còn chưa kể là họ có ưng với cái cách xưng hô của mình không”.   Bận bịu công việc và đông học trò nhưng giáo sư Nguyễn Văn Chiển luôn quan tâm đến họ và cũng như người thầy của mình ở trường Bưởi năm xưa, ông định hướng cho họ theo những hướng nghiên cứu mà ông thấy cần thiết. PGS. TS Phạm Huy Tiến, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm KHTN và CN quốc gia, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, kể “Khi tôi thực tập tốt nghiệp thì thầy Phan Trường Thị hướng dẫn và tôi nghĩ mình sẽ làm địa chất. Hôm thầy Chiển gọi tôi lên và nói tôi nên tập trung vào trầm tích chứa dầu”. Sau khi đi thực tập ở Trung Quốc hai năm, ông về Việt Nam và tham gia dạy môn trầm tích ở trường Đại học Tổng hợp. “Tối trước khi lên lớp, tôi sang nhà thầy nói chuyện, thầy hỏi ‘em có giáo án lên lớp chưa’, tôi trả lời ‘em chưa có’. Vậy là Thầy nói lên bục giảng, ngoài bài giảng bắt buộc phải có giáo án vì mỗi lần giảng nó có khác nhau”, PGS. TS Phạm Huy Tiến nhớ lại bài học nằm lòng của Thầy, bài học mà ông không thể quên cho đến tận bây giờ “sau này đi giảng lúc nào tôi cũng phải có giáo án. Gần đây tôi sang giảng ở trường Nhân văn, tôi vẫn nhớ bài học không được sơ suất khi lên bục giảng của thầy.      “Tôi rất xúc động vì Thầy Chiển của tôi, dù lớn tuổi rồi, vẫn không quên những người thầy từ lúc học trung học”. (Giáo sư Tống Duy Thanh)      Tình thương yêu và vị tha với học trò của giáo sư Nguyễn Văn Chiển không hề thay đổi, dù trong hoàn cảnh nào. Vào những năm 1960, “trường Đại học Tổng hợp mất đoàn kết liên tục, phong trào ‘phê đấu’ diễn ra ở cả khoa mới lập như khoa Địa chất”, giáo sư Tống Duy Thanh kể. Không chỉ những người thầy như Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo… mà ‘người mới’ như giáo sư Nguyễn Văn Chiển cũng rơi vào hoàn cảnh này. “Nhiều người ‘phê đấu’ Thầy là học trò. Thầy Chiển buồn vì trở thành đối tượng ‘phê đấu’ thì ít mà buồn vì những căn nguyên không đúng sự thật thì nhiều. Tuy nhiên Thầy không hề tỏ ra thù hận họ. Sau này, Thầy nói lại với tôi ‘thôi họ trẻ lòng non dạ thôi mà’… Tôi không hề thấy thầy ác cảm với họ mà luôn nói tôi là cố gắng giúp đỡ họ, trong trường hợp có khả năng họ có thể thực hiện được ước mơ của mình”.   Trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh giáo sư Nguyễn Văn Chiển, hội trường Ngụy Như Kon Tum đông kín người, phần lớn là học trò nhiều thế hệ của Thầy. Trong số này, nhiều người theo ngành địa chất nhưng không phải ai cũng may mắn như thế. Đó là trường hợp của nhà báo Nguyễn Như Mai, học sinh khóa 4 trường Tổng hợp. Vì một số vấn đề về lý lịch mà ông không theo được nghề địa chất, thậm chí có nguy cơ không được phát bằng tốt nghiệp. “Thầy đã can thiệp để cho tôi được tốt nghiệp, và bảo tôi ‘em làm giấy tờ đi để đủ thủ tục tốt nghiệp’. Sau đó, tôi chuyển sang làm xuất bản”, ông Nguyễn Như Mai kể. Sự quan tâm đến người học trò thiếu may mắn của giáo sư Nguyễn Văn Chiển không chỉ ở phạm vi nghề nghiệp. “Tôi có cô người yêu trong hoàn cảnh bấp bênh đó. Thầy đã gặp riêng và động viên ‘thằng Mai giỏi lắm, tốt lắm, em cứ yên tâm lấy nó đi’”.   Do đó, những người đã may mắn được thầy dìu dắt đều cho rằng, điều lớn nhất mà họ có được từ thầy, không chỉ ở kiến thức hay sự tận tụy với công việc mà còn là bài học làm người, làm thầy. □       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Giun đũa có thể giúp cải thiện khả năng sinh sản      Tuy giun sán gây nhiều tác hại cho con người  nhưng một nghiên cứu mới đây cho thấy có những loài giun nhất định lại  làm tăng khả năng sinh sản ở phụ nữ.      Những loài giun ký sinh trong đường ruột có rất nhiều điểm chung với bào thai trong tử cung – đều bị hệ miễn dịch của người coi là vật thể xâm phạm vào cơ thể, cả hai phải có chiến lược chống chọi với hệ miễn dịch. Các loài ký sinh trùng cũng tạo ra một số thay đổi về miễn dịch tương tự như những thay đổi diễn ra trong thai kỳ.     Vì những nét tương đồng này, nhà sinh học con người Aaron Blackwell thuộc ĐH California ở Santa Barbara và đồng nghiệp đã băn khoăn trước câu hỏi liệu việc nhiễm ký sinh trùng có giúp ích gì cho sự thụ thai ở phụ nữ hay không. Họ đã đi tìm câu trả lời bằng cách phân tích các dữ liệu về tộc người Tsimane sinh sống ở khu vực rừng mưa Amazon, Bolivia, nơi có 15-20% dân số nhiễm giun đũa và 56% dân số nhiễm giun móc.     Kết quả điều tra trên 1.000 phụ nữ Tsimane cho thấy, giun móc gây bất lợi cho khả năng sinh sản – phụ nữ nhiễm giun móc có ít hơn ba con so với phụ nữ không nhiễm loài giun này. Ngoài ra, tuổi sinh con lần đầu cao hơn và thời gian giữa các lần mang thai cũng kéo dài hơn. Tuy nhiên, đối với phụ nữ Tsimane, khả năng sinh sản không phải là vấn đề vì trung bình mỗi phụ nữ thuộc bộ tộc này sinh chín con.     Ngược lại, giun đũa lại có lợi cho khả năng sinh sản. Nó rút ngắn khoảng thời gian giữa các lần mang thai và giảm độ tuổi sinh con lần đầu. Phụ nữ nhiễm giun đũa có nhiều hơn hai con so với phụ nữ không bị nhiễm.     Nhóm nghiên cứu cho rằng khi làm thay đổi hệ miễn dịch, giun đũa đã góp phần làm giảm khả năng viêm nhiễm trong cơ thể chủ, do đó làm tăng khả năng thụ thai và làm tổ của phôi thai trong bụng mẹ. Trong khi đó, giun móc không có tác dụng kháng viêm nhiễm tốt như vậy; hơn nữa, hoạt động hút máu và hấp thụ trộm dưỡng chất từ cơ thể chủ của giun móc có thể làm vô hiệu hóa bất kỳ lợi ích nào về sinh sản mà chúng có thể mang lại. Nhóm của Blackwell hiện đang nghiên cứu các mẫu máu để xác định tế bào và phân tử miễn dịch nào bị các loài giun làm biến đổi.    Một số nghiên cứu khác đã cho thấy các loài vi khuẩn sống ký sinh trên cơ thể người rất có ích cho việc mang thai, nhà nghiên cứu miễn dịch sinh sản Gil Mor của Trường Y học Yale nhấn mạnh, song ông cho rằng kết luận “các loài giun có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, thậm chí cải thiện khả năng sinh sản, là quá ngạc nhiên”.     Người ta đã từng tiến hành một số thử nghiệm lâm sàng để tìm hiểu liệu cho người bệnh nhiễm giun có thể giúp làm dịu các triệu chứng của các bệnh như dị ứng, hen suyễn và các bệnh tự miễn dịch hay không. Tuy nhiên giới nghiên cứu vẫn còn hoài nghi việc giun đũa có thể  trở thành một liệu pháp điều trị vô sinh. Mor khẳng định: “Tôi sẽ không bao giờ đưa loài giun đó vào cơ thể bệnh nhân của mình.” Nhưng dù thế nào, nghiên cứu của nhóm Blackwell vẫn mở ra nhiều giả thiết khác. Mor nói: “Nếu phát hiện này là đúng, chúng ta có thể phát triển một cơ chế miễn dịch giúp tạo ra phản ứng miễn dịch giống như loài giun đũa.”   Trang Bùi dịch  Nguồn:  http://news.sciencemag.org/biology/2015/11/intestinal-worms-may-help-women-get-pregnant-more-often      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giường lơ lửng trong không khí      TT – Janjaap Ruijssenaars, kiến trúc sư trẻ người Hà Lan, đã chế tạo một loại giường lơ lửng (có thể được dùng làm bàn ăn hoặc bệ tượng) phía trên mặt đất nhờ lực nam châm và được rao bán với giá 1,54 triệu USD.    Ruijssenaars lấy ý tưởng cho chiếc giường từ tảng đá nguyên khối kỳ diệu trong bộ phim 2001: Cuộc chinh phục không gian của Stanley Kubrick trình chiếu năm 1968. Dù chỉ là một mặt bằng trơn láng màu đen nhưng nó đã làm anh phải mất sáu năm để nghiên cứu. Ruijssenaars lý giải: “Dù bạn sống ở đâu, mọi kiến trúc đều chịu ảnh hưởng của trọng lực. Tôi tự hỏi bạn có thể tạo nên một đồ vật, một tòa nhà hoặc một đồ đạc không nằm trong trường hợp này hay không?”.  Nam châm được lắp đặt dưới sàn nhà và trong chiếc giường. Chúng đẩy nhau để đưa chiếc giường lên cao. Các dây cáp bằng thép mỏng giữ cho giường ở yên một chỗ. Mặc dù những người mang đồ trang sức không gặp vấn đề gì khi ngủ trên đó nhưng Ruijssenaars vẫn khuyên họ đừng đi vào trong từ trường giữa giường và sàn nhà.          (Theo Reuters)  Q.HƯƠNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giúp người Việt ăn nhiều tinh bột mà vẫn an toàn      Thói quen của đa số người Việt Nam là ăn nhiều tinh bột, thậm chí ăn cơm ngày 3 bữa, trong khi tiêu thụ một lượng lớn tinh bột gạo sẽ dẫn đến việc đưa một lượng đường quá lớn vào cơ thể – một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh mãn tính như béo phì và tiểu đường đối với những người bị rối loạn chuyển hóa carbohydrate. Với mong muốn giảm thiểu những nguy cơ rủi ro về sức khỏe của người dân mà không phải loại bỏ thói quen ẩm thực, chúng tôi đã tập trung làm rõ cơ chế sinh đường của tinh bột các loại gạo phổ biến của Việt Nam, qua đó xác định khả năng sinh đường huyết và khả năng kháng tiêu hóa của các loại tinh bột gạo đó.      PGS. TS Phạm Văn Hùng (Khoa Công nghệ sinh học, trường đại học Quốc tế, ĐHQGHN)  Đây là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ chế hình thành dạng tinh bột không bị thủy phân ứng dụng trong phòng chống các bệnh tiểu đường và béo phì” (giai đoạn 2013-2015, Quỹ Nafosted tài trợ). Một trong những sản phẩm từ đề tài là công trình “Khả năng tiêu hóa in vitro và sinh đường invivo của các loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose khác nhau và tinh bột gạo biến đổi bằng phương pháp vật lý” (In vitro digestibility and in vivo glucose response of native and physically modified rice starches varying amylose contents) trên Food Chemistry, tạp chí có chỉ số ảnh hưởng IF = 4,498 và xếp hạng 9 của nhóm Q1 theo SCImago.  Bí ẩn trong tinh bột  Hiện nay các bệnh mãn tính như béo phì, tiểu đường, tim mạch, đột qụy, ung thư đang ngày càng phát triển cả ở Việt Nam và trên thế giới. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2016, tổng số người mắc bệnh tiểu đường trên toàn cầu ước tính tăng từ 4,7% (108 triệu người) vào năm 1980 lên khoảng 8,5% (422 triệu) người trưởng thành vào năm 2014 (WHO, 2016). Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh thừa cân, béo phì và tiểu đường tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây với tốc độ cao nhất thế giới, nhất là ở lứa tuổi học sinh. Theo báo cáo của Bộ Y tế thì tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc là 4,1% và tiền đái tháo đường là 3,6% (Bộ Y tế, 2017). Theo công bố của Bùi Thị Nhung và cộng sự khi nghiên cứu về bệnh béo phì trên 13 trường tiểu học nội thành Hà Nội năm 2011 cho kết quả tỷ lệ béo phì ở trẻ nam là 25,6% và 8,4% ở trẻ nữ. Nguyên nhân chính của việc mắc bệnh tiểu đường và béo phì là do cơ thể người bị rối loạn chuyển hóa carbohydrate khi hooc môn insulin của tụy bị thiếu hụt và giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao (WHO, 2016). Đối với người mắc bệnh béo phì và tiểu đường thì ngoài việc uống thuốc hỗ trợ cần phải có chế độ ăn hạn chế carbohydrate. Do đó vấn đề nghiên cứu phát triển các sản phẩm thực phẩm sinh đường thấp nhằm phòng chống các bệnh béo phì và tiểu đường là rất quan trọng và cần thiết.  Dựa vào mức độ thủy phân, các nhà nghiên cứu chia tinh bột trong thực phẩm thành 3 dạng: tinh bột tiêu hóa nhanh (RDS), tinh bột tiêu hóa chậm (SDS) và tinh bột kháng tiêu hóa (RS). Các nghiên cứu cho thấy, tinh bột kháng tiêu hóa đóng vai trò như một loại chất xơ chức năng có lợi cho sức khỏe con người như: Ngăn ngừa được các bệnh đường ruột như ung thư đại tràng, giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư ruột kết, xơ vữa động mạch và những biến chứng liên quan đến béo phì ở người; Giảm đường huyết; Có chức năng prebiotic; Giảm cholesterol; Ức chế tích lũy chất béo; Tăng hấp thu khoáng. Theo khuyến cáo WHO, lượng tinh bột kháng tiêu hóa (RS) cần cho cơ thể là 27-40 g/ngày.  Việc nghiên cứu về tinh bột không đơn giản. Vì sao vậy? Về bản chất, tinh bột là polysaccharides được thực vật trong tự nhiên tổng hợp và tích lũy như các loại ngũ cốc, các loại củ và đậu đỗ. Nó cũng là thành phần quan trọng bậc nhất trong chế độ dinh dưỡng nhằm cung cấp năng lượng cho con người và là thành phần chính trong các sản phẩm thực phẩm. Các nhà nghiên cứu từ lâu đã biết, thành phần chính của tinh bột gồm các glucose polymers – amylose và amylopectin với tỷ lệ phần trăm trung bình khoảng 25:75 đối với đa số các loại tinh bột ngũ cốc và tinh bột các loại củ, tuy nhiên do cấu trúc khác nhau mà tinh bột sẽ bị thủy phân bởi các enzyme amylase với các mức độ khác nhau. Do đó cái khó trong nghiên cứu về tinh bột là cấu tạo bên trong của hạt tinh bột khá phức tạp với nhiều lớp, trong mỗi lớp đều có chứa các phân tử amylose và amylopectin sắp xếp theo mức độ kết tinh khác nhau.  Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu về cấu trúc và khả năng tiêu hóa của tinh bột ở Việt Nam là rất cần thiết bởi Việt Nam là một nước nông nghiệp với các sản phẩm chủ đạo như là lúa gạo và các loại củ giàu tinh bột. Việc tìm ra cơ chế sinh đường của các loại tinh bột gạo không chỉ giúp phòng tránh nguy cơ rủi ro về sức khỏe cho người dân mà còn giúp tăng cường giá trị của các sản phẩm từ lúa gạo như phát triển các thực phẩm có khả năng sinh đường thấp trong tương lai.    Tìm cơ chế sinh đường trong tinh bột gạo  Khi thực hiện công trình, chúng tôi đã lựa chọn 5 loại gạo phổ biến và thường được mọi người sử dụng như gạo Hàm Trâu (OM 576) và gạo 504 (IR50404) trồng tại Cần Thơ – loại gạo hạt ngắn và cơm không dẻo, gạo 64 (IR64) và gạo Hương Lài (Jasmine 85) trồng tại Long An – loại gạo hạt dài và cơm dẻo; gạo “nếp cái hoa vàng” trồng tại Hải Dương – loại gạo nếp, và đem đi xác định khả năng sinh đường và chỉ số đường huyết của các loại gạo này nhằm tìm hiểu cơ chế kháng tiêu hóa của các loại tinh bột gạo dựa vào cấu trúc của chúng.  Những kết quả thu được khiến chúng tôi bất ngờ: 5 loại gạo này không chỉ khác nhau về hàm lượng amylose (gạo Hàm Trâu có chứa 30,6% amylose, gạo 64 có chứa 26,7% amylose, gạo 504 có chứa 24,3% amylose, gạo Hương Lài có chứa 21,7% amylose, gạo Nếp Cái Hoa Vàng có chứa 4,7% amylose) mà còn khác nhau về mức độ kết tinh, tính chất hóa lý. Sự khác biệt giữa các loại tinh bột gạo còn thể hiện ở mức độ hết sức tinh tế là loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose cao có hàm lượng tinh bột tiêu hóa nhanh cao hơn so với loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose thấp, do đó các loại gạo có hàm lượng amylose cao sau khi nấu sẽ dễ dàng bị thủy phân bởi các enzyme amylase và sinh ra lượng đường lớn hơn so với các loại gạo có hàm lượng amylose thấp.  Càng đi sâu vào phân tích các tính chất của gạo, chúng tôi càng thu được nhiều thông tin quý báu còn ẩn chứa trong những hạt gạo tưởng chừng quá đỗi quen thuộc, ví dụ gạo Hương lài và Nếp cái hoa vàng có chứa hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa (RS) cao hơn rất nhiều so với các loại còn lại; tinh bột gạo nếp cái hoa vàng có chỉ số đường huyết (Glycaemic index, GI) thấp nhất do tinh bột gạo nếp có hàm lượng amylopectin cao, khối lượng phân tử lớn và độ kết tinh cao nên khi bị hồ hóa chúng vẫn giữ được cấu trúc kết tinh và kháng lại sự thủy phân của enzyme amylase. Các loại tinh bột gạo còn lại đều có chỉ số GI ≥ 70 và được xếp vào loại thực phẩm có chỉ số GI cao. Các kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng amylose và cấu trúc phân tử của tinh bột đến tính chất lý-hóa của chúng và cơ chế kháng lại sự thủy phân của các enzyme có trong hệ tiêu hóa của con người. Đây là tiền đề để sản xuất loại tinh bột kháng thủy phân (RS).      Việc tìm ra cơ chế sinh đường của các loại tinh bột gạo không chỉ giúp phòng tránh nguy cơ rủi ro về sức khỏe cho người dân mà còn giúp tăng cường giá trị của các sản phẩm từ lúa gạo như phát triển các thực phẩm có khả năng sinh đường thấp trong tương lai.      Hướng đến mục tiêu này, chúng tôi cũng đã đi sâu vào nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc và mức độ kháng tiêu hóa của các loại tinh bột gạo sử dụng các phương pháp biến đổi vật lý bằng nhiệt và ẩm, đây là các phương pháp phổ biến để giảm chỉ số GI – cơ sở để sản xuất các loại tinh bột kháng tiêu hóa cao. Kết quả cho thấy, GI của các loại tinh bột gạo sau khi biến đổi đã giảm đáng kể xuống ở mức trung bình và thấp. Đây là tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng trong sản xuất các sản phẩm thực phẩm sinh đường thấp dùng phòng chống các bệnh mãn tính của con người và dùng trực tiếp cho các bệnh nhân tiểu đường và béo phì.  ***  Tuy là công trình nghiên cứu cơ bản nhưng chúng tôi đặt nhiều hy vọng vào khả năng mở rộng hơn nữa nghiên cứu này theo những hướng tiềm năng trong tương lai. Đó là cung cấp các thông tin cho  các nhà Công nghệ Sinh học và khoa học nông nghiệp nghiên cứu về chọn tạo giống lúa để tạo ra các loại gạo có cấu trúc tinh bột đặc biệt có khả năng kháng lại sự thủy phân của enzyme amylase nhằm làm giảm chỉ số đường huyết của loại lương thực này trên cơ sở thông tin về mối quan hệ giữa cấu trúc của hạt tinh bột và khả năng kháng tiêu hóa; là tiền đề cho các nhà nghiên cứu hợp chất thiên nhiên có thể tạo ra các loại sản phẩm có khả năng kháng tiêu hóa thông qua các phản ứng hữu cơ như tạo tinh bột liên kết với các chất có hoạt tính sinh học như curcumin, polyphenols,…; và là tiền đề cho các nhà khoa học và nhà sản xuất thực phẩm ứng dụng sản xuất các loại tinh bột có hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa cao và khả năng sinh đường thấp để phát triển các sản phẩm thực phẩm cho các bệnh nhân tiểu đường và béo phì.  Nếu việc triển khai những hướng nghiên cứu này sẽ cần có thời gian, sự đầu tư công sức và cả sự hợp tác chặt chẽ của nhà khoa học và nhà sản xuất thì một việc trước tiên mà chúng tôi nghĩ rằng có thể áp dụng được ngay, đó là cung cấp thông tin về chỉ số đường huyết của các loại gạo phổ biến ở Việt Nam nhằm khuyến cáo người dân lựa chọn khẩu phần ăn cân bằng và phù hợp trong chế độ ăn uống hằng ngày của mình nhằm phòng chống các bệnh béo phì và tiểu đường, đặc biệt là các bệnh nhân béo phì và tiểu đường cũng như giúp các nhà dinh dưỡng tối ưu hóa khẩu phần ăn khi sử dụng loại gạo thích hợp.  Với công trình “In vitro digestibility and in vivo glucose response of native and physically modified rice starches varying amylose contents”, PGS. TS Phạm Văn Hùng trở thành một trong ba nhà khoa học đoạt giải Tạ Quang Bửu 2018. Anh là nhà khoa học đầu tiên trong lĩnh vực sinh học nông nghiệp nhận được vinh dự này. Hiện PGS. TS Phạm Văn Hùng có hơn 40 công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI với gần 2. 000 lượt trích dẫn, chủ yếu trong lĩnh vực hóa sinh ứng dụng, dinh dưỡng thực phẩm và công nghệ thực phẩm.    Author                Phạm Văn Hùng        
__label__tiasang GJ 436c – hành tinh nhỏ nhất ngoài Hệ mặt trời      Các nhà khoa học Tây Ban Nha vừa phát hiện hành tinh nhỏ nhất ngoài Hệ mặt trời và được đặt tên là GJ 436c.      Đây là một hành tinh đá, có bán kính lớn hơn bán kính Trái đất 50%, quay quanh một ngôi sao lùn đỏ nhỏ nằm trong chòm sao Leo, cách chúng ta 30 năm ánh sáng. GJ 436c có khối lượng lớn gấp 5 lần Trái đất, là hành tinh nhỏ nhất từ trước tới nay được tìm thấy ngoài Hệ mặt trời. Các nhà khoa học đang hy vọng các kỹ thuật tiên tiến hiện nay sẽ mở đường cho họ khám phá một thế giới khác giống Trái đất hơn.   Minh Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gluon đã kết dính  vật chất lại như thế nào?      Như ta biết, gluon đã kết dính các quark lại trong proton, neutron, hadron. Song nhiều vấn đề đã nảy sinh: ví dụ spin của proton phát sinh từ đâu? khối lượng proton được hình thành từ những quá trình nào? Đó là những vấn đề nóng hổi trong việc tìm hiểu vật chất. Sau đây là bài báo của các tác giả Rolf Ent, Thomas Ullrich, Raju Venugopalan công bố trên tạp chí Scientific American số tháng 5/2015.    Như ta biết, hạt kết nối các quark là hạt gluon. Song từ đây phát sinh nhiều vấn đề.    Nếu nhìn vào trong proton và neutron thì ta bắt gặp một dàn nhạc giao hưởng đủ các nhạc khí. Các nhạc khí đó là những hạt gồm ba quark và một số luôn thay đổi gluon cùng với một biển quark (đó là những cặp quark-phản quark xuất hiện và biến mất liên tục). Proton và neutron không phải là những hạt duy nhất cấu tạo bằng quark. Còn những hạt gọi là hadron (hạt nặng).    Mặc dầu đã có nhiều hiểu biết tích lũy được, các nhà vật lý vẫn chưa giải thích được quark và gluon đã hoạt động như thế nào để tạo nên mọi tính chất và các cách hành xử của proton, neutron và các hadron.    Ví dụ, cộng mọi khối lượng của quark và gluon trong một proton vẫn không cho ta được khối lượng của proton: đó là bí ẩn về sự thiếu khối lượng.    Tiếp theo, spin của proton (và neutron) đã phát sinh vì chuyển động của quark và gluon như thế nào: đó là bí ẩn về sự thiếu giá trị spin.    Sau cùng, vì sao sự kết nối các quark bởi gluon lại dựa trên sắc tích (color charge)?    Nếu các nhà vật lý có thể trả lời những câu hỏi đó thì chúng ta có thể hiểu được sâu hơn cấu trúc của vật chất nói chung và nói riêng những cấu hình lạ (exotic) của quark và gluon. Người ta hy vọng sớm làm tan màng sương này.  Khối lượng của proton từ đâu đến?    Vấn đề khối lượng luôn là vấn đề sâu sắc nhất trong vật lý. Chúng ta đã hiểu được vì đâu mà quark và lepton thu được khối lượng. Cơ chế tạo khối lượng là cơ chế hạt Higgs (tìm ra năm 2012 tại LHC – CERN, Geneva). Nhiều người nghĩ rằng cơ chế Higgs là nguồn gốc của mọi khối lượng trong vũ trụ song điều này không đúng. Khối lượng của quark chỉ tạo nên 2% khối lượng proton (và neutron). Còn lại 98% người ta nghĩ là do tác động của gluon. Song làm thế nào mà gluon lại tạo ra khối lượng cho proton và neutron trong khi gluon lại là một hạt không khối lượng?    Mấu chốt vấn đề nằm ở công thức m=E/c2 của Einstein. Như vậy khối lượng nghỉ m xuất phát từ năng lượng E. Năng lượng của proton chủ yếu được cung cấp bởi gluon. Vậy phải tính năng lượng của gluon để có được khối lượng proton. Tính năng lượng của proton rất khó vì năng lượng tổng thể của gluon do nhiều yếu tố đóng góp. Năng lượng của một hạt tự do là do năng lượng chuyển động, song quark và gluon không tồn tại trong trạng thái riêng lẻ. Chúng chỉ là hạt tự do ở kích thước thời gian vô cùng nhỏ (< 310-24 giây) trước khi kết hợp với những hạt hạ nguyên tử khác và biến mất khỏi tầm nhìn của chúng ta. Hơn nữa, với gluon, năng lượng không chỉ phát sinh từ chuyển động mà còn từ năng lượng liên kết giữa chúng với nhau và với quark thành những hạt sống lâu. Để hiểu bí ẩn của khối lượng phải hiểu được gluon đã “kết dính” các quark và nói chung đã kết dính vật chất như thế nào.  Hạt Gluon đã kết dính vật chất như thế nào?    Ở một mức độ nào đó, việc hiểu gluon đã kết dính như thế nào là đơn giản: gluon nắm trong tay tương tác mạnh. Song bản chất lực mạnh lại là một câu đố. Trong các tương tác thì tương tác mạnh là mạnh hơn cả. Gluon là hạt chuyển tải tương tác mạnh giống như photon chuyển tải tương tác điện từ.    Song lực mạnh lại tác động theo một kiểu đáng ngạc nhiên. Đối nghịch với tương tác điện từ lực mạnh không vượt ra khỏi phạm vi hạt nhân nguyên tử. Điều đó theo lý lẽ chung của vật lý thì gluon phải là hạt có khối lượng lớn song gluon lại là hạt không khối lượng.    Một đặc điểm của lực mạnh là khi quark càng cách xa nhau thì lực hút càng mạnh. Hiện tượng này được quan sát năm 1960 tại Trung tâm gia tốc tuyến tính quốc gia Stanford.    Trong thí nghiệm DIS (Deeply Inelastic Scattering – Tán xạ không đàn hồi sâu), người ta thấy quark hút nhau rất yếu ở khoảng cách ngắn còn ở khoảng cách lớn người ta không thấy quark vì chúng đã bị hút nhau quá mạnh. Hiện tượng này giống như hình ảnh hai quark được kết nối với nhau bằng một sợi dây cao su, càng kéo xa quark thì sợi dây cao su càng bị kéo căng tạo nên sức kéo lớn hơn. Lực hút giữa hai quark bằng một lực 16 tấn khi chúng ở khoảng cách bằng kích thước một proton. Nhưng nếu có ngoại lực lớn kéo dãn hai quark thì dây cao su có thể bị đứt. Và điều này lại là một bí ẩn mới: gluon chỉ kết dính trong nội vùng hạt nhân nguyên tử mà thôi, còn xa hơn thì gluon không còn tác dụng.       Mỗi proton hay neutron trong nguyên tử chứa ba hạt quark kết dính   với nhau bởi hạt gluon. Ngoài ra, nhiều cặp quark-phản quark luôn sinh   và hủy song song với hạt gluon cũng hiện ra rồi biến mất tạo nên một loại   bọt lượng tử làm biến đổi cấu hình hay nói cách khác biến dổi bức tranh   trong proton và neutron. Bản nhạc hỗn độn đó làm nảy sinh nhiều vấn đề   cơ bản ví như quark và gluon đã tạo nên khối lượng và spin của proton  và neutron như thế nào, bằng cách nào gluon kết dính được các quark   và giam giữ chúng trong proton và neutron. Các nhà vật lý đã phát triển lý   thuyết và đưa ra những cấu hình bất thường của quark và gluon.       Vì sao một số hạt có màu sắc?    Trong những năm 1970, các nhà vật lý đã tìm ra QCD (Quantum Chromo-Dynamics tức là Sắc động lực học Lượng tử) để mô tả tương tác mạnh. Trong QED (Quantum Electrodynamics tức Điện động lực học lượng) chúng ta có điện tích còn trong QCD, chúng ta có sắc tích (color), như vậy màu sắc trong QCD đóng vai trò như điện tích trong QED.    Theo QCD, quark và gluon đều có sắc tích. Song khác với photon trong QED gluon có thể tự tương tác với nhau.    Các nhà vật lý cho rằng vì gluon có thể tự tương tác với nhau cho nên lực mạnh trở nên yếu lúc khoảng cách nhỏ. Gluon có thể sinh cặp quark-phản quark và cũng có thể sinh cặp gluon và sau đó lại biến thành một gluon. Thăng giáng quark-phản quark làm cho lực tương tác giữa hai sắc tích mạnh lên, còn thăng giáng gluon-gluon làm cho lực tương tác ấy yếu đi.    QCD hiện nay là một lý thuyết trụ cột của SM (Standard Model – Mô hình chuẩn). Song nhiều khía cạnh của QCD còn chưa được sáng tỏ.    Ví dụ, ba quark trong proton mang ba màu đỏ, xanh lục và xanh, nhưng proton lại không có màu. Quark và phản quark trong hạt pion có màu trong lúc pion không có màu. Hiện tượng không có màu tương tự như trong QED các hạt không có điện tích.    QCD còn phải giải thích vì sao proton có thể thắng được sức đẩy điện từ giữa các proton để kết hợp với nhau trong nguyên tử. Việc suy diễn lý thuyết hạt nhân từ lý thuyết QCD cũng còn nhiều thách thức, vì rằng các phương trình QCD cực kỳ khó giải ở khoảng cách lớn lúc mà lực tương tác trở nên rất lớn.    Chúng ta thiếu chứng minh toán học vì sao quark và gluon bị giam giữ trong những hadron không có màu.Vấn đề giam giữ là một bài toán trị giá một triệu USD (đó là một trong sáu bài toán do viện Toán Clay đề ra và treo giải một triệu USD cho người đưa ra câu trả lời).  Vì sao gluon không nhân lên mãi?    Một hệ quả quan trọng của QCD là số gluon và quark trong một proton thay đổi rất đáng kể. Ngoài các quark ra, các gluon với số lượng luôn thay đổi, luôn chuyển động như những con đom đóm sáng lung linh thoắt hiện thoắt mất và nhiều cặp quark-phản quark cũng hình thành rồi tan biến.     Đó là một “bọt lượng tử” của những hạt sinh và hủy.    Các nhà vật lý cho rằng khi proton và neutron đạt vận tốc cực lớn thì gluon trong proton phân thành những cặp gluon với năng lượng nhỏ hơn. Những gluon còn lại tiếp tục phân thành những gluon cháu với năng lượng nhỏ hơn nữa. Song quá trình nhân này không tiếp tục mãi.      Trạng thái bão hòa: quá trình hình thành trạng thái bão hòa xảy ra   từ trái sang phải trên hình vẽ, khi proton và neutron được gia tốc đến   gần tốc độ ánh sáng thì gluon tự nhân lên. Gluon tách thành cặp   gluon con với năng lượng nhỏ hơn. Gluon con lại tách thành gluon cháu   với năng lượng nhỏ hơn nữa. Cuối cùng proton đạt đến giới hạn chứa   cực đại (maximum occupancy) – trạng thái này gọi là trạng thái ngưng tụ   màu thủy tinh (color glass condensate). Người ta hy vọng đạt trạng thái   này trong những máy gia tốc nhưng hiện nay thì chưa làm được.     Nếu gluon tiếp tục sinh sản như vậy thì proton phải vỡ tan (collapse) và không ổn định.  Song vật chất là ổn định vậy chắc có một cơ chế nào đó hãm phanh quá trình nhân đó (runaway cascade). Dường như thiên nhiên tạo ra cơ chế hãm phanh đó khi các gluon quá nhiều trong proton. Những gluon với năng lượng nhỏ hơn lại tái hợp thành những gluon năng lượng lớn hơn. Khi sự tăng trưởng gluon chậm lại gluon đạt đến trạng thái dừng không phân chia và cũng không tái hợp nữa: đó là trạng thái gluon bão hòa. Trạng thái này được gọi là ngưng tụ màu thủy tinh (color glass condensate).     Danh từ thủy tinh (glass) được vay mượn từ vật lý các vật liệu hành xử như chất rắn trong một thời gian ngắn nhưng lại hành xử như chất lỏng trong một thời gian dài. Từ ngưng tụ chỉ rằng mật độ gluon rất lớn.    Chúng ta chưa hiểu biết nhiều về trạng thái này lắm. Cần tiến hành những thí nghiệm DIS năng lượng cao hơn để phát hiện trạng thái cực đoan này của gluon. Có phải chăng trường lực hạn chế số gluon trong ngưng tụ màu thủy tinh cũng chính là trường giam giữ các proton?    Nếu quan sát trường đó từ nhiều bối cảnh khác nhau ta có thể có thêm ánh sáng để hiểu vấn đề gluon đã tạo ra nó như thế nào.  Spin của proton từ đâu đến?    Một bí ẩn tiếp theo là quark và gluon đã đóng góp vào spin của proton như thế nào?  Thực nghiệm chứng minh rằng quark chỉ đóng góp 30% vào spin của proton.    Vậy phần spin còn lại do ở đâu?    Bức tranh nhiều vật của biển gluon và quark gợi ý ngay rằng gluon có đóng góp vào spin của proton. Các thí nghiệm phá vỡ (smashing) proton phân cực với spin cùng chiều hoặc ngược chiều chuyển động thành những proton phân cực khác chứng tỏ rằng spin của gluon đóng góp 20% cho spin proron. Như vậy vẫn thiếu 50% spin.    Chuyển động các thiên thể gợi ý cách giải quyết: moment góc của thái dương hệ gồm chuyển động quay quanh trục của các hành tinh + chuyển động quỹ đạo quanh Mặt trời.    Quark, phản quark và gluon cũng có chuyển động quỹ đạo tương tự.  Nhiều nhà vật lý nghĩ rằng các đóng góp bổ sung vào spin của proton là: moment quỹ đạo của quark, spin và moment của gluon.  Các trạng thái lạ của vật chất    Lý thuyết QCD gợi ý rằng có tồn tại những trạng thái lạ (exotic) không màu như là “glue-ball” (chỉ gồm bằng gluon mà thôi), “phân tử” gồm hai cặp quark-phản quark và trạng thái gồm quark-phản quark-gluon. Thực nghiệm đã phát hiện tetraquark.      Quark và gluon có thể kết hợp với nhau thành những cấu hình   bất thường: bên trái là hạt bóng keo (glueball) chỉ có gluon,   chính giữa là hạt lai quark-phản quark-gluon, bên phải là   hạt tứ quark (tetraquark).     Các nhà vật lý cũng tìm ra một trạng thái cực đoan là plasma quark-gluon. Trạng thái này phát sinh lúc xảy ra va chạm của hai hạt nhân ở tốc độ gần tốc độ ánh sáng. Các nhà vật lý cho rằng các proton và neutron với tốc độ cao trong hai hạt nhân va chạm nhau thì ngưng tụ màu thủy tinh (color glass condensate) bị phá vỡ do đó kết thúc sự giam cầm quark và gluon và giải thoát năng lượng của ngưng tụ (condensate) và tạo nên một nhóm quark và gluon. Plasma này là loại plasma nóng nhất được tạo trên Trái đất với nhiệt độ cao hơn bốn tỷ tỷ độ C. Điều đáng ngạc nhiên là vật liệu này là chất lỏng chảy mà không có trở lực – ít nhất 20 lần nhỏ hơn trở lực của nước.    Plasma quark-gluon có sự tương tự đặc biệt với Vũ trụ lúc nguyên thủy.      Mô hình Vũ trụ nguyên thủy. Khi vũ trụ còn sơ khai quá nóng để proton,   neutron có thể hình thành. Quark và gluon bay quanh hỗn độn trong   một plasma quark-gluon. Khi nghiên cứu quá trình lạnh dần của plasma   này các nhà vật lý có thể hiểu được hành vi của quark và gluon và   các bước tiến hóa của vũ trụ lúc nguyên thủy.      Các nhà vật lý đã tạo nên plasma đó ở Phòng Thí nghiệm Quốc gia Brookhaven (Brookhaven National Laboratory’s Relativistic Heavy Ion Collider) và ở LHC tại CERN, họ đã quan sát được chất lỏng gần như lý tưởng (perfect fluid). Nhờ quan sát plasma này người ta có thể hiểu được sự tiến hóa của vũ trụ trong giai đoạn nguyên thủy.     Khi tạo được sự phá hủy của proton và neutron thành plasma theo con đường đó các nhà vật lý có thể nghiên cứu quá trình ngược lại quá trình giam giữ với hy vọng tìm ra các bí ẩn bằng cách nào quark và gluon đã kết dính với nhau.  Những nghiên cứu tiếp theo    Một cách lý tưởng mà nói các nhà vật lý muốn ánh xạ đầy đủ được vị trí, chuyển động và spin của gluon và quark trong proton và neutron. Một ánh xạ đầy đủ như vậy sẽ giúp họ tính được sự đóng góp của chúng vào khối lượng và spin của hạt proton và neutron và làm sáng tỏ các hoạt động của quark và gluon trong việc tạo thành proton và neutron.    Để có được những bức tranh đó cần một kính hiển vi femtoscope quark-gluon (một kính hiển vi [microscope] – có thể nhìn thấy vũ trụ ở kích thước nhỏ bằng phần nghìn bán kính của proton [as small as 1,000th the radius of a proton]).     Tại Mỹ, phòng thí nghiệm Jefferson và Brookhaven đang chuẩn bị xây dựng kính hiển vi femtoscope để nghiên cứu va chạm electron với proton phân cực và với hạt nhân chì. Ở đây các hạt đều được gia tốc đến gần tốc độ ánh sáng.    Máy va chạm EIC (Electron-Ion Collider – Máy Va chạm Electron-Ion) sẽ là công cụ lý tưởng thực hiện dự án kính hiển vi femtoscope nhằm quan sát quá trình kết dính các quark trong cấu trúc của proton, neutron và hạt nhân.    Nếu chúng ta phá vỡ proton thì chúng ta đã tiêu hủy chuyển động quỹ đạo của gluon vậy không quan sát được chuyển động này. Cho nên máy EIC là cần thiết để nghiên cứu hiện tượng kết dính quark của gluon mà không phá vỡ proton.    Như vậy chúng ta đang trên quá trình nghiên cứu các hạt trên bình diện hành xử tập thể (collective), điều này tương tự như quá trình nghiên cứu hành xử tập thể trong siêu dẫn của vật lý các môi trường đông đặc – nhà vật lý Venugopalan đã phát biểu ấn tượng như vậy. Chúng ta ở đây nghiên cứu vật lý vật chất đông đặc bằng lý thuyết tương tác mạnh QCD.    Hiện nay chúng ta còn chưa lấp được các lỗ trống trong kiến thức về vấn đề gluon đã kết dính vật chất như thế nào.    Trong vòng 40 năm, người ta hy vọng hiểu được các bí ẩn ở mức cơ bản nhất: vật chất đã được tạo nên như thế nào.             CC.biên dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Góc nhìn chi tiết mới nhất về rìa hệ Mặt trời      Tàu thám hiểm Voyager 2 gửi về Trái đất những thông tin đầu tiên từ bên ngoài hệ Mặt trời. Tàu thám hiểm NASA là con tàu thứ hai vượt được ra khỏi hệ Mặt trời và đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị nhất về bí ẩn của ranh giới nhật quyển.      Minh họa vị trí tương đối của hai tàu Voyager 1 and Voyager 2 so với nhật quyển, hay là bong bóng hạt và từ trường tạo ra bởi Mặt trời. Cả hai tàu Voyager đều giờ ở ngoài nhật quyển, ở một khu vực gọi là không gian liên sao, hay không gian giữa các ngôi sao. Nguồn: NASA/JPL-Caltech.  Cách Trái đất mười hai tỷ dặm tồn tại một ranh giới đánh dấu giới hạn của không gian hệ Mặt trời và bắt đầu của không gian liên sao (interstellar space) – không gian nằm giữa các ngôi sao nơi chỉ có các đám khí gas và các hạt rắn cực nhỏ. Voyager 2 – tàu thám hiểm không gian có sứ mệnh liên tục dài nhất trong lịch sử (phóng đi tháng 8/1977) – sau hơn 40 năm đã vượt qua ranh giới đó và đã gửi về Trái đất một tín hiệu mờ nhạt từ phía bên kia, và vừa được giải mã bởi các nhà khoa học tại NASA.  Tàu thám hiểm Voyager 2 là tàu thám hiểm thứ hai trong lịch sử từng vượt ra ngoài nhật quyển (heliosphere), bong bóng vũ trụ bao quanh hệ Mặt trời cấu tạo bởi các dòng plasma phát ra từ Mặt trời (gió Mặt trời). Mặc dù khởi hành trước một tháng so với người anh em song sinh của mình, Voyager 1 (phóng đi tháng 9/1977), phải đến 6 năm sau Voyager 1 thì Voyager 2 mới ra khỏi nhật quyển để đi vào không gian liên sao. Đó là sau khi con tàu này đi theo con đường đi qua 4 hành tinh trong hệ Mặt trời và cung cấp những ảnh chụp cận cảnh duy nhất của Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh.    Hình ảnh sao Thổ do tàu vũ trụ Voyager gửi về.  Và bây giờ Voyager 2 đã vừa gửi về Trái đất một góc nhìn chi tiết nhất về rìa hệ Mặt trời của chúng ta – vượt qua kỳ vọng của các nhà khoa học NASA vốn ngay từ đầu không nghĩ rằng tàu vẫn còn hoạt động khi đạt đến mốc này.  “Chúng ta không biết được bong bóng vũ trụ này lớn đến mức nào,” theo Giáo sư Ed Stone (Viện Công nghệ California), người từng tham gia chuẩn bị cho sứ mệnh Voyager 2 năm 1977, trả lời The Guardian: “và chắc chắn chúng ta không biết được rằng tàu vũ trụ có thể duy trì hoạt động đủ lâu để chạm tới mép bong bóng vũ trụ và đi vào không gian liên sao hay không.”  Nhật quyển có thể được hiểu như là một vùng thời tiết vũ trụ: một không gian có ranh giới riêng biệt nơi các hạt tích điện, gọi là plasma phát ra từ Mặt trời chuyển động với tốc độ siêu âm. Dòng gió Mặt trời này đối đầu với dòng gió lạnh hơn trong không gian liên sao thổi từ các siêu tân tinh (supernova) là các ngôi sao đã nổ tung từ hàng triệu năm trước. Người ta đã từng nghĩ rằng gió Mặt trời yếu dần đi theo khoảng cách với Mặt trời, nhưng tàu Voyager 1 xác nhận sự tồn tại của một ranh giới, được xác định bởi sự giảm nhiệt độ đột ngột và sự gia tăng mật độ của các hạt plasma.  Hành trình của Voyager 2 lần này đã đưa ra những hiểu biết mới về bản chất của giới hạn nhật quyển vì một thiết bị quan trọng được thiết kế để đo trực tiếp các tính chất của plasma trên Voyager 1 đã bị hỏng vào năm 1980.    Mô hình của tàu vũ trụ Voyager. Ảnh: Nasa/AFP via Getty Images.  Các phép đo mới, được công bố trong 5 bài báo khác nhau trên tạp chí Nature Astronomy, cho thấy rằng Voyager 2 gặp phải biên giới của nhật quyển sắc nét hơn, dù mỏng hơn nhiều so với trải nghiệm của Voyager 1. Có thể là do Voyager 1 vượt qua đường biên hệ Mặt trời trùng với thời điểm cực đại Mặt trời (hoạt động mạnh của gió Mặt trời – trong khi hiện tại lại đang ở mức thấp), hoặc bản thân tàu có thể đã đi trên một quỹ đạo ít vuông góc hơn – có nghĩa là nó đã dành nhiều thời gian hơn di chuyển trong bờ rìa của biên giới.  Cái nhìn mới về hình dạng của nhật quyển  Điểm dữ liệu thứ hai cũng cung cấp một số cái nhìn mới về hình dạng của nhật quyển, trong đó phát hiện được rằng nhật quyển có một cạnh tròn giống như đầu một viên đạn.  “Điều này có nghĩa là nhật quyển đối xứng ít nhất là tại hai điểm mà 2 tàu Voyager đã đi qua.” theo Bill Kurth, một nhà khoa học từ Đại học Iowa và là đồng tác giả của một trong các nghiên cứu nói trên, Ông nói thêm: “Điều này nói rằng hai điểm này trên bề mặt có gần như cùng một khoảng cách.”  Voyager 2 cũng cung cấp thêm manh mối về độ dày của nhật bao (heliosheath), vùng phía ngoài của nhật quyển và điểm mà gió Mặt trời đối địch với các dòng gió từ không gian liên sao, giống như những con sóng hình cung tạo ra khi một con tàu di chuyển trên biển.  Dữ liệu cũng bổ sung thông tin cho một cuộc tranh luận về hình dạng tổng thể của nhật quyển, mà một số mô hình dự đoán nó phải có hình cầu, trong khi một số khác giống như một cái ống gió có một cái đuôi dài thổi ra phía sau trong khi hệ Mặt trời di chuyển với tốc độ cao trong thiên hà. Với một hình thức phức tạp thì hình dạng sẽ phụ thuộc vào cường độ tương đối của từ trường bên trong và bên ngoài nhật quyển, và các phép đo mới nhất gợi ý về dạng hình vòm cầu hơn.  Tuy nhiên, cũng có giới hạn về mức độ kết luận có thể thu được từ hai điểm dữ liệu nói trên.  “Đây giống như một kiểu nhìn một con voi bằng một cái kính hiển vi.” Kurth nói. “Hai người đi soi con voi bằng kính hiển vi, và họ đưa ra hai kết quả đo khác nhau. Bạn không biết gì về những gì xảy ra ở giữa chúng.”  Từ bên ngoài nhật quyển, tín hiệu từ Voyager 2 vẫn truyền về đều đặn, dù phải mất hơn 16 giờ để tín hiệu này đến được với Trái đất. Máy phát sóng công suất 22,4 watt của tàu chỉ tương đương với đèn tủ lạnh, qua khoảng cách trong không gian đến Trái đất đã bị yếu đi hơn một tỷ tỷ lần và chỉ có thể được thu lại bởi ăng ten chảo lớn nhất của NASA, có đến 70 mét đường kính.  Năng lượng chạy hai tàu thăm dò Voyager, cung cấp bởi máy phát lõi plutoni phân rã đều đặn, được dự kiến ​​sẽ giảm xuống dưới mức thấp vào giữa những năm 2020. Nhưng kể cả khi không còn năng lượng, chúng sẽ tiếp tục đường bay của mình rất lâu sau đó nữa trong vũ trụ. “Hai tàu Voyager sẽ còn sống lâu hơn cả Trái đất,” ông Kurth nói. “Chúng sẽ tiếp tục bay đường bay của mình trong dải Ngân hà thêm 5 tỷ năm hoặc lâu hơn. Và xác suất để chúng va phải bất cứ thứ gì trong không gian trống rỗng đó gần như bằng không.”  Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Góc nhìn khác về nhà vật lý xuất chúng      Freeman Dyson, người bạn của Feynman, chia sẻ, ông may mắn được chứng kiến khía cạnh tốt đẹp của con người Feynman khi bước ra từ quãng thời gian địa ngục khi người vợ đầu qua đời và nỗi giằng xé khi tham gia chế tạo bom nguyên tử trong dự án Mahattan. Chín bức thư chủ yếu do Freeman viết trong quãng thời gian ở Đại học Cornell cho ta một đánh giá chân thực về nhà vật lý vĩ đại dưới con mắt của chàng trai trẻ 25 tuổi và một góc nhìn độc đáo của hai nhà vật lý: năng lượng luôn sục sôi của Feynman, sự khiêm tốn và ngưỡng mộ sâu sắc của Dyson đối với người bạn – người đồng nghiệp xuất chúng.      Richard Feynman (bên phải) chơi trống bongo.  Vào năm 1999, tờ Physics World yêu cầu cộng đồng khoa học xếp hạng những nhà vật lý vĩ đại nhất trong lịch sử. Nhà vật lý Feynman xếp thứ 7, ngay sau Galieo. Richard Feynman là người có mối quan tâm rộng rãi trên nhiều lĩnh vực khoa học và một trí tuệ ưu việt. Ông đoạt giải Nobel cho lý thuyết về Điện động học lượng tử vào năm 1965 nhưng cộng đồng khoa học cho rằng, ông có thể được trao thêm ba giải Nobel khác.  Nhưng ảnh hưởng của Feynman không chỉ đến từ thành tựu khoa học, mà còn đến từ cuộc sống tinh thần đầy phong phú, sôi động và cả tính cách thất thường của ông. Đến hiệu sách của Caltech, phòng thí nghiệm ông từng làm việc, có thể cảm nhận được điều đó, ngay cả khi ông đã ra đi hàng thập kỉ nay: có hẳn một khu vực riêng về Richard Feynman và dường như mọi thứ của ông đều có thể xuất bản kể cả những bức phác họa bâng quơ, những bài giảng thất lạc và những bản chơi trống bongo. Sinh thời, Feynman luôn là trung tâm của mọi bữa tiệc. Nhưng dẫu vậy, dường như rất ít người hiểu được con người thật của Feynman. Nhà vật lý Murray Gell-Mann viết rằng Feynman “đã bao quanh mình một đám mây huyền thoại, anh đã dành vô khối thời gian và năng lượng để thêu dệt những giai thoại về mình”.  Ngày 11/5 vừa qua, Caltech đã tổ chức lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Feynman, trong đó Freeman Dyson, người bạn của ông cũng có mặt và phát biểu. Freeman chia sẻ rằng, ông may mắn được chứng kiến khía cạnh tốt đẹp của con người Feynman khi bước ra từ quãng thời gian địa ngục sau khi người vợ đầu tiên qua đời và nỗi giằng xé khi tham gia chế tạo bom nguyên tử trong dự án Mahattan. Chín bức thư dưới đây, chủ yếu do Freeman viết cho gia đình và người thân trong quãng thời gian ở Đại học Cornell, cho ta thấy một đánh giá chân thực và trong sáng nhất về nhà vật lý vĩ đại dưới con mắt của chàng trai trẻ 25 tuổi. Mà bản thân Freeman cũng tin vào điều đó: “Những bức thư là nhân chứng giá trị của lịch sử bởi không có sự hoài niệm khi viết nó”.  Suốt cuộc đời tôi chỉ có 3 mối quan tâm chính, với thứ tự ưu tiên rõ ràng: Gia đình là trên hết, rồi đến bạn bè và cuối cùng mới là công việc.”  Đó là điều mà nhà vật lý lý thuyết Freeman Dyson viết trong lời giới thiệu cho tuyển tập các bức thư “Maker of Patterns” vừa mới được xuất bản của ông. Kéo dài trong khoảng bốn thập kỷ, các lá thư giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về cuộc đời của người đã chứng khiến những thay đổi lớn lao của cả lịch sử thế giới và vật lý.  Dưới đây là một số đoạn trích trong chín bức thư của Dyson, phản ánh mối quan hệ của ông với nhà vật lý Richard Feynman. Dyson và Feynman có một mối quan hệ đặc biệt cả trong công việc và đời tư: Dyson giúp giải thích và thu hút sự chú ý của công chúng đến công trình của Feynman, mà sau đó mang lại cho ông giải Nobel Vật lý. Hai nhà khoa học cũng là hai người bạn cùng sát cánh trên các chuyến đi và trong công việc của họ.   Đặt cạnh nhau, những bức thư này cho chúng ta thấy một góc nhìn độc đáo của hai nhà vật lý: năng lượng luôn sục sôi của Feynman, sự khiêm tốn và ngưỡng mộ sâu sắc của Dyson đối với người bạn- người đồng nghiệp xuất chúng. Chúng ta cũng thấy họ phấn khích như thế nào trong vai trò tìm ra một số phát hiện có tính nền tảng của vật lý lý thuyết hiện đại.  19 tháng 11 năm 1947  Tôi chỉ muốn viết một bức thư ngắn trước khi chúng tôi đi Rochester. Mỗi thứ tư hằng tuần chúng tôi lại có hội thảo để nghe một vài nghiên cứu, và thỉnh thoảng còn có các nhà khoa học của Rochester University tham gia. Tôi đi cùng với Feynman, và điều đó chắc hẳn sẽ rất tuyệt vời nếu chúng tôi sống sót. Tôi dần phát triển một sự ngưỡng mộ đối với Feynman, nhà vật lý học trẻ tuổi nhưng sáng giá nhất ở đây và là nhà Vật lý người gốc Mỹ hiếm hoi mà tôi có cơ hội tiếp xúc. Feynman đã phát triển một phiên bản lý thuyết lượng tử của riêng mình, công trình được đánh giá cao và thậm chí còn hữu ích hơn phiên bản chính thống trong một số vấn đề. Feynman luôn có những ý tưởng mới, và hầu hết trong số đó ấn tượng và siêu phàm hơn là có ích. Đóng góp có ý nghĩa nhất của anh cho vật lý là một tinh thần bền vững: mỗi khi Feynman xông vào phòng với những ý tưởng táo bạo và rồi thể hiện nó với những hiệu ứng âm thanh sống động và tay chân khua khoắng: cuộc sống ít nhất là không vô vị.  8 tháng 3 năm 1948  …  Hôm qua tôi đã có một buổi đi dạo trong nắng ấm mùa xuân với Trudy Eyges và Richard Feynman. Feynman là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ, một sự kết hợp tuyệt vời của thiên tài và chú hề: với năng lượng lúc nào cũng tràn trề của mình, Feynman có thể làm cả các nhà vật lý và con cái của họ cảm thấy thích thú. Tuy nhiên, đó không phải là những điều đáng chú ý duy nhất ở Feynman và tôi nghĩ có thể bạn sẽ thích thú với câu chuyện mà tôi sắp kể. Khi Feynman đến Los Alamos, anh đã gặp và đem lòng yêu thương một cô gái xinh đẹp thông minh nhưng lại bị lao và lưu lạc đến New Mexico với hy vọng ngăn chặn căn bệnh quái ác. Khi gặp Feynman, bệnh tình của cô đã nặng đến mức bác sĩ nói cô chỉ sống được một năm nữa, nhưng Feynman vẫn quyết định cưới cô ấy và họ kết hôn.  Trong một năm rưỡi bên nhau, Feynman vừa làm việc hết mình cho dự án khoa học, vừa chăm sóc và làm cô cảm thấy vui vẻ hạnh phúc. Cô ấy qua đời ngay trước khi chiến tranh kết thúc.  Tôi đã nhầm khi viết rằng Feynman gặp vợ anh – Arlene – ở New Mexico. Feynman kết hôn ở một tòa thị chính ở Staten Island rồi đưa cô đi theo đến New Mexico. Câu chuyện được kể lại một cách đầy xúc động bởi Feynman trong cuốn sách “Bạn quan tâm gì đến việc những người khác nghĩ gì?” (1988), tựa đề là một câu nói của Arlene.    Richard Feynman và người vợ Arlene trên giường bệnh, 1945.  Như Feynman nói, bất cứ ai đã từng có một cuộc hôn nhân hạnh phúc khó mà có thể độc thân được lâu, và vì vậy hôm qua chúng tôi đã nói chuyện về vấn đề mới: lần này lại là một cô gái ở New Mexico mà Feynman đang say đắm. Vấn đề lần này không phải là bệnh lao, mà là cô gái này là người Công giáo. Bạn có thể hình dung tất cả những rắc rối nảy sinh, bởi vì nếu có một điều Feynman không thể làm để cứu rỗi linh hồn mình, thì đó chính là trở thành một người Công giáo. Chúng tôi nói chuyện rất lâu cho đến khi tắt nắng và rồi đến tận tối. Cuối cùng, dù Feynman chưa thể giải quyết các vấn đề nhưng ít nhất cũng cảm thấy nhẹ lòng hơn. Tôi nghĩ Feynman sẽ kết hôn với cô gái thôi, nhưng tôi là ai mà có thể đưa lời khuyên về một chủ đề như vậy chứ.  15 tháng 3 năm 1948  …  Công việc của tôi đã có một bước chuyển biến mới – kết quả từ chuyến thăm của Weisskopf tuần trước. Weisskopf nói về lý thuyết lượng tử mới của Schwinger, dù là Schwinger chưa hoàn thành nó trong buổi nói chuyện ở New York. Lý thuyết mới này quả thực là một công trình xuất sắc, do đó lúc này tôi đang cố gắng nghiên cứu và hiểu nó một cách kỹ lưỡng. Điều này sẽ giúp tôi vào một vị trí vững chắc với khả năng giải quyết một loạt các vấn đề quan trọng trong vật lý với một lý thuyết đúng đắn trong khi những người khác vẫn đang mò mẫm. Một điều rất thú vị nữa cũng xảy ra gần đây: anh bạn Richard Feynman của chúng ta, người luôn làm việc độc lập và có một phiên bản lý thuyết lượng tử của riêng mình, đã nghiên cứu cùng một vấn đề như Schwinger từ một hướng khác, và đến nay đã phát triển một lý thuyết gần như tương đương, đạt được rất nhiều ý tưởng tương tự một cách độc lập…….  25 tháng 6 năm 1948, Santa Fe, New Mexico  Feynman ban đầu lên kế hoạch đưa tôi đi chu du miền Tây với một phong cách thanh nhàn, dừng lại ngắm nhìn cảnh vật bên đường và không đi quá nhanh. Tuy nhiên, tôi không quá kỳ vọng là anh ấy trung thành với kế hoạch đó, vì người yêu của anh đang đợi ở Albuquerque. Rồi thì chúng tôi đi 1800 dặm (2900 km) từ Cleveland đến Albuquerque trong ba ngày rưỡi, và đấy là còn có một số khó khăn trên đường; Feynman lái xe suốt quãng đường, và anh lái khá tốt, không bao giờ quá nguy hiểm nhưng vẫn giữ tốc độ trung bình 65 dặm/giờ. Đó là một chuyến đi thú vị, tôi chỉ hơi hối tiếc vì tôi không khám phá được nhiều từ Feynman hơn là tôi đã có thể….  Trên đường đi Feynman nói rất nhiều về người yêu cũng như người vợ Arlene, người đã mất ở Albuquerque vào năm 1945, và về hôn nhân nói chung. Tôi đi đến kết luận là Feynman là một người đặc biệt cân bằng, một người có ý kiến riêng của mình chứ không phải mượn từ người khác. Anh ấy rất giỏi làm quen với mọi người, khi chúng tôi đến miền Tây, Feynman đã thay đổi giọng nói và biểu cảm trong vô thức để phù hợp với môi trường xung quanh, cho đến khi anh ấy có thể nói “I don’t know noth’n” với ngữ điệu y hệt những người bản xứ.  Khi Feynman đến Albuquerque, cô gái anh yêu đã quyết định chia tay để đến với người khác. Anh ở lại đó đúng năm ngày để chắc chắn rồi rời đi và dành phần còn lại của mùa hè tự thư giãn và cưỡi ngựa ở New Mexico và Nevada.  14 tháng 9 năm 1948, 17 Edwards Place, Princeton…  Vào ngày thứ ba của cuộc hành trình, một điều đáng chú ý đã xảy ra. Sau bốn mươi tám giờ trên xe buýt, tôi bắt đầu suy nghĩ rất nhiều về vật lý, đặc biệt là về hai lý thuyết bức xạ (radiation theories) được đưa ra bởi Schwinger và Feynman. Dần dần suy nghĩ của tôi trở nên mạch lạc hơn, và trước khi biết mình đang ở đâu, tôi đã giải quyết được vấn đề ám ảnh tôi cả năm nay: chứng minh sự tương đương của hai lý thuyết này. Hơn nữa, vì mỗi lý thuyết đều có những điểm vượt trội riêng của mình, sự tương đương có thể kết hợp ưu điểm của cả hai. Chứng minh này không quá khó và cũng không cần sự thông minh đặc biệt, nhưng không thể phủ nhận nó thật sự quan trọng nếu chưa có ai làm. Tôi trở nên khá phấn khích và khi đến Chicago, tôi gửi ngay một lá thư cho Bethe để thông báo về thành tích đó. Tôi chưa có thời gian để viết lại một cách bài bản, nhưng tôi dự định sẽ công bố bằng một bài báo chính thức càng sớm càng tốt…  May mắn lớn đối với tôi chính là việc tôi là người duy nhất đã trải qua sáu tháng lắng nghe Feynman trình bày những ý tưởng mới tại Cornell và sau đó dành sáu tuần nghe Schwinger giải thích công trình của mình ở Ann Arbor. Cả hai đều giải thích cùng các thí nghiệm: đo bức xạ tương tác với các nguyên tử và electron. Nhưng hai cách giải thích các thí nghiệm có vẻ hoàn toàn khác nhau, Feynman vẽ những hình minh họa và Schwinger viết ra các phương trình phức tạp. Những chớp sáng trên xe buýt Greyhound đã giúp tôi kết nối giữa hai lời giải thích, và kết quả là tôi đã có một lời giải thích đơn giản hơn, kết hợp các ưu điểm của Schwinger và Feynman.  30 tháng 9 năm 1948  …  Một điều mà tôi phải luôn luôn ghi nhớ để không trở nên quá tự mãn về bản thân chính là việc tôi đã cực kì may mắn với công trình vừa hoàn thành này. Công trình bao gồm sự thống nhất của lý thuyết bức xạ, kết hợp các ưu điểm của hai lý thuyết được đưa ra bởi Schwinger và Feynman. Tôi là người trẻ tuổi duy nhất trên thế giới đã làm việc với lý thuyết Schwinger ngay từ đầu và cũng đã có một mối liên hệ bạn bè lâu dài với Feynman tại Cornell, vì vậy tôi đã tận dụng cơ hội ngàn năm có một này để đưa cả hai lý thuyết lại với nhau.  1 tháng 11 năm 1948, Khách sạn Avery, Boston  Sau lá thư cuối cùng gửi cho bạn, tôi quyết định rằng tôi cần một kỳ nghỉ cuối tuần dài rời khỏi Princeton. Tôi thuyết phục Cécile Morette đi cùng tôi đến gặp Feynman ở Ithaca. Đây quả thực là một bước đi táo bạo, nhưng nó không thể thành công hơn khi chúng tôi đã có một kì nghỉ cuối tuần đầy hạnh phúc.  Cécile Morette là người sáng giá nhất trong số những nhà vật lý trẻ tuổi đến viện vào cùng thời điểm với tôi. Cô là người duy nhất nhanh chóng hiểu những ý tưởng mới của Feynman. Chúng tôi trở thành bạn ngay lập tức. Việc cô ấy là phụ nữ hoàn toàn không liên quan gì đến tình bạn của chúng tôi. Cô ấy là một thủ lĩnh bẩm sinh, cô hiểu về toán học hiện đại hơn cả tôi, và cô ấy có một khiếu hài hước tuyệt vời.  Chúng tôi dành ngày hôm sau để thảo luận về vật lý. Feynman đã đưa ra một bài trình bày tuyệt vời về lý thuyết của mình, làm cho Cécile cười liên tục và làm cho bài nói của tôi chỉ còn là một cái bóng nhợt nhạt. Anh nói rằng anh đã đưa bài báo của tôi cho một sinh viên cao học đọc, và hỏi lại rằng chính anh có nên đọc nó không. Chàng sinh viên nói không, và Feynman không tốn một chút xíu thời gian nào vào nó và tiếp tục theo đuổi các ý tưởng riêng của mình. Feynman và tôi thực sự hiểu nhau: tôi biết rằng anh ấy là người duy nhất trên thế giới không học hỏi thêm được gì từ những điều tôi viết, và anh ấy không ngại nói với tôi như vậy. Chiều hôm đó, Feynman đã đưa ra nhiều ý tưởng xuất sắc với tốc độ khủng khiếp mà tôi chưa từng thấy trước đó cũng như về sau. Vào buổi tối, tôi đã đề cập đến hai vấn đề mà tính hữu hạn của lý thuyết giải thích chúng vẫn là điều cần chứng minh. Hai vấn đề này đều rất nổi tiếng và khiến các nhà vật lý e ngại, nhiều nghiên cứu và các công bố dài đến hơn năm mươi trang được dành để thảo luận chúng mà vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng. Khi nghe tôi đề cập đến điều này, Feynman chỉ nói “chúng ta sẽ xem thế nào”, và bắt tay vào giải quyết, chỉ hai tiếng sau, ngay trước mắt chúng tôi, Feynman đã chứng minh được tính hữu hạn và hợp lý cho cả hai vấn đề. Đó là một quá trình tính toán với tốc độ chớp nhoáng kinh ngạc nhất tôi từng chứng kiến, và kết quả chứng minh, ngoại trừ vài khó khăn phát sinh, thì lý thuyết hoàn toàn nhất quán. Hai vấn đề đó là sự tán xạ ánh sáng bởi điện trường, và sự tán xạ ánh sáng bởi ánh sáng.  28 tháng 2 năm 1949, Chicago  Vào một ngày thứ năm, Feynman đến Princeton và anh ở lại cho đến khi tôi rời đi vào ngày Chủ nhật. Anh ấy thuyết trình tám tiếng trong ba ngày, chưa kể còn thêm những buổi nói chuyện riêng rất dài nữa. Đó quả là một nỗ lực phi thường, và tôi tin rằng tất cả mọi người trong viện đều hiểu Feynman đang làm gì. Ít nhất thì tôi cũng đã học được rất nhiều. Feynman như thường lệ luôn trong trạng thái phấn kích và vô cùng nhiệt tình, dùng tay để minh họa rất nhiều và khiến mọi người đều bật cười. Ngay cả Oppenheimer cũng bắt đầu nắm được tinh thần và nói những điều bớt hoài nghi hơn thường lệ. Feynman rõ ràng có hơi lo lắng khi thuyết trình, và nếu được cho phép có lẽ anh sẽ nói vô thời hạn mất: chắc hẳn anh đang chịu cảm giác “bị đóng chai” khi phải kìm nén trong khi có quá nhiều ý tưởng cũng giống như tôi vào mùa thu năm ngoái. Vấn đề là Feynman không bao giờ công bố những gì anh làm, và tôi đôi khi cảm thấy có lỗi khi đã “đi trước” Feynman với chính ý tưởng của anh. Tuy nhiên, cuối cùng thì anh ấy cũng chịu viết hai bài báo lớn để cho thế giới thấy sự thiên tài của Feynman. Rất có thể tôi đóng góp vào việc thúc đẩy Feynman bằng việc cho anh ấy thấy việc bị qua mặt.  23 tháng 10 năm 1965  Chúng tôi rất vui mừng vì ba người bạn Tomonaga, Schwinger và Feynman đã giành được giải Nobel. Bạn có nhớ rằng chính sau các công trình đáng nể của họ vào năm 1947 mà sự nghiệp của tôi bắt đầu bằng cách tiếp nối những gì họ đã phát triển. Tôi rất vui vì giải Nobel được dành cho cả ba người. Tôi cảm thấy mình cũng góp phần vào điều đó vì lúc đầu Schwinger được chú ý rất nhiều trong khi Tomonaga và Feynman vẫn vật lộn trong bóng tối. Chính từ bài báo “Lý thuyết bức xạ của Tomonaga, Schwinger và Feynman” mà lần đầu tiên cả ba người được đánh giá đúng đắn. Tôi hiện đang viết một bài báo ghi lại lịch sử về công trình của họ để xuất bản vào tuần tới.  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: http://nautil.us/issue/59/connections/another-side-of-feynman  Nguồn ảnh: https://www.quora.com/What-is-the-most-iconic-photo-of-Richard-Feynman  ——  Tít bài do Tia Sáng đặt lại  Freeman Dyson là một nhà vật lý lý thuyết và nhà toán học, một giáo sư danh dự tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, và tác giả của “Disturbing the Universe”.  Oppenheimer: Julius Robert Oppenheimer là một nhà vật lý lý thuyết người Mỹ và là giáo sư vật lý tại Đại học California, Berkeley.  Hans Albrecht Bethe: nhà vật lý hạt nhân người Mỹ gốc Đức, đoạt giải Nobel Vật lý năm 1967 cho công trình của ông về lý thuyết tổng hợp hạt nhân tinh tú.  Cécile Morette: Cécile Andrée Paule DeWitt-Morette là một nhà toán học và vật lý nổi tiếng người Pháp. Bà đã được Hiệp hội ở Mỹ của người Pháp trao tặng Huy chương danh dự 2007 cho thành tích xuất sắc.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gốc và nghĩa của các từ  khoa học, công nghệ, và kỹ thuật      Các từ khoa học, công nghệ, kỹ thuật là  những từ chúng ta dùng hằng ngày, tưởng chừng quen thuộc đến mức ai cũng  phải biết rõ và nhất trí về nghĩa của chúng.  &#160;    Nhưng gần đây có một số thảo luận về nghĩa của những từ này, đi kèm với các thắc mắc về tên gọi (ví dụ có vị cho rằng ĐH Bách khoa dịch ra tiếng Anh thành Univ. of Technology là sai mà phải dùng từ “kỹ thuật” như kiểu “technical univ.” mới đúng, hay có người thắc mắc tại sao lại gọi “Bộ Khoa học và Công nghệ” mà không gọi “Bộ Khoa học và Kỹ thuật”?). Theo tôi thì thực ra cách gọi “Bộ KH &CN” và cách dịch “Univ. of Technology” đều đúng, không có gì sai.  Trước khi nói đến gốc Tây (Anh, Pháp, La Mã, Hy Lạp) của các từ này, ta kiểm tra gốc Tàu trước đã, vì các từ này của ta là gốc chữ Hán chứ không phải chữ Tây.  Khoa học (科學) là gồm chữ khoa gắn với chữ học. Khoa có nghĩa như trong các từ “đa khoa”, “khoa vật lý”, v.v., tương đương với các từ department, branch tiếng Anh, tức là để chỉ (các) nhánh, (các) lĩnh vực. Còn từ học có nghĩ như trong tiểu học, đại học, toán học, v.v. là để chỉ sự học tập nghiên cứu tìm hiểu để đạt hiểu biết. Hai từ này đi với nhau chỉ sự hiểu biết hay nghiên cứu học tập để đạt hiểu biết trong các ngành khác nhau.  Từ tiếng Tây tương ứng của khoa học là science, có gốc Latin là scientia, tức cũng là sự hiểu biết, khoa học (knowledge, savoir, science). Từ gốc scientia còn xuất hiện trong các từ như conscience (nhận thức), conoscere (tiếng Ý, có nghĩa là biết).  Có sự phân biệt giữa savoir (hiểu biết, knowledge) và savoir-faire (kỹ năng, know-how). Từ đằng trước gần với khoa học còn từ đằng sau gần với công nghệ và kỹ thuật. Kỹ năng và hiểu biết đi đôi với nhau, nhưng không phải là một. Kỹ năng đòi hỏi không chỉ hiểu biết mà còn luyện tập thực hành, nhưng để đạt kỹ năng cao cấp thì đòi hỏi hiểu biết cao cấp, chứ một công nhân luyện vặn ốc chính xác đến mấy cũng không thành kiến trúc sư được. Quay về khoa học: muốn có công nghệ và kỹ thuật cao cấp, cần có nền tảng khoa học cao.  Một điều thú vị là, nghĩa gốc Latin của từ scientia là “phân biệt, chia ra” (to divide). Đây làm một chân lý về sự hiểu biết: hiểu biết tức là biết phân biệt, ta càng biết phân biệt giữa các thứ thì tức là càng hiểu biết, sự phân biệt càng tinh tế thì tức là hiểu biết càng cao. Ví dụ như nếu ta phân biệt được đến 1000 loại rượu khác nhau, thì sự hiểu biết của ta về rượu đạt đến đỉnh cao! (Không biết động từ scier, có nghĩa là cưa, có cùng gốc không ?!)  Từ công nghệ (工藝) gồm chữ công (工) và chữ nghệ (藝). Hán tự có ít nhất 4 chữ công khác nhau: chữ công của  từ công ty (公司) có nghĩa là “chung”; chữ công của   từ công lao (功勞) có nghĩa là thành quả của lao động, chữ công của từ công kích (攻擊) có nghĩa là đánh, còn chữ công của từ công nghệ có nghĩa là công việc, lao động (work, labor). Chữ nghệ (藝) là như trong từ nghệ thuật, có nghĩa là kỹ năng, nghệ thuật (skill, art). Vậy công nghệ có thể hiểu là kỹ năng, nghệ thuật trong công việc làm những cái gì đó. Ví dụ như công nghệ làm điện thoại, công nghệ chế biến thực phẩm, v.v.  Từ kỹ thuật (技術) là từ sát nghĩa với công nghệ, và cũng có kỹ năng, nghệ thuật trong đó. Kỹ (技) dịch sang tiếng Anh là skill (kỹ năng), talent (tài), còn thuật (術) cũng được dịch thành art (nghệ thuật), skill (kỹ năng), method (phương pháp).  Trong nhiều trường hợp, hai từ công nghệ và kỹ thuật có thể dùng thay cho nhau. Ví dụ, “công nghệ trồng lúa” hay “kỹ thuật trồng lúa” có nghĩa như nhau. Vậy hai từ này khác nhau ở những điểm nào (ngoài chuyện viết và phát âm khác nhau)? Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học nên không biết, chỉ đưa ra đây vài “đoán mò”:  a) Trong từ kỹ thuật không có “công” (lao động, công việc), nên “kỹ thuật” có thể dùng cho những thứ không liên quan gì đến lao động sản xuất, công nghiệp hay dịch vụ, trong khi từ công nghệ thường dùng hạn chế cho những thứ liên quan đến công nghiệp, kinh tế hơn.  b) Quá trình tiến hóa của ngôn ngữ ở Việt Nam tạo nên một sự “phân biệt đẳng cấp” giữa hai từ: công nghệ được hình dung là kỹ thuật ở mức cao cấp, và ngược lại kỹ thuật được hình dung là công nghệ ở mức sơ cấp. Bởi vậy người ta không nói “đại học kỹ thuật” mà nói “đại học công nghệ” khi muốn nhấn mạnh sự cao cấp của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng có sự “phân biệt đẳng cấp” giữa hai từ như vậy, và không phải ai cũng nhất trí với sự phân biệt này. Ví dụ như “Đại học kỹ thuật quân sự” không phải là “sơ cấp”. Trường “Intituto Superior Técnico de Lisboa” không sơ cấp tý nào mà trái lại là một trong những đại học lớn nhất của Portugal. (Trong tên trường có thêm tính từ “superior”, tức là “cao cấp”).  Từ công nghệ dịch sang tiếng Tây là technology (Anh) hay technologie (Pháp) có gốc Hy Lạp: techno có nghĩa là kỹ thuật (như trong từ technique), còn logia có nghĩa là sự học, sự tìm hiểu (study of). Sau quá trình tiến hóa của các ngôn ngữ, ngày nay từ technology có nghĩa như sau (theo wikipedia):  Technology is the making, usage, and knowledge of tools, machines, techniques, crafts, systems or methods of organization in order to solve a problem or perform a specific function. It can also refer to the collection of such tools, machinery, and procedures.  Có một số người quên câu sau của định nghĩa trên, mà chỉ dùng nghĩa trong câu trước (tức là coi từ “công nghệ” chỉ dùng cho  các phương pháp dụng cụ để giải quyết 1 vấn đề cụ thể, mà quên nghĩa sau rộng hơn của nó, dùng để chỉ mội khối tổng hợp các phương pháp dụng cụ cho nhiều vấn đề, hay thậm chí rất nhiều ngành khác nhau), dẫn đến những thắc mắc kiểu “gọi Viện khoa học và công nghệ là không đúng, mà phải gọi là khoa học và kỹ thuật”. Thực ra, cách gọi “khoa học và công nghệ” hoàn toàn đúng, dù là chiếu theo gốc Tàu hay dịch từ tiếng Tây. Ví dụ như trong cụm từ Massachusetts Institute of Technology, từ technology tất nhiên phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không theo nghĩa hạn hẹp ” cho một vấn đề”.  Trong từ technology (công nghệ) có “logy” (nghiên cứu) khiến nó trở nên “cao cấp” hơn là “technique” (mà không có thêm đuôi “logy”). Có nghĩa là, trong tiếng Tây, technology cũng được hiểu là technique ở mức cao cấp, còn ngoài ra thì hai từ này có thể thay thế cho nhau.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Gôdel và bản tính của chân lý toán học      Edge: Bà có thể nói điều gì về môi giới trong đó Gôdel sống vào lúc ông ta tạo tác ra những định lí này không? Goldstein: Giữa hai cuộc thế chiến, Vienna là một nơi bừng men trí tuệ. Có một sự bất mãn và tỉnh mộng đối với những cung cách cũ về tiến hành công việc. Những sự kinh hoàng của Thế chiến 1 vẫn còn trong bộ nhớ hiện hành và có một toan tính để vứt bỏ những lề lối xưa, để nghĩ lại về sự việc trong nhiều địa hạt. Giữa hai cuộc thế chiến, Vienna là một nơi bừng men trí tuệ. Có một sự bất mãn và tỉnh mộng đối với những cung cách cũ về tiến hành công việc. Những sự kinh hoàng của Thế chiến 1 vẫn còn trong bộ nhớ hiện hành và có một toan tính để vứt bỏ những lề lối xưa, để nghĩ lại về sự việc trong nhiều địa hạt     Vậy nên chúng ta thấy môn phân tâm học khởi đầu ở đó, và kiến trúc theo chủ nghĩa hiện đại của Adolf Loos, và Arnold Schoenberg với âm nhạc vô chủ âm (atonal music). Có nhiều đối thoại liên văn hóa và liên khoa. Những người chủ nghĩa thực chứng lí luận là một bộ phận thiết tha với điều này. Họ cố gắng nghĩ lại những cơ sở của tri thức, nghĩ lại những cơ sở của ngôn ngữ. Họ tuyên xưng rằng nếu chúng ta thanh tẩy ngôn ngữ, chúng ta sẽ có thể thanh tẩy tri thức.  Như nhà chủ nghĩa thực chứng lí luận quan niệm, phần lớn sự kinh hoàng đưa đến hậu quả trong Đại chiến là do sự suy nghĩ lộn xộn mà ra. Người ta tuyên xưng là biết những điều không có cách nào họ khả dĩ biết được. Những quan tâm chính trị đã đem lại sự hăng say cho vận động kia. Nếu chúng ta khiêm tốn hơn trong những tuyên xưng về tri thức của chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ tránh được phần nào cái bi kịch mà loài người chúng ta có hướng ngả theo. Nhiều người trong bọn họ – chắc chắn có Neurath và Carnap – cũng có chính trị thiên tả nữa. Họ dịu giọng khi sang Hoa Kì. Nhưng ở Vienna, khi Gôdel còn ở đó, có một sự hăng say trong cố gắng nghĩ lại ngôn ngữ và những giới hạn của điều gì ta có thể nói.  Wittgenstein có một ảnh hưởng cực lớn lên Nhóm Vienna gồm những nhà thực chứng lí luận. Ông đã viết cuốn Tractatus Logico-Philosophicus [Luận về triết học Luận lí] trong những chiến hào của Thế chiến 1. Trong sách đó, xuất bản năm 1922, ông cố gắng phác thảo những phạm vi riềm ngoài của ngôn ngữ và chứng tỏ rằng ngôn ngữ có một biên giới quanh nó. Có những quy luật cho phép chúng ta nói điều gì nói được, và có rất nhiều thứ nằm bên kia biên giới. Ông ghi nhận là phần lớn những điều quan trọng không thể nói được.  Nhưng ở đó ông bất đồng ý kiến với những người thực chứng lí luận. Những người thực chứng chiến đấu về phía bên kia đường phân ranh; ngoài cái nói được chẳng có gì hết cả. Xa hơn cái chúng ta có thể nói không có gì cả. Nhưng Wittgenstein thực sự tin rằng chiều quan trọng nhất, cái mà ông tham chiếu như là “điều huyền nhiệm” (the mystical) chỉ là không nói được mà thôi, không hề có nghĩa là nó không tồn tại. Nếu chúng ta cố nói nó, chúng ta sẽ thốt ra cái vô nghĩa. Nhưng nó là cái vô nghĩa quan trọng. Vậy nên, Wittgenstein không thực sự là một nhà thực chứng. Nhưng Nhóm Vienna lại cứ hiểu ông là một nhà thực chứng và họ thán phục ông quá chừng. Họ ra công học tập cuốn Tractatus và họ học nó suốt một năm ròng. Và nó là một cuốn sách mỏng! Họ gặp nhau mỗi tối thứ năm và học từng câu một trong cuốn Tractatus. Cuốn sách có bề ngoài rất sáng tỏ, nhưng thực ra nó khá tối tăm. Nó hoàn toàn đẹp, hoàn toàn mang tính thơ, nhiều chất nghệ thuật hơn là khoa học, như thực tế nhà lí luận học Frege đã viết cho Wittgenstein, ở một trong những bức thư dường như tán tụng kia mà một tác giả có lẽ không nên nhận được thì hơn. Mặc dù những nhà thực chứng khởi hứng từ Wittgenstein, ông này có một thái độ lưỡng lự đối với họ. Ông ta chỉ nói chuyện với một ít người: Schlick và Friedrich Waissman, một đệ tử sùng bái Wittgenstein. Wittgenstein là một người có cá tính mạnh mẽ, một người có mị lực rất lớn.    Wittgenstein lúc đó mới khoảng bước qua tứ tuần. Ông đã sang học ban cử nhân ở Đại học Cambridge trước chiến tranh và đã khiến Bertrand Russell bị kích động. Russell, cùng với Alfred North Whitehead, đã viết bộ sách Principia Mathematica [Những nguyên lí toán học], ra sức giảm trừ số học vào lí luận và lí thuyết tập hợp (set theory). Một vấn đề trùm lấp là làm sao bảo vệ hệ thống luận lí và lí thuyết tập hợp của bạn tách khỏi những tập hợp nghịch lí. Bản thân Russell đã từng khám phá ra một trong những tắc ách này của lí tính tiên nghiệm: tập hợp của mọi tập hợp vốn không phải là thành phần của chính chúng. Điều này dẫn tới một nghịch lí – bạn thấy điều này khi bạn hỏi phải chăng tập hợp này là một thành phần của chính nó: nếu nó là thì ắt nó không là, và nếu nó không là thì ắt nó là. Nói cách khác, không thể có một tập hợp như thế bởi vì nó dẫn tới nghịch lí. Vì vậy, hệ thống hình thức của bạn phải chặn sự hình thành loại tập hợp này, và những cái khác khi chúng dẫn tới những nghịch lí. Tác phẩm Những nguyên lí toán học của Russell và Whitehead có một tập hợp những quy luật đặc biệt – họ gọi nó là lí thuyết về kiểu mẫu (the theory of types) – chúng sẽ canh để gạt ra ngoài lí thuyết tập hợp những tập hợp vấn nạn nhất định – loại tập hợp mang lại nghịch lí. Nhưng điều này hoàn toàn tùy tiện. Họ không có một lí thuyết về những gì đang diễn tiến ở đó, và họ phát ra một lời mời các nhà toán học và các nhà luận lí đưa ra một giải thích tốt hơn – một lí thuyết về việc khi nào thì ngôn ngữ sạch và thuần, và khi nào thì nó nhiễm nghịch lí. Làm sao chúng ta có thể thanh tẩy ngôn ngữ luận lí toán học của chúng ta để nó không hình thành những nghịch lí. Điều đó đã cù rủ Wittgenstein tới Cambridge.                  Wittgenstein có một ảnh hưởng to lớn lên Russell. Thoạt tiên Russell nghĩ là Wittgenstein có một loại mẫn cảm mới. Ông cho Russell cái cảm quan rằng ông thực sự biết một điều gì không thể truyền thông, rằng có một điều gì ông đang cố gắng nắm bắt mà Russell nhìn không ra. Kết quả của những tương tác này là Russell bỏ hẳn luôn môn luận lí toán học. Wittgenstein làm cho Russell vững tin rằng những lề lối làm việc cũ kĩ của mình là sai. Russell nói rằng ông không thể hoàn toàn hiểu những gì Wittgenstein nói, nhưng ông cảm thấy tận trong xương tủy là anh ta phải đúng. Đó là thứ tác động mà Wittgenstein có trên người anh ta.  Khi đi vào chiến hào ông viết cuốn Tractatus. Nó có một tác động to lớn lên những nhà tư tưởng ở Vienna đang cố nghĩ lại những cơ sở của mọi tri thức và mọi ngôn ngữ. Và như tôi đã nhắc, ông luôn chối bỏ họ, ông nói rằng bọn họ không hề hiểu ông. Một trong những cách để thực sự hiểu điều này là cái mệnh đề cuối cùng trong cuốn Tractatus: “Về điều gì chúng ta không thể nói lên, về điều đó chúng ta phải im lặng”. (Of what we cannot speak thereof we must be silent). Nó có lưỡng nghĩa. Nó có thể có nghĩa là mọi sự hiện diện đều có thể nói và chúng ta có thể nói rành mạch, hoặc nó có thể có nghĩa là có những sự kiện ở ngoài kia, nhưng ngôn ngữ của chúng ta không đầy đủ để biểu hiện chúng; rằng ngôn ngữ của chúng ta chừa ra những khoanh của thực tại. Nếu chúng ta cố biểu hiện cái bất khả ngôn trong ngôn ngữ, chúng ta sẽ vi phạm những quy luật của ngôn ngữ và mắc vào sự vô nghĩa.  Wittgenstein dường như muốn nói cách sau; rằng có những khía cạnh của thực tại vượt ngoài khả năng của chúng ta để biểu hiện chúng.   Những nhà thực chứng hiểu cách, cách trước, rằng tiêu chuẩn cho sự có nghĩa làm cạn kiệt mọi sự kiện. Mọi thứ có thể nói đều có thể nói rành mạch, và không có gì khác ngoài kia.  Chẳng thú vị sao, là trên đời lại có những triết gia bị ám ảnh với cố gắng nói sự vật một cách chính xác, với sự ban ra những quy luật của mọi sự chính xác, và những gì họ nói hoài về sự chính xác thì lại không đủ chính xác cho họ hiểu nhau. Bạn có thể hiểu câu nói của Gôdel, như ông ta được viện dẫn là đã nói với nhà toán học Menger một đêm kia khi họ cùng thả bộ về nhà sau một trong những buổi gặp gỡ của nhóm thực chứng lí luận, đại khái là: “Tôi càng suy nghĩ về ngôn ngữ thì dường như đối với tôi lại càng khó có thể cho chúng ta rằng bao giờ người ta hiểu được nhau”.  Tôi tin rằng Gôdel khi ấy đo lường các bậc trưởng thượng. Quan điểm của ông về toán học, về sự có nghĩa, về những gì chúng ta có thể biết, về tầm quan trọng của ngôn ngữ trong sự tạo dáng cho thực tại, đều lỗi nhịp với quan điểm của các nhà thực chứng.  Khi tôi là một sinh viên cao học về triết, vẫn còn một vài giáo sư, những triết gia đại học Cambridge, đã từng thuộc vòng trong Wittgenstein, và đôi khi họ sang giảng ở đại học Princeton. Và tôi cố đi nghe họ. Họ vẫn còn bảo lưu một vài bộ tịch của Wittgenstein. Ông ta có nhiều tật máy giật; ông ta nhăn mặt khỉ và còn phát ra những tiếng gừ gừ trong lúc suy nghĩ, và mấy vị giáo sư kia cũng nhăn mặt và gừ nữa. Wittgenstein có tác động thôi miên trên người khác. Nhưng đối với Gôdel thì không.  Đây là những gì tôi nghĩ. Gôdel bực mình vì Wittgenstein. Ông không chỉ giữ những quan điểm siêu toán học so le một cách sâu xa với những quan điểm của Wittgenstein – và mặc dù Wittgenstein không phải là một nhà thực chứng, quan điểm của ông về cơ cở toán học, đặc biệt trong cuốn Tractatus, nằm trong mạch của chủ nghĩa thực chứng – nhưng tôi nghĩ ông ta còn bực mình nữa bởi sự rùm beng mà những người chung quanh, đám thực chứng thuộc Nhóm Vienna, cổ võ về Wittgenstein. Chúng ta chỉ miễn trừ trò đó cho những ai chúng ta nghĩ là xứng đáng. Và dưới ánh sáng của Gôdel, Wittgenstein không xứng.  Dù sao đi nữa, những cuộc đàm thoại bị Wittgenstein chế ngự này là những thảo luận mà Gôdel thường lui tới khi ông ta đang ôm ấp những ý tưởng của riêng mình về những cơ sở của toán học; không chỉ ôm ấp mà như tất cả chúng ta đều biết, mà còn thực sự triển khai những trực giác sẽ dẫn tới những định lí về bất toàn của ông.  Gôdel là một con người kín tiếng, một con người mờ đục. Ông ta không cho ta nhiều để cố tưởng tượng ra con người nội tâm. Một con người viết tiểu thuyết được đào luyện về nghệ thuật nhập vào các nhân vật, cả thực sự lẫn được tưởng tượng ra. Phần lớn tài khéo của một tiểu thuyết gia nằm ở chỗ tự thân luồn lách vào đời sống nội tâm của kẻ khác. Gôdel là người khó mà xâm nhập. Tôi khá tin tưởng rằng có một mối xúc cảm mạnh mẽ nào đó gắn liền với Wittgenstein; tôi có thể dựng lên một câu chuyện khá thuyết phục để gây hiệu ứng này. Nhưng rốt cuộc đó có thể là một câu chuyện dàn dựng. Nó mang tính cưỡng hành đối với tôi, hay dở cũng đành, và nó có ý nghĩa, về mặt tâm lí. Lại còn có cả bằng chứng ít nhiều, trong văn tự.  Về cuối đời Gôdel có những điều gay gắt để nói về Wittgenstein. Dĩ nhiên, không phải mặt giáp mặt, thường khi cũng chẳng phải nói với người khác, nhưng qua thư từ. Phần lớn những thư này ông không gửi đi bao giờ, và tôi gặp được chúng trong thư viện Firestone, nằm giữa những di cảo, Nachlass, của Gôdel. Wittgenstein không bao giờ chấp nhận kết quả của Gôdel; ông nói trong tác phẩm The Foundations of Mathematics [Những cơ sở của toán học], xuất bản sau khi ông qua đời, rằng nhiệm vụ của ông không phải là thảo luận với Gôdel, mà là vòng qua Gôdel. Ông cũng gọi những kết quả của Gôdel là những mánh lới của một nhà ảo thuật về luận lí, những trò tiểu xảo luận lí (logical artifices/Kunststucken). Có người bảo với Gôdel về điều này, và đó chính là lúc ông phát tác phần nào nỗi bực dọc của ông về Wittgenstein, nỗi bực dọc mà nếu những suy đoán về tâm lí của tôi là đúng, đã hàng nhiều thập niên, đã ủ kín rất lâu về trước khi Gôdel lắng nghe những nhà thực chứng ca tụng những quan điểm của Wittgenstein, mà hiểu rằng Wittgenstein bênh vực việc họ kết án mọi quan điểm siêu hình, gồm cả chủ nghĩa Platon.    Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng Wittgenstein là bác bỏ những định lí của Gôdel. Có những nhà toán học hiện nay còn đang tranh luận với những kết quả về bất toàn, đôi khi trên cơ sở của chủ nghĩa kiến thiết (constructivist), tức là những dè dặt nghiêm ngặt về những gì có thể, và quan trọng hơn, không thể cầu viện trong chứng cứ. Rồi lại có những kẻ chấp nhận rằng về mặt toán học Gôdel đã chứng minh được kết quả của ông về sự bất toàn, nhưng họ lại bác bỏ quan điểm siêu toán học, tức chủ nghĩa hiện thực toán học (mathematical realism) mà Gôdel nghĩ rằng được các kết quả của ông mạnh mẽ gợi ra. Chắc chắn có những nhà luận lí toán học là những người theo chủ nghĩa hình thức, ngay cả trong ánh sáng của những định lí bất toàn. Chủ nghĩa Platon của Gôdel về mặt tâm lí có thể đã là động cơ thúc đẩy công việc tìm kiếm sự bất toàn của ông, để giúp ông đóng một thứ ông coi như cây nêm giữ những khái niệm về chân lí toán học và khả tính chứng minh (provability); nhưng điều đó không có nghĩa là những định lí của ông về mặt luận lí đã phản chứng chủ nghĩa hình thức (formalism). Trái tim theo chủ nghĩa Palton của Gôdel có thể đã hân hoan với những kết quả của ông, bởi chúng dường như đã bênh vực cho niềm tin của ông rằng thực tại toán học hiện hữu độc lập với những hệ thống hình thức. Nhưng chủ nghĩa Platon không hàm ngụ trong những kết quả về bất toàn. Chủ nghĩa Platon không là một định lí toán học chút nào.  Dĩ nhiên, Gôdel đã làm cho người ta khó có thể không là một người theo chủ nghĩa Platon. Ông chứng minh rằng có những mệnh đề về số học đúng nhưng không thể chứng minh được. Điều đó nghe ra gần với tuyên xưng rằng những chân lí số học độc lập với bất cứ hoạt động nào của con người. Những triết gia về toán học chắc chắn có thể tránh kết luận theo chủ nghĩa Platon, nhưng, chừng nào họ không chỉ “vòng qua Gôdel”, họ bắt buộc phải nhảy múa đặc dị. Ngay cả Wittgenstein, người nói rằng nhiệm vụ của mình không phải là đề đạt những định lí của Gôdel, cũng không thể tránh được việc cứ phải vòng đi vòng lại với chúng. Ông tranh luận về chúng trong lớp của mình với Alan Turine. Và dĩ nhiên tác phẩm của chính Turing, việc ông chứng minh rằng chúng ta không thể giải được vấn đề ngưng chạy (the halting problem) – đại khái, biết rằng một chương trình điện toán cho sẵn sẽ tạo ra một kết quả khi có một nhập liệu cho sẵn hoặc sẽ kéo lê mãi cho đến kiệt quệ, tự thân kế thừa định luật thứ nhất của Gôdel về bất toàn.  Có những nhà toán học nói rằng những gì Gôdel đã làm thì chẳng liên quan gì đến công việc trong đời làm toán của họ; rằng họ không bao giờ phải nghĩ về sự bất toàn, cho đến nổi chẳng biết rành rẽ bất toàn là cái gì. Vậy là bạn có thể làm toán và ở ngoài cuộc thảo luận siêu toán học. Đây có lẽ là một thái độ khá chung trong số những nhà toán học. Và trong một nghĩa nào đó, nó là một thái độ tự nhiên. Khi bạn đang làm việc trong ngành, bạn làm những gì có thể làm trong đó. Loài cá không cần phải là chuyên viên về bản tính của nước.  Điều đó cũng đúng trong địa hạt khác nữa, chẳng hạn như vật lí. Các nhà vật lí bất đồng ý kiến một cách triệt để về sự thông giải các lí thuyết vật lí – một số nghĩ là họ chỉ mô tả một thực tại vật thể khách quan; một số khác lại nghĩ lí thuyết chỉ là những công cụ để tiên đoán – vẫn có thể cộng tác với tư cách nhà vật lí, có thể dùng chung những lí thuyết vật lí để đạt những kết quả khoa học, hoặc về mặt lí thuyết, hoặc về mặt ứng dụng. Công việc ngày lại ngày của bạn như một nhà vật lí không nhất thiết sẽ phải thay đổi cách này hoặc cách khác bởi quan điểm siêu tính của bạn về bản chất vật lí. Và công việc ngày lại ngày của bạn như một nhà toán học không nhất thiết sẽ phải thay đổi bởi quan điểm siêu tính của bạn về bản chất của toán học. Bạn cũng chẳng cần phải có một siêu quan điểm. Những định lí của Gôdel chỉ quan trọng nếu bạn quan tâm đến những câu hỏi siêu tính kia và làm một nhà toán học bạn không nhất thiết phải quan tâm đến những câu hỏi đó.  Bà liên kết mối quan tâm này về những cơ sở triết học của toán học và vật lí với tình bạn nổi tiếng Gôdel và Einstein, phải không ạ?  Lắm người trong số những kẻ ngắm đôi bạn đó thong dong thả bộ mỗi ngày về nhà từ Viện Nghiên cứu Cao cấp, đắm mình trong trò chuyện – những người trong số quen biết bọ bảo tôi rằng họ chỉ ưa nói với nhau – thắc mắc là sao hai con người khác nhau đến thế lại có thể gắn bó tới mức đó. Nhưng cái gắn bó họ là, trước nhất, họ quan tâm rất sâu sắc về những câu hỏi siêu tính của những địa hạt riêng từng người, những câu hỏi không phải về việc những địa hạt này thực sự đang làm là gì và làm sao chúng xoay xở để làm được điều đó.  Cả hai ông đều nhìn việc làm của mình trong một khung cảnh triết học nhất định. Cả hai đều là những người theo chủ nghĩa hiện thực kiên định, Einstein trong vật lí, và hiển nhiên Gôdel trong toán học. Viễn kiến triết học đó đặt để họ so le với nhiều nhà khoa học cùng tầm vóc với họ. Vậy nên điều lí thú là hai khuôn mặt này rất lẫy lừng nhưng tự cảm thấy bị gạt bên lề, và bị gạt bên lề trong những cung cách tương tự. Điều này có thể giải thích phần nào sự gắn bó cách khác làm ngỡ ngàng những ai quen biết họ. Và thêm nữa cả hai còn nối liền với nhau trong cùng sự éo le mà tôi nêu ra khi mở đầu câu chuyện, là công trình của họ bị cuốn vào cuộc tấn kích chung vào tính khách quan và tính thuần lí. Một lần nữa tôi nhớ lại mùa hè năm đó, trước khi tôi bước vào đại học và đọc trong sách là cả thuyết tương đối và sự bất toàn đã chứng tỏ, với toàn thể quyền uy của vật lí và toán học, là không có những tiêu chuẩn khách quan nào cho chân lí và lí tính. Cả hai đều phải lưu vong khỏi Châu Âu đã Quốc xã hóa, nhưng lạ thay họ cũng là những lưu vong trí tuệ, và điều đó làm đa số sững sờ, xét vì công trình của họ thường được coi là nặng tầm vóc trung tâm.  Họ, cả hai đều đã tác động đến những cuộc cách mạng trong những địa hạt riêng của từng người, nhưng cách họ nhìn công trình của chính mình, ánh sáng triết học mà họ nghĩ công trình của họ tỏa ra, không thể so le hơn với hầu hết những người đồng thời.  Einstein và Gôdel là những đồng minh chân chính, và sau khi Einstein qua đời, sự cô đơn tự nhiên của Gôdel càng khắc sâu, cùng với nhưng khuynh hướng hoang tưởng của ông. Ông đi đến một kết cục buồn thảm. Sự nghi ngại của ông đối với ngôn ngữ, trong một nghĩa, được minh chứng. Nghi ngại ngôn ngữ, ông đã nỗ lực làm cho toán học của ông nói lên những xác tín siêu toán học của mình, nhưng những kẻ khác lại thường thông giải những định lí của ông là nói ngay cái đối nghịch với những gì ông muốn chúng nói. Ai lại không trở nên càng nghi hoặc hơn về sự truyền thông của con người? Ai lại không càng rút lui vào cô đơn? Dĩ nhiên tôi không đang biện minh cho sự hoang tưởng của ông. Nhưng có chút bóng dáng nào đó của một sự đáp ứng thuần lí trong sự phi thuần lí (irrationality) nữa.  Tôi chạnh buồn cho cảm quan cô đơn của ông, nó phải sâu thẳm biết chừng nào. Tôi buốt lòng khi ngẫm đến việc ông cảm thấy thế giới quá đổi thù nghịch đến nỗi ông tin rằng thức ăn của mình bị đầu độc và vì thế ngưng ăn và chết trong đói khát. Tôi đã trải qua một thời gian dài để tưởng tượng ra một người như thế phải cảm xúc như thế nào. Và tôi đặt tương phản giữa nơi chốn thâm u và lạnh lẽo mà ông sống bao năm dài, và ở đó, ông kết liễu đời mình với cái cảm nhận ngạc nhiên bừng sáng mà tôi trải qua mùa hè đó trước khi bước vào cao học, khi tôi lần đầu tiên hiểu được tuyệt tác về lí trí của Gôdel. Ông ban kinh nghiệm đó cho vô số người, và chúng ta biết ơn.  Nguyễn Tiến Văn dịch và giới thiệu  Nguồn: http://www.edge.org/3rd_culture/goldstein05/goldstein05_index.html      Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gợi ý đầu tiên về siêu dẫn ở gần nhiệt độ phòng hấp dẫn các nhà vật lý      Vật liệu chứa hydro được tạo ra dưới áp suất cao có thể là một bước tiếp hướng tới một kỷ nguyên mới của chất siêu dẫn.      Một hợp chất chứa lanthanum được coi như một chất siêu dẫn ở nhiệt độ gần nhiệt độ phòng. Nguồn: Nature  Các nhà vật lý cho rằng họ có thể đã đạt được một trong những mục tiêu đáng ao ước trong lĩnh vực này: tạo ra một vật liệu siêu dẫn có thể hoạt động ở nhiệt độ gần nhiệt độ phòng.  Bằng chứng này vẫn còn mới ở bước sơ khởi. Từ trước đến nay, nó mới được thực hiện trong điều kiện dưới áp suất khoảng 200 gigapascal – hoặc hai triệu lần áp suất khí quyển.  Nếu được xác nhận thì chiến công này có thể là ví dụ đầu tiên về chất siêu dẫn ở trên nhiệt độ  00C và một số nhà vật lý nói, công việc này có thể sẽ là một cột mốc quan trọng trong nghiên cứu về hiện tượng siêu dẫn, khiến họ hy vọng vào môt ngày nào đó có thể tạo ra một chất phát điện, truyền dẫn và cho phép sử dụng điện hiệu quả hơn.  Giấc mơ dài   “Việc quan sát này thật kỳ diệu”, theo Yanming Ma – một nhà vật lý tại trường đại học Jilin tại Changchun, Trung Quốc. Dẫu sao anh cũng thận trọng cho biết, công việc này mới ở giai đoạn đầu. Việc chế tạo vật liệu ở nhiệt độ phòng từ lâu đã là “giấc mơ dài”, Ma nói, kể từ khi siêu dẫn được khám phá hơn một thế kỷ trước.  Russell Hemley – một nhà địa vật lý tại trường đại học George Washington tại Washington DC, là người đầu tiên công bố bằng chứng về hiện tượng lạ này tại một hội thảo vào tháng 8/2018. Nhóm nghiên cứu của anh mới xuất bản công bố trên Physical Review Letters.  Các tác giả đã thông báo về việc quan sát sự suy giảm bất thường trong điện trở tại nhiệt độ 7˚C trong một vật liệu mà họ tổng hợp được: một “superhydride” – một hợp chất chứa một lượng lớn hydro – của lanthanum (LaH10). Sự suy giảm này là dấu hiệu của một chuyển pha sang siêu dẫn khi vật liệu được làm lạnh dưới nhiệt độ ngưỡng. “Chúng tôi rất tự tin rằng chúng tôi đã thấy một chuyển pha”, Hemley nói.  Thành công của siêu dẫn hoạt động ở mức 0˚C không chỉ mang ý nghĩa về mặt vật lý mà còn “đóng vai trò quan trọng về mặt tâm lý đối với các nhà nghiên cứu”, Mikhail Eremets – một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Hóa học Max Planck tại Mainz, Đức, nhận xét. Năm 2014, nhóm nghiên cứu của Eremets đã chứng tỏ một hợp chất hydro khác — hydro sulfua — trở thành chất siêu dẫn tại nhiệt độ đạt mức kỷ lục ở thời điểm đó là -83°C.  Kỷ lục cao  Trong thí nghiệm của mình, Hemley và cộng sự đã đặt một đầu đo kim cương vào chùm tia của một máy synchrotron tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, Mỹ. Họ dùng các đầu kim cương để xiết một mẫu nhỏ lanthanum và hydro để tạo áp suất lên tới 200 gigapascals. Tiếp theo, họ gia nhiệt một cách tức thời cho hợp chất này và quan sát cấu trúc của nó thay đổi suốt theo các tính năng dẫn điện của chúng diễn ra bằng nhiễu xạ tia X.  Các nhà nghiên cứu đã từng tạo ra một cấu trúc mới – LaH10 – với những mô phỏng do nhóm nghiên cứu của Hemley và của Ma đề xuất trước đây có thể trở thành siêu dẫn ở những mức nhiệt độ rất cao.  Vật liệu tiếp tục được làm lạnh – trong khi vẫn giữ áp suất cao – và các tính chất điện tiếp tục được đo đạc. Trong các điều kiện xác định, họ quan sát được sự sụt giảm điện trở tại nhiệt độ 280 kelvin, tương đương  7˚C.  Bằng chứng mà Hemley trình bày trong bài báo trên Physical Review Letters đã thuyết phục được Eremets. Các thí nghiệm tiếp theo của ông đề xuất nhiệt độ truyền dẫn của vật liệu không ổn định ở mức 7˚C, dẫu cho nó sẽ đạt được sự ổn định tại mức ấn tượng -23˚C.  Hemley cho biết, trong công trình sắp xuất bản tiếp theo, nhóm nghiên cứu của ông đã dò được một tín hiệu quan trọng khác của siêu dẫn: vật liệu này đẩy từ trường ra nó. Hiện tượng này được xem xét là bằng chứng bằng vàng về siêu dẫn và nếu được xác nhận, có thể  chứng minh lời tuyên bố của nhóm ông là đúng đắn.  Mới chỉ là bước khởi đầu  Các hợp chất như siêu hydro do nhóm Hemley tạo ra, và hydro sulfua do nhóm Eremets nghiên cứu năm 2015 đã trở thành các chất siêu dẫn thông thường, trước đó từ những năm 1950, các tính năng vật lý của chúng đã được biết một cách tường tận. Các chất siêu dẫn thông thường với sự truyền  dẫn tại nhiệt độ phòng đã được dự đoán trong nhiều thập kỷ nhưng chỉ những dự đoán này mới bắt đầu được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm vào thời gian gần đây.   Nhiều chất siêu dẫn mang nhiều yếu tố ngoại lai được khám phá kể từ những năm 1980, và đến thời gian gần đây mới đạt được các nhiệt độ truyền dẫn ở mức cao kỷ lục, tuy nhiên vẫn chưa đạt được đến mức siêu dẫn tại nhiệt độ phòng và hơn nữa, vẫn chưa thể giải thích được những vấn đề cơ bản của chúng về mặt lý thuyết.  Hemley cho biết, ông tin chắc có những chất siêu dẫn khác đang tồn tại – vượt ra ngoài những khám phá trên các mô hình mô phỏng- với những nhiệt độ truyền dẫn ở mức cao hơn.     Và ông cho biết thêm là các thí nghiệm do nhóm ông thực hiện có thể đưa ra những gợi ý về cách phát triển các vật liệu có thể có những tính năng điện tử tương tự tại mức áp suất thấp hơn nhiều. “Đây mới chỉ là điểm bắt đầu của một kỷ nguyên mới về siêu dẫn”, Hemley nói.  Anh Vũ dịch  TS. Ngô Đức Thế (Đại học Manchester, Anh) hiệu đính   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07831-x#ref-CR1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gợi ý về vật lý mới trong bức xạ bị phân cực từ vũ trụ sớm      Sử dụng dữ liệu Planck từ bức xạ nền vi sóng vũ trụ, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã quan sát được một gợi ý về vật lý mới. Nhóm nghiên cứu đã phát triển một phương pháp mới để đo đạc góc phân cực của một tia sáng cổ đại bằng việc kiểm định bụi phát ra từ dải Ngân hà của chúng ta. Dù độ chính xác trong việc dò tín hiệu này không đủ để rút ra các kết luận rõ ràng nhưng nó vẫn có thể đề xuất vấn đề: vật chất tối hoặc năng lượng tối gây ra vi phạm của “đối xứng chẵn lẻ”.      Khi ánh sáng của bức xạ nền vi sóng vũ trụ phát ra 13,8 tỉ năm trước (hình bên trái) di chuyển qua vũ trụ cho đến khi nó được quan sát từ trái đất (hình bên phải), hướng trong đó các sóng điện từ dao động (đường màu cam) bị quay bằng một góc β. Sự quay này có thể là do vật vất tối hoặc năng lượng tối tương tác với ánh sáng của phông vi sóng vũ trụ, vốn làm thay đổi các mẫu hình của phân cực (những đường màu đen bên trong các hình ảnh). Các vùng màu đỏ và xanh lục trong các hình ảnh này lần lượt biểu thị các vùng nóng và lạnh của phông vi sóng vũ trụ. Nguồn: Y. Minami / KEK  Các quy luật vật lý chi phối vũ trụ được nghĩ là không thay đổi khi đảo ngược quanh một cái gương. Ví dụ, điện từ trường hoạt động như thường bất kể liệu có ở trong hệ nguyên bản hay trong hệ gương, nơi tất cả các hệ tọa độ không gian đều bị đảo ngược. Nếu sự đối xứng chẵn lẻ này bị vi phạm, nó có thể đóng vai trò quan trọng đểh iểu về bản chất khó nắm bắt của vật chất tối và năng lượng tối, vốn lần lượt chiếm 25% và 75% nguồn năng lượng của vũ trụ ngày nay. Cả hai thành phần này đều có ảnh hưởng trái ngược với sự tiến hóa của vũ trụ: vật chất tối làm vũ trụ co vào trong khi năng lượng tối lại là nguyên nhân làm vũ trụ dãn nở nhanh hơn.  Một nghiên cứu mới do các nhà nghiên cứu Viện nghiên cứu hạt và hạt nhân (IPNS) tại Tổ chức nghiên cứu máy gia tốc năng lượng cao (KEK), Viện vật lý và toán về vũ trụ Kavli (Kavli IPMU) của trường đại học Tokyo và Viện Vật lý thiên văn Max Planck (MPA) thực hiện đã báo cáo về một gợi ý hấp dẫn về vật lý mới – với độ tin cậy lên tới 99,2% –  với đối xứng chẵn lẻ bị vi phạm. Phát hiện của họ được xuất bản trong bài báo “New Extraction of the Cosmic Birefringence from the Planck 2018 Polarization Data” trên Physical Review Letters. Bài báo được lựa chọn trong mụa “Đề xuất của các biên tập viên” do được đánh giá là quan trọng, thú vị và được viết một cách xuất sắc.  Gợi ý về một vi phạm đối xứng chẵn lẻ đã được tìm thấy trong bức xạ nền vi sóng vũ trụ, ánh sáng còn lại của Big Bang. Vấn đề mấu chốt chính là ở ánh sáng bị phân cực của phông vi sóng vũ trụ. Ánh sáng là một dạng lan truyền sóng điện từ. Khi nó bao gồm các sóng dao động theo một hướng ưu tiên, các nhà vật lý gọi là “phân cực”. Sự phân cực này tăng lên khi ánh sáng bị tán xạ. Ví dụ, ánh sáng mặt trời có các sóng với mọi hướng dao động có thể, tuy nhiên lại không phân cực. Ánh sáng của một cầu vồng trong khi đó lại bị phân cực bởi ánh sáng mặt trời bị tán xạ qua những giọt nước trong khí quyển. Tương tự, ánh sáng của bức xạ nền vi sóng vũ trụ lúc ban đầu trở nên phân cực khi các electron bị tán xạ ở thời điểm 400.000 năm sau Big Bang. Vì ánh sáng này di chuyển qua vũ trụ trong 13,8 tỉ năm, tương tác của phông vi sóng vũ trụ với vật chất tối hoặc năng lượng tối có thể là nguyên nhân khiên mức phân cực quay bằng một góc β.  “Nếu vật chất tối hoặc năng lượng tối tương tác với ánh sáng của phông vi sóng vũ trụ theo một cách nào đó khiến vi phạm đối xứng chẵn lẻ, chúng ta có thể tìm thấy dấu hiệu của nó trong dữ liệu phân cực này”,  Yuto Minami, một postdoct tại IPNS, KEK, nói.  Để đo đạc góc β quay, các nhà khoa học cần các máy dò phân cực siêu nhạy như những thiết bị tích hợp trong vệ tinh Planck của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA). Và họ cần biết cách các máy dò phân cực siêu nhạy đã định hướng có tương quan với bầu trời. Nếu thông tin này không được biế rõ với độ chính xác thích đáng, mặt bằng phân cực có thể đo được này có thể xuất hiện để quay theo một cách nhân tạo, tạo ra một dấu hiệu giả. Trong quá khứ, những bất định trong sự quay nhân tạo do các máy dò tạo ra cũng làm giới hạn độ chính xác trong đo đạc của góc β phân cực vũ trụ.  “Chúng tôi phát triển một phương pháp mới để xác định sự quay nhân tạo bằng việc sử dụng ánh sáng phân cực do bụi trong Ngân hà phát xạ”, Minami nói. “Với phương pháp này, chúng tôi đã đạt được độ chính xác gấp hai lần so với công trình trước đây, và cuối cùng có khả năng đo được góc β”. Khoảng cách di chuyển của ánh sáng từ bụi bên trong dải Ngân hà ngắn hơn nhiều so với phông vi sóng vũ trụ. Điều đó nghĩa là việc phát ra bụi không bị vật chất tối hoặc năng lượng tối ảnh hưởng, ví dụ như thế. Góc β không chỉ thể hiện ánh sáng của phông vi sóng vũ trụ trong khi sự quay nhân tạo ảnh hưởng cả hai. Sự khác biệt trong góc phân cực được đo giữa cả hai nguồn ánh sáng có thể dùng để đo góc β.  Nhóm nghiên cứu ứng dụng phương pháp mới này để đo góc β từ dữ liệu phân cực của vệ tinh Planck. Họ tìm thấy một gợi ý cho vi phạm  đối xứng chẵn lẻ với mức độ tin cậy 99,2%. Để tuyên bố một khám phá về vật lý mới, cần một kết quả có độ tin cậy ở mức 99,99995% hoặc kết quả có ý nghĩa về mặt thống kê cao hơn. Eiichiro Komatsu, giám đốc tại MPA và nhà nghiên cứu chính tại Kavli IPMU, nói: “Rõ ràng là chúng tôi không tìm thấy bằng chứng dứt khoát cho vật lý mới;  cần ý nghĩa thống kê cao hơn để xác nhận dấu hiệu này. Nhưng chúng tôi cũng rất phấn khích bởi phương pháp của chúng tôi cho phép chúng tôi tạo ra một phép đo đạc tưởng chừng ‘không thể’, vốn có thể chỉ ra một dạng vật lý mới”.  Để xác nhận dấu hiệu này, phương pháp mới có thể được ứng dụng cho bất kỳ thực nghiệm đo lường độ phân cực phông vi sóng vũ trụ nào hiện có – và cả tương lai – như Simons Array và LiteBIRD mà cả KEK và Kavli IPMU đều tham gia.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-hint-physics-polarized-early-universe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Golden và bản tính của chân lý toán học      Triết gia kiêm tiểu thuyết gia Rebecca Goldstein là một thí dụ tiêu biểu về mối quan hệ: học giả/nhà văn của những khoa nhân văn mới có Rebecca Goldsteincăn bản khoa học – mẫu người chiết trung về tri thức, tìm kiếm ý tưởng từ đa nguyên và chấp nhận những căn-nguồn chứng minh có giá trị, hơn là làm việc bên trong các “hệ thống” hoặc “trường phái”.         Tư duy có căn bản khoa học trong những học giả nhân văn được khai sáng hiện nay là một phần của văn hoá công cộng và Goldstein là một trong số những nhà văn dẫn đạo. Hiện là giáo sư Triết học tại Trinity College, ở Hartford, Connecticut; từng dạy tại các đại học Barnard, Rutgens, Columbia, và vài đại học khác. Năm 2005, bà được bầu chọn vào Viện Hàn lâm Khoa học & Nghệ thuật của Mĩ. Là tác giả của 5 cuốn tiểu thuyết: The Mind-Body Problem [Vấn đề hồn-xác], The Late-Summer Passion of a Woman of Mind [Đam mê cuối hạ của một người đàn bà trí thức], The Dark Sister [Người chị u huyền], Mazel, Properties of Light [Những tính chất của ánh sáng]; và một tuyển tập truyện ngắn Strange Attractors [Những điểm hấp lực dị kì]. Cuốn sách gần đây nhất Incompleteness: The Proof and Paradox of Kurt Gôde [Bất toàn: chứng cứ và nghịch lí của Kurt Gdel].  Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa bà và tạp chí Edge (Biên thành) ngày 6.8.2005 về việc đi tìm căn gốc của Định lí bất toàn trong toán học của Gdel. Lí luận chân lí số học đúng nhưng không thể chứng minh hiện hữu trong lí luận thời cổ Hy Lạp của Epimenides. Định lí của Godel còn xuất phát từ sự chạm trán giữa các nhà l luận thực chứng học ở Vienna (trong đó có Wittgenstein) với Gode trên lập trường triết học Platon.      Edge: Dường như bà có một bộ sưu tập kì dị về những mối quan tâm: toán học, vật lí và triết học là một phía; và giả tưởng là phía kia. Tại sao một tiểu thuyết gia lại đi dạy khoa học triết học và có đủ quan tâm về toán để viết một cuốn sách về những định lí về bất toàn của Kurt Godel?      Rebecca Goldstein: Đối với tôi những mối tương thuyết ấy là tự nhiên. Đó là vấn đề những dạng thức khác nhau của cái đẹp. Những nhà toán học và những nhà vật lí cũng được hướng dẫn bởi những nguyên lí về thanh tao và cái đẹp chẳng khác gì các tiểu thuyết gia và các nhạc sĩ. Einstein bảo triết gia khoa học Hans Reichenbach rằng ngay cả trước cuộc nhật thực năm 1918 – ủng hộ cho thuyết tương đối của ông, thì ông cũng đã biết là thuyết ấy phải đúng bởi nó quá đẹp. Và Hermann Weyl, người làm việc về cả thuyết tương đối và cơ học lượng tử, nói: “Công việc của tôi đã luôn luôn cố gắng thống nhất cái đúng với cái đẹp, nhưng khi tôi phải chọn cái này hoặc cái kia, tôi thường chọn cái đẹp”. Tôi cũng xin nói cùng điều đó về việc viết tiểu thuyết. Khi bạn dùng các ý tưởng trong toán hoặc vật lí hoặc triết học trong một tác phẩm giả tưởng, câu hỏi đặt ra là bạn có thể bẻ quẹo ý tưởng bao xa để khiến nó làm được việc trong tiểu thuyết, làm được việc như một ẩn dụ. Tôi cố gắng hết sức gần gũi với sự thật trong chừng mức có thể, nhưng khi tôi phải chọn, thì chọn theo cách của Weyl.      Toán học dường như chính là nơi chốn duy nhất bạn không cần phải chọn, nơi cái đúng và cái đẹp luôn luôn thống nhất. Một trong những cuốn sách ưa chuộng mọi lúc của tôi là A Math- ematicians’ Apology [Biện hộ của một nhà toán học] của G.H. Hardy, nó cố gắng chứng minh cho một lớp độc giả phổ thông rằng toán học mật thiết với cái đẹp. Ông đưa ra hai chứng cớ để làm thí dụ, một chứng tỏ rằng không có số nào là số nguyên tố lớn nhất. Đó là những chứng cứ giản dị, dễ nắm bắt và chúng khơi dậy ngạc nhiên trong tâm hồn. Tôi đọc cuốn sách của G. H. Hardy vào mùa hè, sau khi tốt nghiệp cử nhân, ngay trước khi tiếp tục vào trường cao học. Đó cũng là mùa hè tôi đọc cuốn sách mỏng đáng yêu của Newman và Nagel tựa đề là Godel’s Proof [Chứng cứ của Godel]. Đọc hai cuốn sách cùng lúc thật tuyệt vời. Không gì có thể làm tôi xác tín vào quan điểm của Hardy về toán học và cái đẹp hơn sự đồng thời đọc về Chứng cứ của Godel.      Cuốn sách của Hardy không những chỉ hấp dẫn về mặt trí tuệ mà còn gây xúc cảm, thậm chí có tính tụng ca nữa, bởi ông đang để tang cho sự mất đi tính sáng tạo toán học. Ông ta ở tuổi ngũ tuần, và như ông viết, toán học là một trò chơi của thanh niên! Ông viết cuốn sách sau toan tính tự tử lần đầu và trước toan tính thứ nhì – lần [tự tử] thành công. C. P. Snow thuyết phục mãi để ông viết một cuốn sách mô tả những lạc thú đặc biệt của sự sáng tạo toán học cho những người không hề trải nghiệm nó. Cuốn sách có một tác động lớn với tôi, khắc sâu trong tôi sự nông cạn của việc phân nhánh trí tuệ và những đam mê. Trí tuệ là đam mê.       Và dĩ nhiên chính ông Snow là người đã đặt tên gọi cho chúng là hai nửa nền văn hóa – mà nay ông đi thêm bước nữa. Snow cảnh giác rằng một mặt những người thực hành những khoa học toán học và mặt khác những ngành nghệ thuật và nhân văn đang đánh mất khả năng thông hiểu lẫn nhau, khiến cho tất cả cùng nghèo nàn đi. Ý tưởng của ông về việc nối cầu giữa hai nền văn hoá, để sáng tạo một nền văn hoá thứ ba, đi tiếp cận với cây cầu chủ yếu từ phía khoa học. Một số lớn những nhà khoa học của tạp chí Edge mà ông đang tự gắn bó với những loại câu hỏi trong truyền thống vẫn thường được các nhà nhân văn đề đạt, những câu hỏi liên can tới ý nghĩa làm người. Nhưng cũng có một vận động từ phía kia nữa. Có những nghệ sĩ tự sự khác – tôi đang nghĩ đến những nhà tiểu thuyết như Richard Powers, Alan Lightman, Dan Lloyd, và những kịch tác gia như Michael Frayn, và Paul Parnell (họ viết vở kịch QED [Quan- tum Electro namics: Điện động học lượng tử/Quod erat demonstratum: Điều phải chứng minh] về Richard Feynmann) – là những người đang hội nhập những ý tưởng toán học và khoa học vào tác phẩm của mình. Đó là một điểm kì vọng trong nền văn hóa này.      Tôi ưa nghĩ rằng những khía cạnh nông nổi của khung cảnh trí tuệ thuộc thế kỉ vừa qua đã diễn hết trò rồi. Tôi chủ ý nói riêng đến những sự phấn khích vào tính khách quan và tính thuần lí, thường mang dạng những công kích vào khoa học. Không có gì kém hào hứng hơn việc giảm trừ mọi thứ vào những kiến thiết xã hội và vào những quan điểm tủn mủn của con người. Lạc thú của suy nghĩ là trong sự cố gắng ra khỏi tự thân chúng ta – điều này cũng đúng trong các ngành nghệ thuật và nhân văn như là trong toán và khoa học. Có một chút gì anh hùng trong ý tưởng về phía tri thức khách quan. Tri thức càng đưa bạn lìa xa quan điểm cá nhân của riêng bạn bao nhiêu thì tri thức đó càng anh hùng bấy nhiêu. Có thể những ý tưởng mới đang sắp làm sống động lại những ngành nghệ thuật, và nhân văn cũng đang sắp đồng minh với những khoa học. Dĩ nhiên, không phải là tiểu thuyết sẽ đề đạt những chủ đề khoa học – như thế hẳn sẽ hạn chế một cách lố bịch. Nhưng tôi hi vọng rằng tinh thần rộng mở liên kết với sự theo đuổi chân lí khoa học sẽ thấm đẫm vào những ngành nghệ thuật và nhân văn.         Những liên hệ này giữa các khoa học và các ngành nhân văn liệu có tương quan như thế nào với Godel?        Một trong những điều kì lạ xảy ra trong thế kỉ 20 là những kết quả rút ra từ toán học và vật lí được kết nạp vào cuộc tấn kích lên tính khách quan và tính thuần lí. Tôi chủ chốt nghĩ đến thuyết tương đối và những định lí về bất toàn của Godel.      Mùa hè trước khi bước chân vào ban cử nhân ở đại học tôi có đọc một cuốn sách khá phổ thông lúc đó, của một triết gia ở New York tên là William Barrett, tựa đề là Irrational Man (Con người phi lí tính). Nó mơ hồ đượm màu của chủ nghĩa hiện sinh và nó lập luận khá ráng sức rằng con người kiến thiết mọi chân lí. Nó nói nhiều về Nietzsche và Heidegger, nhưng chỉ có một vài trang về thuyết tương đối và những định lí bất toàn, đưa ra lập luận rằng rốt cuộc của những kết quả này là ngay trong vật lí và toán học cũng không hề có chân lí khách quan và tính thuần lí. Vạn vật đều là tương đối ứng với quan điểm của con người, và rằng những chứng cớ của toán học là bất toàn bởi không có cơ sở nào cho tri thức toán học. Mọi thứ đều bị nhiễm tính chủ quan của con người, để cho chúng ta không có cơ sở nào biện biệt giữa cái thuần lí và cái phi lí. Tôi đọc điều này ngay trước khi bước chân vào đại học và khiến tôi ra khơi mà bao nhiêu cánh buồm đều đói gió. Trước kia tôi từng hăng say học những điều quan trọng nhưng bấy giờ tôi đọc được rằng điều quan trọng duy nhất để học là chẳng có điều gì là quan trọng cả, ít ra cũng chẳng có điều nào mà không phải do chúng ta tạo dựng nên, nó dường như ngầm phá tầm quan trọng của chúng. Tôi cũng từng thích tạo dựng sự việc như bất cứ ai; nói cho cùng, tôi là một kẻ tương lai sẽ viết tiểu thuyết. Tuy vậy, ý nghĩ rằng công chuyện tạo dựng này xâm nhập cả vào toán học đã làm tôi xì hơi.      Và điều trớ trêu là cả hai Einstein và Godel – vốn có một mối kết giao bằng hữu truyền kì khi họ cùng ở Học viện Cao cấp inceton (the Princeton Insti- tute for Advanced Study) – đều đã không tận tụy hơn với ý tưởng về chân lí khách quan. Cả hai đều là những người siêu cấp hiện thực khi xét trong lĩnh vực của họ, Einstein trong vật lí, và Godel trong toán học. Điều trớ trêu càng sâu sắc hơn trong trường hợp Godel bởi không những ông là một nhà hiện thực toán học, tin tưởng rằng chân lí toán học có cơ sở trong thực tại, mà còn trớ trêu hơn nữa, là chính sự xác tín siêu toán học này đã thực sự làm động cơ thúc đẩy những chứng cứ nổi tiếng của ông.      Godel là một nhà hiện thực toán học, một người theo chủ nghĩa Platon. Ông tin rằng cái làm cho toán học chân thực là bởi nó mang tính mô tả – dĩ nhiên, không phải về thực tại kinh nghiệm, mà là về một thực tại trừu tượng. Trực giác toán học là một cái gì tương hợp với một loại tri giác cảm quan. Trong luận văn của ông mang tên: “What Is Cantor’s Continuum Hypothesis?” [Giả thuyết liên tục của Cantor là gì?], Gdel viết rằng chúng ta không thể nhìn thấy những sự vật mà chúng tình cờ chân thực, mà chúng ta đang nhìn thấy những sự vật mà chúng phải là chân thực. Thế giới của những thực thể trừu tượng là một thế giới thiết yếu, đó là lí do chúng ta có thể diễn kịch những mô tả của chúng ta về nó qua lí tính thuần túy (pure reason).      Một trong những điều lí thú về Godel là ông trở nên đắm say với chủ nghĩa Platon khi là sinh viên, một sinh viên ban cử nhân ở Đại học Vienna. Ông theo một giảng khóa triết học của Heinrich Comperz. Khi tôi đọc những trang bản thảo của Godel trong tầng hầm của thư viện irestone ở Đại học Princeton, tôi khám phá ra rằng về cuối đời ông được người ta gửi tới một bản câu hỏi về những ảnh hưởng triết học. Những nhà xã hội học đã liệt kê một nhóm các triết gia nặng kí, và Godel xao lãng hầu như toàn bộ họ- (mặc dù ông nói rằng Kant có chút xíu ảnh hưởng). Theo Gdel, ảnh hưởng lớn nhất lên đời ông là giáo sư Comperzs, người đã giới thiệu ông vào lập trường triết học, chủ nghĩa Platon. Đáp ứng của Godel là mạnh mẽ. Ông chuyển môn chọn từ vật lí sang toán học, chuyên môn nhất về lí thuyết số, bởi ông nghĩ rằng chính đó là nơi ông đã tìm ra những kết quả thân thiết với trái tim theo Platon của ông. Điều này cho bạn thấy định hướng triết học làm động cơ cho công cuộc của ông. Dường như Godel đã ấp ủ một cao vọng táo bạo ngay khi còn là một sinh viên trẻ tuổi: sản sinh một kết quả toán học có những hàm nghĩa siên toán học, những hàm nghĩa, hoặc ít nhất là những gợi ý, về bản tính của tự thân toán học. Nó như thể một họa sĩ tạo tác một bức tranh có nói được một điều gì về bản tính của cái đẹp, không chừng còn có một điều gì để nói về sự tại sao cái đẹp lại làm ta xúc động. Toán học nêu lên những câu hỏi siêu tính (meta-questions), bởi vì nó là tiên nghiệm (a priori), là miễn dịch với sự xét lại trải nghiệm, là thiết yếu. Làm sao chúng ta lại có được tri thức loại này? Nó là về cái gì? Những sự thật chúng ta học được về cõi không gian, thời gian rốt ráo ra đều mang tính trải nghiệm; và chúng là ngẫu nhiên. Chúng không miễn dịch với sự xét lại trải nghiệm, đó là lí do vật lí đòi hỏi những thiết bị đắt tiền để trắc nghiệm những tiên đoán của nó đối với thế giới. Những nhà toán học thì rẻ tiền; vậy nên họ đáng giá trong so sánh phí tổn và hiệu quả ở các đại học – đó cũng là một cách khác để nói rằng toán học là tiên nghiệm. Nhưng tính tiên nghiệm và tính thiết yếu này trình ra những vấn đề. Những chân lí tiên nghiệm, thiết yếu, có thể là về cái gì? Không chừng chúng chẳng là về cái gì cả, ngoại trừ những hệ thống dạng thức mà chúng ta kiến thiết, thuần là những hậu quả của việc thao tác những biểu tượng theo quy luật, như thể trong trò chơi cờ vua. Chủ nghĩa Platon chối bỏ câu trả lời này. Nó tuyên xưng rằng toán học là mô tả về những thực thể trừu tượng, về số và tập hợp, chúng tồn tại riêng biệt khỏi nỗ lực của chúng ta, đang tìm hiểu chúng qua những hệ thống toán học của chúng ta.       Chủ nghĩa Platon đã luôn luôn có một hấp lực lớn đối với các nhà toán học, bởi nó làm cơ sở cho cảm quan của họ rằng họ đang khám phá hơn là đang phát minh ra những sự thật. Khi Godel đem lòng yêu chủ nghĩa Platon, theo tôi, nó trở thành cốt lõi cho đời sống của ông. Ông tình cờ đã kết hôn rồi, nhưng mối tình chân thực của đời ông là chủ nghĩa Platon, và ông mắc vào cái vòng tình ái, như rất đông trong chúng ta, khi ông là một sinh viên chưa tốt nghiệp.      Vào thời của Godel, chủ nghĩa Platon là một lập trường ít phổ thông. Hầu hết các nhà toán học, chẳng hạn như David Hilbert, gương mặt vời vợi trong thế hệ trước của những nhà toán học và còn sống khi Gdel ở tuổi thanh niên, đều là những người theo chủ nghĩa hình thức. Chương trình của Hilbert là hình thức hoá mọi ngành toán học. Chính bản thân Hilbert đã làm xong việc hình thức hóa hình học, tùy thuộc vào việc số học được hình thức hóa. Và điều mà chứng cớ lẫy lừng của Godel chứng tỏ là số học không thể hình thức hóa được. Bất cứ hệ thống hình thức về số học nào cũng sẽ hoặc là bất nhất (inconsistent) hoặc là bất toàn (incomplete).      Vào ngày 7 tháng 10 năm 1931, khi 24 tuổi, ông loan báo kết quả của mình, một chứng cứ bày tỏ rằng bất cứ hệ thống hình thức nào đủ phong phú để biểu hiện số học cũng sẽ có một mệnh đề là đúng và không thể chứng minh. Ông thực sự còn bày tỏ cách kiến thiết, trong mỗi hệ thống hình thức nhất trí, một mệnh đề số học chân thực mà không thể chứng minh. Điều này nghe ra nghịch lí, bởi nếu ông bày tỏ rằng nó chân thực, thì không phải là ông đã chứng minh nó chân thực rồi sao? Nhưng nó không nghịch lí. Chứng cứ này lướt bên mép bờ của nghịch lí.      Một phần hậu cảnh tiếp ngay với Chứng cứ của Godel không chỉ là Chương trình của Hilbert, mà còn là thủ đô Viên [Vienna] trong những năm cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930. Khi còn là sinh viên, Godel đã được một trong những giáo sư của mình là Hans Hahn, mời tham dự những buổi gặp mặt truyền kì của những nhà thực chứng luận lí (logical positivists), là những người sau này được biết đến như Nhóm Viên (the Vienna Circle). Đôi khi Gdel được xếp loại như là một nhà thực chứng luận lí là bởi sự liên kết thời trẻ này. Đúng là Godel đã không tranh luận với họ khi tham dự những buổi họp tổ chức tại một căn phòng u ám trước tầng hầm của Đại học Viên. Nhưng chính bởi ông chọn cách không tranh luận không có nghĩa là ông chẳng bất đồng với họ một cách kịch liệt. Một người say mê chủ nghĩa Platon ắt phải so le một cách sâu xa với những nhà thực chứng luận lí.      Godel không tin vào khả năng truyền thông của chúng ta. Ông nghĩ rằng ngôn ngữ tự nhiên là không chính xác, và chúng ta thường không hiểu nhau. Godel muốn minh chứng một định lí toán học, nó sẽ có toàn bộ sự chính xác của toán học – là ngôn ngữ duy nhất có thể tuyên xưng ít nhiều về sự chính xác – nhưng với tầm vóc triết học. Ông muốn một định lí toán học có thể đáp ứng những để xuất của siêu toán học (meta-mathematics). Và hai điều phi thường đã xảy ra. Một là ông thực sự đã tạo tác ra một định lí như thế. Một nữa là những thành phần sinh động hơn trong cõi văn hóa trí thức đã thông giải định lí đó về mặt triết học, và nói lên ngay cái điều đối nghịch với điều ông chủ ý để nói bằng chính định lí đó. Godel chủ ý chứng tỏ rằng tri thức toán học của chúng ta vượt quá những chứng cứ hình thức của chúng ta. Ông không có ý muốn lật đổ quan niệm rằng chúng ta có được tri thức toán học khách quan, hoặc cũng không có ý tuyên xưng rằng không có chứng cứ toán học – hoàn toàn trái lại. Ông tin rằng chúng ta tất nhiên là có tiếp cận với một thực tại toán học độc lập. Những hệ thống hình thức của chúng ta là bất toàn bởi có nhiều thực tại toán học hơn là có thể chứa trong bất cứ hệ thống hình thức nào của chúng ta. Chính xác hơn, điều ông bày tỏ là toàn thể những hệ thống hình thức của chúng ta đủ mạnh cho số học thì hoặc là bất nhất hoặc là bất toàn. Vậy mà một hệ thống bất nhất thì hoàn toàn vô giá trị bởi vì những hệ thống bất nhất cho phép bạn dẫn xuất những mâu thuẫn. Và một khi bạn có một mâu thuẫn thì bạn có thể tha hồ chứng minh bất cứ điều gì.       Bà có nghĩ rằng chứng cứ của Godel phơi mở một điều gì về tương quan giữa ngôn ngữ và thực tại?      Chứng cứ của Godel không xem ngôn ngữ mang tính kiến thiết thực tại. Đúng hơn ngôn ngữ lệ thuộc vào thực tại. Nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ không quan trọng trong chứng cứ, là không có điều gì đó mê huyền diễn ra trong những ngôn ngữ, có thể bảo rằng, được nói lên trong chứng cứ. Thực vậy, chứng cứ đó là một sự xếp tầng nhiều loại ngôn ngữ, và cung cách theo đó chứng cứ liên kết những tầng lớp này là cốt tuỷ chiến lược của chứng cứ.      Có ngôn ngữ toán học thuần túy, và rồi có ngôn ngữ siêu toán học, nó mô tả tự thân những hệ thống hình thức, những quy luật của những hệ thống hình thức. Cái khéo khôn là ở ch ỗ ông khiến những câu vốn nói một điều gì thẳng băng về số học cũng đồng thời nói một điều gì đó về chính chúng. Những câu này xoay xở để nói lên trên hai bình diện, và sự nói nước đôi (double-speak) này được hoàn tất qua cái ngày nay chúng ta gọi là đánh số Godel (Gdel numbering). Mỗi thành tố trong hệ thống đều có một số, và bạn cũng có thể ủy thác những con số cho những công thức hoàn thiện (well- formed formulas) gồm những thành tố kia, và cho những chuỗi của các công thức hoàn thiện – vốn là thực chất của các chứng cứ – bằng những quy luật tổ hợp (combinatorial rules). Cho sẵn bất cứ dây kí hiệu nào (string of symbols) bạn có thể dẫn xuất con số duy nhất đi cùng với dây đó, và đảo lại. Bởi có sự đánh số của Godel, những mệnh đề kia vừa nói một điều gì thẳng băng về số học nhưng cũng đồng thời nói một điều gì về chính chúng, một điều gì về những tính chất hình thức của riêng chúng. Đó là cung cách theo đó tính tự thân quy chiếu (self-referentiality) được sử dụng trong chứng cứ.      Tính tự thân quy chiếu, vốn đã sản sinh nhiều vấn đề luận lí quỷ quái – nhà luận lí học Raymond Smullyan đã viết rất hay về chúng trong những cuốn sách lí thú của ông – có cội nguồn từ thời Hi Lạp cổ đại, khi Epimenides, một người dân đảo Crete, nói rằng mọi người dân đảo Crete đều nói dối. Đây là một nghịch lí. Nói cho ngay, trong phát ngôn của Epimenides không có gì nghịch lí nhưng nó ắt dẫn tới câu sau đây, lại lẫy lừng mang tính nghịch lí: “Câu này sai”. Điều Epimenides nói được triển khai là: “Tôi là một người dân đảo Crete; mọi điều người dân đảo Crete nói là sai; ngay điều tôi nói đây là sai”. Và câu phát biểu cuối cùng thực sự nghịch lí. Bởi vì nếu nó đúng thì ắt nó sai, và nếu nó sai thì ắt nó đúng.      Và tâm trí đổ sụp. Godel đã chiếm hữu dạng thức cổ đại nghịch lí này để sản xuất ra một mệnh đề mà chúng ta có thể thấy là nó đúng chính bởi vì chúng ta có thể thấy là nó không thể chứng minh. Mệnh đề này có một ý nghĩa toán học thuần tuý, thẳng băng nhưng nó cũng là một mệnh đề nói về tự thân. Mệnh đề này, thực sự, là: “Chính mệnh đề này không thể chứng minh được”. Nó đúng, hay nó sai? Nếu nó sai, ắt sự phủ định mệnh đề đó là đúng. Sự phủ định mệnh đề đó nói rằng mệnh đề có thể chứng minh. Vậy, giả định là hệ thống nhất trí, nếu mệnh đề nói nước đôi, vấn nạn này là sai, ắt sự phủ định của nó là đúng, điều đó có nghĩa là tự thân mệnh đề vấn nạn kia như thế có thể chứng minh được. Vậy là nếu nó sai, nó không thể là sai được. Nếu nó sai ắt là nó đúng. Vậy nên nó phải đúng. Nhưng không thể chứng minh được.      Đó là cung cách ông thực hiện. Đó là mệnh đề vừa đúng vừa không thể chứng minh được. Và hãy nhớ rằng nó còn có một ý nghĩa số học nghiêm ngặt nữa. Điều đó được hoàn tất qua sự đánh số Godel. Vậy là ông đã chứng tỏ rằng trong bất cứ hệ thống hình thức nhất trí nào về số học sẽ có những mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh được. Một hệ thống hình thức về số học hoặc phải là bất nhất, hoặc là bất toàn. Định lí bất toàn thứ nhì, vốn tiếp theo khá thẳng băng từ định lí thứ nhất, chứng minh rằng một trong những điều bạn không thể chứng minh trong một hệ thống hình thức về số học là tính nhất trí của chính hệ thống đó. Vậy nên đang khi bạn làm việc trong một hệ thống bạn không thể chứng minh từ bên trong hệ thống đó là nó nhất trí. Và dĩ nhiên là một hệ thống bất nhất thì vô giá trị bởi lẽ bạn có thể chứng minh bất cứ điều gì trong một hệ thống bất nhất.  Nguyễn Tiến Văn dịch và giới thiệu    (Kỳ sau còn tiếp)    Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Google mua lại SlickLogin      SlickLogin – một công ty start-up của Israel chuyên cung cấp hệ  thống an ninh dựa trên âm thanh – đã được Google mua lại chỉ sau năm tháng  kể từ khi ra mắt trên website về công nghệ TechCrunch.     Số tiền mà Google phải chi ra để mua SlickLogin vẫn chưa được tiết lộ.  Đăng nhập bằng âm thanh là một ý tưởng khá mới lạ và độc đáo, thay cho cách đăng nhập truyền thống và Google cho rằng đây là một công nghệ nhiều triển vọng cho tương lai. Các ứng dụng, website có tích hợp công nghệ bảo mật của SlickLogin sẽ tạo ra một đoạn âm thanh và phát ra thông qua loa máy tính. Một thiết bị di động thông qua ứng dụng của SlickLogin sẽ tiếp nhận và phân tích đoạn âm thanh này rồi gửi về máy chủ của dịch vụ để xác thực cho người dùng đăng nhập.  Với SlickLogin người dùng có thể sử dụng một loạt các giao thức kết nối để bắt đầu xác minh vị trí của điện thoại: WiFi, Bluetooth, NFC, điểm ảo như mã QR, và dĩ nhiên có cả GPS.   Hiện các ứng dụng của SlickLogin vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm.   Nguồn: TechCrunch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Google- sắp xếp và quản lý thông tin toàn cầu      Nhiều người mỗi ngày vào www.google.com hàng chục lần nhưng khi được hỏi: “Google là gì?” thường không thể trả lời chính xác và lại phải vào tra trên www.google.com về Google. Nói một cách ngắn gọn, Google là công cụ tìm kiếm thông tin trên mạng Internet. Khi muốn tìm kiếm thông tin về vấn đề gì, người ta chỉ cần vào trang web www.google.com, gõ từ khóa liên quan đến thông tin cần tìm là Google sẽ cung cấp hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn đường dẫn tới các website có chứa thông tin về vấn đề đó.    Larry E. Page và Sergey Brin – những người sáng lập giàu tham vọng của Google – từ lâu đã tuyên bố sứ mệnh của Google là “sắp xếp và quản lý thông tin toàn cầu”. Hiện tại, ai cũng công nhận là sứ mệnh của Google đang được thực hiện rất tốt, tốt đến mức người ta luôn băn khoăn không hiểu sẽ tìm kiếm thông tin ra sao nếu một sáng mai thức dậy không còn Google (dù các công cụ tìm kiếm như Yahoo hay Micrsoft cũng không phải là tồi). Theo Peter Norvig, Giám đốc phụ trách chất lượng tìm kiếm của Google, cùng với việc tăng cường link thêm những trang web mới, Google còn liên tục cải tiến các thuật toán xếp hạng của mình để đưa ra những kết quả tìm kiếm ngày càng gần với nội dung mà người truy cập yêu cầu.  Kho dữ liệu của Google gồm trên 6 tỷ mục thông tin, bao gồm 4,28 tỷ trang web, 880 triệu hình ảnh và 845 triệu thông điệp Internet. Một mảng thông tin đang tăng nhanh gần đây là các trang liên quan đến sách, bao gồm các chương đầu, phần phê bình, tham khảo. Hệ thống thông tin này được Google truy xuất qua dịch vụ Google Print mà họ đang cho vận hành thử nghiệm. Google đang đang số hóa các thư viện trên thế giới và chuẩn bị cung cấp dịch vụ băng thông rộng không dây tới hàng triệu người trên trái đất.  Trong 3 năm qua, Google đã đi từ chỗ có 100 triệu lượt tra cứu 1 ngày đến hơn 200 triệu lượt tra cứu 1 ngày, trong đó chỉ có 1/3 lượt tra cứu là từ nước Mỹ, số lượt tra cứu còn lại là từ 88 quốc gia trên thế giới.    Google không phải là miễn phí.  Phần lớn doanh thu của Google đến từ những mẩu quảng cáo xuất hiện trên những trang web mà người sử dụng truy cập thông qua công cụ tìm kiếm Google. Cứ mỗi lần người ta nhấp chuột vào những mẩu quảng cáo này là Google lại ung dung thu tiền của nhà quảng cáo.  Mọi chuyện sẽ không có gì để nói nếu không xuất hiện tình trạng một bên thứ ba nào đó, dù không có ý định mua hàng hóa hay dịch vụ của nhà quảng cáo nhưng cố ý nhấp chuột liên tục vào mẩu quảng cáo, có khi dùng cả… robot để nhấp tự động. Năm 2005, hàng loạt công ty đã cùng khởi kiện Google vì hãng này đã có quá ít hành động để ngăn chặn tình trạng nhấp chuột ma tiếp diễn. Ngày 8 tháng 3 năm 2006, Google đưa ra con số 90 triệu USD (tức chưa tới 1% doanh thu của công ty trong 4 năm qua) để bồi hoàn cho bất kỳ khách hàng nào từ tháng 2.2002 đến nay chứng minh được là mình bị thiệt hại từ những cú nhấp chuột ma. Số tiền trên bao gồm cả chi phí pháp lý và được dùng để mua các hợp đồng quảng cáo mới của Google.  Cái giá phải trả cho việc tìm kiếm bằng Google về phía người sử dụng còn là việc các thông tin cá nhân bị lưu giữ. Kết quả của một cuộc khảo sát gần đây cho thấy có tới hơn ba phần tư (77%) số người sử dụng Internet không biết là Google đã và đang ghi nhận và lưu trữ các thông tin cá nhân của họ.  Google có thể duy trì một loại cookie có tuổi thọ đến tận năm 2038 lưu trữ địa chỉ IP của người sử dụng. Nhưng mới gần đây hãng này còn bắt đầu tích hợp các ghi nhận thông tin lịch sử tìm kiếm cá nhân, email, thói quen mua hàng cũng như những liên lạc xã hội của người sử dụng. Sau khi đã giành được thành công với việc tích hợp dịch vụ thư điện tử với dịch vụ tìm kiếm trên Internet, Google đã tiến thêm một bước mới và lựa chọn người sử dụng bằng bất kì cách nào. Bằng cách này, quả thực Google biết nhiều thứ về chúng ta hơn chúng ta nghĩ.  Google đang bị Bộ Tư pháp Mỹ bắt phải cung cấp các thông tin cá nhân mà Google có được để phục vụ cho cuộc đấu tranh chống khủng bố. Việc từ chối cung cấp các thông tin liên quan khiến Google bị sa lầy vào cuộc chiến pháp lý tốn kém với chính phủ Mỹ quanh chuyện “quyền riêng tư của khách hàng”.  Tính đến thời điểm này, quy mô vốn của Google đã vượt qua con số 100 tỷ USD, chính xác là 111,5 tỷ USD. Còn xét về doanh thu, năm 2005 Google đạt 6,14 tỷ USD, tăng 92,5% so với năm 2004 là 3,19 tỷ USD. Kể từ sau khi phát mãi lần đầu hồi tháng 8/2004, giá cổ phiếu Google đã tăng gấp 4 lần lên 475 USD vào giữa tháng 1/2006.  Trong phiên giao dịch chiều 2/3, lần đầu tiên giá cổ phiếu Google tụt dưới ngưỡng 400 USD, chỉ còn 380 USD tức là giảm mất 1/4 giá trị do bị cạnh tranh quyết liệt và nhiều yếu tố chủ quan khác. Giám đốc tài chính George Reyes của Google đã tuyên bố rằng tốc độ tăng trưởng của công cụ tìm kiếm số một thế giới đang chậm lại, và rằng nỗ lực kiếm lời từ việc đặt quảng cáo bên trong các kết quả tìm kiếm sẽ mang lại ít kết quả hơn trong tương lai.  Nguyên do là giờ đây, người tiêu dùng đã nhận ra được chiêu thức “tìm kiếm trả tiền”, và vì thế, các nhà quảng cáo cũng sẽ không còn mặn mà với Google  như trước.  Microsoft tuyên bố sẽ khai trương một công cụ tìm kiếm mới với  chất lượng và thông tin tích hợp hơn hẳn Google trong vòng 6 tháng nữa. Tuy nhiên, chất lượng tốt vốn chưa bao giờ là đủ để chiếm trọn trái tim và tình cảm của người dùng – vốn đã quen dành cho Google.  Google không phải là Đức Chúa Trời!  Thomas Friedman (tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng “Chiếc Lexus và cây ô liu” và “Thế giới phẳng”) trên Thời báo New York ngày 29 tháng  6 năm 2003 đã dẫn lời của Alan Cohen, Phó Chủ tịch Airespace – nhà cung cấp mạng không dây lớn ở Mỹ nói: “Nếu sử dụng Google, tôi có thể tìm thấy bất cứ điều gì. Và với công nghệ không dây, nó có nghĩa là tôi sẽ có thể tìm được bất cứ điều gì tại bất cứ nơi đâu vào bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng Google với công nghệ kết nối không dây Wi – Fi, có gì đó giống với Đức Chúa Trời. Chúa Trời là vô hình, Chúa Trời ở khắp nơi, Chúa Trời nhìn thấy và biết mọi việc. Trong suốt chiều dài lịch sử, con người liên hệ với Chúa không thông qua bất cứ một sợi dây nào”.  Những thông tin về Google kể ra ở trên đã cho thấy: dù có vẻ như biết hết mọi việc, rõ ràng Google không phải là Đức Chúa Trời. Các học giả đang tranh luận với nhau về giới hạn của khoa học, về giới hạn của tri thức con người liệu có bao quát được hết, liệu có đủ để giải thích thế giới mà chúng ta đang sống hay không. Huống chi “hiểu biết” của Google chỉ giới hạn trong những thông tin được đưa lên mạng Internet.      Phan An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Google thử nghiệm khí cầu Internet bay ở tầng bình lưu      Công ty Google hiện đang tiến hành một dự án  đầy tham vọng có tên là Dự án Loon, nhằm thả các khí cầu cỡ lớn lên  tầng bình lưu của khí quyển, để từ độ cao ấy cung cấp dịch vụ Internet  cho mặt đất.       Mùa hè 2013, khi Google tiết lộ dự án kể trên, các khí cầu làm bằng polyethylene chỉ có thể tồn tại khoảng năm ngày ở tầng bình lưu trên bầu trời. Từ đó trở đi Google không ngừng cố gắng tìm cách kéo dài thời gian bay của khí cầu.   Mahesh Krishnaswamy là một trong những người phụ trách Dự án Loon. Ông đứng đầu nhóm nhân viên ông gọi là The Leak Squad (Tiểu đội rò khí), có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu bằng mọi cách ngăn sự rò rỉ chất khí chứa bên trong khí cầu trong các khâu sản xuất, vận chuyển, thao tác.   Họ dùng mọi biện pháp như sử dụng khối phổ kế (mass spectrometer) hoặc dùng cả tới bong bóng xà phòng. Krishnaswamy và nhóm của ông thường theo dõi đo đạc các khí cầu chứa tại kho máy bay trong sân bay Moffett Field, một cơ sở cũ của NASA, cách không xa Phòng thí nghiệm nghiên cứu X của Google ở thành phố Mountain View, California. Google thuê của NASA một nhà kho lớn đủ sức chứa những thứ không tiện đặt trong văn phòng, như máy bay của công ty và những chiếc khí cầu dài 30 thước Anh của Dự án Loon.   Nhưng trong tuần lễ kỷ niệm hai năm ngày dự án Loon ra đời, nhóm Krishnaswamy không có mặt tại sân bay Moffett mà kéo nhau ra căn cứ không quân Eglin ở Valparaiso. Đây là nơi đặt trụ sở Phòng Thí nghiệm Khí hậu Mc Kinley (McKinley Climatic Laboratory) nổi tiếng. Tại nhà kho rộng 55.000 thước vuông Anh này, không quân Mỹ có thể tái tạo các điều kiện khí hậu cực đoan như nhiệt độ dưới không độ, gió lớn, mưa, tuyết… để thử nghiệm các loại máy bay phản lực chiến đấu, máy bay ném bom, lên thẳng… Google đang sử dụng Phòng Thí nghiệm McKinley để đo đạc các khí cầu của họ, nhằm tái tạo môi trường khí hậu mà khí cầu có thể gặp phải ở độ cao cách mặt đất 20 dặm Anh. “Đây là cái tủ lạnh khổng lồ có thể lạnh tới âm 60 độ C” – Krishnaswamy bình luận.     Nhờ phát hiện và hạn chế được hiện tượng rò rỉ khí của khí cầu nên hiện nay Google đã có thể giữ được các khí cầu ở trên trời lâu tới 187 ngày, như thế đã là một bước tiến lớn. Tất cả các khí cầu trong diện theo dõi đã bay được tổng cộng hơn 16 triệu km. Từ khoảng cách 20.000 km, các kỹ sư của Google có thể điều khiển định vị các khí cầu trong phạm vi không quá 500 m, và có thể bố trí chúng xếp thành mạng hình hoa cúc để gửi tín hiệu vô tuyến giữa các khí cầu, thực hiện liên kết Internet khắp bầu trời. Google dự kiến, dùng các khí cầu đó gửi tín hiệu Internet từ một trạm viễn thông mặt đất ở cách xa hàng trăm km tới tất cả các máy điện thoại di động, qua đó giúp các thuê bao thực hiện liên mạng không dây.  Tuy đã thuê được các thiết bị của Không quân Mỹ nhưng Dự án Loon đang gặp nhiều thách thức. Khi mới bắt đầu dự án, để đưa được một khí cầu lên trời, Google cần 15 người phối hợp làm việc trong 45 phút. Như vậy giá thành nhân công quá cao, rõ ràng không đạt yêu cầu về kinh tế, vì vậy không thể thuyết phục các công ty kinh doanh thông tin bỏ vốn vào việc lập mạng khí cầu. Mới đây Google đã thiết kế được một nhà kho di động có thể dùng cần cẩu để mở khí cầu ra và tự động nạp khí helium trước khi thả khí cầu lên trời. Bằng cách đó chỉ cần bốn người làm việc trong 15 phút là thả được một khí cầu lên trời.  Google cũng đang nghiên cứu khả năng chống gió của khí cầu ở độ cao lớn. Họ đã chỉnh lý các số liệu khí tượng mấy chục năm nay của Cục Biển và Khí tượng Mỹ (NOAA) và mô hình hóa điều kiện khí hậu, qua đó dự kiến được hướng gió. Có thể tùy theo hướng gió mà điều chỉnh độ cao của các khí cầu thuộc Dự án Loon. Nói cụ thể, khí cầu mà bạn nhìn thấy thực ra gồm hai chiếc trong một. Khí cầu chính nạp khí helium, khí cầu phụ (nằm trong bụng khí cầu chính) có thể được các kỹ sư điều khiển từ xa việc nạp khí cho nó hoặc xả bớt không khí bao quanh, qua đó di chuyển toàn bộ khí cầu lên cao hoặc hạ thấp.  Dĩ nhiên, mục đích của Google không chỉ là đưa khí cầu lên trời mà là để khí cầu trở thành phương tiện cung cấp Internet cho các thiết bị di động trên mặt đất. Trong lần thí nghiệm chiếc khí cầu đầu tiên, Google chỉ thực hiện dùng tín hiệu wi-fi liên kết Internet lên khí cầu. Giờ đây, sau hai năm, họ có thể truyền được tín hiệu giữa các khí cầu, hoặc dùng khí cầu làm một điểm phát tín hiệu LTE (Long Term Evolution) để phủ kín mặt đất.  Google đặt mục tiêu phủ tín hiệu Internet cho các vùng ở châu Phi, Mỹ Latin, Đông Nam Á. Hiện còn khoảng 2/3 số người trên thế giới chưa được tiếp xúc mạng Internet. Google cũng như Facebook muốn thay đổi tình trạng đó. Càng có nhiều người tiếp xúc Internet thì sẽ càng có nhiều người sử dụng Google – đó là chủ ý của công ty này.  Ng.H.  theo wired.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang GPT-4 sẽ đột phá cùng nhiều “lo ngại”      Evi-Anne van Dis – nhà tâm lý học tại Đại học Amsterdam, người trải nghiệm bản demo của GPT-4 đã kể lại một ví dụ ấn tượng về khả năng xử lý hình ảnh khi GPT-4 đã tạo ra code để xây dựng lại trang web từ hình phác thảo nguệch ngoạc ban đầu.    Một điểm nâng cấp của GPT-4, được phát hành vào ngày 14/3, là giờ đây nó có thể xử lý cả hình ảnh chứ không chỉ văn bản. Để minh chứng cho năng lực này, Open AI cho biết GPT-4 đã vượt qua kỳ thi lấy chứng chỉ hành nghề luật sư với kết quả cao hơn hẳn phiên bản trước. Nhưng phiên bản mới vẫn chưa được mở cho công chúng, đến nay chỉ những người đăng ký trả phí của ChatGPT mới có quyền truy cập.    Giới khoa học nghĩ gì?    Nhưng cộng đồng khoa học vẫn tỏ ra thất vọng về việc OpenAI giữ bí mật cách thức và dữ liệu đào tạo mô hình, cũng như nguyên lý hoạt động thực sự của nó. “Tất cả những mô hình nguồn đóng này về cơ bản đều là ngõ cụt trong khoa học. OpenAI có thể tiếp tục phát triển dựa trên nghiên cứu của họ, nhưng đối với cộng đồng nói chung, đó là một ngõ cụt”, Sasha Luccioni, nhà khoa học khí hậu tại HuggingFace, một cộng đồng AI nguồn mở, nói.    Andrew White, kỹ sư hóa học tại Đại học Rochester, là một trong số ít người có quyền truy cập vào GPT-4 với tư cách người thử nghiệm nền tảng được OpenAI trả tiền. White có quyền truy cập vào GPT-4 trong sáu tháng qua, và cho biết ban đầu GPT-4 có vẻ không khác gì với các phiên bản trước đó.    White đặt câu hỏi cho AI về các bước phản ứng hóa học cần thiết để tạo ra một hợp chất nhất định, dự đoán hiệu suất phản ứng và chọn chất xúc tác. “Lúc đầu, tôi thực sự không ấn tượng. AI đã bỏ sót và bịa đặt một số chi tiết”, White kể lại.        Nhưng khi nhóm thử nghiệm cấp cho GPT-4 quyền truy cập vào các bài báo khoa học, mọi thứ đã thay đổi đáng kể. “Chúng tôi nhận thấy những mô hình này sẽ không có hiệu suất tuyệt vời nếu chỉ đứng một mình. Nhưng khi kết nối chúng với Internet hoặc máy tính, thì đột nhiên nhiều khả năng mới xuất hiện”, White cho biết.    Đưa ra thông tin sai là một vấn đề khác được quan tâm. Luccioni nói rằng các mô hình như GPT-4, làm nhiệm vụ dự đoán từ tiếp theo trong một câu, không thể “khỏi bệnh” bịa đặt — hay được gọi là ảo giác. “Chúng ta không thể tin cậy vào những kiểu mô hình này vì hiện tượng ảo giác xuất hiện quá nhiều. Và điều này vẫn là một mối lo ngại trong phiên bản mới nhất”, cô cho biết.    Ngoài ra, với việc không có quyền truy cập vào dữ liệu được sử dụng để đào tạo, Luccioni nghi ngờ sự an toàn của mô hình. “Chúng ta không biết dữ liệu là gì, vì vậy, không thể cải thiện nó. Hoàn toàn không thể làm khoa học với một mô hình như thế này”, cô nói.    Bí ẩn về cách đào tạo GPT-4 cũng là mối quan tâm của nhà tâm lý học Claudi Bockting – đồng nghiệp của van Dis tại Amsterdam. “Rất khó để chịu trách nhiệm cho một thứ mà bạn không thể giám sát”, Bockting nói về việc sử dụng AI này trong khoa học – nhiều tạp chí hiện yêu cầu nhà nghiên cứu chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những thông tin mà AI viết ra nếu sử dụng AI trong nghiên cứu. “Một trong những mối lo ngại là chúng có thể thiên vị hơn nhiều so với sự thiên vị của con người”.    Luccioni giải thích rằng nếu không thể truy cập mã đằng sau GPT-4 thì không thể biết được sự thiên vị có thể bắt nguồn từ đâu hoặc để khắc phục nó.    Bockting và van Dis cũng lo ngại về việc các hệ thống AI chủ yếu được sở hữu bởi các công ty công nghệ lớn. Họ muốn công nghệ AI phải được các nhà khoa học kiểm tra và xác minh. Họ cho rằng cần phát triển một bộ hướng dẫn để quản lý việc phát triển và sử dụng AI và các công cụ như GPT-4. Họ lo ngại các văn bản luật liên quan đến công nghệ AI khó theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ.    Bockting và van Dis đã triệu tập một hội nghị tại Đại học Amsterdam vào ngày 11/4 tới để thảo luận những mối quan tâm này, với đại diện từ các tổ chức gồm Ủy ban khoa học-đạo đức của UNESCO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, và Diễn đàn Kinh tế Thế giới.    Theo White, bất chấp các mối lo ngại, GPT-4 và các phiên bản tương lai của nó sẽ làm chấn động nền khoa học thế giới. “Tôi nghĩ rằng công nghệ này sẽ là một sự thay đổi lớn về cơ sở hạ tầng trong khoa học, gần giống như Internet”, ông nói.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Greta Thunberg: Cánh chim báo bão      Những phát biểu đầy phẫn nộ, thậm chí cực đoan lên án và đòi hỏi các chính phủ phải chịu trách nhiệm về tình hình môi trường của Greta Thunberg đã tạo ra cảm hứng rộng khắp, hướng cuộc đấu tranh của thế hệ trẻ vào vấn đề môi trường.      Tại một phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về biến đổi khí hậu vào tháng 9, Greta Thunberg đã đặt một tập giấy mỏng lên bàn hướng về phía các nghị viên. Đó là một báo cáo đặc biệt từ Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu, dự đoán hậu quả thảm khốc khi Trái Đất ấm lên. “Tôi không muốn các vị phải lắng nghe tôi mà tôi muốn các vị lắng nghe các nhà khoa học,” cô nói với họ. “Tôi muốn các vị đứng cùng các nhà khoa học và tôi muốn các vị có những hành động thực chất.”  Các nhà khoa học đã dành hàng thập niên để cảnh báo về biến đổi khí hậu, nhưng họ vẫn không thể thu hút được sự chú ý toàn cầu như cách mà Thunberg đã làm trong năm nay. Cô gái 16 tuổi người Thụy Điển đã vượt qua họ – và nhiều người trong số họ đang cổ vũ cô.  “Một số người có thể tự hỏi tại sao một cô gái tuổi teen có được tín nhiệm và chú ý nhiều hơn vì ca thán công khai về một vấn đề lưỡng nan – hơn là nhiều nhà nghiên cứu khí hậu làm việc chăm chỉ và nỗ lực trong bao năm qua,” Sonia Seneviratne, một nhà khoa học khí hậu ở Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ – Zurich nói. Nhưng đó là vì Thunberg thẳng thắn và sự phẫn nộ của em không dễ dàng nguội tắt, và đó là sức mạnh, theo Seneviratne. “Là một nhà khoa học, chúng tôi thường không dám nói lên sự thật với sự chân thành đơn giản như vậy.”  Nhiều nhà nghiên cứu ca ngợi Thunberg đặc biệt vì cô giúp hướng sự chú ý của công luận vào biến đổi khí hậu và các tác động thảm khốc của nó. Những gì cô làm được đã cổ vũ các nhà nghiên cứu tiếp tục công việc của mình mặc dù thay đổi chính sách vẫn chậm chạp, theo Seneviratne.  “Greta đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà khoa học cùng các nhà hoạt động và hoạch định chính sách,” theo bà Angela Ledford Anderson, giám đốc chương trình Khí hậu và Năng lượng tại Liên hiệp các Nhà Khoa học Quan tâm Chính sách – Washington DC. Tháng 7 vừa rồi, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã công bố các biện pháp mới để cắt giảm lượng khí thải carbon và thừa nhận rằng các cuộc biểu tình mà Thunberg kêu gọi đã “thúc đẩy chúng tôi hành động.”  Nhưng có lẽ ảnh hưởng lớn nhất từ Thunberg sẽ nằm ở thế hệ các nhà khoa học tương lai, bà Anderson nói. “Cuộc vận động thành công của em tới những người trẻ tuổi cho thấy các thế hệ trẻ đang kỳ vọng khoa học phải dẫn đường cho chính sách,” bà nói, “và có thể truyền cảm hứng cho nhiều người trở thành nhà khoa học.  Tuấn Quang dịch  Nguồn: Mười nhân vật ảnh hưởng trong năm theo bình chọn của Nature. https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Grothendieck: người chứng minh “định lí” “Tồn tại nền toán học Việt Nam!”      Đó  là một trong những “định lí” nổi tiếng nhất của một trong những nhà toán học nổi tiếng nhất của thế kỉ này: Alexandre Grothendieck. Ông đã chứng minh “định lí tồn tại” nổi tiếng của mình không phải theo cách thường dùng để chứng minh các “định lí Grothendieck” nổi tiếng khác.      Tháng 11 năm 1967 Grothendieck sang miền Bắc Việt Nam, rồi ông mở lớp giảng bài cho Đại học Hà Nội đang sơ tán trong rừng. Trong ảnh: Grothendieck cùng với các học trò của mình, GS. Hoàng Xuân Sính áo trắng, tóc ngắn. Ảnh: pnp.mathematik.uni-stuttgart.de/lexmath/kuenzer/sinh  Lần này, thế giới toán học được biết đến một phương pháp chứng minh mới của Grothendieck: ông chứng minh định lí trên bằng chuyến đi của mình dến miền Bắc Việt Nam trong thời kì ác liệt nhất của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Sau khi từ Việt nam trở về, tháng 11 năm 1967, Grothendieck đã viết một bài về chuyến đi của mình, kết thúc bằng câu :” Tôi đã chứng minh một trong những định lí quan trọng nhất của mình, đó là: Tồn tại một nền toán học Việt Nam”. Bài viết đó nhanh chóng trở thành nổi tiếng trong thế giới toán học, bởi vì bất cứ điều gì mà Grothendieck viết ra đều là điều mà mọi người làm toán quan tâm.   Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó. Tôi hiểu điều này một cách rõ ràng khi, rất nhiều năm sau chuyến đi của Grothendieck, nhiều đồng nghiệp nước ngoài nói với tôi rằng, họ biết dến nền toán học Việt nam từ sau khi đọc bài viết của Grothendieck. Và cũng nhiều lần, tôi phải kể lại tường tận những gì tôi đã được chứng kiến, những gì Grothendieck đã làm trong chuyến đi thăm Việt nam. Bản thân sự kiện Grothendieck đến Việt Nam đã là điều đáng ngạc nhiên. Ông, người được trao giải thưởng Fields (là giải thưởng cao nhất về toán, tương tự như giải Nobel đối với các ngành khoa học khác, được tặng 4 năm một lần cho 1-4 nhà toán học xuất sắc nhất thế giới), người mà bất kì một trường đại học lớn nào cũng lấy làm vinh dự khi ông đến thăm, lại đi đến Việt nam đang dưới bom đạn ác liệt? Nhưng, để có thể hình dung tại sao những điều Grothendieck viết ra lại có ảnh hưởng to lớn như vậy trong thế giới toán học, xin được nói đôi lời về ông.  Alexandre Grothendieck không phải là người có một thời thơ ấu êm ả và thuận lợi. Ông sinh năm 1928 ở Đức. Cha ông mất năm 1943 trong trại tập trung Dachau, ông cùng với mẹ chuyển sang sống ở Pháp ngay trong thời kì chiến tranh thế giới thứ hai để tránh hoạ phát xít.  Tại Pháp, ông được những người chống phát xít giúp đỡ để có thể đến trường học. Năm 1948, ông đến Paris tìm gặp Henri Cartan, và ít lâu sau đến Nancy làm việc dưới sự hướng dẫn của Jean Dieudonné, một trong những nhà toán học xuất sắc nhất thời bấy giờ. Luận án tiến sĩ mà Grothendieck viết thời kì đó đã nhanh chóng trở thành kinh điển. Trong luận án của mình, Grothendieck xây dựng lí thuyết tích tenxơ các không gian hạch lồi địa phương. một lí thuyết mà đến nay vẫn là nền tảng của giải tích hàm hiện đại. Năm 1958, khi ở Pháp thành lập Insitiut des Hautes Etudes Scientifiques (nổi tiếng trong thế giới toán học dưới tên gọi tắt IHES), Grothendieck trở thành một trong những giáo sư đầu tiên của Viện.      Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó      Có lẽ những năm làm việc ở IHES là những năm rực rỡ nhất của thiên tài Grothendieck. Bằng lí thuyết các “lược đồ”, ông muốn làm cho hình học, đại số, số học và một số lĩnh vực cơ bản khác của toán học trở thành một khối thông nhất. Grothendieck đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong toán học. Có thể nói, ông để lại dấu ấn của mình trong mọi lĩnh vực của toán học hiện đại. Người ta có thể nhận ra  ảnh hưỏng  của Grothendieck ngay cả khi không thấy trích dẫn định lí cụ thể nào của ông. Điều này cũng giống như ảnh hưởng của Picasso đến thẩm mĩ của thời đại chúng ta: ta nhận ra Picasso không chỉ qua các bức hoạ của ông, mà thấy Picasso ngay trong hình dáng của những vật dụng hàng ngày. Grothendieck đã góp phần làm cho IHES thực sự trở thành một trong vài ba trung tâm lớn nhất của toán học thế giới. Chỉ một chi tiết sau đây cũng cho ta thấy rõ điều đó: từ ngày thành lập đến năm 1999, IHES mới có 9 người là “giáo sư chính thức” (professeur permanent) thì đã có 6 người đoạt giải Fields, đó là: Alexandre Grothendieck, René Thom, Jean Bourgain, Alain Connes, Pierre Deligne, Maxim Kontsevich. Hàng năm, có khoảng 200 lượt người đến làm việc tại IHES (khoảng từ một tuần đến một năm). Bản thân tôi cũng có cái may mắn được làm việc tại IHES một năm, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1988. Lúc đó, Grothendieck đã rời IHES, nhưng cũng như tất cả mọi người, tôi luôn thấy “tinh thần Grothendieck” thể hiện ở khắp nơi,  trong cách thức tiến hành các hoạt động khoa học cũng như trong những vấn đề nghiên cứu của IHES, và cả trong những câu chuyện hàng ngày.  Việc Grothendieck đột ngột rời bỏ IHES, và nói chung, rời bỏ toán học năm 1970, vào thời kì thiên tài của ông đang ở đỉnh cao, đã làm xôn xao giới toán học. Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn không thật hiểu rõ tại sao. Nhiều người cho rằng ông không đồng ý với việc IHES nhận một số tiền tài trợ của các cơ quan quân sự (vào thời điểm đó, số tiền này là vào khoảng 3,5% ngân sách của Viện).  Ông là người luôn có những quan điểm riêng của mình, và có thể là như nhiều người quan niệm, ông khá  “ngây thơ” về chính trị. Giáo sư Louis Michel kể lại: có một lần, ông chỉ cho Grothendieck xem bản thông báo về một hội nghị quốc tế mà Grothendieck được mời làm báo cáo viên chính. Trong phần liệt kê các cơ quan tài trợ có NATO, và Michel hỏi Grothendieck xem có biết NATO là gì không, thì Grothendieck trả lời “không”! Sau khi được giải thích NATO là gì, Grothendieck đã viết thư cho ban tổ chức hội nghị để phản đối. Và cuối cùng, vì không muốn mất Grothendieck, ban tổ chức đành mất NATO!       Grothendieck trong chuyến sang Việt Nam, cùng với các học trò của mình trong rừng. Ảnh: pnp.mathematik.uni-stuttgart.de/lexmath/kuenzer/sinh                                             Vậy mà con người có vẻ như ngây thơ về  chính trị, không biết NATO là gì, đã đến thăm và giảng bài tại Việt nam trong thời gian chiến tranh. Khi ông đến Việt nam (năm 1967), tôi vừa học xong năm thứ tư Khoa toán trường đại học tổng hợp Hà Nội. Tuy đã tốt nghiệp nhưng chưa nhận công tác nên tôi được “tự do” rời khu sơ tán về Hà Nội và đi nghe các bài giảng của ông. Thường thì Giáo sư Tạ Quang Bửu hoặc Giáo sư Đoàn Quỳnh phiên dịch cho ông. Tôi thật sự kinh ngạc vì sự bình tĩnh của ông: các bài giảng của ông thường bị ngắt quãng vì những lần máy bay Mĩ bắn phá thành phố. Vậy mà ông, người đến từ một đất nước đã từ lâu không có chiến tranh, không hề tỏ ra mảy may lo sợ. Nhưng rồi thì các bài giảng của ông cũng phải chuyển lên khu sơ tán, vì không thể nào giảng bài khi mà buổi học bị ngắt quãng hàng chục lần vì máy bay. Theo lời ông nói, chuyến đi Việt Nam đã làm ông thật sự ngạc nhiên: ở một đất nước ngày đêm phải đối đầu với cuộc chiến tranh ác liệt bậc nhất trong lịch sử, người ta vẫn dạy toán, học toán, và biết đến những thành tựu hiện đại nhất của toán học! Từ sự ngạc nhiên đó, ông đã công bố định lí của mình: “Tồn tại một nền toán học Việt Nam”.  “Định lí” trên đây của Grothendieck đã làm thế giới toán học biết đến nền toán học Việt nam trong chiến tranh. Chuyến đi của Grothendieck đã mở đầu cho một loạt chuyến đi thăm và giảng bài của nhiều nhà toán học lớn đến Việt Nam, trong đó nhiều nhất vẫn là các nhà toán học Pháp: L. Schwartz, A. Martineau, P. Cartier, Y. Amice,…Có thể nói chuyến đi của Grothendieck là một cột mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác khoa học giữa các nhà toán học Việt nam và các nhà toán học Pháp.  Cuối đời, Grothendieck sống trong một căn nhà nhỏ bên sườn dãy Pyrénées. Ông muốn ẩn dật, muốn xa lánh cuộc đời. Nhưng cuộc đời không bao giờ quên ông. Nền toán học thế giới không bao giờ quên ông. Và chúng ta cũng không bao giờ quên ông, người đã dùng tiếng tăm và ảnh hưởng của mình làm cho thế giới biết đến nền toán học Việt Nam ngay từ những năm chiến tranh chống Mĩ.  Ở khu sơ tán, có một hình ảnh về ông mà không bao giờ tôi quên. Đó là có một lần, tôi thấy ông cởi trần ngồi đọc sách, cái áo ướt màu “phòng không” vắt trên bụi sim. Hỏi ra mới biết, ông giành toàn bộ va li của mình để mang theo sách vở sang tặng các nhà toán học Việt Nam, và chỉ có bộ quần áo duy nhất mặc trên người! Vậy nên mỗi lần giặt, ông phải chờ quần áo khô để mặc lại chứ không có quần áo để thay! Trong thời gian ông ở Việt Nam, mỗi tuần ông đều nhịn ăn ngày thứ sáu. Khi các nhà toán học Pháp biết chuyện, họ đều rất ngạc nhiên vì không thấy ông có thói quen đó khi ở Pháp. Và người ta cho rằng chỉ có thể có một cách giải thích: ông muốn tiết kiệm một phần lương thực cho Việt Nam! Đó là một con người với thiên tài kì lạ, cá tính kì lạ, và cũng có tấm lòng ưu ái kì lạ với Việt Nam.    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang GS. Cao Chi – Người tìm vẻ đẹp của vũ trụ      “Để thấy vũ trụ trong một hạt cát;  Và bầu trời trong một đóa hoa rừng;  Hãy giữ vô cùng trong lòng tay bạn;  Và thiên thu trong một khắc đồng hồ”.  Có lẽ trong số không nhiều người Việt Nam rung động trước vần thơ viết cách đây ngót hai thế kỷ của William Blake, ít ai thấy được trong đó sự gợi mở của nguyên lý toàn ảnh như giáo sư Cao Chi. Chính cái nhìn trong trẻo, thuần khiết của một nhà lý thuyết trường lượng tử và một người say mê nghệ thuật đã đưa ông chạm đến nguyên lý đó cũng như những chân trời ảo mộng khác, nơi cái đẹp ẩn giấu trong mỗi nếp gấp của không – thời gian, mỗi cuộc va chạm giữa những vật thể kì vĩ từ thuở hồng hoang của vũ trụ mà dấu vết còn lưu đến ngàn năm…      Giáo sư Cao Chi.  Thoạt nhìn bên ngoài, con đường nghiên cứu của giáo sư Cao Chi – tác giả những công trình khoa học về đối xứng, hấp dẫn, ứng dụng hình học vào lý thuyết trường, như một đường thẳng tuyến tính, nơi điểm xuất phát là một cậu học sinh giỏi toán ở miền Nam, được tập kết ra Bắc rồi đi học tại trường Đại học Lomonosov và sau đó là Viện nghiên cứu hạt nhân Dubna, hai địa chỉ đỏ của khoa học Liên Xô nói riêng và khoa học quốc tế thời kỳ đó nói chung. Trên thực tế, đường thẳng tuyến tính đó cũng lắm những thử thách mà người trong cuộc như ông nhiều lúc cũng phải loay hoay tự tìm cho mình câu trả lời, dù biết rằng đó chỉ là giải pháp tình thế… Tua lại những thước phim quá vãng của gần 60 năm trước, ông như chìm đắm trong các dòng chảy đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa không gian thuần túy học thuật của những bài giảng của nhà vật lý Lev Landau, những buổi seminar toán lý do giáo sư Hoàng Phương khởi xướng, với không gian ấm cúng của buổi sinh nhật tròn 90 tuổi do Viện NLNTVN, nơi ông từng làm việc trước đây, tổ chức. Giống như những gợn sóng hấp dẫn từ thời kỳ vũ trụ sớm vẫn lan truyền qua các chiều không gian dư, những hình ảnh và ký ức đó còn tồn tại trong ông, giờ cựa quậy khi được dò đúng mạch nguồn…   Tất cả điều đó khiến cho không khí buổi sinh nhật ấy đặc biệt đến nỗi, những suy nghĩ thốt ra tự đáy lòng của ông tự nó đã mang một cái nhìn thấu suốt nhưng không kém phần khiêm nhường về đóng góp của mình: “Trong đời, tôi làm được hai điều, một là được giao trách nhiệm làm chủ nhiệm đề tài KC 09-17 ‘Nghiên cứu Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và năng lượng hạt nhân ở Việt Nam’, qua đó góp phần đem lại kết quả mang tính tiền đề để quy hoạch, phát triển năng lượng nguyên tử ở nước ta, và hai là được làm cộng tác viên của Tia Sáng để có cơ hội phổ biến cái đẹp của vật lý hiện đại”.       “Tôi đã tìm thấy sự liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và khoa học thông qua cái đẹp. Cho dù mỗi lĩnh vực đều có nét khác biệt nhưng đều tương đồng trong nguyên lý của cái đẹp: đối xứng, hài hòa, toàn bích và đơn giản…” (giáo sư Cao Chi).      Bước vào chân trời trường lượng tử  Trong cuộc chuyện trò gợi nhớ những ngày đầu tiên đến với vật lý lý thuyết, giáo sư Cao Chi vẫn cho mình may mắn. Không nhiều người Việt Nam khi đó học tập ở Lomonosov được nghe chính Lev Landau vĩ đại giảng bài như ông. Vào quãng những năm cuối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960, Lev Landau đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp với nhiều đóng góp nền tảng trong nhiều lĩnh vực của vật lý lý thuyết như cơ học lượng tử, hiện tượng siêu chảy, chuyển pha bậc 2, lý thuyết Ginzburg-Landau về siêu dẫn, lý thuyết chất lỏng Fermi… Tuy bận rộn với công việc nghiên cứu ở Viện Các vấn đề vật lý1, Landau vẫn dành thời gian giảng bài ở trường Đại học Lomonosov. “Mỗi lần Landau giảng bài, cả giảng đường chật kín người, ngay cả các giáo sư trong trường cũng tới nghe cùng sinh viên. Họ cũng thích được nghe Landau giảng bài vì ông ấy giảng hay lắm. Do ghế ngồi đều dành cho sinh viên nên các giáo sư phải ngồi xuống các bậc cấp cầu thang và ngồi kín mít. Không ai bỏ về, không ai muốn bị lỡ cơ hội nghe một người xuất sắc như Landau…”, giáo sư Cao Chi kể về may mắn có một không hai mà ông đã trải qua.   Mặc dù nội dung những gì Landau giảng ở quãng thời gian hơn hơn 60 năm trước vượt quá bộ nhớ sinh học thông thường nhưng ấn tượng con người xuất chúng này để lại thì dường như vẫn còn sâu sắc. “Bài giảng của Landau có gợi mở vấn đề gì ư? Tất nhiên hồi ấy tôi mới là sinh viên, chưa có kiến thức nhiều để có thể lĩnh hội được hết. Tôi chỉ biết là nó rất hay, rất hấp dẫn, bài giảng có nhiều ý tưởng mới so với sách giáo khoa, giáo trình lúc đó, đại loại như vậy”, cặp mắt giáo sư Cao Chi chợt sáng lên khi nhớ về những khoảnh khắc còn đọng lại trong ký ức.   Những năm đó, Landau sắp được trao giải Nobel 2. Nhưng ngay cả khi chưa tỏa ánh hào quang của người nhận giải thì Landau đã thừa sức gieo vào lòng người sinh viên Việt Nam vô danh như Cao Chi một ấn tượng đủ mạnh về vật lý lý thuyết để hướng về. “Tôi chọn lý thuyết không chỉ vì tôi học được toán, thực ra tôi yêu trường lượng tử bởi sức hấp dẫn của nó. Ngày đó, vật lý Liên Xô cũng rất mạnh về trường lượng tử, không chỉ riêng Landau mà còn có Nikolay Bogolyubov và những người khác”, giáo sư Cao Chi nói.   Đó cũng là lý do vì sao trong sáu năm học ở Lomonosov, cùng với những sinh viên Việt Nam khác như giáo sư Đào Vọng Đức (sau là viện trưởng Viện Vật lý), giáo sư Cao Chi đã nỗ lực học tập: “Tôi với anh em học hỏi được nhiều lắm, làm việc nhiều lắm, dành đến chín tiếng đồng hồ mỗi ngày để làm bài tập và đọc thêm sách trong thư viện. Các kiến thức chính về vật lý và toán mà tôi có được đều từ thời gian ở Lomonosov”.   Con đường làm vật lý lý thuyết của giáo sư Cao Chi còn được củng cố bằng chuyến sang Liên Xô lần thứ hai vào năm 1963, đúng sau chín tháng dạy học ở trường ĐH Sư phạm. Khi đó, Bộ trưởng Bộ ĐH và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã cử ông và các anh em khác sang Dubna (Viện Liên hợp hạt nhân Dubna) học tập. “Hồi đó có nhiều người mà sau này đều trở thành các nhà khoa học như Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Hiệu, Đào Vọng Đức… Tôi được phân công về Phòng thí nghiệm lý thuyết do chính Bogoliubov phụ trách 3 và được giao nghiên cứu chủ yếu về lý thuyết đối xứng các hạt cơ bản”, ông nói.   “Anh Cao Chi là một người thông minh, học rộng và có một số kết quả nghiên cứu nổi bật khi ở Dubna và một số năm phụ trách Phòng Vật lý lý thuyết. Từ khi chuyển sang phụ trách Trung tâm Năng lượng nguyên tử, anh vẫn tập trung vào đọc và tìm hiểu sâu về nhiều vấn đề thời thượng nhất của vật lý hiện đại. Nhìn nhận con đường khoa học của anh Chi, tuy công trình khoa học được công bố trên các tạp chí vật lý quốc tế không nhiều nhưng anh đã có đóng góp lớn trong việc giới thiệu những vấn đề thời sự của vật lý qua nhiều cuốn sách đã xuất bản, được cộng đồng vật lý đánh giá rất cao”. (Giáo sư Trần Hữu Phát).  Theo đánh giá của giáo sư Cao Chi, một trục quan trọng của nền vật lý Xô viết đã hình thành từ mối hợp tác Lomonosov và Dubna thông qua trao đổi sinh viên, cộng tác viên… Đó là nơi ông thu nhận được nhiều kiến thức, “dù lúc đó mình là sinh viên mới tốt nghiệp thôi nhưng đã được làm việc với những người rất giỏi ở tầm cỡ thế giới rồi. Do đó, mình phải cố gắng học được cách làm việc của họ, học các đề tài của họ, học cách họ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu”. Và dĩ nhiên chờ đến ngày về Việt Nam để áp dụng những điều đã học…  Góp phần đặt nền tảng cho ứng dụng hạt nhân  Trên thực tế, những nhà khoa học trẻ như giáo sư Cao Chi ngày ấy đã vấp phải một thực tại khách quan: khó khăn về nhiều mặt giai đoạn 1970-1980 ở Việt Nam. Có lẽ, những người làm nghiên cứu hiện nay khó có thể hình dung hết thách thức mà các bậc tiền bối của họ từng trải qua. “Những năm đó, mình thiếu tài liệu, thiếu môi trường học thuật đúng nghĩa, thiếu nhiều lắm… Dĩ nhiên lúc đó ở Thư viện quốc gia cũng bắt đầu có tài liệu nhưng khi tạp chí đến tay chúng tôi thì bao giờ cũng muộn chừng 3, 4 tháng hoặc thậm chí là đến 5, 6 tháng. Nói chung là việc có tài liệu bao giờ cũng khó khăn và muộn trễ”, giáo sư Cao Chi nhớ lại. Thực tại đó khác hẳn với thời kỳ còn ở Dubna, “mình có thể đón nhận tài liệu mới, bài báo mới ngay sau khi nó được xuất bản trên các tạp chí quốc tế”.  Điều đó dĩ nhiên cũng phần nào ảnh hưởng đến bầu không khí khoa học ở Việt Nam nói chung và Viện Vật lý, Viện Năng lượng nguyên tử nói riêng. Nhớ lại mà giáo sư Cao Chi không khỏi buồn rầu, “thường những nghiên cứu của mình cũng bị muộn, cái muộn đó làm không khí nó bị chìm lắng đi… Nếu mình làm cái gì đó mà thế giới cũng đang làm thì không khí chắc nó sẽ khác hẳn đi”.     TS. Trần Chí Thành chúc mừng giáo sư Cao Chi trong ngày sinh nhật tròn 90 tuổi.  Trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, cuộc sống của những người làm khoa học không tránh khỏi những thiếu thốn. “Hồi đó lương bổng thấp nhưng thực ra tôi cũng như mọi người chỉ nghĩ đến khoa học thôi, không nghĩ gì đến thứ khác cả. Tiền đối với anh em làm khoa học thực sự có thành vấn đề mấy đâu, ai cũng chỉ thích viết được bài. Vui lắm, mừng lắm khi có bài được đăng, dù không ai trong chúng tôi có nhiều bài quốc tế”.   Chính vì tinh thần “lúc nào cũng chỉ nghĩ đến khoa học” mà giáo sư Cao Chi và đồng nghiệp của mình ở trong và ngoài Phòng Vật lý lý thuyết (Viện NLNTQG, từ năm 1994 đổi tên là Viện NLNTVN) vẫn tổ chức được các buổi seminar chuyên đề “không chỉ tổ chức vào những lúc chúng tôi làm được cái mới mà ngay khi gặp vấn đề gì thú vị hoặc quan tâm thì dù muộn hay không cũng tổ chức seminar. Thường thì chúng tôi không tổ chức thường xuyên được như mong muốn”.  Sự am hiểu rất rộng các vấn đề vật lý, sự tận tụy với công việc và khả năng tổ chức của giáo sư Cao Chi trong thời gian phụ trách Phòng Vật lý lý thuyết đã khiến giáo sư Nguyễn Đình Tứ, lúc đó là Viện trưởng Viện NLNTVN, mời ông sang phụ trách Trung tâm NLNT và sau đó giao làm chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và năng lượng hạt nhân ở Việt Nam” (chương trình nhà nước KC09 do giáo sư Nguyễn Đình Tứ làm chủ nhiệm) từ năm 1992 đến năm 1994. TS. Lê Văn Hồng, thư ký của đề tài, kể lại “Tuy không phải dân hạt nhân nhưng anh Cao Chi rất cầu thị. Anh tìm đọc thêm rất nhiều tài liệu về hạt nhân để làm tốt nhiệm vụ mới này”.   Đúng như tên gọi của mình, đề tài mà giáo sư Cao Chi đảm trách tìm hiểu những ứng dụng phi năng lượng trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội như y tế, công nghiệp, kiểm tra không phá hủy… và phát triển điện hạt nhân. Trong đó, ông đã tính toán và đưa ra bốn kịch bản khác nhau về thời điểm phát triển nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam với hai công nghệ lò phản ứng nước nặng (CANDU-300) và lò phản ứng nước áp lực (PWR-900). “Đây là kết quả mang tính tiền đề để phát triển năng lượng nguyên tử ở Việt Nam, hình thành chiến lược phát triển ngành năng lượng nguyên tử. Một trong những hệ quả của nó là chương trình điện hạt nhân của Việt Nam và kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2”, TS. Võ Văn Thuận, nguyên Viện trưởng Viện KH&KT hạt nhân, đánh giá.     Khi nhắc lại đóng góp mà ông cho là đáng giá nhất trong quãng thời gian mình làm việc ở Viện NLNTVN, giáo sư Cao Chi không khỏi cảm thấy u hoài “Dĩ nhiên, dự án hai nhà máy điện nhân đã bị dừng lại vì lý do kinh tế nhưng không vì việc dừng dự án mà có thể cho là ngành hạt nhân làm việc duy ý chí. Người ta quên đi mất một điều quan trọng: ngành hạt nhân đã chuẩn bị kỹ lưỡng và bài bản từ những nghiên cứu như vậy trong chương trình này”.    “Cao Chi là một chuyên gia về lý thuyết trường lượng tử và là một nhà toán học xuất sắc, cái gì bạn ấy viết đều đã được suy tính kỹ. Những bài viết của bạn ấy dù về các vấn đề chuyên môn cũng đẹp về nhiều mặt: ý tứ, lời văn, tình nghĩa và trách nhiệm của người viết và người đọc”. (Giáo sư Tạ Quang Bửu )..     Trao vẻ đẹp của vũ trụ cho mọi người  Dù có bước sang ngả đường năng lượng hạt nhân thì rồi cũng đến lúc, dưới sự dẫn đường của lý thuyết trường lượng tử, giáo sư Cao Chi đã tìm đến với vật lý hiện đại– nơi những vấn đề như vũ trụ lượng tử, vũ trụ toàn ảnh, hấp dẫn entropic, chuyển pha topo, lỗ đen, hạt cơ bản, sóng hấp dẫn… mang tính mới lạ và hứa hẹn những thay đổi mang tính cách mạng trong vật lý. “Tôi quan tâm đến vật lý hiện đại vì chúng rất gần gũi với tôi. Khoảng những năm 2010 thì tôi càng quan tâm đến những vấn đề này hơn và có nhiều thời gian cho nó”, giáo sư Cao Chi cho biết.   Như từng chia sẻ trong một bài báo trên Tia Sáng vào năm 2013 khi coi “khoa học nói chung là cái mãi mãi phải đi tìm, không có điểm tận cùng”, giáo sư Cao Chi luôn có được sự háo hức trẻ thơ trước cái tươi mới rạng rỡ của những điều chưa biết, cái toàn bích cân xứng của vũ trụ mà ông tưởng chừng đã thấm thía, cái quan trọng không tưởng của những hạt hạ nguyên tử nhỏ bé nắm giữ bí mật của cả trời đất nhân sinh, và cả sự tương đồng đến lạ lùng giữa mô hình vật lý và tinh thần tôn giáo, “các nhóm bội baryon và meson có thể sắp xếp theo hình tám cạnh đều đặn mà Gell-Mann gọi là Bát chánh đạo của Bụt” 4.  Trên con đường tìm hiểu vũ trụ đó, bất giác, ông gặp lại chính một phần con người mình – một con người yêu văn chương, nghệ thuật và giàu rung cảm với cái đẹp… “Tôi còn nhớ khi còn nhỏ, lúc còn học trường Thiên Hựu (Institut de la Providence) ở Huế, trong nhà tôi đã có khuynh hướng nhỏ về văn chương, hội họa”, ông chậm rãi kể như chưa dứt dòng hồi tưởng thuở còn là cậu học sinh bé bỏng. “Tôi đã tìm thấy sự liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và khoa học thông qua cái đẹp. Cho dù mỗi lĩnh vực đều có nét khác biệt nhưng đều tương đồng trong nguyên lý của cái đẹp: đối xứng, hài hòa, toàn bích và đơn giản…”.  Đó là lý do mà ông tìm thấy ở vật lý vẻ đẹp của thi ca, hội họa và ngược lại, tìm thấy ở trong nghệ thuật, văn học những gợi mở mang tính triết học vật lý về thời gian “Tôi từ – phút ấy sang tôi phút – này” (Xuân Diệu), “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” (Nguyễn Du), “Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê” (Tản Đà), hay vũ trụ toàn ảnh “Hãy giữ vô cùng trong lòng tay bạn; Và thiên thu trong một khắc đồng hồ” (William Blake)… Tất cả những khám phá đó đã được ông gói ghém và chia sẻ trong những bài viết trên Tia Sáng, một địa chỉ mà ông nghĩ là có thể phù hợp với những ý tưởng của mình. “Khi tôi gửi bài đến Tia Sáng thì tạp chí đã được nhiều người biết đến. Có lẽ lúc đó tôi cũng bối rối không biết Tia Sáng có chọn đăng không vì nó cũng hơi khó hiểu… Sau này, tôi có hỏi lại anh Văn Thành thì được biết, nhiều người thích đọc bài của tôi, dù không hiểu”, ông nói, đôi mắt ánh lên niềm vui của một người biết sản phẩm mình làm ra đều nhận được sự đón nhận của mọi người.  Những bài viết về vật lý hiện đại của ông trên Tia Sáng, dù viết cho độc giả đại chúng, cũng được chuẩn bị rất kỹ trước khi nhấn nút “send” trên email. Lúc nào thì các biên tập viên của Tia Sáng cũng có thể thấy trong phần tài liệu tham khảo của bài nào cũng cập nhật thông tin “còn thơm mùi mực” từ các nghiên cứu mới hoặc các bài viết chuyên sâu trên nhiều tạp chí… “Dẫu tôi cũng có một số ý tưởng ban đầu nhưng tôi thấy khi viết ra, mình vẫn cần cập nhật kết quả mới từ những người đang nghiên cứu vấn đề này bởi làm sao mình giỏi như họ được”, ông cho biết. Có lẽ, dù tuổi cao nhưng ông vẫn giữ được đức tính cẩn trọng mà những cộng sự gần gụi như TS. Lê Văn Hồng đều nhận ra “Tôi học hỏi được ở giáo sư Cao Chi rất nhiều điều. Ông làm việc gì cũng rất cẩn trọng, tỉ mỉ, chi tiết, tất cả đều phải dựa trên những cơ sở lý thuyết, tính toán và điều kiện thực tế cũng như tham khảo ý kiến của các chuyên gia khác”.   Một lần nữa, tầm nhìn của nhà khoa học đã giúp giáo sư Cao Chi xuất bản năm tập sách về vật lý hiện đại – cuốn mới nhất xuất bản tháng 11/2020, trên cơ sở tập hợp, bổ sung và chỉnh sửa những bài viết ở Tia Sáng và một số tạp chí khác. “Tôi nói hơi mạnh tay một tí là nếu ai đó theo dõi bộ sách của tôi thì sẽ dễ tiếp cận các vấn đề vật lý hiện đại hơn bởi đã có được những hiểu biết nhất định rồi”, giáo sư Cao Chi đề cập đến bộ sách.  Cầm trong tay bộ sách, người đọc không chỉ có được những kiến thức cơ bản về vật lý hiện đại mà còn có thể cảm nhận được những gắn bó vô điều kiện với vật lý của ông, bất chấp những thăng giáng thời gian và thời cuộc, đủ để cho ông ở tuổi 90 vẫn giữ nếp làm việc và đọc sách vài tiếng một ngày. Có lẽ, khi chìm đắm vào suy tưởng “các electron của nguyên tử carbon trong não bộ của con người liên thông với các nguyên tử của mỗi con cá hồi đang bơi, của mỗi quả tim đang đập và những vì sao đang chiếu sáng trên bầu trời”, ông đã nghĩ đến “trong vũ trụ toàn ảnh, giữa người viết và người đọc những dòng này có một mối liên quan toàn ảnh nằm sâu hơn mối liên quan thông thường giữa tác giả và độc giả”5, điều mà nhân gian vẫn lan truyền “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phải chăng là vậy!□  —-  1. Sau viện này mang tên P. L. Kapitza – nhà vật lý nhận giải Nobel năm 1978 và là bạn của Landau.  2. Landau được trao vào năm 1962 “vì những lý thuyết tiên phong cho vật chất đậm đặc, đặc biệt là heli lỏng”.  3.Bogoliubov đảm trách vị trí giám đốc Dubna giai đoạn 1966–1988 và sau phòng thí nghiệm Vật lý lý thuyết mang tên ông.  4. “Mô hình Chuẩn của Vật lý Hạt cơ bản: Nhập đề (Phần I)”.   https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/mo-hinh-chuan-cua-vat-ly-hat-co-ban-nhap-de-phan-i-6838  5. “Vật lý hiện đại – một số vấn đề thời sự: entropy – động lực vũ trụ, lỗ đen và lỗ trắng, tương tự quang học của bức xạ Hawking, định lý Noether, lý thuyết nút…” (NXB Khoa học và kỹ thuật).     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang GS Cao Chi, người tôn vinh cái đẹp  trong vật lý hiện đại      Là người có cơ may được gần gũi và có nhiều dịp trao đổi với anh Cao Chi trong những năm gần đây, tôi thấy ở anh là một người đa tài và uyên bác trong nhiều lĩnh vực, và có thể nói không ngoa rằng, GS Cao Chi – nhà khoa học – nhà sư phạm và người nghệ sĩ.&#160;      Anh Cao Chi thuộc lứa những người làm vật lý chuyên nghiệp (nghĩa là nghiên cứu và giảng dạy, mà nghiên cứu là chính), được đào tạo rất cơ bản đầu tiên ở Việt Nam. Sau khi có bằng tú tài ở một trường nổi tiếng ở miền Trung, anh tập kết ra Bắc và được cử đi học ở một trong những trường đại học nổi tiếng, một trong những thánh đường khoa học uy tín nhất thế giới mà hồi đó lũ sinh viên chúng tôi hằng mơ ước, đó là trường ĐH Tổng hợp Mátxcơva, mang tên Lômônôxốp, hay thường gọi tắt là MGU, với những giáo sư lừng danh thế giới như Ivanenco, Landau, Kikoin… Sau khi tốt nghiệp xuất sắc khoa vật lý ở đây, anh về nước dạy ở ĐH Sư Phạm HN một năm, năm 1963 anh được cử đi nghiên cứu tại Viện liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna, một trung tâm nghiên cứu lớn hồi bấy giờ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Do được đào tạo rất cơ bản ở MGU cộng với niềm đam mê cháy bỏng muốn theo kịp trình độ vật lý lý thuyết thế giới theo lời dặn dò của GS Tạ Quang Bửu trước khi anh lên đường, nên chỉ trong một thời gian ngắn anh đã bắt nhịp được với nhóm làm việc. Anh đã không ngại ngần chọn vấn đề nghiên cứu “hot” nhưng rất khó, đó là lý thuyết trường chuẩn. Điều thú vị là thực tế sau này đã chứng tỏ rằng hướng đi này là đúng đắn và đã dẫn tới lý thuyết thành công nhất của vật lý hiện đại là mô hình chuẩn ngày hôm nay. Điều thật đáng tiếc là năm 1968, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” của nền vật lý Việt Nam là Cao Chi, Đào Vọng Đức và Đoàn Nhượng đều phải rời Dubna về nước với rất nhiều dự định còn dang dở. Về nước, cái bộ ba này một thời gian sau, mỗi người mỗi ngả, anh Cao Chi mấy năm sau chuyển sang làm về dự án điện hạt nhân. Có thể anh Cao Chi đã có những đóng góp to lớn cho lĩnh vực này, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng niềm đam mê của anh không phải ở đó, sự trăn trở, khao khát của anh mãi mãi vẫn là những vấn đề của vật lý hiện đại.       Tôi không phải là sinh viên của anh Cao Chi, nhưng có nhiều lần được tham dự các xêmina của anh. Với một giọng Huế dễ thương, với cách trình bày bảng rất nghệ thuật, chữ anh vốn bay bướm, nhưng khi nào dùng chữ to, khi nào dùng chữ nhỏ và viết vào chỗ nào trên bảng anh đều có dụng công cả, tuy nhiên, điều thực sự đặc biệt trong các bài giảng của anh, đó là sự hiểu biết rất sâu sắc những vấn đề mà anh trình bày lại kèm theo những ví dụ rất dí dỏm làm cho người nghe dễ tiếp thu những vấn đề hết sức trừu tượng và phức tạp vốn là những chủ đề anh thường đề cập trong các xêmina. Mấy năm sau khi về nước, tại một xêmina có một loạt bài giảng của GS Cao Chi. Những phương trình tính toán trong các bài giảng đó, sau hơn 30 năm tôi còn chỉ nhớ mang máng, nhưng có một ví dụ mà GS Cao Chi đưa ra về sự phá vỡ đối xứng tự phát thì tôi còn nhớ mãi. Đó là ví dụ có tên là tình huống con lừa Buridan (J. Buridan là một triết gia Pháp, thế kỷ XIV): hai bó cỏ non giống nhau được đặt hoàn toàn đối xứng ở hai bên mõm của một con lừa đói. Song dẫu rằng ta có thể chọn được hai bó cỏ lý tưởng hoàn toàn giống nhau đi nữa thì chú lừa sớm muộn cũng sẽ chén một trong hai bó cỏ đó, nghĩa là con lừa vẫn tự phát phá vỡ đối xứng. Điều thú vị là phá vỡ đối xứng kiểu này lại rất thường xảy ra trong tự nhiên, trong cuộc sống và cả trong … nghệ thuật nữa. Có thể nói rằng, trong số những chuyên gia vật lý hàng đầu của Việt Nam, anh Cao Chi là người có vốn văn hóa chung rộng lớn và phong phú nhất. Và chính cái vốn văn hóa vững vàng đó cộng với vốn kiến thức giàu có và sâu sắc cùng với tài năng sư phạm đã làm nên sự hấp dẫn đặc biệt trong các bài giảng của GS Cao Chi.   Anh Cao Chi sinh năm 1931 ở Kontum, nhưng phần lớn tuổi niên thiếu sống ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và Sông Cầu (Phú Yên) xinh đẹp. Anh nổi tiếng học giỏi ở trường Võ Tánh (Bình Định) và trường Lương Văn Chánh (Phú Yên) thời đó. Nhà vật lý Thái Quảng, thủ trưởng cũ của tôi ở ĐH Kỹ thuật Quân sự, trong một lần tâm sự với tôi có kể rằng, thuở nhỏ anh trọ học nhà anh Cao Chi ở gần trường Lương Văn Chánh, và vào thời đó anh Cao Chi đã nổi tiếng là thần đồng Phú Yên. Trước anh, học ở trường Võ Tánh Quy Nhơn có nhà thơ Xuân Diệu và nhóm Bàn Thành Tứ Hữu (Bốn người bạn thơ đất Bình Định) gồm Chế Lan Viên, Yến Lan, Hàn Mặc Tử và Quách Tấn, những nhà thơ trẻ này đã cực kỳ nổi tiếng ở thời đó (và cả sau này nữa) trên thi đàn Việt Nam. Sống trong một vùng đất thơ mộng và đậm đặc không khí văn chương như thế, một tâm hồn lãng mạn và nhạy cảm như anh Cao Chi làm sao có thể không hấp thu. Chỉ cần đọc các bài viết của anh, dù là những bài nói về những thứ khoa học cao siêu và trừu tượng, ta vẫn thấy phảng phất đâu đó chất văn chương kín đáo, mà đặc biệt là những bài anh viết về đối xứng thì cái vốn văn thơ, nhạc họa mà anh đã hấp thu từ thuở hoa niên đã được bộc lộ một cách hết sức tinh tế.  Để kết thúc phần giới thiệu này tôi xin trích dưới đây lời đánh giá vô cùng xác đáng của GS Tạ Quang Bửu sau khi đọc bài báo “Đối xứng, sự phá vỡ đối xứng và nguyên lý của cái đẹp”, một bài viết rất tài hoa của anh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật (số 5, 1984): “Bạn Cao Chi là một chuyên gia về lý thuyết trường lượng tử và là một nhà toán học sâu sắc, và cái gì bạn ấy viết cũng đều đã được suy tính kỹ, những bài viết của bạn ấy dù là về các vấn đề chuyên môn cũng đẹp về nhiều mặt: ý tứ, lời văn, tình nghĩa và trách nhiệm tương hỗ giữa người viết và người đọc…”.  Thiết nghĩ khỏi cần phải nói gì hơn!                            Vật lý hiện đại – những vấn đề thời sự                Vào dịp đầu xuân 2009, anh Chu Hảo và tôi có gặp nhau trao đổi về một dự án. Sau khi bàn bạc công chuyện xong, chúng tôi có nói về một số nhà vật lý đàn anh và nảy ra ý định, nếu có thể, NXB Tri Thức sẽ in cho mỗi anh một quyển sách “giối già”. Người đầu tiên chúng tôi nghĩ tới là anh Cao Chi. Ban đầu, do biết anh Chi đã xấp xỉ bát tuần, không còn sung sức như xưa nữa, nên chỉ định sắp xếp lại theo chủ đề các bài báo mà anh đã cho đăng nhiều năm trên các tạp chí Tia Sáng, Khoa học và Tổ quốc, Hoạt động Khoa học, Nghiên cứu Nghệ thuật  v.v.  Nhưng vốn là người tôn sùng cái đẹp và thích sự toàn bích, anh Cao Chi đã bỏ ra hai năm trời viết nên một quyển sách đồ sộ: bản thảo ban đầu dày tới 500 trang, và để làm được việc đó anh Cao Chi đã phải tham khảo biết bao bài báo và cuốn sách, cả phổ biến cũng như chuyên sâu, quả là một kỳ công đối với một người đã ở tuổi 80. Cuốn sách đề cập tới hầu hết các vấn đề thời sự của vật lý hiện đại được trình bày nhất quán như một cuốn sách hoàn chỉnh, nhưng cũng có thể coi nó như một cuốn từ điển mà bạn có thể tra cứu gần như bất cứ vấn đề gì mà bạn cảm thấy khúc mắc khi đọc những tài liệu khác. Chúng tôi hy vọng các bạn có thể tìm thấy trong cuốn sách này một kho tàng kiến thức phong phú và cập nhật, nhưng đồng thời cũng sẽ được thưởng thức những trang viết tài hoa giàu chất văn chương của nhà khoa học, nhà sư phạm và nhà nghệ sĩ Cao Chi.            Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Đặng Đình Áng – Trong ngần bóng gương      Sau sự ra đi của giáo sư Hoàng Tụy vào mùa hè năm trước, chớm thu năm nay, ngành toán học Việt Nam lại phải chia tay một tên tuổi lớn khác, giáo sư Đặng Đình Áng, một nhà toán học tiên phong thành đạt, say mê toán học, tận tụy với sinh viên, một tấm gương văn hóa, một nhân cách, một con người nhân hậu, giãn dị, một tấm lòng dạt dào tình cảm quê hương, một nhân tố kết nối thế giới: những tố chất đó đã hội tụ trong một con người mà xã hội không phải dễ có được.      Giáo sư Đặng Đình Áng. Ảnh: NXX  Ngày 29/8/2020, sau nhiều năm bệnh nặng, GS Đặng Đình Áng qua đời, hưởng thọ 94 tuổi. Ông là giáo sư toán học, giữ chức vụ Khoa trưởng của Đại học Khoa học Sài gòn từ năm 1960 cho đến 1975. Không ai làm toán ở miền Nam trước 75 và cả Việt Nam sau 1975 không biết đến ông. Ông là người đào tạo hầu hết những người làm toán học ở miền Nam.     Ông là một người gốc nhà nho, cháu 7 đời của danh-hiền Đặng Đình Tướng – một trong bốn danh hiền thời hậu Lê bên cạnh các bậc danh hiền Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông được đào tạo theo Tây học và là học sinh trường Bưởi đến tú tài I, rồi được học bổng Fulbright sang Mỹ học.    Ông du học Mỹ tại ĐH Kansas năm 1953 ngành kỹ sư hàng không. Năm 1955 tốt nghiệp kỹ sư hàng và nhận được một giải thưởng của Viện Hàng không học Hoa Kỳ ở Fort Worth, Texas, cho bài báo về dòng chảy nhớt có thể nén được. Năm 1957 ông học tiếp thạc sỹ tại Viện công nghệ CalTech ngành hàng không và toán học. Năm 1958 ông đậu bằng tiến sỹ về toán cơ học và giảng dạy hai năm tại đó.     Ông đã có hơn 130 công trình nghiên cứu toán học có giá trị được công bố ở nước ngoài, viết nhiều sách giáo khoa và chuyên đề. Ông đã đào tạo 12 tiến sĩ trong nước có những công trình tương đương với tiến sĩ thế giới. Ông được nhiều đại học Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, Đức mời đến đọc thuyết trình, được làm khách mời báo cáo tại nhiều hội nghị quốc tế, và được trao nhiều học bổng nghiên cứu tên tuổi quốc tế. Ông là người đã mang toán học hiện đại vào phía Nam đầu thập niên 60, được giao chức vụ Khoa trưởng Khoa toán của Đại học Khoa học Sài Gòn lúc 34 tuổi để làm cuộc cải cách giáo dục toán ở đại học, cùng với cuộc cải cách đại học, phong trào chuyển ngữ cả miền Nam đang diễn ra lúc đó. Ông đã đem ngọn gió mới vào đại học, gây một sự hưng phấn trong các sinh viên toán. Toán học không những được hiện đại hóa mà còn được nâng cấp lên bậc cao học. Sinh viên được hướng dẫn bước vào đường nghiên cứu và có thể công bố kết quả nghiên cứu của mình ở những tạp chí quốc tế, dưới sự hướng dẫn của vị giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp. Ông vừa dạy, vừa nghiên cứu, vừa tự học thêm, theo tinh thần của đại học của Humboldt – sự kết hợp nghiên cứu và giảng dạy.    “Năm 1975, tôi đã gặp được giáo sư Áng trong ngày đầu tiên vào Sài Gòn – một cuộc gặp đầy xúc động như những người anh em đã từng thân thiết. Từ chút duyên hội ngộ ban đầu đó, tôi đã dần quen Anh và vui mừng được cảm nhận nơi Anh sự tinh tế mà thanh thoát trong thú tìm kiếm vẻ đẹp của tư duy toán học và cảm thụ nghệ thuật, cái sâu xa mà bình dị trong niềm yêu cuộc đời và đất nước. Và phải chăng sự thanh thoát bình dị đó đã giúp cho Anh, dù nay đã vào tuổi 70, vẫn còn tươi trẻ và cường tráng – tươi trẻ và cường tráng trong sáng tạo toán học, trong niềm say mê nghệ thuật và cả trong niềm tin vào cuộc đời”.  (Trích ý kiến năm 1995 của giáo sư Phan Đình Diệu trong cuốn “Trong ngần bóng gương”, xuất bản nhân dịp giáo sư Đặng Đình Áng thượng thọ 80 tuổi).    Năm 1996, để kỷ niệm giáo sư 70 tuổi, một hội nghị quốc tế đã đươc tổ chức tại TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của gần 30 nhà toán học nước ngoài. Điều đó nói lên sự trân trọng của cộng đồng toán học nước ngoài đối với những đóng góp toán học và uy tín của giáo sư Đặng Đình Áng.    Năm 2006, một số kỷ yếu đặc biệt mừng thọ ông 80 tuổi của một số trí thức, bạn bè Việt Nam trong và ngoài nước được xuất bản, có tên Trong ngần bóng gương tại nhà xuất bản Tri Thức. Rất nhiều báo đài của thành phố đưa tin về sự kiện này, tỏ lòng trân quý những đóng góp của ông cho sự phát triển của thành phố.  ***  Giáo sư Đặng Đình Áng là một tấm gương lớn của sự tự học và phấn đấu. Ông đã tự học để thi tú tài I ở Hà Nội, rồi tú tài II ở Sài gòn, tự học Anh ngữ, rồi tự học tại Đại học Kansas để rút ngắn chương trình cử nhân, tiếp tục tự tìm tòi học hỏi khi về Việt Nam làm việc, và như thế trong suốt cuộc đời nghiên cứu và giảng dạy của ông. Ông khiêm tốn nói: “Tôi rất thích học, thời Pháp học, thời gian vào Sài gòn, ở CalTech học, về đây tiếp tục học, bây giờ cũng còn học, học những bậc thầy đi trước”. Đó là một tinh thần tự lập, một đặc tính của những nhà nghiên cứu có sức phấn đấu cao. Điều kiện làm việc của các nhà khoa học Việt Nam tuy rất eo hẹp, tài liệu, báo chí khoa học rất khan hiếm, Đại học Sài gòn còn non trẻ, thiếu thốn nhiều thứ, nhưng giáo sư vẫn giữ vững nghiên cứu và ‘đánh thông’ con đường giao lưu với đồng nghiệp nước ngoài, bảo đảm cho nghiên cứu vẫn tiếp tục một cách thành công.     Ông là người luôn quan tâm đến sinh viên. Ông nói: “Cả sự nghiệp của đời tôi là đào tạo. Muốn dạy giỏi, người thầy phải nắm vững những kiến thức mới mẻ nhất. Muốn nắm vững, bản thân ông thầy phải có đóng góp chứ không thể nhắc lại kiến thức của người khác”. Ông luôn luôn tin tưởng vào con người Việt Nam: “Đây là mảnh đất tốt, rất màu mỡ, rất nhiều hạt giống tài năng” và “Tôi tin tưởng rất nhiều vào tiềm năng của người Việt Nam ta, đặc biệt là của lớp trẻ. Tuy nhiên, muốn biến tiềm năng thành hiện thực thì phải biết tổ chức, phải có thầy. Thầy là những người có khả năng chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp và quan tâm đến học trò”. Ông cũng đã có lời khuyên quý giá cho những người trẻ: “Đừng háo thắng mà không đi xa được, việc học cũng giống như chạy marathon 42 km, phải biết giữ sức, những cây số đầu không mấy quan trọng, không học nhồi học nhét, không ham ánh hào quang hảo huyền, làm sao để càng về sau càng khổng lồ, đó mới là kết quả thực sự”.      Chiếc sáo bạc ông mua ở Mỹ năm 1956 trở thành một người người bạn đồng hành “bất khả ly thân” của ông, giống như chiếc đàn vĩ cầm của Einstein. Nguồn: NXX.  Ngoài đam mê toán học, ông còn là con người đam mê âm nhạc. Ông yêu tiếng sáo tre từ nhỏ ở làng. Chiếc sáo bạc ông mua ở Mỹ năm 1956 trở thành một người bạn đồng hành “bất khả ly thân” của ông, giống như chiếc đàn vĩ cầm của Einstein. Người ta vẫn thường thấy ông biểu diễn trên sân khấu, nhất là những lúc có hội thảo toán học quốc tế. Ông không những thích âm nhạc riêng cho mình, “mà ông thật sự quan tâm tới đời sống, sinh hoạt âm nhạc, với giới hoạt động âm nhạc tại thành phố này” như nhạc sĩ Đặng Hồng Quang nói. Ông cùng với các nhạc sĩ Nguyễn Bích Ngọc, cựu phó giám đốc Nhạc viện thành phố và Đặng Hồng Quang, trưởng khoa bộ môn piano, thành lập nhóm nhạc thính phòng Hoa Sen nhằm tổ chức những buổi hòa nhạc cổ điển cho giới khoa học. Mục đích sâu xa của giáo sư là muốn góp phần nâng cao và mở rộng trình độ văn hóa trong giới khoa học.     Là con người Tây học nhưng giáo sư có một tâm hồn đầy ắp bản sắc Việt Nam. “Tôi thổi Mozart bằng tâm hồn Việt. Thổi để không quên dân ca mình. Tôi ăn món ăn nước ngoài cũng bằng dạ dày Việt. Ăn để thấy các cụ nhà ta thật sành…ẩm thực”. Ông là một khuôn mặt đại biểu, một đại sứ của Việt Nam trong mắt các đồng nghiệp nước ngoài. Ông luôn luôn hãnh diện làm một con người Việt Nam một cách rất tự tin.    Tại thời điểm 1975 khó khăn nhất, những tình cảm đối với quê hương, sinh viên, đại học, đã chiến thắng những câu hỏi đi hay ở. Ông quyết tâm ở lại, chấp nhận chịu đựng và chia sẻ, đóng góp và tiếp tục dẫn dắt các thế hệ sau. Ông tin vào những “thửa đất vàng” của Việt Nam cần được chăm bón tốt hơn. Năm 1980 ông là một trong những người được phong hàm Giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, cùng với các tên tuổi như Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu và một số người khác.       Cái tính yêu đời, lạc quan, khoan dung, nhân hậu, tôn trọng người khác, tính nghệ sĩ, tình yêu toán học, yêu âm nhạc, yêu quê hương, yêu văn hóa là những đặc điểm nổi bật ở ông.      GS Đặng Đình Áng là ngọn cờ toán học ở phía Nam, một cây đại thụ đem bóng mát lại cho nhiều thế hệ phát triển, và tiếp tục ngày càng đông đảo hơn. Ông là người tạo hình cho những tâm hồn toán học đầu tiên ở miền Nam, thu hút và đánh thức những tài năng có dịp đến với ông. Ông là một nhân cách vượt trội, và là một con người văn hóa, một nghệ sĩ sống hài hòa với vương quốc âm nhạc. Tất cả những gì qua tay ông đều mang tính nghệ thuật. Tư duy, khám phá toán học và sống hài hòa với âm nhạc là những niềm vui của ông, bên cạnh niềm vui được sống hạnh phúc trên quê hương, bên mái ấm gia đình. Ông sống bình dị, nhân hậu, chân thật, vượt lên mọi cái xấu. Gặp ông, thế giới của cái xấu, của sự chối tai tan biến nhường chỗ cho một thế giới hài hòa, trong sáng và thi vị.   ***  Tuy biết rằng rồi ai cũng phải ra đi, nhưng chúng tôi không tưởng tượng nổi sự mất mát của con người đã hằn sâu trong ký ức của Đại học Khoa học Sài gòn hơn nửa thế kỷ, đã dành bao nhiêu tình cảm cao quý cho nhiều thế hệ sinh viên cũng như đồng nghiệp, và được bao nhiêu người thương mến. Nay GS Đặng Đình Áng đã vĩnh viễn trở về lòng đất mẹ. Đương thời, ông nghĩ về quê hương và con người qua câu nói sâu sắc:     Quê hương là dải đất, có núi có sông, có cây cỏ, có những con người cùng chung quyền lợi vật chất và tinh thần, nhưng không phải chỉ là thế, sâu xa hơn thế là các nấm mồ người đã khuất. “Chính tro tàn của người quá cố đã tạo ra quê hương”, một văn hào Pháp, trong một bài thơ bất hủ về tình yêu quê hương, đã thốt ra như vậy.    Giờ đây quê hương có thêm nấm mồ của ông, một đứa con đã sống trọn vẹn và cống hiến với hết cả trái tim của mình cho sự nghiệp giáo dục đất nước, tình yêu quê hương. Cái tính yêu đời, lạc quan, khoan dung, nhân hậu, tôn trọng người khác, tính nghệ sĩ, tình yêu toán học, yêu âm nhạc, yêu quê hương, yêu văn hóa là những đặc điểm nổi bật ở ông. □    Author                Nguyễn Xuân Xanh        
__label__tiasang GS Đặng Văn Ngữ – Con chim đầu đàn ngành động vật học      Ít người có ngày mất trùng hợp với ngày sinh. Giáo sư Đặng Văn Ngữ (trường Đại học Y khoa Hà Nội) là một trong số người như vậy. Ông sinh ngày 1 tháng 4 năm 1910 và mất ngày 1 tháng 4 năm 1967. Phải chăng đây là một biểu hiện của tính nhất quán và trọn vẹn hiếm thấy ở một nhà khoa học chân chính.      GS Đặng Văn Ngữ giới thiệu với Bác Hồ về công việc của Bộ môn Ký sinh trùng (Đại học Y- Dược).   Anh Đặng hơn tôi khoảng 10 tuổi. Người anh dong dỏng gầy. Nổi bật nhất ở anh là cái trán thông minh, mái tóc chải lật bóng gọn, cặp mắt hơi xếch, gò má cao, với cái miệng luôn tươi cười. Y phục của anh luôn chỉnh tề, bất kể mùa hè hay mùa đông anh luôn đeo cái ca-vát màu sẫm và đi giày giôn. Gần như anh giữ tập quán này từ thời còn là sinh viên.  Khi tôi bước chân vào trường đại học, anh đã là cán bộ nghiên cứu của phòng thí nghiệm ký sinh trùng, trường Đại học Y khoa, trợ giảng của giáo sư Galliard1, một chuyên gia nổi tiếng về côn trùng y học. Hồi đó, tôi đã ngầm cảm phục vì nhân sinh quan của anh. Trong khi nhiều bác sĩ ra trường đều lo lắng mở phòng khám hay bệnh viện để kiếm sống một cách dễ chịu, thì anh nhận một công việc thầm lặng của nhà khoa học, an phận với cuộc sống đời thường như nhiều công chức khác.  Mãi tới khi tiếp xúc gần gũi với anh trong đề tài nghiên cứu về “ổ dịch thiên nhiên” do TS Grokhovskaia2 tổ chức, tôi mới thấy anh có nhiều điều thực sự đáng học tập. Trước hết, toàn bộ hoạt động của anh đều dành cho nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ. Sau khi thống nhất kế hoạch nghiên cứu, anh cử anh Tùng trực tiếp làm việc với chuyên gia và theo dõi việc thực hiện. Sau ba tháng chúng tôi lại hội ý một lần về việc thực hiện. Anh đã đặt ra một quy tắc trong bộ môn: cứ chiều thứ năm là có seminar của bộ môn, các nhóm nghiên cứu có thành tích gì hay khó khăn gì đều phát biểu để toàn bộ môn nếu cần thì thảo luận và giúp đỡ. Chính nhờ sinh hoạt khoa học này mà các đề tài nghiên cứu trong bộ môn đã được triển khai đều đặn cùng với sự tiến bộ của trình độ khoa học về cán bộ. Tôi đã dự được vài buổi sinh hoạt ở đây. Anh ưa đặt phản đề cho anh chị em thảo luận “tại sao hiện tượng là thế này mà không phải thế kia?” và thường tạo nên một không khí thảo luận sôi nổi. Chính tôi cũng đã học được ở anh cách chỉ đạo học thuật này để ứng dụng ở tổ của mình.  Là viện trưởng Viện Sốt rét, Kí sinh trùng và Côn trùng, anh luôn được toàn bộ cán bộ khoa học của Viện tâm phục, không những về trình độ học thuật mà còn về đức độ của anh. Trong một dịp đi công tác ở Tây Bắc, anh Sĩ, cán bộ khoa học của Viện, kể cho tôi mẩu chuyện sau.  Có một dạo, anh phó viện trưởng của Viện, vì lí do nào đó không rõ, ra một thông tư hạn chế việc sử dụng ô tô nhỏ của Viện đi công tác. Từ trước tới giờ, vì xe ca của Viện có nhiều nên các nhóm đi nghiên cứu trên thực địa đều được dùng xe. Theo thông tư mới này, đi công tác trong vòng 20km trở lại phải dùng xe đạp, trừ ban lãnh đạo Viện. Hôm ấy nhóm của anh Sĩ phải đi công tác ở một huyện ngoại thành để lấy số liệu. Bấy giờ phải đi xe đạp lỉnh kỉnh dụng cụ và tài liệu rất là bất tiện, anh Sĩ đã phản ảnh với anh Đặng. Anh không nói gì, nói với văn phòng đăng ký xe cho anh đi công tác. Khi có xe ở cửa, anh đã lên cùng với nhóm anh Sĩ và anh xuống xe đi bộ về Viện sau khi xe đã ra khỏi cổng. Nghe xong câu chuyện, tôi đã suy nghĩ nhiều. Phó viện trưởng khi ký thông tư về sử dụng xe có hỏi ý kiến anh không? Tại sao là viện trưởng mà anh phải dùng tiểu xảo để chống lại thông tư của viện phó mà anh không tán thành? Từ hôm ấy, tôi thấy anh Đặng cũng không thoải mái lắm trong công tác quản lí của anh. Anh là một viện trưởng kiêm đảng ủy viên, mà lại gặp khó khăn trong việc điều động xe công cho cán bộ của mình. Cơ chế tổ chức thế nào đây? Nghĩ thế thôi nhưng tôi cũng không nói gì với anh.  Anh Đặng nổi bật lên trong các đồng nghiệp của tôi với tính khiêm tốn của anh. Mặc dù anh thực sự là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực động vật học nói chung và kí sinh trùng nói riêng, đã công bố nhiều bài báo khoa học trong lĩnh vực này ở các tạp chí chuyên ngành ở Đông Dương và ở Pháp, nhưng khi làm việc với tôi, tuyệt nhiên tôi không thấy một chút nào tự cao tự đại ở anh. Anh từng nói với tôi: “Trong cái lĩnh vực động vật mình còn biết ít lắm, hi vọng trong công tác với ông, anh hay thân mật gọi tôi như thế, mình sẽ học thêm được nhiều”. Đấy là lời tâm sự của một nhà khoa học đi trước tôi mười năm cả về tuổi đời và tuổi nghề.  Và có một ngày, biết tôi cùng một nhóm anh em đi khảo sát ở Lạng Sơn, anh đã đăng ký đi theo, theo lời anh, để làm quen với phương pháp nghiên cứu của tôi trên thực địa. Buổi sáng anh dậy sớm cùng với tôi và nai nịt đi rừng. Trên đường đi, chúng tôi trao đổi ý kiến và tôi lựa lời trình bày với anh về những nguyên tắc tôi thường sử dụng để nghiên cứu sinh cảnh nơi làm việc, kế hoạch sắp đặt bẫy động vật, cách thẩm vấn thợ săn… Anh chăm chú nghe, đôi lúc ghi vào cuốn sổ tay nhỏ. Trên đường về nhà, anh phàn nàn: “Mình thèm địa vị của ông, mình phải họp quá nhiều và đa số buổi họp là vô bổ, rất ít thì giờ thực địa”.  Tính khiêm tốn và nhiệt tình đào tạo cán bộ khoa học của anh còn thể hiện rõ nét khi anh làm việc trong ban vận động thành lập Hội Sinh học Việt Nam. Tuy rất bận nhưng không buổi họp nào anh vắng mặt. Do nhiệt tình đóng góp cho bản dự thảo điều lệ Hội và nhiệt tình động viên các cán bộ khoa học trong Viện tham gia Hội. Tôi nhớ mãi một câu anh đã nói ở một buổi họp: “Chính hội học thuật mới giúp thanh niên trưởng thành nhanh về học thuật. Ở nước ngoài, danh hiệu hội viên của một hội khoa học nổi tiếng có giá trị hơn là học hàm, học vị ở trường đại học”.  Tới khi thảo luận về thành phần ban chấp hành Hội Sinh học, anh đã nhất định không nhận một chức vụ phụ trách nào mà, theo lời anh, để dành chỗ cho cán bộ khoa học trẻ. Anh cười vui với tôi: “Chỉ nguyên làm việc ở Bộ môn Kí sinh trùng và Viện Sốt rét, tôi đã mất nhiều thì giờ đáng lẽ phải dành cho nghiên cứu rồi, nếu làm thêm công tác hội nữa thì tôi sẽ biến thành cái máy đi họp mất. Mà làm người sung sướng hơn làm máy, phải không ông?”  Ngày 1 tháng 4 năm 1967, anh Đặng đã hy sinh trong đợt rải thảm bom B52 của Mỹ trên một địa bàn trong dãy Trường Sơn, nơi anh đang thực hiện nghiên cứu vắc xin chống sốt rét cho bộ đội Việt Nam. Cuộc đời khoa học của giáo sư Đặng Văn Ngữ không dài, nhưng với 29 công trình nghiên cứu, bài báo trong lĩnh vực kí sinh trùng đăng trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước trong suốt giai đoạn 26 năm, từ 1936 đến 1962, anh đã xây dựng được một vốn tri thức khoa học quan trọng cho ngành ký sinh trùng và côn trùng y học của nước ta. Vắng anh, đội ngũ các nhà sinh học Việt Nam cho tới bây giờ vẫn cảm thấy mất một con chim đầu đàn của ngành, chưa được ai thay thế. Trong hoàn cảnh hiện nay, không dễ gì gặp được một nhà khoa học tài năng, nhân hậu, trong sáng và thanh bạch như thầy Đặng Văn Ngữ.  Hà Nội, một ngày cuối tháng 3 năm 1993  *Kỷ niệm về Giáo sư Đặng Văn Ngữ (1910-1967) trích từ hồi ký của GS NGND Đào Văn Tiến (1920-1995).  ——–  1. GS bác sĩ người Pháp Henry Galliard, chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng trường Đại học Y khoa Đông Dương (tiền thân của trường Đại học Y khoa Hà Nội).  2. TSKH Inna Grokhovskaia, một trong những chuyên gia đầu ngành của Liên Xô trong lĩnh vực kí sinh trùng học đã sang thăm và giúp đỡ xây dựng ngành này ở Việt Nam từ năm 1957.    GS. Đặng Văn Ngữ Sinh ngày 1.4.1910 tại An Cựu, thành phố Huế, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 1930, ông đỗ cả tú tài bản xứ lẫn tú tài Pháp, giành học bổng Trường Y – Dược thuộc Đại học Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa (năm 1937), ông là người Việt Nam đầu tiên được giữ lại làm phụ giảng cho Giáo sư Galliard – Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng. Trong thời gian là trưởng phòng thí nghiệm Ký sinh trùng của trường, ông đã thực hiện 19 công trình nghiên cứu. Do có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, ông được chọn đi du học ở Nhật Bản từ năm 1943 đến năm 1949, nghiên cứu về nấm, men gây bệnh, vi trùng đường ruột, về bệnh lao và hủi. Sau khi Alexander Fleming tìm ra penicillin, ông cũng tìm ra giống nấm sản xuất ra penicillin. Về nước, ông trở thành giảng viên Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng trường Đại học Y khoa tại Chiêm Hóa. Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc, ông đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất thuốc Penicillin, qua đó góp phần điều trị chống nhiễm khuẩn cho thương binh, nhân dân trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Năm 1955, ông sáng lập ra Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng Việt Nam, và là Viện trưởng đầu tiên của Viện. Trong quãng thời gian này, ông tập trung nghiên cứu phòng chống và điều trị căn bệnh sốt rét tại Việt Nam. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một về lĩnh vực Y học.         Author                Đào Văn Tiến        
__label__tiasang GS Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp*      Ngày 19 tháng 1 năm 2011, Giáo sư, Viện sỹ, Anh hùng lao động, Tiến sỹ Đào Thế Tuấn đã vĩnh biệt chúng ta, hưởng thọ 80 tuổi. Một trong những cây đại thụ ít ỏi của ngành khoa học nông nghiệp đã ngã xuống. Bên cạnh sự tiếc thương về trí tuệ quí báu là sự đau xót về tình cảm với một Con Người đẹp đẽ – kết tinh của một gia đình đại trí thức chân chính.    Bác Đào Thế Tuấn sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức nổi tiếng cả về trí tuệ và tinh thần yêu nước. Trong gia đình họ Đào, các chú, thím, cô, các em hầu hết tham gia cách mạng và có nhiều nhà trí thức suất sắc. Bạn bè, đồng chí của gia đình cũng là các nhà cách mạng và văn hoá nổi tiếng. Mẹ của Bác là cụ bà Trần Như Mân một nhà giáo và hoạt động xã hội. Cha là cụ Đào Duy Anh, nhà sử học, địa lý, nhà từ điển học, nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo, văn học dân gian nổi tiếng của Việt Nam được từ điển Larousse gọi là nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.   Ngày 4 tháng 7 năm 1931 Đào Thế Tuấn ra đời ở Huế. Nghe tin, cụ Phan Bội Châu là bạn của gia đình gửi thơ mừng:  “Hai mươi lăm triệu giống dòng ta,   Hôm trước nghe thêm một tiếng oa,  Mừng chị em mình vừa đáng mẹ,  Mong thằng bé nọ khéo in cha.  Gió đưa nam tới sen đầy hột,   Trời khiến thu về quế nở hoa.  Sinh tụ mười năm mong thế mãi,  Ây nhà là nước, nước là nhà.”   Bác lớn lên trong một môi trường học vấn lý tưởng. Trước hết là học từ sách vở. Tủ sách gia đình rất phong phú không những có sách nghiên cứu mà cả sách văn học bằng tiếng Việt và Pháp. Cụ Đào Duy Anh đã đi thăm các nhà thế gia ở miền Trung để mượn và sao chép nhiều tài liệu lịch sử quý giá mà ngay các thư viện cũng không có. Cụ mời một nhà nho giúp sao chép các sách mượn về và dạy cậu Tuấn học chữ Hán. Gia đình mở hiệu sách Vân Hoà (lớn nhất ở Huế khi đó) và sau đó xây dựng thành một thư viện lớn nên Cậu Tuấn từ nhỏ đã say mê đọc và học hỏi từ sách vở.   Một nguồn học vấn đến từ những người bạn đặc biệt của gia đình. Từ bé, Bác Tuấn đã thấy Cụ Đào Duy Anh nghiên cứu khoa học và mạn đàm chính sự với Cụ Phan Bội Châu, nghe ông Bùi Ái, kể chuyện phiêu lưu ở Nga, ở Pháp, được học vẽ từ Họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung, được đi theo nghe nhà địa lý tốt nghiệp ở Pháp Nguyễn Thiệu Lâu bàn về lịch sử và địa lý. Khi đi học phổ thông cậu học bằng tiếng Pháp, lên lớp 6 thì bắt đầu học thêm tiếng Anh và tiếng Latinh. Tiếng Việt mẹ dạy ở nhà. Cha cho học thêm chữ Hán. Vốn ngoại ngữ phong phú sau này được bổ xung thêm tiếng Nga, giúp Bác Đào Thế Tuấn mở rộng khả năng trao đổi và tiếp thu kiến thức nghiên cứu.   Cả Bố và mẹ đều là thầy dạy cho Bác Tuấn, dạy rất thiết thực. Cụ bà Trần Như Mân dòng dõi nhà quan nhưng lại truyền cho con tư tưởng tiến bộ và lòng yêu nghề canh nông. Bà đã dạy cho con kỹ thuật và nuôi tằm để vừa học vừa chơi. Sau này khi thấy Bác Tuấn theo học nông nghiệp bà rất mừng. Những câu chuyện mẹ kể về nổi khổ cực của nông dân và những chuyến đi cùng Bố, Mẹ về miền quê, định hình mối quan tâm đến nông thôn trong tâm hồn non trẻ của cậu bé Tuấn. Cha hướng dẫn cậu vào các hoạt động xã hội, từ năm 6 tuổi Đào Thế Tuấn đã gia nhập Hướng đạo sinh, rồi Thiếu sinh Lê Lai đi theo các huynh trưởng hướng đạo như các ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu…, nhờ đó dù nhỏ đã biết nấu ăn, may vá, làm công việc thủ công, hoạt động xã hội, làm từ thiện và hình thành lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước. Qua Bố và bạn bè của Bố, Bác Đào Thế Tuấn tiếp xúc với kiến thức chính trị sớm, đọc nhiều tài liệu Việt Minh, về chủ nghĩa Mác Lê Nin bằng tiếng Việt, tiếng Pháp trong tủ sách của cha và bắt đầu tham gia công tác từ bé.   Bác bước vào con đường cách mạng tự nhiên như con đường đến với học vấn. Cách mạng tháng 8 thành công, Bác tham gia đội liên lạc chuyển công văn, thư từ của Giải phóng quân. Rồi tham gia đội trinh sát điều tra tin tức của Pháp. Năm 15 tuổi là đội viên ít tuổi nhất trong đội tuyên truyền xung phong Trung Bộ. Chàng thanh niên tốt nghiệp trung học phải đi bộ từ Thanh Hoá vào Hà Tĩnh để xin học trường Huỳnh Thúc Kháng rồi quay ra Diễn Châu xin vào trường Nguyễn Xuân Ôn của ông Cao Xuân Huy. Khi vào học trường cấp 3 Nguyễn Thượng Hiền, Bác đã tham gia Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và tháng 5 năm 1949 được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam rồi tham gia chi uỷ của chi bộ trường, phụ trách tuyên huấn, lúc đó vẫn là học sinh.   Tháng 5 năm 1950, Bác Đào Thế Tuấn gia nhập quân đội, công tác ở Bộ Tổng tham mưu, lúc đầu thuộc Cục Tình báo, sau chuyển về ban bí thư của phó Tổng Tham mưu trưởng, chiến đấu ở bộ phận tham mưu tiền phương các chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Trung Du và Hoàng Hoa Thám ở Đông Bắc. Năm 1951, Bác Đào Thế Tuấn được cử đi học lớp trung – sơ cấp quân sự ở trường Lục quân Việt Nam. Năm 1952, được điều về Tổng cục Hậu cần tham gia chiến dịch Tây Bắc đánh Nghĩa Lộ và giải phóng Sơn La. Năm 1953, giữa lúc cuộc kháng chiến vào giai đoạn quyết liệt, con đường học vấn lại mở ra với Đào Thế Tuấn khi được nằm trong số 50 thanh niên cử đi Liên Xô học.   Rời tay súng, năng lực học tập và nghiên cứu của ông lập tức tỏa sáng khi gặp điều kiện học tập rất thuận lợi ở Liên Xô. Chỉ sau một tháng tập bập bõm tiếng Nga, 10 người được cử về học đại học nông nghiệp Tasken vừa học tiếng, vừa học ngay các môn tự nhiên theo chương trình năm thứ nhất và ngay học kỳ thứ hai đã vào học cùng với sinh viên Liên Xô ở khoa Nông học. Năm 1955, mới là sinh viên năm thứ ba, Bác bắt đầu tham gia công trình nghiên cứu đầu tiên về cây trồng ở Việt Nam dưới sự hướng dẫn của giáo sư Eryghin, nhà sinh lý học nổi tiếng Liên Xô. Với kết quả trình bày luận văn tốt nghiệp xuất sắc, chỉ trong vòng 5 năm, Đào Thế Tuấn hoàn thành chương trình kỹ sư nông học, cùng lúc trình bày thành công luận văn Tiến sỹ trước thời hạn 3 năm. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, quyển sách đầu tay của ông ra đời được Viện hàn lâm Nông nghiệp xuất bản bằng tiếng Nga. Ông là Tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam do Liên Xô đào tạo năm 1958.   Cuối năm 1958, Ông về nước công tác ở Học viện Nông lâm (trường Đại học Nông nghiệp nhập với Viện Nghiên cứu nông nghiệp) dạy môn sinh lý thực vật sau đó trở thành trưởng Bộ môn Sinh lý Thực vật kiêm trưởng phòng Khoa học của Học viện. Năm 1963, Học viện nông lâm tách ra thành Viện Khoa học Nông nghiệp và trường Đại học Nông nghiệp, Tiến sỹ Đào Thế Tuấn làm trưởng ban Trồng trọt kiêm trưởng phòng Sinh lý cây trồng của Viện.   Học trong chiến tranh chống Pháp, nghiên cứu lại trong chiến tranh chống Mỹ. Năm 1964, Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam. Tiến sỹ cùng Viện KHNN sơ tán về nông thôn, cùng sống và nghiên cứu với nông dân trong các hợp tác xã. Năm 1972 sau khi tỉnh Quảng Trị được giải phóng, Ban Thống nhất trung ương yêu cầu Tiến sỹ nghiên cứu về nông nghiệp miền Nam. Năm 1975, Ông theo sát bước quân giải phóng đi Tây Nguyên, rồi xuống duyên hải miền Trung tiếp đó vào thành phố Hồ Chí Minh, miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long để chuẩn bị cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển nông nghiệp sau chiến tranh. Năm 1967, ông vào Nghệ An cùng đoàn cán bộ giúp tỉnh chỉ đạo sản xuất. Từ 1976, Tiến sỹ được cử làm phó viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp, năm 1978 Viện đổi tên là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam. Ông tiếp tục tham gia vào nhiều chương trình đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ở các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước. Trong quá trình công tác giáo sư đã có nhiều dịp đi thăm và làm việc tại Liên Xô, Hungaria, Bungaria, Đức, Ấn Độ, Pháp, Philippin, Thái Lan, Indonexia, Bangladesh… Đây là những dịp tốt để ông học hỏi và trao đổi học thuật với các đồng nghiệp khoa học nước ngoài, trở thành nhà khoa học Việt Nam có uy tín quốc tế.   Năm 1977, Tiến sỹ được UBKHKTNN cử làm chủ nhiệm chương trình nghiên cứu sinh vật học và cách mạng Xanh và tập trung nghiên cứu cơ cấu cây trồng. Từ đầu năm 1980, giáo sư nghiên cứu hệ thống canh tác rồi hệ thống nông nghiệp và tham gia vào tổ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo. Từ năm 1983 Giáo sư Đào Thế Tuấn làm Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam kiêm trưởng Bộ môn Sinh thái Canh tác Nông nghiệp sau này là bộ môn Hệ thống Nông nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Đào Thế Tuấn, Viện đã từng bước hiện đại hoá, đổi mới thiết bị, phát triển mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ, nâng cao đáng kể trình độ nghiên cứu.   Tiến sỹ Đào Thế Tuấn được nhà nước phong học hàm giáo sư năm 1980 và năm 1985 được bầu làm thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô, sau này là Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Bang Nga. Từ năm 1990, Giáo sư đảm đương vai trò phó chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu về Phát triển nông thôn KX-08. Từ 1995 đến 2003 sau khi nghỉ công tác điều hành ông tiếp tục làm trưởng bộ môn Hệ thống Nông nghiệp và đến năm 2004 sau khi nghỉ hưu, giao lại bộ môn cho con trai là Tiến sĩ Đào Thế Anh. Từ đó, trên cương vị Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam Giáo sư Đào Thế Tuấn vẫn miệt mài làm việc, tự mình biên soạn và xuất bản bản tin nhỏ Phát triển Nông thôn, đóng góp không ngừng nghỉ cho sự nghiệp khoa học.  Dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Đào Thế Tuấn, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được nghiên cứu để áp dụng từ thập kỷ 1950 đến 2000 như: các vấn đề ứng dụng nghiên cứu sinh lý để thâm canh cây trồng, lý luận và phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác, nghiên cứu hộ nông dân, các mô hình nghiên cứu phát triển nông thôn, nhiều giống lúa, ngô, đậu tương mới. sau đó là 7 cuốn sách kỹ thuật và giáo khoa ra đời về về phân bón, sinh lý cây trồng, cơ cấu cây trồng, hệ sinh thái nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân.  Ghi nhận công lao to lớn của ông trong sự nghiệp khoa học và những đóng góp thiết thực cho sản xuất nông nghiệp, giáo sư đã được Nhà nước và quốc tế trao tặng Huân chương Chiến thắng Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ Hạng Nhất, Huân chương Lao động Hạng Hai, Huân chương Công trạng Nông nghiệp của Pháp, năm 2000 được trao danh hiệu Anh hùng Lao động Xã hội Chủ nghĩa, năm 2005 được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn được thưởng các Huân chương Sĩ quan Công trạng Nông nghiệp, Sĩ quan Cành cọ Hàn lâm và Giải thưởng Rene Dumont. Nhưng đối với ông, vinh dự to lớn nhất là sự biết ơn của đông đảo nông dân Việt Nam, là tình cảm quí trọng của các lớp cán bộ, học sinh, đồng nghiệp.  Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp.  ————  * Viết theo tư liệu Hồi kí của giáo sư Đào Thế Tuấn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Hà Văn Tấn “mênh mông giữa cõi đất trời”      GS Hà Văn Tấn để lại một di sản được các thế hệ học trò đánh giá là “của một người khổng lồ” trong nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học và Phật giáo Việt Nam.      Từ phải sang: Các cố giáo sư Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Trần Quốc Vượng cùng cố giáo sư Trần Văn Giàu. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.  Người cuối cùng trong tứ trụ “Lâm, Lê, Tấn, Vượng” (các giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng) của ngành sử học Việt Nam, giáo sư Hà Văn Tấn đã qua đời ngày 27/11/2019. Trao đổi với phóng viên Tia Sáng về sự mất mát to lớn này của giới nghiên cứu KHXH&NV khi đang khai quật tại Quảng Ngãi, TS Nguyễn Tiến Đông, Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam “chưa thể viết gì lúc này về thầy”, bởi vì “thực sự là những đóng góp của thầy quá lớn và các học trò chỉ có thể nói về một khía cạnh nào đó thôi”.  Học trò khác của GS Hà Văn Tấn như TS Mai Thanh Sơn, Viện KHXH vùng Trung Bộ, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đều đồng tình “ông là người khổng lồ” đầy thông tuệ và minh triết, và “thật khó có thể đánh giá được hết những đóng góp của ông cho nghiên cứu Lịch sử học, Khảo cổ học, Văn hoá học, Phật giáo học”. “Sau ông chưa ai có thể nghiên cứu vừa rộng vừa sâu được như ông”, TS Nguyễn Tiến Đông nói.  Là thế hệ học trò của các nhà trí thức lớn như Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy…, các ông Lâm, Lê, Tấn, Vượng đã cùng với GS Trần Văn Giàu xây dựng, định hình các hướng nghiên cứu cho Khoa Lịch sử của trường Tổng hợp (thuộc Đại học KHXH&NV Hà Nội sau này) và đào tạo nhiều thế hệ cán bộ các Viện Sử học, Viện Khảo cổ học.   “Người khổng lồ”   Không chỉ là nhà khoa học có bút lực dồi dào, sức làm việc phi thường, GS Hà Văn Tấn còn là bậc kỳ tài với khả năng tự học. Hết lớp 9, ông bắt đầu rời quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ra Hà Nội học đại học trong vòng 2 năm và ở lại Khoa Lịch sử làm tập sự trợ lý cho GS Đào Duy Anh (nên sau này ông vẫn thường nhắc “tôi học phổ thông 9 năm, học đại học 2 năm, có thể nói chính xác trình độ của tôi là 9+2”). Thế nhưng ở tuổi 21, ông đã hiệu đính và làm chú dẫn bản dịch “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (do cụ cử Phan Duy Tiếp dịch). Bản dịch có chú dẫn ấy đã làm nhiều người phải sửng sốt, ngay cả nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc cũng phải thốt lên “cứ ngỡ đây là bậc túc nho, một cụ cử cụ tú già, thông kim bác cổ. Ai ngờ người soạn Chú dẫn lại là một chàng trai chỉ mới 21 tuổi!… tiếng là chú thích, dẫn giải nhưng dài gấp bốn lần chính văn. Thực ra, 115 trang này đích thị là một cuốn địa lý lịch sử khảo về duyên cách, núi sông… Việt Nam từ cổ đại đến thế kỷ XV, công phu và uyên bác. Để làm công việc này, một công việc mà trước đó chưa ai làm, tác giả đã dẫn dụng tới 30 bộ sách của các tác giả Trung Quốc và 16 bộ sách Việt Nam! Tất cả dĩ nhiên đọc trực tiếp từ nguyên văn chữ Hán [1]”.  Sau này được GS Trần Văn Giàu phân công nghiên cứu giảng dạy lịch sử Việt Nam từ buổi đầu cho đến hết thời nhà Hồ, GS Hà Văn Tấn đã tự học thêm hàng loạt các kiến thức chuyên ngành khác, từ nhân học hình thể cho tới ứng dụng phương pháp thống kê để đi sâu nghiên cứu về thời kỳ tiền sử và sơ sử của đất nước. Không chỉ dừng lại điều tra và khai quật nhiều di chỉ văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn, Sa Huỳnh và công bố mà ông còn thu thập tài liệu, tìm hiểu về bối cảnh rộng lớn hơn là khảo cổ học Đông Nam Á và Trung Quốc mà như ông nói sau này “khi viết về các vấn đề khảo cổ học Việt Nam, tôi thấy vững tâm hơn vì đặt được trong bối cảnh Đông Nam Á” [2].     Bức ảnh được chụp tại nhà GS Đào Hùng khoảng năm 2000 sau khi GS Đào Duy Anh được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm Công trình Lịch sử và Văn hoá Việt Nam. Từ trái sang phải: GS Trần Quốc Vượng, GS Đinh Xuân Lâm, GS Hà Văn Tấn, Nhà văn hóa Phan Ngọc, Nhà sử học Dương Trung Quốc, GS Phan Huy Lê, Nhà sử học Đào Hùng, GS Đào Thế Tuấn. Nguồn: Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam.  “Lang thang trên các nẻo đường khác của khoa học”  Không chỉ để lại các công trình khảo cổ học đặt nền móng cho các thế hệ học trò tiếp tục khám khá, mà ông vẫn “lang thang trên các nẻo đường khác của khoa học” (như ông tự nói) và để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XI cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam. “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông” (viết chung với PGS.TS Phạm Thị Tâm) là một cuốn sách rất nổi tiếng, được đánh giá là hấp dẫn bởi nhiều tư liệu quý hiếm và sinh động, “lần đầu tiên tôi được đọc cuốn này khi đang là học sinh cấp III (1978). Một cuốn sách hút hồn người đọc từ trang đầu đến trang cuối. Và đọc xong, thấy tự hào vì mình là người Việt”, TS Mai Thanh Sơn nói. Cách viết của GS Hà Văn Tấn có “nhiều phân tích sáng sủa, chặt chẽ, tái hiện được không khí lịch sử” như nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhận xét, cuốn sách này “cùng với ‘Khởi nghĩa Lam Sơn’ của Phan Huy Lê, ‘Thiên tài quân sự Nguyễn Huệ’ của Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng đã từng làm say mê tuổi thơ tôi” [3].   Nhìn chung, “các công trình nghiên cứu của GS. Hà Văn Tấn vừa rộng, vừa sâu và luôn được trình bày bằng một văn phong lịch lãm nhưng chặt chẽ, logic”, TS Mai Thanh Sơn nói.   Dù chủ yếu thông qua con đường tự học trong bối cảnh hết sức biệt lập của nền KHXH&NV nước ta nhưng GS Hà Văn Tấn luôn trăn trở với vấn đề lý thuyết, phương pháp luận cập nhật với các cuộc thảo luận về lý thuyết và phương pháp trên thế giới. “Khi bắt tay vào nghiên cứu phương pháp luận sử học, tôi mới thấy có lắm vấn đề. Đọc lại sách nước ngoài, nhất là sách của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, tôi mới vỡ nhẽ rằng chẳng có quyển nào trình bày phương pháp luận sử học một cách hoàn chỉnh”, ông từng viết. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn có tham vọng “ngoài giáo trình phương pháp luận sử học, còn nhiều môn học bổ trợ cho sử học cũng chưa có giáo trình như sử liệu học, văn bản học, ấn chương học, cổ văn tự học, minh văn học… Ôi, còn nhiều điều phải truyền thụ cho lớp trẻ!”.  Có lẽ, một trong các kinh điển của ông để lại cho giới nghiên cứu KHXH&NV là tiểu luận “làng, liên làng và siêu làng” vẫn là tài liệu gối đầu giường cho hầu hết các thế hệ học trò ngành sử, văn hóa, dân tộc học sau này để nghiên cứu “làng như một vi vũ trụ (microcosmos) qua đó ảnh xạ đặc điểm xã hội và lịch sử Việt Nam”. Dù tiểu luận ngắn, nhưng nó khái lược các cách tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu làng xã Việt Nam và đưa ra những khái niệm mang tính định hình trong nghiên cứu gồm “liên làng”, “siêu làng”, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cấu trúc của làng.  Tuy nhiên, đang ở độ chín của sự nghiệp thì năm 2001 GS Hà Văn Tấn bị đột quỵ, khiến nhiều dự định nghiên cứu chưa thể thực hiện như mong đợi. Điều ông để lại đến hôm nay là “gợi ra hàng ngàn ý tưởng đột phá trong khoa học” với sự “nhạy bén, sắc sảo và thông tuệ của mình”, như TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á viết, sẽ tiếp tục được các học trò viết tiếp. Như lời GS Hà Văn Tấn từng bộc bạch sau 40 năm (1957-1997) miệt mài giảng dạy và nghiên cứu khoa học: “Ngày xưa, nhà thơ Đường Trần Tử Ngang đã viết: Tiền bất kiến cổ nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng thiên nhi thế hạ” (Nhìn về trước, thấy đâu người cổ/ Nhìn về sau, chẳng có một ai/Mênh mông giữa cõi đất trời/ Đau thương dòng lệ tuôn dài cô đơn). Còn tôi, 40 năm qua, tôi đã tìm được dấu người xưa và thấy cả một lớp người sau đang hào hứng đi tới” [4].    Cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông” rất nổi tiếng của GS Hà Văn Tấn.  Sinh thời, cố GS Hà Văn Tấn công tác chủ yếu tại Khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội và Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam. Ông từng làm chủ nhiệm Bộ môn Phương pháp luận sử học, Khoa Lịch sử (1982 – 2009), Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1988-2008).  Một số công trình tiêu biểu của ông:  Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Việt Nam. Nxb Giáo dục. 1960.  Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1. Nxb Giáo dục, 1960; tái bản 1963.  Dư địa chí: Giới thiệu, hiệu chính và chú thích. Nxb Sử học, 1960; In lại trong “Nguyễn Trãi toàn tập”. Nxb Khoa học Xã hội, 1969; tái bản 1976.  Sơ yếu khảo cổ học nguyên thuỷ Việt Nam. Nxb Giáo dục. 1961. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII. Nxb Khoa học Xã hội, 1968; tái bản: 1970, 1972, 1975.  Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Phần thứ hai: Phật giáo từ Ngô đến Trần (thế kỉ X-XIV)). Nxb Khoa học Xã hội, 1988.  Chùa Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1993.  Tư tưởng thời kì tiền sử và sơ sử. Lịch sử tư tưởng Việt Nam. tập I. Khoa học Xã hội. 1993 (phần thứ nhất).  Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam (chủ biên). Nxb Khoa học Xã hội. 1994.  Triết học Ấn Độ cổ đại. Tập bài giảng Lịch sử Triết học, tập I. Nxb Chính trị Quốc gia. 1994.  Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam (chủ biên). tập II. Nxb Khoa học Xã hội. 1996.  Đình Việt Nam (viết chung). Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 1998. Khảo cổ học Việt Nam.  Thời đại đá, Viện Khoa học Xã hội. H. 1998  Một số vấn đề lý luận sử học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2007.  Theo dấu các văn hoá cổ. Nxb Khoa học Xã hội. H. 1997.  Buổi đầu giữ nước – Thời Hùng Vương (chủ biên), Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H., 1999.  Giải thưởng khoa học tiêu biểu: Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2000 cho công trình Theo dấu các văn hoá cổ.  Nguồn: Đại học KHXH&NV Hà Nội.  Chú thích:  [1] Dẫn theo Đỗ Lai Thúy, GS. Hà Văn Tấn, vị giáo sư khảo cổ học và hành trình theo dấu văn hoá, sách 100 năm Đại học Quốc gia Hà nội. Nguồn: http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7890/  [2] Hà Văn Tấn, 40 năm học tập và nghiên cứu, https://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/40-nm-hc-tp-va-nghien-cu-gs-ha-vn-tn/  [3] Đỗ Lai Thúy, đã dẫn.  [4] Hà Văn Tấn, đã dẫn.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang GS Hồ Tú Bảo, một cầu nối khoa học Việt Nam – Nhật Bản      Nghiên cứu và giảng dạy tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản từ năm 1993, hằng năm GS Hồ Tú Bảo vẫn sắp xếp thời gian về Việt Nam 6-8 lần để tham gia các đề tài nghiên cứu, tổ chức hội nghị chuyên ngành, giảng dạy tại các chương trình liên kết… Ông xem đây là một phần của nhiệm vụ hợp tác khoa học Việt – Nhật&#160;mà ông và nhiều người khác đang nỗ lực trở thành những cầu nối hữu hiệu.    Hồi đó, hình như con người lãng mạn hơn…   Trở thành nhà nghiên cứu về CNTT là một sự tình cờ hay là một sự lựa chọn đối với Giáo sư?    Với tôi thì có cả lựa chọn và tình cờ. Học hết phổ thông ở khóa chuyên Toán đầu tiên của ĐH Sư phạm Hà Nội, tôi được phân vào học tiếp khoa Toán ở đây. Lúc đó tôi không thích nghề dạy học nên đã xin chuyển sang  khoa Văn của ĐH Tổng hợp Hà Nội, nhưng mẹ tôi không muốn nên lại thôi. Học Toán được hai năm và bắt đầu thấy thích nghề dạy học thì tôi đi bộ đội, ba năm sau bị thương vỡ hàm, về trường ăn nói khó khăn, nên tôi xin chuyển qua khoa Toán-Lý của ĐH Bách khoa Hà Nội, học ngành Toán điều khiển.    Khi tôi tốt nghiệp đại học, một người bạn từ hồi phổ thông đang làm việc ở Viện Khoa        Giáo Sư Hồ Tú Bảo quê ở Hà Nội, sinh năm 1952 tại  Việt Bắc. Cựu sinh viên Toán ĐH Sư phạm Hà Nội. Nhập ngũ 6-9-1971, chiến sĩ trinh sát Sư đoàn 325 (C20, F325) chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị 1972 – 1974. Xuất ngũ tháng 9-1974.                Tốt nghiệp ngành Toán, khoa Toán – Lý, ĐH Bách khoa Hà Nội (1978), tiến sĩ tin học tại ĐH Paris 6 (1987), tiến sĩ khoa học về tin học tại ĐH Paris 9 (1998).                Hiện là giáo sư tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản.        học Tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ Thông tin) đã giới thiệu tôi với các anh Phan Đình Diệu và Hồ Thuần, và tôi được nhận về phòng Lập trình của anh Thuần. Sau một năm tôi chuyển qua nhóm nghiên cứu mới về Lý thuyết Nhận dạng của anh Bạch Hưng Khang vì thấy hợp với ngành Toán ứng dụng hơn. Một lần thay đổi nữa là sau khi học xong thạc sĩ ở Pháp về nhận dạng xử lý ảnh, anh Diệu khuyên tôi xem liệu có thể chuyển qua học ngành Trí tuệ Nhân tạo không, vì theo anh đây là tương lai của Tin học. Và thế là tôi chuyển, dù cũng mất công hơn để chuẩn bị từ đầu. Từ hơn hai mươi năm qua tôi chỉ làm việc trong lĩnh vực Máy học (machine learning), một nhánh của Trí tuệ Nhân tạo, tức làm sao để máy tính có một số khả năng học tập của con người, mà bản chất là việc học do phân tích được các tập dữ liệu lớn để tìm ra các tri thức mới. Lúc đó ngành Máy học mới ở bước đầu, và một số người tiên phong trong ngành này tìm cách hợp tác với những người làm Toán thống kê. Ông thầy tôi là một người làm Toán thống kê, và gợi ý tôi theo hướng mới này. Bây giờ ngành Máy học đã trở thành một lĩnh vực sôi động của CNTT, từ lý thuyết sâu sắc đến ứng dụng khắp nơi, và Toán thống kê đã thành nền tảng của Máy học. Tôi thật may mắn đã gặp sự tình cờ này và vui vì đã quyết định theo con đường Máy học.   Quay trở lại giảng đường sau một thời gian ở chiến trường, việc học tập lúc ấy hẳn có nhiều ý nghĩa hơn đối với Giáo sư?    Đúng vậy. Ai đã rời trường học đi lính rồi quay lại trường học, thì chắc đều thấy việc được đi học quý biết ngần nào. Cũng thấy việc học của mình ý nghĩa nhiều hơn, khi nghĩ tới những người bạn không trở về.    Động lực của những người trẻ tuổi thời ấy khi quyết định lựa chọn con đường nghiên cứu có khác với thanh niên hiện nay?   Rất khó khẳng định điều này, vì cần những điều tra xã hội. Nhưng chắc ở thời nào cũng vậy, người nào chọn con đường nghiên cứu khoa học thường cũng bắt nguồn từ sự yêu thích khoa học, muốn làm được cái gì đấy cho khoa học. Hồi đó ít lựa chọn hơn bây giờ, ít thông tin hơn bây giờ, nhưng hình như con người lãng mạn hơn.    Khi học lớp 10 năm cuối phổ thông chúng tôi thường nghêu ngao bài hát “Những cánh buồm” của Hoàng Vân ‘‘Những cánh buồm mang Mặt trời khao khát. Chở ta đi khắp bến khắp bờ. Đổi nhọc nhằn lấy những ước mơ. Xây hạnh phúc trong mồ hôi lao động. Tuổi thanh xuân ơi, đem ánh Mặt trời đi tới những chân trời của Tổ quốc mến yêu’’, và luôn mong mình được làm một cánh buồm đem “ánh Mặt trời” khoa học đi xây dựng đất nước.         … Mùa hè 1972 tôi tròn hai mươi tuổi và theo sư đoàn vào chiến dịch Quảng Trị. Sư đoàn 325 trẻ măng của tôi tham gia bảo vệ thị xã và thành cổ từ giữa tháng 7/1972, vào giai đoạn cuối quyết liệt nhất của chiến dịch. Tiểu đội trinh sát của tôi có nhiệm vụ theo dõi các trận đánh tại thị xã và vùng ven với hai đài quan sát ở làng Nhan Biều và đầu cầu Thạch Hãn, và đi điều tra hoặc lấy tin ở các nơi cấp trên cần. Từ làng Nhan Biều trông qua bên kia sông Thạch Hãn là thị xã và thành cổ. Nhan Biều là điểm lính ta tập kết trước khi vượt sông sang bổ sung cho các đơn vị bảo vệ thị xã, là nơi thương binh từ thành đưa về để chuyển ra tuyến sau, là nơi tiếp đạn và lương thực, … và cũng là một túi bom và đạn pháo.      Cùng phân đội trinh sát A74 trước khi đi địch hậu, 1.1974                Từ cuối tháng 8/1972 các sư đoàn thủy quân lục chiến, sư dù, … đã vây và khép dần ba mặt thành cổ. Ta giữ được thành và mặt sông sát thị xã trông qua làng Nhan Biều, và đoạn này cũng bị thu hẹp lại dần. Đêm 12/9 thương binh và tin tức từ thành không đưa về được vì đoạn sông ta giữ còn quá ngắn, pháo sáng bắn suốt đêm soi rõ từng ngọn bèo trôi trên sông, các loại pháo bắn suốt đêm chụp xuống, đập vỡ mặt sông.               Đêm 13/9, hai gã lính trinh sát chúng tôi được lệnh ngụy trang tìm cách qua sông lấy tin. Lên được bờ, chui xuống hai tầng hầm sâu, chúng tôi gặp được ban chỉ huy trung đoàn bảo vệ thị xã. Dưới hai tầng hầm sâu là những căn hầm nhỏ. Xung quanh tôi la liệt thương binh không đưa được qua sông. Đấy là đêm cuối cùng chúng tôi sang được thành, chia tay với những người anh hùng sống chết với thành cổ. Vòng vây thu lại, đêm 14/9 không qua sông được. Những trận đánh còn rải rác suốt ngày và đêm 15/9. Rạng sáng 16/9, chỉ còn im ắng những ngọn khói vương vương trên thị xã nát vụn.               Các anh nằm lại với thành cổ Quảng Trị, với mảnh đất đẫm máu và trộn đầy bom đạn suốt 81 ngày đêm, nằm lại với dòng Thạch Hãn lúc lành hiền êm ả, khi nước ngập mênh mang…               Vẫn lất phất mưa như ngày nào. Vẫn lặng lẽ sông Thạch Hãn ra biển như ngày nào. Chỉ cây cối đã xanh lên. Chỉ nhà mới đã mọc lên. Và ngỡ ngàng giọng Quảng Trị của mấy em nhỏ với nụ cười trên môi tôi chưa từng nghe chưa từng thấy bao giờ. Thương biết bao những người đã ngã xuống nơi đây, những người đã hóa thân thành sông nước, thành cát trắng, thành nắng rát, thành dai dẳng mùa mưa Trị Thiên. Mong biết bao những người đang sống đều biết đến, chia sẻ và xây đắp cho Quảng Trị, cho mỗi mảnh đất đã từng nhiều máu lửa trên quê hương mình.               (Hồ Tú Bảo, Về lại Quảng Trị)          Công bố quốc tế không phải là mục đích tối thượng của khoa học   Công bố quốc tế của khoa học Việt Nam trong những năm gần đây quá thiên về nghiên cứu lý thuyết, thiếu công bố trong những hướng nghiên cứu gắn với thực tiễn. Phải chăng chúng ta vẫn chưa có định hướng hợp lý về loại hình và nội dung nghiên cứu trong việc hoạch định các chương trình phát triển khoa học quốc gia?   Theo tôi, “những nghiên cứu lý thuyết” và “những nghiên cứu gắn với thực tiễn” không đối lập nhau, vì cái đầu là chuyện của cách nghiên cứu và cái sau là chuyện của kiểu nghiên cứu. Các kiểu đề tài cơ bản thực hiện bằng cách nghiên cứu lý thuyết cũng có thể rất “gắn với thực tiễn”, như việc xác định mô hình tính toán của tiếng Việt (dùng trong các hệ dịch giữa tiếng Việt và các tiếng khác, các hệ tìm kiếm thông tin hay rút gọn văn bản,…) hay việc xác định cơ chế phân tử có khả năng khống chế các gene gây ra bệnh tật. Có hiện tượng bạn nêu là do nhiều nghiên cứu ứng dụng của ta chưa đủ chất lượng để “công bố quốc tế” được.   Nghiên cứu cơ bản thường gắn với những đề tài cỡ nhỏ, và NAFOSTED đang làm tốt việc hỗ trợ cho các đề tài kiểu này cho các nhóm nghiên cứu có kết quả. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu cỡ trung bình, như các đề tài nghiên cứu phát triển trong các chương trình KC, dường như chưa được tổ chức và quản lý tốt như các đề tài nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Các chương trình khoa học cỡ lớn để tham gia giải quyết các vấn đề trọng điểm của đất nước như còn thiếu vắng. Chúng ta dường như cũng chưa có hoạch định tốt các chương trình phát triển khoa học quốc gia cần cho nhu cầu phát triển của đất nước.                   Theo tôi, “công bố quốc tế” không phải mục tiêu tối thượng của nghiên cứu khoa học và công nghệ. Do nhấn mạnh việc khoa học của ta trong mấy chục năm qua chưa hướng đến và chưa đề cao đúng mức những nghiên cứu có chất lượng cao, dư luận thời gian qua có phần thái quá khi gần như đồng nhất thành tựu nghiên cứu khoa học với công bố quốc tế. Với hai loại hình nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, công bố quốc tế là thước đo quan trọng nhất. Nhưng nghiên cứu phát triển lại không liên quan gì mấy tới “công bố quốc tế”. Ở các nước có nền khoa học mạnh, nghiên cứu phát triển thường chiếm chừng hai phần ba ngân sách và phần nhân lực khoa học rất lớn, tức rất nhiều người làm nghiên cứu khoa học và công nghệ không nhằm tới “công bố quốc tế”. Thực tế, tỷ lệ nhà khoa học làm nghiên cứu phát triển còn thấp của ta cũng làm cho mục tiêu khoa học của ta và cách hiểu nói chung có phần bị lệch.    Theo Giáo sư, làm thế nào để giải quyết được bất cập này?   Khó có trả lời đơn giản cho một câu hỏi quan trọng thế này. Nhưng tôi thấy ít nhất theo logic thông thường và theo những gì quan sát ở một số nước, việc định hướng phát triển khoa học nhất thiết phải được làm bởi những nhóm người am hiểu và có trách nhiệm nhất. Như cần phải có những hội đồng cố vấn khoa học thật sự năng lực của Chính phủ, và việc xây dựng các hội đồng này phụ thuộc vào trách nhiệm và tài năng của các nhà quản lý. Các hội đồng này không nhất thiết và không nên chỉ gồm toàn các quan chức có vị trí cao trong các cơ quan khoa học, mà cần nguời thật sự có kiến thức. Thí dụ như Hội đồng cố vấn về Công nghệ Thông tin của Tổng thống Mỹ (PITAC) gồm 24 chuyên gia công nghệ thông tin làm việc trong công nghiệp như Chủ tịch của AT&T, Phó Chủ tịch của Dell,… và một số giáo sư uy tín của các đại học MIT, Berkeley, Columbia, …    Để thu hút chất xám về nước, một số quốc gia có những chương trình tài trợ lớn hơn dành cho các nhà khoa học đang ở nước ngoài trở về nước thành lập các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu. Việt Nam có nên theo cách làm này?   Tôi nghĩ là lúc này ta có thể và mới chỉ nên làm ở mức thí điểm. Ở những lĩnh vực quan trọng, những việc cấp bách như các chương trình trọng điểm Nhà nước và khi trong nước chưa có chuyên gia giỏi, nếu mời được những nhà khoa học giỏi đang ở nước ngoài về giúp thì tốt quá. Tuy nhiên, điều nên chú trọng hơn lúc này là việc củng cố, nuôi dưỡng lực lượng nghiên cứu khoa học đang có trong nước, tạo động lực và môi trường làm khoa học tốt hơn để những nhóm nghiên cứu mạnh trong nước có thể làm việc hiệu quả. Khi đó các nhà khoa học giỏi ở nước ngoài nếu về mới có thể phát huy được. Cũng nên chú ý là nhiều người ở bên ngoài làm được việc vì họ có môi trường khoa học tốt. Khi về hoặc đến Việt Nam, rất có thể họ không làm được việc vì thiếu môi trường đó.   Làng khoa học Việt Nam  tại Nhật Bản  Sang Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (Japan Advanced Institute of Science and Technology – JAIST) giảng dạy và nghiên cứu từ năm 1993, điều gì làm Giáo sư hài lòng nhất sau thời gian dài gắn bó với JAIST?  Năm 1993, do mới thành lập, Trường Khoa học Thông tin của JAIST có chỉ tiêu mời một giáo sư và một phó giáo sư thỉnh giảng (visiting professor) nước ngoài về ngành Trí tuệ Nhân tạo. Khi được JAIST hỏi, GS Setsuo Ohsuga của ĐH Tokyo, khi đó là Chủ tịch Hội Trí tuệ Nhân tạo Nhật Bản, đã giới thiệu tôi. Trong thư gửi khi tôi đến JAIST ông viết: ‘‘Tôi nghĩ anh là giáo sư đầu tiên từ Việt Nam đến Nhật. Tôi hy vọng anh có thể là một cây cầu nối hai nước’’ (‘‘I think you are the fisrt professor coming from Vietnam to Japan. I hope you can be a bridge linking both countries’’). Câu đầu có thể chưa hẳn, nhưng câu thứ hai thì giờ nghĩ lại tôi thấy cũng làm được phần nào.    Có lẽ điều hài lòng nhất là khi đến JAIST hè 1993 (JAIST bắt đầu nhận sinh viên năm 1992) tôi chỉ có một mình và ở Việt Nam không ai biết đến JAIST, nhưng nay ở JAIST đã có một tập thể khoảng 80 anh chị em Việt Nam đang học tập và nghiên cứu, và JAIST có hợp tác tốt với nhiều nơi ở Việt Nam. JAIST có lẽ nằm trong số rất ít đại học nước ngoài có hợp tác với hầu hết các cơ sở nghiên cứu và đào tạo lớn ở Việt Nam: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, ĐH Bách Khoa Hà Nội, và ĐH Huế.    Với ai muốn làm nghiên cứu, thì việc có điều kiện để hằng ngày yên tĩnh, yên tâm ngồi làm việc hơn chục tiếng đồng hồ với các thứ cần thiết đầy đủ thiết bị là một mơ ước. Nhưng quả thực là mấy năm sau khi được hỏi và mời làm giáo sư chính thức ở JAIST, dù được cơ quan ở nhà đồng ý với nhiệm vụ gây dựng hợp tác khoa học, tôi cũng có phần băn khoăn. Bây giờ thì thoải mái hơn vì có thể vừa làm công việc ở đây vừa làm việc ở Việt Nam, cho Việt Nam. Mỗi năm, tôi về Việt Nam làm việc quãng 6-8 lần, tham gia làm một vài đề tài nghiên cứu ở Việt Nam, …                   Cộng đồng Việt Nam tại JAIST  Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (JAIST) là một đại học nghiên cứu của nước Nhật, thành lập năm 1990, chỉ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ về ba ngành Khoa học Thông tin, Khoa học Vật liệu, và Khoa học Tri thức. JAIST có khoảng 150 giáo sư (giáo sư, phó giáo sư và giáo sư trợ giảng), 300 sinh viên tiến sĩ và 700 sinh viên thạc sĩ. JAIST được Chính phủ Nhật đầu tư rất lớn về con người và thiết bị hiện đại, với mục tiêu đóng góp vào vị trí hàng đầu của nước Nhật trong khoa học và công nghệ.  JAIST được một số nhà khoa học xem là “làng khoa học Việt Nam” ở Nhật Bản với 80 người Việt đang nghiên cứu tại đây, và rất nhiều sinh viên đã từng đến đây học tập. Vì sao số lượng học viên Việt Nam tại JAIST tăng lên đáng kể như vậy?   Cho đến nay đã có 46 người Việt tốt nghiệp tiến sĩ và 44 tốt nghiệp thạc sĩ ở JAIST. Số sinh viên Việt Nam vào khoảng 8% số sinh viên toàn JAIST, và nhiều người có kết quả tốt, được đánh giá cao. Đáng kể là hầu hết mọi người sau khi tốt nghiệp đều trở về làm việc ở các đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam, một số đang làm postdoc ở Nhật, châu Âu và Mỹ. Kể từ năm 2000, hàng trăm lượt cán bộ Việt Nam đã đến thăm hoặc làm việc ở JAIST, trong đó có nhiều người chịu trách nhiệm về khoa học và đào tạo như các anh Đặng Vũ Minh, Đào Trọng Thi, Mai Trọng Nhuận, Phan Thanh Bình, …   Có những kết quả này, trước hết là nhờ chủ trương hợp tác với Việt Nam của JAIST. Ba giáo sư Chủ tịch của JAIST từ 1998 đều đã đi Việt Nam, và ông Chủ tịch hiện nay của JAIST đi Việt Nam tới tám lần vì công việc. Nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu ở Việt Nam trong hợp tác cũng đã “hết mình” với JAIST, như Đại học Quốc gia Hà Nội đã coi JAIST như một “đối tác chiến lược”. Thêm nữa, những năm vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã duyệt hai chương trình đào tạo liên kết về công nghệ nano và công nghệ thông tin-khoa học tri thức giữa các cơ sở Việt Nam và JAIST, cho phép nhiều sinh viên Việt Nam đến JAIST hơn. Ngoài ra, còn nỗ lực của nhiều cá nhân cả ở JAIST và Việt Nam.   Một điều rất đáng nói là JAIST không chỉ nhằm thu hút và nhận sinh viên từ Việt Nam, mà còn muốn hợp tác trong nghiên cứu, muốn giúp tạo ra môi trường khoa học tốt ở Việt Nam để những người tốt nghiệp khi trở về tiếp tục có môi trường làm khoa học.          Với 5 sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ tại JAIST           Làm việc trong những môi trường học thuật khác nhau có ý nghĩa như thế nào với Giáo sư?   Chủ yếu là có thêm kinh nghiệm, có sự so sánh, và dễ nhìn ra sự khác biệt hơn. Sự khác biệt, cả những điều hay và dở, cho phép mình bổ sung hoặc điều chỉnh mình cho hợp lý hơn, và thường làm việc tốt hơn. Chẳng hạn, tôi thấy rất hay nếu kết hợp được sự thoải mái, sự lãng mạn trong nghiên cứu vốn hay có ở Pháp với sự thấu đáo, sự đến cùng vốn hay có ở Nhật.    Môi trường khoa học lành mạnh, theo quan điểm của Giáo sư, là như thế nào?   Đấy là nơi mọi người luôn thấy thoải mái khi hằng ngày gặp những người khác.    Đâu là những yếu tố chính giúp cho một nhà khoa học thành công?  Có lẽ cũng như nhiều người, tôi cho rằng đấy là năng lực cá nhân, điều kiện làm việc, cơ hội, và sự ham thích.     Xin cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này.                        Ngọc Tú thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Hoàng Tụy: Những kỉ niệm từ Thụy Điển      GS. Hoàng Tụy từng tâm sự với chúng tôi rằng, hai năm làm việc tại Đại học Linköping là những năm tháng đẹp nhất cuộc đời ông. Khi nghe tin ông mất, những đồng nghiệp từ Thụy Điển bày tỏ lòng thương tiếc ông và dự định sẽ đặt tên ông cho một viện nghiên cứu trong trường Đại học hàng đầu quốc gia này.      GS. Hoàng Tụy trong một tọa đàm nhỏ về tối ưu được tổ chức tại Hy Lạp, có lẽ vào năm 1998. Đây cũng là lần cuối cùng ông gặp GS. Athanasios. GS. Hoàng Tụy là người ở bìa trái, ngồi bên cạnh ông là GS. Athanasios.   Chúng tôi rất tự hào và biết ơn sâu sắc vì có vinh dự được làm việc cùng Hoàng Tụy. Nguồn cảm hứng, kiến thức và sự động viên của ông trong những lần tới làm việc tại Đại học Linköping từ cuối thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990 có ý nghĩa rất lớn đối với cá nhân chúng tôi, cũng như đối với cả cả nhóm tối ưu chúng tôi.  Hoàn cảnh chúng tôi quen nhau  Năm 1987, cả hai chúng tôi, Athanasios Migdalas và Peter Värbrand, đều đang chuẩn bị cho giai đoạn cuối của luận án tiến sỹ dưới sự hướng dẫn của GS. Kurt Jörnsten, khi đó là trưởng nhóm tối ưu ở Đại học Linköping. Chủ đề của A. Migdalas là quy hoạch giao thông và thiết kế mạng. Bài toán thiết kế mạng, trong cả dạng cổ điển lẫn trong dạng hai cấp, về cơ bản là một bài toán không lồi. Cùng lúc đó,  P. Värbrand bắt đầu xem xét các bài toán tuyến tính hai cấp, và chúng tôi cùng nhận thấy rằng để tấn công các bài toán này, chúng tôi cần có kiến thức sâu hơn về tối ưu không lồi hay tối ưu toàn cục – và thế là chúng tôi tiếp xúc với các công trình của Hoàng Tụy.  Năm 1988, A. Migdalas được nhận vào nhóm tối ưu, do GS. Jörgen Tind đứng đầu, của Đại học Århus, Đan Mạch. Trong thời gian này, Jörgen Tind mời Hoàng Tụy sang làm việc một thời gian ngắn, và đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Chúng tôi bắt đầu thảo luận một số bài toán, trong đó có những bài toán thiết kế mạng một cấp và hai cấp, và chúng tôi vẫn giữ liên lạc và tiếp tục thảo luận về chúng sau khi Hoàng Tụy rời sang Đức để cùng Reiner Horst chuẩn bị cuốn sách đầu tiên về “Tối ưu toàn cục”.  Năm 1989, A. Migdalas trở lại Linköping, và cùng với GS. Sven Erlander (Hiệu trưởng Đại học Linköping và cựu trưởng nhóm tối ưu), ba chúng tôi xin được tài trợ từ Cơ quan Phát triển hợp tác quốc tế của Thụy Điển (SIDA – Swedish International Development Cooperation Agency) để mời Hoàng Tụy tham gia nhóm tối ưu với tư cách giáo sư mời. Trong khoảng một thập kỷ, Hoàng Tụy ở Linköping tổng cộng hơn hai năm. Trong chuyến làm việc đầu tiên, năm 1989, chúng tôi cùng với một nghiên cứu sinh tiến sỹ, Saied Ghannadan, bắt đầu phát triển hướng nghiên cứu này trong nhóm. Trong những năm này, đã có nhiều bài báo khoa học được công bố trong lĩnh vực này, và Saied hoàn thành luận án tiến sỹ của mình.  Bên cạnh việc xuất bản các kết quả, trong thời gian đó, chúng tôi cũng đã tổ chức nhiều hội thảo. Chẳng hạn, năm 1995, chúng tôi tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Quy hoạch hai cấp và đa cấp (First International Workshop on Bilevel and Hierarchical Programming), và Hoàng Tụy được mời trình bày báo cáo mời. Năm 1997, chúng tôi tổ chức một hội thảo quốc tế với tên gọi Tối ưu từ địa phương tới toàn cục (From Local to Global Optimization) để kỷ niệm sinh nhật 70 tuổi của Hoàng Tụy và vì những thành tựu xuất chúng của ông trong ngành Tối ưu. Nhiều nhà khoa học hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có thể kể đến Jonas Mockus, Antanas Zilinskas, J. B. Rosen, C. A. Floudas, N. V. Sahinidis, T. Rapcsak, G. Isac, P. M. Pardalos, và nhiều người khác, đã đến đóng góp vào thành công của hội thảo. Ngoài ra, cùng năm đó, chúng tôi còn có một chuyến ghé thăm Hoàng Tụy ở Hà Nội.  Năm 1998, A. Migdalas nhận một vị trí mới ở Crete, Hy Lạp, và rời Thụy Điển. Năm đó, Hoàng Tụy ghé thăm P. Värbrand ở Thụy Điển và ghé thăm A. Migdalas ở Hy Lạp. Đó là lần cuối chúng tôi trực tiếp gặp nhau. Kể từ đó, do điều kiện làm việc thay đổi đối với cả A. Migdalas (với nhiệm vụ mới ở Hy Lạp) và P. Värbrand (chuyển sang công tác quản lý), chúng tôi chỉ thi thoảng trao đổi email.    GS. Hoàng Tuỵ (thứ hai từ phải sáng) chụp cùng với hai tác giả bài viết (GS. Athanasios Migdalas ở bìa trái và GS. Peter Värbrand ở bìa phải) và học trò của GS. Migdalas, Saied Ghannadan đang cầm luận án tiến sĩ giơ lên theo truyền thống Thuỵ Điển, phải trình làng công chúng hai tuần trước khi bảo vệ. Theo lời của GS. Migdalas, GS. Hoàng Tuỵ đã có đóng góp to lớn cho kết quả của luận án.   Đóng góp ở tầm quốc tế của Hoàng Tụy  Hoàng Tụy là người tiên phong trong lĩnh vực sau này được đặt tên là “Tối ưu toàn cục”, và ông được công nhận rộng rãi là cha đẻ của nó; dù vậy những đóng góp khoa học của ông rộng lớn hơn nhiều và vượt xa bên ngoài tối ưu toàn cục: lý thuyết tính toán điểm bất động, các bài toán minimax, hàm đo được, v.v., vì ông vốn xuất phát từ ngành giải tích thực.  Hoàng Tụy được biết đến đầu tiên trong giới làm tối ưu với bài báo “Concave programming under linear constraints” (tiếng Nga: Dokl. Akad. Nauk SSSR, 159:1 (1964), 32–35, tiếng Anh: Soviet Mathematics Doklady 5 (1964) 1437–1440). Trong bài báo ngắn chỉ mấy trang này, “lát cắt Tụy” đã ra đời và khởi đầu một cuộc nghiên cứu mạnh mẽ trên toàn thế giới. Hơn nữa, những đóng góp của ông về “quy hoạch d.-c.” đem lại một đột phá thực sự trong việc giải nhiều bài toán tối ưu không lồi quan trọng.  Kể từ đó, Hoàng Tụy đã viết nhiều bài báo đóng góp cho sự phát triển của Tối ưu toàn cục và tối ưu nói chung. Ông là tác giả và đồng tác giả một số cuốn sách, trong đó có cuốn sách đầy đủ đầu tiên về tối ưu toàn cục “Global Optimization” (1990), và các cuốn “Optimization on Low Rank Nonconvex Structures” (1996), “Convex Analysis and Global Optimization” (1998).  Dù tuổi đã cao, Hoàng Tụy vẫn làm việc với tinh thần minh mẫn và niềm vui thích, tiếp tục đưa ra những ý tưởng mới và bài báo mới. Năm 2016, chúng tôi duyệt lại và cập nhật cuốn “Convex Analysis and Global Optimization”, đưa vào thêm những cách tiếp cận mới đối với minimax, điểm bất động, các định lý cân bằng, đối với tối ưu không lồi, cũng như những chủ đề mới về tối ưu đơn điệu, tối ưu đa thức và tối ưu với ràng buộc cân bằng, quy hoạch hai cấp, quy hoạch nhiều mục tiêu, và tối ưu với ràng buộc bất đẳng thức biến phân.  Năm 2007, một hội thảo quốc tế khác về Tối ưu không lồi được tổ chức ở Pháp để kỷ niệm sinh nhật 80 tuổi của Hoàng Tụy và để thừa nhận những đóng góp mang tính tiên phong của ông cho Tối ưu toàn cục.  Hoàng Tụy là giáo sư mời ở nhiều đại học hàng đầu trên thế giới, trong đó có Đại học Linköping như chúng tôi đã nhắc đến ở trên.  Năm 1995, Hoàng Tụy nhận bằng tiến sỹ danh dự của Trường Kỹ thuật (Technical Faculty) thuộc Đại học Linköping, trong nhiệm kỳ cuối làm Hiệu trưởng của GS. Sven Erlander.    GS. Hoàng Tụy trình bày trong tọa đàm về tối ưu được tổ chức tại Hy Lạp.  Đường tới thành công của Hoàng Tụy  Hoàng Tụy trải qua phần lớn tuổi trẻ trong điều kiện khó khăn do chiến tranh. Ông là một giáo viên trung học xuất sắc, thậm chí tự viết một cuốn sách giáo khoa hình học, được quân kháng chiến Việt Nam xuất bản năm 1949. Năm 1951, Hoàng Tụy đi bộ cả một hành trình dài dọc đường Trường Sơn, chỉ mang theo sách toán và gạo, muối.  Hoàng Tụy là một nhà toán học tự học đúng nghĩa. Ông đã một mình tự học chương trình toán đại học của Liên Xô! Sau khi sang Moscow, ông hoàn thành luận án tiến sỹ tại Đại học Moscow dưới sự hướng dẫn của các giáo sư Vladimir Menshov và Georgiy E. Shilov chỉ trong một năm rưỡi. Ông thậm chí đăng năm bài báo về giải tích thực trên các tạp chí toán học của Liên Xô; các bài báo này được viết bằng tiếng Nga, ngôn ngữ mà ông tự học nhờ học toán từ sách toán tiếng Nga.  Tuy nhiên, mối quan tâm và khao khát của Hoàng Tụy luôn là làm thế nào dùng toán học để giải các bài toán thực tế, giúp phát triển kinh tế của đất nước Việt Nam. Vì vậy, ông bắt đầu quan tâm đến Vận trù học, rồi qua gặp GS. Leonid V. Kantorovich ở Novosibirsk vào các năm 1962 và 1964. Việc này đưa Hoàng Tụy đến với Tối ưu, để rồi sau đó dẫn đến những cống hiến to lớn và mang tính quyết định của ông cho lĩnh vực này. Quả thực, cho tới lúc đó, phần lớn cộng đồng nghiên cứu vẫn coi tối ưu không lồi là một lĩnh vực nghiên cứu khó đến mức vô vọng, và những kết quả thu được thì không đáng kể cả về số lượng lẫn tầm quan trọng.  Cần lưu ý rằng mối quan tâm của Hoàng Tụy đối với Tối ưu bắt nguồn từ mong muốn giải quyết các bài toán thực tiễn, đặc biệt là các bài toán trong vận tải và hậu cần. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, hợp tác quốc tế về các bài toán này là rất khó khăn. Vì vậy, những đóng góp chính của ông lại nằm trong Lý thuyết tối ưu.  Hoàng Tụy trở thành Phó Viện trưởng của Viện Toán học Việt Nam khi viện được thành lập tại Hà Nội năm 1970, và năm 1980 ông trở thành Viện trưởng. Ông trở thành Tổng Thư ký Hội Toán học Việt Nam cùng năm đó.  Chúng tôi biết về Hoàng Tụy như một người rất nhân hậu và thông thái, với vốn sống và trải nghiệm phi thường. Dường như không có khó khăn hay thử thách nào, trong khoa học và cả trong cuộc sống, mà ông không biến thành thành công.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  ——  *Athanasios Migdalas là GS tại Đại học Công nghệ Luleå, Thụy Điển.  Peter Värbrand là GS tại Đại học Linköping, Thụy Điển.     Author                Athanasios Migdalas, Peter Värbrand*        
__label__tiasang GS Hoàng Tụy: “Tấm lòng của tôi với khoa học, với đất nước từ thuở thiếu thời đến bây giờ không lúc nào vơi”      Tại buổi lễ mừng sinh nhật lần thứ 90 của giáo sư Hoàng Tụy tại Viện Toán học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) diễn ra vào ngày 14/12/2017 trong khuôn khổ hội thảo quốc tế “Các thuật toán tối ưu và một số vấn đề liên quan”, với sự tham dự của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam Châu Văn Minh cùng đông đảo đồng nghiệp Việt Nam và nước ngoài, giáo sư Hoàng Tụy đã phát biểu một cách khiêm nhường “những đóng góp khoa học của tôi rất khiêm tốn, chỉ có tấm lòng của tôi với khoa học, với đất nước từ thuở thiếu thời đến bây giờ không lúc nào vơi”. Nhưng theo đánh giá của cộng đồng toán học, cuộc đời và sự nghiệp của giáo sư Hoàng Tụy là tấm gương sáng cho các thế hệ làm toán và các thế hệ của khoa học Việt Nam noi theo.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng sinh nhật giáo sư Hoàng Tụy.   Người mở đường  Hiếm có nhà khoa học trong nước và nước ngoài nào ở tuổi 90 vẫn có công bố quốc tế như giáo sư Hoàng Tụy. Kể từ năm 1959, khi công bố những bài báo đầu tiên về lý thuyết hàm thực trong báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, đến năm 2017, giáo sư Hoàng Tụy đã có 171 công trình xuất bản trên các tạp chí toán học hàng đầu như Mathematical Programming, JOGO, Optimization, Math. Operation Research, JOTA, SIAM J. Optim… Trong lĩnh vực về thuật toán tối ưu, bài báo “Concave programming under linear constraints” đăng trên Soviet Math. 5 (1964), 1437 – 1440 được giới chuyên môn về tối ưu hóa trên thế giới coi là công trình đánh dấu sự ra đời của lý thuyết tối ưu toàn cục tất định, trong đó giáo sư đã đề xuất phương pháp cắt (lát cắt Tụy – Tuy’s cut) để giải bài toán quy hoạch lõm: tìm nghiệm cực tiểu x* của một hàm lõm f trên tập lồi đa diện D. Theo số liệu từ Mathematical Reviews thì công trình về tối ưu toàn cục của ông đã có 1071 số lần được trích dẫn và 827 số người trích dẫn.  Bên cạnh các bài báo, ông còn có ba chuyên khảo rất cơ bản về lĩnh vực tối ưu hóa do một số nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới như Springer, Kluwer, trong đó “Global Optimization – deterministic approaches” đã trở thành cuốn sách kinh điển và được tái bản nhiều lần. Theo đánh giá của nhiều nhà toán học, các công trình nghiên cứu của ông chứa đựng nhiều đóng góp khoa học mang giá trị học thuật sâu sắc, có vai trò đặt nền móng hoặc định hướng hay mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.  Nhận định này không phải là những đánh giá nội bộ của “người nhà”. Giáo sư Taketomo Mitsui (Nhật Bản), một trong những nhà toán học từng làm việc với giáo sư Hoàng Tụy, đã nhận xét, “giáo sư Tụy không chỉ là nhà toán học đầy kinh nghiệm mà còn là một nhà khoa học với tầm nhìn quốc tế”1.  Với sự phát triển của toán học Việt Nam, giáo sư Hoàng Tụy cũng đóng một vai trò đặc biệt. Ông đã cùng với giáo sư Lê Văn Thiêm xây dựng nền toán học Việt Nam như ngày nay. Trong buổi lễ kỷ niệm Viện Toán học tròn 45 tuổi vào tháng 4/2015, giáo sư Hoàng Tụy đã phát biểu quan điểm của ông, “xây dựng Viện Toán học thành một viện đàng hoàng, làm ứng dụng thật đàng hoàng trên cơ sở chuyên môn của mình. Viện lấy hội nhập quốc tế làm thước đo trình độ, không say sưa với những nghiên cứu ngoài lề khoa học”.  Ghi nhận những đóng góp đó của giáo sư, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh đến đóng góp “góp phần dẫn dắt Viện trở thành trụ cột của nền toán học Việt Nam cũng như đem lại uy tín quốc tế” và gọi công lao đó là “khai sơn phá thạch”. Ông cũng nhắc đến vai trò quan trọng của giáo sư Hoàng Tụy trong việc khởi xướng và thúc đẩy ứng dụng toán học vào đời sống kinh tế xã hội đất nước như đưa vận trù học vào những năm 1960, 1970, áp dụng lý thuyết toán học vào quản lý kinh tế vào những năm 1980. Đó là tinh thần không tách rời giữa lý thuyết toán học trừu tượng với các bài toán thực tiễn.  Tấm gương của nhiều thế hệ làm khoa học  Trong cuộc đời làm nghiên cứu của mình, giáo sư Hoàng Tụy đã trở thành “tấm gương sáng cho các thế hệ làm toán và nghiên cứu khoa học Việt Nam về tinh thần làm việc khoa học kiên trì, sáng tạo, tự lực, không ngừng học tập; tác phong sư phạm mẫu mực, phương pháp nghiên cứu khoa học tỉ mỉ, chính xác và tinh thần làm việc trung thực” (trích tham luận của giáo sư Nguyễn Khoa Sơn – nguyên Phó Viện trưởng Viện KH&CN Việt Nam).  Khi đã cao tuổi, giáo sư Hoàng Tụy vẫn không ngừng nghiên cứu. Vào những năm 2000, ở tuổi thất thập, giáo sư còn xuất bản công trình nghiên cứu có vai trò đặt nền móng cho hướng phát triển mới của toán tối ưu về lý thuyết tối ưu đơn điệu. Giáo sư Phùng Hồ Hải cho biết, “ít người biết rằng vào tháng 11/2017, trước khi sang tuổi 90, giáo sư Hoàng Tụy vừa có công bố mới trên tạp chí Optimization Letters của nhà xuất bản Springer”.  Luôn cập nhật kiến thức chuyên ngành và quan tâm đến thế hệ trẻ Viện Toán học, giáo sư Hoàng Tụy vẫn luôn đều đặn tham gia các buổi seminar học thuật với Viện vào thứ ba hàng tuần, mặc dù có những thời điểm tưởng chừng không thể có mặt vì lý do sức khỏe.  Trong quá trình nghiên cứu, dù ở cương vị nào, giáo sư Hoàng Tụy vẫn luôn có những ý kiến đóng góp, kiến nghị sâu sắc về khoa học và giáo dục với lãnh đạo đất nước, xuất phát từ “tấm lòng của tôi với khoa học, với đất nước từ thuở thiếu thời đến bây giờ không lúc nào vơi” như lời bộc bạch của ông tại buổi sinh nhật. Giáo sư cho rằng, điều khiến ông “tự thấy hài lòng vì đã làm hết sức mình, còn kết quả [đạt được] thì cũng chừng nào thôi nhưng có điều tôi không ân hận, đó là luôn luôn hết sức thiết tha với khoa học và làm khoa học một cách khiêm tốn, trung thực từ lúc bắt đầu đến nay”.  Cũng với tâm thế đó, trong buổi làm việc với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Viện Toán học diễn ra ngay sau lễ mừng sinh nhật, giáo sư Hoàng Tụy đã nêu quan điểm của mình về sự cần thiết của những chính sách thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học nói chung, ngành toán nói riêng để tránh nguy cơ bị tụt hậu. “Nếu chủ quan, chúng ta có thể bị vượt qua trong một ngày không xa”, giáo sư nói.  Đóng góp cho khoa học và giáo dục của giáo sư Hoàng Tụy: 1.Là một trong những chuyên gia hàng đầu về toán tối ưu của thế giới và là người khởi xướng lĩnh vực toán tối ưu toàn cục. 2.Những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học trình độ cao 3. Khởi xướng và thúc đẩy ứng dụng vận trù học vào sản xuất ở VN trong những năm 60-70, thúc đẩy ứng dụng toán học và lý thuyết hệ thống vào quản lý kinh tế trong những năm 80. 4. Nhiều bài viết và góp ý /kiến nghị có giá trị lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc về kế sách phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và giáo dục.     1. http://tiasang.com.vn/-giao-duc/toi-that-su-an-tuong-ve-ong-1558       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang GS Klaus Krickeberg: Một đời gắn bó với Việt Nam      GS Klaus Krickeberg – một trong những giáo sư toán thuộc loại tinh hoa nhất sau Thế chiến Thứ hai của Đức và là một nhà khoa học hơn nửa thế kỷ dấn thân cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và trong lĩnh vực toán học ứng dụng với mong muốn nâng cấp y tế công cộng của Việt Nam lên tầm quốc tế.    Vừa qua GS Klaus Krickeberg đã được Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị.  Klaus Krickeberg thuộc thế hệ tinh hoa của CHLB Đức thời hậu chiến. Ông sinh năm 1929 tại Ludwigslust, thành phố lâu đài trung tâm của bang Mecklenburg-Vorpommern, Bắc Đức. Ngoài dòng máu Đức, ông còn mang dòng máu của những người Hugenot Pháp định cư lâu đời ở Đức để tránh đàn áp tôn giáo.  Ở tuổi 29, ông là một trong những người trẻ nhất, ông được phong hàm giáo sư thực thụ (full professor) tại Đại học Heidelberg (1958). một đại học rất cổ xưa và nổi tiếng châu Âu, với rất nhiều cựu sinh viên tên tuổi, như Max Weber, Hermann von Helmholtz, Karl Jaspers, Wilhelm Wundt, Hannah Arendt, Fritz Haber, Max Born, và những người nước ngoài như Dmitri Mendeleev, Sofia Kovalevskaya.  Ông là nhà toán học làm về xác suất đầu tiên và duy nhất thời hậu chiến, cùng giúp xây dựng ngành xác suất từ con số không sau khi Quốc xã phá tan nền khoa học đỉnh cao của nước Đức. Ông là người nổi tiếng đầu tiên ở nước ngoài và được mời đi diễn thuyết, ở Mỹ, Đan Mạch, Pháp, Liên Xô…    Klaus Krickeberg 1976. Ảnh: Viện toán học Oberwolfach, Đức  Năm 1968, ông đã được bầu làm “Fellow” của “Institute of Mathematical Statistics” của Hoa Kỳ, một vinh dự rất lớn. Sự công nhận lớn nhất dành cho ông là từ 1977-1979, ông được bầu làm Chủ tịch của “Bernouilli Society for Mathematical Statistics and Probability”, tổ chức quốc tế trong lãnh vực này. Ngoài ra, 1983, ông được bầu làm viện sĩ của “Hàn lâm viện Khoa học Đức Leopoldina”. Viện Hàn lâm hoạt động lâu đời nhất thế giới, nơi Albert Einstein và David Hilbert cũng từng là thành viên.  Năm 1965 một việc làm đã đưa ông vào một cuộc dấn thân có tính “định mệnh” mà có lẽ lúc đó ông cũng chưa hình dung hết, là góp tiền cho Vietnam Hilfsaktion, một tổ chức nhân đạo ở Cộng hòa Liên bang Đức quyên góp giúp Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Mối liên hệ của ông với Việt Nam hình thành từ đó.  Năm 1966, ông đã ký tên vào Tuyên cáo phản đối Chiến tranh Việt Nam của các nhà toán học tham dự Hội nghị toán học quốc tế lần thứ 15 tại Moscow, do sáng kiến của nhà toán học Pháp Laurent Schwartz (giải Fields 1950). Năm 1966 được đánh dấu bằng việc Mỹ bắt đầu oanh tạc miền Bắc, đồng thời bằng sự hình thành của phong trào phản chiến Mỹ ở UC Berkeley, với sự tham gia của nhà toán học Mỹ Stephen Smale (giải Fields 1966). Phải nói đó là hành động rất can đảm của GS Krickeberg nếu biết rằng CHLB Đức là đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ trong mặt trận chống khối Xô viết trong cuộc chiến tranh lạnh. Từ năm đó, phong trào chống chiến tranh trên thế giới phát triển mạnh mẽ cùng với sự gia tăng chiến tranh.  Từ 1965 đến thời điểm 2016, tức hơn nửa thế kỷ, tổng cộng ông đã thăm và làm việc với Việt Nam cả thảy 31 lần. Trong các nhà khoa học nước ngoài đã từng ủng hộ cuộc đấu tranh chống chiến tranh, có lẽ Klaus Krickeberg là một trong rất ít người, hay duy nhất, vẫn miệt mài công việc hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc xây dựng hòa bình. Với uy tín khoa học của mình, ông đã góp phần giúp phá thế cô lập của Việt Nam về khoa học, và còn xây dựng nền toán học ứng dụng, đặc biệt trong lãnh vực y tế công cộng.  Mùa hè năm 1974, ông bước lên chuyến xe lửa “định mệnh” từ thành phố Bielefeld để đi thăm Việt Nam, theo lời mời của Viện Toán Việt Nam ở Hà Nội. Chuyến đi xuyên quốc gia bằng đường bộ này kéo dài hơn 10 ngày, qua Siberia, Mông Cổ, Trung Quốc đến Hà Nội. Một hành trình táo bạo và gây tiếng vang trong dư luận Đức. Có lẽ ngoài hai nhà toán học Pháp Laurent Schwartz và Grothendieck, nhưng chưa ai thực hiện một chuyến đi ‘mạo hiểm’ như thế đến Việt Nam.  Để chuẩn bị cho các bài giảng tại Việt Nam, ông tự học tiếng Việt trên xe lửa trong suốt chuyến đi. (Sau đó tại ĐH Paris 7, ông học tiếp về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam đến khi lấy được bằng cử nhân năm 1988. Điều đó cho thấy ông đã nghĩ đến một cuộc dấn thân cho Việt Nam lâu dài). Cho đến năm 1991 ông thường giảng dạy và làm xêmina bằng tiếng Việt.  Trong chuyến thăm tại Hà Nội trong sáu tuần, ông đọc nhiều bài giảng tại Viện Toán, và gặp gỡ các nhà toán học và khoa học lớn như GS Lê Văn Thiêm, GS Hoàng Tụy, GS Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu. Họ đều bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến ứng dụng toán xác suất thống kê trong y tế, chẩn đoán được hỗ trợ bằng máy tính. Xác suất thống kê là một ngành toán có rất nhiều ứng dụng quan trọng, và rất thiếu tại Việt Nam.    Từ trái qua: Nhà dịch tễ học Klaus Dietz, Klaus Krickeberg, tác giả Nguyễn Xuân Xanh và nhà toán học Hans Zessin chụp tại Đà Lạt nhân dịp sinh nhật 80 tuổi của GS Klaus Krickeberg năm 2009. Ảnh: https://owpdb.mfo.de/detail?photo_id=11556.  Do chuyến đi Hà Nội này, ông đã phải từ chối lời mời đọc bài tham luận toàn thể trước Hội nghị Toán học thế giới (IMC) được tổ chức tại Vancouver, một vinh dự rất lớn dành cho ông. Nhưng Việt Nam mới là mục tiêu ưu tiên của ông, xứ sở mà ông muốn “khám phá”.  Trở lại Bielefeld, ông triển khai một loạt hoạt động ủng hộ Việt Nam, như tổ chức “Tuần lễ Việt Nam” cùng Hội sinh viên ở đó, chiếu phim Đường mòn Hồ Chí Minh, tổ chức gửi sách khoa học từ Đức về Việt Nam, thuyết trình về ngành toán học Việt Nam tại các diễn đàn Đức và Pháp.  Sau chuyến đi Việt Nam đầu tiên 1974, ông chuyển sang làm giáo sư của Đại học Paris V, ở đây không khí chính trị và môi trường hoạt động cho Việt Nam có lẽ thuận lợi hơn. Ông là thành viên của Phòng thống kê y tế của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS) gắn liền với đại học.  Từ 1980 trở đi, với tư cách là Giáo sư cấp ngoại hạng (Professeur de Classe exceptionnelle), ông đã dạy 12 năm liền những ý tưởng về Y tế công cộng. Ông tự nhủ: “Trước tiên, phải tự học thêm những thứ mà chính mình đang trăn trở”, và không gì tốt hơn là bằng giảng dạy. Ông đã dành cho sinh viên Toán ứng dụng của ông ở Đại học Paris V một khóa học về “Dịch tễ học” theo nghĩa rộng, bao gồm cả Dịch tễ học lâm sàng và các thử nghiệm lâm sàng cụ thể.  “Chương trình bao gồm 6 giờ lý thuyết và thực hành hàng tuần suốt toàn năm học. Trong đó có nhiều kiến thức Thống kê, nhưng cũng chứa các nội dung khác như Phương pháp mô hình hóa rời rạc trong di truyền học dân số và mô hình hóa phát triển dịch bệnh bằng phương trình vi phân, theo cả hai cách tiếp cận tất định và ngẫu nhiên. … Ông đã dạy giáo trình đó hơn chục lần cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1998. Kết quả là những sinh viên theo đuổi thành công chương trình đó đã rất “đắt hàng” trong hệ thống y tế Pháp. Họ dễ dàng tìm được các vị trí trong các bệnh viện lớn, trong bộ máy quản lý y tế và trong các viện nghiên cứu y tế và “y tế công cộng” như ông thuật lại trong một bài diễn thuyết về trải nghiệm Việt Nam “Toán học có cần cho Y tế công cộng?”  Đó là chương trình mà ông sẽ thực hiện ở Việt Nam bằng giảng dạy và thực hành 35 năm liền. Năm 1998, ông nghỉ hưu tại ĐH Paris, nhưng chưa nghỉ hưu đối với Việt Nam.  GS Klaus Krickeberg rất yêu đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Căn hộ của ông tại Paris được trang trí với bàn ghế bằng mây tre mang từ Việt Nam. Ông thích một cuộc sống đơn giản, thích lịch sử phong phú của Việt Nam. Xét ở một số khía cạnh nào đó, có thể nói “Ông còn Việt Nam hơn cả nhiều người Việt Nam trong chúng ta”.  ***  Đáng lẽ câu chuyện của ông với Việt Nam có thể kết thúc khi ông nhận quyết định nghỉ hưu của Đại học Paris V năm 1998, và kết thúc nhiệm vụ của trong Chương trình châu Âu – Việt Nam vào năm 2004.  Tuy nhiên, như ông kể, “năm 2005 tôi đã đến Việt Nam một lần nữa, lần đầu tiên như một du khách, và tôi đã đến thăm người bạn cũ Hoàng Thủy Nguyên, khi đó đã thôi chức giám đốc Viện Vệ sinh Dịch tễ và nghỉ hưu. Ông nói với tôi rằng một trường đại học y tế nhỏ của khu vực Đông Bắc Việt Nam đó là Đại học Thái Bình muốn được giúp đỡ về giảng dạy y tế công cộng, để làm cơ sở cho việc nâng cấp ngành Y tế công cộng của Việt Nam.  Ở Việt Nam, chương trình đào tạo y tế bao gồm hầu hết các khóa học về các chủ đề của Y tế cộng đồng, điều đó rất hợp lý vì các bác sĩ ở nông thôn hoặc ở các thành phố nhỏ cũng phải làm rất nhiều việc của Y tế cộng đồng, chẳng hạn như quản lý một trạm y tế thôn bản, thúc đẩy giáo dục sức khoẻ, các hoạt động phòng bệnh bao gồm hoạt động vệ sinh thông thường, cùng các nhiệm vụ khác nữa. Song nội dung của các khóa học này chất lượng rất kém, trình độ giáo viên của các trường còn kém hơn. Các giảng viên áp dụng cách đọc thành lời các tài liệu viết sẵn mà không bao giờ suy nghĩ về nó.    GS Klaus Krickeberg với chương trình Dịch tễ học cho VN, 2009.  Vì vậy để thực hiện công việc này, ông đã kết hợp với Đại học Bielefeld, và một viện y tế của Lào thực hiện một chương trình trong 10 năm, với trọng tâm là:  – Cải thiện việc giảng dạy ngành Y tế công cộng, và nâng cao mặt bằng khoa học của giảng viên.  – Biên soạn và xuất bản Tủ sách “Giáo khoa cơ bản về Y tế công cộng” để làm những tài liệu quan trọng cho giảng viên.  Ông đã thực hiện một chương trình nhằm nâng cấp ngành Y tế công cộng với hai nội dung chính:  Ông đã tổ chức hội thảo hằng năm về những vấn đề của Việt Nam với các báo cáo khoa học, và các phiên thảo luận về nhiều khía cạnh trong Y tế công cộng, và thăm thực địa, thảo luận về một số chủ đề, như về cấu trúc của một bài giảng, phân tích đánh giá các giáo trình sẵn có và cùng với các giảng viên Việt Nam viết bài mới về nhiều chủ đề.  Trong giáo trình mới, các ví dụ, ứng dụng và nghiên cứu tình huống chủ yếu được lấy từ hệ thống y tế Việt Nam; các tình huống của nước ngoài đều được so sánh với những tình huống tương tự của Việt Nam. Tất cả các cuốn sách đều được viết dạng song ngữ riêng rẽ thành hai bản tiếng Việt và tiếng Anh, được in trong cùng một quyển, nếu có thể.  Để tạo một kênh cho tất cả các cuốn sách này và để cho thấy rõ ràng chúng tạo thành một khối tài liệu thống nhất, ông đã lập một bộ sách trong Nhà xuất bản Y học Hà Nội, được gọi là “Tài liệu (Tủ sách) giáo khoa cơ bản trong y tế cộng đồng”, do ông và hai đồng nghiệp Phan Vũ Diễm Hằng và Nguyễn Văn Sơn làm chủ biên.  Quyển đầu tiên của ông và hai các cộng tác viên Phạm Thị Mỹ Hạnh và Phạm Văn Trọng được xuất bản riêng thành hai bản tiếng Việt, là Dịch tễ học – Chìa khóa của dự phòng, và bản tiếng Anh “Epidemiology- Key to Prevention”, được xuất bản tại NXB Springer, New York, trong bộ “Thống kê trong Sinh học và Y tế” mà ông đã lập ra từ nhiều thập kỷ trước.  Đến nay, Tủ sách về Y tế công cộng này đã có tất cả sáu quyển: Dịch tễ học – Chìa khóa của dự phòng, Giáo dục sức khỏe, Khoa học dân số và y tế công cộng, Toán học và thống kê trong khoa học y tế, Sức khỏe môi trường – Các nguyên lý cơ bản. Chuẩn bị: Dinh dưỡng – Cái nhìn từ Dịch tễ học. Đây sẽ là một tủ sách giáo khoa quan trọng, được viết rất khoa học, hiện đại, vừa có tính hàn lâm, vừa có tính ứng dụng, để phục vụ cho giáo dục, nghiên cứu và thực hành trong tương lai. Không thể có ngành y tế công cộng hiện đại, nếu không có một tủ sách giáo khoa hiện đại như thế.  Trong các hoạt động này, ông luôn luôn nhấn mạnh vai trò của toán học và tư duy chặt chẽ của nó:  – Toán học có vai trò thiết yếu trong hầu hết các thành phần của Y tế công cộng, bắt đầu từ các yếu tố cơ bản nhất và không thể thiếu của Y tế cộng đồng như được giảng dạy cho sinh viên y khoa bình thường.  – Tư duy chặt chẽ và sáng sủa theo phương pháp toán học là không thể thiếu để cải thiện hiệu quả giảng dạy và thực hành Y tế cộng đồng.  – Các nhà toán học cần phải được tuyển dụng vào nhiều vị trí trong Hệ thống y tế.  – Các nhà quản lý y tế, giảng viên đại học y, cán bộ ngành y tế và nghiên cứu y học nói chung nhất thiết phải nhận thức rõ ràng về vai trò của toán học trong Y tế cộng đồng. Điều đó đã trở thành phổ biến ở nhiều nước nhưng chưa được quán triệt tại Việt Nam.  “Tham vọng” của GS Krickeberg là đưa ngành Y tế công cộng Việt Nam, về nhân sự, cấu trúc, trình độ khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy, tính chuyên nghiệp, năng lực ứng dụng toán học, óc tổ chức, sự vận hành bộ máy, lên mặt bằng thế giới, hay tương đương, và nâng vị thế của y tế công cộng trong ý thức của cộng đồng khoa học và dân chúng, cũng như cải thiện vị thế và điều kiện làm việc của các giảng viên.  Những người Việt công tác với ông đều rất trân quý ông, xem ông còn hơn là một người bạn của Việt Nam. Trong những năm 1980, lúc ông làm việc tại Viện Vệ sinh và Dịch tễ ở Hà Nội, một trợ lý của giám đốc, khi cùng gửi xe đạp với ông trong Viện vào một buổi sáng, đã buột miệng thốt lên với ông: “Ki-kơ-rơ-béc là người Việt Nam”. Câu nói này bộc lộ đúng tình cảm mà các cộng tác viên đã dành cho ông.  GS Klaus Krickeberg rất yêu đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Căn hộ của ông tại Paris được trang trí với bàn ghế bằng mây tre mang từ Việt Nam. Ông thích một cuộc sống đơn giản, thích lịch sử phong phú của Việt Nam; hay tìm đến những nơi vắng vẻ trong những ngày nghỉ ở Việt Nam. Ông luôn luôn có sự thông cảm và kiên nhẫn với Việt Nam. Xét ở một số khía cạnh nào đó, có thể nói “Ông còn Việt Nam hơn cả nhiều người Việt Nam trong chúng ta”.  Trong một buổi trò chuyện, ông đã bày tỏ lo lắng cho sự phát triển của Việt Nam. Ông nói: “Điều tôi không thích ở Việt Nam hôm nay chính là những cái “không− Việt Nam” (un-vietnamese) đang lan tràn khắp nơi, sự thắng thế của tâm lý buôn bán, sự phá hỏng cảnh quan, sự phô trương giàu có, sự bắt chước những cái kiểu Mỹ gớm ghiếc, cách ăn uống không lành mạnh, quá nhiều tivi…”.    Author                Nguyễn Xuân Xanh        
__label__tiasang GS Micheline Lessard: Phụ nữ thường bị lãng quên      Giáo sư Micheline Lessard, ĐH Ottawa, Canada là một trong số ít những học giả phương Tây nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề buôn bán phụ nữ và trẻ em trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam. Ấn phẩm mới đây của bà về “Buôn bán người ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc”, tại nhà xuất bản uy tín Routledge đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà sử học Việt Nam. Theo bà, vấn đề này thường ít được nghiên cứu và nhắc tới trong lịch sử, nhưng lại phản ánh những góc khuất trong hệ thống cấu trúc xã hội.      GS. Lessard trao đổi với TS. Trần Thị Phương Hoa, phó viện trưởng Viện Sử học trong lần sang Việt Nam khảo cứu tài liệu vào tháng 11 – 12/2017. Ảnh: Bảo Như.  Trước hết, chúng tôi muốn hỏi bà tầm quan trọng của việc hiểu về buôn bán phụ nữ thời thuộc địa của Việt Nam…  Nếu bạn nhìn vào bất kì trường hợp nào mà con người và phụ nữ bị buôn bán, nhìn vào lịch sử vấn đề cho phép bạn kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tìm ra những nhân tố ẩn giấu dưới lớp vỏ của sự kiện đó. Đó là một cách hữu ích để thấy rằng xã hội của chúng ta đã và không thay đổi như thế nào và lí do của điều đó là gì. Buôn bán phụ nữ không chỉ là vấn đề của thời thuộc địa. Có những nguyên nhân sâu xa, không chỉ ở Việt Nam mà trên khắp thế giới, cho phép tệ nạn này tiếp tục diễn ra. Nguyên nhân đó là gì? Liệu chúng có còn tồn tại đến ngày nay? Câu trả lời thật buồn là có.  Và tôi nghĩ, việc kết nối được quá khứ với hiện tại là điều hết sức cần thiết nếu bạn muốn sửa chữa những vấn đề đang diễn ra ngày hôm nay. Có một nguyên nhân dẫn đến nạn buôn bán phụ nữ kéo dài từ quá khứ đến hiện tại, là nghèo đói. Việt Nam ngày nay là một nước có thu nhập trung bình, nhưng ở một vài nơi, nghèo đói vẫn hiện diện. Những nơi đó vẫn chưa được hưởng lợi từ công cuộc phát triển kinh tế, vẫn ở trong những điều kiện tương tự như vào thế kỉ 19. Tất cả các nguyên nhân đều phải được nhận diện như thế. Có những vấn đề cần một quãng thời gian rất dài để thay đổi.  Vậy bà có thể nói về những nguyên nhân này và cách soi chiếu nó vào thời đại ngày nay hay không?  Có ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng buôn bán phụ nữ, đó là nghèo đói, thái độ của xã hội đối với phụ nữ và cuối cùng là hỗn loạn chính trị. Ở Việt Nam bây giờ, dĩ nhiên hỗn loạn chính trị không còn là nguyên nhân nhưng nghèo đói thì có. Cuộc phát triển kinh tế thần kì của nước các bạn, dù rất sống động, nhưng chưa chạm tới tất cả mọi người, vẫn để lại một nhóm người dễ bị tổn thương. Tôi có thể hiểu tại sao một số phụ nữ Việt Nam, những người sống trong nghèo đói, không có gia đình, không được học hành đầy đủ nên cũng chẳng có sinh kế nào để sống tử tế lại hứng thú với việc tìm kiếm một ai đó ở Đài Loan để gửi gắm cuộc đời.  Người bình thường sẽ tự hỏi: “Tại sao những người đàn ông Đài Loan phải ra nước ngoài để mua cô dâu?”. Nhưng với những người phụ nữ này, làm cô dâu Đài Loan là một giải pháp đầy tiềm năng, tôi biết họ sẽ tặc lưỡi, được thôi, sẽ có khúc mắc về ngôn ngữ, sẽ không còn được về nhà, nhưng ít nhất mình có nhà, có một nơi ở thoải mái, mọi thứ sẽ đỡ khổ hơn. Trong những tình huống vô cùng khó khăn, chúng ta đều cố sức để tồn tại, đều tìm cách nào đó để tiếp tục sống.    Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình ký văn bản Hiệp định Paris 1973.   Về thái độ đối với phụ nữ, tôi nghĩ không chỉ là việc không coi họ như một món hàng mà là tạo ra một cơ chế xã hội mà ở đó giảm khả năng phụ nữ rơi vào hoàn cảnh như trên. Chẳng hạn như, đảm bảo rằng mọi phụ nữ đều được học hành đầy đủ. Đảm bảo rằng phụ nữ cũng được trả lương tốt ngang với nam giới, để dù có một thân một mình, họ vẫn sống sót… Kiểu như vậy. Và nói về thái độ đối với phụ nữ, ở một mức nào đó, ngay cả ở đất nước của tôi vẫn không đảm bảo được điều này. Là một nước giàu có nhưng phụ nữ vẫn được trả lương chỉ bằng 75% so với nam giới ở cùng một vị trí. Trong một công ty, tổ chức, phụ nữ cũng ít cơ hội thăng chức hơn nam giới. Ngoài ra, nếu nhìn vào những trường hợp bạo hành phụ nữ bị “bóc mẽ” gần đây ở Mỹ và rất nhiều nơi khác trên thế giới, thái độ với phụ nữ từ xưa đến nay dường như vẫn không có nhiều thay đổi, ở những nước mà quấy rối và hiếp dâm là phạm pháp, vẫn có những người rất nổi tiếng ngang nhiên thực hiện điều đó với thái độ cho rằng phụ nữ sinh ra là để bị lạm dụng. Đó hẳn là nguyên nhân khó xử lý nhất. Ngay cả khi không còn nghèo đói, không còn hỗn loạn chính trị, nếu thái độ với phụ nữ vẫn chưa thay đổi, tệ nạn này vẫn sẽ diễn ra.  Phụ nữ và động thái chính trị  Điều gì đã dẫn bà đến việc nghiên cứu về vấn đề này?  Khi tôi khám phá ra tài liệu cho chủ đề này, tôi đang thực hiện nghiên cứu về phụ nữ Việt Nam và phương thức họ tham dự vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân và đóng góp vào chủ nghĩa yêu nước. Tôi nhận ra rằng, phụ nữ thực sự đóng góp vào độc lập dân tộc bằng nhiều cách. Nhưng nhiều điều họ làm không được coi là hành động chính trị. Sự đóng góp về mặt chính trị của một người từ trước đến nay là do nam giới định nghĩa: Họ có ở trong một đảng phái chính trị nào không? Nhưng đó không phải là một định nghĩa đầy đủ. Nếu bạn là một người ủng hộ nữ quyền, bạn nhận ra rằng, tất cả mọi thứ đều mang màu sắc chính trị.  Nếu một phụ nữ ngồi ở chợ chỉ cho quân đội Việt Nam rằng địch đang đi hướng này. Đó là hành động chính trị. Ở thời điểm đó, họ đã đưa ra một lựa chọn để giúp đồng bào mình được an toàn. Đó là sự đóng góp. Phụ nữ quyết định nuôi con mình theo cách khác, đó cũng là động thái chính trị. Nhưng tất cả những điều đó đều không được bao gồm trong lịch sử mặc dù nó nên như thế. Một vài người cho rằng việc bà Sương Nguyệt Ánh có một tờ báo riêng về nữ công gia chánh, về lối sống không liên quan đến chính trị. Nhưng, riêng ý tưởng về việc phụ nữ được xuất bản báo vào năm 1920 ở Việt Nam đã là động thái chính trị rồi. Và trùng hợp thay, cảnh sát Pháp thời bấy giờ cũng cho rằng bà là người theo chủ nghĩa yêu nước do xuất bản báo và đề cập đến đủ mọi loại vấn đề khác nhau. Ngay cả khi nội dung của nó bảo thủ. Nó vẫn là chính trị. Bạn biết không, bạn không cần đầy tinh thần cách mạng để có tính chính trị. Bạn có tính chính trị kể cả khi bạn là người bảo thủ. Chúng ta cần thay đổi góc nhìn của mình, một góc nhìn hạn hẹp về hoạt động chính trị.  Vậy, mục tiêu của tôi là nhìn vào lịch sử phụ nữ trong chính trị. Tôi hứng thú với chủ đề phụ nữ Việt Nam sống, bị đối xử và hành động ra sao trong lịch sử. Và những tài liệu về buôn bán phụ nữ mà tôi tìm thấy khi nghiên cứu cũng đều có sự kết nối với điều này. Đó là lịch sử nhận thức của xã hội về phụ nữ.   Vậy bà có thể nói thêm về việc phụ nữ Việt Nam đã có được quyền bình đẳng giới trong lịch sử thế nào không?  Thi thoảng có một biện hộ cho chủ nghĩa thực dân ở Pháp đó là giai đoạn thuộc địa giúp cho phụ nữ đạt được một mức độ bình đẳng nhất định so với nam giới. Tôi không chắc là điều đó đúng. Nhưng điều nó đã làm, là với việc giúp phổ biến Quốc Ngữ và báo chí, từ đó tạo ra cơ hội để phụ nữ viết báo, xuất bản báo và tranh biện về những vấn đề về nữ quyền. Cũng theo cách này, sự hình thành của Đảng Cộng sản Đông Dương với những con người như Hồ Chí Minh, thấm nhuần khái niệm nam nữ bình quyền khi ở nước ngoài cũng góp phần thúc đẩy phong trào này.  Khi Việt Nam giành độc lập vào năm 1945, trong Hiến pháp và Pháp luật, khái niệm bình quyền nam nữ được đưa vào đó. Một cách hợp pháp và chính thức, các bạn có quyền bình đẳng. Nhưng, như ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, có quyền bình đẳng trên giấy tờ không có nghĩa là điều đó được đảm bảo trong thực tế. Nhưng dù sao, khi tôi đến Việt Nam, tôi có thể thấy phụ nữ làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề còn trước cả khi họ được phép ở Mỹ. Vào những năm 70, khi tôi đi học thì phụ nữ còn không được nhận vào những trường kỹ thuật, nhưng các bạn có điều đó từ năm 1945. Điều đó cũng thể hiện trong lĩnh vực quân sự (cũng một phần là vì ưu tiên nó). Phụ nữ trở thành lãnh đạo trong quân đội ở Việt Nam trước khi Mỹ cho phép phụ nữ gia nhập quân đội một khoảng thời gian rất dài.  Đúng là bình đẳng được đề cập trong hiến pháp và luật pháp đầu tiên của Việt Nam và phụ nữ được tham gia vào các lĩnh vực chủ chốt trong quân đội và chính phủ từ rất sớm nhưng dường như vai trò của họ trong lịch sử quân sự và chính trị Việt Nam lại hạn chế hơn nhiều so với nam giới.  Đúng nhưng không chỉ Việt Nam mà khắp mọi nơi trên thế giới luôn có xu hướng lờ đi vai trò của phụ nữ. Tôi phát hiện ra, chẳng hạn, Nguyễn Thị Giang ở Việt Nam Quốc dân Đảng, hầu như không được nhắc đến trong khi bà ấy đã hi sinh cả đời mình cho chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam và khi tôi đọc những ghi chép của Pháp về bà, cảnh sát Pháp thời đó nghĩ rằng bà còn tham gia vào chính trị mạnh mẽ hơn cả Nguyễn Thái Học. Bà là người tổ chức rất nhiều chiến dịch tuyên truyền và ra chiến lược cài đặt bom của Việt Nam Quốc dân Đảng. Là người có học, bà cũng là người soạn thảo các văn bản quan trọng của tổ chức này. Khi có lục đục trong Đảng và một số người tỏ ý quay lưng với Nguyễn Thái Học, bà là người đã giữ cho tổ chức của mình khỏi bị chia rẽ. Bà cũng là người luân chuyển tài liệu quan trọng bằng tàu hỏa và hóa trang xuất sắc đến nỗi chưa bao giờ bị bắt mặc dù một bên mắt bà bị hỏng.  Nghĩ đến Quốc dân Đảng, người ta chỉ nghĩ đến Nguyễn Thái Học và nhìn bà Nguyễn Thị Giang như một người bạn gái hay người vợ dịu dàng, ngọt ngào và xinh đẹp của ông nhưng trên thực tế Nguyễn Thị Giang không đi theo mà là người can thiệp sâu sắc vào việc tổ chức, lên kế hoạch, chiến lược, là người có tri thức và nhạy cảm chính trị và một phần quan trọng của đảng này.  Khi tôi tìm thấy lưu trữ về Nguyễn Thị Giang và đọc những điều bà đã làm. Tôi nghĩ: Tại sao? Đúng là có một con đường được đặt theo tên bà nhưng không có bất kì một bài báo hay quyển sách viết về vai trò của bà. Tôi không nghĩ đó là chủ ý, nhưng có lí do khiến người ta thậm chí còn không nghĩ đến điều đó. Nhiều phụ nữ trong xã hội Canada cũng có những đóng góp văn hóa quan trọng nhưng chưa bao giờ được nhắc đến trong sử sách cho đến khi ngày càng nhiều phụ nữ trở thành sử gia và bắt đầu khai quật thông tin.  Ngay cả trong thời kì mà sử gia Việt Nam và thế giới tập trung vào- Việt Nam ở những năm 1970- 1980 với sự lớn mạnh của Đảng Cộng sản, những người như bà Nguyễn Thị Bình vẫn lép vế trước những yếu nhân khác. Chúng ta biết về bà và công lao của bà trong quân đội và ngoại giao, đáng lẽ phải có quyển sách về những gì con người này đã làm nhưng nếu đi vào hiệu sách, sẽ thấy có cả bức tường sách về Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp còn của bà chỉ có một quyển hồi kí…  Xin cảm ơn bà!  Bảo Như – Hảo Linh thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang GS. Nguyễn Hoàng Phương, người tiên phong của ngành Vật lý lý thuyết Việt Nam      Trường Đại học Tổng hợp những năm 1956 – 1959 đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp ngay từ những buổi lên lớp đầu tiên đầy hứng thú của các thầy Nguyễn Hoàng Phương, Nguyễn Cảnh Toàn và Khúc Ngọc Khảm. Trong đó, Thầy Phương là người trẻ nhất và cũng nhiệt tình nhất trong các thầy dạy chúng tôi.      Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương giảng bài về Lý thuyết Trường. Nguồn: VNU  Không chấp nhận sự lạc hậu  Do tuổi tác không khác biệt nhiều nên chúng tôi đều gọi thầy là anh Phương cho thân mật. Anh Phương là một nhà sư phạm đầy tâm huyết, luôn dành nhiều thời gian để truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm học tập và sự đam mê cho sinh viên qua các bài giảng cũng như trong giờ giải lao. Mỗi khi đọc được một tài liệu hay, anh đều giới thiệu với sinh viên và khuyến khích mọi người tham khảo, đăc biệt là các tài liệu về hàm số giải tích, một lĩnh vực mà anh đang nghiên cứu theo gợi ý của GS. Lê Văn Thiêm, Chủ nhiệm Khoa Toán – Lý của trường. Vào đầu năm 1957, niềm đam mê toán học của anh đã chuyển sang vật lý lý thuyết khi được GS. Lê Văn Thiêm và GS. Tạ Quang Bửu cử đi làm cộng tác viên tại Viện Liên hợp hạt nhân Dubna cùng anh Nguyễn Đình Tứ và Dương Trọng Bái. Trong vòng nửa năm, anh đã đọc hầu hết những môn Cơ học lượng tử, Lý thuyết tương đối, Lý thuyết trường lượng tử. Với hành trang đó, anh đã đến làm cộng tác viên tại Phòng Vật lý lý thuyết của Viện Dubna.  Khoảng ba tháng sau đó, anh đã rời Dubna về nước. Khi được đặt câu hỏi tại sao, anh cho biết, về nước sớm như vậy một phần vì sức khỏe không phù hợp với mùa đông ở Nga, một phần muốn về nước để đưa vật lý hiện đại vào giảng trong các trường đại học Việt Nam. Anh có nói đại ý: toàn bộ kiến thức vật lý giảng dạy ở đại học của ta đều là vật lý của thế kỷ 19, trong khi sinh viện vật lý năm thứ ba của Liên Xô và các nước khác đều đã học Lý thuyết tương đối và Lý thuyết lượng tử, ta quá lạc hậu. Không thể để cho sinh viên tốt nghiệp ngành vật lý của Đại học Tổng hợp lạc hậu về kiến thức như vậy được. Mình sẽ cố gắng thuyết phục Anh Thiêm cho phép giảng dạy vật lý hiện đại.      Các hoạt động khoa học của GS.TS. Nguyễn Hoàng Phương đã chứng tỏ đầy đủ phẩm chất của một nhà khoa học tài ba, chân chính, vừa có tâm huyết với khoa học, với nền giáo dục nước nhà, với thế hệ trẻ, vừa có trách nhiệm chính trị cao với đất nước. Anh cũng hết lòng khuyến khích đồng nghiệp trẻ nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng luôn nhắc nhớ họ về tính trung thực của người làm nghiên cứu.      Sau đó, Anh là người đầu tiên lên lớp cho sinh viên vật lý trường Đại học Tổng hợp một số bài giảng về Lý thuyết tương đối và Lý thuyết lượng tử. Đồng thời, Anh cũng động viên một số cán bộ giảng dạy vật lý của Khoa học những môn này, trong đó có Anh Nguyễn Văn Hiệu. Anh cũng khuyên tôi nên chuyển sang nghiên cứu vật lý lý thuyết cùng với anh, mặc dầu lúc đó tôi mới là sinh viên Toán năm thứ hai. Được anh thuyết phục, tôi nhận lời. Lúc đó, anh đưa cho tôi một số sách để học, trong đó có quyển “Cơ sở Cơ học lượng tử” của Blokhinsev và “Nhập môn Lý thuyết trường lượng tử hóa” của Bogoliubov và Shirkov. Tôi rất băn khoăn vì muốn học tốt năm thứ ba để sau này thi tốt nghiệp vào loại giỏi. Anh đã giải tỏa cho tôi với ý kiến thật xác đáng “Dù có đạt kết quả xuất sắc trong thi tốt nghiệp thì kiến thức của ông vẫn chỉ giới hạn ở toán học thế kỷ 19”. Dưới sự hướng dẫn ban đầu của anh, tôi lần lượt đọc và tính toán lại các công thức trong hai quyển sách trên.   Lúc nào trong đầu anh cũng ấp ủ ý nghĩa làm một việc có ý nghĩa cho nền vật lý Việt Nam, đó là phổ cập hơn nữa vật lý hiện đại trong cộng đồng cán bộ giảng dạy vật lý ở các trường đại học. Vì vậy, một mặt, anh mở lớp dạy chuyên đề về Cơ học lượng tử vào buổi tối cho tất cả những ai muốn học. Lớp học thu hút rất đông học viên ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Mặt khác, vào tháng 10/1959, Anh mở seminar về vật lý lý thuyết tại trường, sinh hoạt đều đặn mỗi tuần một buổi với các thành viên đầu tiên: Nguyễn Văn Hiệu (ĐHTH), Lương Duyên Bình (ĐHBK), Phạm Quý Tư và Vũ Thanh Khiết (ĐHSP), Trần Hữu Phát (ĐH Nông Lâm) và Nguyễn Phúc Hồng Dương (Phổ thông cấp ba Gia Lâm, Hà Nội). Trong các buổi sinh hoạt đầu tiên anh Phương thường trình bày một số vấn đề mới nhất về Lý thuyết hạt cơ bản, anh Nguyễn Văn Hiệu và tôi trình bày một số tính toán trong lý thuyết trường lượng tử. Mong muốn của Anh không chỉ đào tạo cán bộ qua hình thức nâng cao kiến thức ở seminar mà còn gửi một số đi đào tạo ở nước ngoài, trong đó có Viện Dubna.     Năm 1960, với tư cách Phó Chủ nhiệm Khoa Toán – Lý, Anh đề nghị với GS. Lê Văn Thiệm và GS. Tạ Quang Bửu cử anh Nguyễn Văn Hiệu làm cộng tác viên tại Dubna thay Anh. Đề nghị này được chấp nhận ngay và sau đó anh Nguyễn Văn Hiệu lên đường đi Liên Xô. Sau đó seminar tiếp nhận thêm hai thành viên mới, đó là các anh Phạm Công Dũng và Đoàn Nhượng, vừa tốt ngiệp ĐHTH, Đào Vọng Đức và Cao Chi, tốt nghiệp Đại học Lomonosov Liên Xô.  Năm 1963, với tư cách Chủ nhiệm Khoa Vật lý, Anh đã đề nghị với Thầy Thiêm và GS. Tạ Quang Bửu cử các anh Đào Vọng Đức, Cao Chi và Đoàn Nhượng đi Dubna. Đội ngũ cán bộ vật lý trẻ do anh quan tâm đào tạo và tiến cử đi đào tạo đã trở thành trụ cột của ngành VLLT Việt Nam. Ngoài ra Anh đã cho thành lập một số tổ bộ môn vật lý mới như Địa Vật lý, Âm và siêu âm, v.v.. mà rất quan trọng trong giải quyết nhiều vấn đề của thực tiễn sau này (Dầu khí, Kiểm tra không phá hủy, Quốc phòng…). Nhờ vậy Khoa Vật lý đã triển khai nhiều nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn và khoa học.  Không muốn theo trào lưu  Anh là một người có suy nghĩ rất quyết liệt và không khoan nhượng. Hè năm 1958, Anh được cử sang Dubna lần nữa nhưng cũng chỉ vài tháng sau Anh lại rời Dubna về nước vì lý do “ở đó người ta chỉ tập trung vào nghiên cứu tính chất giải tích của các biên độ tán xạ, không có ý tưởng vật lý nào mới cả”.  Về mặt nghiên cứu của bản thân, Anh cũng không muốn nghiên cứu theo trào lưu trong lý thuyết hạt cơ bản lúc bấy giờ vì cho rằng, trong lĩnh vực này cần phải xuất phát từ những vấn đề cơ bản như không gian, thời gian v.v.. Vì vậy sau khi rời Dubna về nước, Anh luôn tìm kiếm hướng nghiên cứu mới cho mình và cho anh em nên tổ chức các buổi seminar để mọi người trao đổi ý tưởng nghiên cứu. Anh quan tâm rất nhiều đến lý thuyết trường thống nhất phi tuyến của Heisenberg, theo đó, phổ khối lượng của các hạt đều được tính từ phương trình trường spinor phi tuyến. Từ đó, anh thấy rằng khối lượng của các hạt là vấn đề đầu tiên phải quan tâm đến. Tìm hiểu thêm lý thuyết thống nhất của Klein- Kaluza, anh nhận thấy ý tưởng đưa thêm vào không – thời gian bốn chiều một số chiều phụ trội (extra – dimensions) là một ý tưởng độc đáo.    GS Nguyễn Hoàng Phương, thứ tư từ phải sang, tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Khoa Vật lý, Trường ĐH Tổng hợp (nay là ĐH Khoa học tự nhiên). Nguồn: VNU  Giữa năm 1960, anh bắt đầu xây dựng được một hệ hình thức spinor trong không – thời gian 6 chiều xuất phát từ việc lượng tử hóa khối lượng, từ đó tính được khối phổ của các hạt cơ bản khá phù hợp với thực nghiệm. Kết quả này đã được báo cáo trong Hội nghị Khoa học đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp vào cuối năm 1960 và sau đó được phát triển thành luận án tiến sỹ bảo vệ thành công ở Đại học Lomonosov, Liên Xô năm 1962. Tạp chí Vật lý của Viện Henri Poincare Paris đã đăng toàn văn luận án này. Anh là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên hoàn thành luận án tiến sỹ trong nước và bảo vệ thành công tại Liên Xô.  Phải nói thêm rằng, vào thời điểm lúc bấy giờ, ý tưởng mở rộng số chiều của không – thời gian ít được chấp nhận, thậm chí còn bị cho là hoang tưởng vì lý thuyết các hệ thức tán xạ và lý thuyết giải tích các biên độ tán xạ đã cho nhiều kết quả khá phù hợp với thực nghiệm, trong đó có định lý nổi tiếng của Pomeranchuk. Những ý tưởng của anh đã đi trước thời đại khoảng 30 năm: từ những năm 1990, lý thuyết hạt cơ bản đã chứng kiến nhiều thành tựu đầy ý nghĩa của các mô hình dựa trên việc đưa vào các chiều phụ trội.  Làm khoa học để phục vụ đời sống    Kể từ năm 2014, giải thưởng Nguyễn Hoàng Phương – sáng kiến của các cựu sinh viên khoa Vật lý của trường lập nhằm để tưởng nhớ và tôn vinh giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, được trao hằng năm vào ngày sinh nhật của ông (27/3) cho những sinh viên xuất sắc của khoa. Nguồn: VNU  Vào đầu năm 1966, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, các trường đại học và cơ quan trung ương bắt đầu đi sơ tán. Trước tình hình đó, anh đã nói với tôi “Chúng mình cần tham gia nghiên cứu phục vụ quốc phòng, vấn đề nghiên cứu phù hợp nhất là truyền sóng. Ông có đồng ý không?” Sau đó, anh gặp thượng tá Hoàng Đình Phu, Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng để đặt vấn đề này. Nửa tháng sau, Anh tổ chức một buổi họp tại Khoa Vật lý với sự tham gia của thượng tá Hoàng Đình Phu và trung tá Ngô Đức Thọ. Anh Phu cho biết “hiện nay nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để đối phó với việc máy bay địch phát hiện và tiêu diệt những anten phát sóng của ta là rất cấp bách. Vì vậy chúng tôi rất ủng hộ anh Phương tổ chức nghiên cứu vật lý sự truyền sóng điện từ trong không khí với anten phát sóng được giấu dưới mặt đất”. Ngay sau cuộc họp đó, chúng tôi, gồm anh Phương, và các anh Phạm Công Dũng, Trần Đình Anh, Nguyễn Duy Thắng và tôi, đã sống tập trung ở xã Yên Sở, Hà Nội để nghiên cứu giải bài toán này. Với sự tham gia rất tích cực của mọi thành viên, chỉ trong hai tháng, phương pháp giải tích đã được hoàn thành.  Trong buổi sơ kết, anh Phương đề xuất kế hoạch nghiên cứu thực nghiệm ở hiện trường. Mùa hè 1966, chúng tôi tập trung tại một xã ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, gồm các anh: Nguyễn Khang Cường, Tổ trưởng Tổ Vô tuyến, Khoa Vật lý, cùng một số anh em trong tổ; Trung úy Trần Thức Vân (sau này là thiếu tướng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự) cùng các thành viên; Anh Phan Văn Hạp, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sỹ ở Liên Xô (sau này là Phó Hiệu trưởng trường ĐHTH); Các anh Phạm Công Dũng, Trần Đình Anh (sau này là tiến sỹ, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Quốc gia), Nguyễn Duy Thắng (sau này là tiến sỹ) và tôi; Một số anh, chị em sinh viên năm thứ hai và ba của Khoa Vật lý, ĐHTH, trong đó có các anh Vũ Công Lập (sau này TSKH), Nguyễn Viễn Thọ (sau này là GS.TSKH, Hiệu trưởng trường ĐH Huế) và Vũ Trọng Hùng (sau này là TS vật lý lý thuyết).  Sau gần ba tháng làm việc cùng nhau với nhiều buổi thảo luận sôi nổi, chúng tôi đã thu được nhiều kết quả mà theo đánh giá của anh Phu, hết sức có ý nghĩa đối với việc triển khai kỹ thuật trên chiến trường. Đề tài nghiên cứu đã được Bộ Quốc Phòng nghiệm thu.□  Với vị trí Chủ nhiệm Khoa Vật lý, anh đã tập trung hết tâm sức vào việc xây dựng khoa theo các định hướng sau:  – Hiện đại hóa chương trình giảng dạy vật lý trong đó lấy lý thuyết lượng tử làm nòng cốt, đồng thời khuyến khích các bộ môn dịch giáo trình và sách tham khảo của Liên Xô sang tiếng Việt. Kết quả là đến năm 1968 chương trình của hầu hết các môn học đã tiếp cận được trình độ tiên tiến của Liên Xô và khá nhiều sách quý của Liên Xô đã được dịch và in tại Việt Nam, trong đó có các quyển 1, 2, 3 và 4 của bộ VLLT của Landau và Lipshitz đã được phát hành rộng rãi tại Việt Nam.  – Xây dựng các bộ môn mạnh với nhiều cán bộ giảng dạy có trình độ cao trong các chuyên ngành. Anh đã cùng Ban Chủ nhiệm khoa cử nhiều cán bộ đi nghiên cứu sinh, đồng thời tranh thủ nhận thêm nhiều cán bộ mới tốt nghiệp ở các đại học nước ngoài.  – Kết hợp nghiên cứu với giảng dậy, sớm đưa sinh viên tham gia nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của các thầy. Dù trong điều kiện sơ tán hết sức khó khăn của giai đoạn 1965 – 1970, Chủ nhiệm khoa Nguyễn Hoàng Phương đã hết sức kiên trì thực hiện thành công các nội dung trên, đưa Khoa Vật lý tiếp cận chuẩn mực quốc tế cả về giảng dạy lẫn nghiên cứu khoa học, mặc dầu đã gặp rất nhiều khó khăn từ trong khoa lẫn trên trường do các nhận thức khác nhau.  Sau ngày đất nước thống nhất nhiều cán bộ. Giảng dạy của khoa đã trở thành cán bộ chủ chốt về nghiên cứu và giảng dạy của hầu hết các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước. Có thể nói Khoa Vật lý dưới sự lãnh đạo của anh đã là cái nôi của ngành vật lý Việt Nam.  Anh đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá vô cùng về nhiệt huyết và trách nhiệm trong đào tạo và sự say mê, không ngại khó khăn, tính trung thực trong nghiên cứu khoa học.    Author                Trần Hữu Phát        
__label__tiasang GS Nguyễn Tài Cẩn với chuyên ngành nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc      Nói đến GS Nguyễn Tài Cẩn, những người có sự  am tường nhất định về khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đều có thể  đồng thanh khẳng định ông là nhà ngôn ngữ học lỗi lạc, người anh cả của  ngành ngôn ngữ học nói chung, Việt ngữ học và Hán ngữ học nói riêng. Địa  vị của GS trong ngành hẹp của mình có thể nói là “bất khả tỷ giảo”.    Thông thường, nhà khoa học lớn trong một lĩnh vực nào đó thì công trình của người đó có quy mô và tính chất rộng lớn, vượt ra khỏi đường ranh giới vốn ít nhiều mang tính ước lệ giữa ngành hay chuyên ngành hẹp đó, để tác động sâu sắc tới các ngành hay chuyên ngành lân cận, hữu quan. Trong những trường hợp nhất định, những ảnh hưởng lan tỏa, phát tán như vậy vẫn có thể đạt tới tầm mức to lớn và quan trọng không kém ảnh hưởng mà nhà khoa học đó đã tạo ra trong chính chuyên ngành của mình.  Sinh thời, GS Nguyễn Tài Cẩn ít công khai nói tới những suy nghĩ và dự định của mình tham gia vào công việc của các ngành hay chuyên ngành khác. Mọi biểu hiện của ông làm người ta nghĩ rằng ông nhất tâm với chỉ ngành ngôn ngữ học, ít nhất những công trình khoa học được công bố vào giai đoạn sớm của ông (cho tới cuối những năm tám mươi thế kỷ trước) dường như hàm ý ấy.   Được trời phú cho tư chất hơn người (“Tài”), hành chức nhất tâm tậm lực đã đam mê lại chuyên cần (“Cẩn”), cái sự thành đại nghiệp trong một chuyên ngành ở GS dường là đương nhiên.Xin được chia sẻ ý kiến nhận xét sâu sắc và thâm trầm của GS Nguyễn Đức Dân về vị tiền bối trực tiếp : “Ảnh hưởng của ông tới giới ngôn ngữ học Việt Nam lớn nhất, lớn đến nỗi những khuynh hướng nào ông không quan tâm hoặc không thích thì khó mà phát triển”1.  Thật ra, những nhà bác học đích thực ở giai đoạn khai minh trong lịch sử của mỗi quốc gia – dân tộc không mấy ai chỉ là một chuyên gia, bó hẹp lao động và mối quan tâm của mình vào chỉ một lĩnh vực nhận thức. Từ những năm ba bốn mươi của thế kỷ XX cho tới tận nay, do hoàn cảnh bó buộc mà nhu cầu khai minh kéo dài, ở Việt Nam đã xuất hiện khá đông đảo những nhà bác học mang tính “bách khoa”, một loại hiện tượng hẳn là mang tính quy luật. Cố gò ép mình cũng chẳng được. “Anh hoa” cứ “phát tiết ra ngoài”. GS Nguyễn Tài Cẩn, qua di sản phong phú của ông, đã phải chứng tỏ mình là một trong những “con người ấy”.  Ngành nghiên cứu lịch sử văn học “muốn gì” ở ngành ngôn ngữ học?  Theo định nghĩa, thì văn học là một ngành nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật ngôn từ. Lịch sử văn học của một quốc gia – dân tộc, chiếu vào định nghĩa trên, có thể được phát biểu theo cách khác, rằng văn học là bộ phận ngôn từ của một ngôn ngữ quốc gia – dân tộc đạt tới định chế (status) nghệ thuật, hay được thể hiện ra như là những hình thức ngôn ngữ mang tính ngệ thuật.Lịch sử văn học của một quốc gia – dân tộc, từ một góc nhìn xác định, có thể và buộc phải hình dung như là lịch sử ra đời và phát triển của bộ phận ngôn ngữ mang tính nghệ thuật ở quốc gia – dân tộc ấy. Đây chính là lý do khách quan của việc ngay từ thời điểm ra đời của các trường Đại học lớn trên thế giới nhất là ở phương Tây thời cận hiện đại, ngành ngữ văn là một ngành cơ bản, gạo cội và tất yếu. Đối tượng nghiên cứu của ngành nghiên cứu văn học nói chung, phân ngành lịch sử văn học nói riêng cũng chính là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học hay ít nhất cũng là đối tượng của một phân ngành thuộc khoa học đó. Xét về định chế nội tại, phân ngành lịch sử văn học là một phương diện, một “mặt cắt” của khoa học lịch sử. Vậy thì, ngay ở tọa độ xuất phát, công việc nghiên cứu lịch sử văn học là một hoạt động mang tính lai ghép, bị quy định bởi nhiều mối liên hệ hữu cơ với ít nhất là hai ngành khoa học khác, đó là sử học và ngôn ngữ học.   Nhìn từ góc độ lý thuyết “thuần túy” thì thế. Nhưng nhìn vào thực tế lịch sử của phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học ở Việt Nam thì rất khó hình dung như thế!  Nếu quan sát cụ thể ở các tác giả biên soạn các sách giáo khoa thư của bộ môn văn học trước cách mạng tháng Tám, sẽ không khó nhận ra rằng nỗ lực lớn nhất mà các tác giả đó muốn truyền đạt là những áng văn chương tiêu biểu, đồng thời với những kiến thức sơ giản của nghệ thuật tạo tác nên những áng văn đó. Tiếp theo, các bộ sách lịch sử văn học trước Cách mạng tháng Tám như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, các sách văn học sử của Nguyễn Sĩ Đạo, của Ngô Tất Tố, của Nghiêm Toản. Cả đến Quốc văn giáo khoa thư của Trần Trọng Kim cũng đều trước tác theo tinh thần như vậy. Nhưng từ sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, các bộ sách văn học sử đã có sự “đổi sắc” khá rõ rệt: nỗ lực vận dụng nguyên lý phản ánh và nguyên lý nội dung quyết định hình thức của triết học, các tác giả của các bộ văn học sử đó đã nghiêng một cách mạnh mẽ nội dung biên soạn về phía chính trị – xã hội – tư tưởng, phần nghiên cứu hình thức và đặc trưng nghệ thuật chỉ còn là thành phần phụ, thậm chí có thể bị bỏ qua. Một số khá lớn các tác giả biên soạn các bộ sách ấy, dễ giải thích thôi, là các nhà sử học! Mãi đến nửa sau thập kỷ sáu mươi, đội ngũ này mới được “trả lại tên cho em”: đó là những người nghiên cứu lịch sử văn học thực thụ!  Nhưng tuy vậy, quán tính và thao tác nghiên cứu văn học vẫn đã định hình theo lối của các sử gia và theo tinh thần triết học duy vật lịch sử. Rất ít những công trình lịch sử văn học trong cả một thời kỳ dài, từ giữa những năm năm mươi tới giữa những năm tám mươi, đặt trọng tâm là nghiên cứu “lịch sử một lĩnh vực nghệ thuật”.   Trong suốt cả thời gian ấy, ngành ngôn ngữ học may mắn thụ hưởng một “ân điển” trời cho: J. Stalin khẳng định thành nguyên lý kinh điển, rằng ngôn ngữ là phạm vi không cần quan tâm tới tính giai cấp. Được ban “phép thông công”, các nhà ngôn ngữ học mặc sức nghiên cứu hình thức mà không lo đến những bản án lơ lửng trên đầu, như điều chắc chắn sẽ xảy ra đối với các nhà nghiên cứu văn học, nếu họ táo gan làm như thế!  Các quá trình nghiên cứu diễn ra theo các quỹ đạo khác nhau, nên chẳng có gì lạ rằng giữa hai bộ phận (ngữ và văn) nhanh chóng trở nên “lạ hóa” đối với nhau. Để giữ an toàn, người làm ngôn ngữ “chẳng tội tình gì” đi sâu vào văn học. Không có bộ phận ngôn ngữ văn học, ngành ngôn ngữ đâu có suy suyển bao nhiêu về mặt đối tượng nghiên cứu? Mặc dù, từ một phía, đó chính là đối tượng “khó nhằn” và từ phía khác, cũng “vừa là thách thức vừa là cơ hội”, hấp dẫn biết bao! Những tài năng đích thực luôn luôn muốn được thử thách và thử sức mình trong việc chinh phục những đối tượng khó khăn.  Mải mê theo đuổi “chủ nghĩa nội dung”, các nhà nghiên cứu văn học, dĩ nhiên trong đó có những người làm lịch sử văn học, lại ngày càng trở nên xa lạ với những kiến thức mang tính hệ thống của ngôn ngữ học nói chung và những tri thức, phương pháp, thủ pháp, thao tác cần có nói riêng, để có thể “tự xử lý” lấy phưong diện ngôn ngữ của văn học và văn học sử. “Chi tộc ngữ văn” ngày mỗi ngày càng trở nên thưa thớt “nhân đinh”, rồi đến một ngày, như hôm nay, cơ hồ “tuyệt tự”.  Giờ thì đã có thể nói được, giới nghiên cứu văn học muốn gì ở giới nghiên cứu ngôn ngữ học. Muốn rằng, phải tái tạo lại quá trình “xích lại gần đây, xích lại gần nhau”. Muốn rằng, các nhà ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu văn học hãy cùng “xử lý” cái đối tượng chung đã đề cập từ “thuở định nghĩa ban đầu” ấy. Một ước mong bất vị kỷ, bất vụ lợi, nhưng dường như đã trở nên thiên nan vạn nan để thực thi.    GS Nguyễn Tài Cẩn đã làm gì với ngành nghiên cứu văn học, hay là giới nghiên cứu văn học tri ân GS ở những điểm nào?   Từ nhiều năm trước đây, vào thời điểm GS Nguyễn Tài Cẩn còn làm việc sung sức, đã có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước viết về những đóng góp mà GS Nguyễn Tài Cẩn đã – đang mang lại cho ngành nghiên cứu văn học. Vào thời điểm GS qua đời, một số cây bút cũng bắt đầu nghĩ đến công việc “định luận” những gì ông đã làm được trong lĩnh vực này. Một trong những người bạn vong niên mà tri kỷ của GS là nhà phê bình Đặng Tiến đã viết trên hướng ấy một số bài viết tâm huyết và tỏ tường. Trong bài viết ngắn này, từ góc nhìn của một người nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc và phần nào là văn học khu vực, tôi cũng cố gắng thử hệ thống hóa lại những thu hoạch cá nhân qua việc tiếp nhận từ GS phần di sản có liên quan đến công việc của phân ngành mình làm việc2.   Đóng góp đầu tiên và sớm nhất của GS Nguyễn Tài Cẩn cho phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học, theo ý tôi chưa phải là những công trình nghiên cứu ngữ văn lịch sử nào đó, mà ở việc với tư cách nhà khoa học có tiếng nói quan trọng, đồng thời là một cán bộ giữ cương vị lãnh đạo vào thời điểm giữa những năm sáu mươi ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đã hết sức kiên trì và tích cực trong việc khôi phục lại chuyên ngành Hán Nôm. Nhờ chấn hưng được ngành học này, mà chúng ta kịp thời bảo tồn và khai thác được rất nhiều di sản của mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Mất mấy năm “làm thủ tục”, đến năm 1972 ngành Hán Nôm mới chính thức được “hạ sơn khai môn”. Chắc chắn GS Nguyễn Tài Cẩn là một trong không nhiều những nhà giáo, nhà khoa học lúc bấy giờ có đóng góp mang tính quyết định vào việc mở ra ở một trường Đại học (duy nhất) miền Bắc, ngành học này. Cứ nhìn vào đội ngũ những người từ giữa những năm bảy mươi lại nay đã và đang công tác ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, ban Trung đại Viện Văn học, ở các sở văn hóa, các Ban quản lý di tích…và sản phẩm lao động của họ, cũng có thể hình dung ra ý nghĩa, giá trị của việc mở lại ngành học này. Không có những kết quả lao động của đội ngũ đó, dễ mà phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, nhất là thời trung đại và cận đại, đã phải “án binh bất động” mấy chục năm vừa qua.  Thường thì người ta vẫn hay cho rằng việc thành lập các cơ quan nghiên cứu, các trường hay ngành học ở Đại học, nói chung, các “cơ quan nhà nước” là “việc nhà nước”, và quy công cho “đường lối chủ trương” hoặc giả là cho các chính khách hàng đầu đương thời. Lối “tóm lại” ấy tuy không sai, nhưng thiếu cụ thể, trên thực tế là không nhìn nhận được vai trò, đóng góp thực của các cá nhân, nhất là các khoa học gia có tầm chiến lược. Vậy nên, một lần nữa, tôi muốn nhắc lại rằng một trong những đóng góp đầu tiên của GS Nguyễn Tài Cẩn cho ngành nghiên cứu văn học sử là tham gia tích cực vào việc mở lại ngành Hán Nôm bậc Đại học và suốt một thời gian dài GS là một trong những giảng viên chính của ngành này, đúng hơn, vừa đào tạo sinh viên, vừa đào tạo và đào tạo lại hầu hết các thầy cô giáo của ngành học đó. Nói khác đi, GS là thầy của hầu như tất cả các nhà giáo và các nhà nghiên cứu có sử dụng Hán Nôm trong công việc khắp nước Việt, dĩ nhiên trong đó có người viết những dòng này.  Tạo ra được một số lượng “tới hạn” những độc giả, thính giả “của mình” rồi, GS Nguyễn Tài Cẩn từng bước “ra khỏi nơi cố thủ” là lĩnh vực “ngôn ngữ học thuần túy”. Và những người nghiên cứu folklore bắt đầu bị cuốn vào một quỹ đạo khảo tả nghiêm ngặt về những điều lâu nay ẩn hiện trong khu vực huyền thoại, truyền thuyết3. Những tác phẩm văn học sớm nhất của văn học viết Việt Nam được “đọc hiểu” theo đúng tinh thần của thời đại mà chúng ra đời4. Phần lớn những bài viết này xuất hiện từ cuối những năm bảy mươi và kéo dài đến tận cuối đời ông.          Theo sự hiểu biết của tôi, không hề là tùy  hứng, ngẫu nhiên khi GS chọn Đinh Nhật Thận, Thiệu Trị và Nguyễn Du và  một số tác phẩm của họ làm đối tượng để đi sâu vào miền ngữ văn lịch sử.  Trong tương lai, khi bình diện lịch sử của ngôn ngữ văn học viết dân  tộc được triển khai nghiên cứu sâu rộng và đạt tới một tầm điển phạm hóa  nhất định, người quan sát hẳn sẽ ngạc nhiên về độ tinh nhạy và chiều  sâu của những lựa chọn này. Chỉ có điều, tương lai ấy gần hay xa thì  không còn lệ thuộc vào ông nữa!        Xuất phát từ tri thức và phương pháp của ngôn ngữ học lịch sử, dựa vào sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử tiếng Việt và Hán ngữ, cùng với tri thức và năng khiếu văn học, bắt đầu từ năm 1980 GS đã lần lượt tiến hành những công trình nghiên cứu ngữ văn đích thực khi đối tượng khảo sát là những tác giả, tác phẩm văn học quan trọng: Quốc âm thi tập và Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi tập và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giới Hiên thi tập và Nguyễn Trung Ngạn, Bài thơ Vũ trung sơn thủy và Thiệu Trị, Thu dạ lữ hoài ngâm và Đinh Nhật Thận,… để rồi, vào mười năm cuối đời, ông say sưa với Đoạn trường tân thanh và Nguyễn Du, cho xuất bản tới ba cuốn sách dày về “tư liệu Truyện Kiều”.  Tôi không muốn làm công việc quá to lớn trong một bài viết nhỏ là tổng thuật các công trình mang tính ngữ văn đích thực này của GS và vì thế, cũng chưa thể đưa ra ở đây những ý kiến đánh giá chi tiết về tác động của những công trình này đối với phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học. Vậy nhưng không thể lảng tránh việc nêu lên những nhận định ban đầu, những đánh giá sơ bộ và có lẽ hứng thú hơn, cung cấp thêm một vài “thông tin nội bộ” về hướng nghiên cứu này của GS Nguyễn Tài Cẩn.  Như đã nói, mối liên hệ hữu cơ và tự nhiên giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu ngôn ngữ nằm ở miền giao thoa của đối tượng nghiên cứu, và điều đó, trong điều kiện phát triển lành mạnh của khoa học, tạo ra sự tòng thuộc lẫn nhau ở kết quả thu về của hai khoa học lân cận. Đối với phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học, tất cả những tri thức và thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học trên các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và từ vựng đều là những tri thức mang tính nền tảng để xâm nhập vào địa hạt lịch sử ngôn ngữ văn học, đặng tái hiện lại sự vận động của bộ phận ngôn ngữ đặc biệt đó theo diễn trình thời gian.  Dễ nhận ra rằng trong hầu hết các bộ sách về lịch sử văn học, bao gồm từ sách giáo khoa, các giáo trình Đại học, các chuyên khảo, chuyên luận do những người làm văn học sử viết, việc trình bày ngôn ngữ văn học cơ hồ vắng mặt. Thưa thớt lắm, người đọc mới bắt gặp một số nhận định, một số lời bình lẻ tẻ, vụn vặt về ngôn ngữ trong một số tác phẩm cụ thể, một số tác giả cụ thể. Xét từ góc độ lý thuyết, ngôn ngữ văn học đương nhiên phải được tìm hiểu khởi đi từ ngôn ngữ tác phẩm, qua ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật (nếu có), tức là nhận biết từ tầm vi mô, đến ngôn ngữ thể loại, ngôn ngữ thời đoạn, thời kỳ, thời đại, tức là tầm vĩ mô. Xuyên suốt một thời đại văn học nhất định, người nghiên cứu lịch sử văn học phải chỉ ra mối liên hệ mang tính bản thể giữa ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học với ngôn ngữ chung của thời đại tương ứng. Trong lịch sử văn học viết Việt Nam, chỉ xét riêng thời đại thứ nhất, tức từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, về mặt văn tự, văn học viết đã sử dụng song song hai hình thức chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm. Có những tác giả chỉ trước tác bằng chữ Hán, có những tác giả chỉ để lại tác phẩm bằng chữ Nôm hoặc chủ yếu là chữ Nôm, cũng lại có một lực lượng sáng tác đồng thời sử dụng cả hai hình thức văn tự vừa Hán vừa Nôm.   Các nhà nghiên cứu và ngay cả bạn đọc phổ thông đều biết đối với người Việt, kể cả hết thảy những người được học và sử dụng chữ Hán tới tận ngưỡng đỗ đại khoa, thì kể từ ngày khôi phục lại nền độc lập dân tộc và chủ quyền chính trị của quốc gia, chữ Hán đã không thể nào còn là sinh ngữ. Theo thời gian, người Việt sử dụng chữ Hán khác dần với người Trung Quốc trên quê hương của họ. Thứ chữ Hán mà người Việt sử dụng, đặc biệt là chữ Hán văn học, chắc chắn là dần dà hình thành nên những đặc điểm riêng, trên hầu khắp mọi tiêu chí cả định lượng lẫn định tính về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ vựng, …Nền độc lập được duy trì càng lâu, sự khác biệt giữa “chữ Hán Việt Nam” với “chữ Hán Trung Quốc” càng lớn.   Lịch sử chữ Hán văn học ở Việt Nam, đó là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học hay các nhà nghiên cứu văn học sử? Đương nhiên là đối tượng của cả hai ngành. Nhưng trên thực tế, hầu như không một nhà nghiên cứu văn học sử nào đã từng tiến hành một công trình cơ bản nào theo đường hướng đó! Rồi đến chữ Nôm văn học cũng “cùng chung số phận”.   Các nhà ngôn ngữ học hoặc xuất thân từ ngành ngôn ngữ học có ưu thế vượt trội đương nhiên để tiến hành những công trình nghiên cứu như thế. Vậy nhưng nhìn theo lối kiểm toán, số lượng những công trình đặc khảo về ngôn ngữ văn học của giới ngôn ngữ học cũng thật khiêm tốn biết bao!  Mang những suy nghĩ và mong ước đó trình bày với GS Nguyễn Tài Cẩn từ đầu những năm tám mươi, tôi đựợc ông đồng tình, chia sẻ. Tôi đã đề nghị ông, với tư thế của “người anh cả ngành ngôn ngữ học”, hãy tổ chức hoặc cho những người làm ngôn ngữ học hướng tới mảng đề tài này, hoặc làm đạo sư cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn học thế hệ trẻ. Chẳng rõ sự tình cụ thể là thế nào, cho tới giữa những năm chín mươi, ông bảo với tôi rằng “ Vì bắn không nên, mình đền đạn vậy”. Hai năm sau lời hứa đó, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ chữ Hán thời Lý – Trần thông qua một case study (Giới Hiên thi tập – Nguyễn Trung Ngạn) của GS viết xong, và tôi hân hạnh được là một trong những người đọc góp ý sớm nhất.   Tính hàn lâm cao độ trong các công trình nghiên cứ ngữ văn của GS Nguyễn Tài Cẩn là điều ai cũng nhận thấy, và chính tính chất ấy, nói thật lòng, khiến cho đại đa số độc giả là người nghiên cứu, giảng dạy, chưa nói là người theo học ngành văn học, ngại ngần hay sợ hãi. Không ít người giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với những công trình đó. Lấy hết can đảm, tôi đã thông báo tình trạng ấy với GS, thậm chí mạnh bạo đề nghị ông giảm bớt hàm lượng thuật ngữ chuyên ngành, thứ mà tôi gọi đùa là “bùa chú khoa học”. Ông không giận tôi, lắng nghe rất căng thẳng, chăm chú, nhưng cũng lộ vẻ buồn, ít nhiều cũng băn khoăn.  Nhiều lần, GS than thở với tôi về quỹ thời gian…mặc dù ông là người có hiệu suất làm việc cao khủng khiếp. Cuốn sách về bài thơ Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị nếu tôi không nhớ nhầm thì từ lúc được ông chính thức khởi thảo (không kể các bài báo) cho đến lúc hoàn thành chỉ chừng ba tháng!  Chẳng dám tự nhận mình là đệ tử “danh môn chính phái, trực truyền” của thầy, dẫu vậy tôi từng nhiều lần thầm cảm ơn số phận đã run rủi cho tôi đựợc thầy coi là một người học trò nhỏ. Từ góc nhìn của một người làm lịch sử văn học, những dòng này xin được coi như những lời tri ân đối với những gì thầy đã tạo tác nên cho chuyên ngành “lân lý”. Tôi cũng hy vọng được đồng nghiệp cho phép thay mặt để nói lên.  Tháng Ba 2012, tưởng nhớ Thầy tròn năm về cõi Thọ       T.N.V.  1. Xem Nguyễn Tài Cẩn – học giả “bất yếm, bất quyện”. T/c Văn hóa Nghệ An xuất bản. 2011, tr. 214.  2. Hiểu rằng yêu cầu của bài viết là phải mang nội dung khoa học khách quan, nhưng với một bậc thầy mà bản thân người viết có tới gần ba mươi lăm năm tiếp xúc, chịu ảnh hưởng với nhiều kỷ niệm và ấn tượng được lưu ký mãi mãi, từ phía khác, có cả không ít những cuộc trao đổi “lạnh”, thật khó mà tách bạch giữa hai hình thái diễn ngôn.  3. Xem các bài viết: Tên gốc của trống đồng Đông Sơn; Về tên gọi con Rồng của người Việt; Bàn thêm về chuyện tên Rồng; Một giả thuyết nữa về lai lịch tên “chằn” trong “chằn tinh” và “bà chằn”; Về cách đọc tước hiệu Bố Cái đại vương; Lăm và nhăm, một và mốt. In trong : Nguyễn Tài Cẩn – Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2001.  4. Chẳng hạn, cách giải nghĩa của GS về bài thơ Nam quốc sơn hà, bài từ Vương lang quy…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Gs. Nguyễn Xuân Hùng lần thứ 9 vào top 1%      Trong danh sách gần 7000 nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới năm 2022, do Công ty Tính toán dữ liệu Clarivate công bố, có tên giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Viện Công nghệliên ngành, ĐH Công nghệ TPHCM) và bảy nhà khoa học người Việt khác. Đáng chú ý, đây là lần thứ 9 liên tiếp, giáo sư Nguyễn Xuân Hùng được vinh danh.    Một bức tranh xếp hạng khoa học  Những năm trở lại đây, nhiều tổ chức, nhà xuất bản khoa học và công ty phân tích dữ liệu, trắc lượng khoa học đã cùng tạo ra nhiều bảng xếp hạng nhằm đánh giá hiệu suất nghiên cứu của nhiều tổ chức và cá nhân khoa học. Với các cách tiếp cận và tiêu chí đánh giá khác nhau, họ đã chọn lọc được những cái tên xuất sắc nhất theo quan điểm của mình. Giữa những bảng xếp hạng này, danh sách Các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất (Highly Cited Researcher), hay còn gọi là top 1% thế giới, được đánh giá cao hơn cả bởi trao quyền lựa chọn cho cộng đồng khoa học thế giới thông qua chỉ số trích dẫn, cho dù danh sách này vẫn còn tồn tại một số khiếm khuyết nhất định.  Gs. Nguyễn Xuân Hùng  Đúng như tên gọi của mình, những cái tên thuộc top 1% được lựa chọn dựa trên trích dẫn theo lĩnh vực nghiên cứu và xuất bản trong giai đoạn 11 năm từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2021. Để lựa chọn “ai là nhà nghiên cứu xuất sắc nhất” (who’s who), các nhà khoa học của Viện Thông tin khoa học của Clarivate đã áp dụng bộ chỉ số đánh giá Chỉ số khoa học cốt lõi (Essential Science Indicators) – vốn được dùng để tìm hiểu các xu hướng khoa học mới nổi, cá nhân/viện nghiên cứu/bài báo/tạp chí/quốc gia có ảnh hưởng trong từng lĩnh vực nghiên cứu – phân tích dữ liệu khoa học gồm 12 triệu bài báo được xuất bản trên 12.000 tạp chí chuyên ngành trên toàn cầu trong chỉ mục của cơ sở dữ liệu Web of Science.  Trong năm 2022, việc nhìn thấu “nơi nào khoa học sẽ đi và ai đang dẫn đầu con đường” như ví von của Viện Thông tin khoa học Clarivate còn được mở rộng phân tích chất lượng nhằm làm giảm đi những lo ngại về các hành vi gian lận có thể xảy ra (ví dụ như trích dẫn giả…).  Trong danh sách Các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới năm 2022 có 6.938 nhà khoa học thuộc 69 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia nghiên cứu ở 22 lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội. Nhấn mạnh vào xu thế liên ngành và xuyên ngành của thế giới, Clarivate ghi nhận các nhà khoa học nổi trội: 219 người thuộc hai lĩnh vực, 28 người ba lĩnh vực và bốn người thuộc bốn lĩnh vực. Do đó, xét về tổng thể có 3.981 người được vinh danh trong các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể và 3.244 được ghi nhận có tác động xuyên ngành.  Nếu xét ở quy mô quốc gia, Mỹ là nơi có nhiều nhà nghiên cứu thuộc top được trích dẫn nhiều nhất năm 2022 với 2.764 người, chiếm 38,3% danh sách. Tuy vẫn là quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới khoa học nhưng số lượng của Mỹ đã giảm xuống so với năm 2018 với 43,3%. Khoảng cách của Mỹ so với Trung Quốc cũng đang dần được thu hẹp. Điều này cũng từng được phản ánh ở một số chỉ số khác liên quan trong vài năm qua như số lượng bài báo, số lượng ngân sách đầu tư cho khoa học…  Đứng ở vị trí thứ hai trong danh sách Các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất, Trung Quốc có 1.169 người, tăng lên gấp đôi số lượng theo thời gian: từ 7,9% năm 2018 lên 16,2% trong năm nay. Vị trí tiếp theo là Anh với 579 người, chiếm 8%. Tuy thoạt nhìn có vẻ con số này khiêm tốn nhưng nhìn sâu vào đặc điểm dân số và so sánh với hai quốc gia dẫn đầu thì nó lại mang ý nghĩa lớn: dân số Anh bằng 1/5 Mỹ và 1/20 Trung Quốc.  Các vị trí tiếp theo cũng thuộc về những cường quốc khoa học: Đức 369 người, Australia 337 người, Canada 226 người, Hà Lan 210 người, Pháp 134 người, Thụy Sĩ 112 người và Singapore 106 người (Singapore vượt qua Tây Ban Nha).  Nếu xét ở quy mô cơ sở nghiên cứu thì ĐH Harvard dẫn đầu với 233 nhà nghiên cứu, giữ vững vị tri so với năm 2021; theo sau là nhiều tổ chức nghiên cứu hưởng ngân sách quốc gia như Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc 228 người, Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ 113 người, Hội Max Planck Đức 67 người. Do đó, dù chưa thật hoàn hảo thì danh sách này của Clarivate cũng là một góc nhìn từ bên ngoài vào năng lực nghiên cứu, năng lực cạnh tranh ở cấp độ toàn cầu của các tổ chức khoa học, giáo dục công và tư nhân từng quốc gia.  Nỗ lực đơn lẻ từ Việt Nam  Trong bối cảnh đó, việc bất cứ nhà khoa học Việt Nam lọt vào danh sách cũng khiến người ta chú ý. Bởi lẽ, với môi trường nghiên cứu còn xa mới đạt đến độ lý tưởng và điều kiện đầu tư còn hạn chế thì khoa học Việt Nam rất ít có cơ hội thực hiện những nghiên cứu đỉnh cao hoặc có tầm ảnh hưởng lớn đến cộng đồng chuyên môn của mình. Tuy nhiên, thật kỳ lạ, từ chín năm nay, cái tên Nguyễn Xuân Hùng liên tiếp có trong danh sách hằng năm của Clarivate, một kỷ lục được mở rộng theo thời gian.  Khi làm nghiên cứu và gửi bài báo tới các tạp chí quốc tế chuyên ngành, tôi thật sự không nghĩ đến việc phải cố lọt vào danh sách này hay danh sách khác. Tôi chỉ cố gắng làm việc thật nghiêm túc và nỗ lực từng ngày để theo đuổi các vấn đề nghiên cứu thời sự, có thể có ảnh hưởng.  GS. Nguyễn Xuân Hùng  Hằng năm, danh sách đều nêu tên một số nhà khoa học gốc Việt được trích dẫn nhiều nhất. Năm nay, gồm có TS. Trần Phan Lam Sơn (ĐH Công nghệ Texas, Mỹ) ngành khoa học cây trồng và vật nuôi; TS. Bùi Quang Minh (ĐH Quốc gia Australia) liên ngành – cựu sinh viên ĐHQGHN, Nguyen T. Nhu (ĐH Harvard) ngành sinh học và hóa sinh – cựu bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM; giáo sư Nguyễn Minh Hồng (ĐH Pittsburgh) liên ngành; giáo sư Đặng Văn Chí (Viện Nghiên cứu ung thư Ludwig, Mỹ) liên ngành; giáo sư Ngô Hữu Hào (ĐH Công nghệ Sydney) chuyên ngành sinh học và hóa sinh; TS. Đinh Cao Thắng (ĐH Queens, Canada) ngành hóa học – cựu sinh viên trường ĐH Mỏ Địa chất. Ngoại trừ gương mặt trẻ Nguyen T. Nhu, những nhà khoa học còn lại đều là trưởng các phòng thí nghiệm lớn và có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu.  Tuy nhiên, điều đáng nói là ngay cả trong điều kiện làm việc “mơ ước” thì cũng chưa có nhà khoa học người Việt nào đạt tới kỷ lục chín năm liên tiếp lọt vào danh sách Nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất như giáo sư Nguyễn Xuân Hùng, người từ nhiều năm qua kiên quyết lựa chọn con đường làm việc ở trong nước kết hợp với thỉnh giảng ở nước ngoài. Đây là nỗ lực gần như đơn lẻ của một nhà nghiên cứu từ lâu đã đạt tới trình độ quốc tế trong lĩnh vực của mình: nhận được một số giải thưởng quốc tế và tìm kiếm các nguồn tài trợ cho nghiên cứu từ các quỹ quốc tế. Thậm chí, Viện Công nghệ liên ngành (CIRTech) do anh dẫn dắt cũng hoạt động một cách độc lập trong lòng ĐH Công nghệ TPHCM, khi tồn tại bằng các nguồn tài trợ quốc tế, tư nhân và dự án hợp tác với doanh nghiệp mà không trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước.  Con đường làm khoa học của giáo sư Nguyễn Xuân Hùng xuất phát từ cơ học tính toán, một lĩnh vực giao thoa giữa lý thuyết và thực nghiệm với việc áp dụng các mô hình tính toán mô phỏng. Mặc dù thuận lợi hơn đồng nghiệp ở các lĩnh vực thực nghiệm khi không cần quá nhiều cơ sở hạ tầng nghiên cứu nhưng cơ học tính toán là một lĩnh vực mới nổi, sức cạnh tranh cũng rất lớn nên việc đứng vững trong top đầu lĩnh vực này cũng cần có “bí quyết” nền tảng: sự hiểu biết sâu sắc và bao quát bản chất của vật chất ở những môi trường có tính chất khác nhau.  Theo thời gian, tư duy mở đã đưa anh ra khỏi biên giới của cơ học tính toán. Anh dùng chính các công cụ mình có trong tay để giải quyết các bài toán đa dạng của khoa học và thực tiễn đời sống. Mặt khác, anh nắm bắt rất nhanh những điểm mới có thể trở thành xu hướng nghiên cứu của thế giới và học hỏi, phát triển công cụ có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau để mở những con đường mới. Đó là lý do vì sao, trong khoảng 5 – 7 năm gần đây, anh dành khá nhiều thời gian cho xử lý dữ liệu, học máy, học sâu và AI… Trên trang cá nhân của anh, ngoài từ khóa “kỹ thuật tính toán”, có bổ sung “dữ liệu quy mô lớn”, “in 3D”, “năng lượng tái tạo”. Các công cụ mới mà anh phát triển và tối ưu không chỉ giải được các bài toán ở nhiều lĩnh vực mà còn ở các cấp độ quy mô khác nhau, thậm chí có công cụ sử dụng được cả trong điều kiện không thuận lợi về cơ sở hạ tầng tính toán.  Những cố gắng bền bỉ ấy đã góp phần đảm bảo cho giáo sư Nguyễn Xuân Hùng một vị trí tiên phong và những đóng góp có giá trị cho cộng đồng khoa học quốc tế, ngay từ Việt Nam. Vì vậy, chín năm liên tiếp anh có mặt trong danh sách Các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới của Clarivate là một hệ quả từ quá trình này.  Tuy không khỏi cảm thấy vui vì lần thứ 9 lọt vào top 1% với sự công nhận của các đồng nghiệp nhưng giáo sư Nguyễn Xuân Hùng không cho rằng đó là một đích đến của người làm khoa học. Niềm vui của người làm nghiên cứu nghiêm túc không gói gọn vào những thời khắc được vinh danh trước đông đảo công chúng và những bó hoa chúc mừng, dù nó cũng là “hàm thưởng” cho họ trên con đường lâu dài làm nghiên cứu. Những phút giây tràn ngập cảm xúc, thậm chí trào nước mắt, của họ đến một cách lặng lẽ trong những lúc tìm ra giải pháp mới cho các vấn đề phức tạp hoặc nhận được hồi âm chấp nhận đăng tải công trình của những tạp chí mơ ước.  Không có sự chứng kiến của công chúng trong những khoảnh khắc giản dị như thế. Với giáo sư Nguyễn Xuân Hùng cũng vậy. Năm 2022 của anh không chỉ được “điểm tô” bằng danh hiệu top 1% mà còn bằng việc có hai bài báo được chấp nhận đăng trên các tạp chí hàng đầu, hai nghiên cứu phát triển các công cụ tính toán tiên tiến về giải pháp điều khiển dữ liệu tối ưu AI trong công nghệ in 3D: “A data-driven machine learning approach for the 3D printing process optimisation” (Một cách tiếp cận học máy điều hướng dữ liệu cho tối ưu hóa quá trình in 3 D) trên tạp chí Virtual and Physical Prototyping; “Strengthening Gradient Descent by Sequential Motion Optimization for Deep Neural Networks” (Tăng cường khả năng tìm kiếm nghiệm toàn cục của các mạng neuron sâu bằng tối ưu hóa chuyển động tuần tự) trên tạp chí IEEE Transactions on Evolutionary Computation. Đặc biệt, bài báo thứ hai đăng trên tạp chí thuộc A*, top 1% trong lĩnh vực khoa học máy tính (IF 16,497), “nơi từ trước đến nay chưa bao giờ tôi đăng được bài”, anh nói.  Những bài báo này sẽ góp phần đảm bảo cho anh khả năng viết thêm kỷ lục được trích dẫn nhiều nhất mới chăng? “Ồ không, với tôi, niềm vui sẽ còn lớn hơn nhiều, nếu được chứng kiến những công cụ tính toán mà mình dành nhiều thời gian ấp ủ, suy nghĩ trở nên hữu ích với đồng nghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và biết đâu là cả những sản phẩm mới từ đó nữa”, anh trả lời.  Nguồn: Gs. Nguyễn Xuân Hùng lần thứ 9 vào top 1%    Author                .        
__label__tiasang GS Nguyễn Xuân Vinh: Giữ được văn hóa mới làm ta hãnh diện      Theo tin nước ngoài, GS Nguyễn Xuân Vinh vừa được Hội Khoa học Không gian Hoa Kỳ trao tặng giải thưởng Dirk Brouwer về các cống hiến của ông trong lĩnh vực Cơ học phi hành không gian. Giải thưởng được trao tại Arizona vào ngày 28-1-2007 Giải thưởng mang tên TS. Dirk Brouwer, người Mỹ gốc Hà Lan, người có công lớn lao trong việc tính đường bay của vệ tinh và các phi thuyền không gian. Hàng năm Hội Khoa học không gian Hoa Kỳ tổ chức tuyển chọn công trình để trao giải thưởng này. Có năm không có ai được nhận giải. Đóng góp của GS Nguyễn Xuân Vinh về khoa học Quỹ đạo không gian và cơ học phi hành, cơ học chuyển động của các hành tinh, vệ tinh, phi thuyền… được đánh giá là rất có giá trị cho khoa học Không gian trong tương lai.    GS Nguyễn Xuân Vinh sinh tháng 1-1930 tại Yên Bái, du học tại Hoa Kỳ từ năm 1962. Năm 1965 là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ  về Khoa học không gian tại Đại học Colorado. Năm 1968 là Phó giáo sư (associate professor) và năm 1972 là Giáo sư tại Đại học Michigan. Cũng vào năm 1972 ông được bầu làm Tiến sĩ quốc gia của Đại học Sorbonne (Pháp). Năm 1982 là Giáo sư của Đại học Thanh Hoa (Đài Loan). Năm 1984 là người Á Châu đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia về Hàng không và Không gian Pháp. Năm 1986 là Viện sĩ của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế (International Academy of Astronautics). Về hưu năm 1999 khi vừa 69 tuổi và sống cùng gia đình tại San Jose, California. Ông đã giảng dạy và thuyết trình khoa học nhiều lần tại các Đại học và Hội thảo ở Hoa Kỳ, Canađa, Anh, Pháp, Áo, Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Hungary, Israen, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia… Trước khi nhận giải thưởng Dirk Brouwer , GS Nguyễn Xuân Vinh đã từng được giải thưởng Mechanics and Control of Flight (1994) của Học viện Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ, giải thưởng Exellency 2000 Award (1996) của Pan Asian American Chamber of Commerce. Ông là tác giả của các sách Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics (1980), Optimal Trajectories in Atmospheric Flight (1981), Flight Mechanics of High-Performance Aicraft (1993)…  Trả lời phỏng vấn khi được tin nhận giải thưởng Dirk Brouwer, GS Vinh cho biết: “Sau khi đã về hưu thì những cựu học sinh bây giờ là những giáo sư danh tiếng ở những trường Đại học lớn tại Hoa Kỳ ngỏ ý cần đề nghị cho tôi được giải thưởng năm nay, dù đối với tôi điều ấy là không cần thiết… Tôi trông đợi là có thể đến một ngày kia có một nghệ sĩ người Việt đoạt giải Oscar… nếu có người Việt Nam nào trong tương lai nhận giải thưởng Nobel thì thật là một vinh hiển chung cho đất nước Việt”.  Trong một lần trả lời phỏng vấn, GS Nguyễn Xuân Vinh đã tâm sự với các bạn trẻ gốc Việt đang sinh sống và học tập tại Hoa Kỳ: “Thế hệ chúng tôi được lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh của đất nước nên không được may mắn như các bạn trẻ bây giờ. Các bạn hiện nay như những bông hoa tươi thắm được nở rộ trên xứ người với muôn vẻ đẹp. Tôi mong mỏi các bạn biết đến công ơn của cha mẹ đã vượt qua bao nhiêu khó khăn và trở ngại để tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự thành công của các bạn. Đối với các bạn sự thành công của cá nhân mình là đáng quý, nhưng biết hướng về cội nguồn, nghe lời chỉ dạy của cha mẹ, gìn giữ được những nét hay vẻ đẹp để tiếng nói, chữ viết và văn hóa của dân tộc được truyền đời mới là điều làm ta hãnh diện”.  Trong một cuộc trả lời  phỏng vấn khác, GS Vinh tâm sự: “Ngoài vấn đề khoa học tôi cũng chú trọng đến vấn đề giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc. Đối với thế hệ trẻ ở nước ngoài bao giờ tôi cũng nhắn nhủ các em là làm thế nào để gìn giữ tiếng Việt, để làm cho nó ngày một phồn thịnh, gìn giữ các giá trị văn hóa cổ truyền tốt đẹp của Việt Nam. Với giới trẻ ở trong nước bao giờ tôi muốn các em nên cố gắng học hành để có trình độ khoa học, kỹ thuật của mình ngày một tiến”.  Năm nay GS Nguyễn Xuân Vinh đã 77 tuổi, mong GS trường thọ và đủ sức khỏe để về thăm lại quê hương, nơi còn 9 người (trong số 14 anh chị em ruột thịt của ông) và gia đình của họ đang sinh sống.  Nguyễn Lân Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang GS. Phan Hữu Dật: Đường đến với dân tộc học      LTS: GS Phan Hữu Dật (1928-2019) [1] là nhà dân tộc học đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám được đào tạo bài bản ở Liên Xô cũ, đã qua đời ngày 18/4/2019. Bài viết dưới đây của học trò là PGS.TS Nguyễn Văn Chính và TS. Đinh Thị Thanh Huyền (Khoa Nhân học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội) sẽ cung cấp thêm một góc nhìn để giúp hiểu rõ hơn nền tảng văn hóa đã tạo nên nhân cách và sự nghiệp của một nhà khoa học mà tên tuổi gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền dân tộc học cách mạng ở Việt Nam.      GS Phan Hữu Dật (1928-2019). Ảnh: Thành Long  Ra đi từ bến sông Bồ  Trong hầu hết các câu chuyện GS Phan Hữu Dật nói với chúng tôi về cuộc đời mình, ông thường bắt đầu từ một ngôi làng nhỏ nơi ông sinh ra, có tên gọi Thiên Lương, bên bến sông Bồ, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Có lẽ những năm tháng ấu thơ bên dòng sông Bồ và những cuộc tiếp xúc ban đầu với các nhóm thiểu số qua những phiên chợ làng nơi quê hương đã để lại trong ông những ấn tượng sâu sắc đầu đời về các tộc người ở quê ông như Vân Kiều và Tà Ôi. Đây cũng có thể là lý do tại sao ông chọn “Các tộc người nói tiếng Mon-Khmer ở miền Bắc Việt Nam”, làm đề tài nghiên cứu viết luận án phó tiến sỹ của mình, trong đó ông chỉ tập trung vào các nhóm Vân Kiều, Trì, Măng Coong. Ông kể, có lần trong một kỳ thi tốt nghiệp hồi còn học ở trường làng, thầy giáo ra câu hỏi: “Theo em, loại người nào có ích nhất?”. Ông đã đáp lại không do dự: “Thưa thầy, là người Mọi ạ”2. Ông bảo không hiểu sao lúc ấy lại trả lời như vậy, nhưng giải thích thêm: Có lẽ vì rất ấn tượng với những người “Mọi” do nhiều lần được tiếp xúc với họ khi thồ hàng về bán ở chợ làng.   Học xong diplome năm 1946, ông rời làng và vào làm việc cho Sở Tuyên truyền Trung Bộ và Ty Thông tin Tuyên truyền Quảng trị trên chiến khu Ba Lòng. Tại đây, ông lại được cùng ăn, ở, làm việc và trải nghiệm cuộc sống hằng ngày với người dân Vân Kiều, được họ che chở và chỉ dẫn kinh nghiệm sống. Ông kể: “Ở Ba Lòng hồi ấy voi rừng hoành hành dữ lắm. Nếu trong đàn có một hai con bị bắt thì cả đàn voi sẽ tức giận, kéo vào làng phá nát mọi thứ. Tôi còn nhớ vào một đêm trăng sáng, dân làng kéo tôi chạy lên núi cao tránh voi về làng. Ngồi trên núi cao nhìn xuống, tôi thấy cả một đàn voi hàng chục con tràn vào làng, phá nhà, đạp nát cây cối, hoa màu, dùng vòi hút nước phun lên trời, đập phá cho đến khi chán mới bỏ đi…”3  Những ký ức đó là hành trang không thể thiếu nâng bước ông đi qua những năm tháng gian khó của cuộc kháng chiến 9 năm và cả khi đã đứng trên vị thế của một người dẫn dắt nhiều thế hệ học trò đi vào khám phá những đặc trưng văn hóa các tộc người ở Việt Nam.    Tiếp thu trường phái dân tộc học Nga Xô-viết  Từ chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), ông đã đến với nghề dạy học, và đến nước Nga Xô-viết, bước lên giảng đường Đại học Lomonosov danh tiếng. Ông tốt nghiệp đại học loại xuất sắc năm 1959 tại bộ môn dân tộc học thuộc Khoa Sử và được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh – trở thành một trong những người Việt Nam đầu tiên nhận bằng phó tiến sỹ (Кандидат наук) chuyên ngành dân tộc học vào năm 1963.   Dân tộc học là ngành có truyền thống lâu đời ở nước Nga. Bộ môn Địa lý-Dân tộc học ở ĐH Lomonosov được lập ra ngay từ cuối thế kỷ 19. Dân tộc học Xô viết thực ra đã được khởi nguồn từ các nghiên cứu của nhà khoa học Nga Nicholas Miklouho-Maclay (1846–1888), người đã dành phần lớn đời mình thực hiện các cuộc điền dã ở Trung Đông, Úc châu, New Guinea, Melanesia, Polynesia và Seberia. Từ sau Cách mạng tháng Mười 1917 thì ngành này càng có vị trí quan trọng, trở thành một trường phái riêng, thường được gọi là dân tộc học Xô viết, gắn với những tên tuổi nổi tiếng như các Viện sỹ S.P. Tolxtop, N.N. Cheboksarov, S.A. Tocarev. Những năm GS Phan Hữu Dật học tại đây là thời kỳ hoàng kim của dân tộc học Xô viết (1950 – 1970). Trong thời kỳ này, các nhà dân tộc học thuộc Viện Dân tộc học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và Bộ môn Dân tộc học thuộc Đại học Lomonosov đã hợp tác công bố những công trình khoa học đồ sộ như “Các dân tộc trên thế giới” và “Dân tộc học thế giới”. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng khoa học của ông sau này.   Ông chịu ảnh hưởng lớn từ các nghiên cứu của Cosven về văn hóa và xã hội nguyên thủy, nghiên cứu của Treboksarov về các chủng tộc và các khu vực lịch sử-dân tộc học, của Tocarev về các dân tộc ở nước Nga, và đặc biệt là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội về những quy luật phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, hai tác giả được ông đọc và vận dụng vào luận án nhiều nhất là Zolotarev với nghiên cứu về một thiết chế xã hội “thị tộc ngoại hôn”, và Cosven với nghiên cứu “tục trở về”. Ông cho biết: “Tôi đã vận dụng cách tiếp cận của Cosven trong “Tục trở về” để nghiên cứu tục lại mặt trong đám cưới của các dân tộc ở Việt Nam”.  Ngoài ra, ông cũng đọc rất kỹ những nghiên cứu của Tocarev về các dân tộc ở nước Nga. Duyên cớ là vào năm 1959, khi ông là một sinh viên đã tốt nghiệp xuất sắc tại bộ môn dân tộc học tại Đại học Lomonosov, GS Tocarev đã mang tặng ông bộ sách đồ sộ của mình về các dân tộc ở nước Nga, và sau này ông đã mang về tặng lại cho Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội.     Việc xác định thành phần dân tộc Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng bởi khái niệm và các tiêu chí này của dân tộc học xô viết. Ảnh: Đoàn diễu hành của đại diện các dân tộc thiểu số. Tạp chí Tuyên giáo.  Tham gia đắp móng xây nền dân tộc học mới  Nhìn lại những công trình khoa học mà GS Phan Hữu Dật đã công bố, có thể nhận thấy nghiên cứu của ông có xu hướng tập trung vào ba vấn đề chính: (1) Các tập tục và dấu vết cổ sơ của các nguyên tắc trong hôn nhân và gia đình của các dân tộc; (2) Quá trình tộc người và các quan hệ dân tộc ở Việt Nam; (3) Chính sách dân tộc ở Việt Nam và tính Đảng trong dân tộc học.   Trong số các công trình khoa học ấy, chúng tôi đặc biệt đánh giá cao vai trò quan trọng của giáo trình “Cơ sở Dân tộc tộc học”, xuất bản lần đầu năm 1973. Cuốn sách không phải là một khám phá mới của dân tộc học, nhưng là một tài liệu có ảnh hưởng sâu rộng ở hầu hết các cơ sở đào tạo nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn, nó đã đứng vững trong chương trình giảng dạy chuyên ngành suốt ba thập kỷ.  Cần phải đặt Giáo trình Cơ sở Dân tộc học vào trong bối cảnh những năm đầu 1960 mới có thể hiểu được vị trí của nó. Năm 1964 GS Phan Hữu Dật về nước và làm việc tại Bộ môn Dân tộc học, khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp trong bối cảnh dân tộc học non trẻ của Việt Nam vẫn đang mày mò những bước đi đầu tiên. Bộ môn Dân tộc học vừa mới thành lập do GS Vương Hoàng Tuyên làm chủ nhiệm. Tài liệu về lý thuyết dân tộc học được dịch ra tiếng Việt và xuất bản chủ yếu xoay quanh khái niệm “dân tộc học là gì?”. GS Trần Văn Giàu mời các chuyên gia dân tộc học Xô-viết sang hướng dẫn các giảng viên trẻ phương pháp nghiên cứu dân tộc học. Trong đó giáo sư E.P. Buxưghin trực tiếp đứng lớp giảng dạy và viết giáo trình Dân tộc học đại cương (1961)4. Cuốn giáo trình dân tộc học đầu tiên này còn hạn chế vì mới chỉ tập trung vào những vấn đề dân tộc trên thế giới mà ít liên hệ các vấn đề học thuật với bối cảnh xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh nguồn tài liệu đọc hạn hẹp ấy, GS Phan Hữu Dật đã bắt tay vào viết cuốn giáo trình dân tộc học mới nhằm liên hệ chặt chẽ hơn với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đây là cuốn giáo trình dân tộc học đầu tiên do một người Việt Nam biên soạn, và nó đã đem lại cho sinh viên các ngành sử học và dân tộc học những kiến thức mang tính cơ sở để đi vào thế giới văn hóa tộc người và chính sách dân tộc của nhà nước.       Trong suốt cuộc đời 60 năm làm nghiên cứu, đào tạo và quản lý khoa học, ông luôn thể hiện tinh thần của một người lính đang canh giữ cho ngôi đền ý thức hệ và phát triển những thành quả của nó trong đời sống, và ông xem đây là những điều then chốt nhất của khoa học dân tộc học. Nhưng ông cũng là người cầu thị và chấp nhận thay đổi tư tưởng học thuật để đưa khoa học tiến lên.      Ưu điểm nổi trội của Cơ sở Dân tộc học là nó thừa kế được những thành tựu cơ bản của dân tộc học Nga Xô-viết và đề xuất những ngụ ý thực tiễn cho đường lối chính sách dân tộc ở Việt Nam. Giáo trình này lần đầu tiên tóm tắt và đánh giá các trường phái lý thuyết của dân tộc học thế giới theo tinh thần phê phán khoa học. Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của trường phái dân tộc học Xô-viết, giáo trình cơ sở dân tộc học đại cương chủ yếu nhấn mạnh vào các vấn đề văn hóa và xã hội nguyên thủy, vấn đề chủng tộc và ngôn ngữ trên thế giới trong khi các vấn đề tộc người, ngôn ngữ và quốc gia dân tộc ở Việt Nam mới chỉ được đề cập một cách sơ lược. Mặt khác, tác giả có xu hướng phân biệt hai nền dân tộc học tư sản và cách mạng, trong đó chỉ có dân tộc học cách mạng là đúng đắn và khoa học, đối lập với dân tộc học tư sản duy tâm và phản động. Mặc dù còn có những khiếm khuyết đó, giáo trình Cơ sở Dân tộc học cho đến nay vẫn được xem là cuốn sách công phu và mang tính nền tảng. Những giáo trình dân tộc học được biên soạn sau này về cơ bản vẫn dựa vào cơ cấu các đơn vị tri thức mà Cơ sở Dân tộc học tạo ra, có khác chăng chỉ là ở chỗ đơn giản hóa các nội dung học thuật để phù hợp với chương trình của một môn học cơ sở mà thôi.          Trong một lần trò chuyện thân mật, chúng tôi đã hỏi ông điều quan trọng nhất mà ông học được từ dân tộc học Xô-viết là gì. Không chút đắn đo, ông trả lời: “Đó chính là sự kiên định học thuyết Mác-Lê nin, kiên định quan điểm về các hình thái kinh tế xã hội, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc.”   Trong suốt cuộc đời 60 năm làm nghiên cứu, đào tạo và quản lý khoa học, ông luôn thể hiện tinh thần của một người lính đang canh giữ cho ngôi đền ý thức hệ và xem đây là những điều then chốt nhất của khoa học dân tộc học. Ông đã đem tinh thần ấy vào trong giảng đường, hướng dẫn sinh viên và nghiên cứu sinh ở nhiều bậc học làm nghiên cứu khoa học. Trong khoảng hơn 10 năm được Bộ Giáo dục giao cho trách nhiệm làm trưởng ban đào tạo nhằm chuẩn bị cho nghiên cứu sinh đi đào tạo ở nước ngoài, ông tập trung cho họ nghiên cứu kỹ ba tài liệu mà ông đã soạn: (1) Ăng-ghen và dân tộc học ( Đã in trong Nghiên cứu Lịch sử, số 140 (1971); (2) Các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng (đã in trong Dân tộc học số 4 (1988); (3) Về chức năng nhiệm vụ của dân tộc học ở nước ta (Đã in trong Thông báo Dân tộc học, số 2/1973). Khi hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh làm luận văn, luận án khoa học, điều ông quan tâm đầu tiên là xem xét liệu họ có đọc, vận dụng và trích dẫn các tài liệu kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin hay không, có đề xuất kiến nghị gì với Đảng và Nhà nước hay không. Nếu chưa có hai điều ấy, ông đều yêu cầu họ làm lại hoặc bổ sung.      Ông kiên định lập luận rằng dân tộc học có chức năng “nghiên cứu các dân tộc để thay đổi nó”. Vậy nên khoa học này nếu nằm trong tay giai cấp tư sản thì “đều cực kỳ duy tâm và phản động”, vì “mục đích của nó là phục vụ cho giai cấp thống trị và phương pháp luận của nó là dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm”, còn các lý thuyết khoa học của dân tộc học tư sản nảy sinh sau khi chủ nghĩa thực dân cũ kết thúc thì không thể chấp nhận được vì “chúng gắn liền với chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (Phan Hữu Dật, 1973:1). Trong khi thể hiện thái độ dứt khoát phải đoạn tuyệt với lý luận dân tộc học phương Tây nặng mùi thực dân – tư sản, các nhà dân tộc học có ảnh hưởng của Việt Nam cũng xác định nhiệm vụ của dân tộc học mac-xít là phải tích cực phục vụ chính trị, phục vụ chính sách dân tộc của Đảng, góp phần đấu tranh chống lại nền dân tộc học thực dân trước đây và tư sản hiện nay (Phan Hữu Dật 1973:3).5          ***  Cách đây vài năm, trong một lần trò chuyện với chúng tôi khi thầy vẫn đang trên giường bệnh, ông đã thổ lộ một tâm nguyện gan ruột, đó là mong muốn được sống thêm 30 tháng nữa để hoàn thành bộ ba chuyên khảo khoa học. Ở tuổi U90, ông đã viết và cho xuất bản hai cuốn (Dân tộc học và Nhân học ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2015; và Mấy tiếp cận về văn hóa Việt Nam, NXB Tri thức, Hà Nội, 2016). Cuốn sách thứ ba, “Tục trở về”, một ấp ủ khoa học cả đời, và là một mong muốn tiếp nối nghiên cứu tiến sỹ còn dang dở do công tác quản lý lấy đi hết thời gian. Cầm trên tay bản thảo chưa hoàn thành, chúng tôi hiểu được nỗi buồn tâm nguyện chưa trọn của thầy.   Vài tháng trước khi từ biệt thế giới này, ông đã gửi tới các nhà  dân tộc học trẻ Việt Nam những lời tâm huyết: “Đi vào dân tộc học và nhân học phải là người có tâm huyết, có khát vọng. Không có một khoa học nào đòi hỏi nhiều kiến thức như khoa học này. Biết càng nhiều càng tốt, không bao giờ thừa. Còn ai nhát thì thôi, đừng có vào ngành này.” Tinh thần dấn thân cho khoa học ấy đã được ông viết trong bài thơ Bài ca dân tộc học (in trong Một Nhành Mai, TP Hồ Chí Minh 1996):  “Ba lô lên vai  Chiếc gậy cầm tay  Lên đường điền dã!  Nào anh em ơi  Ta lên Tây Bắc  Ta vào Tây Nguyên  Đồng bào dân tộc   Gọi ta trăm miền…” □    GS Phan Hữu Dật thuộc thế hệ những người đặt nền móng cho dân tộc học Việt Nam hiện đại và có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ nhà nghiên cứu dân tộc học kể từ năm 1963 tới hiện nay. Ông vẫn tham gia giảng dạy sinh viên, nghiên cứu sinh cho tới tận trước khi mất một thời gian. Ngoài ra, ông đã đóng góp thư viện sách của mình cho Khoa Nhân học và bỏ tiền tạo lập Quỹ Phan Hữu Dật để trao thưởng khuyến khích những sinh viên có nỗ lực trong học tập và nghiên cứu khoa học.  Dưới đây là một số giáo trình, chuyên khảo và tuyển tập do GS Phan Hữu Dật là tác giả hoặc chủ biên:  -Cơ sở Dân tộc học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973.  – Văn hóa – Lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam Á (chủ biên). NXB Văn hoá Dân tộc, 1992.  – Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam (viết chung). NXB Văn hoá Dân tộc, 1993  – Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử(chủ biên) NXB Chính trị Quốc gia, 1994  – Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam (tuyển tập), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1998.  – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quân đến mối quan hệ dân tộc hiện nay. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.  – Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam,(tuyển tập). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004.  – Dân tộc học và Nhân học ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2015  – Mấy tiếp cận về văn hóa Việt Nam, NXB Tri thức, Hà Nội, 2016.    ——  Chú thích:   1GS Phan Hữu Dật, nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam.  2Theo GS Phan Hữu Dật, “Mọi” là tên gọi thông dụng ở địa phương để chỉ người thiểu số, và hồi đó nó chưa có ý nghĩa miệt thị như sau này.  3Trong bài viết này, những trích đoạn để trong ngoặc kép “…” là nguyên văn trả lời phỏng vấn của GS Phan Hữu Dật, được rã băng và ông đã đọc duyệt văn bản.  4Nguyễn Văn Chính, (2007). Một thế kỷ dân tộc học Việt Nam, và những thách thức trên con đường đổi mới và hội nhập. Văn hoá Dân gian, Số 5(113), tr. 47-67.  5 Phan Hữu Dật (1973). Bàn thêm về nhiệm vụ và chức năng của dân tộc học ở nước ta, Thông báo Dân tộc học số 2 (1973).    Author                Nguyễn Văn Chính, Đinh Thị Thanh Huyền        
__label__tiasang GS Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam      GS Phan Huy Lê – chuyên gia đầu ngành về Lịch sử Việt Nam vừa mới qua đời ở tuổi 84. Chúng tôi đăng tải bài viết của GS Nguyễn Quang Ngọc tổng kết khái quát về con đường học thuật của GS. Phan Huy Lê. Bản gốc của bài viết được in trong cuốn “Chân dung nhà giáo – nhà khoa học tiêu biểu trường ĐH KHXH&NV Hà Nội (1945-2015)”, xuất bản năm 2015, nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội.        GS Phan Huy Lê. Ảnh: Khoa học và phát triển.  Giáo sư Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại làng Thu Hoạch, xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà (nay là huyện Lộc Hà), tỉnh Hà Tĩnh – một vùng quê văn hiến của xứ Nghệ, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, trọng tình nghĩa, cần cù và hiếu học. Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy… Cụ thân sinh là Phan Huy Tùng, tiến sĩ Nho học, từng làm quan trong triều đình Huế, nổi tiếng thanh liêm, phúc đức, nhân hậu, hết mực yêu con, quý cháu.  Năm 1952, khi 18 tuổi, Phan Huy Lê rời gia đình ra học Dự bị Đại học ở Thanh Hoá và tại đây ông có cơ hội được tiếp xúc với những trí thức cách mạng hàng đầu của đất nước. Vốn là học sinh có năng khiếu và ham mê khoa học tự nhiên, ông dự định chọn Toán – Lý cho tương lai nghề nghiệp của mình, nhưng dường như số phận đã định trước cho ông con đường trở thành nhà Sử học. GS. Trần Văn Giàu và GS. Đào Duy Anh là những người đầu tiên nhận ra những phẩm chất ở Phan Huy Lê và hướng ông vào học Ban Sử – Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập gồm 4 khoa: Toán – Lý, Hoá – Sinh, Văn và Sử. Phan Huy Lê vừa tốt nghiệp cử nhân Sử – Địa đã được nhận ngay vào Tổ Cổ sử thuộc Khoa Lịch sử dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của GS. Đào Duy Anh. Ngay từ khi đi học, ông đã được các thầy tin cậy giao làm trợ lý giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, ông vừa chính thức đứng lớp, vừa được các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh giao cho viết bài giảng và đảm nhiệm các công việc của những chuyên gia thực thụ. Có lẽ vì thế mà chỉ 2 năm sau, khi GS. Đào Duy Anh chuyển công tác về Viện Sử học, mới 24 tuổi đời, ông đã vững vàng trong trọng trách của một Chủ nhiệm bộ môn đứng mũi chịu sào tổ chức và xây dựng một ngành học giữ vị trí then chốt trong hệ thống các môn học về khoa học xã hội Việt Nam.  Dấn thân vào nghề Sử, Phan Huy Lê quan niệm kinh tế – xã hội là cơ sở nền tảng của toàn bộ lịch sử. Nước ta là một nước nông nghiệp nên nghiên cứu kinh tế – xã hội Việt Nam truyền thống không thể không bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Điều này giải thích vì sao những ấn phẩm đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông là Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (1959), Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn (1959), Lao động và làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam (1959)… Tính ra có 5 công trình lớn trong giai đoạn 5 năm đầu bước vào nghề của ông thuộc về lĩnh vực kinh tế – xã hội.  Khi Phan Huy Lê vừa mới tạo lập được vị trí của mình trong nghiên cứu về kinh tế – xã hội thì cũng là lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tự ý thức trách nhiệm công dân phải tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Phan Huy Lê chuyển sang nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những trận đánh lớn trong lịch sử. Những công trình Khởi nghĩa Lam Sơn (1965); Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam (1973), Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc (1976), Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288 (1988)… được hoàn thành trong điều kiện như thế và đã trở thành những tác phẩm lịch sử quân sự tiêu biểu.  Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Phan Huy Lê tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài chống ngoại xâm. Trong khoảng 15 năm (1975-1989), ông viết đến trên 24 công trình lớn, chưa kể hàng chục bài báo và tham luận về đề tài này. Nói đến Phan Huy Lê người ta nghĩ ngay đến chuyên gia hàng đầu về lịch sử chống ngoại xâm với số lượng vượt trội các công trình nghiên cứu và với những tổng kết sâu sắc đã trực tiếp góp vào những chiến công chung của đất nước. Mảng đề tài này, ông có 50 trên tổng số 408 công trình đã hoàn thành (chiếm 12,2%).  Tuy nhiên, điều mà Phan Huy Lê trước sau đặc biệt quan tâm là những vấn đề về kinh tế – xã hội, hình thái kinh tế – xã hội và các thể chế chính trị – xã hội trong lịch sử Việt Nam trước Cận đại. Mỗi khi có cơ hội, ông lại tranh thủ trở về với đề tài chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, nông dân và làng xã cổ truyền. Số công trình ông viết riêng về mảng kinh tế – xã hội là 51 (chiếm 12,5%), trong đó tiêu biểu là các tác phẩm viết về phong trào nông dân Tây Sơn, các cuốn sách, chuyên đề về sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội, kết cấu kinh tế – xã hội, làng xã của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ… Ngoài ra, ông luôn tiên phong đi sâu khai thác những nguồn tư liệu liên quan như địa bạ, châu bản, gia phả… kết hợp với điều tra khảo sát thực địa.  Phan Huy Lê bắt đầu mở rộng sang nghiên cứu lĩnh vực văn hoá – truyền thống từ giữa những năm 1970 và sự quan tâm của ông đến lĩnh vực này càng ngày càng toàn diện với số lượng trung bình là 64 (chiếm 15,72%). Những công trình tiêu biểu là Truyền thống và cách mạng (1982), Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam (1988), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay (3 tập, 1994, 1996, 1997), Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại (2002) và hệ thống các bài viết về di sản văn hoá của di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long…  Có thể hình dung toàn bộ trước tác của GS. Phan Huy Lê được chia thành 7 lĩnh vực chủ yếu, với số công trình từ 41 đến 92 (trung bình 58) cho mỗi lĩnh vực. Nhưng trách nhiệm lớn nhất đặt ra cho GS. Phan Huy Lê không phải là từng mảng lịch sử cụ thể mà là tổng kết lịch sử đất nước. Ngay từ năm 1959, nghĩa là khi mới bắt tay viết những trang bản thảo đầu tiên, ông đã có một tập bài giảng Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858. Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập II (1960) và Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập III (1961), góp phần làm nên tầm vóc của Khoa Lịch sử. Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết Lịch sử Việt Nam tập I, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này hàng loạt các bài giảng, giáo trình khác về Lịch sử Việt Nam ra đời (vào các năm 1966, 1970, 1978…) làm cơ sở cho sự xuất hiện Lịch sử Việt Nam tập I (1983) – một cuốn sách tổng kết lịch sử Việt Nam từ thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ thứ X tương đối đầy đủ và cập nhật. Đặc biệt gần đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước xây dựng bộ sách Lịch sử Việt Nam 4 tập, GS. Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, được coi là tổng kết cao nhất về giai đoạn lịch sử từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỷ XIX.  Không chỉ dồn tâm, dồn sức viết các bộ thông sử, các tập giáo trình, Phan Huy Lê còn là tác giả của nhiều công trình lịch sử địa phương. Trân trọng và đề cao kinh nghiệm viết sử truyền thống, ông lại chính là người đi tiên phong hiện đại hoá và cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới. Số lượng các công trình tổng kết lịch sử, những bài giảng, giáo trình và các bộ thông sử có tầm khái quát cao của ông vì thế lên đến 41 công trình (chiếm 10,0%), tạo nên sự hoàn hảo và trội vượt trong phẩm chất và tính cách sử học Phan Huy Lê.  Tầm uyên bác trong các công trình Sử học của GS. Phan Huy Lê bắt nguồn từ trách nhiệm cao cả của một người Thầy, vì theo ông, dạy đại học là dạy kết quả nghiên cứu của chính mình.  Hơn nửa thế kỷ qua, ngoài việc giảng dạy chính ở Khoa Lịch sử, Ông còn dạy cho nhiều lớp ở trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, các trường đại học trên thế giới, như Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Amsterdam (Hà Lan)… Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài. Ông cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên của nền giáo dục mới Việt Nam tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn và phản biện nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế, trong đó có 17 học trò trực tiếp của ông đã bảo vệ thành công các luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.  Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo Sử học, ông còn được giao trách nhiệm xây dựng hai ngành học mới là Đông phương học và Việt Nam học. Từ năm 1988 cho đến nay, GS. Phan Huy Lê liên tục là Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt hay là uỷ viên của nhiều Hội đồng Quốc gia như Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Học hàm Nhà nước, Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia… Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.  Ông được phong học hàm Giáo sư (1980), Nhà giáo Ưu tú (1988), Nhà giáo Nhân dân (1994); được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), hạng Nhì (1994), hạng Ba (1974); được tặng Giải thưởng Nhà nước (2000), Giải thưởng Quốc tế Văn hoá châu Á Fukuoka, Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của chính phủ Pháp (2002), Công dân ưu tú của Thủ đô (2010), danh hiệu Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc (2011).  Và cao hơn tất cả, tên tuổi, tài năng và nhân cách của ông đã trở thành thần tượng, thành huyền thoại, thành niềm kiêu hãnh và tấm gương sáng cho các thế hệ học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế.  Các hướng nghiên cứu chính của GS Phan Huy Lê:   Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm, Lịch sử và lịch sử văn hóa Việt Nam, Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam.  Các công trình và giải thưởng khoa học tiêu biểu của ông:   Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959.  Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960; in lần thứ hai, 1962.  Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1961. Khởi nghĩa Lam Sơn (đồng tác giả), in lần thứ ba, có bổ sung và sửa chữa, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977; in lần thứ tư, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2005.  Lịch sử Việt Nam (đồng tác giả), tập I, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983; tái bản 1985, 1991.  Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1990.  Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay (Chủ biên), tập II, Hà Nội, 1996; tập III, Hà Nội, 1997.  Tìm về cội nguồn, tập I, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1998; in lần thứ hai, 1999; tập II, 1999.  The country life in the Red River delta (Co-author), The gioi Publisher, Hanoi, 1999  Vietnam, Art et Culture de la préhistoire à nos jours (đồng tác giả), Nxb. Snoeck, Bruxelles-Vienne, 2003.  Địa bạ cổ Hà Nội (Chủ biên), tập I, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2005, in lần thứ hai, 2010; tập II, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2008, in lần thứ hai, 2010.  Lịch sử và Văn hóa Việt Nam, Tiếp cận bộ phận, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007; in lần thứ hai, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2012.  Lịch sử Thăng Long – Hà Nội (Chủ biên), 2 tập, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2012.  Lịch sử Việt Nam (Chủ biên), tập I+II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2012  Lịch sử Quân sự Việt Nam (Chủ biên), tập V, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.  Giải thưởng khoa học tiêu biểu:  Giải thưởng Nhà nước và khoa học và công nghệ năm 2000 cho công trình Tìm về cội nguồn (2 tập).  Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình “Lịch sử và Văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận”.    Author                Nguyễn Quang Ngọc        
__label__tiasang GS Phan Huy Lê – Một trí thức công      Đã có nhiều bài viết về GS Phan Huy Lê, một trí thức lớn của đất nước, người “dẫn dắt sự phát triển của sử học”, một người “tổng kết lịch sử” và “đổi mới sử học” Việt Nam. Bài viết này góp thêm một góc nhìn về vai trò của GS Phan Huy Lê với tư cách là một trí thức công (public intellectual) và những đóng góp to lớn của ông vào quá trình phát triển và bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử của đất nước.      Cố GS Phan Huy Lê đi khảo sát tại Cổ Loa. Nguồn ảnh: Trịnh Hoàng Hiệp.   Ở Việt Nam hiện nay vẫn đang tồn tại một cách hiểu thô sơ nhưng khá khổ biến cho rằng “trí thức là người lao động trí óc, có trình độ đại học và tương đương trở lên”. Cách hiểu như vậy còn tương đối phiến diện vì nó chỉ xem xét người trí thức ở các khía cạnh nghề nghiệp và học vấn. Cách hiểu “trí thức là người lao động trí óc” và “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.”1 khá đơn giản, nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ phủ nhận vai trò và trách nhiệm xã hội của giới trí thức. Cũng có những ý kiến khác nhìn nhận thực trạng của giới trí thức nước ta hiện nay như một nhóm công dân ngại đụng chạm, sợ ảnh hưởng quyền lợi cá nhân và không ý thức được trách nhiệm của mình với xã hội.2  Trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng được trích dẫn nhiều của nhà kinh tế học Marxist người Mỹ Paul Baran “Sứ mạng của người trí thức”3 đã cho rằng cần phải phân biệt bằng một lằn ranh giữa hai khái niệm người lao động trí óc và người trí thức. Theo ông, người lao động trí óc có thể là người trí thức, nhưng sự khác nhau căn bản giữa hai khái niệm này là ở thái độ của họ đối với toàn bộ quá trình lịch sử. Người trí thức thực sự không chỉ khát khao nói lên sự thật, mà còn phải can đảm, phải dám suy nghĩ đến cùng sự việc. Trong khi đó, những người lao động trí óc thông thường chỉ là hình ảnh điển hình của những đầy tớ trung thành, của một nhân viên thừa hành, thường “bị nhốt cứng trong các ngăn kiến thức”, và hay “thoái thác trách nhiệm” để lo lấy phần của mình.    Nhắc lại quan điểm của Baran ở đây để thấy rằng có một cách nhìn phổ quát trên thế giới về khái niệm trí thức trong đó cho rằng lao động trí óc chỉ mới là điều kiện cần để làm một trí thức. Một người được xem là trí thức còn phải làm được hơn thế. Người trí thức cũng giống như “con mắt của thế giới”, quan tâm đến các vấn đề của xã hội với một tinh thần phê phán, phổ biến các tri thức mà mình tạo ra cho xã hội, và có ý thức về bổn phận tham gia tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề xã hội.  Trở lại với trường hợp của GS Phan Huy Lê, có thể thấy toàn bộ quá trình sáng tạo tri thức và hoạt động xã hội của ông đã thể hiện đầy đủ vai trò và sứ mạng của một trí thức công, một bản lĩnh khoa học và một tấm lòng đau đáu với hiện tình đất nước.  Các đồng nghiệp của GS Phan Huy Lê khi còn ở Khoa Sử (Đại học Tổng hợp Hà Nội) thường gọi GS Phan Huy Lê bằng cái tên âu yếm rằng thầy là một “sử quan”. Cách gọi như vậy có ngụ ý rằng thầy quan tâm đến chính sử và thường được nhà nước giao cho biên soạn những bộ sử kiểu “tập đại thành”, phản ánh quan điểm chính thống, toàn diện về lịch sử dân tộc. Điều đó đúng, nhưng không có nghĩa thầy chỉ viết sử để làm thỏa mãn thái độ tự tôn hay ý thích của những người lãnh đạo, mà viết sử bằng thái độ của một sử quan, nghĩa là trung thành với sử liệu đã có. Lý thuyết “tiếp cận bộ phận” xuất bản gần đây của GS đã tổng kết quan điểm nghiên cứu của mình, trong đó ông tập trung nghiên cứu sâu các trung tâm văn minh, các nhà nước đã từng hình thành và tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, các cộng đồng cư dân, các mối liên hệ vùng, liên vùng và xuyên quốc gia để từ đó hiểu được toàn bộ lịch sử dân tộc. Thực ra, cách tiếp cận như vậy không hề dễ dàng. Câu chuyện biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (xuất bản 1985) cho thấy trung thành với sử liệu đã đành, đưa sử liệu vào chính sử là một chuyện khác. Lần đầu tiên GS Phan Huy Lê với tư cách chủ biên bộ Lịch sử Việt Nam (1985), đã đưa vào chính sử một chương hoàn toàn mới về Vương quốc Chăm Pa, gây ra lo ngại rằng thừa nhận Vương quốc Chăm Pa, cũng như các nhà nước Lâm Ấp, Phù Nam, văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo là thừa nhận quá trình xâm thực của người Việt và có thể gây hiểu lầm và chia rẽ. GS Phan Huy Lê đã trung thành với quan điểm “lịch sử là sự thật”, và không ngại ngần trao đổi với những ý kiến thiển cận phi sử học về lịch sử Việt Nam. Những quan điểm như vậy đang được GS tiếp tục vận dụng vào biên soạn bộ quốc sử mới gồm 25 tập với tư cách là một tổng chủ biên. Đã có những phản hồi tiêu cực về việc bổ sung những sự kiện lịch sử còn thiếu trong quốc sử, như cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới 1979, hay cách nhìn nhận mới về các chế độ xã hội khác nhau từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng GS vẫn kiên trì thuyết phục các đồng nghiệp để đảm bảo sự tôn trọng tuyệt đối với các sự kiện, không cắt xén, bàng quan và coi thường các sự kiện trong toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc.        Trong các buổi thảo luận về Thời đại Hùng vương ở Khoa Sử trước đây, GS Phan Huy Lê đã nêu nhận xét rằng các bộ chính sử của các triều đại trước thường không đưa thời đại các vua Hùng vào chính sử, mà chỉ để ở phần ngoại kỷ như một nguồn tham khảo bởi thiếu sử liệu chính thức. Các nhà nghiên cứu theo quan điểm dân tộc hẹp hòi muốn đẩy lịch sử dân tộc xa hơn. Tuy nhiên, GS Phan Huy Lê, trong khi thừa nhận các nguồn tư liệu khác như truyền thuyết dân gian, khảo cổ học, ngôn ngữ học, cổ nhân học như những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, song vẫn trung thành với quan điểm cho rằng không thấy những sử liệu ghi chép xác thực về thời đại Hùng vương. Cách nhận xét như vậy cho thấy khi viết sử, ông trung thành với sử liệu chứ không chạy theo lối tư duy cảm tính, chủ quan và áp đặt.  GS Phan Huy Lê đã nghiên cứu và cho xuất bản một số chuyên khảo về khởi nghĩa Lam Sơn chống lại sự đô hộ của Nhà Minh và phong trào nông dân Tây Sơn chống quân xâm lược Mãn Thanh, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh những năm chiến tranh, việc đề cao lòng yêu nước và ý chí quật cường dân tộc có tầm quan trọng to lớn dẫn dắt nhân dân đi vào cuộc kháng chiến giữ nước thần thánh. Nhưng ông cũng là người đòi sự công bằng trong cách nhìn nhận vai trò của các triều đại Hồ, Mạc và Nguyễn đối với lịch sử dân tộc. Ông chủ trương đề cao tư tưởng cải cách của triều đại Hồ Quý Ly, minh định lại vai trò của Nhà Mạc và cá nhân Thái tổ Mạc Đăng Dung trong lịch sử. Đặc biệt, hội thảo về nhà Nguyễn năm 2008 của Hội Sử học mà ông làm Chủ tịch đã thực sự làm một cuộc đột phá để nhìn sâu hơn, khách quan hơn vào các nhân vật và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc, đồng thời mở ra một bầu không khí học thuật cởi mở, cố gắng thoát khỏi những định kiến và các khung lý thuyết đậm chất ràng buộc chính trị dẫn đến những nhận xét thiếu công bằng. Ông cho rằng “nhận thức lịch sử là một quá trình tiến tới tiếp cận lịch sử một cách càng ngày càng khách quan, trung thực, gần với sự thật lịch sử nhất trong khả năng của các nhà sử học”4. Ông thẳng thừng phê phán những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức, máy móc trong việc vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế xã hội vào việc đánh giá tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam. Ông viết:  “Áp dụng lý thuyết hình thái kinh tế xã hội và đấu tranh giai cấp một cách giáo điều đã dẫn đến những hệ quả đưa ra những phân tích và đánh giá lịch sử thiếu khách quan, không phù hợp với thực tế lịch sử. Không riêng các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn mà những nhân vật lịch sử liên quan, và rộng ra cả vương triều Mạc trước đó, đều bị đánh giá theo quan điểm chưa được khách quan, công bằng như vậy.”5  Một sự kiện gần đây gây ồn ào giới truyền thông là việc GS Phan Huy Lê công khai viết bài và phát biểu trên nhiều kênh thông tin chính thức khẳng định một sự thật là nhân vật Lê Văn Tám không có thật. Đó chỉ là một tượng đài được tạo dựng và nhào nặn. Phản ứng lại thái độ này, đã có những quan điểm nghi ngờ động cơ đằng sau sự kiện. Tuy nhiên ông đã điềm tĩnh nhưng mạnh mẽ đáp lại:  “Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân tộc khi được xây dựng trên cơ sở khoa học, khách quan và chân thực”.6  Không chỉ là những quan điểm trong học thuật, GS Phan Huy Lê cũng là nhà sử học đã phản biện mạnh mẽ và nhiệt thành các dự án phát triển có nguy cơ làm tổn hại đến di sản văn hóa và lòng tự hào về lịch sử dân tộc. Còn nhớ hồi những năm 1970, trong khi nhiều lãnh đạo nhà nước lập kế hoạch và miệt mài “đi tìm điểm cao” để di chuyển thủ đô về Xuân Mai, GS Phan Huy Lê đã cùng với GS đồng nghiệp Trần Quốc Vượng, và nhiều nhà khoa học khác, đã thẳng thắn góp ý không nên di chuyển thủ đô. Ý kiến tâm huyết của các nhà sử học và kiến trúc có trách nhiệm xã hội đã được nhìn nhận, để hôm nay, ta còn có được một “thành phố sông hồ” với lớp lớp văn hóa ngàn năm của một thủ đô cổ kính, một thành phố hòa bình và tươi đẹp, niềm tự hào của một đất nước có lịch sử ngàn năm. Tinh thần phản biện và trách nhiệm xã hội của trí thức đã dẫn dắt GS Phan Huy Lê ngay từ đầu tham gia và sáng lập Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (2007-2009), cùng với các trí thức nổi danh khác như Hoàng Tụy (Chủ tịch Hội đồng Viện), Nguyễn Quang A (Viện trưởng), Phạm Chi Lan (Viện phó),  Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Tương Lai, Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương, Vũ Quốc Huy, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung, Phan Đình Diệu, Vũ Kim Hạnh, Phạm Duy Hiển, Huỳnh Sơn Phước. Viện IDS dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng tư tưởng độc lập, tư duy khoa học và tinh thần phản biện của nó vẫn mãi mãi được xem là một tượng đài cho lòng nhiệt huyết của các trí thức với đất nước, muốn mang tri thức của mình ra phục vụ xã hội và nhân dân. Họ đã ý thức được một cách rõ rệt, trí thức không chỉ là người lao động bằng trí óc, mà phải là người thức tỉnh dân tộc.  Nhìn vào đội ngũ các “hiền tài” đã mang tri thức giàu có của mình tận tâm phụng sự nhân dân và dân tộc, ta thấy trong số họ có GS Phan Huy Lê. Ông không chỉ dẫn dắt công cuộc nghiên cứu lịch sử dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua mà còn là người mở đường cho lớp lớp học trò đi theo con đường mà ông đã khai mở. Với nguồn tri thức sáng tạo vô tận và sức truyền cảm lay động lòng người của mình, ông xứng đáng là một nhà sử học lỗi lạc, một bậc thầy và một trí thức sống mãi trong lòng công chúng.    ———-  *PGS.TS Nguyễn Văn Chính, chủ nhiệm Bộ môn Nhân học phát triển, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV, vốn được GS Phan Huy Lê trực tiếp dìu dắt và là người đầu tiên sau chiến tranh được gửi sang ĐH Amsterdam, Hà Lan đào tạo tiến sỹ về KHXH. Trong những năm 1990 – 2004, TS Nguyễn Văn Chính là trợ lý khoa học-đối ngoại của GS Phan Huy Lê tại Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu và Giao lưu Quốc tế.  Chú thích:  1 Ý kiến của GS Ngô Bảo Châu, đăng trên Tuổi Trẻ, ngày 20/1/2012.  2 Ý kiến của GS Nguyễn Minh Thuyết, Kiến Thức, ngày 31/1/2012.  3 Paul Baran, 1961. ”The Commitment of the Intellectual”, In: Monthly Review, May 1961.  4 Phan Huy Lê:” Khách quan, trung thực, công bằng về triều Nguyễn”. Bài đăng trên Trí Thức, ngày 26/6/2018.  5 Phan Huy Lê, bài đăng trên Trí Thức, đã dẫn.  6 Phan Huy Lê, 2009. “Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám” in trong Tạp chí Xưa & Nay, số tháng 10 / 2009.    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang GS Phùng Hồ Hải: Trở về để thấy mình tự do và có ích      Dù có nhiều cơ hội được làm việc ở các nước  có môi trường nghiên cứu khoa học tiên tiến, hiện đại nhưng Phùng Hồ Hải  vẫn chọn con đường trở về Việt Nam. Anh nói, trở về Việt Nam để được  thấy tự tin hơn, có ích hơn, và tự do hơn…    Cậu học trò chuyên toán yêu sách  Con đường theo đuổi toán học của GS Phùng Hồ Hải được bắt đầu từ một kỳ thi học sinh giỏi cấp quận năm lớp 4. Tự nhận mình vốn học hành không xuất sắc gì lắm nên Phùng Hồ Hải ngạc nhiên khi được cô giáo chủ nhiệm cử đi thi cùng với một bạn học giỏi nhất lớp. “Cô giáo chủ nhiệm đã mất cách đây mấy năm. Có thể cô cũng không biết rằng quyết định của cô tạo ra bước ngoặt – một bước ngoặt có lẽ là lớn nhất đời tôi. Đến giờ tôi vẫn biết ơn cô vì điều này”, Phùng Hồ Hải tâm sự.     Kỳ thi học sinh giỏi quận năm đó Phùng Hồ Hải có giải, được Trường Trưng Nhị (Q.Hai Bà Trưng, Hà Nội) gửi giấy mời học bồi dưỡng 2 tháng. Hai tháng làm quen với toán, anh tự thấy đó là hai tháng đẹp nhất tuổi thơ anh, bởi được học với thầy Hậu, thầy Ánh – những nhà giáo biết gieo rắc vào tâm hồn trẻ thơ của anh tình yêu toán. Thế rồi anh đỗ được vào chuyên toán, dù chỉ là đỗ lớp B. “Nhớ ngày đầu tháng 9, vào lớp mà không tin là mình được vào lớp. Nhớ bài kiểm tra đầu tiên, được 9 điểm mà không tin là mình được 9. Thế mà đã 30 năm. Thêm 30 năm nữa thì xuôi tay được. Nếu được chọn lại, vẫn không chọn khác”, Phùng Hồ Hải hồi tưởng.  Nhưng đam mê đầu tiên trong cuộc đời Phùng Hồ Hải là sách. Anh mê sách trước khi mê toán, mê ngay từ khi biết đọc chữ. Kỷ niệm đầu tiên in sâu trong tâm trí tuổi thơ anh liên quan tới sách. “Tôi vẫn nhớ buổi chiều đó, tôi đứng bên gốc cây xà cừ trước dãy nhà 73 khu Bách khoa đọc quyển truyện tranh Bà Triệu. Nhớ cảm giác bần thần khi giở tới trang cuối có hình vẽ con voi một ngà của Bà Triệu lầm lũi đi vào rừng núi. Tôi ám ảnh bởi câu nói của bà: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông”. Có lẽ câu chuyện đó mang đến cho tôi bài học đầu tiên về việc chấp nhận thất bại”, Phùng Hồ Hải kể. Dẫu sau này bị tình yêu với toán chi phối, Phùng Hồ Hải vẫn mơ ước điều còn lại gắn bó với cuộc đời mình là sách. Chẳng hạn như sau này khi đã già không còn làm toán được nữa thì về quê mở một thư viện cho trẻ con xung quanh đến đọc.  Anh đặc biệt mê đọc sách lịch sử. Nếu như tình yêu với toán mà Phùng Hồ Hải có được là nhờ sự vun đắp của những người thầy thì tình yêu đối với kiến thức lịch sử của anh là cái tự nhiên mà có. Thậm chí giấc mơ đầu tiên của cậu bé Phùng Hồ Hải là sau này đi học “trường sử”, mặc dù bố mẹ anh đều là những nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Dạo đó, nhà anh ở khu KTX Mễ Trì, xung quanh có rất nhiều giảng viên khoa Sử Trường ĐH tổng hợp, nay là ĐH Quốc gia Hà Nội nên khi nghe anh nói vậy mọi người đều cười. “Lòng yêu nước của tôi được tạo nên bởi những câu chuyện trong cuốn Nghìn xưa văn hiến tập II, tập III và nhiều quyển truyện dã sử khác”, Phùng Hồ Hải cho biết.  Trở về để thấy mình tự do và có ích  Năm 1986, Phùng Hồ Hải là thành viên trong đội tuyển thi Olympic toán quốc tế của Việt Nam tại Ba Lan và anh đoạt huy chương đồng. Trong số 6 thành viên đội tuyển năm đó, chỉ duy nhất anh là người tiếp tục theo đuổi toán đến nay. Anh học toán ở ĐH tổng hợp Lomonosov (Nga) rồi làm nghiên cứu sinh ở ĐH tổng hợp Munich (Đức), bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1996 và sau đó thì trở về Việt Nam làm việc cho đến nay.  Thật ra năm 2003, Phùng Hồ Hải đã cùng gia đình sang sinh sống ở thành phố Essen của Đức. Sau khi được nhận giải thưởng Baedeker dành cho luận án tiến sĩ khoa học xuất sắc nhất của Trường ĐH Duisburg – Essen (Đức) năm 2005, anh được giữ lại giảng dạy tại trường. Sau đó anh tiếp tục đạt được một số thành tích khác như đạt giải thưởng Von Kaven của Quỹ DFG Đức năm 2006, học bổng Heisenberg (từ 2005 – 2010), vì thế nếu tiếp tục ở lại Đức, Phùng Hồ Hải sẽ có cơ hội được phong giáo sư. Bởi lẽ học bổng này là dành cho nhưng người đã đáp ứng các tiêu chí để trở thành giáo sư của Đức.  Nhưng sau 5 năm làm việc ở Đức, anh vẫn quyết định về Việt Nam để trở thành một cán bộ nghiên cứu và giảng dạy của Viện Toán. Phùng Hồ Hải chia sẻ: “Ở nước ngoài nỗi buồn nặng nề hơn nhiều so với khi ở Việt Nam. Có lẽ đó cũng là cảm giác chung của nhiều người xa xứ. Vì thế  mà tôi về để được thấy mình sống thoải mái hơn, tự tin hơn, và có ích hơn. Đặc biệt, tôi được sống trong cảm giác thấy mình rất tự do, tự do theo cái nghĩa tự mình làm chủ chính cuộc đời mình”. Theo Phùng Hồ Hải, nếu ở Đức anh sẽ không hết được mặc cảm của một người làm thuê xứ người, còn về Việt Nam anh cảm nhận rất rõ ý nghĩa của cuộc sống khi nhận thấy những gì anh đang làm chính là góp từng viên gạch xây ngôi nhà chung cho ngành toán trong nước. Đến giờ Phùng Hồ Hải vẫn thấy sự lựa chọn đó là đúng đắn, dẫu đời sống xã hội có nhiều điều làm anh thất vọng.  Phùng Hồ Hải được bổ nhiệm Phó viện trưởng Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam vào tháng 7 năm ngoái. Cũng năm ngoái (cuối năm), Phùng Hồ Hải được nhà nước công nhận chức danh Giáo sư diện đặc cách.      Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Pierre Darriulat, một nhân cách khoa học lớn, một tình bạn thắm thiết với Việt Nam      Một buổi sáng cách đây 13 năm, tôi nhận được e-mail của một người ký tên Pierre Darriulat – một cái tên lúc đó còn xa lạ đối với tôi. Cho rằng đó là một thư rác, tôi xoá đi. Ít hôm sau tôi lại nhận được e-mail đó một lần nữa, lần này đọc kỹ mới hay rằng đó là thư nghiêm túc của một nhà khoa học Pháp đang làm việc ở Hà Nội có nhiều ý kiến muốn trao đổi với tôi về giáo dục và khoa học. Tôi được may mắn quen biết và kết thân với GS Darriulat từ ngày ấy.      Về sau tôi được biết ông là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực hạt nhân và vật lý thiên văn, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ 1986, Giám đốc khoa học Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) trong khoảng 1987-1994. Sau khi nghỉ hưu cuối 1999, ông sang định cư ở Hà Nội cùng vợ người Việt, dành gần hết thời gian và công sức giúp đỡ xây dựng và phát triển vật lý thiên văn ở Việt Nam. Đặc biệt, với những thiết bị tự mua sắm bằng tiền túi hoặc tự tạo bằng nhiều cách, ông đã thành lập Phòng thí nghiệm tia vũ trụ Vietnam-Auger ở Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân Việt Nam, đặt ngay trên nóc nhà trụ sở của viện. Phòng thí nghiệm đặc sắc đó, với tên gọi VẬT LÝ, đã hoạt động hiệu quả trong nhiều năm như một thành viên của Dự án thí nghiệm quốc tế Pierre Auger săn tìm các tia vũ trụ năng lượng siêu cao. Đồng thời, trong khuôn khổ phòng thí nghiệm đó, ông đã tập hợp và đào tạo một nhóm các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực vật lý thiên văn, vật lý hạt nhân và hạt sơ cấp. Trong số các nhà khoa học trẻ được đào tạo và trưởng thành từ cái nôi này đã có năm tiến sĩ và chín thạc sĩ. Còn về kết quả nghiên cứu thì nhóm Phòng thí nghiệm VẬT LÝ, hợp tác với Đài thiên văn Pierre Auger, là đồng tác giả của nhiều bài báo quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu tia vũ trụ năng lượng siêu cao. Đặc biệt trong số đó có bài báo về phát hiện mối quan hệ giữa nguồn phát của các tia vũ trụ này với các tâm thiên hà hoạt động, đăng trên tạp chí Science, được bình chọn là một trong mười sự kiện vật lý của Hội Vật lý Mỹ năm 2007.   Năm 2008, GS Darriulat được trao giải thưởng danh giá André Lagarrigue, giải thưởng mang tên nhà bác học Pháp đã lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại CERN tìm ra hạt boson Z trung hoà vào năm 1973.   Cũng như nhiều nhà khoa học lớn, ông sống giản dị, khiêm tốn, say mê nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu, thương yêu chăm sóc tận tình các học trò của mình, đồng thời quan tâm thiết tha đến mọi mặt đời sống, nhất là về khoa học và giáo dục, ở đất nước mà ông đã gắn bó như một Tổ quốc thứ hai. Bác Pierre, như tên gọi thân thương mà các học trò của ông thường dành cho ông, là tấm gương sáng không riêng cho giới trí thức trẻ Việt Nam. Ngay cả những người trong giới khoa học đã thành danh cũng học tập được nhiều điều từ ông.  Đáng quý nhất là người thầy ấy không chỉ hết lòng chăm lo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho học trò (dạy chữ, như cách nói của nhiều người), mà còn thiết tha lo lắng đến cả tâm hồn, cuộc sống và nhân cách của họ (dạy người – một vấn đề lớn của giáo dục ta hiện nay). Những trí thức lớn có tâm huyết với đất nước, và những nhân vật được sự nể trọng rộng rãi của những người tử tế trong xã hội, thường được ông tìm cách mời đến nói chuyện, giao lưu thân mật với nhóm học trò của ông, để giúp họ, qua những tấm gương thực tế đó, hiểu được sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng, tăng ý thức tự rèn luyện thành những công dân có trách nhiệm, không bàng quan trước tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của đất nước, biết phẫn nộ trước những bất công trong xã hội, để nung nấu quyêt tâm phấn đấu cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn về mọi mặt vật chất cũng như tinh thần.  Là một cộng tác viên tích cực của Tạp chí Tia Sáng, GS Darriulat đã lên tiếng rất nhiều lần trên diễn đàn này để ủng hộ, cổ vũ cho những tư duy, quan điểm, thái độ đúng đắn về giáo dục, khoa học. Ông đặc biệt quan tâm đến những người trẻ, một mặt cổ vũ cho thế hệ trẻ được mạnh dạn giao phó trách nhiệm xứng đáng từ sớm, mặt khác luôn nhắc nhở họ “biết trọng trí tuệ hơn tiền bạc, quyền lực, và nhớ rằng sự giàu có của một đất nước chủ yếu là ở bàn tay và khối óc chứ không phải ở két sắt của các ngân hàng, là ở những sản phẩm làm ra hơn là những kỹ năng tiếp thị, rằng sự giàu có ấy chủ yếu nhờ những giọt mồ hôi của người lao động hơn là những quy định có khi ngớ ngẩn được đặt ra bởi những người, những cơ quan quản lý thiếu chuyên nghiệp”.  Một vấn đề quan trọng mà GS Darriulat thường nhắc tới khi giao lưu với thế hệ trẻ là đạo đức, văn hoá làm khoa học. Trung thực, thượng tôn sự thật, nghiêm túc và liêm khiết đến cùng là những đức tính cần thiết trong đời thường lại càng tuyệt đối cần thiết trong khoa học. Một nhà khoa học chân chính không bao giờ có thể nhân nhượng với thói gian trá, như đạo văn hay thậm chí chỉ là lập luận hồ đồ, không dựa trên những bằng chứng khoa học xác thực. Không thể vì nể nang bạn bè, mà lợi dụng vị trí của mình trong bộ máy nhà nước để bênh vực, thậm chí tiếp tay những việc làm sai trái, phản khoa học, càng không thể dung túng thói gian dối như những vụ đạo văn từng gây ra tai tiếng lớn cho giới khoa học Việt Nam một thời trên một số diễn đàn khoa học quốc tế. Trong các cuộc tranh luận về đạo đức khoa học, GS Darriulat bao giờ cùng đứng bên cạnh những nhà khoa học chân chính lên án mạnh mẽ những hành động gian dối, không ngại đụng chạm những đồng sự có vai vế bất cứ ở đâu, dù trong nước hay trên quốc tế. Như có lần ông đã lên tiếng trên diễn đàn quốc tế phê phán thẳng tay thái độ cẩu thả khoa học của một số nhà khoa học khí hậu khi đưa ra những phân tích thiếu căn cứ khoa học khách quan, tuy chỉ với mục đích tốt hưởng ứng cuộc vận động đối phó với hiện tượng biến đổi khí hậu đang ngày càng đe doạ trầm trọng cuộc sống trên hành tinh chúng ta.  Thật là may mắn cho cộng đồng khoa học, giáo dục Việt Nam có được một người bạn chân thành, tha thiết và trí tuệ như Pierre Darriulat.    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS Vũ Hà Văn: Môi trường làm việc có ý nghĩa rất lớn      GS Vũ Hà Văn về nước dự hội nghị toán học  tại Huế đúng dịp ở Berlin (Đức), một giải thưởng quốc tế uy tín về toán học  xướng tên anh – giải Fulkerson. Nói về công trình mang đến giải thưởng Fulkerson cho mình, GS Vũ Hà Văn chia sẻ:      Bài toán mà tôi tham gia giải quyết được gọi là giả thuyết Shamir, do nhà toán học Israel Shamir nêu ra năm 1983, tổng quát hoá một mệnh đề của hai nhà toán học Hungary Erdos và Renyi từ năm 1966 và là một vấn đề trung tâm của lý thuyết đồ thị ngẫu nhiên.      Rất nhiều nhà toán học trong lĩnh vực toán rời rạc đã tấn công bài toán Shamir nhưng kết quả đạt được vẫn còn tương đối xa giả thiết tối ưu.     Cách đây chừng 10 năm thì GS Johansson (Thụy Điển) viết một bài báo về một trường hợp con của giả thuyết Shamir. Nhưng bài đó không ai hiểu, và có một số vấn đề chưa đươc giải quyết thoả đáng nên chưa được công bố.      Tôi mất nhiều tháng giải mã công trình này, và có cảm giác ý tưởng chung, nếu được trình bày bằng một phương pháp khác chính xác hơn, thì những vấn đề trên có khả năng giải quyết được.      Cùng với GS Kahn (một trong những nhà toán học xuất sắc nhất trong lĩnh vực toán rời rạc), khi đó là đồng nghiệp cùng trường Rutgers, bước đầu chúng tôi thành công trong việc hoàn thiện kết quả của Johansson.      Sau đó chúng tôi nhận thấy phương pháp của mình có thể mở rộng ra trường hợp tổng quát của giả thuyết Shamir.      Mặt khác nhờ áp dụng một số kết quả mới trong lý thuyết xác suất, chúng tôi có thể chứng minh giả thuyết này ở dạng mạnh hơn và đồng thời giải quyết hai bài toán liên quan được đặt ra bởi Erdos và Alon-Yuster.     Sau khi hoàn thành công trình dưới dạng tổng quát nhất có thể, chúng tôi đề nghị GS Johansson đứng tên chung, với nhan đề “Factors in Random Graphs”. Công trình này được xuất bản năm 2008.     Sau công trình này tôi bắt tay vào nghiên cứu những đề tài khác. Bỗng tháng 6 vừa rồi tôi nhận được thư từ hội đồng xét tặng giải thưởng Fulkerson, thông báo bài của chúng tôi được đánh giá là một trong những công trình xuất sắc nhất những năm gần đây (tính từ 6 năm trước ngày nhận giải).     Thời điểm đó tôi không biết những công trình nào khác sẽ đoạt giải. Nhưng hôm qua khi cập nhật thông tin lễ trao giải tôi được biết thầy giáo cũ của tôi, GS Lovász, cũng được tặng giải này qua một công trình làm chung với một nhà toán học trẻ Hungary.      Trước đây đã bao giờ anh nghĩ sẽ nhận được giải này chưa? Khi nghe tin mình được giải, cảm xúc của anh thế nào?     Cách đây 15 năm, hồi đó còn là nghiên cứu sinh, tôi có làm việc với một giáo sư trẻ (chỉ hơn tôi 6,7 tuổi) người Hàn Quốc tên là Jeong Han Kim.      Khi nghe tin anh ấy được giải Fulkersson năm 1997, tôi thấy rất ngưỡng mộ và tự hỏi, mình rồi có bao giờ được như anh ấy không nhỉ? Khi biết mình được giải tôi cũng lâng lâng và tự cho mình thư giãn vài ngày.      Theo anh, nếu thay vì sang Mỹ, anh ở lại Hungary sau khi tốt nghiệp ĐH thì liệu có được giải thưởng Polya hay Fulkerson?     Môi trường nghiên cứu khoa học ở Hungary cũng tương đối tốt. Nhưng nếu so với Việt Nam hay Thái Lan chẳng hạn thì sẽ rất khác nhau. Môi trường làm việc có ý nghĩa rất lớn.      Trong trường hợp của chúng tôi, văn phòng GS Kahn và tôi cách nhau có mấy bước chân. Khi có chủ đề cả hai cùng ưa thích thì gần như tuần nào, thậm chí ngày nào chúng tôi cũng có thể trao đổi trực tiếp.     Sự thuận lợi đó khiến cho công việc được thúc đẩy nhanh hơn. Nếu phải đến một nước khác qua một hành trình mệt mỏi, rồi chờ đợi mới gặp được một đồng nghiệp cùng chí hướng thì năng suất chắc sẽ giảm đi nhiều.      Ở Mỹ, nếu gặp nhau, khi hỏi về nơi anh làm việc thì người ta thường hỏi anh làm việc với ai. Một lý do quan trọng để người ta quyết định làm chỗ này hay chỗ khác là vì được làm việc với những con người rất cụ thể.     Môi trường làm việc tốt chính là nơi mà anh có đồng nghiệp giỏi, cùng hướng nghiên cứu, cùng niềm say mê.      Việt Nam hay một số nước khác chưa có nhiều môi trường làm việc tốt không phải chỉ vì điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn mà còn là vì ta còn chưa có nhiều những nhà khoa học tầm cỡ.      Vậy cộng đồng toán học người Việt ở Mỹ thì sao, thưa anh?     Theo tôi, cộng đồng này ngày càng đông hơn. Thế hệ trước tôi có một vài người nổi tiếng. Thế hệ tôi có chừng 10 người, trong đó tất nhiên nổi bật nhất là GS Châu.      Thế hệ 30 tuổi khá đông, và tôi nghĩ trong số họ có nhiều người sẽ rất khá. Ví dụ một học trò làm tiến sĩ với tôi ở trường Rutgers là anh Nguyễn Hữu Hội. Anh Hội mới có bằng tiến sĩ hai năm nay nhưng bây giờ đã được nhận làm GS trợ giảng của trường Ohio State, Columbus (khoa toán ở đây nằm trong tốp 25 của Mỹ).     Bình thường làm xong tiến sĩ cũng phải sau chừng 4 năm mới có được vị trí đó. Hoặc mới đây có GS trẻ Nguyễn Hoài Minh mới ở Pháp sang cũng làm việc rất tốt. Mỗi năm tôi tính phải có chừng 4,5 em ở tầm tuổi này tốt nghiệp nhận bằng tiến sĩ và tiếp tục làm việc ở các trung tâm lớn.      Nghĩa là trong tương lai chúng ta sẽ tiếp tục được nhìn thấy nhiều người Việt nữa có mặt trong những giải quốc tế uy tín?      Tôi tin như vậy. Các bạn thế hệ trẻ hơn chúng tôi khoảng 10 tuổi được đào tạo tốt hơn thế hệ chúng tôi, và cũng rất nhiệt huyết, đầy lòng say mê. Chắc chắn họ sẽ tạo nên một đội ngũ đông và mạnh hơn chúng tôi.     Theo anh thì làm thế nào để họ sẽ là những nhân tố tác động ngược trở lại một cách tích cực vào môi trường nghiên cứu khoa học và đào tạo trong nước?     Từ trước đến nay, rất nhiều nhà khoa học về VN hàng năm và tham gia các hoạt động khoa học trong nước với tư cách cá nhân.      Tuy nhiên, nếu trong nước ngày càng chủ động tổ chức các hoạt động để lôi kéo các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài về tham gia cùng cộng đồng khoa học trong nước thì hiệu quả rõ ràng hơn. Việc thành lập Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán là một ví dụ.     Như ta đã biết, chất lượng trường ĐH phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của người thầy. Đáng tiếc, hiện chất lượng giáo viên toán nói riêng ở đại học Việt Nam còn khiêm tốn, nhiều trường phải dùng sinh viên mới tốt nghiệp vài năm để đứng lớp, rất ít giáo sư còn tham gia nghiên cứu một cách tích cực.     Vì vậy cả về kiến thức và phương pháp tiếp cận vấn đề khó được cập nhật. Việc tạo cơ hội cho giảng viên ĐH, nhất là các bạn trẻ được cọ xát với môi trường nghiên cứu quốc tế như ở Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán là một việc làm có ý nghĩa và có thể có ảnh hưởng lâu dài.     Được biết lễ trao giải diễn ra tại một hội nghị toán học tổ chức ở Đức từ 18 đến 24/8 nhưng đó cũng là lúc GS đã có mặt ở VN. Tại sao GS lại không dự lễ nhận giải?     Lễ trao giải được tổ chức rất trang trọng trong khuôn khổ cuộc khai mạc của đại hội toán tối ưu thế giới (tổ chức ba năm một lần) tại nhà hát lớn Berlin, và quả thật tôi cũng hơi tiếc là mình không có mặt tại đó.     Trong quãng thời gian đó, qua lời mời của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, tôi về tham dự phiên họp toàn thể hội nghị toán học phối hợp Việt-Pháp ở Huế từ 20 đến 24/8 vừa qua.     Đây là một hội nghị lớn của toán học VN và là dịp gặp gỡ nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào một con đường nhiều chông gai.      Sự có mặt của tôi ở đây có lẽ có chút ý nghĩa thiết thực hơn. Rất vui là thay vì lễ trao giải diễn ra ở Âu châu thì tôi được tham dự một cuộc giao lưu với các em học sinh yêu toán tại Huế, trong đó có rất nhiều em bé còn quàng khăn đỏ và mang vở dán nhãn gấu bông.      Cảm ơn GS Vũ Hà Văn.             GS Vũ Hà Văn sinh năm 1970, là con trai của  nhà thơ Vũ Quần Phương. Những năm gần đây Vũ Hà Văn nổi danh trong giới  làm toán VN bởi anh là một trong số rất ít tài năng toán học người Việt  được cộng đồng toán học quốc tế công nhận (thông qua các giải thưởng lớn  có uy tín).    Vũ Hà Văn vốn là cựu  học sinh chuyên toán của Hà Nội và học ĐH ở Hungary. Năm 1998 anh nhận  học vị tiến sĩ tại ĐH Yale. Từ đó đến nay anh từng làm việc tại nhiều ĐH  và viện nghiên cứu của Mỹ như IAS, Microsoft Research, ĐH UC Sandiego,  ĐH Rutgers.    Từ mùa thu năm 2011,  anh trở thành giáo sư của ĐH Yale. Năm 2008 anh được tặng giải Polya,  một giải thưởng lớn của Hội Toán học Công nghiệp và Ứng dụng Mỹ lập ra  từ năm 1969.    Từ năm 2011, anh là thành viên của Hội đồng Khoa học của Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM).                       Author                Quản trị        
__label__tiasang GS William Nordhaus và cuộc chiến hạn chế sự ích kỷ trong chống biến đổi khí hậu      Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu là cuộc chiến chống lại sự ích kỷ của con người. Một nhiệm vụ dường như bất khả thi khi, như nhà văn García Márquez ẩn dụ, nhân loại cứ mãi “trăm năm cô đơn” trong cái tôi to lớn của chính mình, hay nhà sinh học Richard Dawkins chứng minh gene vị kỷ của con người là thiết yếu cho quá trình tiến hóa.      GS. William Nordhaus giảng bài cho sinh viên tại ĐH Yale. Ảnh: Yale news.  Tuần lễ đầu tháng 10 năm nay chứng kiến 2 sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc chiến tuyệt vọng đó. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) xuất bản 1 báo cáo chấn động, cảnh báo tác động của biến đổi khí hậu sẽ đến nhanh hơn với mức độ khốc liệt hơn, hơn tất cả tính toán trước đây. Gần như cùng lúc, Ủy ban Nobel quyết định trao một nửa giải thưởng kinh tế năm nay cho giáo sư Đại học Yale William Nordhaus, người khai phá hướng nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu. Sẽ rất xứng đáng trao giải thưởng danh giá nhất cho những ai mở đường giúp con người thoát khỏi điểm yếu tiền kiếp của mình, điểm yếu mang tên vị kỷ, và sản phẩm của nó – biến đổi khí hậu.  Biến đổi khí hậu được các nhà khoa học của IPCC chứng minh có nguyên nhân chủ yếu từ hoạt động của con người. Các hoạt động kinh tế của con người thải ra khí nhà kinh, gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu, làm tan băng ở hai cực của Trái đất và đưa nước biển dâng lên. Nhiệt độ tăng toàn cầu còn làm thay đổi lượng mưa, dịch chuyển mùa và thay đổi tần suất và cường độ bão. Tất cả sự thay đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế và đời sống con người, từ giảm sản lượng nông nghiệp, mất đất canh tác, gia tăng bệnh dịch, gia tăng thiên tai, hay biến đổi hệ sinh thái.  Có thể giảm hoạt động kinh tế của con người hay đầu tư vào các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính để giảm sự nóng lên toàn cầu? Câu trả lời là hoàn toàn có thể. Và “có thể” ở đây mới chỉ là về mặt lý thuyết. Rất khó và dường như không thể trên thực tế. Tại sao? Vì khi một nhà máy nào đó giảm hoạt động hay đầu tư công nghệ giảm phát thải, nhà máy đó gánh chịu chi phí. Lợi ích đem lại từ khoản chi phí này chính là ít khí nhà kính hơn, nhiệt độ giảm đi, toàn cầu bớt nóng lên, và toàn nhân loại được hưởng lợi. Có cá nhân hay quốc gia nào tự nguyện hy sinh chịu chi phí, mà chi phí giảm phát thải thường không hề nhỏ, để cho mọi người trên thế giới hưởng lợi và biết rằng các cá nhân hay quốc gia khác có thể không bỏ ra khoản chi phí nào cả mà vẫn hưởng lợi từ một khí hậu toàn cầu hạ nhiệt hơn? Không, không và không. Sự vị kỷ, không muốn hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích chung của mọi người, là nhân tố chính làm cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu trở nên cực kỳ khó khăn. Nếu không có cơ chế nào giúp con người vượt qua sự vị kỷ của chính mình, cuộc chiến chống biến đổi khí hậu sẽ mãi bế tắc.  Giáo sư Nordhaus đã đề xuất một cơ chế buộc nhà sản xuất phải giảm phát thải khí nhà kính – nghĩa là giảm sự tham lam và vô trách nhiệm của mình. Cơ chế đó có tên là thuế carbon. Thuế các bon là loại thuế hoặc đánh trên lượng carbon phát thải hoặc trên hàm lượng carbon trong nhiên liệu sử dụng trong quá trình sản xuất. Nếu không có thuế này, nhà sản xuất thải ra lượng carbon gây hiệu ứng nhà kính, gây thiệt hại cho mọi người mà không phải trả bất cứ chi phí nào, không phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Vì phát thải là miễn phí, họ sẽ có xu hướng thải càng nhiều càng tốt để tối đa hóa lợi nhuận. Thuế carbon yêu cầu người phát thải trả chi phí cho hành động đó, do đó là cách đưa chi phí thiệt hại vào trong chi phí sản xuất. Hay nói cách khác, thuế carbon áp đặt trách nhiệm đối với xã hội lên hoạt động của nhà sản xuất.  Từ những năm 1970, Giáo sư Nordhaus và các nhà kinh tế môi trường khác đã đưa ra nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại môi trường và sức khỏe do họ gây ra. Chính phủ cần buộc người gây ô nhiễm phải trả tiền, bằng cách nội hóa chi phí thiệt hại vào chi phí sản xuất. Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền là nền tảng phát triển các công cụ kinh tế quản lý ô nhiễm môi trường. Có hai nhóm công cụ kinh tế được phát triển và áp dụng trên thế giới: nhóm công cụ dựa vào cơ chế kiểm soát lượng ô nhiễm và nhóm công cụ dựa vào cơ chế kiểm soát giá. Công cụ kiểm soát lượng ô nhiễm như giấy phép phát thải CO2 sẽ cố định lượng phát thải mục tiêu, chuyển lượng phát thải này thành giấy phép phát thải và cho phép thị trường tự định giá giấy phép. Nhà máy có công nghệ giảm phát thải CO2 với chi phí thấp sẽ có xu hướng đầu tư vào công nghệ này và bán giấy phép phát thải cho những nhà máy có công nghệ chi phí cao. Công cụ kiểm soát giá, hay thuế carbon, sẽ cố định giá carbon và để cho các nhà máy tự quyết định lượng phát thải. Nhà máy thải càng nhiều thì phải trả thuế carbon càng nhiều, do đó sẽ suy tính đầu tư vào công nghệ giảm phát thải, nếu chi phí cho công nghệ rẻ hơn tiền thuế.  Giáo sư Nordhaus là người nhiệt thành cổ vũ việc áp dụng thuế carbon. Trong bài báo đăng trên tạp chí Review of Environmental Economics and Policy số 1 năm 2007, ông đưa ra nhiều lý lẽ và cơ sở khoa học ủng hộ việc áp dụng thuế carbon để làm chậm lại quá trình nóng lên toàn cầu 1. Điểm thú vị là Nghị định thư Kyoto năm 1997, với sự đồng thuận của 192 quốc gia, đặt trong tâm giảm phát thải bằng cách sử dụng cơ chế kiểm soát lượng chứ không phải cơ chế giá. Các thị trường mua bán giấy phép phát thải đã được thiết lập và vận hành. Giáo sư Nordhaus lại nghĩ khác. Ông đề nghị sử dụng công cụ kiểm soát phát thải khí nhà kính gọi là ‘Thuế carbon hài hòa quốc tế’ (Internationally harmonized carbon tax). Thực chất đây sẽ là một công cụ thuế carbon cho toàn cầu và được áp dụng linh hoạt cho từng quốc gia. Giáo sư Nordhaus cho rằng thuế carbon toàn cầu sẽ hiệu quả hơn về mặt kinh tế, đáp ứng tốt hơn trong những điều kiện không chắc chắn và giúp hạn chế tham nhũng hay lừa đảo tài chính, những vấn đề có thể xảy ra với thị trường mua bán giấy phép phát thải.  Câu hỏi lớn liên quan đến thuế carbon là mức thuế bao nhiêu thì tối ưu để giảm phát thải khí nhà kính. Giáo sư Nordhaus đã có câu trả lời tuyệt vời vào năm 1992: mô hình DICE (Dynamic Integrated Climate Economy – Mô hình Kinh tế khí hậu tích hợp động). Mô hình này cho phép tính toán tác động kinh tế của biến đổi khí hậu. Chẳng hạn khi nhiệt độ toàn cầu tăng 0.50C thì chi phí thiệt hại mùa màng, sức khỏe sẽ là bao nhiêu. DICE sẽ giúp tính toán chi phí xã hội, nghĩa là chi phí của tất cả các thiệt hại cho mọi đối tượng, của 1 tấn carbon thải ra môi trường. Mức thuế carbon tối ưu cho một tấn carbon phát thải sẽ là mức thuế bằng với chi phí xã hội mà nó gây ra. Mô hình này đã được các tổ chức quốc tế hay cơ quan quản lý môi trường quốc gia sử dụng khá rộng rãi. Phần tính toán tác động kinh tế trong các báo báo về biến đổi khí hậu của IPCC dựa vào mô hình DICE. Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (Environmental Protection Agency) sử dụng DICE để tính toán chi phí xã hội của carbon.  Giáo sư Nordhaus đã rất thành công khi thuyết phục được giới nghiên cứu về ưu điểm của thuế carbon toàn cầu và các tổ chức quốc tế sử dụng mô hình DICE của mình trong tính toán các kịch bản biến đổi khí hậu. Tuy nhiên ông lại đang loay hoay chưa thấy đường ra trong việc thuyết phục chính quyền các nước và ở chính nước mình áp dụng thuế các bon toàn cầu. Ngay sau khi nhận được thông tin thắng giải Nobel, ông nói thế này: “Chính sách hiện nay ở rất, rất xa  – hàng dặm – sau bằng chứng khoa học” và “Khó mà lạc quan. Hoa Kỳ chúng ta thật sự thụt lùi với các chính sách tai hại của chính quyền Trump”2.  Quả thực gene vị kỷ được phản ánh nổi bật trong khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết”, trong việc rút ra khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu của Tổng thống Trump. Khi một quốc gia hàng đầu đặt lợi ích cá nhân của mình lên trên lợi ích chung toàn cầu, muốn cắt giảm chi phí môi trường để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, muốn hưởng miễn phí lợi ích giảm biến đổi khí hậu từ nỗ lực của các quốc gia khác, thì ước mơ về một cơ chế hợp tác toàn cầu như công cụ thuế carbon vẫn còn xa vời vợi.    Nordhaus đã 77 tuổi. Ông có còn thời gian để chứng kiến một kết cục đẹp của cuộc chiến vĩ đại với kẻ thù toàn cầu đang đối mặt – biến đổi khí hậu? Con quái vật biến đổi khí hậu lại được sự hậu thuẫn vô hình bởi sự vị kỷ của chính nạn nhân của nó. Giáo sư Nordhaus đã trao cho nhân loại mũi giáo sắc bén, mũi giáo mang tên thuế carbon. Sử dụng được mũi giáo để ghìm cương và chiến thắng quái vật biến đổi khí hậu cần sự hợp lực của mọi người, mọi quốc gia. Hợp tác toàn cầu là cái mà chúng ta cần và đang đi tìm.  Tài liệu tham khảo  [1] Nordhaus, W. (2007) To Tax or not to Tax: Alternative Approaches to Slowing Global Warming, Review of Environmental Economics and Policy, V1(1): 26-44.  [2] The New York Times “2018 Nobel in Economics is Awarded to William Nordhaus and Paul Romer”. 8 October 2018.  Ngày 8/10 vừa qua, Viện Hàn lâm Khoa học hoàng gia Thụy Điển đã trao giải Nobel Kinh tế 2018 cho hai nhà khoa học William D. Nordhaus (ĐH Yale) và Paul M. Romer (Trường Kinh doanh Stern, ĐH New York) vì đã “tích hợp biến đổi khí hậu và đổi mới công nghệ vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn.” Hai nhà kinh tế học đoạt giải năm nay đã mở rộng đáng kể phạm vi phân tích kinh tế bằng cách xây dựng các mô hình giải thích cách nền kinh tế thị trường tương tác với tự nhiên và vai trò của tri thức, sáng tạo đối với tăng trưởng kinh tế. Là cha đẻ của nghiên cứu về kinh tế biến đổi khí hậu, Nordhaus (ĐH Yale ở New Haven, Connecticut) bắt đầu nghiên cứu các vấn đề môi trường từ đầu những năm 1970 nhằm tính toán chi phí thiệt hại kinh tế của hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đến đầu những năm 1990, ông là người đầu tiên tạo ra một mô hình đánh giá định lượng sự tương tác giữa nền kinh tế và khí hậu, tích hợp cả các lý thuyết và kết quả thực nghiệm từ vật lý, hóa học và kinh tế. Hiện nay, các mô hình này đang được sử dụng rộng rãi để cân nhắc các chi phí và lợi ích của việc can thiệp giảm phát thải khí nhà kính (ví dụ như thuế carbon) so với việc không hành động.       Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang GS.Đỗ Đức Thái: Toán học thật đẹp và quyến rũ      Năm 1996 được Nhà nước phong hàm PGS khi mới 35 tuổi, bảy năm sau tiếp tục được phong hàm GS, tính về tuổi đời, anh là một trong những giáo sư trẻ nhất hiện nay. Khiêm nhường, đôn hậu nhưng quả quyết và chắc chắn, đó là những cảm nhận khi lần đầu tiếp xúc với anh, GS. Đỗ Đức Thái-Phó Chủ nhiệm Khoa Toán, ĐHSP Hà Nội.    Muốn thành công phải nỗ lực không ngừng  Thoạt đầu, nhiều người không thể hình dung được tại sao một người ở độ tuổi mà theo định kiến chung là còn rất trẻ như anh mà đã có thể trở thành một “vị” giáo sư toán học có tiếng ở một trường đại học lớn. Khi đã tiếp xúc và hiểu anh rồi thì đây không còn là “chuyện lạ” gì nữa. Anh tâm sự, “Muốn thành công thì phải nỗ lực không ngừng”.  Ngay từ nhỏ Đỗ Đức Thái đã kịp “bén duyên” với toán và liên tục là học sinh xuất sắc của các trường chuyên. Năm 1975, chàng trai xứ Hà Thành này được nhận vào học tại khối chuyên toán của ĐHSP Hà Nội. Đó là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời anh, “cái duyên” hướng anh vào “nghiệp” toán. Và bắt đầu từ đó, như anh  vẫn thường nói, “toán đã ngấm vào máu thịt của mình”. Đến năm 1978, được chọn là một trong 8 người tham gia đội tuyển Olympic Toán quốc tế tại Rumani, anh đã vinh dự mang về cho Đất nước tấm huy chương đồng. Nhưng dường như, song hành với những thành công rạng ngời lại đan xen những “rủi ro”, mà nếu không có nó, ngày nay biết đâu anh đã trở thành một “vị giáo sư” ở một trường đại học ở nước ngoài như bao bạn học của anh cùng tham gia đội tuyển đợt đó? Nhưng cũng có thể đó là “cái may”, bởi vì thế mà Đỗ Đức Thái tiếp tục được “tôi luyện” trong cái nôi ĐHSP.  Chỉ mất có vỏn vẹn hai năm hoàn thành chương trình đại học, ra trường, với thành tích học tập xuất sắc, Đỗ Đức Thái được giữ lại trường làm giảng viên. Cánh cửa lớn đã mở để anh tiếp tục dấn thân vào cái “nghiệp” của gia đình mà ở đó các anh chị em đều làm toán. Đến năm 1982, anh bắt đầu làm nghiên cứu sinh về hình học vi phân dưới sự hướng dẫn của GS.Đoàn Quỳnh. Trong quá trình làm đề tài đã xuất hiện những bài toán mới. Và từ đây, anh đã được GS.Nguyễn Văn Khuê dìu dắt và tận tình giúp đỡ. Số phận đã ưu ái khi năm 1992, trong thời gian làm thực tập sinh ở Liên Xô (cũ), anh có cơ hội được học hỏi dưới sự chỉ bảo của GS.M.Zaidenberg. Nhưng cuộc đời không mỉm cười. Đến thời điểm gần hoàn thành xong luận án phó tiến sỹ thì Liên Xô xảy ra những biến động chính trị. Phân viện toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô không thể bao cấp kinh phí được nữa. Có được 2000 USD trang trải cho việc tổ chức Hội đồng chấm luận án đối với anh là “bất khả thi”. Vì vậy, chỉ còn cách trở về bảo vệ trong nước. Sau khi bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ, đến năm 1995, anh tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại ĐHSP Hà Nội. Nhìn lại những khó khăn gặp phải, anh thầm cảm ơn GS.Nguyễn Văn Khuê và GS. M.Zaidenberg. Có lẽ thế cho nên anh thường bông đùa với đồng nghiệp đang làm việc ở nước ngoài rằng, “mình là sản phẩm giáo dục hoàn toàn “made in” Việt Nam”.  Tính đến nay, Đỗ Đức Thái đã có 26 năm tuổi nghề.  Nếu đem so sánh với tuổi đời thì đó quả là con số quá lớn. Lấy toán học làm niềm say mê, cặm cụi lao vào nghiên cứu, anh đã có khoảng 30 bài báo công bố trên những tạp chí toán học quốc tế. Nếu tính trung bình, mỗi năm GS. Đỗ Đức Thái cho “ra lò” khoảng 2 bài. Anh cho biết, “Đôi khi gặp những bài toán khó, để tìm ra lời giải cuối cùng thì mất khoảng 1 năm, thậm chí phải vài năm”. Anh đã đi sâu nghiên cứu và đạt được những kết quả xuất sắc trong lĩnh vực hình học của những không gian phức hypecbolic cũng như lý thuyết phân bố giá trị và xấp xỉ Diophantine.  Ngoài công việc nghiên cứu, GS. Đỗ Đức Thái còn tham gia giảng dạy, đào tạo nghiên cứu sinh ở trong và ngoài nước. Hiện anh là giáo sư thỉnh giảng của một số trường đại học ở Pháp, Nhật, Đức. Chính điều này đã tạo cơ hội giúp anh không ngừng nâng cao chuyên môn, đạt tới những chuẩn mực cuă khoa học thế và từ đó dần áp dụng  vào điều chỉnh đào tạo nghiên cứu sinh trong nước. Những thành công mà vị giáo sư này có được là kết quả của những nỗ lực, niềm say mê và phấn đấu không mệt mỏi. Anh tâm sự, “Toán học thật đẹp và quyến rũ. Và vì vậy, tôi luôn cảm thấy cần phải học và nỗ lực làm toán không ngừng”.  “Tôi lo lắng sẽ không còn nhiều bạn trẻ làm toán”                   Khi một nền kinh tế chuyển đổi từ  cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường thì những ngành khoa học cơ bản lý thuyết nói chung, trong đó có toán, vốn “sống” và phát triển được nhờ vào đầu tư và bao cấp của Nhà nước sẽ bị tác động đầu tiên, tác động một cách khốc liệt, và “sụt giảm” rõ rệt. Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Cái mà những ngành khoa học này làm ra và đóng góp cho xã hội là rất lớn nhưng lại “vô hình”, không thể đo được bằng đồng tiền cụ thể. GS. Đỗ Đức Thái nhận định, “Nền toán học của ta đang ở vị trí rất thấp và còn rất xa mới có thể so sánh với những nước có nền toán học phát triển…”. Nhưng anh cũng tin rằng, “Việt Nam có đủ những sinh viên toán ưu tú nhất”. Do nhiều nguyên nhân mà những cô cậu sinh viên này không tiếp tục chọn toán như là một nghề nghiệp. Nhiều lúc, anh cảm thấy chạnh lòng khi thấy những học sinh giỏi đều “bỏ” toán mà lao vào những ngành như kinh tế, ngoại thương hay ngoại giao.  Trong vị trí một người thầy và gánh vác trách nhiệm của người quản lý, GS.Đỗ Đức Thái không khỏi lo lắng cho thế hệ làm toán kế cận. Anh cho biết, “Khi thế hệ những người làm toán đi trước nhìn lại, họ sẽ thấy một sự hụt hẫng lớn đối với thế hệ làm toán kế sau”. “Chỉ cần 10 năm nữa, khi các thế hệ làm toán cha chú dần vắng bóng, nếu không tập trung đào tạo gấp rút lực lượng trẻ làm toán kế cận thì ngành toán học sẽ bị “hẫng” lớn”, anh tiếp lời. Theo anh, Nhà nước phải có một đầu tư tốt hơn, thực sự là bao cấp, cho những em sinh viên trẻ, giỏi trong lĩnh vực toán vì phần lớn những em theo học toán đều là con nhà nghèo. Cũng chính từ nỗi băn khoăn trước cuộc khủng hoảng đội ngũ mà nhà khoa học này đã dành nhiều thời gian, dồn hết tâm huyết để đào tạo những nghiên cứu sinh về toán. Đến bây giờ, đã có 9 tiến sỹ được “ra lò” dưới sự hướng dẫn của anh. Đây là một con số “đáng nể” đối với một nhà khoa học còn “trẻ”. Nhiều học trò của “ông giáo sư” này hiện đã thành danh ở nước ngoài và cũng có người đã trở thành TSKH.  Khi được hỏi về tương lai phát triển toán học ở Việt Nam. Thoáng chút suy tư, anh bộc bạch, “Để thúc đẩy nền toán học nước nhà đi lên thì cần phải có một chính sách trên tầm quốc gia. Và như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nói, “cần phải có một chương trình mục tiêu”. Rồi anh tiếp, “Chính sách mục tiêu như vậy phải giải quyết hai nhiệm vụ: Tạo điều kiện để những nhà toán học Việt Nam đã thành danh hiện nay làm việc được tốt hơn; Đào tạo ra một lớp các nhà toán học trẻ, càng nhiều càng tốt, tiệm cận đến trình độ quốc tế”. Theo anh, để thực hiện được nhiệm vụ thứ nhất thì phải thực hiện được 3 việc: Phải tạo điều kiện vật chất thuận lợi để nhà khoa học có thể yên tâm làm việc, trong đó điều quan trọng nhất là phải đảm bảo mức lương đủ sống; Tạo điều kiện về hợp tác và giao lưu quốc tế; Phải có quỹ tài trợ khoa học thường xuyên.    GS.Đỗ Đức Thái thỉnh giảng ở Đại học Tổng hợp Zurich, Thụy Sỹ.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang GS.Lê Văn Thiêm – những điều mới biết      Giáo sư Lê Văn Thiêm sinh ngày 25/3/1918 tại làng Lạc Thiện, xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình trí thức. Năm 1949, đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, ông đã từ châu Âu về Việt Nam qua đường Thái Lan. Sau đó ông đi bộ từ Nam Bộ ra Việt Bắc, tham gia xây dựng trường đại học đầu tiên ở chiến khu. Cùng các trí thức khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa,… ông đã xây dựng nền móng cho khoa học Việt Nam. Với sự trợ giúp của GS Hoàng Tụy ông đã góp phần đưa nền Toán học Việt Nam trong thời kỳ 1960-1980 lên một vị trí cao trong khu vực, được cả thế giới biết đến. Tới nay cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trở thành một phần của lịch sử phát triển Toán học Việt Nam hiện đại.  Tiếc rằng những hiểu biết về cuộc đời của ông vì nhiều lý do khách quan và chủ quan còn chưa đầy đủ, như ông có bảo vệ luận án tiến sỹ ở Đức năm nào? và có phải là tiến sĩ toán học đầu tiên của Việt Nam? Ông có là học trò của Nevanlinna? Ông có nhận vị trí giảng viên tại Đại học Tổng hợp (ĐHTH) Zürich năm 1949 hay không?… đều chưa có câu trả lời.      Wikipedia bản tiếng Anh viết: Năm 1939, sau khi kết thúc kỳ thi tốt nghiệp một cách xuất sắc, Lê Văn Thiêm được học bổng sang học tại Trường École Normale Supérieure tại Paris. Việc học tập của ông bị gián đoạn bởi sự bùng nổ Thế chiến II, và chỉ được tiếp tục năm 1941. Ông tốt nghiệp bằng Thạc sỹ Toán học trong vòng 1 năm, trong khi khóa học thông thường kéo dài 3 năm. Dưới sự hướng dẫn của GS Georges Valiron ông bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ tại Đức năm 1945 và sau đó quay lại ĐHTH Zurich để làm việc với tư cách Giáo sư Toán học. Ở đó ông gặp và làm việc với Rolf Nevanlinna một vài năm.    Wikipedia tiếng Việt về Lê Văn Thiêm viết: Ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học ở Đức năm 1944 về giải tích phức, Luận án Tiến sĩ Quốc gia ở Pháp năm 1948 và cũng là người Việt Nam đầu tiên được mời làm giáo sư toán học và cơ học tại Đại học Tổng hợp Zurich, Thụy Sĩ vào năm 1949.  Lời giới thiệu cuốn sách Các công trình tiêu biểu (Hà Huy Khoái  sưu tầm và tuyển chọn), viết: Năm 1941 Lê Văn Thiêm thi đỗ vào trường École Normale Supérieure… Tốt nghiệp École Normale Supérieure… Lê Văn Thiêm tiếp tục làm luận án tiến sỹ tại Thụy Sĩ rồi luận án tiến sỹ quốc gia tại Pháp. Ông đã từng học với những người thầy giỏi nhất thời đấy như Nevanlinna, Teichmüller, Valiron… Nhờ những kết quả xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, năm 1949 Lê Văn Thiêm nhận được một ghế giáo sư tại trường ĐHTH Zürich, Thụy Sĩ.          Bằng Tiến sỹ (trao cho Lê Văn Thiêm từ Lac Thien, Annam          Ta thấy có một số mâu thuẫn trong các thông tin ở trên. Kết hợp các thông tin này chúng ta chỉ có thể đoán rằng Lê Văn Thiêm đã bảo vệ luận án Tiến sỹ tại Đức năm 1944-1945. Tuy nhiên cũng không có các bằng chứng xác thực những điều này. Một số câu hỏi được nhiều người quan tâm từ lâu như: Tại sao ông lại sang Đức?, Ông có bảo vệ luận án tiến sỹ ở Đức hay không?,  Ông có phải là học trò của Nevanlinna hay không?… đều chưa có câu trả lời.  Tháng 12/2008 một hội nghị quốc tế về Hình học phức đã được tổ chức tại trường ĐHSP Hà Nội. Tại hội nghị đã có nhiều nhà giải tích và hình học phức nước ngoài tham dự, trong đó có hai Giáo sư H. Esnault và E. Viehweg đến từ ĐHTH Essen, Đức. Khi làm việc với Viện Toán học, họ rất ngạc nhiên và ấn tượng về cuộc đời và sự nghiệp của GS Lê Văn Thiêm.  Sau khi trở về Đức, hai giáo sư Esnault và Viehweg đã sử dụng mọi quan hệ cá nhân cũng như uy tín của mình để tìm hiểu về GS Lê Văn Thiêm trong thời gian tại Đức. Sau nhiều cố gắng liên hệ với thư viện một số trường đại học của Đức, ngày 23/1/2009 họ đã nhận được Email của TS. U. Hunger từ phòng lưu trữ ĐHTH Göttingen với nội dung sau: Tôi có thể chứng thực rằng Thiem Le Van (hoặc Le Van Thiem) đã bảo vệ luận án Tiến sỹ ở đây (hồ sơ bảo vệ số Math.Nat.Prom. 0728). Tên của luận án là “Về việc xác định kiểu của một diện Riemann mở đơn liên”. Các môn thi nghiên cứu sinh (cùng với tên người chấm thi vấn đáp) bao gồm: Giải tích (Wittich), Đại số (Herglotz), Toán ứng dụng (Kaluza) và Vật lý thực nghiệm (Kopfermann). Phản biện chính của luận án, và cũng là thầy hướng dẫn, là Hans Wittich. Buổi bảo vệ được tổ chức vào ngày 4.4.1945, bằng Tiến sỹ được trao vào ngày 8.4.1946. Điểm đánh giá trung bình: giỏi.          ĐHTH Göttingen nơi Lê Văn Thiêm bảo vệ Luận văn Tiến sĩ          Ngay khi nhận được thông báo từ GS Esnault, chúng tôi đã liên hệ trực tiếp với TS. Hunger để xin bản copy các tư liệu về GS Lê Văn Thiêm. Ông Hunger yêu cầu chúng tôi phải có giấy cho phép đọc tài liệu của GS Lê Văn Thiêm. Rất may là ông Hunger đã chấp nhận thông tin từ Wikipedia tiếng Anh về việc GS Lê Văn Thiêm đã qua đời được hơn 10 năm là thời gian tối thiểu sau đó người lạ có quyền tiếp cận tư liệu. Nhờ các GS Esnault và GS Viehweg đóng lệ phí hộ, chúng tôi đã nhận được tất cả các tài liệu liên quan tới việc bảo vệ của GS Lê Văn Thiêm bao gồm:  – Toàn văn luận án tiến sỹ  – Đơn xin bảo vệ luận án tiến sỹ (ký ngày 29.3.1945)  – Lý lịch tóm tắt (viết tay, ký ngày 24.3.1945)  – Đơn xin tiến hành kỳ thi Tiến sỹ (ký ngày 29.3.1945)   – Nhận xét phản biện (của H. Wittich, ký ngày 31.3.1945)  – Biên bản buổi bảo vệ (bao gồm cả kỳ thi vấn đáp ghi ngày 4.4.1945)  – Bản thống kê các tài liệu liên quan tới việc bảo vệ (ghi ngày cấp bằng là 8.4.1946)  – Bằng Tiến sỹ (trao cho Lê Văn Thiêm từ Lac Thien/Annam.  Khi nhìn thấy bằng tiến sĩ trong đó ghi trao cho Lê Văn Thiêm từ Lac Thien/Annam, trái tim chúng tôi như nghẹn lại. Tên nước Việt Nam lúc đó chưa có và đất nước chúng ta chỉ được thế giới biết đến là 3 miền thuộc địa Tonkin (Bắc bộ), Annam (Trung bộ) và Cochinchina (Nam bộ) của Pháp.  Bản Lý lịch tóm tắt của Lê Văn Thiêm cho chúng ta biết ông đã học các môn Phép tính vi phân và Phương trình vi phân, Vật lý thực nghiệm, Cơ học, Lý thuyết hàm, Giải tích cao cấp và tốt nghiệp Thạc sỹ năm 1943 tại Paris. Sau đó ông đã sang làm luận án Tiến sỹ tại ĐHTH Göttingen với học bổng của Quỹ Alexander von Humboldt. Bản thống kê các tài liệu liên quan tới việc bảo vệ cho chúng ta biết Lê Văn Thiêm đã học 8 học kỳ ở Đại học Paris và 2 học kỳ ở ĐHTH Göttingen. Như vậy có thể nói rằng những câu hỏi về GS Lê Văn Thiêm trong thời gian 1939-1945 đã cơ bản được trả lời. Từ những tài liệu trên chúng ta có thể đưa ra một số kết luận về GS Lê Văn Thiêm trong khoảng thời gian đó như sau.  Lê Văn Thiêm sang Đức năm 1943 ngay sau khi tốt nghiệp thạc sỹ và có lẽ không làm việc hay học tập ở Thụy Sỹ như ta thường nghĩ trước đây. Ông được Quỹ Humboldt (quỹ nghiên cứu khoa học danh tiếng nhất của Đức trước kia cũng như hiện nay) tài trợ và có lẽ là người Việt Nam đầu tiên được học bổng của quỹ này. Trong cơ sở dữ liệu của Quỹ Humboldt thì người Việt Nam đầu tiên được Quỹ tài trợ trong những năm 1950. Chúng tôi đã liên lạc với Quỹ Humboldt để hỏi thông tin về Lê Văn Thiêm tuy nhiên Quỹ không tìm thấy tài liệu nào cả, có lẽ do Quỹ ngừng hoạt động trong thời gian 1945-1953.   GS Lê Văn Thiêm nhận bằng tiến sỹ tại ĐHTH Göttingen, nơi được coi là trung tâm toán học thế giới trước Đại chiến Thế giới lần thứ II. Nhiều nhà toán học hàng đầu thế giới như F. Gauss, G. Dirichlet, R. Dedekind, B. Riemann, F. Klein, D. Hilbert, H. Minkowski, E. Noether, H. Weyl, R. Courant… đã làm giáo sư ở đây và đây cũng là nơi đào tạo ra nhiều nhà toán học nổi tiếng cho thế giới. Chúng ta có thể tự hào là người Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ toán lại bảo vệ tại trung tâm toán học nổi tiếng nhất thế giới thời bấy giờ.   Theo thông lệ nước Đức trước kia có thể coi ông Wittich là người hướng dẫn luận án tiến sĩ của Lê Văn Thiêm. Trong Giải tích có Định lý Teichmüller-Wittich về ánh xạ tựa bảo giác rất nổi tiếng. Xem phả hệ các nhà toán học [1] chúng ta thấy ông Wittich làm luận án tiến sĩ với đề tài “Một tiêu chuẩn xác định kiểu các mặt Riemann” (giống vấn đề nghiên cứu luận án của Lê Văn Thiêm) và là “học trò trực hệ” của các nhà toán học nổi tiếng Leibniz, cha con Bernoulli, Euler, Lagrange, Fourier, Dirichlet, Kronecker, Hensel, Hasse (thầy của ông Wittich). Tuy nhiên trong danh mục các học trò của ông Wittich không thấy có tên Lê Văn Thiêm, có thể vì ông Wittich lúc đó mới là trợ lý khoa học của ĐHTH Göttingen. Một điều thú vị là trong số các học trò của ông Wittich ta thấy có ông R. Gorenflo là người đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của nhiều nhà toán học Việt Nam. Ông Gorenflo là nhà toán học nước ngoài có công trình viết chung với nhiều nhà toán học Việt Nam nhất (15 người) [2] và là người hướng dẫn luận án của GS Đinh Nho Hào, cán bộ Viện Toán học.            Hội Toán học VN – Từ trái sang phải hàng đầu:               GS Hoàng Tụy (thứ 3) GS Nguyễn Thúc Hào(thứ 4)               GS Lê Văn Thiêm (thứ 5) GS Nguyễn Cảnh Toàn (thứ 6)          Ngày bảo vệ của Lê Văn Thiêm chỉ cách 4 ngày trước khi quân Đồng minh chiếm được thành phố Göttingen [3]. Đơn xin bảo vệ của ông gửi cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đức chỉ trước ngày bảo vệ 5 ngày. Điều này nói lên sự hoàn hảo của bộ máy hành chính Đức ngay cả trong lúc chính quyền sắp tan rã. Có cái lạ là tên ông Thiêm không nằm trong danh sách các luận án tiến sĩ toán bảo vệ ở Đức trong các năm 1907-1945 [4]. Theo danh sách này thì không có ai bảo vệ năm 1945 và vì vậy ông Thiêm là người cuối cùng bảo vệ tiến sỹ Toán học ở Đức trong Thế chiến lần thứ II. Ngày cấp bằng tiến sỹ và các giấy tờ liên quan cho thấy có thể ông vẫn ở Đức cho đến năm 1946 (theo một số học trò của ông nói lại thì ông từng kể chuyện ở Berlin khi Hồng Quân Liên Xô chiếm thành phố này). Cho đến nay chưa tìm thấy tư liệu nào về các hoạt động của ông trong thời gian 1945-1946.  So sánh nội dung luận án tiến sỹ của Lê Văn Thiêm với nội dung công trình đầu tiên của ông “Một số kết quả về vấn đề kiểu của các mặt Riemann (tiếng Đức)” đăng năm 1947 [5], chúng ta có thể khẳng định rằng công trình này mở rộng nội dung của luận án tiến sỹ. Đây cũng là công trình toán học đầu tiên của một người Việt Nam công bố trên một tạp chí quốc tế. Tìm hiểu kỹ hơn một chút về luận án có thể cho phép ta hiểu rõ thêm về thời kỳ này của GS Lê Văn Thiêm.  Chẳng hạn tại trang 5 của luận án Lê Văn Thiêm có nhắc tới “Dấu hiệu Wittich” với trích dẫn tới công trình của Wittich đăng năm 1939, trong khi đó tại công trình nói trên, mục 6 trang 272, điều này được nêu là “Bổ đề Nevanlinna-Wittich” với trích dẫn tới một công trình của Nevanlinna đăng năm 1940, công trình này không được trích dẫn trong luận án. Từ đây ta có thể dự đoán rằng Lê Văn Thiêm chưa hề gặp Nevanlinna cho tới năm 1945. Theo các tư liệu lịch sử thì Nevanlinna là giáo sư thỉnh giảng tại Göttingen năm 1936/37 và chỉ sang Đức một lần trong Đại chiến thế giới thứ hai vào tháng 4 năm 1943 để bàn với Chính phủ Đức về một số vấn đề quân sự [6]. Lúc đó Lê Văn Thiêm chưa hoặc mới sang Đức. Tuy nhiên, trong tiểu sử tóm tắt của ông Wittich tại cơ sở dữ liệu của Hội Toán học Đức có ghi ông Wittich đã từng là trợ lý khoa học cho Nevanlinna,[7]. Lê Văn Thiêm có lẽ không học với ông Teichmüller vì thời gian này Teichmüller làm nhiệm vụ giải mã cho quân đội Đức ở Berlin, xung phong ra trận đầu năm 1943 và chết cuối năm 1943 [8].   Cũng trong công trình nhắc tới ở trên Lê Văn Thiêm ghi địa chỉ là trường Đại học Zürich và ông cảm ơn Quỹ Jubiläumsstiftung của trường Đại học Zürich về sự hỗ trợ tài chính. Trang cuối của công trình ghi ngày gửi đăng là 2/1947. Vì vậy chúng ta có thể tin rằng Lê Văn Thiêm đã sang Thụy Sỹ trong năm 1946. Đây cũng là năm Nevanlinna nhận chức giáo sư tại Đại học Zürich. Chúng tôi không tìm thấy thông tin nào về Quỹ Jubiläumsstiftung hiện nay để có thể liên lạc tìm hiểu thêm về GS Lê Văn Thiêm. Chúng ta có thể đoán rằng chính ông Wittich là người giới thiệu ông Lê Văn Thiêm sang Thụy Sĩ với Nevanlinna năm 1946.  Sinh thời, GS Lê Văn Thiêm vẫn nói mình là học trò của ông Nevanlinna. Nevanlinna là một nhà toán học Phần Lan nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực Giải tích phức. Ông là Chủ tịch Hội Toán học thế giới nhiệm kỳ 1959-1962. Nevanlinna là một trong những nhà toán học đầu tiên nhìn thấy tầm quan trọng của máy tính và đã cổ súy cho việc dùng máy tính trong các trường đại học ngay từ những năm 50. Vì vậy mà Hội toán học thế giới đã lập ra giải thưởng Nevanlinna, trao 4 năm một lần cho các nhà toán học xuất sắc nhất trong lĩnh vực Tin học lý thuyết.   Tóm lại chúng ta có một số tư liệu nói về GS Lê Văn Thiêm trong thời gian 1943-1945 nhưng lại chưa có nhiều thông tin về thời kỳ 1946-1949. Hiện nay vẫn còn những câu hỏi lớn về GS Lê Văn Thiêm như:  – Ông từ Thụy Sĩ quay lại Pháp khi nào?  – Ông có nhận vị trí giảng viên tại ĐHTH Zürich năm 1949 hay không?  Chúng tôi đã liên hệ với các đồng nghiệp ở ĐHTH Zürich và ĐHBK Zürich để tìm hiểu. Nhưng cho tới nay vẫn chưa tìm thấy một chứng cớ nào cho việc này. Nếu bạn đọc có các thông tin khác về GS Lê Văn Thiêm giai đoạn 1939-1949 xin vui lòng gửi Email về cho các tác giả: phung@math.ac.vn và nvtrung@math.ac.vn.    Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các GS Hélène Esnault và Eckart Viehweg vì sự giúp đỡ vô cùng quý báu trong việc xin các tư liệu về luận án của GS Lê Văn Thiêm.   ———–  Tài liệu trích dẫn   1 http://genealogy.math.ndsu.nodak.edu/id.php?id=45002  2 http://www.fracalmo.org/gorenflo/gor_publications.htm  3 http://www.goest.de/kriegsende.htm  4 https://www.dmv.mathematik.de/m-die-dmv/m-geschichte/m-dissertationen-1907-1945/  5 www.emis.de/misc/articles/lehto.pdf  6 Le-Van, Thiem, Beitrag zum Typenproblem der Riemannschen Flächen,Comment. Math. Helv. 20, 270-287 (1947).  7https://www.dmv.mathematik.de/die-dmv/105-kurzbiogra phien/392-kurzbiographien-w-wi-wy.html  8 http://www-history.mcs.st-andrews.ac.uk/ Biographies/Teichmuller.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS.TS. Đàm Thanh Sơn: Việc cần làm nhất là tập trung xây dựng một trường đại học thật tốt      Trước thềm năm mới, GS.TS Đàm Thanh Sơn- Đại học Washington ở Seattle, Mỹ đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về Khoa học và Giáo dục nước nhà.    Trước hết xin GS cho biết đôi nét về công việc hiện nay của GS?  Là một giáo sư Vật lý tại trường, tôi có trách nhiệm giảng dạy cho sinh viên. Thời gian giảng dạy không nhiều, thời gian còn lại tôi được tự do nghiên cứu. Tôi nghiên cứu về vật lý lý thuyết, chủ yếu là vật lý hạt cơ bản và vật lý hạt nhân, nhưng tôi cũng quan tâm đến vật lý chất rắn, thiên văn học, và các ngành vật lý khác. Nguồn tài trợ chính cho nghiên cứu của tôi là từ chính phủ liên bang Mỹ, thông qua Bộ Năng lượng.   Hiện nay tôi nghiên cứu về chất plasma quark gluon. Đây là trạng thái của vật chất ở nhiệt độ rất cao, tới hàng nghìn tỷ độ C (1012độ C). Trạng thái này đã từng tồn tại trong những khoảnh khắc đầu tiên của vũ trụ, và người ta đang tìm cách tái tạo lại nó trong phòng thí nghiệm. Trong quá trình tái tạo này, người ta tìm ra là chất plasma quark luôn có một tính chất rất lạ, là độ nhớt của nó rất thấp. Tôi muốn hiểu chi tiết hơn về trạng thái này, và tại sao độ nhớt lại thấp.  Là một nhà lý thuyết, các công cụ nghiên cứu của tôi hết sức đơn giản: một tập giấy nháp, một cái bút, và một thùng rác để vứt các tính toán sai hoặc vô dụng (trong đó có thể thùng rác là quan trọng nhất!). Ngoài ra, tôi còn sử dụng máy tính cá nhân, có nối Internet.  Vậy trong hoàn cảnh Việt Nam, phải chăng trước mắt ta nên tập trung phát triển vật lý lý thuyết, đến khi có một hạt nhân vật lý lý thuyết mạnh và có đủ điều kiện về kinh tế, ta có thể bắt đầu đầu tư vào nghiên cứu thực nghiệm?  Con đường này nghe có vẻ rất hấp dẫn. Tiếc thay, vấn đề không đơn giản như vậy. Để giải thích, tôi phải nói thêm về công việc của một nhà vật lý lý thuyết.  Một nhà nghiên cứu giỏi trong ngành vật lý lý thuyết phải biết những kiến thức cơ bản về vật lý hiện đại, như cơ học lượng tử, vật lý thống kê. Tuy nhiên, có kiến thức không chưa đủ, điều quan trọng hơn là phải “đánh hơi” được ở đâu ta có thể tìm ra những quy luật mới của tự nhiên. Một nhà vật lý lý thuyết cần có hai kỹ năng: một là kỹ năng tính toán, tức là có thể làm các phép tính dài mà không bị nhầm lẫn, và thứ hai là biết được những vấn đề nào là vấn đề quan trọng để tiến hành tính toán. Kỹ năng thứ nhất có thể luyện được, kỹ năng thứ hai đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, và không phải ai cũng có được. Làm sao để biết được vấn đề gì là quan trọng, vấn đề gì không?  Điểm then chốt là ở chỗ này: vật lý là một khoa học thực nghiệm. Vấn đề quan trọng là các vấn đề có quan hệ trực tiếp đến thế giới tự nhiên. Một nhà vật lý lý thuyết giỏi là một người biết hiện trạng của vật lý thực nghiệm: Những tiên đoán nào của lý thuyết có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm? Những kết quả thực nghiệm nào đang đòi hỏi lý thuyết giải thích? Một nhà lý thuyết không những phải biết các kết quả công bố trên báo chí, mà phải biết sàng lọc: kết quả nào đáng tin, kết quả nào không? Bởi vì có nhiều kết quả thực nghiệm sau một thời gian lại hóa ra là sai.  Một ví dụ là việc khám phá ra hạt Theta+.  Làm sao nhà vật lý lý thuyết có thể chọn lọc được trong một mớ bòng bong, kết quả thực nghiệm nào là đáng tin cậy, kết quả nào khả nghi? Để làm được việc này, những người làm lý thuyết phải dựa vào một đội ngũ các cộng tác viên, đồng nghiệp, trong đó có những đồng nghiệp trực tiếp làm thực nghiệm. Qua họ, các nhà vật lý lý thuyết sẽ có được những thông tin chính thức, bán chính thức, thậm chí cả tin đồn (ví dụ, “nghe nói ở A người ta đang định kiểm tra lại thí nghiệm của B…”). Trong khoa học, cái máy điện thoại cũng là một công cụ nghiên cứu lợi hại.  Như vậy, nếu Việt Nam chỉ theo đuổi vật lý lý thuyết trong tình trạng không có các nhà vật lý thực nghiệm hỗ trợ thì các nhà vật lý lý thuyết sẽ rất khó khăn trong việc định hướng nghiên cứu. Có thể một số người có được liên hệ với các đồng nghiệp của mình ở nước ngoài, nhưng số người đó chắc sẽ là thiểu số. Ngoài ra, không có vật lý thực nghiệm làm “keo dính” họ chắc sẽ làm việc đơn lẻ, rời rạc (thường tinh thần cá nhân chủ nghĩa của các nhà vật lý lý thuyết rất cao!) không tạo nên được một cơ sở để phát triển lâu dài.  Theo GS, ở Việt Nam vấn đề gì là cấp bách nhất để phát triển khoa học?  Không ít nhà khoa học đang làm việc ở nước ngoài, rất gắn bó với đất nước, rất muốn về Việt Nam để làm việc, nhưng hiện vẫn chưa về. Vấn đề không phải là lương bổng: phần lớn những người đi theo con đường khoa học là những người không đặt lợi ích vật chất lên cao nhất (nếu không họ đã làm những ngành khác từ lâu!). Cuộc sống ở Việt Nam có rất nhiều nét hấp dẫn, và Nhà nước cũng đang quan tâm đến việc thu hút chất xám từ nước ngoài, nhưng trên hết đó là Tổ quốc, là nơi có gia đình và những người thân. Vậy tại sao họ chưa về? Theo tôi, ngoài môi trường nghiên cứu như tôi đã trình bày ở trên, còn có một số lý do khác. Ở đây tôi muốn tập trung nói về vấn đề giáo dục.  Không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn của nền giáo dục Việt Nam. Từ một nước phần lớn dân số mù chữ, Việt Nam đã có một nền giáo dục phổ cập trung học. Và theo tôi, những học sinh tốt nghiệp phổ thông ở Việt Nam, ít nhất là ở những trường tốt mà tôi biết ở Hà Nội, có kiến thức sơ đẳng về khoa học không thua kém nhiều so với bạn bè cùng lứa ở các nước phát triển. Tuy nhiên, tới đại học thì khoảng cách đó trở nên rất xa.  Theo tôi, thông qua các chương trình tài trợ của Nhà nước hay nước ngoài, chúng ta đã và đang tạo điều kiện cho sinh viên được học trên đại  học ở nước ngoài. Tuy nhiên, đó mới là sự hỗ trợ bước đầu về mặt tài chính. Trong lĩnh vực khoa học, ở trên lãnh thổ Việt Nam hiện chưa có một trường đại học đủ trình độ để trang bị cho sinh viên của mình những kiến thức và kỹ năng thiết yếu, và đủ uy tín để giới thiệu họ theo học trên đại học ở các trường tốt nhất trên thế giới. Trong khi đó sinh viên Trung Quốc cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập như sinh viên Việt Nam, nhưng Trung Quốc có một số trường Đại học rất có uy tín ở nước ngoài. Ở những trường đó tập trung những sinh viên giỏi nhất của Trung Quốc. Mặc dù việc giảng dạy và nghiên cứu có hạn chế, sinh viên của các trường đó sang Mỹ vẫn có đủ khả năng theo kịp chương trình học. Và có những giáo sư ở Trung Quốc có khả năng đánh giá khách quan trình độ và hạn chế của từng sinh viên và được các giáo sư ở Mỹ tin cậy trong việc này. Do vậy tạo được bàn đạp để sinh viên Trung Quốc học lên cao ở các nước khác.  Do đó, tôi nghĩ việc cần làm nhất ở Việt Nam là tập trung xây dựng một trường Đại học thật tốt, để thu hút những sinh viên, giáo sư và các nhà nghiên cứu giỏi nhất của Việt Nam. Ngoài chức năng đào tạo, đó còn phải là một trung tâm nghiên cứu, và đồng thời đảm nhiệm việc phát triển những tài năng trẻ ở nưóc ta, tạo được uy tín của trường trên thế giới để làm bàn đạp cho những tài năng này tiến xa hơn trong khoa học.  Muốn xây dựng một trường như vậy thì phải vượt ra khỏi tâm lý dàn đều, bình quân chủ nghĩa có vẻ còn phổ biến ở Việt Nam. Tháng 10 năm 2006, bộ trưởng bộ Giáo dục và Nghiên cứu Đức đã quyết định tập trung đầu tư vào ba trường đại học “elite”, không dàn đều đầu tư ra tất cả các trường như trước. Con số 3, theo tôi, có thể vẫn còn là nhiều ở quy mô Việt Nam.  Xin cảm ơn GS.  Với một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc ở một trường Đại học nổi tiếng của Trung Quốc, khả năng được đi học sau đại học ở một trường hàng đầu ở Mỹ rất cao. Trong khi đó, rất ít sinh viên tốt nghiệp Đại học khoa học tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội có được điều kiện này. Tại sao? Ta hãy giả sử có một sinh viên X tốt nghiệp đại học Tsinghua, và sinh viên Y tốt nghiệp ĐHKHTN-ĐHQGHN cùng gửi đơn xin học sau đại học ở một số trường đại học ở Mỹ, trong đó có MIT, Harvard. Ta hãy theo dõi xem đơn của hai sinh viên X và Y sẽ được xem xét như thế nào.  Có một giáo sư (năm nay là giáo sư R) được phân công đọc tất cả các hồ sơ xin học PhD. Nhiệm vụ đầu tiên của giáo sư này là loại khoảng hơn một nửa số đơn ngay vòng đầu. Người nộp đơn phải vượt qua được vòng này mới được đưa ra hội đồng xét tuyển. Khi đọc đến hồ sơ của X, giáo sư R tìm thấy một tài liệu đáng chú ý. Đó là thư giới thiệu của giáo sư L ở khoa vật lý trường Tsinghua, nói rằng em X là  một trong hai sinh viên giỏi nhất của khoa trong 5 năm gần đây.  Điều này làm giáo sư R chú ý, vì trường Tsinghua là một trong vài trường tốt nhất ở Trung Quốc, vào được trường đó rất khó, và nếu X là một trong hai sinh viên giỏi nhất trong vòng 5 năm thì là một điều rất đáng chú ý. Nhưng làm sao biết là vị giáo sư L của trường Tsinghua viết như vậy là đúng? Giáo sư R hỏi các đồng nghiệp của mình và được biết rằng giáo sư L đã từng giới thiệu nhiều sinh viên giỏi cho trường MIT và nhiều trường khác, và những điều vị giáo sư này viết từ trước đến nay đáng tin cậy. Tuy nhiên, để cho chắc chắn, giáo sư R nhờ một giáo sư khác ở Bắc Kinh gặp và nói chuyện với sinh viên X. Giáo sư đó, sau một cuộc phỏng vấn, đã khẳng định với giáo sư R rằng sinh viên X là người rất có triển vọng. Và sau khoảng một tháng, sinh viên X nhận được giấy của trường MIT và trường Harvard nhận vào học khóa học tới, và X có quyền chọn một trong hai trường. Trong khi đó, vì giáo sư R không biết trường ĐHKHTN là trường nào, và cũng không có mối liên hệ nào để xác minh thư giới thiệu cho sinh viên Y, nên hồ sơ của Y bị loại.    P.V      Author                Quản trị        
0.03512014787430684
__label__tiasang GSTS Võ Tòng Xuân: ĐANG QUÊN MÔI TRƯỜNG!      Mở đầu cuộc trao đổi với Tia sáng, Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường đại học An Giang, khẳng định: “Thời chiến tranh, bom đạn, thuốc hoá học… đã huỷ hoại tàn khốc môi trường. Nay thời bình, môi trường vẫn bị hủy hoại không kém”…    Đành phải nói đấy là sự thật. Nông dân Việt Nam vẫn còn rất nhiều người nghèo. Cái nghèo, buộc họ phải khai thác thiên nhiên để sống. Cứ thấy nhiều vùng, nhiều người giàu lên vì con tôm sú, nên họ cũng ào ạt đi theo. Nuôi tôm, nhưng đất đai hạn chế sinh ra chuyện phá rừng ngập mặn, bỏ lúa…lập vuông nuôi.  Rừng giảm dần diện tích, đồng nghĩa với môi trường sinh sản của nhiều loài thuỷ sản, động vật sinh sống tại đó bị ảnh hưởng. Nguồn lợi thiên nhiên suy giảm đã đành, chuyện chắn gió, chống sạt lở bờ biển cũng ảnh hưởng theo. Tôi nói thật, dân mình vẫn còn nhiều người có tâm lý: cứ lợi dụng được gì, lợi dụng nấy. Chặt một vạt rừng, thải một mớ rác, mà cứ nghĩ không ảnh hưởng ai.  Chuyện nuôi tôm, thậm chí có nơi, nông dân còn làm áp lực để Nhà nước cho họ bỏ lúa nuôi tôm mà chưa tính đến chuyện mình có vững kỹ thuật nuôi hay không, đất vùng đó có thích hợp không. Đất nuôi tôm nhiễm mặn, dễ nhiễm nhiều mầm bệnh. Cộng thêm lượng thức ăn cho tôm bị dư, lâu ngày hoá thành chất sulfic, vô tình tạo môi trường tốt cho các vi khuẩn gây bệnh bám vào tôm. Nhiều nơi, có vuông tôm chết sạch vì bệnh đốm trắng. Đâu dừng lại ở đó! Nhà nước hiện thiếu kinh phí đầu tư thuỷ lợi hợp lý cho nuôi thuỷ sản, nên ở các vùng nuôi tôm, nước từ vuông tôm bị nhiễm bệnh, tuôn ra kênh rạch tự nhiên, lại len vào vuông khác, mang theo mầm bệnh. Rồi sự di chuyển của nguồn nước ấy, cảnh báo kéo theo sự tàn phá thảm thực vật ven kênh rạch, rừng ngập mặn ven biển, diệt cả nhiều loại thuỷ sản quí trong tự nhiên.  Nông dân có tâm lý “hễ thua phải gỡ”. Thất vụ này, gầy vụ khác. Có người, chỉ cho đó là do con giống, do thời tiết chứ không ngờ tôm chết có thể chính từ ảnh hưởng môi trường. Thậm chí, nhiều người chưa nhận thức rõ việc nuôi tôm của họ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào.  Đất nuôi tôm, nước mặn đã phá cấu trúc đất. Muốn chuyển trở lại trồng lúa, phải mất từ 5- 6 năm, thậm chí 10 năm mới thực sự ngọt hóa trở lại để lúa phát triển tốt.  Đài Loan, Thái Lan, Philippinnes… đều từng chung “số phận”. Nhiều vùng ven biển, trở thành vùng “trắng”. Nhưng tôm chết liên miên, diện tích rừng suy giảm, họ cảnh báo và nông dân bỏ ngay. Hiện nay, họ chỉ nuôi ở vùng qui hoạch, có đầu tư hệ thống thuỷ lợi đúng cách.   Còn chất thải của các nhà máy chế biến, phải đầu tư hệ thống xử lý nước thải. Nhưng xem ra, việc thực hiện vẫn chỗ có chỗ không? Ở Long An, trước đây có một nhà máy thải nước gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Dân kiến nghị, ngành chức năng lập tức yêu cầu đóng cửa. Chỉ vài tháng sau, nhà máy này đầu tư hệ thống xử lý nước thải trị giá năm triệu đô la Mỹ. Nhưng tại Việt Nam, những trường hợp xử lý kiên quyết như thế không nhiều. Khó ở chỗ, làm gay buộc nhà máy đóng cửa, công nhân mất việc thì tính sao? Chưa nói đến việc nể nang nhau, nhất là giữa cơ quan Nhà nước với xí nghiệp cũng của Nhà nước.  Thực ra giải pháp khắc phục đã có từ lâu, nhưng thực hiện được hay không mới khó. Ở Indonesia, chính phủ đứng ra vay tiền của Ngân hàng Thế giới, đầu tư hệ thống thuỷ lợi phù hợp cho hàng ngàn héc-ta. Nước vào vuông hay thải ra, có hệ thống xử lý riêng biệt, không gây ảnh hưởng môi trường. Nông dân chỉ việc đến nhận đất, nuôi tôm theo định hướng, kế hoạch cụ thể theo sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.   Còn ở ta, trước mắt có thể nuôi tôm theo mô hình tôm-lúa. Nước mặn chỉ xâm xấp ở tầng trên, chất thải qua quá trình nuôi, đến mùa mưa khi gieo trồng lúa có thể “nhờ” cây lúa xử lý.  Đối với các nhà máy chế biến, tôi nghĩ, không cách gì khác là phải xử lý kiên quyết. Dự án đầu tư, chỉ cấp phép khi có kèm theo dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Khi nhà máy đi vào hoạt động, phải kiểm tra xem hệ thống này có hoạt động cùng lúc hay không. Phải kiên quyết phạt tiền, đóng cửa nếu vi phạm. Đừng ham xuất khẩu lấy nhiều đô la mà hy sinh môi trường.  Chuyện phá rừng nuôi tôm cũng phải kiên quyết. Theo tôi, có thể phạt tiền, hay buộc người vi phạm phải trồng lại bao nhiêu héc-ta rừng tương xứng. Tôi nói phải kiên quyết, bởi lẽ, đã có rất nhiều hội nghị khoa học, có cả nhiều đại diện các nước, bàn về chuyện nuôi tôm như thế nào không ô nhiễm, không ảnh hưởng diện tích rừng. Nhưng cái khó cũng thấy rõ. Chính quyền xã là nơi sâu sát nhất. Nhưng không tránh khỏi chuyện, một vài nơi vẫn làm ngơ. Bởi cứ khư khư giữ rừng, lấy thuế đâu mà thu?  Thượng sách nhất, nên khuyến khích mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến. Nuôi ở mật độ thấp, trồng xen cây rừng. Hoặc không, cứ nuôi theo dạng sinh thái, mất một ít diện tích rừng nhưng giữ được nguồn lợi thuỷ sản thiên nhiên lâu dài./.  Lệ Hương ghi    Theo Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, mô hình thuỷ lợi thích hợp cho việc nuôi thuỷ sản có thể nghiên cứu:  – Có kênh lớn tập trung để lấy nước từ biển, pha độ mặn thích hợp, sau đó bơm vào vuông.  – Cạnh đó, có kênh tiêu tập trung, cách biệt với nguồn nước vào. Nước thải từ các vuông đổ vào kênh này, dẫn vào một vuông lớn khác. Tại vuông này, nuôi các loại ốc, vọp… xử lý lượng thức ăn dư thừa của tôm. Nước xử lý xong, đưa qua tiếp một khu rừng sác ngập mặn để đảm bảo lọc sạch trước khi đổ ra biển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gương mặt bí mật của Stephen Hawking      Dù cơ thể bị khiếm khuyết, tác giả của “Lược sử thời gian” vẫn là nhân vật chính của bộ phim “Thuyết của vạn vật”. Nhà nhân học Hélène Mialet hé lộ cơ chế đằng sau  một nhân cách quyến rũ.      Nhà vật lí thiên văn thiên tài này là nhân vật chính của một bộ phim “Thuyết của vạn vật”. Vậy cơ chế đằng sau con người của ông là gì?  Đến gần các ngôi sao nhất. Số phận kì lạ của nhà vũ trụ học nổi tiếng mở ra trên màn ảnh rộng trong bộ phim “Thuyết của vạn vật”. Ngoài những đóng góp kiến thức quan trọng của ông về lỗ đen, cái đặc biệt kì dị của con người này còn nằm ở tình trạng thể chất của ông. Mắc bệnh teo cơ một bên, thoái hoá những nơron thần kinh vận động, ông bị liệt hàng vài chục năm trời. Không còn nói được nữa, ông giao tiếp bằng một máy tính có cài chương trình tổng hợp tiếng nói, lúc đầu ông còn gõ bằng ngón tay, và gần đây thì bằng cử động của má. Nhờ hệ thống này ông đã viết được cuốc sách Lược sử thời gian, một tác phẩm tham khảo đã bán được gần mười triệu bản. Vào tuổi 73, Stephen Hawking trở thành thần tượng thiên tài khoa học, tiếp tục viết và tham gia những hội nghị. Như thế nào? Đó là câu hỏi mà Hélène Mialet – nhà triết học và nhân học, giáo sư thỉnh giảng ở Đại học California ở Davis, Hoa Kì – đặt ra với nhà khoa học phi thường này. Bà đã có mười năm phỏng vấn, quan sát, gặp gỡ những người thân và những đồng nghiệp của ông 1.  Tờ Ngày thứ bảy văn hóa: Thưa bà, Stephen Hawking là ai?  Hélène Mialet: Thật khó trả lởi, vì ông là một thần tượng. Người ta tưởng tượng rằng, Stephen Hawking, bị tật nguyền nặng, có khả năng, một mình, làm khoa học. Ông là hiện thân của huyền thoại về tính hiện đại của chúng ta, là người có gốc rễ từ cách thể hiện tư duy của Descartes, theo đó người ta không cần phải có một thân xác để suy nghĩ, mà chỉ cần có một tinh thần. Bản thân Stephen Hawking đi xa hơn khi nói rằng “Để làm vật lí, chỉ cần tinh thần là đủ.” Tôi hiểu nó theo nghĩa đen và trong phạm vi dân tộc học, tôi đã qua nhiều năm theo đuổi môn này, đã nghiên cứu cách làm việc của nó, đã phỏng vấn các học trò và các đồng nghiệp của ông. Có thể nói ông đã trở thành gia đình của tôi! Tôi đã tái lập một mạng lưới những người giỏi có kiến thức xung quanh ông và làm nổi bật lên một tập thể phức hợp. Câu hỏi đặt ra trong quyển sách của tôi đúng hơn là: Stephen Hawking đứng ở vị trí nào trong cái tập thể này?   Liệu chỉ riêng trí tuệ sáng chói của Stephen Hawking có đủ để làm khoa học không?  Không, tôi nghĩ là không. Ông không thể nhúc nhích, không thể sử dụng được các đồ vật. Ông chỉ có thể nói qua trung gian của một giọng tổng hợp phát ra từ một chiếc máy tính. Tất cả phải nhờ vào máy móc và những người khác. Những người thân của ông đã biết cách giao tiếp với ông nhanh hơn bằng cách đặt cho ông những câu hỏi mà ông chỉ cần trả lời có hoặc không. Loại từ vựng được nhập vào máy tính của ông là loại có tổ chức, và chương trình phần mềm sẽ hoàn thành các câu của ông một cách hệ thống bằng cách khôi phục những mẫu hình diễn đạt của ông. Những người này cũng hoàn thành các câu của ông, đưa những phát biểu của ông thành hành động. Trái với điều người ta vẫn tưởng, không phải tất cả ở trong đầu ông, mà ở cả ngoài nữa. Các sinh viên được tổ chức xung quanh ông thực hiện những dự án nghiên cứu, làm những phép tính. Cuối đợt, ông là tác giả chính và những người giúp đỡ ông biến mất khỏi quá trính ấy.  Stephen Hawking có khác với các nhà khoa học khác không?  Không, thân thể ông được đặt nằm trong tập thể cho phép ông làm khoa học như tất cả những nhà nghiên cứu ở trình độ của ông. Các trưởng phòng thí nghiệm cũng đưa ra các định hướng nghiên cứu cho người khác làm thí nghiệm. Stephen Hawking đặc biệt vì ông có tính tập thể rất cao, chứ không phải vì ông bị cắt đứt với thế giới của con người.    Stephen Hawking với người vợ đầu tiên Jane và hai người con, Robert và Lucy. Nguồn: history.com  Ông ấy phản ứng như thế nào khi đọc cuốn sách của bà?  Tôi có gửi sách cho ông nhưng không nhận được phản hồi. Thư kí của ông ấy nói với tôi rằng ông ấy thấy cái bìa mà nhà xuất bản chọn cho bản tiếng Anh là kì cục [hình một bức tượng của ông bằng cẩm thạch trong chiếc ghế bành bềnh bồng giữa các vì sao]. Tôi khá đồng ý, vì cái hình minh hoạ ấy lại có liên quan đến tính huyền thoại củaông.  Các cuộc gặp giữa bà và ông ấy diễn ra như thế nào?  Tôi mất hai năm mới tiếp cận được ông. Cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi, năm 1998, rất không ổn vì mọi tương tác đều phải chuyển qua máy tính. Tôi không đọc được ngôn ngữ cơ thể của ông. Tôi đặt những câu hỏi, ông gõ máy để trả lời, và giọng nói tổng hợp của ông thường có độ lệch về thời gian. Cả hai chúng tôi cùng nhìn vào màn hình. Đôi khi những người phụ tá đến hỏi ông, và cuộc nói chuyện bị gián đoạn. Có lúc, máy ngừng hoạt động. Thật ra, khi người ta thật gần ông, người ta không còn biết ông ở đâu nữa. Khi người ta ở cách xa, qua truyền thông và phim ảnh, người ta cảm nhận một thiên tài, tức là một cá nhân được thiên phú cho những phẩm chất ổn định, những câu chuyện được tái tạo trên nhân cách của ông và những phát minh khoa học của ông.  Sau đó bà có gặp lại ông ấy không?  Có, tại hội nghị về Lí thuyết dây ở Berlin năm 1999. Chúng tôi đã nhảy với ông ấy trong một hộp đêm! Thư kí báo chí của ông đã qua nhiều tuần lễ ở Berlin để chọn câu lạc bộ thích hợp nhất. Khi chúng tôi đến ông ấy đã ở giữa sàn nhảy, và mọi người nhảy xung quanh ông. Sau đó, cuối thời gian của tôi ở Cambridge, năm 2007, ông ấy đã nhiều lần mời tôi ăn tối với ông ở trường đại học. Ông ấy rất muốn nói thân mật hơn về cách suy nghĩ và làm việc của ông ấy.  Hawking suy nghĩ như thế nào?  Về câu hỏi này, tôi đã trả lời: “Bằng tưởng tượng”. Theo các học trò của ông, ông giải các bài toán bằng cách nhớ nó. Ông đã tạo ra một cách suy nghĩ theo thị giác bằng cách thao tác những biểu đồ mà các học trò vẽ ra dưới mắt ông. Họ cũng viết, dưới mắt ông, những chứng minh phép giải các phương trình, và ông nói chúng đúng hay sai. Những quan sát của tôi cho thấy ngay cả những công việc trí tuệ trừu tượng nhất cũng cần sử dụng đến thân thể, trong trường hợp Stephen Hawking, mắt ông nhìn những người khác làm việc và thân thể những người khác đang vẽ những biểu đồ. Đó là một tương tác hai chiều không nghỉ.  Ông giữ mối quan hệ nào với xung quanh?  Ông có óc khôi hài, nó giúp ông thiết lập nhanh chóng quan hệ với người khác. Ông có một tính cách mạnh mẽ và kiểm soát thành thục những người xung quanh. Những phụ tá gần gũi nhất của ông, bận rộn lo công việc hậu cần, đi lại, ít khi ở lại hơn một năm vì họ kiệt sức đáp ứng cả ngày lẫn đêm những nhu cầu của ông. Nhưng ông kiểm soát tốt hình ảnh của ông trước các nhà  báo.      “Stephen Hawking là một người tiên phong của chủ nghĩa hậu nhân văn” (Hélène Mialet)      Ông không bao giờ muốn thay đổi giọng Mỹ của tiếng nói tổng hợp. Tại sao?  Rất nhiều bạn người Anh của ông ấy muốn làm cho ông một giọng Anh. Ông đã phản đối và không chấp nhận vì ông bảo giọng Mỹ đã trở thành giọng nói của chính ông rồi. Những phần mềm cập nhật có thể giúp ông thông tin nhanh hơn nhưng ông không muốn thay đổi vì ông đã quen với nó.  Stephen Hawking đặc biệt khác thường về cái gì?  Những công trình khoa học của ông về các lỗ đen, nhất là những công trình công bố trong những năm 1970, là những khám phá cơ bản. Nhưng đối với tôi, con người này đặc biệt bởi vì ông đã trở thành một tấm gương do tình trạng bất thường của mình. Tình trạng tật nguyền và phụ thuộc của ông làm rõ ràng thứ mà người ta không thể nhìn ông khác được, giống như những điều cần thiết để là một ngôi sao, một trưởng phòng thí nghiệm, nhưng cũng là những điều cần thiết để nghĩ theo lối thị giác hoặc để có một cuộc nói chuyện trôi chảy.  Ở Cambridge, người ta đang xây dựng những bộ hồ sơ với những bài báo về Stephen Hawking và những bài báo của chính ông. Chúng đặt ra vấn đề về công việc lưu trữ một tác giả trong thời đại kĩ thuật số. Đối với ông, tất cả những việc này đã tiến hành nhờ một chiếc máy từ lâu rồi, và bản thân ông quyết định những gì ông muốn giữ lại hay không. Chúng ta ngày càng trở nên phụ thuộc vào máy tính bảng và máy tính, nhưng việc này thì ông đã đi trước cả mọi người. Ông đã sử dụng những chương trình mà ngày nay chúng ta ai cũng sử dụng, như những chương trình hoàn tất từ và câu của ông. Stephen Hawking là một người tiên phong của chủ nghĩa hậu nhân văn.  Aurélie Coulon thực hiện  Hiếu Tân dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và năng lượng (Đại học KHTN, ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: https://www.letemps.ch/sciences/face-secrete-stephen-hawking-enfin-devoilee  —————-  1. Hélène Mialet đã xuất bản tác phẩm Đi tìm Stephen Hawking (tạm dịch từ A la recherche de Stephen Hawking) dày 168 trang năm 2014 tại Nhà xuất bản Odile Jacob.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gương mặt của sự sợ hãi      Sợ hãi và nổi nóng thường xuất hiện đi đôi với nhau và rất khó phân định được ở người bị căng thẳng (stress). Nhằm xác định rõ xúc cảm chủ đạo ở những người bị stress, các nhà tâm lý thuộc đại học Carnegie Mellon, bang Pennsylvania (Mỹ) đã phải sử dụng phương pháp phân tích sắc mặt của 92 người bị quấy rối khi đang làm toán.    Song song với đó, các nhà khoa học cũng tiến hành các xét nghiệm nước bọt và đo huyết áp. Qua các phân tích sinh lý học, họ nhận thấy cùng với các biểu hiện của sự sợ hãi trên mặt, lượng cortisol-hocmon gây ra stress ở một mức rất cao. Tuy nhiên, các dấu hiệu này không thấy khi người ta nổi cáu. Như vậy, nỗi sợ hãi dường như có hại nhiều hơn tới sức khỏe. Các nhà tâm lý cho rằng sự sợ hãi đồng nghĩa với việc mất tự chủ trong khi sự nổi nóng chỉ là hậu quả của một việc gì xảy ra trước đó mà thôi. Dù gì đi chăng nữa, việc phân tích nét mặt kết hợp với các mẫu xét nghiệm chắc chắn có kết quả đáng tin cậy hơn việc chỉ đưa ra các câu hỏi để người bệnh tự trả lời.  PV      Nguồn tin: Science, 310, 1274, 2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hà Nội bị ô nhiễm nhiều hơn về mùa đông      Hà Nội bước vào mùa khô từ tháng mười hàng năm khi không khí lạnh từ phương Bắc kéo về qua lục địa Trung Hoa mang lại cho miền Bắc một thời tiết khô hanh. Độ ẩm không khí xuống đến mức thấp nhất, trời nắng suốt ngày, gió nhẹ. Thời tiết hanh khô và chênh lệch nhiệt độ quá lớn trong một ngày khiến nhiều người cảm thấy khó chịu, mệt mỏi. Nhưng yếu tố không kém phần quan trọng là ô nhiễm không khí gia tăng mạnh trong điều kiện thời tiết bất lợi này. Bằng mắt thường cũng có thể thấy các trục giao thông chìm ngập trong khói bụi, nhất là về ban đêm.      Nghịch nhiệt làm gia tăng ô nhiễm                     Đồ thị dưới đây minh hoạ diễn biến hàm lượng bụi khí PM10 có kích thước hạt bé hơn 10 micron do thiết bị quan trắc chất lượng không khí tự động của Trung tâm Khí tượng Thủy văn ghi từng giờ tại trạm khí tượng Láng, Hà Nội trong những ngày cuối tháng 11 vừa qua.  Gió mùa Đông Bắc bắt đầu tràn qua Hà Nội từ ngày 15/11. Cho đến ngày 20/11, chất lượng không khí Hà Nội không tồi lắm nhờ có gió mạnh làm phát tán nhanh các chất ô nhiễm. Nhưng từ ngày 20 trở đi, khi chế độ xoáy nghịch hoàn toàn ngự trị trên một vùng rộng lớn bao trùm miền Bắc nước ta, độ ẩm không khí bắt đầu xuống thấp và gió yếu dần, hạn chế khả năng phát tán của khí quyển, làm tăng mức ô nhiễm, đặc biệt sau lúc chập tối (18:00 giờ) và kéo dài cho đến gần sáng hôm sau. Từ gần trưa đến chiều mức ô nhiễm giảm bớt, sau đó lại tăng lên.  Các nguồn phát ô nhiễm thường hoạt động vào ban ngày nên thông thường ô nhiễm không khí ban ngày cao hơn ban đêm. Nhưng với thời tiết khô hanh nửa đầu mùa đông, hàm lượng các chất ô nhiễm về ban đêm có thể cao hơn ban ngày đến 2-3 lần. Đây là điều mà ít người ngờ tới. Sở dĩ như vậy là vì có hiện tượng nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm. Nói nghịch nhiệt vì trong lớp không khí vài trăm mét gần mặt đất nhiệt độ không khí tăng theo độ cao, khác với diễn biến thông thường theo đó càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Trời nắng suốt ngày đốt nóng mặt đất, tối đến mặt đất vẫn còn ấm phát ra bức xạ hồng ngoại. Hơi nước và khí CO2 hấp thụ chúng làm cho lớp không khí sát mặt đất ấm lên và nhiệt độ không khí tăng theo độ cao cho đến vài trăm mét. Càng về khuya lớp nghịch nhiệt dày vài trăm mét này càng dâng lên cao làm cho hàm lượng bụi giảm bớt, nhưng sau đó sương mù thường xuất hiện trước khi mặt trời mọc lại làm gia tăng ô nhiễm vào những giờ cao điểm buổi sáng.  Nghịch nhiệt bắt đầu xảy ra đúng vào giờ cao điểm buổi chiều làm ô nhiễm không khí trầm trọng thêm. Khí độc cùng bụi bặm do xe cộ thải ra và tung lên từ mặt đường khô khốc, từ các bếp đun nấu dùng than chất lượng thấp và chứa nhiều lưu huỳnh, không phát tán lên cao mà cứ tích tụ lại ở lớp sát mặt đất ngày càng đậm đặc. Chẳng may bị kẹt xe hàng giờ vào lúc đầu hôm, bạn có thể hít thở một lượng chất ô nhiễm tương đương với cả một ngày bình thường. Không chỉ có bụi, những khí độc không cho phép vượt quá mức quy định như SO2, NOx, CO  đều gia tăng trong mùa khô, nhất là về ban đêm.  Dấu hiệu có nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm rất dễ nhận ra. Đó là trời nắng suốt ngày, độ ẩm không khí dưới 60-65% và lặn gió vào chập tối. Vào những ngày này, hạn chế ra ngoài đường về ban đêm là cách đề phòng an toàn nhất cho những ai mắc các chứng bệnh nhạy cảm với ô nhiễm không khí như bệnh hô hấp và tim mạch.  Hàng năm ở Hà nội vào nửa đầu mùa đông những đợt nghịch nhiệt về ban đêm thường xảy ra vài ngày sau khi gió mùa đông bắc tràn về và kéo dài có khi suốt mười ngày cho đến khi hướng gió thịnh hành chuyển sang đông nam, để sau đó lại bắt đầu đợt gió mùa đông bắc mới.  Trong nửa sau mùa đông, không khí lạnh thường tràn về qua ngả vịnh Bắc bộ hình thành một kiểu thời tiết ẩm lạnh. Trong thời gian này thường thấy những ngày mù do có lớp nghịch nhiệt lơ lửng suốt ngày đêm ở độ cao vài trăm mét trong chế độ xoáy nghịch cản trở sự phát tán các chất ô nhiễm cả ban ngày lẫn ban đêm. Bụi không phải do xe cộ tốc lên (vì mặt đường bị ẩm ướt) mà từ các nguồn khí thải và do quá trình chuyển hoá từ dạng khí sang những hạt bụi có kích thước rất bé.  Ô nhiễm nhiều hơn vào mùa đông  Những diễn biến thời tiết trên đây làm cho mức ô nhiễm không khí ở Hà Nội về mùa đông cao hơn mùa hè. Cao nhất vào giai đoạn các tháng 12 – 01, gấp 4-5 lần so với giai đoạn các tháng 07 – 08, lúc này mưa nhiều và trời nóng làm cho các chất ô nhiễm dễ tiêu tan và phát tán lên cao. Sự tương phản giữa hai mùa còn do khối không khí lạnh đi qua Trung Quốc mang thêm chất ô nhiễm vào miền Bắc nước ta.  Những hiện tượng trên đã được một nhóm thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt nam nghiên cứu chi tiết từ năm 1998 dùng các thiết bị tách bụi khí ra hai loại có kích thước dưới 10 micron (PM10) và dưới 2,5 micron (PM2,5), sau đó thành phần hóa học của chúng được xác định bằng các kỹ thuật phân tích hiện đại. Nhóm này đã công bố nhiều công trình liên quan đến tác động của chế độ gió mùa Đông Nam Á đối với chất lượng không khí trên các tạp chí quốc tế. Gần đây, một thiết bị quan trắc tự động tại trạm Láng của Trung tâm Khí tượng Thủy văn có khả năng ghi lại diễn biến hàng giờ của 08 chất khí và bụi khí giúp mô tả chi tiết và đầy đủ hơn hiệu ứng gió mùa nói trên.  Mỗi ngày một người bình thường phải hít vào phổi 20 m3 không khí. Thế mà về mùa đông, trung bình một mét khối không khí Hà Nội chứa 45 mg (microgram) SO2, 40 mg NO2, 31 mg O3, 1850 mg CO, 180 mg các chất khí hữu cơ độc hại, 135 mg PM10 và 65 mg PM2,5. Tất cả đều do con người và xe cộ thải ra. Không khí Hà Nội bị ô nhiễm, nặng nhất là bụi do xe cộ tốc lên từ đường sá không được giữ sạch sẽ. Cần phải cắt giảm ít nhất là 85 mg PM10 trong một mét khối không khí về mùa đông để đưa chất lượng không khí ở Hà Nội phù hợp với tiêu chuẩn hiện hành ở nhiều nước. Một nhóm nghiên cứu quốc tế về tác hại của PM10 đến sức khoẻ người dân Bangkok đã đi đến kết luận rằng cứ giảm được 10 mg PM10 trong một mét khối không khí thì con số tử vong sẽ rút bớt 1-2% về bệnh tim mạch và 3-6% về bệnh đường hô hấp.      Tờ Time số tháng 12/2004 bàn về ô nhiễm không khí ở châu Á, có trích dẫn một khoa học gia Ấn Độ tính toán rằng người dân thành phố Mumbai hàng ngày hít vào phổi một lượng khí bụi độc hại tương đương với hút hai bao thuốc lá. Người dân Hà Nội cũng được “hút thuốc lá miễn phí” không kém, nhất là về mùa đông.  Giảm bớt bụi bặm và khí thải độc hại phải được xem là một nhiệm vụ ưu tiên của chính quyền và người dân Hà Nội. Đưa thêm một chỉ tiêu chất lượng không khí vào các nghị quyết của thành phố để phấn đấu sẽ là món quà hết sức thiết thực cho người dân thủ đô nhân dịp 1.000 năm Thăng Long lịch sử.  Phạm Duy Hiển    Nguồn tin: Tia Sáng            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạ tầng thông minh của kinh tế tri thức      Công nghệ thông tin &amp; truyền thông (ICT) là hạ tầng của mọi hạ tầng.&#160;&#160;&#160;        Mười năm qua, CNTT & TT Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc, ngành phần mềm với doanh số tăng hơn 40 lần nhưng bản chất vẫn chỉ là đi làm thuê vì hàm lượng R&D (nghiên cứu và phát triển) trên sản phẩm rất thấp, thậm chí chúng ta chưa biết làm R&D như thế nào. Để có thể bứt phá và vươn ra thị trường quốc tế hay đưa Việt Nam sớm trở thành một nước mạnh về CNTT vào năm 2020, thì đòi hỏi ngành công nghiệp phần mềm cần vượt qua được nhiều thách thức. Trong đó, một trong những yếu tố được coi là then chốt để giúp ngành công nghiệp phần mềm bứt phá, từ chỗ đi làm thuê tới chỗ tạo ra giá trị Việt Nam trong sản phẩm chính là R&D.  Tuy nhiên, ngoài việc phải có sự đầu tư thực sự cho R&D, ngành công nghiệp phần mềm và ICT của Việt Nam phải được nhìn nhận trên những tư duy chiến lược toàn diện của một quốc gia hơn là một ngành nghề do 1 Bộ quản lý, điều hành.   Loạt bài viết này về ICT Việt Nam gồm 3 phần chính:   * Chiến lược ICT làm hạ tầng thông minh của kinh tế tri thức  * Các ưu tiên trọng điểm cho ICT Việt Nam đến năm 2020  * Cam kết, đo hiệu quả và theo đến tận cùng chiến lược ICT 2020  Nội dung các bài viết này là quan điểm cá nhân dưới góc độ nghiên cứu của một chuyên gia, kết hợp với các kiến thức chuyên ngành ICT từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Ngoài việc cung cấp thông tin về các định hướng ICT, tác giả còn mong ước mở rộng thành một đề tài chung của nhiều mối quan tâm khác trong xã hội cho công cuộc tri thức hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam tiến lên một tầm cao mới.    Trong quá trình tiến vào nền kinh tế tri thức, mỗi quốc gia tiên tiến đều xây dựng các hạ tầng thông minh trên nền tảng, cơ sở của một số hệ thống cốt lõi – gồm các cấu trúc hạ tầng, các mạng lưới thông tin và truyền thông (TT&TT) và công tác môi trường – xem như các yếu tố trung tâm để điều hành và phát triển đất nước, cụ thể là: các dịch vụ công, khối doanh nghiệp, công dân, giao thông vận tải, thông tin truyền thông, nước và năng lượng.   Hiệu quả và năng suất hoạt động của các hệ thống xác định mức độ thành công theo các mục tiêu đã đề ra của một đất nước. Các hệ thống này không hoạt động rời rạc mà cần phải được quy hoạch, xem xét và giám sát một cách tổng thể lẫn chi tiết.  Chiến lược quốc gia  “thông minh”   Các quốc gia phát triển luôn biết cách xây dựng cho mình các hệ thống hạ tầng có khả năng tự biến đổi, điều chỉnh và tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực phù hợp nhất, điều này không hề đơn giản do sự chồng chéo, đan xen nhau của các hệ thống. Có rất nhiều thách thức buộc các quốc gia phải cùng một lúc thực hiện nhiều mục tiêu cụ thể để phục vụ cho công dân của mình. Ví dụ như phải phấn đấu tạo ra một môi trường lành mạnh, nhân ái và an toàn cho cư dân, song song với những nỗ lực trong việc thu hút kinh doanh, hỗ trợ các doanh nghiệp làm ăn phát đạt trong một nền kinh tế cạnh tranh mang tính toàn cầu. Bên cạnh đó là trách nhiệm cung ứng một cơ cấu hạ tầng thông minh, hữu hiệu phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững. Để làm được như vậy, các hệ thống quốc gia phải được vận hành đồng bộ, và cải tiến liên tục, luôn hiệu quả hơn và thông minh hơn.           Các hệ thống hạ tầng cốt lõi & các mối quan hệ nằm trong khung chiến lược và điều hành quốc gia          Trong bối cảnh đó, sự lan tỏa của ngành Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông có những khả năng thần kỳ giúp đáp ứng các nhu cầu trên đây, đồng thời đẩy mạnh nền kinh tế tri thức, phục vụ cho lợi ích quốc gia qua việc sử dụng công nghệ cao ICT theo các bước như sau:   Số hóa (Instrumentation/ Digitization): tin học hóa toàn bộ hệ thống công việc, điều hành của một quốc gia, chuyển tất cả các hoạt động thành những dữ liệu & đo đếm được. Vào năm 2010, đã có khoảng 1 tỷ giao dịch số (bán dẫn), làm cơ sở phát triển của kỷ nguyên số cho mỗi con người trên Trái đất.  Liên thông (Interconnection): toàn bộ các bộ phận của các hệ thống cốt lõi quốc gia có thể nối kết, thông tin và trao đổi được với nhau. Biến đổi các dữ liệu thành những tập thông tin liên lạc, đồng bộ và kiểm soát được.   Tri thức hóa (Intelligence): khả năng sử dụng các tập thông tin quốc gia đã được tạo ra để phục vụ cho việc sáng tạo, mô hình hóa và chuyển chúng thành tri thức tiên tiến, hiện đại. Tiến hành các hành động cụ thể để đưa các sản phẩm ICT phục vụ cho nhu cầu phát triển của con người.   Kết cấu hạ tầng ICT của quốc gia  Dịch vụ hành chính công quốc gia: hạ tầng ICT phải hỗ trợ hệ thống hành chính công trong tất cả những hoạt động điều hành và cung cấp dịch vụ phối hợp do chính quyền quốc gia cung cấp như điều phối cung ứng giữa các cơ quan khác nhau, cung ứng quỹ công, tiến hành hoạt động quy hoạch các nguồn lực, v.v…  Từng đơn vị, từng dự án phải điều chỉnh dịch vụ theo yêu cầu của từng công dân. Hạ tầng ICT của quốc gia phải ứng dụng các công nghệ hiện đại nhất để tích hợp các hệ thống thông tin, giúp các cơ quan cung ứng dịch vụ khác nhau nhằm tạo các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn cho công dân.  Công dân: một hệ thống quốc gia về công dân liên quan đến toàn bộ các mạng lưới cộng đồng, nhân văn và xã hội. Bao gồm an toàn công cộng (chống cháy nổ, cảnh sát và phục hồi sau thiên tai), y tế, giáo dục và chất lượng cuộc sống. Nhiệm vụ của hạ tầng ICT làm sao giúp các quốc gia sử dụng các dữ liệu thông tin sẵn có phục vụ cho các dự án và mục đích chung, để giải quyết rất nhiều khó khăn về y tế, giáo dục, an ninh và (yêu cầu) nhà ở của công dân.   Có rất nhiều ví dụ về ứng dụng hạ tầng ICT thông minh ở các quốc gia phát triển, giúp phân tích thông tin kịp thời, kịp lúc để giới hạn tội ác và phản ứng nhanh với các nguy cơ mất an toàn công cộng. Một số ví dụ ICT thông minh phục vụ công dân rất thành công như việc lắp đặt hệ thống an toàn công cộng mới tại Chicago, cho phép kiểm tra bằng camera, và phản ứng khẩn cấp nhanh chóng, hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực y tế và sức khỏe cộng đồng, hạ tầng ICT và các công cụ phân tích tiên tiến giúp giải mã lượng dữ liệu khổng lồ. Các bác sĩ ở Copenhagen, Đan Mạch có thể nhanh chóng tiếp cận hồ sơ điện tử bệnh nhân, giúp giảm sai sót và tăng hiệu quả chữa trị.   Kinh doanh: một hệ thống quốc gia về kinh doanh liên quan đến các quy định và khung chính sách và bao gồm các quy định kế hoạch, mức độ mở về ngoại thương và đầu tư, pháp chế lao động, và sản phẩm thị trường.        Đẩy mạnh khả năng giao dịch thông tin phải được xem như nhiệm vụ trung tâm trong nền kinh tế hiện đại và chìa khóa cho một quốc gia thông minh        Công việc kinh doanh phải đương đầu với các khó khăn tại nhiều nơi, trong khi quy định lại thường nhập nhằng ở các địa phương khác nhau. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa phải tiết kiệm vừa phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, thúc đẩy năng suất cao, đảm bảo kinh doanh hiệu quả. Trong môi trường như vậy, những hệ thống thông minh từ các dịch vụ sẽ là giải pháp giúp doanh nghiệp nắm bắt thông tin và thực hiện các quyết định kinh doanh một cách nhanh chóng, kịp thời đón các cơ hội tăng trưởng và gia tăng lợi nhuận.    Ví dụ như việc đơn giản hóa tiến trình đăng ký điện tử hoạt động kinh doanh tại Dubai nhờ vào hệ thống 1 cửa duy nhất: cho phép đơn giản hóa và tích hợp các thủ tục trong gần 100 dịch vụ công khác nhau. Điều này hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Dubai, thậm chí trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng.  Giao thông vận tải: một hệ thống bao gồm tất cả các mặt về mạng lưới đường sá, vận tải công cộng, cảng hàng không, cảng biển, quản lý từ nguồn cung đến giá cả.  Các hệ thống vận chuyển người và hàng hóa ở nhiều nước thường bị ngưng trệ do tắc nghẽn, gây thất thoát, hao phí thời gian, nhiên liệu, tài sản của toàn xã hội. Nếu dùng các công cụ ICT thông minh sẽ giúp hạn chế tắc nghẽn, cùng lúc hội nhập mọi cách vận chuyển khác nhau vào nền kinh tế chung. Hạ tầng ICT có thể kết nối các quan hệ kinh doanh với nhu cầu của công dân, và quản lý các mối quan hệ trên các giao diện để có thể xử lý với tốc độ nhanh một cách toàn cục.                                    Giải pháp Xe thông minh PRT (Personal Rapid Transit) của Tập đoàn FairWood đã chạy thử một năm tại sân bay Heathrow của Anh đang được sáu thành phố tại Ấn Độ triển khai xây dựng, có tác dụng rất hữu hiệu chống nạn kẹt xe và thay thế các hạ tầng giao thông truyền thống. Hệ thống này sử dụng công nghệ ICT điều hành các loại xe thông minh qua vệ tinh GPS. Xe được thiết kế gọn nhẹ chở 4-6 người chạy trên các trục đường ray trên không với hệ điều hành đơn giản theo cách chọn điểm đến giống như cách gửi email qua hệ thống Internet. Hệ điều hành thông minh nhận tin và trong giây lát sẽ xử lý tập tin rồi chọn ra con đường đi nhanh nhất, ngắn nhất để điều khiển xe chạy không dừng trên hệ thống “mạng nhện” của các trạm PRT. Toàn bộ chi phí dự tính cho 1 thành phố tương đương TP. HCM cho 1 triệu lượt người/ngày qua 150 trạm và hơn 2500 xe PRT chỉ bằng một phần năm chi phí xây dựng mạng lưới tàu điện công cộng với dung lượng công năng tương tự. Giải pháp này đang được nghiên cứu tiền khả thi tại Việt Nam và nếu được ứng dụng sẽ giải quyết rất tốt vấn nạn kẹt xe, ô nhiễm cho các thành phố lớn (của) ở Việt Nam như TP.HCM & Hà Nội. Đây là một ví dụ rất điển hình của giải pháp Hạ tầng thông minh ICT có thể làm hạ tầng của các hạ tầng quốc gia (ở đây là giao thông vận tải).              Một ví dụ khác ở Thụy Điển về ứng dụng hạ tầng thông minh ICT là hệ thống đánh phí điện tử tại các nút tắc nghẽn giao thông xe cộ vào  thành phố Stockhom, với kết quả là trong 1 năm đã giảm 25% mức độ xe vào nội thành và giảm 14% khí thải, tăng lượng bán lẻ lên 6% và gia tăng thêm các khoảng thu nhập khác cho người dân.           Thông tin và truyền thông: một hệ thống bao gồm hạ tầng viễn thông, điện thoại, băng tầng rộng và không dây. Đẩy mạnh khả năng giao dịch thông tin phải được xem như nhiệm vụ trung tâm trong nền kinh tế hiện đại và chìa khóa cho một quốc gia thông minh.   Ngày nay, nhiều quốc gia vẫn chưa tạo được việc kết nối Internet cho công dân của họ, việc lên mạng thường với tốc độ chậm và giới hạn ở rất nhiều nơi. Việc phát triển CNTT & TT ở những nước này sẽ giúp tăng cường lưu chuyển thông tin và quan hệ giao dịch giữa các công dân, các việc kinh doanh và nhiều hệ thống hạ tầng khác nhau vào mối quan hệ nhanh toàn cục.   Ví dụ về dự án tích hợp các hệ thống dữ liệu về các mặt y tế, kinh doanh, nhà ở và chính quyền ở thành phố thông minh Songdo, Hàn Quốc đã cung cấp cho công dân và giới kinh doanh hàng loạt dịch vụ mới, từ tái sinh tự động đến thẻ thông minh toàn diện khi trả tiền và truy cập hồ sơ bệnh án. Nhiều đề án như vậy cũng đã rất thành công tại Ấn Độ, Nhật Bản, và Bắc Âu.  Nước: một hệ thống quốc gia về nước là tiện ích cơ bản bao gồm toàn bộ quy trình nước, cung cấp nước và vệ sinh.   Nguy cơ toàn cầu hiện nay là một nửa lượng nước đã bị phí phạm qua sản xuất và tiêu thụ, trong khi chất lượng nước hiện nay không bảo đảm. Công nghệ ICT có thể phân tích toàn diện hệ sinh thái nước từ sông ngòi, hồ chứa đến máy bơm và ống nước trong nhà, cho phép từng cá nhân đến doanh nghiệp có các chỉ số chi tiết giúp họ ý thức về cách sử dụng nước hữu hiệu hơn.  Hệ thống phát hiện, quản lý, ước đoán về tài nguyên nước ở Galway, Ireland, qua mạng lưới máy dò tìm và phân tích dữ liệu bằng CNTT tiên tiến đã cung cấp kịp thời những thông tin mới nhất cho người sử dụng, từ nhà khoa học, các hoạt động thủy lợi đến những người đánh bắt cá.      Năng lượng: một hệ thống cũng quan trọng như nguồn lực nước, bao gồm việc sản xuất điện và hạ tầng truyền tải, cũng như giải quyết chất thải.  Trong tình trạng khủng hoảng năng lượng toàn cầu ngày nay, các nguồn năng lượng trên thế giới hiện không an toàn và không bền vững. Hạ tầng lưới điện thông minh tối ưu hóa việc truyền tải điện, cho phép người tiêu dùng phản hồi giá cả lại cho thị trường và nhà cung ứng, góp phần tiết kiệm năng lượng.  Dự án lưới điện thông minh ở Mỹ cho phép các hộ tiếp cận giá cả năng lượng nhằm giúp họ điều chỉnh mức sử dụng phù hợp, theo như một thử nghiệm ở Seattle, đã có tác dụng giảm 15% sự cao điểm trên mạng lưới và trung bình 10% hóa đơn điện.  Tóm lại, nếu đi xuyên suốt qua các ứng dụng CNTT&TT ở nhiều nơi trong các hạ tầng cốt lõi của quốc gia, chúng ta nhận thấy rõ rằng các hệ thống cốt lõi này sau khi được liên thông nhau sẽ giúp tiết kiệm một nguồn lực rất lớn cho toàn xã hội. Tuy nhiên, để thông hiểu một hệ thống và làm cho nó vận hành thông minh hơn, đòi hỏi một quốc gia phải am hiểu được sự liên kết toàn cục và phương cách làm sao để các hệ thống khác nhau hỗ trợ nhau tốt nhất.   Quốc gia là một “hệ thống của các hệ thống”  Các quốc gia thông minh đang sử dụng công nghệ cao để biến đổi những hệ thống cốt lõi của mình và tận dụng tốt các nguồn lực có giới hạn. Các giải pháp ICT thông minh sẽ giúp tạo ra sự đổi mới và cải tiến như là những yếu tố then chốt để đẩy mạnh cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. Đầu tư vào các hệ thống thông minh hơn cũng là một cách phát triển bền vững, tạo thêm việc làm cho người lao động. Ước tính khi đầu tư 30 tỷ USD vào viễn thông băng rộng và các hệ thống lưới năng lượng thông minh, y tế cộng đồng điện tử, Hoa Kỳ có thể tạo ra hơn một triệu việc làm mới. Thử tưởng tượng nếu các khả năng đó được ứng dụng và nhân rộng tại tất cả các nước trên thế giới, kết quả sẽ rất lớn.        Các hạ tầng được số hóa giúp nhận diện chính xác tình trạng tại các phần khác nhau của hệ thống và có thể đo đạc, phân tích được các khả năng cũng như rủi ro của xu thế sắp đến. Các hệ thống thông minh sẽ giúp các quốc gia ứng phó nhanh chóng và chính xác trước các thay đổi, và đạt được kết quả tốt hơn bằng cách tiên liệu trước các giải pháp tối ưu hóa cho các biến cố tương lai.        Mỗi hạ tầng cốt lõi đều có thể được làm cho thông minh hơn bằng cách dùng lợi thế của khả năng số hóa các hệ thống, giúp đưa ra các quyết định với dữ liệu thông tin chính xác, ít sai số nhất. Vì vậy, các quốc gia phát triển luôn sử dụng ICT như là hạ tầng của hạ tầng. Trong đó, việc giáo dục và nâng cao kỹ năng ICT sẽ là tâm điểm của mọi thành công.  Điều tối quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hạ tầng thông minh là mối quan hệ liên thông giữa các hạ tầng cốt lõi quốc gia phải được ưu tiên quan tâm đầu tư, xây dựng để làm cho “hệ thống của các hệ thống” trở nên thông minh hơn. Không hệ thống nào hoạt động riêng lẻ mà phải phát triển đồng bộ và được giám sát chặt chẽ trong cùng một mạng liên thông. Ví dụ như các hệ thống giao thông vận tải, kinh doanh, và năng lượng phải luôn liên thông rất chặt chẽ vì các hệ thống giao thông vận tải và kinh doanh là những chủ thể chính sử dụng nguồn năng lượng. Kết nối các hệ thống này sẽ mang lại hiệu quả tiết kiệm to lớn và giải quyết được các nguy cơ dài hạn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia. Sự kết nối các hệ thống thông minh về nguồn nước và năng lượng là một ví dụ khác về giá trị liên thông giữa các hệ thống. Tiết kiệm nguồn nước sẽ giúp tiết kiệm đáng kể năng lượng, vì các hoạt động bơm và xử lý nước luôn đòi hỏi một lượng điện lớn. Ví dụ: tại đảo Malta, một hệ thống tiện ích thông minh thông tin cho người dân và doanh nghiệp các lựa chọn tốt nhất trong việc sử dụng năng lượng và nguồn nước, giúp đưa ra các quyết định tốt hơn trong việc tiêu thụ các nguồn năng lượng sao cho ít tốn kém nhất.   Suy nghĩ đột phá, cách mạng hơn là những thay đổi nhỏ  Những thách thức và nguy cơ về khủng hoảng năng lượng, lương thực toàn cầu đang đe dọa sự tồn tại bền vững khiến các quốc gia không thể chỉ tập trung vào hiệu quả trước mắt. Thay vào đó, phải tạo cơ sở để các thế hệ kế tiếp có thể liên tục thiết lập các hệ thống và giải pháp thông minh hơn. Các hệ thống phải luôn kết nối, liên thông phát triển hỗ trợ lẫn nhau – con người và các chủ thể cũng sẽ tương tác với nhau theo những phương cách hoàn toàn mới. Các hạ tầng được số hóa giúp nhận diện chính xác tình trạng tại các phần khác nhau của hệ thống và có thể đo đạc, phân tích được các khả năng cũng như rủi ro của xu thế sắp đến. Các hệ thống thông minh sẽ giúp các quốc gia ứng phó nhanh chóng và chính xác trước các thay đổi, và đạt được kết quả tốt hơn bằng cách tiên liệu trước các giải pháp tối ưu hóa cho các biến cố tương lai. Điều đó đòi hỏi có những cuộc cách mạng về nhận thức của giới lãnh đạo hơn là các thay đổi nhỏ, manh mún.  Đừng quên cách nhìn vĩ mô  Khi liên thông giữa các hệ thống khác nhau có nghĩa là sẽ có các hạ tầng cần phải được ưu tiên đầu tư, xử lý tùy theo tình trạng của mỗi quốc gia, nhưng “giải quyết từng cái một” không phải là một lựa chọn tốt nhất cho tương lai. Thách thức và nguy cơ cho sự phát triển bền vững đến từ nhiều góc cạnh khác nhau và đòi hỏi một chiến lược toàn diện liên quan đến tất cả các yếu tố của hệ thống và cơ chế phản hồi.           Các quốc gia phát triển  luôn sử dụng ICT như là hạ tầng của hạ tầng. Trong đó, việc giáo dục và nâng cao kỹ năng ICT sẽ là tâm điểm của mọi thành công.        Một tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo cao nhất đặt CNTT & TT như là nền tảng tri thức để xây dựng hạ tầng thông minh cho tất cả các cơ cấu hạ tầng trong nền kinh tế quốc dân, là quyết định rất quan trọng để tạo sự thay đổi mang tính đột phá.   Kinh nghiệm của Singapore trong 3 thập niên vừa qua là một tấm gương về cách thức xây dựng lên một quốc gia tri thức trên nền tảng ICT. Từ chỗ thua thiệt về tài nguyên và nguồn lực, lãnh đạo Singapore đã biết dùng những đầu tư đột phá vào công nghệ cao, hiện đại hóa, tri thức hóa để thu hút nhân tài của cả thế giới tụ về. Singapore đã phát triển nền kinh tế một cách toàn diện, nâng cấp chất lượng sản phẩm/dịch vụ quốc gia và tiến tới việc đưa ra những phát minh, sáng tạo thông minh bậc nhất trên hành tinh này.  ————  * Giám đốc Chiến lược Tập đoàn FPT      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại      Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.      Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay.   Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.  Tại sao việc khôi phục quá khứ huy hoàng của vùng đất này là vấn đề quan trọng? Vì nó góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề nhận thức về quá trình hình thành lãnh thổ, biên giới và các đơn vị hành chính của Việt Nam. Đặc biệt đây là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng và tiềm năng kinh tế trong tương lai, gắn liền với Phú Quốc và hành lang phát triển kinh tế dọc theo bờ vịnh Thailand. Lịch sử truyền thống Việt Nam ít chú ý đến tính đa dạng địa phương và quá trình sáp nhập lãnh thổ. Điều này không những không giúp độc giả hiểu được công lao khai phá, quá trình khai thác lãnh thổ, mở rộng đất đai, sáp nhập đất đai của thế hệ đi trước, mà còn gây trở ngại cho sự mở rộng tri thức về quá trình phát triển lãnh thổ Việt Nam và những cách thức đa dạng để trở thành Việt Nam. Đó là cách chúng ta tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng, và trân trọng công lao của tiền nhân, dù là họ Mạc Hà Tiên, các di dân Hoa kiều, cộng đồng người Khmer trên lãnh thổ Việt Nam hay chúa Nguyễn, và vương triều Nguyễn. Nhận thức lịch sử đa chiều cũng là cách củng cố lập luận về quá trình xác lập chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất này. Những diễn biến phức tạp và sự năng động của Hà Tiên cho thấy lịch sử không đơn thuần như mô tả của người Campuchia rằng khu vực này vốn là “lãnh thổ”của họ.  Cốt lõi của vấn đề ở chỗ Hà Tiên là vùng đất có lịch sử đa dạng, nằm giữa các dự án chính trị, tranh chấp quyền lực và lãnh thổ ở Đông Nam Á lục địa thời sơ kỳ hiện đại, gắn kết nhiều nhóm cư dân khác nhau. Liên hệ chính trị, lãnh thổ của nó với người Việt-Khmer-Thái là phức tạp. Điều quan trọng là Hà Tiên không chỉ hành động với tư cách là một chư hầu lệ thuộc mà tính năng động và tự chủ của nó giúp định hình khuynh hướng chính trị-lãnh thổ mà nó gia nhập. Sự sáp nhập của Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam vì thế không chỉ đơn thuần là sự mở rộng không gian của người Việt mà còn là sự chủ động gia nhập của Hà Tiên vào không gian chính trị này. Sự lựa chọn này giúp định hình một con đường để trở thành Việt Nam hiện đại: con đường của Hà Tiên.    Hà Tiên ở thế kỷ XVIII. Nguồn: Nicholas Sellers, The Princes of Hà Tiên, 1682-1867. Brussels: Thanhlong, 1983.   Các huyền thoại về vùng đất Hà Tiên  Trong khi các sách lịch sử của Việt Nam thường bắt đầu bằng sự kiện năm 1708 khi Mạc Cửu phái người đến Phú Xuân (Huế) xin được bổ nhiệm cai quản Hà Tiên, và sau đó được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh (theo Đại Nam Thực Lục). Sự kiện được cho là đánh dấu vùng đất này trở thành một phần của lãnh thổ Đàng Trong. Lịch sử Campuchia mô tả một diễn trình hoàn toàn khác. Một thương nhân người Quảng Đông rời Trung Hoa năm 1671 đi qua Phillipines và Java. Cuối cùng ông ta đến triều đình Chân Lạp ở Udong và giành được sự tin tưởng của nhà vua Chey Chettha IV (Ang Sor). Sự ghen tị của các quan chức cấp cao người Khmer cuối cùng buộc ông phải xin nhà vua cho ra cai quản vùng đất Banday Mas. Nhà vua Khmer sau đó chấp thuận và ban cho ông danh hiệu Okya (Trần 1979:1537).  Một phần phiên bản của câu chuyện này được kể lại bởi Vũ Thế Dinh, một gia thần của dòng họ Mạc viết năm 1818 trong Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (Gia phả dòng họ Mạc của quan Hiệp trấn Hà Tiên). Tuy nhiên nó cũng cung cấp thêm nhiều góc nhìn thú vị về cách thức dòng họ này xây dựng một chính thể tự trị đứng giữa các nhà nước của người Việt, người Khmer và người Thái. Diễn ngôn lịch sử này chú ý nhiều hơn đến tính năng động của họ Mạc và sự chủ động lựa chọn của họ trong mối liên minh/ phiên thuộc với người Việt. Dù được phong Okya, danh hiệu dành cho quan chức cao cấp Khmer (David Chandler 2000: 108-111), Mạc Cửu thấy rõ địa vị bấp bênh của mình trong một vương triều xa lạ. Khi dừng chân ở vùng đất Banday Mas, ông nhận thấy nơi đây là một cảng thị tấp nập với thương nhân người Hoa, Việt, Khmer, Malay tụ hội, nên tìm cách để được sự cho phép của vua Chân Lạp mở các sòng bạc nhằm thu thuế. Như nhận định của sử gia Li Tana, đây chính là các sòng bạc đầu tiên ở Đông Nam Á được mở bởi thương nhân Hoa kiều. Chính sự thịnh vượng này cho phép họ Mạc dần kiểm soát khu vực duyên hải và cảng biển Hà Tiên để xây dựng một trung tâm kinh tế-chính trị riêng (Li Tana 2004:806). Cũng vì nhận thấy sự đe dọa của Chân Lạp ở phía Bắc và Siam ở phía Tây mà Mạc Cửu lại tìm cách tìm đến Phú Xuân.  Những người phương Tây cũng có một phiên bản cho riêng mình về câu chuyện Hà Tiên, vương quốc có tên gọi Ponthaimas. Alexander Hamilton đến vùng đất này năm 1718, gọi đây là cảng thứ hai của Campuchia. Thương nhân người Pháp Pierre Poirve mô tả đó là vương quốc được tạo ra bởi một thương nhân người Hoa, nhưng nằm dưới sự ảnh hưởng của Siam. Trong tham luận năm 1768 trình bày trước Viện Hàn Lâm Lyon, ông mô tả họ Mạc như những thương nhân khôn khéo, chăm chỉ, biết cách khai phá vùng đất trù phú để trở nên thịnh vượng, lại biết sử dụng chính sách ngoại giao khéo léo để được các nước láng giềng hùng mạnh che chở. Hà Tiên vì thế không chỉ là một cảng thị thương mại sầm uất mà còn là “kho lúa dồi dào nhất của phần đất miền Đông châu Á”, nơi người Malay, Nam Hà (Đàng Trong), Siam đều trông vào để bảo đảm cho những nạn đói.  Hà Tiên cũng xuất hiện trong mô tả của người Trung Quốc. Một quan chức nhà Thanh đã ghé qua đây những năm 1740, và ghi chép về vương quốc có tên Cảng Khẩu/ Cảng Khẩu Quốc, nằm dưới sự ảnh hưởng của An Nam (Đàng Trong) và Siam. Tuy vùng đất được xây dựng bởi những cư dân rời bỏ Trung Hoa vào cuối Minh-đầu Thanh, quan chức nhà Thanh ngạc nhiên về sự thịnh vượng, thấm nhuần văn hóa Hán của họ, những người thậm chí còn xây cả Văn Miếu (Hoàng triều Văn hiến thông khảo, 1747). Chính vì điều này mà Hà Tiên cũng được biết đến ở Đàng Ngoài của chính quyền Lê-Trịnh. Lê Quý Đôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với những thành tựu văn hóa của vùng đất này, đặc biệt là ngợi ca “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”.    Lời tựa của văn bản Hà Tiên Thập Vịnh. Nguồn: EFEO Microfilm, A.441.  Bản thân Hà Tiên cũng tạo ra các huyền thoại cho riêng mình. Các huyền thoại sẽ giúp vùng đất này trở nên hấp dẫn, có khả năng thu hút di dân, thương nhân, tìm kiếm tính chính thống cho sự cai trị của dòng họ, và tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế. Từ chuyện các nàng tiên xuất hiện trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc, đến bức tượng Phật và ánh sáng huyền bí ở Lũng Kỳ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tứ. Tất cả tạo nên diễn ngôn chính trị, tôn giáo, và dung hợp xã hội mà họ Mạc muốn gửi bức thông điệp đến các nhóm cư dân ven vùng vịnh. Trong một bức thư năm 1742 viết bằng chữ Khmer gửi đến chính quyền Mạc Phủ Tokugawa, Mạc Thiên Tứ tự xưng mình là Neak Somdec Preah Sotoat và tự phong danh hiệu “vua của Campuchia”.    Trong lúc các huyền thoại này có cốt lõi của các diễn ngôn lịch sử gắn Hà Tiên với dòng di cư của người Hoa vào cuối thời Minh đầu thời Thanh xuống Đông Nam Á. Họ can dự vào một loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, và quân sự khắp khu vực, từ chiến tranh ở Thailand, xung đột ở đảo Java, Manila, cho đến việc điều hành các khu khai mỏ thiếc dọc theo bán đảo Malay và quần đảo Indonesia làm xáo trộn bức tranh chính trị Đông Nam Á, và khỏa lấp những khoảng trống vắng nhà nước tập quyền ở khu vực. Để rồi sau đó, đến lượt các vùng đất này trở thành nơi tranh chấp của những vương quốc tập quyền khu vực.  Khung cảnh cho sự thịnh vượng của Hà Tiên  Sự thịnh vượng của Hà Tiên đến từ nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm vị trí địa lý, khung cảnh thương mại khu vực và toàn cầu, và sự gia tăng tương tác quân sự dọc theo hạ lưu Mekong. Vùng đất này nằm giữa tuyến giao lưu của các luồng thương mại, các nguồn hàng, các dự án chính trị, di dân, và các nền văn hóa từ các vùng núi của Lào và Campuchia xuống, người Malay từ bán đảo Malay-quần đảo Indonesia, người Thái từ phía Tây, và các nhóm người Hoa xung quanh vùng vịnh, và nam tiến của người Việt. Hà Tiên nằm ngay trên đầu mối của một trong những tuyến thương mại cổ xưa nhất ở Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với biển Đông qua eo Kra từ các thế kỷ gần CN. Óc Eo, cảng thị quan trọng nhất của vương quốc cổ Phù Nam cũng năm trên trục giao thương này.  Sự phát triển của Hà Tiên diễn ra trong một khung cảnh quan trọng của lịch sử hạ lưu sông Mekong vào thời sơ kỳ hiện đại. Sự mở rộng của các dự án nhà nước tập quyền của người Việt, Khmer, và Thái đến vùng đông nam của bán đảo Đông Dương. Các sử gia về Đông Nam Á gọi đây là những vùng đất tự trị cuối cùng ở châu Á trước khi chúng bị sáp nhập thành lãnh thổ của các nhà nước tập quyền (“the Last Stand of Asian Autonomies”: Anthony Reid 1997). Các học giả khác thì gọi vùng đất này là “đường biên nước” (water frontier), nơi chứng kiến khoảng trống quyền lực nhà nước cuối cùng ở Đông Nam Á với sự dịch chuyển tự do của dòng di cư, thương mại, và xung đột chính trị (Li Tana-Nola Cooke 2004).    Khung cảnh thương mại khu vực trở thành môi trường nuôi dưỡng cho sự thịnh vượng của Hà Tiên, trong một thế kỷ huy hoàng và cực kỳ sôi động trên vùng vịnh Thailand. Trước hết là sự mở rộng của người Thái xuống phía nam, tiến ra biển và bắt đầu nhòm ngó vùng duyên hải từ Chanthaburi, Trat đến Hà Tiên, nơi tập trung các trung tâm sản xuất gỗ, lúa gạo, hải sản, đóng thuyền, lâm sản như đậu khấu, da hươu, gỗ đàn hương, ngà voi… Khi Ayutthaya bị người Miến đốt cháy vào năm 1767, người Thái đã từ bỏ kinh đô phía Bắc và bắt đầu chuyển xuống Thonburi-Bangkok, chỉ cách vùng vịnh Thailand chưa đầy 20 km. Cùng lúc đó, người Malay bắt đầu gia tăng các hoạt động thương mại lên phía Bắc của vùng vịnh, dùng thiếc và vũ khí phương Tây đổi lấy gạo.  Trung Quốc là một trong các thị trường quan trọng của Hà Tiên. Thế kỷ XVIII được coi là thời kỳ “thịnh trị” Khang Hy-Ung Chính-Càn Long, đánh dấu với sự gia tăng dân số gấp đôi từ 150 triệu lên hơn 300 triệu (từ năm 1700 đến năm 1800), dẫn đến nhu cầu lương thực gia tăng mạnh dọc theo duyên hải từ Quảng Đông lên Phúc Kiến. Các cuộc di cư xuống phía Nam buôn bán và nhập khẩu gạo đều hướng đến hai đồng bằng là Mekong và Chao Phraya, trong thời kỳ được gọi là “thế kỷ người Hoa” ở Đông Nam Á (1740-1840) (Anthony Reid 2004). Hà Tiên nằm ở trung tâm của hai vùng cung cấp lúa gạo chủ đạo ở Đông Nam Á. Với vị trí đó, Hà Tiên đóng vai trò là một trong những hải cảng quan trọng nhất ở Đông Nam Á thế kỷ XVIII, theo đề xuất của Li Tana và Paul A. Van Dyke trong khảo cứu của họ về hệ thống trao đổi giữa Quảng Châu và biển Đông (2007). Bảng dưới đây cung cấp số liệu về lượng thiếc nhập khẩu của Quảng Châu từ Đông Nam Á. Hà Tiên ở đây xuất hiện với tên gọi “Cancao” (Bảng 1).    Bảng 1. Nhập khẩu thiếc của Quảng Châu từ Đông Nam Á, 1758-1774. Đơn vị: piculs: 60.479 kg. Nguồn: Li Tana và Paul A. Van Dyke 2007.     Phần mô tả về Hà Tiên trong bản đồ Châu Á của Pierre M. Lapie. Nguồn: Atlas Universel De Geographie Ancienne Et Moderne, Paris : Eymery Fruger et Cie, [1833].  Nguồn thiếc này, theo gợi ý của sử gia Barbara W. Andaya (ĐH Hawaii) trong công trình nghiên cứu về lịch sử đảo Sumatra thế kỷ XVIII, là đến từ Palembang và Bangka – các trung tâm sản xuất thiếc lớn nhất ở Đông Nam Á sơ kỳ hiện đại (Andaya 1993, Reid 2004). Không chỉ là điểm trung chuyển như ghi chép của các thuyền Hà Lan thường xuyên ghé qua Hà Tiên, lấy hạt tiêu đổi muối và gạo, Hà Tiên còn là đầu mối thông thương của hạ lưu Mekong ở thế kỷ XVIII. Không chỉ kết nối với vùng núi Đậu Khấu, cao nguyên ở Lào và Cambodia, mà còn hệ thống thương mại dọc theo các kênh rạch và vùng ngập nước bờ Tây sông Hậu. Giáo sĩ người Pháp Levavasseur đã đi qua các vùng ngập lụt này và thông báo rằng ông ta đã thấy hơn 50 thuyền mành đang trao đổi hàng hóa.  Sức mạnh của một trung tâm giao thương không chỉ cho phép vùng đất này có khả năng đúc tiền riêng, mà còn được biết đến như một huyền thoại về sự thịnh vượng xung quanh biển Đông và vịnh Thailand. Một chỉ dấu chính là việc vùng đất này được biết đến bởi nhiều nhóm người với nhiều tên gọi. Đại Nam Nhất Thống chí gọi vùng đất này là Mang Khảm, Trúc Phiên Thành, Đồng trụ trấn. Người Hoa gọi vùng này là Phương Thành, Cảng Khẩu, Cảng Khẩu Quốc. Tên này có lẽ được phiên lại trong các ghi chép Phương Tây là Cancao, trong khi tên gọi khác là Ponthaimas có lẽ đến từ tiếng Khmer và Thái. Người Khmer gọi vùng đất này là Peam hay Bantay Mas  (Bức tường vàng), người Malay gọi là Pantai Mas (Bờ biển Vàng) hay Kuala (Cửa sông), người Thái gọi là Ponthaimas, Phutthaimas hay Ban-Thaay-Mas (Cánh cổng vàng).  Giai đoạn phát triển đỉnh cao của Hà Tiên là giữa những năm 1740 và 1760 sau cuộc đàn áp người Hoa ở Java và tàn phá Ayutthaya của người Miến. Trong các thập kỷ này, Hà Tiên trở thành cảng quan trọng nhất trong vùng vịnh Thailand giao thương với Trung Quốc. Hàng hóa như thiếc, đồng, gạo, hạt tiêu, muối, và sản phẩm rừng là nguồn cung cấp quan trọng cho Quảng Châu.  Sự gắn kết của Hà Tiên vào Việt Nam  Có sự liên hệ tự nhiên đặc biệt giữa Hà Tiên với chính quyền Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Cam kết chính trị và quân sự mạnh mẽ của vùng đất này với Phú Xuân không chỉ trong cuộc chiến tranh với Chân Lạp và Siam, mà còn là công cuộc phục hưng và cuộc chiến tranh 30 năm của Nguyễn Ánh ở vùng hạ lưu Mekong, cũng như đối với việc hoạch định biên cương nhà Nguyễn sau này (xem thêm Tạp chí Tia Sáng số 17 ngày 5/9/2017).  Hà Tiên sớm can dự, thậm chí là trở thành tâm điểm của các cuộc chiến tranh này và gia nhập vào không gian “Việt Nam”. Không chỉ chấp nhận danh hiệu Tổng Binh năm 1708 và Tổng Binh năm 1735, họ Mạc đã trở thành một đồng minh/ chư hầu quan trọng của Đàng Trong trong cuộc tranh chấp quyền lực khu vực. Thực tế là họ Mạc cần chúa Nguyễn để chống lại các cuộc xâm lược thường xuyên của người Thái và Khmer bởi vị thế cực kỳ dễ bị tập kích của Hà Tiên. Người Việt cũng cần kiểm soát vùng đất này như cửa ngõ bảo vệ cho dự án lãnh thổ ở hạ lưu Mekong của mình. Sự gia nhập của Hà Tiên vào Việt Nam vì thế là một quá trình tự nhiên.  Họ Mạc đã tìm cách gắn kết với người Việt bằng nhiều cách thức khác nhau. Mạc Cửu kết hôn với người vợ Việt ở Biên Hòa là Bùi Thị Lẫm, trong khi em gái ông kết hôn với Trần Đại Định (con trai của Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai). Hà Tiên còn tìm kiếm sự kết nối với không gian Việt Nam thông qua góc độ văn hóa, tôn giáo. Sử gia người Singapore, Claudine Ang trong luận án về các dự án văn minh và nhà nước ở vùng biên của Việt Nam (Cornell University 2012) đã làm nổi  bật vai trò của những nhân vật như Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ trong việc định hình nên cấu trúc mở rộng của lịch sử Đàng Trong. Đó cũng chính là đóng góp của họ đối với lịch sử hình thành nên hình thể Việt Nam hiện đại. Cũng chính từ những vùng đất trù phú như Hà Tiên, Phú Quốc, Gia Định… mà vương triều Nguyễn được thiết lập năm 1802, triều đại đầu tiên thống nhất lãnh thổ Việt Nam như chúng ta được thừa hưởng ngày nay.  Vai trò của vùng đất này trong việc định hình nên cấu trúc lịch sử Việt Nam sẽ còn tiếp tục ở thế kỷ XIX. Thời kỳ Minh Mệnh, cùng với dự án chính trị thống nhất lãnh thổ là việc xóa bỏ chế độ thế tập cai trị tại các vùng biên và vùng núi sẽ lần đầu tiên biến vùng đất này thành đơn vị hành chính trực thuộc Huế. Trong khi các thủ lĩnh miền núi được thay thế bằng các quan lại miền xuôi do Huế cắt cử thì ở Hà Tiên, xóa bỏ chế độ thế tập của dòng họ Mạc. Từ đây tỉnh Hà Tiên ra đời, nơi ghi dấu ấn các chiến dịch quân sự trên kênh Vĩnh Tế ngăn chặn cuộc xâm lược của Bangkok, và là trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự vùng biên của Việt Nam cả trên bộ lẫn trong vùng Vịnh.    Bản đồ tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn. Các yếu tố thể hiện trên bản đồ bao gồm: trụ sở hành chính trong ô vuông: Tỉnh Hà Tiên và Phủ An Biên. Phía bắc tỉnh Hà Tiên giáp gianh địa giới tỉnh An Giang, phía tây giáp Cao Miên và phía nam là đảo Phú Quốc. Nguồn: Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ, EFEO Microfilm, A.1600.  Cuối cùng, Hà Tiên là mảnh ghép sống động và không thể tách rời trong bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của lãnh thổ hình chữ S của nước Việt Nam hiện đại. Lịch sử vốn phức tạp với nhiều tầng bậc và các mối quan hệ đan xen. Hà Tiên là ví dụ đặc sắc cho một thực thể lịch sử như thế. Nổi lên giữa các luồng văn hóa, dòng di cư, thương mại, và xung đột khu vực; để tìm kiếm một phương thức tồn tại, Hà Tiên đã tìm kiếm sự gắn kết vào không gian lịch sử Việt Nam một cách chủ động. Sự tham gia của vùng đất này rõ ràng đã làm gia tăng sự đa dạng của cấu trúc không gian và các diễn trình lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng thì chúng ta tự hào rằng có nhiều cách thức khác nhau để trở thành Việt Nam hiện đại, và trong sự thống nhất, đa dạng đó, Hà Tiên góp phần tạo dựng nên diện mạo của lãnh thổ Việt Nam. Hà Tiên không chỉ là chặng cuối của quá trình Nam tiến, mà còn là cửa ngõ của Việt Nam mở ra vùng vịnh Thailand và phía Tây.  ——–  Tham khảo  David Chandler. A History of Cambodia. Silkworm Books: Chiang Mai, 2000.  Li Tana. Mạc Thiên Thứ (1700–1780): “King of Cambodia”, Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor, edited Ooi Keat Gin. ABC Clio, 2004.  Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục. Nxb Giáo Dục: HN, 2010.  Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Liệt Truyện. Nxb Thuận Hóa: Huế 2005.  Sakurai,Yumio, and Takako, Kitagawa. “Ha Tien, or Banteay Meas in the Time of the Fall of Ayutthaya.” Pp. 150–220 in From Japan to Arabia:Ayutthaya’s Maritime Relations with Asia. Edited by Kennon Breazeale. Bangkok: Foundation for the Promotion of Social Sciences and Humanities Textbooks Project. 1999.  Sellers, Nicholas. The Princes of Hà-Tiên (1682–1867). Brussels: Éditions Thanh Long, 1983.  Trần Kinh Hòa..“Mac Thien Tu and Phrayatakin, a Survey on Their Politics Stand, Conflicts and Background.” Pp. 1534–1575 in VII IAHA Conference Proceedings, vol. 2. Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1979.  Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí. Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa: Sài Gòn, 1972  Trương Minh Đạt. Nghiên cứu Hà Tiên. Nxb Trẻ: TP HCM, 2008  Vũ Thế Dinh. Hà Tiên trấn hiệp trấn Mạc thị gia phả. Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thế Giới, Hà Nội: 2006.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Hài lòng với thành công bước đầu của phòng thí nghiệm trọng điểm      Sau hơn một năm chính thức đi vào hoạt động, chị Vũ Thị Thu Hà, giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm hóa lọc dầu, vui mừng thông báo bằng sáng chế đầu tiên đăng ký tại châu Âu của phòng thí nghiệm chị liên kết với đối tác Pháp đã được cấp kinh phí hoàn thiện công nghệ.    Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ tại Viện nghiên cứu quá trình xúc tác của Pháp vào năm 1999 chị Hà trở về nước làm nghiên cứu tại Viện Hóa học công nghiệp. Thời điểm đó, chị thấy khoảng cách khá lớn giữa điều kiện nghiên cứu tại Pháp và Việt Nam. Chị gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm hướng nghiên cứu cũng như tìm nguồn tài trợ nghiên cứu. Năm 2001 chị Hà quay trở lại Pháp thực tập sau tiến sĩ vì nghĩ rằng điều này sẽ giúp chị có nhiều kinh nghiệm làm nghiên cứu hơn. Hai năm sau, khi chị Hà quay về Việt Nam cũng là lúc Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam bắt đầu triển khai dự án xây dựng Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc và hóa dầu. Lần này, những trách nhiệm và kỳ vọng của ban lãnh đạo trong Viện đã giữ chân chị lại.    Bằng sáng chế đầu tiên đăng ký tại Pháp  Nhận thấy nhu cầu về dung môi tại Việt Nam lớn, khoảng vài trăm nghìn tấn mỗi năm và đang phải nhập ngoại gần như hoàn toàn. Hơn nữa, lâu nay bên công nghiệp vẫn quen với các dung môi nguồn gốc hóa thạch trong khi dung môi có nguồn gốc thực vật có nhiều ưu điểm hơn như khả năng hòa tan tốt, ít bay hơi, không bắt cháy, không ảnh hưởng đến sức khỏe, có khả năng phân hủy sinh học, nhóm nghiên cứu của chị Hà tại Viện hóa công nghiệp và nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu quá trình xúc tác của Pháp đã đề xuất đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất dung môi sinh học từ các nguồn nguyên liệu tái tạo. Đối tác Pháp là Viện nghiên cứu nơi chị làm luận văn tiến sĩ và cũng là viện nghiên cứu đã giúp đỡ Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện dự án xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm.   Đề tài bắt đầu triển khai từ năm 2008. Phần lớn khối lượng công việc được tiến hành ở Việt Nam, tuy nhiên với những giai đoạn cần thiết bị hiện đại hơn chị Hà và các nghiên cứu viên trong nhóm sang Pháp tiến hành, nhiều khi làm lại các thí nghiệm để kiểm tra độ chính xác. Kết quả sau 2 năm, nhóm nghiên cứu của chị Hà đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất hỗn hợp dung môi sinh học với thành phần chính là metyl este dầu thực vật và este etyl lactate từ các nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp.          PGS. TS Vũ Thị Thu Hà tốt nghiệp Công nghệ Hữu cơ– Hóa dầu, Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1992. Hoàn thành luận án tiến sĩ năm 1999 tại Viện nghiên cứu quá trình xúc tác, Pháp. Hiện nay là Viện phó Viện Hóa học công nghiệp đồng thời làm giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc và hóa dầu.         Kết quả nghiên cứu đã được đăng ký bằng sáng chế tại Pháp. Trung tâm nghiên cứu quốc gia Pháp (CNRS) đồng ý bỏ kinh phí ra để đăng ký độc quyền. Trong năm đầu tiên sau khi đăng ký sáng chế, CNRS có dịch vụ hỗ trợ nâng cao giá trị của các bằng sáng chế bằng cách mời bên công nghiệp tới giới thiệu. Trong số 70 bằng sáng chế của ngành hóa, các hãng công nghiệp quan tâm tới 10 bằng sáng chế và mời các tác giả trình bày cụ thể. Sau khi gửi thông tin thuyết trình, bằng sáng chế của nhóm chị Hà là một trong 5 sáng chế được lựa chọn để cung cấp tài chính hoàn thiện công nghệ để chuyển giao cho bên công nghiệp.   Luôn tìm kiếm những hướng nghiên cứu mới  Từ khi bắt đầu xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm, chị Hà đã được lãnh đạo Viện cũng gửi gắm trách nhiệm điều hành phòng thí nghiệm khi hoàn thành. Do vậy khi chính thức được bổ nhiệm giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm vào tháng 7/2009 chị không cảm thấy gặp nhiều khó khăn và áp lực.   Hiện tại, phòng thí nghiệm của chị có khoảng 18 cán bộ nghiên cứu. Các hướng nghiên cứu chính của phòng thí nghiệm là công nghệ lọc và hóa dầu gắn liền với xúc tác; nhiên liệu sạch; sản phẩm thân thiện với môi trường; năng lượng tái tạo.   Theo quy định, các phòng thí nghiệm trọng điểm sẽ được đánh giá 4 năm/lần theo các tiêu chí về công bố quốc tế, sáng chế, ứng dụng, số lượng người đào tạo, đề tài dự án thực hiện. Cũng như giám đốc của các phòng thí nghiệm khác, chị Hà mong muốn đạt được các yêu cầu để được tiếp tục đầu tư trong giai đoạn tới. Nhưng chị không thấy quá lo lắng, “so với các phòng thí nghiệm khác, phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ hóa lọc dầu được đánh giá trong số 3 phòng thí nghiệm có kết quả tốt”.   Khi được hỏi công việc quản lý có làm chị thiếu thời gian dành cho nghiên cứu, chị Hà cho biết, “các công việc hành chính có hơi hướm chuyên môn chủ yếu liên quan tới việc đưa ra các ý tưởng, xây dựng đề tài, viết thuyết minh, tổ chức seminar. Do vậy phần lớn thời gian tôi vẫn dành cho nghiên cứu”.   Trải qua những khó khăn trong nghiên cứu, chị Hà hiểu bước khởi đầu khó khăn của các nghiên cứu viên. Chị luôn cố gắng tạo điều kiện học tập, cơ chế đãi ngộ tốt, tôn trọng đồng nghiệp để họ toàn tâm toàn ý với công việc. Theo chị Hà, ở Việt Nam có nhiều kênh khác cho nghiên cứu ứng dụng. Các nhà nghiên cứu trẻ có chuyên môn vững vàng, am hiểu tình hình thực tế của Việt Nam, luôn cập nhật nghiên cứu mới trên thế giới sẽ dễ tìm ra được những hướng nghiên cứu phù hợp và xin được tài trợ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai năm thực hiện Nghị định 115: Cốt yếu là thay đổi nhận thức      Nghị định 115 đã được ví như”khoán 10” trong khoa học hay là “bước đột phá” trong công tác tổ chức hoạt động của các đơn vị khoa học công nghệ. Theo phát biểu của thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện nghị định này, mục tiêu của nghị định là “trao cho nhà khoa học quyền tự chủ cao nhất thể hiện bằng quyền tự chủ về tổ chức, nhân sự và tài chính”. Nhưng trên thực tế, vẫn còn một số đơn vị “ngại” tự chủ, mà lý do không hẳn là họ không muốn xa bầu sữa bao cấp.     Môi trường pháp lý: hoàn chỉnh  Qua hơn hai năm thực hiện, có gần 50% đơn vị trong tổng số 659 tổ chức khoa học công lập có đề án. Cụ thể, theo Báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo thực liên bộ do ông Trần Văn Tùng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức (Bộ Khoa học và Công nghệ),  có 161 đơn vị có đề án được phê duyệt, 142 đơn vị có lập đề án. Bên cạnh đó, việc rà soát, đánh giá tổ chức nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu chính sách đã xác định 123 tổ chức tiếp tục được hưởng ngân sách thường xuyên để hoạt động. Trong số 123 tổ chức này, theo nhận xét của ông Tùng, một số bộ và địa phương đề nghị rất sát, một số chưa sát. Ông Tùng cũng thẳng thắn nêu tên một số đơn vị còn chậm triển khai như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện khoa học xã hội Việt Nam.  Nguyên nhân của việc chậm trễ, theo đánh giá của ban chỉ đạo liên bộ là lãnh đạo địa phương chưa chỉ đạo quyết liệt. Sự phối hợp giữa các sở, ban ngành chưa chặt chẽ, trong đó vai trò đầu mối của Sở khoa học và Công nghệ chưa được thể hiện rõ. Một nguyên nhân gây chậm trễ khác là các địa phương không nắm được thông tin, nên phê duyệt không đúng tinh thần của nghị định. Cá biệt, có 6 địa phương đã phê duyệt theo tinh thần của nghị định 43 dành cho các đơn vị thuộc hai khối y tế và đào tạo. Ông Trần Văn Tùng nhấn mạnh: “Nếu vẫn theo mục tiêu nghiên cứu phát triển khoa học, thì phải áp dụng theo Nghị định 115”.               Trao đổi bên lề Hội nghị            Việc thực hiện nghị định 115 ở các địa phương, theo báo cáo của Ban chỉ đạo liên bộ, sẽ đề nghị cho kéo dài thời gian chuẩn bị cho đến hết 2011. Nguyên nhân, theo ông Trần Văn Tùng, là nghị định 132 về tinh giản biên chế, có liên quan mật thiết tới 115, cũng kéo dài tới 2011.  Trong 4 năm trở lại đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cùng các đơn vị hữu quan xây dựng 4 bộ luật quan trong như Sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, năng lượng nguyên tử… Sắp tới, theo thứ trưởng Nguyễn Quân, sẽ xây dựng luật về Công nghệ cao. Ông Quân cho rằng: “Nền tảng pháp lý cho khoa học công nghệ đã được hoàn thành”.  “Độ trễ quán tính “  Thế nhưng, tòa nhà pháp lý cho hoạt động khoa học công nghệ không thể hình thành nếu chỉ có nền móng mà thiếu vắng các khung sườn. Đó là chưa kể tới việc ban hành không đồng bộ khiến cho ngôi nhà pháp lý đó không bảo đảm cho hoạt động chuyển đổi được thông suốt.  Một số ý kiến nêu ra tại hội nghị cho rằng việc ban hành chính sách không đồng bộ đã gây cản trở cho hoạt động chuyển đổi. Trường hợp của Trung tâm ứng dụng hạt nhân trong công nghiệp vốn trực thuộc Viện hạt nhân Đà Lạt, sau chuyển về trực thuộc bộ là một ví dụ. Trung tâm này đã nhận được quyết định chuyển đổi theo nghị định 115, nhưng không đăng ký hoạt động kinh doanh được bởi trong quyết định phê duyệt đề án không nói rõ! Theo ông Trần Văn Tùng, có trường hợp sở kế hoạch đầu tư không biết công văn 3831 của Bộ Kế hoạch đầu tư về việc cho phép tổ chức khoa học công nghệ sau khi chuyển đổi sẽ được đăng ký hoạt động kinh doanh sản xuất.  Bên cạnh sự không đồng bộ về văn bản hướng dẫn thi hành nghị định, văn bản ban hành không quy định rõ ràng khiến cho địa phương hay đơn vị chức năng có thể hiểu theo nhiều cách, gây khó cho các tổ chức khoa học công nghệ chuyển đổi. Trung tâm ứng dụng hạt nhân nêu trên đã không được Cục thuế Lâm Đồng cho miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo tinh thần của Nghị định 115. Nguyên do là đơn vị này chuyển từ viện về trực thuộc bộ, theo giải thích của cục thuế nghĩa là thành lập mới! Một số cơ quan thuế ở địa phương đòi hỏi phải có văn bản hướng dẫn về ưu đãi thuế mới áp dụng. Ông Trần Văn Dũng, giám đốc trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (Quatest 3) cho biết, đơn vị ông không được hưởng ưu đãi thuế dù đã chuyển đổi theo nghị định 115 vì lý do trên.  Một số ý kiến nêu, có những vướng mắc khiến cho “tính tự chủ tài chính không có nhiều ý nghĩa là văn bản hướng dẫn không bao quát”. Điển hình như Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thủy Phương muốn góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập hai công ty cổ phần về phát triển giống và chế biến thịt đà điểu phải đợi Ban chỉ đạo liên bộ có công văn ủng hộ việc làm này. Sau đó, cơ quan chủ quản mới có văn bản hướng dẫn việc giao tài sản góp vốn.  Nếu như trở ngại chính từ khâu ban hành chính sách, văn bản là yếu tố bên ngoài cản trở quá trình chuyển đổi, thì bản thân các tổ chức khoa học, công nghệ cũng có bị cản trở bởi sức ì của bộ máy. Lý thuyết quản trị cho rằng, bản thân cơ cấu tổ chức nào sau một thời gian cũng có độ trễ quán tính và sức ỳ bộ máy. Điều này thể hiện rõ khi thực hiện thay đổi cơ cấu.  Kinh nghiệm từ các đơn vị chuyển đổi và các cơ quan quản lý ở địa phương cho thấy, ở các tổ chức vẫn còn tâm lý e ngại. Việc một số đơn vị cố gắng được chuyển đổi theo Nghị định 43, chứ không theo 115 là một minh chứng. Các ý kiến phát biểu tại hội nghị đều nhấn mạnh đến nhu cầu cần được đầu tư trang, thiết bị.  Ngoài ra, việc chuyển đổi các tổ chức khoa học, công nghệ theo mô hình tự chủ không chỉ là chuyện thay đổi cơ cấu, tổ chức, trao quyền tự chủ, mà cốt yếu là sự thay đổi về nhận thức của các đơn vị này. Điều này không thể nào đạt được nếu không có sự xác định đúng về tầm nhìn, sứ mệnh của tổ chức, để từ đó xây dựng chiến lược phát triển. Ngoại trừ Quatest 3 có kinh nghiệm tự hạch toán từ năm 2002, nên khi thực hiện theo Nghị định 115, đơn vị này khá thuận lợi khi xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp. Các đơn vị khác không ít thì nhiều vẫn tỏ ra lúng túng.  Thức Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai nhà khoa học Nhật Bản và Canada chia nhau giải Nobel Vật lý      Giải Nobel Vật lý năm nay vừa được công bố thuộc về nhà  khoa học người Nhật Bản Takaaki Kajita và đồng nghiệp người Canada  Arthur B. McDonald, chủ nhân của những công trình phát hiện giao động (oscillations) giữa các hương vị của hạt neutrino, cho phép kết luận hạt neutrino có khối lượng.      Việc phát hiện hiện tượng vật lý nói trên đã mở ra một trang vật lý mới vượt ra khỏi mô hình chuẩn (Standard Model).  Giải thưởng được Viện Hàn lâm  Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố chiều 6/10 (theo giờ Việt Nam). TS Takaaki Kajita, 56 tuổi, thuộc Đại học Tokyo (Nhật Bản) và TS Arthur B.McDonald, 72 tuổi, thuộc Đại học Nữ hoàng (Canada) sẽ chia nhau giải thưởng trị giá 8 triệu kronor Thụy Điển (962.000 USD).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai nhóm nghiên cứu Trung Quốc tuyên bố đạt đến ưu thế máy tính lượng tử?      Hai nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc đang tuyên bố là họ đã chạm tới ưu thế với các máy tính lượng tử riêng biệt của mình. Cả hai đều xuất bản các chi tiết về công trình của mình trên tạp chí Physical Review Letters.      Trong thế giới máy tính, ưu thế lượng tử là việc thực hiện được của các phép tính không thể triển khai trên các máy tính thông thường – vốn được gọi là “tăng cường lượng tử”.  Trong nhiều năm qua, có nhiều nhóm nghiên cứu tập trung vào các máy tính lượng tử đã tuyên bố chạm đến ưu thế này nhưng vẫn bị hoài nghi với những câu hỏi liệu thuật toán của họ đã phải là sự lựa chọn tốt nhất có thể chưa, trong đó có cả máy tính của Google. Trong nỗ lực mới, cả hai nhóm Trung Quốc đều cho rằng không gì có thể nghi ngờ được các máy tính của họ.  Cả hai nhóm nghiên cứu này dều làm việc tại Phòng thí nghiệm Các khoa học vật lý Hợp Phì tại trường đại học KH&CN Trung Quốc, và cả hai đều do nhà vật lý Pan Jian-Wei, người nổi tiếng với công trình về rối lượng tử, dẫn dắt.  Công trình của họ đều có mục tiêu là xây dựng một máy tính lượng tử có năng lực tính toán những xác suất có thể đạt được của các mạch lượng tử – một nhiệm vụ tưởng chừng đơn giản cho máy tính thông thường thực hiện khi chỉ có một số thông tin đầu vào và kết quả đầu ra. Vấn đề này trở nên phức tạp hơn khi các con số tăng lên cho đến khi trở nên không thể thực hiện được.  Trong nỗ lực đầu tiên, các nhà nghiên cứu sử dụng một cach tiếp cận photon trong xây dựng máy tính của mình. Để giải quyết được vấn đề ước lượng các xác suất đầu ra, nhóm nghiên cứu này sử dụng các mẫu boson Gauss như một cách để phân tích kết quả đầu ra. Trong trường hợp này, kết quả từ một giao thoa kế 144 mode. Với kịch bản này, thiết bị Zuchongzhi 2.1 có thể đem đến kết quả là 1043. Các nhà nghiên cứu cho rằng cỗ máy của họ có khả năng lấy mẫu đầu ra nhanh gấp 1023 lần so với một siêu máy tính, vốn là cơ sở để họ tuyên bố là ưu thế lượng tử 1.  Nỗ lực thứ hai là việc tạo ra Jiuzhang 2.0, một máy tính siêu dẫn có năng lực tính toán cao, sử dụng 66 qubit – chỉ 56 qubit là sử dụng được. Tuy vậy các nhà nghiên cứu vẫn tìm thấy năng lực của thiết bị trong tính toán nhanh gấp 1000 lần so với siêu máy tính hạng nhất hiện nay, cơ sở để họ tuyên bố là đã chứng tỏ được ưu thế lượng tử 2.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-chinese-teams-primacy-quantum.html  https://www.globaltimes.cn/page/202110/1237312.shtml  —————-  1.https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.127.180502  2. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.127.180501    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn chế ca-lo có thể kéo dài tuổi thọ      Kết quả nghiên cứu trên Tạp chí Viện Khoa học quốc gia Mỹ số ra tuần này cho biết hạn chế hấp thụ ca-lo sẽ kéo dài tuổi thọ.    Sau 12 tháng tiến hành nghiên cứu trên khỉ, các chuyên gia Mỹ phát hiện chế độ dinh dưỡng hạn chế ca-lo đã cải thiện và duy trì việc sinh sản tế bào T, một thành tố quan trọng của hệ thống miễn dịch bị ảnh hưởng mạnh trong quá trình lão hóa. Chế độ dinh dưỡng hạn chế ca-lo không những tăng cường chức năng của tế bào T mà còn làm giảm các tác nhân gây viêm nhiễm, làm chậm quá trình thoái hóa hệ miễn dịch, giúp cơ thể có sức đề kháng tốt hơn và do vậy, giúp tăng tuổi thọ.  Theo các chuyên gia, đây là phát hiện rất quan trọng đối với các loài động vật có vú và họ sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn về tác dụng của chế độ dinh dưỡng hạn chế ca-lo.                   Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn chế khai thác nhiên liệu hóa thạch để mức nóng lên toàn cầu dưới 1,5 độ C      Một nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học College London (UCL) cho thấy đến năm 2050, để hạn chế mức nhiệt nóng lên toàn cầu dưới 1,5 độ C, chúng ta phải để lại dưới lòng đất gần 60% trữ lượng dầu mỏ, khí methane và gần 90% lượng than đá.      Các nhà khoa học đã công bố kết quả này trên tạp chí Nature, dựa trên xác suất đạt được mục tiêu hạn chế nóng lên toàn cầu ở mức 1,50C trong thế kỷ này là 50%. Như vậy, muốn tăng khả năng đạt được mục tiêu này, chúng ta sẽ cần cắt giảm sản lượng khai thác nhiên liệu hóa thạch nhiều hơn và nhanh hơn.   Nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình hệ thống năng lượng toàn cầu để đánh giá lượng nhiên liệu hóa thạch cần cắt giảm trong khu vực và toàn cầu. Theo đó, trữ lượng dầu mỏ chưa khai thác ước tính dựa trên tỉ lệ phần trăm của cơ sở dự trữ năm 2018. Để đạt mục tiêu khí hậu, chúng ta cần để lại dưới lòng đất 58% lượng dầu mỏ, 59% khí methane và 89% than vào năm 2050.  Dan Welsby  ở Viện Tài nguyên Bền vững UCL, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết, “năm 2015, 196 bên đã ký Thỏa thuận Khí hậu Paris, nhằm mục đích giữ cho nhiệt độ toàn cầu tăng trung bình dưới mức 20C, với mục tiêu mong muốn là 1,50C. Kể từ đó, Báo cáo đặc biệt của IPCC về 1,5oC, các Báo cáo khoảng cách sản lượng và Báo cáo IEA Net Zero đã liên tục chỉ ra, phải nhanh chóng cắt giảm mạnh sản lượng nhiên liệu hóa thạch để tiến tới mức phát thải ròng bằng không. Và quỹ đạo khai thác nhiên liệu hóa thạch hiện tại cũng như dự kiến trong tương lai đang đưa chúng ta đi sai hướng”.   “Bài báo mới của chúng tôi cho thấy sản lượng dầu và khí methane hóa thạch toàn cầu đã đạt đỉnh. Nó cho thấy rủi ro chuyển đổi đáng kể đối với các nhà sản xuất nhiên liệu hóa thạch lớn. Chẳng hạn như sản lượng dầu ở Trung Đông sẽ giảm một nửa trong giai đoạn 2020-2050, cho thấy việc đa dạng hóa nền kinh tế, thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn thu từ hydrocarbon là rất quan trọng”, ông nói.   Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu trước đó vào năm 2015, phát hiện để hạn chế nóng lên toàn cầu ở mức 20C thì nên ngừng khai thác 1/3 trữ lượng dầu, gần 1/2 trữ lượng khí methane (49%) và hơn 80% trữ lượng than.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng Mô hình đánh giá tích hợp TIMES tại UCL (TIAM-UCL), vốn có khả năng nắm bắt các nguồn năng lượng chính – dầu, khí methane hóa thạch, than đá, hạt nhân, sinh khối và năng lượng tái tạo – từ sản xuất đến chuyển đổi (ví dụ sản xuất điện, hydro và nhiên liệu sinh học hoặc lọc dầu), và phân phối để đáp ứng một loạt nhu cầu ở mỗi lĩnh vực sử dụng cuối cùng.  Các quốc gia trên thế giới được thể hiện dưới dạng 16 vùng, cho phép mô tả chi tiết các ngành năng lượng trong các lĩnh vực. Mô hình đã đánh giá các kịch bản khác nhau bao gồm giảm nhu cầu trong các lĩnh vực sử dụng nhiều carbon chính (hàng không và hóa chất) và tính bất định xoay quanh lợi ích và việc triển khai các công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon chính (CCUS) và các công nghệ phát thải âm (NET).  Do đó, Trung Đông phải để lại khoảng 60% trữ lượng dầu và khí trong lòng đất, do cơ sở dự trữ lớn dẫn đến khối lượng dầu khí khổng lồ nơi đây. Ngoài ra, một số khu vực có nhiều dầu mỏ nhưng chi phí khai thác tương đối cao, thì tỉ lệ trữ lượng cần để lại cũng cao, bao gồm 83% dầu cát ở Canada, và 73% dầu siêu nặng ở Trung và Nam Mỹ. Sự khác biệt về tỉ lệ cắt giảm giữa khác khu vực phụ thuộc vào chi phí khai thác, cường độ sản xuất carbon và chi phí của các công nghệ thay thế cho nhiên liệu hóa thạch.  Ông Welsby cho biết thêm, “Ước tính về trữ lượng cần để lại trong lòng đất và tỉ lệ giảm sản xuất có thể vẫn thấp hơn thực tế do chúng tôi sử dụng ngân sách carbon tương ứng với xác suất 50% đạt mục tiêu 1,50C và việc triển khai các công nghệ phát thải âm vẫn còn nhiều bất định. Tuy nhiên, nếu có ý chí chính trị để thực hiện các cam kết đã đưa ra ở Paris, việc cắt giảm nhiên liệu hóa thạch theo đề xuất trong nghiên cứu là hoàn toàn khả thi”.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-limiting-fossil-fuel-global.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn hán, bệnh dịch – tương lai của trái đất      Hậu quả của việc trái đất nóng lên đã nhãn tiền, và trong vài chục năm tới, hàng trăm triệu người sẽ thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.    Đó là những nội dung chính của bản báo cáo dự báo khí hậu trái đất mà các nhà khoa học hàng đầu thế giới sẽ công bố tại một hội nghị quốc tế ở Bỉ trong tháng sau. Mặc dù còn phải điều chỉnh, dự thảo báo cáo khẳng định, đồng thời với nạn hạn hán thì hàng chục triệu người khác sẽ mất nhà cửa mỗi năm do nước biển dâng cao. Các bệnh dịch nhiệt đới như sốt rét sẽ lan tràn. Đến năm 2050, loài gấu Bắc cực sẽ chỉ còn thấy ở vườn thú. Các loài côn trùng gây hại như kiến lửa sẽ phát triển mạnh. Trong một khoảng thời gian nhất định, lương thực thực phẩm sẽ dồi dào nhờ thời gian canh tác kéo dài thêm ở các vùng phía bắc. Nhưng đến năm 2080, hàng trăm triệu người có nguy cơ bị đói ăn.  Vạn Lý (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn hán khiến các hộ gia đình thu nhập thấp không thể chi trả tiền nước      Theo một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Nature Water của Fletcher Lab ở Đại học Stanford (Mỹ), những biện pháp này có thể ảnh hưởng nhiều hơn đến tiền nước của những hộ gia đình thu nhập thấp, khiến nước trở nên đắt đỏ hơn với những người dễ bị tổn thương nhất.      Để tìm ra tác động của hạn hán đối với các hộ gia đình, họ đã phát triển một khung mô hình xã hội – thủy văn cho một hệ cung cấp nước đô thị, bao gồm (1) chi phí dịch vụ gia tăng từ sự mở rộng cơ sở hạ tầng cung cấp nước, nguồn cung ứng nước theo thời gian và sự cắt giảm nhu cầu nước; 2) sự suy giảm của lượng nước do hạn hán ở các mức khốc liệt khác nhau; 3) những thay đổi của lượng nước sử dụng ở các hộ gia đình do giá nước sinh hoạt; 4) tác động của các quyết định sử dụng nước trước thời điểm xảy ra hạn hán.   Ngoài ra, họ còn mô phỏng các kịch bản hạn hán khác nhau để thấy các quyết định sử dụng nước và hành vi của hộ gia đình trong xác định sự gia tăng của chi phí liên quan đến hạn và phần chi trả thêm ở các hộ thu nhập thấp và thu nhập cao khi sử dụng nước. Cách tiếp cận có sự kết nối giữa tình trạng thủy văn với hạn hán ở các quyết định và tác động ở quy mô thành phố và hộ gia đình cho phép họ đánh giá những tác động của hạn hán lên khả năng chi trả. “Lối suy nghĩ thông thường về mối liên hệ giữa khan hiếm nước và khả năng chi trả là xem xét chi phí cung cấp nước và chi phí người dùng phải trả thông qua thiết kế giá”, Sarah Fletcher, phó giáo sư về kỹ thuật dân dụng và môi trường tại Đại học Stanford, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. “Nhưng để hiểu đầy đủ tác động của hạn hán tới khả năng chi trả nước, chúng ta phải tính đến cả phản ứng của mọi người trước tình trạng hạn hán và các biện pháp hạn chế được áp dụng”.   Với dữ liệu công khai về hạn hán ở California từ năm 2011 đến 2016, các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng trong một số trường hợp, các hộ gia đình thu nhập thấp thấy hóa đơn của họ tăng lên, trong khi các hộ gia đình thu nhập cao lại thấy chúng giảm xuống. Các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ các cơ chế liên kết ảnh hưởng đến khả năng chi trả, từ đó có thể giúp các nhà hoạch định chính sách và những người quy hoạch nước hiểu rõ hơn về những tác động tiềm ẩn của các biện pháp ứng phó với hạn hán ngắn hạn và dài hạn.   Khi thiếu nước, các nhà cung cấp nước thường yêu cầu người dùng cắt giảm sử dụng, đồng thời áp dụng phụ phí hạn hán trong các hóa đơn để bù vào doanh thu bị hụt. Fletcher và Benjamin Rachunok, người thực hiện nghiên cứu này khi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Stanford và hiện đang là phó giáo sư ở Đại học bang North Carolina, cho biết.   Các đơn vị cấp nước cũng có thể đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như các nhà máy khử muối hoặc tái chế nước để tăng nguồn cấp nước. Mô hình nghiên cứu cho thấy, trong mọi kịch bản hạn hán, các dự án này làm tăng giá và giảm khả năng chi trả của các hộ gia đình thu nhập thấp.   “Khả năng chi trả là một phần quan trọng của việc tiếp cận nước”, Fletcher nói. “Nếu chúng ta coi an ninh nước bao gồm cả khả năng chi trả của những người thu nhập thấp thì một số giải pháp công nghệ đắt tiền mà chúng ta thường xem xét có thể gây hại cho vấn đề an ninh nước bằng cách khiến nhiều người không thể mua được nước”.   Bằng cách cung cấp cái nhìn sâu sắc về những cơ chế ảnh hưởng đến khả năng chi trả, Fletcher và Rachunok hy vọng sẽ giúp các thành phố đánh giá những cách tiếp cận khác nhau để lên kế hoạch cấp nước dài hạn. Họ đang tiếp tục xem xét tác động của các cấu trúc giá và biện pháp quản lý hạn hán tới hành vi của con người, đồng thời nỗ lực phát triển một phương pháp tổng quát để giúp các cơ quan quản lý đưa ra quyết định tối ưu nhất cho một tương lai bất định. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-droughts-unaffordable-low-income-households.html    Author                .        
__label__tiasang Hạn hán ở Việt Nam: Đâu chỉ mỗi chuyện thiếu nước, hụt mưa?      Hạn hán, những sự kiện thời tiết cực đoan từng diễn ra khốc liệt ở Việt Nam khôn nguôi thôi thúc người ta nghĩ về tương lai với câu hỏi “Liệu chúng ta có phải tiếp tục nếm trải những hiện tượng đó, trong dài hạn”?     Ông Huỳnh Văn Lợi, một trong số nhiều nông dân ở ĐBSCL, phải hứng chịu thiệt hại trong đợt hạn hán năm 2016. Nguồn: USAToday.  Mùa hè năm nay, khi đại dịch đã tạm lắng, người ta trông chờ vào một quãng thời gian có thể tạm ngơi nghỉ, giải tỏa căng thẳng. Nhưng có lẽ, không mấy người toại nguyện bởi sóng nhiệt, hạn hán, cháy rừng đã gia nhiệt thêm cho nỗi bấp bênh hậu đại dịch ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ châu Âu đến châu Á.  Ở Việt Nam, may mắn thay, tạm nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đó. Trong một năm khí hậu chịu tác động của hiện tượng La Niña như năm 2022 này, có lẽ người ta chỉ nên nghĩ về mưa bão, lốc xoáy, áp thấp nhiệt đới hơn là hạn hán. Thế nhưng lòng người hẳn chưa hết nguôi ngoai khi nhớ về hai đợt hạn hán mới chỉ cách đây vài năm, 2015-2016 và 2019-2020. Không riêng tiếng kêu cứu hạn mặn từ vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, những vùng cao như Hà Giang, Tuyên Quang, Gia Lai, Lâm Đồng… cũng lâm vào cảnh suy kiệt nước. Dường như, không ai kịp trở tay trước một sự kiện thời tiết cực đoan như thế.  Vậy có quá vô vọng nếu trong một vài năm tới, chu kỳ El Niño quay trở lại? Cũng không hẳn vậy, nếu nhìn về quá khứ và lắng nghe sự mách bảo của nó, chúng ta vẫn có thể hình dung phần nào bóng dáng của rủi ro phía trước để có thể tự định đoạt cách chống chịu chứ không đơn thuần phó thác cho tự nhiên. “Việc biết được quy luật khí hậu trong quá khứ sẽ giúp ích cho bài toán dự báo”, giáo sư Phan Văn Tân, một chuyên gia về dự báo hạn mùa ở khoa Khí tượng thủy văn và Hải dương học, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, cho biết.  Mặt khác, hạn hán không chỉ có một loại mà nhiều loại với những mức độ tác động đến môi trường xung quanh khác nhau. Loại thứ nhất là hạn khí tượng – hụt lượng mưa so với trung bình nhiều năm, dẫn đến sự mất cân bằng giữa lượng nước tích lũy trong đất và nhu cầu nước của cây trồng, do đó dẫn đến loại thứ hai là hạn nông nghiệp. Khi sự thiếu hụt nước kéo dài dẫn đến hạ thấp mực nước sông suối sẽ dẫn đến hạn thủy văn. Và khi sự thiếu hụt mưa dẫn đến tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt thì đó là hạn kinh tế xã hội, đây cũng là lúc cả xã hội đều nếm trải tác động của hạn. Hạn khí tượng là nguồn gốc của ba loại hạn còn lại, đặc biệt hạn kinh tế xã hội, nhưng thật khó để “bắt” được nó.  Do đó, với những hiện tượng phức hợp nằm ở biên giới của hỗn độn và trật tự như khí hậu, không dễ phát hiện được quy luật vận hành của chúng. Đôi khi, phải mất hàng thập kỷ để tìm cho ra quy luật ẩn giấu giữa nhằng nhịt những yếu tố tác động, và mỗi yếu tố này tự nó cũng biến thiên không ngừng.  Đó là điểm khó mà giáo sư Phan Văn Tân và cộng sự mới bước qua, trong một khía cạnh của khí hậu – hạn hán.  Hạn hán, hơn cả một bài toán khó  Có lẽ, hiếm thấy nơi nào dồn nén âu lo về mùa màng, mưa nắng hơn Việt Nam, “Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm”. Ngay từ nhiều thế kỷ trước, hạn hán đã là nỗi khiếp sợ của dân chúng bởi năm có hạn hán thì dễ lâm vào mất mùa, đói kém, ly tán, tha hương… Đó là lý do trong những triều đại phong kiến trước đây, nhà vua ngoài trị nước, bình thiên hạ cũng tự mình lên đàn cầu mưa. Các sử gia đã cẩn thận ghi lại từng sự kiện. “Mùa hạ, tháng 4, hạn. Vua trai giới ăn chay cầu đảo, được mưa” (năm 1128), “Tháng 6, hạn, làm lễ cầu mưa” (năm 1130), “Tháng 5, hạn, cầu đảo được mưa to” (năm 1131), theo Đại Việt Sử ký Toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục 1…    “Nghiên cứu về hạn hán ở Việt Nam, từ trước đến nay, mới chỉ quan tâm đến có hạn hay không có hạn chứ chưa quan tâm mấy đến các đặc trưng của hạn, độ dài của đợt hạn, độ khắc nghiệt, cường độ, phạm vi không gian của hạn…” (Giáo sư Phan Văn Tân).    Cũng theo sử sách thì bốn thế kỷ dưới hai triều Lý – Trần ghi nhận 38 lần hạn hán, không mưa, trong đó thời Lý 21 lần, thời Trần 17 lần, nhưng đều là ghi lại những sự kiện đã xảy ra, đã thấy. Với những giới hạn của hiểu biết và công cụ thì không ai, ở thời điểm đó, có thể dự báo được sự kiện thời tiết cực đoan này.  Cho đến gần đây, cũng giống những hiện tượng thời tiết khác như lốc xoáy, bão nhiệt đới…, thật khó dò trước hạn hán theo nghĩa nắm bắt được nhiều thông tin về nó, ngay cả khi được trang bị công cụ hỗ trợ như hệ thống quan trắc khí tượng tiên tiến, hệ máy tính hiệu năng cao và các mô hình số trị. Câu chuyện về hạn hán – sự thiếu hụt lượng mưa so với trung bình ở một vùng đất trong một chu trình thời gian – phức tạp hơn nhiều so với những gì người ta vẫn nghĩ. Bởi có thể suy ra một cách đơn giản có hạn hán là do thiếu mưa nhưng cơ chế dẫn đến mưa liên quan đến vô vàn yếu tố và quá trình diễn ra trong khí quyển như độ ẩm, nhiệt độ, gió, sự bốc hơi và ngưng kết hơi nước… Nếu ngước mắt nhìn lên bầu trời, có thể chỉ thấy không gian gần như trong suốt, thêm vào là những tầng mây lơ lửng song trên thực tế, cả bầu khí quyển là một hệ hỗn loạn và chuyển động không ngừng – một thay đổi nhỏ về trạng thái của khí quyển tại nơi này cũng có thể ảnh hưởng đến nơi khác.  Dù liên quan đến mưa nhưng thường rất khó xác định khi nào hạn bắt đầu hoặc kết thúc. Một khi đã phát hiện được hạn thì có nghĩa là nó đã tồn tại và gây ra tác động. Hạn có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng năm. Đôi khi, có thể tồn tại cả thập kỷ. “Cái khó trong nghiên cứu về hạn còn ở chỗ không thể quan trắc được nó. Giống như nắng nóng, chỉ khi nhiệt độ cao đến một mức độ nào đó thì người ta mới cảm nhận được. Hạn cũng vậy, thiếu mưa thì đã đành nhưng thiếu ở một ngưỡng nhất định mới được coi là hạn”, giáo sư Phan Văn Tân cho biết.  Hồ Đankia (Lạc Dương, Lâm Đồng) có độ sâu trung bình 6 m nhưng vào năm 2021, lòng hồ đã cạn trơ đáy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt. Nguồn: Zing  Biến đổi khí hậu mang màu sắc mới cho hạn hán. Bởi nó dẫn đến hệ quả là sự phân bố lại năng lượng trên toàn bộ hệ thống Trái đất, qua đó làm biến đổi các trung tâm tác động, làm thay đổi chế độ hoàn lưu của khí quyển và đại dương. Như hiệu ứng domino, sự thay đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương làm biến đổi lượng nước bốc hơi từ bề mặt, nghĩa là thay đổi cơ chế tạo ra mưa. “Sự biến đổi của mưa cực kì phức tạp, không phải chỗ nào cũng giống chỗ nào, có những vùng hiện đang khô hạn, lượng mưa có thể giảm, nguy cơ từ vùng khô hạn biến thành sa mạc, ngược lại, có những vùng cũng khô hạn nhưng lượng mưa tăng nên, có thể tạo ra vùng có khí hậu ẩm ướt hơn, cây cối mọc nhiều hơn”, giáo sư Phan Văn Tân giải thích trong một cuộc trao đổi vào bốn năm trước, khi bắt tay vào nghiên cứu về hạn.  Gắn với hạn hán, câu chuyện về mưa có thể khiến người ta bối rối. “Lượng mưa tăng không có nghĩa là giảm hạn, bởi tăng lượng mưa năm nhưng trong một vài tháng, lượng mưa vẫn hụt so với trung bình thì hạn vẫn có thể xảy ra”, ông bổ sung.  Giống mỗi mũi khoan vào lòng đất, tùy theo độ sâu mà lộ diện từng hệ tầng địa chất được hình thành theo thời gian, càng nghiên cứu về hạn hán thì càng thu về nhiều lớp thông tin hữu ích nằm dưới các hiện tượng bề mặt. Tuy nhiên, có một thực tế là “nghiên cứu về hạn hán ở Việt Nam, từ trước đến nay, mới chỉ quan tâm đến có hạn hay không có hạn chứ chưa quan tâm mấy đến các đặc trưng của hạn, độ dài của đợt hạn, độ khắc nghiệt, cường độ, phạm vi không gian của hạn,…”, giáo sư Phan Văn Tân nói.  Vậy thì người ta có thể trông chờ gì ở dự báo?  Đi tìm đặc trưng của hạn hán  Bất chấp “cuộc cách mạng thầm lặng” diễn ra trong các trung tâm dự báo thời tiết – khí hậu, vẫn còn quá nhiều thách thức trong dự báo những thứ vốn gần như không thể dự báo. Nhưng xét ở góc độ nào đó thì cái khó nắm bắt, dù trong quá khứ hay giả định ở tương lai, cũng đầy sức hấp dẫn. Càng khó thì càng kích thích người ta phải vật lộn để lý giải bằng được.    Mỗi năm ở Việt Nam xảy ra nhiều nhất khoảng 1,5 đợt hạn 3 tháng; hạn sáu tháng, tần suất giảm chỉ còn từ 10-12 đợt/thập kỷ và giảm còn khoảng 6-8 đợt/thập kỷ đối với hạn 12 tháng. Như vậy, trung bình mỗi năm chỉ xảy ra khoảng một đợt hạn sáu tháng và khoảng hai năm một lần có thể xuất hiện một đợt hạn 12 tháng.    Đó cũng là một trong những động cơ thúc đẩy giáo sư Phan Văn Tân và các cộng sự trẻ dành cả 4, 5 năm để lần theo manh mối và phân tích chúng. Khi có trong tay bộ công cụ đủ tốt và suy nghĩ đủ sâu thì hẳn dữ liệu sẽ lên tiếng? Ồ không hẳn, thống kê và phân tích chỉ thực hiện được trên dữ liệu đủ tốt. Thông thường, số liệu thu thập từ các trạm quan trắc là số một. Nếu chuỗi số liệu càng dài thì bức tranh càng đầy đủ về thời gian, nếu số trạm càng nhiều thì bức tranh càng chi tiết về không gian. Rất khó có được điều kiện lý tưởng như vậy ở Việt Nam. Đó có phải là một trong các lý do khiến người ta biết quá ít về hạn hán? “Ở Việt Nam, ít nhất từ cuối những năm 1990 đến nay, mỗi năm ít nhất có một đề tài hoặc dự án về hạn được thực hiện, không ở nơi này thì ở nơi kia, không do cơ quan này thì cũng cơ quan khác, không cấp nhà nước thì cấp bộ, cấp tổng cục, cấp viện cấp trường gì đó. Nhưng nói chung, kết quả chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Chúng ta vẫn chưa có các bản tin dự báo hạn mang tính nghiệp vụ, thông tin cảnh báo cũng chỉ mới chung chung nên người dân thờ ơ”, theo giáo sư Phan Văn Tân. Một ví dụ là trước đợt hạn 2015-2016, căn cứ vào hiện tượng El Niño, Tổng cục Khí tượng thủy văn đã cảnh báo sẽ có hạn ở ĐBSCL nhưng không nói được hạn sẽ xảy ra vào lúc nào. Do đó, cả người dân và chính quyền không ai quan tâm cho đến khi hạn tác động xấu đến toàn vùng. Kết quả là tất cả rơi vào thế bị động trong ứng phó với hạn.  Nói “trời không phụ lòng người” cũng đúng mà biết “liệu cơm gắp mắm” cũng chẳng sai. Rút cục thì ông và các cộng sự trẻ đã chọn được một khung thời gian phù hợp (giai đoạn 1980-2018), và chuỗi số liệu quan trắc nhiệt độ, lượng mưa theo tháng từ mạng lưới trạm khí tượng trên khắp đất nước. Câu chuyện về hạn hán ở Việt Nam được dần xây đắp, không từ một phòng thí nghiệm “oách xà lách” như người ta vẫn tưởng tượng mà ngay trên hệ máy tính thầy trò gom góp được qua nhiều đề tài. Nhưng nó có gì hấp dẫn? Ồ, bản thân việc “nhìn” rõ cường độ hạn hán, tần suất xuất hiện, độ dài các đợt hạn, khoảng thời gian giữa các lần các đợt hạn xuất hiện, mức độ khắc nghiệt cũng như mối quan hệ giữa nó với các quá trình khí hậu quy mô lớn chẳng quá đáng kể ư?  Cống lấy nước từ sông Đà vào Trạm bơm Trung Hà, huyện Ba Vì cạn trơ đáy. Nguồn: Hà Nội mới.  Bức tranh hạn hán ở Việt Nam, vì thế, đã hiện lên, rõ nét ở các quy mô thời gian khác nhau, phản ánh khoảng thời gian mà mưa tích lũy bị thiếu hụt: hạn ba tháng tương ứng với hạn nông nghiệp nói chung; hạn 12 tháng tương ứng với hạn thủy văn vì sự tích lũy hoặc hao hụt nước trong khoảng 12 tháng có thể ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy, mực nước sông ngòi; hạn sáu tháng được xem là “cầu nối” giữa hạn nông nghiệp và hạn thủy văn (quy mô thời gian hạn là khoảng thời gian để xem xét lượng mưa tích lũy có thiếu hụt so với trung bình hay không). Khi thiếu nước trong khoảng thời gian này, tác động của hạn đối với đời sống kinh tế xã hội có thể trở nên nghiêm trọng. “Quy mô thời gian của hạn càng ngắn thì tần suất đợt hạn càng lớn”, giáo sư Phan Văn Tân nhận xét. Trong bức tranh này, tần suất hạn ba tháng là khoảng 14-18 đợt/thập kỷ, nghĩa là mỗi năm ở Việt Nam xảy ra nhiều nhất khoảng 1,5 đợt hạn; hạn sáu tháng, tần suất giảm đi chỉ còn từ 10-12 đợt/thập kỷ và giảm còn khoảng 6-8 đợt/thập kỷ đối với hạn 12 tháng. Như vậy, trung bình mỗi năm chỉ xảy ra khoảng một đợt hạn sáu tháng và khoảng hai năm một lần có thể xuất hiện một đợt hạn 12 tháng.  Vào thời kỳ có El Niño, không gian của hạn có xu hướng mở rộng hơn, nhất là phía Nam. Hạn vẫn có thể xảy ra vào những năm La Niña và năm trung tính (Neutral) nhưng phạm vi của hạn thường nhỏ. Giữa hạn hán ở Việt Nam với hiện tượng ENSO (El Niño/dao động Nam) có mối quan hệ nhất định. Các chỉ số đặc trưng cho ENSO liên quan chặt chẽ với hạn trên các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.  Nếu nhìn vào quá khứ, có thể thấy độ khắc nghiệt của hạn ở các vùng: phía Bắc, nhất là Bắc Trung Bộ, phải hứng chịu nhiều rủi ro hạn hơn với Nam Bộ và Tây Nguyên. Độ dài hạn cũng lớn hơn, có thể tới trên 6 tháng/năm. Dù tần suất hạn trong các tháng mùa khô cao hơn các tháng mùa mưa, nhưng hạn có thể xuất hiện ngay cả vào mùa mưa. “Dĩ nhiên, dễ nhận thấy tác động của hạn vào mùa khô khốc liệt hơn và để lại hậu quả nghiêm trọng hơn. Nhưng hạn trong những tháng mùa mưa cũng làm gia tăng tính khắc nghiệt của hạn vào mùa khô do thiếu hụt lượng mưa bổ sung cho đất cũng như nước bổ cập cho các bể nước ngầm”, giáo sư Phan Văn Tân nói.  Quy luật của hạn được bóc tách. Vào thời kỳ có El Niño, không gian của hạn có xu hướng mở rộng hơn, nhất là phía Nam. Hạn vẫn có thể xảy ra vào những năm La Niña và năm trung tính (Neutral) nhưng phạm vi của hạn thường nhỏ. Có lẽ, một trong những thông tin quan trọng rút ra, theo ông là “giữa hạn hán ở Việt Nam với hiện tượng ENSO (El Niño/dao động Nam) có mối quan hệ nhất định. Các chỉ số đặc trưng cho ENSO liên quan chặt chẽ với hạn trên các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ”. Mặt khác, do Việt Nam trải dài trên những vùng khí hậu khác nhau nên nguyên nhân gây ra hạn ở các vùng phía Bắc khác với phía Nam. Vì nó liên quan đến sự khác biệt trong cơ chế gây mưa hay nhiệt độ ư?.“Vấn đề này sẽ cần đến những nghiên cứu khác sâu hơn”, ông mỉm cười.  Vậy bức tranh trong quá khứ, rút cục, có ý nghĩa gì với tương lai?  Ích gì, quá khứ?  Sự biến thiên của hạn theo thời gian mang dáng dấp đặc biệt bởi sự liên kết quá khứ – hiện tại – tương lai vừa chặt chẽ lại vừa lỏng lẻo. Hạn hán đã qua liên quan nhiều đến biến đổi của lượng mưa và nhiệt độ nhưng mối tương quan này có lặp lại ở các mốc thời gian khác? Trong khí hậu, có thể dự báo được hạn khi dựa vào những gì đã biết trong quá khứ, ví dụ, có thể dự báo trong thời gian tới (vài tháng cho đến một năm tới) hạn có xuất hiện hay không khi dựa vào mối quan hệ nhân quả giữa El Niño và hạn hán đã biết trong quá khứ, giáo sư Phan Văn Tân nói nhưng lưu ý “tình trạng hạn thì vùng này có thể khác vùng kia”.  Vậy còn tương lai? Đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Ai mà nắm bắt được tương lai? Nếu “tương lai” một vài ba tháng tới, vài ba năm tới thì có thể dự báo nhưng tương lai trong vài ba chục năm tới thì phải dựa vào các kịch bản dự tính khí hậu. Có điều, bất chấp các mô hình khí hậu có khả năng tái hiện các quá trình diễn ra trong khí quyển ngày một chính xác hơn và được chạy trên những siêu máy tính tốc độ ngày một nhanh hơn, kết quả dự tính khí hậu tương lai có tính bất định rất lớn. “Kịch bản là bức tranh tưởng tượng được xây dựng trên cơ sở những giả định, suy luận có lý, nó có thể xảy ra cũng có thể không. Vì vậy, phải đưa ra nhiều phương án với nhiều giả thuyết khác nhau để xem xét còn trong tương lai, cái nào xảy ra, cái nào không xảy ra thì có trời mới biết được”, ông giải thích. Điều này khiến người ta cảm thấy choáng váng, giống cảm giác của Ryszard Kapuściński “tôi vừa đọc ở đâu đó rằng có tới hơn tám mươi bản dịch tiếng Anh của Đạo Đức kinh và tất cả đều chính xác, đáng tin cậy, nhưng đồng thời lại hoàn toàn khác nhau!”2.  Nhưng chí ít, các kịch bản cho ta thấy, một tương lai hạn hán sẽ xuất hiện ở Việt Nam, vào giữa và cuối thế kỷ, đặc biệt ở các vựa lúa ĐBSCL và ĐBSH. Vậy hạn trong tương lai có khốc liệt hơn quá khứ? “Thực tế mà nói thì không thể so sánh được quá khứ và tương lai xa, quá khứ đã qua còn tương lai trong trường hợp này chỉ là giả định, tức theo các kịch bản. Trong quá khứ nó xảy ra như thế, ở vùng miền Trung trong thời gian vừa qua hoặc một số vùng khác hạn tương đối nặng và khốc liệt; khi dự tính bằng các mô hình, người ta thấy là lượng mưa tăng lên trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nhưng lượng mưa tăng lên không có nghĩa là hạn giảm”, giáo sư Phan Văn Tân cho biết và lưu ý giả định ở đây phụ thuộc vào mức phát thải khí nhà kính trong tương lai. Tính bất định của các kịch bản phát thải trong tương lai cũng như của các mô hình có thể dẫn đến kết quả dự tính không đúng với thực tế sẽ diễn ra.  Trước khi lật những lá bài tarot, ai biết mặt dưới sẽ là gì. Ở một khía cạnh nào đó thì dự tính cũng vậy. Điều có thể biết, ở thời điểm này, là hạn hán mang tính dai dẳng. Hệ quả của nó có thể không nhìn thấy trong một vài năm, thậm chí hàng chục năm sau, và rất khó lường. Sự thiếu hụt về lượng mưa có thể dần dần dẫn đến giảm độ ẩm đất, giảm lượng nước ngầm, thu hẹp các dòng chảy và nghiêm trọng hơn, thiệt hại mùa màng cũng như tình trạng thiếu nước sinh hoạt. “Ba phần tư thảm họa tự nhiên trong vòng 20 năm qua đều liên quan đến nước”, David Boyd, chuyên gia Liên Hợp Quốc về quyền con người và môi trường cho biết như vậy.  Các kịch bản cho ta thấy, một tương lai hạn hán sẽ xuất hiện ở Việt Nam, vào giữa và cuối thế kỷ, đặc biệt ở các vựa lúa ĐBSCL và ĐBSH. Tuy nhiên, “chúng ta chỉ có thể làm giảm tác động của hạn chứ không thể chống hạn, không có cách nào chống được”, giáo sư Phan Văn Tân nói.  Mặc dù trước đây, người ta vẫn quan tâm đến lũ lụt hay bão hơn nhưng hiện tại, hạn được xác định là sự kiện khí hậu cực đoan gây thiệt hại về tiền của thứ nhì, chỉ sau bão nhiệt đới. Nếu nhìn rộng ra, hạn dẫn đến khan hiếm nước, điều đó có nghĩa làm giảm khả năng tiếp cận nước và tăng sự bất bình đẳng trong tiếp cận nước. Hiện tại, thiếu nước đã trở thành rủi ro mang tính hệ thống trên toàn cầu. Các nhà khoa học đã phát hiện ra 2/3 dân số toàn cầu (4 tỉ người) – chủ yếu ở Ấn Độ và Trung Quốc, sống thiếu nước trầm trọng ít nhất một tháng trong năm 3. Sự khan hiếm nước và các thảm họa về nước ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái và an ninh lương thực. Hạn hán năm nay ở Ý, dù đang diễn ra nhưng đã được dự báo sẽ giáng cú đòn rất mạnh vào nền nông nghiệp nước này: ước tính nông dân trồng lúa risotto sẽ mất 30% sản lượng, nghĩa là thiệt hại khoảng 3 tỉ USD4.  Dĩ nhiên, người làm nông Việt Nam ở hai vựa lúa ĐBSCL và ĐBSH sẽ tạm gác mối lo này lại, trong năm nay. Nhưng còn những năm tới? Không dễ trả lời, cũng như không dễ so sánh thiệt hại trong quá khứ với tương lai, bởi đó là tình huống sẽ tới ở rất nhiều lĩnh vực, không chỉ nông nghiệp. Xét ở lĩnh vực năng lượng, thủy điện cung cấp gần 30% sản lượng điện cho Việt Nam (số liệu năm 2020), hụt nước sẽ ảnh hưởng đến điện tiêu dùng, sản xuất. Nhưng thủy điện thì đâu chỉ làm ra điện, thủy điện còn tích nước phục vụ tưới tiêu mùa khô, cắt lũ – giảm lũ ở hạ du mùa mưa.  Câu chuyện về hạn không ngừng mở rộng ra theo phạm vi tác động. Có quá nhiều yếu tố gia nhiệt cho nó, ví dụ hiện tượng thay đổi dòng chảy các con sông lớn như sông Hồng, sông Mekong, đáy sông đã sâu hơn và mực nước xuống thấp so với trước đây, một phần do nạn khai thác cát trộm, phần do cát sỏi phù sa đã bị giữ lại ở các đập thượng nguồn. Điều đó dẫn đến việc “vào mùa cạn, các hồ chứa đã xả nước tối đa cho người làm nông đổ ải nhưng mực nước vẫn không đạt được con số 2,2m như quy định”, Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải báo cáo tại phiên họp Hội đồng Tổ tư vấn KH&CN về An toàn hệ thống thủy điện trên bậc thang thủy điện sông Đà năm 2019. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, lượng nước lấy được ở hạ du ngày càng giảm, chỉ đạt 67% vào năm 2017 và xấp xỉ 14% năm 20195. Vậy giải pháp là gì? Tính toán tối ưu lượng xả nước trên sông Hồng hay nâng đập tạm, nâng cấp trạm bơm? Với một lượng trạm bơm dọc hệ thống sông Hồng, việc nâng cấp sẽ rất tốn kém. Nghĩa là lại phát sinh một bài toán khác!  Có cách nào để chống hạn không? Đáng tiếc là không. “Chúng ta chỉ có thể làm giảm tác động của hạn chứ không thể chống hạn, không có cách nào chống được”, giáo sư Phan Văn Tân nói.  Trong thời gian gần đây, người ta quan tâm nhiều hơn đến tính thích ứng (adaptation) và sức chống chịu (resilience). Không tự dưng mà có được điều này, tất cả phải được chuẩn bị. Theo tính toán của Cơ quan quản lý Tình trạng khẩn cấp Mỹ (FEMA), mỗi USD đầu tư cho kế hoạch giảm thiểu nguy cơ rủi ro tự nhiên sẽ giữ được bốn USD trong dài hạn. Do đó, cần phải nghĩ đến nhiều bài toán liên quan đến hạn hán và tương lai có thể đến mà khoa học có thể giải quyết: tối ưu khai thác nước ngầm (đến đâu là đủ an toàn và hợp lý để tránh lún?), nâng cấp và vận hành tối ưu hệ thống cơ sở hạ tầng về nước (cung cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất…), tìm giống cây – con có khả năng chịu hạn, chịu mặn (tỷ lệ sử dụng nước trong nông nghiệp chiếm 80%), tăng độ chính xác trong dự báo mưa – nhất là dự báo trước 7, 8 ngày, dự báo mưa trên khu vực nhỏ cho tích nước hồ chứa…  Có lẽ, những điều này sẽ góp phần làm giảm hạn và hệ quả của hạn, ngay cả trong một tương lai bất định chăng?□  ——-  Từ đề tài “Đánh giá sự biến đổi của các đặc trưng hạn hán trên khu vực Việt Nam và Đông Nam Á”(NAFOSTED) do giáo sư Phan Văn Tân chủ trì, đã có ba bài báo quốc tế và hai bài báo trong nước, đó là “Drought over Southeast Asia and its association with large-scale drivers” (Hạn hán ở Đông Nam Á và mối quan hệ giữa nó với các quá trình quy mô lớn), tạp chí Journal of Climate; “Projected Evolution of Drought Characteristics in Vietnam Based on CORDEX-SEA downscaled CMIP5 data” (Dự tính sự biến đổi của các đặc trưng hạn hán ở Việt Nam dựa trên sản phẩm hạ quy mô số liệu CMIP5 của dự án CORDEX-SEA), tạp chí International Journal of Climatology; “Space–time variability of drought over Vietnam” (Sự biến thiên theo không gian và thời gian của hạn hán ở Việt Nam) tạp chí International Journal of Climatology; “Projected future changes in drought characteristics over Southeast Asia” (Dự tính sự biến đổi trong tương lai của các đặc trưng hạn hán ở Đông Nam Á), tạp chí Vietnam Journal of Earth Sciences; “Investigation of Drought Characteristics Across Vietnam During Period 1980-2018 using SPI and SPEI Drought Indices” (Khảo sát các đặc trưng hạn hán ở Việt Nam giai đoạn 1980-2018 bằng các chỉ số hạn SPI và SPEI), tạp chí VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences.  ———  1. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/khi-hau-voi-su-hung-thinh-cua-hai-trieu-dai-ly-tran-29832/  2. Nhà báo, nhà văn người Ba Lan, viết trong cuốn Du hành cùng Herodotus (Nguyễn Thái Linh dịch, Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008)  3. https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.1500323  4. https://www.nationalgeographic.com/environment/article/extreme-drought-threatens-italy-rice-crops-and-its-beloved-risotto  5. https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/he-thong-thuy-dien-tren-bac-thang-thuy-dien-song-da-nhung-giai-phap-trong-boi-canh-moi/20200625090524463p1c785.htm    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Hạn hán, sóng nhiệt và lụt lội: Khi biến đổi khí hậu bị đổ lỗi?      Việc đưa ra những tư vấn về biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan và tác động của con người lên hiện tượng ấm lên toàn cầu với các nhà quản lý là một vấn đề khó khăn của các nhà khoa học khí hậu.      Cape Town đã phải “đếm ngược” trước “Ngày không nước”. Nguồn: webbcanyonchronicle.com  Khó ai có thể quên được mùa hè năm 2018: vùng Bắc Hemisphere rơi vào tình trạng nắng nóng bất thường; Nhật Bản tuyên bố những mức nhiệt độ kỷ lục của một thảm họa tự nhiên bất ngờ; châu Âu oằn mình trước những đợt nóng kéo dài với những cơn cháy rừng mang tính hủy diệt ở Hi Lạp. Được hạn hán tiếp tay, cháy rừng lan rộng ở miền Tây Mỹ.  Friederike Otto, một nhà mô hình học khí hậu tại trường Đại học Oxford, Anh, đã nhảy dựng lên khi các nhà báo hỏi đánh giá của bà về vai trò của biến đổi khí hậu trong cơn nắng nóng mùa hè 2018. “Điên mất rồi”, bà nói. Phản hồi khoa học thông thường là phần lớn các sóng nhiệt sẽ đến nhiều hơn và thường xuyên hơn bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu. Nhưng Otto và đồng nghiệp muốn trả lời một câu hỏi cụ thể hơn: biến đổi khí hậu ảnh hưởng như thế nào lên sóng nhiệt? Sau khi triển khai nghiên cứu trên các mô hình tính toán ba ngày, họ loan báo: các phân tích ban đầu của họ cho vùng Bắc Âu cho thấy biến đổi khí hậu đã tạo ra sóng nhiệt hơn gấp hai lần khi nó xuất hiện ở nhiều nơi khác.    Thông thường, các nhà báo thường đón nhận các phân tích nhanh của các cơ quan thời tiết hơn là từ phía giới học thuật. Với sự hỗ trợ của Otto, cơ quan dự báo thời tiết Đức ở Offenbach đang chuẩn bị trở thành cơ sở đầu tiên trên thế giới có được những đánh giá nhanh về sự kết nối của các sự kiện khí tượng cụ thể với sự ấm lên toàn cầu. Vào năm 2020, cơ quan này hi vọng sẽ nhanh chóng công bố những kết quả của họ cho truyền thông với những báo cáo công khai sau một sự kiện khí hậu xảy ra một hoặc hai tuần. “Chúng tôi muốn định lượng sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên bất cứ điều kiện nào của bầu khí quyển và có thể dẫn đến hiện tượng thời tiết cực đoan ở Đức và Trung Âu”, Paul Becker, phó chủ tịch cơ quan dự báo thời tiết Đức nói. “Khoa học đã đủ chín để khởi động điều này”.  EU cũng quan tâm đến vấn đề này. Trung tâm dự báo thời tiết phạm vi trung bình châu Âu (ECMWF) tại Reading, Anh, đang chuẩn bị thử nghiệm một chương trình tương tự vào năm 2020 nhằm nghiên cứu về các hiện tượng thời tiết cực đoan, như các cơn sóng nhiệt hoặc lũ lụt đến những hiện tượng biến đổi khí hậu do con người gây ra. Nếu mọi việc triến triển, một dịch vụ của EU sẽ được cung cấp tại chính nơi này vào khoảng một hoặc hai năm tới, theo Richard Dee, người phụ trách Dịch vụ Biến đổi khi hậu  Copernicus của EU tại ECMWF. “Đây là mục tiêu đầy tham vọng nhưng khả thi,” Otto nói. Bà chính là người đang thúc đẩy nỗ lực này của EU.  Các cơ quan dự báo thời tiết đang dự tính đến những dịch vụ thường xuyên để chứng tỏ tác động lên biến đổi khí hậu đã tiến xa đến mức nào kể từ khi bắt đầu các dự án nghiên cứu tiên tiến vào khoảng một thập kỷ trước đã cố gắng quy kết những hiện tượng thời tiết riêng rẽ cho biến đổi khí hậu. Sau khi đã có 170 nghiên cứu xuất bản trên các tạp chí có bình duyệt, thẩm quyền khoa học đã từ các phòng thí nghiệm lan tỏa khắp thế giới. Mặc dù vẫn còn khó giải thích một số loại hiện tượng thời tiết cực đoan nhưng các dịch vụ khí tượng đã bắt đầu đưa ra thông tin định kỳ thì thách thức lớn hơn cả là làm thế nào để các nghiên cứu đó có thể hữu dụng với mọi người.   Ngàn lẻ một mức độ tác động lên khí hậu  Ý tưởng đằng sau việc quy kết về mặt khoa học đơn giản là cần đủ bằng chứng. Các thảm họa như sóng nhiệt vượt quá mức ghi nhận trước đây, lượng mưa cực đoan thường trở nên phổ biến bởi việc hình thành khí nhà kính đang làm biến đổi bầu khí quyển. Không khí ấm lên chứa nhiều nước bốc hơi hơn và tích tụ nhiều năng lượng hơn; nhiệt độ gia tăng có thể làm thay đổi các mẫu hình tuần hoàn khí quyển. Nhưng hiện tượng thời tiết cực đoan có thể tăng lên từ các chu kỳ tự nhiên như hiện tượng El Niño xuất hiện một cách định kỳ khi nhiệt độ làm ấm mặt nước ở vùng biển nhiệt đới Thái Bình dương <  Từ năm 2004 đến giữa năm 2018, các nhà khoa học đã xuất bản hơn 170 công trình đề cập đến 190 sự kiện khí hậu cực đoan trên khắp thế giới, theo một phân tích của Nature. Cho đến nay, các nghiên cứu đề xuất: khoảng 2/3 sự kiện khí hậu cực đoan đã được nghiên cứu có khả năng xuất phát từ biến đổi khí hậu do con người gây ra ngày một nhiều lên. Các hiện tượng nhiệt cực đoan được tạo ra chiếm hơn 43% các sự kiện này, tiếp theo là hạn hán (18%) và mưa cực đoan hoặc lụt lội (17%). Năm 2017, lần đầu tiên, các nghiên cứu thậm chí tuyên bố ba sự kiện cực đoan diễn ra mà không cần đến bàn tay của biến đổi khí hậu: sóng nhiệt ở châu Á năm 2016, mức nhiệt kỷ lục toàn cầu cũng trong năm đó, biển ấm lên tại Vịnh Alaska và biển Bering từ năm 2014 đến năm 2016. Nhưng 29% các trường hợp trong phân tích của Nature, bằng chứng cho thấy tác động của con người lên khí hậu không thật rõ ràng hoặc không đủ vững để các nhà khoa học đưa ra một phán đoán nào.  Các cuộc điều tra đã cho thấy, con người thường có xu hướng hưởng ứng các chính sách ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu khi họ trải qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, vì vậy cần nhanh chóng xác nhận rõ sự kết nối giữa các sự kiện xảy ra ở một vùng với biến đổi khí hậu để có thể đạt được hiệu quả.  Là phó giám đốc Viện nghiên cứu Môi trường của trường Đại học Oxford, Otto có nhiều kinh nghiệm trong các vụ như thế này. Ví dụ vào tháng 6/2018, bà và đồng nghiệp đã hoàn thành một nghiên cứu tập trung vào vùng rìa Nam Phi, nơi đã chịu hạn hán trong ba năm liên tiếp, tình trạng này trở lên khắc nghiệt tới vùng Tây Cape ở Nam Phi đến mức chính quyền Cap Town đã cảnh báo họ có thể sớm đến “Ngày không nước” khi mực nước của các đập nước cung cấp cho thành phố giảm xuống dưới 13,5% và cả vùng có thể không có đủ nước cho cả các nhu cầu thiết yếu, điều lần dầu tiên xảy ra với một thành phố lớn.   Trước những báo cáo về “Ngày không nước”, Otto và Mark New, một nhà khoa học khí hậu tại trường Đại học Cape Town, cùng đi đến nhận định là sự kiện này là một ví dụ tốt cho nghiên cứu về những quy kết trách nhiệm của con người với khí hậu. Chỉ tận dụng thời gian rảnh rỗi hiếm hoi, các nhà nghiên cứu từ Hà Lan, Nam Phi, Mỹ và Anh đã bắt đầu dự án “ngoài ngân sách” này bằng việc xem xét cơn hạn hán kéo dài nhiều năm ở Cape Town. Họ tạo ra một chỉ mục về sự nghiêm trọng của hạn hán với những phép đo về lượng mưa và độ nóng, sau đó mới đến phần việc chính về việc xác định vai trò của con người với hạn hán: các mô hình tính toán phức tạp bắt chước khí hậu Trái đất. Trên năm mô hình tồn tại độc lập, họ thực hiện hàng ngàn mô phỏng. Một vài mô hình đã đưa vào tính toán những mức độ khí nhà kính do con người gây ra; có những mô hình biểu thị các nồng độ tự nhiên của khí nhà kính, trong trường hợp không có cuộc cách mạng công nghiệp.   Vào thời điểm nhóm nghiên cứu nhóm họp vào tháng 6/2018, mưa đã trở lại với Nam Phi và “Ngày không nước” đã rời xa nhưng các nhà khoa học vẫn theo đuổi những nguyên nhân dẫn đến một cuộc “siêu hạn hán” bởi điều này có thể giúp họ xác định là liệu vùng này có thể phải đối mặt với một thảm họa tương tự thêm lần này nữa không. Điều phối cuộc họp qua Skype từ văn phòng ở Oxford, Otto trông có vẻ bớt căng thẳng hơn khi các đồng nghiệp đồng ý là việc phân tích này đã đem đến kết quả. “Sự ấm lên toàn cầu đã làm tăng lên gấp ba mức nghiêm trọng của ba năm hạn hán liên tiếp ở vùng này,” bà nói.  Phát hiện đó đến đúng thời điểm Roop Singh, một nhà tư vấn về rủi ro khí hậu tại Trung tâm Khí hậu Lưới liềm đỏ/Hội chữ thập đỏ quốc tế tại La Hague, Hà Lan, trình bày các kết quả tại một hội nghị về ứng phó biến đổi khí hậu tại Cape Town. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy những kết quả gây sốc, Singh nói, nhưng họ đã khơi mào cho những thảo luận về việc liệu sự trầm trọng của hạn hán có thể chứng minh cho việc gia tăng đầu tư và đa dạng hóa các nguồn nước ở Cape Town hay không. Nghiên cứu của  Otto và cộng sự đã được xuất bản trên Environmental Research Letters, một tạp chí truy cập mở có bình duyệt, và trên trang web của World Weather Attribution, một hợp tác của sáu viện nghiên cứu bao gồm trường đại học Oxford) hình thành từ năm 2014 để phân tích và truyền đạt những hiệu ứng có thể của biến đổi khí hậu lên các sự kiện khí hậu cực đoan.    Bản đồ hiển thị cơn sóng nhiệt mùa hè năm 2018 ở châu Âu.   Dẫu Cape Town đã tránh được “Ngày không nước” trong năm 2018, các nhà hoạch định chính sách trong vùng cho biết các kết quả nghiên cứu của Otto đã đem lại một cảnh báo đầy tỉnh táo về nước cho các nhà quản lý để họ có thể sẵn sàng làm giảm bớt độ rủi ro của tình trạng ấm lên toàn cầu. “Đây là một thông điệp rõ ràng mà chúng ta không thể làm ngơ”, Helen Davies, người phụ trách lĩnh vực kinh tế xanh của Ban Phát triển kinh tế và du lịch, chính quyền Tây Cape, nói. “Có thể về cơ bản, chúng ta có thể áp dụng một cách tiếp cận mới về trong quản lý nước”.  Đôi khi, một số nghiên cứu có những kết luận trái ngược nhau về một sự kiện cụ thể. Một nghiên cứu về sóng nhiệt tại Nga năm 2010 tìm thấy mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng của nó với sự biến động thông thường của tự nhiên, một phân tích khác xác định là biến đổi khí hậu có vẻ như tạo ra sự kiện đó. Báo chí bối rối về các kết quả đó nhưng các nhà nghiên cứu khí hậu thì không quá ngạc nhiên về sự khác biệt này bởi hai nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề khác nhau: tính nghiêm trọng của sự kiện và tần suất xuất hiện của nó. Theo Otto, “ví dụ này cho thấy sự định hình thông tin truyền đạt thông tin về những câu hỏi về tác động của con người đến khí hậu là một thách thức thực sự”. Nhưng kể từ đó, các nhà nghiên cứu cũng trở nên khôn ngoan hơn về cách thiết lập và trình bày nghiên cứu, bà cho biết thêm.  Ảnh hưởng chưa rõ ràng   Ở Nam Phi, Davies nói nghiên cứu mới của Otto có thể giúp nhấn mạnh đến trường hợp Cap Town với những cách tiếp cận mới về quản lý nước cấp vùng. “Các nhà khí tượng từng nói như đinh đóng cột với chúng tôi sau năm hạn hán thứ hai thì chẳng có cơ hội nào cho năm hạn hán thứ ba liên tiếp… Nhưng những gì tiếp tục xảy ra ở năm thứ ba của hạn hán cho thấy chúng ta không thể áp dụng những gì trong quá khứ cho tương lai sẽ đến. Chúng ta cần học cách đáp ứng với một khí hậu đã biến đổi”. Một trong những bài học từ cơn hạn hán mà họ trải qua và phân tích tác động của con người lên khí hậu là việc cấp nước cho vùng Tây Cape không thể phụ thuộc vào mỗi lượng mưa mà cần bổ sung thêm nguồn cung, bà nói. Để thay thế, có thể phải đa dạng hóa bằng nước ngầm và mở rộng việc khử mặn và xử lý nước thải.  Nhưng về tổng thể, thật khó để biết về hiệu quả của những nghiên cứu về tác động của con người với khí hậu, theo quan điểm của các nhà khoa học xã hội. Bởi vì thật khó để chỉ ra những tác động của các phát hiện từ những nghiên cứu đó, vốn được dự đoán là làm gia tăng rủi ro khi thời tiết cực đoan bắt tay biến đổi khí hậu – hoặc từ chính cú sốc của chính các sự kiện thời tiết cực đoan. Nếu các nghiên cứu đó đi kèm với các báo cáo thời tiết hơn là xuất hiện trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, khi đó tác động của thông tin sẽ dễ thấy hơn nhiều, theo Jörn Birkmann, một chuyên gia về quy hoạch vùng và không gian tại ĐH Stuttgart, Đức. “Các nhà quy hoạch thành phố và cơ sở hạ tầng cần xem xét đến rủi ro của những sự kiện thời tiết cực đoan một cách cẩn thận nếu các sự kiện này rõ ràng có sự tham gia của biến đổi khí hậu”, ông nói. □  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05849-  Không phải tất cả các nghiên cứu về tác động của con người lên khí hậu đều chắc chắn, Hegerl nhận xét. Các thuật toán vẫn cần phải được hoàn thiện để mô hình hóa nhiều cơn bão ở quy mô địa phương. Do những cơn bão là kết quả từ sự đối lưu không khí như những cơn dông mưa đá nhỏ và các lốc xoáy, vì vậy các nhà khoa học không thể xác quyết liệu biến đổi khí hậu đã tạo ra những sự kiện đó hay không. Những tác động của con người lên khí hậu trong thực tế hết sức phức tạp hoặc thậm chí không thể bởi có những nơi thiếu các hồ sơ khí hậu dài hạn như các quốc gia châu Phi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc cứu người Trung Quốc bị mắc kẹt ở Nam Cực      Trung Quốc đã đề nghị giúp đỡ sau khi tàu phá băng của họ đang trên đường tới đón một nhóm nhóm người tham gia xây dựng cơ sở nghiên cứu đã va chạm với một núi băng trôi.    Một con tàu nghiên cứu của Hàn Quốc đã cứu nạn 24 người Trung Quốc bị mắc kẹt tại châu Nam Cực, theo thông báo ngày 24/1/2019 của Bộ Thủy sản và Hải dương Hàn Quốc.  Nhóm người Trung Quốc đang xây dựng cơ sở nghiên cứu đầu tiên của quốc gia này ở Nam Cực, trên đảo Inexpressible ở vịnh Terra Nova. Những người này bị mắc kẹt khi tàu phá băng mang tên Xuelong – con tàu phá băng đầu tiên của Trung Quốc phục vụ cho các nghiên cứu hải dương, vốn được đưa tới đón họ đã bị va vào một núi băng trôi vào ngày 19/1/2019 và phải quay lại cơ sở của họ ở đảo Vua George, theo lời Bộ Thủy sản và hải dương Hàn Quốc.  Do các cơ sở tạm thời ở đảo Inexpressible không đủ cung cấp lương thực cho tới đầu tháng 2 nên chính phủ Trung Quốc đã đề nghị Hàn Quốc hỗ trợ họ.  Tàu phá băng Araon, vốn ở trạm nghiên cứu Jang Bogo tại vịnh Terra Nova, cách đảo Inexpressible 30km về phía bắc nhằm phục vụ cho một nhiệm vụ nghiên cứu ở khu vực này. Nó đã kịp thời tới bờ biển phía cơ sở của Trung Quốc vào ngày 23/1/2019 và nhóm người Trung Quốc được đưa lên tàu bằng máy bay trực thăng. Tàu Araon sẽ chở họ về tới New Zealand vào đầu tháng 2.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00299-3       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc dẫn đầu thế giới về robot công nghiệp      Báo Anh Daily Telegraph ngày 9/11 đưa tin  Hàn Quốc hiện dẫn đầu thế giới về mức độ sử dụng robot công nghiệp: cứ  mỗi 10 nghìn công nhân có 440 robot. Tiếp theo là Nhật và Đức, trong khi  Anh Quốc xếp thứ 75.    Trong 10 năm tới, robot sẽ đảm nhiệm 45% lượng công việc sản xuất và sẽ giảm được 9.000 tỷ USD chi phí sức lao động.     Bản báo cáo dầy 300 trang của Bank of America dự kiến sớm nhất vào năm 2025, robot và các hình thức trí tuệ nhân tạo khác sẽ đem lại khoảng 30 nghìn tỷ USD hoặc hơn về hiệu quả kinh tế.    Báo cáo viết: Nước nào không thể lợi dụng cuộc cách mạng robot thì sức cạnh tranh sẽ bị tụt lại phía sau. Cùng với sự tăng mạnh già hóa dân số và sự giảm sút nguồn cung cấp nhân công châu Á giá rẻ, yêu cầu tự động hóa sản xuất sẽ tăng lên.    Tại Trung Quốc, từ năm 2000 tới nay, mức lương trong ngành chế tạo đã tăng gấp chín lần trong khi nguồn nhân lực lại giảm. Hiện Trung Quốc là nước mua robot nhiều nhất, chiếm 1/4 thị trường robot toàn cầu.    Trong 10 năm qua, giá thành robot hộ lý (care-bots) chăm sóc người già, robot nông nghiệp (agribots) gieo cấy và hái trái cây, bình quân hạ 27%, dự kiến tới 2025 sẽ hạ tiếp 22%. Giá một robot làm nghề hàn đã từ 182.000 USD năm 2005 hạ xuống còn 133.000 USD năm 2014, trong khi độ chính xác tăng lên.     Chúng ta đang tiến đến một bước ngoặt quan trọng, khi chi phí dùng robot thấp hơn 15% so với chi phí thuê thợ.   Nguyên Hải lược dịch    Nguồn:    http://www.timeslive.co.za/thetimes/2015/11/09/Robots-on-the-march          Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc đang đầu tư vào metaverse      Hàn Quốc là một trong những chính phủ đầu tiên bỏ tiền đầu tư vào ngành công nghiệp non trẻ này. Điều này có thể cung cấp một kế hoạch chi tiết cho các nước khác tham khảo.    Là một phần của Thỏa thuận kỹ thuật số mới, một chương trình đầu tư vào các công nghệ mới trong nền kinh tế đất nước, Bộ Khoa học, Công nghệ Thông tin và Truyền thông Hàn Quốc có kế hoạch khởi động ngành công nghiệp metaverse bằng cách hỗ trợ các công ty và tạo ra việc làm trong lĩnh vực này. Bộ trưởng Lim Hyesook gọi metaverse là “một lục địa kỹ thuật số chưa được khám phá với tiềm năng vô hạn”, và chính phủ sẽ dành 223,7 tỷ won (~177,1 triệu USD) cho nỗ lực đó.    Ở cấp thành phố, chính quyền Seoul đang xây dựng một nền tảng metaverse trị giá 3,9 tỷ won (~31,5 triệu USD) để cho phép công dân tiếp cận các dịch vụ công cộng trên mạng ảo.    Từ năm ngoái, metaverse (vũ trụ ảo) đã thu hút sự chú ý mạnh mẽ trên toàn cầu khi đề cập đến các công nghệ như thực tế ảo và đặt ra ý tưởng rằng mọi người có thể chơi và sống trong thế giới ảo. Gã khổng lồ Facebook thậm chí còn đổi tên thành Meta và cam kết sẽ tập trung phát triển tương lai vào metaverse. Tất cả những công nghệ mới mẻ này đều nằm trong một ô dù lớn hơn gọi là WEB3, một thế hệ Internet mới bao gồm metaverse, thực tế ảo, thực tế tăng cường, công nghệ blockchain, cũng như các tài sản kỹ thuật số như tiền điện tử và các mã không thể thay thế (NFTs).        Hàn Quốc là nước đầu tiên thận trọng bước chân vào metaverse. “Thật thú vị, mataverse chủ yếu nằm ở khu vực tư nhân và các sáng kiến, xu hướng công nghệ lớn. Các chính phủ đã không làm gì nhiều, ngoại trừ Hàn Quốc”, Yugal Joshi, một đối tác tại công ty nghiên cứu Everest Group, chia sẻ.    Mặc dù chưa có động thái chính thức như Hàn Quốc, một số cơ quan chính phủ khác ở châu Á cũng đang chú ý đến vấn đề này. Vào tháng 12 năm ngoái, CNBC đưa tin chính quyền Thượng Hải khuyến khích xây dựng các dịch vụ công cộng trong đó có cân nhắc đến yếu tố metaverse. Joshi nhận xét rằng “bất cứ điều gì làm cho mọi người đến với nhau thì sẽ làm cho các chính phủ quan tâm”.    Ở Trung Quốc, những gã khổng lồ công nghệ như Tencent và Alibaba đã thể hiện sự quan tâm đến việc phát triển các sản phẩm metaverse bằng cách đầu tư vào một công ty khởi nghiệp kính thực tế ảo. Hoạt động metaverse ở châu Á, giống như phần còn lại của thế giới, vẫn còn trong giai đoạn trứng nước. Các công ty đầu tư thời gian và tiền bạc vào việc tìm kiếm những ứng dụng dẫn đầu có thể tạo ra chiến thắng lớn.    Tuy nhiên, bất chấp sự quan tâm ngày càng tăng ở khu vực tư nhân và kế hoạch của chính quyền Hàn Quốc, hiện không có quốc gia nào nổi lên với lợi thế dẫn đầu rõ ràng. “Các chính phủ vẫn chưa quyết định được sẽ dùng metaverse như thế nào bởi vì toàn bộ hệ sinh thái vẫn chưa chắc chắn. Nó vẫn đang trong quá trình xây dựng”, Joshi nói.    Do đó, làm thế nào để công nghệ metaverse phù hợp với các quy định hiện hành là một trong nhiều câu hỏi mà các chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải vật lộn đối mặt trong những năm tới. Chẳng hạn NFTs, một phần quan trọng của metaverse, vẫn nằm trong khu vực pháp lý “màu xám” ở Hàn Quốc và không phải tuân theo các quy tắc tương tự như tiền điện tử. Phát ngôn viên của Bộ Khoa học, Công nghệ Thông tin và Truyền thông Hàn Quốc từ chối bình luận ngoài các tuyên bố công khai đã đưa.    Nhưng hiện tại, việc áp dụng NFTs hoặc tiền điện tử ở Hàn Quốc vẫn chưa bị hạn chế. Nhiều tên tuổi lớn đang tham gia vào xu hướng này. Cuối năm ngoái, nhóm nhạc K-POP nổi tiếng BTS đã công bố một dự án NFT. Bất chấp một số phản ứng dữ dội từ người hâm mộ về những lo ngại môi trường, dự án vẫn đang tiến triển. Trong khi đó, gã khổng lồ công nghệ LG Electronics của Hàn Quốc đã ra mắt một bộ phận chuyên về blockchain và tiền điện tử vào đầu năm nay.    Nhận thức rủi ro    Javier Floren, Giám đốc điều hành của công ty khởi nghiệp NFT DNAverse, cho biết các quốc gia thử nghiệm các công nghệ mới sẽ hiểu rõ hơn về chúng trong tương lai, mặc dù thử nghiệm thường đi kèm với một số rủi ro. Tiền điện tử nổi tiếng là dễ bay hơi như người ta vừa chứng kiến sự sụp giá vào tháng năm. Đất nước El Salvador, nơi tiên phong thực hiện đấu thầu hợp pháp bitcoin, đã phải chịu tổn thương trước những biến động như vậy.    Floren nói rằng các rủi ro sẽ phụ thuộc vào cách các quốc gia khác nhau tiếp cận khía cạnh pháp lý. “Với bất kỳ công nghệ mới hoặc hệ sinh thái đột phá nào và những nơi mới để tương tác, sẽ có những vấn đề, thách thức và những mối nguy hiểm.” Các chính phủ sẽ cần phải “thay đổi một chút suy nghĩ của họ” để hiểu được cả cơ hội và rủi ro, chẳng hạn như bảo vệ quyền riêng tư của người dùng hoặc mối đe dọa lừa đảo.    Ông nhấn mạnh rằng, ban đầu sẽ không có bất kì sự hỗ trợ pháp lý hoặc bảo hiểm nào của các tổ chức chính thức, vì vậy chính phủ phải bắt đầu tìm hiểu cách WEB3 đang di chuyển trong không gian mới, vì các giao thức hiện tại chắc chắn sẽ không hoạt động trong không gian mới.    Công ty Meta hình dung ra một metaverse trong đó mọi người giao tiếp trong thế giới kỹ thuật số thông qua avatar (nhân vật đại diện). Nhưng một trải nghiệm kỹ thuật số mới lạ cũng vẫn mang lại những vấn đề cũ. Các câu hỏi về quyền riêng tư, bảo mật, an toàn và phòng chống các hoạt động bất hợp pháp vẫn sẽ là những thách thức đối với các nền tảng và cho cả những cơ quan giám sát chúng.    Trong bối cảnh này, Hàn Quốc có kế hoạch thành lập một cơ quan để cùng đưa các Bộ vào giám sát những vấn đề như bảo vệ dữ liệu, chống lại hành vi bất hợp pháp và bảo vệ sở hữu trí tuệ. Nhưng nếu metaverse trở nên phổ biến như những người ủng hộ nó kỳ vọng thì sẽ cần đến sự hợp tác sâu sắc hơn giữa các cơ quan khác nhau.    Viện Kỹ thuật và Công nghệ, một tổ chức có trụ sở tại Vương quốc Anh, đã công bố một báo cáo vào tháng tư, trong đó nêu ra những lo ngại của mình xung quanh các nội dung về lạm dụng hoặc hành vi bất hợp pháp trong metaverse. Trẻ em phải đối mặt với nhiều nguy cơ. Báo cáo trích dẫn một cuộc khảo sát cho thấy 2/3 số phụ huynh không hiểu metaverse hoạt động như thế nào hoặc con cái họ đang truy cập những nội dung gì.    “Hiện không ai [cha mẹ] nghĩ về metaverse như một điều có nghĩa. Điều này thật không may vì nó thực sự quan trọng. Đây cũng chính là điều đã xảy ra đối với các phương tiện truyền thông xã hội”, Joshi nói.    Ông cũng đề cập thêm rằng có rất nhiều công ty đang nhảy vào metaverse mà không kiểm tra những rủi ro cụ thể đó: “Tôi không biết nhiều lĩnh vực mà ở đó các nhà xây dựng nên các nền tảng hoặc các công ty hoạt động trên nền tảng thực sự suy nghĩ về những [rủi ro] này”     Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Hàn Quốc đẩy mạnh đào tạo kỹ sư CNTT      Bộ Thông tin và Viễn thông Hàn Quốc (MIC) cho biết bộ này sẽ chi 14,6 tỉ won (khoảng 13 triệu đô la) cho 110 khoa của 68 trường đại học trong nước để thực hiện kế hoạch NEXT, một kế hoạch đào tạo kỹ sư giỏi trong công nghệ thông tin (CNTT) của nước này.    Số tiền này sẽ được sử dụng để mua thiết bị, dụng cụ giáo dục, tuyển giáo viên giỏi, phát triển các khóa học mới, nâng cao hệ thống giáo dục và mở rộng ký túc xá cho sinh viên. Một quan chức Bộ cho biết “Dự án đào tạo kỹ sư giỏi của Chính phủ dự kiến không chỉ hỗ trợ đào tạo chuyên gia tầm cỡ thế giới trong lĩnh vực CNTT mà còn nâng cao tính cạnh tranh của giáo dục CNTT của Hàn Quốc trên phạm vi thế giới”.  PV    Nguồn tin: Korea.net      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc khởi động dự án tế bào gốc toàn cầu      Đại học Y Quốc gia ở Seoul để các nhà khoa học quốc tế tham gia dự án có thể tiếp cận được dễ dàng.    Theo Im Jung-gi, Giám đốc điều hành dự án tế bào gốc toàn cầu, Hàn Quốc đã đầu tư 30 tỉ đô la vào nghiên cứu tế bào gốc. Một số ngân hàng tế bào gốc hiện cũng đã tồn tại tại Anh và Mỹ. Tế bào gốc là tế bào chủ trong cơ thể con người từ đó sinh ra các loại tế bào khác. Các nhà khoa học hiện đang cố gắng tìm hiểu cách điều khiển tế bào gốc để áp dụng trong việc cấy ghép y học, chữa các bệnh như Alzheimer hoặc béo phì…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng không và vận tải biển trên đường giảm phát thải      Ngành hàng không và hàng hải thường bị lên án vì sản sinh quá nhiều CO₂. Giờ đây hai ngành này đang cố gắng thoát khỏi tình trạng gây ô nhiễm. Con đường dẫn đến trung hòa khí hậu ở hai lĩnh vực này trong tương lai sẽ diễn ra như thế nào?      Khi một tàu container đi từ Thượng Hải đến Hamburg hoặc một máy bay bay từ Munich đến Singapore, câu hỏi đặt ra là nơi phát thải CO₂ nên được tính từ đâu. Ảnh: Songphol Thesakit / Getty Images     Trong một thời gian dài các hãng hàng không và công ty vận tải biển đã cự tuyệt việc bảo vệ khí hậu. Đây cũng là lý do vì sao hai lĩnh vực này bị chỉ trích nhiều hơn so với ngành công nghiệp ô tô, một ngành tạo ra nhiều khí thải hơn. Tại các hội nghị về khí hậu của Liên hợp quốc, hàng không và vận tải biển cũng thường bị bỏ qua, chúng cũng không được đề cập trực tiếp trong Hiệp định Paris. Tuy nhiên, tại Glasgow, hai lĩnh vực này lại trở thành trung tâm của các cuộc thảo luận. Dưới đây là một số câu hỏi được đặt ra:     Tàu thủy và máy bay thải ra bao nhiêu CO₂?     Hàng không và vận tải biển chiếm từ 2-3% lượng khí thải toàn cầu, nhiều hơn một chút so với lượng phát thải của nước Đức. Tàu thủy vận chuyển 90% lượng hàng hóa thương mại thế giới. Đối với máy bay, nhiều nghiên cứu cho rằng thiệt hại đối với khí hậu do ngành hàng không gây ra lớn hơn, một trong các nguyên nhân đó là máy bay phát ra khí thải ở độ cao lớn. Vấn đề là cả hai lĩnh vực này đều có khả năng tăng trưởng rất mạnh trong những thập kỷ tới. Đó là lý do tại sao tỷ lệ phát thải CO₂ toàn cầu có nguy cơ tăng nhanh. Điều này khiến các mục tiêu khí hậu gặp phải rủi ro lớn.     Tại sao giao thông hàng không và hàng hải không được quan tâm tại Hiệp định Paris?     Thỏa thuận Bảo vệ Khí hậu Paris năm 2015, nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức dưới hai độ, cho phép mỗi quốc gia dựa trên chỉ tiêu này giảm lượng phát thải của mình. Nhưng khi một tàu container đi từ Thượng Hải đến Hamburg hoặc một máy bay bay từ Munich đến Singapore, câu hỏi đặt ra là nơi phát thải CO₂ nên được tính từ đâu. 50:50? Chính phủ các nước không thống nhất được với nhau. Các đại biểu đã tranh cãi về vấn đề này ở Kyoto, năm 1997.     Trong một thời gian dài, hầu như không có gì thay đổi. Điều này liên quan đến ai là người chịu trách nhiệm cho vấn đề này. Tại Kyoto, hội nghị khí hậu đã ủy quyền cho hai tổ chức con của Liên hợp quốc giải quyết. ICAO chịu trách nhiệm về giao thông hàng không, IMO về giao thông hàng hải. Cả hai cơ quan này đều cồng kềnh chậm chạp và không đủ uy tín. Trong hai thập kỷ mọi sự gần như bế tắc.     Các ngành có thể bảo vệ khí hậu không?     “Đành rằng hai ngành hàng hải và hàng không không trực tiếp có trong Hiệp định Paris, nhưng chúng đã được ghi nhận trong các mục tiêu về giảm thiểu lượng khí thải do con người gây ra và hạn chế sự nóng lên toàn cầu“, Cames, người đã tham gia nhiều hội nghị về khí hậu của Liên Hợp Quốc, cho biết.     Felix Creutzig từ Viện Nghiên cứu Mercator về Biến đổi Khí hậu và Giao thông Toàn cầu (MCC) nói: “Nếu không có sự thay đổi, lượng phát thải CO₂ của cả hai lĩnh vực sẽ tăng ồ ạt trong vài thập kỷ tới. Sự thịnh vượng ngày càng tăng dẫn đến nhiều chuyến bay hơn và tiêu thụ nhiều hàng hóa nhiều hơn nên việc vận chuyển cũng tăng trên khắp thế giới. Vì vậy, cần có những biện pháp cho cả hai ngành này.        Hiện có những mục tiêu khí hậu nào – và chúng mang lại điều gì?     Dưới áp lực từ phía khách hàng và các nhà bảo vệ khí hậu, các công ty vận tải biển và hãng hàng không yêu cầu chính phủ các nước đặt mục tiêu giảm lượng khí thải đối với các lĩnh vực này xuống bằng 0 vào năm 2050. Hai hiệp hội thế giới ICS và IATA đã công bố điều này trước hội nghị khí hậu ở Glasgow.     Đây chưa phải là quyết định chính thức, nhưng đó sẽ là một bước nhảy vọt. Cho đến nay, cả hai lĩnh vực này đều có quá ít sự kiện để thu hẹp khoảng cách khí hậu. Lĩnh vực vận tải biển cũng thải ra một tỷ lệ đáng kể lượng khí thải nitơ oxit và lưu huỳnh đioxit trên toàn cầu.     Các nước đã thảo luận như thế nào tại Glasgow?     Giao thông hàng không: 15 quốc gia thành lập “Liên minh Tham vọng Khí hậu Hàng không Quốc tế”(International Aviation Climate Ambition Coalition) và dự kiến  ký kết mục tiêu không phát thải vào năm 2050, bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuyên bố của liên minh cho thấy số lượng hành khách đi máy bay dự kiến sẽ tăng đáng kể trong vòng 30 năm tới.     Do đó, liên minh muốn dựa vào nhiên liệu thân thiện với khí hậu và có hệ thống bồi hoàn. Nước Đức đã giao động và ban đầu không hiện diện khi thông báo được đưa ra, nhưng nay muốn tham gia “theo thời hạn thông thường”. Đầu tháng 11, cộng đồng quốc tế sẽ họp tại Glasgow, Scotland, Hội nghị khí hậu lần thứ 26 của Liên hợp quốc, COP26. Cuộc họp kéo dài hai tuần nhằm nâng cao mục tiêu của các quốc gia và xác định các quy tắc chung cho cuộc chiến chống khủng hoảng khí hậu.     Vận tải biển: 20 quốc gia, bao gồm cả Đức, muốn thiết lập “các tuyến đường trung hòa với khí hậu” giữa các cảng khác nhau trong vài năm tới, trên các tuyến hàng hải đó chỉ có các tàu không thải khí CO₂ được hoạt động. Thỏa thuận này mang  tên Glasgow River Clyde, ban đầu cung cấp sáu tuyến đường như vậy, sau đó  “nhiều tuyến đường khác” sẽ được bổ sung vào năm 2030.     Toàn bộ chuỗi thương mại bán lẻ cũng sẽ được khử cacbon. Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Hà Lan và các nước Bắc Âu sẽ cùng tham gia vào chiến dịch này. Hiện tại, 55 quốc gia đang bị đe dọa đặc biệt bởi sự nóng lên toàn cầu đang kêu gọi đánh thuế CO₂ hàng hải.     Các chuyên gia nói gì?     Với ngành hàng không: quá ít biện pháp và chúng đến quá muộn. Greenpeace tin rằng để ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu, các chuyến bay sẽ phải giảm và các phương thức đi lại thân thiện với khí hậu sẽ phải được tăng cường.      Với ngành hàng hải, “việc thiết lập các hành lang vận chuyển trung hòa với khí hậu là bước đầu tiên cần thiết trong quá trình chuyển đổi”, Ingrid Irigoyen từ Viện Aspen, đề cập đến các “chủ hàng” – những tập đoàn như Amazon, Ikea và Unilever. Các tập đoàn này đang quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ khí hậu trong giao thông vận tải biển. Từ 2040, họ muốn vận chuyển hàng hóa của mình đi khắp thế giới theo cách trung hòa với khí hậu.     Đã có những công cụ bảo vệ khí hậu nào?     Giao thông hàng không: Trong phạm vi Châu Âu, các hãng hàng không phải chi trả cho lượng khí thải CO₂ của họ vì giao thông hàng không là một phần của hoạt động buôn bán khí thải (EU ETS).      Trên toàn thế giới, hệ thống Corsia mới nhằm hạn chế sự gia tăng lượng khí thải từ giao thông hàng không trong tương lai, nhưng chỉ là trên giấy tờ. Creutzig nói: “Chúng tôi dự định lượng khí thải CO₂ bổ sung sẽ bị tính phí”. Sau đó, tiền này sẽ được đổ vào các dự án bảo vệ khí hậu trên khắp thế giới. Hiện tại, ngành công nghiệp này đang bắt đầu quan tâm đến các động cơ mới tiêu thụ ít nhiên liệu hơn trước.     Vận chuyển đường biển: Các tàu đóng mới phải đáp ứng các tiêu chuẩn hiệu quả nhất định về mức tiêu thụ nhiên liệu, điều này sẽ giúp giảm lượng khí thải CO₂. Từ năm 2023, các quy tắc mới cũng sẽ áp dụng cho các tàu thủy đang hoạt động. Để tiết kiệm nhiên liệu và giảm lượng khí thải CO₂, những tàu container khổng lồ sẽ chạy chậm lại so với trước. Trong tương lai gần, các công ty vận tải biển cũng nên tham gia chương trình kinh doanh khí thải của châu Âu giống như các hãng hàng không.      Bản thân ngành công nghiệp này cũng đã đề xuất mức thuế nhiên liệu tăng lên 500 triệu USD hằng năm cho việc nghiên cứu và phát triển các loại động cơ thân thiện với khí hậu. Điều đó có nghĩa là phụ phí hai USD cho mỗi tấn nhiên liệu. Tuy nhiên, việc triển khai đang diễn ra chậm chạp.     Làm gì để tàu thủy và máy bay trở nên trung hòa với khí hậu?     Đối với các tuyến đường ngắn, có thể đưa hệ thống truyền động điện vào vận hành. Đã có những đơn đặt hàng đầu tiên với phà chạy bằng pin, ngay cả những chiếc máy bay cỡ nhỏ cũng có thể bay bằng động cơ điện. Ngoài ra, cả hai lĩnh vực đều sẽ dựa vào nhiên liệu khí hậu mới. Ví dụ, nhiên liệu điện 0 được sản xuất bằng điện xanh có lợi thế bởi chúng có thể được sử dụng trong các tuabin máy bay phổ biến ngày nay. Hiện tại, Airbus cũng muốn phát triển máy bay phản lực hydro.     Đã có nhiều cuộc thảo luận trong ngành vận tải biển về việc dùng amoniac và metanol làm nhiên liệu sinh thái. Để bù đắp cho chi phí cao hơn, thuế CO₂ đối với nhiên liệu hóa thạch đang được xem xét để cân nhắc liệu việc chuyển đổi có hiệu quả hay không. Cho đến nay, nhiên liệu máy bay được miễn thuế. Chuyên gia Creutzig của MCC cho biết: “Về mặt kỹ thuật, có thể khử cacbon ở cả hai lĩnh vực vào năm 2050, nhưng một số quốc gia phải sẵn sàng đi đầu và có những hành động quyết liệt.”      Xuân Hoài dịch     Nguồn: Wie werden Schiffe und Flugzeuge endlich sauber?      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hằng Nga 1 vào quỹ đạo Mặt trăng      Theo Trung tâm kiểm soát không gian vũ trụ Bắc Kinh, Hằng Nga 1 đã bắt đầu giảm tốc lúc 11g15 sáng ngày 5-11 ở vị trí cách Mặt trăng khoảng 300 km và đi vào quỹ đạo Mặt trăng lúc 11g37 sáng sau khi hoàn tất việc giảm tốc.      Sự kiện này cho thấy từng bước của dự án thăm dò Mặt trăng đã được thực hiện gần như hoàn hảo. Hằng Nga-1 được giảm tốc hai lần trong hai ngày 6 và 7-11 để giảm tốc độ xuống 1,8 km/s, giúp nó bay vào quĩ đạo 3,5 giờ và sau đó giảm tốc độ xuống 1,8 km/s để bay vào quĩ đạo 127 phút, nơi vệ tinh sẽ bắt đầu chính thức thực hiện các chức năng theo dự kiến.   T.Vy (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hằng Nga-3 hạ cánh thành công xuống Mặt Trăng      Ngày 2/12 vừa qua, Trung Quốc đã phóng thành  công tàu thăm dò Mặt Trăng Chang’e 3 (Thường Nga-3; ta gọi là Hằng  Nga-3). 21 giờ 11 phút ngày 14/12, bộ phận hạ cánh và xe-robot có tên  Ngọc Thỏ của Chang’e 3 đã hạ cánh an toàn xuống Mặt Trăng. Như vậy Trung  Quốc trở thành quốc gia thứ ba sau Liên Xô, Mỹ tự thực hiện được nhiệm  vụ hạ cánh mềm xuống thiên thể này.    Dư luận Trung Quốc (TQ) và nước ngoài đánh giá cao thành tựu nói trên, coi đó là cột mốc quan trọng đánh dấu TQ trở thành cường quốc vũ trụ. Truyền thông phương Tây dành nhiều bài đưa tin và phân tích sự kiện này. Báo The Guardian nhấn mạnh: tuy rằng về tổng thể, khoa học công nghệ vũ trụ TQ còn lạc hậu so với Mỹ, Nga nhưng kế hoạch thăm dò vũ trụ của họ đã có tiến triển lớn trong một thời gian ngắn. Financial Times nói sự kiện kể trên mang lại cho người TQ niềm tự hào dân tộc và chứng tỏ TQ đã trở thành một trong những quốc gia tiên tiến nhất thế giới.  Chang’e 3 là sứ mệnh hạ cánh Mặt Trăng đầu tiên của loài người trong thế kỷ XXI và là khởi đầu bước hai — bước then chốt của kế hoạch 3 bước thám hiểm Mặt Trăng của TQ ”Bay vòng, hạ cánh, trở về (Trái Đất)”. Để thực hiện kế hoạch này, TQ đã bố trí 6 vệ tinh Mặt Trăng, đều đặt tên là Chang’e, và dự kiến năm 2017 sẽ thực thi bước thứ 3, tức hạ cánh, lấy mẫu đất đá Mặt Trăng mang về Trái Đất.  Chang’e 1 phóng ngày 24/10/2007 đã hoàn thành nhiệm vụ bay vòng chụp 589 bức ảnh toàn cầu Mặt Trăng với độ phân giải 120 m, chụp 3D địa hình và thu được một loạt số liệu khoa học. Sau đó nó được lệnh đâm xuống Mặt Trăng.  Chang’e hai phóng ngày 1/10/1010 đã chụp ảnh 3D Mặt Trăng với độ phân giải 7 m, đo đạc và sơ bộ phân tích các nguyên tố Urani, Kali, Thorium, Magnesium, Nhôm, Silic v.v… Sau đó nó bay vào không gian vũ trụ, gặp và chụp ảnh một tiểu hành tinh gửi về. Hiện nó đã ở cách Trái Đất 60 triệu km, trở thành tiểu hành tinh nhân tạo bay vòng quanh Mặt Trời; dự kiến sẽ bay tới điểm cách Trái Đất khoảng 300 triệu km.  Chang’e 3 nặng 3700 kg (hơn Chang’e hai trên 1000 kg), trọng lượng cất cánh 456 tấn, được phóng bằng loại tên lửa có lực đẩy lớn nhất hiện nay của TQ — tên lửa Trường Chinh 3B. Độ chính xác của việc nó hạ cánh xuống Mặt Trăng được ví như “đánh một trái golf từ Paris sang trúng lỗ golf tại Thượng Hải”.  Để bảo đảm Chang’e 3 có thể hạ cánh xuống Mặt Trăng, lần đầu tiên TQ đã sử dụng nhiều “cửa sổ” (tức quãng thời gian cho phép phóng tàu vũ trụ). Khi lựa chọn cửa sổ, phải căn cứ vào quy luật vận động của Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng, thời tiết ở bãi phóng, quỹ đạo của tàu. Đã chuẩn bị 6 cửa sổ để phóng Chang’e 3, mỗi ngày có hai cửa. Cửa thứ nhất rộng 4 phút; cửa thứ hai rộng 1 phút. Nếu bỏ lỡ cửa thứ nhất thì phải phóng vào cửa thứ hai. Vì cửa sổ quá hẹp nên phải tính toán sẵn 6 quỹ đạo lên Mặt Trăng ứng với 6 cửa sổ; thời gian bay của tên lửa đẩy cũng theo đó mà khác nhau, ngắn nhất hơn 1100 giây, lâu nhất hơn 1.400 giây.   Thời gian từ lúc điểm hỏa tên lửa cho tới lúc con tàu tách khỏi tên lửa vào khoảng 20 phút, khi ấy Chang’e 3 đã lên tới quỹ đạo hình e-lip với điểm gần Trái Đất là 200 km, điểm xa là 380.000 km, đúng bằng cự ly tới Mặt Trăng, vì thế Chang’e 3 sẽ bị Mặt Trăng hút và bay quanh thiên thể này chứ không bay theo quỹ đạo vòng quanh Trái Đất nữa. Hành trình lên Mặt Trăng kéo dài khoảng hơn 100 giờ. Khi tới nơi, Chang’e 3 đã bay vài vòng quanh thiên thể này với quỹ đạo có điểm thấp nhất là 15 km. Sau khi chuẩn bị xong mọi điều kiện, mặt đất mới ra lệnh cho nó hạ cánh xuống Mặt Trăng.  Hạ cánh mềm là nhiệm vụ khó khăn nhất của Chang’e 3, vì bề mặt Mặt Trăng có rất nhiều hố sâu lớn và tảng đá to. Bộ phận hạ cánh có bốn chân để đỗ xuống bề mặt Mặt Trăng. Các chân này được thiết kế sao cho đều có thể hấp thu lực xung kích khi va chạm, khiến con tàu hạ cánh êm nhẹ. Khi ở độ cao 15 km, Chang’e 3 nhận lệnh hạ cánh; nó mất 11 phút để làm việc này, trải qua 6 bước: giảm tốc chính, điều chỉnh tốc độ nhanh, tiếp cận, dừng treo trên không, tránh trở ngại, giảm tốc. Tốc độ được giảm từ 1,7 km/sec xuống bằng zero. Khi xuống tới độ cao 100 m, nó sẽ dừng lại một lúc (như máy bay lên thẳng), quan sát tìm chỗ bằng phẳng để hạ cánh. Lựa chọn xong, mặt đất ra lệnh điểm hỏa động cơ đẩy ngược nhằm giảm tốc độ rơi tự do của con tàu. Động cơ sẽ tắt máy khi tàu cách mặt đất vài mét, nhằm tránh thổi tung bụi làm bẩn camera và các thiết bị. Khi tốc độ bằng zero, bốn chân của con tàu nhẹ nhàng chạm đất và đứng vững. Chang’e 3 đã hạ cánh đúng địa điểm dự định và hoàn mỹ tới mức vượt dự kiến.   Sau khi hạ cánh, Ngọc Thỏ đã tách khỏi bộ phận hạ cánh. Nó sẽ tự di chuyển với tốc độ 200m/h, vừa đi vừa tiến hành nghiên cứu khoa học trong vòng ba tháng, theo chu kỳ 14 ngày làm việc lại nghỉ 14 ngày (ngày và đêm Mặt Trăng dài bằng 14 lần ngày và đêm Trái Đất). Ngọc Thỏ nặng 140 kg, có sáu bánh. Nó được lắp ba thiết bị chưa nước nào từng có: – kính viễn vọng cận tử ngoại để quan trắc thiên văn; – máy ảnh cực tử ngoại để quan trắc tầng điện ly của Trái Đất; – ra-đa quan trắc mặt cắt, độ dầy và kết cấu tầng mỏng trên cùng của lớp vỏ Mặt Trăng.   Bộ phận hạ cánh sẽ khảo sát Mặt Trăng tại chỗ (không di chuyển) và quan sát Ngọc Thỏ. Nó đã chụp được ảnh quốc kỳ TQ gắn trên xe Ngọc Thỏ và truyền ảnh đó về Trái Đất.  Nhiệt độ trên Mặt Trăng ban ngày nóng tới 120 độ C, đêm lạnh tới âm 180 độ C. Để bảo đảm các thiết bị không bị hỏng trong điều kiện chênh lệch nhiệt độ lớn, nhất là đêm lạnh dài như vậy, phải trang bị hệ thống khống chế nhiệt có thể hạ nhiệt và giữ nhiệt. Ban đêm, hai cánh pin Mặt Trời sẽ gập lại phủ lên Ngọc Thỏ như “đắp chăn” cho nó.                          Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Chang’e 3 sẽ ở lại Mặt Trăng và “nghỉ hưu” khi nguồn điện ngừng hoạt động.  “Cha đẻ của Chang’e” — viện sĩ Âu Dương Tự Viễn – nói Ngọc Thỏ chủ yếu dùng ra-đa để quan trắc bề mặt và lớp đất dưới bề mặt Mặt Trăng, nghiên cứu thành phần hóa học, khoáng chất trên bề mặt và phân tích kết cấu lớp đất bên dưới – những việc này chưa nước nào từng làm.  Nhưng đầu năm nay cũng chính Âu Dương Tự Viễn nói TQ hiện chưa có thời gian biểu cho dự án đưa người lên Mặt Trăng. Tuyên bố này đang làm dân mạng TQ nhao nhao bàn cãi. Một số nhà khoa học TQ giải thích đó là do việc đưa người lên Mặt Trăng quá tốn kém, mà nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành thăm dò vũ trụ TQ hiện nay là xây dựng trạm vũ trụ, nước này không đủ lực để dàn trải làm nhiều việc; vả lại vì Mặt Trăng không thích hợp điều kiện để di dân lên đó, cho nên không cần nghiên cứu đưa người lên Mặt Trăng; trước đây Mỹ, Liên Xô làm việc đó chỉ vì mục đích chính trị, hiện nay Mỹ đã bỏ dự án trở lại Mặt Trăng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng trăm website đưa thông tin sai lệch về vaccine COVID-19      Trong hợp tác với WHO, NewsGuard – một công ty đánh giá mức độ tin cậy của các website, đã phân tích hơn 500 trang web lan truyền thông tin thất thiệt về virus corona, trong đó có cả các thông tin đã được khẳng định là sai sự thật về vaccine COVID-19.      Mới đây, NewsGuard thông báo, trong tổng số hơn 6,700 website được đưa vào phân tích, công ty này đã phát hiện ra có 519 trang web đăng tải thông tin sai lệch về COVID-19. Một số trang web đăng các thông tin đáng ngờ liên quan đến sức khỏe hoặc các thuyết âm mưu chính trị, trong khi đó một số trang khác thì “được tạo ra với mục đích lan truyền thông tin thất thiệt về COVID-19”. Theo Gordon Crovitz, đồng sáng lập của NewsGuard: “Mọi người gần như không thể phân biệt được trang web nào đăng thông tin đáng tin cậy còn trang nào thì không”.  NewsGuard đã lựa chọn các nhà báo giàu kinh nghiệm để đánh giá mức độ tin cậy và tính minh bạch của các trang tin tức phổ biến nhất tại Mỹ, Anh, Đức, Pháp và Ý. Sau khi đánh giá, công ty sẽ công bố “nhãn dán” để giúp người dùng nhận biết được các trang thông tin nào đã tuân thủ hoặc vi phạm tiêu chuẩn báo chí. NewsGuard đã xác định được 50 “huyền thoại” phổ biến nhất về vaccine COVID-19 được lan truyền trên internet, bao gồm cả những tin nhảm đã bị lật tẩy từ trước như vaccine có thể thay đổi DNA của con người, gây vô sinh hoặc tạo ra các biến thể mới của virus. “Tất cả đều là những trò lừa bịp phổ biến, chúng lan truyền từ trang web này sang trang web khác”, Matt Skibinski, quản lý cấp cao của NewsGuard, nói.  Trong số các trang web có trong danh sách của NewsGuard, có 339 trang có lượng độc giả chủ yếu ở Mỹ. Một số trang trong đó, bao gồm InfoWars và Mercola.com, đã tuyên truyền các thuyết âm mưu và các thông tin đáng ngờ về sức khỏe. Một số trang khác thì cố gắng lừa người đọc bằng cách sử dụng tên miền gần giống với các hãng tin tức uy tín, chẳng hạn như WashingtonPosted.news và Ussanews.com để bắt chước Washingtonpost.com và USNews.com. Thậm chí một số website còn trở nên phổ biến trên internet hơn cả các trang tin tức đáng tin cậy về COVID-19.  Chẳng hạn, nhóm vận động chống vaccine có tên Children’s Health Defense đã nhận được lượng tương tác trên mạng cao hơn cả CDC và Viện Y tế Quốc gia Mỹ trong 90 ngày qua. Trang web này đã đưa ra nghi ngờ về tính an toàn của vaccine COVID-19 cũng như cổ vũ các thuyết âm mưu về công nghệ 5G.  Để tìm ra các kết quả phân tích như vậy, NewsGuard đã sử dụng NewsWhip – sản phẩm của một công ty phân tích truyền thông xã hội – để đo lường mức độ tương tác, bao gồm cả tương tác trên mạng xã hội và lưu lượng truy cập website. Theo Crovitz – nhà đồng sáng lập NewsGuard, không nên coi thường mức độ nguy hiểm của các trang web đưa thông tin sai lệch, dù chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các thông tin được đăng tải trên mạng.  Phát hiện của NewsGuard là nỗ lực mới nhất nhằm định lượng các thông tin sai lệch về đại dịch COVID-19. Trước đó, một báo cáo hồi tháng 3 của NGO có trụ sở ở London – Trung tâm Chống lại Thù ghét trên nền tảng Kỹ thuật số (Center for Countering Digital Hate), đã phát hiện hàng chục tài khoản chịu trách nhiệm đăng tải 65% các thông tin sai về vaccine trên Facebook và Twitter. NewsGuard cũng đã xác định được “những kẻ siêu truyền bá” tin nhảm về vaccine COVID-19. Các báo cáo này đã gây ra các “làn sóng” ở Washington – nơi các nhà lập pháp đã đưa ra luật nhằm buộc các công ty truyền thông xã hội phải chịu trách nhiệm cho những thông tin sai lệch về sức khỏe.  Dù vậy, nhiều trang web đưa tin thất thiệt về COVID-19 – được các nhà quảng cáo không biết về bản chất của các website này tài trợ một phần – vẫn đang tiếp tục thu hút chú ý. Các quan chức y tế công cộng cho rằng, điều này có thể ảnh hưởng đến chiến dịch tiêm chủng đang diễn ra hiện nay. “Những gì chúng ta thấy trong 20 tháng qua là sự xói mòn niềm tin, xói mòn khoa học và xói mòn sự thật”, Andy Pattison, trưởng nhóm phụ trách các kênh kỹ thuật số tại Phòng Đổi mới sáng tạo và Sức khỏe Kỹ thuật số của WHO, cho biết. “Và tôi nghĩ rằng điều đó thực sự rất đáng sợ”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-09-covid-vaccine-misinformation-hundreds-websites.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàng triệu lọ vaccine bị bỏ phí      Trên thế giới có tới hàng triệu lọ vaccine bị vứt bỏ vì quá hạn sử dụng trong khi đó nhiều nước khác lại không có vaccine để tiêm chủng cho người dân. Tại sao việc phân phối vaccine lại tệ như vậy và phải làm gì để cải thiện tình hình?      Các nước giầu vứt bỏ vaccine vào thùng rác trong khi các nước nghèo Châu Phi lại trông ngóng viện trợ vaccine.  Khi làn sóng thứ ba quét qua đất nước vào cuối tháng 4, Marco Blanker đã sẵn sàng làm nhiệm vụ chống đại dịch của mình. Vị bác sĩ người Hà Lan tham gia tổ chức tiêm chủng cho 250 bệnh nhân lớn tuổi đến tiêm nhưng chỉ có 72 người trong số đó đến tiêm. Cuối cùng hàng chục lọ vaccine đã bị đổ bỏ. Ở Hà Lan, mức độ sẵn sàng tiêm chủng của người dân đã giảm nhanh chóng, theo nhận xét của bác sĩ – đặc biệt là với vaccine  AstraZeneca. Ông nói: “Tôi nghĩ chỉ riêng bác sĩ đa khoa và nhà thuốc vẫn lưu trữ tới 200.000 liều vắc xin AstraZeneca trong tủ lạnh của họ”.  Cùng với một số đồng nghiệp, bác sỹ Blanker khởi động  “Prullenbak Vaccine”  Vào website này, người Hà lan có thể biết ở đâu đang có vaccine. Bản đồ này hoạt động tốt đến mức ông và các đồng nghiệp có thể hỗ trợ những người muốn tiêm chủng ở nước ngoài .Ông nói “nếu dây chuyền lạnh hoạt động tốt thì có thể thu gom các lọ vaccine chưa tiêm, bảo quản lạnh và gửi cho Châu Phi để sử dụng tiếp.”  Đã có một doanh nghiệp vận tải ngỏ ý giúp vào việc vận chuyển  – tuy nhiên theo bác sỹ thì chính phủ Hà lan không tán thành dự án này vì có một số vấn đề liên quan đến pháp lý và hậu cần. Ông bác sỹ buồn bã nói “do đó các lọ vaccine chưa sử dụng vị vứt bỏ”. Nhưng ông không cam chịu: “Tiêm chủng cũng là quyền con người”.   Câu chuyện ở Hà Lan đã khái quát phần nào tình hình hiện tại – trên thế giới có tới hàng triệu lọ vaccine bị vứt bỏ trong khi các nước khác lại không có để sử dụng. Hiện không có một ngân hàng dữ liệu của cả thế giới thống kê để lượng vaccine bị hủy bỏ, nhưng số liệu của từng quốc gia thì có và đó là những con số đáng báo động.  Theo WHO tính đến cuối tháng 8 có khoảng 1 triệu lọ AstraZeneca hết hạn sử dụng phải loại bỏ. Riêng trong năm nay tiểu bang Georgia của Mỹ đã đổ bỏ 700 nghìn lọ vaccine; các chuyên gia cảnh báo riêng ở Mỹ số vaccine bị đổ bỏ có thể đủ dùng cho 13 triệu người. Tại Ba lan, tính đến cuối tháng 7 đã phải đổ bỏ 73 nghìn lọ vaccine các hãng khác nhau. Ở Hồng Kông, số lọ vaccine dư thừa của các nhãn hiệu Sinovac và Biontech/Pfizer cũng chất đống có nguy cơ bị đổ bỏ. Tại Đức khoảng 1/10 vaccine của bác sỹ gia đình cũng bị tồn đọng, tổng cộng lên tới  3,2 triệu lọ.  Theo dữ liệu của “Our World in Data” khoảng 1/3 dân số thế giới đã được tiêm chủng 1 lần vaccine chống Covid-19 – tuy nhiên ở các nước nghèo số người đã tiêm một lần mới đạt 1,4%. Tại Nigeria mới có khoảng 0,7% dân số được tiêm chủng đầy đủ, ở Haiti thậm chí không tới 0,01%.  Chương trình COVAX của WHO cũng như Sáng kiến tiêm chủng toàn cầu GAVI và  CEPI đã không thể xây dựng một hệ thống tiêm chủng toàn cầu công bằng. Phần lớn trong số gần 5 tỷ liều được tiêm ở các nước giàu có, nhiều nước đàm phán trực tiếp với các nhà sản xuất để mua vaccine đã bỏ qua COVAX và ký kết các thỏa thuận song phương. Chiến dịch tiêm chủng toàn cầu dự kiến đến cuối năm 2021 tài trợ hai tỷ liều cho những nhóm dân số dễ bị tổn thương nhất ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình – cho đến nay mới  có khoảng 209 triệu liều được chuyển giao.   Các nhà sản xuất như Moderna thông báo sẽ hết sức tăng cường sản xuất và nhiều nước muốn tặng lượng vaccine dư thừa cho các nước nghèo. Nhưng một khi vaccine đã được phân phối đến các địa phương trong một nước thì việc thu gom lượng dư thừa để tập trung trở lại vừa khó khăn, vừa tốn kém.   Hoa Kỳ đã tuyên bố sẽ quyên tặng tổng cộng 500 triệu lọ vaccine. Chính phủ Hoa Kỳ đã sáng tạo bằng cách cho Canada và Mexico“vay” để tiêm chủng. Israel cũng cho Hàn Quốc “mượn” 700.000 lọ Biontech/Pfizer và Seoul sẽ hoàn trả sau.  Chính phủ Đức dự kiến đến cuối năm nay sẽ quyên tặng 30 triệu lọ từ kho dự trữ và chủ yếu dành cho các nước đang phát triển; 80% trong số này thông qua Covax. Số còn lại qua các thỏa thuận song phương cho một số nước như Namibia, Ukraina và Armenia …. Nước Anh cũng tuyên bố quyên góp 9 triệu lọ và đã thực hiện cung cấp.   Việc quyên tặng này cũng không đơn giản vì có trường hợp khi vaccine đến sân bay nước nhận cứu trợ đã sắp hết hạn sử dụng gây nhiều khó nhăn cho các nước này vì phần lớn hạ tầng cơ sở giao thông và y tế của các nước này đều yếu kém.   Tính đến đầu tháng 8 Châu Phi đã phải hủy 470.000 lọ vaccine vì quá hạn sử dụng. Thí dụ khác là khi vaccine đến Liberia chỉ còn hạn sử dụng là 15 ngày mà số lượng lên đến hàng vạn lọ do đó nước này buộc phải hủy bỏ 27 nghìn lọ.    Javier Guzman, giám đốc chính sách y tế toàn cầu tại Trung tâm phát triển toàn cầu của Hoa Kỳ cảnh báo. “Năng lực của các nhà sản xuất chỉ có thể tăng lên đến một mức độ nhất định, số lượng vaccine quá ít để đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển”. Và cuộc tranh luận về việc tiêm chủng bổ sung khiến các chuyên gia càng thêm lo lắng. Ông cho rằng: “Các quốc gia giàu sẽ chủ yếu sử dụng nguồn cung cấp của họ để tiêm tăng cường cho dân của họ và cũng sẽ tiêm chủng cho trẻ em. Vì thế tình hình không những không được cải thiện mà có xu hướng xấu đi”.  Theo Guzman, để giải quyết lâu dài những ách tắc vaccine hiện nay phải tác động vào khâu sản xuất. Các chính phủ và Tổ chức quốc tế phải tác động vào các hãng sản xuất vaccine để tăng cường sản xuất, phải có các biện pháp khuyến khích các nhà sản xuất ký hợp đồng bản quyền với các đối tác ở các nước đang phát triển và mới nổi sản xuất vaccine tại chỗ.   Các tập đoàn  dược phẩm và nhiều quốc gia công nghiệp phát triển cho đến nay vẫn chống lại đề xuất của một liên minh do Ấn Độ và Nam Phi dẫn đầu về việc đình chỉ bảo hộ bằng sáng chế đối với vaccine corona.   Trước mắt, theo Javier Guzman, điều quan trọng là phải sử dụng các cơ sở sản xuất hiện có, phù hợp để sản xuất vaccine – như trường hợp của công ty dược phẩm Merck của Mỹ, tập đoàn này đã không thành công trong việc tự phát triển vaccine , nhưng hiện đã trang bị thêm các cơ sở để sản xuất đối với vaccine Janssen. Guzmann cũng cho rằng việc thành lập Trung tâm Chuyển giao Công nghệ ở Nam Phi như đã được công bố, nhằm thúc đẩy sản xuất vaccine mRNA tại địa phương, là một bước đi đúng hướng. Ông nói: “Mọi người phải giúp một tay. “Bởi vì đại dịch sẽ khiến chúng ta bận rộn trong nhiều năm và biến thể tiếp theo chắc chắn sẽ sớm xuất hiện”.   Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/ausland/corona-impfungen-warum-weltweit-millionen-impfstoff-dosen-im-muell-landen-a-d4392aed-d013-40f5-87e7-1b373fe2c6e       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạnh phúc cũng có thể làm “trái tim tan vỡ”      Từ thập kỷ 1990, các chuyên gia y tế đã biết rằng những sự kiện đau buồn, chẳng hạn như mất người thân, có thể dẫn tới một hiện tượng gọi là “hội chứng trái tim tan vỡ” giống như đột quỵ và có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.       Bây giờ, lần đầu tiên các bác sĩ chứng minh được rằng trạng thái hưng phấn quá mức do những sự kiện vui vẻ như tiệc sinh nhật cũng có thể gây ra trạng thái tương tự, và họ gọi đó là “hội chứng trái tim hạnh phúc.” Nói tóm lại, hạnh phúc cũng có thể gây tử vong.     Các bác sĩ tại trường Đại học Y Zurich, Thuỵ Sĩ, đã tiến hành thu thập dữ liệu về các trường hợp đột quỵ trên thế giới; hiện nay cơ sở dữ liệu của họ có 1.750 bệnh nhân.    Đa phần các ca đột quỵ trong kho dữ liệu trên đều có nguyên nhân từ những trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức cao như đau khổ, sợ hãi và giận dữ, trong đó một nhân tố phổ biến là việc tham dự tang lễ và có một trường hợp đơn lẻ là một bệnh nhân béo phì lên cơn đột quỵ khi bị mắc kẹt trong nhà tắm. Nhưng có 20 trường hợp được chẩn đoán là đột quỵ do những sự kiện vui vẻ, chẳng hạn như tiệc sinh nhật, tiệc cưới, lễ chia tay bất ngờ, đội bóng ưa thích giành chiến thắng trong một trận đấu, hay sự ra đời của một người cháu.  Tiến sĩ Jelena Ghadri, tác giả của nghiên cứu trên, cho biết: “Phát hiện này cho thấy những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng trái tim tan vỡ đa dạng và phong phú hơn nhiều so với hình dung của chúng ta trước đây. Bên cạnh những trạng thái cảm xúc tiêu cực, căn bệnh này cũng có thể do những trạng thái cảm xúc tích cực gây ra. Các y bác sĩ cần phải nhận thức rõ về điều này khi tiếp nhận bệnh nhân. Kết luận của nghiên cứu này chứng minh rằng các sự kiện vui vẻ và đau buồn trong cuộc sống có thể có cùng những quỹ đạo cảm xúc tương tự nhau.”    Đặc trưng của hiện tượng này là các cơ tim đột ngột suy yếu đi, khiến buồng tim trái phình to lên như bóng bay và tạo thành hình giống như những chiếc bẫy bạch tuộc ở Nhật, vì thế mà tên gọi trong phòng thí nghiệm của nó là hội chứng takotsubo.    Hiện tượng này tác động chủ yếu tới phụ nữ: 95% bệnh nhân trong kho hồ sơ trên là nữ giới với độ tuổi trung bình là 65.    Tiến sĩ Christian Templin, nhà nghiên cứu trưởng của trường Đại học Y Zurich, cho hay cần có thêm những nghiên cứu nữa để tìm hiểu kỹ hơn về những cơ chế chính xác đằng sau những biến thể “hạnh phúc” hay “đau khổ” của hội chứng trái tim tan vỡ.    “Chúng tôi tin rằng hội chứng trái tim tan vỡ là minh chứng điển hình của cơ chế phản hồi đan xen, liên quan tới cả những kích thích về tâm lý và/hoặc vật lý, tức là não bộ và hệ tim mạch. Có lẽ những sự kiện hạnh phúc và đau khổ trong cuộc sống tuy khác nhau rõ rệt nhưng cùng có quỹ đạo chung trong hệ thần kinh trung ương nên cuối cùng cả hai đều dẫn tới hiện tượng trái tim tan vỡ,” ông nói.  Thu Trang dịch  http://www.telegraph.co.uk/news/science/sciencenews/12181203/Happiness-can-break-your-heart-doctors-warn.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình đến một giống lúa có gạo ngon thơm      Ngay sau khi rời Viện Lúa Quốc Tế (IRRI) tại Philippines vào tháng 6/1971 để gia nhập vào đội ngũ Trường Cao đẳng Nông nghiệp Cần Thơ, tôi đã có ước mơ đầu tiên là tìm được trong số hàng trăm giống lúa cổ truyền của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) một giống lúa ngon cơm nhất để phổ biến rộng rãi cho bà con nông dân      Hồ Quang Cua, Nguyễn Thu Hương và Đặng Thị Cúc đang chọn giống lúa ST trên trại giống lúa HQCua ngày 23/1/2003. Ảnh: Võ Tòng Xuân.  Và trên 40 năm nghiên cứu, ước mơ đó đã thành hiện thực, bù lại những ngày phải ăn gạo năng suất cao nhưng không ngon cơm của Viện IRRI.  Tôi phụ trách Ban Sinh Nông, dạy môn “Cây Lúa” và quản lý nông trại vỏn vẹn 3.000 m2 cho sinh viên thực tập nghiên cứu ứng dụng các mặt về trồng lúa và thực hành các thao tác của nghề trồng lúa. Tất cả sinh viên đều rất thích môn học này có lẽ vì đây là cây trồng chính của ĐBSCL và vì có người thầy trẻ từ Viện IRRI về dạy. Trong số những sinh viên nông nghiệp khóa I của trường, có em Nguyễn Thành Nghiệp biểu lộ một đam mê đậm đà nhất với cây lúa. Nghiệp đến từ Chợ Đào thuộc xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, xuất xứ của giống lúa Nàng Thơm nổi tiếng ngon nhất của ĐBSCL từ xưa. Nghiệp cho biết lúa Nàng Thơm chỉ thơm khi được trồng trên diện tích chỉ rộng khoảng 500 hecta nơi giao thoa giữa dòng nước ngọt của sông Rạch Đào (từ sông Vàm Cỏ Đông) và dòng nước mặn của rạch Nha Ràm (từ sông Rạch Cát). Năng suất giống lúa mùa này chỉ đạt từ 1,5 đến 2,5 tấn/ha, và gạo chỉ thơm khi được trồng tại chợ Đào mà thôi (do dó gạo Nàng Thơm được bán đầy dẫy các nơi phần lớn là gạo giả cả). Thế là hành trình tìm gạo ngon Việt Nam của tôi đã bắt đầu từ việc nghiên cứu làm thế nào để lúa Nàng Thơm Chợ Đào có thể trồng khắp nơi mà vẫn thơm.  Xây dựng ngân hàng giống lúa ĐBSCL của ĐH Cần Thơ  Giả thuyết của tôi là có thể một chất vi lượng nào đó đã được cây hấp thụ để hình thành một enzyme tạo nên mùi thơm. Tôi đã sử dụng một số nguyên tố vi lượng như kẽm, seleni, lantan, bor, silic, sắt, đồng, magiê, mangan không thành công. Sau ba năm nghiên cứu không thanh công, tôi tạm dừng theo hướng này. Song song đó, tôi giao công việc làm ở nhà cho tất cả sinh viên trong thời gian nghỉ Tết âm lịch: “Sưu tập hạt giống lúa mùa của địa phương em cư trú.” Việc này rất cần thiết trước khi cả ĐBSCL bỏ hết lúa mùa để chuyển sang lúa cao sản ngắn ngày theo chỉ đạo của Nhà nước. Từ sưu tập do sinh viên thực hiện, nhập với một số giống lúa mùa của đoàn chuyên gia nông nghiệp Đài Loan lúc trước 1975, tôi lập nên một ngân hàng giống lúa của ĐBSCL từ năm 1977 để lưu trữ và bảo quản hơn 1.000 giống lúa mùa gồm lúa nổi, lúa mùa sớm, lúa mùa trung, và lúa mùa muộn, trong một tủ lạnh 12 m3 duy trì ở 50C do Hội Các nhà khoa học Mỹ hợp tác với Việt Nam lúc bấy giờ viện trợ.  Lai tạo giống lúa thơm không quang kỳ    Những bông lúa được chọn từ các dòng đang phân ly, phơi trong vườn nhà Hồ Quang Cua. Ảnh: Võ Tòng Xuân.  Hành trình của tôi tiếp tục với những giống lúa địa phương thơm, ngon cơm, như các giống Tàu Hương, Nàng Thơm, Châu Hạng Võ, Nanh Chồn, Huyết Rồng, lấy từ ngân hàng giống lúa của mình, phối hợp với vài gene lúa không quang kỳ, ngắn ngày và kháng rầy nâu nhập từ Viện IRRI. Công tác lai tạo bắt đầu từ 1980 tại Trung tâm NC&PT Lúa ĐBSCL của ĐH Cần Thơ. Đồng thời Viện Lúa Ô Môn của Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng bắt đầu lai tạo giống lúa mới. Qua thời gian, ĐH Cần Thơ cho ra đời 2 giống ngon thơm và ngắn ngày là MTL233 và MTL250, trong khi Viện Lúa Ô Môn cho ra hàng loạt nhiều giống OM trong đó chiếm lĩnh diện tích gieo trồng là giống OM5451 và OM6976. Bên cạnh các giống ngon cơm và hơi thơm này còn có giống Jasmine 85, Đài Thơm 8 và Nàng Hoa 9 cũng được nổi tiếng gạo ngon và hơi thơm. Giống Jasmine 85 một giống lúa thơm do nhà lai giống Henk Beachell của IRRI chọn đưa sang Hoa Kỳ, rồi một số việt kiều mang về Việt Nam; giống Đài Thơm 8 do Công ty Giống cây trồng Miền Nam lai tạo, và giống Nàng Hoa 9 do kỹ sư Lê Hùng Lân (Công ty hạt giống Hoa Tiên TP.HCM) lai tạo và chọn ra.  Tôi để ý thấy giống lúa ngon nhất của Thái Lan là giống Hom Mali, trồng ở vùng Đông Bắc Thái Lan là vùng đất nhiễm mặn do quặng muối nằm sâu dưới đất mặt; giống Nàng Thơm Chợ Đào của Việt Nam cũng là giống trồng ở vùng nước lợ Chợ Đào, thì nếu có giống ngon thơm mới của Việt Nam thì hành trình tìm giống lúa thơm ngon phải hướng về vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu… Sau khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo trở lại vào cuối năm 1989 với loại lúa năng suất cao nhất nhưng chất lượng gạo rất tầm thường phù hợp túi tiền của dân thu nhập thấp, giá rất rẻ. Tôi thấy triển vọng này không cho nông dân trồng lúa cơ hội làm giàu được, nên phải tính phương án bỏ bớt hằng năm một, hai vụ lúa rẻ tiền để thay thế bằng cây hoặc con gì luân canh hoặc song canh với lúa. Như thế, tôi đã đổi tên Trung tâm NCPT Lúa của tôi thành Trung tâm NCPT Hệ thống Canh tác từ năm 1991. Hàng loạt hệ thống canh tác đã được nghiên cứu –điển hình nhất là hệ thống lúa-tôm—nhưng không được nhà nước chính thức công nhận nên nông dân chưa được đầu tư, phải sản xuất tự phát. Song song với chương trinh nghiên cứu hệ thống canh tác, tôi đã bàn và đưa cho Kỹ sư Hồ Quang Cua ít giống lúa thơm lấy từ ngân hàng giống lúa của Viện IRRI. Anh Cua, từ khi còn ngồi trong lớp tại ĐH Cần Thơ cũng đã đam mê với cây lúa, lần này anh quyết tâm với cây lúa thơm ngon của vùng nhiễm mặn ĐBSCL.  Kiên trì thực hiện ước mơ giống lúa ngon thơm cao sản ngắn ngày    Hạt gạo thành phẩm. Ảnh: Võ Tòng Xuân.     Với lòng đam mê vô biên, với kiến thức và kỹ năng về cây lúa đã được trang bị trong quá trình đào tạo tại ĐH Cần Thơ, anh Cua đã thuyết phục bà xã Trịnh Kim Tuyến của minh đồng lòng bỏ tiền nhà ra để thực hiện ước mơ này. Anh mua đất ruộng để làm nhà kính lai tạo giống, ruộng cấy dòng phân ly, ruộng nhân hạt giống của nhà lai tạo giống. Xây dựng nhóm cơ hữu gồm kỹ sư Hồ Quang Cua (chọn giống), TS Trần Tấn Phương (lai tạo) và ThS Nguyễn Thu Hương (phân biệt mùi thơm giống) làm việc xuyên suốt cả năm với nhóm công nhân ít nhất 5 người thường trực: từ xử lý hạt giống từng thế hệ, làm nương mạ khô, phân lô cấy hàng nghìn giống đang phân ly, thu cây mới chọn, xử lý hạt giống… cho đến khi trồng so sánh giống đã chọn thuần. Trong suốt hơn 25 năm, nhiều giống lúa ST đã được nhóm Hồ Quang Cua cho ra đời từ ST3, ST5… ST20… Đến năm 2015 tỉnh Sóc Trăng tranh thủ được một nguồn vốn viện trợ của Chính Phủ Canada cho thực hiện đề án “Xây dựng thương hiệu gạo Sóc Trăng.” Tỉnh đã nhờ tôi làm tư vấn kỹ thuật của đề án, đúng vào thời điểm Nhóm Hồ Quang Cua đã chọn được giống ST24. Những bước kế tiếp để xác định ST24 là giống xuất sắc nhất từ trước đến giờ, đạt được tất cả tiêu chuẩn của đề án đặt ra, đã được thực hiện gấp rút. Chúng tôi sang Campuchia tham khảo cách các chuyên gia Úc và Pháp với kinh phí của Ngân hàng Thế giới tài trợ đã giúp Bộ Nông nghiệp Campuchia và các doanh nghiệp tư nhân Campuchia xây dựng thương hiệu gạo ngon từ khâu tuyển chọn, lấy giống tốt nhất trong số những giống lúa cổ truyền, rồi nhân giống để chuyển giao cho nông dân trong hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Campuchia, tân trang hoặc xây dựng mới một số nhà máy xay xát lúa gạo, đóng gói bao bì đưa đi triển lãm tại hội nghị quốc tế về lương thực – thực phẩm ThaiFex tại Thái Lan. Đề án của Sóc Trăng cũng được Canada tài trợ kinh phí tham gia hội chợ ThaiFex vào tháng 5/2016 để học tập kinh nghiệm giới thiệu gạo ngon đến khách hàng lớn (chuối siêu thị, chuỗi nhà hàng khách sạn).    GS. Võ Tòng Xuân và kỹ sư Hồ Quang Cua trong Đoàn Sóc Trăng tham dự học kinh nghiệm marketing thương hiệu gạo tại Hội Chợ ThaiFex, Bangkok, Thái Lan.  Trở lại trong nước, nhóm Hồ Quang Cua tổ chức hội thi gạo ngon, lần nào ST24 vẫn là giống được chọn là ngon và thơm nhất. Tự tin vào giống lúa ST24 của mình nhóm Hồ Quang Cua được Đề án Canada cho kinh phí tham dự Hội nghị Quốc tế về Thương mại Gạo lần thứ 9 tại Ma Cao do The Rice Traders tổ chức năm 2017. Cuộc thi gạo ngon nhất thế giới năm 2017 này đã chọn ST24 vào TOP 3 Giống lúa ngon nhất. Sang đến năm 2018, anh Cua dùng tiền nhà đăng ký tham dự Hội nghị quốc tế về lúa gạo lần thứ 10 tại Hà Nội với giống ST24 lần nữa. Rất tiếc lần này tôi bận họp hội nghị quốc tế khác nên không đi với anh Cua. Và rất tiếc giống ST24 không được chọn. Hội nghị chỉ chọn giống lúa Malys Angkor của Campuchia là gạo ngon nhất thế giới năm 2018.  Với sự kiên trì bền bỉ, vững tin vào gạo ST24 của minh nổi trội hơn giống của Campuchia và Thái Lan, Hồ Quang Cua lại tiếp tục dùng tiền nhà đăng ký cho Đoàn ST sang Manila tham dự với 2 giống ST24 và ST25. Tại hội nghị, đoàn Sóc Trăng may mắn được bới Bộ trưởng William Dar của Bộ Nông nghiệp Philippines đón tiếp niềm nở, người bạn rất thân quen của tôi khi anh ấy phụ trách nhóm nghiên cứu hệ thống canh tác Philippines, và gặp ông Bob Ziegler, cựu Tổng giám đốc vủa Viện IRRI, cũng là bạn thân của tôi. Lần này, đúng như mong đợi của chúng tôi, gạo ST24-25 của Việt Nam được chọn vinh danh gạo ngon nhất thế giới năm 2019. Trước đó không lâu, tại cuộc thi gạo ngon tại TP Hồ Chí Minh, gạo ST24 của đứng vị trí số 1 so với các giống ngon thơm khác của các cơ quan lai tạo giống lúa Việt Nam.  Cuộc hành trình đến giống lúa có gạo ngon nhất thế giới do nhóm Hồ Quang Cua lai tạo đã được công nhận trong và ngoài nước. Nhưng không vì thế mà ta lơ là với công tác chọn tạo giống lúa mới. Với giống ST24-25 này các nhà khoa học của Bộ Nông nghiệp cần có kinh phí và trang thiết bị để nghiên cứu trình tự bộ gene (genome) của giống để có căn cứ khoa học cải tiến một số gene nhược điểm trong genome, như các gene làm ổn định mùi thơm, gene kháng bệnh đạo ôn, gene kháng rầy nâu, v.v.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/hanh-trinh-den-mot-giong-lua-co-gao-ngon-thom/20200113094034761p1c160.htm    Author                Võ Tòng Xuân        
__label__tiasang Hành trình đến với hành tinh trong cùng hệ Mặt trời      Người xưa đùa rằng việc tồi tệ hơn tìm thấy một con sâu trong quả táo là tìm thấy nửa con sâu. Các nhà hành tinh học đã có cùng cảm giác như vậy vào ngày 29 tháng 3 năm 1974, khi tàu không gian Mariner 10 bay ngang qua sao Thủy và đã cho nhân loại rõ cái nhìn đầu tiên về quả cầu lửa nhỏ bé của vũ trụ này. Nó phát hiện nhiều điều trên sao Kim, mà một trong số đó là lòng chảo va chạm lớn nhất trong hệ Mặt trời, sau này được đặt tên là Caloris. Tuy vậy những hình ảnh thu được đó chỉ là một nửa lòng chảo, nửa còn lại vẫn bị che phủ trong bóng tối. Thực tế, kể từ chuyến viếng thăm này cho đến các lần bay ngang thứ 2 và thứ 3 sau đó vào năm 1974 và 1975, Mariner 10 chỉ chụp được ảnh chưa đầy một nửa bề mặt hành tinh.      Mãi đến 34 năm sau, chúng ta mới thấy toàn bộ lòng chảo trong ánh sáng, ấn tượng hơn nhiều so với những bức ảnh ban đầu. Vào ngày 14 tháng 1 năm 2008, tàu vũ trụ MESSENGER bay ngang qua sao Thủy, tận dụng trọng lực của hành tinh này để thay đổi phương hướng và gửi bức ảnh đầu tiên chụp tâm của Caloris về Trái đất. Bức ảnh này trông giống như bức ảnh âm bản của Mặt trăng. Mặc dù bề mặt núi lửa của sao Thủy làm ta liên tưởng tới Mặt trăng nhưng trong khi lòng chảo Mặt trăng tối và chứa đầy nham thạch ở bên trong thì Caloris được bao phủ bởi bình nguyên nhiều ánh sáng – câu hỏi vì sao vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn.  Tháng 3 năm 2011, MESSEGER thực hiện điều mà Mariner 10 không thể làm: xâm nhập vào quỹ đạo sao Thủy để nghiên cứu sâu hơn hành tinh này chứ không chỉ nhìn thoáng như khi bay ngang qua. Sao Thủy là hành tinh ít được khám phá nhất trong số các hành tinh vùng trong (của hệ Mặt trời). Sự biến đổi địa mạo và ánh sáng chỉ là hai trong số những bí ẩn của nó. Được phóng vào năm 2004, MESSEGER, viết tắt của “MErcury Surface, Space ENvironment, GEOchemistry, and RAnging” (Bề mặt sao Thủy, môi trường không gian, địa hóa học và đo đạc khoảng cách), được thiết kế để trả lời 6 câu hỏi lớn: Thành phần của bề mặt sao Thủy là gì? Lịch sử địa chất của nó là gì? Làm thế nào mà một hành tinh nhỏ lại có từ trường toàn cục? Lõi kim loại của nó có tan chảy không? Những vùng sáng trên sóng radar tại các cực là gì? Quá trình gì chi phối bầu khí quyển loãng? Sứ mạng của MESSEGER là phải hoàn thành công việc mà Mariner 10 để lại.  Sao Thủy chỉ lớn bằng một nửa Mặt trăng và có vài đặc tính giống Trái đất, ví dụ như có từ trường toàn cục. Bề mặt chứa nhiều miệng núi lửa là dấu hiệu chứng tỏ nó có hoạt động địa chất khá trẻ.  Năm 2008 và 2009, tàu thám hiểm không gian của NASA thực hiện chuyến bay ngang đầu tiên qua sao Thủy kể từ giữa thập kỉ 1970 để chụp ảnh một bán cầu với độ chi tiết chưa bao giờ đạt được trước đây và đã chứng kiến hoạt động plasma hỗn loạn không ngừng.  Ngày 18 tháng 3 năm 2011, MESSENGER đi vào quỹ đạo quanh sao Thủy và bắt đầu nhiệm vụ quay một năm (năm Trái đất) trên quỹ đạo. Do tốc độ quỹ đạo nhanh và vị trí quá gần với Mặt trời, việc đi được đến đó là rất khó.  ĐƯỜNG ĐẾN SAO THỦY    Đi xuống địa ngục  Một lý do mà phải mất tới 3 thập kỷ người ta mới tiếp tục được nhiệm vụ Mariner 10 là việc đi được đến sao Thủy và tồn tại được ở đó là những thách thức lớn về công nghệ. Tàu vũ trụ trên một đường bay thẳng từ Trái đất rơi vào trường hấp dẫn của Mặt trời và gia tốc đến gần 13km/s nhanh hơn vận tốc quỹ đạo sao Thủy. Động cơ tên lửa truyền thống không thể phanh con tàu vũ trụ đủ để bắt kịp quỹ đạo gây ra bởi lực hấp dẫn của hành tinh. Về mặt năng lượng, đi tới sao Thủy khó khăn hơn rất nhiều so với đi tới sao Mộc mặc dù sao Mộc ở xa hơn.                       Hình 1          Để đạt được điều này, MESSENGER thực hiện một chuyến bay ngang qua Trái đất, hai chuyến ngang qua sao Kim và ba qua sao Thủy. Mỗi lần như vậy, một phần momentum của tàu vũ trụ được chuyển qua hành tinh. Quá trình này giống như hiệu ứng súng cao su hấp dẫn được sử dụng để đẩy tàu vũ trụ ra các hành tinh bên ngoài, ngoại trừ việc quỹ đạo được thiết kế sao cho tàu vũ trụ bay chậm lại thay vì bay nhanh hơn. Liên tục trong hơn sáu năm rưỡi, một chuỗi các chuyến bay ngang làm vận tốc mất đi 11 km/s.  Nhờ đó, động cơ tên lửa chính của MESSENGER đã hoàn thành nhiệm vụ. Tàu vũ trụ được xây dựng giống như một thùng khí bay, với kết cấu tối thiểu và nhẹ nhàng bao quanh các bồn chứa nhiên liệu (1, hình 1). Lúc phóng tổng khối lượng tàu vũ trụ là 1100 kg, và hơn một nửa, khoảng 600 kg là nhiên liệu.  Nhưng đi được đến đó chỉ là một nửa niềm vui. Ở sao Thủy, ánh sáng Mặt trời sáng hơn 11 lần ở Trái đất và bề mặt hành tinh đạt đến nhiệt độ đủ cao để làm tan chảy kẽm. Do vậy, tàu vũ trụ phải nằm ẩn phía sau một tấm chắn (2, hình 1) dệt từ sợi gốm. Các tấm pin Mặt trời (3, hình 1), tất nhiên, phải nhô ra ngoài tấm chắn dù được thiết kế để hoạt động ở nhiệt độ cao, chúng phải nghiêng một góc lớn sao cho bề mặt hấp thụ chỉ một phần nhỏ ánh sáng Mặt trời và không bị quá nhiệt.   Các công cụ khoa học cần phải hướng về phía bề mặt hành tinh. Để chịu được sức nóng, máy ảnh (4, hình 1) ngự trên 400gram paraffin. Khi tàu vũ trụ nằm thấp trên quỹ đạo, paraffin tan chảy, hấp thụ nhiệt; khi tàu vũ trụ ở vị trí cao hoặc ở phần bóng đêm, paraffin đóng băng lại chuẩn bị cho lần vượt tiếp theo.  Một thách thức khác nữa là tốc độ quay quanh trục của sao Thủy rất chậm. Một ngày Mặt trời trên sao Thủy, từ lần Mặt trời mọc này đến lần Mặt trời mọc khác bằng 176 ngày trên Trái đất. Nhiều khu vực sẽ hiển thị ở góc nhìn lý tưởng chỉ trong một vài chu kỳ ngắn trong nhiệm vụ một năm này.  LỚP VỎ     Không chết chóc như nó có vẻ  Trước tàu Mariner 10, một số nhà khoa học dự đoán rằng sao Thủy đã chết về mặt địa chất giống như Mặt trăng của Trái đất. Hoạt động địa chất suy giảm dần đến tắt hẳn khi nào hành tinh hay vệ tinh mất nội nhiệt. Kích thước là yếu tố xác định tốc độ của quá trình này. Vật thể cùng thể tích có diện tích bề mặt lớn hơn sẽ lạnh đi nhanh hơn. Vì sao Thủy chỉ bằng một rưỡi Mặt trăng, lịch sử địa chất có thể tương tự. Mariner đặt ra câu hỏi này khi nó chuyển về các bức ảnh của vùng đồng bằng rộng lớn giống như núi lửa. Nhưng cũng khó nói được điều gì. Từ xa, bình nguyên Cayley trên Mặt trăng cũng giống như vậy, trông giống như một bình nguyên núi lửa rộng lớn – nhưng khi các nhà du hành Apollo 16 đáp xuống, tất cả những thứ mà họ tìm thấy là các mảnh vỡ được bắn ra từ một lòng chảo va chạm.                       Hình 3          Chúng ta không nghĩ là MESSENGER có thể giải quyết được câu hỏi này một cách nhanh chóng như vậy. Nó đã nhìn ra bằng chứng rõ ràng về dung nham có màu sắc và thành phần khác nhau, cũng như sự phun trào đá trầm tích trong quá khứ giống như ở núi St. Helens.  Tăng cường sự biến đổi màu sắc bằng máy tính trưng ra những mối liên hệ này. Vật chất mịn có màu sắc phân biệt lấp đầy các vùng trũng bên trong miệng núi lửa. Núi lửa nhỏ hơn, trẻ hơn đã khai quật vật chất đa màu từ nhiều độ sâu trong lớp vỏ. Những bức ảnh này gợi ý rằng vài km trên cùng của lớp vỏ sao Thủy chứa các lớp khoáng sản núi lửa.  Truy tìm ranh giới của vùng đất tương tự giữa địa hình và màu sắc, các nhà khoa học của dự án đã tạo nên bản đồ địa chất sao Thủy mới đầu tiên từ MESSENGER (hình 3). Khoảng 40% bề mặt – bao gồm cả vùng bên trong lòng chảo va chạm rộng lớn Caloris (1, hình 3) – là các bình nguyên phẳng, nhiều bình nguyên có thể là núi lửa (màu nâu trên bản đồ). Các vùng xám giữa các bình nguyên bằng phẳng bị lỗ chỗ nhiều hơn và có thể già hơn (2, hình 3). Một sự khác biệt đáng chú ý giữa Mặt trăng và sao Hỏa là cách thức phân bố của các bình nguyên bằng phẳng. Ở Mặt trăng, chúng tập trung ở phần gần phía đối diện với Trái đất; còn Sao Hỏa, chúng chủ yếu nằm ở phía Bắc bán cầu và trên cao nguyên núi lửa. Còn ở sao Thủy, chúng có thể được tìm thấy trên tất cả các vùng của hành tinh. Bình nguyên trẻ nhất có lẻ chỉ khoảng 1 tỷ năm tuổi, tương đối trẻ theo tiêu chuẩn Mặt trăng và sao Hỏa.  Các nhà khoa học tiếp tục đau đầu đối với các vùng có màu hơi xanh bao phủ 15% bề mặt, ví dụ như lưu vực Tolstoj (3, hình 3). Có thể trên đó có sắt và titan chứa oxit mà các va chạm đã đào chúng lên từ hố sâu hoặc chúng cũng có thể là vật chất núi lửa rất xa xưa nhô lên trên dòng dung nham trẻ có màu nhạt hơn.   Các bức ảnh mà MESSENGER chụp từ quỹ đạo sẽ có độ phân giải gấp 3 lần hoặc lớn hơn những ảnh chụp khi bay ngang, và những dụng cụ chỉ có thời gian ngắn để hoạt động trong khi bay ngang cuối cùng cũng có dịp gửi về những dữ liệu có chất lượng tốt nhất. Ví dụ như quang phổ kế  tia gamma và quang phổ kế neutron sẽ nối tiếp khám phá được thực hiện vào những năm 1990 từ các trạm quan sát rada ở mặt đất: các vùng cực có chứa vật chất phản chiếu rada tốt có thể là nước đá (4, hình 3). Đá có vẻ là thứ cuối cùng mà bạn mong tìm thấy trên một hành tinh cực kỳ nóng, nhưng những vùng bóng tối vĩnh viễn gần các cực có thể đủ lạnh để hấp thụ bất kỳ làn hơi nước nào sản sinh từ sự va chạm của các sao chổi hoặc thiên thạch nhiều nước.  PHẦN BÊN TRONG VÀ QUYỂN TỪ    Bí ẩn từ trường  Bằng cách theo dõi quỹ đạo của Mariner 10, các nhà khoa học đã đo được trường hấp dẫn của sao Thủy và trau chuốt ước lượng mật độ. Giá trị này cao một cách kì lạ, khoảng chừng 5.3 gram trên mỗi cm3, trong khi đó ở Trái đất là 4.4, ở Mặt trăng là 3.3 và ở các khối đá trung bình là 3. Tất cả những giá trị đó đều đúng đối với hiện tượng tự nén gây ra bởi trọng lực, và nhờ đó mà chúng ta có thể so sánh những tính chất vật chất bên trong. Bên dưới bề mặt đá của sao Thủy phải có một lõi dày đặc với thành phần chủ yếu là sắt. Trái đất cũng có một lõi giàu sắt, nhưng trong mối tương quan với khối lượng hành tinh, tỉ lệ này ở sao Thủy lớn gấp đôi. Có thể sao Thủy đã từng có một lớp đá dày hơn và vụ va chạm đã đào nó lên hoặc có lẽ nguồn vật chất mà tạo thành sao Thủy có rất nhiều sắt bởi vì nằm quá gần với Mặt trời.                       Hình 4                    Hình 5          Lõi lớn của sao Kim chắc chắn có mối quan hệ đến một trong những khám phá đáng kinh ngạc của Mariner 10: từ trường toàn cục. Từ trường này chủ yếu là lưỡng cực giống như một thanh nam châm. Mặc dù từ trường nằm trên bề mặt chỉ mạnh bằng khoảng chừng 1% ở Trái đất, đáng chú ý là sao Thủy có một trường lưỡng cực ở mọi nơi. Không một thiên thể có bề mặt rắn nào khác trong hệ Mặt trời có đặc tính này ngoài Trái đất và vệ tinh Ganymede của sao Mộc.    Từ trường Trái đất được sinh ra do sắt nóng chảy quay trong lớp lõi ngoài, tạo thành một “máy phát điện hành tinh”. Từ trường của sao Thủy cũng như sự tinh vi trong việc thay đổi tốc độ quay của mỗi vòng quay quanh Mặt trời cho biết rằng lõi ngoài chưa hoàn toàn biến thành chất rắn, mặc dù kích thước của sao Thủy đề xuất điều ngược lại. Sao Thủy dường như né tránh số phận như sao Hỏa, sao Hỏa cũng đã từng có từ trường toàn cục trong thời gian đầu nhưng sau đó biến mất. Tìm hiểu tại sao việc này xảy ra là một mục tiêu chính của MESSENGER.  Ngoại trừ cho biết những gì xảy ra bên trong các hành tinh, từ trường tạo ra vài hiện tượng vật lý plasma khác lạ xung quanh sao Thủy. Từ trường ấy làm chệch hướng gió Mặt trời, là dòng hạt mang điện bắt nguồn từ Mặt trời, và tạo nên một thể tích xung quanh các hành tinh chiếm ưu thế bởi từ trường của sao Thủy hơn là từ trường giữa các hành tinh mang lại bởi gió. Mariner 10 đã phát hiện ra chớp các hạt năng lượng tương tự như cực quang sáng chói của Trái đất.   MESSENGER nhận ra rằng quyển từ luôn thay đổi. Tại thời điểm bay ngang qua đầu tiên, từ trường liên hành tinh hướng về phía Bắc sao cho nó thẳng hàng với từ trường xích đạo của hành tinh (1, hình 4). Quyển từ lúc này lặng im. Ở lần bay ngang thứ hai của MESSENGER, từ trường liên hành tinh lại chỉ về hướng Nam, đối nghịch với hướng từ trường của sao Thủy tại xích đạo. Từ trường thẳng hàng đối nghịch hướng có thể ghép cùng nhau trong một hiện tượng được biết đến là sự tái kết nối (2, hình 4), giải phóng một lượng năng lượng lớn và đem plasma từ vùng này vào vùng khác. Trong trường hợp này, đẩy luôn plasma gió Mặt trời vào trong quyển từ của sao Thủy. MESSENGER đo được tốc độ tái kết nối từ tính mạnh gấp 10 lần so với ở gần Trái đất. Vào lần bay ngang thứ ba, các quan sát đề xuất rằng những đường sức hành tinh đã bị làm méo đi nhiều, lần lượt kết hợp toàn bộ với gió Mặt trời (3 hình 4), và 5 phút sau đó liên kết giữa bán cầu Bắc và Nam được lặp lại bình thường. Dưới tác động của lượng động năng lớn đó, kim la bàn sẽ khó được sử dụng để điều chỉnh hướng trên bề mặt do nó sẽ đảo ngược hướng trong mỗi phút. Quyển từ của sao Thủy có khả năng làm điều gì khác nữa?   VÙNG KHÍ QUYỂN BÊN NGOÀI    Chuyển động chậm của ánh sáng nhấp nháy   Sao Thủy không có bầu khí quyển truyền thống, nghĩa là một lớp phủ dày đặc không khí, nhưng nó có vùng khí quyển ngoài cùng: một bầu “khí quyển” loãng đến mức các nguyên tử có thể nhảy vụt sang bề mặt bên kia giống như những trái bi-a mà không va chạm với trái khác. Những nguyên tử từ bề mặt lên đây qua vài quá trình. Ánh sáng Mặt trời loại chúng ra khỏi tinh thể khoáng và làm bay hơi nguyên tố dễ bay hơi như natri; các ion từ gió Mặt trời bắn phá tinh thể khoáng và giải phóng nguyên tử; các cơn mưa bụi vũ trụ liên tục làm bốc hơi vật chất bề mặt. Các quá trình này bao gồm ánh sáng Mặt trời có năng lượng khá thấp và những nguyên tử mà chúng giải phóng thường thường rớt trở lại bề mặt (4, hình 5). Sự bắn phá gây ra bởi gió Mặt trời và bụi vũ trụ càng mạnh hơn và các nguyên tử tống ra từ các quá trình này ở lại không khí còn lâu hơn (5, hình 5). Vài chất, đặc biệt là natri, có thể hình thành các chùm giống như sao chổi khi bức xạ Mặt trời đẩy chúng ra xa khỏi Mặt trời và hành tinh (6, hình 5).                       Hình 6          Bằng sự kết hợp thú vị của các hiệu ứng, vùng khí quyển ngoài nhấp nháy hai lần trong mỗi quỹ đạo sao Thủy. Đó là do các nguyên tố cấu thành khí quyển ngoài hấp thụ ánh sáng ở một bước sóng này rồi sau đó giải phóng lại năng lượng cũng ở cùng bước sóng đó. Các nguyên tố này cũng xuất hiện ở lớp ngoài của Mặt trời nhưng chúng hấp thụ bước sóng kích thích sự phát sóng ở khí quyển ngoài. Nhưng đôi khi ánh sáng Mặt trời cần đi đến sao Thủy, do quỹ đạo hành tinh có độ elip lớn, khi hành tinh tăng tốc ra xa hoặc tiến gần tới Mặt trời, hiệu ứng Doppler dịch chuyển phổ Mặt trời làm nhiều ánh sáng ở bước sóng cần thiết đi tới được bầu khí quyển ngoài và làm nó bừng sáng hơn. Do đó, khi sao Thủy ở điểm gần nhất hoặc xa nhất so với Mặt trời, rất khó nhìn thấy vùng khí quyển ngoài (7, hình 6). Còn ở các các điểm giữa trên quỹ đạo thì nó sáng hơn (8, hình 6).  Qua năm tới đây, MESSENGER sẽ theo dõi bầu khí quyển ngoài phát triển như thế nào theo chu kỳ quỹ đạo. Nếu như kinh nghiệm quá khứ đưa ra sự chỉ dẫn nào, sao Thủy sẽ trình làng các hiện tượng mới mà người ta vẫn phải còn tưởng tượng.     Hùng Vinh  dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình giải mã asen      15 năm theo đuổi hướng đánh giá ô nhiễm đất, trầm tích và địa hóa nước ngầm, đặc biệt là về ô nhiễm kim loại nặng như asen, GS.TS Phạm Hùng Việt và nhóm nghiên cứu Địa hóa môi trường (ĐHQGHN) do ông dẫn dắt đã có nhiều công bố quốc tế, nổi bật nhất phải kể đến công trình “Cơ chế làm chậm sự di chuyển của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene” (Retardation of arsenic transport through a Pleistocene aquifer), trên Nature* (tháng 9/2013).      Giải mã quá trình ô nhiễm asen trong các tầng nước ngầm  Ý tưởng tập trung vào nghiên cứu ô nhiễm asen của GS Phạm Hùng Việt bắt đầu nhen nhóm từ nghiên cứu của Tổ chức Điều tra địa chất Anh (British Geological Survey) năm 1998 về dịch ngộ độc asen trong các giếng khoan ở 61/64 tỉnh thuộc Bangladesh. Phát hiện này đã thổi bùng sự quan tâm của khoa học quốc tế về vấn đề ô nhiễm asen bởi trên thế giới có hơn 70 quốc gia bị phát hiện có asen trong nước ngầm, khiến hơn 130 triệu người có nguy cơ bị nhiễm asen.  Do Việt Nam và Bangladesh có sự tương đồng về địa chất khi cùng nằm trong lưu vực các con sông lớn bắt nguồn từ dãy Himalaya, GS Phạm Hùng Việt nghĩ ngay đến khả năng nước ngầm tại Việt Nam cũng bị ô nhiễm asen. Ông và các cộng sự đã hợp tác với Viện nghiên cứu về KH&CN Môi trường liên bang Thụy Sỹ (EAWAG) nghiên cứu trên khu vực đồng bằng sông Hồng với tâm điểm Hà Nội và các vùng ngoại thành khai thác nước ngầm. Trong năm 1998, nhóm đã lấy mẫu nền từ các giếng khoan ở 500 điểm trong nội thành Hà Nội, làm giàu mẫu và tiến hành phân tích. Sau đó để kiểm chứng cho các kết quả đo tại Việt Nam, nhóm đã gửi 10% mẫu sang phòng thí nghiệm ở Thụy Sỹ phân tích đối chứng.    Năm 2001, công trình “Sự ô nhiễm asen trong nước ngầm và nước uống ở Việt Nam: mối đe dọa sức khỏe con người” được công bố trên Environmental Science and Technology, đã xác định nồng độ asen ở khu vực nội, ngoại thành Hà Nội cao hơn tiêu chuẩn cho phép, báo hiệu người sử dụng nước giếng khoan có nồng độ asen cao hơn 10 microgram/lít có nguy cơ bị nhiễm asen mãn tính. Sau hơn 10 năm công bố, đến nay công trình này đã được được trích dẫn hơn 600 lần.  Đến đầu thế kỷ 21, những vấn đề liên quan đến asen vẫn còn ẩn chứa nhiều điều chưa được giải đáp như dự báo về khả năng ô nhiễm asen, cơ chế giải phóng asen, quá trình vận chuyển asen giữa các tầng ngậm nước, vai trò của vi sinh vật với việc giải phóng asen… Thực tế này đã thu hút nhóm nghiên cứu của GS Việt suốt 10 năm qua: chẳng hạn để có thể đi đến kết luận về mối quan hệ giữa hoạt động khai thác nước ngầm của con người với ô nhiễm asen, nhóm nghiên cứu của ông đã tái hiện giai đoạn đầu của quá trình ô nhiễm asen nồng độ thấp tại một tầng chứa nước sạch trên cơ sở khảo sát 41 giếng làng chài Vạn Phúc, huyện Thanh Trì nơi chuyển tiếp sắc nét của nồng độ asen thấp và cao trong nước ngầm, khi mẫu giếng phía Tây có nồng độ asen chưa đến 10 microgram/lít nước (thấp hơn ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế thế giới WHO) nhưng mẫu giếng phía Đông lại cho nồng độ cao hơn từ 10 đến 50 lần, trong bảy năm từ năm 2006 đến năm 2011. Điều thú vị là ranh giới tự nhiên giữa hai vùng chuyển tiếp lại không cố định mà dường như được di chuyển dần về phía Tây, tức nội thành Hà Nội với tốc độ “chậm rãi” là 0,5-0,7m/năm. Qua theo dõi từ năm 2006 đến nay, ranh giới vùng di chuyển tổng cộng từ 3,5 – 4m.   Trong suốt thời gian bám trụ ở làng Vạn Phúc khai thác mẫu, các nhà nghiên cứu đều phải “chân lấm tay bùn” ngoài hiện trường cùng công nhân khoan giếng, các giáo sư nước ngoài như GS Benjamin Bostick cũng không ngoại lệ. “Mỗi khi kiểm tra mũi khoan, tất cả đều bỏ cả giày dép, chân đất lao ra hỗ trợ và tự tay lấy mẫu. Ai cũng bê bết bùn đất đến mức khó phân biệt nổi đâu là nhà khoa học, đâu là công nhân. Chính trong giai đoạn này, không ngờ chất độc asen lại trở thành ‘bà mối’ cho GS Benjamin Bostick với một thành viên của nhóm”, GS Việt hóm hỉnh. “Công việc lấy mẫu của chúng tôi kéo dài và một số thí nghiệm buộc phải thực hiện ngay ở hiện trường một cách liên tục nên nhiều nghiên cứu viên đã phải túc trực 24/24 tại làng Vạn Phúc. Rất may là chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện các công đoạn này. Ngày kết thúc giai đoạn thực địa, nhóm chúng tôi đã tặng cho xã món quà nhỏ, một chiếc tủ lạnh, làm kỷ niệm, sau đó đã được chuyển cho trường mẫu giáo của xã”.   Những mẫu trầm tích và mẫu nước khai thác tại Vạn Phúc đều được bảo quản cẩn thận và chuyển về các phòng thí nghiệm trong nước và một phần của các mẫu cũng được gửi tới đối tác là hai phòng thí nghiệm ở Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ (ETH Zurich), Viện Quan sát Trái đất Lamont-Doherty (Lamont-Doherty Earth Observatory, ĐH Columbia, Mỹ). Qua phân tích bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), phổ plasma ICP (inductively coupled plasma), các nhà khoa học đã phát hiện ra quy trình ô nhiễm asen trong các tầng nước ngầm bắt nguồn từ hoạt động khai thác nước: mỗi mũi khoan xuống để hút nước từ tầng chứa nước sâu Pleistocene với lớp trầm tích hơn 12.000 tuổi mà phần lớn là không bị nhiễm asen đã tạo ra “cửa sổ thủy văn” gây xáo trộn giữa các tầng chứa nước, khiến nước nhiễm asen ở tầng nước nông Holocene (được tích tụ từ 5000 năm trước) tràn xuống tầng nước sâu Pleistocene. Bằng phương pháp kỹ thuật đồng vị heli và hydro, các nhà khoa học đã kiểm chứng, nước trong tầng ngậm nước bị ô nhiễm asen di chuyển hơn hai km về phía trung tâm Hà Nội trong vòng từ 40 đến 60 năm còn tốc độ nhiễm asen mới chỉ thâm nhập khoảng 120m trong tầng nước sạch.         Trong năm năm qua, nhóm nghiên cứu Địa hóa môi trường có 26 bài báo ISI với đề tài asen. Bên cạnh đó, nhóm còn chế tạo được một thiết bị đo nồng độ asen trong nước mang tên thiết bị điện di mao quản tự động bơm mẫu tuần tự, CE – C4D – SIA, có thể đo nồng độ asen ở mức 50 microgram/lít. Trong một vài năm tới, thiết bị sẽ tiếp tục được cải tiến theo định hướng để khả năng đo sẽ đạt tới mức thấp hơn là 10 microgram/lít.          Công trình cho thấy, khả năng ô nhiễm asen có thể xảy ra ở nơi này nhưng lại không xảy ra ở nơi khác tùy thuộc vào thành phần sinh địa hóa của trầm tích nước ngầm, đồng thời ranh giới giữa vùng ô nhiễm và không ô nhiễm có thể bị dịch chuyển do những biến đổi dòng chảy và thay đổi môi trường sinh địa hóa dưới tác động của khai thác nước ngầm.  Nhận định về kết quả của công trình, GS Việt lạc quan: “Lần đầu tiên chúng tôi có thể chứng minh một tầng chứa nước sạch đã bị ô nhiễm asen như thế nào và mức ô nhiễm này phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng bơm hút nước ngầm ra sao. Rất may là tốc độ ô nhiễm chậm hơn so với những gì chúng tôi lo ngại. Tuy nhiên nếu Hà Nội tiếp tục gia tăng tốc độ khai thác nước ngầm thì quá trình ô nhiễm asen sẽ trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều”.   Đồng tác giả Michael Berg đã trao đổi với các cộng sự Việt Nam: “Chúng ta góp phần thay đổi quan niệm trong khai thác nước ngầm trên toàn thế giới”.  Tiếp tục nghiên cứu về sự vận chuyển asen trong trầm tích  Trên hành trình giải mã asen, có rất nhiều nhóm nghiên cứu ở Đan Mạch, Thụy Sỹ, Đức, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc… cùng chạy đua. Vì vậy theo GS Việt, “không khí ‘cạnh tranh’ như một cuộc thi”.  Qua mỗi công trình, năng lực nghiên cứu của nhóm lại được khẳng định với những phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới. Ví dụ công trình “Nguy cơ tăng cao ô nhiễm asen trong nước ngầm ở Việt Nam do việc khai thác nước ngầm sâu trong hơn một thế kỷ”  được bản đồ và mô hình hóa 3D (dữ liệu địa chất ba chiều với dữ liệu địa chất là một biến độc lập), qua đó người ta có thể dự đoán khả năng ô nhiễm asen trong nước ngầm thông qua việc xác định một số thông số khác dễ dàng hơn so với việc xác định asen, ví dụ như giá trị độ kiềm, ô xi hóa khử của mẫu nước hoặc thông số amoni xác định dễ dàng bằng phương pháp trắc quang ngay tại hiện trường. Với công trình tiếp theo, “Sự tích tụ asen trong nước ngầm ở Việt Nam được quy định bằng tuổi trầm tích”, thì các phép đo tuổi trầm tích, phản ứng hóa học của nước, phản ứng của carbon hữu cơ trầm tích, đo đồng vị phóng xạ tỷ lệ khí methane sinh ra trong điều kiện yếm khí… đã tìm ra được mối liên hệ giữa nồng độ asen với tuổi trầm tích nhằm xác định nguyên nhân của sự biến đổi hàm lượng asen trong nước ngầm.  Việc theo đuổi nghiên cứu về sự hình thành, vận động và chuyển hóa của asen trong các tầng nước ngầm đòi hỏi kiến thức chuyên sâu ở nhiều lĩnh vực, vì vậy nhóm đã tạo dựng mối liên kết đa ngành trong quá trình nghiên cứu, như địa chất – thủy văn, vi sinh, hóa học phân tích, hóa học môi trường, sinh địa hóa (biogeochemistry), sinh học phân tử…, đồng thời cộng tác với nhiều chuyên gia quốc tế ở các lĩnh vực này: TS Michael Berg (VETH Zunch), GS Alexander van Geen, GS Benjamin Bostick (ĐH Columbia), GS Dieke Postma (Cục Địa chất Đan Mạch và Greenland)… Đây đều là những mối quan hệ hợp tác kéo dài nhiều năm, như TS Michael Berg đã cùng nhóm hoàn thành tới 18 công bố quốc tế về asen trong hơn 10 năm qua. “Trong thời gian ở Việt Nam, họ cũng kết hợp với chúng tôi mở các khóa học ngắn hạn, các seminar. Ví dụ ngay sau Tết 2014, GS Benjamin Bostick đã lên lớp một khóa về sinh địa hóa, một chuyên ngành rất mới mẻ ở Việt Nam”, GS Việt cho biết. Thông qua các dự án hợp tác quốc tế, nhóm đã phối hợp với các giáo sư nước ngoài hướng dẫn nghiên cứu sinh, đến nay đã có ba người bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về asen trong số đó, TS Phạm Thị Kim Trang là nghiên cứu sinh đầu tiên do GS Việt hướng dẫn, hiện đã trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu về asen. Riêng với công trình “Cơ chế làm chậm sự di chuyển của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene” đã góp phần hỗ trợ đào tạo một tiến sĩ và hai thạc sĩ.   Uy tín từ công bố quốc tế đã đem lại cho nhóm cơ hội tham gia nhiều dự án lớn, trong đó có dự án theo đơn đặt hàng của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF), dự kiến bắt đầu vào năm sau và kéo dài 60 tháng với tổng kinh phí 1,45 triệu USD, mang tên “Những nhu cầu cạnh tranh và thương tổn trong tương lai của nước ngầm: chất lượng nước uống, an toàn thực phẩm ở khu vực Nam Á, Đông Nam Á bị tác động bởi asen” (Competing demands & future vulnerability of groundwater: Drinking water quality & food security in arsenic- impacted South & Asean). Phạm vi khảo sát của dự án là Việt Nam, Myanmar và Ấn Độ, trong đó nhóm của GS Việt nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi Việt Nam.   Nhìn về tương lai của nhóm, GS Việt cho biết “Trên thế giới, xu hướng nghiên cứu về asen đang được mở rộng. Công bố mới nhất về asen mà chúng tôi vừa cập nhật vào tháng tám của một nhóm nghiên cứu ở Mỹ trên tạp chí Environmental science and technology đã thúc đẩy chúng tôi bắt đầu chuyển hướng nghiên cứu kết hợp với các nghiên cứu về vi sinh học phân tử mà sản phẩm đầu tiên là công trình “Loại bỏ asen bằng bể lọc cát, hiệu ứng sử dụng bộ lọc đối với những hiệu quả loại bỏ asen và chất lượng nước nhìn từ góc độ vi sinh”, sẽ xuất hiện tại Science of total environmen vào cuối năm nay.        Asen là một trong những chất vô cơ gây ô nhiễm phổ biến nhất trong nước. Nồng độ an toàn theo tiêu chuẩn của WHO là dưới 10 microgram/lít, nhưng nếu xâm nhập cơ thể trong thời gian dài, ngay cả ở nồng độ thấp thì asen cũng có ảnh hưởng đến sức khỏe, ban đầu nhiễm độc mãn tính dẫn đến tích tụ asen trong da, tóc và móng tay, móng chân, dẫn đến tăng sắc tố da, sừng hóa gan bàn tay, bàn chân, rối loạn chức năng thần kinh và sau khoảng 15 đến 30 năm, người nhiễm asen có nguy cơ mắc ung thư da, bàng quang, thận và phổi.               Hàng triệu cư dân đồng bằng sông Hồng sống trong khu vực sử dụng giếng nước khoan có hàm lượng cao hơn 10 microgram/lít đang có nguy cơ bị nhiễm độc asen mãn tính và/hoặc nhiễm độc mangan. Nhưng vì nhiều lý do, trong đó có yếu tố đặc thù về văn hóa ẩm thực và cơ địa (tính đa hình di truyền của người VN) nên khả năng chống chịu với asen của người Việt Nam tỏ ra tốt hơn so với người dân Bangladesh hoặc Ấn Độ (vùng Tây Bengan). Điều này cần được nghiên cứu một cách có hệ thống trong thời gian tới.              Trong những năm gần đây, việc nỗ lực loại trừ asen khỏi nguồn nước sinh hoạt, các nhà máy nước Hà Nội đã bắt đầu sử dụng nước sông Đà thay vì nước ngầm, theo kết quả tư vấn của nhóm.          Những ý tưởng mới vẫn tiếp tục đến nhằm giải đáp những câu hỏi về các quá trình sinh địa hóa và khoáng học hóa của trầm tích dọc theo vùng chuyển tiếp, quá trình quan trọng nào kiểm soát sự di chuyển của asen giữa các tầng nước dưới tác động của hoạt động khai thác nước, bởi “sự vận chuyển asen trong các tầng chứa nước vẫn còn rất phức tạp. Chúng tôi hiện đang quan tâm về vai trò của các quần thể vi sinh vật, chất hữu cơ trong quá trình vận chuyển asen dọc theo vùng chuyển tiếp. Đây là vấn đề hết sức thú vị và hoàn toàn còn bỏ ngỏ. Có thể sau một vài năm nghiên cứu nữa, chúng tôi mới có được câu trả lời. Hy vọng thách thức khoa học đó sẽ cho ra đời các công trình mới”, GS Việt cho biết.    ———  * Các tác giả của bài “Cơ chế làm chậm sự di chuyển của asen qua tầng chứa nước sâu Pleistocene” gồm Alexander van Geen, Benjamın C. Bostick, Phạm Thị Kim Trang, Vi Mai Lan, Nguyễn Ngọc Mai; Đào Mạnh Phú, Phạm Hùng Việt, Kathleen Radloff, Zahid Aziz,  Jacob L. Mey, Mason O. Stahl, Charles F. Harvey, Peter Oates, Beth Weinman, Caroline Stengel, Felix Frei, Rolf Kipfer và Michael Berg.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình giải mã bí ẩn của năng lượng tối trong vũ trụ      Năng lượng tối đang trở thành vấn đề trọng tâm trong bất cứ một cuộc tranh luận liên quan đến chủ đề vũ trụ học thế kỷ 21. Nó được đề cập ở mọi nơi, mọi lúc. Các nhà khoa học trên thế giới đang nỗ lực hết mình củng cố lý thuyết, phát minh công nghệ để làm sáng tỏ một trong những câu đố hóc búa nhất của khoa học. Họ đang tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi tại sao, như thế nào về những gì sẽ diễn ra trong một định mệnh tối hậu của vũ trụ. Tất cả đang ở phía trước và ẩn giấu trong lời giải về bí mật của năng lượng tổi trong vũ trụ.  Vậy năng lượng tối là gì mà các nhà vũ trụ học phải bận tâm như vậy? Tại sao năng lượng tối lại nắm giữ chìa khóa vạn năng cho phép mở ra một cánh cửa mới để có thể thấu nhìn tương lai của vũ trụ cũng như định mệnh tối hậu của nó? Chúng ta hãy bắt đầu cuộc hành trình giải mã bí ẩn của năng lượng tối.    Sự hồi sinh của hằng số vũ trụ học  Thuyết tương đối rộng của Einstein đã chỉ ra rằng, vũ trụ sẽ phải suy sụp bởi chính sức mạnh hấp dẫn của nó. Cũng như nhiều khoa học gia thời đó, ông đã cố chỉnh sửa các phương trình của thuyết tương đối rộng bằng cách thêm vào một hằng số, gọi là hằng số vũ trụ học, để mô tả một vũ trụ tĩnh tại không thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, hằng số này lại ám chỉ một lực đẩy cân bằng với lực hấp dẫn ở khoảng cách lớn để giữ cho vũ trụ không giãn nở và không co lại theo thời gian. Lúc đó, Einstein chỉ cho đó là một hiệu chỉnh toán học chứ không hề nghĩ rằng, hằng số đó lại phản ánh một sự thực nào đó. Năm 1929, nhà thiên văn người Mỹ Endwin Hubble khám phá ra sự giãn nở của vũ trụ thì Einstein mới nói rằng, đó là ngu ngốc lớn nhất của đời ông. Các quan sát với kính thiên văn trong không gian cũng như trên mặt đất đã khẳng định chắc chắn thực tế đó, và hơn nữa, cho thấy, vũ trụ đang tăng tốc. Các thiên hà đang lao vút trong không gian và rời xa nhau.                     Nhưng ngày nay, hằng số vũ trụ học lại hồi sinh và có vẻ như Einstein đã đúng. Nó liên hệ chặt chẽ với một loại năng lượng của chân không lượng tử đang tràn ngập vũ trụ của chúng ta, năng lượng tối.    Vũ trụ giãn nở và sự thiếu hụt năng lượng  Năng lượng tối được giả thuyết như là một dạng của năng lượng và tạo ra áp suất âm. Thuyết tương đối rộng chỉ ra rằng, áp suất âm này có tác dụng nhưng ngược chiều với lực hấp dẫn ở thang đo khoảng cách lớn. Chính vì vậy nó là nguyên nhân gia tốc sự giãn nở của vũ trụ. Năng lượng tối có ở mọi nơi và choáng đầy vũ trụ của chúng ta. Để hiểu được bản chất của năng lượng tối chúng ta cần phải đi sâu vào vật lý lượng tử của thế giới hạ nguyên tử. Như chúng ta đã biết, ở thang vi mô, không gian được coi là trống rỗng hay chân không hoàn hảo, không hoàn toàn trống rỗng mà được choáng đầy bởi một trường gọi là Higgs. Chính trường này đã đưa cho các quark và lepton khối lượng của chúng. Trường Higgs làm chậm chuyển động của hạt, cho chúng khối lượng và giữ cho cấu trúc của nguyên tử ổn định. Nếu không có trường Higgs, electron có thể chuyển động với tốc độ ánh sáng, nguyên tử sẽ bị phá vỡ cấu trúc và tan giã ngay lập tức. Năng lượng chân không với các hạt lượng tử trong chân không hoàn hảo của thế giới vi mô có thể là  nguồn gốc của năng lượng tối. Việc khám phá ra lý thuyết siêu đối xứng, một phát biểu quan trọng của lý thuyết dây, cho phép hiểu rõ mối liên hệ giữa năng lượng tối và trường Higgs. Nếu tồn tại, các boson Higgs sẽ đóng một vai trò quan trọng về thành phần năng lượng tối.                     Đến đây chúng ta nhớ lại rằng Einstein đã từng đưa ra một mô hình vũ trụ học tĩnh với một hằng số vũ trụ học. Chúng ta đang thử xem liệu rằng hằng số vũ trụ học đóng vai trò gì về lực đẩy bí mật của năng lượng tối gia tốc sự giãn nở của vũ trụ hay không? Các phép đo về cường độ và sự thăng giáng của phông bức xạ nền cùng với các phép đo khác về sự phân bố các đám thiên hà, siêu sao mới đã cho thấy rằng, năng lượng tối có mối liên hệ nhất định với hằng số vũ trụ học. Chẳng hạn, có những siêu sao mới ở rất xa, chúng có thể phát ra cùng một lượng năng lượng tại các cực đại sáng. Nếu đo được độ sáng của những siêu sao mới này chúng ta có thể biết được khoảng cách tới chúng, chúng được gọi là những siêu sao mới loại Ia. Từ khoảng cách và tốc độ của siêu sao mới này chúng ta sẽ biết được vũ trụ đang giãn nở theo thời gian như thế nào và tốc độ giãn nở này có tương thích với lực đẩy gây ra bởi năng lượng tối không? Sự thay đổi tốc độ giãn nở được xác định bằng việc so sánh sự dịch về đỏ của những thiên hà ở xa với độ sáng biểu kiến của những siêu sao mới Ia tìm thấy trong những thiên hà đó. Rồi bằng việc đo tốc độ và tương tác giữa các đám thiên hà trong vũ trụ cho phép chúng ta xác định được tổng khối lượng của chúng. Các phép đo cho thấy, khối lượng tổng cộng lớn hơn rất nhiều khối lượng nhìn thấy do các sao và các khí nóng phát ra tia X… trong các đám thiên hà. Việc coi độ nhiều của các đám thiên hà như một hệ thức của thời gian cho phép chúng ta hiểu thêm về lượng năng lượng tối có trong vũ trụ. Vì chân không chứa rất nhiều năng lượng tối, các tính toán lý thuyết ước lượng một lượng lớn hơn 10120 lần mức độ  quan sát.                     Bằng chứng thu được từ việc xác định khối lượng các đám và siêu đám thiên hà chỉ ra rằng, mật độ khối lượng tương đối thấp. Các bằng chứng về sự tăng tốc cũng gợi ý tồn tại một lượng lớn năng lượng tối.  Hiểu biết về năng lượng tối sẽ cung cấp những bằng chứng cần thiết trong việc tìm kiếm sự thống nhất các lực và hạt trong vũ trụ. Và điều này có thể được giải quyết bằng kính viễn vọng chứ không phải là các máy gia tốc. Năng lượng tối sẽ châm ngòi cho một hướng mới của nền vật lý thế kỷ 21.    Những quan sát  của kính không gian Hubble  Gần đây, kính thiên văn không gian Hubble đã quan sát được những siêu sao mới ở khoảng cách xa nhất từ trước tới nay. Những vụ nổ này xảy ra ở khoảng cách khoảng 10 tỷ năm ánh sáng. Khám phá này đã củng cố cho mô hình vũ trụ học và năng lượng tối đang tràn ngập không gian. Nó cho phép chúng ta hiểu được vũ trụ giãn nở và thay đổi theo thời gian như thế nào. Nó đã giãn nở chậm dần, dừng lại, rồi lại tăng tốc.  Những số liệu thu thập từ kính không gian Hubble đã cung cấp những bằng chứng mới giúp các nhà thiên văn hiểu rõ bản chất của năng lượng tối cũng như sự thay đổi cường độ tương tác của nó theo thời gian. Các nhà nghiên cứu đã quan sát một loại siêu sao mới dùng để đo sự giãn nở của vũ trụ và nhận thấy rằng, những vụ nổ sao này đã xảy ra khoảng 9 tỷ năm về trước, và ngày nay, kính Hubble đã ghi nhận được. Họ đã tiến hành phân tích hàng nghìn bức ảnh hồng ngoại và khả kiến chụp bởi kính không gian Hubble để nghiên cứu sự hình thành các thiên hà. Trong đó, đặc biệt chú ý một siêu sao mới xảy ra trong một thiên hà ở chòm sao Ursa Major.                     “Mặc dù năng lượng tối có thể giải thích cho 70% năng lượng của vũ trụ nhưng thực tế chúng ta biết rất ít về nó. Vì vậy, bất cứ một dấu vết nhỏ nào đều trở nên quý giá”. Adam Riess ở Viện khoa học kính không gian và đại học Johns Hopkins nói.  Để nghiên cứu các hành xử của năng lượng tối trong suốt một quá khứ dài, kính Hubble đã phải quan sát không gian sâu thẳm của vũ trụ và lội ngược dòng thời gian để ghi nhận những siêu sao mới. Những siêu sao mới này quá xa và quá mờ mà các kính thiên văn trên mặt đất không thể quan sát được. Nhóm Siêu sao mới có độ dịch về đỏ cao (High-Supernova Team)  và nhóm Dự án vũ trụ học (Cosmology Project) đã sử dụng các kính thiên văn mặt đất và kính Hubble để đo sự tăng tốc của vũ trụ thông qua việc quan sát những siêu sao mới ở xa. Các nhà vật lý thiên văn đều đi đến một sự thực được tiên đoán bởi Enstein rằng, có một dạng lực đẩy của hấp dẫn trong không gian mà được gán cho “năng lượng tối”. Các quan sát cũng khẳng định sự giãn nở của vũ trụ bắt đầu được tăng tốc khoảng 5 đến 6 tỷ năm về trước. Kết quả cuối cùng dựa trên các phân tích 24 siêu sao mới được khám phá trong 2 năm gần đây. Bằng việc đo kích thước tương đối của vũ trụ theo thời gian các nhà thiên văn có thể biết được tốc độ giãn nở. Điều này cũng giống như những bậc cha mẹ nhận thấy được những đứa con của mình lớn lên như thế nào thông qua so sánh chúng với khung cửa hàng ngày. Các siêu sao mới ở đây chính là khung cửa, và các nhà thiên văn dùng “con mắt Hubble” để quan sát.    Siêu sao mới Ia-Những ngọn hải đăng trong vũ trụ  Hệ sao đôi, trong đó một sao là sao đỏ khổng lồ còn sao khác là một sao lùn trắng giàu cácbon-ôxy. Theo thời gian, lớp khí quyển của sao khổng lồ đỏ giãn nở ra ngoài trong khi lõi sao tiếp tục co lại. Vật chất từ lớp bao ngoài của sao khổng lồ đỏ bị hút bởi lực hấp dẫn của sao lùn trắng và rơi theo đường xoáy ốc về sao lùn này. Sao lùn trắng được bổ sung khối lượng cho đến khi đạt đến 1,4 khối lượng Mặt trời, nhưng bán kính lại nhỏ hơn Mặt trời khoảng 100 lần, đủ nhiệt độ và áp suất thì phản ứng tổng hợp hạt nhân trên sao lùn trắng xảy ra mãnh liệt. Bởi vì siêu sao mới loại Ia xảy ra ở 1,4 khối lượng Mặt trời nên chúng giống nhau về đặc trưng độ sáng. Ánh sáng phát ra từ vụ nổ sáng hơn Mặt trời khoảng 15 tỷ lần. Vì vậy, chúng ta có thể quan sát những vụ nổ siêu sao này ở khoảng cách rất xa trong vũ trụ. Bởi những đặc trưng trong độ sáng của nó nên những siêu sao mới loại này là phương tiện đầy tin cậy để chỉ dẫn khoảng cách vũ trụ tốt nhất.  Độ sáng của những vụ nổ sao lùn trắng giống như một cây nến chuẩn. Vào giữa năm 1990, nó đã thúc đẩy hai nhóm các nhà thiên văn. Nhóm nghiên cứu Siêu sao mới có độ dịch về đỏ cao và nhóm Dự án vũ trụ học siêu sao mới đã bắt đầu chiến dịch quan sát để đo khoảng cách và độ dịch về đỏ của các siêu sao mới loại Ia, và hy vọng nó sẽ khẳng định sự giãn nở của vũ trụ đang giảm tốc như mong đợi. Các nhà khoa học tìm ra rằng, những siêu sao mới có độ dịch về đỏ cao mờ hơn, do đó ở xa hơn. Như vậy, họ đã khám phá ra vũ trụ đang tăng tốc. Bởi vì, nếu sự giãn nở của vũ trụ đang giảm tốc thì lực hấp dẫn sẽ cản trở chuyển động lùi xa của các thiên hà, chúng sẽ ở gần nhau hơn, và do đó, những ngôi sao hoặc siêu sao mới trong các thiên hà đó sẽ xuất hiện sáng hơn.  Tuy nhiên, các quan sát gợi ý rằng, tổng lượng vật chất trong vũ trụ bao gồm cả vật chất tối chỉ giải thích khoảng một phần ba năng lượng của vũ trụ.  Bức xạ nền Viba-Bức tranh về năng lượng tối  Vấn đề năng lượng tối có thể được giải quyết bằng việc nghiên cứu nền viba vũ trụ. Tàn dư từ 380.000 sau Big Bang. Nhiệt độ của vũ trụ lúc đó khoảng 3000 K. Bức xạ nền viba là bức xạ vật đen sinh ra từ plasma nguyên thủy. Vũ trụ chuyển từ thời kỳ bức xạ ngự trị sang thời kỳ vật chất ngự trị và bắt đầu trở nên trong suốt đối với các photon. Theo thời gian, vũ trụ giãn nở và nguội dần. Do sự giãn nở của vũ trụ, bức xạ tàn dư ban đầu bị dịch về phía đỏ. Và ngày hôm nay, sau 13,7 tỷ năm, bức xạ đó là bức xạ sóng ngắn của phổ điện từ tương ứng với nhiệt độ 2,726 K.  Những số liệu gần đây về sự thăng giáng cường độ bức xạ nền đã củng cố cho mô hình về một vũ trụ giãn nở mãi mãi. Sự chuyển pha của vũ trụ xảy ra ở vài giây đầu tiên sau Big Bang đã làm cho vũ trụ choáng đầy bởi một hằng số vũ trụ học. Lý thuyết này cũng tiên đoán sự tồn tại của sóng hấp dẫn bước sóng dài được tạo ra trong những thời khắc rất sớm của vũ trụ. Những sóng này được mang bởi những hạt giả thuyết là graviton và bước sóng được kéo dài ra bởi sự giãn nở của vũ trụ.  Trong khi chờ đợi, các nhà thiên văn đã tiến hành những quan sát qua các vệ tinh để lập bản đồ và sự phân cực của nền viba vũ trụ với độ nhạy cao hơn và độ phân giải tốt hơn. Điều này sẽ giúp tiết lộ nhiều thông tin về sự giãn nở của vũ trụ và vai trò của năng lượng tối.  Hiện tại, lý thuyết lạm phát là lý thuyết tốt nhất giải thích cho nguồn gốc sự thăng giáng nền viba vũ trụ. Trong đó giả thuyết rằng, vũ trụ ban đầu đã trải qua một khoảng thời gian tăng tốc cực nhanh theo hàm số mũ, một áp suất âm được điều khiển bởi những hạt mới gọi là inflaton. Sự lạm phát này đã kéo căng độ cong không gian của vũ trụ ở thang khoảng cách lớn và làm cho hình học của vũ trụ là phẳng, hay hình học Euclidean. Thật là may mắn, độ cong của vũ trụ có thể được xác định chính xác thông qua các phép đo nền viba vũ trụ. Và hơn nữa, lý thuyết về lạm phát đã giải quyết một loạt nghịch lý liên quan đến mô hình Big Bang, như vấn đề về độ phẳng và đường chân trời. Những tiên đoán của nó khá phù hợp với các phép đo về những cấu trúc ở quy mô lớn và nền viba tràn ngập vũ trụ.  Độ cong được xác định từ những phép đo về tính bất đẳng hướng (thăng giáng nhiệt độ) của bức xạ bền viba bởi COBE và WMAP đã cho thấy, vũ trụ gần giống với một vũ trụ phẳng với mật độ là 8.10-27 kg m-3. Nếu vũ trụ là phẳng thì mật độ khối lượng và năng lượng của nó phải bằng với mật độ tới hạn. Các phép đo về bức xạ nền hiện tại chỉ có thể giải thích được 30% tổng khối lượng của vũ trụ. Như vậy, phải tồn tại một dạng năng lượng khác để giải thích cho 70% năng lượng còn lại.  Các số liệu thu thập trong 3 năm gần đây của WMAP với độ chính xác cao hơn nhiều đã cho thấy các thông số về mật độ của vũ trụ bao gồm: 4% vật chất thường, 22% vật chất tối và 74% năng lượng tối. Các bằng chứng mới cũng gợi ý một dạng năng lượng hấp dẫn âm liên quan đến một loại hạt mới không giống với inflaton.  “Nguyên tố thứ năm”  Ngoài hằng số vũ trụ học, năng được tối còn được gán ghép cho một khái niệm hoàn toàn mới. Những phép đo thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng, không gian có vẻ như là trống rỗng nhưng thực ra đang sôi sục bởi những hạt ảo. Chân không năng lượng này có một tác động mạnh mẽ làm cho vũ trụ giãn nở rất nhanh trong quá khứ. Một giả thuyết cho rằng, năng lượng chân không không phải không đổi mà bị yếu đi theo thời gian giống như Einstein đã tưởng tượng. Điều này đã đưa ra một ý tưởng mới gọi là “nguyên tố thứ năm”. Đây là một trường vô hướng và có một phương trình trạng thái. Ý tưởng này đề nghị một trường lực đẩy choáng đầy vũ trụ không giống trường hấp dẫn hoặc trường điện từ. Trường này được tạo ra trong những thời khắc rất sớm của vũ trụ cùng với những lực khác của tự nhiên, và ngày nay, nó trải rộng dọc theo vũ trụ giống như một cái màng nhện. Vũ trụ giãn nở và lạnh đi, cả trường hấp dẫn và nguyên tố thứ năm đều bị yếu đi, nhưng cuối cùng, nguyên tố thứ năm đã chiến thắng hấp dẫn để điều khiển và đẩy các thiên hà ra xa nhau. Khác với hằng số vũ trụ học, nguyên tố thứ năm biến thiên trong không gian và theo thời gian.  Lời kết  Năng lượng tối vẫn là một bí mật lớn. Chúng ta mới chập chững trên lộ trình vươn tới chân lý để có thể viết lên vở kịch cho sự bắt đầu cũng như định mệnh tối hậu của vũ trụ. Hiện tại, rất khó để chúng ta biết trước được vũ trụ sẽ như thế nào trong một viễn cảnh xa xăm: giãn nở mãi mãi hay co lại? Số phận tương lai của vũ trụ phụ thuộc vào mật độ vật chất mà nó có ở hiện tại. Nếu mật độ của nó lớn hơn mật độ tới hạn, vũ trụ sẽ là đóng. Ngược lại, nếu mật độ của vũ trụ nhỏ hơn  mật độ tới hạn, vũ trụ sẽ giãn nở mãi mãi theo thời gian, và sẽ là một vũ trụ mở.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình khám phá genee LRP5      Quá trình khám phá genee LRP5 trong loãng xương bắt đầu từ một cá nhân với xương rất đặc, và khám phá này đang làm thay đổi định hướng nghiên cứu loãng xương. Khám phá còn cung cấp chúng ta nhiều bài học về qui trình nghiên cứu khoa học.         Di truyền và loãng xương   Loãng xương là một bệnh với hai đặc điểm chính: lực của xương bị suy yếu và cấu trúc của xương bị suy mòn1. Hệ quả của sự suy yếu xương và suy mòn cấu trúc xương là xương trở nên dễ bị gãy khi va chạm với một lực đối nghịch, như té chẳng hạn. Các xương quan trọng thường bị gãy là xương cột sống, xương đùi, cổ xương đùi và xương tay. Gãy xương sườn và khung xương chậu cũng thường hay thấy trong các bệnh nhân cao tuổi, và cũng có thể xem là hệ quả của loãng xương2.  Khối lượng và chất lượng của xương có thể thẩm định qua đo lường mật độ chất khoáng trong xương (sẽ gọi tắt là “mật độ xương”) bằng máy hấp thụ năng lượng X quang (dual-energy X ray absorptiometry). Nguy cơ gãy xương có liên hệ nghịch với mật độ xương: khi mật độ xương tăng cao, nguy cơ gãy xương giảm thấp; và ngược lại, khi mật độ xương thấp, nguy cơ gãy xương tăng cao.  Trong bất cứ một quần thể nào, mật độ xương của các cá nhân trong quần thể tuân theo luật phân phối chuẩn, có nghĩa là một số cá nhân có mật độ xương cao, một số có mật độ xương thấp, và đa số còn lại có mật độ xương trung bình. Sự phân phối này hàm ý cho biết mật độ xương chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố sinh học và môi trường. Một trong những yếu tố sinh học đó là genee. Thật vậy, trong vài thập niên qua, một số nghiên cứu trên những cặp song sinh cho thấy hệ số độ tương quan ở những cặp song sinh đồng hợp tử (monozygotic twins) rất cao (khoảng 0.80) so với độ tương quan ở những cặp sinh đôi một hợp tử (dizygotic twins). Phát hiện này có nghĩa là các yếu tố di truyền có ảnh hưởng lớn đến sự khác biệt về mật độ xương giữa các cá nhân trong một quần thể3.  Vấn đề đặt ra là genee nào có ảnh hưởng đến mật độ xương. Tìm được genee có liên quan đến BMD có nghĩa là làm nên một cuộc cách mạng, bởi vì qua đó nó mở ra nhiều hướng đi mới như tìm hiểu cơ chế hoạt động của genee để phát triển thuốc ngăn ngừa loãng xương, hay tiên đoán nguy cơ gãy xương cho một cá nhân. Đó là chưa đề cập đến giá trị kinh tế đằng sau của việc khám phá ra genee loãng xương. Ý nghĩa của việc tìm gene cực kì to lớn!                         Cho đến nay, chưa ai biết chính xác trong cơ thể con người có bao nhiêu genee, nhưng theo một ước tính gần đây thì khoảng 20000 đến 30000 genee. Các genee này nằm trên 23 nhiễm sắc thể (chromosomes). Có thể tưởng tượng như sau: trên một con đường rất dài có nhiều tỉnh (tức là nhiễm sắc thể); mỗi tỉnh có nhiều huyện (tức là genee); và trong mỗi huyện có nhiều nhà (marker). Trên con đường đó có một (hay vài) genee có liên quan đến bệnh tật mà chúng ta quan tâm. Vấn đề đặt ra là nhiễm sắc thể hay genee đó nằm ở đâu. Mà ngay cả khi biết nhiễm sắc thể nào đó có chứa genee chúng ta quan tâm, chúng ta vẫn phải tìm marker cụ thể nào thật sự dính dáng đến bệnh. Việc truy tìm genee là một công việc gian nan và đầy thách thức cho khoa học hiện đại ngày nay. Các chuyên gia về di truyền học, thống kê học, khoa học máy tính, và nhân chủng học đang ráo riết lao vào nỗ lực này.  Tuy nhiên, cũng như nhiều khám phá khoa học khác thường bắt đầu từ những điều bất thường, quá trình khám phá genee loãng xương cũng xảy ra khi các nhà nghiên cứu chú ý đến những đặc tính lâm sàng bất thường trong vài gia đình với mật độ xương rất cao và vài gia đình với mật độ xương rất thấp.  Từ một tai nạn xe   Năm 1994, một lực sĩ tên tạm gọi là John bị tai nạn xe hơi khá nghiêm trọng, nhưng anh ta không hề bị thương, xương không bị tổn hại. Qua xét nghiệm bằng X quang, bác sĩ không thấy anh bị gãy đốt sống nào. Tuy nhiên, X quang cho thấy xương của anh khá đặc. Bác sĩ quang tuyến giới thiệu John đến một bác sĩ Karl Insogna chuyên khoa về xương và cũng là giám đốc trung tâm nghiên cứu xương thuộc Đại học Yale. Sau khi đo mật độ xương (bone mineral density – BMD), bác sĩ Insogna ngạc nhiên thấy mật độ xương trong người John cao gấp 8 lần so với những người cùng độ tuổi! Nhưng sự thật này chẳng làm ngạc nhiên John, vì anh biết mình… nặng người, nặng đến nỗi khi anh ta không bơi lội được, vì mỗi khi xuống hồ tắm là người anh như cục đá chìm xuống sông. Bác sĩ Insogna không phát hiện bệnh hay bất cứ triệu chứng bất thường nào khác, nên quyết định không tiếp tục theo dõi.   Sáu năm sau, trong một lần tán gẫu cùng đồng nghiệp, bác sĩ Insogna được biết vị đồng nghiệp này từng biết đến một gia đình với mật độ xương rất cao. Hai người bèn lần dò theo sơ đồ gia hệ, và phát hiện chính John là thành viên của một đại gia đình có quê ở miền đông duyên hải nước Mỹ. Trong dòng họ này, ai cũng đều có mật độ xương rất cao, và cằm thường vuông một cách khác thường, nhưng ngoài đặc điểm đó, bộ xương của họ không có vấn đề gì. Một trong những thành viên của đại gia đình là một bác sĩ ở bang Alabama từng bị gãy xương đùi, nhưng các bác sĩ chấn thương chỉnh hình phải rất vất vả lắm mới lắp được xương giả vào vì họ gặp khó khăn trong việc vặn vít vào xương.  Đến khám phá genee LRP5  Bác sĩ Insogna và đồng nghiệp quyết định tiến hành nghiên cứu trên các thành viên của đại gia đình này, xác định xem genee nào có ảnh hưởng đến mật độ xương cao. Sau một thời gian làm việc cực nhọc, nhóm nghiên cứu của bác sĩ Insogna phát hiện genee có dính dáng đến mật độ xương cao nằm trong nhiễm sắc thể 11. Nhưng nhiễm sắc thể này quá rộng và dài, và tìm genee trong một khoảnh DNA dài như thế chẳng khác gì mò kim đáy biển. Nhóm nghiên cứu đành tạm thời bỏ cuộc vì không có phương tiện và kĩ thuật chuyên môn tiếp tục truy tìm genee.   Trong khi đó, một nhóm nghiên cứu của Matthew Warman thuộc Đại học Case Western Reserve cũng nghiên cứu genee trong nhiễm sắc thể 11. Nhóm của Warman nghiên cứu trên 28 gia đình, mà trong đó có người mắc hội chứng osteoporosis-pseudoglioma syndrome (OPPG) mang tính di truyền. Đặc điểm của hội chứng này là bệnh nhân có mật độ xương rất thấp, và họ dần dần trở nên mù. Bác sĩ Warman quyết định truy tìm cho được genee gây nên bệnh OPPG, bằng cách hợp tác với nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Harvard của Giáo sư Bjorn Olsen. Sau một thời gian khá lâu phân tích, họ phát hiện một genee hoàn toàn nằm ngoài dự kiến: đó là genee LDL receptor-related protein 5 (viết tắt là LRP5) trong nhiễm sắc thể 11.   Genee LRP5 sản xuất một protein mà chức năng sinh học vẫn chưa được biết. Đột biến của genee LRP5 ở bệnh nhân OPPG mã hóa thụ thể của các tế bào tạo xương (osteoblasts). Những bệnh nhân OPPG với hai biến thể (allele) có mật độ xượng rất thấp. Cha hay mẹ của bệnh nhân OPPG có một biến thể của genee cũng hay dễ mắc bệnh loãng xương. Điều này cho thấy protein mà genee này mã hóa có thể là một đối tượng quan trọng cho việc điều trị loãng xương.  Nghe tin này, bác sĩ In­sogna nghĩ ngay rằng rất có thể cũng chính genee này đóng vai trò làm cho mật độ xương tăng cao. Sau khi phân tích genee LRP5, nhóm của bác sĩ In­sogna phát hiện đúng là một đột biến khác của genee làm cho người ta có mật độ xương cao.   Trong cùng gần một lúc, một nhóm nghiên cứu của Mark Johnson thuộc Trung tâm nghiên cứu loãng xương tại Đại học Creighton University (bang Omaha), cũng qua nghiên cứu một gia đình gồm 21 người với mật độ xương cao khác thường, đã phát hiện chính đột biến của genee LRP5 (mà nhóm của bác sĩ In­sogna vừa phát hiện) có liên quan đến mật độ xương cao. Trong gia đình này, tuổi từ 3 đến 93, không một ai từng bị gãy xương.   Chỉ vài tháng sau, LRP5 trở thành một tin tức khoa học thời sự. Nhóm của Warman công bố kết quả trên tập san danh tiếng Cell vào tháng 11/20014. Hai tháng sau, nhóm của Johnson công bố nghiên cứu của họ trên tập san American Journal of Human Geneetics5, và nhóm của Insogna cũng công bố kết quả trên tập san y học New England Journal of Medicine vào tháng 5/20026.   Genee LRP5 nằm trong hệ thống tín hiệu có tên là Wnt (hay Wnt signaling pathway). Hệ thống tín hiệu Wnt là tập hợp nhiều phân tử được xem là đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tăng trưởng và phát triển của cơ thể. Bây giờ, các nhà khoa học còn biết thêm rằng hệ thống này cũng đóng vai trò quan trọng điều chế sự phát triển của xương. Vì lí do này, hệ thống Wnt là một đối tượng lí tưởng cho nghiên cứu tìm một thuật can thiệp chống loãng xương và các rối loạn xương khác. Đối với giới nghiên cứu xương, phát hiện này có ý nghĩa rất quan trọng, có thể làm thay đổi định hướng điều trị loãng xương. Từ trước đến nay, hầu hết các thuốc điều trị loãng xương có mục tiêu ức chế hoạt động của các tế bào hủy xương, nhưng khám phá mới này mở ra một hướng phát triển mới: đó là kích hoạt các tế bào tạo xương.   Kể từ khi khám phá genee LRP5, thế giới nghiên cứu loãng xương bắt đầu tập trung vào nghiên cứu chức năng và cơ chế của genee LRP5 ở chuột và con người. Hàng ngàn nghiên cứu và hàng ngàn bài báo khoa học khai thác đề tài này trong suốt 5 năm qua. Nhưng ngày nay, nghiên cứu genee không còn làm trong phòng thí nghiệm nữa, mà là trên máy tính. Một khi khoanh được một vùng có chứa genee cần tìm, các nhà khoa học chỉ việc truy tầm trong cơ sở dữ liệu trên mạng internet để có danh sách tất cả các genee trong vùng. Cơ sở dữ liệu genee này do Dự án phân tích bộ genee con người (Human Geneome Project hay HGP) xây dựng và bất cứ ai cũng có thể sử dụng. Thành quả của dự án HGP có thể rút ngắn thời gian truy tìm genee từ 10 đến 20 năm cho các nhà khoa học chuyên tìm genee cho các bệnh phức tạp.  Và những bài học  Nhìn qua khám phá genee LRP5, chúng ta có thể thấy về mặt ý tưởng, một công trình nghiên cứu khoa học có khi bắt đầu bằng một quan sát “bất bình thường”. Đành rằng, biết được bao nhiêu người có mật độ xương rất cao hay rất thấp cũng là một thú vị, và biết được genee nào mật độ xương lại càng thú vị hơn, nhưng ý nghĩa nó là gì? Bài học qua công trình nghiên cứu phải nói là thú vị này là: một khám phá có thể bắt đầu từ những so sánh về khác biệt. Phải có người có mật độ xương cao bất thường (hay thấp bất thường) thì mới có đối tượng so sánh. Nói cách khác, nghiên cứu di truyền, cũng như các nghiên cứu lâm sàng dịch tễ học khác, cần một nhóm đối chứng (controls); không có đối chứng thì nghiên cứu sẽ không có ý nghĩa khoa học.  Một bài học khác là một khám phá mang tính khẳng định cần phải được lặp lại trong nhiều đối tượng khác nhau, chứ một phát hiện từ một mẫu vẫn chưa đủ tính thuyết phục.  Trong trường hợp trên, ba nhóm nhà khoa học độc lập, và cả ba đều phát hiện genee LRP5 ngay tại một nhiễm sắc thể. Chính vì tính nhất quán này mà công trình nghiên cứu của họ có thể xem là một bài học quan trọng cho các nỗ lực truy tìm genee.  Về mặt phương pháp, công trình nghiên cứu của các nhà kha học trên là một bài học về qui trình tìm genee cho một bệnh. Truy tìm genee liên quan đến bệnh tật là một nỗ lực lớn, là đề tài nghiên cứu khoa học “nóng” tại các nước đã phát triển. Tìm được genee cũng có nghĩa là có được cái chìa khóa để mở ra cánh cửa cho điều trị và thậm chí giúp cho chúng ta phát hiện bệnh sớm hơn. Nhưng tìm genee cũng không khác gì câu nói ví von ông bà ta thường nói: mò kim đáy biển. Trong cái biển 25000 hay 20000 genee và hơn 2 triệu marker, làm sao tìm cho được marker hay genee liên quan? Qui trình của các nhà khoa học này là họ làm từng bước. Bước đầu là tìm ra nhiễm sắc thể có triển vọng cao; bước kế tiếp là “khoanh vùng” những marker liên quan; và bước thứ ba là từng đoạn một siết chặt những vùng quan hệ và cuối cùng là “tóm” lấy cái marker liên quan nhất. Nỗ lực khoanh vùng và siết chặt này đòi hỏi chuyên môn cao của hai bộ môn khoa học chủ chốt: công nghệ sinh học phân tử và thống kê học. Để tìm ra những marker cần thiết chúng ta cần đến chuyên gia về công nghệ sinh học và di truyền học. Để xác định marker nào có liên quan đến bệnh, thống kê học đóng vai trò số một. Có thể nói không ngoa rằng, không có công nghệ sinh học và thống kê học, chúng ta sẽ không thể nào tìm genee.  Tuy nhiên, cũng như bất cứ vấn đề khoa học nào, một khám phá đều đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều khả năng, hơn là giải quyết dứt điểm vấn đề. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết cơ chế của hệ thống tín hiệu Wnt hoạt động ra sao, và genee LRP5 đóng vai trò gì trong hệ thống này. Các nhà nghiên cứu loãng xương hy vọng sẽ có câu trả lời trong vòng 5-10 năm tới. Vẫn còn nhiều việc phải làm!  Tài liệu tham khảo:   1. Anonymous. Consensus Development Conference: diagnosis, prophylaxis, and treatment of osteoporosis. Am J Med. 1993;94:646-650.  2. Nguyen ND, et al. Identification of high-risk individuals for hip fracture: a 14-year prospective study. J Bone Miner Res 2005;20(11):1921-8.  3. Nguyen TV, et al. Bone mass, lean mass and fat mass: same genees or same environmemts. Am J Epidemiol 1998; 147:3-16.   4. Gong Y, et al. LDL receptor-related protein 5 (LRP5) affects bone accrual and eye development. Cell 2001; 107:513-23.  5. Little RD, et al. A mutation in the LDL receptor-related protein 5 genee results in the autosomal dominant high-bone-mass trait. Am J Hum Geneet 2001;70:11-9.   6. Boyden LM, et al. High bone density due to a mutation in LDL-receptor-related protein 5. N Engl J Med 2002;346:1513-21.       Tuấn Nguyễn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình Không gian      Phi hành gia Scott Kelly kể lại hành trình một năm trên trạm vũ trụ quốc tế (ISS) trong trích đoạn từ hồi ký của ông, Endurance: Trong 340 ngày liên tục, Scott Kelly tự biến bản thân mình thành đối tượng của một thí nghiệm khoa học. Kelly (hình bên dưới, trong một bức ảnh tự chụp trên trạm vũ trụ với góc nhìn về phía Trái đất) dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu, đã giúp họ tìm hiểu cách phản ứng và thích ứng của cơ thể với những điều kiện khắc nghiệt trong không gian – hướng đến mục tiêu khám phá Hệ Mặt trời tương lai. Sau ba lần đi bộ ngoài không gian, 5440 lần bay vòng quanh Trái đất và 144 triệu dặm trên trạm vũ trụ, ông trở về nhà vào tháng 3 năm 2016. Dưới đây là những chia sẻ của ông về các thử thách thể chất và tinh thần của những chuyến du hành không gian dài ngày.      Phi hành gia Scott Kelly trên ISS (Nguồn: National Geographic).  Nhìn xuống hành tinh này ở khoảng cách 200 dặm trong không gian, tôi được trải nghiệm Trái đất với những xúc cảm mà không mấy ai được có khi nhìn xuống các đường bờ biển, các địa hình, những ngọn núi, dòng sông. Một vài phần của thế giới, đặc biệt là ở châu Á, bị không khí ô nhiễm che phủ đến mức trông ốm yếu, chúng cần được chữa trị hay ít nhất có một cơ hội được tự hồi phục. Đường khí quyển ở chân trời như một tấm kính áp tròng trên bề mặt nhãn cầu, mong manh như đang khẩn thiết đòi hỏi sự bảo vệ từ chúng ta. Một trong những góc nhìn về Trái đất ưa thích của tôi là từ phía trên Bahamas, một quần đảo lớn với sự tương phản tuyệt vời giữa những mảng màu sáng tối. Màu xanh sâu thẳm của đại dương trộn lẫn với một màu ngọc lam sáng hơn rất nhiều, xoáy cuộn với màu gì đó gần như vàng ròng khi ánh sáng mặt trời phản xạ lại từ bãi cát nông hoặc đá ngầm. Cứ phi hành đoàn nào mới đến ISS là tôi chắc chắn sẽ đưa họ tới Cupola – một môđun làm hoàn toàn bằng kính để nhìn xuống Trái đất – để thấy Bahamas. Quang cảnh ấy luôn nhắc nhở tôi dừng lại và thưởng thức một góc nhìn về Trái đất mà tôi có đặc ân được trải nghiệm.  Đôi lúc khi đang nhìn qua khung cửa, đột nhiên tôi nhận ra hầu như mọi thứ quan trọng với mình đang ở dưới đó, bao gồm tất cả những người đang sống hay đã khuất (trừ sáu phi hành gia trong đội của tôi). Dĩ nhiên, những lúc khác tôi lại cảm thấy rằng ngay trong hiện tại, mọi người trên trạm là toàn thể nhân loại đối với tôi. Nếu tôi chuẩn bị nói với một người bằng xương bằng thịt, nhìn vào mắt ai, nhờ ai đó giúp đỡ, chia sẻ bữa cơm với ai đó, thì đó chỉ có thể là một trong số năm người này.  Đây là hành trình thứ tư của tôi vào không gian, lần thứ hai với ISS và giờ tôi đã ở đây được ba tuần. Tôi đã biết rõ hơn mình ở đâu khi mới thức dậy, nhưng tôi vẫn thường mất phương hướng khi xác định tư thế của cơ thể mình. Khi thức dậy tôi tin rằng mình đang lộn ngược, bởi vì trong bóng tối và trong một không gian nhỏ không có trọng lực tai trong của tôi chỉ có thể đoán mò về tư thế cơ thể mình. Khi bật đèn lên, tôi có ảo giác rằng căn phòng đang quay nhanh, như thể nó đang tự định hướng lại quanh tôi, mặc dù tôi biết rằng thực ra chỉ là não tôi đang tự điều chỉnh lại để phản ứng trước những tác động lên các giác quan.  Mỗi phòng của phi hành đoàn chỉ đủ để chứa bản thân tôi và túi ngủ, hai máy tính xách tay, một vài bộ quần áo, đồ vệ sinh cá nhân, những bức ảnh Amiko (bạn gái lâu năm) và các con gái tôi, cùng một vài cuốn sách. Không rời khỏi túi ngủ, tôi bật một trong hai máy tính gắn trên tường và nhìn lên lịch làm việc. Hầu hết công việc trong ngày hôm nay là tiếp tục với một nhiệm vụ dài hơi gọi là bắt rồng.    Một tàu không gian đưa các trang thiết bị lên ISS năm 2015, khung cảnh bên dưới Trái đất là Biển Địa Trung Hải (Nguồn: National Geographic).  Người ta thường mô tả Trạm vũ trụ như một vật thể: “Trạm Vũ trụ Quốc tế là thứ đắt nhất từng được tạo ra”. “ISS là vật thể duy nhất mà các thành phần do nhiều nước khác nhau sản xuất và được lắp ráp trong không gian.” Nói vậy cũng đúng, nhưng khi bạn sống trong trạm trong nhiều ngày, tuần, hay tháng, thì nó không giống như một vật thể nữa. Nó giống như một nơi chốn, một nơi chốn hết sức cụ thể với cá tính và phẩm chất riêng, độc nhất. Nó có không gian bên trong và vỏ ngoài, phòng nối tiếp phòng, mỗi một trong số đó có mục đích, các thiết bị, phần cứng khác nhau, đồng thời cũng tạo ra cảm nhận và mùi vị khác nhau. Mỗi môđun lại có câu chuyện và sự dị thường của riêng mình.  Từ bên ngoài ISS trông giống như một số các lon sôđa khổng lồ gắn đầu cuối lại với nhau. Với tổng kích thước cỡ một sân bóng đá, trạm được tạo thành từ năm cụm môđun gắn với nhau theo chiều dài – ba của Mỹ và hai của Nga. Các mô đun khác, của châu Âu và Nhật hay Mỹ làm thành các nhánh bên trái và phải, còn Nga thì có ba môđun gắn bên “trên” và “dưới”. Kể từ lần đầu tiên tôi tới trạm cho tới nhiệm vụ lần này, đã có bảy môđun mới được lắp thêm, một con số ấn tượng. Chuỗi tổ hợp lắp ráp này không theo trình tự ngẫu nhiên mà được lên kế hoạch chính xác kể từ khi dự án trạm vũ trụ mới được thai nghén trong thập niên 90.  Bất kỳ khi nào các phương tiện khác tới neo đậu một thời gian, luôn có một “phòng” mới, thường nằm ở phía quay mặt nhìn về Trái đất; để đi vào một trong số đó, tôi phải “xuống” thay vì sang trái hay phải. Những phòng này trở nên rộng hơn khi hàng hóa được lấy ra, và hẹp lại khi chúng tôi thải rác vào. Không phải chúng ta cần không gian – đặc biệt là phía Mỹ, trạm trông khá rộng rãi, và thực ra ở đây chúng tôi có thể lạc nhau một cách khá dễ dàng. Nhưng sự xuất hiện của các phòng mới – và sự biến mất sau khi ta thả chúng đi – là một đặc điểm lạ lùng mà các căn nhà thông thường của chúng ta không có.  Kể từ khi hệ thống tàu con thoi dừng hoạt động, NASA đã ký hợp đồng với các công ty tư nhân để phát triển các tàu không gian có thể chuyên chở hàng hóa cho trạm; trong tương lai họ có thể sẽ chuyên chở cả những phi hành đoàn. Công ty tư nhân thành công nhất cho đến nay là Space Exploration Technologies, thường được biết đến hơn với tên gọi SpaceX, nơi sản xuất ra tàu không gian Dragon.  Hôm qua, một chiếc Dragon đã được phóng lên từ một bãi đất trống ở Cape Canaveral và bay lên một quỹ đạo an toàn cách chúng tôi 10 km. Sáng nay, mục tiêu của chúng tôi là dùng cánh tay rôbốt của trạm để đón bắt con tàu này và gắn nó vào một cổng bốc dỡ. Việc đón bắt một con tàu như vậy cũng tựa như chơi một trò chơi điện tử, thử thách sự phối hợp gữa tay và mắt, chỉ khác là ở đây có sự tham gia của những công cụ có thực với giá hàng triệu USD. Một lỗi sai không chỉ làm mất hay hư hại tàu Dragon cùng nguồn tiếp tế trị giá hàng triệu USD, mà một cái trượt tay cũng có thể khiến nó va vào trạm. Một tai nạn với tàu tiếp tế đã từng xảy ra trước đây khi một tàu không gian Progress chở hàng va phải trạm vũ trụ Mir (Hòa Bình) của Nga, phi hành đoàn đã may mắn thoát chết khi con tàu va vào thân trạm.  Những tàu không gian không người lái này là cách duy nhất để tiếp tế cho chúng tôi từ Trái đất. Tàu không gian Soyuz của Nga có khả năng mang ba người lên không gian, nhưng như vậy sẽ hầu như không còn khoảng trống cho bất kỳ thứ gì khác. SpaceX đã có rất nhiều thành công với tàu không gian Dragon và tên lửa Falcon của mình, và năm 2012 họ trở thành công ty tư nhân đầu tiên liên kết với ISS. Kể từ đó họ đã trở thành đội tiếp tế thường xuyên cho chúng tôi, cùng với tàu Progress của Nga và Cygnus của Orbital ATK; họ cũng hi vọng rằng sẽ sẵn sàng để đưa các phi hành gia lên Dragon trong vài năm tới. Nếu thành công, đây sẽ là công ty tư nhân đầu tiên mang được người lên quỹ đạo và lần phóng ấy sẽ là lần đầu tiên các phi hành gia rời Trái đất từ lãnh thổ Mỹ kể từ khi các tàu con thoi ngừng hoạt động vào năm 2011.  Ngay lúc này Dragon đang mang theo 4.300 pound (tương đương 1950,45 kg) đồ tiếp tế mà chúng tôi cần. Trong đó có thức ăn, thực phẩm, không khí; các phụ tùng và nhiên liệu tiếp tế cho các hệ thống giúp chúng tôi sống sót; các dụng cụ chăm sóc sức khỏe như bơm tiêm hay ống chân không để lấy máu, chứa mẫu thử, tiêm thuốc; quần áo, khăn tắm, khăn rửa mặt, và tất cả những gì chúng tôi phải bỏ đi sau khi sử dụng lâu nhất có thể. Dragon sẽ mang theo cả những thí nghiệm mới để chúng tôi thực hiện, cũng như các mẫu thử mới để tiếp tục làm các thí nghiệm đang triển khai. Đáng chú ý trong các thí nghiệm khoa học là một ít những con chuột sống cho một nghiên cứu mà chúng tôi sẽ thực hiện về ảnh hưởng của hiệu ứng không trọng lượng lên xương và cơ. Mỗi tàu không gian tiếp tế cũng mang theo những gói quà từ gia đình mà chúng tôi luôn mong ngóng, và những nguồn thực phẩm tươi sống mà chúng tôi có thể tận hưởng trong vòng ít ngày, trước khi chúng hết hoặc bị hỏng. Hoa quả và rau xanh ở đây có vẻ nhanh hỏng hơn so với Trái đất. Tôi không biết chắc tại sao, và việc chứng kiến quá trình này khiến tôi lo lắng rằng điều tương tự cũng đang xảy ra với chính các tế bào trong người mình.    Hồ đóng băng trên dãy Himalayas, ảnh chụp từ ISS (Nguồn: National Geographic).  Chúng tôi đặc biệt chờ đón chuyến thăm của Dragon lần này vì một tên lửa tiếp tế khác đã nổ ngay sau khi phóng vào tháng 10 năm 2014. Đó là một chiếc Cygnus do một đối tác tư nhân từ Mỹ là Orbital ATK phóng. Trạm luôn được tiếp tế vượt xa nhu cầu của phi hành đoàn hiện tại, nên tạm thời sẽ không có nguy cơ cạn kiệt thức ăn hay ôxy do đột nhiên mất những nguồn tiếp tế như vậy. Tuy nhiên đây vẫn là lần đầu tiên một tên lửa tiếp tế cho ISS thất bại trong nhiều năm trời khiến các phương tiện trị giá hàng triệu USD bị phá hủy. Việc mất mát những nguồn tiếp tế quan trọng như thức ăn và ôxy khiến mọi người suy nghĩ nhiều hơn về chuyện sẽ xảy ra nếu một chuỗi các thất bại ập đến. Một vài ngày trước vụ nổ, một máy bay không gian thử nghiệm do Virgin Galactic phát triển đã rơi tại sa mạc Mojave, làm phi công thiệt mạng. Dĩ nhiên những thất bại này không liên quan với nhau, nhưng chúng xảy ra gần nhau về thời gian gây cảm giác chúng ta sẽ gặp một chuỗi những điều không may sau nhiều năm thành công.  Quay lại câu chuyện trên Trạm không gian, tôi mặc đồ trong khi bấm và đọc một loạt các bức thư điện tử. Việc mặc đồ tương đối phiền phức vì bạn không thể “ngồi” hay “đứng”, nhưng tôi thì đã quen rồi. Điều thách thức nhất là đi tất – không có trọng lực nên tôi không thể cúi xuống, chỉ có thể sử dụng lực của bản thân cơ thể và sự mềm dẻo để co chân lên ngực. Không khó để chọn đồ bởi tôi mặc cùng một bộ đồ mỗi ngày: một cái quần kaki với rất nhiều túi và các dải khóa dán Velcro dọc theo đùi, chúng rất quan trọng khi tôi không thể đặt thứ gì “xuống”. Tôi đã quyết định thử xem mình có thể mặc quần áo lâu nhất trong bao nhiêu ngày, trong khi vô thức nghĩ về một chuyến du hành tới sao Hỏa. Có thể mặc quần trong bốn ngày thay vì hai ngày không? Có thể đi một đôi tất trong một tháng không? Có thể mặc quần ngoài sáu tháng không? Tôi quyết định tìm ra câu trả lời. Tôi mặc chiếc áo phông đen ưa thích và một chiếc áo thấm mồ hôi, vì nó đã bay với tôi ba lần rồi, và có lẽ là chiếc áo đi du hành nhiều nhất trong lịch sử quần áo.  Mặc đồ xong và sẵn sàng cho bữa sáng, tôi mở cửa và đi vào khu vực của nhóm mình. Khi đẩy chiếc cửa đen để bay vào, tôi vô tình làm quyển sách bìa mềm: Endurance: Shackleton’s Incredible Voyage của Alfred Lansing rơi lơ lửng tự do. Tôi đã mua cuốn sách này và đem theo nó trong chuyến bay trước đó, thỉnh thoảng lật giở vài trang sau một ngày dài trên trạm và tìm hiểu xem chính xác các nhà thám hiểm đã trải qua những gì cách đây một trăm năm. Họ mắc cạn trên băng nổi hàng tháng trời, buộc phải giết lũ chó của mình để ăn và gần như bị đóng băng đến chết trong cái lạnh thấu xương tủy. Họ đã đi bộ xuyên qua các ngọn núi từng được coi là không thể vượt qua bởi những nhà thám hiểm được trang bị đầy đủ hơn và trong tình trạng sức khỏe tốt hơn, ít ra là không gần như chết đói. Điều ấn tượng nhất là, cuối cùng đoàn thám hiểm không để mất thành viên nào.  Khi thử đặt mình vào địa vị của họ, tôi nghĩ rằng sự thiếu thốn chắc hẳn là điều tồi tệ nhất. Họ hẳn đã phải tự hỏi xem liệu mình có sống sót không, và sự tự hoài nghi sẽ còn tồi tệ hơn cả cơn đói và cái lạnh. Khi đọc về những trải nghiệm của họ, tôi đã nghĩ rằng họ phải chịu khổ cực hơn mình đến thế nào. Đôi khi tôi cầm cuốn sách lên đọc vì chính lý do ấy. Nếu bản thân tôi thấy phiền lòng vì nhớ nhà, hay vì vừa trải qua một ngày thất vọng, hay vì sự cô độc xâm lấn, việc đọc vài trang về đoàn thám hiểm của Shackleton nhắc nhở tôi rằng dù ở đây mình gặp một số khó khăn nhất định nào đó, thì chắc chắn mình không phải trải qua những gì họ đã gặp phải. Tất cả những gì mình cần chỉ là một thái độ [lạc quan]. Tôi gấp cuốn sách lại với một vài món đồ cá nhân. Có lẽ tôi sẽ đọc vài trang trước khi đi ngủ tối nay.  Dragon giờ đã ở trên quỹ đạo của nó cách chúng tôi 10km, đang dần tiếp cận với vận tốc 28000km một giờ của chúng tôi. Có thể thấy ánh sáng nhấp nháy của nó dựa vào các camera quan sát đặt phía ngoài trạm. Không lâu sau, trung tâm điều khiển SpaceX ở mặt đất sẽ giảm khoảng cách giữa hai bên xuống 2,5km, rồi 1,2km, rồi 250m, 30m, 10m. Ở mỗi điểm dừng, nhóm dưới mặt đất sẽ kiểm tra hệ thống của Dragon và đánh giá vị trí của nó trước khi nhắn “đi tiếp” hoặc “không đi” để chuyển tới giai đoạn tiếp theo. Ở sau bước 250m, chúng tôi sẽ tham gia bằng cách giám sát quá trình tiếp cận, đảm bảo rằng chiếc tàu sẽ ở trong một hành lang an toàn, hoạt động như mong đợi và chúng tôi thì sẵn sàng ngừng nhiệm vụ nếu cần. Đó là một quá trình thong thả và chậm rãi, và là một trong rất nhiều thứ rất khác biệt giữa phim ảnh và đời thực. Trong bộ phim Gravity và 2001: A Space Odyssey, một tàu vũ trụ bay như một viên đạn và gắn vào trạm vũ trụ; sau đó một cửa sập mở ra và mọi người đi vào, tất cả quá trình chỉ khoảng 90 giây. Trên thực tế, chúng tôi vận hành với nhận thức rằng mỗi tàu vũ trụ luôn là một hiểm họa khôn lường cho một tàu khác – hiểm họa càng lớn hơn khi nó đến gần hơn – và vì vậy chúng tôi di chuyển thận trọng và chậm rãi.    Kelly sửa một thiết bị làm mát của ISS trong chuyến đi bộ ngoài không gian dài 7 tiếng 48 phút tháng 11, 2015 (Nguồn: National Geographic).  Samantha sẽ vận hành cánh tay rôbốt từ trạm rôbốt trong Cupola. Terry Virts, người Mỹ duy nhất trên tàu, là nhân sự dự bị thay thế cho cô ấy khi cần thiết, còn tôi sẽ giúp đỡ về quy trình tiếp cận và tiếp xúc. Terry và tôi bị nén chặt trong Cupola cùng Samantha, nhìn màn hình dữ liệu qua đôi vai của cô ấy, hiển thị các thông số về tốc độ và vị trí của Dragon.  Cũng như tôi, Terry từng là một phi công bay thử nghiệm [các máy bay mới], trước khi tham gia NASA – anh từng phục vụ Không quân Mỹ. Bí danh công tác của cậu ấy là Flanders, gọi theo tên của nhân vật đáng yêu Ned Flanders trong bộ phim The Simpsons. Terry có những phẩm chất tích cực trong tính cách của Ned Flanders – lạc quan, nhiệt tình, thân thiện – và một năng lực chuyên môn ổn định đáng tin cậy; tôi đánh giá cao Terry trong vai trò trưởng nhóm, một người xây dựng sự đồng thuận chứ không hành xử gia trưởng. Kể từ khi tới đây, anh ấy luôn tôn trọng những kinh nghiệm trước đây của tôi, sẵn sàng lắng nghe những đề xuất nhằm cải thiện công việc thay vì bảo thủ hoặc cạnh tranh hơn kém. Terry yêu bóng chày, vì vậy TV trên trạm thường chiếu một trận đấu nào đó, đặc biệt là khi đội Astros hay Orioles đang chơi. Tôi đã dần quen với nhịp điệu của trò chơi chín lượt đấu này, đánh dấu thời gian làm việc kéo dài ít tiếng đồng hồ mỗi ngày của chúng tôi.  Samantha là một trong vài phụ nữ ít ỏi phục vụ dưới vai trò phi công chiến đấu trong Không quân Ý, cô có một năng lực không thể chê trách với tất cả các vấn đề kỹ thuật. Cô ấy cũng rất thân thiện, dễ cười, và trong số rất nhiều những người cùng được chọn để bay vào không gian, Samantha nổi bật với kỹ năng ngôn ngữ thiên bẩm. Cô có thể nói trôi chảy như người bản xứ các ngôn ngữ Anh và Nga (hai ngôn ngữ chính của ISS), cũng như tiếng Pháp, Đức, không kể tiếng Ý mẹ đẻ. Cô hiện đang học thêm cả tiếng Trung. Các phi hành gia bay vào không gian đều phải nói được cả hai thứ tiếng Anh và Nga (tôi đã học tiếng Nga nhiều năm nhưng các bạn trong đội du hành vũ trụ của tôi đều có khả năng nói tiếng Anh tốt hơn tôi nói tiếng Nga nhiều) nhưng tất nhiên với Samantha đó không phải là vấn đề. Cô thậm chí có thể làm phiên dịch cho các phi hành gia Nga và Mỹ nếu chúng tôi nói về vấn đề nào đó nhạy cảm hay phức tạp.  David Saint-Jacques, một phi hành gia người Canada ở Trung tâm điều khiển tại Houston hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nắm bắt, thông báo về vị trí của Dragon khi nó di chuyển, điều khiển từ mặt đất qua mỗi điểm dừng dự kiến theo kế hoạch. “Dragon đang nằm bên trong bán kính cảnh giới 200m. Bây giờ đội các bạn có quyền thông báo ngừng” Davids nói. Điều này có nghĩa là tự chúng tôi có thể tắt quá trình này nếu chúng tôi mất kết nối với Houston hay nếu Dragon nằm ngoài hành lang an toàn.  “Houston, các điều kiện đón đã xác nhận. Chúng tôi sẵn sàng đón Dragon,” Terry trả lời.  Ở khoảng cách 10 mét, chúng tôi làm chậm động cơ đẩy của trạm để ngăn ngừa bất cứ cú xóc ngoài chủ ý nào. Samantha kiểm soát cánh tay rôbốt, sử dụng tay trái của cô để điều khiển chuyển động tay rôbốt (vào, ra, lên, xuống, trái, phải) và tay phải để điều khiển chuyển động quay của nó (ném, vần, lắc).  Samantha chìa cánh tay rôbốt ra, quan sát hình ảnh thu từ camera trên “bàn tay”, hay đầu cảm ứng của cánh tay, cũng như hai màn hình hiển thị thông số mô tả vị trí và tốc độ của Dragon. Cô cũng có thể nhìn ra các cửa sổ lớn để thấy mình đang làm gì. Samantha đưa cánh tay ra khỏi chạm – rất chậm rãi và thận trọng. Không gian giữa hai tàu không gian thu hẹp dần, mỗi lần chỉ vài centimét, Samantha không bao giờ rung tay hay đi chệch hướng. Trên màn hình trung tâm, cửa ghép trên Dragon lớn dần. Cô đưa ra những điều chỉnh chính xác để cánh tay rôbốt thẳng hàng với tàu vũ trụ một cách tuyệt đối.    Kelly và phi hành gia Samantha Cristoforetti trên ISS (Nguồn: ESA/NASA).  Cánh tay bò ra chậm rãi. Nó gần như chạm vào Dragon.  Samantha kéo cần. “Bắt được” cô nói.  Hoàn hảo.  Quá trình điều áp không gian giữa tàu Dragon và trạm (phòng ghép) cần đến vài giờ và nhất thiết phải thực hiện một cách chính xác. Dragon vẫn có thể tạo ra nguy hiểm cho trạm. Một sai lầm khi nối thông hai tàu có thể sẽ khiến áp suất bị giải phóng – không khí thoát ra ngoài không gian. Vì vậy Samantha và tôi làm từng bước một.  Chúng tôi chờ cho đến sáng hôm sau để mở cửa của ISS dẫn sang Dragon. Khi Samantha trượt nó sang một bên, một mùi dị thường không thể nhầm lẫn được ập vào tôi. Hơi khét và hơi có mùi kim loại. Lần này nó làm tôi nhớ về mùi pháo bông ngày mùng 4 tháng 7: mùi của không gian. Sau một chuỗi những thủ tục, cuối cùng chúng tôi mở cửa Dragon, và những gói quà từ gia đình, được đánh dấu cẩn thận và dễ lấy, ngoài ra còn có những con chuột và thực phẩm tươi. Terry và tôi phân phối đồ cho tất cả mọi người, cảm thấy mình có gì đó giống như ông già Noel.  Cuối cùng thì tôi cũng mở gói quà từ gia đình trong không gian riêng tư tại khu ở của đội. Bên trong là một bài thơ và một ít sôcôla từ Amiko (cô ấy biết tôi rất thèm đồ ngọt khi ở trong không gian, mặc dù khi ở Trái đất tôi không mấy khi ăn ngọt); một cặp dây giày cho đôi giày tập thể thao của tôi với kiểu buộc chéo, bởi ở đây rất khó buộc dây do không có lực hấp dẫn; một chai sốt cay Frank; một bức ảnh từ người anh em sinh đôi của tôi, Mark, trong ảnh là hai cậu bé tóc đỏ đang giơ tay về phía máy ảnh, với chú thích đằng sau là “Hi vọng trên ấy WCS hoạt động tốt” (WCS là viết tắt của waste collection system, nhà vệ sinh trong không gian); và một tấm bưu thiếp từ các con gái tôi, Charlotte và Samantha, hai kiểu chữ viết tay bằng bút mực đen, rất khác biệt, hằn lên tấm thiệp dày.    Khoảnh khắc “bắt rồng” (Nguồn: NASA).  Tôi cất mọi thứ đi, ăn một ít sôcôla, kiểm tra hòm thư điện tử một lần nữa. Vẩn vơ trong túi ngủ một lúc, tôi nghĩ về các con mình, tự hỏi chúng sẽ sống thế nào khi tôi đi xa. Và rồi, tôi chìm vào giấc ngủ.  Hoàng Lam lược dịch từ National Geographic  http://www.nationalgeographic.com/magazine/2017/08/space-odyssey-astronaut-scott-kelly-book-endurance/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh (Phần 1: Từ những mộng tưởng và những thất bại)      2021 sẽ là năm diễn ra nhiều sự kiện có ý nghĩa to lớn, là năm đánh dấu nhiều cột mốc cho quá trình chinh phục không gian của nhân loại: Các nhiệm vụ bay có người lái, kính thiên văn không gian James Webb đưa vào hoạt động, dự án Artemis-1 đưa con người trở lại Mặt Trăng, tàu vũ trụ liên hành tinh Starship, hay 13,000 vệ tinh thuộc mạng lưới vệ tinh Quốc Võng của Trung Quốc được phóng…   Trong thế kỷ 20, chúng ta kế thừa và tiêu thụ những sản phẩm của công nghệ vệ tinh hằng ngày, hằng giờ một cách hiển nhiên: cập nhật thông báo thời tiết, gọi video, tìm đường đến một địa chỉ không quen thuộc, hay chỉ đơn giản là theo dõi cuộc sống của người thân qua mạng xã hội. Không phải ai cũng thấy được trọn vẹn quá trình ra đời, phát triển, và hoàn thiện của công nghệ này trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.  Đặt nền móng cho những bước chân đầu tiên của nhân loại trong hành trình phát triển công nghệ vệ tinh là những phương trình cơ bản, những thiết bị phản lực đời đầu, những lần thử nghiệm và thất bại,…Trên hết, đó là tinh thần, cảm hứng, đam mê, và tình yêu bất tận với khoa học. Chúng tôi xin được khắc họa lại cuộc chạy tiếp sức của con người trong chặng đường chinh phục không gian bằng những câu chuyện có thật của những cái tên tiêu biểu nhất.      Một cảnh trong phim “Người phụ nữ trên Mặt Trăng” của Fritz Lang.  Trí tưởng tượng chắp cánh cho hành động thực tế  Hãy bắt đầu cuộc hành trình ngoạn mục của chúng ta từ đất nước Pháp, theo chân “cánh buồm tiên phong” trong văn học Khoa học viễn tưởng – nhà văn Jules Verne.    Jules Gabriel Verne sinh ngày 8/2/1828 ở Nantes – một thành phố cảng nhộn nhịp ở Pháp. Nhìn những chiếc tàu ra vào cảng, mang theo những cơn gió từ biển khơi đã giúp Jules chắp bút nên những chuyến phiêu lưu thám hiểm bất tận. Sau khi nhận văn bằng luật năm 1849, ông quay về quê nhà để tìm lại niềm đam mê nghệ thuật và văn học của mình với ước mơ là tạo ra được những tác phẩm kết hợp khoa học công nghệ và viễn tưởng. Tham vọng khám phá thế giới của con người có lẽ được thể hiện mạnh mẽ nhất trong tác phẩm “De la Terre à la Lune” (Từ Trái Đất đến Mặt Trăng) của ông, ra đời năm 1865. Cuốn sách theo chân ba thành viên của hiệp hội giả tưởng Baltimore Gun Club – một nhóm cựu chiến binh yêu thích vũ khí được thành lập sau Nội Chiến Mỹ. Họ có một kế hoạch vô cùng táo bạo: Chế tạo một khẩu súng thần công có khả năng phóng ba người lên không gian từ Florida. Trong cuốn sách, kế hoạch này đã thành công, dù số phận các “phi hành gia” trên quãng đường đến Mặt Trăng chưa được tiết lộ cho đến cuốn sách tiếp theo “Autour de la Lune” (Vòng quanh Mặt Trăng). Bằng lối dẫn chuyện lôi cuốn, Jules Verne miêu tả được sự gian nan, tốn kém nhưng không kém phần vinh quang của những chuyến thám hiểm không gian. Đặt biệt, chỉ với những số liệu thực tế hiếm hoi, nhà văn có thể tính toán tương đối chính xác những điều kiện cần thiết của đại bác để biến sứ mệnh trở thành hiện thực.   Và không chỉ Verne thể hiện khao khát của con người vươn đến khám phá không gian ngoài Trái Đất vào thời điểm đó. Một “cha đẻ” khác của thể loại khoa học viễn tưởng, người Anh, sinh ra ở Kent vào năm 1866, Herbert Geogrge Wells đã vẽ ra cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh đến từ Sao Hỏa tới Trái Đất khiến người đọc sửng sốt trong “The War of the Worlds” (Chiến tranh giữa các thế giới). Trong tiểu thuyết này, những vệt sáng kì lạ ở Sao Hỏa được mô tả trên tạp chí Nature, thực ra chỉ là hiệu ứng sinh ra từ cú nổ của khẩu đại bác phóng con tàu của người Hỏa tinh tới Trái Đất. H.G.Wells được đào tạo để trở thành một giáo viên dạy khoa học. Ông từng là một trong những người bình duyệt cho tạp chí Nature vào năm 1894. Tác phẩm của ông, dù xuất phát từ một trí tưởng tượng kì diệu và khác thường, vẫn gắn liền với những ý tưởng và nghiên cứu khoa học công nghệ thực tế nổi bật của thời đại bấy giờ.      Nhiều người cho rằng Jules Verne hay H.G Wells là những người đi trước thời đại. Nhưng thực ra, hai nhà tiểu thuyết đại tài này không phải là những nhà dự báo mà họ là những người truyền cảm hứng bất tận cho những nhà khoa học nhiều thế hệ sau biến những tưởng tượng trong các tác phẩm của họ thành hiện thực.   Quả thực là như vậy, ngay sau khi những tác phẩm của Jules Verne ra đời đã cuốn hút Konstantin Tsiolkovsky. Ông sinh năm 1857, đến chín tuổi thì bị bệnh ban đỏ và bị điếc và sau đó đến năm 12 tuổi thì mồ côi mẹ. Những chuyến du hành không gian viễn tưởng của Jules Verne đã khiến cậu bé Konstantin tìm được hướng đi cho cuộc đời mình.     Hermann Julius Oberth (giữa) và đội ngũ của ông, trong đó có Wernher von Braun (hàng thứ hai bên phải).  Mặc dù tên lửa đã được người Trung Hoa cải tiến thành vũ khí từ pháo hoa từ thế kỷ XII, động lực học tên lửa – nguyên lý hoạt động của chúng trên cơ sở Toán học và Vật lý – vẫn chưa được tìm ra cho đến thời Tsiolkovsky. Ông nhanh chóng nhận ra cách phóng lên Mặt Trăng của Jules Verne là không khả thi: phi thuyền sẽ bị vỡ thành trăm mảnh ngay sau khi ra khỏi khẩu súng thần công. Ông suy luận rằng, cần phải phải có tên lửa đẩy đa tầng (multistage), được tiếp nhiên liệu hóa học để tăng tốc liên tục mới duy trì được “sức sống” của chuyến đi. Ông đã thiết lập nên phương trình Tsiolkovsky, liên hệ ngắn gọn tốc độ của tên lửa, tốc độ nhiên liệu khí tại thời điểm bắn với khối lượng tên lửa và khối lượng nhiên liệu trong một biểu thức.     Phương trình tên lửa lý tưởng, trong đó v(t): vận tốc tên lửa tại thời gian t, v0: vận tốc ban đầu của tên lửa, ve: vận tốc nhiên liệu hiệu quả, M0: tổng khối lượng ban đầu (bao gồm nhiên liệu), và M(t): tổng khối lượng lúc t.  Trong những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành hàng không vũ trụ, ngoài Konstantin còn có Robert Hutchings Goddard. Ông sinh ra ở Worcester, Massachusetts, Mỹ vào năm 1882. Giống, Konstantine, Robert cũng là cậu bé phải nghỉ học dài ngày ở nhà vì đau ốm triền miên và cũng tìm được cảm hứng của đời mình nhờ tiểu thuyết viễn tưởng, nhưng không phải là của Jules Verne mà là quyển “Chiến tranh giữa các thế giới” của H.G.Wells. Ông đã tuyên bố khát vọng vươn đến mặt trăng của mình trong chuyên luận “A Method of Reaching Extreme Altitudes” (Một phương pháp đạt tới cao độ vô cùng)/  Nếu như Konstatine chỉ dừng lại ở các đóng góp về mặt lý thuyết, thì Robert Goddard là người thực sự bắt tay vào chế tạo. Ngày nay, chúng ta khó có thể hình dung một người lỗi lạc trong lĩnh vực khoa học không gian như Goddard lại bị chế nhạo bởi các tòa soạn báo lớn khi ông trình bày mơ ước của mình. Thật trớ trêu, vì là người có tư tưởng đi trước thời đại nên ông không được đồng nghiệp ủng hộ và gặp khó khăn khi tìm nguồn tài chính cho các nghiên cứu. Mãi cho đến khi 34 tuổi khi ông liên hệ Viện Smithsonian và được Thư ký Charles Greeley Abbot hậu thuẫn thì ông mới tìm được nguồn tài trợ cho nghiên cứu về nhiên liệu lỏng cho tên lửa của mình. Ngày 16/3/1926, ông đã phóng thành công một tên lửa nhiên liệu lỏng (ôxy lỏng và xăng) đầu tiên trên thế giới. Ông để lại 214 bằng sáng chế cho thế giới trước khi qua đời vì ung thư cổ họng ngày 10/8/1945. Trong những sáng chế này có lẽ phải kể đến tên lửa đẩy đa tầng mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.  Những tên lửa thất bại     Sau đó khoảng nửa thế kỉ, các sáng chế của Robert Goddard đã thu hút sự chú ý của một nhà khoa học khác là Hermann Julius Oberth. Nếu không có Tsiolkovsky, Goddard và giờ là Oberth thì chúng ta có thể đã không có tàu vũ trụ ngày nay. Oberth sinh ra ở Transylvania, Romania (Áo-Hung) và thuở nhỏ bị ban đỏ, phải chuyển đến Ý để chữa bệnh. Chính tại đây mà ông lần đầu đọc cuốn “De la Terre à la Lune” (Từ Trái Đất đến Mặt Trăng) của Jules Verne. Từ tuổi 14, ông đã thí nghiệm với tên lửa nhiên liệu lỏng.   Khi Oberth được mời làm cố vấn cho một bộ phim du hành vũ trụ có kinh phí khủng tên là “Metropolis” dựa trên tiểu thuyết “Người phụ nữ trên Mặt Trăng”, ông đã đề xuất với đạo diễn phim, Fritz Lang dành một phần kinh phí sản xuất phim để thử nghiệm một tên lửa dùng nhiên liệu lỏng. Tên lửa này sẽ dùng để làm công chúng kinh ngạc trong ngày công chiếu phim. Những sáng chế của Goddard khi đó đã giúp ích rất nhiều cho Oberth. Tuy nhiên, rất tiếc là trong buổi phóng thử, tên lửa này đã nổ tung, làm thủng màng nhĩ và làm yếu mắt trái của Oberth. Oberth đau khổ trước thất bại của mình và từ bỏ dự án. Nhưng ông không biết rằng ông đã gần đến đích. Các cộng sự khác của ông trong dự án đã tiếp tục từ những gì Oberth bỏ lại và thành công với tên lửa Mirak. Mirak về sau thậm chí còn phóng thử được hơn 100 lần từ 1931-1932, thuyết phục quân đội Đức rằng đây là vũ khí quân sự khả thi trước khi bị bỏ mặc sau sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít ở Đức.  Thất bại của Oberth cho thấy ông không phải là một kĩ sư tài năng. Tuy nhiên ông vẫn là một nhà lý thuyết xuất sắc. Một trong những thành tựu lớn nhất của của Hermann là quyển sách “Die Rakete zu den Planetenräumen” (Tên lửa vào Không gian Hành tinh) xuất bản tháng 5/1923 – tác phẩm đã đưa tên tuổi của Orberth đến rộng rãi công chúng. Quyển sách miêu tả cách tên lửa có thể chiến thắng lực kéo của Trái Đất để bay ra hỏi không gian bằng phương pháp toán học. Tuy nhiên công trình của ông không được cộng đồng khoa học Đức lúc bấy giờ đón nhận, thậm chí còn gây ra tranh cãi, nhưng lại chắp cánh cho những nhà khoa học hàng không vũ trụ tương lai. Sáu năm sau, ông viết bổ sung cho “Die Rakete zu den Planetenräumen” hơn 300 trang nữa và tác phẩm hoàn thiện mang tên Wege zur Raumschiffahrt “Cách du hành không gian”.  Tên lửa tầm xa đầu tiên  Hai trong số các “độc giả đặc biệt” được truyền cảm hứng bởi cuốn sách của Orberth, về sau trở thành những người quan trọng đã góp phần tạo ra tên lửa đầu tiên trên thế giới là: Eugen Sänger, nhà vật lý người Đức gốc Áo và Wernher von Braun, kĩ sư người Đức.     Eugen Sänger (bìa trái) và vợ (giữa), nhà toán học, vật lý, kĩ sư Irene Bredt (bà là phó giám đốc khoa học tại Viện nghiên cứu Vật lý về sức đẩy phản lực, do Sänger thành lập và bà là một trong những nhà sáng lập của Viện Hàng không Vũ trụ Quốc tế năm 1960).  Nhờ cuốn sách của Oberth mà Sänger mới quyết định chuyển ngành học đại học từ kĩ thuật xây dựng sang ngành hàng không. Nhờ sớm có định hướng rõ ràng cho bản thân, Sänger tích luỹ kinh nghiệm từ việc tự mình chế tạo động cơ quy mô nhỏ chạy bằng nhiên liệu đốt lò loại nhẹ. Sau này, cậu chọn chủ đề thiết kế máy bay động cơ tên lửa hoạt động ở tầng bình lưu cho luận văn của mình.Tuy nhiên, do đề tài luận văn quá tham vọng, nên công trình của Sänger bị nhà trường bác bỏ, buộc cậu phải viết một luận văn tốt nghiệp “thực tế” hơn. Quyết tâm không từ bỏ giấc mơ, năm 28 tuổi, Sänger xuất bản luận văn cũ của mình dưới tiêu đề “Rocket Flight Engineering” (Kỹ thuật Bay Tên lửa) vào năm 1933.   Trong vòng ba năm sau đó, Sänger viết bài cho tạp chí Flug của Áo về những chuyến bay động cơ tên lửa. Danh tiếng của Sänger bấy giờ lan đi nhanh chóng đến tai Bộ Hàng không của Đức Quốc Xã. Nhờ đó, Sänger được chiêu mộ để chế tạo máy bay đánh bom tầm xa xuyên lục địa. Năm 1936, anh chỉ đạo một nhóm phát triển trên lửa ở vùng Lüneburger Heide miền Bắc nước Đức. Dự án đầy tham vọng mang tên “Silverbird” (Chim Bạc) của nhóm là một chiếc máy bay động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng du hành không gian tiểu quỹ đạo, tức là không hoàn thành quỹ đạo Trái Đất mà rơi xuống tầng bình lưu. Tầng bình lưu có không khí dày hơn sẽ tạo đà cho động cơ, khiến nó “nảy” lên độ cao cao hơn. Và cứ “tưng tưng” như thế, chiếc Chim Bạc này sẽ bay xuyên qua Thái Bình Dương, nhờ đó có thể ném bom cực xa. Rất tiếc về sau dự án này bị hủy vào năm 1942 vì Bộ muốn tập trung vào những công nghệ đã được chứng minh bằng thực nghiệm.   Giống như Sänger, cuốn sách của Oberth cũng tạo ra bước ngoặt cuộc đời cho Wernher von Braun. Từ năm 13 tuổi, ông đã bộc lộ tư duy vượt bậc với hàng không vũ trụ vì bực dọc do không hiểu được những công thức toán học của Herman. Thú vị thay, về sau vào năm 1930, khi mới 18 tuổi, Wernher đảm nhận công việc trợ lý cho chính Hermann. Sau khi Adolf Hitler nắm quyền kiểm soát đất nước, Braun lúc này đã trở thành giám đốc kỹ thuật cho bệ phóng ở phía Tây Bắc nước Đức, và tài năng của ông đã biến công nghệ tên lửa đạn đạo của Đức Quốc Xã vượt lên các quốc gia khác trên thế giới. Tiêu biểu nhất là tên lửa đạn đạo A-4 hay tên lửa V-2 (viết tắt cho “Vengeance Weapon 2” –  Vũ khí Báo thù 2). Với ông, tinh thần ái quốc vượt trên những hoài nghi cá nhân về tính nhân đạo của những chính sách do chính quyền Hitler ban hành.   Sänger và Braun không chỉ “gặp gỡ” nhau ở điểm cùng được truyền cảm hứng bởi Oberth. Cuộc đời họ còn giao nhau một cách không ngờ tới. Khi dự án Chim Bạc của Sänger bị từ chối bởi chính quyền Đức thì ý tưởng này lại đến tay nước Mỹ sau khi kết thúc thế chiến thứ hai khi nước này thu nhận các nhà khoa học Đức ly hương. Và các cơ quan của Mỹ thích ý tưởng của Sänger tới nỗi, nó đã trở thành gốc rễ cho nền hàng không vũ trụ của Mỹ. Đúng, cốt lõi của thành công trong việc khám phá vũ trụ của Mỹ là tạo ra được những chiếc máy bay vũ trụ có thể sử dụng lại như chiếc Chim Bạc. Và đoán xem, ai đã giúp cho Mỹ tiếp tục xây dựng phần cành lá, vẽ ra tầm nhìn cho ngành khám phá vũ trụ của Mỹ? Không ai khác, chính là Braun. Vào năm 1952, ông chuyển đến Alabama để phục vụ cho chương trình vũ khí đạn đạo của quân đội Hoa Kỳ. Nhờ có kinh nghiệm từ 15 năm thử nghiệm ở Đức mà Wernher đã giúp nước Mỹ chế tạo thành công tên lửa Jupiter-C, Redstone, Pershing, Juno, và Saturn sau này là vệ tinh Explorer 1.      Trước khi Braun tới Mỹ, nước này đã thành lập phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực (JPL), thuộc sở hữu của NASA, chuyên tập trung nghiên cứu các tàu vũ trụ không người lái thám hiểm không gian vào những năm 1930s. Và JPL vẫn duy trì mục tiêu này đến ngày nay. Người đứng đầu phòng thí nghiệm này là kỹ sư Frank Joseph Malina. Sauk hi tốt nghiệp tại Viện công nghệ California (Caltech), ông cùng “biệt đội cảm tử”, gồm năm người bạn khác, bao gồm những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử ngành hàng không vũ trụ Mỹ như Hsue-Shen Tsien và Jack Parsons cùng nhau thực hiện những thí nghiệm lớn cho các thiết kế động cơ tên lửa. Vì tính chất nguy hiểm của các thí nghiệm này, nhóm phải rời xa khuôn viên Caltech để chuyển đến vùng hẻo lánh Aroyo Seco, cũng tại California. Và nơi đây về sau trở thành trụ sở của JPL. Người truyền cảm hứng cho Malina, dẫn dắt Malina theo con đường nghiên cứu tàu vũ trụ chính là Sänger, hay nói đúng hơn, là những bài giảng và công trình của ông.   Chính Malina cũng học hỏi được cả từ Braun, mặc dù hai ông gặp nhau duy nhất một lần tại Hội nghị hàng không vũ trụ quốc tế vào năm 1965 tại Athen và thậm chí Malina còn có ý tránh mặt Braun bởi khó chấp nhận nổi một kĩ sư từng làm dưới trướng Hitler giờ lại trở thành trung tâm của ngành hàng không vũ trụ Hoa Kỳ. Nhưng, một trong những “mẫu vật” quan trọng đã hỗ trợ Malina trong quá trình nghiên cứu chế tạo tên lửa đẩy của ông là những mảnh của tên lửa V-2 do Braun chế tạo, đã rải hàng nghìn quả xuống khắp châu Âu trong Thế chiến thứ hai.   Đúng, công nghệ đằng sau của tên lửa V-2, là điều mà bất cứ quốc gia nào đang theo đuổi công nghệ hàng không vũ trụ đều khao khát. Một trong số đó là Nga, hay đúng hơn là Sergei Pavlovich, một bộ óc thiên tài đằng sau những chương trình du hành vũ trụ của Liên Xô. Giống Frank Manila, Korolev cũng bắt đầu nghiên cứu về tên lửa và thành lập nhóm Group for the Study of Reactive Motion (Nhóm Nghiên cứu Chuyển động Phản ứng) vào năm 1931. Vào năm 1933, nhóm của Korolev đã phóng thành công tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên của Liên Xô có tên gọi là GIRD – X.   Nhưng các công trình của Korolev từ đó cho đến kết thúc Thế chiến thứ hai chưa thể so sánh được với V-2. Vào thời điểm bấy giờ, V-2 là tên lửa đạn đạo tầm xa đầu tiên và duy nhất trên thế giới, bay đến hơn 300 km và cao trung bình gần 90 km. Cho đến khi, Thế chiến thứ hai kết thúc, nếu như một nhóm nhà khoa học Đức ly hương được Mỹ dang tay chào đón thì có một nhóm bị bắt làm tù binh của Xô viết. Và họ đã tiết lộ thiết kế khung tên lửa V-2 cho Nga, hay chính là cho Korolev. Nắm được bí quyết của tên lửa V-2, sự nghiệp của Korolev lên đến đỉnh cao. Và ông không chỉ “tái tạo” lại quả tên lửa này mà còn đi xa hơn nữa, đó là nâng cấp tên lửa V-2, tăng tầm tấn công của nó lên đến gần 700 km. Korolev trở thành “bảo vật quốc gia”, được gọi bằng biệt danh là Chef Designer (Lãnh đạo thiết kế) thay vì tên thật để tránh khỏi bị ám sát bởi điệp vụ Mỹ. Và bắt đầu từ đây, cuộc đua đầy kịch tính vào không gian giữa Mỹ và Liên Xô bắt đầu. □  (còn tiếp)    Author                Minh Trang – Đăng Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh (Phần 2: Giấc mơ bay lượn)      Phát triển công nghệ vệ tinh là một quá trình dài hơi, tốn kém và đòi hỏi vô vàn những lần thử và thất bại để đạt được. Từ những vệ tinh đầu tiên do công cuộc chạy đua quân sự và chính trị giữa các cường quốc hàng đầu thế giới, cho tới những thành quả mà chúng ta đang hằng ngày sử dụng trong vô thức như truyền hình vệ tinh (K+) hay định vị vệ tinh (GPS, GLONASS…) đều do rất nhiều bộ óc thiên tài cống hiến và hàng sa số giờ nghiên cứu để tạo nên. Ở phần 2 này, chúng ta sẽ cùng vén màn bức tranh bí ẩn của Sputnik 1, quay trở lại thời điểm trước khi sự kiện phóng vệ tinh vang dội diễn ra, để rồi hiểu thêm về quá trình nghiên cứu và chế tạo cỗ máy không gian độc đáo này, tại thời điểm phát triển đỉnh cao của khoa học công nghệ ở Liên Xô.      Sergei Korolev, cha đẻ của nền hàng không vũ trụ Liên Xô. Ảnh: European Space Agency    Trường đua đặc biệt     Vào ngày 4/10/1957, Sputnik – vệ tinh nhân tạo đầu tiên của nhân loại do Liên Xô chế tạo chính thức tiến vào quỹ đạo quanh Trái Đất. Trong toàn cục căng thẳng của chiến tranh lạnh, tốc độ phát triển công nghệ thần tốc của Liên Xô như một cơn chấn động cho cả thế giới, phương Tây, và đặc biệt Mỹ thời bấy giờ. Nó như phát súng rền vang, vừa báo hiệu mà cũng vừa thúc giục cho một cuộc chạy đua công nghệ – quân sự chưa từng có trên toàn cầu – cuộc đua đặt nền móng cho hàng loạt bứt phá khoa học.    Tuy nhiên, với những người trong cuộc, Sputnik không phải là sản phẩm của phép màu hay may mắn nhất thời, mà đằng sau nó còn có nhiều câu chuyện ly kỳ về hành trình chế tạo đầy gian nan. Ở kỳ trước chúng ta đã biết, vào những năm 1930, Thiết kế Trưởng (biệt danh của Korolev) trở thành lãnh đạo của Nhóm Nghiên cứu Tương tác Chuyển động. Trong thời gian này, ông kết thân với Mikhail Klavdiyevich Tikhonravov – một nhà khoa học tiên phong khác trong lĩnh vực thiết kế thiết bị không gian và tên lửa học, và sau này cũng là người đồng hành cùng Korolev xuyên suốt quá trình phát triển Sputnik.    Sputnik có thể đã mãi nằm trên giấy nếu không có sự đóng góp của hai người đàn ông vĩ đại này, luôn hết mình kiên trì cho chương trình không gian, dưới một Chính phủ Liên Xô không mấy mặn mà và thời cuộc đầy khắc nghiệt. Thế chiến thứ hai nổ ra khiến họ phải tạm thời chia tay, chuyển đến hai đơn vị khác nhau: Korolev chỉ đạo Bộ thứ ba của Viện Nghiên cứu Khoa học số 88 để phát triển tên lửa đạn đạo cho Nga. Trong khi đó, Tikihonravov làm việc trong viện NII-4 nhằm tìm ra ứng dụng khác của công nghệ tên lửa đạn đạo.    Những năm cuối thập niên 40, Thiết kế Trưởng đã vài lần đề xuất ý tưởng chế tạo vệ tinh nhân tạo đầu tiên của nhân loại dành cho mục đích khoa học thuần túy, nhưng nỗ lực của ông bất thành. Chỉ tới khi cùng hợp tác với người bạn cũ Tikhonravov thì Korolev mới đạt được kết quả khả quan. Vào ngày 20/5/1954, Korolev nhân lúc chính quyền Xô viết giao trọng trách thực hiện một dự án vũ khí cho Cục Thiết kế tại nơi ông đang công tác, ông đã gửi một bức thư đề nghị kèm theo “Báo cáo về Vệ tinh Nhân tạo quanh Trái Đất” của Tikhonravov cho chính phủ:    “Xin quý vị xem qua bản ghi của đồng chí M. K. Tikhonravov, “Báo cáo về Vệ tinh Nhân tạo của Trái Đất”, cũng như những tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực này từ Hoa Kỳ. Sản phẩm chúng ta đang chế tạo [tên lửa R-7 ICBM] sẽ tạo cơ hội cho vệ tinh nhân tạo ra đời… Tôi nhận thấy rằng giờ đây, chúng ta có thể nắm lấy cơ hội để thực hiện những thí nghiệm đầu tiên về chế tạo vệ tinh và giải quyết những vấn đề phức tạp để chinh phục mục tiêu này. Chúng tôi đợi hồi âm từ các anh.”1    Bức thư của Korolev đã lan đến tai nhiều nhân vật chủ chốt trong nhà nước, trong đó có lãnh đạo Xô viết thời bấy giờ là Georgiy M. Malenkov. Malenkov vì quan tâm đến ứng dụng quân sự của dự án nên đã cho phép Korolev thực hiện nghiên cứu. Đây là lần đầu tiên mà chính quyền Xô viết can thiệp vào vấn đề khám phá không gian. Tuy nhiên, nhóm thực hiện nghiên cứu lúc này vẫn còn ít nhân lực, và Korolev thì không thể hoàn toàn tập trung bởi dự án vũ khí R-7 ICBM.    Tuy nhiên, vào mùa xuân năm 1950, một nhóm nhà khoa học Hoa Kỳ dẫn đầu bởi James van Allen đã bắt đầu có dự án khoa học quốc tế để nghiên cứu tầng khí quyển và không gian bằng khinh khí cầu hoặc tên lửa nghiên cứu. Ý tưởng nhanh chóng lan ra toàn cầu với sự hưởng ứng nồng nhiệt từ các nước châu Âu. Không chỉ thế, họ còn phát triển chương trình để bắt kịp khoảng thời gian 1957-1958, những năm Mặt Trời hoạt động mạnh mẽ nhất trong chu trình. Bây giờ ta biết đến cột mốc này với cái tên “năm Vật lý Địa cầu Quốc tế” (IGY).      Vệ tinh Sputnik 1 vào năm 1957. Ảnh: NASA/Asif A. Siddiqi    Liên Xô không có đóng góp nổi bật nào, thậm chí cũng không quá mặn mà với việc gia nhập IGY. Thật ra trong năm 1954, Ủy ban Điều phối và Kiểm soát Công việc trong Lĩnh vực Tổ chức và Hoàn thiện Thông tin Liên hành tinh – một tổ chức với cái tên dài ngoằng nhằm che giấu mục đích thảo luận về khám phá không gian đã âm thầm ra đời. Tuy nhiên, Korolev lại không được biết về ủy ban này, và ủy ban cũng không có liên kết với công trình của Korolev.  Một chuỗi sự kiện bắt đầu diễn ra sau đó, mở đầu vào ngày 29/7/1955 khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ phóng một vệ tinh nhỏ bay quanh Trái Đất với tư cách một thành viên trong IGY. Không để bị vượt mặt, USSR cũng trả lời với thế giới rằng “Chúng tôi tin rằng việc phóng vệ tinh nhân tạo sẽ trở nên khả thi trong vòng 2 năm nữa.”. Và “Dự án của Liên Xô sẽ thành hiện thực trong tương lai gần”.1    Lúc này, tận dụng thời cơ Liên Xô ráo riết chạy đua với Hoa Kỳ, vào ngày 30/8/1955, Korolev tham dự hai cuộc họp quan trọng với cộng đồng quốc phòng và khoa học. Ông báo cáo chi tiết về phương pháp thực hiện sứ mạng, đề xuất nhiều phương án cũng như mốc thời gian cụ thể để tận dụng hiệu quả vệ tinh. Kết quả là đề nghị sử dụng tên lửa R-7 ICBM để đưa vệ tinh ra không gian được thông qua. Không chỉ thế, cộng đồng khoa học cũng cho phép thành lập một uỷ ban điều hành một chuỗi các vệ tinh sau Sputnik 1, bao gồm vệ tinh thử nghiệm mang theo động vật.  Miệt mài lao động     Quá trình lên ý tưởng chi tiết cho các bộ phận và chọn lựa vật liệu để phù hợp với môi trường khắc nghiệt ngoài không gian kéo dài đến tháng 3/1966. Lúc này Vật D (vệ tinh nhân tạo, được đặt tên theo thứ tự khối hàng mà tên lửa R-7 chuyên chở) vẫn còn là một “phòng thí nghiệm di động” khi mà trên giấy tờ, nó có khối lượng hơn một tấn. Vì thế mà từng bộ phận trên vệ tinh được chia ra cho các tổ chức khác nhau chế tạo.    Giai đoạn giữa 1956 là thời gian khó khăn cho Thiết kế Trưởng khi mà các nhà thầu phụ trì trệ trong công việc, dẫn đến tiến độ chậm trễ, động cơ R-7 thử nghiệm thì lại không đạt tiêu chuẩn. Korolev chịu căng thẳng tột độ khi phải di chuyển liên tục để giám sát các dự án trong khi vệ tinh của Mỹ thì có thể được phóng đi bất kỳ lúc nào. Cuối tháng 11, ông quyết định giảm khối lượng của vệ tinh xuống còn vài chục ki-lô-gram và tự chế tạo nó tại Sở Thiết kế. Trình bày kế hoạch mới lên chính quyền, Korolev bày tỏ nỗi lo lắng của chính mình trước tình hình Nhà Trắng liên tục thử nghiệm những công nghệ tiên tiến khiến tên lửa Mỹ có khả năng bay cao và xa hơn hẳn phần còn lại của thế giới.    Tiến trình nghiên cứu bản thử đầu tiên của vệ tinh vẫn tiếp tục diễn ra dù liên tục bị trì hoãn do vẫn chưa xác định được mục tiêu, mãi cho đến đầu năm 1957. Thiết kế mới được Hội đồng Bộ Trưởng phê duyệt vào cuối tháng 1/1957 với khối lượng gần 100kg, mang tên Vệ tinh Đơn giản Số 1 (PS-1). Ngỡ đâu đây là một khởi đầu mới thuận lợi, nhưng khoảng thời gian này lại là lúc toàn bộ sự nghiệp và danh tiếng của Korolev đứng trước bờ vực thẳm. Từ tháng năm đến tháng bảy, cả ba đợt phóng R-7 ICBM thất bại do nhiều sai sót trong tính toán đã khiến kế hoạch vượt mặt Mỹ đầu giai đoạn IGY của Korolev phá sản hoàn toàn. Nhóm của ông nhận nhiều chỉ trích gay gắt từ phía ban lãnh đạo, thậm chí bị đe dọa  cắt giảm ngân sách do dự án.    Từ tháng 3 đến tháng 8/1957, các kỹ sư miệt mài xác định vấn đề và hiệu chỉnh quỹ đạo bay của tên lửa dùng để phóng vệ tinh. Những phép tính phức tạp đã được tính toán hoàn toàn thủ công, bằng phương pháp rất cổ điển – dùng bảng tính. Khi những phép tính bắt đầu đạt đến độ khó điên rồ, đây là lúc các kỹ sư tại OKB-1 cần dùng một máy tính thực thụ để xử lý, hơn nhiều so với những chiếc bàn tính điện tử. Keldysh chuyển cho Viện Khoa học Liên Xô, họ dùng một cỗ máy khổng lồ và cũng là nhanh và hiện đại nhất ở Liên Xô thập niên 50, to bằng cả một căn phòng và có thể thực hiện hàng vạn phép tính trên giây.    Cuối cùng, vào ngày 21/8/1957 tại Tyuratam, đợt phóng R-7 thứ tư cũng thành công. Tên lửa đạn đạo cùng khối hàng bay vượt hơn 6500km. Đầu đạn bay trên bầu khí quyển của bán đảo Kamchatka, phía Đông Siberia, cực Đông của Liên bang Nga (Liên Xô lúc đó), bên bờ Thái Bình Dương. Korolev phấn khích tới mức đã thức đến tận 3 giờ sáng để bàn về những tiềm năng to lớn được khai phá cho tương lai, nhất là cho vệ tinh của ông. Gần một tuần sau, thông tấn xã TASS của Liên Xô cũng phát hành một thông cáo ngắn về thành công của tên lửa đẩy đa tầng xuyên lục địa R-7, cho thấy sự chính xác trong tính toán của các nhà khoa học. Đồng thời cũng nói về viễn cảnh tươi sáng mà cuộc thử nghiệm đã mở ra cho vệ tinh nhân tạo2    Bài thông cáo về R-7 không tạo được tiếng vang ở Hoa Kỳ. Ngược lại, nó còn bị phủ nhận khi một số người hoài nghi dựa trên lượng thông tin ít ỏi mà Liên Xô cung cấp. Nhưng họ không ngờ rằng chỉ 38 ngày sau, tên lửa này đã mở ra một thời kỳ mới cho nhân loại, cũng như chính nó sẽ là phát súng dữ dội báo hiệu cho một cuộc chạy đua công nghệ.     Vệ tinh thành hình     Nhiều cuộc tranh luận diễn ra trước khi đưa đến quyết định về hình dáng của vệ tinh. Một trong số đó phải kể đến dạng hình cô-níc (hình nón) bởi vì tính khả dụng khi đưa vào trong không gian chật chội của tên lửa. Cuối cùng, Korolev theo “tiếng gọi của con tim” và chọn hình cầu, với vỏ bọc bằng kim loại với đường kính khoảng 1 mét.    Ông cũng đề ra một số nguyên tắc khi thiết kế vệ tinh như: Vệ tinh phải tối giản và đáng tin cậy, đáp ứng được nhu cầu cho những dự án tương lai; có hình cầu nhằm giảm thiểu sức cản của không khí; thiết bị thu phát sóng phải có 2 băng tần khác nhau để truyền tải dữ liệu và để định vị; ăng-ten phải được thiết kế sao cho không bị nhiễu khi tự xoay; và nguồn cấp điện cho vệ tinh phải là pin gắn liền, hoạt động được từ 2-3 tuần. Đồng thời vệ tinh cũng phải đáp ứng được các mục tiêu khoa học như: thử nghiệm phương pháp đưa vệ tinh lên quỹ đạo; cung cấp thông tin về mật độ không khí thông qua các tính toán về thời gian hoạt động trên quỹ đạo; thử nghiệm sóng radio và phương pháp định vị quỹ đạo bằng quang học;  tìm hiểu ảnh hưởng của sóng radio qua khí quyển và kiểm nghiệm nguyên lý áp suất trên vệ tinh.      Minh họa trên tạp chí khoa học phổ thông Popular Mechanics về cuộc đua giữa Mỹ và Liên Xô lên vũ trụ. Ảnh: popularmechanics.com  Vỏ vệ tinh cuối cùng được thiết kế bằng hợp kim nhôm có đường kính 58cm gồm có 2 nửa bán cầu ghép lại với nhau và kín áp suất với bên ngoài. Bên trong được lấp đầy bằng khí ni-tơ dưới áp suất 1,3 áp suất của khí quyển nhằm đảm bảo các thiết bị máy móc tinh vi bên trong hoạt động trơn tru. Hai thiết bị thu phát sóng được phát ở 2 tầng số 20,005 và 40,002 mega-chu kỳ (đơn vị tần số cũ thương tự như Hertz) hay bước sóng 1,5 và 7,5 mét, phát ra âm thanh quen thuộc “bíp bíp”. Phần ăng-ten dài nổi bật, làm nên “thương hiệu” của Sputnik gồm có 2 thanh 2,4 mét và 2 thanh 2,9 mét. Toàn bộ khối lượng vệ tinh khoảng 83,6 kg trong đó tới 51kg là dành cho pin và bộ cấp năng lượng. Để thử nghiệm hệ thống truyền phát radio, vào ngày 5/5/1957, nhóm đã dùng trực thăng mang thiết bị thu phát sóng lên cao để kiểm tra khả năng nhận tín hiệu ở trạm mặt đất.    Korolev nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc phát triển PS-1, và vẫn không ngừng dõi mắt theo từng giai đoạn. Ông thốt lên không chỉ trước vẻ đẹp sáng bóng của khối cầu kim loại vừa hoàn thiện này, mà còn bởi nó chứa đầy niềm khát vọng chinh phục không gian, “Quả cầu này [một ngày nào đó] sẽ được triển lãm [như một tác phẩm nghệ thuật] trong bảo tàng”.    Tên lửa phóng vệ tinh cũng được điều chỉnh và nâng cấp, phải kể đến như: bỏ bớt bộ phát vô tuyến nặng gần 300kg ở trên đầu động cơ đẩy, thay đổi thời gian đốt cháy của động cơ chính, bỏ bớt thiết bị đo độ rung; và quan trọng là thêm một hệ thống đẩy đặc biệt, giúp tách rời vệ tinh khỏi phần tên lửa đẩy khi đạt đến độ cao nhất định. Nhóm của Korolev còn lắp đặt thay thế phần đầu đạn thành một buồng chứa có thể mang trọng tải, làm tăng chiều cao của phần tên lửa đẩy thêm 4 mét, đạt mức 29.167 mét.     Giai đoạn cuối cùng     Giai đoạn chuẩn bị phóng có lẽ là một trong những huyền thoại đáng được để lại với “màn cứu nguy”, phải kể đến như phát hiện và kịp thời thay viên pin gặp trục trặc trong những giây phút cuối. Ban đầu, kế hoạch được thống nhất phóng vào ngày 6, tuy nhiên vì quá lo lắng trước thông tin Washington lên kế hoạch tổ chức hội nghị IGY vào trong khoảng thời gian đầu tháng 10 này, Korolev quyết định đẩy nhanh tiến độ phóng, sớm hơn hai ngày so với dự định.    Tên lửa R-7 được vận chuyển để bệ phóng bằng đường bộ vào buổi sáng sớm ngày 3/10/1957, dẫn dầu là Korolev, theo sau là Ryabikov, và các thành viên của Ủy ban Nhà nước. Nhiên liệu đốt được tiếp vào buồng chứa lúc 05:45 sáng (giờ địa phương) dưới sự hồi hộp tột độ của Korolev, tuy vậy ông vẫn luôn giữ được tỉnh táo theo dõi sát sao quá trình. Ông trấn an đội ngũ kỹ sư: “Sẽ không có ai hối thúc cả. Nếu các anh có dù là một chút hoài nghi nào, chúng ta sẽ dừng phóng thử và điều chỉnh lại vệ tinh. Vẫn còn thời gian…”. Phó bộ phận thiết kế PS-1 Ivanovskiy nhớ lại: “Không có ai nghĩ về tầm quan trọng của những gì đang diễn ra, mọi người đều làm tốt công việc của mình, tận hưởng phút giây dù là thất vọng hay hào hứng”.    Vào đêm ngay trước ngày phóng lịch sử, ánh sáng chiếu tràn ngập quanh bệ phóng, đó là vì các kỹ sư ráo riết kiểm tra toàn bộ hệ thống để đảm bảo không có bất kỳ sai sót lớn nào. Quá trình vận hành phóng đều do chính tay hai người đàn ông trạc tuổi 44 đảm nhận, đó là Korolev và đội phó Leonid A. Voskresenskiy. Không phải là sĩ quan quân sự như Korolev, Voskresenskiy chỉ là một “thường dân” nhưng ông có lẽ là một trong những nhân vật thú vị bậc nhất trong chương trình không gian của Liên Xô, một kĩ sư tên lửa hoàn toàn tự học và tay chơi mô-tô huyền thoại không ngại thử thách và nguy hiểm. Ông tham gia chương trình không gian từ những ngày đầu, khi Liên Xô kế thừa thành quả tên lửa đạn đạo A-4 của Đức Quốc xã.    Khi chỉ còn vài phút trước khi phóng, Korolev gật đầu như một tín hiệu cho phó thân cận của ông là Voskresenskiy, tất cả mọi người nhận thấy tầm lịch sử của sự kiện đều đứng dậy khi còn một phút. Đồng hồ chạm mốc 0 cũng là lúc chỉ huy hét to “Phóng!”. Sự kiện đó diễn ra vào 22 giờ, 28 phút, 34 giây (theo giờ Moscow). Động cơ đốt cháy và nâng hơn 272 ngàn kg khỏi bệ phóng tạo ra một tia lửa lớn và mây khói khổng lồ. 5 động cơ tạo ra 398 tấn lực đẩy. Tuy vậy, trong giây hồi hộp, một trong số các động cơ kích nổ chậm hơn thường lệ khiến cho nhóm gần như quyết định hủy bỏ vụ phóng. Tại thời điểm T+324.5 giây (sau khi phóng được 324.5 giây), tiến trình tách tầng tên lửa đẩy diễn ra, PS-1 thành công thoát ra và bay theo đường định trước. Vậy là vật thể đầu tiên do con người chế tạo đã thành công tiến vào quỹ đạo quanh Trái Đất, mở ra một kỷ nguyên mới cho loài người trong khám phá và chinh phục không gian.□  —–  1 Robert W. Buchheim and the Staff of the Rand Corporation, Space Handbook: Astronautics and its Applications (New York: Random House, 1959), 277; “We’ll Launch 1st Moon, and Bigger, Says Russ,” Los Angeles Examiner (August 3, 1955); John Hillary, “Soviets Planning Early Satellite,” The New York Times (August 3, 1955).  2“Report on Intercontinental Ballistic Missile” (in Russian), Pravda (August 27, 1957). A complete English translation of the press release is included in Krieger, 1958, 233-234.    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh (Phần 3: Cuộc đua quanh Trái Đất)      Cơn chấn động ngày 4/10/1957 có lẽ không chỉ khiến Liên Xô mất ngủ vì tự hào, đứa con cưng của Korolev là R-7 – Sputnik 1 còn làm vững vàng thêm vị thế của Liên bang Xô Viết, lung lay đền đài kiêu hãnh trước nay của Hoa Kỳ trên trường đua khoa học – công nghệ. Từ lúc này, Mỹ vừa phải đương đầu với khả năng Liên Xô sử dụng vũ khí hạt nhân từ không gian, trên đầu đạn của tên lửa xuyên lục địa, vừa gấp rút lên kế hoạch để bứt phá trong chặng đua tiếp theo giữa hai cường quốc.      Ảnh chú chó Laika trên Sputnik 2 trên tem của Vương quốc Ajman, giờ là một phần của UAE. Ảnh: Smithsonian.org    “Chương trình không gian lạnh”     Cơn chấn động ngày 4/10/1957 có lẽ không chỉ khiến Liên Xô mất ngủ vì tự hào, đứa con cưng của Korolev là R-7 – Sputnik 1 còn làm vững vàng thêm vị thế của Liên bang Xô Viết, lung lay đền đài kiêu hãnh trước nay của Hoa Kỳ trên trường đua khoa học – công nghệ. Từ lúc này, Mỹ vừa phải đương đầu với khả năng Liên Xô sử dụng vũ khí hạt nhân từ không gian, trên đầu đạn của tên lửa xuyên lục địa, vừa gấp rút lên kế hoạch để bứt phá trong chặng đua tiếp theo giữa hai cường quốc.    Trong những thập niên tiếp theo, cuộc đua ngày càng kịch tính với những vệ tinh công nghệ mới được liên tục được thử nghiệm và phóng lên không gian từ cả hai cường quốc hàng đầu khi đó là Hoa Kỳ và Liên Xô, thực hiện nhiều sứ mệnh phi thường của nhân loại vươn ra vũ trụ.      Phát súng khởi đầu của Liên Xô     Tín hiệu đầu tiên từ không gian    Âm thanh “bíp bíp” của vệ tinh bay trên quỹ đạo Trái Đất trong các bộ phim khoa học viễn tưởng hầu hết đều được lấy cảm hứng từ những tiếng động đầu tiên truyền qua radio trên tần số 20,005 và 40,002 MHz của Sputnik 1 (mỗi âm kéo dài khoảng 0,3 giây). Đây là tần số vô tuyến phổ thông, có thể bắt được bởi bất cứ công dân địa cầu nào chỉ với một chiếc máy ra-đi-ô nhỏ nhắn. Không chỉ nghe, mà người ta còn có thể nhìn thấy Sputnik 1 trên bầu trời thời bấy giờ vào thời điểm hoàng hôn và bình minh. Với thân hình bằng nhôm bóng loáng, vệ tinh của Liên Xô phản chiếu mạnh ánh sáng Mặt trời, từ đó có thể nhìn thấy như một tia sáng nhỏ lướt qua trên đường chân trời.    Trong tín hiệu gửi về mặt đất của Sputnik 1 còn có thông tin về nhiệt độ bên trong quả cầu. Thông tin này có thể hữu ích trong việc dự đoán thiên thạch, bởi phần bên trong quả cầu của vệ tinh được lấp đầy bởi khí ni-tơ dưới áp suất nhất định. Nếu có va chạm với thiên thạch, tín hiệu sẽ hiển thị dưới dạng thay đổi nhiệt độ. Tuy nhiên, thông tin này chưa bao giờ được Liên Xô xác nhận.    Mặc dù chỉ được thiết kế để ở trên không trung khoảng hai tuần, nhưng điều kỳ diệu là viên pin hoạt động ngoài mong đợi, tiếp tục phát tín hiệu về Trái Đất cho đến ngày thứ 22 kể từ lúc phóng. Sau khi viên pin trên bo mạch chủ bị hỏng, vệ tinh ngừng phát sóng và lặng lẽ rời khỏi quỹ đạo 90 ngày sau đó.  Trước khi lao vào bầu khí quyển Trái Đất và bốc cháy vào ngày 4/1/1958, Sputnik 1 đã kịp hoàn thành 1400 vòng trên quỹ đạo Trái Đất, với chặng đường tổng cộng hơn 70 triệu km, để lại một di sản khoa học vô cùng đặc biệt và luôn là một chủ đề thú vị được người ta bàn tán qua hàng thập kỷ.     Sputnik 1 cũng gieo một hạt mầm vào công cuộc phát triển vệ tinh định vị. Hai nhà khoa học người Mỹ William Guier và George Weiffenbach đã nhân sự kiện này, thu sóng vô tuyến mỗi lần vệ tinh vượt qua trên bầu trời để tìm ra quỹ đạo vệ tinh nhờ hiệu ứng Doppler. Từ dữ liệu đó, các nhà khoa học có thể xây dựng một hệ thống với dữ liệu vệ tinh có sẵn (dự đoán được), nhờ hiệu ứng dịch chuyển Doppler, một thiết bị thu tại mặt đất sẽ được dùng để xác định vị trí.      Nghị sĩ Bennet của Mỹ ngồi bên hai mô hình tỉ lệ 1:1 của vệ tinh Vanguard 2 trên bàn. Tấm ảnh này được chụp khoảng bốn tháng trước khi vệ tinh Sputnik 1 của Nga bay vào vũ trụ.   Sputnik 2 – thử đưa động vật lên vũ trụ    Ngay sau thành công của Sputnik 1, lãnh đạo Nikita Sergeyevich Khrushchyov tiếp tục yêu cầu Korolev chế tạo thiết bị không gian thứ hai nhân dịp 40 năm kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Vào ngày 3/11/1957, tức sau đó một tháng, “viên đạn hình nón” Sputnik 2 trở thành phi thuyền thứ hai trên thế giới được phóng vào không gian. Chiếc phi thuyền gần nửa tấn có chiều cao 4m, đường kính đế 2m. Ngoài việc mang theo khối chương trình, thiết bị phát vô tuyến, hệ thống viễn trắc, điều hòa nhiệt độ, và các thiết bị khoa học thì Sputnik 2 còn thực hiện sứ mệnh chở theo sinh vật sống đầu tiên bay vòng quanh Trái đất.    So với người tiền nhiệm của nó thì sứ mạng của Sputnik 2 có những chỉnh sửa về quỹ đạo bay và hệ thống điều khiển nhằm tiết kiệm nhiên liệu và giảm khối lượng tàu. Ngoài ra, thay vì ngắt động cơ đẩy phản lực sau một thời gian nhất định thì Korolev để cho tên lửa tiếp tục đốt cháy toàn bộ nhiên liệu trong quá trình bay. Mỗi chu kỳ của tàu kéo dài 103.73 phút. Và để tránh lãng phí năng lượng khi vượt khỏi tầm theo dõi của trạm mặt đất thì cứ mỗi 90 phút, vệ tinh lại truyền dữ liệu đi trong 10 phút…    Tuy nhiên, nâng cấp đặc biệt nhất cho Sputnik 2 chính là khả năng chuyên chở cô chó 3 tuổi Kudryavka (sau này đổi tên thành Laika). Vượt qua chín ứng cử viên tiềm năng khác trong những đợt kiểm tra khả năng thích ứng khắc nghiệt, Laika được chọn để thành “phi hành gia” chính thức. Trước khi cất cánh, cô chó được phẫu thuật cấy thiết bị kiểm tra thông số sức khỏe vào cơ thể, sau đó trở về thăm nhà một lúc.     Dưới gia tốc tương đối gấp 5 lần gia tốc rơi tự do trong thời gian tàu cất cánh, nhịp thở và nhịp tim của Laika tăng gấp 3, 4 lần. Trong ba quỹ đạo đầu, cảm biến cho thấy chỉ số sức khỏe của cô vẫn ổn định, nhưng ở quỹ đạo tiếp theo, nhiệt độ trong buồng tăng lên 43 độ C. Ngày hôm sau, trạm mặt đất chỉ ghi nhận được duy nhất nhịp tim. Hai hôm sau nữa thì không còn dấu hiệu sự sống nào trên tàu. Nhiệm vụ của tàu Sputnik 2 cũng kết thúc vào ngày 10/11 khi tàu dùng hết năng lượng và ngừng truyền tín hiệu về trạm mặt đất. Dẫu dấy lên nhiều chỉ trích về tính nhân đạo của sứ mệnh Sputnik 2, hành trình chết chóc không thể tránh khỏi của Laika đã chứng minh rằng dưới bàn tay của con người, dù là không gian ngoài hành tinh xanh vẫn có khả năng duy trì sự sống.     Hoa Kỳ rốt ráo theo sau     Vanguard 1A    Cho đến tháng 12/1957, Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân (NRL) của Hoa Kỳ cuối cùng đã tiến đến giai đoạn phóng “Dự án Vanguard” (chuẩn bị từ Năm Vật lý Địa cầu Quốc tế) nhằm đáp trả động thái của Liên Xô. Dự án Vanguard được thực hiện nhằm đưa vệ tinh hình cầu Vanguard 1A vào không gian. Vào ngày 6/12/1957, hình ảnh tên lửa Vanguard TV3 từ trung tâm vũ trụ Cape Canaveral (Florida) xuất hiện trên sóng truyền hình, và những gì diễn ra sau đó có lẽ là sự kiện ngoạn mục và đáng nhớ nhất lịch sử truyền hình nước Mỹ thời bấy giờ. Sau vài giây khai hỏa, tên lửa Vanguard rơi từ độ cao 1.2m xuống bệ phóng  LC-18A và làm nổ tung cả bệ phóng. Uy tín của xứ sở cờ hoa bị sứt mẻ nghiêm trọng sau thất bại này. Bằng chứng là nhanh chóng sau đó, những cái tên đầy giễu cợt như “Flopnik”, “Kaputnik” hay “Oopsnik” xuất hiện trên các trang báo Hoa Kỳ. Đại biểu của Liên Xô cũng ngỏ lời tại Liên Hợp Quốc với mong muốn được viện trợ cho một nước “kém phát triển” là Mỹ, mỉa mai việc Mỹ luôn tự hào là cường quốc số một về công nghệ.      Yuri Gagarin (trái) và Korolev. Ảnh: apollo11space.com  Explorer 1    Vanguard là niềm hy vọng lớn nhất của Mỹ thời bấy giờ, nhưng không phải là duy nhất. Từ năm 1954, dự án Orbiter đã được hải quân và quân đội Hoa Kỳ đệ trình nhằm phóng một vệ tinh khoa học ngay trong năm Vật lý Địa cầu Quốc tế. Tuy nhiên, chính quyền của Tổng thống Eisenhower đã ưu ái tài trợ cho dự án Vanguard bởi động cơ phản lực của nó được hải quân quảng cáo là “phi quân sự” hơn. Sau Vanguard, Mỹ nhanh chóng hồi sinh lại dự án Orbiter để bắt kịp Liên Xô. Vệ tinh Explorer 1 được JPL thiết kế và chế tạo với tiêu chí giảm khối lượng, tăng mức độ tin cậy bằng cách đơn giản hóa các thiết bị. Tên lửa Jupiter-C được nâng cấp từ Jupiter-A tại Cơ quan Tên lửa Đạn đạo Quân đội (ABMA), chỉ đạo bởi giám đốc Wernher von Braun.     Sau đợt hoãn phóng do điều kiện thời tiết vào ngày 28, Explorer 1 cuối cùng đã trở thành vệ tinh bay quanh Trái Đất thành công đầu tiên của Hoa Kỳ vào ngày 31/1/1958. Explorer 1 lập công lớn trong việc phát hiện vành đai bức xạ Van Allen (đặt tên theo nhà khoa học James Van Allen tại Đại học Iowa) khi mà cảm biến trên vệ tinh cho thấy sự không đồng đều của mật độ tia vũ trụ tại các độ cao khác nhau. Đây là một trong những phát kiến nổi trội ngay trong năm Vật lý Địa cầu.    Vanguard 1, 2 và SCORE    Tiếp nối thành tựu của Explorer 1, Mỹ có những bức phá mới mẻ cho công nghệ vệ tinh là Vanguard 1, 2 thuộc Dự án Vanguard của Hải quân Hoa Kỳ và vệ tinh SCORE của ABMA.    Vanguard 1 của Phòng Thí nghiệm Hải quân Mỹ là vệ tinh thứ 4 được phóng thành công (vào ngày 17/3/1958), và là vệ tinh đầu tiên sử dụng năng lượng điện mặt trời. Do hình dạng đối xứng của nó, Vanguard 1 được các nhà thí nghiệm sử dụng để xác định mật độ khí quyển phía trên như một hàm của độ cao, vĩ độ, mùa và hoạt động Mặt Trời. Mặc dù thông tin liên lạc với vệ tinh bị mất vào năm 1964, nó và tầng phía trên cùng của tên phóng phóng có thể được xem là vật thể cổ nhất do con người tạo ra vẫn còn trên quỹ đạo.     Trong khi đó, SCORE (18/12/1958) là vệ tinh liên lạc đầu tiên của nhân loại sử dụng truyền dữ liệu bằng thuyết bị chuyển tiếp quỹ đạo. Thử nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi và khám phá các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vệ tinh cho các mục đích liên lạc đã diễn ra thuận lợi: Vệ tinh phát thông điệp Giáng sinh từ Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower qua bước sóng ra-đi-ô ngắn thông qua một máy ghi âm trên tàu. Với tư cách là một chiến lược địa chính trị, SCORE đã đặt Hoa Kỳ ngang hàng công nghệ với Liên Xô.    Là vệ tinh thời tiết đầu tiên và là một trong những sứ mệnh không gian quỹ đạo đầu tiên, Vanguard 2, được phóng vào ngày 17/2/1959 trên tên lửa Vanguard SLV-4, là một cột mốc quan trọng trong Cuộc đua Không gian giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Nó được thiết kế để đo sự phân bố mây che phủ vào phần ban ngày của quỹ đạo trong khoảng thời gian 19 ngày và cung cấp thông tin về mật độ khí quyển trong suốt thời gian tồn tại khoảng 300 năm còn lại.    Sự thành lập NASA    Chuỗi sự kiện Sputnik vẫn khiến cho người Mỹ đứng ngồi không yên, bởi lẽ từ việc phát triển và phóng vệ tinh cho đến việc phát triển tên lửa mang đầu đạn xuyên lục địa cách nhau không hề xa. Tháng 7/1958, Tổng thống Mỹ khi đó là Dwight D. Eisenhower đệ trình Quốc hội Hoa Kỳ về việc cấp ngân sách thành lập Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) cũng như Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (ARPA) – tiền thân của  DARPA ngày nay phục vụ cho mục đích quân sự.    Ủy ban Cố vấn Hàng không Quốc gia (NACA) cũng bị giải thể nhằm liên kết nguồn lực và tập trung ưu tiên phát triển khoa học – công nghệ cho một cơ quan duy nhất. Vào ngày 1/10/1958, NASA chính thức tham chiến trên trường đua không gian với mục đích hướng tới những ứng dụng khoa học hòa bình, và cũng để vượt mặt Liên Xô.     Thật vậy, NASA từ một tên tuổi non trẻ trong làng công nghệ vũ trụ trở thành một cái tên dẫn đầu, đóng góp vào công cuộc phát triển vươn ra không gian của nhân loại. Những sự kiện tiếp nối sau đây cho thấy được trường đua giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới khi đó đang nóng lên, được đẩy đến một giai đoạn cao trào mới, tranh đua trong từng lĩnh vực, nhưng chung quy lại trong một bức tranh toàn cảnh về giai đoạn phát triển tột bậc trong công cuộc chinh phục không gian nói chung và công nghệ vệ tinh nói riêng.    Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu đầu tiên – NAVSAT    Ở thời điểm đó, hải quân Mỹ còn đang ấp ủ và phát triển tàu ngầm phóng tên lửa Polaris, mà định vị là một yếu tố sống còn để xác định vị trí của tàu, từ đó tiên đoán đường bay của tên lửa đạn đạo đến đánh trúng mục tiêu. Dưới sự tài trợ của hải quân Mỹ (USN), hai nhà khoa học William Guier và George Weiffenbach tại Phòng thí nghiệm Vật lý Ứng dụng (APL), Đại học Johns Hopkins, Mỹ, trước kia đã dùng tín hiệu của Sputnik 1 để tìm ra quỹ đạo, nay dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Richard Kershner, các ông tiếp tục dùng siêu máy tính điện tử (UNIVAC) thời đó để tính toán chuyên sâu. Từ đó APL đã được cấp kinh phí để biến những phép toán trên giấy, trở thành một hệ thống TRANSIT, tiền thân của mọi hệ thống định vị toàn cầu ngày nay. Vào năm 1959,  ARPA cũng trực tiếp tham gia vào việc phát triển hệ thống đặc biệt này hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới.      Vệ tinh đầu tiên của Mỹ, Explorer 1. Ảnh: NASA    Thảo luận đường hướng phát triển với trưởng Trung tâm Nghiên cứu APL là ông Frank McClure, rằng nếu vị trí của vệ tinh là biết trước, do vệ tinh chuyển động nhanh trên quỹ đạo khi phát tín hiệu, từ đó sẽ tạo ra hiện tượng tín hiệu vô tuyến sẽ bị nén lại khi lại gần và giãn ra khi ra xa (hiệu ứng Doppler), một thiết bị thu nhận tín hiệu sẽ được dùng để xác định vị trí trên mặt đất dựa trên nguyên lý này.    Nguyên bản của TRANSIT gọi là Transit 1A được hoàn thiện vào năm 1958 và phóng vào tháng 9/1959, tuy nhiên đã thất bại trong việc đạt đến quỹ đạo cần thiết. Vệ tinh thứ hai được phóng mang tên Transit 1B đã được phóng thành công vào tháng 13/4/1960 bằng tên lửa Thor-Ablestar. Mặc dù chỉ có vòng đời 40 tháng, tuy nhiên vệ tin đã kịp cung cấp rất nhiều thông tin giá trị phục vụ cho quá trình nghiên cứu thử nghiệm diễn ra cùng năm.     Cho đến năm 1960, hệ thống TRANSIT thử nghiệm gồm có 4 vệ tinh (hay còn gọi là chòm vệ tinh) tạo thành một mạng lưới liên tục quay quanh và phủ tín hiệu trên các vùng khác nhau Trái Đất, cho độ chính xác cao mà không bị ảnh hưởng do yếu tố thời tiết và cung cấp dữ liệu định vị ít nhất 1 giờ/lần. Hệ thống được thiết kế chuyên dụng cho bất cứ tàu thuyền nào dùng máy tính để biên dịch tín hiệu radio đã được mã hóa sang dạng kinh độ và vĩ độ phục vụ cho định vị. Từ tháng 6/1960 cho đến tháng 12/1961, một số nguyên bản thử nghiệm của Transit khác cũng tiếp tục được phóng lên, dùng năng lượng hạt nhân để cấp điện cho vệ tinh hoạt động.    Để giảm chi phí thử nghiệm và tăng hiệu quả sử dụng, Chance Vought/LTV Scout được chọn làm tên lửa phóng tiềm năng mới cho chương trình không gian bởi vì giá thành cạnh tranh. Tuy nhiên tên lửa Scout lại có yêu cầu đặc biệt về khối hàng có thể mang trong khi phóng, trong đó phải đáp ứng được khối lượng 54kg mỗi lần. Nhóm thiết kế phải phát triển lại một nguyên mẫu khác, tinh vi hơn nhiều so với dự kiến và phải đảm bảo chống chịu được rung lắc trong quá trình phóng. Phiên bản mới đầu tiên (Transit 5A-1) được phóng thành công vào quỹ đạo cực trên tên lửa Scout ngày 18/12/1962 được trang bị các tấm pin mặt trời nhằm duy trì hoạt động lâu dài cùng với cơ chế bung mở mới, tuy nhiên vệ tinh lại gặp trục trặc với hệ thống phát điện. Tiếp tục Transit 5A-2 được phóng bốn tháng sau đó nhưng lại thất bại trong việc đạt đến quỹ đạo cần thiết đến vận hành. Đến Transit 5A-3 được phóng vào 15/6/1963, với thiết kế mới về hệ thống cấp điện, tuy nhiên lại gặp vấn đề về bộ nhớ về việc thu nhận và lưu trữ thông tin định vị trong lúc khởi động, dẫn đến dao động kế bị thiếu ổn định. Dù 5A-3 không đủ chính xác để được dùng trong định vị nhưng đây là vệ tinh đầu tiên đạt được vùng ổn định trường hấp dẫn, và các chi tiết khác bên trong vệ tinh vẫn hoạt động tốt. Đến năm 1964 thì nó chính thức đưa vào ứng dụng thực tế cho hải quân Mỹ.     Liên Xô khẳng định vị thế     Luna 1, 2, 3    Đối trọng với những Explorer và Vanguard của Mỹ là chương trình Luna của Liên Xô hướng về Mặt Trăng, diễn ra vào năm 1959. Trước cả Sputnik 1, Sergei Korolev đã có những định hướng tiếp theo để nâng cấp tên lửa R-7 và chở thiết bị lên Mặt Trăng. Tuy nhiên, mãi đến năm 1958 thì ý tưởng của ông mới được chấp thuận khi ông trình lên một bức thư giải thích rằng tiềm năng công nghệ hiện thời của Liên Xô đã đủ chín muồi để thực hiện sứ mệnh này.  Được phóng vào ngày 2/1/1959, Luna 1 là tàu vũ trụ đầu tiên đi đến đến vùng lân cận của Mặt trăng của Trái đất, và là vệ tinh đầu tiên được đặt trong quỹ đạo nhật tâm giữa Trái Đất và Hỏa Tinh (nên nó còn có biệt danh là Hành tinh Nhân tạo 1). Vệ tinh này vẫn trung thành với thiết kế hình cầu như Sputnik với 5 ăng-ten chỉa ra từ một bên bán cầu. Nhiệm vụ chính của Luna 1 là đo nhiệt độ và áp suất bên trong thiết bị, nghiên cứu thành phần vật chất của môi trường liên hành tinh, đo từ trường của Trái Đất và Mặt Trăng, nghiên cứu các tính chất của tia vũ trụ…Luna 1 cũng đã mang về những dữ liệu quý giá về vành đai bức xạ Van Allen, phát hiện Mặt Trăng không có từ trường, và lần đầu tiên xác định gió Mặt Trời – dòng chảy plasma len lỏi trong môi trường liên hành tinh tỏa ra từ Mặt trời.    Luna 2, phóng vào ngày 12/9/1959, là vệ tinh đầu tiên chạm vào bề mặt Mặt Trăng. Luna 2 chạm vào bề mặt phía Đông của biển Serenitatis, gần các hố Aristides, Archimedes, và Autolycus. Thiết kế của thiết bị cũng tương tự như Luna 1, cũng có bộ đếm nhấp nháy, từ kế, và cảm biến vi thiên thạch, cờ đuôi nheo Liên Xô, và không có hệ thống đẩy phản lực. Luna 2 xác nhận một lần nữa rằng Mặt Trăng không có từ trường và vành đai bức xạ.    Luna 3 được phóng vào ngày 4/10/1959 với khối lượng nhỏ hơn (278.5kg) so với hai tàu trước (có khối lượng hơn 350kg). Đây là thiết bị đầu tiên gửi về bức ảnh vùng tối của Mặt Trăng. Về mặt thiết kế, tàu thăm dò không gian Luna 3 là một ống hình trụ với các đầu hình bán cầu và một mặt bích rộng gần đỉnh. Một số tấm pin lượng mặt trời được gắn ở bên ngoài, cung cấp năng lượng cho các pin ở bên trong. Đặc biệt, phần nội thất của tàu chứa các máy ảnh và hệ thống xử lý phim ảnh, máy phát vô tuyến, pin lưu trữ, thiết bị con quay hồi chuyển và quạt tản nhiệt để kiểm soát nhiệt độ. Luna 3 được ổn định quay trong phần lớn thời gian bay, nhưng hệ thống kiểm soát tư thế ba-trục của sẽ được kích hoạt trong khi chụp ảnh. Nhờ công nghệ xử lý máy tính, một bản đồ khảo sát địa hình đã mang đến cái nhìn mới mẻ về những rặng núi rất khác biệt của mặt tối. Đồng thời, từ những bức ảnh mang về, người ta phát hiện phía bên kia Mặt Trăng chỉ có hai biển là Moscovrae (Biển Moscow) và Desiderii (Biển Giấc Mơ).     Ở giai đoạn này, đa số các vệ tinh quanh Trái Đất đều không có thời lượng sử dụng cũng như ở trên quỹ đạo lâu, nhiều nhất cũng chỉ vài tháng, tuy nhiên đây là những bước chập chững ban đầu, chuẩn bị cho màn đổ bộ tàu và thiết bị không người lái lên Mặt Trăng của Liên Xô và sự kiện lịch sử đưa con người lên Mặt Trăng của Mỹ mà chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết ở phần tiếp theo của chuỗi bài Hành trình phát triển Công nghệ Vệ tinh.    Người anh hùng    Tuy nước Mỹ có những nỗ lực vực dậy tương đối mạnh mẽ, Liên Xô vẫn là cường quốc có nhiều kinh nghiệm hơn trong khám phá không gian. Bằng chứng là vào ngày 12/4/1961, họ tiếp tục chinh phục một cột mốc vĩ đại nữa của nhân loại – chuyến bay vũ trụ có con người đầu tiên. Vostok 1 là dự án đầu tiên trong chương trình Vostok của Liên Xô, gắn liền với phi hành gia huyền thoại Yuri Gagarin.    Gagarin sinh ra ở làng Klushino, thuộc chủ thể Smolensk Oblast. Khi còn trẻ, ông từng là công nhân lò đúc ở nhà máy Lyubertsy, sau đó tham gia vào không quân và trở thành phi công cho căn cứ Luostari gần biên giới với Na Uy. Trước khi thực hiện chuyến bay định mệnh, Gagarin cũng từng luyện tập trong trung tâm nghiên cứu khoa học và huấn luyện phi hành gia (sau này mang tên ông). Vượt qua 20 đối thủ khác về những tiêu chuẩn thể chất, tính thần và trí tuệ gắt gao, Gagarin tiếp tục trải qua những bài luyện tập khắc nghiệt không kém gì của các vận động viên Olympic. Vào ngày 30/5/1960, Bộ Sáu Vanguard (Vanguard Six) được chọn để tiếp tục tìm ra ứng cử viên xứng đáng nhất. Qua những thử thách mô phỏng điều kiện khắc nghiệt của chuyến bay như sự thiếu hụt oxy, lực li tâm lớn, hay sự cô độc trong buồng lái, Gagarin trở thành gương mặt nổi bật nhất với khả năng tư duy cao, kiến thức bậc cao vững chắc, trí nhớ siêu việt, độ nhạy bén với môi trường, sự bình tĩnh trong giải quyết vấn đề cũng như trí tưởng tượng vượt trội…    Người giám sát và chỉ huy cho chuyến bay Vostok 1 không ai khác ngoài Sergei Korolev. Lời tạm biệt mà Gagarin dành cho Korolev khi tên lửa Vostok-K cất cánh “Poyekhali!” (Ta cùng đi nào) được các nước ở khối phía Đông dùng khi muốn ám chỉ kỷ nguyên mới của khám phá không gian. Năm động cơ tầng thứ nhất (tầng đẩy phụ) khai hoả cho đến giai đoạn tách ra đầu tiên. Tiếp theo, bốn động cơ đẩy phụ rơi ra khỏi tầng thứ hai (tầng trung tâm). Sau đó, tầng trung tâm rời ra khi tên lửa tiến vào quỹ đạo phụ. Tầng thứ ba (tầng phía trên) đưa Gagarin vào quỹ đạo chính rồi cũng nhanh chóng tách ra sau khi hoàn tất nhiệm vụ. Gagarin hoàn thành một vòng quỹ đạo trong 108 phút rồi trở về Trái Đất, hạ cánh ở Kazakhstan, chính thức trở thành người đầu tiên du hành không gian. Yuri Gagarin sau đó được phong tặng nhiều chức vụ, danh hiệu, nhưng cao quý nhất vẫn là Người Anh hùng của dân tộc Nga.    Cái giá của sự tham vọng    Không chỉ có đầu tư về sức người, sức của mà góp phần làm nên thành công của sứ mệnh lịch sử Apollo còn là tính mạng của những con người yêu nước ưu tú. Từ thời NACA, đã có nhiều phi công hy sinh khi cố gắng đưa phi cơ vượt qua giới hạn âm thanh, đầu tiên là Howard C. Lilly vào năm 1948, sau đó một tháng là Glen W. Edwards và các đồng đội. Có thời kỳ trong năm 1952 mà mỗi tháng lại có đến bảy phi công tử nạn tại căn cứ không quân Edwards.   Đến thời của NASA, một đàn ngỗng bị hút vào trong động cơ T-38 của Theodore Freeman vào năm 1964. Vào tháng 2/1966 phi cơ của Eliot See và Charles Bassett bị rơi khi gặp phải điều kiện thời tiết xấu. Thậm chí trong nhiệm vụ không gian đầu tiên của mình cũng vào năm 1966, Neil Armstrong và David Scott cũng từng đối mặt với tử thần khi tàu Gemini 8 mất kiểm soát và bắt đầu xoay vòng trong không gian, nhưng may mắn là họ đã kịp thời sửa chữa hư hỏng và hạ cánh thành công. Thế rồi tai nạn thảm khốc nhất lại diễn ra vào tháng một năm sau khi mà tàu Apollo 1 bốc cháy cùng với ba phi hành gia bị mắc kẹt trên khoang khi tên lửa Saturn thậm chí vẫn chưa rời khỏi mặt đất của trung tâm vũ trụ Kennedy. NASA đối mặt với nhiều chỉ trích từ Quốc hội, công chúng, và cả những nhân vật nội bộ. Tuy nhiên, Armstrong, Aldrin, Michael Collins và đội ngũ điều phối viên ở NASA không phải những  người sẽ chỉ chắp tay cầu nguyện hay phó mặc cho số phận. Tất cả các viễn cảnh đều được dự đoán và diễn tập xử lý trước. Cứ mỗi giờ của nhiệm vụ sẽ tương đương với 7 – 8 giờ diễn tập.     Chính nhờ những hy sinh, nỗ lực phi thường này, những con người vĩ đại ấy đã mở đường cho màn hạ cánh trên Mặt Trăng có thể nói là vô tiền khoáng hậu cho nhân loại, đưa con người vào một kỷ nguyên chinh phục không gian mới, khai mở hiểu biết của nhân loại về vũ trụ bao la; cũng như là bàn đạp vô cùng vững chắc cho những hành trình vươn tới tận cùng trong vũ trụ sau này.□    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh: (Phần 4): Tăng tốc vào không gian      Trong kỳ trước, chúng ta đã điểm qua một phần của chặng đường dài 18 năm cam go chạy đua và đối chọi không ngừng nghỉ giữa hai quốc gia hàng đầu thế giới bấy giờ là Liên Xô và Hoa Kỳ. Các thử nghiệm và thành quả đột phá của trước và đầu thập niên 60, tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc chinh phục không gian sau này. Hai sự kiện nổi bật như sự ra đời của NASA đánh dấu bước chuyển mình của Hoa Kỳ, nghiêm túc đặt vấn đề không gian làm vấn đề trọng tâm trong phát triển quốc gia; và nhiệm vụ Vostok 1 của Liên Xô đặc biệt đưa con người lên không gian, thách thức giới hạn về cả khoa học – công nghệ và ý chí của con người. Đến đây, cuộc đua bắt đầu nóng lên với những thành tựu khoa học cả hai bên liên tục đạt được, là kết quả của cuộc chạy đua vũ trang căng thẳng trong suốt thập niên 60. Các chương trình không gian không chỉ trở nên đa dạng về mặt hình thức và chức năng, mà còn ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Động lực bá chủ công nghệ và quân sự thôi thúc cả hai cường quốc đẩy mạnh phát triển nhiều thiết bị vệ tinh giám sát không gian, thu thập dữ liệu do thám mặt đất.      Một ăng ten thu tín hiệu của vệ tinh Telstar.  Tham vọng viễn thông  Thành công của Sputnik 1 vào năm 1957 đã khơi dậy phát triển cho các vệ tinh liên lạc toàn cầu ở Mỹ. Tuy nhiên, ý tưởng về loại vệ tinh này lại xuất phát từ Anh. Từ năm 1945, nhà văn Arthur C. Clarke (lúc này là một thiếu niên trong Hiệp hội Liên hành tinh Anh) đã đề xướng hệ thống liên lạc vệ tinh sử dụng quỹ đạo địa tĩnh. Quỹ đạo địa tĩnh là quỹ đạo đặc thù dành cho vệ tinh truyền hình và liên lạc, cách mặt đất đến gần 35.700km trên cao. Ở quỹ đạo này, vệ tinh quay quanh theo xích đạo và có cùng tốc độ tự quay với Trái đất, nên so với mặt đất vệ tinh trông như đứng yên tại chỗ.   Vào tháng 7/1958, trong buổi họp về vệ tinh liên lạc được Không quân tài trợ, kỹ sư John R. Pierce của Phòng thí nghiệm Bell, Mỹ, đã trình bày dự án Echo về một vệ tinh thụ động có thể phản xạ tín hiệu, truyền dẫn nó từ nơi này đến nơi khác trên Trái đất. Một ăng-ten đường kính 26m được đề xuất lắp đặt gần hồ Goldstone trong sa mạc Mojave.  Dự án Echo là thí nghiệm vệ tinh liên lạc thụ động đầu tiên, chính thức được triển khai vào cuộc họp ngày 22/1/1959, ngay sau khi thành lập NASA. Hai tàu vũ trụ năm 1960 (Echo 1) và 1964 (Echo 2) là các vệ tinh dạng cầu khí, tức là được bơm đầy khí, bên trong khối cầu được kim loại hóa, hoạt động bằng cách phản chiếu tín hiệu vi sóng thay vì là máy thu phát. Tín hiệu liên lạc được truyền từ một địa điểm trên mặt đất (Goldstone, California) lên vệ tinh, sau đó tín hiệu sẽ phản xạ lại từ bề mặt vệ tinh đến một địa điểm khác trên Trái đất (Holmdel, New Jersey). Echo chỉ là dự án tìm đường cho các vệ tinh liên lạc sau này, chưa phải là một hệ thống liên lạc toàn cầu. Các kỹ sư dùng Echo để chứng minh các ý tưởng mới bằng thực nghiệm, cũng như thử nghiệm những giới hạn trong khí động học, hình dạng và kích thước vệ tinh, vật liệu xây dựng, kiểm soát nhiệt độ và theo dõi vệ tinh. Các thí nghiệm tiếp theo đã sử dụng vệ tinh để thực hiện một cuộc trò chuyện điện thoại hai chiều vào ngày 15/8/1960 và để tiếp sóng truyền hình trực tiếp vào tháng 4/1962.    Tên lửa Echo.  Sau Echo, các vệ tinh liên lạc chủ động mang tên Telstar ra đời. Là sản phẩm được Phòng thí nghiệm Bell tài trợ, Telstar 1 được NASA phóng lên bằng tên lửa Thor-Delta vào ngày 10/7/1962. Telstar 1 đã truyền tiếp thành công qua không gian những hình ảnh truyền hình, cuộc gọi điện thoại và hình ảnh điện báo, và cũng là nguồn cấp dữ liệu truyền hình trực tiếp xuyên Đại Tây Dương đầu tiên. Có tổng cộng sáu trạm mặt đất được xây dựng cho Telstar ở Mỹ, Pháp, Anh, Canada và Đức. Vì các máy phát và máy thu trên Telstar không mạnh, nên các ăng-ten trên mặt đất phải rất lớn. Các kỹ sư Phòng thí nghiệm Bell đã thiết kế một ăng-ten sừng hình nón dài 54m, nặng 340 tấn, có khẩu độ 330 mét vuông, với một gương phản xạ hình parabol ở miệng để định hướng lại chùm tia. Thiết kế này có các búp sóng phụ rất bé nên gây ra rất ít nhiễu. Telstar 1 đã chuyển tiếp những hình ảnh truyền hình đầu tiên – một lá cờ bên ngoài Trạm Trái đất Andover – đến Pleumeur-Bodou vào ngày 11/7. Gần hai tuần sau, vào 3 giờ chiều của múi giờ miền đông của ngày 23, vệ tinh đã chuyển tiếp tín hiệu truyền hình xuyên Đại Tây Dương trực tiếp công khai đầu tiên. Chương trình phát sóng được chiếu ở châu Âu bởi Eurovision và ở Bắc Mỹ bởi NBC, CBS, ABC và CBC.  Ngày 26/7/1963, vệ tinh liên lạc đồng bộ mặt đất (geosynchronous) đầu tiên là Syncom 2 tiến vào quỹ đạo. Với chu kỳ quỹ đạo bằng chu kỳ quay của Trái đất, nó cho phép thiết bị trở lại vị trí đã định sẵn trên bầu trời hằng ngày. Vào ngày 19/8/1964, vệ tinh Syncom 3 trở thành vệ tinh đia tĩnh (geostationary) đầu tiên. Từ những ý tưởng khởi nguyên của Arthur C. Clarke, hai loại quỹ đạo giờ đã trở nên vô cùng phổ biến không chỉ cho vệ tinh thông tin mà còn cho nhiều vệ tinh thời tiết như GOES-E, GOES-W và Meteosat.  Cuộc khủng hoảng tên lửa  Chiến tranh lạnh và cuộc đua không gian kéo theo rất nhiều cuộc chạy vũ trang giữa các quốc gia thuộc phe đồng minh đứng đầu là Mỹ, đối chọi lại phe Liên Xô. Việc phát triển tên lửa xuyên lục địa được tập trung đẩy mạnh, thông qua việc liên tục phóng thử nghiệm, đưa một số lượng lớn đáng kinh ngạc các vệ tinh có cả thành công và không thành công vào quỹ đạo. Ở chặng đầu cuộc đua, Mỹ có phần lép vế so với Liên Xô, khi nước này liên tục giới thiệu những phiên bản tên lửa nâng cấp của R-7 Semyorka. Những biến thể của R-7 khác nhau có các cải tiến về nguyên vật liệu và thiết kế nhằm giảm khối lượng chung của tên lửa, động cơ cũng mạnh hơn một chút qua từng năm, sau cho phù hợp với nhiệm vụ phóng vệ tinh được giao.    Vệ tinh thời tiết thu ảnh đầu tiên, TIROS-1.  Cho đến khi thế hệ tên lửa R-12 Dvina với tầm bắn và sức mạnh còn vượt xa R-7, tên lửa này dùng khí ô-xi lỏng và dimazine ở tầng trên cùng để làm nhiên liệu động cơ đẩy cho việc phóng vệ tinh. Ngày 16/3/1962, vệ tinh định vị với tên mã là Kosmos 1 (hay được truyền thông phương Tây gọi là Sputnik 11) được đưa thành công vào quỹ đạo. Lần phóng này đánh dấu lần đầu tiên Liên Xô dùng một tên lửa đẩy khác ngoài R-7, khẳng định thêm vị thế dẫn đầu về công nghệ tên lửa trong cả công nghệ quân sự và vũ trụ của Liên Xô, uy hiếp trực tiếp đến an ninh quốc gia của Mỹ. Cùng năm đó, kéo theo sự kiện căng thẳng Mỹ-Xô về vấn đề của tên lửa tại Cuba, khi mà Liên Xô hợp tác cùng Cuba ngầm phát triển một hệ thống tên lửa mang đầu đạn hạt nhân có thể đánh mọi khu vực trên khắp lãnh thổ Mỹ. Đây được xem là đòn trả đũa cho việc Chính phủ Mỹ hợp tác cùng Ý và Thổ Nhĩ Kỳ phát triển dự án tên lửa hạt nhân Jupiter cũng có khả năng đánh trúng vào Mosscow.  Về phía Mỹ, gắn liền với thành công của các vệ tinh liên lạc và cả TIROS, Explorer, OSO, Ariel… là tên lửa Thor-Delta. Đây là thiết kế nâng cấp của tên lửa Vanguard với động cơ axit nitric AJ10-118 được làm mát bằng năng lượng tái tạo, là con lai của tên lửa Thor và tầng trên của Delta. Trước đó Mỹ cũng đã thử nghiệm nhiều thế hệ tên lửa xuyên lục địa khác nhau, không chỉ phục vụ cho mục đích không gian mà còn để chạy đua vũ khí và mang đầu đạn hạt nhân. Phải kể đến thành công đầu tiên mà Thor-Delta mang đến là vệ tinh liên lạc Echo-1 (hay còn gọi là Echo-1A) thử nghiệm vào ngày 12/08/1960.   Bức ảnh Trái đất đầu tiên  Trong giai đoạn đầu của thập niên 60, NASA CIA và Không quân Mỹ đã chinh phục nhiều cột mốc “đầu tiên” đáng kể. Đầu tiên, vào ngày 01/04/1960, vệ tinh thời tiết thu ảnh đầu tiên, TIROS-1, chính thức đi vào hoạt động. Bay ở quỹ đạo tầm thấp, đây là thiết bị tiên phong cho chuỗi vệ tinh viễn thám giúp các nhà khoa học nhìn thấy Trái Đất từ không gian – một góc nhìn mới mẻ đầy triển vọng. Chương trình TIROS trả lời cho câu hỏi “Việc nghiên cứu Trái đất bằng vệ tinh có giá trị thực tiễn hay không?”, cộng với đó là tăng cường ứng dụng vệ tinh cho những quyết định gắn liền với phía mặt đất như “Ta có nên di tản cư dân bờ biển vì cơn bão sắp đổ bộ hay không?”.  Thiết kế TIROS-1 có dạng hình lăng trụ 18 mặt, đường kính 107cm, chiều cao 56cm và chạy bằng năng lượng mặt trời. Tàu có một ăng-ten đơn cực để tiếp nhận lệnh từ mặt đất và hai ăng-ten đo xa lưỡng cực hoạt động ở tầng số 235 MHz. Vệ tinh được trang bị hai camera truyền hình vidicon, một góc rộng và một góc hẹp có đường kính 0,5 inch để chụp mây che phủ. Trong suốt hai tháng rưỡi hoạt động, vệ tinh đã gửi về 23,000 bức ảnh, trong đó có 19,000 bức hữu dụng cho việc phân tích thời tiết. TIROS-1 đã cho Mỹ khả năng nghiên cứu mẫu hình mây trên quy mô rộng để từ đó, xác định các vùng có bão. Cũng nhờ nó mà chúng ta quan sát được quá trình hình thành của một cơn bão ngoài khơi bờ biển Bermuda trong suốt bốn ngày. Những năm sau đó, các TIROS thứ 2, 3, 4 tiếp tục ra đời cho đến TIROS-10 vào ngày 2/7/1965. NASA đã tiến hành kiểm tra thực nghiệm hàng loạt công nghệ máy ảnh, kỹ thuật truyền hình, hệ thống thông tin, kiểm soát thái độ… nhằm nâng cao chất lượng thông tin dự báo thời tiết.    Uhuru, vệ tinh khám phá bằng tia X đầu tiên vào năm 1970.  Trong khi Mỹ và các nước đồng minh tập trung xây dựng hệ thống vệ tinh viễn thông cho quỹ đạo địa tĩnh, Liên Xô lại cho rằng quỹ đạo này không phù hợp cho chiến lược phát triển vệ tinh liên lạc của họ và ấp ủ những dự định riêng. Liên Xô tuy nhiên lại gặp khó khăn trong việc đưa vệ tinh lên quỹ đạo địa tĩnh bởi vì là một quốc gia nằm gần vùng cực. Để đưa một vệ tinh lên quỹ đạo quanh xích đạo cần phải tốn kém nhiều năng lượng, giới hạn mang nặng của tên lửa R-7 thời đó, cũng như đòi nhiều kỹ thuật phức tạp để cân chỉnh hơn bình thường. Hơn nữa vệ tinh địa tĩnh có độ bao phủ tín hiệu về mặt đất không cao, chủ yếu ở vùng xích đạo, và không nhiều ở vùng cực, nơi mà hầu hết lãnh thổ Liên Xô ngự trị. Do đó, nhóm OKB-một phải tìm một giải pháp khác lợi về đôi đường, vừa phủ rộng khắp lãnh thổ, vừa lợi về nhiên liệu phóng và đảm bảo về mặt kỹ thuật. Kết quả sau nhiều nghiên cứu, điều này chỉ có thể đạt được khi đó là một quỹ đạo hình ê-líp dẹt và lớn, với điểm cực cận trùm lên lãnh thổ Liên Xô.  Chương trình Molniya được cấp phép vào ngày 30/10/1961 dưới sự thiết kế của nhóm OKB-1. Cái tên Molniya có nghĩa là “nhanh như chớp”, ẩn dụ việc vệ tinh lướt qua nhanh nhất khi đến điểm cực cận trên lãnh thổ Liên Xô (theo định luật II Kepler). Thiết kế của các vệ tinh Molniya được dựa theo nguyên mẫu KAUR-2, hoàn thiện vào năm 1963. Đến tháng 6/1964, nhóm mới thực sự đưa thế hệ đầu tiên của vệ tinh Molniya lên tên lửa phóng, tuy vậy đó là một thất bại nặng nề, do tên lửa hụt mất một nhịp đẩy ở giây thứ 287. Lần thử tiếp theo là vào 22/ 8 cùng năm, lần này vệ tinh đạt được đến quỹ đạo cần thiết, tuy nhiên lại gặp trục trặc với thiết kế ăng-ten không mở ra đúng cách, và chỉ tồn tại được chín tháng. Mãi đến ngày 23/4/1965, vệ tinh Molniya 1-1 mới được phóng thành công không gặp bất cứ vấn đề gì tồn đọng. Vào ngày 30/5/1966, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một vệ tinh chụp đầy đủ toàn bộ bề mặt Trái đất, trở thành một nguồn dữ liệu cực kỳ quý giá đương thời.  Ban đầu, mục đích của nguyên bản thiết kế Molniya-1 là để phục cho điện tín và truyền hình, tuy nhiên các kỹ sư của Liên Xô đã lắp thêm một số máy ghi hình (camera) ngụy trang dưới vỏ bọc “phục vụ mục đích quan trắc thời tiết”. Đến hàng thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, người ta mới nhận ra đây là một trong số các vệ tinh được xếp vào nhóm vệ tinh do thám Zenit, phục vụ chính thức hoặc kèm theo cho mục đích quân sự.  Những vệ tinh “sơ khai” này không có tuổi đời lâu, bởi vì khi đó vẫn thiếu thốn các nghiên cứu về môi trường không gian, các nhiễu loạn dẫn đến quỹ đạo lệch theo thời gian và bức xạ Mặt trời, khiến cho vệ tinh dễ bị hư hỏng và cần được thay thế định kỳ. Hơn nữa, các ảnh chụp được lưu trữ trực tiếp bằng những cuộn phim bên trong vệ tinh, thay vì truyền tải trực tiếp về trạm mặt đất, đây là một thách thức lớn trong việc thu thập và bảo quản các dữ liệu quan trọng này. Trong trường hợp của các vệ tinh thế hệ Molniya-1 của Liên Xô, ước tính thời gian hoạt động hiệu quả chỉ rơi vào khoảng từ dưới một năm đến một năm rưỡi.  Những cặp mắt diều hâu  Từ lâu vệ tinh do thám đã luôn là một chủ đề nóng được bàn tán rộng rãi. Trước khi vệ tinh tiên phong Sputnik 1 thật sự phóng, chính quyền Liên Xô đã bí mật tài trợ một dự án gọi là “Vật thể D”, cho đến tận ngày nay vẫn là một bí ẩn lớn với công chúng. Nhiệm vụ của những “dự án bí mật” này là không rõ ràng, một trong số các thông tin tình báo của Mỹ cho rằng cách đặt tên theo mã số của “Kosmos” là nhằm mục đích che đậy bản chất của các vệ tinh do thám này. Ban đầu, công việc của “kỹ sư trưởng” Korolev là chế tạo ra những thiết bị ghi lại ảnh trinh sát mặt đất cho các phi hành gia bay trên tàu Vostok, tuy nhiên vì gặp nhiều khó khăn ở thời điểm đó (1958), ông đã nảy ra ý tưởng về những vệ tinh không người lái. Bất chấp sự phản đối từ quân đội Liên Xô, một số quan chức quan trọng khác trong chính quyền tán thành ý tưởng này và ra quyết định vào 22/5/1959 triển khai một hệ thống dựa trên nguyên bản “Vật thể D”, nhưng cùng lúc đáp ứng nhiều mục đích. 1K sẽ là nguyên mẫu đơn giản hoá, 2K sẽ là vệ tinh do thám không người lái, và 3K sẽ là dành cho các chuyến bay có người lái.  Vào năm 1961, sau thành công vang dội của Vostok gắn liền với tên tuổi của phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ Yuri Gagarin. Như một cách tôn vinh thành công vĩ đại này, vệ tinh do thám từng được gọi là “Vostok 2” nay đổi tên thành “Zenit 2”. Nỗ lực phóng Zenit đầu tiên vào ngày 11/12/1961 thất bại do một lỗi của tên lửa ở tầng thứ 3, nơi đặt vệ tinh phóng gặp vấn đề về điện. Lần phóng thành công là lần phóng thứ hai, hay dưới cái tên Kosmos 4, vào ngày 26/4/1962  Chỉ trong vòng một thập niên kể từ ngày phóng Zenit đầu tiên thành công, chính quyền Liên Xô đã phóng hơn 400 vệ tinh khác nhau vào quỹ đạo, hơn 1 phần 5 trong số đó là các vệ tinh do thám Zenit. Đây là một con số bất ngờ không chỉ với phương Tây mà với toàn bộ công chúng cho thấy sự leo thang căng thẳng trong chiến lạnh diễn ra như thế nào.  Trở lại với Mỹ, thành tựu thứ hai gắn liền với chương trình CORONA – loạt vệ tinh trinh sát chiến lược sản xuất bởi CIA và Không quân Hoa Kỳ từ giữa năm 1959. Sau sự kiện máy bay do thám U-2 bị USSR bắn rơi vào ngày 1/5/1960 trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, nguồn cơ từ các căng thẳng về việc phát triển tên lửa đạn đạo xuyên lục địa giữa các bên, chính phủ Mỹ đã xúc tiến phát triển và sử dụng các vệ tinh để giám sát bằng hình ảnh các khu vực thuộc lãnh thổ Liên Xô và Trung Quốc. “Discoverer” là cái tên mà chính phủ Hoa Kỳ dựng lên để che đậy mục đích quân sự của CORONA. Mục tiêu chính của chương trình là phát triển một vệ tinh chụp ảnh và quay phim để thay thế máy bay do thám U-2 trong việc khảo sát khối Trung-Xô, xác định vị trí và tốc độ sản xuất tên lửa và các máy bay ném bom tầm xa. Ngoài ra, CORONA cũng sản xuất bản đồ và biểu đồ cho Bộ Quốc phòng và các chương trình lập bản đồ khác của chính phủ.  Loạt vệ tinh Corona đầu tiên là vệ tinh Keyhole 1 (KH-1), chúng có động cơ cung cấp khả năng kiểm soát cao độ và phương hướng trên quỹ đạo. KH-1 mang theo máy ảnh toàn cảnh đơn do công ty Fairchild Camera and Instrument chế tạo. Sản phẩm có khẩu độ f/5.0, tiêu cự 61cm và độ phân giải mặt đất là 12,9 mét. Phim được mang trở lại từ quỹ đạo bởi một Phương tiện Mang Vệ tinh Trở về (SRV) do General Electric chế tạo. SRV được trang bị một động cơ retro nhỏ chạy bằng nhiên liệu rắn để thoát khỏi quỹ đạo khi kết thúc nhiệm vụ. Việc thu hồi kén vệ tinh được thực hiện trên không bằng một máy bay chuyên dụng.  Sau Keyhole, các Discoverer được mang vào thử nghiệm với ba vệ tinh đầu không mang máy ảnh và tám vệ tinh sau đó có khả năng hoạt động được nhưng đều thất bại. Tuy nhiên Discoverer 11 đã có khả năng thu ảnh và chỉ phát nổ khi trở về lại Trái đất. Discoverer 13 là vệ tinh do thám quang học cuối cùng trong số năm chuyến bay thử nghiệm của loạt vệ tinh Corona KH-1. Đây là chuyến bay thành công mỹ mãn đầu tiên trong loạt vệ tinh Discoverer. Thiết bị được phóng vào ngày 10/8/1960 và trở về mặt đất lành lặn vào ngày 11 sau 17 quỹ đạo. Vệ tinh đáp xuống biển Thái Bình Dương, được trục vớt bởi tàu SS Haiti Victory. Lá cờ Mỹ Discoverer đưa vào không gian được mang đến tổng thống Eisenhower bốn ngày sau đó. Vào ngày 18/8/1960, Discoverer 14 trở thành vệ tinh đầu tiên mang phim về mặt đất nguyên vẹn, và đây cũng là lần đầu tiên mà một chiếc máy bay bắt được một kiện hàng rơi từ quỹ đạo Trái đất.  Kính viễn vọng không gian  Chương trình Đài quan sát Mặt trời Quỹ đạo (OSO) và Đài quan sát Thiên văn Quỹ đạo (OAO) là tên của một loạt kính viễn vọng không gian của NASA trong thập niên 60-70. Bởi chỉ một phần nhỏ trong quang phổ ánh sáng, gồm bước sóng khả kiến và vô tuyến, có thể đi xuyên qua khí quyển Trái đất, việc lắp đặt kính thiên văn ngoài không gian là lựa chọn tối ưu giúp chúng ta thu thập dữ liệu từ các thiên thể khác. Gắn liền với chúng là nhà thiên văn học lừng danh Nancy Grace Roman – nữ giám đốc thiên văn học đầu tiên của NASA. Bà là người đồng hành, giám sát và làm nên thành công cho những sứ mệnh OSO và OAO từ những ngày đầu tiên.  OSO nghiên cứu Mặt trời ở quỹ đạo tầm thấp của NASA từ năm 1962 đến 1975. Được chế tạo tại Colorado và California và phóng bởi tên lửa Delta, OSO mang sứ mệnh chính là quan sát chu kỳ 11 năm của Mặt trời trong miền tia X, cùng với đó là nhiệm vụ khảo sát bụi trong không gian. Vào ngày 7/3/1962, vệ tinh OSO 1 (OSO A) nặng 200kg đi vào hoạt động. Thiết kế của vệ tinh gồm có hai phần chính: Thân “bánh xe” là hình lăng trụ chín mặt, đường kính 1.2m mang lại cân bằng hồi chuyển, gắn liền với “cánh buồm” hình quạt chứa thiết bị thí nghiệm cũng như cung cấp năng lượng cho toàn bộ hệ thống. Một dụng cụ đo hoạt động trong dải 50 keV-3MeV được phát triển bởi Đại học Minnesota cho phép đo đạc sơ bộ về cường độ và tính chất định hướng của tia gamma năng lượng thấp. Dụng cụ khác trong vùng 50-150 keV là bộ đếm nhấp nháy NaI dùng để giám sát bức xạ qua một tấm chắn chì. OSO 3 phóng vào đầu tháng 8/1967 đã quan sát được một vết lóa từ Mặt trời và Scorpius X-1 trong chòm Bọ Cạp. OSO 5 phóng đầu năm 1969 đã đo được nền bức xạ tia X khuếch tán từ 14 dến 200 keV. Sáu năm sau đó, OSO 8 tìm ra một vạch phát xạ của nguyên tố sắt trong phổ tia X của một cụm thiên hà.  Chương trình OAO kéo dài từ 1966 đến 1972 gồm bốn vệ tinh, hai trong số đó hoạt động hiệu quả. Sau sự cố kỹ thuật của OAO-1 năm 1962, vào năm 1972, OAO-2 trở thành đài quan sát tử ngoại đầu tiên, đóng góp vào nhiều khám phá thiên văn quan trọng. Trong đó có phát hiện sao chổi được bao quanh bởi những vầng hào quang hydro khổng lồ, có bề ngang vài trăm nghìn km, và các quan sát về tân tinh cho thấy rằng độ sáng tia cực tím của chúng thường tăng lên khi độ sáng quang học của chúng suy giảm. OAO-3 (Copernicus) được phóng vào ngày 21/8/1972 là phiên bản thành công nhất trong sứ mệnh OAO. Copernicus hoạt động cho đến tháng 2/1981, gửi về mặt đất quang phổ có độ phân giải cao của hàng trăm ngôi sao, cùng với các quan sát tia X bao quát. Trong số những khám phá quan trọng của Copernicus là việc phát hiện ra một số sao xung có chu kỳ dài kéo dài nhiều phút thay vì chu kỳ chỉ kém 1 giây của các quan sát trước đó.  Trong thời gian diễn ra chương trình OAO thì Uhuru trở thành vệ tinh khám phá bằng tia X đầu tiên vào ngày 12/12/1970. Mục tiêu của kính là khảo sát bầu trời, tìm các nguồn tia X trong phạm vi 2-20 keV và nghiên cứu với độ phân giải được nâng cấp. Uhuru đạt được một số tiến bộ khoa học nổi bật, bao gồm việc khám phá và nghiên cứu chi tiết về các sao xung phát xạ tia X, được bồi tụ bởi hệ sao đôi như Cen X-3, Vela X-1, Her X-1, Cygnus X-1 (ứng cử viên nặng ký đầu tiên cho một lỗ đen), và nhiều nguồn ngoài thiên hà quan trọng.  Cũng trong năm 1972 với Copernicus, vệ tinh SAS-2 (SAS B) tiếp tục mở rộng phổ quan sát lên bước sóng gamma. Mục tiêu chính của SAS-B là đo sự phân bố năng lượng và không gian của bức xạ gamma sơ cấp và ngoài thiên hà, với năng lượng từ 20 đến 300 MeV. Thiết bị đo đạc chủ yếu bao gồm một cảm biến nhấp nháy, một buồng tia lửa phía trên và phía dưới, và một kính viễn vọng hạt tích điện. SAS-2 lần đầu tiên phát hiện ra Geminga – một sao xung được cho là tàn tích của một siêu tân tinh đã nổ cách đây 300.000 năm. □    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh (Phần 6):  Rời ngôi nhà xanh      Tiểu thuyết gia Mỹ Gene Roddenberry – người sản xuất và sáng tạo loạt phim khoa học viễn tưởng Star Trek đã từng nói: “Vẫn chưa dừng lại; “mọi thứ” còn chưa được phát minh; hành trình của nhân loại chỉ mới bắt đầu”. Câu nói trên rất phù hợp để miêu tả toàn cảnh bức tranh thế giới sau cuộc đua giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Giấc mơ chinh phục không gian bước ra từ tiểu thuyết, công nghệ vệ tinh được sinh ra từ những thí nghiệm khoa học quân sự bây giờ tiếp tục được nuôi dưỡng bởi nhiều nước và tổ chức liên quốc gia. Từ Trái đất, nhân loại gieo những “hạt giống” vệ tinh. Chúng rời ngôi nhà xanh, bay đến từng ngóc ngách của vũ trụ vô tận để khám phá muôn vàn điều bí ẩn. Tiếp theo 5 kỳ trước, trong số lần này, chúng ta sẽ khởi hành từ Mặt trăng gần gũi, cùng điểm qua “những cái đầu tiên”, cho đến những sứ mệnh không tưởng, vươn đến các hành tinh trong Thái Dương hệ và vô cùng.       Hình ảnh minh họa về module đổ bộ xuống bề mặt Mặt trăng của Luna 9 – tàu thăm dò đầu tiên có khả năng hạ cánh có kiểm soát xuống Mặt trăng. Nguồn: Science Photo Library.   Chạm đến cung trăng  Trong khi những bức ảnh đầu tiên từ Luna 1, 2 giúp loài người có cái nhìn cận cảnh đầu tiên về một thiên thể ngoài Trái đất; Luna 3 giúp đưa “vùng tối” của Mặt trăng ra trước công chúng toàn cầu. Các sứ mệnh Luna tiếp theo của Liên Xô tiếp tục đẩy tham vọng không gian của con người lên một tầm cao và thách thức mới, vén bức màn bí ẩn to lớn, từ khi loài người ngước nhìn lên trời, ngắm trăng tròn rồi lại khuyết và luôn tự hỏi những gì đang diễn ra tại nơi xa xôi kia, liệu nơi đó có phải là một địa cầu tươi sáng khác hay là sa mạc khô cằn không sự sống, từ vô vàn những câu hỏi vì sao khởi đầu cho quá trình viễn chinh của con người.  Luna 9 do nhóm OKB-1 nổi tiếng thiết kế là thiết bị nhân tạo đầu tiên chạm đến một nơi xa xôi ở ngoài Trái đất vào tháng 2/1966. Tàu có khối lượng khoảng 99kg, bung túi giảm xóc và dù ra khi đáp trực tiếp nhẹ xuống bề mặt Mặt trăng, có các động cơ phản lực phụ để giảm tốc độ tiếp đất đến mức tối thiểu, từ tốc độ vũ trụ cấp I đến gần 30 ngàn km/h, chỉ còn lại khoảng 22km/giờ nhằm bảo toàn các thiết bị tinh vi bên trong. Sau khi va chạm, tàu tiếp tục nẩy và lăn nhiều vòng trước khi dừng lại ở phía Tây hai miệng hố Reiner và Marius, tại Oceanus Procellarum rộng lớn (tiếng Latin có nghĩa là “vùng Biển của những Cơn bão”). Thiết kế hình viên nang kín khí chứa thiết bị vô tuyến, bộ đo thời gian, hệ thống kiểm soát nhiệt, thiết bị khoa học, nguồn điện và hệ thống truyền hình. Sau khi đáp xuống, module lập tức mở bung ra sau 250 giây khởi động, truyền phát tín hiệu đầu tiên về Trái đất. Những bức ảnh sắc nét trên bề mặt Mặt trăng được mã hóa và phát trực tiếp về Trái đất ngay lúc đó, nhưng Liên Xô quyết định không công bố mãi cho đến sau này, tuy nhiên ở thời điểm đó đã có một số nhà khoa học ở Liên hiệp Anh đã theo dõi và xác nhận rằng tàu đang truyền tín hiệu mang dữ liệu ảnh.  Trở lại ngày 2/1/1959, từ một sự cố phóng nhầm của Liên bang Xô viết, tàu thăm dò Mặt trăng Luna 1 với mục tiêu ban đầu là đáp xuống bề mặt, bay chệch đi tới 5600km, trở thành vật thể nhân tạo đầu tiên do con người phóng chạm đến quỹ đạo quanh Mặt trời. Sau được gọi với biệt danh “Hành tinh Nhân tạo thứ nhất”, hay còn được gọi trong tiếng Nga là Mechta (nghĩa là giấc mơ).    Để đạt được thành công này, Liên Xô đã phóng hỏng tới 12 lần, hành trình dài hơi này gặp nhiều vấn đề cho việc thiếu đi sự lãnh đạo tài tình của Korolev, ông mất ngay trước lần phóng thành công. Ở thời điểm đó, chỉ huy thiết kế của OKB-1 là Lavochkin bận bịu với các sứ mệnh đưa con người lên Mặt trăng thay vì chỉ là tàu đổ bộ. Tuy nhiên, cũng chính ông và đội ngũ đã nhào nặn lên các tàu thăm dò liên hành tinh của Liên Xô trong suốt quá trình sau này.  Tàu Luna 17 tiếp tục được phóng đến Mặt trăng, mang theo Lunokhod 1 với sứ mệnh phục vụ khoa học, đáp thẳng xuống đồng bằng dung nham Lama Imbrium hay còn gọi là “vùng Biển của những Cơn mưa” vào tháng 11/1970. Đây là miệng hố lớn nhất Hệ Mặt trời, kết quả của vụ va chạm với tiền hành tinh, và được lấp phẳng bởi dung nham cách đây hàng tỷ năm trước. Đồng bằng này rộng lớn đến mức thậm chí có thể nhìn rõ được từ Trái đất.  Một bước tiến đáng chú ý kèm theo đó là tàu điều khiển từ xa Lunokhod 1, lần đầu tiên con người triển khai một thiết bị di chuyển thực địa được trên một thiên thể ngoài Trái đất. Trước đó Liên Xô đã thử với “Lunokhod 0” nhưng thất bại khi tiếp cận quỹ đạo vào năm 1969. Lunokhod 1 mang trên mình những thiết bị tân tiến nhất của thập niên 70, như chảo ăng-ten có hình nón lớn, thu nhận tín hiệu chính xác cũng như bốn máy ảnh ghi hình chất lượng ti-vi trắng đen thời đó, máy thu nhận tia X, kính viễn vọng tia X, cảm biến bức xạ vũ trụ, và một đèn laser định hướng. Tất cả thiết bị được đóng gói trong khung sườn khoảng 2,3 mét có hình dạng như một chiếc bồn tắm, thiết kế tỉ mỉ sao cho tàu chỉ hoạt động theo “ngày Mặt trăng”, tức là vào ban ngày khi Mặt trời lên ở Mặt trăng và chuyển sang chế độ ngủ đông khi Mặt trời lặn, giữ ấm bằng năng lượng hạt nhân. Điều này giúp tiết kiệm năng lượng cũng như có thể sạc pin bằng năng lượng Mặt trời, từ đó tự do hoạt động và chụp ảnh theo yêu cầu điều khiển tại mặt đất. Ngoài ra, để hoạt động ở môi trường chân không khắc nghiệt và kiểu bề mặt đất đá khác lạ so với Trái đất, tàu còn mang theo bên mình những thùng chứa chất dầu gốc florua đặc biệt giúp cho bánh xe có thể hoạt động trơn tru.    Ảnh chụp bề mặt sao Kim từ Venera 13 do Liên Xô phóng vào năm 1981, con tàu đã tồn tại được khoảng 2 giờ trước khi bị nhiệt độ và áp suất cực lớn của sao Kim phá hủy. Nguồn: Astronomy.com  Cho đến tận 2010, nhờ việc không có bầu khí quyển, dẫn đến không có hiện tượng ăn mòn, cũng như trú nấp an toàn tại một hố thiên thạch, Lunokhod 1 gần như được bảo toàn nguyên vẹn. Đây là một bản thiết kế sống động, truyền cảm hứng cho đội ngũ thiết kế các tàu tự hành sau này, khi mà với tiềm lực còn hạn chế, con người đã gián tiếp “đặt chân” lên Mặt trăng, quan trắc kỹ lưỡng, ghi lại và phát về trạm vô tuyến tại Trái đất trên dưới 20 ngàn bức ảnh, trong đó có 206 hình chụp toàn cảnh bề mặt Mặt trăng. Tàu còn thực hiện phân tích vật chất, kiểm tra độ cứng 25 mẫu đất đá bằng công nghệ tia X ở tại 500 địa điểm khác nhau. Mặc dù ban đầu tàu chỉ được thiết kế để hoạt động trong ba ngày Mặt trăng (khoảng ba tháng ở Trái đất), nhưng cuối cùng tàu hoạt động hơn bảy ngày Mặt trăng (lên tới 321 ngày Trái đất) với chặng đường đi được là 10,54km.  Tuy thất bại trong khi phóng, ở khoảng hơn 113 ngàn km, các kỹ sư điều khiển chủ đích cho tàu xả khí nén trong buồng kín ra, tạo ra đám khí lớn ngưng đọng bên ngoài thân tàu và một vệt đường tương tự như sao chổi, tạo điều kiện để quan sát quỹ đạo thực nghiệm quanh Mặt trời của một vật thể nhân tạo từ Trái đất. Luna 1 mở ra một trang mới trong nghiên cứu, khám phá vũ trụ nói chung và không gian liên hành tinh nói riêng. Đến nay, tàu vẫn còn nằm trong quỹ đạo đâu đó giữa sao Hỏa và Trái đất.  Cận cảnh hành tinh Vệ nữ  Sau Mặt trăng, sao Kim là hành tinh đầu tiên có thiết bị nhân tạo đáp xuống bề mặt. So với sao Hỏa – Hành tinh Đỏ với những câu chuyện viễn tưởng lý thú, tiêu tốn không ít giấy mực của văn hóa đại chúng, sao Kim dường như một viên ngọc quý ẩn mình chờ được khám phá. Nhìn bằng mắt thường từ Trái đất, sao Kim hay còn gọi là sao Hôm/sao Mai rực sáng khi mọc vào bình minh và lặn dần vào hoàng hôn, hành tinh ở gần Mặt trời này trông giống một thế giới kỳ ảo với các đám mây dày mịn màng khi nhìn qua kính thiên văn đủ mạnh. Sở dĩ sao Kim được chọn làm nơi đầu tiên mà con người gửi tàu thăm dò đến là kích thước tương đồng với Trái đất, cũng như khoảng cách tương đối gần, chu kỳ quỹ đạo ngắn và dễ chạm đến hơn là sao Hỏa, khoảng cách trung bình với Trái đất lên tới 388 triệu km, trong khi với sao Kim chỉ bằng chưa đến 1/3.  Gắn liền với công cuộc chinh phục sao Kim là dự án Verena (trong tiếng Nga có nghĩa là sao Kim) do USSR khởi động từ năm 1961 và kết thúc năm 1984. Trong suốt hành trình 23 năm triển khai dự án, Nga đã có 13 tàu thâm nhập vào tầng khí quyển, và 10 tàu sống sót để chạm vào bề mặt “địa ngục” của hành tinh này. Có thể gọi đây là một trong những thành tựu to lớn mà Nga tự hào vượt mặt được Mỹ.    Khi những chương trình khám phá không gian ở thập niên 50 của Liên Xô vẫn đang phát triển với tốc độ chóng mặt, các nhà khoa học và kỹ sư đã nhắm tới những cột mốc lớn lao như hạ cánh ở một hành tinh khác trong hệ Mặt trời. Cuối năm 1959, với nền tảng là tên lửa R-7 trong tay, chính phủ quyết định thông qua các dự án thiết lập trạm cho sao Kim và sao Hỏa. Lúc này, các nhà khoa học vẫn còn cho rằng khí quyển dày đặc của Kim tinh cũng hỗ trợ cho sự sống giống như với Trái đất.  Verena 1 (tháng 2/1961) và Verena 2 (tháng 11/1965) đều bị mất tín hiệu sau khi rời khỏi quỹ đạo quanh Trái đất. Một điểm đáng chú ý là thiết kế đầy tham vọng của những phi thuyền này. Verena 1 nặng gần 650kg, còn Verena 2 thì gần 960 kg, và thiết kế của chuỗi vệ tinh trông khá giống nhau. Thân các vệ tinh cao tầm 2m, có hình trụ tròn kèm mái vòm bên trên. Chúng được trang bị với đầy đủ những pin mặt trời, ăng-ten parabol lưới thép đường kính 2m để phát tín hiệu có tần số cực cao (UHF) về Trái đất, ăng-ten sóng ngắn truyền dữ liệu trong pha đầu còn cận kề Trái đất, các từ kế, bộ đếm Geiger để phát hiện và đo đạc bức xạ ion hóa… Verena 1 sượt qua sao Kim ở khoảng cách 100 ngàn km. Con số được rút ngắn còn gần 24.000km cho Verena 2. Có những lần thử khác vào đầu thập niên 60 đều thất bại. Tuy nhiên do không được công bố chính thức nên chúng không được gắn hiệu “Verena”.  Mãi đến ngày 16/11/1965, thì Verena 3 mới được phóng “thành công”. Tuy đâm được vào bề mặt hành tinh vào đầu tháng 3/1966, thiết bị do thám dữ liệu của nó lại bị hỏng ngay khi mới tiến vào Kim tinh. Vì vậy mà không có thông tin gì về khí quyển được gửi về. Tên lửa dùng cho sứ mệnh này là Molniya (tia chớp) – bản nâng cấp của R-7 với 4 tầng động cơ được tăng công suất và lõi được gia cố để có thể đẩy vệ tinh khỏi quỹ đạo tầm thấp. Molniya là thiết kế vội vã của các kỹ sư Liên Xô nên gặp nhiều trục trặc ở các tầng trên cùng.  Hai năm sau, vào ngày 18/10, Verena 4 mới thành công gửi về những thông số đo đạc đầu tiên. Về mặt thành phần, chủ yếu khí quyển của sao Kim là khí CO2 (hơn 90%). Nó cũng phát hiện một từ trường yếu không có trường bức xạ, và lớp ngoài cùng khí quyển còn có một chút H2. Hành tinh này cũng được cho là vô cùng nóng, và áp suất không khí thì cao gấp 25 lần trên Trái đất. Dẫu vậy, con số 25 atm là không chính xác vì thiết bị đã bị phá hủy trước khi kịp đáp đất. Áp suất không khí đúng phải là 90 atm tức gấp 90 Trái đất! (số liệu do Mariner 5 thu thập vào năm 1967). Cũng nhờ kinh nghiệm đó mà Verena 5 và 6 chỉ được giao nhiệm vụ do thám bầu khí quyển của sao Kim. Được thiết kế để bỏ bớt một nửa khối lượng trước khi bắt đầu tiến hành thâm nhập, hai thiết bị đã trả về hơn tổng cộng 100 phút dữ liệu quý giá trước khi bị tan chảy hoàn toàn.  Không ngạc nhiên khi mà mục tiêu của tàu Verena số 7 (phóng vào tháng 8/1970) – bước tiến tiếp theo là một cuộc đổ bộ nhẹ nhàng. Vì mong muốn chinh phục bằng mọi giá, tàu được gia cố một cách “thái quá” để có thể tồn tại được, dẫn đến tăng khối lượng đáng kể. Vỏ tàu được làm bằng chất liệu titan đủ cứng để có thể chịu được áp suất lên đến gần 180 atm, lớn hơn đáng kể so với những gì dự kiến gặp phải. Bởi vì giới hạn cân nặng của tên lửa phóng khi đó mà tàu chỉ mang theo số lượng ít các thiết bị đo lường cho cả tàu chở lẫn tàu do thám: một máy dò hạt tích điện gió mặt trời và một máy dò tia vũ trụ, máy đo độ cao, các cảm biến nhiệt độ, áp suất, và gia tốc kế. Nhờ vậy mà Verena 7 va vào sao Kim với tốc độ khoảng 16.5 m/s, đủ để “sống sót” gửi về những tín hiệu đầu tiên từ bề mặt. Tuy vậy, tàu thăm dò được cho là đã bị hỏng khi va chạm khi không gửi về tín hiệu, nhưng trên thực tế các cuộn băng ghi vẫn tiếp tục quay. Phải đến vài tuần sau, khi nhà thiên văn học vô tuyến Oleg Rzhiga xem xét, người ta tìm thấy thêm 23 phút tín hiệu rất yếu trên đó. Tàu thăm dò đã truyền thông tin về Trái đất trong 53 phút, bao gồm khoảng 20 phút từ bề mặt. Người ta thấy rằng nhiệt độ ở bề mặt sao Kim là khoảng 475°C, và áp suất khí quyển lên tới 89 atm. Từ việc tàu dừng lại nhanh chóng (từ lúc rơi xuống đứng yên trong 0,2 giây), có thể kết luận rằng tàu đã va phải một bề mặt rắn với mức độ bụi thấp. Những thông tin trên giúp chúng ta dễ dàng kết luận rằng con người không thể nào tồn tại trên bề mặt sao Kim.    Các kỹ thuật viên chuẩn bị đóng gói Mariner 10 trước khi phóng vào tháng 11/1973. Nguồn: NASA Kennedy Space Center.  Mariner 10 áp dụng cơ chế súng cao su hấp dẫn liên hành tinh để di chuyển. Trong cơ học quỹ đạo, thuật ngữ này ám chỉ việc sử dụng chuyển động tương đối như quỹ đạo xung quanh Mặt trời và lực hấp dẫn của một hành tinh (hoặc vật thể thiên văn khác) để thay đổi đường đi và tốc độ của một tàu vũ trụ, chủ yếu là để tiết kiệm nhiên liệu phóng và giảm chi phí. Cơ chế này cũng được sử dụng cho tàu Voyager 1 và 2. Mariner 10 sử dụng sao Kim để bẻ cong đường bay và đưa điểm cận nhật (điểm gần với Mặt trời nhất trên quỹ đạo hành tinh) xuống ngang với quỹ đạo của sao Thủy. Thay vì phải bay từ Trái đất tới sao Kim, rồi dùng nhiên liệu để thoát khỏi trọng lực của sao Kim để đến sao Thủy, tàu chỉ cần mượn Kim tinh để bẻ cong hành trình. Nói cách khác, tàu đã thay đổi quỹ đạo sao cho có thể vừa ghé ngang sao Thủy và sao Kim, vừa quay xung quanh Mặt trời. Thao tác này lấy cảm hứng từ các tính toán cơ học quỹ đạo của nhà khoa học người Ý Giuseppe Colombo. Sau đó, vệ tinh lợi dụng áp suất bức xạ mặt trời trên các tấm pin và anten độ lợi cao của nó để kiểm soát thái độ trong chuyến bay. Đây là tàu vũ trụ đầu tiên sử dụng điều khiển áp suất mặt trời chủ động.  Đây là phi thuyền thứ mười hai đến được sao Kim và là phi thuyền thứ tám để trả lại dữ liệu từ hành tinh, cũng như sứ mệnh đầu tiên thành công trong việc phát hình ảnh của sao Kim trở lại Trái đất. Mariner 10 được xây dựng dựa trên các quan sát của Mariner 5 sáu năm trước đó; quan trọng là Mariner 10 có một máy ảnh trong khi nhiệm vụ trước đó thiếu một máy ảnh.     Về phần Hoa Kỳ, nước này bắt đầu vươn lên chinh phục không gian trong giai đoạn này, mà Mariner 10 chính là kết quả sớm nhất đạt được. Đây là một tàu thăm dò vũ trụ robot của Mỹ được NASA phóng vào ngày 03/11/1973, để bay qua các hành tinh sao Thủy và sao Kim. Nó là thiết bị đầu tiên thực hiện bay lượn giữa nhiều hành tinh để đo lường các đặc điểm môi trường, bầu khí quyển, bề mặt và cơ thể của cả sao Thủy lẫn sao Kim.  Hệ thống hình ảnh, Thử nghiệm Chụp ảnh Truyền hình, bao gồm hai kính thiên văn Cassegrain 15 cm (5,9 in) với cảm biến vidicon, một loại cảm biến dựa trên ống tia âm cực được sử dụng trong máy ảnh truyền hình để thu hình ảnh truyền hình trước khi ra đời cảm biến hình ảnh thiết bị tích điện (CCD). Để tránh sức nóng của Mặt trời, các camera đã được cố tình đặt ở phía phi thuyền quay mặt ra xa Mặt trời. Do đó, các máy toả nhiệt là cần thiết để ngăn máy ảnh mất nhiệt và trở nên lạnh đến mức bị hỏng. Các kỹ sư của JPL phát hiện ra rằng các vidicon có thể tạo ra đủ nhiệt thông qua hoạt động bình thường để duy trì ngay trên nhiệt độ tới hạn là −40°C; do đó máy ảnh không được tắt đi trong chuyến bay. Các bức ảnh chụp thử nghiệm về Trái đất và Mặt trăng cho thấy chất lượng hình ảnh không bị ảnh hưởng đáng kể.  Trong số sáu công cụ khoa học chính, máy ảnh 43,6 kg (96 lb) cho đến nay là thiết bị nặng nhất. Yêu cầu 67 watt điện, các máy ảnh tiêu thụ nhiều điện hơn so với năm thiết bị khác cộng lại. Hệ thống đã trả lại khoảng 7.000 bức ảnh chụp sao Thủy và sao Kim trong suốt quá trình bay lượn của Mariner 10.   Ngoài ra, Mariner 10 còn có các máy đo bức xạ hồng ngoại, máy quang tử phổ ngoại, máy dò plasma, từ kế… phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Khi Mariner 10 quay xung quanh sao Kim ngày 5/2/1974, từ phía ban đêm sang ban ngày, các máy ảnh đã chụp được hình ảnh đầu tiên về hành tinh, cho thấy một cánh cung mây được chiếu sáng trên cực Bắc đang ló dạng từ bóng tối. Mặc dù lớp mây che phủ của sao Kim gần như không có gì đặc biệt trong ánh sáng nhìn thấy, nhưng người ta đã phát hiện ra rằng có thể nhìn thấy chi tiết đám mây bao quát thông qua bộ lọc máy ảnh cực tím của Mariner. Quan sát bằng tia cực tím trên Trái đất đã cho thấy một số vết mờ không rõ ràng ngay cả trước Mariner 10, nhưng chi tiết mà Mariner nhìn thấy là một điều ngạc nhiên đối với hầu hết các nhà nghiên cứu. Trong số 4165 bức ảnh thu được của cuộc chạm trán, một loạt ảnh thu được đã chụp được một bầu khí quyển dày và có hoa văn rõ ràng, với chu kỳ bốn ngày, giống như các quan sát trên mặt đất đã đề xuất. Các bức ảnh tia cực tím là nguồn thông tin vô giá để nghiên cứu các đám mây đang khuấy động của bầu khí quyển sao Kim. Đặc điểm của các đám mây ở tầng bình lưu và tầng đối lưu trên được cho là tạo ra bởi sự ngưng tụ, và sự tương phản giữa các đặc điểm tối hơn và sáng hơn là do sự khác biệt trong khả năng hấp thụ tia UV của đám mây.□          Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh. (Phần 7): Hành trình rực lửa      Trong số trước, chúng ta đã cùng vén màn những bí ẩn về vệ tinh tự nhiên gần Trái đất – Mặt trăng và hành tinh gần chúng ta nhất – sao Kim qua các sứ mệnh do thám như Luna, Venera, và Mariner. Khi nghiên cứu một hành tinh, ngoài ảnh chụp bề mặt thì nhiệt độ, thành phần cấu thành khí quyển, từ trường,… đều là những khía cạnh được các nhà khoa học quan tâm sâu sắc. Ở số này, chúng ta cùng tìm hiểu nhiều hơn về vùng không gian nóng bỏng quanh Mặt trời và cũng đồng thời có một cái nhìn chân thật nhất về sao Thủy – hành tinh nhỏ nhất cũng như là gần Mặt trời nhất này.      Bruce C. Murray (bìa phải) và các cộng sự bên chiếc máy dò mà họ sử dụng để lập bản đồ phân bố nhiệt của sao Kim vào năm 1962. Nguồn ảnh: caltech.edu.  Chuyến bay nóng bỏng đến sao Thủy  Hành tinh nhỏ bé này quay quanh Mặt trời ở khoảng cách chỉ bằng khoảng ⅓ từ Mặt trời đến Trái đất (khoảng 65 triệu km so với 149 triệu km). Bởi vậy, sao Thủy gần như luôn bị chi phối và lấn át bởi bởi ánh Mặt trời. Lực hấp dẫn của Mặt trời khóa chặt một mặt của hành tinh, luôn luôn hướng vào trong, tương tự như lực thủy triều giữa Trái đất và Mặt trăng, đó là lý do chúng ta luôn thấy một mặt của trăng khi nhìn từ Trái đất. Sao Thủy chỉ chớp nhoáng xuất hiện và buổi bình minh hay hoàng hôn như một chấm nhỏ mọc cùng ánh dương và vô cùng mờ nhạt. Bởi vậy, chặng đường đến khám phá nơi đây cũng yêu cầu những thiết bị đặc biệt và chuyên dụng để đối diện với  “cái nắng đổ lửa” theo đúng nghĩa đen.  Hệ thống điều khiển và che chắn tinh vi  Mariner 10 (Người thủy thủ thế hệ thứ 10), do Bruce C. Murray chỉ đạo, đã chọn lọc kỹ lưỡng, chỉ mang theo bảy thiết bị trong số 46 đề cử để ghé thăm sao Kim, từ đó, mượn lực hấp dẫn của hành tinh này rồi bay đến sao Thủy trong hành trình dài hơn một năm. Nhờ tận dụng áp suất từ những luồng gió vật chất mạnh mẽ từ Mặt trời (chứa các điện tích và hạt alpha) sinh ra nhờ những tương tác giữa các đường sức từ trường, quá trình phản ứng nhiệt hạch với sự quay vi sai để định hướng, tàu Mariner 10 đã mang thành công những thiết bị nghiên cứu tiên tiến đến sao Thủy từ cuối tháng 3/1974.  Thân tàu được bảo vệ khỏi cái nóng bằng chăn nhiệt và tấm che nắng bằng vải beta. Đây là sự kết hợp của Kapton được bọc nhôm – một loại vật liệu tổng hợp ổn định ở khoảng -269 đến 400oC (bọc nhôm giúp tăng khả năng chịu nhiệt) – và các tấm sợi thủy tinh được xử lý bằng Teflon – một polime bền giúp chống lại những phản ứng hóa học ở điều kiện khắc nghiệt.  Để có thể sử dụng các công cụ khoa học, Mariner phải trang bị một hệ thống phụ điều khiển tư thế xoay vô cùng phức tạp. Hệ thống điều hướng, bao gồm tên lửa hydrazine (N2H4), sẽ giữ cho Mariner 10 nằm đúng vị trí trên đường tới sao Kim và sao Thủy. Mariner 10 xác định tư thế của nó bằng cách sử dụng hai cảm biến quang học, một cảm biến hướng vào Mặt trời, và một cảm biến khác hướng vào một ngôi sao sáng, thường là Canopus (ngôi sao sáng thứ nhì trên bầu trời đêm). Ngoài ra, ba con quay hồi chuyển của tàu thăm dò cung cấp một lựa chọn thứ hai để tính toán tư thế.    Gắn liền với công cuộc khám phá Mặt trời phải kể đến những sứ mệnh lịch sử đầu tiên của Kẻ Tiên Phong (Pioneers). Ảnh: NASA.  Tàu Mariner 10 bay qua sao Thủy tổng cộng ba lần. Lần đầu tiên, các thiết bị dò ra một từ trường. Lần tiếp cận thứ hai chủ yếu được sử dụng để chụp ảnh. Các bức ảnh chụp đầu tiên cho thấy một bề mặt giống Mặt trăng với những hố va chạm, những sống núi và địa hình hỗn loạn. Ở lần thứ ba, dữ liệu từ trường mở rộng đã được thu nhận. Dữ liệu tiết lộ rằng từ trường của hành tinh giống như của Trái đất, làm lệch hướng gió Mặt trời xung quanh hành tinh. Lần đầu tiên là ngày 29/3, ở độ cao hơn 700 km. Đáng tiếc thay, lần thứ hai và ba tàu tiếp cận thì sao Thủy lại quay đúng phía đã chụp trước đó. Chính vì vậy bản đồ bề mặt mà Mariner cung cấp vẫn còn đến hơn một nửa diện tích để trống.  Bức xạ kế hồng ngoại được gắn cố định vào thân tàu ở phía có ánh sáng Mặt trời, ghi nhận nhiệt độ vào ban đêm là âm 183 và ban ngày là 187oC, cho thấy sao Thủy là hành tinh có sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn nhất. Lý do là bởi nó không có khí quyển nên sự hấp thu và bức xạ nhiệt diễn ra với tốc độ lớn. Thêm vào đó, chu kỳ tự quay lớn, lên tới 58.6 ngày cũng cho phép phía ban đêm có thêm thời gian để tỏa nhiệt. Phép đo sự hấp thụ và mất nhiệt trên các vùng tiếp giáp ngày-đêm có thể cung cấp bằng chứng gián tiếp về bản chất của vật liệu bề mặt: chẳng hạn như đó là cát, sỏi hay đá.   Ở khoảng cách gần nhất (703 km) về phía mặt tối của hành tinh, vệ tinh thực hiện thí nghiệm sự che khuất thiên thể (ở đây là Mặt trời) bằng một trong hai quang phổ kế ở vùng tia cực tím (phổ kế còn lại được thiết kế để phát hiện khí huy – sự phát xạ mờ của khí quyển hành tinh). Khi ánh sáng từ Mặt trời đi qua khí quyển của một thiên thể, sẽ có sự hấp thụ và tán xạ gây ra bởi các phân tử khí. Bằng tỉ lệ của cường độ ánh sáng thu được khi ánh sáng đến cảm biến vệ tinh bị chắn bởi khí quyển sao Thủy với cường độ ở môi trường chân không, các phép đo về bầu khí quyển, tầng điện li, và bán kính của hành tinh có thể được thực hiện. Việc này là không thể khi Mariner bay ngang sao Kim, vì quỹ đạo bay của tàu không cho phép nó ở vị trí bị che khuất. Về phía sao Thủy, số liệu từ thí nghiệm cho thấy nó không có một khí quyển “thực sự”. Với khối lượng tương đối nhỏ và khoảng cách rất gần ngôi sao chủ, hành tinh này không có khí quyển như Trái đất hay sao Kim, bởi nó không đủ lực hấp dẫn để giữ các phân tử khí được gia tốc bởi năng lượng Mặt trời. Trái lại, Mariner chỉ phát hiện một lớp khí mỏng, chủ yếu là Heli.  Từ kế của Mariner 10 phát hiện ra một từ trường yếu. Trên lý thuyết, từ trường được sinh ra nếu hành tinh có lõi sắt và tự quay đủ nhanh, nhưng chu kỳ của sao Thủy là 59 ngày, và đường kính chỉ bằng ⅓ của Trái đất (tức là lõi sắt đã nguội đi từ lâu). Giáo sư Christopher Russell tại trường Đại học California bày tỏ sự bất ngờ của cộng đồng khoa học: “Chúng tôi đã tìm ra cách Trái đất hoạt động, và sao Thủy cũng là một hành tinh đất đá với lõi sắt, vì vậy chúng tôi cho rằng nó cũng vận hành tương tự”.  Tuy nhiên, do ngân sách của nhiệm vụ bị ràng buộc rất gắt gao, nhiệm vụ đầu tiên đến sao Kim vẫn thiếu biện pháp bảo vệ cuối cùng: một phi thuyền sinh đôi. Thông thường, các tàu thăm dò được phóng theo cặp hay thậm chí là một nhóm các tàu giống nhau, nhằm để dự phòng sự cố của những tàu còn lại. Nhưng với trường hợp của Mariner 10, do kinh phí eo hẹp, họ không thể phóng Mariner 10 và người em sinh đôi của nó cùng một lúc. NASA sẽ chỉ cho phép phóng phiên bản dự phòng nếu Mariner 10 được chẩn đoán bị lỗi nghiêm trọng và không thể khắc phục và cũng chỉ có thể thu xếp phóng trong khoảng thời gian hai tuần từ 3/11/1973 đến ngày  21/11/1973. Cuối cùng, người em sinh đôi của Mariner 10 không bao giờ được sử dụng. Còn Mariner 10 không còn gửi dữ liệu tới Trái đất kể từ tháng 3/1975, dù giờ đây phi thuyền này có lẽ vẫn đang quay quanh Mặt trời.   Ngôi sao của chúng ta  Mặt trời từ lâu được xem như là cội nguồn của sự sống ở nhiều nền văn minh khác nhau và là đối tượng thiên văn cực kỳ lý thú đối với các nhà khoa học từ thời tiền sử. Tuy vậy, Mặt trời luôn sáng lóa và khó quan sát hơn nhiều so với các thiên thể khác, mãi cho đến thời kỳ cận đại, chúng mới có những lý thuyết nền tảng ban đầu. Những nghiên cứu đầu tiên về Mặt trời có từ thế kỷ XV, nhà vật lý thiên văn Giovanni Cassini cùng cộng sự Jean Richer cố gắng tính khoảng cách từ Mặt trời đến Trái đất thông qua quỹ đạo các hành tinh, và rồi khi ngài Isaac Newton lần đầu tìm ra quang phổ liên tục của Mặt trời thông qua lăng kính, mở ra cho chúng ta thêm một góc nhìn hoàn toàn mới mẻ. Vào thế kỷ XX, ngành vật lý bùng nổ dưới sự đóng góp hàng thế hệ các nhà khoa học lần lượt như Ernest Rutherford, Albert Einstein trong lý thuyết năng lượng… và sau đó là  Subrahmanyan Chandrasekhar và Hans Bethe trong việc giải thích phản ứng nhiệt hạch của Mặt trời. Đây là tiền đề quan trọng cho các kỹ sư thiết kế nên những tàu phục vụ cho mục đích thám hiểm không gian khác lạ, ly kỳ và nóng bỏng, một cầu plasma khổng lồ liên tục phun trào qua phản ứng nhiệt hạch mạnh mẽ giữa không trung.    Module chỉ huy của Skylab 2 tại bảo tàng Smithsonian.   Đến những năm 60, khi công nghệ tên lửa đẩy, công nghệ tinh vệ tinh và tàu do thám đã đến lúc chín muồi, chúng ta mới có cơ hội nhìn cận cảnh hơn thiên thể này. Gắn liền với công cuộc khám phá Mặt trời phải kể đến những sứ mệnh lịch sử đầu tiên của Kẻ Tiên phong (Pioneers) 6, 7, 8 và 9. Khác với cách tiếp cận của Marine 10, những “Kẻ tiên phong” chọn con đường dễ hơn bằng cách quay quanh Mặt trời ở khoảng cách xấp xỉ từ Trái đất thay vì đến quá gần.  Được phóng bằng thế hệ tên lửa Atlas nổi tiếng trong khoảng gian 1965 đến 1969, giữa cao trào cuộc đua không gian giữa Mỹ và Liên Xô, với mục tiêu sơ khởi là nhắm đến các đối tượng ở vòng trong Trái đất (tức là Mặt trời và những hành tinh có quỹ đạo gần Mặt trời hơn), những vệ tinh quay quanh Mặt trời mang theo những bị tiên tiến như hệ thống xoay, tấm pin mặt trời và đặc biệt có pin lưu trữ để liên tục truyền dữ liệu vô tuyến về Trái đất.   Tấm pin mặt trời gắn trên thân có thể cung cấp lên 79 watt. Thân hình trụ tròn chứa sáu thiết bị, bao gồm một máy phân tích plasma và máy dò tia vũ trụ. Các tàu đều được thiết kế để giống hệt nhau, với khối lượng khoảng 146kg và liên tục tự quay để giữ thăng bằng khoảng 60 lần mỗi phút, trục quay vuông góc với mặt phẳng hoàng đạo. Nghiên cứu không chỉ gói gọn ở Mặt trời mà cả môi trường không gian liên hành tinh và nhiều mục đích khoa học khác.   Thực ra ban đầu, các tàu được đặt tên lần lượt là A, B, C, D và E (tổng cộng có 5 tàu). Sau này mới đổi tên thành số (chỉ còn lại bốn tàu), bởi vì trong lần phóng cuối cùng vào tháng 8/1969, tên lửa mang the Pioneer E phát nổ do gặp sự cố rò rỉ khi chưa kịp tiếp cận quỹ đạo.  Tính đến năm 1996, Pioneer 6 là vệ tinh hoạt động lâu đời nhất của NASA, đã ở trên quỹ đạo hơn 30 năm. Đây là kỷ lục chưa từng có, hoạt động liên tục lên tới 12,758 ngày theo khẳng định của NASA cho tới tận năm 2007, trước khi bị Voyager 1 và 2 phá vỡ vào năm 2012 – hai phi thuyền được phóng vào năm 1977 để khám phá những hành tinh chưa từng được “vật thể” nào từ Trái đất đến thăm).  Pioneer 6, 9 hiện nay vẫn nằm ở vùng không gian gần Trái đất, quỹ đạo quay khoảng 0,8 AU, trong khi đó Pioneer 7, 8 lại nằm xa hơn, ở khoảng cách 1,1 AU. Astronomical Unit (AU) hay Đơn vị Thiên văn là một đơn vị được chuẩn hóa, 1 AU bằng đúng với khoảng cách trung bình từ Trái đất đến Mặt trời.   Ngoài Pioneer, còn phải kể đến, hai tàu song sinh Helios 1 và 2 được phóng vào những năm 1970 đến quay quanh sao Thủy, cung cấp cho các nhà khoa học dữ liệu giá trị quan trọng, đối chiếu với dữ liệu của Pioneers và mô-đun trạm thiên văn không gian như Skylab Apollo Telescope Mount. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa Mỹ và Đức, nghiên cứu về gió mặt trời và vành nhật hoa ở khoảng cách còn gần hơn cả quỹ đạo sao Thủy. Để đạt được điều trên, tàu quay quanh Mặt trời trên quỹ đạo ê-líp dẹt, với điểm nhật cận chỉ khoảng 0,29 AU. Cả hai tàu đều có khối lượng khoảng 370kg, và có kích thước 2,12 mét, tuy nhiên vào được quỹ đạo, tàu sẽ tự động triển khai (mở ra) ăng-ten viễn thông trên đầu tàu ra, nâng độ dài của tàu lên 4,2 mét. Các cảm biến và từ kế được gắn ở cả hai bên ở giữa thân được triển khai khi đạt được quỹ đạo, hai ăng ten linh hoạt được sử dụng để phát hiện sóng vô tuyến và truyền về Trái đất, kéo dài vuông góc với trục của tàu với chiều dài thiết kế là 16 mét. Hai tàu cũng tự quay với tốc độ 60 vòng mỗi phút, tương tự như Pioneer, việc tự quay này giúp cho tàu luôn chĩa được ăng-ten truyền tín hiệu kích thước lớn về Trái đất nhờ vào lực được gọi là “lực hồi chuyển”. Thân tàu và tấm pin Mặt trời đều được bọc gương, lên tới hơn 50% diện tích, để phản chiếu lại sức nóng dữ dội của Mặt trời và giữ cho tàu hoạt động ở nhiệt độ ổn định 165°C.  Trạm vũ trụ Skylab, được NASA phóng vào năm 1973, bao gồm một mô-đun đài quan sát năng lượng mặt trời được gọi là Skylab Apollo Telescope Mount được vận hành bởi các phi hành gia cư trú trên trạm. Skylab đã đồng thời thực hiện quan sát lần đầu tiên về vùng chuyển tiếp của mặt trời và sự phát xạ tia cực tím từ vành nhật hoa, từ đó phát hiện ra về sự phun trào vật chất ở vành nhật hoa (Coronal Mass Ejection), sau đó được gọi là “quá trình chuyển tiếp của vành”, và các chấm đen trên Mặt trời. Từ những dữ liệu quý giá này, các khoa học đã tìm ra liên hệ mật thiết với gió mặt trời và ảnh hưởng của nó lên môi trường không gian.  Hệ thống đo lường thời tiết không gian đầu tiên  Pioneers 6, 7, 8 và 9 được sinh ra để thực hiện các phép đo chi tiết, toàn diện đầu tiên về gió và từ trường Mặt trời, đồng thời nhận diện các tia vũ trụ từ bên ngoài không gian. Đây là những thiết bị trên không gian đầu tiên của loài người ngoài hoạt động như một mạng lưới quan trắc thời tiết của Hệ Mặt trời, cung cấp dữ liệu thực tiễn về các bão mặt trời ảnh hưởng đến thông tin liên lạc và an ninh năng lượng trên Trái đất. Chúng được thiết kế để đo các hiện tượng từ trường quy mô lớn và các hạt và trường trong không gian liên hành tinh. Những dữ liệu quý giá này đã làm sáng tỏ chu trình sao cũng như cấu trúc và dòng chảy của gió Mặt trời (solar wind). Ngoài ra, tàu còn thực hiện nhiều thí nghiệm nghiên cứu các ion dương (cation) và electron trong gió mặt trời, mật độ electron trong không gian liên hành tinh (thí nghiệm lan truyền vô tuyến), các tia vũ trụ mặt trời và thiên hà, và các mức từ trường.  Pioneer 9 vào đầu tháng 8/1972 đã ghi lại những quan sát quan trọng về một trong những cơn bão mặt trời mạnh nhất từng được ghi nhận, và nguy hiểm nhất đối với con người khi làm việc trên ở môi trường không gian như bên ngoài tàu vũ trụ đi trong Kỷ nguyên Không gian – khoảng thời gian kể từ năm 1957 trở đi. Ngày 20/3/1986, Pioneer 7 còn bay cách 12,3 triệu km so sao chổi Halley nổi danh và theo dõi sự tương tác giữa đuôi hydro của sao chổi với gió Mặt trời. Nó phát hiện ra vật chất trung hòa điện của sao chổi bị plasma hóa thành He+ bằng cách trao đổi điện tích của gió Mặt trời He++. Tháng 10/1997, Pioneer 6 kết hợp cùng  Đài thiên văn 70 mét Deep Space để quan trắc tia vũ trụ, người ta nhận thấy vào lúc hoạt động yếu nhất trong chu kỳ của Mặt trời cũng là lúc tia vũ trụ hoạt động mạnh nhất và ngược lại.  Các tàu thăm dò này mang lại những thu thập dữ liệu nhật ký và thời tiết vũ trụ quan trọng. Kết hợp dữ liệu cùng với các nguồn khác nhau, lần đầu tiên chúng ta có thể các quan sát từ trong không gian được kết hợp với các quan sát trên trạm vũ trụ, trên mặt đất và cả từ các kinh khí cầu. Với sự hợp tác từ các bên, từ đây nhân loại có được một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc chưa từng có trong lịch sử về môi trường không gian biến động quanh Trái đất nói riêng và Hệ Mặt trời nói chung, đặt nền móng vững chãi hơn nữa cho những cuộc du hành vào sâu trong vũ trụ.□    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phát triển công nghệ vệ tinh. (Phần 8):  Khám phá Hành tinh Đỏ      Ai biết rằng lịch sử ngành vũ trụ đã có biết bao chật vật và thất bại với mộng tưởng chạm đến hành tinh đặc biệt, thu hút ta qua kính viễn vọng với bởi vẻ ngoài ánh màu đỏ rực, tách bạch trước những ngôi sao lấp lánh khác trên bầu trời đêm…      Nhà khoa học Carl Sagan đứng bên cạnh mô hình tàu Viking 2 tại Death Valley, California, vào ngày 26/10/1980.   Mãi đến thế kỷ XVIII, khi những chiếc kính thiên văn đầu tiên hướng lên trời, con người mới có cái nhìn đầu tiên về hành tinh này, mở ra một kỷ nguyên của văn hóa – khoa học gắn liền với sao Hỏa. Vào năm 1877, nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli phát hiện trên bề mặt Hỏa Tinh những cấu trúc tựa kênh rạch. Từ đó, trong cộng đồng khoa học đã nảy sinh những giả thuyết về sự tồn tại của các nền văn minh bên ngoài địa cầu. Trước khi những giả thuyết ấy bị bác bỏ bởi những kính thiên văn tân tiến hơn, đã có nhiều tác phẩm khoa học viễn tưởng lấy chủ đề “sự sống trên sao Hỏa” ra đời.  Mang cảm hứng “From the Earth to the Moon” của Jules Verne, nhà thiên văn học Camille Flammarion đã miêu tả sao Hỏa trong trí tưởng tượng của ông đến với người đọc qua tác phẩm Les Terres du Ciel (1884): Một hành tinh tương tự của chúng ta với nước, không khí, những cơn mưa, con suối và dòng nước ngầm phun trào lên trên mặt đất.   Percival Lowell, một người luôn tin vào những kênh đào trên sao Hỏa, người đã đặt nền móng cho việc khám phá sao Diêm Vương, đã có ba quyển sách “Mars” (sao Hỏa, 1895), “Mars and Its Canals” (sao Hỏa và những kênh đào của nó, 1906), và “Mars and the Abode of Life” (sao Hỏa và nơi cư ngụ của sự sống, 1930). Mặc dù ‘niềm tin mù quáng’ về sự sống trên sao Hỏa khiến nhiều đồng nghiệp khó chịu, Lowell vẫn để lại di sản là một đài thiên văn đẳng cấp thế giới (Lowell Observatory), do ông tự đầu tư từ tiền túi của mình đặt tại Flagstaff, Arizona, Mỹ nơi lý tưởng nhất để quan sát thiên văn. Ngày nay, đài thiên văn Lowell vẫn tiếp tục đóng góp vào sự tiến bộ của tri thức nhân loại.   Cơ hội hai năm một lần  Từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ XX, sao Hỏa đã trở thành một chủ đề nóng hổi, tâm điểm của cuộc đua không gian giữa Liên Xô và Hoa Kỳ. Nhân loại liên tiếp phóng các vệ tinh đến thăm dò hành hành tinh đất đá nằm xa hơn Trái đất này. Sao Hỏa xếp thứ tư tính từ Mặt trời, với kích thước chỉ nhỏ bằng một nửa và trọng lực bằng 38% so với Trái đất. Sao Hỏa mất nhiều thời gian hơn Trái đất để hoàn thành một quỹ đạo đầy đủ quanh Mặt trời, 687 ngày so với 365 ngày, khiến cho cơ hội để tiếp cận hành tinh này chỉ diễn ra sau 26 tháng một lần (khoảng hơn hai năm), và mất ít nhất khoảng sáu tháng hành trình mới đến được đây. Nhưng tốc độ tự quay thì gần như tương đương Trái đất, dẫn đến một ngày chỉ dài vỏn vẹn hơn 40 phút so với Trái đất. Nhìn từ Trái đất, sao Hỏa không chỉ nổi bật lên màu đỏ cam rỉ sét, mà còn qua những đường nét bí ẩn trông giống những rặng núi hay công trình nhân tạo khổng lồ. Đây là một trong nhiều lý do sao Hỏa luôn được đồn đoán là cái nôi ẩn chứa một sự sống ngoài hành tinh.     Lowell, dù với những suy luận kỳ quái, ông đã kích thích trí tưởng tượng của công chúng đối với việc khám phá hành tinh hơn bất kỳ ai khác trong thời đại của mình. Ông đã góp phần chắp cánh cho trí tưởng tượng của những cây bút như H.G.Wells, Edgar Rice Burroughs, Stanley G. Weinbaum… với những tác phẩm khoa học viễn tưởng kinh điển trong lịch sử nhân loại. Để rồi, những bí ẩn, mạo hiểm mà các tác phẩm văn học của thế kỷ XIX, XX mang đến chính là nguồn động lực to lớn để chúng ta miệt mài  tìm tòi, khám phá và chinh phục không gian.  Liên Xô liên tiếp phóng chín tàu do thám đến sao Hỏa trong suốt thập niên 1960 để làm sáng tỏ hàng thập kỷ tò mò của con người, tuy nhiên các sứ mệnh đều kết thúc trong thất bại. Các sứ mệnh này bao gồm cả vệ tinh quỹ đạo, tàu đổ bộ và tàu quá cảnh (flyby).   Các tàu vũ trụ được phóng ban đầu rất nhỏ và được phóng bằng tên lửa Molniya. Trong đó phải kể đến chương trình Mars 1M (hay còn gọi là “Marsnik” với Mars + Sputnik theo truyền thông phương Tây) gồm có hai tàu bay liên hành tinh tự hành đầu tiên của Liên Xô. Những tàu sơ khởi này có thiết kế y hệt với tàu thăm dò sao Kim, Venera 1, với một thân hình trụ cao khoảng 2m, gắn liền hai tấm pin Mặt trời, một ăng ten lưới có độ định hướng tín hiệu cao khoảng 2,33m và một cánh tay ăng ten dài có khối lượng khoảng 650kg. Với mục tiêu ban đầu là để quan trắc những tác động của môi trường liên hành tinh lên các thiết bị trên tàu, từ đó phát sóng vô tuyến về Trái đất. Tàu mang theo trong mình 10kg thiết bị khoa học, gồm một từ kế, máy đếm tia vũ trụ, bẫy ion plasma, một máy đo bức xạ, một máy dò vi thiên thạch và một máy đo phản xạ quang phổ để nghiên cứu dải CH, một chỉ số khả dĩ về sự sống trên sao Hỏa.  Được phóng vào khoảng tháng 10 năm 1960, tuy nhiên tên lửa đẩy Molniya thất bại trong việc tiếp cận quỹ đạo tạm dừng (parking orbit) dùng để làm bàn đạp bay đến sao Hỏa, rơi trở lại Trái đất do trục trặc khó hiểu ở tầng thứ ba của tên lửa, dẫn đến tắc ống dẫn nhiên liệu ở cả hai lần phóng.  Mãi đến đầu tháng 11/1962, Liên Xô mới có một tàu liên hành tinh, đến sao Hỏa đầu tiên mang tên Mars 1, mang theo các thiết bị chuyên dụng để chụp ảnh bề mặt, đo lường từ trường, bức xạ môi trường, cấu tạo khí quyển và cả các thành phần sự sống có thể trên sao Hỏa. Ngoài ra, tàu còn có cảm biến đo bức xạ vũ trụ, và các vi thiên thạch, mở đường cho các sứ mệnh sau này. Ở lần tiếp theo này, các chỉ huy sứ mệnh của Liên Xô sử dụng tên lửa Proton-K nặng hơn để phóng tàu vũ trụ lớn khoảng 5 tấn, bao gồm một tàu quỹ đạo và một tàu đổ bộ lên sao Hỏa. Thiết kế của tàu quỹ đạo hơi vội vã đưa vào sử dụng và vẫn chưa hoàn thiện.    Một nghệ sĩ vẽ Mariner 9 bay trong quỹ đạo sao Hỏa vào năm 1977. Ảnh AP.   Sự thiếu tin cậy của các thiết bị phần cứng không gian của Liên Xô từ cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 là một vấn đề phổ biến bởi đa số chúng là đồ được tái sử dụng, các nhà lãnh đạo của Liên Xô dường như muốn tiết kiệm tối đa chi phí, thường kết hợp các sứ mệnh lại với nhau hoặc sửa lỗi các thiết kế hiện tại hơn là tạo ra những phần cứng mới.  Những Thủy thủ tiên phong  Mỹ cũng từ sớm tham gia vào cuộc đua đến hành tinh Đỏ, dù là biển cả hay không gian, con người luôn ấp ủ những tham vọng lớn lao, chinh phục những “miền đất” mới, mà sứ mệnh Mariner – Thủy thủ đại diện cho ý chí đó. Mở đầu kỷ nguyên khám phá sao Hỏa bằng tàu các tàu Mariner 3 và 4. Năm 1964, Phòng thí nghiệm Phản lực đẩy (JPL) của NASA thực hiện hai nỗ lực tiếp cận sao Hỏa đầu tiên. Cặp đôi Mariner 3 và Mariner 4 là những tàu vũ trụ giống hệt nhau được thiết kế để thực hiện chuyến bay đầu tiên đến sao Hỏa. Mariner 3 được phóng vào ngày 5/11/1964, nhưng tấm phủ quanh tàu vũ trụ trên đỉnh tên lửa không thể mở ra, khiến cho nhiệm vụ sớm kết thúc trong thất bại.  Ba tuần sau, vào ngày 28/11/1964, Mariner 4 được phóng thành công trong chuyến hành trình hơn bảy tháng tới sao Hỏa. Mariner 4 bay ngang sao Hỏa vào ngày 14/7/1965, cung cấp 21 bức ảnh về hành tinh Đỏ cận cảnh đầu tiên. Các hình ảnh sau đó dần được phát về Trái đất bằng ​​một máy ghi hình nhỏ trên tàu thăm dò, cho thấy các hố va chạm. Dữ liệu được cung cấp chính xác ước tính áp suất khí quyển bề mặt bằng khoảng 1% của Trái đất và nhiệt độ ban ngày là âm 100°C. Không có từ trường nào hoặc vành đai bức xạ của sao Hỏa được phát hiện. Dữ liệu mới cho thấy sự sống khó có thể tồn tại như nhiều đồn đoán trước đây, và họ cần phải thiết kế lại các tàu đổ bộ sao Hỏa sao cho phù hợp với điều kiện mới.  Đến tháng 11 cùng năm, Mariner 9 trở thành tàu vũ trụ đầu tiên thành công đi vào quỹ đạo quanh sao Hỏa. Hệ thống chụp ảnh bằng máy quay video của tàu đã sẵn sàng chờ kích hoạt và các nhà khoa học Mỹ háo hức chờ đợi những bức ảnh chi tiết đầu tiên về sao Hỏa kể từ khi tàu Mariners 6 và 7 bay qua chỉ hai năm trước đó. Nhưng những gì thu được từ máy đo từ xa không gian sâu không phải là hình ảnh của các hẻm núi, miệng núi lửa và núi phức tạp của sao Hỏa, mà là hình ảnh về một thế giới huyền bí che phủ bởi lớp bụi dày đặc.   Hai ngày sau khi Mariner 4 được phóng đi, Liên Xô đã thử lại với Zond 2. Tàu vũ trụ đi ngang qua sao Hỏa nhưng thiết bị truyền radio bị lỗi và nó không trả về bất kỳ dữ liệu nào.  NASA tiếp tục chương trình Mariner với một cặp tàu thăm dò sao Hỏa khác, Mariner 6 và 7. Thông thường, các tàu thăm dò sẽ được phóng theo cặp nhằm để dự phòng sự cố của những tàu còn lại giữa bối cảnh cuộc đua không gian sát sao. Mariner 6 và 7 cũng không ngoại lệ, chúng được lên kế hoạch phóng vào không gian và đến hành tinh trong năm 1969. Nhưng rất tiếc, sứ mệnh đến sao Hỏa gian nan này lại một lần nữa thất bại. Tiếp theo đó, vào 1971 Mariner 8 mang theo nhiều hy vọng của NASA về tàu vũ trụ đơn thành công đầu tiên, tuy nhiên lại gặp sự cố về thời gian phóng.  Không thể để cho thất bại làm chùn bước, bỏ lỡ cơ hội hai năm một lần, chỉ khoảng nửa tháng sau đó, tàu song sinh Mariner 9 được phóng nối đuôi với Mariner 8. Tàu được thiết kế để tiếp nối tham vọng nghiên cứu khí quyển từ thất bại của Mariner 6 và 7, và lập bản đồ trên 70% bề mặt sao Hỏa từ độ cao khoảng 1.500km và ở độ phân giải ảnh từ khoảng 1km đến 100m mỗi pixel, cao nhất so với bất kỳ sứ mệnh nào từng đến sao Hỏa cho đến thời điểm đó. Một máy đo bức xạ hồng ngoại được mang theo trên tàu để phát hiện các nguồn nhiệt nhằm tìm kiếm bằng chứng về hoạt động của núi lửa, nghiên cứu những thay đổi theo thời gian trong bầu khí quyển và bề mặt sao Hỏa. Hai “mặt trăng” nhỏ của sao Hỏa cũng được phân tích.   Cùng với hai tàu quỹ đạo của Liên Xô (Mars 2 và Mars 3), Mariner 9 đã bắt được hình ảnh một cơn bão bụi có quy mô lớn chưa từng thấy, bao phủ gần như toàn bộ hành tinh, khiến cho các nỗ lực chụp ảnh bề mặt hành tinh phải hoãn lại. Các nhà khoa học điều khiển sứ mệnh tận dụng khoảng thời gian chờ bão cát trên sao Hỏa tan để thăm dò và chụp ảnh Phobos, một trong hai vệ tinh tự nhiên của Hỏa Tinh.   Sau khi cơn bão tan dần đủ để bề mặt sao Hỏa có thể cho Mariner 9 chụp ảnh, những bức ảnh ghi lại thể hiện một bước tiến đáng kể so với các nhiệm vụ trước đó. Đây là những bằng chứng sống đầu tiên cung cấp chi tiết hơn các dấu vết giữa các rặng núi và thung lũng rằng nước lỏng có thể đã từng chảy trên bề mặt hành tinh này. Nix Olympica là một trong số ít đặc điểm có thể được nhìn thấy trong cơn bão bụi hành tinh, đây chính là ngọn núi cao nhất (chính xác là núi lửa) trên bất kỳ hành tinh nào trong toàn bộ Hệ Mặt trời, và dẫn đến việc phân loại lại nó giống như Olympus Mons – ngọn núi lửa cao nhất Hệ Mặt trời.  Về phần Liên Xô, sau nhiều lần thất bại, mãi đến 1971, nước này cho ra thế hệ vệ tinh nhân tạo tiếp theo đến sao Hỏa nhằm cạnh tranh với các tàu quỹ đạo sao Hỏa Mariner 8 và Mariner 9 theo kế hoạch phóng của Mỹ công bố. Vào tháng 5/1971, một ngày sau khi Mariner 8 gặp trục trặc khi phóng và không lên được quỹ đạo, tàu mang mã Cosmos 419 (Mars 1971C), một tàu thăm dò hạng nặng thuộc chương trình M-71 sao Hỏa của Liên Xô, cũng không phóng thành công. Tàu vũ trụ này chỉ được thiết kế như một tàu quỹ đạo, trong khi hai tàu thăm dò tiếp theo của dự án M-71, Mars 2 và Mars 3, là sự kết hợp đa năng của một tàu quỹ đạo và một tàu đổ bộ với bánh lăn nhỏ, dự kiến sẽ là robot đầu tiên di chuyển bộ trên một hành tinh, sau thành công trên Mặt trăng. Chúng được phóng thành công vào giữa tháng 5/1971 và đến sao Hỏa khoảng bảy tháng sau đó. Vào ngày 27/11/1971, tàu đổ bộ Mars 2 đã hạ cánh do trục trặc máy tính trên tàu và trở thành vật thể nhân tạo đầu tiên đến được bề mặt sao Hỏa. Vào ngày 2/12/1971, tàu đổ bộ Mars 3 trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh nhẹ nhàng, nhưng quá trình truyền dẫn của nó bị gián đoạn sau 14,5 giây.  Các tàu quỹ đạo Mars 2 và 3 đã gửi lại một khối lượng dữ liệu tương đối lớn trong khoảng thời gian từ tháng 12/1971 đến tháng 3/1972, mặc dù việc truyền tải vẫn tiếp tục cho đến tháng tám. Đến ngày 22/8/1972, sau khi gửi lại dữ liệu và tổng cộng 60 bức ảnh, Mars 2 và 3 kết thúc sứ mệnh của mình. Các hình ảnh và dữ liệu cho phép tạo ra bản đồ bề mặt và cung cấp thông tin về lực hấp dẫn và từ trường của sao Hỏa.    Tàu Mars 2 của Liên Xô, sau Mariner 9, cũng bay vào được quỹ đạo sao Hỏa.  Năm 1973, Liên Xô đã gửi thêm bốn tàu thăm dò lên sao Hỏa: tàu quỹ đạo Mars 4 và Mars 5 và các tổ hợp tàu bay/tàu đổ bộ Mars 6 và Mars 7. Tất cả các nhiệm vụ ngoại trừ Mars 7 đều gửi lại dữ liệu, trong đó Mars 5 là thành công nhất. Mars 5 chỉ truyền được 60 hình ảnh trước khi mất điều áp trong vỏ máy phát và phải kết thúc sớm sứ mệnh. Tàu đổ bộ Mars 6 đã truyền dữ liệu trong quá trình hạ cánh, nhưng không thành công khi va chạm. Mars 4 đã bay qua hành tinh này ở phạm vi 2.200 km, trả về một loạt các bức ảnh và dữ liệu bí ẩn vô tuyến, tạo nên sự phát hiện đầu tiên về tầng điện ly ban đêm trên sao Hỏa. Tàu thăm dò Mars 7 tách khỏi tàu mang theo do sự cố trong hoạt động của một trong các hệ thống trên tàu (kiểm soát tư thế hoặc tên lửa phản lực) và trượt khỏi hành tinh khoảng 1.300 km.  Gián tiếp đặt chân lên sao Hỏa  NASA từ sớm đã nghiên cứu và phát triển Viking từ sau những sứ mệnh sao Hỏa đầu tiên, thậm chí còn tham vọng hơn nhiều. Chiếc Viking 1 được phóng vào ngày 20/ 8/1975 và chiếc thứ hai, Viking 2, được phóng vào ngày 9/9/1975, cả hai đều cưỡi trên đỉnh tên lửa Titan IIIE nhiều tầng đẩy, tầng phóng trên mang tên Centaur. Viking 1 đi vào quỹ đạo sao Hỏa vào ngày 19/6/1976, và Viking 2 theo sau vào ngày 7/8.      Toàn bộ dự án Viking tiêu tốn khoảng 1 tỷ USD vào thời điểm khởi động, tương đương với hơn 5 tỷ USD ở thời điểm hiện tại được xếp vào hàng đắt đỏ nhất nhưng đồng thời cũng mang lại thành công tột bậc, giúp cho nhân loại mở rộng tầm hiểu biết về sao Hỏa trong nửa cuối thế XX.        Sau khi quay quanh sao Hỏa hơn một tháng và quay lại các hình ảnh được sử dụng để lựa chọn địa điểm hạ cánh, các tàu quỹ đạo và tàu đổ bộ đã tách ra; các tàu đổ bộ sau đó đi vào bầu khí quyển sao Hỏa và hạ cánh mềm tại các địa điểm đã được chọn. Tàu đổ bộ Viking 1 chạm xuống bề mặt Hỏa Tinh vào ngày 20/7/1976, hơn hai tuần trước khi tàu Viking 2 lên quỹ đạo. Viking 2 sau đó hạ cánh mềm thành công vào ngày 3/9. Các tàu quỹ đạo tiếp tục chụp ảnh và thực hiện các hoạt động khoa học khác từ quỹ đạo trong khi tàu đổ bộ triển khai các thiết bị trên bề mặt.  Toàn bộ dự án Viking tiêu tốn khoảng 1 tỷ USD vào thời điểm khởi động, tương đương với hơn 5 tỷ USD ở thời điểm hiện tại. Nhiệm vụ được xếp vào hàng đắt đỏ nhất nhưng đồng thời cũng mang lại thành công tột bậc, giúp cho nhân loại mở rộng tầm hiểu biết về sao Hỏa trong nửa cuối thế XX.□       Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang Hành trình phía trước của Trí tò mò      Sau cú hạ cánh hoàn hảo xuống sao Hỏa, các nhà khoa học bắt đầu tính toán những bước tiếp theo cho Trí tò mò (Curiosity).    Ngọn núi hiện lên dưới bóng mặt trời buổi chiều, thách thức đứng nhìn cỗ xe. Trong bức ảnh chụp ít phút sau khi Trí tò mò hạ cánh xuống bề mặt sao Hỏa, bóng của cỗ xe dường như đã muốn hướng về phía sườn núi phía xa mà nó được giao nhiệm vụ phải trèo lên.  Ngày 6/8, Trí tò mò – cỗ xe từ Phòng thí nghiệm Khoa học sao Hỏa của NASA – đã tới đích tại đáy lòng chảo Gale, có diện tích đúng bằng Hồ Ontario. Nhiệm vụ của nó là khám phá những hòn đá cổ xưa trên sao Hỏa để tìm những phân tử hữu cơ và các dấu tích của các môi trường nước phù hợp cho sự sống. Nó sẽ làm công việc này bằng cách trèo lên ngọn núi mọc ở trung tâm lòng chảo, đỉnh Aeolis Mons – các nhà khoa học trong dự án thường gọi nó với cái tên núi Sharp – nơi có 5,5 km các tầng đá đại diện cho hàng trăm triệu năm trong lịch sử sao Hỏa. Cỗ xe do con người chế tạo có khối lượng 900 kg sẽ trèo lên sườn núi, trong một hành trình sẽ kéo dài một thập kỷ hoặc thậm chí lâu hơn, mang theo không chỉ những thiết bị đầy đủ nhất từ trước đến nay trong số những kỳ thám hiểm sao Hỏa của loài người, mà cả những niềm hi vọng và mơ ước của các kỹ sư cùng các nhà thám hiểm, những người coi nhiệm vụ này là tiền đề cho một cuộc du hành đưa con người trực tiếp tới hành tinh này.    “Những bánh xe của Trí tò mò đã bắt đầu thắp sáng con đường đưa những bước chân con người tới bề mặt sao Hỏa”, tuyên bố đầy cảm xúc của Charles Bolden, giám đốc NASA, tại Phòng thí nghiệm Phản lực (JPL) ở Pasadena, California, sau khi cuộc đổ bộ thành công. Lúc này, các nhà khoa học chịu trách nhiệm sẽ phải cùng làm việc để đảm bảo rằng nhiệm vụ với chi phí 2,5 tỷ USD của họ sẽ vượt qua thành tựu đạt được từ tất cả những chuyến thám hiểm trước đây tới hành tinh đỏ.   Người ta đã phải dùng đến những công nghệ phức tạp để thả cỗ xe một cách chính xác vào nơi nằm giữa Núi Sharp và thành lòng chảo Gale. Trong thời gian hơn 7 phút, người ta đã dùng một tấm chắn nhiệt, một chiếc dù, tên lửa đẩy lùi, và một cần trục bay để giảm tốc độ rơi của cỗ xe từ 5900 m/giây xuống còn dưới 1 m/giây và đặt nó nhẹ nhàng xuống bề mặt bên dưới.    “Xác nhận đã đổ bộ”, khẳng định từ Allen Chen, người phụ trách của JPL cho các hoạt động tiếp cận, hạ cánh, và đổ bộ của thiết bị. Giọng của anh vẫn bình tĩnh và ổn định xuyên suốt câu nói. Nhưng những lời anh nói đã châm ngòi cho những cái ôm hôn, đập tay chúc mừng, và những giọt nước mắt nhẹ nhõm. Giây lát sau, những bức ảnh đầu tiên được chụp từ những máy camera nằm phía trước và bên hông cỗ xe đã được gửi về Trái đất từ Mars Odyssey, vệ tinh 11 năm tuổi của NASA, khi đó cũng vừa bay qua lòng chảo.  Doug McCuistion, chủ nhiệm chương trình thám hiểm sao Hỏa tại trụ sở NASA ở Washington DC, không muốn công nghệ đổ bộ mới mẻ này, vốn cần cả thập kỷ để phát triển, trở nên bị bỏ phí. Một cỗ xe như Trí tò mò ngày nay có thể được chế tạo nhanh hơn và rẻ hơn, ông nói. Nếu làm lại nhiệm vụ này, chi phí chế tạo cỗ xe sẽ giảm bớt được 500 triệu USD. Nhưng như vậy vẫn vượt quá ngân sách của NASA cho chương trình khoa học hành tinh. Hiện nay NASA tạm thời không có kế hoạch tiến hành các cuộc đổ bộ tiếp theo lên sao Hỏa. Tuy nhiên, chương trình vẫn có cơ hội cho một nhiệm vụ sao Hỏa vào năm 2018, với chi phí cho phép khoảng 700-800 triệu USD; cuối tháng này, John Grunsfeld, giám đốc khoa học của NASA, dự kiến sẽ công bố kết quả nghiên cứu đề xuất phương án sử dụng tối ưu cho nguồn kinh phí này.     Lúc này, trong khi nhóm phụ trách việc đổ bộ đang được hưởng ánh hào quang của thành công, thì các kỹ sư của dự án phải kiểm tra lại cỗ xe với kích thước to bằng chiếc ô tô. Trong những giờ đầu tiên trên sao Hỏa, thiết bị gửi dữ liệu về một cách khá nhỏ giọt. Vào ngày tiếp theo, các kỹ sư điều khiển cỗ xe thử kích hoạt một ăng ten truyền thông để giúp tăng tốc độ truyền dữ liệu. Sang ngày tiếp theo, người ta cho mở cột radio của cỗ xe, nơi cũng đồng thời chứa vài máy ảnh, và việc này giúp tạo ra một chuỗi những bức ảnh màu. Phải thêm vài ngày nữa người ta mới cho xe chạy thử.    Cỗ xe đã bắt đầu công cuộc thám hiểm theo cách lý tưởng mà những người lên kế hoạch đã mong muốn. Một ngày sau cuộc đổ bộ, Mike Malin, chủ tịch tổ chức Malin Space Science System ở San Diego, California, cũng là người phụ trách chính cho việc kiểm tra chiếc máy camera nằm dưới bụng cỗ xe, đã công bố một đoạn phim kịch tính về 150 giây cuối cùng của cuộc hạ cánh. Bằng cách kiểm tra chéo giữa những hình ảnh này với các bức ảnh có độ phân giải cao chụp từ vệ tinh Trinh sát Quỹ đạo sao Hỏa – chụp được hình ảnh thiết bị đổ bộ bên dưới chiếc dù – Malin chỉ cho mọi người thấy cỗ xe phía trên dải đất khô cằn, chỉ cách Núi Sharp có 6,5 km.  John Grotzinger, nhà địa chất học từ Viện Công nghệ California tại Pasadena, là người chịu trách nhiệm quyết định hướng hành trình đầu tiên của cỗ xe. Thay vì đi về phía Núi Sharp, liệu ông có nên chỉnh hướng Trí tò mò về phía rìa lòng chảo, được gọi là quạt bồi tích, nơi có địa chất rất thú vị, được cho là hình thành do nước đẩy các lớp trầm tích tới rìa lòng chảo. Một thiết bị từ vệ tinh Odyssey đã phát hiện ra rằng những vật chất ở nơi này giữ được nhiệt lâu hơn so với đất ở khu vực xung quanh trong những buổi đêm lạnh giá trên sao Hỏa. Grotzinger cho rằng điều này có thể giúp chứng tỏ rằng vật chất ở quạt bồi tích rắn chắc hơn ở nơi khác. “Có thể nước là tác nhân khiến chúng lắng đọng như vậy”, ông nói.  Hoặc là Trí tò mò có thể di chuyển theo hướng ngược lại, chạy về phía chân Núi Sharp, nơi các lớp đá có thể chứa những loại đất sét và đất sunfat từng chịu tác động của nước. Dù quyết định đi theo hướng nào thì điều đầu tiên Grotzinger mong muốn là khám phá các viên đá gần vị trí đổ bộ để tìm hiểu về sự đan xen giữa các lớp trầm tích từ chân Núi Sharp với các lớp đất từ quạt bồi tích, và đánh giá xem loại nào tồn tại trước. Những câu trả lời có lẽ đang nằm trong những hố nhỏ, hoặc những vết tích khác đang nằm trong các lớp đá ở gần vị trí hiện nay của cỗ xe. Vì vậy, nhóm thực hiện dự án sẽ lên kế hoạch tuyến đường dựa trên những vật thể này. “Chúng tôi sẽ cố gắng xâu chuỗi thật nhiều các viên ngọc trai với nhau thành chuỗi hạt, dựa trên những gì chúng tôi nhìn thấy được từ vệ tinh, sau đó sẽ thám hiểm chúng lần lượt từng chỗ một”, Grotzinger nói.  Trí tò mò có động cơ mạnh hơn các cỗ xe thám hiểm sao Hỏa trước đây của NASA như Tinh thần hay Cơ hội, và hiệu quả hơn trong việc khám phá các không gian ba chiều. Địa tầng của lòng chảo và núi sẽ cung cấp cho con người thêm hiểu biết phong phú về một chiều thứ tư – đó là thời gian. Grotzinger lưu ý rằng dù Tinh thần và Cơ hội đã di chuyển được hơn 42 km kể từ khi chúng đổ bộ năm 2004, thực chất chúng chỉ mới khám phá được khoảng vài chục m địa tầng. Còn ở Núi Sharp, Trí tò mò sẽ di chuyển qua 5500 m địa tầng.  Trí tò mò có lợi thế về mặt thời gian. Động cơ năng lượng hạt nhân cho phép duy trì nó trong vòng nhiều năm. Vì vậy, dẫu thèm muốn cho cỗ xe lên đường đi trèo núi ngay tức khắc, Grotzinger thấy tốt hơn là nên kiên nhẫn. “Dù có mất tới một năm mới tới đó cũng không sao”, ông nói.   THANH XUÂN dịch theo  http://www.nature.com/news/mars-rover-sizes-up-the-field-1.11128    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hành xử của một nhà khoa học      Từ lâu, phần lớn công chúng chỉ biết đến GS. Nguyễn Văn Huyên là người giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục lâu nhất Việt Nam, nhưng những hiện vật được trưng bày tại Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên (được khánh thành cuối năm 2014), cho thấy ông còn là một nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc, một nhân cách lớn.       Một nhà khoa học  Khi gia đình giáo sư Nguyễn Văn Huyên gửi hồ sơ của ông tới hội đồng xét duyệt giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một (1996), nhiều thành viên trong hội đồng cho rằng, ông là nhà chính trị chứ không phải là một nhà khoa học. Công chúng biết đến GS. Nguyễn Văn Huyên với vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục hơn là một nhà khoa học đặt nền móng cho nghiên cứu về văn hóa, văn minh ở Việt Nam. Thời gian 10 năm nghiên cứu của GS. Nguyễn Văn Huyên (1936-1945) bị che phủ bởi 29 năm ông giữ vai trò của một người Bộ trưởng. Hơn nữa, đa số các nghiên cứu của ông đều viết bằng tiếng Pháp và đến năm 1996 mới được dịch đầy đủ sang tiếng Việt.  Trưởng thành vào những năm 1920 khi công cuộc thực dân hóa của Pháp đã hoàn thành, những nền tảng văn hóa truyền thống bắt đầu lung lay trước sự xâm thực của văn minh phương Tây, không lạ khi GS. Nguyễn Văn Huyên lựa chọn hướng nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc. Ông từng viết trong bản tự thuật: “Lấy đó là chỗ ẩn thân […] và giành một cương vị khoa học cho nước nhà”. Năm 1934, ông tốt nghiệp Tiến sĩ văn khoa loại xuất sắc tại Đại học Sorbonne, Paris với luận án chính: “Hát đối đáp của thanh niên nam nữ Việt Nam” và luận án phụ “Nhập môn nghiên cứu về nhà sàn Đông Nam Á”. Paul Valéry, nhà thơ cuối cùng đại diện cho chủ nghĩa biểu tượng của Pháp và một trong những người có ảnh hưởng lớn đến văn hóa thế giới trong thế kỉ 20, khi nhận được bản in luận án chính của ông đã viết thư trả lời: “Nhờ những gì anh viết về các nhà thơ Việt Nam, tôi lấy làm vui lòng được đọc những gì mà tôi tin là đúng đối với mọi thơ ca, nhưng ở đất nước chúng tôi lại rất ít biết đến hoặc hiểu thấu.”   Những công trình nghiên cứu sau đó của GS. Nguyễn Văn Huyên chủ yếu ra đời trong thời kỳ ông làm việc tại Viện Viễn đông Bác cổ (là một viện hàn lâm của Pháp chuyên nghiên cứu về xã hội châu Á, được thành lập từ đầu thế kỷ 20 có trụ sở tại Paris và có hơn 10 trung tâm tại khắp các thành phố lớn ở châu Á, trong đó có Hà Nội). Ông là người Việt Nam duy nhất trở thành một trong năm thành viên khoa học thường trực của viện khoa học này cho đến năm 1945. George Coedès, giám đốc Viện Viễn đông Bác cổ (một trong những nhà sử học và khảo cổ học nổi tiếng vào thế kỷ 20 chuyên nghiên cứu về lịch sử, xã hội Đông Nam Á) cho rằng “ông Nguyễn Văn Huyên có ưu thế vô song là nắm được các sự kiện xã hội Việt Nam bằng kinh nghiệm bản thân và bẩm sinh, có khả năng tiếp cận trực tiếp với chất liệu xã hội học và có thể đi sâu tiến hành những khảo sát mà những nhà nghiên cứu châu Âu không thể nào thực hiện nổi”. Khi làm việc tại viện Viễn đông Bác cổ, GS. Nguyễn Văn Huyên đi sâu vào nghiên cứu “Lịch sử văn minh Việt Nam” và công trình này được hoàn thành vào năm 1939. Cùng với tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” (xuất bản năm 1938) của học giả Đào Duy Anh, nó đã trở thành nền tảng nghiên cứu về văn hóa, văn minh Việt Nam và cho đến những năm 1950, 1960, tác phẩm này vẫn là “đầu mối” quan trọng để các học giả trên thế giới tìm hiểu về văn hóa nước ta.          Bài viết về Tết Thanh minh đăng trên tạp chí Indochine của GS. Nguyễn Văn Huyên.                                  Bài viết về Tết Trung Thu đăng trên tạp chí Indochine của GS. Nguyễn Văn Huyên.                    Các tư liệu được GS. Nguyễn Văn Huyên vẽ lại để phục vụ cho nghiên cứu về Văn minh Việt Nam                     Các bùa được sử dụng trong lễ giải hạn của dân tộc vùng cao được GS. Nguyễn Văn Huyên sưu tập.            Một trí thức  Trong 10 năm nghiên cứu, ông cho xuất bản 46 công trình nghiên cứu khoa học; trong đó, các hiện tượng văn hóa được ông soi chiếu và phân tích kết hợp dưới nhiều góc độ về dân tộc học, địa lý học, sử học và xã hội học, khác với những nhà dân tộc học bây giờ, chỉ thiên về mô tả thuần túy những gì quan sát được. Những kỷ vật và bút tích ông để lại phản ánh một thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc và cẩn trọng: trong nghiên cứu về lễ giải hạn của các dân tộc vùng cao, ông ký họa lại toàn bộ các đạo cụ được sử dụng trong việc hành lễ, mỗi lá bùa được ông kẹp với một trang giấy, tự mình chú giải rõ ràng về nội dung và nguồn gốc của từng hiện vật; trong nghiên cứu về Đạo giáo, với mỗi bức tranh về chủ đề này, ông đều chụp và vẽ lại sơ đồ mô tả vị trí, ghi rõ họ tên của từng vị thần trong bức tranh và giải thích họ đóng vai trò gì trong quan niệm của người dân. Con trai ông, PGS. Nguyễn Văn Huy, thành thật coi việc sưu tầm ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam của mình so với quá trình thu thập tư liệu nghiên cứu của cha chỉ là công việc “hời hợt”. Với lý do sợ xâm phạm quyền tác giả1, sau hai kì, GS. Nguyễn Văn Huyên đã từ chối tiếp tục đăng tải nghiên cứu “Lược khảo về khoa thi Hội Quý Sửu, Duy Tân thứ 7” (những khoa thi thời Duy Tân bị dư luận phê phán không còn là kỳ thi Nho học đơn thuần nữa mà đã thêm kỳ thi tiếng Pháp và luận quốc ngữ) trên tạp chí Thanh Nghị (một tạp chí phản biện xã hội của giới trí thức thời kỳ 1939-1945). Ông tự nhận mình đã “nông nổi quên hẳn mất vấn đề cá nhân quan hệ với pháp luật và luân lý. Khoa Quý Sửu tôi đương khảo cứu cách đây chưa được 30 năm…” Từ khi học ở Pháp, khi nghiên cứu, ông đã sử dụng phương pháp “điền dã” (tức là đến tận nơi khảo sát, quan sát và trò chuyện với người dân), về nước, ông cũng đi tới các tỉnh lẻ, sẵn sàng sống cuộc sống của người nông dân và dân tộc thiểu số để tìm hiểu về văn hóa và cách sinh hoạt của họ. Tác phẩm “Sưu tập các bài hát đám cưới của người Tày” của ông được tổng hợp từ những cuộc điền dã được xuất bản bằng tiếng Nôm Tày, phiên âm tiếng Tày bản dịch tiếng Việt và tiếng Pháp. Đến nay, chưa có một nhà khảo cứu về dân tộc học nào có thể làm tỉ mỉ như vậy.   Với hầu hết các nghiên cứu được viết bằng tiếng Pháp, GS. Nguyễn Văn Huyên đã khiến thế giới chú ý tới văn hóa Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo một giáo sư nổi tiếng ở Đại học Canberra (Úc), GS. Nguyễn Văn Huyên là người đã đưa khái niệm South East Asia (Đông Nam Á) trở thành một thuật ngữ khoa học trên thế giới. Điều đáng nói là trong thời kì 10 năm nghiên cứu khoa học, ông cũng đấu tranh đòi quyền tự do học thuật: tác phẩm Văn minh Việt Nam của ông được hoàn thành vào năm 1939 nhưng phải đấu tranh với Nha học chính Đông Dương để có thể xuất bản vào năm 1944 do trong nghiên cứu này có nhiều mô tả về sự nghèo khổ của nông dân Việt Nam cũng như chính sách cai trị kém cỏi của chính quyền. Ông còn yêu cầu để các học sinh, sinh viên được học Hán Văn cổ khi nhận ra sự hẫng hụt về văn hóa của một thế hệ trẻ do không đọc được các di cảo cha ông để lại. Cùng đồng nghiệp Trần Văn Giáp, ông tự tay thảo đề xuất gửi lên Nha học chính Đông Dương và toàn quyền Pháp một chương trình cụ thể cần học, trong đó, ông yêu cầu đưa vào chương trình phổ thông một danh sách các tác phẩm kinh điển về sử và văn học Việt Nam như: Khâm định lịch sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Việt Điện U linh, Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Ức Trai thi tập… và sau một năm đấu tranh (1941-1942) thì đề xuất của ông được chấp thuận.  Đúng người, đúng chỗ  Trước khi từ Pháp về Việt Nam, ông từng tâm sự với luật sư Nguyễn Mạnh Tường rằng: “…sẽ không ra làm quan, chỉ dạy học và nghiên cứu khoa học”. Chức danh Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam với ông có vẻ như một sự tình cờ nhưng trong những năm đầu xây dựng nền Đại học Việt Nam, ông đã thu hút được những giáo sư “là những vị có nhiệm vụ tối cao dẫn đạo cho các bạn thanh niên, trí thức tân tiến”.  Trong những năm kháng chiến chống Pháp, các trường đại học đều chuyển lên Việt Bắc. Cũng giống như Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, những giáo sư hỗ trợ Bộ Giáo dục từ những ngày đầu tiên như GS. Lê Văn Thiêm, GS. Đặng Văn Ngữ, GS. Trần Đức Thảo… là những nhà khoa học vô tư, sẵn sàng hi sinh cuộc sống sung túc hiện tại để vào vùng kháng chiến và trước đó, họ không hề bận tâm việc phải từ bỏ địa vị và môi trường làm việc đầy hứa hẹn ở châu Âu và Nhật Bản để trở về nước. Như GS. Lê Văn Thiêm, là tiến sĩ Toán đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp Đại học Munich, ông từ bỏ việc nghiên cứu tại Đức, theo đường bay từ Paris tới Bangkok, Thái Lan rồi đi bộ từ Campuchia về miền Đông Nam Bộ. Có lẽ, GS. Nguyễn Văn Huyên chỉ cần gửi công hàm tới Phó Thủ tướng điều động GS. Lê Văn Thiêm ra Bắc giúp Bộ Quốc gia Giáo dục là ông sẽ vui vẻ nhận lời và tình nguyện lên đường. Nhưng GS. Nguyễn Văn Huyên còn đề nghị Bộ Tài chính ấn định số tiền phụ cấp cho ông. Khi ra tới Việt Bắc, GS.Lê Văn Thiêm còn lưu lại khá lâu trong các gia đình của GS. Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng.   Cũng giống như GS. Lê Văn Thiêm, GS. Đặng Văn Ngữ cũng từ bỏ công việc nghiên cứu tại Nhật Bản trở về nước vào năm 1949, “chẳng có một tổ chức nào giới thiệu, móc nối. Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên, chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước” – con trai ông, đạo diễn Đặng Nhật Minh viết. Đầu năm 1950, GS. Nguyễn Văn Huyên cũng gửi công điện cho Phó Thủ tướng yêu cầu để GS. Đặng Văn Ngữ tới Việt Bắc để dạy và lập phòng thí nghiệm tại Đại học Y khoa. Tuy nhiên, không chỉ yêu cầu Bộ Tài chính hỗ trợ hào phóng để ông có thể lên đường ngay mà sau đó còn giúp đỡ người ở phòng thí nghiệm cả việc vận chuyển sách vở và dụng cụ làm việc của GS. Đặng Văn Ngữ từ Hà Tĩnh ra Bắc. Khi GS. Đặng Văn Ngữ không thể đón vợ lên Việt Bắc, GS. Nguyễn Văn Huyên cũng báo cho bà: “Rồi chính phủ sẽ tổ chức đưa ra, không cần lo về sinh hoạt và tài chính sẽ có giải pháp. Cứ tin tưởng ở Chính phủ và các bạn ở Liên khu 4”. Gia đình bác sĩ Đặng Văn Ngữ cũng từng sống cùng gia đình GS. Nguyễn Văn Huyên ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang.  Bản thân là một nhà khoa học trong sáng, tiếp xúc với nhiều nhà khoa học tân tiến cùng thời như Trần Huy Giáp, Trần Đức Thảo, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng…; từng phiêu du châu Âu với những trí thức Tây học nổi tiếng thời đó như Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn nên ông hiểu, đồng cảm và trân trọng những trí thức tinh hoa cùng thời. Không chỉ quan tâm đến điều kiện sống của gia đình họ mà điều quan trọng là ông hiểu được, nên ứng cử ai vào vị trí nào thích hợp nhất.  Như khi còn nằm trong tổ chức Văn hóa Cứu quốc, GS. Nguyễn Văn Huyên đã can thiệp vào việc sắp xếp vị trí trong Chính phủ Lâm thời của Đảng ủy Việt Minh. Lúc đầu, học giả Nguyễn Văn Tố (nghiên cứu viên tại Viện Viễn đông Bác cổ) được phân công làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và ông Vũ Đình Hòe (khi đó là chủ bút của tờ Thanh Nghị) làm Bộ trưởng Cứu tế xã hội (chịu trách nhiệm đảm bảo y tế, lương thực, lao động). Nhưng khi bổ nhiệm chính thức, lại có sự hoán vị giữa hai người này.   GS. Ngụy Như Kon Tum khi biết chuyện này chẳng thấy ngạc nhiên: “Dễ hiểu quá còn gì nữa, anh Huyên biết rõ hơn ai hết khả năng, “vốn liếng” của cả hai ông bạn. ‘The right man in the right place’.”     ———–  1 Luật của pháp và nhiều nước quy định quyền tác giả kéo dài 50 năm sau khi tác giả chết.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hấp dẫn, điện và từ học trong trái tim vật lý hiện đại      Cách đây không lâu, nhân sự kiện phát hiện sóng hấp dẫn, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đã tổ chức một buổi nói chuyện thảo luận về chủ đề này. Tại buổi nói chuyện, một nhà vật lý có nhiều kinh nghiệm đã đặt ra một câu hỏi: tại sao trọng lực lại là lực tensor (hay chính xác hơn tại sao hạt truyền tương tác hấp dẫn – graviton – lại có spin 2). Vì không có ai trong hội trường đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này nên tôi nghĩ đây có thể là chủ đề thú vị cho một bài báo trên Tia Sáng. Những dòng tôi viết dưới đây với mục đích bình luận về sự phong phú và sâu sắc của vật lý ẩn đằng sau câu hỏi tưởng chừng như đơn giản này. Tôi sẽ cố gắng sử dụng ngôn ngữ đơn giản mà người đọc có thể hiểu được. Bài viết không phải là một bài giảng mà chỉ đơn giản hy vọng kích thích trí tò mò của người đọc.      Graviton là một hạt cơ bản, giả thuyết có vai trò là hạt trao đổi của lực hấp dẫn trong khuôn khổ lý thuyết trường lượng tử. Nếu nó tồn tại, Graviton dự kiến sẽ không có khối lượng hoặc rất nhỏ (vì lực hấp dẫn xuất hiện với phạm vi không giới hạn) và phải có spin là 2.  Chúng ta đã học ở phổ thông trung học rằng hai điện tích, q và q’, hút hoặc đẩy nhau bởi lực Coulomb có độ lớn tỉ lệ với qq’/r2 và hai vật có khối lượng, m và m’, hút nhau bởi lực Newton có độ lớn tỉ lệ với mm’/r2, ở đó r là khoảng cách giữa hai điện tích và hai trọng vật. Vẻ tương tự bề ngoài của hai định luật này có thể khiến ta nghĩ (một cách sai lầm!) rằng hai tương tác này có bản chất giống nhau. Tuy nhiên, trên thực tế chúng lại rất khác nhau như được minh họa ở phần tiếp theo. Trong bài báo này, tôi sẽ cố gắng bỏ qua những kiến thức về vật lý lượng tử và thuyết tương đối và chỉ sử dụng kiến thức vật lý cổ điển.  Lực Coulomb và Newton: lực tầm xa  Ta có thể nhận ra điểm chung giữa lực Coulomb và Newton là độ lớn của chúng tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai điện tích điểm hoặc hai chất điểm. Điều này có nghĩa là các lực này không bao giờ bằng không, thậm chí ở những khoảng cách rất lớn. Thực vậy, đó là một đặc điểm hết sức quan trọng của trọng lực: trọng lực trên Trái đất là tổng hợp sức hút của tất cả vật chất trên hành tinh này; đó là một lực có độ lớn đáng kể mặc dù cường độ của lực hấp dẫn bị giới hạn bởi hằng số hấp dẫn (hằng số Newton G) có giá trị rất nhỏ; thể tích khổng lồ của Trái đất đã bù đắp cho cường độ nhỏ của trọng lực. Tuy nhiên, lực Coulomb lại không giống như vậy. Nếu ta có một tập hợp những điện tích điểm tích điện cùng dấu, chúng sẽ ngay lập tức đẩy nhau và rất khó để có thể giữ chúng lại với nhau trong một thể tích xác định được. Vật chất thông thường được cấu tạo bởi các hạt mang điện tích dương và âm, tương ứng với hạt nhân và các electron. Với tập hợp các hạt tích điện như vậy, bất kỳ một thể tích vĩ mô nào về cơ bản cũng đều trung hòa về điện và do đó không tạo ra lực đáng kể ở khoảng cách lớn: các điện tích chắn lẫn nhau, hay còn gọi là hiệu ứng chắn Debye. Tách các điện tích dương khỏi các điện tích âm trong một tập hợp như vậy là rất khó và đó là chủ đề cơ bản của vật lý plasma: hệ điện tích sẽ ngay lập tức chống lại ngoại lực bởi những chuyển động theo hướng tái thiết lập tính trung hòa của nó, tạo nên sóng lan truyền trong plasma như sóng Alfven. Tuy nhiên, lực Coulomb lớn hơn lực hấp dẫn Newton nhiều lần, lên đến 1039 lần, do đó nhiều hiệu ứng thú vị có thể được quan sát với lực Coulomb: ví dụ, thí nghiệm Millikan đo hiệu ứng khi thêm một điện tử lên trên bề mặt một giọt dầu trung hòa về điện, ở đó các nguyên tử của giọt dầu chứa khoảng 1015 electron; một ví dụ khác về giới hạn trên tốt nhất về khối lượng của photon, 10-60 g, thu được từ thực nghiệm giả thuyết lực hấp dẫn và lực điện từ của Đám mây Magellan Nhỏ cân bằng với nhau.  Khi dùng vật lý lượng tử để mô tả lực điện và lực hấp dẫn, sự phụ thuộc của chúng vào 1/r2 có nghĩa là những hạt truyền tương tác tương ứng, photon và graviton, phải là những hạt không có khối lượng. Ta thấy rõ rằng, hai lực này phụ thuộc vào 1/r2 do đó tồn tại một điểm kỳ dị tại r=0 khi đó các lực này trở nên lớn vô hạn, không có ý nghĩa vật lý: chúng ta cần phải điều chỉnh lý thuyết để mô tả trường hợp này. Tôi sẽ bình luận về điểm này trong phần sau của bài báo.  Hấp dẫn và nguyên tắc Mach  Một điều đặc biệt của hấp dẫn là: khối lượng “động lực” m trong định luật Newton (F=mM/r2) lại chính xác bằng khối lượng “quán tính” (m trong K=1/2mv2, ở đó K là động năng và v vận tốc của vật). Điều này làm cho trọng lực rất khác so với các lực khác: trong cùng một trường, chẳng hạn như trọng trường của Trái đất, tất cả các trọng vật đều rơi như nhau bất kể giá trị khối lượng của chúng là bao nhiêu. Điều này lần đầu tiên được Galileo chứng minh với thí nghiệm tháp nghiên Pisa nổi tiếng của ông. Đặc điểm này gợi nên việc xem hấp dẫn như là sự biến dạng của không gian do trọng vật nằm trong đó gây ra, khác biệt với các loại lực khác như lực Coulomb. Cách tiếp cận này chính là ở cơ sở của thuyết tương đối tổng quát và nó giúp giải quyết một vấn đề đã làm đau đầu nhiều nhà vật lý trong nhiều thế kỷ: không gian vẫn vậy với những gì nó chứa đựng hay những thứ mà không gian chứa đựng mới đem lại ý nghĩa cho nó? Hay câu hỏi cũng có thể được đặt như sau: Không gian là tuyệt đối hay tương đối? Nhiều triết gia và nhà khoa học đã thảo luận về câu hỏi này trong nhiều thế kỷ qua, trong số đó có thể kể đến Democritos, Aristotle, Plato, Descartes, Leibniz, Newton, Huygens, Berkeley, Kant và Euler. Khi quan sát thấy hình dạng bề mặt của mặt nước trong một cái xô đứng yên và một cái chuyển động quay khác nhau, Newton đã đưa ra khái niệm chuyển động tuyệt đối: sự quay so với không gian tuyệt đối là nguyên nhân của sự khác biệt. Quan điểm về không gian tuyệt đối gặp phải nhiều phê phán, nổi tiếng nhất là phê phán do Mach đưa ra. Những phân tích của ông về vấn đề này có ảnh hưởng lớn tới Einstein, người gọi công trình của Mach là Nguyên lý Mach. Mach khẳng định rằng chuyển động tuyệt đối và không gian tuyệt đối chỉ là sản phẩm của trí não, không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm, do vậy, đó là những khái niệm siêu hình vô nghĩa và không nên được sử dụng trong khoa học. Ông nói, tất cả các định luật của cơ học đều dựa vào cảm nhận về vị trí và chuyển động tương đối và chúng ta không được phép sử dụng các định luật này ngoài giới hạn của chúng. Con lắc Foucault dao động trong mặt phẳng cố định đối với các ngôi sao mà không bị ảnh hưởng bởi sự quay của Trái đất là bằng chứng cho hệ quy chiếu gắn với toàn bộ Vũ trụ. Bài viết này sẽ không thảo luận sâu hơn nữa về điểm này, những thảo luận sâu hơn có thể tìm thấy trong tài liệu tham khảo sau đây: Herbert Lichtenegger và Bahram Mashhoon, Phép đo Điện-Từ-Hấp dẫn: Một công việc đầy thách thức, ed. L. Iorio, Nova Science, New York, 2007, arXiv: vật lý / 0.407.078.  Điện và Từ: lực vector  Điểm đặc biệt của lực Coulomb là nó luôn được xem xét cùng với lực từ. Một điện tích chuyển động sẽ tạo ra từ trường và, ngược lại, trường từ tác động lực lên điện tích chuyển động. Hai dây dẫn song song mang theo hai dòng điện chạy cùng hướng sẽ hút nhau. Đây là kết quả của trường từ sinh ra bởi dòng điện của dây này tại vị trí của dây kia. Chú ý rằng cường độ lực từ trong ví dụ này nhỏ hơn rất nhiều so với lực Coulomb mà các electron chuyển động trong hai dây dẫn có thể đẩy nhau; tuy nhiên, do hiệu ứng chắn đề cập ở phần trên (dây điện được làm bằng vật chất trung hòa về điện vì vậy lực đẩy rất lớn giữa các electron mang điện tích âm trong hai dây cơ bản bị triệt tiêu) nên lực từ, không bị tác động bởi hiệu ứng chắn, trở thành lực áp đảo. Vì sự liên hệ sâu sắc giữa điện và từ nên lý thuyết về tương tác điện từ hiện đại mô tả lực từ là sự điều chỉnh tương đối tính của lực Coulomb, bình luận sâu hơn về điều này vượt ra ngoài phạm vi của bài viết này. Ở đây, đủ để nói rằng, điện từ đơn giản được mô tả dưới dạng một trường điện E và trường từ B và lực tác động lên một điện tích q chuyển với vận tốc v là F=q(E+v×B). Sự biến đổi của E và B khi chuyển hệ quy chiếu được mô tả một cách đẹp đẽ là một tensor bậc 4, được gọi là tensor điện từ, bản thân nó có thể được viết dưới dạng đạo hàm không và thời gian của một vector bốn chiều. Thế năng điện từ bao gồm thế năng điện (đại lượng vô hướng, thành phần thời gian) và thế năng từ (đại lượng vector, thành phần không gian). Hình thức luận này cho phép ta viết toàn bộ lý thuyết điện từ (các phương trình Maxwell) dưới dạng hết sức đơn giản và nó khiến cho bản chất vector của tương tác điện từ trở nên rõ ràng và do đó lượng tử truyền tương tác, photon, của trường điện từ có spin bằng 1.  Trọng lực: lực tensor  Rõ ràng lực hấp dẫn Newton và lực Coulomb có bản chất rất khác nhau: tất cả các trọng vật đều “dương” trong khi điện tích có thể mang điện tích âm hoặc dương. Hơn nữa, một trọng vật chuyển động không tạo ra trường tương đương với trường từ. Với các điện tích cùng dấu, lực Coulomb là đẩy trong khi lực Newton luôn là lực hút. Cũng có giả thuyết cho rằng có thể tồn tại các hạt có khối lượng âm, đặc biệt là phản hạt, có thể bị đẩy hấp dẫn bởi các hạt thông thường. Tuy vậy, ta có thể bỏ qua những giả thuyết này một cách an toàn vì cho đến nay chưa có bằng chứng thực nghiệm nào ủng hộ sự tồn tại của chúng.  Để hiểu rõ hơn bản chất của trọng lực, chúng ta cần phải hiểu tác động của nó lên vật chất như thế nào. Như những nhận xét bên trên, là lực phụ thuộc vào khoảng cách nên để phân tích tương tác giữa hai chất điểm chúng ta không thể không đối mặt với thuyết tương đối hẹp khi vận tốc của chúng đạt tới vận tốc gần với vận tốc ánh sáng ở khoảng cách ngắn và phải đối mặt với vật lý lượng tử ở khoảng cách rất ngắn. Cách tiếp cận của Einstein để tránh những khó khăn này là phân tích tác động của hấp dẫn lên môi trường liên tục, đặc biệt tác động của trường hấp dẫn do chính những vật này tạo ra. Khi làm như vậy, chúng ta đã giấu rác dưới thảm với ngầm định rằng một số lực nào đó mà ta không nói đến đã ngăn cản vật chất suy sụp dưới sức nặng của nó. Do đó, chúng ta phải chấp nhận hạn chế tham vọng của mình với việc sử dụng lý thuyết hấp dẫn được xấp xỉ ở khoảng cách lớn. Khi đó các lực hoặc ứng suất có mặt ở mọi nơi trong môi trường liên tục có thể được mô tả bởi một tensor T bậc 3, được gọi là tensor ứng suất, lần đầu tiên được giới thiệu bởi Cauchy. Ý tưởng cơ bản là: tại bất kỳ điểm nào trong môi trường, các thành phần của lực F tác động lên một bề mặt nhỏ, có vector pháp tuyến n , phụ thuộc tuyến tính vào các thành phần của n. Điều này có thể được viết đơn giản như sau dF=n.T, ở đó T là tensor có 3×3=9 thành phần. Tuy nhiên, vì lực tác dụng theo hướng của n bằng về biên độ và ngược hướng với lực tác dụng theo hướng -n, do đó số thành phần của tensor T giảm xuống chỉ còn là 6. Đây là ba góc xác định hướng của hệ quy chiếu trong đó ma trận biểu diễn tensor được chéo hóa và ba ứng suất nén dọc theo mỗi trục của hệ quy chiếu này (các giá trị bên ngoài đường chéo tương ứng với ứng suất biến dạng). Đặc biệt, trong thủy tĩnh học, ba ứng suất nén này đều bằng nhau và ngược hướng với áp lực hiện diện trong chất lỏng.  Như vậy, ý tưởng cơ bản của thuyết tương đối tổng quát: lực hấp dẫn được mô tả là sự biến dạng của không gian do trọng vật hiện diện trong đó gây ra. Do đó, ý tưởng này đòi hỏi phải xây dựng mối liên hệ giữa những biến dạng không gian với tensor ứng suất. Chúng ta học được từ hình học vi phân rằng biến dạng địa phương của không gian cũng được mô tả bởi một tensor, do đó có thể phát biểu rằng tensor ứng suất và tensor biến dạng đơn giản tỷ lệ với nhau, đây chính là ý nghĩa của phương trình thuyết tương đối rộng của Einstein.  Một vài bình luận thêm về điều này là cần thiết: thứ nhất, chúng ta không nên quên rằng thuyết tương đối tổng quát, như đã nói, chỉ là một xấp xỉ ở khoảng cách lớn của thuyết hấp dẫn; thứ hai, thuyết tương đối hẹp lặp lại những lập luận trên nhưng cho không-thời gian, với tensor bậc 4; thứ ba, theo truyền thống thuyết tương đối tổng quát thường được dạy sau thuyết tương đối hẹp với lý do là Einstein phát minh ra thuyết tương đối hẹp trước thuyết tương đối rộng; nhưng theo tôi chúng ta không đúng khi làm như vậy: những ý tưởng cơ bản của thuyết tương đối tổng quát mà tôi phác thảo bên trên dường như tự nhiên và dễ hiểu hơn nhiều so với ý tưởng cơ bản của thuyết tương đối hẹp, một lý thuyết chứa đựng nhiều khái niệm đi ngược với nhận thức chung của chúng ta.  Tôi hy vọng đến đây bản chất tensor của lực hấp dẫn đã trở nên rõ ràng với đọc giả.  Giới thiệu về thuyết tương đối và thuyết lượng tử  Mở rộng những phát triển trên với thuyết tương đối hẹp là rõ ràng, nó không làm phức tạp thêm vấn đề thậm chí còn làm cho lý thuyết trở nên đơn giản và đẹp hơn. Điều này đặc biệt đúng đối với trường hợp điện từ; những sự phức tạp ban đầu được đưa vào lý thuyết bởi những người tiên phong, chẳng hạn như việc đưa vào thế trễ không còn cần thiết khi lý thuyết được xem xét trong khuôn khổ thuyết tương đối hẹp. Khi mô tả lượng tử lý thuyết này, sóng điện từ lan truyền với vận tốc của ánh sáng, xuất hiện như là đối tượng truyền tương tác giữa các hạt tích điện và dẫn đến việc đưa vào một vector có spin bằng 1, photon.Với hợp của trọng lực, sự ra đời của thuyết tương đối hẹp cũng làm đẹp thêm những luận cứ phát triển trong phần trước. Tensor ứng suất và biến dạng bây giờ được mở rộng cho bốn chiều không-thời gian; tensor ứng suất trở thành tensor ứng suất-năng lượng; còn tensor biến dạng chính là tensor Ricci mô tả sự biến dạng của không-thời gian. Phương trình Einstein chỉ đơn giản là sự biểu diễn tương quan giữa hai tensor bậc 4 này.Tuy nhiên, khi đưa các hiệu ứng lượng tử vào thuyết hấp dẫn (lượng tử hóa thuyết hấp dẫn), ta gặp phải những khó khăn rất cơ bản. Nói đại khái, hệ thức bất định Heisenberg không cho phép tích của khối lượng với kích thước của một vật nhỏ hơn một giá trị xác định (bằng hằng số Planck). Vì vậy, khi thể tích của vật trở nên rất nhỏ, khối lượng của nó không thể nhỏ hơn một giá trị xác định và do đó lực Newton trong vật cũng không thể nhỏ hơn. Tại khoảng cách rất nhỏ, gọi là thang Planck, cỡ khoảng 10-33 cm, lực Newton tăng nhanh hơn so với sự suy giảm kích thước, và trở thành quá lớn đối với các kích thước của vật, làm cho thuyết lượng tử và thuyết hấp dẫn trở nên không còn tương thích với nhau (nhớ rằng điều này xảy ra vì lực Newton tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách, khi khoảng cách rất nhỏ lực trở nên rất lớn). Vấn đề này là một trong những vấn đề chính của vật lý hiện đại ngày nay. Do đó, nói đúng ra, hiện tại nói về graviton là vô nghĩa (graviton là hạt truyền tương tác hấp dẫn trong thuyết hấp dẫn lượng tử). Tuy nhiên, thực tế, người ta có thể viết nên một lý thuyết hấp dẫn lượng tử gần đúng và thuyết phục chính mình rằng năng lượng phát ra bởi tương tác hấp dẫn có dạng sóng, được gọi là sóng hấp dẫn. Bản chất tensor của hấp dẫn ngụ ý rằng những sóng như vậy gây ra biến dạng (tứ cực) tensor khi truyền qua vật chất, và phải được liên kết với graviton có spin bằng 2 trong biểu diễn lượng tử của nó. Cho đến gần đây, ta mới thu được bằng chứng về sóng hấp dẫn một cách gián tiếp: nhờ phép đo suy giảm năng lượng rất nhỏ của hệ pulsar đôi năm 1974, công trình được trao giải thưởng Nobel cho hai nhà khoa học Hulse và Taylor. Mới gần đây, sóng hấp dẫn phát ra bởi sự và chạm và hòa nhập của hai lỗ đen đã được phát hiện lần đầu tiên một cách trực tiếp.  Lỗ đen  Trước khi kết thúc chủ đề này, tôi muốn nói thêm một vài điều liên quan đến lỗ đen. Trái với những gì được phát biểu bởi một trong những diễn giả trong buổi nói chuyện tại VAST mà tôi đề cập bên trên, gần ba mươi năm nay, sự tồn tại của lỗ đen không còn là điều gây tranh cãi; hơn nữa nghiên cứu về lỗ đen là một chủ đề lớn và phong phú của vật lý thiên văn hiện đại. Tất nhiên, những gì ta có thể quan sát được không phải là bản thân lỗ đen vì không có gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra khỏi lỗ đen nhưng ta nhận được tín hiệu phát ra bởi vật chất chuyển động xoắn ốc xung quanh lỗ đen trước khi bị nuốt chửng. Đặc biệt, lỗ đen Sagittarius A* với khoảng cách gần (chỉ cách chúng ta khoảng 24.000 năm ánh sáng) ở trung tâm thiên hà của chúng ta, Dải Ngân hà, cho phép tiến hành những nghiên cứu rất chi tiết về tính chất của nó. Với một ngôi sao, khi đã đốt cháy phần lớn hydro trở thành heli, các lực điện từ và hạt nhân không còn đủ mạnh, lõi heli suy sụp dưới tác động của trọng lực. Khi ngôi sao ban đầu đủ nặng, lõi của nó có thể đạt đến một kích thước mà vận tốc thoát của một vật từ bên trong lõi đạt đến vận tốc của ánh sáng, không có gì có thể thoát ra được: khi đó một lỗ đen mới được hình thành. Kích thước tới hạn mà điều này xảy ra gọi là bán kính Schwarzschild với giá trị khoảng 5 km trên mỗi khối lượng Mặt trời. Mặt trời của chúng ta không đủ nặng để có thể co lại tới kích thước nhỏ (5 km) như vậy, do đó nó sẽ không trở thành một lỗ đen. Nhưng có nhiều ngôi sao đủ lớn sẽ biến thành lỗ đen, trong đó có nhiều trường hợp đã được nghiên cứu hết sức chi tiết. Lỗ đen như vậy được gọi là những lỗ đen sao, chúng thường di chuyển dần dần về phía tâm thiên hà và cuối cùng bị nuốt bởi hố đen siêu lớn tại đó. Thật vậy, mỗi thiên hà đều có một lỗ đen lớn ở trung tâm của nó, với khối lượng dao động từ một triệu đến một tỷ lần khối lượng mặt trời; Sagittarius A* có khối lượng bằng ba triệu lần khối lượng mặt trời, với khối lượng như vậy đây là một lỗ đen thiên hà tương đối nhỏ. Ngay sau Vụ Nổ lớn (Big Bang), khi các sao và các thiên hà bắt đầu hình thành, Vũ trụ, đã và đang liên tục nở ra, mật độ của Vũ trụ trong quá khứ cao hơn nhiều so với hiện nay. Tương tác giữa các thiên hà xảy ra thường xuyên hơn và sự sáp nhập của các thiên hà là yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng khối lượng của những lỗ đen thiên hà; vai trò của các lỗ đen ở trung tâm các thiên hà tới sự tiến hóa về khối lượng này chưa được hiểu rõ, đây một chủ đề được tập trung nghiên cứu trong vật lý thiên văn hiện nay.  Điểm cuối cùng liên quan đến mật độ của lỗ đen. Trái ngược với những suy nghĩ phổ biến, giá trị của mật độ không cần phải rất lớn; trong trường hợp lỗ đen sao mật độ rất lớn nhưng với lỗ đen siêu nặng với khối lượng bằng một tỉ lần khối lượng mặt trời có kích thước khoảng 5 109 km và có thể tích 53 1027 kilomet khối, do đó có mật độ 1018 lần nhỏ hơn lỗ đen có khối lượng bằng khối lượng mặt trời. Thật vậy, các lỗ đen siêu nặng có mật độ rất thấp và bản thân Vũ trụ cũng có mật độ rất nhỏ mà ta biết đến, kích thước và khối lượng của Vũ trụ tuân theo mối quan hệ Schwarzscild. Tuy nhiên, Vũ trụ không phải là một lỗ đen vì bên ngoài bán kính Schwarzschild của nó còn nhiều vật chất chứ không phải là chân không như trường hợp của một lỗ đen.Tôi hy vọng rằng những luận điểm sơ sài được phát triển bên trên cho thấy sự phong phú của vật lý liên quan đến câu hỏi tưởng chừng như rất ngây thơ mà từ đó chúng ta đã bắt đầu; như tôi đã nói ở phần đầu, tham vọng duy nhất của tôi là kích thích trí tò mò của người đọc. Dĩ nhiên, có nhiều tài liệu tham khảo thảo luận trực tiếp đến chủ đề này như công trình của Mendel Sach: Thuyết tương đối tổng quát và vật chất, một lý thuyết trường spinor từ kích thước fermi đến năm ánh sáng được Nhà xuất bản Springer phát hành.  Phạm Ngọc Điệp dịch    Tensor ứng suất Cauchy    Đầu tiên xem xét ứng suất trong một đĩa phẳng (2-D) tạo nên bởi hai lực nén vuông góc F và f lên một hình vuông cơ sở (hình bên trái). Lực nào là các lực tác dụng lên một hình vuông được quay một góc 45o? Như được chỉ ra trong hình bên phải, những lực này gồm lực nén FN+fN và lực trượt FT-fT. Hình vuông đối chiếu trong hình bên trái tương ứng với hướng ưu tiên trên đó ứng suất trượt triệt tiêu. Do đó, ứng suất được xác định bởi ba tham số: góc xác định hướng ưu tiên này và hai lực nén liên kết với nó. Số 3 là số tham số của tensor đối xứng 2×2. Mở rộng sang 3-D là rõ ràng: bây giờ chúng ta cần ba góc để xác định hướng ưu tiên nơi ứng suất trượt triệt tiêu và 3 lực nén cơ bản liên kết với nó, có nghĩa là tổng cộng có 6 tham số, số lượng các tham số xác định một tensor đối xứng 3×3, tensor ứng suất Cauchy. Lưu ý rằng khi F=f ứng suất trượt triệt tiêu ở mọi hướng: đây là trường hợp của chất lỏng ở trạng thái cân bằng khi tất cả các ứng suất được xác định bởi một giá trị áp suất.           Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Hạt cát      Cứ mỗi lần có chuyện này chuyện kia liên  quan đến các bác cao tuổi làm khoa học ở nhà – cụ thể là chuyện các bác  bị bàn dân thiên hạ đem ra chế giễu – là tôi lại rơi vào trạng thái cảm  xúc lẫn lộn.     Một mặt, theo những gì đọc được trên báo (tôi phải nhấn mạnh vào chữ “trên báo”), tôi cũng muốn góp vào một câu giễu cợt mỉa mai theo kiểu học đâu chả thấy chỉ thấy khoa. Mặt khác, tôi lại có tâm lý muốn bảo vệ các bác với lý lẽ “các bác ấy dành cả cuộc đời, thật sự đam mê, thật sự tin là mình có phát kiến tiên phong, mấy người trong chúng ta thật sự có lòng như thế, thôi thì khi tầm mắt các bác có hạn, cũng đừng chỉ trỏ cười chê”. (Dĩ nhiên ở đây tôi chỉ muốn nói đến các bác thật sự có lòng vì khoa học chứ không phải các bác làm tiền/danh bằng “khoa học”).  Tôi bị lẫn lộn cảm xúc như thế vì bố tôi cũng làm khoa học, ông nghiên cứu ngôn ngữ và cũng cao tuổi. Vài chục năm nhìn bố, tôi thấy ông đốt cháy gần như toàn bộ năng lượng mà ông có cho công việc của mình. (Phần còn lại của cuộc sống ông, tức là gia đình, chính xác nhất là mẹ tôi, luôn phải chịu thiệt thòi vì thế).. Hàng ngày (chính xác là hàng ngày), ông đọc báo với cây kéo bên cạnh, tỉ mẩn cắt ra từng mẩu báo có từ ngữ chuẩn, hoặc không chuẩn, mà ông cho rằng có thể sử dụng làm ví dụ cho một bài giảng hay bài viết nào đó. Những chồng mẩu giấy báo như thế cứ tích tụ đầy ứ lên và nghẹt thở cho đến lúc tôi lớn. Nhân dịp sửa nhà tôi ép ông bán giấy vụn để còn có chỗ làm cho ông một không gian sống thoáng đãng. (Đến giờ, mỗi lần về thăm, tôi kìm chế không tạt vào phòng để săm soi, vì biết thế nào cũng sốt ruột vứt đi một phần giấy tờ ngổn ngang trong phòng).  Trong mấy chục năm ông làm việc miệt mài như thế, thế giới cũng đâu có đứng yên. Và đây là cái phần đau lòng nhất mà tôi không hề muốn đối diện: đến lúc tôi vừa đủ lớn để nhận ra rằng mỗi nhà nghiên cứu khoa học cần phải được nối kết với cộng đồng nghiên cứu cùng lĩnh vực trên mọi xó xỉnh của thế giới để biết rằng toàn bộ ngành/chuyên ngành của mình đang đứng ở vị trí nào và mình cần đóng góp thêm gì mới vào đó, tôi từ mơ hồ đến rõ ràng nhận ra bố tôi (và những đồng nghiệp cùng thời với ông) không có đủ sự liên kết này, và vì thế, nhiều khả năng không hình dung được hết tương quan của con đường mình đi với phần còn lại của thế giới trong chuyên ngành của ông.          Thế giới có một vĩ nhân tìm ra một chân lý  được chấp nhận là vĩnh hằng thì đồng thời cũng chứa hàng trăm nghìn  người (làm khoa học) bình thường mà sản phẩm tri thức cùng lắm tương  đương với một hạt cát trong khối xi măng xây nhà.   Ông là một người làm khoa học già của một  đất nước ít cơ hội thực sự đắm mình trong khoa học. Ông đã là một hạt  cát cần thiết của khối xi măng xây lên một căn nhà vào một thời điểm nào  đó.    Trên con đường làm công việc của một hạt cát, ông đồng thời đã mang lại cuộc sống và mọi cơ hội mà tôi có được ngày hôm nay.        Những năm 60, tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ học tại VN hầu hết là tài liệu Pháp. Trong những năm 70 và 80, đồng nghiệp của bố tôi ở Nga và Đông Đức gửi tài liệu chuyên ngành đều đặn cho ông – thế giới qua cửa sổ của ông là khối XHCN. Sau này, những năm 90, tôi thấy ông nhận sách vở từ Úc và thi thoảng từ Mỹ. Nhưng cho đến lúc đó, khi mà sự nối kết kiến thức đã trở nên tỉ lần đơn giản hơn nhờ Web, thì ông không còn ở tuổi có thể tận dụng khai thác nguồn thông tin mình cần từ đó nữa. (Đó là chưa kể, các trường đại học ông làm việc không đăng ký mua các tạp chí chuyên ngành qua Web để cả thầy và trò đều được cập nhật kiến thức ngành). Đôi lần, khi được bố giao cho nhiệm vụ dịch các bài báo của ông sang tiếng Anh để gửi cho tạp chí chuyên ngành ngoài nước, tôi vừa dịch vừa đau tim. Cái cảm giác bất an không biết liệu những sản phẩm tri thức của ông có còn trôi được trong dòng chảy nghiên cứu đương đại hay không cứ ám ảnh tôi mãi.  Học trò của bố tôi, nhiều người giờ trụ được tại các trường đại học nước ngoài. Ông luôn hồ hởi nói về họ, ông vui vì giờ ông vẫn còn làm việc như học trò ông đang làm việc. (Một số người là cầu nối để ông nhìn thấy tình hình nghiên cứu ngành ông hiện nay). Đôi khi tôi không hình dung được học trò của ông, khi đã bắt nhịp với dòng chảy nghiên cứu của ngày hôm nay, nghĩ gì về đoạn đường nghiên cứu đã qua. Họ có cười nếu nhận ra sự cũ kỹ (và có thể là ấu trĩ) của ngành học của họ ngày trước ở nhà hay không?  …  Khi nghĩ nhiều hơn về môi trường mang tên là khoa học, và sống gần hơn với nhiều người khác cũng làm khoa học, tôi dần trở nên bình tâm hơn, và có lẽ cũng công bằng hơn. Tôi nhận ra, nói cho cùng, đó là một môi trường khốc liệt. Không ai nhìn được điểm cuối cùng của hành trình nghiên cứu của mình. Thế giới có một vĩ nhân tìm ra một chân lý được chấp nhận là vĩnh hằng thì đồng thời cũng chứa hàng trăm nghìn người (làm khoa học) bình thường mà sản phẩm tri thức cùng lắm tương đương với một hạt cát trong khối xi măng xây nhà. Mà chắc chắn có hàng triệu hạt cát mà nếu sàng sảy hẳn ra khỏi khối xi măng được thì cái nhà sẽ chắc chắn hơn, ít khả năng bị sụp hơn.  Nhưng có lẽ, cái giá phải trả của cả trái đất này ( = phí phạm năng lượng của hàng triệu con người để đổi lại cơ may có những phát kiến thực sự quan trọng) vẫn là cái giá có thể chấp nhận được. Mà nếu chấp nhận được cái giá này thì đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ luật chơi ( = chấp nhận hàng triệu phát kiến sai để trông chờ cơ may có phát kiến chân lý). Nói cho cùng, khi nhận ra sự ấu trĩ của những cá nhân cụ thể, cũng là lúc tự nhận ra mình hiểu sâu sắc hơn khoảng cách giữa khoa học và phản khoa học; tức là mình đã trưởng thành hơn. Mà theo qui luật khoa học, nếu kết quả mới chứng minh được kết quả cũ là sai, thì không ai lại đi tung hô người đưa ra kết quả mới (đúng) rồi cùng lúc chế giễu hay xỉ vả người có kết quả cũ (sai); cả hai đơn giản đều đi tìm chân lý, một người đi đúng đường còn người kia đi lạc, thậm chí trong nhiều trường hợp người đi lạc làm cho người còn lại tỉnh ngộ ra mà tìm đường đi đúng. Chế giễu một sự ấu trĩ bằng cách phỉ báng cá nhân nói cho cùng chỉ là một thú tiêu khiển vô bổ.  …  Trở lại với bố tôi. Ông là một người làm khoa học già của một đất nước ít cơ hội thực sự đắm mình trong khoa học. Ông đã là một hạt cát cần thiết của khối xi măng xây lên một căn nhà vào một thời điểm nào đó.  Những cơn đau tim của tôi vì ông, giờ nghĩ lại, thật không đáng có.  Trên con đường làm công việc của một hạt cát, ông đồng thời đã mang lại cuộc sống và mọi cơ hội mà tôi có được ngày hôm nay.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt hạ nguyên tử rọi sáng nguồn gốc bí ẩn của tia vũ trụ      Một hạt hạ nguyên tử do South Pole dò được vào tháng 9/2017 đang giúp các nhà khoa học giải quyết một bí ẩn vũ trụ: cái gì đem lại điện tích cho các tia vũ trụ, vốn được tạo ra từ những hạt nhiều năng lượng bậc nhất trong tự nhiên.      Phòng thí nghiệm IceCube tại Nam Cực. Nguồn: Nature  Các nhà nghiên cứu ở hơn 10 đài quan sát đã thực hiện nhiều nghiên cứu sau sự kiện này. Kết quả cho thấy, lần đầu tiên họ thấy một thiên hà xa xôi là nơi xuất phát của các hạt neutrino năng lượng cao. Khám phá này có thể giúp các nhà khoa học tìm ra nguồn gốc bí ẩn của các hạt proton và hạt nhân nguyên tử là đến trái đất từ ngoài không gian, tập hợp thành tia vũ trụ. Những cơ chế tạo ra tia vũ trụ cũng có thể tương tự cơ chế tạo ra các hạt neutrino năng lượng cao.  Các nhóm nghiên cứu đa quốc gia đã mô tả nguồn khởi phát hạt neutrino trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Science.  “Mọi điểm đều chỉ ra rằng đây là một nguồn phát năng lượng siêu sáng – một nguồn tuyệt vời”, Elisa Resconi, một nhà vật lý hạt thiên văn tại trường đại học Kỹ thuật Munich (Đức) cho biết.  Các nhà vật lý thiên văn đã đề xuất một số kịch bản về các hiện tượng vật lý thiên văn có thể tạo ra cả các hạt neutrino năng lượng cao và những phản hạt mang điện tích của chúng: các proton và các hạt nhân nguyên tử vốn được tập hợp thành các tia vũ trụ. Nhưng đến tận bây giờ, họ vẫn chưa kiểm chứng được nguồn gốc của bất kỳ hạt nào trong số này. Đây là điều hết sức khó với các tia vũ trụ bởi do mang điện tích nên đường đi của chúng xuống trái đất theo đường cong trong khi các hạt neutrino lại đi theo đường thẳng.  Nghiên cứu này đã đem đến nhiều triển vọng cho thiên văn đa tín hiệu, một lĩnh vực mới còn sơ khai kết hợp các tín hiệu từ nhiều loại khác nhau mà các đài quan sát thu thập được đến những chi tiết [thông tin] của các sự kiện xảy ra trong vũ trụ.  Muon – tín hiệu báo từ trạm nghiên cứu cực nam   Câu chuyện bắt đầu từ ngày 22/9/ 2017, khi muon – một hạt mang điện tích, trượt qua mỏm băng Nam Cực với vận tốc tương đương vật tốc ánh sáng. IceCube – một thiết bị gồm 5000 cảm biến được chôn trong một khối băng – dò được những tia sáng lóe lên mà hạt muon này phát ra. Hạt muon xuất hiện dưới máy dò – sự định hướng cho thấy đó là sự phân rã sinh ra từ một hạt neutrino đến từ dưới đường chân trời. Các hạt muon chỉ có thể di chuyển vào bên trong vật chất, ngược lại những hạt neutrino thường băng qua toàn bộ hành tinh một cách tự do; phần lớn số hat mà IceCube dò được đã va chạm với một hạt bên trong trái đất để tạo ra muon.  Trong vòng vài giây, một dàn máy tính tại Trạm nghiên cứu Amundsen–Scott South Pole của Quỹ Khoa học Mỹ đặt tại đỉnh cực nam của trái đất đã tái cấu trúc đường đi chính xác của hạt muon và nhận thấy nó được sinh ra từ một hạt neutrino mang điện tích cao; 43 giây sau sự kiện này, Trạm đã gửi tín hiệu tự động tới mạng lưới các nhà thiên văn theo đường vệ tinh. Hạt neutrino này được đặt tên là IceCube-170922A.  Sau khi nhận được thông tin, Derek Fox – nhà vật lý thiên văn tại trường đại học bang Pennsylvania, đã nhanh chóng tìm thêm thông tin về sự kiện với việc xem giờ quan sát trên đài quan sát tia X Swift – thiết bị được phóng lên quỹ đạo trái đất để phát hiện các vụ nổ tia gamma. Hai năm trước, Fox đã tạo ra hệ thống cảnh báo tự động với hi vọng các nhà nghiên cứu có thể theo sát các sự kiện như vậy.  Anh và đồng nghiệp đã tìm thấy 9 nguồn tia X năng lượng cao gần với nơi hạt neutrino tới. Giữa chúng là một vật thể được gọi là TXS 0506+056 – một nhân thiên hà hoạt động với một lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm và một nguồn tia γ đã biết. Trong nhân thiên hà hoạt động này, lỗ đen khuấy động khí trong nhiệt độ cao đến hàng triệu độ và bắn ra khỏi các cực của nó theo hai luồng tia chuẩn trực, một theo hướng trực tiếp đến hệ mặt trời. Vài ngày sau nhóm nghiên cứu của Fox thông báo nghiên cứu này của họ tới cộng đồng vật lý thiên văn.   Lóe sáng  Trong những ngày tiếp theo, một nhóm nghiên cứu khác đã xem dữ liệu từ Large Area Telescope (LAT) của Phòng thí nghiệm Kính thiên văn tia vũ trụ gamma Fermi (NASA), thiết bị quét bầu trời một cách liên tục và là một trong số những thiết bị đang theo dõi khoảng 2.000 nhân thiên hà hoạt động. Chúng đang trải qua các quá trình hoạt động tăng cường, có thể kéo dài trong vài tháng hoặc vài tuần, và trong suốt thời gian đó, chúng trở nên sáng một cách bất thường. Regina Caputo – một nhà vật lý thiên văn tại Trung tâm bay không gian Goddard (NASA) tại Greenbelt, Maryland và là điều phối viên phân tích của Fermi-LAT, cho biết: “Khi nhìn vào khu vực mà theo IceCube là nơi hạt neutrino đến, chúng tôi nhận thấy rằng nhân thiên hà hoạt động này đã lóe sáng nhiều hơn trước đây”.  Vào ngày 28/9/2017, nhóm nghiên cứu ở Fermi-LAT đã gửi đi một thông báo về nghiên cứu của họ. Các nhà thiên văn khác đón nhận thông tin này rất hào hứng. Kể từ khi bắt đầu vận hành vào năm 2010, IceCube đã dò được hàng tá hạt neutrino năng lượng cao mỗi năm nhưng không phát hiện nào trong số này có liên hệ với một nguồn phát năng lượng đặc biệt nào trên bầu trời. “Thông tin của họ làm chúng tôi vô cùng sửng sốt”, Fox nói.   Mặc dù vậy thì sự liên kết giữa hạ neutrino với sự lóe sáng của nhân thiên hà đang hoạt động TXS có thể chỉ là một sự trùng khớp. Để có những bằng chứng mạnh hơn, các nhà nghiên cứu của cả IceCube và Fermi-LAT cần tính toán đến những dữ liệu khác để chứng tỏ sự bùng sáng và hạt neutrino thực sự có liên hệ với nhau hơn là đến từ những thứ tương tự trên bầu trời bằng may rủi.   “Chúng tôi đã phải tính đến cơ hội mà các hạt neutrino ngẫu nhiên trên bầu trời có thể đến từ một trong những nguồn tia X đã biết, và khả năng nó bùng phát trong cùng thời điểm đó”, Anna Franckowiak – nhà vật lý hạt tại Trung tâm Máy gia tốc Electron Synchrotron Đức (DESY) tại Zeuthen, thành viên của cả IceCube và Fermi-LAT, nói. Chị và đồng nghiệp của mình đã tìm thấy khả năng đó, dẫu chưa đạt đến mức độ đáng kể về thống kê để có thể dẫn đến một khám phá trong vật lý.  Săn tìm bằng chứng  Nghiên cứu về các hạt neutrino và tia γ đã được dò trong suốt đợt bùng phát trước của nhân thiên hà hoạt động này có thể tăng thêm bằng chứng cho giả thuyết TXS 0506+056 hình thành từ nguồn phát năng lượng đó. Vào tháng 11/2018, các nhà nghiên cứu ở IceCube đã thấy đài quan sát của họ đã ghi lại được một lượng lớn hạt neutrino đến từ hướng tương tự trên bầu trời giữa năm 2014 và 2015.  Resconi – thành viên nghiên cứu chính của IceCube, đã phấn khích vì khám phá mà chị đã lỡ cơ hội chứng kiến hiện tượng này do đi xem buổi diễn của Nick Cave. “Đồng nghiệp giờ vẫn trêu tôi là trong lần tới, khi quan sát nguồn neutrino thì mọi người biết nơi nào để tìm tôi rồi đó”.  Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng sự bùng sáng này không giống như những hình ảnh trong dữ liệu của Fermi-LAT. “Tin đó đến thật bất ngờ”, Resconi nói. Nhưng trong một nghiên cứu riêng khác, cô và đồng nghiệp đã tìm thấy những gợi ý từ một bùng sáng TXS cũng xảy ra cùng giai đoạn đó nhưng với những tia γ với năng lượng quá cao để Fermi-LAT có thể dò được.  Có một thông tin chưa rõ là khoảng cách của nhân thiên hà đang hoạt động này với Trái đất, theo Simona Paiano của Đài quan sát Thiên văn Padua tại Ý. Để đo được khoảng cách này, cô và đồng nghiệp đã mất 15 giờ quan sát ở kính thiên văn quang học lớn nhất thế giới, Gran Telescopio Canarias có đường kính dài  10,4 m tại La Palma, một hòn đảo thuộc quần đảo Canary của Tây Ban Nha, và xác định khoảng cách là 1,15 tỷ parsec (tương đương 3,78 tỷ năm ánh sáng).  Kết hợp các thông tin này lại với nhau, các nhà nghiên cứu có trong tay dữ liệu có thể chỉ ra được nguồn phát, Kyle Cranmer – nhà vật lý hạt và chuyên gia phân tích dữ liệu tại đại học New York nhận xét, “nhưng quan sát này không đủ rõ ràng. Cần có nhiều dữ liệu nữa để xác định các nhân thiên hà đang hoạt động là nguồn phát các hạt neutrino năng lượng cao một cách thuyết phục”.  Các nhà nghiên cứu hi vọng rằng đây chỉ là một trong nhiều sự kiện thuộc dạng này của thiên văn đa tín hiệu. Họ đang háo hức chờ đợi sẽ dò được các hạt neutrino cùng sóng hấp dẫn. Cuộc va chạm nổi tiếng giữa hai ngôi sao neutron được phát hiện vào tháng 8/2017 có thể cũng tạo ra các hạt neutrino nhưng IceCube lại không phát hiện ra. Tuy nhiên trong trường hợp bùng sáng nhân thiên hà TXS một lần nữa thì có thể họ sẽ phát hiện thêm nhiều hạt neutrino năng lượng cao và các loại bức xạ khác phát ra từ đó.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05703-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt, Hấp dẫn và Vũ trụ      Vào nửa đầu tháng 12 năm 2018 tại Hà Nội đã diễn ra một hội thảo, gọi là PGU2018, về các vấn đề tiên phong của vật lý hiện đại trong lĩnh vực vật lý hạt cơ bản, vật lý thiên văn và vũ trụ học* mà tôi hân hạnh được tham dự. Trong bài viết này tôi sẽ không đề cập chi tiết chủ đề và các thành tựu mới nhất được bàn luận trong hội thảo mà thay vào đó tôi muốn giới thiệu ngắn gọn về nội dung hội thảo và nêu lên suy nghĩ về việc một hội thảo như vậy cũng có thể truyền cảm hứng cho những người quan tâm về sự tiến bộ của khoa học Việt Nam.      Thí nghiệm neutrino đường cơ sở dài T2K của Nhật Bản. Máy dò SuperKamionkande (ảnh chụp khi bắt đầu tích nước, xem con thuyền nhỏ để hình dung kích thước) có thể ghi nhận được neutrino tạo ra từ Tsukuba cách 300 km bởi tổ hợp máy gia tốc của J-park. Nó bao gồm một động ngầm hình trụ khoảng 40 m cả về chiều cao và đường kính, chứa 50.000 tấn nước siêu tinh khiết và được bao phủ bởi 13.000 ống nhân quang có thể ghi nhận ánh sáng từ bức xạ Cherenkov được tạo ra bởi các neutrino tương tác. Một nhóm người Việt Nam vừa được thành lập để tham gia hợp tác T2K và, hy vọng, sẽ được cung cấp tất cả các hỗ trợ cần thiết để thành công.  Về vật lý hạt cơ bản  Gần như thiếu vắng trong chương trình đào tạo tại Việt Nam, các lĩnh vực vật lý hạt cơ bản, vật lý thiên văn và vũ trụ học cùng chia sẻ vị trí tiên phong trong [phát triển của] vật lý hiện đại. Vào nửa cuối thế kỷ trước, trong thời gian chưa tới ba thập niên, vật lý hạt cơ bản đã vẽ được một bức tranh cực kỳ thành công về thế giới vi mô (thế giới vật chất nhìn ở khoảng cách ngắn), đó là mô hình chuẩn (standard model) của các hạt cơ bản. Vẻ đẹp của nó nằm ở sự đơn giản của nền tảng nó được xây dựng: một dạng hạt vật chất, gọi là fermion, thông qua nguyên tắc đối xứng đơn giản được liên kết với nhau và quy về hai loại hạt khác nhau, đó là loại hạt “lepton” với hiện thực nổi bật nhất là electron, và loại hạt “quark” mà từ đó proton và neutron được cấu tạo nên. Mỗi loại hạt này tồn tại ở những dạng khác nhau nhưng liên kết dựa trên tính đối xứng giống như hai mặt của một đồng xu. Có những đối xứng đã được hiểu rất rõ như đối xứng giữa hạt và phản hạt hay các đối xứng gắn với tương tác mạnh, tương tác yếu và tương tác điện từ, nhưng có một đối xứng gọi là “đối xứng vị” (flavour symmetry) còn là bí ẩn: mỗi loại fermion (lepton hoặc quark) tồn tại ba phiên bản (vị – flavour) gần như nhau, trừ khối lượng rất khác nhau. Chứng kiến lần đầu sự lặp lại đó khi muon, một phiên bản “electron”, được phát hiện, Isidor Rabbi đã thốt lên một câu nổi tiếng “ai đã sắp đặt như vậy.      Thật kỳ lạ, chúng ta lại cảm thấy tự hào khi một nhà khoa học Việt Nam rời khỏi đất nước từ lâu được vinh danh bởi sự công nhận quốc tế nào đó. Thay vào đó, chúng ta nên cảm thấy tiếc vì không thể nhận ra tài năng của người ấy ở giai đoạn đầu, xin lỗi vì không thể cho người ấy sự đào tạo, động viên và khuyến khích thích hợp ở nhà, xin lỗi vì không thể cho người ấy sự hỗ trợ như các nhà khoa học nước ngoài đã cho.      Thành phần thứ hai của mô hình chuẩn (MHC) là các boson gauge truyền tương tác giữa các hạt với nhau: tương tác mạnh (mà một trong những hệ quả của nó là) giữ proton và neutron với nhau trong hạt nhân được thực hiện bởi hạt truyền tương tác “gluon”; tương tác yếu với nguyên mẫu điển hình là phân rã beta được thực hiện với hạt truyền tương tác boson “yếu” (W± và Z); và tương tác điện-từ được thực hiện bởi trao đổi photon quen thuộc. Đặc biệt ấn tượng là các boson gauge không cần phải đưa vào trong lý thuyết “bằng tay” mà chúng xuất hiện một cách tự nhiên như là hệ quả trực tiếp từ đối xứng của fermion và một nguyên lý bất biến đơn giản vốn có của vật lý lượng tử gọi là bất biến gauge. Tất cả các fermion và boson gauge (của MHC) đều đã được phát hiện, nhưng trái với gluon và photon không có khối lượng, các boson “yếu” lại rất nặng, điều này làm phức tạp lý thuyết và cần phải có một boson khác gọi là boson Higgs được phát hiện tại CERN hơn 6 năm trước. Trong bốn thập niên qua các thí nghiệm khẳng định với mức độ chính xác càng ngày càng cao bức tranh MHC nhưng không hề có một mách nước nào về sự bí ẩn mà vật lý hạt cơ bản vẫn dành cho chúng ta: bên cạnh đối xứng vị huyền bí đã có những chỉ dấu cho thấy MHC chỉ là biểu hiện năng lượng thấp của một lý thuyết thống nhất tổng quát hơn có hiệu lực ở thang năng lượng cao hơn khoảng 15 bậc so với thang năng lượng của các thí nghiệm hiện nay đạt được. Sự chênh lệch thang năng lượng này (làm phát sinh một số vấn đề như thống nhất lớn và sự phân bậc) cũng có thể xảy ra tại vùng năng lượng thấp, ví dụ như khối lượng neutrino, một fermion trung hòa điện, có thể nhỏ hơn khối lượng của fermion tích điện nhẹ nhất từng biết, electron, cả triệu lần. Lo lắng rằng trả lời các thách đố của MHC có thể nằm ngoài tầm với của các thí nghiệm hiện nay đã có ý kiến nói về sự khủng hoảng của vật lý hạt, nhưng ý kiến chung tất nhiên vẫn lạc quan hơn với hy vọng sẽ sớm có những phát hiện sai lệch từ các dự đoán của MHC để mở ra cánh cửa tới cái gọi là “vật lý sau MHC” (“physics beyond the SM”).       Về vũ trụ học  Khi nhìn ở khoảng cách lớn, diện mạo (vật lý) bị chi phối bởi (tương tác) hấp dẫn bị bỏ qua trong bức tranh MHC. Ngược lại, vật lý lượng tử gắn liền với MHC có thể bị bỏ qua khi nghiên cứu hấp dẫn ở khoảng cách lớn. Một đặc điểm của (tương tác) hấp dẫn là nó được áp dụng theo cùng một cách với tất cả các hạt, cho thấy rằng tương tác này nên được mô tả như là biến dạng của không-thời gian hơn là tương tác theo nghĩa được sử dụng cho MHC và cùng với lý thuyết tương đối hẹp là cơ sở cho lý thuyết tương đối rộng. Cho tới nay chưa có sự sai lệch nào so với dự đoán của lý thuyết tương đối rộng được ghi nhận tường minh và sự phát hiện gần đây về sóng hấp dẫn, mà sự tồn tại của nó cần phải có trong mọi lý thuyết hấp dẫn hợp lý, đã mở đường cho các thử nghiệm chính xác hơn hiện có. Chưa hết, có hai lỗ hổng lớn chỉ ra rằng sự hiểu biết của chúng ta về lực hấp dẫn là không chính xác: một là sự thất bại hoàn toàn của mô hình Vũ trụ của chúng ta khi nó không phù hợp với các quan sát, hai là sự không tương thích giữa thuyết tương đối rộng và vật lý lượng tử ở cái gọi là “thang Planck” (Plank scale) tại đó cả hai được mong đợi sẽ đóng một vai trò quan trọng.           KAGRA là một máy dò sóng hấp dẫn dưới lòng đất sẽ bắt đầu hoạt động vào năm tới tại Nhật Bản. Nó bao gồm hai nhánh giao thoa kế laser vuông góc với nhau, mỗi nhánh dài 3 km, hoạt động ở nhiệt độ thấp và trong chân không. Sóng hấp dẫn có thể làm thay đổi chiều dài của mỗi nhánh bằng một phần nanomet. Hình ảnh cho thấy khối thử nghiệm treo trong buồng chân không ở cuối một nhánh.  Bức tranh chúng ta có về Vũ trụ hàm ý rằng nó được sinh ra cách đây khoảng 14 tỷ năm ở thời điểm gọi là “Vụ nổ lớn” (“Big Bang”) và đã không ngừng mở rộng và nguội dần kể từ đó. Sự hình thành hạt nhân, chủ yếu là heli, 3 phút sau Vụ nổ lớn và các nguyên tử, 400.000 năm sau Vụ nổ lớn, là các nguồn thông tin chính mà chúng ta dựa vào để xây dựng bức tranh hiện tại về sự tiến hóa của Vũ trụ. Rất đáng tiếc là các quan sát về các ngôi sao, các thiên hà, khí và bụi trong không gian ở giữa chỉ chiếm 5% những gì bức tranh này dự đoán; trong số 95% còn lại  người ta có lý do chính đáng để tin rằng có một phần tư được tạo thành từ một dạng vật chất mà về cơ bản không chịu tương tác nào khác ngoài tương tác hấp dẫn nên được gọi là “vật chất tối” (“dark matter”) và tất cả các nỗ lực phát hiện sự tồn tại của nó cho đến nay vẫn thất bại; ba phần tư còn lại, chúng ta không biết chúng bao gồm những gì, tất cả điều chúng ta có thể làm là đặt cho nó một cái tên: “năng lượng tối” (“dark energy”). Ngoài hai bí ẩn lớn nói trên, bức tranh Vũ trụ hiện tại của chúng ta đang phải đối mặt với một vấn đề thứ ba: đó là hiểu được những khoảnh khắc đầu tiên của cuộc đời nó, khi nó được cho là đã mở rộng theo cấp luỹ thừa trong một thời gian rất ngắn, gọi là thời kỳ “lạm phát” (“inflation”).  Về thang Planck  Nhưng một vấn đề khác mà cả thuyết tương đối rộng và lý thuyết lượng tử đang phải đối mặt có lẽ là quan trọng nhất; nhiều người tin rằng việc giải quyết nó sẽ trả lời hầu hết các câu hỏi khác mà tôi đã mô tả ở trên; thuyết tương đối rộng và lý thuyết lượng tử không tương thích ở thang năng lượng Planck, tương ứng với khoảng 1019 khối lượng proton, hoặc 10 microgam hoặc 10-33 cm. Ở thang năng lượng như vậy, mật độ năng lượng của hấp dẫn lớn đến mức nó phải vi phạm các định luật cơ bản của vật lý lượng tử như là (các) hệ thức bất định Heisenberg. Thang (năng lượng) Planck nằm giữa thang của Vũ trụ ngay sau Vụ nổ lớn, tại thời điểm lạm phát, và thang, chỉ hai bậc thấp hơn, ở đó các tương tác giữa các hạt được cho là thống nhất vào một. Vật lý mới (New Physics) là cần thiết để mô tả (thế giới) ở thang Planck. Trong hơn ba thập kỷ, nghiên cứu đã lái theo con đường của “siêu dây” (“superstring”), trong đó “siêu” (“super”) chỉ “siêu đối xứng” (“supersymmetry”), loại đối xứng liên kết fermion với boson và “dây” (“string”) bao gồm “dây” và “màng” (“brane”) là các đối tượng 1-chiều (string) và 2-chiều (brane) ở thang Planck và “sống” trong không-thời gian 9 + 1 chiều, trong đó 6 chiều được cuộn nén (compactification) tới kích thước cực bé. Khoảng hai thập kỷ trước, người ta nhận ra có một lý thuyết tổng quát hơn trong không-thời gian 10 + 1 chiều, được gọi là lý thuyết M, hợp nhất “siêu đối xứng” (“supergravity”) 11 chiều với năm phiên bản nhất quán của lý thuyết dây, như là các trường hợp riêng (ở giới hạn nào đó) của lý thuyết dây, liên hệ với nhau thông qua các phép biến đổi đối ngẫu rất phức tạp. Sự phức tạp về mặt toán học của lý thuyết siêu dây thông thường và tính không thể tiếp cận trong thực tế của thang Planck, cùng với việc thiếu các tín hiệu lạc quan, làm gia tăng sử dụng các phương pháp khác nhau dựa trên nghiên cứu trực tiếp các lỗ đen kích thước lượng tử mà không bị ảnh hưởng bởi các định kiến của lý thuyết dây.  Về hội nghị  Nội dung hội nghị bao phủ tất cả các chủ đề nghiên cứu nói trên (của vật lý thế giới) và cho thấy một bức tranh đẹp về sự tham gia vào tiến trình nghiên cứu đó của các nhà vật lý châu Á, và đặc biệt là các nhà vật lý Việt Nam. Hội nghị có sự góp mặt của khoảng một trăm đại biểu, trong đó một nửa đến từ Việt Nam và một phần ba từ các nước châu Á khác, với sự tham gia đặc biệt tích cực của Nhật Bản. Những diễn giả mời có uy tín (19 người) đã đưa ra một bức tranh tổng quan cập nhật nhất về các lĩnh vực. Năm người trong số họ đã báo cáo về những thành tựu, tiến độ và triển vọng triển khai các thí nghiệm lớn, bao gồm các thí nghiệm LHC (máy gia tốc đối chùm) đo khối lượng của hạt Higgs với độ chính xác lớn hai phần triệu và phát hiện một số phân rã rất hiếm của nó; và ba thí nghiệm tại Nhật Bản: 1) thí nghiệm neutrino đường cơ sở dài T2K cho thấy dấu hiệu vi phạm đối xứng CP và hiện đang nâng cấp máy dò Superkamiokande; 2) Belle II, “nhà máy sản xuất” b-quark, hiện đang bắt đầu hoạt động với một máy dò nâng cấp; và 3) máy dò sóng hấp dẫn dưới lòng đất mới KAGRA sẽ sớm bắt đầu thu thập dữ liệu. Về tương lai dài hạn, chương trình LHC có độ trưng (luminosity) cao và dự án siêu-K của Nhật Bản đặt cơ sở cho một tương lai hứa hẹn, trong khi vệ tinh Litebird, với sự tham gia mạnh mẽ của Nhật Bản, đang được coi là ứng viên tiềm năng cho việc tìm kiếm sóng hấp dẫn ban sơ phát ra vào thời kỳ lạm phát. Chín báo cáo mời lý thuyết đã trình bày về sự tiến bộ trong các lĩnh vực của thuyết tương đối rộng và vật lý tại thang Planck, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của sóng hấp dẫn và lỗ đen, việc phát hiện sóng hấp dẫn đã mở ra một cửa sổ mới về vũ trụ học và nghiên cứu về phân bố trong Vũ Trụ của các sao neutron và hố đen. Tình hình nghiên cứu vật lý thiên văn ở Việt Nam đã được tổng quan với sự nhấn mạnh vào công việc của nhóm nghiên cứu tại Phòng Vật lý thiên văn và Vũ trụ của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, về vật lý sao (ở giai đoạn hình thành và giai đoạn cuối đời của chúng) và nghiên cứu các thiên hà sinh ra ở thời kỳ đầu của Vũ trụ với độ dịch chuyển đỏ lớn. Sáu trong số 21 báo cáo khác được các nhà vật lý Việt Nam trình bày đã minh họa cho sự đa dạng của công việc nghiên cứu đang được thực hiện trong nước. Trước khi ra về, các đại biểu đã bày tỏ sự cám ơn nồng nhiệt đến Nguyễn Anh Kỳ và nhóm của anh tại Viện Vật lý về sự cống hiến của họ vào sự thành công của hội nghị.  Vài lời dành cho Việt Nam  Trong báo cáo tổng kết hội thảo, Tom Browder đã nhận xét về những cơ hội để Việt Nam có thể có những đóng góp ý nghĩa; về việc tận dụng sự đầu tư của cộng đồng khoa học quốc tế để tham gia thành công trong giải quyết những thách thức của lĩnh vực. Ông lưu ý đến việc chảy máu chất xám mà đất nước đang chịu đựng và thất bại của những nỗ lực nhằm ngăn chặn tình trạng này. Để đảo ngược tình thế, ông cho rằng tất cả những gì cần có là một tầm nhìn dài hạn và sự hỗ trợ từ cấp cao cho việc thiết lập những nhóm nghiên cứu mạnh. Thật vậy, nỗ lực nghiên cứu của Việt Nam bị phân tán và rải lên quá nhiều cá thể cô lập. Nhiều người được đào tạo ở nước ngoài khi trở về nước chỉ tiếp tục hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài mà không có cơ hội xây dựng một nhóm nghiên cứu của họ. Họ đào tạo sinh viên nhưng không thể giữ người để làm việc một cách lâu dài. Rất thường xuyên, danh sách tác giả của các công bố khoa học mà họ tham gia không có tên người Việt nào khác ngoài tên của họ. Khi nghỉ hưu, họ không để lại di sản nào và đóng góp của họ cho sự tiến bộ của khoa học Việt Nam chỉ giới hạn trong thời gian hoạt động (trước nghỉ hưu) của họ. Cách tiếp cận cá nhân như vậy đối với khoa học, bắt nguồn sâu sắc trong văn hóa Việt Nam, đang ngăn cản sự tiến bộ. Chúng ta cần thừa nhận rằng tài năng của một tập thể lớn hơn nhiều so với tổng tài năng của những cá nhân đơn lẻ. Bằng cách trao đổi và thử thách các ý tưởng, bằng cách chia sẻ kiến thức và kỹ năng, một nhóm có thể tạo ra bầu không khí xuất sắc mà nghiên cứu cần phải có để thành công.  Dường như quá thường xuyên chúng ta có ý nghĩ rằng trở thành một nhà khoa học giỏi đã được in dấu trong gene. Tất nhiên là không phải như vậy, bởi Việt Nam cũng có nhiều người trẻ có kỹ năng và năng khiếu để trở thành một nhà khoa học giỏi như ở bất kỳ quốc gia nào khác. Làm việc chăm chỉ, nghiêm túc về trí tuệ và đạo đức, quyết tâm và can đảm, hay nói ngắn gọn, tất cả các phẩm chất làm nên sự xuất sắc trong khoa học không phân biệt quốc tịch. Thật kỳ lạ, chúng ta lại cảm thấy tự hào khi một nhà khoa học Việt Nam rời khỏi đất nước từ lâu được vinh danh bởi sự công nhận quốc tế nào đó. Thay vào đó, chúng ta nên cảm thấy tiếc vì không thể nhận ra tài năng của người ấy ở giai đoạn đầu, xin lỗi vì không thể cho người ấy sự đào tạo, động viên và khuyến khích thích hợp ở nhà, xin lỗi vì không thể cho người ấy sự hỗ trợ như các nhà khoa học nước ngoài đã cho. Chúng ta có thể cảm thấy hạnh phúc khi thấy tài năng của người ấy nhận được sự công nhận quốc tế đến mức người ấy cảm thấy cần cam kết giúp đỡ quê hương của mình phát triển và tiến bộ, như một số người đã làm; nhưng tự hào thì chúng ta không nên.  Ngược lại, sự thiếu tin tưởng hoàn toàn vào kỹ năng và tài năng của thế hệ trẻ và những gì họ có thể đạt được đang gây hại lớn cho chúng ta và ngăn cản nghiêm trọng đến sự phát triển. Sự giàu có của đất nước nằm trong bộ não của thế hệ trẻ, chúng ta không nên xem nhẹ và lãng phí nó. Đã đến lúc cần khuyến khích văn hoá làm việc nhóm trong nước và thực hiện hỗ trợ đúng đắn cho các nhà khoa học có kỹ năng và tài năng để xây dựng nhóm của họ. Điều này đúng cho cả các nhà lý thuyết cũng như các nhà thực nghiệm và cho tất cả các lĩnh vực khoa học. Nó đã được khẳng định phần nào trong vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, nơi tồn tại một số nhóm nghiên cứu thành công của Việt Nam, nhưng chưa được thực hiện một cách hợp lý trong các lĩnh vực được đề cập trong hội nghị PGU2018. Tôi biết những nỗ lực khuyến khích thúc đẩy vật lý thiên văn trong chương trình giảng dạy của các trường đại học Việt Nam của một số người đã bị cản trở và từ chối. Tôi biết những nỗ lực để đơn giản hóa các quy tắc quản lý việc trao bằng tiến sĩ trong trường hợp hợp tác với các trường đại học nước ngoài có uy tín đã bị cản trở và từ chối. Tôi biết những nỗ lực tránh lãng phí tiền trong việc mua các thiết bị đắt tiền mà về cơ bản không được sử dụng và, thay vào đó, nỗ lực cung cấp tài trợ tốt hơn cho các nhà nghiên cứu Việt Nam tham gia các hội nghị, hội thảo và lớp học quốc tế đã bị cản trở và từ chối. Tôi biết về những nỗ lực xây dựng các nhóm nhỏ xuất sắc trong lĩnh vực vi điện tử và mạch tích hợp, ở đó Việt Nam gần như vắng bóng, đã bị cản trở và từ chối. Tôi biết những nỗ lực để làm cho hội nghề nghiệp của chúng ta tích cực hơn, để chúng trở thành diễn đàn cho các nhà khoa học trẻ có thể tranh luận công khai và trao đổi quan điểm của họ về cách tốt nhất để thúc đẩy tiến bộ khoa học đã bị cản trở và từ chối; thật vậy, những hội này, chẳng hạn như Hội Vật lý Việt Nam thậm chí không chấp nhận các thành viên nước ngoài, một tàn dư có lẽ của thời chiến tranh.  Chúng ta dường như thiếu tầm nhìn dài hạn mà Tom Browder đã ngụ ý trong bài tổng kết của mình. Chúng ta nên yêu cầu sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế dưới hình thức các hội đồng tư vấn khoa học quốc tế là hình thức có thể giúp chúng ta tìm ra cách tốt nhất để phát triển. Nhưng tôi biết những nỗ lực để làm việc này ở cấp viện cũng như cấp quốc gia đã bị cản trở và từ chối. Đã đến lúc cần thay đổi phong cách.  Trong số những người nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay có hai nhà khoa học trẻ và tài năng của Việt Nam là những người vừa mới trở về nước gần đây. Một trong số họ đã tham dự hội nghị. Họ là tượng trưng cho những gì đất nước cần để thúc đẩy nghiên cứu. Họ và với tất cả những người như họ là tương lai của khoa học Việt Nam, chúng ta hãy hỗ trợ tất cả những gì họ cần để xây dựng hoặc duy trì một nhóm nghiên cứu hiệu quả xung quanh họ, chúng ta hãy đặt niềm tin vào tài năng và sự xuất sắc của họ, chúng ta hãy ngăn chặn chảy máu chất xám, yếu tố đang cản trở đất nước chiếm vị trí mà ta xứng đáng có được trên trường quốc tế. Chúng ta hãy chứng minh Tom Browder đúng khi ông dự đoán rằng với sự hỗ trợ đúng đắn và tầm nhìn dài hạn “thế hệ các nhà khoa học Việt Nam tiếp theo có thể dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực được bàn thảo tại hội nghị PGU2018”. ¨  TS Nguyễn Anh Kỳ (Trung tâm Vật lý lý thuyết, Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) dịch  Chú thích:  * The Second International Workshop “Particles, gravitation and the Universe”, Hanoi, 10-14 December 2018.  https://iop.vast.ac.vn/theor/conferences/pgu2018/    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Hạt Higgs chưa thể giải thích nguồn gốc của khối lượng “dôi ra”      Mọi người đều biết, từ tháng 7/2012 máy gia  tốc hạt lớn (LHC) của Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu (CERN) đã đưa  ra bằng chứng mạnh mẽ xác định sự tồn tại của hạt Higgs boson – có nhà  khoa học gọi là Hạt của Chúa – mà loài người săn tìm bao lâu nay.    Nhưng trong khi hạt Higgs giải thích được vì sao các hạt cơ bản (như hạt Quark) có khối lượng, thì bản thân hạt Quark lại chưa thể giải thích được khối lượng của hầu hết các vật chất nhìn thấy được trong vũ trụ – tất cả mọi thứ chúng ta nhìn hoặc cảm nhận thấy xung quanh mình.  Để hiểu rõ cái gì đã kết hợp lại với nhau tất cả các loại vật chất nhìn thấy (khả kiến) – từ định tinh cho đến hành tinh, cho đến con người, không thứ gì là không, – bạn cần phải biết các hạt Quark và hạt Gluon tác dụng với nhau như thế nào. Đó chính là bản chất của môn vật lý vật chất Quark, cũng là nội dung trọng tâm của Hội thảo quốc tế về Vật chất Quark (Quark Matter 2012 international conference) họp tại Washington từ 12 đến 18 tháng 8 năm 2012.  Ông Peter Steinberg, một nhà vật lý làm việc tại Phòng Thí nghiệm quốc gia Brookhaven National Laboratory (Mỹ), cũng là người tích cực tham gia hội nghị kể trên, nói: “Trong vũ trụ khả kiến có một phần khối lượng mà hạt Higgs không thể giải thích được. Chúng tôi đang nghiên cứu 99% của phần khối lượng đó”.  Ông giải thích tiếp: vật chất khả kiến là nói tất cả những vật chất do nguyên tử họp thành; khối lượng của nguyên tử chủ yếu là khối lượng của các Proton và Neutron làm nên hạt nhân nguyên tử, còn các điện tử chuyển động xung quanh hạt nhân hầu như không có đóng góp gì vào khối lượng nguyên tử. Nhưng mỗi Proton và Neutron đều hình thành bởi 3 hạt Quark, mà khối lượng của mỗi Proton và Neutron lại vượt quá tổng khối lượng của các hạt Quark hợp thành. Như vậy phần khối lượng “dôi dư” ấy từ đâu mà ra ?  Các nhà vật lý tin rằng câu trả lời là ở chỗ Quark phát sinh tác dụng tương hỗ thông qua trao đổi Gluon và tác dụng qua lại giữa các Gluon với nhau. Gluon là một loại hạt không có khối lượng, nó thông qua lực mạnh nhất trong thiên nhiên – lực hạt nhân mạnh – ràng buộc các hạt Quark lại với nhau. Loại lực này có một tính chất đặc biệt nào đó. Nếu bạn muốn tách rời hạt Quark hạ nguyên tử (subatomic quarks), thì lực đó sẽ càng biến đổi mạnh lên. Để hiểu đặc tính loại lực này, các nhà vật lý tăng tốc cho hạt nhân nguyên tử (còn gọi là ion nặng) đạt tới gần bằng tốc độ ánh sáng, làm cho Gluon chiếm địa vị chủ yếu, sau đó cho chúng va chạm đối đầu nhau trong máy gia tốc hạt (như máy Relativistic Heavy Ion Collider RHIC tại Brookhaven National Laboratory hoặc máy LHC tại CERN). Các máy này có thể tạo dựng lại môi trường vũ trụ thời sơ khai, khi ấy Quark còn chưa kết hợp hình thành Proton và Neutron. Nghiên cứu hành vi của các hạt Quark “tự do” và Gluon trong plasma Quark-Gluon nguyên thủy sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn lực hạt nhân mạnh và sự sinh ra một lượng lớn khối lượng “dôi dư” ta thấy khi các hạt ấy kết hợp hình thành vật chất phổ thông.  Bởi vậy, cho dù vật chất khả kiến chỉ chiếm phần rất nhỏ trong toàn vũ trụ – chỉ có 5% – phần còn lại đều là do vật chất tối và năng lượng tối thần bí họp thành, việc nghiên cứu chúng cũng đủ để các nhà vật lý như Steinberg bận bịu không ít thời gian. 1   Nguyễn Hải Hoành dịch  Nguồn:http://phys.org/news/2012-08-quark-higgs.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt Higgs, lực cơ bản thứ năm ?      Nếu hiện tượng vừa khám phá ở CERN được kiểm chứng sau này phù hợp với những đặc tính của boson Higgs (spin 0, những kiểu phân rã và sản xuất đúng như tiên đoán của Mô Hình Chuẩn) thì chúng ta đang chứng kiến một chương cũ sắp khép và một trang sử mới đang ló rạng trong vật lý.&#160;                                                                                                 Chín năm đốt đuốc soi rừng                                                                                                         (Nguyễn Bính, 1956)  Tóm lược  Hầu như đồng thời vào hè năm 1964, sáu nhà vật lý độc lập với nhau cùng đề xuất một cơ chế mang khối lượng cho vạn vật. Cơ chế BEH (Brout, Englert, Higgs, coi phụ chú 5) này là nền tảng của Mô Hình Chuẩn, một lý thuyết diễn tả nhất quán và chính xác ba lực cơ bản của Tự nhiên: điện từ, lực mạnh và lực yếu của hạt nhân nguyên tử. Cùng với lực hấp dẫn (diễn tả bởi thuyết Tương đối rộng) chúng hợp thành bốn lực cơ bản chi phối cách vận hành và cấu trúc của vạn vật. Để chứng tỏ cơ chế BEH không chỉ là một ý tưởng thuần lý thuyết mà trái lại có thể kiểm chứng bởi thực nghiệm, điều tối quan trọng trong khoa học, riêng P. Higgs đã đề xuất là phải hiện hữu một hạt cơ bản vô hướng (spin 0). S.Weinberg gọi hạt này là boson Higgs mà CERN vừa tìm thấy dấu vết rất khả tin ngày 04/07/2012.     Hiện tượng lịch sử này các nhà vật lý hồi hộp đón chờ từ năm 1984 khi Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạt nhân Nguyên tử  (CERN) quyết định xây dựng máy gia tốc khổng lồ  LHC [1]  có năng lượng cao nhất thế giới  để săn tìm hạt Higgs. Nó mở đầu một chương mới trong vật lý vì đây là lần đầu con người khám phá ra một lực mới lạ, lực mang khối lượng cho vật chất, coi như lực cơ bản thứ năm của Tự nhiên, bên cạnh bốn lực cơ bản quen thuộc nói ở trên. Nó gợi ra cách tiếp cận mới về khối lượng của vật chất, khác với quan điểm cố hữu coi khối lượng (hay năng lượng) là cái gì cho trước bởi Tự nhiên mà không ai hiểu nguồn gốc sâu xa. Theo Mô Hình Chuẩn, khối lượng của vật chất được tạo ra bởi sự tương tác của chúng với trường Higgs tràn đầy trong chân không của vũ trụ từ thủa nguyên thủy Big Bang. Khởi đầu tất cả đều không có khối lượng, do tương tác với trường Higgs mà vật chất mang khối lượng, nặng hay nhẹ tùy theo cường độ tương tác lớn hay nhỏ của chúng, càng tác động mạnh vật chất càng có khối lượng lớn.  Nguyên nhân nào thúc đẩy sáu nhà vật lý sáng tạo ra cơ chế BEH? Khởi đầu là sự tìm hiểu tại sao hạt ánh sáng (photon ) không khối lượng lại trở thành có khối lượng khi nó di chuyển  trong các vật liệu siêu dẫn. Nguyên lý “Đối xứng Chuẩn” (local gauge symmetry), trụ cột chi phối toàn diện bốn định luật cơ bản nói ở trên, bó buộc photon phải có khối lượng bằng 0, điều phù hợp với nguyên lý bất định Heisenberg theo đó khối lượng của một vật tỷ lệ nghịch với tầm truyền của nó (phụ chú 6). Vì đối xứng chuẩn bị phá vỡ một cách tự phát (spontaneouly broken) trong hiện tượng siêu dẫn khiến cho photon như mang một khối lượng. Vì có khối lượng nên nó chỉ có thể di chuyển trong một khoảng cách ngắn nhất định, khác với bản tính tự tại của sóng điện từ có thể truyền đi vô hạn. Bức tường ngăn chặn photon di chuyển trong vật liệu siêu dẫn chính là muôn ngàn cặp Cooper liên kết hai electron có spin đối nghịch và như vậy mang spin 0. Vì mang spin 0 nên các cặp này có thể hoà đồng với nhau như một thể ngưng tụ Bose-Einstein và vận hành như một dòng chảy của muôn ngàn điện tích và trở nên siêu dẫn.  Trong cơ chế BEH, cặp Cooper mang khối lượng cho photon được thay thế bởi trường Higgs để mang khối lượng cho hai boson chuẩn  W, Z của lực hạt nhân yếu.  Đối xứng chuẩn và  sự phá vỡ tự phát của nó đóng vai trò chủ yếu của lực cơ bản thứ năm mà sự khám phá ra hạt Higgs là một bước ngoặt lịch sử.  1-Vài điều về Đối xứng  Trong tiến trình khám phá các định luật khoa học, nhiều nhà nghiên cứu lấy nguồn cảm hứng trong cái đẹp cân đối hài hoà của thiên nhiên để quan sát, tìm tòi, suy luận, sáng tạo. Cái đẹp đó có thể chủ quan trong nghệ thuật, văn chương, hội họa, âm nhạc, nhưng trong khoa học  nó khách quan, định lượng và mang tên gọi đối xứng, với dụng cụ toán học là  nhóm đối xứng [2]    để phân tích, xếp đặt thứ tự các trạng thái của hệ thống, tiên đoán những hậu quả.  Nguyên lý đối xứng đóng một vai trò quan trọng trong sự khám phá các định luật vận hành và cấu trúc của Thiên nhiên, đặc biệt của vật lý hạt cơ bản.    Đối xứng được định nghĩa theo nhà toán lý học Hermann Weyl (1885-1955) như sau: một định luật khoa học mang một tính đối xứng nếu nó biểu hiện không hề thay đổi khi ta tác động lên nó bởi một phép biến chuyển. Hình cầu là một minh hoạ rõ rệt nhất của một vật thể đối xứng: phép quay trong không gian ba chiều với bất kỳ một góc nào chung quanh tâm của hình cầu không làm nó thay đổi hình dạng. Nói cách khác, đường kính của hình cầu là một bất biến của phép quay chung quanh tâm của nó.   Có một định lý phổ quát và phong phú – khám phá bởi nhà toán học nữ Emmy Noether năm 1918 – theo đó khi một tính đối xứng chi phối một hệ thống vật lý nào đó thì phải có một định luật bảo toàn kèm theo, và như vậy phải có một đại lượng bất biến tương ứng.   Thí dụ định luật bảo toàn năng lượng là hệ quả tất yếu của tính đối xứng bởi sự chuyển đổi tịnh tiến của thời gian (một thí nghiệm thực hiện hôm nay, tháng trước hay tuần sau, trong cùng một điều kiện, cũng đều giống hệt nhau). Tính đối xứng bởi sự chuyển đổi tịnh tiến của không gian (thí nghiệm thực hiện trong cùng một điều kiện tại Hà Nội, Bình Nhưỡng hay La Habana đều như nhau) cho ta định luật bảo toàn xung lượng. Hai định luật bảo toàn này, theo thứ tự, diễn tả tính đồng nhất của thời gian (lúc nào cũng thế) và không gian (đâu cũng vậy). Ngoài ra còn có đối xứng bởi phép quay chung quanh một trục, nó đưa đến định luật bảo toàn xung lượng góc. Định luật này diễn tả tính đẳng hướng của không gian (bất kỳ chiều hướng nào cũng tương đương như nhau). Đồng nhất và Đẳng hướng là hai đối xứng cơ bản của không gian và thời gian.  Mỗi định luật cơ bản vật lý thường tự thân nó tuân thủ một phép đối xứng nào đó mà nhà nghiên cứu cần tìm kiếm ra. Thí dụ định luật điện từ, gói ghém trong bốn phương trình Maxwell, tuân theo phép đối xứng chuẩn (local gauge symmetry), mà hậu quả là sự bảo toàn điện tích. Điện tích chẳng bao giờ mất đi hay sinh ra cả, nó bất biến bởi phép biến chuyển chuẩn (gauge transformation). Danh từ chuẩn, cũng do Hermann Weyl đưa ra, hàm ý là không có một tiêu chuẩn, mẫu thước tuyệt đối nào trong cách tính toán đo lường giá trị nội tại của các đại lượng khoa học. Mét hay yard, lít hay gallon, đồng hay dollar đều tương đương cả, đó chỉ là ước lệ của con người. Bất biến bởi đối xứng chuẩn cũng như giá trị tự tại của một đại lượng, nó  không phụ  thuộc vào phương cách, đơn vị mà ta dùng để đo lường, tính toán.  Đối xứng chuẩn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trình khám phá của vật lý, khởi đầu trong điện từ và sau đó lan rộng sang nhiều ngành như khoa học vật liệu, vật lý chất đông đặc ngưng tụ, vật lý hạt, vũ trụ thiên văn kèm theo những ứng dụng kỳ diệu trong công nghệ liên đới đến những ngành này [3].      Vậy đối xứng chuẩn là gì ? Ai trong chúng ta khi làm quen với cơ học lượng tử đều biết rằng bình phương độ  lớn của hàm số sóng của electron |Ψ(x)|2 cho ta xác suất trạng thái của nó. Ta thấy ngay phép biến chuyển chuẩn  với bất kỳ một hàm thực α(x) nào đều không làm thay đổi |Ψ(x)|2. Trong các hàm Ψ(x) và α(x), đối số x chỉ định tứ-vectơ  của không-thời gian bốn chiều. Cũng vậy phương trình Maxwell của photon – diễn tả bởi tứ-vectơ điện thế  – không hề thay đổi bởi phép biến chuyển chuẩn  , ta thêm vào hay bớt đi một đạo hàm của bất kỳ hàm α(x) nào cũng không làm thay đổi phương trình Maxwell. Chính vì vậy mà đối xứng chuẩn chi phối toàn diện tương tác điện từ giữa electron với photon.  Cụ thể ta mường tượng đối xứng này như sau: điện thế của trái đất là một triệu volt và hai cực điện trong nhà là 1000000 volt và 1000220 volt, nhưng máy của chúng ta chạy với 220 volt không hề trục trặc mặc dầu hàng triệu volt điện thế của quả đất. Vì α(x) là bất kỳ hàm gì, nghĩa là có thể có muôn ngàn điện thế tùy tiện khác nhau ở mọi nơi trong hoàn vũ bao la, nhưng định luật chi phối sự vận hành của chúng phải được điều chỉnh ra sao để cho ta một trường điện từ duy nhất. Sự  vận hành trong máy của chúng ta mang lên các thiên thể xa xăm không bị thay đổi bởi điện thế tuỳ tiện lớn hay nhỏ trên đó, điện tích của electron bao giờ cũng bất biến, ở đây hay ở đó, lực điện từ trong máy của chúng ta cũng là lực điện từ trên các thiên thể.  Đó là ý nghĩa vật lý của đối xứng chuẩn, nó tác động lên cả bốn lực cơ bản: hấp dẫn, mạnh, điện-từ, yếu.  Theo thuyết tương đối rộng (luật hấp dẫn), mọi người quan sát bất kể họ vận chuyển ra sao đều bình đẳng như nhau, người di chuyển với gia tốc cũng có thể nói họ đứng yên vì họ có thể thay thế lực mà họ bị áp đặt lên bằng lực hấp dẫn mà họ bị đặt vào. Sự tương đương giữa gia tốc và trọng lực có thể minh họa qua hình ảnh quen thuộc của phi hành gia lơ lửng đứng yên trong hỏa tiễn bay với gia tốc lớn. Nó phản ánh ý tưởng mà Einstein coi như mãn nguyện nhất trong đời ông: “một người rớt từ trên cao xuống không cảm thấy sức nặng của mình”. Theo nghĩa đó, lực hấp dẫn tuân thủ một đối xứng chuẩn, nó bảo đảm rằng mọi hệ quy chiếu đều tương đương với nhau.  Đối xứng chuẩn khẳng định tính bất biến của định luật điện từ trong những phép chuyển dời của điện tích đi từ không-thời điểm này đến không-thời điểm kia.  Cũng thế, đối với lực mạnh của hạt nhân nguyên tử thì hai hạt proton và neutron đều hoàn toàn bình đẳng như nhau, định luật tương tác mạnh không thay đổi bởi sự hoán chuyển proton ↔ neutron ở bất kỳ không-thời điểm nào.  Và đây là điểm cốt lõi: Sự đối xứng bình đẳng của mọi hệ quy chiếu đòi hỏi phải có luật hấp dẫn, hơn nữa nó còn xác định được luật hấp dẫn là gì dưới dạng toán học qua phương trình  Einstein của thuyết tương đối rộng.  Cũng vậy, lực mạnh của hạt nhân nguyên tử không phụ thuộc vào sự hoán chuyển proton ↔ neutron. Tính đối xứng giữa proton ↔ neutron đòi hỏi tương tác mạnh phải được diễn tả dưới dạng của một phương trình cụ thể. C. N.Yang cùng đồng nghiệp trẻ R. Mills bàn luận về sự bất biến của lực mạnh dưới sự hoán chuyển proton ↔ neutron (nhóm đối xứng SU(2) của toán học) và tìm ra phương trình tương tác đáp ứng đối xứng chuẩn này. Công trình phong phú đó mang tên lý thuyết chuẩn Yang-Mills.  Sắc động lực học lượng tử (Quantum Chromodynamics, QCD) là định luật đáp ứng phép đối xứng sắc tích (color charge) của quark, nghĩa là bất kỳ các dịch chuyển ra sao trong không-thời gian của sắc tích đều không làm thay đổi tương tác của quark.  Một hậu quả độc đáo của lý thuyết chuẩn Yang-Mills nói chung (và của QCD nói riêng), là các boson chuẩn phải trực tiếp tác động giữa chúng với nhau, khác hẳn với photon (boson chuẩn của điện từ) không có tương tác trực tiếp này. Chính sự tác động trực tiếp với nhau giữa các gluon (boson chuẩn của QCD) là gốc nguồn của tính chất “tự do tiệm tiến” theo đó lực mạnh giảm đi khi quark xích lại gần nhau và do đó tăng lên khi chúng bị tách xa nhau. Càng đẩy chúng ra xa để tách rời chúng thì lực gắn kết chúng lại càng mạnh hơn lên để kéo giữ chúng lại, điều trái ngược với lực Coulomb của điện từ  bị giảm đi theo bình phương khoảng cách của hai điện tích. Quark mãi mãi bị cầm tù, chúng không sao thoát khỏi ra ngoài hadron để lộ mặt, và tính chất “tự do tiệm tiến” vinh tặng D. J. Gross, H. D. Politzer và F. Wilczek. giải Nobel 2004.   Đặc điểm cần nhấn mạnh của đối xứng chuẩn là nó đòi hỏi các boson chuẩn có spin 1 (gauge boson)  – làm trung gian sứ giả cho những fermion (như quark và lepton) tương tác với nhau  – phải không có khối lượng. Photon hay gluon là thí dụ của boson chuẩn không có khối lượng.   2-   Hạt cơ bản và Mô Hình Chuẩn  Khi con người xây dựng được một hệ thống nghiêm túc của những ý tưởng và phương pháp suy luận chính xác, nhất quán cũng như những ngôn từ tương xứng để diễn tả và giải thích thế giới bên ngoài, thì theo nghĩa đó họ đã tạo dựng nên một thực tại thiên nhiên mà hạt cơ bản và vũ trụ là thí dụ điển hình về cái mà chúng ta hiểu biết về hai thái cực vô cùng nhỏ cũng như vô cùng lớn đó.  Hạt cơ bản (viên gạch vi mô tận cùng của vật chất, không sao chia cắt nổi) – mà con người tạo dựng nên –  không phải là duy nhất, sự hiểu biết về chúng phát triển tùy theo thời đại và các nền văn hóa.  Hết rồi thời xa xưa khi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là năm thành phần sơ đẳng cốt lõi của vật chất, chỉ mới đầu thế kỷ 20 thôi mà phân tử hãy còn được coi là hạt sơ cấp tận cùng của vật chất. Ngày nay chúng ta biết phân tử là tập hợp của nhiều nguyên tử khác nhau liên kết bởi electron ngoại vi, mà mỗi nguyên tử lại là hạt nhân của nó thu hút những electron dao động chung quanh bởi lực điện từ mà photon là sứ giả nối kết, rồi hạt nhân nguyên tử cũng lại do proton cùng neutron gắn với nhau mà thành, sau hết proton và neutron cũng chỉ là trạng thái liên kết của các quark u  và  d  qua trao đổi gluon của lực hạt nhân mạnh.  Cứ thế, như những con mẫu búp bê Nga liên hồi chứa đựng nhau, chuỗi dài của những hạt cơ bản đi từ phân tử đến quark là cả một quá trình sáng tạo, khám phá bền bỉ khi lên lúc xuống, lý thuyết cùng thực nghiệm chặt chẽ đan xen.  Theo sự hiểu biết hiện đại thì hạt cơ bản là quark và lepton, chúng là những viên gạch sơ đẳng tận cùng để cấu tạo nên vật chất bất động hay sinh động ít nhất là trên Trái đất, hệ Mặt trời.  Hiện tình của các hạt cơ bản được tóm tắt trong sơ đồ Hình 1, chúng gồm có hai phần: mười hai hạt có spin [4]  ½ như  quark và lepton cùng bốn boson chuẩn có spin 1 như photon , gluon g, hai boson Z, W của lực yếu.    Có sáu loại quark mang ký hiệu u (up), d (down),  s (strange), c (charm), t (top), b (bottom), sáu loại lepton bao gồm ba hạt e– (electron), μ– (muon), τ – (tauon) mang điện tích âm -e, và ba hạt neutrino ve, vμ, vτ  trung hòa điện tích, theo thứ tự ba hạt neutrino này bao giờ cũng sánh đôi từng cặp với ba hạt electron, muon, tauon trong tương tác.  Sự cân bằng trong thiên nhiên về số lượng: sáu loại quark và sáu loại lepton không tình cờ mà là hậu quả sâu sắc (nhưng khá kỹ thuật chuyên môn) của đối xứng chuẩn trong lý thuyết trường lượng tử.  Chỉ có bốn lực cơ bản chi phối các tương tác của vật chất, đó là  hấp dẫn, điện từ và lực hạt nhân mạnh, yếu. Ba tương tác “phi hấp dẫn”: mạnh, yếu, điện từ đã thành công trong việc được lượng tử hóa và tái chuẩn hóa (điều mà luật hấp dẫn của thuyết tương đối rộng không hay chưa làm được), chính vì vậy mà ba lực này diễn giải nhất quán và chính xác cách vận hành, tác động của các hạt vi mô cơ bản.  Lực mạnh gắn kết quark trong hạt nhân nguyên tử và làm cho vật chất vững bền nói chung.  Lực điện từ diễn tả electron tương tác với proton trong hạt nhân nguyên tử để tạo nên các nguyên tử và phân tử của các hóa chất trong bảng tuần hoàn Mendeleïev cũng như của các tế bào và gen sinh vật.  Lực yếu chi phối toàn diện sự vận hành của neutrino, làm cho một số hạt nhân nguyên tử phân rã và phát tán neutrino.  Tương tác mạnh (strong interaction) của các quark trao đổi gluon g giữa chúng được gọi là  Sắc động lực học lượng tử (Quantum Chromodynamics hay QCD), thuật ngữ vay mượn của Ðiện động lực học lượng tử (Quantum Electrodynamics hay QED) diễn tả tương tác điện từ của các hạt mang điện tích trao đổi photon g giữa chúng.  Hai danh từ sắc và  điện để chỉ định hai tính chất lượng tử riêng biệt, sắc tích (color charge) của quark và  điện tích (electric charge) của lepton e –, μ –, τ –.  Cũng như thuật ngữ quark, thuật ngữ sắc dùng ở đây chỉ  là trò chơi chữ của các nhà vật lý hạt cơ bản, nó chẳng có chút liên hệ gì tới màu sắc xanh, đỏ của ngôn ngữ hàng ngày. Theo một định lý sâu sắc liên kết spin với phép thống kê của lý thuyết trường lượng tử, vì có spin ½ nên khi 3 quark kết hợp với nhau trong trạng thái căn bản để tạo thành proton thì quark phải mang 3 đặc tính lượng tử (mà ta gọi là 3 sắc tích) để tuân thủ phép thống kê Fermi-Dirac, theo đó các fermion (spin ½) không thể cùng ở chung một trạng thái (spin, năng lượng…), trái ngược với những boson (spin 0, 1)  tha hồ hoà đồng trong cùng một trạng thái.  Quark khác lepton ở chỗ là ngoài sắc tích ra, chúng cũng mang điện tích, nhưng điện tích của chúng không phải là con số nguyên – e như electron mà là + (⅔)e cho ba quark u, c, t  và   –(⅓)e cho ba quark d, s, b.  Chính vì quark có cả sắc tích và điện tích nên chúng bị chi phối bởi cả ba lực: điện từ,  hạt nhân mạnh, hạt nhân yếu. Còn electron, muon, tauon vì mang điện tích nên bị tác động bởi hai lực: điện từ và yếu. Neutrino trung hòa điện tích nên chỉ bị chi phối duy nhất bởi lực yếu. Thuật ngữ yếu, thoạt nghe tưởng như nhỏ yếu ít tác động, nhưng thực ra nó chủ chốt điều hành sự tổng hợp nhiệt hạch trong các thiên thể, phát tán ra năng lượng cực kỳ cao mang ánh sáng cho bầu trời ban đêm cũng như phóng ra hàng muôn tỷ hạt neutrino từng giây đang xuyên qua da thịt chúng ta.  Quark cũng như lepton tương tác với nhau qua sự trao đổi các boson chuẩn. Boson chuẩn của lực mạnh là gluon g, của lực điện từ là photon g, của lực yếu là hai boson W, Z, chúng có vai trò làm trung gian nối kết và truyền tải thông tin để cho các viên gạch cơ bản quark và lepton tương tác với nhau.  Điều quan trọng đã nhấn mạnh ở cuối phần 1 là các boson chuẩn phải không có khối lượng, đó là trường hợp của photon và gluon, nhưng hai boson chuẩn W, Z của lực yếu lại quá nặng.  Câu hỏi là  W, Z  không thể là boson chuẩn ? như thế lực yếu không tuân thủ đối xứng chuẩn, một nguyên lý nền tảng vững chắc, nhất quán để tính toán, tiên đoán mọi hiện tượng?  Câu trả lời là có, giải đáp bởi cơ chế BEH (Brout, Englert, Higgs). Mô phỏng một hiện tượng khá phổ quát trong thiên nhiên gọi là sự Phá vỡ Tự phát tính Đối xứng (Spontaneous Breaking of Symmetry, SBS) mà người tiên phong mở đường là Y. Nambu, giải Nobel 2008,  P. Higgs [5] và  đồng nghiệp sáng tạo ra cơ chế BEH mang khối lượng cho W, Z và cả cho quark lẫn lepton, nói chung cho vật chất, và hơn nữa chứng minh là cơ chế này vẫn tuân thủ đối xứng chuẩn.  Ngoài ra, hai định luật cơ bản điện từ và hạt nhân yếu tuy có cường độ tương tác hiệu dụng quá khác biệt nhưng vì nhận thấy chúng có nhiều đặc tính chung nên S. Glashow, A.Salam và S. Weinberg (giải Nobel 1979) sử dụng cơ chế BEH để kết hợp lực điện từ và lực hạt nhân yếu trong một tương tác duy nhất mà Salam đặt tên là  điện-yếu (electroweak). Thành tựu tuyệt vời này gọi là Mô Hình Chuẩn (Standard Model) đã mang lại khoảng ba chục giải Nobel trong ba chục năm gần đây. Mô Hình Chuẩn tiên đoán nhiều hiện tượng và hạt mới lạ cũng như tính chất của chúng mà sau đó đều được thực nghiệm kiểm chứng với độ chính xác đáng kinh ngạc. Hãy tạm kể hạt Ω–, dòng trung tính của lực hạt nhân yếu, các quark charm, top, bottom, hai boson chuẩn W, Z, mới lạ hồi hộp nhất là hạt cơ bản vô hướng Higgs vừa được phát hiện.               Hình1: Sơ đồ các hạt cơ bản trong Mô Hình Chuẩn            Ở trung tâm của Hình 1, duy nhất boson Higgs mang màu xám nhạt như để nhắc nhở là hạt này tuy là nền tảng lý thuyết của Mô hình chuẩn nhưng lại chưa được thực nghiệm khẳng định, khác với màu hồng, xanh, tím của quark, lepton, boson chuẩn (Z, W, , g) đã được thực nghiệm xác nhận là hiện hữu. Rất có thể kể từ ngày mồng 4 tháng 7 năm 2012, màu xám của hạt Higgs sẽ rực rỡ ánh vàng vì hai nhóm thực nghiệm ATLAS và CMS ở CERN vừa tìm ra dấu vết nó trong máy gia tốc LHC.  3-  Sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng  Ta cần phân biệt hai điều quan trọng khi bàn luận về tính đối xứng: một là định luật vật lý diễn tả bởi phương trình, hai là trạng thái của hệ thống vật lý diễn tả bởi nghiệm số của phương trình trên. Sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng hàm nghĩa là định luật (hay phương trình) cơ bản mang một phép đối xứng nào đó, trong khi nghiệm số của phương trình ấy lại không có cái đối xứng nguyên thủy, tính đối xứng của hệ thống bị thu hẹp lại nhưng không mất đi.  Hãy lấy thí dụ cụ thể về định luật vạn vật hấp dẫn cổ điển Newton áp dụng vào hệ thống Mặt trời và Trái đất để minh hoạ. Định luật hấp dẫn tuân thủ phép đối xứng quay trong không gian ba chiều với bất kỳ một góc nào chung quanh Mặt trời, luật đó bảo cho ta là  quỹ đạo hình bầu dục của Trái đất có thể nằm trong bất kỳ một mặt phẳng xích đạo nào của quả cầu có tâm là Mặt trời.  Nhưng hệ thống Mặt trời và Trái đất, nghĩa là nghiệm số của phương trình hấp dẫn, chỉ chọn một quỹ đạo duy nhất trong muôn vàn quỹ đạo có thể.  Định luật thì có đối xứng quay trong không gian ba chiều của hình cầu, trong khi trạng thái thì chỉ có đối xứng quay bị thu hẹp lại trong không gian hai chiều của mặt phẳng. Nằm trên quỹ đạo phẳng đó ta có thể nhầm tưởng là tính đối xứng quay nói trên bị phá vỡ, nhưng thực ra không thế, nó chỉ bị che khuất trong mặt phẳng.  Tìm ra phương trình là một chuyện, nhưng giải phương trình để có nghiệm số thỏa mãn điều kiện ban đầu nào đó lại là một chuyện khác. Ở đây ta giới hạn điều kiện ban đầu là năng lượng cực tiểu và nghiệm số tương ứng gọi là trạng thái căn bản hay chân không. Do vật chất (và năng lượng) được đặt vào chân không nên mọi sự trở nên đa dạng, phức tạp trong vũ trụ. Vì được coi là trạng thái đối xứng hoàn hảo nhất, nó bất biến bởi mọi chuyển đổi và do đó ta có thể nghĩ  rằng chỉ có duy nhất một chân không (nơi vật chất vắng mặt). Nhưng có nhiều trường hợp không phải như vậy, có thể có muôn vàn trạng thái căn bản tương đương nhau, chẳng sao phân biệt, ta phải chọn cụ thể một trạng thái nhất định nào đó để xác định chân không. Tính đối xứng không bị phá vỡ trong toàn thể, nhưng về cục bộ thì nó bị che khuất trong chân không, đó là SBS minh họa bởi Hình 2.          Hình 2 Minh họa hiện  tượng SBS: Thế giới hoàn toàn đối xứng chung quanh trục thẳng đứng, khi  cậu nhỏ nhìn từ đỉnh cao chót (nhưng bấp bênh) của nón. Sàn dưới (trạng  thái căn bản) vững chắc nhưng nghiêng xa trục thẳng đứng, đối xứng vẫn  còn nhưng chỉ cục bộ đâu đó trong vìa nón thôi.           Hiện tượng SBS khá phổ biến trong vật lý mà vật liệu sắt-từ (kim loại sắt hay kền) là một thí dụ. Định luật cơ bản chi phối chất sắt-từ thì hoàn toàn đối xứng trong sự phân phối spin (coi như những la bàn nhỏ xíu) của các nguyên tử kền. Spin song song của chúng không có một chiều hướng nào giữ ưu thế trong toàn thể không gian ba chiều. Nhưng trong một thỏi nam châm của vật liệu sắt-từ, nghĩa là trong trạng thái căn bản của các nguyên tử kền, thì chiều spin song song của các nguyên tử này lại chỉ có một chiều nhất định bắc nam thôi, vậy trạng thái đó chỉ còn có một đối xứng thu hẹp trong mặt phẳng.   Cũng vậy, siêu dẫn điện-từ minh họa hiện tượng SBS. Tính siêu dẫn của một số vật liệu ở nhiệt độ thấp là một đặc trưng của vật lý lượng tử, nó không có điện trở, vì thế nó trục xuất bất kỳ một điện trường lớn nhỏ ở ngoài áp đặt vào nó. Hơn nữa, để gần vật liệu siêu dẫn thì  thỏi nam châm bị đẩy ra ngoài, từ trường bị trục xuất ra khỏi vật liệu siêu dẫn, đó là hiệu ứng Meissner- Ochsenfeld. Hiệu ứng này có thể là cội nguồn cho xe lửa trong tương lai được nâng lên trên đường ray, không bị lực ma sát nên xe lửa chạy nhanh (phụ chú 3e). Như vậy vật liệu siêu dẫn ngăn chặn tầm truyền của trường điện từ, nó là một hệ thống trong đó photon chỉ có thể tác động trong một khoảng cách ngắn, khác với bản chất tự tại của sóng điện từ có thể truyền đi vô hạn. Khi chuyển động trong vật liệu siêu dẫn thì photon, boson chuẩn của điện từ, bị cản trở bởi một bức tường chắn và như vậy photon tác động giống như mang một khối lượng [6],  mặc dầu phương trình điện từ Maxwell của nó vẫn tuân theo đối xứng chuẩn.    Bức tường chắn đó trong thuyết siêu dẫn của J. Bardeen [7],  L. N. Cooper và J. R. Schrieffer (BCS), giải Nobel 1972, là trạng thái căn bản của muôn ngàn cặp Cooper, cặp liên kết hai electron có spin đối nghịch và như vậy cặp này mang spin 0. Mỗi cặp Cooper mang điện tích -2e  nhưng vì có spin 0 nên những cặp này có thể hoà đồng chung sống tựa như một đông tụ Bose-Einstein. Mỗi electron thì cô đơn [8] và có cá tính mạnh mẽ, nhưng kỳ lạ thay ở một hoàn cảnh đặc biệt nào đó (nhiệt độ thấp) chúng lại dễ kết cặp với nhau, mỗi cặp tuy mảnh mai nhưng khi tụ họp đông đảo lại hòa đồng để vận hành như một dòng chảy thuần khiết của muôn ngàn điện tích và trở nên siêu dẫn.  Mặc dù photon có khối lượng khác 0, đối xứng chuẩn trong siêu dẫn điện từ  không hề bị phá vỡ, nó chỉ bị che khuất đi bởi các cặp Cooper ở trạng thái căn bản, hiện tượng siêu dẫn là một biểu hiện sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng chuẩn.  Sắt-từ, Siêu dẫn điện từ  là hai thí dụ của SBS.  Hiện tượng SBS giúp ta hiểu tại sao boson chuẩn photon, trên nguyên tắc phải không có khối lượng, cuối cùng lại hóa ra có khối lượng trong hiện tượng siêu dẫn. Nó quả là một diệu pháp khiến cho hai boson chuẩn không khối lượng của lực yếu W, Z  dựa vào để có khối lượng.  Nhưng mang khối lượng cho boson chuẩn chưa đủ, hãy còn một vướng mắc cuối phải vượt qua để cho cơ chế BEH được nhất quán và chính xác trên nguyên tắc. Thực thế,  một định lý do J. Goldstone khám phá ra, theo đó thì hậu quả tất yếu của SBS là phải xuất hiện một hạt không khối lượng, không spin, được gọi là boson Nambu–Goldstone (NG). Ta có thể cảm nhận bằng trực giác định lý Goldstone khi quan sát cậu nhỏ trên vành nón. Cậu chẳng cần mất một chút năng lượng nào mà vẫn có thể di chuyển dễ dàng suốt quanh vành nón vì bất kỳ trạng thái căn bản nào trên vành nón cũng đều giống hệt nhau. Không cần một chút năng lượng nào để biến chuyển thì cũng tựa như dựa vào tác động của một hạt nhạt phèo, không khối lượng, không spin, đó chính là boson NG mà thực nghiệm có thể dễ dàng phát hiện, nếu có thật. Nhưng phiền toái thay, chẳng ai thấy bóng vía của boson NG hiện ra bao giờ cả, nó thực là một di sản cồng kềnh của SBS cần phải loại bỏ.  P. Higgs và đồng nghiệp đã thành công trong cách chứng minh được sự triệt tiêu này. Ta có thể tóm tắt nôm na là họ đạt hai đích với một mũi tên qua hình ảnh boson chuẩn khởi đầu nhẹ tênh (không khối lượng) đã nuốt chửng boson NG để cuối cùng trở thành  W, Z nặng nề của lực yếu. Không những mang khối lượng cho W, Z, trường Higgs cũng mang khối lượng cho quark và lepton với đặc điểm là khối lượng của chúng tỷ lệ thuận với lực tương tác với boson Higgs. Với trường Higgs thì quark top tác động mạnh mẽ nhất, neutrino hay electron lại quá hững hờ, còn photon thì hoàn toàn vô cảm.  Ý nghĩa của hiện tượng Higgs như lời tạm kết  Nếu hiện tượng vừa khám phá ở CERN được kiểm chứng sau này phù hợp với những đặc tính của boson Higgs (spin 0, những kiểu phân rã và sản xuất đúng như tiên đoán của Mô Hình Chuẩn) thì chúng ta đang chứng kiến một chương cũ sắp khép và một trang sử mới đang ló dạng trong vật lý. Khép chương cũ vì đã hoàn tất một đoạn đường dài là tất cả 17 hạt cơ bản trong Hình 1 đều được thực nghiệm khám phá hết cả, không còn gì thiếu sót. Điều này  khẳng định hơn bao giờ hết sự vững chắc của Mô Hình Chuẩn, một lý thuyết nền tảng, một hệ hình mà từ đây mọi phát triển sau này đều phải dựa vào để phát triển xa hơn nữa.    Chương mới, vì cơ chế BEH thực sự lên ngôi, nó nhất quán, chính xác trên lý thuyết lại được thực nghiệm khẳng định. Cơ chế  BEH này có thể ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành khác, nó được sinh ra qua một hôn phối đặc biệt giữa hai ngành xa lạ: vật lý chất đông đặc (siêu dẫn) và vật lý hạt (lực yếu của neutrino), boson Higgs là hình ảnh của cặp Cooper liên kết hai electron. Cách tiếp cận quy giản của các nhà vật lý hạt qua sự tìm kiếm phương trình cơ bản, đã huởng thụ cách tiếp cận mở, hiệu dụng thiên về tìm kiếm xấp xỉ những nghiệm số của phương trình Maxwell đã biết sẵn, quả là một bài học phong phú của phương pháp luận.    Chương mới, vì đây là lần đầu xuất hiện một hạt cơ bản duy nhất có spin 0 mang khối lượng cho vạn vật. Các hạt khác đều có spin khác 0: vật chất tượng trưng bởi  quark và  lepton có  spin ½, boson chuẩn (lực nối kết và truyền tải thông tin để cho các viên gạch cơ bản của vật chất tương tác với nhau) có spin 1.  Trường vô hướng Higgs tràn ngập trạng thái chân không của vũ trụ ngay từ thủa sơ khai Big Bang, tương tác đặc biệt của nó với vật chất là để cung cấp khối lượng cho chúng. Càng tương tác mạnh bao nhiêu với trường Higgs, vật chất lại càng được tăng khối lượng bấy nhiêu, tựa như người không biết bơi, càng vùng vẫy mạnh càng nặng thêm mà chìm xuống, càng bất động im hơi càng nổi bềnh bồng. Quan điểm về khối lượng có thể đổi khác từ nay, sự tương tác trao đổi trong chân không lượng tử, một vũ đài náo nhiệt, mới chính là gốc nguồn của khối lượng và năng lượng.    Một câu hỏi để tạm kết: Tuy trường Higgs mang khối lượng cho vạn vật,  nhưng cái gì mang lại cho chính boson Higgs cái khối lượng 126 Gev/ c2 mà LHC vừa khám phá ra? Đừng quên là khoảng 96% năng-khối lượng trong toàn vũ  (mệnh danh là  năng lượng tối và  vật chất tối) hãy còn ở ngoài sự hiểu biết hiện nay của con người.  Một chân trời mới “hậu Mô Hình Chuẩn” đầy triển vọng đang đón chờ đóng góp, giải đáp bởi thế hệ trẻ.         [1] Máy gia tốc LHC ( Large Hadron Collider) tốn kém khoảng bốn tỷ euros, chu vi 27  km nằm sâu hơn 100 m dưới mặt đất, công xuất điện cung cấp cho LHC hoạt động là 120MW, tương đương với nhu cầu điện của toàn thể quận Genève. Phụ thêm hai máy khổng lồ để dò tìm hạt: CMS dài 21m, đường kính 15m, nặng 12500 tấn, ATLAS dài 46m,  đường kính 25m, nặng 7000 tấn.    [2] Nhóm đối xứng giản dị nhất diễn  tả bởi hàm eiα(x)  là nhóm quay U (1) trong mặt phẳng.   Đi xa hơn, quan sát cách vận hành cũng như tác động giống hệt nhau của hai hạt proton và neutron trong các hạt nhân nguyên tử đưa Heisenberg đến khái niệm nhóm đối xứng SU(2) chi phối chúng.   Murray Gell-Mann  nới rộng nhóm SU(2) thành nhóm đối xứng SU(3) giữa 3 vật thể (proton, neutron, hadron L) để sắp xếp chúng và xây dựng nên cấu trúc cũng như  tính chất của những hạt phức hợp hạ nguyên tử (gọi chung là hadron) mà các nhà thực nghiệm đã tìm thấy từ những năm  1950 mà không ai hiểu tại sao và bản chất chúng là gì. Sự phân loại và sắp xếp trật tự những hadron này bởi Gell-Mann cũng tựa như Mendeleïev trước kia đã làm với các nguyên tố hóa học rối rắm từ hydrogen đến uranium.   Dùng nhóm đối xứng SU(3), ông tiên đoán năm 1962 là tất yếu phải hiện hữu hạt W– (khối lượng của hạt này cũng đã được tính toán trước),  năm 1964 các nhà vật lý thực nghiệm tìm ra nó ở Brookhaven.   Ngày nay ta hiểu là tất cả các hadron đều chỉ  là trạng thái liên kết của các hạt cơ bản quark với nhau hay/và quark với phản quark, đặc biệt Ω–  là trạng thái  liên kết của 3 quark s.  Coi Hình 1 sơ đồ về quark.   [3]  Tạm kể mấy thành quả kỳ diệu của công nghệ mang đến cho đời sống hàng ngày:   a-Công nghệ thông-truyền-tin với mạng lưới toàn cầu được sáng tạo và dùng đầu tiên bởi các nhà vật lý ở CERN (Centre Européen de Recherche Nucléaire) chuyên về nghiên cứu hạt cơ bản. Ðặt ở biên giới Pháp-Thụy Sĩ gần thành phố Genève với máy gia tốc LHC trong đó công nghệ siêu dẫn của điện từ được tận dụng, tạo nên những từ trường rất mạnh để đẩy những hạt electron, positron, proton cho đạt tới vận tốc gần bằng ánh sáng, nhờ đó mà tìm kiếm các hạt cơ bản cấu tạo nên vạn vật, khám phá thăm dò được bản chất cũng như các định luật tương tác của chúng. Vì hàng ngàn nhà vật lý ngành năng lượng cao này đều sinh hoạt ở nhiều quốc gia tản mát khắp địa cầu không phải lúc nào cũng có thể thường xuyên làm việc bên CERN, để dễ dàng cộng tác và trao đổi rất nhiều dữ liệu, cùng nhau phân tích tổng hợp nhanh chóng các kết quả nghiên cứu, khoảng năm 1990 đã xuất hiện mạng lưới toàn cầu. Chưa đầy mười năm sau, internet đã nhanh chóng tràn ngập thị trường thông-truyền-tin quốc tế mà điển hình là động cơ truy cập Google.         b-Cuộc cách mạng số trong những phương tiện truyền thanh, truyền hình, quay phim, điện thoại v.v. được phát triển nhờ những khám phá về laser và chất bán dẫn mà đại diện là các linh kiện vi tính, vi điện tử, quang điện tử.         c-Hệ thống GPS (Global Positioning System) để xác định tức khắc các địa điểm trên hoàn cầu trang bị các phương tiện vận tải, thông truyền tin. Hệ thống đó tùy thuộc căn bản vào máy đo thời gian vô cùng chính xác (đồng hồ nguyên tử khai thác sự dao động tuần hoàn của các nguyên tử vi mô) được làm ra với mục tiêu khoa học thuần túy để kiểm chứng thuyết tương đối rộng trong vũ trụ học và thiên văn. Theo thuyết này nhịp độ của đồng hồ thay đổi với sức hút của quả đất, trọng lực giảm thì tần số dao động cũng giảm theo, hay thời gian trôi nhanh lên.        d-Công nghệ liên quan đến y tế dùng máy gia tốc của các hạt proton hay electron, laser trong giải phẫu, trị  bệnh, máy chụp hình nổi như MRI (magnetic resonance imaging), PET (positron emission tomography) trong đó hạt positron (tức phản electron)  được tận dụng để rõi theo sự biến chuyển của tế bào.         e-Hiện tượng siêu dẫn điện-từ ở nhiệt độ thấp (từ sát 0K đến 165 K) là một đặc trưng của vật lý lượng tử. Vật liệu siêu dẫn không có điện trở, điện không bị thất tán nếu truyền tải bằng dây siêu dẫn. Hơn thế nữa, một thanh nam châm để gần một vật liệu siêu dẫn sẽ bị nâng bật ra ngoài, khác với điện từ ở điều kiện bình thường. Với những đặc tính trên và từ trường cực kỳ mạnh duới trạng thái siêu dẫn, có nhiều triển vọng cho công nghiệp của thế kỷ 21, đặc biệt trong sự sản xuất, tích trữ và chuyển vận năng lượng. Một thí dụ là khả năng điều chỉnh được sự tổng hợp nhiệt hạch với lò phản ứng nhiệt hạch quốc tế ITER xây dựng ở Cadarache miền nam nước Pháp. Ngoài ra còn phải kể đến khả năng chủ yếu của siêu dẫn trong các ngành liên quan đến điện tử (với máy tính và dữ kiện dùng vật liệu siêu dẫn), đến sinh học (với thiết bị sensor cực kỳ nhậy bén), đến vận tải (với tàu hỏa tốc hành nâng lên bởi từ trường siêu dẫn, không chạm đường ray nên tàu chạy rất nhanh lại an toàn), đến vật liệu carbon như fullerene C60, vật dẫn điện hữu cơ, đất hiếm.  [4] Đơn vị đo lường của spin là ħ = h/2π, h là hằng số Planck. Qua phương trình Dirac, spin ћ/2 của fermion là một đặc trưng độc đáo của vật lý lượng tử. Spin, tựa như  xung lượng góc, miêu tả tính chất quay vòng nội tại của các hạt vi mô cơ bản (như con quay xoay chung quanh trục của nó), spin  ћ/2 = h/4π nghĩa là  hạt phải quay hai vòng (4π) mới trở lại vị trí ban đầu, điều không tưởng trong cơ học cổ điển.   [5]Thực ra có sáu người trong ba nhóm độc lập với nhau hầu như đồng thời cùng đề xuất dùng SBS để mang khối lượng cho boson chuẩn (lúc ấy internet chưa có để đưa bài lập tức lên mạng như ngày nay các nhà nghiên cứu thường làm). Nhóm thứ nhất gồm R. Brout và F. Englert xuất bản ngày 31/08/1964, nhóm thứ hai riêng một mình P. Higgs xuất bản ngày 19/10/1964, nhóm thứ ba gồm G. Guralnik, C. Hagen và T. Kibble xuất bản ngày 16/11/1964. Tất cả các bài đều trên tạp chí  Phys. Rev. Lett. số 13.    Bài của P. Higgs thực ra được gửi cuối tháng 7 năm 1964 trước cho tạp chí Phys. Lett. ở CERN, nhưng bị từ chối ông bèn gửi sang Phys. Rev. Lett.  Người thẩm định bài của Higgs cho Phys. Rev. Lett. chính là Nambu.   Cần nhấn mạnh là chỉ riêng P. Higgs đã đề xuất là phải hiện hữu một hạt cơ bản mang spin 0, để cơ chế BEH này có thể kiểm chứng bởi thực nghiệm. S.Weinberg gọi hạt này là boson Higgs mà CERN vừa tìm thấy dấu vết ngày 04/07/2012.   [6] Hạt vi mô có khối lượng M ≠ 0 chỉ có thể tác động trong một khoảng cách R ≠ 0 hữu hạn (M ≠ 0 ↔ R≠ 0 vì hai đại lượng R và M bị kiềm chế bởi nguyên lý bất định Heisenberg R × M ~ ħ). Photon không khối lượng có thể truyền đi vô hạn, M= 0 ↔ R = ∞.  [7] John Bardeen được  2 giải Nobel vật lý, năm 1956 về transistor và năm 1972 về siêu dẫn.   [8]  Mai Ninh, Truyện ngắn “Hạt điện cô đơn”       http://amvc.free.fr/Damvc/Mai%20Ninh/TruyenNgan/HatDienCoDon%20-%20MN%20unicode.htm        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt lúa 3.000 năm nảy mầm?      Ngày 18/5/2010, báo điện tử Vn Express loan tin “Giới Khoa học (VN) xôn xao vì hạt lúa 3000 năm nảy mầm” (13). Sự việc bắt đầu khi Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung – Chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học trường Đại Học Quốc gia Hà Nội – tiến hành khai quật địa điểm khảo cổ Thành Dền đã tìm thấy những hạt thóc (hạt lúa) và gạo cháy xém tại 4 hố rác bếp. Khi đem các hạt thóc và gạo này ngâm trong nước để bảo quản thì khoảng 2 ngày sau có tới 10 hạt thóc đã nẩy mầm, đâm lá. TS Dung khẳng định “những hạt lúa này được lấy ra từ các hố rác bếp thuộc Văn hóa Đồng Đậu, tiền Đông Sơn, cách ngày nay 3.000 – 3.500 năm”.                              Trước thông tin này, nhiều nhà khoa học lớn Việt Nam, như ông Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp Lê Huy Hàm, hay Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Nguyễn Văn Bộ, vừa nghi ngờ nhưng cũng vừa thích thú. Ông Lê Huy Hàm phát biểu: “Nếu đúng là lúa cổ thì đây là một phát hiện chưa từng ghi nhận từ trước đến nay. Nó sẽ có ý nghĩa cực kỳ to lớn về mặt lịch sử cũng như về mặt di truyền học” (13).  Giáo sư Đào Thế Tuấn, vị giáo sư hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam, nhận định là các hạt lúa này có hình dạng ngắn, bề ngang rộng chứ không thon dài như lúa nhiệt đới. Đây là cũng là hình dạng của các loại lúa cổ xưa nhất ở Việt Nam như lúa nương, lúa nếp. Ông giả thuyết: “Theo tôi, nếu đúng là hạt thóc 3.000 năm nảy mầm thì có lẽ ở đây có một điều kiện đặc biệt nào đấy, tạo cho khu vực lưu trữ hạt thóc ở di chỉ Thành Dền chân không tốt nhất, giữ được sức sống cho chúng. Tôi giả định rằng trong khu vực lưu giữ các hạt thóc có lẫn lộn rất nhiều tro, hạt gạo cháy… Có thể chính môi trường này đã tạo điều kiện yếm khí tuyệt đối”. Đồng quan điểm với giáo sư Đào Thế Tuấn, Viện trưởng Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Nguyễn Văn Bộ cho biết “không loại trừ khả năng những hạt thóc này được bao bọc bởi một môi trường đặc biệt, có thể là yếm khí hoàn toàn mà con người chưa biết đến” (14).  Tuy nhiên, cũng có chuyên viên nghi ngờ: “43 năm làm khảo cổ nhưng tôi chưa bao giờ nghe, hoặc chứng kiến chuyện này. Tôi cũng đã đọc rất nhiều tài liệu nhưng chưa thấy đề cập đến chuyện nào tương tự. Tôi rất sợ đó là những hạt thóc do chuột đào hang và tha xuống”, Phó GS Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường nói (14).  Hiện tại, 10 cây lúa (lần đầu 8 cây, 2 ngày sau thêm 2 cây) này được trồng, bảo vệ và theo dõi tại Viện Di truyền nông nghiệp Hà Nội để khảo nghiệm bằng các phương pháp hiện đại để đối chiếu với trình tự gene của giống lúa hiện đại để có kết luận đó có phải là lúa cổ hay không (13).    NHỮNG CÂU CHUYỆN HẠT CỔ ĐẠI “MUMMY SEEDS”  Chuyện hạt cổ “mummy seeds” (trong các ngôi mộ chôn vua chúa Ai Cập cách đây vài ngàn năm), hay hạt đào từ các địa điểm khảo cổ nẩy mầm sau vài trăm năm đến vài ngàn năm tồn trữ trong hầm, mộ không phải là hiếm.  Vào thế kỷ 19, vô số chuyện đăng trên báo chí danh tiếng, kể cả các tạp chí khoa học, về hạt “mummy seeds” nẩy mầm sau vài ngàn năm tồn trữ trong hầm mộ kim tự tháp. Chẳng hạn, trên tạp chí khoa học nổi danh thế giới NATURE, ngày 31/3/1887, giáo sư danh tiếng Judd thời đó khẳng định trong một bài báo rằng các hạt lúa mạch (barley) tìm trong các ngôi mộ chôn các vua Ai Cập cách đây trên 3.000 năm – nói chung là “Mummy seeds” – nảy mầm và cho ra cây bình thường, và trong phần tài liệu tham khảo, ông liệt kê một số tác giả làm các việc nảy mầm hạt “mummy” này, mà tất cả các tác giả này không phải khoa học gia mà chỉ là các nhà vườn và du khách “tài tử – amateur”. Chỉ nội 3 tuần sau, cũng trên tạp chí Nature, ngày 21/4/1887 (số 35, trang 582-582), GS George Murray viết lên cho biết sự thật sau khi điều tra, kiểm chứng và khám phá các hạt lúa mạch gọi là “Mummy seeds” là giả mạo bởi các tay buôn Ả Rập. Họ giả mạo hạt “Mummy seeds” bằng các hạt lúa mạch đương thời trồng chung quanh nơi các kim tự tháp đó, và bán cho các du khách, và các du khách tưởng bở là thật tuyên bố vung vít trên báo chí.  Năm 1897, Ông E. A. Wallis Budge, Giám đốc Viện Bảo tàng Anh Quốc về Ai Cập cổ đại gởi đến Vườn Bách thảo Hoàng gia Kew rất nhiều hạt “mummy seeds” có niên đại 3.000 năm để thử nảy mầm trong phòng thí nghiệm có thiết bị tối tân, kết quả không một hạt nào nẩy mầm.  Sau bài báo của GS Murray, và tường trình của Vườn Bách thảo Hoàng Gia Kew, các phòng khoa học khắp nơi trên thế giới tiết lộ thêm là tất cả chuyện hạt cổ đại “Mummy seeds” nảy mầm đều giả mạo với các hạt giống đương thời, hay các giống (cultivars), loài (species) mà vào thời kỳ 3.000 năm trước Ai Cập chưa có các loài hay giống hoa màu đó. Các hột thật sự “mummy seeds” đều chết. Ngày nay, với kỹ thuật DNA, thật là dễ dàng để khám phá các giả mạo. Chẳng hạn, năm 1922, một hạt đậu pea (Pisum sativum) tìm thấy trong lăng mộ vua Tutankhamen (chết năm 1334 trước Thiên chúa) nẩy mầm, nhưng sau đó khám phá ra rằng hạt đậu này là một giống địa phương bán ngoài chợ.  Năm 1967, trên tạp chí khoa học danh tiếng thế giới Science (số 158, trang 113-114) Porsild & cộng sự (16) tuyên bố hạt Lupinus arcticus (họ Đậu Leguminosae) có số tuổi trên 10.000 năm, khai quật từ một hầm băng tuyết thời Pleistocene, vẫn nảy mầm. Trong suốt 4 thập niên, các nhà khoa học đều tin tưởng là hạt Lupin này có tuổi thọ kỷ lục 10 ngàn năm, khí tồn trữ trong điều kiện băng tuyết trường kỳ (permafrost). Phải 42 năm sau, năm 2009, trên tạp chí khoa học New Scientists (số 182, trang 788-792), Zazula & cọng sự (23) chứng minh là giống Lupinus arcticus nói trên chỉ là một giống thương mại ngày nay, không phải được tốn trữ từ thời Pleistocene cách đây 10.000 năm. Có lẽ tầng băng giá Pleistocene bị nhiễm các hạt giống ngày nay do các loài gặm nhấm (như chuột, sóc) đào hang mang hạt vào để tồn trữ dành ăn.  Về chuyện giả mạo hạt “mummy” đều được mô tả hầu hết trong các sách giáo khoa bậc đại học ở Phương Tây (như Black, 1967; Prestley, 1986; Roos et al., 1996; Baskin & Baskin, 2001, v.v.).  Gần đây, tháng 12/2009, một tờ báo (lá cải) ở Turkey tường trình hạt giống lentil cổ đại 4.000 ngàn năm nảy mầm. Cho tới nay các báo khoa học (thật sự) và các khoa học gia (thật sự) của Turkey không đá động gì tới chuyện này.    TUỔI THỌ KỶ LỤC Ở HẠT  Vì vậy, khoa học chỉ công nhận là hạt cổ đại khi được định tuổi ít nhất bằng phương pháp phóng xạ C*, hay được tồn trữ trong điều kiện được xác định rõ ràng.  Tồn trữ khô: Hạt khô được tồn trữ trong phòng.  Năm 1908, Ewart (người Úc) (kể trong 11, 12) thử nghiệm hạt của 1.400 loài  (species) tồn trữ trong phòng lưu trữ mẫu thực vật (herbarium) tại Ấn Độ (có không khí khô và tương đối nóng), thì chỉ có 49 loài có tuổi thọ trên 50 năm, trong số này hết 37 loài trong họ Đậu. Loài đậu có tuổi thọ cao nhất là Hovea linearis với 17% nẩy mầm sau 105 năm.  Harrington (1972) (kể trong 11, 12) cho biết Cassia surattensis tồn trữ 43 năm trong phòng vẫn nảy mầm 100%.  Nhà thực vật học Pháp Paul Becquerel năm 1907 và 1934  thử nghiệm nảy mầm hạt của 500 loài tồn trữ trong phòng chứa (không khí khô và mát) của 1 viện bảo tàng ở Pháp. Chỉ có 13 loài có tuổi thọ trên 50 năm, trong số này là 11 loài họ đậu, mà Cassia bicapsularis sau 115 năm vẫn nảy mẩm 40%, và sau này thử nghiệm thêm cho là có tuổi thọ kỷ lục 158 năm (kể trong 11, 12).  Năm 1933, Ông J.H. Turner ở Vườn Bách thảo Hoàng gia Kew thử nghiệm nảy mầm hạt lưu trữ trong herbarium cho biết các loài họ đậu thuộc tông (genus) Anthyllis, Cytisus, Lotus, Medicago, Melilotus, và Trifolium có tuổi thọ trên 80 năm (kể trong 11, 12).  Tờ Gardeners’ Chronicle London, năm 1942 tường trình hạt Albizzia julibrissin (họ Đậu) nảy mầm sau 149 năm, và hạt súng Nelumbium speciosum (waterlily) nảy mầm sau 250 năm tồn trữ trong Viện Bảo tàng ở London.  Trong Đệ nhị thế chiến, không quân Đức dội bom London dữ dội và Viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên (Natural History Museum) bốc cháy. Đội Cứu hỏa phải xịt thật nhiều nước, làm ngập nhiều phòng chứa mẩu thực vật, và sau đó khám phá nhiều hạt sen (Lotus) có số tuổi 500 năm nảy mầm.  Tuổi thọ kỷ lục trong tồn trữ khô được giới khoa học công nhận là hạt chà-là (date, Phoenix dactylifera L.) có số tuổi 2.000 năm được tìm thấy dưới hầm một cổ thành trên đồi Masada gần Dead Sea ở Israel vào đầu thập niên 1970. Ba hạt chà-là này được cất trong ngăn tủ của phòng thí nghiệm thực vật thuộc Đại học Bar-Ilan (Israel) cho tới tháng 1/2005 (sau 30 năm) mới được thử nghiệm nảy mầm. Chỉ có một hạt trong số 3 hạt này nảy mầm thành cây con.  Hạt của cây này được định tuổi bằng phương pháp phóng xạ C* tại Đại học Zurich (Thụy Sĩ) là 1990 ± 50 năm, và phân tích DNA của lá cho biết là giống chà-là này khác biệt 13% với các giống chà-là trồng ở vùng Trung Đông, Phi châu hay Mỹ châu ngày nay. Đó là một giống chà-là đã bị tuyệt chủng hơn ngàn năm nay (19).  Tồn trữ trong đất (Tồn trữ hạt ẩm)  Hạt cỏ dại là một ví dụ rõ ràng. Cứ sau mùa mưa, hay sau khi cày xới đất, là cỏ dại mọc rộ. Ở vùng ôn đới, hạt cỏ dại có thể sống trong đất 50 năm. Hạt cây rừng tiền phong (pioneer forest tree) cũng sống hàng chục năm trong đất, và sau khi phá rừng hạt cây rừng này mọc để tái tạo rừng. Cũng có nhiều loại thực vật tưởng đã tuyệt chủng trong nhiều thập niên, tự nhiên thấy mọc lại. Chẳng hạn, 2 loài Viola persicifolia và Senecio paludosus được tường trình đã tuyệt chủng hàng mấy thập niên ở Anh. Năm 1974 chúng xuất hiện mọc lại từ khối đất đào lên khi công nhân đào một mương rảnh ở vùng Cambridge.  Để tìm hiểu tuổi thọ của hạt chôn vùi trong đất, Dr Beal ở Michigan (Hoa Kỳ) làm một thí nghiệm năm 1879. Ông sử dụng hạt của 20 loài, gồm 19 loài cỏ và một loài hoa màu (Trifolium repens). Mỗi loài, ông lấy 50 hạt trộn với đất cát ẩm để trong chai thủy tinh có đậy nút (cũng thủy tinh). Mỗi loài ông làm 20 chai, tổng cộng 400 chai. Tất cả các chai chứa hạt và đất ẩm này được chôn vào đất ở độ sâu 46 cm. Trong 40 năm đầu, cứ 5 năm, ông hay cọng sự viên của ông đào lấy 20 chai của 20 loài, đem thử nghiệm nảy mầm. Sau 40 năm, thì cứ 10 năm thì đào lên thử nghiệm độ nảy mầm một lần; như vậy các năm thử nghiệm là 1980 (trước khi chôn), 1885, 1889, 1894, 1899, 1905, 1910, 1915, 1922, 1931, 1941, 1951, 1961, 1971, 1981(100 năm), 1991, 2001 (120 năm). Kết quả sau 100 năm (1981), cho thấy hạt loài hoa màu Trifolium repens chỉ sống 5 năm, 3 loại cỏ sống 1 năm; ngược lại hạt cỏ Verbascum spp. (họ Scrophulariaceae) và Malva pusica (họ bông bụp Malvaceae) sống 100 năm; Rumex crispus (họ Polygonaceae) và Oenothera biennis (họ Onagraceae) sống 50 năm; cải hoang Brassica nigra (họ Cruciferae) sống 50 năm trong đất (15). Kết quả sau 120 năm (năm 2001), cho thấy 50 % hạt Verbascum nẩy mầm, và hạt Malva rotundifolia chỉ còn nảy mầm 2% (21). Như vậy, trong 20 loài chỉ có hạt loài Verbascum là thọ nhất, và nếu dựa vào sơ đồ tuổi thọ theo thời gian hạt loài này sẽ có tuổi thọ khoảng 180-200 năm (21).  Một thí nghiệm nỗi tiếng khác là của Dr Duvel thực hiện năm 1902 tại Arlington, Virginia, Hoa Kỳ. Ông chôn hột của 107 loài trong hũ chứa đất và hột chôn ở 3 độ sâu 20, 60 và 107 cm. Thí nghiệm chấm dứt sau 39 năm (1941). Kết quả cho thấy 2 loài hoa màu không có hưu miên (dormancy) đều chết sau 2 năm. Ngược lại hạt thuốc lá (Nicotiana tabacum), cần tây (Apium graveolens), Trifolium pratensePhytolacca americanaSolanum nigrum nẩy mầm 79-83% (22). đều sống sau 39 năm chôn vùi trong đất. Sau 39 năm, hạt  nẩy mầm 81-90%, hạt   Từ kết quả của 2 thí nghiệm nổi danh này, hạt cỏ chôn vùi trong đất có tuổi thọ tối đa khoảng 180 năm. Hạt của các loài hoa màu hòa bảng không hưu miên chỉ thọ 2 năm.  Tuy nhiên, tuổi thọ của hạt chôn trong đất chiếm kỷ lục được công nhận là 1.300 năm với hạt sen (lotus, Nelumbo nucifera) tìm thấy ở một đáy hồ khô cạn ở Pulantien (tỉnh Liaoning, vùng Đông Bắc Trung Quốc) năm 1995, có tuổi từ 830 đến 1.250 năm xác định bằng phương pháp C*. Sáu hạt được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm ở Los Angeles (Hoa Kỳ), 4 hạt nẩy mầm và sinh trưởng bình thường  (20).    KHOA HỌC NGÀY NAY ĐÃ KHÁM PHÁ ĐIỀU GÌ MỚI?  Với đà tiến bộ khoa học, nhất là việc thúc đẩy tìm biện pháp bảo tồn tài nguyên thực vật đạng bị nguy cơ tuyệt chủng, trong đó việc bảo quản hạt giống cây hoa màu, cây rừng và thực vật hoang dại rất khẩn cấp, nên ngành khoa học về hạt (Seed Science) đã tiến triển nhanh chóng trong nửa thế kỷ qua.  Bản chất tồn trữ (Seed storage behaviour)  Để bảo quản hạt giống, trước tiên cần phải biết đặc tính tồn trữ của mỗi loài hạt cây. Năm 1973, GS EH Roberts (17) của Đại học Reading (Anh Quốc) chia hạt của thực vật thành 2 nhóm:  Hạt chính thống (Orthodox seed) – hay nôm na là “hạt-ưa-khô” – là nhóm hạt “có thể rút khô (dry, desiccation) mà không hư hại đến khả năng nẩy mầm, và trong một giới hạn rộng rải của môi trường tồn trữ, tuổi thọ hạt càng gia tăng khi ẩm độ hạt và nhiệt độ tồn trữ càng thấp, theo một quy luật có thể tính toán và tiên đoán được”. Tóm lược, được gọi là Orthodox seed, hạt phải có đủ 3 điều kiện:  (i) Hạt có thể rút khô xuống 2-5% ẩm độ, hay tương đương với 10% ẩm độ tương đối không khí (air relative humidity).  (ii) Trong giới hạn từ 2-5% tới 20% ẩm độ, có sự tương quan logarithm nghịch (negative logarithmic relation) giữa tuổi thọ và ẩm độ hạt tồn trữ.  (iii) Có tương quan nghịch (negative relation) giữa gia tăng tuổi thọ và gia tăng nhiệt độ (i.e. tuổi thọ càng gia tăng khi nhiệt độ tồn trữ càng thấp).  Ví dụ: hạt ngũ cốc, đậu. Vì vậy, tuổi thọ của hạt-ưa-khô khi tồn trữ ở ẩm độ thấp và nhiệt độ thấp, sẽ có tuổi thọ lớn. Chẳng hạn các ngân hàng hạt giống (seed genebank) tồn trữ hạt ở ẩm độ 3-5% và nhiệt độ -20ºC tin tưởng là có tuổi thọ từ vài trăm năm đến vài ngàn năm.  Hạt phản loạn (Recalcitrant) – hay nôm na “hạt-ưa-ẩm” là loại hạt sẽ bị chết hoàn toàn khi rút khô dưới 25 -20% (tương đương với ẩm độ tương đối không khí 95-98% rh). Vì không thể rút khô, nên không thể tồn trữ lạnh <10ºC, vì vậy tuổi thọ rất ngắn, chỉ vài tuần đến vài tháng. Ví dụ: hạt mít, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, v.v.  Năm 1990, một nhóm hạt thứ 3 được Ellis, Hong và Roberts (3) khám phá, đặt tên là “Hạt trung gian” (Intermediate seed storage behaviour). Ở nhóm hạt này, tuổi thọ gia tăng khi hạt rút khô và tuổi thọ tối đa khi hạt có ẩm độ khoảng 8-12%, tương đương với ẩm độ tương đối không khí 50% rh, rút khô dưới ẩm độ này hạt chết. Về nhiệt độ tối hảo để tồn trữ là 10 ºC, trên nhiệt đô này tuổi thọ giảm, dưới nhiệt độ này hạt bị chết. Ví dụ: hạt cà phê arabica, hạt đu đủ, hạt cam, quít, v.v. Tuổi thọ của nhóm hạt này cũng ngắn, nếu tồn trữ ở điều kiện tối hảo (10% ẩm độ, 10ºC) hạt cà phê arabica có tuổi thọ tối đa là 10 tới 15 năm, tùy giống (9).  Chi tiết bản chất tồn trữ và phương pháp tồn trữ tối hảo cho 3 nhóm hạt này được tường trình (8, 11). Trong khoảng 7.000 loại thực vật hiện được biết bản chất tồn trữ (trong số khoảng 250 ngàn thực vật có hạt) thì 88.6% là hạt-ưa-khô, 2% là trung gian, và 7.4% là hạt-ưa-ẩm (12).  Trong số 60 cây rừng Việt Nam được nghiên cứu tại Reading thì có 34 loài thuộc hạt-ưa-khô (56.8%), 13 loài trung gian (21.6%), và 13 loài thuộc hạt-ưa-ẩm (21.6%) (5). Bản chất tồn trữ của hơn 7.000 loài nói trên đã được Ngân Hàng Hạt Giống thuộc Vừơn Bách thảo Hoàng gia Kew cập vào database và đưa lên mạng (18).  Công thức tính tuổi thọ (Viability Equation)  Để tiên đoán tuổi thọ của hạt hoa màu tồn trữ trong điều kiện được biết rõ, từ thập niên 1960s, GS Roberts đã đề xướng một mô hình toán học và được áp dụng rộng rãi, tuy chưa được chính xác lắm. Richard Ellis (6), một sinh viên cấp PhD của Ông nghiên cứu và cải thiện mô hình toán học này trở thành hoàn hảo (6), và được mệnh danh là “Viability Equation” – “Phương trình tính tuổi thọ”:      v (viết tắt của Viability) là số bách phân nảy mầm tính theo đơn vị probit (xác suất probability) sau p (period) ngày tồn trữ ở ẩm độ m (moisture content, tính theo chất tươi, fresh basis) và nhiệt độ t (°C), Kilà một hằng số mô tả độ nẩy mầm của lô hạt trước khi tồn trữ, tính theo đơn vị probit, và KE, CW, CH và CQ là các hằng số có liên hệ với loài (species) hạt tồn trữ. Các trị số này được tính từ kết quả của một thí nghiệm cho từng loài hoa màu trong các điều kiện tồn trữ thật chính xác trong phòng thí nghiệm, cần một thời gian tối thiểu 2 năm. Cho tới nay (2009), khoảng 80 loài đã được xác định các hằng số, và đã được phổ biến (12). Công thức này không những chính xác tính tuổi thọ của hạt thực vật, mà còn đúng cho hạt phấn hoa (Pollen grain) (10), và bào tử (spores, conidia) của 10 loại nấm (7).  Trị số Ki mô tả “tiềm năng tuổi thọ” (potential longevity). Trị số càng lớn chứng tỏ lô hạt có độ nẩy mầm cao trước khi tồn trữ, và như vậy có tuổi thọ lớn.  Trị số KE mô tả “tuổi thọ tuyệt đối” (absolute longevity) của loài (species). Trị số càng lớn thì loài hạt đó có tuổi thọ cao. Có thể dùng để so sánh tuổi thọ giữa các loài, để biết loài nào thọ hơn, hay loài nào chết trước, nếu chúng có cùng môi trường tồn trữ. Chẳng hạn, trong các loại ngũ cốc hòa bảng, thì hạt bắp (Zea mays) có tuổi thọ tuyệt đối cao nhất (9,993), kế là lúa miến (Sorghum bicolor) (9,381), pearl millet (Pennisetum typhoides) (9,336), lúa Phi Châu (Oryza glaberrima) (8,786), lúa mì (Triticum aestivum) (8,498), foxtail millet (Setaria italica) (8,478), finger millet (Eleusine coracana) (8,288), kodo millet (Paspalum scrobiculatum) (8,138), cuối cùng là lúa Á châu (Oryza sativa) (8,096) (2). Trong loài lúa Á châu, lúa Indica có tuổi thọ tuyệt đối lớn hơn lúa Javanica và lúa Japonica.  Trị số CW mô tả phản ứng của loài hạt đối với thay đổi ẩm độ hạt tồn trữ. Cùng giảm ẩm độ, chẳng hạn từ 15% xuống 5%, mỗi loài có phản ứng gia tăng tuổi thọ khác nhau, trị số càng lớn cho thấy tuổi thọ gia tăng nhiều khi hạt càng khô. Chẳng hạn, trong các loài ngũ cốc, bắp (5,993) gia tăng tuổi thọ nhiều nhất khi giảm ẩm độ, kế là pearl millet (5,540), lúa miến (5,379), foxtail millet (4,829), lúa mì (4,836), lúa Phi châu (4,727), kodo millet (4,435), finger millet (4,345), cuối cùng là lúa Á Châu (4,246) (2).  Phối hợp 2 yếu tố KE và CW trên, thì lúa Á Châu có tuổi thọ ngắn hơn các hoa màu nói trên.  Trị số CH và CQ là hằng số mô tả phản ứng của hạt đối với thay đổi nhiệt độ tồn trữ. Trị số này bất biến, với CH = 0,0329 và  CQ = 0,000478, và được áp dụng cho mọi hạt thực vật.  Bây giờ hảy xét tồn trữ ở cùng một ẩm độ, nhưng khác nhiệt độ. Nếu nhiệt độ tồn trữ giảm từ 35 ºC xuống 30 ºC, tuổi thọ tăng 2,09 lần; giảm từ 30 ºC xuống 25 ºC, tuổi thọ tăng 1,98 lần; giảm từ 25 ºC xuống 20 ºC, tuổi thọ tăng 1,87 lần; 20 ºC xuống 15 ºC, tuổi thọ tăng 1,77 lần; 15 ºC xuống 10 ºC, tuổi thọ tăng 1,67 lần, v.v., nghĩa là cứ giảm mỗi 5 ºC, càng xuống nhiệt độ lạnh hơn thì số lần gia tăng tuổi thọ cũng giảm đi. Vì vậy, nếu giảm nhiệt độ tồn trữ từ 30 ºC (như ở Sài Gòn) đến -20 ºC (nhiệt độ của ngân hàng hột giống), tuổi thọ tăng 76,6 lần.  Bây giờ hảy xét tồn trữ ở cùng một nhiệt độ, nhưng khác ẩm độ. Nếu giảm ẩm độ hạt từ 15% xuống 12,5%, tuổi thọ gia tăng 2,45 lần; từ 12,5% xuống xuống 10%, tuổi thọ gia tăng 2,99 lần; từ 10% xuống 7,5%, tuổi thọ gia tăng 4,19 lần; từ 7,5% xuống 5%, tuổi thọ gia tăng 7,32 lần. Vì vậy, nếu giảm ẩm độ hạt từ 15% (nông dân tồn trữ) xuống 5% (ẩm độ hạt của ngân hàng hạt giống tồn trữ), tuổi thọ tăng 220 lần. Vì vậy lợi ích của việc rút khô hạt giống có hiệu quả gia tăng tuổi thọ hơn phương pháp tồn trữ bằng cách giảm nhiệt độ.  Với biện pháp giảm ẩm độ hạt kết hợp với giảm nhiệt độ tồn trữ, tuổi thọ gia tăng rất nhiều. Chẳng hạn, so sánh  tồn trữ hạt ở  ẩm độ 15% và 30 ºC (cách của nông dân), với tồn trữ hạt 5% và nhiệt độ -20 ºC (ngân hàng hạt giống) thì tuổi thọ hạt ở ngân hàng hạt giống gia tăng 16.850 lần nhiều hơn của nông dân.  Trong phương pháp tồn trữ khô, ngoài 2 yếu tố chánh là ẩm độ và nhiệt độ, các thành phần cấu tạo của không khí cũng có ảnh hưởng. Sự hiện diện của Oxy làm giảm tuổi thọ vì làm gia tăng hiện tượng “lảo hóa” (ageing). Ngược lại, khí CO2, khí N2, và khoảng 10 khí khác, hay chân không (dùng máy bơm hết không khí), làm gia tăng tuổi thọ thêm khoảng 5-10%.  Tồn trữ siêu khô (Ultra dry storage)  Như vậy, càng rút khô hạt xuống thật thấp, tuổi thọ gia tăng càng nhiều. Thí nghiệm với 30 loài hoa màu, ẩm độ hạt biến thiên từ 20% xuống 2-3%, với nhiều nhiệt độ tồn trữ khác nhau từ 70 ºC (chết trong vài giờ) đến 20 ºC (vẫn nảy mầm 100% sau 15 năm). Kết quả cho thấy, ở các nhiệt độ cao (30 ºC đến 70 ºC, ở nhiệt độ này hạt chết trong vòng 3 năm, vì cần kết quả để công bố luận án PhD của sinh viên, nên thí nghiệm thường chấm dứt trước 3 năm) khi ẩm độ hạt xuống dưới một trị số tối thiểu nào đó, tuổi thọ không còn gia tăng nữa. Trị số ẩm độ tối thiểu giới hạn gia tăng tuổi thọ đó là 2,56% cho xà lách (Lactuca sativa), 2,82% cho Brassica juncea;  4,5% cho lúa Á châu, 6,04% cho đậu xanh. Mặc dầu có khác biệt giữa các trị số này, nhưng khi đo qua ẩm độ tương đối của không khí tồn trữ thì đều 10% rh. Vì vậy, ở một nhiệt độ cố định, tuổi thọ tối đa xảy ra khi hạt có ẩm độ tối hảo tương đương với ẩm độ tương đối của không khí 10 % rh. Ẩm độ hạt tối hảo này biến thiên từ 2.5% cho các loại hột giàu chất dầu (oil, lipid, như mè, hướng dương) cho tới 6% cho các loại hạt giàu chất tinh bột (các loại đậu như đậu pea). Các loại ngũ cốc như lúa, bắp, lúa miến có ẩm độ tối hảo cho tồn trữ khoảng 4.6%.  Một điều rất kỳ diệu của thiên nhiên là trị số ẩm độ tương đối 10 % rh không những tối hảo cho tuổi thọ hạt thực vật, mà cũng là tối hảo cho tồn trữ hạt phấn hoa (pollen grain) và bào tử của nhiều loại nấm để có tuổi thọ tối đa (7, 10).  Sau khi công bố phương pháp “tồn trữ siêu khô”, năm 1991 GS C. Gomez-Campo của Học Viện Sinh học Thực vật ở Madrid (Spain) gửi đến Đại học Reading hàng trăm mẫu của 17 loài thuộc họ Cải (Cruciferae) để thử nghiệm độ nẩy mầm. Hạt được tồn trữ cùng với silica gel trong các ống thủy tinh (vials) được khằn kín (đốt ở nhiệt độ thật cao cho thủy tinh chảy để hàn kín) và tồn trữ ở nhiệt độ từ -5 đến -10ºC từ năm 1966. Khi nhận được, sau 25 năm, những ống nào có vết nứt đều vứt bỏ, chỉ giữ những ống nguyên vẹn và silica còn giữ màu xanh lục. Đo ẩm hạt cho biết hạt có ẩm độ biến thiên từ 1,2% đến 6,1% (căn bản chất tươi, fresh weight basis), và dùng máy đo ẩm độ tương đối (relative humidity) của không khí trong ống thủy tinh, cho biêt rh biến thiên từ 4,9 đến 10,4% rh, đa số ở 6-7% rh. Kết quả thử nghiệm nẩy mầm, sau khi dùng nhiều biện pháp phá hưu miên, cho biết 6 loài họ Cải gia tăng độ nảy mầm (so với 25 năm trước, vì nhờ việc mất hưu miên trong thời gian tồn trữ 25 năm, và biện pháp phá hưu miên ngày nay), chỉ có 1 loài thấy giảm nảy mầm (từ 33% năm 1966 còn 21% năm 1991); còn 10 loài kia độ nảy mầm không thay đổi sau 25 năm “tồn trữ siêu khô” (4). Vì độ nẩy mầm còn rất cao (>90% sau 25 năm) nên chưa thể kết luận về tuổi thọ của các loài này trong điều kiện “tồn trữ siêu khô”.  Tại sao hạt họ Đậu thọ nhất khi tồn trữ khô ở phòng?  Hạt họ Đậu cũng như họ Bông Bụp (Malvaceae) cho tuổi thọ cao nhất khi tồn trữ trong phòng ở Viện Bảo tàng, v.v. Vỏ hạt họ đậu có một cơ nguyên đặc biệt, có vỏ dày, cứng không thấm nước. Ở phần tể (hilum), mô tế bào đặc biệt tạo một cơ chế chỉ cho phép nước trong hạt thoát ra ngoài (khi rút khô, phơi) như một cái valve một chiều, nhưng khi ẩm độ không khí gia tăng, hay khi tiếp xúc với nước, cái valve đóng chặc không cho nước hay hơi nước vào hạt. Vì vậy hạt lúc nào cũng khô. Đó là “hạt đá” trong đậu. Hiện tượng này gọi là “hardseededness”. Hạt họ Đậu bắt đầu hóa đá khi hạt bắt đầu già. Số bách phân “hạt đá” gia tăng khi ẩm độ hạt càng thấp, có khi tới 80% nếu hạt có ẩm độ dưới 6% (tương ứng với ẩm độ tương đối không khí 20% rh). Hạt đá chỉ hấp thụ nước (để nảy mầm) khi lớp vỏ bị bào mòn (bởi thời gian, chà xát, nhiệt, vi sinh vật phá hủy, v.v.). Hiện tượng “hạt đá” rất phổ biến ở nhiều họ thực vật.  Các Viện bảo tàng ngày xưa chưa có máy điều hòa không khí, nhưng có lò sưởi trong mùa đông, nên nhiệt độ phòng trung bình trong năm khoảng 25ºC, và ẩm độ tương đối của không khí trong phòng biến thiên từ 40 % rh đến 80% rh. Nhờ cơ chế valve một chiều, hạt khô dần cho tới khi hạt có ẩm độ tương đương với 40% rh (chứ không hút ẩm khi ẩm độ không khí 80%), tức hạt có ẩm độ khoảng 8%. Thay thế công thức (1) với các hằng số của đậu Vigna radiata (KE = 10,858 ; Cw = 6,27, t =25 ºC; m= 8%, Ki= 2,326 (nẩy mầm 99% trước khi tồn trữ), thì tuổi thọ của đậu là 47.130 ngày tức 129 năm (từ 99% sau 129 năm chỉ còn nẩy mầm 5%). Vì vậy, các loài họ Đậu chứa nhiều “hạt đá” có khả năng sống trên 100 năm ở các viện bảo tàng.  Hạt sen nằm trong nhóm này. Hạt sen chín trong gương sen khô, được phơi một thời gian rất lâu mới rụng xuống nước. Nếu trong mùa sen chín, có ngày thật khô, có lúc ẩm độ tương đối không khí xuống thật thấp, chẳng hạng 30%, thì một số hạt trong gương khô sẽ thành “hạt đá” có ẩm độ hạt khoảng 6,8%, và giữ mãi như vậy, dầu sau này có rơi chìm vào nước hay bùn. Hạt nằm ngủ trong đó cho tới khi vỏ bị bào mòn, và khi nước cạn, có đủ ánh sáng rọi tới, hạt mới nẩy mầm. Vì vậy, mặc dầu nằm trong nước, nhưng “hạt đá” của sen vẫn khô, coi như được tồn trữ khô. Hạt nào không phải “hạt đá” thì nẩy mầm sớm hơn. Hiện chưa có các hằng số áp dụng cho hạt sen với công thức (1), nhưng với tài liệu hạt sen từ 250 năm đến 500 năm vẫn còn nẩy mầm trong Viện Bảo Tàng London kể trên, chứng tỏ có KEvà CW lớn hơn các trị số của họ Đậu, ví dụ KE = 10,85 và CW = 6,27 (tương đương với Vigna radiata là loài đậu có tuổi thọ cao nhất trong loài đậu, xem tài liệu 12), Ki = 2,362 (nảy mầm 99% trước khi tồn trữ) và t= 15ºC (giả sử nhiệt độ cùa vùng Pulantien Trung Quốc), ẩm độ hạt đá là 6,8 %, thì phải 432.555 ngày tức 1.185 năm để hạt từ 99% nảy mầm giảm còn 5%. Con số này gần với 1.300 năm trong trường hợp hạt sen ở Trung Quốc nói trên.  Hạt chà-là không thuộc loại “hạt đá”, vỏ hạt mỏng và hấp thụ hơi nước và thoát nước dễ dàng. Bởi vì nguồn gốc sa mạc, chà-là thích ứng vùng khí hậu khô hạn, rất nóng ban ngày (có khi 45 ºC) nhưng lại lạnh nhanh ban đêm (có khi dưới 0 ºC). Hạt tồn trữ trong một kho dưới hầm tại Masada, là vùng sa mạc, ẩm độ tương đối không khí ban trưa xuống <10% r.h., ban đêm 60% rh, và nhiệt độ trong hầm đá bao giờ cũng mát hơn bên ngoài, vì vậy nhiệt đô nơi tồn trữ có lẽ khoảng 20 ºC. Áp dụng công thức (1) với các trị số của đậu Vigna radiata, nhưng ẩm độ hạt 5,7% (tương ứng với 25% rh của không khí), thì phải 670.095 ngày, tức 1.838 năm tồn trữ để hạt chà-là giảm độ nảy mầm từ 99% xuống 10%. Nếu ẩm độ 5,6% thì thời gian tồn trữ trở thành 749.748 ngày, tức 2.054 năm. Các con số này phù hợp với tuổi thọ được tường trình 2.000 năm nói ở trên.  Tồn trữ ẩm (moist storage)  Hạt-ưa-ẩm chỉ có thể tồn trữ trong điều kiện ẩm, bởi vì rút khô dưới 30% ẩm độ hạt bị chết. Ẩm độ tối hảo là khoảng 45-50% (hạt chưa đủ độ ẩm để nẩy mầm, hạt nẩy mầm khi có ẩm độ >55%), và ở nhiệt độ tối hảo khoảng 15ºC cho các giống miền nhiệt đới (bởi vì <12 ºC, hạt dễ bị chết vì lạnh, chilling damage), khoảng 5-10 ºC cho giống vùng ôn đới (bởi vì dưới 0ºC, tế bào đóng băng làm hạt chết). Một điều kiện quan trọng nữa là phải có đầy đủ Oxy để hạt hô hấp (trái ngược với tồn trữ khô). Nếu tồn trữ kín, thiếu Oxy, thừa CO2 do hô hấp thải ra, hạt bị chết và lên men yếm khí. Trong các điều kiện tốt này, tồn trữ tối đa 1 năm cho hạt vùng nhiệt đới, tối đa 2-3 năm cho hạt vùng ôn đới. Vì hạt-ưa-ẩm không có hưu miên, nên dễ nẩy mầm trong lúc tồn trữ ẩm, nên việc sử dụng kích thích tố ngăn sự nẩy mầm (như ABA, abscisic acid), và vì ở điều kiện ẩm thường có mốc meo (cũng giết hạt) nên có thể sử dụng thuốc kháng sinh (antibiotics). Với các biện pháp này tuổi thọ có thể tăng thêm 10-15%.  Hạt trung gian và hạt-ưa-khô, ngoài tồn trữ khô, còn có thể tồn trữ ẩm như hạt-ưa-ẩm. Ẩm độ hạt tối hảo cũng 40-50% và nhiệt độ tồn trữ cũng 15 ºC cho hạt vùng nhiệt đới, cũng cần nhiều oxy. Nếu là giống không hưu miên, tuổi thọ hạt tồn trữ ẩm cũng chỉ 1 năm, nếu hột hưu miên nhiều có thể tồn trữ lâu hơn. Chẵng hạn hạt lúa ma Mỹ châu Zizania palustris (thuộc nhóm trung gian) hay hạt cà phê arabica (nhóm trung gian) có thể tồn trữ ẩm trong 5 năm (có cùng thời gian với tồn trữ khô).  Ngược với tồn trữ khô, trong tồn trữ ẩm hễ hạt có ẩm độ càng cao thì hiện tượng lảo hóa càng chậm, vì nhờ cơ nguyên “tự-sửa-chửa” (Auto repair), chỉ xảy ra ở ẩm độ cao, mà các khuyết tật do hiện tượng “tự-oxyt-hóa” (auto-oxydation) trong cơ chế “lão hóa” sinh ra ở hạt khô trước đó được sửa chửa.  Hột cỏ dại sở dĩ sống lâu trong đất vì chúng: (i) có hưu miên rất mạnh; (ii) loại hưu miên này chỉ phá được khi có ánh sáng (hạt trồi lên mặt đất khi cày xới); (iii) hay bởi nhiệt độ biến đổi (alternating temperatures) có biên độ lớn (ở mặt đât có biện độ lớn, càng xuống sâu biên độ càng thu hẹp; và (iv) hạt phải thật nhỏ (chim chuột không thấy để ăn).  Trường hợp của lúa  Việt Nam cũng là cái nôi nguồn cội của lúa Á châu (Oryza sativa) và các giống lúa hoang dại như “lúa ma” (Oryza rufipogon) vùng Đồng Tháp, hay Oryza nivara mọc hoang trong đồng lúa khắp nơi.  Vì nằm trong vùng ảnh hưởng gió mùa, trải qua hàng vạn năm tiến hóa thích nghi phong thổ để sinh tồn, lúa nảy mầm vào đầu mùa mưa (tháng 5, 6), phát hoa trổ đòng vào cuối mùa mưa (tháng 11, 12), hạt phát triển và lúa chín đầu mùa khô (tháng 1), hạt rụng xuống đất và ngủ yên trong đất cho tới khi gặp mưa thật nhiều (để bảo đảm không bị chết nếu khô hạn), nảy mầm và sinh trưởng cho chu kỳ mới. Vì vậy, các giống lúa cổ điển Á châu chịu ảnh hưởng quang kỳ, chỉ phát hoa khi gặp ngày ngắn (dưới 14 giờ kể cả hoàng hôn và rạng đông, tháng 10, 11), và hạt phải hưu miên (dormancy) 3-5 tháng cho tới khi có đầy đủ nước để sinh tồn. Đó là đặc tính chung của các giống lúa cổ điển, như các giống “lúa mùa”, “lúa muộn” ngày xưa. Các giống tân tiến do con người tuyển chọn, với khuynh hướng không quang cảm (để có thể trồng bất cứ mùa nào trong năm), không hay ít hưu miên (để mau nẩy mầm khi có nước), vì vậy chu kỳ từ gieo đến chín khoảng 100 -150 ngày, tùy giống, nhờ vậy có thể làm 2-3 vụ lúa/năm. Các giống lúa rẫy cổ điễn cũng diễn tiến như vậy, nhưng độ hưu miên ở hạt nhiều hơn, hạt nảy mầm chậm hơn cả tháng sau trận mưa đầu mùa để bảo đảm sinh tồn.  Về đặc tính tồn trữ, lúa thuộc loại tồn trữ “hạt-ưa-khô”, vì vậy có thể tồn trữ khô, hay tồn trữ ẩm.  Trường hợp tồn trữ khô: tuổi thọ tối đa sẽ bao nhiêu?  Như đã trình bày ở phần trên, tuổi thọ tối đa ở mỗi nhiệt độ tồn trữ (ví dụ trong hầm ở Thành Dền là 20ºC) chỉ đạt được ở ẩm độ tối hảo, m= 4,6% (tương ứng với 10% rh ở 20 ºC).  Thay thế công thức (1) với các hằng số của lúa Á châu (Oryza sativa) (1) với KE= 8,096; CW= 4,246; Ki = 2,3263 (nẩy mầm 99% trước khi tồn trữ), t= 20 ºC; CHCQ = 0,000478 (1). Bài tính cho biết tuổi thọ (độ nẩy mầm giảm từ 99% xuống còn 5%) là 107.560 ngày, tức 295 năm. Nếu hầm ở Thành Dền có nhiệt độ 15 ºC, tuổi thọ sẽ là 190.459 ngày, tức 522 năm. Muốn sống 3.000 năm, tức 1.095.000 ngày, hầm Thành Dền phải có nhiệt độ -5 ºC (độ âm). = 0,0329 và   Nếu loài lúa ngày xưa thật hoang dại, như lúa rẫy Phi châu (Oryza glaberrima) thì tuổi thọ bao nhiêu? Thay thế công thức (1) với KE= 8,786, CW= 4,727 của loài lúa Phi châu (1). Bài tính cho biết tuổi thọ (độ nẩy mầm giảm từ 99% xuống còn 5%) là 253.434 ngày, tức 694 năm tồn trữ ở 20 ºC. Nếu hầm ở Thành Dền có nhiệt độ 15 ºC, tuổi thọ sẽ là 448.762 ngày, tức 1.229 năm. Muốn hạt lúa sống 3.000 năm, tức 1.095.000 ngày, hầm Thành Dền phải có nhiệt độ 6 ºC.  Không phải dễ dàng giữ ẩm độ hạt không thay đổi ở 4,6% trong suốt 3.000 năm. Chỉ có thể với silica gel và phải chứa trong bình thủy tinh khằn kín. Ở lu vại đất nung, chỉ sau 10 năm, ẩm độ hạt sẽ gia tăng. Tro bếp cũng là chất làm khô (desiccant), nhưng rất yếu.  Trường hợp “tồn trữ ẩm” sẽ cho tuổi thọ tối đa bao nhiêu? Như đã nói ở phần trên, muốn tồn trữ ẩm thành công, hạt lúa phải hưu miên thật mạnh, trong lúc lúa Á châu chỉ hưu miên trong 3-4 tháng tối đa ở nhiệt độ 30 ºC. Lúa Phi châu có hưu miên nhiều hơn. Hiện tại, không có thí nghiệm nào về tồn trữ ẩm cho hạt lúa, chỉ biết rằng tuổi thọ không cao. Kinh nghiệm của nông dân ở vùng “lúa ma” Đồng Tháp, sau khi đào mương lập vườn, lúa ma nẩy mầm nhiều trong năm đầu, nông dân diệt trước khi phát hoa, thì năm sau mọc ít hơn, và như vậy tiếp tục trong 5 năm, trong vườn không còn lúa ma khi mùa mưa đến. Lúa ma Mỹ châu (Zizania palustris) có hưu miên rất mạnh nhưng tuổi thọ không quá 5 năm khi tồn trử ẩm ở nhiệt độ 5 ºC.  ———-    TÀI LIỆU THAM KHẢO:  1. Ellis RH & Hong TD (2006). Temperature sensitivity of the low-moisture-content limit to negative seed longevity – moisture content relations in hermetic storage. Annals of Botany 97, 785-791.  2. Ellis RH & Hong TD (2007) Quantitative response of the longevity of seed of twelve crops to temperature and moisture in hermetic storage, Seed Science & Technology 35, 431-443.  3. Ellis RH, Hong TD & Roberts ER (1990). An intermediate category of seed storage behaviour? I. Coffee. Journal of Experimental Botany 41, 1167-1174.  4. Ellis RH, Hong TD, Roberts EH, Martin MC, Perez Garcia F & Gomez-Campo C (1993). The long-term storage of ultra-dry seeds of 17 crucifers. Plant Varieties and Seeds 6, 75-81.  5. Ellis RH, Mai-Hong T, Hong TD, Tan TT, Xuan-Chuong ND, Hung LQ, Ngoc-Tam B & Le-Tam VT (2007) Comparative analysis by protocol and key of seed storage behaviour of sixty Vietnamese tree species, Seed Science & Technology 35, 459-475.  6. Ellis RH & Roberts ER (1980). Improved equations for the prediction of seed longevity. Annals of Botany 45, 13-30.  7. Hong TD, Gunn J, Ellis RH, Jenkins NE & Moore D (2001). The effect of environment on the longevity of conidia of Beauveria bassiana. Mycological Research 105, 597-602.  8. Hong TD & Ellis RH (2002). Chapter 3. Storage. In Tropical Tree Seed Manual. Ed. J.A. Vozzo. Washington DC: USDA. Pp 125-135.  http://www.rngr.net/publications/ttsm  9. Hong TD & Ellis RH (2002). Optimum moisture status for the exceptional survival of seeds of arabica coffee (Coffea arabica L.) in medium-term storage at -20°C. Seed Science and Technology 30, 131-136.  10. Hong TD, Ellis RH, Buitink J, Walters C, Hoekstra FA & Crane J (1999). A model of the effect of moisture content on pollen longevity in air-dry storage environments. Annals of Botany 83, 167-173.  11. Hong TD, Linington S & Ellis RH (1998). Compendium of Information on Seed Storage Behaviour. Volume I. A-H. Kew: Royal Botanic Gardens. 400pp.  12. Hong TD, Linington S  & Ellis RH (1998). Compendium of Information on Seed Storage Behaviour. Volume II. I-Z.  Kew: Royal Botanic Gardens. 401-901pp.  13. Hưng N (18/5/2010). Giới khoa học xôn xao vì hạt lúa 3000 năm nẩy mầm. http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2010/05/3BA1BEEA/  14. Hưng N (21/5/2010). Giả thuyết về sức sống của ‘hạt thóc 3.000 năm’. http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2010/05/3BA1C11D/  15. Kivilaan AR & Bandurski S (1981) The one hundred-year period for Dr. Beal’s seed viability experiment. American Journal of Botany 68, 1290-1292.  16. Porsild AE, Harington CR & Mulligan GA (1967). Lupinus arcticus Wats. grown from seeds of Pleistocene age. Science 158, 113–114.  17. Roberts EH (1973). Predicting the storage life of seeds. Seed Science & Technology 1, 499-514.  18. Royal Botanic Gardens Kew. Seed Information Database. Search the Seed Information Database. http://data.kew.org/sid/sidsearch.html  19. Sallon S, Solowey E, Cohen Y, Korchinsky R, Egli M, Woodhatch I, Simchoni O & Kislev M (2008). Germination, genetics, and growth of an ancient date seed. Science 320 (5882), 1464 (13 June 2008).  20. Shen-Miller J, Mudgett MB, Schopf W, Clarke S & Berger R (1995). Exceptional seed longevity and robust growth: Ancient sacred lotus from China. American Journal of Botany 82 (11), 1367-1380.  21. Telewsk FW& Zeevaart JAD (2002). The 120-yr period for Dr. Beal’s seed viability experiment. American Journal of Botany 89, 1285-1288.  22. Toole EH & Brown E (1946). Final results of the Duvel buried seeds experiment. Journal of Experiment Research 72, 201-209.  23. Zazula GD, C. Harington R, Alice M, Telka AM & Brock F (2009). Radiocarbon dates reveal that Lupinus arcticus plants were grown from modern not Pleistocene seeds. New Phytologist 182, Issue 4, Pages 788-792.  Reading (UK), 22/5/2010.  * Tác giả: 6 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Phân Khoa Nông Nghiệp, Đại học Cần Thơ, và 30 năm nghiên cứu tại Seed Science Laboratory, Đại học Reading (Anh Quốc). Ông là tác giả của 7 quyển sách và trên 80 bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học Âu Mỹ, đề cập chung quanh các vấn đề khoa học và kỹ thuật hạt liên hệ đến ngân hàng hạt giống.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt nhân: Iran làm giàu thành công urani      Ý định làm giàu urani của Iran ở qui mô lớn hơn hàng trăm lần so với mức thành công ban đầu dường như báo hiệu nước này muốn thúc đẩy chương trình hạt nhân của mình nhanh hơn nữa.    Ngay sau thành công làm giàu urani ở qui mô nhỏ vào ngày 11/4 vừa rồi, Tổng thống Iran tuyên bố đây là bước tiến quan trọng để nước này làm chủ hoàn toàn công nghệ hạt nhân.  Tuyên bố này ngay lập tức gây ra các phản ứng khác nhau ở nhiều nước. Mỹ là nước có phản ứng mạnh nhất với việc yêu cầu Iran dừng ngay chương trình hạt nhân vì sợ thành công này có thể dẫn tới việc nước này tiến tới chế tạo vũ khí hạt nhân.  Ngay sau đó, ông Mohamed ElBaradei, Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, cũng đã tới Teheran nhằm tìm kiếm các giải pháp đàm phán cho vấn đề hạt nhân ở Iran. Tuy nhiên, chuyến đi dường như không đem lại kết quả tích cực nào. Có tin cho rằng Mỹ có thể tấn công Iran, cụ thể là ném bom các địa điểm nghi ngờ là cơ sở hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ vẫn phủ định các thông tin này.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hát tập thể giúp giao tiếp tốt hơn      Nếu bạn gặp khó khăn trong việc ra tìm từ ngữ để nói, có lẽ bạn nên tham gia một dàn đồng ca. Hát tập thể sẽ giúp những ai mắc chứng mất ngôn ngữ nói chuyện được dễ dàng.    Các nhà thần kinh học từ lâu đã biết rằng những ai bị mắc chứng mất ngôn ngữ – hiện tượng tổn thương não làm ảnh hưởng khả năng tạo ra và hiểu ngôn từ, có thể hát những từ mà bản thân họ không thể nói ra được. Không ai hiểu vì sao, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng hát làm chậm tốc độ phát âm và khiến từ ngữ được thốt ra dễ dàng bằng cách giới hạn số lượng âm tiết trong mỗi nhịp.  Các nhà liệu pháp tâm lý cũng thử một số biện pháp để bệnh nhân khôi phục khả năng giao tiếp qua việc ca hát, nhưng chỉ thu được kết quả khiêm tốn.  Isabelle Peretz và cộng sự tại Đại học Montreal ở Canada đã cho mọi người hát những bài hát quen thuộc và mới lạ một mình hoặc với nhiều người. Hát một mình không cải thiện khả năng nói, nhưng hát tập thể gia tăng đáng kể khả năng nhớ lại và phát âm từ ngữ, bất kể bài hát nào.  Peretz cho rằng không phải bản thân việc hát giúp khôi phục trí nhớ ngôn ngữ, mà việc chia sẻ tâm trạng và cảm giác giữa những người hát đã giúp ích. Bà tin rằng việc hát tập thể sẽ là một biện pháp điều trị ngôn ngữ hiệu quả.  M.T. (theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hậu “mắm tôm”      Nhân câu chuyện mắm tôm đã được Bộ Y tế minh oan, tôi xin bàn đến vấn đề khác: định hướng nghiên cứu phòng chống dịch tả và vai trò của nhà vệ sinh.    Ngay từ những ngày đầu lúc dịch bệnh bộc phát, tôi đã đề nghị nên tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để tìm hiểu về các yếu tố sinh học gây bệnh. Vì vậy tôi thấy rất phấn khích khi biết được một dự án nghiên cứu cấp nhà nước đã được phê chuẩn. Tuy chưa đọc qua đề cương nghiên cứu (và chắc cũng chẳng bao giờ có cơ hội đọc) nhưng đọc qua tên của dự án (“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và các giải pháp phòng chống dịch tả”) tôi thấy hơi phân vân và có cảm giác déjà vu. Tôi đã thấy quá nhiều nghiên cứu, quá nhiều luận án tiến sĩ với những cụm từ như thế này từ Việt Nam, nhiều đến nỗi tôi phải tự hỏi “hay là đồng nghiệp ta hết ý tưởng”? Tôi phân vân là vì đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mà có vẻ đơn giản quá, mang tính mô tả hơn là phân tích chuyên sâu, và nhất là thiếu cái mới.  Trên thế giới đã có quá nhiều nghiên cứu như thế này. Khi tôi vào thư viện y khoa quốc tế (PubMed) và gõ cụm từ “risk factors of cholera” (yếu tố nguy cơ bệnh tả), cơ sở dữ kiện cho tôi biết đã có 202 bài báo khoa học liên quan đến đề tài này. Với y văn như thế, tôi phải đặt câu hỏi: một dự án nghiên cứu như thế có thể cung cấp thông tin gì mới cho y văn quốc tế và Việt Nam hay không? Dịch tễ học thế kỉ 21 không nên loay hoay với các vấn đề kinh điển như thế.  Còn nghiên cứu giải pháp phòng chống dịch tả thì cũng đã có nhiều kinh nghiệm và bài học từ Phi châu, Nam Dương, thậm chí từ Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới, vậy thì mục tiêu tìm giải pháp phòng chống có gì mới? Vả lại khi công trình nghiên cứu thực hiện thì dịch tả và tiêu chảy đã là quá khứ, làm sao tìm giải pháp phòng chống những gì đã xảy ra? Do đó, cần phải xem xét lại mục tiêu cụ thể của đề cương công trình nghiên cứu được phê chuẩn quá nhanh kể trên.  Thế thì câu hỏi đặt ra là cần phải nghiên cứu cái gì? Nên chăng cần tập trung vào 4 định hướng nghiên cứu sau đây:                     * Định hướng 1: nghiên cứu về các yếu tố dịch tễ phân tử học (molecular epidemiological factors) để xác định ảnh hưởng của các vi khuẩn và sự tương tác giữa các vi khuẩn này với gien và môi trường đến nguy cơ mắc bệnh. Có một số biến thể gien và nhóm máu làm cho đối tượng dễ mắc bệnh tả, nhưng chúng ta không biết cơ chế và mối tương tác giữa các gien này với vi khuẩn tả và các vi khuẩn khác như thế nào. Cố nhiên, không nên tập trung chỉ vào một vi khuẩn V. cholerae, mà còn phải xem xét đến các vi khuẩn và siêu vi khuẩn khác như rotavirus nhóm A, E. coli, Shigella spp, E. coli, và 9% salmonella… Câu hỏi đặt ra là bao nhiêu trường hợp bệnh tả và tiêu chảy có thể qui kết cho các tác nhân sinh học này, và chúng tương tác với môi trường và gien ra sao. Nghiên cứu này đòi hỏi kinh nghiệm chuyên sâu về dịch tễ học, vi sinh học và thống kê học.  * Định hướng 2: nghiên cứu về mô hình lan bệnh. Đặc tính kinh điển của bệnh dịch tả là chúng lây lan rất nhanh và có khi bộc phát cùng một lúc như chúng ta chứng kiến vừa qua. Có nhiều câu hỏi mang tính chuyên sâu và kĩ thuật về vấn đề này, chẳng hạn như: sự phân phối bệnh trong một hộ gia đình và giữa các hộ trong cộng đồng; yếu tố nào ảnh hưởng đến tốc độ lây lan và phân bố của bệnh; ai là đối tượng có nguy cơ cao; có thể phát triển mô hình tiên lượng (prognostic models) để nhận ra đối tượng nguy cơ trước để can thiệp không, v.v… Đây là một định hướng nghiên cứu quan trọng, vì nó cung cấp cho chúng ta các dữ liệu về sự ảnh hưởng của môi trường và di truyền (vì nghiên cứu trong gia đình) rất quan trọng cho chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu này đòi hỏi chuyên gia lành nghề về dịch tễ học, thống kê học và y học.  * Định hướng 3: nghiên cứu về mối tương tác đa chiều giữa chế độ ăn uống, môi trường và môi trường sống của địa phương (kể cả nguồn nước). Ở đây chúng ta có 3 yếu tố nguy cơ: cá nhân, gia đình, và cộng đồng. Đã có quá nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố, nhưng chưa có nghiên cứu mối tương tác (interaction effects) giữa các yếu tố. Khái niệm tương tác rất quan trọng, bởi vì bệnh dịch có nhiều yếu tố nguy cơ và chúng tương tác nhau để gây bệnh. Chẳng hạn như một gia đình dù có giữ vệ sinh trong nhà, nhưng nếu môi trường bị nhiễm trùng, thì nguy cơ mắc bệnh vẫn cao. Do đó, vấn đề đặt ra không phải là ảnh hưởng của từng yếu tố nguy cơ, mà là ảnh hưởng của mối tương tác.  * Định hướng 4: nghiên cứu về hiệu quả can thiệp ở qui mô cộng đồng. Một trong những vấn đề hiện nay là nếu chúng ta can thiệp để thay đổi lối sống và môi trường ở qui mô cộng đồng thì hiệu quả phòng chống dịch bệnh là bao nhiêu? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần nghiên cứu đối chứng theo địa phương (cluster randomized trial). Mô hình nghiên cứu “cluster randomized trial” rất thích hợp để giải quyết câu hỏi trên, vì đơn vị của của nghiên cứu là cộng đồng, chứ không phải bệnh nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu này đòi hỏi thời gian và cần phải theo dõi cộng đồng một thời gian dài (12 đến 24 tháng) vì tỉ lệ phát sinh bệnh thường thấp.  Vai trò của nhà vệ sinh  Nhưng kết quả nghiên cứu đòi hỏi thời gian. Trước mắt, chúng ta vẫn có thể tiến hành một chiến dịch phòng bệnh dựa vào kiến thức trong y văn. Tôi thấy quyết định cấm sử dụng phân người để tưới rau là hoàn toàn hợp lí và rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, chúng ta cần một chiến lược đồng bộ: bên cạnh đó, cần phải làm sạch nguồn nước và phát động một phong trào vệ sinh cá nhân, mà cụ thể và thiết thực nhất là tạo một thói quen rửa tay trước bữa ăn và sau khi đi tiêu hay đi tiểu. Và trong chiến dịch này, nhà vệ sinh (toilet) đóng vai trò cực kì quan trọng. (Hơn một thế kỉ trước đây, nhà vệ sinh giúp thực hiện một cuộc cách mạng về y tế công cộng ở New York, London và Paris).  Một thực tế là ở nước ta là, trong khi biết bao building (ngay cả nhà ga máy bay) được xây lộng lẫy, biết bao nhà hàng, cơ quan, trường học…  khang trang thì nhà vệ sinh thật là sơ sài, bẩn thỉu, hôi thối. Người viết bài này đã từng xem qua các nhà xí trong các bệnh viện ở Việt Nam (từ bệnh viện nhỏ đến bệnh viện cấp quốc gia), ngay cả nhà vệ sinh dành cho nhân viên, bác sĩ và y tá bệnh viện, cũng rất… hãi hùng. Đó là chưa nói đến ở vùng quê, chúng ta biết rằng nhiều nhà không có cầu tiêu, và nhiều người vẫn còn đi tiêu ở trên sông, ruộng, ao, hồ, và gây ô nhiễm nguồn nước.  Hiện tượng này hoàn toàn ngược lại với các nước tiên tiến trong vùng và Tây phương, nơi mà nhà vệ sinh được xem là ưu tiên vệ sinh số 1. Chính quyền có luật bắt buộc nhà xây dựng phải có sơ đồ nhà vệ sinh cho họ kiểm tra và duyệt trước khi tiến hành xây cất.  Ở nước ta, các nạn dịch bệnh cứ “đến hẹn lại lên”, và đến nay vào thế kỉ 21, chúng ta phải nói dứt khoát rằng tình trạng đó không thể chấp nhận được nữa. Và nhà vệ sinh, một “vũ khí” phòng chống bệnh rất hữu hiệu nằm trong tầm tay chúng ta cần được các cơ quan chức năng của Nhà nước và người dân quan tâm đến hơn nữa. Phải khuyến khích, nếu cần dùng ngân sách y tế hỗ trợ cho người dân nghèo, để mỗi nhà đều có một nhà xí tốt.   Tôi nhớ đọc đâu đó lâu lắm rồi, mà trong đó tác giả kể rằng lúc Bác Hồ còn sống, cứ mỗi lần đi công tác hay thăm địa phương nào đó, bất kể là công sở hay nhà dân, điều đầu tiên là Bác vào xem cái nhà bếp và nhà vệ sinh. Thế thì không lẽ gì đến nay là thế kỉ 21, các nhà quản lý lại thiếu quan tâm đến y tế công cộng.  Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hãy nói thẳng để chống tiêu cực      Ngày 22-8, tại ba địa điểm: Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Bộ GD-ĐT đã đồng loạt tổ chức hội thảo “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.    Phần lớn các ý kiến đều cho rằng căn nguyên những tiêu cực trong giáo dục do sức ép từ “trên” xuống. Muốn thay đổi tình trạng này, cần có một quan niệm mới về giáo dục, song trước hết cần phải xây dựng được được tiêu chí đánh giá xác thực kết quả học tập cũng như thành tích giáo dục.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ dẫn thuốc nano tự nhũ hóa: Giải pháp bào chế tiên tiến      Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dược liệu ngày càng tăng cao. Thông thường tiêu chuẩn quan trọng nhất chính là hàm lượng hoạt chất toàn phần. Tuy nhiên, ngay cả khi hàm lượng dược chất có thể đạt thì sinh khả dụng và tác dụng dược lý của các thuốc này vẫn là một thách thức.      Hình vẽ cây cỏ sữa Silybum marianum, loài cây có hoạt chất Silymarin, từ bộ sưu tập thực vật của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên London.  Nâng cao sinh khả dụng của thuốc có ý nghĩa lớn trong việc tăng hiệu quả điều trị, giảm liều và giảm tác dụng không mong muốn của thuốc. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm cải thiện sinh khả dụng cho các thuốc có bản chất hóa dược, ví dụ như sử dụng đồng dung môi để tăng độ tan cho acetaminophen, tạo phức lồng với cyclodextrin để tăng độ tan của itraconazol trong trong thuốc tiêm (Sporanox®, Janssen); giảm kích thước tiểu phân tới cỡ nano để cải thiện độ tan qua đó giảm liều sử dụng cho fenofibrate (Lipanthyl®, Pfizer); hoặc sử dụng hệ mang có cấu trúc lipid để tăng hấp thu của cyclosporine A (Neoral®, Novartis). Tuy nhiên, các nghiên cứu nhằm cải thiện sinh khả dụng và tác dụng dược lý cho thuốc dược liệu còn chưa được chú trọng, đặc biệt trên các thuốc dược liệu của Việt Nam.   Nâng cao tính sinh khả dụng cho hoạt chất silymarin  Do đó, chúng tôi đã lựa chọn silymarin làm chất mô hình nghiên cứu vì đây là hoạt chất được sử dụng với tần số rất lớn ở Việt Nam với chỉ định chính là bảo vệ gan, chống oxi hóa, chống ung thư, bảo vệ tim mạch. Biệt dược gốc chứa silymarin có tên là Legalon do công ty Meda (Đức) phát minh sau nhiều thập kỷ nghiên cứu chuyên sâu. Silymarin (SIL) là flavonoid chiết xuất từ cây cỏ sữa Silybum marianum nên mang đặc điểm chung của các dẫn chất flavon và flavonol như có độ tan trong nước thấp (0,04 mg/ml), khả năng thấm kém, chuyển hóa qua gan rất nhiều, thải trừ nhanh, tính thấm không cao dẫn tới sinh khả dụng (0,73 %) và tác dụng dược lý cũng hạn chế. Nếu không có biện pháp hữu hiệu để nâng cao sinh khả dụng thì tác dụng dược lý của SIL khó được thể hiện rõ ràng.       Nhóm nghiên cứu đã định hướng giải quyết hai mục tiêu lớn là phát triển thành công một hệ mang thuốc tiên tiến giúp cải thiện sinh khả dụng tốt hơn các biện pháp đã được công bố trên các tạp chí uy tín; ứng dụng công nghệ bào chế tiên tiến trên vào việc phát triển một sản phẩm thực tế chứa silymarin tại Việt Nam, giúp mang lại hiệu quả điều trị vượt trội với chi phí hợp lý.      Biện pháp thông thường để cải thiện tác dụng dược lý là tăng liều sử dụng nhưng như vậy sẽ đi liền với các tác dụng không mong muốn. Do đó, việc áp dụng các biện pháp bào chế hiện đại để cải thiện sinh khả dụng thông qua cải thiện hòa tan hoặc tính thấm cho dược chất là phù hợp. Rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cải thiện sinh khả dụng đã được công bố như sử dụng hệ phân tán rắn, bào chế  dạng phức hợp của SIL với β-cyclodextrin.  Mặc dù hiệu quả cải thiện hòa tan silymarin của hệ phân tán rắn và phức hợp với cyclodextrin cao, nhưng hiệu quả cải thiện tính thấm không cao.   Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu đã định hướng giải quyết hai mục tiêu lớn là phát triển thành công một hệ mang thuốc tiên tiến giúp cải thiện sinh khả dụng tốt hơn các biện pháp đã được công bố trên các tạp chí uy tín; ứng dụng công nghệ bào chế tiên tiến trên vào việc phát triển một sản phẩm thực tế chứa silymarin tại Việt Nam, giúp mang lại hiệu quả điều trị vượt trội với chi phí hợp lý.    Hình ảnh silymarin và các polymer khác trong các chu kỳ lưu trữ khác nhau.  Chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu một giải pháp bào chế tiên tiến được quan tâm nghiên cứu gần đây là hệ nano tự nhũ hóa (self-nanoemulsifying drug delivery systems, SNEDDS). Ưu thế nổi trội của công nghệ nano mang thuốc so với hệ mang thuốc truyền thống nằm ở kích thước nhỏ và diện tích bề mặt tiếp xúc với biểu mô đường tiêu hóa lớn sẽ giúp hệ nano tự nhũ hóa có khả năng cải thiện hiệu quả tính thấm, độ hòa tan của dược chất. Thực tế, một vài nhóm nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng công nghệ bào chế này với silymarin. Tuy nhiên, hệ SNEDDS có nhược điểm lớn là nguy cơ dược chất bị kết tủa và tách ra khỏi nano nhũ tương trong quá trình pha loãng với nước hoặc dịch tiêu hóa. Để hạn chế hiện tượng này, có thể kết hợp thêm các chất ức chế tái kết tinh dạng polyme thân nước vào trong công thức SNEDDS để duy trì trạng thái siêu bão hòa của dược chất và hệ thu được gọi là hệ nano tự nhũ hóa siêu bão hòa (Supersaturatable self-nanoemulsifying drug delivery systems, S-SNEDDS). Tuy nhiên các nghiên cứu về hệ S-SNEDDS hiện còn rất hạn chế, đặc biệt cơ sở lựa chọn polyme ức chế tái kết tinh chưa được nghiên cứu một cách bài bản.   Như vậy bài toán đặt ra với chúng tôi là làm sao có thể đưa ra được một giải pháp bào chế hiệu quả vừa đáp ứng được yêu cầu về tính mới trong học thuật lại vừa có thể linh hoạt điều chỉnh để áp dụng thành công vào thực tế sản xuất thuốc tại Việt Nam.   Chúng tôi đã phát triển hệ S-SNEDDS trên cơ sở xây dựng được hai phương pháp mới để sàng lọc hiệu quả polyme ức chế tái kết tinh qua hai phương pháp chưa từng được áp dụng trong thiết kế nghiên cứu hệ SNEDDS, trong đó có phương pháp tráng phim để quan sát ảnh hưởng của polyme tới SIL ở trạng thái rắn và chuyển dung môi để đánh giá ảnh hưởng polyme tới SIL ở trạng thái lỏng. Kết hợp với các công cụ phân tích hiện đại khác như phổ hồng ngoại (FTIR), cộng hưởng từ hạt nhân proton (H1-NMR), phổ nhiễu xạ tia X (X-ray) và đo kích thước tiểu phân nano bằng tán xạ ánh sáng động, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên đã sàng lọc được (Poloxamer 407) và chỉ ra được cơ chế tác động của polyme ức chế kết tinh tới số phận của SIL.       Ý nghĩa mà nghiên cứu mang lại là triển vọng phát triển một sản phẩm mới giúp tăng cường hiệu quả của silymarin trong khi có thể giảm liều điều trị và giảm tác dụng không mong muốn. Giải pháp mà chúng tôi có được cũng là tiền đề để mở ra thêm một phương án tiếp cận mới nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho các dược chất có sinh khả dụng thấp như các thuốc kháng virus, kháng nấm.      Để kiểm chứng hiệu quả của hệ S-SNEDDS, sinh khả dụng và tác dụng dược lý của S-SNEDDS được so sánh với sản phẩm đối chiếu Legalon® (Meda, Đức) trên động vật thực nghiệm. Kết quả phân tích nồng độ silybin trong huyết tương bằng sắc ký khối phổ 2 lần (LC-MS/MS) cho thấy hệ S-SNEDDS cải thiện mạnh mẽ sinh khả dụng so với biệt dược gốc (tăng 760%). Hoạt tính bảo vệ gan của S-SNEDDS trên chuột gây tổn thương gan thực nghiệm bằng CCl4 (căn cứ vào nồng độ men gan ALT, AST, hoạt tính glutathione và superoxide dismutase) cũng vượt trội so với sản phẩm thương mại ở tất cả các mức liều khảo sát tính theo silybin tương ứng 10, 25 và 50mg / kg.   Những kết quả đạt được từ nghiên cứu này đã được công bố trên International Journal of Pharmaceutics, một trong những tạp chí uy tín nhất trong lĩnh vực bào chế thuốc (SCI, Q1, IF 4,213). Ý nghĩa mà nghiên cứu mang lại là triển vọng phát triển một sản phẩm mới giúp tăng cường hiệu quả của silymarin trong khi có thể giảm liều điều trị và giảm tác dụng không mong muốn. Giải pháp mà chúng tôi có được cũng là tiền đề để mở ra thêm một phương án tiếp cận mới nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho các dược chất có sinh khả dụng thấp như các thuốc kháng virus, kháng nấm.   Chuyển giao công nghệ cho công ty dược phẩm    TS. Nguyễn Thạch Tùng và sinh viên tại trường ĐH Dược Hà Nội.  Để ứng dụng vào thực tế sản xuất, ngay từ đầu nhóm nghiên cứu đã hướng tới thiết kế viên nang mềm chứa hệ nano tự nhũ hóa có các đặc điểm như công thức bào chế và nguyên vật liệu sản xuất hợp lý, quy trình bào chế đơn giản, dễ nâng cấp và có tính khả thi để đăng ký thành sản phẩm thuốc.   Sau nhiều thời gian tối ưu hóa giải pháp, chúng tôi đã có được công thức bào chế viên nang mềm chứa SNEDDS gồm hai phần chính là công thức dịch nhân và công thức lớp vỏ. Thành phần cho dịch nhân được tối ưu gồm có dầu, diện hoạt, đồng dung môi là những nguyên liệu có sẵn ở Việt Nam sẽ đảm bảo tính khả thi để sản xuất. Bên cạnh đó công thức lớp vỏ nang mềm gelatin cũng được nhóm nghiên cứu xây dựng và đánh giá tính tương hợp với lớp dịch nhân. Các thành phần ức chế hiện tượng liên kết chéo (crosslinking) giữa dịch nhân và lớp vỏ đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để giúp cho viên nang mềm chứa SNEDDS ổn định khi lưu hành. Do đây là nghiên cứu ứng dụng nên nhóm nghiên cứu không công bố chính thức phần này, nhưng đây là một trong số rất ít các nghiên cứu về viên nang mềm chứa SNEDDS. Nghiên cứu có ý nghĩa trọng yếu, quyết định thành công của việc ứng dụng hệ nano tự nhũ hóa vào thực tế.   Nét đặc biệt là quy trình bào chế hệ SNEDDS chỉ gồm giai đoạn cân, khuấy trộn hòa tan trước khi đóng nang mềm bằng phương pháp ép khuôn nên việc nâng cấp chuyển giao vào thực tế sản xuất rất thuận lợi và dễ dàng. Độ ổn định hóa lý của SNEDDS được đảm bảo do cân bằng năng lượng pha được duy trì từ bước lựa chọn loại dầu, diện hoạt, đồng diện hoạt và xác định tỉ lệ các tá dược này trong khâu xây dựng giản đồ pha. Thành công bước đầu của nghiên cứu là đã sản xuất thử nghiệm ở quy mô 5.000 viên nang mềm SNEDDS trên máy công nghiệp. Đây là tiền đề để cho bước nghiên cứu tiếp theo.   Trước khi được chính thức đưa vào sản xuất công nghiệp, nhóm nghiên cứu đã gửi hồ sơ công bố sản phẩm tới Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế. Viên nang mềm đã được chấp nhận với số đăng ký là 7946/2019/ĐKSP. Đây có thể coi thành công bước đầu trong việc kết hợp kết quả nghiên cứu cơ bản trong ứng dụng vào thực tế. Bước nghiên cứu xa hơn có thể sẽ là nghiên cứu lâm sàng trên người với nguồn kinh phí rất lớn trước khi chính thức được coi là một loại thuốc mới của Việt Nam.   Bằng việc chuyển giao thành công kỹ thuật bào chế này cho một công ty dược phẩm uy tín trong nước, công trình đã góp phần đem ứng dụng khoa học công nghệ cao vào phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe của cộng đồng. Đây sẽ là tiền đề cho các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm gắn kết học thuật – thực tiễn hướng tới cộng đồng. □  Với công trình “Formulation and biopharmaceutical evaluation of supersaturatable self-nanoemulsifying drug delivery systems containing silymarin”, TS. Nguyễn Thạch Tùng trường Đại học Dược Hà Nội là một trong năm tác giả được đề cử giải chính Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2020. Hướng nghiên cứu chính của anh là cải thiện độ tan và khả năng hấp thu của thuốc dùng đường uống; Bào chế các hệ kiểm soát giải phóng thuốc; Bào chế các hệ mang thuốc dùng qua da/niêm mạc.    Author                Nguyễn Thạch Tùng        
__label__tiasang Hệ mặt trời hình thành trong khoảng thời gian dưới 200.000 năm      Cách đây rất lâu – chừng khoảng 4,5 tỉ năm, mặt trời và hệ mặt trời của chúng ta được hình thành trong khoảng thời gian ngắn chừng 200.000 năm. Đây là kết luận của nhóm nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore (LLNL) sau khi xem xét các đồng vị phóng xạ của nguyên tố molybdenum tìm thấy trong thiên thạch.      Vật liệu này đã tạo nên mặt trời và phần còn lại của hệ mặt mời từ sự suy sụp của một đám mây khí và bụi lớn trong khoảng 4,5 tỉ năm trước. Bằng việc quan sát các hệ sao hình thành tương tự với hệ mặt trời của chúng ta, các nhà thiên văn học ước tính là có thể mất khoảng 1 đến 2 triệu năm cho sự suy sụp của một đám mây và đốt cháy của một ngôi sao nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên có thể đem lại thông tin về lượng thời gian cho hệ mặt trời của chúng ta.  “Trước đây, chúng ta vẫn chưa rõ về khung thời gian của việc hình thành nên hệ mặt trời của chúng ta”, Greg Brennecka – nhà hóa học vũ trụ ở LLNL và là tác giả chính của bài báo “Astronomical context of Solar System formation from molybdenum isotopes in meteorite inclusions” xuất bản trên Science, nói. “Công trình này cho thấy sự suy sụp này, vốn dẫn đến sự hình thành hệ mặt trời đã diễn ra một cách hết sức nhanh chóng, ít hơn khoảng 200.000 năm. Nếu chúng ta đưa quy mô nó vào cuộc đời một con người thì sự hình thành của hệ mặt trời có thể so sánh với việc thai nghén khoảng 12 giờ thay vì 9 tháng. Đó thực sự là quá trình diễn ra rất nhanh”.  Những chất rắn được hình thành sớm nhất trong hệ mặt trời là các bao thể giàu calcium aluminum (CAIs) và những mẫu vật này đem lại một hồ sơ trực tiếp về sự hình thành hệ mặt trời. Các bao thể có kích thước từ micrometer đến centimeter trong thiên thạch được hình thành ở môi trường nhiệt độ cao (hơn 1.300 Kelvin), có lẽ gần thời điểm đầu của mặt trời. Chúng đã được vận chuyển ra ngoài vùng này khi các thiên thạch carbonaceous chondrite (và các vật thể bố mẹ chúng) hình thành, nơi chúng được tìm thấy ngày nay. Phần lớn các CAIs đều hình thành từ khoảng 4,567 tỉ năm trước, trong một thời kỳ khoảng từ 40.000 đến 200.000 năm.  Đây là nơi nhóm nghiên cứu của LLNL tìm đến. Nhóm nghiên cứu quốc tế này đã đo đạc đồng vị phóng xạ molybdenum (Mo) và truy dấu thành phần nguyên tố của một số lượng lớn CAIs được lấy ra từ các thiên thạch carbonaceous chondrite, bao gồm Allende, carbonaceous chondrite lớn nhất tìm thấy trên trái đất. Vì họ tìm thấy các thành phần đồng vị Mo khác biệt của CAIs bao phủ toàn bộ phạm vi của vật liệu hình thành đĩa tiền hành tinh thay vì chỉ một lát cắt nhỏ, những bao thể đó phải được tạo ra trong khoảng thời gian suy sụp mây.  Vì khoảng thời gian quan sát được của quá trình bồi tụ sao (khoảng 1 đến 2 triệu năm) lâu hơn để CAIs hình thành, nhóm nghiên cứu đã có thể chỉ ra pha thiên văn trong sự hình thành hệ mặt trời được ghi nhận bằng sự hình thành của CAIs, và cuối cùng là vật liệu này đã góp phần làm hệ mặt trời bồi tụ nhanh như thế nào.  Thanh Phương dịch  Nguồn: hchttps://phys.org/news/2020-11-solar-years.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ mô phỏng nhà máy điện hạt nhân và ứng dụng trong chương trình đào tạo (Kỳ 1)      Hệ mô phỏng (simulator) là một hệ thống thiết bị điện tử dùng để mô tả các quá trình xảy ra trong hệ thống thiết bị công nghiệp đang ngày càng trở nên phổ biến trong thế giới hiện đại. Trong lịch sử vận hành lò phản ứng và nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN), bên cạnh phát triển mạnh mẽ các công cụ tính toán, mô phỏng dựa trên máy tính, các hệ mô phỏng đã không ngừng được phát triển, hoàn thiện trên cơ sở phát triển nhanh chóng của công nghệ số hóa và công nghệ điện tử.       Mô phỏng là việc nghiên cứu các quá trình tiến triển theo thời gian, theo đó chúng ta có thể tính toán các đặc trưng và tính chất của các hệ thống khác nhau cũng như tương tác giữa chúng. Việc mô phỏng là cần thiết nếu: (1) Các quá trình là quá phức tạp và chúng trải qua nhiều trạng thái vật lý khác nhau; (2) Việc xây dựng một nguyên mẫu (prototype) để thử nghiệm là rất tốn kém về tài chính hoặc rất nguy hiểm, ngay cả khi có nguyên mẫu thì cũng rất hạn chế trong việc thử nghiệm và kiểm tra hệ thống ở các tình huống khác nhau do chi phí cao hay không đảm bảo an toàn; và (3) chúng ta muốn kiểm chứng các tính chất và so sánh các giải pháp khác nhau trong những điều kiện cực đoan. Trong quá trình thiết kế, xây dựng và vận hành NMĐHN, việc thực hiện các mô phỏng đã được ngành công nghiệp điện hạt nhân đặc biệt quan tâm.  Quá trình mô phỏng có thể có hoặc không có tương tác với con người. Các công cụ mô phỏng, thường được gọi là tính toán mô phỏng (simulation) được đưa ra bằng việc lập các chương trình tính toán mô phỏng trên máy tính, chuẩn bị số liệu đầu vào, chạy chương trình và đưa ra các kết quả. Hầu hết các phân tích kịch bản sự cố được thực hiện theo cách này. Các công cụ mô phỏng này cần được kiểm chứng và xác thực dựa trên các thực nghiệm hoặc các dữ liệu vận hành của hệ thống thực tế.  Nếu có thể tương tác (can thiệp) vào quá trình mô phỏng đang diễn ra, khi đó ta không những theo dõi được các kết quả trong suốt quá trình, mà còn có thể đưa ra hành động tác động vào quá trình để thay đổi các thông số đầu vào và do đó tác động đến tiến trình của các sự kiện. Nếu các công cụ phát triển trên máy tính có khả năng thực hiện điều này, chúng ta có hệ mô phỏng.  Theo IAEA 1, các hệ mô phỏng cơ bản bao gồm các dạng sau:  – Hệ mô phỏng các nguyên lý cơ bản (Basic principles simulator): Mô phỏng một cách tổng quát quá trình vận hành NMĐHN thông qua minh họa các khái niệm, giải thích và hiển thị các quá trình vật lý cơ bản của nhà máy. Loại hệ thống mô phỏng này có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về đặc tính của nhà máy, những hiểu biết cơ bản về các chế độ vận hành chính. Phạm vi mô phỏng tập trung vào các hệ thống chính và các hệ thống phụ trợ hoặc hỗ trợ có thể được bỏ qua. Mục đích chính của hệ thống mô phỏng này nhằm giúp học viên hiểu rõ về các quá trình vật lý, quá trình vận hành chủ yếu của các hệ thống phức tạp, và các thủ tục vận hành cơ bản của NMĐHN.  – Hệ mô phỏng phòng điều khiển thực – FSS (Full-scope simulator hay Full Replica Simulator): Là bản sao trung thực phòng điều khiển của NMĐHN cụ thể với các thao tác vận hành như thực tế. Hệ mô phỏng phòng điều khiển thực được sử dụng cho việc đào tạo, huấn luyện nhân viên vận hành làm việc theo nhóm cho NMĐHN cụ thể. Đối với nhân viên được cấp phép vận hành trong phòng điều khiển của NMĐHN, họ cần được đào tạo kết hợp giữa các kiến thức cơ bản trên lớp và các quy trình vận hành đã được chuẩn hóa cùng với việc huấn luyện trên hệ FSS.  – Hệ mô phỏng thành phần (Part-task simulator): Mô hình hóa một số hệ thống cụ thể của nhà máy. Các hệ thống nhà máy hoặc các hiện tượng có thể được mô phỏng chính xác hơn trong một hệ mô phỏng đầy đủ. Các hệ thống mô phỏng này có thể mang lại lợi ích khi tập trung đào tạo trong một số công việc cụ thể. Chẳng hạn như, hệ mô phỏng để huấn luyện về sự cố vỡ ống trong bình sinh hơi (SGTR) hay hệ mô phỏng đào tạo cho việc khởi động và vận hành máy phát diesel. Hệ mô phỏng thành phần có thể xem như công cụ huấn luyện nhân viên vận hành đơn lẻ, một phiên bản riêng của hệ mô phỏng phòng điều khiển thực.  – Hệ mô phỏng tiên tiến bằng đồ họa (Advanced Desktop): Mô phỏng giả lập NMĐHN thông qua các giao diện tương tác người máy (HMI – human-machine interface).  Hệ mô phỏng trên máy tính bổ sung cho quá trình thực tập và học tập trên lớp với việc nghiên cứu hệ thống mà không cần vận hành các hệ thống thực của nhà máy hoặc các bàn điều khiển thực. Hệ thống mô phỏng góp phần cải thiện nhận thức và hiểu biết của nhân viên về an toàn với việc tối thiểu hóa hoặc giảm thiểu các lỗi vận hành thông qua việc đào tạo các kỹ thuật vận hành trong các điều kiện vận hành khác nhau, kể cả các tình huống cực đoan. Hệ mô phỏng có thể giúp nhân viên vận hành xác lập các quy trình vận hành hiệu quả nhất, đưa ra chiến lược kiểm soát hệ thống bằng việc phân tích các đặc trưng của các thành phần và hệ thống con trước hoặc sau khi vận hành nhà máy.  Với việc áp dụng các hệ điều khiển số hóa DCS (Digital Control Systems), các công cụ mô hình hóa và xây dựng chương trình đào tạo phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của công nghệ máy tính và kỹ thuật tính toán, các hệ mô phỏng không chỉ tập trung ở các hệ mô phỏng phòng điều khiển thực (FSS) mà còn được áp dụng trong việc phát triển thiết kế nhằm phát hiện những khiếm khuyết tiềm ẩn trong các thiết kế – các hệ mô phỏng kiểu này được gọi là hệ mô phỏng kỹ thuật (ES – Engineering simulator).    Hình 1. Các kiểu hệ mô phỏng và chuẩn áp dụng cho việc phát triển và ứng dụng.  Với hệ ES ta có thể khởi động “ảo” hệ thống thay vì phải có hệ FSS do hệ ES sử dụng cùng các mô hình có độ trung thực cao, với mức độ chi tiết của các hệ thống nhà máy như được phát triển trong hệ FSS. Không giống như các hệ phân tích nhà máy (NPA – Nuclear Plant Analyzer)  của những năm 1990 chỉ tập trung cho việc mô hình hệ thống cung cấp hơi hạt nhân và phân tích các chuyển tiếp hay sự cố với giao diện đồ họa, hệ ES dựa trên mô hình đầy đủ của nhà máy, biểu diễn tích hợp và động tất cả các tính chất của các hệ thống nhà máy được điều khiển bởi các hệ DCS ở các trạng thái vận hành khác nhau. Trên thực tế, sự khác nhau cơ bản giữa hệ ES và FSS chỉ đơn giản là giảm thiểu các phần cứng cần thiết cho việc thể hiện môi trường phòng điều khiển thực.   Mặt khác, việc đáp ứng thời gian thực của hệ ES có thể chưa được đảm bảo vì hệ được phát triển tập trung cho giai đoạn thiết kế. Nếu bổ sung đặc trưng đáp ứng thời gian thực, khi đó hệ ES sẽ là một phần trong hệ FSS. Các hệ FSS phải tuân thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu thiết kế như ANSI/ANS 3.5 – 2009 (USA), PNAE G-5-40-97 (LB Nga), xem Hình 1: Trình bày các kiểu hệ mô phỏng cơ bản với hai dạng phần cứng (Desktop / Graphical simulator và phòng điều khiển thực) và hai dạng ứng dụng (đào tạo và kỹ thuật / Training and Engineering).  Ngày nay, với ưu thế của công nghệ số hóa, giá thành rẻ và nhu cầu chuẩn bị đội ngũ nhân viên thế hệ mới, sẵn sàng thích ứng với công nghệ điện hạt nhân tiên tiến, việc đào tạo trên các hệ mô phỏng tiên tiến bằng đồ họa (Advanced Desktop) được kỳ vọng nâng sẽ cao hiểu biết về các quá trình vật lý và các tương tác xảy ra trong quá trình vận hành nhà máy, kể cả các quá trình chuyển tiếp cho nhiều nhân viên làm việc ở nhiều khu vực, công việc khác nhau trong NMĐHN. Việc đào tạo sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng sử dụng các hệ mô phỏng nguyên lý cơ bản cũng được IAEA quan tâm trợ giúp.   Nếu các hệ FSS với thiết kế phức tạp, giá thành cao, phải đảm bảo các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật cao, thì việc đánh giá các hệ mô phỏng khác thường dựa trên hai đặc trưng cơ bản:   Mô hình hóa với độ trung thực cao và thời gian thực: Quá trình mô phỏng các hiện tượng vật lý diễn ra với bước thời gian thực với độ phân giải thời gian thích hợp và trong cùng một chuỗi sự kiện khi được so sánh với với các chuỗi sự kiện xảy ra trong nhà máy tham chiếu. Ví dụ: Một van an toàn đạt đến giá trị đặt của nó sau 20 giây và theo sự giảm áp suất, thiết lập lại vị trí đóng van trong 5 giây. Hệ mô phỏng phải minh họa đặc tính tương tự với độ chính xác thích hợp đối với các mục đích đào tạo.    Giao diện giữa người – máy: Cách thức thông tin được truyền tới người sử dụng là rất quan trọng. Thông thường, thông tin có thể được phân loại thành một vài mức, từ tổng quát đến chi tiết. Một cấu trúc hiển thị thông tin hợp lý sẽ làm cho việc hiểu biết tốt hơn. Giao diện người – máy (HMI) cung cấp một cách tường minh, dễ hiểu và đạt được các mục tiêu đào tạo. Sơ đồ HMI của một hệ mô phỏng mang lại cho người sử dụng sự di chuyển thân thiện giữa các hệ thống nhà máy và cung cấp chức năng điều khiển nhà máy thông qua các sơ đồ đường ống và hệ thống đo đạc (P&IDs). Điều này giúp cho việc hiểu biết các quá trình rất hiệu quả. (Còn tiếp)  * Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.    Chú thích:  1.       Means of Evaluating and Improving the Effectiveness of Training of Nuclear Power Plant Personnel, IAEA-TECDOC-1358, Vienna, Austria (2003)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ mô phỏng nhà máy điện hạt nhân và ứng dụng trong chương trình đào tạo (Kỳ cuối)      Hệ mô phỏng NMĐHN là công cụ đào tạo, huấn luyện vừa mang tính trực quan, vừa có tính thực tế cao. Cùng với việc đẩy mạnh các chương trình đào tạo ngắn hạn cũng như dài hạn với các đối tác nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn, việc bổ sung hệ mô phỏng NMĐHN lò VVER – 1200 sẽ đáp ứng nhu cầu học tập, đào tạo về công nghệ lò VVER – 1000 nói chung và VVER – 1200 (AES 2006) nói riêng.       Theo IAEA 1, tất cả nhân viên thuộc ngành công nghiệp năng lượng và nhà máy có thể nâng cao kiến thức, hiểu biết và kỹ năng khi được đào tạo trên hệ mô phỏng, trong đó:  Đối với nhân viên pháp quy:  o Có những hiểu biết tốt hơn về các quá trình hoạt động của nhà máy;  o    Học được cách thức để kiểm tra và kiểm chứng chức năng và độ chính xác của hệ mô phỏng; và  o    Hiểu rõ về tính hiệu quả và tính an toàn của thiết kế khi thực hiện các kịch bản sự cố trên hệ mô phỏng.  Nhân viên kỹ thuật và vận hành:   o    Có khả năng kiểm chứng các thủ tục vận hành ở điều kiện bình thường và khẩn cấp;  o    Có khả năng kiểm tra những thay đổi của nhà máy;  o    Đào tạo nhân viên bảo trì trong một môi trường an toàn; và  o    Mở rộng năng lực của họ trong khi thực hiện kiểm tra và xác thực các quá trình của nhà máy.  Cán bộ làm công tác đào tạo:  o    Hoàn thiện và cải thiện hiệu quả của quá trình đào tạo và kiểm chứng chất lượng nhân viên được đào tạo;  o    Chỉ ra một cách trực quan những thay đổi của mối quan hệ giữa các thông số nhà máy với việc sử dụng phối cảnh kỹ thuật các hệ thống thông qua các sơ đồ mô phỏng.  Sinh viên, học viên chuyên ngành:  o    Thực hành thao tác bảng điều khiển hệ thống đo đạc thông qua các màn hình hiển thị cảm ứng hình ảnh thực; và  o    Học hỏi, củng cố kiến thức lỹ thuyết với một chương trình thay đổi mềm dẻo, mở rộng khả năng tự tìm hiểu, tự học.   Đối với cán bộ quản lý:  o    Có các hiểu biết cơ bản về các hệ thống trong NMĐHN, tương tác và ảnh hưởng của các thành phần trong hệ thống chung của NMĐHN;  o    Đánh giá được nhu cầu nhân lực, kỹ năng nhân viên và những yêu cầu kỹ thuật cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả các hệ thống trong NMĐHN.  Đối với cán bộ nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật:  o    Có các hiểu biết sâu hơn về các quá trình và hệ thống trong NMĐHN, tương tác và ảnh hưởng của các hệ thống, đặc biệt là các hệ thống an toàn và điều khiển, trong trạng thái vận hành bình thường hay trong các điều kiện chuyển tiếp, sự cố;  o    Đánh giá được vai trò của các thành phần, thiết bị, hệ thống công nghệ và các yêu cầu kỹ thuật cần thiết trong quá trình vận hành cũng như so sánh với các giá trị thiết kế, từ đó đưa ra và đề xuất các giải pháp kỹ thuật giúp cho việc hoàn thiện, tối ưu hóa quy trình vận hành, phương án xử lý tình huống hay các thay đổi nếu có trong hệ thống công nghệ;  o    Nâng cao chất lượng kết quả R&D khi sử dụng hệ mô phỏng cùng với các công cụ phân tích, đánh giá an toàn khác.    Hình 2. Vai trò trong quá trình đào tạo và các ứng dụng khác của hệ mô phỏng.  Sự khác nhau trong phạm vi mô phỏng, các phương pháp mô phỏng, tương tác giữa người hướng dẫn và người học, và các đặc điểm tường minh về đồ họa với giao diện cụ thể cho phép hệ mô phỏng không chỉ hướng dẫn cho người học với các mục tiêu học tập khác nhau, mà còn cho phép thực hiện lại các quá trình, các thao tác nhằm đạt được sự hiểu biết và kỹ năng nhất định. Các thao tác mang tính thời gian thực cho phép quan sát và hiểu rõ hơn các phản ứng của hệ thống nhà máy.  Những nhu cầu đào tạo có thể được giải quyết bằng cách sử dụng các mô phỏng khác nhau một cách trực tiếp và với sự hướng dẫn cụ thể. Việc ứng dụng những quá trình mô phỏng này có thể rất hiệu quả và cũng tương đối rẻ. Hình 2 thể hiên ba chức năng chính của hệ mô phỏng: Đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và giới thiệu công nghệ NMĐHN.  Các hệ mô phỏng NMĐHN ở Việt Nam  Kể từ khi chương trình phát triển điện hạt nhân được Quốc hội thông qua (2009), việc áp dụng các phần mềm mô phỏng hoạt động của các NMĐHN trong nghiên cứu và đào tạo đã được một số đơn vị quan tâm. Bộ các phần mềm mô phỏng nguyên lý cơ bản của các NMĐHN cho mục đích đào tạo của IAEA với các phần mềm mô phỏng lò PWR-2 nhánh (2-loop PWR), lò PWR kiểu Hàn Quốc, lò PWR kiểu Nga (VVER-1000) và lò APWR, hai kiểu lò nước sôi: BWR và ABWR; hai kiểu lò nước nặng: PHWR và APHWR. Bộ phần mềm này đã được sử dụng tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và một số trường khác trong việc giúp sinh viên tìm hiểu những vấn đề cơ bản về hoạt động của NMĐHN, đặc biệt là các tình huống sự cố dựa trên các kịch bản đã dựng sẵn, qua đó giúp người học hiểu hơn về công nghệ và an toàn nhà máy điện hạt nhân. IAEA cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo trình bày kinh nghiệm sử dụng các phần mềm mô phỏng như một công cụ đào tạo nhằm giới thiệu về công nghệ các NMĐHN.      Hình 3. Giao diện vòng sơ cấp trong bộ phần mềm mô phỏng của IAEA (trên) và PCTRAN (dưới) cho lò VVER-1000.   Ngoài ra, phần mềm PCTRAN (Personal Computer Transient Analyzer) mô phỏng các trường hợp tai nạn khác nhau của NMĐHN cũng được nhiều cơ sở giảng dạy, nghiên cứu nhiều nước sử dụng (Hình 3). IAEA đã tài trợ phần mềm này cho cục ATBXHN nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực an toàn hạt nhân của cơ quan pháp quy. PCTRAN do công ty Micro-Simulation Technology (Hoa Kỳ) phát triển, mô phỏng trên máy tính cá nhân (desktop simulator) cho nhiều lò phản ứng khác nhau.  Các hệ mô phỏng của IAEA cũng như PCTRAN thuộc hệ mô phỏng các nguyên lý cơ bản (Basic principle desktop, Hình 1 – kỳ 1) với các màn hình giao diện (Hình 2) thể hiện các hệ thống chính của NMĐHN đã được đơn giản hóa. Đây là những công cụ học tập hữu ích cho sinh viên chuyên ngành công nghệ hạt nhân.  Tháng 11-2014, trường đại học Đà Lạt đã tiếp nhận hệ thống thiết bị mô phỏng lò phản ứng hạt nhân thời gian thực OPR1000 Core Simulator (CoSi) do Hàn Quốc tài trợ. Sinh viên trường đại học Đà Lạt sử dụng thiết bị này để học tập và thực hành thực nghiệm mô phỏng. Hệ thống thiết bị gồm máy tính chủ và các máy tính trạm được cài đặt hệ thống phần mềm giả lập lò phản ứng hạt nhân OPR-1000 công suất 1000MWe do Hàn Quốc phát triển.  Hệ mô phỏng lò VVER – 1200  Dự án NMĐHN Ninh Thuận 1 với thiết kế lò phản ứng VVER – 1200 hay AES 2006 đã được lựa chọn. Dựa trên các kinh nghiệm vận hành các NMĐHN AES91/92, thiết kế AES2006 (Hình 4) đã bổ sung nhiều hệ thống an toàn, kể cả các hệ thống an toàn thụ động.          Hình 4. Nhà máy điện hạt nhân lò VVER-1200.  Trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ thuật với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) về “Phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân, Pha II” (VIE2012) do Cục Năng lượng nguyên tử chủ trì, hệ thống mô phỏng lò phản ứng VVER-1200 của Công ty WSC (Hoa Kỳ) dự kiến sẽ được lắp đặt tại trung tâm Đào tạo hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam trong tháng 10- 2015. Hệ thống mô phỏng được chuyển giao cho phía Việt Nam trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ thuật VIE 2012 gồm một máy chủ và bốn máy trạm (Hình 5).  Hệ thống được cài đặt phần mềm mô phỏng nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng VVER-1200, công suất 1200 MWe, có khả năng mô phỏng thời gian thực, cung cấp các sơ đồ hệ thống cung cấp hơi hạt nhân, hệ thống điều khiển và đo đạc các thông số vật lý lò phản ứng, hệ thống nước cấp, hệ thống tuabin-máy phát và các hệ thống an toàn. Hệ thống mô phỏng cho phép thực hiện quy trình vận hành như khởi động và đưa lò lên mức 100% công suất, dừng lò và phát sinh sự cố bất thường nhằm đánh giá diễn biến hoạt động của lò phản ứng.         Hình 5. Hệ mô phỏng lò phản ứng VVER – 1200 do WSC cung cấp.  Đây là hệ thống mô phỏng thời gian thực về lò phản ứng VVER-1200 đầu tiên tại Việt Nam với gần 160 giao diện tương tác (HMI) và thuộc nhóm hệ mô phỏng tiên tiến (Advanced simulator) như phân loại trên Hình 1.    Hệ mô phỏng thực hiện quá trình mô phỏng với thời gian thực, độ chính xác cao và có thể phát triển thành hệ mô phỏng có tính năng tùy biến đầy đủ theo yêu cầu của người sử dụng. Hệ mô phỏng cung cấp mô hình mô phỏng nhà máy điện hạt nhân thực đầy đủ thích hợp cho việc đào tạo nhân viên vận hành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản giữa các nhân viên trong tổ vận hành. Hệ thống này là công cụ hữu hiệu cho việc giảng dạy các nguyên lý cơ bản của quá trình vận hành lò VVER, đặc biệt đối với các nước đang xem xét chương trình điện hạt nhân và chưa có điều kiện để tiếp cận với các hệ mô phỏng phòng điều khiển thực của NMĐHN.   Giao diện HMI của hệ mô phỏng thể hiện ở mức độ chi tiết các thành phần, thiết bị quan trọng với các tham số trực quan mà các hệ đo trong nhà máy thực có được. Hệ thống thực hiện mô phỏng được quản lý từ máy chủ với bảng điều khiển IS (Instructor station) cho phép vận hành NMĐHN từ chế độ dừng lạnh lên chế độ vận hành ở 100% mức công suất. Các máy trạm (clients) thực hiện các chức năng như trong phòng điều khiển, trong khi nhân viên vận hành lò phản ứng thao tác với các thanh điều khiển, điều chỉnh nồng độ boron trong hệ tải nhiệt, vận hành bơm tải nhiệt chính, quan sát bình điều áp với các bộ đốt nóng nước bằng điện .v.v., nhân viên ở một máy trạm khác có thể đóng vai trò điều khiển các hoạt động của hệ thống tuôcbin – máy phát.      Hình 6. Giao diện vòng sơ cấp (trên) và thứ cấp (dưới) cho lò VVER-1200.  Các tình huống sự cố có thể được phát sinh từ máy chủ IS, tại đó cán bộ hướng dẫn (Instructor) có thể chuẩn bị trước các kịch bản, ghi nhận các diễn biến của quá trình và đưa ra những gợi ý để học viên cùng trao đổi, thảo luận.   Hình 7. Các chuyên gia của WSC và các cán bộ Việt Nam thảo luận về một tình huống trên hệ mô phỏng trong chuyến công tác khảo sát kỹ thuật (WSC, Maryland, 7-2015).  Các hệ thống an toàn của lò AES2006 như các bình tích nước cao áp (HA), hệ làm nguội tâm lò khẩn cấp (ECCS), kể cả hệ thống thụ động như hệ lấy nhiệt thụ động từ vòng thứ cấp (PHRS) cũng được mô tả chi tiết với khả năng thiết lập nhiệt độ nước làm mát hệ ngưng tụ (từ môi trường ngoài) hay nhiệt độ không khí bên ngoài nhà lò.   Với việc trang bị hệ mô phỏng NMĐHN lò VVER-1200, các cán bộ Việt Nam công tác trong ngành năng lượng nguyên tử sẽ có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về các tính năng vận hành NMĐHN lò VVER với công nghệ hiện đại. Sinh viên học ngành công nghệ hạt nhân tại các trường đại học trong nước có thể được đào tạo theo các khóa học chuyên đề trên hệ mô phỏng này. Trung tâm Đào tạo hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cùng với cục Năng lượng nguyên tử sẽ phối hợp chặt chẽ để khai thác hiệu quả hệ mô phỏng này.  Kết luận    Hệ mô phỏng NMĐHN là công cụ đào tạo, huấn luyện vừa mang tính trực quan, vừa có tính thực tế cao. Cùng với việc đẩy mạnh các chương trình đào tạo ngắn hạn cũng như dài hạn với các đối tác nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn, việc bổ sung hệ mô phỏng NMĐHN lò VVER-1200 sẽ đáp ứng nhu cầu học tập, đào tạo về công nghệ lò VVER-1000 nói chung và VVER-1200 (AES2006) nói riêng. Hệ mô phỏng này cần được nghiên cứu, lắp đặt và vận hành một cách khoa học nhằm khai thác tốt nhất những đặc trưng kỹ thuật của hệ, góp phần vào công tác xây dựng nguồn lực cho chương trình điện hạt nhân. Để sử dụng hiệu quả hệ mô phỏng, cần xác định hai nhiệm vụ quan trọng sau đây:  – Xây dựng nhóm cán bộ vận hành có năng lực và hiểu biết về công nghệ lò VVER và hệ mô phỏng;  – Xây dựng chương trình đào tạo thích hợp, bao gồm các chương trình cơ sở lý thuyết, các hệ thống công nghệ và chương trình thực hành trên hệ mô phỏng, phục vụ tốt cho đào tạo cán bộ và sinh viên ngành công nghệ hạt nhân.  Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã và đang thực hiện một số đề tài nghiên cứu liên quan đến công nghệ và an toàn NMĐHN lò VVER-1200. Kết quả của các đề tài đã góp phần vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ và thực hiện vai trò của cơ quan hỗ trợ kỹ thuật. Hệ mô phỏng NMĐHN lò VVER-1200 được đưa vào sử dụng sẽ tạo điều kiện để các kiến thức, kết quả nghiên cứu về lò VVER được truyền tải đến đông đảo cán bộ trong và ngoài viện, cũng như sinh viên các trường đại học.  ——————————————————-  * Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam  Chú thích:  1. Selection, specification, design and use of various nuclear power plant training simulators. IAEA-TECDOC-995. Vienna, Austria ( 1998)  Đọc thêm: Hệ mô phỏng nhà máy điện hạt nhân và ứng dụng trong chương trình đào tạo (Kỳ 1)  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8962         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ nano dây spin Ca2CuO3 và… bốn công bố quốc tế      Với đề tài “Hệ nano dây spin Ca2CuO3”, các nhà khoa học ở Trung tâm Khoa học vật liệu (ĐH  Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội), đã có tới 4 bài báo công bố trên những tạp chí uy tín thế giới với chỉ số IF (impact factor) cao.  &#160;    Theo đuổi nghiên cứu thời đại  Theo chân PGS.TS Hoàng Nam Nhật chúng tôi đến thăm phòng thí nghiệm của Trung tâm Khoa học Vật liệu. Gần 10 năm trước, cơ sở nghiên cứu này được xem là một trong những phòng thí nghiệm hàng đầu trong“top” cả nước với những trang thiết bị “tiền tỷ” như máy đo từ kế mẫu rung và đo từ trở VSM DMS 880, máy nhiễu xạ tia X hay kính hiển vi chụp ảnh bề mặt,…  Những thiết bị nghiên cứu như vậy là để thực hiện những nghiên cứu  mũi nhọn. “Từ học và bán dẫn là hai lĩnh vực chính được chúng tôi triển khai nghiên cứu tại đây. Những vật liệu bán dẫn cấu trúc nano, hay vật liệu quang điện tử đang trở thành trào lưu nghiên cứu hiện nay. Trong lĩnh vực vật liệu từ, chúng tôi tập trung vào các vật liệu perovskite từ tính với những tính chất vật lý thú vị như từ trở khổng lồ, từ nhiệt khổng lồ, từ giảo khổng lồ… Những hướng nghiên cứu này đang được ưu chuộng trên thế giới nhưng lại rất thực tế  ở Việt Nam như vật liệu nanocomposite, các hạt nano từ tính…”.  PGS. Hoàng Nam Nhật cho biết.  Một ê-kíp chuyên nghiệp dù chỉ vỏn vẹn có vài người, thực hiện các phép đo trên những thiết bị sau gần cả chục năm, như nhận định của PGS. Hoàng Nam Nhật, cũng chỉ thuộc “cỡ xoàng” của thế giới. Nhưng lĩnh vực mà trung tâm nghiên cứu cũng là những hướng đang được ưa chuộng ở nhiều trường đại học và trung tâm khoa học lớn trên thế giới, ngoài ra các thành viên ở đây, nhất là những nghiên cứu trẻ, được tạo điều kiện một cách tối ưu nhất có cơ hội được tham dự các hội nghị quốc tế hoặc viếng thăm các phòng thí nghiệm hiện đại trên thế giới để có nhiều cơ hội cọ xát với đồng nghiệp quốc tế, vì vậy, theo PGS Nhật, việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế cũng là điều dễ hiểu.    Bốn trong… một  Ðể dẫn chứng cho “thành tích công bố quốc tế”, PGS Hoàng Nam Nhật đưa chúng tôi xem một trong 4 bài báo khoa học mà Ban biên tập Journal of Raman Spectrocopy vừa gửi về cho nhóm tác giả. Ðiều đáng nói là cả 4 bài báo này đều được ra đời từ một đề tài cấp ÐHQGHN: “Hệ nano dây spin Ca2CuO3”.  Ðây cũng là công trình được trao giải thưởng công trình khoa học tiêu biểu của ÐHQGHN.  Ðể giúp tôi hiểu qua những nghiên cứu mà anh và các cộng sự đã lao tâm khổ tứ trong hơn hai năm, anh giải thích, Ca2CuO3 là chất vô cơ điển hình nhất có tính chất dây spin với chiều dài hàng trăm nanomet. Một chuỗi nguyên tử sắp xếp thẳng hàng giống như một cái…“dây”. Tương tác điện từ làm cho các spin của điện tử đảo chiều tạo thành spin chain. Bình thường, trong tự nhiên dây này không tồn tại, mà muốn tồn tại phải kẹp giữa hai lớp, trong nghiên cứu của các anh thì lớp chất đó là CaO. Cấu trúc này rất đặc thù bởi vì toàn bộ đặc tính của chất này như điện từ, dao động, quang học… phụ thuộc vào dây bởi các quá trình lượng tử trong đó.  Với những tính chất có một không hai như vậy, những chiếc máy tính lượng tử có thể thực hiện các phép tính nhanh gấp nhiều lần máy tính thông thường. “Chúng tôi nhận thấy rằng tính chất của hệ dây nano spin Ca2CuO3 có thể đem lại những ứng dụng tiềm năng cho điện tử học spin hiện đại như chế tạo máy tính lượng tử, tạo ra những xung laser cực ngắn cỡ 10-15 giây”, PGS. Nhật cho biết.  Khám phá tính chất dây spin của nhóm nghiên cứu là hoàn toàn ngẫu nhiên bởi, theo PGS Nhật, mục đích ban đầu của các anh là đi tìm chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao, nhưng kết quả lại không thấy chất siêu dẫn mà lại phát hiện ra chất này có tính chất tương tác từ một chiều có thể dùng trong việc xây dựng những máy tính lượng tử nhiều qubit.  PGS.TS Hoàng Nam Nhật mất một năm trời để tìm ra phương pháp sol-gen để chế tạo chất vì phương pháp này, đối với mỗi chất, đều phải có một chu trình riêng. Nhưng chính kết quả này đã giúp công trình nghiên cứu của anh có được bài báo đầu tiên đăng trên Journal of Physics: condensed matter.  Tiếp theo đó, anh và đồng nghiệp khảo sát tính chất quang bằng cách chiếu chùm sáng để thay đổi trạng thái spin của dây, tìm các mode quang học. Theo PGS. Nhật thì trên thế giới cũng đã làm rất nhiều nhưng kết quả lại phụ thuộc vào chất lượng mẫu. Vì mẫu của nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Khoa học Vật liệu có chất lượng hơn, nên ngay sau đó các anh đã lập tức viết hai bài biện luận, trong đó một bài lý thuyết được đăng trên Journal of Applied Physics của Mỹ và một bài khác đăng trên Journal of Raman Spectrocopy. Không chỉ dừng lại ở đây, với công trình nghiên cứu về hệ dây nano spin Ca2CuO3, PGS. Nhật và đồng nghiệp tiếp tục có thêm một bài báo đăng trên tạp chí Journal of Applied Physics A của Hội Vật lý Ðức. Theo PGS. Nhật, đây là những tạp chí có chỉ số tác động IF cao trong ngành vật lý.  Gian nan con đường khoa học  Ðể có được thành quả như vậy, nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Khoa học Vật liệu, đã phải bỏ nhiều công sức, thậm chí phải nếm cả “trái đắng” bởi những chuyện tưởng như cười ra nước mắt. “Bài toán lý thuyết vô cùng phức tạp. Ðể giải các thuật toán cần phải chạy chương trình tính toán trên máy tính 24/24 giờ. Nhiều khi phải túc trực đến tận khuya”, PGS. Nhật than thở. Nhiều lần, để tiện cho cả việc gia đình và công việc nghiên cứu, anh đã phải “vác” chương trình tính toán về chạy tại…nhà. “Trời mùa hè oi nồng, chiếc máy tính cứ lè dè chạy qua ngày này đến ngày khác mà kết quả vẫn chưa thấy đâu. Có khi kết quả gần ra rồi, bà vợ mình vô ý ngắt điện thì…”, PGS. Nhật tiếp lời.  Do trang bị kỹ thuật để phục vụ mục đích tính toán hạn chế nên để tiến hành một công trình lý thuyết như giải quyết một bài toán thông qua việc tính toán lượng tử, các anh phải mất 6 tháng. “Ở nhiều phòng thí nghiệm tiên tiến với năng lực tính toán cao thì việc giải quyết một bài toán chỉ mất một giờ, trong khi chúng ta mất cả tuần”, PGS. Nhật so sánh.  Nếu mọi việc thuận buồm xuôi gió thì không sao, nhỡ không may sự cố đột xuất thì bao công lao, cộng theo đó là cả những khoảng thời gian quý giá, mà lẽ ra các anh dành cho gia đình, cũng không cánh mà bay, lại phải làm lại từ đầu. Ngay cả với đề tài được giải thưởng công trình nghiên cứu khoa học xuất sắc vừa rồi, anh và đồng nghiệp đã phải làm lại tới…80%.  Ðó chỉ là một trong rất nhiều khó khăn mà những nhà khoa học ở đây phải kinh qua. “Những năm trước đây là phòng thí nghiệm tương đối cập nhật. Nhưng để đáp ứng được những hướng nghiên cứu mới thì cần phải có thêm nhiều thiết bị mới”, PGS. Nhật nói. Chính bởi vậy, nhiều khi anh và đồng nghiệp phải lang thang hết phòng thí nghiệm hóa ở Trường ÐHBK Đại học Bách khoa đến những phòng thí nghiệm ở Viện Khoa học Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) để thuê thiết bị đo.  Khó khăn là vậy, bên cạnh thành quả là những bài báo công bố trên những tạp chí chuyên ngành uy tính trên thế giới, nhưng quan trọng hơn cả, dưới sự dẫn dắt của PGS. Hoàng Nam Nhật, đề tài nghiên cứu đã giúp đào tạo được những thế hệ nhà khoa học trẻ kế cận.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ phức hợp: Những biểu hiện đa dạng trong một thế giới phức tạp      Cuối thế kỷ trước, Stephen Hawking đã từng nói rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của hệ phức hợp. Lời tiên đoán của ông đã bắt đầu trở thành hiện thực khi giải Nobel Vật lý năm 2021 là một khởi đầu cho lời tiên nghiệm đó.      Giáo sư Giorgio Parisi. Nguồn: science.thewire.in.  Hệ phức hợp là một hệ thống gồm rất nhiều phần tử tương tác với nhau. Tính chất chung của cả hệ có thể rất khác biệt và không thể suy ra được từ việc nghiên cứu các thành phần riêng lẻ của nó. Ví dụ như hệ có tính chất tự tổ chức (self-organized), tính đột sinh (emergence), khả năng biến đổi tiến hóa (adapt) trong môi trường. Phần lớn các tương tác giữa các phần tử trong hệ thống là phi tuyến tính.    Có thể kể đến các hệ phức hợp như hệ sinh thái hay hệ biến đổi thời tiết, một nền kinh tế hay một mạng xã hội, các mạng truyền tải điện và mạng giao thông. Trong sinh học, các hệ miễn dịch trong cơ thể, bộ não sinh học, một đàn kiến đông, virus lan truyền trong xã hội, cũng có thể coi là hệ phức hợp…1  Chúng ta có thể thấy được phần nào sự đa dạng của các hệ thống đó qua những nghiên cứu của giáo sư Giorgio Parisi của Sapienza ở Rome, Italy, một trong ba nhà khoa học được trao giải Nobel trong năm nay. Ông khởi đầu là một nhà Vật lý lý thuyết, sau đó nghiên cứu về Vật lý thống kê, lý thuyết trường, hệ động lực, vật lý toán, vật lý các hệ đậm đặc.     Các hệ không trật tự kiểu thủy tinh spin     Một trong những phát minh nổi tiếng nhất của giáo sư Parisi là khái niệm thủy tinh spin (“spin-glass”), một tập hợp các mô hình vật lý thống kê có nhiều ứng dụng trong lý thuyết tối ưu, sinh học và y khoa. Từ trường spin là một đặc tính của các hạt cơ bản. Ví dụ ở trong nam châm hàng tỷ tỷ các electron của nguyên tử sắt có spin hướng theo cùng một hướng (lên hoặc xuống) tạo nên một từ trường lớn của miếng nam châm phát ra bên ngoài, gọi là vật liệu từ tính. Phần lớn vật chất trong tự nhiên không có từ tính bởi các electron nguyên tử thường có spin xoay ngẫu nhiên và tổng thể từ trường sẽ bằng 0. Cụm từ “glass” được lấy do có sự tương đồng với các thủy tinh hóa học hay còn gọi là chất vô định hình với các liên kết nguyên tử đặc biệt bất định.    Khái niệm thủy tinh spin kết hợp tính từ tính và tính bất định cho một hệ phức hợp. Một ví dụ của thủy tinh spin là một hợp kim gồm các nguyên tử sắt có từ tính được đặt ngẫu nhiên trong một mạng lưới đều các nguyên tử đồng (hình 1). Mỗi nguyên tử sắt như một nam châm với chiều bị ảnh hưởng bởi các nam châm lân cận. Tuy nhiên làm sao tập hợp các nguyên tử sắt này xoay hướng từ trường một cách tối ưu trong hợp kim?      Hình 1: biểu diễn của một hệ thủy tính spin trong hợp kim đồng – sắt.   Câu trả lời sẽ rất khó nếu giả sử các nam châm (nguyên tử sắt) gần nhau đẩy lẫn nhau, tức là buộc chúng phải có chiều nam châm ngược nhau (phản từ tính hay “antiferromagnetic”). Chỉ cần giả sử chúng ta có ba nam châm thì điều này cũng không thể thỏa mãn cho mỗi cặp nam châm như trong hình2. Nếu nam châm A hướng lên, nam châm B hướng xuống thì cặp tương tác AB thỏa mãn điều kiện ngược nhau, nhưng nam châm C dù hướng theo chiều nào cũng không thể thỏa mãn cũng lúc cặp CA và CB. Chúng ta gọi đây là một trạng thái “rối loạn”.    Edwards và Anderson [1] đã rất tài tình giải các hệ thống này với kỹ thuật sao chép (“replica method”) các hàm phân bố và tổng hợp chúng lại dựa trên các lý thuyết trường trung bình (“mean-field”). Tuy nhiên khi giải cho các hệ vô hạn chiều thì kỹ thuật này dẫn đến trạng thái entropy âm, điều này dẫn đến sự đối xứng của kỹ thuật sao chép bị phá vỡ (“broken replica symmetry”) (Blandin [2], and by Bray and Moore [3]).      Hình 2: Sự rối loạn: khi một spin hướng lên và một spin hướng xuống thì một spin thứ 3 không thể thỏa mãn cả hai. Làm thế nào để tạo ra một sự cân bằng tối ư? GS. Parisi là bậc thầy của lời giải cho các hệ như vậy.  Giáo sư Parisi đã giải quyết mâu thuẫn này bằng cách chỉ ra rằng ở các trạng thái ổn định, hệ “spin glass” cần có vô hạn các tham số bậc [4, 5]. Đồng thời, ông cũng đưa ra công thức để tính thông số tương quan giữa các bản sao replica của hệ. Điều đó có nghĩa là mặc dù chúng ta có thể không dự đoán chính xác trạng thái của một hệ thủy tinh spin, nhưng chúng ta có được một lý thuyết về tính tương quan giữa các trạng thái có thể có của hệ. Các trạng thái có thể có này co cụm trong không gian N chiều.    Các lý thuyết giải thích hệ thủy tinh spin nhanh chóng được áp đụng cho các hệ tương tự. Ví dụ với mạng neuron của John Hopfield [6], các bản ghi nhớ trong mạng tương ứng với các trạng thái cân bằng khác nhau của hệ thủy tinh spin. Các lý thuyết của hệ thủy tinh spin cũng giúp giải quyết các bài toán tối ưu cổ điển như bài toán tìm đường đi tối ưu cho người bán hàng,…    Một ví dụ thú vị khác của các hệ không trật tự kiểu spin glasss là một bài toán trong khoa học xã hội. Có thể hiểu đơn giản bằng ví dụ của một “hệ xã hội nhỏ” sau: trong một bữa tiệc Alice muốn nói chuyện với Bob, Bob muốn nói chuyện với Charlie nhưng Alice lại không thích gặp Charlie. Có một sự rối loạn ở đây và nếu tưởng tượng là có 100 người với nhiều chục cặp “không thích” như vậy, kết quả sẽ không thể đoán được.      Hình 3: GS. Parisi nghiên cứu sự tạo thành hình dạng đột phát của bầy chim sáo.  Các lý thuyết về hệ thủy tinh spin của giáo sư Parisi có thể áp dụng cho ví dụ trên. Lý thuyết cho thấy cả Alice, Bob, Charlie và những người khách khác sẽ thường xuyên tìm gặp các đối tác khác, kỳ vọng sẽ tạo thành nhóm trò chuyện hợp nhau lớn hơn. Nhưng nếu số lượng người đủ lớn thì sẽ không bao giờ tìm được giải pháp tối ưu mà sẽ có từng nhóm nhỏ trò chuyện – gọi là những giải pháp dưới tối ưu hay (hay các cực trị địa phương). Hệ phức hợp có thể ở trong trạng thái dưới tối ưu nhưng ổn định này trong một thời gian rất lâu (gọi các trạng thái “metastable”). Nhưng chúng cũng biến đổi theo thời gian, đi ra khỏi cực trị địa phương rồi lại bị tắc trong một cực trị địa phương mới. Các nghiên cứu của giáo sư Parisi chỉ ra rất nhiều tính chất của những hệ phức hợp như vậy. Điều thú vị là mặc dù kết quả của mỗi lần tương tác là khác nhau, không bao giờ lặp lại nhưng chúng ta có thể tìm ra các quy luật của sự khác nhau.    Trong thời gian sau này giáo sư Parisi cùng các cộng sự nghiên cứu tính đột phát của bầy chim sáo tạo thành các hình dạng cộng hưởng thú vị mà chúng ta thường thấy. Nhóm của ông đã chụp khoảng hơn 100 ngàn ảnh 3D của bầy chim sáo với số lượng từ vài trăm đến vài nghìn con (hình 3). Ông nói “các con chim sáo này rất thú vị vì chúng bay rất nhanh. Hàng ngàn con bay rất nhanh, rất thẳng và tạo ra được những hình thù kỳ dị. Câu hỏi đặt ra là chúng liên lạc với nhau như thế nào?”. Đây chính là một ví dụ điển hình về hệ phức hợp, và mặc dù là rất khác so với thủy tinh spin nhưng cũng có những điểm chung. Câu trả lời cuối cùng vẫn chưa có đầy đủ nhưng một số tính chất quan trọng của bầy chim đã được nhóm tìm ra.      Hình 4: Hình chiếu 2D của vận tốc (A) và chênh lệch vận tốc so với vận tốc trung tâm (B) của một bầy chim sáo.  Một trong số đó là sự tương quan mang tính phi tỷ lệ (scale-free correlation). Hình 4A cho thấy bản chiếu 2D của một bầy chim sáo với các mũi tên chỉ hướng của vận tốc. Phần lớn bầy chim đều bay theo một hướng với sự đồng nhất cao. Tuy nhiên trong hình 4B biểu diễn chênh lệch vận tốc của từng con so với vận tốc chung của cả bầy (vận tốc trung bình vector) thì ta nhận thấy có sự phân hóa thành hai nhóm, với mỗi nhóm có một vận tốc đại diện ngược nhau. Kết quả này cho thấy có cả sự tương quan đồng thuận (trong cùng nhóm) và sự tương quan ngược (giữa hai nhóm) trong cùng một bầy chim. Sự tương quan này phụ thuộc vào khoảng cách, đồng thuận ở khoảng cách gần và ngược ở khoảng cách xa. Ranh giới giữa hai vùng này xác định cho ta khoảng cách tương tác của chim sáo. Kết quả đặc biệt là khoảng cách này tỷ lệ với kích thước của bầy chim theo quy luật mũ (tính phi tỷ lệ). Ví dụ với một bầy chim có chiều rộng với chiều rộng không gian mà chúng chiếm lĩnh là 10 mét thì các con chim sáo chỉ liên lạc với các con trong phạm vi một mét gần nó. Trong khi với một bầy chim bay trên bầu trời với chiều rộng đàn 100 mét thì mỗi con sẽ liên lạc với các con khác trong phạm vi 10 mét gần nó. Chim sáo đã đoán nhận được số lượng của bầy, từ đó tăng tính tương tác của mình theo số lượng đó, nhưng bằng cơ chế nào?    Các phát triển kế tiếp của nhóm dựa trên tính bắt chước và tính tuân thủ quy luật chung của mỗi con chim, tuy nhiên mối quan hệ của chúng với khoảng cách tương tác có tính phi tuyến. Ở mức độ tuân thủ thấp thì tăng mức tuân thủ làm tăng khoảng cách tương tác nhưng đến một ngưỡng tới hạn nào đó, sự tuân thủ tăng lên nhưng bầy chim không tương tác xa hơn nữa mà dừng ở một ngưỡng nhất định.    Và ngoài các lĩnh vực trên ông còn nghiên cứu về lý thuyết dây, vật lý sinh học và thiết kế cấu trúc máy tính (cả phần cứng và phần mềm). Giorgio Parisi thường nói “Tôi hay nghiên cứu nhiều hướng cùng một lúc, bởi vì để có được ý tưởng cần có nhiều thời gian”.□  Giorgio Parisi là một người quan tâm đến nhiều thứ, ngoài lĩnh vực nghiên cứu của mình. Ông thẳng thắn nêu ra những bất cập trong quản lý khoa học ở Italy. Trong buổi họp báo về giải Nobel Vật lý tại Rome, ông nói rằng Italy là một trong những quốc gia có mức đầu tư cho khoa học thấp nhất châu Âu. “Nghiên cứu không được đầu tư đầy đủ và tình trạng này trở nên ngày một xấu hơn trong vòng 10 đến 15 năm trở lại đây. Tôi đã vô cùng vui mừng khi thấy chính phủ của Mario Draghi cam kết tăng ngân sách cho nghiên cứu bởi chúng tôi đã ở dưới đáy trong danh sách của các quốc gia có đầu tư thấp ở EU”, ông nói.  Bộ trưởng Bộ Khoa học Cristina Messa từng hứa hẹn sẽ tài trợ sáu tỉ euro cho 60 dự án, trong đó có năm tỉ đã được rót trong năm 2021. Theo dữ liệu năm 2019 cơ sở dữ liệu châu Âu Eurostat, Italy dành 1,45 % GDP cho nghiên cứu trong khi con số trung bình của EU là 2,19 %, cao nhất là Đức với 3,17%.  Nhưng lo ngại của Giorgio Parisi không chỉ có thế. “Italy không phải là ‘đất hứa’ cho nhà khoa học, dù là người Ý hay người nước ngoài cũng vậy”, ông nói. “Khoa học cũng như một vườn rau, nếu anh nghĩ anh chỉ cần tưới tắm cho nó hai lần một tuần thì kết quả thật tệ hại”.  Ông không quen nói suông mà không hành động. Ông tìm nhiều cách có thể để vận động cho ngân sách dành cho khoa học. Ông nhiều lần chỉ trích chính phủ Berlusconi vì sự cắt giảm ngân sách cho nghiên cứu khoa học khi cho rằng khoa học là xa xỉ trong thời gian khủng hoảng thay vì một cơ hội để có thể đưa đất nước vượt qua khủng hoảng.  Ông có những nguyên tắc nhất định trong suy nghĩ và hành xử, có thể gây khó hiểu ở người khác. Ông từng viết thư vận động sinh viên không đón tiếp Giáo hoàng Benedict XVI đến phát biểu khai giảng năm học mới ở Đại học Rome ở La Sapienza, một đại học hơn 700 năm tuổi. Ông viết “một chức sắc tôn giáo, dù chỉ là một giáo sĩ hay một lãnh tụ, cũng không nên đến phát biểu mở màn cho một tổ chức phi tôn giáo”.  Nhưng kể từ khi giải Nobel được xướng lên, tất cả đều chia vui cùng GS. Parisi và gia đình.  —–  Tham khảo  [1] Edwards SF, Anderson PW. 1975. Theory of spin glasses. J. Physics F: Metal Physics, 5, 965.  [2] Blandin A. 1978. Theories versus experiments in the spin glass systems. J. Phys. Coll. 39 C6, C6-1499-C6- 1516.  [3] Bray AJ, Moore MA. 1978. Replica symmetry breaking in spin-glass theories. Phys. Rev. Lett. 41,1068  [4] Parisi G. 1979. Toward a Mean Field Theory for Spin Glasses. Phys. Lett. A 73, 203.  [5] Parisi G. 1979. Infinite number of order parameters for spin-glasses Phys. Rev. Lett. 43, 1754.  [6] Hopfield JJ. 1982. Neural networks and physical systems with emergent collective computational properties. Proc. Nat. Acad. Sci. USA 79, 2554-2558.  Các tài liệu khác:  https://theconversation.com/my-phd-supervisor-just-won-the-nobel-prize-in-physics-heres-how-his-research-on-complex-systems-changed-science-169297  https://en.wikipedia.org/wiki/Giorgio_Parisi  https://www.pnas.org/content/103/21/7945  https://www.pnas.org/content/107/26/11865  https://physicsworld.com/a/giorgio-parisi-the-italian-activist/  ————  1. Bài trên Tia Sáng https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Khoa-hoc-he-phuc-hop-Giai-nhung-bai-toan-phuc-tap-cua-khoa-hoc-va-xa-hoi-24236    Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang hế tạo thành công chân robot      Tập đoàn Toyota của Nhật Bản thông báo đã chế tạo thành công loại chân robot, giúp robot có thể nhảy như con người. Chân robot dài 1m này có một khớp nối ở ngón chân và một khớp nối khác giống đầu gối giúp robot có thể nhảy cao tới 4 cm.    “Đây là một công nghệ cơ bản có thể được áp dụng cho các robot trong tương lai”, đại diện của Tập đoàn Toyota cho biết. Với công nghệ mới này, robot không chỉ có khả năng nhảy như con người mà chúng còn có thể chạy nhanh hơn và dễ dàng vượt qua các con đường gồ ghề.      (Theo AFP)  H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống cảnh báo sớm cho cầu đường      Từ sự cố sập cầu qua sông Mississippi, các chuyên gia tại phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos đang thiết kế những sensor nhỏ đặt trên cầu – hoặc bất kỳ công trình nào có vấn đề – để đo các trục trặc như nứt, gãy, xoắn, ăn mòn hay lỏng chốt.    Nếu xác định được có sự biến dạng gây nguy hiểm trong các cấu trúc quan trọng, chẳng hạn hướng hay nhiệt độ, các sensor sẽ gửi thông tin đến một máy tính, từ đó phân tích dữ liệu để xác định sự cố sẽ xảy ra.  Chuck Farrar, một kỹ sư xây dựng tại phòng thí nghiệm Los Alamos cho biết, ý tưởng của nhóm là hệ thống này sẽ được tích hợp vào công việc của các uỷ ban giao thông hoặc các đội tuần tra cao tốc, thậm chí chúng có thể thay thế cho công việc của nhân viên kiểm tra.  Farrar cho rằng biện pháp này sẽ kinh tế hơn nhiều vì người ta chỉ việc cử nhân viên sửa chữa đến khi có vấn đề, thay cho các cuộc kiểm tra định kỳ như hiện nay. Cây cầu trên sông Mississippi cũng đã được kiểm tra định kỳ năm ngoái, nhưng người ta đã không tìm thấy các hư hỏng cấu trúc lộ thiên của nó.  Trở ngại chính đối với công nghệ sensor hiện nay là tìm ra cách tiết kiệm nhất để truyền dữ liệu từ sensor về máy tính. Các sensor hiện nay phải chạy bằng pin và cần được thay thế thường xuyên.  Farrar cho biết phòng thí nghiệm Los Alamos đã thử nghiệm các sensor cho cầu trong 10 năm qua, nhưng công nghệ này vẫn chưa sẵn sàng để ứng dụng. Nhóm của ông đã tiến hành được 1 năm rưỡi (trong một dự án kéo dài 4 năm) để thử nghiệm và phát triển công nghệ sensor, và sẽ tiến hành trên một cây cầu ở New Mexico vào cuối tháng này.  T. An (theo Time)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống cảnh báo về thời tiết trên vũ trụ      Khi các cơn bão mặt trời đụng vào trái đất, mạng lưới điện và các vệ tinh có thể bị tổn thất nặng nề. Vì vậy các nhà nghiên cứu đã phát triển hệ thống cảnh báo sớm về thời tiết trên vũ trụ.      “Trong một chu kỳ mặt trời kéo dài 11 năm đã xảy ra khoảng 10.000 cơn bão mặt trời. Trong đó có khoảng 40 cơn bão tác động tới trái đất,” theo TS Volker Bothmer, Đại học Göttigen, người đang chủ trì đã phát triển một nguyên mẫu đầu tiên về hệ thống cảnh báo sớm của châu Âu đối với thời tiết trên vũ trụ. Hệ thống này phân tích các dữ liệu do các đài quan sát vũ trụ cung cấp, trên cơ sở đó tính toán sức mạnh, hướng, tốc độ và diễn biến của các cơn bão mặt trời cũng như tác động của chúng đến trái đất. “Advanced Forecast for Ensuring Communications Through Space” (AFFECTS), tên của hệ thống, trị giá khoảng 2,5 triệu Euro. Các đối tác của dự án  AFFECTS bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm dự báo thời tiết, đài quan sát thiên văn, doanh nghiệp của Đức, Na Uy, Bỉ và Ukraine.   Volker Bothmer nói, “trên cơ sở phân tích các dữ liệu này, có thể dự đoán về tính chất của bão mặt trời, thời điểm, đại để khi nào bão lan tới trái đất và tác động của bão đối với trái đất ra sao.” Thời gian tính toán để có một kết quả rõ ràng nhiều nhất là một tiếng đồng hồ. Do khoảng cách từ mặt trời đến trái đất khoảng 150 triệu km nên thời gian cảnh báo trước ít nhất là 12 giờ.   Bão mặt trời có thể gây ra những gì?  Các cơn bão mặt trời nhỏ, còn gọi là các vệt mặt trời, là hiện tượng hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên đôi khi có những bong bóng khí khổng lồ bắn đi từ bề mặt mặt trời với tốc độ lên tới 2.000 km/giây xuyên qua không gian liên hành tinh. Trong quá trình đó, một khối lượng vật chất khổng lồ sẽ được giải phóng. Và khối lượng vật chất này có thể gây nhiễu quyển từ (Magnetosphere).  Quyển từ cách trái đất khoảng 50.000 km và tạo thành một vùng bảo vệ cho hành tinh chúng ta trước các cơn bão mặt trời. “Khi bão hạt cơ bản đến khu vực ranh giới của quyển từ, thì có thể trong những trường hợp nhất định xẩy ra phản ứng từ và từ đó có thể hình thành cái gọi là bão từ (geomagnetic storm),” theo Alexi Glover, nhà nữ thiên văn học của ESA ở Madrid. “Gió liên tục trong không gian liên hành tinh là chuyện hoàn toàn bình thường, nhưng các cơn bão mạnh có tiềm năng gây nhiễu lớn.”  Bão mặt trời làm tê liệt mạng lưới điện  Thí dụ năm 2003 một cơn bão mặt trời đã làm cho mạng lưới điện ở một khu vực rộng lớn của Thụy Điển bị tê liệt và làm cho hệ thống ra đa hàng không của châu Âu ngừng hoạt động, nhiều chuyến bay ở Mỹ bị hủy. Vệ tinh nghiên cứu “Midori 2” trị giá 390 triệu Euro bị thất lạc.  Năm 1989 do ảnh hưởng của bão mặt trời nên một vùng rộng lớn thuộc tỉnh Québec (Canada) bị mất điện làm ảnh hưởng đến cuộc sống của sáu triệu người ở Montreal.   Các cơn bão mặt trời cũng tạo nên những hình ảnh thiên nhiên vô cùng hoành tráng. Nguồn ánh sáng phương bắc ngoạn mục tạo thành giải ruy băng xanh, đỏ, vàng và tím trên nền trời đêm. Khi các cơn bão đặc biệt mạnh thì những hình ảnh này không chỉ hiện lên ở bắc vòng bắc cực, mà thậm chí ở Đức cũng có thể chiêm ngưỡng.   Nhà nghiên cứu Volker Bothmer nói, “chúng tôi cũng quan sát kỹ lưỡng hiện tượng thiên nhiên này để biết khoảng thời gian mà bão mặt trời lan ra tới trái đất”. Theo nhà vật lý thiên văn này thì hệ thống cảnh báo sớm về thời tiết trên vũ trụ giúp con người hạn chế những tổn hại mà bão mặt trời gây ra trên trái đất.   Mọi kết quả nghiên cứu của hệ thống cảnh báo mới này đều được các nhà nghiên cứu công bố ngay trên internet qua trang web www.affects-fp7.eu.   Xuân Hoài dịch Theo Tuần kinh tế 25.9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống cấp nước thời La Mã cổ đại      C&#225;c nh&#224; kỹ thuật ở&nbsp; La M&#227; cổ đại&nbsp; đ&#227; c&#243; th&#224;nh t&#237;ch xuất sắc trong việc cung cấp nước sinh hoạt cho người d&#226;n. Hệ thống k&#234;nh dẫn nước đ&#243;ng vai tr&#242; chủ đạo cho sự ph&#225;t triển của đế chế La M&#227; &#8211; một số k&#234;nh dẫn nước cho đến nay vẫn c&#242;n hoạt động.    Hệ thống dẫn nước từ  vùng núi Sabin còn có tên là “Aqua Virgo” tới những giếng nước ăn ở thủ đô Roma dài khoảng 21 km do quân lính của  tướng Marcus Agrippa xây dựng từ thế kỷ 19 trước Công nguyên. Tương truyền, một trinh nữ (Virgo) đã chỉ cho binh sỹ một nguồn nước đặc biệt trong lành ở sâu trong lòng núi. Hệ thống dẫn nước Aqua Virgo, phần lớn chạy ngầm dưới mặt đất, cung cấp nước cho người dân thành Roma từ thời cổ đại và một số nơi vẫn còn hoạt động cho đến tận ngày nay.    Theo số liệu còn tồn tại cho tới ngày nay có khoảng 26.000m3 nước/ngày dẫn tới trung tâm Roma bằng hệ thống kênh dẫn nước này. Hồi đó, vào thời cao điểm có tới 11 hệ thống kênh dẫn nước loại lớn chạy ngầm hay nổi trên mặt đất để cung cấp cho dân cư phân bổ trên tổng diện tích là 50 km2, lượng nước khoảng 500.000 m3/ngày  Hệ thống kênh dẫn nước cổ đại này với những cầu dẫn cheo leo giữa hai vách núi và những kênh ngầm xuyên qua lòng núi, từng được đánh giá  như một kỳ quan thế giới. Những nhà xây dựng hệ thống kênh dẫn này thậm chí còn cho rằng công trình của họ còn đáng tôn vinh nhiều hơn so với “những Kim tự tháp ở Ai Cập hay các công trình xây dựng đồ sộ nhưng vô bổ ở Hy Lạp!”           Pont du Gard ở gần  Nîmes thuộc Pháp: Một số đường ống và  giếng nước ăn  được xây dựng từ thời  La Mã cổ đại vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay.    Giếng nước Trevi ở  Roma (tháng 4. 1957)        Hiện nay ở trung tâm thủ đô Roma hay ở vùng ngoại ô vẫn còn những di tích của mạng lưới kênh dẫn nước lừng danh này. Những người muốn chiêm ngưỡng di tích này có thể đi tàu điện ngầm tới  Cinecittà, từ đây đi xe buýt số 557 tới Parco degli Acquedotti. Tại đây người ta có thể chứng kiến kênh dẫn nước chạy song song dài hàng km, có chỗ lên đến độ cao 27 mét. Người ta chứng kiến cả những mảng tường được xây bằng gạch hay đá tự nhiên và cả một loại bê tông đặc biệt thời La Mã với cái tên “Opus Caernentitium”, nhờ được láng bằng nhiều lớp vữa đặc biệt này kênh dẫn nước không bị rò rỉ. Do nước phần lớn không được dẫn bằng đường ống mà bằng hệ thống máng xây hình chữ nhật, vì vậy đòi hỏi chuyên gia xây dựng phải tính độ dốc dòng chảy chính xác: sử dụng một thiết bị đo có tên là Chorobat- thiết bị thủy chuẩn to bằng một cái bàn. Nhờ đo đạc kỹ lưỡng và đánh dấu chuẩn xác từng đoạn một nên máng dẫn nước này bảo đảm có được độ dốc cần thiết. Thành tựu này làm cho cả người thời này không khỏi trầm trồ thán phục. Thí dụ máng Anio Novus có độ dốc chỉ ở mức 1,3 phần nghìn, tức 1,30 mét/km. Hệ thống dẫn nước ba tầng Pont du Gard ở gần Nimes thuộc Pháp lực lượng xây dựng người La Mã đã thành công xây tuyến dẫn nước có chiều dài tới 50 km mà chênh lệch về độ cao chỉ là 12,27m, độ dốc ở mức  0,0248 %.   Có thể nói các chuyên gia xây dựng La Mã cổ đại rất thành công trong việc xây dựng các hệ thống kênh dẫn nước bất chấp bề mặt địa hình. Nghệ thuật xây dựng tại công trình kênh mương dài 250 km ở những vùng ngoại vi Roma. Gần thủ đô Istanbul ngày nay có con kênh nước Karthago dài trên 130 km  xây dựng dưới thời Hoàng đế  Hadrian. Vào thế kỷ thứ nhất sau Thiên chúa, người La Mã đã xây dựng một kênh dẫn nước sinh hoạt dài 100 km từ vùng núi Nettersheim hiện nay tới tận vùng đất thuộc thành phố Köln của Đức, nơi từng bị đế quốc La Mã đô hộ. Công trình này là hệ thống dẫn nước xếp hàng thứ ba của đế chế La Mã và là “một thành tựu kỹ thuật xuất sắc nhất thời Cổ đại”.    Vào thế kỷ thứ 7 trước Thiên chúa,  Roma còn là một thị trấn  bé nhỏ và nước từ sông Tiber đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân trong vùng. Nhưng dân số tăng nhanh, cuộc sống ngày càng cải thiện nên nhu cầu về nước tăng, vì vậy ngay từ năm 320 trước Thiên chúa, người La Mã đã quyết định xây dựng  kênh dẫn nước đầu tiên mang tên Aqua Appia ngầm dưới  mặt đất vì lý do chiến lược. Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt không ngừng được mở rộng và thỏa mãn nhu cầu về nước của thành phố.   Mãi đến năm 2003, các nhà khảo cổ học đã khai quật bên dưới Kolosseum ở trung tâm Roma và họ đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện mạng lưới kênh dẫn nước ở bên dưới kênh dẫn nước thải xây dựng cùng thời với nhà hát Amphi, dưới thời trị vì của Hoàng đế Nero. Đường kính các ống dẫn nước ở đây rất lớn chứng tỏ hồi đó người ta đã dùng một lượng nước rất lớn phục vụ các trận quyết đấu giữa các võ sỹ với các loại thú dữ như sư tử hay gấu. Chuyên gia khảo cổ đồng thời là nhà nghiên cứu hang động người Italia Cristiano Ranieri, người đã từng sử dụng thiết bị lặn để nghiên cứu thế giới ngầm của Kolosseum, cho rằng người Roma cổ đại có thể đã cho nước tràn ngập võ trường này để tái thể hiện các trận thủy chiến.   Toàn bộ mạng lưới hệ thống nước thải ở Roma có chiều dài tổng cộng 4000 km và do nữ thần Cloacina cai quản. Đây là nơi còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn đối với thế giới đương đại. Công nhân xây dựng đã phát hiện dưới lòng đất những bể chứa nước ngầm rộng lớn đến mức thuyền bè có thể đi lại được, và ở dưới mặt đất còn ẩn chứa nhiều giếng nước ngầm khá lớn với mạng lưới đường dẫn nước chằng chịt.   Vào thế kỷ thứ 4, ở trung tâm Roma có tới 860 bể tắm công cộng. Ngoài ra, các trang trại lớn của giới điền chủ và vua chúa cũng có một số lượng bể tắm tương tự, cạnh đó là hồ nuôi cá, hệ thống nước để tưới các vườn hoa, công viên và hàng nghìn đài phun nước.    Lấy trộm nước bị coi là một tội và bị trừng phạt khá nặng. Để bảo đảm công bằng người La Mã thu tiền tiêu thụ nước dựa vào đường kính ống dẫn nước. Hệ thống kênh dẫn nước ngầm dưới đất có 10 loại đường kính khác nhau, từ 2,9 đến 58,9 cm. Trong một cuốn sách chuyên đề về xây dựng viết trong thế kỷ thứ nhất trước Thiên chúa, kỹ sư Vitruv đã đề cập đến nguy cơ ngộ độc khi sử dụng kim loại nặng chì làm ống dẫn nước.     Phải chăng loại ống dẫn nước bằng chì này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự cáo chung của đế quốc La Mã? Trong những năm 70 của thế kỷ trước, Ủy ban về chất lượng môi trường của Hoa Kỳ có đề cập đến tình trạng vô sinh cũng như rối loạn thần kinh ở một số vua chúa La Mã, và người ta nghi ngờ vấn đề này liên quan đến ngộ độc chì.   Trong những năm 80 thế kỷ trước, bác sĩ người Canada Jerome Nriagu  cho rằng nhiều hoàng đế và nghị sĩ La Mã bị ngộ độc chì và ông này cũng cho rằng hệ thống dẫn nước ở Roma là nguyên nhân của sự suy tàn của đế chế La Mã. Khi phân tích xương người khai quật ở Karthago, người ta phát hiện thấy có chì.  Năm 537 người Goten từng bao vây Roma. Lực lượng bảo vệ thành phố đã cắt mọi nguồn nước dẫn đến Roma nhằm chặn đứng quân xâm lược Gote. Cuộc chiến này cũng bắt đầu thời kỳ suy tàn của đế chế La Mã. Phải mất gần 1.500 năm sau, các thành phố ở Trung Âu mới đạt được trình độ cung cấp nước như  đế chế La Mã cổ đại.   HOÀI TRANG dịch (Theo  Spiegel 2.09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống chính sách và sự phát triển của khoa học công nghệ Trung Quốc      Thực hiện Nghị định hợp tác khoa học và công nghệ giữa 2 nước Việt Nam- Trung Quốc, vừa qua Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã cử một đoàn cán bộ quản lý KH&amp;CN của Bộ và cán bộ quản lý KH&amp;CN của sở KH&amp;CN các tỉnh tham gia khóa“Quản lý khoa học và công nghệ” tại Bắc Kinh và Thượng Hải do Bộ KH&amp;CN Trung Quốc đăng cai.  Tia Sáng xin lược thuật về hệ thống chính sách, chiến lược phát triển công nghệ và công nghệ cao của Trung Quốc – một trong những thông tin chính của khóa đào tạo này.    Tình hình hoạt động khoa học công nghệ của Trung Quốc  Đội ngũ khoa học công nghệ  Tổng cộng có 38 triệu người hoạt động trên lĩnh vực khoa học công nghệ; 1,05 triệu người hoạt động nghiên cứu và triển khai, con số này lần lượt đứng đầu và thứ hai thế giới. Bình quân ởTrung Quốc, cứ 10.000 người làm kinh tế thì có 45 làm khoa học, hiện có 23 triệu sinh viên đại học, 4 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học năm 2006.  Cơ cấu nền  khoa học công nghệ  Trung Quốc hiện có 370 đơn vị nghiên cứu cấp nhà nước chuyển đổi thành doanh nghiệp khoa học, trong đó khoảng 150 đơn vị nghiên cứu trực thuộc chính phủ.  Trung Quốc hiện có hơn 100 phòng thí nghiệm trọng điểm nhà quốc gia ở các trường đại học.  Tăng đầu tư cho khoa học công nghệ  Năm 2001, lần đầu tiên mức đầu tư nhà nước cho R&D đạt tới mức đột phá 100 tỷ NDT. Năm 2005, mức này đã là 245 tỷ NDT, tỷ lệ R&D/ GDP đạt 1,34%. Doanh nghiệp khoa học không ngừng tăng trưởng, kinh phí R&D của doanh nghiệp chiếm 68,4% kinh phí R&D của toàn xã hội.  Số lượng  và chất lượng nghiên cứu  Năm 2004, Trung Quốc có 310.000 báo cáo khoa học, mỗi năm tăng khoảng 30.000 báo cáo. Số lượng báo cáo của Trung Quốc công bố ở nước ngoài tăng 22% mỗi năm. Năm 2005, số báo cáo khoa học của Trung Quốc công bố ở nước ngoài đứng thứ 5 thế giới. Những năm gần đây, số đơn xin cấp bằng sáng chế ở Trung Quốc tăng bình quân 18% năm.                Một phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia của Trung Quốc          Những lĩnh vực khoa học công nghệ được ưu tiên phát triển  Công nghệ bảo vệ tài nguyên và môi trường  Nguồn lực, tài nguyên và môi trường là những vướng mắc chủ yếu trong phát triển của Trung Quốc, mô hình đầu tư nhiều, tiêu hao lớn, ô nhiễm nhiều không thể tiếp tục. Giải quyết lương thực cho 1,3 tỷ nhân khẩu luôn là vấn đề hàng đầu của Trung Quốc. Bình quân tài nguyên đất, nước của Trung Quốc thấp hơn so với thế giới và ngày càng cạn kiệt. Trước những thách thức bức thiết đó, Trung Quốc phải dựa vào khoa học công nghệ để giải quyết vấn đề nông nghiệp  Phát triển nền nông nghiệp hiện đại  Qua các “Kế hoạch 863”, Kế hoạch Đốm lửa (Hỏa tinh kế hoạch), Chương trình trọng điểm về khoa học công nghệ trong nông nghiệp, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh. Trung Quốc hiện cơ bản thành công trong áp dụng giống lúa lai với diện tích đạt 50 triệu mẫu. Trung Quốc cũng phấn đấu nâng cao dinh dưỡng toàn dân, dùng khoa học công nghệ để nâng đời sống nông dân lên mức khá (tiểu khang)  Công nghệ thúc đẩy thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế  Trung Quốc đã duy trì mức tăng trưởng 9% trong  20 năm liên tục, tuy nhiên sự tăng trưởng còn dựa vào tài nguyên, nguồn lực và công nghệ nhập khẩu. Năng suất lao động so với các nước phát triển còn rất thấp, sản xuất thường chỉ thuộc vị trí thấp trong dây chuyền toàn cầu. Nếu không thay đổi phương thức kinh tế trong 15 năm tới thì khó duy trì được tăng trưởng. Chính phủ Trung Quốc nhận thức rằng nhập khẩu công nghệ là phương thức rất quan trọng cho phát triển kinh tế, tuy nhiên nhập khẩu công nghệ cũng không thể bằng tự sáng tạo. Sự phát triển của Trung Quốc chủ yếu dựa vào nội lực, vì thế tự chủ sáng tạo sẽ điều chỉnh kết cấu kinh tế và trở thành hạt nhân của tăng trưởng.  Nghiên cứu khoa học cơ bản  Tình hình chung  Chất lượng nghiên cứu cơ bản ở Trung Quốc hướng từ mở rộng về lượng chuyển sang nâng cao về chất. Từ 2001 – 2005, tổng kinh phí cho nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc là gần 47 tỷ NDT, mỗi năm tăng bình quân 25%. Năm 2005 đạt tới 13,5 tỷ NDT, tăng gần 190% so với mức gần 4,7 tỷ NDT của năm 2000. STC ghi nhận, bình quân số lượng báo cáo nghiên cứu từ năm 1997 tới nay tăng 19%/năm. Năm 2005, số lượng báo cáo nghiên cứu đạt hơn 57.000.  Kế hoạch 973  Kế hoạch quốc gia phát triển nghiên cứu cơ bản trọng điểm (gọi tắt là Kế hoạch 973) là một trong những kế hoạch của chính phủ Trung Quốc nhằm hỗ trợ nghiên cứu cơ bản. Kế hoạch 973 mang tính chiến lược, tính dự báo, tính toàn cục, chủ yếu hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản quan trọng nhất với mục tiêu giải quyết các vấn đề về kiến thiết kinh tế quốc gia, duy trì phát triển xã hội, hấp thu những thành quả lớn của khoa học thế giới để làm nền tảng cho kinh tế xã hội. Từ 2001 – 2005, Trung Quốc đã đầu tư 4 tỷ NDT cho Kế hoạch 973.  Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia  Để cải cách thể chế khoa học, cải cách phương thức thanh toán cho nghiên cứu và đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản, tháng 2/1986, Trung Quốc thành lập Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia. Định hướng của Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia là hỗ trợ nghiên cứu cơ bản, khuyến khích tự do khám phá, phát huy tính hướng dẫn. Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia chủ yếu do nhà nước cung cấp, đồng thời cũng do các đơn vị và cá nhân quyên tặng. Từ 1986 tới 2005, chính phủ Trung Quốc đã cấp cho quỹ 17 tỷ NDT, nhưng chỉ từ 2001 – 2005, Quỹ đã nhận  hơn 10 tỷ NDT.  Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia  Năm 1984, Trung Quốc bắt đầu thiết lập hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, chủ yếu đặt ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Phòng thí nghiệm trọng điểm do hội đồng khoa học chỉ đạo về học thuật đồng thời mở rộng cho  các nghiên cứu viên bên ngoài, vận hành theo cơ chế chủ nhiệm phụ trách và cơ chế “cởi mở, linh hoạt, hợp tác, cạnh tranh”. Tổ chuyên gia tiến hành đánh giá hoạt động của phòng thí nghiệm trọng điểm 5 năm một lần. Đến hết năm 2005, Trung Quốc có 182 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đang hoạt động, bao trùm tất cả các lĩnh vực khoa học cơ bản trọng điểm. Cơ cấu nhân sự của phòng thí nghiệm trọng điểm luôn là 8532 người, giá trị thiết bị thí nghiệm lên tới 7,47 tỷ NDT. Nhiệm vụ của phòng thí nghiệm trọng điểm là thực hiện các nghiên cứu khoa học cơ bản, nghiên cứu công nghệ cao có tính chất cạnh tranh và phục vụ công ích. Trung Quốc xem phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là nơi đào tạo và giao lưu của nhân tài chất lượng cao trong nước, là sự  đại diện cho chất lượng nghiên cứu của nước này.  Cải cách cơ chế khoa học công nghệ Trung Quốc  Cải cách thể chế khoa học công nghệ Trung Quốc  Từ thập niên 80, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách thể chế khoa hoc. Cốt lõi của cải cách là thúc đẩy kết hợp khoa học công nghệ với kinh tế, đẩy nhanh việc ứng dụng thành quả khoa học công nghệ để phát triển sức sản xuất. Nhiệm vụ chủ yếu của cải cách là điều chỉnh cơ cấu tổ chức, cải cách chế độ quản lý nhân viên, thay đổi cơ chế vận hành khoa học công nghệ. Chính phủ Trung Quốc cải cách cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ, thực hiện chế độ hợp đồng, giữ vai trò mở thị trường công nghệ, làm trung gian cho việc biến thành quả khoa học công nghệ thành sản phẩm.  Những thay đổi trong  cơ chế khoa học công nghệ  Cải cách đã thúc đẩy việc kết hợp khoa học công nghệ với kinh tế, khoa học công nghệ điều chỉnh nền kinh tế, cải tạo sản xuất truyền thống.  Cải cách các viện nghiên cứu khai phá  Các viện nghiên cứu khai phá của Trung Quốc có nhiệm vụ nghiên cứu kinh tế và sản xuất. Trước 1999, có hơn 2.000 viện nghiên cứu trực thuộc chính phủ thuộc loại này. Chính phủ Trung Quốc đã phân loại, chuyển hóa một phần các viện này thành doanh nghiệp. Đã có 242 viện trực thuộc trung ương và 136 viện trực thuộc địa phương thuộc loại này thực hiện chuyển hóa để hình thành tập đoàn hay doanh nghiệp khoa học công nghệ.  Cải cách các viện nghiên cứu công ích  Các viện công ích của Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu trên lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, vệ sinh y tế, bảo vệ môi trường, địa chấn, v.v. Đến năm 2000, Trung Quốc có 259 viện trực thuộc trung ương thuộc loại này. Hai năm sau thì Trung Quốc bắt đầu phân loại cải cách các viện nghiên cứu công ích, trong đó chuyển hướng thành các doanh nghiệp hướng tới thị trường, đáp ứng các nhu cầu thiết thực của chính phủ. Sau khi phân loại, cải cách, chỉ còn khoảng 100 viện nghiên cứu công ích với đội ngũ được tinh giản là 15.000 người.  Thí điểm công trình sáng tạo trong Viện Khoa học  Viện Khoa học Trung Quốc là lực lượng chính nghiên cứu khoa học cơ bản và công nghệ cao có tính chiến lược. Năm 1988, chính phủ Trung Quốc quyết định thí điểm “Chương trình sáng tạo tri thức” (Tri thức sáng tân công  trình) tại Viện với một loạt điều chỉnh kết cấu, thay đổi cơ chế và đổi mới  quản lý. Chính phủ dành một khoản ngân sách riêng cấp cho thí điểm “Công trình sáng tạo tri thức” để cải thiện hiện tượng nghiên cứu phân tán, đề tài trùng lặp, chất lượng thấp, đồng thời tiến hành đánh giá hiệu quả vận hành của cơ chế. Hiện nay Viện Khoa học Trung Quốc đang tiến hành giai đoạn ba của kế hoạch thí điểm. Mục tiêu trước mắt là tạo được một đội ngũ quản lý tinh hoa, cán bộ nghiên cứu có chất lượng cao, làm nền tảng cho sự sáng tạo và có sức cạnh tranh quốc tế.  Sáng tạo công nghệ ở hệ thống trường đại học  Trung Quốc dùng “Chương trình 211” (211 công trình) và “Kế hoạch hành động chấn hưng hệ thống giáo dục hướng tới thế kỷ 21” để nâng cao sức sáng tạo và hoàn thiện cơ cấu các trường đại học. Từ 2000 – 2005, các viện nghiên cứu thuộc trường đại học thực hiện phần lớn nhất trong “Kế hoạch 973” với hơn 54% hạng mục đề tài và khoảng 40 % số hạng mục của “Kế hoạch 863”. Từ 2001 – 2004, các trường đại học dùng gần 78% Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia với hơn 56% tổng số hạng mục đề tài.  Hệ thống pháp quy  Luật về khoa học công nghệ  Trong khoảng 20 năm, Trung Quốc đã ban hành hàng chục bộ luật liên quan tới khoa học công nghệ như “Luật tiến bộ khoa học công nghệ”, “Luật phổ biến công nghệ nông nghiệp”, “Luật xúc tiến thành quả khoa học công nghệ”, “Luật phổ cập khoa học công nghệ”, “Luật đo lường”, “Luật tiêu chuẩn”, “Luật Sáng chế”, v.v.  Quyền tài sản tri thức và phát minh khoa học công nghệ  Năm 2002, chính phủ Trung Quốc và các cơ quan hữu quan công bố “Một số quy định về quyền tài sản tri thức và thành quả  nghiên cứu của các kế hoạch khoa học công nghệ quốc gia” và “Quy định tăng cường về quyền tài sản tri thức của các kế hoạch khoa học công nghệ quốc gia”. Các chính sách này đã giải quyết được nhiều vấn đề tồn đọng lâu năm về bản quyền sáng chế, bản quyền giống mới, bản quyền phần mềm, bí quyết công nghệ, v.v.  Chế độ khen thưởng  Năm 1995, chính phủ Trung Quốc công bố “Danh mục giải thưởng nhà nước về khoa học công nghệ” mới, đặt ra giải thưởng cao nhất về khoa học công nghệ để tặng những người có cống hiến đặc biệt trên lĩnh vực này. Hệ thống giải thưởng nhà nước về khoa học công nghệ gồm giải thưởng về khoa học tự nhiên, giải thưởng về phát minh công nghệ, giải thưởng về tiến bộ khoa học công nghệ và giải thưởng về hợp tác khoa học công nghệ quốc tế.  Giải thưởng quốc gia cao nhất về khoa học công nghệ  Giải Khoa học công nghệ tối cao quốc gia với trị giá 5 triệu NDT được lập từ  năm 1999 là giải thưởng nhà nước cao nhất về khoa học công nghệ, mỗi năm không tặng quá  hai người và do chủ tịch nước ký và trao tặng. Nhận giải là những người tạo được bước đột phá trong lĩnh vực khoa học công nghệ tiên tiến hoặc sáng tạo ra công nghệ đem lại lợi ích to lớn cho kinh tế hay xã hội. Từ năm 2000 đến nay, đã có 9 nhà khoa học: Ngô Văn Tuấn, Viên Long Bình, Vương Tuyển, Hoàng Côn, Kim Di Khiêm, Vương Vĩnh Chí, Lưu Đông Thăng, Diệp Đốc Chính, Ngô Mạnh Siêu được giải thưởng cao nhất này.  ảnh trên cùng: Chủ tịch nước Trung Quốc trao Giải khoa học công nghệ tối cao quốc gia cho nhà khoa học Diệp Đốc Chính  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống định vị toàn cầu không dùng vệ tinh      Các nhà khoa học ở Viện Thí nghiệm KH&amp;CN  quốc phòng (Defence Science and Technology Laboratory, DSTL) và Phòng  Thí nghiệm Vật lý Quốc gia (National Physical Laboratory, NPL) Anh Quốc  tin rằng từ ba đến năm năm nữa họ sẽ nghiên cứu chế tạo thành công một  loại “La bàn lượng tử” – thiết bị có khả năng sử dụng hiệu ứng hạ nguyên  tử của địa từ trường để định vị bản thân.    Hệ thống định vị toàn cầu này không còn cần tới vệ tinh và cũng chẳng cần tới tháp phát sóng vô tuyến làm điểm tham khảo cố định. Giới quân sự toàn cầu đều quan tâm tới loại công nghệ mới này, bởi lẽ hệ thống dẫn đường trời-đất hiện nay đang được sử dụng phổ biến còn tồn tại nhiều mặt hạn chế.  Tháng 2/2014, nhà sáng chế hệ thống định vị toàn cầu GPS của Mỹ – hệ thống dẫn đường sử dụng nhiều vệ tinh [hệ thống GPS của Mỹ bao gồm dùng 24 vệ tinh từng cảnh báo: hiện nay hệ GPS không còn đủ sức đảm nhiệm nhiệm vụ nặng nề của mình, nó rất dễ bị cố ý phá hoại hoặc tấn công.  Bộ Quốc phòng Anh đặt nhiều hy vọng vào việc sử dụng công nghệ định vị mới này cho các tàu ngầm hạt nhân, bởi lẽ sự di chuyển của loại tàu ngầm này cần được che giấu hết mức và đòi hỏi độ chính xác cực cao, đồng thời nó cần hạn chế tối thiểu sự liên lạc với thế giới bên ngoài. Nếu thiếu sự thường xuyên trắc định vị trí của tàu ngầm thì ngay cả các hệ thống dẫn đường phức tạp nhất cũng có thể phát sinh sai số nhiều nhất tới 1 km.   Ngoài ra, Anh Quốc cũng đang xây dựng một hệ thống ăng-ten trên đất liền để dùng làm thiết bị dự trữ cho hệ thống GPS. Trong khi đó, Hàn Quốc đang làm một hệ thống tương tự để canh chừng các cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên.  “Theo hiểu biết của chúng tôi, xét trên mặt vật lý học thì hiện nay chưa có bất cứ phương pháp nào có thể gây can nhiễu đối với loại thiết bị mới này,” Bob Cockshott ở NPL nói.  Các nhà khoa học cho hay, công nghệ định vị mới của Bộ Quốc phòng Anh có thể dùng cho mục đích dân sự (tương tự GPS) và cuối cùng có thể dùng cho điện thoại di động thông minh.   Nguyên lý cơ bản của công nghệ mới này là: qua việc giam giữ một số ion ở trạng thái siêu lạnh (supercooling trapped ions) và giảm thiểu ảnh hưởng gây ra bởi sóng điện bên ngoài, làm cho các ion bị giam giữ chỉ nhạy cảm đối với các can nhiễu điện từ do trái đất sinh ra. Bằng việc trắc lượng ảnh hưởng của các can nhiễu điện từ do trái đất sinh ra đối với các ion nói trên, các nhà khoa học sẽ có thể theo dõi với độ chính xác cực cao trạng thái vận động của các chíp chứa ion bị giam giữ.  Cho dù các nước khác (nhất là Mỹ) cũng đang triển khai nghiên cứu công nghệ lượng tử nhưng Anh Quốc là nước dẫn đầu trong lĩnh vực này. Nokia, Hitachi và Toshiba đã thành lập các phòng thí nghiệm lượng tử tại nước Anh. Thủ tướng Anh mới đây đã cấp 270 triệu Bảng cho Chương trình công nghệ lượng tử.  Neil Stansfield, người phụ trách công nghệ và sáng tạo đổi mới tại DSTL, nói: “Cá nhân tôi dự đoán mẫu thiết bị đầu tiên sẽ có thể ra đời trong vòng ba đến năm năm tới. Vấn đề mấu chốt đối với chúng tôi là phải làm ra được loại thiết bị không phụ thuộc vào không gian vũ trụ. Loại thiết bị này có một loạt ứng dụng về quân sự.”  Neil Stansfield cho biết, DSTL đã làm ra được hệ thống định vị lượng tử hình khối vuông có kích cỡ nhỏ tới mức mỗi chiều chỉ bằng 3 thước Anh (khoảng 91 cm). Hiện nay các nhà khoa học chủ yếu tập trung vào việc thu nhỏ kích thước của thiết bị nhằm có thể trang bị cho các binh sĩ chiến đấu ngoài chiến trường, chứ không đơn giản chỉ để đặt trên tàu ngầm hạt nhân hoặc tàu chiến.                       Nguyễn Hải Hoành dịch theo ft.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống giám sát giao thông thông minh và tiết kiệm      Các nhà khoa học ở Trung tâm tin học và tính toán – Viện hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam vừa thiết kế thành công hệ  thống giám sát giao thông thông minh, rẻ hơn hệ thống giám sát bằng thiết bị nước ngoài hàng trăm tỉ  đồng.    Công nghệ Việt Nam  Ứng dụng hệ thống giám sát giao thông thông minh (ITS) không còn là vấn đề mới trên thế giới. Tại Việt Nam, mặc dù bài toán giao thông luôn là vấn đề nan giải, song ITS vẫn chưa được đưa vào ứng dụng. Theo Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, mỗi năm Việt Nam thiệt hại 30.000 tỉ đồng do ùn tắc giao thông. Riêng Hà Nội và TP.HCM, tổng thiệt hại lên tới gần 19.000 tỉ đồng.  Xuất phát từ yêu cầu thực tế, các nhà khoa học trẻ Trung tâm tin học và tính toán đã nghiên cứu đảm nhận đề tài cấp nhà nước “Xây dựng cấu trúc hệ thống giao thông thông minh và các quy chuẩn công nghệ thông tin, truyền thông, điều khiển áp dụng trong hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam” và dự án “Xây dựng mạng camera với hệ thống xử lý hình ảnh thông minh phục vụ điều khiển giao thông và giám sát an ninh”. Mục đích của đề tài hướng tới làm chủ tất cả công nghệ ITS ở Việt Nam nhưng chất lượng tốt, không phải lấy công nghệ từ nước ngoài với giá cao.  Theo tiến sĩ Tạ Tuấn Anh – Phó giám đốc trung tâm, Chủ nhiệm đề tài, ITS là sản phẩm tích hợp đa công nghệ cao từ tính toán nhúng, tự động hóa đến truyền thông, siêu tính toán, từ thiết kế cơ khí, điện tử, quang học, ánh sáng, nhiệt độ môi trường đến nối kết mạng lưới… Từ trước đến nay từ hạ tầng kỹ thuật đến ứng dụng, tất cả phải phụ thuộc vào nhà tư vấn. “Giá các nhà thầu nước ngoài bán cho Việt Nam rất cao, tính cho mỗi km đường cần tới hơn 2 triệu USD (1.110 tỉ đồng cho đoạn 40 km TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây) và thời gian thực hiện lên đến 3 năm. Điều này nảy sinh bất lợi, tính đa dạng trong công nghệ và cách thức triển khai trong ITS có thể dẫn đến không có khả năng tương hợp giữa các hệ thống trong các dự án khác nhau để cùng phối hợp tạo thành một hệ thống ITS quốc gia. Hơn nữa, điều này cũng gây khó khăn cho quá trình duy trì và vận hành hệ thống sau này”, anh Tuấn cho biết.  Lợi thế sức trẻ  Đề tài ITS quy tụ toàn nhà khoa học trẻ, người nhiều tuổi nhất và là chủ nhiệm tuổi chưa đến 40. Với lợi thế sức trẻ, nắm bắt nhanh nhạy các công nghệ tiên tiến trên thế giới nên chỉ sau một năm thực hiện, các nhà khoa học đã đưa hệ thống vận hành thử trên đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình và đã nghiệm thu thành công vào đầu năm 2014.  Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu sử dụng hệ thống giám sát bằng thiết bị nước ngoài, cứ 2 km cần đầu tư 2 camera giá 1 tỉ đồng. Một đoạn đường cao tốc 50 km, chỉ riêng camera giá lên đến 50 tỉ đồng. Trong khi đó, nếu sử dụng thiết bị trong nước, giá thành chỉ 100 triệu đồng/chiếc. So sánh ITS đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình với các hệ thống do nước ngoài đề xuất thực hiện tại các dự án như: đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương, TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, mức đầu tư trong nước giảm 5 lần.  Sau khi đề tài được nghiệm thu, mong muốn của các nhà khoa học là hệ thống ITS sẽ sớm ưu tiên áp dụng triển khai ở Việt Nam, trước mắt là trên các tuyến đường cao tốc. Tiếp đó, ứng dụng vào kiểm soát giao thông, kiểm soát xe tải nặng, hỗ trợ đỗ xe, giám sát hành trình… giải quyết các bài toán nổi cộm của giao thông Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống nước cổ đại biến Israel thành thiên đường      Các nhà khoa học ở Israel đã khai quật một hệ thống dẫn nước cổ đại đã được người Ba Tư nâng cấp thành những công trình nghệ thuật để biến sa mạc thành một thiên đường.    Hệ thống gồm các hồ chứa nước, đường ống dẫn nước và những đường hầm dưới mặt đất để phục vụ một trong những cung điện rộng lớn nhất ở vương quốc Judea.  Các nhà khoa học đã phát hiện ra cung điện lần đầu tiên vào năm 1954, trải dài trên diện tích 2,4 ha. Những cuộc khai quật gần đây đã làm lộ ra một hệ thống dẫn nước độc đáo có diện tích gần 70 m2.  “Họ đã tìm thấy một cung điện hoành tráng, đẹp hơn cả những cung điện ở Jerusalem có từ cuối thời kỳ đồ Sắt đến cuối giai đoạn trong kinh thánh thuộc thế kỷ thứ 7”, Oded Lipschits, nhà khảo cổ tại Đại học Tel Aviv cho biết.  Cơ sở hạ tầng của cung điện đã được chỉnh sửa qua nhiều thế kỷ để phù hợp với nhu cầu của người Babylon, Ba Tư, La Mã và Hasmoneans, những người từng thống trị vùng đất thánh.  Người Ba Tư, giành được sự kiểm soát khu vực vào năm 659 từ tay người Babylon, đã cải tiến hệ thống nước và biến nó thành một công trình nghệ thuật. Họ đã bổ sung những thác nước nhỏ nhằm biến nơi này thành một thiên đường.  “Hãy thử tưởng tượng trên mảnh đất cằn khô này cây cối và nước chảy dào dạt khắp nơi”, Lipschits nói. “Điều này rất quan trọng với những ai muốn cảm thấy họ không phải đang ở một góc hẻo lánh trên sa mạc”.  Yuval Gadot, chuyên gia khảo cổ tại Đại học Tel Aviv cho biết các chuyên gia vẫn chưa hiểu rõ hệ thống hoạt động như thế nào. “Có thể nước mưa chảy từ mái nhà xuống qua các ống nước chảy vào bể chứa hoặc vào các bể ngầm dưới nước và được đưa tới các cánh đồng gần đó cung cấp cho mùa màng hay vườn tược”.  Trong nhiều thế kỷ nay, việc cung cấp nước là một trong những vấn đề gay cấn ở khu vực Trung Đông, nơi phần lớn khu vực là sa mạc.  (theo Reuters)  M.T.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống phát hiện chất nổ lỏng      Trước nguy cơ khủng bố trên máy bay bằng chất nổ lỏng, các hệ thống an ninh đã phải tính đến việc phát triển các hệ thống phát hiện loại chất nổ này. Thực ra người ta đã có thể làm được điều đó với Hệ thống Rapiscan.    Đây là hệ thống dựa trên các công nghệ đã có từ 10 năm nay, có thể phát hiện những chất nổ lỏng và chất nổ dạng keo. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn gặp khó khăn khi đưa vào tích hợp với các máy phát hiện chất nổ, giá cả của nó khá đắt, một số thiết bị có thể có giá tới 250.000 USD. Hơn nữa, các công nghệ này vẫn chưa thật hoàn thiện, tỷ lệ báo động sai tương đối cao.   Các thiết bị phát hiện chất nổ hoạt động theo nguyên tắc chiếu các chùm sóng vô tuyến hoặc neutron vào vật thể cần kiểm tra rồi ghi lại các phản ứng. Sự phản ứng sẽ khác nhau tùy vào tính chất hóa học của vật liệu, các phần mềm sẽ phân tích và báo động nếu nó phát hiện những dấu hiệu hóa học nguy hiểm.  Nhưng vấn đề là ở chỗ, có một nguy cơ rất khó kiểm soát là những chất lỏng ban đầu tưởng như vô hại, sau khi vượt qua sự kiểm tra chúng sẽ được kết hợp với nhau để tạo nên những vũ khí chết người. Ngay cả việc lập trình để phát hiện những “thành phần vô hại” như vậy cũng gặp phải nhiều bất tiện.    Một công nghệ khác cũng đã được tính đến, đó là sử dụng sự tán xạ tia X. Chùm tia X được sử dụng ở đây yếu nên không thể xuyên qua da, nhưng nó có thể phát hiện những vật thể bên dưới lớp quần áo, chẳng hạn như một chai chất lỏng được dấu kín.  Theo www.physorg.com   P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống quan trắc môi trường: Mạnh ai nấy mua      Sau 10 năm xây dựng, hệ thống quan trắc môi trường vẫn ở trong tình trạng mạnh ai nấy mua, thiếu quản lý thống nhất, thiếu sự kết nối, chia sẻ thông tin dẫn đến lãnh phí.    Tiền tỷ bỏ xó  Mặc dù nằm hơi khuất song nếu chú ý một chút những ai qua lại đường Phạm Văn Đồng (Từ Liêm, Hà Nội) vẫn nhận thấy bảng điện tử trên đó có các dòng chữ “Chỉ số chất lượng môi trường”, “Chất gây ô nhiễm”… Đó chính là bảng điện tử của một trạm quan trắc dùng để thông báo chỉ số ô nhiễm môi trường ở một trong những cửa ngõ vào Hà Nội. Điều thú vị là ngay khi nhìn thấy chiếc bảng điện tử, người ta cũng nhận thấy là bảng điện tử không hề làm việc! Trên mặt bảng, vị trí hiện chỉ số đã bị bóc lấy thiết bị, chỉ còn lại các lỗ hổng nhem nhuốc. Bảng điện tử này là một trong các thiết bị của Trạm quan trắc không khí khu vực Nam Thăng Long do Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội quản lý. Được lắp đặt năm 2002 với kinh phí 3 tỷ đồng, song hầu hết thời gian kể từ khi lắp đặt đến nay, các thiết bị của trạm đều ở trong tình trạng “chờ sửa chữa”.  Trạm quan trắc này hiện đang “ở nhờ” trên tầng hai của phòng bảo vệ thuộc Trung tâm Nghiên cứu triển khai và phân tích (Sở KH&CN Hà Nội). Bởi thế, có thể nói một trong những người “am hiểu” trạm này chính là anh Lan, bảo vệ của Trung tâm. Theo anh Lan thì bảng điện tử này khi mới lắp đặt vẫn chạy tốt và thông báo cho người dân các chỉ số về mức độ ô nhiễm không khí cũng như nguyên nhân gây ra ô nhiễm. Lúc đầu, rất nhiều người quan tâm đến thông tin bảng điện tử đưa ra. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc người ta trở nên thờ ơ với các con số trên đó. Lý do đơn giản là bảng điện tử thường đưa ra con số không chính xác: dao động từ 50 – 100, tức là chất lượng không khí ở mức độ tốt hoặc trung bình. Trong khi đó, trên đường Phạm Văn Đồng, xe tải chở vật liệu xây dựng, hàng hóa chạy rầm rập cả đêm lẫn ngày, bụi bay mù mịt. Sự ô nhiễm không khí chẳng cần máy đo nào cũng có thể nhận thấy. “Người dân kêu quá nên người ta phải gỡ mấy thiết bị hiện chỉ số ra rồi” – anh Lan bảo thế.  Anh Nguyễn Đăng Khôi, phòng Quản lý môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), người phụ trách trạm cho biết: “Trạm quan trắc này do Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (trước đây) đầu tư, Sở Khoa học công nghệ và môi trường Hà Nội quản lý. Sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường thì trạm quan trắc này được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội quản lý và Sở giao lại cho phòng Quản lý môi trường. Nhưng kể từ khi chúng tôi nhận bàn giao trạm quan trắc này vào năm 2004 thì nó đã không làm việc do thiết bị hỏng hóc”. Khi được hỏi về các báo cáo, các số liệu ghi lại được anh Khôi cho biết: “Trạm vẫn có số liệu nhưng nói chung cũng không đáng tin cậy”. Một nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu và quan sát cũng khẳng định kể từ lắp đặt, trạm này hầu như không hoạt động hoặc nếu có thì số liệu cũng không thể sử dụng được.  Trường hợp của trạm quan trắc không khí Nam Thăng Long không phải là trường hợp cá biệt. Ông Nguyễn Văn Tuệ, Trưởng đài Vật lý địa cầu (Viện Vật lý địa cầu) cho biết chiếc máy điện ly trị giá 2,5 tỷ của Đài hiện cũng đang trong tình trạng “nghỉ ngơi” dài hạn. Chiếc máy này bị hỏng bộ phận điều khiển từ cuối năm ngoái và cho đến nay vẫn chưa thể sửa chữa.  Theo GS Nguyễn Đình Xuyên, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu, quy định của Nhà nước yêu cầu mỗi quý Viện phải cử cán bộ đi kiểm tra định kỳ tất cả các trạm nhưng việc này hầu như không được thực hiện. Nguyên nhân là vì thiếu kinh phí. Ước tính, toàn bộ thiết bị tại 26 trạm quan trắc của Viện Vật lý địa cầu trị giá khoảng 10 tỷ. Theo đúng quy định của Nhà nước về kinh phí duy trì hoạt động của trạm bao gồm vật tư tiêu hao, thay thế lớn, sửa chữa nhỏ… thì mỗi năm Viện sẽ được cấp một khoản bằng 6% trên tổng số giá trị thiết bị, tức là vào khoảng 600 triệu đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi năm Viện chỉ được cấp một nửa số tiền so với quy định của Nhà nước. GS Nguyễn Đình Xuyên nói: “Nếu cứ tiếp tục tình trạng này thì chúng tôi có nguy cơ đóng cửa một nửa số trạm. Thậm chí cũng đã có người đề nghị đóng cửa một số trạm để tập trung kinh phí đảm bảo cho các trạm còn lại hoạt động tốt. Nhưng làm vậy thì thấy tiếc nên cứ cố. Vì thế, chất lượng không đảm bảo cũng là điều dễ thấy”.  Ông Đặng Dương Bình, Trưởng phòng Quản lý môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường) giải thích: “Hãng cung cấp các thiết bị đo thường yêu cầu bảo trì, thay thế thiết bị khi tới hạn song trên thực tế, do thiếu kinh phí nên các trạm quan trắc không thể đảm bảo các yêu cầu này và chờ tới khi thiết bị hỏng mới thay. Hậu quả là khi một thiết bị gặp sự cố, hiệu ứng domino xảy ra khiến cho hàng loạt thiết bị khác hỏng theo. Theo chỉ dẫn của hãng sản xuất thì mỗi năm cần một khoản tiền bằng 10 – 15% trên giá trị thiết bị để đảm bảo thiết bị hoạt động tốt. Thực tế, mỗi năm Trạm quan trắc không khí khu vực Nam Thăng Long chỉ được cấp 150 – 200 triệu đồng, chỉ bằng khoảng 1/2 so với quy định của Nhà nước. Ông Bình cho biết thêm, thiết bị đo của trạm bị hỏng từ tháng 7 – 2004. Đến cuối năm nay, việc sửa chữa đã xong, thiết bị đã được bàn giao xuống trạm. Tuy nhiên, đến chiều ngày 21/12 trạm vẫn chưa hoạt động bình thường, bảng điện tử vẫn chưa sử dụng được mặc dù việc sửa chữa đã tiêu tốn một khoản đáng kể là 700 triệu đồng.  Đầu tư trùng lặp, kết nối không xong  Tại Hội nghị Tổng kết hoạt động quan trắc môi trường giai đoạn 1995 – 2005 do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức đầu tháng 12/2005, số liệu thống kê cho thấy cả nước có gần 300 điểm quan trắc môi trường. Để đầu tư một trạm quan trắc thông thường, chỉ tính riêng các thiết bị chưa kể nhà xưởng, cơ sở vật chất khác, cần có tối thiểu là 3 tỷ đồng, trạm quan trắc tự động đắt đỏ hơn: 7–8 tỷ đồng. Theo ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường thì các trạm quan trắc này do nhiều bộ, ngành, cơ quan Nhà nước, viện, trung tâm nghiên cứu trong cả nước đầu tư và không có một chiến lược hoặc lộ trình cụ thể.                Ông Nguyễn Văn Tuệ bên chiếc máy điện ly 2,5 tỷ đã ngừng hoạt động từ 1 năm nay vì thiếu kinh phí sửa chữa.            Năm 2004, Bộ Thủy sản thành lập Trung tâm Quốc gia Quan trắc, cảnh báo môi trường biển trên cơ sở sáp nhập Phòng nghiên cứu Môi trường biển và Trạm Quan trắc và phân tích môi trường biển. Sau khi thành lập, Trung tâm này sẽ tiếp tục xây dựng hệ thống các trạm quan trắc để phục vụ nghiên cứu. Trong khi đó Viện Hải dương học (Nha Trang), Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia… cũng có hệ thống quan trắc biển riêng. Tình trạng mạnh ai nấy mua này khiến nhiều nhà khoa học lên tiếng cảnh báo về sự lãng phí do đầu tư trùng lặp. Đến nay chưa thể khẳng định việc đầu tư có trùng lặp hay không bởi mỗi một trạm quan trắc được xây dựng nhằm một mục tiêu riêng biệt. Tuy nhiên, ông Trần Hồng Hà thừa nhận chất lượng thông tin từ các trạm quan trắc còn thấp và các thông số của trạm quan trắc do cơ quan nào đầu tư thì cơ quan đó sử dụng. Vẫn chưa có bất cứ sự chia sẻ, kết nối thông tin giữa các cơ quan này với nhau. Trong khi đó, nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau thì không biết hoặc không được cung cấp những thông tin cần thiết cho các nghiên cứu khoa học.  Trên địa bàn Hà Nội hiện có 5 trạm quan trắc cố định và một trạm di động do nhiều cơ quan khác nhau quản lý bao gồm Trường ĐH Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn và Trung tâm công nghệ xử lý môi trường (Bộ Tư lệnh). Ông Đặng Dương Bình cho biết: “Nếu không có gì thay đổi, đầu năm nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ nhận bàn giao tất cả các trạm này và tiến hành xây dựng một dự án nối mạng các trạm quan trắc môi trường không khí tự động. Tiến tới sẽ phát triển thành hệ thống điều phối và quản lý môi trường nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các trạm quan trắc này”. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học tỏ ý nghi ngờ hiệu quả của biện pháp này. Liệu sau khi về Sở Tài nguyên và Môi trường, các trạm quan trắc này có hoạt động hiệu quả hơn hay hầu hết thời gian đều không hoạt động như Trạm quan trắc không khí khu vực Nam Thăng Long hiện do Sở này quản lý?  TS Phạm Khôi Nguyên, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong Hội nghị nói trên đã đánh giá hệ thống quan trắc của nước ta: “Hạ tầng kỹ thuật thấp kém, đầu tư cho công tác này vừa ít, vừa phân tán, đôi khi còn lãng phí nguồn lực. Số liệu quan trắc chưa được chuẩn hóa và quản lý thống nhất. Đặc biệt là chưa phục vụ trực tiếp việc xây dựng, ban hành các quyết định về chính sách, về đầu tư phát triển”. Để khắc phục tình trạng này, ông Trần Hồng Hà cho biết Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chuẩn bị trình Chính phủ “Quy hoạch mạng lưới điều tra cơ bản và quan trắc môi trường trong mọi lĩnh vực” nhằm mục tiêu thống nhất và liên thông thông tin quan trắc, điều tra tạo sự kết nối trực tiếp giữa các bộ, ngành, giữa trung ương với địa phương thay vì chỉ nắm thông tin qua các báo cáo như hiện nay. Nếu quy hoạch này được thông qua thì vào năm 2007 toàn bộ hệ thống quan trắc của nước ta sẽ được kết nối với nhau và đáp ứng đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.  Bùi Thu Trang    Nguồn tin: Tia Sáng          Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường VinaERMS-INST: Chất lượng tương đương với sản phẩm nước ngoài      Các nhà nghiên cứu Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (Viện NLNTVN) đã thiết kế và lắp đặt được VinaERMS-INST là một hệ thống đo suất liều gamma có chất lượng tương đương với hệ thống quan trắc của các hãng trên thế giới.      Số lượng các trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường được lắp đặt vẫn còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu theo dõi và quản lý môi trường trong nước. Nguồn: TT quan trắc môi trường miền Bắc  Tại nước ta nhu cầu về xây dựng, lắp đặt các trạm quan trắc phóng xạ đang được các cơ quan tổ chức quan tâm, nhất là khi các nhà máy điện hạt nhân có công suất hàng ngàn MW của Trung Quốc đang được xây dựng và vận hành gần biên giới, có thể có nguy cơ rủi ro về an toàn bức xạ môi trường. Trước tình hình đó, ngày 31/8/2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án “Quy hoạch mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia đến năm 2020” (tại Quyết định số 1636/QĐ-TTg). Mục tiêu là xây dựng mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, nhằm đảm bảo việc giám sát an toàn phóng xạ môi trường, phát hiện kịp thời mọi diễn biến bất thường về bức xạ trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hỗ trợ cho việc chủ động ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân và cung cấp cơ sở dữ liệu về phóng xạ môi trường quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và an toàn hạt nhân.  Tuy nhiên, cho tới nay số lượng các trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường được lắp đặt vẫn còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu theo dõi và quản lý môi trường trong nước. Trong bối cảnh đó, bằng nguồn kinh phí từ các dự án tăng cường trang thiết bị, thông qua các đề tài nghiên cứu và sự tài trợ của các nước thông qua quan hệ hợp tác như Hàn Quốc, Nhật Bản…, Viện KH&KT hạt nhân đã lắp đặt và vận hành 12 hệ thống bao gồm: bảy trạm Fuji (Nhật Bản) và năm trạm Sara (Envinet, Đức) tại 11 trạm quan trắc PXMT trực tuyến ở các tỉnh Lạng Sơn, Hải Phòng, Móng Cái, Bãi Cháy, Lào Cai, Cao Bằng, Nghệ An, Sơn La, Đà Nẵng, Hà Nội và trên đảo Bạch Long Vĩ.  Tuy nhiên, để chủ động cung cấp thiết bị, góp phần xây dựng mạng lưới quan trắc phóng xạ quốc gia và các trạm quan trắc địa phương tại một số tỉnh thành, Viện KH&KT hạt nhân đã thiết kế, chế tạo hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường VinaERMS-INST có chất lượng tương đương với hệ thống nước ngoài của các hãng như Fuji Electric, Envinet Gmbh và Enersys,… Các nhà nghiên cứu có thể tự tin khẳng định điều đó vì hệ thống đo bên cạnh việc cung cấp chính xác giá trị liều lượng phóng xạ tại điểm quan trắc còn phải bảo đảm vận hành tốt ngoài hiện trường và đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế như IEC 60846 và IP67. Bên cạnh đó, hệ thống sản xuất trong nước sẽ có lợi thế hơn về giá thành cũng như chủ động hơn trong quá trình vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa.  Thông thường, các hệ thống quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường được thiết kế bao gồm một hoặc nhiều đầu dò phóng xạ có độ nhạy cao và khả năng đo suất liều gamma trong một dải rộng. Hệ thống có thể ghép nối truyền tín hiệu không dây tới người dùng thông qua mạng internet. Các dữ liệu thường được xử lý và hiển thị trên nền tảng web với độ bảo mật cao. Ngoài ra, chúng thường được lắp đặt cố định và hoạt động không giới hạn nhờ nguồn pin năng lượng mặt trời và acquy dự phòng.  VinaERMS-INST là một hệ thống đo suất liều gamma có khả năng hoạt động liên tục ngoài hiện trường, là thành phần chính của trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường. Hệ thống được sử dụng nhằm tăng cường khả năng cảnh báo sớm sự cố phóng xạ và hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc truy xuất nguồn gốc phóng xạ cũng như dự báo chiều hướng lan truyền phóng xạ tại địa phương.    Sơ đồ khối của hệ thống VinaERMS-INST  Hệ thống VinaERMS-INST được thiết kế nhằm đo tương đương liều môi trường H*(10) với nhiều ưu điểm như: Độ nhạy cao, dải đo rộng với độ chính xác cao; Đáp ứng được các khuyến cáo của tiêu chuẩn quốc tế IEC-60846 dành cho thiết bị đo liều gamma; Có khả năng vận hành tốt ngoài hiện trường và phù hợp với đặc điểm khí hậu tại Việt Nam.  Hệ thống được xây dựng như sơ đồ khối với các thành phần chính bao gồm tổ hợp đầu dò bù trừ năng lượng Geiger-Muler (GM1 và GM2), dải đo rộng từ mức phông tự nhiên đến >1Sv/h; bộ vi xử lý 32-bit (MCU) cho việc đo đạc tín hiệu xung phóng xạ từ khối xử lý xung (Pulse processing unit), thực hiện giải thuật tính toán chuyển đổi tốc độ đếm sang tương đương liều môi trường H*(10). Bộ nguồn nuôi (Power supply) dựa trên nguồn điện 220V AC kết hợp vớipin năng lượng mặt trời và acqui dự phòng (12V-30Ah)giúp cho hệ thống có thể hoạt động liên tục ngoài trời. Các số liệu được đo đạc theo thời gian thực và lưu trữ trong thể nhớ SD card và hiển thị trên màn hình LED hoặc tinh thể lỏng (Display-LED/GLCD). Hệ thống sử dụng công nghệ IoT trong việc truyền dữ liệu tới trung tâm điều hành trên máy chủ đám mây (Cloud) thông qua mạng GSM, wifi/4G/3G/GPRS. Người dùng có thể truy nhập, điều khiển hệ thống thông qua nền tảng web với bất kỳ một thiết bị thông minh nào như máy tính, tablet, điện thoại di động có kết nối internet.  Ngoài ra, hệ thống cũng có tùy chọn lắp thêm các cảm biến đo nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa (Temp. and Humi. Sensors) để có thêm thông tin cho người dùng trong việc xem xét sự phụ thuộc của suất liều ghi nhận được với số liệu thời tiết tại vùng đo. Toàn bộ đầu dò phóng xạ và các khối điện tử chức năng được đặt trong hộp bảo vệ đạt chuẩn IP-66.    Kết cấu cơ khí của hệ thống VinaERMS-INST  Tính năng của hệ thống VinaERMS-INST là có thể đo đạc  –  đo đạc suất tương đương liều gamma môi trường và lưu trữ dữ liệu theo thời gian thực; truyền dữ liệu – giao tiếp với máy tính qua cổng USB (type-B) thông qua giao thức RS232; truyền dữ liệu tới người dùng thông qua Wifi/4G/3G/GPRS. Dữ liệu thu thập được hiển thị trên nền tảng webpage, có thể truy nhập trên tất cả các thiết bị kết nối không dây có sử dụng internet; gửi tin nhắn SMS, truy xuất các thông tin về vị trí, liều lượng, tình trạng hệ thống theo thời gian thực; lưu trữ thông tin – dữ liệu được lưu trữ trong thẻ nhớ 128Gb (SD card) theo cấu trúc: thời gian, suất liều, trạng thái hệ thống; trạng thái hệ thống và chuẩn đoán lỗi – thông báo, chuẩn đoán tình trạng hệ thống khi bị lỗi (nguồn, cao thế, hệ thống ghi nhận truyền tải dữ liệu,…); tùy chọn các cảm biến đo độ ẩm, nhiệt độ để quan sát sự biến động môi trường nơi hệ thống hoạt động.  Nguyễn Đức Tuấn (Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, Viện NLNTVN)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống thuế lũy tiến khiến người dân hạnh phúc hơn      Một nghiên cứu mới trong đó so sánh 54 quốc  gia chỉ ra rằng việc đồng đều hóa thuế có nguy cơ làm giảm phúc lợi xã  hội. “Chính sách thuế càng lũy tiến thì người dân càng hạnh phúc”, nhà  tâm lý học Shigehiro Oishi thuộc ĐH Virginia tóm tắt kết quả nghiên cứu.    Các nhà nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa tính lũy tiến của thuế và phúc lợi cá nhân trên 59,634 đối tượng  54 quốc gia được khảo sát bởi Tổ chức Gallup năm 2007. Phúc lợi được thể hiện qua đánh giá của mọi người về chất lượng tổng thể cuộc sống của họ, từ “tệ nhất” tới “cuộc sống tốt nhất có thể”, trên thang điểm từ 1 tới 10; và trong việc họ có bằng lòng với những trải nghiệm tích cực hàng ngày không (ví dụ như mỉm cười, được đối xử tôn trọng, và ăn những thức ngon lành), hay là phải chịu những tiêu cực, như buồn bã, lo lắng và hổ thẹn. Cuối cùng, phân tích xem xét tới sự thỏa mãn của những người tham gia với hàng hóa công của quốc gia, từ trường học cho tới không khí sạch.  Mức độ lũy tiến được đánh giá bởi sự khác biệt giữa mức thuế suất cao nhất và thấp nhất, đã điều chỉnh lại theo những nhân tố trùng hợp như kích cỡ gia đình, các khoản thuế an sinh xã hội phải trả, và các lợi ích thuế cá nhân nhận được.  Kết quả là: Trên trung bình, dân cư ở những nước với mức thuế mức lũy tiến cao nhất đánh giá cuộc sống của họ gần nhất với mức “tốt nhất có thể”. Họ cũng cho biết có nhiều trải nghiệm thoải mái hơn và ít trải nghiệm khó chịu hơn là những người sống các quốc gia với mức thuế có tính lũy tiến thấp hơn. Hạnh phúc này được giải thích bởi “mức độ thỏa mãn cao hơn với hàng hóa công, như nhà cửa, giáo dục, và giao thông công cộng”.  Chi tiêu chính phủ ở mức cao không đem lại nhiều hạnh phúc hơn, dù rằng phúc lợi gắn với sự thoải mãn về các dịch vụ do nhà nước tài trợ. Thực tế, có sự tỉ lệ nghịch giữa chi tiêu chính phủ và mức hạnh phúc trung bình.   “Số liệu này khá kì lạ”, Oishi nói. Ông đoán sự chênh này có thể cho thấy những khác biệt giữa các quốc gia trong tính hiệu quả của việc phân phối các dịch vụ hoặc của khả năng tương đối của người dân trong việc tiếp cận chúng. Ví dụ, Mỹ chi nhiều tiền hơn cả cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe so với các nước phát triển khác, “nhưng vị trí quốc tế của Mỹ trong các lĩnh vực này thì không lấy gì làm cao”. Những kết quả gây bất ngờ này có thể được làm sáng tỏ trong những nghiên cứu sâu hơn.  Nghiên cứu này, giống như những nghiên cứu Oishi đã tiến hành trước đó khi xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và đời sống cá nhân, có ý nghĩa xã hội quan trọng. “Nếu mục tiêu của xã hội là để các công dân hạnh phúc, chính sách thuế cần phải tính đến. Một số chính sách nhất định, như mức lũy tiến thuế, dường như mang đến hạnh phúc của người dân”.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống toán học Aztec cổ được giải mã      Bằng cách nghiên cứu tài liệu Aztec của chính quyền bang Tepetlaoztoc, các nhà khoa học đã hình dung được những phương trình và phân số phức tạp mà các quan chức địa phương dùng để xác định kích cỡ mảnh đất phải trả thuế.      Hai bộ luật cổ được viết từ năm 1540 đến năm 1544 sau Công nguyên còn tồn tại thuộc vùng Tepetlaoztoc. Chúng ghi lại mỗi hộ gia đình và số lượng thành viên; số đất sở hữu và loại đất ví dụ như đất đá, đất cát hay còn gọi là “đất vàng”.  Đây được cho là những văn tịch cổ được trình bày cực kỳ chi tiết và chặt chẽ vì những người chủ đất phải trả thuế dựa trên giá trị tài sản của họ. Các quan chức tính toán đo đạc mỗi khoảnh đất bằng một loạt năm phép toán trong đó có một cách mà người Sumeria cổ từng sử dụng. Bên cạnh đó số học của người Aztec bao gồm những biểu tượng phân số như trái tim, bàn tay và mũi tên liên quan mật thiết với cơ thể con người.   T.Minh (Theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống vi thủy canh: Giải bài toán khó về cây cúc      Lần đầu tiên ở Việt Nam, hệ thống vi thủy canh (microponic system) đã được tối ưu hóa với các thiết bị, vật liệu đơn giản, rẻ tiền nhưng vẫn đảm bảo chất lượng cây giống và tạo điều kiện cho người nông dân có thể dễ dàng áp dụng trên quy mô lớn.        Trồng cúc ở công ty Hasfarm. Nguồn: Hasfarm.       Những vướng mắc trong nhân giống và trồng cúc  Là một loài hoa trồng chậu và cắt cành phổ biến trên thế giới với hàng tỷ cành được bán ra mỗi năm, cây hoa cúc (Chrysanthemum morifolium) được nhiều người ưa chuộng bởi màu sắc phong phú (trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, hồng,…) cũng như hình dáng và kích cỡ hoa rất đa dạng. Ở Việt Nam, cây hoa cúc được du nhập từ thế kỷ XV, người Việt xem hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, một trong bốn loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai”.  Hoa cúc được trồng khắp nước ta nhưng chủ yếu tập trung ở các vùng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh Hóa), Gò Vấp, Hóc Môn (TPHCM), Đà Lạt (Lâm Đồng) với tổng diện tích trồng hoa trên 2000 ha. Riêng ở Đà lạt, ngành trồng hoa đã hình thành và phát triển rất sớm với những vùng trồng hoa chuyên canh của Đà Lạt như Thái Phiên (phường 12), An Sơn (phường 4), Vạn Thành – Cam Ly (phường 5); xã Xuân Thọ, Xuân Trường và phát triển mạnh ra các vùng phụ cận với huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương, Di Linh. Một số công ty nước ngoài đã lập công ty hoặc liên doanh sản xuất ở đây như Chánh Đài Lâm, Hasfarm, chỉ riêng công ty Hasfarm (100% vốn đầu tư nước ngoài) chuyên sản xuất hoa cúc cắt cành cũng như các loại cúc giống, đặc biệt là hoa Cúc chùm đã cung cấp 60% sản lượng hoa cho TPHCM và một số tỉnh phía Bắc.  Đà Lạt có khoảng 1.000 – 1.200 ha nhà kính sản xuất hoa cắt cành trong hơn 3200 ha cắt cành, ước tính tổng sản lượng hằng năm hơn 1,2 tỉ cành, chủ yếu tiêu thụ trong nước vì chất lượng hoa vẫn chưa thực sự ổn định, trong đó hoa cúc các loại chiếm tỉ trọng lớn nhất (25 – 30%). Theo điều tra của công ty cổ phần Hoa Đại Việt, Lâm Đồng, việc canh tác hoa và sản xuất cây giống tại Đà Lạt trong những năm qua vẫn chưa đáp ứng về công nghệ. Có đến 90% nhà kính với khung tre, chiếm 60% nông dân tự trao đổi kinh nghiệm sản xuất với nhau và hơn 70% nguồn hai giống tự gieo ươm và mua tại các cơ sở nhỏ lẻ. Chính vì vậy chất lượng cây giống không đảm bảo, dễ bị sâu bệnh, cây mẹ được sử dụng nhiều lần cho giâm ngọn dẫn đến thoái hóa giống.  Khi nhu cầu hoa chậu và hoa cắt cành tăng nhanh thì yêu cầu về cây giống cũng tăng theo. Tuy nhiên, các phương pháp nhân giống hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu về giống (giâm cành, gieo hạt, tách đầu mầm, …). Các phương pháp nhân giống trên được thực hiện hầu hết bởi người nông dân ngoài đồng ruộng, những phương pháp này không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chỉ cần thuê nhân công theo mùa vụ, dễ thực hiện. Tuy nhiên, những phương pháp này cho hệ số nhân giống vẫn thấp, chất lượng cây giống kém (cây con bị thoái hóa và nhiễm virus sau vài thế hệ). Giá thể sử dụng là đất, xơ dừa chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa kĩ làm cho cây con dễ bị lây bệnh trong đất, khó kiểm soát.  Một vấn đề nữa là khả năng vận chuyển cây giống cũng gặp rất nhiều khó khăn, cây con được nhân giống trong các vỉ xốp hoặc trồng trực tiếp trên đất rất khó để vận chuyển đi xa vì cây dễ bị mất nước, héo rũ làm giảm khả năng sống sót. Vì vậy, không đáp ứng được nhu cầu cây giống ở những khu vực xa cơ sở sản xuất cây giống cũng như xuất khẩu. Đây là những lý do này mà giá thành cây giống không cao (40 – 200 đồng/cây theo từng mùa vụ và từng loài), hiệu quả kinh tế mang lại từ những phương pháp nhân giống này là chưa cao.  Tối ưu giải pháp cũ thông qua nghiên cứu  Chúng tôi nhận thấy một trong những phương pháp nhân giống được áp dụng hiện nay là vi nhân giống với nhiều hiệu quả với số lượng lớn, đồng nhất nhưng điểm hạn chế của phương pháp này là cây giống phải thuần hóa ở vườn ươm mới được nhân giống bằng phương pháp giâm cành và khó khăn trong vận chuyển. Nếu là cây vi nhân giống (nuôi cấy trong môi trường chứa đường, agar) nên dễ nhiễm vi sinh vật (nấm bệnh); trong khi đó, nếu cây giống từ phương pháp giâm cành thì được trồng trên giá thể (đất mùn, đất hữu cơ, xơ dừa,..) khó vận chuyển đi xa, cồng kềnh và rất khó khăn trong công tác kiểm định dịch bệnh khi xuất khẩu ra nước ngoài.       TS. Hoàng Thanh Tùng chọn mẫu để làm thí nghiệm.       Hệ thống vi thủy canh (microponic system) là hệ thống nhân giống kết hợp giữa vi nhân giống (micropropagation) và thủy canh (hydroponic). Phương pháp này kế thừa nhiều ưu điểm của kỹ thuật thủy canh và phương pháp vi nhân giống, có thể khắc phục một số hạn chế của phương pháp nhân giống truyền thống như: hiện tượng thủy tinh thể, giảm bớt sự ức chế của ethylen do thoáng khí tốt,… Hệ thống vi thủy canh với giá thể màng nylon được nhà nghiên cứu Dương Tấn Nhựt và cộng sự nghiên cứu từ năm 2005 trên một số cây trồng (cúc, hoa chuông, bibi,…) và bước đầu cũng cho thấy tính khả quan của phương pháp. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới đưa ra mô hình thí nghiệm, khả năng áp dụng thực tiễn chưa cao và khó đưa vào sản xuất thương mại.  Theo xu hướng hiện nay, hệ thống này được nghiên cứu cải tiến theo hai xu hướng: (1) hiện đại hóa các thiết bị nhằm tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy; (2) đơn giản hóa với các thiết bị, vật liệu đơn giản, rẻ tiền nhưng vẫn đảm bảo được sự phát triển tốt của cây, nâng cao chất lượng cây giống, dễ dàng áp dụng trên quy mô lớn.  Chúng tôi lựa chọn xu hướng thứ hai nhằm đơn giản quy trình sản xuất cũng như dễ ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Trong nghiên cứu, chúng tôi đánh giá khả năng tăng trưởng của cây hoa cúc trong hệ thống vi thủy canh, đánh giá được hiệu quả nhân giống, đưa ra một mô hình sản xuất cây giống trong hệ thống vi thủy canh phù hợp và có thể nhân giống với số lượng lớn. Bên cạnh đó, vai trò của ánh sáng đơn sắc cũng như nano bạc bổ sung vào môi trường nuôi cấy cũng được nghiên cứu.  Với việc sử dụng và cải tiến các dạng giá thể dễ sử dụng và dễ mua trên thị trường, chúng tôi đã thiết kế một hệ thống nhân giống lớn có thể sản xuất số lượng lớn cây giống sạch bệnh có chất lượng tốt, rút ngắn thời gian sinh trưởng, dễ dàng vận chuyển, đóng gói nhằm phục vụ cho công tác xuất khẩu, bắt đầu bằng việc thiết lập hệ thống vi thủy canh với hộp nhựa tròn chứa 15 giá thể màng nylon và hộp nhựa hình chữ nhật chứa 600 giá thể màng nylon. Chồi cúc được tiền xử lý 500 ppm IBA trong thời gian 20 phút nuôi cấy trong hệ thống vi thủy canh hộp nhựa tròn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của chồi cúc sau 2 tuần nuôi cấy.    Nghiên cứu đã đề xuất mô hình vi thủy canh phù hợp, tạo được nguồn cây giống đồng nhất với số lượng lớn, dễ dàng áp dụng cho người nông dân mà không cần trình độ khoa học kỹ thuật quá cao, chỉ cần đào tạo cơ bản là có thể thực hiện được.    Để giải quyết vấn đề nhiễm khuẩn trong quá trình nuôi cấy, sự tăng trưởng của cây nuôi cấy trong hệ thống vi thủy canh và thích nghi của cây trồng ở giai đoạn vườn ươm, chúng tôi bổ sung 7,5 ppm nano bạc vào môi trường nuôi cấy vi thủy canh. Kết quả định danh và định lượng hàm lượng vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy vi thủy canh bằng 4 phương pháp thử. Tất cả các phương pháp cho thấy ở nồng độ 7,5 ppm nano bạc thì làm giảm hàm lượng vi sinh vật của 8 loài vi khuẩn (Corynebacterium sp., Enterobacter sp., Arthrobacter sp., Agrobacterium sp., Xanthomonas sp., Pseudomonas sp., Micrococcus sp. và Bacillus sp.) và 3 loài nấm mốc (Aspergillus sp., Fusarium sp. và Alterneria sp.). Khi chuyển ra giai đoạn vườn ươm sau 4 tuần, sự tăng trưởng của cây cúc ở nồng độ nano bạc này tốt hơn so với các nồng độ khác.  Một yếu tố khác liên quan đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây là đèn LED. Việc kết hợp các tỉ lệ LED xanh dương và LED đỏ đem đến các kết quả thú vị khác nhau, trong đó tối ưu là 30% LED xanh dương và 70% LED đỏ. Do hệ thống này là một hệ thống mở ex vitro nên cây sẽ thích ứng tốt hơn khi chuyển ra đồng ruộng so với cây in vitro.  Với việc kết hợp những yếu tố này, hệ thống vi thủy canh đã đem đến kết quả bất ngờ. Cây vi thủy canh không cần thời gian nhất định để ra rễ và thích nghi (quá trình này được xem là quan trọng nhưng phức tạp và tốn thời gian trong hệ thống vi nhân giống truyền thống). Một khi chồi cúc sinh từ in vitro được chuyển sang hệ thống vi thủy canh, quá trình ra chồi, ra rễ và thích nghi xảy ra cùng lúc, không có biến dạng và biến đổi chức năng. Vì vậy, hệ thống này có thể cung cấp được nguồn cây giống có chất lượng cao hơn, giá thành thấp hơn cũng như có tỉ lệ sống sót cao hơn khi chuyển cây ra vườn ươm. Sau 12 tuần trồng ở giai đoạn vườn ươm, những cây hoa cúc có nguồn gốc từ nuôi cấy vi thủy canh bắt đầu ra nụ hoa và ra hoa sau 15 tuần trồng (sớm hơn 1 tuần so với những cây được sản xuất bởi phương pháp vi nhân giống). Phương pháp này được chứng minh tiết kiệm chi phí và thời gian.  Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về việc sử dụng một kỹ thuật mới trong nhân giống thực vật. Đây là một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả trong sản xuất cây giống với quy mô lớn. Phương pháp này hoàn toàn có thể thay thế phương pháp vi nhân giống hiện nay và mở ra hướng nghiên cứu mới cũng như sản xuất cây giống ở quy mô thương mại. Tuy nhiên, do là một hệ thống mới, do đó chưa có nhiều nghiên cứu trên nhiều đối tượng với các hệ thống khác nhau.        Công trình “A system for large scale production of chrysanthemum using microponics with the supplement of silver nanoparticles under light-emitting diodes” xuất bản trên Scientia Horticulturae của TS. Hoàng Thanh Tùng là một trong ba công trình được đề cử giải trẻ Tạ Quang Bửu 2020. Ngoài việc cung cấp các dẫn liệu khoa học mới có giá trị về việc đưa ra hệ thống nhân giống vi thủy canh cây hoa cúc, nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực nhân giống ở thực vật.          TS. Hoàng Thanh Tùng (Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  Theo KHPT/http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/he-thong-vi-thuy-canh-giai-bai-toan-kho-ve-cay-cuc/20200319113640695p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống xử lý chất thải phóng xạ ưu việt      Theo Báo The Jerusalem Post của Israel, một công ty đóng tại Israel có tên Nguồn tài nguyên năng lượng môi trường (EER) đã chế tạo một hệ thống xử lý các loại chất thải phóng xạ ở mức độ thấp và vừa.    Ưu điểm của hệ thống này, vốn dựa trên công nghệ nấu chảy khí hóa plasma (PMG), là không gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, nguồn nước lộ thiên, không gây ô nhiễm đất cũng như không đe dọa đến môi trường nói chung. Theo EER, hệ thống mới biến chất thải y tế và chất thải đô thị thành chất rắn vô hại ở mức độ phóng xạ thấp và có thể xử lý 500-1.000 kg chất thải mỗi giờ.  H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện đại hóa y học cổ truyền: Nỗi bế tắc chờ được hóa giải      Đại dịch COVID-19 khiến người ta phải tìm đến mọi ngả đường hòng có được những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và điều trị căn bệnh này. Trên con đường đó, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… đã thử trở lại với truyền thống, mong thấy “phép màu” từ thảo dược quen thuộc hàng trăm năm.      Viện Dược liệu triển khai nghiên cứu theo hướng tìm các hoạt chất phòng, chống virus SARS-CoV-2 và tăng cường miễn dịch. Ảnh: Duy Linh.    Đã có hàng nghìn công bố khoa học trên các tạp chí chuyên ngành khi dùng phương pháp hiện đại của phương Tây soi chiếu vốn cổ y văn, phát hiện và lý giải những hoạt chất từ các loài thảo dược hoặc những bài thuốc cổ truyền có tiềm năng ngăn chặn virus. Từ những hiểu biết mới này, Trung Quốc trở thành quốc gia thành công sớm nhất với ba sản phẩm chứa thành phần chiết xuất từ thảo dược được Cơ quan Quản lý dược phẩm quốc gia cấp phép sử dụng là Lianhua Qingwen Keli/Jiaonang (viên nén, viên nhộng), Jinhua Qinggan Keli (viên nén) và Xuebijing (thuốc tiêm).    Việt Nam có một nền y học cổ truyền “Nam dược trị Nam nhân” (Thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam) cùng những tổ nghề danh tiếng như Lý Quốc Sư, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh… và hơn 5.100 loài cây có tác dụng dược lý 1 ? Tuy nhiên ấn tượng ban đầu là cuộc tìm kiếm bằng chứng khoa học này của các nhà nghiên cứu Việt Nam có vẻ ít sôi động hơn và không có nhiều các sản phẩm như đồng nghiệp quốc tế, dù đã ở năm thứ hai của đại dịch.     Nhưng đừng vì thế mà vội vã đưa ngay nhận xét và quy kết sự yếu kém cho họ, bởi những gì dễ nhìn thấy mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm…     Không dễ bắc cầu Đông – Tây và chuyển hóa cổ truyền – hiện đại     Cả hàng ngàn năm, con người đã biết cách bảo vệ mình khỏi tai ương, bệnh dịch bằng việc sử dụng các loài thảo dược và đúc rút ra những kinh nghiệm, bài thuốc sau quá trình “thử và sai”. Không phải tự nhiên mà Hải Thượng Lãn Ông “dùng lục vị làm thang, bỏ trạch tả mà thêm ban long, sao mạch môn lên” để trị bệnh cho một đứa trẻ tám tuổi trước đó bị hàn nhiệt đã mấy tháng, nay tưởng chừng bệnh cũng đã thuyên giảm thì “gặp lúc đêm tối ra ngoài thềm đi tiểu tiện, bỗng ngất đi bất tỉnh… nhiệt quá, hôn mê chẳng biết ai nữa, mắt dương, môi sưng”. Phương thuốc mà Hải Thượng Lãn Ông bốc lúc nửa đêm đã hiệu lực tức thì: “Đến sáng, người ấy trở lại nói rằng: ‘Sau khi dùng hết tễ thuốc, nhiệt đã giảm, thần thức tỉnh táo dần, kêu đói nên đã cho ăn cháo loãng” 2.    Kỳ diệu như “thuốc tiên” vậy nhưng ngày nay, việc tìm về kho tàng quý giá của cha ông để sàng lọc cây thuốc và bài thuốc phù hợp với tiêu chí có khả năng chuyển hóa thành thuốc dưới dạng bào chế hiện đại, có khả năng giảm tải virus SARS-CoV-2 và kích hoạt hệ miễn dịch trên người nhiễm COVID-19, không đơn thuần là việc lặp lại quy trình này. Giữa hai thế giới Đông và Tây, cổ truyền và hiện đại, có nhiều điểm khác biệt. Y học hiện đại dựa trên các nguyên tắc chuẩn hóa nghiêm ngặt và đòi hỏi bằng chứng khoa học thường không ủng hộ những phương thuốc cổ truyền dựa trên nguyên lý âm dương ngũ hành và xác định công thức điều trị thông qua việc “kê đơn, bắt mạch”, tùy từng thể trạng người bệnh mà thêm bớt lượng hoặc vị.    Trên thực tế, dù không quá khó để lọc được nhóm bài thuốc, cây thuốc nhiều khả năng có tác dụng ngăn ngừa, điều trị chứng ôn bệnh, ôn dịch – gần với bệnh cảm cúm do virus họ corona gây ra, và các cây thuốc, vị thuốc có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, nhưng không dễ dùng bằng chứng khoa học để chứng minh tác dụng của chúng. Trong buổi họp báo do Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam mới tổ chức, PGS.TS Nguyễn Thế Thịnh, Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền (Bộ Y tế) cũng thừa nhận “Thực ra, dùng phương pháp của y học hiện đại để soi sáng y học cổ truyền là một trong những vấn đề rất cần thiết nhưng lại là một trong những vấn đề vô cùng khó”.    Về bản chất, việc dùng khoa học để soi sáng tri thức y học cổ truyền dưới dạng các bài thuốc có thể tạm gói gọn trong hai điểm: thứ nhất là khẳng định được tác dụng của bài thuốc gốc cũng như thành phần hóa học của các hợp chất trong bài thuốc; thứ hai là sử dụng những phương pháp hiện đại để bào chế và đưa nó thành các sản phẩm có thể dễ dàng và thuận tiện sử dụng dưới dạng thông dụng như viên nén, viên nang, siro lỏng, dung dịch… “Rất khó chuyển hóa từ bài thuốc cổ truyền sang loại thuốc được bào chế như dạng Tây y bởi chúng ta phải chuẩn hóa nó”, dược sĩ Nghiêm Đức Trọng (ĐH Dược HN) cho biết như vậy bên lề buổi nghiệm thu cơ sở đề tài “Nghiên cứu đánh giá, phát triển các bài thuốc dân gian ở khu vực Tây Bắc có tác dụng điều trị bệnh gan mật” (Chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc) vào tháng 12/2019.    Ở góc độ người ngoài cuộc, có lẽ không ai hiểu hết được cái khó này bởi không phải đơn thuần muốn là chuyển đổi ngay lập tức một thang thuốc thành cao, viên tễ kiểu các lang y vẫn áp dụng. Theo giải thích của nhiều dược sĩ, nguyên tắc của y học hiện đại của phương Tây đơn giản là tập trung vào các hợp chất cần thiết để điều trị trực tiếp bệnh nên thông thường, thành phần của “thuốc Tây” chỉ gồm ‘đơn giản’ một vài hoạt chất đã được các nhà nghiên cứu định danh và định lượng một cách tỉ mỉ, chính xác. Trong khi với một bài thuốc cổ truyền, có thể độc vị hoặc nhiều vị, các lang y không quan tâm đến bản chất hóa học của chúng và cũng không quan tâm đến việc xác định các nhóm chất nào đem lại tác dụng chính của thang thuốc. Việc bắc cầu kết nối hai dòng triết lý như vậy quả thực có nhiều thách thức. “Trong một cây có hàng trăm, hàng nghìn chất khác nhau, làm sao mình biết được hoạt chất nào có tác dụng thực sự với căn bệnh cụ thể mà mình muốn chữa. Chỉ khi nào biết chính xác hoạt chất mình cần và biết rõ tác dụng hiệp đồng của nó với các chất khác trong bài thuốc cổ truyền ‘quân, thần, tá, sứ’ thì mình mới có thể phân lập được đúng chất mình mong muốn, còn không vẫn là chiết tổng theo kiểu sắc thuốc, ngâm rượu…”, PGS. TS Trần Văn Ơn, nguyên trưởng bộ môn Thực vật, trường ĐH Dược HN và là người chuyển hóa thành công nhiều cây thuốc, bài thuốc cổ truyền thành những sản phẩm bào chế hiện đại và tiện lợi cho người dùng, giải thích thêm.    Từng là thư ký một trong số ít các đề tài chuyển hóa bài thuốc dân gian, PGS. TS Dương Hồng Anh (PTN trọng điểm Công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm (ĐHQGHN) thấm thía chuyện này. “Điều khoa học có thể đóng góp được là tìm hiểu đoán xem hoạt chất nào có thể có tác dụng, nếu phát hiện bên cạnh phần có tác dụng có phần phản tác dụng thì mình chứng minh loại bỏ nó đi. Do đó, phần đưa vào cơ thể không còn ‘thô’ như ban đầu nữa”, chị nói và cho biết thêm. “Khoa học giúp mình cải thiện nhiều hơn nữa, ví dụ dựa trên bằng chứng khoa học thì mình có thể thay đổi tỉ lệ các hoạt chất đi, thay đổi cả liều sử dụng nữa, do đó cần phải nghiên cứu nghiêm ngặt nữa”.    Tuy nhiên, ngay cả đã có trong tay công thức chuẩn thì việc đưa thang thuốc thành viên nang, viên nén… cũng cần thêm một công đoạn nghiên cứu tiếp theo. “Cách bào chế thì không khó, khó là phải đánh giá được độ ổn định, độ rã, độ chảy… của thuốc và phải đảm bảo khả năng giải phóng của thuốc khi đi vào cơ thể… Đó thực sự mới là vấn đề”, dược sĩ Nghiêm Đức Trọng nói.    Do đó, con đường chuyển hóa một bài thuốc cổ truyền thành phương thuốc hiện đại phức tạp hơn người ta tưởng. Không nhà dược học hoặc lương y nào có thể tự mình làm tất cả các công đoạn vốn rất phức tạp và khác nhau này bởi không chỉ cần rất nhiều thời gian để hoàn thành một khối lượng công việc cực lớn mà còn cần quy tụ cả một đội ngũ các nhà nghiên cứu liên ngành như dược học, thực vật học, hóa học độc học, hợp chất thiên nhiên, sinh học phân tử, kỹ thuật hóa học, lâm sàng… thực hiện nó.     “Điểm chết” trên đường chuyển hóa thành sản phẩm     Năm 2019, nhóm nghiên cứu liên ngành do giáo sư Phạm Hùng Việt (PTN trọng điểm Công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm) kết thúc đề tài “Nghiên cứu đánh giá, phát triển các bài thuốc dân gian ở khu vực Tây Bắc có tác dụng điều trị bệnh gan, mật” sau ba năm thực hiện với nhiều dạng sản phẩm: sàng lọc hoạt chất và bào chế viên nang, cao; sưu tầm được 150 bài thuốc; xuất bản 3/7 bài báo quốc tế, hai đăng ký sở hữu trí tuệ; đào tạo một nghiên cứu sinh, hai thạc sĩ. Vậy là người ta có thể an tâm về một thành công sớm? Ngay cả người trong cuộc cũng không nghĩ vậy. Dù mơ mộng ít nhiều về những kết quả ban đầu nhưng PGS. TS Trần Văn Ơn – một thành viên của nhóm, vẫn tỉnh táo đánh giá: nếu tính cả chặng đường phát triển thành sản phẩm có thể thương mại hóa trên thị trường thì đây mới chỉ là nghiên cứu cơ bản.    Thật lạ, sau ngần ấy công sức tạo ra nhiều dạng sản phẩm mà mới chỉ là cơ bản thôi ư?      PGS. TS Trần Văn Ơn xây dựng thành công vùng nguyên liệu dây thìa canh lá to đạt tiêu chuẩn GACP tại Thái Nguyên. Nguồn: NVCC.    Với kinh nghiệm của người từng lăn lộn nhiều năm trong việc tìm các bài thuốc, cây thuốc quý trong dân gian và lựa chọn một số trong đó để phát triển thành sản phẩm, PGS. TS Trần Văn Ơn phân tích, trong trường hợp này, bản thân nghiên cứu phát triển chưa thực sự hoàn thiện bởi mới chỉ ra được cây thuốc có hoạt chất, bài thuốc có tác dụng điều trị một số bệnh mong muốn và gửi hồ sơ đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích. “Nghiên cứu của thầy Việt đã kết thúc phần nghiên cứu cơ bản và bắt đầu có hơi hướng chuyển sang giai đoạn ứng dụng, đó là tạo ra được một quy trình làm thuốc. Muốn chuyển giao công nghệ và ra được sản phẩm thương mại thực sự, sẽ cần thực hiện nhiều pha tiếp theo”, anh nói. Không riêng đề tài này mà phần lớn các đề tài nghiên cứu về cây thuốc, vị thuốc ở Việt Nam vẫn chưa thực sự hoàn thiện được tốt giai đoạn này. “Nếu coi nghiên cứu đến đây là đủ và các nhà khoa học dừng lại, chuyển sang làm cây khác thì làm bao đề tài cũng mãi thế thôi, không đi đến đâu cả”, anh nói, ngụ ý đến một quá trình dài hơi ở phía sau nữa mới đến được công đoạn cuối cùng, “theo nghĩa là sản xuất ở nhà máy thật với mô hình tham số thật”.    Nếu lạc quan cho rằng, có rất nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam có thể bền bỉ đi đến tận cùng mọi công đoạn chuyển hóa, chuẩn hóa nó thành công nghệ và gặp được doanh nghiệp sẵn sàng đón nhận công nghệ mới thì họ vẫn phải đối mặt với nhiều “điểm chết” trên đường đưa bài thuốc cổ truyền thành sản phẩm bào chế hiện đại. “Khi nghĩ đến việc sản xuất ở quy mô công nghiệp, lập tức cả doanh nghiệp và nhà khoa học phải nghĩ đến khâu vùng nguyên liệu để cung cấp đầu vào cho các nhà máy. Với tình trạng Việt Nam hiện nay, riêng khâu tạo ra dược liệu đã là đủ ‘chết’ rồi”, PGS. TS Trần Văn Ơn nói.    Từ lâu, câu chuyện dược liệu đã là “cơn ác mộng” với nhiều công ty dược phẩm. Mỗi năm ngành dược tiêu thụ khoảng 60 tấn dược liệu, nhưng dược liệu trong nước chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại chủ yếu nhập từ Trung Quốc qua đường tiểu ngạch với chất lượng không được kiểm soát hoàn toàn, ông Nguyễn Thanh Long khi còn là Thứ trưởng Bộ Y tế đã thừa nhận như vậy tại hội thảo “Nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát chất lượng dược liệu và thuốc từ dược liệu trong thời kỳ hội nhập” do Viện Kiểm nghiệm thuốc TW tổ chức tổ chức vào tháng 7/2016. Sau năm năm, tình hình vẫn không có nhiều thay đổi. Vào đầu năm nay, bà Phạm Thị Thanh Hương, Tổng Giám đốc Công ty Dược-Trang thiết bị y tế Bình Định trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam rằng nguồn dược liệu nhập ngoại giá rẻ lũng đoạn thị trường khiến “nguồn dược liệu sử dụng trong nước đang lâm cảnh ‘vàng thau lẫn lộn’… Việc không quản lý được nguồn gốc, chất lượng dược liệu nhập khẩu dẫn tới sự cạnh tranh không sòng phẳng giữa dược liệu trong nước đảm bảo chất lượng với dược liệu nhập khẩu có xuất xứ, chất lượng mơ hồ”.    Tuy nhiên, nếu cho rằng Việt Nam có thể tạo ra một thị trường cạnh tranh bình đẳng cho dược liệu thì liệu các công ty có an tâm đón nhận chuyển giao để tạo ra sản phẩm mới? Câu trả lời là chưa. “Giống dược liệu của mình là giống nguyên thủy trong khi ở các nước khác họ đã chọn lọc được giống tốt rồi. Ví dụ, trong vòng 20 năm qua, Trung Quốc đã tạo ra được giống kim ngân tốt, sai hoa nên rất tiện lợi cho thu hái còn ở Việt Nam chưa làm được điều này nên không có giống chất lượng cao”, PGS. TS Trần Văn Ơn nhận xét.    Câu chuyện về dược liệu và các công đoạn tiền sản xuất còn hàm chứa nhiều “điểm chết” khác: không có diện tích trồng trọt quy mô lớn, không được cơ giới hóa trong khi “từng cây đều khác nhau về phương pháp canh tác nên việc cơ giới hóa từng vùng nguyên liệu, từng cây nguyên liệu cũng phải khác nhau”, anh nói.    Nếu ai đó lạc quan cho rằng có thể từng bước hóa giải những ‘điểm chết’ này thì vẫn còn chướng ngại vật phía trước, đó là công nghệ chiết xuất các hoạt chất. Trong nghề dược, điều quan trọng gần như bậc nhất của công đoạn sản xuất là chiết được hoạt chất ở trạng thái tinh khiết. Mỗi dược liệu là một quy trình tách chiết và những dung môi hóa chất đi kèm riêng biệt, có những hợp chất rất khó tách, đòi hỏi phải trải qua nhiều công đoạn, tốn kém thời gian và hóa chất, dẫn đến việc đội giá thành. Vì vậy, có được công nghệ chiết để tạo ra hoạt chất đúng hàm lượng yêu cầu đã là lợi thế của các công ty dược, TS. Hoàng Đức Mạnh (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) từng chia sẻ như vậy. Trên thực tế, “ở nước ngoài, công nghệ chiết xuất rất hiện đại còn tại Việt Nam, công nghệ mình sử dụng vẫn còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là cho hết nguyên liệu vào nồi nấu lên”, PGS. TS Trần Văn Ơn chỉ ra sự yếu kém của ngành dược phẩm.     Bức tranh sơ bộ về quy trình R&D một bài thuốc cổ phương thành công nghệ và chuyển giao nó cho các công ty ngành dược còn thiếu một mảnh ghép quan trọng khác. “Mình thiếu chuỗi giá trị có khả năng kết nối các khâu lại với nhau để cùng vượt qua các ‘điểm chết’. Ai cũng chăm chăm bỏ túi mình, mặc kệ người khác trong chuỗi liên kết”, anh nói. Tình huống này không hiếm gặp, ví dụ trường hợp sốt giá – hạ nhiệt cây cà gai leo có hoạt chất chữa viêm gan, đặc biệt là viêm gan B mạn tính. Do thấy cà gai leo phù hợp với đất Quảng Ngãi, kỹ sư Nguyễn Đức Tuệ- Giám đốc Công ty CP ĐT&PT dược liệu Ngọc Linh đã liên kết với Công ty TNHH Tuệ Linh, nơi phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh về gan từ dược liệu này, cung cấp nguyên liệu trồng tại đây. Khi thấy cà gai leo có giá, người dân ở các huyện của Quảng Ngãi đã ồ ạt trồng rồi bán cho thương lái bên ngoài, không theo hợp đồng ban đầu… Thế rồi khi cung vượt cầu, họ bị thương lái ép giá, ai nấy đều đồng loại bỏ trồng. “Mô hình thất bại, làm ăn thua lỗ, không chỉ người dân bị ảnh hưởng mà toàn bộ cơ sở vật chất đầu tư lên vài tỉ đồng bây giờ đành bỏ phí”, anh Nguyễn Đức Tuệ trả lời báo Quảng Ngãi.     Làm gì để thoát “điểm chết”?     Sự phức tạp của việc chuyển hóa bài thuốc cổ truyền thành sản phẩm bào chế hiện đại và những “điểm chết” trên con đường đưa nó ra thị trường thương mại khiến lâu nay, giới khoa học đa phần vẫn chỉ có thể dừng lại ở việc công bố phát hiện chất này, chất kia có tác dụng dược lý, một số viện nghiên cứu chuyên ngành bằng lòng với việc “hiện đại hóa” ở khâu chế biến một số bài thuốc cổ phương còn các công ty dược phẩm chỉ làm một số sản phẩm đơn giản hay “nội hóa” thuốc ngoại. Chuỗi giá trị liên kết các nhà (nhà khoa học – nhà lâm sàng – nhà sản xuất – nhà cung cấp dược liệu…) vẫn chưa được hình thành một cách đầy đủ để có được sức mạnh thúc đẩy quá trình đó.    “Không ai có thể tự mình làm hết được, nếu tự làm thì suốt đời chỉ có thể giải quyết được những cái rất nhỏ”, PGS. TS Trần Văn Ơn cho biết. Hơn ai hết, anh thấm thía điều đó. Sau 20 năm kiên trì nghiên cứu dây thìa canh, phát hiện hoạt chất trong dây lá to còn vượt trội so với dây lá nhỏ, trải qua 13 đề tài, trong đó có ba đề tài cấp Bộ “Sàng lọc các dược liệu và bài thuốc có tác dụng điều trị đái tháo đường”, “Hoàn thiện công nghệ trồng trọt, sản xuất cao định chuẩn và sản xuất chế phẩm từ cây Dây thìa canh hỗ trợ điều trị đái tháo đường” và “Nghiên cứu sản xuất chế phẩm hỗ trợ điều trị tiểu đường từ cây Dây thìa canh lá to”, xây dựng được vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GACP tại Thái Nguyên, anh và công ty DK Pharma, một công ty spin-off của trường Đại học Dược HN được thành lập năm 2001, mới có thể cho ra đời viên tiểu đường DK-BETICS. “Hiện nay cũng có một vài công ty dược thành công như Traphaco là nhờ họ lẳng lặng làm, tự tay gây dựng chuỗi liên kết”, anh nói.    Việc kiên nhẫn hóa giải những “điểm khó” và “điểm chết”, do đó, không còn là chuyện riêng của nhà khoa học hay doanh nghiệp. “Chúng ta cần sự hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy việc liên kết ‘các nhà’ chặt chẽ hơn”, “cần những ưu đãi thỏa đáng về thuế để doanh nghiệp dược yên tâm phát triển sản phẩm Nam dược”, ‘cần những chương trình đầu tư riêng để nghiên cứu sâu về Nam dược”…, những chia sẻ của các nhà khoa học và doanh nghiệp dược lại khiến người ta cảm thấy lo âu nhiều hơn. Bởi cho đến thời điểm này, ngành y dược cổ truyền đã được thụ hưởng không ít chính sách quan trọng như Quyết định 2166/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020, Quyết định 1893/QĐ-TTg ban hành Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030, Nghị định 65/2017/NĐ-CP chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai thác dược liệu, Quyết định 1976/QĐ-TTg về quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Quyết định 376/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045…    “Có lẽ chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá lại quá trình thực hiện chính sách để xem vì sao còn tồn tại những ‘điểm chết’”, PGS. TS Trần Văn Ơn trầm ngâm trả lời. Đó sẽ là điểm xuất phát của quá trình hóa giải “điểm khó”, “điểm chết” và đưa chính sách đến với người được thụ hưởng? Hy vọng là vậy. □  —–  1. Theo ghi nhận trong “Danh lục Cây thuốc Việt Nam” của Viện Dược liệu.  http://vienduoclieu.org.vn/tttv/gioi-thieu-an-pham/sach-moi/Danh_luc_cay_thuoc_Viet_Nam_356  2. Trích Thượng Kinh ký sự, Hải Thượng Lãn Ông.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Hiện tượng nóng lên toàn cầu: một góc nhìn khác      &nbsp;  V&#224;o thời điểm hiện nay, hiện tượng n&#243;ng l&#234;n to&#224;n cầu thật sự đ&#227; v&#224; đang l&#224; chủ đề n&#243;ng bỏng tr&#234;n c&#225;c b&#224;n nghị sự li&#234;n quan đến vấn đề m&#244;i trường to&#224;n cầu, v&#224; sự&#8220;đ&#243;ng g&#243;p&#8221; của c&#225;c kh&#237; nh&#224; k&#237;nh trong hiện tượng n&#243;ng l&#234;n to&#224;n cầu l&#224; một sự thật kh&#244;ng chối c&#227;i được.Tuy nhi&#234;n, trong thời gian gần đ&#226;y ng&#224;y c&#224;ng c&#243; nhiều nh&#224; khoa học đ&#227; ho&#224;i nghi: Liệu c&#243; thực sự c&#225;c kh&#237; nh&#224; k&#237;nh (chủ yếu l&#224; CO2) l&#224; thủ phạm ch&#237;nh g&#226;y ra hiện tượng &#8220;n&#243;ng l&#234;n to&#224;n cầu&#8221; hay kh&#244;ng? Liệu ch&#250;ng c&#243; g&#226;y ra t&#225;c dụng n&#224;o ngược lại với hiện tượng tr&#234;n hay kh&#244;ng?                       Một trong những sự kiện trọng đại bậc nhất trong lĩnh vực môi trường của năm 2008 vừa qua là hội nghị về vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu mới diễn ra trong tháng 12 tại Poznan, Ba Lan dưới sự chủ trì của Liên Hiệp Quốc. Khoảng 9.000 đại diện của 190 quốc gia trên thế giới tham dự cuộc đàm phán kéo dài trong suốt thượng tuần tháng 12 nhằm mục đích mở đường cho một thoả thuận vào năm sau để thay thế Nghị định thư Kyoto (1997) sắp kết thúc sứ mạng của mình vào năm 2012. Nghị định thư Kyoto 1997, được 37 quốc gia, chủ yếu là các quốc gia công nghiệp cam kết đến năm 2012 sẽ cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính (greenhouse gases, như CO­­2, hơi nước, CH4, N2O…)  ít nhất 5% so với mức thải năm 1990.Điều đầu tiên và tiên quyết ở đây là: có thể khẳng định CO2 và các khí nhà kính khác là một trong số những thủ phạm gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu, dẫu chưa chắc chắn chúng là thủ phạm chính. Vậy thì lý do nào để các nhà khoa học cũng như các nhà hoạt động môi trường luôn “chĩa mũi nhọn” vào các khí nhà kính mỗi khi đề cập đến hiện tượng nóng lên toàn cầu?         Câu trả lời có thể được tìm thấy ở việc áp dụng “nguyên lý phòng ngừa” (Precaution Principle) trong các ”nguyên lý cho vấn đề phát triển bền vững về sinh thái” (ESD: ecologically sustainable development): việc gì có khả năng ảnh hưởng xấu đến môi trường thì dẫu chưa có đủ những chứng cứ về mặt khoa học ta cũng phải áp dụng những biện pháp phòng ngừa (phòng bệnh hơn chữa bệnh !). Do đó dẫu chưa có những chứng cứ chắc chắn về việc liệu CO2 và các khí nhà kính khác có phải là thủ phạm chính gây ra hiệu ứng nóng lên toàn cầu hay không thì ta vẫn phải ngăn chặn trước. Hơn nữa, thủ phạm này thuộc loại “nhân tai” nên con người càng có trách nhiệm và có khả năng trong tầm tay ngăn chặn được nếu quyết tâm.  Việc hoài nghi về thủ phạm chính của hiện tượng nóng lên toàn cầu nói trên (nóng lên toàn cầu là “nhân tai” hay thiên tai), xuất phát từ việc các nhà khoa học tin rằng có những “bằng chứng” cho việc này.  Trong lịch sử, trái đất đã trải qua những giai đoạn nóng lạnh khác nhau, đó là một chu trình tự nhiên (như con người có ngày cảm lạnh, ngày nóng sốt vậy). Trong quá khứ đã có những kỷ băng hà lớn nhỏ khác nhau (một kỷ băng hà là một giai đoạn giảm nhiệt độ lâu dài của khí hậu Trái đất, dẫn tới sự mở rộng của các dải băng lục địa, các dải băng địa cực và các sông băng trên núi). Kỷ băng hà cuối cùng được cho là đã kết thúc khoảng 10.000 năm trước; và xen kẽ vào các thời kỳ băng hà chính là các giai đoạn “nóng lên “ của quả đất (nhưng rõ ràng trong quá khứ chưa có bàn tay của con người trong vấn nạn tăng lượng khí CO2 cũng như các khí nhà kính khác như ngày nay).     Nguyên nhân của các kỷ băng hà và các giai đoạn nóng lên giữa chúng cho đến nay vẫn đang gây tranh cãi. Tuy nhiên, có một sự đồng thuận chung cho rằng: chúng là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm thành phần khí quyển, những thay đổi của quỹ đạo trái Đất quanh mặt trời (như độ nghiêng của trục trái đất), quỹ đạo của mặt trời quanh Ngân Hà, các hoạt động của mặt trời (như gió mặt trời) và vị trí của các lục địa. Nghĩa là, hầu hết đều do “thiên tai” chứ không phải “nhân tai”. Hơn thế nữa, còn nhớ vào đúng tháng này năm ngoái ngay cả trong Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi Khí hậu của Liên Hợp Quốc tại Bali, Indonesia (3/12 – 14/12/07) Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) cũng chỉ kết luận rằng tình trạng thay đổi khí hậu toàn cầu “rất có thể” (chứ không khẳng định chắc chắn) là do hành vi của con người gây ra.  Một nhà khoa học tiêu biểu cho trường phái này là GS.TS. James Koermer, một chuyên gia khí tượng tại Đại học Plymouth State (Hoa Kỳ). Trong buổi thuyết trình mới đây nhất tại trường (19/11/2008), ông cho rằng trái đất đã trải qua nhiều giai đoạn nóng lạnh, cách đây hơn một triệu năm đã có những giai đoạn nóng hơn hiện nay. Ông thêm rằng có nhiều bằng chứng cho thấy giai đoạn nóng lên toàn cầu trong quá khứ gần đây nhất bắt đầu từ đầu thiên niên kỷ trước và kết thúc vào khoảng năm 1600; (tiếp theo là giai đoạn “lạnh đi toàn cầu” kéo dài khoảng 100 năm). Giai đoạn nóng lên toàn cầu mới đây bắt đầu từ khoảng năm 1700, trùng với sự khởi đầu của thời đại công nghiệp (và do đó thường được gán cho quá trình công nghiệp hoá gây ra). Cũng theo ông, với hiện tượng nóng lên toàn cầu thì hơi nước chịu trách nhiệm chính: khoảng 95%, các khí nhà kính khác (bao gồm cả CO2) chỉ đóng góp khoảng 5%(!?)       Bên cạnh hiện tượng nóng lên toàn cầu mà nguyên nhân chính còn gây nhiều tranh luận ở trên, các nhà khoa học còn quan sát được một vấn đề thú vị khác liên quan trực tiếp đến hiện tượng này: Theo các số liệu quan trắc toàn cầu thì trong giai đoạn 1950-1990 lượng bức xạ mặt trời đến được bề mặt trái đất đã giảm khoảng 4% (và hệ quả là làm giảm nhiệt độ trái đất: ngược lại với hiện tượng nóng lên toàn cầu). Điều này cho thấy rằng có một hiện tượng nào đó “ngược lại” hiện tượng nóng lên toàn cầu đang tồn tại. Hiện tượng này có tác dụng như là “chiếc dù” làm mát trái đất. Hiện tượng đó được cho là có nguyên nhân từ việc gia tăng hàm lượng các “hạt có kích thước li ti” trong khí quyển (gồm hạt hơi nước và các hạt có nguồn gốc chủ yếu từ carbon và sulphat được tạo ra từ hoạt động của con người). Các hạt li ti đó, tiếp theo, lại là các nhân để ngưng tụ hơi nước. Hệ quả là tạo thành những “đám mây: có khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời mạnh, làm cho lượng bức xạ đến được bề mặt trái đất giảm đi và do đó làm giảm nhiệt độ không khí. Một ví dụ tiêu biểu cho việc tạo ra các hạt li ti trong khí quyển này là khói thải từ động cơ máy bay. Hiện tượng đó được đặt tên là “hiện tượng mờ đi toàn cầu“ (global dimming).   Bằng chứng khoa học rõ ràng nhất cho hiện tượng này xuất phát từ một sự kiện chấn động thế giới: sự kiện khủng bố ngày 11/ 9/ 2001. Ba ngày sau sự kiện trên, xuất phát từ lệnh cấm của chính quyền Liên Bang, trên bầu trời nước Mỹ đã xảy ra tình trạng chưa từng có: vì lý do an ninh, ngoại trừ một số ít máy bay quân sự, toàn bộ các máy bay khác đều không được cất cánh. Lệnh cấm này lại bất ngờ tạo ra một cơ hội hiếm có cho các nhà khoa học: khảo sát ảnh hưởng của khói thải từ động cơ máy bay đối với khí hậu. Kết quả quan trắc cho thấy một điều thú vị là: tại một số vùng trước đây có cường độ máy bay hoạt động cao thì nay nhiệt độ tăng thêm khoảng 1oC. Rõ ràng là khói thải từ máy bay có khả năng làm giảm nhiệt độ khí quyển.   Tuy nhiên, cũng cần lưu ý tính hai mặt của hiện tượng này, chính sự tồn tại của nó đã làm “lu mờ”, giảm nhẹ đi nhiều hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nếu không có nó hẳn sự nóng lên toàn cầu sẽ gay gắt hơn rất nhiều. Nó được ví như chiếc “mặt nạ” che lấp đi phần nào khuôn mặt “quỷ dữ” thật sự của hiện tượng nóng lên toàn cầu.   Cuối cùng, dù có tranh luân ra sao đi nữa thì cũng có thể khẳng định CO2 cũng là một trong số những thủ phạm gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu. Hơn nữa, việc gia tăng hàm lượng của nó trong khí quyển là do chính con người tạo ra. Do đó, con người phải có trách nhiệm với nó và việc áp dụng “nguyên lý phòng ngừa” là rất cần thiết trong trường hợp này. Đó cũng là lý do tại sao 190 quốc gia trên thế giới tụ hội tại Poznan, Ba Lan tham dự vào hội nghị về sự thay đổi khí hậu toàn cầu.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện tượng siêu chảy của chất khí      Lần đầu tiên các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã quan sát được trực tiếp sự chuyển từ một chất khí sang trạng thái siêu chảy, kết quả này phần nào sẽ giúp ích cho việc giải bài toán quan trọng và dai dẳng về hiện tượng siêu dẫn nhiệt độ cao.    Chất khí siêu chảy được tạo ra ở MIT cũng có thể sẽ làm cơ sở cho mô hình nghiên cứu các tính chất của các sao neutron hoặc các hỗn hợp quark-gluon đã từng tồn tại trong giai đoạn ban đầu của vũ trụ.  Công trình này được báo cáo trên tạp chí Nature và Physical Review Letters, do tác giả Wolfgang Ketterle (từng nhận giải Nobel), John D. MacArthur và các cộng sự ở MIT.  Hiện tượng siêu chảy được quan sát đối với trường hợp chất khí của các nguyên tử fermion, gọi là khí Fermi. Chất khí Fermi này chỉ có thể siêu chảy khi các nguyên tử của nó kết thành các cặp, từ đó chúng tạo nên một dạng vật chất gọi là hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein.    Trong một số năm, các nhóm nghiên cứu trên toàn thế giới đã chỉ thấy được một cách gián tiếp hiện tượng siêu chảy của khí Fermi, bởi vì sự chuyển sang trạng thái siêu chảy không kèm theo bất cứ thay đổi nào về hình ảnh của đám khí.  Phương pháp mới của nhóm MIT là sử dụng hai loại fermion với số lượng không bằng nhau, hai loại này được gắn với các trạng thái spin-lên và spin-xuống. Khi ấy các nguyên tử sẽ kết cặp với nhau, mỗi fermion spin-lên sẽ tìm cho nó một fermion spin-xuống và ngược lại. Kết quả là sẽ còn thừa một loại fermion không kết cặp. Như vậy sự khác nhau giữa chất khí siêu chảy gồm các cặp fermion và chất khí gồm các nguyên tử độc thân trở nên rõ ràng và có thể quan sát được.  Ta có thể tưởng tượng hai loại fermion như những cô gái và chàng trai trên sân khấu, họ sẽ kết thành những cặp để tạo ra “điệu nhảy siêu chảy”. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu số chàng trai mà đông hơn số cô gái? Những chàng trai độc thân sẽ tham gia vào điệu nhảy, sẽ đứng ra ngoài sân khấu hay sẽ gây rối khiến mọi người phải ngừng nhảy? Điệu nhảy sẽ kết thúc khi khi tỉ lệ số chàng trai và số cô gái là 6 trên 1, dưới tỉ lệ này điệu nhảy vẫn tiếp tục, đó chính là kết quả được quan sát bởi các nhà vật lý ở MIT.  Các nhà vật lý đã thấy rằng, để điệu nhảy tiếp tục, các chàng trai độc thân (các nguyên tử thừa ra) phải bị đẩy ra khỏi sân khấu. Hiện tượng này đã được quan sát trực tiếp, các nguyên tử độc thân bị đẩy ra rìa xung quanh nhân siêu chảy. Khi các nguyên tử được làm lạnh tới hạn, hiện tượng siêu chảy được được đi kèm bởi sự thay đổi đột ngột hình dạng của đám khí.  Nhóm nghiên cứu MIT đã quan sát được hiện tượng siêu chảy khi làm lạnh khí Fermi xuống tới 50 phần tỷ của 1 độ Kelvin, rất gần với độ không tuyệt đối (-237oC). Bằng việc sử dụng hình ảnh tương phản pha – một công nghệ hiển vi tiêu chuẩn – họ đã có thể quan sát trực tiếp nhân siêu chảy và lớp vỏ các nguyên tử độc thân xung quanh nó.    Nguồn: MIT      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệp hội hạt nhân Pháp: Năng lượng hạt nhân – điều kiện tiên quyết để khôi phục kinh tế      Theo báo cáo mới đây của Hiệp hội Hạt nhân Pháp (SFEN), cam kết xây dựng sáu lò phản ứng áp lực (EPR) ở Pháp được kì vọng sẽ trở thành một “cú hích” hiệu quả cho nền kinh tế đất nước trong thời kì khôi phục sau đại dịch COVID-19. Năng lượng hạt nhân đạt đủ ba tiêu chí được đưa ra trong phiên thảo luận về khoản đầu tư dùng trong phục hồi các ngành công nghiệp “Phát thải ít carbon, linh hoạt và hiệu quả”.    Trong những bài viết của mình, SFEN nhấn mạnh Pháp hiện có 57 lò phản ứng cung cấp nguồn điện phát thải ít carbon cho khoảng ba phần tư dân số của quốc gia sử dụng thường nhật và hơn 250 người dùng trong công nghiệp tại 530 địa điểm. Với khả năng “bình ổn giá điện”, năng lượng hạt nhân đang góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành công nghiệp tại Pháp.    Đầu tư để phát triển  SFEN cho biết, Chương trình bảo trì và đầu tư của Tập đoàn điện lực Pháp (EDF) gọi tắt là Grand Carénage đã rót 4 tỷ EUR (tương đương 4,3 tỷ USD) mỗi năm nhằm mục đích mở rộng hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân, tuy nhiên hiện nay việc xây dựng các lò phản ứng mới để hỗ trợ khôi phục kinh tế sau đại dịch là mục tiêu đang được ưu tiên hơn cả.  Tháng 1 năm 2020, Bộ Môi Trường Pháp đã “mở cửa” tiếp nhận ý kiến đóng góp từ cộng đồng đối với việc điều chỉnh chiến lược quản lý quá trình chuyển đổi năng lượng được biết đến là “Chương trình năng lượng hàng năm Pluri” giai đoạn 2019-2028.  SFEN tiết lộ: “Việc triển khai xây dựng các lò phản ứng hạt nhân mới sẽ là một giải pháp hiệu quả trong chiến lược phục hồi kinh tế – xã hội từ năm 2021. Ngành công nghiệp hạt nhân đã sẵn sàng trở thành một phần trong chiến lược đó”.  Một so sánh gần đây của Deloitte đề cập đến việc mỗi euro đầu tư vào năng lượng hạt nhân có thể tạo ra 2,5 euro đóng góp vào phần còn lại của nền kinh tế. Nghiên cứu tương tự của SFEN ước tính đến năm 2030, mỗi terawatt điện được sinh ra từ năng lượng hạt nhân sẽ đóng góp 360 triệu EUR vào tổng GDP quốc gia, gấp hơn ba lần so với đóng góp của năng lượng gió. Ngành năng lượng hạt nhân của Pháp đang là đối thủ đáng gờm đối với một số ngành công nghiệp ở châu Âu. Năm ngoái, giá điện dân dụng ở Đức cao hơn 70% so với Pháp do ảnh hưởng từ việc cắt giảm sản lượng điện hạt nhân ở quốc gia này.  Kế hoạch xây dựng ít nhất 6 lò phản ứng áp lực EPR tại ba khu vực dự kiến sẽ tăng năng suất của các nhà máy điện hạt nhân lên 10 gigawatt điện (GWe), tương đương 15% mức điện năng hiện nay. Một số khu vực như Normandy, Hauts de France và Auvergne Rhône-Alpes tình nguyện tham gia dự án này. Tổng mức đầu tư hàng năm vào năng lượng hạt nhân lên tới 2 tỷ EUR, trong khi ngành năng lượng tái tạo cần tới mức hỗ trợ ước tính trị giá hơn 5 tỷ EUR mỗi năm.  Hiệp hội Hạt nhân cho biết: “Triển vọng của chương trình xây dựng trong hơn 20 năm là thiết lập khung thỏa thuận với một số nhà sản xuất nhằm đưa ra những định hướng cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực hạt nhân đầu tư vào máy móc công nghệ và đào tạo các kĩ năng cần thiết từ năm 2021”.  Là ngành công nghiệp lớn thứ ba của Pháp, ngành công nghiệp hạt nhân tạo ra hơn 220.000 việc làm một cách trực tiếp hay gián tiếp và hơn 80% các công ty tham gia xây dựng lò phản ứng EPR đến từ Pháp. Đây là một tỉ lệ việc làm được SFEN đánh giá rất “khả quan” so với các ngành năng lượng khác, chẳng hạn, đối với năng lượng mặt trời và năng lượng gió, Pháp vẫn luôn phải phụ thuộc vào đối tác nước ngoài.  Mỗi dự án EPR tạo ra 8350 việc làm trong giai đoạn xây dựng và duy trì 1600 nhân sự trong suốt quá trình vận hành kéo dài 60 năm của một tổ máy. Do đó, đầu tư vào lĩnh vực điện hạt nhân có tác động tích cực đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm cả các công ty hoạt động trong các ngành công nghiệp khác, tạo ra tổng doanh thu lên tới khoảng 47,5 tỷ EUR.  Dự án xây dựng lò phản ứng mới vào những năm tới nhằm múc đích củng cố sức mạnh và tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp hạt nhân. Sự giảm sút lao động trong lĩnh vực hạt nhân trên toàn châu Âu trong hai thập kỷ qua bắt nguồn từ việc “vắng bóng” các dự án mới, đồng nghĩa với việc Pháp phải “tái cấu trúc lại toàn bộ ngành công nghiệp” nhằm xây dựng tổ máy 3 Flanville tại Pháp và tổ máy 3 Olkiluoto ở Phần Lan. Tuy nhiên, nhờ những dự án này, EDF và Framatome đã phê chuẩn cho hơn 600 nhà cung cấp thiết bị và dịch vụ ở cấp độ hạt nhân (nuclear-grade level).  SFEN tự tin với thiết kế lò phản ứng thế hệ 3 của Pháp đã được chứng minh bởi hai lò phản ứng EPR đang hoạt động thương mại tại Taishan, Trung Quốc và lò phản ứng Flamanville-3 vừa hoàn tất các thử nghiệm nóng chảy. Hiện EDF đang tiếp tục cải tiến thiết kế đơn giản và tối ưu hóa lò phản ứng EPR2 được đánh giá bởi cơ quan an toàn hạt nhân Pháp (Autorité de sûreté nucléaire).  Phát thải ít carbon  Đổi mới các nhà máy điện hạt nhân là yêu cầu bức thiết để đạt được các mục tiêu không phát thải carbon vào năm 2050 của Pháp nói riêng và của toàn châu Âu nói chung.  Tháng trước, Ủy ban Khí hậu cấp cao (le Haut conseil pour le climat) đã đưa ra kết luận: “Đối phó với khủng hoảng kinh tế, xã hội, tài chính đang đến gần và khôi phục lại toàn bộ nền kinh tế cần phải kết hợp các biện pháp giải quyết vấn đề khí hậu”. Các dự án đầu tư ưu tiên hướng tới xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững và ủng hộ giảm thiểu carbon.  Theo Hiệp hội Hạt nhân, ngành sản xuất điện của Pháp được biết đến là ngành công nghiệp phát thải ít carbon: Lượng khí thải CO2 trung bình ở quốc gia này luôn dưới 50g/kWh, thấp hơn các nước láng giềng như Đức với khoảng 400g/kWh và Italia ở mức 260g/kWh. Những con số ấn tượng này đạt được nhờ vào việc kết hợp hiệu quả giữa sản xuất và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như thủy điện, điện mặt trời và điện gió từ các nhà máy điện hạt nhân.  Năng lượng hạt nhân là một trong những công nghệ giúp giảm lượng khí thải. Trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1985, nhờ vào chương trình năng lượng hạt nhân, Pháp đã giảm 20% lượng khí thải CO2 mặc dù tăng trưởng GDP chỉ duy trì ở mức 8%. Trong suốt 10 năm vận hành nhà máy điện Fessenheim, quốc gia này lại một lần nữa thành công trong việc giảm tỷ lệ sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất điện từ 55% xuống còn 10%. Theo SFEN, để nguồn điện carbon thấp đóng vai trò khử cacbon theo thời gian, Pháp cần ngay lập tức triển khai các chương trình hạt nhân mới. Do tốc độ phát triển nhanh chóng vào thập niên 1980 nên đến năm 2050, phần lớn các lò phản ứng hạt nhân hiện tại đều đạt tuổi thọ 60 năm. Tuổi thọ cao đồng nghĩa với việc gia tăng nguy cơ xảy ra hiện tượng ‘cliff-edge effect’ làm giảm độ an toàn các nhà máy này.  SFEN cho biết thêm: “Ngay cả khi đã đạt được những tiến bộ về kinh tế – kỹ thuật vào năm 2030-2050, thì hiện tại chúng ta vẫn chưa thể kiểm soát được tính khả thi, chi phí hay những rào cản của việc hệ thống kết hợp giữa các dạng như năng lượng tái tạo (không liên tục), lưu trữ khí sinh học và nhiên liệu hóa thạch cùng với việc thu giữ carbon. Cho đến nay, các tổ chức quốc tế lớn tin rằng các công nghệ phát thải carbon thấp như năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân cần phải được thực hiện đồng thời với mục tiêu ngành điện không phát thải vào năm 2050. Tuy nhiên, những khó khăn đưa ra dường như không thể cản bước Pháp, nơi được coi là tham chiếu của cả thế giới về việc sử dụng và kiểm soát công nghiệp công nghệ hạt nhân”.  Việc trì hoãn các dự án khởi công xây dựng hạt nhân mới có thể khiến Pháp phải khẩn trương xây dựng các nhà máy điện chạy bằng khí đốt thải ra lượng lớn khí nhà kính; tương tự như những gì đã xảy ra ở Nhật Bản sau ​​quá trình tái khởi động chậm chễ các nhà máy điện hạt nhân, hay trường hợp của New Jersey và New York. Theo kế hoạch giảm thiểu cacbon EUCO30 của Ủy ban châu Âu, EU cần đáp ứng 110 GWe năng lượng hạt nhân vào năm 2050 để đạt được các mục tiêu khí hậu.  Tính bền vững  Việc đổi mới tổ hợp các nhà máy điện hạt nhân là yêu cầu bức thiết nhằm duy trì tính bền vững của hệ thống điện trên toàn đất nước trước những “cú sốc” bất ngờ trong tương lai. Tính bền vững bao gồm cả sự chuẩn bị để đối phó với những tình huống không thể lường trước như đại dịch toàn cầu và thay đổi linh hoạt để thích nghi với từng hoàn cảnh.  Cá nhà máy hạt nhân của đất nước đã hỗ trợ ngành y tế trong việc cung cấp nguồn điện liên tục. Hiệp hội SFEN cho biết thêm: “Trong suốt thời gian qua, các nhà máy điện hạt nhân Pháp liên tục điều chỉnh sản lượng theo sự thay đổi nhu cầu và nguồn cung từ năng lượng tái tạo nhằm mục đích ứng phó với những biến đổi của năng lượng điện mặt trời và năng lượng điện gió từ các nước láng giềng”.  Cơ quan Năng lượng Quốc tế nhấn mạnh thực tế năng lượng hạt nhân là một trong những nguồn năng lượng linh hoạt, đặc biệt phù hợp để kết hợp với các dạng năng lượng tái tạo khác trong lĩnh vực cung cấp điện ở Châu Âu.  Hiệu quả  Năng lượng hạt nhân là “trụ cột chính của ngành năng lượng” giúp Pháp tự phòng vệ trước những ảnh hưởng từ thị trường năng lượng thế giới như “cú sốc thiếu hụt dầu mỏ” và “cú sốc chống lại sự phát triển của khí đốt”. Vào năm 1970, hai phần ba sản lượng điện năng của Pháp sinh ra từ nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí đốt), nhưng nhờ năng lượng hạt nhân, ngày nay, tỷ lệ này chỉ còn ở mức 7%.  Chi phí sản xuất điện hạt nhân rất dễ kiểm soát bởi uranium chỉ chiếm 5% tổng chi phí sản xuất. Ngoài ra, thị trường uranium khác với thị trường của các loại nhiên liệu khác do rủi ro địa chính trị của nguồn nguyên liệu này luôn ở mức thấp hơn 40% trữ lượng uranium hiện nay nằm ở các nước thuộc khối OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) và phần lớn uranium dùng trong thương mại thường được trao đổi thông qua kí kết các loại hợp đồng dài hạn.  Bản thân Pháp sở hữu chuỗi cung ứng uranium lớn mạnh, khối lượng uranium do EDF nắm giữ có khả năng duy trì sản xuất trong vòng hai năm, đối lập với trữ lượng nhiên liệu hóa thạch hàng năm chỉ đủ tiêu thụ trong vòng chưa tới 6 tháng. Quốc gia này hiện cũng đang giảm nhu cầu sử dụng uranium tự nhiên bằng cách tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng (10% sản lượng điện hạt nhân của Pháp được sản xuất theo cách này). Cuối cùng, Pháp đang sở hữu kho dữ trữ uranium độ giàu thấp có thể thay thế uranium tự nhiên bất cứ lúc nào thông qua quá trình làm giàu và chuyển đổi.  Tập đoàn EDF, là công ty hàng đầu trên thế giới về quản lý các nhà máy điện hạt nhân, luôn chiếm được lòng tin những quốc gia như Trung Quốc, Nam Phi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, v.v. nhờ kinh nghiệm trong vận hành và hệ thống an toàn. Các công ty khác như Orano và Framatome cũng đang dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực chu trình nhiên liệu và sản xuất hệ thống, linh kiện điều khiển. Thống kê cho thấy hơn 50% các công ty của Pháp trong ngành hạt nhân đều xuất khẩu sản phẩm với tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 5 tỷ EUR hàng hóa và dịch vụ mỗi năm.  Hiện nay, Pháp vẫn chưa thể xây dựng các lò phản ứng thế hệ 3 tiếp theo do thiếu hụt những dự án đầu tư cho công nghiệp, trái ngược với các quốc gia khác như tập đoàn Rosatom của Nga liên tục ký được các hợp đồng xây dựng các lò phản ứng mới trong suốt 14 năm qua và đang có khoảng 30 dự án được tiến hành.  Trần Thiện Phương Anh/VINATOM dịch  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiểu lịch sử qua một bài học      Bạn có biết, chỉ từ khi Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ, món spaghetti nổi tiếng của người Ý mới có thêm cà chua? Đổi lại, cũng chỉ từ khi người châu Âu đặt chân đến Tân Thế giới, châu Mỹ mới biết đến đường – dù rằng sau này nói tới đường mía là phải nói tới Cuba, hòn đảo xinh đẹp thuộc châu Mỹ. Đó là những gì bạn sẽ biết sau khi đọc “Đại sử – từ vụ nổ lớn đến hiện tại”, tác phẩm nổi tiếng của nữ khoa học gia Cynthia S.Brown.    Xin dựa vào nhan đề một cuốn sách kinh điển của nhà báo Mỹ Henry Hazlitt, “Hiểu kinh tế qua một bài học”, để tóm tắt nội dung của “Đại sử – từ vụ nổ lớn đến hiện tại”.   Tác phẩm tóm tắt lịch sử của toàn vũ trụ kể từ khởi thủy với Vụ nổ lớn (Big Bang), tới sự hình thành Trái đất, sự xuất hiện của những sinh vật đầu tiên trên đó, thế rồi con người có mặt và bắt đầu nền lịch sử hàng nghìn năm của xã hội loài người. “Cynthia Brown kể cho chúng ta lịch sử của toàn cầu”. (…) Những ngôi sao bình thường biến đổi khí hydro thành khí heli, heli thành carbon, cứ thế, nhưng chỉ các siêu tân tinh là có thể tạo ra các nguyên tố ngoài sắt; những nguyên tố tạo ra sự sống trên Trái đất đã khởi nguồn từ vụ nổ khủng khiếp của các ngôi sao. Do đó mà Cynthia Stokes Brown đã viết những lời đầy lãng mạn: “Về nghĩa đen là tất cả chúng ta đều được làm bằng bụi sao“. Nhưng Chúa ơi, sự lãng mạn không kéo dài trong cuốn lược sử vạn vật này của Brown….” (Alan Cooperman điểm “Đại sử – từ vụ nổ lớn đến hiện tại”, bài đăng trên Washington Post).    “Lãng mạn” – đó là đặc điểm nổi bật trong những gì tác giả Cynthia S.Brown viết về giai đoạn bùng nổ và bành trướng của vũ trụ. “Không gian giãn nở và nhiệt độ tiếp tục giảm xuống. Vũ trụ là một điệu nhảy lấp lánh của cái chết và sự tái sinh, đổ nát và thanh lịch, bạo lực và tàn phá khủng khiếp song hành với cái đẹp và sự sáng tạo mê hồn”. Lồng trong những dòng văn đẹp và dữ dội đó là những chi tiết có thể khiến bạn dễ dàng ghi nhớ lược sử của vũ trụ, và nhớ rất lâu: “Mỗi mạt vàng trên hành tinh này đều có nguồn gốc từ các ngôi sao khổng lồ bùng nổ trước khi Mặt trời xuất hiện. Vàng ở trong chiếc nhẫn trên tay bạn đã trên 4,5 tỉ năm tuổi. Do đó, những vụ sao nổ đã tạo ra những nguyên tố góp phần hình thành cuộc sống trên Trái đất. Trên thực tế, bản thân chúng ta cũng do bụi vũ trụ tạo thành”.  Ở đây, Cynthia S.Brown đã viết như thể với tư cách một người “kể chuyện lịch sử” hơn là một vị giáo sư, nhà nghiên cứu khoa học. Ở tư cách ấy, bà hiểu hơn ai hết rằng cái sẽ đọng lại trong trí nhớ của người đọc hay người nghe không phải những công thức, những dãy số hàng chục con số 0 về tuổi của vũ trụ, bước sóng, năng lượng v.v., mà là những câu chuyện, những chi tiết thú vị và ít người biết, như là: “Vàng ở trong chiếc nhẫn trên tay bạn đã trên 4,5 tỉ năm tuổi”.    Nhưng “sự lãng mạn không kéo dài”, bởi vì tiếp sau phần mô tả giai đoạn hình thành vũ trụ trong một vẻ đẹp rực rỡ nhưng khốc liệt và tàn phá, tác phẩm bắt đầu “zoom” vào một hành tinh độc đáo, nơi mà chúng ta đã, đang và sẽ phải nương tựa, phải bám chặt vào sự sống của nó: Trái đất.  Băng qua 10.000 năm ấm áp  Vũ trụ vốn cực đoan, khi từ khởi thủy nó đã được hình thành theo cái cách cực đoan: “tất cả vật chất, năng lượng, không gian và thời gian được dồn nén đậm đặc ngoài sức tưởng tượng” trong một hạt nhỏ xíu với kích thước có lẽ chỉ bằng một nguyên tử. Cynthia S.Brown không cực đoan nhưng bà đã thể hiện kỹ thuật viết điêu luyện khi “cô đặc” cả quá trình hình thành vũ trụ lẫn lịch sử 10.000 năm ấm áp sau đó của con người trong những trang viết vài trăm từ.  Trái đất hình thành, và các tế bào sống đầu tiên trên hành tinh của chúng ta bắt đầu xuất hiện. Rồi sự có mặt của con người. Cuốn sách lại tiếp tục trình bày hàng chục chi tiết thú vị khác. Những vụ mùa đầu tiên ở châu Mỹ, nơi người ta sống bằng hồ tiêu và bí ngô. Những hải trình đầu tiên: Người Polynesia khi đặt chân lên đảo Phục sinh cách đây khoảng 1.600 năm hẳn là đã tới châu Mỹ hàng trăm năm trước khi ông Christopher Columbus xuống bến. Những thay đổi về chế độ ăn: Từ khi Colombo phát hiện châu Mỹ, thức ăn của người châu Âu đã có thêm chocolate, cà chua, khoai tây, thuốc lá và hồ tiêu. Đổi lại, châu Mỹ lần đầu tiên biết đến đường – thứ chất ngọt có rất nhiều calorie – rồi ngựa, và đặc biệt nguy hiểm chết người: hàng loạt thứ vi khuẩn và virus.  Cứ như thể cuốn sách đưa chúng ta đi khắp nơi trên Trái đất, gặp gỡ từ người Mông Cổ tới những tên cướp biển Viking, từ bộ lạc Maya tới bộ lạc Aztecs, từ đế chế La Mã tới Trung Hoa và người Hồi giáo. Tất cả chuyến du lịch xuyên không gian và thời gian ấy được thực hiện chỉ trong một cuốn sách mỏng.          Vụ nổ trên Mặt trăng        Những vấn đề nóng bỏng  Bên cạnh việc kể chuyện lịch sử, “Đại sử” còn có tính thời sự, khi cuốn sách cung cấp cho người đọc một phần gọi là “Những câu hỏi chưa có lời giải đáp” ở cuối mỗi chương. Phần này điểm lại những vấn đề kiến thức còn bị bỏ ngỏ hoặc đang gây tranh cãi, như “có phải 0,5% số nam giới trên Trái đất là hậu duệ của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn)?”, hay “tại sao chủ nghĩa tư bản lại xuất hiện tại một số khu vực ở châu Âu thay vì Trung Quốc hoặc Ấn Độ?”, hoặc đặt vấn đề phải chăng đạo Tin Lành đóng vai trò quan trọng trong việc khởi động công nghiệp hóa?  Tác giả Cynthia S.Brown dành hẳn một chương sách để đề cập một cách tổng quát tới những vấn đề lớn của nhân loại ngày nay: ảnh hưởng của ô nhiễm không khí, nạn phá rừng, xói mòn đất, cạn kiệt dầu mỏ, ô nhiễm biển và nguồn nước ngọt, phóng xạ và chiến tranh hạt nhân.  Dễ dàng nhận thấy rằng tương lai của tất cả những vấn đề này đều nằm trong tay con người. Mà nói cho đúng thì, toàn bộ cuốn sách đều làm toát lên một mối quan hệ rất mật thiết giữa con người và tự nhiên. Phần cuối sách chỉ là để đặt ra câu hỏi: Liệu nhân loại, sau khi đã liên tục chứng tỏ khả năng gây biến đổi khí hậu và môi trường sống của mình, có thể kiểm soát được sự tiến hóa để giữ cho Trái đất vẫn là nơi sống được cho bản thân và cho các sinh vật khác hay không?   “Đại sử” – thực chất đó chính là lịch sử tác động của con người đến tự nhiên.  Môn khoa học mới  Trái với tên gọi hoành tráng, đại sử (big history) chỉ là một phân nhánh nhỏ của lịch sử thế giới (và lịch sử thế giới thì là một nhánh của khoa học lịch sử nói chung). Nhưng đối tượng nghiên cứu của bộ môn này thì lại rất rộng và có tính liên ngành: lịch sử từ Big Bang cho đến hiện tại, huy động kiến thức trong một loạt lĩnh vực – sinh vật, thiên văn, địa lý, khí hậu, tiền sử, khảo cổ, nhân học, vũ trụ, lịch sử tự nhiên, dân số, môi trường.  Đại sử bắt đầu được dạy vào cuối thập niên 1980 ở Đại học Southern Methodist (Texas, Mỹ). Từ năm 1996 đến nay, đã có một số cuốn sách nghiên cứu về đại sử được xuất bản, và “Đại sử – từ vụ nổ lớn đến hiện tại” của Cynthia S.Brown, ra đời năm 2007, là tác phẩm phổ thông đầu tiên về môn khoa học đa ngành mới mẻ và hấp dẫn này.  Giáo sư David Christian, Đại học San Diego (Mỹ), đã nói rằng nếu lịch sử thế giới cho thấy mối quan hệ của mỗi quốc gia với toàn bộ phần còn lại của thế giới, thì đại sử hé lộ sự gắn kết giữa lịch sử của con người với toàn bộ vũ trụ. Đây là môn học cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thể. Chẳng hạn, nếu giả định rằng vũ trụ bắt đầu thành hình cách nay 13 năm, thì Trái đất ra đời 5 năm về trước; thiên thạch va vào Trái đất và giết chết toàn bộ khủng long 3 tuần trước; người thông minh (Homo sapiens) xuất hiện cách đây 53 phút; xã hội công nghiệp hiện đại chỉ mới tồn tại được 6 giây. Cuốn sách của Cynthia S.Brown cũng đặt ra nhiều giản lược tương tự để giúp người đọc dễ hình dung hơn về lịch sử như một tổng thể.  Đối với độc giả phương Tây, “Đại sử – từ vụ nổ lớn đến hiện tại” là một cuốn sách khoa học phổ thông. Tuy nhiên, với độc giả Việt Nam thì nó không hoàn toàn dễ đọc, bởi nó đòi hỏi người đọc phải có sự quan tâm nhất định mang tính đa ngành về khoa học. Dẫu vậy, nếu bạn muốn “hiểu lịch sử qua một bài học” thì tác phẩm này là sự lựa chọn tương đối tốt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiểu nhanh về vụ bê bối Cambridge Analytica      Điều này ảnh hưởng gì tới Facebook, tới Tổng thống Donald Trump và toàn nước Mỹ      Mark Zuckerberg phát biểu trước các bên thứ 3 phát triển ứng dụng vào hội nghị tháng 4/2017  Vụ bê bối Cambridge Analytica đột nhiên trở thành một vấn đề lớn đổ ập xuống Facebook.   Vào thứ Ba, Ủy ban Thương mại Liên bang phải mở cuộc điều tra về việc công ty Cambridge Analytica, một công ty có chức năng bề ngoài là xác lập hồ sơ của các cử tri, đã tiếp cận dữ liệu của khoảng 50 triệu người dùng Facebook, theo lời của Nhật báo phố Wall. Nhưng không chỉ có vậy, Hội đồng Thương mại Thượng nghị viện cũng như đích thân nghị sĩ đảng dân chủ Ron Wyden đã yêu cầu Facebook phải đưa ra câu trả lời cho vấn đề này vào Thứ Hai vừa qua.  Giá cổ phiếu của người khổng lồ mạng xã hội này cũng đã sụt giảm 12% kể từ khi tờ New York Times và The Guardian tung ra những bài báo đầu tiên về vụ này vào cuối tuần qua.  Vụ bê bối này đã làm nổ ra các cuộc tranh luận trên khắp các báo với vô số khía cạnh của nó, khiến cho công chúng khó lòng mà nắm bắt được vấn đề ngay lập tức. Và trong vụ này, Facebook không trực tiếp cung cấp thông tin cho bên thứ ba, liệu vụ bê bối này có thực sự liên quan đến gã khổng lồ công nghệ này? Phóng viên tờ The Atlantic đã “ra tay” tóm gọn vấn đề này chỉ trong ba đoạn văn (bài viết viết tuy dài nhưng yên tâm đi, các bạn có thể bỏ qua mà chỉ tập trung vào ba đoạn này thôi)  Đoạn 1:  Vào tháng 6/2014, một nhà nghiên cứu tên là Aleksandr Kogan đã phát triển một ứng dụng trắc nghiệm về tính cách con người trên Facebook. Ý tưởng này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ một ứng dụng tương tự phát triển bởi Trung tâm trắc lượng tâm lý, một phòng thí nghiệm thuộc Đại học Cambridge nơi Kogan làm việc. Khoảng 270.000 người đã cài đặt ứng dụng của Kogan trên tài khoản Facebook của họ. Nhưng Kogan, nhờ điều này lại có quyền như một kỹ sư phát triển phần mềm của Facebook, có thể tiếp cận dữ liệu không chỉ của người dùng ứng dụng mà cả bạn của họ. Và khi ứng dụng của Kogan hỏi người dùng về những dữ liệu này, nó lưu lại thông tin trong một cơ sở dữ liệu cá nhân thay vì xóa chúng đi ngay lập tức. Kogan đã cung cấp cơ sở dữ liệu cá nhân này, chứa thông tin của 50 triệu người dùng facebook cho công ty xác lập hồ sơ cử tri là Cambridge Analytica. Công ty Cambridge Analytica sử dụng nó để tạo ra hồ sơ “đồ họa tâm lý” của các cử tri.   Câu chuyện về cơ bản là như vậy. Tờ The Guardian gọi việc sử dụng dữ liệu sai lệch này là sự vi phạm, một định nghĩa mà Facebook muốn phủ nhận. “Không có bất kì một sự xâm nhập hệ thống nào, không có bất kì mật khẩu hay thông tin nào bị đánh cắp hay hack,” một nhân sự cấp cao của Facebook viết trên twitter. Facebook cũng nói rằng họ nhận thức được cơ sở dữ liệu cá nhân của Kogan vào năm 2015, khi đó họ đã xóa ứng dụng của người này và yêu cầu anh ta và bất kì đối tác nào của anh ta phải xóa dữ liệu này.   Nhưng không khó để thấy rằng tại sao giới làm luật ở Anh và Mỹ vẫn chú ý tới vụ việc này: Nó gần giống với việc Facebook là một thư viện công cộng ở địa phương cho thuê một số lượng đĩa nhạc khổng lồ nhưng cảnh báo mọi người không được phép sao chép bất kì dữ liệu nào trong số đó vào máy tính cá nhân của mình. Nếu ai đó tự tiện sao chép tất cả số nhạc đó – và bị gặp rắc rối vì điều đó – chẳng phải thư viện công cho thuê đĩa này cũng phải chịu trách nhiệm hay sao?   Và đây là phần thứ hai của vụ bê bối này, liên quan đến Cambridge Analytica và mối liên hệ của nó tới giới chính trị của tổng thống Donald Trump.  Đoạn 2 và đoạn 3:  Cambridge Analytica có một mối quan hệ mật thiết với những cố vấn và người ủng hộ có tiếng cho tổng thống Donald Trump. Trong đó phải kể đến Rebekah Mercer, người góp tiền cho Đảng Cộng Hòa và đồng sở hữu của công ty truyền thông Breitbart News, ngồi trong Hội đồng quản trị của Cambridge Analytica. Bố của bà, Robert Mercer, đầu tư 15 triệu USD vào Cambridge Analytica theo lời đề nghị của người cố vấn chính trị cho ông, Steve Bannon, theo tờ báo Times. Vào Thứ Hai, một đoạn video quay lén được tung ra cho thấy Alexander Nix, CEO của Cambridge Analytica đề nghị hối lộ và tống tiền những quan chức cấp cao trên toàn thế giới. Nếu Nix đã làm thế thật, thì ông ta đã vi phạm luật của Anh. Cambridge Analytica đã đình chỉ chức vụ của Nix vào Thứ Ba.   Cambridge Analytica cũng sử dụng những công cụ “đồ họa tâm lý” của họ để làm ra những quảng cáo hướng đích dành cho các chiến dịch ủng hộ Brexit, chiến dịch bầu cử tổng thống của Ted Cruz và của Trump vào năm 2016. Nếu bất kì nhân viên nào của Cambridge Analytica tại Anh mà không có thẻ xanh tham gia vào hai chiến dịch bầu cử của Mỹ, họ cũng vi phạm luật pháp liên bang.   Nhưng vẫn có rất nhiều điều chúng ta không biết về Cambridge Analytica. Liệu những công cụ “đồ họa tâm lý” của họ, được dùng trên những dữ liệu sai mục đích của Facebook có thực sự hiệu quả không? Liệu một loạt các chiến dịch hữu khuynh liên quan đến Cambridge Analytica có quan trọng đến thế bởi vì công nghệ của họ định hướng chính trị của Anh và Mỹ – hay là bởi họ dùng công nghệ đó để tạo ra những chiến dịch làm lợi cho Robert và Rebekah Mercer, hai trong số những người giàu nhất thế giới? Và nếu Cambridge Analytica thực sự là công ty xác lập hồ sơ cử tri, giám đốc điều hành của nó lấy gì để hối lộ hay tống tiền các quan chức chính phủ?  Cũng có nhiều nghi vấn liên quan đến vai trò của Facebook nữa. Kể từ vụ bầu cử năm 2016, sự giận dữ của công chúng đổ dồn vào sức mạnh News Feed của công ty này và vai trò của nó trong việc khuếch đại những thông tin tuyên truyền của Nga và những kẻ lừa đảo khác. Những nhà làm luật cũng chỉ trích những quảng cáo chính trị của Nga trên Facebook với những quy định dễ dãi. Những quảng cáo chính trị trên mạng thường không được quản lý chặt chẽ như trên TV hay radio.   Nhưng vụ bê bối Cambridge Analytica mở ra vấn đề mới cho công ty này. Trước khi Facebook trở thành nền tảng phát tán tin tức, nó là một nền tảng cho các ứng dụng trên mạng, chẳng hạn như các ứng dụng trắc nghiệm tính cách và những trò chơi như Farmville. Facebook từng cho phép những nhà phát triển ứng dụng của bên thứ ba tiếp cận những thông tin cá nhân của người dùng kể từ tháng 5/2007, khi lần đầu tiên nó mở nền tảng của mình. Người dùng được hỏi ý kiến trước khi đưa dữ liệu của họ cho ứng dụng, nhưng thi thoảng, trong trường hợp về ứng dụng của Kogan, những nhà phát triển ứng dụng có thể tiếp cận với những dữ liệu bạn của người dùng mà không hề hỏi ý kiến bạn của họ.   Trong suốt một thập kỉ sau đó, Facebook thi thoảng lại điều chỉnh số lượng dữ liệu mà các ứng dụng có thể tiếp cận. Nhưng thời gian qua, bao nhiêu nhà phát triển ứng dụng chấp hành quy định của Facebook? Biết bao nhiêu người theo con đường của Kogan, lưu dữ liệu và tạo ra cơ sở dữ liệu riêng của mình? Những thông tin đấy bây giờ ở đâu? Và nếu tất cả những dữ liệu cá nhân của người dùng có quyền năng như Cambridge Analytica từng nói, nó đã được dùng vào mục đích gì?    Hảo Linh   Dịch từ: https://www.theatlantic.com/technology/archive/2018/03/the-cambridge-analytica-scandal-in-three-paragraphs/556046/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệu quả của lò phản ứng nghiên cứu mới: Bốn yếu tố cơ bản      Đầu tư cho một dự án như Trung tâm KH&CN hạt nhân (CNEST) là đầu tư dài hạn và có tầm nhìn trên 50 năm, tương đương với vòng đời của lò phản ứng nghiên cứu đa năng theo công nghệ VVR do Tập đoàn Năng lượng nguyên tử Nga (ROSATOM) cung cấp. Do đó, nếu dự án được chính thức thông qua, việc khai thác hiệu quả lò phản ứng nghiên cứu sẽ là nhiệm vụ số một của ngành NLNTVN.      Các nhà nghiên cứu của Viện Kurchatov làm việc tại một trong tám lò phản ứng nghiên cứu của Viện. Nguồn: wikipedia.  Với suy nghĩ này, chúng tôi đã quy tính hiệu quả của dự án CNEST và lò phản ứng nghiên cứu mới vào bốn yếu tố cơ bản: địa điểm xây dựng (đáp ứng tiêu chí an toàn, gần các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện và trung tâm ứng dụng), khả năng khai thác lò (bao gồm một kế hoạch dài hạn triển khai nghiên cứu ứng dụng, thu hút các đơn vị sử dụng và tất nhiên sẽ phụ thuộc vào mức độ phát triển của KH&CN trong nước); nguồn nhân lực (bao gồm nhân lực quản lý, chuyên gia đầu đàn, các nhà khoa học có năng lực, tâm huyết); hợp tác quốc tế (hợp tác nghiên cứu với các nước, đào tạo nhân lực). Nếu CNEST được xây dựng mà thiếu đi một trong bốn yếu tố này thì không thể coi là hiệu quả và thành công. Vì thế, để dự án hội tụ được cả bốn yếu tố, chúng tôi buộc phải suy nghĩ thật “chín” trước khi thực hiện những bước đi theo đúng lịch trình của một dự án hạt nhân thông thường. Điều đó có nghĩa là, tất cả những vấn đề mà chúng tôi quyết định lựa chọn đều phải ở mức tối ưu.  Thu hút nhân tài  Theo cách nhìn nhận thông thường, người ta vẫn quy lò phản ứng nghiên cứu và lò phản ứng năng lượng vào chung một nhóm và cho rằng, ắt điều gì phù hợp với lò năng lượng là tự động hợp lý với lò nghiên cứu. Ít ai hiểu rằng, giữa hai loại lò này có sự sai khác: một bên được vận hành theo những quy chuẩn chặt chẽ với mục tiêu duy nhất là sản xuất ra điện năng một cách an toàn, một bên được vận hành để phục vụ việc nghiên cứu, tức là sản xuất ra cái mới – những công trình công bố, phát triển ứng dụng… Đội ngũ trực tiếp tham gia làm việc tại lò nghiên cứu và lò năng lượng đều có những đòi hỏi khác nhau: một bên là hiểu và làm việc theo quy tắc, quy trình đã được thiết lập nhằm đảm bảo vận hành lò an toàn, hiệu quả kinh tế; một bên là hiểu sâu về bản chất các quá trình để khám phá, phát hiện, đưa ra cái mới, nói tóm lại là làm việc một cách sáng tạo.           Đội ngũ trực tiếp tham gia làm việc tại lò nghiên cứu và lò năng lượng đều có những đòi hỏi khác nhau: một bên là hiểu và làm việc theo quy tắc, quy trình đã được thiết lập nhằm đảm bảo vận hành lò an toàn, hiệu quả kinh tế, một bên là hiểu sâu về bản chất các quá trình để khám phá, phát hiện, đưa ra cái mới, nói tóm lại là làm việc một cách sáng tạo.        Chính vì chưa nhận biết được sự khác biệt này mà trong quá trình lựa chọn địa điểm xây dựng lò nghiên cứu, người ta cứ máy móc quy tiêu chuẩn lò nghiên cứu theo tiêu chuẩn của lò năng lượng và sắp xếp những nơi không phù hợp, ví dụ như xa các trục đường giao thông, xa trung tâm thành phố, thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết cho cuộc sống khiến khó khăn trong việc đi lại, di chuyển… Rõ ràng, với một địa điểm như vậy, chúng tôi sẽ rất khó khăn, thậm chí là không thể thu hút được nhân tài tới làm việc. Trong cuộc hội thảo quốc tế tại Bộ KH&CN vào ngày 10/2, đại điện ROSATOM cũng đã gợi ý Việt Nam nên lựa chọn địa điểm hội tụ đủ các tiêu chí như gần các thành phố lớn, thuận lợi giao thông, gần các trường đại học, viện nghiên cứu, gần các doanh nghiệp, bệnh viện – nơi hấp dẫn và thu hút được những người giỏi đến làm việc và đón nhận những sản phẩm ứng dụng của lò phản ứng và gần các khu vực đô thị… để triển khai xây dựng CNEST.  Theo kế hoạch của chúng tôi, dự án CNEST không chỉ nhằm xây dựng một trung tâm nghiên cứu ở tầm quốc gia, với một hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu hiện đại mà sau 10, 15 năm đi vào hoạt động, CNEST phải là nơi thu hút các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng như điểm đến của nhiều nhà khoa học quốc tế, nhiều nhà khoa học Việt kiều uy tín… Họ sẽ cùng nhau thực hiện những dự án nghiên cứu liên ngành quốc tế hoặc cùng tham gia những seminar, hội thảo quốc tế để trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, trao đổi thông tin, phát hiện mới… Chính những điều đó sẽ góp phần làm nên sức sống của CNEST và đặc biệt của lò nghiên cứu, góp phần đem lại những kết quả đích thực mà mọi người vẫn kỳ vọng ngay từ khi bắt đầu dự án CNEST.  Những kỳ vọng như vậy về một tổ hợp nghiên cứu ở tầm quốc tế sẽ khó đạt được nếu chúng ta không thu hút được nhân tài, những nhà nghiên cứu cơ hữu và những cộng tác viên tầm cỡ quốc tế. Hiện nay, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) có khoảng 50 cán bộ trẻ đang được đào tạo theo chương trình thạc sỹ và tiến sỹ tại Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia châu Âu khác. Cùng với các nhà nghiên cứu tuyển chọn từ các viện thành viên của Viện NLNTVN, trong đó Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt là nòng cốt, họ sẽ cùng làm việc tại một trung tâm nghiên cứu hiện đại như CNEST. Tại hội thảo với ROSATOM, các đồng nghiệp Nga thông báo một tin vui: một, hai ngày tới, khóa sinh viên đầu tiên về điện hạt nhân mà Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 gửi đi đào tạo tại Nga sẽ nhận bằng tốt nghiệp. Có thể nhiều em trong số này sẽ chuyển sang làm việc trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình cũng như trong các nhà máy nhiệt điện và các ban quản lý dự án nhà máy nhiệt điện của EVN như giải pháp mà thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ đã nêu1. Chúng tôi hy vọng rằng, nếu dự án CNEST được triển khai, sẽ có cơ hội tuyển chọn để đào tạo và định hướng các em theo con đường nghiên cứu.  Học hỏi kinh nghiệm quốc tế  Suy nghĩ của chúng tôi không có gì sai khác với những đồng nghiệp quốc tế. Trên thế giới, nhiều quốc gia đi trước ta hàng chục năm kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử như Nga, Mỹ, Hà Lan, Đức, Thụy Điển… thường ưu tiên lựa chọn những địa điểm thuận lợi để xây dựng lò phản ứng nghiên cứu. Họ đã đặt nhiều lò phản ứng nghiên cứu ở các trung tâm lớn của đất nước mình, nơi tập trung đông dân cư và là đầu mối quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội… Đó là cách họ “ưu ái” năng lượng nguyên tử, một lĩnh vực khoa học có nhiều tác động đến những lĩnh vực khác và góp phần đem lại vị thế cho đất nước. Có thể kể ra lò phản ứng của Viện Kurchatov ở thủ đô Moscow, ngay gần quảng trường Kurchatov; lò phản ứng của trường ĐH Công nghệ và kinh tế Budapest (Budapest, Hungary); lò phản ứng trường ĐH Công nghệ Delft (Delft, Hà Lan), lò phản ứng PULSTAR tại trường ĐH Bắc Carolina (Raleigh, Bắc Carolina, Mỹ)… Đặc biệt, lò phản ứng PULSTAR mà tôi có dịp tới làm việc vào tháng 5/2016, được xây dựng vào những năm 1950, dù công suất 1 MW nhưng cũng thực hiện được nhiều nghiên cứu và ứng dụng về tán xạ neutron, thử vật liệu… Nhiều dự án liên kết với các tổ chức nghiên cứu khác như Ủy ban năng lượng nguyên tử Jordan, Bộ Năng lượng Mỹ, IAEA… đã được thực hiện trên lò nghiên cứu này.  Trong quá trình bàn bạc, soạn thảo nội bộ về dự án CNEST, chúng tôi đã học hỏi mô hình của Viện KAERI (Hàn Quốc) với lò đa năng HARANO 30 MW và BATAN (Indonesia) với lò Kartini 100 kWt, lò TRIGA 2 MW, và lò RSG-GAS 30 MWt, những nơi có một số điều kiện thành lập ban đầu tương tự Việt Nam và  đã thành công, đạt được nhiều kết quả rất tốt trong nghiên cứu ứng dụng.  ———————————  1http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Thong-cao-bao-chi-ve-viec-dung-thuc-hien-Du-an-dien-hat-nhan-Ninh-Thuan/201611/20332.vgp.       Author                Trần Chí Thành        
__label__tiasang Hiệu quả hoạt động Khoa học công nghệ?      Lâu nay trong dư luận xã hội và cả trong giới khoa học vẫn có định kiến các đề tài nghiệm thu xong là “xếp vào ngăn kéo”. Thực tế có đúng như vậy không? Khoa học Việt Nam có những đóng góp gì cho đất nước? Làm gì để phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà? Đã có rất nhiều ý kiến xoay quanh những vấn đề trên tại cuộc hội thảo “Thực trạng quản lý và chi khoa học công nghệ giai đoạn 2001-2005” do Tổng Kiểm toán Nhà nước và Bộ KH&amp;CN tổ chức.    Hiệu quả không dễ thấy  Khi quyết định xây dựng nhà máy điện Phú Mỹ (bằng vốn ODA của Nhật) hồi đầu thập kỉ 90, phía tư vấn Nhật đề nghị dùng công nghệ tuốc bin ngưng hơi. Các nhà khoa học  Việt Nam với kinh nghiệm nhiều năm tham gia nghiên cứu về năng lượng đã kiến nghị chính phủ chuyển đổi công nghệ tuốc bin ngưng hơi (chi phí đầu tư tốn kém và tiêu hao năng lượng nhiều hơn) bằng công nghệ tuốc bin khí hỗn hợp (chi phí đầu tư tốn kém và tiêu hao năng lượng nhiều hơn). Biết tin này, một hãng của Nhật (hãng được coi là cầm chắc thắng thầu cung cấp thiết bị theo công nghệ tuốc bin ngưng hơi) đã ráo riết vận động hành lang để chính phủ Việt Nam không chuyển đổi công nghệ. Song cuối cùng, thủ tướng lúc đó đã quyết định chuyển đổi. Việc chuyển đổi này tiết kiệm cho Việt Nam 350 triệu USD chi phí đầu tư, ngoài ra phải tính thêm 400 triệu USD tiết kiệm nhiên liệu trong 20 năm phát điện. Tổng cộng 750 triệu USD! Con số trên được TS Phạm Hữu Giục đưa ra còn lớn hơn nhiều so với khoản tiền Nhà nước đầu tư cho KHCN cộng dồn từ 1954 cho đến đầu 1990. Điều đáng nói ở đây là những nhà khoa học năng lượng Việt Nam trước khi kiến nghị chính phủ trước đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lượng từng bị coi là “xếp vào ngăn kéo”.   Việc quản lý kinh phí thực hiện các đề tài, dự án KHCN giai đoạn 2006-2010 sẽ theo hướng mở rộng phân cấp và giao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì và gắn với trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu của đề tài, dự án… Theo đó sẽ thực hiện chế độ khoán kinh phí thực hiện đề tài, dự án KHCN sử dụng kinh phí nhà nước.  TS Nguyễn Trường Giang, Vụ Hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính  Định kiến “xếp vào ngăn kéo” ăn sâu đến nỗi người ta quên mất rằng đánh giá kết quả và hiệu quả nghiên cứu khoa học là việc rất khó khăn. TS Giục cho rằng, ngay cả khi nghiên cứu kết thúc, ứng dụng thành công thì việc tính lợi nhuận của công trình cũng không thể hiện được bản chất hiệu quả của KHCN. Ví như Dự án thử nghiệm nuôi sinh sản nhân tạo ốc hương của Viện nuôi trồng thuỷ sản III  với kinh phí nhà nước cấp là 1 tỷ 300 triệu đồng, thu hồi 500 triệu, chi phí tiêu hao trong quá trình nghiên cứu là 800 triệu. Ngay sau khi biết tin Dự án thành công, một doanh nghiệp tư nhân của Khánh Hoà đã đề nghị Viện chuyển giao độc quyền về công nghệ với giá 5 tỷ. Viện đã từ chối và chuyển giao cho chương trình khuyến ngư. Giả sử Viện đồng ý bán công nghệ này thì 1 đồng đầu tư có lợi nhuận hơn 600%, lãi rất lớn. Song bản chất vấn đề không phải như vậy, bởi nếu “bán đứt” thì Nhà nước chỉ thu một lần đúng 5 tỷ, một khoản quá nhỏ. Trong khi hơn ba năm qua, công nghệ này đã được chuyển giao cho 20 điểm ở miền Trung, tạo giá trị hơn 1.000 tỷ đồng và công ăn việc làm cho hàng chục nghìn lao động, chưa kể kim ngạch ốc hương xuất khẩu trong tương lai dự tính sẽ tới hàng trăm triệu USD!  Tương tự quan điểm của TS Phạm Hữu Giục, TS Nguyễn Đăng Vang, Viện trưởng Viện chăn nuôi cho rằng không thể phủ nhận vai trò của KHCN trong sự tăng trưởng của đất nước: “Nhiều người nói chỉ thấy nông dân đóng góp hàng tỷ đô-la xuất khẩu cho đất nước mà chẳng thấy ‘ông khoa học đâu’. Như vậy chẳng khác nhìn một cây cầu mà nói nó chỉ do công nhân xây dựng nên, còn không có công lao của kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng.”  TS Vang cho rằng bản chất của đầu tư cho KHCN là đầu tư mạo hiểm, ngay khảo sát ở Mỹ tháng 5/2006 cũng cho thấy cứ 10 đề tài nghiên cứu cơ bản thì mới có 1 đề tài có khả năng trở thành hàng hoá. Vì vậy cũng không nên “sốt ruột” khi thấy các kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam còn đang “xếp ngăn kéo”.  Góc nhìn khác  Nếu như những thành tựu KHCN Việt Nam khó “đong đếm” cụ thể thì những yếu kém của nó cũng không phải nhìn ngay ra được. Dẫn lời của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải “nhìn chung công cuộc đổi mới còn chưa thành công trong giáo dục và KHCN”, GS Hoàng Tụy cho rằng sở dĩ những tiêu cực trong hoạt động KHCN ít bị xã hội “ca thán” hơn những tiêu cực trong giáo dục vì nó không tác động ngay tới tới từng gia đình. Vấn đề “đầu tiên và then chốt” của KHCN Việt Nam là tiền lương và điều kiện làm việc. Có thực mới vực được đạo. Không ở đâu như Việt Nam, nhà nước trả lương cho nhà khoa học chỉ đủ cho họ tồn tại trong 10 ngày, sau đó tạo cơ chế “thoáng” để nhà khoa học hưởng kinh phí đề tài. Chính vì thu nhập từ đề tài gấp nhiều lần tiền lương nên nhà khoa học phải “suy tính” dùng tiền như thế nào. Đó là nguồn gốc làm mất chất lượng nghiên cứu và nảy sinh sự lừa dối trong khoa học. Vì chỉ có “cây đa cây đề” mới được tin tưởng nên các nhà khoa học trẻ không có đất làm việc.  Theo GS Hoàng Tuỵ, chữa căn bệnh tiêu cực trong khoa học bằng đấu thầu đề tài, nghe thì hay nhưng chẳng khác nào “dùng thuốc giảm sốt để chữa ho”, nghĩa là không trừ được tận gốc tiêu cực trong khoa học, bởi gốc tiêu cực không phải ở khâu đấu thầu, xét chọn. GS Tụy lo ngại cơ chế đầu tư như hiện nay sẽ biến các nhiệm vụ quốc gia, dự án KHCN và đề tài trọng điểm bị biến thành “các xí nghiệp quốc doanh” làm ăn thua lỗ triền miên.  Tự  nhận là có cái nhìn “từ dưới lên”, GS Trần Xuân Hoài nêu những nhận xét rất sắc sảo về và hiệu quả đầu tư cho khoa học. Từ thực trạng KH hiện nay, GS Hoài đề xuất một “kịch bản giả định” đầu tư để phát triển 5 lĩnh vực công nghệ có tác động kinh tế lớn mà ta phải chủ động nắm. Theo đó, để thực hiện khoảng 25 nhiệm vụ, Việt Nam sẽ cần ít nhất là 75 nhà khoa học đầu ngành, khoảng 750 nhà khoa học lãnh đạo nhóm và 7.500 nhà khoa học. Giả sử lương các nhà khoa học đầu ngành là 1.500 USD/tháng, nhà khoa học nhóm là 1.000 USD/tháng và nhà khoa học là 500 USD/tháng (“trên thế giới, giá chất xám ở đâu cũng như nhau” – GS Hoài lý giải). Thông thường, đầu tư cho nhân lực khoa học chiếm 1/4 tổng đầu tư, như vậy nhà nước cần đầu tư cho khoa học 220 triệu USD/năm! (Theo nghị quyết của quốc hội thì trong 5 năm qua, trung bình mỗi năm khoa học chi tiêu 3.919 tỷ đồng, tức khoảng gần 250 triệu USD). Con số trên là khả thi, nhưng để có được 75 nhà khoa học đầu ngành thực sự mới là vấn đề.  Tiêu chí đánh giá  TS Nguyễn Đăng Vang cho rằng hiện đang có hai luồng ý kiến, một cho là KHCN Việt Nam, bên cạnh một những mặt yếu, còn cơ bản đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước; luồng ý kiến kia cho rằng KHVN rất yếu kém, thậm chí phải “giải phóng mặt bằng KHCN để xây dựng cái mới”. Rõ ràng để đánh giá đúng những hiệu quả mà KHCN mang lại thì phải thống nhất được tiêu chí đánh giá.  TS Phạm Hữu Giục cho rằng bên cạnh hiệu quả trực tiếp, KHCN còn có hiệu quả tiềm năng, như đầu thập niên 70 Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ưu thế lai, 25 năm sau thì đánh bật được các công ty nước ngoài, giành lại thị phần ngô giống lai ở Việt Nam; hiệu quả mang tính tích hợp, ví như Việt Nam chặn đứng được dịch SARS sớm nhất trên thế giới là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu vi trùng, dịch tễ học, bác sĩ điều trị; hiệu quả gián tiếp, như công trình nghiên cứu sản xuất dây hàn lõi thuốc bằng vật liệu trong nước ngoài hiệu quả kinh tế còn góp phần vào nâng bao chất lượng đóng tàu của Việt Nam.  Ở một khía cạnh khác, GS Hoàng Tuỵ đưa ra nguyên tắc đánh giá các đề tài khoa học: Nếu do nhà nước đầu tư thì kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí chuyên ngành nước ngoài, nếu không công bố được trên các tạp chí chuyên ngành nước ngoài nghĩa là đề tài chưa xứng tầm quốc gia tài trợ. Với những đề tài chưa rõ ứng dụng cụ thể, rủi ro cao thì các chuyên gia của trường đại học, viện nghiên cứu lập dự án, sau đó xin tài trợ của nhà nước. Nhà nước chỉ kiểm tra kết quả và thưởng cho những đề tài có hiệu quả.  GS Vũ Cao Đàm ở ĐH Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh cần phân biệt rõ kết quả và hiệu quả nghiên cứu: kết quả thì đánh giá, còn hiệu quả phải lượng định. GS Đàm cũng đưa ra tiêu chí đánh giá hiệu quả gồm hiệu quả khoa học (tức hiệu quả thông tin, cả những nghiên cứu thất bại cũng có hiệu quả này); hiệu quả công nghệ; hiệu quả kinh tế; hiệu quả môi trường; hiệu quả xã hội…  Trần Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệu suất Năng lượng của những Lỗ Đen      Trong tình cảnh giá dầu lửa tăng tới 3USD một gallon, các nhà khoa học đã vừa phát hiện ra những cỗ máy năng lượng hiệu quả nhất trong vũ trụ – những lỗ đen.    Những cỗ máy lỗ đen này là 25 lần hiệu quả hơn bất cứ thứ gì mà con người đã từng tạo ra, kể cả những lò năng lượng hạt nhân, Steve Allen, người đứng đầu nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford và Trung tâm Gia tốc Tuyến tính Stanford nói.  “Nếu bạn có thể chế tạo một động cơ ô tô mà có hiệu quả cao như một trong những cỗ máy lỗ đen này thì bạn có thể đi được khoảng một tỷ dặm mà chỉ tốn 1 gallon khí đốt”.  Những thiên hà chứa các lỗ đen này lớn hơn giải Ngân hà của chúng ta, cách chúng ta khoảng từ 50 triệu cho đến 400 triệu năm ánh sáng. Lỗ đen ở trung tâm thiên hà của chúng ta chưa được nghiên cứu, do nó không đủ lớn và không có nhiều khí nên các nhà khoa học không thể đo được bất cứ cái gì đi ra hay đi vào cả, Allen nói.  Một trong những cách mà các nhà khoa học sử dụng để đo hiệu suất năng lượng của các lỗ đen là quan sát các tia năng lượng cao thoát ra ngoài. Những tia này tạo ra các bong bóng nhiệt, có xu hướng giữ cho các khối khí nóng khỏi bị làm lạnh và ngăn cản sự hình thành các sao ở những thiên hà lớn.  “Những lỗ đen thực tế là đang ngăn cản sự mở rộng và liên kết thiên hà”, Kim Weaver, nhà vật lý thiên văn của NASA nói. Bà còn nói thêm rằng, không quá nhiều sao cũng chẳng hại gì, chỉ có một bí ẩn là, không biết tại sao, ngay cả vài tỷ cái thiên hà cũ kỹ này thậm chí cũng không chứa nhiều sao.  Allen và Weaver đã trả lời phỏng vấn rằng, những tia nóng chưa được quan sát dường như đang trả lời cho câu hỏi về cái đã ngăn cản sự phát triển quá lớn của các thiên hà. Và”Nghiên cứu này giúp chúng ta tiến thêm một bước trong việc hiểu được các kết quả quan sát đối với những thiên hà“, Allen nói.  Theo Seth Borenstein  Xem thêm : Đài Quan sát tia X Chandra, http://chandra.harvard.edu/                                   P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiệu ứng lượng tử ở kim cương      Các nhà nghiên cứu Viện Physikalisches, ĐH Stuttgart, đã tạo ra được trạng thái rối lượng tử ở kim cương. Trong thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã bắn nguyên tử nitơ vào mạng tinh thể kim cương với tốc độ cao.      Có thể phát hiện ra những tạp chất này bởi huỳnh quang của chúng và chúng chuyển màu kim cương thành hồng. Do độ cứng vô song của mình, mạng tinh thể kim cương che chở các nguyên tử nitơ và vì thế cho phép việc tìm ra các hiệu ứng lượng tử như sự rối lượng tử dưới điều kiện xung quanh. Điều này cho các nhà nghiên cứu Stuttgart cơ hội để tạo ra trạng thái lượng tử thích hợp giữa các đơn thể của mạng tinh thể kim cương, là các nguyên tử cacbon. Một phần trăm của các nguyên tử cacbon đó có mômen từ trường cho phép chúng tương tác với nguyên tử nitơ cấy bên trong ở vùng lân cận gần. Sự tương tác này được sử dụng để định địa chỉ nguyên tử cacbon mà cuối cùng đã được dính nối. Máy tính lượng tử siêu nhanh sử dụng sự tác động lạ lùng vẫn còn phải nghiên cứu thêm nhưng nghiên cứu này có thể trở thành một mốc quan trọng chính trong quá trình nghiên cứu lâu dài.   Thanh Vân (Theo ScientificBlogging).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiểu về tương tác của các “hạt ma”      Các nhà khoa học thường gọi các hạt neutrino là những “hạt ma”.   Neutrino là một trong những hạt có nhiều nhất tại lúc vũ trụ mới ở trạng thái bắt đầu và vẫn còn lại đến ngày nay. Các phản ứng nhiệt hạch trong mặt trời đã tạo ra hàng hàng lớp lớp những hạt neutrino, chúng rơi xuống trái đất mỗi ngày. Hàng nghìn tỉ hạt xuyên qua cơ thể chúng ta mỗi giây sau đó bay qua trái đất mà không gặp trở ngại.      “Dẫu sự tồn tại hạt neutrino được công nhận khoảng một thế kỷ trước đây và lần phát hiện đầu tiên vào 65 năm trước thì các hạt neutrino vẫn còn giữ rất nhiều bí ẩn bởi vì chúng không hề tương tác với vật chất”, Alessandro Lovato, một nhà vật lý hạt nhân tại Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Argonne (Bộ Năng lượng Mỹ), cho biết.  Lovato là một thành viên của nhóm nghiên cứu từ bốn phòng thí nghiệm quốc gia đang xây dựng một mô hình để giải quyết một trong rất nhiều bí ẩn về các hạt neutrino – cách chúng tương tác với các hạt nhân nguyên tử , làm phức tạp thêm các hệ được tạo ra từ các proton và neutron (các nucleons), vốn liên kết với nhau bằng lực tương tác mạnh. Hiểu biết này đóng vai trò thiết yếu để hé lộ một bí ẩn còn lớn hơn thế – tại sao trong suốt cuộc hành trình băng qua không gian hoặc vật chất của mình, các neutrino thay đổi một cách kỳ diệu hình thái từ một thành một trong ba dạng hoặc “các hương vị”.   Để nghiên cứu về các dao động đó, hai loạt thực nghiệm đã được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Fermi (MiniBooNE và NOvA). Trong các thực nghiệm đó, các nhà khoa học tạo ra một luồng neutrino tập trung trong một máy gia tốc hạt, sau đó chuyển vào các máy dò hạt trong một thời gian dài (MiniBooNE) hoặc cách nguồn phát 500 dặm (NOvA).  Để hiểu về nguồn đóng góp ban đầu của các hương neutrino, các nhà thực nghiệm đã tập hợp dữ liệu liên quan đến các tương tác của hạt neutrino với các hạt nhân nguyên tử của các máy dò. Từ những thông tin đó, họ có thể tính toán được bất kỳ thay đổi nào trong các hương vị neutrino theo thời gian hoặc khoảng cách. Trong trường hợp của các máy dò MiniBooNE và NOvA, các hạt nhân từ đồng vị carbon-12, vốn gồm sáu proton và sáu neutron.  “Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã bước vào bức tranh nghiên cứu này bởi các thực nghiệm đòi hỏi một mô hình chính xác của các tương tác hạt neutrino với hạt nhân của máy dò trên khắp một phạm vi năng lượng lớn, Noemi Rocco, một postdoc tại bộ phận vật lý của Phòng thí ngiệm  Argonne và Fermilab, nói. Do các hạt neutrino vô cùng khó nắm bắt,việc đạt được một miêu tả toàn diện về các phản ứng này là thách thức ghê gớm.  Mô hình vật lý hạt nhân của các tương tác neutrino với một nucleon đơn lẻ và một cặp nucleon mà nhóm nghiên cứu lập ra là mô hình chính xác nhất từ trước đến nat. “Mô hình của chúng tôi là cách tiếp cận đầu tiên để mô hình hóa được các tương tác ở cấp độ vi mô”, Rocco cho biết. “Những cách tiếp cận trước đây không đủ độ tinh vi”.  Một trong những phát hiện quan trọng của nhóm nghiên cứu, dựa trên những tính toán từ Mira, chiếc siêu máy tính giờ không còn là hiện đại nhất nữa tại Bộ phận máy tính ở Argonne (ALCF), là tương tác của cặp nucleon là trung tâm để mô hình hóa tương tác của neutrino với các hạt nhân một cách chính xác.   “Các hạt nhân trong máy dò càng lớn thì các hạt neutrino tương tác với chúng sẽ càng lớn”, Lovato nói. “Trong tương lai, chúng ta có thể lập kế hoạch để mở rộng mô hình của chúng ta để dữ liệu từ những hạt nhân lớn hơn như oxy và argon, có thể hỗ trợ các thực nghiệm ở Nhật Bản và Mỹ”.  Rocco còn cho biết thêm, “với những tính toán đó, chúng tôi sẽ còn cần đến năng lực tính toán của các máy tính ở ALCF, hệ Theta đang tồn tại và cả Aurora, cỗ máy có quy mô lớn hơn trong tương lai gần.”  Các nhà khoa học hi vọng, cuối cùng, một bức tranh hoàn tất sẽ xuất hiện các dao động hương của cả các neutrino và những phản hạt của chúng – các phản neutrino. Những hiểu biết này sẽ rọi ánh sáng vào câu hỏi tại sao vũ trụ lại được xây dựng từ vật chất thay vì phản vật chất – một trong những câu hỏi cơ bản bậc nhất về vũ trụ.  Công trình của các nhà nghiên cứu được xuất bản với tên gọi “Ab Initio Study of (νℓ,ℓ−) and (ν¯ℓ,ℓ+) Inclusive Scattering in C12: Confronting the MiniBooNE and T2K CCQE Data” trên Physical Review X. Cùng với Rocco và Lovato, còn có các tác giả J. Carlson, S. Gandolfi (Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos), và R. Schiavilla (trường đại học Old Dominion/Phòng thí nghiệm Jefferson).  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-ghost-particle-interactions.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình ảnh 3 chiều của hóa chất trị ung thư      Sử dụng biện pháp tinh thể học X-quang, các nhà khoa học thuộc ĐH Indiana và ĐH Purdue đã tạo ra những hình ảnh 3 chiều quá trình một chất hóa trị liệu xác định và bám vào các ADN.      Công trình nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học phát triển những loại hóa chất trị liệu tốt hơn cho những căn bệnh ung thư khác nhau. Tiến sĩ Georgiadis, một nhà sinh học cấu trúc, cho biết: “Ảnh 3 chiều của chúng tôi chụp cấu trúc bleomycin cung cấp thêm những kiến thức hữu ích về cách mà hóa chất này tiếp xúc với ADN vì vậy chúng ta có thể bắt đầu nghĩ đến việc tạo ra một loại thuốc tốt hơn với ít độc tố hơn. Vì nó là một loại hóa chất nhằm vào ADN, sẽ không có giới hạn trong các ca ung thư nào có thể áp dụng bleomycin nếu chúng ta có thể giảm độc tố.”   Tuệ Minh (Theo PhysOrg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình họa Fractal      Những gam màu lạ tô điểm cho những hình vẽ cũng lạ lùng không kém. Trông có vẻ xa xôi diệu vợi, nhưng hình như chúng ta đã từng một lần chiêm ngưỡng.      Đó là những hình họa Fractal mà có người gọi là toán họa hay tin họa. Đó là sự kết hợp độc đáo giữa toán học và tin học để thông qua máy tính cho ra những bức tranh siêu thực. Người được coi đã khai sinh thuật ngữ hình họa Fractal 33 năm trước là nhà toán học Benoit Mandelbrrot. Trên mạng internet có rất nhiều hình họa Fractal.   T.X.Q       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình học fractal và những bức tranh giả      Toán học không chỉ phục vụ cho vật lý, mà nó còn là một công cụ để chống… hàng giả trong nghệ thuật. Đặc biệt, tác dụng của nó cực kỳ hiệu quả trong việc khám phá ra các bức tranh giả. Sự can thiệp của hình học fractal trong việc xác định sự chân thực các tác phẩm của Jackson Pollock dưới đây là một ví dụ.      Năm 2003, người ta phát hiện ra 24 bức tranh, được cho là của họa sĩ Jackson Pollock (Mỹ). Người họa sĩ này đã mất năm 1956. Ông là họa sĩ sử dụng phương pháp dropping (nhỏ giọt): ông vẽ những ngôi sao bằng các vết phun sơn. Ngay lập tức, một cuộc tranh luận nổ ra giữa các chuyên gia tên tuổi về tính xác thực của các bức tranh này: liệu chúng có phải đúng là các bức tranh của họa sĩ danh tiếng này.  Toán học trợ giúp cho nghệ thuật  Để chắc chắn, Quĩ Pollock-Krasner quyết định nhờ cậy đến các nhà toán học, cụ thể là các nhà nghiên cứu hình học fractal. Kết quả: 6 bức họa được kiểm tra, dù chúng rất giống bản gốc, đều là các bức tranh giả.  Làm thế nào để các nhà toán học có thể phân biệt được thật giả? Một đồ vật fractal, như nụ tuyết hoặc cây súp lơ thường có các họa tiết lặp lại giống nhau, dù ở kích cỡ nào. Khi phóng to bất cứ phần nào của những vật này, người ta cũng thấy có cấu trúc giống hệt cấu trúc tổng thể.          Một bức tranh vô đề trên giấy trong bộ tranh “No Limits, Just Edges: Jackson Pollock Paintings on Paper”, hiện lưu giữ tại bảo tàng Guggenheim (New York). Ảnh của Pollock-Krasner Foundation/Artists Rights Society, New York.          Ngay từ năm 1990, nhà vật lý Richard Taylor, giáo sư Đại học Oregon đã phân tích các bức tranh của một họa sĩ người Mỹ dựa trên phương pháp hình học fractal. Nhà nghiên cứu này ngay lập tức đã phát hiện các khối hình fractal giống nhau thường lặp lại một cách hệ thống trong tất cả các tác phẩm của họa sĩ này. “Điều duy nhất giống nhau giữa các tác phẩm có bề ngoài cực kỳ khác nhau của người họa sĩ này chính là bố cục fractal trong những tác phẩm đó, dù chúng có được vẽ vào các thời gian khác nhau”, nhà khoa học khẳng định. Theo ông, các chi tiết chính xác cho phép phân biệt một bức tranh của Pollock với một bức tranh giả có lối vẽ cẩu thả.   Quá nhiều họa tiết trên các bức tranh giả  Richard Taylor sau đó đã nghiên cứu các họa tiết trên sáu bức tranh trong số các bức tranh mới được phát hiện: người ta không tìm thấy trong các bức tranh này các nét đặc trưng thường có trong các tác phẩm của người họa sĩ. Trong một bài báo xuất bản vào tháng 2/2006 trên tờ Nature, nhà vật lý giải thích các họa tiết trong các bức tranh giả thường có độ dao động (quá) lớn và điều này cho thấy không ít người có thể vẽ được các bức tranh này.           Bức The Moon-Woman Cuts the Circle (1943), tranh sơn dầu trong bộ sưu tập Peggy Guggenheim Collection – Venice           Còn Ellen Landau, chuyên gia về các tác phẩm của Pollock lại cho rằng các bức tranh kia là thật. Đối với Quĩ Pollock-Krasner, tổ chức này thận trọng thông báo rằng sẽ đợi thêm phân tích của các chuyên gia độc lập khác. Hình học fractal đã được nhắc tới nhưng cuộc tranh luận vẫn còn tiếp tục. Có vẻ, để làm sáng tỏ được điều này thì người ta còn phải tốn thêm hàng chục triệu đô la.     Vương Tiến theo Linternaute        Jackson Pollock, họa sĩ tài danh                            Paul Jackson Pollock (28/1/1912-11/8/1956) là một họa sĩ Mỹ có ảnh hưởng rất lớn và một trong những gương mặt chính của trường phái trừu tượng. Trong suốt cuộc đời mình, Pollock là một con người rất nổi tiếng. Nhưng ông lại được nhìn nhận như một họa sĩ ẩn dật. Vốn có tính khí thất thường, đôi lúc trong cuộc đời mình, ông phải chống chọi với tật nghiện rượu. Năm 1945, ông cưới nghệ sĩ Lee Krasner, người sau này có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cũng như các tác phẩm của ông.               Pollock mất ở tuổi 44 tuổi trong một tai nạn mà người ta nghi ngờ có liên quan đến rượu. Vào tháng 12 năm 1956, một triển lãm tưởng niệm ông đã được tổ chức tại Bảo tàng nghệ thuật hiện đại (MoMA) ở New York, và một triển lãm lớn hơn ở đó vào năm 1967. Gần đây hơn, vào năm 1998 và 1999, các tác phẩm của ông được triển lãm qui mô lớn tại MoMA và nhà triển lãm Tate ở Luân Đôn.              Năm 2000, bộ phim có tên Pollock của đạo diễn kiêm diễn viên Ed Harris thực hiện đã được đề cử trao giải Hàn lâm Viện. (Theo Wikipedia)             Author                Quản trị        
__label__tiasang Hình học không giao hoán: một quan điểm cách mạng về không thời gian      Alain Connes, nhà toán học Pháp xuất sắc, sáng tạo ra Hình học Không giao hoán (Non-Commutative Geometry,viết tắt là NCG). Nhờ công trình này và những công trình liên quan ông được các giải lớn của toán học hiện đại: giải Field năm 1982, phần thưởng nghiên cứu Viện toán Clay năm 2000, giải Crafoord năm 2001, huy chương vàng của CNRS năm 2004. Ông là một trong những nhà toán học lớn đương đại.  Hình học không giao hoán đã làm một cuộc cách mạng trong quan niệm về không thời gian và có những ứng dụng vật lý cơ bản, trong đó có vấn đề lớn của vật lý là thống nhất lý thuyết hấp dẫn và lý thuyết lượng tử.                  Alain Connes (SN1947), nhà toán học xuất sắc Pháp làm việc tai IHES (Institut des Hautes Etudes Scientifiques-Viện Nghiên cứu các Vấn đề Khoa học Cao cấp), giáo sư tại Collège de France và Đại học Vanderbilt, người sáng tạo ra và có công đầu trong phát triển hình học không giáo hoán.          Nếu có một nhà toán học rất nóng lòng chờ đợi ngày khởi động của máy LHC (Large Hadron Colliser – Máy va chạm Hadron lớn) trong năm sau, thì đó là Alain Connes làm việc tại IHES (Institut des Hautes Etudes Scientifiques-Viện Nghiên cứu các Vấn đề Khoa học Cao cấp), Collège de France, Paris và Đại học Vanderbilt.  Alain Connes đặc biệt trông chờ từ LHC các kết quả về sự tồn tại của hạt Higgs, một hạt quan trọng trong Mô hình chuẩn (Standard Model-SM) các hạt cơ bản. Hạt Higgs là một hạt hiện nay còn là bí hiểm nhưng lại quyết định sự đúng đắn của Mô hình chuẩn, một mô hình đã cho nhiều kết quả kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Hạt Higgs cần thiết cho việc tạo nên khối lượng các hạt trong SM.  Ý tưởng chủ đạo của Alain Connes: tìm một hình học tinh tế trong đó các hạt như hạt Higgs (và các hạt khác) phải xuất hiện như một hệ quả đương nhiên, chứ không phải được đưa từ ngoài vào lý thuyết như trong Mô hình chuẩn. Hình học tinh tế Alain Connes đề cập ở đây là hình học không giao hoán.  Thế nào là hình học không giao hoán(NCG)?  Chúng ta đều biết 3.4 = 4.3 nói cách khác hai số 3 và 4 giao hoán với nhau. Trong NCG, các tọa độ x và y không giao hoán với nhau, nghĩa là x.y ≠ y.x, đây là điều mới lạ, không quen thuộc và khó hiểu đối với chúng ta. Chúng ta chỉ gặp những tình huống như vậy trong không gian pha của cơ học lượng tử, ví dụ các toán tử tọa độ x và xung lượng pxkhông giao hoán với nhau mà thỏa mãn giao hoán tử {x, p x] = x.p x-p x.x =i £.  Trong NCG người ta thay các tọa độ bằng một đại số A tác động lên không gian Hilbert H, và đưa thêm toán tử Dirac D để định nghĩa vi phân. Vậy một hình học không giao hoán được xác đinh bởi bộ tam (A, H. D). Như thế các tọa độ bây giờ trở thành những toán tử. Tương tự như trong hình học cổ điển, để sử dụng NCG chúng ta phải biết cách tính vi phân, tích phân, độ dài… (xem Chú thích  cuối bài). Khi đã có những công cụ này thì chúng ta có thể giải những bài toán cụ thể trong NCG.  NCG là một sản phẩm toán học thuần túy, tuy bắt nguồn từ việc nghiên cứu không thời gian trong vật lý, và một điều kỳ diệu là Alain Connes đã ứng dụng NCG vào vật lý một cách sâu sắc đầy hiệu quả. Như thế Alain Connes đã mở ra một phương hướng nghiên cứu mới lạ đầy triển vọng khác hoàn toàn với các phương hướng mà các nhà vật lý đang đeo đuổi. Với hình học không giao hoán Alain Connes đã đưa ra một quan niệm có tính cách mạng về không thời gian. Nhiều người so sánh sự đột biến quan niệm không thời gian gây nên bởi hình học không giao hoán với sự đột biến tư tưởng gây nên bởi lý thuyết nhật tâm (heliocentric) của Copernic và Galilée.     Ý tưởng chính của Alain Connes trong các ứng dụng vào vật lý.  Trong vật lý các hạt cơ bản nhiều lúc người ta cần thiết phải đưa vào lý thuyết nhiều hạt để thỏa mãn những quá trình nào đó, ví dụ trong SM phải đưa vào hạt Higgs (hạt bí hiểm chưa tìm ra) để tạo nên khối lượng cho các hạt khác qua tương tác Yukawa. Nếu sử dụng hình học không giao hoán thì những hạt tương tự hạt Higgs sẽ xuất hiện như những hệ quả tự nhiên của cấu trúc hình học mới.  Vì ý tưởng này người ta còn gọi Alain Connes là nhà hình học của Vật lý các hạt cơ bản (geometer of Particle Physics).Tư tưởng trên quả là một tiếp cận mới đối với không thời gian vượt khỏi phạm vi lý thuyết của Einstein.  Một không gian không giao hoán có thể hình dung cấu thành bởi hai lớp không gian liên tục ví như hai mặt của một tờ giấy và giữa hai lớp đó là một không gian gián đoạn không giao hoán.          Quyển sách Hình học không giao hoán nổi tiếng của Alain Connes, trong đó tác giả trình bày NCG, đại số toán tử, lý thuyết lượng tử và nhiều lĩnh vực của vật lý toán, và  ngoài ra nhiều vấn đề mới lý thú và sâu sắc gây tranh luận.        Mô hình chuẩn  Mô hình chuẩn (SM) là mô hình thống nhất các tương tác yếu, điện từ (và mạnh), trong mô hình này đòi hỏi sự tồn tại của một hạt chưa tìm ra được là hạt Higgs để gây nên khối lượng cho các hạt.  Khi ứng dụng NCG vào mô hình chuẩn, phần không gian gián đoạn sẽ gây ra hạt Higgs, (và không những chỉ hạt Higgs mà cả các hạt trong mô hình chuẩn) trong khi phần liên tục sẽ gây nên các hạt boson chuẩn (gauge boson) như W và Z (là những hạt chuyển tải tương tác yếu).  Alain Connes nhận thấy rằng trong vật lý một mặt chúng ta có không thời gian 4 chiều Einstein với đối xứng cơ bản là nguyên lý tương đương Einstein, mặt khác chúng ta có những hạt được nhúng vào không gian đó và lại có những tính chất đối xứng nội tại độc lập với đối xứng của không thời gian. Alain Connes muốn xây dựng một không gian bao gồm tất cả đối xứng đó một cách hữu cơ.  Sự phát triển hình học không giao hoán bởi Alain Connes cho phép mở rộng lý thuyết các trường chuẩn  nhờ kết hợp các đa tạp khả vi (không thời gian Minkowski, Euclide, Riemann) với các đa tạp gián đoạn.  Trong phần không gian gián đoạn những phép tính vi phân thông thường không còn áp dụng được nữa mà phải sử dụng những công cụ mà chúng ta đã đề cập ở trên. Alain Connes đã xây dựng các công cụ tính toán (lấy tích phân, giải những phương trình vi phân, tính khoảng cách, tính độ cong,… xem Chú thích  cuối bài) cho các không gian gián đoạn này. Nhờ những thành tích này nhiều nhà toán học thân tặng ông danh hiệu kiến trúc sư toán học của NCG.  Sau đây chúng ta sẽ thấy hạt Higgs, vốn là hạt mà các nhà vật lý phải đưa từ ngoài vào lý thuyết thì nay nhờ hình học không giao hoán hạt Higgs xuất hiện một cách tự nhiên từ cấu trúc của đa tạp.  Để hiểu vấn đề, cần vài khái niệm toán học tối thiểu từ hình học vi phân, như đạo hàm hiệp biến. Chúng ta có một đa tạp liên tục là đa tạp Riemann 4 chiều và một đa tạp gián đoạn. Sử dụng các công cụ của NCG người ta tìm thấy rằng đạo hạm hiệp biên gián đoạn Ñ biểu diễn qua một hàm  Ф (x) mà theo cấu trúc chúng ta có thể đồng nhất với hạt Higgs (xem Chú thích  cuối bài).  Như vậy ở đây hạt Higgs  Ф (x) xuất hiện từ cấu trúc gián đoạn của đa tạp, từ hình học không giao hoán của đa tạp.  Có thể nói đây là một kết quả kỳ diệu của hình học không giao hoán.            Alain Connes (bên trái) nhận phần thưởng nghiên cứu Viện toán Clay nhờ NCG và các công trình cơ bản về vật lý lý thuyết (tháng 5 năm 2000)        Tái chuẩn hóa  Một trong những triết lý của Alain Connes là tìm ra các toán học sau những ý tưởng vật lý. Theo Alain Connes toán học và vật lý đang xâm nhập vào nhau, và là suối nguồn ý tưởng cho nhau.  Một vấn đề  quan trong trong vật lý lượng tử là vấn đề tái chuẩn hóa (renornalization) tức vấn đề khử các phân kỳ trong lý thuyết lượng tử.  Như chúng ta biết ví dụ trong QED (Quantum Electrodynamics-Điện động lực học lượng tử) có nhiều sơ đồ dẫn đến phân kỳ. Sơ đồ Feymann mô tả năng lượng riêng của electron sau đây là một sơ đồ như thế. Hạt electron (electron được biểu diễn bằng đường liền) chuyển động từ trái đến điểm A và khi tương tác với chân không sinh ra cặp ảo electron và photon (photon được biểu diễn bằng đường lấm chấm), rồi tại điểm B cặp ảo này lại hủy nhau biến trở lại thành electron.                  Muốn khử phần phân kỳ cần phải bóc tách phần khối lượng dm, vốn có trị số vô cùng ra khỏi khối lượng của electron, đại lượng này phát sinh do tương tác với chân không của trường điện từ. Nhiều người cho rằng quá trình tái chuẩn hóa này mang ít nhiều tính chất giả tạo không hữu cơ với một lý thuyết hoàn chỉnh.  Song Alain Connes cho rằng sau những dãy tính toán phức tạp của quá trình tái chuẩn hóa trong lý thuyết trường lượng tử là những thực tại vật lý, và  những thực tại đó là những viên ngọc toán học. Cần phải một kính hiển vi siêu mạnh để thấy được điều đó và kính hiển vi này chính là “hình học không giao hoán”. Những phân kỳ này không phải là những khuyết tật trong lý thuyết, mà  là những vùng đất vô cùng hấp dẫn cho toán học.  Alain Connes đã cùng Dirk Kreimer (IHES) và Matilde Marcolli (Viện Max Planck) đã chứng minh được rằng tái chuẩn hóa trong lý thuyết lượng tử gắn liền với một (bài toán số 21) trong 23 bài toán lớn  Hilbert đề ra năm 1900. Năm 2004 cùng với Matilde Marcolli, Alain Connes đã giải quyết được một vấn đề đã ám ảnh ông suốt những năm 70 thế kỷ vừa qua: đó là sự tồn tại mối liên quan giữa tái chuẩn hóa trong vật lý lượng tử với lý thuyết Galois. Sự phát hiện này là nội dung công trình thứ 155 của Alain Connes.  Họ đã thiết lập mối quan hệ giữa tái chuẩn hóa với hình học không giao hoán, đã tìm ra nguyên nhân sâu xa của các phân kỳ là sự tồn tại của một nhóm phổ quát gọi là nhóm “vũ trụ” Galois (Cosmic Galois Group), một nhóm đối xứng của các hằng số cơ bản của vật lý, và sự xuất hiện những phân kỳ là cần thiết và là hệ quả của các tính chất không giao hoán của không gian.    Thời gian  Cùng với Carlo Rovelli (Đại học Marseille) Alain Connes cũng đã chứng tỏ được rằng thời gian xuất hiện một cách tự nhiên từ tính không giao hoán của các đại lượng quan sát được của hấp dẫn. Không gian đã tạo ra thời gian (l’espace engendre le temps). Thời gian chảy một chiều vì tính bất giao hoán của không gian.  Trong khi các nhà vật lý nghiên cứu sự tiến triển của một hệ bằng cách sử dụng những toán tử tác động vào các trạng thái cân bằng thì Alain Connes ngược lại xuất phát từ những trạng thái cân bằng và sử dụng đại số ứng với chúng để tìm ra những trạng thái cân bằng khác, như vậy làm xuất hiện thời gian. Như vậy thời gian phát sinh từ không gian trong NCG.  TOE (Theory of Everything – Lý thuyết của tất cả)  Chúng ta có hai thực tại cần được thống nhất: hấp dẫn tuân theo đối xứng xác định bởi nguyên lý tương đương của Einstein, và vật chất gồm các hạt tuân theo đối xứng nội tại. Liệu có thể tìm một không gian  X tuân theo một đối xứng U bao cả hai đối xứng trên. Alain Connes chứng tỏ rằng một không gian X như thế phải là một không gian có hình học không giao hoán.  Ý tưởng rất sâu sắc của Alain Connes là muốn thống nhất hấp dẫn với lượng tử cần phải thay đổi cấu trúc của không thời gian và để làm điều đó ông đã sử dụng  hình học không giao hoán.  Như chúng ta biết đối với một lý thuyết quan trọng nhất là hàm tác dụng (action). Để phát triển TOE chúng ta cần có các tích phân phiếm hàm mô tả hàm tác dụng (action) thực hiện “tổng trên các hình học – sum over geometries”. Alain Connes đã cùng Ali H.Chamseddine (ETH Zurich – Eidgenossiche Technische Hochschule Zurich) tính được tích phân phiếm hàm đối với hình học không giao hoán, như thế có được công cụ cơ bản để phát triển  TOE trên cơ sở NCG.  Cách tiếp cận thống nhất hấp dẫn và lượng tử của Connes khác với cách tiệp cận của lý thuyết siêu dây (superstring theory). Lý thuyết siêu dây cần một năng lượng khổng lồ để kiểm nghiệm, lý thuyết của Connes chỉ cần một năng lượng trong tầm tay của các nhà vật lý (khoảng 160 tỷ eV) để kiểm nghiệm vì thế mà Alain Connes đặc biệt chờ ngày khởi động của LHC.                     Theo Connes sự thống nhất hấp dẫn và lượng tử đòi hỏi một không gian gồm 2 phần: một phần liên tục và một phần gián đoạn không giao hoán.  Kết luận  Hình học không giao hoán của Alain Connes đã đưa vào vật lý một quan niệm hoàn toàn mới mẻ có tính cách mạng về không thời gian. Alain Connes đã đề cập đến một tính chất lạ lùng của không thời gian là tính không giao hoán. Tính không giao hoán của không thời gian có thể là cơ sở cho việc xây dựng một lý thuyết thống nhất hấp dẫn và lượng tử, trong đó mọi hạt đều xuất hiện một cách đương nhiên như là hệ quả của không thời gian không giao hoán và vấn đề tái chuẩn hóa, một vấn đề quan trọng của lý thuyết lượng tử được giải thích một cách chặt chẽ về mặt toán học trong khuôn khổ của NCG.   Chú thích  1/  Trong NCG  không gian  được thay thế bởi một đại số A của tọa độ tác động lên một không gian Hilbert H , ngoài ra nếu xét đến spin của các hạt thì cần thêm toán tử Dirac D để định nghĩa vi phân. Như vậy NCG xác định bởi bộ tam ( (A ,H  ,D).Trong NCG ta cần tính khoảng cách, vi phân và tích phân: a/  Vi phân của một x  ∈ A là df(x) = [D,f(x)], b/ Khoảng cách d(M,N) giữa hai điểm M & N được thay bằng d (M,N) =  sup{ | f(M) – f(N) | ; f ∈A,  ||[ D,f] || ≤1 ], c/ Sử dụng vết của Dixmier  ta có  thể tính được ì f ds  trong đó f  ∈A và ds= (1/D).  Tài liệu tham khảo  [1] Alain Connes, Non commutative geometry, Academic Press,1994  [2] Alain Connes, Non commutative geometry and Physics, ftp://ftp.alainconnes.org/  [3] Alexander Hellemans, Scientific American, tháng 8 năm 2006  [4]  David Larousserie, Sciences et Avenir, tháng 10 năm 2005  [5]  L.O’Raifeartaigh & N.Straumann, Rev.Mod.Phys.,Vol 72, No 1, January 2000  [6]  Thomas Krạewski, Géométrie non commutative et interactions fondamentales  C.C biên dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiram Maxim, kẻ cứu nhân độ thế      Năm1884 Hiram Maxim người Mỹ đã phát triển loại súng nạp đạn tự động đầu tiên trong lịch sử. Sáng chế của ông đã làm cho hàng ngàn vạn người phải bỏ mạng – nhưng bản thân ông, tổ sư của chiến tranh lại được tôn sùng là “một người cứu nhân độ thế“.      Năm 1893, khoảng 50 lính Anh đã tiến hành một trận đánh vào ở một vùng xa xăm ở Nam Phi thuộc Anh. Họ phải chống chọi với cái nóng như đổ lửa và hàng nghìn chiến binh thuộc bộ lạc Matabele dưới sự chỉ huy của tù trưởng Lobengula quyết giữ đất đai của bộ tộc mình. Binh lính Anh đánh trả ác liệt và lấn lướt các cuộc tấn công của thổ dân Matabele – mặc dù về quân số thổ dân nhiều gấp bội so với quân Anh. Lý do: quân đội Anh có 4 khẩu đại liên mang tên người phát triển chúng, nhà sáng chế Hiram Maxim, tất cả các khẩu súng đều đặt trên xe để dễ bề cơ động. Đó là loại súng liên thanh lên đạn tự động đầu tiên trên thế giới, có khả năng bắn sáu trăm viên đạn trong một phút và có thể giết hàng loạt kẻ thù trong khoảnh khắc.    Trận đánh có tính quyết định xảy ra không xa  Bulawayo, thủ đô của người Matabele.  5000 chiến binh thổ dân liên tục tấn công vị trí đóng quân của quân Anh. Đại liên “Maxims” nã đạn hàng loạt vào các cuộc tấn công của thổ dân và họ bị đốn quỵ hết lớp này đến lớp khác. Trên 3000 chiến binh Matabele bị tiêu diệt, số còn lại hoảng sợ chạy toán loạn.   Nhà sáng chế với hai quả đấm chớp nhoáng   Nhà sáng chế súng đại liên  Hiram Maxim sinh năm 1840 tại một trang trại nhỏ ở  Maine thuộc Hoa Kỳ. Ngay từ nhỏ cậu bé Hiram đã có tham vọng rất lớn – cậu tự coi mình là  “tài năng toàn diện về kỹ thuật“, sẵn sàng thử tài với tất cả những ông thợ lành nghề ở Maine. Cũng có lúc kẻ tự xưng là kỹ thuật gia và nhà sáng chế còn dùng cả nắm đấm để thể hiện sự hơn hẳn của mình: người dân ở thị trấn kế bên rất ghét thói kiêu ngạo của Maxim đã thách đố anh ta tham gia một trận đấu quyền Anh và gã ngạo mạn này đã dễ dàng cho nhà vô địch địa phương bị đo ván. Maxim là điển hình của con người tự học: thay vì theo học ở một trường đại học, nhà sáng chế súng tương lai lại chỉ thích ngồi nhà đọc sách về khoa học tự nhiên và toán học. Ngoài ra hầu như không có nghề nào mà Maxin không nếm trải: Maxim từng làm người pha rượu,  kẻ biển, làm thợ trong nhà máy rồi trở thành nhân viên vẽ kỹ thuật. Khi nào cảm thấy buồn chán thì anh tìm tòi làm ra những thiết bị, máy móc này nọ mà khởi đầu là làm một cái bẫy chuột,  sau này anh còn dám đọ sức cả với người đi tiên phong trong lĩnh vực điện, Thomas Alva Edison, anh muốn cải tiến cái bóng điện của nhà phát minh tài  ba này và luôn cho rằng model của mình hay hơn.   Chưa bao giờ giết người lại đơn giản đến thế   Đầu những năm 80 thế kỷ 19, Maxim được chủ một doanh nghiệp điện lực cử sang châu Âu công tác. Theo một huyền thoại thì tại một chuyến ông viếng thăm Hội chợ công nghiệp có một kẻ xa lạ nào đó từng khuyên Maxim: “Hãy phát minh ra một cỗ máy giết người, đại loại một cái gì đó giúp người chân Âu cắt cổ nhanh hơn – đó chính là cái mà châu Âu đang cần!” Và ý tưởng chế tạo súng liên thanh đến với ông sau khi ông bắn một phát đạn ở một khẩu súng bình thường, ông cảm thấy súng giật khá mạnh ra phía sau, mạnh đến mức, nếu người bắn không cẩn thận thì có thể bị vỡ bả vai.   Maxim nghiền ngẫm, tại sao lại lãng phí một nguồn năng lượng mạnh đến như vậy? Người ta có thể dùng cái năng lượng này để đánh bật vỏ đạn vừa bắn đi đồng thời tự động nạp đạn mới. Ông đã thực hiện thành công ý tưởng này vào năm 1884.   Tổng tư lệnh quân đội Anh quốc vội vã đến xưởng của Maxim, để nhìn tận mắt khẩu súng máy này. Cỗ súng được đặt trên một cái xe kéo có hai bánh – so với những loại súng bình thường thì khẩu súng máy này có tần số xả đạn cao chưa từng có. Cỗ súng máy còn có một thùng chứa nước để làm mát nòng súng, vỏ đạn rơi vào một cái hộp ở bên dưới nòng. Với loại súng liên thanh này, người bắn chỉ việc bóp cò, Có thể nói chưa bao giờ việc giết người lại đơn giản đến thế.    Vinh quang và tiền bạc là động cơ thúc đẩy   Ngay cả hoàng đế Đức Wilhelm đệ nhất cũng rất quan tâm đến loại vũ khí mới này. Năm 1887 ông cho Maxim trình diễn, so sánh súng “Maxim” với một số sản phẩm cạnh tranh của nhà chế tạo Gatling và  Nordenfelt. Những ưu thế của súng “Maxim” rõ như ban ngày: Thí dụ loại súng Gatling-Repetier người ta phải mất rất nhiều sức mới lên đạn được, vả lại loại súng này lại hay bị hỏng hóc. Trong khi đó súng  “Maxim” rất đáng tin cậy và không có những khuyết tật như vậy. Vị hoàng đế này tỏ ra rất  phấn kích: “Thế này mới gọi là súng“, nhận xét của  Wilhelm về súng máy Maxim, “đúng là có một không hai.”    Khi quan sát trình diễn “Maxim”ở Viên, hoàng thái tử nước Áo không khỏi bàng hoàng. Ông gọi loại súng này là “một loại công cụ kinh khủng nhất, mà tôi từng chứng kiến hoặc tôi có thể tưởng tượng nổi” – ông  đặt mua ngay với số lượng lớn loại vũ khí này để trang bị cho đội quân Áo-Hung.    Hiram Maxim cực kỳ hài lòng: cuối cùng thì ông đã nhận được sự ca tụng, điều mà ông ta luôn khát khao. Đối với ông  thì tiền tài và danh vọng chính là động lực, hầu như ông không hề bận tâm đến số phận người lính hay có cảm giác về tình yêu Tổ quốc. Ông liên tục cải tiến “Maxim”. Ông đã giảm được trọng lượng của cỗ súng máy, nay chỉ còn khoảng 70 kg. Giới quân sự luôn mong muốn có những loại vũ khí gọn nhẹ dễ cơ động để dễ dàng luồn lách trong những vùng rừng núi hoang vu ở các lãnh thổ thuộc địa. Ông nghĩ ra một loại băng đạn mới và chỉ cần sáu giây đồng hồ là có thể lắp ghép xong. Bên cạnh súng máy “Maxim”  ông chăm chỉ thực hiện các sáng chế, phát minh khác, thí dụ ông chế tạo thành công loại thuốc súng không có khói. Trong suốt cuộc đời mình Maxim đã có trên 200 bằng sáng chế phát minh.   Hiram Maxim chưa lần nào phải quảng bá cho sản phẩm của mình. Ông đưa súng của mình tham gia các cuộc chiến tranh và đây là cách quảng bá tốt nhất cho sản phẩm của mình. Thí dụ năm 1898: thời điểm đó một đơn vị quân đội Anh – Ai Cập hành quân ngược dòng sông Nile để tiễu trừ những người lính cuối cùng thuộc đế chế Mahdi của Sudan. Chính đội quân này cách đó 10 năm đã giáng cho quân đội xâm lược Anh những thất bại thảm hại.   Ngày 2.9. 1898 đã diễn ra trận chiến quyết định ở thành phố  Omdurman thuộc Sudan. Trên  60.000 binh sỹ Mahdisten xung trận với những bộ quân phục đầy màu sắc nhưng lại trang bị vũ khí hết sức nghèo nàn, họ hăng hái nhào vào đồn trại của quân đội Anh cho đến khi binh lính Anh để những khẩu “Maxim” nhả đạn liên hồi và xác chết nằm la liệt trên chiến trường. Một người Anh nổi tiếng đã tham gia trận chiến này, đó là Winston Churchill, ông  này mô tả. “Vào thời điểm quyết định xuất hiện những chiếc xuồng – canông, súng đại liên “Maxim” khạc lửa, ở khoảng cách gần quân địch đang ào lên tấn công bị chết như ngả rạ”, Churchill mô tả. Kết quả, tổn thất phía quân đội Anh là không đến 50 người, phía Mahdisten đã có gần 10.000 chiến binh bỏ mạng.   Hiram Maxim hào hứng nghe tin về cuộc chiến ở Sudan xa xôi. Đối với ông ta thì cuộc chiến này là bằng chứng về thiên tài của mình.    Kẻ “cứu nhân độ thế“ của nhân loại   Ở nước Anh Hiram Maxim rất được tôn kính,  năm 1900 tại một dạ tiệc ông thậm chí còn được Thủ tướng Anh, Huân tước Salisbury đích thân chào mừng. Huân tước Salisbury nói “Thưa quý vị,  quý vị biết không, tôi coi quý ông Maxim là một trong những kẻ cứu nhân độ thế vĩ đại nhất mà thế giới từng biết đến? Vĩ đại như thế nào?” ông Maxim hoàn toàn bị bất ngờ. Vị Thủ tướng nói tiếp “tôi phải nói rằng, thưa ông Maxim, ông là người đã giúp cho rất nhiều người đàn ông không phải chết trong cảnh  đầu bạc răng long, ông làm được điều này hơn tất cả những người đã từng sống trên trái đất này”.   Những lời nói của thủ tướng Salisbury mang tính tiên đoán: 14 năm sau, vào tháng tám năm 1914, người châu Âu đã chĩa súng đại liên để triệt hạ nhau, đây là những khẩu súng dựa vào sáng chế của Maxim. Hiram Maxim đã chứng kiến hàng nghìn khẩu súng máy theo kiểu của ông đã được đưa vào sử dụng trên chiến trường châu Âu.   Ông chết năm 1916 ở London.   NGUYỄN XUÂN HOÀI dịch   Spiegel 9/2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang HIV đã hoành hành từ hàng trăm năm trước      Sự ra đời rầm rộ của các thành phố tại khu vực phụ cận sa mạc Sahara ở châu Phi trong những năm đầu thế kỷ 20 đã châm ngòi cho sự lây lan của virus gây bệnh AIDS. Virus này xuất hiện trên Trái đất sớm hơn nhiều so với tính toán của giới khoa học.    Trong một nghiên cứu mới được công bố, các chuyên gia Đại học Arizona (Mỹ) tìm thấy tổ tiên của một chủng HIV gây nên phần lớn ca bệnh AIDS trong một mẫu máu lấy từ một người ở Kinshasa (Thủ đô CHDC Congo) vào năm 1959. Khi đó Kinshasa còn là thuộc địa của Bỉ được biết đến với cái tên Leopoldville. Năm 2008, nhóm nghiên cứu lại tìm thấy nguồn gốc một chủng HIV khác trong mẫu máu một bệnh nhân cũng tại Kinshasa lấy từ năm 1960. Sau khi phân tích những khác biệt về genee giữa hai chủng virus và tính toán khoảng thời gian để những khác biệt này xuất hiện, các chuyên gia nhận định rằng, rất có thể chúng có chung một tổ tiên và bắt đầu tách làm hai chủng từ ít nhất 50 năm trước. Các phân tích genee cho thấy HIV đã xuất hiện trong khoảng thời gian từ năm 1884 tới 1924, giai đoạn mà các thành phố mọc lên như nấm ở châu Phi. Các nhà khoa học cho rằng tổ tiên của HIV là một virus chỉ sinh sống trên cơ thể loài tinh tinh ở châu Phi. Sau đó virus “nhảy” sang một số người khi họ giết và ăn thịt tinh tinh. Theo NewYork Times    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hố đen siêu khối lượng: Thánh Gióng của dải Ngân hà      Hố đen siêu khối lượng là một loại hố đen nặng và khổng lồ, thường được tìm thấy ở trung tâm các thiên hà có kích thước lớn. Tính đến tháng 6/2022, dự án toàn cầu mang tên Kính thiên văn Chân trời Sự kiện (Event Horizon Telescope, hay EHT) đã chụp được trực tiếp hai bức ảnh hố đen siêu khối lượng ở trung tâm của hai thiên hà là M87 và dải Ngân hà chúng ta. Trong đó, bức ảnh mới đây chụp hố đen Nhân Mã A* (Sagittarius A*; “A*” đọc là “A sao”) của dải Ngân hà đã làm say đắm cả các nhà thiên văn học lẫn công chúng nói chung, bởi thật khó mà tưởng tượng nổi một vật thể khổng lồ có khả năng hút và bẻ cong ánh sáng như vậy lại ở ngay trung tâm của thiên hà quê chúng ta. Trong bài viết này, hãy cùng tìm hiểu thêm về hố đen siêu khối lượng bằng cách dùng ba tiêu chí khác nhau để so sánh loại thiên thể này với Thánh Gióng và chứng minh rằng: “hố đen siêu khối lượng là Thánh Gióng ở cấp độ thiên hà”.    Đồ họa: Nguyễn Bình.  Tiêu chí 1: Cả hai đều lớn nhanh như thổi  Như đã đề cập đến ở phần mở đầu, hầu hết các thiên hà có kích thước lớn đều chứa hố đen siêu khối lượng ở trung tâm. Phải nói cụ thể là “thiên hà có kích thước lớn” bởi các thiên hà lùn (dwarf galaxy) mà chúng ta biết đến ngày nay hoặc là không có hố đen ở trung tâm, hoặc là có nhưng chưa đạt tới mức “siêu khối lượng”. Lý do khiến cho các hố đen siêu khối lượng đặc biệt đến mức cần một cuộc thảo luận riêng là bởi chúng quá nặng. Nặng đến nỗi không chỉ đơn thuần là chào đời từ sự sụp lõi của một ngôi sao, mà nó còn đòi hỏi các quá trình phức tạp hơn thế. Không những vậy, chúng thường nằm ở trung tâm của các thiên hà chứ không nằm ở trong các cánh tay xoắn ốc như các hố đen nhỏ hơn. Do đó, hố đen siêu khối lượng là loại hố đen để lại ảnh hưởng trọng lực mạnh mẽ và dễ quan sát nhất.  Đến nay, các nhà thiên văn học mới chỉ biết được một phần về sự chào đời và tiến hóa của các hố đen siêu khối lượng. Vì một hố đen siêu khối lượng quá nặng, chúng ta không thể nào quy chụp toàn bộ khối lượng của nó cho một ngôi sao sụp sõi, mà cần phải tính đến việc hố đen này đã nuốt chửng vật chất quanh nó và lớn lên. Bất kể nguồn gốc thế nào, một hố đen siêu khối lượng đều bắt đầu dưới dạng “mầm hố đen” (seed black hole), rồi sau đó lớn lên bằng cách hút vật chất quanh nó. Việc hố đen siêu khối lượng tồn tại ở trung tâm thiên hà có thể đã giúp chúng ăn uống thuận lợi hơn: theo chiều dài lịch sử vũ trụ, các thiên hà trải qua quá trình “ma sát động lực” (dynamical friction) khiến cho vật chất có xu hướng rơi về phía trung tâm. Do đó, một mầm hố đen siêu khối lượng đã tồn tại sẵn ở trung tâm sẽ chẳng cần phải di chuyển theo một quỹ đạo nào để kiếm ăn; nó chỉ cần ngồi yên đó và ngấu nghiến đủ các loại khí, sao và vật chất tối rơi về phía mình. Một người quen với sự tích Thánh Gióng có thể liên tưởng ngay tới việc Thánh Gióng lớn lên hoàn toàn nhờ vào công cuộc góp gạo của cả làng.  Và tương tự như Thánh Gióng, mầm hố đen siêu khối lượng lớn lên chỉ trong chốc lát. Chúng chào đời và phát triển ngay ở khoảng vài trăm triệu năm đầu tiên của lịch sử vũ trụ, tương đương với khoảng 5% tuổi vũ trụ ngày nay. Ví dụ, vào đầu năm 2021, nhóm của Vương Phi Cách (Wang Feige) tại Đại học Arizona, Mỹ đã tìm thấy hố đen siêu khối lượng J0313–1806 có tuổi đời già nhất vũ trụ, hình thành chỉ 670 triệu năm sau Vụ nổ Lớn, và nặng gấp 1.6 tỉ lần Mặt trời. Một số hố đen siêu khối lượng trẻ hơn cũng hình thành trong khoảng 700 đến 800 triệu năm sau Vụ nổ Lớn, và cũng đã đạt tới khối lượng ngày nay trong khoảng thời gian đó. Điều này có nghĩa là các mầm hố đen siêu khối lượng không những tồn tại rất sớm, mà còn lớn lên ở tốc độ đáng kinh ngạc so với các hiện tượng thường thấy ở cấp độ thiên hà. Chính trong bài nghiên cứu của họ, nhóm Vương Phi Cách cũng thể hiện sự quan ngại, bởi thiên văn học sẽ cần thêm rất nhiều bằng chứng và lý thuyết để giải thích được tốc độ lớn lên bất thường như thế.  Bên trái là hố đen của M87, bên phải là Nhân Mã A*. Ảnh: EHT Collaboration  Đến nay, các nhà thiên văn học vẫn chưa ngã ngũ về tác nhân khiến cho hố đen siêu khối lượng “lớn nhanh như thổi”. Giả thuyết nhận được nhiều sự ủng hộ nhất thì cho rằng hố đen siêu khối lượng có thể đã có lợi thế ngay từ xuất phát điểm; nói cách khác, thứ sụp xuống thành mầm hố đen siêu khối lượng vốn dĩ đã nặng rồi. Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu của Takashi J. Moriya thì cho rằng các mầm hố đen siêu khối lượng đến từ những ngôi sao cực nặng đầu tiên trong lịch sử vũ trụ. Nhóm nghiên cứu của Mitchell C. Begelman cho rằng nguyên nhân là do các đám mây khí từ thuở hồng hoang; theo họ, các đám mây này tự sụp thành hố đen mà không cần một ngôi sao làm trung gian. Vào năm 2021, ba nhà thiên văn học Phùng Duy Tường, Dư Hải Ba và Chung Ích Minh (Feng Weixiang, Yu Haibo & Zhong Yiming) ở trường Đại học UC Riverside thì lại đưa ra ý tưởng rằng có thể hố đen siêu khối lượng không bắt nguồn từ sao, mà đến từ quầng vật chất tối (dark matter halo). Theo lý thuyết kiến tạo thiên hà ngày nay, các thiên hà đều hình thành và tồn tại trong quầng vật chất tối. Nhóm Phùng Duy Tường cho rằng thay vì tiếp tục tồn tại một cách song song với sao và khí của thiên hà, phần lõi của một số quầng vật chất tối có thể đã mất trạng thái cân bằng khi vật chất tối có tương tác trọng lực với chính mình, khiến cho phần lõi ấy sụp thành mầm hố đen. Giả thuyết của nhóm Phùng Duy Tường khác hai giả thuyết đã nêu ở đằng trước ở chỗ nhóm Phùng Duy Tường đổ cho lõi của quầng vật chất tối, thứ chỉ có thể tồn tại ở trung tâm thiên hà, trong khi hai nhóm còn lại đổ cho sao và khí, những loại vật chất có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu trong một thiên hà. Tuy nhiên, không thể từ đó mà kết luận được rằng giả thuyết của nhóm Phùng Duy Tường là hợp lý nhất, bởi chúng ta vẫn còn thiếu bằng chứng quan sát cho cả ba giả thuyết nêu trên. Trừ khi các nhà thiên văn học quan sát được một mầm hố đen siêu khối lượng đang trong quá trình hình thành, thật khó để lật lại hàng trăm triệu năm lịch sử vũ trụ để minh giải được nguồn gốc của các vật thể như thế.  Tiêu chí 2: Cả hai đều dập tắt bạo lực  Theo Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, Thánh Gióng đã đứng lên đánh đuổi và dập tắt bạo lực của giặc Ân khi đám giặc này xâm lược và đốt phá nhà cửa của người Việt. Có thể ở quy mô vũ trụ, các khái niệm “giặc ngoại xâm” hay “dân tộc” không tồn tại, song trong quá trình kiến tạo thiên hà, hố đen siêu khối lượng cũng có vai trò dập tắt “bạo lực” tương đồng với Thánh Gióng.  Một phần thiết bị đo sóng hấp dẫn của dự án LIGO tại Louisiana. Ảnh: Caltech/MIT/LIGO Lab  Trước hết, chúng ta biết rằng để một thiên hà lớn lên, nó phải sản sinh ra rất nhiều sao. Quá trình này bắt nguồn trong các đám mây phân tử khí, nơi các khối khí dần dần có đủ trọng lực và độ dày đặc để châm ngòi cho những phản ứng tổng hợp hạt nhân bạo lực, tạo thành hàng triệu ngôi sao cùng một lúc. Một điều kiện tiên quyết để sự kiện bạo lực đó xảy ra là các đám mây phân tử khí phải cực kì lạnh, để từ đó một số vùng bên trong chúng tích tụ thành khối. Tuy nhiên, ở vùng trung tâm của các thiên hà có chứa hố đen siêu khối lượng, việc giữ khí ở nhiệt độ thấp là điều bất khả thi, bởi loại hố đen này vừa hút mất vật chất cần thiết để hình thành sao, vừa “trả lại” rất nhiều năng lượng, hoặc dưới dạng các hạt photon, hoặc các luồng hạt có điện tích sáng nhất ở vùng sóng radio. Theo tính toán từ năm 2009 bởi nhóm nghiên cứu của Andrea Cattaneo, chỉ 1% năng lượng được hố đen siêu khối lượng giải phóng cũng đủ mạnh để hâm nóng và thổi bay chỗ khí xung quanh nó. Điều này cản trở cả nhiệt độ lạnh lẫn mật độ phân tử dày đặc ở các đám mây khí, dẫn đến bằng chứng quan sát là vùng trung tâm của các thiên hà có chứa hố đen siêu khối lượng thường không có bóng dáng quá trình hình thành sao.  Song điều cần lưu ý là một khu vực thiếu dấu hiệu hình thành sao không có nghĩa là khu vực ấy không có sao. Trên thực tế, cách hố đen Nhân Mã A* chỉ 970 lần khoảng cách từ Mặt trời đến Trái đất, có một ngôi sao tên là S2, nổi tiếng sau khi được Reinhard Genzel và Andrea Ghez (hai trong ba người được nhận giải Nobel Vật lý 2020) sử dụng để ước tính khối lượng của Nhân Mã A*. Trong một nghiên cứu riêng biệt vào năm 2003, Andrea Ghez ghi nhận quang phổ của S2 và qua đó ước tính được rằng ngôi sao này nặng khoảng 15 lần Mặt trời và có tuổi đời chưa bằng 0.001 lần tuổi Mặt trời. Đây rõ ràng là một nghịch lý: làm sao một ngôi sao vừa nhỏ, vừa trẻ như vậy lại có thể hình thành được ở một vùng nổi tiếng là không cho phép hình thành sao? Theo Ghez, đây thực chất không phải là một ngôi sao trẻ, mà là lõi của các ngôi sao già đã chết “cải trang” làm một sao trẻ. Cụ thể hơn, có thể đã có các ngôi sao hình thành xung quanh trung tâm dải Ngân hà trước khi Nhân Mã A* dập tắt hết quá trình hình thành sao tại đó, và theo thời gian, các ngôi sao cũ chết đi, để lại lõi trơ, và những lõi này va chạm với nhau, tạo thành một ngôi sao có quang phổ của một ngôi sao mới nhưng thực chất có tuổi đời nhiều hơn thế. Một giả thuyết khác lại cho rằng S2 và một số ngôi sao lân cận có thể đã hình thành ở rất xa bên ngoài, song bằng cách nào đó chịu ảnh hưởng trọng lực của Nhân Mã A* mạnh tới mức bị hút vào quỹ đạo gần hố đen này. Dù theo cách giải thích nào về vị trí của S2, dường như các nhà thiên văn học đều đồng thuận rằng một ngôi sao trẻ như vậy không thể sinh ra và tồn tại theo cách thông thường ở gần Nhân Mã A* đến thế, bởi các hố đen siêu khối lượng đều đã dập tắt quá trình hình thành sao bạo lực xung quanh nó, tương tự như Thánh Gióng dẹp cuộc binh lửa của giặc Ân trong các truyền thuyết dân gian.  Tiêu chí 3: Cả hai đều để lại tiếng vang  Nếu như hình tượng Thánh Gióng đã trường tồn trong văn hóa dân gian Việt Nam đến tận ngày nay thì ở cấp độ thiên hà, các hố đen cũng để lại “tiếng vang” theo suốt không gian và thời gian theo một cách tương tự, thông qua sự lan truyền sóng hấp dẫn (gravitational wave).  Chúng ta biết rằng bất chấp sự giãn nở của vũ trụ, độ mạnh của trọng lực vẫn cho phép các thiên hà đến gần với nhau và nếu đủ gần thì hợp nhất thành một thiên hà lớn hơn. Một ví dụ điển hình là dải Ngân hà và thiên hà Andromeda hàng xóm của chúng ta: hai thiên hà xoáy ốc khổng lồ này đều đang tiến về phía nhau ở tốc độ trung bình là 110km/s và dự tính sẽ hợp vào làm một trong 4.5 tỉ năm nữa. Do khoảng cách giữa các thiên thể trong mỗi thiên hà vốn dĩ đã lớn, khi hai thiên hà bất kỳ (không chỉ mình dải Ngân Hà hay Andromeda) hợp lại với nhau, cuộc hợp nhất sẽ không diễn ra một cách bạo lực như là tiểu hành tinh Chicxulub lao xuống Trái đất, mà thay vào đó, vật chất của hai thiên hà sẽ từ từ lấp đầy hoặc tạo ra các khoảng trống mới. Dưới ảnh hưởng của ma sát động lực như đã miêu tả ở phần trước, một khi thiên hà mới được sinh ra sau cuộc hợp nhất, tất cả các loại vật chất sẽ từ từ rơi về phía trung tâm của thiên hà mới, bao gồm cả hai hố đen siêu khối lượng vốn nằm ở trung tâm hai thiên hà ban đầu. Theo nghiên cứu xuất bản năm 2018 của nhóm tác giả Taeho Ryu, trước tiên hai hố đen này sẽ tạo thành một hệ đôi (binary system), trong đó cả hai hố đen cùng xoay quanh một khối tâm (center of mass) tưởng tượng. Tiếp sau đó, tương tác trọng lực với các ngôi sao lân cận đẩy hai hố đen đến gần nhau hơn cho đến khi hai hố đen hợp nhất.  Luồng hạt tích điện phóng ra từ hố đen của thiên hà M87, chụp bởi kính Hubble. Ảnh: NASA/STScI/AURA  Ngay từ khi hai hố đen bắt đầu xoay quanh khối tâm tưởng tượng, sự nặng trĩu của chúng cũng đã đủ để tạo gợn sóng nhấp nhô trên cấu trúc không-thời gian. Những gợn sóng này được gọi là sóng hấp dẫn (gravitational wave), và chúng đạt đỉnh điểm vào khoảnh khắc hai hố đen hợp vào làm một. Ngày 14/9/2015, sóng hấp dẫn đã được đo đạc trực tiếp bởi thiết bị của dự án LIGO đặt tại hai tiểu bang Washington và Louisiana ở Mỹ, song sóng hấp dẫn này đến từ hai hố đen có khối lượng chỉ bằng 29 và 36 lần Mặt trời – quá nhẹ để thuộc loại hố đen siêu khối lượng. Tính đến tháng 6/2022, các nhà thiên văn học vẫn chưa đo được bất kỳ một tín hiệu sóng hấp dẫn nào đến từ hai hố đen siêu khối lượng hợp vào làm một, chủ yếu là bởi sóng hấp dẫn từ một sự kiện như vậy có tần số thấp hơn nhiều so với mức mà các thiết bị của LIGO có thể đo được trực tiếp. Những người đam mê sóng hấp dẫn và hố đen siêu khối lượng buộc phải tìm các cách đo gián tiếp, hoặc không thì đành đặt niềm hy vọng vào dự án LISA, trong đó ba tàu vũ trụ riêng biệt sẽ được phóng vào năm 2037 và xếp thành một hệ thống có hình tam giác đều bay quanh Mặt trời để dò tìm tín hiệu sóng hấp dẫn từ các thiên hà xa xăm.  Tổng kết  Nói tóm lại, thông qua các tiêu chí so sánh lạ lùng với Thánh Gióng, chúng ta đã phần nào “giải ảo” được sự tồn tại của các hố đen siêu khối lượng – loại hố đen duy nhất mà con người chụp ảnh được tính đến thời điểm này. Từ quá trình hình thành cho đến hành vi và cái kết dự tính sẽ khiến cho toàn bộ không-thời gian dao động, các hố đen siêu khối lượng là những thiên thể tưởng chừng như thật kỳ quái, song chúng hứa hẹn sẽ cho ta hiểu được thêm về không chỉ hố đen nói chung mà cả cách các thiên hà vận hành từ thuở sơ khai của vũ trụ. Bức ảnh chụp hố đen Nhân Mã A* vừa rồi của dự án Kính thiên văn Chân trời Sự kiện báo hiệu một bước ngoặt cho chuyên ngành nghiên cứu hố đen siêu khối lượng; nó cho thấy rằng con người hoàn toàn có khả năng khám phá và tìm hiểu những vật thể khổng lồ trong vũ trụ bao la nếu chúng ta biết hợp lực trong cuộc khám phá ấy. Và có lẽ, đó cũng chính là điểm tương đồng cuối cùng giữa hố đen siêu khối lượng và Thánh Gióng: tính phi thường của cả hai đều truyền cảm hứng cho mọi người đoàn kết vì một lý tưởng chung, cho dù đó là chống giặc ngoại xâm trong thời chiến, hay là vươn ra khỏi cõi người nhỏ bé trong thời bình.□  —  Begelman, M.C., Volonteri, M. and Rees, M.J. (2006), “Formation of Supermassive Black Holes by Direct Collapse in Pregalactic Halos”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 370(1), pp. 289-298.  Cattaneo, A. et al (2009), “The role of black holes in galaxy formation and evolution”, Nature 460(7252), pp. 213-219.  Feng, W.X., Yu, H.B. and Zhong Y.M. (2021), “Seeding Supermassive Black Holes with Self-interacting Dark Matter: A Unified Scenario with Baryons”, The Astrophysical Journal Letters 914(2), L26.  Ghez, A.M. et al (2003), “I. The first measurement of spectral lines in a short-period star bound to the Galaxy’s central black hole: A paradox of youth”, Astrophysical Journal 586, L127-L131.  Moriya, T.J. et al. (2021), “Observational properties of a general relativistic instability supernova from a primordial supermassive star”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 503(1), pp. 1206-1213.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Hố đen tại Dải Ngân hà đã “thức dậy”      Cách trái đất 26.000 năm ánh sáng, hố đen Sgr A* có khối lượng gấp 4 triệu lần mặt trời. Các nhà thiên văn học Nhật Bản đã rút ra kết luận trên sau khi quan sát bằng kính thiên văn XMM-Newton của ESA cũng như vệ tinh X quang của Mỹ và Nhật Bản.    Theo đó, họ đã phát hiện những đám mây khí sáng lên và mờ dần khi chúng di chuyển gần Sgr A*. Nhóm nghiên cứu cho rằng hiện tượng này là do hố đen phát ra các tia X cách đây 300 năm, thổi bay các điện tử khỏi phân tử sắt trong các đám mây trên. Phát hiện cũng giúp giải thích tại sao hố đen tại Dải Ngân hà lại hoạt động khá “uể oải” nếu so với những lỗ đen cùng loại ở các thiên hà khác. Theo các nhà khoa học, hố đen trên có thể đã “nghỉ ngơi” sau một đợt bùng phát lớn và giờ đã…“thức dậy”. T.M    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hố đen tạo ra tia vũ trụ và các hạt neutrino      Các hạt hạ nguyên tử trong không gian bao gồm tia vũ trụ và hạt neutrino liên tục bắn phá Trái đất mỗi ngày, nhưng nguồn gốc tạo ra chúng cho đến nay vẫn là điều bí ẩn.      Ngôi sao bị xé thành từng mảnh do trọng lực của hố đen.   Trong nghiên cứu công bố trên thư viện trực tuyến của Đại học Cornell (Mỹ) hôm 9/11, Daniel Biehl và cộng sự tại Trung tâm nghiên cứu Deutsches Elektronen-Synchrotron (Đức) phát hiện sự kiện gián đoạn thủy triều (tidal disruption event) của sao lùn trắng chịu trách nhiệm tạo ra các hạt hạ nguyên tử này. Sao lùn trắng là thiên thể được tạo ra khi các ngôi sao có khối lượng thấp và trung bình tiêu thụ hết nhiên liệu phản ứng hạt nhân trong sao.  Cecilia Lunardini – nhà vật lý tại Đại học Arizona (Mỹ), cho biết: “Sự kiện gián đoạn thủy triều xảy ra khi một ngôi sao di chuyển quá gần hố đen. Trọng lực vô cùng lớn của hố đen xé nhỏ ngôi sao thành từng mảnh. Một phần mảnh vỡ của ngôi sao rơi vào hố đen khiến hố đen phát xạ năng lượng và đẩy nhanh tốc độ các hạt.”  Nhóm nghiên cứu cho rằng, quá trình phân rã hạt nhân nguyên tử của sao lùn trắng và sự tăng tốc của dòng vật chất phun ra từ hố đen có thể tạo ra đồng thời cả hai loại hạt neutrino và tia vũ trụ năng lượng cao. Julian Krolik – nhà vật lý tại Đại học John Hopkins (Mỹ) nói: “Chúng tôi thực sự không hiểu rõ làm thế nào tia vũ trụ có thể đạt tốc độ cao như vậy.”  Giới khoa học từng phát hiện nhiều hiện tượng liên quan đến sự kiện gián đoạn thủy triều từ hàng chục năm trước, nhưng đến nay chỉ một số ít quan sát được xác nhận. “Tỷ lệ những sự kiện này xảy ra ở sao lùn trắng là chưa rõ ràng”, Krolik nhận định.  Nhóm nghiên cứu dự định sử dụng các máy dò hiện đại để xác minh giả thuyết mới trong thời gian tới. Họ cũng lưu ý một số hiện tượng khác trong vũ trụ có thể sinh ra hạt neutrino mang lượng cao và tia vũ trụ.1  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://www.newscientist.com/article/2153843-black-holes-that-shred-stars-burp-out-cosmic-rays-and-neutrinos/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộ gia đình cầm cự được trong bao lâu?      Chính phủ đã có quyết định yêu cầu ‘cách ly toàn xã hội’ trong 15 ngày tới. Các cơ sở sản xuất vẫn hoạt động nhưng phải bảo đảm khoảng cách an toàn và khử trùng theo quy định. Với những hộ gia đình không có thu nhập do bị ảnh hưởng thì liệu tiết kiệm của họ đủ dùng trong bao lâu?            Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao so với các nước xung quanh. Tôi đã tính toán tỷ lệ tiết kiệm cho từng nhóm hộ, tôi dựa vào dữ liệu hộ gia đình từ Khảo sát Mức sống dân cư năm 2016 (tôi chưa có được số liệu mới hơn nhưng xu hướng tiết kiệm không thay đổi nhiều trong ngắn hạn). Tuy nhiên rất khó để có thể phỏng vấn và thu được câu trả lời chính xác xem hộ gia đình hiện có bao nhiêu tiền tiết kiệm hoặc tài sản có tính thanh khoản cao. Nên tôi tính tiết kiệm bằng chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu trong năm 2016. Tổng mức tiết kiệm có thể cao hoặc thấp hơn nhưng số liệu không có. Vì vậy chúng ta giả sử rằng lượng tiền mặt tiết kiệm đầu năm hiện có của hộ gia đình bằng mức tiết kiệm của năm trước.  Kết quả cho thấy là 75% hộ gia đình của Việt Nam có tiết kiệm, và tỷ lệ mức tiết kiệm trên tổng thu nhập là 30%. Có khoảng 25% hộ gia đình không có tiết kiệm và nếu họ không có thu nhập thì sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp ngay lập tức. Hộ càng nghèo thì tỷ lệ tiết kiệm càng thấp nên càng dễ bị ảnh hưởng.  Hơn một nửa hộ nghèo (60%) không có tiết kiệm. Có nhiều hộ nông nghiệp trong nhóm hộ nghèo và những hộ này vẫn có thể duy trì sản xuất nông nghiệp và có thu nhập. Tuy nhiên nếu không có thu nhập thì sẽ phải đi vay hoặc bán bớt tài sản để chi tiêu. Đối với những hộ có tiền tiết kiệm thì tiền này đủ dùng trong bao lâu?  So sánh số tiền chi tiêu và tiết kiệm trong năm 2016 của các hộ này cho thấy, mức chi tiêu bình quân của các hộ là 97 triệu đồng/năm và mức tiết kiệm vào khoảng 61 triệu. Giả sử lượng cung và giá cả hàng hóa không thay đổi thì các hộ có thể duy trì được mức sống như cũ mà không đi làm trong khoảng 7,5 tháng. Các hộ nghèo thì khó khăn hơn. Nhóm 20% hộ nghèo nhất của cả nước có mức chi tiêu khoảng 26 triệu đồng/năm và tiết kiệm là 7 triệu đồng. Như vậy nhóm này có thể chỉ duy trì được chi tiêu trong khoảng 3 tháng. Các hộ giàu có thể duy trì được mức chi tiêu trong 10 tháng mà không cần đi làm.  Trên thực tế thì nền kinh tế vẫn hoạt động nên tác động trước mắt đến các nhóm hộ thấp hơn theo ước lượng trên. Tuy nhiên nếu việc cách ly toàn xã hội ở nước ta cũng như các nước khác diễn ra dài thì tác động có thể sẽ nghiêm trọng hơn.          Author                Nguyễn Việt Cường        
__label__tiasang Họ hàng chúng ta trên vũ trụ      Khả năng th&#237;ch nghi rất cao của c&#225;c loại vi sinh vật tr&#234;n Tr&#225;i đất l&#224; cơ sở để người ta&nbsp; ph&#225;n đo&#225;n tr&#234;n c&#225;c h&#224;nh tinh kh&#225;c cũng c&#243; thể c&#243; những sinh vật tương tự&nbsp; – ch&#237; &#237;t ở những nơi c&#243; nước ở dạng lỏng.    Chúng được coi là những “nhà du hành can trường”: Loài vi khuẩn  Desulforudis audaxviator phải mất hàng triệu năm để tiến sâu vào lòng đất. Năm 2006 các nhà khoa học đã phát hiện loại đơn bào này chuyên sống nhờ khí hydro và sulfat trong những khối đá ở độ sâu gần 3 km trong lòng đất ở vùng mỏ vàng Mponeng thuộc Nam Phi.  Christopher McKay thuộc Trung tâm nghiên cứu “Ames” của cơ quan Nghiên cứu vũ trụ NASA của Mỹ, đánh giá đây là một phát hiện quan trọng bậc nhất trong những năm gần đây của bộ môn sinh vật học thiên văn (Astrobiologie) – tức lĩnh vực chuyên tìm kiếm các dạng sống trong vũ trụ, đặc biệt là những dạng sinh vật sống ở những vùng cực kỳ khó khăn trên Trái đất. Việc phát hiện loại vi khuẩn  Desulforudis audaxviator cho thấy, có nhiều khả năng trên các hành tinh khác cũng tồn tại sự sống.    Trên sao Hỏa  Những thách thức ngay đối với sinh vật đơn bào chứ chưa nói đến các loại sinh vật có trình độ phát triển cao hơn, thí dụ trên sao Hỏa là hết sức khắc nghiệt: ban đêm nhiệt độ tại đây tụt xuống chỉ còn âm  85 độ Celsius. Tia UV (cực tím) mạnh hơn nhiều so với ở khu trung tâm lỗ ozon trên Trái đất. Những khoáng vật cho thấy nguồn nước ở đây từng có nồng độ chua hoặc kiềm rất cao. Đất trên sao Hỏa phần lớn là sa mạc muối. Tuy nhiên nhiều loại đơn bào mà người ta đã phát hiện trên Trái đất cũng có khả năng chịu đựng tác động ngoại cảnh ngặt nghèo tương tự, ví dụ:   Loài vi khuẩn Archaeen Haloarcula marismortui vẫn có khả năng sinh sản trong nước có độ mặn rất cao, thí dụ như trong môi trường Biển chết.  Giống Archaeen Picrophilus có thể phát triển trong môi trường mà độ  pH ở mức 3% HCl. Có nghĩa là cao hơn tám lần so với dịch trong dạ dày con người, chính nhờ dịch này nên nhiều loại vi khuẩn mà con người nuốt vào bụng đã bị tiêu diệt.  Loài  Archaeen Natronomonas pharaonis có thể sinh sống ở những hồ nước có độ kiềm rất cao – như đã từng xảy ra cách đây hàng triệu năm ở rãnh Gusev trên sao Hỏa.  Deinococcus radiodurans, là một loại vi khuẩn có thể sống ngay cả khi tia cực tím cao gấp 2000 lần so với sức chịu đựng của con người, có nghĩa là loại vi khuẩn này vẫn có thể tồn tại khi xảy ra bom cực tím trên sao Hỏa.  Nhà khoa học Christopher McKay, người đi tiên phong trong lĩnh vực Sinh vật học thiên văn, thường có các chuyến đi săn ở Bắc và Nam Cực để lùng tìm các vi sinh vật có sức chịu lạnh cao.   Theo nhà nghiên cứu này thì “tất cả các vị trí thuộc hệ Mặt trời, như sao Hỏa hay sao Mộc, khả năng có sự sống đều có bề mặt rất lạnh hay băng giá”. Ông và các cộng sự đã phát hiện tại Nam Cực một số loại vi sinh vật đơn bào có thể phát triển ở nhiệt độ âm 12oC và có thể tồn tại ở nhiệt độ âm 20oC. Thậm chí có ý kiến cho rằng một chủng thuộc loại vi khuẩn Colwellia psychrerythraea có thể chịu sức lạnh đến âm 196oC.   Christopher McKay cũng nhận ra rằng, nghiên cứu trong điều kiện nhiệt độ thấp cực kỳ khó khăn. Nhiệt độ càng xuống thấp thì sự trao đổi chất ở vi sinh vật càng giảm do đó tăng trưởng cũng giảm theo – sự giảm này có thể xuống đến mức dường như sự sống bị tắt ngấm, tuy nhiên điều này không có nghĩa các vi sinh vật ở đây bị tuyệt diệt hoàn toàn. Chúng có thể tồn tại hàng nghìn tới hàng triệu năm trong băng giá.   Không có nước, không có sự sống  Sau 30 năm săn lùng vi khuẩn trong môi trường khô và giá lạnh, nhà nghiên cứu McKays rút ra kết luận vô cùng quan trọng là: sự sống trên Trái đất được quyết định bởi sự có mặt của nước ở dạng lỏng. “Chúng tôi đã cất công săn lùng những loại vi sinh vật có thể tồn tại mà không cần có nước, nhưng vô vọng”. Chất dinh dưỡng hòa tan trong nước và phát tán trong tế bào và cũng nhờ chất lỏng để đào thải. Chất lỏng cố định protein là một loại dung môi hòa tan lý tưởng đối với các quá trình trao đổi chất vô cùng đa dạng. Chính vì thế Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Mỹ khi lùng tìm cuộc sống ngoài Trái đất nêu khẩu hiệu: “Follow the water – đi theo nguồn nước”.   Ngày càng có nhiều thiên thể có thể sống được   Danh sách các hành tinh và vệ tinh dự đoán có nguồn nước dự trữ đang ngày càng tăng lên. Thí dụ tàu thăm dò vũ trụ “Galileo” phát hiện bên dưới lớp băng giá của sao Mộc (Jupiter) Europa có một đại dương mặn. Sao Thổ Enceladus phun ra vô vàn hạt băng văng xa tới hàng trăm km lên vũ trụ; những tính toán gần đây ủng hộ phỏng đoán nước lỏng chứa chất trong những giếng phun khổng lồ.   Nhà nghiên cứu Dirk Schulze-Makuch thuộc Washington State University ở Pullman cho rằng “Trong số hàng tỷ ngôi sao và hàng tỷ hành tinh thì hẳn sẽ có những nơi nào đó có sự sống trong một loại dung môi nào đó không phải là nước.” Một khi không biết đích xác cần phải tìm cái gì thì có lẽ các nhà sinh vật học thiên văn sẽ càng nhận thấy khó khăn hơn khi tìm kiếm sự sống trong vũ trụ.                XUÂN HOÀI dịch (Geo.de  3.2009)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hổ phách đục chứa nhóm 356 động vật      Các nhà cổ sinh vật học thuộc Đại học Rennes (Pháp) và ESRF vừa phát hiện một nhóm 356 động vật trong hổ phách hoàn toàn đục 100 triệu năm tuổi có từ thời trung Cretaceous tại vùng Charentes (Pháp).      Đây là lần đầu tiên chúng ta thực sự có thể khám phá và nghiên cứu hóa thạch bên trong nó. Nhà cổ sinh vật học Malvina Lak và Paul Tafforeau đã áp dụng một phương pháp chụp X-quang microradiography truyền pha tương phản. Phương pháp này rọi sáng khối hổ phách vốn không khác gì một hòn đá dưới mắt thường. Họ đã phát hiện hóa thạch từ ong bắp cày, ruồi cho đến kiến và thậm chí là nhện và loài acarian. Nhóm nghiên cứu đã có thể nhận diện họ của 53% số động vật trong nhóm.    Tuệ Minh (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Họ rất gắng bó với nông dân      Đại sứ Israel tại Việt Nam Effie Ben – Matityan mở đầu cuộc trò chuyện với Tia Sáng về nền nông nghiệp, đặc biệt về các nhà khoa học nông nghiệp của Israel bằng việc giới thiệu khái quát những thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp Israel.    Israel chỉ rộng bằng 1/58 Việt Nam, mật độ dân số thuộc hàng đông nhất thế giới. Nhưng chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp, Israel không những bảo đảm đủ nhu cầu lương thực mà còn xuất khẩu tới 3 tỉ USD nông sản. Có được điều này là nhờ năng suất nông nghiệp của Israel rất cao, xin đưa ra những con số dễ hình dung: Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, còn ngày nay là 90 người. Một hecta đất của Israel hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ; đặc biệt, một con bò của Israel cho tới 11 tấn sữa/năm – đây là năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được. Tất nhiên, chìa khóa thành công của nông nghiệp Israel chính là công nghệ (know – how).  Do đâu các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel thành công đến vậy?  Nhờ nước Israel rất nhỏ (cười), đồng ruộng san sát, vì thế các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel rất gần gũi với đồng ruộng. Từ viện nghiên cứu hay trường đại học, họ có thể “đi vèo” tới các cánh đồng. Không bao giờ các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel có thái độ kẻ cả khi tới ruộng. Do gần gũi với nông dân, hoặc chính gia đình mình là nông dân nên các nhà nghiên cứu nông nghiệp giải quyết các vấn đề của đồng ruộng với tư cách bạn bè. Mặt khác, sức ép thiếu đất và nước rất đắt khiến các nhà nghiên cứu nông nghiệp phải bằng mọi cách đẩy năng suất lên cao nhất. Israel là nước phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt (dip irrigation) điều khiển bằng máy tính, không một giọt nước bị bỏ phí. Trình độ nông dân của Israel cũng rất cao, tất cả họ đều đã học xong trung học; nhiều người sau khi học xong đại học đã quay lại đồng ruộng, sau đó lại mang kinh nghiệm đồng áng của mình tới trường đại học.  Thường các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel làm việc cho nhà nước hay tư nhân?  Phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp của chúng tôi làm cho nhà nước. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp (ARO) hay Trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. ARO có 7 viện nghiên cứu con: Viện Rau, Viện Thu hoạch, Viện Vật nuôi, Viện Khoa học Đất-Nước và Môi trường, Viện Bảo vệ Thực vật, Viện Sau thu hoạch và Viện Cơ khí nông nghiệp. Khoa Nông nghiệp của các trường Đại học Hebrew, Đại học Tel Aviv… cũng có chức năng nghiên cứu nông nghiệp. Mỗi năm Israel chi khoảng 90 triệu USD cho nghiên cứu nông  nghiệp, trong đó khu vực tư nhân chi khoảng 20 triệu USD.  Vậy đâu là động lực của các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel?  Câu hỏi rất thú vị! Các công ty tư nhân thường trả lương rất cao nên nhà nước cũng phải trả lương cao để giữ chân các nhà nghiên cứu. Nhưng dù các công ty tư nhân trả lương cao hơn, các nhà khoa học vẫn thích làm cho nhà nước, vì nhà nước cho họ điều kiện nghiên cứu tốt hơn. Họ làm việc không hoàn toàn vì tiền, mà trước hết vì khoa học. Ngoài ra, họ cũng có thể đi tư vấn cho các nông trại.    Sự khác biệt của các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel so với đồng nghiệp ở các nước có nền nông nghiệp phát triển khác, như Mỹ, Hà Lan…  là gì?            Nông nghiệp cũng là một loại công nghiệp        Điều này rất khó nói, có thể đó là khác biệt về tâm lí và địa lí. Các nhà nghiên cứu nông nghiệp của Mỹ, Đức, Hà Lan, Trung Quốc… cũng rất giỏi, nhưng có khi vì đất nước của họ quá rộng nên họ bị xa cách với đồng ruộng; cũng có khi vì khí hậu đồng nhất nên họ không thể giải quyết được một lúc nhiều vấn đề. Israel thì ngược lại. Nước chúng tôi nhỏ nhưng địa hình rất phức tạp: có đồng bằng, có núi, có sa mạc, thời tiết cũng rất đa dạng, vì thế các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel phải rất linh hoạt trong tư duy để có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp, áp dụng được ở nhiều nơi khác nhau. Mặt khác, như tôi đã nói, các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel không xa cách với nông dân, đặc biệt, luôn coi trọng những kinh nghiệm trong sản xuất của họ.    Mô hình nông nghiệp Israel liệu có thể áp dụng cho Việt Nam?  Theo tôi, vấn đề chính của nông nghiệp Việt Nam là bắt kịp khoa học tiên tiến. Nông nghiệp cũng là một loại công nghiệp. Lấy ví dụ ngay việc nuôi bò, vấn đề không phải là nuôi năm ba con, để nó tùy ý đi lại, thỉnh thoảng lại ăn một chút cỏ, mà nên xem nó như một chiếc… ô tô. Phải có “đầu vào” tốt, cung cấp đủ lượng protein, tạo độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, giữ nền chuồng sạch sẽ, thậm chí phải cho… ngủ đủ, “đầu ra” mới có nhiều sữa. Nhờ các nhà kính, hệ thống tưới tiêu có điều khiển, kĩ thuật chọn giống, tiến bộ sinh học… nông nghiệp hiện đại ngày càng ít phụ thuộc vào môi trường. Trình độ của các nhà nghiên cứu nông nghiệp của Việt Nam rất tốt, tuy nhiên nền nông nghiệp của các bạn vẫn lạc hậu, còn rất nhiều thách thức phải vượt qua.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hồ sơ Jésus      Sau “Mật mã Da Vinci” của Dan Brown đến cuốn “Nhân bản Christ?” của Didier van Cauwelaert, nhiều tác phẩm văn học và phim ảnh đã ra đời nhằm phát hiện những bí mật trong đời sống của Jésus và đề cập đến khả năng nhân bản (clonage) đức Chúa. Trong các tác phẩm này các tác giả đã khéo đan quyện khoa học và tưởng tượng, tạo nên một sự hấp dẫn đặc biệt cho người đọc. Nguời ta có cảm tưởng như đã hình thành một âm mưu chống lại các nhận định truyền thống do Nhà thờ truyền bá. Đâu là sự thật? Chúng ta hãy cùng nhau mở tập hồ sơ Jésus …              Dan Brown , tác giả “Mật mã Da Vinci”      Grrard Lucotte , tác giả cuốn sách “Tấm vải liệm ở Turin và chiếc áo lễ ở Argenteuil” (đồng tác giả với André Marion)        Những câu chuyện chung quanh các biếm họa Mahomet đã không  làm cho người ta bớt chú ý đến một nhân vật tôn giáo lớn khác: Jésus Christ. Bản thân Jésus Christ trong những năm gần đây cũng là đề tài của nhiều tác phẩm đề cập đến những điểm nghi ngờ, những phát hiện gây nhiều tranh cãi trong đời sống của ông. Nhiều sách, truyện, phim ly kỳ được xuất bản nhằm vén lên những góc màn bí ẩn của đời sống của Messie (Jésus Christ). Những ấn phẩm này bán rất chạy trên thị trường. Quyển “Mật mã Da Vinci” của tác giả Dan Brown thuộc loại best-seller, đã bán được 40 triệu bản trong vòng 3 năm.            Didier van Cawelaert .   tác giả cuốn “ Nhân bản Christ?”          Một phim ăn khách dựng từ quyển sách trên càng làm cho quyển sách trở nên đắt giá. Chủ thuyết của quyển sách có nguồn từ  văn chương thần bí  kể về Opus Dei, một tổ chức thiên chúa giáo đã không ngại giết người để che dấu sự thật về quan hệ giữa Jésus Christ  với Marie Madeleine, về hậu duệ của họ. Một tập truyện tranh của Didier Convard gồm 7 cuốn mô tả một đội quân vũ trang của nhà thờ sẵn sàng hạ thủ bất cứ người nào có khả năng phát hiện chúa Jésus không bị đóng đinh trên thánh giá. Trong các tác phẩm này không phải chỉ toàn các câu chuyện tưởng tượng, các tác giả cũng đã đưa ra không ít các tài liệu minh chứng. Nhà văn Didier van Cawelaert trong cuốn sách “Nhân bản Christ?” mô tả khả năng của các nhà sinh học trong việc tạo ra đức chúa sống. Cuốn sách này ra đời vào tháng 11 năm ngoái đã bán ra được hơn 100.000 bản              Trong phim và cuốn sách của Didier van Cawelaert, nhà di truyền học Gérard Lucotte (ảnh) khẳng định rằng ông đã tìm được những hồng cầu cho là thuộc Christ trên chiếc áo lễ ở Argenteuil.        Trong cuốn “Mật mã Da Vinci”, tác giả Dan Brown còn khẳng định rằng trong Thư viện quốc gia có lưu trữ một quyển sách cổ mang tên “Những hồ sơ bí mật ” viết về  hậu duệ của Christ. Nhìn chung mà nói các tác giả đã khéo lồng ghép tưởng tượng và các tư liệu khoa học vào nhau, làm cho độc giả khó lòng phân biệt đâu là sự thật. Một điều tương tự cũng xảy ra trong quyển “Nhân bản Christ?” Trong quyển sách này tác giả Didier van Cawelaert đã nhiều chỗ  hành văn trên ngôn ngữ của một  báo cáo khoa học, ở một quyển sách khác  tác giả này còn buộc tội nhà thờ đã phủ định  tấm vải liệm lưu giữ tại nhà thờ Turin là di vật thật  hòng khuyến dụ các nhà sinh học không nên nhân bản đức chúa Christ.   Chưa có đầy đủ cơ sở khoa học  Gérard Lucotte một trong những nhà di truyền học  cùng với André Marion trong quyển sách “Tấm vải liệm ở Turin và chiếc áo lễ ở Argenteuil” cũng cho rằng các di vật này có thể chứa những dấu hiệu tế bào của Christ. Song tất cả những tư liệu trên của các nhà văn lẫn của hai nhà di truyền học đều có chung một điểm yếu: Chưa được giới khoa học công nhận để tham chiếu! Họ chưa chứng minh được rằng tấm vải liệm ở Turin thuộc về Christ. Có thể đây là một di vật giả [1].           Trong cuốn “Mật mã Da Vinci” và trong phim các thành viên của tổ chức Opus Dei như Sitas (thể hiện bởi nghệ sĩ điện ảnh Paul Bettany) sẵn sàng giết người để giữ kín bí mật của Christ.        Thuyết âm mưu (théo rie des complots)  Trong số các cuốn sách kể trên  dường như sức tưởng tượng chiếm phần lấn áp, các giả thuyết trên liệu có được dựa trên cơ sở khoa học? Có thể nào tin tưởng vào việc thu thập từ tấm vải liệm nghi là thuộc Christ một số tế bào còn nguyên vẹn để trích ra từ đó ADN, tái tạo lại bộ gien (génome) và cuối cùng tạo ra chủ nhân của chúng? Có chăng một phần sự thật trong quan hệ của  Jésus với Madeleine?  Bà Véronique Campion-Vincent chuyên gia làm việc tại Viện khoa học con người ở Paris muốn chứng tỏ rằng các tác phẩm văn chương, điện ảnh và khoa học nói trên thuộc về một phong trào chống đối ảnh hưởng của lý thuyết âm mưu đang tạo ra một hơi thở mới cho các khoa học huyền bí (ésotérisme).  Chúng ta sẽ lần lượt xét những vấn đề đó trong hồ sơ này.  1/ Tái tạo vô tính đức Christ? Một nhiệm vụ bất khả thi  Làm sống đức Jésus từ những mảnh ADN gặp quá nhiều trở ngại để có thể là một việc làm hiện thực. Muốn nhân bản một sinh vật đòi hỏi phải có một chuỗi dài ADN chứa trong hạt nhân của các tế bào của sinh vật đó. Không có được di thể của nhân vật người ta hy vọng dựa  vào các di vật nghi là của Christ để thực hiện việc nhân bản. Các di vật đó là: tấm vải liệm ở Turin, chiếc áo lễ ở Argenteuil và khăn phủ mặt ở Oviedo. Những thí nghiệm xác định niên đại bằng carbon 14 đều nói lên rằng những di vật này không đồng thời với Christ. Vậy chúng ta không sở hữu được một điều gì bất kỳ của Christ, đây là trở ngại thứ nhất.  Chiếc áo lễ ở Argenteuil đã trải qua nhiều biến cố: cuộc xâm lăng normand, cuộc Cách mạng, rồi bị mất cắp và cuối cùng tạo dựng lại trong những năm 80, như thế chiếc áo lễ này có thể chứa nhiều dị vật hữu cơ có thể cung cấp ADN ngoại lai. Gérard Lucotte và André Marion khẳng định rằng họ đã tìm được trên áo lễ này những tế bào máu biến dạng do các cực hình mà Jésus đã phải chịu. Song Brigitte Oger làm việc tại Phòng thí nghiệm nghiên cứu các di tích lịch sử lại khẳng định điều ngược lại: Ông không tìm ra dấu tích nào của tế bào máu. Các tác giả Gérard Lucotte và André Marion cần phải công bố các kết quả của mình trên một tạp chí khoa học để giới khoa học nghiên cứu và  đi đến  kết luận trên áo lễ ở Argenteuil có các tế bào máu hay không. Đối với các di vật khác, tấm vải liệm ở Turin và khăn phủ mặt ở Oviedo thì tình huống cũng tương tự. Tóm lại khó lòng có những cơ sở xác đáng để tin rằng từ các di vật đã nói có thể tìm thấy ADN.  Dẫu cho rằng từ các di vật trên có thể tìm thấy ADN thì một câu hỏi khác lại xuất hiện: liệu đó có phải là ADN của Christ? Cũng xin nhắc lại rằng các di vật này có thể thuộc vào những thời đại nhiều thế kỷ sau khi Christ tạ thế.  Pierre Pontarotti, Giám đốc  Phòng thí nghiệm nghiên cứu sự phát sinh các loài (phylogenesis), Đại học Marseille đã phát biểu rằng trong các di vật đó có thể có những mảnh da đã chết, những vi khuẩn, những bụi bẩn… cho nên khó tránh khỏi sự ô nhiễm gây nên bởi những ADN ký sinh.  Gérard Lucotte trong quyển sách nói trên đã đưa ra một bản đồ gien của chủ nhân chiếc áo lễ ở Argenteuil, song lại không công bố các kết quả đó trong một tạp chí khoa học nào. Nhiều nhất những dữ liệu này chỉ cho phép khẳng định chủ nhân chiếc áo lễ thuộc các dân tộc Trung Đông và đó là tất cả.  Muốn tái tạo bộ gien của một người mà chúng ta chỉ có được một đoạn ADN thì đó là một điều vô cùng khó khăn và  chúng ta phải đối diện với khoảng 30 triệu phương án để tái tạo.  Nói tóm lại nhân bản đức chúa Jésus là một điều không tưởng và sẽ mãi mãi là một công việc vô vọng.  2/ Cuộc sống bí mật của chúa Jésus? Jésus đã có con với Marie Madeleine, giả thuyết này dựa trên nhiều bằng chứng, song vẫn chưa được kiểm nghiệm.  Marie Madeleine là bạn đời của Christ, đã sinh con và có hậu duệ, điều này được Nhà thờ giữ bí mật. Đó là sợi chỉ đỏ trong cuốn tiểu thuyết best-seller “Mật mã DaVinci” của Dan Brown. Tán thành hoặc phản đối lập tức điều này có lẽ là quá sớm. Vì rằng phải nhận định được điều này mang ý nghĩa gì? Marie Madeleine là ai? Những chứng cứ xác đáng nào để chứng minh rằng bà có con? Nhà thờ có đóng vai trò gì ở đây?  Song cũng còn một câu hỏi cơ bản hơn: nhưng Jésus là ai? Nền tôn giáo Thiên chúa chỉ để lại những sách về Jésus còn tuyệt nhiên không có một vết tích , một lưu ảnh nào của ông. Đó là kết luận của Gérard Mordillat và Jérôme Prieur, hai chuyên gia nghiên cứu về tính có thực của nhân vật Christ trong lịch sử.  Các nguồn dữ liệu chính của phía Thiên chúa giáo về Jésus-Christ là 4 kinh Phúc âm (Evangile): của Marc, 65 sau J.-C, hai của Luc&Mathieu, muộn hơn và cuối cùng của Jean, 95 sau J.-C. Bốn kinh Phúc âm đó làm thành Tân Kinh ước (Nouveau Testament) của Thánh kinh (Bible).  Để minh chứng cho mối quan hệ giữa Marie Madeleine với Jésus, Dan Brown tham chiếu một kinh Phúc âm khác của Philippe tìm ra năm 1945 ở Nag Hammadi, Ai cập. Song nguyên bản ngụy tác này lại viết bằng tiếng Copte (tiếng cổ Ai-cập) chứ không phải bằng tiếng Araméen (tiếng nói của Christ và các sứ đồ), riêng điều này cũng làm cho dẫn chứng của Dan Brown thiếu phần chặt chẽ. Những văn bản mà Dan Brown sử dụng thuộc về một cộng đồng tôn giáo mà giữa họ cử chỉ hôn lên môi chỉ là một biểu hiện  làm quen , như vậy khi nói đây là một biểu hiện yêu đương thì đó là một sự ngoại suy.  Như vậy những chứng cứ về mối quan hệ giữa Jésus và Madeleine quả là mong manh. Song Dan Brown lại cho rằng sự vắng mặt các chứng cứ vững chắc chính là chủ ý của Nhà thờ để che dấu sự thật khó tin này. Cũng theo Dan Brown, Thánh kinh mà chúng ta biết hiện nay là do hoàng đế Constantin đã cấp kinh phí cho việc xuất bản một Tân Kinh ước, trong đó đã xóa hết mọi dấu vết của cuộc tình giữa Jésus và Marie Madeleine.  Song sự thật là Constantin đã không hề cho biên soạn một kinh Phúc âm nào cả, bản chính thức là do Nhà thờ tổ chức biên soạn từ thế kỷ thứ II đến năm 397.  Về hậu duệ của Christ và Madeleine, tác giả Dan Brown tham chiếu “Những tư liệu bí mật “ mã số 4º Im 249 lưu giữ tại Thư viện quốc gia. Nữ  nhà báo Marie-France Etchegoin cùng với nhà xã hội học Frédéric Lenoir đã kiểm tra lại những tư liệu bí mật này, quả thực chúng tồn tại và chúng minh một phả hệ của Christ đến tận một người… tên là Pierre Plantard. Song sau nhiều công sức tìm tòi của  nhà báo và nhà xã hội học thì hóa ra các tư liệu bí mật trên là do chính Pierre Plantard dựng nên. Người ta nghi rằng Pierre Plantard là một kẻ tinh thần phân lập.  Như vậy chứng cứ cho một giả thuyết về một  cuộc hôn nhân giữa Christ và Madeleine lại đòi hỏi nhiều tìm tòi khác.  3/ Những học thuyết huyền bí (Esotérisme) và các lý thuyết về âm mưu (théories du complot) [2] có mối liên hệ với nhau.  Theo ý kiến của nhà xã hội học Véronique Campion-Vincent làm việc tại CNRS, nếu hiện nay có những “âm mưu” chống lại nhà thờ, thì điều này cũng không phải là mới lạ. Mà từ lâu đã hình thành những ý tưởng về sự tồn tại một quyền lực hoạt động trong bóng tối để áp đặt những quan điểm của họ lên xã hội, những ý tưởng này cấu thành lý thuyết âm mưu.  Bà Véronique Campion-Vincent cho rằng sự xuất hiện những tác phẩm gần đây chung quanh Christ đều xuất phát từ một lý do chính: đó là sự thăng hoa của một mối nghi ngờ có hệ thống. Những tác giả này suy tưởng rằng trật tự trong thế giới hiện nay chỉ là biểu kiến, trong thực tế những tổ chức có quyền lực đã giật dây trong bóng tối. Họ cho rằng có những tổ chức nhà thờ hoạt động nhằm mục đích bóp nghẹt những thông tin thật về Christ. Đó chính là lý thuyết âm mưu. Tất cả các tác phẩm đó đều xoay quanh một điểm: từ chối sự lạm dụng quyền lực của nhà thờ.  Vì sao mà lý thuyết âm mưu lại nở rộ lên như thế. Cũng theo bà Véronique Campion-Vincent điều kiện để cho lý thuyết âm mưu phát triển mạnh mẽ là tình trạng phức tạp của thế giới hiện nay. Những tác phẩm này phản ánh một tâm trạng lo lắng trước những thay đổi trong xã hội và muốn nêu danh những kẻ có trách nhiệm dấu mặt trong bóng tối. Đây cũng là một cách chống đối hòng mong tìm ra sự thật và triệt tiêu sự lạm dụng quyền lực.  Cuốn sách “Mật mã Da Vinci” của Dan Brown là một trong nhiều thể hiện của lý thuyết âm mưu. Jésus đã có con cùng Marie Madeleine và hậu duệ của họ lập nên triều đại mérovingien [3] được che chở bởi một xã hội bí mật có tên là Prieuré de Sion.  Các lý thuyết âm mưu dựa trên những suy tưởng nhất định và những tư liệu khoa học ít nhiều gây sự tin cậy. Phải công nhận rằng những ý tưởng táo bạo về mặt khoa học như vấn đề nhân bản Jésus là những vấn đề hấp dẫn đối với nhiều nhà khoa học.  4/ Kết luận  Đến đây chúng ta khép lại hồ sơ Jésus. Như chúng ta đã thấy trí tưởng tượng và nhiều tư liệu khoa học đã được đan quyện với nhau một cách tài tình, như trong cuốn “Mật mã Da Vinci” của Dan Brown và bộ phim, điều này rất hấp dẫn, gây nhiều ấn tượng cho trí tò mò và cho mỹ cảm nghệ thuật của độc giả. Nhiều vấn đề khoa học nêu ra trong các tác phẩm đó cũng là những đề tài đáng quan tâm đối với các nhà khoa học. Ngoài ra sự phân tích của Véronique Campion-Vincent về mối liên hệ có thể có giữa những tác phẩm đó với lý thuyết âm mưu, phát triển trong những năm gần đây cũng cho chúng ta thấy rõ thêm bối cảnh triết học của vấn đề.                                                                                Hồ sơ Jésus chắc còn phải được bổ sung và làm sáng tỏ, tuy nhiên có lẽ mỗi độc giả sau khi đọc xong  hồ sơ này  đã có những nhận định riêng của mình.  CC biên dịch (Science & Avenir, tháng 5 năm 2006)      Isabelle Bourdial & Philippe Descamps      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Hố thiên thạch” ở Peru do vệ tinh Mỹ gây ra?      Các nhà phân tích tình báo quân sự Nga tin rằng một trong những vệ tinh bí mật nhất của Mỹ là KH-13 đã bị phá hủy trên quỹ đạo và máy phát điện của nó rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Peru, tạo nên cái hố lớn.      Vì nếu do một thiên thạch gây ra thì sự va chạm này sẽ tạo ra một năng lượng khổng lồ và được các trạm địa chấn khắp thế giới ghi nhận. Ngược lại vơi dự báo trên, các nhà thiên văn học Peru cho biết có bằng chứng cho thấy hố ở làng Carangas là do một thiên thạch gây ra. Jay Melosh, giảng viên môn khoa học hành tinh tại Đại học Arizona (Mỹ), trong số 1.000 tảng đá được cho là thiên thạch, chỉ có một là thật. Sau khi các nhà khoa học nghiên cứu kỹ hơn về hố sâu được tạo ra và nhiều nhân chứng mô tả những gì đã xảy ra, ông cho rằng có thể đây là một thiên thạch. Dù vậy, nhiều chuyên gia vẫn muốn tiến hành thêm các cuộc kiểm tra khác để xác nhận.   (Theo Pravda)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hỗ trợ tiết kiệm năng lượng cho doanh nghiệp      Khoảng 500 doanh nghiệp vừa và nhỏ, thuộc 5 lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng sẽ được trợ giúp các giải pháp công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng trong giai đoạn 2006-2010.    Đó là nội dung chính của dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ được ký kết ngày 21.10 vừa qua giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Chương trình phát triển LHQ (UNDP). Ngoài ngân sách 29 triệu đôla của dự án, một quỹ có giá trị hơn 1,9 triệu đôla sẽ được thành lập để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với các nguồn vốn vay phục vụ các dự án tiết kiệm năng lượng riêng của doanh nghiệp.  Dự kiến, dự án sẽ giúp Việt Nam tiết kiếm được một khoản năng lượng tương đương 136 nghìn tấn dầu, giảm 962 nghìn tấn khí CO2 phát thải hàng năm, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ giảm chi phí về năng lượng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoa Kỳ: Rò rỉ lượng khí methan khổng lồ trên không gian      Năm 2018 một tập đoàn khí đốt gây rò rỉ một lượng lớn khí đốt ở Hoa kỳ.  Giờ đây một nghiên cứu cho thấy, lượng khí methan gây hại cho khí hậu đã tràn ra bầu khí quyển lớn như thế nào.      Từ lâu các nhà nghiên cứu không khỏi lo lắng về lượng khí methan toàn cầu. Loại khí này làm cho khí hậu nóng lên còn tệ hại hơn cả carbondioxid (CO2). Và trong thời gian gần đây các nhà khoa học ghi nhận sự gia tăng của methan trong bầu khí quyển.  Nguyên nhân một phần vì sự tan băng ở những vùng giá lạnh đóng băng vĩnh cửu trên trái đất. Sinh khối từ cây cối bị chết bị vi sinh vật phân hủy trong quá trình đó hình thành CO2 và Methan. Một lý do nữa gây nên sự gia tăng khí thải này là sự khai thác ngày càng nhiều khí đá phiến – methan là thành phần chủ yếu trong khí đốt (Erdgas).  Một nghiên cứu mới xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Sciences đã cho thấy một lượng lớn khí methan rò rỉ ra bầu khí quyển do sự cố trong quá trình khai thác.  Để phát hiện các điểm rò rỉ cũng như các điểm nóng gần đây các nhà khoa học sử dụng dữ liệu vệ tinh của Tổ chức không gian châu Âu (Esa). Một nhóm các chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu Vũ trụ ở Utrecht, Hà Lan đã phân tích, đánh giá dữ liệu về một vụ rò rĩ khí ga ở khu mỏ khai thác khí đốt thuộc bang Ohio, Hoa Kỳ vào tháng hai 2018. Nhà điều hành Exxon Mobil cho đến nay cho hay không nắm được lượng khí bị thất thoát là bao nhiêu, theo New York Times.  Nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan đã cung cấp các dữ liệu chính xác hơn. Theo điều tra này thì rò rỉ kéo dài 20 ngày và lượng khí thất thoát là 120 tấn trong một giờ. Dựa vào lượng thất thoát tính theo giờ thì lượng rò rỉ ở vụ này lớn gấp đôi vụ rò rỉ lớn nhất trong lịch sử khai thác khí đốt của Hoa Kỳ: năm 2015 đã có hàng tấn  methan bị thất thoát từ một kho chứa ngầm dưới đất ở Aliso Canyon, California. Tổng lượng thất thoát hồi đó cao hơn lượng thất thoát ở Ohio.  Trong  112  ngày đã có 100.000 tấn methan ở  California tràn ra ngoài. Vụ rò rỉ ở  Ohio chỉ có khoảng  60.000 tấn, theo ước đoán của các nhà nghiên cứu. Con số này tương đương một phần tư tổng lượng khí thải methan trong một năm của sản xuất dầu mỏ và khí đốt ở Ohio.    Methan (CH4) là khí thải gây hiệu ứng nhà kính có hại cho khí hậu, tác động của nó đối với việc tăng nhiệt độ trên thế giới đã bị coi nhẹ trong một thời gian dài. Trong thực tế loại khí này làm tăng nhiệt độ toàn cầu mạnh hơn nhiều so với  carbondioxid – cho dù lượng  methan được giải phóng thấp hơn nhiều so với  CO2. Methan có trong tự nhiên và khi bị đốt cháy nó tạo ra ít CO2 hơn so với than. Nhưng khi loại khí không mùi, không mầu này thoát ra bầu khí quyển thì nó có tác hại lớn với khí hậu. Nó oxy hoá thành carbonmonoxid và sau đó thành carbondioxid.  Theo các nhà khoa học, nghiên cứu này cho thấy những gì có thể đạt được từ các dữ liệu vệ tinh về giám sát khí methan. Giờ đây có thể đánh giá từ không gian những gì diễn ra ngay cả ở những nơi chỉ mang tính khu vực. Dữ liệu về nồng độ khí methan trên thế giới nhà nghiên cứu có thể có được nhờ công cụ giám sát tầng đối lưu  (Tropospheric Monitoring), gọi tắt là Tropomi. Nó bay vòng quanh trái đất  cùng vệ tinh quan sát trái đất Sentinal-5P . Bên cạnh khí methan, nó còn có thể đo được hàm lượng Ozon, Carbonmonoxid hay sulfuadioxid trong bầu khí quyển.  Fracking bị nghi ngờ    Trong quá trình khai thác khí đốt các nhà nghiên cứu lo ngại nhất về công nghệ   Fracking đang gây nhiều tranh cãi. Công nghệ này bị nghi có dính líu đến việc làm tăng giải phóng khí methan. Đặc biệt Hoa kỳ và Canada dùng phương pháp này để tiếp cận các mỏ khí đốt tự nhiên mà trước đây họ không tiếp cận được. Khi tiến hành kỹ thuật Fracking, trước hết họ phải khoan vào đá phiến sau đó ép một chất lỏng với áp xuất cao vào lớp đá. Lớp đá bị rạn nứt và khí đốt thoát ra từ các vết rạn đó vào lỗ khoan để ra ngoài.  Cách đây ít tháng có thông tin chính phủ của tổng thống Donald Trump có ý định nới lỏng luật Môi trường đối với ngành công nghiệp dầu và khí đốt. Theo đó Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (Environmental Protection Agency EPA) trong tương lai, chính phủ sẽ nới lỏng việc giám sát lượng khí thải  methan.  Hiện tại các doanh nghiệp buộc phải áp dụng các công nghệ rất tốn kém đối với các lỗ khoan, đường ống hoặc kho chứa, để xác định được các chỗ rò rỉ khí và hàn gắn lại kịp thời.    Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/wissenschaft/natur/forscher-beobachten-riesiges-methan-leck-vom-weltraum-aus-a-1301632.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang HÒA LẠC SẼ LÀ MỘT THÀNH PHỐ KHOA HỌC      Được thành lập cách đây gần 10 năm, Chính phủ đặt kỳ vọng Khu Công nghệ cao (CNC) Hòa Lạc sẽ trở thành “yếu tố quan trọng để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế khu vực và cả nước với vai trò là cầu nối tiếp nhận chuyển giao và tiến tới sáng tạo các công nghệ cao mới; là điểm thử nghiệm, thí điểm rút kinh nghiệm cho việc đẩy mạnh phát triển các Khu công nghệ cao trong cả nước”. Nhưng việc triển khai xây dựng khu CNC này dường như đình trệ cho đến cuối năm 2006.  Trong cuộc trao đổi với Tia Sáng, ông Nguyễn Văn Lạng, Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN, Trưởng ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc cho biết:    Nguyên nhân chậm tiến độ xây dựng Khu CNC Hòa Lạc, theo tôi có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là vị trí của Khu CNC Hòa Lạc chưa thật “đắc địa” nếu so sánh với Khu CNC TP. HCM, hay cả với nhiều khu công nghiệp của Hà Nội. Khu CNC Hòa Lạc xa trung tâm, đường quốc lộ, sân bay, hải cảng… Nguyên nhân chủ quan là có một số bước đi chưa thật phù hợp, như việc giao cho chủ đầu tư thực hiện khâu giải phóng mặt bằng. Do phải phụ thuộc chặt chẽ vào các quy định nhà nước nên không có ban quản lý nào có thể thực hiện tốt việc giải phóng mặt bằng bằng chính quyền sở tại. Do vậy, 200 ha mặt bằng được giải phóng đầu tiên cũng không phải liền một khu mà bị chia thành “lốm đốm” 4-5 miếng. Đường nào dẫn vào Khu CNC cũng bị “cụt”.               Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi với Bộ trưởng KH&CN Hoàng Văn Phong về kế hoạch phát triển Khu CNC Hòa lạc          Việc quảng bá hình ảnh Khu CNC này cũng không thích hợp: nó từng được tuyên truyền với những thuận lợi hết mức về ưu đãi, về cơ sở hạ tầng… Nhưng khi nhà đầu tư đến thì đâu có như vậy… Có thể nói không ngoa, chỉ là một khu đất hoang sơ.  Nhưng đến nay, thì tình hình Khu CNC Hòa Lạc đã khác: tiến độ giải phóng mặt bằng được đẩy nhanh, nhiều tập đoàn, nhiều công ty công nghệ cao lớn đã cam kết đầu tư… Nguyên nhân có nhiều. Nhưng theo tôi, nguyên nhân quan trọng nhất là sự vào cuộc quyết liệt của Thủ tướng chính phủ và sự chỉ đạo sát sao hơn của lãnh đạo Bộ KH&CN trong tất cả các khâu mà điển hình là việc giải phóng mặt bằng, kêu gọi đầu tư.  Ông có thể cho biết cụ thể việc “vào cuộc” của Chính phủ trong kêu gọi đầu tư?  Trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 11/2006, Chính phủ hai nước đã xem Khu CNC Hòa Lạc là 1 trong 3 dự án ưu tiên hợp tác. Phía Nhật cam kết sẽ tăng cường vốn ODA để phát triển cơ sở hạ tầng cho khu CNC này. Cũng thời gian đó, tập đoàn Mitsui và hai công ty thuộc tập đoàn này (ngân hàng Sumitomo Mitsui và công ty bảo hiểm Mitsui – Sumitomo) đã ký một biên bản ghi nhớ về xúc tiến đầu tư vào Khu CNC Hòa Lạc với Bộ KH&CN.  Ngoài sự vào cuộc quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, về phía Ban Quản lý đã có những biện pháp gì?  Bắt đầu từ việc Ban Quản lý xác định nguyên nhân quan trọng nhất gây chậm trễ là chưa có quy hoạch chuẩn xác. Ở đây, “quy hoạch chuẩn xác” có nghĩa là hình dung được khu CNC Hòa Lạc trong tương lai sẽ hoạt động như thế nào. KHCN thế giới thay đổi chóng mặt, trước kia khu CNC có cáp quang đã là “ghê gớm” rồi, nhưng nay công nghệ Wimax đã thay thế. Tháng 4 vừa rồi, việc điều chỉnh quy hoạch bắt đầu triển khai theo hiệp định đã ký giữa Bộ KH&CN với JICA (Nhật Bản). Theo kế  hoạch, đến quý IV này, đồ án Quy hoạch sẽ được báo cáo và trình Thủ tướng phê duyệt.  Thay đổi căn bản trong bộ máy quản lý, điều hành Khu CNC Hòa Lạc với phần đông là những người làm quản lý ở tuổi dưới 40, thậm chí dưới 30. Số phòng ban cũng được tinh giản và Ban Quản lý hoạt động theo cơ chế khoán kinh phí   Vấn đề “khúc mắc” nhất là giải phóng mặt bằng (gần 10 năm mới giải phóng được 200 ha) đã được chuyển giao từ Ban Quản lý về UBND tỉnh Hà Tây nên chỉ 6 tháng vừa qua cũng đã giải phóng thêm được 200 ha. Dự tính năm trong năm 2007 này sẽ giải phóng tổng cộng 400 ha.  Cách thức tuyên truyền về Hòa Lạc cũng phải thay đổi. Vừa rồi trả lời phỏng vấn Hãng tin kinh tế Bloomberg, tôi cũng thẳng thắn thừa nhận những yếu kém về hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc, đồng thời nhấn mạnh thông điệp: Khu CNC Hòa Lạc nhất định sẽ thay đổi, đặc biệt là khi nó được Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo.  Như ông vừa kể, nhiều nhà đầu tư từng thất vọng vì cơ sở hạ tầng của Hòa Lạc? Hạ tầng của Khu CNC Hòa Lạc của bản quy hoạch “mới” như thế nào, thưa Thứ trưởng?              Nhà đầu tư HMI (Hàn Quốc) ký cam kết đầu tư với Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc           Tôi cho rằng điểm then chốt trong hạ tầng của một khu CNC là “kết nối: kết nối về đường, viễn thông, điện… Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc đã để xuất vị trí cầu vượt và đường rẽ từ đường cao tốc Láng – Hòa Lạc vào khu CNC để bảo đảm giao thông thuận tiện cho Khu CNC. Ngoài ra, hệ thống đường nối khu CNC với cảng Hải Phòng, sân bay Nội Bài cũng đang tiến triển tốt. Đến nay các dịch vụ viễn thông cơ bản do Tập đoàn bưu chính viễn thông và Tổng công ty Viễn thông quân đội cung cấp đã đáp ứng được nhu cầu trước mắt. Ban Quản lý cũng đã thỏa thuận với Tập đoàn Điện lực bảo đảm cung cấp điện cho Khu CNC; Công ty Điện lực I đang lập dự án xây dựng đường dây 22kv cung cấp điện độc lập thứ hai cho Khu CNC. Thử tưởng tượng khi đã đi vào hoạt động, nếu điện hay kết nối viễn thông bị “đứt” chỉ trong một ngày thôi, thì nhà đầu tư sẽ mất cả triệu “đô”. Vì thế chúng tôi phải bảo đảm “kết nối” không bao giờ bị ngắt quãng.  Một số điều kiện cơ sở hạ tầng khác cũng rất quan trọng. Chúng tôi dự tính trong tương lai, Khu CNC Hòa Lạc mỗi ngày  sẽ cần tới 60.000m3 nước sạch, trong khi hiện thành phố Buôn Mê Thuột cũng chỉ cần khoảng 50.000m3 nước/ngày.    Từng được kỳ vọng là Khu CNC số một của Việt Nam, nhưng giờ nhà đầu tư “nổi tiếng” là Intel đã chọn Khu CNC TP. HCM. Theo Thứ trưởng, trong tương lai Khu CNC Hòa Lạc có lấy lại “vị trí số một” như kỳ vọng? Khi ấy, lợi thế cạnh tranh của Hòa Lạc sẽ là gì?  Chúng tôi không chỉ cạnh tranh với khu CNC trong nước mà phải tính đến cạnh tranh với các khu CNC nước ngoài. Hàn Quốc có Techno Park, Đài Loan có Tân Trúc, Trung Quốc có Quan Trung Thôn, Đại Liên… So với những khu CNC đó, mô hình của Khu CNC Hòa Lạc có khác. Thực tế, đây sẽ là một thành phố khoa học với trung tâm nghiên cứu, đào tạo, R&D, khu công nghiệp…  So với Khu CNC Tp HCM, Khu CNC Hòa Lạc vừa xa cảng biển, vừa xa sân bay hơn. Trong khi đó, mọi ưu đãi về chính sách thì Khu CNC Hòa Lạc có gì thì Khu CNC TP HCM có cái đấy. Chúng tôi cũng không thể cạnh tranh về giá được, vì giá “trần” lẫn giá “sàn” đều do Nhà nước quy định rồi. Vì thế chúng tôi xác định: cạnh tranh bằng tổ chức tốt, bằng sự thân thiện với nhà đầu tư và thủ tục đơn giản. Đúng là các ưu thế về địa lý cần thiết thật, nhưng thử đặt mình vào vị trí nhà đầu tư, nếu có đạt được lợi nhuận hàng chục triệu USD/năm thì chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng không lớn, nhất là với sản phẩm công nghệ cao. Vừa rồi tôi có tiếp xúc với một nhà đầu tư trong Nam, sau khi làm việc với Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc, ông này đã bay ngược ra Bắc để đầu tư.  Tuy nhiên không thể so sánh “tầm” của Hòa Lạc với các khu CNC khác, vì kết cấu của nó khác.    Vài năm tới, khi hoàn thành cơ sở hạ tầng, ông hình dung diện mạo của Khu CNC Hòa Lạc sẽ ra sao?  Thời gian gần đây liên tiếp có các nhà đầu tư đến Khu CNC Hòa Lạc. Ước tính tổng cộng có khoảng 200 nhà đầu tư đã đến đây từ đầu năm đến nay. Từ nay đến cuối năm sẽ có khoảng 3-5 nhà đầu tư xây nhà máy. Các dự án khác là Tổ hợp Công nghệ bao gồm trung tâm nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực CNTT của Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hà Nội Telecom), Phòng Thí nghiệm quốc gia, Bể thử mô hình tàu thủy quy mô lớn của Vinashin… Từ cuối quý IV năm nay và đầu quý I năm sau sẽ có một loạt dự án của trong và nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, trước hết là CNTT, bưu chính-viễn thông, điện tử-cơ điện tử, robot, tự động hóa, cơ khí chính xác, công nghệ sinh học, công nghệ nano với suất đầu tư khoảng 150 – 120 triệu đồng/ha (tương lai lâu dài, chúng tôi phấn đấu suất đầu tư khoảng 10 triệu USD/ha). Các khu chức năng bao gồm khu công nghiệp CNC, khu dịch vụ, khu phần mềm, khu R&D, khu đào tạo… sẽ được quy hoạch để có thể tiếp nhận các nhà đầu tư.  Đến tháng 9 này, nếu quay lại Khu CNC Hòa Lạc, bảo đảm các nhà đầu tư sẽ thấy diện mạo Khu CNC này khác hẳn.  Tôi được biết khu CNC Tân Trúc của Đài Loan có tổng vốn đầu tư 35 tỷ USD, vậy mà năm 2005 họ làm ra 30,7 tỷ USD và thu hút 113.000 lao động, tương đương một nửa GDP của Việt Nam. Khu CNC Quan Trung Thôn ở Trung Quốc sử dụng 450.000 lao động, làm ra 49 tỷ USD mỗi năm. Như vậy, CNC tạo ra nguồn thu khổng lồ. Trong lúc đó, Đồng Nai có hàng loạt khu công nghiệp rộng hàng nghìn ha, hầu hết gần lấp đầy và cũng đã sử dụng hơn 300.000 lao động nhưng cũng chỉ tạo ra gần 5 tỷ USD mỗi năm.  So sánh như vậy sẽ thấy được vấn đề hiệu quả của khu CNC lớn đến chừng nào. Vì vậy, với một ước muốn rất lớn sớm xây dựng Khu CNC Hòa Lạc trở thành “điểm thử nghiệm, thí điểm rút kinh nghiệm cho việc đẩy mạnh phát triển các Khu công nghệ cao trong cả nước” như kỳ vọng của Chính phủ.  Xin cám ơn Thứ trưởng.  PV thực hiện  Các dự án đã chuẩn bị đầu tư vào Khu CNC Hòa Lạc:  -Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel): Xây dựng Trung tâm dữ liệu dự phòng và phát triển CNTT, vốn đầu tư 50 triệu USD.  -Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT: Xây dựng Trung tâm phần mềm FPT, vốn đầu tư: 70 triệu USD.  -Công ty Thuận Phát: Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bo mạch điện tử và điện thoại di động, vốn đầu tư: 70 triệu USD.  -Công ty cổ phần tin học và tư vấn xây dựng (CIC): Xây dựng nhà máy sản xuất màn  hình tinh thể lỏng và thiết bị điện tử, vốn đầu tư: 27 triệu USD.  -Trung tâm Laser – Viện Ứng dụng Công nghệ, Bộ KH&CN: Xây dựng nhà máy sản xuất thiết bị y tế kỹ thuật số, vốn đầu tư: 3 triệu USD.  -Công ty TNHH Điện tử  Noble: Sản xuất linh kiện điện tử và Robot công nghiệp, vốn đầu tư: 10 triệu USD.  -Tập đoàn V – Cap Hoa Kỳ: Xây dựng nhà máy sản xuất chip điện tử, vốn đầu tư: 225 triệu USD.  -Tập đoàn Samsung: Xây dựng nhà máy sản xuất máy in và các thiết bị điện tử với số vốn 50 triệu USD  …  (Nguồn: Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc)  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hóa thạch cá 380 triệu năm tuổi mang bào thai      Nhóm nghiên cứu viện bảo tàng Victoria, do tiến sĩ John Long dẫn đầu, vừa công bố trên tờ Nature một khám phá mới: hóa thạch cá placoderm khoảng 380 triệu năm tuổi mang bào thai còn nguyên cùng dây rốn đã bị khoáng hóa.      Hóa thạch con placoderm trở thành hóa thạch động vật có xương sống đang mang thai cổ nhất thế giới. Khám phá cũng mang lại bằng chứng đầu tiên về sự sinh sản hữu tính của động vật có xương sống, con đực thụ tinh bên trong cho con cái, làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về quá trình tiến hóa của động vật có xương sống. Nghiên cứu sử dụng máy quét CT cực mạnh của Đại học quốc gia Australia (Canberra). Hóa thạch cổ đại này được bảo quản cực kì thận trọng, hơn bất kì hóa thạch nào trước đó. Nhóm nghiên cứu cũng từng công bố mô tuần hoàn, mô thần kinh và mô cơ của một con cá kỉ Devon (380 triệu năm trước) được bảo quản 3-D trên số ra năm 2007 tờ Biology Letters.   Trà Mi (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hóa thạch khủng long 60 triệu năm      Các nhà khoa học thuộc ĐH tự trị quốc gia Mêhicô (UNAM) đã phát hiện xương hóa thạch của hai loài khủng long mỏ vịt và Sauropodo có niên đại cách đây hơn 60 triệu năm tại vùng sa mạc Jimenes, miền bắc nước này.    Cách đây hàng chục triệu năm, Jimenes là nơi cư ngụ của những loài khủng long lớn như Sauropodo có cổ dài, chân to và đuôi khỏe. Còn một số bang miền Bắc như Durango, Coahuila và Chihuahua là nơi sinh sống của loài khủng long mỏ vịt khổng lồ. Các nhà khoa học UNAM hy vọng sẽ phát hiện thêm nhiều hóa thạch của các loài khủng long, góp phần giúp nghiên cứu sâu hơn về sự tiến hóa của khủng long ở Mêhicô.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoá thạch ngư long mang thai bị bỏ quên      Ba hoá thạch thằn lằn biển cổ đại, trong đó có một hoá thạch mang thai, mới được các nhà cổ sinh vật học Canada phát hiện, ở ngay dưới bàn đánh bóng bàn.    Hoá thạch của ngư long được khai quật tại sông Loon ở tây bắc Canada 25 năm trước, rồi bị vứt dưới một cái bàn bóng bàn trong một phòng thí nghiệm khoa học, cho đến khi được một thành viên mới tên là Michael Caldwell phát hiện ra.  “Thật ngạc nhiên khi nhận thấy phát hiện quý giá này nằm ở dưới cái bàn trong 25 năm”, Caldwell nói. “Hoá thạch đã mang tới một cái nhìn mới về ngư long và cho thấy chúng đa dạng hơn chúng ta tưởng”.  Nhưng hoá thạch mang thai là phát hiện thú vị nhất bởi đó là phôi thai ngư long được phát hiện gần đây nhất. Phôi thai rất nhỏ vì vậy không dễ phát hiện ra.  Các nhà khoa học đã soi qua kính hiển vi tìm hiểu lớp mô mềm trông giống như một cái lưới ở trên cột sống của hoá thạch và nhận thấy 2 phôi thai cuộn tròn trong lồng ngực. Có thể nhìn rõ các đặc điểm của bào thai kể cả những chiếc răng nhỏ xíu.  Nhóm có thể hiểu được phôi thai sẽ phát triển như thế nào nhờ vào một loạt các hoá thạch ngư long khác được khai quật hơn 100 năm trước đây ở Holzmaden, Đức. Chẳng hạn, hoá thạch con cái không có răng bởi tất cả canxi trong cơ thể nó đã được truyền vào phôi để phát triển xương.  (theo MSNBC)  M.T.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hóa thạch sinh vật 4 chân nguyên thủy nhất      Các nhà khoa học vừa khai quật được sọ của sinh vật 4 chân cổ nhất trong lịch sử, trong lớp đá ở Latvia.      Mẫu vật nguyên vẹn này có đặc điểm trung gian giữa cá và động vật đất liền. Sinh vật có vẻ ngoài dữ tợn này có thể đã bơi trong các vùng nước lợ, có chiều dài khoảng 1 mét và ăn những con cá khác, nhóm nghiên cứu cho biết. Nó có cơ thể giống như cá, nhưng cái đầu lại là của một sinh vật thích nghi với đất liền hơn là dưới nước. “Nếu bạn nhìn nó từ xa, trông nó giống như một con cá sấu nhỏ, nhưng nếu lại gần, bạn sẽ thấy một cái vây trên lưng nó”, GS. Per Ahlberg, ĐH Uppsala (Thụy Điển) nói. Giới khoa học từ lâu đã thừa nhận rằng rất cả các động vật đất liền có xương sống (bao gồm cả con người) là hậu duệ của một nhóm cá nhỏ, rời bỏ nước lên cạn khoảng 365 triệu năm trước. Sinh vật này được xem là một mốc quan trọng trong hành trình tiến hóa chuyển từ nước lên cạn của các loài.   T. An (theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hóa thạch thằn lằn cổ nhất tại Nhật Bản      Các nhà khoa học vừa tìm thấy tại vùng Ishikawa của Nhật Bản hóa thạch hàm và xương sọ của loại thằn lằn ăn thực vật cổ nhất thế giới. Hóa thạch trên ước tính có từ cách đây 130 triệu năm.      Dựa vào kích thước của xương sọ, các nhà nghiên cứu ước tính thằn lằn có chiều dài khoảng 25-30 cm. Trước đó, loài thằn lằn ăn thực vật lâu đời nhất được tìm thấy trên thế giới là Dicothodon, từng sinh sống ở Bắc Mỹ cách đây khoảng 100 triệu năm. Các nhà khoa học cho rằng phát hiện mới về hóa thạch thằn lằn ở Nhật Bản là “một bí mật thần kỳ”, có thể làm thay đổi những quan niệm từ trước tới nay về sự tiến hóa của thằn lằn.   TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoài cổ      Trong các bài viết của mình, tôi vẫn thường nói rằng chúng ta nên nhìn về phía trước, hướng tới tương lai và dừng việc lục lại quá khứ để tìm người chịu trách nhiệm cho những vấn đề hiện tại của mình. Cho phép tôi thực hiện một ngoại lệ lần này. Không phải để so sánh giữa ngày xưa với ngày nay xem thời nào tốt hơn, mà chỉ đơn giản nhằm minh hoạ cho sự thay đổi chóng mặt của thế giới chỉ trong vòng một đời người.      Chiếc máy tính IBM 650. Nguồn: Wikipedia  Mỗi người chúng ta thường có xu hướng chia lịch sử thành hai thời kỳ riêng biệt: trước khi ta sinh ra, một dạng lịch sử tồn tại trên sách vở; và sau khi ta sinh ra, thời kỳ ta thực sự chứng kiến, trải nghiệm. Tôi nghĩ rằng các bạn trẻ có thể có hứng thú muốn biết công việc của một nhà vật lý như thế nào ở thời khi tôi còn trẻ. Đó là khoảng thời gian nửa đầu những năm 60, ở Việt Nam khi ấy chiến tranh bắt đầu leo thang do quyết định ném bom miền Bắc của Johnson năm 1965. Vào thời điểm ấy, tôi không biết nhiều về Việt Nam; như nhiều bạn học của mình, tôi đã tham gia biểu tình chống chiến tranh, đầu tiên ở Algeria, và sau đó là ở Việt Nam, nhưng những hành động lúc đó chỉ đơn giản là những hành động bộc phát tự nhiên từ nhiệt huyết tuổi trẻ. Tuy nhiên, điều tôi muốn viết hôm nay không liên quan đến những nỗi buồn đau đã khắc vào cuộc đời của những người bạn già Việt Nam của tôi, và tôi hy vọng rằng họ sẽ cho phép tôi chia sẻ với các bạn trẻ về một chủ đề hoàn toàn khác.  ***  Cái máy tính đầu tiên mà tôi được sử dụng là máy IBM 650. Nhiệm vụ của tôi là tính tích phân phương trình vi phân mô tả sự lan truyền sóng âm trong nước khi biết phân bố nhiệt độ theo chiều sâu. Khi đó chưa có transitor, một linh kiện có trong hầu hết các thiết bị điện tử; chiếc máy IBM này sử dụng những ống chân không và có kích thước lớn bằng cỡ hai phòng làm việc của nhóm nghiên cứu hiện nay của chúng tôi. Trái tim của chiếc máy là một cái trống từ quay, với bộ nhớ được sắp đặt trên 40 bộ phát hình trụ, mỗi bộ nhớ có dung lượng 50 word (đơn vị dữ liệu, độ lớn của 1 word thường bằng bội số 8 của bit). Hai hàng cố định 50 bộ nhớ được đặt đối mặt với trống từ, một hàng để đọc và hàng còn lại để viết lên trống. Để làm phép cộng đơn hai số, a và b, với nhau, chúng ta phải viết ba lệnh. Mỗi lệnh bắt đầu với một số để nhận dạng, thường được cho theo thứ tự, và thường được kết thúc bằng một số nhận dạng khác để dịch sau đó. Lệnh đầu tiên yêu cầu lấy số a từ bộ nhớ trống từ m1, ghi số này vào bộ cộng. Lệnh thứ hai yêu cầu nhận số b từ bộ nhớ trống từ m2 và ghi số này vào ô nhớ thứ hai của bộ cộng. Lệnh thứ ba yêu cầu lấy kết quả của phép cộng từ bộ cộng và ghi vào trống từ vào bộ nhớ m3. Dữ liệu đầu vào và ra được viết trên những thẻ đục lỗ, chúng tôi là những người làm việc đó; để thu được số liệu ra trên giấy, chúng tôi phải xử lý các tập thẻ trên một cái máy in lớn vừa chậm vừa ồn với tốc độ in khoảng một dòng trên một giây.  Thời gian đó ở Berkeley, Sacley và CERN, có nhiều trung tâm tính toán đã bắt đầu có nhiều máy hiện đại (sử dụng transitor) và mạnh hơn. Chúng tôi thường gửi “công việc” của mình tới những máy hiện đại này, đó là những chương trình được viết trên những tập thẻ chứa mã lệnh (vào thời điểm đó FORTRAN mới xuất hiện) và những thẻ chứa số liệu đầu vào; chúng tôi thường nhận được kết quả vào sáng hôm sau được in ra giấy. Làm bạn với những người vận hành – mỗi ca thường có khoảng năm đến sáu người – đôi lúc chúng tôi có thể được ưu tiên để chương trình của mình được chạy trước. Cho đến tận những năm 70 chúng tôi mới bắt đầu nhìn thấy máy tính cá nhân. Tôi nhớ rằng Carlo Rubia, khi đó đang giảng dạy tại Harvard, đến làm việc tại CERN vào mỗi cuối tuần, tự hào khoe với chúng tôi chiếc máy Hewlett-Packard đầu tiên, cái máy chỉ nhỏ bằng bàn tay nhưng có thể làm được nhiều việc hơn chiếc máy IBM 650 và tốc độ tính toán của nó cũng nhanh hơn gấp hàng chục lần.  Khi tôi thực hiện thí nghiệm đầu tiên của mình, máy tính chưa có kết nối mạng. Chúng tôi phải lưu giữ số liệu trong những ống chứa khí được gọi là dekatron và in kết quả ra giấy. Máy tính kết nối mạng xuất hiện vào cuối thập kỷ đó. Để phân tích số liệu, chúng tôi sử dụng những tập giấy milimét lớn, có cả thang tuyến tính và thang logarít, sử dụng máy cộng cơ học, thước trượt và bảng logarít (Tôi nhớ tác giả của những bảng này là Bouvart và Ratinet). Vì thế, thẻ đục lỗ luôn chất đầy trong ngăn kéo, tràn lan trong phòng làm việc. Trong thập kỷ tiếp theo, đĩa từ mới trở thành phương tiện lưu trữ số liệu phổ biến.  ***  Việc tôi làm đầu tiên mỗi sáng là đến thăm công xưởng. Công xưởng thời đó thường là niềm tự hào của các viện nghiên cứu, là nơi đầu tiên người ta giới thiệu khi có khách đến thăm, và cũng là nơi luôn bận rộn với nhiều công cụ máy móc. Các thiết bị có nhiều tay nắm và thường được vận hành bằng tay; phải đến thập kỷ sau đó điều khiển số mới xuất hiện. Những người thợ nhiều kinh nghiệm thường vận hành những chiếc máy tiện hoặc máy phay lớn. Tôi thường đến chỗ người đàn ông (tôi phải thú nhận rằng không có nhiều phụ nữ trong những công xưởng cơ khí), người đang gia công một bộ phận thiết bị dựa vào bản thảo mà tôi đã vẽ và đưa cho anh ta trước đó. Anh ấy có thể sẽ gợi ý thay đổi một số điểm để gia công dễ dàng hơn. Dĩ nhiên, tôi sẽ đồng ý. Công xưởng điện tử cũng là một “lò lửa” nữa của viện. Ở đó, tất cả mọi thứ đều là tương tự (analog); hồi ấy chưa có cái gì là kỹ thuật số cả. Những cái dao động ký, mũi hàn, bảng mạch in và những bộ phận riêng biệt là những công cụ duy nhất. Mạch tích hợp và chíp điện tử đầu tiên chỉ xuất hiện vào thập kỷ sau đó.  Tiếp theo, tôi đi đến phòng thiết kế: nhiều bảng vẽ trang bị với hai thước vuông góc có thể trượt trên mặt bàn, và một cái máy UV để in các bản vẽ cỡ A0 trên giấy kính. Công cụ là mực Trung Quốc, bút “Rotring” mao dẫn và nhiều khuôn mẫu khác nhau để vẽ chữ và những hình học. Tôi sẽ thảo luận với người vẽ sơ đồ thiết kế cho một bộ phận quan trọng của thiết bị thí nghiệm tiếp theo của mình. Sau đó, tôi nói chuyện với người phụ trách vẽ hình cho bài báo của chúng tôi để đăng trên tạp chí Physical Review.  Tôi sẽ ghé qua thư viện trước khi trở về phòng làm việc để lướt qua những công bố mới được trưng bày ở thư viện mà họ mới nhận được. Tôi có thể nhờ người thủ thư đặt cho tôi bản in bài báo mà tôi muốn nghiên cứu; tôi sẽ nhận được bài báo qua bưu điện sau hai hoặc ba tuần. Thỉnh thoảng, tôi ghé qua ban thư ký gửi lời chào tới những người đồng nghiệp nữ ở đó. Một trong số họ, người đang đánh máy bài báo của chúng tôi, sửa chữa những lỗi tiếng Anh và kiểm tra chính tả, có thể hỏi tôi về một vài băn khoăn hay điểm gì đó chưa rõ. Máy đánh chữ khi đó không còn là máy Remington của Bác Hồ mà là chiếc máy được điện khí hóa theo cách mà mỗi chữ được gõ với cùng một lực lên giấy. Máy gõ chữ IBM font-ball đầu tiên xuất hiện trên thị trường vào giữa thập niên sáu mươi, nhưng không phải ai cũng có cơ hội được sử dụng chúng. Công cụ của họ là những chiếc kéo và hồ dán, khi một đoạn phải được chuyển đến chỗ khác, họ sẽ dùng tẩy và dải ruy băng trắng để xoá một chữ bằng cách đánh lại lên chữ đó chữ đúng. Giấy carbon và khuôn tô được dùng để tạo nên các bản sao.  Vào thời điểm đó chưa có máy photocopy. Tôi nhớ rằng máy Xerox đầu tiên được sử dụng tại CERN vào đầu những năm 70. Khi đó, một vài nhóm nhỏ các nhà vật lý người Nga tới thăm CERN. Mỗi nhóm thường có một đặc vụ an ninh, một người chẳng liên quan gì đến vật lý nhưng họ được giao theo dõi những người đồng hương của mình và đảm bảo họ phải hành xử theo quy tắc của Liên bang Xô viết. Những đặc vụ an ninh này có thể dành cả đêm để photo những tài liệu không có ở nước họ để mang về.  ***  Vậy ngày xưa tốt hơn hay tệ hơn bây giờ? Xét về năng suất công việc, rõ ràng ngày nay chúng ta tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, tôi cho rằng môi trường mà chúng ta đã sống trước đây thân thiện với con người hơn ngày nay? Một điều mà tôi chắc là tất cả những công nhân, kỹ thuật viên, người phác thảo thiết kế, người vận hành máy tính, các thư ký này đều yêu công việc của mình, họ tự hào về việc họ làm và họ rất được tôn trọng bởi những kỹ năng của mình.  Hồi đó chúng tôi không bị đánh giá bởi chỉ số trích dẫn, chỉ số h của những bài báo mà chúng tôi công bố. Chúa mới biết chúng tôi công bố trên tạp chí gì. Không có bảng xếp hạng Thượng Hải cho những đại học, không có hệ thống đánh giá sinh viên quốc tế, bảng xếp hạng PISA hay ISTD. Chúng tôi không bị ám ảnh bởi nhu cầu đưa hết mọi thứ thành con số, để cho máy tính xử lý, chẳng còn cần sự có mặt của con người. Ngày nay, tôi thấy trong mỗi văn phòng mọi người đều ngồi chăm chăm trước màn hình máy tính, hoặc mải mê bấm phím điện thoại khi đi bộ trên đường phố, khi lái xe máy, thậm chí các đôi lứa yêu đương khi ăn trưa cùng nhau cũng mỗi người một máy điện thoại. Tôi băn khoăn liệu chúng ta có ảo tưởng không khi cho rằng máy tính sẽ giải phóng con người khỏi lệ thuộc vào những công việc chân tay và đem lại cho chúng ta thời gian rảnh rỗi để tập trung ưu tiên cho những chân giá trị của nhân loại.  Tôi biết, mình đang nói lên suy nghĩ của một người già, và nên dừng lại; tôi hứa rằng sẽ không nhìn lại quá khứ thêm một lần nào nữa khi viết bài cho Tia Sáng. Với hy vọng được lượng thứ, tôi xin tặng độc giả hình vẽ tôi tìm thấy trên mạng dưới đây.    Tôi không biết tuổi chính xác của ông ấy, nhưng ông ấy nói đã từng lập trình với chiếc máy IBM 650.  Phạm Ngọc Điệp dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Hoài nghi và Chân lý      Hoài nghi không phá vỡ chân lý, mà ngược lại, làm mới và nâng đỡ chân lý trong một chu trình biện chứng bất tận không ngừng nghỉ của nhận thức.     Hoài nghi  Phương Tây có một câu châm ngôn được sử dụng phổ biến: Hãy nghi ngờ tất cả!  Vì sao người phương Tây lại đặt nặng việc hoài nghi như vậy? Vì qua truyền thống khoa học và triết học, họ phát hiện ra rằng: Hoài nghi là khởi đầu của tiến bộ, là con đường đi tới chân lý, là sự giải phóng lý trí triệt để nhất.   Khi lý trí hoài nghi, lý trí quay lại tự vấn chính bản thân mình, từ đó tự giải phóng cho mình khỏi tình trạng lệ thuộc vào lý trí của kẻ khác hoặc những giáo điều và quán tính tư duy sẵn có.  Truyền thống hoài nghi trong tư duy của phương Tây được khởi đầu từ triết học, trước hết qua phép truy vấn biện chứng của Socrates, sau đó lan sang khoa học, và hoàn thiện trở thành thói quen tư duy lành mạnh, một phương tiện quan trọng để đi tới chân lý.  Socrates đã sử dụng hoài nghi như một phần tất yếu của truy vấn biện chứng: khi một ý tưởng hoặc một nhận định được nêu ra như một chính đề, thì sẽ ngay lập tức bị hoài nghi nhằm xác định lại tính đúng đắn của nó dưới dạng một phản đề, rồi trên cơ sở đó hình thành nên một hợp đề có tính chân lý cao hơn. Hợp đề,  đến lượt nó, lại trở thành chính đề cho một quá trình truy vấn mới, cho đến khi đạt được chân lý, hoặc thực tiễn hơn, đạt đến giới hạn của nhận thức tại thời điểm đó. Như thế, hoài nghi không chỉ là phương tiện để đạt được chân lý, mà còn giúp xác định được giới hạn của tri thức và phạm vi áp dụng của chân lý.  Câu nói nổi tiếng của Socrates là: Tôi chỉ biết một điều là tôi không biết gì cả. Nhưng nghịch lý ở chỗ, người không biết gì cả này lại được coi là người thông thái nhất đương thời. Khi Chaerephon, một người bạn của Socrates, đến hỏi nhà nữ tiên tri, cũng là vị tư tế ở đền thờ Thần Mặt Trời thành Delphi, rằng có ai thông thái hơn Socrates không, thì được trả lời: Không!  Socrates không chấp nhận những niềm tin hay xác tín đã bám rễ lâu đời trong truyền thống và huyền thoại. Chính ông đã thôi thúc người đối thoại phải biện minh và cắt nghĩa những xác tín của mình thông qua một chuỗi những câu hỏi truy vấn liên tục – hình thức cụ thể của hoài nghi.  Sau Socrates, Decartes – nhà Triết học và Toán học Pháp – cũng đã sử dụng hoài nghi như một phương tiện chủ đạo để xác lập tính tuyệt đối trong các kết luận của mình, nhằm làm nền tảng cho việc xây dựng hệ thống tri thức về sau. Ông nghi ngờ mọi thứ, ngay cả sự tồn tại của bản thân mình, nhằm quét sạch mọi quan niệm đã có, để từ đó từng bước xây dựng hệ thống tri thức của mình một cách khả tín và vững chắc. Chính việc hoài nghi này, đã dẫn ông đến một kết luận nổi tiếng về sự tồn tại của bản mình qua câu nói: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.  “Sự tiến bộ của nhận thức, không chỉ đạt được do tìm ra những mảnh đất tri thức mới chưa từng khai phá, mà còn do tìm ra những cách nhìn mới về một sự vật hiện tượng cũ”. Hoài nghi những cách thức nhìn nhận cũ chính là cách dễ nhất để tìm ra những cách nhìn nhận mới đó. Vì thế, hoài nghi vừa là xuất phát điểm, vừa là động lực của việc mở mang tri thức.  Khi mất khả năng hoài nghi, lý trí sẽ trở nên tê liệt. Một người không biết hoài nghi, tức một người hành động theo những niềm tin được lập trình trước, về bản chất không khác gì so với một cỗ máy.  Khả năng hoài nghi, biểu hiện trước hết bằng khả năng tự đặt câu hỏi và chối bỏ áp đặt của truyền thống và xác tín giáo điều, theo một nghĩa nào đó, chính là thước đo mức độ trưởng thành của một con người. Nếu một người không có khả năng hoài nghi, chỉ tin vào những tín điều do người khác giao giảng, thì về bản chất, người đó vẫn còn ở thời kỳ thơ ấu.  Với một xã hội, cũng giống như một cá nhân, khả năng hoài nghi và chối bỏ áp đặt cũng chính là thước đo sự trưởng thành về mặt tinh thần của xã hội đó. Nếu một xã hội không biết hoài nghi, chỉ đồng thuận tin theo những tín điều, thì xã hội đó còn chưa thoát khỏi thời kỳ ấu trĩ.  Vì thế, ngăn chặn khả năng hoài nghi của một cá nhân, trực tiếp hoặc gián tiếp, chính là phá hoại  sự phát triển lành mạnh của cá nhân đó; hạn chế khả năng hoài nghi của xã hội chính là kéo lùi sự phát triển lành mạnh của xã hội đó.  Chân lý  Chân lý là đích đến của việc tìm kiếm tri thức. Nhưng chân lý không bất biến, vĩnh cửu. Chân lý luôn được cập nhật cùng sự phát triển của nhận thức. Và một trong những cách thức chủ yếu để cập nhật chân lý là hoài nghi chân lý đó. Hiểu như thế thì hoài nghi là bổ trợ của chân lý chứ không phải là chống đối chân lý.  Thực tế trong khoa học và triết học cho thấy, biết đặt câu hỏi thậm chí còn quan trọng hơn biết câu trả lời. Vì biết đặt câu hỏi là biết xúc tiến một hành trình đi tìm chân lý, còn biết câu trả lời là tạm thời chấm dứt hành trình đó.  Điều này cho thấy, giữa hoài nghi và chân lý có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau, bổ trợ lẫn nhau. Không thể đạt được chân lý nếu không biết cách hoài nghi lành mạnh. Và chân lý, với tính tương đối của nó, nếu không có hoài nghi để tự hoàn thiện mình, sẽ tha hóa thành giáo điều dưới sự phát triển của những  nhận thức mới.  Nếu nhìn qua những thành tựu của tư tưởng của nhân loại, sẽ không có thành tựu nào thiếu vắng hoài nghi như một sự dẫn đường. Những đỉnh cao mới ra đời, đều xuất phát từ sự hoài nghi một đỉnh cao cũ, và tìm cách vượt qua nó bằng một quá trình nhận thức mới.  Những thành tựu của khoa học kĩ thuật đạt được không phải bởi tư duy tư biện của lý trí thuần túy, mà phần lớn bởi những thực nghiệm và quan sát được thiết kết để kiểm tra – một biểu hiện cụ thể của hoài nghi -một giả thuyết đã xác lập. Hoài nghi vì thế là linh hồn của mọi hoạt động nghiên cứu tìm tòi.  Những thành tựu của Toán học và Vật lý học cho thấy, sự bất toàn, bất định và bổ sung nhau là bản chất của tri thức. Nên hoài nghi – đặc tính gắn liền với sự bất toàn và bất định – trở thành đặc tính không thể tách rời của chân lý. Chính hoài nghi đã thổi sức sống cho chân lý, làm cho chân lý sống động, uyển chuyển, luôn tự cập nhật làm mới mình dưới ánh sáng của những nhận thức mới.  Nếu tách hoài nghi ra khỏi chân lý, chân lý sẽ mất hết sức sống và trở nên cằn cỗi, xơ cứng theo thời gian. Chân lý sẽ thoái hóa trở thành giáo điều và kìm hãm, thậm chí phá hoại, quá trình nhận thức những chân lý mới đúng đắn hơn.  Như vậy, hoài nghi không phá vỡ chân lý, mà ngược lại, làm mới và nâng đỡ chân lý trong một chu trình biện chứng bất tận không ngừng nghỉ của nhận thức. Và để đạt được chân lý, khả năng hoài nghi cần phải được khai phóng như một sự tất yếu.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàn tất việc kiểm tra tiền vận hành tại nhà máy điện hạt nhân Flamanville      Ngày 17/2, đợt kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành tại lò phản ứng EPR số 3 đang được xây dựng của nhà máy điện hạt nhân Flamanville, Pháp. Các kiểm tra này – bắt đầu từ ngày 21/9/2019 – nhằm để mô phỏng các mức nhiệt độ và mức áp suất trong các hệ thống của lò phản ứng sẽ phải trải qua trong suốt quá trình vận hành thông thường.      Những người làm việc tại phòng vận hành Flamanville 3 trong các kiểm tra diễn ra vào tháng trước. Nguồn: EDF  Các kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành đảm bảo cho các hệ thống làm mát và các hệ thống an toàn hạt nhân hoạt động đúng như chức năng của nó trước khi tải nhiên liệu. Nhiều cuộc vận hành đã được tiến hành thử nghiệm tại Flamanville 3 lần đầu tiên trong quá trình kiểm tra này. Kết quả là, nhiều điều kiện vận hành thông thường đã được thử nghiệm với nước trong mạch sơ cấp đạt mức nhiệt độ 303ºC và áp suất là 154 bar. Việc làm mát của vòng tuần hoàn sơ cấp bằng việc sử dụng vòng thứ cấp cũng như vận hành thử máy ở lò hơi cũng đã đạt yêu cầu. Các kiểm tra tình trạng mất điện cũng đã được thực hiện. Vào đầu tháng này, turbine của lò phản ứng Flamanville 3 đã được chạy thử lần đầu tiên ở tốc độ không đáng kể – 1500 vòng mỗi phút.  “Đã hơn 20 năm trôi qua kể từ khi chúng tôi bắt đầu kiểm tra cho việc nhà máy điện hạt nhân khởi công tại Pháp”, Sébastien Bachère giám đốc phụ trách các đợt kiểm tra tại lò phản ứng Flamanville 3, nói. “Đây là một bước đầy ý nghĩa cho dự án lò phản ứng nước áp lực châu Âu này. Với hơn 1000 nội dung kiểm tra được thực hiện, 10.000 tiêu chí thiết kế và tỉ lệ tuân thủ đạt hơn 95%, chúng tôi có thể hài lòng với các kết quả đạt được”.  Việc xây dựng của nhà máy điện hạt nhân theo công nghệ lò phản ứng nước áp lực châu Âu Flamanville EPR bắt đầu vào tháng 12/2007 với việc vận hành thương mại ban đầu được chờ đợi vào năm 2013. Việc nạp nhiên liệu vào lõi lò phản ứng hiện giờ đang được lập kế hoạch vào cuối năm 2022.  “Nhờ có các kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành, việc vận hành lò phản ứng hạt nhân cũng đã được kiểm chứng, bao gồm nhiều tình huống ngẫu nhiên và khách quan, để thẩm tra hoạt động đúng của những cài đặt”, EDF – công ty điện lực quốc gia Pháp, cho biết. “Trình tự này đã giúp chúng tôi xác định được năng lực vận hành lò phản ứng một cách an toàn của đội ngũ vận hành”.  Trong tháng 12/2018, nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn ở Giang Môn, Quảng Đông, Trung Quốc đã đưa tổ máy số 1 công suất 1660 MW, lò phản ứng theo công nghệ lò nước áp lực châu Âu, vận hành thương mại. Đây cũng là lò phản ứng theo công nghệ này đầu tiên trên thế giới chính thức vận hành. Lò phản ứng thứ hai của Đài Sơn sau đó bắt đầu nối lưới điện vào tháng 9/2019.  Trong khi đó, tuy lò phản ứng Olkiluoto 3 ở Phần Lan là lò phản ứng đầu tiên của công nghệ lò nước áp lực trên thế giới được khởi công nhưng đã không đạt tiến độ như dự đoán:  nó được xây dựng vào năm 2005 và theo kế hoạch sẽ vận hành vào tháng 5/2009 nhưng sau đó đã liên tục bị trì hoãn. Rất may mắn là nó đã hoàn thành các kiểm tra năng lực ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành và đang chuẩn bị tải nhiên liệu. Hai lò phản ứng nước áp lực EPR cũng đang được xây dựng tại dự án nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C ở Somerset, Anh.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/Pre-operational-testing-completed-at-Flamanville-E    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàn trả rơm rạ lại đồng ruộng      Hằng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu kali để sản xuất phân bón hóa học, trong khi rơm rạ, nguồn “tài nguyên” chứa một lượng kali đáng kể lại bị bỏ phí một cách đáng tiếc.      Cây lúa hút thu một lượng đáng kể nguyên tố kali trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lượng kali hút thu có thể được tích lũy trong các mô bào thân cây và lá lúa và sau khi thu hoạch thì kali nằm chủ yếu trong phần rơm rạ. Tuy nhiên, hiện có rất ít thông tin nghiên cứu về dạng tồn tại cũng như khả năng tái sử dụng lượng kali này. Tôi và nhóm nghiên cứu qua công trình “Release of potassium accompanying the dissolution of rice straw phytolith” (Nghiên cứu sự giải phóng kali đi kèm với quá trình hòa tan phytolith trong rơm rạ) đã tiến hành xác định thành phần và cấu trúc của rơm rạ nhằm đánh giá khả năng tách chiết và tái sử dụng kali từ rơm rạ cho cây trồng.     Dựa trên kỹ thuật phân tích chụp cắt lớp tia X và đồ họa 3D được xử lý trên phần mềm YaDiV có thể thấy trong thân cây lúa là một hệ thống “khung xương” được hình thành bởi quá trình kết tủa silic trên các vách tế bào của cây, và cấu trúc này được gọi là phytolith. Phát hiện này cho phép nhận định chính xác hơn về vai trò của khung xương phytolith như là nhân tố quan trọng nhất góp phần vào tăng cường sức chống chịu cơ học của thân cây lúa. Phân tích phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX) cho thấy có một lượng đáng kể các nguyên tố dinh dưỡng, đặc biệt là kali khu trú trong cấu trúc của phytolith. Kali bị cố định chặt trong cấu trúc phytolith và chỉ có thể được giải phóng khi cấu trúc phytolith bị phá vỡ (mô tả ở hình sau).                  Các yếu tố được xác định có khả năng ảnh hưởng tới quá trình phá hủy cấu trúc phytolith bao gồm quy trình xử lý rơm rạ (đốt hoặc vùi), điều kiện môi trường đất (pH, nồng độ và loại ion hòa tan). Nghiên cứu cũng xác định được quy luật phụ thuộc của quá trình hòa tan giải phóng Si và K vào nhiệt độ xử lý mẫu rơm rạ: Có hai quá trình cơ bản có tính quyết định đến sự thay đổi cấu trúc của phytolith diễn ra trong khi nhiệt hóa (đốt) các mẫu rơm rạ, đó là: oxy hóa các hợp chất hữu cơ và chuyển hóa pha khoáng của oxit silic. Ở nhiệt độ đốt thấp (dưới 600oC) chất hữu cơ có xu thế chuyển hóa thành cacbon đen, và oxit silic tồn tại ở trạng thái hydrat. Ở nhiệt độ trên 600oC, cacbon đen bị phân hủy và oxit silic bị chuyển hóa thành các pha bền vững hơn (cristobalite và tridymite). Kết quả nghiên cứu tìm ra được nhiệt độ phân hủy rơm rạ tối ưu nhất là 600oC, khi đó phytolith trong tro rơm rạ sẽ hòa tan nhanh nhất để giải phóng các khoáng chất dinh dưỡng (trong đó có kali) bổ sung cho đất và cung cấp cho cây trồng.    Như vậy, nghiên cứu này một mặt cung cấp thêm những thông tin chuyên sâu về thành phần và đặc tính của rơm rạ, mặt khác đem lại cơ sở khoa học cho các biện pháp quản lý và tận dụng tối đa lợi ích mang lại từ nguồn “tài nguyên” rơm rạ vô cùng dồi dào ở nước ta; mặt khác cảnh tỉnh việc xuất khẩu rơm rạ (chứa lượng rất lớn các chất dinh dưỡng) có thể gây tổn thất kinh tế cho người dân khi họ phải tái đầu tư một lượng phân bón nhiều hơn cho cây trồng. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng gợi ý cho các doanh nghiệp về khả năng tách chiết kali từ rơm rạ để sản xuất phân bón. Đây là loại phân bón chúng ta đang phải nhập khẩu hoàn toàn từ nước ngoài, vì vậy việc tách chiết và tái sử dụng kali sẽ đem lại hiệu quả to lớn cho người dân.    Mong muốn lớn nhất hiện tại của nhóm nghiên cứu là cảnh tỉnh việc xuất khẩu rơm rạ hoặc lấy đi sử dụng cho các mục đích khác vì đây có thể là vấn đề lợi bất cập hại. Lợi ích người dân thu được từ bán rơm rạ có thể nhỏ hơn rất nhiều so với thiệt hại khi mất đi lợi ích “ẩn chứa” trong rơm rạ (đó là chất dinh dưỡng). Do đó, lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng có thể dẫn đến hậu quả người nông dân phải trả giá bằng việc tăng cường đầu tư phân bón hóa học để duy trì năng suất. Tác động của việc không hoàn trả lại rơm rạ cho đồng ruộng khó có thể nhận ra trong ngày một ngày hai, nhưng sẽ cần rất nhiều thời gian để khắc phục hậu quả. Có lẽ bài toán “lợi nhuận từ xuất khẩu rơm” và “thiệt hại mùa màng do không trả rơm lại đồng ruộng” cần đến sự quan tâm vào cuộc sâu sát hơn của các nhà khoa học.   ——–  * ĐH KHTN ĐH QGHN, được tôn vinh tại Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2016 với công trình “Release of potassium accompanying the dissolution of rice straw phytolith” (Nghiên cứu sự giải phóng kali đi kèm với quá trình hòa tan phytolith trong rơm rạ).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoàng Quýnh: Một chân dung quyền lực triều Minh Mệnh      Trong sự vận hành của bất cứ hệ thống chính trị nào cũng có những gương mặt “dưới một người, trên muôn người’’, tuy phẩm hàm của họ không cao và tên tuổi của họ không phải lúc nào cũng được biết đến. Nhiều người trong số này đã bị lịch sử bỏ qua, khắc họa một cách mờ nhạt. Mặc dù vậy, họ là những người thân cận của quyền lực trung tâm, ảnh hưởng tới các quyết sách vĩ mô. Những người này thậm chí có khả năng tác động tới hệ thống các quan chức cao cấp hơn mình bởi vì họ có được niềm tin của các vị quân vương, các thủ tướng, và nguyên thủ. Hoàng Quýnh, một quan chức thời Minh Mệnh chưa bao giờ vượt quá phẩm hàm tòng nhị phẩm (2B, Hàm Thứ trưởng) là một trong những người như vậy.          Bộ Công, trong bộ tranh “Triều đình Huế” (la Cour de Hué) do Nguyễn Văn Nhân thực hiện năm Ất Mùi – 1895, dưới triều Thành Thái. Nguồn: baothuathienhue.vn    Khi những người Pháp ở Huế nói rằng Minh Mệnh, nhà vua mới lên ngôi, quay lưng lại với nhiều cựu thần, và đưa vào mạng lưới của mình những người trẻ tuổi thân tín, một trong số những nhân vật hàng đầu này là Hoàng Quýnh. Ông góp mặt trong sự thành lập Văn Thư phòng (Văn phòng hoàng cung của nhà vua) ngay sau khi Minh Mệnh lên ngôi, và sẽ phụng sự nhà vua mới cho tới khi mất (1840, mất trước Minh Mệnh 8 tháng).      Cánh tay đắc lực của Minh Mệnh     Chúng ta biết gì về nhân vật này? Đại Nam Thực lục và Đại Nam Liệt truyện mô tả ông như một người cứng rắn, ngay thẳng, hiểu được ý tứ của Minh Mệnh, vì thế được nhà vua yêu mến:   “Quýnh vốn là người ngay thẳng, gặp việc dám nói, vua cũng dung nạp”.  “Quýnh là người ngay thẳng, gặp việc dám nói, thật là tiếng sang sảng ở trong sắt [cứng cáp, ngay thẳng, không a dua]. Lúc trước, bị trích đi sang Quảng Đông, cùng với người Việt Đông là Mạc Trì, Lưu Văn Lan, Tiền Đường là Liên Tiên, người bản quốc là Lý Văn Phức kết làm hội Quần anh, văn thơ đi lại… Hai lần vào làm việc ở [Nội] Các, ứng chế phần nhiều xứng ý vua… Tài làm văn tinh nhanh. Vua thương yêu lắm. Kịp khi chết, thưởng trả lại hàm Bố chính, cấp cho 200 quan tiền. Con là Gia Kỵ lấy Mỹ Điền công chúa”.   Chúng ta biết rằng ông được nhà vua phái đi trong nhiều sứ mệnh, giao cho những công việc quan trọng, tin cẩn, và chia sẻ với ông nhiều điều ‘thầm kín’. Chúng ta cũng biết rằng tính cách của ông cũng tạo ra nhiều “scandal” chính trị. Dưới bàn tay của ông, nhiều quan chức đã bị lao đao, giáng, cách chức, trong đó có Nguyễn Công Trứ bị giáng làm tri huyện năm 1831.   Mùa thu năm 1825, Tham tri Hình Bộ Nguyễn Hữu Nghi và Hoàng Quýnh được cử giám sát việc thi cử ở trường Nghệ An. Khi phát hiện quan đốc học Nghệ An nộp quyển thi phần nhiều có tỳ vết sót mất, lại cho riêng học trò thi ăn mặc giả làm người hầu đi lẫn vào, hai người này tức thì đuổi ra, sai người mang bài “phụng chỉ” gọi là vương mệnh bài. Họ lại triệu Phan Bảo Đĩnh là Tư nghiệp hưu trí làm thay công việc ấy. Tới kỳ đệ nhất, học trò hơn một trăm người mất quyển kêu van ở ngoài cửa trường, Quýnh cho đến sớm mai tục thi rồi làm sớ tâu lên. Vua bảo bộ Lại rằng: “Theo lời tâu của bọn Quýnh, dẫu việc bởi quyền biến mà làm, nhưng phần nhiều không hợp, như bài phụng chỉ lại gọi là bài vương mệnh, và tự tiện cho học trò tục thi, cử động sao lại khinh suất như thế!”   Tố cáo của các quan lại sau đó cho thấy câu chuyện không đơn giản như thế. Khi Quýnh tới Nghệ An, một viên Phó vệ úy, vì chỉ dẫn nhầm nhà công quán (dành cho quan lại đi việc công) mà bị ông đánh mắng, làm nhục. Không dừng lại ở đó, hai viên chức này còn cho tập hợp “Đốc học và các phủ huyện thuộc trấn ở công quán, sai cử những học trò họ biết, ghi lấy họ tên, và khi điểm duyệt nhận những mảnh giấy ghi tên, đưa biên hiệu vào nội trường, phê lấy đỗ những người hỏng. (Kỳ đệ nhất đã hỏng mà lại lấy đỗ là 36 người, nhân đó, mà đỗ sinh đồ 6 người. Kỳ đệ nhị, đã hỏng mà lại lấy đỗ là 21 người, nhân đó mà lấy đỗ hương cống 10 người). Lại ngày ra trường hát xướng uống rượu lan man, họp các hương cống mới đỗ đánh bạc chơi bời”.   Minh Mệnh giao đình thần nghị xử. Các quan văn yêu cầu cách chức, quan võ yêu cầu án chém. Cuối cùng, nhà vua kết luận, “Nguyễn Hữu Nghi và Hoàng Quýnh quen tính làm càn, việc sai trái, đành là có tội; nhưng việc ăn hối lộ không có một chút hình ảnh gì, nếu ghép vào cực hình thì giống như quá nặng. Vũ Xuân Cẩn hặc tâu như thế thực có lòng báo oán, nếu lấy cớ đã phát giác mà tha tội thì là nhân việc công báo thù riêng, chẳng là làm cho những kẻ bất tiếu bắt chước hay sao? Vậy Nguyễn Hữu Nghi đổi giáng Chánh bát phẩm thư lại, Hoàng Quýnh thì sớm tối hầu hạ bên cạnh, trẫm đã từng nghé vào tai bảo trước mặt, dạy dỗ rõ ràng, nay lại cuồng bậy như thế thì cách chức, đều phát vãng đi Quảng Bình cho gắng sức chuộc tội”.      Lễ phục mạng, tranh Nguyễn Văn Nhân. Nguồn: baothuathienhue.vn  Đây chỉ là một trong các trường hợp nhà vua nổi tiếng khắt khe bậc nhất trong lịch sử Việt Nam can thiệp vào hệ thống luật pháp để giải cứu một trong những viên chức thân tín nhất của mình. Để có lí do đưa Quýnh trở lại Huế, mấy tháng sau khi triều đình nhận được tấu xin tha giảm thuế cho dân xiêu giạt ở dinh Quảng Bình, nhà vua “xem sớ, cho lời lẽ hợp lý, khen ngợi mãi”. Ông hỏi Nguyễn Đăng Tuân: “Ngươi có biết bản sớ này ai làm không?” Tuân thưa: “Không biết”. Vua nói: “Hẳn là Nguyễn Hữu Nghi và Hoàng Quýnh làm, không phải là liêu thuộc xứ ấy làm được đâu. Trẫm vốn biết bọn ấy đều có tài, nhưng khi cùng quẫn bó buộc mới chịu cố gắng hăng hái, hễ hơi đắc chí thì lại làm bừa nên mắc lỗi, rất là tiếc cho họ”.   Bốn tháng sau câu nói này, Hoàng Quýnh trở lại với hàm Lang trung ở Công bộ (Hàm Vụ trưởng, 4A). Bốn tháng sau nữa, Quýnh được đưa lên hàm 3A (Thiêm sự Hình bộ) và được phái ra Bắc trong một sứ mệnh đặc biệt nhằm ổn định tình hình bạo lực xã hội sau cái chết của Lê Chất, đặc biệt là sự lũng đoạn của Hình tào (Xem Tia Sáng, số 1 tháng 1/2019, bài “Chơi với vua như đùa với hổ”)1. Bảy tháng sau (1827), ông được đưa xuống Nam Định, một trong những trung tâm của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Từ 1827 đến 1829, Quýnh sẽ lần lượt được chuyển qua phụ trách Ninh Bình, Nam Định, rồi đê điều… Tuy nhiên khác với Nguyễn Công Trứ, một quan chức ‘cắm chốt’ ở bên ngoài, Hoàng Quýnh được gọi về Kinh liên tục để thông báo tình hình. Cũng trong năm 1829, Minh Mệnh can thiệp một lần nữa để Quýnh không bị giáng, và cuối cùng đưa ông trở lại Văn Thư phòng nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của Nội các trong năm sau đó.   Sử nhà Nguyễn là Đại Nam Thực lục không che giấu mối quan hệ ‘tâm đắc’ giữa Hoàng Quýnh và Minh Mệnh. Phần lớn các lời bàn của Quýnh đều được nhà vua tin và thực hành. Quýnh theo hầu Minh Mệnh từ khi ông còn là hoàng tử (từ năm 1815), trở thành nòng cốt của Văn Thư phòng nhà vua. Khi Minh Mệnh ra Bắc nhận sắc phong, Quýnh được cử đi xem xét dân tình ở Nghệ An. Ông nhiều lần chia sẻ với Quýnh để thăm dò tình hình quan lại, dân chúng, hay các mối quan tâm nhạy cảm về hành chính.Vua từng hỏi Hoàng Quýnh về việc dân. Quýnh đáp: “Từ khi Hoàng thượng lên ngôi đến nay, cho miễn giảm [thuế], ban ơn cấp tuất, lòng người không ai không cảm tin. Nhưng gần đây, công việc dựng Tôn Miếu, sửa miếu thành hoàng, xây nhà Quốc học, tuy là những việc không thể chậm được, nhưng khi có việc thì nha lại nhân đấy sinh tệ, cho nên trên có lòng thương mà ơn không thấm tới dưới là vì thế”. Lại nói: “Thánh thượng thông minh soi thấu nỗi khổ của dân, tuy đế vương xưa cũng không hơn. Nhưng cửa vua xa xôi vạn dặm, nỗi u ẩn chưa chắc đã thấu hết được. Muốn yêu dân thì cần biết người, khi chọn người, xin nên lưu ý”.Vua lại hỏi: “Triều thần cho trẫm là thế nào?” Đáp: “Trước kia lời chương tấu có chỗ thô lậu, đều uốn nắn từng ly từng tý, người ta lấy làm khó khăn. Nay đã dần quen rồi”. Vua nói: “Có phải trẫm hiếu dị đâu, muốn cho được ổn nhã mà thôi”. Nhân dụ Quýnh rằng: “Ngươi là cựu thần ở Tiềm để [phủ hoàng tử], trẫm đã biết tài. Nhưng tuổi trẻ mới tiến, phàm việc càng nên siêng năng cẩn thận, để hưởng ơn lâu dài. Đối với người xa trẫm còn muốn đào tạo, huống chi bọn ngươi”.  Năm 1825 chẳng hạn, trước khi Minh Mệnh ra lệnh thả cung nữ vì lo lắng cho tình trạng hạn hán, ông đã chia sẻ với Hoàng Quýnh: “Hai ba năm nay đại hạn luôn, trẫm nghĩ chưa rõ vì cớ gì. Hay vì con gái bị giam hãm trong cung nhiều, nên khí âm uất tắc mà đến thế chăng? Nay đàn bà con gái trong cung cũng không nhiều lắm, song tạm lựa cho ra 100 người, may ra tai biến bớt chăng?” Có hai lần, nhà vua chia sẻ với Hoàng Quýnh về việc dạy dỗ các hoàng tử (vấn đề mà ông cho rất riêng tư, có tính gia đình, hầu như không chia sẻ với quan chức nào khác). Quýnh cũng thường xuyên được giao đứng đầu các cuộc thanh tra Vũ Khố (nhà kho của hoàng cung và quân đội), nơi mà Minh Mệnh cực kỳ bất an đối với tệ tham nhũng và bòn rút của cải nhà nước.      Thực hành quyền lực chính trị     Bên cạnh vai trò nòng cốt ở Nội các (cùng với Hà Tông Quyền, Trương Đăng Quế, Thân Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương), Hoàng Quýnh là phái viên hàng đầu của Minh Mệnh trong những năm 1833-1840. Trong giai đoạn này, bạo loạn nổ ra ở cả Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Nhà Nguyễn phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống Siam (Xiêm) xâm lược, và từ năm 1834, Minh Mệnh đẩy mạnh cuộc can thiệp vào Cambodia. Ở tất cả những điểm nóng này, Quýnh đều được phái đi giám sát, thu thập tin tức. Năm 1834, ông được đưa lên Thái Nguyên với tư cách Hàn lâm viện Thừa chỉ, giám sát đạo ngự sử tham gia vào cuộc bình định Nông Văn Vân.  Tới khi Nam Kỳ được bình định sau sự biến Lê Văn Khôi, Quýnh được cử làm Bố chính Gia Định (Giám đốc sở tài chính, 3A, 1836). Minh Mệnh sau đó ra lệnh cho ông theo đường trạm đến Trấn Tây [Cambodia] xem xét tình hình, lại theo đường trạm về Kinh vào yết kiến. Trong cuộc thảo luận được Thực lục chép lại này, Quýnh đã bàn luận về những vấn đề quân sự ở Nam Kỳ và Trấn Tây. Vua hỏi ý kiến Hoàng Quýnh có nên rút quân Kinh khỏi Gia Định (sau sự biến của Lê Văn Khôi). Quýnh đồng thời đề xuất hai vấn đề quân sự, hành chính Nam kỳ, được nhà vua chấp thuận. Sau đó, Quýnh được rút về Nội các.   Sự tự tin nhận được từ sự ưu ái của Minh Mệnh đã làm cho Quýnh là một quan chức năng nổ, xông xáo nổi bật trong hệ thống quan liêu. Vị trí chủ yếu của Hoàng Quýnh chủ yếu tại Văn Thư phòng và Nội các, tuy nhiên các sứ mệnh được sai phái của ông thì trải dài từ Thái Nguyên, Nam Định cho tới Cambodia. Sự tự tin này cũng tạo ra cho ông nhiều quyền lực và biến ông trở thành ‘khắc tinh’ của nhiều quan chức. Dưới bàn tay của Hoàng Quýnh, nhiều người đã ‘ngã ngựa’, bị giáng, phạt, cách chức, kể cả những người có hàm cao như Nguyễn Công Trứ.   Danh sách các ‘nạn nhân’của Hoàng Quýnh:          Năm       Quan/viên chức      Nội dung      Ghi chú           1821      Nguyễn Xuân Hải      Bỏ tên trong sổ hương cống vì mạo quê quán.                 1831      Nguyễn Công Trứ      Từ thự Hữu tham tri Hình bộ (2B) xuống tri huyện (6A).                 1831      Nguyễn Nhược Sơn      Từ thự Hiệp trấn Nam Định (3A) xuống tri huyện (6A).                 1835      Hồ Hựu      Kinh Doãn (3A), bị cách lưu.                 1835      Lê Văn Duyệt      Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh luận tội Lê Văn Duyệt: 6 điều phản nghịch, 7 điều đáng chém.                 1838      Trần Hiển Doãn      Bố chính Quảng Trị (3A) phải miễn chức.                 Hoàng Quýnh vì thế rất tự tin trong thực hành chính trị, là một trong số ít các quan chức dám nói thẳng các vấn đề trước Minh Mệnh một cách không e dè. Năm 1830, ông đem việc thành thần Gia Định tư rằng vật giá đắt vọt lên, nhà nước mua không đủ vật liệu đề đạt lên Minh Mệnh: “Thần trước hiệu lực ở Quảng Bình, tự mình thấy rõ tệ ấy. Tức như da trâu và lưới rách, để đấy là đồ bỏ đi, bán cho quan thì được giá tốt, thế mà trong dân đến nỗi có kẻ giết trâu xé lưới để cầu khỏi việc đòi bắt. Phàm triều đình lập pháp là vốn muốn nhân việc gia ân để giúp dân, mà một khi quan lại không thể đức ý ấy thì da trâu lưới rách còn sinh ra tệ, huống là có món lại quá thế nữa”. Minh Mệnh phải xoa dịu bằng cách nói rằng đó là các vật nhà nước cần dùng, lỗi là do quan chức bên dưới ép giá dân chúng mà thôi.       Voi chiến trong Hoàng thành Huế. Loạt tranh cổ về xứ Huế do họa sĩ kiêm nhà du hành người Pháp François de Marliave (1874 – 1953) thực hiện. Nguồn: svhtt.thuathienhue.gov.vn  Tới năm 1836, Hoàng Quýnh thấy Minh Mệnh ra chiếu yêu cầu tiến cử hiền tài đã lâu mà không có quan chức nào hưởng ứng, liền dâng sớ ‘chỉ trích’ các quan lại từ các bộ tới Đô Sát viện… “Vậy sao đối với lời dụ này, vẫn còn nói phiếm rằng chưa biết người mình định đề cử đó, sau sẽ ra sao, nên không dám khinh suất đề cử đó chăng? Nếu bảo quên khuấy việc đó mất rồi, thì sao không nghĩ: tôi, con đối với vua, cha, việc gì cũng để mãi trong lòng, bao giờ quên được kia mà! Nếu lấy nê rằng công việc trong bộ còn đang bận rộn mà nói “hãy để đó’ hay “sẽ làm sau” thì triều đình chính đương cần người, đâu có để mình lần chần nấn ná? Huống chi đã đề cử mà lại không đưa ra trước, thì tức như sách Đại học bảo là “nhờn” đó! Một chữ “nhờn” há phải là cái mà người bầy tôi có thể đem để thờ vua được đâu?”   Không có quan chức nào dưới thời Minh Mệnh có đủ ‘dũng khí’ để viết những lời như thế, dù là Nguyễn Hữu Thận, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Khoa Minh, hay Trương Đăng Quế. Bản tấu của Quýnh đã làm các quan chức ở Huế ‘đứng ngồi không yên’, phải viết tấu trình thanh minh lên nhà vua. Họ cũng chỉ trích lời lẽ của Hoàng Quýnh. Đổi lại, Minh Mệnh phán quyết: “Hoàng Quýnh thấy người không đúng, liền nêu tên ra hặc. Điều đó chưa có gì là không phải, chỉ phải cái lỗi là lời lẽ quá nặng.” Sau đó, nhà vua ra chỉ quở trách.   Mặc dù vậy, bản thân Quýnh là đối tượng được nhắm tới của nhiều quan chức địa phương, và cũng phải chịu một số lần giáng chức, như “scandal” trường thi năm 1825. Nặng nhất là năm 1832, khi làm trong Nội các, ông bỏ qua việc nhân viên dưới quyền tự ý lấy dấu ngự bảo đóng vào chỗ văn bản sai lầm. Sự việc việc này, bốn viên thị lang bị bỏ ngục. Hai trong số này bị cách chức và mãi mãi loại bỏ ra khỏi hệ thống hành chính, trong khi Quýnh bị kết tội giảo giam hậu (treo cổ, nhưng chờ thu thẩm).   Cũng như 7 năm trước đó, lần này Minh Mệnh đã can thiệp để Quýnh trở lại. Tháng Chạp năm 1833, ông tuyên bố cho Quýnh và những người khác về nhà ăn Tết và hẹn mùa xuân trở lại. “Ta nghĩ lũ ngươi bị giam đã lâu, nay gần hết năm, bất giác ta lại động lòng thương xót, cho nên thả cho về xum họp với gia quyến trong vài ngày thôi, chứ há thèm làm theo Thái Tông nhà Đường đâu? Nếu các ngươi lén lút trốn tránh thì sẽ bị nghiêm trị theo luật pháp. Đó là lũ ngươi tự làm nên tội.” Khi Hoàng Quýnh y hạn trở lại nhà ngục, nhà vua tuyên bố, “Ta vốn lấy sự tin thực đối xử với người, chắc rằng lũ ấy không dối ta đâu. Nay quả thực thế”. Nhờ ‘sự thành thực’ này, Quýnh đã thoát tử tội, được bổ thư lại tại bộ, và sau đó theo đường biển đi hiệu lực chuộc tội. Tám tháng sau, Quýnh trở lại vai trò Hàn lâm viện thừa chỉ ở Nội các.   Minh Mệnh cũng đã can thiệp để giúp Quýnh bám trụ nhiều lần đàn hặc (tố cáo) của đình thần liên quan đến việc tự ý thi hành chính sách. Tuy nhiên phần lớn các lần này, ông đều giải thích theo hướng liên quan đến tính cách “sơ táo”, không cẩn thận của Quýnh chứ không phải có ý đồ xấu. Điểm mấu chốt của mối quan hệ quyền lực này đó là Quýnh biết cách để có được sự tin tưởng của Minh Mệnh. Ông hiểu vị hoàng đế này có thể chấp nhận nhiều tật xấu của quan chức, nhưng tham nhũng và bè đảng là những nỗi ám ảnh lớn, bất khả xâm phạm. Quan hệ giữa Quýnh và Minh Mệnh có lẽ vì thế được xây dựng trên niềm tin này. Ông cũng hiểu rằng nhà vua ở Huế cần những viên chức có thể sai phái vào các sứ mệnh thu thập tin tức, nắm bắt tình hình, vì thế, Quýnh đã đóng vai trò này gần như trong suốt thời trị vì của vị vua thứ hai triều Nguyễn. Năm 1836, khi Quýnh được cử đi làm Bố chính Gia Định, đây là đoạn trích nội dung bản tấu và lời phê của Minh Mệnh (bảng dưới).          Hoàng Quýnh      Minh Mệnh          Tấu:  “Thần làm quan ở ngoài, nhà nghèo, con nhỏ, không trông vào đâu để có ăn. Vậy xin lưu số gạo lương ở nhà để nhà lĩnh dùng”.      Phê:  “Thưởng cho tiền 100 quan, gạo 100 phương, để cho con cái ăn. Trẫm vốn biết ngươi nghèo, cũng không trừ vào lương bổng của ngươi. Tính ngươi sơ, táo. Từ nay cần nên cẩn thận cho khỏi lỗi”.          Phản hồi:  “Thần là kẻ bất tài, được ơn bỏ các tì vết mà lựa dùng, giao cho trách nhiệm giữ bờ cõi ngoài biên, không những ban ơn đến bản thân kẻ hạ thần, mà lại đến cả con cái thần nữa. Vả, lời dạy bảo hai chữ “sơ, táo” không khác thần đang bị tê bại, chích cho một mũi châm cứu. Thần kính cẩn đọc lời châu phê, bất giác như được cất hẳn bệnh căn. Đó, thực nhờ thánh quân mà là từ phụ, nghiêm sư, thần tuy ở xa ngoài nghìn dặm, dám chẳng kính cẩn như gần gũi gang tấc. Từ nay về sau, kính xin tinh tế kín đáo để chữa bệnh sơ suất, cẩn thận trịnh trọng để chữa bệnh nóng nảy, ngõ hầu gọi là báo đáp công đức sinh thành trong muôn một”.      Phê:     “Khỏi đau rồi mới nhớ biết đau, ngươi nên hằng ngày đừng quên, mới có thể thành người được”.            Một nguyên nhân cho niềm tin và sự ưu ái của Minh Mệnh dành cho Hoàng Quýnh có thể tìm thấy trong tuyên bố của nhà vua khi viên chức này qua đời: “Quýnh là cựu thần của ta, tính ngu nhưng thẳng, ăn nói càn rỡ táo bạo, đến phải giáng điệu. Nhưng được cái thanh liêm, giữ gìn làm quan còn tốt, nay nghe tin ốm chết, trẫm rất thương tiếc”.   Với những người đã từng đọc sử nhà Nguyễn, những chi tiết nêu trên chắc chắn không mới. Câu chuyện này là một góc nhìn khác để thấy quan hệ quyền lực và sự vận hành của quyền lực trung ương trong lịch sử Việt Nam. Bức chân dung quyền lực của Hoàng Quýnh chính là sự thể hiện sống động cho cách thức người cầm quyền triển khai kiểm soát bộ máy không chỉ theo hệ thống dọc mà còn các mối quan hệ mạng lưới, nơi những người tưởng như rất mờ nhạt, phẩm hàm thấp có thể nắm giữ các mắt xích cốt yếu trong việc thực thi quyền lực chính trị. □     Tham khảo:  Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục (Tokyo, 1962-77); (Hà Nội, Giáo Dục, 2006).  Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục (Tokyo, 1962); (Huế, Thuận Hóa, 1995).   Lê Đức Quang và Trần Đình Hằng. Kinh Thành Huế Đầu Thế Kỷ XIX qua Hồi Ức Của Michel Đức Chaigneau. Huế: Thuận Hóa, 2016.     Chú thích:   1Link online: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Nguyen-Cong-Tru-trong-trat-tu-quyen-luc-cua-Minh-Menh-%E2%80%98Choi-voi-vua-nhu-dua-voi-ho%E2%80%99–14123   Ở bất cứ thời đại nào, sự thực thi quyền lực nhà nước cũng thông qua các ‘cánh tay’ cả theo phân cấp dọc và ngang. Người cầm quyền có khả năng kiểm soát hai hệ thống này thì mới tạo ra được động lực cho bộ máy. Ngược lại, sự thao túng của những người ‘thân tín’ sẽ tạo ra các cấu trúc quyền lực con. Điều nguy hiểm là quyền lực con tổ chức theo chiều ngang này có xu thế thách thức quyền lực dọc phân cấp của nhà nước. Đây là một rủi ro cực kỳ nghiêm trọng bởi vì những người được ưu ái không được kiểm soát bởi thể chế hay hệ thống thứ bậc được công nhận mà là quan hệ cá nhân với người cầm quyền. Vì thế, sự lũng đoạn của họ sẽ làm xói mòn tính chính thống của thể chế, làm giảm hiệu lực của bộ máy nhà nước, và đẩy người cầm quyền vào thế tiến thoái lưỡng nan trong cuộc xung đột giữa mạng lưới quyền lực dọc và ngang.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Hoàng Vạn Lý- người chỉ biết nói thật      Nếu các nhà khoa học thủy lợi Trung Quốc (TQ) những năm 1950 dám nói lên sự thật như Hoàng Vạn Lý, chuyên gia thủy lợi, thủy văn hàng đầu của TQ, dù điều đó trái với ý kiến của lãnh đạo cao nhất thì chắc chắn nhân dân hai bờ Hoàng Hà (HH) sẽ không phải điêu đứng, khổ sở vì hồ nước Tam Môn Hiệp (TMH) suốt hơn nửa thế kỷ qua (và không biết bao giờ mới hết).         Thất bại lớn nhất trong lịch sử xây dựng của Trung Quốc  Năm 1952, Chính phủ TQ mời Liên Xô giúp lập dự án trị thủy HH, con sông thường xuyên gây nạn lụt lớn trong lịch sử TQ. Tháng 10/1954, dưới sự chỉ đạo của đoàn chuyên gia Liên Xô, Ủy ban Quy hoạch HH (do Bộ Thủy lợi và Bộ Công nghiệp Nhiên liệu TQ là lực lượng chính) hoàn thành bản: “Quy hoạch lợi dụng tổng hợp Hoàng Hà”. Đây là một công trình quy mô vĩ đại: trên dòng chính của sông HH sẽ xây dựng 46 đập nước lớn (trong đó, đập TMH là lớn nhất): tổng công suất máy phát điện của các đập này là 23 triệu KW, bình quân hàng năm sản xuất 110 tỷ KWH, gấp 10 lần sản lượng điện toàn TQ năm 1954; diện tích đất được tưới nước sẽ từ 16,59 triệu mẫu TQ tăng lên 116 triệu mẫu; xà lan 500 tấn có thể chạy từ biển Đông vào đến tận Lan Châu.   Tháng 9/1960, hồ chứa nước TMH hoàn thành. Từ năm thứ hai, 800 nghìn mẫu ruộng lúa hai bờ sông đều bị ngập, phải di dời cả một huyện; thành phố Tây An bị đe dọa nghiêm trọng. Từ năm 1972, HH bắt đầu đứt dòng chảy, kể từ năm 1990, hàng năm bình quân HH có hơn 100 ngày không có nước. Hàng trăm nghìn nông dân TQ phải  bỏ ruộng đất mầu mỡ ở quê hương để dời đến các vùng đất cằn cỗi ở vùng sâu, vùng xa, một số người phải di dời nhiều lần mất sạch cơ nghiệp. Ngày nay, sau gần 50 năm, thủy thổ lưu vực HH ngày càng tồi tệ, nước sông phía hạ lưu hầu như chẳng còn lại bao nhiêu. Theo Nhân dân Nhật báo ngày 16/2/2006: năm 2005 dân quanh hồ phải dời nhà hai lần do nước dâng lên vào mùa mưa; 9 trong 10 năm qua bị hạn hán; thu nhập bình quân năm 2004 của nhân dân vùng hai bờ sông phía thượng lưu là 1172 Yuan (kém 1164 Yuan so với mức trung bình cả nước); 297 nghìn dân thuộc diện nghèo, trong đó 114 nghìn nghèo tuyệt đối; nhiều hộ tài sản cộng lại chưa quá 200 Yuan (24USD). Tóm lại nông dân bị thiệt hại quá nhiều từ công trình thủy điện, thủy lợi này. Khi đoàn cán bộ cấp cao của Chính phủ đến nơi quan sát, các vị này ai cũng khóc và nói nhà nước thật có lỗi với nông dân.                 Kỹ sư thủy lợi Vương Duy Lạc định cư ở Đức trong bài viết “Kỷ niệm 40 năm xây dựng xong công trình Tam Môn Hiệp” cho biết, chi phí công trình này tương đương giá thành làm 40 cây cầu Trường Giang Vũ Hán; các phí tổn cải tạo sau đó và thiệt hại kinh tế do công trình này gây ra cho các vùng chịu tai họa lớn tới mức không thể nào tính nổi. Theo Nhân dân Nhật báo ngày 16/2/2006, điều tra của Trường Đảng Trung ương TQ cho biết, vốn đầu tư cho 13 nhà máy thủy điện (công suất phát điện 11,72 triệu KW) trên HH hết 50 tỷ Yuan (6 tỷ USD).  Đáng lẽ nhân dân và Nhà nước TQ sẽ không phải gánh chịu hậu quả trên nếu biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhà khoa học Hoàng Vạn Lý- một chuyên gia thủy lợi, thuỷ văn có ảnh hưởng lớn nhất ở TQ, giáo sư trường đại học Thanh Hoa (Ông là con trai cụ Hoàng Viêm Bồi, nhà giáo dục và nhân sĩ dân chủ yêu nước nổi tiếng trong lịch sử TQ). Dĩ nhiên, khi nhà nước đặt vấn đề xây dựng công trình thủy lợi TMH, ông là người đầu tiên được tham gia.   Ngay từ đầu, Hoàng Vạn Lý đã phát biểu: Liên Xô có nhiều kinh nghiệm xây dựng thủy điện, nhưng họ chưa hiểu vấn đề của HH. Khác hẳn các con sông ở Liên Xô, sông HH có rất nhiều phù sa và chính điều đó sẽ là nguồn gốc gây tai họa sau này. Thế nhưng hồi ấy từ chuyên gia cho đến các nhà lãnh đạo Đảng, Chính phủ TQ, ai nấy đều nghe theo ý kiến của chuyên gia Liên Xô (mặc dù đoàn chuyên gia này gồm toàn chuyên gia công trình thủy chứ không phải thủy lợi). Lãnh đạo nhà nước lại càng đồng tâm nhất trí với giấc mơ “Thánh nhân xuất, Hoàng Hà thanh”(thánh nhân xuất hiện, sông Hoàng sạch trong). Trong không khí cực đoan một chiều như thế, các chuyên gia có trách nhiệm chính của công trình đều không dám kiên trì quan điểm của mình, cá biệt còn có người xuyên tạc sự thật, a dua vào hùa để thừa dịp thăng tiến. Họ hết lời ca ngợi bản quy hoạch của đoàn chuyên gia Liên Xô, Hoàng Vạn Lý là người duy nhất dám công khai phản đối công trình này. Ông nói: “Các vị đều nói Thánh nhân xuất, Hoàng Hà thanh. Tôi bảo: Hoàng Hà không thể thanh được. Hoàng Hà thanh không phải là công mà là tội”.                  Ngày 10/6/1957, hội nghị bàn về Khu đầu mối thủy lợi TMH họp tại Bắc Kinh; lúc ấy công trình này đã bắt đầu chuẩn bị xây dựng. Trong hội nghị đã diễn ra cuộc tranh luận gay gắt giữa những người đồng tình với thiết kế của Liên Xô và Hoàng Vạn Lý. Phái đồng tình vẽ nên bức tranh hoành tráng: xây đập cao, ngăn nước lũ, tích cát lại, làm cho nước chảy từ hồ ra sẽ là nước trong không có phù sa. Riêng Hoàng Vạn Lý nói: nếu đắp đập trên đoạn sông có trầm tích thì nạn lụt ở hạ lưu HH sẽ chuyển dịch đến đoạn trung lưu ở đồng bằng Quan Trung. Ông cho rằng phù sa trong nước sông có tác dụng tự nhiên chia cắt thượng lưu, tạo lục địa hạ lưu. Xây đập ngăn sông làm “trong” nước HH là đi ngược quy luật thiên nhiên, là không hiện thực, huống hồ nước trong ra khỏi hồ chứa là không có lợi cho lòng sông phía hạ lưu. Ông nói: sau khi đắp đập thì sẽ ngập ruộng, gây ra thiệt hại cho các thành phố gần hồ.   Đa số các chuyên gia dự họp đều đồng ý với thiết kế của chuyên gia Liên Xô, Cuộc tranh cãi kéo dài bảy ngày đa số các chuyên gia dự họp đều đồng ý với thiết kế của chuyên gia Liên Xô. Giáo sư Hoàng Vạn Lý đành đề xuất: nếu nhất định phải đắp đập thì  chớ nên bịt kín sáu hầm thoát nước để sau này có thể đặt cống xả cát. Quan điểm này được toàn thể hội nghị thông qua. Nhưng khi thi công, các chuyên gia Liên Xô giữ nguyên thiết kế cũ bịt kín cả sáu cống ngầm. Thập kỷ 70, TQ phải bỏ ra 10 triệu Yuan (1,2 triệu USD) để mở lại các cống này.    Chỉ vì nói thật mà 22 năm bị chụp mũ “phái hữu”  Lẽ ra sự bất đồng với ý kiến của chuyên gia Liên Xô chỉ là một vấn đề kỹ thuật, thế nhưng trong tình hình ngày ấy lại bị coi là một vấn đề chính trị lớn. Ngoài ra, trong phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, Hoàng Vạn Lý                 có viết một bài báo trên tạp chí của trường Đại học Thanh Hoa, đề xuất sự cần thiết mở rộng dân chủ để nhân dân giám sát và góp ý cho các quyết sách của nhà nước nhân việc xác định phương án thiết kế đập TMH. Sau khi đọc bài này, Mao Trạch Đông tức giận  nói với cụ Hoàng Viêm Bồi: Nhà cụ thế là cũng chia ra làm ba phái tả, trung, hữu rồi đấy… Bài báo của Hoàng Vạn Lý viết gì (mà bậy bạ) thế! Tiếp đó “Nhân dân Nhật báo” đăng bài phê phán Hoàng Vạn Lý, bắt đầu 22 năm đầy ải cực khổ của nhà khoa học. Năm 1958, Hoàng Vạn Lý chính thức bị quy là phần tử “phái hữu”, tiền lương bị giảm từ giáo sư bậc hai xuống giáo sư bậc bốn. Dù bị trù dập như thế, ông vẫn không nói câu nào tỏ ra… “hối cải”. Sau này, khi các tai họa của công trình TMH đã lộ rõ, lãnh đạo Chính phủ TQ nói qua cụ Hoàng Viêm Bồi gợi ý cho Hoàng Vạn Lý biết, nếu ông chịu làm kiểm thảo thì sẽ tháo mũ “phái hữu” cho ông. Hoàng Vạn Lý chẳng những không viết kiểm điểm mà còn căn vặn lãnh đạo: “Nhà nước nuôi trí thức bao lâu nay là để làm gì?”.  Có người nói: nếu Hoàng Vạn Lý chịu nghe lời lãnh đạo thì có lẽ cuộc đời ông đã khác hẳn. Năm 1935, ông tốt nghiệp thạc sĩ khoa thủy văn ở Mỹ, năm 1937 là người TQ đầu tiên nhận bằng tiến sĩ xây dựng trường đại học Illinois, sau đó thực tập tại công trình Tennessee. Năm 26 tuổi, ông về nước, làm kỹ sư thủy lợi chính tại Ủy ban kinh tế của Chính phủ Quốc dân, Vụ trưởng Vụ công trình, kỹ sư giám sát Bộ Thủy lợi, Cục trưởng Cục Thủy lợi tỉnh Cam Túc kiêm Tổng công trình sư. Có thể nói, dù về học vị hay về kinh nghiệm, tại TQ rất ít người đạt được trình độ như Hoàng Vạn Lý. Khi làm công tác giảng dạy ở đại học Thanh Hoa, ông cũng thể hiện năng lực nghiên cứu khoa học rất xuất sắc. Thời gian 1953-1957, ông viết hai cuốn chuyên khảo “Tính toán dòng lũ” và “Thủy văn học công trình”, được đánh giá là hai bộ sách tiêu biểu về khoa học thủy văn thời đó.    Giáo sư Hoàng Vạn Lý qua đời năm 2001. Con ông nói về ông như sau: “Dù là vấn đề học thuật hay quan điểm chính trị, dù có lợi hay không có lợi cho mình, cha tôi chỉ biết nói thật, không bao giờ nói dối”.  Thiết tưởng việc ôn lại bài học nói trên là điều cần thiết cho tất cả những nhà lãnh đạo chưa biết thực sự tôn trọng khoa học và dân chủ. Mặt khác, các nhà khoa học cũng cần hiểu rằng sự thiếu trung thực của họ có thể gây tai họa lớn chừng nào.     Nguyễn Hải Hoành    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học máy dò những virus khó nắm bắt      Trí tuệ nhân tạo có thể thúc đẩy các nghiên cứu về đa hệ gene để tìm kiếm những loài virus còn chưa được biết đến trong khoa học.    Trong một cuộc họp của Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) tổ chức vào ngày 15/3/2018, một báo cáo đã cho thấy, bằng việc sử dụng một công cụ mới được thiết kế, các nhà khoa học đã khám phá ra gần 6.000 loài virus còn chưa được biết đến trước đây, một hệ sinh thái vô cùng lớn của các loài virus trên trái đất.  Dẫu cho các virus ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh trong đời sống từ sức khỏe con người đến phân hủy rác thải nhưng việc nghiên cứu về chúng gặp phải rất nhiều khó khăn. Các nhà nghiên cứu không thể nuôi cấy phần lớn các loài virus trong phòng thí nghiệm và do đó nỗ lực để nhận diện các kết quả giải trình tự gene virus cũng khó khăn bởi các hệ gene của chúng vô cùng nhỏ nhưng lại tiến hóa rất nhanh.  Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã săn tìm những loài virus còn chưa được biết đến bằng việc giải trình tự DNA trong các mẫu vật được lấy từ nhiều môi trường sống khác nhau. Để nhận biết được sự hiện diện của các vi sinh vật, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm những tín hiệu về gene của những loài vi khuẩn và vi trùng đã biết –  giống như việc nhấn chức năng tìm kiếm của hệ xử lý văn bản để tìm một từ trong các tập tài liệu riêng rẽ của một bộ tài liệu. Nhưng phương pháp này thường thất bại bởi vì các nhà vi trùng học không thể tìm kiếm những gì mà anh ta chưa biết. Hiện tại, dường như người ta có thể “trông cậy” vào học máy (machine learning) – một hình thức của  trí tuệ nhân tạo (AI), bởi vì học máy có thể tìm kiếm những mẫu hình nổi bật trong hàng núi thông tin. Các thuật tính học máy phân tích dữ liệu, “học” từ dữ liệu và sau đó tự phân loại thông tin.    Jie Ren, một nhà sinh học máy tính tại trường đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết: “Trước đây, con người không có phương pháp nào để nghiên cứu về các loại virus một cách hiệu quả. Nhưng hiện tại chúng tôi đã có những công cụ để tìm ra chúng”.  Với những nghiên cứu gần nhất, Simon Roux, một nhà sinh học máy tính khác tại Viện nghiên cứu liên hợp hệ gene DOE (JGI) tại Walnut Creek, California, đã “huấn luyện” cho các máy tính khả năng nhận diện các kết quả trình tự gene của các loại virus từ một họ virus hiếm là Inoviridae. Các loài virus này sống trong các vi khuẩn và lựa chọn hành vi của vật chủ: ví dụ, chúng khiến các vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh tả – Vibrio cholerae, có nhiều khả năng dẫn đến tử vong. Nhưng Roux, người trình bày báo cáo trong cuộc họp của DOE, ước lượng rằng, ít nhất có 100 loài đã được phát hiện trước khi ông bắt đầu nghiên cứu.  Roux đã trình bày một thuật toán học máy với hai bộ dữ liệu – một bộ chứa 805 giải trình tự hệ gene từ  virus Inoviridae đã biết, một bộ khác gồm khoảng 2.000 kết quả trình tự gene từ các vi khuẩn và những loại virus khác – vì vậy thuật toán này có thể tìm thấy nhiều cách phân biệt chúng.   Sau đó, Roux đã nuôi các bộ dữ liệu đa hệ gene lớn. Máy tính đã phục hồi hơn 10.000 hệ gene Inoviridae và đưa chúng vào các nhóm theo đặc điểm của những loài riêng biệt. Ông giải thích, các biến dị di truyền trong một vài nhóm virus trong số này cũng rất lớn bởi hầu như chắc chắn là Inoviridae gồm rất nhiều họ.  Học hỏi về virus  Trong một nghiên cứu khác, Deyvid Amgarten- nhà tin sinh học tại trường đại học của São Paulo tại Brazil, đã dùng học máy để tìm kiếm virus trong các đám rác ủ trong vườn bách thú của thành phố.  Ông đã lập trình thuật toán của mình để tìm kiếm một số đặc trưng khu biệt của các hệ gene virus, như mật độ của các gene trong một đoạn trình tự DNA có độ dài nhất định . Sau khi được huấn luyện, bằng cách phân tích lại các hệ gen đã công bố trước đó, máy tính phát hiện ra một số hệ gen virus có những đặc tính mới. Bước cuối cùng là sẽ nghiên cứu các protein do các loài virus này sản xuất ra và quan sát xem liệu loại nào trong số chúng có thể gia tăng tốc độ phân hủy vật chất hữu cơ. “Chúng tôi muốn cải tiến hiệu suất phân hủy [của các virus]”, ông cho biết.   Amgarten đã đặt kỳ vọng vào công cụ học máy từ năm ngoái, mang tên VirFider, từ nhóm nghiên cứu của Ren. VirFinder được lập trình để nhận biết sự kết hợp của các ký hiệu DNA như AT hoặc CG trong các bó DNA. Ren đã ứng dụng thuật toán này để tìm hiểu các mẫu vật chứa đa hệ gene từ chất thải của người khỏe mạnh và những người bị chứng xơ gan – một căn bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra: từ viêm gan đến nghiện rượu mãn tính.Một khi máy đã phân loại được các nhóm virus trong những mẫu thử này, nhóm nghiên cứu nhận biết được những kiểu gene riêng biệt có nhiều hoặc ít điểm chung hơn của người khỏe mạnh so với người bị xơ gan – điều đó đề xuất một số loại virus có thể là một phần [của nguyên nhân] dẫn đến bệnh.  Phát hiện của Ren thật thách thức: các nhà y sinh từ lâu đã tự hỏi là liệu các con virus “đóng góp” gì tới các biểu hiện của phần lớn các điều kiện [phát bệnh] riêng biệt, như chứng mệt mỏi mãn tính (chronic fatigue syndrome hay còn gọi là myalgic encephalomyelitis) và bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease). Derya Unutmaz, một nhà miễn dịch học tại Phòng thí nghiệm Jackson về dược học hệ gene ở Farmington, Connecticut, đã biện luận rằng các virus có thể làm gây ra một loại phản ứng dẫn đến khả năng viêm nhiễm – hoặc chúng có thể làm biến đổi tập tính của vi khuẩn trong microbiome – cộng đồng vi sinh vật đang tồn tại trong cơ thể mỗi người, do đó tác động trở lại và gây mất ổn định sự trao đổi chất và hệ thống miễn dịch [trong cơ thể].  Unutmaz cho biết, với sự hỗ trợ của học máy, các nhà nghiên cứu có thể nhận biết được các virus vẫn tồn tại trong bệnh nhân nhưng còn chưa được biết đến. Hơn nữa, vì AI có khả năng tìm kiếm các đặc trưng dữ liệu trong các bộ dữ liệu khổng lồ nên cách tiếp cận này có thể kết nối các đặc trưng đó giữa các loài khác nhau từ virus đến vi khuẩn, và cả sự thay đổi protein ở người với các triệu chứng do chúng gâyr a.  Học máy có thể tiết lộ thêm nhiều kiến thức mà thậm chí chúng tôi còn chưa từng biết đến”, ông nói.  Thanh Nhàn dịch  TS. Nguyễn Cường (Trung tâm Nghiên cứu tế bào gốc và công nghệ gene, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vimec) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-03358-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học viện Khổng Tử trong chiến lược mở rộng biên giới mềm của Trung Quốc      Đi dọc khu vực sông Mê Kông, trong đó dành nhiều thời gian ở Thái Lan, nơi có hàng chục Học viện Khổng Tử và Lớp học Khổng Tử, và Việt Nam, nước cuối cùng trong khu vực có Học viện Khổng Tử, chúng tôi đã chứng kiến nỗ lực nhằm lan tỏa sức mạnh văn hóa và mở rộng “biên giới mềm” của Trung Quốc ở nước ngoài.      Học viện Khổng tử tại ĐH Mae Fah Luang (Tỉnh Chiang Rai, Thailand). Ảnh: Nguyễn Văn Chính.   Thái độ hồ hởi và dè dặt giữa các nước  Vào năm 2005, Trung Quốc (TQ) bắt đầu đàm phán với các nước trong khu vực Mê Kông về việc thành lập chương trình truyền bá Hán ngữ. Năm 2006 Hán Bản (Confucious Institute Headquarters – Văn phòng Quốc gia về dạy tiếng Trung ở nước ngoài)  đã ký một hiệp định với Bộ Giáo dục Thái Lan cho phép thành lập Học viện Khổng Tử và Lớp học Khổng Tử (gọi chung là HVKT) tại tất cả các bậc học từ tiểu học, trung học đến đại học của Thái Lan. Hiệp định này cũng mở đường cho các HVKT tại Thái Lan tiếp nhận tài trợ, chương trình giảng dạy và giáo viên tình nguyện từ TQ. Việc thành lập các HVKT ở Thái Lan được cho là kết quả của hợp tác kinh tế đang tăng nhanh giữa hai nước, nhằm đáp ứng nhu cầu về ngôn ngữ, văn hóa TQ và cải thiện quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước và đặc biệt là để tạo dựng nguồn nhân lực mới trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế (Kriengsak 2008). Ba năm sau, một hiệp định tương tự cũng được ký kết giữa Chính phủ TQ và Campuchia. Chỉ từ năm 2006 đến 2009, TQ đã thành lập được 12 HVKT ở các trường đại học và 11 HVKT ở các trường tiểu học và trung học của Thái Lan. Ở Campuchia, HVKT được chào đón nhiệt tình, đặt tại Viện Hàn lâm Hoàng Gia Campuchia tại Phnom-Pênh và có tới 4 chi nhánh mở rộng ở các vùng khác nhau.  Trong khi đó, ở ba nước còn lại, việc thành lập các HVKT không hẳn diễn ra thuận lợi. Ở Myanmar, các cuộc đàm phán giữa Hán Bản và Chính phủ Myanmar không hề dễ dàng, bất chấp thực tế là từ 1990 đến 2000, Chính phủ quân sự Myanmar có xu hướng thân TQ. Chỉ đến 2008, Myanmar cho phép lập một HVKT, nhưng không phải ở một trường đại học danh tiếng như TQ mong đợi, mà là tại một trường dạy nghề và ngôn ngữ ở Yangoon có tên gọi Fuxing Language and Computer School, một chi nhánh khác của viện này đặt tại Trường Ngôn ngữ và Máy tính Fuquing (Fuquing Language and Computer School) thuộc tỉnh Mandalay, miền trung Myanmar. Năm 2013 tôi đã thăm HVKT tại Yangoon và được biết Trường Ngôn ngữ Fuxing ở Yagoon đã hợp tác với Hội Người Hoa Phúc Kiến từ 2002 và đến 2013 đã có khoảng 800 sinh viên theo học Hán ngữ ở cơ sở này, đa số là con em người Hoa sinh ra và lớn lên ở Myanmar.     Tại Lào, tháng 3/2010 ĐHQG Lào đã cho phép HVKT TQ đặt một cơ sở tại trường này. Hán Bản đã phân công Đại học Dân tộc Quảng Tây trực tiếp tổ chức các chương trình hoạt động tại đây. Theo báo cáo, năm đầu tiên đã có 200 học viên tham gia học tại các chương trình Hán ngữ do cơ sở này tổ chức, chủ yếu là các công chức chính phủ và người dân. Đại sứ Trung Quốc, Bà Bu Jianguo nhận định rằng HVKT tại ĐHQG Lào đã góp phần gieo mầm những tài năng trong giáo dục cho Lào và tăng cường quan hệ giữa hai đảng, hai nhà nước và hai dân tộc Lào-TQ.  Việt Nam là nước cuối cùng ở khu vực Mê Kông có HVKT. Tháng 4/2008, Đại học Sư phạm Quảng Tây đã thỏa thuận với ĐH Hà Nội (ĐH Ngoại ngữ Hà Nội trước đây) về việc thành lập một HVKT tại trường này. Thỏa thuận này đã được Việt Nam chấp nhận bằng một thông báo của Thủ tướng Chính phủ năm 2009 cho phép thành lập thí điểm một HVKT. Tuy nhiên, cho đến tận tháng 12/ 2011, Tập Cận Bình, trong chuyến thăm Việt Nam với tư cách là Phó Chủ tịch TQ, vẫn phải “mong mỏi Chính phủ Việt Nam sớm tạo điều kiện để thành lập HVKT tại Việt Nam”. Đáp lại lòng mong mỏi của TQ, mãi đến 2 năm sau, tháng 12/2013, Văn phòng Hán Bản tại Bắc Kinh mới phát đi thông báo chính thức được phép mở HVKT tại Việt Nam và một năm nữa, tháng 12/ 2014, Văn phòng HVKT đặt tại ĐH Hà Nội mới được khai trương, nhân chuyến thăm của ông Yu Zhengsheng, Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị TQ (CPPC). ĐH Sư phạm Quảng Tây được Hán Bản giao chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động của HVKT tại Việt Nam. Bà Xu Lin, Tổng Giám đốc Hán Bản nhận định rằng đây là một “cơ hội bằng vàng”, không chỉ là “một biểu tượng của tình hữu nghị mà còn là cột mốc đánh dấu sự thắt chặt tình đoàn kết giữa hai đảng và hai nước…”    PGS.TS Nguyễn Văn Chính cùng Giám đốc HVKT tại Đại học Chulalongkorn, Bangkok. Ảnh: NVCC.  Hồi đáp của Thái Lan và Việt Nam đối với Học viện Khổng tử  Thái độ hồi đáp của Việt Nam và Thái Lan cho thấy phản ứng trái ngược của chính phủ và người dân hai nước đối với HVKT của TQ. Người ta có thể đặt ra câu hỏi tại sao lại có sự khác biệt về cách tiếp nhận HVKT ở hai nước này? Để tìm kiếm câu trả lời, chúng tôi đã khảo sát phần lớn trong số gần 30 HVKT TQ ở Thái Lan, Việt Nam và các nước thuộc khu vực Mê Kông, xem xét mô hình tổ chức, nội dung hoạt động, các yếu tố lịch sử và quan hệ kinh tế-chính trị giữa các nước với TQ và tham khảo ý kiến người dân để có thể phần nào hiểu được sự khác biệt.    Trước hết, HVKT TQ ở Thái Lan, Việt Nam và các nước thuộc khu vực sông Mê Kông đều có chung một mô hình tổ chức và nội dung hoạt động, chịu sự điều hành trực tiếp và nhất quán của Hán Bản- đại bản doanh của HVKT tại Bắc Kinh. Về tổ chức, tất cả các văn phòng của HVKT đều được đặt trong khuôn viên của cơ sở giáo dục địa phương chứ không đặt bên ngoài cơ sở giáo dục như cách thức các viện Goethe (Đức), L’Espace (Pháp), hay viện Cambridge (Anh) đã làm. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt như Đại học Mae Fah Luang (Chiang Rai), hầu hết các văn phòng HVKT đều trả kinh phí thuê văn phòng cho trường sở tại và góp một khoản 100 ngàn USD cho việc duy trì văn phòng. Riêng HVKT tại Đại học Mae Fah Luang, Chính phủ TQ tài trợ 60 triệu baht (tương đương 2 triệu USD) để xây dựng Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Khổng tử tại trường này, và giao cho tỉnh Vân Nam giúp thiết kế và xây dựng. Việc đặt HVKT trong một cơ sở giáo dục sẵn có tại nước sở tại giúp HVKT tiết kiệm kinh phí xây dựng nhưng lại có thể nhanh chóng tạo ra tác động xã hội, làm cho người dân và sinh viên địa phương cảm thấy gần gũi và từ đó lan tỏa ảnh hưởng ra công chúng.      Việc đặt các HVKT tại các cơ sở giáo dục của các nước láng giềng và cung cấp sách giáo khoa, học liệu, giáo viên của Hán Bản cho các học viện này được cho là những hoạt động có tính nhạy cảm chính trị, thậm chí có thể được xem như một can thiệp vào hệ thống giáo dục vốn thuộc kiểm soát của các quốc gia.      Văn phòng Hán Bản tại Bắc Kinh giữ quyền chỉ định một trường đại học TQ có thứ hạng tương ứng làm đối tác và cử một giám đốc người TQ của đại học này trực tiếp chỉ đạo. Các đồng giám đốc người địa phương do Hán Bản mời tham gia chỉ là đại diện có tính hình thức mà không trực tiếp chỉ đạo các hoạt động thường xuyên. Mỗi năm họ được mời dự họp hai lần để nghe báo cáo về tình hình và giải quyết những sự vụ phát sinh. Về giáo viên, đối tác TQ có nhiệm vụ tìm kiếm giáo viên người bản ngữ là cán bộ của trường để cử sang các nước giảng dạy theo chế độ tình nguyện. Nhiệm kỳ của giáo viên tình nguyện từ 6 tháng đến một năm, và cũng do trường đối tác bên TQ trả lương. Trên thực tế, do những khó khăn về lương bổng và nhân lực nên số giáo viên tình nguyện người TQ không nhiều. HVKT thường khắc phục bằng cách đào tạo những hạt nhân xuất sắc là sinh viên người bản địa, cấp học bổng cho sang TQ nâng cao trình độ rồi sau đó tuyển dụng làm giáo viên. Mặc dù các HVKT không tham gia trực tiếp vào hoạt động đào tạo của các trường địa phương nhưng về hình thức, học sinh và sinh viên thường có cảm giác HVKT chính là một phần của nhà trường.   Về giáo trình, các HVKT sử dụng giáo trình riêng do học viện biên soạn và cung cấp. Tuy nhiên, một số học viện ở Thái Lan cũng được phép biên soạn giáo trình riêng để thích hợp với hoàn cảnh và văn hóa địa phương với điều kiện phải được Hán Bản phê duyệt. Các giáo viên tình nguyện TQ ở Thái Lan cho biết trước khi khởi hành sang Thái Lan, họ được tập huấn về tầm quan trọng của công việc, và được yêu cầu phải nhanh chóng thích ứng với văn hóa và tập tục địa phương, xem công việc dạy Hán ngữ ở nước ngoài như một sứ mạng quốc gia đại diện cho văn hóa Trung Hoa. Họ được khuyên phải thích ứng với các nghi lễ của người Thái như chắp tay trước ngực khi chào hỏi và quỳ gối khi tiếp xúc các nhân vật của hoàng gia trong những nghi lễ trang trọng.   Hoạt động của các HVKT tại Thái lan, Việt Nam và các nước trong khu vực tương đối giống nhau, bao gồm một số mảng chính:  1. Tổ chức các khóa đào tạo Hán ngữ ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng) cho các đối tượng công chức viên chức, giáo viên và người có nhu cầu. Ở Campuchia, một chương trình đào tạo Hán ngữ riêng được biên soạn dành cho sỹ quan quân đội với thời gian đào tạo lâu hơn.      2. Tổ chức các hoạt động văn hóa khoa học như hội thảo, triển lãm, giới thiệu văn hóa đặc sắc Trung Hoa, võ thuật, âm nhạc, hội họa, và các cuộc thi Hán ngữ quy mô quốc gia.   3. Tổ chức các cuộc thi đánh giá năng lực Hán ngữ và cấp bằng (Chinese Language Proficiency tests (HSK)) cho công dân địa phương.  4 Cung cấp thông tin về học bổng, giáo dục, du lịch và văn hóa TQ  5. Quảng bá văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa, cung cấp giáo trình, giáo viên tình nguyện và hợp tác với các cơ sở dạy Hán ngữ địa phương trong việc biên soạn chương trình giảng dạy và học liệu.  Các hoạt động của HVKT thường không được cung cấp đầy đủ kinh phí từ Bắc Kinh nên xu hướng chung là họ phải tìm kiếm sự trợ giúp của các hội đoàn TQ hải ngoại. Sự gắn kết với cộng đồng người Hoa địa phương là một nhiệm vụ quan trọng của các HVKT (Xu Lin 2010) và cả hai bên đều có thể tìm thấy lợi ích chung từ sự hợp tác này. Các cộng đồng cư dân gốc Hoa cũng góp phần đắc lực vào các hoạt động của HVKT, đặc biệt ở những khu vực có đông người Hoa. Chẳng hạn, đối với các HVKT ở Trường trung học Traimit (Chinatown, Bankok), ở tỉnh Khon Ken và tỉnh Betong, nơi có cộng đồng cư dân gốc Hoa đông đảo, việc kết nối hoạt động của HVKT với cộng đồng gốc Hoa có tầm quan trọng đặc biệt. Cũng cần lưu ý rằng Thái Lan là một nước Đông Nam Á có cộng đồng cư dân gốc Hoa hơn 7 triệu người, đã bị Thái hóa nhiều thập kỷ, hiện đang chiếm giữ vị trí nổi bật trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước (OCAC 2005). Các nhóm này không chỉ góp phần tạo dựng mạng lưới xã hội giữa các nhóm gốc Hoa ở hải ngoại mà còn tăng cường ràng buộc giữa họ với quê cha đất tổ ở TQ.    Tuy mô hình tổ chức và nội dung hoạt động của HVKT ở Thái Lan, Việt Nam và các nước trong khu vực giống nhau, nhưng phản ứng của người dân với HVKT lại rất khác nhau. Sự có mặt của HVKT ở Việt Nam thường làm dấy lên câu hỏi liệu người Việt Nam có thực sự cần một học viện Khổng Tử không, hay thể chế giáo dục này chỉ vận hành như một công cụ để quảng bá hình ảnh, giá trị và tư tưởng TQ ra xã hội Việt Nam? Giám đốc một HVKT ở Đại học Chiang Mai, người đã nhiều lần tham gia đoàn đàm phán lập HVKT ở Việt Nam chia sẻ với tôi: “Nói thật, sự hiện diện của HVKT sẽ mang lại cho các vị những thuận lợi lớn vì Chính phủ TQ cung cấp miễn phí sách giáo khoa, giáo viên, học bổng, và nhiều chương trình trao đổi văn hóa hữu ích khác. Còn nếu không thì các vị cũng vẫn cứ phải học tiếng Hán và văn hóa TQ nhưng không có được các điều kiện thuận lợi như thế.” (PV Giám đốc HVKT tại ĐH Chiang Mai, ngày 1/12/2011).     Cuộc thi Nhịp cầu Hán ngữ, do HVKT Hà Nội tổ chức. Ảnh: Nguyễn Văn Chính.           Ngược lại với cách nghĩ như trên, có một quan điểm khá phổ biến trong số những người Việt Nam khi trả lời phỏng vấn, cho rằng vấn đề không phải chỉ ở việc học và dạy Hán ngữ bởi ngôn ngữ sẽ góp phần chuyển tải tư tưởng, chính trị, lịch sử, văn hóa và lối sống TQ vào Việt Nam. Do đó, quảng bá cho việc học tiếng thực ra lại chứa đựng trong đó những ngụ ý chính trị sâu xa nhạy cảm khác, bởi quan hệ giữa hai nước từ hàng ngàn năm qua luôn hàm chứa những tồn tại như vậy. Hơn nữa, Việt Nam luôn xem giáo dục là một phần của tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Đặt một thể chế giáo dục nước ngoài vào trong các trường học, trong khi lại sử dụng sách giáo khoa, giáo viên và chương trình đào tạo của nước ngoài, thì không khác gì một sự can thiệp của bên ngoài vào hệ thống giáo dục quốc dân. Một học giả Việt Nam đã nêu quan điểm như sau: “Việt Nam không cần HVKT thì cũng đã là một xã hội ảnh hưởng Khổng giáo từ hàng ngàn năm rồi. Vấn đề không nằm ở chính sách của nhà nước đối với TQ, mà là ở cách nghĩ đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân. Nhà cầm quyền TQ chỉ quan tâm tiếp xúc cấp cao, giữa các quan chức của hai đảng và hai nhà nước mà bỏ qua mọi quan tâm từ phía người dân. Vậy nên trong con mắt họ thì Học viện Khổng tử thực ra chỉ là vỏ bọc của một tổ chức chính trị và tuyên truyền của nhà nước…”.   Trái ngược với Việt Nam, ở Thái Lan, văn hóa Phật giáo đã được gieo mầm và bén rễ ở đất nước này như một quốc giáo. Các nhóm cư dân gốc Hoa di cư mang theo tư tưởng Khổng giáo vào đất này cũng đã dần dần bị đồng hóa vào trong văn hóa Thái, đặc biệt là trong bối cảnh những năm 30 của thế kỷ 20, nỗi ám ảnh về sự bành trướng của cộng sản TQ đã dẫn đến những quy định đồng hóa cưỡng bức các nhóm gốc Hoa, và Hán ngữ không còn được dạy trong các trường học Thái.   Trong hàng trăm cuộc trò chuyện của tôi với sinh viên, học sinh và người dân bình thường của Thái Lan, có thể nhận ra bốn nguyên nhân chính mà người ta hay viện dẫn để trả lời câu hỏi tại sao lại học Hán ngữ thay vì các ngoại ngữ châu Âu khác. Đó là: (1) Nói và viết tiếng Hán làm cho mình khác biệt với đám đông còn lại, khi tiếng Anh đã trở nên quá phổ thông; (2) Đối với những thanh niên gốc Hoa, học và làm chủ Hán ngữ thường được khuyến khích bởi ý nghĩ đấy là ngôn ngữ của tổ tiên; (3) Sự hiện diện ngày càng tăng của TQ trong mọi mặt của đời sống ở Thái Lan và khu vực cho thấy biết tiếng Hán là một cơ hội tốt để tìm kiếm việc làm; (4) Công chúa Maha Chakri Sirindhorn là người nổi tiếng thông minh và được giới trẻ ngưỡng mộ, biết nói nhiều ngoại ngữ, thông thạo Hán ngữ và được đào tạo tại Đại học Bắc Kinh được xem như một tấm gương lớn cho thanh niên Thái noi theo.   Một giáo sư ở ĐH Thammasat đã chia sẻ quan điểm:  “Hãy tưởng tượng mà xem, TQ là một thị trường rộng lớn hơn một tỷ dân. Tiền ở đấy chứ ở đâu. TQ đã trở thành một công xưởng của thế giới, và các nước khu vực Mê Kông chỉ cần cung cấp nguyên liệu thô cho họ thôi, cũng đủ sức làm giàu rồi” (PV Prof. Vice Rector, Thammasat University, 9/2013).      Nhìn từ quan điểm vĩ mô, ta có thể hỏi tại sao TQ lại bỏ ra một khoản đầu tư lớn đổ vào hàng chục HVKT ở Thái Lan, và mỗi năm gửi sang nước này hàng ngàn giáo viên tình nguyện để mở mang văn hóa Hán ngữ? Và tại sao Thái Lan lại có thể từ bỏ chính sách Thái hóa các nhóm gốc Hoa để chào đón trở lại văn hóa và ngôn ngữ Hán? Câu trả lời không hề dễ dàng, nhưng có thể thấy Thái Lan là một nền kinh tế mới nổi, và họ tìm thấy cơ hội gia tăng phát triển nhờ vào hội nhập kinh tế khu vực. Còn đối với TQ, cộng đồng gốc Hoa hơn 7 triệu người ở Thái Lan có một tầm quan trọng đặc biệt trong chính sách đối ngoại “hướng về cội nguồn” của chính phủ nước này. Thái Lan cũng được xem là một nước có tầm ảnh hưởng lớn trong khối ASEAN và khu vực Mê Kông. Giả thiết này cần có thêm dẫn chứng để kết luận, tuy nhiên, chính sách bành trướng văn hóa và ảnh hưởng của TQ ra khu vực đã ngày càng được củng cố vì nó được xem như một nền tảng xã hội quan trọng trong chiến lược “Vành đai và Con đường” nhằm chinh phục thế giới của TQ.    Không dễ dàng hiện thực hóa học thuyết biên giới mềm  Sự thiết lập HVKT tại các nước trong khu vực Mê Kông là một nỗ lực rất lớn của TQ nhằm lan tỏa sức mạnh văn hóa và mở rộng “biên giới mềm”. Tuy nhiên, phản hồi từ các nước này cho thấy hiện thực hóa học thuyết biên giới mềm hoàn toàn không dễ dàng, thậm chí đặt ra những thách thức, như chính Nhân dân Nhật báo đã thừa nhận: “Quảng bá TQ vẫn còn nhạy cảm ở một mức độ nhất định tại các nước láng giềng do những tác động bởi các vấn đề lịch sử.” (People Daily, 31 March 2011).    Việc đặt các HVKT tại các cơ sở giáo dục của các nước láng giềng và cung cấp sách giáo khoa, học liệu, giáo viên của Hán Bản cho các học viện này được xem là những hoạt động có tính nhạy cảm chính trị, thậm chí có thể được xem như một can thiệp vào hệ thống giáo dục vốn thuộc kiểm soát của các quốc gia. Thêm vào đấy, việc HVKT kết nối với các cộng đồng cư dân gốc Hoa ở các nước sở tại dễ tạo ra những nghi ngại về chính trị (Xu Lin 2010). Sự hiện diện của TQ đang tăng lên trong mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, cũng đặt ra không chỉ cơ hội kinh tế mà cả những thách thức chính trị-xã hội với các nước trong khu vực. Phản ứng của các nước về ảnh hưởng của TQ ở khu vực rất khác nhau, phụ thuộc vào các nhóm xã hội cụ thể và chiến lược ngoại giao của mỗi quốc gia trong khu vực. Điều này cho thấy chiến lược sử dụng HVKT để làm đòn bẩy tăng cường ảnh hưởng kinh tế chính trị của TQ, tạo ra kết nối xã hội và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc như được nêu ra trong sáng kiến Vành đai và Con đường của Chủ tịch Tập Cận Bình dường như vẫn đang còn ở rất xa. □    —–  Trích dẫn  Cui Huo Shen (1991). Zhengdou “Ruanbijiang” de xin Juezhu Xiandai quofang.  [The Struggle for Soft Power]. Sichuan: Education Publisher. Vietnamese version “Cuoc dau tranh gianh giat bien gioi mem”. Hanoi: Marx-Lenin Publisher    He, Qinglian (2009).  “Soft Power” with Chinese Characteristics Is Changing the World”; http://www.hrichina.org/crf/article/3175  Koh, Tommy (2011). “21st Century: China and the World”; in: China in the Next 30 years; Available at www.spp.nus.edu.sg    Kriengsak (2008). Promote Chinese Studies: Develop the Relationship between Thailand and China; at http://blog.nationmultimedia.com/print.php?id=5017  Ministry of Education of the Kingdom of Thailand (MOE of Thailand) (2006). The Framework of Cooperation Between the China National Office for Teaching Chinese as a Foreign Language (Hanban) and the Ministry of Education of the Kingdom of Thailand on the cooperation in Chinese Language Teaching. http://www.bic.moe.go.th/th/images/stories/MOU/framework/th-hanbaneng.pdf    Nye, Joseph S. (2005). “The Rise of China’s Soft Power”, Wall Street Journal Asia, December 29, 2005;   OCAC Overseas Compatriot Affairs Commission (2005). The Ranking of Ethnic Chinese Population around the world; Available at http://www.ocac.gov.tw   People Daily (2011). Confucius Institutes face uphill battle in development. May 31, 2011  Xu Lin (2010). Chinese Language Quickly Going Global is a Great Phenomenon – A Special Interview with Chinese State Council Consultant and Director General of Hanban; http://www.chinese.cn/hanban_en/article/2010-08/16/content_167061.htm    Zhang Xuecheng (2012). “ Accelerating Our Pace in Building a Cultural Strong nation”; People’s Daily; November 26, 2012, 07. http://cmp.hku.hk/2012/11/26/29403/    Author                Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Hỏi đáp y học: Tưởng vậy không phải vậy!      Hỏi: Từ nhiều tháng nay tôi bị đau khớp vai đến độ nhiều lúc không dơ nổi cánh tay. Tôi đã chạy chữa qua nhiều thầy thuốc chuyên khoa, từ chỉnh hình đến thấp khớp, nhưng không thấy thuyên giảm. Gần đây có thầy thuốc khuyên tôi nên kiểm soát lượng đường trong máu. Xin cho biết lẽ nào bệnh tiểu đường có liên quan với đau khớp vai!? Ô. Trần văn Ch., Lãnh Binh Thăng, TP HCM.    Đáp:    Thưa ông,  Phải nói ngay để ông bớt hoang mang. Thầy thuốc của ông đã có cơ sở vững chắc khi khuyên ông kiểm soát lượng đường trong máu. Ai chẳng muốn gặp đúng thầy thuốc chuyên khoa, nhưng không hẳn lúc nào đau vai cũng phải nhanh chân tìm đến thầy thuốc rành nghề xương khớp. Bằng chứng là các nhà điều trị ở bệnh viện chỉnh hình Dortmund, CHLB Đức đã ghi nhận là một số rất lớn bệnh nhân đau khớp vai, nói đúng hơn, vì bệnh gọi là viêm quanh khớp vai, lại không thuyên giảm dù đã được điều trị đúng bài bản sau nhiều tháng trời bởi thầy thuốc chuyên khoa đầu ngành! Thêm vào đó, trong đa số trường hợp, thầy thuốc thậm chí không phát hiện triệu chứng điển hình của viêm khớp trên hình quang tuyến, hay trên màn hình siêu âm! May làm sao, một báo cáo cách đây không lâu của khoa nội tiết ở bệnh viện Berlin đã xác minh hội chứng mang tên “khớp vai đông lạnh” (frozen shoulder), qua đó phần mô liên kết quanh khớp vai sau thời gian bị viêm tấy trở nên xơ cứng và cản trở vận động của khớp vai, là hình ảnh quen thuộc ở tối thiểu 20% số người bị bệnh tiểu đường, đặc biệt ở bệnh nhân thuộc nhóm phải tiêm insulin. Các nhà nghiên cứu ở Thủ đô nước Đức cũng ghi nhận là cường độ đau nhức tê bại ở khớp vai rõ ràng tỷ lệ thuận với lượng đường trong máu. Nói cách khác, nếu chịu khó theo dõi diễn tiến của bệnh tình nhiều người bệnh có thể không cần đến máy đo đường huyết mà vẫn phỏng đoán khá chính xác tình trạng lên xuống của lượng đường trong máu bằng cách dựa vào cường độ đau nhức của khớp vai.  Hội chứng “khớp vai đông lạnh” thường tiến triển qua ba giai đoạn với dấu hiệu ban đầu là tình trạng đau nhức không rõ lý do nhưng với cường độ càng lúc càng tăng, đặc biệt sau bữa ăn. Sau đó ít lâu khớp vai bắt đầu bị tê cứng. Chính vì thế mà bệnh được trông mặt đặt tên là khớp vai bị cất vào tủ… đông lạnh! Giai đoạn này có thể kéo dài cả năm, thường vì đa số bệnh nhân xem thường chứng đau vai, cứ như đau là chuyện bình thường do gánh nặng của cuộc sống. Nếu đau lại đúng vào vai bên không thuận tay thì nhiều người càng thờ ơ hơn nữa, dù là cử động của cánh tay bị giới hạn rõ ràng. Trong giai đoạn cuối, nhờ lâu rồi cũng quen nên khớp bỗng bớt đau. Người bệnh từ đó sống chung với khớp vai không ngày nào không đau, không nhiều thì ít. Người bệnh từ đó sống quen với cánh tay khó chải tóc gỡ đầu, khó với ra phía sau, khó vươn lên cao. Biết là khó chịu nhưng không dưới 80% người bệnh lại chấp nhận tình cảnh lâu rồi đời mình cũng qua, thay vì tìm đến thầy thuốc cho sớm. Nhưng cho dù có chịu ghi tên chữa bệnh thì cũng bằng không nếu thầy thuốc khi chẩn đoán vì quá chú trọng vào khớp vai nên quên bệnh… tiểu đường!  Nhưng xin đừng vì thế mà đổ hết cho bệnh tiểu đường. Hội chứng “khớp vai đông lạnh” cũng có thể là hậu quả của thấp khớp, hay do bất động quá lâu sau chấn thương, hoặc do lỗi lầm trong lúc giải phẫu… Dông dài cho lắm chỉ để dẫn về một kết luận cũ mèm. Đằng nào cũng cần chẩn đoán đúng.  Trên nguyên tắc không quá phức tạp để điều trị hội chứng “khớp vai đông lạnh” với phương tiện hiện nay như với thuốc kháng viêm, vật lý trị liệu, với từ trường, hay tia laser… Nhưng tỷ lệ hiệu quả sẽ rất thấp nếu nguyên nhân lại là bệnh tiểu đường, và khi không ổn định được lượng đường trong máu. Nói cách khác, hội chứng “khớp vai đông lạnh” về mặt chẩn đoán là dấu hiệu báo động để thầy thuốc lưu ý đến bệnh tiểu đường, thay vì chỉ nhìn tập trung vào khớp. Ngược lại, đó cũng là tiêu chuẩn để thầy thuốc chữa bệnh tiểu đường xem lại phác đồ điều trị nếu người bệnh cứ tiếp tục ôm vai kêu trời.  Tiểu đường là một căn bệnh quỉ quái nhờ khả năng tung hỏa mù đánh lạc hướng cả nhà điều trị lẫn bệnh nhân. Chắc chắn không ít người bệnh sẽ còn mất rất nhiều thời giờ với tình trạng đau nhức đâu đó, nếu không khớp vai thì cũng đầu gối, nếu không nhức đầu thì cũng tê tay chân vì lạc tuyến chẩn đoán, khi thì ở khoa chấn thương chỉnh hình này, lúc thì ở khu điều trị phong thấp kia, vì bệnh tiểu đường biến hóa khó lường. Ông nên vui mừng vì đã tìm được thầy thuốc có tầm nhìn xa hơn khớp vai. Mặt khác, cũng xin ông vui lòng thông cảm. Nếu triệu chứng nào cũng rõ như ban ngày thì thầy thuốc đã không cần phải học tối thiểu đến 6 năm.  Chúc ông sớm bình phục.  Bạn đọc có câu hỏi hãy gửi tới: hoidapyhoc@tiasang.com.vn  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội Hóa học Mỹ thắng kiện Sci – Hub      Hội Hóa học Mỹ ACS (The American Chemical Society) vừa thắng vụ kiện chống lại Sci-Hub, trang web cho truy cập trái phép đối với hàng triệu bài báo khoa học vốn phải trả phí.      Phán quyết hôm 3/11 của Tòa án quận Eastern, bang Virginia tuyên bố: vì hành vi ăn cắp bản quyền, giả mạo và vi phạm thương hiệu, Sci-Hub sẽ phải trả cho ACS một khoản tiền bồi thường là 4.8 triệu USD sau khi đại diện của họ đã không tới tham dự phiên tòa.  Tòa đồng thời cũng yêu cầu những nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP), công cụ tìm kiếm, các công ty kinh doanh hosting, mua bán và đăng ký tên miền cũng phải chấm dứt sự thuận tiện giành cho việc truy cập tới Sci-Hub, vì Sci-Hub đã thực hiện hành vi truy cập, sử dụng, sao chép và phân phối trái phép các nội dung đăng trên ACS Marks cùng những công trình học thuật thuộc bản quyền của ACS.  Vụ kiện này chắc chắn sẽ tạo ra tiền lệ, khi một bên thứ ba sử dụng internet có thể yêu cầu chính phủ thực hiện kiểm duyệt, Daniel Himmelstein – nhà khoa học máy tính tại Đại học Pennsylvania (Mỹ), người mới đây có nghiên cứu về số lượng bài báo trên Sci-Hub nhận định.  Hồi đầu năm, Sci-Hub cũng thua trong vụ bị nhà xuất bản danh tiếng Elsevier kiện, và cũng bị yêu cầu phải đền bù 15 triệu USD. Tuy nhiên, Sci-Hub sẽ không trả số tiền này, Alexandra Elbakyan – người sáng lập trang web, vẫn đang điều hành nó từ nước Nga, nằm ngoài phạm vi xét xử của tòa án Mỹ. Trước đó, Elbakyan cũng thông báo với truyền thông là Sci-Hub không quan tâm tới vụ kiện.  Glenn Ruskin – người phát ngôn của ACS nói với tờ ScienceInsider:“Phán quyết trên không áp dụng với các công cụ tìm kiếm, mà chỉ áp dụng đối với những cá nhân và tổ chức chủ động hợp tác với Sci-Hub, như các website chứa dữ liệu của ACS ăn cắp trên Sci-Hub. ACS sẽ tìm cách xác minh các tổ chức nêu trên để thi hành quyết định của tòa án”.  Yêu cầu của ACS đã gây nên mối quan ngại từ Hiệp hội Công nghiệp Máy tính và Viễn thông (CCIA), dù không liên quan đến vụ kiện nhưng đã viết một bản góp ý trong tranh tụng đề nghị tòa loại các ISP và công cụ tìm kiếm ra khỏi danh sách của ACS – đề nghị sau đó đã bị bác. Elsevier cũng từng đòi hỏi tương tự, tuy nhiên trong vụ đó, CCIA cùng Liên minh Thương mại Internet (Internet Commerce Coalition) cũng đã có bản đề nghị, và cuối cùng Elsevier đã rút lại yêu cầu.  Stephen McLaughlin – đang làm tiến sỹ ngành thông tin học tại ĐH Texas (Austin), người theo sát vụ kiện của ACS nói: “Về nguyên tắc, các công cụ tìm kiếm và ISP nên tuân thủ phán quyết của tòa ngay. Nếu họ không tuân thủ, ACS sẽ tiếp tục yêu cầu họ xóa và chặn tên miền Sci-Hub”.  Năm 2015, một tòa án khác ở Mỹ cũng đưa ra phán quyết Sci-Hub vi phạm bản quyền và trang này bị đóng. Tuy nhiên, sau đó nó lại tiếp tục hoạt động với tên miền khác. McLaughlin tin rằng, lệnh của tòa là yêu cầu bắt buộc phải thi hành, các tên miền này sẽ bị chặn.  Tuy nhiên, theo Ruskin, phán quyết của tòa vẫn chỉ áp dụng đối với Mỹ và chưa có hiệu lực bên ngoài lãnh thổ Mỹ.  Một nghiên cứu mới đây của Himmelstein cho thấy, Sci-Hub hiện nắm giữ tới 98% nội dung  trên ACS và 85% dữ liệu trả phí trên Crossref. Mặc dù tòa đã yêu cầu nhưng Himmelstein nghi ngờ khả năng Sci-Hub bị các công cụ tìm kiếm và ISP khóa, do lo ngại trào lưu ủng hộ tự do internet trên thế giới.  Hải Đăng dịch  Nguồn:  http://www.sciencemag.org/news/2017/11/court-demands-search-engines-and-internet-service-providers-block-sci-hub    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội nghị Quốc tế IEEE-RIVF’10 về Công nghệ thông tin và Truyền thông tại Hà Nội      IEEE-RIVF’10 sẽ diễn ra từ ngày 1/11 tới 4/11 tại các hội trường Lê Thánh Tông của Đại học Quốc gia Hà Nội với sự tham gia của khoảng 50 nhà khoa học nước ngoài và gần 100 nhà khoa học từ Việt Nam, cùng nhiều nghiên cứu sinh và sinh viên ngành CNTT&amp;TT.    IEEE (viết tắt của  Institute of Electrical and Electronics Engineers, tạm dịch là “Học Viện Kỹ nghệ Điện và Điện Tử), là hiệp hội phi lợi nhuận quốc tế về cách tân công nghệ tiên tiến hướng tới lợi ích của con người (http://www.ieee.org/index.html). Hợp nhất từ Học viện Kỹ nghệ Điện tử Mỹ (AIEE) thành lập năm 1884 khi điện lực trở thành nguồn năng lượng chính của loài người và Học viện Kỹ nghệ Radio (IRE) thành lập năm 1912, ngày 1 tháng Giêng năm 1963 hiệp hội IEEE chính thức ra đời với 150 nghìn thành viên. Tuy giữ tên gọi truyền thống về điện và điện tử, nội dung hoạt động của IEEE hiện bao gồm hầu hết mọi lĩnh vực công nghệ liên quan tới công nghệ điện tử và thông tin. Với hơn 395 nghìn thành viên tại hơn 160 nước, IEEE hiện là hiệp hội nghề nghiệp lớn nhất toàn cầu. Các thành viên của IEEE được tổ chức thành 331 Chi hội khu vực (331 Sections) thuộc 10 Vùng (10 Regions) địa lý trên toàn cầu. Mỗi thành viên của IEEE còn có thể và thường tham gia vào một vài trong số 38 Hội nghề nghiệp (Society) của IEEE về các lĩnh vực từ điện lực, điện tử, công nghệ thông tin, truyền thông, vũ trụ, hạt nhân, robotics, viễn thám, đại dương, … đến giáo dục, ảnh hưởng xã hội của công nghệ, con người và tự động hóa, … Cùng với các hiệp hội nghề nghiệp, IEEE còn có nhiều Hội đồng Kỹ thuật (Technical Councils) nhằm phối hợp các hội nghề nghiệp với nhau, cũng như Hội về Chuẩn Công nghệ (Standards Association) và các Nhóm công tác (Working Groups).  Có ba loại hoạt  động chính của IEEE: các ấn phẩm và chuẩn công nghiệp; các hội nghị và sự kiện công nghệ;giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.   Gần 140 tạp chí (IEEE journals) và 40 tập san (IEEE magazines) là nguồn tri thức rất uy tín và vô giá về các công nghệ tiên tiến toàn cầu, chẳng hạn như IEEE Transactions on Pattern Analysis and Machine Intelligence (IEEE PAMI) là tạp chí có hệ số ảnh hưởng hàng đầu trong ngành công nghệ thông tin (CNTT). Số lượng ấn phẩm lớn với chất lượng cao của IEEE được tổ chức trong thư viện điện tử IEEE Explore (http://ieeexplore.ieee.org/Xplore/guesthome.jsp). Với gần 1300 chuẩn công nghệ và các đề án đang thực hiện, IEEE là tổ chức phát triển hàng đầu về chuẩn công nghiệp trên toàn thế giới. Thí dụ như họ các chuẩn IEEE 802 của các mạng máy tính cục bộ (LAN) được dùng phổ biến khắp nơi và có ảnh hưởng lớn trong công nghiệp.  Trong lĩnh vực giáo dục, IEEE hoạt động về phát triển nghề nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực công nghệ, về giáo dục thường xuyên và kết hợp với đào tạo nhân lực tại đại học và trước đại học.   Hằng năm IEEE trợ  giúp tổ chức chừng 1100 hội nghị khoa học và các cuộc họp về công nghệ trên toàn thế giới. Các hội nghị được IEEE chính thức trợ giúp khi chất lượng được IEEE đánh giá cao và công nhận với quyền sử dụng logo của IEEE. Các hội nghị này thường có các thành viên chủ chốt của IEEE trực tiếp tham gia. Một số hội nghị trong ngành công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) cũng có thể liên hệ để xuất bản tuyển tập hội nghị qua các hội nghề nghiệp của IEEE.   Đem các hội nghị quốc tế chất lượng cao ngành CNTT&TT đến Việt Nam là một hoạt động nhiều ý nghĩa trong phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. Chi phí cho một cán bộ khoa học ra nước ngoài dự một hội nghị thường là 2000-2500 USD, gồm chi phí đi lại, ăn ở và hội nghị phí (thường quãng 500 USD). Khi có một hội nghị khoa học quốc tế ở Việt Nam, hàng chục cán bộ khoa học của ta có thể tham gia, và sẽ càng giá trị nếu đây là một hội nghị quốc tế có chất lượng tốt (đây là điều cần chú ý vì số hội nghị quốc tế đang tăng lên rất nhanh với chất lượng rất khác nhau). Nhiều người trong số các nhà khoa học quốc tế đến tham gia hội nghị tại Việt Nam cũng thường sẵn sàng và có thể hợp tác với các nhà khoa học của ta. Trong những năm gần đây, một số hội nghị quốc tế chất lượng trong ngành CNTT&TT, thường được tổ chức ở nhiều nước khác nhau, đã được vận động đến Việt Nam trong đó có một số hội nghị của IEEE.   IEEE-RIVF có nguồn gốc từ Hội nghị RIVF “Gặp gỡ trong ngành Tin học Việt-Pháp” (Rencontres en Informatique Vietnam-France) khởi đầu năm 2003 của Học viện Tin học Pháp ngữ IFI (Institut de la Francophne pour l’Informatique) ở Hà Nội với nỗ lực của các giáo sư Marc Bui, Patrick Bellot, Dương Nguyên Vũ,… tại Pháp và đồng nghiệp ở nhiều nước, cùng giáo sư Nguyễn Đình Trí và các đồng nghiệp IFI tại Việt Nam. Các hội nghị RIVF được tổ chức vào các năm 2003, 2004 tại Hà Nội và 2005 tại Cần Thơ. Năm 2006 hội nghị này tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, đã chuyển thành hội nghị song ngữ Anh-Pháp với sự tham gia của nhiều bạn bè quốc tế và đông đảo người làm nghiên cứu ngành CNTT&TT ở Việt Nam. RIVF đã đổi thành “Research, Innovation and Vision for the Future” và “Recherche, Innovation et Vision du Futur”. Cũng tại hội nghị RIVF 2006, Ban chỉ đạo RIVF đã thảo luận việc xúc tiến thành lập Chi hội IEEE Việt Nam (IEEE Vietnam Section). Điều kiện cần là phải có ít nhất 50 thành viên Việt Nam trong IEEE với hội phí mỗi người hằng năm khoảng 100 USD. Đáng ghi nhận là Ban Giám hiệu Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định đóng hội phí cho hơn 20 thành viên của Trường để chúng ta có đủ số 50 thành viên. Đây là một bước tiến có ý nghĩa trên con đường hội nhập về khoa học và công nghệ của ta.  Tháng 2 năm 2007, RIVF chính thức trở thành hội nghị quốc tế của IEEE về Công nghệ Thông tin và Truyền thông, với tên IEEE-RIVF cùng việc thành lập Chi hội IEEE Việt Nam nằm trong Vùng 10 của IEEE. IEEE-RIVF’07 cũng chính thức chuyển sang chỉ dùng tiếng Anh. Do lực lượng khoa học và kết quả ở từng chuyên ngành CNTT&TT của ta còn mỏng và hạn chế, IEEE-RIVF chủ trương tổ chức hội nghị với nhiều chuyên ngành nhằm mời được nhiều nhà khoa học quốc tế đến Việt Nam, và nhiều người làm nghiên cứu ở Việt Nam về CNTT&TT có thể tham gia.   Hội nghị IEEE-RIVF’07 đã thật sự thành công với sự tham gia của nhiều cán bộ nghiên cứu và sinh viên, nghiên cứu sinh ngành CNTT&TT. Nhiều thành viên chủ chốt của IEEE đã tham gia hỗ trợ hội nghị trong quá trình tổ chức, đến trình bày các báo cáo mời như tiến sĩ Jung Uck Seo, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, thành viên xuất sắc (Fellow) của IEEE; giáo sư Janina Mazierska, Giám đốc Vùng 10 của IEEE; giáo sư Nim Cheung của Đại học Standford, thành viên xuất sắc của IEEE và Chủ tịch Hội Truyền thông của IEEE (IEEE Communications Society); giáo sư IshidaToru của Đại học Kyoto, thành viên xuất sắc của IEEE; giáo sư Jean-Marc Steyaert, chủ nhiệm Khoa CNTT của Ecole Polytechnique của Pháp, một chuyên gia Tin học đã đến giúp Việt Nam từ đầu những năm 1980.  Tiếp theo thành công của IEEE-RIVF’08 tại thành phố Hồ Chí Minh và  IEEE-RIVF’09 tại Đà Nẵng, nhân 1000 năm Thăng Long, IEEE-RIVF’10 được quyết định trở lại Hà  Nội, tổ chức vào các ngày 1-4 tháng 11tại các hội trường Lê Thánh Tông của Đại học Quốc gia Hà Nội. Cùng với các thành viên Ban chỉ đạo IEEE-RIVF, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên của Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Công nghệ Thông tin của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là hai cơ quan tổ chức IEEE-RIVF’10. Nhiều nhà nghiên cứu chủ chốt ngành CNTT và Toán học của Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Công nghệ, Viện Toán học … cũng tích cực tham gia vào việc tổ chức hội nghị này. IEEE-RIVF’10 cũng nhận được sự ủng hộ của các cơ quan quản lý như Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền Thông.  Ban chương trình của IEEE-RIVF’10 gồm 120 nhà khoa học (22 từ Việt Nam) phụ trách bởi tiến sĩ Douglas N. Zuckerman (nguyên Chủ tịch Hội Truyển thông của IEEE, thành viên xuất sắc của IEEE, Mỹ), giáo sư Pierre Kuonen (Đại học Khoa học Ứng dụng, Thụy Sĩ), và giáo sư Hồ Tú Bảo (Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản) đã đánh giá và chọn ra 36 bài báo dài và 32 bài báo ngắn từ 135 bài của các tác giả từ 23 nước gửi tham gia hội nghị. Có 7 phân ban theo 7 chuyên ngành tại hội nghị IEEE-RIVF’10: Trí tuệ Tính toán, Truyền thông và Mạng, Mô hình và Mô phỏng, Quản trị Thông tin và Tri thức, Vận Trù học và Tối ưu, Công nghệ Phầm mềm và Hệ nhúng, Giao tiếp Người-Máy và Xử lý Ảnh.   Nhiều nhà khoa học  uy tín tiếp tục tham gia IEEE-RIVF’10, như tiến sĩ JohnVig (Chủ tịch IEEE năm 2009) đã nhận lời làm đồng Chủ tịch Danh dự của IEEE-RIVF’10 cùng Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong; Chủ tịch Gary Yen (giáo sư Đại học quốc gia Oklahoma) và nguyên Chủ tịch Vincenzo Piuri (giáo sư Đại học Milan) của Hội Trí tuệ Tính toán (Computational Intelligence) của IEEE đã làm đồng Chủ tịch của phân ban Trí tuệ Tính toán của IEEE-RIVF’10; hay tiến sĩ Douglas N. Zuckerman tham gia cùng phụ trách Ban chương trình. Bảy báo cáo mời cũng được trình bày bởi các nhà khoa học có uy tín như giáo sư David W.L. Cheung (Trưởng Khoa CNTT, Đại học Hồng Kông); tiến sĩ Barry S. Perlman, Trung tâm nghiên cứu CNTT& Điện tử của Quân đội Mỹ, thành viên xuất sắc của IEEE và nguyên Chủ tịch Hội Lý thuyết và Kỹ thuật Microwave; tiến sĩ ĐặngTuấn từ Công ty Điện lực Pháp; giáo sư Yo-Sung Ho, viện GIST của Hàn Quốc; tiến sĩ Roberto Saracco từ Telecom Italia; tiến sĩ Marzuki Khalid đại diện Vùng 10 của IEEE; và giáo sư Jean-Marc Steyaert từ Ecole Polytechnique của Pháp.  IEEE-RIVF’10 cho các phép các nghiên cứu sinh và sinh viên được đăng ký tham dự hội nghị miễn phí, cũng như vận động các nguồn tài trợ để các nhà khoa học Việt Nam có thể tham gia IEEE-RIVF’10 với một hội nghị phí thấp nhất có thể (quãng 1/4 hội nghị phí chính thức). Sẽ có khoảng 50 nhà khoa học nước ngoài và gần 100 nhà khoa học từ Việt Nam, cùng nhiều nghiên cứu sinh và sinh viên ngành CNTT&TT tham gia hội nghị IEEE-RIVF’10 tại Hà Nội.  Khi trao đổi cùng giáo sư Cao Hoàng Trụ của Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh người mấy năm nay thường cùng lo Ban Chương trình của IEEE-RIVF chúng tôi nhận thấy một sự tiến bộ rất rõ rệt về nội dung, chất lượng và cách thức viết bài cũng như trình bày tại hội nghị của các nhà khoa học và sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam. Có thể nói đây là thành quả lớn nhất mà cộng đồng CNTT&TT Việt Nam đã đạt được cùng IEEE-RIVF những năm qua. Gần đây, IEEE-RIVF đã được ghi nhận trong danh sách hội nghị quốc tế ISI.   Tạo dựng một hoạt  động khoa học quốc tế thường xuyên ở Việt Nam đã là một việc khó và nhiều công sức, nhưng nuôi dưỡng và phát triển hoạt động này cũng không kém gian nan. Mong rằng IEEE-RIVF sẽ tiếp tục hoạt động thành công với nỗ lực chung của cộng đồng CNTT&TT Việt Nam và sự hợp tác của bè bạn quốc tế, góp phần xây dựng nền khoa học và công nghệ đất nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội thảo Mô hình phát triển bền vững và trường đại học mới      Tại hội thảo do Bộ KH&amp;CN phối hợp với Trường ĐH Arizona và Hiệp hội Khoa học phát triển Hoa Kỳ tổ chức, phía Hoa Kỳ đã giới thiệu một số thế mạnh về giáo dục và công nghệ của mình như mô hình đào tạo của trường ĐH Arizona, hệ thống thông tin địa lý (GIS); phương pháp phát triển bền vững và quy hoạch đô thị.    Ông Anthony (Bud) Rock  – cố vấn đặc biệt của trường Arizona cho biết, đoàn làm việc của Hoa Kỳ sẽ tìm hiểu hiện trạng và định hướng phát triển KH&CN của Việt Nam để tư vấn một số nội dung thuộc lĩnh vực quản lí như phương thức xây dựng dự án nghiên cứu và phát triển (R&D), công tác tuyển chọn, quản lí và đánh giá các chương trình R&D.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hồi ức về “cậu học trò” Bill Gates      Không tốt nghiệp đại học nhưng Bill Gates đã vừa trở thành tiến sỹ danh dự của trường đại học Harvard. Năm 1975 ông đã bỏ học ở trường này để tạo dựng cho mình một sự thăng tiến vô cùng nhanh chóng. Giáo sư Harry R. Lewis từng là thày giáo của Gates – trong cuộc trả lời phỏng vấn SPIEGEL, ông vẫn nghĩ đến một sinh viên cực kỳ sắc sảo, nhạy bén đầy tham vọng nhưng đôi khi tỏ ra uể oải, chán chường.    Cách đây hơn 30 năm, giáo sư  đã từng dạy Bill Gates ở đại học Harvard. Hồi đó giáo sư dạy về những môn gì ?  Hồi đó tôi có  hai xêmina  vào năm  1974 và  1975. Một xêmina về toán tổ hợp, rồi một khoá về toán ứng dụng dành cho sinh viên chưa tốt nghiệp (Undergraduates). Đó là những vấn đề liên quan đến phép hoán vị,  nghĩa là tổ hợp các con số, toán rời rạc, tổ hợp và tính toán. Còn xêmina thứ hai là một xêmina nâng cao về trường esoteric – hiện tôi cũng chẳng  nhớ gì mấy vì từ bấy đến nay lĩnh vực này đã có  những thay đổi sâu sắc.    Bill Gates vừa được trao tặng hết sức trọng thể bằng tiến sỹ danh dự.  Ấn tượng của giáo sư hồi đó về ông ấy như thế nào?                 Harry R. Lewis là giáo sư tin học đại học Harvard và từ năm 1995 đến 2003 là chủ nhiệm khoa.  Năm 1974 và  1975 ông từng là thày giáo của Bill Gates            Tôi còn nhớ một câu chuyên khá thú vị.  Hồi đó tôi có biết ít nhiều về Gates. Tôi cho rằng, cậu ta chẳng mấy thích thú khoá lên lớp của tôi và bản thân cậu ta cũng đã nói, cậu chẳng mấy hứng thú với phần lớn các xêmina. Nhưng Bill Gates vẫn  tham dự khá nhiều hoạt động ở trường. Đôi khi cậu ta ngủ gà ngủ gật trong lớp học, sau này tôi mới biết, anh ta thường làm việc rất khuya, có thể khi đó anh đã dồn toàn bộ công sức để chuẩn bị thành lập Microsoft. Vì thế  ban ngày cậu ta đói ngủ là chuyện đương nhiên. Gates còn thích chơi bài xì trong ký túc xá.    Vậy hồi đó ông ấy có thành tích gì nổi bật không?   Trong khoá học về toán tổ hợp tôi có đề cập đến vấn đề mà đến thời điểm đó chưa có một lời giải thật  chính xác nào. Hồi đó chỉ mới có một số thông tin. Vấn đề cũng đơn giản thôi nhưng vào thời điểm đó chưa có ai tìm được câu trả lời. Gates vắng mặt không tham gia khoá học mấy hôm. Những ngày đó cậu ta đã nghiền ngẫm những thuật giải tốt nhất mà người ta đã biết cũng như những phương pháp về vấn đề này. Sau đó tôi đã giới thiệu cậu ta với một giáo sư khác, người cùng với tôi phụ trách khoá học này và cũng đang nghiên cứu về vấn đề này. Hai thày trò đã cùng nhau viết một tiểu luận về  đề tài này. Nhờ đó Gates đã có bài được công bố trong một tạp chí toán học chuyên ngành có tên tuổi. Tôi đã giao cho cậu ta một vấn đề hóc búa và điều này đã kích thích ý chí tiến thủ của cậu ta.    Có nghĩa là Gates  từng là một sinh viên phi thường?  Cậu ta từng là một chàng trai đầy nhiệt huyết, năng nổ. Nhưng quả thật là khó để đánh giá ai đó là một người phi thường. Tôi từng dạy biết bao nhiêu sinh viên rất đặc biệt và giờ đây họ đã là giáo sư ở đại học ở Yale, ở MIT hay tại đại học Harvard. Hồi đó tôi mới dạy 2 năm ở trường này nên cũng có ít điều kiện để so sánh. Nhưng ở Gates có một sự  phối trộn không bình thường giữa trí thông minh và sự hiếu thắng. Anh ta cũng là người gặp thời. Nhưng tất nhiên vào thời điểm đó chẳng ai có thể nói trước Microsoft sau này sẽ ra sao. Song nếu hồi đó có ai hỏi tôi liệu Gates có thể  lãnh đạo thành công một doanh nghiệp phần mềm hay không, thì chắc chắn tôi sẽ trả lời anh ta sẽ làm được. Anh ta là người  hiếu thắng, lao động rất miệt mài, hăng hái  và rất nhanh nhẹn. Nhanh nhẹn và thông minh đó là những thế mạnh nổi trội của anh ta.    Giáo sư có biết ông ấy đã làm các chương trình phần mềm như thế nào không?  Tất nhiên là cậu ta đã sử dụng computer của chúng tôi. Hồi đó tôi không biết cậu ta làm cho Microsoft. Sau này thì tôi biết, chúng tôi đã tìm thấy một bản sao 1.1 Microsoft Basic Interpreters – sản phẩm gốc của  Microsoft. Tôi đã cất chúng vào kho lưu trữ. Bản phóng đại tư liệu này được trưng trên tường khu  tiền sảnh của khoa nhằm động viên khích lệ các thế hệ kế tiếp.    Có tin đồn  Bill Gates đã không tự động bỏ học ở Harvard.  Đại học Harvard  đã phê phán ông ta  lợi dụng nhà trường để làm ăn?  Sự thật là Gates đã làm khó cho Harvard. Nhà trường đã không lường trước được những chuyện này. Nhưng quả thực Bill Gates đã hoàn toàn tự mình thôi học và rời bỏ nhà trường, hoàn toàn không có chuyện cậu ta bị gây khó dễ dưới bất kỳ hình thức nào.  Nhưng ông ấy đã làm việc với các máy tính của nhà trường?  Tất nhiên. Các giáo sư quản lý computer cho phép sinh viên dùng những cái máy đó. Chuyện này hoàn toàn không có gì bất bình thường và không vi phạm quy định nhà trường.  Hiện nay giáo sư còn gặp  Bill Gates nữa không?  Có, tôi có gặp ông ta đôi lần. Cả trong buổi lễ vừa rồi chúng tôi cũng có chuyện trò với nhau. Bill Gates là một con người thật nồng hậu.  Xuân Hoài dịch  —  Ảnh trên cùng: Bill Gates  liếc nhìn bằng  tiến sỹ danh dự  đại học Harvard    Author                Quản trị        
__label__tiasang Homi J BHabha: Nhà kiến tạo      Sir Chandrasekhara Venkata Raman – người tìm ra tán xạ Raman và được trao giải Nobel vật lý năm 1930, dù hiếm khi khen ngợi ai cũng dành cho Homi J Bhabha- một trong số nhà kiến tạo Ấn Độ, một biệt lệ khi gọi ông là Leonardo de Vinci của Ấn Độ.      Nhìn bao quát cả cuộc đời Homi J Bhabha, người ta chỉ có thể thấy một tình yêu, một sự gắn bó mật thiết với khoa học và đất nước Ấn Độ. TS sử học Indira Chowdhury, tác giả cuốn “Growing the Tree of Science” (tạm dịch “Sự lớn mạnh của cây Khoa học”) về Homi J Bhabha và Viện nghiên cứu cơ bản Tata, cho rằng câu chuyện cuộc đời ông cũng là câu chuyện về sự kiến tạo của Ấn Độ hiện đại còn Jehangir Ratanji Dadabhoy Tata – chủ tịch Tata, tập đoàn công nghiệp lớn nhất Ấn Độ và là người có ảnh hưởng lớn trong xã hội nước này những năm 1930-1980, từng nói, “có ba người [Ấn Độ] vĩ đại mà tôi may mắn được biết đến, đó là Jawaharlal Nehru, Mahatma Gandhi và Homi Bhabha”.  Chọn con đường khoa học  Cuộc đời đã sắp sẵn cho Homi J Bhabha một sự nghiệp khác. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức và có mối quan hệ gần gũi với hai gia tộc công nghiệp lớn hàng đầu Ấn Độ là Petit và Tata, ông bác Dorabji Tata muốn Bhabha trở thành kỹ sư và tham gia quản lý Tata. Vì thế, Bhabha được gia đình gửi theo học ngành cơ khí ở Cambridge, Anh vào năm 1927.  Cambridge thời kỳ đó có nhiều người xuất sắc, trong đó có Paul Dirac – một trong những nhà vật lý lý thuyết nổi bật thế kỷ 20. Dưới sự hướng dẫn của Paul Dirac, Bhabha là một sinh viên xuất sắc trong toán học, vật lý lý thuyết và mong muốn theo đuổi hai môn này trong tương lai. Trong bức thư gửi cha – luật sư Jehangir Hormusji Bhabha, năm 1928, ông trình bày mong muốn làm khoa học: “Con buộc phải nói với cha rằng nghề kỹ sư hay thương nhân không còn ý nghĩa đối với con. Nó hoàn toàn xa lạ với bản chất tự nhiên của con và về cơ bản đối nghịch với khí chất, quan điểm của con. Vật lý là sở trường của con. Con biết mình có thể làm được những điều lớn lao ở đây. Bởi mỗi người chỉ có thể làm việc tốt nhất chỉ khi họ được làm điều mình say mê, điều mà họ tin tưởng là có khả năng thực hiện, và sự thật là họ được sinh ra và dành cho nó, con cũng vậy… Bên cạnh đó, Ấn Độ vẫn chưa phải là đất nước của khoa học”. Do gia đình không đồng ý với đề nghị này nên ông phải kiên trì thuyết phục. Trong bức thư khác, ông viết, “con đang cháy lên với khao khát được nghiên cứu vật lý. Con muốn và phải làm điều đó. Đây là hoài bão duy nhất của con…”. Cuối cùng, cha của Bhabha đã đồng ý với một điều kiện: ông phải giành vị trí thứ nhất kỳ thi Mechanical Sciences Tripos – cuộc thi tuyển chọn những sinh viên xuất sắc ngành cơ học Cambridge. Năm 1930, ông hoàn thành mục tiêu của cha để có thể tự do theo đuổi giấc mơ của mình.  Mối quan tâm chính trong thời kỳ đầu của Bhabha là lý thuyết về positron – phản hạt của electron, và tia vũ trụ. Ông làm tiến sỹ ở phòng thí nghiệm Cavendish dưới sự hướng dẫn của Sir Ralph Howard Fowler  Vào thời điểm đó, Cavendish quy tụ nhiều nghiên cứu mang tính đột phá: James Chadwick phát hiện ra neutron, John Cockcroft và Ernest Walton chuyển hóa lithium với các hạt proton năng lượng cao, Patrick Blackett và Giuseppe Occhialini dùng buồng sương Wilson để giải thích các cặp electron và “mưa hạt” bằng phóng xạ gamma (trong lịch sử của mình, phòng thí nghiệm này có 29 nhà nghiên cứu được trao giải Nobel). Ông cũng may mắn có thời gian được làm việc với Niels Bohr ở Copenhagen và Enrico Fermi ở Rome. Đóng góp lớn nhất của Bhabha trong thời kỳ Cambridge là xác định được mặt cắt ngang của tán xạ electron-positron (sau được gọi là tán xạ Bhabha), lý thuyết về sự tạo ra các “cơn mưa” eletron và positron trong các tia vũ trụ (sau được gọi là lý thuyết Bhabha-Heitler)…      Indira Gandhi (con gái của Nehru) từng nói rằng Nehru thường xuyên gọi điện thoại cho Bhabha vào lúc khuya muộn để cùng trao đổi về các vấn đề KH&CN và nhiều vấn đề trọng đại khác của đất nước”.        Nếu không bị Chiến tranh thế giới lần thứ 2 cắt ngang thì rất có thể ông sẽ là nhà vật lý Ấn Độ thứ hai sau C V Raman được trao giải Nobel vật lý. Nhưng cuộc chiến này đã đem lại một bước ngoặt mới cho cuộc đời Bhabha, và có lẽ là cả khoa học Ấn Độ.  Niềm tin vào giá trị của khoa học  Những gì Bhabha đóng góp cho đất nước Ấn Độ cũng xuất phát từ vấn đề đặt khoa học gắn liền với sự phát triển đất nước và tầm nhìn rộng lớn của ông, một trong số đó là việc thành lập Viện nghiên cứu Tata.  Ở lại Bangalore do không thể trở lại Cambridge vì chiến tranh, Homi J Bhabha đã nhận lời mời của CV Raman tham gia nghiên cứu tại Viện nghiên cứu khoa học Ấn Độ (IISc) và tham gia giảng dạy ở Central College về tia vũ trụ, năng lượng hạt nhân… Qua quan sát, ông nhận thấy “cái kiểu nghiên cứu đang được thực hiện tại Ấn Độ không hẳn là nghiên cứu cơ bản và cũng nhận thấy các điều kiện nghiên cứu trong trường đại học hay các viện nghiên cứu đương thời không phù hợp với khoa học cơ bản, dẫu cho vào thời điểm đó, IISc cũng đang thực hiện nhiều nghiên cứu đỉnh cao trong nhiều khía cạnh của hạt cơ bản, tia vũ trụ, vật lý hạt nhân”, theo lời kể của nhà vật lý năng lượng cao B V Sreekantan – học trò và cộng sự của Homi J Bhabha trong vòng 18 năm. IISc đang thực hiện nhiều nghiên cứu về quang phổ – di sản của Raman, tia X, tinh thể… nhưng Bhabha muốn có một viện nghiên cứu thúc đẩy việc nghiên cứu cơ bản trong những lĩnh vực mới nổi. Vậy là cần phải có tiền, một lượng rất lớn. Ông quyết định viết thư cho J R D Tata, trong đó nêu “sự thiếu hụt điều kiện xác đáng và nguồn kinh phí đang cản trở sự phát triển của khoa học Ấn Độ”. J R D Tata đã khuyên bạn mình viết thư cho Sir Dorabji Tata.    Thủ tướng Jawaharlal Nehru (ngoài cùng bên phải) tới khánh thành lò phản ứng nghiên cứu CIRUS. Nguồn: Viện Tata.  Tháng 3/1944, Bhabha đã gửi thư tới Sir Dorabji Tata đề xuất ý tưởng: “Đây là thời điểm Ấn Độ không có viện nghiên cứu nào về các vấn đề cơ bản của vật lý, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm… Sẽ có lợi cho Ấn Độ nếu có một viện nghiên cứu tốt về vật lý cơ bản, bởi đây không chỉ là phát triển các lĩnh vực tiên tiến của vật lý mà còn giải quyết những vấn đề ứng dụng trong công nghiệp.” Ông cũng chỉ ra nguyên nhân khiến ngành công nghiệp Ấn Độ không phát triển, “nếu nhiều nghiên cứu ứng dụng đã được thực hiện ở Ấn Độ hiện nay là đáng thất vọng hoặc chất lượng thấp thì cũng là do thiếu những nhà nghiên cứu khoa học thuần túy xuất sắc, những người có thể thiết lập chuẩn mực của nghiên cứu chất lượng cao và đóng vai trò tư vấn [cho các nhà sản xuất]”. Trong bức thư này, Bhabha đã chứng tỏ tầm nhìn của mình về một nền tảng vững chắc của vật lý hạt nhân, “tôi không nghĩ rằng bất cứ ai đã biết rõ sự phát triển của khoa học nhiều quốc gia khác có thể phủ nhận sự cần thiết của một viện nghiên cứu ở Ấn Độ như tôi đề xuất. Ở viện này, các chủ đề nghiên cứu sẽ là vật lý lý thuyết, đặc biệt là các vấn đề cơ bản và liên quan đến tia vũ trụ, vật lý hạt nhân, và nghiên cứu thực nghiệm về tia vũ trụ. Không thể tách rời vật lý hạt nhân khỏi tia vũ trụ bởi hai lĩnh vực này gắn bó rất chặt chẽ về lý thuyết”.  Chấp thuận đề xuất của Bhabha, Sir Dorabji Tata đã cùng chính quyền Bombay (nay là Mumbai) cấp kinh phí xây dựng Viện nghiên cứu cơ bản vào năm 1945, sau mang tên Tata để ghi nhớ công lao của nhà tài trợ, và tặng thêm một khoản đặc biệt để mua thiết bị nghiên cứu tia vũ trụ. Bhabha được bổ nhiệm làm viện trưởng.  Trong cuộc đời làm khoa học và quản lý khoa học, Bhabha đã may mắn gặp Jawaharlal Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ độc lập. Giữa hai người có mối đồng cảm đặc biệt bởi giống như Bhabha, Nehru luôn tin tưởng vào khả năng đem đến sự thay đổi trong xã hội và nền kinh tế của KH&CN. Đây cũng là lý do vì sao khi Bhabha đệ trình kế hoạch phát triển NLNT, chương trình điện hạt nhân ba giai đoạn, Nehru đã chấp thuận và tin tưởng vào tương lai của Ấn Độ trong khoảng hai thập kỷ tới.     Dưới cái nhìn của Nehru, Bhabha là con người tốt đẹp nhất và thông minh nhất mà ông biết. TS sử học Indira Chowdhury cho biết, “ông thường dành thời gian nhiều nhất có thể ở văn phòng để trao đổi với Bhabha còn trong suốt những kỳ nghỉ của mình, Nehru chỉ trò chuyện qua điện thoại với hai người, một là nhà hoạt động chính trị Jayprakash Narayan, hai là Bhabha. Indira Gandhi (con gái của Nehru) từng nói rằng Nehru thường xuyên gọi điện thoại cho Bhabha vào lúc khuya muộn để cùng trao đổi về các vấn đề KH&CN và nhiều vấn đề trọng đại khác của đất nước”.  Niềm tin vào những người làm khoa học  Giáo sư R E Marshak (Mỹ) trong một cuộc hội thảo tại Bhuvaneswar năm 1977 đã nêu những cảm nhận về Bhabha: “Tôi ấn tượng rất sâu sắc bởi tầm nhìn xã hội của TS. Bhabha, sự cống hiến của ông cho những giá trị nhân bản và bởi sự cam kết lớn lao tới sự thịnh vượng của đất nước và nhân dân Ấn Độ – những nhà khoa học sáng tạo nhất Mỹ thường từ chối gánh trên vai bất kỳ trách nhiệm xã hội nào”.    Cái nhìn đầy nhân bản và tinh tế của Bhabha đã giúp ông đào tạo được một đội ngũ các nhà khoa học giỏi và tâm huyết. Giáo sư Bhalchandra Udgaonkar – người được Bhabha trực tiếp phỏng vấn và nhận vào Viện Tata kể lại, triết lý làm việc của Bhabha là chọn bằng được một người tài năng và có tố chất lãnh đạo, sau đó xây dựng quanh anh ta những công việc và con người cần thiết để cùng nhau thực hiện các nghiên cứu. Để nâng cao thêm khả năng cạnh tranh của các nhà khoa học trẻ Ấn Độ với các đồng nghiệp quốc tế, ông đã trao cho họ nhiều cơ hội đi học hỏi ở nước ngoài từ 2 đến 3 tháng, tới nhiều trung tâm khoa học lớn và tham dự nhiều hội nghị, đồng thời mời các nhà khoa học nước ngoài thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu tới giảng bài và thảo luận. Bhabha cũng mạnh dạn khuyến khích các cộng sự trẻ thể hiện năng lực của mình, ví dụ năm 1965, ông bổ nhiệm nhà khoa học tuổi 34, P K Iyengar vào vị trí phụ trách Bộ phận Vật lý hạt nhân của Trung tâm BARC. Thời gian đã chứng minh ông đúng: vào những năm 1970, P K Iyengar thiết kế thành công lò PURNIMA, sau đó được bổ nhiệm làm giám đốc BARC và chủ tịch Ủy ban NLNT (Bộ NLNT Ấn Độ).    Khi nhận ra, với những người làm khoa học, sự hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu là chưa đủ, cần phải khuyến khích và cho họ thấy giá trị của công việc họ làm, ông đã nỗ lực xây dựng thêm các cơ sở đào tạo, các tổ chức có thể đem đến ứng dụng từ công trình nghiên cứu. “Các tổ hợp Anushaktinagar, Kalpakkam và những tổ chức khác của Bộ NLNT Ấn Độ đã phản chiếu suy nghĩ đó của ông”, TS P K Iyengar cho biết.  Những công việc Bhabha thực hiện đều ẩn chứa một quan điểm sâu sắc về con người. Khóa đào tạo Training School mà ông thiết lập ở BARC không chỉ cung cấp cho “lính mới” những kiến thức cơ bản về KH&CN hạt nhân mà còn có một ẩn ý khác, tạo điều kiện cho họ được làm quen với nhau trước khi làm việc ở các tổ chức thuộc Bộ NLNT. Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn và đa dạng về văn hóa, vì vậy cần phải có thời gian làm quen và chấp nhận những khác biệt về văn hóa trước khi cùng nhau làm việc. Đó cũng là một trong những bí quyết để Bhabha tạo ra sự thống nhất trong hoạt động của Bộ NLNT.  Trong bức thư gửi Sir Dorabji Tata, ông đã nêu tầm quan trọng về việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước của chương trình điện hạt nhân: “Khi điện hạt nhân đã được ứng dụng thành công để làm ra điện thì có thể nói trong vài thập kỷ tới, Ấn Độ sẽ không phải tìm chuyên gia của mình ở nước ngoài nữa mà sẽ có thể tìm thấy họ trong tầm tay”. Không cần đến vài thập kỷ sau, ngay thời điểm chừng 10 năm kể từ khi thực hiện giai đoạn 1 chương trình, ông đã đào tạo ra rất nhiều nhà khoa học giỏi. Vì vậy, khi ông qua đời một cách đột ngột vào năm 1965, chương trình vẫn được tiếp tục với những học trò của ông, Sethna, Ramanna, Brama Pakash, A S Rao…  ***  Không chỉ là một người hoạt động khoa học thuần túy, Bhabha còn là một người yêu nghệ thuật, cây cối và say mê âm nhạc cổ điển. Tại Viện Tata còn lưu trữ rất nhiều bức phác họa chì của ông, trong đó có bức vẽ Raman, người mà ông yêu quý và ngưỡng mộ. Ông đã mua hàng trăm bức vẽ của các họa sỹ Ấn Độ khi họ mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp và sẵn sàng trả họ số tiền gấp 3, 4 lần giá hiện hành. Theo cách đó, ông không chỉ góp phần khuyến khích những họa sỹ trẻ mà còn tạo dựng được một không khí nghệ thuật ở Viện Tata.  Bhabha gắn bó với công việc và các cộng sự của mình. Với họ, được làm việc với người như ông là một may mắn lớn trong đời. Chia sẻ trên tạp chí Resonace vào năm 2010, B V Sreekantan gọi “những năm tháng làm việc với ông là những năm tháng đẹp nhất trong sự nghiệp khoa học của tôi và có lẽ là cả cuộc đời tôi”. Họ quen thuộc với cách làm việc của ông, quen cả thói quen buổi chiều đi làm về, ông đi vẫn dạo với chú chó tai dài. Sau khi ông qua đời, chú chó đó đã không ăn không uống gần một tháng liền và chết theo người chủ của mình.  Giờ đây, những gì Bhabha thiết lập ở Ấn Độ vẫn còn tồn tại và phát triển. Ở Trung tâm BARC, nơi mang tên ông, người ta vẫn nhắc đến ông với sự kính trọng đặc biệt hay Viện Tata vẫn giữ lịch seminar khoa học vào thứ 4 hàng tuần – vốn do ông khởi xướng, như một nét truyền thống đẹp. Nó cũng giống như tinh thần của nhạc trưởng Gustavo Dudamel khi José Antonio Abreu, người sáng lập tổ chức El Sistema, qua đời, “cam kết của tôi là để di sản của ông sống mãi…”  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: TheHindu, Viện Tata, Resonace       Author                Quản trị        
__label__tiasang Homo Sapien rời khỏi châu Phi sớm hơn chúng ta tưởng      Các nhà khoa học tại Đại học Tel Aviv, Israel và ĐH Binghamton, Mỹ đã phát hiện một hóa thạch được coi là cổ xưa nhất của Homo Sapien ở bên ngoài châu Phi. Phát hiện này cho thấy Homo Sapien đã di chuyển khỏi châu Phi sớm hơn ít nhất là 50.000 năm so với các phát hiện trước đây. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Science ngày 25 tháng 1.      Mẫu hóa thạch răng ở hang Misliya.  Các nhà nghiên cứu Hershkovitz ở Đại học Tel Aviv và Rolf Quam ở Đại học Binghamton là những người chịu trách nhiệm chính của nghiên cứu này. Nhóm đã phát hiện các hóa thạch gồm xương hàm trên và một số răng ở hang Misliya, một hang cao nhất thuộc quần thể hang động tiền sử nằm trên núi Carmel ở Israel. Nó chỉ cách hang Skhul, di chỉ khảo cổ học có người sống ở niên đại khoảng 80.000 – 120.000 được tìm thấy vào những năm 1920 – 1930 vài kilometres.  “Phát hiện ở Misliya rất thú vị. Nó cung cấp bằng chứng một cách rõ ràng nhất cho thấy rằng tổ tiên của chúng ta đã di cư ra khỏi châu Phi sớm hơn so với những gì mà chúng ta nghĩ trước đây. Có nghĩa là, người hiện đại có khả năng đã gặp và tương tác với các nhóm người cổ đại khác, điều đó mang lại cơ hội cho giao lưu văn hóa và trao đổi về mặt sinh học”, Rolf Quam nói.  Các hóa thạch này có niên đại khoảng từ 175.000 đến 200.000 năm tuổi, đã đẩy niên đại sớm nhất mà con người di cư khỏi châu Phi lên sớm hơn ít nhất 50.000 năm so với các nghiên cứu trước đây. Nhóm nghiên cứu sử dụng kỹ thuật quét microCT và các mô hình 3D để so sánh hóa thạch này với các hóa thạch khác của Hominin (tông người, bao gồm con người và những loài giống người như trong bộ linh trưởng) ở các khu vực khác tại Châu Phi, Châu Âu và Châu Á. “Một trong những thách thức của nghiên cứu này là cần phải xác định những đặc điểm nào ở hóa thạch Mislya mà chỉ xuất hiện ở người hiện đại”, Quam nói.  María Martinón-Torres, nhà nhân học cổ sinh vật tại trung tâm nghiên cứu quốc gia về quá trình tiến hóa của loài người tại Burgos, Tây Ban Nha, thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết, hình dạng của răng ở đây khớp với các đặc điểm ở cả người hiện đại và cổ đại tuy nhiên không có các đặc điểm điển hình của người Neandertal, những cư dân sống khắp khu vực lục địa Á – Âu ở thời điểm đó.  Bằng chứng khảo cổ học ở đây cũng cho thấy, người sống ở Misliya có khả năng săn bắn những loài thú lớn như các giống gia súc hoang dã, hươu, nai. Họ cũng đã có khả năng tạo ra lửa và các công cụ đá thời sơ kỳ đá cũ, tương tự như những người hiện đại sớm nhất được tìm thấy ở châu Phi.  Phát hiện này cho thấy, đây là một khu vực trung chuyển, nơi các dòng di cư đến và đi, từ lục địa này sang lục địa khác. Israel và phần còn lại của bán đảo Arab là một phần của một khu vực rộng lớn hơn mà ở đó Homo sapien đã tiến hóa. Khi đó, có thể con người đã gặp và phối ngẫu với người Neandertal. Ngoài ra, một nghiên cứu khác về DNA cổ xưa trong năm 2017 cũng cho thấy đã có sự hòa huyết vào thời điểm 200.000 trước ngày nay..  Bảo Như dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-01261-5;  https://www.binghamton.edu/news/story/949/scientists-discover-oldest-known-modern-human-fossil-outside-of-africa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn 100 tạp chí khoa học biến mất khỏi Internet      Các nhà khoa học đã xác định được 176 tạp chí truy cập mở (OA) đã dừng hoạt động từ năm 2000 đến năm 2019 và trong thời gian tới, khoảng 900 tạp chí khác có thể rơi vào hoàn cảnh tương tự.    Mikael Laakso, nhà khoa học thông tin tại Trường Kinh tế Hanken ở Helsinki và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết: “Bất kỳ một ấn phẩm khoa học chất lượng nào bị biến mất đều là điều đáng tiếc, đặc biệt là với những ấn phẩm truy cập mở trên mạng”. Nghiên cứu này đã được đăng tải trên arXiv.   Hơn một nửa tạp chí trong số này thuộc lĩnh vực KHXH&NV, một nửa còn lại rải rác ở các lĩnh vực như khoa học sự sống, y học, khoa học vật lý và toán học, trong đó, 88 tạp chí có liên kết với một nhóm học giả hoặc tổ chức nghiên cứu. Nghiên cứu còn xác định thêm 900 tạp chí vẫn còn hiện hữu trên mạng nhưng dường như đã ngừng xuất bản các bài báo mới, vì vậy chúng cũng có thể sẽ biến mất trong tương lai gần.   Theo Elizabeth Lightfoot, một thủ thư tại Đại học Quốc tế Florida ở Miami, nghiên cứu đã đưa ra “dẫn chứng thuyết phục” cho thấy những rủi ro mà các tạp chí đang phải đối mặt.  Laakso cho biết sự biến mất của các tạp chí có thể lý giải bằng một số nguyên nhân. Ví dụ, nhà xuất bản có thể đã ngừng trả phí duy trì website; hoặc một số tạp chí lâu nay vốn được lưu trữ trên nền tảng trực tuyến của một tổ chức học thuật bất kỳ, và những người điều hành đã bỏ sót các tạp chí ấy khi cập nhật lại trang web hoặc máy chủ.  Lisa Matthias, một trong những tác giả của nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tại Đại học Tự do Berlin, cho biết việc xác định xem một tạp chí có thực sự biến mất trên mạng hay không là một thách thức, vì hiện nay vẫn chưa có một cơ sở dữ liệu nào theo dõi đầy đủ các tạp chí truy cập mở.   Để tìm ra có bao nhiêu tạp chí đã biến mất, nhóm đã thu thập thủ công dữ liệu từ các nguồn như DOAJ, Ulrichsweb và Scopus, sau đó đối chiếu tên các tạp chí trên Keepers Registry – nơi lưu giữ danh sách các tạp chí điện tử. Cuối cùng, họ truy cập vào Wayback Machine – kho lưu trữ kỹ thuật số của Internet Archive – để xem những tấm ảnh còn lưu lại của các trang web hiện đã biến mất và biết thời điểm xuất bản cuối cùng và thời điểm gần nhất nó còn tồn tại trên Internet trước khi biến mất. Các tạp chí OA bị xem là “biến mất” khi chúng chỉ còn xuất bản miễn phí chưa đến 50% nội dung của tờ báo.  Trong số 176 tạp chí mà nhóm nghiên cứu xác định, phần lớn đã biến mất trong vòng 5 năm kể từ khi dừng hoạt động – cũng là thời điểm các trang này ngừng xuất bản thêm bài báo. Khoảng một phần ba trong số chúng đã biến mất trong vòng một năm kể từ lần xuất bản cuối cùng. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng ‘vòng đời’ này để ước tính rằng 900 tạp chí truy cập mở không còn hoạt động khác đang có nguy cơ biến mất.  Theo Laakso, nghiên cứu này không bao gồm các tạp chí trả phí, bởi nếu thêm vào, họ sẽ phải sử dụng một phương pháp khác để thu thập dữ liệu. Điều này có thể khiến kết quả của nghiên cứu không đầy đủ, và họ đang đánh giá thấp số lượng tạp chí đã biến mất. “Thật sự rất khó để xác định một thứ gì đó không hoàn toàn tồn tại, nhưng chúng tôi đã cố gắng hết sức”, Laakso nói. “Chúng tôi hy vọng rằng, trong tương lai, sẽ có những cách thức hiện đại hơn để tìm kiếm các dữ liệu này”.    Chương trình LOCKSS của Thư viện Stanford là một trong số các dịch vụ lưu trữ đảm bảo các ấn phẩm vẫn có sẵn ngay cả khi nhà xuất bản đã biến mất. LOCKSS hoạt động bằng cách sao lưu những tài liệu được lưu trữ trên máy chủ của các thư viện – các thư viện này sẽ trả phí hằng năm để bảo tồn tài liệu của họ. Thib Guicherd-Callin, quyền giám đốc của Chương trình LOCKSS cho biết không có gì ngạc nhiên khi một số tạp chí không kịp sao lưu lại trước khi biến mất. Mặc dù đã có nhiều nơi sử dụng phần mềm mã nguồn mở LOCKSS, nhưng những nỗ lực để khởi động các sáng kiến lưu giữ trực tuyến vẫn “chưa đủ”. “Nhiều người muốn giữ gìn nội dung của các tạp chí này, nhưng chẳng mấy ai đầu tư nguồn lực cần thiết để xác định đâu là ấn phẩm đã dừng hoạt động để đưa vào chương trình lưu trữ.” – ông cho biết thêm. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02610-za    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn 130 doanh nghiệp nhận giải thưởng chất lượng 2005      5 giải Vàng Chất lượng Việt Nam cùng 127 giải thưởng Chất lượng Việt Nam 2005&#160; đã được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lượng Chất lượng (Bộ KH&amp;CN) trao cho các doanh nghiệp tối 27.10 tại Hà Nội.                      Giải thưởng thường niên Chất lượng Việt Nam đánh giá hiệu quả doanh nghiệp một cách tổng thể và là một giải thưởng uy tín của Bộ KH&CN đối với doanh nghiệp.   Anh: Thời Đại            Tổ chức Chất lượng Châu Á-Thái Bình Dương cũng đã trao giải thưởng chất lượng của tổ chức này cho hai công ty của Việt Nam. Giải thưởng CLVN gồm 2 mức “Giải Vàng Chất lượng Việt Nam” và “Giải thưởng Chất lượng Việt Nam” được xét tặng cho doanh nghiệp căn cứ vào 7 tiêu chí của giải thưởng liên quan tới vai trò của lãnh đạo, vấn đề hoạch định chiến lược phát triển, định hướng khách hàng và thị trường, thông tin và phân tích hoạt động, phát triển nguồn nhân lực, quản lý các quá trình hoạt động và kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Giải thưởng CLVN được khởi xướng cách đây 10 năm và đến nay đã có 732 doanh nghiệp trong cả nước được trao tặng giải thưởng này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn 1.300 nhà vật lý chia nhau giải thưởng lớn      Hơn 1.300 nhà khoa học từng tham gia vào các thí  nghiệm về sự dao động của hạt neutrino, những thí nghiệm đã làm nên  phát hiện các hạt neutrino có khối lượng và có thể biến hóa trên đường  bay, vừa chia nhau Giải Đột phá 2015.      Ngày 8/11 vừa qua, tại Trung tâm Nghiên cứu Ames của NASA tại Mountain View, California đã diễn ra lễ trao Giải Đột phá trong lĩnh vực vật lý cơ bản cho cho năm nhóm nghiên cứu với 1.377 nhà khoa học từng tham gia vào các thí nghiệm về sự dao động của hạt neutrino, những thí nghiệm đã làm nên phát hiện các hạt neutrino có khối lượng và có thể biến hóa trên đường bay. Theo đó, mỗi nhóm sẽ nhận 600.000 USD tiền thưởng, trong đó trưởng nhóm nhận 2/3, phần còn lại được chia cho các thành viên khác của nhóm.   Doanh nhân người Nga Yuri Milner, một trong những nhà đồng sáng lập Giải Đột phá, chia sẻ: “Thông điệp chúng tôi muốn gửi đi là hoạt động khoa học ngày nay liên quan đến những nỗ lực tập thể hơn so với 100 năm trước đây. Nó là một hoạt động mang tính quốc tế, nó đa dạng và liên quan đến rất nhiều con người.”    Giải Đột phá do các tỷ phú ở Silicon Valley như Sergey Brin, Mark Zuckerberg, Anne Wojcicki, Jack Ma, Yuri Milner… tài trợ, là giải thưởng khoa học có trị giá tài chính cao nhất. Năm nay, giải thưởng này còn vinh danh năm nhà sinh học trong các lĩnh vực khoa học đời sống và một nhà toán học, mỗi giải trị giá 3 triệu USD.    Trang Bùi dịch  Nguồn:   http://www.nature.com/news/mega-science-prize-split-between-1-377-physicists-1.18746             Author                Quản trị        
__label__tiasang Hòn đá vô tri và ô nhiễm môi trường      Những công trình kiến trúc và các tượng đài lịch sử tuyệt đẹp ở Pháp thường có màu xám. Tại sao vậy? Thoạt đầu, người ta cho đó là hậu quả của ô nhiễm đô thị. Nhưng nếu phân tích kỹ càng hơn, những viên đá không phải đợi đến cuộc cách mạng công nghiệp để có cái màu xám đó.      Sau khi hoàn thiện công việc trùng tu, một số công trình hoặc tòa nhà tôn giáo có vẻ bề ngoài sáng sủa hẳn. Nhưng người ta dường như đã quên đi rằng màu nền móng bằng đá của các ngôi nhà đó lúc đầu cũng có màu sáng. Khi dạo chơi trong các thành phố, người ta thường nhìn vẻ bên ngoài của các tòa nhà và đoán chúng phải có tuổi từ 3-4 thế kỷ trước. Và đôi khi người ta hình dung các thành phố với những tòa nhà đẹp đẽ sẽ tráng lệ hơn, khi vẻ bề ngoài của chúng được làm mới lại. Có thực vậy không?  Ô nhiễm môi trường gây hỏng đá xây dựng  Những hòn đá dường như phải chịu ảnh hưởng của mặt trái của các đô thị hiện đại nhưng chúng chẳng phải đợi đến khi có cuộc cách mạng công nghiệp mới mất đi vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài của chúng.  Những viên đá thường bị ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường. Trong các môi trường đô thị, mức độ ô nhiễm nhiều hơn và do vậy việc màu sắc bên ngoài của các công trình lịch sử thường có màu xám hơn so với màu sắc nguyên bản.          Một ngôi nhà cổ ở Pháp    Vòm đá trong khu công trình kiến trúc cổ          Trên thực tế, từ thế kỷ XIX, việc sản xuất và sử dụng năng lượng gia tăng, các nền công nghiệp phát triển, dầu mỏ và các sản phẩm phái sinh đã dần dần thay thế gỗ (củi). Tất cả các hoạt động mới này đã sản sinh mức phát thải nhiều hơn ra môi trường, trong đó có các thành phần lưu huỳnh, dưới dạng khí, SO2, hoặc các phần tử trong tro bụi, bồ hóng hay các chất chứa nhiều hàm lượng oxit đạm. Những hòn đá đã ghi nhận những thay đổi này vì chúng bị ảnh hưởng của môi trường: quá trình sunfat hóa, những mảng đá bị vỡ, những vết nước chảy… Nhưng thời hiện đại không phải là thủ phạm chính bởi ô nhiễm môi trường đã xuất hiện từ thế kỷ XII và là tác nhân khiến các viên đá nền móng kia bị hư hại.   Đá, chất liệu dễ bị hỏng  Ô nhiễm môi trường tác động lên đá có độ đa dạng khác nhau tùy theo các tiêu chí khác nhau. Một ngôi nhà nằm trong khu đô thị tất nhiên là bị ô nhiễm nhiều hơn so với một ngôi nhà khác ở vùng nông thôn. Nhiệt độ, độ ẩm trong không khí và thời tiết xấu là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất tới các tính chất cơ học của đá, khiến chúng có nhiều lỗ xốp hơn. Yếu tố khí hậu cộng thêm với chất lượng của không khí, vốn tùy thuộc từng nơi, vào hoạt động của con người. Chính vì các yếu tố nói trên, đá hấp thụ ô nhiễm theo nhiều cách khác nhau và có thể bị bẩn, bị tật, bị mài mòn, ăn mòn, bị bong từng mảng…          Một tòa nhà có lịch sử lâu đời ở Pháp vừa được trùng tu và tái tạo lại    Đường ống dẫn nước cổ bằng đá ở Montpellier          Và những thay đổi nói trên trên bề mặt của đá rất dễ nhận thấy bằng mắt thường. Nếu nhìn chúng bằng kính hiển vi và phân tích, chúng sẽ khiến ta thay đổi quan niệm về ô nhiễm trước thời kỳ công nghiệp hóa.  Gỗ, một chất liệu gây ô nhiễm  Đúng vậy, có thể nói rằng ô nhiễm đã từng tồn tại trong quá khứ và những viên đá từ thời Trung cổ đã bị xám màu do ô nhiễm gây ra. Chúng không bị ô nhiễm bởi dầu khí và các chất phái sinh, nhưng chúng lại bị ô nhiễm bởi gỗ. Chính gỗ là thủ phạm gây ra “các loại bệnh” cho đá. Không quá khó để nhận biết điều này: cần các nhà khoa học giỏi và cả chút ít may mắn nữa là có thể tìm thấy những bức tượng thời Trung cổ đã bị bỏ quên hàng thế kỷ trong một ngôi nhà cổ hẻo lánh nào đó, và rất có thể chúng không phải chịu ảnh hưởng của ô nhiễm thời hiện đại, hoặc họ cũng có thể gặp các trường hợp trùng tu các công trình lịch sử… Tóm lại, họ có thể tìm lại được trạng thái ban đầu của các viên đá trong quá khứ. Sau đó, cần phân tích chúng dưới kính hiển vi, xem xét và so sánh chúng với các tòa nhà khác…  Công việc này đã được thực hiện ở nhiều tòa nhà tại Pháp và các kết luận đưa ra rất giống nhau. Gỗ đã gây ra một sự ô nhiễm không khí đáng kể và ảnh hưởng tới các viên đá trong các công trình xây dựng. Như vậy, hãy quên đi giấc mơ đánh bóng lại các thành phố với các công trình bằng đá sáng sủa.  Khoa học cho phép chúng ta đi ngược trở lại quá khứ, hiểu được cuộc đời của các công trình lịch sử, nhưng không chỉ có thế. Tất cả các nghiên cứu về sự thoái hóa của đá, vào một ngày nào đó, cũng cho phép dẫn tới việc hình thành các biện pháp phòng tránh và các tiến trình tự động rửa đá bởi “các toà nhà của ngày hôm nay sẽ là các tượng đài cho mai sau”.       Vương Tiến  theo Linternaute    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn một nửa tin giả về sức khỏe lan truyền trên mạng được công chúng tin là thật      Nghiên cứu mới của các nhà kinh tế y tế Đại học Kingston ở London cho thấy, hơn 60% số lượng tin giả về các vấn đề sức khỏe lan truyền trên nền tảng online được cho là đáng tin cậy, và niềm tin vào những câu truyện này sẽ tăng lên nếu chúng được lặp đi lặp lại.    Trong khi chưa có giải pháp nào để khắc phục tình trạng chống vaccine, vốn được Tổ chức Y tế Thế giới coi là một trong 10 mối đe dọa sức khỏe toàn cầu, thì sự nhập nhằng giữa sự thật đã được khoa học chứng minh và tin tức giả ngày càng trở nên đáng chú ý. Nghiên cứu của giáo sư Giampiero Favato và tiến sỹ Andrea Marcellusi (trường kinh tế Kingston) xác nhận: các banner (biểu ngữ) trang web cảnh báo độc giả về nguy cơ thông tin không chính xác đã không còn hiệu quả trong việc hạn chế những tin tức này lưu hành, và người dùng vẫn có khả năng chia sẻ những nội dung chưa được kiểm chứng.  “Niềm tin vào các tin giả về sức khỏe là điều có thể hiểu được. Hầu hết mọi người thường không có kiến thức chuyên môn về y khoa, do đó nếu những tuyên bố được đưa ra dưới một hình thức trông có vẻ hợp lý, tại sao công chúng lại không tin vào nó cơ chứ?”, giáo sư Favato nói. “Một trong những phát hiện đáng lo ngại nhất của chúng tôi là mức độ tin cậy của thông tin ngày càng gia tăng theo số lần nó được lặp lại, càng nhìn thấy điều gì nhiều thì mọi người  lại càng tin vào nó”.  Hơn 1900 người trong độ tuổi từ 18 đến 60 và có hoàn cảnh sống khác nhau đã được tuyển chọn để tham gia vào nghiên cứu do Bộ Y tế Ý ủy quyền. Họ được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm và được cho xem sáu tin tức thật và sáu tin tức giả mang “phong cách” truyền thông xã hội (social media). Tiếp theo, họ sẽ được yêu cầu chia sẻ những tin tức này lên Facebook. Một nhóm được nhìn thấy các banner trên web cảnh báo về mức độ đáng tin của các tin giả, trong khi nhóm còn lại thì không. Sau đó, các nhà nghiên cứu cho những người tham gia này xem lại 12 tin tức ban đầu một lần nữa song song với 12 tin tức mới và yêu cầu họ đánh giá những tin này là đúng hay sai.  Các cảnh báo về những thông tin chưa được xác thực đã được chứng minh là không hề có tác động gì đến hành vi của những người tham gia nghiên cứu đối với việc tin tưởng hoặc chia sẻ một thông tin nào đó. Thậm chí kể cả khi một câu chuyện được xác định là giả, khả năng nó được chia sẻ vẫn cao hơn 50%, giáo sư  Favato nhận định. Khi các tin tức giả về sức khỏe ngày càng lan truyền rộng hơn thì các công ty truyền thông cũng càng cần phải hành động nhiều hơn để giải quyết được vấn đề này.  “Các tổ chức truyền thông cho đăng tải những tin tức giả cần phải có trách nhiệm thực hiện hành động. Facebook đang lên kế hoạch để đầu tư vào đội ngũ chuyên gia nhằm kiểm tra mức độ tin cậy của các thông tin được chia sẻ trên nền tảng này. Nếu thấy một câu chuyện không đáng tin, chúng tôi khuyến nghị nên có hai lựa chọn: hoặc là xóa bài đó hoặc là phải sử dụng thuật toán tìm kiếm để đảm bảo những thông tin không chính xác về mặt khoa học sẽ chỉ xuất hiện ở cuối kết quả tìm kiếm”, giáo sư Favato chia sẻ.  Ông cũng cho biết, giá trị kinh tế của tin giả khiến hiện trạng này phát triển mạnh hơn: “Bởi vì những câu chuyện giật gân sẽ tạo ra lượng view và lượt chia sẻ cao nên hầu hết các tin giả đã đem lại rất nhiều tiền về mặt doanh thu quảng cáo. Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận ra cái giá rất đắt về mặt kinh tế của việc tiếp tay cho những thông tin không chính xác, bởi nó sẽ đe dọa việc thực thi các chính sách y tế công cộng như chương trình tiêm chủng và làm gia tăng gánh nặng kinh tế của các bệnh vốn có thể phòng ngừa được lên xã hội”. □  Mỹ Hạnh  dịch     Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-fake-news-healthcare-online-major.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hơn nửa rác thải nhựa cần tái chế ở Mỹ “chảy” ra nước ngoài      Một nghiên cứu vừa được công bố mới đây trên tạp chí Science Advances đã tiết lộ rằng Mỹ đứng thứ ba trong số các quốc gia góp phần gây ô nhiễm rác thải nhựa ven biển, khi tính đến tiêu chí xuất khẩu nhựa phế liệu cũng như các số liệu mới nhất về tình trạng xả rác trái phép tại nước này.    Nghiên cứu mới đã thách thức các quan điểm cho rằng Mỹ đang “quản lý” hiệu quả, toàn diện – nghĩa là đầy đủ các quy trình thu gom và chôn lấp đúng cách, tái chế hoặc lưu trữ chất thải nhựa của họ. Trước đó, đã có một nghiên cứu sử dụng dữ liệu năm 2010, nhưng không tính đến xuất khẩu phế liệu nhựa, và đã xếp Mỹ  đứng thứ 20 trên toàn cầu về việc góp phần gây ô nhiễm nhựa ở đại dương do quản lý rác thải không đúng cách.   Thông qua việc sử dụng dữ liệu phát sinh về chất thải nhựa từ năm 2016 – dữ liệu cập nhật nhất cho đến hiện tại – các nhà khoa học thuộc Hiệp hội Giáo dục Biển, Dịch vụ Môi trường DSM, Đại học Georgia và tổ chức môi trường Ocean Conservancy đã tính toán rằng Mỹ đã chuyển hơn một nửa số lượng nhựa được thu gom nhằm mục đích tái chế (1.99 tấn trong số 3.91 tấn) ra nước ngoài. Trong số này, 88% xuất khẩu đến các quốc gia đang gặp khó khăn trong việc quản lý, tái chế hoặc xử lý nhựa một cách hiệu quả; và từ 15% đến 25% có giá trị thấp hoặc bị nhiễm bẩn, hư hỏng – nghĩa là không thể tái chế hiệu quả được nữa. Trước những số liệu này, các nhà nghiên cứu ước tính rằng có tới 1 triệu tấn chất thải nhựa của Mỹ cuối cùng đã gây ô nhiễm môi trường vượt ra ngoài biên giới nước này.   “Trong nhiều năm, Mỹ đã xuất khẩu các loại rác thải nhựa có thể tái chế được sang các quốc gia còn đang gặp khó khăn trong việc quản lý rác thải”, tác giả chính của nghiên cứu, TS Kara Lavender, đồng thời là giáo sư về hải dương học tại Hiệp hội Giáo dục Biển. “Và nếu bạn thử xem xét có bao nhiêu lượng nhựa trong số chất thải của chúng ta thực sự không thể tái chế vì nó có giá trị thấp, hư hỏng hoặc khó xử lý, bạn sẽ nhận ra rằng rất nhiều trong số đó cuối cùng đã gây ô nhiễm môi trường”.   Từ dữ liệu năm 2016, bài báo cũng ước tính rằng người dân đang vứt bừa bãi hoặc đổ bỏ bất hợp pháp 2-3% tổng số rác thải nhựa của Mỹ  – tức là khoảng từ 0.91 đến 1.25 triệu tấn – vào môi trường trong nước. Cộng thêm việc xuất khẩu rác thải ra nước ngoài, Mỹ đã “đóng góp” tổng cộng tới 2.25 triệu tấn rác thải nhựa vào môi trường. Trong số đó, quốc gia này đã chuyển đến 1.5 triệu tấn nhựa ra môi trường ven biển (trong vòng bán kính 50 km tính từ đường bờ biển), khu vực gần bờ biển, từ đó gia tăng khả năng nhựa xâm nhập vào đại dương theo gió hoặc qua đường sông đổ ra biển. Và kết quả là, Mỹ đứng thứ ba trên toàn cầu về việc góp phần vào ô nhiễm nhựa ven biển.   “Mỹ tạo ra nhiều rác thải nhựa hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, nhưng thay vì nhìn thẳng vào vấn đề, nước này lại chuyển nó cho các quốc gia đang phát triển, và rồi trở thành nước ‘đóng góp’ hàng đầu vào cuộc khủng hoảng nhựa đại dương”, Nick Mallos, giám đốc cấp cao của chương trình Trash Free Seas thuộc tổ chức Ocean Conservancy, và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết. “Giải pháp chẳng ở đâu xa, nó bắt đầu từ chính căn nhà của chúng ta. Chúng ta cần hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, nghĩ ra những cách thức sáng tạo trong đóng gói và giao hàng. Trong trường hợp không thể tránh khỏi việc sử dụng nhựa, hãy tái chế chúng nhiều nhất có thể”.   Nghiên cứu lưu ý rằng mặc dù Mỹ  chỉ chiếm 4% dân số toàn cầu vào năm 2016, nhưng quốc gia này đã tạo ra 17% trong tổng số rác thải nhựa trên thế giới. Trung bình, người Mỹ tạo ra gần gấp đôi lượng rác thải nhựa tính trên đầu người so với cư dân EU.   “Trong một thời gian dài, Mỹ  đã vận chuyển rác thải có khả năng tái chế của mình ra nước ngoài – làm thế ít tốn kém hơn so với tự xử lý trong nước, nhưng môi trường của chúng ta thì lại phải gánh chịu những tác động tiêu cực”, Natalie Starr, người đứng đầu tổ chức DSM cho hay. “Chúng ta cần thay đổi thực trạng này bằng cách đầu tư vào các công nghệ tái chế và chương trình thu gom, cũng như thúc đẩy nghiên cứu nhằm cải thiện hiệu suất, giảm chi phí cho các loại nhựa bền vững và các lựa chọn thay thế bao bì”. □  Anh Thư dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-reveals-states-source-plastic-pollution.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hong Kong sắp mất mùa đông      Mùa đông có thể biến mất khỏi đặc khu hành chính này trong vòng 50 năm nữa, với việc số ngày lạnh giảm dần xuống số 0.    “Theo các công trình nghiên cứu của chúng tôi, tới cuối thế kỷ này, mỗi mùa đông sẽ chỉ còn chưa đầy 1 ngày lạnh, và thực tế là mùa đông sẽ biến mất”, Lam Chiu-ying, giám đốc đài quan sát Hong Kong cho biết.  Ngày lạnh được định nghĩa là ngày có vài thời điểm mà nhiệt độ xuống dưới 12 độ C.  Từ giữa năm 1961 đến 1990, trung bình mỗi mùa đông ở Hong Kong có 21 ngày lạnh, nhưng con số này đã giảm một nửa vào năm 2000. Trong vòng thế kỷ trước, nhiệt độ tại đây đã tăng khoảng 1,2 độ C, gần gấp đôi tốc độ của toàn cầu, Lam cho biết.  Hong Kong, với vị trí địa lý hiện nay được xếp vào vùng cận nhiệt đới. Nhưng cứ đà đô thị hóa và trái đất ấm lên hiện nay, “chúng ta đã thực sự trở nên nhiệt đới”, Lam nói.  Con số những đêm nóng trong mùa hè ở Hong Kong, với nhiệt độ trung bình trên 28 độ C, đã lên đến 30 độ C mỗi năm – gần gấp 4 lần kể từ thập niên 1990.  T. An (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộp đen đã lỗi thời?      Hộp đen được sáng chế vào cuối thập niên  1950 và từ đó tới nay về đại thể chưa có gì thay đổi nhiều. Trong thời  đại công nghệ số hiện nay, nhiều người cho rằng kiểu hộp đen như vậy đã  lỗi thời, và có những cách tốt hơn để ghi chép, lưu trữ các số liệu  chuyến bay.     Trang mạng Popular Science (Khoa học đại chúng, Mỹ) ngày 1/4/2014 có đăng bài “Vì sao chúng ta chưa làm được hộp đen tốt hơn?”  Bài báo viết: Giờ đây người ta đã có thể khẳng định là chuyến bay MH370 rơi xuống Ấn Độ Dương, thế nhưng để tìm ra lời giải tại sao lại xảy ra vụ tai nạn này thì có lẽ phải chờ rất lâu nữa. Chỉ khi nào tìm được chiếc hộp đen (thực ra nó đâu có màu đen!) tức thiết bị ghi chép dữ liệu về chuyến bay đó, thì chúng ta mới biết được sự thật. Nhưng nguồn điện của hộp đen chỉ bảo đảm phát đi tín hiệu ping sóng âm (sonic ping) báo vị trí của nó trong 30 ngày, khi hết điện thì tín hiệu sẽ ngừng phát. Sau đó sẽ khó có khả năng tìm thấy hộp đen.   Hiện nay con người đã có thể chụp được ảnh trên sao Hỏa và tải ảnh vào thiết bị ghi hình bỏ túi. Thế nhưng khi máy bay rơi xuống biển thì chúng ta phải tất bật tổ chức các nhóm phối hợp đa quốc gia để tìm kiếm địa điểm máy bay rơi. Có thể tin rằng ở đây có những biện pháp tốt hơn.  Hộp đen mà chúng ta hiện nay đã biết được sáng chế vào cuối thập niên 1950, từ đó tới nay về đại thể chưa có gì thay đổi nhiều. Trên các máy bay hiện đại đều có lắp thiết bị ghi mọi tiếng nói trong buồng lái (CVR, Cockpit Voice Recorder) và thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay (FDR, Flight Data Recorder) — hai thiết bị này đều đặt trong hộp đen. CVR có thể ghi chép mọi âm thanh phát ra trong hai tiếng đồng hồ ở buồng lái, sau đó lại tự động tái ghi các âm thanh mới. Đồng thời FDR sẽ tự động đo-ghi lại các dữ liệu như tốc độ, độ cao, thời gian, hướng bay … khoảng 2000 loại thông số khác của chuyến bay. Phó giáo sư Anthony Brickhouse, chuyên gia về hàng không và an toàn nghề nghiệp tại Đại học Hàng không Embry-Riddle, — người từng tham gia điều tra vụ tai nạn máy bay nổi tiếng TWA 800 — cho biết phần lớn hộp đen có thể liên tục ghi chép loại thông tin nói trên trong vòng 25 giờ.   Bài báo viết: Vỏ hộp đen được thiết kế sao cho nó chịu được các va đập mạnh khi máy bay rơi mà không hư hỏng ; nó có thể chịu lửa, chịu nước, chịu được áp lực nước ở độ sâu 20.000 thước Anh mà vẫn giữ được nguyên vẹn các thiết bị bên trong. Vỏ hộp được sơn màu da cam sáng để dễ nhận. Khi rơi xuống nước, hộp đen tự động phát ra tín hiệu sóng âm để nhân viên điều tra có thể bắt được tín hiệu đó từ cách xa vài dặm. Nhưng khi nguồn điện trong hộp đã cạn kiệt thì tín hiệu đó cũng ngừng phát. Trước kia chỉ có một số ít trường hợp máy bay rơi mà không tìm thấy hộp đen, nhưng lần này có lẽ sẽ lặp lại trường hợp đó. Trước đây người ta từng phục hồi được CVR của chuyến bay Hàng không Nam Phi 295 nằm ở độ sâu 4.900m (16.000 feet) dưới biển.  Trong thời đại công nghệ số hiện nay, nhiều người cho rằng kiểu hộp đen như vậy đã lỗi thời, đã có những cách tốt hơn để ghi chép, lưu trữ các số liệu chuyến bay. Chỉ có điều khi thực thi lại gặp những vấn đề này nọ cản trở các ý tưởng cải tiến. Người Pháp phải bỏ ra hai năm mới phục hồi được hộp đen của chuyến bay AIR France 447 rơi năm 2009. Sau đó họ đề nghị cải tiến hộp đen, thí dụ lắp thiết bị bắn hộp đen lên không trung khi nó rơi xuống nước, kéo dài tuổi thọ của ắc-quy phát tín hiệu xác định vị trí hộp đen lên tới 90 ngày. Hàng không Pháp đã thực hiện một số cải tiến, nhưng các công ty hàng không Mỹ vẫn còn lạc hậu. Lý do là họ phải tiết kiệm chi phí sau cuộc khủng hoảng tài chính.   Một phương án khác là hoàn toàn loại bỏ hộp đen. Dư luận đã bàn nhiều về dự án dùng vệ tinh để lưu giữ toàn bộ các thông tin mà CRV và FDR ghi chép (âm thanh buồng lái và dữ liệu chuyến bay). Như vậy chúng ta sẽ không gặp vấn đề mất hộp đen, hơn nữa còn có thể đo lường từ xa tình trạng của máy bay đang bay, qua đó có thể ngăn ngừa tai nạn máy bay rơi. Phương án này nghe thì hay nhưng chưa khả thi. Nếu công ty hàng không và phi công tổ lái đồng ý phương án này thì có nghĩa là tình hình làm việc và chuyện riêng tư của tổ lái sẽ bị theo dõi. Ngoài ra còn có yếu tố kinh tế: công ty hàng không sẽ phải trả một cái giá đắt do cải tiến toàn bộ thiết kế máy bay, phải đặt mua thời gian của vệ tinh (reserve satellite time), bảo đảm có đủ các thiết bị lưu trữ dữ liệu v.v…  Liệu chúng ta có thể hy vọng cải tiến được hệ thống thiết bị trước khi xảy ra vụ mất hộp đen tiếp sau? Rất khó có câu trả lời.   Nguyễn Hải Hoành dịch    Nguồn:   http://www.popsci.com/article/technology/why-we-havent-built-better-black-box    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hộp đen kiểu mới cho các chuyến bay thương mại      Hộp đen tự thoát đắt khoảng gấp đôi hộp đen  thông thường, được kỳ vọng sẽ làm cuộc cách mạng trong công tác tìm kiếm  máy bay gặp nạn.    Sau một năm tìm kiếm cực kỳ tốn kém, cho tới nay chiếc hộp đen của chuyến bay MH370 mất tích bí ẩn ngày 8/3/2014 vẫn bặt vô âm tín. Trong các tai nạn trước đây cũng vậy, hộp đen cùng với các mảnh xác máy bay rơi rải rác trên diện tích cực rộng, khiến cho đội tìm kiếm rất khó xác định được vị trí hộp đen. Thí dụ hộp đen của chuyến bay Air France 447 rơi xuống biển năm 2009 trên đường bay từ Rio de Janeiro đi Paris, mãi tới năm 2011 mới tìm thấy. Thời gian qua dư luận từng bàn nhiều về vấn đề cần chế tạo được loại hộp đen kiểu mới có thể dễ tìm thấy sau khi máy bay gặp nạn.   Tổng công ty Máy bay thương mại Trung Quốc (Commercial Aircraft Corporation of China Ltd, COMAC) đã quan tâm nghiên cứu giải quyết vấn đề này. Tờ “Hương cảng Thương báo” ngày 10/3 đưa tin: mới đây Công ty con tại Mỹ của COMAC (COMAC America Corporation) đã chế tạo được loại hộp đen có thể tự động thoát ra ngoài từ đuôi máy bay trước khi máy bay bị phá hủy.  COMAC nói thiết bị được đặt tên là Harbinger này có thể làm cuộc cách mạng trong công tác tìm kiếm máy bay gặp nạn. Tuy vậy cũng có ý kiến nói loại hộp đen này tiềm ẩn nguy cơ gây sự cố cho máy bay nếu do thiết bị trục trặc mà nó tự bắn ra ngoài khi máy bay đang bay bình thường.  Thiết bị Harbinger chủ yếu dùng cho máy bay thương mại. Đoạn video do COMAC America Corp. trình bày cho thấy: khi mô hình máy bay thí nghiệm sắp rơi, thiết bị đó (gồm bộ ghi dữ liệu và thiết bị bắn ra) sẽ tự động thoát ra từ phần đuôi máy bay. Bộ ghi dữ liệu có thể ghi lại vài phút hình ảnh và âm thanh cuối cùng trên máy bay trước khi máy bay rơi và có thể nén được cực nhiều thông tin về vị trí máy bay, mọi số liệu trong hộp đen và hình ảnh video ghi được, sau đó lập tức truyền mọi dữ liệu đó tới các vệ tinh liên quan. Như vậy thiết bị có thể giúp đội tìm kiếm nắm được mọi thông tin ghi trong hộp đen truyền thống, nhờ đó phục dựng được tình trạng tai nạn một cách chân thực.  Harbinger có lắp dù và phao, sau khi thoát ra khỏi máy bay, phao sẽ làm nó nổi trên mặt nước (nếu rơi xuống biển), dù sẽ giúp nó hạ cánh nhẹ nhàng không bị hư hỏng (nếu rơi trên đất liền), đồng thời Harbinger sẽ liên tục phát tín hiệu cầu cứu, giúp đội tìm kiếm xác định được vị trí của nó.  Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, COMAC America Corp. đã hoàn thành một loạt thí nghiệm hệ thống Harbinger trên mô hình máy bay. Ngày 5/3 họ đã nộp đơn lên Cục Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ (US Patent and Trademark Office) xin cấp patent. Ông Diệp Vỹ (Ye Wei) Giám đốc COMAC America Corp. nói: công ty “sẽ gấp rút triển khai sản phẩm này, tin rằng các máy bay thương mại trong tương lai sẽ được hưởng lợi ích từ Harbinger”.  Theo The Economic Times, trước khi COMAC công bố tin nói trên, Công ty Airbus đã chuẩn bị lắp cho hai kiểu máy bay lớn nhất của họ là A350, A380 loại hộp đen tự thoát. Nhưng đối thủ cạnh tranh của họ là Công ty Boeing không quan tâm tới loại hộp đen ấy. Ông Mark Smith, chuyên viên điều tra tai nạn máy bay của Boeing còn cảnh báo: loại hộp đen này rất dễ tự bắn ra khỏi máy bay khi đang bay bình thường, trái với mong muốn, vì thế tiềm ẩn nguy hiểm cho máy bay. Smith cho biết bình quân cứ 10 năm mới xảy ra một trường hợp máy bay chở khách rơi xuống biển và không tìm thấy hộp đen của nó sau hơn một năm tìm kiếm ; trong khi đó sự cố hộp đen tự thoát ra khỏi máy bay một cách ngoài ý muốn lại có thể xảy ra năm-sáu lần trong một năm, và sự cố này không thể kiểm soát được.   Trên thực tế, loại hộp đen tự thoát lâu nay đã được lắp cho máy bay quân sự. Các ý kiến phản đối lắp hộp đen tự thoát cho máy bay dân dụng chủ yếu với lý do loại này có giá thành đắt khoảng gấp đôi hộp đen thông thường (30.000 USD so với 13.000~16.000 USD, theo Reuters).   Nguyên Hải tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác giữa Bộ KH&CN và Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam      Ngày 20/3, Bộ trưởng KH&amp;CN Hoàng Văn Phong và Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp VN Vũ Tiến Lộc đã kí Thỏa thuận chương trình hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng, các hoạt động thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp thu công nghệ, cung cấp thông tin công nghệ và kĩ thuật mới nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doang nghiệp hàng hóa Việt Nam;    Tăng cường gắn kết giữa các tổ chức nghiên cứu, đào tạo để đẩy nhanh quá trình thương mại hóa công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ trên cơ sở nhu cầu thực tế doanh nghiệp, của thị trường; phối hợp triển khai các biện pháp xúc tiến và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam; Đẩy mạnh các chương trình, đề án, dự án liên kết, hỗ trợ trực tiếp cho việc hình thành và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động ươm tạo doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu và phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Nội dung cụ thể của Chương trình hợp tác sẽ được hai bên phối hợp xây dựng, trước mắt là Chương trình xây dựng 500.000 doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đề án điều tra thực trạng đổi mới công nghệ ở một số lĩnh vực, ngành trọng điểm; phối hợp tổ chức một số hội nghị, hội thảo bên lề APEC…  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang HỢP TÁC KHOA HỌC KH&CN VIỆT – ĐỨC      Theo ước tính của các nhà khoa học, đến nay rùa Hồ Gươm chỉ còn khoảng 5 con, sự tồn vong của loài rùa “thiêng” này liên quan mật thiết đến chất lượng nước hồ. Hiện nay, Hồ Gươm chứa rất nhiều bùn và tạp chất, cộng thêm với mức nước vào mùa khô ngày một giảm khiến chất lượng nước hồ cũng giảm sút mạnh. Chính vì vậy mà một dự án cải thiện chất lượng nước Hồ Gươm được hình thành.    Dự án được sự cộng tác chặt chẽ của Viện Rác và rác tồn dư (thuộc ĐH Tổng hợp kĩ thuật Dresden), công ty Cải tạo thủy lợi sinh thái (GSAN), công ty Thủy địa học (HGN), Cơ quan dịch vụ đầu tư Việt Nam (VIS), công ty Thoát nước Hà Nội cùng với Bộ KH&CN. Những dữ liệu hiện có về sự hình thành, về hiện trạng, các điều kiện biên về hóa học, địa chất và địa chất thủy văn của Hồ Gươm đã được phân tích, đánh giá và ước tính được nhu cầu và quy mô cải tạo. Từ đó, các bên tham gia dự án sẽ đưa ra một chiến lược và quy trình cải tạo, quản lý chất lượng nước Hồ Gươm một cách ổn định, bền vững.  Tại TP Hồ Chí Minh, một dự án nghiên cứu Việt – Đức khác được thiết lập mang tên “Phát triển và đổi mới đô thị một cách cân đối” nhằm mục tiêu xây dựng những chiến lược cho công tác xây dựng nhà ở bền vững cho Tp Hồ Chí Minh. Nhóm nghiên cứu sẽ có thành phần đa ngành bao gồm các nhà quy hoạch đô thị và quy hoạch vùng, kiến trúc sư, quy hoạch môi trường, địa lí và các nhà xã hội học (từ ĐH Tổng hợp Hamburg, ĐH Tổng hợp Gottingen, Viện Leibiniz). Dựa trên các dự án thí điểm, sẽ chỉ ra các khả năng có thể phát triển các vùng phụ cận, nơi cung cấp nhà ở cho người thu nhập thấp và trung bình, đồng thời vẫn bảo tồn được các mạng lưới xã hội của cư dân sống tại đó và tạo điều kiện có thêm công ăn việc làm. Những kiểu bố trí xây dựng theo nguyên tắc “thấp tầng – mật độ lớn” (low rise – high density) sẽ được triển khai.  Trên đây chỉ là 2 trong hàng trăm dự án hợp tác khoa học Việt – Đức trong 10 năm qua. Mở đầu cho sự hợp tác này là chuyến làm việc của đoàn lãnh đạo và các nhà khoa học CHLB Đức ở 30 cơ sở nghiên cứu KHCN của Việt Nam năm 1996. Sau đó một năm (3/1997), Nghị định thư hợp tác về KHCN được hai bên kí kết. Tuy nhiên, theo ông  Christian Bode, Tổng thư kí Cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD) thì sự hợp tác khoa học giữa hai nước phải tính từ trước đó: “Chúng tôi rất coi trọng mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và CHDC Đức trước đây và xem đó như mối quan hệ cũ của mình. Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam là nước trọng tâm trong hợp tác KHCN của Đức ở châu Á”. Có mặt ở Việt Nam chỉ sau 3 ngày nước Đức thống nhất, đến nay Việt Nam là nước ngoài mà ông Christian Bode đến thường xuyên nhất. Theo ông, hợp tác KHCN giữa Việt Nam và Đức hoàn toàn không phải một chiều: “Qua hợp tác với Việt Nam, các nhà khoa học Đức đã có những kinh nghiệm tốt về xử lí môi trường, sinh học nhiệt đới, v.v”.  Theo ông Phạm Huyền, Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế, hiện hợp tác KHCN với Đức tập trung vào các lĩnh vực Công nghệ sinh học; Công nghệ môi trường và nước thải; Nghiên cứu về vật liệu cùng nhiều lĩnh vực hợp tác khác. Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, vì Việt Nam là nước có đa dạng sinh học và có nguồn hoạt chất sinh học nhất thế giới  nên việc hợp tác tập trung vào phân lập hoạt chất từ thực vật và đăng kí bản quyền (bioprospecting). Còn công nghệ môi trường là lĩnh vực có quy mô hợp tác song phương lớn nhất cả về số lượng dự án cũng như kinh phí của Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu Đức và các bên đối tác Việt Nam bỏ ra. Đặc điểm nổi bật của hợp tác nghiên cứu Việt – Đức  hiện nay là thay vì chỉ “chờ viện trợ”, phía Việt Nam đã có những đóng góp nghiên cứu tích cực. Ngoài ra, không chỉ có bộ, ngành, mà còn có nhiều công ty (cả các công ty TNHH nhỏ) được lợi từ những kết quả hợp tác trên.  Tuy nhiên, cũng theo ông Phạm Huyền thì số lượng các chuyến thăm viếng, khảo sát còn quá nhiều, trong khi các nhiệm vụ hợp tác về mặt chuyên môn, giải quyết các đề tài, chương trình trọng điểm Nhà nước thông qua các dự án cụ thể lại không được đặt ra trong hợp tác KHCN với Đức. Ngoài ra, các nhà khoa học Việt Nam cũng không chủ động trong việc đề xuất các nhiệm vụ hợp tác mà phần lớn đều phụ thuộc vào đề nghị từ phía Đức. Chính vì vậy mà cần hợp tác theo hướng giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ KHCN cụ thể xuất phát từ nhu cầu của Việt Nam. Hiện nay phía Việt Nam đang đề nghị Đức phát triển một số chương trình cụ thể như: chiết xuất thuốc từ nguồn dược liệu của Việt Nam để phòng ngừa và điều trị một số bệnh hiểm nghèo (HIV, ung thư…); xử lý phế thải công nghiệp không tập trung bằng công nghệ cao với hiệu quả kinh tế cao đối với trấu, bã cà phê, bã bột sắn; sản xuất mỡ bôi trơn, chất lỏng thủy lực và phụ gia thân môi trường từ nguyên liệu thực vật nhiệt đới. v.v. Những chương trình như vậy không chỉ có lợi cho Việt Nam mà còn cho cả CHLB Đức.      P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác quốc tế về KHCN theo nghị định thư – 5 năm nhìn lại      Những năm 80 và đầu 90, biến động chính trị ở Liên Xô và Đông Âu đã khiến các mối quan hệ hợp tác về KHCN của Việt Nam bị gián đoạn, đặc biệt là nguồn viện trợ không hoàn lại mà các nước này dành cho Việt Nam cũng kết thúc.    Chỉ từ sau năm 1995, hợp tác quốc tế về KHCN mới phục hồi. Bắt đầu bằng những nỗ lực tìm kiếm các đối tác mới, đồng thời nối lại những mối quan hệ hợp tác truyền thống, đến năm 2000, Bộ KH&CN đã có chủ trương dành một phần ngân sách sự nghiệp khoa học để hỗ trợ một số nhiệm vụ HTQT về KHCN theo nghị định thư. Ban đầu các nhiệm vụ này chủ yếu được thực hiện với các đối tác thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu, sau đó hình thức này được mở rộng với nhiều đối tác khác. Đây không phải là quá trình đơn giản. Ông Thạch Cần, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Bộ KH&CN cho biết đặc thù của hợp tác khoa học với nước ngoài theo nghị định thư là “nội dung hợp tác phải được các bên thỏa thuận, song nếu đối tác nước ngoài không quan tâm mà chỉ có phía ta quan tâm thì mất rất nhiều thời gian đàm phán”. Ngoài ra kinh phí đối ứng từ ngân sách sự nghiệp KHCN (nếu có) chỉ mang tính hỗ trợ hoạt động, không bảo đảm cho toàn bộ các hoạt động của nhiệm vụ nghiên cứu.  Giai đoạn 2001 – 2005, Bộ KH&CN đã triển khai khoảng 350 nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo nghị định thư. Trong đó phải kể đến những nhiệm vụ như “Nghiên cứu áp dụng mô  hình NWSRFS của Mỹ để dự báo, cảnh báo lũ lụt”. Với mô hình này, Viện Khí tượng Thủy văn đã thử nghiệm thành công việc dự báo lũ lụt cho hệ thống sông Hồng – Thái Bình. TS Trần Thục đánh giá  thái độ của đối tác Mỹ là “rất hiệu quả”. Sự hợp tác này mới chỉ đang trong “giai đoạn thăm dò lẫn nhau”, phía Mỹ cũng dự kiến chuyển giao mô hình NWSRFS để áp dụng cho lưu vực sông Mê Kông.  Hợp tác với Nga qua nhiệm vụ “Nghiên cứu công nghệ sản xuất thuốc tuyển quặng Apatit Việt Nam và các chất hoạt động bề mặt khác trên cơ sở parafin tách từ dầu mỏ”, Viện Hóa học công nghiệp đã nhanh chóng làm chủ hoàn toàn công nghệ này. Trên cơ sở đó, Viện đã xây dựng được một nhà máy tuyển thuốc hiện đại, đáp ứng 70% nhu cầu thị trường trong nước, doanh thu khoảng 40 tỷ đồng/năm. Công trình này đã được Giải thưởng Nhà nước năm 2005.  Đặc biệt, với nhiệm vụ “Xây dựng và ứng dụng công nghệ vật liệu chứa carbon và compozit carbon” hợp tác với Nga, Trung tâm Công nghệ Vật liệu đã làm chủ công nghệ chế tạo carbon xốp, mở ra nhiều hướng ứng dụng trong y tế, vật liệu mới… Ông Cao Mạnh Tường cho biết, việc hợp tác này không những thành công mà còn đạt được nhiều kết quả “ngoài dự kiến”. Đó là khi biết Trung tâm đang chế tạo các bon xốp ứng dụng trong y tế, một trường đại học nước ngoài đã tặng không bộ khuôn trị giá tới 20.000 USD.  Một kết quả “bất ngờ” khác cũng nảy sinh trong quá trình nghiên cứu bào chế, thử lâm sàng thuốc Cedemex hợp tác với Trung Quốc. Thuốc Cedemex do Viện Nghiên cứu điều trị các bệnh hiểm nghèo chế tạo được phía Trung Quốc phát hiện còn tác dụng… giã rượu rất tốt. Tất nhiên tác dụng chính của Cedemex vẫn là cắt cơn nghiện một cách hiệu quả.  Ngoài ra, phải kể đến những thành công của “Nghiên cứu khả năng ứng dụng thiết bị lazer trong các mỏ hầm lò” hợp tác với Ba Lan, “Xây dựng điểm trình diễn và chuyển giao công nghệ nuôi cá nước ngọt” hợp tác với Hungary… Hầu hết chủ ý kiến đều đánh giá đối tác rất cởi mở. TS Đào Chí Thành, người tham gia “Nghiên cứu ứng dụng viễn thám siêu cao tần thụ động” hợp tác với Bulgari, còn nhận xét: “Phía Bulgari nhiệt tình tới mức ta không theo kịp”.  Tất nhiên, việc hợp tác quốc tế về KHCN không chỉ có thuận buồm xuôi gió. Ông Thạch Cần đánh giá: “Đội ngũ các nhà nghiên cứu của Việt Nam còn nhiều bất cập về cả chuyên môn lẫn ngoại ngữ, kỹ năng giao dịch quốc tế. Đặc biệt là thiếu các nhà khoa học đầu đàn  có trình độ tầm cỡ khu vực và thế giới đủ năng lực để xây dựng và chủ trì các chương trình, dự án quy mô lớn mang tính đa ngành, liên ngành. Chưa thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ và chưa thực sự hiểu rõ thế mạnh của từng đối tác để khai thác thế mạnh của họ” Ngoài ra nguồn tài chính cho hoạt động hợp tác còn hạn hẹp, chỉ mang tính “hỗ trợ”, chưa đạt ngưỡng tối thiểu để thực hiện nhiệm vụ đặt ra (tổng kinh phí đối ứng của Việt Nam trong 5 năm qua là 115 tỷ đồng).  Trong giai đoạn tới đây, việc định hướng hợp tác quốc tế về KHCN sẽ tùy theo từng địa bàn: Với Mỹ và Canada, đặc biệt gắn kết nội dung nghiên cứu với phát triển kinh tế, thu hút tối đa các nhà khoa học Việt kiều tham gia. Chú trọng về phát triển hợp tác với các nước thuộc nhóm G7 ở châu Âu, đây cũng là khu vực có nhiều trí thức Việt kiều sinh sống. Tranh thủ kinh nghiệm của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc về chính sách phát triển KHCN. Tăng cường quan hệ hợp tác sẵn có với các nước thuộc Liên Xô cũ, tiếp thu các kết quả nghiên cứu và công nghệ lưỡng dụng. Với các nước ASEAN, cần khai thác có hiệu quả các chương trình KHCN trong khối và giữa khối với các nước đối thoại. Ngoài ra cũng tranh thủ tối đa các tổ chức nghiên cứu khoa học quốc tế (IDRC, CGIAR…) để tăng cường tiềm lực của KHCN Việt Nam.  Theo ông Thạch Cần, về lâu dài, cần nghiên cứu “Quỹ hỗ trợ hợp tác quốc tế về KHCN” hoặc “Quỹ hỗ trợ hội nhập quốc tế về KHCN”. Quỹ hỗ trợ này có thể có nhiều chức năng nhưng trong đó có chức năng hỗ trợ các nhiệm vụ HTQT về KHCN theo nghị định thư.  Chú thích ảnh: Thuốc Cedemex chế tạo từ thảo dược của Viện Nghiên cứu và ứng dụng dược liệu điều trị bệnh hiểm  nghèo  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác trong lĩnh vực công nghệ cao- thế mạnh của chúng tôi      Mặc dù hết sức bận rộn với việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày Quốc khánh Israel, nhưng Ngài Effie Ben Matityau – Đại sứ Israel tại Việt Nam – vẫn dành cho Tạp chí Tia Sáng một cuộc trao đổi về hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước.        Xin Ngài cho biết nét nổi bật nhất trong hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ thời gian qua.  Hợp tác về công nghệ giữa Việt Nam và Israel gần đây đang được triển khai ở nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật nhất là lĩnh vực viễn thông. Các công ty hàng đầu của Israel như RAD, ECI, Comverse và Alvarion đang có những dự án hợp tác rất hiệu quả với đối tác Việt Nam và hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn của Việt Nam như VNPT, Viettel, EVN đều có sử dụng công nghệ của Israel.   Theo Ngài, đáng lưu ý nhất trong lĩnh vực hợp tác đó là gì?  Chúng tôi không chỉ bán công nghệ, thiết bị mà thường xuyên phối hợp tổ chức các khóa học về viễn thông. Tháng 11/2006, trong dịp một phái đoàn của Bộ Truyền thông – Thông tin (lúc đó là Bộ Bưu chính Viễn thông) có sang thăm Israel. Trong dịp đó, đã có 40 chuyên gia viễn thông của Việt Nam tham dự một khóa học của Israel về chuyên môn. Sau này, các khóa học tương tự vẫn thường xuyên được tổ chức. Các khóa học này thường kéo dài từ một đến ba tháng. Hiện tại chúng tôi đang xây dựng chương trình các khóa học dài hơn (1 năm). Cuối tháng 5 này, Israel sẽ đón một đoàn doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam sang thăm và làm việc trao đổi kinh nghiệm về việc quản lý vệ tinh viễn thông, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng vệ tinh VINASAT-1. Đầu tháng 6 tới, chúng tôi sẽ mở ra một ngày công nghệ di động Israel tại Việt Nam, do hiệp hội công nghệ di động Israel tổ chức.                    Theo tôi biết nông nghiệp cũng là một lĩnh vực quan trọng trong hợp tác giữa hai nước, với nhiều dự án khu công nghệ cao về nông nghiệp ở các địa phương. Ngài có thể cho biết đôi điều về sự hợp tác này.  Trong thời gian vừa qua, ngày càng có nhiều địa phương làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp Israel và thấy rằng công nghệ Israel có nhiều thế mạnh, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.   Như các bạn đã biết, thiên nhiên không dành cho đất nước chúng tôi nhiều ưu đãi, nhất là về nguồn nước. Điều đó đã thúc đẩy chúng tôi phải thực hiện các một loạt các bài toán giải quyết vấn đề nước cho nông nghiệp. Một công nghệ đang được triển khai ở Việt Nam là phương pháp tưới nhỏ giọt. Với phương pháp này, nước thấm sâu vào đất nên giảm được đáng kể lượng tiêu hao do bốc hơi. Việc tưới tiêu hoàn toàn có thể được điều khiển, do vậy hiệu suất sử dụng nước được tăng lên và đảm bảo đúng chế độ nước của đất theo nhu cầu của từng giống cây trồng. Hiện nay, Việt Nam có nguồn nước dồi dào, nhưng không lâu nữa, tài nguyên này sẽ trở nên khan hiếm. Phương pháp tưới nhỏ giọt sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được nhiều nước so với phương pháp tưới rãnh và tưới phun truyền thống.  Ngoài công nghệ tiết kiệm nước, chúng tôi còn đang hướng tới việc xây dựng những mô hình trạng trại nuôi bò sữa sử dụng công nghệ Israel ở Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những mô hình trang trại hiện đại, trị giá của mỗi dự án như thế này dự tính lên tới 2 triệu USD. Ở mỗi trang trại như vậy, ngoài những trang thiết bị hiện đại, người chăn nuôi còn được cung cấp các công cụ quản lý bằng máy tính nhằm mục đích liên tục ghi chép dữ liệu về đàn gia súc để từ đó kiểm soát quy trình chăm sóc, phòng bệnh cho gia súc nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với chi phí thấp và lượng nhân công tối thiểu.  Nhưng vì sao hiệu quả của sự hợp tác trong nông nghiệp vẫn chưa đạt được mong muốn của cả hai bên?   Chúng tôi nhận thấy là việc làm cho ai đó thích nghi với công nghệ mới và thay đổi thói quen sản xuất cần thì phải có thời gian. Vì vậy chúng ta cần phải kiên nhẫn hơn. Ở Israel, chúng tôi có lợi thế là có một nguồn nhân lực có trình độ cao làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Đa phần những người làm trong nông nghiệp của Israel có trình độ trên phổ thông hoặc tốt nghiệp đại học. Vì vậy quan hệ giữa người nông dân với các chuyên gia nông nghiệp không có khoảng cách lớn, trình độ có thể nói là tương đương. Sự trao đổi giữa người trực tiếp làm công việc đồng áng với chuyên gia nông nghiệp diễn ra thường xuyên. Mỗi khi các trung tâm nghiên cứu đề ra những công nghệ mới, những người nông dân với nền tảng kiến thức tốt lại được cung cấp đầy đủ thông tin sẽ tự đánh giá và chủ động lựa chọn công nghệ hoặc các sản phẩm phù hợp với thị trường. Như tôi được biết, người nông dân ngày càng có kiến thức cao, cái mà anh ta sản xuất ngày càng nhiều hơn, tốt hơn, anh ta ngày càng giàu hơn.   Ngoài ra, Việt Nam cần chú trọng đầu tư vào nguồn cán bộ nông nghiệp, sử dụng họ như cầu nối giữa người nông dân với công nghệ, và các cán bộ nông nghiệp cần gắn bó với nông dân và đồng ruộng hơn nữa.  Phải chăng còn một lý do nữa là công nghệ Israel giá thành đắt và các doanh nghiệp Israel không quen cách “lobby” như các đối tác đến từ Đông Á  Theo tôi, không phải “lobby” mà chính là chất lượng sản phẩm sẽ quyết định sự thành công của hợp tác. Đúng là các sản phẩm của Israel không hẳn là rẻ nhưng bù lại chất lượng rất tốt. Hơn nữa, Israel rất giỏi đáp ứng nhu cầu cụ thể, chi tiết của từng đối tượng khách hàng để phát triển công nghệ, sản phẩm tương ứng. Đấy là khó khăn nhưng tôi nghĩ đó không phải là vấn đề lớn. Tôi hy vọng dần dần người Việt Nam sẽ quan tâm đến chất lượng thực sự của sản phẩm hơn là những thương hiệu quen thuộc và biết đến các sản phẩm của Israel nhiều hơn qua các chương trình giới thiệu. Đấy là một trong lý do tại sao chúng tôi đang tích cực tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu về Israel ở Việt Nam.   Tôi được biết, Ngài giành rất nhiều thời gian đến các địa phương, các dự án hợp tác giữa hai nước tìm hiểu công việc, điều không phải dễ gặp ở các nhà ngoại giao khác?  Tôi nghĩ, việc đó là hết sức cần thiết. Để người Việt Nam có cái nhìn toàn diện về đất nước và con người Israel, chúng tôi phải tích cực tạo ra những dịp, những cơ hội tiếp xúc trực tiếp giữa người Israel và người Việt Nam. Với cương vị của một nhà ngoại giao, tôi phải hoàn thành sứ mệnh của mình, làm một cầu nối tình bằng hữu giữa nhân dân hai nước.  Xin cảm ơn Ngài đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn và xin chúc mừng Ngài nhân dịp 60 năm Quốc Khánh Israel.      Tuấn Linh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác với Israel: Những cơ hội phát triển công nghệ cao      Câu hỏi thứ một triệu  Những quả “cà chua bi” bày bán trong khắp các siêu thị trong nước – hiếm người biết rằng đó là thành quả nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học nông nghiệp đầu ngành của khoa nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Weizman và công ti Zera của Israel    Đây chỉ là một ví dụ trong rất nhiều ứng dụng công nghệ của đất nước 3/4 là sa mạc này đã thâm nhập vào đời sống của người dân khắp thế giới. Ngày nay không còn mấy người xa lạ gì với điện thoại di động, song ít người biết, nước có tỉ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất trên thế giới cao nhất là Israel, tới 109% (nhiều người dùng 2 chiếc, học sinh cấp 1 cũng bắt đầu dùng); và chiếc điện thoại di dộng đầu tiên được chế tạo trong nhà máy Motorola đóng tại Israel. Microsoft và Intel ở Mĩ, song hầu hết các hệ thống hoạt động trong chương trình Window NT và XP được Microsoft Israel phát triển, còn bộ vi xử lý Pentium IV và hệ thống nền cho máy tính xách tay Centrino lừng danh đều được thiết kế, phát triển và sản xuất hoàn toàn tại Israel. Chương trình ICQ (chơi chữ của I seek you – tôi tìm bạn) kết nối hàng trăm triệu người trẻ khắp thế giới là sáng tạo của bốn kĩ sư trẻ Israel.            Ông Ilan Maor tại buổi hội thảo.        Có thể kể thêm vô vàn những cái “nhất”, “đứng đầu”, “đầu tiên” ở đất nước nhỏ bé này: Israel là nước có số lượng người tốt nghiệp đại học/đầu người, nhà khoa học/lực lượng lao động, thậm chí cả số lượng bảo tàng/số dân cao nhất thế giới; những chiếc ống nhựa đơn giản làm nên hệ thống tưới nhỏ giọt của anh Simcha Blas đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp; Checkpoint là công ti đứng đầu thế giới về mạng riêng ảo (VPT) và công nghệ tường lửa; Teva là công ti tân dược lớn nhất thế giới; công ty Given Imaging đã chế tạo loại camera siêu nhỏ đầu tiên có thể nhét vào viên thuốc để quan sát bên trong cơ thể và chẩn đoán bệnh ung thư, v.v…  Điều gì đã khiến đất nước nhỏ bé mới thành lập chưa đầy 60 năm trở nên một cường quốc công nghệ cao? Điều gì đã khiến một dân tộc phiêu tán, vừa trải qua thảm họa diệt chủng đã tập hợp thành những người làm chủ những công nghệ mũi nhọn?… Những người Israel đã ngầm tự hào khi gọi câu hỏi “Điều gì khiến Israel thành công?” là “câu hỏi thứ một triệu”. Ông Ilan Maor, Vụ trưởng Vụ kinh tế III của Israel phác hoạ những chặng đường phát triển của Israel bằng hình ước mơ của người mẹ. Những năm 50 của thế kỉ trước, các bà mẹ Israel đều mong con trở thành… nông dân. Đừng cười giấc mơ của họ, bởi 2000 năm tha hương, không có quyền sở hữu đất đai thì giấc mơ được trồng trọt cũng đã quá xa xỉ! Đến những năm 70, khi đã là những người nông dân giỏi nhất thế giới thì các bà mẹ Israel lại mong con mình thành bác sĩ. Còn ngày nay, giấc mơ của họ là con mình thành lập một công ti trên lĩnh vực công nghệ cao.              Nhà máy Intel đặt tại Israel        Ông Ilan Maor cho rằng có mấy yếu tố khiến công nghệ cao của nước này phát triển, đó là thiếu tài nguyên thiên nhiên: “Trong khi tất cả các nước láng giềng có dầu mỏ thì Israel không. Nếu có dầu, chưa chắc Israel đã đủ động lực tập trung cho công nghệ.” Căng thẳng chính trị cũng khiến người Israel biến thành thế mạnh kinh tế. Công nghệ quốc phòng sẵn sàng phục vụ kinh doanh, ví như những nhà máy sản xuất ống nhòm cho xe tăng cũng có thể sản xuất thiết bị quang học cho vệ tinh. Một yếu tố mà ông Ilan Maor muốn nhấn mạnh là “tính cách Israel”: Dường như người Israel không bao giờ nói câu “tôi không làm được”, bởi không có điều gì “không làm được” mà chỉ có “chưa tìm ra cách” (Ilan Maor cũng không quên bổ sung: tính cách “thực hiện bằng được” này rất giống người Việt Nam – một cách nói xã giao chăng?). Song với người Israel bình thường, thành công trên lĩnh vực công nghệ không phải để họ có cuộc sống sung sướng hơn mà đơn giản chỉ giúp họ tồn tại giữa môi trường khắc nghiệt.  Hợp tác với một Israel “khác trên CNN”  “Hãy cố hợp tác với Israel!”, đó là thông điệp của ông Trương Gia Bình, chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) tại hội thảo về nền kinh tế công nghệ cao của Israel vừa được tổ chức tại Hà Nội. Theo ông Trương Gia Bình, điều kiện thuận lợi để hai bên hợp tác không phải là sự tương đồng mà chính là sự khác biệt. Israel nắm công nghệ tiên tiến nhưng thị trường nội địa lại rất nhỏ (chỉ khoảng 7 triệu dân) và bất ổn bởi xung đột khu vực. Trong khi đó, Việt Nam có một thị trường rộng lớn (chưa tính thị trường các nước lân cận), một đội ngũ tri thức trẻ “khát” công nghệ và  nền chính trị ổn định. Ông Phan Chiến Thắng, giám đốc công ti Đầu tư phát triển công nghệ điện tử – viễn thông (ELCOM) chia sẻ kinh nghiệm hợp tác với Israel là đối tác “rất thân thiện và tin cậy”. Từ chuyến đi Israel cách đây 7 năm và sau nhiều lần thăm lại, ấn tượng về Israel của ông Thắng là những hình ảnh “hoàn toàn khác trên kênh CNN”, “thực tế số người chết vì khủng bố trong một năm ở Israel không bằng số người chết vì tai nạn giao thông vài ngày ở Việt Nam”. Các nhà máy công nghệ cao của Israel cũng gây ấn tượng cho ông Thắng bởi tổ chức đơn giản “như những xí nghiệp may ở Hưng Yên”. Cách đây 7 năm, công ti ELCOM bắt đầu bán, bước tiếp theo là hỗ trợ (support) và hiện nay là bổ sung các chức năng (function) cho các sản phẩm công nghệ cao của Israel. Theo ông Thắng, thuận lợi khi hợp tác với Israel là họ cần phát triển công nghệ bổ trợ (add ons), đây là điều các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được. 7 năm làm việc với Israel, chưa lần nào hợp đồng của ELCOM bị “vỡ” vì nếu có “vỡ” thì phía Israel sẽ tìm mọi cách “gắn” lại. Còn theo ông Mai Xuân Bắc, giám đốc công ti Netafim chuyên cung cấp các sản phẩm công nghệ cao phục vụ nông nghiệp của Israel thì đối tác bao giờ cũng tìm hiểu rất kĩ Việt Nam, chỉ khi thấy khả năng hai bên cùng có lợi mới tiến hành hợp tác. Hệ thống trồng cây trong nhà kính Israel do Netfim cung cấp đang hoạt động khá hiệu quả  ở Hà Nội và Hải Phòng.  Hiện nay, trong khi Israel muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trên mọi lĩnh vực thì theo ông Trương Gia Bình, trước hết Việt Nam nên hợp tác với Israel trên lĩnh các vực giáo dục, sau đó đến viễn thông, an ninh, bảo mật, chính phủ điện tử, y tế…  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp trội luận và Quy giản luận: Đối lập và Song hành      Là quan niệm trung tâm của lý thuyết các hệ thống phức tạp, emergence đang được ca ngợi một cách toàn diện (và đúng đắn). Phải chăng reductionism đã mất hết khả năng nhận thức, như một số nhà tư tưởng nghi ngờ?      Về mặt thuật ngữ:  Trước tiên, xin bày tỏ sự lúng túng và không hài lòng về cách dịch hai thuật ngữ emergence và reductionism ra tiếng Việt, nhất là với thuật ngữ sau.  Emergence (với nghĩa thông thường là nổi lên, ló ra) thường được dịch là hợp trội (Phan Đình Diệu), đột phát (Phạm Văn Thiều), đột sinh (Cao Chi)… Bản thân người viết bài này cũng từng dùng thuật ngữ hợp nổi. Trong đó có lẽ hợp trội là lựa chọn phù hợp nhất, vừa mô tả chính xác bản chất hiện tượng, vừa “hoành tráng” về mặt ngôn ngữ (tiếng Việt; hợp nổi có thể còn sát nghĩa hơn, nhưng không hay bằng hợp trội).  Reductionism chịu số phận hẩm hưu hơn nhiều, khi được dịch là qui giản luận. Một luận thuyết mà dựa trên sự qui giản thì làm sao mở mặt được với đời! Như vậy chỉ về mặt ngữ nghĩa, reductionism đã tỏ ra lép vế hoàn toàn trước người đồng hành emergence. Có lẽ vì thông cảm cho số phận đáng thương đó mà Steven Weinberg, giải Nobel vật lý vì công lao thống nhất hai tương tác điện từ và yếu (thành tương tác điện yếu), đã dành hẳn một chương (Hai cổ vũ cho reductionism) trong cuốn Dreams of a Final Theory (Pantheon Books,1992) để an ủi kẻ không may?    Emegence là gì?  Quan niệm emergence xuất hiện ít nhất là từ triết gia vĩ đại thời cổ đại Aristotle, khi ông phát biểu trong tác phẩm Siêu hình học: Một hệ thống lớn hơn các hợp thành của nó. Năm 1843, John Stuart Mill viết: “Phản ứng hóa học giữa hai chất, như đã được biết rõ, sẽ tạo ra chất thứ ba với các tính chất khác biệt với tính chất của hai chất khi riêng biệt hay khi để cùng nhau”. Vị mặn của muối là một tính chất emergent như vậy, khi nó không phải là tính chất của nguyên tử Na hay Cl, mà cũng không phải của hai nguyên tử đó khi để cùng nhau. Chỉ khi chúng kết hợp với nhau tạo thành tinh thể NaCl, một đặc trưng hợp trội là vị mặn mới xuất hiện.  Thuật ngữ “emergent” được nhà tâm lý G.H. Lewes đưa ra năm 1875, khi ông viết: “Mỗi kết quả hoặc là tổng, hoặc là hiệu của các lực cùng tác động; là tổng, khi các lực cùng chiều – là hiệu, khi ngược chiều. Thêm nữa, kết quả có thể truy xét từ các hợp thành, vì chúng là đồng nhất và so sánh được. Với emergent thì hoàn toàn khác, khi thay cho việc thêm một chuyển động đo được vào một chuyển động đo được, hoặc thêm một vật vào các vật cùng loại, lại có sự hợp tác giữa các vật khác loại. Một emergent không giống với các hợp thành vì chúng là không so sánh được, và nó không có thể qui về tổng hay hiệu của chúng”.  Jeffrey Goldstein tại Khoa kinh doanh, Đại học Adelphi là người đưa ra quan niệm hiện đại về khái niệm trên tạp chí Emergence, năm 1999. Theo ông, có thể định nghĩa emergence là “sự nổi lên của các cấu trúc, hình thái hay tính chất mới và cố kết trong quá trình tự tổ chức của các hệ thống phức tạp”.  Để làm rõ quan niệm của Goldstein, Peter A. Corning, 2002, viết cụ thể về các “chất lượng” của emergence như sau: “Các đặc trưng chung là: 1) Tính mới triệt để (những đường nét chưa hề thấy trong hệ); 2) Sự cố kết hay mối tương quan (theo nghĩa một toàn thể duy trì trong một thời gian nào đó); 3) Một mức độ toàn cục hay vĩ mô (như một tính chất mang tính toàn cục); 4) Là sản phẩm của quá trình động lực (tiến hóa); và 5) Có tính “thể hiện” – (nên) có thể được cảm nhận”.  Là người vẫn tin ở các nguyên lý căn bản của triết học duy vật biện chứng, người viết bài này cho rằng, quan niệm emergence không phải cái gì khác, mà chính là qui luật lượng – chất của phép biện chứng Hegel, theo đó những biến đổi về lượng sẽ dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại. Duy vật luận biện chứng cho rằng, vật chất vận động sẽ tạo ra các hình thái hay chất lượng mới mỗi khi có sự biến đổi vượt ngưỡng về lượng. Những phát triển mới trong khoa học về sự tự tổ chức, về các hệ thống phức tạp, về tiến hóa vũ trụ, sinh giới và xã hội… cho thấy quan niệm như thế là đúng đắn.    Sự tự tổ chức và cấu trúc theo thang bậc của vật chất và vũ trụ:  Vì những nguyên do còn đang được nghiên cứu, vũ trụ của chúng ta khởi phát từ Vụ nổ lớn 13.7 tỉ năm trước. Theo mũi tên thời gian và với sự nguội dần của vũ trụ, các cấu trúc vật chất dần dần xuất hiện: các nguyên tố nhẹ hydrogen và helium trong ba phút đầu tiên, các thiên hà hàng tỉ năm sau, và cuối cùng là cấu trúc vũ trụ như ta thấy ngày nay. Và trên Trái Đất là xã hội loài người với tôn giáo, triết học, kinh tế, chính trị và những câu hỏi khôn nguôi về nguồn gốc vũ trụ, ý nghĩa loài người hay số phận của nền văn minh trong một vũ trụ đang giãn nở ngày càng nhanh…  Một đặc trưng cơ bản của vật chất (và các hệ thống phức tạp) là khả năng tự tổ chức. Hệ quả của nó là sự xuất hiện các hệ thống với độ phức tạp ngày càng tăng. Bộ não con người hay các hệ thống kinh tế vĩ mô là những thí dụ điển hình cho các hệ thống phức tạp đó. Kết quả là vật chất và các cấu trúc vũ trụ (và do đó các khoa học nghiên cứu chúng) được tổ chức theo thang bậc. Ở mức thấp nhất (và do đó chung nhất) là các cấu trúc vật lý. Tiếp theo là các cấu trúc hóa học, sinh học và xã hội.  Cách tổ chức theo thang bậc như trên dẫn tới hai đặc trưng nổi bật, tùy theo cách tiếp cận. Với tiếp cận từ dưới lên, tức đi từ đơn giản tới phức tạp (hay theo sự tăng của phức tạp), ta sẽ thấy các đặc trưng emergent, theo đúng qui luật lượng biến thành chất của triết học biện chứng: Mỗi khi có sự phát triển vượt ngưỡng về “lượng vật chất” hay độ phức tạp cấu trúc, các tính chất, hình thái hay cấu trúc hoàn toàn mới sẽ xuất hiện. Vị ngọt của đường hay vị mặn của muối là tính chất hợp trội ở mức phân tử nhiều thành phần. Cấu hình phân tử bậc 1-2-3-4 là đặc tính hợp nổi của các protein, cho phép chúng thực hiện các chức năng sinh học đặc trưng. Sự sống là hình thái đột phát của tế bào; và tâm trí là đặc trưng lượng biến thành chất hay đột sinh của bộ não con người, với mọi sắc thái sinh học, xã hội và văn hóa.  Hiển nhiên emergence là một quan niệm mang tính cách mạng về cấu trúc hóa và vận hành hóa vũ trụ. Tuy nhiên quan niệm như Robert Betts Laughlin thì cần phải xem lại. Xem vật lý và tự nhiên như con búp bê Nga nhiều lớp, ứng với mỗi lớp có những qui luật riêng, và chúng không phụ thuộc vào các qui luật điều khiển lớp dưới là một quan niệm chưa đầy đủ, nhất là về cấu trúc theo thang bậc của vũ trụ. Có thể đưa ra một số phản biện cho quan niệm đó như sau.  Thứ nhất, so sánh cấu trúc vật lý và vũ trụ với búp bê Nga là so sánh không chỉnh. Các búp bê Nga trong các lớp khác nhau chủ yếu khác nhau về kích thước và hình dạng (để có thể bỏ lọt vào nhau), chứ không có các tính chất emergent như Goldstein và Corning quan niệm. Thứ hai, quan niệm thiên nhiên như một cái giếng không đáy có lẽ là quan niệm không nên khuyến khích, vì một sự tổ chức hướng tới sự vô cùng như thế là điều mà khoa học, nhất là vật lý luôn tránh (có thể nói lịch sử vật lý là lịch sử khắc phục các giá trị vô cùng; mỗi khi khắc phục thành công là xuất hiện một cuộc cách mạng mới). Thứ ba, xem các qui luật lớp trên không phụ thuộc các qui luật lớp dưới là quan niệm chưa chuẩn xác. Có thể thấy rõ hơn điều này khi khảo sát cấu trúc theo thang bậc của vũ trụ bằng cách tiếp cận thứ hai, tiếp cận từ trên xuống.  Ngược với tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận từ trên xuống đi từ phức tạp đến đơn giản, tức theo sự giảm dần của độ phức tạp. Đây là tiếp cận đối ngược, nhưng không mâu thuẫn hay loại trừ, mà bổ sung và song hành với tiếp cận từ dưới lên (dẫn tới quan niệm emergence) đã nói ở trên. Vì sao như vậy? Vì vũ trụ được cấu trúc theo thang bậc, trong đó một bậc cấu trúc bất kì không thể xuất hiện từ hư vô, mà phải xuất phát (hay emergence) từ bậc cấu trúc ngay bên dưới. Theo một nghĩa nào đó, hóa học là đặc trưng “hợp trội” của các qui luật vật lý; sinh học là thuộc tính “đột phát” của các qui luật hóa học và vật lý; tâm lý (chí ít) có thể hiểu như đặc trưng “đột sinh” của các qui luật sinh học (cùng các qui luật xã hội học và văn hóa học). Vì thế các qui luật lớp trên tuy không phụ thuộc trực tiếp, nhưng bắt buộc phải có “dấu vết” từ các qui luật điều khiển lớp dưới (chẳng hạn tình nghĩa vợ chồng là đặc trưng “đột sinh” giữa một nam và một nữ. Muốn tìm hiểu bản chất của nó, nếu không phân tích tính cách, lối sống… của hai hợp thành thì phải làm thế nào?).  Có thể nói tiếp cận từ trên xuống đó chính là nền tảng nhận thức của phương pháp phân tích. Chính nhờ đi sâu vào cấu trúc vi mô của vật chất mà cuối cùng vật lý lại tìm được các đặc trưng vĩ mô của cấu trúc vũ trụ, mà Glashow (giải Nobel vật lý) đã hình tượng hóa qua hình ảnh con rắn tự nuốt đuôi mình.  Tại sao lại cần qui giản luận? Theo Weinberg thì đó chính là cách tổ chức của vũ trụ. Triết học và khoa học luôn đối mặt với những câu hỏi tại sao. Tại sao phấn màu trắng? Dù xuất phát từ sự hấp thụ ánh sáng hay từ cấu trúc phân tử của phấn thì cuối cùng cũng đi đến mô hình chuẩn của vật lý hạt (Weinberg dừng ở mô hình chuẩn, vì nó đã được thực nghiệm khẳng định, chứ không đi tới lý thuyết dây hay hấp dẫn lượng tử vòng, là những lý thuyết tuy căn bản hơn nhưng chưa được thực nghiệm phán xét). Với các câu hỏi tại sao khác cũng vậy, kết thúc bao giờ cũng là mô hình chuẩn. Chẳng hạn, xin hãy hỏi một câu hỏi khó: Tại sao đàn ông dễ ngoại tình?  Câu trả lời là đó là bản chất sinh học của người đàn ông. Tại sao? Vì bản năng sống của sinh vật giống đực. Tại sao? Vì một sinh vật bất kì chỉ có thể bất tử qua sinh sản, như cách thức duy trì hệ gien bản chất trong không gian và theo thời gian? Tại sao? Vì sinh sản là đặc trưng của cơ thể đa hay đơn bào. Tại sao? Vì tế bào có cấu trúc thích hợp để sinh sản, thích nghi, tăng trưởng… Tại sao? Vì các cấu trúc đại phân tử… Và cứ thế, câu trả lời cuối cùng bao giờ cũng là mô hình chuẩn của vật lý hạt.  Nói cách khác, emergence và reductionism là hai quan niệm đối ngược, song hành và bổ sung cho nhau. Nhờ chúng mà vật lý tìm được sự thống nhất giữa các thế giới vi mô và vĩ mô. Và đó là lý do để Weinberg kết luận sự bênh vực của mình: “Quan điểm reductionism cung cấp một bộ lọc cần thiết giúp các nhà khoa học mọi lĩnh vực khỏi lãng phí thời gian vào những quan niệm không nên theo đuổi. Theo nghĩa đó, bây giờ tất cả chúng ta đều là những nhà qui giản luận”.                    Bộ não, tâm trí và chủ nghĩa duy vật hợp trội:  Sau khi tìm hiểu sự đối lập, song hành và bổ sung nhau của hợp trội luận và qui giản luận, xin được trình bày mối tương quan giữa bộ não và tâm trí, cũng như quan niệm duy vật hợp trội về tâm trí. Như đã trình bày ở trên, tùy theo cách tiếp cận mà ta cần hợp trội hay qui giản luận. Đi từ bộ não lên tâm trí, ta cần hợp trội luận, vì tâm trí chính là các đặc trưng “đột sinh” của bộ não; ngược lại, đi từ tâm trí xuống bộ não, ta cần qui giản luận và phép phân tích, vì theo Crick, nhà vật lý đoạt giải Nobel về sinh lý học và y học, “Bạn, niềm vui và nỗi buồn, kí ức và cảm xúc, bản thể và ý chí tự do của bạn thực tế chỉ là hành vi của tập hợp khổng lồ các tế bào thần kinh và các phân từ liên kết giữa chúng” (F.H.C. Crick, The Astonishing Hypothesis: The Scientific Search for the Soul, 1994). Chỉ cần thêm “với mọi sắc thái sinh học, xã hội và văn hóa” là có thể khá yên tâm trước các lời phản biện.  Do kết quả của một nền giáo dục mà người viết rất thấm nhuần quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa bộ não và tâm trí. Vì thế khi đọc cuốn Stairway to the Mind của Alwyn Scott, 1995, người viết không khỏi ngạc nhiên khi nhà vật lý lý thuyết của Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Mỹ, đã ra sức bác bỏ các lý thuyết khác để bênh vực cho emergent materialism (duy vật luận hợp trội). Đó chính là duy vật luận biện chứng chứ không phải là cái gì khác.    Thời của triết lý chung sống (có thể không hòa bình):  Trong nhận thức luận và trong khoa học, thời chung sống (hòa bình?) mới chỉ xuất hiện khoảng vài thập kỉ nay. Trước đó là những cuộc tranh đấu không khoan nhượng giữa các hệ quan niệm đối ngược nhau. Chẳng hạn duy vật và duy tâm trong triết học, sinh học và môi trường trong sinh học, ý thức và vô thức trong tâm trí học, hợp trội luận và qui giản luận trong nhận thức học, phân tích và tổng hợp trong mối quan hệ phương Đông – phương Tây…  Trong sinh học, bài toán bản chất của sinh thể và con người do các yếu tố sinh học hay môi trường quyết định từng gây tranh cãi gay gắt vì các hệ lụy khoa học, tư tưởng, xã hội, thậm chí chính trị của nó. Nhà linh trưởng học de Waals từng kể trong bài Chấm dứt cuộc chiến tự nhiên chống giáo dục trên tạp chí Scientific American, số 9-1999, rằng, trong một hội nghị khoa học, một nhà khoa học bênh vực quan niệm tự nhiên quan trọng hơn giáo dục đã bị người phản đối đổ nước lạnh lên đầu. Quyết định luận sinh học từng dẫn dắt Hitler phạm tội diệt chủng, còn quyết định luận xã hội đã kìm hãm ngành sinh học Xô viết một thời gian. Nay thì khoa học thừa nhận rằng, động thực vật do sinh học và môi trường đồng thời quyết định; và con người do cả tự nhiên và giáo dục quyết định, với tỉ lệ 50-50.  Tương tự như vậy là các bài toán ý thức hay vô thức, phân tích hay tổng hợp, qui giản hay hợp trội. Nay là thời chung sống hòa bình (và không hòa bình?) giữa các quan niệm đối lập, song hành và thống nhất đó. Có lẽ chỉ bài toán duy vật hay duy tâm là ngoại lệ. Tuy nhiên đây lại là vấn đề mà giới khoa học, nhất là tại phương Tây, không quan tâm cho lắm. Hình như khoa học quan tâm chủ yếu tới các các quá trình nhận thức mà nhường vấn đề bản thể cho các nhà triết học?  Đỗ Kiên Cường       Author                Quản trị        
__label__tiasang Huế: Thế tiến thoái lưỡng nan của một kinh thành      Nếu bạn là chúa Nguyễn Phúc Ánh, người vừa thống nhất Việt Nam năm 1802, bạn sẽ chọn vùng đất nào làm kinh đô?      Cổng Ngọ môn kinh thành Huế.  Câu trả lời đương nhiên là Huế. Gia Định là vùng trù phú, cơ sở của việc phục hưng vương triều, nhưng cách Thăng Long gần 2000 km. Phương tiện (gần như duy nhất) để đi từ Sài Gòn ra Bắc là tàu bè trên biển. Trong khi đó, Thăng Long là kinh đô cũ của nhà Lê Trịnh và trung tâm của vùng Bắc Hà, những người coi Nguyễn Phúc Ánh chỉ là một biên thần ‘kém văn minh’ như cách mô tả của Lê Quý Đôn. Những người Bắc Hà sau đó chờ đợi việc chúa Nguyễn sẽ nhanh chóng lập lại vua Lê (Hoàng Xuân Hãn, 1998: 1405). Tuy nhiên, việc Nguyễn Phúc Ánh ‘thất hứa’, lấy lí do là ông giành được ngai vàng từ tay nhà Tây Sơn ‘tiếm ngụy’ chứ không phải nhà Lê đã ngay lập tức làm cho dân chúng vùng châu thổ sông Hồng quay lưng lại với vương triều mới (Đại Nam liệt truyện (ĐNLT), sơ tập, quyển 10). Đó là lí do có các cuộc nổi loạn chống lại nhà Nguyễn ngay sau năm 1802.   Việc chọn Huế làm kinh đô, tuy thế, không đơn giản là ‘tìm về chốn cũ’ mà là một cuộc đấu trí địa-chính trị, địa-quân sự, địa-kinh tế cực kỳ phức tạp. Hệ quả của lựa chọn đó không chỉ là vận mệnh vương triều mà còn là triển vọng của một lãnh thổ Việt Nam vừa mới được thống nhất. Lãnh thổ này sẽ được quản lí từ đâu? Liệu nhà nước tiếp theo ở Việt Nam có bị ‘vỡ vụn’ như Tây Sơn?  Bài viết này không nhằm lên án “sai lầm” địa chính trị của Gia Long. Nó cũng không tìm cách đổ lỗi cho Huế vì những thăng trầm của lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX. Điều quan trọng hơn, bài viết chỉ ra khó khăn của người Việt đầu thế kỷ XIX trong việc tìm kiếm cách thức quản trị nhà nước ở Việt Nam, từ việc tìm vị trí đóng đô, cho đến điều hành quân đội, thu thuế, xác lập đơn vị hành chính. Lãnh thổ Việt Nam năm 1802 là một cấu trúc địa chính trị, vùng miền, cư dân, và kinh tế đặc biệt. Liệu nhà Nguyễn sẽ tìm kiếm một hình dung lãnh thổ mới hay tuân theo các tri thức và thói quen địa chính trị của chúa Nguyễn để áp đặt nó lên một Việt Nam thống nhất. Quyết định này không chỉ phản ánh tri thức của thời đại, cán cân quyền lực vùng miền mà còn là sự tự tin của Nguyễn Phúc Ánh và cách thức ông nhận thức về tính chính thống và khả năng quân sự của mình. Nói cách khác, nó gợi mở về câu hỏi Nguyễn Phúc Ánh đã chọn con đường nào cho Việt Nam?  Tôi đã lập luận rằng thất bại lớn nhất của Tây Sơn không phải là sự chia rẽ, hay quyền thần, hay vua nhỏ, hay tổ chức hậu cần… mà ở chỗ các chính quyền Tây Sơn chưa phác thảo một bản đồ tác chiến cho toàn Việt Nam. Vì điểm này, Tây Sơn hoàn toàn lúng túng trong việc đưa ra một giải pháp quân sự hữu hiệu trên toàn bộ lãnh thổ mà họ kiểm soát, liên quan đến chuyển quân, tuyển lính, dịch chuyển các trung tâm quân sự, tổ chức phòng thủ và yểm trợ lẫn nhau khi cần thiết (Vũ Đức Liêm, BBC, 2018). Các chiến dịch theo mùa gió nồm của Nguyễn Phúc Ánh chính là đã đánh trúng điểm yếu này, làm cho Tây Sơn hoàn toàn lúng túng, bị động trong cả một thập kỷ để tìm cách đối phó bằng cách kéo dãn lực lượng quân sự trên vùng duyên hải khoảng 800 km từ Diên Khánh đến Đồng Hới (Vũ Đức Liêm 2017; Đại Nam thực lục (ĐNTL), I, 6: 1a-b).   Sau chiến thắng đó, việc đóng đô ở Huế, không phủ nhận, được coi là “tối ưu” từ cái nhìn của nhà Nguyễn. Tuy nhiên, chính điều này đã gây ra khó khăn lớn trong việc quản trị nhà nước ở Việt Nam bởi vì Huế thích hợp là thủ phủ của một vùng hơn là kinh đô của một nước. Huế là trung tâm của chính quyền Đàng Trong khoảng hai thế kỷ, và việc lựa chọn vùng đất này bản thân nó là hệ quả của một quyết định khó khăn của các chúa Nguyễn thuở ban đầu. Huế là kinh đô cũ của dòng họ, nơi Nguyễn Phúc Ánh có chỗ dựa cũng như cơ sở hành chính. Tuy nhiên khi lãnh thổ đã kéo dài ra hơn 2000 km về phía Bắc và Nam thì kinh đô này nhanh chóng bộc lộ hai điểm yếu quan trọng.   Hai điểm yếu quan trọng  Thứ nhất là khung cảnh tự nhiên chật hẹp và vị trí địa lý bị cô lập.   Vùng đất này nằm ở trung tâm của một dải đồng bằng nhỏ hẹp và rất khó để huy động một nguồn lực lớn để phản ứng nhanh với tình trạng thảm họa hay tình thế khẩn cấp. Việc Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn loay hoay trong nhiều thập kỷ mới tìm được đất đặt trị sở lâu dài ở Phú Xuân chính là một phép thử của sự phức tạp địa lý. Từ ngã ba Bằng Lãng nơi dòng Tả Trạch hợp với Hữu Trạch thành sông Hương ra cửa Thuận An là 33 km. Tuy nhiên, theo đường chim bay, khoảng cách này chỉ là 20 km. Trong khi phía tây là núi thì phía đông là dải bờ biển chỉ rộng hơn 10 km. Các vụng và đầm phá nông làm cho Huế cực kỳ ‘bị động’ từ góc nhìn quân sự và kinh tế. Huế vì thế không có không gian cho một ‘sân khấu’ chính trị, quân sự, kinh tế lớn, hay các phương án tiến thoái cần thiết nếu như cửa Thuận An bị cô lập (như sẽ xảy ra vào năm 1883). Huế xa các nguồn hậu cần và (với kỹ thuật thời đó) không có khả năng kết nối với các nguồn ngày một cách nhanh chóng, hiệu quả khi cần. Vào thời Nguyễn, các cuộc duyệt binh lớn nhất ở Huế thường vào khoảng 20,000 người và voi, tuy nhiên, không gian địa hình, hậu cần, cũng như các cảng biển nhỏ, nông không cho phép một sự tập trung quân sự lớn và lâu dài ở khu vực này. Huế không phải là nơi có thể phòng thủ tốt. Điều này sẽ được minh họa vào năm 1883, 1885, 1968 và 1975. Vào tháng 3/1975, khi quân Việt Nam Cộng hòa bị tấn công từ phía tây nam, con đường Huế-Đà Nẵng bị cắt đứt, Huế bị cô lập và cửa Thuận An, Tư Hiền trở thành đường thoát duy nhất của họ.     Đại Nam toàn đồ gồm 32 tỉnh và 62 cửa biển (khoảng những năm 1830). Đường dịch trạm được tô đỏ. Nguồn bản đồ: Đại Nam toàn đồ (EFEO Microfilm).   Thứ hai, khung cảnh kinh tế, xã hội, dân cư và quân sự của Huế gây ra trở ngại trong việc điều hành nền chính trị nhà nước. Có nhiều trung tâm chính trị trên thế giới có quy mô nhỏ và vẫn điều hành được một nhà nước, đế chế lớn. Tuy nhiên, đáng tiếc là điều này không dành cho Huế bởi vì triều đình ở đây không chỉ làm chức năng hành chính đơn thuần mà thành bại của họ gắn với khả năng điều hành trực tiếp hệ thống kinh tế, quân sự tại hai trung tâm dân cư ở hạ lưu Mekong và châu thổ sông Hồng. Bất cứ phản ứng thiếu linh hoạt nào trước các biến động tại hai khu vực đông dân cư này đều để lại hậu quả khó lường cho cả vương quốc. Thêm nữa, Huế và vùng lân cận không tự sản xuất đủ lương thực, không đủ nguồn lính dự trữ, vì thế việc điều phối kinh tế và điều hành quân sự là sống còn cho chính bản thân Huế. Từ thời các chúa Nguyễn, Huế đã lệ thuộc về lương thực, thuế khóa vào Thuận Quảng và Gia Định. Ghi chép của các giáo sĩ phương Tây cho thấy khi Tây Sơn chiếm được Quy Nhơn và cắt đôi Đàng Trong, Huế đã rơi vào cuộc khủng hoảng lương thực. Khi quy mô của nhà nước mở rộng, sự lệ thuộc này chỉ có ngày càng tăng lên.   Đối mặt với điều này, Nguyễn Phúc Ánh cũng không thể làm hơn, dù ông là người chiến thắng. Ông biết tình thế nan giải về địa chính trị của mình, và dung hòa bằng cách cử hai vị tướng giỏi nhất án ngữ hai vùng châu thổ đông dân, giàu có, còn bản thân ông cai trị một khu vực nghèo nàn ở miền Trung. Di sản này buộc con trai ông, Minh Mệnh trả giá 15 năm để tìm cách thống nhất, theo sau một thập kỷ của biến loạn và xung đột khắp cả nước, từ Phan Bá Vành, Nông Văn Vân ở Bắc Kỳ đến Lê Văn Khôi ở Gia Định (1826-1836).   Cũng chính việc Nguyễn Ánh lựa chọn Huế làm kinh đô mà hàng loạt các vấn đề kinh tế, xã hội quân sự được đặt ra khi triều Nguyễn luôn phải tìm cách tạo thế cân bằng và hoạch định chính sách cho hai đồng bằng lớn. Riêng việc vận tải lúa gạo, lương thực, quân lính, tiền đúc… hằng năm giữa Gia Định, Huế, Nam Định-Hà Nội đã là một gánh nặng khổng lồ so với nhân lực thời bấy giờ.  Thông tin liên lạc là một trong những trở ngại lớn nhất của quản trị nhà nước ở Việt Nam sơ kỳ hiện đại (1600-1850). Đến tận 1748 mới có các tuyến giao thương liên lạc đường bộ kết nối Gia Định với khu vực xung quanh. Liên lạc giữa Gia Định và Hà Tiên phải tiến hành bằng thuyền, dọc theo duyên hải, mất nhiều ngày. Tới năm 1804, nhà Nguyễn mới bắt đầu kết nối các hệ thống giao thông Bắc Nam, được biết đến là đường Thiên Lý hay đường Cái Quan. Tuy nhiên, đến tận những năm 1830, Đại Nam Thực lục vẫn chép về việc hổ đi lang thang khắp nơi dọc theo các tuyến đường này. Cùng với hổ, ‘thổ phỉ’ cũng ở khắp nơi. Kể cả những vùng như Tam Điệp (Ninh Bình), Hà Trung (Thanh Hóa), nơi mà những năm 1830, việc văn thư đi qua đây bị cướp là chuyện không hiếm. Phải mất nhiều thập kỷ để đường xá, kênh đào, hệ thống liên lạc được xác lập.   Một hành khách “bất đắc dĩ’ trên con đường này là vị tiến sĩ triều Thanh Thái Đình Lan (1801-1859), người bị bão đánh dạt trên đường trở về quê ở Bành Hồ tới phủ Tư Nghĩa (Quãng Ngãi) vào năm 1835. Sau đó ông xin phép Minh Mệnh theo đường bộ quay trở lại Trung Hoa và mô tả cuộc hành trình đầy gian nan này, bao gồm thử thách leo đèo Hải Vân và nỗi ám ảnh giặc cướp phục kích suốt một dải hàng trăm km từ Quảng Bình ra Nghệ An: “Từ Quảng Bình đến Nghệ An khoảng 400 dặm, đất đai thấp ướt, đường trơn như mỡ, bùn lầy dính chặt chân không rút chân lên được, đồng không mông quạnh, hàng mấy chục dặm không thấy bóng một căn nhà nào, trộm cướp thường ẩn nấp trong các lùm cây rậm rạp khiến khách đi đường không thể không lo lắng đề phòng. Các nhà trọ thì thường bỏ thuốc độc hại người, khách ăn phải thuốc độc trộn với thịt bò thì vô phương cứu chữa.” (Trần Ích Nguyên 2009: 200).    Sức ép cho việc dịch chuyển các nguồn lực   Hệ quả lớn nhất của việc Huế trở thành kinh đô của Việt Nam chính là việc phải dịch chuyển các nguồn lực từ lúa gạo, quân lính, tiền đúc, kim loại, súng đạn, thuốc súng, đá xây dựng cho đến dây mây, cá khô… giữa Gia Định, Huế, và Hà Nội. Việc cung cấp tiêu dùng cho hoàng gia và chính quyền trung ương trong điều kiện nửa đầu thế kỷ XIX là không đơn giản vì phần lớn được vận chuyển bằng thuyền từ Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Chỉ riêng việc vận chuyển lương thực và tiền đồng bảo đảm nguồn dự trữ, lương cho binh lính, quan lại, cứu đói, và phục vụ các chiến dịch quân sự dưới thời Minh Mệnh đã là một nỗi ám ảnh lớn đối với vương triều. Công việc này hằng năm yêu cầu phục vụ của khoảng 650 thuyền và hàng vạn phu thuyền. Điều này tạo ra sức ép khổng lồ về nhân lực ở thế kỷ XIX và gây ảnh hưởng đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội.  Chính việc này choán hết tâm sức của nhà Nguyễn và hệ thống quan liêu. Nhiều người đã tìm cách giải quyết, nhưng dường như không hữu hiệu. Đề xuất năm 1829, Nguyễn Công Trứ đề nghị lập các kho thóc tại xã (xã thương) để điều tiết giá cả, và tìm cách quản lí chính nguồn lương thực tại châu thổ sông Hồng (Châu bản triều Minh Mệnh, tập 30: 203). Tuy nhiên điều này là khó khả thi vì không may là trong những năm 1802-1861, cứ hai năm thì Bắc Kỳ có một lần vỡ đê, một trong những tỉ lệ cao nhất trong lịch sử gần 1000 năm khi người Việt bắt đầu “tiếp quản” vùng châu thổ này. Vì thế, Bắc Kỳ thường xuyên lệ thuộc vào lúa gạo cứu trợ, và triều đình phải thường xuyên điều hành mạng lưới dòng chảy lương thực này.  Luân chuyển binh lính là một sức ép khác của nền hành chính điều hành từ Huế. Triều Nguyễn không tin vào binh lính địa phương vì sợ các mối quan hệ họ hàng thân thuộc tiếp tay cho thế lực cát cứ, nổi loạn. Điều này đặc biệt được nhấn mạnh sau khi Lê Chất qua đời (1826) và Bắc Kỳ chìm vào cơn hỗn loạn bạo lực. Binh lính từ Hà Tĩnh ra Bắc phần nhiều được lấy từ Quảng Bình trở vào Nam. Quy mô của chính sách này đã gây ra sức ép cho ngân khố đến mức năm 1833, Hộ bộ tấu lên Minh Mệnh, yêu cầu rà soát lại hệ thống lương bổng của quan và binh Bắc Kỳ vì hệ thống này làm cho ngân khố không gánh được (Đại Nam thực lục, II, 95: 16b).     Đường kết nối Huế-Quảng Trị và cửa Thuận An.  Chỉ riêng việc lo tổ chức vận chuyển binh lính, lương thực… hằng năm với hàng trăm tàu thuyền và hàng vạn người tham gia đã là một gánh nặng đối với xã hội và nền chính trị, tạo ra sự kìm hãm sự phát triển của thương mại tự do, của các nhà nước tài chính (fiscal-state) trong lúc quá trình hiện đại hóa của các nhà nước và quản trị nhà nước trở nên cấp thiết hơn bao giờ. Nói cách khác, vận mệnh của nước Việt Nam hiện đại đã bị đánh đổi bởi những chương trình nghị sự vương triều mà một phần không nhỏ đến từ vị thế tiến thoái lưỡng nan của Huế.    Một số vua triều Nguyễn ý thức phần nào về tác động của vị trí địa lý của Huế, tuy nhiên rõ ràng là họ không có lựa chọn nào khác tối ưu. Giống như Quang Trung, Nguyễn Ánh từng có ý tưởng đóng đô tại Nghệ An. Tuy nhiên, lựa chọn này dường như đơn thuần mang ý nghĩa khoảng cách địa lý nhiều hơn là các tính toán kỹ lưỡng về địa chính trị và quyền lực vùng. Con trai ông, vua Minh Mệnh sau đó đã cảnh báo con cháu một cách nghiêm khắc rằng không bao giờ được phép dời đô về Nghệ An hay ra Bắc (ĐNTL, II, 12: 1a-b).   Một trong những ảnh hưởng dễ nhận thấy từ vị trí địa lý của Huế chính là sự lúng túng trong việc điều quân, tổ chức lực lượng tiến hành các chiến dịch quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và sau đó là cuộc chiến tranh chống Pháp xâm lược. Đương nhiên thái độ của triều đình, tình trạng sức khỏe của Tự Đức, hay đối sách quân sự đóng vai trò cốt lõi, tuy nhiên vị thế của Huế và khó khăn của hệ thống thông tin liên lạc đã gây trở ngại lớn cho cách thức triều đình tổ chức hệ thống quân sự, hậu cần, vũ khí, lương thực… để chống Pháp ở hạ lưu Mekong và châu thổ sông Hồng. Vị thế nhỏ bé và ‘không lối thoát’ của Huế cũng đã được định đoạt bằng cuộc bao vây quân sự của người Pháp tháng 8/1883, sau đó là cuộc tấn công trực diện vào cửa Thuận An và Huế đã không thể đưa ra một kế hoạch tác chiến cơ động nào. Cuộc rút chạy hai năm sau đó của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết qua gần 100 km tới Cam Lộ (Quảng Trị) cho thấy khả năng cơ động thấp của Huế và khả năng kết nối thấp với các vùng hậu cần chiến lược.  Cuối cùng, thế tiến thoái lưỡng nan của Huế cho thấy những gian nan của người Việt trong nỗ lực xác lập hình hài Việt Nam hiện đại với lãnh thổ thống nhất từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Dĩ nhiên, không thể ‘đổ lỗi’ cho tất cả các biến cố của lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX là do Huế hay vị trí của Huế. Lịch sử được quyết định bởi con người, do người cầm quyền đưa ra lựa chọn.Tuy nhiên, địa lý luôn là yếu tố can dự vào các tương tác của con người vì thế cần phải hiểu chúng đóng vai trò nào trong các biến cố của Việt Nam. Bài viết vì thế đơn giản chỉ ra một góc nhìn khác về địa chính trị, lãnh thổ, quyền lực và ảnh hưởng của nó đến diễn trình lịch sử Việt Nam sơ kỳ hiện đại. Nó gợi ý về những gian nan của cha ông trong bước đầu tổ chức quản lí một lãnh thổ thống nhất và rộng lớn chưa có tiền lệ. Việc phải cân bằng ba trung tâm quyền lực trên lãnh thổ Việt Nam: Huế, Gia Định, Hà Nội là điều không dễ, và chưa bao giờ dễ dàng.   Còn bây giờ, nếu bạn là Gia Long, bạn sẽ đóng đô ở đâu? □  Tham khảo  “Châu Bản Triều Nguyễn, Triều Minh Mệnh/阮朝硃本，明命朝, 1820-1841.” Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội.  Hoàng Xuân Hãn. La Sơn Yên Hồ, Tập 2. Hà Nội: Giáo Dục, 1998.  Vũ Đức Liêm. “‘Nam Tiến’ và Cái Bẫy Địa Lý Của Người Việt”, BBC Vietnamese, October 2018. https://www.bbc.com/vietnamese/forum-46007247?fbclid=IwAR2ApH9LFwxvkF4lpehsElPX9h11CoGcSXTU-aux4lJG6TgwrqfZdQ_7fUM.  ———. “The Age of Sea Falcons: Naval Warfare in Vietnam, 1771-1802.” In Warring Societies of Pre-Colonial Southeast Asia: Local Cultures of Conflict Within a Regional Context, edited by Kathryn Wellen and Michael Charney, 103–29. Copenhagen: Nordic Institute of Asian Studies, 2017.  ———. “Việt Nam: Lịch Sử Một Dân Tộc ‘Dễ Bị Tổn Thương.’” Tia Sáng, 2018. http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Viet-Nam-Lich-su-mot-dan-toc-“de-bi-ton-thuong”-12721.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Hướng dẫn thực hiện cơ chế tự chủ cho các tổ chức KH&CN công lập      “Hi vọng các nhà khoa học sẽ nối tiếp nông dân và giới doanh nghiệp có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn Việt Nam hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá và kinh tế tri thức”,    Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hoàng Văn Phong phát biểu khai mạc Hội nghị hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 của chính phủ và Thông tư liên tịch số 12 do Bộ KH&CN, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính đã tổ chức tại Hà Nội ngày 12/7 vừa qua. Bộ trưởng Hoàng Văn Phong nhấn mạnh: “Khoán 10” và Luật Doanh nghiệp đã tạo động lực lớn cho nông dân và các nhà doanh nghiệp. Với Nghị định 115 – được coi là “khoán 10 trong khoa học” – sẽ góp phần quan trọng cùng các nhà khoa học tạo động lực cho sự phát triển KHCN.  Sau khi giải thích chi tiết về quy trình chuyển đổi, chính sách ưu đãi… cho các đơn vị KH&CN chuyển đổi thành doanh nghiệp khoa học, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ KH&CN Nguyễn Quân lưu ý: điểm mới của Nghị định 115 là không giới hạn mức trần thu nhập cho các nhà khoa khọc, song quy chế hoạt động của các đơn vị sau khi chuyển đổi phải thật minh bạch.  Số lượng gần 300 đại biểu của các viện nghiên cứu thuộc bộ, ngành, trường đại học và các sở KHCN tham dự hội nghị đã nói lên mối quan tâm của các đơn vị KHCN tới Nghị định 115. Các đại biểu Hà Huy Ngọ (Viện KHVN), Trương Văn Dung (Học viện KHCN Giao thông vận tải), Nguyễn Đại Lai (Viện Nghiên cứu Ngân hàng) bày tỏ sự băn khoăn do sự quản lý chồng chéo nên không biết đơn vị mình có thuộc diện chuyển đổi hay không. GS Nguyễn Trường Tiến (Tổng công ty Xây dựng Hà Nội), GS Nguyễn Tuấn Anh (Viện KH Thủy lợi) lại băn khoăn về cơ chế tài chính, quỹ lương, quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị sau khi chuyển đổi. Một số ý kiến cho rằng thời hạn phê duyệt đề án chuyển đổi trước tháng 12/2006 là quá gấp… Trước những băn khoăn của các đơn vị, sắp tới Bộ KHCN sẽ làm việc với các Bộ Nội vụ, Tài chính để hướng dẫn chuyển đổi thí điểm, khơi thông vướng mắc.  Chú thích ảnh: Trao đổi bên ngoài hội nghị  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng mới điều trị ung thư phổi      Phân tích ADN của 528 khối u ung thư phổi, các nhà nghiên cứu Mỹ đã tìm ra mối liên quan của gene NKX2-1 nằm trên nhiễm sắc thể số 14 với sự xuất hiện của bướu ác xuất phát từ tuyến phổi hay còn gọi là ung thư tuyến phổi.      Dựa trên nghiên cứu ADN, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra rất nhiều những thay đổi về gene đối với những phiên bản của một vài gene hoặc ADN. Những phân tích cho chúng ta hình ảnh cụ thể về bộ gene đơn bội của khối u ung thư phổi. Việc phát hiện hơn 50 dị thường gene trong khối u ung thư phổi, mở ra hướng đi mới trong điều trị căn bệnh chết người.   Dạ Thảo (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng phát triển trong tương lai      Triết lý mới của MITI : “về nguồn”  Kể từ khi công bố sách trắng năm 1949, MITI (Bộ Công nghiệp và Ngoại thương) luôn gắn liền với sự phát triển của nền khoa học công nghệ Nhật Bản bằng việc đề ra các bộ luật và tiêu chuẩn. Tuy nhiên, những điều đó chưa đủ để xây dựng một hệ thống sáng tạo quốc gia (national innovation system). Điều đó có nghĩa là cần xây dựng một triết lý về nền công nghệ, sự đổi mới cả về cấu trúc lẫn tổ chức dựa trên triết lý đó, và cùng một chính sách chỉ dẫn rõ ràng.    Theo đó, năm 1998, Hội đồng Công nghệ công nghiệp thuộc MITI đề nghị:  -Giải pháp tổng thể để tạo dựng một cấu trúc xã hội luôn hướng tới sự đổi mới công nghệ.  -Phương pháp quản lý phù hợp với mục tiêu của chính sách công nghệ.  -Công cụ đánh giá để xây dựng một hệ thống chính sách toàn diện và bền vững hơn.  Có 2 đổi mới trong đề nghị trên: Thứ nhất, sự đóng góp của xã hội cho đổi mới công nghệ được xem như “cứu cánh” của chính sách công nghệ, thay vì chỉ là tiền đề cho chính sách công nghệ như trước kia. Thứ hai, ý tưởng về “Chiến lược công nghệ quốc gia” (National Strategies for Industrial Technology) đã được gợi lên. Sau đó, Tổng bộ Cải tổ cơ cấu công nghiệp và Tạo việc làm (Industrial Structural Reform and Employment Measures Headquarters) trực thuộc Thủ tướng được thành lập và vạch ra Kế hoạch cơ bản về Khoa học và công nghệ II, được thực thi từ 2001.  Triết lý hướng tiếp cận mới trên là gì? Đó là người Nhật đã nhận ra những nghiên cứu ứng dụng có thể dẫn tới những khám phá cho tri thức nền tảng, để từ đó chuyển đổi từ “Đổi mới theo mô hình tuyến tính” (Linear Model of Innovation) sang đổi mới theo “mô hình liên kết (Chain Linked Model). Tiếp nữa, chính sách công nghệ được xem là kết quả của chính sách về học thuật, khoa học, giáo dục, kinh tế và công nghiệp. Kết quả là hợp tác 3 bên Công nghiệp – Đại học – Chính phủ trở thành cốt lõi của chính sách công nghệ; các trường đại học được kỳ vọng giữ vai trò chủ chốt trong chức năng nghiên cứu, đào tạo. Cuối cùng, lợi ích xã hội phải là một phần quan trọng của chính sách công nghệ.  Triết lý đó được thể hiện trong hệ thống sáng tạo như thế nào? MITI đề nghị xây dựng hệ thống chính sách R&D bao gồm 4 hạng mục hỗ trợ lớn, thay vì hàng chục chương trình và hệ thống chắp vá như trước kia:  1. Tài trợ toàn bộ cho nghiên cứu cơ bản.  2. Hỗ trợ đến cùng các dự án nghiên cứu  3. Hỗ trợ phát triển những tri thức cần thiết cho xã hội  4. Củng cố nền tảng xã hội theo hướng tạo thuận lợi cho nghiên cứu.  Những gì mà MITI đưa ra rất giống với triết lý của Riken (xin xem lại phần “Tình hình trước chiến tranh thế giới thứ hai”– ND) và nhất là với sách trắng đầu tiên về khoa học công nghệ. Riken từng thương mại hoá những nghiên cứu thực dụng để dùng lợi nhuận đầu tư cho các nghiên cứu cơ bản. Qua hơn 50 năm xa rời quy tắc trên, vì sao chính sách công nghệ của Nhật Bản lại “về nguồn”? Lý do chủ yếu là các chính sách khoa học công nghệ của Nhật Bản 50 năm qua đã thiếu tầm nhìn xa và không có một triết lý rõ ràng. Hồi thập niên 50, do ưu tiên phát triển của các ngành công nghiệp nặng như than, điện, thép nên chính sách công nghệ cũng ưu tiên cho những công ty tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực trên. Thập niên 60, các nỗ lực lại tập trung vào cải tiến các công nghệ nhập khẩu và Nhật Bản đã rất thành công trong việc này. Đến thập niên 70, vấn đề môi trường và năng lượng nổi lên , và Nhật Bản đã thành công trong việc chuyển từ công nghiệp nặng sang công nghiệp nhẹ kỹ thuật cao, đặc biệt trên lĩnh vực điện tử.  Sức ép quốc Nhật chấm dứt “đi nhờ xe miễn phí” cùng với bùng nổ kinh tế trong thập niên 80 khiến các công ty tư nhân và các phòng thí nghiệm quốc gia đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu cơ bản mà xa rời nền công nghiệp. Suy thoái kinh tế trong thập niên 90 khiến Nhật phải xét lại chính sách công nghệ, chính phủ cũng đưa ra một số chính sách xây dựng hệ thống sáng tạo dựa trên tầm nhìn xa.  Qua hơn 50 năm, Nhật Bản đã tích luỹ được nhiều kiến thức, không chỉ trong trường đại học hay các phòng thí nghiệm quốc gia mà còn trong các công ty tư nhân. Những “kho trí tuệ” gồm ý tưởng, bí quyết công nghệ như vậy cần được gắn kết chặt chẽ để tạo lợi ích. Trong bối cảnh đó, vai trò nhà nước trong việc tái cấu trúc chính sách công nghệ là bức thiết và không thể thiếu được.  Chiến lược công nghệ quốc gia  Với nhận thức sức cạnh tranh đang yếu đi trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 và Nhật Bản phải đối mặt với  sự suy giảm về nhân lực công nghệ, việc tăng cường ý thức về hướng phát triển mới trong thời gian trước mắt và đổi mới công nghệ được xem là giải pháp cho vấn đề trên. Và Chiến lược công nghệ quốc gia đặt mục tiêu chuyển từ đổi mới công nghệ để “đuổi kịp” sang “tiên phong sáng tạo”. Chiến lược tập trung vào một số lĩnh vực có khả năng mở ra thị trường mới và xây dựng được hệ thống sáng tạo quốc gia với những công nghệ có giá trị xã hội.  Có 3 mức nghiên cứu và triển khai trong Chiến lược công nghệ quốc gia: đáp ứng nhu cầu xã hội; phổ biến những công nghệ mang tính sáng tạo; xây dựng nền tảng tri thức.  Còn hệ thống đổi mới quốc gia hướng tới 4 mục tiêu sau:  1. Tạo mối quan hệ hữu hiệu Công nghiệp – Nhà nước – Đại học;  2. Cải tổ các trường đại học Nhật Bản theo hướng cạnh tranh quốc tế;  3. Bồi dưỡng các kỹ sư và nhà nghiên cứu sáng tạo’  4. Tái cấu trúc hệ thống hỗ trợ công nghệ của chính phủ.  Kế hoạch Cơ bản về Khoa học và công nghệ II  Kết quả của Kế hoạc cơ bản về Khoa học và công nghệ của giai đoạn trước không như mong đợi: môi trường nghiên cứu và triển khai không được cải thiện rõ rệt; mối liên hệ giữa “khoa học” và “hoạt động nghiên cứu” không gắn chặt thêm. Nói cách khác, sự “tác động xã hội” ở đây đã thiếu hiệu quả. Để giải quyết vấn đề trên, Kế hoạc Cơ bản II được vạch ra theo triết lý: Khoa học và công nghệ trong lòng xã hội, phục vụ xã hội và nhận lại đánh giá từ xã hội.  Ở đây, thay đổi lớn nhất so với Kế hoạch Cơ bản I là chính phủ cam kết rõ ràng việc xây dựng hệ thống công nghệ nhằm phụ vụ toàn bộ xã hội với hướng tiếp cận là “chiến lược”.  Bên cạnh những hỗ trợ truyền thống cho nghiên cứu cơ bản, chính phủ sẽ ưu tiên tài trợ cho các lĩnh vực khoa học sự sống, công nghệ thông tin, môi trường, công nghệ và vật liệu nano, năng lượng, chế biến, hạ tầng xã hội, các lĩnh vực tiên phong như giải pháp cho các vấn đề trong tương lai, v.v.  Tóm lại, Kế hoạch Cơ bản II giới thiệu một hệ thống sáng tạo hoạt động trong môi trường cạnh tranh và dựa trên mối gắn kết giữa giới công nghiệp, trường đại học và các phòng thí nghiệm quốc gia. Nếu nhìn mô hình Mỹ, nơi mà ngành công nghiệp công nghê cao và kinh tế đã phát triển mạnh mẽ trong thập kỷ vừa qua nhờ mối gắn kết trong môi trường cạnh tranh giữa giới công nghiệp và nghiên cứu, thì Kế hoạch Cơ bản II có vẻ đã đúng hướng. Câu hỏi còn lại là việc thực thi nó một cách phù hợp trong bối cảnh Nhật Bản sẽ như thế nào!  VIỆT ANH dịch    ——    Chú thích ảnh trên cùng: Triết lý phát triển công nghệ Nhật Bản: KH&CN phục vụ xã hội và nhận lại đánh giá từ xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới một định nghĩa Thiên hà mới (Kỳ 3)      Khi chỉ quan sát thủy triều trên Trái đất, chúng ta khó có thể hình dung được lực thủy triều có vai trò thế nào trong lịch sử. Trên thực tế, lực thủy triều ảnh hưởng tới lịch sử ở mọi cấp độ khác nhau: nếu ở sông Bạch Đằng năm 938, thứ lực này đã hỗ trợ cho người Việt giành độc lập và chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, thì ở rìa của dải Ngân Hà, nó lại xé tan các thiên hà nhỏ và kéo chúng về phía thiên hà của chúng ta, biến các vật thể xấu số này thành các vệ tinh mãi mãi “vào luồn ra cúi” quanh dải Ngân Hà. Trong vài thập kỷ trở lại đây, các lý thuyết và quan sát mới còn chứng minh được một sức mạnh khác của lực thuỷ triều: tạo ra các thiên hà riêng biệt mà chẳng phụ thuộc vào vật chất tối.      Thiên hà Râu, một cặp thiên hà bị lực thủy triều làm cho xoắn vào nhau. Ảnh: SSRO/PROMPT/CTIO.  Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?  Viễn cảnh lực thủy triều dẫn đến sự hình thành của các thiên hà riêng biệt thực chất không phải là một ý tưởng mới. Từ năm 1956, trước cả khi Vera Rubin và cộng sự tìm được bằng chứng quan sát cho vật chất tối, nhà thiên văn người Thụy Sĩ Fritz Zwicky đã đưa ra giả thuyết rằng lực thủy triều giữa các thiên hà có khả năng hút một phần sao và khí của các thiên hà này rồi gom lại thành các thể lùn ở xung quanh. Tuy nhiên, sau khi các lý thuyết mới về vật chất tối được phát triển và bồi đắp trong các thập kỷ tiếp theo, dường như toàn bộ cộng đồng thiên văn học đều quay lưng lại với ý tưởng của Zwicky vì họ không thể hình dung được một quá trình tiến hóa thiên hà mà không có sự đóng góp của vật chất tối. Nói theo cách của triết học khoa học, bằng chứng về vật chất tối đã dẫn đến một sự dịch chuyển mẫu hình (paradigm shift) ở ngành thiên văn học, trong đó ý tưởng của Zwicky tưởng chừng như “lạc quẻ” so với các lý thuyết mới về sự hình thành thiên hà nên không được nhiều người để tâm.   Vào đầu thập niên 1990, một phát hiện mới đã buộc nhiều người phải xem xét lại giả thuyết cũ của Zwicky. Trong chòm sao Ô Nha (Corvus) có tồn tại Thiên hà Râu (Antennae Galaxies) – hai thiên hà khổng lồ đang hợp vào làm một do tác động của lực thủy triều – và khi nhóm của Igor Mirabel quan sát một đuôi thủy triều của cặp thiên hà này, họ đã để ý thấy một vật thể lạ nằm ở ngay bên cạnh. Đây là một hệ sao nhỏ, trong đó các ngôi sao còn trẻ hơn cả đuôi thủy triều lân cận, nghĩa là chúng đã được sinh ra ngay tại chỗ chứ không phải là các ngôi sao từng thuộc Thiên hà Râu nhưng đã bị lực thủy triều “đá” ra xa. Sau khi đo đạc độ sáng và tổng khối lượng vật chất thông thường của vật thể kỳ lạ này, nhóm của Mirabel nhận thấy chúng tương đương với độ sáng và tổng khối lượng vật chất thông thường của các thiên hà lùn vô định hình (dwarf irregular galaxy). Trong bài nghiên cứu xuất bản năm 1992, nhóm của Mirabel kết luận rằng vật thể này đúng là một thiên hà lùn, và có thể đã được hình thành ngay trong môi trường hỗn độn xung quanh hai thiên hà khổng lồ va chạm với nhau. Những phân tích của các nhóm nghiên cứu khác cũng đồng ý với giả thuyết của nhóm Mirabel, và thuật ngữ “thiên hà lùn thủy triều” (tidal dwarf galaxy) nhanh chóng được tạo ra để miêu tả những thứ tương tự như vật thể ở rìa Thiên hà Râu. Song trong các cuộc thảo luận về định nghĩa thiên hà, nhiều nhà thiên văn học chỉ gọi các vật thể này là “thể lùn thủy triều” (tidal dwarf) nhằm đảm bảo tính trung lập.    Thiên hà NGC 7252, với hai thiên hà lùn đang được hình thành ở cuối hai đuôi thủy triều. Ảnh đã điều chỉnh độ bão hòa của Braine và cộng sự (2001).  Ngọn nước thủy triều chảy xuôi  Đến nay, các nhà thiên văn học đã quan sát được thêm nhiều thiên hà lùn thủy triều khác và từ đó có một nền tảng lý thuyết vững chắc về loại vật thể này. Trong một bài nghiên cứu tiêu biểu xuất bản năm 2000, nhóm của Pierre-Alain Duc đã định nghĩa thiên hà lùn thủy triều là “một thế hệ thiên hà mới” (a new generation of galaxies) được sinh ra khi các ngôi sao và các mảnh khí vụn bị lực thủy triều giữa các thiên hà khổng lồ “cuốn trôi” ra vùng lân cận. Dựa trên định nghĩa đó, vào năm 2012, nhóm nghiên cứu của Sugata Kaviraj đã phân tích dữ liệu quan sát và nhận thấy sự đa dạng trong quá trình hình thành thiên hà lùn thủy triều. Ví dụ, nếu như một thiên hà lùn thủy triều được hình thành ở phía cuối đuôi thủy triều (tidal tail), thiên hà này sẽ nặng gấp bốn lần so với các thiên hà lùn thủy triều hình thành ở phần đầu. Ngoài ra, một thiên hà lùn thủy triều hoàn toàn có thể chứa một hỗn hợp các sao mới và sao cũ, trong đó sao mới được hình thành sau khi lượng khí từ các thiên hà lớn đã bị hút hẳn ra ngoài, còn sao cũ thì vốn dĩ đã tồn tại sẵn trong thiên hà lớn, nhưng bị lực thủy triều từ bên ngoài kéo đi mất bởi lực hút của thiên hà lớn không đủ mạnh. Có thể nói, sự hình thành các thiên hà lùn thủy triều là một quá trình ngẫu nhiên, phụ thuộc vào các yếu tố như vị trí xảy ra và khả năng “xâu xé” của lực thủy triều.  Song song với sự đa dạng về cách hình thành, các thiên hà lùn thủy triều cũng thể hiện một điểm chung rõ rệt: sự thiếu hụt, nếu không nói là sự vắng mặt hoàn toàn của vật chất tối. Vào năm 2001, Jonathan Braine và cộng sự đã phân tích ánh sáng của lượng carbon monoxit được thải ra từ tám thiên hà lùn thủy triều khác nhau, rồi dựa vào đó để tính toán xem phần khối lượng tham gia vào các quá trình động học ở các thiên hà này có thể lớn đến đâu. Sau khi so sánh phần “khối lượng động học” (dynamical mass) này với phần “khối lượng nhìn thấy được” (visible mass), nhóm của Braine nhận thấy rằng hai kết quả gần như không có sự chênh lệch, nghĩa là không hề có chuyện vật chất tối chi phối chuyển động ở tám thiên hà nêu trên, hay nói cách khác là các thiên hà này không hề chứa vật chất tối. Ý tưởng này dẫn đến một giả thuyết thú vị: khi lực thủy triều kéo vật chất ra khỏi các thiên hà khổng lồ, rất có thể vật chất tối đã không bị kéo theo cùng với vật chất thông thường. Nếu các nhà thiên văn học có thể thu thập được bằng chứng xác đáng cho giả thuyết này, họ sẽ xua tan được ngay một sự ngộ nhận thường thấy về vật chất tối rằng vật chất tối luôn luôn đi kèm với vật chất thông thường. Với một tiềm năng như thế, các thiên hà lùn thủy triều sẽ là một chủ đề nghiên cứu đầy hứa hẹn.  Biết có vuông tròn cho chăng?  Tuy nhiên, quá trình hình thành kỳ lạ của các thiên hà lùn thủy triều lại đặt ra một câu hỏi mới cho các nhà thiên văn học: liệu có cách nào liên hệ được quá trình này với các lý thuyết sẵn có về sự hình thành thiên hà hay không? Có phải sự hình thành thiên hà từ lực thủy triều chỉ là một trường hợp ngoại lệ, tách biệt hoàn toàn khỏi cách các thiên hà thông thường được tạo ra?    Một sự kiện hợp nhất thiên hà trong chòm sao Lạp Khuyển (Canes Venatici). Ảnh: NOIRLab/Gemini Observatory/AURA.  Trong nghiên cứu đã dẫn ở trên của Jonathan Braine và cộng sự, nhóm tác giả này thể hiện một quan điểm rõ ràng: hầu hết các thiên hà lùn đều giàu vật chất tối, nghĩa là chúng không phải sản phẩm của sự tương tác thủy triều. Một thập kỷ sau, nhóm của Sugata Kaviraj quyết định đi sâu hơn, nên đã dành một phần riêng trong bài nghiên cứu của mình để tìm hiểu mức độ “cống hiến” của quá trình hình thành thiên hà lùn thủy triều đối với lượng thiên hà lùn ngày nay. Dựa vào khối lượng, cũng như là tỷ lệ sống sót của các thiên hà lùn thủy triều sau khi được hình thành, Kaviraj và cộng sự kết luận rằng khoảng 6% các thiên hà lùn ngày nay có thể có nguồn gốc từ các tương tác thủy triều. Song con số này cũng chỉ là một ước tính dựa trên giả định rằng tỷ lệ sản sinh thiên hà lùn thủy triều đã từng rất cao ở “thuở hồng hoang” của vũ trụ. Con số thực tế hoàn toàn có thể nhỏ hơn, nghĩa là thật khó để nói rằng toàn bộ quần thể thiên hà lùn mà chúng ta thấy ngày nay đều được sinh ra từ lực thủy triều của các sự kiện hợp nhất thiên hà (galaxy merger) trong quá khứ. Sự chào đời của các thiên hà lùn thủy triều giống như một trường hợp ngoại lệ, chứ không phải một mảnh ghép mới trong bức tranh về sự hình thành thiên hà nói chung.  Hãy cùng trở lại vấn đề định nghĩa thiên hà. Nếu như ở kỳ trước, việc các vật thể NGC 1052-DF2 và NGC 1052-DF4 bị lực thủy triều cướp mất vật chất tối đã giúp chúng ta thấy được rằng định nghĩa thiên hà hiện tại không cân nhắc đến những thay đổi theo thời gian, thì ở kỳ này, dường như các thiên hà lùn thủy triều không thực sự “thách thức” được định nghĩa đó. Quả thật là định nghĩa thiên hà hiện tại lấy vai trò của vật chất tối trong sự hình thành thiên hà làm cốt lõi, và ở các thiên hà lùn thủy triều thì vật chất tối không có vai trò đó, nhưng các nhà thiên văn học hoàn toàn có thể dồn các thiên hà lùn thủy triều vào một góc vì nguồn gốc và đặc điểm của chúng quá khác biệt so với các thiên hà thông thường. Theo hai tác giả Beth Willman và Jay Strader, các thiên hà lùn thủy triều, hay như họ gọi là các “thể lùn thủy triều”, nên được xếp vào một nhóm vật thể riêng biệt, tách ra khỏi nhóm “thiên hà” để khỏi gây tranh cãi về vai trò của vật chất tối. Tuy nhiên, phần đông các nhà thiên văn học vẫn chọn gọi các vật thể này là “thiên hà lùn”, đơn giản là bởi vì chúng có hình dạng, kích thước và cơ chế hoạt động giống như các thiên hà lùn thông thường. Bằng sự ưa thích này, dường như các nhà thiên văn học đang gợi lại phương pháp nhận dạng “nhìn là biết” để dùng cho một mình các thiên hà lùn thủy triều.  Nói tóm lại, câu chuyện về định nghĩa thiên hà có thể được gói gọn như sau:  – Ở nửa sau của thế kỷ XX, định nghĩa thiên hà đã chuyển từ “nhìn là biết” thành một thứ hoàn chỉnh hơn, xoay quanh một loại vật chất mang tính giả thuyết được gọi là vật chất tối (dark matter). Theo định nghĩa mới, mỗi thiên hà được hình thành và tồn tại trong một quầng vật chất tối (dark matter halo). Điều này cho phép các thể lùn siêu tối (ultra-faint dwarf) và thể lùn siêu đặc (ultra-compact dwarf) gia nhập danh sách các thiên hà, chứ không còn bị bỏ qua chỉ vì phương pháp “nhìn là biết” không thể áp dụng được cho chúng.  – Đến cuối những năm 2010, một số thể lùn đã gây khó dễ cho định nghĩa thiên hà hiện tại. Các thể lùn này có các đặc điểm tương tự như các thiên hà siêu khuếch tán (ultra-diffuse galaxy), song rất ít hoặc không có vật chất tối. Dù các phép đo vật chất tối trong các nghiên cứu này vẫn còn gây tranh cãi, một lời giải thích cho sự thiếu vắng vật chất tối dần dần được chấp nhận: các thể lùn này đúng là các thiên hà siêu khuếch tán, nhưng chúng đã mất vật chất tối do tương tác thủy triều với các thiên hà khác. Theo đó, định nghĩa thiên hà hiện tại vẫn phù hợp với chúng, nhưng cần được xem xét lại để bao hàm sự tiến hóa thiên hà.  – Một nhóm các thể lùn khác, thường được gọi là thiên hà lùn thủy triều (tidal dwarf galaxy) hoặc thể lùn thủy triều (tidal dwarf), dường như tách biệt hẳn so với định nghĩa thiên hà hiện tại. Các thể lùn này không những không chứa vật chất tối, mà còn hình thành hoàn toàn do lực thủy triều, không cần sự can thiệp của vật chất tối. Đã có ý kiến đề xuất gộp các thể lùn này vào một nhóm riêng, không phải cụm sao cũng không phải thiên hà, song nhiều nhà thiên văn học vẫn nhận dạng chúng là thiên hà theo kiểu “nhìn là biết”.  Như vậy, chúng ta đã nắm được lập trường của thiên văn học ngày nay về định nghĩa thiên hà. Trong kỳ cuối của chuyên đề này, hãy cùng xem xét vài định nghĩa thiên hà thay thế mà một số nhà thiên văn học đã đề xuất, rồi kết thúc bằng việc đặt câu hỏi: thế nào là một định nghĩa?□  —  Braine, J., Duc, P.A., Lisenfeld, U., et al. (2001), “Abundant molecular gas in tidal dwarf galaxies: On-going galaxy formation”, Astronomy & Astrophysics, 378(1), pp. 51-69.  Duc, P.A., Brinks, E., Springel, V., et al. (2000), “Formation of a tidal dwarf galaxy in the interacting system Arp 245 (NGC 2992/93)”, The Astronomical Journal, 120(3), pp. 1238.  Kaviraj, S., Darg, D., Lintott, C., Schawinski, K. and Silk, J. (2012), “Tidal dwarf galaxies in the nearby Universe”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 419(1), pp. 70-79.  Mirabel, I.F., Dottori, H.A. and Lutz, D. (1992), “Genesis of a dwarf galaxy from the debris of the Antennae”, Astronomy and Astrophysics 256(1), pp. L19    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Hướng tới một định nghĩa Thiên hà mới (Kỳ cuối)      Với các phát hiện mới về các hệ sao khác nhau trong vũ trụ, định nghĩa thiên hà của thiên văn học dường như đang bị mắc kẹt ở một vị trí bấp bênh. Trả lời phỏng vấn của Trung tâm Vũ trụ Goddard năm 2012, nhà thiên văn học Beth Willman thừa nhận: “Không có một sự đồng thuận nào về đáp án cho câu hỏi ‘Thế nào là một thiên hà?’, ngay cả giữa các chuyên gia trong ngành.”      Quần tinh Omega Centauri. Ảnh: ESO/INAF-VST/OmegaCAM.  Thật vậy, các bài viết của một nhóm nghiên cứu này có thể sử dụng từ “thiên hà” để chỉ một vật thể hoặc một loại vật thể mà nhóm nghiên cứu khác sẽ không bao giờ coi là thiên hà. Trong kỳ cuối của chuyên đề này, hãy cùng khám phá một số tiêu chí đã được đề ra cho định nghĩa thiên hà, đồng thời thảo luận về cách một định nghĩa được hình thành trong thiên văn học nói riêng và khoa học tự nhiên nói chung.  Suy ngẫm từ một cuộc trưng cầu dân ý  Vào năm 2011, hai nhà vật lý thiên văn Duncan Forbes và Pavel Kroupa thiết kế một cuộc trưng cầu dân ý trực tuyến dành cho công chúng, trong đó họ tổng hợp một số tiêu chí đã được các tác giả khác đưa ra để định nghĩa thiên hà, rồi mời mọi người cùng bình chọn, bất kể có chuyên môn hay không. Trước tiên, Forbes và Kroupa đưa ra hai tiêu chí bắt buộc là “phải chứa sao” và “vật chất phải bị bó buộc bằng lực hấp dẫn”, rồi nêu ra các tiêu chí mà người đọc có thể chọn hoặc là không, ví dụ như:  1. Thời gian nới lỏng hai vật thể (two-body relaxation time) dài hơn tuổi của vũ trụ. Khi một ngôi sao này tương tác với một ngôi sao khác, các tương tác có thể gây ra các thay đổi về vận tốc nghiêm trọng tới mức chúng trừ khử hết vận tốc ban đầu của ngôi sao, khiến ngôi sao này “quên hết” đường đi và hướng đi ban đầu, giống như một người chịu áp lực của nền kinh tế tân tự do nhiều đến nỗi đánh mất phương hướng và nhận thức cá nhân. Thời gian để một ngôi sao “mất trí” như vậy dưới tác động của một ngôi sao khác được gọi là “thời gian nới lỏng hai vật thể”, và một thiên hà không thể có thời gian nới lỏng hai vật thể ngắn hơn tuổi của vũ trụ, kẻo các ngôi sao tự tác động lên nhau và đi các hướng lung tung, đẩy toàn bộ hệ vào tình trạng hỗn loạn.  2. Sự hiện diện của các “thế hệ” sao khác nhau. Trong một quần tinh (star cluster) thông thường như là Tua Rua hay là Cụm sao Coma, các ngôi sao đều cùng tuổi và thành phần hóa học, bởi chúng được sinh ra trong cùng một đám mây phân tử. Trái lại, trong một thiên hà thông thường, một đám mây phân tử sinh ra một thế hệ sao này hoàn toàn có thể được làm giàu bởi các đám mây hoặc các vụ nổ siêu tân tinh ở vùng lân cận, để rồi sinh ra một thế hệ sao khác vừa trẻ hơn, lại vừa có thành phần hóa học riêng biệt.   Ngoài ra, Forbes và Kroupa cũng đưa ra một số tiêu chí liên quan tới kích thước và quầng vật chất tối – những tiêu chí mà ưu điểm và nhược điểm đã được thảo luận ở các kỳ trước của chuyên đề này. Và để tránh gây tranh cãi về những chuyện tương lai hay quá khứ, hai tác giả này thêm một phần chú giải nhỏ rằng một quần tinh hoàn toàn có thể tiến hóa thành một thiên hà hoặc là ngược lại, nghĩa là ở một thời điểm này, một hệ sao có thể thỏa mãn một số tiêu chí và được coi là thiên hà, nhưng ở một thời điểm khác, hệ sao đó thay đổi, không thỏa mãn các tiêu chí trên nữa, và từ đó đánh mất danh hiệu thiên hà. Dù kết quả cuộc bình chọn của Forbes và Kroupa  dường như không còn được hiển thị trên Internet, bản thân cách thiết kế và đặt vấn đề ở đây cũng đủ quan trọng, vì chúng cho thấy rằng các nhà thiên văn học có thể định nghĩa một thiên hà theo nhiều cách khác nhau, rồi theo đó coi các vật thể khác nhau là thiên hà hoặc không phải là thiên hà.       Phân tích từ góc nhìn triết học khoa học, tác giả Alisa Bokulich cho rằng cuộc tranh cãi về định nghĩa hành tinh tượng trưng cho một sự bất đồng tư tưởng lớn xung quanh cái gọi là “loại tự nhiên” (natural kind).      Tuy nhiên, bản thân hai tác giả Forbes và Kroupa cũng thừa nhận rằng một số tiêu chí được họ liệt kê sẽ khơi mào thêm nhiều vấn đề mới. Một ví dụ điển hình chính là tiêu chí hai, bởi trong nội bộ dải Ngân Hà, các nhà thiên văn học đã tìm thấy các quần tinh cầu (globular cluster) chứa đựng nhiều thế hệ sao khác nhau, tiêu biểu nhất là quần tinh Omega Centauri trong địa phận chòm sao Bán Nhân Mã (Centaurus). Trong trường hợp của Omega Centauri, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng quần tinh này có thể từng là một thiên hà riêng biệt, song đã chịu tác động mạnh từ lực thủy triều của dải Ngân Hà và chỉ còn sót lại cái lõi nằm gọn lỏn trong thiên hà của chúng ta. Nếu tiêu chí hai được chấp nhận để định nghĩa thiên hà, Omega Centauri và các vật thể như nó có thể được khôi phục danh hiệu thiên hà, song bản thân việc khôi phục này cũng là một thách thức lớn, bởi ngoài việc chứa các thế hệ sao khác nhau, ngày nay những vật thể như Omega Centauri có cấu trúc và tương tác hấp dẫn giống với các quần tinh cầu thông thường hơn là thiên hà.  Có thể nói, cho dù các tiêu chí có phong phú hay là đa dạng đến đâu, các nhà thiên văn học vẫn chưa thể đi đến một định nghĩa thiên hà nhất quán. Trong bài nghiên cứu năm 2012, hai tác giả Beth Willman và Jay Strader đề xuất một định nghĩa mập mờ hơn: một tập hợp sao được coi là một thiên hà nếu nó được bó buộc bằng lực hấp dẫn và sở hữu các thuộc tính mà việc kết hợp vật chất thông thường với các định luật hấp dẫn của Newton cũng không thể giải thích được. Willman và Strader thừa nhận, họ cố tình để định nghĩa của mình mập mờ như vậy nhằm nhận được sự đồng thuận từ các nhà thiên văn học với các thế giới quan khác nhau. Chính lựa chọn này của Willman và Strader cũng mở ra một câu hỏi: khi đưa ra một định nghĩa, chúng ta cần đại khái hay là chi tiết từng li từng tí một? Trên thực tế, những vấn đề như vậy đã tồn tại từ lâu, và một cuộc thảo luận về định nghĩa trong thiên văn học dường như không bao giờ đủ nếu như không đề cập tới cuộc tranh cãi xoay quanh định nghĩa hành tinh chưa đầy hai thập kỷ trước.    Trung tâm Hội nghị Praha, nơi Liên đoàn Thiên văn Quốc tế bỏ phiếu tước danh hiệu hành tinh của sao Diêm Vương vào năm 2006. Ảnh: prague.eu.  Bài học từ vụ cách chức sao Diêm Vương  Năm 2006, tại kỳ họp Đại Hội đồng thứ 26 của Liên đoàn Thiên văn Quốc tế (IAU) ở thành phố Praha, Cộng hòa Séc, 424 người tham dự đã bỏ phiếu lựa chọn định nghĩa hành tinh mới và tước bỏ danh hiệu hành tinh của sao Diêm Vương vì sao Diêm Vương không thể “dọn sạch miền lân cận”, hay nói cách khác, không phải là vật thể có lực hấp dẫn thống trị các vật thể khác trong vùng quỹ đạo của nó. Đây là một quyết định mà đến tận ngày nay vẫn gây tranh cãi trong công chúng và giới thiên văn học, một phần bởi tính quyết đoán của một sự kiện quy mô nhỏ như vậy (chỉ có 424 trong số hơn 10,000 nhà thiên văn đi bầu ngày hôm đó, song họ đưa ra quyết định thay cho cả thế giới), và một phần khác là do tính ngẫu nhiên của các đặc điểm được lấy làm tiêu chí định nghĩa hành tinh. Theo Mark Sykes, Giám đốc Viện Khoa học Hành tinh (Planetary Science Institute) tại Tucson, Hoa Kỳ, tiêu chí “dọn sạch miền lân cận” không đánh giá một vật thể dựa trên cấu tạo hay sự hình thành của nó mà chỉ hoàn toàn dựa trên vị trí, và điều đó là một sai lầm, bởi nếu mà sao Hỏa nằm ở vị trí của sao Diêm Vương, nó cũng sẽ chẳng thể dọn sạch được miền lân cận và cũng sẽ không được coi là một hành tinh. Còn theo Alan Stern, người chỉ huy nhiệm vụ New Horizons thám hiểm sao Diêm Vương, vị trí không bao giờ nên được dùng để xếp loại một vật thể là hành tinh hay không, mà thay vào đó chỉ nên dùng các tính chất địa vật lý mà bản thân vật thể này sở hữu.  Phân tích từ góc nhìn triết học khoa học, tác giả Alisa Bokulich cho rằng cuộc tranh cãi về định nghĩa hành tinh tượng trưng cho một sự bất đồng tư tưởng lớn xung quanh cái gọi là “loại tự nhiên” (natural kind). Theo Bokulich, từ trước đến nay, cộng đồng khoa học cố gắng phân loại các cá thể thành các loại tự nhiên – các nhóm được phân chia dựa trên các tính trạng riêng biệt và mang tính nội tại mà mọi cá thể trong từng nhóm sinh ra đã sở hữu. Tuy nhiên, góc nhìn truyền thống này về loại tự nhiên đang bắt đầu bị thách thức trong những thập kỷ gần đây: vào năm 1999, nhà triết học Richard Boyd đề xuất thay đổi định nghĩa của loại tự nhiên thành một “cụm thuộc tính cân bằng nội sinh” (homeostatic property cluster), trong đó các tính trạng quyết định một loại tự nhiên chỉ cần phải xuất phát từ các cơ chế chung, chứ không nhất thiết phải mang tính nội tại. Áp dụng vào trường hợp của sao Diêm Vương, Alisa Bokulich kết luận rằng thuộc tính “dọn sạch miền lân cận” quả thật không hề mang tính nội tại, song nó vẫn có thể được sử dụng làm tiêu chí bởi nó có nguồn gốc từ quá trình hình thành hành tinh hệt như các thuộc tính nội tại liên quan đến khối lượng hay hình dạng, và trên hết, nó tạo điều kiện cho các khám phá khoa học, giúp các nhà thiên văn học hiểu thêm về hệ Mặt trời.       Tính đến nay, định nghĩa thiên hà vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi và đòi hỏi các công trình nghiên cứu mới. Có thể trong tương lai, chúng ta sẽ có một định nghĩa thiên hà rõ ràng, và có thể nhiều người – cả trong và ngoài giới chuyên môn – sẽ thất vọng khi một số thiên thể mà họ vốn đã quen gọi là thiên hà (ví dụ như các thể lùn siêu tối, các thể lùn siêu đặc, các thể lùn thủy triều, v.v.) bỗng nhiên bị loại trừ khỏi nhóm này, hệt như trường hợp của sao Diêm Vương năm 2006.      Trở lại cuộc thảo luận về định nghĩa thiên hà, chúng ta dễ thấy rằng các tiêu chí được những người như Forbes, Kroupa, Willman và Strader đề xuất đều có các bản chất khác nhau. Khối lượng hay bán kính của vật thể có thể được xếp vào nhóm thuộc tính nội tại, song những thứ như sự tồn tại bên trong quầng vật chất tối hay sự hiện diện của các thế hệ sao khác nhau thì rất khó có thể xếp vào một nhóm nhất định. Tuy nhiên, nếu theo quan điểm của Alisa Bokulich và Richard Boyd về loại tự nhiên, việc các thuộc tính này có bản chất như thế nào không thực sự quan trọng. Cái quan trọng là một nhà thiên văn học cần xác định xem họ có thể truy các thuộc tính nêu trên về cùng một nguồn gốc hay không, để rồi từ đó tổng hợp được một cụm thuộc tính cân bằng nội sinh có thể giúp ích cho các nghiên cứu về thiên hà sau này. Và đương nhiên, đây là một công đoạn đầy gian truân, bởi nó đòi hỏi các nền tảng lý thuyết vững chắc về vật chất tối và quá trình hình thành hệ sao – những chủ đề vẫn chưa được thấu tỏ.   Tính đến nay, định nghĩa thiên hà vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi và đòi hỏi các công trình nghiên cứu mới. Khi mà cái bóng của định nghĩa hành tinh năm 2006 vẫn còn bao trùm lên cả ngành thiên văn học, các chuyên gia về thiên hà và hệ sao nói chung lại càng phải xoay sở nhiều hơn và tham khảo các ý kiến khác nhau để đi tới một định nghĩa thiên hà mang tính quyết định. Có thể trong tương lai, chúng ta sẽ có một định nghĩa thiên hà rõ ràng, và có thể nhiều người – cả trong và ngoài giới chuyên môn – sẽ thất vọng khi một số thiên thể mà họ vốn đã quen gọi là thiên hà (ví dụ như các thể lùn siêu tối, các thể lùn siêu đặc, các thể lùn thủy triều, v.v.) bỗng nhiên bị loại trừ khỏi nhóm này, hệt như trường hợp của sao Diêm Vương năm 2006. Tuy nhiên, cho dù cái định nghĩa trong tương lai ấy có dẫn đến hệ quả như thế nào, nó vẫn sẽ dạy cho chúng ta những bài học đáng giá không chỉ về thiên hà và vũ trụ trên kia, mà còn cả về quá trình nghiên cứu khoa học và cách quan niệm về thế giới của những con người nhỏ bé ở dưới mặt đất đây. □  —  Bokulich, A. (2014), “Pluto and the ‘Planet Problem’: folk concepts and natural kinds in astronomy”, Perspectives on Science, 22(4), pp. 464-490.  Forbes, D.A. and Kroupa, P. (2011), “What is a galaxy? Cast your vote here”, Publications of the Astronomical Society of Australia, 28(1), pp. 77-82.  Willman, B. and Strader, J. (2012), ““Galaxy,” Defined”, The Astronomical Journal, 144(3), pp. 76.       Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Hướng tới một mô hình quản trị xã hội bền vững      “Tôi muốn lấy keo hạt nhưng họ lại cho giống keo hom. Khi lên nhận cây, tôi có hỏi lý do, nhưng chị cán bộ xã bảo ‘sao hỏi nhiều thế, được cây gì thì trồng cây đó’”, Chị Nguyễn Thị Luyện kể lại quá trình cấp giống cây keo cho các hộ nghèo thôn Làng Thượng, xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn. Kết quả là người dân nhận giống về nhưng không trồng được, nhà chị Luyện trồng 1250 cây, chết hơn 700 cây.      GS.TS Phạm Quang Minh trình bày mô hình quản trị mới. Ảnh: Trần Minh.   “Tôi là trưởng thôn cũng chỉ nhận được thông tin qua các cuộc điện thoại ‘anh báo dân là đợt này chỉ nhận được các loại cây này thôi’”, anh Lộc Xuân Thủy, trưởng thôn Làng Thượng, xã Quan Sơn, nói, “người dân bức xúc vì không được biết, không được bàn”.  Những câu chuyện như vậy là hệ quả của những chính sách hỗ trợ theo kiểu áp đặt từ trên xuống. Tại Hội thảo “Quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam” do Hội đồng Lý luận Trung ương và trường ĐH KHXH&NV Hà Nội tổ chức ngày 28/6,  GS.TS. Phạm Quang Minh phân tích, căn nguyên của vấn đề này là “Nhà nước ôm, làm thay, kiểm soát, can thiệp quá sâu vào các vấn đề phát triển xã hội, không tạo điều kiện phối hợp với các chủ thể xã hội khác như cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp. Đây là hạn chế lớn nhất mà chúng tôi rút ra”.  Trong khi đó, nếu cứ “ôm” thì có nguồn vốn gấp 10 lần hiện nay, nhà nước cũng khó có thể hỗ trợ từ trên xuống mãi được. Do vậy, từ kết quả khảo sát tại 7 tỉnh, nhóm nghiên cứu của GS Phạm Quang Minh đề xuất, cần chuyển từ cơ chế quản lý phát triển xã hội sang cơ chế quản trị xã hội nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, đảm bảo an sinh xã hội. Cụ thể, cần phải dần từ bỏ tư duy nhà nước là chủ thể chính, đóng vai trò chính và gần như dẫn dắt, áp đặt, làm thay. Thay vì thực hành theo lối mòn quyết định từ trên xuống với một quy trình cứng và khiến hệ thống bên dưới thực thi một cách thụ động thì quản trị chính là quá trình kết hợp nhiều chủ thể khác nhau và hàm ý một hình thức quản lý mang tính mạng lưới. Quản trị thường được đề cập trong những bối cảnh mà ở đó Nhà nước có thể không giữ vị trí đặc biệt/chi phối. Với quan điểm xuất phát như thế, quản trị nhấn mạnh đến việc chuyển đổi/giảm bớt quyền lực mang tính thể chế truyền thống của chính phủ theo hai hướng: chuyển lên cho các thể chế/chủ thể xuyên quốc gia và thể chế/chủ thể vùng. Nhìn một cách tổng thể, quản trị xã hội là quá trình chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các cá nhân là những đối tác hợp tác bình đẳng để điều chỉnh và quản lý các vấn đề xã hội (social affairs). Tuy nhiên theo GS Phạm Quang Minh, không dễ dàng chuyển đổi ngay tư duy và hình thức quản lý cứng nhắc đã tồn tại trong hàng chục năm sang mô hình quản trị. “Đối với một tình trạng như hiện nay của VN, không thể nào có thể cải cách một hệ thống một cách sâu sắc và toàn diện được. Vì vậy, chúng tôi đề nghị, để đảm bảo sự phát triển bền vững với hệ thống chính trị cũng như với phát triển xã hội, thì đổi mới nên tập trung vào 3 điểm thôi”, ông nói. Cụ thể là nâng cao trách nhiệm giải trình của thể chế (accountability), nâng cao tính minh bạch (transparency) và dự báo được hay là đảm bảo tính nhất quán trong việc áp dụng chính sách, luật pháp (predictability).   Trước các giải pháp khuyến nghị trên, PGS.TS. Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, cho biết: “Chúng tôi cố gắng tiếp thu tối đa, chắt lọc các hiến kế có giá trị để bổ sung thêm. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một kênh quan trọng giúp cho tất cả chúng ta có những nhận thức thú vị về vấn đề quan trọng này”. Tuy nhiên, trong khi ghi nhận hướng đi của các nước trên thế giới là giảm bớt vai trò nhà nước, PGS. Phạm Văn Linh cũng nói lại: “Mỗi một quốc gia từng giai đoạn, từng trình độ phát triển rất khác nhau. Có những thời điểm, vai trò nhà nước phải mạnh lên, chúng ta không thể lấy một mô hình nào để rập khuôn máy móc  cả”. □    Author                Hoàng Nam        
__label__tiasang Hướng tới một thế giới ít CO2      LTS. “Ngày hôm nay, chúng ta đang phải đứng trước hai sự lựa chọn: một dẫn đến sự thỏa thuận tổng thể mới về biến đổi khí hậu, và một dẫn đến sự diệt vong của xã hội. Sự lựa chọn của chúng ta đã rõ ràng” (Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon). Và Việt Nam đang phải chịu những hậu quả của biến đổi khí hậu: lụt lội, những đợt nóng bất thường và cả những đợt lạnh lịch sử chưa từng thấy trong suốt hơn 40 năm qua. Với mục đích tăng cường nhận thức về biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Hội đồng Anh (British Council) phối hợp cùng tạp chí Tia Sáng tổ chức sự kiện với chủ đề “Nỗi sợ và Hy vọng”.    Trong suốt thập kỷ qua, thay đổi khí hậu đã tước đoạt cơ hội phát triển con người của hàng trăm triệu công dân thế giới. Những người nghèo có tổng lượng carbon phát thải ít nhất nhưng lại ít được trang bị phượng tiện tự vệ nhất, và chính họ lại là nạn nhân đầu tiên của lối sống xa hoa năng lượng ở các nước giàu.  Thể chế phải đi trước hành động          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Gordon Brown đã nhất trí về yêu cầu cấp bách cần giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu và đạt được một thỏa thuận thỏa đáng sau Nghị định Kyoto, đồng thời dành ưu tiên khẩn cấp hợp tác hỗ trợ cho Việt Nam thích ứng, vì Việt Nam là một trong số các nước đang chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu.     Tuyên bố chung Việt Nam-Liên hiệp Vương quốc Anh, 5/3/08        Không nghi ngờ gì, con người đang tăng tốc quá trình ấm lên của khí hậu Trái đất trong suốt thế kỷ tới. Việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch đã phóng thích phần lớn CO2 vào khí quyển, do vậy lời giải hiệu quả là cần phát triển năng lượng sạch và cả thế giới mong đợi sẽ được chấp nhận rộng rãi. Để nhiệt độ toàn cầu không tăng thêm quá 2oC, Liên hợp quốc kêu gọi thế giới phải giảm lượng khí phát thải 50% so với 1990 vào 2050. Để thực hiện được mục tiêu trên, điều quan trọng hơn cả là cần ban hành những thể chế, chính sách và các chiến lược-những quy tắc thương mại, các chính sách chính phủ- để khuyến khích các công ty ứng dụng những công nghệ tiên tiến và tiến hành hàng loạt các động thái nhằm mục đích giảm thiểu khí nhà kính.  Những thách thức là vô tận. Năng lượng nhiên liệu hóa thạch thật dồi dào và khá rẻ, do đó những nguồn năng lượng thân thiện môi trường ít có hy vọng được chấp nhận nếu không có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ. Thật không may mắn, gần hai thập kỷ đàm phán để gắn kết các thỏa ước nhằm giảm thiểu sự giải phóng khí nhà kính chỉ đạt được một vài tiến triển mong manh. Nhưng điều đó không dừng được những người làm chính sách ở châu Âu và những vùng khác nơi mà mối quan tâm của cộng đồng về sự biến đổi khí hậu trở nên cấp thiết hơn cả. Còn ở Mỹ, “ông trùm” giải phóng lượng khí nhà kính hơn bất cứ một quốc gia nào khác (22% tổng lượng CO2 phóng thích toàn cầu), thì những người làm chính sách có thể học hỏi được nhiều điều trong việc thiết lập một thị trường cắt giảm carbon thông qua việc phân tích cách thức mà cộng đồng châu Âu đạt được gần đây. Từ đó Mỹ có thể xây dựng một hệ thống quản lý carbon, bao gồm các chiến lược tạo lập thị trường và những khuyến khích khác để thúc đẩy sự phát triển, chấp nhận những đổi mới công nghệ khai thác những nguồn năng lượng với hàm lượng carbon thấp.  Cho đến những năm gần đây, hầu hết các cuộc bàn cãi xung quanh việc thiết lập các thể chế để bảo vệ khí hậu Trái đất đã lan tỏa khắp địa cầu. Tuy nhiên, nếu chính phủ các nước vẫn khăng khăng đơn thân độc mã hành động mà không có sự phối hợp quốc tế sẽ làm cho các nền công nghiệp tìm cách “lách” luật và “di chuyển” tới những quy định, thể chế còn lỏng lẻo, nhiều chỗ hở.  Không như mong đợi…  Cơ chế phát triển sạch là một lý thuyết có tính chất toàn cầu ủng hộ cho Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, mà ở đó kêu gọi tất cả các quốc gia hành động cùng nhau trong một thiện chí về vấn đề khí hậu và tạo ra một tổ chức có chức năng quan sát việc thi hành các hiệp ước. Theo Nghị định thư Kyoto, những nước công nghiệp như Mỹ, EU, Nhật, Nga về nguyên tắc phải cắt giảm 5% lượng khí thải công nghiệp so với 1990.  Không có một phương thức cụ thể nào mang tính ép buộc các quốc gia đang phát triển điều khiển sự giải phóng khí nhà kính, và Nghị định thư Kyoto cuối cùng cũng đã tìm ra được một thỏa ước được biết với tên gọi Cơ chế phát triển sạch (CDM). Mục tiêu của cơ chế này nhằm tạo nên một lời giải linh động cho các cường quốc công nghiệp đồng thời vẫn đảm bảo được lợi ích chung trong vấn đề cắt giảm khí thải. Điều này cho phép các công ty ở những nước công nghiệp đầu tư vào những dự án giảm thiểu khí nhà kính ở các nước đang phát triển như một sự “thế thân” những nỗ lực đắt giá ở chính quốc gia của họ, tránh làm phương hại tới nền kinh tế.                  Và ở đây, những nhà phát minh quốc tế có thể phát triển những kỹ thuật mới tạo ra nguồn năng lượng sạch trong các dự án được tài trợ ở các nước đang phát triển, mặc dù các quốc gia này không bắt buộc phải hạn chế việc phóng thích khí nhà kính. Chẳng hạn, các hãng của Anh, nơi phải đối mặt với sự giảm thiểu khí nhà kính nghiêm ngặt, có thể đầu tư xây dựng những tuốc-bin gió ở Trung Quốc. Nguồn nguyên liệu phổ biến ở Trung Quốc vẫn là than đá, vì vậy phát triển những công nghệ mới có thể giúp sản xuất ra một sản lượng điện tương đương bằng sức gió trên những cánh đồng, hay thảo nguyên đồng thời có thể giảm thiểu phát xạ CO2 xuống bằng không. Trong khi Trung Quốc thu hút được đầu tư nước ngoài và cơ sở hạ tầng năng lượng thì các hãng của Anh có thể “thi hành” bổn phận của họ trong vấn đề môi trường với cái giá rẻ hơn nhiều.  Mặc dù Nghị định thư Kyoto nhanh chóng được thông qua trên giấy tờ, nhưng các nước công nghiệp đã thi hành một cách không sòng phẳng. Những nước chủ chốt như Mỹ, Australia và Canada đã cố tình lảng tránh vì lo sợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng nền kinh tế và cả những vấn đề chính trị. Mỹ không đề ra một chỉ tiêu quốc gia cho việc cắt giảm phát thải, do vậy mỗi bang quy định một chỉ tiêu phát thải riêng.Thay vào đó mục tiêu giảm cường độ carbon của quốc gia này không ngăn cản được tốc độ phát thải ngày một tăng trong nền công nghiệp khổng lồ của Mỹ. Bởi vậy, những tác động của Nghị định trong vấn đề ấm lên toàn cầu không bao giờ đạt được những mục tiêu như mong đợi.  Một thế giới ít carbon          “Tất cả mọi người trên thế giới đang dõi theo chúng ta, và còn hơn thế, sự sống còn của nhiều thế hệ đang phụ thuộc vào chúng ta. Chúng ta không thể tước đoạt tương lai của các thế hệ sau này… Chúng ta có trách nhiệm phải điều chỉnh sự bất công này, và phải bảo vệ những ai dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu… Chúng ta có thể cùng nhau tạo ra một thời đại mới của kinh tế xanh, một thời đại phát triển bền vững thực sự dựa vào công nghệ sạch và công nghệ ít phát thải”.   Phát biểu của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon tại Hội nghị về thay đổi khí hậu tổ chức ở Bali, Inđônêxia.        Khi Nghị định thư Kyoto bắt đầu đi vào hiệu lực vào tháng hai 2005, hầu hết các nước công nghiệp đã đồng ý cắt giảm tổng phát xạ khí nhà kính trung bình 5,2% (so với 1990) trong khoảng thời gian giữa 2008 và 2012. Mỗi chính phủ tham gia đã có một mục tiêu riêng trong giảm thiểu phát xạ CO2. Vì vậy việc hình thành thương mại carbon như một giải pháp có tính lâu dài, hiệu quả và kinh tế. Từ đó định hướng phát triển toàn cầu theo lộ trình hướng tới một nền kinh tế phi carbon.  Thực ra thương mại carbon là một cơ chế thị trường nhằm mục đích khắc phục quá trình biến đổi khí hậu. Những thị trường carbon mới đem lại một sự lựa chọn cho những nước được coi là “rốn” khí thải của thế giới: Hoặc một quốc gia phải chi trả để cắt giảm phát thải khí thải đối với các thiết bị, máy móc của họ, hoặc nước đó tiếp tục giải phóng CO2 nhưng phải chi trả kinh phí cho những quốc gia khác để giảm thiểu lượng khí nhà kính giải phóng. Về mặt lý thuyết, cách tiếp cận này có thể giảm bớt chi phí cho việc ngăn chặn quá trình ấm lên toàn cầu ở giá tối thiểu.  Việc trao đổi carbon xảy ra theo hai cách. Thứ nhất là trao đổi theo hạn ngạch cap-and-trade, bởi vậy những nguồn thải ô nhiễm sẽ nhận được những hỗ trợ cũng như những thuận lợi khác cho việc cắt giảm. Hình thức mua bán chỉ tiêu phát thải ở đây có thể kiểm soát được định mức phát thải của từng công ty, theo đó công ty nào cắt giảm được lượng khí phát thải có thể giao bán chỉ tiêu của mình. Lợi thế của hình thức này là mức phát thải tối đa là giới hạn trần về lượng khí phát thải. Năm 2005, châu Âu thiết lập một hệ thống hạn ngạch bắt buộc cho các công ty, và hiện tại, Kế hoạch mua bán phát thải của châu Âu (EU-ETS) vẫn đi đầu trong thị trường carbon thế giới. Trên thực tế, các quốc gia thành viên của EU đã dần đạt được 2% lượng khí thải cắt giảm so với 1990, và hy vọng còn thu được kết quả khả quan hơn nhiều khi một hệ thống thương mại mới bắt đầu có hiệu lực vào 2013. Với chỉ tiêu cắt giảm 20-30% lượng khí phát thải vào 2020 sẽ là một hành động quan trọng đối với bài toán thay đổi khí hậu Tuy nhiên, EU-ETS đề mức phát thải cho phép khá cao cộng với việc những nhóm thế lực vì lợi ích tìm cách để thu lợi nên những khoản kinh phí công lớn đã “lọt” vào những túi áo riêng của những nhóm thế lực này.  Cách thứ hai là thương mại carbon thông qua những hỗ trợ từ các dự án bồi thường. CDM cho phép những nước công nghiệp nhận được những hỗ trợ tài chính từ các dự án giảm thiểu carbon ở các nước đang phát triển.  Sự mở rộng của thương mại carbon toàn cầu vẫn khó có được những đánh giá tin cậy bởi vì đây vẫn là một cơ chế còn khá mới, những số liệu giao dịch không được thống kê đầy đủ. Ngân hàng thế giới ước lượng giá trị của thương mại carbon trong năm 2006 đạt 30 triệu USD. Thị trường carbon toàn cầu đã vượt qua 80% năm 2007, với 2.7 tỷ tấn CO2 trị giá 40,4 tỷ euro, trong đó 60% giao dịch (28 tỷ euro) thương mại này thông qua EU-EST.  Tuy nhiên, thị trường tín dụng cơ chế phát triển sạch đã thực sự bùng nổ. Sự trao đổi của nó có thể giải thích cho một phần ba của 1% khí nhà kính trên toàn thế giới, tức là khoảng 4,4 tỷ USD hằng năm. CDM cho phép các công ty đạt được mục tiêu cắt giảm khí nhà kính thông qua các dự án cắt giảm carbon ở các nước đang phát triển. Những nơi này của thế giới chiếm thị phần 12 tỷ euro, tức khoảng 947 triệu tấn CO2.  Kinh nghiệm của châu Âu cho thấy các hệ thống thương mại, giống như tất cả các thị trường, không xuất hiện một cách tự phát. Các nhà lịch sử kinh tế đã xác định rằng, các thị trường cần những thể chế ưu đãi. Hệ thống luật hành chính của châu Âu có một lịch sử lâu đời và việc thi hành đã tỏ ra rất hiệu quả. Thiếu vắng những thể chế này, những tín dụng cho cắt giảm khí thải ở châu Âu sẽ trở nên kém hiệu quả. Vai trò trung tâm của các thể chế và mối quan tâm ở từng nơi giải thích cho sự khác nhau giữa các phần của thế giới đã phát triển rất nhiều hệ thống thương mại carbon khác nhau. Quả thực, thị trường carbon toàn cầu nổi lên từ dưới thay vì từ trên xuống thông qua một thỏa ước quốc tế trong nhiều thập kỷ để thiết lập một hệ thống toàn cầu thực sự.  Kế hoạch hành động  Để thị trường carbon hoạt động hiệu quả và hạn chế những thách thức về khí hậu cần thiết phải có một kế hoạch cụ thể, linh động với một chiến lược hiệu quả hơn, hướng tới một nền kinh tế có hàm lượng CO2 thấp. Một kế hoạch như thế được phác thảo tập trung vào các nội dung mấu chốt trong lộ trình cắt giảm phát thải carbon.  Mỹ phải thiết lập một chính sách thuế bắt buộc để điều khiển lượng khí nhà kính phát ra. Các hệ thống thuế sẽ giảm cơ hội cho bất công và tham nhũng. Bên cạnh đó, chính sách thuế này phải dễ dàng điều chỉnh khi được yêu cầu. Việc đánh thuế sẽ tạo nên một tác động trực tiếp. Chúng ta có thể đưa ra lộ trình: 10-20 USD/tấn CO2 vào 2010, mỗi năm tăng thêm 5-10 USD/năm cho đến khi đạt được 60-100 USD/tấn CO2; Các cường quốc công nghiệp phải tìm cách để các quốc gia đang nổi lên tham gia vào công việc giảm thiểu phát xạ carbon. Quá trình này yêu cầu một hệ thống chính sách có thể thích ứng với hoàn cảnh đặc biệt của từng nước; Các chính phủ phải đưa ra các chiến lược thiết thực tạo điều kiện cho phát minh những hệ thống năng lượng sạch, ứng dụng những công nghệ mới tăng tốc sử dụng nguồn năng lượng tái sinh; Nếu Mỹ thiết lập hạn ngạch cap-and-trade thì phải tạo ra một “van” an toàn để thiết lập một mức giá trong giới hạn cho phép phát thải carbon để các công ty có thể định giá. Tất cả các tín dụng trong hệ thống hạn ngạch cap-and-trade phải được đem bán đấu giá để tránh những thiên vị mang tính chất chính trị; Các chính phủ phải tạo những chính sách khí hậu dựa trên cơ chế thị trường cũng như các quy định để tăng tốc sự chấp nhận ứng dụng các công nghệ mới hướng tới một nền kinh tế xanh.  Tham khảo: Science, Nature, Scientific American                    Sẽ đánh thuế đối với khí thải gây hiệu ứng nhà kính hay sẽ tạo nên một hệ thống thương mại quốc tế về khí thải? Phải chăng cần xây dựng các cơ chế để ngăn cản việc chặt phá rừng, điều này là nguyên nhân gây 20% lượng khí thải CO2, hay cần có sự hỗ trợ đối với những nước đang phát triển yếu kém trong việc thích nghi với những biến đổi không thể tránh khi Trái đất nóng lên và những nước này lại bị ảnh hưởng nặng nề nhất? Cần phải tiết kiệm năng lượng và đặc biệt chú trọng đến nhiên liệu tái sinh như sinh khối hay năng lượng hạt nhân và có cần điều chỉnh sự chuyển giao công nghệ “xanh” mới đối với tất cả các nước. Tất nhiên câu trả lời lại phụ thuộc vào sự đa dạng của các giải pháp đã nêu ở trên hoặc của nhiều giải pháp khác nữa. Nhưng một khi cuộc thương lượng về các vấn đề này sa vào tình trạng bế tắc thì chúng ta sẽ bị mất cái quý giá nhất, đó là thời gian.  Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang HƯỚNG TỚI TRỞ THÀNH QUỐC GIA DỰA TRÊN SÁNG TẠO KH&CN      Những thay đổi mạnh mẽ  Song song với các Dự án Lớn còn có vài hệ thống R&amp;D được thực hiện trong thập kỷ 70 và 80.    Cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên thế giới buộc chính phủ Nhật Bản phải đa dạng hóa nguồn cung cấp và khai thác nguồn năng lượng sạch, năng lượng mới. Theo đề nghị của Hội đồng Khoa học Công nghệ năm 1974, “Hệ thống R&D Năng lượng mới”, còn gọi là Dự án Ánh Nắng (Sunshine project) được triển khai. Và “Hệ thống R&D Công nghệ Tiết kiệm năng lượng”, hay “Dự án Ánh trăng” (Moonlight project) được triển khai năm 1978 để bổ sung cho Dự án Ánh nắng. Cơ cấu hoạt động hai dự án trên giống hệt các Dự án Lớn, chỉ khác về lĩnh vực. Tổ chức Phát triển Năng lượng mới (NEDO), một tổ chức hợp tác dưới sự điều khiển của MITI được thành lập để điều hành hai dự án trên. Đáng lưu ý, khi đó bộ Ngoại thương và Công nghiệp (MITI) đồng thời điều khiển hai hệ thống: AIST (Văn phòng khoa học và công nghệ công nghiệp) và NEDO.  Năm 1981, MITI thành lập “Hệ thống công nghệ công nghiệp cơ bản thế hệ mới”, hay “Thế hệ Mới”,  nhằm đáp ứng mục tiêu trở thành “Quốc gia dựa trên KH&CN” được công bố trên sách trắng của chính phủ. Đây là dấu mốc kết thúc giai đoạn “đuổi kịp”, và chính phủ Nhật Bản bắt đầu hướng tới các lĩnh vực đòi hỏi nghiên cứu cơ bản ở mức cao như công nghệ sinh học, vật liệu mới. Dầu vậy thì việc điều hành “Thế hệ Mới” cũng giống hệt Dự án Lớn.  Trên thực tế, khuynh hướng chuyển sang nghiên cứu cơ bản xuất hiện từ thập niên 80 là kết quả của sức ép trong nước và bối cảnh quốc tế. Mỹ đã nhiều lần yêu cầu Nhật Bản phải tăng cường nghiên cứu cơ bản và không nên ứng xử như “người đi nhờ xe”. Trong khi đó, các công ty tư nhân đã có nhiều kinh nghiệm và năng lực R&D, học đã khai thác được lợi nhuận lớn từ các chương trình nghiên cứu do chính phủ hỗ trợ. Nghiên cứu cơ bản của các Phòng thí nghiệm Trung tâm được đầu tư lớn. Các phòng thí nghiệm thuộc AIST (Văn phòng KH&CN) có khuynh hướng chuyển sang nghiên cứu cơ bản rõ rệt, vượt xa những gì mà giới công nghiệp và thị trường cần.  Hướng tới trở thành “Quốc gia dựa trên sáng tạo khoa học và công nghệ”  Thập niên 90 bị gọi là “thập niên thất bát” (the lost decade) do kinh tế Nhật Bản suy thoái trong một thời gian dài. Trong bối cảnh đó, năm 1995, chính phủ Nhật công bố Luật Cơ bản về KH&CN (Science and Technology Basic Law). Đây là sự hoàn chỉnh pháp lý để để nhà nước theo đuổi mục tiêu “Quốc gia dựa trên sáng tạo khoa học công nghệ”, theo đó nhà nước phải có trách nhiệm đầu tư nhiều và dài hạn hơn nữa cho khoa học công nghệ. Đáng lưu ý là từ năm 1968, Hội đồng Khoa học và Công nghệ từng đề nghị chính phủ Nhật xây dựng Luật Cơ bản trên, nhưng do vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của giới học giả trong khối đại học nên khi đó bộ luật đó đã không thể ra đời.  Có thể tóm tắt bộ Luật trên như sau: Nhà nước “có trách nhiệm xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách thúc đẩy khoa học công nghệ”. Luật nhấn mạnh sự liên kết giữa phòng thí nghiệm quốc gia, trường đại học và khu vực kinh tế tư nhân; sự cân bằng giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, trách nhiệm đào tạo các nhà nghiên cứu. Quyền tự chủ của nhà nghiên cứu hay những hoạt động nghiên cứu đặc thù trong các trường đại học cũng được bộ Luật bảo vệ.  Đồng thời, bản Kế hoạch Cơ bản về KH&CN do Hội đồng Khoa học Công nghệ vạch ra cũng được áp dụng, theo đó chính phủ sẽ tập trung cải thiện môi trường R&D trong giai đoạn 1996 – 2000.   Nhận thức rằng đầu tư của chính phủ cho R&D phải bằng với mức các nước phương Tây để nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt tăng cường mối gắn kết giữa giới công nghiệp và các trường đại học, bản Kế hoạch đề ra:  – Đến năm 2000, tăng gấp đôi tỷ lệ phần trăm GDP cho R&D.  – Hỗ trợ về tài chính để đạt mục tiêu năm 2000 có 10.000 người làm sau tiến sĩ (“Chương trình hỗ trợ 10.00 người sau tiến sĩ” nhằm kích thích khoa học công nghệ do bộ bộ Giáo Dục, Nông nghiệp, Y tế, Ngoại thương và Công nghiệp thực hiện).  – Thực hiện những biện pháp thích hợp để thúc đẩy trao đổi liên ngành, liên vùng, quốc tế như tăng các dự án hợp tác, chuyển giao công nghệ hay bố trí nhiều hơn các cuộc gặp định kỳ.  – Cải thiện hạ tầng nghiên cứu cả về cơ sở vật chất lẫn thông tin công nghệ, tài sản tri thức.  Chính phủ còn thực hiện một số biện pháp cụ thể để tăng mối gắn kết giữa các trường đại học và giới công nghiệp. Với các biện pháp này, chính phủ kỳ vọng các trường đại học sẽ rời bỏ “tháp ngà” và giữ vai trò chính trong sáng tạo. Nguyên nhân do việc vượt từ vị trí bám đuôi lên dẫn đầu trong cuộc đua sáng tạo đòi hỏi sự gắn kết mạnh mẽ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, tức là sự hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học, giới công nghiệp và các phòng thí nghiệm quốc gia, giữa bộ Giáo dục và các bộ ngành liên quan tới khoa học công nghệ, đặc biệt với MITI.  Làm thế nào để hợp tác giữa các trường đại học và giới công nghiệp có hiệu quả? Chính phủ Nhật đã công bố Luật Thúc đẩy Chuyển giao công nghệ, gỡ bỏ rào cản trong trao đổi nhân sự giữa trường đại học và giới công nghiệp, khuyến khích công ty tư nhân tham gia nghiên các nghiên cứu chung, tăng cường chất lượng đào tạo kỹ sư.  Là tổ chức trực thuộc bộ Giáo dục, trường đại học công lập ở Nhật không có tư cách pháp nhân (legal personality). Và Nhà nước, với tư cách là chủ các trường đại học công lập cũng sẽ là chủ sở hữu các sáng chế ở đây. Ở các trường đại học tư nhân thì ngược lại. Cho nên thông thường, việc chuyển giao công nghệ từ một khoa của trường đại học công lập tới công ty tư nhân diễn ra không chính thức, và những người sáng tạo công nghệ chỉ được hưởng phần rất ít. Với Luật Tổ chức bằng sáng chế công nghệ (Law on Technology License Organizations) ban hành năm 1998, những người sáng chế có thể nhận lại một mức theo quy định để tái đầu tư cho nghiên cứu.  Nâng cấp cơ sở vật chất các phòng thí nghiệm cũng là một biện pháp thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và giới công nghiệp. Bên cạnh Trung tâm Hợp tác nghiên cứu (Center for Cooperative Research), bộ Giáo dục còn lập những “Phòng thí nghiệm cho kinh doanh mạo hiểm” (Ventures Business Laboratories) trong các trường đại học. Tài chính cho các phòng thí nghiệm này lấy từ “Quỹ thúc đẩy sáng tạo khoa học công nghệ cho các Trung tâm nghiên cứu”, là một phần của ngân sách bổ sung năm 1995.  Đáng lưu ý là bộ Giáo dục đã nhấn mạnh việc thực tập tại các công ty là một phần của chương trình đào tạo chứ không phải là công cụ để các công ty tuyển người. Thực tế, các công ty lợi dụng các chương trình thực tập để chọn những sinh viên phù hợp với nhu cầu và “văn hóa công ty”, điều đó khiến việc thực tập trở nên thiên lệch. Quan điểm của bộ Giáo dục là các công ty tư nhân phải nhận thức được vai trò xã hội của mình: bằng việc tạo môi trường thực tập, họ đã giúp nâng cao trình độ những kỹ sư tương lai, tức là đã đóng góp lợi ích cho nền công nghiệp và toàn bộ xã hội.  Về phía MITI, các hệ thống nghiên cứu của họ thêm linh hoạt nhờ Luật Tăng cường Công nghệ công nghiệp (Law for Reinforcing Industrial Technology), theo đó trường đại học công lập có thể nhận tài trợ từ công ty tư nhân.  Tóm lại, tất cả những biện pháp trên đều để thực hiện ý tưởng các trường đại học phải đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng lại hệ thống sáng tạo. Thực tế việc thực hiện các biện pháp trên không hề đơn giản, và chính sách công nghệ của Nhật Bản ngày càng trở nên phức tạp và chồng lấn. Xây dựng một hệ thống chính sách khoa học công nghệ mạch lạc đang là một nhu cầu cấp thiết của chính phủ Nhật Bản.  Các trường đại học công lập Nhật Bản cũng đang tìm cách cân bằng giữa chức năng đào tạo cơ bản với yêu cầu đóng góp thiết thực cho xã hội. Trực thuộc bộ Giáo dục không có nghĩa là các trường đại học công lập có quyền ở lỳ trong các “tháp ngà”.    Kỳ sau: Hướng phát triển khoa học công nghệ trong tương lai    Việt Anh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Huy chương Dirac 2018 vinh tặng Đàm Thanh Sơn      Hằng năm và bắt đầu từ 1985, vào đúng ngày sinh nhật mồng tám tháng tám của Paul Adrien Maurice Dirac, nhà vật lý thiên tài ở thế kỷ 20, Trung tâm Quốc tế Vật lý Lý thuyết (ICTP) tặng huy chương mang tên Dirac cao quý nhất trong ngành để tôn vinh những nhà vật lý lý thuyết trên khắp năm châu.      Paul Adrien Maurice Dirac, nhà vật lý thiên tài hàng đầu ở thế kỷ 20 tầm cỡ Einstein.  Đó là những người đã sáng tạo ra những công trình nền tảng, để lại dấu ấn tuyệt vời và bền vững luôn được trích dẫn.  Năm nay 2018, huy chương quốc tế danh tiếng đó vinh tặng ba nhà vật lý tất cả đang sinh hoạt ở Mỹ nhưng đều mang gốc Á châu trong đó có Việt Nam qua tên Giáo Sư Viện sĩ Đàm Thanh Sơn ở Đại học Chicago và Hàn lâm viện Khoa học Hoa Kỳ.  1 – Trước hết vài điều về ICTP mà lịch sử sáng lập hình thành từ năm 1964 bởi một nhân vật phi thường Abdus Salam (1926-1996), người Pakistan duy nhất cho đến nay được giải Nobel Vật lý; bạn đọc có thể coi chi tiết lược thuật về chyện này liên quan mật thiết đến vấn đề chảy chất xám, giáo dục nói chung và đại học phẩm chất cao nói riêng, một đề tài nóng bỏng.  Ông dùng uy tín của mình, như một phát ngôn viên của thế giới thứ ba kém mở mang về khoa học tự nhiên, đi chu du khắp đó đây thuyết phục các nhà chính khách, ngoại giao, văn hóa, khoa học trên thế giới, gây ngân quỹ để thành lập ở thành phố Trieste nước Ý bên bờ biển Adriatic một trung tâm lớn quốc tế về khoa học tự nhiên, nay mang tên ‘the Abdus Salam ICTP’ sau khi ông mất, nơi giao lưu thường trực giữa những nhà khoa học ở hai bán cầu khác biệt về phát triển khoa học (tượng trưng bởi Đông-Nam và Tây-Bắc) để thực hiện ý nguyện cao cả giúp đỡ các nhà khoa học tự nhiên nghiêm túc của các quốc gia Đông-Nam chưa hay đang phát triển nhưng học tập sinh hoạt ở các nước tiền tiến Tây-Bắc tránh cho họ phần nào cảnh tiến thoái lưỡng nan, ở hay về.  Lúc đầu giới hạn trong lãnh vực vật lý lý thuyết, sau lan rộng sang nhiều ngành khác như toán, tin, cơ, với mục tiêu để những nhà khoa học ở Đông-Nam bán cầu sau khi được đào tạo nghiêm chỉnh ở các nước phát triển trở về cố hương phục vụ sau đó được ICTP cung cấp phương tiện thường xuyên đến đó để trao đổi, học hỏi, cải tiến, cập nhật kiến thức chuyên môn với các đồng nghiệp ở Tây-Bắc bán cầu cũng đến giảng dạy nghiên cứu ở ICTP.  Cho đến nay có khoảng vài trăm ngàn nhà khoa học thuộc trên một trăm ba mươi quốc gia đến ICTP làm việc. Hội nghị quốc tế, seminar, lớp học cao cấp chuyên và đa ngành là những sinh hoạt thường xuyên ở đó. Ngoài ra ICTP còn mở rộng thêm hệ đào tạo sau cử nhân, cấp học bổng giúp sinh viên ở các nước đang phát triển sang Trieste theo lớp cao học với các giáo sư thỉnh giảng đến từ các đại học danh tiếng Âu Mỹ, sau cuối năm học họ tuyển chọn những sinh viên tài năng này mang về đại học mình làm luận án tiến sĩ. Đặc biệt sau 1975 trong gần hai mươi năm, Việt Nam bị hay tự khép kín với thế giới (trừ mấy nước Đông Âu), ICTP hầu như là cơ quan duy nhất để các nhà giáo đại học và nghiên cứu sinh khoa học trong nước có cơ hội ra ngoài tiếp xúc với xã hội khoa học tiên tiến cởi mở.  2 – Theo Yoichiro Nambu (giải Nobel 2008), một trong mấy nhân vật chủ chốt sáng tạo ra Mô hình chuẩn của vật lý hạt cơ bản, trong bài tổng kết tại hội nghị quốc tế Vật lý năng lượng cao năm 1990 ở Singapore, ông xếp hạng đại cương công trình của các nhà vật lý lý thuyết theo 3 tầng, tầng cao nhất tượng trưng bởi Dirac theo đó, tựa như trong toán học, sáng tạo chỉ dựa vào vài nguyên lý tổng quan hoàn mỹ, tầng thứ hai tượng trưng bởi Einstein trung dung giữa quan sát và suy luận nhất quán, tầng cuối thứ ba tượng trưng bởi Yukawa đi từ thực nghiệm rồi giả thiết và tiên đoán.    Abdus Salm (1926-1996) người Pakistan duy nhất cho đến nay được giải Nobel Vật lý.  Là người Nhật cổ điển khiêm cung mà quá trình đào tạo ở Tokyo thời đệ nhị chiến tranh thế giới với ảnh hưởng của trường phái Yukawa, Tomonaga, Sakata nặng tính quốc gia dân tộc, thực là ấn tượng khi thấy Nambu đánh giá cao nhất Paul Adrien Maurice viết tắt P.A.M.Dirac hơn cả Yukawa, vị giáo hoàng của nền vật lý Nhật. Người viết bài này không khỏi kinh ngạc khi lần đầu tìm hiểu phương trình Dirac diễn tả sự vận hành và đặc tính spin ½ của electron (spin nôm na là tự quay xung quanh mình tựa như quả đất quay 24 giờ một vòng, nhưng electron phải hai vòng mỗi lần mới trở lại trạng thái ban đầu).  Nếu điện tích e là gốc nguồn của công nghệ vi điện tử (micro electronics) thì spin là gốc nguồn của công nghệ spintronics, trực tiếp kéo dài công nghệ vi điện tử mà giải Nobel 2007 trọng thưởng. Đặc biệt là các nghiên cứu về từ trở khổng lồ bởi spintronics đã đưa đến những tiến bộ khó tưởng trong khả năng dự trữ thông tin của máy vi tính ngày nay. Viễn cảnh lâu dài của ngành khoa học điện tử spin là máy vi tính lượng tử hoạt động với tốc độ cực nhanh, không dùng những thông tin nhị phân như hiện thời, các dữ kiện sẽ được chuyển tải bằng hàm số sóng hay các ‘‘vật lượng tử’’ khác.  Phương trình Dirac đồng thời tiên đoán sự hiện hữu tất yếu của ‘phản’ vật chất (mà Positron Emission Tomography, viết tắt PET-scan dùng trong y học hiện đại là một trong bao ứng dụng của ‘phản’ hạt electron hay positron, phản hạt có cùng khối lượng với hạt nhưng tất cả các đặc tính khác của chúng như điện tích, spin vv đều đảo ngược dấu). Mời bạn đọc khi thăm viếng thủ đô London dành vài phút đến chiêm ngưỡng phương trình Dirac khắc trên cẩm thạch trong đại chủng viện Westminster, nơi ngàn thu yên giấc các vĩ nhân Anh quốc.  Cần nhấn mạnh là phương trình Dirac hoàn toàn phổ quát cho tất cả mọi hạt và phản hạt có spin ½ , gọi chung là fermion tức hạt vật chất mà electron, neutrino, quark, proton, neutron là vài thí dụ. Nhà toán học Mark Kac xếp hạng các nhân vật siêu phàm theo hai lớp. Những anh tài mà công trình của họ có thể mô phỏng được bởi người bình thường sau biết bao nhọc nhằn và một chút duyên may. Nhưng có những thiên tài như nhà ảo thuật, sáng tạo huyền diệu của họ lạ lùng với thế tục, từ đâu giáng trần như âm điệu của Amadeus Mozart. Dirac thuộc về lớp sau, theo Kac. Điều ngẫu nhiên là cả hai thiên tài Einstein và Dirac đều chỉ mới 26 tuổi đời khi khám phá ra hai phương trình nền tảng của vật lý hiện đại từ đó mọi phát triển sau này đều phải dựa vào như một hệ hình (paradigm) của khoa học nói chung để vươn xa hơn nữa.  3 – Nếu Nambu (trước đây lúc sinh thời đã ở Đại học Chicago danh tiếng) là một nhà vật lý uyên thâm liên ngành, chuyên gia về hạt cơ bản nhưng nhìn rộng ra ngoài ngành và lưu tâm đến hiện tượng siêu dẫn điện từ để nhận ra có cái gì liên kết nó với hạt cơ bản và sáng tạo ra nguyên lý có tên là ‘’sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng’’ mang giải Nobel 2008 cho ông, thì nay Đàm Thanh Sơn (cũng cùng ở Đại học Chicago) và công trình phong phú mang huy chương Dirac đến ông cũng bao trùm đa ngành và có tính phổ quát, đáp ứng nhiều hệ thống vật lý khác biệt. Nó đòi hỏi tác giả một kiến thức vừa sâu sắc vừa tổng thể bao trùm liên ngành vật lý và thấu triệt nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau để đặt đúng chỗ vấn đề, giải thích thỏa đáng nó và tiên đoán những hiện tượng mới mẻ quan sát đo lường được.  Ông hòa hợp tìm kiếm sợi dây liên kết giữa thuyết Siêu dây (superstring), Nguyên lý toàn ảnh (holography), Lỗ đen lượng tử (Hawking black hole theo đó lỗ đen không hoàn toàn tối và kín mít nữa) mà cũng bức xạ, đối ngẫu (duality) giữa hấp dẫn-phi hấp dẫn. Kết quả của những hoà hợp kỳ diệu đó là ông tiên đoán và tính toán (bằng giải tích chứ không cần máy tính, ngắn gọn mà đẹp thay!) ra được một bất đẳng thức phổ quát, diễn tả trạng thái của vật chất thay đổi pha trong những điều kiện cực nóng và cực lạnh thành những chất lỏng đậm đặc khác nhau tựa như những dòng chảy kể cả siêu chảy, đẳng thức chỉ phụ thuộc vào hằng số cơ bản Planck h.  Đây là lần đầu mà sự hòa nhịp giao hưởng giữa hai lý thuyết cao xa là ‘Siêu dây’ trong một không-thời gian 11 chiều quá xa vời và ‘Lỗ đen lượng tử’ xa xăm từng triệu năm ánh sáng đã hạ sơn để diễn tả một thực tại trên trái đất cũng như trạng thái của vũ trụ thuở hồng hoang cực nóng và cực nhỏ cách đây 14 tỷ năm. Chi tiết về công trình tuyệt vời mang huy chương Dirac đến ông đã được trình bày.  Mới đây Đàm Thanh Sơn còn khám phá đào sâu thêm mối liên hệ giữa hiệu ứng phân số Hall lượng tử và lý thuyết chuẩn trong không-thời gian (2+1) chiều nhỏ hơn (3+1) chiều quen thuộc của Einstein-Minkowski, nói chung những tương đồng cũng như những khác biệt về phương pháp và mục tiêu giữa hai ngành vật lý là hạt cơ bản và chất đông đặc.  Ngoài ra xin giới thiệu blog của Đàm Thanh Sơn, với nhiều bài phổ biến khoa học rất lý thú và dễ hiểu: https://damtson.wordpress.com/  Tôi cảm thấy rất vinh dự là một trong ba người được Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế (ICTP) trao huy chương Dirac năm 2018. Tôi rất vui là cùng nhận giải với tôi là hai người đồng nghiệp tôi rất kính trọng, Subir Sachdev và Xiao-Gang Wen. Giải thưởng còn có ý nghĩa đặc biệt với tôi vì ICTP là một tổ chức đã giúp nhiều nhà khoa học từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tiếp xúc với cộng đồng khoa học quốc tế. Tôi muốn nhân dịp này bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô, và chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã tin, ủng hộ và giúp đỡ tôi suốt những năm qua. Tôi cũng muốn chia sẻ đôi chút về công việc của mình. Thời gian sắp tới, cùng với đồng nghiệp và học trò, tôi sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu các hiện tượng lượng tử trong các hệ nhiều hạt, đặc biết là các hệ tương tác mạnh. Bài toán về tương tác mạnh trong vật lý nhiều hạt là một bài toán khó và quan trọng đối với nhiều lĩnh vực, trong đó có vật lý hạt nhân và khoa học vật liệu. Rất nhiều khả năng là những phương pháp ta dùng hiện nay, bao gồm những phương pháp đối ngẫu mà tôi tham gia phát triển, sẽ chỉ là một phần nhỏ của những công cụ người ta sử dụng trong tương lai. Về lâu dài, tôi muốn tìm tòi học hỏi về các lĩnh vực khác nhau của vật lý và khoa học nói chung, không nhất thiết liên quan trực tiếp đến những đề tài hiện nay tôi đang nghiên cứu. Và cuối cùng, không thể không nhắc đến mối quan tâm lớn của tôi là sự phát triển của ngành Vật lý Việt Nam. Tôi đang cùng đồng nghiệp trong và ngoài nước bàn bạc, tìm cách cải thiện ngành vật lý Việt Nam hiện nay. Chúng ta có tiềm năng, và tôi tin rằng tương lai của ngành vật lý ở Việt Nam sẽ rất xán lạn nếu chúng ta có một chính sách đúng đắn nhằm thu hút được những tài năng trẻ và tạo điều kiện cho họ phát triển tài năng của mình. Tôi rất mong có được sự ủng hộ thiết thực từ phía nhà nước để sớm ra được một chính sách như vậy. Đàm Thanh Sơn https://damtson.wordpress.com/  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/huy-chuong-dirac-2018-vinh-tang-dam-thanh-son/2018081709419680p1c160.htm    Author                Phạm Xuân Yêm        
__label__tiasang Huy chương Fields nên trở về với giá trị ban đầu      Từ những tư liệu đã bị lãng quên của giải Fields cho thấy sự lựa chọn của Ủy ban trao giải cần đa dạng và phù hợp với những vai trò và giá trị phức tạp của toán học trong xã hội.      Olga Ladyzhenskaya lọt vào đề cử cuối cùng của huy chương Fields năm 1958. Nguồn: Karl Nickel/Oberwolfach.  Từ cuối những năm 1960, Huy chương Fields đã được biết đến rất nhiều bên cạnh giải Nobel, giải thưởng vinh danh các cống hiến cho khoa học nhưng lại không có hạng mục nào cho toán học. Trong thực tế, hai giải thưởng này rất khác nhau về mặt thủ tục, tiêu chí, tiền thưởng và nhiều mặt khác. Trong đó phải kể đến việc giải Nobel thường dành cho những nhà khoa học đã có nhiều năm cống hiến, thậm chí nghiên cứu hay phát hiện của họ phải đợi nhiều thập kỉ sau mới được vinh danh. Ngược lại, huy chương Fields ghi nhận những nhà toán học ở độ tuổi trẻ mà sự nghiệp mới chỉ vừa cất cánh, còn đầy triển vọng phía trước.  Việc trao giải cho những ngôi sao đang lên, những người bằng sự xuất sắc và cả bằng may mắn và hoàn cảnh thuận lợi mà đạt được thành tựu lớn khi tuổi đời còn trẻ chỉ là một tiêu chí tình cờ trong lịch sử của giải Fields. Nhưng không may, việc tôn vinh các “ngôi sao” này đã được nhiều nhà toán học chỉ ra rằng nó củng cố thêm những định kiến của người trong ngành và của công chúng với công việc, con đường sự nghiệp của các nhà khoa học, giá trị tri thức và giá trị xã hội mà các nhà toán học đem lại. Cụ thể là, 55/56 người được nhận giải Fields đều là nam giới, hầu hết đều đến từ Mỹ, châu Âu và hầu hết đều nghiên cứu những chủ đề không mang tính đại diện của ngành.           Lịch sử của huy chương Fields là lời mời gọi những nhà toán học ngày nay cùng suy nghĩ một cách sáng tạo về tương lai và về thông điệp họ muốn truyền tải thông qua giải thưởng nổi tiếng nhất của mình.      Thời kì đầu vào những năm 1930, Huy Chương Fields có những mục tiêu rất khác biệt: nó bắt nguồn từ việc làm dịu đi những căng thẳng giữa các quốc gia hơn là tôn vinh những học giả có thành tích nổi bật. Thật vậy, những hội đồng đầu tiên cố tình tránh việc chọn các nhà toán học trẻ xuất sắc nhất mà thay vào đó khích lệ những cá nhân chưa có tên tuổi. Họ dùng giải thưởng này để định hình ngành toán học trong tương lai, chứ không chỉ đánh giá các kết quả trong quá khứ và hiện tại của nó.  Tuy nhiên, với ngành toán học ngày càng lớn mạnh và mở rộng, số lượng những nhà toán học và sự đa dạng về xuất thân của họ khiến hội đồng rất khó để đạt được sự đồng thuận trong việc chọn lựa ai đó phù hợp với một tiêu chí mơ hồ: “rất tiềm năng, nhưng chưa có tên tuổi”. Năm 1966 Ủy ban Huy chương Fields đã quyết định chỉ trao giải cho các nhà toán học dưới 40 tuổi. Và danh tiếng, thay vì là một điều kiện loại trừ các ứng cử viên trước đây, giờ lại trở thành một điều kiện lựa chọn tiên quyết.  Tuy nhiên, giải thưởng này nên trở về với những lựa chọn ban đầu. Với quy mô ngày càng lớn và tính ứng dụng ngày càng cao trong đời sống, ngành toán học cao cấp giúp định hình thế giới theo nhiều cách hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, huy chương Fields nên đóng vai trò xác định những ai, và điều gì là quan trọng trong toán học. Hơn cả việc lựa chọn ai là người có nhiều thành tựu nhất, ai đang nổi tiếng nhất, giải thưởng này cần là một tiếng nói để chống lại sự phân biệt về giới, điều kiện xuất thân, tuổi tác… trong cộng đồng toán học; là sự phản ứng với các thách thức liên quan đến tổ chức nghiên cứu, tài trợ trong các viện, trường nghiên cứu về toán.  Hội đồng cần phải tận dụng vai trò này bằng cách trao tặng giải Fields trên cơ sở rằng, toán học có thể và cần phải trở nên như thế nào trong tương lai, chứ không phải chỉ trao tặng cho những gì đang phát triển nhanh nhất và nổi tiếng nhất dựa trên những quan điểm của số đông. Các thành viên trong hội đồng phải tự thử thách chính mình, bốn năm một lần, bằng cách đặt câu hỏi, rằng những nhà toán học và lĩnh vực toán học nào chưa được ghi nhận nhưng sẽ trở thành tâm điểm, và nhờ vậy, họ sẽ có một trách nhiệm chủ động hơn trong việc xây dựng ngành toán học tương lai.  Ra đời từ mâu thuẫn  Việc ra đời trong một thời kì xung đột sâu sắc của giới toán học quốc tế đã giúp định hình mục tiêu của huy chương Fields. Người đề xuất giải thưởng này là John Charles Fields, một nhà toán học người Canada nhưng lại bắt đầu sự nghiệp của mình giữa một cộng đồng các nhà toán học cấp tiến châu Âu bắt đầu đưa Toán học thành một lĩnh vực nghiên cứu đáng theo đuổi trên toàn cầu.    Việc đề cử nhà toán học André Weil ở giải Fields năm 1950 đã khuấy động tranh cãi trong hội đồng giải thưởng  Đại hội đầu tiên quốc tế về toán học (ICM) diễn ra vào năm 1897 tại Zurich, Thụy Sĩ. Tiếp theo là các đại hội ICM ở Paris vào năm 1900, Heidelberg ở Đức vào năm 1904, Rome vào năm 1908 và Cambridge, Anh, vào năm 1912. Chiến tranh Thế giới thứ nhất làm đổ vỡ kế hoạch cho ICM năm 1916 tại Stockholm, và khiến cộng đồng toán học thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng.  Khi chiến tranh kết thúc, những nhà nghiên cứu từ Pháp và Bỉ trở thành những người dẫn đầu. Họ nhấn mạnh rằng Đức và các đồng minh thời chiến của họ không hề có chỗ trong bất cứ hội nghị quốc tế nào. Họ lên kế hoạch cuộc họp sau chiến tranh lần đầu tiên vào năm 1920 tại Strasbourg, một thành phố vừa mới được Pháp lấy lại sau nửa thế kỷ cai trị của Đức.  Ở Strasbourg, đoàn Mỹ giành được quyền đăng cai ICM tiếp theo. Nhưng khi các thành viên trong đoàn này trở về nước và gây quỹ để tổ chức ICM, họ nhận ra rằng, luật “loại bỏ người Đức” khiến họ mất đi rất nhiều nhà tài trợ tiềm năng. Vì vậy, Fields tận dụng cơ hội này để mang ICM tới Canada. Đại hội ICM năm 1924 ở Toronto là một thảm họa nếu xét về mặt số nước tham dự, nhưng vẫn còn dư một ít tiền sau khi sự kiện kết thúc. Và do đó, các nhà tổ chức đã có ý tưởng tổ chức một giải thưởng quốc tế vào những năm sau với số tiền quỹ còn lại.    Fields dù đang hấp hối trên giường bệnh vào năm 1932, vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải có hai huy chương để trao cho mỗi ICM. ICM năm 1932 tại Zurich đã chỉ định một ủy ban để chọn các ứng cử viên cho năm 1936, nhưng không để lại các chỉ dẫn lựa chọn cụ thể như thế nào. Thay vào đó, hội đồng định hướng bởi một biên bản ghi nhớ do Fields viết không lâu trước khi qua đời, với tựa đề “Huy chương quốc tế về khám phá xuất sắc trong Toán học”.  Hầu hết những gì Fields nhắc đến trong bản ghi nhớ chỉ là thủ tục: cách quản lý quỹ, chỉ định một ủy ban, cách công bố quyết định, thiết kế huy chương và vân vân. Trong thực tế, Fields đã viết, ủy ban “nên càng được tự do càng tốt” để quyết định người chiến thắng. Để giảm thiểu sự cạnh tranh quốc gia, Fields nhấn mạnh không nên đặt tên huy hương theo một người hoặc địa điểm nào, và không bao giờ có ý định dùng chính tên ông để đặt. Sự hướng dẫn nổi tiếng nhất của ông, mà sau này được sử dụng để giải thích quy định về tuổi, chính là việc giải thưởng cần phải “ghi nhận những thành tích đã đạt được” và “khuyến khích những thành tựu sau này”. Nhưng trong hoàn cảnh bấy giờ, hướng dẫn của ông có một mục đích khác: để tránh sự so sánh giữa các nhóm theo chủ nghĩa dân tộc về việc ai xứng đáng giành chiến thắng.  Các huy chương đầu tiên được trao vào năm 1936, cho các nhà toán học Lars Ahlfors đến từ Phần Lan và Jesse Douglas từ Hoa Kỳ. Chiến tranh Thế giới thứ hai đã trì hoãn các huy chương tiếp theo cho đến năm 1950. Kể từ đó, các huy chương sau được trao cứ bốn năm một lần.  Máu và nước mắt  Quá trình lựa chọn huy chương Fields được cho là bí mật, nhưng các nhà toán học cũng là con người. Họ tán gẫu và may mắn thay cho các nhà sử học, họ đôi khi bỏ bê việc bảo vệ các tài liệu mật, đặc biệt là trong những năm đầu trao huy chương Fields.    Đến năm 2014 mới có phụ nữ đoạt giải Fields là Maryam Mirzakhani (1977 – 2017).  Ủy ban Huy chương Fields năm 1950 có một số lượng lớn thành viên quốc tế. Chủ tịch đương thời là Harald Bohr (em trai của nhà vật lý Niels), làm việc tại Đan Mạch. Các thành viên khác làm việc tại Cambridge, Anh, Princeton ở New Jersey, Paris, Warsaw và Bombay. Họ chủ yếu trao đổi qua thư từ với Bohr, và ông sẽ tóm tắt lại rồi hồi đáp cho họ. Ủy ban chủ yếu trao đổi theo cách này trong nửa cuối năm 1949, chọn ra hai người thắng cuộc vào tháng 12 năm đó.  Các lá thư cho thấy rằng Bohr ngay từ đầu đã ủng hộ hai người để trao huy chương.  Nhà toán học người Pháp Lawrence Schwartz, người gây ấn tượng với Bohr bằng một lý thuyết mới thú vị tại một hội nghị năm 1947. Sự nghiệp của Schwartz đã vấp phải rất nhiều khó khăn trong Chiến tranh Thế giới thứ hai: ông là một người Do Thái và còn theo Chủ nghĩa Trotsky, do đó ông phải giấu kín thân phận dưới chính phủ Vichy của Pháp. Cuốn sách được chờ đợi từ lâu của ông vẫn chưa xuất bản, và có ít những kết quả mới để công bố.  Bohr đã nhìn thấy trong Schwartz một nhà lãnh đạo có uy tín của toán học, người có thể tìm ra kết nối giữa các lĩnh vực cơ bản thuần túy và ứng dụng. Lý thuyết của Schwartz không mang lại hiệu ứng cách mạng như Bohr dự đoán, nhưng bằng cách quảng bá nó với Huy chương Fields, Bohr đã tạo ra một sự can thiệp mang tính quyết định tới tương lai của cả ngành toán học.  Cách tốt nhất để đảm bảo rằng Schwartz thắng là liên kết với Marston Morse của Viện Nghiên cứu Cao cấp ở Princeton, người đang cổ vũ cho đồng nghiệp Na Uy của mình, một ứng cử viên khác là Atle Selberg đoạt giải. Việc thuyết phục phần còn lại của ủy ban không hề đơn giản, và các cuộc tranh luận của họ tiết lộ rất nhiều về cách các thành viên nghĩ về huy chương Fields.  Các thành viên hội đồng giải thưởng bắt đầu đưa ra các tiêu chí như tuổi tác và lĩnh vực nghiên cứu, trước khi đề xuất các ứng cửa viên. Hầu hết trong số họ đều cho rằng việc tập trung vào một số nhánh cụ thể của toán học là điều không có gì phải bàn cãi. Họ đưa ra một dải tuổi khả thi để cân nhắc, từ 30 tuổi trở lên tới một mức mà các ứng viên có thể để lại dấu ấn kể từ sau ICM 1936. Một cách khó hiểu, Bohr đưa ra định mức 42 “sẽ là một giới hạn tuổi khá tự nhiên”.  Thời điểm bấy giờ, ứng cử viên có khả năng đe dọa Schwartz là Andree Weil, người đã bước sang tuổi 43 vào tháng 5 năm 1949. Tất cả mọi người, bao gồm cả Bohr và Morse đều đồng ý rằng Weil là nhà toán học xuất sắc nhất. Nhưng Bohr đã sử dụng tiêu chí tuổi tác để cố gắng đảm bảo rằng anh ta không thắng.  Là chủ tịch, Bohr có ảnh hưởng tương đối lớn đến việc dẫn dắt sự tranh luận. Ông cố gắng để thuyết phục các thành viên khác rằng các nhà toán học trẻ tuổi nên được ưu tiên, trong khi tạo hình ảnh cho Schwartz như một biểu tượng của tuổi trẻ và tiềm năng. Ông khẳng định rằng Weil đã “được thừa nhận” và lý luận rằng trao giải cho Weil sẽ có thể là thảm họa, vì nó tạo ấn tượng rằng ủy bản cố gắng để tìm ra nhà toán học thiên tài vĩ đại nhất. Bởi vì, mục tiêu chính của họ là tránh các cuộc tranh luận quốc tế và sự so sánh giữa các quốc gia: nếu họ không cố để chọn ra người giỏi nhất, họ sẽ không bị buộc tội so sánh ai giỏi hơn ai.  Nhưng Weil vẫn là một vấn đề lớn, vì như một ủy viên khác, Damodar Kosambi đã chỉ ra, sẽ thật “vô lý” nếu từ chối trao huy chương cho Weil, bởi vì đó là một sự trốn tránh trách nhiệm nếu không trao cho một nhà toán học xuất sắc như vậy. Họ thậm chí còn gợi ý tăng số lượng người được trao giải để có thể thêm cả Weil. Bohr đã tâm sự trong một lá thư là “sẽ cần máu và nước mắt” để có thể đảm bảo Schwartz và Selberg sẽ được vinh danh.    Alexander Grothendieck (1928–2014) (trái) vào năm 1962 bị loại vì “quá nổi tiếng” nhưng đến năm 1966 ông lại được trao giải.   Bohr thắng thế bằng cách đột ngột dừng cuộc tranh luận. Ông lập luận rằng Weil sẽ khuyến khích cho hiện tượng “cây đa cây đề” trong giới toán học, yêu cầu các ủy viên bỏ phiếu ủng hộ hoặc chống cho Schwartz và Selberg. Cuối cùng, tại lễ trao giải tại ICM năm 1950, Bohr ca ngợi Schwartz vì ông đã truyền cảm hứng cho một thế hệ những nhà toán học trẻ tuổi hơn – điều mà ông nghĩ Weil không thể làm được.  Sự khích lệ tiếp theo  Nhiều tài liệu khác mở ra những cái nhìn rộng hơn của các nhà toán học về huy chương Fields và ai xứng đáng được nhận. Nhà toán học Harvard Oscar Zariski đã lưu giữ một số thư từ trong thời gian ông làm ủy viên của ủy ban năm 1958.  Ủy ban của Zariski được chủ trì bởi nhà toán học Heinz Hopf thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Zurich. Vòng đề cử đầu tiên đã chọn ra 38 cái tên. Trong đó, Friedrich Hirzebruch được yêu thích rõ ràng và được đề xuất bởi năm thành viên ủy ban.  Hopf bắt đầu bằng cách loại khỏi danh sách hai ứng cử viên nhiều tuổi nhất, Lars Gårding và Lipman Bers. Động thái tiếp theo của ông đã chứng tỏ tuổi tác không phải là vấn đề, mà chính là việc người đó được ghi nhận trước đây hay chưa: ông loại Hirzebruch và một người khác, cả hai đều đã là giáo sư các viện danh tiếng, với lý do là họ “không cần khuyến khích thêm”. Không ai trong ủy ban phản ứng dù chỉ là một chút.  Trong số những người còn lại, ủy ban thống nhất rằng Alexander Grothendieck là người tài năng nhất, nhưng khá ít các kết quả của ông đã được công bố và họ để ông trở thành ứng cử viên vào năm sau. John Nash năm đó đứng ở vị trí thứ ba về số phiếu bầu. Ngoài ra còn có Olga Ladyzhenskaya và Harish Chandra, một người là nữ và một người Ấn Độ nhưng phải đến năm 2014 giải Fields mới có một người phụ nữ đoạt giải (Maryam Mirzakhani) và một nhà toán học có nguồn gốc Ấn Độ (Manjul Bhargava). Cuối cùng, các giải thưởng năm 1958 đã được trao cho Klaus Roth và René Thom, cả hai đều được coi là triển vọng nhưng không đạt được quá nhiều thành tựu – và do đó sẽ không khiến cho ủy ban bị coi là so sánh và thiên vị.  Đi chệch khỏi mục tiêu ban đầu  Đến năm 1966, việc lựa chọn ra các nhà toán học trẻ đầy triển vọng, nhưng không quá thành công trở nên khó khăn. Năm đó, chủ tịch ủy ban Georges de Rham đã thông qua một giới hạn tuổi là 40, số gần đúng nhỏ nhất mà bao trùm tuổi của tất cả những người nhận Fields trước đó.  Đột nhiên, các nhà toán học đã từng được coi như quá thành công lại trở nên hoàn toàn đủ tiêu chuẩn tranh huy chương. Grothendieck, mà trong quá khứ có thể bị loại trừ vì quá nổi tiếng, đã được tặng huy chương vào năm 1966, nhưng đã từ chối vì lý do chính trị.  Những người nhận giải năm 1966 có một nhà toán học hoạt động chính trị khác là Stephen Smale. Ông đã chọn đi đến Moscow để chấp nhận giải Fields hơn là trả lời Ủy ban hoạt động phi chính phủ Hoa Kỳ về hoạt động chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam. Qua việc này truyền thông đã chú ý đến giải Fields nhiều hơn, và biệt danh “giải Nobel về toán học” đã được sinh ra.  Sự trùng hợp này – việc so sánh Huy chương Fields với một giải thưởng cao cấp cùng một lúc với việc thay đổi luật cho phép cả những người đã có tên tuổi tranh giải – đã đem đến ảnh hưởng sâu rộng đến ngành toán học, và cả hình ảnh của giải Fields. Mục đích của giải thưởng gần như đã được viết lại, rời xa mục tiêu ban đầu và thiên về đánh giá hơn – kém mà Fields đã lo lắng rằng sẽ chỉ làm tăng thêm sự cạnh tranh trong cộng đồng toán học.  Bất cứ một phương pháp nào nhằm chọn ra một số ít người để vinh danh từ một ngành lớn như Toán học không thể tránh khỏi những hạn chế và tranh cãi.  Tuy nhiên, hoàn cảnh mang tính thể chế và xã hội có ảnh hưởng lớn đến ai có cơ hội để tiến xa trong lĩnh vực này ở mọi giai đoạn, từ tiểu học đến khi đã trở thành giáo sư. Sự lựa chọn của Ủy ban trao giải cần đa dạng và phù hợp với những vai trò và giá trị phức tạp của toán học trong xã hội.  Giờ đây, những gì chúng ta hiểu về tác động xã hội của toán học, và cả những rào cản của nó rất khác với các nhà toán học vào giữa thế kỷ 20. Nếu ủy ban ngày nay cũng được trao quyền quyết định như những gì xảy ra vào thời kì đầu của giải thưởng, họ có thể tập trung vào những nhà toán học mà công trình và tên tuổi của họ chưa được ghi nhận xứng đáng trong giới tinh hoa của ngành. Nhờ đó, họ có thể thúc đẩy những lĩnh vực nghiên cứu dựa trên những điều tốt đẹp mà chúng sẽ đưa đến cho thế giới, chứ không phải chỉ chú trọng vào độ khó của những định lý chúng đưa ra.  Theo quan điểm của tôi, lịch sử của huy chương Fields là lời mời gọi những nhà toán học ngày nay cùng suy nghĩ một cách sáng tạo về tương lai và về thông điệp họ muốn truyền tải thông qua giải thưởng nổi tiếng nhất của mình.  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-00513-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hủy thuốc bảo vệ thực vật bằng công nghệ không thiêu      Là ý tưởng của GS Trần Mạnh Trí, Giám đốc Trung tâm Công nghệ hóa học và Môi trường (TP Hồ Chí Minh).    Ý tưởng đã được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đầu tư 70.000 USD để thí điểm. Hiện nay, cách tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật độc hại thông dụng nhất là dùng lò thiêu hay chôn lấp.Cho vào lò thiêu vừa đắt vừa nguy hiểm, còn chôn lấp thì nhiều chất độc sẽ thấm vào đất. Phương pháp của GS Trí là pha loãng thuốc bảo vệ thực vật, áp dụng kỹ thuật tích hợp giữa quá trình phân hủy sinh học và hóa học để biến các chất hữu cơ độc hại thành nước và các axít vô cơ phân tử thấp vô hại. Quỹ Môi trường toàn cầu vừa nghiệm thu mô hình xử lý này và sẽ cho áp dụng rộng hơn nữa.    P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy Lạp phát hiện nhiều ngôi mộ cổ      Hơn 1.000 ngôi mộ cổ đã được phát hiện tại thành phố Thessaloniki của Hy Lạp khi các công nhân đang thi công đường xe điện ngầm tại đây. Hãng tin I dẫn lời các nhà khảo cổ cho biết những ngôi mộ này có niên đại từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên.      Một số ngôi mộ chứa nhiều vàng bạc, đồ trang sức, đồng xu và tác phẩm nghệ thuật. Chúng có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau. Có nhiều mộ chỉ là những quan tài bằng gỗ đặt trong lỗ huyệt đơn giản, song cũng có những mộ được dát bằng đá cẩm thạch với nhiều quan tài nằm sát nhau. Thành phố Thessaloniki được hình thành khoảng năm 315 trước Công nguyên. Hiện Thessaloniki là thành phố lớn thứ hai của Hy Lạp.   H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng chữa vô sinh từ tinh trùng nhân tạo      Giáo sư Karim Nayernia và cộng sự tại Đại học Georg-August ở Gottingen, Đức, đã lấy các tế bào gốc từ một phôi chuột chỉ mới vài ngày tuổi, và nuôi những tế bào này trong phòng thí nghiệm.  Sử dụng một thiết bị tuyển lọc đặc biệt, họ phân lập ra một số tế bào gốc bắt đầu phát triển như một tinh trùng. Nhóm nghiên cứu kích thích chúng trở thành tinh trùng trưởng thành, và tiêm một số tinh trùng này vào trong các tế bào trứng của chuột cái.    Các trứng “thụ tinh” lớn lên, và được cấy trở lại vào chuột cái, cho ra đời 7 chú chuột con.  “Đây là lần đầu tiên chúng tôi tạo ra sự sống nhờ sử dụng tinh trùng nhân tạo. Điều này sẽ giúp hiểu rõ hơn quá trình hình thành tinh trùng ở đàn ông và tại sao một số người lại không thể làm được điều đó”, giáo sư Nayernia, hiện làm việc tại Đại học Newcastle, Anh, cho biết.  Nhóm nghiên cứu cho rằng phát hiện trên chuột tương lai có thể cũng đúng với con người, và sẽ giúp các cặp vợ chồng bị vô sinh (do vấn đề của người chồng) có con.   Trong 7 chú chuột con được tạo ra, 6 con đã lớn đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, những con chuột này phát triển dị thường và gặp phải những vấn đề khác, như hô hấp khó khăn. Bên cạnh những lo ngại về độ an toàn, việc sử dụng tế bào gốc của phôi để tạo ra tinh trùng cũng đồng thời đặt ra các vấn đề về mặt đạo đức.  (theo BBC News)  Chú thích ảnh: Các nhà khoa học lần đầu tiên đã chứng minh được rằng tinh trùng nhân nuôi từ tế bào gốc phôi có thể dùng để tạo ra thế hệ con.  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng mới cho bệnh nhân AIDS      Một công nghệ gây chấn động vừa được các nhà vật lý, ĐH bang Arizona (Mỹ), công bố cho phép sử dụng tia laser diệt virus, bao gồm cả vi-rút HIV, vi-rút viêm gan mà không gây hại đến các tế bào khác trên cơ thể.      Công nghệ mới này có thể phân biệt được đâu là vi-rút gây bệnh, đâu là tế bào của cơ thể người. Việc “tẩy uế” vi-rút  trong máu vì thế cũng hiệu quả hơn. Các nhà nghiên cứu còn hy vọng công nghệ laser mới này có thể giúp giảm thiểu việc lây lan bệnh dịch.   Việt Phương  (VP Bangkok)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng từ công nghệ “Trồng rau không cần đất”      Sau nhiều năm trăn trở trước việc sản xuất rau không an toàn, TS Hồ Hữu An và các cộng sự ở Trường ĐHNN I đã nghiên cứu thành công việc ứng dụng công nghệ “trồng rau không cần đất” vào sản xuất đại trà ở điều kiện Việt Nam.        TS An tâm sự, công nghệ này đến với ông như một cơ duyên. Từ những năm 1980, ông đã tham gia viết các quy trình công nghệ trồng rau sạch theo đề nghị của Sở KH&CN Hà Nội. Mặc dù, đã nghe nói đến một công nghệ trồng rau không cần đất từ khi còn học đại học nhưng phải đến khi sang Mỹ theo một chương trình hợp tác nghiên cứu, ông mới tình cờ bắt gặp công nghệ này và ông cảm thấy như “đào được mỏ kim cương”. Tuy vậy, thời gian làm việc quá ngắn không đủ cho ông nắm bắt hết công nghệ. Khi về nước, ông đã bắt tay làm các mô hình đơn giản, và đó là lúc những khó khăn thật sự nảy sinh, công việc bị chững lại. Và rồi may mắn lại trao cho ông một cơ hội nữa. Theo lời giới thiệu của một người bạn, ông tham gia dự thi và giành được học bổng Fulbright để sang Mỹ nghiên cứu. Từ đó, với kiến thức cơ bản đã có sẵn, những thắc mắc đã định hình ông hăm hở lao vào nghiên cứu, tìm hiểu và nắm bắt thật vững các vấn đề liên quan tới công nghệ cũng như mọi khâu của quy trình sản xuất.                 Với công nghệ trồng rau không cần đất ta có thể tăng năng suất gấp 1,5 lần, rút ngắn thời gian sinh trưởng để có thể đạt 11-12 vụ/năm, có thể trồng quanh năm, kể cả trái vụ… Nhưng trên tất cả công nghệ này bảo đảm được an toàn vệ sinh thực phẩm. Những yếu tố gây ảnh hưởng tới chất lượng của rau đều được kiểm soát và cách ly hoàn toàn. Rau an toàn có thể vẫn được trồng ở ngay những vùng đất bị ô nhiễm hay các vùng đất bạc màu… vì nó không cần đất. Cây rau sinh trưởng phần lớn nhờ dung dịch dinh dưỡng được cung cấp và điều khiển bởi các hệ thống tự động hóa tinh vi, vì vậy các yếu tố như nguồn nước, phân bón đều được kiểm soát hết sức chặt chẽ.   Tuy vậy, không thể có một công nghệ nào lấy từ nước ngoài về là áp dụng ngay 100%. TS An cho biết, nếu áp dụng nguyên si theo mô hình của Mỹ sẽ không nơi nào ở Việt Nam áp dụng được công nghệ này vì giá thành quá đắt. Nhóm nghiên cứu của TS An đã phải làm rất nhiều việc để công nghệ này thích hợp với điều kiện Việt Nam. Nguyên vật liệu làm nhà trồng rau có thể làm bằng sắt thép, gỗ tre già rất có sẵn ở Việt Nam. Hệ thống làm mát cũng không dùng đến máy điều hòa mà vẫn đảm bảo sự thông thoáng, nhiệt độ, độ ẩm theo quy định. Có những yếu tố công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn như thiết bị tưới nhỏ giọt cũng đang được tiến hành “Việt hóa” ở một số khâu để giảm thiểu chi phí .v.v. Hiện giờ, công nghệ này đã trở nên rất dễ để thực hiện ở quy mô hộ gia đình. Chỉ với mùn cưa, trấu, bọt biển, hộp xốp, những nguyên liệu rẻ tiền có ở mọi nơi, thêm một chút công chăm sóc là đã có thể có một vườn rau sạch tại nhà. Ở quy mô công nghiệp, TS An cũng đã hoàn tất các quy trình sản xuất.          Hiện nay đã có khoảng trên dưới 30 quy trình sản xuất rau sạch được viết ra. Theo các quy trình này, để sản xuất ra rau sạch, người trồng rau phải thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc như rau được trồng trên loại đất nào, dùng loại thuốc bảo vệ thực vật nào với nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly là bao nhiêu… và thực hiện theo đúng các quy định. Người nông dân cũng phải tuân thủ các quy tắc về việc bón phân cho rau. Rau chỉ được bón bằng khoai mục hay các loại phân đạm, lân, kali với liều lượng cân đối, ở mức cho phép và tuyệt đối không được bón bằng phân tươi .v.v.                  Tuy vậy, tất cả các quy trình trên vẫn chỉ là sản xuất rau sạch… trên đồng ruộng. Trên thực tế, có rất nhiều yếu tố dễ dàng ảnh hưởng đến quy trình sản xuất rau. Ví dụ, nếu đất trồng rau nhiễm kim loại nặng thì một yêu cầu đặt ra là buộc phải tiến hành khử trùng đất nền. Việc xử lý sẽ rất tốn kém và mất thời gian. Thường thì người trồng rau không đủ kinh phí và kiên nhẫn để làm việc đó, thậm chí họ cũng không quan tâm kiểm tra xem đất trồng rau của mình có nhiễm kim loại nặng hay không. Ngay như việc trồng rau trong các nhà lưới, dù đó là một môi trường cách ly rất tốt với các yếu tố như sâu bệnh nhưng chẳng ai có thể đảm bảo nguồn nước đưa vào nhà lưới không bị ô nhiễm hay mang mầm bệnh. Trong khi đó, các chi cục, các phòng bảo vệ thực vật không thể giám sát 24/24 và giám sát tất cả các hộ sản xuất rau sạch. Chính những lỗ hổng trong quy trình sản xuất và công tác quản lý giám sát khiến người tiêu dùng đang phải mua rau sạch bằng… niềm tin hoặc quan niệm rau sạch là phải có… sâu.                       Trồng cây đến ngày hái quả, những nỗ lực nghiên cứu của TS An và các đồng nghiệp đã thành công. Đề tài mà ông chủ nhiệm đã được nghiệm thu từ tháng 6/2005 và được xếp loại tốt, giành được nhiều giải thưởng, bằng khen tại các hội chợ công nghệ. Đặc biệt, ở Techmart Hải Phòng 2007, công nghệ này đã giúp gian hàng của Trường ĐHNN I ký được biên bản ghi nhớ hợp tác trị giá tới 19 tỷ trong tổng số 32 tỷ VND của cả hội chợ. Nhưng đó chỉ là những biên bản ghi nhớ. Những đơn vị, doanh nghiệp thực sự có nhu cầu tìm đến để mong muốn chuyển giao công nghệ vẫn không nhiều.   Lý giải thực trạng trên, TS An cho rằng đây là một công nghệ hoàn toàn mới mẻ với Việt Nam, lại mới chỉ triển khai thực nghiệm trên mảnh đất hơn 1000m2 chưa đủ lớn để thuyết phục những người nông dân. “Bây giờ không như thời làm nông nghiệp tập thể, việc trồng cây gì, ứng dụng kỹ thuật gì, hoàn toàn do người nông dân quyết định. Nếu họ quyết định đúng thì “nhà lầu, xe hơi”, còn nếu quyết định sai thì “bố con xách bị đi ăn xin”. Tâm lý người nông dân nói chung là mong đợi có ai đó thành công rồi mới làm theo”, TS An nói.  Tâm sự với chúng tôi, ông cho rằng, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng kết quả của những nghiên cứu có tính khả thi cao. Thành công của họ sẽ trở thành tấm gương cho các đơn vị kinh tế khác noi theo. “Cũng giống như trong chiến đấu, phải có những chiến sỹ dũng cảm vượt qua hàng rào thép gai mà không bị trúng đạn mới cổ vũ tinh thần cho các đồng đội ở phía sau xông lên được. Những người đi đầu cần phải có tinh thần không ngại trả giá, nhưng họ cũng cần trang bị “áo  giáp” chứ”, TS An đã dí dỏm minh họa như vậy.      Tuấn Linh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng từ sự đa dạng sinh học      Trước khi Sapanapro ra đời, những người làm chính sách hay làm du lịch đều không thấy tiềm năng du lịch từ đa dạng sinh học của vùng đất Tả Phìn này.     Bà Chảo Sử Mẩy, Tây nữ vương thuốc ở Tả Phìn, một trong ba người sáng lập Sapanapro. Ảnh: Thu Quỳnh.  Khắp Sa Pa giờ đây tràn ngập các khách sạn và spa mở dịch vụ tắm lá thuốc người Dao đỏ, nhưng dân du lịch có thâm niên và kể cả người dân địa phương thường mách nhau đến Sapanapro – cơ sở do chính người Dao đỏ sáng lập và điều hành. Giữa khuôn viên lộn xộn đủ loại phong cách thiết kế chẳng ăn nhập gì với nhau, người ta không thể không chú ý đến hai nhà tắm bằng gỗ pơ mu nằm mấp mé trên mỏm đất, với mái gỗ phủ đầy một lớp dương xỉ bù xù.  Mỗi nhà tắm có ba buồng và nội thất mỗi buồng có bốn chiếc bồn tắm lá thuốc. Mỗi bồn chỉ vừa đúng một người ngồi khoanh chân. Phải rất từ từ, tôi mới quen với nước trong thùng nóng hơn 400C, chìm dần vào thứ thuốc tắm không có xà phòng mà đầy bọt bồng bềnh như mây trắng, tỏa ra hương thơm ngào ngạt. Cửa sổ kính lớn trong phòng nhìn ra thấy bao la rừng núi và ruộng bậc thang vừa qua mùa gặt. Người lâng lâng, nhẹ bẫng.  Trên trang đánh giá về địa điểm du lịch TripAdvisor, những người khách từ khắp nơi trên thế giới gọi trải nghiệm này là dịch vụ trị liệu tốt nhất họ từng có, và đáng đánh đổi gần một triệu đồng tiền đi và về bằng taxi, trải qua quãng đường gập ghềnh, xóc nẩy từ thị trấn Sa Pa đến Tả Phìn, để lấy 15 phút trong phòng tắm thuốc với giá 100 nghìn.  Nằm trên khu vực Hoàng Liên Sơn – trung tâm đa dạng sinh học lớn nhất Việt Nam với ít nhất ¼ loài thực vật của Việt Nam tập trung tại đây, Sa Pa có nguồn tài nguyên cây thuốc độc đáo và phong phú. Trải nghiệm ngâm mình trong bồn thuốc tắm đó, là một lát cắt của đời sống người Dao đỏ – một dân tộc sống giữa rừng, nương tựa vào rừng, lưu giữ vốn tri thức sâu rộng về cây thuốc trong rừng để sinh tồn. Tuy nhiên, trước khi Sapanapro ra đời, những người làm chính sách hay làm du lịch đều không nhận ra tiềm năng đó, khi nhìn vào một khu vực hẻo lánh, cô lập với những tiện nghi tối thiểu, đường vào xã lầy lội tới mức xe không qua nổi: “Trong những vùng đa dạng sinh học, dân thường bất lợi về nhiều mặt, nhưng cũng có lợi thế về nhiều mặt. Vậy thì tại sao mình cứ khoét vào cái bất lợi làm gì? Những lợi thế thường gặp nhất là cảnh quan, văn hóa và đa dạng sinh học, sao mình không khai thác những lợi thế đó để tham gia vào ngành kinh tế du lịch?” – PGS.TS. Trần Văn Ơn nói. PGS. Ơn, giảng viên Khoa thực vật, Đại học Dược Hà Nội, là người đã chứng kiến Sapanapro từ những ngày đầu thành lập và hiện đang là Chủ tịch HĐQT của công ty.  Nếu nhìn vào thành công hiện tại của Sapanapro, nhận định của PGS.Ơn giống như một tổng kết tất yếu và mãn nguyện. Nhưng nghe hết câu chuyện đằng sau doanh nghiệp này, lời nói đó dường như còn chứa cả nỗi ngậm ngùi. Khi ý tưởng thành lập công ty mới nhen nhóm cách đây gần 20 năm, những thứ gọi là lợi thế ở Tả Phìn đang mai một còn những khó khăn trước mắt thì lớn tới mức tưởng chừng không vượt qua nổi. Tựa vào những lợi thế còn lại có lẽ là lựa chọn duy nhất để người ta vững tâm mà tiến lên.  ***  Nhân viên ở Sapanapro đang chuẩn bị thuốc tắm cho khách. Khi mới xây dựng nhà tắm, họ chưa nghĩ ra những ống nước dẫn thuốc từ nơi sản xuất đến bồn tắm, phải xách nước rất khổ cực. Ảnh: Thu Quỳnh.  Có thể coi bài thuốc tắm là tinh hoa tri thức của cộng đồng người Dao đỏ. Người dân ở đây tắm lá thuốc kể cả khi khỏe mạnh lẫn lúc ốm yếu. Họ tắm mỗi khi uể oải sau một chuyến đi rừng. Họ tắm sau khi vượt cạn để lấy lại sức, vài ngày sau sinh đã có thể quay lại nương rẫy. Những đứa trẻ mới lọt lòng cũng tắm để khỏi vàng da bệnh lý. Theo PGS. TS Ơn, có khoảng 100 loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc tắm. Tùy từng mục đích mà các thầy lang – bà mế sẽ lựa chọn những vị thuốc khác nhau để sử dụng. Các vị thuốc này được bốc một cách ước chừng, đổ vào đầy một chảo gang lớn, nấu trong vài tiếng đồng hồ, sau đó chắt lấy nước, để nguội bớt và dội từng gáo nhỏ lên người. Thuốc sẽ thấm qua da để trị liệu, chữa bệnh. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh những công dụng rõ ràng trong thuốc tắm của người Dao đỏ như chống viêm, giảm đau, giãn tĩnh mạch ngoại biên, tác dụng trên cơ tim, huyết áp…      Vào đầu những năm 2000, PGS.TS Ơn thường xuyên tới Tả Phìn để nghiên cứu về đa dạng cây thuốc tắm của người Dao. Người dẫn đường và đi cùng anh chính là bà Chảo Sử Mẩy và bà Lý Mẩy Chạn, lần lượt là Chủ tịch Hội Phụ nữ và Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Tả Phìn. (Bà Chảo Sử Mẩy là cháu dâu của bà Lý Mẩy Chạn). Giờ đây khi chúng tôi hỏi, anh Ơn không thể nhớ nổi mình đã gặp hai người phụ nữ đó như thế nào. Anh cũng không hề biết rằng bà Chảo Sử Mẩy được mệnh danh là “Tây nữ vương thuốc” với vốn hiểu biết sâu sắc bậc nhất cộng đồng về cây thuốc ở Hoàng Liên Sơn và bà Lý Mẩy Chạn là người khởi xướng và dẫn dắt một nhóm thổ cẩm đã có lúc quân số lên tới 200 người, tạo ra các sản phẩm thời trang và lưu niệm bán ở Hà Nội và xuất khẩu. Nhóm thổ cẩm của bà Chạn từng được cố vấn, đào tạo và tài trợ bởi nhiều tổ chức phi chính phủ Hà Lan, Thụy Điển, Canada…Bà cũng đã đi học các mô hình sản xuất hàng thủ công ở Đông Nam Á và thậm chí còn từng mở một cửa hàng bán đồ thổ cẩm ở giữa phố cổ Hà Nội. Nếu có gì ở thời điểm đó anh Ơn còn nhớ, thì chỉ là cảm giác bức xúc khi những người ngoài cộng đồng ngang nhiên khai thác bài thuốc của người Dao đỏ mà không trả lại bất kì giá trị nào cho họ, ngoài tiền công hái thuốc rẻ mạt.  Nhưng bà Lý Mẩy Chạn thì lại khác, câu chuyện như diễn ra mới ngày hôm qua. Từ cảm giác “ôi hay nhỉ” khi lần đầu nghe đến việc một nhà khoa học muốn tìm hiểu về cây thuốc người Dao cho đến sự dè chừng “sợ thầy Ơn còn ăn cắp bí quyết”. Bà kể: “Tôi nói: ‘Thầy ơi, thầy ở đây nghiên cứu thuốc rồi ra đây làm nhé, thầy đi chỗ khác làm thì tôi mất việc đấy!’. Xong thầy Ơn bảo: ‘Có chứ, sau này đến đây làm cho người dân mà’. Thế là mình cũng tin tưởng một phần nào thôi, chưa tin tưởng hết đâu”.  Cuộc hội ngộ giữa ba người hết sức tình cờ và không có một sự sắp đặt hay tính toán nào, thậm chí còn đan xen cả nghi ngờ, chỉ có điểm chung duy nhất là lòng nhiệt thành với cây thuốc, đã khai sinh ra một công ty bền bỉ vận hành suốt 15 năm nay.  ***  Bà Lý Mẩy Chạn, một trong ba người sáng lập Sapanapro. Ảnh: Thu Quỳnh.  Ở thời điểm cách đây hơn 20 năm, đa dạng sinh học cây thuốc ở Tả Phìn đã bắt đầu suy giảm mà nguyên nhân chính nằm ở việc khai thác cây thuốc bừa bãi. Chỉ cách biên giới Trung Quốc khoảng 30km và có lịch sử giao thương lâu dài, người dân ở Tả Phìn vẫn hái cây thuốc và xuất khẩu sang phương Bắc theo đường tiểu ngạch, bên cạnh việc bán cho các công ty dược trong nước, để kiếm nguồn thu nhập. “Chỗ nào có tiền là dân lấy cho người đó, kiểu vậy” – bà Lý Mẩy Chạn nói. Một nghiên cứu từ năm 2005 của PGS. TS Ơn cho rằng, “đây là cách khai thác hủy diệt nhất” và ở thời điểm đó có khoảng 500 cây thuốc của Việt Nam được khai thác theo cách như vậy.  “Ở đâu [tại khu vực Hoàng Liên Sơn] cũng có loài cây bị tận diệt, thị trường Trung Quốc quá lớn, họ mua cái gì mình hết sạch cái đó” – PGS.TS Ơn cho biết. Trên thực tế, ở Sa Pa đã có những cây thuốc được phân loại “rất nguy cấp” trong sách đỏ, như Sâm Vũ Diệp, Tam thất hoang, Bảy lá một hoa, lan kim tuyến… – những loại hỗ trợ chữa nhiều bệnh mãn tính như ung thư, tiểu đường, tăng huyết áp,…thậm chí có những cây đã được đưa vào danh sách hơn 30.000 thực vật quý hiếm phải bảo vệ theo công ước CITES – một cam kết giữa 184 trên thế giới từ năm 1975, hướng đến cấm việc buôn bán động, thực vật hoang dã. Dù vậy điều đó vẫn không ngăn được việc buôn bán tiếp tục diễn ra. “Dựa vào tự giác là chính. Nhưng tự giác ở đâu? Người mua thì có tiền, của thì ở trong rừng. [Người Trung Quốc] cứ đi vào rừng thu mua thôi, bây giờ có người ta vẫn lấy” – anh Ơn nói thêm. Riêng với các cây dùng làm thuốc tắm, trong một khảo sát năm 2009 của PGS.TS Ơn, gần 1/5 tổng số loài (19 loài) dùng làm thuốc tắm đang giảm trữ lượng ở mức báo động, trong đó có hai loài gần như cạn kiệt.  Khác với cây nông nghiệp hay công nghiệp, cây thuốc có số loài quá lớn và hầu hết chưa có nghiên cứu và hiểu biết đầy đủ, thị trường về cơ bản là bấp bênh. Bởi vậy, kể cả khi thị trường có nhu cầu, người ta cũng không mấy khi trồng cây thuốc. Tony B. Cunningham, giáo sư thỉnh giảng tại, Đại học Murdoch, Úc, từng có nhiều năm nghiên cứu về cây thuốc ở Đông Nam Á đã đưa ra một mô hình chung trên thế giới về khai thác cây thuốc trong tự nhiên kéo dài năm pha. Trong đó, pha thứ nhất đến pha thứ ba, được tính từ thời điểm một cây thuốc được phát hiện giá trị thương mại đến khi trữ lượng ngoài tự nhiên của nó giảm dần đến mức vừa đủ để khai thác. Pha thứ tư đến pha thứ năm, là khi loài cây thuốc đó trong tự nhiên giảm mạnh, sản lượng thu hái từ tự nhiên quá ít ỏi, không đáp ứng nổi nhu cầu người mua đang dâng cao. Nếu ai đó đầu tư trồng cây thuốc này ở ba pha đầu, lẽ dĩ nhiên là họ sẽ lỗ. Nhưng kể cả chờ đến pha thứ năm, khi loài cây thuốc đó gần như đã cạn kiệt mới bắt đầu trồng thử nghiệm, thì như anh Ơn cho biết: “có cửa nhưng cũng chưa chắc lắm đâu”. Lí do là có thể sau nhiều năm hoàn thiện quy trình trồng và có thể thu hoạch cây thuốc đó, nhu cầu thị trường bỗng nhiên thay đổi. Bởi vậy, những cây thuốc đang bị suy giảm đến cạn kiệt luôn đứng trước nguy cơ lớn rơi vào quên lãng.  ***  Sapanapro là nơi hiếm hoi còn giữ được cảnh quan rừng và ruộng bậc thang nguyên vẹn bao quanh. Ảnh: Thu Quỳnh.  Ý tưởng thành lập Sapanapro là do PGS.TS Trần Văn Ơn gieo mầm. Anh cho rằng, bền vững về mặt đa dạng sinh học chỉ có thể đảm bảo nếu có sự bền vững vễ mặt xã hội và bền vững về mặt kinh tế. Nói cách khác, phải có một sinh kế dựa trên sự đa dạng sinh học, chia sẻ lợi nhuận một cách công bằng với người dân, đem lại cho họ một nguồn thu nhập tốt, ổn định hơn.  Là một nhà khoa học và đồng thời cũng từng tham gia một công ty dược (Công ty Dược Khoa, tiền thân thuộc Đại học Dược Hà Nội), anh Ơn có thể giúp người Dao đỏ chuẩn hóa bài thuốc tắm, xây dựng một mô hình vừa khai thác, kinh doanh nhưng cũng vừa bảo tồn cây thuốc và cố vấn chiến lược phát triển công ty. Tuy nhiên, triển khai những ý tưởng đó phụ thuộc vào hai người đồng sáng lập với anh, bà Lý Mẩy Chạn và bà Chảo Sử Mẩy.  Hai bà Lý Mẩy Chạn và Chảo Sử Mẩy vốn đã có uy tín trong cộng đồng và đặc biệt là bà Lý Mẩy Chạn đã có kinh nghiệp thành lập nhóm lợi ích làm thổ cẩm, bởi vậy, cuối cùng đã có thể kêu gọi được 11 người, bao gồm cả người Dao đỏ và người H’Mông trong xã tham gia làm cổ đông của Sapanapro – một kế hoạch với những thách thức vô tiền khoáng hậu, mà mọi “lý thuyết” về thành lập doanh nghiệp dưới xuôi có lẽ không giải quyết nổi.  Nói là “thách thức vô tiền khoáng hậu” bởi vì trước lúc bấy giờ, hầu như chưa một ai ở xã Tả Phìn từng lập doanh nghiệp; người dân lúc đó, chỉ học đến hết cấp hai là nghỉ; và nếu như ngoài một số ít hộ trồng thảo quả có đồng ra, đồng vào thì đa số các hộ còn lại đều sống trong cảnh nghèo tới mức đói ăn. Nhưng trên tất cả, theo lời bà Lý Mẩy Chạn, 11 hộ tham gia ban đầu là những hộ khó khăn nhất, nghèo nhất. Có thể họ sẵn sàng lao theo một kế hoạch mạo hiểm để bấu víu vào hy vọng về tương lai tốt hơn, nhưng họ có gì để đóng góp cổ phần vào Sapanapro? Họ đương nhiên không có tiền. PGS.TS Trần Văn Ơn cũng chỉ kêu gọi được tài trợ từ một dự án quốc tế khoảng vài chục triệu. Cuối cùng, giải pháp của anh Ơn là bất cứ thứ gì cũng có thể chuyển thành cổ phần, từ quyền sử dụng đất, từng cột, xà đến tấm gỗ xây nhà, cho đến ngày công lao động. Nhà tắm thuốc đầu tiên của Sapanapro (giờ đã đập bỏ) đã được xây dựng bằng rất nhiều cổ phần ngày công lao động như vậy.  Từ những ngày đầu xây dựng nhà tắm đã đầy vất vả, bởi vì khu đất dốc, nhà cứ xây lên lại đổ, “Đổ hai lần, dù đã đào móng sâu, nhưng cứ bắt đầu xây lại đổ. Trời ơi. Các cháu biết là tôi khóc mấy lần. Nghĩ đến cảnh đấy bây giờ tôi thấy sợ” – Bà Lý Mẩy Chạn cảm thán khi nhớ lại. Nhìn cảnh đó, những người đóng cổ phần bằng công lao động cũng không khỏi nản lòng và suy sụp, nhất là sau khi bỏ ra cả một ngày dài làm việc mệt nhọc, họ không thu lại một đồng nào, còn tương lai của doanh nghiệp thì ngày càng mờ mịt. Bà Lý Mẩy Chạn và bà Chảo Sử Mẩy, cũng không dư giả gì, bởi đồng lương của cán bộ xã chỉ khoảng 600 nghìn đồng/tháng, đã lấy tiền túi của mình (về sau chuyển thành cổ phần) để đưa cho những cổ đông mua mắm, mua muối, trấn an tâm lý cho họ. Hai bà đã thay nhau quán xuyến, tung hứng giữa công việc trên xã, việc ở nhóm thổ cẩm và việc ở Sapanapro. Bà Lý Mẩy Chạn kể lại, ông Lý Văn Hang, chồng bà Chảo Sử Mẩy, lúc bấy giờ là Chủ tịch hội đồng nhân dân xã đã phải thốt lên: “Hai bà này làm việc không có giờ giấc à? Hôm nay tối ngày mai không sáng nữa chắc?” Sapanapro khởi công vào năm 2005. Đến năm 2007, Lý Láo Lở, con trai bà Chảo Sử Mẩy trở về sau hai năm hoàn thành nghĩa vụ quân sự, làm giám đốc công ty còn hai bà quyết định lui về làm cố vấn R&D, công ty lúc đấy vẫn chưa có lãi. Trong suốt ba năm đầy cam go đó, hai bà vẫn chưa bao giờ nghĩ đến chuyện từ bỏ. “Tôi với chị Mẩy là những người đứng lên để chịu trách nhiệm, nếu mình bỏ thì bà con sẽ bỏ, thôi thì mình cố, cố, cố” – Bà Lý Mẩy Chạn nói.  Nhờ vậy, mà đa số cổ đông đã quyết định ở lại, kể cả khi vài người có vị trí và uy tín trong cộng đồng (trong đó có Chủ tịch xã và Phó công an xã) đã rời đi. Quan trọng hơn, những cổ đông ở lại là những người đã đóng góp quyền sử dụng đất cho công ty. Đất của họ là đất rừng được nhà nước phân bố để họ quản lý và cho phép khai thác cây mọc dưới tán rừng. Nhờ vậy, công ty có năm ha đất xây dựng một vườn bảo tồn – nơi vừa giữ rừng, vừa trồng, lưu giữ và khai thác những cây thuốc tắm, đặc biệt là những cây đang cạn kiệt ngoài thiên nhiên. Vườn bảo tồn này cũng chính là nơi hướng dẫn, đào tạo người dân thực hành khai thác thuốc một cách bền vững, chừa một đoạn thân, cành hoặc lá để cây tiếp tục phát triển. Một nghiên cứu vào năm 2015 của Đại học Tài Nguyên và Môi trường kết hợp với Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cho thấy phần lớn những người tự hái thuốc ở phần rừng của mình để bán cho SapaNapro tuân thủ tốt về thu hái, gần 90% các thành phần của cây được thu hái đúng cách.  PGS.TS Ơn từng khảo sát, nếu một tấn thuốc người dân hái thô đem đi bán chỉ đem lại cho họ khoảng 20 triệu đồng, nhưng một tấn lá thuốc chảy qua Công ty Sapanapro trả về tới 500 triệu đồng cho cộng đồng, thông qua cổ tức và tiền công lao động cho người dân. SapaNapro không chỉ cung cấp dịch vụ tắm thuốc tại chỗ mà còn nhượng quyền thương hiệu cho khoảng 10 cơ sở tắm thuốc trên cả nước, sản xuất thuốc tắm đóng chai (phổ biến nhất là thuốc tắm cho sản phụ và thuốc tắm cho trẻ sơ sinh) và tinh dầu với hơn 100 nhà bán lẻ ở Việt Nam. Nhờ bộ phận sản xuất này mà họ có thể sống sót qua hai năm du lịch đóng băng do dịch COVID-19. Càng mở rộng kinh doanh lại càng thuyết phục người dân bảo vệ nguồn tài nguyên thuốc. Khi nhìn thấy công ty làm ăn tốt, không chỉ người dân ở xã Tả Phìn mà người ở các xã xung quanh cũng muốn tham gia làm cổ đông của công ty. Cứ 500 nghìn là có thể trở thành cổ đông, một hộ gia đình có thể trả bằng tiền hoặc trả bằng chính công lao động như dọn cỏ, hái thuốc cho Sapanapro. Quan trọng hơn, có những hộ “trả” bằng một phần vườn rừng họ được nhà nước giao, thường là từ một đến bốn ha. Khi đó, các cổ đông, bất kể có đóng góp đất hay không, đều được tập huấn, không thu hái tận diệt, và bên cạnh đó, công ty có thể thu hái quay vòng, cho phép các vườn lần lượt “nghỉ ngơi”. Ngoài ra, 2-3 năm một lần, công ty lại phát giống thuốc cho các cổ đông trồng. Hiện nay, công ty có gần 120 cổ đông và ¼ trong số đó gắn mảnh đất của mình vào vùng nguyên liệu của công ty. “Nếu họ không đóng góp như vậy thì họ hái một hai lần là hết rồi. Nhưng nếu họ biết tính thì họ có thể thu được 5 đến 10 triệu đồng một năm, rất lợi” – bà Chảo Sử Mẩy cho biết.  ***  PGS. Trần Văn Ơn và Lý Láo Lở, Giám đốc hiện tại của SapaNapro. Ảnh: Thu Quỳnh.  Mô hình của Sapanapro đã trở thành một công thức mà chúng tôi thấy PGS.TS Ơn tiếp tục đem áp dụng một phần tương tự ở Y Tý, cách Tả Phìn gần 100 km. Y Tý giống như Tả Phìn nhiều chục năm về trước, đa dạng sinh học suy giảm chưa đáng kể, diện tích đất rừng vẫn rất lớn, thậm chí đủ để người dân vẫn có thể thực hiện phương pháp canh tác luân khoảnh – phát rừng để trồng lúa ở một nơi rồi bỏ sang một vùng rừng khác để canh tác, chờ nơi cũ mọc lại rừng mới sau 10, 20 năm. Nhưng anh Ơn đã cố vấn cho một nhóm người dân tộc Hà Nhì xây dựng một khu du lịch sinh thái, trong đó có một nhà tắm thuốc do Sapanapro nhượng quyền và một khu vườn bảo tồn các thảo dược đặc hữu của vùng này. Vườn thảo dược này sẽ không chỉ phục vụ trải nghiệm của du khách mà còn dùng để khai thác sản xuất tinh dầu và thuốc.  Dọc con đường ngoằn nghèo từ Tả Phìn tới Y Tý, từ trên vách núi nhìn xuống, những mảnh đất trải đầy rừng cây và ruộng bậc thang đầy thơ mộng đều đã có những “đại gia” từ dưới xuôi sở hữu. Giữa một loạt homestay đang mọc lên như nấm ở Y Tý, nơi chúng tôi đến thăm – một khu đất rộng ba ha, là nơi duy nhất thuộc sở hữu của người địa phương – một người Hà Nhì tên là Li Mò Giờ kế thừa từ cha mẹ. Y Tý, nơi du lịch mới manh nha cách đây không lâu, giao thông đến đây còn nhiều trắc trở và khó khăn đã phải chịu cơn sốt đất như vậy. Còn ở Tả Phìn, giá đất đã tăng đến mức chóng mặt. Một mặt Sapanapro luôn đề phòng một ngày những người đã góp đất làm trụ sở công ty có ngày bỗng nhiên phá hợp đồng, đòi bán cho các “đại gia” sẵn sàng trả giá cao. Mặt khác, họ muốn đi tìm thêm một khu đất khác để dự phòng thì không thể kham nổi. Vấn đề nhức nhối này như một hòn đá chắn đường, ngăn cản những mô hình SapaNapro hình thành trong tương lai.    PGS.TS Ơn từng khảo sát, nếu một tấn thuốc người dân hái thô đem đi bán chỉ đem lại cho họ khoảng 20 triệu đồng, nhưng một tấn lá thuốc chảy qua công ty Sapanapro trả về tới 500 triệu đồng cho cộng đồng, thông qua cổ tức và tiền công lao động cho người dân.    Trong khi đó, những mô hình như vậy có lẽ cần được nhân rộng nhanh hơn nữa. Anh Ơn cho biết, trong số các dược liệu bán ra ngoài Sa Pa, chỉ có 2% thuộc về Sapanapro còn lại 98% là được thu hái tự do. Nói cách khác, đa phần dược liệu ở Sa Pa có khả năng cao là không được thu hái một cách bền vững. Bà Chảo Sử Mẩy, dù đã ở tuổi ngoài 60, vẫn thường xuyên leo núi thoăn thoát ở Sa Pa để nghiên cứu về cây thuốc, có thể cảm nhận thấy chúng đang giảm đi rõ rệt. “Ngày xưa tôi cũng hướng dẫn mọi người đi hái thuốc thì mình chỉ lấy cành, không được chặt cả cây. Nhưng bây giờ nhiều người còn chặt cả cây, để lại gốc ngắn quá, cây không phát triển được”.  – bà nói.  ***  Những công ty bản địa này không thể thành công nếu không có người tư vấn, hỗ trợ. “Tôi nghĩ làm được là cũng nhờ các thầy cả thôi” – bà Lý Mẩy Chạn nói về PGS.TS Trần Văn Ơn ngay từ câu mở đầu tiếp chúng tôi như vậy. Anh Ơn đang lên kế hoạch đưa Sapanapro thành một nơi du lịch sức khỏe. Khi chúng tôi đến đây đã thấy có năm căn nhà gỗ khép kín đang được xây dựng giữa rừng cây um tùm trong khuôn viên, trong tương lai sẽ đón những người tới “tắm rừng” và “tắm lá thuốc trị liệu”.  Liệu những mô hình như Sapanapro có chạy trước những cơn sốt đất đang tràn lên khu vực miền núi, kịp ngăn lại làn sóng khai thác và bán cây thuốc vẫn đang diễn ra như vũ bão? Tôi e là khó nếu anh Ơn vẫn tự làm một mình như suốt 15 năm nay. Nhưng anh đã xua tay và nói rằng anh còn một đội ngũ học trò sẽ kế nghiệp, anh sẽ chỉ là người đứng sau các em thiết kế một giấc mơ lớn “Đây là sứ mệnh mà tôi tập trung từ giờ đến hết đời. Đó là xây dựng một nền kinh tế mới. Một nền kinh tế lai giữa du lịch và thảo dược.” – Anh nói. Trong đó, sẽ có một chuỗi những điểm như Sapanapro nằm dọc theo các tỉnh miền núi thành các trục Đông Bắc, Tây Bắc, Hoàng Liên Sơn. Mỗi điểm sẽ cung cấp mọi dịch vụ về sức khỏe liên quan đến thảo dược, từ ăn uống, tắm thuốc, trị liệu đến trải nghiệm thiên nhiên… “Một mình tôi không làm được. Chính các học trò của tôi đã tập hợp nhau lại thành lập công ty để làm điều đó”- Anh Ơn nhấn mạnh. □    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang IAEA: Chuyến làm việc ở Fukushima rất hữu ích      Các chuyên gia trong đoàn công tác của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đã thu thập các mẫu để xét nghiệm và tập hợp thông tin về kế hoạch xả nước đã qua xử lý từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi ra biển của Nhật Bản.      Nhật Bản loan báo vào tháng 4/2021 về kế hoạch xả thải hơn 1,25 triệu mét khối nước đã qua xử lý ra biển, và đề nghị sự hỗ trợ của IAEA để giúp “đảm bảo việc thực hiện kế hoạch này an toàn và minh bạch”.  Đoàn công tác này gồm các thành viên của IAEA và một nhóm chuyên gia độc lập gồm 11 người từ nhiều quốc gia, trong đó có TS. Nguyễn Hào Quang (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam). Nhiệm vụ của họ – từ Tokyo đến Fukushima – là kiểm tra sự an toàn liên quanđến các hồ sơ tài liệu, bao gồm việc thi hành kế hoạch xả nước và đánh giá tác động bức xạ môi trường. “Chuyến làm việc này rất hữu ích. Chúng tôi nhận được những thông tin hết sức giá trị – và đặt ra nhiều câu hỏi – về tất cả các khía cạnh an toàn của kế hoạch thẳng thắn và cởi mở, trải rộng trên phạm vi từ những đường hầm dưới biển sẽ thải nước ra biển đến việc bảo vệ nhân công tại địa điểm này cũng như công chúng”, Gustavo Caruso, giám đốc Bộ phận An toàn và an ninh hạt nhân IAEA và trưởng đoàn công tác.  Sau khi được dùng để làm mát nhiên liệu hạt nhân tại Fukushima, nước đã được xử lý và làm sạch phóng xạ thông qua Hệ thống xử lý chất lỏng tiên tiến (ALPS) rồi được lưu trữ trong 1000 thùng chứa ngay tại Fukushima.  ALPS giúp loại bỏ hầu hết ô nhiễm phóng xạ, bao gồm cả tritium. Tổng năng lực lưu trữ vào khoảng 1,37 triệu mét khối và tất cả các thùng này sẽ đủ sức chứa vào giữa năm 2022.  Việc xả thải của Nhật Bản được chờ đợi bắt đầu vào nửa đầu năm 2023 nhưng toàn bộ việc vận hành có thể mất hàng thập kỷ. Vào tháng 8 năm ngoái, Công ty điện lực Tokyo (Tepco) loan báo kế hoạch xây dựng một đường hầm dưới biển, có chiều dài một ki lô mét, để xả nước đã qua xử lý.  Những quốc gia láng giềng đã lên tiếng cảnh báo kế hoạch của Nhật Bản nhưng IAEA cho biết, nồng độ tritium trong nước sẽ “ở dưới các giới hạn điều chỉnh quốc gia và các tiêu chuẩn của WHO cho nước uống. Nhận xét của đoàn công tác IAEA sẽ cung cấp cho công chúng, ở Nhật Bản và quốc tế, những thông tin khoa học về việc xả thải”.  50 lít nước từ các thùng chứa đã được các chuyên gia trích xuất và sẽ được phân tích trong các phòng thí nghiệm của IAEA tại Argentina và Mexico.  Vào khoảng hai tháng nữa, IAEA sẽ công khai một báo cáo và sẽ tiếp tục cử các đoàn công tác với Nhật Bản vào năm nay và năm tiếp theo. Trước khi bắt đầu xả thải nước, IAEA tiếp tục công khai một báo cáo toàn diện. “Là một tổ chức KH&CN, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét và báo cáo minh bạch, độc lập. Cả thế giới sẽ biế về những gì đang diễn ra vào tất cả các thời điểm”, tổng giám đốc IAEA Mariano Grossi nói.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/IAEA-says-Fukushima-visit-very-productive  https://www.local10.com/tech/2022/02/14/iaea-reviews-water-release-from-damaged-japan-nuclear-plant/    Author                .        
__label__tiasang In nội tạng người bằng công nghệ 3D      Theo một đoạn băng vừa được công bố, Đại học  Khoa học và Công nghệ Huazhong ở Triết Giang, Trung Quốc, mới đây đã  thành công trong việc tạo ra thận nhân tạo bằng công nghệ in 3D.       Giống như việc in gan bằng công nghệ 3D trước đây, quả thận in sinh học cũng có kích thước thu nhỏ nhưng với 90% tế bào sống được.  Để sản xuất các tế bào sống làm nguyên liệu, các mẫu tế bào thận người được nuôi cấy với số lượng lớn trong môi trường giàu dinh dưỡng là hydrogel.  Vì sản phẩm nội tạng được tạo bởi những tế bào sống đang tăng trưởng nên quá trình in sinh học khác hẳn so với việc in ra các đồ vật. Theo GS Xu Mingen, trưởng nhóm nghiên cứu, để in ra một cái cốc, người ta phải đổ đầy nguyên liệu vào sản phẩm, nhưng do mỗi tế bào còn bao gồm các mạch máu và các mô nên phải bảo đảm có đủ không gian cho chúng phát triển.  Cấu trúc thận được tạo ra từ công nghệ in 3D có thể tồn tại bốn tháng trong một môi trường nhất định và có thể thực hiện chức năng lọc máu cũng như tạo ra nước tiểu, theo tường thuật của Xu Mingen.   Trong các loại nội tạng thì nhu cầu về thay thế thận là lớn nhất. Tuy nhiên vẫn còn một chút hoài nghi vì cho đến nay nhà nghiên cứu Xu Mingen chưa hề giới thiệu thành quả của mình trên tạp chí khoa học chuyên đề nào và do đó các chuyên gia thẩm định độc lập chưa thể đánh giá. Nhưng việc tạo mô tế bào và cơ quan nội tạng thông qua công nghệ in phun và công nghệ tia laser đã khá phổ biến trên thế giới và không còn là điều gây hoài nghi.    Giá một máy in khoảng 500.000 đôla Mỹ  Viện Y học tái tạo Wake Forest (Wake Forest Institute for Regenerative Medicine) ở North-Carolina hiện đứng vị trí đầu bảng về công nghệ in nội tạng. Tại đây, hồi năm ngoái, hai nhà nuôi dưỡng mô tế bào Anthony Atala và James Yoo đã thành công trong việc in những quả thận thu nhỏ. Ngoài ra, Viện cũng đã tạo ra những mẩu sụn cho tai và mũi, mô cơ bắp và xương.  “Chúng tôi không những có thể xếp đặt chính xác các loại tế bào khác nhau mà cả các protein, các yếu tố sinh trưởng và các chất khác vào một cấu trúc để in nhằm hỗ trợ việc tái tạo cơ quan nội tạng,” theo nhà nghiên cứu Yoo, lãnh đạo nhóm Bioprinting tại Viện. Dự án thận hiện còn ở “giai đoạn sơ khai”, tuy nhiên dù sao cũng đã tạo ra những quả thận thu nhỏ, cấy vào một con bò đực và nó có thể lọc được nước tiểu. Tuy nhiên nhà nghiên cứu Yoo không quen biết ông bạn đồng nghiệp người Trung Quốc nên không muốn bình luận gì về sự việc này.  Nhà nghiên cứu Yoo nhấn mạnh, để quả thận được tạo ra bằng công nghệ in 3D có thể hoạt động thì còn phải mất nhiều năm nữa vì một mặt phải nuôi và sản xuất đủ tế bào trong phòng thí nghiệm để cung cấp cho máy in, quá trình này rất phức tạp. Ông Yoo nói “để nuôi được triệu triệu tế bào dùng cho dự án phải mất nhiều tuần lễ”. Mặt khác, máy in chưa thể kết nối cơ quan nội tạng nhân tạo với các mạch máu ở người bệnh – điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì các cơ quan nội tạng như thận, gan hay tuyến tụy có lượng máu chảy qua rất lớn.   Theo ông Yoo, trước mắt lý do không tán thành dùng máy in nội tạng trong các cơ sở y tế là vấn đề giá cả. Loại máy in đặt tại Viện Wake Forest cần khoảng 5 đến 8 phút để in một vành tai, còn để in một quả thận thu nhỏ cần 24 tiếng đồng hồ, giá một máy in là nửa triệu đôla Mỹ.  Da nhân tạo với mạch máu thật   Nhà khoa học Lothar Koch thuộc Trung tâm Laser ở Hannover đề ra những mục tiêu trong tầm tay. Người phụ trách nhóm “Biofabrication” cộng tác với các nhà nghiên cứu về tái tạo thuộc Exzellenzclusters Rebirth của Đại học Y Hannover đã chế tạo các mô liên kết (connective tissue) và tế bào sừng (keratin) để in ra các mẩu da nhân tạo với một máy in laser cải tiến.   Nhà nghiên cứu Koch kể “chúng tôi đã thử nghiệm da nhân tạo ở chuột thì thấy mạch máu thậm chí có thể kết nối với lớp mô tế bào. Tuy nhiên còn cần có thêm thời gian để có thể thực hiện điều này ở người.”  Loại thận mini cũng như da nhân tạo của ông Koch còn khác biệt nhiều so với nguyên bản, thí dụ còn thiếu tế bào tuyến (gland cells) hay tế bào miễn dịch (immune cells). Tuy nhiên cho đến thời điểm này, nhiều loại tế bào trên đã có thể nuôi dưỡng được mặc dù rất phức tạp. “Vấn đề đặt ra là liệu các loại tế bào mà con người tạo được trong phòng thí nghiệm có thực sự tương ứng với các tế bào tự nhiên và có thực hiện được các chức năng của chúng hay không, điều này còn là một dấu hỏi,” ông Koch nói.  Augustinus Bader, nhà nuôi tạo mô thuộc Đại học Leipzig cho rằng, để in được cơ quan nội tạng cần phải có môi trường nuôi tế bào tốt nhất vì tế bào nuôi trong môi trường ống nghiệm phát triển khác với tế bào ở trong cơ thể.  Đây là lý do làm cho Bader thiên về công nghệ kích thích cơ thể tự tái tạo các mô cơ cần thiết. “Con người và động vật cấp cao có khả năng tự kiểm tra rất tốt quá trình tái tạo trong cơ thể, ở bên ngoài cơ thể không có cơ chế kiểm soát này.”  Chỉ có sự hỗ trợ của khả năng tự tái tạo của cơ thể thì mới có những tổ chức nội tạng hoàn thiện sau khi được in ra. Tuy nhiên nhà nghiên cứu Yoo cho rằng, các tế bào trong các cơ quan nội tạng do máy in tạo ra cũng có những hành vi như tế bào trong cơ thể.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Indonesia phải lập tức xây nhà máy điện hạt nhân      Hãng thông tấn Antara (Indonesia) đã dẫn lời bộ trưởng Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Giáo dục cấp cao Indonesia, ông Mohamad Nasir, về kế hoạch phát triển điện hạt nhân của nước này, trong đó khẳng định: Indonesia phải lập tức xây dựng nhà máy điện hạt nhân để đáp ứng nhu cầu điện năng 60.000 megawatt vào năm 2025    Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Giáo dục cấp cao Indonesia, ông Mohamad Nasir  Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan điểm cẩn trọng “[Việc xây dựng] nhà máy điện hạt nhân phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng”.  Bộ trưởng Mohamad Nasir chỉ ra rằng, hiện nay trên thế giới, xu hướng sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá và dầu mỏ để làm ra năng lượng đã chuyển hướng sang các loại năng lượng mới và năng lượng tái tạo, trong đó có điện hạt nhân.  Ông lấy ví dụ về Pháp, một trong những cường quốc hàng đầu thế giới về điện hạt nhân, đã sản xuất và sử dụng điện hạt nhân như một nguồn năng lượng chính nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của đất nước, thậm chí còn xuất khẩu. Trong khi đó, Đức, mặc dù đã có quyết định ngừng phát triển chương trình điện hạt nhân và bắt đầu đóng cửa 8 trong số 17 nhà máy điện hạt nhân sau thảm họa Fukushima Daiichi vào năm 2011, nhưng vẫn sử dụng nguồn điện nhập khẩu từ các nhà máy điện hạt nhân của Pháp.  Ông Mohamad Nasir cũng cho Antara biết thêm, ở khu vực Trung Đông, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) đang tiến hành xây dựng bốn nhà máy điện hạt nhân. Các nhà máy này sẽ được hoàn thành cách năm từ 2017 đến 2020.  Ông nhắc đến lời giải thích của Bộ trưởng Bộ Năng lượng UAE tại hội nghị thượng đỉnh thường niên Á Phi diễn ra vào năm ngoái ở Bandung (Indonesia) về lý do tại sao UAE, một quốc gia thuộc tốp ba nhà sản xuất dầu mỏ của thế giới, lại chuyển hướng sang điện hạt nhân: Điện hạt nhân là tương lai của chúng tôi, vì các thế hệ mai sau của chúng tôi.  Một quốc gia Trung Đông khác, Saudi Arabia, cũng quyết định đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ sử dụng điện hạt nhân thay vì dầu mỏ. Trong thời gian qua, ngân sách nước này cũng bị ảnh hưởng ít nhiều vì sự lên xuống của giá dầu.    Nga từng đề cập đến việc hỗ trợ Indonesia xây nhà máy điện hạt nhân  Bộ trưởng Mohamad Nasir cũng nhận thấy, ở khu vực Đông Nam Á, Malaysia đã xác nhận việc phát triển một lò phản ứng hạt nhân. Ông cho Antara biết, nếu Indonesia không xây dựng một nhà máy điện hạt nhân vào quãng năm 2018-2019 thì sẽ phải chứng kiến Malaysia làm điều tương tự ở Serawak (Malaysia).  Ông thừa nhận rằng, nếu lo ngại về vấn đề an ninh và an toàn hạt nhân và coi đó như nguyên nhân không thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Indonesia thì rất có thể sẽ khiến nước này chậm chân. Malaysia có thể xây nhà máy điện hạt nhân gần biên giới Indonesia.  Ông cũng nêu chủ trương, cho dù giá thành điện năng từ các nhà máy điện hạt nhân rất rẻ nhưng việc phát triển chương trình điện hạt nhân phải được tiến hành hết sức cẩn trọng và trong tầm kiểm soát, tránh những tai nạn có thể xảy ra.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Indonesia phóng vệ tinh tự tạo đầu tiên      Vệ tinh giám sát tự tạo đầu tiên của Indonesia đã được phóng thành công vào quỹ đạo và vừa gửi những tín hiệu đầu tiên về Trái đất.    Theo tờ Jakarta Post, vệ tinh này được phóng vào hôm qua (10-1) từ Trung tâm vũ trụ Satish Dhawan của Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO). Trung tâm này thuộc Sriharikota, bang Andhra Pradesh.  Vệ tinh Lapan-Tubsat – bay bên trên Trái đất khoảng 630 km, chở theo các thiết bị đo đạc và các hệ thống truyền mệnh lệnh từ xa cũng như hệ thống kiểm soát độ cao cho phép nó nhận nhiều mệnh lệnh khác nhau từ các trạm ở mặt đất. Chi phí chế tạo vệ tinh này vào khoảng 10 tỷ rupiah (1,1 triệu USD).  Nặng 57kg, vệ tinh siêu nhỏ này bay qua đất nước Indonesia 4 lần mỗi ngày, mang theo một máy quay hình màu độ phân giải cao với vùng bao phủ rộng 3,5 km và một máy quay độ phân giải thấp với vùng bao phủ rộng 81 km. Vệ tinh này có thể được dùng để giám sát tình hình trên bề mặt trái đất như các vụ cháy rừng, hoạt động của núi lửa và lũ lụt.  Vệ tinh này được thiết kế với thời hạn sử dụng 2-3 năm, tuy nhiên Cơ quan hàng không vũ trụ Indonesia (LAPAN) hy vọng nó sẽ tiếp tục hoạt động đến 6 năm.  T.VY (Theo Xinhua, Jakarta Post)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Indonesia: Quốc tế hóa tạp chí trong nước      Việc một tạp chí (TC) địa phương vươn tầm quốc tế có thể là nỗ lực của riêng một cơ quan xuất bản. Nhưng để thành công này được nhân rộng thì cần có sự hỗ trợ toàn diện của Chính phủ.      Tạp chí Indonesian Journal of Chemistry – nằm trong danh sách Scopus.  Nguồn: theconversation.com  Là một quốc gia đông dân thứ tư thế giới, với nền kinh tế được đánh giá là tăng trưởng tốt, tuy nhiên Indonesia lại chỉ xếp 64 toàn cầu về xuất bản khoa học (KH) (theo dữ liệu Scimago 1996 – 2010) và là một trong các quốc gia có năng suất KH kém. Riêng về TC khoa học, Indonesia có hơn 7.000 TC, nhưng đến năm 2012 mới chỉ có 9 TC đạt chuẩn quốc tế (Scopus, ISI, Compendex) – thấp hơn so với các quốc gia khác như Thái Lan (21 TC) hay Malaysia (48 TC). Sự chênh lệch này đã thúc đẩy Chính phủ Indonesia thực hiện nhiều cải cách nhằm nâng cao chất lượng và quốc tế hóa các TC trong nước.  Thay đổi tiêu chuẩn cấp phép và tính điểm TC: Khó khăn chung của các TC KH là việc thiếu bản thảo gửi đến, nên không đáp ứng được các yêu cầu quốc tế về số lượng và tần suất xuất bản. Indonesia đã ban hành Regulation No. 29/Dikti/Kep/ 2011 về công nhận TC trong nước, trong đó chấm điểm cao hơn đối với TC do các hiệp hội KH xuất bản – để khuyến khích sự tham gia của các hiệp hội, bởi ưu thế của các hiệp hội KH so với các đơn vị xuất bản truyền thống khác là nguồn kinh phí bền vững và số lượng bản thảo dồi dào được đóng góp bởi các thành viên trong hiệp hội – đặc biệt là thông qua hội thảo khoa học, nhờ vậy đảm bảo tính ổn định của TC. Bên cạnh đó, việc siết chặt các quy định công nhận, cấp phép đã buộc các TC yếu kém phải đóng cửa hoặc tự đổi mới để đáp ứng được các tiêu chuẩn công nhận, từ đó nâng cao chất lượng chung.  Cải thiện chất lượng đội ngũ biên tập viên: Indonesia đã thành lập Hiệp hội các biên tập viên KH Indonesia để cải thiện năng lực của các biên tập viên, thông qua tổ chức các hội thảo tập huấn và hỗ trợ trực tiếp từ các biên tập viên được công nhận. Hiệp hội này cũng là đại diện của các biên tập viên KH Indonesia trong hiệp hội biên tập viên quốc tế và sự tương tác này sẽ đóng góp đáng kể để các TC Indonesia vươn tầm quốc tế.  Truy cập mở và tài trợ: Hầu hết các TC Indonesia đều là truy cập mở, và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn tài trợ của tổ chức xuất bản, nên không cần tính phí xử lý bài viết (APC) như các TC phương Tây – trung bình khoảng 1.400 – 2.700 USD/bài. Hiện nay khoảng 75% TC truy cập mở ở Indonesia không tính phí APC trong khi 25% còn lại chỉ tính tối đa 150 USD/bài – nhờ vậy khuyến khích các nhà KH gửi bản thảo.  Để cải thiện chất lượng các TC trong nước và vươn tầm quốc tế, Indonesia đã thực hiện tiến trình 2 bước: (1) Cấp phép các TC địa phương và (2) Quốc tế hóa các TC đã được công nhận, trong đó có khoản tài trợ từ ngân sách Chính phủ kéo dài 3 năm để hỗ trợ các TC đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Nhờ vậy, số lượng TC KH đạt chuẩn quốc tế của Indonesia đã tăng đáng kể – từ 2 TC (năm 2000) lên mức 16 TC vào năm 2013.  Bên cạnh đó, việc Indonesia đặt ra quy định nghiêm ngặt trong xét tốt nghiệp – nghiên cứu sinh phải có công bố trên TC được quốc tế công nhận, đã đưa quốc gia này thành thị trường xuất bản tiềm năng trên thế giới. Sự cam kết và hỗ trợ của Chính phủ cho các TCKH đã đẩy nhanh việc đạt được các mục tiêu. Tuy nhiên, cộng đồng KH ở Indonesia cũng còn phải vượt qua nhiều rào cản, đặc biệt là về tiếng Anh – vốn đang gây nhiều bất lợi cho các nhà KH khi công bố quốc tế và ảnh hưởng đến tiêu chí đánh giá của các TC trong nước khi ghi danh vào ISI hay Scopus.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn:  Komang G. Wiryawan (2014) The current status of science journals in Indonesia  Jaime A. Teixeira da Silva (2012) Challenges to Science Development and International Publishing in Indonesia       Author                Quản trị        
__label__tiasang Intel đầu tư vào khu công nghệ cao: Lợi ích hữu hình và vô hình      Lợi ích hữu hình và vô hình Kể từ 2007, bản đồ công nghệ thông tin thế giới có thêm một đầu mối lớn ở Việt Nam, khi nhà máy lắp ráp và kiểm định chip của Intel đi vào hoạt động. Hãng sản xuất chip lớn nhất thế giới này đã chính thức nhận giấy phép đầu tư vào khu công nghệ cao TP HCM, với số vốn đầu tư trong giai đoạn 1 là 300 triệu USD. Đó cũng là dự án đầu tiên đầu tư vào công nghệ bán dẫn tại Việt Nam.    Ngoài những nhà máy sản xuất wafer (tấm bán dẫn) ở Mỹ, Intel có 6 nhà máy lắp ráp và kiểm định chip đang hoạt động, trong đó Trung Quốc có 2 nhà máy, Malaysia có 2 nhà máy, còn lại đặt ở Philippines và Costa Rica. Theo ông Craig Barret, chủ tịch Hội đồng quản trị của Tập đoàn Intel, quy mô đầu tư trong giai đoạn đầu của nhà máy tại Việt Nam tương đương với các nhà máy trên. Dự kiến khi đi vào hoạt động vào năm 2007, nhà máy sẽ thu hút 1.200 công nhân.       Những lợi ích trực tiếp  Trực tiếp nhất là 300 triệu vốn FDI vào công nghệ. Nếu thị trường và công nghệ sản xuất chip không có gì thay đổi, thì trong giai đoạn 2, Intel sẽ đầu tư thêm 305 triệu USD để mở rộng sản xuất như đã làm với 6 nhà máy khác. Ngoài nhà máy của Intel, sẽ có thêm các nhà máy của các nhà đầu tư khác xây dựng tại khu công nghệ cao, để cung cấp vật tư, thiết bị cho nhà máy của Intel. Tuy nhiên, ông Barret không cho biết cụ thể về tên cũng như quy mô đầu tư của hai nhà máy này.  Khi đi vào hoạt động,  nhà máy của Intel sẽ có vai trò tích cực tác động vào ngành công nghệ thông tin Việt Nam. Ông Lê Thanh Hùng, Giám đốc công ty T&H đánh giá sự có mặt trực tiếp của Intel là “cú hích để thúc đẩy công nghệ thông tin nước ta phát triển”. Không chỉ là phần cứng mà phần mềm cũng sẽ có nhiều thay đổi, ông Ngô Đức Sinh, Tổng giám đốc Silicon Group nhận xét.   Theo các quan chức trong tập đoàn Intel, đội ngũ 1.200 người làm việc trực tiếp tại nhà máy sẽ được đào tạo, huấn luyện ngay từ bây giờ. Theo đánh giá của các nhà công nghệ trong nước, đây là cơ hội cho giới trẻ Việt Nam tiếp cận với trình độ sản xuất công nghệ cao. Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Giám đốc trung tâm nghiên cứu và phát triển (Khu công nghệ cao TP HCM) nói: “Intel đầu tư vào sẽ tạo được niềm tin và sự phấn đấu cho giới trẻ trên con đường nghiên cứu công nghệ”.  Ngoài ngành sản xuất máy tính được hưởng lợi từ nhà máy sản xuất chip, internet băng rộng cũng có cơ hội tiếp cận công nghệ mới. Ông Nghiêm Xuân Tịnh, Phó giám đốc VDC cho biết, Việt Nam vừa cấp phép cho 3 doanh nghiệp triển khai công nghệ không dây băng rộng WiMax mà Intel là một trong những công ty công nghệ ủng hộ công nghệ này. Intel đã có chip cho WiMax cố định. Theo dự kiến, trong thời gian sắp tới sẽ có chip cho WiMax di động. Ông Tịnh phân tích thêm: “Với hạ tầng ADSL đã phủ ở các thành phố như hiện nay, số lượng máy tính xách tay tiêu thụ được đang có xu hướng gia tăng, ứng dụng WiMax sẽ có điều kiện phát triển ở Việt Nam”.  Lợi ích vô hình  Trong cuộc đua trải thảm đỏ cho nhà đầu tư Intel, ngoài Việt Nam, có nhiều quốc gia khác. Các yếu tố giúp Việt Nam thắng cuộc, theo ông Barret là chính sách thu hút đầu tư, hạ tầng và lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ. Nỗ lực hỗ trợ đầu tư của Chính phủ được ông Barret đánh giá cao nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng: “đặc thù của dự án này là vốn đầu tư lớn, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư hấp dẫn”.  Hấp dẫn được Intel sẽ lan tỏa và tạo sức thuyết phục các nhà đầu tư khác đến Việt Nam. Tiến sĩ Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội Tin học TP.HCM tự tin nói: “Việc Intel tham gia đầu tư vào Việt Nam là cầu nối để các nhà đầu tư khác tự tin hơn, khi quyết định đầu tư vào đây”. Các nhà đầu tư khác, theo phân tích của các chuyên gia, trước mắt sẽ là các hãng vệ tinh cho Intel.  Từ việc các hãng này xuất hiện sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư khác, tạo thành một lực hút đầu tư khá mạnh và hấp dẫn trong lĩnh vực công nghệ cao. Ngoài những hãng mới sẽ vào, các hãng đã đầu tư ở Việt Nam cũng có cơ hội phát triển. Kunihiko Nishihara, Tổng giám đốc Nidec Tosok (Việt Nam) cho biết: cơ hội của Nidec là ở các công ty phụ và có khả năng Nidec sẽ chuyển công nghệ sản xuất motor cho máy tính sang Việt Nam sau khi Intel hiện diện. Nidec đã cam kết đầu tư thêm 1 tỷ USD trong vòng 5 năm tới.  Lợi thế so sánh của Việt Nam được các nhà công nghệ nhận xét là phải chuyển từ nguồn nhân lực giá rẻ sang nhân lực trẻ được đào tạo. Ông Nguyễn Thịnh, Giám đốc công ty phần mềm PSD nói: “Hai yếu tố quan trọng là địa điểm và nguồn nhân lực. Tôi nghĩ nhân công giá rẻ chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn trước”. Nằm trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương, với nhiều nền kinh tế đang nổi như Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam có những lợi thế nhất định để thu hút đầu tư. Theo ông Thịnh, không nên đặt quan điểm thu hút được đầu tư như Intel là sớm hay muộn. “Lúc nào cũng có những cơ hội” – ông nói. Giai đoạn đầu, với công nghệ lắp ráp và kiểm định, chỉ là công nghệ cơ bản trong sản xuất chip, nhưng là đầu cầu để các hãng nắm bắt, xác định cơ hội.  Cơ hội trước mắt, như ông Craig Barret nhận xét, là khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ hội cho tự do hóa thương mại sẽ lớn hơn.     Chiến lược phát triển công nghệ cao ở một số nước Châu Á   Trong những ngày diễn ra Global Entrepolis @ Singapore vào tháng 9.2005, thủ tướng Singapore đã hứa tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để tăng tính cạnh tranh bằng ý tưởng sáng tạo và phát minh trên thị trường toàn cầu trong 5 năm nữa,  giúp Singapore đi trước các nước láng giềng 15-20 năm.   Bộ trưởng cấp cao Singapore Goh Chok Tong vạch ra ba chiến lược thúc đẩy kinh tế Singapore phát triển theo hướng phát minh sáng kiến. Ba chiến lược đó là: mở rộng không gian kinh tế qua các hiệp định thương mại tự do, phát huy tối đa tiềm năng nguồn nhân lực thông qua giáo dục và tập trung lĩnh vực nghiên cứu phát triển (R&D). Nói là làm, ông Goh Chok Tong cho biết Singapore đã ký kết hiệp định thương mại tự do với hơn 10 quốc gia, và hiện đang đàm phán với 10 quốc gia khác.   Về giáo dục, ông Goh Chok Tong nói: “Không thể có một nền giáo dục phù hợp cho tất cả”. Do đó Singapore chấp nhận kế hoạch cải cách giáo dục cho phép học sinh học nhảy lớp, và chọn nhiều môn học nhiệm ý phù hợp. Về chiến lược thứ ba, ông Goh Chok Tong nói: “Chính phủ Singapore giúp các công ty gắn kết với những viện nghiên cứu, khuyến khích tư nhân tham gia hoạt động R&D. Ngoài ra Singapore chấp nhận nuôi dưỡng những sáng kiến phát minh của châu Á phù hợp với sự phát triển chung toàn cầu”.   Trước đó, Trung Quốc (TQ) cũng thông báo kế hoạch phát triển kinh tế theo hướng chú trọng sáng tạo phát minh. Bộ trưởng Thương mại TQ Bạc Hi Lai nói: “Các dự án hợp tác sẽ tiếp tục mở rộng nhưng phải có chiều sâu kỹ thuật”. Trước đây, các chính sách hợp tác kinh tế thương mại của TQ chỉ chú trọng chỉ số tăng trưởng GDP.   Lâu ngày, chính sách này dẫn đến tình trạng thiếu thốn công nghệ mới, tạo một lực cản lớn cho sự phát triển kinh tế của TQ. Trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), 2/3 doanh nghiệp của TQ gặp khó khăn về kỹ thuật trong các hợp đồng xuất khẩu. Yếu kém này khiến các doanh nghiệp TQ mất 20 tỉ USD mỗi năm.   Ông Bạc nói: đã đến lúc TQ nâng cấp trình độ hợp tác kinh tế, ngoại thương của mình, chuyển “sản xuất tại TQ” (made in China) sang “sáng chế tại TQ” (created in China). Theo ông Bạc, TQ đã chuẩn bị gần xong cơ sở để áp dụng chính sách mới. Giới phân tích nhận định, nếu thực hiện thành công chính sách này, TQ sẽ tìm được nhiều dự án hợp tác có lợi nhuận nghiêng về phía TQ nhiều hơn. Ngoài ra, chính sách mới giúp TQ tăng khả năng đổi mới độc lập, nâng cao tính cạnh tranh và giảm thiểu nguy cơ rủi ro trong nền kinh tế toàn cầu. (Theo CNA, THX)  Hải Đăng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Internet sẽ bị chia năm sẻ bảy???      Cuộc chiến giành quyền “cai trị” Internet đã thực sự nổ ra giữa Mỹ và các quốc gia khác trên thế giới. Mỹ muốn tiếp tục thống trị Internet trong khi các quốc gia khác lại yêu cầu nhiều quyền kiểm soát hơn.    Hội đồng chung Châu Âu cảnh báo, nếu các bên không đạt được thỏa thuận trong hội nghị ở Tunisi vào tháng 11 này thì rất có thể Internet sẽ bị chia nhỏ. Vấn đề xuất phát từ vai trò giám sát của chính quyền Mỹ đối với hệ thống quản lí tên miền DNS (Domain Name System), tức là “sổ địa chỉ” của Internet.    Hiện hệ thống DNS do công ty phi lợi nhuận ICANN (The Internet Corporation for Assigned Names and Numbers) quản lý. ICANN quyết định ai hoạt động trên cấp tên miền cao nhất (top-level domain) như .com, .org hay .vn, và chịu trách nhiệm cấp phát không gian trên Internet. Công ty được thành lập tại California theo giấy phép của Bộ thương mại Mỹ. Vì thế ICANN phải tuân theo luật pháp bang California. Nhiều chính phủ cho rằng họ cần một nơi mà tất cả các nhà lãnh đạo trên thế giới đều được tự do bày tỏ ý kiến của mình về Internet, nhưng ICANN lại chịu sự kiểm soát của chính quyền Mỹ, nên họ có ấn tượng là Internet bị thống trị chỉ bởi một quốc gia. Một cuộc họp đã được tổ chức tại Geneva tháng trước để thu thập ý kiến của các chính trị gia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ISDS: Tiên phong nghiên cứu vì quyền của những nhóm yếu thế      Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS), một tổ chức độc lập đi tiên phong trong nghiên cứu những vấn đề nhạy cảm và ít được nghiên cứu ở Việt Nam như giới, tình dục, kỳ thị, phân biệt đối xử và quyền của các nhóm yếu thế, góp phần “lật ngược” lại những suy nghĩ đầy “định kiến” đã trở thành lối mòn thâm căn cố đế trong xã hội và đóng góp để các chính sách xã hội ngày càng nhân văn hơn.       ISDS nghiên cứu vì quyền của các nhóm thiểu số. Ảnh: TS. Khuất Thu Hồng (viện trưởng ISDS) thảo luận cùng các nhóm LGBT.  Cách đây gần mười năm, cuốn sách nghiên cứu “Tình dục chuyện dễ đùa khó nói” do ISDS xuất bản đã gây sự chú ý của cả giới học thuật và công chúng. Một số độc giả chia sẻ rằng khi đọc cuốn sách này họ vừa tâm đắc vừa ngỡ ngàng. Tâm đắc vì nó thảo luận những vấn đề “xưa như trái đất” và gần gũi với từng con người là tình yêu, tình dục nhưng lại ngỡ ngàng vì chúng được phân tích theo cách rất khác với quan niệm phổ biến trong xã hội. Những trải nghiệm riêng tư vốn chỉ ở trong “mật thất” của từng cá nhân đã được đem ra thảo luận nghiêm túc dưới cái nhìn cởi mở, thậm chí mang tính cách mạng.  Khai phá những vấn đề bị “lảng tránh”  “Tới những năm 1990, tình dục vẫn là một “vùng cấm kị”, không được thảo luận trong cuộc sống đời thường và bị coi là không phù hợp cho nghiên cứu xã hội. Trong khi đó, những hệ luỵ xã hội liên quan đến tình dục đang nổi lên, gây tác động không nhỏ tới mỗi cá nhân và từng gia đình như đại dịch HIV, tình dục sớm và nạo phá thai, thiếu hoà hợp về tình dục dẫn đến ngoại tình, bạo lực… Các nhà làm chính sách, giới nghiên cứu và cả những người làm công tác xã hội đều rất lúng túng, không biết phải ứng phó như thế nào”, TS Khuất Thu Hồng (Viện trưởng ISDS) chia sẻ. Do đó, ISDS triển khai nghiên cứu về vấn đề này vào năm 2003 với mục tiêu lấp dần khoảng trống kiến thức đó và thay đổi nhận thức của xã hội dù Viện mới được thành lập.  Chuỗi nghiên cứu về tình dục của ISDS bao gồm ba nghiên cứu định tính, một nghiên cứu định lượng để tìm hiểu quan niệm và thực hành tình dục ở Việt Nam, tiến hành từ năm 2003 đến năm 2009 ở nhiều địa phương trong cả nước, đã chứng minh rằng việc thiếu thảo luận một cách nghiêm túc và cởi mở đã củng cố những quan điểm sai lầm trong xã hội về tình dục và cản trở các chương trình xã hội liên quan (về y tế, giáo dục, quyền con người…). Do đó, cần phải chấm dứt sự lảng tránh, mà phải nghiên cứu, tìm hiểu nhiều hơn nữa về những khía cạnh khác nhau của tình dục, những yếu tố định hình và chi phối hoạt động sống quan trọng này của con người để có can thiệp phù hợp và kịp thời. “Nhiều người đặt câu hỏi liệu có thể chạm tới những vấn đề hết sức nhạy cảm và riêng tư đến vậy không, có thể thay đổi được quan niệm xã hội về tình dục hay không? Câu trả lời của chúng tôi là có”. Có thể nói, cụm nghiên cứu này của ISDS đã “tiên phong” mở đường cho việc thảo luận công khai về chủ đề tình dục trong giới nghiên cứu và giới làm chính sách tham khảo rộng rãi để thiết kế các dự án làm thay đổi hành vi tình dục, xây dựng hành vi tình dục an toàn.  “Nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam đòi hỏi trái tim dũng cảm. Không phải chỉ là việc bước chân vào những vùng cấm kỵ mà còn là sự vượt qua ánh mắt nghi ngờ của xã hội và nỗi lo lắng băn khoăn của người thân. Đã hơn một lần tôi bị hỏi: ‘Thiếu gì việc không làm mà lại đi nghiên cứu về những vấn đề tăm tối như tình dục, về mại dâm, ma tuý và HIV?’ Tôi cho rằng việc không muốn hay không dám nghiên cứu những chủ đề đó là thái độ ‘lảng tránh’ thực tế và phản ánh tư duy của những người ‘quân tử giả hiệu’. Không có nghiên cứu nào là tăm tối, chỉ có cách nhìn tăm tối với thực tiễn đời sống mà thôi.”TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng ISDS.    Cũng vào đầu những năm 2000, các vấn đề xã hội như nghiện ma tuý, HIV, mại dâm “nổ ra” ngày càng nhiều nhưng lại được giới làm chính sách nhìn nhận một cách mâu thuẫn và tiêu cực. Một mặt, các chương trình xã hội thường ít quan tâm đến những nhóm xã hội đang có nguy cơ cao với những vấn nạn đó. Mặt khác, truyền thông y tế công cộng lại gắn mác “nguy hiểm”, “tệ nạn” khiến công chúng càng hiểu sai và lo sợ. Tình trạng đó càng khiến “vùng cấm tệ nạn xã hội” có khả năng lây lan mạnh, càng khiến nhiều nhóm xã hội thiệt thòi do bị cản trở tiếp cận dịch vụ công và không có cơ hội “lên tiếng”. Để cung cấp thông tin và đưa ra giải pháp can thiệp, ISDS đã nghiên cứu về vấn đề này. “Lập luận của chúng tôi là, họ (những người nghiện ma tuý, mại dâm, có HIV…) là một bộ phận của xã hội. Nhiều khi, chính họ cũng là nạn nhân của những biến đổi xã hội tiêu cực. Tại sao họ sử dụng ma tuý và tìm đến mại dâm như một kế sinh nhai? Xã hội cũng phải chịu trách nhiệm, tìm ra câu trả lời về việc đó thay vì chỉ “đổ lỗi” cho các cá nhân”, TS. Hồng phân tích.  ISDS còn triển khai nhiều nghiên cứu để thay đổi nhận thức xã hội về những vấn đề như bất bình đẳng giới, quyền lợi của các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người di cư, cộng đồng LGBT… Ở mỗi chủ đề, ISDS luôn đặt ra một câu hỏi, đó là: liệu có thể thay đổi những nhận thức chưa đúng nhưng đã ăn sâu, bén rẽ vào tư tưởng của con người từ nhiều thế hệ nay hay không? Vẫn tiếp tục tinh thần đó, ngay trong năm 2016, ISDS cùng với mạng lưới Phòng chống Bạo lực Giới (GBVNet) thảo luận về chủ đề “Nạn nhân hay tội nhân: Những rào cản thể chế và văn hoá trong giải quyết bạo lực tình dục ở Việt Nam”. Cuộc thảo luận này đã chỉ ra, một thực trạng nhức nhối ở Việt Nam hiện nay là trong khi các vụ việc bạo lực tình dục không được xử lý thoả đáng thì nạn nhân lại bị xã hội kỳ thị, “đổ lỗi” và kêu gọi tăng cường thực thi pháp luật, nhìn nhận đúng đắn và lên tiếng mạnh mẽ để chấm dứt bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em.  Các nghiên cứu của ISDS thường kết hợp điều tra định lượng với phương pháp định tính nhằm mô tả thực trạng, phát hiện các xu hướng phổ biến đồng thời tìm hiểu sâu vấn đề để trả lời câu hỏi tại sao lại có hiện tượng xã hội đó. Chính vì vậy các nghiên cứu của ISDS thường được đánh giá cao và được sử dụng rộng rãi bởi các cơ quan làm chính sách và quản lý cũng như được trích dẫn bởi giới học thuật trong và ngoài nước.  Tất cả các nghiên cứu của ISDS đều được ứng dụng trong các hoạt động giảng dạy, xây dựng tài liệu truyền thông, nâng cao năng lực và vận động chính sách. Ví dụ, các nghiên cứu về giới và tình dục là cơ sở để ISDS xây dựng chương trình giảng dạy về giới và tình dục cho Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Phụ nữ, Khoa Công tác xã hội của trường Đại học Lao động – Xã hội… Đó cũng là nguồn thông tin đáng tin cậy mà giới truyền thông Việt Nam thường tìm đến. Trong nhiều năm qua, ISDS luôn nổi tiếng ở Việt Nam như một tổ chức chuyên gia về lĩnh vực này.  Khuyến nghị chính sách để không ai ở lại “bên lề”  Tất cả các vấn đề nghiên cứu của ISDS đều nhằm hướng tới một mục tiêu quan trọng là thay đổi chính sách sao cho đảm bảo quyền lợi của các nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế, thay đổi nhận thức xã hội sao cho nhân văn hơn và ngày càng chấp nhận tiếng nói đa dạng. Dựa trên nền tảng các nghiên cứu của mình, ISDS cung cấp bằng chứng cho giới làm chính sách chỉnh sửa các văn bản pháp luật, thay đổi cách thức xây dựng các chương trình xã hội. Trong mười lăm năm qua, ISDS tham gia góp ý xây dựng văn bản pháp luật trong nhiều lĩnh vực, chủ yếu gồm các lĩnh vực về gia đình và giới, phòng chống HIV, người khuyết tật…  Cụ thể, khi tham gia tư vấn xây dựng luật Phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/ AIDS) vào năm 2006, ISDS đã vận động để Luật phòng chống HIV “tách” HIV khỏi “tệ nạn xã hội” bởi cách hiểu cũ gắn HIV với “tệ nạn xã hội” là nguyên nhân gốc rễ của kỳ thị và phân biệt đối xử, dẫn tới thiệt thòi cho ngươi có HIV và càng làm gia tăng các gánh nặng xã hội. Viện cũng cộng tác với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng năng lực cho các cơ quan Đảng và giới truyền thông đại chúng trong việc giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV.  ISDS vận động chống phân biệt đối xử với người khuyết tật thông qua việc xây dựng Bộ Công cụ hướng dẫn giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật và nâng cao năng lực cho các tổ chức và cá nhân làm việc với người khuyết tật. Bộ công cụ đã được sử dụng để tổ chức chương trình tập huấn và hội thảo nâng cao nhận thức ở cấp quốc gia và cấp tỉnh và cấp xã tại nhiều tỉnh khác nhau. Đến năm 2010, Luật về Người khuyết tật đã chính thức đưa thêm vào các điều khoản liên quan tới chống phân biệt đối xử và kỳ thị với người khuyết tật.  Đó là những ví dụ tiêu biểu cho quá trình tham gia vào xây dựng và thay đổi pháp luật để đảm bảo quyền cho những nhóm yếu thế của ISDS. Trong tương lai, quá trình nghiên cứu để khuyến nghị chính sách này vẫn tiếp tục. Chẳng hạn, ISDS đang chỉ ra rằng người nghèo chưa được hưởng lợi đầy đủ từ các chính sách y tế và sẽ sử dụng các kết quả nghiên cứu để hỗ trợ người nghèo “nói lên” những bất cập trong tiếp cận dịch vụ y tế của họ. Từ đó, vận động thay đổi các chính sách y tế hiện hành để hỗ trợ quyền lợi của các nhóm nghèo, cận nghèo tốt hơn.  Những nghiên cứu của ISDS về những chủ đề bị “lảng tránh” trong xã hội luôn được chuyển tải thành những ấn phẩm ngắn dễ đọc với số đông độc giả (đồng thời với các xuất bản dưới dạng sách nghiên cứu, tham khảo dành cho giới chính sách và giới nghiên cứu). Nhưng để tăng hiệu quả truyền thông, nhằm góp phần thay đổi nhận thức xã hội mạnh mẽ hơn, ISDS chọn lựa một cách làm hoàn toàn khác với rất nhiều cơ quan nghiên cứu nhà nước, đó là thảo luận các kết quả nghiên cứu trước giới truyền thông, công chúng. Tất cả các nghiên cứu của ISDS đều được thảo luận công khai trong suốt quá trình thực hiện cho tới khi có kết quả chính thức (hai vòng hoặc ba vòng tuỳ thuộc vào thời gian, tính chất của các nghiên cứu). Giới truyền thông luôn được mời đến những sự kiện này và được ISDS hướng dẫn cách truyền thông đúng, tránh những lỗi truyền thông vô tình làm “khoét sâu” thêm tổn thương của các nhóm yếu thế. ISDS kết hợp với nhiều đài truyền hình, tờ báo lớn để sản xuất những chương trình truyền hình, các chuyên đề nhiều kỳ về tính dễ bị tổn thương và nhu cầu bảo trợ xã hội của các nhóm yếu thế, làm rõ những đặc trưng văn hoá cần tôn trọng ở các nhóm xã hội khác nhau. Các chương trình truyền thông về người di cư, bạo lực trên cơ sở giới, người khuyết tật… trên nhiều kênh thông tin từ nhiều năm nay luôn nhận được sự tư vấn của ISDS. Các nhà nghiên cứu của ISDS cũng rất thường “chịu khó” xuất hiện trước giới truyền thông để giải nghĩa, phân tích nguyên nhân về các vấn đề xã hội đang gây bức xúc trong dư luận. “Mặc dù rất bận tôi vẫn thu xếp thời gian để trả lời giới truyền thông, bởi vì tôi nghĩ rằng, nếu người làm nghiên cứu không lên tiếng, thì có thể vấn đề đó sẽ bị hiểu lầm một cách nghiêm trọng hơn”, TS Hồng nói.  Mặt khác, tất cả các nghiên cứu của ISDS đều có hợp phần kết hợp với các cơ quan nhà nước chuyên cung cấp dịch vụ công (như các cơ quan y tế, giáo dục) hoặc làm công tác tuyên truyền như ban Tuyên giáo, các Hội trực thuộc Mặt trận tổ quốc Việt Nam. ISDS soạn thảo nhiều bộ tài liệu gửi tới các cơ quan này và liên tục mở các lớp tập huấn trong khuôn khổ từng nghiên cứu nhằm thay đổi các nhận thức của các cơ quan này trước các vấn đề xã hội.  ISDS được thành lập vào năm 2002, hiện có 16 cán bộ và nghiên cứu viên, tập trung làm việc về các vấn đề xã hội quan trọng nhưng lại ít được các cơ quan nghiên cứu của nhà nước quan tâm như các nhóm thiểu số, yếu thế trong xã hội. ISDS nhận được tài trợ (từ các quỹ Ford, Rockefeller ,Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp của Chính phủ Mỹ- PEPFAR, Cơ quan phát triển Quốc tế Úc – Ausaid…) và kết hợp với nhiều cơ quan nghiên cứu, tư vấn chính sách (Tổ chức Lao động Quốc tế – ILO, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc – UNDP, Tổ chức Nghiên cứu Phát triển Quốc tế – IDRC của Canada…) đã tiến hành nhiều nghiên cứu tiên phong để giải thích những thách thức tồn tại trong xã hội Việt Nam và đề xuất các giải pháp về chính sách. Một số dự án nghiên cứu tiêu biểu mà ISDS đã tiến hành: Chuỗi nghiên cứu về Tình dục và Sức khỏe Tình dục, Tìm hiểu về Kỳ thị và Phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại Việt Nam, Điều tra quy mô lớn đầu tiên về người khuyết tật ở Việt Nam tại các tỉnh có tỷ lệ người khuyết tật cao, Bảo trợ xã hội cho người di cư ở Việt Nam, Các yếu tố quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam, Tiểu văn hoá của những người sử dụng ma tuý, Giảm kỳ thị liên quan đến mại dâm và ma tuý… Đến nay, ISDS đã trở thành một trong những cơ quan nghiên cứu có uy tín ở Việt Nam trong nghiên cứu ứng dụng và tư vấn chính sách.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Israel thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp bằng tư duy toàn cầu      Các startup ở Israel có thể phát triển được là nhờ tư duy toàn cầu hóa ngay từ khi hình thành ý tưởng và vai trò thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp của chính phủ.      Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh chụp ảnh với các diễn giả. Nguồn: TT truyền thông Bộ KH&CN.  Đó là những kinh nghiệm đã được hai chuyên gia khởi nghiệp từ Israel, bà Sarai Kemp, Phó Chủ tịch Phát triển Kinh doanh cho Trendines Agtech thuộc Tập đoàn Trendlines và ông Meir Dardashti, chuyên gia phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từ Vườn ươm Ideality Roads chia sẻ tại hội thảo “Kinh nghiệm của Israel về ươm tạo và thương mại hóa công nghệ” do Bộ KH&CN tổ chức ngày 14/11.  Vào năm 1984, Israel còn là một nước đang khủng hoảng với tỷ lệ lạm phát lên tới 450%. Tuy nhiên sau 20 năm, giờ đây quốc gia nhỏ bé với hơn tám triệu dân này đã nổi tiếng thế giới với hình ảnh “quốc gia khởi nghiệp” khi đứng thứ ba thế giới về số lượng các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Mỹ NASDAQ và thứ hai thế giới về đầu tư mạo hiểm quản lý bởi quốc gia. Hiện nay có trên 300 tập đoàn nước ngoài đặt trung tâm R&D tại Israel.  Bà Meir Dardashti chia sẻ rằng do quy mô thị trường nội địa quá nhỏ, các startup ở Israel không có lựa chọn nào khác ngoài việc hướng tới tiến ra thị trường quốc tế và đã dần định hình tư duy startup hướng tới giải quyết các vấn đề toàn cầu. Không toàn cầu hóa đồng nghĩa với không gọi được vốn, đây là mặc định trong cộng đồng khởi nghiệp của Israel.  Cùng với tư duy toàn cầu hóa thì theo ông MeirDardashti, việc quan tâm tới bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng quan trọng không kém. Trong những giai đoạn đầu, các startup không có tiền, không có sản phẩm, những gì duy nhất họ có là ý tưởng – thực tế đầu tư vào startup chính là đầu tư vào ý tưởng. Vì vậy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo những ý tưởng này không bị các công ty lớn lấy mất là rất cần thiết.            Nhưng kể cả khi có ý tưởng tốt thì cơ hội được các quỹ tư nhân hay các công ty đầu tư là rất nhỏ, bởi giai đoạn ban đầu đầy rẫy các rủi ro. Những nhà đầu tư thường không thích liều lĩnh, hầu hết họ đều chỉ đầu tư khi các startup đã phát triển ở một mức độ nhất định, sản phẩm đã định hình rõ hơn, mức độ rủi ro thấp hơn. Đây là điều cả hai diễn giả cùng nhấn mạnh tại buổi hội thảo. Do đó, hai diễn giả cho rằng cần có nguồn vốn hỗ trợ startup ngay từ ban đầu, nguồn vốn này gần như là cho không các startup, để họ có thể phát triển đạt đến mức có thể nhận được các khoản đầu tư tư nhân.  Sau khi đã vào vườn ươm, mỗi dự án sẽ nhận được khoản ngân sách trung bình khoảng 600.000 USD (85% là Chính phủ hỗ trợ và 15% do vườn ươm đầu tư). Dự án chỉ phải hoàn trả viện trợ trong trường hợp thành công với tỷ lệ là 3% phí bản quyền từ doanh thu mỗi năm. Nếu thất bại, các startup có thể tiếp tục đăng ký dự án mới và nhận hỗ trợ lại từ đầu, tất cả là nhờ có văn hóa “chấp nhận thất bại” của người Israel. Hiện nay, Chính phủ dành ngân sách thường niên là 50 triệu USD cho 18 vườn ươm trải rộng khắp cả nước. Mỗi năm có khoảng 85 công ty khởi nghiệp được thành lập ở các vườn ươm và 90% trong số đó hoàn thành nhiệm vụ ươm tạo.  Theo bà Sarai Kemp, 90% các startup sẽ chết sau khi gọi vốn ban đầu thành công, vấn đề không phải do công nghệ mà do những người làm startup thường chỉ giỏi về mặt kỹ thuật nhưng lại thiếu hiểu biết về kinh doanh và thị trường. Do vậy, tại các vườn ươm, startup chỉ cần tập trung vào việc phát triển sản phẩm, còn việc thương mại hóa sẽ do những chuyên gia trong vườn ươm phụ trách. Các vườn ươm tại Israel sẽ định hướng các startup chỉ tập trung vào một ứng dụng duy nhất của công nghệ để phát triển thành sản phẩm, trong đó cân bằng giữa ba yếu tố: độ lớn của thị trường cho ứng dụng, thời gian để phát triển ứng dụng và thời gian để thâm nhập thị trường.  Khi được hỏi về kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư quốc tế cho khởi nghiệp, ông Meir khuyến nghị Việt Nam cần thay đổi tư duy, cách làm hiện nay – ưu đãi cho các doanh nghiệp nước ngoài không phải là giải pháp lâu bền mà phải xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp tốt để các nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội. Để làm được điều này, chính phủ cần chịu trách nhiệm trong cả quá trình xây dựng và duy trì hệ sinh thái. Thể chế và pháp luật ở Việt Nam cũng cần cải thiện để hỗ trợ tốt nhất cho đổi mới sáng tạo, đặc biệt là cần đẩy mạnh bảo hộ sở hữu trí tuệ.  Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho rằng, vai trò của Chính phủ trong xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp là rất quan trọng và rất cần các chuyên gia tư vấn sâu hơn. Cụ thể, ông đề nghị hai chuyên gia sẽ tham gia tư vấn Chương trình khởi nghiệp đổi mới quốc gia Việt Nam.    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Ít nhất 75% loài cá trên thế giới bị đe dọa      Báo cáo mới đây của UNEP đã chỉ rõ rằng sự gia tăng nhanh khí thải gây hiệu ứng nhà kính đe dọa ít nhất 75% loài cá, tác động tiêu cực tới 2,6 tỉ người trên hành tinh đang sống nhờ nguồn lợi thủy sản.      Môi trường nước tự nhiên trên biển, môi trường sống các loài cá, đang bị đe dọa nghiêm trọng, lượng CO2 trên tầng khí quyền ở mức cao sẽ làm tăng mức a-xít trên biển và các đại dương, làm tổn hại các rặng san hô và các sinh vật phù du, môi trường sống và nguồn thực phẩm của cá. Ngoài ra, biến đổi khí hậu đang đe dọa cấu trúc bờ biển, nguồn thực phẩm, nguồn nước và sức khỏe của con người.   TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ít tiếp xúc với vi khuẩn làm tăng khả năng bị dị ứng      So với trước kia, xã hội hiện nay có nhiều  người bị dị ứng hơn. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều thuyết để giải  thích vấn đề này và giờ đây, họ tin rằng có lẽ họ đã phát hiện thấy căn  nguyên gây ra dị ứng.    Mỗi người chúng ta đều bị vi khuẩn bao vây từ đầu đến chân; trên lớp da, trong vòm miệng và trong ruột, dạ dày đều có vi khuẩn. Số lượng vi khuẩn đó nhiều gấp 10 lần số tế bào trong cơ thể. Vi khuẩn có tác dụng quan trọng trong việc rèn luyện hệ miễn dịch của chúng ta.   Các nhà khoa học Anh cho biết, so với người ở các nước đang phát triển thì người ở các nước phương Tây có quá ít loại vi khuẩn trên và trong cơ thể. Họ phát hiện thấy tại một bộ lạc sống bằng nghề săn bắt sống trong môi trường có nhiều loại vi khuẩn đa dạng thì tỷ lệ người bị dị ứng chỉ có 1/1.500; trong khi ở Anh, cứ ba người thì một bị dị ứng.          Những nguồn gây dị ứng phổ biến nhất:    – Phấn hoa,  – Mạt bụi nhà (house dust mites),  – Hạt mốc,  – Ong mật và ong nghệ,  – Chó, mèo và các con vật nuôi,  – Hóa chất dùng trong công nghiệp và gia đình,  – Thực phẩm như sữa bò, hạt dẻ, trứng gà…        Kháng sinh chính là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với các vi khuẩn. Nó vốn là loại thuốc dùng để diệt virus, bảo vệ con người, song nó cũng diệt luôn cả những vi khuẩn vô hại đối với cơ thể con người.   Theo các nhà khoa học Na Uy, 52% trẻ chào đời theo cách sinh mổ dễ mắc chứng hen suyễn hơn so với trẻ được sinh thường. Họ tin rằng những vi khuẩn mà thai nhi tiếp xúc khi lọt lòng mẹ giúp chúng sau này tránh được dị ứng. Còn các nhà khoa học Anh phát hiện, sử dụng kháng sinh cho trẻ nhỏ sẽ làm cho xác suất mắc bệnh eczema tăng 40%.  Hiện nay người ta cũng đã biết rằng, trong sữa mẹ có tới 900 loại vi khuẩn, cho nên những trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ thì ít bị dị ứng.  Rõ ràng, lượng vi khuẩn trong môi trường sống hiện đại ít hơn trước đây, vì thế số người bị dị ứng cũng nhiều hơn trước. Con người hiện đại cũng sống phần lớn thời gian trong nhà, bỏ lỡ cơ hội tiếp xúc với các loại vi khuẩn có trong môi trường tự nhiên. Bởi thế, có thể nói, biện pháp đơn giản nhất để giảm nguy cơ mắc dị ứng là đi ra ngoài trời, dù là dắt chó đi dạo hay cuốc bộ đi học.    Nguyễn Hải Hoành dịch theo bbc.com        Author                Quản trị        
__label__tiasang Jack Steinberger: một đời cho vật lý hạt      Ông là nhà vật lý hạt từng giành giải Nobel với những khám phá về hạt neutrino muon.      Khi nhà vật lý hạt Jack Steinberger bắt đầu sự nghiệp vào năm 1945, các nhà khoa học mới biết một chút về các hạt hạ nguyên tử. Ngày nay, hàng loạt bằng chứng và những khối cơ bản của nó đã được hệ thống hóa vào trong mô hình chuẩn của vật lý hạt. Qua đời ở tuổi 99, Steinberger đã có đóng góp vô cùng to lớn – từ khám phá ra các hạt để phân nhóm chúng. Ông chia sẻ giải Nobel Vật lý vào năm 1988 với Melvin Schwartz và Leon Lederman cho thực nghiệm năm 1962 phát hiện ra sự tồn tại của hai dạng riêng biệt của một hạt bí ẩn: hạt neutrino.  Neutrino hiếm khi tương tác – chúng có thể băng qua trái đất. Chúng không mang điện tích và phản hồi lực tương tác hạt nhân ‘yếu’, vốn tương tác trong các hạt nhân nguyên tử và chi phối hiện tượng phóng xạ. Từ những năm 1930, các nhà khoa học đã dự đoán về các hạt neutrino và tính toán mức năng lượng chưa giải thích được có thể phát xạ các hạt electron trong phân rã phóng xạ. Steinberger và cộng sự đã chứng tỏ có nhiều dạng neutrino. Họ tìm thấy loại thứ hai, liên quan đến hạt muon — một hạt tương tự với hạt electron bền nhưng nặng hơn 200 lần và với một thời gian sống ngắn hơn. Steinberger cũng giúp tìm ra các đặc tính của hạt quark, những cấu tử cơ bản của proton và neutron.  Sinh ra trong một gia đình Do thái Đức, Steinberger đã nhanh chóng rời khỏi đất nước sau khi phát xít cầm quyền và tới Mỹ vào năm 1934. Bố mẹ nuôi ở Chicago, Illinois, đã tạo điều kiện để ông được hưởng sự giáo dục tốt. Đầu tiên, Steinberger học hóa tại trường đại học Chicago, tham gia quân đội Mỹ sau khi tốt nghiệp năm 1942, chỉ một năm sau khi Mĩ tham gia vào Đồng Minh ở đại chiến thế giới thứ hai. Ông làm việc với các nhà vật lý tại Viện Công nghệ Massachusetts tại Cambridge về việc dùng radar để cải thiện độ chính xác của máy bay ném bom.  Sau chiến tranh, ông trở lại trường đại học Chicago để theo đuổi niềm đam mê vật lý. Ông được chính Enrico Fermi, người từng được giải Nobel vật lý năm 1938 với việc thực hiện chuỗi phản ứng hạt nhân đầu tiên. Fermi cũng từng nghiên cứu về lý thuyết hạt neutrino và đặt tên cho nó, do đó Fermi đã gợi ý cho Steinberger bí ẩn về sự phân rã của muon, vốn từng tìm thấy trong các tia vũ trụ vào năm 1936. Khi bị phá vỡ, hạt này trở thành một electron và mất năng lượng. Steinberger quy mức năng lượng này không chỉ tạo thành một mà hai hạt neutrino, một giả thuyết mà sau này ông xác nhận về mặt thực nghiệm năm 1948.    Melvin Schwartz, Jack Sandweiss, Martinus Veltman và Jack Steinberger thảo luận. Nguồn: mainpost.de  Khao khát khai thác những thiết bị và kỹ thuật là một dấu ấn trong nghiên cứu của Steinberger. Trong năm 1949, ông làm việc tại Phòng thí nghiệm Phóng xạ tại trường đại học California, Berkeley, nơi ông sử dụng một máy gia tốc mới để nghiên cứu về pion, một loại hạt từ tia vũ trụ khác. Ông đã chứng tỏ sự tồn tại của hạt pion trung hòa về mặt điện tích có thời gian sóng rất ngắn, vốn từng được ông tính toán trước đó bằng lý thuyết. Ông rời tới đại học Columbia ở New York vào năm 1950, một phần vì ông từ chối ky vào một lời tuyên thệ chống cộng sản. Ở đó, ông khai thác một buồng bong bóng (bubble chamber) mới được phát minh ở thời điểm đó – thiết bị cho phép thấy được những con đường các hạt di chuyển nhanh trong propane lỏng hoặc hydro – để làm ra những khám phá về những hạt mới. Nó bao gồm những hạt ‘lạ’ vì chúng phân rã chậm hơn gì người ta dự đoán.  Chính tại Columbia, Steinberger và đồng nghiệp đã thực hiện thí nghiệm huyền thoại giúp họ giành giải Nobel. Cựu sinh viên của Steinberger là Schwartz đã tạo ra được một một chùm neutrino năng lượng cao. Họ cũng khai thác một máy gia tốc mới tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, New York, và xây dựng một máy dò có khả năng tác động nhanh tạo ra những vệt hạt có thể tìm thấy được như những đường tia trên thang độ lớn. Một tấm bảo vệ bằng thép dày 13,5 mét, được làm từ các tấm thép bảo vệ tàu chiến được họ dùng để ngăn các hạt, ngoại trừ hạt neutrino, và một buồng tia 10 tấn được thiết kế để phát hiện ra cả những hạt khác.  Steinberger chuyển tới châu Âu vào năm 1968 để làm việc tại CERN, Phòng thí nghiệm vật lý hạt gần Geneva, Thụy Sĩ. Buồng đa dây, mới được phát minh, có khả năng thu thập dữ liệu nhanh gấp ngàn lần buồng bọt. Steinberger dùng nó để mở rộng nghiên cứu của mình về các hạt lạ. Năm 1983, ông phụ trách việc thiết kế và vận hành một thực nghiệm lớn mang tên ALEPH để khai thác vành va chạm máy gia tốc Electron–Positron lớn ở CERN. Trong năm 1989, ALEPH đã chứng minh được không chỉ có ba hạt neutrino – electron và muon neutrino, và một hạt thứ ba liên kết với hạt tau, một hạt ‘electron nặng’ khác được khám phá vào năm 1975. Chính phát hiện này đã hoàn tất câu chuyện  mà Steinberger đã bắt đầu với luận án tiến sĩ của mình.    Steinberger nghỉ hưu ở CERN vào năm 1986 nhưng vẫn tiếp tục làm việc với các nhà nghiên cứu của thí nghiệm ALEPH cho đến những năm 1990. Ông còn quan tâm đến vật lý thiên văn và biến đổi khí hậu, và cùng một số nhà khoa học đoạt giải Nobel khác ký Tuyên bố Mainau năm 2015 để đề nghị các chính phủ giới hạn phát thải khí nhà kính.  Jack Steinberger được giới khoa học khâm phục bởi thiên hướng và năng lực trong vai trò của một nhà vật lý thực nghiệm, sự thông tuệ hiểu biết của một người cố vấn và bởi sự tử tế của một người bạn chân thành. Không phải lúc nào ông cũng đúng – ví dụ sau khi thua cuộc một số người bạn là các nhà vật lý lý thuyết về một khía cạnh nào đó của vật lý, ông thường ‘nộp’ phần thua là một chai rượu vang ngon. Ông cũng quan tâm sâu sắc về sự vận hành của thế giới tự nhiên, tham gia các buổi leo núi và chèo thuyền.  Thờ ơ với các giải thưởng, ông thường nói rằng niềm tin của ông là “kỳ vọng vào việc một vài người trong số chúng ta tốt hơn những người khác không phải là một điều tốt”. Ông luôn cảm thấy mình may mắn trong cuộc đời và nhận thấy là gia đình Chicago đã trao cho ông nhiều cơ hội giáo dục khi còn nhỏ. Do đó ông cho rằng “Anh chỉ có một cuộc đời: hãy đón nhận bất cứ thứ gì sẽ đến”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03655-w  https://www.nytimes.com/2020/12/16/science/jack-steinberger-dead.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Jacob Barnett: Einstein thế kỷ 21?      Jacob Barnett, 12 tuổi, mắc chứng trầm cảm, có chỉ số thông minh cao hơn Einstein, đang cố gắng giải quyết một số khái niệm toán học tiên tiến nhất và phát triển lý thuyết tương đối của mình, thách thức lý thuyết của Einstein.      Jacob Barnett, tên gọi thân mật là Jake, có chỉ số thông minh IQ bằng 170 – tức là cao hơn Einstein – và được các giáo sư trường ĐH Indiana ở thành phố Indianapolis thu xếp cho học ở trình độ bậc tiến sĩ [doctorate level].  Có thể gọi Jake là thần đồng. Theo lời kể của người nhà, chỉ trong vòng hai tuần cậu đã tự học xong mấy môn toán vi tích phân, đại số, hình học. Hiện nay Jake đang nghiên cứu đề xuất học thuyết mà cậu gọi là Phiên bản mở rộng lý thuyết tương đối của Einstein [expanded version of Einstein’s theory of relativity].  Chẳng hiểu con mình là thiên tài hay là mắc tật ba hoa chích chòe, bà Kristine Barnett, 36 tuổi, mẹ của Jake, bèn gửi băng video quay cảnh Jake nói về học thuyết của cậu cho Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton để họ xem xét.   GS Scott Tremaine, một chuyên gia thiên thể học nổi tiếng thế giới, viết Email trả lời gia đình Jacob: “Tôi rất ấn tượng trước việc cháu quan tâm tới môn vật lý và ý nghĩa của những kiến thức cháu đã nắm được cho tới nay. Lý thuyết Jacob đang nghiên cứu có liên quan tới mấy vấn đề hóc búa nhất trong vật lý thiên thể và vật lý lý thuyết. Bất kỳ ai giải quyết được các vấn đề đó đều sẽ có khả năng đoạt giải Nobel.”  Khi tiếp các nhà báo, bà Kristine khẳng định năng khiếu của Jacob không phải là di truyền từ bà, vì “Tôi còn thi trượt môn toán kia mà”. Chẳng riêng gì bà, cả gia đình này đều không giỏi toán. Jake từng ca cẩm: “Mỗi lần cháu bàn bạc chuyện toán học với ai đó trong nhà, mọi người cứ ngẩn tò te nhìn cháu.”  Từ nhỏ, Jacob đã được chẩn đoán mắc hội chứng Aspergers, một dạng nhẹ của chứng tự kỷ. Ông bố cho biết cậu con trai của ông khó bộc lộ tình cảm và ít tiếp xúc với người khác. Mãi đến năm lên hai, Jacob mới biết nói, vì thế bố mẹ cậu rất lo. Ba tuổi, Jacob bắt đầu chơi trò xếp hình có đến 5.000 miếng, thậm chí còn nghiên cứu cả bản đồ giao thông tiểu bang Indiana, nơi có thành phố Indianapolis mà gia đình Jacob đang sống, và nhớ tên từng con đường cao tốc.  Tám tuổi, Jacob tốt nghiệp trung học rồi tham dự lớp vật lý thiên thể cấp cao do ĐH Indiana và phân hiệu Indianapolis của ĐH Purdue liên kết tổ chức. Các học viên dự lớp đều trên 18 tuổi. Thế nhưng mỗi khi gặp chỗ nào khó hiểu, họ đều đến nhờ Jacob giải thích. Còn thầy hướng dẫn khoa học của Jacob là GS John Ross cho biết: thành tích học của Jacob thuộc loại “xuất sắc”.   Có điều Jacob ngủ rất ít, trong đầu toàn hiện lên những con số. Gần đây đêm nào chú bé cũng nghĩ chuyện vạch ra cái sai của lý thuyết Big Bang (Vụ nổ lớn sáng tạo nên vũ trụ). “Có nhiều chuyện khiến cháu không thể ngủ được,” Jacob kể với các nhà báo.  Thông tin về thần đồng thường được giữ kín bởi đây là cách tốt nhất để bảo vệ các tài năng mới chớm nở ấy. Thực tế cho thấy nhiều thần đồng khi lớn lên có số phận rất trái khoáy. Chẳng hạn người có IQ cao nhất thế giới – 228 điểm – là bà Marilyn Vos Savant hiện cũng chỉ làm quản trị một website giải thích các hiện tượng khoa học. Vì thế bạn chớ nên thắc mắc vì sao báo chí chưa thể tiết lộ nhiều về nhân thân Jacob Barnett. Bạn chỉ có thể chờ đợi. Biết đâu đấy, ít lâu nữa chúng ta sẽ nghe nói về một Einstein của thế kỷ XXI!  Bạn đọc có thể xem đoạn video cảnh Jacob giải trình lý thuyết của em theo link sau đây: http://www.cbsnews.com/8301-504784_162-20047193-10391705.html.   Huy Đường   (Theo Daily Mail)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Jakarta xây tường thành khổng lồ ngăn lũ      Một tường thành dài 35 km sẽ bảo vệ thủ đô  Jakarta của Indonesia trước nạn lũ lụt. Một số vùng của thành phố đang  bị lún và hiện đã ở mức thấp hơn mực nước biển. Công trình sẽ được xây  dựng trong 30 năm với tổng chi phí trên 40 tỷ đôla.    Nhiều thành phố lớn ở châu Á đang điêu đứng vì bị bão lụt hoành hành, trong đó Jakarta đứng đầu danh sách. Thủ đô của Indonesia đang ngày càng lún sâu hơn. Một phần vùng duyên hải phía bắc thành phố với 10 triệu dân mỗi năm có thể bị lún tới 14 cm – trong vài thập niên tới, mức lún có thể lên tới nhiều mét.   Một tường thành khổng lồ dài 35 km băng qua vịnh Jakarta có nhiệm vụ bảo vệ thành phố trước nạn lụt. Dự án này đã được chính thức khởi công. Khoản tiền đầu tư xây dựng cho cái gọi là đại tường thành Jarkarta có thể lên tới 40 tỷ đôla. Ngoài ra sẽ hình thành thêm 17 đảo nhân tạo để xây dựng nhà ở. Chính phủ Indonesia hợp tác chặt chẽ với Hà Lan trong việc triển khai dự án này.   Những người ủng hộ dự án cho rằng tường thành là giải pháp duy nhất có thể bảo vệ thủ đô của Indonesia khỏi nạn lụt trong một thời gian dài. Nước không phải chỉ dâng lên từ biển mà cả từ những con sông đổ vào thành phố.   Do tăng trưởng dân số quá cao nên người ta phải bơm ngày càng nhiều nước sinh hoạt từ lòng đất. Kết quả là mặt đất ngày càng bị lún nhiều hơn, đây là một vấn đề gay cấn mà tất cả các thành phố lớn trên thế giới phải đương đầu. “Xét cho cùng thì chúng ta đang bơm nước để bản thân ngày càng bị lún sâu hơn”, chuyên gia Victor Coenen, nhà tư vấn của thành phố làm việc cho hãng Witteveen and Bos của Hà Lan nói.   Hà Lan là nước có nhiều kinh nghiệm xây dựng những con đê vững chắc. Khoảng một phần tư diện tích Hà Lan thấp hơn mực nước biển. Tuy nhiên xây dựng những con đê cao không phải là giải pháp duy nhất. Để đối phó với việc nước biển dâng, người Hà Lan còn có giải pháp xây dựng nhà nổi.   Sau vụ lụt năm 2007 làm cho hàng trăm nghìn dân phải đi sơ tán, ý tưởng xây dựng tường thành bảo vệ Jakarta trước lũ lụt đã ra đời. Trước hết phải gia cố những tường thành hiện có để bảo vệ khu vực phía bắc thủ đô. Sau đó xây dựng một bức tường thành trong vùng vịnh Jakarta. Khoảng cách của bức tường thành này ra tới bờ biển khoảng từ 6 đến 8 km. Phần tường thành ngoi lên khỏi mặt nước là 7 mét.    Một số nhà quan sát tỏ ra không tin dự án sẽ hoàn thành vào khoảng thời gian từ 2025 đến 2030. Khoản tiền tỷ này cũng có thể bị rơi rớt vào những kênh mờ ám. Tiếc rằng tham nhũng và quản lý yếu kém là khá phổ biến đối với những dự án lớn ở Indonesia.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang James P. Allison: Người đi ngược đám đông      Từ những năm 1980, James P. Allison, trưởng Khoa miễn dịch và giám đốc điều hành của Nền tảng Miễn dịch trị liệu ở Trung tâm Ung thư MD Anderson của Đại học Texas, tin rằng việc giải phóng hệ thống miễn dịch là một cách để đánh bại ung thư khi hầu như không có ai tin vào điều đó. Đến nay, một giải thưởng Nobel vào năm 2018 và một danh sách bệnh nhân ung thư sống sót ngày càng dài chính là minh chứng hùng hồn cho quan điểm đúng đắn của ông.  Bài phỏng vấn ông dưới đây của tạp chí Quanta cho thấy hành trình đi ngược đám đông của ông để tìm ra một loại hình trị liệu ung thư mới này.      James P. Allison, năm nay 71 tuổi, đã nhận giải thưởng Nobel năm 2018 cho những khám phá về hệ thống miễn dịch và sự phát triển các liệu pháp giúp giải phóng hệ thống miễn dịch để tấn công ung thư một cách mạnh mẽ hơn.   Việc giành giải thưởng Nobel đã thay đổi cuộc đời ông như thế nào?    Ồ, vâng. Có một thời gian, ngay sau buổi lễ trao giải Nobel, tôi không thể vào văn phòng của mình vì vào buổi sáng mọi người đợi tôi để họ có thể chụp ảnh selfie và xin chữ ký. Nhưng tôi cần phải nói điều này: Dù tốt hay xấu, giải thưởng Nobel và các giải thưởng khác đã xác nhận liệu pháp miễn dịch – cụ thể là chốt kiểm soát miễn dịch –  có hiệu quả trong việc ngăn chặn bệnh ung thư. Giải thưởng Nobel đã giúp khẳng định ung thư có thể được chữa khỏi.      Liệu pháp miễn dịch được cho là thay đổi lớn đầu tiên trong điều trị ung thư trong suốt 100 năm. Ông có nghĩ rằng nguồn gốc của sự hoài nghi có thể liên quan đến sự khác biệt của nó so với những gì đã trở thành điều trị tiêu chuẩn – thường là sự kết hợp của phẫu thuật, xạ trị và hóa trị?    Phần nào, tuy nhiên những loại thuốc này nhắm vào hệ thống miễn dịch, không phải tế bào ung thư. Chúng giúp giải phóng hệ thống miễn dịch để chính nó sẽ tiêu diệt ung thư. Các loại thuốc dựa trên ý tưởng rằng hệ thống miễn dịch có khả năng thích nghi của chúng ta có thể nhận ra và phá hủy các tế bào bất thường của chính chúng ta.    Và điều trị thực sự có hiệu quả! Hơn 20% bệnh nhân u ác tính di căn được điều trị bằng phương pháp này đã đạt được một phản ứng dài hạn. Trước đây, với khối u ác tính di căn, thời gian trung bình giữa chẩn đoán và tử vong là khoảng bốn tháng. Chúng tôi thấy một số bệnh nhân u ác tính đã sống tiếp 10, 20 năm sau khi được chẩn đoán. Có một người phụ nữ đã từng tham gia vào giai đoạn thử nghiệm đầu tiên với Ippy, và đã 19 năm trôi qua bà vẫn sống tốt.      20% có đủ tốt không?    Không. Nó không phải tất cả những gì chúng tôi muốn đạt được. Nghiên cứu vẫn đang tiếp tục. Chúng tôi vẫn còn trong những ngày đầu của liệu pháp miễn dịch. Với khối u ác tính di căn, ngay bây giờ, chỉ với ipilimumab, 20 phần trăm số bệnh nhân có phản ứng. Với một loại thuốc hoạt động trên PD-1 (tế bào protein chết được lập trình 1), một chốt kiểm soát miễn dịch khác được tìm thấy độc lập bởi Tasuku Honjo của Đại học Kyoto, nó có thể tăng lên đến 30 phần trăm. Nếu bạn kết hợp cả hai, phản hồi sẽ ở mức 55%.Với các liệu pháp đơn trị liệu nhắm đến một chốt kiểm soát miễn dịch, tỷ lệ đáp ứng với ung thư thận là khoảng 30%. Nếu bạn kết hợp hai phương pháp trị liệu, nó có thể sẽ tiến gần hơn tới 50% đối với cả ung thư thận và bàng quang.     Các nhà nghiên cứu nói rằng những đột phá của liệu pháp miễn dịch có khả năng đi kèm với các phương pháp điều trị kết hợp. Ông có đồng ý không?    Chắc chắn rồi. Bởi vì ung thư có những lỗ hổng nhất định. Khi chiến đấu với nó, chúng tôi đã nghĩ không chỉ về các tế bào ung thư mà cả môi trường vi mô khối u. Đó là một điều phức tạp. Nếu bạn muốn loại bỏ khối u, bạn chỉ cần giải quyết nhiều vấn đề cùng lúc.     Trong nhiều năm, ông như đi ngược giới nghiên cứu, một người ngoài cuộc. Việc giành giải Nobel và các giải thưởng khác đã biến ông thành người trong cuộc?     Như chúng ta nói, có khoảng 3.000 thử nghiệm liệu pháp miễn dịch khác nhau đang được tiến hành.    FDA đã phê duyệt liệu pháp ức chế điểm kiểm tra đối với  ung thư phổi tế bào không nhỏ, ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư đầu và cổ, ung thư bàng quang, ung thư hạch Hodgkin, một số loại ung thư tế bào B lớn lan tỏa, ung thư thực quản và một số bệnh ung thư đại trực tràng mà có khiếm khuyết do DNA bị phá hoại. Trên thực tế, liệu pháp miễn dịch đã được phê duyệt cho bất kỳ loại ung thư nào có khiếm khuyết trong sửa chữa tổn thương DNA được gọi là mất ổn định vị vệ tinh (microsatellite instability).      James P. Allison và đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm.   Các công ty dược phẩm lớn bây giờ đều đã nhập cuộc. Nhiều công ty công nghệ sinh học cũng đang cố gắng để tham gia. Tuy nhiên, những gì bạn thấy là rất nhiều công ty có bằng sáng chế về các loại thuốc cũ hơn, thông thường hơn đang thử nghiệm bằng cách kết hợp chúng với các chốt kiểm soát, chỉ vì họ đã sẵn có các loại thuốc. Điều này đang được thực hiện một cách rất không cẩn trọng. Rất nhiều trong số đó đã thất bại, nhưng thông tin đó thường bị mất vì không có yêu cầu báo cáo. Đó vẫn là thông tin quan trọng. Vì vậy, nhiều kết hợp đang được thử và bị trùng lặp. Nó thật sự là một mớ hỗn độn.     Những thử nghiệm này đang được thực hiện trên bệnh nhân ung thư thực tế?    Tôi không chỉ nói đến việc rất nhiều bệnh nhân không được điều trị để giúp họ cải thiện, vấn đề còn ở chỗ chúng ta chỉ có một số lượng bệnh nhân nhất định, và những thử nghiệm tiềm năng nhất không có đủ bệnh nhân và đủ nhanh để giúp thuốc được đưa ra thị trường nhanh hết mức có thể.      Điều này có đúng đạo đức không?     Tôi nghĩ rằng nó phi đạo đức. Tôi nghĩ không nên có bất kỳ thử nghiệm nào mà trong đó chúng ta không học được điều gì. Tôi và Padmanee Sharma, người làm về điều trị ung thư lâm sàng, đã phát triển Nền tảng Liệu pháp Miễn dịch tại MD Anderson. Chúng tôi hiện đang tham gia vào 117 thử nghiệm khác nhau. Khi nhận được mô khối u từ bệnh nhân trước và sau khi điều trị, chúng tôi mổ xẻ nó, tìm kiếm những thay đổi trong các tế bào, biểu hiện và cấu trúc gene. Điều này có thể cho chúng ta biết một vài điều về những gì đã xảy ra. Nếu chỉ tìm kiếm một tín hiệu lâm sàng rằng một loại thuốc có tác dụng hay không, và đó là tất cả, chúng tôi có thể sẽ không học được gì.     Một câu hỏi cá nhân. Padmanee Sharma là người vợ thứ hai của ông. Một trong những câu chuyện lưu truyền là khi ông cầu hôn bà ấy, ông đã nói rằng chúng ta nên kết hôn vì không ai khác có thể chịu đựng được một trong hai.    Ý tôi là, không ai thích một trong hai chúng tôi, vì cả hai chúng tôi đều quá quan tâm tới tế bào T – các tế bào tấn công của hệ thống miễn dịch.     Bây giờ ông đã kết hôn, ông và bà có nói về các tế bào T cả ngày không?    Cũng có nhiều lúc, đúng vậy. Đó là những gì chúng tôi quan tâm. Chúng tôi cũng nói về âm nhạc, và chúng tôi cũng có thời gian để nghỉ ngơi thư giãn.  Nhưng không một ngày nào trôi qua mà chúng tôi không nói về một điều gì đó liên quan đến các tế bào T, đặc biệt là do chúng tôi làm việc cùng nhau trên Nền tảng Liệu pháp Miễn dịch.      Chúng ta có thể quay lại một chút ở đây không? Tôi tự hỏi điều gì đã thu hút ông làm nghiên cứu khoa học ngay từ đầu.     Không. Khi tôi bắt đầu học đại học, tôi biết tôi muốn làm về sinh học – hoặc là một bác sĩ. Cha tôi đã từng là một bác sĩ ở vùng nông thôn. Khi còn học đại học – tại trường Texas – tôi đã thấy rằng đào tạo y khoa giống như lấp đầy kiến thức. Công việc của tôi chỉ đơn giản là đóng gói: chỉ cần có rất nhiều thông tin sẵn trong đầu. Và tốt hơn là nên đúng! Bởi vì nếu bạn sai, bạn có thể làm tổn thương bệnh nhân của mình.    Là một nhà nghiên cứu khoa học, bạn có thể sai. Bạn có một ý tưởng về một cái gì đó mà không ai hiểu và bạn đang cố gắng tìm ra nó. Và cách duy nhất bạn có thể làm là đặt ra một giả thuyết và thực hiện một thí nghiệm để rồi kết luận: Không, không phải như vậy.     Tại sao ông chọn nghiên cứu ung thư? Vì mẹ, cha và anh trai của ông đã mất vì ung thư ư? Đó có phải là một phần động lực?    Động lực của tôi là một điều phức tạp. Tôi là một nhà khoa học cơ bản. Đó là những gì đã thúc đẩy tôi. Tôi có thể nói rằng tôi được thúc đẩy để nghiên cứu về bệnh ung thư. Tôi vào khoa học vì tôi thích khoa học.     Quay lại thời gian khi ông đang thực hiện nghiên cứu đầu tiên của mình, miễn dịch học không phải là một lĩnh vực đặc biệt thu hút. Đó chắc chắn không phải là nơi mà một anh chàng thông minh có thể tạo được danh tiếng cho mình. Tại sao ông lại theo đuổi nó?     Ông nói đúng. Khi tôi lần đầu tiên đến Berkeley vào những năm 1990, họ đang cố gắng xác định lại sinh học hiện đại, và một số người thậm chí phản đối kịch liệt việc có một khoa miễn dịch hay không. Họ cảm thấy rằng miễn dịch học không phải là một môn học thực sự bởi vì nó không đối phó với các quá trình sinh học cơ bản, quá trình tĩnh áp dụng cho mọi thứ. Để trở thành một nhà sinh vật học thực thụ, họ tin rằng chúng ta cần nghiên cứu những thứ như cách sao chép DNA, cách tạo protein hoặc cách tạo RNA. Tôi nghĩ rằng họ thật ngớ ngẩn.      Tại sao ngớ ngẩn?    Bởi vì có những yếu tố chính của miễn dịch học mà các nhà miễn dịch học vẫn chú ý đến dù người ngoài không thấy. Sinh học tế bào T là một ví dụ. Tôi muốn biết làm thế nào hệ thống miễn dịch nhận ra những sinh vật ngoại lai. Làm thế nào có thể nhận ra điều đó? Điều gì quy định điều đó? Các tế bào và phân tử liên quan gì đến nhau? Điều gì giúp hoặc ngăn bạn nhận ra bản thân? Tất cả những điều này là duy nhất của hệ thống miễn dịch. Đó là những câu hỏi khiến tôi tò mò. Cuối cùng tôi đã xác định được thụ thể kháng nguyên tế bào T, đó là cách các tế bào T nhận ra bất cứ điều gì.     Vì vậy, làm thế nào ông có thể chiến đấu chống lại xu hướng khoa học thông thường?    Sau quá trình làm postdoc tại Scripps, tôi chuyển đến cơ sở MD Anderson mới ở Smithville, Texas. Nó rất mới và rất cô lập. Chỉ có sáu giảng viên. Tôi là nhà miễn dịch học duy nhất ở đó, vì vậy không có ai nói với tôi rằng tôi đã sai.Tôi nghĩ rằng, hoặc là tôi quá ngu ngốc để hiểu, hoặc không ai biết họ nói về cái gì. Tôi chỉ cần ngồi xuống và tìm ra điều gì đó hợp lý với tôi, đưa ra những giả định và dự đoán nhất định, và chỉ cần làm điều đó.     Tại sao ông có đủ niềm tin vào bản thân để đi một mình?    Bởi vì tôi có thể đưa ra một số giả định tối thiểu nhất định, dựa trên một ít dữ liệu. Tôi biết khoa học là gì. Tôi biết làm thế nào để sử dụng nó. Nếu ai đó cho tôi thấy rằng tôi đã sai và có một số dữ liệu mà thuyết minh cho tôi về điều đó, thì tôi sẽ thừa nhận tôi sai. Ý tôi là, tôi đã phải làm điều đó một vài lần. [Cười.] Không quá thường xuyên, cảm ơn Chúa.     Khi chúng ta gặp nhau năm năm trước, ông kể cho tôi về một trong những khoảnh khắc lớn trong cuộc đời ông. Ông thực sự là một  nhạc sĩ đồng quê, và một lần, khi ông còn là một postdoc, ông đã đi chơi với Willie Nelson. Ông có còn gặp Nelson?    Tôi vẫn. Nếu ông ta trình diễn gần đây, tôi sẽ biết. Tôi đã chơi với họ trên Austin City Limits. Đó là một vấn đề khá lớn – có 70.000 người ở đó. Lần cuối cùng tôi cùng chơi với ông ta là tại trang trại của ông ta. Chúng tôi đã làm một bản hòa tấu phúc âm với ban nhạc Mavis Staples và Willie, và tôi chơi kèn hòa âm. Đó là niềm vui.     Tôi đã từng hỏi liệu ông thích trên bia mộ có ghi: Jim Allison, người đã chơi nhạc cùng Willie, hay: “Tôi đã chữa khỏi ung thư”. Vì hiện giờ ông có thể nói ông đã hoàn thành cả hai, câu trả lời là gì?     Bất cứ cái nào. Tôi nghĩ tôi sẽ viết cái gì đại loại như “thế giới là một nơi tốt hơn bởi vì tôi đã từng ở đó”.□     Minh Châu lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.quantamagazine.org/nobel-laureate-james-p-allison-cures-cancers-with-immunotherapy-20200203/  Nhà nghiên cứu miễn dịch học James P. Allison đã trở thành một biểu tượng khi tìm ra cách chữa trị ung thư mới. Thay vì cố gắng “đốt cháy”, “đầu độc” hoặc phẫu thuật loại bỏ các tế bào ác tính khỏi cơ thể, phương pháp điều trị của ông “huy động” chính hệ thống miễn dịch của bệnh nhân để tiêu diệt chúng. Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm FDA đã phê duyệt loại thuốc kháng thể mà ông phát triển với tên gọi là ipilimumab để chống lại khối u ác tính di căn giai đoạn cuối – một trong những bệnh ung thư nguy hiểm nhất. Một số bệnh nhân giai đoạn cuối tham gia vào các thử nghiệm trước đó đã kéo dài sự sống đến tận mười năm. Khi ông mô tả loại thuốc có hiệu quả như thế nào đến với bệnh nhân – khoảng 20% trong số họ đã được chữa khỏi – nước mắt ông cứ chảy ra.  Thuốc của Allison không phải là loại hình trị liệu miễn dịch đầu tiên mà cũng không phải là duy nhất; các nhà khoa học đã nghiên cứu vaccine chống ung thư trong nhiều thập kỷ. Nhưng điều làm nên sự độc đáo trong “liệu pháp kiểm tra miễn dịch” của Allison chính là việc nó sử dụng các kháng thể để mở khóa hệ thống miễn dịch và giúp nó có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.   Cách tiếp cận này chính là đỉnh cao của sự nghiệp miễn dịch học của Allison. Đầu những năm 1980, ông đã xác định được thụ thể cho phép hệ thống miễn dịch tế bào T nhận ra các kháng nguyên của các tế bào bị nhiễm bệnh hoặc bất thường. Một thập kỷ sau, ông đã chỉ ra rằng các tế bào T cũng cần một tín hiệu từ các costimulatory molecule (tạm dịch: các phân tử kích thích miễn dịch) để khởi động các cuộc tấn công của chúng. Sau đó Allison và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng một phân tử có tên là tế bào lympho T (CTLA-4) hoạt động như một điểm kiểm tra, hoặc phanh tích hợp trên các tế bào T. Họ có thể loại bỏ phanh và khiến các tế bào T chống lại các tế bào ung thư bằng một kháng thể – ipilimumab – giúp ức chế điểm kiểm tra CTLA-4.  Nghiên cứu liệu pháp miễn dịch đã trở thành một xu hướng chính trong việc nghiên cứu công nghệ sinh học trong thập kỷ qua. Các biến thể và mở rộng của liệu pháp kiểm tra miễn dịch, thường kết hợp với các loại thuốc khác, là cơ sở cho nhiều phương pháp điều trị đang được phát triển để chống lại các bệnh ung thư não, phổi, bàng quang và thận. Không có loại thuốc trị liệu miễn dịch nào có hiệu quả đối với tất cả bệnh nhân hoặc tất cả các bệnh ung thư, nhưng khi bệnh nhân đáp ứng – như trường hợp của nhiều bệnh nhân u ác tính di căn- tuổi thọ của họ được cải thiện đáng kể.  Những kết quả như vậy đã mang lại cho Allison không ít danh hiệu, bao gồm Giải thưởng Paul Ehrlich và Ludwig Darmstaedter, Giải thưởng Nghiên cứu Y khoa lâm sàng Lasker-DeBakey năm 2015 và Giải thưởng Wolf về Y học và Giải thưởng Balzan năm 2017. Sau đó, năm 2018, Allison đã chia sẻ một giải thưởng lớn với Tasuku Honjo của Đại học Kyoto: Giải thưởng Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (một cách độc lập với Allison, Honjo cũng đã tìm thấy một điểm kiểm tra ung thư khác).    Author                Quản trị        
__label__tiasang James Webb – Cỗ máy thời gian ở kỷ nguyên không gian mới      Mỗi khi nhìn lên bầu trời, con người ta có tự hỏi rằng khoảng không bao la trên kia rộng đến nhường nào? Trên thực tế, vũ trụ chúng ta to lớn đến nỗi mà ánh sáng – thứ di chuyển nhanh nhất cho đến nay mà con người biết được – với tốc độ xấp xỉ 3 trăm triệu mét trên giây, có khi phải mất hàng tỷ năm mới đến được mắt chúng ta. Vũ trụ rộng bao la dường như là một rào cản, ngăn bất kỳ cuộc khám phá xa hơn nào của loài người. Nhưng cũng bởi sự rộng lớn và đa dạng đó, bản thân nó lại là một cỗ máy thời gian nếu chúng ta có được công cụ đủ mạnh để quan sát thật sâu, không bỏ sót dù là những ánh sáng yếu ớt nhất, giúp cho người có thể nhìn ngược vào thời gian, tiệm cận thời điểm khai sinh vũ trụ cách đây hơn 13 tỷ năm trước.   Kính Viễn vọng Không gian James Webb (JWST) lấy theo tên vị lãnh đạo đời thứ nhì của NASA, đóng góp vai trò khổng lồ trong công cuộc đưa con người vào không gian sớm từ những sứ mệnh Mercury hay Gemini. Sinh ra để đáp ứng được nhu cầu tìm tòi này của con người, nhưng JWST được đẩy lên một tầm cao mới, xa hơn và tham vọng hơn rất nhiều. Chiếc kính không gian đồ sộ này đã được phóng đi vào đúng dịp Giáng sinh vừa qua như một món quà đặc biệt cho nhân loại sau nhiều năm trì hoãn để đạt đến độ hoàn thiện chưa từng có như hiện nay.  JWST là sản phẩm ấn tượng của sự hợp tác quốc tế giữa NASA, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Cơ quan Vũ trụ Canada (CSA), cùng với sự tham gia của hơn 300 trường đại học, tổ chức và công ty trên 29 tiểu bang Hoa Kỳ, và 14 quốc gia khác. Kính sẽ tập trung vào bốn mục tiêu chính: thu thập những tia sáng đầu tiên, hình thành nên thiên hà trong vũ trụ sơ khai, sự ra đời của các ngôi sao và hệ tiền hành tinh, và các hành tinh, bao gồm cả nguồn gốc của sự sống.      Kính viễn vọng không gian Hubble bay trên ranh giới của Trái đất và vũ trụ được chụp sau lần nâng cấp, sửa chữa thứ hai vào năm 1997. Ảnh: NASA  Đài thiên văn từ ngoài không gian  Ý tưởng về một chiếc kính thiên văn không gian không phải là mới, từ thế kỷ 19, các nhà khoa học đã mơ một đài quan sát thiên văn nằm trên Mặt trăng. Khác với trên mặt đất, khoảng không bất tận bên ngoài địa cầu hoàn toàn không bị cản trở bởi thời tiết, hay ô nhiễm không khí. Những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời đêm kia luôn là chủ đề bất tận cho thi ca cũng như trí tưởng tượng bay bổng của con người, nhưng đối với những chiếc kính thiên văn đủ mạnh, đó lại là cơn ác mộng. Sự lấp lánh của ngôi sao khi nhìn từ mặt đất thực chất do sự nhiễu loạn khí quyển trên cao và nó khiến cho hình ảnh thu được ở cảm biến ảnh kém đi sự chính xác.  Nhà vật lý lý thuyết Lyman Spitzer người Mỹ từng đề xuất về ý tưởng một chiếc kính thiên văn có thể bay quanh quỹ đạo Trái đất mà không bị cản trở bởi khí quyển vào 1946 (sau này ông được đặt tên cho một kính thiên văn vô tuyến khác nhằm tưởng nhớ công lao). Nhưng mãi đến cuối thập niên 60, chúng ta mới có những chiếc kính không gian đầu tiên được đưa vào không gian đó là Đài quan sát Thiên văn Quỹ đạo (Orbiting Astronomical Observatory) của Mỹ. Liên Xô cũng bắt đầu nghiêm túc hóa ý tưởng bằng việc đưa một chiếc kính thiên văn lên để sát tại trạm vũ trụ Salyut 1 của riêng mình vào 1971.  Bắt đầu từ 1970, dự án Kính Viễn vọng Không gian Hubble (HST), dự án kính thiên văn không gian đồ sộ nhất của thế kỷ 20, lần đầu được cấp kinh phí và trực tiếp thực hiện bởi NASA cùng với ESA, với mục tiêu phóng vào năm 1983, tuy nhiên dự án liên tục bị trì hoãn do các vấn đề về kỹ thuật cũng như kinh phí bị đội lên nhiều lần, đặc biệt sau thảm họa Challenger – tên lửa phóng phát nổ khiến cho chín phi hành gia vong mạng. Cuối cùng, HST được phóng vào 1990, tuy nhiên gương chính không được lắp đặt chính xác gây ra hiện tượng quang sai, khiến cho ảnh thu được bị mờ nhòe. Ba năm sau, NASA mới có thể khắc phục được điều này, gỡ gạc lại danh tiếng qua những bức ảnh sâu trong vũ trụ của HST đáng kinh ngạc như ngày nay.  “Sửa sai vượt bậc”  Những kết quả ê chề của Hubble trong năm đầu mới phóng thôi thúc NASA sửa sai bằng một thiết bị mới hơn, hiệu quả hơn, góp phần lớn vào sự ra đời của JWST. Những bức ảnh đầu tiên của HST cho ra mờ đục do hệ quả của việc lắp sai kính, nhưng bản thân thiết bị lại không thể tự hiệu chỉnh, dẫn đến việc NASA phải cắt cử phi hành gia trong một sứ mệnh riêng biệt vào năm 1993 để bay lên sửa chữa và thay thế gương. Thậm chí, nó từng là một chủ đề bị chế giễu trong suốt hàng năm liền.    Phi hành gia Gregory J.Harbaugh đang làm việc trên Kính viễn vọng không gian Hubble trong nhiệm vụ nâng cấp nó vào năm 1997. Ảnh: NASA  Với JWST trị giá lên tới 9,8 tỷ USD (bằng ¼ ngân sách trong suốt một năm của NASA) và phóng đến vị trí cách Trái đất 1,5 triệu km, gấp hàng vạn lần so với HST chỉ quay quanh quỹ đạo tầm thấp của Trái đất khoảng 500km (LEO), việc thay thế và sửa thủ công như trước kia là điều không thể. Đây có thể coi là chuyến tàu một chiều, và sự chuẩn bị phải thật sự hoàn hảo đến mức chỉ cần sai sót nhỏ nhất, ví dụ như trên bề mặt cong của gương chính chỉ khoảng 1μm sai khác (bằng kích thước của một sợi tóc) có thể dẫn đến hội tụ sai và nhòe ảnh, khiến cho sứ mệnh tiêu tùng vào không gian mãi mãi.  JWST gồm có hai phần chính: phần gương mạ vàng khổng lồ cùng với cánh tay chứa cảm biến hội tụ, và phần khiên che chắn nhiệt nhiều lớp cùng với các thiết bị nằm bên dưới. Trên thực tế, JWST to hơn bất cứ tàu không gian nào con người từng phóng, to đến mức không thể nào đặt vừa vặn vào phần chuyên chở của tên lửa phóng Arian 5, thiết kế gấp gọn rồi mở ra, triển khai tự động là một đột phá chưa từng có trong công nghệ giúp giải quyết được nhiều vấn đề tồn đọng trong quá khứ như khả năng tự cân chỉnh chính nó, nhưng cũng đặt ra thách thức về tính chính xác không tưởng của các thiết bị này. JWST mang theo những thiết bị mạnh mẽ bậc nhất được kỳ vọng sẽ cho ra những bức ảnh tuyệt đẹp về đối tượng thiên văn sâu trong vũ trụ giống như tiền nhiệm HST của nó. May mắn thay, HST vẫn trong tình trạng tốt và có khả năng cả hai kính thiên văn này sẽ hoạt động cùng nhau trong những năm đầu tiên sau khi JWST được phóng. Kính cũng sẽ khảo sát kỹ hơn các ngoại hành tinh mà Kính Viễn vọng Không gian Kepler tìm thấy hoặc kết hợp theo dõi cùng các quan sát thời gian thực từ những kính viễn vọng mặt đất.  Công nghệ bước ra từ khoa học viễn tưởng  Với gương chính mạnh mẽ gấp 100 lần kính Hubble và nhẹ hơn 113kg, James Webb có khả năng nhìn xa hơn bất kỳ thiết bị tiền nhiệm nào, tiệm cận đến cột mốc “khởi sinh” của vũ trụ sơ khai cách đây 13,8 tỷ năm về trước. Ngay sau Big Bang, vật chất trong vũ trụ ở một trạng thái vô cùng đặc và nóng, đến mức các hạt hạ nguyên tử mất hàng trăm triệu năm mới có thể liên kết lại, và rồi hình thành nên các thiên thể. Kính James Webb chính là cỗ máy thời gian, đưa con người đến giai đoạn những ngôi sao và thiên hà đầu tiên được khai sinh.    Minh họa Kính viễn vọng không gian James Webb ngoài không gian. Ảnh: esa.int  Để có thể nhìn về mốc thời gian đó, James Webb cần có khả năng thu nhận tín hiệu yếu đến từ những vật thể xa xôi, đã vượt qua những đám mây khí bụi và bị dịch chuyển về phía bước sóng đỏ do sự giãn nở của vũ trụ. Khi đến được Trái đất, ánh sáng thuở sơ khai sẽ ở bước sóng hồng ngoại, và chỉ có sóng hồng ngoại thì mới có thể đi xuyên qua các đám mây bụi khí.  Độ nhạy cảm của cảm biến ảnh lắp trên kính tỷ lệ thuận với lượng ánh sáng mà nó thu được. Với 18 mảnh kính lục giác, mỗi mảnh có đường kính 1.32m. Thiết kế tổ ong giúp JWST không chỉ có thể gấp lại trong quá trình vận chuyển lên quỹ đạo, mà thông qua các module cơ học tinh vi ngay trên từng miếng “kính” 6 cạnh, các mảnh kính sẽ được hiệu chuẩn tiêu cự/độ hội tụ với độ chính xác một phần mười nghìn độ dày sợi tóc người tự động hoàn toàn tự động bằng máy tính, tập trung ánh sáng vào gương phụ. Ánh sáng tiếp tục bị phản xạ vào thiết bị lọc rồi đến các cảm biến có độ nhạy cao, nơi photon được chuyển hóa thành dòng điện.  Máy ảnh cận hồng ngoại (NIRCam) là bộ tạo ảnh chính của JWST với tổng cộng 10 cảm biến ở hai module, hoạt động ở bước sóng 0.6 đến 5.0 micro-mét. Ngoài ra, NIRCAM còn được trang bị Coronagraph – dụng cụ che phần trong Mặt trời để quan sát vành nhật hoa. Khi được áp dụng, dụng cụ này cho phép quan sát các ngôi sao và thiên hà sáng mờ, thậm chí các ngoại hành tinh nếu góc tạo mặt phẳng quỹ đạo của chúng và hướng quan sát của kính đủ lớn.  Hoạt động ở cùng băng tần với máy ảnh chính là NIRSpec – quang phổ kế vùng hồng ngoại gần. Việc phân tích phổ của các thiên thể sẽ cung cấp thông tin quý báu về khối lượng, nhiệt độ và thành phần các nguyên tố hóa học cấu thành của chúng. NIRSpec giúp rút gọn tổng thời giờ quan sát của vệ tinh bằng hệ thống Microshutter Array. Với 250000 màn trập siêu nhỏ (mỗi ô có độ dày tương đương độ dày sợi tóc người), NIRSpec sẽ quan sát cùng lúc quang phổ của 100 vật thể khác nhau, mỗi vật có thể cần đến hàng trăm giờ đồng hồ phơi sáng. Nhờ khả năng thay đổi trạng thái đóng/mở vô cùng chính xác bằng từ trường, hệ thống Microshutter Array còn cho phép quang phổ kế chỉ nhận ánh sáng từ chính xác 100 vật thể trong tầm ngắm bằng cách đóng màn trập tại những vị trí còn lại, giảm thông lượng ánh sáng không cần thiết lọt vào cảm biến.    Kính James Webb trong Phòng thí nghiệm của Trung tâm Vũ trụ Johnson của NASA. Ảnh: Chris Gunn NASA  Để có thể phát hiện ánh sáng sơ khai của vũ trụ, phát hiện và định tính các ngoại hành tinh, các cảm biến chỉ dẫn tinh vi (FGS) được tích hợp cùng với bộ tạo ảnh hồng ngoại gần và máy quang phổ không có khe (NIRISS), tạo thành cấu trúc FGS/NIRISS. Hoạt động ở băng tần như NIRCam và NIRSpec, các cảm biến chỉ dẫn có thể định hướng chính xác cho các gương của kính nhằm tăng độ sắc nét của ảnh.  Các đám bụi dày có thể hấp thụ bước sóng hồng ngoại gần – nguồn thông tin về các thiên hà xa xôi, các ngôi sao mới hình thành, sao chổi và tiểu hành tinh ở vành đai Kuiper. Để thu nhận loại tín hiệu này, thiết bị giữa hồng ngoại (MIRI) đã được lắp đặt với máy ảnh và quang phổ kế có độ phân giải trung bình, hoạt động ở bước sóng 5 đến 28 micro-mét. MIRI sử dụng các mảng silicon pha tạp chất asen để thực hiện các quan sát ở các bước sóng này. Bởi vì MIRI quan sát các bước sóng dài hơn, nó phải mát hơn các thiết bị khác (để không tự thu nhận tín hiệu của chính mình), và cần có hệ thống làm mát bổ sung.  Bộ giáp lạnh của James Webb  JWST được thiết kế để quan sát những đối tượng thiên văn mờ và cực kỳ sâu trong vũ trụ ở trong bước sóng hồng ngoại. Để có thể quan sát được những đối tượng như vậy, các thiết bị cần phải được giữ trong một môi trường cực kỳ lạnh. “Tấm khiên” của James Webb có kích thước bằng một sân quần vợt (220m2), đóng vai trò như một chiếc ô khổng lồ, che chắn khỏi nhiệt lượng từ Mặt trời, Trái đất và cả Mặt trăng, thậm chí che khỏi nguồn nhiệt do chính kính thiên văn phát ra, bởi vì bất cứ vật thể nào nóng đều phát ra hồng ngoại. Đó là lý do hầu hết hệ thống máy móc của James Webb đều nằm bên dưới chiếc khiên, chỉ duy nhất có phần gương mạ vàng là ở trên.   Chiếc khiên gồm năm lớp làm bằng Kapton, một vật liệu trong suốt có mức chịu nhiệt cực kỳ cao, khiến nó dễ dàng hấp thu mà không biến dạng trước sức nóng Mặt trời. Lợi dụng tính chất truyền nhiệt chỉ qua bức xạ của không gian, các lớp khiên kapton siêu mỏng (0.025 đến 0.05 mm) được đặt cách nhau, và chúng được tráng một lớp nhôm để phản chiếu bức xạ lại môi trường xung quanh cũng như tăng khả năng chống đỡ trước các tiểu thiên thạch. Khiên chắn sẽ hướng về phía ba vật thể tỏa nhiệt nhiều nhất là Trái đất, Mặt trời và Mặt trăng. Để đạt được khả năng che chắn cùng lúc, vệ tinh vừa phải bay quanh điểm Lagrange 2, vừa phải điều chỉnh tư thế để quay khiên chắn về hướng Trái đất – Mặt trời.  Chiếc khiên năm lớp khổng lồ giúp cho JWST hạ nhiệt độ của phần mặt gương xuống còn thấp hơn 50 Kelvin (tương đương với âm 2230C). Các thiết bị thu nhận hồng ngoại là NIRCam, NIRSpec, FGS/NIRSS sử dụng cảm biến Thủy ngân-Cadium-Teluri hoạt động chỉ ở khoảng 39 Kelvin (-2340C) cũng chỉ cần được che chắn bởi chiếc khiên là đủ. Tuy nhiên, cảm biến của MIRI làm từ Asen pha với Silicon thì hoạt động ở chỉ 7 Kelvin (-2660C), chỉ cao hơn so với nhiệt độ lạnh trung bình toàn vũ trụ 50 nên cần có một hệ thống làm lạnh chủ động. Nó hoạt động gần giống với hầu hết các tủ lạnh hoặc máy điều hòa không khí: chất lỏng được đưa xuống nhiệt độ lạnh ở phần ấm và được đưa trở lại phần lạnh nơi nó hấp thụ nhiệt, sau đó quay trở lại bình ngưng. Điểm đặc biệt của JWST là nó có bộ làm nguội sơ bộ dạng ống xung nhiều tầng, sử dụng khí heli giúp làm lạnh hiệu quả. Đó là một máy nén kiểu Oxford chuyển động thẳng, cung cấp năng lượng cho một vòng lặp JT. Khoảng cách giữa bộ làm lạnh và thiết bị JT lên đến 10m thay vì vài cm cũng là một bước tiến lớn trong công nghệ làm lạnh.  Bên dưới lá chắn còn là nơi chứa tấm pin mặt trời, thu năng lượng liên tục và cung cấp công suất lên đến 2000W nhằm đảm bảo cho các thiết bị của kính hoạt động liên tục 24/7.   Nín thở chờ tàu neo đậu  Sẽ mất khoảng một tháng để Kính viễn vọng Không gian James Webb di chuyển 1,5 triệu km đến ngôi nhà vĩnh viễn của nó: điểm Lagrange – một vị trí ổn định lực hấp dẫn trong không gian, tạo thành một “hành tinh giả”. Kính viễn vọng không gian James Webb sẽ quay quanh Mặt trời, đồng thời quay quanh một điểm di chuyển nằm giữa khoảng không – Lagrange thứ hai (L2). L2 là một điểm trong không gian gần Trái đất, nằm phía ngoài trên đường thẳng nối Trái đất và Mặt trời; quỹ đạo này sẽ cho phép kính thiên văn ở thẳng hàng với Trái đất khi nó quay quanh Mặt trời. Đây cũng đã là một địa điểm nổi tiếng của một số kính thiên văn không gian khác, bao gồm cả Kính viễn vọng Không gian Herschel và Đài quan sát Không gian Planck.  Khi JWST ra mắt đã trải qua một loạt các bài kiểm tra khoa học và hiệu chỉnh bao gồm triển khai tấm khiên chắn Mặt trời, triển khai kính thiên văn, bật thiết bị và căn chỉnh kính thiên văn. Theo Viện Khoa học quản lý Kính viễn vọng Không gian, những hình ảnh tối ưu từ JWST sẽ bắt đầu xuất hiện khoảng sáu tháng sau khi phóng. Mặc dù chúng ta có thể được xem một số hình ảnh “ánh sáng đầu tiên” sớm hơn một chút.  Thời hạn “trên giấy tờ” cho Kính Viễn vọng Không gian James Webb hoạt động là 5 năm nhưng mục tiêu lớn hơn là 10 năm và hơn nữa. Giới hạn của kính James Webb không nằm ở thiết bị, thậm chí, các nhà khoa học dự tính kính có thể mở rộng thời gian phục vụ quan sát lên đến hơn một thập kỷ. Tuy nhiên vấn đề lại nằm ở chất đốt cạn kiệt sau một thời gian dài dùng cho động đẩy nhỏ để giữ cho kính ổn định trên quỹ đạo quanh L2. Tuy NASA và những đối tác chưa từng xác nhận bằng cách nào để có kéo dài thời gian của sứ mệnh, nhưng từ sớm đã có những tin đồn cho biết các nhà khoa học đang bí mật nghiên cứu một hệ thống và sứ mệnh tàu tự hành riêng biệt để bay đến tiếp nhiên liệu cho JWST trong thời gian tới.   Trong khi JWST đang trên đường đến L2, và dần được triển khai ra tự động, gấp mở không thua kém gì kỹ nghệ origami của người Nhật, cư dân địa cầu đang cùng nín thở chờ xem sứ mệnh sẽ thành hay bại, đến từ sự chính xác đáng kinh ngạc và thành tựu khoa học tột bậc của nhân loại này. □    Author                Nguyễn Xuân – Lê Khoa        
__label__tiasang JATROPHA – Nhiên liệu tương lai?      Tập đoàn ô tô DaimlerChrysler đã nghiên cứu, phát triển một loại diesel-sinh học từ một loại cây dại có tên khoa học là Jatropha. Dự án này đã gây nên một cơn sốt Jatropha, một loại cây dại thường thấy ở khắp mọi nơi và chưa mấy ai để mắt tới. GS. Klause Becker ở ĐH Stuttgart, người tiên phong nghiên cứu về đậu cọc rào trả lời hãng truyền hình Đức N-TV về sự “kỳ diệu” của loại cây bình dị này.    Ông đã nghiên cứu cây đậu cọc rào từ năm 2003 theo đơn đặt hàng của tập đoàn DaimlerChrysler. Vậy DaimlerChrysler trông chờ gì ở dự án này?  Thực ra DaimlerChrysler chỉ quan tâm đến mỗi một việc là có một loại diesel-sinh học chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của Ấn Độ nhằm tránh không để xảy ra tình trạng cấm xe chạy bằng động cơ Diesel.  DaimlerChrysler không có ý định thành lập trang trại trồng loại cây này. Đối với DaimlerChrysler thì dự án này không chỉ là một chiến dịch quảng cáo không những chỉ ở Ấn Độ mà còn vượt ra khỏi ranh giới nước này. Giờ đây không ai ở Ấn Độ mà không biết đến DaimlerChrysler. Mặt khác nếu không có tập đoàn này thì chẳng mấy ai biết đến cây đậu cọc rào Jatropha. Một tên tuổi lớn đương nhiên có tính thuyết phục cao hơn.    Giáo sư là một trong những người đầu tiên có công trình nghiên cứu lớn đối với cây đậu cọc rào?               Giáo sư Becker và những hạt đậu cọc rào          Cách đây 15 năm, chúng tôi là những người đầu tiên ở châu Âu cùng với một hãng tư vấn của Áo đã tiền hành nghiên cứu đậu cọc rào ở Nicaragua. Loại cây này đã có cách đây 70 triệu năm, nhưng chẳng có ai quan tâm đến nó. Nếu không có dự án của DaimlerChrysler thì nhất định không có cơn sốt Jatropha như hiện nay.  Dầu Jatropha đã được sử dụng như dầu diesel-sinh học?  Chúng tôi đã dùng dầu-Jatropha từ hai năm rưỡi nay làm dầu diesel-sinh học… Chúng tôi có nhiều xe thử nghiệm. Mục tiêu năm nay của chúng tôi là sử dụng khoảng 40.000 lít Jatropha- diesel-sinh học trong khuôn khổ chương trình thí nghiệm và chỉ dùng loại dầu Jatropha 100%. Mọi thí nghiệm của chúng tôi đều sử dụng 100% dầu Jatropha-dieselsinh học.  Với các loại xe hoàn toàn bình thường?  Đúng vậy, với loại xe Mercedes-CDI thông thường.  Những điều nghe nói về Jatropha làm người ta có cảm giác đây là một loại cây diệu kỳ.  Đúng thế. Chúng tôi trồng cây đậu cọc rào trên những triền đất bị thoái hóa, sau mươi mười lăm năm có thể tái sử dụng các diện tích này để trồng các loại cây trồng vì cây đậu cọc rào đã chặn đứng được tình trạng rửa trôi, xói mòn. Ai có thể nói lên được những cái xấu, cái bất lợi của cây Jatropha tôi xin thưởng tiền cho người đó. Các vị có thể vặn vẹo đủ thứ, lật ngược, lật xuôi, nhưng quả thật các vị không thể bới móc được điều gì xấu liên quan đến loại cây này.  Vậy nông dân trồng cây Jatropha có thu lợi không?  Việc trồng cây đậu cọc rào sẽ có lợi vì giá năng lượng sẽ ngày một tăng. Đến năm 2030 số lượng xe ô tô trên toàn thế giới sẽ tăng từ 500 triệu xe hiện nay lên 900 triệu chiếc. Những nước như Trung quốc sẽ vượt Mỹ. Hiện nay Mỹ có 150 triệu xe. Năm 2030 Trung quốc sẽ có 190 triệu xe. Điều này có nghĩa là cây đậu cọc rào sẽ là loại cây trồng đầu tiên mà người nông dân không sợ không có đầu ra.  Người ta có thể thực hiện sản xuất lớn Jatropha ở đâu?  Jatropha mọc ở mọi nơi nếu có đủ nhiệt độ cần thiết. Đây là loại cây nhiệt đới, không có nhu cầu cao về nước. Chúng tôi đã tiến hành trồng thử trên vùng sa mạc nóng bỏng ở Ai cập, tại đây chúng tôi dùng nước thải của thành phố để tưới cho Jatropha và cây phát triển rất tốt.   Internet có khá nhiều thông tin về Jatropha, nhưng chỉ khoảng 5% là đáng tin cậy và nghiêm túc. Thí dụ có kẻ chào bán hạt Jatropha với giá một USD một quả, hoặc có người rao sẵn sàng cung cấp 20.000 tấn dầu trong một tháng. Trên thị trường hiện chưa có khối lượng dầu lớn đến như vậy. Theo ước tính của tôi, trên thế giới hiện có khoảng 5 triệu ha Jatropha. Tại Myanmar năm ngoái người ta đã trồng được 800.000 ha. Phải sau ba, bốn năm cây mới cho quả, có nghĩa là thị trường dầu Jatropha sẽ hình thành ít nhất cũng sau ba năm nữa.  Jatropha không chỉ cho dầu. Sau khi ép dầu người ta thu được bã Jatropha và loại bã này có thể dùng làm thức ăn gia súc sau khi đã khử được độc tố. Loại khô dầu từ Jatropha có chất lượng hơn cả khô dầu đậu tương. Đậu tương có bình quân 45 % protein thô trong khi đó ở Jatropha là 60%. Cái khó nhất ở đây là vấn đề khử độc, nhưng vấn đề này có thể xử lý được. Chất độc bảo vệ cây đậu cọc rào này có tên là Phorbolester, hiện người ta đang nghiên cứu sử dụng nó trong nghiên cứu ung thư. Chúng tôi còn có ý định  dùng độc tố này làm thuốc trừ sâu sinh học.    Dầu Jatropha có thể thay thế các sản phẩm của ngành hoá dầu không?  Được chứ, rất tốt là khác. Người ta có thể làm từ các loại chất bôi trơn cho đến dầu thuỷ lực – để làm việc này thì các loại dầu thực vật hơn hẳn dầu khoáng.    Thưa giáo sư đã có ai đầu tư vào cây Jatropha chưa?  Hiện đang có các cuộc đàm phán với những nhà đầu tư nghiêm túc ở Đức, Columbia, Indonesia và một số nước khác.    Hiện nay có khoảng bao nhiêu công trình nghiên cứu nghiêm túc về Jatropha?  BP đang tiến hành nghiên cứu ở Ấn Độ sau khi bị kích thích bởi dự án Daimler. Một số trường đại học cũng đang nghiên cứu về vấn đề này. Hiện tại trường đại học Wageningen ở Hà Lan đang kêu gọi tiến hành 5 luận án tiến sỹ về vấn đề này. Theo tôi hiện trên toàn thế giới đang có khoảng 1000 nhóm nghiên cứu về vấn đề này và chỉ dăm năm nữa sự hiểu biết về vấn đề này sẽ tăng đáng kể. Cho đến thời điểm này cây đậu cọc rào vẫn còn là một loại cây dại.  XUÂN HOÀI dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Jean d’Ormesson và Trịnh Xuân Thuận đối thoại về vũ trụ      Lời tòa soạn: Ngày 5 tháng 12 vừa qua, nhà văn Jean d’Ormesson, chủ bút tờ Le Figaro, người được coi là huyền thoại trong giới văn chương và báo chí Pháp đã qua đời. Tác phẩm của ông được in trong Tủ sách Pléiade, một ấn bản đặc biệt của nhà xuất bản Gallimard dành cho những nhà văn có uy tín trên thế giới (cùng với André Gide, Milan Kundera, Luis Aragon…, d’Ormesson thuộc những nhà văn hiếm hoi được in trong Pléiade khi còn sống). Nhân dịp này, chúng tôi trích đăng cuộc đối thoại về vũ trụ giữa Jean d’Ormesson và nhà vật lý Trịnh Xuân Thuận trên tờ Le Point, do dịch giả Hiếu Tân gửi cho Tia Sáng.      Dải Ngân hà. Nguồn: nationalgeographic.com.  Một người là nhà vật lý thiên văn ưu tú, đã tìm ra giải thiên hà trẻ nhất2 được biết từ trước đến nay, nhưng không quên mang những “giai điệu bí mật của vũ trụ” đến tai những đồng loại tầm thường hơn. Người kia là viện sĩ hàn lâm hay cười, người sau những cuộc tắm biển, những đôi giày Italia và Chateaubriand, về già bỗng tự thấy mình có khuynh hướng thám hiểm vũ trụ. Trịnh Xuân Thuận và Jean d’Ormesson biết nhau từ lâu rồi, nhưng chưa bao giờ trao đổi quan điểm trong một cuộc chuyện trò trực tiếp.  Le Point: Chúng tôi cảm thấy giữa hai ông có tình thân mật đặc biệt…  Jean d’Ormesson: Tôi phải nói ngay với ông thế này, là chúng tôi biết nhau từ lâu lắm rồi, nhưng trong mối quan hệ sư phụ với đệ tử. Ít có cuốn sách nào làm tôi lóa mắt và xáo trộn như cuốn Giai điệu bí mật (năm1988). Thuận có ảnh hưởng cực lớn đối với tôi. Tôi đã đọc nó trước khi biết ông.  Trịnh Xuân Thuận: Tôi cảm nhận ngay ở Jean một mối quan tâm lớn đối với số phận của vũ trụ. Những câu hỏi siêu hình của ông rất giống những câu hỏi của tôi. Vũ trụ có ý nghĩa hay không? Chúng ta bị chi phối bởi tất yếu hay ngẫu nhiên?  Le Point: Nhà văn Oscar Wilde nói rằng “tất cả chúng ta ở trong cống rãnh, nhưng một vài người trong chúng ta nhìn ngắm những vì sao”. Đó có phải trường hợp của cả hai ông không?    Nhà văn Jean d’Ormesson. Ảnh: Getty Image.  Jean d’Ormesson: Đúng đấy, chỉ có điều Thuận biết ông ấy nói về cái gì. Tôi, thì tôi chịu thua ngay. Ngoài cuốn sách của ông, một tác phẩm khác, “Lược sử của Thời gian” của Stephen Hawking cũng mê hoặc tôi như thế. Nhưng, nói thật, tôi thích đọc sách của Thuận một mạch từ đầu đến cuối bao nhiêu, thì cũng nhanh chóng bị lạc trong sách của Hawking bấy nhiêu…Tôi không thể nói thật về các ngôi sao với Thuận, vì tôi biết quá ít. Người ta sẽ nói là tôi làm bộ khiêm tốn. Ôi trời, có phải thế đâu. Thuận có thể nói về tất cả những vấn đề mà tôi bận tâm trong đời mình. Còn tôi thì tôi không thể nói nổi phần lớn những điều mà Thuận bận tâm.  Le Point: Thế nhưng rất hiếm nhà văn đương đại nào quan tâm đến Planck, Heisenberg, Higgs hay Bohr…  Jean d’Ormesson: Khi tôi tốt nghiệp tú tài thì than ôi, đấy là thời [Đức] chiếm đóng. Chế độ Vichy, nói cho công bằng, đã đưa môn vũ trụ học vào chương trình. Vì đó là thời Vichy, tôi không muốn học môn này. Thế là tôi bị 2 điểm (trên 20) trong môn vũ trụ học. May sao tôi gỡ lại được điểm trong môn địa lý, vì đề rơi vào Brésil, nơi tôi đã sống trong ba năm (cười). Sau đó khá lâu, tôi đọc một quyển sách, có tên Hai nền Văn hóa của một ông Charles Percy Snow nào đó. Nó giải thích rằng, nếu một số nhà khoa học có ý niệm lờ mờ về văn chương, thì trái lại một nhà văn không thể hiểu gì về khoa học. Điều ấy làm tôi vô cùng sửng sốt. Với rất nhiều táo bạo, tôi tự nhủ mình sẽ thử tìm cách kết nối khoa học với văn chương. Vì tôi tin rằng khoa học đã thay thế cho thơ ca trong thế kỷ XIX để trở thành cái nhiệt tình hăm hở của tuổi trẻ. Bạn hẳn biết rằng Chateaubriand (nhà thơ – ND) đã được sinh viên tung hô nhiệt liệt vào năm 1830. Bạn cũng biết rằng chín tháng sau cái chết của Victor Hugo vào năm1885, tỉ lệ sinh đẻ ở Paris tăng vọt, vì mọi người “ăn mừng” việc chôn cất ông. Thơ ca đã nằm trong tim thế hệ trẻ. Nhưng hôm nay ai còn nghĩ đến việc tung hô ngay cả một nhà thơ lớn như Yves Bonnefoy nữa? Khoa học đã thay thế thơ ca. Bởi vậy tôi muốn tìm kiếm trong khoa học cái điều mà một anh tú tài có thể hiểu được. Nhưng, vào lúc học thuyết tương đối và vật lý lượng tử, tôi phải thú nhận với anh rằng, tôi rất vui mừng khi đọc được câu này dưới ngòi bút Niels Bohr (nhà vật lý người Đan Mạch đoạt giải Nobel Vật lý năm 1922 – ND): “Nếu anh tin rằng anh đã hiểu thuyết lượng tử, thì tức là anh chưa hiểu gì cả” (cười).  Le Point: Thế lời phê của giáo sư môn vật lý thiên văn đối với những tác phẩm vũ trụ học của cậu học trò Jean d’Ormesson thì như thế nào?    GS. Trịnh Xuân Thuận.  Trịnh Xuân Thuận: Jean hiểu rất tốt những nguyên lý phát triển và rút ra những hệ quả siêu hình học và triết học sinh ra từ cái thế giới quan khoa học xuất hiện đầu thế kỷ XX. Tôi rất thích lòng yêu đời của ông, hy vọng của ông. Chắc chắn là với cùng những yếu tố này, người ta có thể có một thái độ trái ngược hoàn toàn. Jacques Monod, trong Ngẫu nhiên và Tất yếu, một cuốn sách rất ấn tượng, kết luận rằng linh hồn tình cờ xuất hiện trong vũ trụ mà vũ trụ thì hoàn toàn thờ ơ với nó. Con người dần dần bị bé nhỏ đi theo các phát minh. Người ta cứ tưởng mình ở trung tâm, cho đến khi Copernic đặt lại Trái đất vào hàng hành tinh thường. Rồi người ta tưởng rằng Mặt trời là trung tâm của giải Ngân hà, trong khi nó chỉ ở ngoại vi một dải Ngân hà bao gồm 100 tỉ mặt trời. Cuối thế kỉ XIX, người ta nghĩ rằng vũ trụ chỉ là dải Ngân hà, cho đến khi [kính thiên văn] Hubb cho thấy có những dải tinh vân khác bên ngoài dải Ngân hà của chúng ta, Bây giờ người ta biết vũ trụ có thể quan sát được là vào khoảng 100 tỉ thiên hà. Thật ra, chúng ta đang bé nhỏ đi thành không đáng kể. Đây là một kết luận bi quan của Monod. Vũ trụ rất ít quan tâm đến chúng ta, đối với nó tất cả là ngẫu nhiên. Nhà vật lý người Mỹ Steven Weinberg, chủ nhân giải Nobel vật lý năm 1979, cũng nói rằng càng hiểu vũ trụ, chúng ta càng thấy nó ít ý nghĩa.  Nhưng tôi không chia sẻ quan điểm này. Tôi rất vui mừng thấy Jean cũng có câu trả lời lạc quan thay vì sự tuyệt vọng. Tôi cũng nghĩ là môn vũ trụ học hiện đại đã làm thế giới vui trở lại, vì nó tái phát hiện sự hòa hợp cổ xưa giữa con người và vũ trụ. Từ năm 1957, chúng ta đã biết rằng tất cả chúng ta là bụi của những ngôi sao, và rằng tất cả các nguyên tố ổn định, trừ hydro và heli, đều sinh ra từ những ngôi sao và những supernova [sao mới cực sáng]. Toàn bộ tính phức tạp và vẻ đẹp của thế giới phụ thuộc vào các ngôi sao này. Ngoài mối liên hệ vũ trụ này, tôi còn đề xuất một lý lẽ thứ hai mà người ta thường gọi là nguyên lý nhân học. Người ta nhận ra rằng, nếu ta thay đổi thật ít những hằng số vật lý xác định vũ trụ – tốc độ ánh sáng, hằng số trọng trường… hoặc những điều kiện ban đầu cho phép nó ra đời, thì các ngôi sao sẽ không hình thành, và không có chúng thì cũng không có chúng ta ngồi đây mà nói chuyện. Liên quan đến thí dụ về mật độ Vũ trụ, độ chính xác tương đương 10-60. Tức là có sự điều chỉnh cực kì chính xác và chỉ cần bạn thay đổi một con số thập phân thứ sáu mươi (sau dấu phảy, tức là vô cùng nhỏ – ND), thì sẽ không có sự xuất hiện của một ý thức để lĩnh hội được vẻ đẹp và độ phức tạp của tổ chức phi thường này của vũ trụ. Từ khoảnh khắc trong vũ trụ xuất hiện một dạng của sự sống và ý thức, thì vũ trụ bắt đầu có ý nghĩa.  Jean gọi vũ trụ là Chúa. Còn tôi, tôi gọi là đấng sáng tạo bản nguyên. Đó có thể là những sự vật, những phần nhỏ đầu tiên của giây trong Big Bang, đã được điều chỉnh để cho chúng ta xuất hiện. Jean chỉ nói về con người. Đối với tôi, vấn đề là tất cả các dạng sống và trí thông minh bên ngoài quả đất. Nếu các qui luật vật lý và qui luật sinh học là phổ quát, thì tôi thật sự không hiểu tại sao chúng ta lẻ loi trong vũ trụ.  Jean d’Ormesson: Luật số lớn và các qui luật thống kê buộc ta phải nghĩ rằng có những sinh vật ngoài Trái đất. Nhưng vì người ta chưa nhìn thấy chúng, tôi vẫn giữ một nghi ngờ. Như Thuận đã giải thích vô cùng chính xác, hệ mặt trời không là gì trong tương quan với Ngân hà của chúng ta, mà Ngân hà không là gì trong tương quan với vũ trụ…  Trịnh Xuân Thuận:… và ngày nay có giả thuyết về những đa – vũtrụ (multiverse), tức là những có muôn vàn vũ trụ song hành.  Jean d’Ormesson: Chính xác. Nhưng không sao, dù chúng ta không là gì, nhưng đã làm những việc phi thường. Cái ý tưởng rằng chúng ta đã có thể tái hiện quá khứ không chỉ của con người và cuộc sống, mà cả của vũ trụ cách đây 14 tỉ năm dù sao cũng thật phi thường. Con người hầu như không là gì, nhưng đồng thời trong nó có một cái gì thần thánh. Thuận nói rất hay về ánh sáng. Đó là một hiện tượng phi thường. Ánh sáng không chỉ đi với tốc độ cực lớn, mà nó còn chuyên chở quá khứ.  Trịnh Xuân Thuận: “Nó chuyên chở quá khứ”…một công thức tuyệt đẹp !  Jean d’Ormesson: Không phải một nhà thiên văn hay một nhà triết học nói lên điều đó, mà một nhà văn. Đó là William Faulkner (tiểu thuyết gia người Mỹ-ND). Ông ấy viết rằng: “Quá khứ không chỉ không chết, mà thậm chí nó còn không phải là quá khứ.” Nếu những sinh vật ngoài trái đất mà anh nói đến tồn tại, ta biết rằng khi họ quan sát chúng ta thì không phải họ nhìn thấy chúng ta mà nhìn thấy Jules César, thấy cuộc chiến giành lửa hoặc những bước khởi đầu của Trái đất!  Le Point: Phải chăng ngày nay khoa học là cái kích thích trí tưởng tượng của chúng ta nhiều nhất?  Jean d’Ormesson: Vâng. Vả chăng bản thân khoa học là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Tôi cho anh một thí dụ mà Thuận chắc chắn là biết rất rõ. Gần như cùng một thời kì, một nhà văn Pháp, Marcellin Berthelot, và một trong những đồng nghiệp người Anh của ông, cả hai cùng nói: “Ngày nay chúng ta gần như biết tất cả mọi thứ”. Mười lăm năm sau, xuất hiện Einstein, Hubble, thuyết tương đối, thuyết lượng tử, Bohr… tất cả bung ra, rực rỡ.  Le Point: Big Bang làm thay đổi điều gì trong cái nhìn của chúng ta về vũ trụ?  Jean d’Ormesson: Bạn biết rằng từ Big Bang (Vụ Nổ lớn) được dùng lần đầu tiên bởi Fred Hoyle (nhà vật lý thiên văn người Anh-ND), người muốn chê bai mô hình này.  Trịnh Xuân Thuận: Ông ấy muốn một Vũ trụ tĩnh tại, không có lịch sử.  Jean d’Ormesson: Đúng thế. Điều gì mà khoa học, chứ không phải tôn giáo, đã chứng minh với Big Bang? Nó đã chứng minh rằng vũ trụ có một lịch sử. Tức là có khởi đầu và có kết thúc. Có phải là khởi đầu tuyệt đối không? Nếu đa – vũ trụ có tồn tại, thì không. Nhưng dù sao cũng có một khởi đầu và có một kết thúc. Tất cả đều qua đi, kể cả Mặt trời và Ngân hà của chúng ta.  Trịnh Xuân Thuận: Vào cuối thế kỉ trước, có một phát kiến lớn về tăng tốc và giãn nở của vũ trụ. Ngày nay dường như vũ trụ sắp có một sự giãn nở vĩnh viễn. Cuối cùng, trong khoảng vài tỉ năm nữa, người ta thậm chí không thể nhìn thấy những Ngân hà khác nữa. Sẽ không còn những nhà thiên văn như tôi, vì khoảng cách giữa các thiên hà sẽ lớn đến mức vũ trụ trở nên rất tối. Đến lúc đó, tất cả các ngôi sao đều tắt, sự sống không còn là khả thể nữa, vì thiếu Hydro, vốn là nhiên liệu…  Le Point: Jean, ông có muốn phát hiện ra một dải ngân hà như Trịnh Xuân Thuận đã làm không?  Jean d’Ormesson: Tôi chắc chắn là không thể! Như con chim tu hú ở nhờ tổ của con ác là, tôi cố nhặt nhạnh ở Thuận những điều có thể giúp tôi trong cuộc dạo chơi qua vũ trụ, nơi mà ý tưởng về Chúa mang đến niềm an ủi một cách rất tự nhiên. Cho dù Chúa có là một ảo tưởng, thì đó cũng là một ảo tưởng có sức an ủi phi thường.  Le Point: Xin hỏi cả hai ông, dù thiên hướng tôn giáo của các ông là gì, Phật giáo hay Công giáo, nó có nhắc nhở các ông về tuổi già đang đến và cái chết tới gần không?  Jean d’Ormesson: Tôi không thay đổi nhiều. Tôi luôn luôn quan tâm đến Chúa và cái chết. Nhưng hồi nhỏ tôi không quá sùng đạo, và niềm tin Công giáo của tôi đầy chất ngoại đạo. Tôi sinh ra trong đạo Thiên chúa, tôi hi vọng sẽ chết trong đạo Thiên Chúa nếu đạo chấp nhận tôi. Nhưng tôi là một tín đồ Thiên Chúa kì cục, một người Công giáo bất khả tri, người không biết. Trái lại, mọi người đều có quyền hi vọng. Bởi vậy, tôi hi vọng. Tôi cố gắng hòa giải ý tưởng rằng có lẽ Chúa không phải là bất khả, với những tri thức khoa học mà chúng ta biết. Mặt khác, không nhiều các nhà thiên văn gây họa cho Chúa. Copernic là một linh mục phụ tá, Galilée ngoan đạo đến mức bị đưa ra trước Tòa án Dị giáo, Newton được coi là rất sùng đạo. Không, chính Darwin đã làm đảo lộn tất cả. Bossuet còn tin rằng thế giới mới có 6.000 năm tuổi. Buffon đưa lên 75.000 năm… Nhưng chính Darwin là người phát hiện ra rằng chúng ta có sau lưng mình nhiều triệu nhiều triệu năm, và rằng tất cả chúng ta bắt nguồn từ một tổ tiên chung. Đó mới là vấn đề. Nhưng tôi có thể đưa ra nhiều bằng chứng về sự tồn tại của Chúa cũng như ngần ấy bằng chứng về sự không tồn tại. Để chống lại Richard Dawkins [nhà sinh học Anh, chiến sĩ nhiệt thành bảo vệ thuyết vô thần và tác giả “Giải ảo về Chúa” Pour en finir avec Dieu/ The God delusion], tôi sẵn lòng dẫn sách Giáo lý vấn đáp (catechism). Và để chống lại sách Giáo lý vấn đáp, tôi sẵn lòng dẫn Dawkins. Vậy tôi là người bất khả tri. Thậm chí tôi không đi đến chỗ tin tưởng. Với tôi hi vọng là đủ rồi.  Trịnh Xuân Thuận: Tôi cũng thế, tôi là một Phật tử bất khả tri, giống như Jean là một người Công giáo bất khả tri. Đúng là tôi được nuôi dạy trong truyền thống Phật giáo. Nhưng đó là một Phật giáo thực hành, không có những khía cạnh triết học. Cuối cùng chính khoa vật lí thiên văn đã dẫn tôi đến với tôn giáo. Tôi suy ngẫm nhiều nhất đến các vấn đề về cội nguồn, về không gian và thời gian. Đương nhiên tôi cũng muốn biết thế giới quan của Phật có dung hòa được với khoa học hay không. Cuộc gặp gỡ của tôi với Matthieu Ricard đã là một sự đốn ngộ, vì bản thân ông cũng được đào tạo về khoa học, đọc được tiếng Phạn và rất thông thuộc các nguồn kinh bổn Phật pháp. Chúng tôi đã thảo luận với nhau. Và chính nhờ thế mà tôi đã tiến bộ rất nhiều trong những phần liên quan đến tư tưởng siêu hình của Phật học.  Jean d’Ormesson: Tôi nhớ đến một chương trình truyền hình mà tôi không biết có ai đó đã trò chuyện với Dalaï-Lama và đặt cho ông câu hỏi này: “Thượng đế của Ngài có khiến cho tâm ngài được bình an không?” và Dalaï-Lama đã trả lời: “Nhưng không có Thượng đế!”  Le Point: Jean, người ta có ấn tượng rằng ngày nay ông thích kết bạn với các nhà khoa học hơn là với các chính khách hoặc các nhà văn…  Jean d’Ormesson: Tôi bộc lộ với anh hệ thống thứ bậc của tôi: ở dưới rất thấp quả đúng là các chính khách, cao hơn một chút là các nhà báo, cao hơn nữa là các nhà văn, và thật sự cao là những người làm khoa học. Nhưng có lẽ còn cao hơn cả những người làm khoa học, là những vị thánh.  Trịnh Xuân Thuận: Khi tôi còn trẻ, ở Viện Công nghệ California, thánh đường của các nhà khoa học, tôi ở gần với những người đoạt giải Nobel. Tôi nghĩ một cách ngây thơ rằng, những người có óc sáng tạo đến thế trong khoa học, đã phát hiện ra những điều tuyệt đẹp đến thế về tự nhiên, là những người thượng đẳng. Nhưng thiên tài khoa học không dẫn đến thiên tài nhân văn. Tôi rất ngưỡng mộ Einstein, vì ông được thế hệ sau yêu mến, điều rất hiếm. Nhưng tôi không thích Newton, vì ông ta là một người đáng ghét.  Jean d’Ormesson: Giống như Léon Bloy (tiểu thuyết gia người Pháp – ND) đã nói một cách đẹp đẽ: “Nỗi buồn duy nhất đó là [một người không phải là] một vị thánh”. Hôm nay, tôi bổ sung thêm: “Và không phải là một nhà thiên văn” (Cười).  Hiếu Tân dịch  GS Phạm Xuân Yêm và TS Nguyễn Hoàng Thạch hiệu đính  Nguồn: http://www.lepoint.fr/dossiers/culture/jean-d-ormesson-est-mort/jean-d-ormesson-et-trinh-xuan-thuan-dialogue-cosmique-06-12-2017-2177754_3510.php  ————  Chú thích:  1 Thiên hà được nói đến là I Zwicky 18, được phát hiện từ những năm 1930 bởi nhà thiên văn học Thụy Sỹ Fritz Zwicky. Năm 2004, nhóm nghiên cứu của ông Trịnh Xuân Thuận phân tích các dữ liệu của kính thiên văn vũ trụ Hubble và ước lượng tuổi của nó là khoảng 500 triệu năm, trẻ nhất trong các thiên hà từng được biết đến. Nhưng năm 2007, một nghiên cứu dựa trên những dữ liệu mới hơn của Hubble cho rằng tuổi của thiên hà này có thể không trẻ đến thế – ND.    Author                Quản trị        
__label__tiasang John B. Goodenough: Tôi chẳng qua là may mắn ở đúng nơi, đúng lúc      Vào cuối thập kỷ 1940, một chàng trai xấp xỉ 30 tuổi đến xin ghi tên vào hoc ngành Vật lý ở Đại học Chicago, viên chức phụ trách đăng ký mỉa mai hỏi “Này anh bạn, anh có biết có ai đã làm nên điều gì hay ho khi ở tuổi của anh mà mới đăng ký học Vật lý?”         Phát minh về công nghệ của J.B. Goodenough đã góp phần tạo nên pin lithium-ion phổ biến hiện nay. Nguồn: trường Đại học Texas  Chàng trai đó chính là John B. Goodenough, năm nay 97 tuổi, ngày 9/10/2019 vừa được trao giải Nobel Hóa học 2019 về những đóng góp phát triển nên Pin Lithium-ion, mà chỉ riêng năm nay doanh số trên thế giới đã xấp xỉ 100 tỷ USD.  J.B. Goodenough nổi tiếng trong cộng đồng học thuật với rất nhiều đóng góp quan trọng cho các lĩnh vực vật lý, hóa học và kỹ thuật, trong đó có phát minh về công nghệ tạo nên pin lithium-ion phổ biến hiện nay. Kích thước và hình dạng của pin này chỉ cỡ một thanh kẹo cao su, bề ngoài nhìn như miếng nhựa và kim loại nhỏ nhoi, nhưng đó là trái tim đang đập của điện thoại di động, máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số của bạn, thậm chí cả máy khoan điện, xe điện… của bạn. Ở cùng độ tuổi của ông ấy, hầu như tất cả các đồng nghiệp đã rời nhiệm sở và phòng thí nghiệm từ lâu, nhưng Goodenough vẫn làm việc toàn thời gian, công bố các phát hiện của mình và hướng dẫn các nhà nghiên cứu trẻ. Ông đang muốn tạo ra một bước đột phá lớn về dự trữ năng lượng khác nữa, một cái gì đó cỡ có thể giúp cho việc chế tạo được các thiết bị điện tử tiêu dùng có giá cả phải chăng và sử dụng thuận tiện hơn. Ông tâm sự “Tôi đang cố gắng hết sức để đưa chúng ta đến điểm mà chúng ta có thể tự cai sữa khỏi nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta không có nhiều thời gian nữa đâu”.  Đường vòng tới khoa học  Con đường học hành của Goodenough thật quanh co: lớn lên vào những năm 1920 tại một khu nhà ở nông thôn bên ngoài New Haven, Connecticut, là một đứa trẻ tò mò, và khát vọng nghề nghiệp đầu tiên vào năm 10 tuổi, là trở thành một nhà thám hiểm.  Mặc dù cha anh, một giáo sư lịch sử tại Yale, đã kiếm được một mức lương tốt, nhưng bố mẹ anh đã chi tiêu vượt quá khả năng của họ, cuộc sống gia đình luôn căng thẳng. Chẳng may, Goodenough mắc chứng bệnh khó đọc (dyslexia), khiến việc đọc trở nên khó khăn. Suốt thời gian đi học phổ thông, Goodenough được coi là một học sinh kém, “Tôi biết tôi không thông minh”, Goodenough tự thú nhận. Anh học toán tại Đại học Yale, tự trả học phí bằng tiền dạy kèm. Thế chiến II nổ ra, anh nhập ngũ và phục vụ quân đội trong vai trò nhà khí tượng học. Sau khi giải ngũ, anh đang định về học trường luật thì một cựu giáo sư đề nghị anh tham gia một chương trình liên bang đưa các cựu chiến binh vào học sau đại học (graduate &Ph.D) về toán và vật lý tại Đại học Chicago. Goodenough hoàn thành khóa học tiến sĩ một cách xuất sắc. Anh cũng gặp một sinh viên tốt nghiệp lịch sử tên là Irene Wiseman. Cô thích tranh luận về triết học và tôn giáo cũng giống như anh, và họ đã yêu nhau qua các cuộc thảo luận kéo dài hàng giờ tại khuôn viên International House. Sau một đám cưới nhỏ vào năm 1951, họ chuyển đến Boston nhận công việc đầu tiên của Goodenough tại MIT. Ở đó, anh chuyên về bộ nhớ cho máy tính thời kỳ sơ khai. Vào những năm 1950, máy tính có kích thước khổng lồ, được tạo thành từ khoảng 18.000 ống chân không thủy tinh tương tự như bóng đèn. Nhưng đèn điện tử chân không tiêu thụ một lượng lớn năng lượng và chiếm nhiều không gian và thường xuyên quá nóng. Vì vậy, Goodenough và nhóm của ông đã tìm ra một thứ tốt hơn bóng chân không nhiều: đó là bộ nhớ bằng lõi từ tính. Hệ thống này đã sử dụng một loạt các vòng từ tính để lưu trữ dữ liệu. Lõi từ nhanh hơn, rẻ hơn và đáng tin cậy hơn, và nó đặt nền tảng cho bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) mà tất cả chúng ta dùng ngày nay.  Sau khi đột phá bộ nhớ lõi từ, Goodenough đã xuất bản một quyển sách về cách thức hoạt động của từ tính ở cấp độ nguyên tử. Định luật Goodenough-Kanamori đã trở thành một bước ngoặt của nghiên cứu hóa học và vật lý chất rắn và cho đến tận ngày nay vẫn là cẩm nang cho các nhà nghiên cứu từ trường và vật liệu từ.  Vào mùa thu năm 1973, 12 quốc gia Trung Đông đã cắt dòng chảy dầu sang Hoa Kỳ để phản đối quốc gia hỗ trợ quân sự của Israel. Cuộc khủng hoảng năng lượng khiến Goodenough suy nghĩ. Điện, năng lượng Mặt trời và năng lượng gió được hứa hẹn, nhưng chưa ai tìm ra công nghệ để làm cho các lựa chọn thay thế này có giá cả phải chăng và có thể mở rộng đại trà. Goodenough băn khoăn, liệu ta có thể là người làm việc đó không?  Tạo ra “bom tấn” từ oxit coban  Năm 1976, Goodenough chuyển đến Oxford, thời gian đó hãng Exxon chế tạo pin lithium-ion có thể sạc lại đầu tiên nhờ vào công việc của một nhà hóa học tên là M. Stanley Whittingham. Nhưng pin của ông, có một lỗi thiết kế lớn: nó thường phát nổ. Với hy vọng tìm ra thứ gì đó ổn định hơn, Goodenough và các nhà nghiên cứu của ông đã bắt đầu mày mò hướng về một nhóm các hợp chất hóa học gọi là oxit kim loại có tính chất chèn Li (Intercarlar). Phải mất bốn năm, vào năm 1980, cuối cùng họ đã thắng lợi: đó là tìm ra oxit coban.  Đó là cathode (cực âm) cho pin lithium-ion đầu tiên có công suất và hiệu suất lớn, đủ để cung cấp năng lượng cho cả các thiết bị nhỏ gọn và tương đối lớn, chất lượng cao, đã làm cho nó vượt trội hơn bất cứ thứ gì trên thị trường. Nó sẽ tạo ra một pin có năng lượng gấp hai đến ba lần so với bất kỳ pin nhiệt độ phòng có thể sạc lại nào khác, với kích thước nhỏ hơn nhiều nhưng lại có hiệu suất tương đương hoặc tốt hơn. Kết quả này đúng là bom tấn!  Xã hội của chúng ta vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và chúng ta phải sớm tìm được một giải pháp thay thế. Sự nghiệp này bất cứ ai cũng có thể làm được, không chỉ là Goodenough nữa. Tôi chẳng qua là may mắn ở đúng nơi, đúng lúc. Tôi không nghĩ rằng tôi đã tìm ra một cái gì đó, tôi chỉ nghĩ rằng mình chỉ đóng góp chút gì thêm vào đó thôi, theo GS John B. Goodenough.  Trong vòng một thập kỷ, phát kiến mới của Goodenough đã được hàng triệu thiết bị điện tử dùng đến. Điện thoại di động, máy ảnh và máy tính đều trở nên nhỏ hơn, giá cả phải chăng hơn và phổ biến hơn nhờ cực âm coban-oxit. Nhiều đồng nghiệp của ông thời đó đã cho rằng nếu giải thưởng Nobel không được trao cho phát kiến này thì giải thưởng chỉ là một trò hề.  Dù rằng mọi người cho rằng đây thành tựu sáng giá nhất của Goodenough, một thành tựu nổi tiếng đáng tự hào nhất. Nhưng Goodenough lắc đầu nói rằng “Không phải thế, sở dĩ tôi nổi tiếng chẳng qua là vì họ kiếm được bộn tiền nhờ thành tựu đó thôi mà! “(Trong khi các công ty như Sony kiếm được hàng tỷ đô la, thì Goodenough đã không được một xu tiền bản quyền). Ông nói rằng, ông tự hào hơn về những đóng góp của mình cho khoa học cơ bản và những nhịp cầu mà ông đã kết nối giữa vật lý, hóa học và kỹ thuật. Những khám phá đó ít hấp dẫn hơn và ít lợi nhuận hơn, và chúng không phải là những đề tài dễ dãi cho truyền thông đại chúng.  Vẫn cần thực hiện nhiều nghiên cứu về pin  Trong đời, ông đã nhận nhiều sự tri ân của nước Mỹ như Huy chương Khoa học Quốc gia năm 2011 và Huy chương Công nghệ và Sáng tạo Quốc gia năm 2010, nhận Huy chương từ Tổng thống Obama trong Phòng phía Đông Nhà Trắng vào ngày 1/2/2013.  Trong 29 năm làm việc ở Đại học Texas (UT), Goodenough đã giành được gần như mọi giải thưởng lớn về khoa học và kỹ thuật của thế giới. Giải thưởng Nhật Bản, Giải thưởng Enrico Fermi và Giải thưởng Charles Stark Draper, chỉ là một trong những giải thưởng danh giá nhất. Hàng trăm sinh viên mà ông đã góp sức đào tạo, giúp đỡ này đều đang phát triển sự nghiệp rực rỡ. Nhưng thật bất ngờ, khi bạn hỏi các đồng nghiệp và bạn bè về Goodenough, thì họ không nói nhiều về những thành tựu này. Thay vào đó, họ chỉ luôn luôn ca ngợi về nhân cách của ông: Ông là một hình mẫu cho sự cố gắng và tận tâm. Ông ấy rất tốt bụng và không có gì khiến ông ấy thất vọng. Hiếm có một con người như thế trên thế gian này. Những thành tích khoa học của ông ấy quá lớn, nhưng điều đáng ngưỡng mộ nhất là trái tim và lòng tốt của ông ấy. Từ ông ấy, chúng ta học được cách tập trung vào công việc, sống tích cực mỗi ngày và rồi những điều tốt đẹp sẽ tiếp nối.    Ở tuổi ngoài 95, Goodenough vẫn làm việc toàn thời gian, công bố các phát hiện của mình và hướng dẫn các nhà nghiên cứu trẻ. Nguồn: Wall Street journal  Mỗi chiều lúc 4h00, Goodenough lái chiếc Honda Accord của mình từ văn phòng đến viện dưỡng lão North Austin, nơi Irene hiện đang sống. Cô ấy đang ở giai đoạn cuối của bệnh Alzheimer, và mặc dù không thể nói được nữa, cô ấy siết chặt tay anh ấy trong khi họ xem tin tức. Hơn 64 năm kết hôn, họ đã cùng nhau ăn tối mỗi tối và điều đó đã không thay đổi, ngoại trừ việc bây giờ ông phải đút cho bà ăn, vì bà không thể tự ăn được nữa. Ông vẫn đánh dấu sinh nhật của cô và kỷ niệm ngày cưới của họ bằng cách mang cho bà một bó hoa và một bài thơ viết tay. Ông tâm sự : “Với tôi, mỗi tối đến với cô ấy là rất quan trọng. Tôi đến mỗi tối để cô ấy biết rằng tôi yêu cô ấy. Chúng tôi không có con cái, vì vậy những gì chúng tôi có là chúng tôi có nhau.”  Goodenough thường đi ngủ sớm, sau đó thức dậy và đến văn phòng muộn nhất là 7:30. Ông ấy nói rằng ông ấy chưa bao giờ nghĩ đến việc nghỉ hưu: “Tôi muốn trở nên hữu ích cho đến cuối đời.” Hiện nay ông ấy lại đang nghiên cứu một loại pin thông minh hơn, hiệu quả hơn. Kể từ khi phiên bản pin lithium-ion của ông được tung ra thị trường vào năm 1991, các nhà nghiên cứu khác đã có thể cải thiện khá lớn. Theo Goodough , “Pin mỗi năm lại nhỏ hơn và nhẹ hơn một ít, nhưng sự thay đổi này không đủ cơ bản để biến ô tô điện trở thành một lựa chọn khả thi cho hầu hết các lái xe. Những gì chúng ta cần không phải là một sự cải tiến dần dần, mà là một bước nhảy vọt. Xã hội của chúng ta vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và chúng ta phải sớm tìm được một giải pháp thay thế. Sự nghiệp này bất cứ ai cũng có thể làm được, nhưng không phải là Goodenough nữa. Tôi chẳng qua là may mắn ở đúng nơi, đúng lúc. Tôi không nghĩ rằng tôi đã tìm ra một cái gì đó, tôi chỉ nghĩ rằng tôi chỉ đóng góp chút gì thêm vào đó thôi (I happened to be in the right place at the right time. And I don’t think about what I get out of something, I think about what I put into it”).  (GS Trần Xuân Hoài lược thuật theo bài The Inventor của Rose Cahalan trên Texas Ecess năm 2015)    “Tôi vừa trình bày về pin lithium-ion tại seminar của CafeVL ngày 3/10/2019 tại Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam). Dù rất tốt nhưng hiện pin vẫn đạt chưa nổi một nửa chất lượng theo lý thuyết, vì vậy con đường vẫn còn rất dài và cánh cửa còn rất rộng mở cho các nhà vật lý – hóa học – công nghệ trẻ của Việt Nam tham gia, và là một miếng bánh rất tốt và đầy tiềm năng sinh lời cho các nhà doanh nghiệp có tham vọng. Tiếc rằng hơn 25 năm trước, tôi đã đề xuất và khuyến cáo Việt Nam nên nhanh chóng tham gia vào lĩnh vực rất tiềm năng và dễ đồng hành cùng thế giới. Tuy nhiên không mấy người lưu tâm trong khi Trung Quốc đã chớp lấy cơ hội và từ số không, vươn lên vị trí gần như số 1 thế giới trong lĩnh vực này”, Giáo sư Trần Xuân Hoài cho biết.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang John Conway “tay không” làm toán      John Conway, nhà toán học huyền thoại mới qua đời ngày 11 tháng 4 vừa qua là một người ham hiểu biết, đầy sức sống và là một trong những người tài năng nhất thế hệ mình.      John Conway trong phòng làm tại trường Đại học Princeton năm 1993. Nguồn: Dith Pran/The New York Times  Trong toán học hiện đại, nhiều bước tiến lớn là những công trình lý thuyết công phu. Các nhà toán học làm được những việc phi thường, nhưng sức mạnh của họ đến từ những công cụ, là những khái niệm trừu tượng vô cùng phức tạp, giống như chiếc găng tay robot có thể làm tăng sức mạnh của người mang. Tuy nhiên là một nhà giải toán bẩm sinh theo lối cũ, John Conway thường khiến đồng nghiệp của mình kinh ngạc vì những công trình không cần công cụ trợ giúp.  “Ngay cả các nhà toán học hàng đầu cũng kinh ngạc vì khả năng của ông ấy. Người ta bảo rằng ông ấy là nhà toán học duy nhất làm việc được bằng ‘tay không’. Theo nghĩa đó, ông ấy là người mạnh nhất làng toán,” Stephen Miller, nhà toán học tại Đại học Rutgers nhận xét.  Ngày 11 tháng 4 năm 2020, nhà toán học sinh ở Liverpool (Anh) qua đời ở tuổi 82 vì Covid-19.  Đóng góp toán học của Conway cũng phong phú như những câu chuyện người ta kể về ông.  “Có lần ông ấy bắt tay tôi và nói với tôi về ‘bốn cái bắt tay từ Napoleon’, chuỗi bắt tay gồm có: [tôi] – John Conway – Bertrand Russell – Bá tước Russell I – Napoleon,” đồng nghiệp David Gabai tại Đại học Princeton viết trong một email. Một lần khác, Conway và nhà toán học Simon Kochen, một người bạn thân ở Princeton, nổi hứng quyết định ghi nhớ tên các thủ đô trên thế giới. “Chúng tôi quyết định nghỉ làm toán một thời gian,” Kochen nói, “và suốt vài tuần chúng tôi học về vùng phía Tây châu Phi và các nước vùng Ca-ri-bê.”  Conway có xu hướng, có lẽ độc nhất vô nhị, nhảy vào và thay đổi hoàn toàn một lĩnh vực toán học.  “Nhiều nhà toán học nghĩ về các đối tượng được ông nghiên cứu theo đúng cách ông nghĩ về chúng,” Miller nói. “Cứ như thể tính cách của ông đã được truyền vào chúng.”  Khám phá lớn đầu tiên của Conway mang tính sinh tồn. Giữa những năm 1960, ông là một nhà toán học trẻ mới bắt đầu sự nghiệp. Theo gợi ý của John McKay, Conway quyết định thử chứng minh một số tính chất của một đối tượng hình học có tên là lưới Leech. Nó xuất hiện trong nghiên cứu về cách xếp các quả cầu tiết kiệm không gian nhất – bài toán xếp cầu.      “Nhiều nhà toán học nghĩ về các đối tượng được ông nghiên cứu theo đúng cách ông nghĩ về chúng,” Miller nói. “Cứ như thể tính cách của ông đã được truyền vào chúng.”      Để hiểu lưới Leech và tầm quan trọng của nó, ta hãy xét một tình huống đơn giản hơn. Tưởng tượng chúng ta muốn đặt một số nhiều nhất có thể các hình tròn vào một miền mặt phẳng. Chúng ta có thể làm bằng cách chia mặt phẳng thành một lưới lục giác đều và đặt một hình tròn nội tiếp mỗi lục giác đều. Lưới lục giác này cho biết cách xếp hình tròn tối ưu trong không gian hai chiều.  Trong những năm 1960, nhà toán học John Leech đưa ra một loại lưới khác mà ông phỏng đoán sẽ cho biết cách xếp cầu tối ưu trong không gian 24 chiều (Giả thuyết đó sau này được chứng minh là đúng). Ứng dụng của nó trong bài toán xếp cầu khiến lưới Leech trở nên thú vị, nhưng còn nhiều điều chưa được biết về nó. Một trong những tính chất quan trọng là các đối xứng của lưới, được biểu diễn bằng các nhóm.  Năm 1966, do McKay thúc giục, Conway quyết định dù có mất bao nhiêu thời gian cũng phải xác định được nhóm đối xứng của lưới Leech.  “Ông ấy tự nhốt mình trong phòng, từ biệt vợ, và dự định suốt ngày làm việc trong vòng một năm,” nhà toán học Richard Borcherds tại Đại học California tại Berkeley, học trò cũ của Conway, kể.  Nhưng hóa ra chẳng cần thiết phải từ biệt. “Ông ấy tính xong nó trong khoảng 24 giờ,” Borcherds nói.  Khả năng tính toán nhanh là một nét đặc trưng của Conway. Ông coi nó là một hình thức giải trí. Ông tạo ra một thuật toán để tính nhanh thứ trong tuần của một ngày bất kỳ, và thích chơi cũng như tạo ra trò chơi. Có lẽ ông nổi tiếng nhất vì là tác giả “Trò chơi cuộc sống” [Game of Life], một chương trình máy tính trong đó một nhóm “tế bào” phát triển, tiến hóa theo một vài luật đơn giản.  Sau khi xác định được các đối xứng của lưới Leech – ngày nay có tên nhóm Conway – Conway quan tâm đến tính chất của những nhóm tương tự. Một nhóm như thế có tên nhóm “quái vật” [monster group], gồm các đối xứng trong không gian 196883 chiều.  Trong bài báo “Monstrous Moonshine” [Ánh trăng kỳ quái] công bố năm 1979, Conway và Simon Norton đưa ra giả thuyết về mối quan hệ sâu sắc đáng ngạc nhiên giữa các tính chất của nhóm quái vật với các tính chất của “hàm j”, những đối tượng xa xôi trong lý thuyết số. Họ phỏng đoán rằng số chiều của các không gian có nhóm quái vật gần như trùng với các hệ số của hàm j. Giả thuyết “ánh trăng” này được Borcherds chứng minh một thập kỷ sau đó, công trình này góp phần đem lại cho ông Huy chương Fields 1998.  Nếu không có khả năng tính toán và niềm yêu thích đánh vật với các thí dụ của Conway, có lẽ ông và Norton đã không nghĩ ra được giả thuyết ánh trăng.  “Họ khám phá ra mối quan hệ thần số học [numerology] này nhờ làm các thí dụ,” Miller nói. “Conway làm tất cả từ đầu, chẳng có một cây đũa thần nào cả. Khi hiểu về một thứ gì đó, ông ấy hiểu rõ hơn ai hết, và thường theo cách riêng của mình.”  Chín năm trước giả thuyết ánh trăng, cách làm toán thực hành của Conway giúp ông có được một đột phá trong một lĩnh vực hoàn toàn khác. Trong tô-pô học, các nhà toán học nghiên cứu các nút thắt, như các vòng dây khép kín. Họ quan tâm đến việc phân loại tất cả các nút. Thí dụ, nếu nối hai đầu một sợi dây giày chưa buộc, chúng ta có một loại nút; nếu thắt một nút đơn rồi mới nối hai đầu, ta lại được một loại nút khác.  Nhưng không phải lúc nào cũng đơn giản thế. Nếu lấy hai vòng dây rồi làm rối chúng, như thể cho mèo nghịch, chúng ta có thể không chỉ nhìn qua – thậm chí nhìn rất lâu – mà nói được chúng có phải là hai nút cùng loại hay không.  Trong thế kỷ 19, ba nhà khoa học người Anh và Mỹ – Thomas Kirkman, Charles Little và Peter Tait – đã xây dựng một thứ bảng tuần hoàn cho các nút. Trong sáu năm, họ đã phân loại được 54 nút đầu tiên.  Trong một bài báo năm 1970, Conway đưa ra một cách hiệu quả hơn để phân loại các nút. Cách biểu diễn của ông – ngày nay được gọi là ký hiệu Conway – giúp vẽ sơ đồ các chỗ xoắn và đè lên nhau của một nút một cách dễ dàng hơn rất nhiều.  “Little mất sáu năm, ông ấy làm trong một buổi chiều,” Marc Lackenby, nhà toán học nghiên cứu về nút tại Đại học Oxford, nhận xét.  Và còn hơn thế nữa. Cũng trong bài báo đó, Conway có một đóng góp lớn khác cho lý thuyết nút. Các nhà toán học nghiên cứu về nút sử dụng nhiều tiêu chuẩn khác nhau, thường có vai trò các bất biến. Nghĩa là nếu hai nút cho hai kết quả khác nhau thì chúng là hai [loại] nút khác nhau.  Một trong những tiêu chuẩn khả kính nhất trong lý thuyết nút là đa thức Alexander, một đa thức được xây dựng dựa trên cách một nút tự cắt. Đó là một tiêu chuẩn rất hiệu quả, nhưng lại hơi mơ hồ: một nút có thể có nhiều đa thức Alexander khác nhau (nhưng có quan hệ mật thiết với nhau).  Conway đã tinh chỉnh đa thức Alexander, loại bỏ sự mơ hồ. Kết quả là đa thức Conway, một công cụ cơ bản mà mọi nhà lý thuyết nút ngày nay đều được học.  “Ông ấy nổi tiếng với việc bước vào và làm mọi thứ theo cách riêng của mình. Ông ấy đã làm thế với lý thuyết nút, và tạo ra ảnh hưởng lâu dài,” Lackenby nói.  Ngoài 70 tuổi, Conway vẫn tích cực nghiên cứu và là một nhân vật thường xuyên ở phòng sinh hoạt chung của khoa toán Đại học Princeton. Nhưng hai năm trước, một cơn đột quỵ đã khiến ông phải vào ở trong một nhà dưỡng lão. Các đồng nghiệp cũ, trong đó có Kochen, vẫn thường xuyên tới thăm ông, cho tới khi Covid-19 khiến việc thăm viếng phải ngừng. Kochen vẫn gọi điện thoại cho Conway suốt mùa đông, lần cuối cùng khoảng hai tuần trước khi Conway mất.  “Ông ấy không thích việc bị cấm tiếp khách, và ông ấy nói về con virus quái ác. Quả nhiên, con virus quái ác đã hạ gục ông ấy,” Kochen nói.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/john-conway-solved-mathematical-problems-with-his-bare-hands-20200420/     Author                Kevin Hartnett        
__label__tiasang John Martinis: Xây dựng lượng tử      Một nhà vật lý dẫn dắt một dự án xây dựng máy tính lượng tử đầu tiên của Google có khả năng tính toán vượt xa các cỗ máy thông thường.      John Martinis và cộng sự tại Google. nguồn: Nature  Vào giữa những năm 1980, khi còn là sinh viên, John Martinis tới dự một bài giảng mà ông không ngờ nó đã trở thành tâm điểm cuộc đời khoa học của mình. Khi đó, nhà vật lý nổi tiếng Richard Feynman đã thảo luận với mọi người ý tưởng sử dụng các đặc tính lượng tử của các hạt để tạo ra các chiếc máy tính có thể làm được những điều mà những máy tính thông thường không thể thực hiện được. “Với tôi, rõ ràng đây là một ý tưởng vĩ đại khiến tôi cảm thấy hào hứng khi nghiên cứu về nó”, Martinis nói.  Vào tháng 10 vừa qua, Martinis đã tiến một bước hướng tới giấc mơ của Feynman. Ông dẫn dắt công trình nghiên cứu về máy tính lượng tử của một nhóm các nhà khoa học tại Google và nhóm này mới thông báo đã thiết kế được chiếc đầu tiên: một máy tính lượng tử có thể khiến thực hiện một tính toán nhanh hơn máy tính cổ điển có năng lực tính toán bậc nhất. “Việc thực hiện thí nghiệm này là một điểm nổi bật trong sự nghiệp của tôi,” Martinis nói.  Nhà vật lý này làm việc tại cả Google và trường đại học California tại Santa Barbara, và dành 17 năm để phát triển phần cứng đã góp phần làm nên Sycamore, cỗ máy tính lượng tử của gã khổng lồ công nghệ này. Tại trung tâm của Sycamore là những cuộn siêu dẫn nhỏ bé mà người ta gọi là bit lượng tử, các hệ lượng tử được coi là tồn tại trong các trạng thái phức tạp cho đến khi chúng được quan sát. Các nhà vật lý đã suy nghĩ một cách lý thuyết từ lâu là các tương tác giữa các bit lượng tử có thể cho phép các máy tính trội hơn các tính toán hiện tại, như việc tìm kiếm các cơ sở dữ liệu không thể nắm bắt và bẻ khóa các mã hóa thông thường.  Một nhóm nghiên cứu gồm khoảng 70 nhà nghiên cứu và kỹ sư đã chứng tỏ, với một thách thức cụ thể – tính toán sự lan truyền kết quả từ một loại máy chuyên sản sinh ra một số lượng lớn các số ngẫu nhiên lượng tử, Sycamore có thể chỉ mất 200 giây để ước tính trong khi siêu máy tính hạng nhất mất cả 10.000 năm (tuy nhiên một số nhà khoa học đã lên tiếng là thực ra chỉ mất có một vài ngày).  Chiến công này phụ thuộc vào phần cứng được cải thiện để làm giảm bớt các tỷ lệ lỗi và kết nối của các bit lượng tử theo những cách mới. Một số nhà vật lý tranh cãi về ý nghĩa của dấu mốc này và sự giới hạn của ứng dụng thực tế. Nhưng Martinis cho rằng tầm quan trọng của thí nghiệm này nằm ở việc thực hiện được điều mang tính cơ bản: nó chứng minh hiểu biết của các nhà vật lý về các tương tác lượng tử – học hỏi về các hệ lượng tử nhỏ – vẫn đúng ở quy mô lớn và phức tạp. “Đây là thông tin vô cùng tốt”, ông nói.  Theo đánh giá của Hartmut Neven, người phụ trách phòng thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo lượng tử của Google, Martinis có tâm thế của một người leo núi thực thụ và ông thường áp dụng cách tiếp cận vấn đề cẩn trọng trong xây dựng phần cứng, trong đó mỗi bước đi liên tục phải được thực hiện với sự cải tiến thực sự. “Ý tưởng của John về một chủ nhật thư giãn là đến phòng thí nghiệm và gắn kết mọi thứ với nhau. Cuộc sống và công việc không thể chia tách”.  Martinis có nhiều ý tưởng mà ông đang ôm ấp hi vọng theo đuổi. Những ưu tiên trong tương lai của ông có cả việc tạo ra các chip lượng tử chất lượng cao hơn – các phương pháp đỉnh cao để hiệu chỉnh các lỗi do nhiễu gây ra – và mở cơ hội cho cả các nhà nghiên cứu bên ngoài sử dụng Sycamore thông qua hệ thống điện toán đám mây, để xem xét là liệu các thuật toán mà họ ứng dụng có thể hữu dụng không. Một trong các ý tưởng là một phương pháp xác minh các con số ngẫu nhiên có thực sự ngẫu nhiên. “Các nhà vật lý như tôi không có khái niệm nghỉ ngơi,” ông nói với một nụ cười. “Chúng tôi có rất nhiều việc phải làm.”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang John Nash: “Tôi không thể có những ý tưởng khoa học tốt đến vậy nếu tư duy theo kiểu thông thường hơn” *      LTS: 13/6 vừa qua là ngày sinh của John Forbes Nash, nhà toán học được giải Nobel Kinh tế năm 1994. Công chúng biết đến ông nhiều qua bộ phim được giải Oscar năm 2002: A Beautiful Mind.    John F. Nash Jr. (ảnh của Eirik Baardsen.)Bài phỏng vấn John Nash do Martin Raussel, giáo sư tại Đại học Aalborg, Đan Mạch và Christian Skau, giáo sư Toán học tại Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy, Trondheim, Na Uy  thực hiện tại Oslo, vào ngày 18 tháng 5 năm 2015, ngay trước lễ trao giải Abel và chỉ năm ngày trước khi xảy ra tai nạn bi thảm dẫn tới cái chết của John Nash và Alicia, vợ ông. Sự ra đi không đúng lúc của ông khiến bài phỏng vấn Abel theo thông lệ là những người được phỏng vấn được yêu cầu đọc và sửa bản nháp đã không thể thực hiện được. Vì vậy, tất cả những sai sót có thể có ở đây đều chỉ thuộc trách nhiệm của những người phỏng vấn.  Về giải thưởng  Raussen và Skau: Thưa giáo sư Nash, chúng tôi xin được chúc mừng ông được trao giải thưởng Abel năm 2015, một giải thưởng được chia sẻ cùng với Louis Nirenberg. Ông nghĩ thế nào ngay khi biết mình được trao giải Abel?  Giáo sư Nash: Tôi không biết nhiều về giải thưởng này như giải Nobel. Tôi thấy bối rối khi nhận được một cuộc gọi khá muộn ngay trước ngày trao giải. Tuy vậy, tôi không hoàn toàn ngạc nhiên. Tôi đã từng nghĩ về giải thưởng Abel. Nó là một ví dụ thú vị về một giải thưởng mới mẻ có giá trị khá lớn nhưng không hoàn toàn dễ đoán trước. Người ta cũng gần như đã gợi ý trước cho tôi. Tôi được kể trên điện thoại rằng giải thưởng Abel sẽ được thông báo sáng ngày hôm sau. Vì thế tôi đã được chuẩn bị sẵn về tâm lý.  Nhưng nó đến một cách bất ngờ chứ?  Quả thực là bất ngờ. Tôi thậm chí không biết rằng khi nào thì các quyết định về giải thưởng Abel được công bố. Tôi đã từng đọc chúng trên báo nhưng không theo dõi sát sao. Tôi có thể thấy rằng những người được chọn đều rất đáng kính trọng.  Tuổi trẻ và quá trình học tập  Ông đã nhận ra mình có tài năng đặc biệt trong toán học từ khi nào? Có phải đã có người động viên ông theo đuổi toán học từ những năm tháng ấu thơ không?Mẹ tôi đã từng là giáo viên nhưng bà dạy tiếng Anh và tiếng Latinh. Bố tôi là kỹ sư điện. Ông cũng là một giáo viên ngay trước Thế chiến thứ nhất. Khi theo học tiểu học, tôi thường làm các phép toán cộng và nhân với những số có nhiều chữ số thay vì những gì được dạy ở trường, tức là nhân các số có hai chữ số. Thế nên tôi làm việc với các số có bốn hoặc năm chữ số. Đơn giản là tôi tìm thấy niềm vui trong việc thử và tìm kiếm cách thức tính toán chính xác. Nhưng thực tế việc tôi có thể làm được là một dấu hiệu, hiển nhiên là, của năng khiếu toán học. Rồi cũng có các dấu hiệu khác nữa. Khi còn rất nhỏ, tôi có cuốn sách “Men of Mathematics” của E. T. Bell1, và tôi cũng đã có thể đọc nó. Nếu tôi nhớ không nhầm thì Abel cũng được đề cập đến trong cuốn đó?  Phải, Abel đúng là đã được nhắc đến trong đó. Năm 1948, khi ở tuổi đôi mươi ông đã được nhận làm học viên sau đại học ngành Toán ở Đại học Princeton, một nơi tinh hoa và lựa chọn học viên rất cẩn thận. Ông đã ưa thích không khí ở Princeton như thế nào? Nó có cạnh tranh lắm không?  Đó là một môi trường rất kích thích. Dĩ nhiên nó cũng rất cạnh tranh – một cuộc cạnh tranh thầm lặng giữa các nghiên cứu sinh. Họ không cạnh tranh trực tiếp với nhau như những người chơi tennis. Tất cả bọn họ đều theo đuổi cơ hội có được một sự công nhận đặc biệt nào đó. Không ai nói gì về chuyện này bao giờ nhưng nó được mọi người hiểu ngầm với nhau như vậy.  Trò chơi và lý thuyết trò chơi  Ông ưa thích lý thuyết trò chơi ngay từ những ngày đầu tiên. Thực tế, ông đã sáng tạo ra một kiểu trò chơi về một đặc trưng tôpô được chơi phổ biến giữa các sinh viên và các thành viên trong khoa, trong phòng sinh hoạt chung ở Fine Hall, tòa nhà khoa Toán của Princeton. Ở Princeton, trò chơi được gọi là “Nash”, nhưng ngày nay nó thường được biết đến dưới tên gọi “Hex”. Thực ra, một nhà phát minh người Đan Mạch và nhà thiết kế Piet Hein đã độc lập với nhau phát minh ra trò chơi này. Tại sao ông lại ưa thích các trò chơi và lý thuyết trò chơi?  Tôi học kinh tế ở Viện Công nghệ Carnegie ở Pittsburgh (ngày nay là Đại học Carnegie Mellon). Tôi đã quan sát những người nghiên cứu các mối liên kết giữa các trò chơi và lập trình toán học ở Princeton. Tôi có một vài ý tưởng: một số thì liên quan đến kinh tế, một số liên quan đến các trò chơi giống như bạn là người chơi trên thị trường chứng khoán – mà đấy chính là một trò chơi thực sự. Tôi không thể giải thích chính xác nhưng hóa ra von Neumann [1903-1957] và Morgenstern [1902-1977] ở Princeton đã chứng minh được sự tồn tại của lời giải cho trò chơi hai người, trường hợp đặc biệt của một định lý tổng quát về điểm cân bằng trong các trò chơi giữa n-người mà tôi đã tìm ra. Tôi đã liên kết nó với các ý tưởng tự nhiên của tính cân bằng và của các ý tưởng tôpô trong định lý điểm bất động Brouwer.  Chính xác là khi nào và tại sao tôi bắt đầu, hay khi nào von Neumann và Morgenstern nghĩ về chuyện này thì tôi không chắc chắn. Sau này tôi biết thêm về định lý điểm bất động Kakutani, một tổng quát hóa của định lý của Brouwer. Tôi đã không nhận ra  chính von Neumann đã tạo cảm hứng cho định lý này và ông  đã ảnh hưởng lên Kakutani [1911-2004]. Kakutani cũng là một học viên ở Princeton, vì thế von Neumann đã không ngạc nhiên với ý tưởng rằng một luận điểm tôpô có thể suy ra tính cân bằng nói chung. Lúc đó tôi đã phát triển một lý thuyết để nghiên cứu một vài khía cạnh khác của các trò chơi.  Rất nhiều người không thuộc cộng đồng toán học biết rằng ông nhận giải Nobel kinh tế năm 1994.  Đó là rất lâu sau này [họ mới biết].  Phải, nhờ bộ phim “A Beautiful Mind” trong đó Russel Crowe thủ vai ông mà nhiều khán giả khắp nơi đã biết ông nhận giải Nobel kinh tế. Nhưng không phải ai cũng biết rằng ý tưởng giúp ông nhận giải Nobel lại nằm trong luận án tiến sĩ của mình, nộp cho Princeton năm 1950, khi ông mới hai mốt tuổi. Tên của luận án là “Noncooperative games (Về những trò chơi bất hợp tác).” Ông có bao giờ nghĩ rằng hóa ra nó lại mang tính cách mạng như thế nào chưa? Rằng nó sẽ có ảnh hưởng không chỉ lên kinh tế mà cả ở những ngành khác như khoa học chính trị và sinh học tiến hóa?Thật khó để trả lời. Sự thật là nó có thể được áp dụng ở bất cứ nơi nào có xuất hiện tính cân bằng và có sự cạnh tranh hay tương tác giữa các phần tử. Một phần trong đó cũng tương tự một cách tự nhiên với quan điểm của các nhà tiến hóa.   Có phải ông đã tự tìm chủ đề này cho mình khi ông viết luận án hay do thầy hướng dẫn của ông tìm giúp?  À, tôi ít nhiều đã tự tìm chủ đề này cho mình và rồi tôi chọn thầy hướng dẫn theo bản chất của chủ đề mà tôi chọn.  Albert Tucker [1905–1995]2 là thầy hướng dẫn của ông phải không?  Phải. Ông ấy đã từng cộng tác với von Neumann và Morgenstern.  Princeton  Chúng tôi muốn hỏi ông về thói quen nghiên cứu và làm việc của ông. Ông hiếm khi tới nghe giảng ở Princeton. Tại sao vậy?Điều đó đúng. Princeton khá là tự do. Họ đưa ra khái niệm điểm-N, không lâu trước khi tôi đến. Chẳng hạn, một giáo sư khi thiết kế một khóa học sẽ đưa ra điểm N trong thang điểm dành cho người học, nghĩa là “không có điểm”. Nhưng việc này thay đổi phong cách làm việc. Do vậy, số lượng người thực sự theo các khóa học (tham dự khóa học để có điểm) ở Princeton ít hơn trường hợp tương tự có thể có ở những trường khác.  Có phải ông có quan điểm rằng việc học “gián tiếp” quá nhiều sẽ bóp chết sự sáng tạo và độc đáo? Học“gián tiếp”có nghĩa là gì?  Học gián tiếp có nghĩa là, chẳng hạn, bạn không học trực tiếp các tích phân abel từ Abel mà lại học từ ai đó khác từng học tích phân abel.  Thực tế, Abel đã viết trong nhật ký toán học của ông rằng bạn nên học từ các bậc thầy chứ không phải từ học trò của họ.  Phải, ý tưởng đó cũng từa tựa như thế. Ừ, chúng rất tương đồng đấy.  Trong thời gian ở Princeton ông đã liên hệ với Albert Einstein và von Neumann vào những dịp khác nhau. Việc liên hệ với những người nổi tiếng như vậy thật táo bạo với một sinh viên trẻ phải không?  Ờ thì, đấy là việc có thể làm được. Nó hoàn toàn phù hợp với ý tưởng về hoạt động của trí thức. Với von Neumann, tôi đã hoàn tất chứng minh của mình về định lý cân bằng cho lý thuyết trò chơi sử dụng định lý điểm bất động Brouwer, trong khi von Neumann và Morgenstern đã [chứng minh một định lý hẹp hơn bằng cách] sử dụng những kết quả khác trong sách của họ. Nhưng khi tôi gặp von Neumann, tôi đứng bên chiếc bảng đen [trong văn phòng ông ta] và ông ấy đã hỏi: “Cậu sử dụng định lý điểm bất động hả?” “Vâng”, tôi trả lời. “Tôi đã sử dụng định lý điểm bất động Brouwer”.Đôi lúc nào đó, tôi đã nhận ra rằng có một phiên bản chứng minh sử dụng định lý điểm bất động của Kakutani, rất tiện lợi cho các ứng dụng trong kinh tế bởi vì ánh xạ đó không đòi hỏi phải liên tục lắm. Nó có một số tính chất liên tục nào đó, gọi là các tính chất liên tục tổng quát, và cũng có một định lý điểm bất động trong trường hợp đó. Tôi không biết rằng Kakutani đã chứng minh kết quả đó sau khi được truyền cảm hứng từ von Neumann, người đã dùng định lý điểm bất động như một cách tiếp cận một vấn đề kinh tế học liên quan đến các nhóm tương tác với nhau trong một nền kinh tế (tuy nhiên ông không sử dụng nó trong lý thuyết trò chơi).  Khi ông gặp Einstein, nói chuyện với ông ấy, rồi diễn giải một số ý tưởng vật lý của ông, Einstein đã phản ứng như thế nào?  Tôi nói với ông ấy về ý tưởng của mình, liên quan tới việc các photon mất năng lượng trên hành trình dài xuyên Vũ Trụ và hệ quả là có dịch chuyển đỏ. Những người khác cũng đã có ý tưởng này. Rất lâu sau này tôi thấy rằng có ai đó ở Đức viết một bài báo về nó. Nếu hiện tượng này tồn tại thì quan điểm phổ biến lúc ấy về vũ trụ đang giãn nở sẽ bị lung lay bởi vì điều có vẻ là hiệu ứng về sự giãn nở của Vũ trụ (một loại dịch chuyển đỏ kiểu Doppler) sẽ không thể được giải thích một cách chính xác theo cách đó bởi vì có thể có một dịch chuyển đỏ có nguồn gốc khác. Sau này tôi đã phát triển một lý thuyết toán học cho ý tưởng ấy.  Một chuỗi các thành tựu nổi tiếng  Trong khi ông viết luận án của mình về lý thuyết trò chơi ở Đại học Princeton, ông đã làm việc trên những vấn đề với bản chất rất khác, mang hơi hướng hình học hơn. Và ông tiếp tục công trình này khi ông ở khoa Toán tại MIT ở Boston, nơi ông làm việc từ 1951 tới 1959. Ông đã đưa ra một nhóm những kết quả thực sự vô cùng ấn tượng. Thực tế, các kết quả mà ông thu được trong khoảng thời gian này là động lực chính để trao cho ông giải Abel năm nay. Trước khi chúng ta đến gần hơn với những kết quả của ông trong khoảng thời gian ấy, chúng tôi muốn đưa ra một vài quan điểm cụ thể bằng cách trích lời Mikhail Gromov, người nhận giải Abel năm 2009. Ông ấy nói với chúng tôi trong bài phỏng vấn mà chúng tôi thực hiện cùng ông ấy sáu năm trước rằng, các phương pháp của ông đã cho thấy “sự độc đáo không thể tưởng tượng nổi”. Và hơn thế: “Những điều Nash đã làm được trong hình học theo quan điểm của tôi là có một không hai, vĩ đại hơn những gì ông ấy đã làm được trong kinh tế học, trên rất nhiều cấp độ.” Ông có đồng ý với nhận định của Gromov không?  Đây chỉ đơn giản là một câu hỏi về sở thích, tôi cho là như vậy. Tôi đã phải khá chật vật đấy. Có những kết quả tôi đã đạt được trong hình học đại số, có liên quan tới hình học vi phân hàm chứa trong đó nhiều điểm tinh tế. Tôi đã có một bước đột phá trong đó. Ta có thể thực sự kiểm soát được hình dạng hình học của một đa tạp đại số.  Đó chính là chủ đề cho câu hỏi tiếp theo của chúng tôi. Ông đã gửi đăng một bài báo về các đa tạp đại số thực khi ông bắt đầu tới MIT vào tháng 10 năm 1951. Chúng tôi muốn nhắc lại câu nói của Micheal Artin ở MIT, người sau này đã sử dụng kết quả của ông. Anh ấy bình luận rằng: “Chỉ tưởng tượng được về một định lý như vậy thôi đã là xuất sắc lắm rồi.”  Ông có thể kể cho chúng tôi nghe một chút xem ông đã làm việc với đối tượng nào, ông đã chứng minh những gì trong bài báo, và ông đã bắt đầu ra sao được không?  Tôi đã thực sự bị ảnh hưởng bởi không-thời gian, Einstein và ý tưởng về sự phân bố của các ngôi sao, rồi tôi nghĩ rằng: “Giả sử có thể lựa chọn vài mẫu hình về phân bố của các ngôi sao; thì liệu rằng có thể tồn tại một đa tạp, tự uốn vòng quanh và đi ngược vào trong chính nó mà tồn tại ở một vài vị trí cân bằng với các phân bố của những ngôi sao như thế không? Đó là ý tưởng mà tôi đã xét đến.  Cuối cùng tôi phát triển một vài ý tưởng toán học nhờ đó sự phân bố của các điểm (các điểm thú vị) có thể được lựa chọn và từ đó sẽ có vài đa tạp nào đó mà sẽ tự đi quanh chính nó theo một kiểu hình học và tôpô mong muốn. Do vậy tôi đã làm như thế và phát triển thêm một số lý thuyết tổng quát để nghiên cứu nó cùng thời điểm đó và chúng được công bố.  Sau này người ta bắt đầu nghiên cứu để diễn tả chính xác hơn bởi vì tôi nghĩ rằng những gì tôi đã chứng minh có thể đã cho phép một số thứ thiếu đẹp đẽ về mặt hình học xuất hiện trong đa tạp được miêu tả và có thể tiến đến những cái khác nữa. Nó có thể không hoàn toàn hữu hạn. Phần nào đó của nó nằm ở vô cùng.  Cuối cùng, một người khác, A. H. Wallace [1926–2008] có vẻ như đã sửa được nó, nhưng rồi không phải-cậu ấy cũng mắc phải một sai lầm. Tuy vậy sau này nó được một nhà toán học tại Trento, Italy tên là Alberto Tognoli [1937–2008] khắc phục.  Chúng tôi muốn hỏi thêm ông về một kết quả khác, liên quan tới cách thể hiện các đa tạp Riemann. Nói đơn giản, các đa tạp Riemann là những cấu trúc trừu tượng, trơn mà trên đó các khoảng cách và các góc đều được địa phương theo một kiểu khá trừu tượng. Ông chỉ ra rằng những thực thể trừu tượng có thể được thể hiện một cách rất cụ thể như là các đa tạp con của các không gian Euclid với số chiều đủ cao.  Phải, như anh vừa nói, nếu metric được cho trước, theo một cách trừu tượng nhưng lại được coi như là đủ để định nghĩa một cấu trúc metric thì điều đó cũng có thể thu được qua một phép nhúng, metric khi ấy được cảm sinh từ phép nhúng đó. Sau đó tôi có tiến triển từ một nhánh khác. Trước tiên tôi chứng minh cho các đa tạp ở mức trơn thấp hơn, thuộc lớp C1 chẳng hạn. Một vài người khác đã tiếp tục theo cách đó. Tôi đã công bố một bài báo về vấn đề này, sau đó một nhà toán học Hà Lan, Nicolass Kuiper [1920-1994] đã nỗ lực để giản lược số chiều của không gian nhúng đi một.   Ngoài những kết quả mà ông thu được, có nhiều người nói với chúng tôi rằng các phương pháp mà ông áp dụng là đặc biệt sáng tạo.Ví dụ, chúng tôi xin trích lại lời của Gromov và John Conway. Gromov nói rằng khi ông ấy mới đọc về kết quả của ông:“Tôi nghĩ rằng nó thật vô nghĩa, nó không thể đúng được. Nhưng nó lại đúng, thật không thể tin nổi.“Và một lúc sau:“Ông ấy đã hoàn toàn thay đổi cách tư duy về các phương trình đạo hàm riêng.”  Còn Conway nói:“Những gì ông ấy đã làm được là một trong những mảng quan trọng nhất của giái tích toán học trong thế kỷ 20.” Quả là xuất sắc đó chứ!  Vâng.  Có phải đúng như lời đồn rằng ông bắt đầu làm việc với vấn đề nhúng do kết quả của một vụ cá cược?  Có gì đó cũng giống như một vụ cá cược. Đó là một cuộc thảo luận trong phòng sinh hoạt chung, nơi gặp gỡ của khoa ở MIT. Tôi đã thảo luận về ý tưởng qua một phép nhúng trong hình học với một thành viên lâu năm của khoa, đó là Giáo sư Warren Ambrose [1914-1995]. Tôi được nghe từ ông ấy ý tưởng về cách thể hiện metric qua một phép nhúng. Ở thời điểm đó, đây là một vấn đề hoàn toàn mở; trước đó thì không có gì cả. Tôi bắt đầu nghiên cứu về nó. Sau đó tôi có một bước tiến trong trường hợp C1. Hóa ra bạn có thể xử lý được vấn đề trong trường hợp này khi số chiều của không gian nhúng không lớn hơn bao nhiêu so với số chiều của đa tạp.Tôi đã làm được với hai, nhưng Kuiper thì làm được chỉ với một. Nhưng ông ấy không làm theo kiểu trơn được, mà có lẽ phải trơn mới đúng – bởi bạn làm việc với một vấn đề có đối tượng trơn thì nó cũng phải có một đáp án trơn. Nhưng một vài năm sau tôi đã tổng quát hóa cho cả trường hợp trơn. Tôi công bố kết quả này trong một bài báo gồm bốn phần. Có một lỗi sai trong đó, bây giờ tôi có thể thừa nhận. Khoảng bốn mươi năm sau khi bài báo được công bố, nhà logic học Robert M. Solovay ở Đại học California đã gửi tôi một lá thư chỉ ra lỗi sai. Tôi đã nghĩ rằng “ Sao có thể thế được?” Tôi bắt đầu xem xét và cuối cùng nhận ra một sai lầm trong logic. Nói một cách chặt chẽ, ánh xạ tôi xây dựng không hẳn là một phép nhúng thực sự; có thể xảy ra khả năng nó có tự cắt.  Nhưng chứng minh đã được sửa chữa, lỗi sai đã được khắc phục rồi chứ?  À, đã nhiều năm rồi kể từ khi tôi công bố nghiên cứu về nó. Có thể người ta đã biết đến sai lầm đó mà không có thông báo chính thức. Hoặc nó có thể đã được chú ý nhưng mọi người muốn giữ kín nó.Chúng tôi có thể trích lại lời nhận xét sau để nhấn mạnh kết quả của ông đáng ngạc nhiên như thế nào được không? Một trong những đồng nghiệp của ông ở MIT, Gian-Carlo Rota [1932-1999], giáo sư toán học và triết học đã nói rằng: “Một trong những chuyên gia vĩ đại của ngành này nói với tôi rằng nếu một trong những học viên sau đại học của ông ta có thể đề xuất một ý tưởng kỳ dị như vậy, ông ấy sẽ ném cậu ta ra khỏi văn phòng mình”.  Đó không phải là thái độ tự do, tiến bộ thực sự.  Phương trình đạo hàm riêng  Nhưng dẫu vậy có vẻ như kết quả mà ông đã chứng minh được mọi người coi như là gì đó vượt khỏi tầm với của các kỹ thuật mà người ta có ở thời điểm đó.   Phải, các kỹ thuật dẫn tới những phương pháp mới để nghiên cứu các phương trình đạo hàm riêng nói chung.  Chúng tôi xin tiếp tục với công trình của ông thuần túy thuộc lý thuyết phương trình đạo hàm riêng. Nếu chúng tôi không nhầm, công trình này là kết quả sau buổi đối thoại của ông với Louis Nirenberg, cũng chính là người mà ông chia sẻ giải thưởng Abel năm nay, ở viện Courant, vào năm 1956. Ông ấy đã nói với ông về một vấn đề lớn chưa giải quyết được trong lý thuyết về các phương trình đạo hàm riêng phi tuyến.Phải, chính ông ấy đã nói với tôi về vấn đề này.  Có một số công trình của một giáo sư ở California, C. B. Morrey [1907-1984] đã công bố trước đó, trong trường hợp hai chiều. Morrey đã chỉ ra rằng trong trường hợp hai chiều, tính liên tục của nghiệm một phương trình là bản chất. Câu hỏi đặt ra là điều gì xảy ra ngoài trường hợp hai chiều. Đó chính là vấn đề mà tôi đã bắt đầu nghiên cứu, và một nhà toán học người Italia, De Giorgi [1928-1996] cũng vậy.  Nhưng lúc ấy hai người không biết về công trình của nhau đúng không?   Không tôi không biết về công trình của De Giorgi về đề tài này, nhưng quả là ông ấy đã giải quyết được nó trước.  Nhưng chỉ trong trường hợp elliptic mà thôi.   Phải, nó ban đầu đúng là trường hợp elliptic nhưng bằng cách nào đó tôi đã tổng quát hóa nó để bao gồm cả các phương trình parabolic nữa, và kết quả này hóa ra lại rất hứa hẹn.Với các phương trình parabolic có một phương pháp lập luận liên quan đến khái niệm entropy.  Tôi không biết, tôi không cố tranh cãi về chuyện tiền lệ nhưng một phương pháp entropy tương tự đã được Giáo sư Hamilton ở New York và sau này là Perelman sử dụng. Họ sử dụng một kiểu entropy mà họ có thể kiểm soát nhiều cải tiến khác nhau nếu họ cần.  Và đó là điểm mà từ đó dẫn tới chứng minh cho giả thuyết Poincaré?  Cách sử dụng entropy của họ là khá căn bản. Hamilton sử dụng nó trước và sau đó Perelman tiếp tục phát triển từ đó. Dĩ nhiên, rất khó để thấy trước được thành công. Thật khôi hài là Perelman không hề nhận một giải thưởng nào cả. Cậu ấy từ chối từ giải thưởng Fields cho tới giải thưởng thiên niên kỷ của viện Clay, đi kèm với tiền thưởng lên tới một triệu đô la.  Quay trở lại thời kỳ khi ông và De Giorgi nghiên cứu gần như cùng một vấn đề. Khi ông lần đầu tiên nhận ra rằng De Giorgi đã giải quyết được vấn đề đó trước mình, ông có thất vọng lắm không?  Dĩ nhiên là tôi thất vọng nhưng [khi đó] người ta sẽ tìm cách nghĩ về nó theo cách khác. Giống như nước dâng lên, trào ra ngoài miệng hồ thành các dòng chảy theo hướng khác.  Một vài người đã có ý kiến rằng lẽ ra ông đã được trao Huân chương Fields nếu không có sự trùng hợp với công trình của De Giorgi.  Phải, nghe cũng khả dĩ, có vẻ như một điều tất yếu. De Giorgi cũng không được trao Huân chương Fields, mặc dù ông ấy cũng đã được trao các giải thưởng khác. Nhưng nghĩ về cách làm việc của ban tuyển chọn không phải là toán học. Sẽ tốt hơn nếu những người nghĩ đến mình không phải là đối tượng có thể được đề cử giải thưởng.   Khi ông thực hiện những khám phá quan trọng và thực sự vô cùng ấn tượng của mình vào thập niên 50, ông có ai để thảo luận cùng, người sẽ đóng vai trò kiểu như một người tư vấn cho ông ấy?  Cho những chứng minh ư? À, với những chứng minh trong lý thuyết trò chơi thì không có gì nhiều để thảo luận. Von Neumann đã biết rằng có thể sẽ có một chứng minh ngay sau khi vấn đề được nêu lên.  Còn về những kết quả về hình học và cả những kết quả khác của ông thì sao? Ông có ai đó để thảo luận cùng về các chứng minh không?  À, có những người cũng có hứng thú với hình học nói chung, như Giáo sư Ambrose. Nhưng họ không giúp được nhiều về mặt chi tiết trong phép chứng minh.  Thế còn Spencer [1912-2001] ở Princeton thì sao? Ông đã từng thảo luận với ông ấy chứ?  Ông ấy ở Princeton và ông cũng thuộc hội đồng thi cơ sở của tôi. Có vẻ như ông ấy đánh giá cao tôi. Ông nghiên cứu về giải tích phức.  Có nhà toán học cụ thể nào mà ông gặp ở Princeton hoặc MIT mà ông thực sự ngưỡng mộ và kính trọng không?  Dĩ nhiên là có chứ, đó là Giáo sư Levinson [1912-1975] ở MIT. Tôi ngưỡng mộ ông ấy. Tôi đã nói chuyện với Norman Steenrod [1910-1971] ở Princeton và tôi cũng biết Solomon Lefschetz [1884-1972], người làm chủ nhiệm khoa ở Princeton lúc bấy giờ. Ông là một nhà toán học tài năng. Tôi không có mối quan hệ tốt đẹp như vậy với Emil Artin [1898-1962], giáo sư đại số ở Princeton.  Giả thuyết Riemann  Chúng tôi xin phép chuyển sang một bước ngoặt trong cuộc đời ông. Ông đã quyết định tấn công bài toán có lẽ là nổi tiếng nhất trong tất cả các vấn đề mở của toán học, giả thuyết Riemann, mà đến bây giờ vẫn mở. Nó là một trong các vấn đề được treo giải thưởng thiên niên kỷ của viện Clay mà chúng ta đã bàn tới. Ông có thể kể cho chúng tôi ông đã trải qua sự suy kiệt tinh thần như thế nào, như một hệ quả của chuyện ông quá gắng sức không?  À, tôi nghĩ rằng đây một kiểu tin đồn hay chuyện hư cấu rằng tôi đã thực sự tấn công trực diện giả thuyết này. Tôi đã thận trọng. Tôi khá cẩn trọng với nỗ lực của mình khi thử tấn công một vấn đề nào đó bởi nó có thể tấn công lại tôi, có thể nói như vậy. Về giả thuyết Riemann, tôi không nghĩ về mình như một người nghiên cứu thực sự, mà có lẽ ở một số thời điểm tôi đã có thể thấy được một số khía cạnh mới, đẹp đẽ và thú vị.  Giáo sư Selberg [1917–2007], một nhà toán học Na Uy ở Viện nghiên cứu cao cấp, trong quãng thế chiến thứ II, đã chứng minh rằng có chí ít là một phần hữu hạn nào đó của các không điểm kia mà thực sự nằm trên đường tới hạn.3 Chúng xuất hiện như là những kiểu không điểm khác nhau; nó giống như một không điểm kép mà lại trông như một không điểm đơn. Selberg đã chứng minh rằng một phần rất nhỏ của các không điểm phải nằm trên đường tới hạn. Đó là một vài năm trước khi ông ấy đến Viện. Vào thời điểm đó, ông đã hoàn thành một vài công trình có giá trị.  Và rồi sau này, vào năm 1974, Giáo sư Levinson ở MIT, nơi tôi cũng từng làm việc, đã chứng minh được một kết quả rất tốt – khoảng 1/3 – các không điểm phải thực sự nằm trên đường tới hạn. Lúc đó, ông ấy còn đang phải chịu đựng bệnh ung thư não, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông ấy. Những chuyện như vậy có thể xảy ra; não bộ của bạn có thể bị tấn công nhưng bạn vẫn có thể lập luận đủ tốt trong một khoảng thời gian nào đó.  Một nhà toán học rất đặc biệt  Những nhà toán học có quen biết ông kể lại rằng thái độ của ông với việc nghiên cứu các vấn đề toán học rất khác biệt với hầu hết mọi người. Ông có thể kể cho chúng tôi đôi chút về cách tiếp cận của ông không? Đâu là nguồn cảm hứng của ông?  À, tôi không thể tranh biện rằng hiện tại tôi làm việc theo cách này hay cách kia, khác biệt với một phương cách thường thấy nào đó. Nói cách khác, tôi đã cố gắng nghĩ về việc mình có thể làm được gì với trí tuệ, kinh nghiệm và các mối liên hệ của mình. Vấn đề hứa hẹn nào mà tôi nên thử? Do vậy, tôi không nghĩ đến việc vô nghĩa là thử bất kỳ vấn đề phổ biến mới nhất nào.  Ông đã nói gì đó trong một bài phỏng vấn (xin ông nhắc nếu chúng tôi lầm lẫn) kiểu: “Tôi không thể có những ý tưởng khoa học tốt đến vậy nếu tôi tư duy theo kiểu thông thường hơn”. Ông có một cách nhìn khác biệt về mọi thứ.  À, thật dễ để nghĩ như vậy. Tôi nghĩ rằng dưới vai trò của một nhà toán học thì điều ấy đúng với tôi. Nó không giống với kiểu một sinh viên giỏi làm luận văn. Hầu hết các luận văn toán học đều khá là thủ tục. Nó bao gồm rất nhiều công sức nhưng một phần được thiết lập bởi người hướng dẫn; bạn làm việc ở mức đủ thì thôi và luận văn được công nhận.  Sở thích và các mối quan tâm  Cuối cùng thì chúng tôi có thể hỏi ông câu hỏi mà chúng tôi đã hỏi tất cả những người được trao giải Abel trước đó không? Bên ngoài toán học, các mối quan tâm và sở thích chính của ông là gì?  Ồ, đa dạng lắm. Dĩ nhiên, tôi có theo dõi thị trường tài chính. Việc này không hoàn toàn nằm ngoài phạm vi thực sự của giải Nobel kinh tế nhưng ở đó có rất nhiều điều bạn có thể làm được nếu bạn nghĩ về mọi thứ trong đó. Liên quan đến sự sụt giá khủng khiếp, vụ khủng hoảng sau khi Obama đắc cử, bạn có thể đưa ra một quyết định này hay quyết định khác mà có những hệ quả rất khác biệt. Nền kinh tế bắt đầu hồi phục từ năm 2009, tôi nghĩ thế.  Người ta biết rằng khi ông là một học viên ở Princeton, ông thường đạp xe quanh trường, miệng huýt sáo bản “Little Fugue” của Bach. Ông có thích nhạc cổ điển không?Có. Tôi rất thích Bach.  Ngoài Bach thì ông còn thích nhạc sĩ nào nữa?  À, có nhiều nhạc sĩ nhạc cổ điển mà nghe nhạc họ thì rất thoải mái, ví dụ như khi bạn nghe một bản nhạc hay của Mozart chẳng hạn. Họ là những nhạc sĩ giỏi hơn rất nhiều so với những nhạc sĩ kiểu như Pachelbel và một số khác.  Chúng tôi muốn cám ơn ông rất nhiều vì một buổi phỏng vấn rất thú vị. Không phải chỉ riêng với hai chúng tôi mà còn với cả Đan Mạch, Na Uy và thậm chí là Hội Toán học châu Âu nữa.  Lời bạt: Sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, đã có một cuộc nói chuyện thân mật về các mối quan tâm của John Nash hiện tại. Ông đã một lần nữa đề cập quan điểm của mình về vũ trụ học. Liên quan đến các công bố, Nash đã kể với chúng tôi về cuốn sách có tên “Open Problems in Mathematics” (Các vấn đề mở trong Toán học) mà ông biên tập cùng với nhà toán học Hy Lạp trẻ tuổi, Michael Th. Rassias, người đang nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Princeton trong năm học này.  Nguyễn Duy Khánh lược dịch  *Tiêu đề là do Tia Sáng đặt. Bản dịch này được thực hiện dưới sự cho phép của hai tác giả và Hội Toán học châu Âu. Nguyên gốc được đăng trong tờ EMS Newsletter, số 97, tháng 9, 2015. Chú thích trong bài đều là của người dịch.1 Men of Mathematics là cuốn sách về lịch sử toán học của nhà toán học, tiểu thuyết gia truyện viễn tưởng E.T. Bell xuất bản năm 1937 với chân dung, các nghiên cứu và những cuộc thảo luận của hơn 40 nhà toán học từ thời kỳ cổ đại đến hiện đại.2 Albert Tucker là nhà toán học người Canada có đóng góp lớn trong lĩnh vực hình học topo, lý thuyết trò chơi và quy hoạch phi tuyến (non-linear programming)3 Nguyên văn critical line: đường thẳng gồm tất cả các điểm có phần thực bằng 1/2  trên mặt phẳng phức, mà giả thuyết Riemann khẳng định rằng tất cả các không điểm không tầm thường của hàm zeta Riemann đều nằm trên đó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Joseph John Thomson và những di sản khoa học ở Phòng thí nghiệm Cavendish      Hơn 40 năm làm việc tại Cavendish và Cambridge, Sir J. J. Thomson đã để lại một di sản khoa học vĩ đại làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày nay, góp phần đưa Phòng thí nghiệm Cavendish trở thành trung tâm nghiên cứu và giảng dạy hàng đầu thế giới về vật lý. Bài viết này giới thiệu về sự nghiệp nghiên cứu của Sir J. J. Thomson, thí nghiệm phát hiện ra điện tử của ông và về Phòng thí nghiệm Cavendish danh tiếng, nơi Thomson từng làm việc như một bài học lý thú trong việc thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học xuất sắc.    Joseph John Thomson sinh ngày 18 tháng 12 năm 1856 tại Cheetham Hill ở vùng ngoại thành Manchester ngày nay. Gia đình ông có một cửa hàng bán sách cổ là di sản để lại từ ông nội của Thomson, và hiệu sách này đã đem lại cho Thomson một lượng kiến thức đáng kể do đọc sách. Khi còn nhỏ, Thomson tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về các môn khoa học. Năm 1870, khi mới chỉ 14 tuổi, Thomson ghi danh theo học ở Owens College,[1] ngôi trường sau này phát triển trở thành Đại học Manchester danh tiếng ngày nay. Cha mẹ của Thomson thì muốn con mình ghi danh theo học kỹ sư học việc của Công ty đầu máy hơi nước Sharp-Stewart, nhưng kế hoạch này đã không thành sau khi cha ông đột ngột qua đời vào năm 1873. Năm 1876, J. J. Thomson chuyển đến học ở trường Trinity College của Viện Đại học Cambridge, một trong những college danh tiếng nhất của Cambridge (college này từng đào tạo ra 31 sinh viên nhận giải Nobel, 5 Huy chương Fields và 6 Thủ tướng Anh) với nhiều danh nhân từng học và làm việc ở đây như Isaac Newton, Niels Bohr. Sau bốn năm theo học ở Trinity College, J. J. Thomson nhận bằng Cử nhân Toán hạng nhất (First Class Honour – thuật ngữ Cambridge gọi là Wrangler) vào năm 1880, và sau đó 3 năm nhận bằng Thạc sĩ Toán với Giải Adam của Khoa Toán Cambridge. Năm 1884, lãnh đạo PTN Cavendish là Lord Rayleigh, người thứ hai giữ chức vụ Giáo sư Vật lý Cavendish sau James Clerk Maxwell, từ chức (Rayleigh chuyển sang giữ chức vụ Giáo sư Triết học Tự nhiên của Cambridge) và J. J. Thomson đã nộp đơn ứng cử vào vị trí này. Chỉ đúng một tuần sau, J. J. Thomson đã được bổ nhiệm vào vị trí này và trở thành Giáo sư Vật lý Cavendish thứ 3 của PTN Cavendish. Sự bổ nhiệm này gây ra một sự ngạc nhiên lớn đối với những người đang làm việc ở Cavendish và Cambridge vì ai cũng nghĩ một nhân vật khác, Richard T. Glazebrook, sẽ được bổ nhiệm vào vị trí này vì Glazebrook có nhiều kinh nghiệm làm việc hơn Thomson. Thế nhưng lãnh đại Viện Đại học Cambridge không nghĩ như nhiều người và đã Thomson chứng minh cho thấy quyết định này của lãnh đạo Cambridge là hoàn toàn đúng đắn.     Cambridge là viện đại học lâu đời thứ hai ở Vương quốc Anh (sau Oxford) và là một trong những đại học lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Cambridge và Oxford là hai viện đại học được tổ chức theo mô hình độc đáo và duy nhất trên thế giới theo mô hình ”collegiate research university”, được cấu thành bởi các trường thành viên (college) và các khoa (department) hoặc phân khoa (faculty) song song. Khác với kiểu các college phân theo các lĩnh vực học thuật như các đại học ngày nay (mô hình kiểu Mỹ), các college của Cambridge (ngày nay Cambridge có tới 31 college thành viên) đóng vai trò là nơi cung cấp cơ sở vật chất cho giảng dạy, cũng như cung cấp các học bổng cho sinh viên và các học giả tham gia giảng dạy. Mô hình college này cũng cho phép sinh viên được hỗ trợ học tập rất tốt từ các học giả và trợ giảng đang làm việc tại các khoa và phân khoa. Các college hoàn toàn độc lập với nhau, cạnh tranh nhau về chất lượng học thuật và danh tiếng. Song song với các college là hệ thống các khoa và phân khoa (không nằm trong college) là nơi tổ chức nghiên cứu và cung cấp học giả. Các thành viên của các khoa có thể là các học giả (fellow) của các college, và các khoa cũng đóng vai trò cung cấp tư liệu nghiên cứu (phòng thí nghiệm, đề tài, …) cho sinh viên của các college, và cũng là nơi mà các nhà nghiên cứu của Cambridge làm việc.                               Ảnh chụp công tước William Cavendish và tấm bia đá ghi danh sự thành lập  của Cavendish Laboratory nhờ sự đóng góp tài chính của ông tại địa điểm  cũ của Cavendish Laboratory ở trung tâm Cambridge (nguồn:  wikipedia.org).          Phòng thí nghiệm Cavendish (Cavendish Laboratory) là tên gọi đặt cho Khoa Vật lý (Department of Physics) của Cambridge, với tên gọi Cavendish để tưởng nhớ tới nhà vật lý, hóa học người Anh Henry Cavendish (1731-1810), người thực hiện thí nghiệm ”cân trái đất” nổi tiếng kiểm chứng định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, và theo tên của Công tước vùng Devonshire William Cavendish (họ hàng của Henry Cavendish, Hiệu trưởng danh dự của Cambridge, người đã dành tài sản của mình để thành lập PTN Cavendish). Việc thành lập PTN Cavendish cũng là một câu chuyện dài cho thấy khát khao phát triển lĩnh vực vật lý của lãnh đại Đại học Cambridge, cũng như là một câu chuyện tiêu biểu của việc các nhà hảo tâm hiến tặng tài sản cho khoa học ở các nước phương Tây. Cho đến nửa đầu thế kỷ 19, nghiên cứu khoa học đã phát triển rất sôi nổi trong các trường đại học ở Anh nói riêng, cũng như Châu Âu nói chung nhưng chưa các nghiên cứu đó thường đến từ các cá nhân riêng lẻ, thiếu chuyên nghiệp, rải rác khắp nơi (ví dụ như Newton là một nhà vật lý kiệt xuất của Cambridge, nhưng ông không hề có nhóm nghiên cứu, có phòng thí nghiệm riêng, mà ông là một fellow của Trinity College). Chưa một nơi nào có một trung tâm nghiên cứu và đào tạo các nhà vật lý một cách hệ thống và bài bản,[2] và việc lập một trung tâm như thế sẽ là một bước phát triển hiện đại, tất yếu, và lãnh đạo của Cambridge đã sớm nhận ra việc đó: ”The systematic teaching of practical physics is a modern development. Until the second half of the nineteenth century was well begun, no teaching laboratory and no regular course of instruction were known”[3]. Và Hiệu trưởng danh dự của Cambridge khi đó là Công tước vùng Devonshire, William Cavendish (1808-1891),[4] là họ hàng của nhà vật lý nổi tiếng Henry Cavendish đã lấy một phần tài sản riêng của mình (số tiền 6300 bảng Anh) để thành lập một phòng thí nghiệm vật lý ở Cambridge. Và cái tên Cavendish Laboratory (bắt đầu từ năm 1871) là vừa để vinh danh nhà vật lý Henry Cavendish, vừa mang tên nhà hảo tâm William Cavendish. Thực chất thì một phòng thí nghiệm vật lý như thế đã được hình thành ở Đại học Glasgow (một đại học danh tiếng khác ở Vương quốc Anh nằm ở thành phố Glasgow xứ Scotland) bởi William Thomson (Kelvin),[5] và Kelvin đã tạo ra rất nhiều thành tựu từ nghiên cứu tại đây, nhưng nhóm của Kelvin chưa được đầu tư và tổ chức bài bản.[6] Ban đầu, lãnh đạo của Cambridge muốn mời Kelvin trở lại Cambridge để lãnh đạo Cavendish và tận dụng chính kinh nghiệm của Kelvin ở Canvendish. Nhưng Kelvin đã từ chối vì muốn giành toàn bộ đời mình cho Glasgow, nơi đã bổ nhiệm ông giữ ghế lãnh đạo ngành triết học tự nhiên (Chair of Natural Philosophy). Ứng viên thứ hai được mời là Lord Rayleigh,[7] một nhà vật lý, toán học kiệt xuất khi đó, nhưng Rayleigh cũng mải mê với phòng thí nghiệm của riêng mình ở Essex nên không nhận lời. Và người cuối cùng được chọn là nhà vật lý học James Clerk Maxwell,[8] người đã có thành tích tốt nghiệp xuất sắc nhất (Senior Wrangler) ở Trinity College vào năm 1854, và đã công bố công trình nghiên cứu về lý thuyết điện từ trường vào năm 1865 khi đang là giáo sư ở King College London.[9] Và một vị trí giáo sư vật lý thực nghiệm mang tên Cavendish Professor of Physics đã được tạo ra và người đầu tiên được bổ nhiệm là James Clerk Maxwell với mục đích dẫn dắt Phòng thí nghiệm Cavendish khám phá khoa học, và địa điểm đầu tiên được chọn là New Museum Site, trung tâm thành phố Cambridge, cũng là trung tâm của Viện Đại học Cambridge.[10] Maxwell đã làm việc ở Cavendish 8 năm và qua đời năm 1879 do ung thư vùng bụng (khi đó ông mới 48 tuổi) và người thay thế Maxwell sau đó là Lord Rayleigh. Tám năm làm việc ở Cavendish, Maxwell đã hoàn thiện lý thuyết điện từ trường, hoàn chỉnh lại các nghiên cứu của Henry Cavendish về lực hấp dẫn, cũng như thành phần của nước. Lord Rayleigh, người thay thế Maxwell vào năm 1879 đã đẩy nghiên cứu ở Cavendish “chuyên nghiệp” thêm một bước với việc hình thành một quỹ nghiên cứu trị giá 1500 bảng Anh, trong đó ông đóng góp 500 bảng từ tiền cá nhân, Hiệu trưởng danh dự William Cavendish đóng góp 500 bảng, và 500 bảng còn lại là tiền từ các nhà hảo tâm bên ngoài trường. Nhưng Rayleigh cũng chỉ giữ ghế giáo sư Cavendish có 5 năm để chuyển sang một vị trí mới ở Cambridge và kỷ nguyên mới của Cavendish bắt đầu kể từ khi J. J. Thomson được bổ nhiệm vào năm 1884.                               Ảnh chụp J. J. Thomson bên thiết bị thí nghiệm về tia âm cực, thí nghiệm  đã giúp ông phát hiện ra điện tử và nghiên cứu những đặc trưng của điện  tử và hình chụp tia âm cực bị bẻ cong trong từ trường (nguồn: Cavendish  Laboratory).           Năm 1885, có một quyết định dẫn đến những thay đổi đột phá ở Cavendish và cả ở Cambridge, đó là quyết định cho phép những sinh viên đã tốt nghiệp từ nơi khác có thể nhận bằng cử nhân Bachelor of Art (B. A.)[11] của Cambridge trong vòng 2 năm ở Cambridge mà không cần phải trải qua các kỳ thi nếu họ nộp một luận văn xuất sắc là kết quả nghiên cứu nguyên bản của chính họ. Và quyết định này đã dẫn đến việc Cambridge tiếp nhận nhiều sinh viên xuất sắc từ nước ngoài, ví dụ như nhà vật lý học gốc New Zealand, Ernest Rutherford, hay Pyotr Kapitsa[12] từ Nga năm 1918… J. J. Thomson đã hoàn thành xuất sắc vị trí của mình với ba cương vị, một nhà khoa học kiệt xuất, một nhà sư phạm lỗi lạc (với 7 học trò ở Cavendish được giải Nobel), một nhà lãnh đạo khoa học xuất sắc đưa Cavendish trở thành một “thánh địa” vật lý ở nước Anh và trên toàn thế giới. Năm 1896 (tức là tới 12 năm sau khi bắt đầu làm giáo sử ở Cavendish), J.J. Thomson đã cùng với hai cộng sự khác là John Sealy Townsend (1868-1957) và Harold A. Wilson (1874-1964) hoàn thành nghiên cứu về tia âm cực (cathode ray) để kết luận tia âm cực là một chùm hạt cơ bản mang điện tích âm, là một phần của nguyên tử, mà sau đó được gọi là “điện tử” (electron). Phát hiện này nằm trong đề tài nghiên cứu của Thomson về sự dẫn điện trong môi trường khí, và tia âm cực từng được nghiên cứu bởi nhiều nhà vật lý ở Châu Âu, mà ở Anh là William Crookes (1832-1919), nhà vật lý, hóa học người Anh, người đã chế tạo ra ống Crookes tạo tia âm cực khi còn làm việc ở Cao đẳng Hóa học Hoàng gia (Royal College of Chemistry) – ngôi trường sau này trở thành Khoa Hóa học của Đại học Hoàng gia London (Imperial College London)[13] danh tiếng. J. J. Thomson cho rằng tia âm cực phải là một chùm hạt, nhưng nhiều nhà khoa học ở Châu Âu thời đó coi rằng tia âm cực là một nhiễu loạn ether (etherial disturbance). Nhà vật lý người Đức Heinrich R. Hertz (1857-1894) đã từng nghiên cứu và phát hiện rằng tia âm cực có thể đi xuyên qua các bản kim loại mỏng, nhưng đã thực hiện sai thí nghiệm và cho rằng tia âm cực không bị bẻ cong bởi điện từ trường.     Thomson đã chỉ ra rằng tia âm cực có thể bị bẻ cong bởi điện trường bằng cách cho tia âm cực đi qua điện trường giữa hai bản kim loại. Hertz cũng từng làm tương tự nhưng đã sai lầm khi để áp suất khí trong ống quá lớn khiến cho vùng khí giữa hai bản kim loại bị ion hóa do điện trường, dẫn đến việc điện trường bị giảm mạnh (do các điện tích trong khí chạy về các bản điện cực làm giảm điện tích), và tia âm cực khi đó bị bẻ cong rất ít và Hertz đã không thể phát hiện ra sự bẻ cong đó. J. J. Thomson đã nhận ra điều đó và đã hút chân không trong ống tia âm cực, và quan sát thấy tia âm cực bị hút về phía bản kim loại mang điện tích dương, do đó tia âm cực phải mang điện tích âm. Thomson lại đặt thêm các cuộn dây có dòng điện chạy qua (dòng điện này tạo ra từ trường, và một cặp cuộn dây đối xứng cho phép tạo ra từ trường đều), và cho phép quan sát tia âm cực bị bẻ cong thành một cung tròn do tác động của từ trường. Thomson đã khéo léo bố trí các bản kim loại (tạo điện trường) và cuộn dây (tạo từ trường) sao cho tác động của từ trường và điện trường lên tia âm cực là ngược chiều nhau và bù trừ nhau, qua đó tính toán được vận tốc của chùm tia âm cực là tỉ số của điện trường và từ trường: v = E/B. Đồng thời, việc đo đạc độ lệch của chùm tia âm cực trong điện trường cho phép xác định chính xác tỉ số điện tích/khối lượng (điện tích riêng – specific charge, q/m) của hạt trong chùm tia âm cực.[14] Thomson đã đo đạc điện tích riêng của hạt này, và nhận thấy nó lớn hơn 2000 lần so với điện tích riêng của ion hydro (hạt nhẹ nhất được tìm ra năm 1897), và khẳng định hạt này nhẹ hơn hydro tới 2000 lần. Điều này lý giải tại sao nó có thể dễ dàng xuyên qua một tấm vàng mỏng. Đồng thời J. J. Thomson cũng sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau (nhôm, sắt, bạch kim…) để tạo ra tia âm cực, và thay đổi nhiều loại kim loại làm điện cực điện trường và nhận thấy tính chất của chùm tia âm cực luôn cố định. Và ông đã đi đến kết luận tia âm cực được cấu thành bởi một loại hạt mang điện tích riêng, phổ quát trong vũ trụ và là một thành phần của nguyên tử, và dường như nằm ở lớp vỏ của nguyên tử. Ban đầu, J. J. Thomson chỉ đặt tên nó là một hạt corpuscle, và cái tên “electron” (điện tử) được nhà vật lý học George Francis FitzGerald (1851-1901) ở Trinity College Dublin đặt vào năm 1896, và nhanh tróng được chấp nhận rộng rãi cho đến ngày nay. Ngược lại lịch sử, tia âm cực (cathode ray) đã lôi cuốn rất nhiều nhà vật lý của Châu Âu đổ công sức nghiên cứu. Đầu tiên là phát hiện của Michael Faraday[15] với việc quan sát thấy các tia hồ quang phát ra từ cực âm khi cho dòng điện chay qua ống chứa khí ở áp suất thấp vào năm 1838. Vào năm 1857, nhà vật lý người Đức Heinrich Geissler đã cải thiện chất lượng chân không của ống và quan sát rõ sự hình thành của các tia sáng trong ống khi đặt vào hiệu điện thế cao tới vài kV, thậm chí 100 kV. Vào năm 1870, William Crookes đã tạo ra ống phát tia âm cực (được gọi là ống Crookes) với chân không đạt tới 10-6 atm, cho phép tạo ra tia âm cực tốt hơn và có thể nghiên cứu một cách chi tiết hơn. Mặc dù không phải là người đầu tiên bước chân vào lĩnh vực này, nhưng J. J. Thomson đã thu được một thành công rực rỡ với việc hiểu được bản chất của tia âm cực là chùm hạt điện tử phát xạ ra từ âm cực.     Phát hiện lịch sử của J. J. Thomson đã đưa nhân loại thêm một bước tiến trong việc hiểu bản chất của vật chất. Điện tử là có thể coi là một hạt cơ bản “phổ thông” nhất trong mọi mặt của đời sống với vai trò hạt dẫn điện, càng cho thấy phát kiến của J. J. Thomson có tầm quan trọng như thế nào. Phát kiến của ông chính là nền tảng để học trò, và người kế nhiệm ông ở ghế giáo sư Cavendish là E. Rutherford xây dựng mô hình hành tinh nguyên tử, và con trai ông, nhà vật lý học George Paget Thomson (1892-1975) phát hiện ra hiện tượng nhiễu xạ điện tử hơn 30 năm sau đó (1927) và giành giải Nobel Vật lý năm 1937. Dựa trên nghiên cứu về điện tử, J. J. Thomson đã chứng minh rằng nguyên tử hydro chỉ có một điện tử. Bên cạnh phát hiện ra điện tử, J. J. Thomson còn xây dựng khối phổ kế (Mass spectroscopy) và qua đó phát hiện ra hiện tượng đồng vị hóa học vào năm 1912. Nghiên cứu về điện tử của J. J. Thomson đã trở thành nền tảng quan trọng cho hoạt động nghiên cứu ở Cavendish sau này, với việc tạo ra những đóng góp lớn trong việc tìm hiểu cấu trúc nguyên tử. Học trò của J. J. Thomson, người nối tiếp ghế giáo sư Cavendish của Thomson là Ernest Rutherford đã thực hiện thí nghiệm dùng chùm hạt alpha (các hạt nhân He4) bắn phá một lá vàng và qua đó khẳng định nguyên tử gồm hai thành phần: hạt nhân mang điện tích dương và các điện tử quay quanh hạt nhân như các hành tinh quay quanh mặt trời (mô hình này được gọi là mô hình hành tinh nguyên tử). Năm 1932, dưới sự hướng dẫn của E. Rutherford, một nhà nghiên cứu khác của Cavendish là James Chadwick (1891-1974)[16] đã phát hiện ra neutron, một hạt không mang điện tích, một thành phần của hạt nhân nguyên tử.     Song song với cương vị một nhà khoa học xuất chúng, J. J. Thomson có thể coi là một nhà sư phạm lỗi lạc. Thời gian ông lãnh đạo Cavendish là thời gian mà Cavendish lần đầu tiên thu hút sinh viên từ các nơi khác đến học nhờ chính sách mở thông qua việc tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Cũng chính thời gian này, Cavendish lần đầu tiên cấp bằng Tiến sĩ (Doctor of Philosophy, PhD). Thời gian J. J. Thomson lãnh đạo là thời gian mà Cavendish đã thu hút được rất nhiều sinh viên xuất sắc tham gia nghiên cứu và rất nhiều trong số họ sau này đã trở thành những nhà vật lý xuất sắc, tạo ra trường phái vật lý Cavendish. J. J. Thomson đã có tới 17 sinh viên do ông hướng dẫn sau này trở thành những nhà vật lý lừng danh, và 7 người trong số họ đã giành giải Nobel danh tiếng bao gồm Ernest Rutherford (Người Anh gốc New Zealand, Nobel Hóa học năm 1908 về nghiên cứu nguyên tử), William Lawrence Bragg (Người Anh gốc Australia, Nobel Vật lý năm 1915 cho nghiên cứu nhiễu xạ tia X), Charles Glover Barkla (người Anh, Nobel Vật lý năm 1917 cho nghiên cứu về phổ tia X), Niels Bohr (Người Đan Mạch, Nobel Vật lý 1922 về vật lý nguyên tử), Francis William Aston (Người Anh, Nobel Hóa học năm 1922 cho phát minh ra khối phổ kế và đồng vị), Charles T. R. Wilson (người Anh, Nobel Vật lý năm 1927 cho phát minh ra buồng mây), Owen Richardson (người Anh, Nobel Vật lý năm 1928 cho nghiên cứu về hiện tượng phát xạ nhiệt điện tử). Có lẽ chưa từng có người thầy nào trong lịch sử từng hướng dẫn tới 7 sinh viên giành giải Nobel như J. J. Thomson. Cả con trai J. J. Thomson là Sir George Paget Thomson (cũng là một sinh viên của Cavendish do Lord Rayleigh hướng dẫn) cũng được trao giải Nobel Vật lý năm 1937 do phát hiện ra hiện tượng nhiễu xạ điện tử trên các tinh thể Nickel – một hiện tượng khẳng định tính chất sóng của điện tử – một tính chất trái ngược lại với tính chất hạt trong nghiên cứu của J. J. Thomson.                Ảnh chụp Cavendish Laboratory (1975) từ trên cao tại địa điểm mới ở phía tây Cambridge (nguồn: Cavendish Laboratory).          J. J. Thomson đã giữ vị trí Giáo sư Vật lý Cavendish 35 năm (1884-1919), sau đó thôi lãnh đạo Cavendish để chuyển sang làm hiệu trưởng của Trinity College (Master of Trinity College) cho đến khi qua đời vào năm 1940. 35 năm dưới sự lãnh đạo của J. J. Thomson, Cavendish Laboratory đã có bước phát triển vượt bậc với 4 Giải Nobel Vật lý, Hóa học được trao cho các nhà nghiên cứu của Cavendish, và nhiều nhà khoa học xuất chúng được đào tạo. Hai học trò của J. J. Thomson là Ernest Rutherford và William Braggs đã nối tiếp nhau giữ vị trí Giáo sư của J. J. Thomson để lại, và đưa Cavendish tiếp tục phát triển mạnh với nhiều thành tựu nghiên cứu ảnh hưởng lớn đến nhân loại. Ngày nay, Cavendish Laboratory trở thành Khoa Vật lý (Department of Physics) của Viện Đại học Cambridge, và tên gọi Cavendish Laboratory vẫn được dùng như một niềm tự hào của các sinh viên và nhà nghiên cứu theo học và làm việc tại đây. Tính đến ngày nay, đã có tới 29 giải Nobel trong các lĩnh vực Vật lý, Hóa học, Sinh lý học được trao cho các nhà nghiên cứu và sinh viên của Cavendish (xem thêm bảng tóm tắt một số nghiên cứu quan trọng của Cavendish Laboratory tạo nên những đột phá lớn trong khoa học). Có lẽ chưa từng có một đơn vị cấp khoa (Department) nào trên thế giới từng giành được nhiều giải Nobel đến như vậy. Số lượng giải Nobel của Cavendish thậm chí còn cao hơn cả nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển (ví dụ như Nhật Bản giành được tổng số 19 giải Nobel trong nhiều lĩnh vực), và vượt xa cả những trung tâm nghiên cứu lớn với lực lượng nhà nghiên cứu hùng hậu hơn và tài chính dồi dào hơn (ví dụ như AT&T Bell Labs nổi tiếng với 7 giải Nobel, hay IBM Research Laboratories với 5 giải Nobel). Các nhà nghiên cứu của Cavendish Laboratory từng được trao giải Nobel trong lĩnh vực mà ít ai nghĩ nó được trao cho các nhà vật lý là lĩnh vực Sinh lý – Y học (James Watson và Francis Crick năm 1962). Những nhà nghiên cứu như của Cavendish J. J. Thomson, J. C. Maxwell, E. Rutherford, W. Braggs,… đã đem đến cho nhân loại những kiến thức khoa học trở thành nền tảng kinh điển của vật lý. Ngày nay, Cavendish vẫn đào tạo ra nhiều nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực vật lý, ví dụ như Richard H. Friend (Hiện giữ ghế Giáo sư Cavendish kể từ năm 1995),[17] nhà tiên phong trong nghiên cứu bán dẫn hữu cơ, bán dẫn nền carbon; hay Stuart S. P. Parkin (người Anh, được trao bằng PhD tại Cavendish năm 1980),[18] nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực điện tử học spin (spintronics)[19] của IBM Almaden… Phòng thí nghiệm Cavendish xứng đáng được coi là một trong những trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng đầu về lĩnh vực vật lý trên thế giới, và tiên phong trong nhiều lĩnh vực của vật lý. Sự phát triển của Cavendish Laboratory như ngày nay là nhờ những đóng góp lớn của J. J. Thomson trong cả nghiên cứu khoa học cũng như đào tạo và xây dựng nền tảng. Bên cạnh đó, câu chuyện về sự hình thành của Cavendish Laboratory cũng là một bài học về những đóng góp tài chính của các cá nhân cho khoa học có thể đem lại những thành tựu lớn lao như thế nào.            Một số thành tựu khoa học có ảnh hưởng lớn được tạo ra bởi các nhà nghiên cứu của Cavendish Laboratory.                   Năm      Thành   tựu      Người   thực hiện      Ghi   chú          1896      Phát hiện ra điện tử      J. J. Thomson      Nobel Vật lý 1906          1911      Mẫu hành tinh nguyên tử      E. Rutherford                 1912      Nhiễu xạ tia X      L. Bragg      Nobel Vật lý 1915          1932      Phát hiện ra neutron      J. Chadwick      Nobel Vật lý 1935          1929      Nhiễu xạ điện tử      G. P. Thomson      Nobel Vật lý 1937          1953      Cấu trúc AND      F. Crick và J. Watson      Nobel Sinh lý học 1962          1962         Chui hầm lượng tử siêu dẫn 20    B. Josephson      Nobel Vật lý 1973          1979      Thống nhất tương tác yếu      A. Salam      Nobel Vật lý 1979                     Sự hình thành và phát triển của Cavendish Laboratory chính là một bài học tiêu biểu để Việt Nam có thể học tập trong việc phát triển nền khoa học và công nghệ nước nhà. Trong điều kiện nền khoa học còn yếu kém, việc xây dựng những phòng thí nghiệm như Cavendish Laboratory với sự tài trợ tài chính từ các nhà hảo tâm, cộng với cơ chế làm việc khoa học, hiện đại, kết hợp với việc sử dụng các nhà khoa học (không nhất thiết phải là người Việt) có trình độ cao và tham vọng khám phá khoa học sẽ là một chìa khóa cho việc phát triển khoa học Việt Nam. Đặc biệt hơn, trong điều kiện hiện nay, có rất nhiều người Việt Nam trở thành những tỉ phú từ việc bắt kịp sự những cơ hội từ đổi mới kinh tế. Nếu có thể thu hút họ tình nguyện đem một phần tài chính đóng góp cho việc xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm khoa học (như tấm gương của Cavendish), hay trường học, bệnh viện… thì sẽ có ích lợi cho đất nước hơn rất nhiều so với việc vung tiền tài trợ cho các cuộc thi sắc đẹp, các cuộc thi thể thao mang tính hình thức và bệnh thành tích. Và dĩ nhiên, việc này sẽ khiến tên tuổi các nhà hảo tâm được lưu danh với hậu thế hơn nhiều so với những việc lãng phí khác.     Tác giả xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh đã động viên và hỗ trợ trong quá trình viết bài.              [1] Owens College (Manchester) được thành lập năm 1851, sau đó nhập vào Victoria University, và nhận được chứng nhận hoàng gia thành một trường đại học thực thụ vào năm 1880, và được biết đến với tên gọi Victoria University of Manchester cho đến năm 2004. Năm 2004, trường sáp nhập với Học viện Khoa học và Công nghệ Manchester thành University of Manchester, cái tên được biết đến ngày nay.      [2] Trong lĩnh vực hóa học, ở Đức đã xuất hiện khoa đào tạo và nghiên cứu về hóa học (có thể coi là đầu tiên trên thế giới về lĩnh vực hóa) ở Đại học Giessen (Đức) từ năm 1824, được thành lập bởi nhà hóa học người Đức Justus von Liebig (1803-1873), tức là tới 47 năm trước khi Cavendish Laboratory được thành lập.      [3] Nguồn: “A Hundred Years and More of Cambridge Physics”, phát hành nhân kỷ niệm 100 năm thành lập PTN Cavendish, có thể đọc tại: http://www.phy.cam.ac.uk/history/years/      [4] Lãnh đạo các đại học có truyền thống ở Anh bao gồm hiệu trưởng (Principal) là người giữ quyền điều hành, Hiệu trưởng danh dự (Chancellor) thường là các quý tộc mang tính chất hình thức, Principal cũng là Vice-Chancellor.      [5] William Thomson (Huân tước Kelvin, 1824-1907), nhà vật lý nổi tiếng với các nghiên cứu và phát minh về nhiệt động lực học, điện, điện tín và tên ông được đặt cho thang nhiệt độ tuyệt đối (Kelvin). W. Thomson cùng họ Thomson với J. J. Thomson nhưng không có họ hàng vì W. Thomson có gốc gác từ Bắc Ireland. W. Thomson cũng chính là một nhà nghiên cứu ở Cambridge, từng là fellow của St. Peter’s College trước khi sáng lập ra trường phái vật lý tại Glasgow.      [6] Năm 1846, khi được bổ nhiệm làm giáo sư giữ chức Chair of Natural Philosophy, William Thomson đã thành lập Department of Natural Philosophy tại Đại học Glasgow (đại học cổ thứ 4 trong các nước nói tiếng Anh, được thành lập ở Glasgow, Scotland năm 1451).      [7] Lord Rayleigh, tên thật là John William Strutt (1842-1919), nhà vật lý hóa học quý tộc người Anh với những nghiên cứu về cơ học, âm học và chất khí (phát hiện ra khí Argon), được trao giải Nobel Vật lý năm 1904. Rayleigh là tước hiệu của ông.      [8] James Clerk Maxwell (1831-1879), nhà vật lý lỗi lạc người Anh, sinh ra ở Edinburgh (thủ đô vùng Scotland), người đã xây dựng lý thuyết về trường điện từ, với những ảnh hưởng trong vật lý có thể sánh ngang với Newton, Einstein, nhưng ông ít được biết đến hơn trong đại chúng.      [9] King’s College London được thành lập năm 1829, là một đại học thành viên của liên minh Đại học London, cũng là một trong những trường đại học danh tiếng ở Anh.      [10] Vào những năm 1970, Cavendish Laboratory đã di chuyển về địa điểm mới ở phía tây Cambridge.      [11] Trước đây, các trường Cambridge, Oxford và Trinity College Dublin (Ireland) trao bằng Bachelor of Art (BA) và Master of Art (MA) cho cả sinh viên các ngành khoa học thay vì Bachelor of Science và Master of Science như các trường đại học khác.      [12] Pyotr Leonidovich Kapitsa (Пётр Леони́дович Капи́ца, 1894 – 1984), một trong những nhà vật lý vĩ đại của Nga, cùng thế hệ với Landau, người đã phát hiện ra hiện tượng siêu chảy của Helium lỏng. Ông đã có hơn 10 năm theo học và làm nghiên cứu tại Cavendish Laboratory từ năm 1918 dưới sự hướng dẫn của Ernst Rutherford, và từng làm giám đốc Phòng thí nghiệm Mond tại Đại học Cambridge từ năm 1930-1934, và trở thành Viện sĩ của Hiệp hội Hoàng gia London năm 1929. Kapitsa là một trong những nhà vật lý có ảnh hưởng lớn nhất đến nền vật lý của Liên Xô, và từng từ chối gặp mặt Stalin và Beria. Kapitsa được trao giải Nobel Vật lý năm 1978 cho phát hiện của ông về siêu chảy từ năm 1937.      [13] Đại học Hoàng gia London có tên đầy đủ là Đại học Khoa học, Công nghệ và Y học Hoàng gia London (The Imperial College of Science, Technology and Medicine – ICL) được thành lập năm 1907, ban đầu là một thành viên của liên minh University of London. Năm 2007, trường tách ra khỏi liên minh và thành một đại học độc lập. Cùng với Oxford, Cambridge, ICL là một trong những đại học danh tiếng nhất của Vương quốc Anh luôn nằm trong top 10 bảng xếp hạng các đại học xuất sắc nhất thế giới.      [14] Các tính toán này ngày nay là một bài toán cơ bản trong giáo trình vật lý căn bản, có thể tham khảo một tính toán đơn giản trên trang web của Cavendish về thành tựu của J. J. Thomson: http://www-outreach.phy.cam.ac.uk/camphy/electron/electron5_1.htm      [15] Michael Faraday (1791-1867), một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất của nước Anh, người đã giành cả đời nghiên cứu về điện – từ, điện hóa. Michael Faraday đã từ chối tước hiệu hiệp sĩ của Hoàng gia Anh (nếu nhận tước hiệu, ông sẽ trở thành Chủ tịch của Hiệp hội Hoàng gia – Royal Society of London) vì không muốn làm nhà khoa học quý tộc. M. Faraday có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà khoa học sau này (Albert Einstein luôn giữ hai bức ảnh của I. Newton và M. Faraday như hai thần tượng).      [16] James Chadwick cũng là một nhà khoa học Anh tham gia dự án Manhattan (Manhattan Project) của Chính phủ Mỹ chế tạo bom nguyên tử trong thế chiến thứ 2.      [17] Trang chủ của nhóm nghiên cứu Quang điện tử (Optoelectronics) tại Cavendish Laboratory lãnh đạo bởi Richard Friend: http://www.oe.phy.cam.ac.uk/people/oestaff/rhf10.htm      [18] Stuart Stephen Papworth Parkin, IBM Fellow, người Anh, nhận bằng B. A. của Trinity College năm 1977 và tốt nghiệp PhD năm 1980 ở Cavendish Laboratory. S. Parkin là một nhà nghiên cứu tiên phong về spintronics, là lãnh đạo nhóm nghiên cứu spintronics tại Trung tâm Nghiên cứu IBM Almaden (Mỹ), và từng nhiều lần là ứng viên giải Nobel Vật lý. Đường dẫn về Parkin trên trang chủ IBM: http://researcher.ibm.com/researcher/view.php?person=us-stuart.parkin      [19] Điện tử học spin – spintronics hay spin-electronics là lĩnh vực nghiên cứu tạo ra các linh kiện điện tử thế hệ mới kết hợp hai thuộc tính của điện tử là spin và điện tích.      [20] Nghiên cứu về siêu dẫn của B. Josephson vẫn còn để lại ảnh hưởng đến nghiên cứu hiện tại ở Cavendish. Hiện nay, nhóm nghiên cứu siêu dẫn của Josephson để lại vẫn tiếp tục, và được lãnh đạo bởi GS. Brian Pippard, một học trò của B. Josephson.              Author                Quản trị        
__label__tiasang June Huh – Tài năng toán học nở muộn      Một sáng ấm áp đầu xuân, June Huh tình nguyện đến giảng trong khóa học nâng cao về đại số giao hoán dành cho sinh viên đại học. Là thành viên của Viện nghiên cứu cao cấp Princeton (IAS), Huh không có nghĩa vụ giảng dạy nhưng anh cảm thấy mình làm được điều gì đó có ích mỗi khi giảng bài, khác với khi làm nghiên cứu đa số thời gian trôi qua mà không mang lại kết quả gì hữu dụng cụ thể. Trong vòng 80 phút buổi giảng hôm đó, Huh hướng dẫn học trò về phép chứng minh cho một định lý của nhà toán học Đức David Hilbert, một trong những đột phá quan trọng nhất của nền toán học thế kỷ 20. Rất ít trường đại học dạy đại số giao hoán cho sinh viên, nhưng Princeton là ngoại lệ, và sinh viên tham gia khóa học của Huh lại càng xuất chúng – một em trong số đó là người duy nhất từng giành năm huy chương vàng liên tiếp tại các kỳ thi Olympic Toán Quốc tế.      Mơ ước trở thành một nhà thơ ở tuổi vị thành niên và không chọn ngành Toán khi học đại học nhưng ở tuổi 34, June Huh đang ngự ở đỉnh cao của thế giới toán học.  Sự nghiệp toán học của Huh bắt đầu theo cách khiêm tốn hơn rất nhiều so với các học trò của anh. Bị điểm kém trong một bài kiểm tra từ hồi tiểu học đã khiến cậu bé Huh tin rằng mình không giỏi toán. Ở tuổi vị thành niên, cậu mơ ước trở thành một nhà thơ. Cậu đã không chọn ngành Toán khi học đại học; sau này khi đăng ký làm tiến sỹ ngành toán, cậu bị hầu hết tất cả các trường từ chối. Nhưng chín năm sau, ở tuổi 34, Huh đang ngự ở đỉnh cao của thế giới toán học. Anh trở nên nổi tiếng nhờ chứng minh được một vấn đề đã có từ lâu, được gọi là giả thuyết Rota cộng tác với hai nhà toán học Eric Katz và Karim Adiprasito.  Đáng chú ý hơn là phương thức mà Huh và những người cộng tác cùng anh tìm ra cách chứng minh – nhận thức lại các khái niệm trong một lĩnh vực toán học bằng những tri thức tưởng chừng không hề liên quan thuộc một lĩnh vực toán học khác. Mùa xuân năm ngoái, IAS trao cho Huh một khoản tài trợ dài hạn mà trước đây chỉ được mở rộng cho ba nhà toán học trẻ. Hai trong số đó (Vladimir Voevosky và Ngô Bảo Châu) sau khi nhận tài trợ đã giành huy chương Fields, giải thưởng cao quý nhất trong toán học.  Việc Huh có được vị thế này sau khi đã bắt đầu quá muộn màng với toán học là điều hầu như không tưởng, cũng giống như một vận động viên bắt đầu cầm vợt học tennis khi đã 18 tuổi nhưng đến 20 tuổi đã thắng giải Wimbledon. Đó là một kiểu hành trình từ trên trời rơi xuống mà đơn giản là khó hình dung có thể xảy ra trong toán học, lĩnh vực đòi hỏi người ta phải mất nhiều năm dưới sự huấn luyện đặc biệt, chỉ để đến được vị trí có khả năng tạo ra những khám phá mới.  Nhưng mặt khác, chính chặng đường khởi đầu đầy độc đáo là một yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Huh. Trong đó phải kể đến cuộc gặp gỡ tình cờ của anh, vào năm cuối đại học, với một nhà toán học huyền thoại, người bằng cách nào đó nhận ra tài năng trong Huh mà chính bản thân anh cũng không ý thức được.  Cuộc tập sự tình cờ  Huh sinh năm 1983 tại California, nơi bố mẹ anh theo học đại học. Họ trở về Seoul, Hàn Quốc, khi anh lên hai. Ở đó, bố anh dạy thống kê và mẹ anh trở thành một trong những giáo sư văn học Nga đầu tiên ở Hàn Quốc kể từ khi bắt đầu Chiến tranh Lạnh.  Sau lần bị điểm kém kiểm tra môn toán ở trường tiểu học, Huh nói rằng anh đã nuôi dưỡng một thái độ phòng vệ trước môn học này: Anh không nghĩ rằng mình giỏi toán, và quyết định coi toán như một lĩnh vực khô khan nơi chỉ có những mệnh đề logic chồng chất nối tiếp nhau. Ở tuổi thiếu niên, anh chọn thơ, coi đó là đỉnh cao cho cách biểu đạt sáng tạo đích thực. “Tôi biết rằng mình thông minh, nhưng tôi không thể chứng minh điều đó thông qua các điểm số, do vậy tôi bắt đầu làm thơ,” Huh nói.  Huh viết nhiều bài thơ, và một vài truyện dài, hầu hết là về những trải nghiệm tuổi thiếu niên của mình. Tuy nhiên chúng chưa từng được xuất bản. Tới khi theo học ở Đại học Quốc gia (ĐHQG) Seoul năm 2002, anh kết luận rằng thơ sẽ không thể nuôi sống mình, do vậy anh quyết định trở thành một phóng viên khoa học. Huh chọn chuyên ngành thiên văn và vật lý, có lẽ như một lựa chọn vô thức xuất phát từ năng lực tư duy tính toán tiềm ẩn trong anh.  Khi Huh 24 tuổi, đang trong năm cuối đại học, nhà toán học Nhật Bản nổi tiếng Heisuke Hironaka đến thỉnh giảng ở ĐHQG Seoul. Khi đó Hironaka đã hơn 70 tuổi, là một người cực kỳ nổi tiếng ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Ông từng nhận giải thưởng Fields năm 1970 và sau đó viết cuốn hồi ký bán rất chạy, tựa đề Niềm vui học tập (The Joy of Learning) mà nhiều thế hệ các bậc cha mẹ Hàn Quốc và Nhật Bản từng mua tặng con cái mình với hi vọng sẽ truyền cảm hứng cho chúng trở thành nhà toán học vĩ đại kế tiếp. Ở ĐHQG Seoul, ông dạy một khóa học dài một năm về một lĩnh vực rất rộng của toán học là hình học đại số. Huh đến tham dự với ý nghĩ rằng Hironaka có thể trở thành nhân vật cho bài báo đầu tiên của mình.  Ban đầu, Huh là một trong số hơn 100 sinh viên đến nghe giảng, bao gồm rất nhiều sinh viên ngành toán, nhưng chỉ sau ít tuần con số này đã giảm xuống chỉ còn một nhúm. “Các sinh viên ngành toán bỏ dở bởi họ không hiểu gì cả. Dĩ nhiên tôi cũng chẳng hiểu gì… ngoài một vài ví dụ đơn giản mà ông ấy giảng trên lớp, và với tôi thế là đủ rồi.” Sau bài giảng, Huh luôn đến nói chuyện với Hironaka, và cả hai nhanh chóng bắt đầu ăn trưa cùng nhau. Hironaka nhớ về khởi đầu của Huh. “Tôi không từ chối các sinh viên, nhưng không phải lúc nào tôi cũng tìm kiếm họ, và cậu ấy đã đến với tôi,” Hironaka nhớ lại.  Huh cố gắng tận dụng các bữa trưa để hỏi Hironaka về bản thân ông, nhưng câu chuyện luôn quay trở lại với toán học. Khi ấy, Huh cố gắng không để lộ hiểu biết toán học ít ỏi của mình. “Bằng cách nào đó tôi đã rất giỏi tỏ ra hiểu những gì ông đang nói,” Huh kể. Quả thực, khi ấy Hironaka không hề nhận ra Huh thiếu được đào tạo bài bản đến mức nào. “Tôi không nhớ có chuyện đó, [nhưng] cậu ấy đã tạo cho tôi ấn tượng tương đối sâu sắc,” ông nói.  Khi các buổi trò chuyện vào bữa trưa tiếp tục, mối quan hệ của họ cũng phát triển theo. Huh tốt nghiệp, và Hironaka ở lại ĐHQG Seoul thêm hai năm. Trong suốt thời kỳ ấy, Huh bắt đầu theo học chương trình thạc sĩ toán học, chủ yếu dưới sự hướng dẫn của Hironaka. Hai người gần như luôn đi cùng nhau. Thỉnh thoảng Hironaka quay trở lại Nhật Bản, và Huh sẽ đi cùng, xách giúp ông hành lý lên máy bay, thậm chí ở cùng Hironaka và vợ ông tại căn hộ của họ ở Kyoto.  “Tôi đã hỏi rằng liệu cậu ấy có muốn thuê khách sạn, và Huh trả lời không quen với khách sạn. Do vậy cậu ấy ở một góc trong căn hộ của tôi,” Hironaka kể lại. Ở Kyoto và Seoul, Hironaka và Huh thường ra ngoài ăn hoặc đi bộ đường dài cùng nhau, trên đường đi Hironaka thường dừng lại để chụp ảnh hoa. Họ trở thành bạn. “Tôi thích cậu ấy và cậu ấy thích tôi, vì thế chúng tôi cũng nói những chuyện phiếm ngoài toán học,” Hironaka nói.  Trong khi đó, Hironaka tiếp tục kèm cặp Huh, đi từ những ví dụ cụ thể mà Huh có thể hiểu được thay vì giới thiệu trực tiếp những lý thuyết tổng quát vượt quá tầm nắm bắt của Huh. Hironaka dạy Huh về các hình thái của lý thuyết kỳ dị, phân ngành từng giúp ông thu được những kết quả nổi tiếng nhất của mình. Suốt vài thập kỷ, Hironaka cố gắng tìm kiếm phép chứng minh cho một vấn đề mở – có tên là giải kỳ dị trong trường hợp đặc số p. “Đối với ông, đó là một dự án trọn đời, và là chủ đề chính trong những câu chuyện của chúng tôi,” Huh kể. “Rõ ràng, ông muốn tôi tiếp tục công trình của ông.”  Năm 2009, dưới sự thôi thúc của Hironaka, Huh đăng ký học sau đại học ở khoảng một tá các trường ở Mỹ. Hồ sơ của anh không mấy thuyết phục: anh không phải sinh viên ngành toán, mới chỉ theo học một vài lớp ở trình độ sau đại học, thành tích của anh ở những lớp ấy không có gì nổi bật. Việc nhận anh vào học phần lớn dựa vào lời giới thiệu từ Hironaka. Hầu hết hội đồng tuyển sinh các trường không coi trọng hồ sơ của Huh và từ chối anh, ngoại trừ Đại học Illinois, Urbana-Champaign, nơi anh bắt đầu theo học vào mùa thu năm 2009.  Quy luật bí ẩn  Ở Illinois, Huh bắt đầu công trình mà sau này dẫn tới phép chứng minh giả thuyết Rota. Đây là vấn đề được nhà toán học người Ý Gian-Carlo Rota đề xuất cách đây 56 năm, liên quan tới các đối tượng tổ hợp – những cấu trúc dạng Tinkertoy, giống như các đồ thị, là “tổ hợp” của nhiều điểm và đường thẳng gắn liền với nhau.  Xét một đồ thị đơn giản: một tam giác (xem ảnh dưới)    Các nhà toán học ưa thích vấn đề sau: Có bao nhiêu cách tô màu các đỉnh của tam giác, với số màu cho trước và tuân theo quy tắc hai đỉnh bất kỳ nối với nhau qua một cạnh đều không được cùng màu. Giả sử rằng bạn có q màu. Các lựa chọn màu khả dĩ như sau:  có q lựa chọn cho đỉnh đầu tiên, vì khi bắt đầu, bạn có thể dùng bất kỳ màu nào.  Có q-1 lựa chọn cho đỉnh thứ hai, vì bạn có thể lựa chọn bất kỳ màu nào trong số những màu còn lại, bỏ ra màu đã tô đỉnh đầu tiên.  Có q-2 lựa chọn cho đỉnh thứ ba, bởi vì bạn có thể lựa chọn bất kỳ màu nào trong số những màu còn lại, loại trừ hai màu đã tô hai đỉnh đầu tiên.  Tổng số các cách tô màu sẽ bằng với tích tất cả các lựa chọn, hay trong trường hợp này là q×(q-1)×(q-2)=q3-3q2+2q.  Vế phải của phương trình trên được gọi là đa thức sắc số cho đồ thị này, trong đó các hệ số của nó luôn tạo thành dãy đơn mốt và lõm-lôgarít.  Bạn có thể tưởng tượng về một số vô hạn các đồ thị, đồ thị với nhiều đỉnh và nhiều cạnh kết nối với nhau theo số cách bất kỳ, nhưng mọi đồ thị bất kỳ trong số này đều có một đa thức sắc số duy nhất. Và trong tất cả những đồ thị mà các nhà toán học đã nghiên cứu, hệ số của đa thức sắc số của chúng đều luôn đơn mốt và lõm-lôgarít. Mệnh đề phát biểu rằng thực tế này luôn xảy ra được gọi là giả thuyết Read. Huh chính là người chứng minh nó.    Một điều đáng chú ý là đa thức sắc số cho một đồ thị bất kỳ có thể được định nghĩa thông qua đa thức sắc số của đồ thị con. Và các hệ số của những đa thức sắc số này cũng luôn lõm-lôgarít. Nhưng khi bạn cộng hay trừ hai dãy lõm-lôgarít, dãy thu được thường không nhất thiết phải lõm-lôgarít. Bởi vậy, bạn sẽ kỳ vọng rằng tính lõm-lôgarít biến mất trong quá trình tổng hợp các đa thức sắc số. Nhưng không, nó không biến mất. “Đó là điều khiến mọi người tò mò về hiện tượng lõm-lôgarít này,” Huh nói.  Tìm kiếm cấu trúc ẩn giấu  Huh không hề biết gì về những thông tin trên khi anh mới đặt chân đến Illinois. Hầu hết các học viên sau đại học năm đầu dành nhiều thời gian ở lớp hơn cho nghiên cứu của chính mình, nhưng sau ba năm tập sự cùng Hironaka, Huh đã có những ý tưởng mà anh muốn theo đuổi.  Trong suốt mùa đông đầu tiên ở miền Trung Tây của Hoa Kỳ, Huh đã phát triển các kỹ thuật để áp dụng lý thuyết kỳ dị, tâm điểm cho nghiên cứu của anh với Hironaka, lên lý thuyết đồ thị. Trong quá trình đó, Huh nhận thấy khi xây dựng một kỳ dị từ một đồ thị, người ta đột nhiên có thể sử dụng lý thuyết kỳ dị để kiểm tra những tính chất của đồ thị ban đầu – chẳng hạn, để giải thích tại sao các hệ số của một đa thức sinh ra từ đồ thị lại tuân theo một hình mẫu lõm-lôgarít.  Điều này quả là lý thú với Huh, khiến anh tìm lại lịch sử lý thuyết đồ thị để xem liệu có ai từng lý giải về những quy luật lõm-lôgarít. Anh phát hiện ra rằng, với các nhà lý thuyết đồ thị, những quy luật này còn hoàn toàn bí ẩn.  “Tôi nhận thấy quy luật mà tôi quan sát thấy thực ra là một giả thuyết nổi tiếng trong lý thuyết đồ thị, giả thuyết Read. Có thể nói rằng tôi đã giải quyết được vấn đề từ khi chưa biết đến vấn đề ấy,” Huh nói.  Phép chứng minh đầy tình cờ của Huh cho giả thuyết Read cũng như cách anh kết hợp lý thuyết kỳ dị với các đồ thị có thể được coi như một kết quả từ cách tiếp cận ngây thơ của anh với toán học. Hầu như anh đã tự học các chủ đề này hoặc thông qua việc nghiên cứu không chính thức cùng Hironaka. Những người tìm hiểu quá trình thăng tiến của anh trong vòng vài năm qua cho rằng kinh nghiệm này sẽ khiến anh ít bị ràng buộc bởi quan niệm thông thường khi cân nhắc đâu là cách tiếp cận đáng theo đuổi trong toán học. “Nếu bạn nhìn toán học kiểu như lục địa chia thành các quốc gia, tôi nghĩ rằng, ở trường hợp của June, đã không có ai nói với anh có những biên giới như vậy. Rõ ràng anh ấy đã không bị cản trở bởi bất kỳ ranh giới nào,” Robbert Dijkgraaf, giám đốc IAS nói.  Không lâu sau khi đăng chứng minh của mình cho giả thuyết Read, Đại học Michigan đã mời Huh đến giảng về chứng minh của anh. Ngày 3/12/2010, Huh diễn thuyết trước một khán phòng chật cứng các nhà toán học, nhiều người trong số họ chỉ một năm trước đã từng loại hồ sơ xin học tiến sỹ của anh. Đến thời điểm này, tài năng của Huh đã bộc lộ rõ ràng trước giới toán học.  Jess Kass là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ngành Toán ở Michigan vào thời điểm đó. Ngay trước khi Huh đến, một thành viên lâu năm của khoa đã khuyến khích Kass đến nghe bài giảng, bởi “30 năm sau, cậu có thể nói với cháu chắt rằng mình từng nghe Huh nói chuyện trước khi cậu ta trở nên nổi tiếng,” Kass, người giờ đây đã là một giáo sư ở Đại học Nam Carolina, nhớ lại.  Bài giảng của Huh không làm giới toán học thất vọng. “Bài giảng rất hoàn chỉnh và sáng sủa; đi thẳng vào tâm điểm. Quả là hơi khác thường khi một người mới bắt đầu học sau đại học lại có thể trình bày bài giảng gọn gàng đến vậy,” Mircea Mustaţă, một nhà toán học ở Michigan, kể lại.  Sau bài giảng đó, khoa Toán Đại học Michigan mời Huh chuyển đến học, và anh rời sang đó năm 2011. Khi ấy, anh đã biết rằng giả thuyết Read chỉ là một trường hợp đặc biệt của một vấn đề rộng và quan trọng hơn, – giả thuyết Rota.  Giả thuyết Rota rất giống với giả thuyết Read nhưng gắn với các đối tượng tổ hợp trừu tượng hơn các đồ thị, gọi là “matroid” (một đồ thị có thể được coi là một dạng matroid cụ thể) và cho một dạng đa thức phương trình khác từ mỗi matroid, gọi là “đa thức sắc số”. Nhưng vấn đề cơ sở thì như nhau: Giả thuyết Rota dự đoán rằng các hệ số của đa thức sắc số luôn luôn lõm-lôgarít cho mỗi matroid bất kỳ.  Mệnh đề này thật đơn giản và có nhiều bằng chứng phong phú, nhưng việc chứng minh nó – giải thích tại sao tính lõm-lôgarít lại xảy ra – rất khó. Tự thân các matroid không có dấu hiệu gì cho phép lý giải tính lõm-lôgarít xảy ra đều đặn khi bạn cộng hay trừ các đa thức sắc số của các matroid con (cũng như không có lý do hiển nhiên nào cho việc tính lõm-lôgarít xảy ra khi bạn cộng hay trừ các đa thức sắc số của đồ thị). Bất cứ khi nào thấy một quy luật mà không có nguyên nhân hiển nhiên, một cách tự nhiên chúng ta thường đào sâu suy nghĩ hơn – ví như việc tìm kiếm cội rễ sẽ giúp giải thích về cái cây vậy. Đó chính là việc Huh đã làm khi anh và các cộng sự bắt đầu tấn công giả thuyết Rota.  Ban đầu Huh tìm kiếm những phương cách để mở rộng các kỹ thuật từ lý thuyết kỳ dị mà anh đã sử dụng cho giả thuyết Read, nhưng anh nhanh chóng nhận ra rằng chúng không áp dụng được trong địa hạt các matroid trừu tượng hơn. Thất bại này khiến anh quay sang tìm kiếm các cấu trúc khác ẩn giấu bên dưới các matroid.  Vượt qua các ranh giới  Một vài trong số những bước nhảy lớn nhất của tri thức xảy ra khi ai đó mở rộng một lý thuyết đã có chỗ đứng vững chắc trong một lĩnh vực sang một hiện tượng dường như chẳng có gì liên quan trong lĩnh vực khác. Ví dụ như lực hấp dẫn. Mọi người luôn hiểu rằng, vật phải rơi xuống đất khi thả từ một độ cao nhất định, trong khi Newton nhận ra rằng cùng một cơ chế như vậy có thể giải thích chuyển động của các hành tinh. Trong toán học cũng có những bước nhảy như vậy.  Công trình của Huh về giả thuyết Rota liên quan tới việc nhận thức lại về khái niệm đối với một lĩnh vực được coi trọng trong toán học gọi là lý thuyết Hodge. Lý thuyết này được nhà toán học Scotland William Hodge phát triển vào những năm 50 của thế kỷ trước, trong đó các đối tượng được quan tâm là “các vành đối đồng điều của các đa tạp đại số xạ ảnh trơn”.  Thật khó tin rằng có thể tồn tại mối liên hệ giữa lý thuyết Hodge và các đồ thị hay matroid. Các vành đối đồng điều trong lý thuyết Hodge nảy sinh từ các hàm trơn gắn với khái niệm về sự vô hạn. Ngược lại, các đối tượng tổ hợp như đồ thị hay matroid là những đối tượng thuần túy rời rạc – tập hợp của những chấm điểm và các thanh ngắn. Việc hỏi lý thuyết Hodge mang nghĩa gì trong khung cảnh của các matroid thoạt nghe thật vô nghĩa, cũng giống như hỏi làm thế nào để lấy căn bậc hai của một hình cầu.  Nhưng có một lý do khiến câu hỏi này đáng được đặt ra. Trong hơn 60 năm kể từ khi lý thuyết Hodge được đề xuất, các nhà toán học đã tìm ra một số ví dụ cho các cấu trúc kiểu Hodge xuất hiện trong những trường hợp cách xa bối cảnh đại số ban đầu. Nó cũng như mối quan hệ Pythagoras, đầu tiên tưởng chừng chỉ là quan hệ giữa các cạnh tam giác vuông, nhưng hóa ra cũng thể hiện sự phân bố của các số nguyên tố.  “Có cảm giác rằng những cấu trúc này, nếu tồn tại, thì sẽ rất cơ bản. Chúng giải thích các tính chất trong cấu trúc toán học của bạn mà không thể giải thích theo những phương cách khác,” Huh nói.  Một vài trong số những thiết lập mới này mang tính tổ hợp, điều này khuyến khích Huh tìm hiểu tại sao các mối liên kết trong lý thuyết Hodge có thể làm cơ sở cho những quy luật hình lõm-lôgarít. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một khái niệm toán học quen thuộc trong một địa hạt ngoại lai là điều khó khăn. Trên thực tế, việc này hơi giống với tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất – bạn có thể có những ý tưởng về các dấu hiệu đặc trưng của sự sống, nhưng rất khó để dự đoán dạng sống ở một nơi khác sẽ như thế nào.  Bộ ba khác thường  Vài năm gần đây, Huh thực hiện hầu hết các công trình quan trọng của mình với hai người cộng sự – Erics Kats, nhà toán học từ Đại học Ohio, và Karim Adiprasito, nhà toán học tại Đại học Hebrew Jerusalem. Họ tạo thành một bộ ba đầy khác thường.  Adiprasito ban đầu muốn trở thành một đầu bếp và dành thời gian đi du lịch một mình quanh Ấn Độ, nhưng rồi anh quyết định ổn định sự nghiệp với việc theo đuổi nghiên cứu tổ hợp, lãnh địa của lý thuyết đồ thị và các vấn đề như giả thuyết Rota. Anh thích toán từ thời phổ thông, nhưng từng quay lưng với nó vì “cảm thấy nó không đủ tính sáng tạo”. Về phần Katz, anh có một tâm hồn cuồng nhiệt và sự hiểu biết tường tận đến mức ám ảnh về các ban nhạc rock độc lập, anh từng có lúc làm DJ trên đài phát thanh của trường đại học. Trong ba người, chỉ Katz có thể được coi là con nhà nòi, anh cũng tự coi mình như một phiên dịch viên cho các ý tưởng sáng tạo khác thường của hai người còn lại, giữa một người từng dự định trở thành thi sĩ và một người từng mong muốn thành đầu bếp.  “Karim có những ý tưởng kỳ diệu đột nhiên xuất hiện, trong khi June lại có cái nhìn rất đẹp về hướng đi của toán học” Katz nói. “Thường thì rất khó để hợp nhất các ý tưởng của Kim vào cách nhìn của June, và có lẽ việc tôi làm là nói chuyện với Karim và dịch các ý tưởng của cậu ấy thành cái gì đó gần với toán học hơn.”  Katz đã biết về công trình của Huh vào năm 2011, sau khi Huh chứng minh thành công giả thuyết Read nhưng chưa tạo được bất kỳ tiến triển nào trong việc chứng minh giả thuyết Rota. Katz đọc bài chứng minh của Huh cho giả thuyết Read và nhận thấy nếu cắt ra một bước trong đó anh có thể áp dụng các phương pháp từ nó để có thể chứng minh một phần của giả thuyết Rota. Anh liên hệ với Huh và chỉ sau một vài tháng ngắn ngủi, hai người viết chung một bài báo (công bố năm 2012), giải thích tính lõm-lôgarít cho một lớp nhỏ các matroid gọi là các matroid “biểu diễn được”.  Nhưng bài báo đó không giải quyết được phần khó nhất của giả thuyết Rota – chứng minh tính lõm-lôgarít của các matroid không “biểu diễn được”, chiếm đa số trong tập tất cả các matroid. Trong bốn năm, Huh và Katz đã cố gắng và thất bại trong việc tìm cách định nghĩa một cấu trúc Hodge có nghĩa trong khung cảnh các matroid không biểu diễn được. Trong suốt thời gian đó, họ đã xác định rằng chỉ cần một khía cạnh trong lý thuyết Hodge – được gọi là định lý chỉ số Hodge – là đủ để giải thích tính lõm-lôgarít. Tuy nhiên, họ không tìm được cách chứng minh rằng định lý chỉ số Hodge cũng đúng cho các matroid.  Đó chính là lúc Adiprasito nhập hội. Năm 2015, anh đến IAS và ghé thăm Huh. Adiprasito nhận ra rằng để chứng minh định lý chỉ số Hodge đúng với các matroid, có thể thử chứng minh với một tập hợp lớn hơn các ý tưởng từ lý thuyết Hodge, bao gồm cả định lý chỉ số Hodge – tập hợp này được ba nhà toán học gọi là “gói Kähler”.  “Tôi nói với June và Eric rằng có một cách để thực sự chứng minh giả thuyết này trong một thiết lập thuần túy tổ hợp,” Adiprasito kể lại. “Rồi thật nhanh chóng chúng tôi bắt đầu với một kế hoạch. Họ đặt ra câu hỏi, còn tôi cung cấp phương pháp.”  Kỹ thuật này mang lại một chứng minh đầy đủ cho giả thuyết Rota. Tháng 11 2015, công trình của ba người được đăng trên mạng, kể từ đó thông tin này lan đi khắp giới toán học. Công trình của họ cung cấp một cách nhìn hoàn toàn tổ hợp về lý thuyết Hodge, theo đó cung cấp một cách tiếp cận hoàn toàn mới các vấn đề mở trong tổ hợp.  Công trình này cũng làm nâng cấp hồ sơ toán học của Huh. Ngoài vị trí mới của anh ở IAS, Huh thường được nhắc đến như một ứng viên cực kỳ tiềm năng cho giải thưởng Fields, được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học tài năng nhất dưới bốn mươi tuổi. Nếu không được trao giải vào năm 2018, anh vẫn còn đủ trẻ để cạnh tranh vào năm 2022.  Người học trò trên chặng đường riêng  Quay lại thời điểm năm 2012 khi Huh tới ĐHQG Seoul để giới thiệu về chứng minh của anh cho giả thuyết Read. Hironaka là một trong số những thính giả, và ông vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng lý thuyết kỳ dị có ứng dụng vào lý thuyết đồ thị  “Tôi nhớ rằng mình đã hỏi Huh, có phải cậu ấy chỉ tập trung toàn bộ vào lý thuyết đồ thị và đã mất hứng thú với lý thuyết kỳ dị. Cậu ấy bảo không, em vẫn hứng thú với các kỳ dị,” Hironaka nhớ lại.  Cuộc đối thoại đó xảy ra đúng lúc Huh thực sự đã chuyển qua một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới trong toán học, nhưng anh nghĩ rằng có lẽ mình chưa sẵn sàng nói ra điều ấy – đặc biệt là với người đàn ông đã thay đổi cuộc đời anh. “Đó là lúc tôi đã rời khỏi con đường [mình đi trước đây]”, anh nói. “Tôi nghĩ rằng, ông cũng cảm nhận được điều đó, nhưng dẫu sao tôi đã quyết định đi con đường khác. Có lẽ đã có những tác động về mặt tâm lý khiến tôi không muốn thừa nhận rằng, mình đã hoàn toàn bỏ lại lý thuyết kỳ dị ở phía sau.”  Huh và Hironaka đã không gặp lại nhau kể từ đó. Hironaka giờ đã 86 tuổi. Ông đã nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu tìm phép chứng minh cho một vấn đề trong lý thuyết kỳ dị đã ám ảnh ông trong nhiều thập kỷ. Tháng 3 vừa qua, ông đăng một bài báo dài lên trang web cũ của mình, thuộc khoa Toán ở Đại học Harvard, trong đó khẳng định đây chính là bài chứng minh mà ông hằng theo đuổi. Các nhà toán học khác, bao gồm cả Huh, đã xem sơ bộ công trình ấy, nhưng vẫn chưa kiểm chứng được tính đúng đắn của nó. Ở tuổi này, thật khó để Hironaka đi đâu xa, nhưng ông vẫn mong có dịp gặp lại Huh. “Tôi chỉ nghe nói về cậu ấy mà thôi,” Hironaka nói.  Khi uống café trong một buổi chiều tại phòng của Huh ở campus của IAS, tôi đã hỏi anh cảm thấy thế nào khi không theo đuổi con đường nghiên cứu mà Hironaka đã hi vọng anh cất bước. Trầm ngâm giây lát, Huh nói anh cảm thấy có lỗi.  “Trong rất nhiều thời gian ở cùng với Hironaka, tôi đã phải tỏ ra mình hiểu biết nhiều hơn so với thực tế,” Huh nói. “Việc thiếu thốn nền tảng toán học đã cản trở tôi tiếp tục nghiên cứu nghiêm túc cùng ông. Nó để lại trong tôi cảm giác tựa như một bài tập về nhà dài hạn.”  Huh nhắc đến chặng đường dài mà anh đã đi từ điểm xuất phát trong toán học của mình. Anh coi đó là bước đi tốt và cần thiết cho việc phát triển nghiên cứu. Tuy nhiên, khi chúng tôi tạm biệt nhau tại một góc phố ở Princeton, anh bộc bạch: “tôi cần một không gian [riêng] để tư duy.” Anh đã tìm được lối đi vào toán học của riêng mình, và giờ anh ở đó, tiếp tục tìm kiếm con đường băng qua nó.  Nguyễn Duy Khánh lược dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/a-math-genius-blooms-late-and-conquers-his-field/    Author                Kevin Hartnett        
__label__tiasang Kant là ai?      Bài viết này tìm cách đến gần với con người Kant qua sự tìm hiểu về cuộc đời ông, về cá tính cũng như sự bận rộn hằng ngày của ông với các tác phẩm triết học.&#160;       Kant sinh ngày 22/4/1724 tại Königsberg, thủ đô lãnh địa công tước Phổ, là con trưởng của gia đình 11 người con. Vào thời điểm này thành phố bến cảng Königsberg đang phồn thịnh với nền thương mại, cho nên trên đường đi đến trường học, chàng thanh niên Kant đã chứng kiến cảnh buôn bán rộn ràng ấy và lần đầu tiên có dịp tiếp cận với nét quyến rũ của những văn hóa xa lạ trên bến cảng có tàu bè ngoại quốc tấp nập. Nhưng Kant sẽ không bao giờ rời thành phố ấy cả, điều này làm cho ông thường mang tiếng là một người xa cách thế giới bên ngoài. Tuy thế ông đã viết về Königsberg như sau: “  Một thành phố lớn, trung tâm điểm của một vương quốc, trong đó tọa lạc doanh triều của Chính phủ, có một đại học (để trau dồi các khoa học) và đồng thời lại có địa điểm cho việc buôn bán đường biển, vị thế tạo thuận lợi cho việc giao thương nhờ có những con sông từ nội địa đổ về và nhờ sự tiếp cận với những nước biên giới hẻo lánh có những ngôn ngữ khác nhau,- một thành phố như thế, như thành phố Königsberg trên con sông Pregel này, có thể được xem là một nơi thuận tiện để mở rộng kiến thức về con người cũng như về thế giới, một nơi những kiến thức ấy có thể thu lượm được mà không cần phải viễn du”.   Thân mẫu của ông đã ảnh hưởng sâu đậm trên sự phát triển thời niên thiếu của ông, bởi vì “bà đã vun trồng và nuôi dưỡng trước tiên mầm thiện hảo trong tôi, (…) bà đã đánh thức và mở rộng những khái niệm ngôn từ của tôi, và lời giáo huấn của bà đã có một ảnh hưởng mang an lành mãi mãi lên cuộc đời của tôi”. Thân mẫu ông đã nhận ra khả năng sắc bén và năng khiếu lĩnh hội nhanh nhẹn nơi ông. Nhờ những nỗ lực của bà, Kant được theo học một trường tốt hơn: trường trung học Collegium Friedericianum. Ở đó ông đã nhận được sự rèn luyện cần thiết chuẩn bị cho sự đào tạo hàn lâm sau này. Nhưng vào thời điểm này chưa thấy một dấu hiệu nào về sở thích nghiên cứu triết lý nơi ông cả.    Thật ra Kant quan niệm rằng “Người ta phải tìm kiếm kiến thức từ tất cả các ngành khoa học, mà không loại bỏ một ngành nào cả, ngay cả ngành thần học, ngay khi người ta không kiếm cơm nhờ vào các ngành học ấy”.   Tại Đại học Albertus-Universität, Kant đã nổi bật vì sự quan tâm của ông về các môn: triết học, toán học và vật lý học. Ðó là những môn mà Kant đã miệt mài học hỏi. Ngay trong thời kỳ trên đại học Kant đã biết rõ là ông muốn đi theo con đường của một nhà giáo khoa học. Nhưng khi Kant 22 tuổi, thân phụ ông qua đời và ông phải rời khỏi đại học, hành nghề thầy giáo tại gia để kiếm sống (Schelling, Hegel, Hörlderlin cũng đã làm như thế).  Không biết Kant đã kết thúc giai đoạn đào tạo đại học của ông không, điều đó vẫn chưa sáng tỏ, tuy nhiên trong cùng một năm ông đã viết một tiểu luận đầu tiên bằng tiếng Ðức: “Một số suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn các năng lực sinh động” (Gedanken von der wahren Schätzung der lebendigen Kräfte).   Lần đầu tiên tinh thần phê bình của ông được thể hiện rõ trong bài viết này. Bởi vì ở đây, vấn đề đặt ra cho Kant là phản bác hai nhân vật trong số những tư tưởng gia nổi tiếng thời ấy (Leibniz và Descartes).  Kant tự cho mình là một người tư tưởng tự do, là kẻ không muốn dựa vào một uy quyền nào cả, là kẻ xem lý trí của mình là năng lực phán đoán chắc chắn nhất, đúng như khi sau này ông đã đòi hỏi trong các tác phẩm về khai sáng của ông.   Trong tranh luận, Kant tìm cách khám phá ra những yếu điểm của đối thủ để phản bác những điểm này, nhưng ông cũng liên kết với những khám phá và phát triển quan điểm riêng tư của mình. Kant cũng tìm cách hướng dẫn cho sinh viên của ông đường lối tư duy tự do như thế, sau khi  ông được ủy nhiệm chức giáo sư thực thụ năm 1770 sau nhiều năm làm giáo thụ và giáo sư tự do.   Nhưng sinh hoạt của Kant với tư cách là thầy dạy hàn lâm viện đã không có những đổi thay đáng kể từ thời điểm ông được phong chức giáo sư thực thụ, đơn giản bởi vì ông đã không thay đổi những tập tục hàn lâm cũng như sinh hoạt hàng ngày. Không những trật tự hàn lâm của ông được phân phối một cách nghiêm nhặt mà toàn thể đời sống thường nhật của ông cũng không thể trôi chảy được nếu không có một thời khóa biểu phải giữ đúng một cách tỉ mỉ. Ðúng 5 giờ sáng Kant được người hầu tên là Lampe đánh thức với lời hô to trước sau như một: “Ðến giờ rồi!” Liền sau đó Kant bắt đầu ngồi chuẩn bị bài giảng mà ông luôn luôn giảng vào giờ học y chang như trước. Ðầy nhiệt tình và hào hứng ông theo sát các buổi giảng của mình, đến nỗi không bao giờ có buổi giảng nào bị hủy bỏ hay một phần tư giờ giảng nào bị phí phạm.    Phương cách giảng dạy của ông không nhằm lấy những sách giáo khoa đã có sẵn làm nền tảng mà chỉ xử dụng chúng như điểm khởi đầu cho tư tưởng riêng mà thôi. Với phương pháp ấy ông khác biệt hẳn với những đồng nghiệp của ông thời bấy giờ thường có thói quen giảng đọc từ các sách giáo khoa. Lý tưởng của ông trong việc dạy là không chuyển đạt triết học như một chất liệu có thể học được, mà khích lệ động viên sinh viên biết triết lý. Bởi thế trong các buổi giảng ông không trình bày ra những kết quả mà tìm cách khơi gợi khả năng lý luận để rút ra những khái niệm đúng thực, để chứng minh cho sinh viên có thể theo dõi và thấy rõ được công trình tư tưởng của ông qua những khái niệm ấy.   Con đường tư duy đối với Kant quan trọng hơn là mục đích. Tuy nhiên mỗi khi ông theo dòng tư tưởng đi lạc xa đề tài chính, thì theo lời kể, ông thường đơn giản cắt ngang với mấy chữ như “vân vân và vân vân…” rồi trở lại đề tài giảng dạy. Thật là lý thú để biết Kant đã dạy khá nhiều bộ môn, trong đó những bài giảng về nhân chủng học và địa lý hình thể (physische Geographie) lại là những bài được yêu chuộng nhiều nhất.  Kant, người không bao giờ đi xa khỏi Königsberg một vài dặm, lại có thể mô tả một cách chính xác thế giới bên ngoài ở đâu, hình thù như thế nào, chỉ nhờ căn cứ vào văn chương du lịch. Năng lực tưởng tượng sống động của ông đã giúp ông mang người nghe đi theo trên những chuyến du hành mà ông chưa bao giờ thực hiện cả. (Câu chuyện về chiếc cầu Wesminster). Như thế trong mỗi bộ môn ông có thể lôi kéo người nghe mê mải theo con đường của mình với cách biện luận sôi nổi và sự miêu tả đầy sống động.    Theo thời khóa biểu, sau buổi giảng là khoảng thời giờ dành cho công việc riêng tư. Trong thời gian này ông nghiên cứu triết học một cách tích cực nhất, đến nỗi người ta rất có thể giả thuyết rằng những tác phẩm của ông đều được hình thành trước giờ cơm trưa. Tuy nhiên chưa bao giờ xảy ra chuyện ông bỏ quên buổi ăn trưa qua công việc này. Trước hết chính vì buổi ăn trưa đối với Kant là giờ nghỉ giải lao của ông. Do vậy không được nói lời nào đụng đến các vấn đề triết học nơi bàn ăn. Kant đã có niềm vui lớn nhất được cùng với bạn hữu của ông thảo luận vào buổi trưa về những câu hỏi thời sự chính trị trong ngày, về những phát triển kinh tế, về những thành tựu khoa học. Ông rất quan tâm đến những tin mới mẻ về chính trị của cuộc cách mạng Pháp và ảnh hưởng của nó.   Theo lời kể, một buổi ăn trưa kiểu ấy đối với những người tham dự đã là một đàm thoại vui vầy bằng hữu và Kant đã rất được quí mến như một chủ nhân lý thú.  Về cuộc sống riêng của Kant không có chuyện gì đáng kể ra vì Kant không lập gia đình, nhưng điều đó không có nghĩa là trong những năm trẻ tuổi Kant không yêu hay không có quan niệm tốt về đời sống phu thê. Kant đặc biệt được quí mến, bởi vì ông có thể đem lại những cuộc nói chuyện dí dỏm và thâm thúy nhưng không buông thả theo giọng dạy đời mà những người đàn ông khác hay có thói quen như thế đối với phụ nữ.  Sau buổi ăn kéo dài Kant thường rút lui, đọc sách hay ngồi trầm mặc, để sau đó ông bắt đầu cuộc đi dạo. Nghe nói những người dân Königsberg đã lên giây đồng hồ của họ để theo dõi “cuộc đi dạo loanh quanh” của nhà triết học. Sau buổi đi dạo Kant dành khoảng thời gian cho đến giấc nghỉ đêm – đúng 10 giờ đêm ông lên giường – để đọc sách.   Trong đời, cuộc sống hằng ngày của Kant đã tiếp diễn một cách đều đặn và tẻ ngắt một nhịp như thế.  Theo đuổi sự khát khao chân lý, ngay trong tác phẩm đầu tiên, Kant đã tự đưa ra châm ngôn định hướng con đường sự nghiệp hàn lâm sau này của mình: “Giờ đây ta có thể dám mạnh dạn xem những phán đoán của Newton và Leibniz chẳng là gì cả nếu nó đối lập với sự khám phá chân lý, và không vâng theo những lời thuyết phục nào khác hơn là con đường của trí tuệ.” Về những tác phẩm trong thời tiền phê bình của ông, như chính thuật ngữ “tiền phê bình” đã nói lên, chỉ cần nêu ra ở đây là những tác phẩm này đánh dấu giai đoạn tư tưởng trước của Kant, trong đó Kant vẫn còn tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế, điều mà sau đó mãi đến trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy ông mới chối từ. Trong giai đoạn này đã bắt đầu thái độ hoài nghi đối với sự lạc quan của Khai sáng, mà theo ông sự đòi hỏi đối với lý trí quá cao xa.   Như thế Kant triển khai “sự phê bình của lý trí thuần túy” với một tựa đề có nghĩa gấp đôi bằng ngữ phạm “genetiv” (thuộc cách) “của” (“der”). Nghĩa thứ nhất nên được hiểu đây là sự phê bình về lý trí (một sự phê bình thực sự được đặt ra ngay từ đầu), nghĩa thứ hai đây là một sự phê bình do lý trí đảm nhận. Với công cuộc phê bình Kant muốn đem triết học (siêu hình học) trở về trên nền tảng chắc chắn của dữ kiện thực tế. Tác phẩm quan trọng nhất về triết học thực tiễn của ông là cuốn Phê phán lý tính thực tiễn đã được chuẩn bị trước đó bằng sự “đặt nền tảng cho nền siêu hình học về đức lý” (tên của tác phẩm).   Ở đây Kant lý giải “qui luật đạo đức “trong” ông, đó là Mệnh lệnh Phạm trù: hãy hành động chỉ theo châm ngôn nào mà với châm ngôn ấy đồng thời anh có thể mong muốn nó trở nên một qui luật phổ quát.” Thêm vào đó là những tác phẩm Phê bình năng lực phán đoán, tôn giáo trong giới hạn của lý trí thuần chất. Tác phẩm chính trị có Hướng về một nền hoà bình vĩnh cửu…  Kant, người muốn đưa triết học trở lại con đường đúng đắn, đã muốn vén màn ảo tưởng của nền siêu hình học đương thời, người thách đố những nhà tư tưởng đương thời cho những lý tưởng của mình: Tự do, Bình đẳng, Tự chủ, đã từ trần cách đây 200 năm vào ngày 12/02/1804 với lời thốt ra: “Tốt rồi!”. Ý nghĩa của mấy chữ ấy mãi mãi vẫn còn là một sự bí mật. Cũng như thế, sự tương phản trong con người của ông! Bởi vì không đáng ngạc nhiên sao, khi thấy đằng sau một cuộc đời hết sức chật hẹp, gò bó trong mắt người ngoài cuộc lại có thể nảy nở một tinh thần tự do đến như thế?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người khai sinh ra phương pháp xét nghiệm PCR      Cách đây 40 năm, nhà khoa học người Mỹ Kary Mullis đã sáng tạo ra phương pháp xét nghiệm PCR (phản ứng chuỗi polymerase). Hiện tại, PCR được coi là “tiêu chuẩn vàng” để phát hiện virus SARS-CoV-2 gây ra đại dịch COVID-19.    Nhà hóa sinh Kary Mullis cho biết trong lúc ông đang lái xe từ Vùng Vịnh (Bay Area) đến căn nhà gỗ nhỏ của mình ở Mendocino, California (Mỹ) vào năm 1983 thì đột nhiên ông nghĩ ra cách xác định chính xác một đoạn DNA cụ thể và tổng hợp một lượng lớn các bản sao từ nó.        “Kỹ thuật đơn giản này tạo ra bao nhiêu bản sao tùy thích đối với bất kỳ chuỗi DNA nào mà tôi lựa chọn, và mọi người trên Trái đất quan tâm đến DNA sẽ muốn sử dụng nó”, Mullis kể lại trong cuốn hồi ký với tựa đề Dancing Naked in the Mind Field được xuất bản vào năm 1998. “Công nghệ của tôi sẽ dần trở nên phổ biến trong mọi phòng thí nghiệm sinh học trên khắp thế giới”.    Mullis đã đoạt giải Nobel Hóa học vào năm 1993 vì đã phát minh ra phản ứng chuỗi polymerase (polymerase chain reaction), hay còn gọi là PCR. Ba ký tự viết tắt PCR gần đây đã trở nên quen thuộc với cộng đồng khi nó là cơ sở của các xét nghiệm nhằm phát hiện virus SARS-CoV-2. Nhưng đó chỉ là một trong những ứng dụng mới nhất của PCR. Kể từ khi PCR xuất hiện, các nhà hóa học đã sử dụng nó trong nhiều nhiệm vụ khác nhau – từ dự án giải mã bộ gene người cho đến việc phục hồi các rạn san hô.    “Nếu bạn đang tiến hành bất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến DNA, nhiều khả năng bạn sẽ phải dùng đến phương pháp xét nghiệm PCR”, Eric Green, nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Quốc gia về Bộ gene Người (NHGRI), cho biết.    Sự khởi đầu của PCR    Trước khi có PCR, quá trình nghiên cứu DNA rất khó khăn. Vô số thông tin di truyền được lưu giữ trong các phân tử DNA và việc cô lập chính xác một đoạn gene nhỏ không hề đơn giản. Ngay cả khi các nhà khoa học có thể cô lập một số đoạn DNA cụ thể, số lượng vật liệu di truyền thường quá nhỏ để dùng cho các thí nghiệm.    Để giải quyết vấn đề trên, công nghệ tiên tiến nhất trong những năm 1980 là nhân bản DNA. Trong quá trình này, các nhà khoa học đưa trình tự di truyền mong muốn của họ vào bộ gene của vi khuẩn. Sau đó, vi khuẩn tự phân chia, sao chép cả bản thân chúng và mã di truyền được đưa vào. Đây là một quá trình hiệu quả nhưng tốn nhiều công sức, đó là lý do tại sao kỹ thuật PCR đơn giản hơn và nhanh hơn lại thành công như vậy.    Sau ngày cuối tuần định mệnh trong căn nhà gỗ của mình, Mullis trở lại làm việc tại Tập đoàn Cetus ở Emeryville, California – một trong những công ty công nghệ sinh học đầu tiên trên thế giới. Công việc chính của ông tại Cetus là tạo ra những dải vật liệu di truyền nhỏ để các nhà khoa học khác ở công ty sử dụng trong những thí nghiệm của họ. Vào thời điểm đó, các nhóm nghiên cứu tại Cetus đang tìm kiếm phương pháp mới để sao chép gene và biểu hiện các protein có thể dùng trong lĩnh vực y tế.    Mullis đã chia sẻ ý tưởng về PCR với đồng nghiệp. Quy trình thực hiên có thể tóm tắt như sau: đầu tiên là đun nóng một phân tử DNA để tách chuỗi xoắn kép thành hai sợi đơn và sử dụng mỗi sợi làm khuôn tạo bản sao, giống như cách DNA giải mã và sao chép chính nó bên trong tế bào. Bước tiếp theo là để mẫu nguội. Điều này thông thường sẽ làm cho hai sợi đơn DNA gắn kết với nhau và quay trở lại vị trí ban đầu. Nhưng Mullis có thể ngăn chặn quá trình này bằng các đoạn DNA ngắn [gọi là đoạn mồi] – về bản chất là các đoạn đoạn gene mà ông đang làm việc trong các dự án khác, có thể dễ dàng tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Những vị trí các đoạn mồi gắn vào sợi DNA được nhắm mục tiêu sau đó đóng vai trò như những “địa điểm hạ cánh” cho một loại enzyme đặc biệt gọi là DNA polymerase. Enzyme có nhiệm vụ gắn nucleotide – các khối xây dựng của DNA – vào những vị trí chính xác để tái tạo lại sợi DNA theo nguyên tắc bổ sung.    Nếu bạn bắt đầu chỉ với một phân tử DNA, bạn sẽ có hai bản sao của trình tự đích sau một chu kỳ PCR. Mỗi bản sao mới không bị ràng buộc để tạo thêm mẫu. Chỉ sau 30 chu kỳ, bạn sẽ có hơn một tỷ bản sao – tất cả đều từ một phân tử DNA.    Mullis là nổi tiếng người có những ý tưởng khá lập dị. Nhiều ý tưởng trong số đó thậm chí còn mắc những lỗi cơ bản về mặt sinh học. Vì vậy, các đồng nghiệp của ông ban đầu không nghĩ rằng phương pháp xét nghiệm PCR là khả thi hoặc không quan tâm. Nhưng Mullis vẫn tiếp tục mày mò với ý tưởng của mình, và một năm sau ông đã công bố một số dữ liệu thí nghiệm cho thấy phản ứng chuỗi polymerase thực sự hoạt động. Điều này đã thu hút sự chú ý của một số lãnh đạo trong công ty Cetus, đặc biệt là nhà hóa sinh Thomas White – người từng là bạn thân của Mullis khi học tại trường Đại học California, Berkeley (Mỹ).    Khai phá tiềm năng của PCR    Cuối năm 1984, công ty Cetus đã cử thêm các nhà khoa học thực nghiệm – bao gồm Stephen Scharf, Fred Faloona và Randall Saiki – nhằm hỗ trợ Mullis hoàn thiện kỹ thuật PCR. Cuối cùng, họ đã có đủ dữ liệu để tuyên bố PCR thành công. Kết quả nghiên cứu của Mullis được công bố lần đầu tiên trên tạp chí Methods in Enzymology vào năm 1987.    Không lâu sau, Mullis rời công ty Cetus do cảm thấy bị tổn thương khi ông không phải là tác giả thứ nhất (first author) trong bài báo đăng trên tạp chí khoa học uy tín Science. Trước khi ông rời đi, Cetus đã trả cho ông một vài tháng lương và 10.000USD tiền thưởng, số tiền lớn nhất mà công ty này từng tặng cho một nhà khoa học cho một phát minh. Cetus giữ bản quyền đối với công nghệ PCR, và từ đó trở đi đóng góp của Mullis cho sự phát triển của PCR chủ yếu là phổ biến nó thông qua các buổi nói chuyện hoặc tư vấn.    Đến cuối những năm 1980, PCR trở nên phổ biến trong cộng đồng khoa học. Các máy PCR với chu kỳ nhiệt tự động trở thành tiêu chuẩn trong các phòng thí nghiệm di truyền học trên toàn cầu. Năm 1991, Cetus đã bán bản quyền PCR cho hãng chăm sóc sức khỏe Roche với giá 300 triệu USD.    Kể từ đó, việc sử dụng PCR tăng lên theo cấp số nhân với những điều chỉnh cụ thể cho các ứng dụng khác nhau bao gồm: chẩn đoán y tế, pháp y, an toàn thực phẩm, phát triển cây trồng, thậm chí tìm kiếm nguồn gốc của loài người.    Công Phạm     Author                .        
__label__tiasang Kazakhstan vay tiền để cứu biển Aral      Chính phủ Kazakhstan đã có được khoản vay nhiều triệu đôla từ Ngân hàng Thế giới để cứu biển Aral – một thảm họa môi trường nhân tạo tồi tệ nhất trong lịch sử.    Số tiền sẽ được dùng để xúc tiến giai đoạn hai của dự án nhằm cứu vùng phía bắc của biển nội địa này.  Thảm họa biển Aral được xem là thảm họa sinh thái nhân tạo lớn nhất trên hành tinh, bắt đầu từ thời kỳ Xô Viết, khi mà nước từ những dòng sông được dẫn về tưới tiêu cho các cánh đồng bông ở Uzbekistan và Kazakhstan, thay vì đổ vào biển Aral.  Thiếu nước, biển bắt đầu chết dần. Sa mạc trải rộng, biến đổi khí hậu phá hủy nền kinh tế và hệ sinh thái, tiêu diệt các loài và buộc hàng nghìn người phải di cư.  Vào giữa những năm 1990, chỉ 1/4 vùng biển Aral còn sót lại, nhưng gần đây, nhờ khoản vay 68 triệu đôla của Ngân hàng Thế giới, chính phủ Kazakhstan đã xây một con đập khổng lồ để phân tách mãi mãi hai phần tương đối riêng biệt của biển này: vùng phía bắc nước còn tương đối sâu và vùng phía nam đã cạn trơ gần đến đáy.  Con đập này không giải quyết hoàn toàn vấn đề. Ở phía bờ Uzbekistan, vùng phía nam của biển vẫn đang cạn dần, nhưng ở phía Kazakhstan, các quan chức cho biết 40% biển đã phục hồi trở lại.  Giờ đây, với khoản vay mới 126 triệu đôla, họ dự kiến xây một con đập thứ 2 với hy vọng sẽ mang nước trở lại cảng Heralsk đang bị sa mạc hóa.  Cộng đồng địa phương đã cảm nhận được thay đổi này. Các ngư dân đã trở lại thuyền của họ, mây và mưa đã xuất hiện và nhiều người cho biết tương lai không còn vô vọng nữa.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch B cho bài toán năng lượng      Thế kế hoạch A là gì? Đó là một cuộc chạy marathon trong nhiều năm, dựa trên các công nghệ hiện có để khai thác và sử dụng khôn ngoan năng lượng, nhằm kiềm chế lượng carbon dioxide thải ra trong bầu khí quyển mà vẫn đảm bảo sự phát triển kinh tế.  Tại sao phải chuyển sang kế hoạch B? Khoảng 850 nhà máy phát điện đốt than đang được Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến xây dựng – những nước này đều không ký Nghị định thư Kyoto. Đến năm 2012, lượng khí thải từ các nhà máy này sẽ gấp năm lần chỉ tiêu cắt giảm khí thải của Nghị định thư Kyoto.. Sớm hay muộn thì thế giới cũng phải cần đến kế hoạch B. Kế hoạch này đòi hỏi việc phát triển các công nghệ mới để khai thác và cung cấp từ 10 đến 30 terawatt (TW-nghìn tỷ watt) điện mà không thải ra tấn carbon dioxide nào.  Cụ thể là xây dựng cái gì? Thực ra chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn đối với khá nhiều công nghệ mới triển vọng. Nhưng chưa có cái nào là chắc chắn cả. Tất cả vẫn còn là những nguyên mẫu và ý tưởng. Nhưng chúng ta vẫn có cơ sở để hy vọng rằng, từ những ý tưởng này sẽ có một hệ thống khai thác năng lượng mới ra đời.    NĂNG LƯỢNG NHIỆT HẠCH  Năng lượng nhiệt hạch hay ở chỗ: nhiên liệu vô cùng dồi dào, không phát thải khí nhà kính, đồng thời sự cố và các chất thải của nó được hy vọng là không quá nguy hại như các nhà máy điện năng lượng phân hạch.             Thiết kế dạng trực thăng của Sky WindPower        “Một thập kỷ về trước, một số nhà khoa học vẫn nghi ngờ về tính khả thi của việc tổng hợp nhiệt hạch có điều khiển,” David E. Baldwin, trưởng nhóm điều hành DIII-D (lò phản ứng nhiệt hạch lớn nhất nước Mỹ) nói. Nhưng ngay từ 20 năm trước, người ta đã đạt được sự tiến bộ vượt bậc với thiết bị Tokamak, sử dụng những nam châm điện khổng lồ để giam nhốt các khí nhiên liệu dạng plasma và đốt nóng chúng lên đến 100 triệu độ C. “Bây giờ, chúng ta biết rằng, tổng hợp nhiệt hạch sẽ có thể thành công”, Baldwin nói. “Vấn đề là ở chỗ, công nghệ này liệu có sớm được thương mại hóa hay không. Ngay cả với một kế hoạch cấp tốc, tôi nghĩ rằng chúng ta phải cần từ 25 đến 30 năm để phát triển một thiết kế có thể thương mại hóa được”.             Khí cầu phát điện        Các nhà lãnh đạo quốc gia cũng coi tổng hợp hạt nhân là một công nghệ còn xa. Gần 20 năm sau khi được đề xuất, Lò Phản ứng Thí nghiệm Nhiệt hạch Quốc tế (ITER) bây giờ chỉ mới gần như được phê chuẩn. Nếu việc xây dựng một lò phản ứng nhiệt hạch trị giá 10 tỷ đô ở miền Nam nước Pháp được bắt đầu trong năm nay thì phải đến 2016 nó mới đi vào hoạt động. Một số chuyên gia dự đoán rằng, sau 20-30 năm thí nghiệm, ITER sẽ cần được sửa lại các thiết kế cho phù hợp với một nhà máy điện.  TẦM CAO MỚI CHO NĂNG LƯỢNG GIÓ.              Thang gió phát điện        Khoảng 5% ánh sáng mặt trời đi vào khí quyển chuyển hóa thành năng lượng gió. Nhưng khoảng hai phần ba năng lượng gió trên hành tinh lại nằm ở phía trên tầng đối lưu, nơi có nhiều gió mạnh. Và đương nhiên là chúng ta rất thèm muốn loại năng lượng gió tầm cao này. Trên các bầu trời ở nhiều nước như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản, người ta đã chuẩn bị để khai thác nó. Công suất gió ở tầm cao mới có thể đạt tới 5000, thậm chí 10.000 W trên mỗi mét vuông. Và mọi người sẽ còn quyền mơ rằng: “gió trời cứ thổi, điện ta cứ xài”.  Trở về thực tại, để gió có thể đem lại hàng nghìn tỷ watt điện cho năng lượng toàn cầu, các nhà nghiên cứu nhất thiết phải phát triển những công nghệ mới nhằm chinh phục được độ cao mới. Hiện giờ thì chỉ mới có ba thiết kế đáng chú ý.           Thiết kế thứ nhất là của công ty Magenn Power ở Ottawa (Ontario), đang được dự định tung ra thị trường. Đó là một kiểu khí cầu heli to bằng cái xe bus, được giữ lơ lửng ở độ cao 122m so với mặt đất. Nó ứng dụng hiệu ứng Magnus để vận hành hệ thống phát điện và có thể cung cấp một công suất khoảng 4 KW. Công ty này còn có tham vọng đến năm 2010 sẽ chế tạo một chiếc khí cầu phát điện khổng lồ, to bằng cả sân vận động, có công suất 1,6 MW.  “Những cối xay gió trên không” sẽ làm đỡ tốn diện tích mặt đất hơn, nhưng những người vận hành chúng phải thuyết phục các cơ quan hàng không quốc gia hạn chế các đường bay ở vùng lân cận. Và cho đến khi những cỗ máy lơ lửng này được phổ biến, vẫn không ai có đảm bảo được liệu chúng có chịu nổi những biến động khí quyển phức tạp như gió bão và sét đánh hay không. Các chi phí để duy trì và bảo dưỡng chúng cũng có thể sẽ là một vấn đề nghiêm trọng.  TRẠM ĐIỆN MẶT TRỜI TRONG KHÔNG GIAN           Thiết bị khai thác năng lượng sóng để sản xuất điện do công ty Ocean Power Delivery chế tạo, có thể chịu đựng được cả những cơn bão mạnh.        Pin mặt trời nếu đặt trong không gian vũ trụ thì sẽ lấy được nhiều năng lượng mặt trời hơn, vì năng lượng này sẽ không bị ăn bớt bởi bầu khí quyển Trái đất. Hơn nữa, nếu bố trí khéo léo thì chúng sẽ luôn được mặt trời chiếu sáng và không phải chịu chu kỳ đêm ngày như ở dưới mặt đất.    Peter Glaser đã từng đề xuất hồi năm 1968 rằng các vệ tinh có kích cỡ bằng cả thành phố có thể thu năng lượng mặt trời trong không gian và truyền nó về trái đất dưới dạng vi sóng. Khi ấy ý tưởng này đã bị coi là quá xa xôi. Tuy nhiên, sau khủng hoảng giá dầu thập kỷ 1970, các kỹ sư NASA đã xem xét ý tưởng đó kỹ hơn. Công nghệ này được coi là có vẻ ngon ăn cho đến năm 1979, khi người ta ước đoán rằng, chi phí cho một hệ thống đầu tiên như vậy là 305 tỷ đô! Hết hy vọng!           Thiết bị khai thác năng lượng sóng để sản xuất điện do công ty Ocean Power Delivery chế tạo, có thể chịu đựng được cả những cơn bão mạnh.        Thực ra NASA đã từng chi tiền cho một nghiên cứu nhỏ trong giai đoạn 1995-2003 nhằm đánh giá các thiết kế SSP. Một thiết kế SSP đã tỏ ra có hiệu quả cao khi sử dụng các pin mặt trời dạng màng mỏng, các dây dẫn bằng vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao và thiết bị laser hồng ngoại (thay cho máy phát vi sóng) để truyền năng lượng về mặt đất. Điều quan trọng là thiết kế này cho phép làm giảm khối lượng của hệ thống và từ đó giảm chi phí để phóng nó lên quỹ đạo.       Trong những thập kỷ tới, với triển vọng sáng sủa của ngành hàng không vũ trụ, các chuyên gia dự đoán rằng, chi phí để phóng mỗi kg của hệ thống SSP sẽ giảm từ hơn 10.000 đô xuống còn vài trăm đô.  PIN MẶT TRỜI CÔNG NGHỆ NANO  Loại pin mặt trời silicon thế hệ thứ hai tinh xảo nhất (và cũng rất đắt) hiện nay mới chỉ đạt được hiệu suất 22%. Giá thành cao và hiệu suất thấp khiến pin mặt trời trở thành một giải pháp năng lượng xa xỉ. Điều này từ lâu vẫn làm các nhà công nghệ rất khó chịu. Họ quyết tâm phát triển các loại pin mới, dựa trên các cấu trúc chấm lượng tử, có hiệu suất gấp đôi pin mặt trời truyền thống. Họ cũng đi săn tìm những vật liệu thân thiện với môi trường hơn so với các tinh thể nano chì, selen và cadmi. Mặc dù mang tiếng là “công nghệ cao” nhưng giá thành của các vật liệu cấu trúc chấm lượng tử lại không phải là quá đắt.  Các hạt nano cũng đem lại triển vọng giúp pin mặt trời cạnh tranh hơn về giá. Công ty Nanosolar gần San Francisco đang xây dựng một nhà máy sản xuất 200 triệu pin mỗi năm, sử dụng công nghệ phun các hạt nano đa thành phần trên màng mỏng. Họ tuyên bố là sẽ giảm được giá thành pin mặt trời xuống còn nửa đô mỗi watt.       MẠNG NĂNG LƯỢNG TOÀN HÀNH TINH             Mô hình nhà kính có hồ (giống như Sinh cầu 2), dùng để nuôi trồng các loại vi sinh vật, cây trồng hoặc tảo mới, phục vụ sản xuất hydro, hấp thụ carbon dioxide hoặc biến sản phẩm nông nghiệp thành nhiên liệu.          Điều này làm chúng ta nhớ lại “giấc mơ điên rồ” của Nikola Tesla từ cách đây khoảng một thế kỷ [Xem Nhà phát minh của những giấc mơ – Tia Sáng số 14 ra ngày 20/7/2006]. Nhưng bây giờ, muốn thoát khỏi cơn sốt năng lượng triền miền thì chúng ta có lẽ cũng phải nghĩ đến những chuyện “điên” như Tesla.  “Một vấn đề cơ bản là những nguồn năng lượng tái sinh phải đến được với mọi người ở khắp nơi trên thế giới. Một giải pháp là sử dụng mạng lưới các dây điện siêu dẫn trải ra khắp toàn cầu. Dây siêu dẫn sẽ không gây hao phí điện năng trên đường truyền”.  Từ tháng 7/2006, nhóm BOC ở New Jersy đã thử nghiệm lắp đặt 350m dây siêu dẫn làm lạnh bằng nitơ lỏng vào mạng điện ở Albani. Đường dây này có thể mang được công suất lên tới 48 MW.  Một siêu mạng lưới cung cấp điện là khả thi, thử nghiệm của chúng tôi đã chứng minh điều đó”. Ed Garcia, Phó Chủ tịch BOC nói.  Với một siêu mạng điện xuyên lục địa, các dàn pin mặt trời ở Úc và các cánh đông gió ở Siberia có thể đem đến năng lượng thắp sáng nước Mỹ và sưởi ấm cho châu Âu. Nhưng ai cũng phải thở dài khi đứng trước một thực tế là, việc xây dựng một mạng điện như thế ngốn tới hàng nghìn tỷ đô la.  SÓNG BIỂN, THUỶ TRIỀU  Qua những thập kỷ 80 và 90, loại năng lượng này chỉ mới có hai ví dụ thành công về thương mại: nhà máy điện thủy triều 240 MW ở Pháp và trạm thủy triều 20 MW ở Nova Scotia. Trung Quốc đang chuẩn bị xây một cơ sở 40 KW ở Daishan. Sáu tuabin 36 KW đang chuẩn bị quay ở khu vực Sông Đông thành phố New York.  Quy mô nhất là ở Anh, hồi tháng 7/2006, chính phủ Anh khởi động một nghiên cứu về tính khả thi của một con đập 16 km ở cửa sông Severn, nơi có thủy triều lớn hàng thứ hai trên thế giới. Công trình này sẽ tốn khoảng 25 tỷ đô và đem lại công suất 8,6 tỷ watt. Những người trong cuộc bảo rằng, nó sẽ đi vào vận hành sau một thế kỷ nữa. Các nhà phân tích cho rằng, năng lượng đại dương ở Anh có thể cung cấp 1/5 điện năng quốc gia và bù đắp được sự cắt giảm theo Nghị định thư Kyoto  Các nhà môi trường thì vẫn lo ngại rằng, con đập có thể làm hỏng hệ sinh thái cửa sông.”Hệ thống tuabin dưới biển của chúng tôi hay hơn một con đập,” Peter Fraenkel ở công ty Marine Current Turbines phát biểu. Hệ thống đó ở bờ biển Anh có thể cung cấp điện tương đương đập Severn nhưng tốn ít tiền hơn.  Năng lượng sóng thất thường hơn thủy triều nhưng lại phổ biến hơn. Gần đây, bốn công ty đã vừa hoàn tất những thiết kế thử nghiệm khai thác năng lượng sóng của họ. Một trong số đó, Ocean Power Delivery ở bờ biển Bồ Đào Nha đã chuẩn bị đem lại 2,25 MW điện.    VI SINH VẬT CŨNG LÀ MỘT GIẢI PHÁP  Với công nghệ gene, các vi sinh vật mới có thể được tạo ra để tổng hợp nhiên liệu. “Chúng tôi nghĩ rằng, lĩnh vực này có nhiều khả năng sẽ thay thế công nghiệp hóa dầu trong một thập kỷ mới”. Nhà sinh học nổi tiếng thế giới J. Craig Venter nói. Venter cũng hình dung rằng, những vi sinh vật mới có thể hấp thụ carbon dioxide thải ra từ ống khói của một nhà máy điện và tổng hợp thành khí tự nhiên dùng để đốt cho nồi hơi. “Đã có sẵn hàng ngàn, thậm chí hàng triệu loại cơ thể hữu cơ trên hành tinh này biết làm việc đó”, Venter nói. Mặc dù không loài nào trong số đó có thể phù hợp với cuộc sống trong nhà máy điện nhưng các nhà nghiên cứu có thể mượn hệ gene của chúng cho những sáng tạo mới. “Chúng tôi đang thiết kế những hệ sinh học có khả năng sản xuất hydro trực tiếp từ ánh sáng mặt trời, sử dụng hiện tượng quang hợp”.  Công ty GreenFuel ở Cambridge đã thiết lập những cánh đồng tảo ở các nhà máy điện để chuyển 40% lượng khí thải CO2 thành dạng thô của nhiên liệu sinh học. Họ tuyên bố rằng, một cánh đồng tảo lớn gần một nhà máy điện 1 GW có thể sản xuất 50 triệu gallon cồn mỗi năm.      Trung Trung (theo Scientific American)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch của Bush không có gì mới      Hôm 31 tháng 5, tổng thống George Bush đã đưa ra một “khung chương trình” mới cho các nỗ lực quốc tế nhằm đối phó với sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Thoạt tiên, kế hoạch này nghe có vẻ giống như một sự chuyển biến sâu sắc về quan điểm của Nhà Trắng. Nhưng khi nghĩ đi nghĩ lại những lời của ông Bush, các nhà phân tích đã kết luận rằng: ông ấy hầu như chẳng nói được điều gì mới.    Trong buổi nói chuyện ở Washington DC với Global Leadership Campain (đây là một nhóm vận động hành lang để các chính phủ chi nhiều tiền hơn cho các chương trình quốc tế), ông Bush đã kêu gọi các nước có lượng khí thải lớn trên thế giới cần phải “đồng tâm hiệp lực” để đến năm 2008 sẽ cùng tiến tới một mục tiêu toàn cầu dài hạn nhằm cắt giảm sự phát thải khí nhà kính. Ý tưởng đó của Bush đã tạo ra một sự phấn khích lớn trong dư luận.  Nhưng sau đó, James Connaughton, cố vấn môi trường của tổng thống đã nói rằng, Bush mới chỉ đề cập đến nguyện vọng cho “một mục tiêu dài hạn” chứ không phải một cam kết mang tính ràng buộc. “Vấn đề là cần phải có thêm những cơ chế để ràng buộc hóa kế hoạch của Bush,” ông nói.  “Vẫn cần phải chờ xem liệu sự khởi xướng này có bất cứ ý nghĩa nào không”, Bert Metz, một nhà khí hậu học ở Cơ quan Đánh giá Môi trường Hà Lan cũng tỏ ra thận trọng. Việc ổn định hóa lượng khí nhà kính trong khí quyển đòi hỏi “sự hợp tác quốc tế thật khẩn trương và thật quyết tâm. Điều đó có nghĩa là nhiệm vụ cần phải được thực hiện ngay chứ không phải chỉ ngồi bàn về kế hoạch trong năm tới.  Nhiều nhà phân tích đã coi đề xuất của Bush chỉ như một chiến thuật nhằm giảm nhẹ những áp lực liên quan đến vấn đề môi trường trong hội nghị G8. Alden Meyer, một chuyên gia khí hậu ở Massachusetts nói thêm rằng “động thái của Bush có thể sẽ tung hỏa mù nhằm đánh lạc hướng” những cuộc đàm phán của Liên hợp Quốc (UN) về thay đổi khí hậu dự định sẽ diễn ra ở Bali vào tháng 12 tới.      Tuy nhiên, cũng có một số người cho rằng, kế hoạch của Bush có thể có ích chứ không phải là một đòn “chọc gậy bánh xe”. “Tôi nghĩ rằng, dù sao đó cũng là một điều tốt, cổ vũ cho các chương trình hành động sắp tới của UN”, Jeff Holmstead, một cựu quan chức môi trường trong chính quyền Bush nói.  Stephen Schneider, một nhà khí hậu học ở Đại học Stanford nghĩ rằng, một kế hoạch “đánh lẻ” theo kiểu của Bush mà không phương hại gì đến chương trình UN thì về lý thuyết là có thể có ích. Nhưng ông cũng nói thêm rằng, hồi tháng 7 năm 2005, khi tham gia vào nhóm AP6 (Asia-Pacific Partnership on Clean Development and Climate), một kế hoạch riêng của Bush (nhấn mạnh chuyện phát triển công nghệ để đối phó với thay đổi khí hậu) đã bị xem như một thất bại. “Kế hoạch đó làm tăng tiền chi cho nghiên cứu 100 lần nhưng không hề làm giảm được tốc độ thải khí nhà kính”.  Nhật Bản và Úc, 2 trong số 6 thành viên của AP6 đã hoan nghênh kế hoạch của Bush. Thủ tướng Nhật Shinzo Abe nói rằng, cuối cùng thì Nhà Trắng cũng “bắt đầu quan tâm nghiêm túc đến sự nóng lên toàn cầu”. Mới đây, Abe đã vừa cho triển khai một kế hoạch của Nhật Bản hướng tới việc giảm một nửa sự phát thải khí nhà kính vào 2050.  Trung Quốc, một thành viên khác của AP6 và là “cái ống khói” xả carbon dioxide lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) cũng vừa tuyên bố kế hoạch hành động trước sự thay đổi khí hậu. Nước này dự định tập trung vào cải thiện hệ thống quản lý môi trường và nông nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Giống như Mỹ, Trung Quốc cũng chọn giải pháp phát triển các nguồn năng lượng sạch thay thế mà không gây tổn hại đến sự phát triển kinh tế. Trung Quốc chú ý rằng, sự phát thải tính trên đầu người của họ là thấp hơn so với trung bình thế giới và thấp hơn nhiều so với Mỹ, vì thế Mỹ nên là nước đầu tiên cần giảm lượng khí thải.  Nature Vol.447, June 2007           Author                Quản trị        
__label__tiasang Kế hoạch lưu trữ CO2 dưới lòng biển      Một nhóm các nhà khoa học của ĐH Havard, Viện Công nghệ Massachusetts và ĐH Columbia vừa đưa ra phương án lưu trữ khí CO2 dưới đáy biển nhằm làm giảm việc nóng dần lên của trái đất. Theo họ đây là kho chứa CO2 vô tận bởi vì toàn bộ lượng khí CO2 do Mỹ thải ra hàng năm có thể được chứa trong chỉ trong 80 km2 vuông lòng biển.    Để thực hiện điều này cần phải bơm khí CO2 xuống độ sâu 3000m. Khi đó toàn bộ lượng khí CO2 sẽ rơi vào bẫy các trầm tích và đảm bảo vẫn ở chỗ cũ dù có xảy ra những trận động đất kinh hoàng nhất.  Trước đây kế hoạch lưu trữ cacbon dưới đáy biển đã vấp phải nhiều sự chống đối, chủ yếu xoáy vào vấn đề an toàn. Những người phản đối cho rằng nếu không cẩn thận thì việc lưu trữ khí CO2 dưới lòng biển có thể sẽ gây nguy hiểm cho hệ sinh thái biển.  Tuy nhiên ngày nay các nhà khoa học tin rằng với những kỹ thuật hiện đại hiện có, việc này có thể được thực hiện được và đó là một giải pháp hạn chế vấn đề trái đất nóng dần lên.  (Theo BBC)  THANH VI      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kẻ thất bại và kẻ siêu thất bại      Cách đây không lâu, tôi có nhìn thấy Perelman. Khi đang ngồi trong quán café “Chaynikoff” tại Kupchino và ngắm phố qua khung cửa sổ thì thấy ông xuất hiện. Perelman đi vội vã. Người đàn ông dáng cao, xanh xao, đầu hói với bộ râu bay lất phất và chiếc túi nhựa trong tay. Tôi không nhìn rõ những móng tay dài huyền thoại của ông.        Perelman có lí do đạo đức để từ chối huy chương Fields và không nhận số tiền một triệu đô.  Tôi trả tiền, bước vội ra khỏi quán và chỉ kịp nhìn thấy ông phía sau lưng và chiếc áo vét nhàu nhĩ. Perelman bước những bước dài, vượt ngã tư và đột nhiên biến mất như thể con đường nhựa ẩm ướt đã nuốt mất ông, hay ông biến vào ảo ảnh của chính mình.  Không phải ma nhưng Grigory Perelman thực sự đã trở thành nhân vật của Gogol: “Perelman ngu ngốc”. Một trong những nhà toán học thiên tài của đương đại đang bước đi trong khu dân cư của Piter (St. Peterburg-ND) với một tấm áo vét nhàu nát và cái túi nhựa trong tay. Với những người như vậy, tiếng Nga vĩ đại đã tìm cho một từ mới “kẻ thất bại”.      Cả nước nhạo cười – Perelman, đồ ngốc – Thôi đừng cố chấp – Nhận lấy tiền đi (Trích thơ trên mạng Internet về Grigory Perelman)        Perelman phạm hai sai lầm lớn mà cả nước Nga lẫn nhân loại không thể tha thứ. Sai lầm thứ nhất là ông đã chứng minh được giả thuyết Poincaré, bài toán mà các nhà toán học trên thế giới tìm mãi không ra lời giải. Sai lầm thứ hai còn tồi tệ hơn: ông từ chối nhận số tiền một triệu đô la được trao từ quỹ của Mỹ cho người giải được “bài toán thiên niên kỉ”.  Vấn đề không phải là người ta không hiểu và ghét Perelman, không nằm ở chỗ các ống kính truyền hình luôn bám trực ông như đeo bám người tuyết vừa trốn khỏi sở thú, hay việc Masha Gessen, nhà báo có tiếng của giới báo chí tự do Moscow, đã say mê xứng tầm với nền báo chí lá cải Anh trong việc mô tả cái mùi khó ngửi của tấm đệm mà Perelman từng ngủ. Và vấn đề cũng không phải là việc ông đã dùng đôi giày lạc mốt của mình đạp lên đồng tiền – cái giá trị tối thượng của không gian hậu Xô viết.  Vấn đề nằm ở chỗ Grigory Perelman chính là gương mặt đại diện cho số phận của nền khoa học Nga đương đại. Ông đã thành biểu tượng của cả một thế hệ các nhà khoa học trưởng thành từ nhà trường Xô viết, những người mà sau đó phương Tây tìm cách thu hút, mời chào nhưng họ quyết trung thành với Tổ quốc. Nhưng ngược lại, Tổ quốc đã không quan tâm đến họ, những đứa con của mình, cả tài năng lẫn sự trung thành.  Đầu những năm 90, nhà toán học trẻ Perelman đã từng sống một số năm ở Mỹ, nơi mà tài năng của ông được đánh giá tại nhiều trường đại học. Thế nhưng Perelman đã từ chối mọi lời mời và quay về St. Peterburg. Và ở đó ông đã tạo nên kì tích. Năm 2002 ông công bố chứng minh giả thuyết Poincaré trên trang web khoa học tương đối khiêm tốn http://www.archive.org .  Nhưng câu chuyện lại tiếp tục chính tại phương Tây. Năm 2004, các đồng nghiệp người Mỹ đã xác nhận chứng minh của ông là đúng đắn và đầy đủ. Ông chính là người đã giải quyết thành công “bài toán thiên niên kỉ”. Tuy nhiên, không hiểu vì lí do gì mà giới cầm trịch của làng toán học thế giới không vội chính thức chúc mừng người chiến thắng. Ngược lại, tại Mỹ xuất hiện một nhóm các nhà toán học Trung-Mỹ trơ trẽn tự cho mình chứ không phải Perelman mới chính là người tạo ra bước quyết định trong việc chứng minh giả thuyết Poincaré. Công bằng mà nói, nhiều nhà toán học Trung Quốc và Mỹ khác đã bảo vệ Perelman và âm mưu đó bị sụp đổ. Nhưng chỉ đến năm 2006, người ta mới trao cho ông huy chương Fields, giải thưởng toán học cao nhất trên thế giới. Và để trao tặng ông số tiền một triệu đô như đã hứa cho người giải được bài toán Poincaré, người Mỹ mất thêm đúng bốn năm. Trong câu chuyện này, ta dễ cảm nhận được sự thiếu tôn trọng.  Perelman có lí do đạo đức để từ chối huy chương và không nhận số tiền một triệu đô.  Thế còn Tổ quốc đã làm gì cho Perelman? Trong những năm đó ai, trong số những nhà khoa học Nga có uy tín đã đứng ra bảo vệ nhà toán học thiên tài? Nước Nga đã trao tặng ông giải thưởng gì? Ông có được mời đến điện Kremli để nhận lời cám ơn vì chiến thắng huy hoàng mà ông đã đem lại cho Tổ quốc? Và tại sao Viện Hàn lâm Khoa học Nga phải mất đến chín năm mới đưa ra được quyết định kết nạp ông vào đội ngũ ưu tú của mình?  Chính quyền của các bạn, xã hội của các bạn lúc nào cũng thích phàn nàn là phương Tây luôn tìm cách lôi kéo và ăn cắp những cái đầu thông minh nhất của nước Nga. Nhưng nước Nga đã làm gì cho những người ở lại?  Số người ở lại không ít. Ví dụ như Sergey Ruksin, nhà toán học và nhà sư phạm, người đã đào tạo cậu bé Perelman tại câu lạc bộ của mình. Ruksin là nhà giáo nổi tiếng thế giới. Ngoài Perelman, học trò của ông còn là Stanislav Smirnov – người cũng được huy chương Fields, Alexander Khalifman – nhà vô địch cờ vua thế giới và hơn 80 người đoạt huy chương Olympic toán học quốc tế (trong số đó có hơn 40 huy chương vàng),…  Còn Tổ quốc đã đánh giá thế nào về những đóng góp của ông? Ruksin, tiến sỹ khoa học Toán học, nhận được lương tháng 14.000 rúp (ND: 14.000 rúp tương đương với 450USD, thấp hơn nhiều lần so với lương của nhân viên bình thường làm tại doanh nghiệp). Nhưng không buồn, ông có thể kiếm tiền ở những nơi khác. Ngoài ra ông còn dẫn dắt câu lạc bộ huyền thoại của mình trên cơ sở thiện nguyện, công ích.  Vẫn như 30 năm trước đây, hai lần mỗi tuần, mỗi lần bốn tiếng, Ruksin và những cộng sự trẻ nhiệt huyết của mình tham gia giảng dạy cho các học sinh tài năng của thành phố Piter. Có hơn 200 học sinh theo học tại trung tâm toán học của ông. Nhà nước không ngăn cản, thậm chí đôi khi còn giúp đỡ, cho học sinh phiếu đi trại hè. Nhưng nói chung là nhà nước không quan tâm đến họ. Ruksin không hề được nhận giải thưởng hay huy chương nào. Và tất nhiên, sau năm năm kể từ ngày trao giải Fields cho Perelman, cả Tổng thống cũng như Thủ tướng đều không thể dành chút thời gian để chúc mừng người thầy hay trung tâm toán học của ông với những thành tựu kiệt xuất của các học trò.  Mà câu lạc bộ hoạt động miễn phí, theo phương pháp Xô viết cổ điển của Ruksin. Phương pháp mà ông tuyên bố là dựa trên những giá trị nhân văn về giáo dục của Humboldt. Học trò của ông giải các định lý từ các lĩnh vực toán học khác nhau. Ngoài ra Ruksin còn gợi tạo sự hứng thú của trẻ đối với các môn sinh học, thơ ca, âm nhạc và lịch sử. Ông dạy cho chúng tìm kiếm các mối quan hệ từ các sự kiện, hiện tượng và ý tưởng khác nhau.  Trẻ em trong câu lạc bộ của ông thông minh và say mê như chính thời Perelman theo học. Ruksin không loại trừ là trong số họ sẽ xuất hiện một Perelman mới. Nhưng ông nghi ngờ là mình và mọi người vẫn sẽ trung thành với Tổ quốc như trước. “Giới trẻ hoặc sẽ bỏ đi hoặc sẽ chuyển sang kinh doanh”.  Điều này dễ hiểu. Liệu có thể mong đợi họ làm hết mình trong trường đại học với tư cách là nghiên cứu sinh, phó giáo sư hay giáo sư với lương tháng không bằng số tiền hối lộ mà một cảnh sát giao thông Moscow kiếm được trong một đêm? Đừng mong đợi ở thế hệ trẻ sự khắc khổ của Perelman hay sự nhiệt tình của Ruksin. Ở nước ngoài, họ được chào đón tại những bộ môn danh giá của các trường đại học Mỹ, Âu và Đông Nam Á, hay tại các trung tâm nghiên cứu của Microsoft và Apple. Còn trên quê hương mình, họ chỉ nhận được tiếng cười khinh bỉ: “Xem kìa, đồ thất bại!”  Ở nước Nga, mỗi thằng ngốc đều có thể mua được tấm bằng đại học hay danh hiệu phó tiến sĩ tại các đường hầm qua đường. Phần lớn các chỗ làm thơm ngon được dành không phải cho những người tài năng mà cho kẻ đục khoét. Chính phủ Nga có tiền để mua tàu chiến Pháp, để xây những thành phố nano sáng tạo và chào mời người Nga quay về, những người đã trở thành ngôi sao khoa học thế giới. Nhưng họ thậm chí không thèm thử kiếm tiền để trả cho những nhà khoa học trẻ của mình một mức lương có tính cạnh tranh.  Hãy thử tưởng tượng một câu lạc bộ bóng đá mà ban huấn luyện đã đào tạo hết cầu thủ siêu tài này đến cầu thủ siêu tài khác nhưng lãnh đạo không thích phong cách lỗi thời của các huấn luyện viên trẻ và không coi trọng học trò của họ. Ban lãnh đạo tiếc rẻ mà không đưa ra những hợp đồng xứng đáng với các cầu thủ. Những cầu thủ này bỏ sang Anh, Tây Ban Nha. Và khi thành siêu sao, câu lạc bộ ruột thịt của chính họ mới sẵn sàng chi số tiền khổng lồ để mời họ quay lại. Đây chính là chính sách khoa học-nhân sự theo kiểu Nga. Nhưng điều buồn nhất là người huấn luyện viên cuối cùng cũng sắp thôi việc.  Còn Perelman? Nghe nói ông là người cực đoan về đạo đức, không công nhận giải thưởng từ những bàn tay không sạch. Nhưng ít ra là ông làm những gì mà ông muốn. Một cách nhất quán. Như vậy, không phải Perelman là người thất bại, mà có vẻ như đất nước mới chính là kẻ thất bại, siêu thất bại.  Người dịch: Boristo Nguyễn    Author                Stefan Scholl, MK        
__label__tiasang Kể từ năm 1700, Trái đất mất 1/5 vùng đất ngập nước      Giống như nhiều môi trường tự nhiên trên hành tinh, các vùng đất ngập nước đã bị hủy hoại trong suốt 300 năm qua. Đầm lầy cây bụi trên đất than bùn dày (bog), đầm lầy cỏ trên đất than bùn mỏng (fen), đầm lầy cỏ (marsh) và đầm lầy cây bụi (swamp) đã biến mất khỏi bản đồ và ký ức, bị hút cạn, đào xới và xây dựng trên đó.       Nằm gần nguồn nước và thường bằng phẳng, các vùng đất ngập nước luôn là nơi đầu tiên được nhắm đến để xây dựng các thị trấn và trang trại. Bằng cách rút cạn những nơi này, con người đã tạo ra một số vùng đất nông nghiệp màu mỡ nhất hiện nay.  Tuy nhiên, các vùng đất ngập nước cũng cung cấp những giải pháp tự nhiên tốt nhất cho các cuộc khủng hoảng hiện đại. Chúng có thể làm sạch nước bằng cách loại bỏ và lọc các chất ô nhiễm, hạn chế lũ lụt, là nơi ở của động vật hoang dã, cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, cũng như lưu trữ lượng carbon đang làm biến đổi khí hậu.  Một nghiên cứu mới công bố trên Nature đã tìm hiểu sự biến mất của các vùng đất ngập nước trên Trái đất kể từ năm 1700. Trước đây, người ta cho rằng khoảng 50% các vùng đất ngập nước đã bị xóa sổ. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy thực tế là gần 21% – có diện tích gần bằng Ấn Độ.  Đây là một trong những nghiên cứu công phu nhất về các vùng đất ngập nước. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các tài liệu lịch sử và bản đồ mới nhất để theo dõi việc sử dụng đất trên toàn cầu.  Dù vậy, bài báo nhấn mạnh có một số rào cản văn hóa và khoa học trong nghiên cứu và quản lý đất ngập nước. Chẳng hạn, việc xác định đâu là vùng đất ngập nước cũng khó hơn so với các môi trường sống khác.  Đặc trưng xác định một vùng đất ngập nước – ẩm ướt – không phải lúc nào cũng dễ xác định ở từng vùng và từng mùa. Mức độ ẩm ướt bao nhiêu là phù hợp? Một số hệ thống phân loại liệt kê các rạn san hô là vùng đất ngập nước, trong khi một số khác cho rằng nó quá ẩm ướt. Và trong nhiều thế kỷ, vùng đất ngập nước bị coi là đất hoang không có giá trị về mặt kinh tế, có thể chuyển đổi thành đất trồng trọt. Do vậy, các tài liệu về hệ sinh thái nơi đây thường khá sơ sài.  Báo cáo cho thấy tình trạng mất mát các vùng đất ngập nước trên toàn cầu diễn ra không đồng đều. Một số khu vực mất mát nhiều hơn mức trung bình. Khoảng một nửa vùng đất ngập nước ở châu Âu đã biến mất, trong đó Vương quốc Anh mất đi 75% so với diện tích ban đầu.  Mỹ, Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á cũng mất 50% diện tích đất ngập nước. Sự khác biệt [về tỉ lệ mất mát] giữa các khu vực đã dẫn đến ý nghĩ rằng một nửa vùng đất ngập nước trên toàn cầu đã biến mất.  Sự chênh lệch cũng phần nào mang đến hy vọng, cho thấy vẫn còn nhiều vùng đất ngập nước chưa bị phá hủy – đặc biệt là vùng đất than bùn rộng lớn phía Bắc Siberia và Canada.  Một điều may mắn là các quốc gia và tổ chức quốc tế bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của các vùng đất ngập nước ở địa phương và toàn cầu, với một số chính sách buộc các nhà phát triển dự án phải khôi phục bất kì môi trường sống nào mà họ phá hủy.  Nhiều dự án bảo tồn các vùng đất ngập nước đang được triển khai trên khắp thế giới với mức chi phí khổng lồ. Kế hoạch khôi phục Florida Everglades – một mạng lưới độc đáo gồm các vùng đất ngập nước cận nhiệt đới, đòi hỏi kinh phí hơn 10 tỷ USD và kéo dài trong 35 năm. Đây là dự án phục hồi sinh thái lớn nhất và tốn kém nhất trên thế giới.  Mức độ mất mát vùng đất ngập nước toàn cầu là 20% hay 50% không thực sự quan trọng, điều quan trọng là chúng ta phải ngừng coi các vùng đất ngập nước là đất hoang. Khoảng 40% các loài trên Trái đất sinh sống ở các vùng đất ngập nước, và một tỷ người phụ thuộc vào chúng để kiếm sống. Việc bảo tồn và khôi phục các môi trường sống quan trọng này là chìa khóa để đạt được một tương lai bền vững. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-02-earth-lost-one-fifth-wetlands-1700but.html    Author                .        
__label__tiasang Kem chống nhiễm HIV      Hai hãng dược phẩm lớn trên thế giới là Meck và Bristol-Myers-Squibb đang hợp sức với một tổ chức phòng chống Aids quốc tế để phát triển một loại kem giúp phụ nữ tránh khỏi nhiễm virut HIV gây ra căn bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải AIDS.      Loại kem này sử dụng dưới dạng bôi nhằm ngăn chặn HIV xâm nhập vào mô của người phụ nữ khi sinh hoạt tình dục không an toàn. Sở dĩ các tổ chức phòng chống AIDS quốc tế quan tâm tới đối tượng phụ nữ vì những người này dễ bị nhiễm HIV hơn nam giới, một phần bởi lý do sinh học và phần khác bởi ít có khả năng kiểm soát phương thức sinh hoạt tình dục.  Những hợp chất sản xuất loại kem đặc biệt này tương đối dễ sản xuất do đó người ta hy vọng sẽ có giá rẻ trên toàn thế giới. Việc công bố các hợp chất này sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình sản xuất và thử nghiệm trên người.  Trong bối cảnh hiện con người vẫn chưa thể tìm ra cách sản xuất vacxin chống virus HIV, việc thành công trong chế tạo ra chất khử trùng hiệu quả này cũng đem lại nhiều hy vọng trong cuộc chiến chống AIDS trên toàn cầu.   (BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kéo dài sứ mạng quan sát vũ trụ cho kính không gian Hubble      Chủ tịch Hội đồng quản trị của Cơ quan Không gian-Vũ trụ quốc gia Hoa Kỳ (NASA) Micheal Griffin đã thông báo kế hoạch cho sứ mạng thứ năm để lắp đặt thiết bị mới cho kính không gian Hubble. Trung tâm bay không gian Goddard là cơ quan trung tâm quản lý các hoạt động của kính Viễn vọng này.    Các nhà khoa học sẽ sử dụng tàu con thoi Discovery để mang những thiết bị hiện đại mới cùng với những pin điện và các thiết bị cần thiết để kính không gian Hubble có thể hoạt động đến năm 2013. Trong sứ mạng mới này, các nhà du hành vũ trụ sẽ cố gắng sửa chữa lại phổ kế ảnh đã ngừng hoạt động hai năm trước. Và một nhiệm vụ quan trọng nữa hứa hẹn nhiều khám phá mới cho các nhà thiên văn là việc lắp đặt thêm thiết bị WCF3 và phổ kế COS. Hai thiết bị này sẽ làm tăng khả năng quan sát của kính  không gian Hubble lên gấp nhiều lần.  Từ trước tới nay, phần lớn những hình ảnh rõ nét về vũ trụ đều được chụp bởi camera WFPC2-một trong năm thiết bị được gắn trên kính Hubble. Với những thiết bị tối tân mới, các nhà khoa học hy vọng có thể nhìn ngược lại quá khứ 12 tỷ năm về trước khi vũ trụ chỉ khoảng 1,7 tỷ năm tuổi, khám phá ra các lỗ đen tồn tại ở trung tâm của rất nhiều thiên hà, củng cố các phép đo về tuổi của vũ trụ và đưa ra bằng chứng mới về sự giãn nở tăng tốc của vũ trụ.  Đ.Phường  (Tổng hợp)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kepler-452b: “Trái đất ở gần chúng ta nhất”      Kepler-452b, hành tinh ở ngoài hệ Mặt trời vừa được NASA phát hiện, được coi là “Trái đất ở gần chúng ta nhất”.    Ngày 23/7 vừa qua, NASA tuyên bố đã phát hiện thấy một thiên thể được mô tả là hành tinh giống Trái đất nhất ở ngoài hệ Mặt trời. Hành tinh được đặt tên Kepler-452b này ở cách Trái đất 1.400 năm ánh sáng. Nó bay vòng quanh sao chủ là định tinh Kepler-452 – ở khoảng cách như khoảng cách từ Trái đất tới Mặt trời, với chu kỳ bằng 385 ngày. So với Trái đất, Kepler-452b có đường kính lớn hơn khoảng 60%, khối lượng lớn gấp năm lần, được gọi là “siêu Trái đất”; vì thế nó không đích thực là “anh em sinh đôi của Trái đất” mà chỉ là ông anh họ gần và già hơn mà thôi. Kepler-452b không quá nóng hoặc quá lạnh, có bầu khí quyển dày và nước ở thể lỏng cũng như núi lửa đang hoạt động – tất cả các thành phần và điều kiện cần thiết cho sự tồn tại sinh mệnh.     Jon Jenkins, người đứng đầu nhóm phát hiện ra Kepler-452b và chỉ đạo phân tích dữ liệu tại Trung tâm NASA Ames Research ở Moffett Field, California, nói, hành tinh này đã tồn tại sáu tỷ năm trong vùng sinh sống của sao chủ Kepler-452. Kepler-452 to hơn Mặt trời của Trái đất 10% và sáng hơn 20%. Định tinh này xuất hiện sớm 1,5 tỷ năm so với Mặt trời, và đã đi vào giai đoạn suy thoái, nhiệt độ không ngừng tăng lên, làm cho nước trên bề mặt hành tinh Kepler-452b bốc hơi. Các nhà khoa học cho rằng qua việc quan sát thời kỳ cuối của Kepler-452b sẽ có thể dự đoán được tình cảnh Trái đất sau đây một tỷ năm.    Dự án Kính viễn vọng vũ trụ Kepler trị giá 600 triệu USD nhằm mục tiêu chủ yếu là xác định xem trong dải Ngân hà có những hành tinh nào tương tự như Trái đất. Kepler được phóng lên vũ trụ từ tháng 3/2009. Tới nay, dự án Kính thiên văn Kepler đã quan sát được 4.696 hành tinh, trong đó chỉ có 1.030 hành tinh đã được xác định bằng các quan sát hoặc phân tích tiếp theo. Phát hiện Kepler-452b được công bố cùng với 521 hành tinh mới phát hiện được coi là “ứng viên” của các hành tinh có thể có sự sống.    11 trong số 521 ứng viên đó tương tự như Kepler-452b: đường kính của chúng nhỏ khoảng bằng một nửa đường kính của Trái đất và chúng nằm trong “vùng sinh sống” của “Mặt trời” của mình với khoảng cách vừa phải để có thể tồn tại nước thể lỏng.    Thiên thể Kepler-452b được tìm thấy từ các dữ liệu mà kính thiên văn Kepler thu thập được trong bốn năm đầu tiên của cuộc săn lùng hành tinh của nó – cuộc truy tìm này kết thúc vào năm 2013.    Năm ngoái và đầu năm nay, NASA từng công bố các tin tức về những “Trái đất ở gần chúng ta nhất”, nhưng các định tinh mà chúng bay xung quanh đều là những sao lùn đỏ có khối lượng rất nhỏ và nhiệt độ khá thấp. Riêng Kepler-452b thì bay quanh một định tinh tương tự Mặt trời của chúng ta, vì thế nó trở thành Trái đất ở gần chúng ta nhất.     Phát hiện “người anh họ của Trái đất” đặt lại vấn đề nhạy cảm: có tồn tại người ngoài hành tinh hay không?    “Dữ liệu từ kính thiên văn quỹ đạo kiểu như sứ mệnh Kepler của NASA gợi ý rằng trong dải Ngân hà của chúng ta có nhiều tỷ hành tinh có thể sinh sống được. Nếu không tồn tại người ngoài hành tinh thì Trái đất chẳng những là một trường hợp đặc biệt mà còn là một phép lạ nào đó,” Seth Shostak, trưởng nhóm nhà thiên văn của Viện SETI [Search for ExtraTerrestrial Intelligence – chuyên tiến hành các nghiên cứu khoa học về sự sống trong vũ trụ] và tác giả sách “Lời thú nhận của một kẻ săn lùng người ngoài hành tinh: cuộc tìm kiếm trí tuệ ngoài hành tinh của một nhà khoa học”, nói.    Nhà vật lý thiên văn nổi tiếng Stephen Hawking là người rất lo ngại về sự tiếp xúc với người ngoài hành tinh. Thế nhưng ngày 20/7 vừa qua, ông lại tuyên bố sẽ khởi động dự án Breakthrough Liston nhằm tìm kiếm sự sống trong vũ trụ. Dự án này được đầu tư 100 triệu USD, sẽ thực hiện trong 10 năm.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết nối các nhà khoa học Việt-Úc trong lĩnh vực y sinh      Ngày 29/11 tại Hà Nội, Quỹ phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED) đã phối hợp với Hội đồng nghiên cứu y học và sức khỏe quốc gia Úc (NHMRC) tổ chức hội thảo nhằm chuẩn bị ý tưởng và đề cương cho một chương trình nghiên cứu do hai bên đồng tài trợ từ năm 2017 theo Biên bản ghi nhớ.      Giáo sư Jonathan Morris, Giám đốc Viện Kolling, trình bày báo cáo Nghiên cứu hợp tác với Việt Nam để nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em (Research partnership with Vietnam to improve maternal and child health). Ảnh: Vũ Nhàn  Các báo cáo được trình bày trong hội thảo tập trung chủ yếu vào ba chủ đề chính gồm y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm và chăm sóc bà mẹ trẻ em.  Theo GS Đặng Đức Anh, Viện trưởng viện vệ sinh dịch tễ trung ương, Trưởng ban Chương trình, luôn cần có những nghiên cứu trong các vấn đề về bệnh truyền nhiễm, y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Trong hơn 10 năm vừa qua, nhiều bệnh truyền nhiễm nổi lên như SARS, H5N1, MERS, Ebola, ZIKA…, nhưng việc chia sẻ những thông tin và những tài liệu nghiên cứu thì không hề dễ dàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu về những bệnh không lây nhiễm như tiểu đường, ung thư,… và nghiên cứu liên quan đến sức khỏe bà mẹ trẻ em cũng cần được thúc đẩy. Do vậy, việc kết nối và chia sẻ thông tin thông qua các nghiên cứu, các ý tưởng sẽ giúp các nhà khoa học của hai nước có thể cùng nhau làm việc.  Trong khi các báo cáo tại phiên toàn thể nêu lên những thách thức và định hướng nghiên cứu trong y tế công cộng ở Việt Nam, thì các báo cáo tại tiểu ban đi sâu vào các vấn đề như nghiên cứu về những nhân tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường ở miền Nam Việt Nam, đời sống người cao tuổi, kiểm soát bệnh lao, vấn đề LGBT ở Việt Nam, đánh giá hệ thống báo cáo tỉ lệ tử A6 của Việt Nam,…  Có tất cả 25 báo cáo trong số 56 hồ sơ đề nghị của các nhà khoa học Việt Nam và 35 hồ sơ từ các nhà khoa học Úc đã được chọn để trình bày tại hội thảo.             Author                Vũ Thanh Nhàn        
0.2833333333333333
__label__tiasang  “    HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết thúc một bí ẩn vũ trụ: các bùng nổ tia gamma đã được giải thích?      Bùng nổ tia gamma (Gamma Ray Bursts- GRB) trong vũ trụ là sự xuất hiện trong một thời gian rất ngắn những tia gamma với năng lượng rất lớn, trong vòng mười giây năng lượng này bằng cả năng lượng Mặt Trời phát ra trong 10 tỷ năm tồn tại.  Hiện tượng này được xem là một bài toán vật lý lớn của thế kỷ và đã 30 năm không có lời giải. Hiện nay các nhà vật lý cho rằng họ đã tìm được mô hình lý thuyết của GRB.      Người ta đã phát hiện GRB trong trường hợp nào ?  Sự phát hiện GRB cũng ly kỳ như bản thân hiện tượng đó. Các GRB được phát hiện tình cờ năm 1967 bởi những vệ tinh do thám của Mỹ đang thực hiện phi vụ ghi đo những thí nghiệm hạt nhân trong vũ trụ của Liên bang Xô viết cũ. Chỉ đến năm 1973 phía Mỹ mới công bố những tư liệu chung quanh  GRB  tại Hội thảo quốc tế về tia vũ trụ tổ chức tại Denver. Jacques Paul (CEA) đã phát biểu tại hội thảo về sự phát hiện GRB: “Tôi nhớ lại rằng mọi người đều vô cùng ngạc nhiên về sự tồn tại của những bùng nổ tia gamma và không thể nào hình dung được năng lượng khổng lồ cũng như cơ chế khó tưởng tượng đã sinh ra chúng“[1].  Trong 30 năm các nhà vật lý đã công bố hơn 2000 bài báo và đưa ra khoảng 135 mô hình lý thuyết để giải thích GRB. Hiện nay người ta thường xuyên ghi đo được GRB (với tần số gần đúng 1 GRB / ngày) và tìm xem các nguồn của GRB nằm ở đâu. 5 năm gần đây nhờ vệ tinh của Ý Beppo-SAX có trang bị đêtectơ tia g & tia X (Beppo là tên của một nhà thiên văn vật lý học người Ý ) người ta thấy rằng các nguồn của GRB nằm ở biên của vũ trụ, ở khoảng cách nhiều tỷ năm ánh sáng.  Nếu như nguồn GRB nằm trong thiên hà của chúng ta và GRB hướng về quả đất thì mọi cuộc sống đã bị quét sạch khỏi hành tinh (nhiều nhà vật lý cũng cho rằng những điều tương tự có thể đã xảy ra gây nên sự tuyệt chủng của nhiều loài trên Quả đất).  Các mô tả về GRB  GRB kéo dài chừng vài milligiây (GRB ngắn) đến chừng vài phút (GRB dài).  GRB thường có thể kèm theo một bức xạ tồn dư (afterglow) gồm cả  g (tia gamma) và những bước sóng dài hơn g, theo thứ tự dài dần: đó là tia X, cực tím UV, các tia ở vùng thấy được, hồng ngoại IR và radio [2,3].  GRB tìm thấy ngày 25 tháng giêng năm 1999 có năng lượng khổng lồ 1054 erg/giây tương đương với năng lượng thu được nếu tất cả khối lượng Mặt Trời biến thành tia gamma trong vài giây. Tuy không so được với Big Bang song người ta chưa quan sát được một hiện tượng nào với năng lượng lớn như vậy.  Sau đây là một số GRB chính (mã số của chúng như sau: năm, tháng, ngày phát hiện, ví dụ 670702 có nghĩa là GRB này được phát hiện năm 1967, tháng 07, ngày 02):  · 670702       GRB đầu tiên được phát hiện  · 970228       GRB cho thấy rõ bức xạ tồn dư và chứng tỏ rằng nguồn ở rất xa (xem hình 4)  · 971214       GRB với năng lượng rất lớn  · 980425       GRB cho những dữ liệu có liên quan đến các siêu sao  · 990123       GRB với bức xạ tồn dư rất lớn (xem hình 1 )  · 030329A    GRB với  những dữ liệu chứng tỏ mối liên quan đến các siêu sao  · 050509B    GRB ngắn  · 050904       GRB nằm xa nhất  · 060218       GRB phát hiện gần đây nhất (năm 2006)             Hình 1. Trên hình vẽ là GRB-990123 (chấm sáng trong hình vuông con ở nửa hình bên trái và phóng đại lên ở nửa hình bên phải). Một vật sáng mờ có dạng như hai ngón tay trên chấm sáng ở nửa hình bên phải là thiên hà nguồn.        Mô hình lý thuyết hiện đại về GRB  Các tác giả Thibault Damour (IHES-Institut des Hautes études Scientifiques), D. Christoloulou, R. Ruffini (đại học La Sapienza, Rome)[4] đã sử dụng GR (General Relativity-Lý thuyết tương đối tổng quát) & QFT (Quantum field Theory-Lý thuyết trường lượng tử) để đưa ra mô hình sau đây.  Trong quá trình hình thành lỗ đen vật chất của sao bị hút vào tâm lỗ đen làm phát ra hai tia (xem hình 2A và 2B) dọc theo trục quay (tại đây mật độ vật chất thấp nhất trên đĩa bồi-accretion disk).                                                                            2A                              2B   Hình 2A & 2B   Giai đoạn đầu của GRB. Sao co lại, một lỗ đen được hình thành trong tâm sao (2A) và trong một vài giây bắn ra hai tia vật chất (2B).  Các tác giả trên chứng minh rằng GRB với năng lượng khổng lồ phát sinh từ những thiên hà xa xăm là do những lỗ đen trong quá trình hình thành phát ra .  Trước hết cần giải thích vì sao lỗ đen là một thiên thể vốn nuốt hết mọi vật chất xung quanh lại có thể phát ra vật chất (thực ra như chúng ta biết lỗ đen không quá là đen, lỗ đen có thể bức xạ (bức xạ Hawking) [5]).  Xung quanh chân trời lỗ đen có một vùng có tên gọi là dyadosphère (đối với một lỗ đen có khối lượng khoảng 10 lần khối lượng mặt trời thì chân trời có khoảng cách 10 km còn dyadosphere khoảng 1.000 km). Gốc từ dyado là từ Hy lạp duas-duados có nghĩa là cặp (như cặp electron-positron).  Thibault Damour , D. Christoloulou,và R.Ruffini chứng minh rằng năng lượng điện từ quanh lỗ đen có thể “trích” ra (thu được) nhờ hiện tượng phân cực chân không, đối với một lỗ đen mang điện và có trường điện từ  rất mạnh trong vùng dyadosphere.  Năng lượng tích tụ trong vùng này khoảng năng lượng của GRB (1054 erg). Trong thời đoạn chừng trăm phần tỷ nano giây sự phân cực chân không (theo QFT) tạo ra những cặp electron-positron, những cặp này lại sẽ hủy nhau liên hồi. Và sau cân bằng nhiệt chúng ta có một plasma chứa e +, e- & photon (xem hình 3).               Hình 3. Hiện tượng phân cực của quá trình “trích” năng lượng từ lỗ đen. Nhiều cặp electron và positron được hình thành trong dyadosphere trong quá trình cân bằng nhiệt đã biến thành một plasma gồm e+, e- & photon.        Trong quá trình hình thành lỗ đen, plasma này (có thể có dạng tia như nói ở trên) giãn nở nhanh với tốc độ tương đối tính gần tốc độ ánh sáng (vì thế phải ứng dụng GR). Tình huống này tương tự như sự phát sinh của xung photon trong vụ nổ của một quả bom khinh khí (điều khác là ở đây chúng ta còn có những cặp electron & positron). Plasma này va chạm với phần khối lượng còn lại của sao đang tiếp tục bị hút về phía lỗ đen trong quá trình hình thành và bắt lấy proton và electron của phần khối lượng này. Plasma mới hình thành gồm lectron, positron, proton và photon tiếp tục giãn nở. Một số photon thoát khỏi tương tác bắn ra ngoài tạo thành GRB .  GRB vừa phát sinh được đặt tên là P- GRB (P = proper có nghĩa là chính, thật).  Phần plasma còn lại (gồm chính yếu proton và electron) tiếp tục giãn nở với vận tốc tương đối tính và va chạm phải một yếu tố mới: vật chất vũ trụ nằm giữa các sao. Sự va chạm này gây nên bức xạ tồn dư (afterglow) có cường độ giảm dần phụ thuộc vào mật độ vật chất vũ trụ gặp trên đường. Bức xạ này được đặt tên là E-APE (Extended-Afterglow Peak Emision=bức xạ đỉnh tồn dư kéo dài). Các tác giả [4] cho rằng E-APE chính là những GRB dài (xem hình 4).          Hình  4.   Trên đây là ảnh tia X của GRB 970228 chụp bởi vệ tinh BeppoSAX           Hình 5   Vệ tinh đang quan sát một lỗ đen có khối lượng lớn đang bức xạ tia gamma và tia X (nguồn tư liệu: NASA)          Sự có mặt hay không của E-APE phụ thuộc vào mật độ vất chất vũ trụ nằm giữa các sao xung quanh lỗ đen. Nếu mật độ đó quá nhỏ thì sẽ không có E-APE và trong trường hợp này mọi năng lượng “trích được” từ lỗ đen đều tích chứa trong P-GRB. Cho nên các GRB ngắn hay dài đều là biểu hiện của một quá trình thống nhất (xem hình 5 & 6).              Hình 6. Các quá trình hình thành P-GRB và E-APE            Kết luận:  Như vậy các bùng nổ tia gamma GRB phát sinh từ quá trình hình thành của những lỗ đen mang điện tích và có khối lượng rất lớn.  Mô hình của các tác giả [4] hiện nay được nhiều nhà vật lý và thiên văn tỏ ý đồng tình vì giải thích được nhiều khía cạnh của hiện tượng bùng nổ tia gamma GRB, một hiện tượng đã được xem là một bí ẩn lớn của thế kỷ. Phải chăng mô hình này kết thúc tính bí ẩn của GRB đã tồn tại hơn 30 năm nay ?  CC.    Tài liệu tham khảo  [1] Les defis du CEA, số 97 tháng 10-11 năm 2003  [2] Bohdan Paczinski, Stan Woosley, Sir Martin Rees, Peter Meszaros, Remo Ruffini La Recherche, tháng 5 năm 2002  [3] Remo Ruffini, She-Shung Xue, Carlo Luciano, Federico Fraschetti, Pascal Chardonnet La Recherche, tháng 5 năm 2002  [4] D. Christoloulou, R. Ruffini, Phys.Rev.D4,5552,1971  [5] A brief history of time , Stephen Hawking  Lược sử thời gian, bản dịch của Cao Chi, Phạm Văn Thiều tái bản lần thứ 10, nhà Xuất bản Trẻ, 2006.  CC.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kêu gọi rút 400 bài báo về cấy ghép nội tạng vi phạm đạo đức nghiên cứu      Một nghiên cứu đầu tiên trên thế giới kêu gọi rút lại hơn 400 bài báo khoa học về cấy ghép nội tạng do lo ngại việc lấy các bộ phận cơ thể từ các tù nhân Trung Quốc một cách phi đạo đức và nhiều tạp chí y học xuất bản bằng tiếng Anh không tuân thủ đúng các tiêu chuẩn đạo đức quốc tế.    Nghiên cứu được công bố trên tạp chí y khoa BMJ Open. Bà Wendy Rogers, giáo sư về đạo đức y khoa tại Đại học Macquarie, Sydney và là tác giả của nghiên cứu, cho rằng các tạp chí, nhà nghiên cứu và bác sĩ lâm sàng tham gia thực hiện và đăng tải 400 công bố này đều là đồng lõa trong các phương pháp lấy và cấy ghép nội tạng “man rợ”.  Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu theo dõi tiến trình thực hiện nghiên cứu cấy ghép nhằm ngăn chặn nghiên cứu phi đạo đức.  Một báo cáo trước đây được công bố vào năm 2016 cho thấy sự khác biệt lớn giữa các số liệu về cấy ghép nội tạng chính thức từ Chính phủ Trung Quốc và số ca cấy ghép do các bệnh viện báo cáo: chính phủ cho biết 10.000 ca cấy ghép diễn ra mỗi năm nhưng dữ liệu bệnh viện cho thấy trên thực tế có khoảng 60.000 đến 100.000 ca. Báo cáo cung cấp bằng chứng là khoảng cách này xuất phát từ số nội tạng của các tù nhân bị tử hình được sử dụng để cấy ghép.  Rogers và nhóm nghiên cứu của bà đã thu thập tất cả các nghiên cứu báo cáo về người Trung Quốc nhận ghép tạng được công bố trên các tạp chí y khoa bằng tiếng Anh trong khoảng thời gian từ tháng 1/2000 đến tháng 4/2017. Có tổng số 445 nghiên cứu, trong đó có 85.477 ca cấy ghép; 99% trong số 445 nghiên cứu đó không cung cấp thông tin về sự đồng thuận của người hiến tạng. Chỉ có 19 nghiên cứu tuyên bố không sử dụng nội tạng từ các tù nhân bị tử hình; nhưng điều đáng nghi ngờ là 19 nghiên cứu này được thực hiện trước năm 2010, khoảng thời gian không có chương trình hiến tạng tình nguyện nào ở Trung Quốc.  Nghiên cứu của Rogers phát hiện ra rằng ngay cả tạp chí American Transplantation và tạp chí chính thức của Hiệp hội Cấy ghép tạng (The Transplantation Society) cũng đã xuất bản các bài báo đáng nghi vấn, không tuân theo chính sách cấm thực hiện các nghiên cứu phi đạo đức liên quan đến các tù nhân bị tử hình; bất chấp việc vào năm 2016, Hiệp hội Cấy ghép tạng đã tuyên bố không chấp nhận các báo cáo có sử dụng các bộ phận cơ thể từ các tù nhân.   Kết quả là một số lượng lớn các nghiên cứu phi đạo đức được công bố hiện đang tồn tại, đặt ra những câu hỏi về sự đồng lõa của cộng đồng cấy ghép tạng trong việc sử dụng và hưởng lợi từ kết quả của các nghiên cứu này.  “Chúng tôi kêu gọi rút lại ngay lập tức tất cả các bài báo cáo nghiên cứu có sử dụng nội tạng phi đạo đức nghiên cứu và kêu gọi một hội nghị quốc tế để phát triển chính sách tương lai trong việc xử lý nghiên cứu cấy ghép tạng của Trung Quốc.”  Năm 2017, tạp chí y tế uy tín Liver International đã buộc phải rút lại một bài báo khoa học của các bác sĩ phẫu thuật Trung Quốc. Trong nghiên cứu đó, các bác sĩ Trung Quốc đã kiểm tra kết quả của 564 ca ghép gan trong bốn năm; nhưng các chuyên gia chỉ ra rằng không thể có một bệnh viện nào có được nhiều gan khả dụng đến thế, đặc biệt với số lượng hiến tạng tình nguyện nhỏ ở Trung Quốc vào thời điểm đó.   Đáng chú ý hơn nữa là hầu hết gan trong nghiên cứu này được kê khai là đến từ người hiến tạng ngừng tim; loại trường hợp chỉ có 30% khả năng cung cấp gan có thể cấy ghép. Có nghĩa là sẽ cần đến khoảng 1.880 ca hiến tạng do ngừng tim để có 564 gan được báo cáo trong bài báo này; trong khi tổng số ca hiến tạng tự nguyện ở Trung Quốc từ 2011 đến 2014 là 2.326 ca. “Không thể có 564 gan được lấy thành công, trừ khi các bác sĩ phẫu thuật này chiếm được 80% tất cả các ca hiến tạng tự nguyện trên toàn Trung Quốc trong giai đoạn này,” theo Wendy Rogers, giáo sư về đạo đức y khoa tại Đại học Macquarie, Sydney. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2019/feb/06/call-for-retraction-of-400-scientific-papers-amid-fears-organs-came-from-chinese-prisoners    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng lưu thông tin với mật độ siêu dày nhờ nguyên tử      Nhóm các nhà khoa học tại trường Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan, vừa công bố trên tạp chí Nature Nanotechnology một phương pháp mới giúp giữ các nguyên tử cố định tại một vị trí. Phát kiến mới này có thể đặt nền móng cho việc lưu trữ thông tin quy mô lớn ở cấp độ nguyên tử.    Ảnh chụp một phần dữ liệu được mã hóa bằng nguyên tử của nhóm nghiên cứu.  Ý tưởng này xuất hiện từ năm 1959, khi nhà vật lý Richard Feynman nêu câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể sắp xếp các nguyên tử tùy ý?” Feynman thậm chí còn dự đoán rằng sẽ đến lúc loài người có thể viết cả bộ Bách khoa Toàn thư Britannica trên đầu một chiếc ghim. Ba thập kỷ sau, một nhóm các nhà khoa học tại IBM đã làm được điều đó: họ sử dụng 35 nguyên tử xenon để xếp thành chữ IBM trên một tấm niken. Để giữ các nguyên tử cố định một chỗ, họ đã hạ thấp nhiệt độ chúng xuống còn -269ºC, mức nhiệt độ lạnh nhất có thể đạt được về mặt vật lý. Nhưng chi phí cho giải pháp này quá tốn kém nên cho đến việc viết chữ bằng nguyên tử vẫn là điều “ngoài tầm với.”  Nhóm nghiên cứu mới cho biết họ có thể lưu trữ một đoạn văn bản (tương đương 1 kilobyte dữ liệu) ở nhiệt độ tương đối “mát mẻ” là -196ºC. Tuy đây có thể không phải là một sự thay đổi lớn so với những gì các nhà khoa học ở IBM làm được, song điểm mới nằm ở phương pháp thực hiện: họ đạt tới nhiệt độ trên bằng cách làm mát nitrogen lỏng nên có chi phí thấp hơn nhiều so với phương pháp dùng helium lỏng trong thí nghiệm của IBM. Ngoài ra, họ không lưu thông tin bằng cách viết chữ bằng nguyên tử như IBM mà dùng mã hệ nhị phân. Họ dùng các nguyên tử chlorine phủ lên một tấm đồng, nhờ đó chlorine tự nhiên hình thành một mạng lưới mắt cáo lên trên một tấm đồng. Lượng chlorine này chỉ vừa đủ để bao phủ 5/6 bề mặt tấm đồng, phần bề mặt còn lại sẽ bao gồm các ô trống nằm dọc tấm đồng. Do mối liên hệ giữa các nguyên tử nên tấm lưới mắt cáo chlorine bền vững hơn nhiều so với vị trí tách biệt của các nguyên tử như trong thí nghiệm của IBM, dù rằng ở đây có tồn tại lượng lỗ hổng khá lớn.  Nhóm nghiên cứu sử dụng các cặp đôi bao gồm một nguyên tử và một lỗ hổng để mã hóa các bit thông tin. Họ có thể viết và xóa đi viết lại thông tin bằng cách trượt qua trượt lại các nguyên tử trong mỗi cặp đôi trên. Để làm được điều này, họ sử dụng đầu dò của kính hiển vi quét xuyên hầm (STM) – đây cũng là thiết bị đã được IBM sử dụng trong thí nghiệm cách đây 26 năm. Lưới mắt cáo dạng này đủ bền vững để nhóm nghiên cứu có thể xây dựng 1.016 byte nguyên tử trong một diện tích chỉ vẻn vẹn 96 x 126 nano mét. Điều đó tương ứng với một mật độ văn bản là 78 terabit trên một centimet vuông, tốt hơn gấp hàng trăm lần so với các ổ cứng máy tính hiện nay.  Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ là bước tiến nữa trên hành trình giải quyết câu hỏi hóc búa ngày nay là quản trị dữ liệu. “Về lý thuyết, mật độ thông tin này sẽ cho phép chúng ta viết tất cả những cuốn sách do loài người tạo ra lên một con tem,” Giáo sư Sander Otte, trưởng nhóm nghiên cứu, nói. Thách thức tiếp theo là điều chỉnh lại công nghệ này để có thể sử dụng được ở cấp độ thương mại. Nhưng để làm được điều đó, cần phải giải quyết thêm hai vấn đề nữa: giữ cho nguyên tử ổn định ở mức nhiệt độ phòng và đẩy nhanh quá trình này lên.  Thu Trang tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng ô nhiễm thủy ngân từ vụ cháy công ty Rạng Đông?      Ô nhiễm thủy ngân hay được nhắc đến với thảm hoạ Minamata nhưng với 27 tấn thủy ngân hữu cơ dưới dạng metyl thủy ngân (MeHg) do công ty Chisso đổ xuống vịnh Minamata rất độc ở thảm họa còn trong vụ cháy Rạng Đông, 27kg thủy ngân phát tán ra môi trường tồn tại ở dạng vô cơ ít độc hơn rất nhiều.         Binh chủng Hóa học (Bộ Quốc phòng) tham gia khắc phục ô nhiễm môi trường tại khu vực nhà kho cháy của Rạng Đông. Nguồn: Binh chủng hóa học  Điểm khác biệt giữa hai vụ việc này là metyl thủy ngân nhiễm vào cơ thể người dân Minamata theo con đường tiêu hóa do người dân ăn tôm cá có nhiễm metyl thủy ngân ở vịnh Minamata. Còn với thủy ngân kim loại, khả năng con người nhiễm phải thường là qua đường hô hấp do hít phải thủy ngân bay hơi trong không khí.  Do tính chất hóa học mà ở điều kiện nhiệt độ cao, thủy ngân tác dụng với ô xy theo phản ứng: 2Hg + O2 → 2HgO. Vì thế, trong khói đám cháy nhà kho Rạng Đông có ba thành phần thủy ngân vô cơ: dạng hơi của thủy ngân kim loại (Hg), dạng rắn thủy ngân kim loại (Hg) bám vào bụi đám cháy (particulate-bound mercury) và thủy ngân ô xít (HgO) phát tán lẫn trong bụi cháy.  Sau đám cháy hai ngày, Bộ TN&MT đã cho lấy mẫu và phân tích mẫu cho kết quả không khí, đất và nước khu vực xung quanh đám cháy, đối với không khí việc dùng tiêu chuẩn Việt Nam 0.3 µg/m3 là hợp lý, liên hệ với tiêu chuẩn Canada là 0.6 µg/m3 và WHO đưa ra khuyến cáo mức 1µg/m3 trong 1 năm cho hàm lượng thủy ngân trong không khí. Theo kết quả công bố, tất cả các mẫu không khí đều đạt tiêu chuẩn Việt Nam, vậy không khí ngay ở kho nơi xảy ra vụ cháy thủy ngân đều dưới mức ô nhiễm. Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội lấy mẫu phân tích môi trường trong vòng bán kính 500m trong 2 ngày 6 và 7/9, hàm lượng thủy ngân cũng trong ngưỡng quy định. Tuy nhiên, các chỉ tiêu: SO2, Benzen, Toluen, bụi tổng tại một số vị trí xung quanh công ty vượt quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. Có thể thấy rằng, đám cháy đã làm thoát ra không khí nhiều chất gây ô nhiễm nhưng chúng không được sự quan tâm chú ý đặc biệt của công luận như đối với thủy ngân. Sau khi kiểm tra Rạng Đông, Bộ Tài nguyên Môi trường đưa ra con số 27kg thủy ngân đã thất thoát ra môi trường, con số này là tổng số thủy ngân nằm trong các bóng đèn trong kho trước khi cháy, bị đám cháy bao lấy. Trong 27kg này có một phần bay hơi theo đám cháy, một phần nằm lại trong rác sau cháy mà Binh chủng Hóa học đang phân loại rác theo hàm lượng thủy ngân, loại nào hàm lượng thủy ngân thấp thì cho theo rác thông thường, loại nào cao thì đưa riêng xử lý.  Chưa có số liệu hàm lượng và khối lượng từng loại nhưng tôi có thể dự đoán như sau: bóng đèn huỳnh quang chưa vỡ nặng khoảng 0.3kg là loại rác có hàm lượng thủy ngân cao nhất với 30mg/0.3kg=100mg/kg=100ppm. Nhưng loại chưa vỡ này tất nhiên ít thôi và cứ vỡ ra thì hàm lượng chắc chắn sẽ giảm từ 100ppm cho tới vài ppm. Tiêu chuẩn của Canada cho phép mức ô nhiễm hàm lượng thủy ngân vô cơ trong đất nông nghiệp và đất người dân ở là 6.6mg/kg, khu vực thương mại (Commercial) là 24mg/kg, khu công nghiệp (Industrial) là 99mg/kg. Như vậy, theo tiêu chuẩn Canada, đống rác trên thuộc loại phù hợp tiêu chuẩn ô nhiễm thủy ngân vô cơ khu công nghiệp. Nếu số rác tính trung bình hàm lượng thủy ngân là 50mg/kg nghĩa là 50g/t, giả sử có khoảng 100 tấn rác như vậy thì ta có 50×100=5000g=5kg Hg còn lại trong rác cháy. Do lưu huỳnh phản ứng dễ dàng với thủy ngân trong điều kiện thường, phản ứng này thường dùng để thu hồi thủy ngân: Hg + S → HgS. Tùy vào hàm lượng thủy ngân, có thể dùng lương bột lưu huỳnh thích hợp để xử lý rác tại kho cháy. Để biết được có bao nhiêu thủy ngân đã bay lên từ đám cháy, ta chỉ cần làm phép tính lấy tổng số 27kg thủy ngân trừ đi thủy ngân còn lại trong đống rác. Ta có thể giả sử thủy ngân ngân bay lên hết để đống rác không còn tí Hg nào để xem mức cao nhất không khí có thể độc hại đến đâu, chứ trên thực tế thì trường hợp này khó xảy ra. Khi Bộ TN&MT cho lấy mẫu không khí sau hai ngày là không khí đã sạch hơn nhiều qua các trận mưa sau đám cháy, đương nhiên Bộ vẫn cần phải phân tích không khí để xem mức độ an toàn cho dân sống xung quanh thế nào, và câu trả lời đã có. Ngay khi xảy ra vụ cháy thì Hg bay lên cùng khói bụi lần lần theo thời gian cháy. Giả sử 27 kg Hg bay lên rồi loang ra, vì Hg nặng lên rơi xuống nhiều trong bán kính R = 1.5km thì diện tích bụi Hg rơi nhiều sẽ là: S = 3.14xRxR = 7.065km2 = 7.065.000m2. Giả sử khu vực khói cao 500m thì thể tích khí chịu ảnh hưởng là: 7.065.000×500=3.532.500.000m3. Do 27 kg thủy ngân cháy và rơi xuống trong khoảng mười giờ nên giả sử trong một tiếng có 2.7kg trên không trung thì nồng độ thủy ngân trung bình trong khu vực đó là: 2.700.000.000µg:3.532.500.000m3=0.76µg/m3. Hàm lượng này vượt tiêu chuẩn Việt Nam và Canada nhưng vẫn dưới tiêu chuẩn WHO 1µg/m3.    Lấy mẫu nước để xác định nồng độ thủy ngân trong nước. Nguồn: Binh chủng hóa học  Tuy nhiên, không khí khói bụi khi cháy đó là không khí ô nhiễm đối với nhiều chất gây ô nhiễm khác chẳng hạn các chất là sản phẩm của nhựa cháy có mùi khó chịu và các loại bụi độc hại khác sinh ra từ đám cháy của nhiều loại vật liệu mà mọi người cần tránh hít phải. Về việc kiểm tra nồng độ thủy ngân trong máu, máu ai cũng có khả năng có thủy ngân vì môi trường ta sống có mặt loại hóa chất này, tùy thuộc vào nồng độ mà xác định mức độ nhiễm thủy ngân, theo tiêu chuẩn VN thì mức cho phép là 10µg/L, tiêu chuẩn Canada là 20µg/L. Báo đăng có người nhiễm thủy ngân trong máu mà không đăng nồng độ bao nhiêu là thông tin không đầy đủ và dễ gây hoang mang. Bụi đám cháy mang theo thủy ngân phần lớn rơi xuống vì nặng và vì mưa sau đó, giả sử là toàn bộ 27kg thì đất nơi đó ô nhiễm ra sao: 27.000.000mg:7.065.000m2=3.8mg. Do đó, cứ 10kg đất bề mặt trong một m2 sẽ phải chịu 3.8mgHg, suy ra hàm lượng thủy ngân tăng thêm trung bình là 0.38mg/kg.  Qua tìm hiểu kết quả phân tích mẫu đất từ Bộ TN&MT, thông báo của Bộ TN&MT cho biết, toàn bộ các mẫu đất đều dưới mức ô nhiễm thủy ngân theo tiêu chuẩn Canada. Mức ô nhiễm cho phép theo tiêu chuẩn Canada là 6.6mg/kg cho đất ở và trồng trọt. Như vậy, người dân có thể tiếp tục sinh sống trồng trọt và chăn nuôi trên đất đai khu vực xung quanh đám cháy. Số liệu của Bộ TN&MT có chi tiết thú vị là mẫu đất ở khuôn viên công ty Rạng Đông mặc dù có hàm lượng Hg không vượt chuẩn Canada nhưng lại cho kết quả cao hơn nơi khác, có thể suy đoán đây là điểm gần đám cháy nên có bụi cháy rơi xuống nhiều hơn. Tóm lại, thủy ngân trong hành trình của mình đã phát tán vào không khí do đám cháy, bụi cháy chứa thủy ngân bị gió phân tán, sau đó đa phần rơi xuống, khi gặp đất, nó đã ở một diện tích rộng tới mức làm giảm hàm lượng xuống dưới mức gây ô nhiễm theo tiêu chuẩn cho phép.  Ngoài ra, một phần thủy ngân đã theo các dòng chảy vào nước sông và lắng xuống trầm tích. Theo kết quả phân tích từ Bộ TN&MT, 11/12 mẫu nước mặt đạt, 1 mẫu vượt 1.3 lần tiêu chuẩn QCVN 08-MT:2015. Tiêu chuẩn này cho phép Hg ở mức 0.001mg/L, ngang bằng với tiêu chuẩn nước uống của WHO là 1µg/L, tiêu chuẩn nước uống của Canada cũng là 0.001mg/L. Có 7/8 mẫu nước thải đạt và 1/8 mẫu vượt 2.76 lần QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp, tiêu chuẩn này cho phép mức Hg 0.01mg/L. Cũng theo Bộ TNMT, 12/13 mẫu trầm tích, bùn đáy có giá trị Hg vượt QCVN 43:2017/BTNMT về chất lượng trầm tích, quy chuẩn này cho phép Hg ở mức 0.5 mg/kg (khối lượng khô), tuy nhiên cần phải lưu ý rằng mức độ ô nhiễm trầm tích tại các điểm lấy mẫu này là tổng số những tích tụ ô nhiễm thủy ngân trong nhiều năm chứ không phải chỉ riêng thủy ngân từ vụ cháy Rạng Đông, bởi vậy cần có những số liệu phân tích trầm tích khu vực này trước khi xảy ra đám cháy để so sánh.  —  Tài liệu tham khảo:     https://www.ec.gc.ca/doc/mercure-mercury/1241/index_e.htm?fbclid=IwAR1SkPb22h2hcDibAFJ45Sl39LSrB06b3Y3NcV7wqdZgWr8gw88iIiWAtRc#gotoC00     http://vea.gov.vn/vn/Pages/vbqppl_NoiDung.aspx?vId=4440&fbclid=IwAR3rWk7TEAnFTEpRAefLo1bZGR368mW27Jts-apK6taQbbtU-wcVTiDznB8     http://www.euro.who.int/__data/assets/pdf_file/0005/74732/E71922.pdf?fbclid=IwAR1wcYIhAY_N8bWFiou96kxoQMyQ5oxNwEUJtMekv6IL9q7pkYtZifo26KQ    Author                Trương Hoàng Yến        
__label__tiasang Khả năng phát triển các loại thuốc chống vi khuẩn mới      Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Hebrew tại Jerusalem đã đạt được bước đột phá trong việc kiểm soát hệ thống truyền độc tố của vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm-thành tựu này có triển vọng mở đường cho một loại dược phẩm có khả năng vô hiệu hóa các mầm bệnh đó.      Hầu hết vi khuẩn không có hại và không lây nhiễm. Tuy nhiên, một số lại gây bệnh và được trang bị các dụng cụ đặc biệt để truyền độc tố. Các nhà nghiên cứu đã thiết kế một phương thức kiểm tra thời gian thực cho phép kiểm soát hoạt động của các ống tiêm. Áp dụng phương thức kiểm tra, họ đã phát hiện các thuộc tính mới của hệ thống, có thể được sử dụng nhằm phát triển các loại dược phẩm kiềm chế hoạt động của các ống tiêm rồi từ đó ngăn chặn bệnh dịch và hiện tượng nhiễm trùng do các mầm bệnh nguy hiểm gây ra.   Trà Mi (Theo Physorg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng quan sát cận cảnh của con người là để tránh rắn!      Các nhà khoa học vừa phát hiện rằng khả năng quan sát cận cảnh của con người đã được tiến hóa dành riêng cho việc phát hiện ra các con bò sát, nhất là loài rắn.    Con người, khỉ và các loài động vật linh trưởng khác đều có khả năng phân biệt màu sắc tốt, bộ não lớn và sử dụng khả năng nhìn của mình để vươn nắm đồ vật. Nhưng trong khi một số nhà khoa học cho rằng những đặc điểm này ra đời cùng một lúc để giúp các loài linh trưởng cổ đại sử dụng tay và mắt để thu nhặt trái cây và các đồ ăn khác, thì Lynne Isbell, Giáo sư nhân chủng học tại Đại học California, Mỹ, tin rằng những khả năng đó xuất hiện để giúp linh trưởng tránh rắn. “Rắn là loài ăn thịt duy nhất mà bạn cần phải nhìn thật chính xác. Nếu nó ở cách xa, nó không hề nguy hiểm”, Isbell cho biết.  Các nghiên cứu thần kinh đã cho thấy cấu trúc hệ hình ảnh của não dường như kết nối chặt chẽ tới cấu trúc não liên quan tới sự cảnh giác, lo sợ và học tập. Động vật có vú đã tiến hóa khoảng 100 triệu năm trước và các hóa thạch rắn với những cái miệng rộng lớn để xơi những con vật này cũng xuất hiện vào cùng thời điểm. Các loài ăn thịt khác như hổ báo, diều hâu, đại bàng đều tiến hóa muộn hơn. Và tiếp đến là rắn độc phát triển vào khoảng 60 triệu năm trước, buộc các loài linh trưởng phải tiến hóa tốt hơn để phát hiện được chúng.  “Có một cuộc chạy đua tiến hóa giữa các loài ăn thịt và con mồi. Động vật linh trưởng ngày càng giỏi hơn trong việc phát hiện và tránh rắn, vì vậy các con rắn lại càng tinh xảo hơn trong việc lẩn trốn, hoặc độc hơn và khi đó linh trưởng lại có cách phản ứng mới”, Isbell nói. Loài vượn cáo sống duy nhất trên hòn đảo Madagascar có thị lực rất kém do không hề có rắn độc ở đó.  Theo Reuters, HTV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng sáng tạo của Trung Quốc còn thấp      Gần đây trên Đài truyền hình trung ương Trung Quốc chiếu bộ phim “Sự trỗi dậy của nước lớn” và trong các cửa hàng sách của Trung Quốc bày bán rất nhiều sách viết về sự trỗi dậy của Trung Quốc mà tác giả đều là những học giả nổi tiếng của nước này. Nhưng một số học giả Trung Quốc cho rằng “chưa có bất cứ lý do gì để vui mừng về sự trỗi dậy của nước lớn” vì thực lực phát triển khoa học kỹ thuật của nước này vẫn không mạnh, khả năng sáng tạo thấp, nhiều kỹ thuật mũi nhọn vẫn do nước ngoài kiểm soát.    Luận cứ của họ là GDP của Trung Quốc hiện nay đứng thứ 4 thế giới, tổng kim ngạch ngoại thương đứng thứ 3 thế giới, dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới, hơn 100 sản phẩm mang nhãn hiệu “Made in China” xuất hiện trên thị trường thế giới… Ngoài ra, trên các trang báo, trên mạng cũng thường thấy xuất hiện dòng chữ “Trung Quốc đã trỗi dậy”. “Trung Quốc đã trở thành cường quốc”.  Nhưng theo bài viết trên tạp chí “Thanh Minh” thì Trung Quốc vẫn còn khoảng cách rất xa so với sự trỗi dậy đúng với ý nghĩa của nó. Ví dụ. Việc nâng cao tổng GDP không có nghĩa là đã tăng cường toàn diện thực lực của quốc gia. Không thể so sánh giữa một nước xuất khẩu 100 triệu chiếc áo với một nước xuất khẩu 100 chiếc máy bay phản lực. Ngoài ra, sự trỗi dậy không những bao gồm sức mạnh về kinh tế, mà còn bao gồm sức mạnh về khoa học, giáo dục, văn hóa- xã hội…  Nếu chỉ nhìn vào các tòa nhà cao tầng thì Bắc Kinh, Thượng Hải cũng không khác gì mấy so với New York, Luân Đôn, Paris, Béclin. Nhưng nếu đi đến khu vực nông thôn ở miền Tây của Trung Quốc thì sẽ phát hiện thấy hơn 900 triệu nông dân vẫn đang cầm cuốc và xẻng- những công cụ mà tổ tiên đã phát hiện ra cách đây hơn 400 năm để canh tác.  Các chỉ tiêu của Trung Quốc về tỷ lệ truy cập mạng, tỷ lệ phổ cập ôtô, số người nghèo, số người mù chữ, tỷ lệ phổ cập giáo dục… đều không cùng đẳng cấp với các nước phát triển phương Tây. Như tỷ lệ bình quân về máy tính nối mạng thì cứ 1 vạn người thì Hà Lan có 996,1 máy, Mỹ có 975,9 máy, còn tỷ lệ này của Trung Quốc là 0,16 máy, không bằng 2 phần vạn so với Mỹ và Hà Lan.  Còn theo “Báo cáo về hiện đại hóa Trung Quốc năm 2006” của Viện khoa học Trung Quốc, Trung Quốc hiện nằm trong số 61 quốc gia còn kém phát triển; chỉ số về trình độ hiện đại hóa tổng hợp của Trung Quốc là 33 điểm, đứng thứ 62 trong số 108 nước và Trung Quốc sẽ phải mất khoảng 100 năm mới đuổi kịp trình độ kinh tế của các nước phát triển.  Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến một số học giả Trung Quốc cho rằng “chưa có bất cứ lý do gì để vui mừng về sự trỗi dậy của nước lớn” là do thực lực phát triển khoa học kỹ thuật của Trung Quốc vẫn không mạnh, khả năng sáng tạo thấp, nhiều kỹ thuật mũi nhọn vẫn do nước ngoài kiểm soát. Sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao của Trung Quốc dựa vào đầu tư ồ ạt vốn, tiêu hao nhiều tài nguyên và năng lượng, tổn thất nặng môi trường sinh thái, bóc lột nhiều sức lao động giá rẻ; trên 60% thiết bị công nghệ là nhập khẩu. Tuy đã trở thành “công xưởng của thế giới”, nhưng kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật mũi nhọn, chưa hề chuyển giao cho Trung Quốc.  Trong 3 năm từ 2000-2002, trên tạp chí “Nature & Science”, 6 trường đại học nổi tiếng nhất Trung Quốc như ĐH Bắc Kinh, ĐH Thanh Hoa… chỉ đăng có 27 bài, chỉ bằng 6% của ĐH Harvard, 15% của ĐH Cambridge, 20% của ĐH Tôkyô. Trong khi đó quy mô của 6 trường ĐH của Trung Quốc (về số lượng giáo viên và sinh viên) nhiều gấp đôi ĐH Harvard. Vì vậy có thể nói khả năng sáng tạo khoa học của trường ĐH Harvard tương đương với 200 trường ĐH lớn của Trung Quốc. Đây là sự chênh lệch giữa trường ĐH Trung Quốc với các trường ĐH nổi tiếng thế giới.  Báo “Thanh niên Trung Quốc” ra ngày 9/4/2007 đã đưa tin về danh sách “các tường ĐH học nổi tiếng nhất thế giới” do Trung tâm nghiên cứu đánh giá khoa học của Trung Quốc công bố. Trong số 10 trường ĐH nổi tiếng nhất thế giới, Mỹ có 9 trường, Nhật Bản 1 trường. Trong số 100 trường ĐH nổi tiếng của thế giới, Trung Quốc cũng không có một trường nào lọt vào danh sách. Chỉ khi mở rộng danh sách đến 400 trường ĐH nổi tiếng thế giới thì Trung Quốc mới có 8 trường lọt vào danh sách là: ĐH Bắc Kinh, ĐH Thanh Hoa, ĐH Triết Giang, ĐH Giao thông Thượng Hải, ĐH Phúc Hán, ĐH Nam Kinh, ĐH Khoa học kỹ thuật Trung Quốc và ĐH Cát Lâm.  Cuộc điều tra về tố chất khoa học của công dân cho thấy tỷ lệ dân số đạt tiêu chuẩn tố chất khoa học công dân của Trung Quốc chỉ có 2%, trong khi đó tỷ lệ này của Mỹ là 17%. Trong cuộc điều tra so sánh gần đây giữa công dân Trung Quốc với công dân Mỹ, Nhật Bản và 15 nước EU về mức độ hiểu biết về “tri thức khoa học” và “phương pháp khoa học” thì công dân Trung Quốc đều xếp vị trí kém nhất, nguyên nhân chủ yếu là do phổ cập giáo dục chưa đủ. Tỷ lệ số người qua giáo dục cao đẳng chỉ chiếm 6,5% dân số, trong khi đó tỷ lệ bình quân thế giới là 12,6%; tỷ lệ bình quân của các nước đang phát triển là 6,5%, của các nước đang chuyển đổi mô hình là 13,9 % và của các nước phát triển là 28,1%. Trung Quốc lạc hậu so với các nước phát triển khoảng 50 năm.  Trung Quốc đã xây dựng đất nước được hơn 50 năm mà không có ai nhận được giải thưởng Nobel, cũng chưa thấy dấu hiệu có người được giải thưởng. Trong khi chỉ riêng trường ĐH bang California của Mỹ đã có 45 người nhận giải thưởng Nobel.  Họ cho rằng, công cuộc chấn hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa cần phải đối diện với hiện thực, đánh giá một cách khách quan trình độ hiện đại hóa, tỉnh táo trước những lời ca ngợi bên ngoài nhất là “tự ca ngợi”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng toán học: Nữ cũng như nam      “Học sinh nữ học toán kém hơn học sinh nam”, khẳng định này đã tồn tại trong nhiều phụ huynh học sinh và cả trong đầu giáo viên, mặc dù không có bất kỳ bằng chứng khoa học nào.    Đúng là trong lĩnh vực toán học, vật lý hay kỹ sư trình độ cao, phụ nữ hiện vẫn chiếm số ít. Điều đó càng khiến người ta nghĩ sai lầm rằng nam giới có thiên bẩm khoa học, đặc biệt là toán học, hơn nữ giới. Tuy nhiên, trong một công bố đăng trên tờ Science, Janet Hyde, nhà tâm lý học ở ĐH Wisconsin, và nhóm nghiên cứu của bà đã lật đổ thành kiến này. Sau khi phân tích các kết quả của các bài kiểm tra toán của 7 triệu học sinh (từ 7 đến 17 tuổi) tại 10 bang của nước Mỹ, bà đã nhận thấy rằng trung bình không có bất kỳ khác biệt lớn nào giữa học sinh nam và học sinh nữ, và không có gì cho phép khẳng định rằng học sinh nam đạt kết quả cao hơn học sinh nữ. Tuy nhiên, một số người vẫn cố bảo vệ quan điểm rằng nữ kém hơn nam trong việc trả lời các câu hỏi khó và điều này giải thích tại sao có ít phụ nữ nắm các vị trí khoa học quan trọng. Bằng cách sử dụng các dữ liệu khác của National Assessment of Educational Progress (mẫu từ 50.000 đến 150.000 học sinh cuối cấp), Janet Hyde cũng đã chứng tỏ rằng không có khác biệt giới tính trong các kết quả về các vấn đề được cho là phức tạp. Quốc Thái (Theo Sciences et Avenir)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng trị ung thư của mãng cầu xiêm      Kết quả nghiên cứu về loại quả này do một trường đại học ở Hàn Quốc thực hiện đã được đăng trên tờ Journal of Natural Products.    Những nghiên cứu về nước ép từ quả mãng cầu xiêm (Graviola) cho thấy đây là công cụ chữa ung thư an toàn, hiệu quả. Nước ép mãng cầu xiêm là một liệu pháp chữa ung thư an toàn và hiệu quả, hoàn toàn từ thiên nhiên nên không gây tác dụng phụ như nôn ói, sụt cân và rụng tóc, và giúp bạn thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư hay các bệnh khác.  Ngoài việc chống ung thư, nước ép mãng cầu xiêm còn là tác nhân chống vi khuẩn, nhiễm nấm, chống ký sinh trùng đường ruột và giun sán, hạ thấp huyết áp, chống trầm cảm và rối loạn tinh thần. Nó cũng bảo vệ hệ thống miễn dịch, tránh được một số bệnh truyền nhiễm.  Từ năm 1976, Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về loại cây này, kết quả cho thấy, lá và thân của Graviola tiêu diệt hữu hiệu các tế bào ác tính. Nhưng nghiên cứu vẫn chỉ được lưu hành nội bộ chứ không công bố ra ngoài. Sau đó 20 nghiên cứu độc lập khác của các công ty dược hay viện nghiên cứu ung thư do Chính phủ Mỹ tài trợ đều cho thấy khả năng trị ung thư của Graviola.  Tuy nhiên, vẫn không có ca thử nghiệm nào được tiến hành chính thức tại các bệnh viện. Và công chúng chỉ biết đến tác dụng của Graviola sau  khi một nghiên cứu của Đại học Cơ đốc giáo Hàn Quốc đăng trên tập san Journal of Natural Products khẳng định một loại chất trong Graviola đã tiêu diệt các tế nào ung thư ruột nhanh gấp 10.000 lần hóa chất Adriamycin thường dùng trong hóa trị ung thư. Điều quan trọng là, không như các hóa chất điều trị ung thư khác, Graviola không hề làm hại các tế bào khỏe mạnh và không có tác dụng phụ.  Một nghiên cứu tại Đại học Purdue University sau đó cũng phát hiện ra lá mãng cầu xiêm có khả năng giết các tế bào ác tính của nhiều loại ung thư khác nhau như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và tuyến tụy. Hiện mãng cầu xiêm do thổ dân Brazil trồng hoặc sản phẩm bào chiết xuất từ nó đã có mặt nhiều ở Mỹ như một công cụ điều trị và ngăn ngừa ung thư. Một báo cáo đặc biệt do Viện Khoa học Y tế Mỹ công bố về Graviola đã xem loại cây này là “công cụ cách mạng hóa” chống ung thư.1  Xuân Hoài tổng hợp  Các nguồn:  http://www.whale.to/cancer/graviola.html  http://www.graviolacancer.com   http://www.rickthehealthsleuth.blogspot… er.html?m=    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả năng “tư duy về tư duy” không chỉ giới hạn ở loài người      Michael J. Beran và Bonnie M. Perdue của  Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ (LRC) của Georgia State University và J.  David Smith của University at Buffalo là những người thực hiện nghiên  cứu này, công bố trên tờ tập san Psychological Science của Hiệp hội Khoa  học tâm lí (Association for Psychological Science).    “Việc loài linh trưởng không thuộc giống người thể hiện khả năng siêu tri nhận có những hàm ý quan trọng liên quan đến sự xuất hiện của tâm thức tự suy nghiệm trong suốt quá trình tiến hóa tri nhận của loài người,” nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.  Siêu tri nhận là khả năng nhận ra các trạng thái tri nhận của bản thân. Chẳng hạn, một chương trình trò chơi truyền hình, người dự thi phải ra quyết định “gọi điện cho bạn bè” hay liều tất cả luôn, tùy thuộc vào việc họ tự tin là mình biết câu trả lời đến mức nào. “Đang diễn ra cuộc tranh luận dữ dội trong các nguồn văn liệu khoa học những năm gần đây xung quanh chuyện liệu khả năng siêu tri nhận có phải dành riêng cho loài người,” Beran cho biết.  Tinh tinh tại LRC của Georgia State University đã được huấn luyện để sử dụng hệ thống các biểu tượng tựa như một dạng ngôn ngữ để gọi tên các sự vật, điều này giúp các nhà nghiên cứu có được cách vô song để chất vấn loài vật về những trạng thái có hiểu biết hoặc không có hiểu biết của chúng.   Trong cuộc thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho loài tinh tinh làm kiểm tra bằng một nhiệm vụ đòi hỏi chúng phải dùng các biểu tượng để gọi tên món thức ăn được giấu đi ở một nơi nào đó. Nếu một quả chuối bị giấu đi, bọn tinh tinh sẽ trình báo lại sự việc đó và lấy lại thức ăn bằng cách chạm vào biểu tượng hình quả chuối trên bàn phím biểu tượng.  Nhưng sau đó, các nhà nghiên cứu cung cấp cho bọn tinh tinh thông tin đầy đủ hoặc thiếu sót về danh tính của món thức ăn làm phần thưởng cho chúng.  Trong một số trường hợp, bọn tinh tinh đã nhìn thấy món đồ nào có mặt ở chỗ ẩn giấu kia và có thể gọi tên vật đó ngay tức thì bằng cách chạm vào đúng ngay biểu tượng mà không cần đi tìm vật đó ở nơi ẩn giấu để xem nó là gì.  Trong những trường hợp khác, bọn tinh tinh không biết được người ta để món ăn nào ở nơi ẩn giấu, bởi vì chúng chưa thấy món ăn nào ở phần thử nghiệm đó, hoặc vì mặc dù trước đó chúng đã thấy món ăn ấy, nhưng món đó có lẽ không phải là thứ người ta chuyển tới chỗ ẩn giấu.  Trong những trường hợp đó, bọn tinh tinh đầu tiên đi tìm ở nơi ẩn giấu trước khi cố gắng gọi tên món ăn.  Cuối cùng, bọn tinh tinh gọi tên các món ăn ngay tức thì khi chúng biết cái gì ở đằng kia, nhưng chúng tìm kiếm thêm thông tin trước khi gọi tên khi chúng chưa biết đó là gì.  Đội ngũ nghiên cứu cho biết, “Mẫu hành vi này phản ánh khả năng tìm kiếm thông tin có kiểm soát, dùng để hỗ trợ việc hồi đáp bằng trí tuệ, và nó rõ ràng gợi ý rằng loài vật họ hàng gần nhất với chúng ta cũng có những khả năng siêu tri nhận rất giống với của loài người.   Đoàn Khương Duy dịch   Nguồn: http://www.sciencedaily.com/releases/2013/04/130403141442.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai khẩn Nam Bộ: Chứng tích lịch sử của quá trình hợp dung văn hóa đa tộc người      Lịch sử Nam Bộ là quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa của nhiều tộc người (Khmer, Chăm, Việt, Hoa…) một cách liên tục. Những chứng tích còn lại của lịch sử đã phần nào làm sáng tỏ bức tranh đó.      Mô Xoài (Bà Rịa) là một trong những vùng đất được người Việt di cư đến khai hoang, lập làng sớm ở Nam Bộ. Ngày nay Vũng Tàu vẫn là cảng sôi động trong khu vực. Ảnh: Cảng tổng hợp container tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nguồn: TTXVN.    Xung đột và tiếp biến văn hoá giữa Chân Lạp và Champa  Vào khoảng 5.000 – 4.000 năm trước, người Indonesian đã đến khai phá Đông Nam Bộ, tạo nên văn hoá Đồng Nai và khoảng 3.000 năm trước dựng nên trung tâm văn hoá kim khí lớn, gồm bốn vùng kinh tế – dân cư ở Đông Nam Bộ, hoàn chỉnh nền văn hoá Đồng Nai. Trong khoảng vài ba thế kỷ trước và sau Công nguyên, người Indonesian mở rộng khai phá xuống vùng thấp, giao lưu với các tộc người ở Đông Nam Á và Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII, người Indonesian và nhiều lớp cư dân ngoại nhập đã tạo lập nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Campuchia, dựng nên đế quốc Phù Nam hùng mạnh, với cảng thị Óc Eo, các trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo ở Bình Tả (Long An), Gò Tháp (Đồng Tháp)…  Từ giữa thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VII, vương quốc Chenla (Chân Lạp) hình thành trong nội địa, đem quân đánh đuổi triều đình Phù Nam ra đảo Java. Cư dân Phù Nam vẫn còn ở lại một số nơi trên đồng bằng Nam Bộ, duy trì nền văn hoá Óc Eo. Nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì văn hoá Óc Eo tàn lụi hẳn, khi các vương triều Java đưa quân về đánh Chenla để báo thù và cướp phá. Vương quốc Champa (Chiêm Thành) cũng bị Java đánh phá hai lần vào năm 774 và năm 787. Sau đó, Chenla và Champa đã đụng độ khốc liệt với nhau liên tiếp chỉ trong vài thế kỷ. Năm 813 và năm 817, Champa tiến đánh Chenla. Năm 1145, Chenla đánh chiếm Champa trong 3 năm. Năm 1177, Champa quật khởi đánh chiếm Chenla trong 4 năm. Năm 1203, Champa trở thành thuộc quốc của Chenla trong 17 năm. Sự ra đời các tháp gạch Bình Thạnh, Chót Mạt ở Tây Ninh, bi ký Chăm ở Biên Hoà, cũng như sự hình thành các vòng thành đất hình tròn nhằm mục tiêu phòng thủ của các tộc người bản địa ở Bình Phước, Tây Ninh và Kompong Cham, sự lụi tàn của thánh địa Cát Tiên ở Lâm Đồng (thế kỷ IV-XI), là những chứng tích liên quan đến lịch sử xung đột và tiếp biến văn hoá đó giữa hai vương quốc này.  Có thể vì nguyên nhân lịch sử này, cộng với nguyên nhân địa lý là bồn địa Biển Hồ Tonlé Sap vẫn còn dư địa để phát triển, nên người Khmer đã bỏ trống Nam Bộ suốt nhiều thế kỷ. Như các bằng chứng khảo cổ học cho thấy, từ cuối thế kỷ VIII đến đầu thế kỷ XVI, lác đác chỉ có một vài di tích bi ký, đền thờ của Chenla xuất hiện ở Đồng Tháp, An Giang, Bạc Liêu, chứng tỏ nhà nước Chenla chỉ khai thác cầm chừng (cho dân đến khai thác mật ong, sáp ong, cho thương nhân buôn bán qua thuỷ lộ sông Bassac…), chứ không màng đến việc khai hoang và phục hoá các di sản của đế quốc Phù Nam. Phải đến khi Chenla bị người Siam (Xiêm) tấn công, phải liên tiếp dời đô từ Angkor xuống Phnom Penh vào năm 1434, từ Phnom Penh lên Lovek vào năm 1528, từ Lovek xuống Oudong vào năm 1593, người Khmer mới chuyển trọng tâm đất nước từ tây bắc xuống đông nam Biển Hồ, và tìm đến Nam Bộ định cư ở các vùng đất cao, tạo thành các khu vực cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang và rải rác ở các nơi khác. Bộ máy hành chánh được thiết lập đến cấp khet (tỉnh), srok (huyện), và được nối dài với bộ máy tự quản ở cấp khum (xã), phum (xóm).  Những lưu dân người Việt đầu tiên  Vào cuối thế kỷ XVI, những người Việt đầu tiên đã đến làm ăn sinh sống ở Mô Xoài (Bà Rịa – Vũng Tàu). Trước đây, người ta tin rằng những lớp lưu dân Việt đầu tiên đi vào Nam Bộ chỉ là những dân nghèo, tội đồ, binh lính nhưng các kết quả nghiên cứu lịch sử đã chỉ ra rằng có những thương nhân, nhà phú hộ đã xuất tài vật vào Nam buôn bán, chiêu tập lưu dân khẩn hoang lập ấp, từng bước biến Đông Nam Bộ rồi Tây Nam Bộ thành những vùng sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và hình thành nền kinh tế hàng hoá ngay từ buổi đầu. Năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetta II, giúp chiến thuyền và binh lính cho vua Chân Lạp đánh đuổi quân Xiêm xâm lược. Đổi lại, năm 1623, vua Chey Chettha II chấp thuận cho chúa Sãi tiếp quản vùng đất Mô Xoài và lập hai thương điểm (đồn thu thuế) là Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Sự kiện trên chứng tỏ từ đầu thế kỷ XVII thương nhân Đàng Trong đã thường xuyên lui tới Sài Gòn và Bến Nghé để làm ăn. Năm 1698, chúa Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phương Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tới Đồng Nai – Gia Định, gồm khoảng 40.000 hộ với 200.000 khẩu, Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai đặt làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn; đặt các chức giám quân, cai bạ và ký lục để bảo vệ và quản lý. Năm 1732, chúa Nguyễn chia đất tây nam dinh Phiên Trấn, đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ, lệ vào phủ Gia Định. Năm 1756, bị Nguyễn Cư Trinh chinh phạt vì tội thông sứ với chúa Trịnh, vua Chân Lạp Ang Tong (Nặc Ông Nguyên) xin dâng cho chúa Nguyễn Phúc Khoát hai phủ Tầm Đôn và Lôi Lạp để cầu hoà; chúa Nguyễn cho đổi theo châu Định Viễn quản hạt. Năm 1772, chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần sai khổn thần Gia Định đem đất Mỹ Tho lập thành đạo Trường Đồn, đặt các chức cai cơ và thư ký để cai trị. Đến năm 1779, khi chúa Nguyễn Ánh định địa đồ son thì cương vực của phủ Gia Định đã bao trùm toàn Nam Bộ. Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng vì đông người Khmer cư trú nên được giao lại cho vua Chân Lạp cai quản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sáp nhập vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam.  Việc khai phá Nam Bộ thường xuyên được các đời chúa Nguyễn và vua Nguyễn sau này khuyến khích, bằng những chính sách hữu hiệu như viện trợ cho Chân Lạp chống Xiêm để đổi lấy đất đai, phong quan chức cho những phú hộ chiêu mộ được lưu dân, tư nhân được tự do lập phường nghề, lập chợ, chuyển lính đồn trú thành lính đồn điền để bảo vệ dân chúng và thúc đẩy khai hoang, v.v. Nhưng quá trình khai phá Nam Bộ còn được thúc đẩy nhanh bởi cái vốn văn hoá của người Việt đã được đổi mới và thử thách trên dải đất miền Trung. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, di dân người Việt đến định cư ở Nam Bộ đều có nguồn gốc từ vùng “Ngũ Quảng”, tức Quảng Bình – Quảng Trị – Quảng Đức – Quảng Nam – Quảng Ngãi. Trên dải đất miền Trung chật hẹp, cằn cỗi và lắm thiên tai, người Việt đã tự thích nghi và tiếp biến những sở trường văn hoá của người Chăm, để phát triển đồng thời bốn ngành kinh tế: nông nghiệp mương đập, ngư nghiệp cận duyên, lâm nghiệp, và thương nghiệp. Cái vốn văn hoá ấy đã tìm được “đất dụng võ” trên địa bàn Nam Bộ, nơi có những đồng bằng châu thổ, những bình sơn nguyên, những vùng biển rộng lớn nhất và trù phú nhất Việt Nam. Môi trường văn hoá mới đã kích thích sự năng động và đổi mới của di dân người Việt trong quá trình thích nghi, lựa chọn, tiếp biến và sáng tạo văn hoá ở nơi đây. Điều này cũng đúng với cả những di dân từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đến Nam Bộ từ thế kỷ XIX về sau.    Múa lân – sư – rồng của người Hoa ở Chợ Lớn. Nguồn: http://nld.com.vn.  Dấu ấn người Hoa, người Chăm  Đến sau một chút nhưng giúp thúc đẩy quá trình khai phá Nam Bộ nhanh hơn là những lưu dân người Hoa tràn vào Nam Bộ từ thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỷ XX, hình thành các khu sản xuất thủ công nghiệp và các phố chợ tấp nập trên bến dưới thuyền. Năm 1679, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần cho các tướng “phản Thanh phục Minh” Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và 3.000 người tuỳ tùng vào Nam Bộ để khai khẩn, định cư. Trần Thượng Xuyên và tuỳ tùng lập ra Nông Nai Đại phố (cù lao Phố, Biên Hoà, Đồng Nai) và chợ Sài Gòn (khu vực phường 12, quận 5, TP. Hồ Chí Minh). Dương Ngạn Địch đưa tướng sĩ đến Mỹ Tho, dựng nhà cửa, tụ họp người Kinh, người Di, kết thành làng xóm, lập nên Mỹ Tho Đại phố (khu vực phường 2, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang). Cũng trong năm 1679, chúa Hiền sai tướng mở đất dựng đồn dinh ở lân Tân Mỹ (khu vực chợ Thái Bình, quận 1, TP. Hồ Chí Minh). Sau đó, chúa cho lập 9 trường biệt nạp ở vùng Mỹ Tho, cho dân lập ấp khai khẩn làm ăn, nộp thuế. Năm 1680, Mạc Cửu đến Chân Lạp, chiêu tập lưu dân lập ra 7 thôn xã từ Vũng Thơm (Kompong Thom) đến Cà Mau (Tưk Khmau), đến năm 1708 cũng xin thần phục chúa Nguyễn. Từ giữa thế kỷ XIX, sau cuộc chiến tranh Nha phiến (1840-1842) và cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1850-1865), đông đảo người Hoa từ duyên hải Giang Nam Trung Quốc (Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam) lại tiếp tục đến Việt Nam. Từ đó, các truyền thống nội ngoại thương mà người Việt mang vào từ Trung Bộ đã được thăng hoa. Thật ra, ở quê cũ Trung Hoa, người Hoa cũng làm đủ thứ nghề. Nhưng đến Nam Bộ, người Hoa đã lựa chọn những sở trường đồng thời là ưu thế văn hoá mà không tộc người nào ở Đông Nam Á sánh bằng: thương mại, dịch vụ, thủ công, với sự hỗ trợ của mạng lưới thương nhân Hoa kiều hải ngoại. Họ lại được hưởng lợi từ chính sách cưu mang của chúa Nguyễn, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau này. Cho nên, sự hình thành nền kinh tế hàng hoá, phát triển thương mại, dịch vụ và đô thị ở Nam Bộ có công rất lớn của người Hoa. Hơn thế nữa, người Hoa không chỉ giỏi kinh doanh mà còn có những giá trị văn hoá phi vật thể vô cùng phong phú: Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo, các phong tục vòng đời người, các lễ hội dân gian với sức sống mãnh liệt làm nên tình đoàn kết và niềm tự hào dân tộc. Trong suốt mấy trăm năm đầu khai phá, ngoài một số tướng lĩnh vâng mệnh triều đình đi mở cõi (Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Tri Phương, Trương Định…), hầu hết các danh nhân văn hoá của vùng đất mới này đều là trí thức và tướng lĩnh người Hoa và người Việt Minh hương: Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần Đại Định, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ, Võ Trường Toản, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Phan Thanh Giản, v.v. Do nhu cầu bảo tồn văn hoá tộc người và quyền lợi kinh doanh, người Hoa rất hạn chế kết hôn, truyền nghề cho người Việt, để tập trung giúp đỡ những người đồng hương, đồng tộc. Nhưng “bức tường rêu” ấy (từ dùng của Bình Nguyên Lộc) đã tự tiêu tan sau nhiều thế hệ cộng cư và đồng hoá tự nhiên thành người Việt của một bộ phận người Hoa. Và theo thời gian, những giá trị văn hoá của người Hoa và người Việt Minh hương đã gia nhập vào văn hoá Việt ở Nam Bộ ngày nay.  Còn người Chăm Nam Bộ, nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, sử gọi là người Côn Man. Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc và Tây Ninh. Về sau, người Chăm ở Châu Đốc tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương…  Năm 1867, thực dân Pháp hoàn tất việc đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh, và hợp pháp hoá bằng Hoà ước Giáp Tuất 1874. Ngày 5/1/1876, Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ ra Nghị định phân chia Nam Kỳ thành 4 vùng hành chính (circonscription administrative) là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xắc, bao gồm 19 hạt (arrondissement administratif). Ngày 20/12/1889, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi các hạt Nam Kỳ thành tỉnh (province). Kể từ đó, về cơ bản diện mạo các tỉnh thành Nam Bộ đã được định hình, mặc dù các tỉnh thành còn trải qua nhiều lần tách, nhập. Và cũng từ lúc đó, cư dân Nam Bộ đã tiếp xúc với văn hoá Pháp. Giai đoạn đầu thời Pháp thuộc, dân ta chống Âu hoá và cố gắng Việt Nam hoá ảnh hưởng của phương Tây. Tình hình đó kéo dài suốt 40 năm kể từ khi tờ báo có sử dụng chữ Quốc ngữ đầu tiên là tờ Gia Định Báo ra đời năm 1865 ở Sài Gòn. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, với phong trào Duy Tân – Đông Du (1905-1908) trong cả nước và phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ (1907-1908), văn hoá Nam Bộ và văn hoá Việt Nam đã chủ động hội nhập với văn hoá phương Tây để hiện đại hoá, tự cường, thoát ly khỏi vòng ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Tiếp đó, trong các thập niên 1920, 1930, các trào lưu văn học, nghệ thuật, báo chí… theo xu hướng cách tân bùng lên sôi nổi, đặc biệt ở Nam Kỳ. Hàng loạt thể loại văn học, nghệ thuật, báo chí sử dụng tiếng Việt để truyền bá văn hoá mới, đã nở rộ khắp ba miền Bắc Trung Nam: báo chí, quảng cáo, nghị luận, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, phóng sự, cải lương, thơ mới, thoại kịch, v.v. Kết quả, đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, các bình diện văn hoá ở Nam Bộ và Việt Nam đều đổi mới. Chữ Quốc ngữ được hoá thân từ một công cụ của các giáo sĩ và của chế độ thực dân thành công cụ khai dân trí, chấn dân khí hiệu quả của những người yêu nước, và trở thành văn tự của nhân dân. Báo chí từng là công cụ của chế độ thực dân, trở thành công cụ tuyên truyền giáo dục của các lực lượng yêu nước. Những sản phẩm văn hoá khác, gốc phương Tây hoặc có ảnh hưởng của phương Tây, như Âu phục, áo dài, trường học kiểu phương Tây, tiểu thuyết, thơ mới, thoại kịch, cải lương, v.v. cũng mau chóng ra đời và đạt được nhiều thành tựu. Tất cả đều đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của người Việt Nam trong thời kỳ mới, và đều được Việt hoá ở những mức độ khác nhau.  Như vậy, sau khi văn hoá Óc Eo lụi tàn, do lưu dân Khmer quá thưa thớt, hầu hết đồng bằng Nam Bộ đã trở nên hoang hoá. Từ khoảng đầu thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XX, đông đảo lưu dân các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm mới lần lượt tiến vào Nam Bộ, chia nhau khai khẩn, đào kinh, canh tác, định cư, buôn bán, dần dần biến một vùng đất hoang vu rộng lớn thành những vùng nông nghiệp trù phú và những đô thị sầm uất. Quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá sôi động đã khiến cho văn hoá Việt ở Nam Bộ tiếp biến thêm một số đặc điểm của văn hoá Hoa, văn hoá Khmer. Ngược lại, trong văn hoá của các tộc người Hoa, Khmer, Chăm… ở Nam Bộ, đều có các yếu tố của văn hoá Việt. Từ cuối thế kỷ XIX, người Việt Nam Bộ đã giao lưu và tiếp biến văn hoá Pháp. Nền văn hoá Nam Bộ từ đó đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa cái nền là văn hoá Việt từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Hoa, Khmer và văn hoá phương Tây.  ———-  Chú thích: TS. Lý Tùng Hiếu, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP. Hồ Chí Minh.    Author                Lý Tùng Hiếu        
__label__tiasang Khai khoáng biển sâu sẽ biến đại dương thành ‘không gian công nghiệp mới’      Các đại dương trên thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ trở thành một “không gian công nghiệp mới” với ngành công nghiệp khai khoáng biển sâu khi các công ty đang xếp hàng để khai thác kim loại và khoáng sản từ một số vùng sinh thái quan trọng bậc nhất hành tinh.      Một cánh tay robot đang lấy mẫu đá giàu khoáng sản ở sâu dưới lòng đại dương, khu vực biển Papua New Guinea. Nguồn ảnh: Nautilus Minerals.   Báo cáo mới đây của tổ chức hoạt động môi trường Greenpeace, trụ sở tại Canada, tiết lộ, có 29 giấy phép thăm dò khai thác đáy biển đã được cấp, sẽ đi vào thực hiện với tổng diện tích lớn gấp năm lần diện tích nước Anh. Các nhà môi trường cho biết việc khai thác được đề xuất sẽ không chỉ đe dọa các hệ sinh thái quan trọng mà cả cuộc chiến toàn cầu chống lại biến đổi khí hậu.   Các giấy phép, do một cơ quan của Liên Hợp Quốc, Cơ quan quốc tế quản lý đáy biển (International Seabed Authority, ISA) cấp, đã cho phép một số quốc gia quyền khai thác ở một số khu vực biển quốc tế. Các khu vực khai thác được lựa chọn bao gồm khu vực rộng lớn của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương, tổng cộng 1,3 triệu km2. Trong đó, Trung Quốc có nhiều nhất với 4 giấy phép được cấp trên tổng diện tích đáy biển rộng 161.000 km2, liền sau là Anh, Hàn Quốc, Nga và Đức.   Nếu việc khai thác được tiến hành, các máy móc lớn sẽ được đưa xuống đáy biển để khai thác coban, mangan và các kim loại hiếm khác. Hoạt động khai thác sẽ được giao lại cho các nhà thầu thương mại, ví dụ như Nautilus Minerals Inc (Canada), UK Seabed Resources Ltd (trực thuộc Lockheed Martin, Anh), COMRA (Trung Quốc) hay các chính phủ liên quan…  Các nhà hoạt động môi trường cho biết, việc khai thác này không chỉ phá hủy các khu vực ít được biết đến dưới đáy biển mà sẽ làm khí hậu toàn cầu thêm xấu đi khi phá vỡ các bể carbon lắng đọng trong trầm tích đáy, làm giảm khả năng lưu trữ carbon của đại dương.  Giới công nghiệp cho biết, khai thác biển sâu cho phép trích xuất các nguyên liệu cần thiết cho các ngành công nghệ mũi nhọn như pin, máy tính và điện thoại, do đó có ý nghĩa cho quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh. Những người cổ động cho khai khoáng biển sâu nói rằng hoạt động khai thác sẽ ít gây hại cho môi trường và công nhân hơn hầu hết các hoạt động khai thác khoáng sản hiện có.  Tuy nhiên, bản báo cáo của Greenpeace cũng cho biết: “Ngành công nghiệp khai thác biển sâu tự quảng bá đóng góp của mình cho một tương lai cắt giảm carbon, nhưng hoạt động trong các ngành năng lượng tái tạo, xe điện hoặc pin lại không cho thấy điều đó. Những lập luận như vậy đã bỏ qua lời kêu gọi chuyển từ khai thác vô tận tài nguyên sang nền kinh tế có tính chuyển đổi và tuần hoàn.”  “Sức khỏe của đại dương có liên quan mật thiết đến sự sống còn của chính chúng ta. Nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ để bảo vệ đại dương, việc khai thác dưới biển sâu có thể gây hậu quả tàn khốc cho môi trường biển và cho loài người”, Louisa Casson, một nhà hoạt động môi trường biển tại Greenpeace, cho biết.  Báo cáo chỉ ra nhiều lỗ hổng trong hệ thống quản lý của ISA, được thành lập dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, bao gồm việc thiếu chức năng bảo vệ đồng bộ môi trường biển, và thực hành quản lý giám sát thiếu tính độc lập. “Một số điều khoản cụ thể của ISA tỏ ra có định hướng khai thác nhiều hơn là bảo tồn.” Do đó, báo cáo kêu gọi các chính phủ trong một năm tới phải nhất trí về một Hiệp ước Đại dương toàn cầu (Global Ocean Treaty) có giá trị ràng buộc, với sự tham vấn ý kiến các nhà khoa học, viên chức chính phủ, các nhà môi trường và đại diện của ngành công nghiệp đánh bắt cá, những người có quyền lợi và trách nhiệm cảnh báo về mối đe dọa từ việc khai thác dưới biển sâu đối với môi trường biển.□  Tuấn Quang dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2019/jul/03/deep-sea-mining-to-turn-oceans-into-new-industrial-frontie    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác dữ liệu để hiện đại hóa “thuốc ta”      Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất thế giới. với khoảng 12.000 loài thực vật.    TS Đặng Thị Thu Thủy, trưởng nhóm nghiên cứu các hợp chất có hoạt tính từ thực vật, Đại học British Columbia, Kelowna, Canada.  Trong số đó, khoảng 10.500 cây đã được định danh, và  khoảng 3.780 cây (chiếm 36%) có giá trị dược liệu. Các loài dược liệu của Việt Nam chiếm khoảng 11% trong số 35.000 cây dược liệu trên thế giới. Con số này khá thấp vì còn có nhiều cây dược liệu chỉ được đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm tới 14% dân số) dùng chữa trị bệnh tật hoặc nâng cao sức khỏe1.    Tại Việt Nam, cây thuốc không chỉ được dùng để chữa những bệnh thông thường mà còn được dùng kèm với một số “thuốc Tây” để chữa những bệnh nguy hiểm khác. Số liệu của Bộ Y tế cho thấy rằng có khoảng 30% bệnh nhân dùng thuốc Đông – Tây y kết hợp. Vì thế, nhu cầu cây thuốc ngày càng tăng, làm cho hàng ngàn tấn cây thuốc quý bị khai thác từ môi trường tự nhiên1.    Với nguồn thực vật đa dạng như vậy, việc chúng ta cần làm là tìm hiểu, định danh, xác nhận cấu trúc những hoạt chất mà ta cho rằng có thể có dược tính quan trọng từ kinh nghiệm dùng cây thuốc trong dân gian. Sau đó, bằng thử nghiệm lâm sàng, ta có thể khẳng định chắc chắn những hoạt tính đã biết (theo kinh nghiệm), hay thậm chí tìm ra những hoạt tính mới, rồi từ đó phát triển thành thuốc. Các loại hoạt chất đã được khoa học các nước phát triển có điều kiện phát triển thành thuốc trước có thể dùng làm mẫu để những người nghiên cứu thảo dược ở nước ta tìm ra và phát triển các loại thuốc từ cây cỏ của nước mình.    Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất để Việt Nam phát triển theo hướng này là ít có tài liệu về cây thuốc nam. Ngoài tài liệu về cây thuốc Việt Nam bằng tiếng Anh của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xuất bản lần gần đây nhất là vào năm 1990 và bằng tiếng Việt là của giáo sư Đỗ Tất Lợi3, thì từ đó đến nay có rất ít tài liệu hệ thống lại các cây thuốc, tác dụng, các chất có hoạt tính sinh học và phân bố của các loại cây thuốc này tại Việt Nam.    Hiện tại, trang VIETHERB của nhóm tác giả Lê Thị Lý đã thống kê được khoảng 2.881 loài, 10.887, 458 vị trí địa lý và 8.046 công dụng của các cây thuốc Việt Nam4. Những số liệu này được kết hợp từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy trong nước (Cây thuốc, Từ điển cây thuốc Việt Nam) và nước ngoài (KNApSAcK, Tropicos, The Plant List, ChEBI, GBIF). Những số liệu được thống kê trên trang VIETHERB có ưu điểm là rất đặc trưng cho cây thuốc Việt Nam, điều không dễ tìm kiếm được trên các ngân hàng dữ liệu lớn như TCM hoặc KNApSAcK.    Trang này cũng có thêm công cụ tìm kiếm (search engine) để tìm cây bằng tên khoa học và tên thông thường, và tìm các chất bằng tên chất và công thức hóa học (chemical formula). Các các giả còn thiết kế cơ sở dữ liệu cách dùng (công dụng), trong đó có chỉ rõ liên hết hai chiều (binary relationships) giữa cây và nơi dùng, cây thuốc và tác dụng sinh học. Việc kết hợp kiến thức về công dụng của các loài cây, với những cơ sở dữ liệu tập hợp (omics) hiện đại, trong đó có metabolomics, là một bước quan trọng để hiểu rõ hơn tác dụng của các thành phần khác nhau trong cây thuốc lên cơ thể con người 5. Ngày nay, trên thế giới, việc  nghiên cứu tập hợp các chất chuyển hóa (metabolomics) đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các nghiên cứu về sự tương tác giữa thực vật với môi trường, đặc biệt là giữa thực vật với con người. Hiện nay có rất nhiều cơ sở dữ liệu về các chất chuyển hóa (metabolite) từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như PubChem, KEGG, trong đó dữ liệu chủ yếu thiên về các chất và các con đường trao đổi chất. Sự liên kết các bộ dữ liệu hóa học các chất chuyển hóa, dữ liệu di truyền, dữ liệu sinh hóa, và dữ liệu dược tính đóng vai trò then chốt trong việc xác định chính xác cách thức cây tạo ra thuốc, rồi từ đó ứng dụng vào sản xuất (xem ảnh minh họa)2. Tuy nhiên, ngoài KNApSAcK, vẫn còn ít các cơ sở dữ liệu lưu giữ những dữ liệu về mối liên hệ giữa các chất này với nguồn gốc sinh hóa và tác dụng của chúng.    Nếu những thông tin về cây thuốc từ những vùng khác nhau và có mục đích sử dụng khác nhau có thể được tổng hợp lại trong một cơ sở dữ liệu, chúng ta có thể dùng cơ sở dữ liệu này có thể hệ thống lại việc sử dụng một số cây nhất định trong nước, và cả thế giới.  Hình 1: Khám phá và khai thác cây thuốc trong thời đại omics. Sự liên kết thông tin đa ngành về cây thuốc giúp ta xác định chính xác cơ chế sinh hóa của cây và đưa ra cách ứng dụng hay cải thiện phù hợp. (Nguồn: Li & Weng, 2017, Nature Plants) 2.  Những thông tin về cây thuốc, các hợp chất được tạo ra từ các cây này sẽ tạo điều kiện cho những nghiên cứu sâu hơn về mặt dược học, hóa học sinh hóa và dữ liệu cây thuốc. Các số liệu trong dữ liệu này cũng cho thấy một lỗ hổng trong nghiên cứu cây dược liệu tại Việt Nam, đó là những nghiên cứu sâu về tính năng của các chất riêng rẽ, hơn là các cây. Các nghiên cứu cơ bản về sinh hóa và sinh học tổng hợp vì thế còn gặp nhiều trở ngại.    Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế của công trình này, ví dụ như hầu hết các thông tin trên VIETHERB được thu thập và chuyển đổi bằng tay. Hơn nữa, mặc dù các cây thuốc truyền thống của Việt Nam đã được dùng hàng ngàn năm và được kiểm chứng bằng dẫn chứng khoa học, nhưng vẫn có một số các bài thuốc được thu thập từ nhiều nguồn chưa được kiểm chứng bài bản, ví dụ như từ kinh nghiệm dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số chưa qua nghiên cứu dược lý hay lâm sàng. Hiện tại, nhóm nghiên cứu này đang phát triển một hệ thống phản hồi (feedback and consensus) để cho phép người dùng có thể tạo một phiên bản riêng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của họ. Vì vậy, có thêm những nhà nghiên cứu về y học cổ truyền, dược học, hóa học, sinh hóa tham gia để mở rộng hơn, kiểm chứng và hoàn thiện những dữ liệu trên cơ sở dữ liệu này là điều hết sức cần thiết.    Ngoài ra, cơ sở dữ liệu VIETHERB này còn có thể phát huy tác dụng nhiều hơn nữa nếu được bổ sung tên thông thường của cây bằng tiếng Anh (ngoài tên thường gọi tiếng Việt và tên khoa học), chia các chất theo từng nhóm (alkaloid, terpenoid, phenylpropanoid, v.v…) và theo phân tử lượng, đồng thời ghi kèm nguồn tài liệu tham khảo tin cậy (nếu có). Cuối cùng, một cơ sở dữ liệu như VIETHERB nếu được cập nhật thường xuyên sẽ là một nguồn thông tin hết sức giá trị cho những người làm nghiên cứu hay sản xuất trong lĩnh vực sinh hóa, hóa học thực vật cũng như hóa dược. □  ——  Tài liệu tham khảo:  [1] Tran TTH (2016). The interface between access and benefit-sharing rules and biotrade in Viet Nam. United Nations Conference on Trade and Development.  [2] Li FS, Weng JK (2017). Demystifying traditional herbal medicine with modern approach. Nature Plants 3:17109. https://doi.org/10.1038/nplants.2017.109  [3] Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Thời Đại. p. 1485.  [4] Nguyen-Vo TH, Le T, Pham D, Nguyen T, Le P, Nguyen A, Nguyen T, Nguyen TN, Nguyen V, Do H, Trinh K, Duong HT, Le L (2019). VIETHERB: A database for Vietnamese herbal species. Journal of Chemical Information and Modeling 59:1. https://doi.org/10.1021/acs.jcim.8b00399  [5] Afendi FM, Okada T, Yamazaki M, Hirai-Morita A, Nakamura Y, Nakamura K, Ikeda S, Takahashi H, Altaf-Ul-Amin M, Darusman LK, Saito K, Kanaya, S. (2012). KNApSAcK family databases: Integrated metabolite–plant species databases for multifaceted plant research. Plant and Cell Physiology 53: e1. https://doi.org/10.1093/pcp/pcr165    Author                Đặng Thị Thu Thủy        
__label__tiasang Khai thác dữ liệu phi cấu trúc      Thế giới hiện nay đang sở hữu một lượng dữ liệu khổng lồ từ các hoạt động thường ngày của mình, đa phần trong số đó là dữ liệu dưới dạng phi cấu trúc. Nếu không có cách thức xử lý và chuẩn hóa để đưa vào ứng dụng trong phân tích khách hàng, dịch vụ, ngăn chặn khủng hoảng xã hội, nguy cơ cạnh tranh, khủng bố…, có thể chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng “chết khát trong biển thông tin”.      Việc xử lý dữ liệu phi cấu trúc nằm ngoài khả năng xử lý của doanh nghiệp. Ảnh: conceptodefinicion.de  Khái niệm dữ liệu phi cấu trúc  Một câu hỏi đặt ra là dữ liệu phi cấu trúc là gì? Vì sao nó lại quan trọng với chúng ta? Nói một cách đơn giản, dữ liệu phi cấu trúc là những thông tin không được định nghĩa trước về mô hình dữ liệu hay cách thức tổ chức nội dung của dữ liệu. Dữ liệu phi cấu trúc phần lớn là những dữ liệu văn bản, tạo ra theo cách diễn đạt tự nhiên của con người. Tính bất thường (irregularities) và mơ hồ (ambiguities) khiến dữ liệu phi cấu trúc khó xử lý bởi các chương trình máy tính truyền thống so với loại dữ liệu có cấu trúc được lưu trữ thành các bản ghi với kiểu dữ liệu và trường dữ liệu rõ ràng.  Chúng ta đang chứng kiến sự bùng nổ về khối lượng dữ liệu phi cấu trúc như web, văn bản, tin tức, email, mạng xã hội… từ các nguồn internet, truyền thông xã hội và dữ liệu nội bộ. Theo báo cáo năm 2015 của Deloitte, tổ chức chuyên về tư vấn doanh nghiệp, kiểm toán và dịch vụ tài chính lớn nhất thế giới, mỗi ngày cả thế giới gửi và nhận 294 tỉ email, 1 tỉ chia sẻ nội dung trên Facebook, 200 triệu ‘tweets’ (chia sẻ nội dung ngắn) trên Twitter. Theo một số nhận định trên Forbes, Forrester Research, dù lượng dữ liệu phi cấu trúc chiếm từ 80-90% khối lượng dữ liệu của các tổ chức, doanh nghiệp lớn nhưng dữ liệu này chưa được khai thác hiệu quả để có thể biến thành các quyết định, giải pháp, hành động mang lại giá trị và lợi nhuận cho doanh nghiệp hay tổ chức bởi việc nắm bắt, phân tích, tận dụng loại thông tin này gần như vượt quá khả năng của các doanh nghiệp.  Lợi ích của khai thác dữ liệu phi cấu trúc  Có một vấn đề phổ biến là hiện nhiều doanh nghiệp vẫn còn chưa nhìn nhận hết về vai trò và lợi ích của dữ liệu phi cấu trúc dù phải đối mặt với nó hằng ngày. Khai thác dữ liệu phi cấu trúc có thể áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực như ngân hàng, đầu tư, bảo hiểm, môi giới nhà đất, viễn thông, truyền thông, sản xuất thiết bị, xuất khẩu… với một số ứng dụng như:  Hiểu sâu sắc về khách hàng (customer insights): Phân tích dữ liệu phi cấu trúc giúp phát hiện được cung cầu trên thị trường, giúp doanh nghiệp chủ động tiếp cận khách hàng tiềm năng, kết hợp với các hệ thống quản lý quan hệ khách hàng sẵn có (CRM) để có một cách nhìn bao quát đầy đủ hơn về nhu cầu khách hàng, tăng lượng khách hàng và lợi nhuận của công ty.  Ví dụ một công ty môi giới nhà đất có thể dùng hệ thống khai thác thông tin phi cấu trúc phát hiện các dự án mới trên thị trường qua nguồn tin tức, dữ liệu ngành xây dựng, quy hoạch đô thị, phát hiện thông tin về chủ đầu tư và địa điểm dự án, từ đó kết nối với khách hàng có nhu cầu tương ứng để dẫn đến một giao dịch môi giới thành công.  Hiểu sâu sắc về dịch vụ (service insights): Các phản ánh về dịch vụ thường được mô tả một cách phi cấu trúc  qua các kênh như email, hệ thống quản lý phản hồi dịch vụ (web form, ticket system), tin tức, mạng xã hội… Công nghệ  phân tích dữ liệu phi cấu trúc sẽ giúp phân loại thành nhóm các phản ánh, vấn đề về dịch vụ, tự động gán người xử lý, gợi ý câu trả lời. Trung bình giúp giảm 30% thời gian xử lý các vấn đề liên quan chất lượng dịch vụ của tổ chức hay doanh nghiệp.      Thách thức đối với các doanh nghiệp, tổ chức trong kỷ nguyên dữ liệu lớn không chỉ là không biết xử lý dữ liệu mà còn thậm chí không biết đến các nguồn dữ liệu có giá trị để xử lý.      Ví dụ khi một công ty sản xuất đồ điện tử ra mắt sản phẩm mới, thường sẽ nhanh chóng nhận được thắc mắc, phản hồi khen chê từ khách hàng qua nhiều kênh. Hệ thống xử lý dữ liệu phi cấu trúc có thể tự động phân loại các phản hồi này. Nếu là phản hồi tốt có thể dùng làm nguồn dữ liệu cho marketing, quan hệ công chúng (PR), nếu có lỗi sản phẩm thì khoanh vùng chức năng lỗi, tìm kiếm trong dữ liệu nội bộ những người đã từng giải quyết, liên quan vấn đề tương tự để gợi ý người nhanh chóng khắc phục lỗi sản phẩm và phản hồi lại khách hàng.  Hiểu sâu sắc về nguy cơ (risk insights): Phát hiện thông tin giả mạo, phát hiện theo thời gian thực các rủi ro khủng hoảng có thể thực hiện được bằng việc phân tích các nguồn dữ liệu phi cấu trúc. Việc phân tích thông tin của các đối thủ cạnh tranh trên hệ thống tin tức, mạng xã hội cũng giúp doanh nghiệp kịp thời có các giải pháp chiến lược ứng phó và cạnh tranh lại.  Ví dụ khi một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thực phẩm ra thị trường châu Âu-Mỹ. Thị trường này thường xuyên cập nhật các văn bản luật liên quan đến lĩnh vực an toàn thực phẩm, các chất cấm, sản phẩm được bảo hộ… Dùng kỹ thuật khai thác thông tin phi cấu trúc, họ có thể phát hiện xem văn bản này có liên quan đến sản phẩm công ty hay không, từ đó kịp thời điều chỉnh sản xuất, ngăn chặn các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sản phẩm xuất khẩu.  Kỹ thuật và hệ thống khai thác dữ liệu phi cấu trúc  Nhận thức được những lợi ích mà dữ liệu phi cấu trúc đem lại, chúng ta càng có thêm động lực để khai thác chúng một cách hiệu quả. Tuy nhiên do tính chất phức tạp mà việc khai thác dữ liệu phi cấu trúc cần có những công cụ riêng biệt để xử lý và tận dụng nó một cách hiệu quả. Hiện thách thức đối với các doanh nghiệp, tổ chức trong kỷ nguyên dữ liệu lớn không chỉ là không biết xử lý dữ liệu mà còn thậm chí không biết đến các nguồn dữ liệu có giá trị để xử lý.  Một hệ thống khai thác nguồn dữ liệu phi cấu trúc trong doanh nghiệp, tổ chức thường bao gồm các thành phần chính:  Hệ thống thu thập thông tin từ nhiều nguồn:  Nguồn tin ở đây có thể là các trang web, tin tức, các API (Application Programming Interface) do các công ty chuyên về dữ liệu cung cấp, các trang mạng xã hội, nguồn tin trao đổi trong công ty như email, tài liệu, hệ thống chat…Lưu trữ, cập nhật theo thời gian thực, phát hiện nguồn tin mới, cảnh bảo nguồn tin cũ không còn hoạt động  luôn là các thách thức với các hệ thống thu thập thông tin.  Hệ thống phân loại, xử lý bóc tách các thuộc tính hữu ích từ thông tin:  Dữ liệu thu thập về thường chỉ là dạng thô, cần phải lọc bỏ các phần không cần thiết, lọc bỏ thông tin trùng lặp dư thừa, bóc tách các thuộc tính quan trọng như tên người, tên hãng, tên sản phẩm, địa điểm, thời gian… (entity extraction). Nhóm dữ liệu cùng thuộc tính (clustering), phân loại, sắp xếp dữ liệu vào các danh mục đã định nghĩa sẵn (classification), thậm trí áp dụng nhận dạng thông tin từ dữ liệu đa phương tiện như nhận dạng ký tự từ hình ảnh, file audio…Ngoài việc đảm bảo chất lượng, khả năng xử lý một khối lượng lớn dữ liệu trong thời gian thực cũng vẫn là một vấn đề lớn đòi hỏi công nghệ Big Data và các kiến trúc xử lý dữ liệu phân tán, song song.  Hệ thống lưu trữ, hỗ trợ tìm kiếm, gợi ý thông tin:  Dữ liệu sau khi “làm sạch” cần được lưu trữ để dễ tìm kiếm, dễ tổng hợp và gợi ý thông tin (thường là các search engine có chức năng indexing, matching và ranking dữ liệu). Hệ thống này cũng thực hiện các bước thống kê tần xuất, tìm mối quan hệ giữa các thuộc tính (pattern recognition) (ví dụ từ khoá “industry 4.0” hay xuất hiện cùng với “internet of things”, “xuất khẩu tôm” có thể liên quan đến chất cấm “oxytetracyline”, “cryptocurrency” hay xuất hiện với “blockchain”, “bitcoin”), dự đoán xu hướng (trend prediction) và phát hiện các điều bất thường (abnormal detection).  Hệ thống giao diện hiển thị thông tin:  Cuối cùng tất cả các thông tin qua xử lý cần có một hệ thống giao diện dễ dàng sử dụng bởi người dùng để tạo báo cáo, bảng biểu, đồ thị nhằm giúp người dùng nhìn ra thông tin hữu ích nhanh nhất để hỗ trợ quyết định và hành động. Ví dụ khi có thông tin địa điểm nên hiện giao diện là bản đồ, thông tin là sự kiện nên hiển thị theo trục thời gian, thông tin thành phần, tỉ lệ nên hiển thị kiểu Piechart, hoặc có quá nhiều từ khoá mới mức độ quan trọng khác nhau có thể dùng Wordcloud… Ngoài ra khi phát hiện điều bất thường từ dữ liệu thì chức năng cảnh báo sẽ gửi sms, email cho người sử dụng cũng là cách giúp việc tương tác với hệ thống chủ động hơn.  Các doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam rất có thể đang đánh mất lợi thế cạnh tranh vì: chưa phát hiện ra tiềm năng của khai thác dữ liệu phi cấu trúc; các hệ thống tin học chưa đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm phân tích thông tin; không tuyển được nhân lực và tự xây dựng một hệ thống có đủ các chức năng đã nêu.      Khi lượng dữ liệu phi cấu trúc thể hiện cách diễn đạt tự nhiên của con người được lưu chuyển, lưu trữ trong các hệ thống thông tin càng nhiều thì việc hiểu, xử lý nó tự động để ứng dụng trong đời sống, công việc ngày càng cấp thiết, thậm chí là then chốt cho việc thành bại của doanh nghiệp, tổ chức trong cuộc CMCN4.        Mặc dù các kỹ thuật xử lý thông tin phi cấu trúc, dữ liệu lớn không phải là quá mới mẻ nhưng để dùng đúng hệ thống, kết nối các thành phần một cách thông suốt, áp dụng vào đúng vấn đề vẫn là thách thức của nhiều tổ chức và doanh nghiệp quốc tế lớn.  Những tiên phong ứng dụng xử lý dữ liệu phi cấu trúc  Trên thế giới đã có những ví dụ thành công về việc xử lý và khai thác dữ liệu phi cấu trúc mà chúng ta có thể tham khảo.    Nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng ở Brookson  Brookson là một công ty ở Anh cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp cho những người làm việc cho bản thân (self-employee) hay nhận việc theo hợp đồng ngắn (contractor). Khách hàng thường là những người có chuyên môn cao thực hiện các hợp đồng giá trị đa dạng, nên cách thức tính thuế phức tạp hơn những người có hợp đồng dài hạn.  Mặc dù khá tích cực trong việc ứng dụng các công nghệ mới như Analytics, Big data, Business Intelligent, tuy nhiên công ty phát hiện ra rằng hệ thống quan hệ khách hàng của công ty (Customer relationship management – CRM) không phát huy được hiệu quả khi phòng quản lý dịch vụ khách hàng phải xử lý mỗi tuần khoảng 30.000 email về các vấn đề của khách hàng.  Sử dụng hệ thống khai thác thông tin phi cấu trúc của công ty Squirro, các email trao đổi với khách hàng của Brookson được xử lý, áp dụng các kỹ thuật phân tích nội dung tự động, gắn với nguồn dữ liệu từ hệ thống CRM công ty đang dùng để giúp các nhân viên thông thường cũng nhìn ra quy trình bị bế tắc ở đâu, giải quyết phản hồi nhanh hơn bằng cách nhóm các khách hàng có cùng vấn đề vào một nhóm để xử lý đồng loạt mà không đòi hỏi kiến thức của các nhà khoa học dữ liệu.  Nhờ vào hệ thống phân tích dữ liệu email này, các giải pháp đã được công ty triển khai để nâng cao chất lượng dịch vụ như: Tự động phân loại, dự đoán xu hướng phản hồi và sự hài lòng khách hàng về dịch vụ, thêm các logic để xử lý hoá đơn, thắc mắc; định nghĩa lại phân khúc khách hàng, phương thức giao tiếp, phân loại lại tính hiệu quả trong việc trả lời khách hàng của nhân viên; Xem xét lại hiệu suất và tính chặt chẽ của việc trả lời khách hàng của nhân viên; Đánh giá lại các hoạt động, mức độ ảnh hưởng của mỗi phòng ban trong giao tiếp với khách hàng; Phát triển các chiến lược giao tiếp khách hàng mới để chủ động tránh việc phản hồi của khách hàng xảy ra dồn dập gây khủng hoảng về chất lượng dịch vụ.  Giảm nguy cơ tài chính qua theo dõi khủng hoảng tại ABB  ABB là công ty đa quốc gia có trụ sở tại Zurich, Thụy Sĩ, hoạt động trong lĩnh vực tự động hoá, năng lượng và robot với doanh thu khoảng 40 tỉ USD/năm.  Bộ phận truyền thông tại ABB có nhiệm vụ quan sát các cuộc khủng hoảng đang nổi lên trên toàn cầu bằng cách tìm kiếm các vấn đề và sự cố có thể ảnh hưởng đến tất cả các bên liên quan của ABB. Phòng ban này có có trách nhiệm đảm bảo rằng các giám đốc điều hành cấp C (ví dụ CEO, COO, CFO, CTO…) được thông báo kịp thời về bất kỳ rủi ro tiềm ẩn nào.  Để thực hiện nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu đối mặt với thách thức là phải tích hợp và đánh giá các luồng thông tin toàn cầu và địa phương bằng nhiều ngôn ngữ, bao gồm cả tiếng Trung. ABB đã sử dụng hệ thống khai thác thông tin phi cấu trúc của Squirro để giúp quản lý khối lượng và sự đa dạng của những luồng dữ liệu này.  Squirro đã sử dụng công nghệ lọc thông minh dữ liệu phi cấu trúc, tìm ra các thông tin liên quan đến sự cố, loại bỏ nhanh chóng các thông tin không cần thiết, phát hiện ra các “điểm mù” truyền thông và gửi báo cáo tự động đến các phòng ban cá nhân liên quan. Toàn bộ quy trình của hệ thống đã cung cấp cho ABB giải pháp giám sát chính xác, cho phép bộ phận truyền thông xác định các sự cố trong thời gian thực và đáp ứng lại một cách hiệu quả.  Kết quả sau 6 tuần triển khai dự án, Squirro đã giúp hơn 100 nhân viên và giám đốc điều hành cấp C xử lý công việc việc tốt hơn, giúp tiết kiệm cho tập đoàn giá trị xấp xỉ 100 triệu USD mất mát do các rủi ro và khủng hoảng tiềm ẩn.  ***  Kỷ nguyên số hoá đang tiếp tục diễn ra giúp lưu trữ một lượng dữ liệu khổng lồ của con người vào trong các hệ thống máy tính. Tuy nhiên khi lượng dữ liệu phi cấu trúc thể hiện cách diễn đạt tự nhiên của con người được lưu chuyển, lưu trữ trong các hệ thống thông tin càng nhiều thì việc hiểu, xử lý nó tự động để ứng dụng trong đời sống, công việc hằng ngày càng cấp thiết, thậm chí là then chốt cho việc thành bại của doanh nghiệp, tổ chức trong cuộc CMCN4. Các công nghệ liên quan đến dữ liệu phi cấu trúc như bóc tách thông tin quan trọng từ ngôn ngữ tự nhiên, phân loại thông tin tự gán người xử lý, phát hiện mối liên quan từ nhiều văn bản, trả lời tự động (chatbot), phân tích tâm lý  (sentimel analysis), tìm kiếm theo khái niệm (concept search) vẫn đang được tiếp tục hoàn thiện và bắt đầu phát huy hiệu quả trong các doanh nghiệp lớn trên thế giới.          Author                Lưu Vĩnh Toàn        
__label__tiasang Khai thác hay bảo vệ rừng: Chọn mục tiêu nào?      Trong bối cảnh lũ lụt, trượt lở, lũ quét nghiêm trọng diễn ra liên tục trong nhiều năm gần đây ở miền Trung, vấn đề bảo vệ rừng và chống suy thoái rừng nổi lên như một yêu cầu cấp bách. TS. Phạm Thu Thủy, trưởng đại diện Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) tại Việt Nam – một tổ chức khoa học nghiên cứu về chính sách và kĩ thuật quản lý rừng bền vững, đặc biệt là rừng nhiệt đới ở các nước đang phát triển – đã trao đổi với Tia Sáng về những chính sách, giải pháp cần triển khai sớm để khắc phục tình trạng phá rừng và chống suy thoái rừng ngày càng diễn ra trầm trọng.      TS. Phạm Thị Thu Thủy tại hội thảo “Phát triển kinh tế Việt Nam trong bối cảnh biến đổi toàn cầu” do trường Kinh tế   (ĐHQGHN) phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trung tâm Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) tổ chức vào ngày 24/10/2020.  Bức tranh về phá rừng và suy thoái rừng     Chị có thể cho biết thực chất bức tranh về rừng của Việt Nam hiện nay như thế nào?    Theo những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi có được khi nhìn lại quãng thời gian những năm 1990 đến nay, độ che phủ rừng của Việt Nam đã được tăng lên với tỉ lệ che phủ từ hơn 30% lên 42%, trong đó chủ yếu là rừng trồng. Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở đây là việc gia tăng diện tích đó không song hành với cải thiện chất lượng rừng, thậm chí việc duy trì chất lượng rừng thực sự là thách thức. Ngoài ra, trong khi diện tích rừng trồng tăng thì diện tích rừng tự nhiên lại giảm hoặc suy thoái nặng nề. Theo nhiều báo cáo khoa học, diện tích rừng tự nhiên được phân loại là rừng giàu giảm 10,2% trong khoảng thời gian 6 năm từ 1999 đến 2005 và lượng rừng chất lượng trung bình giảm 13,4% so với cùng kỳ. Đến năm 2012, rừng giàu đóng tán chỉ còn chiếm 4,6% tổng độ che phủ rừng. Trên thực tế, các rừng giàu đa dạng sinh học trên đất thấp đã hầu như không còn, nhất là rừng ngập mặn.      Các nguyên nhân dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng phần lớn đến từ ngoài ngành lâm nghiệp. Do đó, việc giải quyết các nguyên nhân dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, một mình ngành lâm nghiệp sẽ không thể giải quyết được      Diện tích và chất lượng rừng ở các vùng sinh thái cũng rất khác nhau do mỗi vùng có điều kiện tự nhiên, ưu tiên và chính sách phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Ví dụ, rừng tự nhiên tái sinh cao nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt trong giai đoạn 1993 đến 2003 nhờ các chính sách hỗ trợ phủ xanh đất trống đồi trọc. Trong khi đó, diện tích rừng tại Tây Nguyên có nhiều biến động và có xu thế giảm trước sức ép về nhu cầu phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng. Diện tích và chất lượng rừng tự nhiên tăng có xu thế tăng nhẹ ở các khu vực rừng đặc dụng (vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên), trong khi rừng tự nhiên ngoài hệ thống này lại có xu hướng giảm hoặc bị không đổi.    Cũng cần phải nhấn mạnh rằng rừng và lâm sản có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân địa phương. Việt Nam có ít nhất 25 triệu người sống phụ thuộc vào rừng, trung bình khoảng 20% thu nhập (bằng tiền và hiện vật) của những người này là từ rừng.  “Hiện nay vẫn có dư luận ‘đổ tội’ người dân phá rừng. Không thể phủ nhận tại nhiều nơi việc khai thác gỗ củi và mật, săn bắn thú rừng, đốt nương làm rẫy đã dẫn đến việc một phần nhỏ diện tích của rừng bị suy giảm. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng bị mất là do những chuyển đổi mục đích sử dụng đất lớn nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hoặc do các bên có nguồn lực tài chính lớn. Ví dụ, vào giai đoạn sau Đổi mới, để phát triển kinh tế xã hội, nhà nước đã khuyến khích người dân di dân làm kinh tế mới, các nông lâm trường tăng gia sản xuất và chuyển đổi nhiều diện tích rừng sang trồng trọt nông nghiệp. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng cho thấy trên thực tế, những hộ nghèo nhất lại phá rừng ít nhất. Vì vậy cần thực sự xem xét tới việc đâu là nguyên nhân chính dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng thay vì giữ định kiến người dân và người nghèo luôn là nguyên nhân chính”. (TS Phạm Thị Thu Thủy).         Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất rừng và suy thoái rừng ở Việt Nam?     Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm các nguyên nhân kinh tế, xã hội và tự nhiên. Các nguyên nhân do điều kiện tự nhiên bao gồm cháy rừng, hạn hán, sâu bệnh, biến đổi khí hậu cũng dẫn tới sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng ở nhiều địa phương. Ngoài ra, ba nguyên nhân kinh tế và xã hội trực tiếp khác dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng tại Việt Nam gồm: chuyển đổi sang đất canh tác nông nghiệp (đặc biệt là cho cây công nghiệp dài ngày); phát triển cơ sở hạ tầng; và khai thác gỗ không bền vững (cả hợp pháp và không hợp pháp). Bên cạnh đó, các nguyên nhân gián tiếp của mất rừng và suy thoái rừng tại Việt Nam là sự gia tăng nhu cầu về các sản phẩm nông lâm nghiệp, sự gia tăng dân số, thiếu nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, việc thực thi pháp luật và quản lí đất và đất rừng kém hiệu quả. Nguyên nhân và tác động của chúng ở các vùng và các mốc thời gian rất khác nhau cho thấy không có một công thức chung nào cho tất cả các địa phương.      Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Ảnh: Báo Nông nghiệp  Đáng lưu ý là các nguyên nhân dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng phần lớn đến từ ngoài ngành lâm nghiệp. Do đó, việc giải quyết các nguyên nhân dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, một mình ngành lâm nghiệp sẽ không thể giải quyết được.     Cần nâng cao hơn nữa hiệu quả của chính sách     Trong nhiều năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó vấn đề bảo vệ và phát triển rừng cũng được coi trọng. Theo chị, việc triển khai những chính sách này có đạt mục tiêu đề ra?     Mặc dù các chính sách hiện hành đã giúp giảm đi phần nào quy mô, tốc độ và phạm vi phá rừng tại một số địa phương nhưng hiện tượng phá rừng vẫn còn xảy ra. Việc thực hiện nhiều chính sách còn gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí, sự thiếu hiệu quả trong phối hợp ngành dọc và chiều ngang, chưa thu hút được sự tham gia của người nghèo.  Trong 30 năm qua, tỉ lệ rừng tự nhiên tăng từ 9 triệu ha lên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên là 10,3 triệu ha, như vậy so với cách đây 30 năm diện tích rừng tự nhiên đã tăng 1,3 triệu ha. “Tuy nhiên, chất lượng rừng tự nhiên chưa được tốt, trong 10,3 triệu ha rừng tự nhiên thì chỉ có 15% là rừng giàu về trữ lượng, 50% là rừng trung bình và 35% là rừng nghèo kiệt”, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn Quốc hội vào ngày 5/11/2020 (Nguồn: báo Lao Động).  Một điểm bất cập khác trong chính sách của Việt Nam là chưa có sự liên kết giữa thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Các chính sách về giảm thiểu tác động của khí hậu dựa vào rừng ở cấp trung ương và địa phương đều chưa tính đến nhu cầu thích ứng của các cộng đồng địa phương, trong đó có nhiều cộng đồng đang phải chịu các tác động của biến đổi khí hậu ngay tại nơi sống của họ. Mặt khác, do chính sách chỉ tập trung vào việc nâng cao diện tích rừng bằng các chương trình trồng mới đã dẫn đến việc xem nhẹ tầm quan trọng của việc phục hồi các chức năng và dịch vụ hệ sinh thái và công tác bảo tồn sự đa dạng sinh học.     Vậy trong bối cảnh hiện nay, có giải pháp nào khả thi cho Việt Nam?    Khi đi tìm một giải pháp thiết thực và triệt để, chúng ta phải quay lại đi tìm nguyên nhân gốc rễ của phá rừng và suy thoái rừng.  Những giải pháp và cơ chế mà hiện nay chúng ta đang áp dụng chỉ giải quyết được một số vấn đề nhỏ lẻ mà chưa thực sự giải quyết các nguyên nhân gốc rễ. Tôi nghĩ để giải quyết được vấn đề này, Việt Nam cần giải pháp tổng thể, có thể dẫn đến sự thay đổi về mặt hệ thống.  Ngoài ra cần có cam kết thực sự để giải quyết các nguyên nhân của mất và suy thoái rừng từ tất cả các ngành, những thay đổi rộng hơn trong khung chính sách để tạo ra các động lực giúp tránh mất và suy thoái rừng, sự hợp tác liên ngành và nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng.    Một điều quan trọng nữa cần nhìn lại đó là xác định đúng và đủ về vị thế  và vai trò của ngành lâm nghiệp. Hiện nay vai trò và đóng góp của ngành lâm nghiệp trong GDP chưa được tính toán đầy đủ và toàn diện. Các sản phẩm xuất khâu từ gỗ và lâm sản vốn có đóng góp chủ đạo của ngành lâm nghiệp lại được tính vào đóng góp của ngành Công thương. Chúng ta cũng chưa tính đủ giá trị mà rừng đem lại, đó là giữ cho đất không bị xói mòn, điều hòa không khí, đảm bảo cung cấp số lượng và chất lượng nước nhiễm. Đến khi có chuyện xảy ra thì người ta mới bắt đầu tính đến bài toán về rừng và nhận thấy những mất mát khi không có rừng.  Nếu chúng ta xác định ngành lâm nghiệp đóng vai trò chủ chốt trong phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, giảm thiểu phát thải thì rõ ràng cần có nguồn ngân sách đầu tư xứng đáng, chính sách và thực thi pháp luật hiệu quả để bảo vệ và phát triển rừng.     Vậy giải pháp tổng thể ở đây là gì?    Các nguyên nhân dẫn đến phá rừng và suy thoái rừng phần lớn đến từ ngoài ngành lâm nghiệp nên để có thể giải quyết các nguyên nhân này cần có sự phối hợp đa ngành. Tuy nhiên, việc phối hợp đa ngành này không thể chỉ do một bộ ngành quyết định mà phải có quy hoạch tổng thể quốc gia nhằm đảm bảo giải pháp chiến lược phát triển của mỗi ngành hài hòa với nhau và khi xếp cạnh nhau thì không có sự mâu thuẫn giữa các ngành. Ví dụ như Bộ NN&PTNT xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp, mở rộng diện tích rừng nhưng các ngành khác lại cho rằng vẫn cần thêm đất để mở rộng diện tích xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng diện tích cây trồng nông nghiệp, xây dựng các nhà máy năng lượng, chế biến… Vì thế cần một kế hoạch tổng thể làm cơ sở như kế hoạch phát triển tài nguyên thiên nhiên của quốc gia chẳng hạn, nó được xây dựng trên thảo luận và đồng thuận giữa nhiều bên liên quan để có thể phân bổ nguồn tài nguyên hợp lý.  Từ năm 2005 đến năm 2017, các diện tích rừng do các công ty lâm nghiệp quốc doanh quản lý giảm hơn 1.2 triệu héc ta đúng như các chiến lược của chính phủ về việc giảm số doanh nghiệp nhà nước (SOE) hoạt động không hiệu quả và cho phép có thêm quỹ đất rừng cho các cộng đồng và hộ gia đình để thúc đẩy sự hỗ trợ của xã hội trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Mặc dù tổng diện tích rừng do cộng đồng quản lý vào năm 2017 đã tăng gấp đôi so với 2005, diện tích rừng do cộng đồng và hộ gia đình quản lý vẫn còn thấp hơn nhiều so với kế hoạch ban đầu của chính phủ với mong muốn bàn giao các diện tích đang do các công ty nhà nước kém hiệu quả quản lý cho hộ gia đình và cộng đồng. Hiện vẫn còn một diện tích lớn đất rừng thu hồi từ các công ty lâm nghiệp nhà nước chưa được chuyển giao cho cộng đồng. (Trích báo cáo “Bối cảnh cho REDD+ tại Việt Nam: Nguyên nhân, đối tượng và thể chế của CIFOR).    Bên cạnh đó, việc lập quy hoạch cũng cần tính đến định hướng phát triển chung của đất nước là gì, nếu đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên đầu với việc gia tăng diện tích sản phẩm nông nghiệp thì mục tiêu đảm bảo diện tích rừng hiện sẽ khó có thể đạt được. Khi nghĩ đến rừng, người ta thường đặt câu hỏi “ở Việt Nam, diện tích và tỉ lệ che phủ rừng bao nhiêu là đủ?”. Câu hỏi đó chưa đúng và đủ bởi thực chất phải hỏi  “mục tiêu  và ưu tiên của Việt Nam là gì?” và định hướng vai trò của ngành lâm nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh đó như thế nào. Trả lời được câu hỏi ấy thì chúng ta mới biết được mục tiêu bảo vệ rừng và chống suy thoái rừng là như thế nào. Mặc dù hài hòa các mục tiêu luôn là mong ước của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, nhưng thực tế cho thấy khi thực hiện mục tiêu này thì sẽ phải đánh đổi mục tiêu kia.    Vậy chúng ta có thể làm gì để bớt phải đánh đổi?    Tôi nghĩ các quyết định đều cần dựa trên những ưu tiên của quốc gia và hài hòa giữa các mục tiêu phát triển, thực trạng rừng của Việt Nam hiện nay cũng như các dự báo về thay đổi tỉ lệ che phủ rừng trong tương lai, xu thế phát triển của thị trường các sản phẩm lâm sản và lâm sản ngoài gỗ trong và ngoài nước, tình hình biến động chính trị, kinh tế, xã hội trên toàn cầu, năng lực của các doanh nghiệp trong nước và thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng, trình độ năng lực và nguồn đào tạo nhân lực, ngân sách để bảo vệ phát triển rừng.    Song song với đó, Việt Nam cũng cần giải đáp một số vấn đề: có cần thiết phải tăng tỉ lệ che phủ rừng không và mục đích của việc tăng tỉ lệ che phủ rừng là gì? Giải pháp khác và chi phí cơ hội của diện tích rừng muốn chuyển đổi thành đất rừng để tăng tỉ lệ che phủ rừng? Liệu diện tích rừng và đất đang suy thoái có thể trở thành rừng được không? Liệu diện tích đất đang muốn chuyển thành rừng để nâng cao tỉ lệ che phủ rừng có được quy hoạch hay sử dụng bởi các ngành khác? Việc đề cập tới con số tỉ lệ che phủ rừng chỉ là bước đầu tiên, điều quan trọng là tỉ lệ che phủ rừng đối với các loại rừng, mục đích sử dụng rừng, người quản lí rừng, chất lượng và trữ lượng rừng… Việt Nam cũng cần đối chiếu với kế hoạch sử dụng đất, chính sách phát triển của từng ngành có liên quan để đảm bảo tính khả thi của tỉ lệ che phủ rừng đề ra.     Hiện nay Việt Nam đang ngày càng hội nhập với rất nhiều hiệp định thương mại quốc tế. Những yêu cầu mới từ các hiệp định quốc tế này có ảnh hưởng đến chính sách bảo vệ rừng và chống suy thoái rừng?    Việc hội nhập quốc tế như hiện nay có hai khía cạnh, một mặt tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận thị trường mới và nguồn tài chính bổ sung cho ngành lâm nghiệp, khuyến khích các quốc gia phải có những cam kết và chính sách bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn, mặt khác buộc chúng ta phải đáp ứng được những yêu cầu mà thị trường và yêu cầu quốc tế đặt ra. Bước đầu, các yêu cầu về quản trị lâm nghiệp, bình đẳng giới, các biện pháp đảm bảo an toàn, nâng cao sự tham gia của người dân trong xây dựng và triển khai chính sách đã khiến chính sách lâm nghiệp Việt Nam hoàn thiện hơn, ví dụ yêu cầu của thị trường gỗ hợp pháp tạo ra những thay đổi tích cực trong chính sách liên quan kiểm soát gỗ hợp pháp của Việt Nam.    Ngoài ra, trong những năm gần đây trên toàn cầu đã có hàng trăm công ty và tập đoàn cam kết kinh doanh không phá rừng và suy thoái rừng thông qua các hỗ trợ tài chính và hoàn thiện chuỗi cung ứng của mình. Việt Nam có rất nhiều ngành nghề, các chuỗi cung cấp liên quan đến thị trường quốc tế như sản phẩm dệt may, thời trang, thực phẩm… đều được yêu cầu là sản phẩm không liên quan đến việc phá rừng, ví dụ việc cung cấp nguyên liệu làm mỹ phẩm chẳng hạn, nếu bị phát hiện ra nguyên liệu này được chiết xuất từ cây trồng trên đất phá rừng thì sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng. Tất cả các xu thế thế giới này đều tạo ra những động lực thay đổi của ngành lâm nghiệp.    Tuy nhiên cần lưu ý là trong quá trình quốc tế và hội nhập hóa này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như cộng đồng địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn vốn, năng lực cạnh tranh và  tiếp cận thông tin nên rất cần sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội.     Vậy chúng ta phải thay đổi rất nhiều?    Có câu hỏi thực sự cần suy ngẫm “chúng ta nên đầu tư vào số lượng hay chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm không?”. Hiện Việt Nam và nhiều quốc gia khác có xu thế tập trung vào sản xuất nguyên liệu gỗ thô với giá rất thấp thì các nước châu Âu lại tập trung phát triển KH&CN để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm từ rừng, ví dụ bán một lọ kem dưỡng da chiết xuất từ thân, lá và hoa rừng đã thu lại lợi nhuận cao hơn rất nhiều lần rồi. Phải chăng chúng ta nên suy ngẫm lại để làm sao có thể nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, vừa có thu nhập tốt mà lại không tốn nhiều tài nguyên? Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải có định hướng thị trường tốt và đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng KH&CN một cách xứng đáng.     Nếu như thế, vai trò của khoa học từ cấp độ phát triển sản phẩm đến xây dựng chính sách chiến lược phát triển phải được coi trọng?    Đúng vậy. Tất cả những điều đó phải xuất phát từ nghiên cứu bài bản, có bằng chứng khoa học làm cơ sở để xây dựng chính sách phát triển. Chúng ta có thể tận dụng được những ưu thế của khoa học ở mọi chỗ. Ví dụ như trong bảo vệ rừng, trước đây chúng ta không theo dõi được chuyện phá rừng một cách triệt để như mong muốn nhưng bây giờ ứng dụng công nghệ viễn thám,  sử dụng hệ thống phần mềm trong điện thoại thông minh, các bên có thể theo dõi và biết hôm nay diện tích bị mất. Mặt khác, các nhà khoa học có thể tư vấn nên trồng rừng ở đâu, trồng như thế nào để hiệu quả và đáp ứng các mục tiêu đa dạng như bảo vệ nguồn nước, giảm lũ lụt xói mòn, đảm bảo việc sinh kế của các cộng đồng bản địa như vừa có thu nhập ngắn ngày, vừa trồng rừng, bảo vệ rừng một cách tốt hơn… Các nghiên cứu bài bản trong việc đánh giá khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện chính sách lâm nghiệp trong thực tiễn cũng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các bên có liên quan có các thông tin và bài học để hoàn thiện chương trình và chính sách của mình. Tôi nghĩ rằng, vai trò của nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học công nghệ là rất quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng các giải pháp chống phá rừng và suy thoái rừng là rất quan trọng. □     Cảm ơn chị!     Thanh Nhàn thực hiện  Để hỗ trợ cho tăng trưởng nhanh nền kinh tế quốc gia, Việt Nam xây nhiều công trình thủy điện mới để cung cấp nguồn năng lượng giá rẻ. Việc phát triển thủy điện là một trong nguyên nhân chính và phổ biến cho mất và suy thoái rừng tại Việt Nam, ví dụ dẫn đến mất 200 ha rừng đặc dụng và đa dạng sinh học. Theo Bộ NN&PTNT, 19.792 ha rừng của 29 tỉnh đã bị mất, nhường chỗ cho 160 dự án thủy điện trong giai đoạn 2006 đến 2012. Diện tích này bao gồm 3.060 ha rừng phòng hộ, 4.411 ha rừng đặc dụng và 12.321 ha rừng sản xuất. Từ năm 2006 đến 2013, hơn 19.805 ha rừng đã bị chuyển đổi tại 27 tỉnh nhường chỗ cho hồ chứa và nhà máy thủy điện. Diện tích mất rừng lớn nhất tập trung tại Tây Nguyên với 358.700 ha trong giai đoạn phát triển thủy điện ồ ạt từ năm 2008 đến 2014. Trong những năm gần đây, chính phủ đã có những chính sách kiên quyết bảo vệ diện tích rừng hiện có. Rất nhiều chương trình và dự án mở rộng nhà máy thủy điện đã bị ngưng lại và nhiều dự án đề xuất mới không được thông qua nếu có nguy cơ ảnh hưởng đến rừng. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã rút ra khỏi danh mục cho phép đầu tư đối với 424 (khoảng 34%) đề xuất xây dựng các đập thủy điện. Chính phủ cũng yêu cầu các nhà máy thủy điện phải trồng lại và đền bù cho các diện tích rừng bị mất do việc xây dựng nhà máy. Tuy nhiên, theo Bộ NN&PTNT, vào năm 2013, chỉ 3.7% diện tích rừng đã bị chuyển đổi được tái trồng rừng. Vào năm 2014, các nhà đầu tư thủy điện chỉ trồng được 2,450 ha rừng, đạt chỉ 22% mục tiêu đề ra. Chỉ có một lượng kinh phí không lớn được giữ lại cho việc giảm thiểu các tác động tiêu cực của các dự án thủy điện lên đa dạng sinh học. Kinh phí này không đủ trong khi thủy điện làm tăng khả năng mất đa dạng sinh học và tạo ra nhiều chi phí môi trường và xã hội. Nhiều lỗ hổng trong các yêu cầu pháp lý đối với đánh giá tác động môi trường là một phần nguyên nhân khiến việc giảm thiểu các nguy cơ về môi trường và xã hội của các dự án thủy điện đã bị bỏ qua. Khung thể chế về phát triển các nhà máy thủy điện cũng có nhiều lỗ hổng lớn như không có các quy định chi tiết, dẫn đến việc thực hiện đền bù cho mất rừng và tái trồng rừng của nhiều dự án thủy điện không được thực hiện hoặc có thì thực hiện một cách sơ sài. Không có các quy định khôi phục thảm rừng do người dân trồng sau khi đã bị phát quang cho việc phát triển thủy điện. Các cơ quan chính phủ không thực hiện đầy đủ việc tái trồng rừng cũng không bị xử lý thích đáng. Không có yêu cầu đánh giá các dịch vụ môi trường rừng đối với các diện tích rừng bị phá hủy. Không có quy định bắt buộc các nhà đầu tư thủy điện phải đóng góp vào việc bảo vệ và trồng lại rừng đã bị mất do người dân và các đơn vị địa phương khai thác gỗ để phục vụ việc xây dựng các nhà máy thủy điện. (Trích báo cáo Bối cảnh cho REDD+ tại Việt Nam: Nguyên nhân, đối tượng và thể chế của CIFOR).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác năng lượng hạt nhân,      Trích và lược dịch từ bài phát biểu của Carlo Rubbia – giải Nobel Vật lý (năm 1984) tại Hội nghị Năng lượng Nhiệt hạch lần thứ 18 của IAEA – Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế ).    Giải Nobel Vật lý năm 1984   Khi năng lượng hạt nhân lần đầu tiên được phát triển trong những năm sáu mươi, nó đã được chào đón với một sự hào hứng cao độ. Chúng ta có thể nhớ lại sự kiện quốc tế: UN (United Nations – Liên hợp quốc) đã tổ chức chương trình “Nguyên tử vì Hòa bình” ở Geneva năm 1959. Chương trình này đã đem đến hy vọng về một nguồn năng lượng dồi dào, rẻ và không giới hạn cho tương lai của loài người. Trong suốt các năm sau, sự hào hứng này đã mất đi và năng lượng hạt nhân nhiều khi lại bị coi như “một điều xấu xa”. Trước áp lực của cộng đồng, một số lớn các ràng buộc mang tính điều phối đã bào mòn sự ưu việt về giá cả của năng lượng hạt nhân, và ngày nay, dường như nó không còn là “năng lượng rẻ nhất” nữa, đặc biệt là khi so sánh với những nhiên liệu hóa thạch như khí tự nhiên và than đá. Một điều cũng rất rõ ràng là, ít nhất ở các nước phát triển, năng lượng hạt nhân đã gần như hoàn toàn có được vị thế thích đáng trên thị trường, ở đây, nó còn tỏ ra khá hơn cả công nghiệp luyện thép, xây dựng nhà ở và sản xuất ô tô, công nghiệp hạt nhân rõ ràng là đã đạt được một sự sung túc theo nghĩa nào đó.  Người ta đã tiên nghiệm các đặc trưng của năng lượng hạt nhân, khi được so sánh với nhiên liệu hóa thạch là, (1) không có nguy cơ phát tán khí thải và (2) cực kỳ tiết kiệm nhiên liệu. Chẳng hạn, 1 tấn Uranium – giả sử được phân hạch hoàn toàn – có thể tạo ra một năng lượng tương đương với 14 triệu thùng dầu hoặc 3 triệu tấn than đá. Như vậy phản ứng hạt nhân có thể sinh ra năng lượng gấp khoảng 3 triệu lần so với phản ứng hóa học. Hiện nay, nhu cầu năng lượng trên hành tinh (khoảng 10 TWatt), một cách lý tưởng có thể tiêu tốn khoảng 3900 tấn/năm nhiên liệu phân hạch hoàn toàn. Nếu sự phân hạch được thay thế bằng nhiệt hạch (D+T), thì về cơ bản, sự tiêu thụ Lithium, trong cùng các điều kiện như trên chỉ là 16.000 tấn/năm, từ đó, có 6.800 tấn/năm T (Tritium) không bền được sinh ra.                     Đáng tiếc là, công nghệ năng lượng hạt nhân hiện nay, chủ yếu dựa trên các Lò phản ứng Nước Nhẹ (Light Water Reactors-LWR) được vận hành hầu như đối với Uranium được làm giàu và các neutron nhiệt, còn xa so với những kỳ vọng được lý tưởng hóa đã đề cập ở trên. Chỉ có 235U (chiếm 0.71%) chứa trong Uranium tự nhiên là có thể phân hạch trực tiếp được, trong đó, khoảng 60% được tách chiết bằng kỹ thuật làm giàu. Do đó, chỉ khoảng 0,4% năng lượng tiềm tàng chứa trong Uranium tự nhiên là được khai thác.  Chẳng hạn, để tạo ra 1 GWe x 30 năm ~ 6,1 TWh, ta phải có trong tay 4,50×107 tấn quặng giàu Uranium (2000 phần triệu), so với 3,21×108 tấn than đá cung cấp cho nhà máy nhiệt điện. Như vậy, kết luận được đưa ra là, cái hệ số hạt nhân thần kỳ (bằng 3 triệu lần năng lượng hóa học) của năng lượng hạt nhân bây giờ gần như không còn đáng đề cập nữa.  Đây chính là lý do tại sao, bất kể tiềm năng cực kỳ to lớn của năng lượng hạt nhân, năng lượng trong tương lai được lấy từ Uranium vẫn không thể nhiều bằng từ dầu lửa.  Thêm vào đó, chúng ta cần thấy được hết những hậu quả của việc khai thác năng lượng hạt nhân chỉ dựa trên LWR thuần túy – đặc biệt là đối với sự nhân rộng của mô hình lò phản ứng này:  1. Một lượng đáng kể các đồng vị có chu kỳ bán rã lớn bị thải ra môi trường.  2. Các nguy cơ tai nạn gần như bị nhân đôi, nhất là sau sự cố khủng khiếp ở Chernobyl.  3. Vấn đề về các chất thải phóng xạ có chu kỳ bán rã lớn. Các nhà máy điện hạt nhân hiện hành hàng năm sinh ra khoảng 12.000 tấn chất thải có độ phóng xạ cao, khoảng 1% (120 tấn) trong đó là Plutonium. Độ nguy hiểm phóng xạ của lượng chất thải này chỉ giảm xuống mức của quặng Uranium ban đầu sau khoảng 1 triệu năm.  4. Liên quan đến các ứng dụng quân sự. Khối lượng tới hạn của Plutonium sinh ra từ một LWR chỉ lớn hơn khoảng 30% khối lượng của cấp độ bom 239Pu. Như vậy việc phát triển rộng rãi năng lượng hạt nhân ở các nước phát triển, về cơ bản có thể gây ra sự bất ổn định, nhất là đối với những nguy cơ về các khí tài quân sự khủng khiếp.  5. Hiệu suất nhiệt động, đó là phần năng lượng nhiệt trên thực tế chuyển hóa thành điện năng, như đã biết, là phụ thuộc nhiệt độ. Đối với LWR, hiệu suất này vào khoảng 30%, gắn liền với trình độ thực tế của công nghệ những năm 1960. Để duy trì được năng lực cạnh tranh của nó trong tương lai, năng lượng hạt nhân nhất thiết phải tăng nhiệt độ vận hành và do đó phải từ bỏ các giải pháp sử dụng hơi nước trong LWR cổ điển.  Như vậy, để khai thác một cách thực tế nguồn năng lượng khổng lồ bên trong hạt nhân, chúng ta cần có những phương pháp mới và ý tưởng mới. Thêm nữa, chúng ta phải sử dụng ngày càng hiệu quả và sáng suốt hơn đối với một nguồn năng lượng tự nhiên dồi dào và trên thực tế là không giới hạn này.  Trần Trung Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai thác năng lượng mặt trời bằng dây nano đồng trục      Các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia về năng lượng tái sinh (NREL) và Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (NLBL) đã thiết kế được một loại dây nano mới – một loại cáp đồng trục nhỏ xíu có thể đem lại triển vọng lớn cho các công nghệ khai thác năng lượng mặt trời.    Nhược điểm của các chất bán dẫn truyền thống dùng làm pin mặt trời là khi các electron nhận năng lượng ánh sáng để nhảy lên mức năng lượng cao hơn đồng thời tạo ra các lỗ trống, các electron và lỗ trống thường ở cùng một vùng, cho nên chúng có xu hướng dễ tái hợp với nhau. Đặc điểm đó là tốt đối với những thiết bị bán dẫn phát quang như LED hay LASER nhưng lại không tốt đối với các thiết bị tạo điện năng như pin mặt trời. Một loại pin mặt trời tốt là nó phải có đặc tính cách li các electron khỏi các lỗ trống một cách hiệu quả để có thể sử dụng chúng tạo thành dòng điện.  “Các sợi dây nano của chúng tôi được thiết kế để đem lại đặc tính này, đồng thời chúng lại có tính dẫn điện tốt hơn” Yong Zhang ở NREL nói. “Cả hai tính chất này đều là mấu chốt để giúp nâng cao hiệu suất của các thiết bị năng lượng mặt trời.”  Loại cáp nano đồng trục của họ bao gồm một lõi dây đồng được quấn xung quanh bằng dải đồng dẫn điện. Giữa lõi đồng và dải đồng là một lớp vật liệu cách điện. Lớp cách điện có vai trò ngăn cản các điện tích (electron và lỗ trống) gặp nhau để tái hợp.  Bắt chước theo cấu trúc này, các nhà nghiên cứu đã thiết kế một phiên bản kích cỡ nano bao gồm một dây lõi được bọc bằng một lớp vỏ quấn theo hình lục giác. Họ sử dụng hai vật liệu bán dẫn là GaN và GaP. Có hai mẫu được chế tạo, một mẫu có lõi là GaN và vỏ là GaP, mẫu kia có lõi là GaP và vỏ là GaN. Cả hai dây đều có đường kính khoảng 4 nanomét. Khi GaN và GaP được ghép lại thành dây đồng trục, chúng sinh ra một cấu trúc vùng cấm mới, khác hẳn với các vùng cấm ban đầu. Vùng cấm mới này đã tỏ ra rất thích hợp cho các ứng dụng khai thác năng lượng mặt trời.  Ngoài hiệu quả cách li điện tích, thiết kế này có thể khắc phục được một vài đặc điểm khác của pin mặt trời. Chúng có thể mở rộng dải phổ hấp thụ đối với ánh sáng mặt trời và giảm thiểu sự mất năng lượng do hiện tượng tái hợp electron-lỗ trống.   “Ngoài các ứng dụng khai thác năng lượng tái sinh, những sợi cáp nano này cũng có thể được ứng dụng cho nhiều lĩnh vực từ tính toán lượng tử đến điện tử học nano.”  Nguồn: Nano Lett. ASAP Article, DOI: 10.1021/nl070066t       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khaled Toukan: Mở màn SESAME      Nhà vật lý nỗ lực đưa máy gia tốc synchrotron đầu tiên ở khu vực Trung Đông đi vào hoạt động.      Vào tháng 5/2010, một phiên họp lên kế hoạch xây dựng nguồn synchrotron đầu tiên của khu vực Trung Đông đã được tiến hành ngay khi tin mới về việc hải quân Israel tấn công vào một con tàu Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của đội tàu làm nhiệm vụ viện trợ nhân đạo cho dải Gaza. Cuộc họp với nhiều ý kiến trái ngược nhau này có nguy cơ nhấn chìm dự án synchrotron bởi sự chia rẽ giữa các đối tác tham gia dự án: một bên là Israel, Turkey và chính quyền Palestin, một bên là Cyprus, Egypt, Iran, Jordan và Pakistan. Dự án đã “sống sót” bằng nỗ lực của Khaled Toukan, giám đốc dự án và là người trao đổi với từng phái đoàn cũng như giữ cho tình hình trở nên ôn hòa hơn. “Tài năng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này”, Maciej Nałęcz, nhà hóa sinh làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan ở Warsaw, nhận xét.  Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Synchrotron cho khoa học thực nghiệm và ứng dụng ở Trung Đông (SESAME) đã được khai trương năm 2017 sau 20 năm phát triển. Đây là trung tâm nghiên cứu quốc tế lớn đầu tiên về vật lý hạt nhân ở khu vực Trung Đông, và đặt khu vực này vào bản đồ khoa học thế giới.  Dẫu vậy, Toukan – nhà vật lý được cộng đồng tôn trọng, từng giữ chức hiệu trưởng trường đại học Ứng dụng Al-Balqa và ba lần giữ chức Bộ trưởng các Bộ Giáo dục, Bộ Năng lượng, Bộ KH&GD của Jordan, đóng vai trò dẫn dắt dự án. Ông là một trong số ít những người chủ chốt của dự án, Christopher Llewellyn Smith – nhà vật lý ở trường đại học Oxford (Anh) và là thành viên hội đồng điều hành của dự án từ năm 2008 đến 2017, cho biết, “không có ông ấy, dự án SESAME không thể hoàn thành được”.  Phòng thí nghiệm có tổng số vốn đầu tư 110 triệu đô la này đặt tại Amman, Jordan, gia tốc các hạt electron đến năng lượng cao, chạy quanh một vòng tròn có đường kính 133 m. Nguồn phóng xạ có cường độ lớn này được tạo ra để chụp ảnh các phân tử, các đồ tạo tác và rất nhiều vật thể khác. Nhưng cỗ máy này không chỉ là nguồn photon, theo Toukan nó còn là “tia sáng trong biển xung đột”.  Nhiều năm qua, Toukan đã làm dịu căng thẳng chính trị giữa các đối tác của SESAME. Ông đã tìm mọi cách để giữ nguồn tài chính của dự án được ổn định khi đóng góp của mỗi thành viên không được như mong đợi. “Chúng tôi thường lập kế hoạch theo từng tháng”, Toukan giải thích. Ông thuyết phục chính phủ Jordan sử dụng quỹ của châu Âu để xây dựng một nhà máy điện mặt trời trị giá 7 triệu đô la để cung cấp điện cho SESAME. Nhờ đó, kinh phí vận hành SESAME giảm đi một nửa, nếu không sẽ ảnh hưởng đến chi phí điều hành dự án, Llewellyn Smith cho biết.  Kể từ năm 2003, Toukan làm việc cho SESAME mà không nhận tiền lương. Nhưng ông vẫn dành toàn thời gian cho dự án, Maciej Nałęcz – người phụ trách chương trình Khoa học cơ bản của UNESCO và quan sát toàn bộ quá trình hình thành SESAME. “Khi tôi gọi, ông ấy luôn trả lời ngay. Điều đó không thể tin được với một bộ trưởng”, Maciej Nałęcz kể. Năm 2017 đặc biệt bận bịu với Toukan bởi ngoài công việc ở SESAME, ông còn đảm trách vai trò chủ tịch của Ủy ban năng lượng nguyên tử Jordan và giám sát quá trình thực hiện của một dự án lớn thứ hai trong lịch sử vật lý hạt nhân của Jordan – lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân đầu tiên.  Toukan hy vọng sự thành công của SESAME sẽ dẫn đến sự ra đời của nhiều cơ sở nghiên cứu và ứng dụng khác cũng như mở ra sự hợp tác với nhiều quốc gia khác. Một vài người đã hoài nghi về dự án SESAME, ông cho biết, nhưng “hiện tại thì nó đã vận hành. SESAME đã thành sự thật.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: Nature: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html    Author                .        
__label__tiasang Khám phá 500.000 năm lịch sử khí hậu ở Trung Mexico      Cho đến giờ, người ta vẫn còn quá ít hiểu biết về các hiệu ứng của biến đổi khí hậu ở những vùng nhiệt đới. Tuy nhiên những vùng nhiệt đới lại là những khu vực đông dân nhất thế giới. Do đó, hiểu về biến đổi khí hậu ở đây sẽ đem lại nhiều gợi ý về các giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.      Quang cảnh kênh đào dẫn vào hồ Chalco, thành phố Mexico, tháng 6/1887. Nguồn: Wikipedia  Các nhà nghiên cứu tại Viện Địa vật lý ứng dụng Leibniz (LIAG) mới tạo ra một mô hình độ sâu tuổi (age-depth model) và phân bố độ ẩm cho 500.000 năm trước ở một trong những hồ cổ nhất miền Trung Mexico, hồ Chalco.  Kết quả thật rõ ràng: Trung Mexico đã trải qua những thời kỳ khô hạn liên tục liên quan đến chuyển động tự nhiên của trái đất do trục địa lý mà trái đất quay xung quanh không cố định. Các nhà nghiên cứu mới xuất bản công trình của mình trên tạp chí Quaternary Science Reviews “An astronomical age-depth model and reconstruction of moisture availability in the sediments of Lake Chalco, central Mexico, using borehole logging data” 1.  Miền Trung Mexico, do khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ, là nơi quần cư của con người trong những khoảng thời gian liên tục kể từ khi xuất hiện các nền văn minh cổ xưa và đến nay vẫn còn là một trong những khu vực đông dân nhất trên thế giới. Sự kết hợp của sức tăng trưởng dân số nhanh, dự báo về khả năng gia tăng của nhiệt độ không khí và khả năng xảy ra hạn hán trong tương lai ở Trung Mexico cho thấy đây sẽ vẫn là một vùng chịu tác động rất nhiều của biến đổi khí hậu.  Do đó, cải thiện hiểu biết về cả những cơ chế đóng góp vào tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay và những hệ quả của nó với sinh quyển trái đất, bao gồm lịch sử xã hội, sẽ không chỉ đem đến kiến thức cần thiết để có thể đảo ngược ảnh hưởng của nó mà còn có thể rọi ánh sáng mới vào các lực điều hướng các sự kiện tương tự trong quá khứ.  Trong năm 2016, các đo đạc ở lỗ khoan có chiều sâu xấp xỉ 500 mét ở hồ Chalco trong một khu vực ở bên ngoài thành phố Mexico. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng địa vật lý lỗ khoan với những đo đạc các tính chất vật lý của trầm tích để tìm ra những tín hiệu cổ khí hậu từ trầm tích hồ ở độ sâu trên 300 mét để xác định những điều kiện khí hậu trong quá khứ.  Đây là lần đầu tiên dữ liệu địa vật lý lỗ khoan được sử dụng để tiết lộ lịch sử của độ ẩm bên trong trầm tích hồ, đem đến cái nhìn sâu vào 500.000 năm lịch sử khí hậu ở Trung Mexico. Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu cũng định tuổi trầm tích hồ Chalco bằng việc sử dụng thiên văn học xác định tuổi trầm tích (astrochronology), một kỹ thuật để kiểm định trầm tích bằng các chu trình quỹ đạo trái đất, một chuyển động quay thường nhật của trái đất trên quỹ đạo quanh mặt trời. Kết quả cho thấy Trung Mexico trải qua một chu kỳ hạn hán đều đặn trong 500.000 năm trước, khi quỹ đạo của trái đất ở dạng tròn nhất của nó.  Sự biến thiên của đại diện độ ẩm được so sánh với các giá trị phân bố toàn cầu của hồ sơ đồng vị ô xy đáy (LR04), nó chỉ ra vai trò của độ chiếu nắng được suy ra từ tiến động trong lượng mưa ở Trung Mexico. Credit: Dr Mehrdad Sardar Abadi, LIAG  Hình thái địa lý cụ thể của Trung Mexico, bởi sự xuất hiện của một loạt hình cung núi lửa do sự hút chìm của Mảng Thái Bình Dương bên dưới mảng lục địa Bắc Mĩ, cho phép hình thành một lòng chảo thoát nước rộng lớn trong đất liền gần một triệu năm trước. Hiện tại, sự hình thành địa chất này được gọi là thung lũng Mexico. Kể từ quá trình hình thành của nó, nước vẫn còn lại trong lòng chảo này và bao phủ gần 1.500 ki lô mét vuông bề mặt thung lũng.  Mức nước trong hồ dao động theo phản hồi với các giai đoạn ấm và lạnh thay đổi xen kẽ ở thời kỳ cổ khí hậu của trái đất. Trái đất có các thời kỳ lạnh (băng hà) và ấm (gian băng) trong các chu kỳ dài gần 100.000 năm, xảy ra cách thời điểm hiện nay một triệu năm. Trong các thời kỳ ấm, lượng mưa cao hơn ở Trung Mexico đã rơi xuống hồ làm mực nước hồ cao tới 100 mét, và trong suốt các thời kỳ lạnh, mực nước giảm xuống vài mét vì hạn hán.  “Các trầm tích hồ giúp truy dấu lịch sử hành tinh và cung cấp các manh mối có thể nói với chúng ta về khí hậu và các điều kiện môi trường trong quá khứ. Với nghiên cứu này, chúng ta có thể nhận diện những chuyển động khí hậu ở những thời kỳ khác nhau trong quá khứ và những phản hồi môi trường đã diễn ra như thế nào”, tiến sĩ Mehrdad Sardar Abadi, người điều phối dự án MexiDrill tại LIAG, nói. “Ứng dụng thành công của phương pháp và kết quả có thể giúp các nghiên cứu cổ khí hậu học trong tương lai xây dựng trên đó”.  Trước khi người Tây Ban Nha tới, lòng chảo Mexico là nơi sinh sống của người Aztec, những người xây dựng nên một thành phố rộng lớn là Tenochtitlan ở trên và xung quanh hệ thống hồ này. Vào khoảng những năm 1600, người Tây Ban Nha đã tháo nước ở hệ thống hồ này nhằm kiểm soát tình trạng ngập úng. Hiện tại hồ Chalco là một khu vực đầm lầy nông với diện tích khoảng dưới sáu ki lô mét vuông ở Nam thành phố Mexico.  Một nguồn cung cấp nước quan trọng của thành phố Mexico là từ các tầng chứa nước được hình thành từ giữa các trầm tích hồ cổ đại đã được rút nước với tốc độ nước mưa không thể bổ cập kịp. Và một kết quả là thành phố Mexico đang bị lún một cách nhanh chóng khoảng nửa mét mỗi năm. Khủng hoảng nước ở thành phố Mexico đang trở thành một vấn đề đáng chú ý với sự cạn kiệt của các tầng chứa nước, và đang nhấn chìm thành phố này.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-geoscientists-years-climate-history-central.html  https://newsbeezer.com/zimbabwe/geoscientists-discover-500000-years-of-climate-history-in-central-mexico/  ———————————    https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0277379122003705?via%3Dihub#!      Author                .        
__label__tiasang Khám phá ba pha lỏng trong các hạt sol khí      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học British Columbia đã khám phá ra ba pha chất lỏng trong các hạt sol khí, qua đó làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về các chất ô nhiễm trong bầu khí quyển trái đất.      Trong khi các hạt sol khí được biết có hai pha chất lỏng, việc khám phá ra một pha chất lỏng thêm vào có thể đóng vai trò quan trọng để đem lại nhiều mô hình khí quyển chính xác hơn và nhiều dự đoán khí hậu hơn. Nghiên cứu này mới được xuất bản trên PNAS “Coexistence of three liquid phases in individual atmospheric aerosol particles” (Sự đồng tồn tại của ba pha chất lỏng trong các đơn hạt sol khí trong khí quyển).    “Chúng tôi đã chứng tỏ là các dạng nhất định của các hạt sol khí trong khí quyển, bao gồm cả những thứ có vô số trong các thành phố, có thể thường có ba pha lỏng riêng biệt”, giáo sư Allan Bertram ở khoa Hóa học của trường nói. “Những đặc tính đó đóng vai trò nhất định trong chất lượng không khí và khí hậu. Những gì chúng tôi hi vọng là những kết quả đó sẽ cải thiện các mô hình vẫn dùng để nghiên cứu về chất lượng không khí và các chính sách về biến đổi khí hậu”.  Các hạt sol khí có đầy rẫy trong khí quyển và đóng vai trò tối quan trọng trong chất lượng không khí. Những hạt này làm chất lượng không khí sụt giảm, nó hấp thụ và phản chiếu bức xạ mặt trời, ảnh hưởng đến hệ thống khi hậu. Tuy vậy cách các hạt này hành xử như thế nào vẫn còn nhiều bí ẩn. Trước năm 2012, người ta vẫn thường giả định trong các mô hình là các hạt sol khí chỉ chứa duy nhất một pha chất lỏng.  Năm 2012, các nhà nghiên cứu trường đại học British Columbia và Harvard đem đến những quan sát đầu tiên về hai pha chất lỏng trong các hạt thu thập được từ khí quyển. Gần đây, các nhà nghiên cứu tại UBC đã nêu giả thuyết là ba pha chất lỏng có thể được hình thành trong các hạt trôi nổi trong khí quyển nếu các hạt này chứa vật liệu phân cực thấp, vật liệu phân cực trung bình và nước mặn.    Để kiểm nghiệm điều này, solvatochromic – một chất nhuộm làm thay đổi màu sắc phụ thuộc vào độ phân cực của những thứ xung quanh nó – đã được đưa vào các hạt chứa một thứ hỗn hợp gồm cả ba thành phần đó. Dẫu cho phương pháp dùng chất nhuộm solvatochromic đã từng được sử dụng rộng rãi trong sinh học và hóa học nhưng vẫn chưa được dùng để tìm hiểu đặc tính của pha hành xử của các sol khí. Đáng ngạc nhiên các nhà nghiên cứu đã quan sát được ba màu khác nhau trong các hạt đó,  xác nhận sự hiện diện của ba trạng thái chất lỏng.  Các nhà khoa học đã có thể nghiên cứu về các đặc tính của hạt chứa ba pha này, bao gồm cách các hạt đó tương tác như những hạt giống cho các đám mây và cách các khí chuyển động nhanh vào trong và hướng ra ngoài các hạt như thế nào.  Nghiên cứu này tập trung vào các hạt chứa các hợp chất dầu bôi trơn từ khí thải xe cộ, vật liệu hữu cơ oxy hóa từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và gỗ, vật liệu vô cơ từ đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Phụ thuộc vào các đặc tính của dầu bôi trơno và vật liệu hữu cơ bị oxy hóa, số khác biệt của các pha lỏng sẽ xuất hiện kết quả trong những tác động khác nhau trong chất lượng không khí và khí hậu.  “Thông qua những gì chúng tôi đã chứng tỏ được, chúng tôi đã cải thiện được hiểu biết của chúng ta  về sol khí. Nó sẽ dẫn đến những dự đoán tốt hơn về chất lượng không khí và khí hậu, và dự đoán tốt hơn về điều gì sẽ tới trong 50 năm đến”, tiến sĩ Bertram nói. “Nếu các chính sách được xây dựng trên cơ sở một mô hình có tính bất định cao thì chính sách đó sẽ có tính bất định cao. Tôi hi vọng là chúng tôi có thể cải thiện điều đó”.  Với sự thúc đẩy của các mục tiêu khí hậu, chính sách xây dựng trên mô hình hóa khí hậu chính xác làm giảm bớt khả năng sử dụng các nguồn lực  con người, tự nhiên và tài chính để phục vụ cho những chính sách và mục tiêu sai lầm.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-scientists-liquid-phases-aerosol-particles.html  https://www.pnas.org/content/118/16/e2102512118    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá bí mật cộng sinh bằng tình yêu côn trùng      Niềm đam mê mà Nancy Moran, nhà sinh học tiến hóa ở Đại học Texas (University of Texas – UT) tại Austin, dành cho loài côn trùng và những vi khuẩn đường ruột của chúng đã giúp mở ra ngành nghiên cứu về cộng sinh.      Nancy Moran nuôi ong mật trên nóc một tòa nhà của trường đại học để nghiên cứu hệ vi sinh vật của chúng. Ảnh: JULIA ROBINSON  Nancy Moran đã tìm thấy những manh mối về tiến hóa ở những nơi bất ngờ. Khoảng 20 năm trước, khi còn ở bang Arizona, bà hay lui tới một nhà hàng Mexico ở thành phố Tucson, không chỉ để thưởng thức nghệ thuật ẩm thực. Bà thường trèo lên lối thoát hiểm phía sau nhà hàng, nơi có một ngọn cây sếu với nhiều côn trùng ẩn nấp. Một tối, bà tìm thấy trong tán lá một con bọ lạ, nó đã làm thay đổi suy nghĩ của bà và các nhà sinh vật học khác về sự tiến hóa phức tạp của sự sống.  Con bọ cỡ hạt vừng bà bắt được là một con psyllid, một loại côn trùng khiến cho phần thân hoặc lá chỗ nó ăn nổi lên những mấu cứng mà người ta gọi là mụn cây. Những vi khuẩn cộng sinh nó mang theo có thể chứa đựng một giai đoạn chìa khóa trong sự tiến hóa của tế bào. Khi quay lại phòng thí nghiệm và phân tích hệ vi sinh vật của con bọ, Moran nhận thấy bộ gene của những vi khuẩn này teo lại đến nỗi chúng dường như đang mất khả năng tự sống. Chúng có thể đang trên đường biến thành những bào quan, như các ty thể và lục lạp, vốn là những vi khuẩn cộng sinh trong lịch sử sơ khai của sự sống trước khi trở thành những bộ phận của tế bào.  Sự nghiệp của Moran được xây dựng từ những phát hiện mang tính đột phá về các loài côn trùng sống trên cây. Nghiên cứu của bà về psyllid, rệp cây, và những côn trùng hút nhựa cây khác, đã tiết lộ những mối quan hệ phức tạp, xoắn xuýt giữa chúng với những vi khuẩn giúp chúng sống được với chế độ dinh dưỡng đạm bạc chỉ có nhựa cây. Theo John McCutcheon, cựu nghiên cứu viên postdoc và hiện là nhà sinh học tiến hóa tại Đại học Montana tại Missoula, Moran là “một trong những người sáng lập ra ngành nghiên cứu về cộng sinh, và bà sáng lập nó bằng sự lao động nghiêm túc và óc sáng tạo.”      Moran là “một trong những người sáng lập ra ngành nghiên cứu về cộng sinh, và bà sáng lập nó bằng sự lao động nghiêm túc và óc sáng tạo.” (John McCutcheon, nhà sinh học tiến hóa tại Đại học Montana, Missoula).      Tìm hiểu cội nguồn tiến hóa của cộng sinh  Moran, được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ năm 2004, cộng tác với Howard Ochman, cũng là một nhà sinh học tại UT, hơn 20 năm, cả trong công việc lẫn cuộc sống (họ kết hôn năm 1998). Bà dành cả sự nghiệp nghiên cứu sự cộng sinh; ông nghiên cứu rộng hơn nhưng có những đóng góp nền tảng về những nguyên lý tiến hóa của vi sinh vật. “Họ là một cặp quyền năng,” theo lời nhà công nghệ sinh học Andrew Ellington, đồng nghiệp của họ tại UT.  Sau nhiều thập kỷ khám phá cội nguồn tiến hóa của sự cộng sinh, Moran hiện tìm trong những hệ vi sinh vật câu trả lời cho những thách thức hiện đại. Bà nghiên cứu vi khuẩn đường ruột của ong, loài không thể phát triển nếu thiếu những vị khách nhỏ bé đó, và hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những cách ngăn chặn sự giảm số lượng của ong và các loài thụ phấn khác, cũng như đưa ra một mô hình đơn giản để khám phá vai trò của vi khuẩn đường ruột ở người.  Thuở nhỏ, khi chơi ngoài trời với bảy anh chị em, hay đi dạo ở rạp chiếu bóng ngoài trời của gia đình ở Dallas, Texas, cô bé Moran thường thu nhặt lá, hoa, và sâu bọ. “Tôi nổi tiếng là đứa bé thích cây cỏ và côn trùng,” bà nhớ lại. Cô thích nhất là những con nhện tarantula (Tất nhiên, vị tiến sỹ côn trùng học này biết rõ nhện không phải là côn trùng). Cô nuôi chúng trong lọ và cho chúng ăn dế. Gia đình chấp nhận sở thích của cô, lần rắc rối duy nhất là khi cô bé Moran 9 tuổi thuyết phục được một người bạn cùng thử xem cây thường xuân độc  ở cạnh sân trường có thực sự gây phát ban hay không. “Lần đó là một thảm họa,” Moran kể lại.    Không thể sống thiếu nhau.   Rệp cây ăn nhựa hút từ phloem, hệ tuần hoàn của cây, nhưng chế độ ăn này thiếu nhiều dưỡng chất quan trọng. Chúng cần Buchnera, một vi khuẩn sống bên trong cơ thể chúng, giúp biến các a-xít a-min trong nhựa cây, chẳng hạn glutamate, thành những a-xít a-min bị thiếu. Ngược lại, vi khuẩn Buchnera được hưởng những dưỡng chất khác và sự che chở bên trong con rệp cây. Nguồn: Bickel, Science.  Bà không nhận ra ngay triển vọng nghề nghiệp trong sinh học. Tại UT, bà học mỹ thuật, rồi triết học. Nhưng một lớp nhập môn sinh học, một môn học bắt buộc, đã có một tác động lâu dài. “Khi đã được học về tiến hóa và chọn lọc tự nhiên, tôi quyết định rằng đó là thứ đáng làm nhất,” bà nói.  Khi làm nghiên cứu sinh tại Đại học Michigan tại Ann Arbor, Moran làm việc với W. D. Hamilton, nhà sinh học tiến hóa nổi tiếng của thế kỷ 20, và họ trở thành bạn thân. “Chúng tôi trò chuyện về mọi thứ… những ý tưởng lớn và những khoa học nào tạo ra khác biệt trong hiểu biết về quá trình tiến hóa của sự sống,” Moran nói. Tuy nhiên, mối tình đầu của bà vẫn là côn trùng học. Mỗi khi rảnh, bà vẫn chui vào những bụi cây, lật từng chiếc lá, và soi từng bông hoa để tìm kiếm những loài côn trùng mới. Sau khi bà trở thành giảng viên Đại học Arizona tại Tucson năm 1986, một cuộc điện thoại từ Paul Baumann, nhà vi trùng học tại Đại học California (UC) tại Davis, đã giúp bà kết nối hai niềm đam mê khoa học của mình. Khi đó, Baumann đang nghiên cứu về Buchnera, một vi khuẩn đã từng sống tự do nhưng nay chỉ còn tồn tại bên trong rệp cây. Trong thập niên 1960, Paul Buchner, nhà sinh học người Đức, đã phân loại những vi khuẩn nội cộng sinh này, và viết thành một cuốn sách với những minh họa chi tiết về vị trí của chúng trong cơ thể của rệp cây, cũng như của chấy rận, bọ cánh cứng, và các côn trùng khác. Buchner phỏng đoán rằng những sự cộng sinh này là những mối quan hệ thiết yếu, trọn đời và đã tồn tại từ hàng triệu năm.  Nếu đúng như vậy thì vi khuẩn và côn trùng hẳn phải cùng tiến hóa, và điều đó sẽ được ghi lại trong DNA của chúng. Baumann cần chuyên môn về rệp cây của Moran để kiểm tra ý tưởng này. Bằng cách giải mã bộ gene của nhiều loài rệp cây khác nhau cùng với những vi khuẩn Buchnera của chúng, Baumann và Moran lập ra cây phả hệ của hai loài, và nhận thấy chúng đa dạng hóa một cách đồng bộ với nhau.   Họ dùng nhiều hóa thạch rệp cây để xác định các niên đại trong hai cây và phát hiện ra thời điểm bắt đầu của mối quan hệ hợp tác đó là khoảng 200 triệu năm trước. Kể từ đó, vi khuẩn Buchnera được truyền qua các thế hệ rệp cây và tiến hóa đồng thời với vật chủ.      Với Moran, hệ vi sinh vật của ong mật đủ phức tạp để thay thế cho hệ vi sinh vật của người, nhưng cũng đủ đơn giản để được mổ xẻ theo một cách không thể thực hiện trên hệ của người. Nghiên cứu của Moran về ong “là một trong những công trình đáng tin cậy nhất, mạch lạc nhất” về vi khuẩn đường ruột, theo Jon Sanders, nhà nghiên cứu hệ vi sinh vật của người tại UC San Diego. Ông kỳ vọng những nghiên cứu về ong mật sẽ đem lại tri thức về cách thức hoạt động của các hệ vi khuẩn đường ruột nói chung.      Trong 15 năm tiếp theo, Baumann, Moran và các đồng nghiệp sử dụng phân tích DNA tương tự để ghi lại những mối quan hệ lâu dài tương tự giữa vi khuẩn với ruồi trắng, bọ bọt, ve sầu, bọ rầy lá và psyllid. Họ nhận thấy một số mối quan hệ có tuổi đến 270 triệu năm. Nghiên cứu này đã “khẳng định rằng cộng sinh là một phần trung tâm của tiến hóa có từ rất xưa,” Moran nói. Bà và các nhà sinh học khác đề xuất rằng vi khuẩn giúp côn trùng mở rộng nguồn thức ăn và môi trường sống, nhờ đó đa dạng hóa một cách nhanh chóng, song song với sự đa dạng hóa của thực vật có hoa.  Bộ gene cũng gợi ý vì sao những mối quan hệ này lâu bền đến thế. Chẳng hạn, Buchnera có những gene cho phép nó tạo ra những a-xít a-min không có trong nhựa cây và trong quá trình chuyển hóa của rệp cây, những a-xít a-min này bổ sung cho chế độ ăn thiếu thốn của rệp cây. Trong khi đó, sống an toàn trong những tế bào chuyên mang vi khuẩn của rệp cây, Buchnera mất đi nhiều gene quan trọng, và phải dựa vào rệp cây để bù lại những thiếu sót đó. Cuối những năm 1990, sự phụ thuộc lẫn nhau này được coi là rất quan trọng, nó giúp định hình cái nhìn về quan hệ cộng sinh.  Phương pháp nghiên cứu cộng sinh bằng bộ gene của Moran đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà khoa học, Angela Douglas, nhà nghiên cứu các tương tác côn trùng – vi khuẩn tại Đại học Cornell, cho biết. 25 năm trước, “chúng tôi bị cho là điên” vì nghĩ rằng cộng sinh có vai trò quan trọng đến thế, bà nhớ lại. Ngày nay, những liên kết chặt chẽ như vậy đã được chứng minh là quy luật của nhiều mối quan hệ vật chủ – vi khuẩn.    Một căn phòng đầy những cây lúc nhúc rệp đủ cung cấp cho các thí nghiệm của Nancy Moran và nhóm của mình. Ảnh: JULIA ROBINSON  Những nghiên cứu sau đó của Moran về côn trùng đã khẳng định sức mạnh của sự cộng sinh. Bà, McCutcheon và các đồng nghiệp khác phát hiện ra một số loài côn trùng không thể sống thiếu nhiều loài vi khuẩn cộng sinh. Ở hai loài côn trùng hút nhựa cây là bọ rầy cánh trong  và ve sầu, một vi khuẩn cộng sinh cung cấp 8 trong 10 a-xít a-min thiết yếu không có trong thức ăn của chúng, và một vi khuẩn cộng sinh khác cung cấp hai a-xít a-min còn lại. Ở những côn trùng hút nhựa cây khác, Moran và các đồng nghiệp còn phát hiện ra những chức năng khác của vi khuẩn cộng sinh. Ở rệp cây, một vi khuẩn cộng sinh mang một loại virus có hại cho ấu trùng ong bắp cày, nhờ đó giúp rệp cây chống lại ong bắp cày ký sinh. Những vi khuẩn cộng sinh khác giúp rệp cây tăng khả năng chịu nóng, nhờ đó sinh sôi được trong những môi trường mới. Nghiên cứu đó minh họa cho sự phức tạp của quan hệ cộng sinh với vi khuẩn và gợi ý phạm vi của những lợi ích mà những vi khuẩn cộng sinh đem lại, một chủ đề ngày càng rõ trong những nghiên cứu về hệ vi sinh vật ở người.  Moran cũng bất ngờ khám phá ra sự phổ biến của những đột biến có hại ở những vi khuẩn “ở trọ”, điều cho thấy sự cộng sinh không phải lúc nào cũng có lợi cho cả đôi bên. Theo thời gian, bộ gene của những vi khuẩn đó phân rã một cách tự nhiên bởi hai nguyên nhân: những vi khuẩn đó không có một quá trình sinh sản hữu tính để trộn lại DNA và thay thế những gene xấu; và chỉ một phần những vi khuẩn bị kẹt trong một con rệp cây được truyền lại thế hệ [rệp cây] sau, sự sàng lọc này lại càng hạn chế các vi khuẩn tái kết hợp với nhau. Những đột biến tích tụ liên tục bào mòn số gene còn hoạt động của vi khuẩn – Buchnera chỉ có 600 gene, so với khoảng 5000 gene của E. coli – và làm giảm chức năng của những gene còn lại này. “Về cơ bản, con rệp cây đang phụ thuộc vào một vi khuẩn cộng sinh rệu rã,” Moran nói.  Moran cùng các đồng nghiệp Nhật Bản sau đó phát hiện ra một cách mà những vi khuẩn nội cộng sinh của rệp cây dùng để đối phó với sự phân rã: chúng tạo ra rất nhiều protein sốc nhiệt  để làm ổn định những protein lỗi do các gene đột biến tạo ra. Một cách khác để ngăn chặn sự phân rã, theo bà, là sự trao đổi gene theo chiều ngang, trong đó những gene thiết yếu của vi khuẩn ở bên trong hoặc bên ngoài chuyển sang bộ gene của vật chủ – như từng xảy ra với những gene của ty thể. Bằng cách đó, chúng lợi dụng được sự sinh sản hữu tính của vật chủ để thay thế những gene đột biến bằng những gene nguyên vẹn.  Công việc đem lại ý nghĩa cuộc sống  Bài báo đột phá của Moran về phân rã gene được công bố năm 1996. Phòng thí nghiệm ở Arizona phát triển mạnh, nhưng đồng lương phó giáo sư của bà chỉ vừa đủ trang trải cuộc sống. “Lúc đó tôi khánh kiệt,” bà nhớ lại, và gần như bị cuộc sống bà mẹ đơn thân đè bẹp. Bà ly hôn lần thứ hai vào đầu năm 1997, với một con gái 5 tuổi và một con gái 14 tuổi của chồng, và phải vật lộn để cân bằng công việc với cuộc sống gia đình. “Khi có con, bạn không được phép suy sụp,” bà nói. Thế nhưng bà không thể đi dự các hội thảo khoa học, vốn vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp của mọi giáo sư trẻ.  Khoản tài trợ MacArthur bà được trao năm 1997, có giá trị hơn 50.000 usd trong vòng 5 năm, giúp giải quyết các gánh nặng đó. Ngay lập tức, bà thuê một người giúp việc và giảm thời gian giảng dạy.    Nancy Moran gặp chồng, nhà nghiên cứu tiến hóa vi khuẩn Howard Ochman, tại một hội thảo khoa học. Họ gắn bó với nhau trong cả cuộc sống riêng lẫn trong công việc. Ảnh: JULIA ROBINSON  Thời điểm đó, Ochman đang nghiên cứu bộ gene vi khuẩn. Tò mò về nhân vật mới này trong lĩnh vực tiến hóa vi khuẩn, ông thúc giục các nhà tổ chức chuỗi hội thảo Gordon mời Moran. Không có nhiều phụ nữ tham dự, nên Ochman nhận ra bà ngay. Với sự thẳng tính cố hữu, ông tới và hỏi bà dùng khoản tiền MacArthur để làm gì. Và Moran, vốn tính dè dặt, đã bị mê hoặc. Mười bốn tháng sau, họ kết hôn, và ông chuyển đến Đại học Arizona theo bà. Năm 2010, Đại học Yale chiêu mộ họ để xây dựng một trung tâm nghiên cứu đa dạng vi khuẩn. Năm 2013, họ trở về quê nhà của Moran.  Bà nói rằng mối đam mê chung đối với sinh học tiến hóa và kiến thức uyên bác của Ochman về nó đã giúp bà rất nhiều. Ông ấy “có ảnh hưởng tích cực to lớn đối với việc nghiên cứu khoa học của tôi.” Còn đồng nghiệp của hai người, McCutcheon nhận xét: “Ngành sinh học hưởng lợi vì có bà ấy là một nhà sinh vật học và ông ấy là một nhà vi trùng học”.   Trước đó, Ochman muốn giải đáp hai bí ẩn về vi khuẩn: vì sao kích thước bộ gene của các chủng E. coli có thể sai khác nhau đến 50%, và cơ chế khiến những vi khuẩn khác đang vô hại đột nhiên chuyển thành gây bệnh. Bằng cách xem xét kỹ các bộ gene vi khuẩn, ông nhận thấy chúng liên tục thêm bớt các gene nhờ trao đổi với các vi khuẩn khác hoặc với vật chủ. Sự trao đổi gene theo chiều ngang như vậy có thể giải thích kích thước thay đổi của bộ gene, cách vi khuẩn nhận được các gene sinh độc tố hoặc các vũ khí khác – và cả cách một vi khuẩn cộng sinh, chẳng hạn những vi khuẩn được Moran nghiên cứu, có thể chuyển các gene quan trọng sang vật chủ.  Phòng làm việc của Moran và Ochman cách nhau không quá 100 m. Ông thường tới phòng làm việc của bà, có thể để bàn về đề cương xin tài trợ nghiên cứu, để xem lại những dữ liệu mới nhất, hoặc đơn giản để ăn trưa. “Chúng tôi ở cùng nhau 18 giờ mỗi ngày,” ông nói. Nhưng tính cách họ lại khác nhau một trời một vực. Dữ dội và bốc đồng, Ochman thường nhanh chóng thay đổi đề tài nghiên cứu (gần đây là hệ vi sinh vật của khỉ). Trung thành kiên định, Moran chọn một câu hỏi – hay một mối quan hệ – và tìm hiểu nó một cách trọn vẹn. “Bà ấy logic và có tầm nhìn dài hạn hơn”, Ochman nói. Thói quen thu thập côn trùng của Moran đem tới cho bà những thí dụ về những vi khuẩn cộng sinh có bộ gene nhỏ đến nỗi chúng không thể tách khỏi tế bào của vật chủ. Một trong số chúng là Carsonella ruddii, được tìm thấy trong con psyllid ở nhà hàng Mexico hôm đó. Nó chỉ có 160.000 gốc, so với 5 triệu của E. coli và 640.000 của Buchnera. Nhiều bộ gene khác còn nhỏ hơn. Những phát hiện đó khiến bà tin rằng không có ranh giới rõ ràng phân tách bào quan và vi khuẩn nội cộng sinh. “Theo tôi, những tên gọi đó [bào quan, vi khuẩn nội cộng sinh] chỉ là hình thức ,” bà nói.  Ong mật đã trở thành một mối quan tâm lâu dài của Moran, vì bà đặt giả thuyết rằng vi khuẩn đường ruột có vai trò quan trọng trong sự giảm số lượng ong. Nghiên cứu trước đây của nhóm của bà cho thấy trong ruột của ong mật có tám loài vi khuẩn, một con số dễ chịu hơn nhiều so với hàng trăm loài vi khuẩn trong ruột động vật có vú, và mọi con ong trên Trái đất đều có cùng những vi khuẩn đó. Một sinh viên của bà ở Yale đã tìm ra cách nuôi cấy cả tám loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm; trong khi đó, Buchnera vẫn chưa thể nuôi cấy được.  Bằng cách tách riêng các con nhộng ong, nhóm của Moran có thể ngăn ong thợ truyền vi khuẩn cho ong con. Họ thấy những con ong không có hệ vi sinh vật chứng minh một cách rõ rệt tầm quan trọng của những vi khuẩn cộng sinh. Thiếu hệ vi sinh vật, những con ong này chậm lớn, dễ mắc bệnh, và chết sớm hơn. Bầy ong suy tàn.  Mới đây, nghiên cứu sinh Erick Motta của bà chỉ ra rằng những con ong có đủ hệ vi sinh vật trở nên dễ mắc bệnh hơn khi được cho tiếp xúc với glyphosate, chất diệt cỏ có trong sản phẩm Roundup. Glyphosate vốn được coi là vô hại cho côn trùng và các động vật khác vì nó tác động tới một enzyme chỉ có ở thực vật và vi khuẩn. Nhưng nghiên cứu gợi ý rằng tác động của nó lên vi khuẩn cộng sinh cũng có thể làm hại côn trùng. (Khi nghiên cứu này được công bố, nhà sản xuất Roundup ra tuyên bố: “Chưa có một nghiên cứu ở quy mô lớn nào tìm thấy sự liên quan giữa glyphosate và các vấn đề sức khỏe của ong mật.”)    Nghiên cứu về rệp cây của Nancy Moran đã tìm ra những nguyên lý quan trọng của sự cộng sinh. Ảnh: JULIA ROBINSON  Với Moran, hệ vi sinh vật của ong mật đủ phức tạp để thay thế cho hệ vi sinh vật của người, nhưng cũng đủ đơn giản để được mổ xẻ theo một cách không thể thực hiện trên hệ của người. Nghiên cứu của Moran về ong “là một trong những công trình đáng tin cậy nhất, mạch lạc nhất” về vi khuẩn đường ruột, theo Jon Sanders, nhà nghiên cứu hệ vi sinh vật của người tại UC San Diego. Ông kỳ vọng những nghiên cứu về ong mật sẽ đem lại tri thức về cách thức hoạt động của các hệ vi khuẩn đường ruột nói chung.  Nghiên cứu về ong dẫn đến những nguồn tài chính mới, khi Moran bắt đầu làm việc cho Cơ quan Dự án Nghiên cứu Cao cấp (DARPA, Bộ Quốc phòng Mỹ). DARPA kêu gọi những đề tài nghiên cứu khai thác các hệ vi khuẩn. Ban đầu, Moran do dự: “Mục đích là tạo ra một sản phẩm, chứ không chỉ là hiểu biết, như tất cả các nghiên cứu của tôi trước đó,” bà giải thích. Nhưng bà, cùng với kỹ sư công nghệ sinh học Jeffrey Barrick tại UT và Ellington, đã nhận được tài trợ của DARPA với mục đích tìm kiếm những phương pháp thay đổi hệ vi sinh vật của ong theo hướng có thể thay đổi các đặc tính của chúng. Thí dụ, một số thay đổi như thế có thể giúp tăng khả năng chịu stress của ong, qua đó giúp bảo tồn loài thụ phấn quan trọng này. Để chứng minh tính khả thi, nghiên cứu sinh Sean Leonard tại UT mới đây đã tạo ra một vi khuẩn đường ruột của ong có thể tạo ra RNA làm tăng sản lượng dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng. Những kết quả ban đầu gợi ý rằng những con ong đó có khả năng học tốt hơn.  Các đồng nghiệp háo hức muốn biết những khám phá tiếp theo của Moran về ong mật hoặc về những côn trùng khác bà đang nghiên cứu. “Bà ấy không phải một hiện tượng nhất thời,” Ute Hentschel, nhà sinh học biển nghiên cứu sự cộng sinh giữa bọt biển và vi khuẩn tại Trung tâm Nghiên cứu Hải dương GEOMAR-Helmholtz tại Kiel, Đức, nhận xét. “Khả năng kết tinh mọi thứ thành tri thức của bà ấy thật đáng kinh ngạc.”  Moran tin rằng cũng như mọi quan hệ phức tạp khác, sự kết hợp giữa côn trùng và vi khuẩn cần cả đời người để được hiểu rõ. “Vật chủ và vi khuẩn cộng sinh trao đổi với nhau theo những cách chúng ta không hiểu,” bà nói. “Công việc của chúng tôi là làm rõ chúng.” □  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/11/love-insects-and-their-microbial-partners-helped-biologist-reveal-secrets-symbiosis    Author                Elizabeth Pennisi        
__label__tiasang Khám phá bí mật hóa học của cây cỏ      Không chỉ làm lương thực, con người từ lâu đã dùng cây cỏ làm dược liệu, hương liệu, màu sắc, nguyên liệu xây dựng và may mặc nhờ các hoạt chất tự nhiên của chúng. Hiểu biết những “bí mật” hóa học mà thực vật nắm giữ là chìa khóa mở ra cơ hội mới trong sản xuất thuốc và nhiều hoạt chất khác cho nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.          Cây hỷ thụ (Camptotheca acuminata) tích lũy campothecin ở mức chưa tới 1% trọng lượng lá khô.   Nguồn hoạt chất phong phú nhưng không dễ tiếp cận     Nhiều trăm triệu năm thích nghi với đời sống gần như bất động đã cho thực vật khả năng dùng các hợp chất hóa học cho mọi quy trình sống từ dinh dưỡng, sinh sản, liên lạc, đến phòng vệ. Các hoạt chất này giúp thực vật tương tác với môi trường, trong đó có tác động đến động vật như con người qua màu sắc, mùi vị, và các tác động sinh lý – hóa học khác. Ngược lại, con người cũng tận dụng những tài nguyên này để phục vụ cho mục đích của mình, đặc biệt là làm thuốc.  Dược tính của cây cỏ đã được biết đến từ xa xưa. Đông Á được coi là nơi sử dụng cây thuốc phong phú và lâu đời, nổi bật là cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua) sản xuất artemisinin chữa sốt rét (Nobel y sinh năm 2015). Truyền thống này duy trì qua truyền miệng và nhiều bản ghi chép suốt hàng ngàn năm. Ngoài tác phẩm tương truyền “Thần Nông bản thảo kinh” chép 365 vị thuốc cây cỏ từ hơn 2000 năm trước CN thì còn có các tác phẩm của Cát Hồng (283–243) hay Lý Thời Trân (1518–1593) ở Trung Quốc, Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh, 1330–1400) hay Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông, 1720–1791) ở Việt Nam, và Hứa Tuấn (Heo Jun, 1546–1615) ở Triều Tiên 1,2. Gần đây, sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” là một bộ sưu tập dược tính cây cỏ rất công phu2.  Không chỉ Đông Á, hầu như mọi nơi đều có truyền thống dùng thảo dược. Một trong những cây được ghi nhận làm thuốc sớm nhất là anh túc (Papaver somniferum), được người Sumer ở nam Lưỡng Hà trồng từ hơn 3000 năm trước CN. Kinh Vệ-đà của Ấn Độ giáo cổ có rất nhiều phương thuốc thực vật. Hai bộ sử thi Iliás và Odýsseia của Hómēros (khoảng 800 năm trước CN ở Hy Lạp) tuy không phải y văn nhưng cũng nhắc đến 63 vị thảo dược ở Tiểu Á và Ai Cập. Châu Âu thế kỷ XVI nổi bật có Rembert Dodoens hệ thống lại tác dụng chữa bệnh của cây cỏ. Gần đây hơn thì ta biết đến tác dụng chữa ung thư của thông đỏ (Taxus spp., tạo paclitaxel) ở Mỹ và dừa cạn (Catharanthus roseus, tạo vinblastine và vincristine) có nguồn gốc từ châu Phi3.  Ngoài thuốc, những chất tạo màu sắc của hoa lá (anthocyanidin cho màu xanh đến tím, carotenoid cho màu đỏ của lá mùa thu), tạo hương của trái (các terpenoid như nootkatone cho mùi cam quýt, hỗn hợp myrcene với terpenoid khác cho mùi từ xoài đến chanh), thay đổi trạng thái sinh lý – thần kinh của người dùng (các alkaloid như caffeine trong cà-phê, theobromine trong chocolat, hay morphine trong thuốc phiện), và tạo tính đàn hồi cho cao su tự nhiên (cis-1,4-polyisoprene), v.v… đều được con người tận dụng trong suốt chiều dài lịch sử từ khi chưa có hiểu biết gì về bản chất hóa học của chúng.  Tuy có nghi ngờ đây đó rằng y dược học hiện đại phủ nhận công dụng của dược liệu từ cây cỏ hay hoàn toàn phụ thuộc vào hóa chất tổng hợp, nhưng trên thực tế 60%  số “thuốc Tây” hiện nay có xuất phát hoặc dựa trên các hợp chất tự nhiên4. Chỉ trong điều trị ung thư, hiện nay có ba nhóm thuốc nổi bật từ thực vật được lưu hành trên thị trường. Ngoài hai nhóm alkaloid (như vinblastine) và taxane (như paclitaxel) đã nêu, một nhóm nữa là các dẫn xuất lignin (như podophyllotoxin từ họ hoàng mộc Berberidaceae)5. Tất cả những chất này đều gần như không thể tổng hợp được bằng các phương pháp hóa học.  Các hợp chất này có ý nghĩa y học và giá trị thương mại rất lớn, riêng camptothecin và các dẫn xuất chữa ung thư của nó đã có thị trường hơn 1 tỷ USD mỗi năm6. Tuy vậy, tiềm năng của chúng chưa được khai thác đầy đủ. Thực vật tiến hóa để tồn tại chứ không phải phục vụ con người nên chúng chỉ tích lũy những hoạt chất này ở mức rất thấp. Cây thông đỏ (tạo paclitaxel trong vỏ) mất vài chục năm mới trưởng thành, và bóc vỏ của ba cây trưởng thành (và do đó làm chết cây) mới đủ chữa cho một bệnh nhân ung thư vú7. Còn hỷ thụ (Camptotheca acuminata) chỉ tích lũy campothecin ở mức chưa tới 1% trọng lượng lá khô. Một vấn đề nữa là không phải cây nào cũng dễ tìm hay dễ trồng. Ở Việt Nam, thông đỏ chỉ mọc ở núi cao như Hoàng Liên Sơn hay Lâm Đồng; còn hỷ thụ chỉ mọc ở một vài khu vực ở Trung Quốc. Không chỉ vấn đề lượng, độ tinh sạch cũng là một khó khăn vì thực vật thường tạo ra hỗn hợp có rất nhiều chất có hoạt tính ta không mong muốn. Cấu trúc phức tạp của các chất này cũng khiến việc tổng hợp hóa học rất khó khăn (Hình 1). Ngoài ra, quá trình tổng hợp, tách chiết cũng cần nhiều dung môi từ dầu hỏa – một tài nguyên hữu hạn và không thân thiện với môi trường.  Trước những thách thức trên, giới khoa học đã tìm hiểu cách thức cây cỏ tự tổng hợp những hợp chất có hoạt tính này với mục tiêu tạo ra những dược liệu hay các hoạt chất hữu ích khác theo những cách hiệu quả, bền vững hơn.     Nghiên cứu các hoạt chất tự nhiên đòi hỏi kiến thức đa ngành     Như sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” thận trọng chỉ ra, nhiều vị thuốc từ cây cỏ được “sử dụng chỉ mới dựa vào kinh nghiệm và học thuyết âm dương ngũ hành…, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở khoa học hiện đại” 2. Từ thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học có chung suy nghĩ đã tích cực tham gia nghiên cứu tác dụng thực sự của các vị thuốc từ cây cỏ nhằm giải đáp những câu hỏi như hợp chất nào, tác dụng gì, và liều lượng ra sao cho những bệnh cụ thể nào. Đây là những công việc đòi hỏi chuyên môn từ nhiều ngành như hóa học, dược học, sinh học, y học lâm sàng mà việc ứng dụng artemisin từ cây thanh hao hoa vàng vào chữa sốt rét và phát hiện dược chất vinblastine chữa ung thư ở cây dừa cạn là hai ví dụ nổi bật3.  Hình 1: Một số hoạt chất tự nhiên được nhắc đến trong bài. Tuy dược tính đối với con người đã khá rõ, song cách thức sinh tổng hợp cũng như ý nghĩa của chúng đối với bản thân thực vật vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều câu hỏi để ngỏ.      camptothecin, hỷ thụ (Camptotheca acuminata).    vinblastine, dừa cạn (Catharanthus roseus).    paclitaxel (Taxol), thông đỏ (Taxus).      artemisinin, thanh hao hoa vàng (Artemisia annua).  Không dừng lại ở đó, người ta còn tìm hiểu cách thức những hợp chất này được tổng hợp bằng những cơ chế tự nhiên của thực vật. Những kiến thức này sẽ giúp ta đưa ra những phương pháp sản xuất những hợp chất có ích bằng các nhân tố xúc tác sinh học (enzyme) thay vì dựa hoàn toàn vào tách chiết và tổng hợp hóa học.  Sự phát triển vượt bậc của sinh học phân tử cùng công nghệ giải trình tự di truyền (DNA và RNA) từ đầu thế kỷ XXI đã mở ra một giai đoạn phát triển sôi động trong nghiên cứu các hợp chất tự nhiên từ thực vật. Từ khi Arabidopsis thaliana (một loại cây thuộc họ cải, Brassicaceae, thường dùng làm mô hình trong nghiên cứu) trở thành loài thực vật đầu tiên được giải trình tự bộ gene vào năm 2000, bộ gene hàng trăm loài thực vật khác cũng đã được giải trình tự (riêng thực vật có hoa đã hơn 200). Dự án giải trình tự 1000 loài thực vật quan trọng (1000 Plants Initiative) vẫn đang tiếp diễn do Đại học Alberta (Canada) và Viện Genomics Bắc Kinh (Trung Quốc) chủ trì đóng góp một phần đáng kể vào con số này8.  Đồng thời, những công nghệ hóa phân tích hiện đại như GC-MS và LC-MS (sắc ký khí và sắc ký lỏng hiệu năng cao kèm với phổ khối) hay NMR (phổ cộng hưởng từ hạt nhân) cũng cho phép định tính và định lượng các hợp chất tự nhiên chính xác và nhạy hơn bao giờ hết. Giờ đây, phân tích các hợp chất tự nhiên ở mức nanogram giữa hàng trăm các hợp chất khác trong mô sinh vật không còn là điều ngoài tầm tay.  Những người làm nghiên cứu hoạt chất tự nhiên ngày nay còn có sự trợ giúp của tin học, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo và máy học (machine learning) để phân tích và kết nối những bộ dữ liệu hóa học và di truyền khổng lồ. Từ đây, các chuỗi phản ứng sinh tổng hợp từ những tiền chất đơn giản như đường đến các hoạt chất phức tạp trong cơ thể thực vật có thể được xác định hoàn chỉnh. Ví dụ như con đường sinh tổng hợp noscapine (hoạt chất chống ho và có tiềm năng chữa ung thư từ cây anh túc) đã được xác định hết bảy bước quan trọng chỉ trong năm năm một phần quan trọng là nhờ sự phối hợp liên ngành này9. Để so sánh, nghiên cứu các bước quan trọng tương tự trong sinh tổng hợp morphine cũng ở cây anh túc chỉ trước đó không lâu đã phải mất tới 20 năm.      Hình 2: Thành tựu nghiên cứu sinh tổng hợp các hoạt chất tự nhiên từ thực vật có đóng góp của nhiều ngành và nhiều nhóm nghiên cứu. Đại học Calgary (Canada) xác định các enzyme sinh tổng hợp noscapine có tác dụng chữa ho và ung thư từ cây anh túc. Đại học Stanford (Mỹ) dùng những enzyme này, kết hợp với các yếu tố di truyền từ nhiều loài thực vật và động vật khác để sản xuất noscapine bằng tế bào nấm men. [Minh hoạ của A. Cravens, Đại học Stanford]  Tương tự, nhiều con đường sinh tổng hợp khác đã được xác định hoàn chỉnh gần đây. Hai ví dụ mới nhất là sinh tổng hợp podophylloxin ở họ hoàng mộc, hay cannabinoid – các hợp chất chịu trách nhiệm cho hoạt tính sinh học của cây Cannabis sativa (gai dầu hay cần sa tùy theo giống). Chỉ trừ con đường vinblastine, những con đường còn lại trong các ví dụ trên đã được đưa toàn bộ hay một phần vào nấm men hay cây thuốc lá, hai hệ thống dễ kiểm soát bằng công nghệ sinh học, để sản xuất mà không phụ thuộc vào cây thuốc gốc (Hình 2)10–14.     Triển vọng nghiên cứu và phát triển     Ngoài mục tiêu hiển nhiên là tiếp tục tìm hiểu những con đường sinh tổng hợp chưa được xác định hoàn chỉnh (như paclitaxel, camptothecin hay cis-1,4 -polyisoprene), những người làm nghiên cứu vẫn luôn tìm kiếm những hoạt chất mới và định hoạt tính chính xác những vị thuốc cây cỏ đã biết trong dân gian. Điều này có lẽ lại càng có ý nghĩa hơn ở những nơi có nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú nhưng vẫn đang được khai thác chủ yếu theo kinh nghiệm truyền thống như Việt Nam. Hợp tác quốc tế với những nước có nền khoa học, công nghệ tiên tiến là một cách tiếp cận tốt. Một điều đáng đề cập là thế giới đã có Công ước về đa dạng sinh học15 để đảm bảo quyền lợi của những nơi có tài nguyên sinh vật dồi dào nhưng thiếu công nghệ hay kỹ năng khai thác.  Xác định các enzyme tham gia trực tiếp vào chuỗi phản ứng hóa học tạo ra các hợp chất tự nhiên thôi chưa đủ. Di truyền học hiện đại cho thấy ta cần phải tìm hiểu hơn nữa về sự phân bố của các enzyme này bên trong cấu trúc tế bào và vai trò của các nhân tố DNA phi mã hóa (tức không trực tiếp mã hóa cho protein/enzyme) trong điều hoà chuỗi sinh tổng hợp. Ngoài ra, như đã nói ở trên, chọn lọc tự nhiên tạo nên những enzyme giúp thực vật đủ thích nghi với đời sống của bản thân chúng, do đó chúng ta cần tối ưu hóa hay đa dạng hóa hoạt tính của những enzyme này cho nhu cầu của con người. Việc thay đổi hoạt tính của enzyme để nó tốt hơn dạng tự nhiên như thế có thể đạt được thông qua phương thức tiến hóa có định hướng như công trình đạt giải Nobel Hóa học năm 201816, hay sử dụng các tiền chất tổng hợp (bên cạnh tiền chất tự nhiên)11,12.      Nhiều vị thuốc từ cây cỏ được “sử dụng chỉ mới dựa vào kinh nghiệm và học thuyết âm dương ngũ hành…, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở khoa học hiện đại”.      Tìm hiểu sinh tổng hợp các hoạt chất tự nhiên giúp ta hiểu rõ những chiến lược sinh tồn của sinh giới, ít nhất là về hóa học. Ở những nơi có mức độ đa dạng sinh học cao như Việt Nam thì có lẽ các chiến lược này (cũng như những hoạt chất chúng tạo ra) có mức độ đa dạng tương ứng. Bên cạnh tất cả những lợi ích về sức khỏe và kinh tế, nghiên cứu các hợp chất tự nhiên ở thực vật sẽ giúp ta hiểu thêm về tiến hóa, cũng như trân trọng thêm sự đa dạng sinh học của những vùng đất mình đi qua.□  ——  —  Đặng Thị Thu Thủy – Giảng viên (assistant professor), trưởng nhóm nghiên cứu sinh hóa các hợp chất tự nhiên thực vật.  Nguyễn Trịnh Đôn – Nghiên cứu viên  Đại học British Columbia, Okanagan (Canada).  Nguồn tham khảo:  1 Historical sources relevant for study of medicinal plants’ use. Pharmacognosy Reviews (2012)  2 Sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”. NXB Y Học, Hà Nội (2004).  3 Con đường sinh tổng hợp chất chống ung thư vinblastine từ cây dừa cạn. Tia Sáng (07/06/2018). http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Con-duong-sinh-tong-hop-chat-chong-ung-thu-vinblastine-tu-cay-dua-can-12455  4 Back to nature: extinction of medicinal plants threatens drug discovery. Journal of the National Cancer Institute (2008) 100:838.  5 Medicinal plants and cancer chemoprevention. Current Drug Metabolism (2008) 9:581.  6 Camptothecin, over four decades of surprising findings. Phytochemistry (2004) 65:2735.  7 How bark from the Pacific yew tree improved the treatment of breast cancer. Pharmaceutical Journal (2011) 287:369.  8 Data access for the 1,000 Plants (1KP) project. GigaScience (2014) 3:17.  9 Acetylation serves as a protective group in noscapine biosynthesis in opium poppy. Nature Chemical Biology (2015) 11:104.  10 Six enzymes from mayapple that complete the biosynthetic pathway to the etoposide aglycone. Science (2015) 349:1224.  11 Complete biosynthesis of cannabinoids and their unnatural analogues in yeast. Nature (2019) 567:123.  12 Complete biosynthesis of noscapine and halogenated alkaloids in yeast. Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA (2018) 115:E3922.  13 Total biosynthesis of opiates by stepwise fermentation using engineered Escherichia coli. Nature Communications (2016) 7:10390.  14 Approaches and recent developments for the commercial production of semi-synthetic artemisinin. Frontiers in Plant Science (2018) eCollection.  15 Hầu hết các nước phát triển (trừ Hoa Kỳ) đều tham gia Công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Nagoya về thực hiện công ước này. https://treaties.un.org/pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=XXVII-8-b&chapter=27&lang=en  16 Nobel Hoá học 2018: ‘Cuộc cách mạng của tiến hoá’. Tuổi Trẻ (04/10/2018). https://tuoitre.vn/nobel-hoa-hoc-2018-cuoc-cach-mang-cua-tien-hoa-20181004113719389.htm    Author                Đặng Thị Thu Thủy - Nguyễn Trịnh Đôn        
__label__tiasang Khám phá bí mật plutonium      Các nhà nghiên cứu ở Rutgers, Đại học bang New Jersey đã vừa vén lên những bí mật về đặc tính hóa học và vật lý của nguyên tố plutonium nổi tiếng. Trong một công trình đăng trên Nature, nhóm nghiên cứu đã báo cáo rằng, các electron hóa trị trong kim loại plutonium rắn luôn thăng giáng rất nhanh giữa các orbital khác nhau của nguyên tử. Điều đó trái với khẳng định của các lý thuyết trước đây cho rằng có một số xác định các electron hóa trị trên những orbital này. Khám phá của nhóm Rutgers giúp giải thích một số đặc trưng khó hiểu của plutonium: không giống nhiều kim loại, plutonium không có từ tính và cũng không phải là chất dẫn điện tốt, thể tích của nó thay đổi nhiều một cách bất thường khi thay đổi nhiệt độ và áp suất.    Những khám phá này ngoài ý nghĩa giải thích khoa học còn có khả năng giúp các nhà khoa học tạo ra những vật liệu hạt nhân an toàn hơn phục vụ công nghiệp, năng lượng và y tế.  “Một lý thuyết cho phép sự thăng giáng thất thường của các electron hóa trị ở đây có thể dùng để giải thích rất tốt các tính chất được quan sát trong phòng thí nghiệm,” Kristjan Haule ở Rutgers nói. Ông cũng chỉ ra những kết quả mới nhận được từ phổ hấp thụ tia X và phổ hụt năng lượng điện tử. “Thêm vào đó, lý thuyết còn tiên đoán chính xác tính chất hai nguyên tố láng giềng của plutonium là americium và curium. Chúng có cấu trúc nguyên tử tương tự nhau nhưng lại khác nhau nhiều về các tính chất điện và từ.”  Lý thuyết mới này là sự kết hợp rất hiệu quả của hai lý thuyết hiện có: lý thuyết gần đúng mật độ địa phương và lý thuyết trường trung bình động học. Nếu làm ăn riêng rẽ, mỗi lý thuyết này sẽ không thể mô tả được tất cả các tính chất vật lý được quan sát của plutonium.  Công trình đăng trên Nature của Rutgers còn có tầm quan trọng củng cố thêm các phương pháp nghiên cứu những vật liệu phức tạp của các nguyên tố láng giềng với plutonium. Chúng chủ yếu là những kim loại phóng xạ và đất hiếm, có tính chất điện và từ phụ thuộc vào các electron orbital. Chúng được coi là những ví dụ cho loại vật liệu tương quan mạnh, có nhiều đặc điểm phức tạp và bất thường.     Nguồn: Rutgers, the State University of New Jersey/vatlyvietnam.org:      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cấu trúc điện của DNA      Các nhà khoa học thuộc ĐH Do Thái Jerusalem và cộng sự đã tiên phong tìm ra cấu trúc điện của từng phân tử DNA. Các nhà khoa học tiến hành trên các phân tử DNA dài và đồng nhất ở nhiệt độ -195oC với một kính hiển vi quét STM để đo dòng điện chạy ngang qua một phân tử gắn trên nền vàng.      Bằng phương pháp tính toán giả thiết sử dụng đáp án của các phương trình lượng tử, họ đã tìm ra cấu trúc điện của DNA tương thích với dòng điện thí nghiệm. Những kết quả này sẽ giúp nhận diện những phần của vòng xoắn kép góp phần hình thành dòng điện dọc các phân tử. Công trình này nhằm phát triển những cách mới để giải mã chuỗi DNA người phức tạp, đáng tin cậy, nhanh hơn và rẻ hơn.   Tuệ Minh (Theo PhysOrg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá cơ chế tự phòng chữa bệnh của cơ thể      Trong suốt chiều dài lịch sử, loài người đã từng trải qua nhiều loại bệnh dịch khác nhau. Cơ thể con người sở hữu hệ thống miễn dịch, có khả năng chiến đấu với bệnh tật và tự chữa lành vết thương là một trong những bí ẩn và tuyệt tác của thiên nhiên. Trong thời điểm hiện nay, khi cả thế giới phải đương đầu với một loại bệnh dịch mới chưa có thuốc điều trị, thì hơn bao giờ hết, cần hiểu và nâng cao khả năng tự bảo vệ của cơ thể.      Tranh: Purdue Univeristy.  Khi cơ thể con người bị ốm hoặc bị thương, một mạng lưới rộng lớn và phức tạp của các tế bào, protein điều hòa và các gene chuyên dụng lập tức hình thành cơ chế phòng vệ trong cơ thể, nỗ lực triệt hạ những vi khuẩn xâm nhập hoặc tấn công những khối u đang phát triển.   Trong lịch sử cũng không hiếm những trường hợp cả một cộng đồng xã hội bị điêu đứng, thậm chí lịch sử văn hóa bị định hình lại chỉ vì một loại vi khuẩn lạ mà cơ thể người chưa kịp dựng bức tường đề kháng này. Chẳng hạn, nghiên cứu người Aztec mới đây cho thấy, trong đường ruột của cư dân này có chứa một chủng lạ của khuẩn Salmonella có thể gây ra những cơn sốt qua đường ruột – một loại vi khuẩn mà người châu Mỹ bản địa chưa bao giờ tiếp xúc cho đến khi những người từ châu Âu đặt chân lên lục địa của họ. Hệ miễn dịch của người Aztec chưa học được cách chống lại loài vi khuẩn hiểm ác đó.   Chính vì thế mà ngày nay, hệ miễn dịch đang là một trong những lĩnh vực nghiên cứu thu hút được sự chú ý và tài trợ nhiều nhất trong Y học.  Trong cuốn sách “Hệ miễn dịch – Khám phá cơ chế tự phòng chữa bệnh của cơ thể người”, nhà miễn dịch học Daniel M.Davis đã ví von rằng, nghiên cứu hệ miễn dịch trong cơ thể con người cũng giống như nghiên cứu những vì sao và ngân hà trong vũ trụ. Tác giả đưa cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về bức tranh rộng lớn của hệ miễn dịch, cùng những câu chuyện về hành trình khám phá ra những mảnh ghép của bức tranh ấy.      “Davis để lại cho độc giả một lời nhắc nhở rằng, đối với tất cả những tiến bộ khoa học được mô tả trong cuốn sách, hệ miễn dịch của con người vẫn mạnh hơn nhiều so với bất kỳ loại thuốc nào chúng ta từng phát minh ra…” – Publishers Weekly      Hành trình khám phá đi từ những phát kiến kéo dài nhiều thập kỷ của các nhà khoa học tiên phong, từ những thí nghiệm đầu tiên về vắc xin tiêm chủng bệnh đậu mùa vào những năm 1720, cho đến những tiến triển vượt trội trong lĩnh vực điều trị ung thư bằng hệ miễn dịch. Việc nghiền ngẫm cuốn sách này sẽ giúp chúng ta có những khái niệm đầu tiên về sự phức tạp của “vũ trụ hệ miễn dịch” bên trong ta.     Cuốn sách được chia ra làm hai phần:   Phần đầu tiên giải thích những khái niệm cơ bản về sức đề kháng, hành trình khám phá các tế bào cùng các cơ chế phức tạp trong hệ miễn dịch. Phần thứ hai bàn về những nghiên cứu hiện đại về việc những tác nhân khác nhau ảnh hưởng đến hệ miễn dịch.   Tác giả chỉ ra nhiều điều đáng chú ý rằng: cơ thể có khả năng chống lại bệnh tật là liên tục thay đổi. Sức mạnh của hệ miễn dịch lúc tăng lúc giảm, bị ảnh hưởng bởi sự căng thẳng, tuổi già, thời gian trong ngày và trạng thái thần kinh. Hệ miễn dịch cũng thay đổi liên tục, chẳng hạn, số lượng tế bào miễn dịch trong máu có xu hướng đạt đến đỉnh điểm vào buổi tối và ở mức thấp nhất vào buổi sáng.  Cuốn sách cũng chỉ ra cách chiến đấu với bệnh tật một cách hiệu quả hơn thông qua những câu hỏi rất đơn giản nhưng cốt lõi như: Hàng ngày chúng ta ăn vào rất nhiều thành phần “ngoại nhập”, nhưng làm sao cơ thể tự nhận biết được thứ gì là tốt, thứ gì có hại cho? stress ảnh hưởng đến cách cơ thể phòng vệ cũng như việc tươi cười tương tác thế nào đến sức đề kháng như thế nào?   Tác giả cũng chia sẻ những tiên đoán về tương lai của ngành trị liệu bằng hệ miễn dịch và nhận định việc hiểu rõ hơn về hệ miễn dịch có thể ảnh hưởng đến ngành dược trong tương lai, đặc biệt trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư và các căn bệnh được gây ra do các phản ứng miễn dịch bất thường như thấp khớp.  Cuốn sách còn nhắc đến một mối đe dọa có thật mà chúng ta phải đối mặt: với tình hình biến đổi khí hậu, những di cốt mang mầm bệnh đã bị đóng băng trong quá khứ sẽ thoát ra ngoài lớp băng vĩnh cửu.   Hơn hết, giờ đây chúng ta nên dành thời gian để hiểu rõ hơn về những hàng rào bảo vệ mà tiến hóa đã cung cấp cho chúng ta, bởi vì cuộc chiến chống lại bệnh tật là liên tục. “Hệ miễn dịch” là một cẩm nang chỉ dẫn xứng đáng như vậy cho loài người.  Daniel M. Davis (sinh năm 1970) là Giáo sư ngành miễn dịch học tại Đại học Manchester, Anh. Bằng việc sử dụng kính hiển vi để nghiên cứu sinh học tế bào miễn dịch, ông đã giúp tìm hiểu cách các tế bào miễn dịch tương tác với nhau như thế nào. Cuốn sách “Hệ miễn dịch: Khám phá cơ chế tự phòng chữa bệnh của cơ thể người” từng được đề cử cho giải thưởng sách khoa học năm 2018 của Hiệp hội Hoàng gia London. Một cuốn sách khác của ông là Gen tương hợp (The Compatibility Gene) cũng nhận được sự đánh giá cao từ đông đảo độc giả.  Sách được nhà xuất bản Dân Trí và Omega Plus ấn hành. Dịch giả: Trương Duy Hiệu, Trần Tuấn Hiệp.    Author                Nguyên Ánh        
__label__tiasang Khám phá đầu tiên về vật chất tối      Ngày 3 tháng 4 vừa qua tại Geneva, Nhóm Hợp  tác AMS (AMS Collaboration) thuộc Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu  CERN đã công bố kết quả nghiên cứu vật lý đầu tiên của họ trong công tác  thăm dò tìm kiếm vật chất tối và phản vật chất trong vũ trụ.     AMS là viết tắt của Alpha Magnetic Spectrometer, tức Phổ kế từ tính Alpha, một thiết bị lắp bên ngoài Trạm Vũ trụ quốc tế ISS (ảnh 1). AMS nặng gần 7 tấn, giá thành 2,5 tỷ USD, được nghiên cứu thiết kế chế tạo trong gần 18 năm. Nó có một cái vòng nam châm (magnet ring) cao 0,91 m.  Thiết bị này có nhiệm vụ đo phổ năng lượng của tia vũ trụ sơ cấp và chuyển về CERN tại biên giới Pháp-Thụy Sĩ để Nhóm Hợp tác AMS phân tích. Đây là thí nghiệm khoa học lớn duy nhất của ISS trong 20 năm tới. Nhóm này tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Nhóm quản lý dự án AMS của NASA (Mỹ) thuộc Trung tâm Vũ trụ Johnson.  Thiết bị AMS do nhiều nước tham gia chế tạo, sau đó lắp ráp tại CERN; cuối cùng được chở sang Mỹ để ngày 16/5/2011 tàu con thoi Endeavour đưa lên vũ trụ. Ba ngày sau, các nhà du hành vũ trụ trên Trạm ISS hoàn tất việc lắp ráp AMS vào trạm này.   AMS là một thí nghiệm vật lý hạt được Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ. Nhóm Hợp tác AMS gồm 600 nhà khoa học, chuyên viên và sinh viên của 16 nước Âu, Á và Bắc Mỹ: Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Romania, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mexico và Mỹ. Nhóm này do Samuel Ting (Đinh Triệu Trung, người Mỹ gốc Hoa) đứng đầu. Ông là GS Học viện Công nghệ Massachusetts, đồng chủ nhân Nobel vật lý 1976. Ý, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Đài Loan, Thụy Sĩ đã có những cống hiến quan trọng trong dự án nghiên cứu AMS.   S. Ting nói: “Thí nghiệm này sẽ giúp chúng ta đến tận bên rìa vũ trụ để tìm kiếm sự tồn tại của vũ trụ phản vật chất”. Các nhà khoa học cho rằng, do AMS có độ chính xác cao và thống kê được một lượng số liệu cực lớn nên nó có khả năng thăm dò khám phá những hiện tượng vật lý mới.  Trong 18 tháng trên vũ trụ, AMS đã đo được số liệu của 31,1 tỷ tia vũ trụ ở mức năng lượng cỡ nghìn tỷ Vôn điện tử (eV). Lượng tín hiệu đó vượt xa toàn bộ số liệu tia vũ trụ loài người sưu tầm được trong cả thế kỷ XX (3 tỷ). Sau đây mỗi năm AMS sẽ ghi được tín hiệu từ 16 tỷ tia vũ trụ.   Trong thời gian từ 19/5/2011-10/12/2012, AMS đã phân tích được 25 tỷ tia vũ trụ sơ cấp, trong đó xác nhận được 6,8 tỷ electron (điện tử) và phản vật chất (antimatter) của nó – positron (điện tử dương). Hơn 400 nghìn positron do AMS quan trắc được là số lượng nhiều nhất phản vật chất năng lượng cao (từ 0,5 đến 350 GeV)  trực tiếp quan trắc được trong vũ trụ.  Nhóm Hợp tác AMS cho rằng từ kết quả thí nghiệm đầu tiên này, có thể thấy positron năng lượng cao không đến từ một hướng cố định nào trong vũ trụ – tức không đến từ các pulsar* trong hệ Ngân hà – đặc tính này thể hiện luận cứ về một hiện tượng vật lý mới: các positron đó có thể được tạo ra khi các hạt vật chất tối (dark matter) va chạm và tiêu diệt nhau. Nghĩa là chúng có thể đến từ các vật chất tối bí ẩn mà loài người săn tìm bao lâu nay. Bởi lẽ nếu đến từ pulsar thì chúng sẽ thể hiện tính phương hướng nhất định. Sau này, khi phân tích các số liệu ở mức năng lượng cao, người ta cuối cùng sẽ xác định được phổ năng lượng ấy rốt cuộc đến từ sự va chạm các hạt vật chất tối hay từ pulsar. Samuel Ting nói: “Chính là mức độ chính xác này cho phép biết được sự quan sát positron hiện nay của chúng ta có nguồn gốc vật chất tối hay là pulsar” “Chúng tôi cần nhiều thống kê hơn để nghiên cứu. Kết luận hiện nay dựa trên số liệu của khoảng một phần 10 lượng số liệu đã thu thập”.    Vật chất tối là một trong những bí ẩn lớn nhất của vũ trụ cho tới nay loài người chưa giải đáp được. Vật chất tối không phát sáng, tức không phát sóng điện từ, cho nên ta không nhìn thấy. Nhưng cũng như mọi vật chất thông thường khác, chúng có tác dụng lực hấp dẫn. Nhờ hiệu ứng lực hấp dẫn đó mà các nhà khoa học phát hiện vật chất tối chiếm tới 23% vũ trụ, năng lượng tối chiếm 73% vũ trụ, như vậy nghĩa là toàn bộ vật chất thông thường (normal matter) mà chúng ta hiện đã quan sát thấy chỉ chiếm 4% vũ trụ. Vật chất tối là thứ mà GS Ting và AMS đang tìm kiếm. Việc làm sáng tỏ bí ẩn của vật chất tối sẽ giúp các nhà khoa học hiểu được cấu tạo của vũ trụ. Samuel Ting nói: “Vật chất tối là đám mây đen lớn nhất trùm lên vật lý học hiện đại thế kỷ XX và XXI. Nó sẽ báo trước một cuộc cách mạng của vật lý học”.  Trong 80 năm qua, các nhà khoa học đã chứng minh trên lý thuyết sự tồn tại của vật chất tối nhưng họ chưa bao giờ trực tiếp quan sát thấy chúng. Họ đã tìm kiếm vật chất tối trong máy gia tốc thực hiện sự va chạm các hạt ở tốc độ cao cũng như dùng máy thăm dò tìm kiếm chúng dưới đất sâu, nhưng tất cả đều không thành công. Gần đây họ tìm kiếm kết quả các vụ va chạm hiếm hoi của các vật chất tối trong vũ trụ. Nếu các hạt vật chất tối va chạm và hủy diệt nhau thì chúng sẽ để lại dấu vết của các positron – phản vật chất của electron – ở mức năng lượng cao.   Họ đã tìm thấy một số. Song chúng cũng có thể là tín hiệu của các pulsar – Ting thừa nhận.    “Đây là câu chuyện tìm kiếm 80 năm nay và chúng ta đang tiến gần tới kết thúc. Đây là một manh mối có sức thu hút và những kết quả sau đây có được từ AMS sẽ chấm dứt câu chuyện này” – nhà vật lý Michael Turner, một đại gia trong lĩnh vực vật chất tối nói.  Việc thiết kế hệ thống nhiệt của AMS được giao cho trường Đại học Sơn Đông, Trung Quốc. Đây là một bộ phận rất quan trọng của AMS, bởi lẽ biến động nhiệt độ của AMS phải được giữ trong phạm vi 1 độ C, nhưng trong thực tế do sự chuyển động tương đối giữa Trái đất với Mặt trời và do sự tự quay của Trái đất nên nhiệt độ của AMS luôn luôn thay đổi.   Trường Đại học Sơn Đông có nhiệm vụ lãnh đạo việc thiết kế chế tạo, lắp ráp hệ thống nhiệt của AMS. Tổng phụ trách công trình này là GS Trình Lâm (Cheng Lin). Ông nói, cho tới nay hệ thống nhiệt của AMS vẫn hoạt động bình thường nhưng chưa thể dự tính nó có thể làm việc được bao lâu trên trạm ISS. Theo GS Trình, các nhà khoa học tham gia dự án AMS có cơ hội để được tặng giải Nobel vật lý.     —  * Pulsar là một loại Biến tinh (variable star), nó có khối lượng tương đương Mặt trời nhưng đường kính lại chỉ có khoảng 10 km; nó liên tục phát ra các tín hiệu xung điện từ. Pulsar lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1967.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp từ các nguồn :  1) http://www.ams02.org/2013/04/first-results-from-the-alpha magnetic-spectrometer-ams-experiment/    2) http://www.aikenstandard.com/article/20130406/AIK0106/1304096 24/1013/scientists-find-possible-hint-of-dark-matter  3) http://www.guardian.co.uk/science/2013/apr/03/dark-matter-space-station-physics  4) http://pic.uschinapress.com/EleganDemeanor/20130404/45921.html                                                                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá lịch sử khí hậu từ bụi cổ đại đáy biển      Trong kỷ băng hà cuối cùng khoảng 20.000 năm trước, bụi chứa sắt là nguồn thức ăn cho các sinh vật phù du ở Nam Thái Bình Dương, thúc đẩy quá trình hấp thụ CO2 và làm mát Trái đất. Tuy nhiên, bụi đến từ đâu? Nhóm nghiên cứu do TS. Torben Struve, một nhà địa chất học ở Đại học Oldenburg, Đức đã đi tìm lời giải cho câu hỏi về lịch sử khí hậu trên – vấn đề cũng liên quan đến tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay.      18 lõi trầm tích từ đáy biển được đưa lên tàu nghiên cứu Polastern bằng pit tông và máy dò trọng lực. Nguồn: Phys.org    Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các lõi trầm tích lấy từ đáy biển và phát hiện ra một lượng lớn bụi lắng đọng ở Nam Thái Bình Dương vào thời điểm đó đã trải qua một chuyến hành trình cực kì dài. Khoảng 80% bụi bắt nguồn từ phía Tây Bắc Argentina hiện nay, sau đó di chuyển trên khắp thế giới nhờ những cơn gió tây thịnh hành. Sau chuyến đi dài 20.000 km, chúng đem lại nguồn sắt đáng kể cho những sông băng trên Thái Bình Dương. Nguồn bụi đến từ Úc chỉ chiếm một phần nhỏ. Nhóm nghiên cứu đã công bố phát hiện về cơ chế tích tụ sắt tự nhiên ở Nam Thái Bình Dương trên tạp chí Nature Communications.    “Chúng tôi đã phân tích dấu vết hóa học của bụi và so sánh với dữ liệu địa chất ở một số lục địa. Đây là công việc khó khăn, giống như trò chơi ghép hình vậy”, Struve, một nhà khoa học đang làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ thuộc nhóm nghiên cứu “Địa hóa đồng vị biển” ở Viện nghiên cứu Hóa học và sinh học môi trường biển (ICBM), Đại học Oldenburg, cho biết. Nhóm tác giả bao gồm các nhà khoa học đến từ nhóm nghiên cứu trên cũng như các đồng nghiệp ở Viện Alfred Wegener — Trung tâm nghiên cứu Helmholtz về cực và đại dương (Đức) và Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Họ lấy mẫu 18 lõi trầm tích ở Nam Thái Bình Dương, nằm giữa Nam Cực, New Zealand và Chile, một khu vực nghiên cứu có diện tích gần bằng Nga. Sau đó, họ tìm hiểu thành phần hóa học của bụi trong các mẫu. “Bản chất của loại bụi này bắt nguồn từ đá, có tính chất đặc trưng tùy thuộc vào lịch sử địa chất và xuất xứ, do vậy, mỗi nguồn có một đặc trưng riêng”, Struve giải thích.    Các nhà nghiên cứu tập trung vào những kim loại vết, đặc biệt là các nguyên tố đất hiếm và một số đồng vị cụ thể – các biến thể có khối lượng khác nhau của các nguyên tố neodymium, chì và strontium. Những đặc trưng này được lưu giữ qua hàng triệu năm, do đó cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc của các hạt bụi dù 20.000 năm đã qua.    Vào thời điểm đó, kỷ băng hà cuối cùng đang ở giai đoạn cực đại. Theo kết quả nghiên cứu, những cơn gió tây đã thổi các hạt bụi từ phía đông trung tâm dãy Andes ở Nam Mỹ qua Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Như vậy, bụi chứa sắt đã di chuyển trên toàn cầu trước khi lắng đọng ở các vĩ độ trung bình ở Nam Thái Bình Dương. Bởi vì tảo ở những vùng nước này thường thiếu sắt – chất dinh dưỡng quan trọng để sinh trưởng, nên bụi chứa sắt đóng vai trò như một loại phân bón tự nhiên cho tảo đến tận ngày nay.    Giống như tất cả các loài thực vật, thực vật phù du – vi tảo – hấp thụ carbon bằng cách quang hợp, từ đó giúp làm giảm CO2 trong khí quyển. Sự gia tăng đáng kể lượng bụi khoáng chứa sắt (chủ yếu từ Nam Mỹ) trong vùng biển này, có thể giúp giải thích “tại sao Trái đất lại trở nên lạnh như vậy vào thời điểm đó”.    Lượng sắt đầu vào trong thời kỳ băng hà cuối cùng cao hơn nhiều so với giai đoạn ấm áp hiện nay. “Nhưng chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy rằng các nguồn và đường vận chuyển của bụi hoàn toàn khác với ngày nay và cũng khác với những gì chúng tôi mong đợi”.    Nhóm nghiên cứu kết luận, lượng phát thải bụi cao bất thường từ Nam Mỹ đã góp phần đáng kể vào việc giảm lượng CO2 trong khí quyển thời kỷ băng hà như giúp giảm mức CO2 trong khí quyển lên đến 40 ppm (phần triệu). Điều này phù hợp với sự biến đổi của hàm lượng CO2 tự nhiên trong khí quyển – tăng lên ở mức 100 ppm trong 400.000 năm qua, nhưng kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa, lượng khí thải do con người tạo ra đã làm tăng mức CO2 từ 280 lên khoảng 415 ppm. □     Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-ancient-sea-floor-climate-history.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá mới có thể viết lại lịch sử bệnh đậu mùa      Khám phá mới về virus đậu mùa trên một xác ướp thế kỷ 17 do các nhà nghiên cứu của ĐH McMaster (Canada) dẫn đến nghi ngờ rằng, virus này có thể xuất hiện muộn cả hàng ngàn năm so với những giả thiết trước đây.      Nghiên cứu thực hiện trên xác ướp được tìm thấy năm 2015  trong hầm mộ một nhà thờ ở Vilnius (Lithuania)  Mặc dù là một virus khá phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhưng nguồn gốc phát sinh của virus đậu mùa vẫn còn bí ẩn.  Ana Duggan, tác giả thứ nhất của nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Cell Biology ngày 8/12, cho biết, trước đây các vết sẹo rỗ trên một số xác ướp Ai Cập có niên đại 3.000 đến 4.000 năm thường được giải thích như dấu vết của bệnh đậu mùa.  “Khám phá mới thật sự đã đặt những kết quả nghiên cứu đó vào nghi vấn, và đưa ra giả thuyết rằng mốc thời gian bệnh đậu mùa xuất hiện ở người có thể chưa chính xác”.  Nghiên cứu thực hiện trên xác ướp một đứa trẻ khoảng hai đến bốn tuổi được tìm thấy vào năm 2015 trong hầm mộ một nhà thờ ở Vilnius (Lithuania). Với phương pháp định tuổi bằng các-bon phóng xạ, các nhà nghiên cứu xác định niên đại xác ướp vào khoảng năm 1643 và 1665, thời điểm nhiều người châu Âu và châu Á ở độ tuổi trưởng thành bị nhiễm bệnh đậu mùa. Không có dấu hiệu trực quan nào chứng tỏ xác ướp mắc bệnh này nhưng các nhà nghiên cứu đã thu được bộ gene hoàn chỉnh của virus variola được truyền thừa ở tất cả các dòng virus đậu mùa xuất hiện trong thế kỷ 20. Đây là phiên bản cổ xưa nhất của một virus được phát hiện, nó cũng chứng tỏ việc tạo ra sẹo không phải là dấu hiệu chắc chắn của bệnh đậu mùa.  Các nhà khoa học đã so sánh DNA của virus lấy từ xác ướp với các phiên bản virus đậu mùa từ giữa những năm 1900 đến trước thời điểm bệnh này bị thanh toán vào những năm 1970 nhờ chương trình tiêm chủng thành công trên toàn cầu.  Bằng các kỹ thuật, kể cả kỹ thuật “đồng hồ sinh học phân tử”, họ nhận thấy các mẫu có cùng một gốc virus xuất hiện trong khoảng từ năm 1588 đến năm 1645, trùng với thời điểm diễn ra các cuộc thám hiểm, di cư và quá trình thực dân hóa trên thế giới, những điều kiện làm lây lan bệnh đậu mùa.  “Như vậy, giờ đây chúng ta đã có một mốc thời gian [mới], chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng liệu các bằng chứng được ghi nhận trước đó về bệnh đậu mùa, từ thời Ramses V [cách đây 2.000 năm] đến những năm 1950 là có thật hay không”, đồng tác giả Henrik Poinar, giám đốc Trung tâm nghiên cứu DNA cổ đại tại ĐH McMaster, nói. “Đó có thật sự là những trường hợp mắc bệnh đậu mùa, hay chúng ta đã nhầm lẫn – điều này rất dễ xảy ra bởi [các dấu hiệu của] nó dễ bị nhầm với bệnh thủy đậu và bệnh sởi”.  Các nhà nghiên cứu đang chờ đợi so sánh mẫu từ xác ướp ở Lithuania với mẫu từ những nạn nhân của dịch bệnh đậu mùa tại châu Âu cùng thời kỳ.  Virus Variola có khả năng gây ra bệnh đậu mùa đã được tìm thấy trên tất cả các lục địa có người sinh sống, trừ Australia. Ở châu Âu, nó gây ra cái chết của hàng nghìn người mỗi năm. Vào thế kỷ 18, nhà vật lý Edward Jenner (Anh) đã tìm ra vaccine đậu mùa, loại vaccine đầu tiên trên thế giới. Căn bệnh có khả năng lây nhiễm cao này đã bị xóa sổ vào những năm 1970 và virus đậu mùa giờ chỉ còn tồn tại dưới dạng nitơ lỏng trong lọ thủy tinh được cất giữ an toàn tại hai phòng thí nghiệm ở Nga và Mỹ để phục vụ công tác nghiên cứu. Cách đây hai năm, vấn đề tiêu hủy các mẫu này đã được đặt ra. TS. Inger Damin, giám đốc Trung tâm Liên kết về bệnh đậu mùa tại Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Atlanta, Georgia (Mỹ), là một trong những người đề nghị tiếp tục lưu trữ các mẫu virus đậu mùa vì theo ông, vẫn còn nhiều điều cần nghiên cứu về căn bệnh này.  Thanh Nhàn  Nguồn:   http://www.cbsnews.com/news/mummified-child-could-change-history-of-smallpox/  http://www.dw.com/en/new-discovery-could-rewrite-history-of-smallpox/a-36710329       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá mới về nguồn gốc Mặt Trăng      Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học  Đức đã phát hiện thấy các chứng cớ kiểm chứng giả thuyết cho rằng Mặt  Trăng được sinh ra từ một vụ va chạm xảy ra cách đây khoảng 4,5 tỷ năm  giữa Trái Đất non trẻ với một thiên thể rắn to tương đương Sao Hỏa.     Báo cáo nghiên cứu nói trên được công bố trên tuần san Science (Mỹ) số ra ngày 6/6/2014. Tác giả báo cáo là một nhóm nhà khoa học của Đại học Georg-August ở Gottingen (Georg-August-Universität Göttingen, CHLB Đức). Sau khi phân tích mẫu đất đá Mặt Trăng do các nhà du hành vũ trụ đáp tàu Apollo 11, 12 và 16 hạ cánh xuống Mặt Trăng cách đây gần nửa thế kỷ mang về, họ phát hiện thành phần đất đá trên Mặt Trăng thì khác với đất đá trên Trái Đất – sự thực này chứng tỏ tính đúng đắn của giả thuyết cho rằng Trái Đất từng bị một hành tinh to bằng sao Hỏa va phải, qua đó hình thành Mặt Trăng. Cho tới nay vẫn chưa ai biết sau đấy thiên thể bí ẩn được đặt tên là Theia [1] này biến đi đâu mất.  Bao năm nay giới khoa học vẫn chưa thể khẳng định được nguồn gốc của Mặt Trăng mà chỉ đưa ra các giả định. Lý thuyết cho rằng Mặt Trăng hình thành bởi vụ va chạm nói trên được gọi là Giả thuyết va chạm lớn (Giant Impact Hypothesis), do Hartmann và Davis (1975), Cameron và Ward (1976) đưa ra, năm 2008 được Edward Belbruno và Richard Gott của Đại học Princeton tính toán vạch ra vị trí va chạm là điểm L4 (Lagrange point at L4) [2].  Kết quả nghiên cứu của nhóm nhà khoa học Đức còn cho thấy, dường như khoảng một nửa vật chất Mặt Trăng là đến từ thiên thể Theia, khoảng một nửa còn lại thì đến từ Trái Đất. Điều đó phù hợp với lý thuyết trình bày dưới đây, tức Mặt Trăng có chứa những vật chất trong thiên thể từng va chạm với Trái Đất.  Người đứng đầu nhóm nghiên cứu là nhà địa chất Daniel Herwartz nói: “Tôi nghĩ đa số mọi người sẽ tin vào Giả thuyết va chạm lớn. Giờ đây chúng tôi lấp đầy một trong những chỗ trống cuối cùng của việc giải thích học thuyết này. Điều đó sẽ làm cho những người phê phán Giả thuyết va chạm lớn cảm thấy khó chịu.”  Giới khoa học đã biết tất cả các hành tinh trong hệ Mặt Trời đều cấu tạo bởi những chất đồng vị đặc hữu khác nhau, vì thế cách tốt nhất để kiểm chứng Giả thuyết va chạm lớn là so sánh tỷ lệ các chất đồng vị của ôxi, titan, silic và của các nguyên tố khác có trên Trái Đất và Mặt Trăng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy những tỷ lệ đó trong toàn bộ các hành tinh của hệ Mặt Trời thì khác nhau, nhưng trong Mặt Trăng và Trái Đất thì các tỷ lệ đó lại rất giống nhau. Điều này trái ngược với mô hình lý luận của Giả thuyết va chạm lớn – lý luận này cho rằng Mặt Trăng chủ yếu được cấu tạo bởi vật chất của hành tinh Theia, vì thế dự kiến thành phần của nó sẽ phải khác với Trái Đất.  Các nhà khoa học Đức đã dùng những biện pháp chính xác hơn để so sánh sự khác biệt về tỷ lệ chất đồng vị của các nguyên tố trong mẫu đất đá Mặt Trăng với mẫu đất đá Trái Đất.  Đầu tiên họ sử dụng mẫu các thiên thạch rơi từ Mặt Trăng xuống Trái Đất, nhưng do các mẫu đó ở lâu ngoài trời, chịu mưa nắng, xảy ra sự trao đổi chất đồng vị với nước trên Trái Đất làm cho kết quả nghiên cứu thiếu chính xác. Vì thế họ đã sử dụng mẫu đất đá Mặt Trăng mới hơn, do ba tàu vũ trụ Apollo 11, 12 và 16 lấy từ ba địa điểm khác nhau trên Mặt Trăng đem về. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chất đồng vị 17O và 16O (tức Oxygen-17 và Oxygen-16) trong mẫu đất đá Mặt Trăng thì cao hơn mẫu đất đá Trái Đất.   Herwartz nói: “Khác biệt rất nhỏ và cũng rất khó phát hiện, nhưng chúng đích thực tồn tại. Điều đó có nghĩa là: thứ nhất, hiện nay chúng ta có thể tương đối khẳng định đúng là từng xảy ra sự va chạm lớn [giữa Theia với Trái Đất]; thứ hai, chúng ta có được sự hiểu biết đại thể về tình trạng địa chất-hóa học của Theia.”  Mục tiêu tiếp theo của nhóm nghiên cứu là phát hiện Mặt Trăng chứa bao nhiêu vật chất của thiên thể Theia. Qua nghiên cứu phần lớn các mẫu đất đá Mặt Trăng, người ta ước tính nó chứa khoảng 70-90% vật chất của Theia; nhưng một số mẫu lại cho kết quả chỉ 8%. Herwartz nói các số liệu mới đây cho thấy có lẽ tỷ lệ là 50/50, song điều đó cần được kiểm chứng trong các nghiên cứu tiếp theo.     Nguyễn Hải Hoành tổng hợp, ghi chú.   [1] Theia là tên một hành tinh trong giả thuyết của các nhà khoa học cho rằng nó từng va chạm với Trái Đất cách đây 4,5 tỷ năm, các mảnh vụn do va chạm văng ra đã tự kết hợp để cấu tạo thành Mặt Trăng; sau đó Theia biến mất. Năm 2006 NASA đã phóng hai tàu vũ trụ Stereo để tìm kiếm dấu vết của nó.   [2] Lagrange point (L-point) là địa điểm tác dụng lực hấp dẫn của Mặt Trời và Trái Đất triệt tiêu lẫn nhau, vật thể nhỏ hơn sẽ có thể đứng yên được tại nơi đó.  Nguồn:   1) http://news.nationalgeographic.com/news/2014/06/140605-earth-moon-theia-evidence-space-science/ Lunar Rocks Are First Direct Evidence of Collision That Formed Moon.   2) http://www.aaas.org/news/science-new-evidence-collision-produced-earths-moon Science: New Evidence that Collision Produced Earth’s Moon. 5 June 2014. Meagan Phelan.   3) http://iopscience.iop.org/1538-3881/129/3/1724/fulltext/204215.text.html Where did the Moon come from?   4) http://www.space.com/6569-search-solar-system-lost-planet.html The Search for the Solar System’s Lost Planet     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá mới về sự bền vững của các đồng vị carbon      Các nhà nghiên cứu ở Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và các đồng nghiệp quốc tế tại Trung tâm nghiên cứu vật lý hạt nhân Osaka (trường đại học Osaka) mới có công bố “Bằng chứng về số magic Z= 6 trong các đồng vị carbon giàu neutron” (Evidence for prevalent Z = 6 magic number in neutron-rich carbon isotopes)  xuất bản trên tạp chí Nature Communications vào ngày 23/4/2018.      Hình 1: Cấu trúc vỏ tính bằng thế năng dao động tử điều hòa có tính đến xung lượng góc quỹ đạo (trái) và lực lien kết spin quỹ đạo (phải).  Số Magic là số của proton hoặc notron trong một hạt nhân nào đó làm cho hạt nhân này trở lên bền vững hơn so với các hạt nhân có số notron và proton không phải là số Magic. Các số magic được xác định một phần bằng lực liên kết spin-quỹ đạo liên quan đến spin của các proton và notron trong hạt nhân. Goeppert Mayer và J. Hans D. Jensen đã đề xuất ý tưởng này để giải thích việc tách các trạng thái lượng tử của proton và notron vào năm 1949 và đã nhận giải thưởng Nobel. Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu được nguồn gốc thực sự của lực hạt nhân.  Các nhà khoa học đã tiên đoán rằng số magic bằng 6 là trường hợp rất đặc biệt bởi vì nó sẽ cho phép chúng ta tìm hiểu một cách thấu đáo nguồn gốc của lien kết spin-quỹ đạo. Tuy nhiên sự tồn tại của hạt nhân với số magic bằng 6 vẫn chưa được xác nhận.  Vì vậy, nhóm khoa học quốc tế trong đó có sự tham gia của một số nhà nghiên cứu Việt Nam là TS.Trần Đình Trọng, GS. TS Lê Hồng Khiêm, ThS Hoàng Thị Hà (Viện Vật lý), nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Thọ (Đại học Y Dược Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM), TS Nguyễn Ngọc Duy (Đại học Đồng Nai), đã cố gắng đi tìm câu trả lời của bài toán này. Họ đã phát hiện ra hạt nhân carbon, nguyên tố quan trọng cho sự sống, có chứa số magic bằng 6. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành một số thí nghiệm để đo bán kính phân bố của các proton trong các đồng vị khác nhau của nguyên tố carbon (các đồng vị có cùng số proton nhưng có số notron khác nhau). Thật thú vị, các nhà khoa học thấy rằng bán kính phân bố proton trong các đồng vị carbon khác nhau lại có bán kính phân bố proton khá bằng nhau. Nhóm nghiên cứu vừa công bố phát hiện mới của họ trong tạp chí nổi tiếng thế giới về khoa học tự nhiên, tạp chí Nature Communications, tạp chí chuyên về vật lý, hóa học, khoa học trái đất, sinh học có hệ số ảnh hưởng là 12.124. Công trình được xuất bản vào ngày 23/4/2018 1.    Hình 2. Bằng chứng về số magic proton bằng 6 (xem mũi tên màu xanh) thu được qua việc đánh giá một cách hệ thống các số liệu thực nghiệm. (a) Bán kính phân bố proton không phụ thuộc vào khối lượng hạt nhân. (b) Xác suất chuyển dời điện, (c) Khe vỏ proton (proton shell gap), (d) Sự phụ thuộc của khe vỏ proton vào số notron và proton.  Tác giả thứ nhất của bài báo, TS. Trần Đình Trọng, cho biết: “Việc kết hợp các kết quả đo bán kính phân bố proton của chúng tôi với tốc độ chuyển dời tứ cực điện và số liệu về khối lượng nguyên tử đã cho phép chúng tôi đoán nhận được rất có thể có một đồng vị của carbon với số magic bằng 6”.    Hình 3. Minh họa lực liên kết spin-quỹ đạo. Hạt nhân sẽ bền vững hơn khi xung lượng quỹ đạo góc và spin của một proton hoặc notron có cùng hướng.  Để giải thích được các kết quả thực nghiệm, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều tính toán lý thuyết. Bán kính phân bố proton tính bằng lý thuyết phù hợp khá tốt với các số liệu thực nghiệm. Họ cũng nghiên cứu việc tách mức do tương tác spin – quỹ đạo đối với các đồng vị của carbon thông qua việc phân tích số liệu đo được bằng thực nghiệm và tính bằng lý thuyết của năng lượng cần để thêm vào hoặc tách một proton ra khỏi hạt nhân cho mỗi đồng vị.      Khám phá mới của nhóm nghiên cứu đã làm tăng những kiến thức cơ bản về lực spin-quỹ đạo, nguồn gốc của số magic trong hạt nhân và độ bền vững của hạt nhân, những yếu tố quan trọng để hiểu về hạt nhân nguyên tử.      Nhìn lại quá trình thực hiện nghiên cứu bắt đầu từ năm 2016, GS. TS Lê Hồng Khiêm cho biết, toàn bộ phần thực nghiệm đều được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu vật lý hạt nhân Osaka và trên các thiết bị quan trọng như máy gia tốc Cyclotron và thiết bị tách các chùm hạt phóng xạ thứ cấp là EN-course tại đây. Nhận xét về đóng góp của các nhà nghiên cứu Việt Nam vào công trình, ông nêu rõ “nhóm Việt Nam tham gia thiết kế thí nghiệm, thiết kế detector MUSIC, kiểm tra các detector, sắp xếp các thí nghiệm, đo on-line, phân tích số liệu thí nghiệm và tính toán lý thuyết sử dụng mô hình Glauber. Hai nghiên cứu sinh của Việt Nam là Trần Đình Trọng đảm trách nhiệm vụ phân tích số liệu cho các đồng vị carbon và Nguyễn Trần Thọ là phân tích sô liệu cho các đồng vị của ô xi”.  Tác giả chính của bài báo, ông Hooi Jin Ong (Trung tâm nghiên cứu Vật lý hạt nhân, trường đại học Osaka, Nhật Bản), nhận xét: “Việc phân tích số liệu thực nghiệm của chúng tôi đã xác nhận rằng việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo tồn tại ở mọi hạt nhân. Ngoài ra, số magic bằng 6 là cũng rất dễ nhận ra như các số magic khác”. Trên thực tế, việc đoán nhận được số magic bằng 6 đã cho phép nghiên cứu nguồn gốc của việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo trong hạt nhân.  Việc theo đuổi nghiên cứu về vật lý hạt nhân hiện đại, đặc biệt là vật lý hạt nhân thực nghiệm đòi hỏi một số lượng lớn người tham gia và kinh phí đầu tư lớn. GS. TS Lê Hồng Khiêm cho biết thêm: “Do chi phí dành cho thí nghiệm rất tốn kém nên cần rất nhiều đơn vị tài trợ. Việt Nam đóng góp một phần với kinh phí của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam theo chương trình hợp tác quốc tế giữa JSPS và Viện HLKHCNVN (Chủ nhiệm phía Nhật Bản là GS.TS I.Tanihata và phía VN là: GS.TS Lê Hồng Khiêm) và Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020”.  Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang chuẩn bị những thí nghiệm tiếp theo tại Trung tâm nghiên cứu vật lý hạt nhân Osaka cũng theo hướng này.  Nguồn: Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  —–  1. Để tìm hiểu sâu về nghiên cứu này, có thể tham khảo nội dung bài báo “Evidence for prevalent Z = 6 magic number in neutron-rich carbon isotopes” trong tạp chí Nature Communications ( https://www.nature.com/articles/s41467-018-04024-y).    Author                Nhóm tác giả Viện Vật lý        
__label__tiasang Khám phá mới về tinh vân      Khi quan sát một đám khí và bụi xung quanh một ngôi sao đang chết, kính thiên văn Hubble đã phát hiện những cấu trúc chưa từng được biết đến trước đây trong tinh vân NGC 2371, cách trái đất 4.300 năm ánh sáng tại chòm sao Song Tử.      Hình ảnh truyền về từ kính Hubble cho thấy những điểm vô cùng đặc biệt, đáng chú ý nhất là các đám mây hồng dày đặc nằm đối diện ngôi sao trung tâm. Màu sắc của chúng cho thấy chúng khá nguội và đậm đặc, so với phần khí còn lại tại tinh vân. Bên cạnh đó, nhiều điểm nhỏ màu hồng nằm đối diện nhau bên cạnh ngôi sao thể hiện sự tống khí của sao theo phương hướng đặc biệt. Các chuyên gia NASA cho rằng chúng có thể liên quan đến sự hiện diện của một ngôi sao thứ 2 xoay quanh ngôi sao trung tâm.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá những bí ẩn về cấu trúc của vật chất      Năm 2014 được công bố là Năm quốc tế về Tinh thể học – International Year of Crystallography (IYCr2014), đồng thời cũng là năm gắn với những cột mốc đáng nhớ trong lịch sử nghiên cứu ngành này. Tuy nhiên, đối với công chúng, đây vẫn là một lĩnh vực khoa học khá xa lạ, mặc dù ngày nay nó gắn liền với tất cả các ngành sản xuất, khoa học và công nghệ hiện đại.       Trung bình ở những nước phát triển (như  Mỹ, EU..) người ta bỏ ra 35,5 giờ /tuần để xem TV, bằng số giờ làm việc chính thức, trong đó đa phần hiện nay là màn hình LCD – năm 2013 có đến 230 triệu TV màn hình LCD được tiêu thụ trên thế giới. Năm nay, khi người ta dán mắt vào LCD của TV nghe công bố rằng Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chọn năm 2014 là năm của Tinh thể học, và hỏi nhau Tinh thể là cái gì mà quan trọng vậy thì xin trả lời rằng quý vị đang dán mắt vào tinh thể đấy, lâu rồi quen gọi là LCD mà ít ai nhớ đó là chữ viết tắt của cụm từ Màn hình Tinh thể lỏng (Liquid Crystal Display).      Vai trò của ngành X-quang tinh thể học  Hai ngàn năm trước, những người thuộc các nền văn minh cổ đại Ấn Độ và Trung Quốc đã hiểu biết quá trình kết tinh đường và muối. Kể từ đó, việc nghiên cứu cấu trúc bên trong và tính chất của các tinh thể có sẵn trong tự nhiên đã đạt được những tiến bộ vững chắc, tạo cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về sự sắp xếp của các nguyên tử ở trạng thái rắn, dẫn đến những tiến bộ khoa học của vật lí chất rắn, hóa học, sinh học, y học và thậm chí toán học. Nhưng phải tới những năm đầu thế kỷ 20, nhờ việc phát hiện rằng tia X có thể được sử dụng để “nhìn thấy” cấu trúc của vật chất mà không phá hủy chúng, con người mới hình thành và phát triển một ngành khoa học hiện đại về tinh thể – khoa học về sự sắp xếp của các nguyên tử trong chất rắn. Ngành X – quang tinh thể đã cho phép chúng ta nghiên cứu các mối liên kết hóa học gắn kết các nguyên tử với nhau, giúp các nhà tinh thể học mô phỏng hoặc thay đổi một cấu trúc để thay đổi thuộc tính và tính chất của các loại vật chất.         Năm 2014 đánh dấu một trăm năm ngày ra đời X-quang tinh thể, khi giải Nobel Vật lý 1914 được trao cho Max von Laue – người Đức do đã khám phá ra sự nhiễu xạ của tia X qua tinh thể. Sang năm 1915, Nobel Vật lý được trao cho hai cha con William Henry và William Lawrence Bragg, người Anh, do đã phát minh ra công thức nhiễu xạ tia X nổi tiếng, sau này gọi là Định luật Bragg về nhiễu xạ tia X , cho phép dùng tia X để xác định ra sự sắp xếp của nguyên tử trong tinh thể. Lúc được trao giải Nobel, Lawren Bragg (con) mới 25 tuổi và cho đến nay giữ kỷ lục là người đoạt giải Nobel trẻ nhất. Trước đó, W. Roentghen (Đức) được trao giải Nobel Vật lý năm1901 do đã phát minh ra tia X, và là đó là lần trao giải Nobel đầu tiên trên thế giới.              Năm 2014 này cũng kỷ niệm kỷ niệm 50 năm của một thành tựu khoa học nổi tiếng khác, khi giải Nobel Hóa học được trao cho bà Dorothy Hodgkin (Anh) với công trình dùng tia X xác định ra cấu trúc của vitamin B12 và penicillin.               Xa hơn nữa, năm 2014 là kỷ niệm 400 năm phát kiến  của Kepler về các dạng đối xứng của tinh thể nước đá, mở đường cho những nghiên cứu rộng lớn hơn về vai trò của tính đối xứng trong vật chất.           Kể từ khi tìm ra được những phương thức này, tinh thể học đã trở thành cốt lõi của khoa học kết cấu vật chất. Hoàn toàn không quá lời khi nói rằng Tinh thể là dạng định hình vật chất cho hầu hết mọi thứ của thế giới quanh ta, thầm lặng làm nền tảng cho mọi thứ, từ hạt đường, hạt muối đơn sơ, từ thanh sắt, cục gạch cho đến trang sức quý giá như hồng ngọc, kim cương.   Ngay cả các tế bào, các chuỗi DNA cũng như gene của cơ thể ta và mọi sinh vật cũng đều liên quan tới tinh thể học. Không có tinh thể cũng như hiểu biết về tinh thể thì không có bóng bán dẫn, mạch vi điện tử, máy tính , điện thoại , TV … ngày nay. Nó thấm vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta và tạo thành xương sống của những ngành công nghiệp thời thượng, tạo ra sản phẩm dựa vào tri thức mới để phát triển. Nó cũng là nền tảng trong nhiều lĩnh vực truyền thống, từ nông nghiệp, thực phẩm, hàng không, ô tô, mỹ phẩm và máy tính cũng như các ngành cơ khí, luyện kim, điện, điện tử, đến cả những ngành như dược phẩm, ngành công nghiệp khai thác mỏ…  Cấu trúc ảnh hưởng tới thuộc tính của vật chất như thế nào?               Đơn tinh thể Silicon nuôi bằng   phương pháp Czochralski, dài 2m, đường kính 45cm (trên). Cắt thành hàng   ngàn các phiến (wafer) độ  dày chỉ 0,25mm (dưới), mỗi phiến đủ để chế   tạo ra hàng ngàn tỷ Transistor trong mạch tích hợp rất lớn VLSI.            Thí dụ điển hình cho sự đối xứng tinh thể làm thay đổi tính chất của vật liệu là sự khác nhau một trời một vực giữa kim cương và than chì (Graphite). Cả hai đều cấu tạo bởi các nguyên tử Carbon (than). Nhưng kim cương là vật liệu trong suốt, cách điện và cứng nhất trong mọi loại vật liệu. Than chì thì đen sì, dẫn điện và mềm đến mức có thể dùng làm đầu bút chì, ấn nhẹ cũng bị tách ra, để lại vạch bút chì trên giấy. Nhờ có nghiên cứu Tinh thể học Tia X, người ta mới biết cấu trúc vật chất đã làm nên những khác biệt này. Các nguyên tử carbon trong tinh thể kim cương sắp xếp theo kiểu đối xứng hình lập phương, nhóm không gian Fd3m, khoảng cách đều nhau, còn trong tinh thể than chì thì các nguyên tử các carbon sắp xếp đối xứng theo hình lục giác, nhóm không gian C63/mmc, thành từng lớp với khoảng cách khác nhau. Nguyên tử than, tức carbon, có ở khắp nơi, nhưng cơ hội để than trở thành kim cương trong tự nhiên thì vô cùng hiếm, chỉ xảy ra trong quá trình kiến tạo địa chất đặc biệt, ứng với nhiệt độ và áp suất siêu cao thích ứng, cho nên kim cương tự nhiên thuộc loại trang sức quý và đắt nhất thế giới. Tuy nhiên, nhờ có hiểu biết tinh thể học, con người đã tạo được ra những điều kiện để nuôi trồng kim cương nhân tạo, thậm chí từ tro cốt của người quá cố (cũng là than). Do đó, kim cương nhân tạo có những phẩm chất tương tự như kim cương tự nhiên, ngày nay đã được dùng phổ biến trong công nghiệp (như dao cắt, đá mài, lớp phủ siêu cứng…) dân dụng và, trang sức…  Cũng nhờ có tinh thể học mà con người đã nuôi trồng được những tinh thể lớn, không tì vết, không tạp chất của các chất Ge, Si, GaAs, Ngọc Saphir, thạch anh… để làm vật liệu cho công nghệ vi điện tử, Laser, quang điện tử, cab quang… Những tinh thể như vậy không thể tìm thấy trong tự nhiên.                                     Vào những năm 1950, Crick và Watson tìm ra được cấu trúc xoắn kép của DNA, đó là một bước nhảy khổng lồ trong khoa học nghiên cứu sự sống. Hai nhà khoa học này đã được tặng giải thưởng Nobel Y học năm 1962. Cấu trúc này được tìm ra nhờ sử dụng ảnh nhiễu xạ tia X do Rosalind Franklin thực hiện năm 1952. Tuy nhiên khi xác định cấu trúc này (1953), Crick và Watson đã sử dụng kết quả của R. Franklin mà bà không hề hay biết, nên đã không tránh khỏi lời ra tiếng vào lúc bấy giờ.               Sau đó, nhờ có kỹ thuật ngày càng tốt hơn về tạo hình ảnh và xử lý dữ liệu, các nhà tinh thể học  đã xác định chính xác và cặn kẽ hơn các cấu trúc, cho phép tiến sâu vào phân tích các phân tử phức hợp, đặc biệt là trong thế giới sinh học.          Những ứng dụng gần đây nhất  Năm 1970, máy Synchrotron Điện tử tại phòng thí nghiệm DESY Hamburg (Đức) lần đầu tiên được sử dụng làm nguồn phát tia X để nghiên cứu tế bào cơ bắp của  côn trùng. Sự kiện này đã tạo ra một sự bùng nổ trong nghiên cứu tinh thể học.                  Năm 1988, người ta đã có thể vẽ ra được ảnh cấu trúc nguyên tử của một loại Virus trên cây cà chua. Năm 1984, lần đầu tiên xác định được có một dạng chất rắn không phải là vô định hình (tức là các nguyên tử sắp xếp vô trật tự), nhưng  các nguyên tử trong đó dù được sắp xếp có trật tự, nhưng không lặp lại tuần hoàn một cách chính xác, dường như thách thức các quy tắc mà lý thuyết tinh thể đã quy định, ví dụ như xác định có đối xứng bậc 5 chẳng hạn (có ai dùng gạch hình ngũ giác đều để lát kín nền nhà được không?) Loại vật chất này được gọi là Giả tinh thể (quasicrystals). Các nhà tinh thể học cũng đã tìm được cách xác định cấu trúc của Tinh thể lỏng (Liquid Crystal), có thể gọi là trạng thái thứ tư của vật chất ngoài ba trạng thái đã biết là rắn, lỏng, khí. Đây là loại vật chất không thể thiếu trong hàng tỷ màn hình TV, điện thoại, máy tính… hiện nay.  Năm 2000 các nhà tinh thể học đã xác định được cấu trúc của Ribosome, là cỗ máy sinh học để tạo ra các protein bằng cách giải mã các mệnh lệnh chứa trong DNA.                                    Trước khi ngành X-quang Tinh thể học ra đời, ngay từ những năm 1830 Johann Hessen (Đức) đã xác định bằng toán học là chỉ tồn tại 32 lớp đối xứng tinh thể (32 nhóm điểm-Point Group) và năm 1891 E.S. Fedorov (Nga) đã chứng minh rằng chỉ có 230 cách  sắp xếp của nguyên tử trong tinh thể, gọi là 230 nhóm không gian (Space Group). Đó là thành quả của ngành Tinh thể hình học, chuyên tìm hiểu về quy tắc sắp xếp hình học và sự đối xứng của tinh thể. Nói đến tính đối xứng trong tinh thể có thể là trừu tượng, khó hiểu với đa số công chúng, nhưng trong thực tế lại rất quen thuộc. Hãy quan sát bông tuyết trong tủ lạnh, là tinh thể kết tinh từ các phân tử nước, chúng ta sẽ thấy sự đối xứng đẹp biết dường nào.             Đến năm 2009 thì một loại nguồn phát tia X mới siêu hiện đại được đưa vào sử dụng, Laser tia X bằng điện tử tự do (X-ray free-electron laser), hiện đang mở ra một kỷ nguyên mới về phân tích cấu trúc.  Mới đây nhất, năm 2013, các nhà tinh thể học đã chụp ra được hình ảnh 3D cấu trúc nguyên tử của Virus HIV. Đặc biệt đã tìm được cái móc mà loại Virus chết người vô phương cứu chữa này đã dùng để móc vào các tế bào, giúp giải được câu hỏi gây tranh cãi bao năm nay về cấu trúc bí ẩn của loại protein này.  Danh mục các protein cần được khám phá còn rất dài. Với nguồn tia X từ Laser điện tử tự do, hy vọng ngày càng nhiều cấu trúc phức tạp, quan trọng cho con người sẽ được khám phá.         Có thể nói rằng tinh thế học của nước ta ngày nay vẫn ở trình độ rất thấp so với thế giới, mặc dù ngành Tinh thể học và Vật lý tinh thể đã được du nhập từ khá sớm. Giáo trình Tinh thể học và Vật lý tinh thể đã được soạn và xuất bản (in roneo) từ năm 1966 [1], là giáo trình đầu tiên phục vụ giảng dạy cho ngành này tại bộ môn Vật lý Chất rắn Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là ĐH KH Tự nhiên thuộc ĐHQG Hà Nội). Cùng năm đó máy phân tích tia X đầu tiên do Liên Xô(cũ) viện trợ cũng được lắp đặt và vận hành tại Khoa địa chất ĐHBK Hà Nội (nay là ĐH Địa chất). Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong những năm tiếp theo về tinh thể học tiến triển khá tốt, đã có nhiều chuyên gia được đào tạo trong và ngoài nước.               Tuy nhiên, mặc dù hiện nay các trang thiết bị về tinh thể học đã được hiện đại hóa, nhiều phòng thí nghiệm của Việt Nam cũng đã mua những thiết bị rất đắt tiền, tự động hóa và tin học hóa rất cao, nhưng tiếc rằng không có con người đủ trình độ và tâm huyết để khai thác sử dụng, nên đắp chiếu khá nhiều.               Vì vậy, với việc tham gia kỷ niệm Năm quốc tế về Tinh thể học 2014, chúng ta hi vọng rằng các nhà khoa học, các nhà quản lý, các sinh viên… sẽ thay đổi nhận thức, để xây dựng lại một ngành khoa học công nghệ không hào nhoáng nhưng vô cùng quan trọng đối với đời sống và sự phát triển kinh tế của đất nước.          —————  Tài liệu tham khảo  [1] Trần Xuân Hoài – Tinh thể học và Vật lý Tinh thể . ĐHTH Hà Nội xuất bản,3/1966  [2] Nichole Jones -Crystallography: Atomic secrets,  Nature ,Vol 505, 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá sóng hấp dẫn có thể mở đường giải đáp 6 câu hỏi lớn về vũ trụ      Tạp chí Nature mới đây đăng bài viết của tác giả Davide Castelvecchi nhận định rằng công bố về bằng chứng cho sóng hấp dẫn đưa ra bởi Đài quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser (LIGO) hôm 11/2 không chỉ giúp xác minh cho tiên đoán của Einstein cách đây đúng 100 năm mà còn mở ra một ngành thiên văn mới: thiên văn sóng hấp dẫn, với triển vọng giải quyết sáu câu hỏi lớn về vũ trụ.    Bài báo cho biết công bố của LIGO là kết quả nghiên cứu sử dụng hai cảm biến khổng lồ ở Mỹ,một tại Livingston bang Louisiana, một tại Hanford, bang Washington, cho phép các nhà khoa học đo những gợn sóng lăn tăn trong không – thời gian tạo ra bởi va chạm giữa hai hố đen. Điều thú vị là khi dự án LIGO được Chính phủ Mỹ quyết định cấp kinh phí hồi đầu thập kỷ 1990, những người phản đối chủ yếu lại chính là các nhà thiên văn, với quan điểm cho rằng “LIGO chẳng mấy liên quan tới thiên văn học”, theo lời Clifford Will, nhà nghiên cứu thuyết tương đối rộng của Đại học Florida ở Gainesville, một trong những người ủng hộ dự án LIGO ngay từ đầu. Nay thì cái nhìn của giới thiên văn sẽ phải thay đổi, ông nhận định.   Sau đây là sáu câu hỏi lớn về vũ trụ mà bằng chứng về sóng hấp dẫn đã/sẽ góp phần giải quyết:  Lỗ đen có thực sự tồn tại không?  Một trong những ý nghĩa khoa học quan trọng từ khám phá của LIGO về sự hợp nhất hai lỗ đen, đơn giản chính là đã xác minh lỗ đen thực sự tồn tại. Các nhà thiên văn trước đây chưa từng trực tiếp thấy hố đen, dù đã có nhiều bằng chứng gián tiếp về nó thông qua các quan sát về các vì sao, các đám khí siêu nóng xoay quanh hố đen. Giới khoa học từ lâu vẫn coi sự tồn tại của hố đen như một mặc định, như nhận xét của Frans Pretorius, một chuyên gia về mô phỏng thuyết tương đối rộng từ Đại học Princeton, trả lời Nature trước thềm công bố của LIGO. “Bởi nó là một tiên đoán kỳ vĩ, nên chúng ta đòi hỏi phải có bằng chứng kỳ vĩ tương xứng.”  Những tín hiệu mà LIGO thu được chính là bằng chứng như vậy. Nó cũng xác nhận quy trình hòa nhập giữa hai hố đen đúng như dự đoán. Đó là khi hai hố đen xoay quanh nhau, tỏa ra năng lượng là sóng hấp dẫn. LIGO đã quan trắc được những âm thanh đặc thù của các sóng này, qua đó cho phép các nhà khoa học đo lường khối lượng của hai lỗ đen: một cái gấp 36 lần khối lượng Mặt trời, cái còn lại gấp 29 lần. Sự hòa nhập của hai hố đen “tương tự như khi hai bong bóng xà phòng tiếp cận gần sát nhau, chúng hòa thành một bong bóng”, theo lời Thibault Damour, một nhà nghiên cứu lực hấp dẫn của Viện Nghiên cứu Khoa học tiên tiến gần Paris. Kết quả là hình thành một hố đen hình cầu, tuy nhiên, quá trình đó trước hết tỏa ra những sóng hấp dẫn đúng như LIGO đã xác minh.  Sóng hấp dẫn liệu có di chuyển với tốc độ ánh sáng?  Các nhà vật lý dự đoán rằng lực hấp dẫn được truyền bằng các hạt gọi là graviton. Nếu graviton cũng giống như photon là các hạt không có khối lượng, thì sóng hấp dẫn sẽ di chuyển với tốc độ ánh sáng, đúng với dự đoán về tốc độ sóng hấp dẫn mà Einstein đưa ra theo Thuyết Tương đối rộng cổ điển. (Mặc dù tốc độ sóng hấp dẫn vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi quá trình dãn nở tăng tốc của Vũ trụ, nhưng hiện tượng đó chỉ có thể xảy ra ở khoảng cách lớn hơn nhiều so với phạm vi thăm dò của LIGO).   Ngược lại, trong trường hợp graviton có khối lượng thì sóng hấp dẫn sẽ di chuyển với tốc độ thấp hơn sóng hấp dẫn. Do đó, nếu LIGO quan trắc thấy sóng hấp dẫn từ một sự kiện vũ trụ nào đó lan tới Trái đất tại một thời điểm chậm hơn so với thời điểm một kính thiên văn thông thường nhận thấy các tia γ của cùng sự kiện đó, thì có nghĩa là tốc độ sóng hấp dẫn thấp hơn tốc độ ánh sáng, và điều ấy sẽ cung cấp một thông tin hết sức quan trọng đối với vật lý cơ bản.  Không – thời gian được tạo thành bởi các dây vũ trụ?  Sẽ là một khám phá thậm chí còn kỳ dị hơn nữa nếu qua LIGO người ta quan sát thấy một chùm sóng hấp dẫn từ các ‘dây vũ trụ’. Các nhà vật lý phỏng đoán dây vũ trụ là một dạng khiếm khuyết topo trên đường cong không – thời gian, vô cùng mỏng nhưng trải suốt không gian vũ trụ, và khi sợi dây đó rung động sẽ tạo ra những chùm sóng hấp dẫn mà LIGO có thể đo được.  Bề mặt các sao neutron liệu có gồ ghề?  Các sao neutron là cái còn sót lại sau khi các sao lớn hơn bị sụp đổ bởi chính khối lượng của chúng và trở nên đặc tới mức các hạt electron và proton bị ép hòa vào nhau trở thành neutron. Mặc dù lý thuyết này đến nay vẫn còn chưa hoàn thiện, nhưng sóng hấp dẫn sẽ đem lại những hiểu biết quan trọng đột phá. Ví dụ, thông thường lực hấp dẫn cực hạn sẽ khiến các sao neutron là một hình cầu gần như hoàn hảo, nhưng một số nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng trên bề mặt hình cầu vẫn có những “núi” cao vài milimet, khiến cho sao neutron (với đường kính khoảng 10 km) bị lệch tâm một chút xíu, mà với tốc độ quay rất nhanh của chúng thì sự bất cân xứng rất nhỏ ấy đủ để tạo ra các tín hiệu sóng hấp dẫn có trắc đồ hình sin, tỏa ra năng lượng và làm giảm tốc độ quay của sao. Các cặp sao neutron xoay quanh nhau cũng sẽ tạo ra một dạng tín hiệu liên tục,  và tương tự như hai hố đen chúng cũng tiếp cận nhau cho tới khi nhập lại, tạo thành một âm thanh có thể nghe thấy được. Nhưng khác với sự hòa nhập các hố đen, các sao neutron khi hòa vào nhau dẫn tới rất nhiều kịch bản khác nhau, có thể tạo thành một sao neutron khổng lồ, cũng có thể là một vụ sụp đổ tức thời và trở thành hố đen.  Nguyên nhân nào khiến các vì sao bị nổ?     Hố đen và sao neutron hình thành khi các vì sao khổng lồ tắt sáng và tự sụp đổ. Các nhà vật lý thiên văn cho rằng điều này gây ra một loại nổ supernova phổ biến, gọi là Loại II. Các mô phỏng về supernova chưa giúp lý giải rõ ràng yếu tố nào kích hoạt ra chúng, nhưng việc lắng nghe các chùm sóng hấp dẫn từ các supernova có thể mang đến câu trả lời. Tùy thuộc vào dữ liệu về hình dạng sóng của các chùm sóng hấp dẫn, mức độ âm thanh, mật độ của chúng, và tính tương liên giữa chúng với bản thân các supernova như qua quan sát từ các kính thiên văn điện từ, sẽ giúp củng cố hoặc bác bỏ các mô hình lý thuyết hiện hành.  Vũ trụ giãn nở với tốc độ nào?  Sự giãn nở của Vũ trụ khiến các đối tượng đang lùi xa khỏi Thiên hà của chúng ta nom đỏ hơn diện mạo thực của chúng, do ánh sáng mà chúng tỏa ra bị kéo dãn trong khi di chuyển. Các nhà nghiên cứu vũ trụ ước tính tốc độ giãn nở của Vũ trụ bằng cách xem xét đối chiếu giữa tông màu đỏ của các thiên hà mà chúng ta quan sát được với khoảng cách giữa chúng tới Trái đất.   Tuy nhiên, thay vì dựa vào kỹ thuật có sai số khá lớn này, người ta có thể sử dụng một số trạm quan trắc sóng vũ trụ ở vài địa điểm khác nhau trên thế giới để đo các tín hiệu từ cùng một vụ sát nhập sao neutron, qua đó đo được âm thanh tín hiệu để cung cấp một chỉ số độc lập để ước tính độ giãn nở vũ trụ với độ chính xác cao hơn.     Lược dịch theo Nature    http://www.nature.com/news/gravitational-waves-6-cosmic-questions-they-can-tackle-1.19337       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá tetraquark “duyên mở” đầu tiên      Thí nghiệm LHCb tại CERN đã phát triển một cách mới để tìm ra những kết hợp lạ của các hạt quark, hạt cơ bản liên kết với nhau để hợp lại thành những hạt quen thuộc như proton và neutron. Cụ thể, LHCb đã quan sát nhiều tetraquark được tạo thành từ bốn hạt quark (hoặc hai quark và hai phản quark).      Quan sát những hạt hiếm đó giúp các nhà khoa học có thể tăng thêm hiểu biết về lực tương tác mạnh, một trong bốn lực cơ bản trong vũ trụ. Tại seminar do CERN tổ chức ngày 12/8/2020, LHCb đã loan báo các tín hiệu đầu tiên của một dạng tetraquark hoàn toàn mới với khối lượng 2,9 GeV/c²: quan sát đầu tiên có hạt chỉ với một quark duyên.  Dự đoán đầu tiên đưa ra vào năm 1964, các nhà khoa học đã quan sát sáu loại quark (và các phản quark) trong phòng thí nghiệm, gồm quark lên, quark xuống, quark duyên, quark lạ, quark đỉnh và quark đáy. Kể từ khi các quark đó không tồn tại một cách tự do, chúng tổ hợp lại để hình thành các hạt mới: ba quark hoặc bốn phản quark hình thành “baryon” như proton, trong khi một quark và một phản quark hình thành “meson”.  Mày dò LHCb ở Máy gia tốc hạt lớn (LHC) được các nhà khoa học phát triển để nghiên cứu về B meson, vốn chứa cả hai hạt quark dưới hoặc một phản quark dưới. Chỉ một thời gian ngắn sau khi được tạo ra từ va chạm proton–proton tại LHC, các hạt meson nặng biến đổi – hoặc “phân rã” – thành một nhóm vô số các hạt nhẹ hơn. Các nhà khoa học tham gia thí nghiệm LHCb đã quan sát các dấu hiệu của hạt tetraquark mới từ một trong những phân rã như vậy, trong đó B meson mang điện tích được chuyển đổi thành D meson mang điện tích dương, một D meson mang điện tích âm và một kaon mang điện tích dương: B+→D+D−K+. Về tổng thể, họ tìm hiểu khoảng 1.300 ứng viên cho biến đổi cụ thể này có trong mọi dữ liệu mà máy dò  LHCb đã ghi nhận được.  Mô hình quark dự đoán là các cặp D+D− trong quá trình chuyển đổi này có thể là kết quả của các hạt trung gian – như ψ(3770) meson – vốn hiển thị ngay tức thì: B+→ψ(3770)K+→D+D−K+. Dẫu vậy, lý thuyết không dự đoán được kết quả của các hạt trung gian như meson trong cặp D−K+. LHCb do đó đã ngạc nhiên thấy dải băng trong dữ liệu của mình tương ứng với sự chuyển đổi trạng thái của một hạt trung gian thành một cặp D−K+ với khối lượng khoảng 2.9 GeV/c², hoặc gấp ba lần khối lượng của một proton.  Dữ liệu này đã được phân tích như tín hiệu đầu tiên về trạng thái lạ mới của bốn hạt quark: một phản quark duyên, một quark lên, một quark xuống và một phản quark lạ (c̄uds̄). Tất cả các trạng thái như tetraquark trước đây do LHCb quan sát luôn luôn có một cặp quark duyên – phản duyên, kết quả trong một cân bằng “duyên – hương”. Trạng thái mới được quan sát này lần đầu tiên là một tetraquark chứa một quark duyên đơn độc, vốn được gán cho cái tên một tetraquark “duyên – mở”.  “Khi lần đầu tiên thấy điều này trong dữ liệu thu thập được, thậm chí chúng tôi đã nghĩ đó là lỗi”, Dan Johnson, người phụ trách phân tích LHCb, nói. “Sau nhiều năm phân tích dữ liệu này, chúng tôi mới coi đây là điều mới”.   Tại sao đây là điều quan trọng? Vì nó xảy ra bất ngờ đến mức cả “ban giám khảo” còn chưa biết một tetraquark thực sự là gì. Một số mô hình lý thuyết có xu hướng thiên vị quan điểm các tetraquark là những cặp meson ở khoảng cách gần liên kết với nhau một cách tạm thời như một “phân tử”, trong khi các mô hình khác thì lại thích nghĩ chúng như một đơn vị cố kết đơn lẻ của bốn hạt. Việc nhận diện được dạng mới của tetraquark và đo đạc tính năng của chúng – như spin lượng tử của chúng (định hướng không gian bên trong của chúng) và sự bình đẳng của chúng (cách chúng xuất hiện từ một chuyển đổi)  – sẽ giúp vẽ ra một bức tranh rõ ràng hơn về những “dân cư”  lạ của miền hạ nguyên tử. Johnson cho biết thêm: “Khám phá này sẽ cho phép chúng ta kiểm tra các lý thuyết trong một miền hoàn toàn mới”.   Trong khi quan sát của LHCb là bước quan trọng đầu tiên, nhiều dữ liệu sẽ được cần đến để xác nhận bản chất của cấu trúc được quan sát trong phân rã B+ . Kết quả của nhóm hợp tác LHCb cũng sẽ được những thực nghiệm vật lý khác như Belle II xác minh. Dù vậy, LHC sẽ tiếp tục cung cấp những kết quả mới và  thú vị cho các nhà thực nghiệm và lý thuyết tiếp tục tìm kiếm. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-open-charm-tetraquark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá thành phố Maya cổ dưới tán rừng Guatemala      Việc lập bản đồ laser trên không đã giúp phát hiện hàng ngàn cấu trúc ẩn trong khu vực Peten, cho thấy dân số nơi đây lên tới hàng triệu người, nhiều hơn so với những gì người ta từng biết.      Một nhóm các nhà khảo cổ Mỹ, châu Âu và Guatemala kết hợp với Quỹ Di sản Maya (Guatemala) đã phát hiện ra hàng chục nghìn ngôi nhà, tòa tháp, kim tự tháp, công trình quân sự, các cánh đồng nông nghiệp và kênh tưới tiêu trên quy mô lớn của người Maya ở khu rừng Petrana của Guatemala. Điều đó cho thấy, có khoảng 10 triệu người có thể sống ở Vùng đất thấp Maya này.  Những khám phá trên vừa được công bố vào ngày 31/1/2018.  Marcello A Canuto – giáo sư nhân chủng học ở ĐH Tulane, bình luận về dân số Vùng đất thấp Maya, “phải gấp đến 2 hoặc 3 lần so với những gì người ta nói trước đây.”  Để phát hiện ra những công trình kiến trúc này, các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật lập bản đồ trên không bằng tia laser công nghệ cao để gọi là Lidar cho phép họ phát hiện vật thể và xác định khoảng cách với vật thể. Khi dò được vật thể lạ trên mặt đất, tia laser sẽ bật lại và tiết lộ các đường nét bị che phủ bởi những tán cây.  Những hình ảnh hé lộ rằng người Maya đã làm cảnh quan khu vực họ ở thay đổi và mở rộng nó hơn nhiều so với những gì chúng ta nghĩ trước đây, ví dụ ở một số vùng, họ đã canh tác tới 95% diện tích đất có sẵn.  Phó giáo sư Francisco Estrada-Belli tại ĐH Tulane cho biết: “Họ đã trồng trọt trên từng inch đất. Do phát triển theo hướng thâm canh, vì thế nền nông nghiệp của họ bền vững hơn chúng ta nghĩ.” Ông cũng lưu ý rằng, khu vực đầm lầy trên vùng Maya cổ đã khô ráo và bắt đầu có giá trị canh tác.  Mặt khác, một số công trình khác như các hàng rào phòng thủ trải rộng, hệ thống mương máng và kênh đào tưới nước cho thấy lực lượng lao động của họ mang tính tổ chức cao.  Thomas Garrison, phó giáo sư nhân học tại Ithaca College (New York), nói: “Có bàn tay điều tiết của nhà nước ở đây, bởi chúng ta thấy nhưng con kênh lớn đang được khai quật đã tái định hướng các dòng chảy tự nhiên.”  Trên diện tích 810 dặm vuông (2.100 km vuông) của bản đồ mở rộng khu vực của người Maya, nền văn hóa phát triển mạnh mẽ trong khoảng từ 1000 năm trước Công nguyên và 900 năm sau Công nguyên. Con cháu của họ giờ vẫn sống trong khu vực này.  Việc lập bản đồ đã phát hiện ra khoảng 60.000 kiến trúc riêng biệt, bao gồm 4 trung tâm nghi lễ lớn của người Maya với các đại sảnh và kim tự tháp.  Garrison cho biết trong năm nay ông bắt đầu tìm hiểu về lĩnh vực này với những dữ liệu Lidar, qua đó phát hiện một trong số các con đường – “Tôi đã tìm ra nó, nhưng nếu không có Lidar và biết nó là cái gì, tôi sẽ bỏ qua nó vì rừng rậm rạp quá.”  Ông cũng lưu ý rằng không giống như với một số nền văn hóa cổ xưa khác – những cánh đồng, đường xá và vật dụng đã bị phá hủy bởi sự canh tác của các thế hệ sau, việc rừng rậm phát triển trên các cánh đồng và các công trình kiến trúc bị bỏ hoang của người Maya đã giấu kín và bảo vệ những công trình cổ.  Garrison – thành viên tham gia dự án và là chuyên gia  trong thành phố ở El Zotz, gần Tikal, nhận xét về may mắn này: “Trong một thời gian dài, rừng rậm đã cản trở những nỗ lực khám phá của chúng ta nhưng thực sự nó đã trở thành công cụ bảo vệ tuyệt vời cho các di sản Maya”.  Trước đó, Lidar đã giúp các nhà nghiên cứu phát hiện ra một công trình nằm giữa El Zotz và Tikal, công trình mà theo Garrison “không thể gọi gì khác hơn là pháo đài Maya”. “Đó là thành trì trên đỉnh đồi với có những hệ thống mương máng… khi tôi đến đó, một trong số những kiến trúc của thành trì cao tới 9 mét”, ông lưu ý.  Trong một chừng mực nào đó, các công trình này đã ẩn ngay trước mắt chúng ta. Canuto nói về những hình ảnh của Lidar: “Ngay khi chứng kiến phát hiện này, tất cả chúng tôi đều cảm thấy ngượng ngùng bởi chúng tôi thường xuyên đi qua những công trình đó mà không biết đến sự tồn tại của chúng”.    Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/feb/03/scientists-discover-ancient-mayan-city-hidden-under-guatemalan-jungle       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khám phá tiềm năng mới của công nghệ in 3D sinh học      Một hệ thống robot in 3D bên trong cơ thể có thể in trực tiếp lên nội tạng và mô đã được các kỹ sư tại Đại học New South Wales phát triển thành công.    Những năm gần đây, công nghệ in 3D đã được sử dụng để tạo ra các cấu trúc để cấy ghép như miếng vá ruột hay tim từ các vật liệu sinh học kết hợp với tế bào sống (mực sinh học).    Một thách thức thường thấy khi sử dụng cấu trúc in 3D bên ngoài là chúng có thể không phù hợp với bề mặt mô được cấy. Vì thế, việc cấy vật liệu sinh học trực tiếp vào các mô mục tiêu sẽ mang lại một giải pháp hứa hẹn.        Các kĩ sư từ Đại học New South Wales đã phát triển một cánh tay robot mềm, linh hoạt, có kích thước nhỏ để có thể luồn vào cơ thể người như thiết bị nội soi, và trực tiếp đưa vật liệu sinh học lên bề mặt nội tạng và mô.    Cánh tay robot này có tên là F3DB, ở cuối cánh tay có một đầu xoay cực kỳ linh hoạt được kiểm soát từ bên ngoài, nó sẽ “in” mực sinh học thông qua một đầu vòi nhỏ, có thể chuyển động đa hướng.    TS Đỗ Thanh Nhỏ, tác giả liên hệ của nghiên cứu, cho biết: “Các kỹ thuật in 3D hiện nay đòi hỏi vật liệu sinh học được tạo ra bên ngoài cơ thể, thường sẽ cần mổ phanh để cấy nó vào người, điều này làm tăng nguy cơ nhiễm trùng”.    “Máy in 3D sinh học của chúng tôi có thể trực tiếp đưa vật liệu sinh học vào trong nội tạng hay mô mục tiêu với cách tiếp cận xâm lấn tối thiểu. Cánh tay robot mẫu có thể in 3D vật liệu sinh học nhiều lớp, với nhiều kích cỡ và hình dạng khác nhau, nhờ thiết kế linh hoạt, nó có thể luồn vào được các khu vực khó tiếp cận và chật hẹp”, TS Nhỏ chia sẻ.    Khi F3DB hoàn thành việc in ở một khu vực, nó có thể chuyển hướng sang khu vực khác để lặp lại quá trình. Như vậy, thiết bị này có thể được dùng để in vật liệu sinh học trên diện rộng, gồm toàn bộ bề mặt của nội tạng như đại tràng, dạ dày, tim và bàng quang, đây là điều mà các thiết bị in sinh học hiện thời không thể làm được.    Các kỹ sư đã thử nghiệm đưa F3DB vào bên trong trực tràng nhân tạo và trên bề mặt thận lợn, sử dụng sô cô la, gel tổng hợp và các vật liệu sinh học để in chính xác các hình dạng khác nhau.    Quan trọng là, họ phát hiện các tế bào không bị ảnh hưởng bởi quá trình in; và sau khi in xong, đa phần các tế bào vẫn sống.    Ngoài in vật liệu sinh học, thiết bị còn vận hành như một dụng cụ nội soi thông thường, làm sạch cấu trúc bằng tia nước, đánh dấu tổn thương và giải phẫu mô.    Mai Thành Thái, tác giả chính của nghiên cứu, nói: “So với các công cụ phẫu thuật nội soi hiện tại, F3DB được thiết kế như một công cụ nội soi tích hợp tất cả, để tránh việc thay dụng cụ, vốn làm cho quá trình phẫu thuật bị kéo dài và gây ra các rủi ro nhiễm trùng”.    Trên thị trường hiện nay chưa có thiết bị thương mại nào có thể in lên các cơ quan và mô bên trong cơ thể. Nhóm nghiên cứu cho biết sẽ hoàn thiện thiết bị này để trong vòng 5 tới 7 năm nữa các nhân viên y tế có thể sử dụng.    Nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí Advanced Science.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Khám phá về hạt top quark “độc thân”      Một nhóm gồm 50 nhà vật lý quốc tế do Ann Heinson dẫn đầu đã lần đầu tiên thăm dò được sự sinh ra top quark (quark “đỉnh”) mà không đi kèm với phản hạt của nó – đây là một sự kiện cực kỳ hiếm.  Top quark là hạt cơ bản nặng nhất từng được biết, nó có khối lượng tương đương với khối lượng nguyên tử vàng. Là một thành phần của “món súp hạt nhân” sau Big Bang, hiện nay top quark không tồn tại tự nhiên nhưng có thể được “tạo ra” trong một máy gia tốc năng lượng cao (theo lý thuyết được chấp nhận rộng rãi hiện nay, các hạt quark không thể tự do vì bị cầm tù theo cơ chế “tự do tiệm cận”).    “Chúng tôi đã tìm kiếm những top quark độc thân này mất 12 năm, và đến bây giờ vẫn chưa ai ‘nhìn’ thấy chúng,” Heinson nói. Chúng tôi đã tìm ra dấu vết tất cả 62 hạt top quark độc thân, điều này cho phép chúng tôi nghiên cứu về tính chất của chúng theo những cách mà trước đây chưa tiếp cận được. Bây giờ chúng tôi đã có thể nghiên cứu xem các top quark được sinh ra như thế nào và phân rã như thế nào. Những điều này có xảy ra theo như lý thuyết nói hay không? Những hạt mới này có tác động đến những hiện tượng mà chúng ra quan sát hay không? Bây giờ chúng tôi đang đứng ở một vị trí tốt hơn để có thể trả lời những câu hỏi đó.”  Khi một proton va chạm với một phản proton ở tốc độ gần ánh sáng, phản ứng này đôi khi sinh ra top quark. Tuy nhiên, hạt nặng này lại bị phân rã rất nhanh chỉ sau một phần rất nhỏ của một giây, do đó các nhà vật lý phải tìm các sản phẩm phân rã để có thể nhận diện nó.  Trong tương lai, nhóm của Heinson dự định phân tích thêm các dữ liệu được lấy từ máy Tevatron và cũng sẽ làm việc với hệ thống Large Hadron Collider (thiết bị Va chạm Hadron Lớn) ở Geneva, Thụy Sỹ, được lên kế hoạch vận hành vào cuối 2007.  Nguồn: University of California, Riverside      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khánh thành Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gien      Sáng 30/3, Viện Công nghệ sinh học (CNSH) đã chính thức khánh thành Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gien sau khoảng gần 5 năm xây dựng và hoàn thiện.Theo Viện CNSH, tổng đầu tư cho phòng thí nghiệm này trong giai đoạn 2001-2005 là 57 tỉ đồng, chủ yếu là trang bị máy móc, thiết bị nghiên cứu và nâng cấp phòng thí nghiệm có sẵn.    Nhờ các thiết bị nghiên cứu hiện đại, Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gien đã được giao trực tiếp, trúng thầu và thành công nhiều công trình nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực công nghệ sinh học như công trình giải mã gien người Việt Nam, công trình xác định ti thể người Việt phục vụ tìm hài cốt liệt sĩ, giải mã gien virut H5N1, sản xuất vacxin chống cúm gia cầm cho người và gia cầm, sản xuất thuốc từ nguồn thảo dược Việt Nam, Kit chẩn đoán bệnh sốt rét, xác định trình tự gien của nhiều chủng vi sinh và giống cây trồng làm cơ sở cho ngân hàng gien…  Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gien là một trong số 17 phòng thí nghiệm trọng điểm được nhà nước đầu tư với tổng kinh phí hơn 1.000 tỉ đồng.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khảo sát ở cấp độ cảnh quan để giải quyết nạn săn bắn động vật hoang dã      Nạn săn bắn trái phép ở các ‘điểm nóng’ về đa dạng sinh học đang làm giảm trong quần thể động vật hoang dã chưa từng có.      Một con thỏ vằn Trung Trường Sơn.  Do đó, TS. Nguyễn An (Viện nghiên cứu Vườn thú và Động vật hoang dã Leibniz), ông Nguyễn Quang Hòa Anh (WWF-Việt Nam), TS. Nguyễn Thanh Vân và TS. Lê Minh (Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài nhằm đưa ra những biện pháp giúp bảo vệ sự đa dạng sinh học trong các khu rừng.     Họ đã công bố kết quả nghiên cứu “Identifying conservation priorities in a defaunated tropical biodiversity hotspot” (Nhận diện những ưu tiên bảo tồn trong một điểm nóng đa dạng sinh học nhiệt đới bị suy giảm động vật) trên tạp chí Diversity & Distributions, qua đó cung cấp bằng chứng cho thấy cần thiết tiến hành khảo sát quy mô lớn, sử dụng phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ và phạm vi hoạt động của những tay săn bắn, cũng như tác động của việc săn trộm đến sự đa dạng sinh học trong rừng. Lập bản đồ đa dạng sinh học theo cách này sẽ cung cấp thông tin quan trọng để bảo vệ các loài quý hiếm vẫn còn tồn tại trong các cảnh quan.     Nghiên cứu được thực hiện ở khu vực dãy núi Trường Sơn nằm giữa biên giới Lào và Việt Nam, một khu vực nơi loài đặc hữu đang bị nạn săn trộm bất hợp pháp đe dọa, mà cụ thể là đặt bẫy dây. Mức độ săn bắn vượt quá tầm kiểm soát này đã gây suy giảm quần thể động vật hoang dã trong nhiều khu rừng ở dãy Trường Sơn. Không chỉ Việt Nam và Lào, mà rừng mưa nhiệt đới tại các khu vực khác của Đông Nam Á cũng đang trải qua số phận tương tự. Để bảo vệ những loài động vật hoang dã ở các khu vực này, nhóm nghiên cứu cho rằng cần xác định những khu vực có các loài quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng để có kế hoạch bảo tồn hiệu quả.    Các tác giả cung cấp bằng chứng cho thấy cần có phương pháp mới trong việc khảo sát đa dạng sinh học ở những cảnh quan bị suy giảm. Andrew Tilker, thành viên của Leibniz-IZW, và là tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi cũng nhận thấy sử dụng hai phương pháp khảo sát bổ sung – bẫy camera và phân tích DNA động vật có xương được lấy từ đỉa hút máu ký sinh – đã cải thiện khả năng phát hiện các loài, đặc biệt là với các loài động vật quý hiếm và khó bắt gặp. Từ những dữ liệu này, chúng tôi áp dụng kỹ thuật thống kê để tạo ra các bản đồ phân bố loài trên toàn khu vực – đây là lần đầu tiên kỹ thuật này được sử dụng ở dãy Trường Sơn.” Cuối cùng, các nhà nghiên cứu hy vọng rằng việc thiết lập những đường cơ sở đa dạng sinh học bằng các phương pháp tiên tiến như vậy sẽ giúp các nhà quản lý bảo vệ các loài quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng vẫn còn tồn tại trong các khu vực này dễ dàng hơn.    “Từ các cuộc khảo sát ở khu vực này, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai các nhóm loại bỏ bẫy ở các khu vực khác – nơi cũng có mức độ đa dạng sinh học cao”, ông Adrian Klocke, Giám đốc Dự án của Ngân hàng Phát triển KfW ở Đức, hỗ trợ dự án Dự trữ carbon và Bảo tồn đa dạng sinh học, giai đoạn 2 (CarBi II) ở dãy Trường Sơn. Thông qua KfW, tổ chức WWF triển khai CarBi II như một phần của chương trình Sáng kiến Khí hậu Quốc tế (IKI) của Bộ Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên và An toàn Hạt nhân (BMU) Liên bang Đức. “Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này giúp chúng tôi xác định các khu vực hiện không được bảo vệ nhưng đóng vai trò quan trọng đối với các loài quý hiếm”, Klocke cho biết thêm.     Những nghiên cứu khoa học như thế này này rất có giá trị trong bảo tồn. Amphone Phommachak, Giám đốc Quản lý Cảnh quan WWF-Lào khu vực Trung Trường Sơn cho rằng “cần phát triển và thực hiện các chiến lược bảo tồn dựa trên bằng chứng để bảo vệ sự đa dạng sinh học quý giá của dãy Trường Sơn. Không còn nghi ngờ gì về việc Trung Trường Sơn đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi các vụ săn bắn bất hợp pháp. Chúng ta cần nỗ lực bảo vệ những khu vực mới để không một loài động vật nào ở dãy Trường Sơn tuyệt chủng thêm được nữa.” □    Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/pub_releases/2020-02/fb-lsa020520.php    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khâu then chốt đảm bảo an toàn điện hạt nhân      Theo TS. Lê Văn Hồng (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), khi thực hiện chương trình điện hạt nhân, bất cứ quốc gia nào cũng đều phải tính toán rất kỹ ba yếu tố cơ bản, liên quan đến tính an toàn của các nhà máy điện hạt nhân: công nghệ lò phản ứng, khuôn khổ pháp lý và nguồn nhân lực. Việt Nam cũng không nằm ngoài thông lệ đó.      Chọn lò phản ứng thế hệ ba cộng  Điện hạt nhân có nhiều ưu điểm so với các loại năng lượng khác song bản thân nó cũng ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm nếu để xảy ra sự cố như trường hợp với nhà máy Three Mile Island (Mỹ, năm 1979), Chernobyl (Ukraina, 1986) và gần đây là Fukushima (Nhật Bản, 2011). Nhìn lại ba tai nạn này có thể thấy, lò phản ứng tại các nhà máy đều là những lò thế hệ cũ, áp dụng công nghệ lạc hậu: Three Mile Island, Chernobyl đều sử dụng lò thế hệ đầu hoặc giai đoạn đầu của thế hệ thứ hai; còn Fukushima là lò nước sôi (BWR) thế hệ ban đầu được thiết kế từ những năm 1960 và xây dựng vào những năm 1970. Có hai vấn đề với những lò phản ứng này: 1. Hệ thống an toàn chủ yếu là an toàn chủ động (active safety), chỉ hoạt động khi được tiếp năng lượng hoặc có sự tác động của con người; 2. Thiết thế lò phản ứng tương ứng với những quy chuẩn an toàn giai đoạn đó, thấp hơn nhiều so với những tiêu chuẩn hiện nay.   Để giảm thiểu những mối nguy hiểm có thể xảy ra, công nghệ thiết kế và vận hành lò phản ứng hạt nhân ngày càng được hoàn thiện nhằm đảm bảo các phản ứng phân hạch hạt nhân diễn ra an toàn hơn, giảm thiểu khả năng nóng chảy vùng hoạt và giảm phát thải phóng xạ với những quy chuẩn an toàn không ngừng được nâng cao, ví dụ theo yêu cầu hiện nay, mức độ dư thừa trong hệ thống an toàn được đòi hỏi ở mức cao theo khái niệm nguyên lý hỏng đơn, khi một hệ thống bị hỏng thì các hệ thống còn lại phải đảm bảo giữ vững chức năng an toàn của mình.   Trong dòng chảy đó, là quốc gia mới bắt đầu phát triển chương trình điện hạt nhân, Việt Nam sẽ nhập công nghệ thiết kế lò phản ứng từ những quốc gia có nền công nghệ điện hạt nhân tiên tiến trên thế giới để đảm bảo an toàn cho hai nhà máy Ninh Thuận 1 và 2. Hiện nay không ít ý kiến quan ngại về những sự cố có thể đến với điện hạt nhân Việt Nam nhưng xét một cách thấu đáo, với ba yếu tố nêu trên thì yếu tố công nghệ lại khiến các nhà chuyên môn an tâm hơn cả. Sau khi đã cân nhắc và được tham vấn bởi các chuyên gia trong nước và quốc tế, Việt Nam đã quyết định lựa chọn công nghệ lò phản ứng thế hệ ba cộng (lò phản ứng nước áp lực PWR) cho dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2.           Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý bao gồm một hệ thống văn bản quy phạm về điện hạt nhân đầy đủ, toàn diện và nghiêm ngặt cần quãng thời gian dài và được tiến hành cẩn trọng. Những người soạn thảo phải là những nhà nghiên cứu, xuất thân từ công việc nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực khác nhau của điện hạt nhân.        Một trong những đặc điểm nổi bật ở lò phản ứng thế hệ ba cộng là yếu tố an toàn thụ động (passive safety) được chú trọng, khi việc đảm bảo an toàn không phụ thuộc vào năng lượng hay con người mà dựa vào quy luật tự nhiên như hệ thống đối lưu tự nhiên, hệ thống thiết bị do lực trọng trường tác động… Ví dụ với công nghệ lò AP 1000 (dựa trên thiết kế AP600 của công ty Westinghouse, Mỹ), hầu hết hệ thống làm mát [vùng hoạt] khẩn cấp, làm mát lâu dài, xử lý sự cố nặng đều áp dụng theo nguyên lý thụ động, qua đó có thể tự duy trì trạng thái an toàn mà không cần đến các bộ phận điều khiển chủ động, còn công nghệ lò AES 2006 của Nga áp dụng song song hệ thống an toàn chủ động và an toàn thụ động nhằm đảm bảo hệ thống làm mát có khả năng hoạt động trong thời gian dài, phòng sự cố mất điện, rủi ro xảy ra mà con người chưa thể kịp thời can thiệp.   Yếu tố cải tiến mới của lò phản ứng thế hệ ba cộng là trong những thiết kế mới nhất đã được bổ sung tới bốn hệ thống an toàn để phòng trường hợp một hệ thống gặp sự cố tác động đến hệ thống khác thì vẫn còn hệ thống cuối thực hiện chức năng an toàn. Bên cạnh đó, ngoài việc áp dụng theo nguyên lý hỏng đơn, một số nguyên lý khác cũng được bổ sung và hoàn thiện như nguyên lý tách rời, nguyên lý đa dạng… nhằm đảm bảo cho các hệ thống an toàn hoạt động thông suốt, không bị đứt đoạn trong thời gian vận hành, có thể phòng trường hợp mất một trong số các nguồn điện phục vụ hệ thống an toàn.   Hội tụ những ưu điểm trên, công nghệ lò phản ứng AES 2006, công suất 1.200 MW của Nga đã được xác định dành cho nhà máy Ninh Thuận 1, còn với nhà máy Ninh Thuận 2 có thể là sự lựa chọn giữa công nghệ lò phản ứng AP 1000 hoặc ATMEA1 (Nhật Bản và Pháp) có công suất 1.100MW.   Xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ, chặt chẽ   Nếu yếu tố đảm bảo tính an toàn của điện hạt nhân đầu tiên là công nghệ, vốn được nhập từ nước ngoài về thì với hai yếu tố còn lại là xây dựng khuôn khổ pháp lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phần lớn đều xuất phát từ nội lực.   Theo TS. Lê Văn Hồng, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý bao gồm một hệ thống văn bản quy phạm về điện hạt nhân đầy đủ, toàn diện và nghiêm ngặt cần một quãng thời gian dài và được tiến hành cẩn trọng từng bước một. Việc có được một hệ thống văn bản như vậy cũng phản ánh xác thực văn hóa an toàn của điện hạt nhân và là cơ sở để văn hóa an toàn đó được thực thi.   Ở đây, yếu tố nhân lực trình độ cao đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi những người soạn thảo phải là những nhà nghiên cứu, xuất thân từ công việc nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực khác nhau của điện hạt nhân. Nắm rõ được toàn bộ quy trình thiết kế, xây dựng nhà máy, lắp đặt lò phản ứng và những công việc liên quan đến xử lý sự cố trong vận hành, bảo dưỡng, họ mới có đủ kiến thức và kinh nghiệm để ngồi lại, soạn thảo những quy phạm mang tính khái quát nhưng vẫn đảm bảo sự chính xác, cẩn trọng.  Để hệ thống văn bản quy phạm này được thực thi an toàn trong thực tế, một đội ngũ chuyên gia thanh sát về việc thực hiện quy chuẩn an toàn do cơ quan quản lý nhà nước về pháp quy thành lập, cũng là những nhà nghiên cứu dày dạn kinh nghiệm hoặc có nhiều năm phụ trách việc vận hành lò phản ứng nghiên cứu, lò phản ứng năng lượng, thường xuyên kiểm tra hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân. Đội ngũ này trực tiếp có mặt tại các nhà máy, giám sát ngay từ quá trình xây dựng, lắp đặt lò phản ứng đến quá trình hoạt động để kịp thời xử lý những trường hợp vi phạm “từ trong trứng nước” và báo cáo lên cơ quan quản lý nhà nước. Đây cũng là kinh nghiệm mà tất cả các quốc gia đạt trình độ tiên tiến về điện hạt nhân trên thế giới đã áp dụng.   Tại Việt Nam, khi tất cả mới ở giai đoạn bắt đầu, chúng ta có Luật Năng lượng nguyên tử, được Quốc hội thông qua vào ngày 3/6/2008 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2009. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 70/2010/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử về nhà máy điện hạt nhân. Trên cơ sở đó, Bộ KH&CN đã ban hành thông tư số 28/2011/TT-BKHCN Quy định về yêu cầu an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân và thông tư số 30/2012/TT-BKHCN Quy định về yêu cầu an toàn hạt nhân đối với thiết kế nhà máy điện hạt nhân… Đây là những văn bản cơ bản đầu tiên cho chương trình điện hạt nhân Việt Nam nhưng bản thân nó vẫn chưa bao hàm đầy đủ những quy phạm, quy chuẩn cần thiết cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân theo thông lệ quốc tế. Hiện tại, Cục An toàn bức xạ hạt nhân, cơ quan được Bộ KH&CN giao trọng trách xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật, đang thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật với IAEA và dự án hợp tác với EU nhằm tiếp tục phát triển khung pháp lý và tăng cường năng lực cho Cơ quan pháp quy hạt nhân Việt Nam. Tuy nhiên mọi chuyện mới ở giai đoạn bắt đầu.  Nguồn nhân lực chất lượng cao          Yếu tố nguồn  nhân lực chất lượng cao phục vụ trực tiếp trong các nhà máy điện hạt  nhân được đánh giá là khâu then chốt, cốt lõi cho tính an toàn.           Cùng với hai yếu tố nêu trên, yếu tố nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trực tiếp trong các nhà máy điện hạt nhân được đánh giá là khâu then chốt, cốt lõi cho tính an toàn. Trong quá trình vận hành lò phản ứng thường có nhiều vấn đề khác nhau xảy ra, nếu đội ngũ kỹ thuật chỉ xử lý theo đúng quy trình vận hành, quy phạm hướng dẫn của nhà cung cấp công nghệ, thì đội ngũ chuyên gia giỏi, những người được đào tạo trong một quãng thời gian rất dài từ 10 đến 15 năm, thậm chí là 20 năm, sẽ giải quyết những vấn đề phức tạp thông qua phân tích và nghiên cứu để góp phần bảo đảm tính an toàn cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân như tìm hiểu khả năng tiềm ẩn sự cố tại các nhà máy điện hạt nhân, tính toán xác suất sự cố có thể xảy ra, xác định quy trình ứng phó sự cố, đánh giá mức độ hậu quả, giảm thiểu các hậu quả, tìm phương án bảo vệ khi có rò rỉ phóng xạ…   Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố khiến nhiều người trong ngành lo lắng, bởi lực lượng cán bộ thực sự am hiểu về công nghệ lò phản ứng, an toàn nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam còn rất khiêm tốn. Đội ngũ chuyên gia này bao gồm một số cán bộ trước đây từng học tập và nghiên cứu ở các quốc gia như Liên Xô, CHDC Đức cũ… và một số cán bộ mới được gửi đi đào tạo ở Nga, Nhật, Mỹ…     Để chương trình điện hạt nhân Việt Nam phát triển bền vững và an toàn lâu dài, cần một đội ngũ chuyên gia đạt trình độ chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực, có khả năng ứng phó kịp thời sự cố, đưa ra những biện pháp giải quyết sự cố hoặc nghiên cứu đưa ra hướng giải quyết, phòng ngừa sự cố. Vì quy trình thiết kế và vận hành lò phản ứng điện hạt nhân liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như vật lý – thủy nhiệt lò phản ứng, sức bền vật liệu, ăn mòn kim loại, cơ học, tự động hóa, hóa nước… nên trình độ chuyên môn của đội ngũ chuyên gia trong nhà máy cũng phải đạt trình độ đủ cao tương ứng từng lĩnh vực và mỗi lĩnh vực cần phải có ít nhất từ hai đến ba người.  Cũng nhằm mục tiêu phát triển bền vững chương trình điện hạt nhân, Việt Nam đang có chương trình nội địa hóa công nghệ, qua đó hướng tới tham gia vào thiết kế nhà máy theo từng giai đoạn, ở giai đoạn đầu sẽ tiếp cận việc thiết kế thiết bị thông thường vì trong nhà máy điện hạt nhân, ngoài hệ thống chính là lò phản ứng có thể mới mẻ với Việt Nam nhưng còn có những hệ thống thiết bị truyền thống gần giống nhà máy nhiệt điện như turbine, ống dẫn, máy phát, van, bơm…. Vì vậy Việt Nam cần tập trung nâng cao trình độ cho đội ngũ thiết kế để họ có thể tiến tới thiết kế, chế tạo được các thiết bị này theo yêu cầu và quy chuẩn thiết bị của nhà máy điện hạt nhân.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khẩu trang – giải pháp chủ yếu phòng chống A/H1N1?      C&#243; k&#237;ch thước chỉ v&#224;i chục nanomet, với c&#225;i t&#234;n A/H1N1 được ph&#225;t hiện tr&#234;n cơ thể c&#225;c bệnh nh&#226;n đầu ti&#234;n tại M&#234;hic&#244; v&#224;o cuối th&#225;ng 3 vừa qua, chỉ trong v&#224;i ng&#224;y, thứ virus g&#226;y bệnh chết người n&#224;y đ&#227; khiến cả thế giới kinh ho&#224;ng.&nbsp; V&#224; khẩu trang c&#243; thực sự l&#224; một trong những giải ph&#225;p hữu hiệu chống lại A/H1N1?    Từ 10 năm nay, các nhà nghiên cứu bệnh dịch học đang tập trung vào một con virus khác mà nhiều người đã biết tên: Virus H5N1. Đó là loại virus xuất hiện từ các con chim di cư từ Nam Á, rồi lan tỏa tới khắp các đại lục khác. Mặc dù khó có thể lây bệnh từ người sang người, nhưng virus H5N1 không phải vì thế ít được các nhà khoa học quan tâm. Ngược lại, virus này luôn được coi là ngòi nổ tiềm tàng nhất cho một đại dịch cúm trên qui mô toàn cầu. Vấn đề nghiêm trọng đến mức rất nhiều nước trên thế giới đã chuẩn bị sẵn sàng các kế hoạch phòng chống một khi đại dịch cúm xảy ra. Thực đơn chống dịch bệnh là gì? Đó là chuẩn bị các thuốc chống virus và phân phát hàng loạt khẩu trang phòng lây nhiễm trên diện rộng. Dù đó có là H5N1, H1N1 hay bất cứ loại virus cúm nào khác. Các kế hoạch này phần lớn dựa trên cùng một dữ liệu: Trong gần 99% các ca được phát hiện, virus cúm lan truyền theo đường không khí, thông qua các hạt nước bọt của người bệnh phát tán ra không khí khi họ ho hoặc thở.              Liên tục rửa tay sạch là một trong những biện pháp phòng chống cúm        Như vậy, trong điều kiện thiếu vaccine, cách tốt nhất để tránh nhiễm bệnh là đeo một chiếc khẩu trang thay vì tự cách ly trong một môi trường tuyệt đối. Điều đó đúng, nhưng loại khẩu trang cần thiết phải như thế nào để có thể bảo vệ khỏi sự lây nhiễm?  Để hiểu thêm vấn đề, nên biết là các phần tử nước bọt trong không khí mà chúng ta “thải ra” vào mỗi lần ho không hoàn toàn có kích cỡ giống nhau. Trên thực tế, các nhà khoa học phân chúng ra thành 2 loại: Các hạt nhỏ có đường kính trên 5 micromet và các hạt cực nhỏ (aérosol) có kích thước dưới 5 micromet. Thoạt tiên, người ta nghĩ rằng sự khác biệt này chẳng có gì quan trọng. Nhưng trên thực tế, cần biết rằng nhiều loại khẩu trang có thể ngăn chặn được các hạt nhỏ nước bọt, nhưng lại hoàn toàn chẳng “lọc” được các hạt cực nhỏ khác.  Hầu hết các kế hoạch phòng chống dịch bệnh khi đại dịch nổ ra chỉ chú trọng tới việc chặn được các hạt nước bọt nhỏ, nhưng lại lơ là các hạt cực nhỏ. Đó chính là điểm yếu chết người.  Trên thực tế, hiện đang có trên thị trường thế giới hai loại khẩu trang: Một loại gọi là khẩu trang chống lây (còn gọi là khẩu trang phẫu thuật) có tác dụng giúp những người bệnh tránh phát tán nguồn bệnh ra môi trường. Loại thứ hai, còn gọi là khẩu trang chống nhiễm độc (FFP2), giúp người đeo lọc bỏ các chất bẩn trong không khí. Do vậy loại này dùng cho những người khỏe mạnh nhằm chống nhiễm bệnh từ các hóa chất hoặc chất sinh học có hại. Được thiết kế trùm hết cả mặt để tránh các tác động từ bên ngoài, loại khẩu trang này mới thực sự có tác dụng chống lại các virus gây bệnh.    Không phải cho mọi người              Khẩu trang FFP2 phòng lây nhiễm hiệu quả cúm, nhưng lại có giá thành đắt và dùng không được lâu        Ngay cả tại các nước giàu, như Canada, Úc hay Anh, các kế hoạch phòng chống đại dịch chỉ nhắm tới việc trang bị các khẩu trang chống lây, cho cả người bệnh lẫn người chăm sóc bệnh nhân. Riêng các nước Mỹ và Pháp thì thận trọng hơn bởi trong kế hoạch phòng chống đại dịch có trang bị cho các nhân viên y tế và những người tiếp xúc với bệnh nhân các khẩu trang phòng dịch. “khoảng 500.000 – 600.000 khẩu trang chống nhiễm độc đã được trữ trong kho để sử dụng tới trong trường hợp đại dịch nổ ra”, Didier Houssin, người chịu trách nhiệm cho kế hoạch phòng đại dịch của Pháp nói. Ông cũng nhấn mạnh rằng tất các công ty, công sở có nhân viên tiếp xúc với khách hàng, người giao dịch đều cần được trang bị các loại khẩu trang phòng độc.  Ngược lại, các khẩu trang phòng độc lại không được trang bị cho dân thường. Và như vậy, họ chỉ có thể đeo các loại khẩu trang bình thường, kiểu khẩu trang phẫu thuật ngay cả khi họ có tiếp xúc trong phạm vi hẹp (như tiếp xúc với bệnh nhân trong các trường hợp cách ly hoặc trong phạm vi gia đình bệnh nhân). “Nên sử dụng loại khẩu trang kiểu phẫu thuật để phòng chống dịch”, trong kế hoạch phòng chống đại dịch của Pháp đã ghi rõ. Và hơn 1 tỉ khẩu trang như vậy đã được tích trữ. Nhưng thực sự những khẩu trang loại này liệu có ích gì khi chúng hoàn toàn không loại bỏ được các hạt nước bọt cực nhỏ, luôn là mầm bệnh gây nhiễm trong không khí? Cục phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh của Mỹ (CDC) đã đưa ra các kết quả nghiên cứu đầu tiên về tác dụng của loại khẩu trang phẫu thuật đối với việc phòng chống virus cúm: Nếu sử dụng khẩu trang kết hợp với việc rửa tay bằng cồn, chúng chỉ có tác dụng giảm nguy cơ nhiễm cúm xuống còn từ 10-50%. “Loại khẩu trang như vậy chỉ giúp bạn lọc bỏ các hạt nước bọt nhỏ. Nếu có tác dụng, chúng chỉ giúp bạn ngăn tiếp xúc với các ngón tay bẩn, dễ gây bệnh qua đường miệng hoặc tránh dụi mắt bằng tay bẩn bằng kính bảo vệ đi kèm”, nghiên cứu nêu rõ.  Kết quả hoàn toàn nghèo nàn     “Từ vài năm nay, chúng tôi đã thử các loại khẩu trang để biết liệu chúng có hiệu quả thực sự hay không. Nhưng kết quả thu được cực kỳ nghèo nàn”, Isabelle Balty, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu các nguy cơ sinh học của Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp (INRS) cho biết.  Trong khi đó, theo các nhà nghiên cứu, phần nhiều trong số 2.000 tới 1 triệu phần tử nước bọt từ người bệnh bắn ra ngoài mỗi khi ho lại là các hạt nước bọt cực nhỏ.                WHO: Đủ khả năng cung cấp 1-2 tỉ liều vaccine H1N1   Các quan chức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết sẽ có khoảng từ 1-2 tỉ liều vaccine chống virus cúm A/H1N1 được sản xuất, đủ cung cấp cho nhu cầu của toàn thế giới khi đại dịch xảy ra.               Giáo sư Marie-Paule Kieny, Giám đốc Sáng kiến nghiên cứu vaccine của WHO cho biết năng lực sản xuất vaccine toàn cầu hiện vào khoảng 900 triệu liều/năm nhưng có thể tăng lên vào khoảng 1-2 tỉ liều để đối phó với đại dịch cúm A/H1N1. Thời gian cần thiết để đạt mức sản xuất này là khoảng từ 4-6 tháng trước khi thế giới quyết định sản xuất qui mô toàn cầu.              Theo các chuyên gia y tế thế giới, vaccine ngừa cúm A/H1N1 có thể chính thức ra đời vào mùa thu, hoặc chậm nhất là mùa đông năm nay. Hiện nhiều hãng dược phẩm lớn trên thế giới đang ráo riết thực hiện các công đoạn cuối cùng để có thể tung được vaccine ngừa cúm A/H1N1 ra thị trường. WHO có thể cấp phép cho loại virus này vào khoảng tháng 9, hoặc tháng 10 năm nay để sẵn sàng đối phó với các diễn biến xấu nhất của dịch cúm trong mùa đông. Giá dự kiến cho mỗi liều vaccine ngừa cúm A/H1N1 sẽ vào khoảng 14 USD.      (Tổng hợp từ WHO, Medicalnewstoday và AM News)          Tại sao trong trường hợp như vậy, người ta lại không thông báo cách phòng tránh hiệu quả hơn tới người dân? Đơn giản bởi theo Anne Mosnie, điều phối viên quốc gia đối với các nhóm theo dõi bệnh dịch ở địa phương của Pháp, “Phần lớn các công bố khoa học đều kết luận rằng các hạt nước bọt nhỏ làm nguồn bệnh phát tán và việc các hạt nước bọt cực nhỏ gây lây nhiễm là không có căn cứ“.  Trên thực tế, các chuyên gia y tế lại ít nhiều đều đồng tình rằng rất có thể các hạt nước bọt cực nhỏ mới là nguồn lây bệnh chính.  Raymond Tellier, nhà sinh học thuộc Đại học Toronto trong năm 2007 đã công bố nghiên cứu của mình về tất cả những gì con người đã ghi chép về bệnh cúm từ hơn 50 năm qua. Theo ông, kế hoạch phòng chống đại dịch của các chính phủ thực sự đang “phủ nhận kết quả nghiên cứu khoa học của nhiều thập kỷ trước”. Ngay từ năm 1966, một nghiên cứu trên những người tự nguyện đã chỉ ra rằng việc cúm lây truyền qua các hạt nước bọt cực nhỏ là hoàn toàn có thể xảy ra, cho dù chúng chỉ chứa số lượng virus gây lây bệnh ít hơn trong các hạt nước bọt nhỏ từ 100-1.000 lần. Mười năm sau đó, hai nghiên cứu khác đã cho thấy các cá thể nhiễm bệnh từ các hạt nước bọt cực nhỏ thậm chí còn mắc bệnh nguy kịch hơn. Đó chưa phải là hết bởi nếu các mầm bệnh trong các hạt nước bọt nhỏ chỉ có thể sống sót trong không khí vài giờ thì chúng lại có thể tồn tại tới vài ngày, thậm chí vài tuần trong các hạt nước bọt cực nhỏ. Do nhẹ hơn nên chúng lại dễ dàng lưu chuyển trong không khí. Nói một cách khác, các hạt nước bọt cực nhỏ (aérosol) hoàn toàn có nguy cơ gây bệnh ngang bằng với các hạt nước bọt nhỏ. Yếu tố hạn chế duy nhất của các hạt nước bọt cực nhỏ là chúng dễ bị tổn thương trong điều kiện khô ráo, trong môi trường oxi hóa, hoặc dưới ánh sáng hồng ngoại. Nhiều nghiên cứu khác trong giai đoạn 1950-1960 đã chỉ ra rằng một virus cúm có thể sống và duy trì khả năng lây bệnh trong vòng 24 giờ trong điều kiện độ ẩm không khí dưới 40% hoặc trên 60%.   Làm gì bây giờ?  Trong những điều kiện như vậy, tại sao không thể yêu cầu mọi người đeo khẩu trang chống lây nhiễm? Câu trả lời hoàn toàn không dễ. Đầu tiên bởi giá thành loại khẩu trang này khá cao. Một khẩu trang phòng độc cỡ tiêu chuẩn tại Pháp có giá 30 xu Euro (cỡ khoảng 8.500 đồng), trong khi một khẩu trang kiểu phẫu thuật chỉ có giá từ 3-4 xu (gần 1.000 đồng). Kế nữa, khả năng sản xuất loại khẩu trang phòng độc hiện cũng hạn chế nếu đại dịch xảy ra và nhu cầu gia tăng đột biến. Thêm một lý do nữa là loại khẩu trang phòng độc này chỉ dùng duy nhất được 1 lần trong vòng tối đa 8 giờ đồng hồ. Và người dùng cũng được yêu cầu thay thế khẩu trang mỗi khi họ cởi ra để ăn, uống…Như vậy, số lượng khẩu trang cần thiết sẽ lên tới con số khủng khiếp, khó có thể đáp ứng được.  “Các khẩu trang phòng độc khiến người sử dụng khó mang vác và sử dụng trong thời gian dài bởi chúng rất nóng và gây khó khăn cho việc hô hấp”, Didier Houssin giải thích.  Cuối cùng, ngay cả khi virus H1N1 có độc lực kém hơn so với loại virus cúm Tây Ban Nha đã khiến 40-100 triệu người chết trong năm 1917, viễn cảnh xảy ra một đại dịch vào thế kỷ 21 là hoàn toàn không thể loại bỏ. Tới ngày đó, chắc chắn người ta sẽ không còn thời gian để phân tích xem các loại khẩu trang được cung cấp liệu có hiệu quả thực sự như mong muốn hay không nữa…   H.A (lược dịch từ Science et Avenir-6/2009)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khẩu vị của muỗi thay đổi theo tốc độ đô thị hóa tại châu Phi      Tình trạng biến đổi khí hậu và đô thị hóa ngày càng tăng sẽ tạo cơ hội để muỗi phát triển hơn nữa, dù không phải ở đâu cũng thế.      Từ trước đến nay, muỗi vằn (Aedes aegypti) vốn khét tiếng là sinh vật chuyên hút máu và lây truyền sốt xuất huyết, Zika, và các loại virus khác. Nhưng ở châu Phi, ‘quê hương’ của chúng, hầu hết muỗi vằn thích hút máu các loài động vật khác, như khỉ và loài gặm nhấm. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới cho thấy chúng ngày càng chuyển sang thích hút máu người – đồng nghĩa với việc khả năng truyền bệnh cũng sẽ tăng theo.  Bằng cách khảo sát phạm vi đốt của muỗi vằn trên khắp châu Phi, nghiên cứu cho thấy quần thể muỗi ở các khu vực khô hạn và mật độ dân số dày đặc có xu hướng hút máu người nhiều hơn. Tình trạng biến đổi khí hậu và đô thị hóa ngày càng tăng sẽ tạo cơ hội để muỗi phát triển hơn nữa, dù không phải ở đâu cũng thế.  “Công trình nghiên cứu này vô cùng ý nghĩa, nếu chúng ta hiểu rõ hơn về lý do tại sao muỗi thích đốt người, chúng ta sẽ được trang bị tốt hơn trong việc dự đoán và giảm thiểu sự lây lan của bệnh”, theo ông Law Lawzzak, một nhà di truyền học tiến hóa tại Viện Wellcome Sanger, người không tham gia vào nghiên cứu này.  Noah Rose, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, đã hợp tác với Carolyn McBride thuộc Đại học Princeton và các đồng nghiệp châu Phi, thu thập trứng muỗi vằn từ 27 địa điểm ở hạ Sahara, từ thảo nguyên khô ráo đến rừng rậm ẩm ướt, và từ những nơi cư dân hãy còn thưa thớt cho đến những nơi cư dân đông đúc, nhộn nhịp. Rose đã sử dụng những quả trứng đó để bắt đầu nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm sở thích hút máu của bầy muỗi con. Được đặt trong một hộp nhựa có hai ống nhô ra, nhóm 100 con muỗi được lựa chọn hướng bay, hoặc bay xuống ống dưới – nơi có cẳng tay Rose đã chờ sẵn ở đầu ống hoặc bay xuống ống kia – hướng có một con chuột lang (Nhóm nghiên cứu đã đặt những tấm màn ngăn giữa muỗi và hai mục tiêu trên.)  Bên cạnh đó, ông cũng giải trình tự bộ gene của 389 con muỗi để xem xét bộ gene có liên quan gì đến khẩu vị của muỗi hay không. “Đó là một khối lượng công việc khổng lồ”, Anna Cohuet, một nhà côn trùng học tại Viện nghiên cứu Quốc gia Pháp về phát triển bền vững ở Montpellier, người không liên quan đến công trình này đánh giá.  Sở thích của muỗi là hút máu người hay chuột lang, tùy thuộc vào nơi thu thập được chúng, Rose và các đồng nghiệp đã báo cáo điều này tại buổi hội thảo Biology of Genomes, tổ chức trực tuyến vào tuần trước và trong một bản thảo sơ bộ hồi tháng Hai. Những con muỗi có nguồn gốc từ các khu rừng rậm châu Phi, có xu hướng thích hút máu chuột lang. Chỉ những con từ khu vực Sahel, vành đai bán khô hạn phía nam Sahara, luôn luôn thích hút máu người hơn cả, nhóm nghiên cứu phát hiện. Đối với những con còn lại, nguồn gốc của chúng với những con từ vùng Sahel càng gần, chúng càng có khả năng đốt người. (Muỗi Sahel đã lây lan sang châu Mỹ hàng trăm năm trước cả khi tình trạng buôn bán nô lệ diễn ra.)  Một yếu tố khác gợi ý về khẩu vị của muỗi, mà nhóm nghiên cứu phát hiện ra, đó là mật độ dân số. Mật độ càng dày đặc, Cohuet giải thích, “chúng lại càng hút máu người nhiều hơn”. Nhưng đó không phải là một lời giải thích hoàn chỉnh, bởi vì muỗi còn được thu thập từ một số thị trấn không có quá nhiều người. Thay vào đó, với khí hậu khô và nóng vào hầu hết thời gian trong năm ở Sahel, nơi chỉ có một mùa mưa ngắn ngủi, dường như đã dần dần chuyển hướng sở thích của muỗi sang con người. Ở những nơi đó, Rose nói, những con muỗi dường như phụ thuộc nhiều hơn vào việc sinh sản trên vũng nước đọng mà người dân để lại hoặc bị mắc kẹt trong các vật phẩm như lốp xe.  “Điều này cho thấy, nếu quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở những khu vực khô hạn này, chủng muỗi chuyên hút máu người sẽ sinh sôi nảy nở dữ dội”, Elaine Ostrander, nhà di truyền học tại Viện nghiên cứu Quốc gia về Bộ gene người cho biết. Khả năng lây truyền bệnh sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm liên quan đến muỗi vằn là điều mà Ostrander lo lắng. “Điều này sẽ vô cùng khủng khiếp”, bà nói  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/05/mosquitoes-taste-human-blood-may-grow-african-cities-expand    Author                Quản trị        
__label__tiasang KHCN cần chủ động gắn với cuộc sống sôi động của đất nước.      Bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển- người được các doanh nhân kính trọng, yêu mến không chỉ vì có những đóng góp vào sự đổi mới thể chế, môi trường kinh tế mà còn vì sự thẳng thắn, sâu sắc, khiêm tốn và cởi mở của bà.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với bà về chất lượng tăng trưởng kinh tế và những vấn đề đặt ra đối với KH&amp;CN trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.    PV: Với cái tên “Viện nghiên cứu phát triển”, hẳn Viện của bà sẽ quan tâm nghiên cứu tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, khoa học, giáo dục, văn hóa…?  Bà Phạm Chi Lan: Không một Viện nào có thể nghiên cứu quá rộng như vậy. Chúng tôi đặt tên Viện chung chung như vậy là để tránh trùng lặp với tên một số Viện khác như: Viện Kinh tế, Viện Khoa học giáo dục, Viện Văn hóa… Trọng tâm của Viện chúng tôi là nghiên cứu những vấn đề phát triển, lấy kinh tế làm trọng tâm. Phát triển kinh tế phụ thuộc vào yếu tố con người. Do vậy không thể tách rời vấn đề nghiên cứu phát triển kinh tế với các vấn đề khác liên quan đến con người như giáo dục, khoa học, văn hóa, xã hội… Chính vì thế ngoài một số chuyên gia về kinh tế, Viện chúng tôi còn có sự tham gia của GS Hoàng Tụy, GS Phan Đình Diệu, GS Phan Huy Lê… và nhiều nhà nghiên cứu chuyên và không chuyên quan tâm đến những vấn đề phát triển của đất nước.  Ngày càng có nhiều người cho rằng GDP của chúng ta liên tục tăng nhưng chất lượng tăng trưởng ngày càng thấp. Ý kiến của bà?  Đúng là có những dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng của chúng ta ngày càng thấp: hệ số giữa đầu tư và tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng (nghĩa là muốn tăng 1%GDP thì phải đổ thêm nhiều tiền của hơn. Nếu năm 1995-1996 GDP đạt 9% thì hệ số này là 2,2; hiện nay GDP cũng như vậy nhưng hệ số đó là 4,4); chỉ số năng suất lao động thấp so với các nước trong khu vực; ô nhiễm, tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn bao giờ hết; chỉ số giá cả tăng quá cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng tăng nhất là giữa nông thôn và thành thị… Trên cơ sở những kinh nghiệm của nước ngoài và thực tiễn của nước ta, chúng tôi sẽ triển khai nghiên cứu vấn đề này một cách thấu đáo hơn.  Nhưng theo bà, vì sao tại các kỳ họp Quốc hội, các hội nghị của Chính phủ hầu như chỉ thấy bàn đến các giải pháp tăng GDP, ít thấy đề cập đến biện pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng?  Đây là điều đáng tiếc ở nước ta (nếu không muốn nói là đáng buồn). Khái niệm và ý thức quan tâm đến chất lượng phát triển đã được đề cập đến trong Nghị quyết Đại hội 8. Có nghĩa là cách đây 10 năm, chúng ta đã thấy chất lượng tăng trưởng có vấn đề, đã có định hướng không chỉ theo đuổi tốc độ mà phải lo đến cải thiện chất lượng tăng trưởng. Nhưng cho đến nay, chúng ta hầu như chưa làm được điều gì theo định hướng đó. Ngay tại Kỳ họp Quốc hội vừa qua, không ít đại biểu còn đòi đưa tốc độ tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu Chính phủ đề ra (thậm chí có đại biểu muốn GDP của chúng ta đạt tới hai con số). Tuy vậy gần đây trong cuộc họp với các địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh đến các việc cần thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả, cải thiện môi trường, đời sống của nhân dân… Nhưng tôi e rằng vì bị sức ép, bị ám ảnh bới tốc độ tăng trưởng, nên trên thực tế những yếu tố liên quan đến chất lượng sẽ vẫn bị sao lãng.            Tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên và lượng lớn nhân công.            Hẳn các nhà quản lý đều biết “nguy cơ” của tăng trưởng chất lượng thấp, nhưng tại sao họ chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng. Phải chăng đó cũng là biểu hiện của bệnh thành tích?  Đúng vậy. Đó là căn bệnh chung của nhiều bộ phận xã hội chứ không phải của riêng ngành giáo dục. Nó phát sinh nhiều tiêu cực, lây lan nhanh nhưng ít được quan tâm khắc phục. Ngoài ra có thể một số chuyên gia giúp việc cho Chính phủ, Quốc hội cũng chưa có được nhận thức một cách đầy đủ về tư duy phát triển. Tôi cho rằng nếu trong điều hành của Chính phủ còn có những điều chưa ổn, thì không nên chỉ trách những người đứng đầu Chính phủ mà phải thấy trách nhiệm của bộ máy giúp việc.   KHCN được coi là quốc sách hàng đầu, động lực của phát triển, nhưng tại các hội nghị về kinh tế của các cấp chỉ thấy bàn đến thể chế, chính sách. Tại nhiều Kỳ họp Quốc hội chẳng có mấy ý kiến yêu cầu chất vấn Bộ trưởng Bộ KH&CN. Đó là ví dụ điển hình về sự thiếu quan tâm đến sự phát triển KHCN. Theo bà vì sao?  Tôi nghĩ, thứ nhất, quá trình phát triển của nước ta là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phải vượt qua nhiều khó khăn to lớn do mới qua khỏi chiến tranh, do cơ chế quan liêu bao cấp… Vì vậy bước vào đổi mới mọi người cần phải lo nhiều đến hoàn thiện thể chế thì kinh tế mới có thể vượt qua khủng hoảng, vận hành và phát triển. Còn đối với doanh nghiệp thì mối quan tâm hàng đầu của họ là môi trường kinh doanh. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, môi trường kinh doanh vẫn còn quá nhiều bất cập, tranh tối, tranh sáng. Do vậy, đó vẫn là mối quan tâm hàng đầu cần phải tháo gỡ của lãnh đạo và doanh nghiệp. Thứ hai, bản thân trình độ phát triển của chúng ta chủ yếu còn dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… không có mấy yếu tố phát triển do tác động của KH&CN. Từ đó hoạt động KHCN bị đẩy xuống hàng thứ yếu.  Hiện nay, chúng ta đã gia nhập WTO, đã bước vào giai đoạn phát triển mới với những thời cơ lớn cùng không ít thách thức, khó khăn, trong đó KHCN đóng vai trò là yếu tố có tính sống còn của phát triển. Vì vậy tôi tin rằng lãnh đạo và chính quyền các cấp tới đây sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc thúc đẩy phát triển KHCN.  Như vậy phải chăng những yếu kém trong hoạt động khoa học chủ yếu là do chưa được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp?  Tôi nghĩ đó còn thuộc trách nhiệm của các nhà quản lý, các nhà khoa học. Được coi là động lực của phát triển, nhưng trong việc giúp các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; khắc phục những sự cố về môi trường, dịch bệnh… còn mờ nhạt, chưa xứng với sự đầu tư của Nhà nước. Nếu chủ động gắn mọi hoạt động của mình vào cuộc sống sôi động của đất nước, đề ra các chương trình nghiên cứu có hiệu quả thiết thực chứ không phải nghiên cứu chỉ để thỏa mãn nhu cầu sáng tạo của bản thân, thì tôi tin là không cần nhà khoa học phải đòi hỏi, xã hội và nhà lãnh đạo cũng sẽ quan tâm đến phát triển KHCN.  Ngoài những điều bà vừa nói ở trên, nhiều nhà khoa học còn cho rằng thực trạng yếu kém trong hoạt động khoa học chủ yếu là do chậm đổi mới cơ chế. Bà có đồng tình với ý kiến này không?  Đúng là cơ chế, chính sách về KH&CN còn phải tiếp tục đổi mới nhất là cơ chế tài chính đang làm “khổ”, thậm chí buộc các nhà khoa học phải “nói dối”. Nhưng tôi cho rằng mấy năm gần đây, Bộ KH&CN đã trình Chính phủ ban hành được một số Luật và nhiều Nghị định, chính sách theo hướng tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm và ưu đãi cho các nhà khoa học. Trong đó Nghị định 115 được chính nhiều nhà khoa học cho là “khoán 10” trong khoa học. Nhưng việc tổ chức thực hiện Nghị định này đã diễn ra hết sức chậm chạp ở chính ngay các Trung tâm nghiên cứu lớn như: Viện KH&CN Việt Nam, Viện KHXH Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo… với lý do Nghị định còn nhiều điểm chưa hợp lý. Thực tế khi Luật Doanh nghiệp ra đời đã được các doanh nghiệp hết sức hưởng ứng và họ đã cùng các nhà quản lý tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện, nên đã mang lại hiệu quả to lớn như chúng ta đã thấy. Nếu các tổ chức khoa học, các nhà khoa học cũng có tinh thần như vậy, dám từ bỏ bao cấp, dấn thân vào cuộc sống sôi động của đất nước thì tôi tin rằng Nghị định 115 sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển KHCN.  Xin cảm ơn Bà!  PV thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khen thưởng 30 công trình KH&CN nổi bật      A. Lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn:    1. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (KX.01.01).  2. Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (KX.01.09).  3. Một số vấn đề lý luận về xây dựng Đảng đối với một đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH (KX.03.10).  4. Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới (KX.03.07).  B. Lĩnh vực Khoa học tự nhiên và Khoa học công nghệ:  1. Nghiên cứu, thiết kế chế tạo hệ hiển vi quét đầu dò (SPM) (KC.01.10).  2. Nghiên cứu xây dựng sa bàn điện tử quân sự 3 chiều cấp sư đoàn (KC.01.07).  3. Polyme siêu hấp thụ nước (KC.02.10).  4. Hệ thống giám sát, thu thập dữ liệu và điều khiển (SCADA) đặc thù, diện rộng, hoạt động trong điều kiện và môi trường khắc nghiệt (KC.03.01).  5. Thiết bị tự động đo và cảnh báo khí mêtan dùng cho khai thác hầm lò (KC.03.DA04).  6. Công nghệ Enzym trong chế biến 4 loại nông sản thực phẩm (KC.04.07).  7. Nghiên cứu sản xuất sử dụng 7 loại thuốc sâu sinh học đa chức năng cho một số loại cây trồng bằng kỹ thụât công nghệ sinh học (KC.04.12).  8. Giải pháp và quy trình công nghệ trong nghiên cứu sản xuất 05 chế phẩm Y sinh học đặc thù từ 15 loại tài nguyên động thực vật Việt Nam (KC.04.17).  9. Thiết bị và công nghệ mạ xoa để phục hồi và nâng cao tính chịu mòn cho chi tiết máy (KC.05.21).  10. Máy nghiền đứng kiểu bánh lăn hiệu suất cao ứng dụng trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (KC.05.22).  11. Nghiên cứu, thiết kế hoàn thiện công nghệ chế tạo loạt dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn gia súc dạng bột, dạng viên năng suất từ 2÷15 tấn/giờ điều khiển tự động (KC.05.DA01).  12. Hoàn thiện thiết kế và công nghệ chế tạo hệ thống xilanh thuỷ lực dùng cho thiết bị đóng mở các công trình thuỷ lợi, thủy điện (KC.05.DA12).  13. Công nghệ sản xuất giống và nuôi cá song chấm nâu (KC.06.13. NN).  14. Sản xuất thuốc lá nguyên liệu có năng suất, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu (KC.06.17. NN)  15. Công nghệ nuôi tổng hợp 5 đối tượng hải sản đạt hiệu quả kinh tế cao theo hướng bền vững (KC.06.26. NN).  16. Thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cua xanh loài Scylla serrata var paramamosain (KC.06.DA05. NN).  17. Công trình: Công nghệ sản xuất lốp ô tô radian mành thép (KC.06.DA01.CN).  18. Dây chuyền thiết bị chế biến hạt giống lúa và ngô năng suất 1-2 tấn/giờ (KC.07.05).  19. Phát triển nuôi ốc hương vùng ven biển miền trung (KC.07.DA01).  20. Kết cấu cống lắp ghép bằng cừ bêtông cốt thép dự ứng lực (KC.07.DA03).  21. Đề xuất chính sách và biện pháp cải thiện môi trường cho bảy loại hình làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng (KC.08.09).  22. Công nghệ mô phỏng số phục vụ dự báo, đánh giá 3 phương án phòng chống lũ lụt và hạn chế ảnh hưởng của chúng ở đồng bằng sông Hồng (KC.08.13).  23. Công nghệ tách chiết, phân lập các hợp chất (40) có hoạt tính sinh học cao từ hải sâm, hải miên tạo ra sản phẩm thuốc chữa bệnh (KC.09.15)  24. Cấu trúc và bộ số liệu tính chất cơ lý của san hô và nền san hô phục vụ xây dựng các công trình biển, đảo (KC.09.08).  25. Sản xuất quy mô công nghiệp thuốc mới AMPELOP điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng từ dược liệu chè dây Việt Nam hiệu quả cao (KC.10.DA11).  26. Quy mô và chất lượng sản xuất ASLEM- thuốc tiêm điều hoà miễn dịch duy nhất của Việt Nam (KC.10.DA13).  (Chi tiết về các công trình trên đăng trên Website của Bộ KH&CN: http://www.most.gov.vn/tintuc_sukien/mlnews.2006-12-13.6751257066/view)  Chú thích ảnh: Polymer siêu hấp thụ nước, sản phẩm thuộc chương trình KC.02.10    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi băng ở Greenland tan…      Sử dụng các dữ liệu từ vệ tinh quân sự và thời tiết, Konrad Steffen-ĐH Colorado (Mỹ)-và các cộng sự theo dõi các lớp băng đang ngày càng mỏng đi nhanh chóng.      Băng tại Greenland đang tan với tốc độ kỷ lục trong năm nay, cao nhất kể từ năm 1979 khi các nhà khoa học bắt đầu theo dõi. “Lượng băng tan tương đương với gấp đôi toàn bộ lượng băng trên dãy Alps ở châu Âu, hoặc tương đương một lớp nước sâu hơn 800m bao phủ Washington DC của Mỹ”, nhà khoa học Steffen so sánh. Theo các nhà khoa học tại cuộc gặp Hiệp hội địa vật lý Mỹ, nhiệt độ không khí trên các lớp băng đã tăng khoảng 3,9oC kể từ năm 1991. Nếu băng ở Greenland tan hết, mực nước biển toàn cầu dâng thêm 6,4m.   Khổng Loan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí cầu khổng lồ mang kính thiên văn      Khinh khí cầu này vừa hoàn tất chuyến bay thử nghiệm kéo dài 10 tiếng mang theo kính thiên văn mặt trời lớn nhất thế giới vào bầu khí quyển.      Nhiệm vụ sẽ bắt đầu vào 2009 để chụp ảnh Mặt trời ở dải cực tím, cung cấp các hình ảnh rõ nét gấp 2 lần so với bất kỳ đài quan sát Mặt trời nào trước đây và làm sáng tỏ nguyên nhân gây ra các luồng gió Mặt trời nguy hiểm. Dự án của Mỹ lần này có tên Sunrise được thiết kế để khinh khí cầu đưa chiếc kính thiên văn tia tử ngoại UV có đường kính 1 mét lên độ cao khoảng 37 km.   T.An (Theo NewScientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khỉ có khả năng nhận ra mình trong gương      Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Sinh học Thượng Hải đã phát hiện ra rằng những con khỉ vàng (rhesus monkey) có thể vượt qua bài kiểm tra về khả năng nhận biết bản thân trong gương nếu trước đó chúng được hướng dẫn cách dùng gương.      Sau khi được huấn luyện, con khỉ đã biết dùng gương để kiểm tra các bộ phận trên trên cơ thể. Nguồn: livescience.com  Trong nghiên cứu công bố trên Proceedings of the National Academy of Science, nhóm tác giả đã mô tả cách họ dạy những con khỉ dùng gương và chúng đã hành động như thế nào sau khi biết dùng gương.  Suốt nhiều năm, các nhà nghiên cứu về nhận thức dựa vào thí nghiệm tự nhận biết mình trong gương như một cách để xác định liệu con vật nào đó có khả năng tự nhận thức hay không. Một đốm màu được vẽ lên mặt con vật thí nghiệm, sau đó, nó được cho soi gương – nếu nó nhìn thấy đốm màu trên mặt và chạm vào đó thì nó đã vượt qua bài kiểm tra. Nhưng gần đây, một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này bắt đầu đặt câu hỏi về căn cứ của bài kiểm tra, cho rằng việc không vượt qua được bài kiểm tra cho thấy đơn giản là con vật không hiểu cơ chế hoạt động của gương hơn là nó không có khả năng tự nhận thức. Các nhà nghiên cứu đã tìm cách chứng minh giả thiết trên bằng cách huấn luyện một nhóm các con khỉ vàng đực về cách dùng gương trước khi cho chúng làm bài kiểm tra.  Trong thí nghiệm này, con khỉ được đặt ngồi trước gương. Bút laser chiếu lên tấm bảng sau lưng nó một đốm sáng, có thể nhìn thấy trong gương. Con khỉ sẽ được thưởng mỗi khi nó đặt tay đúng vào đốm sáng trên tấm bảng. Sau đó, khi bút laser chiếu đốm sáng lên mặt con khỉ, nó cũng biết chạm tay vào đó.  Tiếp theo, nhóm nghiên cứu vẽ một đốm màu lên mặt của mỗi con khỉ mà không để chúng biết rồi cho chúng soi gương – kết quả, tất cả những con khỉ này đều nhận thấy đốm màu và chỉ tay vào đó, lau nó và đưa tay lên ngửi. Trong khi những con khỉ tham gia thí nghiệm đều vượt qua bài kiểm tra thì những con khỉ thuộc nhóm đối chứng tiếp tục nhầm mặt của chúng trong gương là mặt của con khỉ khác. Theo nhóm nghiên cứu, điều này cho thấy những con khỉ được huấn luyện có khả năng vượt qua bài kiểm tra tự nhận biết bản thân, và vì vậy chúng có khả năng tự nhận thức. Kết luận của họ được củng cố thêm bằng việc liện tục giám sát những con khỉ đã qua huấn luyện khi chúng ngồi trước gương mà không bị vẽ lên mặt. Chúng đã dùng gương để kiểm tra bộ phận sinh dục, há miệng xem răng hay chải lông. Nhóm nghiên cứu kết luận, điều này cho thấy sau khi được học về cách dùng gương, những con khỉ thực sự tỏ ra chúng nhận thức được về bản thân.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  https://phys.org/news/2017-02-monkeys-taught-mirror-self-awareness.html  http://www.wired.co.uk/article/rhesus-monkey-self-awareness-mirror-test    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi cuộc sống ở thành phố khiến người ta phát ốm      Những người ở thành phố dễ có nguy cơ bị bệnh tâm thần như các chứng trầm cảm và lo âu sợ hãi. Nguyên nhân do đâu?      Ảnh minh họa: scientificamerican  Có một yếu tố có ý nghĩa quyết định, đó là  môi trường sống quá đông đúc, luôn phải vội vã căng thẳng, bẳn gắt. Điều này những người ở thành phố đều biết. Nhưng điều đó ảnh hưởng như thế nào  đến họ? Đây là điều mà nhà tâm thần học Andreas Meyer-Lindenberg, tại Viện Sức khỏe tinh thần Trung ương ở Mannheim  nghiên cứu trên mười năm nay. Sau đây là một cuộc trò chuyện giữa Andreas Meyer-Lindenberg với những người dân ở các thành phố lớn, tường thuật trên tờ Welt.  Thưa giáo sư  Meyer-Lindenberg, tôi sống ở Berlin, điều này có bất lợi cho sức khỏe của tôi  không ?  Andreas Meyer-Lindenberg: Khi người ta nói về bệnh tâm thần, tiếc rằng buộc phải nói: Bất cứ nơi nào ở nước Đức cũng tốt hơn Berlin !  Nhưng ở Mannheim, nơi giáo sư hiện sinh sống và làm việc, thì cũng đâu có hơn gì.  Nhưng chỗ của chúng tôi quy mô nhỏ hơn. Nơi ở càng lớn thì nguy cơ bị bệnh tâm thần càng cao. Điều này là như thế dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nguy cơ bị bệnh trầm cảm và bệnh rối loạn lo âu  của người dân ở các thành phố lớn cao hơn nơi khác tới 40%. Ai sinh ra ở thành phố lớn, cả thời thơ ấu ở đó thì nguy cơ bị bệnh tâm thần phân liệt tăng, thậm chí tới 300%.  Những người cả đời ở nông thôn thì nguy cơ này nhỏ nhất.   Thưa giáo sư vì sao?  Có sự khác biệt trong bộ não. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng, hoạt động của Amygdala – hạch của hạnh nhân trong não của người thành phố tăng vọt khi có sự căng thẳng xã hội so với người ở nông thôn. Amygdala  kiểm soát và điều khiển nỗi lo sợ và tính nóng nảy. Ở bệnh nhân bị trầm cảm và rối loạn lo âu, hoạt động này cũng tăng lên. Có lẽ Amygdala ở người thành phố sẽ trở lại bình thường nếu người đó chuyển về ở nông thôn.  Có nghĩa là về lâu dài não của họ sẽ thay đổi?  Phải, đúng thế. Các bó thần kinh (cingulum) của họ, một phần ở vỏ não trước bị giảm kích thước nhưng hoạt động lại tăng lên. Tình trạng này giữ nguyên cho dù họ có chuyển  về nông thôn để sinh sống. Khi Cingulum hoạt động quá mức thì nguy cơ bị bệnh tâm thần phân liệt tăng lên. Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh hiếm gặp nhưng đây là một loại bệnh nặng, gây nhiều đau buồn. Có một công trình nghiên cứu đã tính toán, có thể giảm nguy cơ mắc căn bệnh này nếu như mọi trẻ em ở Châu Âu được sinh ra ở nông thôn: số bệnh nhân có thể giảm tới 30% và hàng năm tiết kiệm được khoảng 100 tỷ Euro chi phí điều trị.  Ai muốn sinh con thì nên lên kế hoạch chuyển về nông thôn sinh sống?  Thực sự đã có nhiều người làm việc đó, cho dù phần lớn do những nguyên nhân khác. Tôi cũng không khuyến khích làm việc đó. Người thành phố phần lớn có sức khỏe thể chất tốt hơn. Nguyên nhân, nếu nhìn rộng ra cả thế giới, là do thu nhập ở thành phố bình quân cao hơn, dễ tiếp cận giáo dục và các cơ sở y tế. Nếu gần trước khi sinh đẻ mới chuyển về nông thôn thì cũng không giúp ích gì nhiều. Có nhiều dấu hiệu cho thấy hoạt động của Cingulum diễn ra ngay từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ và có sự liên quan đến tình trạng stress ở người mẹ trong thời gian mang thai. Điều đó ảnh hưởng đến sự tương tác của người mẹ với con ngay trong những tháng đầu đời. Có nghĩa là, những người muốn thực sự về nông thôn sinh sống thì nên thực hiện điều này trước khi thụ thai.    GS. Andreas Meyer-Lindenberg tại Viện sức khỏe tinh thần trung ương Đức. Năm 2011 ông đã có công trình chứng minh cuộc sống ở đô thị làm thay đổi bộ não.    Những vấn đề chính ở thành phố là gì? tiếng ồn, mất vệ sinh?   Cả hai đều không tốt cho sức khỏe, nhưng trong nghiên cứu của mình, chúng tôi không phát hiện thấy sự liên quan giữa các yếu tố này với stress trong cư dân thành phố.  Các yếu tố khác thì rõ ràng hơn. Trong đó, một khía cạnh có ý nghĩa quyết định là sự tương tác xã hội – ở các thành phố thường có vấn đề. Mạng lưới xã hội ở các thành phố thường yếu hơn so với ở nông thôn. Trong mạng lưới đó người ta quen biết nhau và sẵn sàng làm gì đó cho vui lòng nhau. Tức là quan hệ trong gia đình, họ hàng, bạn bè và cả láng giềng. Mối liên lạc đó ở thành phố thường kém hơn nhiều. Ở nông thôn đại đa số đều có quan hệ láng giềng, ở thành phố thì ngược lại. Trong khi đó hàng ngày người dân thành phố đối mặt với rất nhiều người nhưng thường là người xa lạ, không quen biết. Do đó hay dẫn tới các cuộc gặp gỡ căng thẳng.   Họ gặp gỡ nhiều người nhưng có cảm giác không hiểu nhau?  Chính xác. Khi ở trong một môi trường mà mình cảm thấy xa lạ và không được những người khác chấp nhận thì mức độ căng thẳng sẽ tăng lên. Do đó những người nhập cư, ngay cả đến thế hệ thứ hai và thứ ba thường có nguy cơ bị bệnh tâm thần khá cao. Chúng tôi đang nghiên cứu tác động của yếu tố này ở những người dân di tản, mới chân ướt chân ráo đến nước Đức, khi mọi thứ với họ đều rất xa lạ. Nguy cơ này cũng có thể xây ra đối với người Đức sinh sống tại một khu vực mà một vì lý do nào đó họ bị xa lạ về tài chính, văn hóa và giáo dục hoặc họ sống ở khu vực rất đông người nước ngoài, luôn nghe tiếng nước ngoài.  Người dân ở thành phố cũng không thể thay đổi gì nhiều về thực trạng này. Dù sao họ vẫn cứ phải đi lại trong thành phố.  Chính xác, vấn đề thậm chí ngày càng nghiêm trọng hơn vì số dân ở các thành phố ngày một đông đúc hơn. Hiện tại một nửa dân số thế giới ở đô thị, đến năm 2050 sẽ có tới hai phần ba dân số thế giới ở các thành phố lớn. Họ không thể trở về vì thế chúng tôi mới phải nghiên cứu tìm cách cải thiện tình trạng ở  các thành phố.  Và sẽ cải thiện như thế nào?  Cho đến nay chúng tôi đã tìm thấy một yếu tố quan trọng: đó là thiên nhiên. Nếu môi trường xung quanh con người càng xanh tươi hơn bao nhiêu thì con người ở đó cảm thấy dễ chịu hơn và điều đó tốt hơn cho sức khỏe tinh thần của họ bấy nhiêu.   Thế thì dân thành phố cũng vẫn bị bất lợi.  Đúng thế, nhưng cái tốt là ở chỗ, ngay cả những thay đổi nhỏ nhất cũng là hữu ích. Không nhất thiết đâu đâu cũng phải xây dựng các công viên rộng  mênh mông. Tại nhiều thành phố hiện đã có nhiều không gian xanh, nhưng cư dân ở đó không nhận ra. Một viện nghiên cứu là đối tác của chúng tôi ở Heidelberg đã phát triển một App, qua ứng dụng này người ta có thể tối ưu hóa quãng đường đi của mình để có thể trải nghiệm thiên nhiên được nhiều nhất. Ngay việc ai đó để trên ban công nhà mình một bồn cây trồng hoa cũng đã giảm được nguy cơ bị bệnh tâm thần.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/gesundheit/psychologie/plus172926660/Depressionen-Angst-Schizophrenie-Wenn-die-Stadt-einen-krank-macht.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi đất đá trở mình      Lũ lụt, sạt lở… – những lời nhắc nhở nghiêm khắc từ thiên nhiên sẽ còn là điệp khúc trong những năm tới nếu con người không điều chỉnh những hành xử bất nhã với môi trường và không có giải pháp phát triển bền vững lâu dài.    1. Những ngày cuối năm, núi Gò Chợ (Phú Ninh – Quảng Nam) xuất hiện nhiều vết nứt lớn đe dọa mạng sống của 24 hộ dân sống ở thôn Bồng Miêu dưới chân núi. Người ta nhìn sâu vào những vết nứt xé lòng núi và thấy những lạch nước ngầm vẫn âm ỉ chảy dù mùa lũ đã đi qua.  Cũng những ngày cuối năm, một vụ sạt lở núi tại Bản Hồ – Lào Cai đã vùi lấp nhà máy thủy điện Sử Pán 2 thuộc công ty thủy điện Sông Đà – Hoàng Liên, gây thiệt hại nghiêm trọng. Người ta truy tìm nguyên nhân và nghi ngờ rằng, sự cố xảy ra vì gần đó, có dự án thủy điện Nậm Toóng đang nổ mìn thi công, gây chấn động mạnh.  Một năm, những thông tin về hiểm họa bùn đỏ từ Hungary đã xới lại những phản biện trong dư luận trí thức trước các dự án khai thác bauxite tại Việt Nam. Trận lũ bùn ở Nà Lũng – Cao Bằng là một lời cảnh báo gần. Tiếp đó, thiệt hại hàng trăm mạng người trên dải đất miền Trung vì những cơn lũ dữ, đột ngột mà nguyên nhân chính được xác định là do các đập thủy điện nhỏ và vừa ở thượng nguồn xả lũ.  Một năm chằng chịt tai ương đã vẽ ra cho chúng ta những cận cảnh mất mát và bất an. Điều đáng nói là những cận cảnh ấy sẽ là viễn cảnh tương lai, khi mà những câu hỏi lớn về hành xử với môi trường chưa có lời giải thật sự thích đáng. Những lời nhắc nhở nghiêm khắc từ thiên nhiên, những thiệt hại sẽ là điệp khúc trong những năm tới nếu con người chưa điều chỉnh được những hành xử bất nhã với môi trường, chưa có được giải pháp phát triển bền vững lâu dài.  2. Lang thang cuối năm ở vùng Đông Bắc, có lẽ ám ảnh nhất với tôi đó là chuyến hành trình xuôi dòng sông Gâm từ Bắc Mê sang Na Hang thuộc tỉnh Tuyên Quang. Một dòng sông đẹp đến mê hồn với hai bên là vách núi đá vôi dựng như phóng khoáng vung tạc những đường nét hùng vĩ vào trời xanh.   Thế rồi, trong cái quang cảnh thơ mộng, giữa lúc cái tâm trạng thơ thới trên sóng nước yên bình đó, tôi bất giác bị chao đảo bởi thuyền trôi vào một khúc sông có nhiều cây cổ thụ trơ cành vạu vọ như những cánh tay xương vươn lên từ mặt nước vừa như oán hờn, vừa như        … Những ruộng vườn làng mạc bị san phẳng, những đợt lũ gỗ cuồn cuộn hung hãn… sẽ không còn diễn ra trên màn hình tivi gợi lòng xót thương của những thị dân mà có thể là hiểm họa trực tiếp đe dọa đời sống những đô thị kiêu hãnh tăng trưởng trong tương lai gần.         thách thức. Hàng ngàn cây cành như thế quằn quại soi vẻ đẹp bi thảm lên nền sương hư ảo của làn nước tĩnh lặng buổi sớm khiến tôi hình dung đến những scene đầy chất huyền ảo về một miền địa đàng khánh kiệt, đầy ám chướng, hoang mang chết chóc trong các chương cuối bộ phim Antichrist của Lars Von Trier – đạo diễn người Đan Mạch gây nhiều tranh cãi. Một khung cảnh địa đàng trần thế đã mất với những biểu tượng môi sinh đầy dọa nạt, tàn khốc khiến con người bị ném vào trạng thái đày ải, nghi hoặc, bất an, thoái hóa và giết chóc lẫn nhau. Một khung cảnh có sức cảnh báo văn minh tăng trưởng và phương tiện trong các thước phim rùng rợn kia đang mở ra thực sự trước mắt tôi đây chỉ sau vài giờ đắm chìm trong sự thỏa mãn bay bổng của chuyến viễn du.  Người dẫn đường nói với tôi rằng, ngày trước, đây là một thung lũng. Việc chặn đập Na Hang đã nhấn chìm toàn bộ những cánh rừng trong thung lũng này và những nhánh cây cổ thụ hoang dại đang chết trơ xương kia cứ qua một mùa lũ lại đột ngột nổi lên trên mặt nước phô bày những hình thù quái dị như vậy. Trong những ngày sương mù phủ kín dòng sông, nhìn những bộ xương cây cổ thụ hiện ra lừng lững trên mặt nước, có du khách đã mất hồn thốt lên thất thanh: “Ma! Ma cây!”  Với hàng trăm dự án thủy điện được ký duyệt và thi công hằng năm, sẽ còn biết bao nhiêu cánh rừng cổ thụ chịu ngâm thân mục rữa trong nước, chết đứng, làm “ma cây”, vươn ngàn cánh tay xương giữa âm u trời đất đủ gieo vào lòng những viễn khách vô tâm nhất những xúc cảm bất an.   Với hàng trăm đập thủy điện vận hành và xả lũ đồng loạt nhân danh mục tiêu năng lượng và tăng trưởng thì, những ruộng vườn làng mạc bị san phẳng, những đợt lũ gỗ cuồn cuộn hung hãn tưởng chỉ có thể có trong thủ pháp văn chương hiện thực huyền ảo của G.G.Marquez sẽ không còn diễn ra trên màn hình tivi gợi lòng xót thương của những thị dân mà có thể là hiểm họa trực tiếp đe dọa đời sống những đô thị kiêu hãnh tăng trưởng trong tương lai gần.  Thuyền xuôi về đập thủy điện Na Hang, tôi gặp những chuyến xe xuôi ngược vớt gỗ, chở gỗ nhộn nhịp như một công trường đang mùa khai thác. Tôi cũng được giới thiệu một nhà hàng nằm gần đó, làm toàn bộ bằng gỗ quý, có hàng trăm hũ rượu ngâm bằng các loại thú rừng quý hiếm. Hàng trăm đôi mắt thú rừng đang từ trong những bình rượu đang soi vào bữa ăn vội vàng của khách lạ như trách móc, như bật ra những lời oán thán xé lòng.          Khai thác trục vớt gỗ trên hồ thủy điện Na Hang          Chúng tôi rời Na Hang để theo sông Gâm, Sông Năng sang Ba Bể. Không còn xúc cảm thơ thới lãng mạn. Biết bao thông điệp từ đất, từ cây vẫn hiện lên trên mặt nước rồi đi vào giấc ngủ lữ khách như một nỗi ám ảnh tàn khốc.   3. Sự tệ bạc trong hành xử với môi sinh vì những mục tiêu tăng trưởng vội vã trước mắt đang đẩy chúng ta đến một bờ vực cuộc sống bủa vây bởi nỗi bất an.   Trong lặng thầm, trong ôn tồn, đất đang gửi đến cuộc sống con người những thông điệp, những lời nhắc nhở hay những cú cựa mình đánh thức. Trở về các sự cố sụt lở đất trong những ngày cuối năm, tôi sực nhớ đến một câu thành ngữ của người Việt: “lành như đất”, và tôi tự hỏi, chúng ta đã làm gì để đến nỗi, mặt đất, điểm tựa cơ bản dưới chân mình cũng không còn có thể “lành” nữa?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi DNA cổ đại bị chính trị hóa      Những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã chứng kiến một số phát hiện DNA thời cổ đại bị hiểu sai, hoặc cố tình bị đưa thông tin sai lệch để phục vụ mục đích chính trị hoặc gây ra những tranh luận về chủng tộc và sắc tộc.         Hài cốt được tìm thấy tại khu nghĩa trang Philistines ở Ashkelon, Israel. Ảnh: Melissa Aja.  Đầu tháng 7/2019, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, hoặc ai đó trong Chính phủ chịu tránh nhiệm quản lý tài khoản Twitter của ông, đã đăng tải thông tin trên mạng xã hội này về một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science Advances. Nghiên cứu đã phân tích DNA từ hài cốt của 10 người được chôn tại Ashkelon, một thành phố ven biển ở Israel, có niên đại giữa thời kỳ đồ đồng và đồ sắt. Kết quả cho thấy đặc điểm di truyền của bốn trong số các cá thể trùng khớp với những thay đổi trong hồ sơ khảo cổ học liên quan đến sự xuất hiện của người Philitines tại Israel hơn 3.000 năm trước đây. Cụ thể, đặc điểm di truyền nói trên có sự tương đồng với những người cổ đại sống ở khu vực là Hy Lạp, Ý và Tây Ban Nha ngày nay. Nhóm nghiên cứu kết luận, phát hiện mới ủng hộ ý kiến cho rằng người Philitines – một nhóm người nổi tiếng được ghi chép trong Kinh Thánh Hebrew là kẻ thù của người Do Thái – ban đầu di cư đến Levant [khu vực rộng lớn ở phía Đông Địa Trung Hải] từ một nơi nào đó ở miền Nam châu Âu, nhưng nhanh chóng trộn lẫn với cư dân địa phương.  Bình luận về nghiên cứu này, Thủ tướng Benjamin Netanyahu viết rằng: “Không có mối liên hệ nào giữa người Philitines cổ đại và người Palestine hiện đại – những người mà tổ tiên có nguồn gốc từ Bán đảo Ả Rập đã đến Vùng đất Israel hàng nghìn năm sau. Mối liên hệ giữa người Palestine với Vùng đất Israel không là gì so với mối liên hệ 4.000 năm của người Do Thái đối với vùng đất này”. Chỉ với vài dòng đăng trên Twitter, mười bộ xương cổ đại đã trở thành những con tốt về địa chính trị.  Logic ở trên đối với những người đã đọc nghiên cứu khá khó hiểu. Bởi vì nghiên cứu mới không nói gì về lịch sử di truyền của người Do Thái và người Palestine, hoặc sự kết nối của những cư dân hiện đại này với Israel.  “Thật khó để đổ lỗi cho các tác giả, bởi vì cách diễn giải của Thủ tướng Benjamin Netanyahu không nhất quán, đột nhiên rời xa chủ đề của nghiên cứu nhằm mục đích chế giễu người Palestine”, Michael Press, một học giả chuyên thu thập các bằng chứng khảo cổ ở Israel và các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Palestine, nhận định.  Trên thực tế, một số nghiên cứu trước đây đã chứng minh người Do Thái và người Palestine có liên quan chặt chẽ về mặt di truyền. Tom Booth, nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm gene cổ đại của Viện Francis Crick (Anh), tỏ ra không đồng tình với những điều Thủ tướng Israel đã viết. Nhưng Booth cho biết, giả sử ở trong một hoàn cảnh khác, khi mà lý lẽ của ngài Thủ tướng nghe có vẻ khoa học, ông ấy có thể sử dụng những nghiên cứu tương tự để hỗ trợ cho những tuyên bố liên quan đến chủ quyền của người Palestine. “Bạn chỉ cần lên án bất kỳ nỗ lực nào sử dụng một nghiên cứu trong quá khứ theo cách này”, Booth nói.  Vụ việc này đã làm lộ ra những căng thẳng gần đây trong lĩnh vực khảo cổ học, kể từ khi các nghiên cứu DNA cổ đại bắt đầu thu hút sự chú ý của công chúng khoảng một thập kỷ trước. Những tiến bộ công nghệ đã giúp giới khoa học tách chiết và phân tích DNA từ xương, răng,…của các bộ hài cốt thời cổ đại, và họ đã đưa ra nhiều kết luận không thể kiểm chứng một cách chắc chắn. Ví dụ: người hiện đại và người Neanderthal từng hoà huyết với nhau; các quần thể người cổ đại ở châu Phi di cư và bị lai giống nhiều hơn so với suy nghĩ trước đây; tổ tiên của những người đầu tiên đặt chân đến Bắc Mỹ có thể đã phải tạm dừng 10.000 năm trên tuyến đường di cư của họ ở vùng đất hiện nay bị nhấn chìm dưới biển giữa Siberia và Alaska…“Chúng ta có khả năng hiểu nhầm những gì đang xảy ra trong hồ sơ khảo cổ học”, Booth nói.  Trong vài năm gần đây, các nhà khảo cổ học và các nhà di truyền học đã chứng kiến những phát hiện DNA cổ xưa bị hiểu sai, đôi khi là kết quả của sự đơn giản hóa hoặc để phục vụ những tranh luận ác ý về chủng tộc và sắc tộc. Đầu năm 2019, Booth và các đồng nghiệp công bố một nghiên cứu cho thấy những người nông dân đầu tiên của Anh có tổ tiên đến từ vùng Aegean, nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp ngày nay. Một số tờ báo lá cải đã cải biến câu chuyện này thành nội dung có vẻ gần gũi hơn với người đọc: “Hậu duệ của người di cư Thổ Nhĩ Kỳ đã xây dựng Bãi đá cổ Stonehenge ở Anh”. Một nghiên cứu khác công bố trên tạp chí Nature năm 2017 cho thấy sự tương đồng giữa DNA của người Hy Lạp hiện đại và những người cổ đại được chôn cất tại các khu định cư của người Mycenaean và Minoan. Họ kết luận rằng người Hy Lạp hiện đại thực sự là hậu duệ của người Mycenaean giống những gì được ghi chép trong các câu truyện thần thoại. Một số người Hy Lạp theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan tuyên bố rằng “tính liên tục về chủng tộc của người Hy Lạp trong thời gian 4.000 năm đã được chứng minh.”  Susanne Hakenbeck, nhà khảo cổ học tại Đại học Cambridge (Anh), tin rằng các nhà di truyền học [dù vô tình hay hữu ý] đã góp phần tạo ra những cuộc tranh luận về chủng tộc bằng cách khơi dậy ý tưởng cũ về các cuộc xâm lược và truyền bá văn hóa mà nhiều nhà khảo cổ học đưa ra trong thập niên 1960. Khi đề cập đến tiến trình lịch sử của con người, các nhà khảo cổ học có thâm niên có xu hướng nghĩ về các nền văn hóa khác nhau như những thực thể bị ràng buộc rõ ràng. Nếu họ nhận thấy sự thay đổi xảy ra trong các loại đồ gốm hoặc đồ tạo tác khác tại một địa điểm khảo cổ, họ thường nghĩ rằng đó là bằng chứng của một cuộc xâm lược. Ngược lại, các thế hệ nhà khảo cổ học trẻ hơn có xu hướng hướng ủng hộ cách giải thích liên quan đến phát minh, sáng chế của người dân tại địa phương và sự truyền bá các ý tưởng sang khu vực lân cận.  Điều đáng lo ngại là một số nhà nghiên cứu di truyền học có thể bóp méo dữ liệu khảo cổ nhằm đưa ra các kết luận phục vụ mục đích chính trị. “Những người xấu có thể dựa vào những quan điểm này để truyền bá các tư tưởng sai lệch và chủ nghĩa dân tộc cực đoan”, Booth cho biết.  Để hạn chế rủi ro, các nhà nghiên cứu di truyền cần phải cẩn thận hơn về ngôn từ mà họ sử dụng khi viết về các khám phá mới, đặc biệt là những nội dung nói về chủng tộc và văn hóa. Hoặc ít nhất họ cũng phải chủ động đối phó với những lời lẽ xuyên tạc về công trình nghiên cứu của mình. Các nhà khảo cổ và các nhà di truyền học cần hợp tác với nhau để đưa ra những diễn giải và trình bày tốt hơn về những kết quả liên quan đến DNA cổ đại.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/khi-dna-co-dai-bi-chinh-tri-hoa/20190905104245158p1c879.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi doanh nghiệp chưa sẵn sàng đầu tư cho KH&CN      Khi doanh nghiệp chưa thực sự sẵn sàng đầu tư cho KH&CN thì chính sách của nhà nước được coi là biện pháp để kích hoạt quá trình đó. Nhưng làm gì để các chính sách này thực sự phát huy hiệu quả?    Thông tư 05/2022/TT-BKHCN hướng dẫn sử dụng quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp ban hành vào ngày 31/5 chỉ là một trong số những chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN do Bộ KH&CN ban hành.    Tuy nhiên, trên thực tế, những cách hiểu khác nhau và những cách tiếp cận khác nhau trước đây đã khiến những khuyến khích này không thực sự hiệu quả, đặc biệt là các thông tư hướng dẫn trích lập quỹ KH&CN ở doanh nghiệp ra đời trước năm 2022.          Vậy đâu là cách làm đúng và hiệu quả để khơi thông nguồn lực đầu tư cho KH&CN vẫn còn tản mát trong khối doanh nghiệp, cả nhà nước lẫn tư nhân? Đây có thể vẫn là một trong những vấn đề quan trọng trong thời gian tới của các nhà quản lý khoa học, khi mong muốn làn sóng đầu tư vào KH&CN, ĐMST lan rộng khắp mọi miền, dù từ năm 2019, Bộ KH&CN đã nhận ra “muốn tăng đầu tư cho nghiên cứu phát triển KH&CN, động lực chính của phải từ doanh nghiệp và phải giải quyết nhu cầu của doanh nghiệp” như chia sẻ của Thứ trưởng Lê Xuân Định, khi còn là Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính.    Chỉ cần chính sách khuyến khích là đủ?    Nếu việc khuyến khích lập quỹ phát triển KH&CN là chính sách tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư vào KH&CN ở các doanh nghiệp thì một loạt chính sách thông qua các chương trình lớn nhỏ khác nhau của Bộ KH&CN cũng hướng họ đến mục tiêu đó. Đáng chú ý có Chương trình phát triển sản phẩm KH&CN quốc gia, Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao. Những khuôn khổ này được hinh thành để tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm mới, chất lượng cao, tiếp nhận công nghệ mới với sự hỗ trợ của các nhà khoa học trong viện, trường.    Bên cạnh đó, cũng có nhiều chương trình phụ trợ khác như các chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia để tạo bước đà cho doanh nghiệp thông qua các dự án sản xuất thử nghiệm, chương trình phát triển thị trường KH&CN quốc gia nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hoặc dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu KH&CN (dự án FIRST) để hình thành mối quan hệ hợp tác liên doanh tư nhân – trường, viện thông qua sử dụng ngân sách nhà nước… Trong cuộc họp tổng kết hoạt động Khối Ban và Quỹ năm 2019, ông Lương Văn Thắng, người phụ trách dự án FIRST, cho rằng với chương trình này, “lần đầu tiên, Bộ KH&CN cho phép thí điểm tài trợ hình thức khác cho doanh nghiệp, ở đây là doanh nghiệp tư nhân”.    Vậy ngần ấy đã quá đủ để doanh nghiệp có thể tự tin nâng cao năng lực của mình và có được những sản phẩm cạnh tranh trên chính thị trường nội, vốn đã “quốc tế hóa” kể từ khi Việt Nam mở cửa chào đón các doanh nghiệp quốc tế và khi hàng loạt hiệp định thương mại chính thức có hiệu lực?    Trên thực tế, đường đến mục tiêu đó còn rất dài bởi không phải mọi đòn bẩy chính sách đều đạt hiệu quả như mong đợi do khi đi vào thực tiễn, có rất nhiều vấn đề xuất hiện khiến việc triển khai chính sách gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.    Điểm khó đầu tiên, như đã nói ở các kỳ trước, đó là cách tiếp cận chưa thực sự đổi mới, mặc dù đề ra mục tiêu rất “cách mạng” là tạo điều kiện cho doanh nghiệp trích doanh thu lập quỹ KH&CN để đầu tư cho đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực… Điều này dẫn đến việc thực thi các nội dung đã được quy định đều gặp bế tắc, điển hình là việc quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp không chỉ không vận hành được một cách thông đồng bén giọt mà còn không thể tiêu được tiền. Vào năm 2019, ông Lê Xuân Định đã nhận xét trong một cuộc họp bàn về tái cơ cấu các chương trình KH&CN quốc gia “Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân trích lập quỹ phát triển KH&CN doanh nghiệp nhưng việc sử dụng quỹ gặp rất nhiều khó khăn”. Theo lý giải của ông, nguyên nhân chính dẫn đến rào cản là “Trước đây, khi chúng ta thiết kế quỹ phát triển KH&CN doanh nghiệp, chúng ta coi doanh nghiệp như viện, trường và áp dụng cách tiếp cận lấy các viện, trường làm trung tâm. Vì vậy, quy định hướng đến việc dùng tiền ấy vào thực hiện các đề tài nghiên cứu chứ không phải dùng tiền ấy để cho doanh nghiệp phục vụ nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong khi chính doanh nghiệp là trung tâm cho việc sử dụng quỹ này”.    Đó là lý do để Thông tư 05/2022/TT-BKHCN ra đời với hy vọng thực sự tháo điểm nghẽn trong việc quản lý và sử dụng quỹ KH&CN trong doanh nghiệp sẽ đưa chính sách này đi đúng đường ray “lấy doanh nghiệp làm trung tâm”.    Điểm khó thứ hai, đó là sự mắc kẹt giữa những cách tiếp cận cũ và mới trong quản lý tài chính dành cho KH&CN. Mặc dù Bộ KH&CN đã thí điểm việc tài trợ bằng tiền ngân sách cho doanh nghiệp tư nhân triển khai hoạt động đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua dự án FIRST nhưng đối với một số dự án sản xuất thử nghiệm có doanh nghiệp tham gia, vấn đề xử lý tài sản hình thành sau dự án lại không dễ thực hiện. Bởi kể từ khi Nghị định 70/2018/NĐ-CP về việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước có hiệu lực và chính thức được áp dụng thì xảy ra một số vướng mắc. Là một văn bản pháp luật có quy định về tài sản hình thành từ các nhiệm vụ sử dụng dưới 30% kinh phí từ ngân sách được chuyển giao không bồi hoàn cho tổ chức chủ trì (doanh nghiệp, tổ chức KH&CN hay nhà nghiên cứu) song Nghị định 70 lại ẩn chứa điểm khó, ví dụ như nhà khoa học, viện nghiên cứu khó chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp tư nhân kết quả hình thành từ việc thực hiện đề tài. Trong một cuộc họp giữa Bộ KH&CN và Bộ NN&PTNT vào tháng 7/2020, đại diện của Viện KH Nông nghiệp Việt Nam và Viện Khoa học Thủy lợi đều cho rằng rất khó áp dụng. “Nếu kết quả nghiên cứu được bàn giao cho đơn vị công lập thì rất dễ dàng, không có vấn đề gì. Nhưng nếu phối hợp với doanh nghiệp để triển khai đề tài hoặc chuyển giao cho doanh nghiệp thì các đơn vị phải định giá, tính toán được phí trích nộp, mức độ tham gia của doanh nghiệp… cực kỳ phức tạp”, GS. Trần Đình Hòa, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi, phản ánh.    Điểm khó thứ ba là sự tồn tại của tình trạng “nước chảy chỗ trũng” đối với đối tượng thụ hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đổi mới công nghệ và ĐMST. Mặc dù hơn 95% số doanh nghiệp ở Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ nhưng phần lớn các hỗ trợ chính sách lại rơi vào những doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp có tiềm lực.    Dù đo lường độ xác thực này không phải là nội dung chính của Tiểu dự án 1(b) “Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KH&CN và đổi mới sáng tạo” (Hợp phần 1 “Hỗ trợ cơ sở để hoạch định chính sách và thí điểm chính sách KH&CN” – Dự án FIRST) nhưng kết quả khảo sát, điều tra 8.000 doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài nhà nước ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở quy mô lớn, vừa và nhỏ cũng phản ánh điều đó. Trong buổi công bố kết quả nghiên cứu vào tháng 9/2018, TS. Hồ Ngọc Luật, chuyên gia tư vấn dự án, đã đưa ra nhận xét “Hiện nay đang có một nghịch lý là doanh nghiệp càng lớn thì càng nhận được nhiều hỗ trợ, trong khi đó mục tiêu chính sách của ta là khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, theo phản ánh của doanh nghiệp được khảo sát là chưa được tiếp cận với các hình thức hỗ trợ; các hình thức hỗ trợ không liên quan đến nhu cầu của doanh nghiệp; doanh nghiệp không biết đến các đầu mối kết nối với hỗ trợ; quy trình xét duyệt hỗ trợ rất phức tạp.    Mặt khác, do tinh thần không chấp nhận rủi ro trong hỗ trợ, tài trợ hoặc ngần ngại doanh nghiệp “trục lợi” chính sách nên khi thực hiện các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thường các cuộc sàng lọc hồ sơ đề xuất vẫn chỉ chọn ra những doanh nghiệp sẵn có năng lực và trong quá khứ đã chứng minh được thành công. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên Báo điện tử Chính phủ vào tháng 7/2021, Thứ trưởng Lê Xuân Định cũng lý giải, “vẫn còn hạn chế trong nhận thức của các cơ quan quản lý về chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho ứng dụng, cải tiến và đổi mới công nghệ”.    Làm gì để lan tỏa chính sách?    Những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực thi chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ cho thấy việc áp dụng những chính sách mới, dù đúng với quy luật phát triển và chứng minh được tính đúng đắn ở nhiều nền kinh tế, bao giờ cũng gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Chính những rào cản này khiến hiệu quả của chính sách chưa được phát huy như kỳ vọng và độ lan tỏa của chính sách còn bị giới hạn. Đó là lý do, trên thực tế thì tỷ lệ các doanh nghiệp được hưởng các chính sách về tín dụng hay chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ chỉ đạt từ 10% đến 17%; tỷ lệ các doanh nghiệp được hỗ trợ tư vấn kỹ thuật hay thực hiện nhiệm vụ KH&CN chỉ 3% đến 6%, theo kết quả điều tra khảo sát của Tiểu dự án 1(b) “Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KH&CN và đổi mới sáng tạo” (Dự án FIRST).    Trước câu hỏi “làm gì để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN một cách thực sự”?, có lẽ nên xuất phát từ ba điểm hạn chế, ngăn cản hiệu quả của chính sách trên đường đến với doanh nghiệp. Không dễ để Bộ KH&CN đơn thương độc mã giải quyết trọn vẹn mọi vấn đề, bởi những điểm hạn chế đó liên quan đến rất nhiều bộ, ngành khác. Trong trả lời phỏng vấn Báo điện tử Chính phủ, Thứ trưởng Lê Xuân Định cũng nhìn nhận nguyên nhân sâu xa hơn của vấn đề, đó là “Một số cơ chế ưu đãi thuế cho đầu tư đổi mới công nghệ còn khó thực thi do chưa có sự đồng bộ trong các quy định pháp luật. Chính sách về mua sắm công chưa tạo động lực khuyến khích cho việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ là kết quả của hoạt động đổi mới, phát triển công nghệ của doanh nghiệp trong nước; còn thiếu các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp đưa sản phẩm là kết quả của nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ tiếp cận được với các thị trường tiềm năng”.    Việc đạt đến sự đồng bộ và hài hòa về giữa các văn bản quy định pháp luật đòi hỏi thời gian và sự vào cuộc của rất nhiều bộ, ngành. Hơn ai hết, các doanh nghiệp như những thực thể tồn tại và phát triển trong một hệ sinh thái được vận hành theo nguyên tắc do các văn bản này đề ra. “Bao giờ doanh nghiệp cũng có thể tìm ra cách tốt nhất để làm”, như nhận xét của ông Lê Tiến Trường (Tổng Giám đốc Vinatex) tại tại hội thảo báo báo kết quả nghiên cứu “Nghiên cứu, đánh giá tác động của cuộc CMCN lần thứ 4 đối với ngành Dệt may Việt Nam nhằm đề xuất định hướng chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển trong giai đoạn 2019-2030” (KC4.0), nhưng doanh nghiệp cũng cần sự dẫn đường của chính sách. Theo nghiên cứu này, các doanh nghiệp dệt may đã sẵn sàng đổi mới để đầu tư công nghệ 4.0, thậm chí có doanh nghiệp ngành sợi đã tự mua sắm trang thiết bị và vận hành nhà máy theo phương thức thông minh. Ông Lê Tiến Trường cho rằng doanh nghiệp “không xin thêm tiền đầu tư nhưng vẫn cần chính phủ giải quyết một số vấn đề cốt lõi” về đổi mới công nghệ, ví dụ nếu đầu tư cho công nghệ 4.0, đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng thì có được sử dụng lợi nhuận trước thuế không, có được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp không? Mặt khác, nếu nhà nước khuyến khích công nghệ “made in Vietnam”, khuyến khích hợp tác với trường, viện hoặc doanh nghiệp trong nước để đổi mới công nghệ thì các doanh nghiệp có tạo điều kiện để các mối hợp tác chuyển giao này diễn ra ổn thỏa không? Doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể hợp tác để nội địa hóa sản phẩm, kết hợp thành chuỗi giá trị hoặc đặt hàng nghiên cứu tạo ra sản phẩm dành riêng cho mình… nhưng ông Lê Tiến Trường dự đoán có một số trường hợp có thể xảy ra: doanh nghiệp sẽ đặt hàng không qua đấu thầu, doanh nghiệp có thể mua sản phẩm giá cao vì sản phẩm đầu tiên có thể đắt. “Nếu không giải quyết được vấn đề này thì vấn đề liên kết chuỗi, nội địa hóa chắc chắn chỉ tồn tại trên giấy, không bao giờ thành hiện thực”, ông nói.    Giữa muôn hình vạn trạng tình huống, vấn đề có thể xảy ra trên thực tế, có bao giờ chính sách có thể bao quát đủ. Giống như những tuyến đường giao thông, ngoài trục đường huyết mạch xương sống cũng rất cần các đường nhánh phụ trợ để góp phần quy tụ, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN cần được bồi đắp bởi nhiều thông tư, văn bản hướng dẫn, chương trình…    Tuy nhiên trong bối cảnh chưa thật tối ưu ấy, vẫn có những doanh nghiệp đã tự tìm cho mình cách làm và đầu tư vào KH&CN như một phương thức để tồn tại và phát triển. Vậy họ đã làm như thế nào và kinh nghiệm của họ là gì? Chúng ta hãy chờ xem!      Nhàn Vũ    Author                .        
__label__tiasang Khi dữ liệu lên tiếng      Vào một ngày tháng 12 ở Lahore, thành phố lớn thứ hai Pakistan, khói mù như xóa nhòa cả các tòa cao ốc. Chiếc xe máy chở gia đình Nadim dường như đột ngột xuyên qua lớp sương mù đặc quánh tới thẳng bệnh viện.      Một con đường bụi mù ở Lahore, Pakistan. Nguồn: AP  “Tôi không thở nổi”, Mohammad Nadim, 34 tuổi nói. Anh chỉ vợ mình Sonia, “vợ tôi cũng không thể thở được”. Chị giúp đứa con ba tuổi Aisha dịu cơn ho. “Chúng tôi đến bệnh viện vì con”.  Ô nhiễm không khí là vấn đề y tế công cộng lớn trên khắp đất nước Pakistan, nơi ước tính có khoảng 128.000 người chết mỗi năm vì những bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí, theo Liên minh Y tế và ô nhiễm toàn cầu.  Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng chính phủ quốc gia này đã làm giảm mức độ trầm trọng của ô nhiễm không khí trong nhiều năm bằng việc tạo ra dữ liệu không đáng tin cậy. Thậm chí, Ủy ban bảo vệ môi trường Punjab (Lahore là thủ phủ của Punjab), nơi trong vòng nhiều tuần còn không cập nhật mức chất lượng không khí trên trang web của mình (https://epd.punjab.gov.pk/aqi), đưa ra mức chỉ số 166 – mức các hạt bụi mịn trong không khí mà theo khuyến cáo của Ủy ban Môi trường Mỹ là “có hại cho sức khỏe” nhưng vẫn được chính phủ Pakistan coi là “vừa phải”.   Trước tình thế này, một làn sóng của các nhà hoạt động vì không khí sạch nổi lên, bao gồm nhóm “Scary Moms” (Những người mẹ sợ hãi) gồm các luật sư môi trường, doanh nhân công nghệ và thậm chí là nhân viên sứ quán nước ngoài – sử dụng các nguồn dữ liệu ô nhiễm mới để gây áp lực buộc chính phủ phải hành động. Và nó cũng có hiệu quả – chính phủ đã thiết lập một loạt chính sách mới nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng không khí.  Làn sóng này bắt đầu với hành động của kỹ sư Pakistan Abid Omar, người bắt đầu từ năm 2017 có sáng kiến thu thập dữ liệu đóng góp từ cộng đồng với những thiết bị giám sát chất lượng không khí gia đình và đưa thông tin lên mạng xã hội Twitter. Từng sống ở Bắc Kinh, Omar cho biết anh học hỏi cách các công dân Trung Quốc giúp chính phủ nước này giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí.  “Chúng tôi đã sử dụng dữ liệu từ mạng lưới để lan tỏa thông điệp về tình trạng ô nhiễm không khí, vốn chỉ được biết cho đến khi có được các thiết bị giám sát”, Omar nói. “Đây chỉ là một hành động hết sức đơn giản nhưng mang lại tác động rất lớn”.   Sáng kiến của Omar đã được các tổ chức nước ngoài ủng hộ, ví dụ như các thiết bị giám sát được lắp đặt tại Đại sứ quán Mĩ tại Islamabad và nhận được cố vấn từ những công dân Mĩ đang sống tại Pakistan để có thể truy cập vào dữ liệu ô nhiễm không khí. Những thông tin đó đã được thông báo lập tức trên Twitter và về tổng thể, liên kết với nguồn dữ liệu cộng đồng.  “Lần đầu tiên, người dân có được số liệu và nhận ra tình trạng ô nhiễm tệ như thế nào”, Rafay Alam, một luật sư môi trường nói và dẫn ra dữ liệu chia sẻ từ sáng kiến của Omar. “Và chúng tôi không hề ngạc nhiên là Lahore đứng ở hàng top danh sách những thành phố ô nhiễm bậc nhất thế giới”.   Những dữ liệu này do AirVisual, một dịch vụ giám sát chất lượng không khí trực tuyến cộng đồng, so sánh các quốc gia trên thế giới. Vào cùng ngày gia đình Nadim đến bệnh viện, chính quyền Punjab cam kết với các cư dân là chất lượng không khí ở mức “vừa phải” trong khi dữ liệu thu thập từ cộng đồng của AirVisual nói là “nguy hiểm”.  Chất lượng không khí của Lahore đã tồi tệ trong cả thập kỷ qua do 70% số cây bị chặt bỏ để phục vụ giao thông. Các loại xe cộ vẫn thải ra khí sulphur ở mức cao, đóng góp 40% vào tình trạng ô nhiễm không khí ở Lahore và vùng lân cận của Punjab, theo một báo cáo năm 2019 của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc.  Các khu công nghiệp mọc lên như nấm quanh Lahore, bao gồm cả những nơi đốt cả lốp xe để cung cấp điện cho công xưởng, đóng góp vào khoảng 25% ô nhiễm. Nông dân đốt rơm rạ theo mùa gặt cũng như hàng trăm lò gạch ở ngoại ô thành phố đã làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm.  Alam cho biết, kết nối với những nguồn dữ liệu mới, các luật sư như Alam đã mang ra bằng chứng tới Tòa án tối cao Lahore với yêu cầu về một bầu không khí sạch và cáo buộc chính quyền không thông báo về tình trạng ô nhiễm không khí.   Và đây là lúc “Scary Moms” hành động.  Ayesha Nasir dẫn dắt một mạng lưới các bà mẹ ở Lahore với hi vọng làm tăng nhận thức về việc giữ cho con trẻ an toàn khỏi khói mù và giảm thiểu ô nhiễm bằng việc thuyết phục cha mẹ không nên đưa đón con mà hãy đưa chúng lên xe buýt trường học.  Nasir đã tham gia vào nhóm vận động vì cô đã không thể bảo vệ được cả bốn đứa con mình khỏi ô nhiễm không khí: chúng vẫn bị ho, choáng váng, đau mắt và đau đầu cùng những chứng tương tự. Cô ủng hộ xe buýt vì ”43% nguyên nhân khói bụi ở Punjab là do giao thông”, Nasir nói và chỉ ra báo cáo vào tháng 2/2020 của Tổ chức Nông lương quốc tế, trong đó phân tích tình hình ô nhiễm không khí ở Punjab. Nasir thấy việc đưa đón con tới trường cũng là một nguyên nhân chính. “Tính trung bình, các trường học ở Lahore có 2.000 xe ô tô đến vào buổi sáng”, cô nói.  Vì nhiều nguyên nhân, các tuyến xe buýt ở Lahore không được ưa chuộng. Giờ đây, Nasir cho biết mạng lưới của cô đang hỗ trợ các công ty vận phải phát triển các dịch vụ mà các bậc cha mẹ cần như gắn camera, thiết bị định vị và thậm chí cả người phụ trách.   Vào một ngày tháng 12 lạnh lẽo, “Scary Moms” hối hả đến một trường học tư, bắt đầu giáo dục bọn trẻ. “hôm nay chúng tôi cần đấu tranh chống lại kẻ thù khói bụi”, Nasir tổ chức một buổi nói chuyện với cha mẹ các em về tình trạng khói bụi – buổi  thứ 43 kể từ tháng 11.  Cô còn làm cả video truyền tải thông điệp của Liên Hợp Quốc về tác động của bụi mịn. Các hạt này hấp thụ vào cơ thể, có nguy cơ ảnh hưởng đến não, dẫn đến nhiều trạng thái bệnh lý khác. “Khi ô nhiễm không khí ở mức cao, cố gắng ở lại trong nhà và cố gắng đeo khẩu trang khi ra ngoài đường”, cô nói.   Một người trong nhóm khác thì cố gắng trò chuyện với các bậc cha mẹ để họ từ nay dừng đưa con tới trường bằng xe riêng. Các bậc cha mẹ dường như đồng ý với ý tưởng này, ví dụ Zahida Parveen, 38, thường mất một tiếng trên xe lam để đưa con gái mình đến trường. “Chúng tôi đang phải chịu đựng tình trạng ô nhiễm không khí. Tôi và con đều bị hen, nếu trường có chương trình đưa đón an toàn bằng xe buýt thì tốt quá”, Parveen nói.  Hành động của “Scary Moms” cũng đạt được một số kết quả. Giám đốc Sở giáo dục Punjab Murad Raas, đã giám sát 53.000 trường học, đã ủng hộ các bà mẹ và cho biết thí điểm chương trình xe buýt thông minh vào tháng b tới với mục tiêu “đưa 50 đến 100 trường học” tham gia. “Tôi hi vọng trong vài tháng tới, chúng ta có thể thực hiện điều này”, Raas nói với NPR.  Có một số tín hiệu cho thấy chính quyền hiện tại đang cân nhắc vấn đề ô nhiễm không khí. Vào cuối tháng 11, một loạt chính sách để cắt giảm ô nhiễm đang được xây dựng, Malik Amin Aslam, cố vấn của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề biến đổi khí hậu, nói. Sáng kiến mới bao gồm cấm nhập khẩu dầu kém chất lượng có hiệu lực từ tháng 1/2021. Thêm vào đó, các nhà máy luyện kim ở các vùng phải nâng cấp thiêt bị ba năm một lần để xử lý nhiên liệu chất lượng cao. Và các lò gạch vào tháng chín tới phải lắp đặt công nghệ kiểm soát khí thải.  Luật sư Alam và những nhà vận động khác nói hàng động này của thủ tướng chính phủ là một tín hiệu tốt. “Tôi nghĩ sự thật sẽ thắng thế”, Alam nói nhưng cũng có chút lo ngại là vấn đề ô nhiễm không khí có thể trở nên mờ nhạt, ít được để ý hơn sau khi khói bụi mùa đông tan vào tháng hai tới. Khi đó thì các nhà chính trị không còn quan tâm đến việc đòi hỏi các ông lớn công nghiệp phải bảo vệ môi trường nữa. Một khi anh không thể ‘thấy’ chất lượng không khí tồi thì các vấn đề chính trị khác cũng sẽ lấn át thôi”, ông nói. □  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.npr.org/sections/goatsandsoda/2020/01/06/792693712/scary-moms-are-part-of-the-citizen-war-against-pollution-in-pakistan    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi Elvis giúp quét sạch bệnh bại liệt      Sau một sai lầm chết người khiến công chúng mất đi niềm tin vào vaccine, cộng đồng y tế Mỹ bất ngờ tìm được sự ủng hộ từ ông hoàng nhạc Rock ‘n Roll.       Ảnh: AP  Khi ngôi sao của năm – Elvis Presley – chuẩn bị cho sự xuất hiện hoành tráng đến nghẹt thở của mình trước sự mong đợi của công chúng trên chương trình truyền hình ăn khách nhất vào năm 1956, nước Mỹ đang ở bờ vực của một cuộc khủng hoảng y tế. Vaccine bại liệt của nhà vi trùng học Jonas Salk mới được lưu hành trên thị trường trong vòng một năm, đem lại hi vong về việc sẽ quét sạch bóng virus đã ám ảnh con người hàng thập kỉ. Mặc dù thiếu sự giám sát chặt chẽ của chính phủ về mức độ an toàn của vaccine, công chúng vẫn đón nhận nó như kẻ khát chờ đợi cơn mưa rào. Tuy nhiên, một trong những lô vaccine đầu tiên đã khiến một vài trẻ em bị đổ bệnh, bị liệt và tử vong.    Các liều tiêm đó ngay lập tức bị thu hồi, nhà sản xuất vaccine đó bị loại khỏi chương trình phòng chống bại liệt. Việc tiêm vaccine vẫn tiếp tục, nhưng vài người trở nên do dự. Đặc biệt là thanh thiếu niên, chống đối việc tiêm chủng, vì một niềm tin sai lầm rằng tiêm chủng chống lại một bệnh từng có tên gọi là “Liệt sơ sinh” chỉ dành cho em bé hoặc nhi đồng mà thôi.    The March of Dimes – một tổ chức rất uy tín vào thời điểm đó với tên tuổi gắn liền với cuộc chiến dai dẳng chống lại bệnh bại liệt – đang mỏi mắt tìm kiếm một ai đó có thể hâm nóng lại phong trào tiêm chủng, đưa sự chú ý và sự phấn khích của công chúng quay lại với nó, một cuộc hôn phối hoàn hảo giữa khoa học và sự diệu kì.    Bởi vậy, vào ngày 28 tháng 10 năm 1956, phía sau cánh gà của show truyền hình “The Ed Sullivan Show”, chàng Elvis Presley 21 tuổi – với khuôn mặt trẻ trung đầy sắc thái biểu cảm và những cú lắc hông đầy mê hoặc – anh hùng của giới trẻ Mỹ – chìa cánh tay trái của mình ra. Người ta tiêm cho anh. Đèn sân khấu bừng sáng. Và rồi một ngôi sao chống bệnh bại liệt ra đời.      Nhưng kể cả với sự giám sát chặt chẽ hơn rất nhiều so với những năm 50 và chưa có một thông tin gì nghiêm trọng về tác dụng phụ của vaccine, vẫn có một sự sợ hãi và nghi ngại đang lan rộng trong cộng đồng về những mũi tiêm được khởi nguồn từ những công nghệ quá mới, phát triển với tốc độ chưa từng thấy trong một môi trường chính trị chia rẽ nhất trong lịch sử trí nhớ của chúng ta.      Giờ đây, những mũi tiêm chống lại coronavirus đang được tiêm cho những nhân viên y tế chịu rủi ro mắc bệnh cao nhất; tiếp sau đó là những người trong trại dưỡng lão. Trong những tháng tới, 330 triệu người Mỹ sẽ được tiêm vaccine, bao gồm cả những cộng đồng dân tộc và tôn giáo thiểu số vốn bị bỏ quên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ. Nhưng kể cả với sự giám sát chặt chẽ hơn rất nhiều so với những năm 1950 và chưa có một thông tin gì nghiêm trọng về tác dụng phụ của vaccine, vẫn có một sự sợ hãi và nghi ngại đang lan rộng trong cộng đồng về những mũi tiêm được khởi nguồn từ những công nghệ quá mới, phát triển với tốc độ chưa từng thấy trong một môi trường chính trị chia rẽ nhất trong lịch sử trí nhớ của chúng ta.    Vaccine không thể quét sạch đại dịch nếu quá nhiều người khước từ nó. Tái xây dựng niềm tin – vào khoa học, vào y dược, vào những nhà lãnh đạo chính trị, vì một mục tiêu chung – là điều quá khó khăn và phức tạp, mà chính quyền của Tổng thống Mỹ mới đắc cử cũng đang bắt đầu nhận ra.    Và không có một Elvis nào ở đây để đoàn kết nước Mỹ.      ***  Nếu so sánh với các tiêu chuẩn của coronavirus, bại liệt giống một tai họa tiềm tàng hơn là một bệnh dịch chết chóc; từ năm 1950 đến năm 1953, có 119 nghìn trường hợp bị liệt vì bại liệt và 6.600 trường hợp bị tử vong, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Dịch bệnh Hoa Kỳ. Nhưng những con số đó không thể hiện được nỗi kinh hoàng xung quanh một căn bệnh, cứ như không biết từ đâu, tấn công hàng chục trên hàng nghìn đứa trẻ khỏe mạnh mỗi năm khiến một vài em tử vong và rất nhiều em khác không thể đi lại hoặc thậm chí là tự thở.    Không có một chiến dịch Warp Speed của Nhà Trắng như bây giờ để đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu và sản xuất vaccine, tuy nhiên, thách thức mà căn bệnh này đặt ra lại thúc đẩy một cuộc chạy đua lịch sử giữa hai nhà khoa học sáng giá là Jonas Salk và Alfred Sabin. Vaccine của Salk ra đời trước. Vaccine của Salk là loại vaccine “virus bất hoạt” – nhưng hóa ra, giết virus bại liệt có sức sống quá mạnh trong mỗi giọt vaccine trên quy mô nhà máy không dễ như việc tỉ mỉ tạo ra một lượng nhỏ virus bất hoạt trong phòng thí nghiệm của Salk. Vaccine của Sabin, sử dụng virus sống giảm độc lực, ra mắt sau đó vài năm, và có lúc làm vaccine của Salk bị lu mờ.      Franklin D. Roosevelt khi vừa chấp nhận được đề cử thượng nghị sĩ ở New York tại ngôi nhà mùa hè của ông ở Warm Springs, Ga., Ngày 4 tháng 10 năm 1928.  Cuộc cạnh tranh giữa Salk và Sabin chỉ là một phần của những ầm ĩ xung quanh vaccine bại liệt, một di sản vẫn còn ám ảnh những chiến dịch tiêm chủng cho đến ngày nay. Trong khi coronavirus đổ ập xuống thế giới một cách bất chợt và có tính hủy diệt, bại liệt đến một cách từ từ, xuất phát từ những đợt bùng phát bí ẩn vào cuối thế kỉ 19. Dịch bại liệt đầu tiên được ghi nhận ở Mỹ tại Thung lũng Otter Creak, Vermont, năm 1894. Đợt bùng phát lớn đánh thức nỗi sợ hãi dai dẳng của công chúng đến vào năm 1916. Từ đó trở đi, các đợt bùng phát dịch có vẻ xuất hiện thường xuyên hơn và đáng sợ hơn theo từng năm. Mỗi mùa hè, các rạp chiếu phim (đôi khi đây là địa điểm duy nhất trong thị trấn có điều hòa) và các bể bơi buộc phải đóng cửa. Trường học và các địa điểm cầu nguyện cũng dừng hoạt động. Các không gian vui chơi và các bữa tiệc sinh nhật đều được coi là không an toàn. Các gia đình giữ rịt lấy những đứa trẻ đầy sợ hãi.    Nỗi kinh hoàng về virus dập tắt tất cả những nghi ngờ gì về sự nghiêm trọng của nó. Không một ai nhìn vào một đứa trẻ nằm trong lồng phổi sắt (một ống sắt lớn để trợ thở cho những đứa trẻ bị bại liệt và không thể thở bình thường) và bảo rằng đó chỉ là trò bịp bợm. Tuy nhiên cũng có một loạt các giả thuyết vô căn cứ về sự lan truyền của virus này tự nhiên trỗi dậy, lấp vào khoảng trống mà y học thời đó chưa thể giải thích được.    Người ta tập trung kiếm tìm một phương thức điều trị và một vaccine cho bệnh bại liệt vào những năm 1930 sau khi Tổng thống Franklin Roosevelt bị nhiễm bại liệt vào năm 1921 ở tuổi 39 đã sáng lập quỹ Geogrgia Warm Springs rồi Quỹ quốc gia phòng chống Bại liệt sơ sinh vào năm 1938, rồi sau đó đến lượt quỹ này lại tạo ra March of Dimes.    Roosevelt đem đến cho cuộc chiến chống lại bệnh bại liệt một quyết tâm và cả sự hoành tráng lộng lẫy: Ông thu hút cả một dàn sao Hollywood tham gia phong trào này, bao gồm những diễn viên huyền thoại đầu thế kỉ 20 cho đến những ngôi sao thời thượng giữa thế kỉ 20 như Eddie Cantor, Bing Crosby và Rudy Vallee. Vào năm 1940, nữ diễn viên trẻ Nancy Davis – về sau là Nancy Reagan (vì bà là phu nhân của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan) xuất hiện trong một bộ phim ngắn do quỹ của ông tài trợ tên là “the Crippler.” Chiến dịch chống lại bệnh bại liệt vẫn cứ tràn ngập các ngôi sao như thế cho đến khi căn bệnh này hoàn toàn lùi vào dĩ vãng.    Hai vaccine phòng bệnh bại liệt đầu tiên được phát triển vào những năm 1930. Kinh hoàng thay, thời đó không có một cơ quan liên bang nào giám sát quá trình thử nghiệm lâm sàng của vaccine, không có các chuyên gia độc lập để kiểm tra số liệu, không có Hội đồng đạo đức Y khoa ở các trường Y. Một vaccine là tiền thân của vaccine virus bất hoạt giống như của Salk, một loại khác là bước khởi đầu của kiểu vaccine virus sống giảm độc lực như Sabin. Cả hai trường hợp, các nhà khoa học đều tuyển chọn các gia đình thử nghiệm vaccine với lời hứa hẹn rằng nó sẽ giúp bảo vệ con cái họ. Cả hai vaccine, quá thô sơ so với tiêu chuẩn hiện giờ (một vaccine được chế tạo trong bồn tắm), được quảng bá rầm rộ. Cả hai vaccine đều thất bại. Một vaccine làm tử vong ít nhất chín trẻ em, vaccine kia thì gây ra một dạng viêm não. Một trong hai nhà khoa học chết trong vòng một năm ở tuổi 36 mà nhiều người cho rằng là do tự vẫn.      Trong bức ảnh tháng 4 năm 1955 này, học sinh lớp một và lớp hai tại trường St. Vibiana ở Los Angeles được tiêm vaccine phòng bại liệt của Salk. Việc tiêm chủng đầu tiên bắt đầu trên gần 2 triệu trẻ em vào năm 1954.  Những đứa trẻ ở những năm 1930 giờ trở thành cha mẹ vào những năm 1950. Khi vaccine của Salk sẵn sàng tung ra thử nghiệm, có rất nhiều e ngại giữa các nhà khoa học, đặc biệt là từ Sabin và những người ủng hộ ông. Một số ý kiến tiêu cực chỉ lan truyền trong nội bộ giới khoa học nhưng cũng có vài ý kiến đã bước lên báo. Một gã khổng lồ trong giới truyền thông chống lại vaccine của Salk là biên tập viên trong mục tâm sự của các báo, đồng thời cũng là một nhân vật rất có ảnh hưởng trên sóng phát thanh tên là Walter Winchel. Nếu hồi đó có Youtube, anh ta hẳn phải đứng sánh đôi cùng với Jenny McCarthys của giới anti-vax. Vaccine thử nghiệm, Winchel loan báo “có thể là một kẻ sát nhân”.    Quỹ Quốc gia, một tổ chức phi lợi nhuận thành lập bởi Franklin Roosevelt tài trợ cho các thử nghiệm, thực ra làm được rất nhiều điều đúng đắn trong việc ra mắt vaccine của Salk. Họ đã tạo ra một khuôn mẫu để chính quyền Trump dựa trên đó để xây dựng chương trình tăng tốc phát triển vaccine chống coronavirus bây giờ. Quỹ đặt mua trước một số lượng lớn các lô vaccine, sẵn sàng hủy đơn ngay tắp lự nếu nó thất bại nhưng cũng sẵn sàng tiêm cho trẻ em càng sớm càng tốt nếu kết quả thử nghiệm lâm sàng tốt đẹp. Cơ chế đặt mua trước giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho các công ty sản xuất vaccine khi đưa một sản phẩm không chắc chắn thành công ra thị trường. “Đó là Warp Speed phiên bản Một” – Paul Offit, một nhà nghiên cứu vaccine hàng đầu tại Bệnh viện Nhi Philadelphia và tác giả của một loạt cuốn sách về vaccine bại liệt và các vaccine khác nữa nói. “Họ chi trả cho thử nghiệm lâm sàng. Họ chi trả cho năm công ty sản xuất hàng loạt…Họ gánh thay các rủi ro.” Nó rất giống với những gì mà chiến dịch Warp Speed của Donald Trump đang làm với coronavirus.    Năm 1954, việc thử nghiệm vaccine bại liệt của Salk trên toàn quốc được khởi động. Toàn dân đón nhận một cuộc thử nghiệm quy mô cực lớn, tiêm một loại vaccine hoàn toàn mới vào bắp tay của gần hai triệu học sinh. Đôi khi những đứa trẻ này được gọi là “Những người Mỹ tiên phong về bệnh bại liệt”. Vaccine đã được cấp phép cho 5 công ty vào năm 1955. Đối với công chúng nói chung, “rủi ro của một loại vaccine chưa từng được biết tới trước đây chẳng là gì so với nỗi sợ về căn bệnh này” – Oshinsky cho biết.      Các chuyên gia về thông điệp y tế công cộng và phong trào anti-vaccine đều không nghĩ rằng những người chống đối vaccine nhiệt thành nhất có thể thay đổi suy nghĩ và đón nhận vaccine coronavirus, bất kể đổ vào đó bao nhiêu nỗ lực giáo dục và các sáng kiến truyền thông đối với công chúng. Tuy nhiên, những người được gọi là “hoài nghi vaccine” – những người chống hoặc sợ vaccine nhưng không quá khủng khiếp – có thể thuyết phục với đúng thông điệp mà họ muốn nghe. Nhưng điều đó rất khó.      Nhưng vaccine của Salk không dễ chế tạo. Nó cần một quy trình nhiều bước sử dụng formaldehyde và các bộ lọc đặc biệt để bất hoạt hoặc tiêu diệt virus bại liệt sống mà không hoàn toàn tiêu hủy nó tới mức khi tiêm không kích hoạt phản ứng miễn dịch ở người như mong muốn. Và rồi, một trong năm công ty tìm cách tái tạo vaccine đã mắc sai lầm – Cutter.    Hệ thống phòng thí nghiệm Cutters, về sau được hãng dược Bayer mua lại có lẽ ngày nay được biết đến nhiều nhất như một công ty sản xuất thuốc trừ sâu, lúc đó không phải là một nhà sản xuất có tiếng cho lắm. Nhưng vì đã có kinh nghiệm trước đó với một số vaccine thú y và từng phát triển vaccine cho người, công ty này cũng không phải là lựa chọn tồi của chính phủ.    Quy định của chính phủ rất lỏng lẻo. Tổng thống Dwight Eisenhower nghĩ rằng quá nhiều sự giám sát của liên bang sẽ thành ra đẽo cày giữa đường. Cutter đã nghiêm túc đệ trình cho chính phủ các thủ tục giấy tờ cần thiết đối với các lô hàng tốt – nhưng họ không bao giờ báo cáo về các lô mà họ phải loại bỏ vì thất bại trong việc diệt virus. Vào mùa xuân năm 1955, Cutter vận chuyển các mũi tiêm có chứa virus bại liệt sống đến California và Idaho. Trẻ em bắt đầu ốm. Và vì bệnh bại liệt, giống như coronavirus mới, có thể không có biểu hiện triệu chứng, trẻ em bị nhiễm từ loại vaccine không tốt sẽ phát tán virus, là mầm bệnh cho sự lây nhiễm trên toàn quốc. Trong cuốn sách The Cutter Incident, Offit ước tính có tổng cộng 220.000 người bị nhiễm bệnh, 70.000 người bị yếu cơ và 164 người bị liệt nặng, mười người chết.    “Đó là một thảm kịch”, Offit nói và ông nghĩ câu chuyện này là một phần nguyên nhân cho nỗi sợ hãi vaccine ngày nay.    Cutter bị đá khỏi cuộc đua vaccine bại liệt. Và việc tiêm chủng được tiếp tục – với mức độ chấp nhận cao đáng ngạc nhiên. Phản ứng nhanh chóng và dứt khoát của liên bang đối với sự cố Cutter đã giúp khôi phục niềm tin của công chúng, đặc biệt là trong một thế giới những năm 1950, sự tin tưởng vào chính quyền và các chuyên gia nhiều hơn bây giờ.      Elvis Presley gặp nạn nhân bại liệt Beth Currier, trái, và Elaine Brockway ở California, vào tháng 5 năm 1957. Beth, 14 tuổi, phải ngồi trên xe lăn, còn Elaine, 18 tuổi, bị liệt từ cổ trở xuống.  Jason Schwartz, một nhà sử học khoa học tại Đại học Yale, cho biết: “Nằm trên trang nhất của tất cả các báo là tin về nhiều cá nhân bất ngờ bị tiêm virus bại liệt sống vào người”. “Hãy nghĩ xem sẽ thảm khốc biết bao nếu như một sự kiện tương tự diễn ra với vaccine coronavirus sau khi nó được quảng bá rầm rộ là an toàn”.    Hồi đó không ai thăm dò ý kiến ​​của mọi người về sự chống vaccine, vì vậy thật khó để biết chính xác mức độ sợ hãi tồn tại. Nhưng túi tiền của dân chúng đang sợ hãi, hoặc ít nhất là e ngại – hoặc không thể trả tiền những mũi tiêm đầu tiên và những mũi tiêm bổ trợ cho tất cả con cái của họ. Stephen Mawdsley, một nhà sử học người Anh đã làm một bộ phim ngắn về bệnh bại liệt ở Hoa Kỳ cho biết: “Chi phí cao, sự thờ ơ và sự thiếu hiểu biết đã kéo lùi rất nhiều nỗ lực xóa sổ bệnh bại liệt”. Hàng ngàn người, hầu hết là trẻ, vẫn đang bị mắc bệnh.    Thế rồi, Elvis xuất hiện.  ***  Người thanh niên vốn được biết đến là một ông hoàng đã xuất hiện ba lần trên show truyền hình Ed Sullivan từ tháng 9/1956 đến tháng 1/1957. Lần xuất hiện đầu tiên của anh đã có khoảng 60 triệu người xem – nhiều hơn 1/3 dân số lúc đó là 168 triệu dân. Không một nghệ sĩ giải trí nào ngày nay có thể “triệu tập” một lượng khán giả nhiều đến chừng đó. Và fan hâm mộ của anh – những thế hệ đầu tiên say đắm cuồng si rock ‘n roll – nằm trong độ tuổi cần phải tiêm vaccine.    Mũi tiêm bại liệt cho Elvis xuất hiện ngay mở màn của lần thứ hai anh xuất hiện trên chương trình, khi bài hát “Love Me Tender” của anh mới phát hành trước đó một tháng đang leo thang trên các bảng xếp hạng. Tấm quảng cáo mang hình Elvis cùng chiếc ghi ta cao 40-foot (khoảng 12 mét), có lẽ hơi khoa trương với tiêu chuẩn của công chúng bây giờ, nổi bật trên kiến trúc của nhà hát ở Broadway. Sau cánh gà, khi cánh phóng viên hướng mắt lên, người phụ trách Y tế thành phố New York cầm cánh tay trái của Presley khi thư ký của bà, Harold Furest nhấn pít tông của kim tiêm.    “Này các em, anh nói với các em được không? Anh là Elvis Presley,” Anh nói trong một đoạn băng quảng cáo ghi hình bởi March of Dimes. “Nếu em nghĩ rằng bệnh bại liệt đã bị đánh bại, anh muốn em nghe. Cuộc chiến chống bệnh bại liệt vẫn khó khăn không kém gì trước đây”.    Có lẽ sau này người ta hơi thổi phồng vai trò của Elvis trong việc tăng tỉ lệ tiêm chủng nhưng anh có đóng góp không thể phủ nhận trong một nỗ lực rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy trẻ vị thành niên đi chích ngừa.  ***  Trong những thập kỉ kể từ sự kiện Cutter diễn ra, cả lực lượng chống vaccine và lực lượng hoài nghi vaccine, dù hai lực lượng này không giống hệt nhau, đã lan rộng và ngày càng biến đổi khó lường. Không chỉ có một kiểu chống vaccine, không chỉ có một lí do duy nhất. Sự chống đối đến từ cả cánh tả và cánh hữu, từ những người không muốn bị chính phủ yêu cầu phải làm này làm nọ, từ những người nghĩ rằng các công ty dược đang lừa họ dùng những sản phẩm độc hại và đủ kiểu niềm tin, triết lý, tôn giáo khác tương tự.    Các chuyên gia về thông điệp y tế công cộng và phong trào anti-vaccine đều không nghĩ rằng những người chống đối vaccine nhiệt thành nhất có thể thay đổi suy nghĩ và đón nhận vaccine coronavirus, bất kể đổ vào đó bao nhiêu nỗ lực giáo dục và các sáng kiến truyền thông đối với công chúng. Tuy nhiên, những người được gọi là “hoài nghi vaccine” – những người chống hoặc sợ vaccine nhưng không quá khủng khiếp – có thể thuyết phục với đúng thông điệp mà họ muốn nghe. Nhưng điều đó rất khó.    “Elvis không có ở đây” Adam Berinsky, một nhà nghiên cứu chính trị khoa học tại Đại học MIT chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ và thông điệp trong y tế công cộng nói. Thách thức của ngày hôm nay là tìm ra “Elvis riêng cho mỗi cộng đồng”.    Cũng có thể đó là Oprah Winfrey hay Tom Hank hay Dolly Parton.    Nhưng truyền thông điệp bây giờ sẽ phức tạp hơn tạo dựng niềm tin trong những năm 1950. Giờ đây có hẳn một “tên gọi” dành cho những người hoài nghi vaccine – những người bình thường vẫn tin vaccine nhưng rồi bị lay động bởi thời hạn quá ngắn và áp lực từ Tổng thống Trump phải cho tung ra vaccine bằng được trước kì bầu cử, khi chính những người được bổ nhiệm trong lĩnh vực y tế công cộng dưới quyền ông cũng cảnh báo rằng điều này sẽ không an toàn.    Một vài khảo sát cho thấy nỗi sợ vaccine dâng cao sau kì bầu cử, với việc cơ quan Quản lý Thực phẩm và Thuốc của Hoa Kỳ đã phản đối áp lực đến từ Tổng thống Trump và đứng ra tự quyết về tính an toàn của vaccine. Bản thân người đứng đầu chiến dịch Warp Speed, Moncef Slaoui cũng đồng tình vì ông công khai mình là người theo Đảng Dân chủ và ông “đồng cảm nhiều hơn” với chính quyền sắp tới của Biden hơn là Trump.    Tuy nhiên, cách làm thương hiệu cho vaccine giai đoạn này rất có vấn đề.    “’Warp Speed’ (Tốc độ chóng mặt) không phải là cái tên gọi đúng đắn cho lắm,” Oshinsky nói. Công chúng “không hiểu. Họ chỉ biết rằng vaccine sẽ được tung ra với một tốc độ kinh khủng nhưng họ không biết đằng sau đó là gì”.    Berinsky tóm gọn lại rằng: “Trump ép các vaccine – bắt nó phải ra thị trường nhanh – rồi tạo sự hoài nghi ở công chúng.”    Bắt các công ty dược – một nguồn tin mà công chúng đang nghi ngờ – phải công bố chứng cứ về an toàn của vaccine cũng không khiến người ta tin hơn. Nhưng tăng cường sự minh bạch, về các nghiên cứu và những người đánh giá các nghiên cứu vaccine thì lại nên làm, đặc biệt nếu những người có uy tín lớn, như Anthony Fauci đứng ra bảo đảm. Nhưng minh bạch dữ liệu cũng không thể làm gì nhiều hơn, vì người đọc thông thường không thể hiểu được.  Và đối với một số cộng đồng, sự hoài nghi đã bị bồi đắp qua hàng thập kỉ, đặc biệt với những nhóm thiểu số có những lí do chính đáng để mất niềm tin vào hệ thống y tế đã đối xử bất công với họ hàng chục năm.    Tổng thống mới đắc cử Joe Biden lựa chọn nhà nghiên cứu về bình đẳng y tế và bác sĩ tại Đại học Yale, Marcella Nunez-Smith trong vai trò dẫn đầu chương trình phản ứng với đại dịch của chính quyền sắp tới, giải quyết các vấn đề cụ thể nói trên. Bà đã cố vấn cho ông từ tháng tám vừa qua, và nói rằng xoa dịu nỗi sợ vaccine của các cộng đồng thiểu số phải là ưu tiên ngay từ đầu, đặc biệt là những cộng đồng chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch bệnh và bởi suy thoái kinh tế.    “Việc phải làm là phải lôi kéo được những nhà lãnh đạo của các cộng đồng đó – tất cả, chứ không chỉ riêng các cộng đồng người da màu – cần sự hợp tác,” bà nói trong một buổi phỏng vấn với Tạp chí Politico ngay sau khi Biden đưa tên bà vào đội ngũ của ông. Các thông điệp phải được phát đi từ các nhà khoa học – nhưng cần phải lan truyền “giữa nhà này với nhà kia, giữa bạn này với bạn khác – chính là giữa các thành viên trong cộng đồng”.          Cậu bé 7 tuổi Leonard “Bobo” Scheele, con trai của Bác sĩ phẫu thuật, Đại tướng Leonard Scheele, được Tiến sĩ Samuel Luber, tại trường Georgetown ở Washington, tiêm chủng chống lại bệnh bại liệt.  Có được các bác sĩ bản thân vốn là thành viên của cộng đồng đó đứng ra bảo chứng cho vaccine cũng là điều tốt, Lisa Cooper, bác sĩ điều hành Trung tâm Công bằng Y tế ở Đại học John Hopkins cho biết. Từ kinh nghiệm của riêng bà về những người chống vaccine, “Tôi từng có thời gian phục vụ trong ban theo dõi và đánh giá độ an toàn của dữ liệu” – trường hợp của bà là vaccine chống virus Ebola. “Tôi biết người ta phải trải qua những bước nào để xác định thuốc đủ an toàn để lưu hành”.    Cục quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ cũng yêu cầu các thử nghiệm lâm sàng cho các vaccine coronavirus phải bao quát được đủ tính đa dạng trong dân số, một nguyên liệu khác để tăng cường niềm tin vào vaccine.    Nhưng những người mặc áo choàng trắng đứng ra truyền thông điệp cũng vẫn là chưa đủ, Cooper và các chuyên gia khác nghiên cứu về sự chia rẽ trong y tế và truyền thông về y tế công cộng chỉ ra. Các thông điệp truyền đi phải bao quát được nhiều khía cạnh, nhiều lớp lang, đa ngôn ngữ, dưới nhiều mô thức truyền thông. Chúng phải vừa có tính quốc gia vừa có tính địa phương, vừa có tính chính trị vừa có tính phi chính trị, với sự tham gia của bác sĩ, y tá, dược sĩ, nhà thờ và các tổ chức tín ngưỡng, tổ chức cộng đồng khác – và cả các vận động viên và các ngôi sao Hollywood. Những người có ảnh hưởng sẽ không chỉ kêu gọi suông là bạn phải đi tiêm vaccine mà chính bản thân họ cũng phải đi chích ngừa. Cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama, Geogrge W. Bush và Bill Clinton đều nói rằng họ sẵn sàng tham dự phong trào này.    Và tất cả phải được đặt trên sự minh bạch – và sự thấu cảm. Kenzie Cameron, một chuyên gia về truyền thông chăm sóc sức khỏe ở Đại học Northwestern cho biết, nghĩa là phải thẳng thắn về tất cả những gì chúng ta đã biết và chưa biết về những vaccine hoàn toàn mới này. Để thu thập được dữ liệu cần hàng tháng trời, và khi đó các nhà khoa học mới biết nhiều hơn về những mũi tiêm này có thể bảo vệ mọi người như thế nào và trong bao lâu, và liệu có vấn đề gì về độ an toàn của vaccine sẽ phát sinh khi hàng trăm triệu người trên toàn cầu bắt đầu được chích ngừa. Thấu cảm nghĩa là phải truyền thông dựa trên việc thấu hiểu nỗi sợ của người khác chứ không phải cắt ngang kiểu “Không. Bạn sai rồi.” Điều đó không chỉ đúng với truyền thông trong cộng đồng mà trong cả phòng khám của các bác sĩ.    Thu hút các nhân viên y tế cộng đồng và những người uy tín về tin tức sức khỏe ở địa phương cũng là một chiến lược tốt – và nó có tác dụng bởi họ nói cùng ngôn ngữ với cộng đồng, Sandra Hernandez, chủ tịch và giám đốc điều hành của Quỹ chăm sóc sức khỏe California nói. Một bác sĩ chứng kiến những ngày đầu của đại dịch HIV/AIDS trong lịch sử và người gắn liền với cộng đồng Mỹ Latin, bà cho biết những người làm nhiệm vụ truy vết coronavirus ở cấp cộng đồng cũng là những người truyền thông điệp tốt.    “Chúng tôi có năm tổ chức ở Misson [Một quận tại San Francisco] làm nhiệm vụ truy vết. Họ được đào tạo bài bản, trẻ trung, người địa phương và là người da màu” – bà nói. “Họ có thể là một lượng quan trọng để giúp đỡ chúng ta trong việc này”.    Thời kì này, trong chính cộng đồng các vận động viên và các ngôi sao Hollywood cũng có sự chia rẽ về chính trị, nhưng vì thế lại càng cần sự tham gia của nhiều gương mặt nổi tiếng, người thì đại diện cho từng cộng đồng cụ thể, người khác thì đại diện cho các chiến dịch ở tầm quốc gia. Một quảng cáo đầy ắp các ngôi sao Hollywood dưới thời chính quyền Trump trước kì bầu cử để “lên tinh thần” cho công chúng đã bị hủy, nhưng một phiên bản khác ít tính chính trị hơn sẽ sắp ra mắt. Cooper cho biết bà đã thảo luận với Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia để tìm cách đưa họ vào chiến dịch tiêm chủng. Ít nhất hai Nghị sĩ Đảng Cộng hòa từ những bang ủng hộ Tổng thống Trump, Rob Portman của Ohio và Stee Daines ở Montana công bố rằng sẽ tình nguyện trong các cuộc thử nghiệm lâm sàng của vaccine – một thông điệp giá trị đối với những cử tri bảo thủ, những người thậm chí còn đang nghi ngờ liệu coronavirus có thật hay không, chứ chưa nói gì đến vaccine.    Việc truyền thông sẽ không chỉ là một lần rồi xong. Mọi người phải được nhắc nhở cần tiêm đủ hai liều. Họ phải được trấn an rằng những tác dụng phụ nhẹ của vaccine không có nghĩa là họ bị nhiễm Covid – hay họ không nên tiêm mũi thứ hai. Nếu họ có một người bạn hoặc một người họ hàng đi tiêm và bị ốm, họ cần phải được nhắc lại rằng, cần phải tiêm hai liều và phải mất vài tuần mới sinh ra kháng thể. Những đợt sóng tin sai sự thật sẽ đến là điều không thể tránh khỏi, nhưng cần những đợt sóng của sự thật để chống lại nó.    Nhưng cũng có dấu hiệu cho thấy các nỗi sợ đang lắng dần và tính toán đằng sau việc có nên tiêm vaccine Covid không khác với các vaccine khác. Những người không tiêm vaccine cúm mùa hay không tiêm vaccine sởi cho con có thể sẽ nghĩ khác về những rủi ro và lợi ích của vaccine Covid, Schwart, sử gia tại Yale cho biết. Đây là vaccine có mục tiêu chấm dứt khủng hoảng y tế tồi tệ nhất trong thế kỉ này, một thảm họa toàn cầu làm đình trệ cả nền kình tế, chia rẽ những người yêu thương nhau, đóng cửa trường học và chấm dứt hoàn toàn các hoạt động ca kịch, du lịch và những bữa tiệc tối. Nó đã cướp đi mạng sống của 300 nghìn người dân Mỹ.    Trước đây khi Ebola xuất hiện, các bác sĩ đã bắt gặp những người quyết không chịu tiêm vaccine cúm mùa nhưng hoảng loạn đòi tiêm vaccine Ebola – mặc dù Ebola lúc bấy giờ không hề lây lan ở Mỹ và cũng không có vaccine vào thời điểm đó. Giờ đây cứ một người hỏi về vaccine mới là “Nó có an toàn không?”, thì có rất nhiều người khác lại hỏi “Thế bao giờ tôi mới được tiêm đây?”.    Và một khi có hàng nghìn, rồi hàng triệu, rồi hàng chục triệu người tiêm vaccine, sự tự tin của người Mỹ sẽ tăng dần.    “Rồi mọi người sẽ đi tiêm thôi,” – Offit, chuyên gia vaccine và nhà sử học về bệnh bại liệt dự đoán. “Họ sẽ muốn được tiêm”. □         Hảo Linh và Đức Phát dịch  Nguồn: https://www.politico.com/news/magazine/2020/12/18/elvis-presley-polio-vaccine-confidence-448131       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí hậu thay đổi, triều đại thay đổi ?      Sự suy vong của triều đại nhà Đường ở Trung Quốc và sự biến mất của nền văn minh Maya ở Trung Mỹ hơn 1.000 năm trước đây có nguyên nhân từ việc thay đổi khí hậu, theo kết quả nghiên cứu công bố trên Tạp chí Nature số ra gần đây.    Cho đến nay, chưa có những lý giải thật sự đầy đủ về hai bí ẩn nói trên. Nhưng giờ đây, một nhóm các nhà khoa học quốc tế cho biết họ đã tìm ra bằng chứng về sự thay đổi chế độ gió mùa gây ra hạn hán và nạn đói trong khoảng 100 năm cuối thời nhà Đường. Biến cố tương tự cũng xảy ra đối với tộc người Maya cách nửa vòng trái đất cùng thời gian đó (đầu những năm 900).  Tại một vùng hồ ở đông nam Trung Quốc, người ta tìm thấy lớp trầm tích có chứa titan và chất khoáng, dấu hiệu cho thấy một thời kỳ khí hậu bị thay đổi căn bản, biến toàn vùng Hoa Bắc thành miền đất hoang. Những dấu tích tương tự cũng tìm thấy ở hồ Huangyan, tỉnh Quảng Đông, và lòng chảo Cariaco ở Venezuela.  Theo các nhà khoa học, trong các thế kỷ 8 và thế kỷ 9, hạn hán xuất hiện ở nhiều khu vực trên toàn thế giới. Và, “căn cứ vào các dữ liệu mà chúng tôi mới có, việc thay đổi triều đại ở Trung Quốc thường xảy ra khi gió mùa hạ trở nên yếu và lượng mưa giảm sút”, bài báo khẳng định.  Trường Khanh (Theo The Sunday Times)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí hậu toàn cầu thay đổi bởi một ngọn núi lửa      Kenneth Verosub, ĐH California (Mỹ), đã kết luận: Đợt phun trào của núi lửa Huaynaputina (Peru) vào năm 1600, đã gây nên một tác động lâu dài khi các phân tử lưu huỳnh bay vào bầu khí quyển, gây xáo trộn khí hậu toàn cầu.      “Chúng tôi nhận thấy năm 1601 là một trong những năm lạnh, ẩm và tồi tệ nhất trong lịch sử loài người. Một vài sự kiện biến đổi khí hậu khác được cho là kết quả của xu hướng lạnh từ thời kỳ băng hà. Có lẽ chúng được tạo nên bởi núi lửa Huaynaputina”, Kenneth nhận định. Theo ông, những vụ phun trào núi lửa có quy mô như thế có thể khiến khí hậu trái đất giảm xuống dễ dàng hơn. Kenneth lo ngại lần hoạt động tiếp theo của Huaynaputina có thể khiến hành tinh của chúng ta trở nên lạnh hơn và làm giảm đáng kể năng suất của ngành nông nghiệp.   Việt Linh (Theo Nature)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí hậu và sự suy vong triều Lê sơ      Lịch sử Đại Việt giai đoạn trung kỳ gắn với sự hình thành, phát triển và suy vong của nhà Lê sơ. Được xem là giai đoạn cường thịnh trong lịch sử dân tộc nhưng nhà Lê sơ chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 99 năm (1428-1527). Thời trị vì của nhà Lê sơ cũng trùng hợp với thời kỳ biến đổi khí hậu “Tiểu băng hà” tác động đến Đại Việt, biểu hiện qua những thiên tai xảy ra được ghi chép trong sử sách. Yếu tố khí hậu và thiên tai đã tác động đến sự suy vong và sụp đổ của nhà Lê sơ? Tiếp nối chủ đề này trên Tia Sáng số 1 và số 4/2022, bài viết này sẽ bàn luận về vai trò của khí hậu đối với lịch sử Đại Việt thời Lê sơ.      Minh họa về Vụ án Lệ Chi Viên. Trong ảnh là Nguyễn Thị Anh đang tra khảo, bắt giam Nguyễn Thị Lộ, vợ Nguyễn Trãi. Tranh: Thao Jinnie.  “Áp lực thiên tai” ở Đại Việt thời Lê sơ     Theo các ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Cương mục) trong một thế kỷ dưới thời Lê sơ có khoảng 22 lần xảy ra hạn hán. Tần suất hạn hán thời Lê sơ diễn ra khá thường xuyên, cao hơn hẳn thời Lý – Trần trước đó (9,5 lần/thế kỷ). Trong đó, hạn hán xảy ra nhiều nhất vào thời Lê Thánh Tông, gồm 12 lần vào các năm 1460, 1463, 1466-1467, 1468, 1473, 1476, 1480, 1488, 1489, 1496 và 1497, chiếm hơn 1/2 tổng số lần hạn hán thời Lê sơ. Đáng lưu ý vào thời Lê sơ có những năm hạn hán xảy ra liên tiếp là 1448 và 1449, 1466-1468, 1488 và 1489, 1496 và 1497. Mức độ hạn hán thời Lê sơ cũng tương đối nghiêm trọng, hạn hán thường kéo dài gay gắt. Chẳng hạn, hạn hán năm 1437 đời Lê Thái Tông xảy ra hai lần vào tháng ba và tháng sáu, trong đó hạn hán tháng sáu diễn ra cùng lúc với sâu hại lúa (Toàn thư, Q. XI, 37b, 39b). Hạn hán năm 1460 kéo dài từ mùa xuân đến mùa hạ (Q. XII, 4a); hạn hán năm 1466 kéo dài từ mùa thu đến mùa đông và ảnh hưởng tới năm 1467 (Q. XII, 26b); hạn hán năm 1476 thì kéo dài từ mùa đông đến mùa hạ (Q. XIII, 9a). Năm 1503 hạn hán gay gắt xảy ra vào tháng giêng và tháng hai: “nước chứa chỉ được vài bữa, không giữ được lâu, nắng chưa mấy ngày đã cạn khô cả” (Q. XIV, 32a-b, 33b). Hạn hán năm 1512 thì dẫn tới nạn đói lớn (Q. XV, 19a). Hạn hán năm 1519 kéo dài từ tháng hai đến tháng tư khiến lúa hư hại, gạo kém (Q. XV, 48b). Ngoài ra, các năm 1488, 1489, 1497, 1499 và 1525 đều xảy ra đại hạn.    Bên cạnh hạn hán, thời Lê sơ cũng ghi nhận khoảng 12 lần lũ lụt, thủy tai xảy ra vào các năm 1440, 1445, 1467, 1475, 1478, 1483, 1496, 1503, 1513, 1514, 1515 và 1516. Tần suất lũ lụt, thủy tai gia tăng đáng kể vào cuối thời Lê sơ, từ năm 1513 đến 1516 hầu như năm nào cũng ghi nhận lũ lụt, thủy tai. Đáng chú ý có những năm xảy ra lũ lụt lớn, gây ra hậu quả nghiêm trọng như vỡ đê, ngập úng lúa mạ, mùa màng hay khiến núi sạt lở. Có thể kể tới lụt to ở lộ Thanh Hóa năm 1440 (Q. XI, 53b); năm 1445 “nước lũ tràn ngập vào trong thành, sâu đến ba thước. Lúa má bị ngập, mất tới một phần ba” (Q. XI, 61a); năm 1475 nước lũ làm “vỡ đê sông Tô Lịch ở phường Kim Cổ” (Q. XIII, 7a); năm 1496 vào ngày kỵ của Thái Tông hoàng đế “mưa gió to, nước lũ lên mạnh, trôi hết sản nghiệp của dân” (Q. XIII, 75a); năm 1503 thì lũ lụt xảy ra sau hạn hán: “năm nay, trước thì đại hạn, sau lại nước to, núi Tản Viên và núi Tam Đảo bị lở” (Q. XIV, 34a); năm 1513 nước lũ gây “vỡ đê phường Yên Hoa thông vào hồ Tây” (Q. XV, 22b); năm 1514 lũ lụt còn làm thay đổi hệ sinh thái ao hồ ở kinh thành Thăng Long (Đông Kinh) dẫn tới sự xuất hiện của rắn lớn: “nước lũ rất lớn, hồ ao trong kinh thành có rắn lớn xuất hiện đến 20 ngày. Vua sai đốt pháo, mở cờ, đánh trống để dọa nó. Sau bốn tháng rắn mới đi” (Q. XV, 24b).      Tình hình thiên tai ở Việt Nam thời Lê sơ.  Dưới áp lực thiên tai xảy ra thường xuyên và kéo dài, tuy được xem là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Đại Việt nhưng thời Lê sơ vẫn ghi nhận nạn đói. Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục, vào thời Lê sơ có khoảng tám lần xảy ra nạn đói. Những năm thịnh trị dưới thời trị vì của Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông cũng ghi nhận nạn đói lớn. Những nạn đói này chắc hẳn có nguồn gốc tự nhiên do thiên tai gây ra nhiều hơn là nhân tai có nguồn gốc từ con người (tình trạng chiếm đoạt ruộng đất và đầu cơ tích trữ lương thực). Có thể kể tới nạn đói xảy ra ở ba trấn Tuyên Quang, Quy Hóa, Gia Hưng và các lộ Đà Giang vào năm 1448: “Các trấn lộ Tuyên Quang, Quy Hóa, Gia Hưng ở miền núi rừng hẻo lánh, ruộng đất sỏi đá xơ xác, lại thêm liền năm bị hạn hán, sâu bọ, dân chúng rất đói” (Q. XI, 69a). Do thiên tai liên tiếp nên tình trạng túng thiếu thời bấy giờ không chỉ xảy ra trong nhân dân mà ở cả nhà nước: “Triều đình bàn rằng gần nay luôn năm có nạn hạn hán và sâu cắn lúa, từ nhà nước đến tư gia đều túng thiếu” (Cương mục, Q. XVIII, 4). Nạn đói năm 1467 ở các phủ Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương do thủy tai khiến “lúa mạ bị ngập, dân ven biển chết đói nhiều” (Q. XII, 41b); năm 1490 ở các phủ huyện Kinh Môn do cày cấy không được nên dân nhiều người chết đói (Q. XIII, 62b), “năm bấy giờ, giá gạo cao, một tiền chỉ đong được hai thăng gạo” (Cương mục, XXIV, 12). Đến tháng 12 năm 1492 lại xảy ra đói lớn, dân có người phải ăn củ nâu (Q. XIII, 68b). Năm 1512 do hạn hán nên trong nước đói to (Q. XV, 19a). Tới năm 1517, nạn đói xảy ra cùng lúc với binh biến loạn lạc nên khiến cho đời sống người dân càng lầm than: “trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau. Những nơi trải qua binh lửa như Đông Triều, Giáp Sơn ở Hải Dương, Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn ở Kinh Bắc lại càng đói dữ” (Q. XV, 41b). Những dẫn chứng trên đây cho thấy tác động đáng kể của thiên tai đến kinh tế và xã hội Đại Việt thời Lê sơ. Không chỉ Đại Việt, sử sách cũng đề cập tới nạn đói lớn xảy ra ở xứ Bồn Man (Muang Phuan, nay là địa phận tỉnh Xiêng Khoảng, Lào): “Trước đây dân chúng Bồn Man có đến 9 vạn hộ nhưng bị chết đói gần hết, chỉ còn hơn 2.000 người” (Q. XIII, 25a).     Tác động của thời kỳ “Tiểu Băng hà” tới Đại Việt     Thời Lê sơ được xem là giai đoạn cường thịnh trong lịch sử trung kỳ Đại Việt, nhưng chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 99 năm. Cục diện chính trị thời kỳ này cũng trải qua nhiều biến động phức tạp như cái chết của Lê Thái Tông và vụ án Lệ Chi viên năm 1442, Lê Nhân Tông lên ngôi khi còn nhỏ tuổi dẫn tới “nữ chủ nắm quyền” tức sự kiện Tuyên Từ hoàng thái hậu (Nguyễn Thị Anh) buông rèm nhiếp chính, thực hiện “thùy liêm thính chính” trong 10 năm (1443-1453), đến năm 1459 lại xảy ra chính biến Thiên Hưng với việc Lê Nghi Dân soán ngôi Lê Nhân Tông, tự lập làm vua. Chính sự triều Lê sơ chỉ ổn định dưới thời Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông. Sau đó là những năm rối ren từ đời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực cho đến khi nhà Lê sơ diệt vong. Ngoài các yếu tố chủ quan thì yếu tố khách quan như khí hậu và thiên tai đã đóng vai trò tác động khá đáng kể đến cục diện thời Lê sơ.       Nhiệt độ Trái Đất trung bình trong thời kì ấm Trung cổ (thời Lý – Trần) và thời kì Tiểu băng hà (thời Lê sơ). Biểu đồ: Ed Hawkins/Wikipedia.  Bối cảnh khu vực và thế giới thời bấy giờ có thể cho thấy một góc nhìn tổng thể về vấn đề này. Sau kỷ nguyên thịnh vượng và phát triển thường là giai đoạn khủng hoảng và suy vong. Quá trình biến đổi của khí hậu từ thời kỳ “Ấm Trung cổ” sang thời kỳ “Tiểu Băng hà” được cho là yếu tố góp phần vào cuộc khủng hoảng xảy ra vào thế kỷ XIV ở châu Âu, sự sụp đổ của nhà Nguyên ở Trung Quốc và suy tàn của vương triều Hồi giáo Delhi ở Ấn Độ. Cùng khoảng thời gian này (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV) ở Đông Nam Á lục địa chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của Đại Việt, Angkor và Thượng Miến Điện. Đối với Đại Việt, sau khi nhà Trần sụp đổ, sự thất bại của nhà Hồ trước cuộc xâm lược của quân Minh đã khiến Đại Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong 20 năm (1407-1427). Trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”, Đới hội tụ liên chí tuyến (ITCZ) dịch chuyển về phía Nam 5o (và duy trì ở vị trí này suốt thời Tiểu Băng hà trước khi quay trở lại phía Bắc vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX) đã làm giảm phạm vi hoạt động của gió mùa. Vào thời kỳ “Ấm Trung cổ”, hiện tượng La Nina giữ vai trò chủ đạo thì thời “Tiểu Băng hà” lại bị chi phối bởi hiện tượng El Nino kéo dài dai dẳng. Do đó, trong khi thời “Ấm Trung cổ” tạo ra lượng mưa theo mùa cao hơn hẳn mức trung bình thì ở thời kỳ “Tiểu Băng hà” hạn hán trở nên thường xuyên và kéo dài hơn. Thời kỳ “Tiểu Băng hà” cũng chứng kiến các trận lũ kinh hoàng bất thường. Đặc điểm này khá tương thích với tình hình hạn hán và thủy tai được sử sách ghi chép thời Lê sơ.      Áp lực thiên tai liên tiếp và kéo dài có thể làm xói mòn địa vị của triều đại trị vì vốn được cho là người chịu trách nhiệm duy trì sự hài hòa vũ trụ trời đất. Điều này có thể góp phần lý giải nguyên nhân vì sao thời Lê sơ chỉ tồn tại trong khoảng một thế kỷ.      Một trong những hiện tượng thời tiết đáng chú ý cho thấy thời kỳ “Tiểu Băng hà” tác động đến khí hậu Đại Việt là việc nước đóng băng vào tháng 11/1434 được ghi chép trong Toàn thư: “Nước đóng băng, cây cối núi rừng bị chết” (nguyên văn: băng đống sơn mộc tử) (Q. XI, 18b). Cương mục cũng chép tương tự: “Có băng. Rét quá, mặt đất đóng băng, cây cối trên núi héo chết” với lời phê lạ! (Q. XVI, 19). Ở Việt Nam sương giá hay băng tuyết có thể xuất hiện vào mùa đông ở những khu vực núi cao, tuy nhiên nước đóng băng vào tháng 11 lại là hiện tượng rất hiếm gặp. Lời phê của Cương mục về hiện tượng này là lạ cho thấy đây là hiện tượng chưa từng xảy ra hoặc không được biết tới và ghi chép trước đó. Mùa đông năm 1434 và từ mùa hạ tới mùa thu năm 1435 cũng liên tiếp xảy ra nạn sâu cắn phá lúa (hoàng trùng) (Toàn thư, Q. XI, 17b, 26b, 28b). Trong năm 1435 còn ghi nhận việc dân các lộ Lạng Sơn, Nam Sách bị bệnh dịch (Q. XI, 25b). Phải chăng thời tiết giá rét khi ấy có mối liên hệ với dịch bệnh bùng phát cùng thời gian này? Đáng chú ý, những hiện tượng thời tiết và thiên tai bất thường xảy ra vào các năm 1434-1435 cũng gần với khoảng thời gian khởi đầu của cực tiểu Spörer trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”. Đây là một trong ba giai đoạn bức xạ Mặt trời rơi xuống mức cực tiểu khiến nền nhiệt độ trung bình Trái đất giảm. Niên giám khí tượng thủy văn cho biết vào đời Lê Nhân Tông, ngay ở kinh thành (Đông Kinh) mặt nước ao hồ đều đóng băng, hồ Hoàn Kiếm cũng phủ một lớp băng. Đó là hiện tượng chưa từng có trong nhiều thế kỷ gần đây (Nguyễn Xuân Tửu, 1983: 62).    Thiên tai xảy ra liên tiếp đã trở thành chủ đề bàn luận của triều đình Lê sơ thời bấy giờ. Ghi chép của sử sách vào các đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông thường thấy các lời tự thán hay lời bàn về tình hình thiên tai. Chẳng hạn vào năm 1438: “Mấy năm nay, hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện” (Q. XI, 50b); năm 1448: “Xét thấy liền mấy năm hạn hán, sâu lúa, quan thì túng, dân thì thiếu, mà số vệ sĩ tăng nhiều, lương cấp không đủ” (Q. XI, 66b), “Vài năm nay, tai dị liên tiếp xảy ra: lụt lội, hạn hán, sâu bệnh không năm nào không có” (Q. XI, 68b); năm 1449: “Trẫm gặp phải gia biến, bên trong thì mẫu hậu coi chầu, bên ngoài thì đại thần giúp việc, mà liền năm đại hạn, lúa má mất mùa, dân chúng buồn than” (Q. XI, 78b), “thế mà lụt lội, hạn hán liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện” (Q. XI, 80b); năm 1451: “Mấy năm nay, hạn hán, sâu trùng liên tiếp xảy ra; tai dị luôn luôn xuất hiện. Năm nay đương mùa xuân, lại có mưa đá” (Q. XI, 87b). Ngay cả nền thịnh trị Hồng Đức vẫn trải qua những năm thiên tai liên tiếp hết sức khó khăn. Cương mục có lời phê về tình hình thiên tai đời Lê Thánh Tông như sau: “Luôn luôn có hạn hán, nước to, đói dữ” (lời chú về 11 lần hạn hán, 6 lần thủy tai và 4 lần dân bị đói kém) (Q. XXIV, 18). Đến cuối thời Lê sơ, tình cảnh thiên tai liên tiếp lại xảy ra trong bối cảnh loạn lạc rối ren: “Nay nhân vận nước gặp bước gian truân, thiên tai tỏ điềm cảnh tỉnh. Lúa mùa sắp chín gặp phải hoàng trùng, lúa chiêm bắt đầu lại bị hạn hán. Nhà nông đã bị thất vọng, muôn họ lại phải lo buồn” (Q. XV, 59b). Những ghi chép này phần nào đã phác họa bức tranh thiên tai Đại Việt thời Lê sơ. Đằng sau những lời tự thán, bàn luận của vua quan triều đình về tai dị chính là thực trạng thiên tai diễn ra liên tiếp và tác động sâu sắc đến xã hội lúc bấy giờ.    Yếu tố nội sinh tức các biện pháp ứng phó thiên tai cùng với khả năng thích ứng với thiên tai của triều đình Lê sơ cũng giữ vai trò quan trọng trong việc kiềm chế hoặc làm nghiêm trọng thêm các tác động của thiên tai. Khi xảy ra thiên tai, nếu có các biện pháp khắc phục hậu quả kịp thời và phòng chống thiên tai hiệu quả thì xã hội vẫn ổn định. Những biện pháp đó được sử sách chép lại như sau, chẳng hạn vào năm 1438 vì có tai dị nên triều đình xuống chiếu đại xá thiên hạ, vua tự trách tội mình và cầu lời nói thẳng: “Tất cả các đại thần, các quan văn võ các người nên chỉ ra những lỗi lầm kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì. Nếu có điều gì tiếp thu được, nhất định sẽ khen thưởng cất nhắc, dẫu có ngu dần vu khoát, cũng không bắt tội. Ngõ hầu có thể lay chuyển lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy” (Q. XI, 51a). Năm 1448 “xuống chiếu cho các quan kinh diên, tham nghị, đài quan, hàn lâm, trung thư tâu bày về duyên do dẫn tới hạn hán (Q. XI, 68b). Năm 1451 “Tha các loại thuế, những kẻ trốn đi lính, quân lính và dân chúng trốn tránh thì cho ra đầu thú, những án kiện bỏ đọng thì cho tâu trình đầy đủ duyên do” (Q. XI, 88a). Hạn hán vào năm 1463 thì vua lánh chánh điện, giảm món ăn, triệt bỏ đồ nhạc (Q. XII, 13a). Các năm 1466-1467, 1489, 1490 xảy ra đại hạn triều đình đều tiến hành đại xá. Năm 1497 lúc có nạn đói ở Nghệ An: “Nhà vua ra sắc lệnh hai ty Thừa chính và Hiến sát phát thóc trong kho công cho dân nghèo vay, mỗi người được vay 100 thăng, đợi lúc lúa chín được mùa sẽ thu lại nộp trả vào kho công” (Cương mục, XXIV, 23). Năm 1499 khi xảy ra đại hạn vua có sắc chỉ truyền cho Hình bộ rằng: “Hôm nay ở Thái miếu còn đương cầu mưa, hãy hoãn việc xử trảm và phạt trượng tù nhân, hãy ghi chép tình trạng tù nhân bị phạt trượng tâu lên, phải cấp tốc vâng lệnh thi hành” (Q. XIV, 10b). Bên cạnh các biện pháp khắc phục hậu quả là các biện pháp phòng chống thiên tai. Ví dụ, năm 1498 triều đình lưu ý về việc ruộng, “ra sắc lệnh cho quan thừa chính, hiến sát và phủ, huyện đi tuần hành khuyên bảo nhân dân đắp đê ngăn nước, khơi thông những chỗ úng thủy, đắp bờ ruộng, để đề phòng hạn hán, thủy tai, mỗi xã đặt một chức xã trưởng, chuyên đôn đốc về việc làm ruộng, trồng dâu” (Cương mục, XXIV, 29). Năm 1503 xảy ra hạn hán, triều đình ra sắc chỉ lưu ý tới việc nông và dân binh “nơi nào bị hạn hán hay úng lụt, phải dự bị đề phòng trước các việc trồng cấy” (Q. XIV, 32b), đồng thời cho “đắp đê sông Tô Lịch trên từ xã Trát Kiều xuống đến xã Cống Nguyên để phòng lụt, hạn, làm lợi cho nghề nông, lại xin đào cừ Yên Phúc xuống đến cừ Thượng Phúc để tưới nước cho ruộng dân” (Q. XIV, 34a). Có thể thấy, vào đầu thời Lê sơ, các biện pháp khắc phục hậu quả thiên tai như ban bố đại xá, chẩn cấp cứu trợ hoặc tìm kiếm nguyên nhân, giải pháp ứng phó thiên tai được đưa ra nhanh chóng. Nhờ vậy dù thiên tai, nạn đói xảy ra thường xuyên nhưng các đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông vẫn giữ được sự ổn định và phát triển. Tuy nhiên, tới cuối thời Lê sơ do chính sự thối nát nên khi xảy ra thiên tai, các biện pháp ứng phó thiên tai hầu như không còn được màng tới. Điển hình, năm 1512 trong nước có đói to do hạn hán nhưng triều đình Lê Tương Dực lại cho làm điện lớn hơn trăm nóc khiến lòng dân oán than (Q. XV, 19a).    Từ những phân tích trên có thể thấy, thiên tai có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển và suy vong của thời Lê sơ. Áp lực thiên tai đã làm gia tăng những căng thẳng môi trường sinh thái, khiến cho việc tưởng chừng có thể kiểm soát được hậu quả và tác động của thiên tai trở thành khủng hoảng không thể kiểm soát, dẫn tới sụp đổ.    Ở một khía cạnh khác, vào năm 1459 thiên tai đã được xem là một trong những duyên cớ để Lê Nghi Dân tiếm quyền, chiếm ngôi: “Trẫm là con trưởng của Thái Tông Văn hoàng đế, trước đây đã được giữ ngôi chính ở Đông cung. Chẳng may Tiên đế đi tuần về miền đông, bỗng băng ở bên ngoài. Nguyễn Thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, bắt trẫm làm phiên vương. Sau Tạ Thanh tiết lộ việc ấy, lây đến cả Thái úy Trịnh Khả và Tư không Trịnh Khắc Phục, Thái hậu bắt giết cả đi để diệt hết người nói ra. Cho nên từ đó tới giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn” (Q. XI, 98a). Qua chi tiết đáng chú ý này có thể thấy thiên tai đã đóng vai trò tác động đáng kể đến đời sống chính trị Đại Việt thời Lê sơ, không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn trở thành yếu tố biểu lộ mưu đồ chính trị của con người.□  ———  Tài liệu tham khảo:  Brendan M. Buckley – et al. (2010), “Climate as a contributing factor in the demise of Angkor, Cambodia”, PNAS, 107:15, 6748-6752.  Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  Nguyễn Xuân Tửu (1983), “Bước đầu tìm hiểu về biến động khí hậu ở nước ta trong lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 6 (213), 60-63.  Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  Victor Lieberman – Brendan Buckley (2012), “The Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-1820: New Findings”, Modern Asian Studies, 46:5, 1049-1096.    Author                Lư Vĩ An        
__label__tiasang Khí hậu với sự hưng thịnh của hai triều đại Lý Trần      Trong bài viết trước trên Tia Sáng số 1 năm 2021, khí hậu đã được nhìn nhận như một yếu tố tự nhiên đóng vai trò hoàn cảnh khách quan tác động đến sự hưng thịnh và suy vong của các nền văn minh và các triều đại trong lịch sử, bao gồm các triều đại ở Việt Nam. Lịch sử khí hậu trong các triều đại Việt Nam diễn tiến ra sao hay tác động của khí hậu và thiên tai đến lịch sử Việt Nam như thế nào? nhằm làm rõ vấn đề này ở từng thời kỳ cụ thể, bài viết này trước hết sẽ tìm hiểu về diễn biến của khí hậu thời Lý-Trần.      Chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ Man Nương và Tứ Pháp (Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện tượng trưng cho Mây, Mưa, Sấm, Chớp). Nguồn ảnh: Disanxanh  Lịch sử Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII có thể chia làm ba giai đoạn diễn tiến từ sơ kỳ, trung kỳ đến hậu kỳ. Trong đó, giai đoạn sơ kỳ Đại Việt gắn với kỷ nguyên thịnh trị của hai triều Lý – Trần kéo dài bốn thế kỷ (XI-XIV). Giai đoạn này đánh dấu sự trung hưng của người Việt sau một ngàn năm Bắc thuộc, biểu hiện không chỉ qua quá trình hoàn thiện bộ máy tổ chức nhà nước tập quyền, sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa mà còn ở khía cạnh quân sự: “đánh Tống bình Chiêm” thời Lý và ba lần chống quân Mông-Nguyên thời Trần. Góp phần vào nền thịnh thế Lý – Trần, ngoài những nhân tố chủ quan như chính sách trị nước, nền tảng tư tưởng thì các yếu tố khách quan như khí hậu và thiên tai có lẽ cũng cần được bàn luận tới.     Tình hình thiên tai ở Đại Việt thời Lý – Trần     Dựa theo ghi chép của Đại Việt Sử ký Toàn thư (Toàn thư) và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (Cương mục) thì vào hai triều Lý – Trần trong bốn thế kỷ có 38 lần xảy ra hạn hán, không mưa: thời Lý 21 lần, thời Trần 17 lần. Hạn hán thời Lý – Trần xảy ra với tần suất không thường xuyên, bình quân hạn hán xảy ra trong vòng một thế kỷ chỉ ở mức 9,5 lần. Con số này chưa bằng một nửa so với hạn hán thời Lê sơ (22 lần hạn hán trong 100 năm) và thời Lê trung hưng (Lê-Trịnh) với 32 lần hạn hán trong hai thế kỷ XVII-XVIII.    Các đợt hạn hán thời Lý – Trần xảy ra rất ít vào hai thế kỷ XI (4 lần) và XIII (5 lần), chỉ gia tăng bất thường vào thế kỷ XII (16 lần) và thế kỷ XIV (13 lần). Tuy nhiên, kể cả ở thời điểm xảy ra thường xuyên hơn, tính chất của hạn hán dường như không quá nghiêm trọng. Các ghi chép trong Toàn thư đã phản ánh đặc điểm này, chẳng hạn năm 1118: “Đại hạn, cầu đảo được mưa” (Quyển III, 18b); năm 1126: “Mùa thu, tháng 7, hạn, từ tháng 6 đến đây càng dữ” nhưng sau đó lại “mưa dầm, làm lễ cầu tạnh” (Quyển III, 24a); năm 1128: “Mùa hạ, tháng 4, hạn. Vua trai giới ăn chay cầu đảo, được mưa” (Quyển III, 31b); năm 1130: “Tháng 6, hạn, làm lễ cầu mưa” nhưng đến “mùa thu, tháng 9, mưa dầm, làm lễ cầu tạnh” (Quyển III, 35b); năm 1131: “Tháng 5, hạn, cầu đảo được mưa to” (Quyển III, 36a); năm 1140: “Từ mùa xuân sang mùa hạ, không mưa” nhưng tới “tháng 5, có mưa” và năm này “mùa đông, tháng 10 được mùa to” (Quyển IV, 1b); năm 1143: “Từ mùa xuân đến mùa hạ, đại hạn, vua thân làm lễ cầu đảo. Tháng 6 ngày Đinh Sửu có mưa” (Quyển IV, 4a); năm 1147: “Hạn, cầu đảo được mưa” (Quyển IV, 5b). Có thể thấy, hầu hết các đợt hạn hán vào thế kỷ XII không quá kéo dài, sau các đợt hạn hán đều có mưa, đôi khi còn xảy ra mưa dầm. Hơn nữa, ghi chép của Toàn thư còn cho thấy rằng thời tiết Đại Việt vào thế kỷ XII là sự đan xen của chuỗi hạn hán và mưa dầm thay phiên liên tiếp. Thời Lý – Trần chỉ có vài năm xảy ra hạn hán lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng do diễn ra cùng lúc với dịch bệnh gia súc và sâu cắn phá lúa vào các năm 1165, 1223, 1324, 1358.      Thời Lý – Trần cũng xảy ra khoảng 30 lần lũ lụt, thủy tai, với gần một nửa trong số đó xảy ra vào thế kỷ XIII. Theo ghi chép của Toàn thư, thời Lý có 8 lần lũ lụt, còn thời Trần có tới 22 lần lũ lụt. Lũ lụt, thủy tai thời Trần xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn thời Lý, ước tính số trận lũ lụt thời Trần gấp ba lần thời Lý. Đáng kể có những lần gây ngập lụt kinh thành Thăng Long, vỡ đê và tàn phá mùa màng. Điểm đáng lưu ý là trong khi hạn hán xảy ra hoàn toàn tự nhiên, do thiên tai thì lũ lụt xảy ra đôi khi ngoài yếu tố thiên tai còn do nhân tai gây ra bởi con người (vai trò của chính sách đê điều).    Thời Lý dường như được “thiên nhiên ưu đãi”, ít chịu thiên tai nghiêm trọng nên thời kỳ này chỉ xảy ra 5 lần nạn đói. Tuy nhiên đến thời Trần lại hứng chịu tới 13 lần nạn đói, với tần suất nạn đói gia tăng vào thế kỷ XIV (10 lần). Điều này phản ánh những bất lợi về điều kiện tự nhiên cuối thời Trần. Sự gia tăng các tác động tiêu cực của khí hậu, thời tiết và thiên tai từ thế kỷ XIV trở đi đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất, góp phần dẫn tới nạn đói thường xuyên thời kỳ này.    Trước thực trạng thiên tai xảy ra, triều đình thời Lý – Trần đã đề ra một số biện pháp ứng phó như chẩn cấp, cứu trợ thiên tai hoặc đại xá để yên lòng dân, giữ vững xã tắc. Chính sách ứng phó với thiên tai gồm biện pháp khắc phục hậu quả và phòng chống thiên tai là những chức năng cơ bản của các triều đại và nhà nước trong lịch sử. Việc thực hiện hiệu quả chính sách này là điều kiện cần thiết để duy trì sự ổn định xã hội và tồn vong của các triều đại thời bấy giờ.     Mối liên hệ giữa ™Thời kỳ Ấm Trung cổ∫ với khí hậu Đại Việt thời Lý – Trần      Đại Việt thời Lý – Trần có thể coi là giai đoạn hưng thịnh và ổn định kéo dài trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Điều này nếu xem xét trên bình diện khu vực Đông Nam Á lục địa sẽ thấy nhiều điểm tương đồng, nhất từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII. Đối với khu vực Đông Nam Á lục địa, giai đoạn từ 950 đến 1250/1300 được xem là kỷ nguyên phát triển của Pagan (Myanmar), Angkor (Campuchia) và Đại Việt (Việt Nam). Cả ba nhà nước này đều phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII và sau đó sụp đổ trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIII đến thế kỷ XV. Ở Campuchia, thế kỷ X-XI là giai đoạn thịnh vượng của nền văn minh Angkor với việc mở rộng lãnh thổ, xây dựng các đền đài hoành tráng và các công trình thủy lợi phức tạp ở khu đô thị Angkor. Vào thời kỳ đỉnh cao, dân số của vùng trung tâm Angkor đạt mức 750.000 người, còn Angkor Wat trở thành quần thể kiến trúc tôn giáo lớn nhất mọi thời đại. Cùng giai đoạn này (950-1250), Pagan đạt bước phát triển nhảy vọt. Từ một thị quốc, trong thế kỷ XI, Pagan đã thống nhất vùng châu thổ sông Irrawaddy và bành trướng lãnh thổ sang các vùng lân cận. Giống như người Khmer, người Miến Điện thời kỳ này cũng để lại dấu ấn về quy mô xây dựng các đền chùa ở đô thị Pagan (Bagan). Còn Đại Việt, sau hơn 1000 năm Bắc thuộc cũng đã nhanh chóng bước vào kỷ nguyên trung hưng và phát triển ổn định từ đầu thế kỷ XI. Sự phát triển của nông nghiệp thời Lý-Trần đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Dân số Đại Việt tăng từ khoảng 1.600.000 người vào thế kỷ XI lên 3.000.000 người vào thế kỷ XIV. Sự gia tăng dân số là cơ sở để củng cố tiềm lực quân sự và nguồn thu thuế của triều đình, mặc dù cũng là yếu tố làm gia tăng dịch bệnh lưu hành, trong đó có đậu mùa đã trở thành căn bệnh đặc hữu ở Đại Việt thời kỳ này.      Bản đồ Đông Nam Á lục địa khoảng những năm 1220 (Dẫn theo Victor Lieberman (2003), Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, Vol. 1, New York: Cambridge University Press, p. 24)  Như vậy, trong giai đoạn từ giữa năm 950 đến năm 1300, cả ba nhà nước Đông Nam Á lục địa nói trên đều có sự phát triển về kinh tế-xã hội, gia tăng dân số cũng như thể chế bộ máy nhà nước. Câu hỏi đặt ra là tại sao cả ba nhà nước đều phát triển mạnh mẽ trong khoảng thời gian này? Ngoài các yếu tố chủ quan thì yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên hay khí hậu có giữ vai trò tác động đáng kể hay không? Các nhà nghiên cứu Victor Lieberman và Brendan Buckley cho rằng khí hậu là yếu tố đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển đồng thời của cả ba vương quốc Đông Nam Á lục địa. Hơn nữa, không chỉ Đông Nam Á lục địa mà Trung Quốc, Nam Á và châu Âu giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển về kinh tế, nhân khẩu và chính trị. Trong giai đoạn khoảng từ 900 đến 1300 (một số tài liệu cho là khoảng từ 800 đến 1200) của thời trung đại được biết tới như “Thời kỳ Ấm Trung cổ” (Medieval Warm Period, viết tắt là MWP, đôi khi cũng được gọi là Medieval Climate Optimum hoặc Medieval Climatic Anomaly) với đặc trưng khí hậu chủ yếu nóng và khô hạn kéo dài. Thuật ngữ “Thời kỳ Ấm Trung cổ” lần đầu được đưa ra năm 1965 bởi nhà khí hậu học người Anh là Hubert Horace Lamb (1913-1997) trong nghiên cứu có tựa đề “The Early Medieval Warm Epoch and Its Sequel”. Ở châu Âu, xu hướng khí hậu ấm dần lên được ghi nhận ở khu vực Bắc Đại Tây Dương và Nga từ thế kỷ IX-X. Mùa hè và mùa thu ấm áp, tương đối khô ráo đã tác động đáng kể đến sự tăng trưởng của nông nghiệp và nhân khẩu châu Âu thời trung kỳ trung đại. Cùng lúc đó, sự ấm lên của lục địa Á-Âu bởi tác động của “Thời kỳ Ấm Trung cổ” làm gia tăng hoạt động gió mùa ở tiểu lục địa Ấn Độ, khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Trong thời kỳ này, Đới hội tụ liên chí tuyến ổn định ở 5o vĩ tuyến Bắc so với với vị trí ở thời kỳ sau đó đã tạo điều kiện cho hiện tượng La Nina xuất hiện thường xuyên ở khu vực tây Thái Bình Dương. La Nina góp phần làm gia tăng hoạt động gió mùa kéo dài và phân bố đều hơn hàng năm, khiến cho hạn hán ngắn hơn và mưa nhiều hơn. Hơn nữa, nhiệt độ ấm lên bất thường giúp tích tụ hơi nước trong khí quyển khiến cho lượng mưa cũng nhiều hơn. Trong khi đó, sự gia tăng bức xạ Mặt trời làm giảm tần suất xuất hiện của hiện tượng El Nino. Các yếu tố này đều liên quan đến việc gia tăng lượng mưa ở Đông Nam Á. Mưa thường xuyên và kéo dài hơn chính là điều kiện lý tưởng để nông nghiệp phát triển, từ đó thúc đẩy sự ổn định của kinh tế-xã hội và chính trị.      Dữ liệu chỉ số hạn hán Palmer (PDSI), chỉ số này càng cao thì lượng mưa hằng năm càng cao  (Dẫn theo Victor Lieberman – Brendan Buckley (2012), “The Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-1820: New Findings”, Modern Asian Studies, 46:5, p. 1057)    Dựa theo phân tích chỉ số hạn hán Palmer (PDSI), thế kỷ XII chứng kiến lượng mưa tăng mạnh chưa từng có với chỉ số PDSI cao nhất được ghi nhận. Ngoài ra trong giai đoạn từ 1030 đến 1300, chỉ số PDSI trung bình đã vượt qua bất kỳ giai đoạn nào khác được so sánh cho đến những năm 1900. Sự gia tăng hoạt động gió mùa và lượng mưa dưới tác động của “Thời kỳ Ấm Trung cổ” đã góp phần đáng kể, thậm chí là quan trọng vào sự phát triển của các nhà nước Đông Nam Á lục địa. Ở Angkor, lượng mưa tăng đều và ổn định đã thúc đẩy hoạt động trồng trọt và sự phát triển của mạng lưới thủy lợi. Hệ thống baray giai đoạn này đã đóng vai trò là cơ sở hạ tầng quan trọng trong việc duy trì sản xuất cũng như sự lớn mạnh về kinh tế, xã hội và văn hóa của Angkor. Những công trình kiến trúc xa hoa nhất Angkor xuất hiện trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XII trùng hợp với thời kỳ lượng mưa lớn nhất được ghi nhận. Ở Pagan, việc gia tăng hoạt động xây dựng đền tháp trong giai đoạn từ 1050 đến 1300, nhất là vào thế kỷ XII cũng trùng hợp với thời kỳ lượng mưa tăng cao. Dữ liệu khí hậu ở miền Trung Bắc Thái Lan cũng cho thấy khí hậu trở nên ẩm ướt kéo dài đáng kể trong giai đoạn từ 950 đến 1280 với sự thay đổi khiêm tốn (khô hạn) trong khoảng 1030-1100.      “Thời kỳ Ấm Trung cổ” đã góp phần đáng kể, thậm chí là quan trọng vào sự phát triển của các nhà nước Đông Nam Á lục địa.      Đối với Đại Việt, thời Lý thường ghi nhận hiện tượng mưa dầm, tức mưa kéo dài và đây là một trong những hiện tượng thời tiết đáng chú ý thời kỳ này. Theo ghi chép của Toàn thư, vào thời Lý có khoảng 8 lần xảy ra mưa dầm (các năm 1073, 1126, 1127, 1128, 1130, 1131, 1134 và 1145). Mưa dầm diễn ra khá thường xuyên vào nửa đầu thế kỷ XI, đáng kể có những năm mưa dầm liên tiếp như 1126, 1127, 1128 và 1130-1131. Liên quan đến hiện tượng mưa dầm, trong các nghi lễ thời tiết của triều đình vào thời kỳ này, bên cạnh cầu đảo mỗi khi hạn hán còn có lễ cầu tạnh mỗi khi mưa dầm. Có thể kể tới các sự kiện năm 1073: “Bấy giờ mưa dầm, rước Phật Pháp Vân về Kinh để cầu tạnh” (Quyển III, 6b); năm 1127: “Từ tháng giêng đến tháng 2 mưa dầm, sai quan làm lễ cầu tạnh” (Quyển III, 25a); năm 1131: “Tháng 9, mưa lâu ngày, làm lễ cầu tạnh” (Quyển III, 36b); năm 1134: “Tháng 2 mưa lâu, làm lễ cầu tạnh” (Quyển III, 38a). Khi trời không mưa hoặc khô hạn kéo dài triều đình tổ chức cầu đảo, đến lúc mưa dầm nhiều ngày thì triều đình lại tổ chức cầu tạnh. Cầu đảo và cầu tạnh do đó phản ánh hai thái cực tuy khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau trong cùng một quan niệm nhận thức rằng nguồn gốc của mọi tai biến thiên nhiên đều do ý của trời đất mà ra. Liên quan đến hiện tượng mưa dầm thời Lý, Toàn thư cũng ghi chép về việc lần đầu tiên triều đình cho làm chiếc lọng che mưa vào năm 1123: “Tháng 2. Lần đầu làm chiếc lọng che mưa cán cong” (Quyển III, 22a). Qua chi tiết này có thể thấy rằng bởi hiện tượng mưa dầm xảy ra thường xuyên nên việc làm lọng che mưa là một nhu cầu tất yếu trong đời sống sinh hoạt thời bấy giờ. Sang thời Trần trong suốt hai thế kỷ XIII và XIV lại không thấy bất cứ ghi chép nào về hiện tượng mưa dầm. Sự kiện mưa dầm tiếp theo được ghi chép trong Toàn thư xảy ra vào năm 1409: “Tháng 7, mưa dầm suốt mấy tuần không tạnh” (Quyển IX, 13b). Phải chăng sự thiếu vắng các ghi chép về mưa dầm thời Trần là do Toàn thư không chép hay quả thực vào thời Trần không xảy ra hiện tượng này? Nếu ghi chép của Toàn thư là chính xác và đầy đủ thì tần suất mưa dầm xuất hiện ít dần từ cuối thời Lý sang đầu thời Trần đã phản ánh xu hướng dịch chuyển của khí hậu từ ẩm, mưa nhiều sang khô hạn, ít mưa. Các ghi chép của Toàn thư cho thấy ảnh hưởng đáng kể của “Thời kỳ Ấm Trung cổ” đến khí hậu và thời tiết Đại Việt. Thế kỷ XII có lẽ là giai đoạn “Ấm Trung cổ” tác động mạnh mẽ và rõ rệt nhất đến khí hậu Đại Việt với đặc trưng mưa nhiều và kéo dài. Các đợt hạn hán thời kỳ này cũng ngắn và ít nghiêm trọng hơn, thường kết thúc bằng các đợt mưa theo sau đó. Sau đó, từ giữa thế kỷ XIV trở đi khi “Thời kỳ Ấm Trung cổ” dần bị thay thế bởi thời kỳ “Tiểu Băng Hà” với đặc trưng khí hậu khô hạn thì hiện tượng mưa dầm cũng không còn được sử sách ghi chép nhiều như trước. Tần suất hạn hán thường xuyên cuối thời Trần là biểu hiện cho quá trình biến đổi khí hậu này. Sự gia tăng ảnh hưởng của thời tiết khô hạn ở Đại Việt từ nửa sau thế kỷ XIV cũng khiến gia tăng nhu cầu sử dụng quạt và phổ biến nghề làm quạt. Sử sách ghi chép sự kiện năm 1362: “Nhà vua còn sai làm quạt bán cho dân nữa” (Cương mục, Quyển X). Tương tự Đại Việt, từ cuối thế kỷ XIII tốc độ tăng trưởng chậm lại của Angkor và Pagan cũng trùng hợp với xu hướng biến đổi khí hậu từ “Ấm Trung cổ” sang “Tiểu Băng Hà”.    Tóm lại, từ những phân tích nêu trên có thể tạm kết luận rằng “Thời kỳ Ấm Trung cổ” là giai đoạn khí hậu lý tưởng cho sự phát triển của các nhà nước và xã hội đương thời. Yếu tố khí hậu trong trường hợp này đã đóng vai trò tác động tích cực nhất định “thiên thời, địa lợi” giúp các nhà nước Đông Nam Á lục địa bao gồm Đại Việt thời Lý-Trần phát triển ổn định. □  —–  Tài liệu tham khảo  Hubert Horace Lamb, “The Early Medieval Warm Epoch and Its Sequel”, Palaeogeography Palaeoclimatology Palaeoecology, Vol. 1, 1965, s. 13-37.  Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt Sử ký Toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  Nguyễn Xuân Tửu (1983), “Bước đầu tìm hiểu về biến động khí hậu ở nước ta trong lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 6 (213), 60-63.  Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  Victor Lieberman – Brendan Buckley (2012), “The Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-1820: New Findings”, Modern Asian Studies, 46:5, 1049-1096.  Victor Lieberman (2003), Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, Vol. 1, New York: Cambridge University Press.  Wallace S. Broecker, “Was the Medieval Warm Period Global?”, Science, Vol. 291, No. 5508, 2001, 1497-1499.    Author                Lư Vĩ An        
__label__tiasang Khỉ khôn hơn người?      Theo các nhà nghiên cứu Nhật, tinh tinh có một trí nhớ về hình ảnh vượt xa con người.      Thậm chí tinh tinh con còn làm tốt hơn sinh viên đại học trong các trắc nghiệm trí nhớ (liên quan đến việc nhớ lại vị trí các chữ số trên màn hình, và nhớ lại đúng trình tự các số đó) do các nhà khoa học Nhật soạn thảo. Các nhà nghiên cứu tin rằng, tinh tinh con có trí nhớ về hình ảnh, cho phép chúng ghi nhớ một mẫu hình phức tạp trong chớp mắt. Điều này đôi khi có ở trẻ em nhưng giảm dần với tuổi tác. Cho tới nay, người ta từng nghĩ rằng tinh tinh không thể sánh với con người về mặt trí nhớ và các kỹ năng tâm thần khác.   Q.Hương (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí làm suy giảm tầng ozone ảnh hưởng đến sự nóng lên cực đoan ở Bắc cực?      Vùng cực Bắc đang nóng lên nhanh gấp đôi so với mức trung bình toàn cầu. Các khí làm suy giảm tầng ozone có thể là nguyên nhân của một nửa trong số các tác động biến đổi khí hậu quan sát được ở Bắc Cực từ năm 1955 đến 2005.    Phát hiện này có thể giúp giải thích sự chênh lệch trong mức độ biến đổi khí hậu của khu vực này so với toàn cầu. Bắc Cực đang ấm lên với tốc độ trung bình cao gấp đôi so với phần còn lại của địa cầu – một hiện tượng được gọi là khuếch đại Bắc Cực – và làm mất băng biển với tốc độ đáng kinh ngạc.  Theo giải thích của Mark England, một nhà khoa học khí hậu tại Viện Hải dương học Scripps ở La Jolla, California, thì các chất làm suy giảm tầng ozone, bao gồm chlorofluorocarbons (CFC), có khả năng làm ấm khí quyển gấp hàng ngàn lần so với carbon dioxide. Nhưng hầu hết các nghiên cứu về các chất này đều tập trung vào tác động của chúng đối với tầng ozone bảo vệ hành tinh – đặc biệt là ở Nam bán cầu, nơi các chất này gây ra lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực. Ông cũng là đồng tác giả của nghiên cứu mới về chất làm suy giảm tầng ozone và nóng lên ở Bắc Cực mới xuất bản  trên tạp chí Nature Climate Change. Nghiên cứu này sẽ “tái cấu trúc rất nhiều cuộc thảo luận trên phạm vi toàn cầu”, ông cho biết.  Trong công trình này, Mark England và đồng nghiệp đã so sánh các mô phỏng khí hậu trong các trường hợp có và không có sự phát thải hàng loạt CFC bắt đầu từ những năm 1950. Không có CFC, các mô phỏng cho thấy nóng lên ở Bắc Cực trung bình ở mức 0,82°C. Khi có sự hiện diện của các hợp chất làm suy giảm tầng ozone, con số đó tăng lên thành 1,59°C. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy những thay đổi tương tự về mức độ bao phủ của băng biển giữa hai bộ mô phỏng. Bằng cách chạy các mô hình với nồng độ CFC cố định trong khi thay đổi độ dày của tầng ozone, nhóm nghiên cứu có thể quy sự nóng lên trực tiếp cho các hóa chất – thay vì gián tiếp do thay đổi mà các chất này gây ra trong tầng ozone.  Nhóm nghiên cứu của Mark England đã “thực hiện một nghiên cứu cẩn thận trong một mô hình duy nhất”, Marika Holland, một nhà khoa học khí hậu tại Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia ở Boulder, Colorado cho biết. “Tôi nghĩ rằng nó rất có ý nghĩa”. Tuy cho rằng tác dụng làm ấm của các chất làm suy giảm tầng ozone trong khí quyển là một hiện tượng đã được ghi nhận nhưng bà lưu ý, sự phức tạp của các mô hình khí hậu khiến chúng ta khó có thể kết luận chắc chắn về mức độ hiệu ứng của các chất này gây ra trên Bắc Cực.  Susan Strahan, một nhà khoa học khí quyển tại Trung tâm hàng không vũ trụ Goddard của NASA ở Greenbelt, Maryland, nói rằng nghiên cứu này “rất thú vị và khiêu khích”, nhưng cô chưa tin vào kết luận của nó. Đáng nhẽ sẽ thuyết phục hơn, cô nói, nếu nhóm nghiên cứu có thể đưa ra một lời giải thích vật lý rõ ràng cho sự khuếch đại nhiệt độ và băng tan được mô hình hóa.  Cả Strahan và Cecilia Bitz, một nhà khoa học khí hậu tại Đại học Washington, Seattle, nói rằng cần sao chép những kết quả này trong nhiều mô hình khí hậu khác nhau để cải thiện các ước tính về việc CFC chịu bao nhiêu phần trách nhiệm cho tình trạng nóng lên ở Bắc Cực.  Nồng độ CFC toàn cầu đã có xu hướng giảm kể từ đầu thiên niên kỷ, sau khi Nghị định thư Montreal được thông qua năm 1989 kêu gọi loại bỏ các chất này. Mặc dù nhiều yếu tố khác góp phần khuếch đại nóng lên ở Bắc Cực, kết quả cho thấy sự nóng lên ở Bắc Cực và băng tan trên biển có thể được hạn chế trong tương lai khi các chất làm suy giảm tầng ozone trong khí quyển ngày càng ít đi, Bitz nói. “Đây là một nghiên cứu rất quan trọng vì nó có một chút lạc quan.”□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00108-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nào có em bé chỉnh sửa gene?      Trên khắp thế giới, từ Trung Quốc, Anh cho đến Mỹ, các nhà khoa học đang thảo luận những hứa hẹn và cả hiểm họa của việc chỉnh sửa gene ở phôi thai người. Việc này có nên được cho phép không, và nếu có thì trong những trường hợp nào?      Các cuộc thảo luận được thúc đẩy bởi sự bùng nổ mối quan tâm tới công nghệ đầy sức mạnh mang tên CRISPR1/Cas9 với tiềm năng đem lại sự dễ dàng và chính xác chưa từng có cho kỹ thuật di truyền. CRISPR/Cas9 và các loại công cụ tương tự có thể được sử dụng để kiểm soát ADN của phôi trên một cái đĩa, giúp tìm hiểu những giai đoạn sớm nhất trong quá trình phát triển con người. Trên lý thuyết, công nghệ chỉnh sửa gene được sử dụng để “sửa chữa” những đột biến gây ra các bệnh di truyền ở người. Nếu được thực hiện trên phôi thai, công nghệ này có thể ngăn chặn những bệnh đó không di truyền sang thế hệ sau.     Những triển vọng mà công nghệ chỉnh sửa gene hứa hẹn đã châm ngòi cho mối quan tâm và thảo luận rộng rãi giữa các nhà khoa học, nhà đạo đức học và bệnh nhân. Có những lo sợ rằng nếu công nghệ chỉnh sửa gene được chấp nhận trong các phòng khám để ngăn chặn bệnh tật thì sẽ không tránh khỏi việc công nghệ này được sử dụng để mang lại, nâng cao hoặc loại bỏ một số đặc điểm mà không vì lý do y tế. Các nhà đạo đức học thì lo ngại khả năng tiếp cận không bình đẳng những công nghệ cao như vậy có thể dẫn đến sự phân cấp gene. Và những thay đổi bộ gene có chủ đích của một người sẽ được di truyền cho những thế hệ sau thông qua dòng mầm (tinh trùng và trứng), mang lại những hậu quả lâu dài, không lường trước được. Thêm vào đó, luật lệ ở rất nhiều nước vẫn chưa bắt kịp với sự phát triển của khoa học.    Tạp chí Nature đã thử thu thập bức tranh toàn cảnh về luật pháp bằng cách đặt câu hỏi với các chuyên gia và cơ quan chính phủ ở 12 nước có lịch sử nghiên cứu sinh học được tài trợ tốt. Phản hồi cho thấy các cách tiếp cận rất đa dạng. Tại một số nước, việc thí nghiệm với phôi thai người ở bất cứ cấp độ nào đều là tội hình sự, trong khi ở một số nước khác thì gần như bất cứ điều gì cũng được phép.    Những lo ngại xung quanh việc kiểm soát phôi thai người không có gì mới. Rosario Isasi, học giả pháp lý tại Đại học McGill, Montreal, chỉ ra hai làn sóng pháp chế quan trọng trong những năm qua: làn sóng được châm ngòi bởi những lo ngại về nguồn gốc các tế bào gốc phôi thai, đã được chấp nhận rộng rãi, trong khi làn sóng về sinh sản vô tính bị cấm ở nhiều nơi vì những lý do an toàn.    Tình hình pháp chế hiện nay kế thừa từ hai làn sóng đó. Tetsuya Ishii, nhà đạo đức sinh học ở Đại học Hokkaido, Sapporo, đã dành gần một năm để phân tích các luật và nguyên tắc chỉ đạo của 39 nước và thấy 29 nước trong số đó đưa ra những qui định có thể được hiểu là hạn chế chỉnh sửa gene người vì mục đích lâm sàng nhưng việc “cấm” này – xuất hiện cả ở Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ – lại không có ràng buộc pháp lý. Nhà sinh học phát triển Qi Zhou thuộc Viện Sinh vật học, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, cho biết, họ có bộ nguyên tắc chỉ đạo nhưng một số người không hề tuân theo. Ishii nhận định luật lệ tại chín nước, trong đó có Nga và Argentina, còn mơ hồ. Tại Mỹ, tài trợ liên bang cho những nghiên cứu liên quan đến phôi thai người đều bị cấm, và việc chỉnh sửa gene thường phải xin cấp phép, nhưng kĩ thuật này lại không bị cấm sử dụng tại các phòng khám. Tại những nước cấm sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gene người cho mục đích lâm sàng như Pháp và Úc, các nghiên cứu vẫn được cho phép, miễn là nó đáp ứng những qui định nhất định và không cố gắng cho chào đời một sự sống.     Nhiều nhà nghiên cứu đang mong chờ một bộ nguyên tắc chỉ đạo quốc tế để dẫn dắt các nhà lập pháp tại quốc gia của mình, kể cả nếu bộ nguyên tắc này không được thi hành. Các cuộc thảo luận hiện nay đang nhằm mục đích phát triển một bộ khung nguyên tắc như vậy; ví dụ như Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ dự định sẽ tổ chức một hội nghị thượng đỉnh quốc tế vào tháng 12 và sau đó đưa ra các kiến nghị về việc sử dụng kĩ thuật chỉnh sửa gene người một cách có trách nhiệm vào năm 2016.    Nhưng trong lúc luật pháp còn đang trong quá trình phát triển thì các nghiên cứu đã bắt đầu được tiến hành và ngày càng nhiều hơn. Hồi tháng Tư, các nhà khoa học tại Trung Quốc tuyên bố họ đã sử dụng kĩ thuật CRISPR để thay đổi bộ gene của phôi thai người, mặc dù những phôi thai này không có khả năng tạo ra một em bé sống. Có tin đồn một số phòng thí nghiệm khác ở Trung Quốc cũng đã tiến hành những thí nghiệm tương tự. Còn tháng Chín mới đây, nhà sinh học phát triển Kathy Niakan ở Viện Francis Crick ở London đã nộp đơn xin Cơ quan Thụ tinh và Phôi thai học con người của Anh cấp phép sử dụng kĩ thuật chỉnh sửa gene để nghiên cứu những lỗi trong sự phát triển bào thai dẫn đến vô sinh và sảy thai. Chưa có ai tuyên bố mối quan tâm tới việc tạo ra những em bé sống với gene được chỉnh sửa, và những thí nghiệm ban đầu cũng cho thấy việc này chưa thực sự an toàn, nhưng một số người cho rằng đây chỉ còn là vấn đề thời gian.    Ishii dự đoán, những quốc gia có tỉ lệ thụ tinh ống nghiệm cao sẽ là những nước đầu tiên đưa kĩ thuật chỉnh sửa gene người vào ứng dụng lâm sàng. Ông cho biết, Nhật Bản là một trong những nước có số bệnh viện chuyên khoa sản nhiều nhất trên thế giới và hiện không có luật lệ nào phải thực thi về việc sửa đổi dòng mầm. Tình hình ở Ấn Độ cũng tương tự như vậy.     Guoping Feng, nhà thần kinh học tại Viện Công nghệ Massachusetts, thì hi vọng, với sự cải tiến, kĩ thuật chỉnh sửa gene sẽ được sử dụng để ngăn chặn các bệnh di truyền. Nhưng ông cũng cho rằng hiện còn quá sớm để đưa việc chỉnh sửa phôi thai người vào thử nghiệm lâm sàng. Feng lo ngại nếu làm sai, dân chúng sẽ hiểu lầm về kĩ thuật này và không ủng hộ các nghiên cứu khoa học nữa.       Khánh Minh dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/where-in-the-world-could-the-first-crispr-baby-be-born-1.18542  ————  1 CRISPR – clustered regularly interspaced short palindromic repeats: nhóm các đoạn ngắn đối xứng lặp lại thường xuyên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nào có tạp chí Việt Nam học quốc tế ?      Xây dựng một tạp chí Việt Nam học quốc tế ở Việt Nam cần một sự chuyển đổi lớn về mặt nhận thức của cộng đồng khoa học và các nhà quản lý.        Hội thảo Việt Nam học lần thứ 5, 2016.  Ba năm nay, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức hàng chục hội thảo, tọa đàm về việc xây dựng một tạp chí khoa học xã hội đạt “chuẩn quốc tế” và định hướng tạp chí Vietnam Social Sciences của Viện sẽ lọt vào danh mục tạp chí quốc tế (ít nhất là ACI) vào năm 2025. Cùng với đó, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng bộc lộ nỗ lực và quyết tâm tương tự với tạp chí Journal of Social Sciences and Humanities của mình. Nhưng liệu hai cơ quan nghiên cứu uy tín hàng đầu về khoa học xã hội của Việt Nam và kể cả các cơ sở nghiên cứu khác có làm được điều đó, và họ có nên làm?  Nhu cầu bức thiết có một tạp chí Việt Nam học  “Mong muốn của chính phủ và của cả cộng đồng khoa học Việt Nam là thông qua việc xuất bản một tạp chí uy tín quốc tế để thế giới hiểu thêm về Việt Nam, để ngành Việt Nam học có vị thế và đóng góp nhiều hơn cho khoa học thế giới” – GS. Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng Đại học KHXH&NV đồng thời là Tổng biên tập tạp chí Journal of Social Sciences and Humanities cho biết. Hiện nay, trên thế giới chỉ có duy nhất một tạp chí trong lĩnh vực Việt Nam học, là Journal of Vietnamese Studies (JVS) của nhà xuất bản University of California, Berkeley Press ra đời cách đây 12 năm. Đây cũng là tạp chí thứ hai trong lịch sử chuyên về lĩnh vực này, sau khi tạp chí Diễn đàn Việt Nam của dịch giả và nhà sử học Việt kiều Huỳnh Sanh Thông đóng cửa vào những năm 1990. JVS tập trung vào các nghiên cứu về lịch sử, chính trị, văn hóa – xã hội của Việt Nam và những chủ đề bị bỏ quên bởi dòng nghiên cứu chính thống như người Việt Nam ở hải ngoại và Chiến tranh Việt Nam. Trả lời phỏng vấn Tia Sáng, Lưu Trinh, thư ký tòa soạn của JVS tự hào nói rằng tạp chí của họ là “ngọn cờ đầu” về Việt Nam học trên thế giới và “không có đối thủ”. Tiếng tăm của họ thông qua con đường “truyền miệng” và từ khi xuất bản đến nay, họ đã nhanh chóng tăng tần suất xuất bản từ một năm hai số thành ba số và hiện nay là bốn số với người viết đến từ khắp các châu lục trên thế giới. Ví dụ của JVS dường như mở ra một con đường rất tiềm năng trong việc xây dựng một tạp chí quốc tế về Việt Nam học.    Mà chính Peter Zinoman, tổng biên tập đồng thời là người sáng lập JVS, hiện nay là giáo sư duy nhất ngành Việt Nam học tại University of California, Berkeley không chỉ cho rằng sự ra đời của tạp chí quốc tế chuyên về Việt Nam học là cấp thiết mà còn khẳng định tạp chí của ông, với những giới hạn về ban biên tập, ngôn ngữ và địa lý chưa đủ để bao trùm sự đa dạng và sôi động trong lĩnh vực Việt Nam học trên thế giới ngày nay. Trong công bố tại hội nghị Việt Nam học lần thứ ba năm 2009, Zinoman đã kể lại quá trình xây dựng JVS để minh chứng cho lập luận trên của mình. Trong đó, thế giới ngày càng quan tâm đến ngành Việt Nam học, thể hiện ở việc ngày càng nhiều học giả Việt Nam học tại các trường đại học và viện nghiên cứu danh tiếng trên thế giới với quá trình thi tuyển không kém phần cạnh tranh so với các lĩnh vực khác. Trong khi đó, ngoài JVS, các tạp chí nghiên cứu châu Á và Đông Nam Á khác lại có xu hướng ưu tiên “diện tích đất” cho những bài nghiên cứu về những nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật và Indonesia. Hơn nữa, các nghiên cứu về Việt Nam các trên tạp chí này cũng không thể quá chuyên sâu và phải đưa ra được những kết luận đầy đủ cho bối cảnh lý thuyết và khu vực rộng hơn. Ông kết luận rằng, việc không có tạp chí chuyên ngành Việt Nam học không chỉ “gây khó khăn” cho các học giả trong lĩnh vực này mà còn là “thiếu sót về mặt thể chế” khi mỗi nước trong khu vực đều có một tạp chí chuyên ngành đất nước học về họ (kể cả Lào và Campuchia). Nhưng, dẫu cho JVS giải tỏa được phần nào nhu cầu của cộng đồng Việt Nam học trên thế giới, Zinoman cũng tự nhận rằng, do ban biên tập chủ yếu ở Bắc Mỹ nên các nghiên cứu đăng trên tạp chí có thiên hướng đến từ khu vực này và chưa vươn ra được nhiều tác giả tiềm năng ở Úc, Anh và Singapore. Hơn nữa, cũng do đặc điểm các chủ biên tạp chí đến từ hai ngành lịch sử và văn học so sánh nên nội dung của JVS thiên về các lĩnh vực tương tự.    Bìa tạp chí Journal of Vietnamese Studies, tạp chí quốc tế duy nhất về Việt Nam học trên thế giới hiện nay.   Còn có những lập luận khác về tính cấp thiết của việc xây dựng tạp chí quốc tế về Việt Nam học, chẳng hạn như GS. Lương Văn Hy ở Đại học Toronto cho rằng “có được tạp chí như thế cũng là một chỉ báo tốt về sự trưởng thành của KHXH&NV ở Việt Nam”. Lưu Trinh cho rằng “[một tạp chí như thế] sẽ đóng vai trò lớn trong việc thay đổi thực hành khoa học ở Việt Nam”. Cô thấy rằng phần lớn các nghiên cứu từ Việt Nam gửi đến JVS đều chưa tuân thủ nguyên tắc liên quan đến trích dẫn trong một bài báo khoa học khiến cho công trình thiếu thuyết phục, thiếu chuyên nghiệp.   Không thể vừa mang tính quốc gia, vừa mang tính quốc tế  Nhưng mặc dù có những lí do chính đáng và bối cảnh thuận lợi, thì việc một viện nghiên cứu, trường đại học trong nước xây dựng một tạp chí quốc tế về Việt Nam học trong chưa đầy 10 năm nữa, đòi hỏi một nỗ lực vô cùng lớn nếu nhìn vào xuất phát điểm của Việt Nam. Số lượng công bố quốc tế ISI/Scopus của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Đại học KHXH&NV Hà Nội mỗi năm của mỗi đơn vị chưa vượt quá 10 bài, thể hiện số nhà khoa học thông thạo thông lệ quốc tế về xuất bản trên các tạp chí chưa nhiều, chưa nói đến việc điều hành và xây dựng một tạp chí quốc tế. Tạp chí tiếng Anh của hai đơn vị trên vẫn còn đậm nét “nội địa” thể hiện ở số bài trong nước và số thành viên người Việt Nam trong ban điều hành còn vượt trội. Cả hai tạp chí Vietnam Social Sciences của Viện Hàn lâm KHXHVN và tạp chí Journal of Social Sciences and Humanities của Trường ĐHKHXHNV, Đại học Quốc gia mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và đổi mới, vẫn còn phải phấn đấu rất nhiều mới đạt được các chuẩn mực quốc tế. Cả hai tạp chí đều được Lưu Trinh và GS Oscar Salemink   đang làm việc tại Đại học Copenhagen, Đan Mạch đánh giá là “rất khó tìm đọc”.  Việc hóa giải những bế tắc trên đặt cộng đồng khoa học và cả những nhà quản lý ở Việt Nam vào một cuộc chuyển đổi nhận thức mạnh mẽ: Xây dựng tạp chí quốc tế, ngay cả khi tạp chí đó là về ngành Việt Nam học, ngay cả khi tạp chí sử dụng nguồn lực của quốc gia, vẫn phải gạt bỏ mọi mục tiêu “chỉ” phục vụ riêng cho lợi ích đất nước, cho riêng cộng đồng khoa học Việt Nam. Nói cách khác, tạo ra một ấn phẩm như vậy phải xuất phát từ một tinh thần vô tư, phụng sự “khoa học không biên giới”.  GS. Phạm Quang Minh chia sẻ: “Cho Việt Nam ở đây phải hiểu là để thế giới biết về Việt Nam, để những nghiên cứu Việt Nam được thế giới biết đến, cho dù người đó đến từ nước nào và viết về lĩnh vực gì, không tổn hại đến lợi ích của Việt Nam.”Điều này không giống như quan điểm của một số người cho rằng tạp chí quốc tế của Việt Nam là một “hướng giải quyết”, “tạo điều kiện” cho các nhà khoa học Việt Nam công bố quốc tế. Nếu không có được tinh thần này, thì theo GS.Oscar Salemink, người đã có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Việt Nam học, đặt ra việc xây dựng một tạp chí quốc tế “mâu thuẫn đến vô nghĩa” (oxymoron) bởi vì không bao giờ có được một tạp chí vừa mang tính quốc gia và quốc tế. Một tạp chí quốc tế, bắt buộc phải đạt tiêu chuẩn quốc tế, do đó ít quan tâm đến các quy tắc của quốc gia. Ngược lại, nếu muốn giữ kiểm soát tạp chí trong nước, giới nghiên cứu nước  ngoài sẽ không coi trọng nó.      Bốn yếu tố xây dựng một tạp chí quốc tế (ngoài việc phải xuất bản bằng một ngôn ngữ thông dụng): Một hội đồng biên tập quốc tế, Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phản biện kín hai chiều, Hoàn toàn không có kiểm duyệt, Được xuất bản quốc tế, trên thực tế nghĩa là xuất bản online hoặc bởi một nhà xuất bản khoa học nước ngoài (vì Việt Nam chưa có khả năng này).        Là người có mặt trong hội đồng biên tập của nhiều tạp chí quốc tế về Đông Á và Đông Nam Á uy tín, Oscar Salemink đưa ra bốn yếu tố xây dựng một tạp chí quốc tế (ngoài việc phải xuất bản bằng một ngôn ngữ thông dụng): Một hội đồng biên tập quốc tế; Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phản biện kín hai chiều, Hoàn toàn không có kiểm duyệt; Được xuất bản quốc tế, trên thực tế nghĩa là xuất bản online hoặc bởi một nhà xuất bản khoa học nước ngoài (vì Việt Nam chưa có khả năng này). Ông cho rằng ba yếu tố đầu là bắt buộc, “nếu không thì việc có một tạp chí quốc tế không có nghĩa lý gì. Và như thế thì tốt hơn là khuyến khích các học giả Việt Nam cố gắng công bố và công bố nhiều hơn trên các tạp chí quốc tế khác”.  Việc xây dựng tạp chí quốc tế không phải là vấn đề đầu tư tiền bạc (mặc dù cũng cần một khoản để thuê người biên tập thành thạo tiếng Anh và nắm rõ những vấn đề liên quan đến Việt Nam, tiền xuất bản hoặc tổ chức các hội thảo và tọa đàm chuyên đề định kỳ để quảng bá tạp chí) mà là những yêu cầu do Oscar Salemink đưa ra gắn liền với tự do học thuật ở Việt Nam. Đó chính là cục nam châm thu hút hoặc đẩy xa những nhà khoa học nước ngoài uy tín trong việc tham gia xây dựng ngành Việt Nam học, kể cả khía cạnh hỗ trợ việc phát triển một tạp chí khoa học quốc tế. Khi GS. Phạm Quang Minh mời David Marr, một học giả người Mỹ nghiên cứu nổi tiếng về lịch sử Việt Nam vào hội đồng biên tập của tạp chí Journal of Social Sciences and Humanities, mặc dù ông đồng ý nhưng đã thẳng thắn chia sẻ: “Đừng nghĩ đưa tên của tôi sẽ làm uy tín của tạp chí tăng lên”. Để việc họ đứng trong hội đồng biên tập của các tạp chí không chỉ dừng lại ở cái tên mà thực sự tham gia vào chiến lược, sứ mệnh, mục tiêu và bản sắc của tạp chí, từ đó họ mới nhiệt thành trong việc quảng bá tạp chí và kêu gọi bài vở từ khắp nơi trên thế giới thì mức độ kiểm soát của ban biên tập tạp chí trong nước chỉ còn một phần nhỏ. Oscar Salemink chia sẻ rằng ngoài thi thoảng nhận được yêu cầu bình duyệt, chưa bao giờ ông nhận được lời đề nghị nào về tham gia đóng góp ý kiến xây dựng tạp chí của Việt Nam, có lẽ là do ban biên tập muốn “giữ mọi thứ trong tầm kiểm soát”. Hơn nữa, để có một tạp chí tốt, cần trao quyền cho ban biên tập là những nhà khoa học có công bố quốc tế và trẻ tuổi (vì làm tạp chí là một công việc đòi hỏi cao mà phần lớn là “không công”, những học giả uy tín ở giai đoạn sau của nghề nghiệp thường không đủ thời gian và năng lượng để làm) có khả năng trao đổi và tìm kiếm lời khuyên từ các nhà khoa học thế giới uy tín.      Nếu vì một mục tiêu khoa học, Việt Nam với điểm xuất phát hiện nay vẫn có hi vọng xây dựng được tạp chí quốc tế để thúc đẩy ngành Việt Nam học. Theo lời GS. Phan Huy Lê, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Hàn lâm KH&XH nên đứng ra chủ trì một tạp chí. Ông tin rằng thế giới sẽ quan tâm bởi mỗi năm Hội thảo Việt Nam học đều thu hút được 200 học giả trên khắp thế giới với 100 công bố giá trị. Hơn nữa, trao đổi với Tia Sáng, GS. Phạm Quang Minh cũng cho biết hoàn toàn có nhà khoa học Việt Nam đủ uy tín và khả năng kết nối để nằm trong ban biên tập. Sắp tới vào tháng 7, ông sẽ gặp gỡ với Đại học Quốc gia Đài Loan, theo lời đề nghị của GS triết học Trần Văn Đoàn để trao đổi về việc cùng hợp tác với Đại học Quốc gia và Viện Hàn lâm thành lập một tạp chí quốc tế về Việt Nam học.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Khi nào dịch coronavirus sẽ đạt đỉnh?      Chính quyền muốn có câu trả lời chính xác, nhưng họ đang bị xoay quanh bởi quá nhiều luồng thông tin.    Số ca lây nhiễm coronavirus ở Trung Quốc tiếp tục gia tăng lên hàng ngàn ca mỗi ngày, buộc các nhà dịch tễ học ước tính xem lúc nào thì dịch bệnh sẽ lên tới đỉnh điểm. Một số ý kiến cho rằng thời điểm cao trào, khi số ca nhiễm mới trong một ngày đạt đến điểm cao nhất, có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những người khác thì cho rằng phải vài tháng nữa thì virus sẽ mới lây nhiễm cho hàng triệu người – hoặc trong một ước tính khác là hàng trăm triệu người.  Các quan chức y tế công cộng muốn biết đại khái khi nào là đỉnh dịch – và có bao nhiêu người sẽ bị nhiễm – để họ có thể chuẩn bị bệnh viện và biết khi nào đủ an toàn để có thể dỡ bỏ các hạn chế đi lại. Thành phố Vũ Hán, trung tâm của dịch bệnh và một số thành phố lân cận khác đã có lệnh đóng cửa từ cuối tháng 1.  Mặc dù có thể dự đoán phần nào về đỉnh dịch nhưng một số nhà nghiên cứu cảnh báo, độ chính xác của các luồng thông tin đấy lại không cao, đặc biệt là khi dữ liệu được sử dụng vẫn chưa hoàn chỉnh. “Nếu bạn sửa lại dự đoán của mình mỗi tuần để nói rằng dịch sẽ bùng phát trong một hoặc hai tuần tới, thì kiểu gì chẳng đúng”, theo Brian Labus, người phụ trách giám sát dịch bệnh tại Đại học Nevada, Las Vegas.    Kịch bản lạc quan  Vào ngày 11/2/2020, bác sĩ hàng đầu Trung Quốc Zhong Nanshan, người dẫn dắt một nhóm chuyên gia hỗ trợ kiểm soát dịch bệnh, cho rằng coronavirus có thể sẽ đạt đỉnh vào cuối tháng Hai. Zhong, vị bác sĩ nổi tiếng vì phát hiện ra virus SARS, cho biết nhờ các biện pháp kiểm soát của chính phủ như hạn chế đi lại và nghỉ lễ kéo dài mà tình hình đã được cải thiện, dù vậy ông thừa nhận rằng đây vẫn là một “giai đoạn khó khăn” đối với Vũ Hán.  Cho đến nay, hơn 70.000 người ở Trung Quốc được xác nhận mắc bệnh – hiện đã được đặt tên là COVID-19. Nhưng nhiều nhà khoa học lo ngại rằng số ca mắc trên thực tế cao hơn so với báo cáo. Họ nghi ngờ rằng Trung Quốc thực hiện quá ít xét nghiệm chẩn đoán và không đủ nhân viên y tế để xác nhận tất cả các trường hợp. Một số nhà khoa học cũng tự hỏi liệu Zhong có đang cố gắng trấn an mọi người hay không do lo sợ ảnh hưởng của bùng phát dịch bệnh lên nền kinh tế và xã hội.  Ít nhất một mô hình phù hợp với ước tính của Zhong. Các nhà nghiên cứu tại Trường Y học Nhiệt đới và Vệ sinh Dịch tễ Luân Đôn dự đoán rằng đỉnh dịch có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Sebastian Funk, nhà thống kê học, người đã mô hình hóa các bệnh truyền nhiễm và là đồng tác giả của bài phân tích, cho biết dự đoán này dựa trên một ước tính rằng một người nhiễm bệnh ở Vũ Hán, trung bình, sẽ lây nhiễm cho 1,5 đến 4,5 người khác – một phép đo cho thấy khả năng lây nhiễm của virus, còn gọi là R – trước khi triển khai các biện pháp hạn chế đi lại vào ngày 23/1. Funk ước tính, vào thời giao cao điểm, khoảng một triệu người, chiếm 10% dân số Vũ Hán, sẽ bị nhiễm bệnh.  Dù chưa được bình duyệt thì bài phân tích của Funk đã được đăng tải trên website của Viện ông vào ngày 12/2/2020. Nhưng ông cho biết từ sau bài phân tích, số lượng các trường hợp mắc và tử vong ở Vũ Hán đã giảm cho thấy có khả năng dịch bệnh đã qua thời điểm đạt đỉnh (Hơn 14.000 trường hợp mới đã được báo cáo vào ngày 13/2, nhưng số lượng đột biến này là do các cơ quan chức năng đã thay đổi cách chẩn đoán và số lượng cũng không thật sự tăng vọt).  Trường hợp xấu nhất    Một số nhà nghiên cứu cho rằng dự đoán như vậy quá lạc quan. Người dân ở hầu hết các thành phố của Trung Quốc đã bắt đầu trở lại làm việc vào tuần trước sau đợt nghỉ lễ kéo dài – có thể dẫn đến các khả năng lây nhiễm mới, theo ông Chihuahuahi Nishiura, nhà dịch tễ học tại Đại học Hokkaido ở Sapporo, Nhật Bản  Nishiura cho biết ông đã sử dụng một mô hình ước tính cho thấy dịch sẽ bùng phát vào khoảng cuối tháng 3 đến cuối tháng 5. Theo ông, tại thời điểm này, có tới 2,3 triệu trường hợp được chẩn đoán trong một ngày. Tổng cộng, ông ước tính từ 550 triệu đến 650 triệu người trên khắp Trung Quốc sẽ bị nhiễm bệnh, chiếm khoảng 40% dân số đất nước. Nishiura cũng cho rằng khoảng một nửa trong số đó sẽ xuất hiện các triệu chứng.  Công trình mô tả mô hình dự đoán của Nishiura mới là một tiền ấn phẩm, chưa được bình duyệt và xuất hiện ở trang medRxiv. Để đưa ra dự đoán như vậy, ông chia sẻ rằng nhóm của mình đã xem xét khả năng lây truyền vốn có của virus mới – số người trung bình bị lây virus từ một người nhiễm bệnh khác, hay còn gọi là R0, có liên quan đến R, mặc dù nó đặt trong trường hợp là cả cộng đồng chưa ai có cơ chế miễn dịch. Nhóm nghiên cứu ước tính R0 nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2.  Ông nói rằng mô hình của ông khái quát tương đối đơn giản viễn cảnh tương lai, bởi vì nó giả định rằng tất cả mọi người đều dễ mắc bệnh. Nó cũng phản ánh thực tế rằng nhiều người bị nhiễm bệnh nhưng chưa có triệu chứng hoặc không đủ sức khỏe để tìm đến điều trị y tế. Nếu tính cả những trường hợp kể trên, thì các báo cáo hiện nay đều đang đánh giá thấp số người bị nhiễm bệnh, ông nói.  Gabriel Leung, nhà dịch tễ học tại Đại học Hồng Kông, cho rằng ước tính của Nishiura là hợp lý. Cộng đồng không có khả năng miễn dịch với SARS-CoV-2, loại virus gây ra COVID-19, do đó, “nó sẽ như một cơn bão càn quét qua”, ông cho biết.  Leung cho biết trong khi những ước tính đó nghe có vẻ bi quan, thì nó vẫn không làm rõ được vấn đề virus này nguy hiểm đến mức nào. Trong một bài báo được Zhong công bố vào ngày 9/2, tính toán mới nhất về tỷ lệ tử vong cho thấy có khoảng 1,36 ca tử vong trên một trăm ca mắc. Nhưng con số đó có lẽ quá cao vì các tác giả đã không xem xét đến những ca mắc ít nghiêm trọng hơn. (ở thời điểm bài báo này của Nature lên khuôn, bên ngoài Trung Quốc mới có hai trường hợp tử vong trong số 500 ca mắc bệnh.)  Các biện pháp cách ly  Theo Leung, hiệu quả của các biện pháp kiểm soát, nếu có, cũng không thật sự rõ ràng. Chẳng hạn như lệnh cấm đi lại và cách ly người dân tùy thuộc vào thời điểm và tầm nghiêm trọng khi đạt đến đỉnh dịch. Nishiura và Funk nói rằng các mô hình của họ đã loại trừ các biện pháp này vì họ không chắc về hiệu quả của chúng.  Nhiều nhà khoa học cho rằng các biện pháp kiểm soát rốt cục có thể không làm giảm số người nhiễm bệnh. Nhưng họ có thể kéo dài thời gian mà dịch bệnh đạt đỉnh, bằng cách làm chậm việc lây nhiễm, Leung nói.  Giảm thiểu số ca lây nhiễm khi dịch bệnh đạt đỉnh là việc quan trọng, Leung cho biết. Nếu tất cả mọi người mắc bệnh cùng một lúc, “thì toàn bộ xã hội sẽ ngừng hoạt động”, ông nói. “Các dịch vụ y tế sẽ bị quá tải và mọi người sẽ chết.”  Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00361-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nào thì quan điểm của thiểu số thống trị?      Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, những nhóm nhỏ có thể lật ngược tình thế nếu họ chiếm 25% số người trong cộng đồng.    Vào những năm 1970, giáo sư kinh doanh Rosabeth Kanter đưa ra một công bố có ảnh hưởng lớn về một công ty ở Mỹ tuyển dụng phụ nữ vào đội ngũ bán hàng. Điều kiện đời sống công việc của họ, Kanter chỉ ra, phụ thuộc vào mức độ đại diện của họ trong công ty. Khi họ chỉ chiếm 15% tổng số nhân viên, họ phải đối diện với việc bị chụp mũ, bị quấy rối, bị cô lập, áp lực hiệu suất trong công việc vô cùng lớn và nhiều bất lợi khác. Nhưng khi họ chiếm 35% số người ở công ty, họ bắt đầu liên kết với nhau để chuyển đối văn hóa ở đó theo hướng có lợi cho mình.  Những nhóm nhỏ có thể đảo ngược các quy tắc xã hội hiện tại, miễn là họ đạt tới một ngưỡng tỉ trọng nào đó. Khi điều này diễn ra, những gì đang được chấp nhận sẽ bị phủ quyết và ngược lại. Hai thập kỉ trước, hầu hết người Mỹ đều phản đối hôn nhân đồng tính, việc cấm hút thuốc nơi công cộng và hợp pháp hóa cần sa, giờ thì tất cả những vấn đề này đều được số đông ủng hộ.  Sau khi thực hiện một thí nghiệm sáng tạo, Damon Centola tại Đại học Pennsylvania cho biết, nhóm thiểu số phải chiếm ít nhất là 25% để có thể thay đổi cục diện. “Kết quả của chúng tôi phù hợp với các dữ liệu nhân chủng học [hơn các nghiên cứu khác]. Tôi thực sự phấn khích khi nó cộng hưởng một cách rõ ràng với nghiên cứu của Kanter” –  Centola nói.  Nhóm của Centola mời 194 tình nguyện viên, phân chia họ thành 10 nhóm và yêu cầu họ chơi một trò chơi điện tử online mà trong đó họ phải làm việc với nhau để hình thành những nguyên tắc xã hội mới. Ở mỗi vòng chơi, các tình nguyện viên ở mỗi nhóm sẽ được ghép cặp một cách ngẫu nhiên và được cho xem bức ảnh của một người lạ. Không được hỏi ý kiến lẫn nhau, mỗi người phải đưa ra một cái tên phù hợp nhất với khuôn mặt trên bức ảnh đó. Cuối mỗi vòng, hai tên đó được tiết lộ và người chơi được 10 cents nếu họ đưa ra cùng một cái tên, nếu họ đưa ra hai tên khác nhau, họ sẽ mất 10 cents. Mặc dù những người chơi chỉ tương tác với một người trong mỗi lần chơi, nhưng càng chơi, họ nhanh chóng đạt được những quy tắc chung ở quy mô cả nhóm, khi tất cả mọi người đều cùng đưa ra một cái tên.  Khi đó, Centola thêm nhóm “nhà hoạt động xã hội” vào mỗi nhóm. Những kẻ đối lập này đều gợi ý một tên khác cho mỗi gương mặt, với mục tiêu thay đổi trật tự đã được thiết lập. Số lượng các “nhà hoạt động xã hội” ở mỗi nhóm là khác nhau.  Ông nhận ra rằng những người mới đến này chỉ có thể thay đổi được nhận thức của những người cũ một cách hiệu quả nếu họ chiếm 25% thành viên (không nhỏ hơn, không lớn hơn). Kết quả này khớp với dự đoán trước đó từ mô hình toán học mà nhóm của Centola mô phỏng các tương tác như vậy.    Tuy nhiên Centola nhấn mạnh rằng con số 25% không phải áp dụng cho mọi trường hợp trên toàn cầu mà sẽ biến động dựa trên từng tình huống. Tình nguyện viên trong thí nghiệm nói trên tung hứng giữa những nguyên tắc trung dung, chứ không phải là những thứ kiểu như là quan niệm chính trị. Và các nhóm ban đầu và nhóm hoạt động xã hội đều bình quyền – điều hiếm gặp trên thực tế.  “Nếu nhóm thiểu số bất đồng chính kiến là người da màu, không có tiếng nói và bị thiệt thòi đủ điều?” – Hahrie Han, nhà khoa học chính trị tại Đại học California ở Santa Barbara. “Hay trong trường hợp những người cậy quyền cứ áp đặt tư tưởng của mình lên người khác? Những câu hỏi đó sẽ mở rộng khám phá của nghiên cứu quan trọng và sáng tạo này”.  Centola đã bắt đầu với việc mô phỏng vài trong số các biến động trên bằng cách thay đổi mô hình tính toán mà ở đó những cộng đồng (ảo) bị ràng buộc với quan điểm của mình và lưỡng lự hơn trước ảnh hưởng của những “nhà hoạt động xã hội”. Điều này có làm tăng ngưỡng tỉ trọng – nhưng chỉ tới 30%. “Chúng ta vẫn thấy hiệu ứng điểm tới hạn này vẫn đúng với con số nhỏ hơn 50% rất nhiều” – Ông nói.  Hảo Linh lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.theatlantic.com/science/archive/2018/06/the-tipping-point-when-minority-views-take-over/562307/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nào xã hội trở thành hiện đại?      Công trình nghiên cứu bao quát về lịch sử cho thấy, sự chuyển dịch tiến đến hiện đại của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên vẫn coi là một chiều còn phức tạp hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đã biết.          Triết gia người Thụy Sĩ gốc Đức Karl Jaspers là người cổ xúy nổi tiếng nhất cho thuyết Thời đại trục tâm. Nguồn ảnh: Fritz Eschen/ullstein bill/Getty  Một ý tưởng có sức ảnh hưởng lớn trong hơn 200 năm qua cho rằng, vào khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên (CN), nhân loại đã bước qua một lằn ranh tâm lý quan trọng và trở thành người hiện đại. “Thời đại trục tâm” (Axial Age) này đã biến đổi một thế giới của những vua chúa thần thánh, chế độ nô lệ, và tục dùng người cúng tế cổ xưa sang một thời kỳ khai sáng hơn – đề cao công lý, giá trị gia đình, và chế độ pháp quyền. Khái niệm chung này có sức thu hút lớn tới mức một số người đã tuyên bố nhân loại hiện nay đang tiến vào Thời đại trục tâm thứ hai nhờ gia tăng dân số và thay đổi công nghệ nhanh chóng. Tuy nhiên, theo khảo sát dữ liệu lịch sử và khảo cổ học đa văn hóa lớn nhất từ trước tới nay thì Thời đại trục tâm thứ nhất chưa từng diễn ra, hay ít nhất là nó đã diễn ra theo cách khác với câu chuyện được kể lâu nay.  Những phân tích từ cuộc khảo sát trên cho thấy những thay đổi lớn thực sự đã diễn ra như việc con người hiểu được vị trí của mình trong vũ trụ và quan hệ giữa mình với người khác. Nhưng những chuyển dịch xã hội này diễn ra đôi khi từ trước thiên niên kỷ I trước CN, nhưng cũng có những thứ diễn ra sau thiên niên kỷ này. Chúng cũng không luôn diễn ra ở những xã hội được coi là “trục tâm” điển hình – những vùng mà ngày nay là Hy Lạp, Israel–Palestine, Iran, Ấn Độ, và Trung Quốc – mà cũng xảy ra ở một số xã hội khác. Một trong những tác giả của công trình khảo sát, nhà nhân chủng học Jenny Reddish thuộc Trung tâm Khoa học phức hợp (CSH: Complexity Science Hub) ở Wien nói “Chúng tôi không tìm thấy một thời đại trục tâm nhất quán nào bên trong năm xã hội đó”.  Công trình này vừa được công bố trong cuốn sách dày 500 trang với tựa đề “Lịch sử Seshat về Thời đại trục tâm” (Seshat History of the Axial Age). Nó làm nổi bật cách tiếp cận lịch sử bằng phương pháp dữ liệu lớn, vốn đã trở nên phổ biến trong một thập kỷ qua. Bằng một lối tiếp cận tổng quát, đối chiếu để tìm hiểu sự biến thiên của những xã hội cách xa nhau về thời gian và không gian, nó đã bổ sung cho công việc rất chuyên sâu và tỉ mỉ của các sử gia theo quy chuẩn lâu nay. Những kết quả mới chắc sẽ được tiếp nối với nhiều nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc của những xã hội phức tạp bằng những kỹ thuật mới này.     Đổi mới đơn lẻ?     Mặc dù khái niệm về Thời đại trục tâm đã có từ thế kỷ 18, nhưng mãi đến thập niên 1940 thì người cổ xúy nổi tiếng nhất cho khái niệm này mới đưa ra những luận điểm ủng hộ nó. Năm 1948, triết gia Thụy Sĩ gốc Đức Karl Jaspers viết, giữa năm 800 và 200 trước CN, năm xã hội trên đã chấp nhận chủ thuyết phổ quát đạo đức (moral universalism) – tư tưởng cho rằng con người kết nối với nhau về mặt đạo đức nhờ tính nhân văn chung. Theo Jaspers, bước chuyển biến này khởi đầu nhờ lời răn dạy của những nhà tư tưởng đổi mới đơn lẻ – Plátōn, những vị tiên tri Do Thái (Hebrew), Zarathustra, Đức Phật, và Khổng Tử. Nó đã mở ra một xu thế mà rồi đây dần lan rộng khắp toàn cầu.      CỔ ĐẠI ĐẾN HIỆN ĐẠI  Các sử gia từ lâu đã đề xuất rằng một “Thời đại trục tâm”, tức là thời kỳ nhiều xã hội cổ đại đồng thời chuyển dịch sang hiện đại, xảy ra vào thiên niên kỷ I trước CN, nhưng mỗi người đều đưa ra một con số ước tính rất khác nhau. Một nhóm các học giả ngày nay thì cho rằng không có một sự chuyển dịch rõ ràng như thế.  Biểu đồ sau thể hiện ước tính thời gian về “Thời đại trục tâm” được các sử gia công bố từ năm 1873 đến 2016. “BC” là trước CN, “AD” là CN. Vùng màu xám là thời gian trung bình.   Công trình nghiên cứu mới xuất bản đã thách thức ý tưởng này. Nó tiếp nối một khảo sát khác công bố năm 2018 do nhà nhân chủng học Daniel Mullins ở Đại học Oxford, Anh, phụ trách. Cả hai nghiên cứu đều dựa trên một cơ sở dữ liệu lịch sử và khảo cổ tiên phong có tên gọi là Seshat – đặt theo tên gọi của nữ thần chuyên lưu trữ – ghi chép của Ai Cập cổ đại. Nghiên cứu năm 2018 cho thấy bức tranh về sự dịch chuyển trục tâm đồng thời hoàn toàn không rõ ràng như các học giả trước đây đề xuất, dựa trên năm xã hội mà Jaspers đề cập và năm xã hội khác do các tác giả tự chọn. Những xã hội này phát triển mạnh giữa năm 3000 trước CN và năm 2000 CN, ở vùng tương ứng với các nước Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Campuchia, và Nhật Bản ngày nay.  Công trình khảo sát thứ hai do một số học giả trong nhóm tiến hành nghiên cứu trước thực hiện đã mở rộng đối tượng nghiên cứu, bao gồm cả các xã hội ở Đông Nam Á, Polynesia, Tây Phi, Bắc Mỹ, và Nam Mỹ trong cùng giai đoạn, và đi kết kết luận tương tự như công trình trước. Nhà sử học và khảo cổ học Ian Morris thuộc Đại học Stanford ở California – không tham gia thực hiện nhưng viết lời nói đầu cho quyển sách này – nói: kết quả cho thấy “không có lý do chính đáng nào nghi ngờ rằng mô hình ta phải giải thích thực ra phức tạp hơn nhiều so với mô hình cách mạng đạo đức và tri thức ở lục địa Á-Âu vào thiên niên kỷ I trước CN”.     Khai thác dữ liệu     Đã có nhiều cơ sở dữ liệu lịch sử đang được xây dựng, nhưng Seshat là một trong những cơ sở dữ liệu lâu đời nhất, đặt ra mục tiêu tham vọng nhất, và phát triển nhanh nhất. Seshat do nhiều nhà sử học, nhân chủng học, và toán học thành lập năm 2011 bằng nguồn từ các quỹ cấp kinh phí nghiên cứu của Anh, Liên hiệp châu Âu, và một số nguồn khác. Hiện nay Seshat lưu trữ thông tin về hơn 450 xã hội mà xưa nhất là từ năm 4000 trước CN. Những người phụ tá nhập dữ liệu từ các sử liệu gốc và thứ cấp bằng một công thức cho phép so sánh theo thời gian và không gian, có tính vào đó cả những điểm bất định. Những chuyên gia, gồm các nhà sử học và khảo cổ học, kiểm chứng công việc của họ. Trong công trình khảo sát mới nhất, các nhà nghiên cứu thiết lập danh sách 12 thước đo gián tiếp cho các thành tố của “sự biến đổi trục tâm” trong một xã hội được các học giả chấp nhận rộng rãi. Những thước đo này bao gồm sự hiện diện của một bộ luật pháp lý chính thức, đức tin vào một đấng siêu nhiên “vô sở bất tri”, và sự tồn tại của một hệ thống công chức chuyên nghiệp đòi hỏi giới cai trị phải có trách nhiệm giải trình. Các nhà nghiên cứu từ đó đã dùng những thước đo gián tiếp này để theo dõi các xã hội trong danh sách mở rộng đó qua thời gian.  Kết quả cho thấy các đặc tính trục tâm bắt đầu xuất hiện một khoảng thời gian và không gian rất rộng. Từ lâu người ta đã tranh luận có nên đưa cả Ai Cập – một xã hội sớm thể hiện mức độ phát triển phức tạp – vào danh sách ban đầu của Jaspers hay không. Khảo sát này cho thấy rõ có bằng chứng cho thấy tính trục tâm ở đó từ rất lâu trước “thời đại” mà Jaspers nói tới. Joe Manning, sử gia tại Đại học Yale ở New Haven, bang Connecticut và là đồng tác giả chương về Ai Cập của nghiên cứu này nói rằng “Khởi đầu từ năm 1200 trước CN, trong thời kỳ Ramesses, ta thấy có rất nhiều thay đổi trong thực hành tôn giáo, nó được gọi là thời đại ngoan đạo”. Trong lúc đó ở Anatolia, người Hittites đã áp dụng chế độ pháp quyền phổ quát từ thiên niên kỷ II trước CN.  Ngược lại, tuy được đưa vào nhóm các nền văn minh trục tâm ban đầu nhưng Trung Quốc đã không thể hiện bước ngoặt phát triển cho đến nhiều thế kỷ sau năm 200 trước CN. Đó là kết luận của những nghiên cứu mới nhất.     Ốc đảo ánh sáng     Theo nhóm nghiên cứu Seshat, dữ liệu cũng phần nào phủ nhận một lập luận chủ chốt nữa của Jaspers rằng tiến bộ xuất hiện riêng rẽ với nhau ở năm xã hội cốt lõi mà ông gọi là “ốc đảo ánh sáng” này. Quản lý dự án Seshat, sử gia Daniel Hoyer tại trường Đại học George Brown ở Toronto, Canada, nói rằng những xã hội này có tham gia vào “hằng hà các cuộc trao đổi xuyên văn hóa. Khó có thể hiểu được truyền thống theo rabbi của Do Thái giáo và thậm chí là những bài viết của Plátōn nếu không có những tư tưởng đạo đức của Zarathustra và Ai Cập cũng như trường phái pháp quyền Hittites trước đó.”      Theo Jaspers, các thánh nhân Zarathustra (trái), Phật, Khổng tử, và Plátōn (phải) là những nhà tư tưởng văn hóa tân tiến trong điều kiện không có liên hệ với nhau, và những lời dạy của họ cuối cùng cũng lan tỏa khắp toàn cầu.  Nghiên cứu này cũng gặp phải những lời chỉ trích. Nhà xã hội học tôn giáo Hans Joas thuộc Đại học Humboldt Berlin nói rằng các tác giả đã bóp méo các nguồn tư liệu để chứng minh luận điểm của mình. Joas nói “Thật không may là người ta vẫn dùng thuật ngữ ‘Thời kỳ trục tâm’ để chủ yếu chỉ một hiện tượng đồng thời khó hiểu. Lập luận đó đã bị từ bỏ lâu rồi.”  Tuy nhiên, những định nghĩa hiện nay về Thời kỳ trục tâm khác nhau rất lớn, và khảo sát mới thực hiện cũng củng cố thêm nghi ngờ của những người khác rằng khái niệm này phù hợp với mục đích của nó. Theo Nicolas Baumard, người nghiên cứu biến thiên văn hóa tại École normale supérieure ở Paris thì “lúc đầu, việc chỉ ra rằng thời xưa không phải là một thời kỳ đồng nhất và rằng có sự biến chuyển quan trọng giữa thế giới cổ xưa và hậu kỳ cổ đại thì cũng hữu dụng”. Nhưng Baumard cho rằng không ai tranh luận về vấn đề đó nữa – và khảo sát Seshat đã chứng minh cho việc đó. Theo Baumard thì ngày nay “bất đồng ngày nay không xoay quanh vấn đề thời gian, nơi chốn nữa mà là về cơ chế nguyên nhân”.     Phương hướng tương lai     Khảo sát này có lẽ sẽ không phải là những lời sau cùng về Thời kỳ trục tâm. Không phải chỉ vì lý do ta khó có thể định lượng được các trạng thái tâm lý, mà ta vẫn còn đối mặt với những cuộc tranh luận mà đôi lúc là nảy lửa về cách xây dựng các cơ sở dữ liệu lịch sử tốt nhất. Cơ sở dữ liệu lịch sử tôn giáo (Database of Religious History), một đối thủ cạnh tranh với Seshat, dùng các chuyên gia như sử gia để nạp dữ liệu chứ không phải chỉ giám sát.  Theo Morris, tuy vẫn có những rạn nứt như thế nhưng cách tiếp cận dùng dữ liệu lớn mở ra khả năng rất lý thú cho việc kiểm nghiệm các lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây ra những thay đổi dạng trục tâm. Có phải những thay đổi này là hệ quả của việc xã hội ngày càng sung túc như đề xuất của Morris, Baumard, và những người khác? Hay đây là cách duy trì tính gắn kết xã hội khi xã hội trở nên phức tạp hơn như góp Seshat lập luận qua công trình  mới nhất của họ?  Đồng thời, những lập luận của quyển sách có thể có ảnh hưởng đến những đề xuất gần đây cho rằng nhân loại đang hoặc sắp vào một thời kỳ trục tâm mới. Morris nói những lập luận như vậy cũng không có gì ngạc nhiên trước tốc độ thay đổi xã hội mà công nghệ đem lại, nhưng bản chất của bất kỳ thời kỳ trục tâm mới nào cũng mập mờ như thời kỳ thứ nhất – như khảo sát Seshat đã chỉ ra.  Đối với Michael Scott, sử gia thuộc Đại học Warwick, Anh, thì những lập luận đó liên quan đến những nỗi lo âu đương đại hơn là những dịch chuyển có thể đong đếm nào khác. Ông cho rằng con người ngày nay có thể nhìn vào một thời kỳ trục tâm giả định để hiểu chính mình khi đối mặt với nền chính trị ngày càng mang tính dân tộc chủ nghĩa, biến đổi khí hậu, cùng cơn cuồng kết nối toàn cầu – “Tôi nghĩ rằng cả ba vấn đề này liên quan tới việc chúng ta muốn hiểu chính mình như đang ở trong một thời kỳ trục tâm”. □     Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: Nature 576, 189–190 (2019), https://doi.org/10.1038/d41586-019-03785-w  ——-  Tham khảo:  1. D. Hoyer & J. Reddish (Eds.). Seshat History of the Axial Age. Beresta Books, 2019.  2. D.A. Mullins et al. (2018). A systematic assessment of “Axial Age” proposals using global comparative historical evidence. American Sociological Review 83:596–626.    Author                Laura Spinney        
__label__tiasang Khí thải CO2 sẽ tăng 130% trên toàn cầu      Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) vừa cảnh báo chính phủ các nước, nếu tiếp tục những chính sách đang được thực thi hiện nay thì lượng khí thải cácbon gây hiệu ứng nhà kính sẽ tăng 130% vào năm 2050.    Theo IEA, chính phủ các nước cần phải tiến hành cuộc cách mạng công nghệ năng lượng toàn cầu nhằm giảm thiểu lượng khí thải CO2. IEA ước tính tổng kinh phí đầu tư cho việc giảm khí thải đến năm 2050 sẽ vào khoảng 45.000 tỷ USD. IEA cho biết trong 15 năm tới, thế giới cần những nghiên cứu bao quát và nỗ lực phát triển, dự kiến tốn kém khoảng 10 đến 100 tỷ USD/năm, để phát triển công nghệ phục vụ cho việc giảm thiểu lượng khí thải CO2. Cũng theo IEA nhu cầu dầu mỏ thế giới sẽ tăng 70% vào năm 2050.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khí thải nhà kính tăng đột biến      Theo số liệu mới, lượng CO2 trong khí quyển đã tăng đột biến, với tốc độ nhanh nhất trong vòng gần 30 năm trở lại đây.    Theo nghiên cứu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), nồng độ CO2 trong khí quyển giữa năm 2012 và 2013 đã tăng với mức nhanh nhất kể từ năm 1984. Bản tin Khí thải Nhà kính thường niên của WMO cho thấy mật độ CO2 trung bình toàn cầu trong không khí đạt mức 0.0396% vào năm 2013, tăng gần 0.0003% so với năm trước. Lượng CO2 trong khí quyển hiện này bằng 142% của năm 1750, trước khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu.   Bản tin của WMO không đo lượng khí thải ra từ các ống khói nhà máy điện mà ghi lại dữ liệu về lượng khí làm ấm trái đất còn lưu lại trong bầu khí quyển sau khi những tương tác phức tạp đã diễn ra giữa không khí, đất và biển. Theo thống kê, khoảng một nửa tổng lượng khí thải ra được biển, cây cối và những sinh vật sống hấp thụ.   Michel Jarraud, tổng thư ký của WMO, nói: “Bản tin Khí thải Nhà kính cho thấy, thay vì giảm thì nồng độ CO2 trong khí quyển lại đang tăng với tốc độ nhanh nhất trong vòng gần 30 năm nay.”   Tuy vậy, nhiệt độ trung bình toàn cầu chưa tăng cùng sự gia tăng CO2 liên tục này, khiến cho nhiều người tuyên bố rằng hiện tượng trái đất ấm lên đã dừng lại.   Phản bác những ý kiến đó, Oksana Tarasova, trưởng bộ phận nghiên cứu khí quyển tại WMO, cho biết: “Hệ thống khí hậu không đơn giản như một đường thẳng. Nó không nhất thiết phản ánh nhiệt độ trong bầu khí quyển, nhưng nếu ta nhìn vào hồ sơ nhiệt độ biển thì sẽ thấy nhiệt được hấp thụ vào trong lòng các đại dương.”     Khả năng hấp thụ CO2 trong sinh quyển của trái đất giảm   Bản tin cũng cho thấy, năm 2013, sự gia tăng CO2 không chỉ là do lượng khí thải tăng mà còn do sự hấp thụ CO2 trong sinh quyển của trái đất giảm.   Các nhà khoa học tại WMO đang rất bối rối trước xu hướng này. Lần gần đây nhất có hiện tượng giảm khả năng hấp thụ CO2 của sinh quyển là vào năm 1998, khi việc đốt nhiên liệu sinh khối (biomass) diễn ra rộng khắp trên thế giới, cùng với đó là các tác động của hiện tượng El Nino lên sinh quyển.  Oksana Tarasova nhận định, trong năm 2013 không có tác động rõ rệt nào lên sinh quyển, bởi vậy hiện tượng này lại càng đáng lo ngại hơn. Họ chưa biết liệu đây chỉ là một hiện tượng tạm thời hay sẽ trở thành tình trạng lâu dài của sinh quyển. Có thể sinh quyển đã chạm đến giới hạn bão hòa, nhưng hiện tại vẫn chưa thể đưa ra kết luận gì.  Dữ liệu của WMO chỉ ra rằng từ năm 1990 đến năm 2013 đã có sự gia tăng 34% các tác động làm ấm khí hậu, bởi CO2 và các khí khác như methane và nitrous oxide có thể tồn tại rất lâu như vậy trong bầu khí quyển.   Tốc độ axit hóa đại dương chưa từng có   Lần đầu tiên, bản tin cung cấp cả dữ liệu về hiện tượng axit hóa đại dương do khí CO2. Theo WMO thì hằng ngày, các đại dương hấp thụ khoảng 4kg khí CO2 từ mỗi người trên trái đất. Họ tin rằng tốc độ axit hóa hiện nay là chưa từng có trong khoảng 300 triệu năm trở lại đây.   Những bằng chứng nói trên cho thấy cần phải có một hành động chính trị khẩn cấp và tập trung để giải quyết vấn đề, ví dụ như một hiệp ước khí hậu toàn cầu.  Trước tình hình này, các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới sẽ gặp mặt tại New York vào ngày 23/9 tới trong một Hội nghị Thượng đỉnh đặc biệt do Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon kêu gọi, nhằm khởi động cho các cuộc đàm phán tiếp theo để đi đến một thỏa thuận quốc tế mới về biến đổi khí hậu vào cuối năm 2015.   KM lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi Thăng Long để mất rồng: Sự “giáng cấp” của Hà Nội thế kỉ XIX      Dù năm 1805, địa vị kinh đô của Thăng Long bị hạ cấp, nhưng đó chỉ là sự khởi đầu của một cuộc hành trình gian nan thời hiện đại giữa Huế-Hà Nội- Sài Gòn để tìm kiếm bản sắc của một Việt Nam hiện đại. Giữa những biến loạn đó, dù kinh đô có đi đâu chăng nữa thì rồng vẫn ở lại với người Việt, ở trên cõi Việt.    Mùa đông năm 1802, bốn tháng sau khi nước Việt Nam được thống nhất và lần đầu tiên lãnh thổ xuất hiện với hình dạng chữ S, nhà vua mới Gia Long phái một sứ đoàn đi Bắc Kinh để cầu phong.    Giống như thách thức đè nặng phái đoàn của Phùng Khắc Khoan hơn 200 năm trước để lấy lại quyền triều cống cho vua Lê, các sứ thần này có sứ mệnh làm rõ họ Nguyễn từ đâu tới và tại sao họ chính danh để cai trị Việt Nam. Nguyễn Phúc Ánh có lẽ không ngờ tới một trong các thử thách cam go với sứ đoàn tới từ chính niên hiệu của ông. Trong chữ “Gia Long” 嘉隆, “Gia” trùng với niên hiệu hoàng đế Gia Khánh 嘉慶 nhà Thanh, còn Long trùng với niên hiệu của phụ thân Gia Khánh: Càn Long 乾隆.      Khỏi nói, sứ đoàn chắc đã toát mồ hôi. Nhưng vị phó sứ Nguyễn Gia Cát, tiến sĩ nhà Lê người Bắc Ninh đã lên tiếng. Ông lí giải rằng niên hiệu đó xuất phát từ chỗ Nguyễn Phúc Ánh thống nhất lãnh thổ mới từ Gia Định 嘉定 tới Thăng Long 昇龍 . Câu chuyện tương truyền này chỉ được chép lại trong các tập địa chí chứ không có trong chính sử vì thế chúng ta vẫn chưa có thêm sự kiểm chứng nào (Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí). Nhưng nếu điều đó xảy ra, Nguyễn Gia Cát rõ ràng đã có một ‘pha cứu thua’ ngoạn mục cho triều đại mới. Dù tới năm 1805, Gia Long mới đổi từ Thăng Long 昇龍 thành Thăng Long昇隆 (Từ “Long” [rồng] sang “Long” [thịnh vượng], nhưng Bắc Kinh đã không chất vấn thêm một lần nào nữa.1 Sau sự kiện này, Gia Long được tấn phong Việt Nam Quốc Vương, và “Việt Nam” cũng “chính thức” bắt đầu.    Như thế, năm 1805, Thăng Long đã mất “rồng” và chỉ còn ‘hưng thịnh’.    Gia Long không giải thích tại sao đổi từ “rồng” sang “hưng thịnh”. Chúng ta chỉ biết rằng rồng đã không còn ở chỗ cũ và địa vị kinh đô của Thăng Long bị hạ cấp. Sách Thực lục chép ngắn gọn: Đổi thành Thăng Long 昇龍 làm thành Thăng Long 昇隆, phủ Phụng Thiên làm phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức làm huyện Vĩnh Thuận (Đệ nhất kỷ, 27: 7b).    Đế đô cũ sẽ trở thành trung tâm của hệ thống hành chính cấp vùng mới gọi là Bắc Thành được lập năm 1802 và do một viên tổng trấn cai quản. Tới năm 1831, hệ thống hành chính này bị Minh Mệnh xóa bỏ và Bắc Thành được chia làm 11 tỉnh. Thăng Long giờ trở thành một phần của tỉnh Hà Nội mà phạm vi hành chính bao gồm cả một phần Hà Tây (cũ), Hà Nam và Nam Định. Về mặt tổ chức hành chính, trung tâm của Thăng Long (Lê-Trịnh) chủ yếu tập trung ở hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương (thuộc phủ Hoài Đức), mà quyền quản lí hành chính thuộc về viên tri huyện Thọ Xương.     Vậy rồng đi về đâu?     Một năm sau khi rồng biến mất ở Thăng Long, nó xuất hiện ở Huế: trong lễ lên ngôi hoàng đế của Gia Long. Nhà vua mất 4 năm chuẩn bị trước khi quyết định chính thức xóa bỏ nhà Lê và xác lập triều đại của dòng họ mình như là người cai trị của nước Việt Nam mới.    Một trong những cách thức để làm dân chúng quên đi vua cũ chính là hạ cấp vùng đất mà họ Lê cai trị, làm cho nó bớt ‘linh thiêng’, mất đi tính chất ‘thiên mệnh’ của đế đô cũ. Thậm chí triều Nguyễn còn tháo dỡ nhà cửa, thành quách cũ, thu hẹp lại quy mô để biến nó trở thành một trấn thành ‘thông thường’.    Gia Long tiến hành “rà soát”, “quy hoạch” lại hệ thống thần linh trong cả nước (đặc biệt nhắm vào vùng châu thổ phía Bắc), xây dựng quy trình “bổ nhiệm” bách thần mới. Tất cả các đền thờ vua Lê chẳng hạn, bây giờ dồn lại một nơi duy nhất, được dựng ở Kiều Đại, cách thành phố Thanh Hóa 2 km về phía Nam.     Thăng Long bị hạ cấp     Chúng ta sẽ xem sự hạ cấp đó ảnh hưởng thế nào tới số phận một đô thị. Sự phân tích sẽ cho thấy tính chất dễ bị tổn thương của các đô thị ở Việt Nam vốn gắn liền với một trung tâm chính trị. Sự hưng vong của trung tâm chính trị đó thường là yếu tố quyết định tới sinh mệnh đô thị. Điều này giúp bóc tách phần ‘đô’ và phần ‘thị’ trong một cấu trúc thành thị Việt Nam và khuynh hướng phát triển của nó khi hạ cấp của yếu tố ‘đô’. Liệu phần ‘thị’ có thể tiếp tục sống và sống khỏe?    Đầu tiên triều Nguyễn đã tái cấu trúc lại khu vực hành chính và thành quách. Năm 1804, hoàng thành cũ bị phá và năm sau đó một thành chu vi nhỏ hơn (5 km), tường bị hạ thấp, theo kiến trúc Vauban, với 5 cửa: Đông Nam, cửa Tây Nam, cửa Đông, cửa Tây và cửa Bắc), mỗi cửa đều dựng bia để ghi. So với thành Huế có tường bao dài khoảng 10.950 m và 10 cửa.    Thăng Long cất đi vai trò là trung tâm giáo dục hàng đầu khi Văn miếu và Quốc tử giám mới được xây dựng ở Huế. Trung tâm giáo dục quan trọng của vùng bây giờ là học đường phủ Hoài Đức và Tràng Thi được xây dựng trên khu vực nay là Thư viện Quốc gia.    Không dừng lại ở đó, nhà vua thứ hai triều Nguyễn là Minh Mệnh, nhân chuyến ra Bắc nhận thụ phong, tuyên bố cấm con cháu không được rời đô ra Thăng Long vào năm 1821:    “Nếu nghìn trăm năm sau, sự thế có khác đi thì làm thế nào? Bắc Thành không phải nơi hiểm đủ trông cậy được, quyết không thể dời đô đến được. Trẫm muốn dựng kế lâu dài cho con cháu, đêm ngày nghĩ ngợi, chưa từng chốc lát lãng quên” (Thực lục).      Bản đồ các làng có dân lưu tán ở vùng châu thổ năm 1807 (Yumio Sakurai 1997).  Lúc này, vai trò chính trị quan trọng nhất của Thăng Long là trung tâm của đơn vị hành chính cấp thành, nơi tất cả văn thư liên lạc và các quyết định từ các trấn phải được Tổng trấn Bắc thành quyết định trước khi trình lên Huế. Thứ hai, là nơi vua nhà Nguyễn nhận thụ phong từ hoàng đế Trung Hoa lúc mới lên ngôi. Tuy nhiên từ thời Tự Đức, sứ nhà Thanh sẽ vào Huế để tấn phong cho vua Việt Nam thay vì vua Nguyễn ra Hà Nội.    Như vậy, từ 1802 đến 1848, Hà Nội đã mất đi các chức năng hành chính quan trọng nhất của nó với tư cách là một trung tâm chính trị. Điều này sẽ tác động tới kinh thế và tổ chức đô thị ra sao?    Khi Lê Hữu Trác ra Bắc năm 1782, vị thầy thuốc thấy “quán rượu, hàng cơm liên tiếp nối nhau”. Một thế kỷ trước, cũng tại nơi đó, thương nhân Samuel Baron (1683) mô tả:    “Vào các phiên chợ chính ngày mồng một và ngày rằm âm lịch hàng tháng, người dân cùng với hàng hóa đổ về đây nhiều không xuể. Những con phố ngày thường vốn rộng rãi, quang đãng, giờ đây trở nên chặt chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong nửa tiếng đồng hồ cũng là tốt lắm rồi” (Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hóa Việt Nam truyền thống, 124).    Tuy nhiên một người Pháp trong đạo quân viễn chinh cuối thế kỷ XIX đã nhìn thấy một Hà Nội khác. Đây là mô tả của ông trong những năm 1882-1893: “Đường phố của thành phố ở trong tình trạng tồi tệ, những phố phường rất hẹp … dọc theo hai bên đường, thực sự là những vũng nước đọng hôi thối, không có lối thoát… thậm chí khách bộ hành có lúc phải lội bì bõm trong lớp bùn sâu có chỗ tới 1 bộ” (Nguyễn Thừa Hỷ, Thăng Long-Hà Nội dưới thời Nguyễn, 1999).    Thực tế cấu trúc địa-kinh tế của Hà Nội đã chuyển dịch mạnh mẽ chỉ trong vòng 3-4 thập kỷ, nơi mà các yếu tố ăn theo chính trị nhanh chóng lụi tàn, nhường chỗ cho các khuynh hướng đô thị mở rộng theo dòng thương mại.    Khu vực cư ngụ của vua Lê chúa Trịnh cũ chịu thiệt hại đầu tiên. Sự suy sụp của khu vực xung quanh Hồ Gươm là ví dụ cho thấy sự biến mất của thành đã làm sụp đổ thị như thế nào. Khu vực này vốn được bao bọc bởi các cung điện và dinh thự của vua Lê, chúa Trịnh, gắn liền với nơi đồn trú và tập dượt của hạm đội thủy quân Bắc Hà. Sự thịnh vượng của nó vốn được thúc đẩy nhờ vào cung vua, phủ chúa, quan lại, cấm binh… nay chứng kiến quá trình nông thôn hóa trở lại. Sang thế kỷ XIX, hồ đã bị thu hẹp đáng kể, biến thành nơi chứa rác, và nơi các gia đình xung quanh ra rửa bát (Charles Hocquard, Une campagne au Tonkin, 1892; Paul Bourde, De Paris au Tonkin, 1885).    Đúng là:  Tạo hóa gây chi cuộc hý trường  Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.  Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,  Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.  (Bà huyện Thanh Quan)    Sử gia Nguyễn Thừa Hỷ (1999) cũng chỉ ra quá trình nông thôn hóa tại hai khu vực từng là trung tâm chính của Hà Nội. Một số phường thôn thời Lê có khả năng ở khu phía Tây trong hoàng thành bị nông thôn hóa trở lại, trở thành các trại, thôn của Tổng Nội. Tuy nhiên các khu vực phía Nam của Thăng Long cũ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn so với việc mất mát dân cư quy mô lớn, nơi mà Thực lục nói rằng có những thôn chỉ còn ba bốn suất đinh. Một nhà thơ đương thời là Cao Bá Quát thì mô tả tình trạng dân lưu tán ở phường Phúc Lâm (quận  Hai Bà Trưng ngày nay):  “…Mười phần chỉ còn một hai/  Nào lính, nào phu, nỗi khổ chưa qua/ Con bé, cháu nghèo đều bỏ đi hết”.    Một phần của sự chuyển dịch và mất mát dân cư này có thể chịu ảnh hưởng bởi khung cảnh khu vực vùng châu thổ đầu thế kỷ XIX. Cuộc nổi loạn của Phan Bá Vành chẳng hạn, tạo ra một vành đai bạo lực xung quanh Thăng Long. Dịch bệnh và các vụ vỡ đê thường xuyên trong khoảng 1800-1860 cũng là xúc tác của sự dịch chuyển dân cư này.    Sau khi mất đi phần ‘thành’, thị trở thành động lực duy nhất gánh vác sức sống cho Hà Nội. Hoạt động kinh tế duy nhất được nhà nước bảo trợ chính là Cục Bảo Tuyền (nơi đúc tiền đồng và kẽm) cho triều đình đặt tại khu vực Tràng Tiền mà sau này người Pháp sẽ thúc đẩy vị thế thương mại của khu phố này.    Sức sống của Hà Nội đến từ kinh tế tư nhân thương mại và thủ công nghiệp tại khu vực được biết tới như là 36 phố phường. Dù suy giảm, khu vực này vẫn là đầu mối kinh tế của một vùng châu thổ đông đúc. Thứ hai là sự gia tăng thương mại của mạng lưới thương nhân người Hoa gắn kết với thị trường Trung Quốc. Hệ quả của nó là các khu phố này trở nên đông đúc, sông Tô Lịch đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thương giữa các  khu vực, và sự mở rộng của cộng đồng người Hoa tại Hà Nội. Thay vì hướng liên kết cũ tới khu vực hồ Gươm đã bị thu hẹp và nông nghiệp hóa, khu 36 phố phường giờ đây mở ra bờ sông Hồng, thúc đẩy các mạng lưới giao lưu kinh tế với vùng châu thổ và với bên ngoài…. Những khuynh hướng đô thị hóa và chiều hướng phát triển này rất quan trọng vì chúng là đêm trước khi người Pháp áp dụng các quy hoạch phương Tây vào một cấu trúc thị Á châu. Nhiều vấn đề của tổ chức và quy hoạch đô thị Hà Nội có thể tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử, nhờ cách thức cha ông trong quá khứ vận hành thành thị.      Cầu Giấy (khoảng 1884). Nguồn: Docteur Hocquard, Une campagne au Tonkin, 1892.  Cuối cùng, sự ‘hạ cấp’ của Hà Nội là một ví dụ nhỏ sống động cho thấy chuyển dịch cấu trúc địa chính trị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, đã tác động thế nào tới trung tâm chính trị vùng châu thổ sông Hồng. Từ “Thăng Long” đến “Hà Nội” chính là sự khai mở của một kỷ nguyên mới từ không gian “Đại Việt” tới không gian “Việt Nam”. Tuy nhiên 1802 không phải là điểm kết thúc. Nó chỉ là sự khởi đầu của một cuộc hành trình gian nan thời hiện đại giữa Huế-Hà Nội- Sài Gòn để tìm kiếm bản sắc của một Việt Nam hiện đại. Giữa những biến loạn đó, dù kinh đô có đi đâu chăng nữa thì rồng vẫn ở lại với người Việt, ở trên cõi Việt. □  ———-  Chú thích:  1 Thanh Sử Cảo, quyển 527 (Thuộc quốc II) chép rằng Nguyễn Phúc Ánh lấy được nước chủ yếu nhờ quân Gia Định, Vĩnh Long nên mới lấy niên hiệu Gia Long. Điều này có chút nhầm lẫn vì tới thời Minh Mệnh, trấn Vĩnh Thanh mới đổi thành Vĩnh Long. Mới thấy số phận của ‘rồng’ lao đao tới mức nào.  2 Changed in 1805, DNTL, I, 27: 7b.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Khi ứng dụng toán học chưa tính đến khía cạnh con người      LTS: Giải Abel 2021 vừa qua, được trao cho hai nhà toán học Lásaló Lovász và Avi Wigderson vì những nghiên cứu thuộc về ranh giới giữa toán học thuần túy và toán học ứng dụng. Lásaló Lovász chia sẻ trên tạp chí Nature rằng, lằn ranh giữa hai lĩnh vực ngày càng mờ nhạt là một điều tốt. Có thật thế không? GS. Neal Koblitz, một nhà toán học mà lý thuyết của ông về sau trở thành công nghệ cốt lõi trong bảo mật trên internet lại không hoàn toàn nghĩ như vậy. Những định lý toán học thuần túy khi được kéo vào thực tế có thể ẩn chứa những nguy cơ nếu không tính đến những  đa dạng chính trị, kinh tế, sắc tộc, văn hóa, định kiến, cảm xúc của con người trong đời sống.       Lásaló Lovász, đồng chủ nhân của giải Abel 2021 chia sẻ rằng lằn ranh giữa toán học thuần túy và toán học ứng dụng ngày càng mờ đi là một điều tốt.   Ảnh: Mandiner.hu  Khi tôi nhận bằng Tiến sĩ về toán học thuần túy vào năm 1974, tôi chắc rằng những gì mình sẽ làm trong sự nghiệp chẳng đem lại một giá trị thực tiễn nào. Giống như một sử gia thời Trung Cổ, tôi sẽ đóng góp theo một cách khiêm nhường nào đó vào tri thức của nhân loại, nhưng không phải theo cách tạo ra ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của con người.   Nửa thế kỉ trước, ai cũng nghĩ rằng toán học thuần túy và toán học ứng dụng là hai hướng nghiên cứu hoàn toàn tách biệt. Có những khi những nhà toán học thuần túy coi thường những nhà làm toán ứng dụng, như một nhà thơ coi thường những biên kịch của các show truyền hình quần chúng. Vào năm 1940, nhà lý thuyết số người Anh G. H. Hardy viết về toán học của ông rằng “khoảng cách của nó với các hoạt động tầm thường của loài người khiến nó quý phái và thuần khiết”. Một nhà toán học người Mỹ tên là Halmos thậm chí còn đặt tiêu đề cho một bài báo của ông là “Toán ứng dụng là một loại toán tồi”.   Nhưng ngay cả thế, thì nửa thế kỉ trước cũng có nhiều ví dụ cho thấy toán lý thuyết đã bất ngờ đem lại những công cụ mạnh mẽ để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Chẳng hạn, lý thuyết nhóm được phát triển vào đầu những năm 1800 với mục tiêu chứng minh rằng không có công thức tổng quát để giải phương trình đa thức từ bậc 5 trở lên. Lúc đó, chẳng ai hứng thú với câu hỏi này ngoài giới toán học lý thuyết. Nhưng hàng thập kỉ và thế kỉ sau đó, lý thuyết nhóm đã đem đến một cách nghiên cứu những đặc trưng phức tạp của các dạng đối xứng khác nhau – vẫn đang được ứng dụng để giải quyết những câu hỏi quan trọng trong vật lý, hóa học, mật mã học và thậm chí cả âm nhạc.       Giờ đây chỉ một số rất ít nhà toán học có góc nhìn tiêu cực về toán ứng dụng      Đường cong Elliptic  Một trong những đề tài mà tôi nghiên cứu khi viết luận văn tiến sĩ là lý thuyết số học của các đường cong elliptic, điều mà vào thời điểm đó ai cũng nghĩ rằng chẳng có một ứng dụng thực tiễn gì. Kinh ngạc thay, 10 năm sau đó, tôi (và một nhà lý thuyết số độc lập nữa cũng được đào tạo trong lĩnh vực toán lý thuyết) khám phá ra rằng những đường cong elliptic có thể được sử dụng để tăng độ bảo mật của các mật mã hóa khóa công khai. Mật mã hóa khóa công khai là một nhánh mới trong ngành mật mã học và nó đóng vai trò trung tâm trong bảo mật của internet, thương mại điện tử, tiền mã hóa, truy vết Covid-19 và những ứng dụng khác. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu về mật mã đường cong elliptic, tôi đã rời toán lý thuyết để trở thành một nhà toán học ứng dụng. Nó giống như là một ai đó vốn nghĩ mình là nhà thơ (mà tác phẩm của anh ta chỉ dành cho một số ít người đọc) bỗng nhiên được đề nghị viết kịch bản cho các show truyền hình (mà hàng triệu người sẽ xem trên TV).   Giờ đây chỉ một số rất ít nhà toán học có góc nhìn tiêu cực về toán ứng dụng. Đa số đều công nhận mối tương tác gần gũi giữa toán học thuần túy và toán ứng dụng. Những người được nhận giải thưởng cao quý Abel năm 2021 – Lásaló Lovász và Avi Wigderson – được vinh danh vì những nghiên cứu ở ranh giới giữa toán học thuần túy và toán ứng dụng. Theo Lovász, giáo sư tại Đại học Eötvös Loránd, ở Budapest, “Ngày nay, càng ngày càng khó phân biệt giữa toán học thuần túy và toán ứng dụng và tôi nghĩ đó là một bước tiến tốt”.   Không còn “quý phái và thuần khiết”   Thế giới của toán học thuần túy, như từ “thuần túy” gợi ra, hoàn toàn “thuần túy” theo cách tách biệt khỏi những thách thức và sự mơ hồ của việc nghiên cứu những vấn đề của con người. Tuy nhiên, khi những ý tưởng của toán học thuần túy bị kéo vào các lĩnh vực ứng dụng, những vấn đề sẽ nảy sinh. Bỗng nhiên lợi ích chính trị và tài chính được đặt lên bàn cân. Bởi vì toán học không mô hình hóa thực tế một cách hoàn hảo, người ta phải đưa ra các giả thiết – những giả thiết có thể không phản ánh đầy đủ những khía cạnh con người trong các vấn đề hoặc có lẽ đã vô tình phản ánh thiên kiến và định kiến văn hóa của nhà nghiên cứu.   Một trong những nguy cơ rõ ràng nhất là sự thổi phồng (hay sự phóng đại). Bởi vì mối quan tâm của công chúng và số tiền đầu tư cho toán ứng dụng lớn hơn rất nhiều đối với toán học thuần túy, những người làm trong các lĩnh vực ứng dụng thường đề cao quá mức thành công của mình. Ví dụ, thuật ngữ “Trí tuệ nhân tạo” thật dễ gây hiểu nhầm. Thuật ngữ này ra đời vào giữa thế kỉ trước nhưng kể cả đến tận bây giờ, với tất cả những tiến bộ kĩ thuật qua bao thập kỉ, máy tính vẫn không thể nào bắt chước được những phần cốt lõi của trí tuệ con người. Những xe tự hành không thể triển khai trong hầu hết các loại môi trường vì những máy tính lái chúng không đủ tin cậy để xử lý đúng những tình huống mới và không ngờ. Và kể cả với sự trợ giúp của thứ gọi là “máy học” (cũng là một lựa chọn từ ngữ sai lầm vì nó quá sơ khai với cách mà con người học), người ta cũng chưa thể vượt qua những giới hạn trên.   Một ví dụ khác về cách dùng từ dễ gây hiểu nhầm là khái niệm bảo mật chứng minh được (provable security) trong ngành mật mã học, mà chút nữa tôi sẽ nói.   Máy tính lượng tử  Trong khoảng 20 năm trở lại đây, đã có những nỗ lực khổng lồ cho việc phát triển máy tính lượng tử. Sự tiến triển vẫn hết sức chậm chạp và người ta cần phải vượt qua những trở ngại to lớn về cả lý thuyết lẫn thực tế trước khi đưa ra bất kì một ứng dụng đời sống nào. Chẳng có gì đảm bảo rằng ngày nào đó người ta sẽ xây dựng được một máy tính lượng tử giải quyết những vấn đề thực tế, và, nếu người ta có thể xây dựng được đi chăng nữa, thì cũng không ai biết được đó là khi nào.   Tính toán lượng tử cần sử dụng nhiều toán trong không gian Hilbert và các toán tử trên những không gian đó. Những “không gian” này hoàn toàn khác với không gian ba chiều trong trực giác của chúng ta. Nó là những công cụ lý thuyết dùng để phân tích các hệ thống lượng tử với kích thước khổng lồ. Với một máy tính lượng tử đủ để phá khóa thuật toán mã hóa khóa công khai RSA, kích thước của không gian giả định này sẽ vào khoảng 24000 (Trong khi số nguyên tử của toàn bộ vũ trụ này còn ít hơn 2150).     Chẳng có gì đảm bảo rằng ngày nào đó người ta sẽ xây dựng được một máy tính lượng tử giải quyết những vấn đề thực tế. Sudar Pichai, CEO của Alphabet (tập đoàn sở hữu Google) và chip tính toán lượng tử của Google, Sycamore. Ảnh: The New York Times.  Ví dụ rõ nhất của một vấn đề thực tiễn mà máy tính lượng tử có thể giải quyết nhanh hơn rất nhiều so với máy tính truyền thống là bài toán phân tích số nguyên (phân tách một hợp số thành tích của nhiều số nguyên nhỏ hơn). Cách làm này được Peter Shor đưa ra vào năm 1994; thuật toán của ông sẽ hoàn toàn phá khóa mật mã khóa công khai RSA và ECC, là hai loại mã hóa khóa công khai đang phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng để làm được điều đó thì cần một máy lượng tử có kích thước khổng lồ. Một người nhiệt thành với tính toán lượng tử từng tính ra rằng, tạo ra chiếc máy tính đó tốn khoảng một tỉ USD và cần riêng một nhà máy điện nguyên tử để cung cấp năng lượng.   Khi chúng ta tìm kiếm những vấn đề quan trọng khác trong thực tiễn mà máy tính lượng tử có thể giải quyết hiệu quả hơn nhiều so với máy tính truyền thống, một trở ngại mà chưa ai biết phải vượt qua thế nào là làm sao để đưa một lượng dữ liệu khổng lồ – hoặc thực ra là bất kì dữ liệu nào – vào một máy tính lượng tử. Đối với thuật toán của Shor, dữ liệu cần nhập vào máy tính chỉ là một số nguyên. Nhưng để làm được điều đó, người ta mới chỉ biết duy nhất một cách: đó là phải thông qua một máy tính truyền thống để sắp xếp lại mạch điện của chiếc máy tính lượng tử sao cho ăn khớp với từng bit mà con số đó biểu thị trên máy tính truyền thống.    Thế mà, với từng đó thách thức, người ta vẫn thổi phồng ý nghĩa của máy tính lượng tử lên tận mây xanh. Theo một thông cáo báo chí của IBM: “Một ngày nào đó các máy tính lượng tử sẽ đem đến các đột phá trong vô vàn lĩnh vực của đời sống, như vật liệu và các loại thuốc mới, tối ưu hóa những hệ thống phức tạp và trí tuệ nhân tạo”. Microsoft cũng đồng ý với điều này: “Tính toán lượng tử đã tạo ra một bước nhảy vọt…sẽ thay đổi nền kinh tế, nền công nghiệp, học thuật và nền tảng xã hội của chúng ta…Nó có tiềm năng ứng dụng trong những nghiên cứu về y tế, năng lượng, môi trường, các vật liệu thông minh, và hơn nữa.” Ôi, tất cả đều chỉ là bánh vẽ!  Bảo mật chứng minh được  Bên cạnh sự phóng đại, một vấn đề khác trong cách toán học thuần túy đi vào khoa học máy tính đó là các nhà nghiên cứu lại thường cho rằng những hứa hẹn về công nghệ đó đều được khẳng định thông qua việc chứng minh các định lý toán học. Khái niệm “bảo mật chứng minh được” trong mật mã học rất dễ gây hiểu nhầm, bởi vì việc chứng minh rằng một hệ thống mật mã không thể nào bị bẻ khóa luôn là điều bất khả.   Thực sự là, những định lý mà các nhà mật mã học chứng minh đều có nhiều giới hạn. Nó là các định lý có điều kiện chứ không phải là định lý tuyệt đối. Nó thường có dạng “Nếu P đúng thì Q đúng.” Trong đó, điều kiện P có dạng là nếu kẻ tấn công không thể thực hiện một nhiệm vụ tính toán (chẳng hạn như phân tích một số nguyên cực lớn) trong một khoảng thời gian chấp nhận được. Và kết luận Q có dạng là kẻ tấn công đó sẽ không thể bẻ khóa hệ thống mã hóa trong một khoảng thời gian chấp nhận được.   Đôi khi các nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực mật mã cũng không muốn thừa nhận sự khác biệt giữa việc chứng minh một định lý có điều kiện với việc chứng minh một định lý tuyệt đối. Chẳng hạn, rất nhiều người lầm tưởng về khái niệm thuật toán không đồng nhất.   Loại thuật toán thông thường của máy tính được gọi là thuật toán đồng nhất. Ngược lại “không đồng nhất” nghĩa là khi giải một bài toán, chúng ta được trợ giúp từ một “chuỗi ký tự hướng dẫn” (advice string), nhưng không tính đến việc mất bao lâu để tìm ra được chuỗi kí tự hướng dẫn đó. Những thuật toán không đồng nhất là một ý tưởng thú vị và quan trọng trong ngành khoa học máy tính lý thuyết. Nhưng từ góc độ thực tiễn thì thuật toán không đồng nhất không hẳn là một thuật toán bởi nó dựa trên một chuỗi ký tự hướng dẫn mà không ai biết làm thế nào để tìm ra nó.   Hai nhà nghiên cứu mật mã học hàng đầu thế giới viết trong bài giảng một khóa học tại MIT: “Rõ ràng, kẻ tấn công không đồng nhất thì mạnh hơn kẻ tấn công đồng nhất. Bởi vậy, một chứng minh một cái gì đó được bảo mật kể cả khi chịu một cuộc tấn công không đồng nhất thì tốt hơn là một chứng minh nó chỉ được bảo mật với một cuộc tấn công đồng nhất”.   Đó là một nhận định hoàn toàn sai lầm. Dẫu rằng câu đầu tiên thì đúng – kẻ tấn công không đồng nhất có thể sẽ sử dụng chuỗi ký tự hướng dẫn, trong khi kẻ tấn công đồng nhất (tấn công thông thường) thì không. Tuy nhiên, nó không khiến cho định lý mạnh hơn. Bởi kết luận của nó mạnh hơn nhưng giả thuyết nó đưa ra cũng mạnh hơn. Thay vì chứng minh “Nếu P xảy ra thì Q xảy ra”, anh lại chứng minh “Nếu R xảy ra thì S xảy ra” khi R mạnh hơn P và S là kết quả mạnh hơn Q. Định lý này không mạnh hơn (hay yếu hơn) định lý trước. Định lý “Nếu P xảy ra thì Q xảy ra” không thể so sánh mạnh yếu được với định lý “Nếu R xảy ra thì S xảy ra”. Đó hoàn toàn là logic thông thường.   Sự hiểu nhầm này đã dẫn tới việc một trong những nhà nghiên cứu đưa ra nhận định trên đã gây ra một lỗi cơ bản nghiêm trọng trong một bài báo được chấp nhận tại hội nghị Crypto (hội nghị mật mã thường niên danh giá nhất) vào năm 2005. Người ta không hề phát hiện ra lỗi này cho đến bảy năm sau.   Truy vết tiếp xúc Covid-19  Có lẽ nguy hiểm lớn nhất trong ứng dụng toán học vào các vấn đề thực tế đó là yếu tố con người của vấn đề không hề được chú ý đúng mức. Tôi sẽ đưa ra hai ví dụ, đều liên quan đến đại dịch Covid-19.   Các nhà nghiên cứu đã phát triển nhiều ứng dụng điện thoại để truy vết tự động. Ưu tiên hàng đầu của họ trong các nghiên cứu này là sử dụng mật mã để bảo vệ quyền riêng tư, nghĩa là bảo đảm rằng không ai ngoài những nhân viên y tế được ủy quyền có thể biết được ai dương tính với virus hay những ai đã tiếp xúc với những người dương tính với virus.   Susan Landau là chuyên gia hàng đầu về quyền riêng tư trên mạng, và bà đã chỉ trích việc tập trung quá mức vào bảo vệ quyền riêng tư trong khi bỏ qua nhiều vấn đề cấp bách hơn về sự công bằng. Bà viết một cuốn sách với tiêu đề: “Nghĩ đến yếu tố con người: các ứng dụng truy vết tiếp xúc và y tế công cộng”, trong đó bà thảo luận về những gì mà việc triển khai ứng dụng truy vết tiếp xúc thiếu cẩn thận có thể gây ra rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với những người nghèo hay những chủng tộc thiểu số ở Mỹ. Luận điểm của bà là:   – “Một trong những hạn chế của các ứng dụng truy vết tiếp xúc đó là các tín hiệu Bluetooth có thể đi xuyên qua tường hay sàn nhà.”  Bởi vậy, ứng dụng sẽ ghi nhận một người là tiếp xúc với ca dương tính cho dù họ ngồi cách người dương tính đó qua một bức tường. Người ta gọi đây là hiện tượng dương tính giả (false positive).   – Ở Mỹ, chủ yếu là những người thu nhập thấp hoặc các cộng đồng dân tộc/chủng tộc thiểu số mới sống gần nhau trong những khu nhà tập thể xập xệ hoặc chen chúc trong một nhà.   – Chủ yếu là những người thu nhập thấp hoặc các cộng đồng dân tộc/chủng tộc thiểu số mới phải làm việc trong các lĩnh vực mà họ không thể làm việc tại nhà và tiếp xúc rất gần với đồng nghiệp (thu ngân, y tá, công nhân trong các công xưởng…). Trong đại dịch, những người cùng làm việc với nhau thường được phân tách bằng các tấm chắn – nhưng những tấm chắn cũng không ngăn sóng Bluetooth đưa ra những trường hợp dương tính giả.  – Bởi vậy, các ứng dụng truy vết tiếp xúc sẽ ghi nhận ra những trường hợp dương tính giả đối với họ nhiều hơn là với những người da trắng giàu có.  – Dương tính giả có thể đồng nghĩa với việc những người đó sẽ phải bỏ dở công việc (mà họ vốn đã chỉ sống với đồng lương tối thiểu), và ở Mỹ điều đó sẽ dẫn đến mất việc, bị đuổi khỏi nơi ở và sự xáo động lớn trong đời sống của họ.    Đã có rất nhiều bài báo viết về đại dịch Covid-19 ảnh hưởng một cách thiên lệch lên đời sống của những người nghèo và các cộng đồng chủng tộc thiểu số. Sách của Landau chỉ bổ sung thêm điều này đối với việc truy vết tự động.   Tìm đường cong khớp cho Covid-19  Một trường hợp mà toán ứng dụng có những sai lầm trong ứng phó với đại dịch diễn ra ngay tại trường tôi, Đại học Washington, tại Viện Đo lường và Đánh giá Y tế (IHME). Trong những ngày vô cùng quan trọng là lúc mới xảy ra dịch bệnh – thời điểm mà người Mỹ cần nhận thức được sự nghiêm trọng của nguy cơ dịch bệnh và có những hành động mạnh mẽ – thì IHME trở nên nổi tiếng vì những tính toán vô cùng lạc quan. IHME dự báo rằng tổng số người Mỹ tử vong trong đại dịch sẽ chỉ vào khoảng 60.000 người, tương đương với số lượng người chết trong mùa cúm năm 2017-2018. Trên thực tế, số người tử vong hiện tại đã vượt qua con số 500 nghìn người và khả năng sẽ tăng tới con số gấp 10 lần mà IHME đã dự báo.   Tại sao IHME lại đưa ra một kết quả tồi đến như vậy? Mô hình của họ, được viết bởi các nhà toán học không có hoặc có rất ít kinh nghiệm trong lĩnh vực dịch tễ học, dựa trên phần lớn cái được gọi là “tìm đường cong khớp”. Họ lấy những đường cong về số ca nhiễm và số người tử vong (theo thời gian) ở Vũ Hán và đơn giản là áp vào dữ liệu ở Mỹ. Họ giả thiết rằng, ở Vũ Hán, giữa tháng một và tháng ba năm 2020, số ca nhiễm sẽ tăng nhanh rồi hầu như giữ nguyên và cuối cùng là giảm mạnh trong vòng từ một đến ba tháng. Phương pháp của họ giả định rằng người Mỹ sẽ đối phó với khủng hoảng gần như y hệt người Trung Quốc.   Rốt cục, đó là một giả định ngây thơ. Chính trị và văn hóa của Mỹ rất khác với Trung Quốc. Vào thời điểm đó Mỹ có một Tổng thống phủ nhận hoàn toàn các thực tế khoa học và phản đối việc đeo khẩu trang. Người Mỹ cũng không có kỷ luật như người Trung Quốc, như một phóng viên New York Times đã bình luận, “Người Mỹ không thích bị nói phải làm gì”.   Những mô hình toán học khác chính xác hơn nhiều so với IHME. Trong gần như cùng thời điểm với IHME đưa ra dự báo về 60 nghìn ca tử vong, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Hoàng gia London (Imperial College London) dự báo rằng số ca tử vong của Mỹ sẽ đạt tới 480.000, một dự báo được đăng trên trang nhất của tờ New York Times. Nhưng dự báo của IHME mới được nội các của Trump tóm lấy để biện minh cho sự phủ nhận của họ đối với tính nghiêm trọng của đại dịch hay cho việc không thực hiện các biện pháp thích đáng.   Đạo đức toán học   Vậy IHME phản ứng thế nào với việc người ta sử dụng công trình của họ một cách sai lệch? Họ có lên tiếng phản đối và nói rằng dự báo đó sẽ không có ý nghĩa gì nếu giả định của nó bị thay đổi, tức là nếu Mỹ ứng phó với đại dịch bằng cách trì hoãn và phủ nhận việc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội? Không, họ không hề phản đối; họ đơn giản chìm đắm trong hào quang của việc được liên tục trích dẫn trong các buổi họp báo của Nhà Trắng.   Nghề y có những quy tắc đạo đức từ thời La Mã cổ đại. Nguyên tắc trung tâm của những nguyên tắc đạo đức này được thể hiện trong lời thề Hippocrates: Đầu tiên là không làm hại ai (First do no harm). Khi những nhà toán học mạo hiểm tham gia vào các ứng dụng sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người, họ cũng nên có một lời thề Hippocrates của riêng mình. □  Bài viết được GS. Neal Koblitz viết riêng cho Tia Sáng  Hảo Linh dịch    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Khi vũ trụ bắt đầu nấu ăn      Sự ra đời của hóa học đã biến đổi vũ trụ từ những bụi khí hỗn loạn trở thành những tinh tú có trật tự – và mọi sự xảy ra bên ngoài khả năng quan sát của chúng ta.    Thời kỳ bóng tối đã nhường chỗ cho một vũ trụ với những thiên hà lung linh.  Đây là một câu đố vui có thể làm khó thậm chí là người bạn thông thái nhất của bạn: Loại axit nào là mạnh nhất, đến nỗi bạn không thể đo được phản ứng của nó bằng thang pH? Hoặc hãy thử câu này: Các phân tử đầu tiên được hình thành trong vũ trụ, trước nước, trước hydrogen là gì? Trong khi nạn nhân của bạn đang vắt óc suy nghĩ, bạn có thể cung cấp một đầu mối để khiêu khích họ: cả hai chất này là một.  Đáp án bất ngờ chính là… helium hydrua, HeH+. Jerome Loreau từ Đại học Free ở Brussels đã gọi nó là phân tử kì bí (hay đúng hơn là “ion kì bí”, bởi vì nó mang điện tích), và điều đó đúng. Giáo viên hóa học của bạn có thể dạy bạn rằng helium, là một khí trơ, không bao giờ phản ứng với chất nào khác, nhưng điều này hoàn toàn không đúng – ít nhất là ở một số điều kiện rất kỳ lạ. Helium hydrua là một chất còn rất mù mờ mà các nhà thiên văn học có thể chưa bao giờ nghe đến nó, thậm chí mặc dù chính nó đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của quá trình tiến hóa của vũ trụ. Nó cũng là bước đầu tiên trong quá trình ra đời của hóa học, của sự vô tận của các vì sao, các hành tinh và sự sống.  Chúng ta sẽ đến với điều cuối cùng và cũng là điều bí ấn nhất về helium hidrua. “Chúng ta không thể quan sát nó,” Loreau ngượng ngùng nói. “Bằng cách nào đó, nó dường như vô hình trong không gian.”  Các nhà nghiên cứu không chỉ không quan sát được helium hydrua, các phân tử khác thuộc thế hệ đầu tiên cũng không thể quan sát. Mảnh còn thiếu này đã làm rách cả một chương trong lịch sử vũ trụ, được biết đến như một thời kỳ quan trọng, Thời kỳ Bóng tối.  Chiếc vạc tối  Vào thời điểm đầu, ngay sau vụ nổ Big Bang, không gian là một tập hợp hỗn loạn và nóng bỏng của vật chất và các bức xạ. Sau đó vũ trụ bắt đầu nở rộng, và nguội dần. Vũ trụ đạt tới nhiệt độ khoảng 4000oK. 380,000 năm sau Big Bang, các proton kết hợp với các electron tạo thành các nguyên tử hydrogen. Không giống như loại hạt trước mình, hydrogen trong suốt, và cho phép các bức xạ bắt đầu truyền tự do trong vũ trụ tối tăm lúc bấy giờ.  Các bức xạ từ thời điểm đó đến ngày nay vẫn có thể dễ dàng đo được, đó là bức xạ vũ trụ nền.  Những ánh sáng của chuẩn tinh đã cung cấp bằng chứng xác nhận sự tồn tại của Big Bang vào năm 1960. Nhưng mặt khác, ta không thể quan sát được thời điểm này. Các nhà thiên văn chỉ có thể quan sát sự phát triển của vũ trụ nguyên thủy một vài trăm triệu năm sau đó.   Điều gì đã xảy ra trong khoảng thời gian giữa đó? Đúng. Thời kỳ bóng tối.  Mặc dù chúng ta không thể quan sát được thời kỳ bóng tối, chúng ta vẫn có một số ý tưởng về những gì đã diễn ra. Mô hình Big Bang cung cấp chính xác những thành phần ban đầu của vũ trụ: hydrogen, helium, một lượng nhỏ deuterium (nước nặng) và một lượng rất nhỏ lithium. Đây là điểm mấu chốt. Cái gì xảy ra tiếp theo, khi vũ trụ đủ lạnh để hình thành nguyên tử hydrogen, nó cũng đủ lạnh để những nguyên tố này bắt đầu tương tác với nhau và kết hợp trở thành phân tử. Nói cách khác, ngày vũ trụ trở nên tối tăm cũng là ngày hóa học khai sinh.  “Các phản ứng hóa học lúc này khá đơn giản. Vũ trụ còn là một phòng thí nghiệm hóa học rất sạch sẽ,” Phillip Stancil ở Đại học Georgia nói. Cũng giống như Loreau ở Brussels, Stancil cũng nghiên cứu về helium hydrua, nhưng ông xét rộng ra ở những kết hợp tiếp theo của các hợp chất trong vũ trụ sơ khai. (Hai người đều nghiên cứu cùng Alex Dalgarno tại Harvard, một nhân vật tiên phong trong lĩnh vực này; họ là số ít những người đầy nhiệt huyết sẵn sàng cống hiến sự nghiệp của mình cho những điều không thể quan sát.)   Công việc lúc này là làm thế nào chúng ta biết được helium hydrua là cặp nguyên tử đầu tiên trong vũ trụ – xảy ra do lực hút (từ điện tích trái dấu) giữa nguyên tử helium và một proton, hạt nhân của nguyên tử hidrogen. Một proton đơn lẻ tồn tại kết hợp với helium tạo ra một axit rất mạnh, sẵn sàng kết hợp với bất cứ chất nào tiếp xúc với nó. Khi helium hydrua xuất hiện, nó kích hoạt sự hình thành của phân tử hydrogen đầu tiên – hai nguyên tử hydrogen liên kết với nhau. Các phân tử loại khác nhìn thành rất nhanh tiếp sau đó, bao gồm helium-lithium và H3+, một phân từ hydrogen gồm ba nguyên tử, nhưng những chất này còn rất thiếu bền vững để tồn tại tự nhiên trên trái đất.  Ngắm những vì sao  Sự xuất hiện của hóa học có tác dụng biến đổi vũ trụ bời tài sản đặc biệt quý giá từ hydrogen nguyên tử: Nếu bạn có một đám mây nguyên tử hydrogen lớn, nó sẽ sụp đổ, nó trở nên nóng hơn và nóng hơn nữa cho đến khi tất cả năng lượng liên kết kéo nó co lại và co lại nhanh hơn nữa. Cuối cùng bạn có một đám mây nhỏ hơn, đến mức không thể xác định cấu trúc. Một vũ trụ chỉ tạo bởi các nguyên tử hydrogen là một vũ trụ thật tẻ nhạt.  Với helium hydrua, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Từ các phân tử hydrogen đầu tiên (do helium hydrua xúc tác tạo thành), vũ trụ hiện đại ra đời. “Các phân tử giúp loại bỏ năng lượng trong những vụ sụp đổ,” Stancil giải thích. Các phân tử có thể truyền các bức xạ đi xa, do đó các đám mây trở nên lạnh hơn và không bị sụp đổ. Phân tử hydrogen không phải là chất làm lạnh tốt nhất, nhưng nó đủ để cho phép các đám mây bụi khí khổng lồ, những đám mây này có khối lượng gấp hàng triệu lần mặt trời, không bị sụp đổ bởi lực hút của chính nó. Những đám mây này trở thành những ngôi sao đầu tiên. Hàng trăm ngàn năm sau đó – có thể là một triệu năm – bóng tối bắt đầu tiêu tan.  Các ngôi sao đầu tiên cực kỳ lớn, như những con thú không ổn định và nhanh chóng hun đúc những nguyên tố nặng bên trong lõi của nó, sau đó phát nổ như những siêu tân tinh chói lòa. Carbon, oxygen và silic xuất hiện từ những vụ nổ này sau đó lan vào các bụi khí xung quanh, mở ra thời kỳ thứ hai của hóa vũ trụ. Hai hợp chất mới, nước và carbon oxit (CO), nhanh chóng làm nguội các đám bụi khí, hình thành một số lượng lớn các ngôi sao nhỏ hơn. Những hạt bụi mới ra đời tạo thành bề mặt rắn đã tạo điều kiện cho những phản ứng hóa học phức tạp. Mớ hỗn loạn của hydrogen và helium đã nhường chỗ cho một vũ trụ của những thiên hà lung linh.  Săn tìm những phân tử sơ khai  Còn rất nhiều bí ẩn của lịch sử ẩn sau đôi mắt của loài người! Thật may mắn, một số dấu vết của các hợp chất nguyên thủy vẫn còn từ quá khứ của thời kỳ bóng tối. Các tính toán hóa học chỉ ra rằng helium hydrua có thể quan sát được từ các đám mây giữa các thiên hà và siêu tân tinh, hoặc thậm chí trong tinh vân của các hành tinh hiện đại. Tuy nhiên, các nỗ lực tình kiếm hiện vẫn chưa mang lại kết quả.  “Nó không quan sát được, nhưng không có nghĩa là nó không tồn tại,” Stancil nói. “Chỉ là nó ở dưới giới hạn phát hiện.” Ông lưu ý rằng các nhà thiên văn học từng không phát hiện ra một phân tử hóa học quan trọng là H3+ cho đến tận năm là 1990 “chỉ vì chúng tôi không biết tìm chúng ở đâu.”  Đối với helium hydrua, ông có cái nhìn lạc quan về hai đài quan sát mới sẽ hoạt động trong thập kỷ này: ALMA, một kính thiên văn radio ở Chile, và kính thiên văn không gian James Webb, là người khổng lồ kế tục Hubble sẽ ra mắt trong một vài năm tới. Chúng sẽ không đủ nhạy để quan sát được những ngôi sao đơn lẻ thuộc thế hệ đầu tiên, nhưng từ toàn bộ một cụm sao có thể đủ sáng để tìm thấy các phân tử sơ khai và cuối cùng biến chúng trở thành có thể quan sát.  Stancil dường như không lay chuyển bởi quãng thời gian dài chờ đợi, tìm kiếm: “Chúng tôi có rất nhiều việc phải làm với các mô hình. Chúng tôi cần thật sự sẵn sàng với những mô hình trong lúc kính thiên văn Webb sẵn sàng để quan sát.”  Loreau cũng tỏ ra bình tĩnh tương tự. “Không có nhiều người nghiên cứu về helium hydrua,” ông nói, “nhưng tôi hy vọng rằng sẽ có người tiếp tục cố gắng và tìm ra nó.” Có thể lúc đó nó sẽ không còn là một câu đố nữa.  Phương Thảo dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Khiêu vũ giữa bầy sói”: Nước Campuchia giữa Xiêm và Pháp      Đây là câu chuyện về số phận của Campuchia trong đêm đầu tiên của quá trình thực dân hóa, trong sự đổ vỡ của các trật tự quan hệ quốc tế truyền thống và sự xác lập của hệ thống tư bản-thực dân dưới bàn tay của người Pháp. Những diễn biến này cho thấy số phận người Khmer và Campuchia trong những chuyển giao quyền lực vùng của các nước lớn và thân phận dễ bị tổn thương của họ trong dòng chảy của biến động khu vực.      Bức tượng nhà vua Norodom cưỡi ngựa, do nghệ nhân Pháp làm từ những năm 1870 đặt trong chùa Bạc ở Phnom Penh. Phần mái che được vua Sihanouk cho làm thêm năm 1953 nhằm tôn vinh vua Noradom như là vầng ánh sáng của đất nước Campuchia độc lập. Nguồn: picfair.  Ngày 3/3/1864, vị quân vương đang chờ tấn phong của Campuchia là Norodom bắt đầu rời kinh thành Udong để chuẩn bị cho một cuộc hành trình tới Bangkok, nơi ông sẽ thực hiện nghi lễ đăng quang dưới sự bảo trợ trực tiếp của nhà vua Thái. Nhà vua Khmer đang chịu sức ép từ Xiêm sau khi ông ký một hiệp ước công nhận sự bảo hộ của người Pháp vào ngày 11/8/1863 vì điều đó vi phạm nghiêm trọng quyền tôn chủ mà Bangkok đã xác lập lên vương quốc Khmer này. Từ cuối những năm 1840, chính cha của vua Norodom là Ang Duong đã chấp nhận địa vị chư hầu của cả Xiêm và Đại Nam. Cũng từ đó, phái viên của vua Xiêm được cử tới Udong để giám sát các hoạt động của triều đình. Viên quan này, vào năm 1864, trước khi rời khỏi hoàng cung Khmer, đã cảnh báo rằng hiệp ước Pháp-Campuchia thách thức nước Xiêm, và Norodom sẽ phải trả giá bằng chính tự do và lãnh thổ của mình.   Sự đe dọa của Bangkok không phải là thứ duy nhất phủ bóng đen lên ngai vàng ở Udong. Người Pháp và họng súng của họ cũng ở rất gần. Chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn Doudard de Lagrée đã được phái sang Campuchia, nơi ông ta theo sát nhà vua Khmer, vừa thuyết phục, vừa đe dọa để ngăn cản một cuộc tấn phong ở Bangkok.     Bức tranh vẽ gian hàng thuộc địa Campuchia tại hội chợ thuộc địa Marseille, năm 1906. Nguồn: asianartnewspaper.com  Đây không phải là lần đầu tiên nhà vua Khmer cùng vương quốc của ông “khiêu vũ giữa những con sói”, và đó chưa phải là lần cuối cùng để tìm kiếm sự tự trị mong manh ở vùng hạ lưu Mekong. Tuy nhiên những gì diễn ra vào những năm 1860 sẽ mở đầu cho thời thuộc địa đen tối và thời hiện đại đẫm máu của vương quốc này.  Đây là câu chuyện về số phận của Campuchia trong đêm đầu tiên của quá trình thực dân hóa, trong sự đổ vỡ của các trật tự quan hệ quốc tế truyền thống và sự xác lập của hệ thống tư bản-thực dân dưới bàn tay của người Pháp. Những diễn biến này cho thấy số phận người Khmer và Campuchia trong những chuyển giao quyền lực vùng của các nước lớn và thân phận dễ bị tổn thương của họ trong dòng chảy của biến động khu vực. (Điều tương tự cũng đang diễn ra một cách mạnh mẽ ngay ở thời điểm hiện tại, khi mà các quyền lực cũ như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc từng gây ảnh hưởng ở vùng hạ lưu Mekong đang dần nhạt, trong khi các quyền lực khu vực mới đang tìm cách cạnh tranh ở khu vực, trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và nhiều nước khác).   Trong trường hợp này, quá khứ chắc chắn sẽ dẫn dắt chúng ta về cách thức mà người Khmer bị kẹt giữa các cường quốc. Không chỉ Huế và Bangkok, Xiêm hay Pháp mà bây giờ là Bắc Kinh, Bangkok, Washington, Tokyo…    Thống soái Nam Kỳ De La Grandière đã được các linh mục gợi ý rằng nhà vua Campuchia mong muốn sự bảo trợ của người Pháp và sẵn sàng đổi lại bằng đất đai. Nguồn ảnh: wiki.  Nỗ lực đa dạng hóa các đối tác quyền lực  Số phận nước Campuchia tưởng như đã được an bài vào năm 1847-1848 khi Thiệu Trị và Tự Đức tuyên bố rút quân, xác lập lại trật tự ở Campuchia với tư cách chư hầu của Huế và Bangkok. Nhưng ngày tháng yên bình không kéo dài. Năm 1855, phái viên của Pháp từ Thượng Hải là Montigny có chuyến đi qua Xiêm, Udong và Huế. Tuy không đạt được một hiệp ước nào, người Pháp bắt đầu để mắt tới vai trò thương mại quan trọng của Campuchia, nơi có tất cả các hàng hóa của Xiêm nhưng với giá rẻ hơn nhiều.  Cũng theo Montigny, không chỉ Pháp mà người Khmer cũng tìm cách thay đổi trật tự quốc tế đang thống trị trên vùng lưu vực Mekong. Nỗ lực đa dạng hóa các đối tác quyền lực của họ nhằm tránh bị lệ thuộc vào hai ‘tôn chủ’ láng giềng đưa tới việc kết nối với đối tác thứ ba: người Pháp. Theo viên chức ngoại giao này, Ang Duong đã tìm kiếm sự bảo trợ của Pháp ngay từ năm 1853. Vị vua này sau đó đã cử đại diện tới Kampot để đón chào Montigny đó là giám mục Miche, người đứng đầu tòa thánh ở Campuchia. Cũng chính Ang Duong trao cho Giám mục Miche quyền đại diện để thương thảo một hiệp ước với Pháp. Tuy nhiên hiệp ước với 14 điều khoản bằng tiếng Pháp và tiếng Khmer này đã bị bỏ lỡ do các cam kết không dứt khoát của Pháp với vùng hạ lưu Mekong vào giữa những năm 1850.   Nỗ lực tìm kiếm một quyền lực bên ngoài khu vực của người Khmer được dấy lên lần nữa khi Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam kỳ vào năm 1859. Theo Giám mục Miche thì vua Campuchia đã bày tỏ mong muốn ký kết một hiệp ước liên minh với người Pháp. Ý định này đã ngay lập tức làm cho Xiêm phản ứng. Họ lo sợ việc Campuchia ký kết các hiệp ước với Pháp mà không có sự hiện diện của Bangkok. Vì thế, Xiêm đã tái khẳng định rằng bản thân họ cũng trong tình trạng chiến tranh với An Nam, và nếu như Pháp chiếm vùng hạ lưu Mekong (Nam Bộ) thì biên giới của Pháp sẽ tiếp giáp với Xiêm.   Bức thông điệp của Bangkok dành cho người Pháp và Khmer là rõ ràng: Campuchia là nước chư hầu của người Thái và mọi giao thiệp ngoại giao giữa hai bên đều phải được sự chấp thuận của họ.   Tuy nhiên canh bạc chính trị này đã hoàn toàn thay đổi trong vòng một thập kỷ với sự thất bại của người Việt dẫn tới việc để mất hạ lưu Mekong vào tay Pháp. Campuchia và Xiêm sẽ phải dùng tới con bài tẩy cuối cùng để định đoạt số mệnh của mình, và lịch sử vùng đất này sẽ sang trang.   Với hiệp ước 1862, Huế cắt Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Côn Lôn cho người Pháp. Đại diện Pháp ở Bangkok Castelnau tuyên bố rằng nước Pháp sẽ kế thừa toàn bộ quyền ảnh hưởng của Đại Nam ở Campuchia. Người Khmer nhìn thấy sự thay đổi cấu trúc quyền lực này và nhanh chóng tìm cách lợi dụng cả Xiêm và Pháp để đạt được một sự công nhận độc lập. Tuy nhiên liệu tham vọng của họ có đưa lại kết quả như mong muốn?   Tình thế của Campuchia năm 1862 là một bi kịch. Nội chiến tranh giành quyền lực sau cái chết của vua Ang Duong vẫn chưa chấm dứt. Sự nhòm ngó của người Pháp ngay lập tức làm Bangkok đẩy mạnh can thiệp quân sự. Họ đã phái hai đạo quân tới Campuchia để lập lại trật tự và sau đó công nhận người con trai trưởng của Ang Duong là Norodom chức Phó vương của tỉnh Campuchia.     Những lãnh đạo sau này của Campuchia đều tìm cách cân bằng mối quan hệ giữa các nước lớn. Norodom Sihanouk đã có một cuộc đời chìm nổi nhưng từng làm hoa mắt các nhà lãnh đạo thế giới bằng sự khôn ngoan chính trị của mình, và suốt cuộc đời đã tìm mọi cách để nâng vị thế quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á. Trong ảnh, ông cùng với các tướng lĩnh Pháp ở Paris năm 1946. Nguồn ảnh: REX.  Nhưng rõ ràng điều đó không làm cho Norodom an tâm. Xiêm vẫn giữ một người em cùng cha khác mẹ với ông là hoàng tử Pra-Kio-Fia như một phương án dự bị. Chính giám mục Miche đã gợi ý cho Thống soái Nam Kỳ De La Grandière rằng nhà vua Campuchia mong muốn sự bảo trợ của người Pháp và sẵn sàng đổi lại bằng đất đai.   Chi tiết này đã thúc đẩy người Pháp đẩy mạnh tìm kiếm một hiệp ước với Udong. Chỉ huy quân đội Pháp tại Gia Định Doudard de Lagrée được phái tới Phnom Penh. Tại đây, ông ta liên hệ mật thiết với giám mục Miche, người đã tới Sài Gòn vào tháng 6/1863. Ngày 3/8/1863, De La Grandière tới Phnom Penh và có cuộc tiếp kiến nhà vua Norodom trên một tàu chiến nhỏ. Trong khi hai người dùng bữa trưa thì sứ thần của vua Tự Đức tới và yêu cầu Norodom nối lại việc triều cống mà ông ta đã chấm dứt từ 1859.   Theo lời Grandière thì sứ thần nhà Nguyễn, bất ngờ khi trạm chán người Pháp và đã phải “xin lỗi một cách nhún nhường” vì ‘dám’ vi phạm các quyền tự do của Campuchia; còn vua Norodom bị “shock” vì lần đầu tiên người Pháp cho thấy sự xác lập của “trật tự mới” ở vùng hạ lưu Mekong.   Chúng ta không biết liệu vị quan chức của Huế có xin lỗi một cách nhún nhường như lời người Pháp hay không, nhưng sau cuộc gặp này, viên tư lệnh quân Pháp để lại cho Norodom một bản hiệp ước bảo hộ để nhà vua suy nghĩ, còn ông ta đi chơi Biển Hồ. Ngày 10/8, khi ông này quay lại, nhà vua Campuchia thông báo rằng Hiệp ước Bảo hộ Pháp-Campuchia sẽ được ký kết vào ngày hôm sau (11/8/1863). Vận mệnh của nước Campuchia hiện đại đã được định đoạt sau một cuộc gặp gỡ như thế.    Hai “tôn chủ” nhưng có tương sáng hơn?  Norodom dường như đã tìm cách ‘tự giải phóng’ mình khỏi sự áp bức của người Thái bằng cách đưa Pháp thành đối trọng. Vương quốc Khmer giờ đây sẽ có hai bảo hộ. Nhưng điều đó chắc chắn đã không giúp họ có một số phận tươi sáng hơn.   Sự leo thang ảnh hưởng của Pháp thúc đẩy Xiêm có những hành động quyết liệt hơn. Chưa đầy bốn tháng sau, Xiêm ép Campuchia ký một hiệp ước bí mật mà theo đó ‘văn bản hóa’ tính chất chư hầu của vương quốc Khmer. Bất cứ khi nào Campuchia có biến loạn, Xiêm có quyền can thiệp quân sự để ổn định trật tự (điều I). Campuchia mất quyền kiểm soát ở một số tỉnh, trong khi việc kế thừa quyền lực chỉ có thể được thực hiện dưới sự đạo diễn và tấn phong của Bangkok (điều VI, VII).  Người Pháp chỉ có thể biết sự tồn tại của hiệp ước này chín tháng sau đó khi họ đọc được bản dịch tiếng Anh trên tờ Strait Times ở Singapore. Tuy nhiên các bộ óc thực dân ở Paris và Sài Gòn cũng không phải là những tay vừa. Họ bắt đầu lo sợ việc Xiêm chiếm toàn bộ Campuchia. Viễn cảnh đó là một thảm họa cho Sài Gòn vì trước khi Nam Bộ được khai thác với quy mô công nghiệp và trở thành một trung tâm kinh tế độc lập, vận mệnh của nó gắn chặt với các nguồn hàng hóa Campuchia. Nếu người Thái chuyển toàn bộ dòng thương mại ở Campuchia về phía Tây (thay vì xuôi xuống Sài Gòn), thuộc địa mới của Pháp sẽ gặp nhiều khó khăn.   Trong cả hai trường hợp ký hiệp ước bảo hộ này, Norodom đều giải thích với Pháp và Xiêm là ông ta bị ép buộc bằng vũ lực và không có lựa chọn nào khác ngoài việc đặt bút ký. Có vẻ như người Khmer tìm kiếm một sự ổn định giống như họ đã từng ‘được hưởng’ dưới sự bảo trợ cùng lúc của Huế và Bangkok. Tuy nhiên, lần này ‘tôn chủ’ của họ mang trong mình những tham vọng khác. Người Pháp không cần đồ “triều cống”. Với các nhà thực dân Paris thì ngà voi và sừng tê chỉ để bày trong tủ kính mà thôi. Họ cũng hiểu các hàm ý ‘chư hầu’, ‘bảo hộ’ hoàn toàn khác hệ quy chiếu truyền thống.   Về điểm này, nhà vua Khmer rõ ràng đã đặt niềm tin ‘nhầm chỗ’. Quan trọng hơn là Campuchia đã không nhìn thấy những chuyển biến rộng lớn hơn của khu vực. Thời đại của Xiêm, Đại Nam và một chư hầu-hai tôn chủ đã qua. Tháng 10/1862, Đô đốc Bonard yêu cầu Phan Thanh Giản cung cấp tư liệu liên quan tới quyền tôn chủ của Việt Nam ở Campuchia và viên đại thần nhà Nguyễn đã nhắc tới Gia Định Thông Chí.   Vào đầu năm 1864, khi Xiêm yêu cầu Norodom tới Bangkok để nhận thụ phong, người Pháp đã ngay lập tức can thiệp để làm đảo ngược tình thế. Đây cũng là một trong những cuộc giằng co cuối cùng của Norodom nhằm dùng Xiêm và Pháp để kiềm chế lẫn nhau. Bất chấp sự ngăn cản của Doudard de Lagrée, nhà vua dùng lời đe dọa của quan chức Xiêm để thuyết phục người Pháp về cuộc hành trình này. Ông còn lập luận rằng chuyến đi là cần thiết để xóa bỏ một sự ràng buộc tôn giáo khỏi bản thân mình. Rằng khi ông ta ở Bangkok (lúc còn là hoàng tử), đã được nhà vua Xiêm khoác áo choàng nhà sư lên người, và trở thành con đỡ đầu của vị quân vương người Thái. Đáp lại, Lagrée tuyên bố Pháp sẽ không công nhận bất cứ diễn biến nào ở Bangkok và nhà vua Khmer sẽ không có cơ hội trở về.     Vua Norodom (1860 –1904).  Norodom khởi hành đi Bangkok ngày 3/3/1864. Ba ngày sau, Lagrée đưa 50 lính và ba khẩu pháo tới Udong. Tại đây, ông cho treo cờ Pháp, bắn 21 phát súng và gửi đi bức thông điệp từ Thống soái Nam Kỳ Grandière rằng hai tàu chiến sẽ được phái tới Kampot để ngăn chặn nhà vua trở về; trong khi các quan chức Khmer sẽ bị cầm tù và lãnh thổ sẽ bị người Pháp chiếm hữu.   Đến đây, Norodom quyết định quay lại và ông được tấn phong trong một nghi lễ sau đó bao gồm cả người Thái và Pháp. Tuy nhiên việc người Khmer xoay sở để có những dàn xếp mang tính thỏa hiệp nội bộ giữa Xiêm và Pháp đã nhanh chóng vượt quá tầm tay khi mối quan hệ này chỉ là một mắt xích trong bức tranh thực dân hóa ở Đông Nam Á lục địa. Vào những năm 1860, kẻ thù của đế chế Pháp là Anh quốc đang mở rộng cuộc xâm lược Miến Điện và bán đảo Malay. Bộ trưởng Hải quân Pháp Chasseloup-Laubat đã cảnh báo rằng người Anh đã ký với người Miến các hiệp định cho phép họ tiếp cận sông Mekong và Tây Nam Trung Hoa từ phía Tây.      Các nỗ lực ngoại giao của nhà vua Khmer là đáng quan tâm vì chúng cho thấy cách thức một vương quốc nhỏ lệ thuộc tìm mọi cách nhằm duy trì chỗ đứng và nền tự trị của mình trong một thế giới đang chuyển mình dưới sức ép của hệ thống thực dân hóa phương Tây. Đã từng có rất nhiều Campuchia như thế trong thế giới Á-Phi và các nỗ lực tự cứu thoát của họ là đáng trân trọng.      Với sự phát triển này, ngay cả Xiêm cũng bị Anh-Pháp đưa vào tầm ngắm. Vì thế mà lựa chọn hai tôn chủ của Campuchia đã bị phá vỡ bởi một tương tác quốc tế lớn hơn. Sau nhiều lần đàm phán, cuối cùng Xiêm cũng phải để cho Pháp toàn quyền kiểm soát vương quốc của người Khmer, đổi lại họ được hai tỉnh là Xiêm Reap và Battambang. Hiệp ước bí mật Xiêm-Campuchia do đó bị vô hiệu. Hiệp ước 1867 định đoạt vận mệnh chính trị của người Khmer trong tình cảnh mà cả Xiêm và Pháp đều cần phải nhanh chóng đưa ra các quyết định cuối cùng cho hạ lưu Mekong trước khi người Anh mở rộng sang phía Đông.   Cuối cùng, cách nhìn khác có thể cho rằng người Khmer thực ra đang “khiêu vũ” trước họng súng đại bác. Các nỗ lực của họ bị động và mang lại ít kết quả thực tế vì chúng chỉ là những phản ứng lại ‘sự đã rồi’ của chính sách ngoại giao pháo hạm của nước lớn. Tuy nhiên với tư cách là một chủ thể, các nỗ lực ngoại giao của nhà vua Khmer là đáng quan tâm vì chúng cho thấy cách thức một vương quốc nhỏ lệ thuộc tìm mọi cách nhằm duy trì chỗ đứng và nền tự trị của mình trong một thế giới đang chuyển mình dưới sức ép của hệ thống thực dân hóa phương Tây.        Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Khinh khí cầu phát điện      Một công ty Canada đang phát triển một chiếc máy giống như khinh khí cầu có thể thu gió ở độ cao 300 mét trên bầu trời.    Chiếc turbine này rẻ hơn việc vận hành các turbine truyền thống và có thể thu được năng lượng từ các luồng gió ổn định ở độ cao lớn, ngay cả trong những vùng không có gió mạnh gần mặt đất.  Công ty Magenn Power, có trụ sở tại Ontario, dự kiến sẽ chế tạo những chiếc máy phát công suất 10 kw để bổ sung điện năng cho những ngôi làng ở xa xôi thuộc Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan và châu Phi.  Hệ thống phát điện này, có tên gọi Magenn Power Air Rotor System (hay MARS) trông giống như những chiếc khinh khí cầu nhỏ trong các cuộc thi thể thao. Chỉ có một khác biệt duy nhất đó là nó không bay tự do. Nó được neo cố định xuống đất ở cả hai đầu, trong khi phần ở giữa trang bị các cánh lớn sẽ quay trong gió.  Năng lượng sinh ra sẽ được thu lại và chuyển thành điện năng trong các máy phát được đặt ở hai đầu. Dòng điện được chuyển xuống mặt đất theo hai dây, rồi chuyển đến các bộ phận truyền tải.  Để bảo dưỡng thiết bị, người công nhân sẽ ấn một nút vào chiếc tời đặt trên trạm mặt đất, và hạ khinh khí cầu xuống.  T. An (theo Discovery)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kho báu dưới thành Rome      Ở bên dưới thành phố Rome cổ kính và nổi tiếng của Ý là những bảo tàng lớn nhất thế giới, chưa từng được khám phá.      Paul Bennett   Luca thò đầu vào ống cống, hít, và cười. “Hôm nay, mùi cống cũng không đến nỗi tệ lắm“, ông nói và thả chân vào cái hố đen nằm giữa của Forum of Nerva, một công trình kiến trúc công cộng cổ ở Rome. Dù ông có lạc quan, nhưng từ lòng cống đen ngòm đó vẫn bốc lên mùi kinh tởm: đó là một thứ hỗn hợp của nước tiểu, dầu diesel, bùn và những xác chuột mục nát. Thoạt đầu, nó có mùi giống như mùi của một hệ thống thoát nước đã được sử dụng tới 2.500 năm rồi. Bên dưới bóng tối, trong cái vòm hang đá, mọi thứ cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Luca lội qua vũng nước với những hàng tượng quân lính mệt mỏi, bước qua những khu đền và đạp trên những lớp vôi tường tróc lở theo thời gian. Hàng loạt dấu hiệu của cuộc sống hiện đại cũng lững lờ trôi theo dòng nước: đầu lọc thuốc lá, túi nilong, núm vú của trẻ con, bật lửa nhựa, bình nước thải… Luca chỉ tay vào một bình đất cổ có hai quai đã bị hỏng, chắc cỡ khoảng 2.000 năm tuổi nằm trong bùn, bên cạnh một vỏ chai bia Peroni vỡ, mới bị quẳng xuống đây cỡ khoảng một tuần. Tất cả những bằng chứng này cho thấy không biết con người đã ném rác rưởi, đồ vỡ nát xuống miệng cống của thành phố này từ thủa nào?  Không gian ngầm cổ xưa          Forum of Nerva ra đời vào khoảng năm 96-98 sau Công nguyên. Trong ảnh là các cột ở lối vào còn sót lại của Forum of Nerva tại Rome. Các cây cột này còn được gọi là cột Colonnacce hay “Những cây cột xấu xí”. Phía bên trên của bức tường là hình ảnh nữ thần Minerva, nữ thần đồng trinh của người La Mã, phía dưới là hình của một người phụ nữ đang làm nhiều công việc nội trợ khác nhau.          Luca Antognoli, 49 tuổi, làm việc cho Roma Sotterranea, Cơ quan bao gồm các nhà nghiên cứu hang động được thành phố bổ nhiệm có nhiệm vụ khám phá không gian ngầm của Rome. Dưới đó có hàng loạt các kiến trúc cổ như những ngôi đền, đường giao thông, nhà cửa và hệ thống cống dẫn nước bị chôn vùi trong lịch sử, kể từ khi Đế chế La Mã sụp đổ. Theo truyền thống, các Cloaca Maxima (Cống lớn), thường chạy bên dưới các khu công cộng (Forum) thời La Mã, được xây dựng vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, khiến Rome trở thành một trong những thành phố cổ nhất-nếu không nói là nơi có các công trình kiến trúc lâu đời nhất – còn tồn tại đến ngày nay. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Luca tìm cách đi qua các đoạn đầy bùn dưới Via Cavour, khu cống chưa bao giờ được khám phá và thể hiện đầy đủ trên các bản đồ.   Trong đời thực, Luca Antognoli là một bác sĩ phẫu thuật, và ông đã cảnh báo chúng tôi phải cẩn thận không để làn da tiếp xúc với nước, vốn là thứ hỗn hợp của  nước thải đường phố và nước thải thô từ các gia đình. Với đôi mắt to, đứng đắn, ông nhìn nhận một cách nghiêm túc về các mối nguy hiểm trong lòng cống. Vì vậy, ông trang bị cho mình kín từ đầu đến chân với găng tay, ủng, mũ trùm đầu và mặt nạ, tất cả được nối kín với nhau bằng băng keo. Ông lội ào ào trong lòng cống để trao cho các thành viên trong nhóm những chiếc mặt nạ bịt mặt.   Ông chỉ tay vào những đường ống: một số đường ống dùng để đưa nước sạch lấy từ tầng ngầm dưới lòng đất lên, một số đường ống khác lại là nơi thoát nước bẩn. Đến đoạn chúng tôi phải vượt qua đường ống dốc nghiêng đầy bùn màu nâu. Phía bên kia của cái chướng ngại vật đầy nguy hiểm này có một lỗ rất sâu, nơi mặt đất đã bị xói mòn từ 2.000 năm qua. Điều này khiến mọi người phải đi lần lần từng tí một dọc theo vách dựng đứng cao chưa từng thấy, phủ đầy bọt nước. Một người trong nhóm pha trò rằng cái vách đá đó nhìn giống như schiuma – các bọt ca cao bám trên cốc espresso của Ý.   Đến đoạn đường có đống hỗn độn nào cao su, nào vụn xương, nào mảnh sứ vỡ và bùn đất chặn gần như toàn bộ rãnh nước bẩn, chuyến phiêu lưu buộc phải dừng lại. Đường ống cống trồi lên và đầu kia chìm vào bóng đêm khiến ai cũng thắc mắc: không biết nó dài tới đâu?  Roma Sotterranea có kế hoạch gửi tới đây một robot điều khiển từ xa để thăm dò từ phía bên ngoài. Luca hy vọng sẽ khẳng định được giả thuyết rằng các cống lớn sẽ dẫn đến khu vực nhà tắm ở Diocletian (Baths of Diocletian), nằm cách đó gần một dặm (khoảng 1,6 km) về phía đông bắc. Ai mà biết được có những bảo vật gì nằm dọc suốt trên đường đi, Luca nói. Ông cũng lưu ý rằng các nhà khảo cổ gần đây đã kéo lên từ một ống cống cái đầu khổng lồ của bức tượng hoàng đế Constantine, khiến người ta suy đoán rằng vị hoàng đế đầu tiên của Kitô giáo có thể là nạn nhân của damnatio memoriae, trò xóa hết dấu vết của các hoàng đế bị khinh thường, vốn khá thịnh hành vào thời Rome cổ đại.   Đối với Luca Antognoli, những không gian ngầm như Cloaca Maxima chính là các đầu mối để hiểu cách làm thế nào thành phố này đã phát triển trong quá khứ để trở thành nơi cai trị của một đế chế có diện tích kéo dài từ đỉnh của Scotland tới tận Baghdad, đế chế đã để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử phương Tây.   Một con lạch xuất hiện từ bóng tối chảy nước xuống đống đổ nát. Ai đó nói không biết nước của con lạch đó bẩn hay sạch. “Nước của nó rất bẩn, nhưng lại có vai trò rất quan trọng” Luca vừa nói vừa mở căng mắt ra to hơn để nhìn.  Các rãnh nước, ban đầu vốn là một cống mở, sau đã bịt lại trong thời Cộng hoà La Mã, nhưng hầu hết những thứ còn ở dưới Rome ngày nay thì lại vô tình bị chôn vùi sau hai thiên niên kỷ hình thành của các trầm tích cùng với sự phát triển đô thị hiện đại.   Một phần lịch sử của Rome  “Rome đã hình thành và phát triển từ 3.000 năm nay”, Darius Arya, nhà khảo cổ đồng thời là giám đốc của Viện Văn hóa Roman của Mỹ nói. Phần lớn diện tích của Rome, kể cả trung tâm của thành phố hiện đại ngày nay vốn nằm trên một cánh đồng vốn luôn bị ngập lụt. Thành phố trung tâm hiện nay thời cổ đại có tên Campus Martius, nằm bên bờ của sông Tiber.           Hình ảnh phục dựng lại hoạt động của Forum of Nerva          Mặc dầu người Roman đã đắp các con đê nhưng thành phố vẫn thường xuyên bị ngập lụt, chính vì vậy họ đã xây những công trình và đường phố mới cao hơn, nằm trên những công trình xây dựng trước đó. “Người Roman đã xây thành phố mới cao hơn tới 2 mét vào một thời điểm nào đó nhằm đưa mức nền của thành phố cao hơn mực nước dâng. Nhưng đồng thời với việc này là họ chôn vùi quá khứ của chính họ”, Arya nói.   Ngày nay thành phố đang an tọa trên mức nền, ở một vài địa điểm, cách các tầng lịch sử 14 mét. Nhưng điều thú vị là khi ở Rome, bạn có thể đào một lỗ ở bất cứ nơi nào trong cái chu vi 19 km giữa những bức tường thành, nơi đã chôn vùi các thành phố cổ và có thể tìm thấy một thứ gì đáng giá về mặt lịch sử thì phần diện tích thực tế đã được khai quật lại rất nhỏ.   “Tôi nghĩ là không quá 10% diện tích của thành phố đã được ghi nhận trong các tài liệu khảo cổ”, Robert Coates-Stevens nói. Là nghiên cứu sinh khảo cổ học của trường British School tại Rome, Coates-Stevens từ một thập kỷ nay cùng với những người khác đã cố gắng ráp lại bản đồ địa hình cho thành Rome cổ. Trong những năm 1800, các công trình kiến trúc khu công cộng thời La Mã (roman forum) đã được đào bới. Công việc hiện vẫn được tiếp tục, nhưng các cấu trúc cổ xưa nhất vẫn còn bị mắc kẹt dưới những đường phố đông đúc người qua lại và nằm dưới các tòa nhà cao ốc văn phòng của thành phố hiện đại. “Khi bạn nghĩ rằng tất cả vẫn còn nằm dưới chân của bạn để chờ khám phá thì cảm giác đó thật là khó chịu”, Coates-Stevens nói.  Trong những năm 1920 và 1930, chính vì cái cảm giác này, Benito Mussolini đã cho san bằng nhiều khu vực thuộc trung tâm lịch sử của Rome, nơi có đầy những ngôi nhà từ thời Trung cổ và Phục hưng, với mục đích để làm lộ ra các lớp khảo cổ bên dưới, đặc biệt để tìm các di chỉ khảo cổ từ thời của Hoàng đế Augustus. (Mussolini thích so sánh mình với Augustus và đánh đồng chủ nghĩa phát xít với Pax Romana, thời kỳ hòa bình dưới thời Augustus). Vào thập niên 1980, cách tiếp cận khảo cổ học bằng cách đào những hố lớn đã không còn được ưa chuộng nữa. Nhưng sự tò mò về Rome là vấn đề muôn thủa. Vì vậy, đội tiên phong của khảo cổ học đã thay đổi cách tiếp cận: các nhà khảo cổ và các nhà nghiên cứu hang động được thuê để khám phá các không gian cổ xưa từ bên dưới nhằm giữ được nguyên trạng trên bề mặt.   Roman Colosseum   Cristiano Ranieri kéo chiếc mặt nạ khô ra khỏi đầu của mình và sửa chữa cái mặt nạ trùm đầu này ngay tại chỗ. Phía trên, tiếng chân của dòng người du lịch nện thình thịch xuống bề mặt lớp gạch lát đường và đá vôi của Đấu trường La Mã.   Nhưng xuống đây, trong mê cung rối rắm của những hành lang, nơi mà các đấu sĩ có thể đã từng đứng để chờ đợi đến lượt chiến đấu của mình, nơi những cầu thang kéo đã từng nâng những con thú dữ như sư tử, gấu, và động vật khác lên đấu trường, âm thanh dường như bị bóp nghẹt lại. Ranieri trở nên hứng khởi rõ rệt khi ông kể về việc lặn dưới đấu trường Colosseum. Ông giải thích rằng không gian này, sâu cỡ 12 m, có hình chiếc bánh rán. Ông nhấc tấm nắp cống bằng thép trên nền đất lên và ánh sáng chiếu xuống làm lộ rõ khối nước màu xám đen có độ sâu khoảng vài mét: đây chính là phần dưới cái bụng của Đấu trường La Mã.   Ranieri đang thăm dò một lối vào mới để tiếp cận hệ thống thoát nước cho dự án đo lường trong tương lai. Đặc biệt, ông muốn biết liệu có thể mang theo một giàn đèn chiếu sáng vào hố đen này hoặc vẫn phải sử dụng các đèn pin cầm tay. Nếu được bơi dưới điều kiện đủ ánh sáng ở dưới Đấu trường La Mã thì câu chuyện tìm kiếm, thăm dò sẽ dễ hơn rất nhiều.   Cách đây ba năm, mới chỉ có một phần tư của đường ống cống-đoạn khô nhất và tiếp cận được dễ dàng nhất – ở phía dưới Colosseum là đã được thăm dò. Những đoạn cống rãnh đơn giản này được thiết kế để thoát nhanh nước mưa các cơn bão, được làm từ cuối thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, khi các Hoàng đế Flavian xây dựng đấu trường Colosseum. Một vài nhà văn cổ đại cho rằng công trình xây dựng dường như được làm với chủ ý thiết kế phục vụ cho các cuộc tập trận giả của hải quân. Nhưng vẫn chưa có bằng chứng về các công trình dẫn nước lớn để mang nước vào các cống nước vĩ đại này.   Sau đó, vào tháng mười năm 2003, Ranieri, một nhà khảo cổ và nhà nghiên cứu hang động đã công bố một phát hiện gây ngạc nhiên cho nhiều người. Bên dưới của hệ thống cống đơn giản này (có từ thời trước Đấu trường La Mã), những ống cống đã được Hoàng đế Nero xây dựng dẫn tới một hồ nước nhân tạo trong khu vườn của ông. Các ống dẫn đã được các kiến trúc sư của Đấu trường La Mã sử dụng lại, vì có rất nhiều đường ống đấu với hệ thống này, cả đầu vào lẫn đầu ra. Trong những năm đầu hình thành, Đấu trường La Mã, giống như nhiều nhà hát khác, dường như đã bị ngập lụt.   Bất ngờ dưới lòng đất  Những kế hoạch thám hiểm Rome chính là cơ hội lớn để khám phá thành phố. Một nhóm nghiên cứu đã đào một lỗ sâu giữa con phố để làm đường vào khám phá không gian ngầm dưới đó. Marco Placidi, nhà nghiên cứu hang động máu lạnh đồng thời là người sáng lập ra Roma Sotterranea cũng được mời đến. Sử dụng quần áo bảo hộ và đeo mặt nạ, Placidi tự mình leo xuống ống cống và vào căn phòng có chiều cao tới 12 m, nơi mà các nhà khảo cổ học tin rằng được xây dựng sau công trình Domus Aurea (Ngôi nhà vàng) của Nero, vào khoảng năm 65 sau Công nguyên và trước một chút công trình Baths of Trajan (vào khoảng năm 109 sau Công nguyên). Cả hai công trình nói trên đều có mặt tại căn phòng này.           Trong lòng một Cloaca Maxima, đường cống lớn ở Rome        Bản đồ một khu vực lòng Rome          Căn phòng này là một trong những công trình xây dựng từ thời La Mã vẫn còn được bảo quản tốt nhất cho đến ngày nay. Vách của căn phòng được xây cẩn thận với gạch phẳng. Phòng cũng có các mái vòm lớn. Nhưng theo Placidi, giây phút hồi hộp nhất vẫn là lúc ông leo xuống được nửa đường, khi thân mình vẫn còn treo lơ lửng giữa khoảng không, ông chiếu đèn trên đầu vào bức tường và chợt nhìn thấy một bức tranh khảm vẫn ở trong tình trạng rất tốt trên tường. Bức tranh miêu tả một nhóm đàn ông khỏa thân đang thu hoạch và nghiền nho. Bức Vendemmia (Thu hoạch nho), như người ta đặt tên cho nó, có chiều dài khoảng 3 mét, được khảm bằng các viên đá cẩm thạch li ti màu sắc sặc sỡ cùng nhiều các loại đá khác. “Trước khi xuống đây, tôi không thể hình dung được mình sẽ nhìn được những thứ như vậy. Phải nói đó là một niềm vui lớn”, Placidi nói.  Mỗi năm, cơ quan quản lý của Rome đã cấp khoảng 13.000 giấy phép xây dựng, mà mỗi giấy phép đó đều đòi hỏi phải có những đánh giá về mặt khảo cổ. Các công trình xây dựng đường sá và cống rãnh luôn bị kéo dài tới hàng năm ở khu vực ngoại ô bởi vì các phát hiện khảo cổ luôn khiến những công trình này phải gián đoạn và khiến việc sử dụng tiền ngân sách bị sử dụng một cách lộn xộn. Theo truyền thống, công việc khảo cổ thường được tiến hành một cách cẩn thận, chậm rãi nhưng Parsifal thì ngược lại. Họ có thể giám định rất nhanh các đồ cổ tìm được và cho phép các công trình xây dựng được tiếp tục.  Vào một ngày bình thường ở thực địa, theo quan sát của Mancini và Fontana, một chiếc máy xúc đã bốn lần phải dừng công việc lại chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Một sinh viên tốt nghiệp đã nhảy xuống cái hố lầy lội, móc lên một kho báu: một chiếc đèn cổ, vài cái bát và đĩa, một số tác phẩm điêu khắc nhỏ bằng đất nung và cả đống vò hai quai La Mã. Rất nhiều đồ trong số chúng có thể được làm ra từ thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư trước Công nguyên.   “Khu vực này còn khá hỗn độn”, Davide nói và giải thích rằng công trình này đã bắt đầu từ tháng 6/2003. Dự án có thể kéo dài trong vài tháng nhưng thời điểm chính xác kết thúc thì chưa thể nói được.  Một vài phút sau, chiếc máy xúc tiếp tục dừng lại, cậu sinh viên lại nhảy xuống hố và lần này lấy lên vài chiếc vò hai quai lớn hơn, một chiếc bị bịt miệng lại như thể dấu một thứ gì trong đó. Sau khi lau chùi chiếc vò, Sergio đưa lên mũi ngửi. Ông nói là có thể đó là một lớp nhựa được sử dụng để niêm phong miệng vò. Đây quả thực là một đồ vật hiếm có. Tuy nhiên, Davide lại không cho rằng như vậy. Ông nói đó có thể là lớp hương trầm được sử dụng từ thời Trung cổ. Chiếc vò nhanh chóng được cho vào một túi nilon và xếp cạnh hàng chục túi nilon khác đang chờ xe tải tới chở về kho. Trong lúc đó, người lái máy xúc đã hút xong điếu thuốc lá và hỏi liệu mình có thể tiếp tục công việc.          Các công nhân đang khám phá đường ngầm ở Rome        Đấu trường La Mã          Những gián đoạn trong công việc như vậy khó có thể tiên lượng trước được, một phần bởi ít ai biết được chính xác dưới đất có những gì (các radar thăm dò lòng đất khó có thể phân biệt các lớp đất, nơi có đầy các mảnh vỡ trong những khu vực chưa có dân cư ở). Ngoài ra, thời gian gián đoạn công việc phụ thuộc vào giá trị của những đồ vật được tìm thấy. Một số thứ, thí dụ như các mảnh vỡ của vò hai quai thì sẽ bị quẳng đi nhanh chóng. Nhưng những thứ khác, thí dụ như các công trình xây dựng thì cần được vẽ lại, đo đạc và nghiên cứu cụ thể. Thậm chí trong một số trường hợp cá biệt, Chính phủ Ý còn cho phép người dân được tiếp cận để chiêm ngưỡng các đồ cổ và công trình cổ khi chúng phát lộ.  Điều này khiến nhiều người không thích. “Chẳng ai muốn Beni Culturali gõ cửa nhà mình”, Robert Coates-Stevens nói về cơ quan quản lý Nhà nước về khảo cổ học của Ý. Thông thường, chủ sở hữu các khu bất động sản cá nhân đều tỏ ra miễn cưỡng khi buộc phải thông báo rằng có một cột đá cổ tình cờ được phát hiện dưới nền đất của họ. Nhưng thái độ này có thể thay đổi nếu như người ta nghĩ rằng khu vực đất mà họ sở hữu là một phần của lịch sử chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề trách nhiệm cá nhân.   “Những viên đá cẩm thạch quả là một phát hiện lớn. Chúng thực sự đẹp và tôi hiểu ngay rằng có thể chúng sẽ được trưng bày trong bộ sưu tập của chúng tôi”, Fendi nói.   Năm năm trước, Alda Fendi, hậu duệ của đế chế thời trang Fendi đã mua một cung điện từ thời Phục hưng ở trung tâm của Rome, cách Column of Trajan có vài chục mét. Người trang trí nội thất của bà đã biến nơi này thành một phòng tranh, nhưng trong quá trình cải tạo ngôi nhà, các công nhân trong lúc đào bới nền đất ở đây đã phát hiện các dấu vết kiến trúc của Basilia Ulpia (Pháp đình Ulpia), một tòa án được xây dựng bởi Hoàng đế Tranjan vào năm 112 trước Công nguyên. Đây là một công trình có mối quan hệ chặt chẽ với không gian công cộng mà ông đã cho xây dựng. Sau khi khai quật và thu thập, lưu trữ các thông tin cần thiết, các nhà khảo cổ khuyên rằng phần nền ở khu vực này đã được phục chế và ít để lại dấu vết khả nghi. Fendi hiểu được tầm quan trọng của khám phá và dự liệu sẽ đưa công trình này vào bộ sưu tập riêng của bà. Bà cũng xin được tài trợ để tiếp tục công việc khai quật qua nền móng của cung điện và lấn ra cả khu vực nhà hàng Pizza ở phía đối diện. Cuộc khai quật cuối cùng đã làm lộ ra phần lớn Basilica Ulpia, bao gồm cả vài cây cột lớn, và sàn nhà được bảo quản khá tốt, được làm bằng đá cẩm thạch xanh và vàng, cả đá cẩm thạch Phrygian tím nữa.   Đường dẫn nước cổ  Các nhà nghiên cứu hang động rất thích tếu táo về công việc của họ, trêu chọc lẫn nhau khi họ lần mò qua những hệ thống cống bằng các câu chuyện kiểu như những con chuột to bằng con chó, hay những chuyện vô nghĩa tương tự. Nhưng do Marco Placidi và Adriano Morabito choàng vào người những bộ quần áo bảo hộ kín và trèo xuống cái cầu thang xoắn trôn ốc có tên La Chiocciola (Vỏ ốc) ở trung tâm của Rome, trông họ khá nghiêm nghị và ít lời. Đối với họ, đây là một không gian thiêng liêng. Ngay ở phía trên đầu, khi họ thả chân xuống là đã vào Aqua Virgo, một đường dẫn nước ngầm được đục xuyên qua lớp đá rất rắn, do chính Marcus Agrippa, người được coi là bàn tay phải của Hoàng đế Augustus, làm ra vào thế kỷ thứ 19 trước Công nguyên. Đường dẫn nước ngầm này có độ dài tới 10 dặm (16 km), bắt nguồn từ một dòng suối ở Salone, nguồn nước sạch tinh khiết và ổn định nhất của người La Mã. Đường dẫn nước này hiện vẫn được sử dụng, nhằm cung cấp nước cho các vòi phun Trevi Fountain và Gian Lorenzo Bernini thuộc bể phun nước Four River ở khu Piazza Navona.  Roma Sotterranea đã tiến hành khảo sát tiện ích của Aqua Virgo đối với thành phố cách đây vài năm, xác định được vị trí của nó bằng các thiết bị laser, la bàn, và thậm chí đôi lúc phải sử dụng cả hệ thống định vị toàn cầu GPS để kiểm tra bề mặt thực tế của nó ở những đoạn lộ ra ngoài. Những ngày này, nhóm đang tiến hành kiểm tra những công việc đã làm bằng cách mặc quần áo bảo hộ và đi trong lòng của đường dẫn.                   Nước trong đường dẫn chỉ ở mức ngập mắt cá chân và do chảy trực tiếp từ suối ra nên khá lạnh. Các vách của đường dẫn được cắt từ đá cứng, đều đặn một cách đáng ngạc nhiên làm người ta nhớ đến các tấm đá phẳng của Cloaca Maxima. Nhưng hai công trình này chắc chắn có nhiều khác biệt. Một công trình dùng để chuyên chở nước sạch, tinh khiết và có ích cho cuộc sống con người trong khi công trình kia lại dùng để vận chuyển nước thải. Nếu như chìa khóa đối với thành Rome cổ chính là nước thì hai hệ thống vận chuyển nước này chính là các dấu tích của một sự liên tục thiết yếu.   Khi cả nhóm tiến đến phía vòi nước Fountain Trevi, Nick De Pace, một giảng viên kiến trúc tại trường kiến trúc Rhode Island, người đang được học bổng Fulbright nghiên cứu về công trình ngầm ở Rome, chỉ tay vào những đường cong nơi những người thợ đã từng tiến hành công việc của họ với các tảng đá hình thành từ núi lửa cách đây 2.000 năm. Ông mô tả một nhóm làm việc với các dụng cụ cầm tay để đục đá, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc, và làm thành một đường dẫn nước cực mịn, dưới con mắt của người hiện đại, như thể nó đã được làm bằng máy. Đối với ông, các đường dẫn nước và thoát nước của Rome là biểu tượng của tinh thần có thể-làm-bất kể-thứ gì của nền văn minh La Mã.   “Không ai nghĩ rằng hệ thống cống rãnh lại quan trọng đến thế” ông nói trong khi kiểm tra một thạch nhũ nơi có nước ngầm giàu canxi rỉ ra và chảy vào đường dẫn nước. “Nhưng chính chúng đã giải thích được rằng tại sao Rome vẫn cứ tồn tại và nó tồn tại như thế nào”.  Nhóm khám phá đã đến một bức tường bê tông hiện đại nơi đường dẫn nguyên thủy đã bị cắt đi và nối vào một đường ống hiện đại. Các đường ống chảy tuột vào hệ thống vòi phun của Trevi Fountain và phía bên dưới của nó. Rồi thì chúng sẽ dẫn tới đâu? Một nhánh mới của nó quay ngược lại để cung cấp cho một số công trình kiến trúc cổ hiện vẫn bị chôn vùi dưới lòng đất. Khám phá những công trình này liệu sẽ mang lại những kiến thức mới về hệ thống hạ tầng của thành Rome?  “Phải nói Rome là bảo tàng mở lớn nhất thế giới. Có quá nhiều thứ để khám phá. Và chúng ta vẫn còn chưa biết hết tất cả những gì quí giá còn nằm sâu dưới lòng của nó”, Darius Arya của Viện nghiên cứu Văn hóa La Mã (Mỹ) nói.           Hoàng An   lược dịch từ National Geographic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kho báu thuốc nam của người Dao Ba Vì      Nhiều loài cây mà các chuyên gia chưa thể nhận diện, định tên nhưng lại được bao thế hệ người Dao quần chẹt Ba Vì sử dụng để chữa bệnh cứu người.     Vùng rừng núi Ba Vì hay còn gọi là Tản Viên Sơn sở hữu hơn 500 loài dược liệu quí và đặc hữu. Hơn 20 năm khai thác, chế biến kinh doanh chưa có tổ chức nên 280 loài thảo dược tại đây đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, trong đó 120 loài đứng trên bờ bị tuyệt chủng.   Với tài trợ của quĩ Rockerfeller, Quỹ châu Á và Trung tâm Môi trường và phát triển cộng đồng, Dự án “Phát triển mô hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” đã  hướng tới mục đích bảo tồn, phát triển và gìn giữ môi trường thiên nhiên, đặc biệt chú trọng tới hợp phần cây thuốc của người Dao Ba Vì. Cùng với những hoạt động tập huấn, nâng cao tri thức cho dân, dự án còn xuất bản sách thuốc và giúp đỡ bà con thành lập công ty dược của cộng đồng đi vào hoạt động một cách hiệu quả.    Y lý bốn bước của người Dao  Ở Việt Nam, có bao nhiêu dân tộc, có bấy nhiêu nền y học, từ mức sơ khai đến bậc cao. Nếu trong một bài thuốc Bắc phải có đầy đủ bốn yếu tố thành phần quân-thần-tá-sứ (chủ bài thuốc, thuốc trợ thủ, thuốc phụ, thuốc dẫn) thì với bài thuốc Nam của người Dao, y lí cũng có bốn bước: trị bệnh, khỏi bệnh, chống tái phát, tiệt nọc bệnh.  Người Dao xưa có phong tục rất đẹp là chỉ cứu người không lấy tiền, ai khỏi bệnh thì đến nhà thầy lang cúng lễ tạ ơn tổ tiên. Dần dần danh tiếng của thuốc dân tộc Dao lan xa, nghề thuốc trở thành kế sinh nhai, các thầy lang ở Ba Vì lại lặn lội trên những nẻo đường để bán thuốc. Không có tiền đi xe thì họ cuốc bộ, dấu chân của những người đàn bà Dao theo thời gian trải dài từ Hải Phòng tới Nam Định, từ Cao Bằng đến Hưng Yên, Hòa Bình…, có người vào tận Nghệ An để chào hàng. Không có thương hiệu, họ cứ lang thang bán thuốc từ năm này qua năm khác với bao gian truân, cơ cực. Lương y người Dao Triệu Thị Hòa 13 tuổi đã theo mẹ hái thuốc, đi chợ; 16 tuổi đã bốc thuốc cứu người.   Người Dao làm thuốc trước hết để chữa bệnh trong dân tộc mình, sau là cho mọi người. Các công đoạn làm thuốc rất thủ công và tỉ mỉ, từ thu lượm trên vùng núi cao, đem cây lá tươi về băm chặt nhỏ theo kích cỡ phù hợp, rửa sạch phơi khô và đóng gói bảo quản. Người Dao Ba Vì nổi tiếng với thuốc tắm và thuốc cao, trong đó có thuốc tắm đẻ truyền thống, giúp sản phụ nhanh chóng phục hồi sức khỏe, sạch huyết và sau 7-10 ngày người mẹ có thể lao động bình thường. Cách đây 50 năm, người Dao chỉ biết dùng cây thuốc dưới dạng tươi hoặc khô. Vì thế vận chuyển xa gặp nhiều khó khăn. Người Dao bắt đầu nghĩ ra cách chế biến thuốc gọn nhẹ hơn mà vẫn giữ được công dụng của thuốc, từ đó cao lá ra đời. Cao lá đun nhiều tuần liên tục từ hơn 100 loại thảo dược khác nhau còn gọi là Cao lá bách thảo chữa được nhiều loại bệnh nan y.   Trong hợp phần cây thuốc của Dự án “Phát triển mô hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”, các y dược sỹ từ các trường Đại học Y, Dược Hà Nội tới tập huấn cho những thầy lang người Dao ở ba thôn Yên Sơn, Hợp Nhất và Hợp Sơn xã Ba Vì. Nội dung tập huấn bao gồm bảo tồn, tu hái bền vững, chế biến phát triển sản phẩm thảo dược tiến tới đăng ký Làng nghề thuốc. Đồng thời giúp những hộ gia đình nghèo lập vườn ươm nhân giống cây, cung cấp giống thuốc mới, hỗ trợ chế biến, sử dụng dụng cụ phơi sấy đơn giản. Đặc biệt, lấy mô hình từ những công ty thuốc của người Dao Đỏ như Công ty sản phẩm bản địa Sa Pa (Sa Pa Napro) ở Sa Pa hay Công ty DK Nature ở Thái Nguyên để giúp người Dao quần chẹt Ba Vì thành lập công ty thuốc, khác với mô hình hợp tác xã trước đây.   Ngày 28/2/2012, công ty Cổ phần thuốc người Dao Ba Vì chính thức đi vào hoạt động. Công ty tồn tại dưới dạng thức công ty nhỏ của cộng đồng, người dân góp vốn, đất, bí quyết bài thuốc, nguyên vật liệu xây dựng… – chiếm hơn 50% vốn. Còn từng bài thuốc được nghiên cứu một cách khoa học tại trường Đại học Dược Hà Nội sau đó chuyển giao lại cho các thầy lang, có thể dưới dạng góp cổ phần. Qua đó, người dân được hưởng lợi kép gồm vốn và lợi tức hoạt động. Người dân có thể tham gia hoạt động như nhân viên công ty, hợp đồng với doanh nghiệp trồng và cung cấp dược liệu. Khó khăn lớn nhất của các thầy lang người Dao Ba Vì nói riêng và các thầy lang người dân tộc nói chung là họ hiện không có bằng cấp hành nghề và chưa có đơn vị nào chính thức cấp bằng thuốc Nam cho những người làm nghề thuốc dân tộc. Điều đó cũng khiến việc công nhận làng nghề thuốc và lập công ty thuốc gặp nhiều bất lợi.   Đối với phát triển du lịch cộng đồng, dự án chú trọng phát triển vườn cây thuốc và tham quan các thư tịch gia phả Nôm Dao, mua thảo dược với các bài thuốc chữa bệnh nổi tiếng.   Cuốn sách thuốc quí  Một thành quả khác từ dự án là cuốn sách ảnh sinh động “Cây thuốc người Dao Ba Vì”, tổng hợp từ hơn 70 nguồn tài liệu khác nhau. Với những người làm nghề y, nhất là người làm thuốc Nam cổ truyền ở Ba Vì, cuốn sách như quyển y lí y văn đầu tiên của họ. Tên thuốc xếp theo bảng chữ cái rất dễ tra cứu, có ảnh minh họa sắc nét, bài thuốc cụ thể, chính xác. Cuối sách có bảng thống kê 507 loại cây thuốc của người Dao Ba Vì là kết quả hai mươi năm lăn lộn cùng người Dao trồng và ươm giống thuốc của Tiến sĩ Trần Văn Ơn, Trưởng bộ môn Thực vật trường Đại học Dược Hà Nội. Hơn 30 loại thảo dược quí được trình bày với tên thường dùng, tên tiếng Dao, tên khoa học, mô tả, phân bố, bộ phận dùng làm thuốc, công dụng và chú ý khi sử dụng kèm theo bài thuốc riêng. Qua cuốn sách, chúng ta được biết, có những loài thảo dược vô cùng quen thuộc lại có những công dụng không ngờ như lá đinh lăng: theo kinh nghiệm dân gian, trước khi thi đấu, các đô vật hay vò lá đinh lăng với nước để uống nhằm tăng sức dẻo dai, vật lâu không mệt. Lá đinh lăng còn được dùng trong 17 bài thuốc khác. Hay như cây xạ đen và cây kim ngân đã chính thức được công nhận là một trong nhiều vị thuốc nam có tác dụng hỗ trợ bệnh nhân ung thư, sau đề tài được nghiệm thu cuối năm 1999 của các bác sĩ Học viện Quân y. Bên cạnh đó còn rất nhiều món ăn từ thảo dược ngon lành và bổ dưỡng như canh lá vông nấu thịt nạc băm, gà hầm kỳ tử, hay cá chép om táo đỏ và hạt ý dĩ được chế biến theo cách riêng của người Dao nơi đây.  Với nền y học cổ truyền lâu đời, lại sống gần các khu du lịch nổi tiếng như Ao Vua, Khoang Xanh, người Dao quần chẹt Ba Vì đang nắm trong tay tiềm năng lớn về phát triển du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái. Không phá rừng giờ đây đã là một trong mười hai lời thề trong lễ cấp sắc của người Dao. Họ từng hát: “Người Dao ta không có đất/ Lam lũ chạy theo núi rừng/ Đói nghèo bám chặt vào lưng”, nhưng những dự án phát triển và bảo tồn y học cổ truyền như kể trên đã mở ra cho người Dao triển vọng về một cuộc sống ấm no nhờ vào chính vốn liếng quý báu của dân tộc mình.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kho tàng rắc rối (Phần 1)      Được khai thác trong khu vực xung đột để bán lấy lời, những hóa thạch ẩn trong đá hổ phách ở khu vực Myanmar đã cho chúng ta thấy một cái nhìn tinh tế về kỷ Phấn trắng và đồng thời, một tình huống khó xử về mặt đạo đức.           Nhà cổ sinh vật học Xing Lida (phải) đang xem xét các hóa thạch trong đá hổ phách được bán ở chợ Tengchong, Trung Quốc.     Vào một buổi sáng mùa xuân u ám, một bức tranh khảm nói về cuộc sống của những con khủng long thời kỳ hưng thịnh đang dần dần hình thành, từng mảnh một, tại thành phố biên giới Myanmar. Nó trải dài trên hàng trăm mặt bàn, trên những tấm bạt trải trước các cửa hàng, và trong các tủ kính của các cửa hiệu. Đa số mọi người đến đây đều chỉ vì đá hổ phách: đá thô phủ tro núi lửa xám; đá được mài bóng và được khắc thành tượng Đức Phật mỉm cười; những viên đá cỡ quả trứng có các màu: mật ong, cam đất, hoặc đỏ ngọc hồng lựu. Một số là người mua cá nhân, nhưng những người khác là nhà buôn qua mạng, giơ mảnh đá hổ phách lên trước điện thoại để chụp cho khách hàng ở xa.    Đối với các nhà khoa học, đây không chỉ là một nơi để mua mặt dây chuyền hoặc vòng đeo tay. Một buổi sáng tháng 3, nhà cổ sinh vật học Xing Lida từ Đại học Khoa học Địa chất Trung Quốc tại Bắc Kinh dừng lại trước một quầy hàng và xem xét một con gián trong một viên hổ phách có kích thước bằng một quả bóng golf, với niên đại từ giữa kỷ Phấn trắng. Tay chân còn nguyên vẹn của nó cong ra khỏi cơ thể, trông nhỏ hơn và hẹp hơn so với loài gián trong nhà chúng ta hiện nay. Giá của nó là khoảng 900 USD, và Xing cho biết đó là một mức giá chấp nhận được. Nhưng Xing vẫn muốn săn được những thứ hiếm hơn và có giá trị khoa học cao hơn.   Xing là một người nổi tiếng trong công chúng vì những nghiên cứu về dấu vết của khủng long cũng như những cuộc thám hiểm khác (đăng trên tạp chí Science, 23/6/2017, trang 1224). Năm ngoái, ông đã xuất bản 25 bài báo khoa học và một cuốn tiểu thuyết giả tưởng về khủng long với lời tựa được viết bởi Liu Cixin, ngôi sao sáng trong những nhà văn viết về khoa học viễn tưởng của cả nước. Ngoài ra Xing, giống như một vài nhà cổ sinh vật học Trung Quốc khác, cũng được ca ngợi vì những khám phá phi thường từ những phiến đá hổ phách này: những con chim non nguyên thủy, lông đuôi của một con khủng long, thằn lằn, ếch, rắn, ốc sên và một loạt các côn trùng từ thời xa xưa của Trái đất. Giống như các nhà tự nhiên học thế kỷ 19 đã thu thập dấu vết các sinh vật từ những cánh rừng nhiệt đới đông đúc ở các vùng xa xôi, những nhà khoa học này đang xây dựng cả một biên niên sử chi tiết của sự sống trong một khu rừng nhiệt đới từ 100 triệu năm trước, tất cả nằm ẩn sâu trong lớp đá hổ phách ở biên giới Myanmar.   Ngay bây giờ, chúng ta đang ở trong một thời điểm khám phá vô cùng hứng khởi, nhà cổ sinh vật học David Grimaldi cho biết. Ông cũng là người phụ trách bộ sưu tập hổ phách tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ tại New York. Hàng trăm bài báo khoa học đã được viết từ kho tàng đá hổ phách, và các nhà khoa học Trung Quốc tiết lộ rằng nhiều mẫu vật vẫn chưa được công bố, bao gồm các loài chim, hàng ngàn các loài côn trùng và thậm chí cả động vật dưới nước như cua hoặc kỳ nhông.  Nhưng đá hổ phách ở Myanmar không chỉ là giấc mơ của các nhà khoa học, nó cũng tiềm ẩn những vấn đề về đạo đức nghiên cứu. Các hóa thạch đến từ khu vực đầy xung đột của bang Kachin ở Myanmar, nên các nhà khoa học khó có thể kiểm tra địa chất ở đây để tìm dữ liệu cho tuổi của hóa thạch và môi trường. Ở Kachin, phe phái chính trị cạnh tranh vì lợi nhuận của hổ phách và các tài nguyên tự nhiên khác. Những mặt hàng này đóng vai trò thúc đẩy sự xung đột, Paul Donowitz, lãnh đạo chiến dịch Myanmar chi nhánh Washington DC tại Global Witness, một tổ chức phi chính phủ cho biết. “Chúng (đá hổ phách) đang đem lại doanh thu giúp các nhóm mua bán vũ khí và xung đột. Và chính phủ đang phát động các cuộc tấn công, giết người hoặc lạm dụng quyền con người để cắt đứt nguồn tài nguyên đó.   Phần lớn đá hổ phách được nhập lậu vào Trung Quốc mà khối lượng giao dịch được các quan chức và thương nhân Tengchong ước tính vào khoảng 725 triệu USD đến một tỷ USD riêng trong năm 2015. Ở Trung Quốc, thợ kim hoàn, các nhà sưu tập tư nhân và các nhà khoa học như Xing dành ra một khoản tiền khổng lồ thông qua các ứng dụng thanh toán di động để giành lấy việc mua các mẫu vật quý giá. Những người sưu tầm thường giành phần thắng trong các cuộc đấu giá, nghĩa là các nhà nghiên cứu phần lớn chỉ có thể nghiên cứu dựa trên các mẫu vật đi mượn. “Sự pha trộn giữa thương mại và khoa học đặt ra những câu hỏi mới chưa từng được biết tới trong ngành Cổ sinh vật học”, Julia Clarke, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Texas ở Austin, người đã có nhiều bài báo về những gì tìm thấy trong đá hổ phách ở Myanmar cho biết.    Đá hổ phách – công cụ bảo quản tuyệt vời   Khoảng 99 TRIỆU NĂM trước và cách Myanmar ngày nay khoảng 220 km, có một khu rừng bờ biển ấm áp, là nơi sinh trưởng của các loài sinh vật kỳ lạ. Cây cối trào đầy nhựa khi các loại côn trùng tấn công chúng, hoặc khi cành cây bị gãy trong các trận bão. Nhựa cây chảy thành từng vũng rồi đọng lại, giữ lại vô số sinh vật giống như những hố nhựa đường thu nhỏ, nhà cổ sinh vật học Ryan McKellar tại bảo tàng Hoàng gia Saskatchewan ở  Regina, Canada cho biết. Theo thời gian, tinh dầu của nhựa cây bốc hơi, các phân tử của nó liên kết thành nhựa cứng và trở thành cái mà bây giờ chúng ta gọi là hổ phách.       Chiếc đuôi hóa thạch dài 3.5 cm của một con khủng long cho thấy cấu tạo và đặc điểm lông của nó.    Hổ phách có ưu điểm vượt trội trong bảo quản các chi tiết và mô mềm của sinh vật, Victoria McCoy, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Bon ở Đức cho biết. Khi tiếp xúc, nhựa thấm vào các mô giúp bảo quản các loài động thực vật khỏi bị nấm và thối rữa, đồng thời cũng sấy khô chúng. Sau đó, nhựa cứng lại và tạo thành một lớp vỏ bảo vệ hóa thạch. Trong trường hợp tốt nhất, các chi tiết vẫn được bảo tồn ở cấp độ tế bào hoặc thậm chí là dưới tế bào, McCoy cho biết.   Đá hổ phách từ các khu vực khác như các nước Baltic và cộng hòa Dominica trẻ hơn khá nhiều. Chúng cũng hiếm khi bẫy được các sinh vật mạnh mẽ, như chuồn chuồn, hoặc bất kỳ động vật có xương sống nào khác ngoài một vài con thằn lằn. Ngược lại, hổ phách Myanmar đã tiết lộ một loạt các dấu vết của các sinh vật, nhờ vào số lượng lớn được đào lên và thực tế là chỉ cần một mảnh cũng có kích thước của trái dưa. “Chúng ta tìm được động vật có xương sống còn nguyên vẹn và điều đó thực sự đáng kinh ngạc”, Andrew, người đứng đầu việc nghiên cứu cổ sinh vật học cho Bảo tàng Quốc gia Scotland ở Edinburgh cho biết. Năm 2018, các nhà khoa học đã báo cáo 321 loài mới được bảo tồn vô hạn trong hổ phách Myanmar, nâng tổng số tích lũy lên 1195. Một nhóm các nhà khoa học gần đây đã lập luận rằng hổ phách Myanamr có thể tự hào về đa dạng sinh học hơn bất kỳ một khu vực hóa thạch nào khác từ toàn bộ thời đại khủng long. “Bạn nghĩ điều này khó có thể là sự thực”, Philip Currie, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Alberta tại Edmonton, Canada, cho biết, “nhưng nó thực sự đang xảy ra”. Các mẫu hóa thạch đơn được khai quật từ đá đã cung cấp thông tin về cách các sinh vật sống, nơi chúng sống và vị trí chúng nằm ở đâu trong cây sự sống. Khi được kết hợp với nhau, các thông tin này cho biết sự ra đời của nòi giống chúng và mối quan hệ sinh thái vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.  Hầu hết các phần thưởng khoa học đó đều đã từng qua khu chợ nhộn nhịp ở Tengchong, gần một vùng xung đột. Vào năm 2014, Xing đã lẻn vào Myanmar, hy vọng nhìn thấy nguồn gốc của các mẫu vật đã quyến rũ anh. Hổ phách đến từ các mỏ gần thị trấn Tanai ở Kachin, nơi trong nhiều thập kỷ quân đội Myanmar và Quân đội Độc lập Kachin địa phương – một nhóm dân tộc nổi dậy, đã chiến đấu để kiểm soát các nguồn tài nguyên như ngọc bích, gỗ, và, gần đây nhất, hổ phách. Người nước ngoài không được phép vào Tanai. Để giữ bí mật chuyến đi của mình, Xing đi qua biên giới khoảng 110 km đến Myitkyina, trung tâm buôn bán hổ phách của Myanmar. Khi đường có vẻ an toàn, một người bạn đã lén đưa anh lên phía bắc, mặc áo dài và váy quấn truyền thống của Myanmar. Xing và những du khách khác đến hầm mỏ đã được chứng kiến từ một địa hình tươi tốt chuyển thành một sườn đồi cằn cỗi. Lều che những lỗ kín sâu tới 100 mét nhưng chỉ đủ rộng cho người lao động gầy chui vào, và họ phải tự chăm sóc y tế cho mình nếu bị tai nạn. Các thợ mỏ đào xuống, và khi chạm vào các lớp hổ phách, họ quay theo chiều ngang với dụng cụ cầm tay để đào nó ra. Họ phải đào vào ban đêm để tránh công khai những khám phá có giá trị. Hổ phách với hóa thạch vùi bên trong là quý giá nhất, và sau nhiều tuần chờ đợi, đó là dấu hiệu cho thấy mỏ sẽ có lãi. Nói chuyện với thông dịch viên của Xing qua điện thoại, người thợ mỏ cho biết mình phải hối lộ cho cả hai phe đối lập để có quyền khai thác và đặt thiết bị trong khu vực – sau đó còn bị đánh thuế trên 10% lợi nhuận.   Xing đã không công bố những kết luận đầy đủ của mình từ chuyến đi này, nhưng anh và những người khác nghi ngờ nguồn gốc của hổ phách có thể phức tạp hơn ta nghĩ. Ước tính tuổi 99 triệu năm đến từ niên đại phóng xạ của tro núi lửa được mua từ một người khai thác, sau đó được công bố vào năm 2012. Nhưng Wang Bo, một nhà cổ sinh vật học tại Viện Địa chất và Cổ sinh vật học Nam Kinh (NIGPAS) ở Trung Quốc, lại nghĩ rằng đá hổ phách được thu thập gần đây thuộc về nhiều niên đại khác nhau. Anh có một người bạn Myanmar đã thu thập nhiều mẫu tro núi lửa gần đây, và Wang dựa vào đó cho rằng các mẫu đá hổ phách cách nhau ít nhất 5 triệu năm. Tuy nhiên, thợ mỏ và thương nhân không quan tâm đến niên đại hay các chi tiết có liên quan đến địa chất khác. Sau khi hổ phách được lấy ra và sắp xếp một cách đại khái, chúng được mang đến cho lái buôn ở Myitkyina hoặc thẳng qua biên giới đến Tengchong. Myanmar có quy định rõ ràng cấm xuất khẩu hóa thạch mà không được phép, nhưng hổ phách được xếp vào đá quý và vì vậy được phép xuất khẩu. Trung Quốc thì lại đánh thuế nhập khẩu trang sức, vì vậy các đại lý ở đây nói rằng họ buôn lậu hổ phách, bằng việc giấu trong gầm của xe ô tô. Ở Tengchong, nền kinh tế chợ đen khá lớn, nên dĩ nhiên thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Từ những năm 1920, một bộ sưu tập nhỏ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London đã mang đến cho các nhà khoa học cái nhìn thoáng qua về sự đa dạng trong quá khứ bên trong hổ phách Myanmar. Sau đó, trong một cuộc ngừng bắn vào cuối những năm 1990, một công ty Canada bắt đầu khai thác hổ phách ở Kachin. Công ty đó đã vận chuyển 75 kg nguyên liệu hổ phách đến cho Grimaldi. Ông nhận thấy rằng mỗi một kilogam sau khi rửa bằng axit, cắt và đánh bóng chứa trung bình 46 sinh vật. Trong đầu những năm 2010, thị trường ở đây bắt đầu bùng nổ cùng lúc với việc những mỏ hổ phách bên trong Trung Quốc được khai thác. Nhu cầu mới tăng lên, và nguồn hổ phách dồi dào cứ thế chảy đi từ Myanmar.      Hổ phách được khai thác ở vùng Tanai, Bắc Myanmar, sau đó được chở bằng xe tải đến Myikyina, sau đó được bán và buôn lậu vào Tengchong, Trung Quốc. Đây là nơi các nhà khoa học và nhà sưu tập đến để mua bán các mẫu vật.     Trước khi Xing đi bộ đến khu chợ ngoài trời ồn ào, anh đã sắp xếp để mua hàng sau khi xem hình ảnh được gửi vào điện thoại của mình. Bây giờ, trong một cửa hàng trang sức hổ phách thiếu sáng, một nhà môi giới 20 tuổi nhút nhát từ Myitkyina mang đến phần thưởng cho hôm nay: hai con thằn lằn trong hổ phách. Con thằn lằn đã bị phân hủy lớp da và thịt, làm lộ ra lớp xương mảnh. Với tốc độ mua bán trao đổi ở đây, một bảo tàng, với sự quan liêu và quá trình duyệt ngân sách rườm rà, không bao giờ có cửa để có những mẫu vật giá trị.  Vậy nên  Xing, với tư cách cá nhân, chỉ đơn giản là lấy điện thoại thông minh của mình ra, sử dụng một ứng dụng thanh toán và mua hàng. Anh phải trả vài trăm đô la, và đó quả thực là một món hời vì viên đá này khá lộn xộn và mờ, không thích hợp làm đồ trang sức. Năm 2014, Xing bắt đầu phát triển một mạng lưới người mua ở đây và ở Myitkyina, đồng thời dạy họ phát hiện móng vuốt của một con chim ở kỷ Phấn trắng, hoặc cách đếm những ngón chân để biết được một bàn chân đến từ một con thằn lằn hay một con khủng long. Sau khi nhận được tiền boa, anh ta nhắn tin kèm hình ảnh cho các chuyên gia, hy vọng tìm ra liệu mẫu vật này có giá trị về mặt khoa học hay không, và chỉ sau đó, anh mới quyết định mua. “Ngày nào nhận tin nhắn từ Xing cũng giống như là Giáng Sinh vậy”, McK McKarar nói. Các nhà khoa học biết rằng việc họ xác định mẫu vật thuộc về loài nào có thể khiến giá cả tăng chóng mặt, đến hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn đô la. Wang nói thêm: “họ sẽ sử dụng lời nói của tôi để kiếm tiền”.   Trong một thế giới lý tưởng, chúng ta không nên trao đổi và mua bán hóa thạch, nhà cổ sinh vật học Emily Rayfield của Đại học Bristol ở Vương quốc Anh, chủ tịch hiệp hội cổ sinh học của động vật có xương sống cho biết. “Nhưng đôi khi cần phải làm thế để kiểm soát nó và để công chúng hiểu được giá trị của nó”. □  Minh Châu dịch  Nguồn bài và ảnh: https://science. sciencemag.org/content/364/6442/722         Author                Quản trị        
__label__tiasang Kho tàng rắc rối (Phần 2)      Tóm tắt kì trước: Phóng viên của Science theo chân của Xing Lida, một nhà cổ sinh vật học có tiếng trên thế giới mua hổ phách từ chợ Tengchong của Trung Quốc đến mỏ Tanai, phía Bắc Myanmar. Không mấy người biết được rằng, thứ đồ trang sức đang được bán buôn, bán sỉ, bày đầy ở sạp chợ này là hóa thạch, là nguồn tư liệu vô giá để nghiên cứu về đa dạng sinh học thời cổ đại. Tuy nhiên, để có được chúng, các nhà khoa học chỉ có thể mua hoặc đi vay – điều đó cũng có nghĩa là họ đã gián tiếp tham gia thúc đẩy cuộc xung đột đẫm máu trong biên giới Myanmar.           Những mẫu vật hổ phách Myanmar, mua ở chợ và được nghiên cứu bởi các nhà khoa học, là những “khoảnh khác đóng băng” của đời sống 99 triệu năm trước. 1. Rắn con Hổ phách hiếm khi lưu giữ được động vật có xương sống, nhưng viên đá kích cỡ quả óc chó từ Myanmar này chứa một loài rắn mới, Xiaophis myanmarensis. 2. Ốc hiếm Phần thân mềm cổ xưa nhất của một loài ốc bao gồm phần đầu và một chiếc râu.    Hóa thạch trong đá hổ phách – cánh cửa về sự sống kỷ Phấn Trắng  Lúc đầu, Xing đã dùng tiền của mình để mua hóa thạch. Rồi sau đó anh thuyết phục bố mẹ, cả hai đều là bác sĩ, bán nhà ở miền Nam Trung Quốc để có thêm tiền mặt. Anh ta tiêu số tiền đó vào năm 2016, và cùng bạn bè lập ra một tổ chức phi lợi nhuận có tên là Viện nghiên cứu cổ sinh học Dexu (DIP), có trụ sở tại tỉnh miền Nam Quảng Đông, Trung Quốc, để mua và lưu trữ vĩnh viễn các bộ sưu tập và cung cấp các mẫu vật cho các nhà khoa học khác nghiên cứu.  Số mẫu vật động vật có xương sống trong các công bố của Xing từ trước đến nay đủ để lấp đầy một bể kính về kỷ Phấn Trắng, bao gồm một hóa thạch rắn con với 97 đốt sống mỏng manh vẫn còn nguyên vẹn đã đăng trên tờ Science Advances, hóa thạch nửa trước của một con ếch dài 2 cm trên tờ Scientific Report, và thứ “ăn khách” nhất của anh là chiếc đuôi khủng long có lông vũ dường như chứa dấu viết của huyết sắc tố, đăng trên tờ Current Biology.    Nhưng thành công đầu tiên và bền vững nhất của Xing liên quan đến những chú chim nhỏ. Một thời gian sau khi xây dựng mạng lưới mua bán của mình, một bức ảnh của con chim đầu tiên được phát hiện trong hổ phách đã được gửi đến, và giá của nó bằng một chiếc BMW mới. “Những con chim này từ một nhóm nguyên thủy được gọi là Enantiornithes, đã tuyệt chủng cùng với những con khủng long khác”. Hổ phách bảo quản những đặc điểm chưa từng thấy trên da và lông, thậm chí có thể tiết lộ cả các chi tiết nội quan. Đây là một cái nhìn hoàn toàn mới về tiến hóa gia cầm, Leo Clarke cho biết.   Ví dụ, những hóa thạch chim khác của Trung Quốc trưng bày lông vũ đã bị ép phẳng bên trong trầm tích đá. Các nhà cổ sinh vật học cho rằng những chiếc lông đó cũng có chức năng như những chiếc lông trang trí của loài chim hiện đại, với gốc lông được cấu tạo như một chiếc ống rỗng. Vào tháng 12 năm 2018, Xing xuất bản về lông từ 31 mảnh hổ phách Myanmar, tiết lộ về sự tồn tại của gốc lông hở và siêu mảnh. Vì những chiếc lông này luôn dựng đứng trong các hóa thạch, hẳn là nó có khả năng chuyển từ mềm mại sang cứng rắn trong tích tắc.       3. Ếch con Nhựa cây trong rừng kỷ Phấn Trắng giữ lại hai con ếch, người ta có thể thấy đùi và bàn chân của nó; một con ếch bị giữ lại cùng với một con bọ cánh cứng – có lẽ là con mồi nó đang chuẩn bị ăn. Con ếch còn lại bao gồm chân, ngón chân trước và ngón chân sau nhưng không có đầu.  4. Cánh chim: Một con chim non rời tổ và cánh của nó bị dính vào nhựa cây. Đầu cánh của nó cho thấy lông vũ được gắn vào xương cánh của nó như thế nào ở loài chim đã bị tuyệt chủng này, loài Enantiornithes.   “Từ những mẫu vật 3D trong đá hổ phách, nay chúng ta mới biết rằng những gì chúng ta hình dung trước đây (từ hóa thạch dẹt) là hoàn toàn sai”, Jingmai O’Connor, người nghiên cứu hóa thạch chim của Xing từ Viện Động vật có xương sống và Cổ sinh vật học Bắc Kinh (NIGPAS), cho biết. Vào tháng Hai, nhóm đã xuất bản một phát hiện khác từ đá hổ phách: một con chim với lông vũ trên chân – một chi tiết tiến hóa đã từng được dự đoán, nhưng chưa từng thấy trước đây của chim hiện đại với việc sau này chúng đã tiến hóa thành những con chim chân trần.   Giấc mơ lấy được DNA từ hổ phách, như trong bộ phim nổi tiếng “Công viên kỷ Jura”, vẫn chưa thành hiện thực, bất chấp rất nhiều những lần kiểm tra trong cả những viên đá hổ phách có niên đại rất trẻ, Victoria McCoy, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Bonn ở Đức cho biết. Nhưng các nhà nghiên cứu đã báo cáo việc tìm ra các dấu vết hóa học khác còn sót lại trong hóa thạch lấy được từ đá hổ phách: các sắc tố tiết lộ làm thế nào các sinh vật lấp lánh dưới ánh mặt trời kỷ Phấn Trắng, và các phân tử cấu trúc chẳng hạn như chitin từ động vật chân đốt, lignin và cellulose từ thực vật. Cuối cùng, nhóm McCoy đã báo cáo có thể thu được axit amin từ một chiếc lông vũ trong hổ phách Myanmar, mang theo đặc điểm hóa học cho thấy rằng chúng vẫn được gắn với các đoạn protein trước cuộc thi nghiệm. Vậy bước tiếp theo sẽ là: giải trình protein cổ đại có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu một cách để theo dõi các mối quan hệ tiến hóa và hiểu về cách sinh vật đã từng tồn tại.  Nhưng để thực hiện những thí nghiệm của mình, McCoy phải dùng búa đập hổ phách thành bột. Các nhà khoa học và các nhà sưu tập có lẽ sẽ thích các phương pháp khác để nghiên cứu các phân tử sinh học bị mắc kẹt này. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu thử nghiệm với hình ảnh synchrotron, sử dụng tia X cường độ mạnh khiến các nguyên tố hóa học trong mẫu phát huỳnh quang ở các bước sóng khác nhau. “Sẽ mất cả một thập kỷ để chúng ta có thể tìm ra cách thực sự tận dụng thông tin giàu có bị mắc kẹt bên trong những mẫu vật này”, O’Connor nói. Khi kiểm tra mẫu vật, các nhà khoa học cũng phải cảnh giác với hàng giả. Một mẫu hổ phách Myanmar được bán trên thị trường và được quảng cáo là có chứa con rùa đầu tiên, nhưng các thử nghiệm hóa học đã cho thấy đó chỉ là giả mạo.   Ở cách NIGPAS 2100 km, trong trung tâm lịch sử kín cổng cao tường Nam Kinh, Wang rót trà mời tôi rồi bắt đầu rút ra một túi côn trùng trong hổ phách đã được dán nhãn. Động vật có xương sống quý hiếm có thể là các loài động vật cỡ lớn (megafauna) đầy lôi cuốn được tìm thấy trong hổ phách Myanmar, nhưng động vật không xương sống mới là những loài cai trị cả về số lượng và sự đa dạng. Wang, một nhà cổ sinh vật học, đã tích lũy một bộ sưu tập 30.000 mảnh thực vật và côn trùng tìm thấy trong hổ phách ở Myanmar, và Wang vẫn chưa nghiên cứu xong hết. “Cuối cùng, chúng tôi nghĩ rằng có thể 4000 hoặc 5000 loài có thể được tìm thấy’, Wang cho biết.   Phòng thí nghiệm của ông sử dụng một loạt các hệ thống phân tích hình ảnh cao cấp để có thể xuyên qua các mẫu vật mà không cần phá hủy chúng. Trong một phòng, một kính hiển vi laser đồng tiêu có thể khiến cấu trúc tinh tế của sinh vật – giống như đôi mắt đa thấu kính của một con ruồi, đang từ kính hiển vi được phóng to lên một màn hình điều khiển bên cạnh – trở nên sáng rõ. Trong một phòng, máy chụp cắt lớp vi tính (CT) có thể quét bên trong hóa thạch để nhìn thấy mô hình cấu trúc bên trong. Bằng cách áp dụng những kỹ thuật đó, Wang, giống như những đối thủ của anh đã có thể khai quật đủ những  mảnh ghép của 99 triệu năm tiến hóa để lấp đầy một cuốn phim tài liệu. Lấy bọ cánh gân, một nhóm côn trùng mà ngày nay săn kiến và rệp. Trong một quả hổ phách lớn, phần mở rộng cánh của một con bọ cánh gân có hình dạng giống bướm đã cho thấy những đốm mắt giả giúp đánh lạc hướng con mồi. Và trong những miếng hổ phách khác, một ấu trùng của bọ cánh gân trông y hệt như cây rêu tản. Những bọ cánh gân khác như mang theo những mảnh ghép của cả thảm rừng trên lưng, một chiến thuật ngụy trang mà nhiều côn trùng hiện đại vẫn đang dùng.  “Một điều đáng tiếc là hầu hết trong số chúng tuyệt chủng”, Wang  nói, nhưng chúng ta đã may mắn khi biết được một số bí ẩn về chúng.   Một số nhóm không có bất kì một loài trực hệ nào, chẳng hạn như Haidomyrmecines, biệt danh là “Kiến địa ngục”. Chúng tiến hóa ở gần với gốc trong cây phả hệ của các loại kiến và có đôi sừng sắc hình liềm, có lẽ để hất và xiên những con côn trùng khác trong không trung. Một vài con khác, gọi là “Kiến kỳ lân”, có một cái sừng dài nhọn, có lẽ là để ghim con mồi tại chỗ. Những con kiến này chẳng khác nào loài khủng long bạo chúa của thế giới kiến, Grimaldi cho biết, mà bạn sẽ không bao giờ biết đến sự tồn tại của chúng nếu bạn chỉ nghiên cứu hệ động vật sống hiện đại.      Nhà cổ sinh vật học Wang Bo (trái) với nhà sưu tập Xia Fangyuan (phải) tại nơi trưng bày bộ sưu tập riêng của Xia tại Thượng Hải, Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học biết ơn đã đặt tên các loài mới theo tên của Xia.   Nhện cổ lại cho chúng ta thấy một bất ngờ khác. Đầu năm 2018, Wang và Huang Diying, một nhà nghiên cứu tại NIGPAS, đã xuất bản mẫu vật trong tờ Nature Ecology & Evolution với cơ thể như nhện và đuôi dài như đuôi bọ cạp. Bây giờ chúng đã tuyệt chủng, nhưng những con nhện đó thuộc một nhánh tiến hóa rất sớm của loài nhện được cho là đã tuyệt diệt khoảng 250 triệu năm trước. Nhưng ở nơi mà giờ đây là nước Myanmar, chúng đã từng bò cạnh những con nhện thật sự mà đến ngày nay vẫn còn tồn tại. Những con tiền-nhện này có cơ quan kéo sợi tơ, bằng chứng cho thấy ngay cả những động vật chân đốt lớp nhện mới hình thành trên Trái đất cũng có sức mạnh đó.   Và giữa những loài nổi bật đó, là những điều vô cùng quan trọng thường bị bỏ qua: những con bọ cánh cứng bao quanh bởi các chấm phấn hoa. Chúng là manh mối cho một sự thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng trong lịch sử sự sống mà Charles Darwin gọi là một sự bí ẩn gây khó chịu: sự xuất hiện của thực vật ra hoa, chủ yếu dựa vào những vị khách côn trùng để thụ phấn. Những mẫu vật hổ phách khác từ khu rừng đó cho thấy phấn hoa từ một nhóm cây cổ – cây hạt trần – như cây vân sam và bạch quả mà giờ đây đa số đều thụ phấn nhờ gió. Tuy nhiên, vài phấn hoa trên những con bọ trông có vẻ quá to để gió thổi đi. Có lẽ hổ phách giúp bảo tồn những khoảnh khắc trong thời kỳ rất nhiều nhóm côn trùng chuyển đổi nguồn thức ăn từ thực vật hạt trần sang các loài thực vật có hoa, và lưu giữ kỉ niệm của hàng triệu năm đồng tiến hóa, đem lại sự đa dạng phi thường của các loài hoa và những loài côn trùng thụ phấn ngày nay.   Nghiên cứu sự tiến hóa của quá trình cộng tác đó sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu tại sao các nhóm côn trùng này phát triển mạnh hay thất bại – một câu hỏi thiết yếu vào thời điểm mà các nhà côn trùng học đã bắt đầu lo lắng rằng sự biến đổi khí hậu đang tiếp diễn có thể thúc đẩy một làn sóng tuyệt chủng côn trùng, nhà cổ sinh vật học Michael Engel của Đại học Kansas ở Lawrence cho biết. “Đá hổ phách Myanmar vừa vặn với thí nghiệm vĩ đại, bi kịch, không may đang diễn ra trên thế giới ngày nay” – Engel nói.   Ai là người sở hữu các mẫu vật?  Sau khi xem xét xong các quầy ngoài đường ở đây, Xing đi vào hết cửa hàng này đến cửa hàng khác, đến mỗi nơi lại ngồi xuống bên một chiếc bàn uống trà thanh lịch để trao đổi với chủ cửa hàng. Dưới quầy kính thường dùng để trưng bày trang sức, những cửa hàng này bày những chiếc lá dương xỉ, những bông hoa, những con bọ cạp, nhện lông và một quả thông nhỏ xíu. Những mẫu vật mới được dựng lên ở phía sau trong các túi nhựa. Một cửa hàng thậm chí còn trưng ra cả những con chim non, với đôi cánh mỏng manh cùng móng vuốt của nó có thể nhìn thấy rõ ràng. Nhưng người buôn hét giá tới 145.000 USD, quá cao.       Một người lính từ Quân đội Kachin độc lập đi tuần trong một khu làng bị bỏ hoang sau cuộc chiến gần mỏ hổ phách ở Bắc Myanmar.    Đến cuối ngày, học trò của Xing đã nhét đầy ba lô với các hộp nhựa đầy động vật không xương sống và thằn lằn. Tiếp đó, Xing sẽ bay đến thành phố lớn gần đó là Côn Minh, Trung Quốc để gặp Xiao Jia, một nhà sưu tập cá nhân giàu có và nhà buôn qua mạng đã cho anh mượn con rắn trong hổ phách đầu tiên để nghiên cứu. Trên đường đi, cuộc buôn bán vẫn chưa ngừng lại. Sau khi lái xe của Xiao đón Xing từ sân bay, điện thoại của anh rung chuông: Một tay buôn ở Mitkyina muốn bán thứ có vẻ là mảnh tổ ong đầu tiên trong hổ phách.   Xing thảo luận việc mua viên hổ phách đó với Xiao. Nếu một trong hai người không mua được mẫu vật đó, nó có thể sẽ rơi vào tay ai đó giàu có trong cộng đồng nhỏ bé này, như Xia Fangyan,  một nhà sưu tầm, một nhà buôn và đồng tác giả nhiệt thành của nhiều công bố uy tín, sống ở phía đầu kia đất nước tại Thượng Hải  và cạnh tranh với Xing trong việc có được những mẫu vật hàng đầu. Xia cho biết đã dành khoảng 750.000 USD cho bộ sưu tập đá hổ phách Myanmar mỗi năm, và anh biết ơn các nhà khoa học như Wang đã giúp anh định danh các loại gián, ruồi kí sinh, và các loài ếch. Bộ sưu tập khổng lồ của anh được lưu trữ ở một két sắt và được đem ra khoe mỗi khi khách tới nhà, bao gồm chim, thằn lằn và một con ếch. Mẫu vật yêu thích nhất của anh, là một con côn trùng được bảo quản nguyên vẹn hoàn hảo: Một con bọ ngựa anh mua với giá 22,000 USD trông sống động đến mức như nó sắp sửa nghiêng đầu đến nơi.   Bộ sưu tập của Xia còn gồm một cái vỏ đầy bí ẩn được mua từ một lái buôn cam đoan rằng đó là một con sên. Nghi ngờ mẫu vật này còn hơn thế, anh cho Wang mượn để chụp CT và hóa ra nó chính là một ammonite, một sinh vật biển đã tuyệt chủng và trông giống như một ốc anh vũ. Chiếc vỏ đáng kể này hẳn được bọc bởi nhựa cây trong một khu rừng bên bờ biển, có lẽ là nó dạt lên bờ sau một trận bão. Nó được mô tả trong tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) vào tuần trước, mẫu vật vẫn nằm trong bộ sưu tập riêng của Xia.   Những trao đổi như trên là điều bình thường. Các nhà sưu tập Trung Quốc khá ngần ngại khi trao ngay mẫu vật cho bảo tàng, Wang nói, bởi vì Luật pháp của Trung Quốc không giảm thuế cho những hành động như vậy. Nhưng một số nhà nghiên cứu phương Tây không thoải mái với việc xuất bản nghiên cứu mà hóa thạch vẫn còn trong tay tư nhân. Quy trình cho mượn mẫu vật đơn giản không đảm bảo nó sẽ được bảo quản đúng cách, hoặc việc các nhà nghiên cứu khác có thể đến thăm và nghiên cứu nó cho hàng thập kỉ và hàng thế kỉ tới. “Toàn bộ mục đích của khoa học là đưa ra và thử nghiệm các giả thuyết” Rayfield cho biết. “Nếu chúng tôi không thể nghiên cứu mẫu vật nữa, thì nó chỉ đơn giản là một bài tập về việc chấp nhận những khẳng định của những người khác.”  Và PNAS không phải là tạp chí duy nhất xuất bản về những mẫu vật từ các bộ sưu tập hổ phách Myanmar của Trung Quốc. Tờ Science Advances (một ấn phẩm của Science) cũng xuất bản nhiều công bố về mẫu vật thuộc về Xia, cũng như những hổ phách chứa rắn con, giờ đang nằm trong một triển lãm ở phía sau cửa hàng đồ chơi của Xiao trong trung tâm thương mại Côn Minh (Xiao và DIP đã thỏa thuận để viện sở hữu mẫu vật đó, nhưng Xiao sẽ mượn nó đến năm 2027)  Vẫn kiên quyết duy trì sở hữu hiện tại của các mẫu vật, cả Xiao và Xia – cùng những nhà khoa học họ đang cùng hợp tác – nói rằng sẽ có kế hoạch chuyển các bộ sưu tập của họ thành bảo tàng tư nhân và cam kết sẽ chấp nhận các yêu cầu phục vụ các nhà nghiên cứu bên ngoài. Bài báo trên PNAS ghi là mẫu vật ammonite, chẳng hạn, là thuộc về Bảo tàng hổ phách Lingpoge ở Thượng Hải, một cơ quan mà Xia cho biết, anh đang trong quá trình thành lập. Anh nói anh đang đàm phán với chính quyền quận để được phép sử dụng đất. Khi được hỏi về liệu điều này có phù hợp với chính sách của PNAS hay không, Ban biên tập của ấn phẩm này đã đưa ra một văn bản phản hồi: “Các tác giả của bài báo này phải đảm bảo với chúng tôi là các hóa thạch sẽ cho phép những nhà nghiên cứu chính danh tiếp cận”.   Tuy nhiên, có những trải nghiệm khiến vài nhà nghiên cứu hổ phách nghi ngờ. Engal nhắc lại một lần muốn đến thăm một mẫu vật đã được công bố tại một nơi cho mượn hổ phách tại Jordan. Nó được đặt ở một nơi có vẻ như là một bảo tàng nhưng hóa ra lại được điều hành bởi một nhà sưu tập. “Về cơ bản bảo tàng chính là tầng hầm của nhà người này,” Engel nói. Và ông ta bảo: “Ồ được chứ, chắc chắn là anh có thể nghiên cứu nó – với giá 10.000 USD”.        Di sản văn hóa, di sản cổ sinh vật học của Myanmar đang bị bán rẻ, bị tước khỏi lòng đất của quốc gia này và phân phối khắp thế giới.      Tuy nhiên, sức hấp dẫn của hóa thạch hổ phách có thể sẽ tiếp tục lớn hơn nữa, bất kể ai sở hữu chúng, vì sự khan hiếm của nó. Nguồn cung hổ phách đã giảm mạnh kể từ thời điểm đỉnh cao năm 2015. Có lẽ cánh cửa vào kỷ Phấn Trắng đã bị đóng sầm lại, cũng nhanh như cách nó từng được mở ra.    Vào tháng 6/2017, máy bay trực thăng của quân đội Myanmar ù ù kéo đến Tanai. Sau khi rải đơn cảnh báo thợ mỏ và dân thường di tản. Ngay sau đó là các cuộc không kích và cấm đường, và quân đội Myanmar đã giải tán khu vực khai thác hổ phách của lực lượng Quân đội Độc lập Kachin. Báo cáo năm 2018 của các nhà điều tra Liên Hợp Quốc chỉ ra rằng các hành động này đã giết chết bốn thường dân và làm mắc kẹt 5000 người trong khu vực. Lên án những hành động của quân đội, bao gồm cả ở Kachin, một báo cáo khác của U.N kêu gọi điều tra các tướng hàng đầu của Myanmar cho tội diệt chủng và các tội ác khác chống lại loài người.  Hai chủ sở hữu mỏ cũ cho biết thuế thậm chí còn cao hơn kể từ khi quân đội chính phủ nắm quyền kiểm soát khu vực. Cả hai đóng cửa mỏ khi họ không thể có lợi nhuận sau khi chính phủ tiếp quản, và các nhà buôn ở đây chứng thực rằng hầu hết tất cả các mỏ khai thác sâu bây giờ đã ngừng kinh doanh. Chỉ còn những mỏ khai thác nông và có lẽ là một vài nhóm tổ chức bí mật là còn hoạt động.   Lần theo dấu vết của hổ phách đã góp phần tài trợ cho quân đội Myanmar và dân quân như thế nào thực sự khó khăn. “Là một người mua hàng”, theo Donowitz, “bằng việc làm gia tăng giá trị của hàng hóa đó, bằng việc tham gia vào việc thương mại hàng hóa đó, nghĩa là bạn đã đóng góp vào cuộc xung đột”.   Nhưng đó không phải là đám mây đạo đức duy nhất phủ bóng lên những mẫu vật. Nhiều quốc gia giàu hóa thạch, bao gồm Trung Quốc, Canada, Mông Cổ và Myanmar đã ban hành luật để giữ cho hóa thạch quý không ra khỏi biên giới của họ. Luật pháp của Myamar đã đe dọa xử phạt những người vi phạm bằng cách phạt tù từ năm đến 10 năm, hoặc hàng nghìn USD phạt hành chính, hoặc cả hai. Khi hổ phách hóa thạch Myamar lọt qua lỗ hổng buôn bán đá quý, “Nó giống như di sản văn hóa, di sản cổ sinh vật học của Myanmar đang bị bán rẻ, bị tước khỏi lòng đất của quốc gia này và phân phối khắp thế giới”      Từ những mẫu vật 3D trong đá hổ phách, nay chúng ta mới biết rằng những gì chúng ta hình dung trước đây (từ hóa thạch dẹt) là hoàn toàn sai.       Xing nhấn mạnh rằng anh chỉ muốn tách chiết những chi tiết khoa học, chứ không phải là sở hữu các mẫu vật. Anh nói rằng anh nhạy cảm với vấn đề này bởi vì rất nhiều bảo vật lịch sử của Trung Quốc giờ đây đang lưu lạc ở các bảo tàng nước ngoài. “Nếu một ngày Myanmar được hòa bình, và muốn xây dựng một bảo tàng cho hổ phách hoặc một bảo tàng về lịch sử tự nhiên, (Học viện riêng của Xing) sẽ muốn trả lại tất cả các mẫu vật cho Myanmar”, anh nói, “Nó sẽ không được cho đi miễn phí. Nhưng đúng, chúng tôi rất muốn trả lại nó”.  Vài nhà cổ sinh vật học cũng kì vọng có thể thấy bộ sưu tập hổ phách Myanmar gần những hầm mỏ hoặc ít nhất là trên lãnh thổ nước này. “Nếu Myanmar muốn xây một bảo tàng hổ phách,” Grimaldi nói “Tôi sẽ hết sức vui mừng nếu có thể đóng góp chuyên môn của mình vào việc thiết kế và xây dựng nó. Nó sẽ vô cùng tráng lệ, và tôi nghĩ nó nên được thực hiện”. Trong những tháng gần đây, một bảo tàng hổ phách tư nhân được mở tại Yangon, thành phố lớn nhất của Myanmar. Nhưng ngoài giáo dục, trang web tiếng Anh của nó cũng cung cấp rất nhiều hổ phách để bán, trang sức và hóa thạch, và cả tour mua sắm ngoài chợ hóa thạch, thể hiện rằng bảo tàng có cả mục đích thương mại chứ không phải chỉ để lưu trữ và bảo quản.   Đối với cư dân ở Tanai, câu hỏi về người sở hữu hóa thạch trở nên mờ nhạt trước những rủi ro về an ninh hiện tại. “Giờ đây chẳng có gì là ổn định, chẳng có gì là thượng tôn pháp luật” – Một thợ mỏ đang thất nghiệp trả lời qua điện thoại.  Nhưng khi cuộc phỏng vấn gần khép lại, anh có một yêu cầu. Anh nói các thợ mỏ đào hổ phách không biết tại sao các nhà khoa học lại quan tâm tới những con côn trùng và những sinh vật khác được chôn trong lòng hổ phách. “Nếu bạn biết, làm ơn chia sẻ với chúng tôi được không?” □  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://science.sciencemag.org/content/364/6442/722         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học bị ảnh hưởng vì Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran      Các mối quan hê hợp tác nghiên cứu quốc tế có thể kết thúc sau quyết định của tổng thống Mỹ Donald Trump.      Cơ sở hạt nhân dưới lòng đất tại núi Fordow, miền bắc Iran. Nguồn: RT.com  Vào ngày 8/5/2018  vừa qua, tổng thống Mỹ Donald Trump đã  thông báo quyết định rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran. Điều đó có thể gây cản trở những nỗ lực đang được thực hiện để thiết lập những mối quan hệ hợp tác trong khoa học giữa các nhà nghiên cứu hai quốc gia. Các nhà khoa học cho biết, động thái này sẽ khiến cho tình trạng này trở nên xấu hơn.  Theo Kế hoạch hành động toàn diện chung 2015 (JCPOA), Iran đã đồng ý phát triển chương trình hạt nhân vì mục đích hòa bình và cho phép các nhà thanh sát quốc tế đến kiểm tra các cơ sở hạt nhân của mình để đổi lấy việc gỡ bỏ lệnh trừng phạt kinh tế do Mỹ, EU, Anh, Nga và Trung Quốc đề ra. Tại thời điểm đó, nhiều nhà nghiên cứu đã coi thỏa thuận hạt nhân như một cơ hội để thúc đẩy khoa học Iran và giúp họ mở rộng các mối hợp tác quốc tế.  Nhưng kể từ thỏa thuận năm 2015 thì những kế hoạch này đã gặp phải nhiều rào cản. Ví dụ, khi tổng thống Trump nhậm chức vào năm 2017, các nỗ lực đã được duy trì trong thời gian dài để thiết lập những trao đổi khoa học giữa Iran và Mỹ đã dừng lại. Những hội thảo được Viện Hàn lâm Khoa học, kỹ thuật và y tế quốc gia Mỹ (NASEM) tổ chức từ năm 2010 và 2017 nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như năng lượng mặt trời, quản lý nguồn nước đã dừng lại sau khi chính quyền Trump dấy lên hoài nghi về Iran và thỏa thuận hạt nhân, Glenn Schweitzer – người đứng đầu NASEM, cho biết.  “Khi thỏa thuận hạt nhân này được ký kết, chúng tôi đã tràn đầy nhiệt huyết về khả năng mở rộng hợp tác nghiên cứu khoa học, nhưng thật không may là hiện tại mọi thứ lại đi theo hướng ngược lại”, Soroosh Sorooshian – một nhà thủy văn Iran gốc Armenia làm việc tại trường đại học California, Irvine, nhận xét. Ông là một trong hàng trăm nhà khoa học đã tham gia các hội thảo do NASEM tổ chức. “Bây giờ chỉ có Chúa mới biết những gì sẽ xảy ra tiếp theo”, ông cho biết thêm.  Trong thời gian qua, các nhà khoa học Iran đã hợp tác với các đồng nghiệp châu Âu trong nhiều lĩnh vực như an toàn và an ninh hạt nhân nhưng không thể kết nối được với các nhà khoa học tại Mỹ trong lĩnh vực tương tự. Một phần của nguyên nhân là một số lệnh trừng phạt của Mỹ vẫn còn được duy trì bất chấp thỏa thuận hạt nhân, và bởi vì các nhà nghiên cứu Mỹ thường cần một loại giấy phép của Bộ Tài chính Mỹ để hợp tác với các nhà khoa học Iran, Matthew Bunn – nhà nghiên cứu về các vấn đề không phổ biến hạt nhân tại trường đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, giải thích.  Bunn hiện đang tìm kiếm một giấy phép như vậy để khởi đầu cho một cuộc đối thoại với các nhà khoa học hạt nhân hàng đầu Iran, với mục tiêu cuối cùng là hướng đất nước này theo một chương trình năng lượng hạt nhân an ninh và an toàn. Bunn nhận xét, quyết định của tổng thống Trump có thể ảnh hưởng đến những nỗ lực xây dựng một hợp tác khoa học có ý nghĩa và có thể khuyến khích những người Iran kiên định lập trường xây dựng đất nước thành một cường quốc hạt nhân. “Tôi cần nghĩ lại về những gì tôi đã lập kế hoạch. Không có nhiều nhiệt tình ở phía Iran cho các cuộc đối thoại với người Mỹ như tôi”.  Các mối hợp tác nghiên cứu khác cũng có thể bị ảnh hưởng, trong đó có dự án ở Fordow, một cơ sở hạt nhân ngầm dưới lòng đất gần Qom, miền bắc Iran. Là một phần của JCPOA, Iran đồng ý tạm dừng việc làm giàu uranium tại cơ sở này. Họ đặt kế hoạch theo đuổi nghiên cứu về vật lý hạt cũng như sản xuất đồng vị phóng xạ cho y tế tại đây. Các nhà khoa học Nga đã cùng thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm với Iran nhằm tăng cường khả năng sản xuất đồng vị phóng xạ trong y tế, Scott Kemp – trưởng phòng thí nghiệm An ninh và chính sách hạt nhân tại Viện Công nghệ Massachusetts tại Cambridge, cho biết.  Sorooshian cũng cho biết thêm, chỉ có một vài tin tốt là số lượng sinh viên Iran nhập học tại các trường đại học Mỹ đã tăng lên trong một vài năm gần đây, và điều đó sẽ giúp xây dựng mối quan hệ giữa hai quốc gia trong nhiều thập kỷ tới. Nhưng từ bây giờ, ông nói viễn cảnh về mối hợp tác trong khoa học giữa hai quốc gia dường như rất xấu, “mọi người đều lo ngại về điều đó”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05123-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Brazil – Tương lai không xác định      Vụ cháy vào ngày 2/9/2018 tại Bảo tàng quốc gia Brazil đã phơi bày một hiện trạng của đời sống khoa học Brazil: rơi vào khủng hoảng do thiếu kinh phí đầu tư. Hiện nguy cơ sụp đổ và tương lai không xác định là tất cả những gì mà nền khoa học từng xếp hạng 14 thế giới này phải đối mặt.      Các nhà khoa học Brazil xuống đường biểu tình phản đối sáp nhập Bộ KHCN và ĐMST vào Bộ Thông tin Truyền thông. Nguồn: Nature  Hiện trạng này dường như trái ngược với khoa học Brazil trong giai đoạn 2010 – 2014 – dưới quyền hai Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva và Dilma Rousseff. Năm 2013, Nature nhận xét: “Trong suốt thập kỷ qua, dưới thời Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva, ngân sách đầu tư cho khoa học thông qua sự điều phối của Bộ Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã tăng lên một cách bền vững”, ví dụ từ chỗ kinh phí 1,3 tỷ reais (tương đương 575 triệu USD) năm 2002 thì đến cuối nhiệm kỳ của Lula là năm 2010, con số này đã đạt tới mốc 7,5 tỷ reais (khoảng 3,3 tỷ USD). Kết quả là trong bảng xếp hạng các nền khoa học, Brazil chiếm 2,7 % số lượng công bố quốc tế và xếp hạng 14 thế giới – cũng theo số liệu của Nature năm 2013.  Khoa học không còn được ưu tiên  Khủng hoảng kinh tế xuất hiện vào thời kỳ cuối nắm quyền của Tổng thống Dilma Rousseff đã buộc bà phải cắt giảm đầu tư cho khoa học, bắt đầu từ năm 2015, theo Nature. Việc buộc lòng giảm 24% so với đề xuất của Bộ KHCN và ĐMST và “đóng băng” chương trình Khoa học không biên giới (Science Without Borders) – chương trình trao đổi học bổng đã đem lại cơ hội cho hơn 101.000 sinh viên Brazil tới các viện nghiên cứu hàng đầu thế giới và đặt mục tiêu đến năm 2018, tiếp tục gửi thêm 100.000 người nữa, là những dấu hiệu đầu tiên cho một cuộc sụp đổ.  Sau khi thay thế Tổng thống Dilma Rousseff – người bị buộc phải rời chức vụ vì vi phạm những quy định về ngân sách, vào tháng 5/2016, ông Michel Temer đã thực thi nhiều chính sách mới để cứu vãn nền kinh tế, trong đó có việc sáp nhập Bộ KHCN và ĐMST vào Bộ Thông tin Truyền thông thành “siêu bộ”. 13 tổ chức khoa học, trong đó có Hội Khoa học tiên tiến Brazil (SBPC) và Viện Hàn lâm KH Brazil (ABC) đã gửi thư ngỏ tới tổng thống, nêu “điều đó gây bất lợi cho sự phát triển của KH&CN đất nước”, ăn mòn sức mạnh của Bộ KHCN&ĐMST – nơi đã hình thành nên trục hỗ trợ chính cho KH và ĐMST của Brazil trong vòng 3 thập kỷ qua.  Khoa học Brazil lại chịu thêm tổn thất mới: Hội đồng Phát triển KH&CN quốc gia – một tổ chức đầu tư cho khoa học cấp liên bang, đã bị hạ cấp trong cấu trúc mới của “siêu bộ”. Trước đây tổ chức này là một cơ quan độc lập và nhận sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ KH, nay nó và một số viện khác như Cơ quan Vũ trụ Brazil sẽ phải báo cáo với một người phụ trách và ông ta sẽ báo cáo lại với thứ trưởng. “Chúng tôi đã bị đẩy xuống hạng tư”, Helena Nader – chủ tịch SBPC, chua chát nói với Nature vào tháng 11/2016.  Hiện trạng u ám  Thêm một bất lợi cho khoa học Brazil là sự sụt giảm của giá dầu và các vụ bê bối tham nhũng, trong số đó là Petrobras – công ty dầu mỏ liên bang, càng làm ảnh hưởng đến nguồn kinh phí đầu tư cho khoa học. Do vậy, ngân sách khoa học năm 2016 xuống mức thấp nhất hơn một thập kỷ qua với 4,6 tỷ reais.  Một lần nữa, các tổ chức khoa học phải vật lộn để sống sót, ví dụ Viện nghiên cứu Não bộ tại trường đại học liên bang Rio Grande do Norte ở Natal, các nhà nghiên cứu đã tách chi phí bảo trì cơ bản và mua thiết bị bằng tiền của mình, giám đốc viện Sidarta Ribeiro cho biết. Tuy nhiên, những nỗ lực này không đủ để cứu vãn tình thế.  Nhiều nhà khoa học bắt đầu lên kế hoạch rời đất nước, ví dụ Suzana Herculano-Houzel – nhà khoa học thần kinh ở trường đại học liên bang Rio de Janeiro, từng mở một cuộc huy động vốn đám đông vào cuối năm 2015 để mua một số bộ phận mới của kính hiển vi điện tử nhưng vào cuối năm 2016, bà đã quyết định chuyển đến trường Đại học Vanderbilt ở Mỹ và tháng 9/2016 đóng cửa phòng thí nghiệm của mình ở Brazil sau khi đã điều hành trong một thập kỷ.  Ông Sidarta Ribeiro cũng có cái nhìn u ám, “đây là một hành động mang tính tàn phá như chiến tranh với tương lai của khoa học Brazil. Các nhà khoa học sẽ rời khỏi đất nước. Nếu tôi không xin được tiền đầu tư của các quỹ quốc tế, tôi cũng sẽ buộc phải kết thúc sự nghiệp nghiên cứu”.  Liệu có tương lai?  Cuộc bầu cử bắt đầu vào ngày 7/10/2018 được kỳ vọng đem lại cơ hội cho Brazil bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế, tham nhũng và vực dậy khoa học. Một trong số các ứng cử viên nổi trội là Jair Bolsonaro – người được mệnh danh là “Trump vùng nhiệt đới”, đã phác thảo kế hoạch đưa Brazil rời khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu 2015, giải thể các Bộ Khoa học và Môi trường, tái cấu trúc chúng để sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và Cung ứng.  Thông điệp tập trung vào công nghiệp và nông nghiệp nhưng “bỏ qua” khoa học và môi trường của Bolsonaro khiến Carlos Rittl, thư ký điều hành Climate Observatory – một mạng lưới gồm 37 nhóm nghiên cứu tập trung vào chính sách khí hậu ở São Paulo – cho rằng có thể là “một cơn ác mộng” nếu ông ta giành chiến thắng.  Ứng cử viên sáng giá thứ hai là Fernando Haddad, cựu thị trưởng São Paulo và là người thay thế Luiz Inácio ‘Lula’ da Silva – cựu tổng thống đang ngồi tù vì tham nhũng- dẫn dắt đảng Lao động. Không giống Bolsonaro, Haddad quan tâm đến khoa học và nhấn mạnh vào các chính sách về khoa học, ĐMST và chống biến đổi khí hậu. Ông cam kết thúc đẩy đầu tư cho khoa học và đề xuất tăng kinh phí hằng năm lên 2% GDP, sử dụng cả ngân sách của chính phủ lẫn khuyến khích tư nhân chi cho R&D. Nếu điều đó được thực hiện thì ngân sách chi cho R&D của Brazil có thể đạt tới lằn ranh đầu tư như nhiều quốc gia công nghiệp.  “Sự thật là dù các ứng cử viên tổng thống có đưa KH&CN vào chương trình tranh cử thì cũng không có nghĩa là KH&CN sẽ đóng vai trò quan trọng khi họ trở thành tổng thống. Có sự khác biệt rất lớn giữa những điều được viết ra và những gì được thực hiện”, nhà vật lý lý thuyết cho biết.  Thanh Nhàn tổng hợp từ Nature    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Bulgaria: Trì trệ và thiếu kinh phí      Bulgaria – quốc gia nghèo bậc nhất châu Âu và xếp ở gần chót bảng đánh giá khoa học của châu lục, đang tìm cách vượt qua những khó khăn về kinh phí, hậu quả của nạn tham nhũng và cả sức ỳ của một nền khoa học cũ kỹ.    Tạp chí Chemistry World nhận xét, khoa học Bulgaria tồn tại nhờ vào “những khẩu phần thảm hại”: trong vòng 5 năm trở lại đây, kinh phí đầu tư công cho nghiên cứu khoảng 0,22% GDP – xấp xỉ 100 triệu euro, thấp nhất trong số các quốc gia thành viên EU. Số lượng công trình xuất bản quốc tế xếp sau cả một số quốc gia Đông Âu khác như Romania, Hungary và Slovakia. Chỉ có một điểm sáng là khu vực kinh tế tư nhân đã bắt đầu chú trọng hơn trong việc rót tiền vào R&D: từ 0,6% GPD năm 2012 lên tới 1% GDP vào năm 2015, chủ yếu từ các nhà đầu tư quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp.  Năm 2015, Chính phủ Bulgaria đề nghị Hội đồng châu Âu hỗ trợ cho hệ thống đổi mới sáng tạo và khoa học quốc gia mình. Lúc đó, giáo sư Luc Soete, Hiệu trưởng trường Đại học Maastricht ở Hà Lan, nêu là để được như vậy thì đầu tư công cho nghiên cứu của Bulgaria phải tăng lên tới mức 1% GDP, Chính phủ Bulgaria chấp thuận điều đó. Với sự đồng ý của EU, Bulgaria là một trong hai quốc gia nhận được kinh phí tài trợ của chương trình Horizon 2020 thấp nhất châu Âu. Tuy nhiên đây cũng là khoản kinh phí quý báu: họ sẽ nhận được 150 triệu euro (tương đương 186 triệu UDS) để xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu và hoạt động đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực; thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất.  Xem xét lại đầu tư cho khoa học  Để khoản tiền đầu tư của EU được hiệu quả, Soete đề xuất một cơ chế tài trợ cạnh tranh để có thể rót tiền xuống các nhà khoa học và các viện nghiên cứu hàng đầu và đưa các trường viện còn lại trở thành những trung tâm giáo dục hoặc sáp nhập bởi từ 7 đến 10 trường viện nghiên cứu là quá đủ cho một quốc gia 7 triệu dân. Theo một báo cáo mới khác đệ trình lên EU của ông Soete, ít nhất cần một khoản là 100 triệu euro để tái cấu trúc hệ thống cơ sở vật chất nghèo nàn của Bulgaria.  Nhiều nhà khoa học không muốn đặt quá nhiều niềm tin vào hệ thống cấp kinh phí hiện nay, bởi “nguồn ngân sách ít ỏi được phân bổ xuống Quỹ Khoa học quốc gia còn bị ‘xâu xé’ bởi nạn tham nhũng nội bộ, do đó ảnh hưởng đến các viện nghiên cứu trong nhiều năm”, nhà vật lý chất rắn mềm Victor Atanasov tại trường đại học Sofia, nhận xét.  Báo cáo của Soete đã chỉ ra sự thiếu tin tưởng giữa các nhà hoạch định chính sách và cả công chúng vào sự đóng góp của nghiên cứu có thể đem đến sự phát triển cho kinh tế Bulgaria.  Không dễ nhận tài trợ nếu không đổi mới  Giành được tài trợ của EU không phải là chuyện dễ. “Nếu ai đó muốn tham gia vào một dự án đầu tư của Horizon 2020, họ phải tự viết đề xuất mà không hề nhận được hỗ trợ nào từ viện nghiên cứu của mình”, O’Carroll, một nhà tư vấn giáo dục, nói. ‘Nhưng khoản tài trợ theo dự án này không cho phép các phòng thí nghiệm mua được các thiết bị nghiên cứu đáng kể nào.’ Ông cũng chỉ ra một hạn chế để thực hiện các dự án nghiên cứu là sự già hóa của bộ máy nghiên cứu nhưng lại khó bổ sung các nhà khoa học trẻ do lương thấp. Do vậy, khoa học Bulgaria không hề có bước tiến nào kể từ khi gia nhập EU vào năm 2007. Song Soete vẫn lạc quan: “Nếu Bulgaria có thể giải quyết được tình trạng phân tán tài trợ này, thì họ sẽ có cơ hội trong chương trình khung tài trợ cho khoa học của EU kỳ tới, bởi có một số lĩnh vực, họ có thể đạt tới trình độ thế giới”. Vì vậy nhiệm kỳ chủ tịch luân phiên được coi là cơ hội để họ đặt trọng tâm vào cải cách.      Ở Bulgaria hiện nay, trên 1 triệu dân có 20 viện nghiên cứu – có lẽ thuộc dạng cao nhất thế giới. “Không thể tin được với một số lượng trường viện như vậy nhưng phần lớn lại không làm nghiên cứu mà chỉ đào tạo sinh viên như ở trường phổ thông”, theo GS Luc Soete      Tuy nhiên, cuối cùng EU đã giữ lại khoản tiền định tài trợ do Bulgaria thất bại trong việc xác định được các nhà khoa học đủ tiêu chuẩn đề ra để đánh giá các đề xuất. Họ yêu cầu các chuyên gia có từ 3 công bố quốc tế trở lên được ít nhất 5 lượt trích dẫn trong các tạp chí quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực của họ. Trong khi đó, vào tháng 11/2017, Chính phủ Bulgaria cắt giảm 25% ngân sách dành cho khoa học và giáo dục – một hành động tức thời để “tiết kiệm” ngân sách khi dự đoán sẽ có khoản tài trợ của EU bù vào, khiến các nhà khoa học Bulgaria thất vọng, bởi họ muốn có kinh phí đầu tư vào cơ sở hạ tầng mới nhằm kết nối với các đồng nghiệp quốc tế.  Những khó khăn còn lại  Hiện nay có tới hơn 30% tiến sỹ Bulgaria đang làm việc ở nước ngoài. Thiếu hụt nguồn nhân lực nhưng các nhà khoa học chọn cách ở lại đất nước đang hi vọng vào những cải thiện tình hình sẽ đến, ví dụ như họ đề xuất xây dựng một trung tâm máy gia tốc hạt synchrotron vùng Balkan tại Bulgaria, một thiết bị có thể góp phần thúc đẩy quan hệ quốc tế trong khoa học.  Kế hoạch này đang rơi vào tình trạng rủi ro, trừ phi Bulgaria thuyết phục được tổng giám đốc chính sách đầu tư vùng của EU giải ngân số tiền bị đóng băng. Trong khi đó, ngân sách cho khoa học và giáo dục đại học chỉ ở mức 415 triệu leva (tương đương 263 triệu USD), cộng thêm 98 triệu leva cho Viện Hàn lâm Khoa học Bulgaria – nhưng 15 triệu trong số đó đã bị thu lại sau khi các nhà khoa học phản đối việc cắt giảm ngân sách vào tháng 11/2017.  Những khó khăn tài chính đe dọa lộ trình đầu tư cơ sở hạ tầng quốc gia của Bulgaria – vốn được thông qua vào tháng 6/2017. Kostadin Kostadinov, cố vấn của Bộ Khoa học và Giáo dục, cho rằng lộ trình này ‘sẽ làm tăng thêm tiềm năng nghiên cứu ở Bulgaria để đáp ứng các yêu cầu của ngành công nghiệp địa phương và phát triển vùng”, và đây là một phần kế hoạch cơ bản để tăng kinh phí đầu tư cho khoa học lên tới 1,5% GDP.  Khó khăn lại thêm phần trầm trọng do nạn tham nhũng. Không chỉ là quốc gia nghèo nhất EU, Bulgaria còn là quốc gia nhiều tham nhũng bậc nhất. Ana Proykova cho biết, tham nhũng ảnh hưởng đến khoa học thông qua mua sắm thiết bị, “ví dụ máy móc không về tới các phòng thí nghiệm, dẫu cho tiền đã được chuyển đi hoặc ít khi nhận được thiết bị tốt với số tiền bỏ ra”.  Anh Vũ tổng hợp từ Chemistryworld, Nature  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/khoa-hoc-bulgaria-tri-tre-va-thieu-kinh-phi/201812130923325p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học có nên luôn luôn được công bố?      Một vài năm về trước, các nhà khoa học tổ chức một hội nghị Châu Âu về sinh đẻ, một nhà nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng rằng, một nhóm phụ nữ cần điều trị về sinh nở sẽ dường như có khả năng thụ thai nếu họ được thôi miên. Báo cáo này đã trở thành một câu chuyện thú vị, được công bố rộng rãi trên thế giới. Nhưng vấn đề là ở chỗ, nghiên cứu này rất đáng ngờ. Nhóm bị thôi miên trẻ hơn nhiều, và do đó xem ra có khả năng sinh nở tốt hơn nhóm không bị thôi miên.    Những lo ngại liên quan đến vaccine MMR (measle – sởi, mumps – quai bị, rubella -bệnh sởi Đức) đã nảy sinh ngay sau khi trên Lancet – một tạp chí y dược có uy tín- giáo sư của một viện nghiên cứu có tiếng nói rằng, thí nghiệm của ông đã cho thấy các củ khoai tây biến đổi gen gây ức chế tăng trưởng đối với những con chuột thí nghiệm. Viện Vật lý của Anh đã công bố một nghiên cứu mới cho rằng, thuốc súng của Guy Fawke gây nên sức tàn phá lớn hơn nhiều so với quan niệm trước đó. Sau đó, hầu hết các báo chí quốc gia của Anh đều đăng tải những minh họa về sức phá hủy lớn của loại thuốc súng này. Không may là, các tính toán của Viện Vật lý đã dựa trên giả thiết rằng thuốc súng có cùng sức nổ giống như dynamite, mà điều này thì không đúng sự thật. Năm ngoái, một câu chuyện được đăng trên tạp chí nổi tiếng Nature đã đề cập rằng, dòng biển ấm từ vịnh Mexico qua Đại Tây Dương đến Châu Âu có thể bị yếu đi, và điều này có khả năng đẩy vùng Bắc Âu vào một thời kỳ băng hà mới. Tuy nghiên cứu này đã được thực hiện một cách nghiêm túc, nhưng bằng chứng về sự yếu đi của dòng biển ấm chỉ được dựa trên hai phép đo được thực hiện từ năm 1992, và đó chỉ là một kết quả khá vụn vặt so với những kết quả khác. Những tình huống như thế này, nếu nhẹ thì chỉ làm giảm sự tin tưởng vào các nhà khoa học và truyền thông còn nếu nặng thì có thể khiến người dân làm theo những quyết định không hay, hại đến sức khỏe của họ. Đó là lý do tại sao, Hội Hoàng gia Anh lại khuyến cáo các nhà nghiên cứu cần thận trọng hơn khi công bố các kết quả nghiên cứu.  P.V    Nguồn tin: tác giả Pallab Ghosh, BBC News      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học công nghệ Nhật Bản: LỊCH SỬ VÀ VIỄN CẢNH      Chính sách công nghệ của Nhật Bản sau Đại chiến thế giới II ra sao? Điều gì tác động tới hoạt động nghiên cứu và triển khai trong khu vực kinh tế tư nhân? Tư tưởng chủ đạo của chính sách nghiên cứu và triển khai của chính phủ là gì? Định hướng nền công nghệ Nhật Bản trong tương lai như thế nào? Chúng tôi xin trích đăng nhiều kỳ bài viết của Yuko Harayama thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp về các vấn đề trên.    Tình hình trước chiến tranh thế giới thứ hai  Đầu thời Minh Trị (1868 – 1912), hầu hết các phòng thí nghiệm (như Thảo Dược Viên) vốn thành lập từ thời Edo (1603 – 1868) được tích hợp vào các trường đại học và trở thành “phòng nghiên cứu”. Dù sao thì hoạt động của các phòng này cũng bị giới hạn, không có ngân sách cho những mục tiêu cụ thể và nhất là không có một ý thức rõ ràng về việc “nghiên cứu”. Bên cạnh những phòng nghiên cứu của trường đại học còn có vài phòng nghiên cứu của chính phủ.  Chính sách nhà nước đầu tiên về công nghệ của Nhật Bản ra đời năm 1912 nhằm cấu trúc lại nền công nghiệp, đặc biệt là vật liệu công nghiệp. Chính vì thế mà Hội đồng Hoá học công nghiệp thuộc bộ Nông nghiệp và Thương mại được thành lập năm 1914. Đây là kiểu viện hợp tác giữa nhà nước và giới công nghiệp, cũng là khởi đầu cho các nghiên cứu của tư nhân và là tiền thân của Viện Nghiên cứu Vật lý và hoá học (Riken) – một tổ chức công ích được tư nhân tài trợ.  Sau giải đoạn đầu khó khăn, đặc biệt là về tài chính và xung đột giữa các nhà vật lý và hoá học, Masatoshi Okochi, viện trưởng thứ hai của Riken đã thành công khi đề ra chiến lược phát triển cho Viện như sau:  -Chủ yếu nghiên cứu cơ bản (fundamental research), đồng thời bám sát nền công nghiệp.  – Quản lý bằng phân quyền, giao tài chính và quyền tự chủ cá nhân cho từng nhóm nghiên cứu.  -Áp dụng “vòng quay lành mạnh”, bắt đầu từ những nghiên cứu thực dụng để lấy bằng sáng chế và thương mại hóa, dùng lợi nhuận thu được đầu tư cho các nghiên cứu cơ bản, và tiếp tục như vậy.  Cơ chế hoạt động của Riken vẫn tiếp tục như vậy cho tới kết thúc Chiến tranh thế giới II, nó đã tạo nên thứ mà ngày nay người ta gọi là “kinh doanh mạo hiểm”.  Như vậy, trước chiến tranh, giới tư nhân Nhật Bản đã bước vào lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nhà nước đóng vai trò hỗ trợ trong lĩnh vực này. Ý niệm về vai trò của khoa học với phát triển công nghiệp cũng bắt đầu hình thành.            Một chiếc radio do Nhật Bản sản xuất hồi những năm 50.        Sách trắng đầu tiên về chính sách công nghệ  Sau Đại chiến thế giới II, Nhật Bản từ hướng sức mạnh quân sự sang kinh tế, đặc biệt nhấn mạnh tới lợi ích xã hội. Theo đó, dưới sự tài trợ của Cơ quan Công nghệ công nghiệp, 31 đại diện từ Bộ Thương Mại và Công nghiệp (MCI), Phòng Sáng chế, Cơ quan đại diện Doanh nghiệp vừa và nhỏ, phòng thí nghiệm công nghiệp quốc gia và Bộ Giao thông đã làm việc cùng nhau để cho ra đời sách trắng đầu tiên về chính sách công nghệ Nhật Bản, nó được gọi là “Tuyên bố về công nghệ công nghiệp đất nước”. Sách trắng thể hiện sự quan tâm lớn của giới chức Nhật Bản tới vấn đề công nghệ và đưa ra những đề nghị thực tế để củng cố nền công nghiệp Nhật Bản và bàn một số phương hướng phát triển khoa học và công nghệ sau chiến tranh. Nó còn khuấy nên sự quan tâm của cộng đồng về vai trò quyết định của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế.  Sách trắng chỉ ra những yếu kém của nền công nghiệp Nhật Bản, đó là:  -Thiếu công nghệ của riêng mình, một phần vì sự thiển cận và mải chạy theo lợi nhuận tức thời, việc ưa thích nhập khẩu công nghệ hơn là đầu tư vào R&D của giới công nghiệp Nhật Bản.  -Khó biến các kết quả nghiên cứu của giới học thuật thành sản phẩm công nghiệp. Hội đồng Hàn lâm Hoa Kỳ (US Academic Commission) cho rằng đây là vấn đề chính của Nhật Bản.  -Kinh nghiệm, sự khéo léo, mẹo mực vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất, đặc biệt trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm sản lượng thấp, đào tạo tốn kém và ngăn trở công nghệ phát triển.  -Tư tưởng cục bộ trong lĩnh vực công nghệ do cơ chế thứ bậc trong giới nghiên cứu, hậu quả là khó phát triển những công nghệ đòi hỏi tiếp cận liên ngành.  Nhận thức được việc phải nhanh chóng nâng cao sức mạnh của công nghệ trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế, sách trắng đưa ra những đề nghị:  -Tăng cường khâu nghiên cứu và triển khai theo gợi ý của Hội đồng Hàn lâm Hoa Kỳ.  -Kêu gọi giới học thuật tham gia vào hoạt động triển khai công nghệ.  -Áp dụng “phương pháp khoa học” trong quản lý sản phẩm bằng việc định chuẩn và thuật ngữ, tăng cường giám sát chất lượng, công nghệ đánh giá và thiết bị đo.  -Hỗ trợ công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đang chiếm phần lớn về lực lượng lao động trong nền công nghiệp.  -Chú trọng tiếp cận và phát triển công nghệ mới.  Với những phương hướng được nêu, chính phủ có thể thúc đẩy nền công nghệ bằng một số cách như hỗ trợ tài chính cho chuyển giao công nghệ, tài trợ đào tạo kỹ sư, đầu tư cho các công nghệ cơ bản, định chuẩn để tạo ra “sân chơi công bằng (Luật Tiêu chuẩn và Hệ thống tài trợ  phát triển được thông qua năm 1949).  Hệ thống cấp bằng sáng chế, giới học thuật và việc đào tạo kỹ sư được xem là có vai trò cốt yếu trong việc giúp các hoạt động trên của chính phủ trở nên hiệu quả.  Hệ thống cấp bằng sáng chế (patent system) trao độc quyền tạm thời (temporal monopoly) cho tác giả được xem là cơ chế để thúc đẩy công nghệ. Giới chức Nhật Bản thời đó đã hiểu rõ quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp để phổ biến công nghệ mới hơn là để bảo vệ quyền lợi một cách tiêu cực. Sách trắng cũng nhận ra những vấn đề trong sở hữu trí tuệ như các điều khoản về sáng chế, giải pháp kỹ thuật, kiểu dáng, thương hiệu, v.v đều sao chép y nguyên của phương Tây mà bỏ qua bối cảnh Nhật Bản, vì thế nhận thức của xã hội về lĩnh vực này rất thấp. Hơn nữa, không có cơ quan nào quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  Giới học thuật Nhật Bản được xem có hai vai trò: thông qua các hoạt động gặp gỡ và xuất bản, họ tạo ra nơi trao đổi giữa các nhà nghiên cứu trong trường đại học với giới công nghiệp; và thông qua việc tham gia các dự án khác nhau của chính phủ, họ vạch ra được định hướng về công nghệ. Dẫu sao thì những đóng góp của họ bấy giờ không được đánh giá thỏa đáng.  Đào tạo kỹ sư được xem là nhân tố then chốt để ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Để cải thiện hơn nữa chất lượng kỹ sư, sách trắng chỉ ra sự cần thiết của khoa học nền tảng đối với các kỹ sư bậc cao, đồng thời sinh viên cũng phải được xâm nhập thực tế sản xuất ngay khi còn đang học.  Tóm lại, sách trắng đã nhấn mạnh “công nghệ cho công nghiệp” như các công nghệ áp dụng ngay hơn là các công nghệ được phát triển từ hoạt động nghiên cứu và triển khai; các ý tưởng về hệ thống phát minh, sáng chế, chuẩn hóa đã xuất hiện. Sách trắng cũng thúc đẩy chính phủ hỗ trợ nền kinh tế dựa trên nền tảng công nghệ – đáng lưu ý, điều này cũng chính là ý tưởng chủ chốt trong “chiến lược quốc gia về công nghệ” của Nhật Bản nhằm chuyển đổi mạnh mẽ chính sách về công nghệ cuối những năm 90.  Kỳ sau: Chuyển đổi mô hình: Hệ thống nghiên cứu và phát triển quy mô lớn  Theo Yuko Harayma – Japanese technology policy: History and a new perpspective – Việt Anh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học dữ liệu: Nghề quyến rũ nhất thế kỷ 21      Đã gần 10 năm kể từ khi bài báo “Nhà khoa học dữ liệu, nghề quyến rũ nhất thế kỷ” trên tạp chí Harvard Business Review* ra đời, dự báo này vẫn đúng. Vị trí “data scientist” vẫn là một vị trí mà nhiều doanh nghiệp tìm kiếm và là kỳ vọng của nhiều người ứng tuyển, trên cả thế giới và Việt Nam.      Trên thế giới, nhu cầu về nhân lực ngành khoa học dữ liệu rất lớn. Nguồn: TechGig.  Theo một báo cáo của Viện nghiên cứu McKinsey toàn cầu vào năm 20142, nước Mỹ sẽ có 250.000 vị trí tuyển dụng nhà khoa học dữ liệu vào năm 2024. Để đáp ứng nhu cầu đó, các chương trình đào tạo Khoa học dữ liệu hay Trí tuệ nhân tạo (AI) đã nhanh chóng ra đời. Ngoài các chương trình chính quy tại các trường Đại học, các nền tảng học trực tuyến, các trung tâm đào tạo ngắn hạn cũng tích cực tham gia vào việc tạo nguồn cung nhân lực Khoa học dữ liệu. Tuy nhiên sau một thời gian tăng trưởng nhanh, nhu cầu tuyển dụng nhà khoa học dữ liệu đã chậm lại do những thay đổi về công nghệ và kinh doanh các sản phẩm AI. Các doanh nghiệp đều muốn khai thác nguồn dữ liệu giá trị của mình, phát triển các sản phẩm AI nhưng còn chưa rõ trong việc xác định đúng kỹ năng và tuyển đúng người. Đã có nhiều trường hợp tuyển dụng và nghỉ việc nhà khoa học dữ liệu sau một thời gian do hai bên chưa đáp ứng đúng nhu cầu của nhau.     Ở Việt Nam, xu hướng này cũng bắt đầu xuất hiện, đi kèm với những khóa đào tạo trình độ đại học và cao học do một số trường đại học nhanh nhạy mở ra, ví dụ trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Khoa Quốc tế (ĐHQGHN), trường Đại học Bách khoa HN, Viện John von Neumann, trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc tế (ĐHQG TPHCM)… Theo ước đoán thì số lượng mà các trường này có thể cung cấp vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.     Để có cái nhìn toàn cảnh hơn về nghề khoa học dữ liệu, tôi giới thiệu năm xu hướng dịch chuyển mà tôi tổng hợp và tham khảo được. Việc nhận định các xu hướng nổi bật này cũng giúp chúng ta có được một con số dự đoán gần hơn với nhu cầu nhà khoa học dữ liệu ở Việt Nam hiện nay.         Xu hướng thứ nhất: tập trung vào dữ liệu thay vì thuật toán     Nhiệm vụ chính của một nhà khoa học dữ liệu là khai thác ra giá trị từ dữ liệu và một sản phẩm AI thường được mô tả nổi bật bởi những tính năng thông minh ví dụ như nhận dạng giọng nói và trả lời từ động. Thực tế ngày nay các công cụ mô hình hóa đã được hỗ trợ rất nhiều bởi các nền tảng, việc có được dữ liệu trở nên khó gấp 10 lần việc khai thác dữ liệu. Như vậy các nhà khoa học dữ liệu chỉ tham gia vào một phân đoạn nhỏ (số 4) trong cả một quá trình dài từ xây dựng mô hình kinh doanh, marketing, thiết kế phần mềm, chuẩn bị dữ liệu, khai thác dữ liệu, và triển khai và chỉ chiếm chưa quá 5% tổng số nhân sự của dự án.     Như vậy các doanh nghiệp có thể nhận định quá số lượng nhà khoa học dữ liệu cần có và tuyển dụng nhiều hơn cần thiết. Sau khi được tuyển một số nhà khoa học dữ liệu có thể bị giao việc của giai đoạn ba vốn của kỹ sư dữ liệu (cần nhiều kỹ năng về cơ sở dữ liệu và công nghệ phần mềm), họ vẫn có thể giữ chức danh nhà khoa học dữ liệu nhưng bản chất là một kỹ sư dữ liệu.    Ngoài ra, một data scientist cần làm tốt những việc cơ bản như làm sạch dữ liệu hay biểu diễn hình ảnh, thay vì chỉ tập trung vào mô hình dữ liệu, bởi vì các bộ dữ liệu thực tế trong doanh nghiệp thường rất rời rạc và thiếu sót. Công việc xử lý và làm sạch các nguồn dữ liệu có thể chiếm đến 80% công việc của một nhà khoa học dữ liệu và đây có thể là một điều khiến nhiều data scientist thất vọng. Thực chất thì kết nối giỏi các nguồn dữ liệu, làm sạch hiệu quả và biểu diễn hình ảnh sống động trong một thời gian nhanh nhất là những kỹ năng rất quan trọng sẽ giúp các nhà khoa học dữ liệu tạo ra được nhiều giá trị hơn.     Xu hướng thứ hai: bình dân hóa Khoa học dữ liệu     Sau một thời gian nổi lên như những mô hình kỳ diệu và phức tạp thì các mô hình khoa học dữ liệu đã được tìm hiểu nhiều hơn, đơn giản hóa và đặc biệt là được hỗ trở bởi các công cụ kéo thả đặc biệt dễ dàng từ các hãng lớn. Ngày nay hầu như ai sau một vài giờ đào tạo cũng có thể kéo dữ liệu từ hệ thống Dữ liệu thông minh (Business Intelligence)/ kho dữ liệu (Datawarehouse)/ cơ sở dữ liệu (Database) hay các file dữ liệu trên máy hoặc trên đám mây vào công cụ Machine Learning (là các mô hình khoa học dữ liệu) với giao diện thân thiện. Như vậy một chuyên viên marketing cũng có thể dự báo xác suất mua hàng của từng khách hàng với mô hình cây quyết định, mạng nơron, hay một chuyên viên tín dụng dễ dàng chấm điểm tín dụng cho mỗi khách hàng với mô hình XGB (“Extreme Gradient Boosting”) hay SVM (“Support Vector Machine”). Và như thế là rất nhiều công việc có thể do các chuyên viên hay kỹ sư khác mà không cần nhà khoa học dữ liệu như trước nữa, nhu cầu tuyển dụng nhà khoa học dữ liệu có thể giảm đi nhưng nhu cầu đào tạo khoa học dữ liệu thì không giảm đi thậm chí còn tăng mạnh (đào tạo cho mọi ngành).      Khoa Quốc tế (ĐHQGHN) giới thiệu một khóa đào tạo khoa học dữ liệu. Nguồn: ĐHQGHN.     Xu hướng thứ ba: Chuyển dịch sang các mô hình không giám sát     Các mô hình giám sát bao gồm các bản ghi dữ liệu gắn kèm với một nhãn (“label”) mô tả tính chất. Ví dụ như với bộ dữ liệu gồm một triệu bức ảnh khuôn mặt, mỗi bức ảnh được đánh dấu/ghi lại trạng thái (vui, buồn, giận dữ, lo lắng, …) của khuôn mặt trên đó thì ta có thể dễ dàng tạo ra được một mô hình nhận dạng trạng thái khuôn mặt. Việc khó khăn nhất sẽ là có được một triệu bức ảnh và dán nhãn cho chúng, khó hơn nhiều so với việc xây dựng mô hình nhận dạng. Do vậy vai trò của kỹ sư phần mềm quan trọng hơn nhà khoa học dữ liệu.       Theo Topdev3,nhu cầu kỹ sư công nghệ thông tin là khoảng 500.000 kỹ sư vào năm 2021-2022. Như vậy nếu hình dung khoảng 20% doanh nghiệp sẽ bắt đầu làm các sản phẩm có tính AI trong 1-2 năm tới, tương đương 100.000 kỹ sư liên quan, thì sẽ có nhu cầu khoảng 5.000 nhà khoa học dữ liệu cho Việt Nam (5%) trong năm 2021 này.      Các mô hình không giám sát ngược lại có thể áp dụng cho dữ liệu không dán nhãn, tức là không được phân loại hay chấm điểm sẵn. Ở đây doanh nghiệp có sẵn các bộ dữ liệu thô chưa có sự đánh giá và phân loại, thì các nhà khoa học dữ liệu có thể vận dụng được sự sáng tạo của mình để đưa ra các đặc tính chưa được hình dung trước, thậm chí tạo ra một mô hình kinh doanh mới. Các nhà khoa học dữ liệu sẽ cần nhiều kiến thức về toán và thống kê (cả mô tả và suy diễn), cụ thể là các phân phối xác suất, xác suất Bayes, ước lượng và kiểm định, đại số tuyến tính, phương pháp phân tích thành phần chính (“Principle Components Analysis” – PCA) hay phân tích giá trị đặc biệt (“Singular Value Decomposition” – SVD), các mô hình “Gaussian Mixture Model” hay “k-mean clustering”,…        Xu hướng thứ tư: sử dụng ™hộp đen∫ Deep Learning cho tất cả mọi thứ     Cũng là chuyển dịch mô hình, các nhà khoa học dữ liệu cũng đang đối diện với một xu hướng khác ở hướng ngược lại, đó là sử dụng “Deep Learning” (học sâu) cho mọi bài toán. Nguyên nhân là chúng hiệu quả, độ chính xác cao và dễ dàng triển khai hơn nhiều các mô hình Machine Learning (học máy) cổ điển. Đặc biệt học sâu phù hợp cho các dữ liệu phi cấu trúc là hình ảnh, âm thanh, giọng nói, và khối lượng dữ liệu lớn. Nhưng cũng chính xu hướng học sâu hóa này đang tạo ra một số vấn đề khá lớn trong AI hiện nay, đó là chúng hoạt động giống như một “hộp đen”.     Một mô hình học sâu là một tập hợp các neuron nối với nhau bởi các liên kết có trọng số. Các trọng số này sẽ được điều chỉnh hay “học” khi dữ liệu được đưa vào theo một cách khá cơ học, cho đến khi nào chúng có được giá trị phù hợp cho việc dự báo. Mô hình càng sâu, càng to thì càng chính xác, nhưng vấn đề chưa ai hiểu vì sao nó lại chính xác. Các tiến bộ về học sâu phần lớn là dựa trên thử sai và chưa giải thích được rõ ràng vì sao mô hình có kiến trúc như thế này lại phù hợp với dạng dữ liệu nào đó và các giá trị trọng số có vai trò gì? Nếu như cho trước một dạng dữ liệu có thể dự đoán sơ bộ kiến trúc mạng neuron nào, giá trị trọng số nào sẽ phù hợp trước khi chạy thử hay không?     Và điều này dẫn đến một hệ quả quan trọng là thế mạnh đang thuộc về những người hay doanh nghiệp có tiền, thật nhiều tiền, vì chạy mạng học máy tốn rất nhiều nguồn lực. Các mô hình tiên tiến nhất đang có đến hàng tỷ, hàng chục tỷ tham số cần học và giá cho một lần “học” đó có thể lên đến vài chục triệu đô la tiền tính toán. Điều này cũng đặt ra cho các nhà nghiên cứu về AI một bài toán hóc búa là giải thích được vì sao các mô hình học máy lại chạy tốt? Câu trả lời này sẽ giúp xây dựng được các hệ thống AI rẻ và nhanh hơn nhiều.     Xu hướng thứ năm: chuyên sâu về một dạng dữ liệu     Các nhà khoa học dữ liệu sẽ có một lợi thế lớn nếu hiểu rõ dữ liệu đặc thù ngành, ví dụ như tài chính, xã hội học, địa chất, thương mại hoặc đặc thù nguồn như dữ liệu vệ tinh, dữ liệu ảnh y tế/nông sản, dữ liệu âm thanh thoại, tiếng Việt,… Khi đó bạn có thể khá yên tâm với công việc mang nhiều tính khoa học này. Xu hướng này cũng có nghĩa là nghề khoa học dữ liệu sẽ rộng mở với nhiều ngành nghề khác nhau. Học tốt và hiểu rõ một ngành sau đó học thêm về khoa học dữ liệu và học sâu là một lựa chọn không tồi. Và một lưu ý cuối cùng là “hãy học tốt môn Toán” và sẵn sàng cho việc (học) lập trình rất nhiều.     Theo Topdev3,nhu cầu kỹ sư công nghệ thông tin là khoảng 500,000 kỹ sư vào năm 2021-2022. Như vậy nếu hình dung khoảng 20% doanh nghiệp sẽ bắt đầu làm các sản phẩm có tính AI trong 1-2 năm tới, tương đương 100,000 kỹ sư liên quan, thì sẽ có nhu cầu khoảng 5.000 nhà khoa học dữ liệu cho Việt Nam (5%) trong năm 2021 này.     Với xu hướng thứ hai chúng ta cần mở rộng các khóa học cơ bản về Khoa học dữ liệu cho mọi đối tượng liên ngành, từ điện tử đến hóa học, địa chất, từ marketing đến sale hay xã hội học,… Khoa Khoa học dữ liệu hay Trí tuệ nhân tạo nên là một khoa mở nhất của trường. Chúng ta đã thành công trong việc đào tạo phổ cập Tin học cho mọi sinh viên thì sắp tới sẽ là khoa học dữ liệu cơ bản. Xu hướng thứ ba và thứ tư có thể là tham khảo cho các chương trình học về Khoa học dữ liệu. Xu hướng thứ năm lại là một sự hợp tác đào tạo theo chiều ngược lại. Ở đó sinh viên của khoa Khoa học dữ liệu cần phải được gửi về các khoa khác để “học” tính chất của dữ liệu chuyên ngành và giúp giải quyết các bài toán chuyên ngành dựa trên khoa học dữ liệu. □  —–  Tham khảo:  * https://hbr.org/2012/10/data-scientist-the-sexiest-job-of-the-21st-century  2 https://www.mckinsey.com/business-functions/mckinsey-analytics/our-insights/the-age-of-analytics-competing-in-a-data-driven-world  3 https://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/topdev-nam-2019-viet-nam-thieu-hut-toi-90-000-nhan-luc-cntt-16444-402.html  Xu hướng số 2 và một phần của số 3 được tham khảo chủ yếu trong thảo luận sau:  https://www.quora.com/What-is-the-brutal-truth-about-data-scientists    Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang Khoa học: Hai, ba hay bốn chân?      Cùng với lý thuyết và thực nghiệm, khoa học tính toán thường được giới chuyên môn và báo chí gọi là “cái chân thứ ba” của khoa học. Tuy nhiên cũng có những ý kiến không đồng ý khoa học tính toán là dạng thức thứ ba của khoa học. Các tranh luận trở nên sôi nổi khi xuất hiện đề nghị về một dạng thức thứ tư: khoa học với dữ liệu lớn (data-intensive science).    Tháng sáu năm 2005, Hội đồng Cố vấn về Công nghệ Thông tin (PITAC) của  Tổng thống Mỹ đã trình lên Tổng thống George W. Bush báo cáo ‘‘Khoa học  Tính toán: Đảm bảo tính cạnh tranh của nước Mỹ’’1 với lời mở  đầu: ‘‘Cùng với lý thuyết và thực nghiệm, khoa học tính toán hiện đang  tạo ra ‘trụ cột thứ ba’ (the third pillar) của khoa học, cho phép các nhà nghiên  cứu xây dựng và thử nghiệm mô hình của các hiện tượng phức tạp’’. Sinh  động hơn, giới chuyên môn và báo chí thường gọi khoa học tính toán là  “cái chân thứ ba” của khoa học (the third leg), hoặc đôi khi là “dạng  thức  thứ ba” (paradigm) của khoa học. Tuy nhiên cũng có những ý kiến  không đồng ý khoa học tính toán là dạng thức thứ ba của khoa học, như  bài viết của Moshe Y. Vardi, Tổng biên tập tạp chí Communication of the  ACM của Hiệp hội Máy tính Mỹ 2. Các tranh luận trở nên sôi  nổi khi xuất hiện đề nghị về một dạng thức thứ tư: khoa học với dữ liệu  lớn (data-intensive science) 3. Cuốn sách về cái “chân thứ tư” này xuất bản năm 2009, để tưởng nhớ Jim Gray 4, người đi tiên phong và đề xuất dạng thức khoa học này.   Thay vì đưa ra ý kiến riêng về khoa học có hai, ba hay bốn chân, bài này  giới thiệu về khoa học tính toán và khoa học với dữ liệu lớn, và dành  để mỗi người tự đưa ra lựa chọn của mình.  Câu chuyện khoa học tính toán  Khoa học tính toán được hiểu là khoa học về việc xây dựng các mô hình tính toán và thực hiện chúng trên máy tính để giải quyết các vấn đề phức tạp trong các khoa học khác. Báo cáo của PITAC đưa ra một định nghĩa khá chi tiết cho lĩnh vực đang phát triển nhanh này, cấu thành từ ba thành phần: Mô hình hóa và mô phỏng, Khoa học máy tính và thông tin, Hạ tầng cơ sở cho tính toán.          Cuốn sách “Dạng thức thứ 4” của Jim Gray        Trước hết, nói về mô hình hóa và mô phỏng. Mô hình trong khoa học tính toán là những mô hình có thể tính toán được trên máy tính, tức chúng cần được mô tả bằng ngôn ngữ toán học (như các hệ phương trình) hay các ngôn ngữ tính toán hình thức … Nhiều câu hỏi lý thú và quan trọng có thể đặt ra, như mô hình tính toán thế nào cho giao thông tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh? Mô hình thế nào thị trường và giá cả sau Tết? Mô hình thế nào diễn biến của một dịch bệnh trên cả nước do một virus gây ra? Mô phỏng là việc tạo ra như thật trên máy tính các thực thể sao cho có thể thấy chúng xảy ra thế nào 5. Mô phỏng và mô hình luôn đi với nhau, muốn mô phỏng một thực thể thì phải có mô hình tính toán của thực thể đó và thực hiện được việc tính toán của mô hình này trên máy tính. Có rất nhiều thách thức trong mô phỏng cho những thực thể phức tạp, như làm sao xây dựng được mô hình tính toán đúng cho những thứ rất lớn hoặc rất bé con người không quan sát được hay làm sao thực hiện được những lượng tính toán vô cùng lớn của mô phỏng. Thí dụ như việc xây dựng các hệ tác tử mô phỏng thị trường tài chính thế giới với những kịch bản khác nhau, mô phỏng sự hình thành của vũ trụ, mô phỏng toàn bộ hành vi phức tạp của các tế bào trong cơ thể người, hoặc mô phỏng để tính được với một bệnh cụ thể cần đưa thuốc gì vào chỗ nào của protein nào trong cơ thể người để chữa chạy …  Vai trò của khoa học máy tính và thông tin, thành phần thứ hai của khoa học tính toán, là  đương nhiên vì khoa học không chỉ cần mô hình và mô phỏng, mà còn cần nhiều thứ khác từ máy tính, nhất là các phương pháp và phần mềm quản lý và khai phá dữ liệu (sẽ nói ở phần khoa học với dữ liệu lớn).  Thành phần thứ ba hạ tầng cơ sở cho tính toán liên quan đến việc phát triển các máy tính hiệu năng cao gồm cả các siêu máy tính cho phép tính rất nhanh những khối lượng tính toán cực lớn. Có thể nói hầu hết các vấn đề khoa học lớn hoặc các bài toán ở tầm cỡ quốc gia đều đòi hỏi lượng tính toán cực lớn này.  Từ khi chiếc máy tính lớn đầu tiên trên thế giới ENIAC ra đời tại Mỹ vào năm 1946 đã luôn có một cuộc đua của các cường quốc về sản xuất máy tính, đặc biệt là các siêu máy tính. Thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã sôi động với đề án máy tính thế hệ 5 của Nhật Bản, dù sau được xem là không thành công 6. Câu chuyện siêu máy tính như lắng xuống trong hai thập kỷ tiếp theo khi kỹ thuật vi tính và các máy tính cá nhân, Internet và các tiến bộ của truyền thông ra đời và bùng nổ, đến với từng người trong toàn xã hội. Tuy nhiên, những bài toán tầm quốc gia hay những bài toán lớn của khoa học và công nghệ cần phải giải quyết trên các siêu máy tính, và cuộc thi đua sản xuất siêu máy tính vẫn “âm thầm” diễn ra.                                     Một sự kiện rất đáng chú ý trong lĩnh vực tính toán hiệu năng cao là Tính toán vạn năng trên các bộ xử lý đồ họa, viết tắt là GPGPU. Đây là sự kết hợp giữa “xử lý vạn năng” (GP, general purpose) và “đơn vị xử lý đồ họa” (GPU, graphical processing unit). GPU là bộ xử lý làm các nhiệm vụ tính toán đồ họa thường được dùng trong các hệ nhúng, điện thoại di động, máy tính cá nhân, trạm làm việc, và các màn hình game. Chuyên dụng cho nhiệm vụ xử lý đồ họa, các GPU với cấu trúc tính toán song song thích hợp đã thực hiện với hiệu năng rất cao một lớp bài toán phức tạp. Trong những năm gần đây, GPU đã được phát triển và tiến hóa thành những bộ xử lý hết sức linh hoạt và mạnh về khả năng lập trình, độ chính xác và hiệu quả. GPGPU chính là việc mở rộng GPU cho các nhiệm vụ tính toán khác. Khó khăn lớn của việc lập trình trên GPGPU được vượt qua gần đây bởi kiến trúc CUDA của hãng NVIDIA, cho phép xây dựng các ứng dụng trên các ngôn ngữ thông dụng nhất như C, và cả với Python, Fortran, Java, hay Matlab. Điều đáng để ta quan tâm nhất là giá thành rất thấp của các bộ GPGPU. Chẳng hạn một bộ GPGPU Tesla S2050 của hãng NVIDIA với giá 12,995 USD khi lắp vào một máy tính thông thường có thể đạt tốc tính toán 2,1-2,5 teraflops (triệu triệu phép tính mỗi giây) 6. Chú ý rằng đây là tốc độ tính toán của siêu máy tính CRAY XT-3 (2,2 teraflops) phiên bản năm 2004 với giá quãng 2 triệu USD.          Chính phủ Mỹ đặt hàng hãng IBM sản xuất hai siêu máy tính, đặt tên BlueGene và BlueWater nhằm đạt tốc độ 20 petaflops dự kiến hoàn thành vào đầu năm 2012. Để có ý niệm về 20 petaflops nhanh thế nào, hãy hình dung nếu toàn bộ 6,7 tỷ người trên Trái đất với máy tính cầm tay liên tục cùng làm các phép tính 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm thì 6,7 tỷ người này phải làm việc 320 năm để đạt được số phép tính BlueGene làm trong một tiếng đồng hồ. Để biết một petabyte dữ liệu lớn thế nào, hãy hình dung 10 petabytes có thể chứa hết toàn bộ gần 22 triệu cuốn sách tại thư viện lớn nhất thế giới ở New York (the U.S. Library of Congress) khi chúng được số hóa (và 22 triệu cuốn sách nếu xếp đứng kề nhau theo gáy sách trên quốc lộ 1 sẽ dài từ Hà Nội đến Huế, tức dài quãng 630 km).  Nước Nhật có đề án trọng điểm quốc gia trong giai đoạn 2007-2012 với đầu tư hơn một tỷ USD nhằm xây dựng siêu máy tính với tốc độ 10 petaflops do Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) khởi xướng, công ty Fujitsu và Viện RIKEN thực hiện. Máy tính gồm 800 tủ máy, với các CPU siêu nhanh của công ty Fujitsu, có tên ‘K computer’. Tên gọi này có hai nghĩa. Chữ ‘kei’ trong tiếng Nhật có nghĩa 107, nhằm chỉ mục tiêu 10 petaflops. Chữ ‘kei’ trong tiếng Nhật còn có nghĩa cửa ngõ lớn, nhằm chỉ hy vọng máy tính này sẽ là cửa ngõ lớn cho khoa học tính toán. ‘K computer’ dự kiến được đặt tại Viện Tiên tiến về Khoa học Tính toán của RIKEN ở thành phố Kobe.   Tháng 10 năm 2010, Trung Quốc công bố hoàn thành máy tính Thiên Hà 1A (Tianhe-1A) đạt tốc độ 2,507 petaflops. Vào thời điểm này đây là máy tính được công nhận có tốc độ nhanh nhất thế giới. Chú ý là Thiên Hà-1A hoàn toàn dựa trên các bộ xử lý của Mỹ, kết nối 7.168 bộ Tesla M2050 GPUs của NVIDIA và 14.336 bộ CPUs của hãng Intel. Làm được siêu máy tính Thiên Hà-1A, Trung Quốc chứng tỏ một tầm nhìn, một kế hoạch được đầu tư ít nhất từ hơn mười năm trước và một tiến bộ vượt bậc, nhất là trong việc kết nối và truyền tin giữa các máy nhỏ thành phần.    Giới công nghiệp dự tính sẽ sản xuất được máy tính đạt tốc độ 1 exaflops (1 exa = 1000 peta) vào năm 2020. Đáng nói là cuộc thi đua về siêu máy tính không chỉ có việc làm ra máy tính, mà khó không kém và thậm chí nhiều thách thức hơn là việc tạo ra những ứng dụng trên các siêu máy tính này. Các nhà khoa học Mỹ đang thực hiện nhiều dự án tính toán về khí hậu, về vũ trụ, về y học và sinh học,… trên BlueGene. Ở Nhật Bản, 21 đề tài ứng dụng ‘K computer’ cũng đã được xây dựng từ đầu đề án quốc gia, gồm 6 về khoa học nano, 6 về khoa học sự sống, 3 về khí hậu và địa cầu, 4 về kỹ nghệ, và 2 về vật lý và thiên văn. Còn Trung Quốc, mặc dù tạm thời dẫn đầu về siêu máy tính, các ứng dụng trên siêu máy tính còn hạn chế. Nie Hua, Phó chủ tịch công ty Dawning Information Industry tại Bắc Kinh (nơi làm ra siêu máy tính Nebulae hiện được xếp nhanh thứ ba thế giới), nêu ý kiến: ‘‘Do chưa phát triển được các ứng dụng, siêu máy tính sẽ không tạo được nhiều tác động vào nền kinh tế và cuộc sống thường nhật của chúng tôi. Thậm chí nếu phát triển được các ứng dụng ở Trung Quốc, chúng tôi vẫn đi sau Mỹ 5 năm vì không biết cách sử dụng những ứng dụng đó’’.8    Câu chuyện về khoa học với dữ liệu lớn  Trong thời gian làm việc tại Microsoft, nhà khoa học máy tính Jim Gray thường làm việc với các nhà khoa học nghiên cứu về đại dương, địa cầu, thiên văn, và thấy trong nhiều lĩnh vực khoa học ngày nay con người không còn quan sát các hiện tượng bằng mắt được nữa, mà chính máy móc “quan sát”, “đo đạc” và chuyển kết quả là dữ liệu lên máy tính. Gray thấy rõ các nhà khoa học đang thu thập và tích tụ những lượng dữ liệu lớn ở mọi thang bậc, mọi khuôn dạng, đang “ngập chìm” trong đống dữ liệu khổng lồ vì không biết dùng và khai thác chúng thế nào. Từ hiện thực này và với một tầm nhìn sâu sắc, Gray đã nhiều năm đề cập đến một dạng thức mới của khoa học, tức quá trình khám phá khoa học với dữ liệu lớn (data-intensive scientific discovery). Trong bài nói cuối tại Hội đồng Công nghệ Thông tin và Truyền thông ngày 11/1/2007 (trước khi ra khơi và mất tích trên biển ngày 28/1/2007), Gray đã mô tả lần nữa quan điểm của mình về dạng thức thứ tư này của nghiên cứu khoa học 9.   Ba dạng thức khoa học đã tồn tại trong lịch sử thường được Gray nhắc lại trong các bài nói. Trước hết, khoa học từ hàng nghìn năm trước đã dựa vào thực nghiệm, chủ yếu nhằm mô tả các hiện tượng thiên nhiên. Tiếp theo, trong vài trăm năm vừa qua, các lý thuyết đã trở thành một dạng thức thứ hai của khoa học với bản chất là việc khái quát hóa các hiện tượng thành mô hình trong các lĩnh vực của khoa học, như các định luật Kepler, các định luật về chuyển động của Newton, các phương trình Maxwell… Trong quá trình phát triển, nhiều mô hình lý thuyết trở nên quá phức tạp không thể phân tích được dẫn con người đến việc phải mô phỏng, cốt lõi của dạng thức thứ ba của khoa học. Các kỹ thuật mô phỏng đã phát triển rất sôi động trong vòng mấy chục năm qua cùng sự phát triển của khoa học máy tính. Mô phỏng đã tạo ra một lượng dữ liệu khổng lồ, bên cạnh các dữ liệu thu được từ thực nghiệm.   Quan sát sự thay đổi của thế giới khoa học, của lượng dữ liệu đang tăng lên gấp đôi hằng năm, Gray cho rằng khoa học ngày nay cần những mô hình mới để thu được và quản lý được dữ liệu trước khi phân tích chúng nhằm tìm ra các thông tin và tri thức cần thiết. Gray khẳng định cần xem nghiên cứu với nguồn dữ liệu lớn là một con đường mới của khoa học.   Lấy vài thí dụ để thấy lượng dữ liệu khoa học quanh ta lớn thế nào. Chẳng hạn đề tài Khảo sát Bầu trời số (Sloan Digital Sky Survey) tài trợ bởi Quỹ Sloan  với sự tham gia của nhiều đại học và viện nghiên cứu ở Mỹ, Nhật và Đức, khảo sát khoảng một triệu đối tượng trên bầu trời thu được 40 terabytes dữ liệu thô và 2,5 petapixels ảnh. Máy va chạm hạt Hadron lớn của CERN (Tổ chức châu Âu về Nghiên cứu Hạt nhân) có thể tạo ra vài petabytes dữ liệu mỗi ngày. Khi sắp các dãy nucleotides trong hệ gene người, khoảng 25 kylobytes có thể chứa vài trăm nghìn cặp cơ sở, do vậy mỗi hệ gene người với ba tỷ cặp cơ sở sẽ chứa trong khoảng 1 gygabyte, và toàn bộ hệ gene của 6,7 tỷ người trên Trái đất sẽ chứa trong khoảng 7000 petabytes (tức 7 exabytes). Đây là một lượng rất lớn nếu biết tất cả dữ liệu trên toàn thế giới có trong vòng một năm được chứa trong 2 exabytes.                     Nguồn dữ liệu khoa học còn gồm số lượng khổng lồ các ấn phẩm khoa học và sáng chế phát minh đã được công bố, và phần lớn đã được số hóa và tổ chức trực tuyến (online) trên internet. Cơ sở dữ liệu điện tử các ấn phẩm y học MEDLINE chứa hơn 18 triệu tài liệu của khoảng 5000 tạp chí y học và sinh học từ năm 1950 đến nay.   Việc khai thác dữ liệu khoa học đòi hỏi hợp nhất cả lý thuyết, thực nghiệm và mô phỏng. Gray tóm tắt dạng thức khám phá khoa học này như sau: Dữ liệu thô thu nhận từ đo đạc bằng máy móc hoặc mô phỏng được xử lý bởi các phần mềm và các dữ liệu, thông tin, tri thức chứa trong các cơ sở dữ liệu sẽ được nhà khoa học phân tích với các công cụ quản trị, khai phá dữ liệu và thống kê.   Điều mấu chốt trong đề xuất của Gray cho tương lai là cộng đồng khoa học thế giới cần hướng đến việc chia sẻ cùng nhau mọi dữ liệu khoa học (dữ liệu thô, dữ liệu đã xử lý và tích hợp, tài liệu khoa học) và các chương trình xử lý chúng. Những điểm chính trong bức tranh khoa học khi các tài nguyên khoa học được chia sẻ online là: Nhà khoa học được dùng dữ liệu từ nhiều lĩnh vực liên quan; Internet là môi trường cho phép hợp nhất mọi nguồn tài liệu và dữ liệu khoa học; Để khám phá tri thức mới nhà khoa học sẽ đi từ tài liệu đến dữ liệu và tính toán rồi trở về với tài liệu; Thông tin khoa học của mỗi người sẽ đến được bất kỳ ai khác, bất kỳ nơi nào khác; Tốc độ của thông tin khoa học sẽ tăng lên rất nhiều, và do vậy năng suất khoa học sẽ tăng lên bội phần.  Jim Gray không phải người duy nhất nói về khoa học với dữ liệu lớn như một giấc mơ về “thế giới đại đồng” của khoa học. Liên quan điều này, hơn mười lăm năm trước một khoa học mới đã ra đời: khoa học về phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu (knowledge discovery and data mining-KDD). Lượng dữ liệu rất lớn với nhiều triệu bản ghi của nhiều kiểu dữ liệu phức tạp không ở dạng véctơ thông thường (như dữ liệu về các hợp chất hóa học hoặc các mạng trao đổi chất hoặc các liên kết trên web dưới dạng đồ thị; hoặc các dãy axít amino trong dữ liệu protein hay các dãy nucleotide biểu diễn DNA, …) đã vượt quá khả năng phân tích của các phương pháp và phần mềm con người đã có, và thúc đẩy sự ra đời của KDD.                         Người viết và nhóm nghiên cứu làm việc trong lĩnh vực máy học và khai phá dữ liệu, và đang cùng các đồng nghiệp trong ngành vật lý, y học và công nghệ thông tin thực hiện một số đề tài nghiên cứu về khoa học tính toán:              Xác định cấu trúc và quá trình động học của các phân tử nước trong các hệ sinh học bằng kỹ thuật khai phá dữ liệu, với dữ liệu mô phỏng trên 6 petabytes.              Xác định cơ chế phân tử của bệnh viêm gan C và phương pháp điều trị dựa trên tích hợp của protein NS5A, các yếu tố ngoài hệ gene và RNAi.              Xây dựng tài nguyên, công cụ và phương pháp của tính toán ngôn ngữ cho tiếng Việt.          Hội nghị quốc tế đầu tiên về KDD được tổ chức vào năm 1995 tại Montréal và từ đó đến nay ngành khoa học này đã phát triển mạnh mẽ, đi được những bước tiến dài. Rất gần với KDD là ngành máy học (machine learning), với mục tiêu làm cho máy tính có một số khả năng học tập như con người và cốt lõi ngành máy học là việc phân tích các bảng dữ liệu, đặc biệt là các dữ liệu phức tạp. Ngành máy học đã phát triển rất nhanh trong vòng hơn ba mươi năm qua, cùng với KDD tạo thành một trong những lĩnh vực sôi động của công nghệ thông tin.   Đáng kể nữa là hai lĩnh vực về các cơ sở dữ liệu rất lớn và phân tích dữ liệu nhiều biến trong thống kê toán học cũng có những phát triển sâu sắc trong vòng mấy chục năm qua, vốn được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của rất nhiều dữ liệu. Các phương pháp và kỹ thuật của hai lĩnh vực này cũng như của KDD và máy học chính là những công cụ cơ bản để thực hiện khoa học tính toán và khoa học với dữ liệu lớn.  Đến đây mỗi người có thể tự trả lời rằng khoa học có hai, ba hay bốn chân. Điều quan trọng hơn là ta thấy được tầm quan trọng của những chuyện này và biết chúng liên quan đến ta ra sao. Dù chưa có siêu máy tính như ở các nước có nền khoa học phát triển, hiện chúng ta cũng đang có rất nhiều cơ hội và nội dung nghiên cứu về khoa học tính toán. Các bộ xử lý GPGPU với giá rẻ cho phép ta có được dễ dàng nhiều máy tính hiệu năng cao với tốc độ nhiều teraflops. Ta có thể sớm đào tạo và tập trung được một lực lượng nghiên cứu đáng kể về mô phỏng, cơ sở dữ liệu lớn, phân tích dữ liệu nhiều biến, máy học và khai phá dữ liệu. Khi này, rất nhiều bài toán ý nghĩa có thể đặt ra và giải quyết, như nghiên cứu các bệnh nhiệt đới với nhiều dữ liệu chỉ ta có, như mô phỏng và tính toán các dòng chảy và thời tiết để dự đoán lũ lụt ở miền Trung, như tính toán và sử dụng tự động tiếng nói và văn bản tiếng Việt trên máy tính và các phương tiện truyền thông di động, …   Và còn rất nhiều việc khác nữa trong cái mênh mông của thế giới khoa học đi vào đấy ta mới tìm ra những con đường phát triển bền vững của đất nước.  ———–  Tài liệu tham khảo và ghi chú  1 President’s Information Technology Advisory Committee, Computational Science: Ensuring America’s Competitiveness, June 2005.   2 Tony Hey, ‘‘Science has four legs’’, Communication of the ACM, December 2010.  3 Tony Hey, Stewart Tansley, Kristin Tolle (Eds.), The Four Paradigm: Data Intensive Scientific Discovery, Microsoft 2009.  4 Jim Gray (1944-2007) là nhà khoa học máy tính có nhiều đóng góp vào nhận thức nghiên cứu khoa học với nguồn dữ liệu lớn (tạm dịch “khoa học với dữ liệu lớn”).  5 Ở đây ta hạn chế chỉ nói về mô phỏng trên máy tính, và “mô phỏng” được hiểu là “mô phỏng trên máy tính”.  6 Hồ Tú Bảo, ‘‘Đề án máy tính thế hệ 5 của Nhật Bản’’, Tạp chí Khoa học Tính toán và Điều khiển, 1990.  7 Về đơn vị đo: kilo = 103, mega = 106, giga = 109, tera = 1012, peta = 1015, exa = 1018.  8 CNN, ‘‘Is China now the world’s top supercomputer power?’’, Nov. 18, 2010.  9 Jim Gray đã nhiều lần trình bày quan điểm của mình và được ủng hộ rộng rãi. Người viết cũng đã nghe Gray trình bày về khoa học với dữ liệu lớn tại hội nghị về Khai phá Dữ liệu KDD ở Washington D.C., tháng 8 năm 2003.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học không phải là ảo thuật      “Phát minh” máy phát điện chạy bằng nước đã được đề nghị cấp kinh phí nghiên cứu tiếp để hoàn thiện, và phải giữ bí mật tuyệt đối, phải đăng ký bản quyền… mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng khoa học và kinh tế – kỹ thuật nào.      Ảo thuật ngôn ngữ?  Câu chuyện về sáng chế “máy phát điện chạy nước”, được TS. Nguyễn Chánh Khê, công bố ngày 14/1/2012 tại Khu Công nghệ cao Tp.HPCM, đã thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Nguyên nhân không chỉ là ý nghĩa khoa học to lớn của nó, nếu được khẳng định là đúng, mà còn bởi những sắc thái ly kỳ, bí hiểm do chính chủ nhân của nó tạo ra.  Ngay cả sau khi Khu Công nghệ cao Tp.HCM tổ chức hội thảo để làm rõ sáng chế này vào ngày 9/3/2012 vừa qua thì điều này vẫn chưa kết thúc. Sự bí hiểm này được bao phủ không chỉ bởi tấm màn “bí mật công nghệ”, mà còn bởi ngôn ngữ mà tác giả sử dụng, như: phản ứng nội sinh; năng lượng nội sinh dồi dào, xúc tác nano, chất khử nano, chất xúc tác hay chất khử, gọi là gì cũng được… Thậm chí, kết luận của chủ tọa cuộc hội thảo cũng không giúp gì hơn khi gọi hóa chất này là “chất rắn có cấu trúc nano” mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng thực nghiệm nào.  Điều mà giới chuyên môn qua tâm nhất là: Hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng, được gọi là “Xúc tác 1” trong bản thuyết trình, có vai trò tách hydro ra khỏi nước để dùng chạy pin nhiên liệu, là gì thì vẫn chưa có lời giải đáp.   Có lẽ nào khoa học lại là một trò ảo thuật bí hiểm?  Đâu là nhiên liệu?  Mấu chốt của sáng chế này là hóa chất được sử dụng để tách hydro từ nước. Trong thuyết trình, TS. Nguyễn Chánh Khê cho biết, hóa chất này được chế tạo từ bột gạo, bột năng, bã café, trấu, bằng cách phân hủy nhiệt dưới sự có mặt của khí hydro. Dưới tác dụng của chất “xúc tác 1” này, nước sẽ thực hiện “phản ứng nội sinh” để tạo hydro. Khí hydro này sẽ được cho chạy qua pin nhiên liệu để tạo điện. Theo TS. Nguyễn Chánh Khê: “Quá trình này không cần dùng bất cứ năng lượng nào từ ngoài bởi công nghệ nano chứa năng lượng nội sinh rất dồi dào và nước được sử dụng làm chất phản ứng”.  Nếu “xúc tác 1” này chỉ đóng vai trò xúc tác thuần túy thì nước sẽ tự phân hủy thành hydro và oxy dưới sự có mặt của chất này mà không cần sử dụng bất cứ nguồn năng lượng nào từ bên ngoài. Điều này là không thể vì trái với Nguyên lý II của Nhiệt động học. Mặt khác, sản phẩm cuối cùng của hệ thống này là nước, nên nếu cho quay vòng khép kín thì tạo ra một thứ động cơ vĩnh cửu. Điều này cũng không thể do vi phạm Định luật Bảo toàn Năng lượng.   Do đó, trong “xúc tác 1” này chắc chắn còn hóa chất khác là chất khử, có khả năng phản ứng trực tiếp với nước để tạo khí hydro, như LiBH4, LiH, LiAlH4, AlH3, MgH2, CaH2, NaH, NaBH4, NaSi v.v. Điều này đã được Ts. Nguyễn Chánh Khê thừa nhận trong cuộc hội thảo ngày 9/3, sau khi “giằng co” qua lại với các nhà khoa học.   Tuy nhiên, chất khử này là gì thì không được nhắc đến trong thuyết trình của TS. Nguyễn Chánh Khê, vì đó là “bí mật công nghệ”.  Nhưng có một điều chắc chắn: chính chất khử này mới là nhiên liệu, vì nó bị tiêu tốn trong quá trình vận hành máy. Điều này cũng giống như với động cơ xăng, nhiên liệu phải là xăng, chứ không phải là không khí, dù không khí được dùng để đốt xăng.  Cũng cần lưu ý, trong một bài báo đăng ở kỷ yếu hội nghị “Nanotech Conference & Expo 2011, Boston, Mỹ”, TS. Nguyễn Chánh Khê đã mô tả việc thiết kế và sản xuất một thiết bị tương tự như “máy phát điện chạy nước” dùng cho hộ gia đình, trong đó nêu rõ việc tạo ra hydro nhờ một chất khử phản ứng với nước. Điều này cho thấy, Ts. Nguyễn Chánh Khê đã không trung thực với báo chí và giới khoa học trong nước khi giới thiệu về công trình của mình.  Truy tìm “chất xúc tác nano” bí ẩn  Bột năng, bột gạo, trấu, bã cafe là các hợp chất hữu cơ, nên khi phân hủy nhiệt sẽ thu được than hoạt tính (than xốp, có diện tích bề mặt riêng lớn) và có thể một phần nhỏ grapheme, ống carbon nano. Đây là các dạng thù hình khác nhau của carbon, đã được biết đến từ lâu. Tính chất của chúng đã được nghiên cứu tương đối kỹ càng. Theo đó, có thể khẳng định chắc chắn: chúng không thể phản ứng với nước để tạo hydro. Điều này là hẳn nhiên, vì nếu không, toàn bộ các mỏ than trên thế giới đã bị phân hủy hết từ lâu do phản ứng với nước trong suốt hàng triệu năm, các bà nội trợ cũng không cần phải kỳ cọ xoong chảo vì chỉ cần nhúng vào nước là chúng sẽ sáng choang do muội than tự phản ứng với nước. Việc các mỏ than vẫn tồn tại, và các bà vợ vẫn phải cọ rửa xoong chảo hàng ngày, là bằng chứng cho thấy than hoạt tính, graphene, ống carbon nano… không phản ứng với nước, ít nhất là ở điều kiện thường.   Tuy nhiên, trong thuyết trình của mình, TS. Nguyễn Chánh Khê chỉ nói đến graphene hoặc gọi chung chung là xúc tác nano mà không đề cập đến thành phần chính là than hoạt tính này, gây ra cảm giác huyền bí, nhất là khi nghiên cứu về graphene lại được giải Nobel năm 2010. Đi xa hơn, TS. Khê còn cho biết, ông có thể tạo ra 100g graphene trong khi các nhà khoa học được giải Nobel chỉ tạo ra được 1 mg chất này, tạo cảm giác công trình nghiên cứu của mình còn siêu việt hơn cả công trình đã được giải Nobel.  Như vậy, trong “xúc tác 1” phải có thêm một chất khử có khả năng phản ứng với nước để tạo hydro. Trong số những chất khử đã biết, NaBH4 – ở dạng bột, màu trắng – được sử dụng phổ biến trong việc tạo hydro từ nước vì rẻ tiền, an toàn, sản phẩm tạo ra ít độc hại. Tuy nhiên, chất này khi cho vào nước thì phản ứng với nước rất chậm. Để tăng tốc độ phản ứng, người ta phải dùng thêm xúc tác bạch kim (Pt). Điều này cũng phù hợp với mô tả của TS. Nguyễn Chánh Khê: Trước đây phản ứng xảy ra rất chậm, mất 12g thì đèn mới sáng, sau đó 3 giờ, nay có xúc tác, nên chỉ cần 5 giây.    Do đó, căn cứ vào những phân tích ở trên, có thể phán đoán “xúc tác 1” chính là hỗn hợp của than hoạt tính – sản phẩm của quá trình phân hủy nhiệt bột gạo, bột năng, bã cafe – với bột NaBH4 và xúc tác bạch kim (Pt). Vì than hoạt tính có màu đen, bột NaBH4 có màu trắng, nên khi trộn lại sẽ ra một thứ bột màu xám, phù hợp với thông tin trên báo chí.   Khi cho “xúc tác 1” vào nước, NaBH4 sẽ phản ứng với nước tạo hydro theo phản ứng:   NaBH4 + 2H2O → NaBO2 + 4 H2 , ∆H= -212 kJ/mol   (1)  Lượng nhiệt tạo ra sẽ làm cho nước trong bình nóng lên, phù hợp với mô tả hiện trường.   NaBH4 là một chất khử thông thường, được sử dụng phổ biến từ những năm 1940 để tạo hydro từ nước, chứ không phải xúc tác nano hay hóa chất gì bí hiểm.   Lý do để người ta sử dụng NaBH4 thay vì các chất khử khác là chúng không bắt cháy ở điều kiện thường; phản ứng với nước rất chậm nên việc tạo ra hydro có thể kiểm soát được thông qua xúc tác; khi phản ứng với nước không có phản ứng phụ và không tạo ra các khí độc hại, sản phẩm của phản ứng là NaBO2 có thể tái sử dụng để điều chế NaBH4().   Nhìn vào hình 2, thấy rằng: Trong số các chất khử đã nêu làm ví dụ ở trên thì LiBH4 có khả năng sinh ra nhiều hydro nhất (183,6 mol H2/kg LiBH4), sau đó là NaBH4 (105,8 mol H2/kg NaBH4). Nhưng các hợp chất có chứa Li thường đắt đỏ do khan hiếm và nhu cầu lớn cho công nghiệp sản xuất pin Li-ion. Trên thực tế, dùng NaBH4 được coi là phương pháp đơn giản nhất và rẻ nhất để tạo hydro ở quy mô nhỏ. Nhưng với quy mô lớn, giá thành vẫn không thể cạnh tranh được với các phương pháp công nghiệp khác.    Hình 2: Lượng Hydro sinh ra từ 1kg các chất khử khác nhau khi cho phản ứng   với nước (với chất khí, ở điều kiện thường, 1 mol = 22,4 lít)    Giá điện sẽ bao nhiêu?  Theo báo giá của các công ty hóa chất Trung Quốc, nơi thường có mức giá thấp nhất so với các khu vực khác trên thế giới, giá của các hóa chất công nghiệp này như sau: Với mức mua tối thiểu 20 tấn, giá của LiBH4 loại 96% là 300-350 USD/kg(); với mức mua tối thiểu 50kg, giá của NaBH4 loại 98.5% là 20-30 USD/kg(); với mức mua tối thiểu 20kg, LiAlH4 loại 96%, có giá 165-195 USD/kg();với mức mua tối thiểu 25kg, NaH loại 60-65%, có giá 4-5 USD/kg ()…   Rõ ràng NaBH4 tỏ ra chiếm ưu thế vì giá thấp và hàm lượng hydro tương đối cao, 10.6% khối lượng. NaH tuy có giá rẻ hơn nhưng hàm lượng hydro chỉ chiếm 4,1% khối lượng. Đặc biệt, sản phẩm của phản ứng của NaBH4 với nước là NaBO2 ít độc hại hơn so với sản phẩm phản ứng của các chất khử khác.  Do đó, để ước lượng giá điện sản xuất theo phương pháp sử dụng chất khử làm nhiên liệu, NaBH4 sẽ được dùng như một ví dụ để tính toán.  Khi phản ứng với nước theo phản ứng (1), 1 mol NaBH4 sẽ tạo ra 4 mol H2. Như vậy, 1kg NaBH4, tương ứng với 26,45 mol, sẽ tạo ra 105,8 mol H2.   Khí hydro sinh ra cho chạy qua pin nhiên liệu sẽ có phản ứng:  2H2+O2 → 2H2O, ∆H= -286 kJ/mol   (2)  Như vậy đốt cháy 1 mol H2 sẽ tỏa ra một nhiệt lượng là 286 kJ, nên số khí H2 được tạo ra từ 1kg NaBH4 sẽ cung cấp một nhiệt lượng là 30258 kJ, tức 8.4 kWh. Giả sử hiệu suất của pin nhiên liệu là 50%, ở mức trung bình trên thế giới, thì điện năng sản xuất được từ 1kg NaBH4 là 4,2kWh.   Với các chất khử khác, lượng điện tạo ra khi tiêu tốn một kilogam chất khử cũng được tính tương tự, hình 3. Giá thành của 1kWh điện theo báo giá trung bình của một số chất khử nêu trên được trình bày ở hình 4.    Hình 3: Lượng điện tạo ra từ 1 kilogam chất khử với giả thiết hiệu suất pin   nhiên liệu là 50% (Hiệu suất trung bình hiện thời là 40-60%)    Hình 4: Giá điện được sản xuất từ một số chất khử theo báo giá hiện thời,   khi bỏ qua mọi chi phí khác, như: chi phí vận chuyển, than hoạt tính,   xúc tác, bộ phận pin nhiên liệu, nhân công…  Như vậy, nếu chỉ tính giá NaBH4 thuần túy mà bỏ qua mọi chi phí khác thì điện sản xuất ra sẽ có giá 6USD/kWh. Nếu tính thêm giá của than hoạt tính, xúc tác Pt, bộ phận pin nhiên liệu, nhân công, phí vận chuyển, xử lý chất thải… thì giá thành này còn cao hơn nữa. Giả thiết phần phụ trội này là 15% so với giá phần nhiên liệu chính là NaBH4 thì giá thành cuối cùng sẽ lên đến 7USD/kWh. Mức giá này đắt gấp khoảng 100 lần so với giá điện thương phẩm hiện thời ở Việt Nam.  Trong trường hợp chất khử được sử dụng không phải là là NaBH4 mà là một chất khác, như LiBH4, LiH, LiAlH4, AlH3, MgH2, CaH2, NaH, NaSi v.v thì giá thành cũng không hy vọng sẽ rẻ hơn. Lý do: Tất cả các chất như vậy đều không tồn tại trong tự nhiên (tức tồn tại trong các mỏ khoáng) để khai thác, vì chúng là các hợp chất không bền và nếu được tạo ra trong tự nhiên, chúng đã phản ứng với nước mưa, nước ngầm và do đó, sẽ bị phân hủy hết.   Cách duy nhất để có được những chất này là phải tổng hợp nhân tạo. Mà quá trình này bao giờ cũng tiêu tốn năng lượng nhiều hơn rất nhiều phần năng lượng do nó tạo ra, nên không bao giờ hiệu quả trị kinh tế khi sử dụng chúng làm chất phản ứng tạo hydro để từ đó tạo ra điện. Đó chính là nguyên nhân vì sao sử dụng các chất khử để sinh hydro từ nước, rồi từ đó tạo điện, lại có giá thành đắt hơn các phương pháp khác hàng chục lần, bảng 1.   Để cạnh tranh với giá điện được sản xuất bởi các công nghệ đã biết thì giá các chất khử này phải giảm khoảng 100 lần. Với NaBH4, mức giá khi đó sẽ là 0.2USD/kg. Một hóa chất phải tổng hợp nhân tạo tốn nhiều năng lượng, có mức giá như vậy là điều không tưởng.  Bảng1: So sánh giá điện sản xuất theo các công nghệ khác nhau            Công nghệ  Giá (2005-2010)  Giá (2020+)          Điện gió (trên bờ)      $0.04-0.07        $≤0.04       Điện gió (xa bờ)  $0.1-0.17        $0.08-0.13       Điện sóng   $≥0.11           $0.04      Điện địa nhiệt      $0.04-0.07          $0.04-0.07      Thủy điện   v0.04        $0.04          Hội tụ ánh sáng bằng gương   $0.11-0.15        $0.08       Điện mặt trời  $>0.2        $0.10      Điện thủy triều  $>0.11           $0.05-0.07      Điện truyền thống (từ than, dầu mỏ) sản xuất ở Mỹ   $0.07               (chi phí xã hội: $0.12)        $0.08 (social cost: 0.14)              (chi phí xã hội: $0.14)               Chất thải ra môi trường  Ngoài giá thành quá đắt như trên, việc sử dụng các chất khử này để sinh ra hydro rồi từ đó sản xuất điện còn thải ra môi trường một lượng chất thải rất lớn cần phải xử lý.   Theo phản ứng (1), cứ mỗi kilogram NaBH4 phản ứng với nước sẽ tạo ra 1,74kg chất thải NaBO2. Giả sử NaBH4 được trộn với than hoạt tính theo tỷ lệ 1:1 về khối lượng, thì phần chất thải này là 2,74kg. Nói cách khác, mỗi kWh điện được tạo ra thì sẽ phải thải ra khoảng 0.65kg chất thải.  Giả sử một hộ gia đình sử dụng một máy phát công suất 2kWh, dùng trung bình 12 giờ/ngày, thì một tháng sẽ hết 720kWh, do đó phải trả khoảng 4300-5000USD/tháng và thải ra môi trường khoảng 470 kg chất thải/tháng. Trong trường hợp chất khử được dùng nguyên chất thì lượng chất thải này cũng lên đến 300kg/tháng.   Nếu sử dụng các chất khử khác thì lượng chất thải ra môi thậm chí còn nhiều hơn. Hình 5 cho biết lượng chất thải mà một hộ gia đình tiêu thụ 720 kWh/tháng thải ra môi trường khi dùng các chất khử khác nhau để tạo điện, bỏ qua chất pha trộn cùng chất khử trong hỗn hợp phản ứng.  Lượng chất thải này nhiều hơn rất nhiều so với sản xuất điện từ các nhiên liệu khác. Nguyên nhân là vì trong các hợp chất hydride được dùng làm chất khử này, hàm lượng hydro rất thấp, thường dưới 20%, tính theo khối lượng, vì  bản thân nguyên tố hydro có khối lượng nguyên tử bé nhất là 1 đơn vị, trong khi các nguyên tố còn lại đề có khối lượng rất lớn. Do đó, phần còn lại hơn 80% của chất khử không thể dùng để tạo năng điện, sẽ được thải ra môi trường hoặc tái chế sử dụng.   Lượng chất thải này không có cách nào giảm được do sự bảo toàn khối lượng của hệ trước và sau phản ứng, do đó có khả năng gây ô nhiễm môi trường nặng nếu không được xử lý đúng cách.     Hình 5: Lượng chất thải một hộ gia đình tiêu thụ 720 kWh/tháng thải ra môi trường khi sản xuất điện từ các chất khử khác nhau, bỏ qua lượng chất pha trộn cùng trong hỗn hợp phản ứng với nước  Thay lời kết  Những phân tích ở trên cho thấy việc tạo điện theo phương pháp này không thể cạnh tranh với các công nghệ khác như điện mặt trời, điện gió, điện thủy triều v.v.  Giả sử 5% dân số Việt Nam, tức một triệu hộ gia đình, sử dụng máy phát điện dùng chất khử NaBH4 này thì theo tính toán ở trên, một năm sẽ phải chi trả khoảng 50-60 tỉ USD, bằng nửa tổng GDP của cả nước, và thải ra môi trường khoảng 4-5 triệu tấn chất thải cần xử lý hoặc tái chế.   Đây quả là những con số kinh hoàng. Tuy nhiên, tại hội thảo ngày 9/3/2012 tại khu công nghệ cao, GS. VS Nguyễn Văn Hiệu, chủ tọa của hội thảo đã kiến nghị “cần cấp kinh phí cho Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới”, với lý do công trình này có ý nghĩa thực tiễn.  Ngoài ra, kết luận này cũng thiếu tính khoa học khi không căn cứ trên bất cứ dữ liệu có thể kiểm chứng nào. Cụ thể:   – Khi chưa biết hóa chất được sử dụng là gì, không có bất cứ một bằng chứng thực nghiệm nào, mà kết luận đó là một “chất rắn có cấu trúc nano” là thiếu cơ sở khoa học.  -Việc đề nghị cấp kinh phí để tiếp tục đề tài nghiên cứu vì “phát minh” có ý nghĩa thực tiễn, mà không dựa trên bất cứ một đánh giá kinh tế kỹ thuật nào là một sự cẩu thả vô trách nhiệm.  Phân tích bản chất khoa học đằng sau phát minh “máy phát điện chạy bằng nước”, thấy rằng: Điểm mấu chốt của nó là sử dụng một chất khử để tạo hydro chứ không phải dùng một xúc tác mới để phân hủy nước, như thừa nhận của chính tác giả trong buổi hội thảo.  Phát minh này, nếu hiểu theo tên gọi của nó và lời giới thiệu của tác giả, tức là “máy phát điện chạy bằng nước”, thì vi phạm Định luật Bảo toàn Năng lượng và Nguyên lý 2 của Nhiệt động học; còn nếu hiểu đúng theo bản chất của nó như sự chỉ ra của các nhà chuyên môn và được sự thừa nhận sau đó của chính tác giả, tức là sử dụng một chất khử để phản ứng với nước tạo hydro, thì là một sự thiếu trung thực.   Một “phát minh” như vậy lại được vị chủ tọa của hội thảo đề nghị cấp kinh phí nghiên cứu tiếp để hoàn thiện, và phải giữ bí mật tuyệt đối, phải đăng ký bản quyền… mà không dựa trên bất cứ một bằng chứng khoa học và kinh tế – kỹ thuật nào, là một điều khó lý giải.  Thiết nghĩ, kết luận trong việc thẩm định các đề tài khoa học và quyết định cấp kinh phí nghiên cứu phải được căn cứ trên các số liệu thực nghiệm, luận cứ khoa học, ý kiến của các chuyên gia, chứ không phải trên những báo cáo không bằng chứng và cảm hứng chủ quan của một vài người.  Cuối cùng, sự kiện “máy phát điện chạy bằng nước” đã hé lộ rất nhiều yếu kém trong quản lý và triển khai nghiên cứu khoa học, cần được mổ xẻ và làm rõ. Các khía cạnh liên quan khác, như Truyền thông khoa học, Văn hóa khoa học, Công bố khoa học… cũng cần được xem xét và thảo luận để rút ra những bài học cần thiết, nhằm hướng đến một môi trường khoa học lành mạnh và nghiêm chính.         Nguyễn Văn Hiệu   VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM   Kết luận về báo cáo của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tại cuộc Hội thảo “Máy phát điện chạy bằng nước” do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào buổi sáng ngày 9 tháng 3 năm 2012     Kết luận gồm hai phần:   – Bản chất khoa học của công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê;  Ý nghĩa thực tiễn của công trình này.               – Sau khi trình bày xong kết luận, tôi xin được phát biểu Kiến nghị riêng của mình.               Dưới đây là kết luận:   1. Về bản chất khoa học của công trình nghiên cứu   Kết quả khoa học chính của công trình này là tìm ra một phương pháp mới để tạo ra hydro từ nước (H2O), sau đó sử dụng hydro làm nhiên liệu để phát điện. Đây không phải là việc làm ra một máy phát điện chạy bằng nước.   Tác giả đã tạo ra được một chất rắn mà theo báo cáo là có cấu trúc nanô. Ta hãy gọi đó là một chất rắn cấu trúc nanô. Khi chất rắn cấu trúc nanô này phản ứng với nước thì sẽ xảy ra một phản ứng hóa học tạo ra hydro. Năng lượng cần thiết để tách hydro từ nước là năng lượng có sẵn trong chất rắn cấu trúc nanô. Không có sự vi phạm định luật bảo toàn năng lượng. Sau khi xảy ra phản ứng hóa học chất rắn cấu trúc nanô không còn nữa, mà sẽ xuất hiện các chất khác. Do đó tác giả mới phải “tái chế” lại chất rắn cấu trúc nanô gây ra phản ứng.   Bí quyết công nghệ nằm ở khâu chế tạo chất rắn cấu trúc nanô. Trước khi đăng ký xong quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ với cơ quan có thẩm quyền, phải giữ bí mật về chất rắn cấu trúc nanô.   Về phương diện khoa học, tuy chưa được biết chất rắn cấu trúc nanô là chất gì, song vẫn có thể nói rằng tìm ra được một chất mới phản ứng với nước tạo ra hydro trên một quy mô đáng kể là một kết quả khoa học lý thú đáng trân trọng.   2. Về ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu   Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê cho biết phương pháp sản xuất điện năng của anh không gây ô nhiễm môi trường. Do đó ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu phụ thuộc giá thành của điện năng sản xuất ra bằng phương pháp mới. Có hai khả năng.  Một là: giá thành điện năng được sản xuất theo phương pháp mới tương đương hoặc rẻ hơn giá thành điện năng đang sản xuất hiện nay. Trong trường hợp này công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê là một phát minh lớn về công nghệ, dẫn đến một sự phát triển mới của công nghệ năng lượng trên thế giới.   Hai là: giá thành điện năng được sản xuất theo phương pháp mới tuy còn cao song có thể chấp nhận được. Trong trường hợp này phương pháp mới của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê có thể được áp dụng để sản xuất ra điện năng ở những vùng không có lưới điện quốc gia và do đó vẫn có ý nghĩa.   Sau khi trình bày kết luận, tôi xin đề xuất Kiến nghị sau đây:   Trong khi chờ đợi cơ quan bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Mỹ và Cục Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ còn đang xem xét bản đăng ký của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cần cấp kinh phí cho Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh vận hành chạy thử máy phát điện một cách liên tục để kiểm tra sự ổn định của quá trình phát điện trong một thời gian dài và ước tính hiệu quả kinh tế, với điều kiện vẫn giữ được bí mật công nghệ.   Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 3 năm 2012   Người kết luận   Ký tên   Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu   Chủ tịch Hội đồng Khoa học ngành Khoa học vật liệu  Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học mạng      Khoa học mạng (Network science/Science des Réseaux) hiện nay mà một công cụ hiện đại để tiếp cận phức hợp (complexity). Nghiên cứu mạng người ta có thể&#160; tìm ra phương pháp hữu hiệu ví dụ để phòng ngừa&#160; những hiện tượng như dịch bệnh,&#160; AIDS,…&#160;&#160;    Thế nào là phức hợp (complexity)   Khoa học phức hợp  (tiếng Anh: complexity theory, complexity science)  là môn khoa học nghiên cứu về các hệ thống phức hợp. Nói  đơn giản, một hệ thống là  phức hợp nếu nó chứa nhiều thành phần con tương tác với nhau và nếu hệ thống đó lại biểu hiện những tính chất, những lối hành xử (behavior) mà chúng ta không thể suy ra một cách hiển nhiên từ tương tác của những thành phần cấu thành nó [1].   “Tôi tin chắc rằng những quốc gia thiện dụng khoa học phức hợp  sẽ trở thành những siêu cường về kinh tế, văn hóa và chính trị trong thế kỷ 21”  Heinz R. Pagels (1988) The Dreams of Reason: The Computer and the Rise of the Sciences of Complexity.  Phát biểu trên của Heinz R. Pagels là một lời kêu gọi các nhà khoa học, công nghệ và các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu và triển khai khoa học phức hợp.     Phức hợp đã trở thành một đặc trưng của xã hội chúng ta. Làm thế nào xử lý những dòng thông tin từ một hệ thống khổng lồ. Làm thế nào để tiếp cận phức hợp một cách hiệu quả hơn, hiểu nó và điều khiển được nó?   Như chúng ta biết các nhà khoa học đã sử dụng nhiều công cụ vào phức hợp: lý thuyết hỗn độn, lý thuyết tai biến, lý thuyết fractal, lý thuyết các tế bào autômát của Stephen Wolfram… [2]. Hiện nay người ta chú ý đến một lý thuyết đang trở thành quan trọng là khoa học mạng, một công cụ tiềm năng để tiếp cận phức hợp.  Trong các thế kỷ 17, 18, 19 người ta đánh dấu sự thắng lợi của cơ học Newton trong tiếp cận các vấn đề quan trọng thuộc cơ học cổ điển.   Trong thế kỷ 20 người ta tiếp cận đến những phức hợp vô tổ chức trên cơ sở ngẫu nhiên và thống kê.   Trong thế kỷ 21 người ta đối mặt với phức hợp có tổ chức. Đây đúng là đặc trưng của sự cấu thành những mạng (constitution des réseaux). Trên hình 1 là hai hình tượng của mạng: bên trái là mạng trong não bộ của một con chuột còn bên phải là cấu trúc vĩ mô của vũ trụ. Người ta bắt gặp một mối tương tự đáng ngạc nhiên nói lên tính phổ quát của mạng trong thiên nhiên.              Hình 1. Hai mạng thuộc hai đối tượng khác nhau : não bộ của con chuột (bên trái) và cấu trúc vĩ mô của vũ trụ (bên phải).          Não bộ là một mạng các tế bào thần kinh nối liền với nhau bởi các axon, còn tế bào bản thân cũng là một mạng các phân tử liên thông với nhau qua các phản ứng hóa-sinh. Xã hội cũng là một mạng gồm nhiều người liên hệ với nhau bằng những mối quan hệ bạn bè, gia đình, nghề nghiệp. Các hệ sinh thái Internet, mạng lưới điện, hệ thống giao thông,… Ngay ngôn ngữ ta sử dụng là phương tiện chuyển tải các tư tưởng cũng là mạng các từ liên hệ với nhau bởi những quy tắc cú pháp (syntactic).  Các nhà khoa học cũng chưa hiểu biết hết các quy luật về cấu trúc và tính chất của mạng.   Nếu các tương tác giữa nhiều nút (node) vận hành sai lệch trong một hệ di truyền học (genetic) thì điều này đã dẫn đến ung thư như thế nào ? Sự khuếch tán nhanh chóng trong một hệ xã hội và truyền thông đã dẫn đến lan truyền dịch bệnh và virus máy tính như thế nào? Vì sao một mạng lưới vẫn tiếp tục hoạt động ngay sau khi một số lớn các nút bị tê liệt?   Những nghiên cứu khoa học mạng gần đây đã dần dần làm sáng tỏ những vấn đề trên.   Khoa học mạng là môn khoa học đột sinh nghiên cứu những mối liên hệ, những mối tương quan giữa các sự vật mà không nghiên cứu bản thân các sự vật đó. Đây là môn khoa học nghiên cứu đa ngành ứng dụng trong vật lý, sinh học, dịch tễ học (épidémiologie), khoa học thông tin, khoa học nhận thức (science cognitive) và các mạng xã hội,…   Lược sử quá trình nghiên cứu  mạng   Lịch sử nghiên cứu  mạng là một lịch sử lâu dài trong toán học và trong các khoa học khác. Năm 1736 nhà toán học vĩ đại Leonard Euler chú ý đến bài toán gọi là bài toán về chiếc cầu Königsberg (Prussia), xem hình 2. Trên hình đó ta thấy có 7 chiếc cầu .Câu hỏi đặt ra là:  tồn tại chăng một lộ trình xuất phát từ một điểm và trở về đúng điểm đó (sau này được gọi là lộ trình Euler) và đi qua 7 cái cầu, mỗi cầu chỉ qua một lần? Bài toán này là xuất phát điểm của lý thuyết đồ hình (graph theory), đồ hình là một đối tượng toán học gồm các điểm gọi là  nút hay đỉnh và những đường nối các đỉnh đó (xem các hình 2b & 2c).  Euler chứng minh rằng không tồn tại một lộ trình như vậy cho trường hợp cầu Königsberg. Định lý Euler nói rằng mỗi nút trong lộ trình Euler phải có một số đường nối chẵn, ở đây ta có cả 4 đỉnh đều có số đường nối lẻ cho nên bài toán đặt ra không có lời giải. Đây có thể xem là định lý đầu tiên trong lý thuyết đồ hình.             Hình 2.Hình (2a) là bản đồ thành phố  Königsberg thế kỷ thứ 18 với 7 chiếc cầu, hình (2b) là giản đồ của thành phố còn( 1c) là đồ hình toán học tương đương gồm 4 nút và 7 đường nối.           Một ví dụ khác trong lý thuyết đồ hình: bài toán 4 màu                Hình 3 .Tương đương giữa các vùng trên một bản đồ và đồ hình trong bài toán 4 màu.            Bài toán 4 màu được đặt ra như sau: cần bao nhiêu màu để tô màu một đồ hình sao cho mỗi nút không có cùng màu với nhũng nút láng giềng (hình 3). Bài toán 4 màu đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ lý thuyết đồ hình [3].  Mạch điện   Nhà vật lý người Đức Gustave Kirchhoff đã mở rộng các công trình của Georg Ohm và thiết lập năm 1845 các Định luật Kirchhoff cho một mạch điện, một mạch điện được xem như là một mạng trong đó các đường nối ứng với các các liên thông vật lý giữa các nút. Để mô hình hóa các dòng điện người ta xem các nút có thể đi qua bởi một dòng (flot). Điều này làm liên tưởng đến sự chảy một chất lỏng trong một mạng thủy lợi có nhiều kênh hay dòng giao thông trong một hệ đường sá.    Sự nghiên cứu các mạng có dòng chảy (với những điều kiện tuyến tính về sức chứa của mỗi nút, sự tạo dòng, sự cân bằng dòng vào/ra ở mỗi nút) dẫn đến bài toán tối ưu tuyến tính.   Giản đồ Feynman   Đồ hình còn được thấy trong các ứng dụng vật lý. Trong lý thuyết trường lượng tử chúng ta đã gặp những giản đồ Feynman. Theo M.Czakon đường ngoài trong giản đồ Feynman sẽ ứng với đường nối với một nguồn ngoài, điều này tương đương với việc đưa nguồn vào tích phân đường.      Hai loại mạng: mạng ngẫu nhiên (random network) và mạng không tỷ lệ (scale-free).   Tồn tại hai loại mạng quan trọng:  mạng ngẫu nhiên (random graph) và  mạng không tỷ lệ (scale-free). Trên hình 4 ta thấy trong mạng ngẫu nhiên ở bên trái các đường nối được phân bố một cách cách ngẫu nhiên do đó số đường nối xuất phát  từ mỗi nút không khác xa nhau lắm. Trong lúc đó trên hình bên phải ta thấy một số nút (gọi là trục-tiếng Anh là hub) có một số đường nối nhiều hơn hẳn các số nút khác. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu hai loại mạng quan trọng này.              Hình 4.  a/ mạng ngẫu nhiên              b/ mạng không tỷ lệ (các “trục” được bôi đen)            a. Mạng ngẫu nhiên    Đến giữa thế kỷ XX thuật xây dựng một đồ hình không chứa những yếu tố ngẫu nhiên: các thông số trong thuật xây dựng không thay đổi. Sau đó một số hàm lượng ngẫu nhiên được đưa vào và các thuật xây dựng đồ hình mang tính chất xác suất. Hai nhà toán học người Hung Paul Erdős và Alfréd Rényi [4] (hình 5) đưa ra vấn đề xét đặc điểm của một đồ hình với N nút và k đường nối. Họ hy vọng một số tính chất  sẽ xuất hiện nếu xét đồ hình với N nút song với k đường nối được  tạo nên một cách ngẫu nhiên: mỗi đường nối tồn tại với xác suất p. Đây là xuất phát điểm của lý thuyết những mạng ngẫu nhiên (random network). Trong mạng ngẫu nhiên mỗi đường nối xuất hiện độc lập nhau với xác suất p.            Hình 5.  Paul Erdos (trái) và Alfred Renyi (phải )           Hàm phân bố bậc (distribution du degré)  là hàm số nút theo số đường nối từ nút đó. Mạng ngẫu nhiên của Paul Erdős và Alfréd Rényi dẫn đến một phân bố dạng hình cái chuông. Trong mạng ngẫu nhiên số đường nối dao động quanh một trị số trung bình.  Không có nút nào có quá nhiều đường nối và cũng vắng mặt những nút cô độc với ít đường nối. Các đường phố trong một thành phố hay mạng đường bộ (routiers), hay mạng các đường gân trên một chiếc lá  (hình 6) là ví dụ của mạng ngẫu nhiên .                Hình 6 . Những đường gân trong một chiếc lá theo đó chất dinh dưỡng được phân bố là ví dụ của một mạng ngẫu nhiên.            Paul Erdős và Alfréd Rényi tìm thấy rằng các mạng ngẫu nhiên biến động tương tự như trong quá trình chuyển pha trong vật lý.   Tồn tại một xác suất  pc dưới trị số đó tính chất mà ta đang quan tâm của một mạng được biểu hiện yếu song trên trị số đó thì tính chất nói trên biểu hiện rất mạnh.  b. Các mạng  không tỷ lệ (scale- free /sans échelle)   Một mạng của những thực thể tương tác với nhau hay một mạng máy tính trong đó có virus lan truyền không những có những tính chất topo mà còn có những tính chất động học.                Hình 7.  Albert-Laszlo Barabasi, GS vật lý Đại học Notre Dame (Indiana,  Mỹ) chuyên nghiên cứu mạng phức hợp.            Trong vòng 40 năm người ta sử dụng các mạng phức hợp như những mạng ngẫu nhiên (random network). Như trên đã nói những mạng này được xây dựng bởi hai nhà toán học Hung là Paul Erdos & Alfred Renyi. Trong năm 1959 khi nghiên cứu các mạng lưới giao thông và sinh học hai tác giả trên đã sử dụng mô hình trong đó các nút được nối với nhau bởi những đường nối đặt vào một cách ngẫu nhiên. Cách tiếp cận đơn giản và đẹp đẽ  này đã làm phát triển môn học lý thuyết đồ hình (graph theory) một cách đáng kể.  Sự xếp đặt ngẫu nhiên các đường nối trong mạng ngẫu nhiên dẫn đến một hệ quả  quan trọng là hiện tượng  dân chủ: đa số các nút đều tiến đến có  số đường nối gần bằng nhau. Lẽ dĩ nhiên trong cách tiếp cận này các nút sẽ tuân theo phân bố Poisson. Mạng ngẫu nhiên còn được gọi là mạng hàm mũ (exponential) vì rằng xác suất để một nút được nối với   k nút khác  sẽ giảm theo hàm mũ  khi k lớn.  Đến năm 1998 các tác giả Laszlo Barabasi (hình 7), Hawoong Jeong & Reka Albert (Đại học Notre Dame) cộng tác nghiên cứu mạng www (World Wide Web) và tưởng rằng sẽ thu được một mạng ngẫu nhiên vì nghĩ rằng sự quan tâm đa dạng của mọi người, số trang web lớn mà họ có thể chọn lựa, sẽ dẫn đến một mạng ngẫu nhiên.   Song kết quả lại là một điều bất ngờ. Xuất hiện một số trang web có rất nhiều đường liên kết lại là hình ảnh chân thực của www: hơn 80 % các trang trên mạng có ít hơn 4 liên kết trong khi một thiểu số ít hơn 0.01 % của các nút lại có hơn 1000 đường liên kết. Một tài liệu của một web có thể được tham chiếu bởi nhiều hơn 2 triệu trang khác.                         Tính xem có bao nhiêu trang web  có  k đường liên kết các tác giả  trên thấy rằng sự phân bố tuân theo một quy luật lũy thừa (power law) : xác suất để một nút có k đường nối liền với các nút khác là tỷ lệ với 1/ kn. Trị số n xấp xỉ bằng 2 [5].  Định luật lũy thừa của  mạng không tỷ lệ hoàn toàn khác định luật hàm mũ của các mạng ngẫu nhiên (hình 8 ).                    Hình8.    a/ Phân bố hình chuông trong mạng ngẫu nhiên                               b/ Phân bố lũy thừa trong mạng không tỷ lệ                  Mạng Internet là một mạng  không tỷ lệ trong đó một số site dường như có một số vô hạn đường liên hệ với các site khác.  Người ta phát hiện rằng trong rất nhiều lĩnh vực đều tồn tại những  mạng không tỷ lệ – từ mạng www  đến mạng chuyển hóa (metabolic) của một tế bào, đến cộng đồng  các nghệ sĩ Hollywood – những mạng này bị khống chế bởi một số tương đối ít các nút có nhiều đường liên hệ với nhiều nút khác. Một mạng lưới chứa những nút quan trọng như vậy  được gọi là mạng lưới  không tỷ lệ (scale-free) với ý nghĩa là một số nút (gọi là trục/ hub)  có  một số không hạn chế các đường nối. Các mạng  này có  một số tính chất quan trọng : 1/ mạng có sức kháng cự lại những bất trắc thất thường 2/ song lại rất dễ bị tổn thương (vulnerable) đối với những tấn công tọa độ (coordinated attacks) nghĩa là sự tấn công vào các trục quan trọng.  Những mạng lưới này tuân theo những định luật cơ bản – những định luật này đúng cho cả các trường hợp từ tế bào, máy tính đến ngôn ngữ và xã hội.   Chính những định luật cơ bản này sẽ giúp chúng ta tìm ra phương tiện chống ma túy, chống tin tặc, chống sự lan truyền những bệnh dịch chết người.   Khác với quy luật dân chủ hình cái chuông (bell) trong quy luật lũy thừa xuất hiện những nút có rất nhiều đường nối (như Yahoo & Google trong mạng Internet). Tình huống tương tự  như chúng ta bỗng dưng gặp phải những con người cao hơn 100 feet vì vậy mà những mạng lưới như thế này được gọi là những mạng lưới  không tỷ lệ (scale-free).  Trong những năm vừa qua các nhà khoa học đã đối diện với những mạng lũy thừa này trong nhiều lĩnh vực. Người ta cũng phát hiện những mạng không tỷ lệ trong những mạng xã hội. Mạng các cá nhân liên hệ với nhau bằng E-mail cũng thuộc mạng không tỷ lệ. Mạng các công trình khoa học liên hệ bởi các tham chiếu cũng thuộc mạng không tỷ lệ. Khi nghiên cứu sự cộng tác khoa học giữa những nhà khoa học người ta cũng phát hiện mạng lũy thừa. Điều thú vị là một trong những trục  của mạng trong cộng đồng toán học lại là chính Erdos, người tìm ra mạng ngẫu nhiên, Erdos đã viết hơn 1400 công trình cùng với hơn 500 tác giả khác. Mạng lũy thừa cũng xuất hiện trong thế giới kinh doanh. Khi nghiên cứu mạng công nghệ sinh học người ta cũng tìm thấy các trục  là công ty dược học Genzyme, Chiron và Genentech có một số đối tác cực lớn. Thậm chí mạng giao lưu giữa các nghệ sĩ Hollywood  cũng là mạng không tỷ lệ (scale-free).   Người giàu trở nên giàu hơn   Câu hỏi vì sao lý thuyết  mạng ngẫu nhiên không phản ánh đúng thực tại? mà chúng ta phải cầu cứu đến các mạng không tỷ lệ? Có thể có hai lý do sau đây khi nghiên cứu kỹ các công trình của Erdos & Renyi:  1/ Khi phát triển mô hình của mình Erdos & Renyi cho rằng số các nút gần như là không đổi (constant).  Sau đó họ đặt các đường nối vào. Năm 1990 chỉ có một trang web đến bây giờ đã có tới hơn 3 tỷ trang. Vì sự phát triển mạnh như vậy nên những nút cũ có nhiều hy vọng có thêm nhiều đường nối.   2/ Các nút không như nhau. Điều quen thuộc là khi vào mạng để kết nối ta chọn một số trang web có nhiều đường nối hơn vì chúng dễ tìm hơn. Đó gọi là   “liên kết ưu tiên” (preferential attachments). Tương tự như những công trình khoa học được tham chiếu nhiều thì lại được nhiều người nghiên cứu và tham chiếu.  Chính hai lý do trên – sự tăng trưởng của số nút và sự liên kết ưu tiên giải thích được sự xuất hiện các  trục. Đây là tình huống nhà giàu lại giàu thêm.  Các tác giả Albert-Laszlo Barabasi & Eric Bonabeau đã thực hiện mô phỏng máy tính dựa trên hai nguyên tắc trên và tìm ra được cấu trúc không tỷ lệ scale-free  và  hiểu được vì sao mạng không tỷ lệ lại phổ biến như thế trong thực tại. Hai nguyên tắc đó cũng giải thích được nhiều mạng sinh học.    Gót chân Achille   Những mạng phức hợp có tính chất kháng sốc đối với những sự cố tình cờ. Mặc dầu nhiều đường nối có thể bị trục trặc song mạng về toàn cục vẫn hoạt động. Đó là vì các mạng có được tính bền chắc (robustness). Tính bền chắc này ở đâu ra?    Trong sinh học người ta thấy rằng mặc dầu nhiều đột biến (mutation) có thể xảy ra song những protein không bị tác động vẫn hoạt động cùng nhau một cách bình thường.   Sở dĩ có sự bền chắc như vậy vì sự loại bỏ một số nút không ảnh hưởng nhiều đến topo của mạng một cách đáng kể vì các nút đó chứa ít đường nối so với các trục.   Song các trục lại dễ bị tấn công (coordinated attack). Đây là gót chân Achille của mạng. Trong một loạt mô phỏng các nhà khoa học đã tìm thấy rằng sự loại bỏ một số trục sẽ dẫn đến sự tan rã mạng thành nhiều mạng không còn tác dụng. Trong sinh học người ta thấy rằng sự loại bỏ một số protein có nhiều liên kết có khả năng giết chết một cơ thể hơn là sự loại bỏ các protein khác. Các protein này rất quan trọng nếu bị trục trặc thì cơ thể có thể chết. Như vậy dược học  có được phương pháp điều trị những tế bào ác tính bằng cách chọn những trục nhất định và để yên các tổ chức khác.     Như vậy gót chân Achille đặt ra vấn đề: bao nhiêu trục là quan trọng thiết yếu? Những nghiên cứu gần đây sự loại bỏ đồng thời 5 đến 15 % các trục có thể gây nên tê liệt mạng.   Sự tấn công tọa độ là tấn công các trục lớn nhất sau đó các trục nhỏ hơn và tiếp theo là các trục nhỏ hơn nữa. Như vậy bảo vệ các trục quan trọng là phương sách hữu hiệu nhất để để tránh thảm họa đối với các tấn công điều khiển học (cybernetic). Sự tấn công vào các công ty dược phẩm Genzyme & Genentech của Mỹ có thể phá tan công nghệ sinh học của nước Mỹ.   Mạng không tỷ lệ trong sinh học   Trong các tế bào có một mạng chuyển hóa  (metabolic), đó là một mạng của các phản ứng hóa-sinh. Mạng này được tìm ra là mạng không tỷ lệ. Sự hiểu biết những mạng này giúp chống lại các bệnh như ung thư, Parkinson,…   Người ta cũng tìm thấy cấu trúc không tỷ lệ trong mạng chuyển hóa trong tế bào của nhiều cơ thể khác nhau từ 3 nhánh của  sự sống bao gồm Archaeoglobus fulgidus (archaebacterium), Escherichia coli (eubacterium) và Caenorhabditis elegans (eukaryote) [6].  Người ta cũng tìm thấy mạng không tỷ lệ trong mạng tương tác protein của các tế bào (xem hình 9).   Một điều cũng lý thú là quá trình chọn lọc trong lý thuyết Darwin cũng dẫn đến những mạng không tỷ lệ.   Người ta tự hỏi vì sao các hệ hoàn toàn khác nhau như Internet và các tế bào lại có cùng một cấu trúc và tuân theo cùng một quy luật, và theo những lý do chưa biết đến tận bây giờ  trị số  n  trong  k n  lại nằm giữa 2 và 3?              Hình 9.  Sơ đồ các protein tương tác với nhau của chất men (yeast) cho thấy những trục có nhiều đường liên kết, đó là những protein thiết cốt cho sự sống của tế bào. Trong đó có một số trục quan trọng bậc nhất . Sự loại bỏ những protein này dẫn đến sự chết của tế bào.            Các dịch bệnh không tỷ lệ  (scale-free)   Sự nghiên cứu các mạng không tỷ lệ  rất quan trọng đối với việc hiểu biết cơ chế lan truyền của các bệnh dịch, của các mốt thời thượng, lan truyền các virus máy tính. Các lý thuyết khuếch tán (diffusion) chỉ rằng có một ngưỡng (threshold) trong quá trình các lan truyền. Những đối tượng nhỏ hơn ngưỡng sẽ chết đi mà không lan truyền được.   Một điều đáng ngạc nhiên là theo kết quả của Romualdo Pastor-Satorras và Alessandro Vespigniani (Trung tâm vật lý lý thuyết Trieste, Ý) thì ngưỡng bằng không đối với mạng  không tỷ lệ. Điều đó có nghĩa là những virus thậm chí ít truyền nhiễm nhất cũng có thể lan truyền và tồn tại trên mạng hoặc như virus Love Bug đã gây ảnh hưởng lớn đến British Parliament năm 2000.  Thực tế cho thấy rằng nếu chọn đúng những trục  quan trọng thì chỉ cần tiêm chủng một số người cũng có thể ngăn ngừa được bệnh dịch. Song tìm được các trục  đó trong một mạng xã hội là một việc khó.   Bose-Einstein condensate (scale-free)   Một điều lý thú và gây ấn tượng là mối liên quan giữa một mạng không tỷ lệ với hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein trong vật lý.   Như chúng ta biết trong chất khí Bose nhiều boson có thể tụ tập vào trạng thái năng lượng thấp nhất, tạo nên cái gọi là ngưng tụ Bose-Einstein.   Trong thực tế ta gặp trong các mạng như mạng www hoặc các mạng xã hội những nút hấp dẫn thu hút nhiều đường nối của mạng và hình thành một mối tương tự gần gũi với quá trình tụ tập các boson trong một ngưng tụ Bose-Einsstein. Có thể làm một ánh xạ giữa toán học mạng và lý thuyết ngưng tụ Bose-Einstein (nghĩa là đặt một mối tương quan một-một giữa các đặc trưng của mạng và của ngưng tụ Bose-Einstein) nếu mỗi nút xem là một mức năng lượng còn các đường nối là những hạt boson.   Tóm tắt một số  mạng không tỷ lệ chính              Mạng      Nút       Đường nối          Sự chuyển hóa    trong tế bào (cellular metabolism)      Các phân tử liên quan đến quá trình biến thức ăn   thành năng lượng      Sự tham gia vào cùng một phản ứng hóa sinh          Mạng điều chỉnh protein      Các protein tham gia vào điều chỉnh hoạt động của   tế bào      Các tương tác giữa các protein          Hợp tác nghiên cứu      Các nhà khoa học      Đồng tác giả các công trình          WWW      Các trang Web      URL(Uniform Resource Locator, ví dụ   http://www.microsoft.com/ie/default.asp)            Từ lý thuyết đến thực hành   Mặc dầu mạng không tỷ lệ là phổ biến nhưng có nhiều ngoại lệ: hệ thống đường sắt, hệ thống điện lại làm thành những mạng ngẫu nhiên. Cũng như trong một mạng tinh thể các nguyên tử có một số đường nối như nhau với các nguyên tử lân cận. Mạng trong não bộ cũng là mạng khó xác định được topo.    Vì vậy việc xác định một mạng là mạng không tỷ lệ hay mạng ngẫu nhiên  là một việc làm quan trọng. Nếu đó là một  mạng không tỷ lệ thì sử dụng các tính chất quan trọng của những mạng này chúng ta sẽ được trang bị những phương án để ngăn ngừa những hiện tượng không mong muốn hoặc củng cố những hiện tượng có lợi. Khoa học mạng hiện nay là một công cụ khoa học, tinh tế và hữu hiệu để nghiên cứu các hệ phức hợp.   ——————–  [1]  Edgar Morin 1990, Introduction à la pensée complexe, Paris,1990  [2]   Cao Chi , Vật lý hiện đại và những vấn đề thời sự từ BigBounce đến vũ trụ toàn ảnh , nhà XB Tri thức 2011.  [3]   Rémi Sussan, Hubert Guillaud, Jean-Marc Manach, Embracing Complexity at Lift France 10, Lift11, Marseille , 6-8 juillet,2011  [4]  Paul Erdős et Alfréd Rényi,  On random graphs ,  Publicationes Mathematicae, vol. 6, 1959.    On the evolution of random graphs ,  Publications of the Mathematical Institute of the Hungarian Academy of Sciences, vol. 5, 1960.  [5]  Albert-Laszlo Barabasi & Eric Bonabeau, Scale-free networks, Scientific American, May, 2003.  [6]  Các tế bào chia làm 2 loại: prokaryotic & eukaryotic.Archaebacterium , và Eubacterium, là những vi sinh vật thuộc prokaryotic, là những vi khuẩn  đơn bào không có hạt nhân tế bào.    Eukaryotic ứng với những sinh vật với tế bào có cấu trúc phức tạp nằm trong một màng, các cơ thể eukaryotic bao gồm thế giới đa bào của cây cối, sinh vật,…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học máy tính trong kỷ nguyên thông tin      Trong khoảng 50 năm trở lại đây, khoa học máy tính chú trọng vào việc sử dụng máy tính giúp ích cho công việc của chúng ta nên các thuật toán, ngôn ngữ lập trình, hệ điều hành là những chủ đề được quan tâm bậc nhất. Tuy nhiên hiện nay, trọng tâm đã chuyển dịch sang ứng dụng trước những tác động quan trọng như công suất máy tính, lượng dữ liệu khổng lồ hay sự kết nối internet. Do đó, khoa học máy tính ngày nay không chỉ tạo ra nhu cầu ứng dụng mà còn là nhu cầu nghiên cứu đa ngành, đặc biệt trong việc phân cụm mạng xã hội, lý thuyết học, kích thước của dữ liệu, quá trình số hóa và yêu cầu bảo mật quyền riêng tư.      Những tác động quan trọng như công suất máy tính, lượng dữ liệu khổng lồ hay sự kết nối internet dã ảnh hưởng đến khoa học máy tính.  Bài toán phân cụm     Ban đầu, mục tiêu của bài toán này là phân chia các nút của một mạng xã hội thành những cụm riêng biệt. Các nghiên cứu sau đó lại tập trung vào việc tìm ra các nhóm giao nhau – các thành viên tham gia vào nhiều cụm khác nhau. Gần đây bài toán phân cụm có hai hướng quan trọng. Thứ nhất là do kích thước của các mạng xã hội tăng lên quá lớn, hàng tỷ nút, phân cụm tất cả các nút – phân cụm toàn cục – trở nên không thể và được thay thế bằng phân cụm cục bộ. Trong phân cụm toàn cục, nếu một một mạng lưới một tỷ nút cần phân thành mười cụm hoặc hơn thì mỗi cụm sẽ có hàng trăm triệu đỉnh. Với phân vùng đệ quy người ta có thể tìm thấy các cụm có kích thước một trăm nhưng quá trình này lại không hiệu quả.    Việc tìm ra các các nhóm giao nhau ở các mạng lớn cũng tốn kém và khó triển khai. Thay vào đó người ta có thể tìm các cụm địa phương xung quanh một số nút/đối tượng cần quan tâm. Ví dụ như tìm ra nhóm năm mươi người bạn thân cận của một cá nhân nào đó. Một phương pháp khác để làm điều này là sử dụng phân cụm phổ. Trong phân cụm phổ, người ta tạo ra một ma trận có các cột là một số nhỏ các vectơ phổ quan trọng nhất của ma trận kề (Mỗi mạng lưới có thể biểu diễn bằng một ma trận kề. Áp dụng phép biến đổi Singular Matrix Decomposition, ta thu được các vectơ phổ) và sau đó tìm vectơ tối thiểu chuẩn đơn vị trong không gian sinh bởi các vectơ phổ trên 1, 2.    Một cách khác, thay vì tìm vectơ tối thiểu chuẩn đơn vị trong không gian sinh bởi các vectơ phổ chúng ta có thể sử dụng phương pháp đi ngẫu nhiên: xuất phát từ một vài nút trong một cụm cục bộ, chúng ta đi theo các cạnh một cách ngẫu nhiên cho đến khi nào xác suất của nút hội tụ trong phạm vi cục bộ. Khi đó vectơ tối thiểu chuẩn đơn vị trong không gian sinh bởi các vectơ không hội tụ sẽ chỉ ra các cụm cục bộ.    Hướng thứ hai trong phân cụm là tìm ra các cấu trúc ẩn3,4.  Giả sử bạn có hình ảnh của một số chữ cái, các chữ cái này có những bóng màu xám và kiểu font khác nhau. Nếu để phân cụm những hình ảnh trước hết chúng ta phân cụm chúng bằng chữ cái. Tuy nhiên cũng có thể phân cụm hình ảnh theo màu sắc hoặc theo phông chữ. Như vậy các chữ cái là cấu trúc chi phối của hình ảnh còn phông chữ và màu sắc (của các chữ cái) là các cấu trúc ẩn, yếu hơn và không tương quan với cấu trúc chi phối. Mạng lưới trong thế giới thực cũng vậy, chúng có cấu trúc chi phối và một số lớp cấu trúc ẩn. Làm thế nào để bạn tìm thấy cấu trúc ẩn trong một mạng xã hội?    Chọn một thuật toán phân cụm bạn thích và tìm cấu trúc chi phối, sau đó làm yếu đi cấu trúc chiếm ưu thế bằng cách loại bỏ ngẫu nhiên các cạnh trong mạng lưới. Sau đó lại áp dụng thuật toán phân cụm ban đầu và nó sẽ tìm đến các cấu trúc ẩn. Nếu bạn quay lại mạng lưới ban đầu và làm suy yếu cấu trúc ẩn (mới tìm ra) thì bạn sẽ tìm thấy cấu trúc chi phối với kết quả được cải thiện. Cứ lặp lại như vậy vài lần, chúng ta sẽ tìm ra cả cấu trúc chiếm chi phối lẫn cấu trúc ẩn một cách chi tiết hơn. Một số mạng lưới thực có nhiều cấu trúc ẩn có thể có ý nghĩa quan trọng.      Có thể là 40 năm nữa, chúng ta lại có một cuộc cách mạng thông tin khác có khả năng nhận dạng ra chức năng của vật thể hoặc chi tiết trên hình ảnh. Nếu điều này thành hiện thực thì khả năng ứng dụng của trí tuệ nhân tạo còn to lớn hơn nữa.      Áp dụng kỹ thuật này vào dữ liệu Facebook của sinh viên Đại học Rice 5, các nhà nghiên cứu tìm ra cấu trúc chiếm chi phối và ba cấp độ cấu trúc ẩn. Cấu trúc chi phối là ký túc xá và cấp độ ẩn thứ nhất là năm học của sinh viên (năm nhất, năm hai…). Hai cấu trúc khác có tính phân nhóm cao, không tương quan với các cấu trúc trước đó nhưng chúng tôi chưa thể xác định đặc tính tương ứng của chúng; có thể là các môn thể thao hoặc những sở thích khác của sinh viên.     Học sâu (deep learning)     Máy học (“machine learning”) đã trở nên đặc biệt quan trọng trong những năm gần đây. Ban đầu mô hình chủ đạo (cho nhận diện hình ảnh) là Support Vector Machine, nhưng đến năm 2012 thì các tiến bộ của học sâu (“Deep Learning”) đã làm thay đổi cuộc chơi. Cho đến năm đó, tiến bộ trong cuộc thi phân loại hình ảnh phổ biến ImageNet ILSVRC 6,7 thường rất nhỏ (ImageNet có 1,2 triệu hình ảnh được phân loại trong 1.000 danh mục.)    Nhiệm vụ là dùng một tập hợp hình ảnh để huấn luyện cho các mô hình mạng nơron và dùng mô hình đó dự báo danh mục của các hình ảnh trong một tập hợp khác, gọi là tập kiểm tra (test). Trước năm 2012, tỷ lệ lỗi (phân loại sai) vào khoảng 25% và vào đúng năm đó, mô hình AlexNet giảm tỷ lệ lỗi xuống 15%, đây là một cải tiến thực sự lớn. Hai năm sau, GoogleNet giảm xuống còn 6,7%, năm 2015 ResNet giảm tiếp xuống còn 3,6%, nhỏ hơn cả tỷ lệ phân loại lỗi bằng mắt thường của con người (khoảng 5%). Những mô hình này là các mạng nơron sâu đã vượt qua khả năng tự nhiên của con người. Kể từ năm 2012, các mạng học sâu đã được áp dụng trong nhiều rất nhiều ứng dụng của chúng ta, và chúng hoạt động rất tốt mặc dù ít ai biết được tại sao chúng hoạt động tốt như vậy.    Một trong những vấn đề của bài toán học có giám sát là thiếu dữ liệu được dán nhãn. Ngược lại với nó là học không giám sát với dữ liệu ban đầu không được dán nhãn. Hướng này đã có những tiến bộ lớn gần đây. Thay vì huấn luyện để một mạng học sâu phân loại hình ảnh, người ta có thể huấn luyện cho chúng tái tạo hình ảnh. Như vậy các mạng nơron sẽ thể hiện tốt hơn nội hàm của hình ảnh, và còn đặt ra câu hỏi là những nơron trong mạng học cụ thể điều gì. Điều này đã làm gia tăng sự quan tâm vào hướng học không giám sát.    Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều câu hỏi mở cho mạng nơron học sâu. Ví dụ như các nơron có học giống nhau không? Nếu chúng ta huấn luyện một mạng hai lần, mỗi lần với các giá trị khởi tạo ngẫu nhiên khác nhau thì các mạng vẫn học ra giống nhau hay tiến đến các trạng thái hoàn toàn khác nhau để phân loại hình ảnh8? Điều gì quyết định những gì một nơron sẽ học? Việc học của chúng theo thời gian như thế nào? Các nơron ở lớp thứ nhất hoặc thứ hai của mạng nơron tích chập (CNN) có học một cách độc lập với nội dung hình ảnh không? Khi huấn luyện một mạng học sâu nếu chúng ta gặp nhiều cực tiểu địa phương với cùng giá trị hàm Loss thì cực tiểu địa phương nào sẽ dự báo tổng quát tốt hơn? Một cách thực nghiệm cho thấy các cực tiểu địa phương trải rộng hơn có vẻ cho kết quả tốt hơn. Điều này có thể là do hàm sai số (thành phần của hàm Loss) áp dụng cho tập huấn luyện rất gần với hàm sai số thực. Do vậy nếu dữ liệu có thay đổi nhỏ sẽ không làm ảnh hưởng đến giá trị cực tiểu địa phương giống như các cực tiểu địa phương sâu.    Gần đây, các mạng sinh đối nghịch9 trở nên rất phổ biến. Ví dụ, nếu muốn tạo ra các hình ảnh giống như hình ảnh thật (gọi là ảnh sinh) chúng ta có thể training một mạng đối nghịch để mạng này phân biệt được ảnh thật và ảnh sinh. Sau đó chúng ta lại training cho mạng sinh để sao cho nó sinh ra các hình ảnh giống thật đến mức mạng đối nghịch không thể phân biệt được. Rồi lại lặp lại training cho mạng đối nghịch làm tốt hơn, cứ thế tiếp tục,… Bằng cách tương tác giữa hai mạng học sâu chúng ta có được những hình ảnh sinh ra giống hệt như hình ảnh thật. Tuy nhiên cần quan tâm đến vấn đề đạo đức trong việc sử dụng kỹ thuật này.    Một ứng dụng khác có thể là dịch thuật. Trước đây, người ta sử dụng những đoạn văn bản gốc và bản dịch tương ứng để huấn luyện một mạng lưới dịch. Nhưng nếu giả sử chúng ta không có đủ mẫu trong cả hai ngôn ngữ thì có thể sử dụng mạng đối nghịch như sau. Ví dụ cần dịch từ tiếng Anh sang tiếng Đức, trước tiên, chúng ta xây một mạng nơron dịch một câu tiếng Anh ra các từ tiếng Đức. Sau đó xây tiếp một mạng nơron đối nghịch để phân biệt giữa các từ tiếng Đức và câu tiếng Đức. Cuối cùng, chúng ta lấy các từ tiếng Đức đầu ra của mạng đầu tiên để xây một mạng nơron khác tạo ra các câu tiếng Anh và so sánh với câu gốc ban đầu. Huấn luyện cho cả ba mạng này cuối cùng sẽ tạo ra thiết bị dịch ra một câu tiếng Đức chứ không chỉ là từ tiếng Đức.    Có một số chủ đề nghiên cứu đáng chú ý khác. Ví dụ làm thế nào có thể “đánh lừa” một mạng  học sâu bằng cách thay đổi một chi tiết nhỏ trong hình ảnh, đủ nhỏ để mắt người không phát hiện ra nhưng lại khiến cho mạng thay đổi cách phân loại hình ảnh 10. Chẳng hạn như hình ảnh một con mèo bị nhận dạng thành một chiếc xe hơi. Lý do có thể là tập hợp các hình ảnh của mèo dùng để huấn luyện lại khớp với đa tạp (“manifold”) có số chiều nhỏ hơn nhiều so với chiều của không gian kích hoạt. Do đó, nếu chúng ta di chuyển trong không gian kích hoạt theo hướng vuông góc với bề mặt của đa tạp thì mạng nơron học sâu có khả năng phân loại sai.    Cuối cùng thì các chương trình AI hiện nay không đọc được bản chất của một đối tượng, hiểu các chức năng của nó hoặc các khía cạnh quan trọng khác. Có thể là 40 năm nữa, chúng ta lại có một cuộc cách mạng thông tin khác có khả năng nhận dạng ra chức năng của vật thể hoặc chi tiết trên hình ảnh. Nếu điều này thành hiện thực thì khả năng ứng dụng của trí tuệ nhân tạo còn to lớn hơn nữa.  (Còn nữa)     Nguyễn Quang dịch     TÀI LIỆU THAM KHẢO          [1] Kun He, Yiwei Sun, David Bindel, John E. Hopcroft and Yixuan Li, “Detecting overlapping communities from local spectral subspaces,” in 15th IEEE International Conference on Data Mining (ICDM), Atlantic City, USA, 2015, pp. 769-774.  [2] Yixuan Li, Kun He, David Bindel and John E. Hopcroft. “Uncovering the small community structure in large networks,” in 24th International Conference on World Wide Web (WWW), Florence, Italy, 2015, pp. 658-668.  [3] Kun He, Sucheta Soundarajan, Xuezhi Cao, John E. Hopcroft and Menglong Huang, “Revealing multiple layers of hidden community structure in networks,” CoRR abs/1501.05700, 2015.  [4] Kun He, Yingru Li, Sucheta Soundarajan and John E. Hopcroft, “Hidden community detection in social networks,” Information Sciences, vol. 425, pp. 92-106, Jan. 2018.  [5] Alan Mislove, Bimal Viswanath, P. Krishna Gummadi, Peter Druschel, “You are who you know: inferring user profiles in online social networks,” in Proceedings of the 3rd International Conference on Web Search and Web Data Mining (WSDM), New York, NY, USA, 2010, pp. 251-260.  [6] Olga Russakovsky, Jia Deng, Hao Su, Jonathan Krause, Sanjeev Satheesh, Sean Ma, Zhiheng Huang, Andrej Karpathy, Aditya Khosla, Michael Bernstein, Alexander C. Berg and Fei-Fei Li, “ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge,” International Journal of Computer Vision, vol. 115, no. 3, pp. 211-252, April 2015.  [7] ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge (ILSVRC), [Online]. Available: http://www.image-net.org/challenges/LSVRC/.  [8] Yixuan Li, Jason Yosinski, Jeff Clune, Hod Lipson, and John E. Hopcroft, “Convergent learning: Do different neural networks learn the same representations? ” in ICLR, 2016.  [9]  Ian J. Goodfellow, Jean Pouget-Abadie, Mehdi Mirza, Bing Xu, David Warde-Farley, Sherjil Ozair, Aaron C. Courville, Yoshua Bengio, “Generative adversarial networks,” in Advances in Neural Information Processing Systems(NIPS). Montreal, Quebec, Canada, 2014, pp. 2672-2680.  [10]  Anh Nguyen, Jason Yosinski, and Jeff Clune, “Deep neural networks are easily fooled: high confidence predictions for unrecognizable images,” in IEEE Conference on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR). 2015               Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học miễn phí cho mọi người      Liên minh châu Âu (EU) đang chuẩn bị một kế hoạch mở cửa tri thức cho toàn dân. Những kết quả nghiên cứu khoa học do EU tài trợ sẽ được công bố trên Internet cho mọi người tiếp cận miễn phí.      Các lĩnh vực sẽ được mở cửa là sức khỏe, năng lượng, môi trường, khoa học kinh tế xã hội và nhân văn, khoa học xã hội và công nghệ thông tin – viễn thông. Những bài báo nghiên cứu sẽ được công bố miễn phí trên một thư viện điện tử công cộng và các nhà khoa học khác sẽ tham gia phản biện những công trình nghiên cứu này. EU cho rằng đây là cách để các nghiên cứu khoa học phục vụ con người tốt hơn. Sự tiếp cận nhanh chóng và chính xác với các nghiên cứu khoa học sẽ giúp khơi gợi tinh thần sáng tạo của con người và thúc đẩy sự tiến triển của nền kinh tế dựa trên tri thức. Hơn thế nữa, nó sẽ giúp tránh sự trùng lặp trong nghiên cứu, làm giảm lãng phí sức người, sức của. Giới lãnh đạo khoa học châu Âu hy vọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn không có nhiều điều kiện nghiên cứu độc lập, sẽ dùng được các công trình trên cho hoạt động nghề nghiệp của mình.   Nguyễn Quân (Theo Reuters)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học năm 2018: Những kỳ vọng      Các sứ mệnh tới Mặt trăng, các hệ gene cổ đại và tranh chấp xuất bản được dự đoán sẽ là những kỳ vọng trong hoạt động nghiên cứu khoa học năm 2018.      Đài quan sát sóng vô tuyến CHIME sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2018. Nguồn: CHIME.  Dữ liệu vũ trụ  Kể từ khi được phát hiện lần đầu vào năm 2007, các vụ bùng nổ sóng radio nhanh (Fast Radio Burst) đã trở thành một trong những bí ẩn khó hiểu nhất của thiên văn học. Tuy nhiên các nhà khoa học kỳ vọng sẽ hiểu biết thêm về FRB sau khi Thí nghiệm Kính thiên văn vô tuyến lập bản đồ cường độ hydro của Canada (CHIME) bắt đầu hoạt động toàn công suất vào năm nay. Các nhà thiên văn học hy vọng vào việc dùng CHIME để có thể quan sát hàng chục hiện tượng vũ trụ này mỗi ngày và đẩy mạnh số lượng quan sát vũ trụ – từ trước đến nay mới chỉ có vài chục lần quan sát như vậy.  Vào tháng Tư tới, các nhà thiên văn học sẽ nhận được bộ dữ liệu thứ hai từ dự án Gaia của Cơ quan Vũ trụ châu Âu, trong đó sẽ tiết lộ vị trí và sự chuyển động của hàng tỷ ngôi sao trong Dải Ngân Hà. Bộ dữ liệu đầu tiên do Gaia thu thập được vào ngày 14/9/2016 đã hiển thị vị trí 3D của 2.057.050 sao và các đối tượng khác, cùng với cách các vị trí này thay đổi trong vòng 2 thập kỷ qua. Bản đồ này chứa hơn 1 tỷ vật thể và rộng hơn 1000 lần, chính xác hơn ít nhất 10 lần so với bất kỳ bản đồ nào trước kia. Các nhà khoa học kỳ vọng dữ liệu này có thể góp phần tăng thêm hiểu biết của chúng ta về cấu trúc xoắn ốc của Dải Ngân Hà.  Người Mỹ cổ đại  Các kết quả từ một số nghiên cứu về hệ gene cổ đại dự kiến công bố trong năm 2018 sẽ giúp giải thích phương thức di cư khắp châu Mỹ của con người. Các nhà khoa học hy vọng sẽ có những ước tính chính xác hơn về thời gian và cách thức con người mở rộng lãnh thổ khoảng 15.000 năm trước, đồng thời xác định được thời gian và các tuyến di cư tiếp theo. Công trình này cũng có thể giúp lý giải sự đa dạng về gene trong quần thể người Mỹ bản địa ngày nay như chúng ta thấy.  Cải tiến đơn vị đo lường khoa học  Sau hàng thập kỷ thực hiện, việc xác định lại bốn đơn vị đo lường sẽ tiến hành vào cuối 2018. Tại hội nghị toàn thể về khối lượng và đo lường vào tháng 11/2018, đại biểu từ 58 quốc gia sẽ bỏ phiếu để thông qua định nghĩa mới của ampere – đơn vị đo cường độ dòng điện, kilogram – đơn vị đo khối lượng, kelvin – đơn vị đo nhiệt độ và mole – đơn vị đo lường trong hóa học. Những đơn vị đo lường mới sẽ được xác định dựa vào những giá trị chính xác của các hằng số cơ bản, thay vì các định nghĩa tùy ý hoặc trừu tượng. Nếu được thông qua, những thay đổi này sẽ có hiệu lực từ tháng 5/2019.  Ví dụ như ampere được định nghĩa qua một thí nghiệm tưởng tượng liên quan đến lực giữa hai dây vô hạn nhưng trong tương lai ampere sẽ được tính toán dựa trên điện tích của một điện tử. Trong khi mole, một lượng chất trong hệ các cấu tử cơ bản bằng với số lượng nguyên tử carbon-12 trong lượng chất 0,012 kg; còn kelvin thì liên hệ với nhiệt độ và áp suất của nước, nước đá và hơi nước cùng tồn tại tại điểm cân bằng – điểm ba của nước. Việc định nghĩa lại có thể không ảnh hưởng đến các phép đo hằng ngày, nhưng nó sẽ cho phép các nhà khoa học làm việc ở mức độ chính xác cao nhất theo nhiều cách, bất cứ lúc nào và ở bất kỳ quy mô nào mà không làm giảm độ chính xác.  Tới Mặt trăng và xa hơn  Khi NASA đưa phi hành gia trở lại Mặt trăng theo “đơn đặt hàng” của Tổng thống Donald Trump, hai cơ quan vũ trụ khác cũng cố gắng hạ cánh ở đây. Vào 3/2018, Chandrayaan-2 sẽ đánh dấu nỗ lực đầu tiên của Ấn Độ để hạ cánh có kiểm soát trong không gian. Đây là một sứ mệnh mở rộng của Chandrayaan-1, bao gồm một tàu con thoi bay vòng quanh Mặt trăng, một tàu đổ bộ ở một vị trí chưa xác định gần cực Nam và một xe tự hành. Sau đó, vào tháng 12/2018, Chang’e-4 của Trung Quốc sẽ trở thành tàu thám hiểm đầu tiên nhắm đến vùng tối của Mặt trăng.  Các hoạt động nghiên cứu khám phá sẽ tiếp tục diễn ra trong những khu vực khác của Hệ Mặt trời: Hayabusa-2 của Cơ quan Thám hiểm Không gian Vũ trụ Nhật Bản sẽ tiến đến tiểu hành tinh RYUGU nguyên thủy vào tháng Bảy, và Osiris-Rex của NASA được lập kế hoạch để tới tiểu hành tinh Bennu vào cuối năm. Các nhà khoa học NASA đã chọn Bennu bởi cứ 6 năm một lần, nó sẽ di chuyển đến gần Trái đất trong phạm vi 300.000 km và tốc độ quay cũng không quá nhanh khiến các tàu vũ trụ có thể gặp nguy hiểm.  Dự kiến hai cuộc thăm dò của Nhật và Mỹ sẽ mang mẫu vật lấy được từ các hành tinh này về Trái đất vào năm 2020.  Bức tranh lớn hơn về ung thư  Những hiểu biết sâu sắc về các gene gây ung thư có thể có trong năm 2018 khi các nhà khoa học có điều kiện xem xét kỹ hơn dự án giải trình tự đa ung thư của toàn bộ các hệ gene trên quy mô lớn đầu tiên. Họ cũng nhận được kết quả từ một dự án lớn khác, Atlas hệ gene ung thư, sẽ công bố những phân tích các vùng mã hóa protein – được gọi là exome – của 33 loại khối u.  Atlas hệ gene ung thư là một nỗ lực phi thường của Mỹ để xây dựng hồ sơ di truyền của 10.000 khối u, được bắt đầu từ năm 2006 với kinh phí dự tính 100 triệu USD. Atlas này là thành phần lớn nhất của Liên minh Gene Ung thư Quốc tế – tổ chức hợp tác giữa các nhà khoa học từ 16 quốc gia đã phát hiện ra gần 10 triệu loại đột biến liên quan đến ung thư.  Hình ảnh siêu phân giải về cấu trúc nguyên tử của vật chất  Các nhà khoa học kỳ vọng một loạt nghiên cứu về vật chất sẽ thay đổi như thế nào trong những điều kiện cực đoan, ví dụ như trong lõi của một hành tinh. Những công cụ mới tại các cơ sở của Trung tâm laser electron tự do tia X châu Âu (XFEL) trên toàn thế giới sẽ cho phép các nhà khoa học hình dung được sự thay đổi của các mẫu vật chất trong môi trường nhiệt độ và áp suất cao. Thiết bị của XFEL của châu Âu sẽ bắn ra những xung tia X năng lượng cực cao trong khoảng thời gian một vài trăm femo giây, đủ ngắn như các chớp sáng để có thể chụp nhanh được các phân tử bị đóng băng trong thời gian đó và với bước sóng đủ nhỏ để cung cấp các hình ảnh phân giải ở cấp độ nguyên tử.  Trong mỗi một giây, các nhà khoa học có thể thu được hơn 3000 bức ảnh X-quang chất lượng tốt từ thiết bị của XFEL trong khi các thiết bị khác chỉ đem lại 100 bức. Dự kiến, chi phí dành cho việc thực hiện nghiên cứu các phản ứng sinh học và hóa học trên những thiết bị hiện đại này cũng sẽ thấp hơn khi cơ sở đầu tiên của XFEL tại Trung tâm Gia tốc Electron Đức (DESY) ở Hamburg, Đức và ĐH bang Arizona ở Tempe, Mỹ, mở cửa. XFEL ở Hamburg có thể phát ra 27.000 xung/giây, nhanh gấp 200 lần so với thiết bị nhanh kế tiếp là Linac Coherent Light Source trị giá 420 triệu USD tại Phòng Thí nghiệm Gia tốc Quốc gia Mỹ (Menlo Park, California).  Cuộc chiến trong ngành công nghiệp vũ trụ  Dù có kỳ vọng về đội chiến thắng giải Google Lunar XPrize trị giá 30 triệu USD cho đến 31/3/2018 để hạ cánh và điều khiển một máy bay – tài trợ bởi tư nhân đầu tiên trên Mặt trăng, sau đó truyền hình ảnh lại. Nhưng cuộc thi đã không đi đến bước cuối cùng. Dẫu vậy, cuộc hành trình 10 năm này đã dấy lên niềm tin: sứ mệnh Mặt trăng không còn giới hạn duy nhất cơ quan chính phủ mà ngày càng nhiều các doanh nhân, kỹ sư và các nhà cải tiến có thể tham gia.  Sau hơn một năm trì hoãn, các công ty hàng không vũ trụ Boeing và SpaceX dự định phóng tàu vũ trụ của họ tới Trạm Không gian quốc tế cho NASA vào tháng 11/2018. Kế hoạch này được phát triển từ năm 2014 nhằm cho phép NASA tiếp tục đưa các phi hành gia lên tàu vũ trụ của Mỹ, kể từ sau năm 2011. Cả hai nhà cung cấp này phải chứng minh rằng hệ thống của họ đã sẵn sàng thực hiện các chuyến bay đến trạm không gian. Sau các cuộc thử nghiệm bay không xác định, cả hai công ty sẽ thực hiện một chuyến bay thử nghiệm với phi hành đoàn.  Phương pháp điều trị bệnh  Những nỗ lực đưa các công cụ chỉnh sửa gene như CRISPR-cas9 tới các phòng khám đang phát triển. Giai đoạn đầu của thử nghiệm CRISPR trên người – chỉnh sửa tế bào miễn dịch để giải quyết ung thư phổi – sẽ kết thúc vào tháng Tư. Các công ty bao gồm Locus Biosciences (Research Triangle Park, California) và Eligo Bioscience (Paris) sẽ cùng hướng tới thử nghiệm sử dụng các thực khuẩn thể (bacteriophages) khai thác hệ thống CRISPR để chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh. Và thử nghiệm đầu tiên sử dụng các tế bào gốc phôi (induced pluripotent stem – iPS) chữa trị bệnh Parkinson sẽ được bắt đầu ở Kyoto (Nhật Bản) vào cuối năm.  Gia tốc các hạt sơ cấp  Đây là thời điểm tăng tốc cho phương pháp mới về gia tốc các hạt. Các nhà khoa học với thí nghiệm AWAKE tại CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt của châu Âu gần Geneva (Thụy Sĩ) đã chỉ ra nguyên lý đằng sau đề xuất gia tốc các electron trên sóng plasma là âm thanh. Và hiện giờ, họ đang thực hiện điều đó. Nếu thành công, công nghệ này có thể tạo ra các vụ va chạm ở quy mô nhỏ hơn và chi phí thấp hơn.  Truy cập mở  Ai sẽ đầu hàng trước trong cuộc chiến giữa các nhà khoa học Đức và nhà xuất bản Elsevier? Khoảng 200 tổ chức học thuật của Đức đã mất quyền truy cập vào các tạp chí của Elsevier hồi 1/2017 tới khi hai bên có thể đạt được một thỏa thuận trong cuộc chiến dài hạn về phí đặt mua. Những người ủng hộ truy cập mở cũng sẽ theo dõi số phận của Sci-Hub – trang web cho truy cập trái phép đối với hàng triệu bài báo khoa học vốn phải trả phí– đã đóng một số tên miền của nó sau lệnh của tòa án Mỹ vào tháng 11.  Thanh Trúc tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com /articles/d41586-018-00009-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nhật: Chặng đường phục hồi sau động đất      Giờ đây các nhà khoa học Nhật Bản còn nhiều mối quan tâm hơn việc xây dựng lại cơ sở hạ tầng phục vụ công tác nghiên cứu của họ. Tuy nhiên ngay khi bắt đầu thực hiện công tác này, họ sẽ cần sự giúp đỡ từ cộng đồng khoa học quốc tế.    Thủ tướng Nhật Naoto Kan đã gọi trận động đất, sóng thần và tình hình tại các lò phản ứng hạt nhân trong tháng này là thảm họa tồi tệ nhất đối mà Nhật Bản phải đối phó kể từ năm 1945. Số người chết đã vượt qua con số 20.000 người và toàn bộ mức độ thiệt hại vẫn chưa thể tính toán hết được.  Tình hình hiện tại cũng là một thảm họa cho ngành khoa học ở Nhật Bản. Các phòng thí nghiệm đã bị phá huỷ và Trường đại học Tohoku ở Sendai – một trong những Viện nghiên cứu hàng đầu của Nhật phải đóng cửa ít nhất cho đến cuối tháng sau. Nhiều toà nhà trong trường đã bị phá hủy tới mức không thể vào được khi các thiết bị hư hỏng, các mẫu vật bị phá huỷ vương vãi khắp mọi nơi. Ảnh hưởng này lan sang cả vùng bờ biển phía Đông tới thành phố Tsukuba, nơi mà có đến 40% các nhà nghiên cứu khoa học của Nhật đang làm việc. Thậm chí ngay ở vùng lân cận Tokyo, nơi mà phần lớn các cơ sở tránh được thiệt hại vật chất thì nhiều công trình nghiên cứu cũng phải dừng lại bởi mất điện và việc di cư của những nhà khoa học nước ngoài do lo ngại phóng xạ.    Bên cạnh viện trợ nhân đạo từ nhiều nước, các nhà khoa học trên khắp thế giới cũng đang giúp đỡ các đồng nghiệp Nhật Bản dưới nhiều hình thức khác nhau. Một số tiếp cận những người mà họ quen biết, trong khi những người khác sử dụng những biện pháp chính thống hơn.  Viện Y tế Quốc gia Hoa kỳ có kế hoạch cung cấp những cơ sở tạm thời cho các nhà khoa học bị mất cơ sở nghiên cứu tại Nhật. Nippon Science Support Network, được hỗ trợ bởi Nature Network, đang giúp điều phối hợp những nỗ lực cứu trợ từ Đức; và tính tới ngày 22/3, họ đã nhận được 18 đề nghị về vị trí công việc trong lĩnh vực khoa học và các dịch vụ khác, với rất nhiều trong số đó được tài trợ hoàn toàn, từ toán học tới dược liệu, huyết thanh và vật lý học thiên văn. Một chương trình hành động khác của quốc tế cũng đang thu thập những hỗ trợ có quy mô nhỏ hơn dưới hình thức nhà ở, kinh phí, phòng thí nghiệm và hệ thống máy chủ. Viện Khoa học Quốc gia Đức Leopoldina ở thành phố Halle, Viện Khoa học và Kỹ thuật Đức tại Berlin, và Học viện Khoa học và Nhân văn Berlin-Brandenburg đã đóng góp 5 triệu euro (tương đương 7,1 triệu USD) để ủng hộ ngành khoa học Nhật Bản. Ngoài ra, một nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Nano và Công nghệ Trung Quốc ở Bắc Kinh cung cấp cơ sở cho các nhà khoa học tạm trú. Bên cạnh đó, các tổ chức của Nhật Bản cũng đang thảo luận về các khoản vay hoặc nhận tài trợ máy móc và dụng cụ.  Với những người đang đề nghị được đóng góp hỗ trợ mà vẫn chưa được tiếp nhận thì cũng không nên ngạc nhiên.  Nhiều nhà khoa học bị ảnh hưởng không thể truy cập vào Internet thường xuyên và đa số vẫn đang vật lộn với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hàng ngày. Trước khi đi ra nước ngoài, họ vẫn phải cố gắng tìm ra những gì còn có thể cứu vãn được trong phòng thí nghiệm của họ tại Nhật. Và mặc dù điều tốt nhất cho các công trình nghiên cứu của họ sẽ là chuyển tới một cơ sở với đầy đủ tiện nghi cơ bản như điện nước, rất nhiều người trong số họ – đặc biệt là những nhà nghiên cứu cao cấp – có nghĩa vụ công việc và gia đình tại Nhật Bản.  Nhưng tình hình sẽ khác khi các nhà khoa học Nhật có điều kiện xem xét lại những nhu cầu cần thiết để xây dựng lại nghiên cứu của mình.  Điều tốt nhất mà cộng đồng khoa học quốc tế có thể làm là tiếp tục duy trì những đóng góp.  Đặc biệt là với các nhà nghiên cứu trẻ Nhật Bản, họ sẽ sẵn sàng hơn để tận dụng cơ hội đi ra nước ngoài. Điều này cũng sẽ mang lại động lực mới cho nền khoa học quốc gia khi mà trong 10 năm trở lại đây, số lượng nhà khoa học trẻ thực hiện nghiên cứu ở nước ngoài đã giảm mạnh, tạo ra một cộng đồng nghiên cứu tách biệt mà đáng lẽ ra có thể phát triển hơn nữa nếu mở rộng quan hệ ra bên ngoài.  Thảm họa này cũng mang tới những cơ hội nghiên cứu mới.  Sự tàn phá xảy ra cho thấy sức mạnh của sóng thần, động đất và mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu năng lượng. Những vấn đề này kết hợp với các vấn đề về y tế có thể đánh thức nhận biết về tầm quan trọng của khoa học cho một thế hệ học sinh đang ngày càng không quan tâm, với những chương trình giảng dạy mà tỷ trọng thành phần khoa học hiện đang là thấp nhất trong những năm gần đây. Ryoichi Matsuda, một nhà sinh vật học tại Đai học Tokyo cho rằng thảm họa này có thể được sử dụng để tái nhận mạnh tầm quan trọng của “khoa học cho sống còn”.  Việc tái gây dựng cũng sẽ mang lại một số lợi ích. Việc phá bỏ các lò phản ứng hạt nhân cũ sẽ mở cánh cửa thảo luận cho các giải pháp năng lượng khác, vi dụ như  năng lượng địa nhiệt. Những nhà quản lý của Đại học Tohoku đang có những cuộc bàn luận về việc cải thiện cơ sở hạ tầng, trong đó sẽ có sự sửa sang lại cả các cơ sở cũ đã lạc hậu.  Tại thời điểm này, với những thiệt hại về người và của lớn lao, thì cơ sở hạ tầng cho khoa học không phải là ưu tiên số một của quốc gia này. Các nhà khoa học khắp Nhật Bản đang chuẩn bị cho việc cắt giảm kinh phí để giúp miền Đông Bắc khôi phục trở lại. Dù vậy, cả đất nước sẽ không thể tồn tại nếu thiếu khoa học và công nghệ.  Chính phủ Nhật sẽ đứng lên để đối mặt với những khó khăn trong việc khôi phục ngành khoa học của mình, nhưng đây sẽ là một cuộc đấu tranh lâu dài để có thể gây dựng một nền tảng vững chắc mà trong đó thậm chí nhiều người có thể sẽ phải hy sinh. Những người đang giúp đỡ để mở ra những cánh cửa cơ hội cho các nhà khoa học Nhật Bản nên tiếp tục duy trì nỗ lực. Và có lẽ những người khác sẽ muốn nghĩ đến việc tạo ra thêm nhiều cơ hội hơn nữa.  Thùy Dương dịch (Nature News)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học ở Pháp mất giá      Có một nghịch lý là, sự phát triển kinh tế  của thế giới là phát triển dựa trên khoa học công nghệ, nhưng ở Pháp (và  cả nhiều nước khác) khoa học ngày càng bị “mất giá” trong xã hội, và tỷ  lệ những người trẻ chọn con đường khoa học càng ít.     Muốn biết tại sao, chỉ cần nhìn vào hai đồ thị sau, lấy từ trang web http://nicolas.tentillier.free.fr:  Đồ thị thứ nhất là lương khởi điểm thô (trước khi bị trừ các khoản) của giảng viên chính thức đại học ở Pháp (MCF). Trong khi nền kinh tế đi lên, thì lương ở đại học đi xuống:      Trong 3 thập kỷ đó (từ thập kỷ 1980 cho đến 2010) có cả cánh tả và cánh hữu ở Pháp nắm quyền điều khiển đất nước, nên sự thảm hại trên không phải là do “hữu” hay do “tả”, mà là một xu hướng coi thường công việc làm khoa học nói chung của toàn xã hội ! Đồ thị thứ hai là tỷ lệ giữa lương khởi điểm của giảng viên chính thức đại học (MCF) và lương tối thiểu trong xã hội. Lương tối thiểu đi lên trong mấy thập kỷ qua, làm cho đại học ngày càng gần tối thiểu, nghề giảng viên trở thành như một thứ nghề rẻ tiền:      Lương tột đỉnh giáo sư loại cao nhất ở Pháp cũng chỉ được 5100Euro/tháng hiện tại, không bằng một tay xếp quèn trong doanh nghiệp hay 1 tay chính trị gia quèn nói năng nhảm nhí.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học phức hợp – khoa học của thế kỷ 21      “Tôi tin chắc rằng những quốc gia thiện dụng khoa học phức hợp sẽ trở thành những siêu cường về kinh tế, văn hóa và chính trị trong thế kỷ 21” .  Phát biểu trên của Heinz R. Pagels tác giả cuốn sách – Mơ ước của lý trí: Máy tính và sự phát nguyên của khoa học phức hợp là một lời kêu gọi các nhà khoa học, công nghệ và các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu và triển khai khoa học phức hợp.  Tia Sáng xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết sau về một số điều cơ bản trong khoa học phức hợp.    A/ KHOA HỌC PHỨC HỢP  1. Định nghĩa  Khoa học phức hợp (tiếng Anh: complexity theory, complexity science) là môn khoa học nghiên cứu về các hệ thống phức hợp. Nói đơn giản, một hệ thống là phức hợp nếu nó chứa nhiều thành phần con tương tác với nhau và nếu hệ thống đó lại biểu hiện những tính chất, những lối hành xử (behavior) mà chúng ta không thể suy ra một cách hiển nhiên từ tương tác của những thành phần cấu thành nó.  Từ lâu hàng trăm năm trước người ta đã gặp khó khăn khi nghiên cứu các chuyển pha ví dụ hiện tượng sôi của nước và nói chung khi nghiên cứu một hệ chứa nhiều yếu tố, nhiều thành phần. Hiện nay chúng ta đã có nhiều công cụ hữu hiệu như nhiệt động học (thermodynamics), cơ học thống kê (statistical mechanics) để  nghiên cứu những hệ thống nằm trong trạng thái cân bằng (equilibrium). Song những hệ thống cân bằng chưa phải hoàn toàn là những hệ thống phức hợp. Tuy nhiên việc nghiên cứu những hệ thống cân bằng sẽ cung cấp nhiều khái niệm, nhiều ý tưởng cho việc nghiên cứu những hệ thống phức hợp, vốn là những hệ thống nằm ngoài trạng thái cân bằng.  Những hệ thống động học nằm ngoài trạng thái cân bằng và do đó có tính phi tuyến (phi tuyến có nghĩa là output không tỷ lệ thuận với input, ví dụ hàm x là tuyến tính còn hàm x2 là phi tuyến) mới là những hệ thống quan trọng trong vũ trụ. Những hệ thống phức hợp là: kinh tế, thị trường chứng khoán, khí hậu thời tiết, xã hội các sinh vật, động đất,  giao thông, các sinh vật và xã hội của chúng, môi trường, các dòng chảy cuộn xoáy, dịch bệnh, hệ miễn dịch, động học các dòng sông, trượt đất, các sắc tố trên bộ lông động vật, nhịp đập của tim…  Như vậy chắc sẽ không có một lý thuyết đơn giản cho các hệ thống phức hợp. Tuy nhiên chúng ta có thể phân loại chúng và xếp chúng thành nhóm để nghiên cứu (nhờ những công cụ tương ứng).  Việc nghiên cứu các hệ thống phức tạp đòi hỏi một sự tổng hợp liên ngành (interdisciplinary). Những công cụ của vật lý sẽ hữu ích cho việc nghiên cứu các hệ sinh học, xã hội và ngược lại.  Đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống phức hợp là gì?  Đó là hiện tượng đột sinh (emergence). Hiện tượng đột sinh là hiện tượng xuất hiện những quy luật, những hình thái, những trật tự mới từ hiệu ứng tập thể của các tương tác giữa các thành phần của hệ thống. Như vậy các hiện tượng đột sinh không phải là một tính chất nội tại của các thành phần con mà là những tính chất của hệ thống được xét một cách toàn cục.  –  Một minh họa là nhiệt độ và các định luật về chất khí – các khái niệm này vô nghĩa nếu ta chỉ xét một phân tử, chúng chỉ có ý nghĩa đối với một hệ nhiều phân tử.  –  Minh họa thứ hai là tổ chức quần thể loài kiến. Mỗi con kiến chỉ hành động theo những quy tắc rất địa phương (local) nhưng toàn thể xã hội loài kiến lại hành động theo những quy tắc đột sinh biểu hiện một trật tự cao. Hiện nay các nhà khoa học xã hội và tin học đang nghiên cứu hiện tượng tự tổ chức của xã hội loài kiến mong tìm ra những áp dụng khả dĩ cho xã hội chúng ta.  –  Một minh họa thứ ba là hiện tượng ùn tắc giao thông. Mỗi cá nhân tham gia giao thông có một kế hoạch riêng cho hành trình của mình, song nhiều cá nhân tham gia giao thông lại dẫn đến ùn tắc là một hiện tượng đột sinh không phụ thuộc vào kế hoạch của từng cá nhân.  Những ví dụ tinh tế hơn là “ý thức”, “sáng tạo”, hiện tượng đột sinh của hệ tế bào thần kinh.  Người ta thường nói: toàn cục lớn hơn tổng cơ học các thành phần để biểu diễn hiện tượng đột sinh. Và điều này cũng có nghĩa hệ thống là phi tuyến, những hệ quả bất ngờ đột xuất có thể xảy ra đối với một hệ thống phức hợp.  Vũ trụ chứa nhiều tầng lớp phức hợp liên quan đến nhau: thiên hà, thái dương hệ, các hành tinh, hệ sinh thái, sinh vật, tế bào, nguyên tử  rồi quark. Ta có những định luật riêng cho các tầng lớp phức hợp, các định luật đó là phổ quát (universal) đối với mỗi tầng phức hợp.  2. Một số định luật mô tả cách hành xử (behavior)  của hệ thống phức hợp  …   Fractal               Hình 2          Fractal là một hình hình học mà mỗi yếu tố con của nó lại đồng dạng với toàn hình đó (xem hình 2). Sau đây là một ví dụ. Bước 1: lấy một đoạn thẳng xong vứt bỏ 1/3 đoạn thẳng ở giữa để thay vào đó một chữ V lộn ngược với hai cạnh bằng đoạn thẳng vứt đi (xem ô 1 bên trái trên). Bước 2: sau khi thu được hình ở bước 1, đối với mỗi đoạn thẳng ta lại thực hiện bước 2 giống như bước 1(xem ô 2 bên phải trên). Và liên tiếp như thế – cuối cùng ta thu được một fractal có hình đồng dạng với từng yếu tố con của nó (xem ô 4 bên phải dưới có được sau 4 bước). Đó là đường cong Koch. Không đi sâu vào định nghĩa toán học ta hãy chỉ ra số chiều D (dimension) của fractal dạng trên đây. Hình này dần chiếm nhiều chỗ trong mặt phẳng (số chiều là 2) song không chiếm hết được, fractal cũng chiếm nhiều chỗ hơn một đường thẳng (số chiều là 1) cho nên số chiều  của nó là                                                   1< D < 2  Vậy fractal có số chiều không nguyên! Đây là một đặc trưng quan trọng của fractal.              Hình 3           Dường như thiên nhiên rất tiết kiệm cho nên sáng tạo nhiều đối tượng theo cùng một quy tắc. Hình thái chia nhánh các cây, đường đi của không khí trong phế quản, hình dạng các bờ biển, các đám mây, các hoa, các núi (xem hình 3) đều có thể mô tả nhờ hình học fractal. Những hình dáng đó có tính chất bất biến đối với với phép thay đổi kích thước (scale-invariance). Hình học fractal do Benoợt Mandelbrots  (hình 4) xây dựng nên.  …   Định luật lũy thừa (power law)            Hình 4- Benot Mandelbrots- nhà toán học sáng tạo hình học fractal          Nếu thống kê số đám cháy rừng N  trong một quốc gia thì ta thu được công thức sau đây                                         N  T S-a  Trong đó S là diện tích bị cháy, còn a là một số nằm giữa 1,3 và 1,5. Định luật lũy thừa trên có thể áp dụng cho nhiều hiện tượng như động đất, hoạt động của các vụ bùng nổ trên mặt trời… với a khác nhau cho nên định luật lũy thừa có tính phổ quát. Định luật này cũng có tính chất tự đồng dạng (self similarity). Quả thật như vậy nếu ta làm phép biến đổi S kS’ thì ta lại có ( k-a ).S’-a với ( k-a )= k’ là một hằng số.  Như vậy ta thấy sau fractal, lối hành xử theo định luật lũy thừa cũng là một lối hành xử phổ quát của một số  hệ thống phức hợp.  …  Định luật 1/ f  Trong nhiều hiện tượng người ta quan sát được định luật mô tả phổ các tần số                                                     f – a  trong đó f là tần số, a là một hằng số. Ví dụ phổ các tần số tiếng ồn trong các mạch điện, thăng giáng điện thế trong các tế bào thần kinh, tần số đập của tim người… Như thế định luật 1/f cũng là một định luật phổ quát cho nhiều hệ thống phức tạp. Lúc a=1 (phổ biến) ta có định luật 1/f.  Chú ý tương tự như định luật lũy thừa định luật1/f cũng có tính tự đồng dạng.  Các định luật cơ học thống kê, nhiệt động học  Khi nghiên cứu một hệ nhiều hạt người ta không thể sử dụng tương tác vi mô giữa chúng để mô tả toàn hệ mà phải cầu cứu đến các định luật của cơ học thống kê, nhiệt động học. Đây là một minh họa về hiện tượng đột sinh (emergence) khi lối hành xử của một hệ không thể suy từ hành xử của từng hạt, của từng thành phần con.  Như thế có thể nói cơ học thống kê, nhiệt động học là những khoa học cổ điển nhất của lý thuyết về phức hợp. Chúng ta đã thay thế cách tiếp cận quy giản luận, vốn là cách tiếp cận dựa trên những định luật vi mô tất định bằng cách tiếp cận thống kê và xác suất đối với hiện tượng đột sinh.  Trên đây chúng ta chỉ nêu lên một số định luật đơn giản để mô tả các hệ phức hợp: hình học fractal, định luật 1/f, định luật lũy thừa (power laws), các định luật trong cơ học thống kê, xác suất, nhiệt động học. Các định luật đột sinh này tác động ở mức vĩ mô là đơn giản (có tính thống kê, xác suất) so với các định luật vi mô.  Mục tiêu của lý thuyết về phức hợp là tìm ra những định luật cao cấp hơn để mô tả nhiều hiện tượng khác, thậm chí tìm một lý thuyết thống nhất về phức hợp.  B .  CÂN BẰNG VÀ KHÔNG CÂN BẰNG(equilibrium & non-equilibrium)  Một khái niệm quan trọng trong lý thuyết về phức hợp là khái niệm tới hạn tự tổ chức (self-organised criticality). Theo khái niệm này các hệ phức hợp tự phát tiến triển về trạng thái tới hạn giữa bất trật tự và trật tự.  Việc tiến đến điểm tới hạn của quá trình tự tổ chức (self-organised criticality) là nguyên lý mà các hệ không cân bằng sử dụng để tự tổ chức mình vào một trạng thái nằm ở ranh giới bất trật tự (disorder) và trật tự (order). Như vậy các hệ thống không cân bằng sẽ tự xếp đặt mình vào một trạng thái tới hạn. Các tổ chức sống là những minh họa về những hệ thống này.  Các tổ chức sống là những hệ phức tạp nhất và một điều đáng lưu ý là các hệ này phát triển đến một trật tự cao cấp trái ngược với chiều mũi tên thời gian điều khiển bởi định luật thứ hai của nhiệt động học. Thật ra sự tăng độ mất trật tự và entropy do định luật thứ hai của nhiệt động học chỉ áp dụng đối với các hệ cân bằng kín. Các hệ sống không cân bằng và cũng không kín cần một dòng năng lượng để làm tăng trật tự (như vậy làm giảm entropy) cho bản thân song lại phát tán nhiệt và các chất thải để làm tăng bất trật tự (như thế làm tăng entropy) trong vũ trụ. Như thế i các hệ sống là những cấu trúc phát tán (dissipative structures) có khuynh hướng tiến đến tự tổ chức (self-organisation). Các hệ phát tán không phải là những hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động nhưng luôn có khuynh hướng tiến triển về cân bằng nhờ dòng entropy và năng lượng.   Sự thoát khỏi trạng thái cân bằng là cần thiết để cho một cơ thể sống có thể có được một trật tự và hình thái phức hợp của nó.    C .  PHỨC HỢP VÀ HỖN ĐỘN(Complexity & chaos)  Phức hợp và hỗn độn là hai khái niệm gắn liền với nhau. Các hệ phức hợp nằm đung đưa ở ranh giới giữa hỗn độn và trật tự (balanced on the edge of chaos –not too orderly, not tooisordered). Cho nên việc nghiên cứu phức hợp gắn liền với lý thuyết hỗn độn.  Lý thuyết hỗn độn mô tả lối hành xử của một số hệ động học phi tuyến rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu. Vì sự nhạy cảm này mà lối hành xử của hệ dường như hỗn độn, mặc dầu động học của nó được mô tả một cách tất định bởi những hệ phương trình vi phân.  Nhà khí tượng học Edward Lorenz đã sử dụng một mô hình để tính toán về khí tượng và phát  hiện khi điều kiện ban đầu thay đổi một ít thì kết quả tính toán lại phân kỳ so với nhau một cách đáng kể. Trong thực tế chúng ta không bao giờ biết được chính xác các điều kiện ban đầu cho nên bao giờ cũng rơi vào tình trạng không nắm kết quả cuối cùng chính xác. Đây là hiệu ứng gọi là hiệu ứng con bướm (butterfly effect): một con bướm đập cánh ở Aruba có thể gây nên bão lớn ở Bali! Hiện tượng trong đó một hệ hoàn toàn tất định có thể dẫn đến những hệ quả không tiên đoán được gọi là hỗn độn.  Các trạng thái của hệ phức hợp thường có thể mô tả bởi một hệ phương trình vi phân phi tuyến nối liền các đại lượng X, Y, Z,… (như nhiệt độ, áp suất,… và một số tham số a,b,c,… (như số Prandtl, số Rayleigh,… là những thông số kỹ thuật). Hệ phương trình này xác định cách hành xử của hệ phức hợp. Một điều kiện cần (chưa phải là đủ) cho hỗn độn là tính phi tuyến của hệ thống.  Hỗn độn là một tính chất của các hệ động học phi tuyến, đó là tính siêu nhạy cảm đối với các điều kiện ban đầu. Cho nên các hỗn độn quan sát được thật ra là hệ quả của một trật tự nằm trong không gian pha (X,Y,Z,…) tức không gian của các trạng thái (trong cơ học không gian pha là không gian tọa độ-xung lượng). Mỗi điểm trong không gian pha ứng với một trạng thái của hệ, các điểm đó làm thành quỹ đạo trạng thái. Nhiều hiện tượng tưởng chừng như ngẫu nhiên song đó là những hỗn độn của một hệ tất định.  Phần của không gian pha ứng với một hành xử nhất định của hệ phức hợp làm thành tập hút (attracting set) hay nói cách khác làm thành quỹ đạo hút (attractor) .  Quỹ đao hút có chu kỳ (periodic attractor)  Quỹ đạo hút có chu kỳ là một vòng lặp lại của các trạng thái. Ví dụ quỹ đạo của một hành tinh quanh một sao là một quỹ đạo hút có chu kỳ=1. Trên hình 5 là một quỹ đạo hút với chu kỳ = 4.            Hình 5          Quỹ đạo hút lạ (strange attractor)  Tính nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu được biểu hiện ở sự phân kỳ các quỹ đạo trong không gian pha. Đối với các hệ phát tán khái niệm hỗn độn gắn liền với khái niệm quỹ đạo hút lạ (strange attractor): vì có hỗn độn cho nên các điểm mô tả trạng thái không nằm trên một quỹ đạo hút bình thường ví như quỹ đạo của một hành tinh quanh một sao, mà nằm trên một quỹ đạo hút lạ.  Chuyển động hỗn độn dẫn đến những quỹ đạo hút lạ (strange attractors).               Hình 6: Edward Lorenz đưa ra hệ phương trình trong khí tượng học dẫn đến quỹ đạo hút lạ          Xét hệ mô tả bởi hệ các phương trình vi phân do nhà khí tượng học Edward Lorenz (hình 6) đề ra. Hệ này chứa ba đại lượng X,Y,Z và ba tham số a,b,c.  Khi a=28,b=10,c=8/3 thì chúng ta có một quỹ đạo hút lạ. Quỹ đạo hút lạ là một quỹ đạo hút không có chu kỳ. Trong không gian pha, quỹ đạo hút lạ có dạng ở hình 8 và là biểu hiện của hỗn độn.  Các tính toán thực hiện khi nghiên cứu các quỹ đạo hút lạ chủ yếu là những phép lặp mà người ta không thể thực hiện nổi bằng tay mà chỉ thực hiện được trên máy tính. Nhà hóa học Otto Rôssler (hình 7) đã thể hiện quỹ đạo hút lạ trên máy tính.                         Hình 7: Otto Rôssler tác giả hệ phương trình mô tả các phản ứng hóa học dấn đến quỹ đạo hút lạ.          Không đi sâu vào định nghĩa toán học, chúng ta hãy xác định số chiều D của quỹ đạo hút lạ trên hình 8. Ta thấy các vòng này dày đặc chiếm gần hết không gian 3 chiều nhưng không chiếm hết! Mặt khác chúng cũng chiếm nhiều chỗ hơn không gian 2 chiều vì thế số chiều (dimension) của tâm hút này là:                                           2 < D < 3  Đó là một đặc trưng của fractal: có số chiều D không nguyên.  Hai loại tâm hút có chu kỳ (periodic) và lạ (strange) được quan sát trong các hệ phát tán.   D/  PHỨC HỢP THEO QUAN ĐIỂM CỦA Chaitin & Wolfram               Hình 8- Tâm hút lạ          1. Thái độ hành xử của một hệ thống phức tạp có nguyên nhân từ hiện tượng đột sinh (emergence) và hiện tượng tự tổ chức (self-organisation).  Một mục tiêu của Stephen Wolfram (hình 9) trong cuốn sách “Một loại hình khoa học mới (A new kind of Science – NKS)” là giải thích thái độ hành xử của hệ thống phức hợp  xuất phát từ sự phát triển của các tế bào autômát. Wolfram tin tưởng rằng có một TOE (Theory of Everything- Lý thuyết của tất cả) và cho rằng phức hợp là hữu hạn.            Hình 9. Stephen Wolfram, tác giả NKS-Một loại hình khoa học mới            2. Sau khi  Kurt Gôdel chứng minh rằng mọi toán học đều có những hạn chế (Định lý Không đầy đủ – Theorem of Incompleteness), rồi Alan Turing chứng minh rằng không tồn tại một chương trình  kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hạn để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước sẽ dừng lại (Bài toán dừng -Halting Problem), Gregory Chaitin (hình 10)  đã phát triển một lý thuyết thông tin hiện đại, tìm ra số Omega () và đi đến khẳng định không thể tồn tại TOE  cho toán học và cho vật lý, điều này có nghĩa là sự hiểu biết về vũ trụ chứa đầy những lỗ trống bất khả tri. Vậy phức hợp là vô cùng.    G. KẾT LUẬN             Hình 10.  Gregory Chaitin, nhà toán học nổi tiếng tác giả của số omega W          Các hệ phức hợp làm thành một chiếc cầu giữa cá nhân và tập thể: từ gen đến cơ quan sinh học, đến hệ sinh thái, từ nguyên tử đến vật liệu cần sản xuất, từ máy tính đến Internet, từ công dân đến xã hội. Khoa học phức hợp nối liền khoa học thuần túy với khoa học ứng dụng, xác lập những cơ sở mới để thiết kế, điều khiển, quản lý các hệ thống ở một trình độ cao hơn bất kỳ cách tiếp cận hiện nay.  Khoa học các hệ phức hợp còn là khoa học của máy tính cho nên ICT (Information & Communication Technologies- Công nghệ Thông tin & Truyền thông) là một bộ phận nghiên cứu quan trọng của khoa học phức hợp.  Các nước trong cộng đồng nghiên cứu phức hợp luôn khuyến nghị các nước khác (nhất là các nước thế giới thứ ba) cùng tham gia nghiên cứu phức hợp vì những ứng dụng của phức hợp rất to lớn và đã được kiểm nghiệm trong mọi lĩnh vực. Một trong những vấn đề thiết yếu đang gây nhiều chú ý ở Việt Nam có thể là giáo dục. Đây là một lĩnh vực cần tiếp cận dưới quan điểm khoa học phức hợp.  CC biên dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học thời kỳ chuyển đổi số      Tại hội nghị Cơ học toàn quốc vào tháng 12/2017, giáo sư Hồ Tú Bảo (Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản) cho rằng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN4) sẽ dẫn đến sản xuất thông minh nhờ xử lý được các dữ liệu số hóa. Vì thế, để tận dụng được những thế mạnh của CMCN4, mọi lĩnh vực KH&CN đều cần phải gắn với dữ liệu nhiều hơn và do đó, và cần phải chuyển mình theo phương thức mới.       Tại sao lại cần phải số hóa? Điều đó có bắt buộc không?  Trước hết, có thể thấy tất cả các vật thể tồn tại ở trạng thái vật lý nếu muốn đưa vào trong máy tính để tính toán hoặc lưu trữ dữ liệu thì đều phải chuyển sang thể hiện dưới dạng con số 0 và 1. Đó là dạng đầu tiên và đơn giản của số hóa từ khi có máy tính và chúng ta gọi đó là phiên bản số của các thực thể có thật. Vậy làm ra các phiên bản số của các thực thể ở trạng thái vật lý này để làm gì? Chúng ta hãy nhìn vào những ví dụ rất cụ thể đã được thực hiện trong ngành sản xuất ô tô tự lái. Cơ sở ban đầu của nó là những chiếc ô tô chạy xăng bình thường, sau đó người ta chuyển đổi nó sang phiên bản số với việc sao lưu các dữ liệu, thu thập thông tin về nó trong các trạng thái tĩnh, động… Nhờ vậy, họ mới có thể làm ra được những chiếc ô tô tự lái được.  Một số xu hướng khác của số hóa cũng được phát triển trên thế giới trong thời gian qua, ví dụ như xây dựng bệnh án điện tử từ những bệnh án giấy để giúp các thầy thuốc có được phác đồ điều trị chuẩn xác trong thời gian ngắn nhất, hay việc số hóa dòng sông từ những dữ liệu về dòng chảy, lưu lượng nước trong từng mùa, đặc điểm địa hình, hiện tượng bồi lắng… để có phương án kiểm soát dòng sông hợp lý.  Qua một vài ví dụ, chúng ta có thể thấy tất cả những vật trong thế giới thật đều có thể có những phiên bản số đang nằm ở đâu đấy, như trong máy tính, trên mạng internet. Việc kết nối phiên bản thật và phiên bản số sẽ dẫn đến một điều rất cơ bản là mọi hành động trên thế giới thực của chúng ta đều có thể được tính toán và điều khiển hoạt động trên không gian số, do đó, dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế số. Đây cũng chính là điều cốt lõi của CMCN4.  Nhìn lại quá khứ, chúng ta thấy một điều thú vị: sự xuất hiện của internet dẫn đến sản xuất hàng loạt và sau đó dẫn đến sản xuất tự động còn bây giờ, khi bắt đầu có sản xuất trên không gian số, nó dẫn đến quá trình sản xuất thông minh, tức là có thể làm ra những sản phẩm riêng biệt, đáp ứng yêu cầu riêng biệt của từng khách hàng.  Sản xuất số và các ngành khoa học máy tính  Để xây dựng được quy trình sản xuất thông minh, chúng ta phải nhắc đến sự đóng góp của trí tuệ nhân tạo (AI), lĩnh vực phát triển được 60 năm qua kể từ khi có máy tính. Về cơ bản, trí tuệ nhân tạo làm cho máy móc nói chung có trí tuệ như của con người như biết lập luận, hiểu được ngôn ngữ, biết học tập… Vài năm trở lại đây, chúng ta biết đến những đột phá của trí tuệ nhân tạo thông qua những sản phẩm tiêu biểu như các hệ AlphaGo, AlphaZero, việc máy tính có thể nhận dạng tiếng nói để chuyển thành văn bản… hoặc các thiết bị tham gia chẩn đoán bệnh ung thư, sản xuất những chiếc ô tô tự lái…  Những tiến bộ này của trí tuệ nhân tạo đều dựa trên lĩnh vực học máy (machine learning), vốn có lịch sử phát triển trong rất nhiều năm, và là “giao điểm của khoa học máy tính, thống kê và nhiều lĩnh vực khác liên quan đến việc tự động hoá các hệ thống tự hoàn thiện theo thời gian, suy diễn và ra quyết định trong điều kiện bất định.” (M.I. Jordan and T. Mitchell, “Machine Learning: Trends, perspectives, and prospects”, Science, 17 July 2015). Có thể hình dung đến ngành học máy như một cỗ máy mà đầu vào có rất nhiều dữ liệu khác nhau và sản phẩm đầu ra là có những thứ người ta mong muốn như những chẩn đoán, kết luận… trong y học. Đi từ cá thể đến tổng quát, học máy đã dẫn đến những thay đổi cốt lõi của ngành trí tuệ nhân tạo, qua đó đến công nghệ số hiện nay.  Một lĩnh vực khác cũng được coi là một phần cốt lõi của công nghệ số, đó là khoa học dữ liệu (data science). Tương tự như học máy, khoa học dữ liệu là sự giao thoa của rất nhiều lĩnh vực liên quan khi kết hợp được toán học, thống kê toán học và khoa học máy tính, trong đó đặc biệt là ngành học máy… Trên thế giới, hiện tại người ta coi khoa học dữ liệu là lĩnh vực có sức ảnh hưởng rất lớn trong tương lai. Giáo sư W.E. Deming của trường Đại học Stanford (Mỹ) đã nói một cách hình ảnh về vai trò của dữ liệu: “Ta tin Thượng đế. Ngoài ra, là dữ liệu”.  Các đột phá trong ngành công nghệ thông tin dẫn đến CMCN4 như IoT (internet of thing), trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây (computing cloud), dữ liệu lớn (big data)… cùng góp phần tạo ra dữ liệu và giúp máy thực hiện các hành động theo quyết định đã được lập trình. Trong quá trình này, khoa học dữ liệu đóng vai trò “bộ não” và thực hiện việc phân tích dữ liệu để hỗ trợ đưa ra quyết định. Chúng ta có thể hình dung về những đột phá ấy một cách sống động thông qua một hệ thống phức tạp là cơ thể con người: các kỹ thuật công nghệ thông tin kết nối với nhau bằng thần kinh, mạch máu như IoT – sensor, sau đó trí tuệ nhân tạo thực thi quyết định điều khiển dựa trên việc phân tích dữ liệu của khoa học dữ liệu.  Vài năm trước có cuộc tranh luận rất lớn trong ngành công nghệ thông tin ở Mỹ. Ông Moshe Y. Vardi, giáo sư ngành Khoa học máy tính (Đại học Rice, Mỹ) trong bài viết trên tạp chí Communications of the ACM của Hội Nghiên cứu, giáo dục ngành Khoa học máy tính và Tin học quốc tế (ACM) cho rằng, khoa học chỉ có hai chân thôi, đó là lý thuyết và thực nghiệm. Tuy nhiên sau đó ông và một đồng nghiệp lại đưa ra nhận định “Khoa học mới có thêm những cái chân mới”, hàm ý việc khoa học ngày nay có thêm sự tham gia của khoa học tính toán (Computational Science) và khoa học dữ liệu (Data Intensive Science).  Những gợi ý cho Việt Nam  Trên thế giới, người ta đã bắt đầu áp dụng rất nhiều công nghệ số vào quá trình quản trị cũng như quá trình sản xuất để làm ra những sản phẩm tiên tiến như thành phố thông minh, robot, xe tự lái, xe bay…  Ví dụ như với lĩnh vực giao thông, chúng ta đều biết, số lượng xe hơi, xe tải ở mỗi thành phố đều rất lớn và mỗi một chiếc xe đều có rất nhiều thông tin về hành trình trong ngày. Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý được lượng dữ liệu lớn như vậy và trích rút được những thông tin ấy để phục vụ công tác quản lý, giám sát như giám sát hành trình, giải quyết các bài toán vận chuyển sao cho tránh ùn tắc giao thông, tránh di chuyển qua những tuyến đường có lưu lượng phương tiện đi lại lớn trong giờ cao điểm, giảm tai nạn giao thông, tiết kiệm xăng dầu, tiết kiệm thời gian di chuyển mà vẫn đạt hiệu quả về việc chở hàng hóa…, nhờ đó gắn kết chặt chẽ hơn giao thông với phát triển kinh tế mà việc vận chuyển sản phẩm là một mắt xích quan trọng của logistics. Đây là những bài toán hoàn toàn có thể giải quyết được nếu dựa trên thế mạnh của dữ liệu và công nghệ số.  Với ngành thủy lợi, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, ví dụ như ở Đức, đã có thể dự báo lũ lụt vùng sông Rhine giữa Andernach và Duesseldort. Để có được những kịch bản dự báo lũ lụt, họ đã sử dụng những mô hình về lượng mưa (Rainfall-runoff Model) mô hình thủy lực (Hydraulic Model), mô hình vận chuyển nước (Water Transport Model) và áp dụng số liệu đo đạc, tính toán về dòng sông Rhine theo nhiều thời kỳ mùa lũ, mùa khô… Công nghệ số có thể giúp chúng ta kết hợp được các nguồn dữ liệu, gắn với dữ liệu thực tế đó với các mô hình mô phỏng để khái quát nó lên và làm cho mô hình đó gần với thực tế hơn, từ đó chúng ta có thể dự báo được lũ lụt trên sông mùa lũ, giúp các nhà máy thủy điện, hồ đập… có thể chủ động ứng phó và xác định được thời điểm thích hợp để xả lũ, tránh xảy ra ngập úng ở hạ nguồn. Để có được những dự báo gần chính xác nhất, chúng ta cầnkết hợp mô hình thuỷ lực với dữ liệu quan sát (ảnh vệ tinh và các nguồn viễn thám, đo đạc trên cơ sở đồng hoá dữ liệu (data assimilation). Mặc dù đây là công việc khó nhưng chúng ta vẫn có thể làm được nếu quyết tâm làm và làm thật bài bản.  Có thể khẳng định, việc số hóa đang diễn ra sôi động trên thế giới và các đột phá của công nghệ số dẫn đến sản xuất thông minh là bản chất của CMCN 4. Do vậy nếu chúng ta thực sự muốn “nhập cuộc” vào CMCN4 thì phải có dữ liệu. Nhưng trên thực tế, thứ chúng ta đang thiếu là dữ liệu và số ít dữ liệu mà chúng ta có không chỉ được xây dựng một cách thiếu hệ thống mà còn không liên kết được với nhau. Hằng ngày chúng ta đang có thêm nhiều dữ liệu, nếu dữ liệu không được tổ chức tốt và hệ thống hóa những dữ liệu mà chúng ta đang có trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, sản xuất, tiêu dùng… thì khi bắt tay vào chuẩn bị cho CMCN 4, chúng ta sẽ không có cơ sở để thực hiện việc chuyển đổi phương thức sản xuất. Chúng ta biết rằng, việc làm ra sản phẩm tiêu dùng trong lịch sử phát triển của con người trong thời cơ khí thì sản xuất đơn lẻ, khi tới thời tự động hóa là sản xuất hàng loạt nhưng đến thời CMCN 4 – tức là sản xuất thông minh, người ta cũng tiến tới sản xuất sản phẩm cho từng cá thể như trong y tế chính xác (precision medicine). Nếu không có dữ liệu và phân tích dữ liệu, chúng ta sẽ nằm ngoài cuộc chơi này.  Năm 2017, chúng ta đã nói rất nhiều về CMCN 4, vì thế trong thời gian tới, chúng ta cần hành động nhiều hơn. Mọi KH&CN trong thời kỳ KH&CN đều cần phải gắn với dữ liệu nhiều hơn và cần phải chuyển mình để phát triển.  Bốn đột phá của ngành công nghệ thông tin dẫn đến CMCN4 tính toán đám mây (computing cloud) lưu trữ dữ liệu và tính toán dữ liệu dưới dạng dữ liệu, bản chất của tính toán đám mây là không lưu trữ dữ liệu trong máy tính mà trong các chương trình dữ liệu ở đâu đấy (có thể là dịch vụ lưu trữ); trí tuệ nhân tạo: đem lại các chức năng thông minh hơn, chúng ta có thể phát triển được do những đột phá của ngành học máy; dữ liệu lớn (big data): rất lớn và phức tạp và hiện nay chúng ta có rất nhiều dữ liệu hơn so với trước đây; IoT: thu thập và chuyển đổi dữ liệu.  Thanh Nhàn ghi        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Trung Quốc chiếm ưu thế      Theo danh sách xếp hạng do Nature (Nature index) mới công bố, các trường đại học và viện nghiên cứu Trung Quốc chiếm một nửa danh sách 100 viện nghiên cứu đang có bước tiến vượt bậc trong công bố trên các tạp chí có uy tín. Điều này cho thấy khoa học Trung Quốc ngày càng gia tăng tốc độ xuất bản những công bố chất lượng cao.      Pan Ji Wei là người đưa Trung Quốc dẫn đầu thế giới về truyền thông lượng tử. Nguồn: China daily.  Nature Index đã phân tích công bố được xuất bản trên 82 tạp chí thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên có uy tín do hai nhóm nhà khoa học độc lập đề xuất, trong đó bao gồm các tạp chí hàng đầu như Nature, Science và Cell. Bản danh sách “Những ngôi sao đang mọc” của Nature index đã chọn lọc được 100 trường đại học và nghiên cứu có nhiều đóng góp trên các tạp chí này và gia tăng số lượng công bố từ năm 2015 đến 2017 trên cơ sở tính toán phần đóng góp (fractional count FC) của các nhà khoa học trong mỗi bài báo. Một cơ sở nghiên cứu có thể được tính 1 điểm nếu 1 trong số mỗi nhà nghiên cứu của họ là tác giả duy nhất của một bài báo.  Dẫn đầu “Những ngôi sao đang mọc” là trường đại học thuộc Viện Hàn lâm KH Trung Quốc với hơn 150% về điểm số FC so với thời kỳ trước, cao gấp hai lần so với vị trí thứ hai – trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh. Trường Đại học Giao thông Thượng Hải đứng ở vị trí thứ ba, với sự gia tăng về điểm số FC là 61, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc trong quá trình xuất bản công bố, dù rằng chỉ xếp hạng 225/500 trường viện xuất sắc nhất thế giới.  Hầu hết các vị trí còn lại của top 10 danh sách “Những ngôi sao đang mọc” đều là các trường, viện Trung Quốc: trường Đại học KH&CN Phương Nam (SUSTech) hạng 4, trường Đại học Vũ Hán hạng 5, trường Đại học KH&CN Trung Quốc hạng 6, trường Đại học Nam Kinh hạng 8, trường Đại học Công nghệ Nam Trung Quốc hạng 9 và trường Đại học Đông Nam hạng 10.  Trường đại học duy nhất không phải từ Trung Quốc lọt vào top 10 danh sách là Viện Công nghệ Ấn Độ hạng 7, còn trường đại học đầu tiên ngoài châu Á có vị trí cao nhất trong “Những ngôi sao đang mọc” là trường Đại học California, Irvine hạng 11.  Tuy Trung Quốc lấn át trong top đầu “Những ngôi sao đang mọc” nhưng nếu xét tổng thể thì Mỹ vẫn là quốc gia dẫn đầu về phần đóng góp của các nhà khoa học với 20.000 điểm, cao gấp hai lần so với Trung Quốc. Vị trí thứ ba thuộc về Anh – quốc gia có hai trường Đại học Bristol và Edinburgh trong danh sách. Một số quốc gia khác có nhiều hơn 2 trường thuộc danh sách này là Đức, Hà Lan (4 trường), Ấn Độ (3 trường).  Bên cạnh đó, trong bảng xếp hạng 500 viện nghiên cứu hàng đầu thế giới cũng của Nature Index dựa trên dữ liệu năm 2017 thì Viện Hàn lâm KH Trung Quốc – tổ chức nghiên cứu khoa học lớn nhất thế giới với khoảng 60.000 người làm việc tại 114 viện nghiên cứu trực thuộc (Viện Hóa có năng suất công bố cao nhất, xếp hạng 15 thế giới ở lĩnh vực hóa học) – cũng là viện số một thế giới, xếp trên trường Đại học Havard (Mỹ), Viện Max Plank (Đức), Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS)…  Vào đầu năm nay, một phân tích dữ liệu khác của Elservier theo đơn đặt hàng của Times Higher Education (THE) cũng nêu, Trung Quốc có thể sẽ vượt qua Mỹ về chất lượng nghiên cứu vào giữa thập kỷ 2020. Các dữ liệu này là bằng chứng cho thấy sự vươn lên nhanh chóng của khoa học Trung Quốc không chỉ dựa vào số lượng xuất bản.  Nhìn tổng thể, dữ liệu cúa Nature đã đưa ra một cái nhìn gần hơn về các quốc gia đang ngày càng có nhiều đóng góp hơn vào nền học thuật thế giới như Trung Quốc, Brazil và Iran… Nó cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự vươn lên của Trung Quốc là chính sách đầu tư vào khoa học của chính phủ nước này, ví dụ đầu tư cho R&D từ ngân sách nhà nước chiếm 2,05% GDP (năm 2015).  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.timeshighereducation.com/news/china-dominates-list-biggest-movers-high-quality-research    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và công nghệ Nhật Bản : Chuyển đổi mô hình: NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN QUY MÔ LỚN      Xu hướng nhập khẩu công nghệ vẫn tiếp tục trong thập niên 50. Người Nhật đã thành công trong việc tích hợp và cải tiến công nghệ nhập khẩu. Và cùng việc tăng cường kiểm tra chất lượng, đến thập niên 60, Nhật Bản đã có những sản phẩm có chất lượng tuyệt vời. Cũng trong thập niên này, một xu hướng mới đã xuất hiện: các công ty tư nhân bắt đầu xây dựng phòng thí nghiệm, gọi là “Phòng thí nghiệm trung tâm” (Cetral Research Laboratories) để phát triển công nghệ riêng của mình. Nhưng cho dù người Nhật có phát triển công nghệ riêng, trong đó cũng có vài công nghệ đột phá, thì nền công nghiệp Nhật Bản vẫn chủ yếu phát triển trên việc cải tiến những công nghệ nhập khẩu sẵn có.    Trong bối cảnh đó, năm 1961, Luật về Hiệp hội Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (Law on Industrial Technology Research Association) được công bố. Mục đích của luật này là cải thiện công nghệ bằng cách thúc đẩy các công ty tư nhân liên kết cùng nghiên cứu. Với điều khoản trao tư cách pháp nhân cho các “nhóm nghiên cứu”, luật này đã đặt những viên gạch đầu tiên cho “Dự án Lớn” (Big Projects) sau này.  Năm 1963, ủy ban Nghiên cứu Cơ cấu công nghiệp (Industrial Struture Research Committee) đã khuyến nghị bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Ngoại thương (MITI) thực thiện các dự án nghiên cứu trên cơ sở hợp tác giữa giới công nghiệp – trường đại học – chính phủ, mục đích là phát triển những công nghệ mang tính sáng tạo. Kết quả nghiên cứu được chia sẻ cho tất cả những bên tham gia. Đáng lưu ý, đằng sau sự hợp tác này chính là hệ thống nghiên cứu ủy nhiệm (commissioned research system), điều đó có nghĩa là mỗi bên tham gia thực hiện một phần của dự án nghiên cứu, không có sự hợp tác tại chỗ.              Những chiếc ti-vi do Nhật Bản sản xuất hồi thập niên 60        Với sự nhận thức công nghệ sáng tạo là nhân tố then chốt để thúc đẩy cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế, năm 1965, Hội đồng Cơ cấu công nghiệp (Industrial Structure Council) công bố “Dự án Lớn”. ý tưởng chính của “Dự án Lớn” như sau:  – Đối tượng: phát triển những công nghệ và sản phẩm mới mà khối kinh tế tư nhân không thể thực hiện được do chi phí và rủi ro cao.  – Đặc điểm: đầu tư trong thời gian dài, kể cả về con người hay tiền bạc.  -Lĩnh vực: chọn những lĩnh vực nghiên cứu có tiềm năng áp dụng tác động tới nền kinh tế trên quy mô lớn, hoặc trong một vài lĩnh vực cấp thiết cho phát triển.  -Thành phần những công ty tư nhân tham gia: sự lựa chọn tùy theo khả năng nghiên cứu cũng như sức nặng trên thị trường tiềm tàng của công ty đó.  -Hệ thống: hoàn toàn dùng ngân sách chính phủ để huy động khả năng điều hành nghiên cứu của các công ty tư nhân.  – Tổ chức: dựa trên hệ thống nghiên cứu uỷ nhiệm bao gồm các trường đại học, phòng thí nghiệm quốc gia và công ty tư nhân.  – Quản lý: tạo cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá từng bước của dự án, theo đó có thể điều chỉnh hoặc dừng nghiên cứu nếu cần thiết.  Chính phủ Nhật Bản đã thi hành “Hệ thống nghiên cứu và triển khai công nhiệp quy mô lớn”, thường được gọi là “Dự án lớn” với mục đích hỗ trợ những dự án chi lâu dài, tốn kém và mạo hiểm nhưng có tiềm năng tạo công nghệ đột phá và áp dụng rộng rãi mà các công ty tư nhân không thể đảm đương được.  Một mặt lựa chọn nghiên cứu và đầu tư mạnh, một mặt tập hợp thế mạnh của các công ty tư nhân, trường đại học, phòng thí nghiệm trọng điểm, chính phủ có được nền tảng công nghệ cho những ngành công nghiệp triển vọng, và kết quả là tăng được sức cạnh tranh của Nhật Bản. Chính sách “giải ngân” để định hướng sáng tạo công nghệ theo thị truờng của Nhật Bản còn tiếp tục đến cuối thập niên 90.  “Dự án lớn” được thực hiện cụ thể theo cách sau: Hội đồng Kỹ thuật công nghiệp của MITI lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu theo tư vấn của giới công nghiệp, Văn phòng Khoa học và công nghệ công nghiệp (AIST) trực thuộc MITI có trách nhiệm thiết kế và lập kế hoạch dự án cho lộ trình nghiên cứu đã chọn, sau khi tham vấn ủy ban Khoa học và công nghệ Công nghiệp nằm của AIST. Thông thường, một dự án lớn bao trùm cả giai đoạn triển khai “công nghệ nền tảng” (base technology) và giai đoạn “lập hệ thống” (system set-up) để phát huy những công nghệ nền tảng đó. Có nghĩa là một dự án lớn sẽ hoàn thành khi cho ra mắt “tiền-thương phẩm” (pre-commercial product). Theo yêu cầu của giới công nghiệp, nhóm nghiên cứu thành lập với trách nhiệm điều phối các dự án nghiên cứu nhỏ cho các công ty tham gia theo sự ủy nhiệm của AIST, đồng thời thẩm định những thông tin mới nhất trong tiến trình nghiên cứu. Các phòng thí nghiệm quốc gia có nhiệm vụ phát triển công nghệ nền tảng và đánh giá nó, đồng thời tiến hành rút kinh nghiệm từ những nghiên cứu đã được dùng. Cuối cùng, sáng chế và bí quyết công nghệ thu được từ dự án lớn trở thành tài sản của quốc gia. Dẫu sao các công ty tham gia nghiên cứu cũng được quyền ưu tiên sử dụng chúng. Năm 1969, Hiệp hội Công nghệ công nghiệp Nhật Bản (JITA) được thành lập với trách nhiệm chuyển giao, phổ biến những kết quả nghiên cứu đó.               Chiếc xe máy Honda super cub 50 nổi tiếng tiếp kiệm xăng – một phần thành quả của “Hệ thống R&D công nghệ tiết kiệm năng lượng” do chính phủ Nhật tài trợ.          Nổi bật trong hệ thống nghiên cứu này là nhóm nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu là nơi tiếp xúc với giới công nghiệp, nơi trao đổi thông tin, ý tưởng và chia sẻ kết quả nghiên cứu – một mạng lưới liên kết cả con người và ý tưởng. Đặc điểm nổi bật của nhóm nghiên cứu là có cấu trúc gọn nhẹ, dễ dàng thành lập để giải quyết những vấn đề trong tiến trình nghiên cứu.  Với các công ty tham gia, nhờ bảo đảm tài chính của chính phủ, họ có thể theo đuổi được những dự án nghiên cứu không cần thương mại hoá ngay kết quả nghiên cứu, đồng thời được dễ dàng tiếp cận và được chia sẻ những thông tin mới nhất. Tất cả những yếu tố đó đã tăng cường khả năng của các công ty tham gia trên lĩnh vực công nghệ mới.  Thiếu năng động được xem là một yếu tố gây cản trở. Khi mục tiêu và kế hoạch đã xác lập, nếu tiến trình nghiên cứu trở nên phức tạp và nhiệm vụ khó hoàn thành thì những mục tiêu ban đầu vẫn được ưu tiên. Một trở ngại khác là khó thương mại hoá kết quả nghiên cứu, biến nó thành sản phẩm cuối cùng.  Trong những năm 60 – 70, việc lựa chọn nghiên cứu còn để đáp ứng một số yêu cầu xã hội, như tìm giải pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông, thiếu nước sạch. Song phần lớn nỗ lực của các dự án là thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa Nhật Bản với Mỹ. Thời kỳ đó, với đường hướng, mô hình và lộ trình đúng đắn, trình độ công nghệ trên một số lĩnh vực thích hợp của các công ty tham gia nghiên cứu đã đuổi kịp trình độ các công ty Mỹ.  Đến thập niên 89, tình hình trở nên phức tạp hơn khi Nhật Bản đã bước vào giai đoạn “đuổi kịp”. Không còn mô hình để học tập, Nhật Bản phải tự lựa chọn con đường phát triển công nghệ của mình với nhiều rủi ro hơn; những yêu cầu công nghệ ngày càng tinh vi và phức tạp.  Kết quả chủ yếu của “Dự án lớn” là gì? MITI đã thành công trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty Nhật Bản nhờ “Chính sách công nghệ”, bao gồm cả những hoạt động nghiên cứu và triển khai trong đó. Một trong những kết quả khác là chính sách công nghệ của MITI tập trung hơn vào công nghệ hơn là phát minh để dễ dàng thương mại hóa sản phẩm. AIST, từ chức năng lập và quản lý dự án lớn, nhờ tiếp xúc trực tiếp với các công ty đã trở thành cơ quan có chức năng hỗ trợ công nghệ cho các công ty.  VIỆT ANH dịch    Kỳ sau: Hướng tới trở thành “Quốc gia dựa trên sáng tạo khoa học và công nghệ”      Author                Quản trị        
0.14705882352941177
__label__tiasang Khoa học và Công nghệ ở Vương Quốc Anh      Với hơn 70 người đoạt giải Nobel, các nhà khoa học Anh chỉ đứng sau Mỹ về số lượng người đoạt giải thưởng cao quí này trên toàn thế giới. Đặc biệt, phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của trường Đại học Cambridge đã giành nhiều giải Nobel hơn bất kì phòng thí nghiệm nào trên thế giới. Tuy chỉ chiếm 1% dân số của thế giới nhưng nước Anh đã tiến hành tới 5% tổng số nghiên cứu khoa học của thế giới…    Kéo dài tuổi thọ con người là chiến thắng của khoa học nhưng cũng tạo ra các thách thức mới để duy trì sức khoẻ cho người già. Các nhà khoa học Anh luôn đi đầu trong các nghiên cứu nhằm đảm bảo một sức khoẻ tốt nhất cho người già.  Công nghiệp hoá đem lại của cải và công việc, nhưng cũng tạo ra ô nhiễm và gây ra hiện tượng trái đất nóng lên. Để đảo ngược xu hướng này, các kĩ sư của Anh đang chế tạo ra các loại vật liệu mới và các kĩ thuật dây chuyền sản xuất mới, ví dụ như cho ngành điện tử hoặc công nghiệp thực phẩm. Các nhà khoa học Anh cũng là những người đi đầu thế giới trong việc đo hiệu ứng khí nhà kính và ảnh hưởng có hại của nó lên tầng ôzôn.                     Vương quốc Anh là một trong những nước đi đầu trong việc kết hợp giới học thuật và các ngành công nghiệp để tạo ra mối quan hệ hợp tác đôi bên cùng có lợi, trong nhiều trường hợp có cả sự tham gia từ nhiều nơi khác trên thế giới.  Công nghệ sinh học là một ngành phát triển nhanh nhất. Nước Anh đang thử nghiệm nhiều kĩ thuật mới để tạo ra các giống biến đối gien có khả năng chống lại bệnh tật, sâu bọ và thuốc diệt cỏ. Những công nghệ này cũng được dùng để chế tạo những vắc xin mới chống lại bệnh dịch quy mô lớn, và sản xuất ra các sinh phẩm cải tiến mới.  Do các kĩ thuật, công nghệ sinh học mới phát triển rất nhanh nên tại Anh có các hệ thống kiểm soát và tham vấn các kĩ thuật mới này tới cộng đồng nhằm cung cấp kiến thức và hạn chế các lo lắng không cần thiết. Đây có thể coi là mô hình tốt để các nước khác học tập.  Kiến thức về gien ở người và động vật và công nghệ sinh học phân tử, bắt đầu bằng việc phát hiện ra vai trò ADN của James Watson và Francis Crick tại trường Cambridge từ những năm 1950, đã dẫn tới một cuộc cách mạng về sinh học và dược phẩm. Anh hiện vẫn là nước đi đầu trong nghiên cứu về những lĩnh vực này. Cho tới nay, các phòng thí nghiệm của Anh đã hoàn tất việc giải mã bộ gien người.  Việc giải mã bộ gien người sẽ tạo ra khối lượng công việc gấp mười lần hiện nay cho ngành dược phẩm. Cùng với các tiến bộ khoa học khác, giải mã gien đóng góp rất nhiều tới việc phát triển các liệu pháp gien. Trong đó gien được dùng như thuốc chữa bệnh và có thể chữa không chỉ những bệnh thông thường do khiếm khuyết gien mà cả các bệnh như u xơ nang, loạn dưỡng cơ, hay các bệnh có yếu tố gien phức tạp hơn như ung thư hay bệnh tim.  Ngành công nghiệp dược phẩm Anh đạt được vị trí dẫn đầu trên thế giới nhờ có các công ty như Glaxo-Wellcome và AstraZeneca sẵn sàng tài trợ cho các nghiên cứu và đón nhận sáng tạo mới. Ngành này cũng đang đưa ra các liệu pháp điều trị mới cho ung thư, đột quỵ và các bệnh khác chủ yếu dựa trên các thành tựu tiên tiến mới được các phòng thí nghiệm gien phân tử ở Anh nghiên cứu ra. Những nghiên cứu này cũng là hy vọng để phát triển các loại vắc xin và thuốc chống, chữa trị hiệu quả các bệnh nhiệt đới do kí sinh trùng gây ra, bao gồm cả sốt rét và bệnh mất ngủ.  Nghiên cứu gien phân tử là điều tối thiểu để tìm hiểu về các bệnh truyền nhiễm cũng như các căn bệnh khác. Nhưng các kĩ thuật công nghệ mới rất mạnh và một số sản phẩm công nghệ này, thí dụ như cừu Dolly đã khiến công chúng đi từ ngạc nhiên tới chú ý và quan ngại. Mặc dù các thành tựu về mặt sinh học này hoàn toàn là niềm hy vọng đối với các phụ nữ vô sinh có thể có con hoặc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn đối với các bệnh như khí thũng, khó đông máu…  Tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu gien phân tử nhanh đến mức người dân thường khó có thể theo kịp được tốc độ cập nhật thông tin. Khoảng cách thiếu hụt về mặt thông tin này khiến khoa học khó có thể được kiểm soát một cách dân chủ và rất dễ dẫn tới việc trì hoãn các công trình nghiên cứu quan trọng. Chính vì điều này, Hội đồng Nghiên cứu của Chính phủ ngoài việc hỗ trợ các nghiên cứu khoa học còn có nhiệm vụ truyền thông để công chúng hiểu rõ hơn về các công việc của khoa học. Các nhà khoa học được huấn luyện để diễn giải công việc của họ một cách đơn giản, rõ ràng hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo giấy, truyền hình, đài phát thanh và cả Internet. Các cơ quan giám sát nghiên cứu gien của Anh, thí dụ như Hội đồng Nuffield về Đạo đức sinh học đều phải tuân thủ các qui định này.  Trong khi đó, trong lĩnh vực khoa học vật lý, các nhà vật lý phân tử, nhà thiên văn học và vũ trụ học tiếp tục các nghiên cứu để tìm cách trả lời những câu hỏi lớn như: vũ trụ hình thành từ lúc nào, lớn tới mức nào, làm từ các thành phần như thế nào? Ngày nay, các máy gia tốc phân tử, các kính thiên văn vũ trụ, vệ tinh và tàu thăm dò các hành tinh xa xôi cho các nghiên cứu lớn như vậy đều phải được xây dựng bằng nhiều nhóm nghiên cứu của các nước khác nhau. Đơn giản bởi các nghiên cứu này đòi hỏi các nguồn tài chính và kinh nghiệm rất lớn mà ngay cả các cường quốc kinh tế trên thế giới cũng khó có thể chịu đựng được. Các nhà khoa học Anh và thiết bị nghiên cứu của họ đóng góp đáng kể trong các nhóm nghiên cứu quốc tế như vậy.  Tựu chung lại, Anh quốc hiện đang là một trong các nước có đóng góp rất nhiều cho khoa học thế giới nói chung. Những nghiên cứu của các nhà khoa học Anh quốc cũng góp phần cải thiện cuộc sống, sức khoẻ và tinh thần cho người dân không chỉ ở đảo quốc này mà trên cả toàn cầu./.  B.C (theo Science, Engineering & Technology in The UK và British Council)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và Mô Thức Luận của Thomas Kuhn      Cuốn “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” của Thomas Kuhn năm 1962, một trong những tác phẩm khoa học được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20, đã đặt dấu chấm hết cho quan điểm thực chứng logic-nền tảng của khoa học hiện đại (chủ yếu của phương Tây). Theo Kuhn, khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên-kỹ thuật, không gắn với bản thể mà thuần túy là sản phẩm của tư duy con người. Hiện đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất trong giới khoa học. Nhờ Kuhn, “mô thức” (Paradigm) trở thành một thuật ngữ chuyên ngành, trở nên thời thượng và thường bị lạm dụng.      Khoa học “thông thường” (normal science)  Theo Kuhn, đặc trưng của khoa học là “giải đố” (puzzle-solving). Để làm được điều này, các nhà khoa học cần phải đạt được một sự đồng thuận đáng kể về những vấn đề cơ bản làm nền tảng. Các vấn đề cơ bản này, như những tiên đề, được nghiễm nhiên chấp nhận, không cần chứng minh và thường không được đem ra bàn thảo nữa. Công việc của các nhà khoa học lúc này là “giải” các vấn đề cụ thể bằng những phương pháp sẵn có từ các lần giải trước và dựa trên các vấn đề cơ bản nêu trên. Họ không cật vấn và thậm chí không bao giờ nghĩ rằng một (hay một số) các tiên đề, các giả thuyết cơ bản (basic assumptions) của họ có thể sai. Họ được đào tạo và quen với việc giải quyết các bài toán, vấn đề với những phương pháp sẵn có. Vì vậy, khi không tìm ra lời giải thì người ta nghĩ ngay đến sự yếu kém của các nhà khoa học chứ không nghĩ đến sự bất cập của khoa học (tức là hệ thống các tiên đề, các điều kiện, phương pháp).  Mô thức (Paradigm)  Khái niệm “Mô Thức” được Kuhn định nghĩa lại và nay hầu như ngắn liền với tên ông.   Kuhn nêu hai vấn đề liên quan đến mô thức. Thứ nhất, mô thức là các tri thức nền tảng mang tính lý thuyết và được chấp nhận rộng rãi trong các nhà khoa học hàng đầu ở một lĩnh vực khoa học nhất định. Các tri thức nền tảng mang tính lý thuyết trên được nêu ra trong các sách giáo khoa của lĩnh vực đó.   Thứ hai, mô thức là các tình huống chuẩn (standard examples) và các cách giải quyết vấn đề (ways of solving problems). Các tình huống chuẩn này dạy cách thức và kỹ năng để giải quyết các vấn đề tương tự và, như vậy, giúp để giải được các “câu đố” mới.  Không có mô thức nào có thể giải quyết hết các vấn đề trong một lĩnh vực. Tương tự, Einstein nói ‘Không thể giải quyết rốt ráo các vấn đề trên cùng một mặt bằng tư duy như các vấn để đó đã được tạo ra”. Các vấn đề chưa được giải quyết trong một thời gian dài được gọi là “Ngoại Lệ” (anomaly).   Trong thời kỳ khoa học “thông thường”, người ta không mấy quan tâm đến các “ngoại lệ”. Nguyên nhân là: các nhà khoa học không nghĩ rằng nền tảng cho cách tiếp cận của họ là sai.  Họ kỳ vọng rằng các “ngoại lệ” sẽ được “giải quyết” bằng cách nào đó sau này; Hay cho rằng chúng không đủ điều kiện để trở thành bài toán do một sự hiểu nhầm nào đó.  Khi dồn tụ nhiều các “ngoại lệ” và việc giải bài toán bất thành trong nhiều trường hợp, có thể dẫn đến một Khủng Hoảng (crisis).   Lúc này, các nhà khoa học bắt đầu đi tìm một hướng mới, một mô thức mới để thay thế.  Khoa học mang tính đột biến (hay tính cách mạng-revolutionary science)          Thomas Samuel Kuhn               (18/7/1922-17/6/1996) là nhà vật lý người Mỹ. Ông viết rất nhiều về lịch sử KH và phát triển một số khái niệm về xã hội học cũng như triết học khoa học        Khủng hoảng có thể dẫn đến sự xuất hiện của một mô thức mới. Nếu mô thức mới này được chấp nhận thì đó là một sự Chuyển Đổi Mô Thức (paradigm shift). Kuhn gọi đây là những cách mạng khoa học. Trong lịch sử phát triển khoa học, những chuyển đổi mô thức điển hình là: Ptoleme-Copernicus, Newton-Einstein, vật lý cổ điển-vật lý lượng tử,.. Kuhn ví cách mạng khoa học cũng giống như cách mạng chính trị. Các đột phá trong khoa học-công nghệ bắt nguồn từ những chuyển đổi mô thức cơ bản, những biến đổi mang tính cách mạng của khoa học.  Trong thời kỳ khoa học “thông thường”, các biến động mang tính kế tục và dựa trên các giả thuyết đã được thống nhất và không hề bị xem xét lại hay bác bỏ. Trong cách mạng khoa học, các biến động không còn là sự kế tục. Đó là một sự kết thúc, một đoạn tuyệt, một sự thay đổi cơ bản và ở đó, các phe với các quan điểm đối lập thường không thể đối thoại với nhau được nữa.     Chuyển đổi mô thức  Đặc trưng của sự đụng độ giữa các mô thức chính là việc không thể đối thoại với nhau nói trên.   Các quan điểm của các mô thức đối lập có thể khác nhau cơ bản tới mức, theo Kuhn, các nhà khoa học như đến từ “các thế giới khác nhau”.   Đây là nguyên nhân để Kuhn nêu lên quan điểm khá cực đoan rằng: khoa học chẳng qua là sản phẩm ngụy tạo của con người (chứ không phải là sự mô phỏng một cách “vô tư” bản thể hay giới tự nhiên). Điều đáng lưu ý là: đây lại chính là quan điểm của đạo Phật nhìn nhận về khoa học (hay bất kỳ một nhận biết nào dựa trên logic, thậm chí tâm thức). Nhưng tác phẩm của Kuhn, cùng với những phát hiện và bế tắc của các nhà vật lý lượng tử ở đầu thế kỷ 20, đã làm không ai phủ nhận được rằng: Con người, vô tình hay hữu ý, đã và đang nhìn nhận bản thể theo cách mà họ muốn. Điều này dẫn rất nhiều suy diễn và tranh luận. Rõ ràng rằng: khoa học và các giao diện của nó cần được tái quan niệm, mở rộng ra, đan xen (hay hòa quyện hữu cơ) vào các lĩnh vực khác. Phật giáo với các tầng thức như “vô cấp” và các mô thức (chưa được biết đến hay đã bị lãng quên) để nhận biết bản thể cần được xem xét. Thành trì “khoa học” tưởng chừng như đã rất bền vững (vì tưởng như độc lập với con người) nay như một tòa lâu đài ảo, chỉ tồn tại trong tâm tưởng con người.  Kuhn cho rằng: các quan điểm (Concepts) của các mô thức đối lập mang những nội dung khác nhau. Điều này tựa như các nhà khoa học dùng những ngôn ngữ khác nhau. Hay, như Kuhn nói: các mô thức đối lập không “lượng sánh” được với nhau, tức là không so sánh bằng lượng được với nhau (incommensurable), hay không “thông ước” với nhau, theo thuật ngữ toán học.  Chính sự khác biệt về ngữ nghĩa đã dẫn đến tình trạng “bất lượng sánh” nói trên. Chuyển đổi mô thức không những bao gồm thay đổi về lòng tin (belief change) mà cả thay đổi về các chuẩn mực để đánh giá (standards of judgment). Nếu dùng các quan điểm khác nhau để đánh giá và nếu không có một quan điểm trung lập nào khác để “giải” được sự bất đồng thì sẽ không có một phương pháp khách quan nào để đánh giá sai đúng.  Sự chuyển đổi mô thức không phải là kết quả của tranh luận phải trái hay sự thuyết phục bằng tính hợp lý mà giống như một sự thay đổi về cách quan sát. Điều này giống như một sự thay đổi trong sự Cảm Nhận (Perception). Tương tự, theo đạo Phật, Cảm Nhận của con người hoàn toàn mang tính chủ quan (không mấy liên quan gì tới bản thể) và nó quyết định ta cảm nhận về thế giới tự nhiên thế nào.  Quan Sát có phải là giải pháp?          Bìa cuốn sách “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” của Thomas S. Kuhn        Để tìm ra một “trọng tài” cho các bất đồng này, người ta nghĩ nên chăng dựa vào các quan sát trực quan (observations). Đơn giản là “người thật, việc thật”!  Có lẽ đây là một phát hiện táo bạo và lý thú nhất của Kuhn khi ông tuyên bố: các quan sát trực quan cũng mang nặng tính lý thuyết; Nói cách khác, chúng cũng bị “lây nhiễm” lý thuyết (infected with theory). Thực ra, các nhà vật lý lượng tử đầu thế kỷ 20 đã nói về hiện tượng này. Nhưng ở Kuhn, nó được khái quát hóa cho mọi quan sát của con người.  Như vậy, không có quan sát thuần túy. Chúng ta quan sát gì, nhìn thấy gì, thấy nó thế nào… phụ thuộc việc chúng ta dựa trên lý thuyết gì. Vì vậy, quan sát cũng không thể là “quan tòa” trung lập được.  Ví dụ, mặc dù chúng ta nhìn thấy bằng chính mắt mình rằng mặt trời di chuyển từ bên này sang bên kia của chân trời, nhưng Copernicus đã đúng khi chứng minh rằng “quan sát” này dựa trên một đức tin sai.  Quan niệm về sự Tiến Bộ  Kuhn cho rằng: Khoa Học không nhất thiết ngày càng tiến gần tới Bản Thể hay Sự Thật.   Theo ông, không có biện pháp khách quan để đánh giá xem các lý thuyết tiến gần đến sự thật như thế nào. Ông tự nhận mình là một người thuộc trường phái Kant nhưng “với những phạm trù chuyển dịch” (“moveable categories”). Theo Kant, các phạm trù của tư duy là điều kiện tiên quyết cho mọi sự hiểu biết hoặc tri thức. Và, người ta gán cho khoa học là quy luật của tự nhiên (tức là khách quan), nhưng thực chất thì nó chính là sản phẩm của tư duy chủ quan của con người. Kuhn cũng đồng quan điểm đó, nhưng điểm mới của ông là: các phạm trù này luôn thay đổi trong các cuộc cách mạng khoa học. Như vậy, Kuhn cho rằng: khoa học không nhất thiết mang tính hợp lý (rational).   Xung quanh quan điểm của Kuhn  Công bố của Kuhn gây ra nhiều hệ lụy và gợi suy hơn ông ta tưởng. Không những khoa học-kỹ thuật mà xã hội học, triết học, thần học, khoa học xã hội và cả tôn giáo cũng thấy sự liên quan. Có thể nhắc tới vài gợi suy sau.   Khi thấy có nhiều “ngoại lệ”, cần nghĩ ngay đến việc xem xét lại mô thức có còn thích hợp.  Đầu tư quá nhiều vào khoa học “thông thường” khi mô thức đã lạc hậu sẽ không hiệu quả bằng tìm ra mô thức mới. Nếu cứ cố tìm cách cải tiến cái đèn dầu hỏa thì khó có thể phát minh ra đèn điện. Các nhà khoa học đầu ngành của thế giới thường dự đoán được: hướng nghiên cứu sắp bế tắc và không còn chỗ cho khoa học “thông thường”. Những suy nghĩ, trăn trở của họ, mặc dù có thể chỉ là những mảnh ghép lẻ tẻ, không hệ thống, nhưng gợi mở rất nhiều về mô thức mới, quan niệm và cách nhìn mới…  Khi yếu tố tác động (hay điều kiện) thay đổi, VD: khi xuất hiện vật liệu mới với những tính năng mới, khi xuất hiện công nghệ mới… cần thay đổi ngay mô thức thì những nghiên cứu sau đó mới hiệu quả.  Những sáng tạo, đột phá trong khoa học-công nghệ thường xuất phát từ thay đổi mô thức, đặc biệt là những mô thức phi truyền thống. Những người giỏi ở khoa học “thông thường” (như kiểu quen đường mòn) ít khi tìm đến mô thức mới.  Để tìm ra mô thức mới và phi truyền thống, trí tưởng tượng rất quan trọng. Einstein nói “Mọi tri thức đều chỉ là chi tiết; Trí tưởng tượng mới là quan trọng”.  Thách thức đối với các nhà khoa học-công nghệ ở nước kém phát triển là họ không được cập nhật về các mô thức đã và đang có trong ngành của họ. Khi hội nhập, họ bắt nhập vào khoa học ở “giữa dòng”. Đối với họ, việc chọn được mô thức phù hợp quan trọng hơn là bắt tay ngay vào nghiên cứu với mớ mô thức không phù hợp. Tối ưu không phải là áp dụng mô thức hiện đại nhất mà là mô thức phù hợp nhất với hoàn cảnh.  Khi thế giới biến động, thay đổi mô thức của mình (tức là thay đổi mình) có lợi hơn là giữ mình không đổi (dĩ vạn biến ứng vạn biến).    Nhà khoa học cần giải phóng mình khỏi mọi quan điểm, đức tin, mong muốn theo bản năng… khi nghiên cứu khoa học vì những điều chủ quan trên sẽ “lái” họ đi hay làm họ nhìn thế giới một cách phiến diện. Rất nhiều nhà khoa học (thậm chí nổi tiếng), từ thâm tâm sâu thẳm nhất, cho rằng thế giới là phải hài hòa, phải cân đối, phải duy lý, phải đẹp,… Điều này làm họ chỉ đi tìm mặt cân đối, hài hòa của bản thể. Nhưng những phát hiện gần đây nghiêng về hướng “hỗn độn” (chaos) của vạn pháp.   Quan sát, cảm nhận, logic… của ta chắc chắn không khách quan. Vậy, có cách nào khác để có thể cảm nhận hay nhận biết thế giới được “khách quan” hơn? Liệu có những cách nào để “cảm” (ngộ) mà không qua “biết” (tri), tức là phi logic để loại bỏ sự chủ quan vốn hữu hạn của con người?  Phát hiện của Kuhn và của vật lý lượng tử đầu thế kỷ 20 đã đưa khoa học và đến gần với đạo Phật. Quan điểm của Kuhn về khoa học và nhận thức luận thực ra đã được đạo Phật nói đến rất nhiều và là một trong những cột trụ quan trọng của Phật Pháp. Tuy diễn đạt không được logic và dễ hiểu như khoa học phương tây, nhưng đạo Phật lại bao trùm và giải quyết rốt ráo hơn. Ví dụ, không chỉ đơn giản là “hiểu” hay “nhìn thấy” mà đạo Phật đề cập đến những “cấp độ”, những Tầng Thức sâu nông khác nhau (Ngũ Uẩn).   Khái niệm Mô Thức là một trường hợp đặc biệt của “Chấp” (“chấp” bao trùm hơn). Và, “chuyển đổi mô thức” không khác gì “phá chấp”.  Mô thức hay chấp giúp đạt đến mục đích cụ thể. Nhưng nếu vẫn giữ chúng thì chúng sẽ ngăn cản ta đến mục đích khác (mà lẽ ra ta phải dùng mô thức khác, chấp khác). Chấp và mô thức luôn cần được thay đổi, được “phá bỏ” để có mô thức mới cho mục đích mới. Chấp, mô thức có thể ăn sâu từ hàng ngàn năm và đã thành bản năng. Phá bỏ nó không phải dễ. J. Keynes nói “Khó khăn không phải là có ý tưởng mới, mà là ở chỗ thoát khỏi tư duy cũ”.    Phi logic hay vô thức lại là cách đến gần hơn tới (hay hòa nhập vào) bản thể. Đây cũng thể hiện tính bất cập của khoa học: Đó là nó vẫn cần logic hay mô thức để tồn tại.    Các giả thuyết hay điều kiện như Kuhn nêu, chẳng qua là một tập hợp (vô cùng) nhỏ của một tổng thể không thể chia tách của vạn pháp với những mối quan hệ phi nhân quả, không dựa trên một logic nào (Duyên Khởi).   Khác với sự ôn hòa của đạo Phật, Kuhn nói “Thế giới (bản thể) phải ra sao đây để chúng ta có thể nhận biết được?” để nói về sự khiên cưỡng khi “bắt” thế giới phải có “hình hài” theo như logic của con người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và nhân văn      Khả năng gì là cần thiết cho người đi học ngày nay? Biết đối phó với tình thế, biết phán đoán, biết giải quyết vấn đề, biết xử lý thông tin, biết làm việc tập thể… nghĩa là những khả năng đòi hỏi phải có kiến thức đa ngành. Kỳ lạ, ngày càng có nhiều người lên tiếng: những môn học làm phát triển khả năng ấy là những môn khoa học xã hội và nhân văn.  Xin nói rõ: khoa học mà tôi muốn nói ở đây là khoa học căn bản. Dùng kiến thức khoa học để khuếch trương phát minh công nghệ dĩ nhiên là cần thiết, nhưng sự giàu mạnh của một nước không phải nằm ở mức đó: nó nằm ở nơi khoa học căn bản, nghiên cứu căn bản.    Lúc nhỏ, tôi đã từng học: nước ta có rừng vàng biển bạc. Ngày nay, đào dưới đất lên để tìm vàng là thái độ của một nước cam tâm tụt hậu. Vàng, nằm ở trong đầu. Một nước hưng hay vong là tùy ở giáo dục của nước đó biết tìm vàng ở đâu, biết nâng cao đam mê khoa học nơi những đầu óc non trẻ lên lý tưởng nghiên cứu căn bản. Mà muốn làm nghiên cứu căn bản, người đi học phải nắm vững lý thuyết. “Không có gì thực tiễn hơn một lý thuyết tốt”, đó là câu nói của một triết gia, Hans Albert. Tại sao? Tại vì “không có lý thuyết, thực tiễn chỉ là lặp đi lặp lại, do thói quen cố định mà làm. Chỉ lý thuyết mới thúc đẩy và làm phát triển óc sáng tạo”. Đó là câu nói của một nhà khoa học, Pasteur.   Tôi vừa bắc chiếc cầu giữa triết học và khoa học. Tiếp theo đây là chiếc cầu giữa khoa học và văn chương mà một nhà bác học danh tiếng, Henri Poincaré (1854-1912) đã mời các nhà giáo và các em học sinh bước qua trong một bài diễn văn nổi tiếng mà tôi rất tiếc chỉ có thể trích vài câu:  “Ai cũng đồng ý rằng giáo dục văn chương, nếu hiểu cho đúng, nghĩa là tước bỏ đi hết cái vỏ ngoài đạo mạo và thông thái vô dụng, là thích hợp nhất để phát triển trong ta đầu óc tinh tế. Và bởi vì đầu óc tinh tế là cần thiết cho mọi người, bởi vì ai cũng phải sống, người ta kết luận rằng văn hóa, văn chương, là cần thiết cho các nhà bác học cũng như cho tất cả mọi người. Thế nhưng, thông thường người ta chỉ nghĩ rằng mọi người đều cần văn chương để trở thành người chứ không phải để trở thành nhà bác học, và chính đó là sai lầm”.[1]   Văn chương không làm ra sản phẩm kinh tế, không biến chữ thành tiền trong chớp mắt; nghiên cứu khoa học căn bản cũng vậy. Nhưng có người học trò nào học khoa học, khi đã đam mê, mà không mơ ước theo đuổi khoa học với tinh thần vị khoa học? Có ông thầy nào, đam mê khoa học, mà không khuyên nhủ người học trò ấy vươn cao nhìn xa? Văn chương có lợi gì cho người học trò ấy chăng? Hãy nghe tiếp Poincaré:  “Nhà bác học không được quyến luyến với những công trình có kết quả thực tiễn; ông ta chắc sẽ đạt được thôi, nhưng ông phải xem đó là phần phụ trội, không nhắm đến mà có. Ông không được bao giờ quên rằng đối tượng đặc biệt mà ông nghiên cứu chỉ là một phần của một toàn bộ vượt quá đối tượng kia đến vô tận vô biên, và lòng yêu thích cùng tính tò mò về cái toàn bộ ấy mới là động cơ duy nhất của công việc ông làm. Khoa học đã có những ứng dụng tuyệt vời, nhưng khoa học mà chỉ có trước mắt những ứng dụng mà thôi không phải là khoa học, chỉ là bếp núc. Không có một khoa học nào khác khoa học vô vị lợi. Phải lên cao hơn nữa, và lúc nào cũng phải lên cao hơn, để bao giờ cũng nhìn thấy xa hơn và không quyến luyến gì lâu ở dọc đường. Người leo núi chân chính bao giờ cũng xem đỉnh núi vừa mới leo tới như là chỗ gác chân dẫn đến một đỉnh núi khác cao hơn. Nhà bác học phải có bàn chân của người miền núi, và nhất là phải có trái tim của người miền núi. Đó là tinh thần phải hướng dẫn nhà bác học. Tinh thần đó, chính là tinh thần ngày xưa đã thổi trên đất Hy Lạp và đã làm nảy sinh ra những nhà thi sĩ và những nhà tư tưởng. Trong giáo dục cổ điển của ta, tôi không biết cái gì còn phảng phất linh hồn Hy Lạp ngày xưa, tôi không biết cái gì khiến ta luôn luôn nhìn lên cao. Và cái đó thật quý báu cho nhà bác học hơn là đọc hàng trăm pho sách về hình học”.[2]   Đó là lời của một nhà bác học ở đầu thế kỷ 20. Tôi trích thêm một câu nói khác nữa, rất ngắn, vài chữ thôi, và tôi sẽ nói là của ai: “Tưởng tượng cần thiết hơn là kiến thức”. Nếu người nói câu đó không phải là Einstein thì chắc ta đọc qua rồi bỏ, cho rằng ai đó nói gàn. Nhưng tác giả đã là Einstein thì ta phải suy nghĩ. Einstein muốn nói đến ảnh hưởng của sáng tạo – creativity – trên chính cách vận dụng kiến thức. Sáng tạo, đó là khả năng thoát ra khỏi những công thức cũ, mở ra những con đường mới, để trả lời những thách thức mới, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, khái niệm mới, hoặc nối kết những ý tưởng và những khái niệm đã có rồi nhưng chưa liên hệ được với nhau. Tại sao tưởng tượng góp phần vào sáng tạo? Tôi mượn câu trả lời từ một triết gia, Michel Serres: tại vì tưởng tượng là một trong ba năng khiếu làm nên cái đầu của con người cùng với hai năng khiếu khác là ký ức và lý trí.[3] Và cái gì làm tưởng tượng bay bổng nếu không phải là nghệ thuật, văn chương?  Câu nói của Einstein khiến ta phải chợt nghĩ lại: những người có óc sáng tạo nhất, nghĩa là những người biết nối kết tài tình nhất giữa những ý tưởng, phải chăng chính là những nhà khoa học!  Bây giờ tôi mượn lời của một nhà vật lý hiện đang còn làm việc, Etienne Klein. Ông nói: Không có gì khác biệt hơn giữa cách làm việc của khoa học và cách làm việc của nhân văn. Một đằng, triết học chẳng hạn, thiên về thuần suy tưởng, thuần khái niệm; một đằng, khoa học chú tâm vào lý thuyết và thực nghiệm. Vậy mà:  “Vậy mà, dù khác nhau đến thế, cả hai kín đáo, bí mật, chuyện trò qua lại với nhau. Vài câu hỏi mà khoa học đặt ra, nhất là những câu hỏi thực sự căn bản, có điều này lôi cuốn như thôi miên: nó vượt ra ngoài khung khổ của riêng khoa học. Nó bắt buộc phải mở toang ra những cửa sổ. Và không khí mát rượi bất chợt tràn vào, hân hoan tràn vào. Nhất là không khí của triết lý. Lúc đó, toàn bộ tư tưởng được tức thời động viên”.[4]   Một vài tiến bộ khoa học – thuyết vật lý lượng tử , thuyết tương đối…- buộc người làm khoa học cũng như triết gia phải xét lại suy nghĩ của mình, phải mở ra những chiều hướng suy nghĩ mới, phải thay đổi mũi nhọn tấn công. Nhưng:  “Nhưng còn phải có văn hóa; phải có văn hóa, trước là để có thể dò dẫm tìm ra, sau là để khai triển”.[5]  Còn văn chương?   “Khoa học và văn chương cứ bị đem ra để đối kháng nhau: một bên, người ta bảo thế là chính xác, là khô khan, là khách quan; một bên là tình cảm, là đời sống, là chủ quan. Thực ra, hai cách tương quan đó với thế giới không nên đối chọi nhau, mà nối kết với nhau”.[6]  Tôi không muốn mượn những câu nói gì cao siêu từ các nhà khoa học. Nói cao siêu để chẳng thực hiện được gì trong hoàn cảnh của đất nước ta chỉ làm cái chuyện vô ích như thêu hoa trên giẻ rách. Cho nên tôi mượn thêm từ nhà vật lý này một câu nói bình dị, ai nói cũng được, bình dị như một chân lý hiển nhiên:  “Một xã hội phải đi trên hai chân: một chân là khoa học và công nghệ, một chân là văn hóa. Và dĩ nhiên xã hội phải có khả năng vận động cả hai chân. Thật vậy, không có một xã hội hiện đại nào chỉ thuần là văn hóa: xã hội nào cũng dựa trên khoa học và công nghệ. Nhưng một xã hội chỉ dựa trên công nghệ, trên một công nghệ thiếu suy tư, cắt đứt với văn hóa, trên một công nghệ tự nó duy nhất trở thành cứu cánh của chính nó, không thể hoạt động tốt được”.[7]   (Trích tham luận tại hội thảo “Đại học nào cho Việt Nam ở thế kỷ 21?” ĐH Hoa Sen, TP HCM, 2009)  ——————  [1-3] Henri Poincaré, Les Sciences et les Humanités (Conférence pour la “Ligue pour la culture française”. Có thể đọc trên mạng: http://www.acnancymetz.fr/enseign/philo/textesph/LESSCIENCESETLESHUMANITES.pdf  [4-7]. Etienne Klein, Sciences et humanités: des jambes à articuler, http://www.snes. edu/IMG/pdf/etienne_klein_-_jrd_humanites.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và Phật giáo: Trước ngã tư đường      Qua việc so sánh thế giới quan của Khoa Học và Phật Giáo bằng cách khảo sát mỗi một trong ba học thuyết căn bản của Phật Giáo, trước tiên là ý niệm về “Vô Thường” tiếp đến là “Duyên Khởi” và “Tánh Không”. Sau đó, chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề tại sao trái ngược với các tôn giáo độc thần, Phật Giáo bác bỏ quan niệm về sự hiện hữu của một vị “Thượng Đế” hay là một “Đấng Sáng Tạo”. GS. Trịnh Xuân Thuận đã góp phần làm sáng tỏ một câu hỏi lớn mà khoa học ngày càng quan tâm: Với những khác biệt có vẻ cơ bản trong cả phương pháp và mục tiêu, như vậy có thể có một nền tảng chung để đối thoại giữa khoa học và Phật giáo hay không? Phật giáo có gì để nói về bản chất của hiện tượng khi đây không phải là mối quan tâm chính, mà là những mối bận tâm của những bộ môn khoa học?    I. Có những nền tảng nào cho một cuộc đối thoại?  Khoa học và Phật giáo vốn có những phương thức khác biệt rất cơ bản trong việc nghiên cứu thực tại. Trên bình diện khoa học, tri thức và luận lý nắm giữ những vai trò then chốt. Khoa học thu lượm những hiểu biết về thế giới thực tại rồi cô đọng chúng lại thành những quy luật có thể kiểm chứng được. Bằng cách phân chia, xếp loại, phân tích, so sánh, và đo lường, nhà khoa học diễn giải những quy luật này thông qua một loại ngôn ngữ khá trừu tượng của toán học. Dĩ nhiên trong khoa học, trực giác không phải là không có chỗ đứng, tuy nhiên nó chỉ mang lại kết quả khi nào được hệ thống hóa trong một cấu trúc chặt chẽ của toán học mà hiệu độ được đảm bảo bằng quan sát và phân tích. Ngược lại, chính trực giác –hay kinh nghiệm nội tâm- lại đóng vai trò chủ yếu trong phương cách Phật giáo dùng để tiếp cận thực tại. Trong khi khoa học hướng ngoại thì Phật giáo hướng nội, dùng quán chiếu làm phương thức tiếp cận. Trong khi khoa học chỉ bận tâm về thế giới khách quan thì mối quan tâm chính yếu của Phật giáo là cái ngã tự thân.Thay vì chẻ nhỏ thực tại ra thành từng bộ phận khác biệt như phương pháp quy giản của khoa học, Phật giáo với phương thức tiếp cận toàn bộ sự vật mà mục đích là để hiểu chúng như một tổng thể nguyên trạng. Phật giáo không cần đến những thiết bị đo lường và cũng không cần nương tựa vào bất cứ phương tiện quan sát tinh vi nào vốn là xương sống của nền khoa học thực nghiệm. Nó thiên về định phẩm hơn là định lượng.             Đạt Lai Lạt Ma sử dụng ống hút chuẩn bị mẫu DNA của chuột cho việc sắp xếp chuỗi thứ tự.          Tuy nhiên sự khác biệt chính yếu giữa sự theo đuổi kiến thức trong khoa học và Phật giáo là do ở những mục tiêu rốt ráo của chúng. Mục tiêu của khoa học là tìm hiểu về thế giới hiện tượng. Trọng tâm chính yếu của nó là những kiến thức về vũ trụ vật lý, được xem như mang tính khách quan và có thể xác định số lượng, cũng như nhằm đạt đến việc kiểm soát thế giới tự nhiên. Ngược lại trong Phật giáo, kiến thức được thu nhận chủ yếu chỉ nhằm vào những mục đích trị liệu. Mục tiêu của Phật giáo vì thế không phải tìm hiểu vũ trụ vật lý cho lợi ích của riêng mình mà chỉ để nhằm giải phóng nhân sinh ra khỏi những khổ đau hệ lụy gây ra bởi sự dính mắc thái quá vào cái thực tại biểu kiến của thế giới ngoại tại. Những tra vấn mang tinh thần thực nghiệm được thúc đẩy bởi tính tò mò tri thức không phải là mục tiêu chính mà Phật giáo nhắm đến. Thay vào đó, họ muốn hiểu rõ bản tánh chân thật của vạn pháp để có thể xóa tan đi đám mây mờ vô minh và mở ra cánh cửa vào Giác ngộ và con đường giải thoát. Thay vì dùng viễn vọng kính, hạt gia tốc hay kính hiển vi, Phật giáo dùng tâm như là một khí cụ để nghiên cứu vũ trụ. Nó nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng của sự giải thích bản tánh của tâm thông qua kinh nghiệm thiền quán trực tiếp. Trải qua hàng thế kỷ Phật giáo đã đề ra một phương thức tiếp cận sâu sắc và nghiêm ngặt liên quan đến những hiểu biết về những trạng thái tâm linh và bản tánh rốt ráo của tâm. Tâm đứng đằng sau mỗi một kinh nghiệm của đời sống. Nó khẳng định cách thế mà ta nhìn thế giới. Chỉ một thay đổi cực nhỏ trong tâm thức của ta, qua cách thức mà ta đối phó với những trạng thái tâm linh và nhận thức về người và vật như thế nào cũng đủ để thế giới của “ta” hoàn toàn đảo lộn. Như thế, thay vì chuyên chú hoàn toàn vào ngôi-thứ-ba, tức là lãnh vực của thế giới khách quan hiện tượng như là nền khoa học cổ điển, Phật giáo đồng thời cũng đặt trọng tâm của mình vào lãnh vực liên quan đến ngôi-thứ-nhất.  Với những khác biệt có vẻ cơ bản trong cả phương pháp và mục tiêu, như vậy có thể có một nền tảng chung để đối thoại giữa khoa học và Phật giáo hay không? Phật giáo có gì để nói về bản chất của hiện tượng khi đây không phải là mối quan tâm chính, mà là những mối bận tâm của những bộ môn khoa học? Ta có một câu trả lời dứt khoát cho những câu hỏi này là có. Một trong những nhiệm vụ chính của triết học Phật giáo là nghiên cứu về bản chất của thực tại. Trong khi khoa học không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, nó cũng đã từng đặt ra những câu hỏi tương tự với những vấn đề được nêu lên bởi nền khoa học đương đại. Có thể nào những hạt rời bất khả phân là những khối cấu trúc cơ bản của thế giới hiện tượng? Có phải chúng thực sự hiện hữu hay chỉ là những ý niệm giúp ta hiểu biết về thực tại? Phải chăng những định luật vật lý là bất biến, có những hiện hữu tự thân như những quan niệm lý tưởng của Plato? Phải chăng có một thực tại chắc thật đằng sau những sắc tướng? Đâu là nguồn gốc ban đầu của thế giới hiện tượng, và cái thế giới chung quanh mà chúng ta cho là “thực” có thực sự hiện hữu? Đâu là mối liên hệ giữa động và tĩnh, giữa chủ thể và khách thể? Bản chất của không gian và thời gian là gì? Những triết gia Phật giáo trong suốt 2,500 năm qua đã không ngừng nghiên cứu, trăn trở về những vấn nạn này. Kinh văn Phật giáo phong phú với những bộ luận bàn thảo về tri thức cũng như lý giải về những cấp độ khác nhau của thế giới hiện tượng, kể cả những bộ luận về tâm lý học khám phá những lãnh vực khác biệt của ý thức và bản chất rốt ráo của tâm.            Diễn giải Geshe Thupten Jinpa (phía trái xa), giáo sư Ned Kalin và Đạt Lai Lạt Ma đang lắng nghe nhà vật lý Andy Roberts (phải) giải thích phương pháp máy gia tốc tandem sản sinh ra những chất đánh dấu sử dụng trong các máy scaner PET ở Phòng thí nghiệm Keck.          Trong khi những phương pháp nghiên cứu của Phật giáo và khoa học nhằm khám phá thế giới hiện tượng thoạt nhìn có vẻ rất khác nhau, nhưng khi nhìn kỹ hơn người ta thấy rằng Phật giáo cũng như khoa học đều dựa vào phương pháp thực nghiệm để khám phá thực tại. Phương pháp phân tích của Phật giáo thông thường sử dụng ‘suy nghiệm’ cũng được dùng rộng rãi trong khoa học. Đây là những thí nghiệm tưởng tượng được tiến hành trong tâm thức, dẫn đến những kết luận khó có thể bác bỏ được, cho dù là những thí nghiệm này thực sự không hề được tiến hành. Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi những chuyên gia hàng đầu trong khoa học, cụ thể như Einstein. Thí dụ, khi khảo sát về bản chất của không gian và thời gian, nhà vật lý tưởng tượng ra mình đang cưỡi lên một hạt ánh sáng. Thế là khi nghĩ đến trọng lực, lập tức y cảm thấy mình đang ở trong sự vận hành của gia tốc. Cũng một kiểu cách như vậy, những nhà Phật học dùng phép suy nghiệm để phân tích mổ xẻ thực tại. Phật giáo cũng giống với khoa học ở chỗ khuyến khích tinh thần hoài nghi trong việc xây dựng niềm tin. Đức Phật đã từng khuyến khích chúng ta không nên chấp nhận một cách mù quáng giáo thuyết của ngài nếu như không tự mình suy nghĩ thấu đáo. Ngài dạy rằng: “Giống như một người khôn ngoan biết đâu là vàng thật sau khi đã thử nghiệm bằng cách cắt ra, nung chảy hay chà xát, những lời dạy của ta cũng thế, chỉ được chấp nhận sau khi đã suy xét thấu đáo chứ không phải là do kính trọng ta.” Nếu chúng ta xem “khoa học” mang ý nghĩa “một hệ thống kiến thức chính xác, chặt chẽ và có thể kiểm chứng được” hoặc như là “một loạt những quy luật và tiến trình liên hệ đến sự nhận ra và công thức hóa một vấn nạn, công thức dựa trên những giả thiết và dữ kiện được thu thập thông qua quan sát và thí nghiệm để kiểm chứng những giả thiết này” (từ điển Webster), thì Phật giáo có thể được mô tả như là một “khoa học quán tưởng” hay nói rõ hơn, “một khoa học về tâm”. Thế nhưng ở đây, phạm trù nghiên cứu không phải chỉ đơn thuần là một thế giới vật chất “khách quan” mà ta có thể khảo sát, đo lường, tính toán một cách vật lý, một thế giới chỉ có thể được mô tả qua ngôn ngữ của phương pháp định lượng ngôi-thứ-ba, nhưng là một thế giới được nhân rộng ra bao gồm toàn thể phạm vi của kinh nghiệm sống “chủ quan” của con người bao gồm cả lãnh vực tâm thức chỉ có thể nhận thức được thông qua nội quan ngôi-thứ-nhất.  Trong những phần tiếp theo, chúng tôi sẽ cố gắng so sánh những quan điểm về thực tại được trình bày qua lăng kính của khoa học lẫn Phật giáo, cũng như bắc lên những chiếc cầu nối liền giữa khoa học của thế giới vật lý và khoa học về tâm. Mục đích của chúng tôi ở đây không nhằm khoác lên khoa học một chiếc áo thần bí cũng như không hề biện hộ cho những trụ chống của Phật giáo trước những khám phá của nền khoa học đương đại. Khoa học hành xử chức năng của mình một cách tốt đẹp, nó mang tính độc lập và hoàn thành những mục tiêu đã vạch một cách hoàn hảo mà không cần đến sự hỗ trợ triết học từ Phật giáo hay bất kỳ tôn giáo nào. Mà thực ra, một khi tôn giáo nghĩ rằng mình có thể mang “chân lý” đến cho khoa học thì đó cũng là lúc vấn nạn xuất hiện, cụ thể như thảm kịch mà Giáo Hội lên án Gallileo vào năm 1633. Phật giáo là khoa học của sự Tỉnh Thức, thế nên cho dù Quả Đất có quay quanh Mặt Trời hay ngược lại, điều đó cũng không hề tạo nên bất kỳ hệ quả nào đối với nền tảng triết lý của nó. Phật giáo đã hiện hữu trên hành tinh này 2,500 năm rồi trong khi nền khoa học hiện đại chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ thứ 16. Tuy nhiên bởi lẽ cả hai đều khao khát đi tìm chân lý, và để đạt mục tiêu này đều sử dụng đến những tiêu chuẩn mang tính chân xác, chặt chẽ và luận lý, những thế giới quan tương ứng của họ vì thế không thể đưa đến kết quả đối nghịch không thể vượt qua mà ngược lại cả hai có thể bổ sung nhau một cách hài hòa. Nhà vật lý Werner Heisenberg đã phát biểu quan điểm này một cách đầy thuyết phục như sau: “Tôi xem cái hoài vọng nhằm khắc phục những đối nghịch, trong đó một sự tổng hợp bao gồm cả nhận thức thuần lý lẫn kinh nghiệm thần bí về nhất thể, là cái ‘mythos’(*), dù có được nói ra hay không, của thời đại chúng ta”.    II. Vô Thường giữa lòng thực tại.  Phật giáo phân chia ra hai loại vô thường, thô và tế. Thô bao gồm tất cả những đổi thay hiển nhiên của cả con người và sự vật mà chúng ta chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày: sự đổi mùa, núi mòn sông lở, quá trình biến đổi từ tuổi trẻ đến tuổi già, những tình cảm luôn biến chuyển trong ta. Thể vi tế của vô thường cụ thể như: trong mỗi sát na, bất cứ những gì có vẻ hiện hữu đều thay đổi. Vũ trụ không phải được tạo thành bởi những thực thể riêng biệt, rắn chắc mà ngược lại, giống như một dòng suối bao la của những sự kiện, và những dòng chảy năng động mà trong đó tất cả đều được nối kết và liên tục tác động lẫn nhau. Khái niệm về sự thay đổi không ngừng và khắp nơi trong Phật giáo tương ứng với chủ đề quan trọng về thuyết tiến hóa trong mọi lãnh vực khoa học của thế kỷ 20.  Bây giờ hãy nhìn đến khoa vũ trụ học đương đại. Khái niệm về những thiên giới không hề biến đổi của Aristote và vũ trụ tĩnh lặng của Newton đã đi vào quá khứ. Mọi sự mọi vật đều biến đổi và chuyển động, tất cả đều vô thường, từ một hạt cơ bản cực nhỏ cho đến toàn thể vũ trụ, kể cả những dải ngân hà, tinh tú, hành tinh cũng như nhân loại. Vũ trụ không ở thể tỉnh, mà không ngừng trương giản do bởi những xung lực ban đầu nhận được từ vụ nổ sơ khởi. Cái vũ trụ năng động này được mô tả bởi những phương trình về luật Tương Đối Tổng Quát. Với lý thuyết “Big Bang”, vũ trụ không còn là một cái gì đó thường hằng vĩnh cửu. Nó có một khởi đầu, một quá khứ, một hiện tại và một tương lai. Nó đang có một lịch sử. Theo những quan sát gần đây, nó sẽ trương giản bất tận, ngày càng lạnh giá hơn và cuối cùng chết trong trạng thái băng giá. Bên cạnh sự chuyển động trương giản, tất cả những cấu trúc của vũ trụ -những vẫn thạch, sao chổi, hành tinh, tinh tú, những dải ngân hà, nhóm thiên hà -tất cả đều không ngừng chuyển động và dự phần vào một khúc luân vũ mênh mông của toàn vũ trụ: chúng quay quanh trục của mình, quanh tinh thể khác, xúm lại hay dang ra khỏi nhau. Chúng cũng có một quá trình, được sinh ra, trưởng thành, rồi chết. Những tinh tú có một sinh mệnh kéo dài hàng triệu hoặc hằng tỷ năm.  Thay đổi và tiến hóa cũng đi vào những lãnh vực khác của khoa học. Trong địa chất học, những đại lục mà chúng ta nghĩ rằng đã dính chặt vào vỏ Trái Đất bây giờ được biết là đã di động khoảng vài cm mỗi năm, tạo nên những núi lửa và động đất tại những vùng tiếp giáp của các thềm lục địa. Mặt Trái Đất luôn luôn thay đổi và tự tu sửa. Trong lãnh vực sinh học cũng thế, khái niệm về thuyết tiến hóa đã được nhà tự nhiên học Charles Darwin đưa ra vào năm 1859. Con người không còn là một cái gì đó thuộc dòng dõi thánh thần. Họ không là những hậu duệ của Adam và Eve do Thượng Đế sáng tạo ra như trước đây người ta đã nghĩ mà là sản phẩm của cả một chuổi dài tiến hóa được hình thành bởi sự lựa chọn tự nhiên. Đi ngược lại quá khứ, tổ tiên của con người từng là những động vật linh trưởng, những loài bò sát, cá tôm, những loài động vật không xương sống và những sinh thể đơn bào sơ khai.  Định luật vô thường không phải chỉ có mặt ở trong thế giới vĩ mô mà ngay cả ở trong những lãnh vực nguyên tử và hạ nguyên tử (subatomic). Những hạt được biết là có khả năng tự sửa đổi bản chất của mình: quark có thể tự thay đổi gia hệ hoặc ‘hương vị’, proton có thể biến thành nơtron trong khi phát xạ pozitron và neutrino. Vật chất và phi-vật-chất có thể tiêu diệt lẫn nhau để trở thành năng lượng thuần khiết. Năng lượng chuyển động của một hạt có thể chuyển hóa vào trong một hạt khác và ngược lại, cụ thể như phẩm tánh của một vật thể có thể biến thành một vật thể. Những hạt điện tử trong những vật thể bao quanh chúng ta không bao giờ đứng yên một chỗ. Ngay chính trong khoảnh khắc này đây, có đến hàng tỉ những hạt phù du neutrino đi ngang qua thân xác chúng ta trong từng giây một. Do tính lượng tử bất định của năng lượng, khoảng không gian chung quanh ta đầy ắp một số lượng khó tưởng tượng nổi của những hạt ‘ảo’, hiện hữu phù du như những bóng ma. Chúng xuất hiện và biến mất liên miên; và đây chính là hình ảnh tuyệt vời nhất của tính vô thường vì chúng có một đời sống cực kỳ ngắn ngủi. Không còn nghi ngờ gì nữa: sự ‘vô thường vi tế’ của Phật giáo có mặt khắp nơi theo như cách mà nền khoa học đương đại mô tả về thực tại.  Tâm Hà Lê Công Đa dịch  (Kỳ sau: Duyên khởi và tính Bất khả phân của Hiện tượng)  Trịnh Xuân Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và phật giáo trước ngã tư đường: Duyên Khởi và Tính Bất Khả Phân của Hiện Tượng      Ý niệm về duyên khởi là cái nhìn trung tâm của Phật giáo về bản chất của thực tại. Nó chỉ rõ rằng “không có gì hiện hữu một cách tự thân, hoặc do bởi chính nó.” Một vật thể chỉ có thể được xác định do bởi những vật thể khác và chỉ hiện hữu trong mối liên hệ cùng nhau. Nói một cách khác, cái này sanh bởi vì cái kia sanh. Duyên khởi là tất yếu trong sự xuất hiện của hiện tượng giới.    1. Trung Đạo.  Kinh nghiệm sống hàng ngày khiến chúng ta cho rằng mọi sự vật đều sở hữu một cái gì đó có thực, độc lập khách quan có vẻ như là chúng hiện hữu bởi chính nó với những bản sắc tự thân. Thế nhưng Phật giáo quan niệm rằng cách nhìn thế giới hiện tượng như vậy chẳng qua chỉ là do tâm tạo. Họ gọi sự nhận thức về một hiện tượng riêng biệt do những nhân và duyên biệt lập tạo nên là “tục đế” hay “huyễn ảo”. Thay vào đó, Phật giáo đưa ra ý niệm về luật nhân quả hổ tương: một sự kiện chỉ có thể xảy ra bởi vì nó nương tựa vào những yếu tố khác. Bởi vì tất cả mọi sự vật đều là một bộ phận của cái toàn thể, thế nên không cái gì có thể xảy ra một cách riêng rẽ. Bất cứ một sự vật nào trên thế giới này chỉ có thể xuất hiện bởi vì nó được nối kết, duyên sanh và thế rồi trùng trùng duyên khởi, cùng có mặt, cùng vận hành trong một dòng chuyển biến không ngưng nghỉ.  Cái khía cạnh vi tế nhất của duyên khởi liên quan đến mối liên hệ giữa “danh” và “danh tướng” của một sự vật. Danh tướng của một vật thể bao gồm vị trí, chiều kích, hình dáng, màu sắc hay bất cứ những đặc tính nào có thể trông thấy được. Tập hợp lại cùng nhau, chúng tạo nên cái “danh” của vật thể, tức là một sản phẩm tâm tạo gán cho một thực tại cá biệt của một vật thể nào đó. Trong đời sống hàng ngày, khi chúng ta trông thấy một vật thể, chúng ta không hề bị ấn tượng bởi sự hiện hữu của nó mà là cái giả danh của vật thể đó. Bởi vì chúng ta cảm nghiệm nó, Phật giáo không hề cho rằng nó không hiện hữu. Tuy nhiên họ cũng không bảo rằng nó có một thực tại tự thân. Phật giáo đưa ra quan điểm rằng vật thể hiện hữu (như thế tránh được chủ nghĩa hư vô đoạn kiến mà Tây phương thường nhầm lẫn gán cho Phật giáo), tuy nhiên hiện hữu này là thuần túy duyên khởi. Đây là cái mà Đức Phật gọi là Trung Đạo. Một hiện tượng giới không có một hiện hữu độc lập thế nhưng cũng không hoàn toàn phi hữu, có thể hoạt động và hành xử chức năng đúng theo luật nhân quả.        2. Tính phi-cục-bộ của thế giới lượng tử.                  Một ý niệm gây ấn tượng tương tự như duyên khởi của Phật giáo đó là khái niệm về tính “bất khả phân” hay “phi-cục-bộ” trong Cơ học lượng tử được khám phá qua một cuộc thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng do Einstein, Podolsky và Rosen (EPR) đưa ra vào năm 1935 trong một nỗ lực muốn chứng tỏ rằng xác suất lý giải về cơ học lượng tử là sai lầm và học thuyết này như vậy là chưa hoàn chỉnh. Thí nghiệm này có thể được mô tả lại một cách giản dị như sau: Tưởng tượng ra một hạt phân hủy một cách tự phát thành ra 2 photon A và B. Luật đối xứng nêu rõ rằng chúng sẽ di chuyển ngược chiều nhau. Nếu A đi về hướng Tây, chúng ta sẽ khám phá ra B đi về hướng Đông. Tất cả có vẻ như bình thường, tuyệt hảo. Thế nhưng đó là ta đang quên đi tính chất kỳ lạ của thế giới lượng tử. Cũng giống như Janus, ánh sáng mang hai mặt khác nhau. Nó có thể là sóng hay hạt. Trước khi bị khám phá bởi máy dò, lý thuyết lượng tử cho ta biết rằng A xuất hiện dưới dạng sóng. Luồng sóng này không được cục bộ hóa, đã không có một xác suất cho thấy rằng A có thể được tìm thấy ở bất cứ hướng nào. Chỉ khi bị bắt gặp, A mới “biết” là nó đang di chuyển về hướng Tây. Thế nhưng, nếu như A đã không “biết” được trước khi bị khám phá là mình đi về hướng nào thì làm sao B có thể “đoán” được A đang làm gì để  có thể điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp để được bắt gặp vào cùng một thời điểm ở hướng đối diện của A? Đây là điều khó có thể xảy ra trừ phi A thông báo cho B một cách đồng bộ về phương hướng mà nó đang đi. Điều này hàm ý rằng có một tín hiệu ánh sáng được phóng ra ở một tốc độ vô hạn, và như vậy hoàn toàn trái ngược với luật tương đối tổng quát. Bởi vì không hề có chuyện “Thượng Đế phóng ra những tín hiệu cảm ứng từ xa” cũng như không thể có “hành động quỷ ma nào ở gần”, Einstein kết luận rằng cơ học lượng tử đã không cung cấp một sự mô tả hoàn chỉnh về thực tại, rằng A phải “biết” hướng nào mình sẽ đi đến và “báo” cho B biết trước khi tách rời nhau. Ông nghĩ rằng mỗi hạt đều có chứa “những ẩn số” mà cơ học lượng tử đã không nắm được điều này, thế nên nó không hoàn chỉnh.  Trong gần 30 năm, thí nghiệm EPR vẫn được xem như là một thí nghiệm tưởng tượng bởi vì những nhà vật lý đã không biết phải làm thế nào để thực hiện nó. Mãi cho đến năm 1964 thì nhà vật lý học John Bell mới tìm ra một phương cách để đưa cái ý tưởng chính yếu của EPR từ nghiên cứu trừu tượng thành một dự trình có thể kiểm chứng được trong phòng thí nghiệm. Ông đưa ra một định lý toán học, bây giờ được gọi là “Bất đẳng thức Bell”, có thể kiểm chứng được bằng thí nghiệm nếu như những hạt thực sự đã có chứa những ẩn số. Vào đầu thập niên 80, nền khoa học kỹ thuật cuối cùng đã chín mùi đủ để cho nhà vật lý Alain Aspect và những người trong nhóm của ông tại Paris có thể thực hiện một loạt những thí nghiệm trên một cặp photon “tương tác” nhau -tức là những photon có những tác động qua lại với nhau- Họ khám phá rằng Bất đẳng thức Bell luôn luôn bị vi phạm. Điều này chứng minh rằng đã không có những ẩn số và như vậy có nghĩa là Cơ học lượng tử đã đúng và Einstein sai lầm. Trong những thí nghiệm của Aspect, photons A và B được giữ cách xa nhau 12m, và người ta thấy B luôn luôn “biết” ngay lập tức những gì A đang làm và có những phản ứng tương xứng. Những nhà vật lý cũng đảm bảo rằng không có một tín hiệu ánh sáng nào có thể được trao đổi giữa A và B, bởi vì những đồng hồ nguyên tử được gắn vào những máy dò nhằm khám phá A và B, cho phép họ đo lường được thời điểm đến của từng photon một cách cực kỳ chính xác. Sự cách biệt giữa hai thời điểm đến của hai photons chưa đến 10 phần tỷ giây –trong thực tế là zero, bởi vì những đồng hồ nguyên tử hiện nay chỉ mới cho phép ta đo đến mức 10^-10 giây. Bây giờ, trong khoảng 10^-10 giây đó, ta biết được rằng ánh sáng chỉ mới di chuyển được 3cm, ngắn hơn là khoảng cách 12m giữa A và B. Hơn thế nữa, người ta vẫn có cùng kết quả nếu như khoảng cách giữa hai photon “tương tác” này được gia tăng. Trong một thí nghiệm gần đây nhất do nhà vật lý Nicolas và những đồng sự của ông thực hiện tại Geneva vào năm 1998, hai photons được giữ cách xa nhau 10km, thế nhưng những ứng xử của chúng vẫn tương quan tuyệt hảo. Đây sẽ chỉ là một điều nghịch lý khi nào, như Einstein suy nghĩ, chúng ta cho rằng thực tại đã được cắt ra và cục bộ hóa trong mỗi photon. Vấn nạn này sẽ không còn nữa khi chúng ta nhìn nhận rằng A và B, một khi đã tương tác cùng nhau, trở thành một bộ phận của một thực tại bất khả phân, không cần biết đến chúng cách xa nhau bao nhiêu, ngay cả mỗi hạt ở mỗi đầu vũ trụ. A không cần phải gởi tín hiệu đến cho B bởi vì chúng cùng chia xẻ chung một thực tại. Ngành Cơ học lượng tử như thế đã loại trừ mọi ý tưởng về cục bộ và mang đến cho ta một cái nhìn tổng thể về không gian. Với hai cái photons tương tác này, ý niệm về “nơi này” và “chỗ kia” trở thành vô nghĩa bởi vì “nơi này” cũng chính là “chỗ kia”. Đó là những gì mà nhà vật lý gọi là “tính bất-khả-phân” hay “phi-cục-bộ” của không gian. Điều này cũng tương tự với ý niệm duyên sanh, duyên khởi của thế giới hiện tượng trong Phật giáo.                  3. Thí nghiệm đồng hồ quả lắc của Foucault và tính duyên khởi của thế giới vĩ mô.  Một thí nghiệm vật lý hấp dẫn và nổi tiếng khác cho thấy tính duyên khởi của hiện tượng không phải chỉ giới hạn trong thế giới của các hạt nhưng lan rộng ra đến cả toàn thể vũ trụ là thí nghiệm về quả lắc được thực hiện bởi nhà vật lý Léon Foucault vào năm 1851 tại điện Panthéon, Paris nhằm giải thích về việc Trái Đất quay. Tất cả chúng ta hầu như ai cũng đều biết đến đặc tính của quả lắc. Với thời gian trôi, phương hướng của quả lắc cũng thay đổi theo. Nếu ta bắt đầu cho nó lắc theo hướng bắc-nam, chỉ vài giờ sau nó sẽ lắc theo hướng đông-tây. Nếu cái đồng hồ quả lắc này được đặt ở Bắc hay Nam cực, nó sẽ quay đủ một vòng 24 tiếng đồng hồ (tại Paris, do ảnh hưởng của vĩ độ, cái đồng hồ quả lắc của Foucault chỉ thực hiện được một phần của vòng quay trong ngày). Foucault nhận thức rằng, trong thực tế, cái quả lắc đã lắc cùng một hướng, chỉ có Trái Đất là đang quay.  Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề nan giải mà mãi cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu được rõ ràng. Cái quả lắc của đồng hồ được thiết trí cố định trong một không gian, nhưng mà cố định tương ứng đối với cái gì? Chúng ta biết rằng cái đồng hồ quả lắc được gắn vào trong một tòa nhà và toà nhà này thì dính vào Trái Đất. Trái Đất mang chúng ta di chuyển với vận tốc 30km/giây một vòng chung quanh Mặt Trời và Mặt Trời thì cũng đang quay trong không gian với một vận tốc 230km/giây trên quỹ đạo chung quanh trung tâm của giải Ngân Hà, mà chính nó cũng đang chuyển động hướng đến giải thiên hà Andromeda với vận tốc khoảng chừng 90km/giây. Nhóm Địa Phương (Local Group) của những thiên hà, trong đó những quần tụ hùng vĩ nhất như là Galaxy và Andromeda, cũng đang di chuyển với vận tốc 600km/giây dưới sức hút trọng lực của nhóm Virgo và siêu nhóm Hydra-Centaurus. Thế nhưng nhóm sau này lại cũng đang quay hướng về Great Attractor, một quần tụ tương đương với hàng chục ngàn giải thiên hà. Như vậy cái quả lắc đồng hồ của Foucaults đã được điều khiển bởi cái nào trong những cơ cấu này? Để tìm hiểu xem thiên thể nào đã điều khiển cái quả lắc của đồng hồ Foucault, việc giản dị là chúng ta đặt con lắc hướng về phía thiên thể đó. Nếu như thiên thể đó đang di động trong bầu trời, mà vẫn luôn luôn nằm ở trong hướng chỉ của con lắc, ta có thể kế luận rằng thiên thể đó là tác nhân chính trong sự vận hành của con lắc. Bây giờ chúng ta hãy để con lắc hướng về phía Mặt Trời. Sau một tháng, ngôi tinh cầu này đã chệch ra khỏi hướng của quả lắc 15 độ. Bây giờ chúng ta quay quả lắc về hướng ngôi sao gần nhất, Proxima Centauri, cách xa khoảng 4 năm ánh sáng. Ngôi sao này lưu lại trong hướng chỉ của quả lắc lâu hơn, nhưng chỉ được vài năm, kết quả cũng giạt đi. Giải thiên hà Andremoda, cách chúng ta 2.3 triệu năm ánh sáng, cũng đi giạt ra khỏi hướng nhưng chậm hơn. Thời gian duy trì trong hướng chỉ của con lắc lâu hơn và độ chệch cũng trở nên nhỏ hơn nếu khoảng cách đến thiên thể càng lớn hơn. Và rồi chỉ có những thiên hà có khoảng cách lớn nhất, tọa lạc tận cùng bờ mép của vũ trụ mà chúng ta có thể biết được, cách xa ta đến hàng tỉ năm ánh sáng là không hề đi ra khỏi hướng chỉ của con lắc.  Kết luận mà chúng ta rút ra được từ thí nghiệm này rất mực đặc biệt: Hoạt động của con lắc đồng hồ Foucault không hề dựa vào thái dương hệ này mà là vào những giải thiên hà xa nhất, hay nói một cách đúng đắn hơn, vào toàn thể vũ trụ, điều này cho thấy rằng hầu như tất cả vật chất biểu kiến được tìm thấy trong những giải thiên hà xa xôi nhất mà không phải là những tinh tú gần ta. Như thế cái gì xảy ra ở đây, trên Trái Đất này, đều được quyết định bởi cả toàn thể vũ trụ bao la. Cái gì xuất hiện trên ngôi hành tinh nhỏ bé này đều nương tựa vào toàn thể cấu trúc của vũ trụ.  Tại sao cái quả lắc đồng hồ lại ứng xử như vậy? Giống như thí nghiệm EPR buộc chúng ta chấp nhận rằng những tương tác hiện hữu trong thế giới vi mô vốn khác biệt với những gì được mô tả bởi khoa vật lý mà ta biết, cái đồng hồ quả lắc Foucault cũng hành xử tương tự như thế đối với thế giới vĩ mô. Những tương tác như thế không hề đặt cơ sở trên một lực hay một sự trao đổi năng lượng, và chúng nối kết với toàn thể vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta lại đi đến một kết luận rất gần gũi với ý niệm về duyên khởi của Phật giáo: mỗi bộ phận đều chứa đựng cái toàn thể, và mỗi bộ phận đều nương tựa vào tất cả các bộ phận khác.  4. Tánh Không hay là sự vắng mặt của một thực tại tự thân.  Ý niệm về duyên khởi dẫn ta đi thẳng đến một cái ý niệm quan trọng thứ ba của Phật giáo (hai cái kia là vô thường và duyên khởi): đó là “Tánh Không” hay “trống rỗng”. “Tánh không” ở đây không nên hiểu là “trống không”, “hư không” hay “vắng mặt của thế giới hiện tượng” như các nhà chú giải Tây phương trước đây quan niệm, nhưng là một vắng mặt của hiện hữu tự thân. Phật giáo không hề tán thành bất cứ hình thái nào của chủ nghĩa hư vô. Tánh không chẳng hề mang ý nghĩa là không hiện hữu. Nếu bạn đã không thể bàn về thực hữu thì bạn cũng không thể nói về phi hữu. Thế nên theo Phật giáo, tìm hiểu về bản chất phi thực của vạn pháp là một bộ phận thiết yếu trên hành trình tâm linh. Tánh không như vậy không phải chỉ là bản tánh chân thật của thế giới hiện tượng, mà còn ẩn chứa tiềm năng cho phép sự biểu hiện của cái thế giới thiên hình vạn trạng đó. Thánh giả Long Thọ của Phật giáo trong thế kỷ thứ hai đã nói: “Khi đã là không thì không có gì là không có” hay như một câu kinh nổi tiếng trong Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Nếu thực tại là thường hằng bất biến thì tất cả phẩm tánh của chúng cũng thế, chẳng có gì thay đổi. Như vậy, thế giới hiện tượng đã không thể hiện bày. Tuy nhiên do bởi vạn pháp không hề có một thực tại tự thân, chúng có thể hiện bày ra muôn vẻ.  Về vấn đề vắng mặt của một thực tại tự thân, khoa vật lý lượng tử một lần nữa cũng đã có những phát biểu tương tự khá đậm nét. Theo Bohr và Heisenberg, những nhân vật nhiệt thành ủng hộ của cái gọi là “Chú giải Copenhagen” về cơ học lượng tử, thì bây giờ chúng ta không còn có thể xem nguyên tử (atoms) và điện tử (electrons) như là những thực thể với những phẩm tánh xác định cụ thể, chẳng hạn như tốc độ, vị trí, vạch ra đồng đều trên những quỹ đạo xác định rõ. Ngược lại chúng ta phải xem chúng như là bộ phận của một thế giới được cấu thành bởi những tiềm lực chứ không phải là những vật thể hay sự kiện. Ánh sáng và vật chất có thể được xem là không có thực tại tự thân bởi vì chúng mang tính chất lưỡng tánh: có thể xuất hiện dưới dạng sóng hay hạt tùy theo thiết bị đo lường. Cái hiện tượng  chúng ta gọi là “photon” sẽ là một luồng sóng khi chúng ta tắt hết máy đo và không quan sát nó. Nhưng ngay lập tức khi ta cho thiết bị hoạt động làm công việc đo lường, nó lại xuất hiện như là một hạt. Những mặt của hạt và sóng không thể cách ly được. Ngược lại, chúng bổ túc lẫn nhau. Đó là điều mà Bohr gọi là “nguyên lý bổ túc”. Như thế, ngay trong bản tánh thực sự của ánh sáng và vật chất cũng đã tùy thuộc vào những mối liên hệ duyên khởi. Nó không còn là một tự thân mà thay đổi tùy theo sự tương tác giữa người quan sát và vật thể được quan sát. Như thế nói đến thực tại tự thân của một hạt, hay là cái thực tại mà nó sở hữu khi không được quan sát là điều hoàn toàn vô nghĩa bởi vì chúng ta không hề nắm bắt được nó. Và như vậy, theo Bohr, cái ý niệm về “nguyên tử” chẳng qua chỉ là một hình ảnh tiện dụng giúp cho những nhà vật lý tổng hợp những quan sát khác nhau về thế giới hạt, thành một phối hợp chặt chẽ, luận lý có hệ thống. Ông nhấn mạnh đến tính bất khả vượt ra khỏi những kết quả của những thí nghiệm và đo lường: “Trong khi mô tả về thế giới tự nhiên, mục đích của chúng ta không phải là để khám phá ra bản chất thực của hiện tượng, mà chỉ nhằm theo dõi mối liên hệ giữa rất nhiều khía cạnh của cuộc thí nghiệm, được chừng nào hay chừng nấy.” Schrodinger cũng đã từng cảnh báo chúng ta chống lại một cái nhìn thuần tuý vật chất về nguyên tử và những yếu tố cấu thành của chúng: “Tốt nhất là không nên nhìn về hạt như là một thực thể bất biến, mà ngược lại như là một sự kiện tức thời. Thỉnh thoảng những sự kiện tức thời này được nối kết lại cùng nhau và tạo ra cái ảo tưởng về những thực thể bất biến.” Ngành cơ học lượng tử như thế đã duyệt xét lại một cách cơ bản cái ý niệm của chúng ta về một vật thể, khi cho nó phụ thuộc vào sự đo lường, hay nói cách khác, vào một sự kiện. Cũng giống như trong Phật giáo, vạn pháp không hiện hữu, chỉ có mối liên hệ của chúng là hiện hữu.  (Kỳ sau xem tiếp: Đi tìm một Đấng tối cao)  Trịnh Xuân Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và Thơ      Khoa học v&#224; thơ. Thật t&#236;nh t&#244;i kh&#244;ng phải l&#224; người đầu ti&#234;n gh&#233;p hai phạm tr&#249; n&#224;y lại. T&#244;i đ&#227; đinh ninh thơ v&#224; khoa học tựa như người đẹp v&#224; qu&#225;i vật trong suốt 40 năm đầu đời, hay ba mươi mấy năm nếu kh&#244;ng t&#237;nh những năm đầu ti&#234;n chưa đi học, v&#236; n&#243;i cho c&#249;ng nhận thức về thơ v&#224; khoa học chủ yếu h&#236;nh th&#224;nh từ gi&#225;o dục.    Nhà trường dạy tôi rằng khoa học là kiến thức rõ ràng còn thơ là “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Khoa học là khách quan và phổ quát, còn thơ thì gánh chức năng “chở bao nhiêu đạo” rồi “đâm mấy thằng gian”. Khoa học gia là người nghiêm túc cần mẫn thẳng ngay, còn nhà thơ thì say xỉn, ngơ ngáo, điên rồ.   Đinh ninh như vậy tôi vừa ngáp vừa đi ngơ ngáo trong hành lang trường Đại học Clarkson. Phan thị Vàng Anh đi bên cạnh càu nhàu: Bây giờ ở Việt Nam mới 2 giờ sáng. Hai giờ sáng đi đọc thơ, có điên rồ không? Tôi thấy còn điên rồ hơn nữa khi những người sẽ nghe chúng tôi nói chuyện về thơ là bọn sinh viên khoa học. Lúc ấy là đầu năm 2000, Vàng Anh và tôi đi dự một festival về văn học nghệ thuật ở phía bắc tiểu bang New York, và chưa đầy 24 giờ sau hành trình 30 tiếng đồng hồ từ Việt Nam, chúng tôi bị đưa tới lớp học của Giáo sư Joseph Duemer. Lúc đi trong hành lang giáo sư đã giới thiệu ngắn gọn là trường Clarkson là nơi uy tín đào tạo khoa học gia và kỹ sư ở Bắc Mỹ, đại đa số sinh viên trong lớp sáng tác (creative writing) mà chúng tôi sắp gặp có major (môn học chính) là khoa học.   Vì vậy, sau khi trả lời những câu hỏi của bọn sinh viên về thi hứng, vần điệu, tu từ vân vân, tôi xin phép hỏi lại một câu. Mấy chục gương mặt sáng sủa tự tin nhìn tôi sẵn sàng. Tôi hỏi: Tại sao các bạn theo đuổi con đường khoa học kỹ thuật mà còn tìm hiểu thơ ca? Cả lớp ngớ ra, rồi có đứa nhún vai, có đứa hỏi lại “Tại sao không?”. Sau đó ông thầy của chúng nói đùa với tôi: Cô là người đầu tiên khiến cho lớp sinh viên xuất sắc ấy nín tịt trước một câu hỏi. Trong ngôi trường đào tạo kỹ sư này, người ta dạy cả văn chương, hội họa, âm nhạc, kịch nghệ, thể thao, và những loại hình sáng tạo mới mẻ cấp tiến khác, và sinh viên tự do chọn lớp học không hề thắc mắc tại sao mình bỏ thì giờ học vẽ hay tìm hiểu Mozart khi đã xác định sẽ trở thành kỹ sư hóa chẳng hạn. Như khi thiết kế khu phòng thí nghiệm giữa khu rừng cây tuyệt đẹp có những lối mòn để đi dạo hay chạy bộ, không ai thắc mắc là những người cặm cụi trong phòng thí nghiệm cả ngày sao lại còn đi dạo khi rừng cây đổi lá hay mặt đất nhú lên vô vàn chồi xuân.                     Dirac và Einstein là hai nhà khoa học đã đem lại cho khoa học hiện đại một số phương trình cơ bản, mà qua tính xúc tích, đơn giản, và năng lực mạnh mẽ, các phương trình đó có thể được xem là những bài thơ đẹp nhất của nhân loại của thế kỉ 21.        Mặc dù bọn sinh viên nói là “Chúng tôi sẽ suy nghĩ về câu hỏi này”, tôi biết tôi mới là người phải tìm hiểu về mối quan hệ giữa khoa học và thơ (văn chương và nghệ thuật nói chung). Vừa rồi tôi đọc một bài báo đăng trên Science Activities ( 01-01-2009) có tựa Marrying the Muse and the Thinker: Poetry as Scientific Writing (Hôn phối Nàng Thơ và Nhà Tư Tưởng: Thơ như sáng tác khoa học). Các tác giả bài báo tường trình một phối hợp thành công giữa một giáo viên hóa học và một giáo viên văn chương ở một trường trung học để dạy những khái niệm khoa học thông qua thơ (thơ thật sự, trong thí dụ dẫn chứng là thơ của John Updike, chứ không phải những câu vần vè để nhớ các định lý hay công thức hóa học). Thay vì phòng học với lủ khủ ống nghiệm, không gian được bố trí lại như một phòng đọc thoải mái, và đề bài tập sau một buổi học về thuộc tính của các chất khí là hãy làm một bài thơ về khí. Sau chút bối rối, học sinh bắt đầu vận dụng kỹ năng trong lớp thơ mà viết bài tập hóa học. Bài báo miêu tả: Học sinh phải vật lộn với kiến thức khoa học để cấu trúc một bài thơ chuyển tải được thông tin khoa học chính xác. Bài làm được đánh giá căn cứ vào tính sáng tạo thơ ca và sự thấu hiểu các nguyên lý khoa học. Qua sáng tác  văn học, học sinh đã diễn dịch thành công ngôn ngữ khoa học thành ngôn ngữ ẩn dụ mà không đánh mất tính chính xác khoa học.   Nhưng tại sao phải làm vậy? Mục tiêu không phải nhằm sản xuất thơ, mà bằng quá trình sáng tác văn học, rèn luyện kỹ năng nhà khoa học. Bài báo viết: Nhiều khoa học gia tin là sáng tác văn chương, như làm thơ viết truyện, thì không chính xác và chặt chẽ bằng báo cáo khoa học. Nhưng thành tựu gần đây của các nghiên cứu về não cho thấy báo cáo khoa học và sáng tác văn học có chung những đòi hỏi đối với người viết là thu thập, tổng hợp và tổ chức thông tin (Key, 1994). Trong nghiên cứu khoa học, cũng như trong những lĩnh vực khác, viết là quá trình quan trọng nhất để sinh viên xây dựng tri thức, bày tỏ phản ứng cá nhân đối với các vấn đề, và gạn lọc các ý tưởng. Thông qua quá trình viết để diễn dịch thông tin ra ngôn từ, sinh viên lấp được khoảng trống giữa hiểu biết đơn thuần và hấp thu tri thức thực sự. Các thể loại sáng tác văn học giúp sinh viên hấp thu tri thức khoa học bằng cách giúp chúng diễn đạt sự suy tư khoa học bằng chính giọng điệu của mình.   Kết luận của bài báo là: Kết quả các bài làm của những lớp khoa học kết hợp văn chương này cho thấy sinh viên có thể thu được lợi ích quan trọng, giúp chúng truyền bá được tri thức khoa học ra ngoài cộng đồng khoa học. Giáo trình phối hợp khoa học và văn học, phát huy cả phần bên trái lẫn bên phải của não, tạo ra một cái cầu nối hoạt động khoa học và hoạt động văn học, khiến sinh viên tự tin vào khả năng thấu hiểu những khái niệm khoa học lẫn văn học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa  học và văn hóa      Ngày nay, nhiều nghiên cứu triết học về khoa học đã cho thấy khoa học giữ một vị trí trọng yếu trong văn hóa hiểu theo nghĩa rộng: chính ở trong khoa học mà bản chất văn hóa duy lý của con người được thể hiện ra. Vì vậy việc tách rời khoa học khỏi những gắn kết văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) đem lại thiệt hại cho cả khoa học lẫn văn hóa.        Hoạt động nghiên cứu khoa học được hiểu là do một nhóm ít người trong xã hội – cộng đồng các nhà khoa học- thực hiện. Cộng đồng các nhà khoa học được hình thành ở phương Tây trong một quá trình lịch sử nhiều thế kỷ với một hệ thống giá trị văn hóa đặc thù đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động khoa học. Cộng đồng các nhà khoa học đã không thể có được thành tựu nào, nếu chỉ thuần túy dựa vào lý thuyết và phương pháp không thôi. Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp họ đã hình thành được một hệ thống đạo đức gắn bó chặt chẽ với tính duy lý khoa học: tính bất vụ lợi, tính trung thực, thái độ hoài nghi có tổ chức (cho phép phê phán). Hình thức đạo đức ấy của cộng đồng các nhà khoa học không chỉ là tính duy lý minh triết mà còn luôn luôn là mẫu mực của nhân cách. Đây cũng chính là ý nghĩa nguyên thủy của khoa học trong lịch sử của tính duy lý phương Tây bắt nguồn từ triết học Hy Lạp. Thuật ngữ “lý thuyết” theo Aristotle hàm ý một định hướng tổng quát cho cuộc sống. Cuộc sống xô bồ trong xã hội hiện đại đôi khi làm lu mờ đi ý nghĩa của lý thuyết như một cách sống..        Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, họ đã hình thành được một hệ thống đạo đức gắn bó chặt chẽ với tính duy lý khoa học: tính bất vụ lợi, tính trung thực, thái độ hoài nghi có tổ chức (cho phép phê phán). Hình thức đạo đức ấy của cộng đồng các nhà khoa học không chỉ là tính duy lý minh triết mà còn luôn luôn là mẫu mực của nhân cách.         Trong thế giới hiện đại con người dựa vào khoa học để xây dựng, sản xuất, quản lý và phá hủy, hệ quả là con người đã tạo ra một thế giới khác biệt hẳn với thế giới xưa kia – cái thế giới mà con người đã di chuyển trong đó như một kẻ xa lạ đi khám phá miền đất lạ. Thế giới hiện đại nay ngày càng có nhiều tính nhân tạo hơn và ít tính tự nhiên hơn, mặc dù không vì thế mà nó bớt mong manh hơn; đồng thời đã trở nên phụ thuộc vào khoa học ở một mức độ mà mỗi thành tựu mới của khoa học đều có thể đụng chạm tới nền tảng của chúng. Chỉ cần nhắc tới sự xuất hiện và phát triển của mạng thông tin viễn thông cũng đủ chứng minh điều này. Sự phụ thuộc này không chỉ có mặt sáng mà có cả mặt tối của nó. Những biến đổi khí hậu và môi trường gây ra bởi nền sản xuất công nghiệp là một trong nhiều minh chứng. Những người lạc quan hy vọng rằng mọi vấn đề phát sinh ra từ khoa học thì cũng có thể được giải quyết bằng khoa học. Những người bi quan lo âu cho một kết cục bi thảm của sự phát triển đầy phiêu lưu này. Dù sao đi nữa để giải quyết vấn đề cũng không thể nào đơn giản ra một mệnh lệnh kiềm chế khoa học và kỹ thuật. Thế giới thực sự phải đối mặt với tình thế lưỡng nan của sự tiến bộ do khoa học nâng đỡ cùng với những hệ quả của nó. Thật sai lầm nếu cho rằng những vấn đề nảy sinh có thể được giải quyết mà không cần tới khoa học. Sự suy giảm trong nghiên cứu khoa học đang bộc lộ ra có thể sẽ đưa thế giới hiện đại tới trạng thái mất khả năng phản ứng lại một cách đúng đắn.  ***  Nước ta đang ở trong quá trình hội nhập với thế giới, buộc phải đối mặt không chỉ với những thách thức chung của thời đại, mà còn phải đối mặt với sự lạc hậu trong nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của việc xây dựng nền khoa học quốc gia. Chúng ta đang có nhiều ngộ nhận về khoa học dẫn đến những hành động hồ đồ trong việc xây dựng cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học. Hệ quả là chúng ta có quá nhiều hiện tượng không giống ai khiến dư luận xã hội khá hoang mang.   Nguyên nhân sâu xa là do suốt mấy trăm năm tiếp xúc với văn hóa phương Tây, các vị hiền triết của ta đã không nghiên cứu, tìm hiểu một cách nghiêm túc để hiểu rõ thực chất của khoa học là gì. Các nho sĩ thời nhà Nguyễn đã chê bai khoa học kỹ thuật phương Tây là “dâm xảo” vì “không có ngũ hành tương sinh tương khắc” và như thế thì “trái lý và bất hợp với cổ xưa”. Thời kỳ sau cách mạng, khoa học kỹ thuật được tôn vinh như chìa khoá giúp đất nước mở cánh cửa công nghiệp hoá. Tuy nhiên, xã hội lại chỉ chú ý đến hệ quả thực dụng của khoa học thể hiện trong những ứng dụng công nghệ. Chúng ta đã gửi nhiều sinh viên ra các nước có nền khoa học tiên tiến để đào tạo họ thành các nhà khoa học chuyên nghiệp, nhưng ta lại không nghiên cứu những đặc thù văn hóa của cộng đồng các nhà khoa học để có quy chế thích hợp cho hoạt động nghề nghiệp của họ. Các tổ chức đại học, viện nghiên cứu và các hội nghề nghiệp của ta chỉ có vẻ bề ngoài là giống với các tổ chức có tên gọi tương ứng ở các nước tiên tiến, song về thực chất thì lại khác biệt rất nhiều.  Các nhà khoa học của các nước tiên tiến cũng cần có giao lưu với đồng nghiệp ở các nước khác. Tôi cho rằng sự tương đồng chỉ có ở vẻ bề ngoài của hiện tượng. Thực chất nằm ở chỗ các nhà khoa học ở các nước tiên tiến hoạt động trong một môi trường văn hóa nghề nghiệp với những chuẩn mực đạo đức nghiêm khắc mà chúng ta không có. Nhìn bề ngoài họ có vẻ tự do thoải mái với nhau, song khi đi vào công việc thì tất cả đều rất nghiêm túc và thể hiện những phẩm chất đạo đức mà tôi đã nhắc tới ở trên: tính bất vụ lợi, tính trung thực, thái độ hoài nghi có tổ chức. Họ là những chủ thể tự nguyện liên kết với nhau theo nghề nghiệp trong một tập thể mà họ đều mong muốn giữ gìn uy tín cho nó. Những phẩm chất đạo đức ấy hình thành trong quá trình hàng trăm năm từ hình thức sơ khai của các phường hội thời trung đại cho đến các hình thức hiện đại của đại học và các viện nghiên cứu, trải qua cuộc đấu tranh lâu dài đầy khó khăn để thoát khỏi ảnh hưởng chuyên chế của Giáo hội và Nhà nước. Khi họ nói về sự tự chủ của đại học hay viện nghiên cứu là họ nói tới sự tự chủ của tập thể có tổ chức của các nhà khoa học với những phẩm chất đạo đức như thế. Lẽ dĩ nhiên trong thực tế không có một đại học hay viện nghiên cứu nào có phẩm chất hoàn mỹ lý tưởng, nhưng có thể khẳng định rằng nhờ có những phẩm chất ấy của các nhà khoa học mà các tổ chức đại học và viện nghiên cứu của họ tồn tại được tới ngày nay trong sự kính trọng của xã hội.  Đại học và viện nghiên cứu cùng với khoa học của phương Tây du nhập vào nước ta và được Nhà nước tổ chức quản lý theo mô hình “hành chính sự nghiệp”. Với cung cách quản lý như vậy dù có thiện ý đến mấy các nhà quản lý cũng không thể làm thay những chức năng vốn thuộc lãnh vực tự chủ, tự quản của các nhà khoa học. Vì vậy tôi cho rằng đã đến lúc phải suy nghĩ lại cung cách quản lý hiện hữu theo chiều hướng từ bỏ kiểu quản lý hành chính và từng bước xây dựng các tập thể tự chủ của các nhà khoa học. Có lẽ bắt đầu từ khoa học cơ bản với lĩnh vực lý thuyết (như toán học, vật lý lý thuyết…) là thích hợp nhất vì thực ra trong lĩnh vực này các nhà khoa học biết nhau rất rõ.   Khó khăn trước hết ở phía các nhà quản lý không muốn từ bỏ quyền đưa ra các quy chế thuận tiện cho mình, nhưng trở ngại cũng nằm ở phía các nhà khoa học đã quá quen thuộc với việc được người khác chăn dắt. Nếu các nhà khoa học không cảm nhận được nhu cầu tự tổ chức mình thành một cộng đồng biết gìn giữ đạo đức nghề nghiệp để tự bảo vệ uy tín, nếu họ không tự vượt lên bản thân mình thì việc những người khác đành phải quản lý họ theo cung cách không thích đáng sẽ là việc làm hợp lý.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học về cái phức tạp      Giáo sư Phan Đình Diệu (1936 -2018) – một nhà khoa học, một nhân cách lớn, mới qua đời ngày 13/5. Nhớ về ông, Tia Sáng đăng tải lại bài viết “Khoa học về cái phức tạp” do ông viết trên Tia Sáng số ra ngày 05 tháng 3 năm 2009.        GS Phan Đình Diệu và GS Nguyễn Văn Đạo. Ảnh: Bùi Tuấn/ Vietnamnet.  Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, như lời của tác giả J.Gleich, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21.  Khoa học hiện đại vốn được phát triển từ kỷ nguyên Khai sáng (Enlightenment) ở thế kỷ 17, khởi đầu bởi những phát minh của Kepler, Galilei và Newton về các định luật của vận động vật chất và bởi sự thúc đẩy mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp. Với những phát minh đó, lần đầu tiên con người tìm được một cách nhận thức thế giới bằng “phương pháp khoa học” mà không cần dựa vào một sức mạnh thần thánh nào hay phải viện đến những liên cảm huyền bí nào giữa trí tuệ con người với một tinh thần hay linh hồn của tự nhiên. Và cũng do đó, “khoa học” đã được phát triển trước hết và mạnh mẽ ở các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên như cơ học, vật lý học, thiên văn học, v.v… Các “phương pháp khoa học” được phát triển và hoàn thiện dần bởi tư duy cơ giới Newton và Descartes, tất định luận Laplace, …, và được hỗ trợ đắc lực bởi các công cụ sắc bén là giải tích toán học (cũng được phát minh bởi Newton và Leibniz) và phép suy luận của logic hình thức. May mắn thay, phương pháp khoa học đó đã cung cấp cho con người các mô hình toán học định lượng phù hợp với thực tế vật lý với một độ chính xác gần như tuyệt đối (một độ chính xác mà E.Weigner coi là “phi lý” đến không tưởng tượng nổi!), cho nên những tri thức mà khoa học sản sinh ra được con người xem như là chân lý, những “chân lý khách quan” về thế giới tự nhiên. Để thích hợp với khả năng của tư duy cơ giới và các phương pháp phân tích, các mô hình toán học được lựa chọn để sử dụng thường là các mô hình tuyến tính (linear), hoặc được quy giản về các mô hình tuyến tính. Đó cũng là lý do mà người ta cũng thường gọi phép tư duy khoa học theo tinh thần kể trên là tư duy cơ giới, tư duy tuyến tính. Từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20 các quan điểm và phương pháp khoa học cũng đã dần dần được ứng dụng vào việc nghiên cứu trong các lĩnh vực của sự sống, rồi của kinh tế xã hội, và cả của văn học, thi ca, nghệ thuật,…, với niềm tin rằng “có những luật tự nhiên thống trị xã hội loài người tương tự như đã thống trị thế giới vật lý”. Kinh tế học là một lĩnh vực được “khoa học hoá” khá sớm và liên tục, và nhiều lý thuyết khoa học về kinh tế đã có ảnh hưởng đậm nét lên sự phát triển kinh tế và xã hội loài người trong suốt thế kỷ vừa qua. Nhiều học thuyết về xã hội, về nhân văn, để có sức hấp dẫn và thuyết phục nhiều hơn cũng cố gắng phát triển theo tinh thần “khoa học” và mang thêm một tính từ “khoa học” vào tên gọi của mình, chẳng hạn, học thuyết về chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lenin được gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học. Một tri thức được xem là một chân lý khách quan nếu nó được suy ra từ các phương pháp khoa học, những thuộc tính như cân bằng, ổn định, đối xứng, hài hoà, tiên đoán được, v.v…, là những thuộc tính của các đối tượng tất định, tuyến tính do khoa học nghiên cứu, được xem như những chuẩn mực của cái hay, cái đẹp trong cuộc sống, thậm chí cả trong văn chương, thi ca, nghệ thuật.      Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hình như chính trong những hỗn tạp và cát bụi đó mà con người tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quí của mình. Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghiêm túc nghĩ đến việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình.      Cứ như vậy, niềm tin của chúng ta vào cái đúng đắn gần như tuyệt đối của các “chân lý khoa học”, cái hay cái đẹp chuẩn mực của các tri thức khoa học cứ được bồi đắp dần ngày càng thêm vững chắc trong nhận thức của ta cho đến thế kỷ 20 vừa qua. Rồi cuối cùng cũng đã đến lúc, ở nơi này hay nơi khác, từ địa hạt này sang địa hạt khác, ta chợt bừng thức dậy mà nhận ra rằng cuộc đời này, thế giới này hình như có nhiều thứ không ngoan ngoãn tuân theo những điều răn dạy của cái “khoa học” mà ta hằng tin tưởng đó. Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”. Ta trở lại đối mặt với một tự nhiên và cuộc đời như nó vốn có, đầy cát bụi trần gian, lô nhô khúc khuỷu, gãy vỡ quanh co, chứ đâu có thẳng băng, tròn trịa như các hình vẽ của khoa học hình thức. Ta nhận ra điều đó cả từ trong chính bản thân phần cốt lõi tri thức của khoa học, cả từ những lĩnh vực ứng dụng khoa học đang có nhiều hứa hẹn thành công. Lấy thí dụ trong kinh tế học. Để có được những mô hình toán học với các thuộc tính đẹp đẽ như cân bằng, ổn định, từ rất lâu ta đã giả thiết là trong kinh tế thị trường có sự thống trị của luật về tỷ suất lợi nhuận giảm dần (law of diminishing returns), dù rằng từ cuối thế kỷ 19 và đặc biệt sang đầu thế kỷ 20 có những nhà kinh tế học như A.A.Young đã đề xuất việc đưa vào nghiên cứu trong kinh tế học cả luật đối nghịch về tỷ suất lợi nhuận tăng dần (increasing returns) nhưng đã bị từ chối vì một lẽ đơn giản là nếu làm vậy thì có nguy cơ “lật nhào kinh tế học hiện đại”! Chỉ đến vài thập niên cuối của thế kỷ 20, với sự kiên trì thuyết phục của một số nhà kinh tế học trẻ như B.Arthur, P.Romer, và với những bằng chứng hiển nhiên từ nền kinh tế tri thức công nghệ cao, luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần mới tìm được chỗ đứng của mình trong kinh tế học. Thừa nhận luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần cũng có nghĩa là thừa nhận trong các hệ thống kinh tế không chỉ có cân bằng, ổn định, mà còn có thể có cả những trồi sụt thất thường, những hỗn độn và bất trắc.    Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?  Hỗn độn và bất trắc, nghe lạ tai nhưng ngẫm cho kỹ hoá ra lại là chuyện thường ngày! Nhưng, hỗn độn từ đâu sinh ra vậy? Câu hỏi oái oăm này, đến lượt mình, may thay lại do chính cái phần lõi của tri thức khoa học tìm được câu trả lời. Vào thập niên 1970, bằng cách mô phỏng trên máy tính điện tử quỹ đạo nghiệm của một hệ phương trình vi phân mô tả bài toán dự báo thời tiết, E.Lorenz đã phát hiện quỹ đạo đó không hội tụ về một điểm cân bằng nào cả mà ngày càng vươn ra xa, toả ra như hai cánh bướm khổng lồ, một hình ảnh đẹp của cái mà về sau thường được gọi là “hiệu ứng cánh bướm” diễn tả mối “phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu”, một vẫy nhẹ như cánh bướm ở Bắc Kinh có thể gây nên một trận cuồng phong bão tố ở châu Mỹ! Qua nhiều thực nghiệm mô phỏng khác nữa với các mô hình trong sinh thái học, trong kinh tế, v.v…người ta nhận thấy rằng nhiều hành vi đi đến hỗn độn (chaos) tương tự như vậy đều có thể phát sinh từ trong động lực học của các hệ thống được mô tả bởi các phương trình vi phân hoặc sai phân tất định tương đối đơn giản, với điều kiện là trong các phương trình đó phải có những phương trình phi tuyến (non-linear)! Như vậy là, cái hỗn độn, cái mất trật tự không nhất thiết phải tìm nguyên nhân ở đâu bên ngoài hệ thống, mà có thể phát sinh ngay từ bên trong hệ thống, các hệ thống tuân theo những luật tất định, miễn là có các yếu tố phi tuyến. Mà, trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học? Vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ 20, nhà toán học B. Mandelbrot đã phát minh ra một thứ hình học của các fractal, tức là của các hình hình học gãy vỡ, có thể chia ra nhiều cấp độ, mỗi phần ở cấp độ dưới lại “đồng dạng” với phần ở cấp độ trên và với toàn thể, những hình kỳ lạ, điểm mà không là điểm, đường mà không là đường, mặt mà không là mặt,…, và được nhiều người tuyên bố rằng đó mới thực là hình học của tự nhiên; các fractal có là các hình hình học của tự nhiên hay không thì ta còn có thì giờ để xem xét, nhưng ít nhất thì ngay sau khi ra đời không lâu, chúng đã là các hình hình học gắn bó mật thiết với các đối tượng của lý thuyết hỗn độn (chaos theory), các tập hút hỗn độn, các vùng hút hỗn độn, các biên giới giữa các vùng hút hỗn độn được chứng tỏ đều là các fractal. Và vì vậy, từ mấy chục năm nay, fractal cùng với chaos (hỗn độn) đã thường đi liền với nhau trong các ứng dụng của “khoa học mới” vào các vấn đề của kinh tế học cũng như của văn học, nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng cần nói rằng các ứng dụng đó cũng chỉ có thể xem là những bước khởi đầu, và vì là chỉ mới ở những bước khởi đầu nên có rất nhiều những ý kiến khác nhau, chưa có được sự đồng thuận chung. Ứng dụng fractal và chaos vào kinh tế học hay văn học cũng mới tập trung vào những vấn đề như khảo sát tính chất fractal của các tập dữ liệu mô tả sự trồi sụt thất thường về giá cả giao dịch của các thị trường chứng khoán, hay của các bản phân tích chuỗi thời gian về sự lên xuống dao động của các âm thanh nhịp điệu khi đọc một văn bản thơ ca,…; những nghiên cứu như vậy nhằm tìm hiểu các “trật tự” ẩn náu trong hoặc được phát sinh từ các cấu trúc hỗn độn của các hệ thống kinh tế hay các văn bản văn học.   Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, như lời của tác giả J.Gleich, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Diễn biến của tình hình trong mấy chục năm qua đã bước đầu chứng thực điều khẳng định đó. Trước hết, từ tất cả các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên và kinh tế xã hội, người ta đều thừa nhận rằng các hệ thống thực tế mà chúng ta cần tìm hiểu đều là các hệ thống phức tạp, nói chung là không tất định và không tuyến tính, có những hành vi hay động thái phát triển không đều đặn, trơn tru, khó mà tiên đoán được, v.v… Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hình như chính trong những hỗn tạp và cát bụi đó mà con người tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quí của mình. Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghiêm túc nghĩ đến việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình. Đối tượng nghiên cứu của khoa học mới này là cái phức tạp, các hệ thống phức tạp, tức các hệ thống bao gồm nhiều thành phần bộ phận, mỗi bộ phận cũng là một hệ thống có thể có hành vi phức tạp, không tuyến tính, các bộ phận tương tác với nhau bởi nhiều mối quan hệ đa dạng, v.v… Hành vi của các hệ thống như vậy hiển nhiên là rất phức tạp, có hỗn độn, có trật tự, và có những chuyển hoá giữa hỗn độn và trật tự. Không có mô hình lý thuyết chung cho những hệ thống như vậy, mà tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu ta có thể xây dựng những mô hình riêng; vì đối tượng là hết sức đa dạng nên cũng không thể có một số phương pháp hình thức chung cho việc nghiên cứu, ta có thể vẫn sử dụng các “phương pháp khoa học” cũ (như phân tích định lượng và suy luận logíc) cho việc nghiên cứu ở một số bài toán cụ thể có tính địa phương và cục bộ, còn nói chung, nhất là với những bài toán thuộc về toàn thể của toàn hệ thống thì cần vận dụng cả những suy luận định tính, những cảm nhận trực tiếp bằng trực cảm trí tuệ thông qua các giác quan của người nghiên cứu. Để trợ giúp cho những suy luận và cảm nhận như vậy thì với công cụ mạnh là máy tính điện tử hiện nay, các phương pháp có hiệu quả nhất là mô hình hoá và mô phỏng bằng đồ hoạ máy tính.      Trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?      Với những quan điểm và phương pháp nghiên cứu như trình bày sơ lược ở trên, “khoa học mới” về phức tạp có nội dung là nghiên cứu các hiện tượng và hành vi của các hệ thống phức tạp trong nhiều lĩnh vực khác nhau mà những chủ đề chung là các vấn đề về liên kết, ảnh hưởng của tính phi tuyến đến các hành vi hỗn độn và phức tạp, hành vi của hệ thống trong các trạng thái hỗn độn, phi cân bằng, “ở bên bờ hỗn độn” (at the edge of chaos), những khả năng tự tổ chức của hệ thống, và nói chung, khả năng hợp trội (emergence) của hệ thống trong các trạng thái xa cân bằng, ở bên bờ hỗn độn, để tạo lập nên những trật tự mới, sáng tạo những thuộc tính mới của hệ thống – khả năng hợp trội được xem là chìa khoá để tìm hiểu bản chất của sáng tạo trong quá trình tiến hoá của mọi hệ thống, từ các hệ thống trong sinh học, sinh thái học, cho đến các hệ thống kinh tế, xã hội, trong hoạt động của các hệ thần kinh, các hệ cảm thụ và nhận thức của con người. Khoa học mới ra đời chưa lâu, ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực nhận thức nông sâu còn nhiều khác nhau, nhưng ta có thể tin rằng ảnh hưởng đó chắc chắn sẽ được phát triển sâu rộng một cách nhanh chóng trong thế kỷ 21, thế kỷ mà ta đang sống.  Đối với các lĩnh vực nghiên cứu về xã hội và nhân văn, những ý tưởng cơ bản của “khoa học mới” tỏ ra rất thích hợp. Kinh tế học trong thời gian gần đây, với sự chấp nhận luật “tỷ suất lợi nhuận tăng dần” và các hệ quả của nó, đã được chứng tỏ là rất phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế tri thức công nghệ cao trong tiến trình toàn cầu hoá. Trong các nghiên cứu về xã hội và chính trị, các ý tưởng về tiến hoá bằng hợp trội đang góp phần tích cực trong việc giải thích nhiều hiện tượng thực tế, hợp trội trong tình trạng ở bên bờ hỗn độn chủ yếu được tiến hành bằng sự thích nghi, mà bản chất của hoạt đông thích nghi là khả năng học, học để hiểu mình, học để hiểu người, hiểu đối tượng, và do đó sẽ tìm được khả năng đồng tiến hoá trong hợp trội để tạo nên trật tự mới. Trong văn học nghệ thuật, “khoa học mới” đang góp phần cung cấp những ý tưởng mới, những “khung mẫu” mới cho các khuynh hướng “hậu hiện đại” cổ vũ cho những “tiểu tự sự”, những chuyện cục bộ, ngẫu nhiên, tình cờ và nhất thời,… hơn là những “đại tự sự”, những chuyện có lớp lang bài bản, những chân lý phổ quát, bền vững và lâu dài. Trong mọi lĩnh vực của nhận thức, “khoa học mới” sẽ không cung cấp cho ta một cái lõi tri thức vạn năng để áp dụng được vào mọi lĩnh vực riêng, mà chỉ gợi cho ta một số ý niệm và cách thức để từ đó mỗi lĩnh vực sẽ tự tìm cho mình những tri thức mà mình tự xem là cần có để ứng dụng trong các tình huống cụ thể của mình.  ***  Nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển “công nghiệp hoá và hiện đại hoá”. Trong mọi lĩnh vực, ta đang cố phấn đấu để nhanh chóng được “hiện đại hoá”. Nhưng ta cũng đang sống trong thời đại mà thế giới đang biến chuyển từ thời hiện đại sang một thời mà người ta gọi là “hậu hiện đại”. Tôi nghĩ rằng, về nhiều mặt của cuộc sống ta cũng không đứng ngoài ảnh hưởng của những ý tưởng “hậu hiện đại” đang có khả năng được toàn cầu hoá trong sự phát triển thế giới hiện nay. Và trong môi trường đó, hằng ngày ta sẽ gặp những vấn đề mà nhận thức của ta đòi hỏi được lý giải theo những khung mẫu tư duy của “khoa học mới”. Vì vậy, từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội cho đến các lĩnh vực văn hoá, văn chương nghệ thuật, việc tham gia nghiên cứu “khoa học mới” để tìm kiếm cho nhận thức của mình con đường đi thích hợp có lẽ cũng không phải là điều quá sớm.       Author                Phan Đình Diệu        
__label__tiasang Khoa học về cái phức tạp      Việc ph&#225;t hiện ra c&#225;c hiện tượng hỗn độn hay c&#225;c fractal, đ&#227; tạo ra một &#8220;khoa học mới&#8221;, khoa học về c&#225;c hệ thống phức tạp, v&#224; nh&#236;n trước rằng đ&#243; sẽ l&#224; khoa học của thế kỷ 21. Thế giới tự nhi&#234;n v&#224; x&#227; hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những g&#236; m&#224; &#8220;khoa học&#8221; đ&#227; h&#236;nh dung trước đ&#243;, đầy những hỗn tạp thi&#234;n nhi&#234;n v&#224; c&#225;t bụi trần thế, v&#224; h&#236;nh như ch&#237;nh trong những hỗn tạp v&#224; c&#225;t bụi đ&#243; m&#224; con người t&#236;m ra được vẻ đẹp ch&#226;n thực của cuộc sống v&#224; lẽ sống cao qu&#237; của m&#236;nh. Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đ&#227; nghi&#234;m t&#250;c nghĩ đến việc phải x&#226;y dựng một khoa học mới, khoa học về c&#225;i phức tạp, hay về c&#225;c hệ thống phức tạp, để l&#224;m cơ sở chung cho những nhận thức mới của m&#236;nh.    Khoa học hiện đại vốn được phát triển từ kỷ nguyên Khai sáng (Enlightenment) ở thế kỷ 17, khởi đầu bởi những phát minh của Kepler, Galilei và Newton về các định luật của vận động vật chất và bởi sự thúc đẩy mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp. Với những phát minh đó, lần đầu tiên con người tìm được một cách nhận thức thế giới bằng “phương pháp khoa học” mà không cần dựa vào một sức mạnh thần thánh nào hay phải viện đến những liên cảm huyền bí nào giữa trí tuệ con người với một tinh thần hay linh hồn của tự nhiên. Và cũng do đó, “khoa học” đã được phát triển trước hết và mạnh mẽ ở các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên như cơ học, vật lý học, thiên văn học, v.v… Các “phương pháp khoa học” được phát triển và hoàn thiện dần bởi tư duy cơ giới Newton và Descartes, tất định luận Laplace, …, và được hỗ trợ đắc lực bởi các công cụ sắc bén là giải tích toán học (cũng được phát minh bởi Newton và Leibniz) và phép suy luận của logích hình thức. May mắn thay, phương pháp khoa học đó đã cung cấp cho con người các mô hình toán học định lượng phù hợp với thực tế vật lý với một          Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”.          độ chính xác gần như tuyệt đối (một độ chính xác mà E.Weigner coi là “phi lý” đến không tưởng tượng nổi!), cho nên những tri thức mà khoa học sản sinh ra được con người xem như là chân lý, những “chân lý khách quan” về thế giới tự nhiên. Để thích hợp với khả năng của tư duy cơ giới và các phương pháp phân tích, các mô hình toán học được lựa chọn để sử dụng thường là các mô hình tuyến tính (linear), hoặc được qui giản về các mô hình tuyến tính. Đó cũng là lý do mà người ta cũng thường gọi phép tư duy khoa học theo tinh thần kể trên là tư duy cơ giới, tư duy tuyến tính. Từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20 các quan điểm và phương pháp khoa học cũng đã dần dần được ứng dụng vào việc nghiên cứu trong các lĩnh vực của sự sống, rồi của kinh tế xã hội, và cả của văn học, thi ca, nghệ thuật,…, với niềm tin rằng “có những luật tự nhiên thống trị xã hội loài người tương tự như đã thống trị thế giới vật lý”. Kinh tế học là một lĩnh vực được “khoa học hoá” khá sớm và liên tục, và nhiều lý thuyết khoa học về kinh tế đã có ảnh hưởng đậm nét lên sự phát triển kinh tế và xã hội loài người trong suốt thế kỷ vừa qua. Nhiều học thuyết về xã hội, về nhân văn, để có sức hấp dẫn và thuyết phục nhiều hơn cũng cố gắng phát triển theo tinh thần “khoa học” và mang thêm một tính từ “khoa học” vào tên gọi của mình, chẳng hạn, học thuyết về chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lenine được gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học. Một tri thức được xem là một chân lý khách quan nếu nó được suy ra từ các phương pháp khoa học, những thuộc tính như cân bằng, ổn định, đối xứng, hài hoà, tiên đoán được, v.v…, là những thuộc tính của các đối tượng tất định, tuyến tính do khoa học nghiên cứu, được xem như những chuẩn mực của cái hay, cái đẹp trong cuộc sống, thậm chí cả trong văn chương, thi ca, nghệ thuật.   Cứ như vậy, niềm tin của chúng ta vào cái đúng đắn gần như tuyệt đối của các “chân lý khoa học”, cái hay cái đẹp chuẩn mực của các tri thức khoa học cứ được bồi đắp dần ngày càng thêm vững chắc trong nhận thức của ta cho đến thế kỷ 20 vừa qua. Rồi cuối cùng cũng đã đến lúc, ở nơi này hay nơi khác, từ địa hạt này sang địa hạt khác, ta chợt bừng thức dậy mà nhận ra rằng cuộc đời này, thế giới này hình như có nhiều thứ không ngoan ngoãn tuân theo những điều răn dạy của cái “khoa học” mà ta hằng tin tưởng đó. Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”. Ta trở lại đối mặt với một tự nhiên và cuộc đời như nó vốn có, đầy cát bụi trần gian, lô nhô khúc khuỷu, gãy vỡ quanh co, chứ đâu có thẳng băng, tròn trịa như các hình vẽ của khoa học hình thức. Ta nhận ra điều đó cả từ trong chính bản thân phần cốt lõi tri thức của khoa học, cả từ những lĩnh vực ứng dụng khoa học đang có nhiều hứa hẹn thành công. Lấy thí dụ trong kinh tế học. Để có được những mô hình toán học với các thuộc tính đẹp đẽ như cân bằng, ổn định, từ rất lâu ta đã giả thiết là trong kinh tế thị trường có sự thống trị của luật về tỷ suất lợi nhuận giảm dần (law of diminishing returns), dù rằng từ cuối thế kỷ 19 và đặc biệt sang đầu thế kỷ 20 có những nhà kinh tế học như A.A.Young đã đề xuất việc đưa vào nghiên cứu trong kinh tế học cả luật đối nghịch về tỷ suất lợi nhuận tăng dần (increasing returns) nhưng đã bị từ chối vì một lẽ đơn giản là nếu làm vậy thì có nguy cơ “lật nhào kinh tế học hiện đại”! Chỉ đến vài thập niên cuối của thế kỷ 20, với sự kiên trì thuyết phục của một số nhà kinh tế học trẻ như B.Arthur, P.Romer, và với những bằng chứng hiển nhiên từ nền kinh tế tri thức công nghệ cao, luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần mới tìm được chỗ đứng của mình trong kinh tế học. Thừa nhận luật tỷ suất lợi nhuận tăng dần cũng có nghĩa là thừa nhận trong các hệ thống kinh tế không chỉ có cân bằng, ổn định, mà còn có thể có cả những trồi sụt thất thường, những hỗn độn và bất trắc.   Hỗn độn và bất trắc, nghe lạ tai nhưng ngẫm cho kỹ hoá ra lại là chuyện thường ngày! Nhưng, hỗn độn từ đâu sinh ra vậy? Câu hỏi oái oăm này, đến lượt mình, may thay lại do chính cái phần lõi của tri thức khoa học tìm được câu trả lời. Vào thập niên 1970, bằng cách mô phỏng trên máy tính điện tử quĩ đạo nghiệm của một hệ phương trình vi phân mô tả bài toán dự báo thời tiết, E.Lorenz đã phát hiện quĩ đạo đó không hội tụ về một điểm cân bằng nào cả mà ngày càng vươn ra xa, toả ra như hai cánh bướm khổng lồ, một hình ảnh đẹp của cái mà về sau thường được gọi là “hiệu ứng cánh bướm” diễn tả mối “phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu”, một vẫy nhẹ như cánh bướm ở Bắc Kinh có thể gây nên một trận cuồng phong bão tố ở châu Mỹ! Qua nhiều thực nghiệm mô phỏng khác nữa với các mô hình trong sinh thái học, trong kinh tế, v.v…người ta nhận thấy rằng nhiều hành vi đi đến hỗn độn (chaos) tương tự như vậy đều có thể phát sinh từ trong động lực học của các hệ thống được mô tả bởi các phương trình vi phân hoặc sai phân tất định tương đối đơn giản, với điều kiện là trong các phương trình đó phải có những phương trình phi tuyến (non-linear)! Như vậy là, cái hỗn độn, cái          Trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?          mất trật tự không nhất thiết phải tìm nguyên nhân ở đâu bên ngoài hệ thống, mà có thể phát sinh ngay từ bên trong hệ thống, các hệ thống tuân theo những luật tất định, miễn là có các yếu tố phi tuyến. Mà, trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,…đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học? Vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ 20, nhà toán học B. Mandelbrot đã phát minh ra một thứ hình học của các fractal, tức là của các hình hình học gãy vỡ, có thể chia ra nhiều cấp độ, mỗi phần ở cấp độ dưới lại “đồng dạng” với phần ở cấp độ trên và với toàn thể, những hình kỳ lạ, điểm mà không là điểm, đường mà không là đường, mặt mà không là mặt,…, và được nhiều người tuyên bố rằng đó mới thực là hình học của tự nhiên; các fractal có là các hình hình học của tự nhiên hay không thì ta còn có thì giờ để xem xét, nhưng ít nhất thì ngay sau khi ra đời không lâu, chúng đã là các hình hình học gắn bó mật thiết với các đối tượng của lý thuyết hỗn độn (chaos theory), các tập hút hỗn độn, các vùng hút hỗn độn, các biên giới giữa các vùng hút hỗn độn được chứng tỏ đều là các fractal. Và vì vậy, từ mấy chục năm nay, fractal cùng với chaos (hỗn độn) đã thường đi liền với nhau trong các ứng dụng của “khoa học mới” vào các vấn đề của kinh tế học cũng như của văn học, nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng cần nói rằng các ứng dụng đó cũng chỉ có thể xem là những bước khởi đầu, và vì là chỉ mới ở những bước khởi đầu nên có rất nhiều những ý kiến khác nhau, chưa có được sự đồng thuận chung. Ứng dụng fractal và chaos vào kinh tế học hay văn học cũng mới tập trung vào những vấn đề như khảo sát tính chất fractal của các tập dữ liệu mô tả sự trồi sụt thất thường về giá cả giao dịch của các thị trường chứng khoán, hay của các bản phân tích chuỗi thời gian về sự lên xuống dao động của các âm thanh nhịp điệu khi đọc một văn bản thơ ca,…; những nghiên cứu như vậy nhằm tìm hiểu các “trật tự” ẩn náu trong hoặc được phát sinh từ các cấu trúc hỗn độn của các hệ thống kinh tế hay các văn bản văn học.            Nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển “công nghiệp hoá và hiện đại hoá”. Trong mọi lĩnh vực, ta đang cố phấn đấu để nhanh chóng được “hiện đại hoá”. Nhưng ta cũng đang sống trong thời đại mà thế giới đang biến chuyển từ thời hiện đại sang một thời mà người ta gọi là “hậu hiện đại”. Tôi nghĩ rằng, về nhiều mặt của cuộc sống ta cũng không đứng ngoài ảnh hưởng của những ý tưởng “hậu hiện đại” đang có khả năng được toàn cầu hoá trong sự phát triển thế giới hiện nay. Và trong môi trường đó, hằng ngày ta sẽ gặp những vấn đề mà nhận thức của ta đòi hỏi được lý giải theo những khung mẫu tư duy của “khoa học mới”. Vì vậy, từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội cho đến các lĩnh vực văn hoá, văn chương nghệ thuật, việc tham gia nghiên cứu “khoa học mới” để tìm kiếm cho nhận thức của mình con đường đi thích hợp có lẽ cũng không phải là điều quá sớm.             Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, như lời của tác giả J.Gleich, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Diễn biến của tình hình trong mấy chục năm qua đã bước đầu chứng thực điều khẳng định đó. Trước hết, từ tất cả các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên và kinh tế xã hội, người ta đều thừa nhận rằng các hệ thống thực tế mà chúng ta cần tìm hiểu đều là các hệ thống phức tạp, nói chung là không tất định và không tuyến tính, có những hành vi hay động thái phát triển không đều đặn, trơn tru, khó mà tiên đoán được, v.v… Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hình như chính trong những hỗn tạp và cát bụi đó mà con người tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quí của mình.  Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghiêm túc nghĩ đến việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình. Đối tượng nghiên cứu của khoa học mới này là cái phức tạp, các hệ thống phức tạp, tức các hệ thống bao gồm nhiều thành phần bộ phận, mỗi bộ phận cũng là một hệ thống có thể có hành vi phức tạp, không tuyến tính, các bộ phận tương tác với nhau bởi nhiều mối quan hệ đa dạng, v.v… Hành vi của các hệ thống như vậy hiển nhiên là rất phức tạp, có hỗn độn, có trật tự, và có những chuyển hoá giữa hỗn độn và trật tự. Không có mô hình lý thuyết chung cho những hệ thống như vậy, mà tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu ta có thể xây dựng những mô hình riêng; vì đối tượng là hết sức đa dạng nên cũng không thể có một số phương pháp hình thức chung cho việc nghiên cứu, ta có thể vẫn sử dụng các “phương pháp khoa học” cũ (như phân tích định lượng và suy luận logíc) cho việc nghiên cứu ở một số bài toán cụ thể có tính địa phương và cục bộ, còn nói chung, nhất là với những bài toán thuộc về toàn thể của toàn hệ thống thì cần vận dụng cả những suy luận định tính, những cảm nhận trực tiếp bằng trực cảm trí tuệ thông qua các giác quan của người nghiên cứu. Để trợ giúp cho những suy luận và cảm nhận như vậy thì với công cụ mạnh là máy tính điện tử hiện nay, các phương pháp có hiệu quả nhất là mô hình hoá và mô phỏng bằng đồ hoạ máy tính.   Với những quan điểm và phương pháp nghiên cứu như trình bày sơ lược ở trên, “khoa học mới” về phức tạp có nội dung là nghiên cứu các hiện tượng và hành vi của các hệ thống phức tạp trong nhiều lĩnh vực khác nhau mà những chủ đề chung là các vấn đề về liên kết, ảnh hưởng của tính phi tuyến đến các hành vi hỗn độn và phức tạp, hành vi của hệ thống trong các trạng thái hỗn độn, phi cân bằng, “ở bên bờ hỗn độn” (at the edge of chaos), những khả năng tự tổ chức của hệ thống, và nói chung, khả năng hợp trội (emergence) của hệ thống trong các trạng thái xa cân bằng, ở bên bờ hỗn độn, để tạo lập nên những trật tự mới, sáng tạo những thuộc tính mới của hệ thống – khả năng hợp trội được xem là chìa khoá để tìm hiểu bản chất của sáng tạo trong quá trình tiến hoá của mọi hệ thống, từ các hệ thống trong sinh học, sinh thái học, cho đến các hệ thống kinh tế, xã hội, trong hoạt động của các hệ thần kinh, các hệ cảm thụ và nhận thức của con người. Khoa học mới ra đời chưa lâu, ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực nhận thức nông sâu còn nhiều khác nhau, nhưng ta có thể tin rằng ảnh hưởng đó chắc chắn sẽ được phát triển sâu rộng một cách nhanh chóng trong thế kỷ 21, thế kỷ mà ta đang sống.   Đối với các lĩnh vực nghiên cứu về xã hội và nhân văn, những ý tưởng cơ bản của “khoa học mới” tỏ ra rất thích hợp. Kinh tế học trong thời gian gần đây, với sự chấp nhận luật “tỷ suất lợi nhuận tăng dần” và các hệ quả của nó, đã được chứng tỏ là rất phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế tri thức công nghệ cao trong tiến trình toàn cầu hoá. Trong các nghiên cứu về xã hội và chính trị, các ý tưởng về tiến hoá bằng hợp trội đang góp phần tích cực trong việc giải thích nhiều hiện tượng thực tế, hợp trội trong tình trạng ở bên bờ hỗn độn chủ yếu được tiến hành bằng sự thích nghi, mà bản chất của hoạt đông thích nghi là khả năng học, học để hiểu mình, học để hiểu người, hiểu đối tượng, và do đó sẽ tìm được khả năng đồng tiến hoá trong hợp trội để tạo nên trật tự mới. Trong văn học nghệ thuật, “khoa học mới” đang góp phần cung cấp những ý tưởng mới, những “khung mẫu” mới cho các khuynh hướng “hậu hiện đại” cổ vũ cho những “tiểu tự sự”, những chuyện cục bộ, ngẫu nhiên, tình cờ và nhất thời,… hơn là những “đại tự sự”, những chuyện có lớp lang bài bản, những chân lý phổ quát, bền vững và lâu dài. Trong mọi lĩnh vực của nhận thức, “khoa học mới” sẽ không cung cấp cho ta một cái lõi tri thức vạn năng để áp dụng được vào mọi lĩnh vực riêng, mà chỉ gợi cho ta một số ý niệm và cách thức để từ đó mỗi lĩnh vực sẽ tự tìm cho mình những tri thức mà mình tự xem là cần có để ứng dụng trong các tình huống cụ thể của mình.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khối băng lớn ở Nam Cực tan chảy      Trung tâm dữ liệu quốc gia về tuyết và băng đá, ĐH Colorado (Mỹ), một khối băng rộng 415 km2 đã tách khỏi núi băng Wilkins-hơn 1500 năm tuổi-ở Nam Cực và bắt đầu tan chảy do ảnh hưởng của tình trạng Trái Đất ấm lên.    Theo các nhà khoa học, đây là hiện tượng tự nhiên hiếm thấy trước đây song lại thường xuyên xảy ra trong vài năm gần đây khi nhiệt độ Trái Đất tăng cao. Các nhà khoa học cũng cảnh báo núi băng Wilkin có thể hoàn toàn “biến mất” trong 15 năm tới, vì khối băng mới tách ra tuy chỉ chiếm gần 4% tổng diện tích núi băng song lại là một phần quan trọng của núi băng và nó có thể “khởi động” cho các vụ lở băng tiếp theo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi động dự án “Bách khoa thư về sự sống”      Các nhà khoa học thế giới dự kiến sẽ biên soạn mọi thông tin về tất cả 1,8 triệu loài đã biết trên trái đất và tung lên một web site mở cho tất cả mọi người. Nỗ lực này, được gọi là Encyclopedia of Life, sẽ cung cấp các bản mô tả về các loài, hình vẽ, bản đồ, video, âm thanh, thông tin do những người nghiệp dư cung cấp và đường link tới toàn bộ hệ gene cũng như các bài báo khoa học viết về chúng.    Các trang đầu tiên của thông tin sẽ được trưng bày hôm nay tại Washington, nơi dự án đồ sộ được một số viện nghiên cứu hàng đầu thế giới công bố. Sẽ mất 10 năm để hoàn thành dự án này.  “Đó là một vườn thú tương tác”, James Edwards, người sẽ là giám đốc độc quyền của Bách khoa thư cho biết.  Nếu quá trình lập Bách khoa thư trôi chảy, nó sẽ lấp đầy khoảng 300 triệu trang tin, mà nếu xếp nối đuôi nhau, sẽ có chiều dài 83.000 km, và có thể trải dài gấp 2 lần đường xích đạo trái đất.  Hai tổ chức đã nhận chi 12,5 triệu USD cho 2 năm rưỡi đầu tiên của công trình, mặc dù trang web này sẽ được miễn phí cho người xem.  Thông tin được điều chỉnh vừa phải sao cho nó có ích cả cho những em nhỏ lẫn những nhà nghiên cứu sinh học, đồng thời khuyến khích các “nhà khoa học – công dân” bổ sung những ghi nhận của mình.  Trong hơn một thập kỷ, các nhà khoa học đã cố gắng biên soạn thậm chí chỉ là danh sách tất cả các loài trên trái đất, nhưng thất bại bởi nó quá phức tạp, quá đắt và quá cồng kềnh. Nỗ lực mới có thể thành công nhờ các công cụ tìm kiếm mới, các nhà khoa học nói.  T. An (theo AP)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi động lò phản ứng đầu tiên của Akademik Lomonosov      Sau khi đạt mức thông lượng neutron ban đầu, lò phản ứng này đã đạt tới mức kiểm soát tối thiểu của chuỗi phản ứng hạt nhân và bắt đầu phát điện vào tối thứ 6, ngày 2/11/2018.      Các kỹ sư hạt nhân đang giám sát việc đưa các thanh nhiên liệu vào lò phản ứng. Nguồn: Rosatom  “Sự khởi động vật lý của lò phản ứng trên mạn phải của nhà máy điện hạt nhân rổi Akademik Lomonosov đã diễn ra vào thứ 6. Lò phản ứng đã đạt tới mức điện kiểm soát tối thiểu vào lúc 17h58 giờ Moscow”, người phát ngôn của Rosatom nói với Ria Novosti.  Các cuộc kiểm tra lò phản ứng sẽ bắt đầu trong vòng vài ngày tới và sẽ tiếp tục cho đến giữa năm 2019, khi nhà máy điện hạt nhân nổi này được kéo từ địa điểm hiên tại ở cơ sở phía bắc Atomflot ở Murmansk, nơi nhà máy nổi được neo đậu cạnh các tàu phá băng và dịch vụ hạt nhân của Nga.  Akademik Lomonosov có hai lò phản ứng KLT-40S tương tự như thiết kế lò năng lượng trên các tàu phá băng. Lò phản ứng còn lại sẽ trải qua các đợt kiểm tra trong tương lai gần.  Với sự chấp thuận của Rostekhnadzor – cơ quan an toàn hat nhân Nga, việc nạp các thanh nhiên liệu uranium cho hai lò phản ứng trên tàu đã diễn ra một cách an toàn trong tháng 7 vừa qua. Ban đầu, kế hoạch nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng tại xưởng đóng tàu ở St. Peterburg, nơi lắp đặt Akademik Lomonosov nhưng năm ngoái Rosatom đã đồng ý với bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nauy là chờ với việc kiểm tra lò phản ứng sau khi nhà máy điện hạt nhân nổi đươc kéo qua bờ biển Nauy. Người Nauy sợ khả năng rò rỉ phóng xạ vào nước trong trường hợp có rắc rối xảy ra khi tàu được kéo.  Sau các cuộc kiểm tra lò phản ứng, nhà máy nổi này sẽ được kéo qua biển Barents và qua phía đông dọc tuyến đường biển Bắc để xuống cảng Pavek ở vịnh Chukotka ở phía đông bắc cực vào tuần tới.  Hai lò phản ứng KLT-40s sẽ phát điện tới 70MW để cung cấp cho thị trấn Pevek.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://thebarentsobserver.com/en/industry-and-energy/2018/11/first-reactor-started-floating-nuclear-plant    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khôi phục gien quý từ lúa mì dại      Các nhà khoa học Mỹ và Israel vừa nhân bản được một gien lúa mì dại mang tên GPC-B1, được cho là có tác dụng làm tăng lượng protein, sắt và kẽm trong các loại ngũ cốc.    Theo các nhà nghiên cứu, khám phá này có thể giúp hàng triệu trẻ em trên thế giới thoát khỏi tình trạng thiếu chất dinh dưỡng. “Lúa mì là một trong những cây lương thực chủ yếu của thế giới, cung cấp khoảng 1/5 lượng calorie tiêu thụ của con người, do đó, việc tăng một lượng nhỏ giá trị dinh dưỡng của lúa mì cũng có thể giúp làm giảm tình trạng thiếu protein và vi chất dinh dưỡng”, GS Jorge Dubcovsky, ĐH California, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết.  Các nhà nghiên cứu đã xác định được rằng gien GPC – B1, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lúa mì và làm tăng từ 10 – 15% lượng protein và vi chất dinh dưỡng ở nhiều loại lúa mì. Trong tất cả các loại lúa mì được phân tích cho đến nay, không có gien nào có chức năng tương tự GPC-B1. Gien này được cho rằng đã bị mất trong quá trình con người thuần hóa giống lúa mì.  T.Hà (Theo Science, Forbes)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không chỉ có một loại quyền tác giả      Có thể với rất nhiều hoặc hầu hết mọi người, chỉ có duy nhất một chế độ quyền tác giả, và với chế độ đó, tác giả của tác phẩm được giữ lại tất cả các quyền bản quyền (bao gồm tất cả các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả) hoặc chuyển toàn bộ quyền tài sản sang nhà xuất bản thông qua việc tác giả ký thỏa thuận chuyển giao bản quyền – CTA (Copyright Transfer Agreement) cho nhà xuất bản để đổi lại việc đăng tác phẩm đó trên tạp chí tác giả lựa chọn và nhận tiền nhuận bút trong một lần duy nhất từ nhà xuất bản đó. Ngày nay, nhận thức về chỉ có một chế độ quyền tác giả duy nhất đó không còn đúng nữa!    A. Các chế độ quyền tác giả  Tài liệu ‘Giới thiệu truy cập mở1’ của UNESCO xuất bản năm 2015 đưa ra 3 chế độ quyền tác giả (Author Rights Regimes2) khác nhau với những giải thích như sau:  “Có 2 lựa chọn thay thế cho chế độ bản quyền – Copyright để vừa bảo vệ các quyền của tác giả vừa bảo vệ quyền tự do của những người sử dụng để sử dụng, sử dụng lại, chia sẻ, phân phối và sửa đổi tác phẩm gốc ban đầu. Đó là Copyleft và các giấy phép Creative Commons”    Hình 1: Các chế độ quyền tác giả.  Copyleft  Copyleft là phương pháp chung làm cho tác phẩm sáng tạo  có thể được cộng đồng sửa đổi một cách tự do, và yêu cầu tất cả các phiên bản được sửa đổi và mở rộng từ tác phẩm sáng tạo đó cũng phải tự do như vậy. Những người tin tưởng vào phong trào Copyleft đấu tranh để đưa ra lựa chọn thay thế cho chế độ hà khắc hiện hành về kiểm soát sở hữu trí tuệ.  Phong trào này đưa ra khẩu hiệu châm biếm của mình “Bảo vệ những gì sai trái – All wrongs reserved”. (Chế nhạo cụm từ “All rights reserved”, ý nói rằng phong trào này bảo vệ cho tất cả những gì sai trái, theo quan điểm sở hữu trí tuệ hẹp hòi trước đó). Nó được đánh dấu bằng Giấy phép Công cộng chung GNU – GPL (GNU General Public License) của dự án GNU, được Quỹ Phần mềm Tự do – FSF (Free Software Foundation) hỗ trợ, tuân theo các nguyên tắc của Copyleft, về sau trở thành đặc tính của nhiều giấy phép của phần mềm nguồn mở – OSS (Open Source Software).”  Creative Commons – Những cái chung có tính sáng tạo  Trong khi các giấy phép Copyleft, GNU-GPL và OPL3 chủ yếu cung cấp cho các mục đích của phần mềm máy tính và các tài liệu kỹ thuật, thì các giấy phép Creative Commons (CC) được ưu tiên trong giới hàn lâm cũng như trong truyền thông nghe – nhìn có tính sáng tạo. Creative Commons, được khởi xướng vào năm 2001 như một tổ chức phi lợi nhuận, là kết quả của các phong trào cộng đồng lớn hơn so với copyleft, bao trùm các khái niệm về quyền tự do của việc chia sẻ, sử dụng lại và sửa đổi các nội dung hàn lâm và nghệ thuật để tái tạo và tối ưu hóa việc sử dụng tri thức. Creative Commons trong môi trường học thuật trở thành những cái chung của khoa học (Science Commons) đảm bảo truy cập mở tới tư liệu và dữ liệu nghiên cứu. Giấy phép tự do nhất là CC BY, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, thực thi và pha trộn tác phẩm của tác giả nếu họ thừa nhận ghi công cho tác giả như được tác giả yêu cầu. Giấy phép hạn chế nhất là CC BY-NC-ND, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi các bản sao y hệt tác phẩm của tác giả nhưng chỉ không cho các mục đích thương mại.”     Hình 2: Sử dụng các giấy phép GPL trong các dự án PMNM.  B. Ví dụ áp dụng các chế độ bản quyền copyleft và creative commons   B1. Các phần mềm với họ các giấy phép Copyleft  Theo bảng tổng hợp trên trang Giấy phép Công cộng Chung GNU – GPL (GNU General Public License4) – giấy phép điển hình nhất của chế độ bản quyền Copyleft, dựa vào số liệu thống kê của BlackDuck5, hãng chuyên nghiên cứu và phát triển nguồn mở, tới tháng 2/2017, trong số hơn 2 triệu dự án phần mềm nguồn mở (PMNM) từ hơn 9.000 kho trên toàn thế giới, các giấy phép copyleft (bao gồm các giấy phép như GPLv2, GPLv3, LGPL 2.1, LGPL 3.0) chiếm tới 33%, nghĩa là khoảng 700.000 dự án.  Thông thường, mỗi dự án PMNM phát triển một PMNM cụ thể. Một PMNM mang bất kỳ giấy phép nào trong họ các giấy phép copyleft cũng đều trao cho người sử dụng PMNM đó các quyền tự do cơ bản sau đây:  1. Tự do sử dụng vì bất kỳ mục đích gì.  2. Tự do phân phối cho bất kỳ ai.  3. Tự do sửa đổi để phục vụ cho mục đích cá nhân của bạn (để làm được điều này, bạn cần có mã nguồn, hay nói cách khác, mã nguồn cần phải được mở trên Internet để bất kỳ ai cũng có thể tải nó về được).  4. Tự do phân phối phần mềm sau khi bạn đã sửa đổi (chương trình phái sinh dựa vào chương trình gốc ban đầu) cho bất kỳ ai, vì bất kỳ mục đích gì.      Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng đối với một tài nguyên MỞ, điều quan trọng bậc nhất là người sử dụng PHẢI có quyền để tùy biến sửa đổi tài nguyên đó, chứ không chỉ đơn giản là không mất tiền để có nó!        Hình 4: 65% trong số 1 tỷ 200 triệu tài nguyên có các giấy phép của “Văn hóa tự do”.    Hình 4: 65% trong số 1 tỷ 200 triệu tài nguyên có các giấy phép của “Văn hóa tự do”.  B2. Các tài nguyên được cấp phép mở và văn hóa tự do với các giấy phép Creative Commons (CC)  Hệ thống giấy phép mở Creative Commons ra đời vào năm 20016 và cho tới hết năm 2016 đã có hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên được cấp phép mở Creative Commons7 trên thế giới. Hơn thế nữa, trong số hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên đó, có 65% được cấp phép theo văn hóa tự do (gồm 2% các tài nguyên trong phạm vi công cộng, 6% được cấp phép CC0, 20% được cấp phép CC BY và 37% được cấp phép CC BY-SA), nghĩa là khoảng 780 triệu tài nguyên từng người trong số hơn 90 triệu người dân Việt Nam có khả năng để sử dụng, sử dụng lại, phân phối, phân phối lại hoặc tùy biến sửa đổi chúng mà không vi phạm bản quyền của bất kỳ ai trên thế giới, thậm chí còn được tự do sử dụng chúng cho các mục đích thương mại, miễn là: (1) thừa nhận ghi công (các) tác giả đúng như họ yêu cầu và/hoặc (2) chia sẻ tương tự (các tác phẩm sau khi tùy biến sửa đổi phải mang giấy phép y hệt như các tác phẩm gốc ban đầu).  Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng đối với một tài nguyên MỞ, điều quan trọng bậc nhất là người sử dụng PHẢI có quyền để tùy biến sửa đổi tài nguyên đó, chứ không chỉ đơn giản và tối thiểu là không mất tiền để có được tài nguyên đó!  Cũng theo tổ chức Creative Commons, tới hết năm 2017, con số các tài nguyên được cấp phép mở trên thế giới đã là hơn 1 tỷ 471 triệu8.     Hình 5: Mức độ tự do của các giấy phép CC9.  Các tài nguyên được cấp phép mở theo văn hóa tự do – các tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng – PD (Public Domain) hoặc được cấp các giấy phép CC0, CC BY hoặc CC BY-SA là các tài nguyên có khả năng được sử dụng cho các mục đích thương mại (Commercial) – các tài nguyên có các giấy phép nằm ở ô trên cùng của Hình 5. Đây cũng chính là vùng (các) tài nguyên dữ liệu được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở!  C. Tác phẩm nguồn mở là không có bản quyền và các quyền tác giả?   Bạn có thể đã từng tham dự các cuộc hội nghị hay hội thảo về sở hữu trí tuệ và có thể đã từng nghe các ‘chuyên gia về sở hữu trí tuệ’ giải thích khi có ai đó nêu về các tác phẩm sáng tạo của thế giới NGUỒN MỞ, rằng các tác phẩm sáng tạo của thế giới nguồn mở là các tác phẩm không có bản quyền, họ không quan tâm đến các tác phẩm mà  tác giả của chúng từ bỏ tất cả các quyền bản quyền. Nhưng thực tế có phải như vậy không?.  C1. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép copyleft  Trang các câu hỏi thường gặp về các giấy phép GNU9 có cặp câu hỏi và trả lời như sau:    Tôi muốn có sự thừa nhận đối với tác phẩm của tôi. Tôi muốn mọi người biết tôi đã viết những gì. Liệu tôi có thể vẫn có sự thừa nhận nếu tôi sử dụng giấy phép GPL hay không?  Bạn chắc chắn có được sự ghi nhận đối với tác phẩm. Một phần của việc phát hành chương trình mang giấy phép GPL là viết lưu ý bản quyền yêu cầu ghi tên của bạn (giả thiết bạn là người nắm giữ bản quyền). Giấy phép GPL đòi hỏi tất cả các bản sao cần phải gắn liền với những lưu ý bản quyền thích hợp.  Điều này ngụ ý rằng, khi bạn viết mã nguồn cho một chương trình mang giấy phép dạng copyleft như GPL của dự án GNU, bạn hoàn toàn có khả năng yêu cầu người sử dụng phải ghi nhận bạn là tác giả đoạn mã nguồn bạn đóng góp bằng cách viết lưu ý bản quyền thích hợp cho các dòng mã lệnh mà bạn viết, đồng thời bạn cũng hiểu rõ mình cần trao đủ cả bốn quyền tự do như đã nói ở trên của một giấy phép copyleft cho những người sử dụng chương trình.  C2. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép dễ dãi  Trong thế giới nguồn mở có một họ giấy phép phổ biến khác – họ các giấy phép dễ dãi (permissive) với tên gọi là ‘Phát tán phần mềm Berkeley’ – BSD10 (Berkeley Software Distribution).  Bạn cũng có thể thấy các giấy phép họ BSD cũng có các lưu ý giấy phép11 giống như của các giấy phép copyleft như ở trên, khi nó luôn có các trường như Bản quyền   (Copyright  ) để thể hiện bản quyền của lập trình viên, dù đây là họ các giấy phép dễ dãi, ngụ ý (các) lập trình viên có thể tùy biến thích nghi chương trình được cấp phép BSD rồi sau đó biến nó thành chương trình đóng hoặc mở là tùy theo ý muốn của chính (các) lập trình viên đó.  C3. Với các tài nguyên mở mang một trong các giấy phép Creative Commons  Tất cả 6 giấy phép tiêu chuẩn của hệ thống Creative Commons đều có yếu tố ghi nhận công lao của tác giả (Attribution, viết tắt bằng chữ BY và có hình người trong vòng tròn như trên Hình 5), có nghĩa là, khi bạn sử dụng bất kỳ tài nguyên nào được cấp một trong sáu giấy phép đó, bạn có nghĩa vụ phải thừa nhận công sức của các tác giả như họ mong muốn. Tác giả khi xuất bản tác phẩm của mình, thường hướng dẫn cho những người sử dụng cách để ghi công cho chính tác giả theo nguyên tắc tối thiểu được viết bằng 4 ký tự đầu bằng tiếng Anh là TASL12, có nghĩa là:  T – Title: Tiêu đề hay tên của tác phẩm  A – Author(s): (Các) tác giả  S – Source: Nguồn, thường là đường liên kết tới tác phẩm ở dạng số mà người sử dụng có thể tải về được; và  L – License: Giấy phép, thường đi cùng với đường liên kết tới giấy phép CC trên Internet.  Trường hợp tài nguyên mang giấy phép CC0 là trường hợp đặc biệt13, tương tương với việc không giữ lại quyền gì, khi tác giả từ bỏ tất cả các quyền đối với tác phẩm của mình và đặt tác phẩm vào phạm vi công cộng, sao cho những người khác có thể được tự do để sử dụng, sử dụng lại, tùy biến thích nghi, xây dựng dựa vào tác phẩm đó vì bất kỳ mục đích gì và không có bất kỳ hạn chế nào theo luật bản quyền. Người sử dụng thậm chí không cần phải thừa nhận ghi công cho tác giả khi sử dụng tác phẩm mang giấy phép CC0.  ***  Không chỉ có một chế độ quyền tác giả ĐÓNG duy nhất, mà còn có các chế độ quyền tác giả MỞ như Copyleft và Creative Commons!  (Các) tác phẩm được cấp phép mở là có (các) tác giả, và vì thế có bản quyền và các quyền tác giả. Điều quan trọng là với các tác phẩm được cấp phép mở, (các) tác giả thường chỉ giữ lại một số quyền (Some Rights Reserved) cho bản thân mình và từ bỏ một số quyền bản quyền (chứ không từ bỏ tất cả, ngoại trừ khi tác giả sử dụng giấy phép đặc biệt CC0) để trao chúng cho những người sử dụng, điều khác biệt cơ bản với một tác phẩm của thế giới ĐÓNG khi thường đi với việc (các) tác giả giữ lại tất cả các quyền (All Rights Reserved).  Nếu luật sở hữu trí tuệ chỉ bảo vệ bản quyền và các quyền tác giả cho những ai đi theo con đường ĐÓNG với việc giữ lại tất cả các quyền cho tác giả, nhưng lại không bảo vệ cho những ai đi theo con đường MỞ khi chính tác giả có mong muốn chia sẻ và/hoặc từ bỏ một số quyền của mình cho những người sử dụng, thì diều đó thật không công bằng.  Đối với những tác giả lựa chọn đi theo con đường MỞ, quyền được tự do chia sẻ và quyền để từ bỏ một số quyền đối với các tác phẩm họ nắm giữ bản quyền cần phải được tôn trọng và cần phải được nêu rõ ràng rành mạch trong luật sở hữu trí tuệ và tất cả các văn bản pháp quy có liên quan tới luật đó.   ——-  1https://www.dropbox.com/s/pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0, trang 54-56  2 http://unesdoc.unesco.org/images/   3 Xem https://www.dropbox.com/s/ pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0, trang 55-56 để biết chi tiết về Giấy phép Xuất bản Mở – OPL (Open Publication License)  4 https://en.wikipedia.org/wiki/GNU_ General_Public_License  5 https://www.blackducksoftware.com/ top-open-source-licenses  6 https://creativecommons.org/about/ history/  7 https://stateof.creativecommons.org/  11. https://stateof.creativecommons.org/  8 https://en.wikipedia.org/wiki/Creative_ Commons_license  9 https://www.gnu.org/licenses/gpl-faq.en.html#IWantCredit  10 https://opensource.org/licenses/BSD-3-Clause  11 https://wiki.creativecommons.org/wiki/ Best_practices_for_attribution  12 https://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/cc0/  13 https://creativecommons.org/licenses/ by/4.0/  Giấy phép nội dung bài viết: Creative Commons 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang KHÔNG CHỈ LÀ HỢP TÁC MỘT CHIỀU      Trong cuộc Hội thảo Hợp tác Khoa học Việt – Pháp do Bộ KH&amp;CN và Đại sứ quán Pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 7 và 8/3 vừa qua, nếu không được giới thiệu thì chắc ít người chú ý tới một phụ nữ Pháp giản dị, ít nói. Đó là bà Catherine Bréchignac, nhà Vật lý nổi tiếng thế giới, Chủ tịch của tổ chức khoa học đầy “quyền uy”: Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp Centre national de la recherche scientifique – CNRS). Giữa cuộc hội thảo, bà Catherine Bréchignac đã có cuộc trò chuyện ngắn với PV Tia Sáng.    Bà có thể cho biết đôi nét về hoạt động của CNRS mà bà hiện là Chủ tịch?  CNRS là trung tâm nghiên cứu quốc gia nhưng thực sự có quy mô quốc tế. CNRS đưa ra các chương trình nghiên cứu táo bạo mà gần như chỉ có Trung tâm này mới dám thực hiện. Tất nhiên cũng giống các trung tâm khoa học quốc gia khác, chúng tôi duy trì các chương trình nghiên cứu dài hạn, quy mô lớn – một nhiệm vụ quốc gia.             Bà Catherine Bréchignac trong buổi khai trương “Ngôi nhà KH&CN” tại 35 Điện Biên Phủ, Hà Nội – Ảnh: Thu Hằng        Là cầu nối giữa khối đại học, nghiên cứu, doanh nghiệp nên chúng tôi phải tránh sự nhầm lẫn giữa vai trò nghiên cứu và quản lý. CNRS phải giúp các trường đại học giành được quyền tự chủ song cũng phải can thiệp để phân loại các trường đại học tốt và đại học tồi. Tuy nhiên quan hệ giữa CNRS với khối doanh nghiệp không hẳn là suôn sẻ.  Điểm khác biệt giữa CNRS với các trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của các nước phát triển, như Mỹ, Anh, Nhật Bản… là gì?  Không có khác biệt lớn về quản lý, chỉ có khác biệt về quy mô, phương hướng nghiên cứu, môi trường văn hóa… Chúng tôi cố gắng đưa văn hóa “lật ngược” (bottom up) vào CNRS. Nghĩa là khuyến khích các nhà khoa học đưa ra những ý tưởng và lựa chọn trong số đó những ý tưởng tốt nhất.      CNRS dùng biện pháp gì để thu hút các nhà nghiên cứu trẻ? Sở dĩ tôi hỏi vậy vì thu hút các nhà khoa học trẻ đang là vấn đề khá “thời sự” với khoa học Việt Nam?  Chúng tôi không bao giờ hạ thấp tiêu chuẩn tuyển dụng, bởi CNRS không bao giờ muốn có nhân viên trình độ thấp. Để thu hút các nhà nghiên cứu giỏi từ nước ngoài, ngoài mức lương cơ bản theo quy định, chúng tôi sẽ thêm bằng các hợp đồng bổ sung. Đó không phải là thưởng, cũng không phải thù lao làm thêm, mà là cách trả lương xứng đáng cho những nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc.            Lễ ký Hiệp định hợp tác KH&CN Việt Nam – Pháp – Ảnh: Thu Hằng          Tiêu chuẩn lựa chọn những nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc phải được tất cả thừa nhận: đó là số lượng công bố trên các tạp chí uy tín, số lần tham gia trong các hội nghị quốc tế. Các bạn trẻ rất tán thành phương thức này.    Một vấn đề “thời sự” khác của khoa học Việt Nam là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà khoa học. Bà cũng vừa nói quan hệ giữa CNRS với khối doanh nghiệp không suôn sẻ. Vì sao vậy?  Vì từ lâu hai khu vực này hoạt động trong môi trường khác biệt và tất nhiên có định hướng khác biệt. Tuy nhiên khối doanh nghiệp này đóng góp hơn một nửa kinh phí nghiên cứu của Pháp, và tôi phải nói rằng khối doanh nghiệp là một đối tác của CNRS. CNRS luôn luôn liên kết với các doanh nghiệp lớn để tiến hành nghiên cứu và nhờ đó, mỗi năm thu lại gần 55 triệu EUR. Ngoài ra CNRS cũng liên hệ mật thiết với hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng tôi nhận nghiên cứu công nghệ cho họ. Trước đây công việc các nhà nghiên cứu ở CNRS dừng lại cho đến khi lắp đặt máy móc thử nghiệm. Đến nay chúng tôi kinh doanh công nghệ cao và trở thành một chủ thể kinh tế.    Hợp tác khoa học Việt – Pháp ngày càng phát triển. Bà có thể cho biết CNRS giữ vai trò thế nào trong sự hợp tác này?  Bên cạnh những đối tác “truyền thống” như Mỹ, Đức và Tây Ban Nha, một trọng tâm hợp tác mà chúng tôi đang hướng tới hợp tác là châu Á. CNRS là một trong năm đối tác của Pháp và Việt Nam thành lập “Ngôi nhà KH&CN” – tôi cho rằng đây là mô hình tốt để hội tụ các nhà khoa học Việt Nam và thế giới để cùng nghiên cứu.     Tất nhiên việc hợp tác không chỉ là giúp đỡ một chiều. Cũng như hợp tác với Maroc, Pháp đã có thêm kinh nghiệm về phát triển bền vững (sustainable development). Với Việt Nam, chúng tôi hy vọng có thêm kinh nghiệm và kiến thức về xử lý môi trường, y học cổ truyền, v.v.  Một câu hỏi hơi… mang tính cá nhân: là Chủ tịch một tổ chức khoa học lớn và cũng là nhà vật lý hàng đầu thế giới, bà có thể cho biết trong nghiên cứu hay trong quản lý, phụ nữ có gặp khó khăn hơn các đồng nghiệp nam?  So với một số nước châu Âu như Đức hay Anh, vấn đề bình đẳng giới trong khoa học ở Pháp được giải quyết khá tốt. Tất nhiên ngoài nghiên cứu khoa học, tôi cũng phải chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng con cái, v.v, như tất cả các nhà khoa học nữ Việt Nam khác (cười).  PV thực hiện  —————  Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia (Centre national de la recherche scientifique) thành lập năm 1939, là tổ chức khoa học lớn nhất nước Pháp. CNRS có 6 hướng nghiên cứu chính: Toán học, Vật lý, Khoa học không gian; Hóa học; Khoa học sự sống; Nhân học và Khoa học xã hội; Môi trường và phát triển bền vững, Kỹ nghệ.  Hiện CNRS có 26.000 nhân viên chính thức (gồm kỹ sư, nhà nghiên cứu, quản lý) và hơn 4.000 nhân viên tạm thời. Nguồn ngân sách của CNRS do chính phủ Pháp cấp, ngân sách năm 2006 của tổ chức này là gần 2,8 tỷ EUR.  Trong lịch sử, từng có 4 nhà khoa học làm việc cho CNRS đoạt giải Nobel, đó là:  – Alfred Kastler, 1966, Vật lý  – George Charpak, 1992, Vật lý  – Claude Cohen-Tannoudji, 1997, Vật lý  – Jean-Marie Lehn,1987, Hóa học  Ngoài ra có 8 nhà Toán học từng làm việc ở CNRS đoạt Huy chương Fields.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không chỉ tự chủ về tiền      Việc trả lại quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN là một đòi hỏi tất yếu. Nghị định 115, Nghị định 16 và Nghị định 54Anchor phải được xem là một trong những mốc đánh dấu quan trọng.  Nhưng các nghị định này đã khẳng định triết lý tự chủ chỉ từ tiếp cận tài chính. Điều này có thể đúng với nhiều tổ chức sự nghiệp công lập nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN, là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của toàn xã hội, mà mọi nhà nước đều luôn đóng vai một bà đỡ hào hiệp nhất.    Việc trả lại quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN là một đòi hỏi tất yếu. Nghị định 115, Nghị định 16 và Nghị định 54 phải được xem là một trong những mốc đánh dấu quan trọng.  Nhưng các nghị định này đã khẳng định triết lý tự chủ chỉ từ tiếp cận tài chính. Điều này có thể đúng với nhiều tổ chức sự nghiệp công lập nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN, là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của toàn xã hội, mà mọi nhà nước đều luôn đóng vai một bà đỡ hào hiệp nhất.    Theo chúng tôi, để xác lập được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH&CN, Nhà nước cần trả lại quyền tự trị tổ chức hoạt động KH&CN cho mọi thành phần trong xã hội. Nhà nước chỉ giữ lại chức năng và sứ mệnh quản lý vĩ mô về KH&CN. Cụ thể là:  1. Từ nghiên cứu hoạt động của các quỹ chính phủ ở nước ngoài, mở rộng hoạt động của các quỹ hiện có, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học cơ bản.  2. Khuyến khích hình thành các quỹ tư nhân, bao gồm các quỹ của doanh nghiệp, kiểu như Volswagen Foundation, Ford Foundation, Toyota Foundation, …  3. Các tổ chức KH&CN (công lập và ngoài công lập) được tự chủ xây dựng kế hoạch nghiên cứu và xin tài trợ của các quỹ chính phủ và tư nhân.  4. Hạn chế đến tối thiểu các “nhiệm vụ nhà nước” chỉ trong phạm vi các nhiệm vụ thực sự phục vụ công việc của nhà nước. Nhân đây, xóa bỏ việc đánh giá giá trị công trình khoa học theo “cấp nhà nước”, “cấp bộ” và “cấp cơ sở”, như trong quy chế công nhận chức danh PGS/GS hiện nay.  Việc trả lại quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN là một đòi hỏi tất yếu. Nghị định 115, Nghị định 16 và Nghị định 54Anchor phải được xem là một trong những mốc đánh dấu quan trọng. Nhưng các nghị định này đã khẳng định triết lý tự chủ chỉ từ tiếp cận tài chính. Điều này có thể đúng với nhiều tổ chức sự nghiệp công lập nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN, là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của toàn xã hội, mà mọi nhà nước đều luôn đóng vai một bà đỡ hào hiệp nhất.  5. Thực sự chuyển sang một hệ thống kinh tế thị trường hoàn hảo, xóa bỏ sự bao cấp của nhà nước, các doanh nghiệp phải đối mặt với cạnh tranh trên thị trường, buộc doanh nghiệp phải ký hợp đồng với các tổ chức KH&CN để đổi mới công nghệ.      Nghị định 115, Nghị định 16 và Nghị định 54Anchor phải được xem là một trong những mốc đánh dấu quan trọng. Nhưng các nghị định này đã khẳng định triết lý tự chủ chỉ từ tiếp cận tài chính. Điều này có thể đúng với nhiều tổ chức sự nghiệp công lập nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN, là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của toàn xã hội, mà mọi nhà nước đều luôn đóng vai một bà đỡ hào hiệp nhất.      6. Các trường đại học, các viện, các doanh nghiệp được “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” hình thành các spin-off, spin-in, spin-out để thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, như đã từng nở rộ trong thập niên 1990 (đặc biệt là ở Viện KHVN) sau khi Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 51/HĐBT năm 1987, và hầu như đã bị dẹp bỏ vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ này do nhiều cơ quan chức năng không nắm được đặc điểm này của các tổ chức KH&CN.          Author                Vũ Cao Đàm        
__label__tiasang Không có rừng nhiệt đới, nhiệt độ trái đất sẽ cao hơn 1 độ C      Một nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Frontiers in Forests and Global Change với những bằng chứng chi tiết và toàn diện nhất từ trước đến nay đã cho thấy, các cánh rừng có vai trò quan trọng đối với khí hậu hơn những gì chúng ta tưởng.      Các đai rừng mưa nhiệt đới trải dài khắp Châu Mỹ Latinh, Trung Phi và Đông Nam Á có vai trò rất quan trọng đối với khí hậu trái đất. Ảnh: Unsplash/CC0 Public Domain     Nghiên cứu mới phát hiện ra, khi chúng ta tính đến các hiệu ứng lý sinh – từ hiệu ứng của các hợp chất hóa học cho đến sự hỗn loạn và phản xạ ánh sáng, thì kết quả cho thấy các khu rừng đã giữ cho nhiệt độ của trái đất thấp hơn hơn ít nhất 0,5°C. Chỉ riêng những tác động này ở vùng nhiệt đới cũng đã làm cho địa cầu giảm đi 1/3°C; và khi kết hợp với carbon dioxide, hiệu quả làm mát lên đến hơn 1°C.     Theo nghiên cứu, “ở quy mô địa phương, tại tất cả các vĩ độ, tác động lý sinh của rừng vượt xa tác động về carbon. Nó giúp thúc đẩy sự ổn định của khí hậu ở địa phương bằng cách làm giảm hiện tượng nhiệt độ cực đoan ở tất cả các mùa và thời gian trong ngày. Các nghiên cứu lấy khả năng lưu trữ carbon của rừng làm thước đo từ trước đến nay đã không ghi nhận đầy đủ tầm quan trọng của rừng đối với cả việc giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu và khả năng thích ứng với sự biến đổi ấy của con người và các sinh vật khác, đặc biệt là trong bối cảnh trái đất ngày càng ấm lên”.     Trước đây, các nhà khoa học đã biết, nạn phá rừng nhiệt đới tác động mạnh đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu mới nhất và toàn diện nhất cung cấp một loạt các bằng chứng cho thấy, việc phá rừng nhiệt đới có ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến khí hậu ngoài vấn đề về carbon. Nghiên cứu cũng chỉ ra, toàn thế giới đã nhận được nhiều lợi ích nhất từ các đai rừng mưa nhiệt đới trải dài khắp Châu Mỹ Latinh, Trung Phi và Đông Nam Á.     Các tác giả đã xem xét các tài liệu hiện có và xác định, các khu rừng nằm ở dưới 50 độ vĩ Bắc sẽ đem lại lợi ích về khí hậu trên quy mô toàn cầu và giúp giữ cho toàn bộ trái đất mát hơn 1°C. Điều này cho thấy bất kỳ nỗ lực bảo vệ hoặc phục hồi rừng nào được thực hiện ở trong khoảng 40 độ vĩ nam và 50 độ vĩ bắc sẽ hữu ích cả ở cấp độ địa phương cũng như cấp độ toàn cầu. Chẳng hạn, việc khôi phục các khu rừng ở dải 10 độ ngay phía bắc của đường xích đạo sẽ có thể làm mát trái đất nhiều hơn 25% so với việc chỉ dựa vào khả năng hấp thụ CO2. Ngay cả đối với những khu rừng nằm ngoài dải này, nghiên cứu cũng cho thấy việc bảo vệ chúng đem lại nhiều lợi ích.     Cụ thể, rừng có khả năng làm mát nhờ một loạt các tác động về sinh lý. Tất cả các khu rừng đều thải ra các chất hóa học được gọi là hợp chất hữu cơ sinh học dễ bay hơi (BVOCs), giúp tạo ra các sol khí có khả năng phản xạ năng lượng đi đến và hình thành nên các đám mây – hai hoạt động đều có tác dụng làm mát. Mặt khác, các hợp chất này cũng dẫn đến sự tích tụ của ozone và metan – hai loại khí gây hiệu ứng nhà kính, khiến nhiệt độ trái đất nóng lên. Do khả năng làm mát của rừng lớn hơn hiệu ứng còn lại, những hợp chất hóa học phức tạp do rừng thải ra đã giữ cho bầu khí quyển trên khắp trái đất mát mẻ.     Ở các khía cạnh khác, rừng cũng giúp giảm thiểu hạn hán do thời tiết cực đoan nhờ vào bộ rễ sâu, có hiệu quả sử dụng nước và “độ nhám” bề mặt cao. Những đặc điểm này giúp cho các loài cây trong rừng tản nhiệt và di chuyển độ ẩm lên cao hơn trong khí quyển, từ đó trực tiếp làm mát ngay tại địa phương, cũng như tác động đến sự hình thành mây và lượng mưa – những yếu tố có ảnh hưởng đến cả những khu vực xa xôi.     “Các nghiên cứu ngày càng cho thấy rõ, rừng thậm chí còn phức tạp hơn những gì chúng ta đã biết trước đây. Do đó, việc bảo tồn nguyên vẹn rừng có lợi ích rất rõ ràng, và chúng ta bắt buộc phải ưu tiên bảo vệ chúng”, Wayne Walker, giám đốc chương trình carbon tại Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu Woodwell và là một trong những đồng tác giả của nghiên cứu, nói.     Mỹ Hạnh dịch     Nguồn: Study shows that without tropical forests, global temperatures would be 1 C warmer    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không ghi nhận được một phần tư loài ong kể từ thập kỷ 1990      Các nhà nghiên cứu tại Hội đồng nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quốc gia (Consejo Nacional de Investigaciones Científicas y Técnicas CONICET) ở Argentina đã phát hiện ra, kể từ những năm 1990, hơn 25% loài ong được ghi nhận không còn được nhắc đến trong các hồ sơ toàn cầu, bất chấp một lượng lớn hồ sơ hiện có.       Dù điều đó không có nghĩa là các loài này đều tồn tại nhưng nó cũng chỉ dấu là các loài này trở nên hiếm gặp đến mức không ai còn có thể quan sát được chúng trong tự nhiên nữa.   Các nhà nghiên cứu tại Hội đồng nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quốc gia (Consejo Nacional de Investigaciones Científicas y Técnicas CONICET) ở Argentina đã phát hiện ra, kể từ những năm 1990, hơn 25% loài ong được ghi nhận không còn được nhắc đến trong các hồ sơ toàn cầu, bất chấp một lượng lớn hồ sơ hiện có. Trong khi điều đó không có nghĩa là các loài này đều tồn tại thì điều đó chỉ dấu là các loài này trở nên hiếm gặp đến mức không ai còn có thể quan sát được chúng trong tự nhiên nữa.  Phát hiện này đã được xuất bản trên tạp chí One Earth “Worldwide occurrence records suggest a global decline in bee species richness”.  “Với sự tham gia của lực lượng khoa học không chuyên và năng lực chia sẻ dữ liệu, các hồ sơ đang gia tăng một cách đáng kể nhưng số lượng các loài được ghi nhận lại sụt giảm”, Eduardo Zattara, một nhà sinh học tại nhóm nghiên cứu Sinh thái học thụ phấn, Viện nghiên cứu đa dạng sinh học và môi trường (CONICET-Universidad Nacional del Comahue) và là tác giả thứ nhất của công bố. “Đây không phải là một thảm họa về ong mà là những gì mà chúng ta có thể nói là các loài ong dại không phát triển một cách thực sự”.  Trong khi không có quá nhiều nghiên cứu về sự sụt giảm của số lượng ong thì ngay cả những nghiên cứu hiếm hoi như vậy cũng chỉ tập trung vào một khu vực cụ thể hoặc một loài ong cụ thể. Các nhà nghiên cứu thường chỉ quan tâm nhiều hơn đến việc nhận diện các xu hướng chung mang tính toàn cầu của đa dạng loài.  “Việc chỉ ra những loài ong nào đang tồn tại ở những nơi nào và cách mỗi tập hợp loài bằng việc sử dụng các bộ dữ liệu phức tạp có thể dẫn đến tình trạng hỗn độn”, Zattara nói. “Chúng tôi chỉ muốn nêu ra một câu hỏi đơn giản hơn: “những loài nào đã được ghi nhận, ở nơi nào trên thế giới trong một thời kỳ?”.  Để có được câu trả lời, các nhà nghiên cứu đã truy cập vào Hệ thống thông tin đa dạng sinh học toàn cầu (Global Biodiversity Information Facility GBIF), một mạng lưới các cơ sở dữ liệu quốc tế chứa các hồ sơ từ các viện bảo tàng, trường đại học và cả sưu tập tư nhân được lưu trữ từ ba thế kỷ. Các hồ sơ này ghi nhận hơn 20.000 loài được biết trên khắp thế giới.    Một con ong Megachile sp., một trong hàng trăm loài ong dại cần thiết cho cây cối và mùa vụ. Nguồn: Eduardo E. Zattara  Để có thêm thông tin kết quả là một phần tư tổng số loài ong không còn được ghi nhận nữa, các nhà nghiên cứu đã quan sát và thấy sự suy giảm này thậm chí không được phân bố theo các họ ong. Các hồ sơ về ong Halictidae – họ lớn thứ nhì trong số các họ ong – đã giảm xuống 17% kể từ những năm 1990. Một họ khác là Melittidae – một họ hiếm hơn nhiều – cũng giảm đi tới 41%.  “Thông tin đó quan trọng bởi nó nhắc nhở chúng ta rằng ‘ong’ không chỉ có nghĩa là ong mật, dẫu cho ong mật là loài được nuôi nhiều nhất”, Zattara lý giải. “Vết carbon của xã hội loài người cũng tác động đến ong dại, những loài góp phần đem lại những dịch vụ sinh thái mà chúng ta đang phụ thuộc”.  Trong khi nghiên cứu này đem lại một cái nhìn gần hơn vào tình trạng đa dạng của ong toàn cầu, nó cũng là một phân tích chung để đưa ra những khuyến nghị thực sự về tình trạng hiện tại của những loài ong khác nhau.  “Không chỉ về số lượng cụ thể của các loài ong mà nó còn cho thấy nhiều hơn xu hướng phát triển của ong”, Zattara nói. “Nó xác nhận những gì đã được chứng tỏ là đã xảy ra trước đây ở quy mô địa phương giờ đã lan ra toàn cầu. Và vì cậy về cả sự thật là sẽ cần nhiều dữ liệu được chia sẻ với các cơ sở dữ liệu công”.    Một con ong thợ Cadeguala albopilosa, một trong hàng trăm loài ong dại cần thiết cho cây cối và mùa vụ. Nguồn: Eduardo E. Zattara  Tuy vậy, các nhà nghiên cứu cảnh báo là bao giờ thông tin loại này cũng đến quá muộn để con người có thể nhận biết và đảo ngược được sự suy giảm. Tình trạng xấu nhất có thể là không thể làm được điều gì khác.  “Thi thoảng thì điều đó đang diễn ra với loài ong và thi thoảng cần làm điều gì đó. Chúng ta không thể chờ đợi cho đến khi mình hoàn toàn nhận biết đủ bởi vì chúng ta hiếm khi đón nhận được điều đó trong khoa học tự nhiên”, Zattara nói. “Bước tiếp theo là đưa các nhà hoạch định chính sách vào hành động khi vẫn còn thời gian. Loài ong không thể chờ đợi nhiều hơn nữa”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-quarter-bee-species-havent-1990s.html  https://www.cell.com/one-earth/fulltext/S2590-3322(20)30651-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không khí Hà Nội ô nhiễm ở mức nào?      Đó là câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu những người sống ở Hà Nội vài năm trở lại đây, khi thường thấy hiện tượng bụi mù mịt trên nhiều tuyến đường, kể cả nội đô lẫn vành đai, và chỉ số chất lượng không khí AQI với mức cảnh báo nguy hại sức khỏe, mà chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng.      Giao thông là một trong 12 nguồn phát thải ô nhiễm của Hà Nội. Nguồn: TTXVN  Nhưng đây thực sự là một câu hỏi không dễ trả lời…    Khi chúng tôi bày tỏ ý định “muốn tìm hiểu về bức tranh chất lượng không khí Hà Nội và xác định Hà Nội ô nhiễm ở mức nào” với TS. Lý Bích Thủy, Viện KH&CN Môi trường (ĐH Bách khoa Hà Nội), một trong số những nhà khoa học nghiên cứu về ô nhiễm không khí rất năng động ở Hà Nội, chị mỉm cười “e rằng điều đó quá tham vọng”.    Quá tham vọng ư? “Bởi bản thân ô nhiễm không khí là một vấn đề quá phức tạp, nó liên quan đến rất nhiều loại thành phần ô nhiễm khác nhau, từ hạt bụi ở nhiều kích thước đến các chất ô nhiễm dạng khí và phụ thuộc rất nhiều đến các yếu tố khác nhau như điều kiện khí tượng, hoạt động của con người… Chúng ta mới chỉ nắm bắt được một bức tranh sơ bộ chứ chưa thể có được thông số chính xác”, chị giải thích.    Do đó, đi tìm câu trả lời về bức tranh ô nhiễm không khí của Hà Nội hôm nay như việc tham gia một trò chơi ghép hinh Lego mà mỗi mảnh ghép chỉ hé lộ cho chúng ta một phần rất nhỏ của câu chuyện.     Những mảnh ghép Lego     Một hai năm trở lại đây, qua truyền thông và mạng xã hội, người dân Hà Nội bắt đầu quan tâm đến thông tin về tình trạng ô nhiễm của bầu không khí mà họ đang sống. “Đặc biệt, khi những số liệu quan trắc theo thời gian thực (AQI) của đại sứ quán Mỹ công khai và ai đó đã so sánh nó với chỉ số ở Bắc Kinh, nơi trong tiềm thức của người Việt Nam là một nơi rất ô nhiễm, thì mọi người mới thật sự để ý”, TS. Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) và hiện là Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nói.      “Người ta thường cho là giao thông đóng góp 70% ô nhiễm không khí nhưng trên thực tế, nó chỉ có thể gần đúng với trường hợp phát thải các chất CO, CO2, NOx… và không đúng với trường hợp bụi mịn vì nó có phần đóng góp của cơ chế hình thành bụi thứ cấp và vận chuyển dài hạn”. (TS. Lý Bích Thủy, ĐH Bách khoa HN).      Tuy nhiên, không phải bây giờ Hà Nội mới có ô nhiễm. Từ những năm 2000, giáo sư Phạm Duy Hiển và nhóm nghiên cứu tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã chỉ ra một thực tế là ở Hà Nội đã tồn tại hiện tượng ô nhiễm với các thành phần bụi PM2.5, PM10, các loại khí SO2, NO2. Năm 2007, ông trả lời phỏng vấn New York Times: cùng với TPHCM, Hà Nội có mức độ bụi MP10 là 80 µg/m3, cao gấp đôi Bangkok ở cùng thời điểm. Không chỉ nêu đến những yếu tố ô nhiễm cơ bản, ông còn xác định được xu hướng ô nhiễm là mùa đông cao hơn mùa hè. “Trong mùa khô, ô nhiễm nặng thường bắt đầu vài ngày sau khi gió mùa Đông Bắc tràn về và kéo dài trong nhiều ngày liền cho đến khi gió thịnh hành chuyển sang hướng Đông Nam trước khi xuất hiện đợt gió mùa mới”, giáo sư Phạm Duy Hiển chia sẻ một phần kết quả nghiên cứu trên Tia Sáng vào năm 2008.    Vậy gần 20 năm sau, chất lượng không khí của Hà Nội đã thực sự thay đổi? “Một số người nói là hồi đó với bây giờ không khác gì nhau. Dĩ nhiên là mình không đủ số liệu để chắc chắn điều đó nhưng cá nhân tôi không đồng ý với nhận định này bởi tôi cảm nhận là tình hình nó ngày một xấu đi. Chúng ta hãy nhìn từ logic là các nguồn phát thải nó tăng lên, bao năm qua mình có giảm được [nguồn phát thải] gì đâu. Hồi đó Hà Nội chỉ có 1 triệu cái xe máy thì bây giờ là khoảng 6 triệu cái, cộng thêm khoảng 800.000 ô tô thì đương nhiên nguồn phát thải giao thông đã tăng lên. Đấy còn chưa kể các nguồn phát khác như xây dựng nhà cao tầng, các nhà máy nhiệt điện, sản xuất sắt thép xi măng, các làng nghề tái chế… và nay cả hiện tượng đốt rơm rạ”, TS. Hoàng Dương Tùng liệt kê. “Nguồn thải nhiều lên thì không thể nói chất lượng không khí tốt lên được”.      PAM AIR, một ứng dụng của Công ty CP Tư vấn và Tích hợp công nghệ D&L, cung cấp diễn biến chất lượng không khí và cảnh báo ô nhiễm không khí. Nguồn: TTXVN  Trong cặp mắt các nhà nghiên cứu, bức tranh chất lượng không khí Hà Nội đang ngày một xám đi. TS. Vương Thu Bắc (Viện KH&KT hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), người được giáo sư Phạm Duy Hiển hướng dẫn luận văn tiến sĩ về ô nhiễm không khí từ 20 năm trước và nay là một trong những nhà nghiên cứu có thâm niên trong lĩnh vực này, không khỏi “cảm thấy lo ngại về tình trạng ngày càng xấu của không khí Hà Nội”. Trong bộ dữ liệu rất quý mà anh tích lũy được từ việc phân tích xác định hàm lượng của 20 nguyên tố hóa học và carbon đen trong các mẫu bụi PM2.5 và PM2.5-10 thu góp được với tần suất 2 ngày đêm/tuần trong vòng 15 năm bằng những kỹ thuật phân tích hạt nhân – phương pháp có nhiều ưu thế vượt trội nhờ khả năng phân tích đồng thời đa nguyên tố với độ nhạy, độ chính xác cao mà không đòi hỏi quy trình xử lý mẫu quá phức tạp. Ví dụ, về nồng độ bụi trung bình từ 1998-2009, có thể thấy lượng bụi PM2.5 trung bình là 37,79 µg/m3, bụi MP2.5-10 là 50,51 µg/m3, bụi PM10 là 87,95 µg/m3, “so với tiêu chuẩn chất lượng bụi khí của Mỹ đang áp dụng thì PM2.5 trung bình của Hà Nội lớn hơn 2,52 lần và PM10 lớn hơn 1,75 lần. Thêm nữa, số ngày có PM2.5 và PM10 trung bình 24 giờ cũng vượt tiêu chuẩn Mĩ (áp dụng từ năm 2006) lần lượt là 50% và 57,7%”, TS. Vương Thu Bắc cho biết.    Dù ở Hà Nội hay ở bất cứ địa điểm nào thì những hạt bụi cỡ PM2.5 và PM10 đang lơ lửng trong bầu khí quyển đều xuất phát từ các nguồn là tự nhiên và hoạt động của con người. Nhưng chúng chủ yếu từ đâu, liệu có phải là giao thông, một trong những mối lo ngại bấy lâu nay của Hà Nội? “Người ta thường cho là giao thông đóng góp 70% ô nhiễm không khí nhưng trên thực tế, nó chỉ có thể gần đúng với trường hợp phát thải các chất CO, CO2, NOx… và không đúng với trường hợp bụi mịn vì nó có phần đóng góp của cơ chế hình thành bụi thứ cấp và vận chuyển dài hạn”, TS. Lý Bích Thủy giải thích. Đây cũng là lý do vì sao trong thời kỳ giãn cách xã hội để góp phần kiểm soát dịch Covid-19, lưu lượng giao thông đã giảm hẳn nhưng hàm lượng PM2.5 của Hà Nội vẫn còn cao, số liệu từ các trạm quan trắc chất lượng không khí của Hà Nội đã chỉ ra điều đó, theo PGS. TS Hoàng Anh Lê, trưởng bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường, trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN).  Dựa trên dữ liệu NO2 (phát thải từ ô tô, xe máy) và SO2 (việc đốt than, dầu chứa lưu huỳnh) thu thập được ở 9 khu nội đô và 5 vùng ven đô, giáo sư Phạm Duy Hiển và cộng sự đã phát hiện ra tác động của việc mở rộng đô thị lên chất lượng không khí ở Hà Nội. “Các nồng độ chất ô nhiễm giảm đi từ trung tâm thành phố ra ngoài đã phản ánh lịch sử của việc mở rộng đô thị với vùng rìa thành phố được đô thị hóa trong những năm 1980 và những năm 1990… Từ dữ liệu được giám sát, các bản đồ số NO2 và SO2 cho thấy nhiều điểm nóng phát thải giao thông và công nghiệp ở khu vực ven đô. Các yếu tố làm thay đổi nồng độ các chất ô nhiễm theo không gian khắp thành phố gồm mật độ dân số, mật độ đường và khoảng cách của vị trí giám sát đến trung tâm đô thị và đường gần nhất”, ông viết như vậy trong công bố “Impact of urban expansion on the air pollution landscape: A case study of Hanoi, Vietnam” vào tháng 12/2019 trên tạp chí Science of The Total Environment.    Hạt bụi mịn với các kích thước khác nhau ở Hà Nội lại ẩn chứa nhiều thông tin ít ai ngờ. “36 % lượng bụi PM2.5 là từ hoạt động vận chuyển xuyên biên giới (vận chuyển tầm xa) vào Hà Nội, bắt nguồn từ bụi cát ở 12 sa mạc lớn trên đất Trung Quốc, Mông Cổ như Gobi, Taklamakan và từ phát thải của 33 nhà máy nhiệt điện than Trung Quốc và Việt Nam”, TS. Vương Thu Bắc cho biết. Nhìn vào góc độ sâu hơn về thành phần nguồn gây ô nhiễm hạt bụi PM2.5 trong giai đoạn 2001-2013 có thể thấy “36% từ vận chuyển tầm xa, 19% từ nhà máy nhiệt điện than tầm xa, 11% nhà máy nhiệt điện than trong nước, 10% bụi đất xây dựng, 10% từ biển, 8% từ giao thông, 6% đốt sinh khối…”    Hạt bụi ở Hà Nội không chỉ là bụi, nó còn “cõng” thêm những yếu tố phức tạp khác. Ví dụ khi tìm hiểu về các hợp chất hữu cơ khuếch tán trong không khí, TS. Lê Hữu Tuyến (trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã đi sâu vào phân tích thành phần hữu cơ PAHs – những hợp chất đã bị cấm sử dụng trong quá trình sản xuất đồ chơi do nghi ngại hợp chất này có thể gây ung thư cho con người, bám trên hạt bụi PM2.5. “Thật ra hạt bụi nó có độc tính hay không là do các chất bám trên đó. Ở thành phố lớn với lưu lượng giao thông lớn như Hà Nội, PAHs xuất phát từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các động cơ đốt trong của ô tô, xe máy. Khi cơ thể bị phơi nhiễm thì lượng PAHs được vận chuyển vào tận nhân tế bào và hạt bụi kích thước càng nhỏ thì độc tính càng cao”, anh nói.    Trong một nghiên cứu mới thực hiện của giáo sư Lê Hồng Khiêm (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và các cộng sự tại Viện KH&KT hạt nhân, Viện Liên hợp hạt nhân Dubna, những phân tích dựa trên các mẫu thu thập được ở loài rêu Barbula Indica cho thấy có 22 nguyên tố kim loại như silic, nhôm, clo, kali, sắt, đồng… trong bụi và hàm lượng của chúng ở Hà Nội cao hơn Huế và TPHCM.      Bản đồ ô nhiễm SO2 và NOx.  Dĩ nhiên, nếu câu chuyện về không khí của Hà Nội chỉ có hạt bụi PM2.5 hay PM10 thì mọi chuyện đã khác, thậm chí đơn giản hơn rất nhiều. Trên thực tế, đó lại là tầng tầng ô nhiễm được tích tụ mà mỗi lớp thông tin được bóc tách lại khiến người ta phải ngạc nhiên xen lẫn lo ngại. Ví dụ như chuyện về những chiếc bếp than tổ ong, một đề tài mà nhóm nghiên cứu của TS. Lý Bích Thủy và một nhóm nghiên cứu khác kết hợp thực hiện theo đặt hàng của Sở TN&MT Hà Nội. “Trước đây người ta cứ tưởng là đô thị hóa khiến việc sử dụng bếp than tổ ong ở Hà Nội như những năm 1990 đã giảm đi nhưng thực ra tới năm 2017 vẫn còn 55.000 bếp tồn tại và quận trung tâm như Hoàn Kiếm vẫn còn dùng nhiều”, chị cho biết. 63% lượng bếp than tổ ong ở khu vực nội thành, 37% ở ngoại thành và mỗi ngày tiêu thụ 528 tấn than, thải ra 1.870 tấn CO2, theo thống kê năm 2019 của Sở TN&MT Hà Nội.    Còn một mảnh khuyết thiếu về không khí Hà Nội nếu người ta không nhắc đến, đó là carbon đen phát sinh từ đốt cháy rơm rạ. PGS. TS Hoàng Anh Lê, một người dành rất nhiều thời gian vào nghiên cứu việc đốt rơm rạ không chỉ ở Hà Nội mà còn cả khu vực đồng bằng sông Hồng, cho biết, khi đốt cháy rơm rạ sau thu hoạch, tổng lượng ô nhiễm phát sinh là không quá lớn nhưng thời gian tập trung đốt rất ngắn, khoảng hai tuần cao điểm nên đã gây ra hiện tượng ô nhiễm cục bộ. Nhiều khí thải được tạo ra như CO2, CH4, carbon đen– chất tồn lưu thời gian ngắn trong khí quyển và là thành phần tác động quan trọng gây ra biến đổi khí hậu. “Khi đốt cháy một kg rơm rạ ngoài đồng ruộng thì nó sẽ phát thải ra 0.5 gam carbon đen, 9 gam PM10, 8 gam PM2.5, CO2 lên đến 1177 gam”, anh ước tính.     Bức tranh còn nhiều khoảng trống     Nhìn tổng thể, bức tranh về ô nhiễm không khí ở Hà Nội đã được dựng lên theo từng kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành. Tuy nhiên, nó chưa cho chúng ta thấy được nhiều lắm về một thực trạng mà những người đang sống ở Hà Nội đang nếm trải hằng ngày. Dường như đến nay chưa ai có thể trả lời được tường tận và thấu đáo câu hỏi “những nguồn phát thải nào đóng góp lớn nhất trong ô nhiễm không khí Hà Nội?”, “cách thức giảm thiểu ô nhiễm nào là hiệu quả nhất với Hà Nội?” hoặc “Hà Nội có thuộc top thành phố ô nhiễm nhất thế giới không”?    “Muốn trả lời được những câu hỏi này, Hà Nội phải có kiểm kê phát thải”, PGS. TS Hoàng Anh Lê, người đang giảng dạy về quản lý môi trường, trong đó có phương pháp kiểm kê phát thải, cho biết như vậy.    Việc tiến hành kiểm kê phát thải trên địa bàn Hà Nội sẽ cho chúng ta những câu hỏi căn bản nhất về thực  trạng ô nhiễm không khí như các nguồn đóng góp, tỷ lệ đóng góp của từng nguồn, hệ số phát thải… và rất nhiều thông tin hữu ích khác cho các nhà quản lý. “Chúng ta chưa có số liệu đầy đủ về ô nhiễm như vậy vì từ trước đến nay chưa từng làm kiểm kê phát thải, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường đã qui định”, TS. Hoàng Dương Tùng nói. “Đây là việc tốn kém và khá tốn công nhưng là việc phải làm và là trách nhiệm của nhà nước, không thể tư nhân hoặc tổ chức nước ngoài nào làm giúp được chúng ta, không ai làm hộ mình được”, TS. Hoàng Dương Tùng đề cập đến việc phải tiến hành kiểm kê phát thải.    Năm 2006-2007, anh và đồng nghiệp từng kết hợp với các nhà nghiên cứu ở trường ĐH Bách khoa Hà Nội thống kê phát thải xe máy Hà Nội bằng việc xây dựng một quy trình lái điển hình và tính toán hệ số phát thải, từ đó tìm ra lượng phát thải của một chiếc xe. “Đấy là một phần quan trọng trong kiểm kê phát thải xe máy trong giao thông vì có được hệ số và nhân lên với lượng xe là thu được kết quả. Tuy nhiên đó là chuyện của nhiều năm về trước, bây giờ chu trình lái, hành vi lái của mọi người khác rồi”, anh giải thích nguyên nhân vì sao việc kiêm kê cần được làm định kỳ 5 năm/lần.    Thật ra, kiểm kê phát thải không phải việc dễ dàng. Ở góc độ của một người đã từng làm kiểm kê phát thải cho một số tỉnh thành thông qua dự án hợp tác quốc tế, PGS. TS Hoàng Anh Lê nêu, “ngay việc kiểm kê phát thải rơm rạ cũng là bài toán khó vì việc kiểm kê này phải phản ánh được bản chất phát thải của rơm rạ. Phương thức mà chúng tôi vẫn áp dụng vẫn còn hạn chế vì dựa trên năng suất, sản lượng của lúa, từ đó có thể ước tính ra lượng rơm rạ thải bỏ, đem đốt nên có sai số nhất định so với thực tế”.    Công việc kiểm kê rút cục vẫn cần được thực hiện. Chưa từng thực hiện một cuộc kiểm kê đầy đủ nào nên Hà Nội vẫn chưa có bộ số liệu về ô nhiễm không khí của mình. Do đó, dù ông Vũ Đăng Định, Chánh Văn phòng UBND TP Hà Nội, vào tháng 10/2019 đã nêu 12 nguồn chính gây ra ô nhiễm không khí trên địa bàn thủ đô nhưng vẫn chưa lý giải được đâu là những nguồn phát thải chính, mỗi nguồn đóng góp ra sao.    Khi có được bộ số liệu này trong tay, chúng ta có thể làm gì với nó? “Khi chúng ta không có đủ nguồn lực để có thể dàn hàng ngang giải quyết hết các nguồn phát thải, việc kiểm kê giúp chúng ta lập được chương trình từng bước loại bỏ và hạn chế các nguồn đó, trong đó ưu tiên xử lý nguồn ‘nguy hiểm’ nhất, ví dụ nếu biết giao thông chiếm tới 50% phát thải thì cần tập trung vào tìm các giải pháp trong giao thông trước nhất”, TS. Hoàng Dương Tùng cho biết.    Việc xử lý các vấn đề ô nhiễm không khí là một vấn đề tốn kém. Năm 2017, trong nỗ lực làm sạch bầu không khí ô nhiễm PM2.5, NOx, VOCs, chính quyền Hàn Quốc đã lập một kế hoạch 5 năm với kinh phí 7,2 nghìn tỉ won (6,3 tỷ USD) để đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than cũ, giảm thiểu lưu lượng xe cộ trên đường và cắt giảm phát thải từ các nhà máy sản xuất, các địa điểm xây dựng và các chuyến tàu thủy.    Khi chưa có đủ kinh phí để giải quyết một lúc nhiều vấn đề như vậy thì việc kiểm kê sẽ là bước đi đầu tiên để Hà Nội định hình rõ “đường đi nước bước”, có những căn cứ quan trọng để ra được những chính sách phát triển phù hợp, điều mà từ trước đến nay vẫn chưa thực sự được quan tâm. TS Vương Thu Bắc nói “Chúng tôi rất buồn là các nhà quản lý chỉ tập trung vào việc ‘chữa trị’ hơn là ‘phòng bệnh’. Cần phải nhìn vào gốc rễ của vấn đề để xử lý nó”.    Mọi chuyện dường như đã bắt đầu thay đổi. Năm 2019, việc Sở TN&MT Hà Nội tìm đến với Live and Lean, một tổ chức NGO trên địa bàn Hà Nội về ô nhiễm môi trường, Mạng lưới không khí sạch Việt Nam và một số nhà khoa học để tìm hiểu về bài toán bếp than tổ ong và dự tính lộ trình cắt giảm đã là bước đầu như thế. “Chính sách là để giải quyết chứ không phải đối phó. Việc cải thiện chất lượng không khí theo tôi nên bắt đầu từ việc công khai dữ liệu, công khai thông tin để nâng cao nhận thức của các nhà quản lý và thu hút sự quan tâm của người dân cùng tham gia giải quyết vấn đề chung. Ai cũng có một phần trách nhiệm của mình ở đó”, TS. Hoàng Dương Tùng cho biết. □  “Việc quan trắc theo dõi mức độ ô nhiễm trong không khí là điều cần thiết nhưng theo tôi, chúng ta không cần phải lắp đặt quá nhiều các trạm quan trắc trên cùng một địa bàn. Nếu cứ mua thật nhiều máy về lắp đặt theo dõi thì chúng ta chỉ có thể biết được hiện trạng về mức độ ô nhiễm chứ không thay đổi được tình thế. Hơn nữa, bụi PM2.5 có độ phân bố tương đối đồng nhất trong một phạm vi nhất định nên chúng ta phải xem xét kỹ bài toán đặt ra, qua đó lựa chọn một số điểm tiêu biểu, đặc trưng để lắp đặt thiết bị quan trắc. Với ô nhiễm không khí Hà Nội bây giờ, chúng ta nên bàn về nguồn gốc và nguyên nhân để tìm cách loại bỏ hoặc giảm thiểu nguồn phát thì hay hơn. Tôi thấy cần thiết và quan trọng là đầu tư và tổ chức nghiên cứu để tìm ra được nguồn gốc, nguyên nhân gây ra ô nhiễm, sau đó tập trung vào việc xây dựng các chính sách quản lý, văn bản pháp qui, triển khai thực hiện để giảm được nguồn gốc phát sinh ô nhiễm”. (TS. Vương Thu Bắc, Viện KH&KT hạt nhân, Viện NLNTVN).    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Không nên chỉ trông chờ vào vaccine      Trước tốc độ và số lượng loại vaccine đang được phát triển nhanh như hiện nay, một câu hỏi được đặt ra là liệu nay mai coronavirus có trở thành quá khứ? Với bài học rút ra từ việc chống đại dịch đậu mùa và dịch cúm Tây Ban Nha, nhà nghiên cứu lịch sử y học Alexandre White trường Đại học Johns Hopkins cảnh báo chúng ta về sự lạc quan thái quá.      Nhà nghiên cứu lịch sử y học Alexandre White trường Đại học Johns Hopkins.  Ngược trở về quá khứ, Ali Maow Maalin, một đầu bếp ở Somalia, là người cuối cùng bị lây nhiễm virus đậu mùa (ông được phát hiện mắc bệnh này vào hồi tháng 10/1977). Và cho đến ngày 8/5/1980, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố “bệnh đậu mùa đã chấm dứt vĩnh viễn trên toàn thế giới”. Đây là lần đầu tiên và cho đến nay cũng là lần duy nhất trong lịch sử nhân loại đã hạ gục vĩnh viễn một căn bệnh truyền nhiễm. WHO đã tiến hành một chiến dịch tiêm chủng chưa từng có để tiêu diệt vĩnh viễn một trong những bệnh dịch nguy hiểm nhất trên thế giới.    Nhìn lại cuộc chiến với bệnh đậu mùa, giáo sư Alexandre White thuộc Đại học Johns Hopkins nói với Spiegel (Đức) rằng, cuộc chiến chống lại bệnh đậu mùa là một tấm gương cho cuộc chiến chống đại dịch Corona ngày nay và chúng ta nên xem lại những bài học rút ra từ các cuộc chiến chống các bệnh dịch khác trong quá khứ.      Nếu ai đó gọi đại dịch Corona là “bệnh dịch Trung Quốc” thì phải hiểu, phân biệt chủng tộc và bài ngoại chỉ làm chậm lại cuộc chiến chống đại dịch.      Thưa ông, nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành công vaccine chống virus corona – phải chăng đại dịch này sắp đến hồi kết?    Những thông tin đó hết sức đáng mừng, nó góp phần khẳng định con đường chúng ta chọn là đúng. Rất có thể chúng ta sẽ sớm kiểm soát được virus, chí ít là ở một số vùng trên thế giới, đầu tiên là châu Âu và Hoa Kỳ.     Nhưng có sự thật là tại Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ gốc Phi không tin tưởng vào tiêm chủng mặc dù họ thường có nguy cơ rủi ro mắc nhiều bệnh dịch. Theo cuộc điều tra trong tháng 9/2020, chỉ có 32% người Mỹ da màu muốn tiêm chủng vaccine chống corona virus. Tại sao lại như vậy?    Hoài nghi vào vaccine bắt nguồn từ sự không tin tưởng vào chính sách y tế còn có nhiều khiếm khuyết của Chính phủ Hoa Kỳ hiện nay, mặt khác còn có nguyên nhân lịch sử. Ngay từ trước khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời, người da đen đã bị lạm dụng trong y học. Ví dụ như trường hợp của James Marion Sims, người được coi là “cha đẻ ngành sản khoa của Hoa Kỳ” khi đã tiến hành một loạt thí nghiệm ở phụ nữ da đen cuối thế kỷ 19 mà không dùng bất cứ loại thuốc tê nào. Sau đó, kể từ năm 1932, người Mỹ cũng thực hiện một thí nghiệm về bệnh giang mai trong 40 năm đối với hàng trăm đàn ông Mỹ da đen; tiếp đó là việc triệt sản bắt buộc đối với phụ nữ da đen, phụ nữ bản địa và phụ nữ Mỹ gốc Puerto Rico. Đây không phải là những trường hợp cá biệt mà là những ví dụ về bạo lực y tế mà người thiểu số ở Mỹ từng phải đối mặt cho đến những năm 1970. Những hành động như vậy để lại những dấu vết khó phai trong ký ức cộng đồng người Mỹ da đen.      Ali Maow Maalin, một đầu bếp ở Somalia, là người cuối cùng bị lây nhiễm virus đậu mùa.     Nhìn lại bệnh đậu mùa, nhờ một chiến dịch tiêm chủng do WHO phát động trên toàn thế giới mà căn bệnh này đã bị xóa sạch hoàn toàn – điều này có thể coi là một tấm gương đối với cuộc chiến chống corona?    Tôi nghĩ chỉ ở một chừng mực nhất định thôi bởi hai bệnh này rất khác nhau. Tôi hoài nghi vào việc chúng ta có thể tiêu diệt một cách đơn giản hoàn toàn Sars-CoV-2, vì khác với bệnh đậu mùa, con virus này có thể lây từ động vật sang người. Lịch sử diệt trừ bệnh đậu mùa cho thấy, nếu chỉ có duy nhất vaccine thì phương pháp này không thể thật sự lý tưởng: Mặc dù ngay từ năm 1796, bác sỹ người Anh Edward Jenner đã thử nghiệm vaccine và từ thế kỷ 19 đã tiến hành tiêm chủng ở các nước công nghiệp nhưng trong thế kỷ 20, ước tính vẫn có khoảng 400 triệu người bị chết vì bệnh đậu mùa trên thế giới.  Việc triển khai kế hoạch tiêm chủng bắt buộc vào năm 1967 đã giúp tiêu diệt virus đậu mùa trong vòng 12 năm.     Nước hoa hồng và nạn phân biệt chủng tộc: Khắc phục dịch bệnh trong quá khứ     Để đạt được mục tiêu này, nhân viên y tế, thí dụ như ở Ấn Độ và Bangladesch, đã có lúc áp dụng các biện pháp cưỡng bức thô bạo. Do chính sách y tế có tính áp đặt từ trên xuống, người dân không những không được hướng dẫn, giải thích đầy đủ mà còn bị coi thường, họ trở nên bị động trong tiêm chủng. Nghiên cứu của nhà sử học Hoa Kỳ Paul Greenough từ Đại học Iowa cho thấy, những phương pháp thô bạo những năm 1970 có thể làm triệt tiêu và ảnh hưởng lâu dài đến tinh thần sẵn sàng tiêm chủng của tầng lớp dân chúng bị dịch bệnh đe dọa nhiều nhất. Để hạn chế sự mất lòng tin này trong tương lai, các chính phủ khi tổ chức các chiến dịch tiêm chủng rộng lớn cần có sự giải thích chu đáo, tỉ mỉ và đối xử tử tế với người dân.      Khi nào đó sẽ lại bùng phát một vụ dịch mới, vấn đề chỉ là thời gian.      Có lẽ một trong những vấn đề quan trọng trong tiêm chủng là làm thế nào để mọi người đều có thể tiếp cận được với vaccine.    Đây chính là điều khiến tôi rất lo lắng. Chúng ta thường có xu hướng xem vấn đề đại dịch với cách nhìn chủ quan của mình, tức là theo quan niệm của châu Âu hay Hoa Kỳ và bỏ qua các khu vực rộng lớn trên thế giới, thí dụ toàn bộ khu vực phía Nam của thế giới. Lịch sử chống đại dịch cho thấy sự ích kỷ như vậy có thể nguy hiểm chết người như thế nào.    Trong lịch sử, không thiếu những trường hợp như thế, một trong số đó là đại dịch dịch hạch lần thứ ba bùng phát ở Trung Quốc hồi cuối thế kỷ 19 và đến năm 1901, lây lan đến Cape Town. Khi đó, người dân da đen bị dồn vào các khu cách ly ở các vùng ngoại ô. Hành động này đã tạo ra một loại mô hình cho hệ thống các thị trấn ven đô. Còn trong thế kỷ 20, nó trở thành một dấu hiệu rõ ràng nhất về nạn phân biệt chủng tộc khi phân biệt đối xử và hành động thô bạo là những biện pháp đã được áp dụng trong việc chống đại dịch – tính mạng người châu Âu, người Mỹ và người da trắng ở Nam Phi đã được cho là có giá trị hơn tính mạng các nhóm người khác. Hậu quả là đã có 15 triệu người chết, chủ yếu ở Ấn Độ và Trung Quốc; cho đến nay đây đó vẫn bùng phát bệnh dịch hạch. Nếu ai đó gọi đại dịch Corona là “bệnh dịch Trung Quốc” thì phải hiểu, phân biệt chủng tộc và bài ngoại chỉ làm chậm lại cuộc chiến chống đại dịch.      Tiêm phòng bệnh đậu mùa ở một trường tiểu học ở London năm 1962).      Người ta vẫn thường hay có sự so sánh Covid-19 với dịch cúm Tây Ban Nha. Đến một lúc nào đó, con virus cúm này sẽ biến mất hoàn toàn chứ?    Các nhà dịch tễ học cũng như các nhà sử học cho đến nay vẫn chưa biết nguyên nhân nào làm cho đại dịch khủng khiếp này bị chặn đứng và suy giảm. Tuy nhiên bài học mà dịch cúm Tây Ban Nha đem lại cho chúng ta rất rõ ràng: hậu quả sẽ khó lường nếu ta thiếu cương quyết và hài lòng quá sớm khi thấy số ca lây nhiễm trong nước giảm nhiều. Làn sóng thứ ba dịch cúm Tây Ban Nha bắt đầu vào mùa xuân 1919 đã làm cho các thành phố ở Hoa Kỳ vô cùng điêu đứng.     Ông cũng đã xem xét rất kỹ chiến lược phòng chống Aids. Có thể rút ra bài học gì từ việc này?    Khi căn bệnh này bùng phát ở Mỹ trong những năm 1980, phản ứng của dư luận là kỳ thị và bài xích người đồng tính còn chính phủ tỏ ra thờ ơ. Mãi đến năm 1985 khi đã có khoảng trên 6000 người Mỹ chết vì căn bệnh này thì Tổng thống Mỹ khi đó là ông Reagan mới lên tiếng. Sự thờ ơ và cố chấp đáng xấu hổ này đã làm nảy sinh trong dân chúng sự ngộ nhận về sự bình an. Cái giá cho sai lầm đó là hàng ngàn mạng người. Aids đã cho chúng ta thấy, để diệt trừ có hiệu quả một căn bệnh cần có sự hiểu biết và ý chí quyết tâm của các cộng đồng.    Vậy cuộc chiến chống bệnh sốt Ebola hoành hành ở Tây Phi từ năm 2014 và sau đó ở Trung Phi từ năm 2018 nhắc nhở chúng ta điều gì?    Chúng ta không nên chỉ chăm chăm trông vào tiêm phòng, điều quan trọng là phải tiến hành điều tra thu thập dữ liệu một cách rộng khắp và sự giúp đỡ của quốc tế cũng rất quan trọng. Số lượng các vụ lây nhiễm ở Tây Phi giảm rõ rệt ngay từ khi chưa phát triển thành công một loại vaccine nào do người ta đã nắm được mức độ lây lan và thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh, giãn cách xã hội và chú trọng vấn đề cách ly.     Toàn cầu hóa ngày càng tăng làm cho sự lây lan trong đại dịch cũng diễn ra mau lẹ hơn.    Đúng thế. Khi nào đó sẽ lại bùng phát một vụ dịch mới, vấn đề chỉ là thời gian.     Chúng ta phải chuẩn bị như thế nào về việc này?    Nếu như có một bài học để chúng ta rút ra từ lịch sử thì điều đó là, các đại dịch không quan tâm đến biên giới quốc gia. Đại dịch tấn công toàn cầu và bất kể ai cũng có thể bị dính đòn, bất chấp nòi giống, màu da, giới tính hay thành phần xã hội. Do đó, đại dịch phải bị tiêu diệt trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên không phải bằng các biện pháp cưỡng bức bạo lực mà là bằng tuyên truyền giáo dục và hợp tác toàn diện. Cần phải ý thức được rằng, sức khỏe của chúng ta không phải là vấn đề của một cá nhân nào mà còn phụ thuộc vào những người khác. Để có được nhận thức đó, trước hết đòi hỏi chúng ta phải học hỏi, thực sự đặt mình vào địa vị của những người khác. Điều duy nhất giúp ích lâu dài đó là lòng trắc ẩn, vị tha. Chỉ khi nào chúng ta có được tình cảm trắc ẩn, vị tha đó thì chúng ta không những sẽ tiêu diệt được đại dịch virus corona mà bất kỳ đại dịch nào xuất hiện trong tương lai. □     Nguyễn Xuân Hoài dịch     Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/geschichte/corona-bekaempfung-wir-duerfen-uns-nicht-allein-auf-impfstoffe-fokussieren-a-2cb797a3-4e52-4fea-b609-d66a6762983d  * Alexandre White – tiến sỹ lịch sử y học, nhà xã hội học, là giảng viên Đại học  Johns Hopkins ở Baltimore (Maryland). Cuốn sách xuất bản năm 2019 “Epidemic Colonialism: A Social History of International Disease Response” của ông đề cập đến tác động xã hội của dịch bệnh trong lịch sử và cơ chế quốc tế trong việc kiểm soát và khắc phục tác động của dịch bệnh trong bối cảnh toàn cầu hóa.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nên để siêu sao sút phạt 11 mét      Không rõ ông Luiz Felipe Scolari, HLV trưởng  đội Brazil có biết Neymar thuộc tầm cỡ các cầu thủ mà người ta không  nên giao cho trọng trách sút 11m. Chí ít là không nên khi người ta tin vào  kết quả nghiên cứu của nhà khoa học thể thao Geir Jordet thuộc Đại học  Oslo, Na Uy.    Ngay từ đầu của vòng 1/8, đội chủ nhà Brazil trong trận gặp Chile đã buộc phải phân thắng bại bằng sút 11 mét. Kết quả mọi người đã rõ, siêu sao Neymar đã biến quả sút phạt đền thứ năm thành bàn thắng và đưa đội Brazil đi tiếp vào vòng tứ kết.   Không rõ ông Luiz Felipe Scolari, HLV trưởng đội Brazil có biết, với quả sút 11 mét này ông đã chấp nhận một sự rủi ro lớn đến như thế nào? Bởi vì Neymar thuộc tầm cỡ các cầu thủ mà người ta không nên giao cho trọng trách này. Chí ít là không nên khi người ta tin vào kết quả nghiên cứu của nhà khoa học thể thao Geir Jordet thuộc Đại học Oslo. Với tư cách là một nhà nghiên cứu, Jordet đã xem xét mọi khía cạnh liên quan đến quả sút 11 mét. Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy, đối với những quả sút phạt quan trọng có ý nghĩa quyết định thì không nên giao cho những chân sút siêu sao của đội thực hiện.   Kết luận của Jordet dựa trên số liệu phân tích trên 40 cú sút phạt 11 mét tại các giải vô địch thế giới từ năm 1976 đến 2004. Qua đó người ta thấy những đội đạt kết quả sút 11 mét kém nhất lại là những đội có nhiều cầu thủ đạt các danh hiệu vô địch trên mức bình quân, đó là các cầu thủ cùng với đội của họ giành được các giải thưởng quốc tế, thí dụ như Champions League hoặc giành các danh hiệu trong các cuộc thi như Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm chẳng hạn. Theo Jordet, nếu để những cầu thủ xuất sắc này sút 11 mét thì họ sẽ chịu áp lực lớn hơn so với các cầu thủ thuộc diện “Nobody”, bởi lẽ nếu một ngôi sao mà sút trượt quả 11 mét thì sẽ rất tai tiếng.   Liệu đây có phải là nguyên nhân của điểm yếu nổi tiếng của người Anh trong đá phạt 11 mét mặc dù họ có nhiều ngôi sao tầm cỡ quốc tế hay không? Còn một nguyên nhân nữa đối với việc người Anh hay đá hỏng quả phạt đền mà Jordet đã phát hiện là các cầu thủ Anh đặc biệt hấp tấp, vội vã khi thực hiện sút phạt: thời gian từ lúc trọng tài thổi còi cho sút phạt cho đến lúc các cầu thủ Anh quốc tung chân sút bóng trung bình là 0,28 giây.  Không một đội bóng nào trên thế giới có tốc độ thực hiện quả sút phạt nhanh như người Anh. Theo nghiên cứu của Jordet, khả năng ghi bàn tăng rõ rệt nếu các chân sút dành nhiều thời gian hơn, thí dụ so với các cầu thủ Anh thì các chân sút Đức cần thời gian nhiều gấp đôi – 0,64 giây.   Thành tích của đội tuyển Đức đã chứng minh họ có lý: trong bảng đá luân lưu 11 mét tại giải World Cup, Đức có thứ hạng rất cao, 4:0. Trong khi đó đứng cuối bảng, không ai ngạc nhiên, là đội Anh với kết quả 0:3. Đây cũng là minh chứng cho câu nói nổi tiếng của Gary Lineker: trong bóng đá, 22 gã đàn ông rượt đuổi một trái bóng trong suốt 90 phút, và cuối cùng thì người Đức lững thững giành phần thắng.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nghiên cứu thì chỉ là trường phổ thông cấp 4!      Trong khi ở nhiều trường đại học, cán bộ giảng dạy hầu như “quên” nghiên cứu khoa học thì đến những năm gần đây, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học đã trở thành động lực hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Nông nghiệp I (ĐHNN I). PV Tia Sáng đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH Trần Đức Viên- Hiệu trưởng trường ĐHNN I.    PV: Được biết đoàn chuyên gia thuộc một trung tâm đánh giá chất lượng của Mỹ đang đến làm việc với ĐHNN I, với tư cách là hiệu trưởng, ông có cảm nghĩ thế nào?  TĐV: Chúng tôi đang ngày càng quen dần với chuyện hợp tác quốc tế và mong muốn vươn tới đáp ứng các tiêu chí quốc tế, có thể có nơi nào đócảm thấy “sợ” chuyện này, ngại ‘vạch áo cho người xem lưng’ nhưng chúng tôi thấy không có gì phải sợ cả. Mình có ‘bệnh’ mà chưa biết, hoặc là biết đấy nhưng biết chưa đầy đủ, lại tự dưng có người đến ‘bắt mạch kê đơn’ cho thì còn gì bằng… Với lại, cũng có thể là do chúng tôi ở “Trâu Quỳ” nên không biết sợ chăng!  ĐHNN I chịu “ra gió” như vậy chứng tỏ phải có thực lực rất khá?  Cũng chưa khá lắm. Trường ĐHNN I được thành lập từ năm 1956, ban đầu có tên là Đại học Nông lâm đóng tại Văn Điển, Đến năm 1959 thì trường chuyển về đây, tức là Trâu Quỳ, Gia Lâm với tên Học viện Nông lâm, Đại học Nông nghiệp, rồi ĐHNN I. Các bạn biết đấy, đa phần mọi người biết đến Trâu Quỳ vì lý do khác chứ không phải vì ở đây có ĐHNN I. Hiện nay, trường chúng tôi có khoảng 16.000 sinh viên, học viên cao học và NCS, với khoảng 1100 cán bộ viên chức, trong đó trên 62% là cán bộ giảng dạy, chúng tôi đang cố gắng để tăng tỷ lệ giảng viên lên 70% trong vài năm tới. Ngoài những ngành truyền thống đậm đặc “chất nông nghiệp” như nông học, chăn nuôi, thú y, thủy nông, đất đai,…thì từ khá sớm sau khi thành lập trường chúng tôi đã có các ngành mang “chất công nghiệp” như cơ khí, điện,…, và những ngành rất cần cho phát triển NN và nông thôn như kinh tế, kế toán, quản trị doanh nghiệp…, gần đây chúng tôi còn có thêm nhiều ngành mới như, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ thông tin, công nghệ môi trường, quản lý môi trường, sư phạm kỹ thuật; và sắp tới sẽ mở các ngành mới như nông nghiệp đô thị, tự động hóa, cơ khí chế tạo, ngoại ngữ, tài chính, kiểm toán…  Nhiều ngành như thế thì ĐHNN I có vẻ hơi hơi giống một “đại học tổng hợp”?                     Thực tế thì chúng tôi mang danh “nông nghiệp” nhưng lại đang phát triển theo hướng đa ngành để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa NN và nông thôn, đáp ứng nhu cầu xã hội; với lại bây giờ xu hướng đa ngành là chuyện bình thường, chắc là anh cũng biết “Kasetsart” tiếng Thái nghĩa là nông nghiệp, Kasetsart University nghĩa là ĐHNN, nhưng thực tế thì Kasetsart đào tạo và nổi tiếng ở nhiều ngành không hoặc ít dính dáng đến NN như Cơ khí, Sư phạm, Y, CNTT… cũng như  ít người ở nước ta biết rằng Viện công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology – MIT) nổi tiếng của Hoa Kỳ lại có một chương trình cũng nổi tiếng không kém là chương trình nghiên cứu và đào tạo về xã hội học, nhân chủng học mang tên “the Science, Technology, and Society Program”. Các ngành tác động và bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau, cũng có khi ngành nọ phải “nuôi” ngành kia để trường có thể phát triển như một tổng thể. Tuy nhiên, với các ngành truyền thống, dù xã hội có yêu cầu ít đi thì chúng tôi vẫn cần duy trì, phát triển, để không “đánh mất mình”.    Ngành cơ khí chắc là gặp khó khăn khi phải cạnh tranh với máy móc Trung Quốc?  Không chỉ Trung Quốc thôi đâu, máy móc Hàn Quốc bây giờ cũng nhiều lắm. Thế cho nên ngành cơ khí nông nghiệp mới đi theo hướng chế tạo những sản phẩm dễ cạnh tranh nhất. Chúng tôi đã từng nghiên cứu và chế tạo thành công nhiều loại máy phục vụ thiết thực sản xuất nông nghiệp một thời như máy đạp lúa, máy cày xá nhỏ, máy cắt cói, máy nghiền trục đứng, máy trộn thức ăn gia súc, máy thái củ, máy băm vùi thân lá dứa, máy rũ đay ngâm… và gần đây là máy ấp trứng, máy sấy nông sản bằng năng lượng mặt trời. Chúng tôi có quyền tự hào rằng nhiều loại máy phục vụ sản xuất nông nghiệp là thành quả nghiên cứu của ĐHNN I. Phải thừa nhận là, trong những năm gần đây nghiên cứu chế tạo máy NN phục vụ sản xuất của hộ nông dân gặp không ít khó khăn, do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan…, hiện cũng đang có một nhóm các nhà KH trẻ của chúng tôi nghiên cứu chế tạo máy đóng bầu mía, một nhu cầu rất lớn của nhiều vùng nguyên liệu mía nước ta, chúng tôi đã chế tạo xong mẫu máy, nhưng vẫn cần hoàn thiện công nghệ để máy có thể đến được tay người trồng mía.  Vậy thì điều đặc biệt của ĐHNN I1 nằm ở chuyện nghiên cứu khoa học?  Không có gì đáng gọi là ‘đặc biệt’ cả, nếu không có NCKH thì làm sao có thể gọi là ĐH được, đấy chỉ là ‘phổ thông cấp 4’ thôi! Mới đây chúng tôi vừa làm một việc mà kết quả của nó rất cần được mọi người cùng suy ngẫm, đó là thử nghiệm đào tạo một tiến sỹ “cho ra tiến sỹ”. Kết quả là, để có được một tiến sỹ “nghiêm chỉnh”, tức là một tiến sỹ có thể ‘ngang tầm’ được với TS đào tạo ở nước ngoài về công nghệ sinh học (có bài đăng ở tạp chí khoa học quốc tế chuyên ngành) thì chúng tôi đã tốn hết 350 triệu đồng. Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là một thử nghiệm. Còn thì chúng tôi vẫn phải làm theo cách thức mà mọi người đang làm, tức là chỉ đầu tư cho mỗi nghiên cứu sinh 6 triệu đồng một năm, theo “đơn giá” của nhà nước. Tôi nghĩ là cần phải tính lại chuyện đầu tư cho việc đào tạo tiến sỹ trong nước, với số tiền ấy thì không thể cho ra các tiến sỹ thực sự được.    Nhưng càng tiết kiệm cho giáo dục đào tạo thì càng tốt chứ?  Chúng ta có cách đi của chúng ta, chúng ta có thể đào tạo tiến sỹ chất lượng cao với chi phí thấp chứ không thể đào tạo tiến sỹ chất lượng cao với giá rẻ mạt được. Chuyện tiết kiệm ở đây cần phải được nhấn mạnh ở hiệu quả đầu tư chứ không chỉ là đầu tư bao nhiêu. Nếu các phòng thí nghiệm (PTN) được đầu tư cho ra phòng thí nghiệm thì các giáo sư (GS) sẽ kéo được các nghiên cứu sinh (NCS) vào làm việc, và các NCS sẽ có thể làm khoa học thực sự, đến khi bảo vệ tiến sỹ họ sẽ bảo vệ bằng đúng thành quả lao động nghiên cứu miệt mài trong mấy năm của họ. Đằng này, với tình hình chung của nước ta, PTN thiếu thốn và không ra PTN, các GS và NCS không gắn bó được với nhau trong một môi trường làm việc chuyên nghiệp. Thành ra hiện tượng phổ biến là thầy một nơi, trò một nẻo, các NCS vì ít tiền lại không có chỗ làm việc, nghiên cứu nên rất khó tập trung thời gian và sức lực cho nghiên cứu phuc vụ đề tài, lại còn phải lo kiếm sống nữa nên thường sao nhãng việc NC, có khi đến nửa năm họ mới gặp GS một lần để bàn bạc, “xin ý kiến” gọi là rồi lại mải mê với những công việc không mấy liên quan đến đề tài. Thế mà cuối cùng, không ít người trong số họ vẫn có được luận án tiến sỹ xuất sắc đấy!?.    Như vậy thì đúng là việc đầu tư tới nơi tới chốn để cho ra kết quả rõ ràng là tiết kiệm hơn việc đầu tư nhỏ giọt và nửa vời, không những vô hiệu quả mà còn gây ra những hậu quả tiêu cực không đáng có và không nên có. Nhưng trong chuyện nghiên cứu khoa học, vấn đề không chỉ đơn thuần là “đồng tiền đi liền chất lượng”?  Đúng như vậy, đâu phải cứ bỏ tiền ra là có khoa học. Tiền có thể mua được sách, nhưng tiền chưa chắc có thể mua được công trình KH. Theo tôi, việc nghiên cứu khoa học được thúc đẩy bởi ba động lực chính. Động lực thứ nhất là tinh thần, động lực thứ hai là kinh tế, và động lực thứ ba là môi trường làm việc.  Ở ĐHNN I, động lực tinh thần đã được tạo ra như thế nào?  Về tinh thần, tôi có thể nói rằng, nhiều người nghiên cứu khoa học cần được tôn trọng, cần được đánh giá đúng hơn là cần tiền. Sự quan tâm và cổ vũ thích đáng của xã hội sẽ thúc đẩy nhà khoa học cống hiến nhiều hơn. Chẳng hạn, nếu một nhà khoa học tạo ra được một giống lúa mới đem lại lợi ích lớn cho sản xuất nông nghiệp thì ông ấy xứng đáng được thủ tướng gặp và động viên. Ở trường Nông nghiệp, chúng tôi làm tất cả những gì có thể để cổ vũ cho việc nghiên cứu khoa học, thậm chí chúng tôi đã “thúc ép” các cán bộ phải có nghiên cứu khoa học, mọi giảng viên đều phải giành ra khoảng 1/3 quỹ thời gian vật chất của mình cho NCKH. Các công lao nghiên cứu được tính theo các giờ giảng dạy, thế có nghĩa là ai nghiên cứu được nhiều thì chỉ cần dạy ít cũng được. Chúng tôi tính một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí của trường bằng 20 giờ dạy, và một bài đăng nước ngoài bằng 250 giờ dạy, tính như vậy không phải là có tư tưởng “sính ngoại” đâu, mà thực tế là NCKH của chúng ta đang có vấn đề, chất lượng một số tạp chí KHCN của chúng ta đang có vấn đề; xin được chia sẻ với anh, để đăng bài ở tạp chí trường tôi thì bài đó phải “qua” được 2 phản biện kín có cùng chuyên ngành, một ở trong trường và một ở ngoài trường, nghĩa là không dễ dàng gì nhưng cũng không quá khó khăn như đăng ở nước ngoài, nhưng bài bị chúng tôi loại ra lại có thể xuất hiện ở một tạp chí khác một vài tháng sau đó. Như vậy nếu một nhà nghiên cứu trong một năm nào đó có một bài đăng ở tạp chí quốc tế thì năm đó nghiễm nhiên thầy/cô ấy đã hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy. Hơn nữa, chúng tôi còn có chế độ thưởng tiền cho thành tích nghiên cứu, một bài đăng nước ngoài sẽ được thưởng ngay 10 triệu tiền mặt, đồng thời hỗ trợ thêm 10 triệu nữa để đầu tư vào nghiên cứu. Thưởng tiền như vậy cũng là một cách cụ thể để động viên tinh thần cùng với các danh hiệu được tôn vinh khác như giảng viên dạy giỏi, chiến sỹ thi đua cấp cơ sở…  Vấn đề cơ chế và kinh phí dành cho nghiên cứu chắc vẫn còn nhiều phức tạp?        Đúng vậy. Xin kể một ví dụ. Trường ĐHNN I thuộc Bộ Giáo dục & Đào tạo, khi Nhà nước có chương trình đầu tư nghiên cứu phát triển lúa lai thì chương trình này đương nhiên là thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, còn Bộ GDĐT không “dính dáng” gì, dù rằng bộ GD&ĐT đang “sở hữu” một đội ngũ các nhà KH mạnh về nghiên cứu phát triển lúa lai. Lãnh đạo cấp cao nhất của Bộ NN rất muốn Đại học NNI tham gia tích cực và chủ động vào chương trình nghiên cứu này, nhưng việc chuyển tiền đầu tư từ bộ này sang bộ khác đâu phải dễ, có cả một bức tường cơ chế ngăn cản lại chuyện này. Những người trong cuộc đã phải bàn với nhau là: bức tường cơ chế chưa phá được thì chúng ta cùng phải trèo qua vậy. Phải mất 2 năm thì chương trình nghiên cứu mới sang được ĐHNN I. Chuyện hành chính bất cập rõ ràng là đã gây ra những khó khăn không đáng có đối với nghiên cứu khoa học, để làm một việc chân chính mà người ta vẫn phải “trèo tường”, thế có phải là khổ không. Thực tế là bây giờ có những nhà nghiên cứu vì sợ các cửa ải hành chính của lề thói quản lý đề tài KHCN nên rất ngại tham gia đề tài nhà nước, thay vào đó họ chỉ đi đấu thầu với Tây, viết dự án đề nghị các tổ chức hỗ trợ KH nước ngoài tài trợ để NCKH phục vụ KH, phục vụ đất nước, nhưng các đề tài NCKH mang hơi “Tây” ấy chưa bao giờ được chính thức coi trọng, được xếp ngang hàng với các đề tài cấp này cấp nọ của chúng ta, anh cứ nhìn vào hồ sơ xét GS, PGS thì rõ.  Thế còn về động lực thứ ba?  Môi trường làm việc là một yếu tố cực kỳ quan trọng, việc nghiên cứu khoa học cần phải được thực hiện bởi một tập thể được tổ chức quy củ, bài bản và chuyên nghiệp. Ví dụ như chuyện đào tạo tiến sỹ, NCS phải làm việc trong một nhóm nghiên cứu. Nhóm này phải có ít nhất một GS dẫn dắt và đưa ra các idea (ý tưởng), tiếp đến là phải có vài phó GS, vài ba nghiên cứu viên (research fellows) phát triển ý tưởng. Ở nước ngoài, các NCS – những người có lợi thế về sự nhạy bén năng động, là đối tượng bị “bóc lột” nặng nhất trong NCKH. Chính họ phải bắt tay vào làm chi tiết để cụ thể hóa các ý tưởng. Làm nghiên cứu ở đây là làm cật lực chứ không có quy định giờ nghỉ, giờ chơi đâu, đã chui vào PTN là quên thời gian, và chỉ có làm việc “mờ mắt” như vậy mới ra được bài báo thực sự. Ở nước ngoài, chuyện vác chăn lên PTN ngủ là bình thường. Bài báo KH, công trình KH là lý do tồn tại của nhà KH.  ĐHNN I tỏ ra rất có ý thức trong việc quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu khoa học. Ý thức này chuyển biến thành hành động như thế nào?  Phải nói thật là về KHCN thì truyền thống của chúng ta còn “mỏng” lắm, nếu so với các nước phương Tây, cần phải học hỏi họ rất nhiều. Trong thời buổi hội nhập này, ở đâu có hoạt động hợp tác quốc tế tốt thì ở đó có giảng dạy và NCKH tốt và ngược lại. Quy luật chung là như vậy, nhưng không phải là không có những nơi có hoạt động HTQT mạnh, nhưng hoạt động KHCN chưa hẳn là đã mạnh, đơn giản là vì trong thời kỳ chạy “rốt đa” để hội nhập về KHCN này, nơi nào có lợi thế về tiếng Anh thì nơi ấy thuận lợi hơn trong việc tìm đối tác nước ngoài, mà đối tác nước ngoài thì cũng năm bảy loại.  Như tôi đã nói, chúng tôi đã dồn nhiều tâm sức để có được những bài nghiên cứu đăng ở nước ngoài, “tiếp thị” mình ra thế giới và “kéo” thế giới lại gần mình. Ban đầu, chúng tôi phải dựa nhiều vào “ngoại binh”. Tức là một số đề tài làm với nước ngoài thì phải mời những nhà khoa học nước ngoài vào làm, cùng nghiên cứu, cùng đi thực địa, cùng lấy số liệu, cùng viết báo. Thực ra thì những bài báo nước ngoài đầu tiên của chúng tôi đều dính tên người Tây hết. Bây giờ điểm lại, những bài có Tây chiếm tới 2/3. Việc “xuất khẩu bài nghiên cứu” như vậy được thực hiện dần dần từ mức độ thấp, tức là chỉ cần những bài có chỉ số tương tác (impact index) cỡ 0,1 trở lên là chúng tôi đã hết sức động viên rồi. Đương nhiên là chúng tôi tin tưởng mình sẽ ngày càng khá hơn và sẽ “với” cao hơn. Một trong những cơ sở để tin tưởng như vậy là chúng tôi có nguồn hợp tác nghiên cứu với đối tác nước ngoài và nguồn tài trợ cho NCKH quốc tế khá phong phú. Một đồng cũng trân trọng mà cả triệu USD cũng trân trọng.  Về chuyện sinh viên nghiên cứu khoa học?  Ở trường chúng tôi, tỷ lệ sinh viên NCKH vẫn còn thấp lắm, chỉ khoảng 3-4%, bắt đầu từ năm thứ hai trở đi. Thực ra thì nhiệm vụ học tập của sinh viên vẫn được đặt lên hàng đầu, nhà trường chỉ khuyến khích các em nghiên cứu thôi. Hội nghị khoa học sinh viên được tổ chức hàng năm, 2 năm một lần chúng tôi lại tổ chức hội nghị NCKH trẻ cho SV và CBGD trẻ khối nông-lâm-ngư toàn quốc một lần. Đây là sáng kiến của trường ĐHNNI, tổ chức lần thứ nhất tại ĐHNNI, năm vừa rồi chúng tôi tổ chức lần thứ 3 tại Huế, chủ yếu để tạo động lực cho các em làm quen với nghiên cứu và được giao lưu học hỏi.  Có phải kết quả học tập tốt thì sẽ nghiên cứu tốt không?  Không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận như thế. Có những em học giỏi nhưng hầu như không biết làm nghiên cứu.  Nguyên nhân vì sao?  À, do cách dạy và cách học của chúng ta, còn nhiều vấn đề phải bàn lắm. Nói đến chuyện này thì chúng ta lại phải đối mặt với cả một “núi” câu chuyên dài liên quan đến vấn đề giáo dục ĐH.  Xin cảm ơn ông!  P.V. thực hiện     “Chúng tôi đang hợp tác với Ủy ban châu Âu (nghiên cứu về đô thị hóa và phát triển NN, tiếp cận ngành hàng, an toàn thực phẩm), với các nước cộng đồng Pháp ngữ (về chăn nuôi, thú y và phát triển nông thôn), với JICA – Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (về lúa), với Danida – Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Đan Mạch (về quản lý tổng hợp lưu vực, quản lý tài nguyên nông nghiệp), với Quỹ Rockefeller (về quản lý các tài nguyên liên biên giới), với Quỹ Ford (về suy thoái đất nhiệt đới, về sinh thái nông nghiệp), với DFG (Đức) về phát triển miền núi… Ngoài ra chúng tôi còn được hỗ trợ từ các quỹ ở Tây Ban Nha, Ý, Nhật, Bỉ, Lucxambua, và hợp tác song phương và đa phương với một số trường Đại học của Mỹ (UC Davis, UC Berkeley, ĐH Auburn, Trung tâm Đông-Tây ở Hawaii), của Đan Mạch (ĐH Copenhagen, ĐH Roskilde), Hà Lan (Wageningen, ITC), Bỉ (Gembloux, Liege, Louvain), v.v…”  Môi trường tốt sẽ tạo ra tác phong tốt và ý thức tập thể trong nghiên cứu.  NCKH thời hiện đại không còn là công việc của một vài cá nhân xuất chúng hoạt động đơn lẻ như thời đại của Newton hay Einstein. Môi trường nghiên cứu của chúng ta vẫn còn nhiều biểu hiện manh mún và rất khó gọi đó là tập thể, là cộng đồng. Có thể đơn cử một ví dụ xảy ra ở trường tôi vài năm trước, một thiết bị thí nghiệm được giao cho một người giữ thì ông này cứ cất tiệt ở trong phòng TN của mình, ra khóa vào mở, ai muốn sử dụng thì phải xin phép rất phiền hà, mà trong khi ấy thiết bị lại là của tập thể. Bản thân việc thí nghiệm thường đã gian nan và mất thời gian, thất bại là “chuyện thường ngày” bây giờ muốn làm thí nghiệm lại phải đi tìm ông giữ chìa khóa cửa! Những chuyện vặt vãnh kiểu như thế gây ra sự cản trở rất khó chịu cho người làm khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không phải bão trong tách trà mà là lốc xoáy trên một chip silicon      Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu trường đại học Queensland đã kết hợp các chất lỏng lượng tử và công nghệ chip bằng silicon để nghiên cứu về cuộn  xoáy/chảy rối, mở ra cánh cửa đến các công nghệ định hướng và cải thiện hiểu biết của chúng ta về các động lực học chảy rối của những lốc xoáy và những hiện tượng tmhời tiết cực đoan khác.      Giáo sư Warwick Bowen, từ Sáng kiến Cảm biến chính xác của trường đại học Queensland và Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về Các hệ lượng tử kỹ thuật thuộc Hội đồng nghiên cứu Úc, cho biết nghiên cứu này là “một thành tựu đáng kể” và đem lại một cách thức mới để nghiên cứu về chảy rối/cuộn xoáy (turbulence).  “Chảy rối thường được coi là vấn đề tồn tại chưa được giải quyết một cách thấu đáo trong vật lý”, giáo sư Bowen nhận xét.  Công bố “Coherent vortex dynamics in a strongly interacting superfluid on a silicon chip” (Động lực học xoáy cố kết trong một chất siêu lỏng tương tác mạnh ở một chip silicon) mới được xuất bản trên tạp chí Science.  “Nghiên cứu cho phép chúng ta quan sát chảy rối lượng tử ở cấp độ nano, tương tự như hành vi mà người ta thấy ở các cơn lốc xoáy”, giáo sư Bowen nói thêm về ý nghĩa công bố. “Thành công này có được là từ các đặc tính của những chất lỏng lượng tử, vốn về cơ bản khác biệt với các chất lỏng thông thường”.  Giáo sư Bowen cho biết, vấn đề đơn giản hóa bài toán chảy rối bằng việc sử dụng các chất lỏng lượng tử từng được đặt ra hơn 50 năm trước.  “Kỹ thuật nghiên cứu mới của chúng tôi rất thú vị bởi nó cho phép lần đầu tiên nghiên cứu chảy rối lượng tử trên một chip silicon”, ông nói.  Nghiên cứu này cũng dẫn đến những gợi ý về các hiện tượng diễn ra trong không gian, nơi các dòng chảy chất lỏng lượng tử được dự đoán là tồn tại bên trong các vật thể vật lý thiên văn đậm đặc.  “Nghiên cứu của chúng tôi có thể giúp giải thích cách các vật thể này hành xử như thế nào”, ông giải thích.  TS. Yauhen Sachkou, tác giả liên hệ của công bố, cũng nói rằng các ngôi sao neutron quay mất mô men góc trong các hoạt động “tắt bật” lặp đi lặp lại.  “Hoạt động này được cho là xảy ra quanh một chảy rối lượng tử”, TS. Sachkou nói.  Theo TS. Christopher Baker, đồng tác giả nghiên cứu, công bố giúp cho việc chế tạo các máy gia tốc kế trên cơ sở chip silicon với độ nhạy vượt xa những thiết bị tương tự hiện hành trở thành có thể.  “Trong các chất lỏng lượng tử, các nguyên tử cư xử như ở dạng sóng hơn là hạt”, TS. Baker nói. “Nó cho phép chúng tôi khả năng thiết kế các cảm biến giống laser từ các nguyên tử”.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-storm-teacup-cyclone-silicon-chip.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không phải là… ăn cắp?      Không chờ đến khi thư viện “số hóa”, nhiều sinh viên đã “xoay sở” bằng cách tải sách lậu từ Internet…    Hai năm nay, nguồn sách chính của Minh (đề nghị không nêu tên thật) – sinh viên ngành Công nghệ thông tin của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội – là từ Internet. Cần một cuốn chuyên ngành, việc đầu tiên của Minh là tìm kiếm trên Google. Đây chỉ là thủ tục để tìm hiểu “sơ sơ” về nội dung. “Không thể tìm được sách miễn phí bằng Google. Google Scholar cũng không ăn thua”. Sau đó cậu sẽ tìm bằng các mạng chia sẻ ngang hàng (P2P) như bitTorrent, eMule, eDonkey… Phần lớn sách cơ bản mà cậu cần đều có thể tìm thấy ở đây. Tuy nhiên, ở đó hiếm có những cuốn sách mới xuất bản. Đó là lúc Minh đăng nhập vào mục “Đọc sách” của một diễn đàn trực tuyến, bắt đầu “nhờ vả”: “Vào site http://www.dmxzone.com, mình thấy có cuốn ‘Dynamic Dreawaever MX’ của Bob Regan, Rachel Andrew, Alan Foley, Omar Elbaga, Rob Turnbull… rất hay. Nhưng muốn đọc thêm thì tìm mãi không ra được quyển này! Ai có thì share cho mình với, hay cho mình xin cái link để tìm 1 quyển free, mình xin hậu tạ!”. “Nhờ như vậy, lúc được, lúc không” – Minh nói.  Hầu như không có diễn đàn online nào lại không có những lời đề nghị như của Minh: “Cần tìm cuốn: Data And Computer Communications By William Stalling… Em đang cần cuốn Software Engineering của Sommerville bản 7 hoặc 8 (ebook), bác nào có cho em xin”; “Bác nào có quyển Discrete mathematics with application của Susanna thì up lên cho tớ với. Thanks”; “Tìm cuốn Ordinary Differential Equations của V.I.Arnold”…  Người đề nghị phần nhiều là sinh viên trong nước, còn những người “hảo tâm” giúp đỡ thường ở nước ngoài: họ dùng tài khoản (account) của một thư viện số, tải (download), rồi chuyển cho người nhờ – không cần “hậu tạ”,  thậm chí chẳng cần biết người nhờ là ai.  Thực ra Minh vẫn đến thư viện trường, nhưng chủ yếu trong thời gian học thi. Đấy là nơi rất tốt để học. Còn không, “chả có gì để đọc”.  Nổi bật trong khuôn viên trường Bách Khoa, Thư viện Tạ Quang Bửu có lẽ không những là “thư viện đại học lớn nhất cả nước” mà phải là thư viện lớn nhất nước – nếu chỉ xét vẻ bề thế: Một tòa nhà 11 tầng, tổng diện tích 37.000m2 với vốn đầu tư hơn 200 tỉ đồng. Thư viện được nói là được xây theo mô hình một thư viện điện tử hiện đại. Riêng từ tầng 1-5 là hệ thống các phòng đọc theo mô hình thư viện “mở” (người đọc có thể tự tìm kiếm, tra cứu sách và tài liệu), có khả năng phục vụ cùng lúc khoảng 2.000 người đọc.  “Nếu là thư viện sách, thì đây sẽ là một thư viện tuyệt vời. Còn thư viện số… phải chờ đã!” – Minh nói trong lúc dẫn tôi đi bộ suốt từ tầng 11 xuống dưới. Đến tầng 9, ngay trước lối vào là căn phòng kính rộng mênh mông, đề: Phòng máy chủ (server room). Tôi đến gần, ngó vào, phòng trống không.          Phòng đọc chuyên ngành Thư viện Tạ Quang Bửu        Công bằng mà nói thư viện này khá hiện đại: Trong các phòng đọc tại chỗ, người đọc trực tiếp vào giá sách để lấy ra những quyển sách mà mình ưa thích sau khi đã xuất trình thẻ tại bàn thủ thư và lấy số thẻ. Tầng 5, thư viện còn dành cho các bạn hoặc nhóm bạn sinh viên có nhu cầu học nhóm, làm bài tập lớn, làm đồ án, thảo luận chuyên đề… với không gian thoải mái biệt lập và tương lai sẽ trang bị các phương tiện hỗ trợ việc học nhóm và thảo luận như projector, máy tính nối mạng. Tại phòng multimedia ở tầng 2, người đọc có thể truy cập internet miễn phí, cũng có thể dùng USB để lưu trữ tài liệu.  Bên ngoài tòa nhà thư viện Tạ Quang Bửu, thầy Bùi Quốc Anh, bộ môn Kỹ thuật máy tính khoa Công nghệ thông tin cho biết: Thư viện trường Bách khoa có kết nối với thư viện của một số trường đại học nước ngoài, “song tài liệu của họ cũng cũ ‘chán chê’!”. Nhìn về phía thư viện, ông nói thêm: “Thư viện số thực chất là gì? Là server, là kết nối, là account, là nội dung – đâu phải tòa nhà!”  Tại phòng đọc tạp chí Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, có ba máy tính cho người đọc tra cứu. Tôi vào một máy, thử vào mục “tạp chí tiếng Việt” trong phần “Tra cứu” của website thư viện (www.clst.ac.vn/tracuu), gõ từ “Tia Sáng”. Có 84 kết quả, trong đó 82 kết quả liên quan tới những bài báo trên Tia Sáng. Chúng sắp xếp khá lộn xộn, phần lớn chỉ là đề mục những bài báo cách đây đã vài năm.  So với Thư viện KH&KT, “giàn” máy tính ở Thư viện Quốc gia nằm ngay ở sảnh ấn tượng hơn nhiều. Song chúng cũng chỉ để thay thế các tủ “phích” đồ sộ trước kia, nghĩa là giúp tra cứu đề mục nhanh chóng hơn.  “Số hóa” thư viện – một công việc chắc chắn sẽ tốn nhiều công sức và tiền bạc, nhưng lợi ích cho cộng đồng tri thức cũng chắc chắn lớn hơn. Song không phải ở đâu cũng sẵn sàng làm việc này. Nhớ lần đến thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tôi được một cán bộ ở đây kể: Một cơ quan văn hóa của Nhật đề nghị tài trợ hàng trăm nghìn USD để scan tất cả văn bản lưu trữ trong thư viện, họ chỉ xin lưu giữ một bản trên đĩa laser. “Nhưng đời nào ta đồng ý. Khi đã có hết tư liệu thì họ sẽ không đến Việt Nam để nghiên cứu nữa”.  Và trong khi chờ một thư viện điện tử đúng nghĩa được thành lập (“khi ấy thì đã hết đời sinh viên”), thì Minh – cũng như bao người trẻ khác –  vẫn ngày ngày lang thang trên mạng, chọn từ giữa vô vàn các file phim nhạc lậu trong các site chia sẻ ngang hàng để tải về những cuốn sách yêu thích. “World Wide Web là Wild Wild West (Mạng toàn cầu là Miền tây hoang dã)” – Minh bình luận. Thừa biết mình đang “vi phạm bản quyền”, nhưng Minh vẫn đắc chí nhắc lại câu nói nổi tiếng của Maxim Gorky: “Ăn cắp sách không phải là ăn cắp!”.  ———–  Các website về phát triển thư viện số trên thế giới  *http://www.diglib.org:  Digital Library Federation: Trang web của Hiệp hội thư viện số.  *http://www.loc.gov/library/libarch: Bộ sưu tập số của thư viện Quốc hội Mỹ   http://www.csdl.tamu.edu: Center  for the Study of Digital Libraries – Site của Trung tâm nghiên cứu thư viện số được thành lập năm 1995 tại Trường Đại học Tổng hợp Texas A&M.  *http://elib.cs.berkeley.edu: Thông tin về thư viện số Berkeley,các dịch vụ, các sưu tập, các công nghệ và một loạt các hội thảo về thư viện số.  *http://diglib.stanford.edu: Stanford Digital Library Technologies Project- Dự án thư viện số Stanford  bao gồm các tài liệu và thông tin về thiết kế và ứng dụng cơ sở hạ tầng, dịch vụ để phối hợp sáng tạo, phân phối, chia sẻ và quản trị thông tin số.  *http://www.nla.gov.au/padi: Preserving Access to Digital Information (PADI) – Site của thư viện Quốc gia Úc- the National Library of Australia và Tổ chức bảo quản truy cập thông tin số PADI. Site cung cấp truy cập tới các tài nguyên về bảo quản tài liệu số…                  Folis.info      Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể dự báo được động đất      Trận động đất 8,9 độ Richter ngày 11/3/2011 vừa rồi tại Đông Bắc Nhật Bản là trận động đất mạnh nhất, tai hại nhất trong lịch sử Nhật Bản 140 năm qua. Vì sao nước Nhật có kinh nghiệm phòng chống động đất lâu đời nhất và có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hàng đầu thế giới lại không dự kiến trước được thảm họa này? Dưới đây là câu trả lời của Cục thăm dò địa chất Mỹ (USGS).    1) Loài người không thể dự báo được động đất  Dù là Cục Thăm dò địa chất Mỹ (U.S. Geological Survey, USGS) hay Caltech (Học viện Công nghệ California) hoặc bất kỳ nhà khoa học nào đều chưa từng dự báo được một trận động đất lớn (major earthquake, từ 7 đến dưới 7,9 độ Richter). Trong tương lai có thể dự kiến, họ chưa biết cách dự báo và cũng không có ý định muốn biết. Nhưng dựa vào các số liệu khoa học, họ có thể tính toán được khả năng xảy ra động đất trong tương lai. Thí dụ, trong 30 năm tới xác suất xảy ra một trận động đất lớn tại vùng vịnh San Francisco là 67%, tại Nam California là 60%. Về lâu dài, USGS tập trung vào việc hỗ trợ nâng cao cấp độ an toàn của các kết cấu kiến trúc cơ sở nhằm giảm nguy hại do động đất gây ra, chứ không tập trung vào việc nghiên cứu dự báo ngắn hạn1.   2) Động vật có thể dự báo được động đất hay không   Tại Hy Lạp, ngay từ năm 373 trước Công nguyên (TCN) đã có ghi chép về những biểu hiện khác thường của một số loài động vật trước khi có động đất. Theo đó, chuột, sói Hoàng thử (weassels), rắn và rết vì để tự bảo vệ, trước khi xảy ra động đất lớn mấy ngày đều rời khỏi chỗ trú. Ở đâu cũng có ý kiến cho rằng trước động đất mấy tuần thậm chí mấy giây, động vật có vú, cá, chim, bò sát và côn trùng đều có biểu hiện khác thường. Nhưng những hành vi đó của các loài động vật đều thiếu sự nhất trí và thiếu tin cậy, và chúng ta vẫn chưa rõ cơ chế phát sinh các hành vi ấy. Đa số nhà khoa học quan tâm tới vấn đề này đều ở Trung Quốc và Nhật.  3) Một số người có thể có dự cảm trước khi xảy ra động đất ?   Một số người nói là họ có thể có một số triệu chứng nào đó trước khi xảy ra động đất, song đều chưa có căn cứ khoa học; hơn nữa phần lớn trường hợp tuy có triệu chứng rồi nhưng lại không xảy ra động đất.   4) Quan hệ giữa động đất với thời tiết   Thế kỷ IV TCN, Aristotle cho rằng động đất có nguồn gốc là gió trong hang động dưới lòng đất – rung chuyển nhỏ là do không khí nén vào trần hang, còn rung chuyển lớn là do không khí đột phá mặt đất. Lý thuyết đó làm cho người ta tin rằng động đất có liên quan với thời tiết – do dưới lòng đất có rất nhiều không khí cho nên vài ngày trước động đất thời tiết thế nào cũng nóng và yên tĩnh. Sau đó lại có thuyết cho là động đất xảy ra khi thời tiết yên tĩnh, trời nhiều mây và thường có triệu chứng là xuất hiện gió mạnh, sét cầu lửa (fireballs) và sao băng. Thế nhưng trên thực tế động đất và thời tiết không có liên quan với nhau. Động đất là kết quả của sự vận động địa chất bên trong Trái Đất, nó có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào và bất cứ điều kiện thời tiết nào trong năm. Động đất bắt nguồn từ nơi rất sâu dưới lòng đất; còn gió, mưa, nhiệt độ và biến đổi khí áp chỉ có thể ảnh hưởng tới bề mặt và tầng nông của Trái Đất. Độ sâu của chấn nguyên (nguồn địa chấn) ở rất xa bên ngoài phạm vi ảnh hưởng của thời tiết; hơn nữa sức mạnh gây nên động đất thì lớn hơn nhiều so với sức mạnh của thời tiết.  Động đất có thể xảy ra trong bất cứ loại hình thời tiết, tại mọi khu vực khí hậu, ở tất cả các mùa trong năm, và vào bất cứ thời gian nào trong một ngày. Có người hỏi: Động đất có thể bằng cách nào đó làm thay đổi thời tiết không ? Trả lời: bản thân động đất không làm thay đổi thời tiết. Là một bộ phận của kiến tạo học địa cầu, động đất thường làm thay đổi độ cao thấp của địa thế và hình thái có liên quan; thí dụ có thể làm lục địa biến thành ra bờ biển hoặc ngược lại. Động đất muốn làm thay đổi khí hậu thì cần thời gian vài triệu năm và sau rất nhiều lần động đất.  5) Thời điểm xảy động đất   Xác suất xảy ra động đất trong một ngày, một tháng hoặc bất cứ thời điểm nào trong năm đều như nhau; thời gian không ảnh hưởng tới việc xảy ra động đất.  6) Đất có bị nứt khi xảy ra động đất không?   Trong quá trình động đất gây ra trượt lở đất, xê dịch nghiêng hoặc các biến động địa chất khác, mặt đất sẽ xuất hiện một số vết nứt nông. Nhưng tầng đứt gãy (faults) thì không nứt ra trong khi có động đất. Bởi lẽ sự vận động khi động đất thì men theo hướng tầng đứt gãy chứ không theo hướng thẳng đứng với tầng này. Nếu tầng đứt gãy toác miệng ra thì do lực ma sát bị mất đi mà ngược lại sẽ không hình thành động đất.  7) Động đất có thể tạo ra núi lửa hay không?   Không thể. Núi lửa sinh ra bởi một loại hoạt động địa chất khác. Động đất có thể xảy ra trước, trong hoặc sau khi núi lửa ở một nơi nào đó phun trào; động đất là kết quả của hoạt động núi lửa chứ không phải là nguyên nhân gây ra hoạt động núi lửa.  8) Để tránh xảy ra động đất lớn, có thể dùng cách tạo ra nhiều trận động đất nhỏ, hoặc có thể dùng nước hay chất gì khác để bôi trơn tầng đứt gãy được không?   Qua quan sát, các nhà địa chấn học phát hiện: mỗi lần xảy ra một lần động đất cấp 6 đều có 10 lần động đất cấp 5; 100 lần động đất cấp 4, 1000 lần động đất cấp 3 … cứ thế suy ra. Điều đó nghe ra như là nhiều trận động đất nhỏ, nhưng dù xảy ra bao nhiêu lần động đất nhỏ đi nữa đều không đủ để loại bỏ được việc xảy ra một trận động đất lớn. Cường độ một lần động đất cấp 6 tương đương với 32 lần động đất cấp 5, 1000 lần động đất cấp 4, 32000 lần động đất cấp 3. Cho nên dù Trái Đất bao giờ cũng xảy ra rất nhiều lần động đất nhỏ nhưng chúng đều không đủ để làm tiêu tan một lần động đất lớn xuất hiện ngẫu nhiên.   Còn nói về cách dùng nước hoặc chất nào đó để bôi trơn (lubricating) tầng đứt gãy, hiện nay đã biết khi dùng chất lỏng cao áp bơm xuống lòng đất thì có thể làm cho động đất xảy ra sớm hơn. Nhưng làm như vậy tại bất kỳ vùng nào có người ở thì đều rất nguy hiểm, bởi lẽ có thể dẫn đến một trận động đất có tính tàn phá.   9) Vị trí của Mặt Trăng hoặc các hành tinh có ảnh hưởng tới tính hoạt động của động đất không?   Mặt Trăng, Mặt Trời và các thiên thể khác có thể ảnh hưởng tới Trái Đất dưới hình thức nhiễu loạn (làm biến đổi nhẹ) trường trọng lực của Trái Đất. Độ mạnh yếu của ảnh hưởng đó tỷ lệ thuận với khối lượng thiên thể và tỷ lệ nghịch với lập phương của khoảng cách giữa thiên thể với Trái Đất. Căn cứ theo tư liệu địa chấn lâu dài, giữa tần suất phát sinh động đất với bán nhật triều (semi-diurnal tides) không có mối quan hệ tương quan rõ ràng. Thế nhưng ở một số vùng núi lửa thí dụ vùng Mammoth Lakes (UC Berkeley), giữa bán nhật triều với tần suất xảy ra dư chấn có tồn tại một số mối tương quan tuy yếu song lại rất quan trọng.  10) Tại sao lại có nhiều động đất thế? Có phải là động đất ngày càng xảy ra nhiều hơn không? Điều đó phải chăng có nghĩa là sắp có một trận động đất lớn? Hoặc nếu lâu ngày mà không có động đất thì nghĩa là sức ép đang tích lũy?  Dù rằng mấy năm nay động đất xảy ra nhiều hơn, nhưng từ đầu thế kỷ này tới nay số lần động đất cấp 7 và lớn hơn về cơ bản vẫn giữ không đổi; hơn nữa, theo ghi chép của USGS con số này mấy năm nay còn có xu hướng giảm đi. Có mấy nguyên nhân làm cho mọi người có cảm giác động đất xảy ra ngày một nhiều, trong đó chủ yếu nhất là do số lần động đất có tính tàn phá đang tăng lên.        (1) Một số giải thích về tình hình trong 20 năm qua              Số lần động đất USGS có thể xác định được đúng là tăng dần theo năm; điều đó chủ yếu là do USGS đã tăng với quy mô lớn số trạm đo đạc địa chấn trên thế giới và hệ thống thông tin toàn cầu được cải thiện nhiều. Năm 1931, toàn cầu chỉ có khoảng 350 trạm đo; còn ngày nay (năm 2001) là trên 4000 trạm; toàn bộ số liệu từ các điểm đó đều có thể nhanh chóng tập hợp lại qua đường điện báo, máy tính và vệ tinh. Việc tăng số điểm đo và tiếp nhận tức thời số liệu cho phép USGS và các trung tâm nghiên cứu địa chấn khác có thể xác định được vị trí nhiều địa chấn nhỏ trước đây không phát hiện được, và có thể xác định nhanh chóng hơn vị trí của địa chấn.              Trung tâm Thông tin địa chấn quốc gia (NEIC) hiện nay mỗi năm có thể xác định được vị trí của 12000 ~ 14000 lần địa chấn hoặc mỗi ngày khoảng 35 lần. Đồng thời, do các cải tiến về thông tin liên lạc và người ta ngày càng quan tâm đến thiên tai, công chúng ngày một hiểu rõ hơn về động đất. Theo các ghi chép dài hạn (bắt đầu khoảng từ năm 1900) mỗi năm chúng ta bình quân gặp 18 lần động đất lớn (major, cấp 7,0~7,9) và một lần động đất cực lớn (great, từ cấp 8,0 trở lên). Thế nhưng hãy xem điều gì xảy ra trong 32 năm qua (1969-2001). Các ghi chép của USGS cho thấy từ năm 1971 trở đi, chỉ có số liệu năm 1992 và 1995-1997 là đạt được hoặc vượt con số bình quân nói trên. Số lần động đất lớn năm 1970 và 1971 lần lượt là 20 và 19; nhưng trong các năm khác, số lần động đất lớn ở nhiều trường hợp đều thấp nhiều so với con số 18 đó.              (2) Số người bị động đất đe dọa đang tăng lên.               Tuy số lần động đất mạnh nói chung không đổi, nhưng mật độ dân của vùng bị động đất đe dọa thì lại tăng lên. Đồng thời với sự tăng số dân, một số nước bắt đầu xây dựng các kiến trúc kiểu mới có năng lực chống động đất tốt hơn, nhưng vẫn còn nhiều nước chưa có các kiến trúc đó. Bởi thế chúng ta  thấy khi xảy ra động đất cùng quy mô như nhau nhưng các nước này có thương vong lớn hơn về người.              (3) Hệ thống thông tin toàn cầu đang được cải thiện tốt hơn.               Vài chục năm trước đây, nếu xảy ra động đất ở những vùng như Indonesia hoặc miền Đông Trung Quốc gây thương vong vài trăm người thì có thể mấy ngày sau thậm chí mấy tuần sau các cơ quan truyền thông những nước khác đều vẫn chưa biết tin ấy; khi thời gian lâu rồi thì sự việc đó mất giá trị thông tin. Tới ngày có thể nhận được tin tức ấy thì cũng chỉ có thể đăng ở trang cuối cùng của tờ báo. Thời ấy công chúng còn chưa có mạng internet. Còn ngày nay, chúng ta nhận được tin tức hầu như tức thời.              (4) Tính dồn tụ (clustering) của động đất và yếu tố tâm lý của con người.               Tuy số lần động đất lớn hàng năm về cơ bản là không đổi nhưng động đất thường hay xảy ra tập trung. Hiện tượng này đã được xác nhận bởi các mô hình thống kê, song nó không thể hiện rõ giữa các trận động đất xảy ra ở vị trí cách xa nhau mà về thời gian lại gần nhau ấy có mối liên hệ tương hỗ như thế nào. Nhưng tính dồn tụ đó một khi đã xảy ra, nhất là sau khi bị các phương tiện truyền thông đưa tin ồ ạt thì mọi người sẽ trở nên rất nhạy cảm. Thế nhưng trong thời gian không xảy ra động đất có tính tàn phá thì người ta lại chẳng quan tâm đến động đất. Tình trạng dồn dập nhất thời của hoạt động địa chấn không có nghĩa là sắp sửa xảy ra động đất lớn. Tương tự, sự yên tĩnh hoặc thiếu vắng hoạt động địa chấn cũng không có nghĩa là sắp có động đất mạnh. Hiện tượng tạm thời tăng giảm tần suất địa chấn thông thường chỉ là một phần trong sự biến đổi tự nhiên của tính hoạt động địa chấn. Chúng ta không thể biết được lần này nó sẽ có thể dẫn đến động đất lớn hay không. Xảy ra rất nhiều lần động đất nhỏ – nhất là tại vùng địa nhiệt (geothermal areas) – là tình hình bình thường. Ngoài ra, sau lần động đất quy mô cỡ trung bình trở lên sẽ xuất hiện một loạt dư chấn. Đó đều là hoạt động địa chấn phát sinh tự nhiên và có thể dự đoán.        H.Đ lược dịch (Nguồn: website USGS.gov)  Ghi chú (của người dịch):  1Trên vấn đề này quan điểm của USGS có khác đôi chút với giới địa chấn Trung Quốc. Một số nhà địa chất Trung Quốc vẫn cho rằng họ có thể dự báo được động đất. Một thí dụ điển hình là dựa kinh nghiệm, Trung Quốc từng dự báo ngắn hạn đột xuất trận động đất Hải Thành và thu được hiệu quả thực tế, cho dù “Kinh nghiệm Hải Thành” có tính rất hạn hẹp.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể hiểu được AI      Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của mạng nơ-ron – cốt lõi của công nghệ AI tân tiến nhất hiện nay, không một ai, kể cả cha đẻ của nó có thể hiểu được hệ thống này một cách đầy đủ.      Jack Cowan, người đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển mạng nơ-ron từ những năm 1950 trở đi.  Ngoài 20 tuổi, nhà toán học kiêm sinh học lý thuyết Jack D. Cowan đến thăm Wilfred Taylor và thấy một “cỗ máy biết học” kì lạ. Anh bị choáng ngợp bởi “đống thiết bị khổng lồ” này. Cowan chỉ biết đứng trân trân quan sát – cỗ máy đang làm một “sơ đồ bộ nhớ liên kết” – có vẻ là nó có thể học để tìm ra các mối liên kết và trích xuất từ dữ liệu.  Trông nó có thể giống như nhiều khối mạch điện cồng kềnh được ráp nối thủ công bằng những búi dây điện và hộp, nhưng những gì Cowan chứng kiến chính là một dạng analog của mạng nơ-ron – tiền thân của những mô hình trí tuệ nhân tạo tiên tiến nhất hiện nay, bao gồm cả ứng dụng ChatGPT đang được nói đến khắp nơi bởi khả năng trả lời mọi câu hỏi đối thoại. Bên trong công nghệ ChatGPT chính là một mạng neuron.  Thuật ngữ mạng nơ-ron bao gồm nhiều hệ thống đa dạng nhưng tựu trung lại, theo IBM, các “mạng nơ-ron – hay còn được gọi là mạng nơ-ron nhân tạo (“artificial neural networks” – ANN) hoặc mạng nơ-ron mô phỏng (“simulated neural networks” – SNN) – là một khía cạnh của học máy và cốt lõi của các thuật toán học sâu”. Điều quan trọng là “từ tên gọi cho đến cấu trúc của mạng nơ-ron đã được lấy cảm hứng từ bộ não con người, bắt chước cách các tế bào thần kinh sinh học truyền tín hiệu cho nhau”.  Ở thời kì đầu, người ta đã nghi ngờ về giá trị của các mạng nơ-ron này, nhưng theo thời gian, trào lưu AI đã mạnh mẽ đón nhận nó. Mạng nơ-ron giờ được hiểu là tương lai của AI. Chúng sẽ đem đến những tác động to lớn đến con người và ý nghĩa của việc làm người. Gần đây ta có thể thấy rộ lên những mối lo ngại như vậy cùng lời kêu gọi tạm dừng các phát triển AI mới trong khoảng thời gian sáu tháng để rà soát lại những tác động của chúng.    Có gì đó khác biệt nằm sâu trong bản thân mục đích và thiết kế của các mạng nơ-ron. Từ xưa đến nay, chúng luôn theo đuổi những gì không thể giải thích được. Hệ thống càng trừu tượng thì người ta càng nghĩ nó độc đáo và tiên tiến.    Chắc chắn sẽ là một sai lầm nếu coi mạng nơ-ron chỉ là thứ đồ công nghệ bóng bẩy và bắt mắt. Thực chất thì chúng đã bắt rễ vào đời sống của chúng ta. Từ năm 1989, một nhóm nghiên cứu do Yann LeCun dẫn đầu tại Phòng thí nghiệm AT&T Bell đã sử dụng các kỹ thuật lan truyền ngược để đào tạo một hệ thống nhận diện chữ viết tay mã bưu điện. Microsoft gần đây thông báo rằng các tìm kiếm trên Bing sẽ được AI hỗ trợ, như là người đồng hành lướt web của bạn. Nó sẽ cho ta thấy những gì ta phát kiến và hiểu ra chẳng qua chỉ là sản phẩm của máy móc.  Các mô hình AI được huấn luyện để tìm hình mẫu trên dữ liệu khổng lồ có thể làm các công việc như nhận dạng hình ảnh nhanh chóng – khiến chúng được ứng dụng để nhận dạng khuôn mặt, chẳng hạn. Mạng nơ-ron cũng đang thay đổi cách chúng ta dịch thuật và giao tiếp. Ví dụ sản phẩm “Google Translate” phát triển bởi nhóm có tên thú vị là “Google Brain” là một ứng dụng nổi bật khác của mạng nơ-ron.  Bạn chắc cũng không muốn đấu cờ Vua hay cờ vây với mạng nơ-ron. Khả năng thuộc các quy tắc và tổng hợp chiến thuật cũng như ghi nhớ từng đường đi nước bước khiến chúng đặc biệt xuất sắc trong những trò chơi. Cũng chính những hệ thống dựa trên mạng nơ-ron đã hạ gục những kì thủ cờ vây và cờ vua ngoài đời thực.  Nhưng mạng nơ-ron còn có thể ảnh hưởng vượt xa những ví dụ trên. Nếu tìm kiếm các bằng sáng chế bởi từ khóa “mạng nơ-ron” sẽ cho ra 135.828 kết quả. Với tốc độ bành trướng nhanh chóng và liên tục thì chúng ta hầu như không còn cơ hội nào để hiểu được ảnh hưởng của AI nữa.  Những lớp bí ẩn của sự “không thể giải thích”  Nhìn lại lịch sử của mạng nơ-ron sẽ cho chúng ta thấy vài điều quan trọng trong những quyết định tự động hóa đang định hình hiện tại của chúng ta và có thể sẽ còn ảnh hưởng sâu sắc hơn trong tương lai của loài người. Càng ngày, chúng ta sẽ càng khó nắm bắt những quyết định và ảnh hưởng của AI. Mạng nơ-ron không chỉ là những hộp đen, cũng không chỉ là những phần tử ẩn giấu của một hệ thống lớn hơn mà ta không thể thấy hoặc hiểu được.  Nhà phát minh mạng nơ-ron Walter Pitts (giữa) và Warren McCulloch (bìa trái) năm 1949.  Có gì đó khác biệt nằm sâu trong bản thân mục đích và thiết kế của các mạng nơ-ron. Từ xưa đến nay, chúng luôn theo đuổi những gì không thể giải thích được. Hệ thống càng trừu tượng thì người ta càng nghĩ nó độc đáo và tiên tiến. Lí do không phải chỉ vì những hệ thống đó ngày càng phức tạp hay vì quyền sở hữu trí tuệ hạn chế người ngoài tiếp cận. Thay vào đó, động cơ thúc đẩy sự phát triển của các mạng thần kinh này ẩn chứa mối quan tâm đặc biệt và sâu sắc tới “sự bất khả tri”. Sự bí ẩn này thậm chí được mã hóa trong mọi hình thức và diễn ngôn về mạng nơ-ron. Sâu bên trong các mạng nơ-ron gồm chồng chất nhiều lớp – từ đó mà có cụm từ học sâu – và giữa các lớp đó là những “lớp ẩn” thậm chí còn khó giải thích hơn.  Trí tuệ nhân tạo càng ảnh hưởng tới cuộc sống của chúng ta, chúng ta càng khó hiểu tại sao và thế nào lại như vậy. Ngày nay người ta càng vận động cho những hệ thống AI có thể được giải thích rõ ràng. EU rất lo ngại về các ứng dụng chứa đựng những “rủi ro không thể chấp nhận” và thậm chí là “nguy hiểm”. Họ đang thúc đẩy Đạo luật AI mới nhằm thiết lập một “tiêu chuẩn toàn cầu” cho việc phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và hợp đạo đức”.  Những luật mới dựa trên nhu cầu được biết rõ, đòi hỏi “đối với các hệ thống AI có rủi ro cao thì việc chứng minh được dữ liệu huấn luyện có chất lượng tốt, được ghi chép đầy đủ và có khả năng truy xuất nguồn gốc, có tính minh bạch, có sự tham gia giám sát của con người, có độ chính xác và tính ổn định cao, là điều kiện nghiêm ngặt để giảm thiểu những rủi ro tới quyền và an toàn cơ bản của con người do AI gây ra.”. Nó không chỉ là câu chuyện giống ô tô tự lái (cũng là một dạng AI được EU xếp hạng rủi ro cao), mà còn có nỗi lo lắng rằng những hệ thống này sẽ phát triển quá nhanh và xâm phạm đến nhân quyền.  Bộ não chính là hình mẫu cho những lớp trong mạng nơ-ron nhân tạo. Ảnh: Shutterstock.  Luật này là một phần của phong trào lớn hơn vận động cho sự minh bạch của AI, cho phép hoạt động của nó có thể kiểm tra, kiểm toán và đánh giá được. Một ví dụ khác là bản chính sách của Hiệp hội Hoàng gia Anh về một hệ thống AI rõ ràng, trong đó họ chỉ ra “các tranh luận chính sách khắp thế giới ngày càng vận động cho các hình thức hệ thống AI có thể giải thích được, một phần của nỗ lực đưa các nguyên tắc đạo đức vào việc thiết kế và vận hành các hệ thống sử dụng AI”.  Thế nhưng câu chuyện về mạng nơ-ron lại cho chúng ta thấy khả năng cao là trong tương lai, chúng ta đang dần đi xa khỏi các mục tiêu đó.  Lấy cảm hứng từ bộ não con người  Mạng nơ-ron có thể là một hệ thống phức tạp nhưng có thể tựu trung lại các nguyên tắc cốt lõi. Lấy cảm hứng từ bộ não con người, chúng hướng đến việc sao chép hoặc mô phỏng các dạng suy nghĩ sinh học và tư duy của con người. Về cấu trúc và thiết kế, như IBM giải thích, chúng bao gồm “các lớp nút mạng (node): gồm một lớp đầu vào, một hoặc nhiều lớp ẩn và một lớp đầu ra”. Trong đó, “mỗi node, hay còn gọi là một nơ-ron nhân tạo, sẽ kết nối với các node khác”. Các node này đòi hỏi yêu cầu đầu vào và thông tin để có thể tạo ra các dự báo ở đầu ra, vì vậy, “dựa vào các dữ liệu huấn luyện để học và tăng cường độ chính xác qua thời gian”.  Trong một cuộc phỏng vấn năm 1993, nhà khoa học mạng nơ-ron Teuvo Kohonen đã kết luận, ông mong muốn có một hệ thống có thể “tự tổ chức”, hoạt động giống như “hệ thần kinh của con người làm việc một cách bản năng”. Để lấy một ví dụ, Kohonen hình dung ra một hệ thống “tự tổ chức” – một hệ thống tự quản lý và giám sát, “có thể sử dụng để điều khiển bất cứ máy móc nào, kể cả máy bay, máy bay phản lực, hay tất cả các nhà máy điện ạt nhân hoặc tất cả mọi loại xe ô tô”.  Tham vọng lớn là có một hệ thống có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh. Nó sẽ tự chủ, phản ứng tức thời giống như hệ thần kinh. Đó là giấc mơ về những hệ thống có thể tự hành mà hầu như không cần sự can thiệp của con người. Sự phức tạp và bí ẩn của bộ não, của hệ thần kinh con người và thế giới thực sẽ sớm cho ta biết sự phát triển và cách thức thiết kế của mạng nơ-ron máy tính.  `Có gì đó đáng ngờ về nó’  Quay trở lại năm 1956 và cỗ máy tự học kỳ lạ đó, chính cách tiếp cận “học qua hành” của Taylor khi xây dựng chiếc máy đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của Cowan. Cowan nhận thấy Taylor, qua cuộc phỏng vấn về hệ thống của mình, “không hề chế tạo cỗ máy dựa trên lý thuyết nào, cũng chẳng mô phỏng gì trên máy tính”. Thay vào đó, với các công cụ trong tay, Taylor “thực sự tạo ra thiết bị đó hoàn toàn thủ công”. Đó chỉ là một khối vật chất, tạo ra bằng sự kết hợp hay thậm chí là đối chọi giữa các linh kiện với nhau. Và nó “được hoàn thiện ra bởi các mạch điện analog”, tiêu tốn của Taylor “nhiều năm để xây và nghịch nó”. Đó là một dạng thử và sai.  Cũng dễ hiểu là Cowan rất muốn nắm bắt được thứ mà anh đang nhìn thấy. Anh cố nài Taylor giải thích chiếc máy biết học này cho mình. Nhưng chẳng có gì là rõ ràng. Cowan không tài nào khiến Taylor mô tả chiếc máy này thực sự hoạt động thế nào. Những nơ-ron analog này vẫn cứ là một bí ẩn. Vấn đề đáng ngạc nhiên hơn, Cowan nghĩ, là chính Taylor “cũng không thực sự hiểu điều gì đang diễn ra”. Nó không chỉ là một khoảng lặng trong giao tiếp giữa hai nhà khoa học ở hai lĩnh vực khác nhau, mà còn hơn thế.  Khi nghĩ lại về cỗ máy của Taylor nhiều chục năm sau, Cowan đã tiết lộ rằng “thậm chí đến bây giờ với vô vàn công bố về mạng nơ-ron, người ta vẫn chưa thể hiểu rõ về cách thức hoạt động của nó”. Kết luận này cho thấy sự “bất khả tri” ẩn sâu trong các mạng nơ-ron như thế nào. Tính không thể giải thích được của các mạng nơ-ron này đã xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu và đã tồn tại suốt gần bảy thập kỷ.  TS. J.J. Mirsepassi kiểm tra 800 nút mạng của máy tính Analog của Aerojet năm 1960. Hệ thống này giải quyết những bài toán của vũ trụ. Ảnh: AP/Aerojet-General/W.E. Miller  Điều bí ẩn này vẫn còn cho đến ngày nay và tồn tại ở cả những mô hình AI tiên tiến nhất. Sự “không thể hiểu được cách hoạt động” của các phiên bản khác của cỗ máy Taylor khiến Cowan tự hỏi liệu có “điều gì đó đáng ngờ về mạng nơ-ron”.  Lần ra manh mối  Cowan nhớ lại vào những năm 1960, người ta có vẻ “chậm nhận ra mục đích của mạng nơ-ron analog”. Chuyên gia về mạng nơ-ron từng đoạt giải Nobel Leon N. Cooper cho rằng những nghiên cứu về những ứng dụng xung quanh mô hình não bộ vào những năm 1960 được cho là một trong những “bí ẩn không thể giải thích được”. Sự bất định này đã khiến người ta hoài nghi về khả năng mạng nơ-ron có thể làm được gì. Nhưng mọi thứ bắt đầu dần thay đổi.  Khoảng 30 năm trước, nhà thần kinh học Walter J. Freeman đã rất ngạc nhiên trước mức độ ứng dụng đáng kinh ngạc mà người ta phát hiện ra của mạng nơ-ron, cho rằng thực chất thì ông không coi chúng là “một loại máy móc với nguyên lý mới”. Thật vậy, để tìm ra gốc rễ của công nghệ mạng nơ-ron chúng ta cần phải quay ngược lại xa hơn chuyến thăm của Cowan tới cỗ máy bí ẩn của Taylor.  Nhà khoa học mạng nơ-ron James Anderson và nhà báo khoa học Edward Rosenfeld cho rằng nền tảng của mạng nơ-ron có từ những năm 1940 khi người ta cố gắng “hiểu hệ thống thần kinh của con người và xây dựng hệ thống nhân tạo bắt chước được, ít nhất là một phần giống thế”. Và vì vậy, vào những năm 1940, những bí ẩn của hệ thần kinh của con người cũng chính là bí ẩn của tư duy máy tính và trí tuệ nhân tạo.  Để tóm lại câu chuyện dài này, người chuyên viết về khoa học máy tính Larry Hardesty đã cho rằng công nghệ học sâu dưới hình thức mạng nơ-ron thực chất “đã liên tục nóng lên rồi nguội đi trong suốt 70 năm qua”. Cụ thể hơn, ông nói rằng “những mạng nơ-ron lần đầu được đề xuất vào năm 1944 bởi Warren McCulloch và Walter Pitts. Hai nhà nghiên cứu này đến từ Đại học Chicago, sau đã chuyển đến MIT vào năm 1952 và là các thành viên sáng lập của khoa Khoa học nhận thức đầu tiên ở Mỹ”.  Từ những năm 1960 đến cuối những năm 1970, chúng ta có thêm những câu chuyện về những đặc tính chưa biết của những hệ thống này. Sau ba thập kỷ thì mạng nơ-ron nhân tạo vẫn chưa tìm thấy khả năng ứng dụng nào. David Rumelhart, nhà tâm lý học và đồng tác giả của một loạt sách xuất bản năm 1986 đã thu hút sự chú ý trở lại về mạng nơ-ron, đã cộng tác với đồng nghiệp Jay McClelland để phát triển những mạng nơ-ron.  Sau bài nói chuyện của Rumelhart ở một hội nghị tại Minesota, McClelland đã trở về với ý tưởng phát triển một mạng nơ-ron kết hợp nhiều mô hình để có khả năng tương tác. Và cách Rumelhart làm là “hàng giờ, hàng giờ mày mò với phần cứng máy tính”. Giống như Taylor, Rumelhart cũng “thử và sai”. Họ đã tạo ra những mạng nơ-ron có thể hoạt động nhưng quan trọng là họ cũng không hiểu cách thức, nguyên nhân tại sao nó hoạt động theo cách đó, tức là học hỏi từ dữ liệu và tìm kiếm các mối liên hệ.  Bắt chước bộ não – hết lớp này đến lớp khác  Bộ não con người – cho đến nay vẫn là một trong những bí ẩn khoa học chưa có lời giải thấu đáo – chính là khung thiết kế của các hệ thống sử dụng mạng nơ-ron.  Năm 1998, James Anderson, người đã từng làm việc một thời gian trên mạng lưới thần kinh nói rằng khi nghiên cứu về bộ não thì “khám phá chính của chúng tôi là chúng tôi thực sự không hiểu chuyện gì đang xảy ra trong bộ não”.  Trong một bài tường thuật chi tiết trên Financial Times năm 2018, nhà báo công nghệ Richard Waters viết các mạng nơ-ron “được mô hình hóa dựa trên một lý thuyết về cách thức hoạt động của bộ não con người, truyền dữ liệu qua các lớp tế bào thần kinh nhân tạo cho đến khi nó nhận ra một hình mẫu nào đó”. Điều này tạo ra một suy nghĩ thú vị, Waters cho biết, vì “không giống như các mạch logic được sử dụng trong chương trình phần mềm truyền thống, không có cách nào theo dõi quá trình này để xác định chính xác lý do tại sao máy tính đưa ra một câu trả lời cụ thể”. Walter kết luận, không thể truy nguyên những kết quả mà mạng nơ-ron trả về. Việc áp dụng loại mô hình dựa trên bộ não lấy dữ liệu qua nhiều lớp, có nghĩa là câu trả lời của lớp cuối cùng không thể dễ dàng truy ngược lại các lớp trước. Cấu trúc nhiều lớp chính là nguyên nhân của vấn đề này.  Hardesty nhận thấy các hệ thống này mới chỉ “mô phỏng một cách lỏng lẻo bộ não con người”. Có nghĩa là còn có thể xây dựng những hệ thống xử lý phức tạp gần giống hơn với bộ não. Và kết quả là ngày nay người ta đã xây dựng các mạng nơ-ron “có hàng nghìn hoặc thậm chí hàng triệu node xử lý các tác vụ đơn giản kết nối với nhau dày đặc”. Dữ liệu di chuyển qua các node này chỉ theo một hướng. Hardesty quan sát thấy rằng “một node riêng lẻ có thể được kết nối và nhận dữ liệu từ rất nhiều node ở trước nó, rồi gửi dữ liệu tới một số mode ở lớp sau nó”.  Lớp ẩn  Khi các lớp dày lên, học sâu sẽ tạo ra những độ sâu mới. Hardesty giải thích rằng người ta huấn luyện mạng nơ-ron bằng dữ liệu “truyền dữ liệu ở lớp đáy – lớp đầu vào – và sau đó đi qua các lớp sau, rồi được nhân lên, cộng lại theo những cách phức tạp, cho đến khi nó đi tới lớp cuối cùng. Dữ liệu đã được biến đổi hoàn toàn ở lớp đầu ra này”. Càng nhiều lớp, sự biến đổi càng lớn và sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra càng lớn. Sự phát triển của Bộ xử lý đồ họa (GPU), Hardesty nói thêm, “đã đưa mạng nơ-ron một lớp của những năm 1960 và mạng nơ-ron hai đến ba lớp của những năm 1980 bùng nổ thành mạng 10, 15 và thậm chí 50 lớp ngày hôm nay”.  Mạng nơ-ron ngày càng sâu hơn. Thật vậy, theo Hardesty, chính việc thêm các lớp này là “sự “sâu” mà “học sâu” nói đến”. Đây là điều đáng kể, ông đề xuất, bởi vì “hiện tại học sâu đang là nền tảng của các hệ thống máy tính AI tốt nhất trong hầu hết mọi lĩnh vực nghiên cứu trí tuệ nhân tạo”.  Nhưng bí ẩn cũng sâu hơn. Khi các lớp của mạng thần kinh ngày càng chồng chất thì độ phức tạp của chúng cũng tăng lên. Nó cũng dẫn đến sự phát triển của cái được gọi là “các lớp ẩn” giữa những độ sâu này. Cuộc thảo luận về số lớp ẩn tối ưu trong mạng thần kinh đang diễn ra. Nhà lý thuyết truyền thông Beatrice Fazi đã viết rằng “vì một mạng nơ-ron hoạt động dựa trên những lớp nơ-ron ẩn kẹp giữa lớp nơ-ron đầu tiên (lớp đầu vào) và lớp cuối cùng (lớp đầu ra), kĩ thuật học sâu thường trừu tượng và mơ hồ kể cả với những lập trình viên đầu tiên xây dựng nó”.  Nhà tư tưởng truyền thông mới liên ngành mới nổi Katherine Hayles đưa ra quan điểm tương tự: đang có những giới hạn về “mức độ chúng ta có thể biết về hệ thống, một hệ quả do các ‘lớp ẩn’ trong mạng lưới thần kinh và các thuật toán học sâu”.  Theo đuổi điều bất khả tri  Tóm lại, quá trình phát triển lâu dài của mạng noron là một phần của cái mà nhà xã hội học công nghệ Taina Bucher gọi là “sự nhức nhối của sự bất khả tri”. Harry Collins – nhà xã hội học người Anh, tác giả cuốn sách: Trí tuệ nhân tạo: Con người không thể đầu hàng máy móc, đã chỉ ra rằng mục tiêu của mạng nơ-ron là dù chúng có thể cần con người khởi tạo ban đầu, nhưng “một khi chương trình được viết ra, nó sẽ sống cuộc sống của chính nó, tự chủ; nhưng nếu không có một nỗ lực tìm hiểu khủng khiếp, cách mạng noron hoạt động chính xác như thế nào sẽ vẫn mãi là một bí ẩn”.  Dĩ nhiên điều đó sẽ có nhiều người cảm thấy không thoải mái. Chúng ta muốn biết AI hoạt động như thế nào, do đâu mà nó đưa ra những quyết định và những kết quả ảnh hưởng đến chúng ta như vậy. Khi sự phát triển của AI tiếp tục định hình kiến thức và hiểu biết của chúng ta về thế giới, định hình những phát hiện của chúng ta, cách chúng ta bị đối xử, cách chúng ta học hỏi, tiêu thụ và tương tác với nhau, thì chúng ta càng khao khát muốn biết điều gì đằng sau hệ thống đó. Tuy nhiên, khi nói về việc tạo ra một hệ thống AI rõ ràng và minh bạch, câu chuyện lịch sử về mạng nơ-ron cho chúng ta thấy rằng, loài người sẽ càng rời xa mục tiêu đó trong tương lai hơn là tiến gần hơn đến nó.□  Nguyễn Quang lược dịch  Nguồn: https://theconversation.com/ai-will-soon-become-impossible-for-humans-to-comprehend-the-story-of-neural-networks-tells-us-why-199456    Author                .        
__label__tiasang Không thể mãi mãi “đường ta ta đi”      LTS: Theo nhiều nhà khoa học, trước hiện tượng số lượng GS/PGS được phong trong năm 2017 tăng đột biến so với các năm trước, việc Thủ tướng chính phủ yêu cầu Bộ GD&ĐT rà soát lại là cần thiết. Nhưng điều cấp thiết hơn là phải xác định lại nội hàm, tiêu chuẩn, quy trình xét phong tặng, chỉ có như vậy mới bảo đảm được chất lượng đội ngũ GS/PGS.      Vấn đề căn bản nhất là cần xác định lại nội hàm của GS/PGS, ít nhất là cho 15 năm tới. Có 2 phương án: 1) Quan điểm “đường ta, ta đi”, bất chấp xu thế hội nhập, không thay đổi quan điểm hiện thời, GS/PGS vừa trách nhiệm thì ít mà vinh danh thì nhiều, sau khi được phong ai vận dụng được gì thì vận dụng; 2) Hội nhập quốc tế, coi GS/PGS là một vị trí công tác, quyền lợi đi lẫn với nghĩa vụ và chỉ tồn tại ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Sau khi chốt được phương án thì mới bàn tiếp được quy trình phong/bổ nhiệm…  a)  Phương án 1 “Đường ta ta đi”  Với phương án này, thì mọi thay đổi chỉ là vá víu. Tuy nhiên tôi vẫn xin đề nghị mấy điểm sau về quy trình:  Thứ nhất: Thực tế thời gian vừa qua cho thấy sự trì trệ và bảo thủ trong tư duy của một số cá nhân tại Cục Nhà giáo trong việc xây dựng Dự thảo. Điển hình, sau khi Viện Toán học có công văn góp ý với Dự thảo, một số đại diện của Viện Toán đã được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam làm việc trọn một buổi sáng. Phó Thủ tướng cơ bản nhất trí với các nội dung do Viện Toán học đề xuất và chỉ đạo thư ký làm việc lại với Bộ GD&ĐT. Tuy nhiên những nội dung đó không thấy đưa vào nội dung dự thảo.  Các cán bộ soạn dự thảo Quy định về tiêu chuẩn GS/PGS đưa ra những tiêu chí cứng như: viết sách, hướng dẫn NCS, tham gia xây dựng chương trình đào tạo, chủ trì đề tài. Họ không sao hiểu được một điều đơn giản là trên thế giới này (ngoại trừ Việt Nam) tất cả những “tiêu chí” nhắc tới ở trên luôn là sở thích/mong muốn/nguyện vọng của một GS/PGS nhưng không là trách nhiệm, càng không thể là “điểm sàn” để xét phong/bổ nhiệm GS/PGS. Đối với chức danh này chỉ có hai tiêu chí: nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm giảng dạy.  Thứ hai: Bỏ hội đồng cấp cơ sở và cấp nhà nước, giữ lại hội đồng ngành, song song với việc nâng cao chất lượng hội đồng ngành, tiến hành bầu hội đồng này một cách công khai dựa trên tiêu chí duy nhất: uy tín khoa học tính bằng thành tích nghiên cứu mà cụ thể là công bố quốc tế uy tín (tôi nhấn mạnh chữ uy tín).  Thứ ba: chỉ giữ lại hai tiêu chí cứng duy nhất khi xét công nhận GS/PGS: thành tích nghiên cứu khoa học (thông qua công bố quốc tế uy tín) và kinh nghiệm giảng dạy (tính theo thâm niên). Cho phép chuyển đổi điểm công bố để bù thiếu hụt về giờ dạy.  Thứ tư: để đảm bảo tính chất vinh danh, không thể công nhận GS/PGS tràn lan. Vì vậy cần xem xét cấp quota cho mỗi ngành khoa học dựa theo thành tích công bố của ngành đó. Có như vậy mới không gây bức xúc trong dư luận: có những ngành đầy GS/PGS nhưng chẳng có công bố nào.  b) Phương án 2 “Hội nhập”  Khi đã quyết định hội nhập thực sự thì có tương đối nhiều mô hình để ta có thể lựa chọn. Tuy nhiên cần hiểu nguyên lý căn bản của việc hội nhập là coi GS/PGS như một bộ phận cơ hữu của một trường đại học: GS/PGS phải là bộ não trong cơ thể của một trường. Cũng như không tồn tại một người không não, không thể có một trường đại học, một khoa không có GS/PGS. Ngược lại, chức danh GS/PGS phải gắn liền với một vị trí giảng dạy hay nghiên cứu.  Thứ nhất: bỏ chuyện công nhận GS/PGS tại một hội đồng nhà nước, đưa việc bổ nhiệm GS/PGS về cho từng trường đại học.  Thứ hai: đặt quota GS/PGS cho từng trường đại học, viện nghiên cứu (dựa trên số sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh theo học). Trên thế giới người ta gọi đó là các “vị trí GS” hay các “chân GS”.  Thứ ba: nếu muốn đảm bảo chất lượng sàn của đội ngũ GS/PGS có thể thành lập các hội đồng ngành để kiểm định trình độ nghiên cứu của các ứng viên dựa trên tiêu chí duy nhất: công bố quốc tế uy tín.  GS. TS Phùng Hồ Hải (Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam    Chỉ là ngụy biện  Trong các lĩnh vực khoa học chính trị và xã hội thì nghĩa vụ của các nhà khoa học là phải phân tích được các chủ trương và chính sách của Việt Nam (VN) có gì đúng và có gì cần khắc phục. Bản chất khoa học là tìm cách lý giải và nhận thức thế giới nên chắc chắn các nghiên cứu của VN sẽ công bố quốc tế được nếu đó là các nghiên cứu một cách bài bản và có ý nghĩa khoa học. Nếu chúng ta không thuyết phục được đa số những người khác là mình đúng thì cần phải xem lại lý luận của mình có gì không ổn. Ví dụ như toàn thế giới vẫn coi trọng lý thuyết tư bản của Karl Marx. Hay như các nhà kinh tế thế giới hiện nay đều coi các nhà lý luận Trung Quốc đứng đầu trong những nghiên cứu về phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Nhiều nhà kinh tế thế giới còn coi đấy là khuôn mẫu cho sự phát triển kinh tế trong tương lai của thế giới vì nó chú trọng đến các mục tiêu dài hạn đảm bảo tính phát triển bền vững của xã hội. Trừ những nghiên cứu liên quan đến an ninh đất nước thì bất kỳ những nghiên cứu gì mang tính đặc thù của VN đều có thể công bố được vì khoa học xã hội và nhân văn rất coi trọng tính đa dạng của hệ thống chính trị và kinh tế. Các chủ đề như vậy có khi còn dễ thực hiện hơn các nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên vì các nghiên cứu cơ bản đòi hỏi phải có kết quả mới hoàn toàn. Không thể nói rằng vì đặc thù VN mà các ngành khoa học xã hội nhân văn không thể có công bố quốc tế được. Đó chỉ là ngụy biện. Nếu chưa đủ trình độ công bố thì các yêu cầu về công bố quốc tế phải được nâng dần lên theo thời gian.  GS. TS Ngô Việt Trung (Nguyên Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)  Cần phân biệt GS/PGS trong trường công lập và tư thục  Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, việc phong PGS,GS cần tách biệt giữa trường công lập và trường tư thục. Với trường đại học tư thục, thì nên để họ tự chủ hoàn toàn việc bổ nhiệm (chứ không phải là phong) PGS, GS nếu họ bổ nhiệm tràn lan, và bổ nhiệm những người kém cỏi thì họ sẽ tự bị đào thải bởi thị trường. Với các trường đại học công lập, bộ GD &ĐT nên để các trường tự xét duyệt, tuyển dụng, bổ nhiệm PGS, GS nhưng có thể ra một quy định về sàn (ví dụ tối thiểu bao nhiêu công trình, hoặc như quy định hiện nay; vì thực tế như năm nay cho thấy các hội đồng ngành đã không làm tốt nhiệm vụ sàng lọc của mình, và không chỉ lần đầu), và hơn nữa cần ra quota khống chế số lượng GS, PGS, ví dụ số GS chỉ chiếm không quá 10% giảng viên, số PGS chiếm không quá 30% số giảng viên với quy định về trách nhiệm và quyền hạn cụ thể (và có kiểm tra sau khi bổ nhiệm tránh tình trạng PGS, GS suốt đời, sau khi được bổ nhiệm chính thức rồi thì lười biếng). Việc giới hạn quota để tránh vỡ quỹ lương (như một số viện của ĐH Bách khoa Hà Nội hiện nay sắp hết giảng viên để phong PGS vì sắp PGS hết cả rồi), vừa để tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng bên trong và ngoài đơn vị (lựa chọn ứng viên cạnh tranh để phong PGS, GS do số quota là cố định) và tạo ra sự lưu chuyển trí thức giữa các đại học công lập (tư thục) (ứng viên A nếu không lên được PGS, GS ở trường này có thể ứng cử PGS, GS ở trường công lập khác hoặc trường tư thục). Bộ GD&ĐT sẽ chỉ đóng vai trò thanh kiểm tra quá trình bổ nhiệm PGS, GS của các trường. Ngoài ra, việc cải tổ thang bậc thăng tiến ở đại học cũng là điều cấp thiết để cải thiện chất lượng đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu tại các đại học VN; điều mà ngay cả một quốc gia có cùng thể chế và đặc điểm xã hội với chúng ta là Trung Quốc đã làm từ lâu rồi (bắt đầu từ thời Hồ Diệu Bang, sau đó là Chu Dung Cơ). Thang bậc thăng tiến trong giảng dạy và nghiên cứu tại đại học của Việt Nam nên được rút ngắn lại chứ không thể tuần tự 12 bậc lương công chức như hiện nay (dù gần đây có ghi nhận là nhà nước đã thay đổi để PGS, GS có thể “nhảy cóc” lên 6.0). Trong thang bậc thăng tiến chỉ nên có trợ giảng, giảng viên/giảng viên chính (assistant professor) – mà điều kiện tiên quyết từ bậc này phải là có bằng TS, phó giáo sư, giáo sư.  PGS. TS Nguyễn Xuân Hoài (Viện trưởng Viện NC&PT Công nghệ thông tin, ĐH Hà Nội)      Author                Phùng Hồ Hải        
__label__tiasang Không vội công bố để có bài báo chất lượng      Dù đã có những kết quả mới về cơ chế pha tạp carbon vào ZnO tạo ra tính chất sắt từ, đủ để có thể công bố, nhưng các nhà nghiên cứu ở Viện KH&CN tiên tiến (AIST, Đại học Bách khoa Hà Nội) vẫn kiên trì đào sâu vấn đề trong ba năm nữa tìm ra những bằng chứng trực tiếp về cơ chế này, qua đó xuất bản được công trình trên Advanced Functional Materials, tạp chí thuộc nhóm Q1 (hạng 4 về vật liệu điện tử, quang và từ học) vào tháng 10/2017.      Các nhà nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của liên kết hóa học (ví dụ như C-C, Zn-O,..) và xác định được độ dài của các liên kết này (ví dụ độ dài liên kết Zn-C là 2,58 Å) trong tinh thể ZnO,  Nỗ lực này của họ nằm trong một xu hướng “mới nổi” của khoa học Việt Nam – chuyển từ việc chạy theo số lượng sang chất lượng công bố, không chỉ để đáp ứng yêu cầu về sản phẩm từ đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ mà còn muốn nâng cao năng lực nghiên cứu của chính mình. Đối với những ngành thực nghiệm như khoa học vật liệu, điều đó cũng có nghĩa là sẽ mất thêm rất nhiều thời gian giải quyết vấn đề, thậm chí có thể chậm tiến độ nghiệm thu đề tài. Trong một cuộc trao đổi vào tháng 8/2017, GS. TS Nguyễn Đức Chiến (Hội đồng khoa học ngành Vật lý NAFOSTED) cũng nhận xét, “có những vấn đề chỉ cần hai năm là giải quyết được, nhưng nếu có thời gian ba năm hoặc bốn năm thì có thể có kết quả tốt hơn hẳn”. Công trình “Cấu trúc cục bộ và tính chất hóa học của các cấu trúc nano lõi vỏ ZnO pha tạp carbon với tính chất sắt từ trong nhiệt độ phòng” (Local Structure and Chemistry of C-Doped ZnO@C Core–Shell Nanostructures with Room-Temperature Ferromagnetism) ra đời trong bối cảnh như vậy.  Bài báo công bố một cách tiếp cận mới để phân tích một cách định lượng cấu trúc tinh tế của nano tinh thể ZnO pha tạp carbon sử dụng kính hiển vi điện tử truyền qua phân giải cao, trên cơ sở đó lần đầu tiên đưa ra một cách giải thích thuyết phục về vai trò của tạp chất carbon trong việc tạo ra tính chất sắt từ của vật liệu này, điều mà nhiều nhóm nghiên cứu mới chỉ phỏng đoán về mặt lý thuyết. TS. Nguyễn Đức Dũng (Phòng thí nghiệm Hiển vi điện tử và Vi phân tích, AIST) một trong hai tác giả chính của công bố, cho biết, “cơ chế pha tạp này có thể mở rộng ra áp dụng lên các chất khác để phát hiện ra những đặc tính khác nhau của vật liệu. Các nhóm nghiên cứu khác cũng có thể dựa vào đó để tạo ra các vật liệu đa chức năng (multifunctional materials), cơ sở để có được những thiết bị đa chức năng (multifunctional device) có thể được điều khiển bằng từ trường, bằng tia laser chẳng hạn… Câu chuyện nó hấp dẫn ở chỗ đó”.  Chấp nhận trễ hạn nghiệm thu đề tài  “Cấu trúc cục bộ và tính chất hóa học của các cấu trúc nano lõi vỏ ZnO pha tạp carbon với tính chất sắt từ trong nhiệt độ phòng” là một trong ba bài báo từ đề tài “Nghiên cứu tính chất quang và từ tính của hệ vật liệu nano tổ hợp ZnO và carbon” do TS. Nguyễn Đức Dũng làm chủ nhiệm và được Quỹ NAFOSTED tài trợ với thời gian thực hiện là từ năm 2012 đến 2014. Để có được bài báo này, nhóm nghiên cứu đã buộc phải mất thêm gần ba năm nữa. “Về mặt nguyên tắc thì mình cũng không hoàn thành nhiệm vụ đâu. Đúng ra khi nhận được tài trợ rồi thì mình phải có trách nhiệm công bố theo đúng quy định của Quỹ nhưng mình cũng muốn có đủ thời gian để có được bài báo tốt, nếu không sẽ rất lãng phí công sức nghiên cứu và kết quả nghiên cứu rất hay”, anh lý giải vì sao thời gian thực hiện đề tài lại “dôi” ra so với dự kiến.  Khi đăng ký đề tài với Quỹ NAFOSTED, thông thường để “ăn chắc”, nhiều nhà nghiên cứu trẻ đã chuẩn bị “hòm hòm” một số dữ liệu để kịp đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng công bố theo đúng thời hạn trong hợp đồng. Trường hợp của TS. Nguyễn Đức Dũng thì ngược lại, viết đề xuất và nhận tài trợ từ Quỹ mà gần như chưa có dữ liệu gì trong tay vì hướng nghiên cứu trước đây của anh đều tập trung vào các tính chất từ, siêu dẫn của vật liệu trong điều kiện nhiệt độ thấp, từ trường cao chứ không liên quan đến vấn đề cấu trúc, hình thái của vật liệu. Tuy nhiên với một chút “liều”, anh đã tự tin đăng ký đề tài đi kèm ba bài báo với Quỹ. Khi việc đăng hai bài đầu về tính chất quang và dẫn điện của ZnO khi được pha tạp carbon đã hoàn tất, đến bài báo thứ ba, anh mong muốn làm điều gì đó khác biệt.  Vì thế, TS. Nguyễn Đức Dũng và các thành viên trong nhóm nghiên cứu đã tập trung vào tìm hiểu một cách cặn kẽ vì sao xảy ra hiện tượng các tinh thể ZnO phát ra một vùng ánh sáng tím tử ngoại rất mạnh khi đưa carbon đã được nghiền mịn và ủ sấy bao ngoài tinh thể. Đây không phải việc dễ bởi từ 10 năm nay, rất nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới cũng thực hiện việc pha tạp carbon vào ZnO. Cách làm này được xem là hiệu quả trong việc thay đổi tính chất của các vật liệu bán dẫn vì nó tạo ra tính chất sắt từ mạnh, đồng thời không tạo ra các pha thứ cấp khó điều khiển (người ta cũng có thể pha tạp các chất như Fe, Co… để tạo ra tính sắt từ nhưng điểm bất lợi là chúng còn tạo ra nhiều tính chất thứ cấp phức tạp khác). TS. Nguyễn Đức Dũng nhận xét: “Bình thường ZnO liên kết hết sức chặt chẽ và các nguyên tử xếp cặp rất tuần tự nhưng khi mất một vị trí (sai hỏng – tạo ra nút khuyết trong mạng tinh thể) thì tính chất vật lý của nó cũng thay đổi đi. Vốn phi kim không có từ tính nhưng ở đây, những nguyên tố đó kết hợp với nhau thì nó lại sinh ra từ tính như sắt từ”. Dưới con mắt của các nhà nghiên cứu, tính chất mới như thế xuất hiện đủ để đưa tinh thể đang “không hoàn hảo” trở nên “hoàn hảo một cách thú vị”.  Dù vấn đề đã được đào xới nhiều nhưng chưa giải đáp được các câu hỏi: khi xảy ra quá trình pha tạp, các nguyên tử carbon nằm ở vị trí nào, ví dụ như chui vào mạng tinh thể ZnO, hay chỉ là nằm ngoài bề mặt? Trong trường hợp chui vào mạng tinh thể thì nó nằm ở đâu? Kết cặp với Zn hay O (oxy), hay chen (điền kẽ) vào giữa mạng? Để tìm câu trả lời, các nhà nghiên cứu AIST đã thực hiện phép đo trên máy quang phổ tia X (XPS) và thấy các nguyên tử carbon đã thay vào chỗ oxy và chui hẳn vào trong liên kết với Zn. Kết quả này có thể đem đến công bố vì theo TS. Nguyễn Đức Dũng, “thông thường, chỉ cần tìm ra tính chất mới, phương pháp mới, mẫu mới hay vật liệu có hiệu suất cao hơn, độ dẫn điện lớn hơn… là đã đăng được bài”.  Họ cũng nhận thấy, việc phát hiện ra cơ chế pha tạp và đo được tính chất quang và từ của vật liệu vẫn chưa đủ để có được công bố trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao. Để thuyết phục các nhà bình duyệt của những tạp chí như vậy, cần phải có bằng chứng xác thực trong tay và lý giải được cặn kẽ cơ chế này, “ví dụ như khi phản biện, người ta hỏi vì sao có cơ chế đó thì mình phải giải thích nó một cách rõ ràng, mạch lạc, mà muốn làm được phải có bằng chứng, nếu không thì mình không thể nói được, hoặc có thì chỉ ‘nói dựa’ hoặc phỏng đoán thôi”, TS. Nguyễn Đức Dũng kể lại những điều anh và các thành viên khác suy nghĩ khi quyết định “liều” vượt quy định về thời gian thực hiện đề tài.  Khám phá vẻ đẹp tinh thể trên kính hiển vi điện tử  Nghiên cứu thực nghiệm để tìm ra bằng chứng xác thực không đơn giản, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có những công cụ hiện đại, đủ khả năng phân tích được cấu trúc, hình thái của vật liệu ở cấp độ nano. Rất may là Viện AIST đã có những thiết bị như thế từ một vài năm nay như kính hiển vi điện tử có chức năng đo quét truyền qua (STEM), kính hiển vi điện tử quét (SEM)… TS. Nguyễn Đức Dũng, người được giao phụ trách Phòng thí nghiệm Hiển vi điện tử và Vi phân tích, cho biết lợi thế của những cỗ máy này là giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sự thay đổi về tính chất của vật liệu, đôi khi sự thay đổi này chỉ diễn ra ở những khu vực rất nhỏ (local structure), những điều mà thiết bị thông thường không làm được.  Tuy vậy, quá trình tìm hiểu này chỉ được thúc đẩy một cách nhanh chóng khi anh gặp gỡ TS. Ngô Đức Thế (Trung tâm Kính hiển vi điện tử, Đại học Manchester, Anh) ở bên lề Trường hè Khoa học – hoạt động do một nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài tổ chức thường niên nhằm định hướng các bạn trẻ Việt Nam theo con đường khoa học. “Khi có ảnh TEM rồi, anh em ngồi nói chuyện với nhau là cần đo sâu thêm một chút để có kết quả tốt hơn. Đức Thế là người chuyên về hiển vi điện tử nên có nhiều kinh nghiệm trong xử lý kỹ thuật”, TS Nguyễn Đức Dũng nói về việc mời TS. Ngô Đức Thế tham gia thực hiện cùng “anh em AIST”, cơ hội để anh trở thành một trong hai tác giả chính của công bố.  Từ kết nối này, nhiều phân tích trên các kính hiển vi điện tử truyền qua hiện đại đã được tiến hành trên các thiết bị ở cả Manchester và Hà Nội, và nhóm đã ứng dụng phương pháp tính toán của chuyên gia tính toán cấu trúc khác để tính ra hàm phân bố kết cặp (pair distribution function PDF) cơ sở tính khoảng cách các nguyên tử trong tinh thể, “nhờ đó mình mới biết cần đo số liệu nào và trích xuất thông tin nào từ bộ dữ liệu nhiễu xạ electron, và việc tìm kiếm số liệu diễn ra tập trung hơn”.  Trên cơ sở phân tích nhiễu xạ điện tử từ HRTEM, các nhà nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của liên kết hóa học (ví dụ như C-C, Zn-O,..) và xác định được độ dài của các liên kết này (ví dụ độ dài liên kết Zn-C là 2,58 Å) trong tinh thể ZnO, qua đó khẳng định carbon thay thế oxy trong mạng tinh thể. Đây là khó khăn lớn nhất trong việc phân tích này bởi nếu carbon hoàn toàn thay thế oxy trong tinh thể hoặc thay thế phần lớn thì sẽ dễ dàng tìm ra thông tin bằng các phương pháp nhiễu xạ khác như nhiễu xạ tia X, một phương pháp rất phổ biến ở Việt Nam. Rút cục, HRTEM đem lại bằng chứng về thành phần hóa học của từng hạt nano ZnO-C cho các nhà nghiên cứu, qua đó chứng minh được việc thay thế oxy bằng carbon chỉ diễn ra ở độ sâu khoảng vài nanomet trên bề mặt tinh thể ZnO, kết quả mà nhiễu xạ tia X không thể tìm ra. Nhóm cũng sử dụng phân tích thành phần hóa học của hạt ZnO với độ phân giải cao bằng phương pháp phân tích phổ tán sắc năng lượng tia X (Energy dispersive X-ray spectroscopy – EDS) trên STEM, một phương pháp phân tích tinh tế mà ngoài TEM/STEM ra, ít thiết bị nào khác có thể làm được, để minh chứng thêm luận điểm này.  PGS. TS Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện AIST và là một thành viên của nhóm nghiên cứu, đã không kìm nổi niềm vui khi có trong tay kết quả. Nhớ lại giây phút đó, anh nói: “Chỉ những người làm nghiên cứu mới hiểu hết cảm xúc khi nhìn thấy những bức ảnh tinh thể đẹp tinh tế như thế”.  Công trình nghiên cứu “thuần túy về cấu trúc hình thái [của vật liệu], hấp dẫn đẹp đẽ” như cách nói của TS. Nguyễn Đức Dũng đã được đồng ý đăng trên tạp chí Advanced Functional Materials chỉ sau hai tháng nhận bản thảo vì theo anh, “kết quả đo trên STEM đem lại hiệu ứng rất mạnh và có sức thuyết phục rất lớn. Việc phân tích số liệu minh bạch, ảnh có độ phân giải cao và không thể ‘xử lý’ được”.  Với các nhà khoa học ở AIST, việc thực hiện đề tài không chỉ bước đầu khẳng định năng lực nghiên cứu của họ mà quan trọng hơn, đem lại cho họ kinh nghiệm và “bí quyết” có được những công trình nghiên cứu chất lượng, đó là tăng cường kết nối và nỗ lực đi đến cùng trong giải quyết vấn đề.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Khu bảo tồn vì cuộc sống      Khi được hỏi về phát triển bền vững, thay vì đưa ra những định nghĩa rất khoa học, GS Võ Quý nói về dự án phát triển vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên ông thực hiện thành công hơn 10 năm về trước tại Hà Tĩnh như một ví dụ về mô hình phát triển dân sinh và bảo tồn thiên nhiên; và những trăn trở của ông về việc bảo vệ tài nguyên và môi trường hiện nay.      Tại hội nghị Hội đồng quốc tế về khu bảo tồn thiên nhiên tại Venezuela năm 1994, tôi được tham dự và nói về khó khăn của Việt Nam. “Chúng tôi đã thành lập khu bảo tồn nhưng làm thế nào để giữ được những khu bảo tồn ấy thì không phải dễ. Chúng ta đều biết, quan niệm về khu bảo tồn là “hàng rào và cảnh sát” vì trước khi thành lập khu bảo tồn, người dân được khai thác một số tài nguyên rừng cho cuộc sống của họ, nhưng khi đã thành lập khu bảo tồn, không ai được tự do vượt qua ranh giới vào khai thác tài nguyên và ở đó luôn có người canh giữ. Ở Việt Nam, dân sinh sống xung quanh khu bảo tồn quá đông, nghèo mà “hàng rào” thì thưa. Muốn bảo vệ được chỉ có cách phải tăng số người canh giữ lên, cụ thể như vườn quốc gia Cúc Phương có lẽ phải cần đến vài nghìn người”. Khi tôi nói ý này ra, mọi người tham gia hội nghị cười: Các ông lấy tiền đâu để trả? Tôi nói, “Tại sao lại không thể biến mỗi người dân sinh sống quanh khu bảo tồn thành một kiểm lâm viên. Nếu người dân có lợi từ khu bảo tồn thì chắc rằng họ sẽ tích cực tham gia xây dựng. Muốn thế, ban quản lý khu bảo tồn phải quan tâm đến yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân địa phương, để cho cộng đồng địa phương được hưởng thụ các lợi ích do các chương trình bảo vệ đưa lại, tìm cách giúp cộng đồng dân cư xung quanh khu bảo tồn, nâng cao cuộc sống, mà không phải đối đầu với họ”. Quan điểm “khu bảo tồn vì cuộc sống” này được các đại biểu tán đồng, nhất là các nước đang phát triển.  Từ hội nghị trở về, tôi quyết định áp dụng quan điểm này vào thực tế tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Tôi chọn xã Xuân Phương vừa mới được Ban quản lý vườn chuyển từ trung tâm Bống ra khu đất ngay trước cổng vườn, còn nhiều khó khăn. Tôi gợi ý với Ủy ban xã là muốn giúp các gia đình trồng rừng ở sườn đồi quanh xã, và trồng cây ăn quả trong vườn nhà. Họ ủng hộ và cho biết số cây giống cần cho toàn xã. Tôi cho người giao giống cây cho xã phân phối cho dân. Ba ngày sau tôi về xã với mục đích chụp một số ảnh để báo cáo với Đại sứ quán Anh, cơ quan tài trợ, thì thấy phần lớn cây giống vẫn còn nguyên ở ngoài đường, bắt đầu khô héo. Hỏi ra mới biết là vì tôi chưa đưa tiền trồng cho họ.  Thì ra họ đã nghĩ là mình thuê họ làm cho họ. Thất bại cay đắng này làm cho tôi tỉnh ngộ: cái mình muốn giúp họ có thể không phải là cái họ mong đợi; muốn giúp dân phải sát dân, để biết họ đang thực sự muốn gì; và những vật cho không, thường không được quý trọng.          Thu hoạch chè tại xã Kỳ Thượng          Với kinh nghiệm thất bại ở Cúc Phương, tôi tìm về Hà Tĩnh để thử lại lý thuyết mình đề ra có đúng không. Tôi được tỉnh giới thiệu xã Kỳ Thượng, một trong những xã nghèo nhất của tỉnh và cũng là xã có nhiều người đang sống dựa vào khai thác các loại tài nguyên rừng tại khu vực đầu nguồn Hồ Kẻ Gỗ. Sống với dân một thời gian, theo họ vào rừng để biết được họ làm gì, khó khăn vất vả thế nào, chúng tôi mới thực sự hiểu được, rừng và tài nguyên rừng là “bát cơm manh áo” của người nghèo. Không cho người nghèo được hưởng “bát cơm manh áo” đó khi họ đang đói rét là không thể được về phương diện nhân đạo. Bảo vệ rừng một cách thiết thực, có thể làm được là tìm cách tạo cho họ “bát cơm manh áo” khác mà không phải phá rừng.  Để động viên nhân dân xã Kỳ Thượng bảo vệ rừng đầu nguồn và đa dạng sinh học, trong đó có loài Trĩ Hà Tĩnh, một loài Trĩ quý mà dân địa phương gọi là Gà lừng, chỉ có ở Hà Tĩnh mà không có ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, chúng tôi đã cùng với nhân dân xã xây dựng kế hoạch, nâng cao dần mức sống cho dân và giảm dần việc khai thác các loại tài nguyên rừng một cách bừa bãi. Điều mong ước thiết tha đầu tiên của dân là đủ lương thực, và nếu đủ ăn thì họ sẽ không đi rừng nữa. Với sự cộng tác của các kỹ sư nông nghiệp, chúng tôi tìm mua giống lúa tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương và cho mỗi gia đình vay 5kg. Chúng tôi còn làm hợp đồng với từng gia đình với nội dung là: nếu thất bại chúng tôi sẽ đền tất cả, nhưng nếu thắng lợi thì họ được cả và hứa sẽ không đi rừng chặt gỗ và săn bắt Trĩ. Kết quả là năng suất giống lúa mới đã tăng lên 20-30%, phần lớn dân đã đủ ăn và cả xã vui mừng.   Theo yêu cầu của các hộ dân, để có cuộc sống khá hơn, chúng tôi tiếp tục giúp dân xã Kỳ Thượng tổ chức nuôi ong lấy mật, xây dựng thủy điện nhỏ cho gia đình, đào ao thả cá, cho hội phụ nữ vay vốn chăn nuôi, xây dựng vườn ươm cây ăn quả, trồng rừng và làm thêm lớp học cho trẻ em có chỗ học.    Những năm tiếp theo, với số tiền được thưởng từ trường Đại học Michigan và hỗ trợ thêm của IUCN quốc tế, chúng tôi đã giúp cho 5 xã thuộc vùng đệm khu bảo tồn Kẻ Gỗ nâng cao cuộc sống theo mô hình xã Kỳ Thượng.  Phát triển bền vững là bền vững cho ai?  Tôi đạt được một số kết quả về môi trường, phần lớn là nhờ có nhiều người giúp đỡ. Năm 1985, khi báo cáo kết quả Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó là Phó thủ tướng (PTT) phụ trách Khoa học công nghệ. Ông rất quan tâm đến vấn đề mà chương trình nêu lên, và nói với tôi là:  “Đồng chí phải báo cáo với Tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn, người lãnh đạo cao nhất của đất nước thấu hiểu thì mọi công việc mới thực hiện được”. Ít ngày sau, PTT Võ Nguyên Giáp tạo điều kiện cho tôi gặp TBT. Khi kết thúc báo cáo, tôi đã mạnh dạn kết luận: “Nếu chúng ta không sớm tổ chức thực hiện việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì 20 năm nữa sẽ mất nước”! Nghe đến đây, TBT Lê Duẩn đập bàn hỏi lại: “Tại sao anh dám nói mất nước”. Tôi trả lời: “Vì nếu cứ khai thác rừng như hiện nay thì 20 năm nữa sẽ không còn rừng, mà rừng là nơi giữ nước, không có nước thì nông dân lấy gì mà cày cấy, dân đói thì khó mà bảo vệ được Nước”. Tôi lại bị mắng tiếp: “Anh lại nói nước đôi?”. “Thưa vâng, chúng ta sẽ không có giọt nước mà uống, mà cũng không còn Nước mà quản lý”, tôi nói. Nghe đến đây TBT Lê Duẩn có vẻ “xuôi tai” cho là được, và bảo tôi phải làm thế nào để cho tất cả các Bí thư và Chủ tịch huyện biết được những ý kiến như đã báo cáo với TBT. Tôi đã thưa lại, tôi là nhà khoa học, không có tư cách gì để nói với các lãnh đạo địa phương mà đó là trách nhiệm của TBT. Ông cho là phải, nhưng vẫn bảo tôi cố gắng. Sau đó tôi cùng một số đồng nghiệp đã viết Dự thảo chiến lược quốc gia “Việt Nam: những vấn đề về môi trường”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết vào trang đầu của tập tài liệu: “Vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường phải trở thành một nội dung cực kỳ quan trọng, không thể thiếu trong kế hoạch xây dựng đất nước trước mắt cũng như về lâu dài”.   Cho đến nay, hơn 25 năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào hoàn thành được chỉ thị của TBT giao cho. Cũng do hoàn cảnh khó khăn của đất nước, nên một thời gian dài chúng ta đã không quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, thành ra mới xảy ra những điều đáng tiếc như bây giờ.      Chúng ta đang tìm cách nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững cho mọi người qua các phương tiện truyền thông. Câu hỏi quan trọng cần đặt ra là bền vững cho ai? Cho một nhóm người, cho cộng đồng, hay cho cả dân tộc, cho đất nước? Bền vững cho cá nhân, hay cho một nhóm người hoàn toàn khác xa với bền vững cho cộng đồng, cho đất nước, không những thế mà thường có tác động trái ngược. Cơ quan hay người được trao quyền lãnh đạo và hoạch định chính sách phải phân biệt được rõ ràng điều đó mới có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn. Tôi chỉ mong những người lãnh đạo hiểu được phát triển bền vững là phải đem lại lợi ích bền vững cho cho đất nước, cho nhân dân chứ không phải cho nhóm lợi ích cục bộ.                Ngọc Tú ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà: Ứng dụng khoa học hệ thống vào quản lý      Khu Dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà (Hải Phòng) là mô hình đầu tiên trên thế giới ứng dụng khoa học hệ thống vào quản lý khu DTSQ.  &#160;  &#160;    Ngay từ những ngày đầu thành lập, những người chịu trách nhiệm về khu DTSQ Cát Bà đã nhận thức được rằng, nếu xem khu DTSQ như một hệ thống thì các yếu tố bảo tồn, phát triển, văn hóa, du lịch, thủy sản, giáo dục, đào tạo… phải là những thành phần trong hệ thống đó, chúng sẽ tác động qua lại, hỗ trợ hoặc giám sát vận động để hướng tới cùng mục tiêu phát triển bền vững. Do đó, một ban quản lý đã được thành lập bao gồm nhiều thành phần, bao gồm các ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội, tổ chức xã hội dân sự… Công tác quản lý Khu DTSQ Cát Bà lúc này thực chất là điều phối hoạt động trong khuôn khổ luật pháp và chính sách hiện hành. Một không khí làm việc thoải mái, dân chủ giữa các bên tham gia và từ đó rất nhiều sáng kiến đã được thảo luận, áp dụng trong thực tế. Hội nghị quốc tế về khoa học hệ thống được tổ chức năm 2013 tại Hải Phòng đã kết luận đây chính là mô hình đầu tiên trên thế giới ứng dụng khoa học hệ thống vào quản lý khu DTSQ.  Thợ săn thiện xạ cũng có thể trở thành cán bộ bảo tồn  Sự nổi tiếng về kết quả bảo tồn của khu DTSQ Cát Bà đã được khẳng định trong việc bảo vệ loài voọc Cát Bà (hay còn gọi là voọc đầu vàng, voọc thân đen đầu vàng Cát Bà, tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus). Đây là loài linh trưởng quý hiếm chỉ sống trong các khu rừng nhiệt đới ẩm của đảo Cát Bà và có tên trong danh sách 25 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới. Do bị săn bắt quá nhiều, vào đầu năm 2000, quần thể voọc Cát Bà chỉ còn sót lại khoảng 50 đến 60 con. Vào thời điểm đó, Dự án bảo tồn Voọc Cát Bà được triển khai vào cuối năm 2000 với sự tài trợ của Hội Động vật về bảo tồn loài và quần thể (ZGAP) và Vườn thú Muenster Đức đã phối hợp với Cát Bà lên kế hoạch ổn định quần thể voọc qua các biện pháp: tuyên truyền không săn bắn với người dân; thiết lập khu bảo vệ nghiêm ngặt voọc; bảo đảm sinh cảnh thích hợp sinh sống và tăng khả năng sinh sản của voọc. Và điều kỳ diệu đã xảy ra, trong vòng 10 năm đã có gần 10 cá thể voọc con ra đời, tránh nguy cơ tuyệt chủng cho loài linh trưởng này.   Việc duy trì và phát triển quần thể voọc còn có sự đóng góp của những người dân Cát Bà thông qua chương trình người gác voọc của Dự án bảo tồn Voọc Cát Bà. Các nhà quản lý đã vận động được anh thợ săn voọc thiện nghệ Vũ Hữu Tỉnh ở xã Gia Luận bỏ nghề săn, tham gia tổ tuần rừng. Từ một “sát thủ voọc”, anh Tỉnh trở thành tuyên truyền viên, khuyên nhủ mọi người bỏ thói quen đi rừng, đồng thời phát hiện và phá hàng trăm chiếc bẫy động vật hoang dã. Những hiểu biết về tập tính voọc tích lũy sau cả chục năm săn bắt của anh Tỉnh không ngờ lại trở thành kinh nghiệm quý báu cho các nhà bảo tồn. Năm 2013, câu chuyện về người săn voọc Vũ Hữu Tỉnh trở thành cán bộ bảo tồn voọc đã được lan truyền khắp các trang mạng của mạng lưới các khu DTSQ thế giới, đem lại một hình ảnh đẹp về hiệu quả của công tác bảo tồn kết hợp giáo dục, tuyên truyền của Việt Nam.  Bền vững nhờ thương hiệu  Khu DTSQ Cát Bà đã sử dụng hình ảnh voọc Cát Bà làm nhãn hiệu (logo) và gắn thương hiệu sản phẩm cho các sản phẩm chất lượng của địa phương. Gần 10 nhóm sản phẩm chất lượng của địa phương như mật ong, khách sạn, nhà hàng, tàu thuyền du lịch mang nhãn hiệu hình ảnh voọc Cát Bà, đã được đăng ký nhãn hiệu sản phẩm với sự kiểm soát, giám sát của các sở (KH&CN, Tài nguyên và Môi trường, NN&PTNT, Văn hóa – Thể thao – Du lịch…), các doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội… Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa mang biểu tượng Khu DTSQ Cát Bà do Cục SHTT (Bộ KH&CN) cấp là một trong những hoạt động được đánh giá cao tại các diễn đàn trong nước và quốc tế. Thực chất, việc đăng ký nhãn hiệu và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng cho các đơn vị có sản phẩm dịch vụ đạt tiêu chuẩn chất lượng là sự nối dài bền vững danh tiếng mà cán bộ và nhân dân huyện đảo Cát Hải nói riêng và TP Hải Phòng nói chung dành cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển vùng biển đảo này. Bắt đầu từ thời điểm đó, hình ảnh khu sinh quyển Cát Bà, hình ảnh loài voọc Cát Bà đi vào tâm trí người tiêu dùng, du khách trong nước và quốc tế. Sự nghiệp bảo tồn sinh quyển càng hiệu quả thì sản phẩm càng nổi tiếng, sản phẩm càng chất lượng thì danh tiếng khu sinh quyển càng đi xa. Đây chính là cốt lõi của triết lý “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn”.   Gần đây, một đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng công nghệ vi sinh lên men chế biến quả cây bần để sản xuất nước uống giải khát, rượu giữa Khu DTSQ Cát Bà và Khoa Sinh trường ĐHSP Hà Nội đã mang lại giá trị cả về bảo tồn và phát triển kinh tế (win-win). Bần là một loài cây ngập mặn trồng để chắn sóng bảo vệ đê biển nên việc khôi phục và bảo tồn loài cây này sẽ vừa có tác dụng bảo tồn thiên nhiên thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa cho thu hoạch quả tạo thu nhập cho người dân địa phương.   Sự nổi tiếng về bảo tồn cùng với chất lượng sản phẩm đã làm gia tăng giá trị hàng hóa, các dịch vụ. Thu nhập của người dân tăng cao và họ sẵn sàng đóng góp cho sự nghiệp bảo tồn. Quỹ ủy thác mang tên “Quỹ Phát triển bền vững sinh quyển Cát Bà” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND TP Hải Phòng đã được các doanh nghiệp, tư nhân tự nguyện đóng góp và được chi cho các hoạt động giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức cho người dân.   Trong quá trình hội nhập nói chung và tham gia mạng lưới các khu DTSQ toàn cầu nói riêng, Việt Nam chúng ta là quốc gia đi sau nhưng đã có những bước tiến đáng kể mà Cát Bà là một trong những ví dụ điển hình.          Khu Dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà được công nhận vào ngày 2/12/2004. Khu sinh quyển này đáp ứng đầy đủ bảy tiêu chí của UNESCO với những giá trị nổi bật, bao gồm: khu sinh quyển có loài động vật quí hiếm mang tên địa phương ‘Voọc Cát Bà’; khu sinh quyển lần đầu được xây dựng với sự tham gia của nhiều ngành dưới sự đầu tư và điều phối của UBND TP Hải Phòng; khu sinh quyển có cơ cấu tổ chức, kế hoạch quản lý “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn” theo định hướng “Chiến lược Quốc gia về phát triển bền vững” đầu tiên trong mạng lưới các khu sinh quyển thế giới ở Việt Nam.          * GS.TS, Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBQG Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu dự trữ sinh quyển Việt Nam: Bốn trong một      Vào những năm 1980, rừng Cần Giờ, “vùng đất chết” với hơn 80% diện tích bị chiến tranh tàn phá, được khôi phục thành công, trở thành một trong những khu rừng ngập mặn được phục hồi đẹp nhất Đông Nam Á và được UNESCO trao chứng nhận Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) thế giới đầu tiên của Việt Nam vào năm 2000. Từ kinh nghiệm ban đầu này, đến nay Việt Nam đã có thêm bảy khu DTSQ thế giới khác, bao gồm Châu thổ sông Hồng, Cát Bà (2004), Kiên Giang (2006), Tây Nghệ An (2007), Mũi Cà Mau, Cù Lao Chàm (2009), Đồng Nai (2011). Nếu Khu DTSQ Langbiang được UNESCO công nhận vào năm tới như dự kiến thì Việt Nam sẽ trở thành quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về Khu DTSQ thế giới. Theo GS.TS Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBQG Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam), điểm nổi bật về các khu DTSQ thế giới tại Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa bốn mục tiêu: bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, nghiên cứu khoa học và tham gia ứng phó biến đổi khí hậu.  &#160;    Bảo tồn nhưng vẫn bảo đảm sinh kế   “Từ trước đến nay người ta thường hiểu nhầm về vai trò của khu DTSQ khi cho rằng chỉ là nơi bảo tồn thiên nhiên. Nhưng trên thực tế, nó còn có nhiều chức năng khác như tham gia phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương và hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục,” GS Trí chia sẻ.   Theo GS Trí, nếu chỉ đòi hỏi người dân tham gia bảo tồn một cách đơn thuần thì sẽ thất bại ngay. “Chẳng ai muốn dự phần vào những phần việc vất vả, thậm chí nguy hiểm như ngăn chặn nạn phá rừng, săn bắn chim thú mà không có lợi ích sát sườn,” ông nói. Bản thân những người dân sống nhờ vào rừng cũng phản ứng dữ dội khi không còn được tự do khai thác món “lộc trời cho”. Vì vậy mỗi khu DTSQ cần đảm bảo sinh kế cho người dân với việc khoanh vùng các khu chức năng: vùng lõi để bảo tồn đa dạng sinh học, vùng đệm tiếp giáp và vùng chuyển tiếp phía ngoài cùng có thể khai thác kinh tế nhưng không được ảnh hưởng đến vùng lõi.           Khu dự trữ sinh quyển thế giới là danh hiệu do UNESCO trao tặng cho các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú, đa dạng.           Tại các khu DTSQ, ban quản lý đều vắt óc suy nghĩ phương thức bảo tồn hiệu quả mà vẫn đảm bảo sinh kế. Với Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng – khu ngập nước ven biển kéo dài từ Thái Bình, Nam Định vắt qua Ninh Bình, Giám đốc Nguyễn Viết Cách và các thành viên ban quản lý đã phải tìm phương án trồng nấm, khai thác, nuôi tôm, vạng, sò… kèm trồng cây ngập mặn như bần, sú, vẹt, trang… Câu chuyện bắt đầu từ năm 2000, khi ban quản lý ngăn cấm những người dân địa phương chuyên mò ngao ở rừng quốc gia Xuân Thủy, vùng lõi khu DTSQ. Kết hợp kinh nghiệm của nhiều tổ chức quốc tế, ban quản lý đã hỗ trợ sinh kế cho dân nghèo, chủ yếu là phụ nữ, đổi lại họ không được tiếp tục khai thác ngao tại vùng lõi. Đây cũng là một phần trong dự án do Quỹ dự án nhỏ (Small Grant), thuộc Chương trình “Rừng ngập mặn cho tương lai” (MFF) tài trợ. Với kinh phí từ dự án, người dân không còn phải mò mẫm gần 10 tiếng mỗi ngày chỉ để kiếm vài chục nghìn mà có thể nuôi thả ngao ở khu vực quy định, mỗi vụ sinh lời tiền triệu. Từ kết quả này, ai cũng có ý thức hơn về việc bảo vệ rừng bởi họ hiểu rằng, đó chính là nguồn sống của mình. Bài học thành công của Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng đã trở thành một trong những gợi ý về biện pháp quản lý gắn liền với phát triển bền vững kinh tế, xã hội, giáo dục.   Không chỉ dừng lại ở đây, ban quản lý các khu DTSQ bắt đầu tính chuyện xa hơn, tạo thương hiệu cho các sản phẩm gắn mác DTSQ mà theo GS Trí “có nhiều danh hiệu được quốc tế công nhận thì ắt có nhiều cơ hội đầu tư cho bảo tồn và phát triển”. Bước đầu, các khu DTSQ tiến hành đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cho những sản phẩm tiêu biểu. Anh Nguyễn Thanh Hải, Phó ban thường trực Ban quản lý khu DTSQ Kiên Giang, cho biết: “Dựa trên thế mạnh nghề truyền thống địa phương, ban quản lý đã phối hợp với Sở KH&CN Kiên Giang lập đề án xây dựng danh mục bảy nhóm sản phẩm theo phân loại của Cục SHTT như túi xách, túi du lịch từ cỏ bàng (nhóm đồ thủ công mỹ nghệ); nước mắm, khô cá sặc rằn, cua biển, tôm khô, mực khô (nhóm thủy hải sản); hồ tiêu, bánh làm từ trái thốt nốt, mật ong (nhóm sản phẩm nông nghiệp); hướng dẫn tham quan du lịch, vận chuyển du khách (nhóm sản phẩm du lịch)…”. Nhằm đem lại dấu ấn đặc biệt cho các sản phẩm, “ban quản lý đã mời các chuyên gia thiết kế logo riêng của khu DTSQ Kiên Giang với những hình ảnh đặc trưng như hòn Phụ tử, con bò biển (dugong), rái cá. Hiện nay, Sở KH&CN Kiên Giang cũng đã đề xuất Bộ KH&CN cấp kinh phí thực hiện Dự án Quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận khu DTSQ Kiên Giang”.  “Viện bảo tàng sống” và “hành lang xanh”   Với các nhà khoa học, các khu DTSQ, đặc biệt là vùng lõi, là viện bảo tàng thiên nhiên sống lưu giữ những tư liệu đa dạng sinh học và văn hóa đặc trưng nhất. Nhiệm vụ của họ là khám phá bí mật của đại ngàn, tìm hiểu những đặc tính sinh học cũng như giá trị của nó với đời sống xã hội. “Mỗi khu DTSQ là một phòng thí nghiệm lớn, đủ cho sự nghiệp nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, các giống loài,” GS Trí nhận định.   Nhiều phát hiện hay công trình nghiên cứu từ khu DTSQ đã gây được sự chú ý của cộng đồng khoa học quốc tế, như với trường hợp tìm thấy thông hai lá dẹt, một loài cây xuất hiện cùng thời với khủng long và bị coi là đã tuyệt chủng, tại Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc Khu DTSQ Langbiang ở độ cao 1.600m. Trong chuyến thực địa truy tìm cây thông hai lá dẹt, một nhà nghiên cứu Nhật Bản đi cùng đoàn khảo cứu đã xúc động bật khóc khi lần đầu thấy ‘chứng nhân lịch sử’ sống chứ không phải tiêu bản trong viện bảo tàng. Ông cho rằng đây là may mắn lớn trong cuộc đời mình bởi Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới còn sót lại quần thể thông hai lá dẹt. Với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức, dự án bảo tồn cây thông hai lá dẹt đã được khởi động: sau khi nhân giống trong vườn ươm, cây đã được trồng thử nghiệm trên đất rừng. Bên cạnh đó, nhiều giống loài quý hiếm khác còn được tìm thấy ở Bidoup Núi Bà như sồi ba cạnh, thông năm lá, thông đỏ, dạ hợp Bidoup, ếch cây, cóc mày trắng… Ông Lê Văn Hương, giám đốc Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà, không giấu nổi tự hào: “Trong thời gian qua, chúng tôi đã hợp tác với nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế tìm được 13 loài mới [mà trước đây chưa được phát hiện trên thế giới] và đã công bố trên những tạp chí chuyên ngành [trong nước và quốc tế]. Đặc biệt trong năm 2014 đã phát hiện ra năm loài, trong đó có loài có thể làm cảnh như Trà mi (Camellia inusitata) hoặc đặc biệt như ếch cây được xếp vào danh mục đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN. Qua các mối quan hệ hợp tác quốc tế, chúng tôi cũng đang xây dựng và vận hành các phòng thí nghiệm dược liệu, phòng nuôi cấy mô để phục vụ công tác nghiên cứu.”  Các công trình, dự án nghiên cứu còn có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống cộng đồng dân cư, nhất là khi góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến tài sản và tính mạng người dân như nạn bò tót, voi rừng phá rẫy, gây thương tích cho người dân địa phương xảy ra trong những năm gần đây. Dưới góc nhìn khoa học, việc lý giải những hiện tượng như thế này không quá khó. Nhưng khi giải quyết sự việc, nhiều nhà quản lý cấp cơ sở đã không “nhờ cậy” tới các nhà khoa học tư vấn, dẫn đến việc di chuyển đàn voi sang nơi cư trú mới mà người ta cho là phù hợp đã phản tác dụng. Không thể kiếm ăn trên những cánh rừng khô hạn bởi nó khác biệt hoàn toàn với môi trường rừng mưa nhiệt đới quen thuộc, đàn voi quay ra tàn phá hoa màu và tấn công con người.   Là những hành lang xanh góp phần giảm thiểu tác động của những hiện tượng thời tiết bất thường: nước biển dâng, xâm thực mặn, cát bay gây sa mạc hóa vùng duyên hải…, các khu DTSQ còn tham gia những chiến dịch ứng phó biến đổi khí hậu ở tầm quốc gia bằng cách hợp tác chặt chẽ với nhiều trường đại học, tổ chức quốc tế thực hiện những dự án nghiên cứu, đánh giá rủi ro. Chẳng hạn, Ban quản lý Khu DTSQ Kiên Giang đã cùng với Tổ chức Hợp tác và phát triển quốc tế Đức (GIZ), Cơ quan hợp tác phát triển Australia (Ausaid) triển khai dự án thành phần thuộc chương trình “Bảo vệ tổng hợp vùng ven biển, rừng ngập mặn nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu tại các tỉnh ĐBSCL/biến đổi khí hậu và các hệ sinh thái ven biển”, dự án “Bảo tồn và phát triển khu DTSQ Kiên Giang”. Tại khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng đóng vai trò quan trọng tương tự Khu DTSQ Kiên Giang với ĐBSCL, nhiều dự án cũng được thực hiện: “Nâng cao sức đề kháng khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu” (Cơ quan hợp tác phát triển Thụy Điển – SIDA tài trợ), “Hỗ trợ ứng phó BĐKH ở rừng và đồng bằng Việt Nam” (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tài trợ)… Các dự án này rà soát lại các nghiên cứu và chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu đã thực hiện, phát hiện độ vênh giữa chính sách, nghiên cứu và thực tế để tìm ra những giải pháp, chương trình hỗ trợ, đầu tư cho các hoạt động ứng phó, thích nghi của tỉnh và cộng đồng dân cư.  Về lâu dài, để phát huy tiềm năng của các khu DTSQ, theo GS Trí, sự liên kết trong mạng lưới các khu DTSQ Việt Nam cũng như các tổ chức trong nước và quốc tế cần được đẩy mạnh hơn nữa, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và tuyên truyền, giáo dục, quản lý dựa trên cách tiếp cận SLIQ – tư duy hệ thống, quy hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành và kinh tế chất lượng – để xây dựng mô hình phát triển bền vững trong tương lai.           Ở một số nước trên thế giới, các khu DTSQ  được đặt dưới sự quản lý của Bộ Nông nghiệp hoặc Bộ Tài nguyên – Môi  trường nhưng ở Việt Nam, quyền quản lý các khu DTSQ được trao cho địa  phương, UBND tỉnh hoặc thành phố. Trong vai trò điều phối, UBND địa  phương thành lập ban quản lý khu DTSQ với sự tham gia của nhiều ban  ngành, tổ chức, doanh nghiệp.                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu rừng hóa thạch khổng lồ trong hầm mỏ      Những cánh rừng hóa thạch kỳ lạ vừa được tìm thấy ở Illinois (Mỹ), với những thân cây hóa đá hiện rõ nét trên trần các hầm mỏ, bao phủ trên hàng nghìn hecta.     Đây được xem là một trong số những cánh rừng đầu tiên tiến hóa trên hành tinh. Đây là những cánh rừng hóa thạch lớn nhất từng được tìm thấy ở bất kỳ đâu trên thế giới tại bất kỳ thời điểm địa chất nào. Những cánh rừng này xuất hiện cách nhau vài triệu năm, ở thời đại cách chúng ta 300 triệu năm, và lớp này chồng lên lớp khác. Khi các lớp than được bóc đi, người ta có thể nhìn thấy những thân cây thẳng đứng với bộ rễ cắm xuống đất, và gần đó là những gốc cây rải rác. Các nhà khoa học đã tìm thấy những thân cây dài đến 30 mét đổ xuống với cả tán cây còn nguyên vẹn. Các nhà nghiên cứu tin rằng phát hiện này có thể mở ra bằng chứng về việc những cánh rừng hiện đại ngày nay phản ứng với một thế giới đang nóng lên như thế nào.   T. An (theo BBC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu vực học, tiếp cận khu vực và sự “tụt hậu” của Việt Nam?      Cách Hà Nội 132. 21 km (Google maps) về phía Bắc, đang diễn ra một trong những thay đổi địa chính trị lớn nhất trong lịch sử nhân loại kể từ năm 1898. Hơn một thế kỷ sau khi Mỹ chính thức bước vào cuộc đua quyền lực toàn cầu, điều tương tự đã bắt đầu ở Trung Quốc. Điểm khác biệt duy nhất là lần này nó xảy ra ngay bên cạnh đường biên giới Việt Nam, biến Việt Nam thành một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn nhất (cơ hội và thách thức) từ sự chuyển dịch cấu trúc quyền lực thế giới này.         Đập thủy điện Xayaburi trị giá 3.8 tỉ USD của Lào. Tờ Phnom Penh Post gọi là “Quái vật của sông Mekong”. Nguồn: Phnom Penh Post.  Đã đến lúc người Việt cần vượt qua di sản của chiến tranh Lạnh và các cách tiếp cận khu vực truyền thống để có cái nhìn tỉnh táo và cập nhật hơn về khu vực, tương tác khu vực, và việc định hình vị trí của mình trong khu vực nhằm giúp tận dụng cơ hội từ sự gia tăng hiện diện quốc tế ở Đông, Đông Nam Á. Một chính sách “khôn ngoan” sẽ là tiền đề cho Việt Nam “cất cánh” ở thế kỷ XXI, tuy nhiên, những lựa chọn sai lầm có nguy cơ đặt chúng ta vào giữa các luồng xung đột quốc tế. Lịch sử của những nước kẹt giữa Đức và Nga, EU và Nga, … trong hai thế kỷ qua cho thấy danh sách các “nạn nhân” này không hề ít. Để làm được điều này, giới học giả cần định hình lại ngành khu vực học và tìm kiếm những kết nối mới về mặt tri thức chặt chẽ hơn giữa Việt Nam với các nước láng giềng, và cập nhật những diễn biến mới nhằm giúp công chúng và những người làm chính sách không khỏi ngỡ ngàng trước những thay đổi rất nhanh chóng trong khu vực. Nhiều người Việt bất ngờ trước việc thủ tướng Cambodia Hun Sen, người vốn được coi là đồng minh của Việt Nam, từ chối việc ra tuyên bố chung của ASEAN về Biển Đông (2012), về việc Lào, một “người anh em” thân thiết, tiếp tục xây đập thủy điện Xayaburi bất chấp phản đối của Việt Nam. Vài năm trước, Cambodia cho ra đời chiếc xe điện Angkor EV 2013, không khỏi làm nhiều người Việt “sốc” (từ trên báo Tuổi Trẻ) trước sự thay đổi đầy ấn tượng của đất nước này. Vào năm 2017, năng suất lao động bình quân của người Việt chỉ bằng 87,4% của người Lào. Việt Nam đã phải sang Cambodia học cách xây dựng thương hiệu gạo. Mới đây nhất, Việt Nam được cho là xếp sau Lào và Cambodia trong báo cáo “Chỉ số tự do kinh tế 2018”.  Điều này cho thấy người Việt dường như chưa được chuẩn bị cho những chuyển dịch khu vực và địa chính trị đang và sắp diễn ra, cũng như chưa được chuẩn bị cho cách thức ứng phó từ góc độ tương tác khu vực và toàn cầu. Một trong những nguyên nhân của tụt hậu này là cách thức chúng ta giảng dạy, nghiên cứu khu vực học và cách chúng ta tự định vị Việt Nam ở khu vực.  Ngành nghiên cứu Đông Nam Á  Nếu như các ngành khoa học hiện đại ra đời ở thế kỷ XIX ở châu Âu dưới sự bảo trợ của cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa dân tộc thì nghiên cứu khu vực học gắn với phát triển của chủ nghĩa thực dân, nhằm khảo sát những vùng đất bên ngoài châu Âu, trong đó có ngành Đông Phương học (xem Tia Sáng số 10 năm 2018).  Với chiến tranh Lạnh và xung đột địa chính trị toàn cầu nửa sau thế kỷ XX, phương Tây bắt đầu nhìn thế giới theo các khu vực (Đông Á, Tây Nam Á, Bắc Phi…). Ban đầu, chính địa chính trị chứ không phải nhu cầu nghiên cứu học thuật giúp cho việc phân chia và định hình các vùng nghiên cứu mà chúng ta có ngày hôm nay. Chính vì thế, bản thân nghiên cứu Đông Nam Á ngay từ đầu để nhằm phục vụ cho chiến lược toàn cầu của Mỹ chứ không vì mục tiêu khoa học. Vào cuối những năm 1950, tại Đại học Cornell đã hình thành nên thế hệ đầu tiên của các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, và đến giai đoạn 1960 và 1970, sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam tạo ra chuyển biến thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á ở Bắc Mỹ và châu Âu. Đây được coi là ‘Kỷ nguyên vàng của nghiên cứu Đông Nam Á” tại Mỹ, gắn với hàng loạt các trung tâm nghiên cứu khu vực quy mô đã được thành lập ở California, Northern Illinois, Yale, Michigan…      Một thế giới đa dạng và chuyển biến nhanh chóng, nơi mà bên cạnh các cường quốc “phương xa”, khung cảnh khu vực đang trở nên rất sôi động, nơi mà vận mệnh của Việt Nam, an ninh quốc gia và túi tiền của mỗi gia đình đang ngày càng gắn chặt hơn vào tình hình các quốc gia lân bang.        Sự rút lui của Mỹ khỏi khu vực sau chiến tranh Đông Dương làm giảm vị thế của nghiên cứu Đông Nam Á. Sụp đổ của bức tường Berlin làm giới học thuật mất đi sự hào hứng với khu vực học. Người ta bắt đầu nói đến “sự kết thúc của lịch sử”, “xung đột của các nền văn minh”, “thế giới phẳng”, và nghiên cứu toàn cầu (Vũ Đức Liêm, 2016). Điều này đặt ra thách thức cho ngành nghiên cứu Đông Nam Á: phạm vi bị thu hẹp, trở thành thứ yếu trong các chủ đề mới: nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu toàn cầu, Hồi giáo học (Islamic Studies),…  Những năm gần đây, mặc dù có sự cam kết trở lại của Mỹ, chính sách quay lại của Nhật, chính sách hướng Đông của Ấn Độ, hay đẩy mạnh nghiên cứu hải thương của Trung Quốc… tất cả những mối bận tâm này đều phản ánh cách người “bên ngoài” nhìn Việt Nam và Đông Nam Á. Phản ánh những mối quan tâm của riêng họ, những lí thuyết mà họ tạo ra để mô tả chúng ta, phục vụ cho lợi ích kinh tế, chính trị, địa chính trị từ bên ngoài.  Trong khi nghiên cứu Đông Nam Á bị thu hẹp ở phương Tây, sự phát triển của ngành này đang tạo ra tính năng động cho nghiên cứu học thuật ở Đông Nam Á và châu Á Thái Bình Dương. Trong khu vực, các trường đại học của Singapore, Malaysia và Thailand hiện đang dẫn đầu xu hướng này bằng cách phát triển các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á tầm cỡ thế giới, hướng đến mục tiêu dần thay thế các trung tâm truyền thống ở châu Âu và Bắc Mỹ, nơi mà các mối quan tâm của họ đang dịch chuyển sang Mỹ Latin, thế giới Hồi giáo, Đông Âu và Nga, hoặc sự nổi lên của Trung Quốc. National University of Singapore (NUS), Institutite of Southeast Asian Studies (ISEAS, Singapore), University of Malaya (UM, Malaysia), Thammasat University (Thailand), Chulalongkorn University (Thailand), Chiang Mai University (Thailand), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Việt Nam) hiện đang đóng vai trò là các trung tâm nghiên cứu và đào tạo ngành Đông Nam Á học với các chương trình quốc tế và quy mô trao đổi học thuật rộng lớn.    Các nhà Việt Nam học phương Tây (David Marr, Frances Fitzgerald, Gary Porter, Holly Near, Fred Branfman, Jeff Langley) gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng đầu năm 1975 ở Hà Nội. Nguồn: thư viện ANU, hồ sơ David Marr.  Điều này thúc đẩy giao lưu học thuật khu vực và mở ra triển vọng cho các học giả Việt Nam tận dụng cơ hội để mở rộng các quỹ, xây dựng chương trình nghiên cứu mới, và các khóa trình giảng dạy có tính kết nối hướng đến nhu cầu giao lưu khu vực, chuẩn bị cho công chúng và những người làm chính sách không chỉ ngôn ngữ mà còn kiến thức chuyên môn nhằm phục vụ cho lợi ích của Việt Nam trong các mối quan hệ khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu hợp tác trao đổi, từ cơ hội đầu tư, du lịch, việc làm trong khối ASEAN, cho đến tư vấn các nhà hoạch định chính sách giúp Việt Nam xây dựng lí thuyết ngoại giao mới, không chỉ nhắm vào các cường quốc bên ngoài, mà tương tác hiệu quả hơn với các nước láng giềng, và tương tác với nhất thể hóa khu vực.  Thay đổi cách tiếp cận khu vực của người Việt  Trong nhiều thập kỷ vừa qua, người Việt Nam quan tâm đến Moscow, Paris, hay Washington nhiều hơn là ở Phnom Penh hay Bangkok. Trong chiến tranh Lạnh, giới tinh hoa của Việt Nam biết rõ về những gì diễn ra ở Liên Xô, Mỹ, Đông Đức… hơn là nền chính trị Myanmar hay chính sách kinh tế của Lý Quang Diệu.  Đáng buồn, đó chưa phải là quá khứ. Chúng ta đang dành nhiều mối quan tâm cho bên ngoài khu vực, đọc Nhật Bản, ăn Hàn Quốc, xem bóng đá châu Âu, gửi con cái sang Anh du học, theo sát những vấn đề chính trị ở Mỹ hơn là những vấn đề của ASEAN, tầm nhìn của Cộng đồng chung khu vực, diễn biến chính trị ở Malaysia, hay tình trạng của người Rohingya ở Myanmar. Câu trả lời cho vận mệnh của châu thổ Mekong và sinh kế của mấy chục triệu người Việt nằm ở các đập thủy điện dọc sông Mekong chứ không phải ở bên ngoài khu vực.  Điều này không có nghĩa khuyên người Việt từ bỏ phim Hollywood để xem phim Lào, gửi con cái sang Yangon du học thay vì California, chuyển từ nghe nhạc của Girl’s Generation sang Bird Thongchai. Mà là sự gợi ý về một thế giới đa dạng và chuyển biến nhanh chóng, nơi mà bên cạnh các cường quốc “phương xa”, khung cảnh khu vực đang trở nên rất sôi động, nơi mà vận mệnh của Việt Nam, an ninh quốc gia và túi tiền của mỗi gia đình đang ngày càng gắn chặt hơn vào tình hình các quốc gia lân bang.  Hệ quả của “tâm lý dân tộc” kéo dài  Trí tưởng tượng và sự cập nhật của nhiều người Việt dường như chưa theo kịp thực tế. Điều này là hệ quả của một hiện tượng “tâm lí dân tộc” lâu dài hàng thế kỷ. Việc coi mình là trung tâm của các diễn trình lịch sử, cấu trúc văn hóa, văn minh, tộc người… là một phần trong sự phát triển của các cộng đồng. Đối với người Hy Lạp và Roma cổ đại, những nhóm sống dọc theo đường biên là man di. Người Thái coi họ là trung tâm bao quanh bởi các nước chư hầu và những kẻ thù thấp kém (Thongchai Winichakul 2005). Người Hán coi nền văn hóa và thực hành chính trị của họ là “thượng đẳng” so với các nhóm bên ngoài vùng Trung Nguyên. Tư duy tương tác khu vực của Việt Nam truyền thống bị giới hạn bởi hệ quy chiếu “văn minh” Trung Hoa khi coi các dân tộc không thực hành Nho giáo là man di. Đây là di sản của lịch sử và hệ quả của nó vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách nhìn nhận của chúng ta hiện tại. Trong một thế giới ngày càng lệ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, quan hệ giữa Việt Nam với Lào, Cambodia, Myanmar, Thailand cũng quan trọng như đối với bất cứ quốc gia bên ngoài nào.  Tri thức của người Việt về Đông Nam Á dựa trên việc lấy người Việt là trung tâm, mô tả Đại Nam như một “đế chế văn minh” trong tương tác với láng giềng. Việc coi Lào, Cambodia là các nước “phiên thuộc” trong quá khứ là những người em thân thiết trong thế kỷ XX, coi Thailand là kẻ đối địch trong vấn đề Cambodia thời Nguyễn, và “tay sai” của đế quốc Mỹ trong chiến tranh chống Mỹ 1954-1975 vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức chúng ta viết sử và dạy sử khu vực, hay ít nhất là trong tâm trí của số đông. Việt Nam đã có những đóng góp lớn đối với lịch sử khu vực cũng như đối với các dân tộc này. Nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Mông-Nguyên ở cửa ngõ Đông Nam Á. Tuy nhiên Đại Việt không phải là nước duy nhất trong khu vực làm được kỳ tích này. Người Myanmar và Java cũng viết những trang sử tương tự. Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, nhưng trước đó, đạo quân này từng bốn lần đại bại dưới tay người Miến, và trong một hành động mang tính biểu tượng, kẻ xâm lược đã phải tự tay nấu chảy tất cả súng ống và đốt thuyền bè trước khi rút lui. Nhà Nguyễn từng tạo thế cân bằng với Thailand tại Cambodia và giúp cho vương triều này tồn tại mà không hoàn toàn lệ thuộc vào Bangkok. Người Việt cũng đã giúp Cambodia thoát khỏi ách diệt chủng Pol Pot, đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào ở thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hệ quả khi chúng ta đánh giá sai lầm khả năng  cũng như tính phức tạp của tình hình các nước láng giềng.  Viết những điều này không phải để hạ thấp công lao của bao thế hệ tiền nhân người Việt, mà giúp kiếm tìm một cái nhìn tỉnh táo hơn trong cách thức chúng ta tái định vị Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khi Lương Thế Vinh tìm ra cách “cân voi” và Vũ Hữu tính toán số gạch đủ để xây các bức tường thì châu Âu đã là thời đại của những Nicolaus Copernicus, Michelangelo, Leonardo da Vinci, Giordano Bruno, Rene Descartes, Johannes Kepler, Galileo Galilei, và Isaac Newton.  Các thách thức địa chính trị mới  Ngày nay, tình hình khu vực đã có những chuyển biến quan trọng mà các quan hệ “đồng minh” ý thức hệ thời kỳ chiến tranh Lạnh đã thay đổi nhanh chóng. Lợi ích quốc gia trở thành vấn đề cốt lõi và sự can dự của các cường quốc mới nổi bên ngoài yêu cầu Việt Nam hiểu rõ hơn về các thách thức địa chính trị mới đến từ các nước láng giềng. Có vẻ như tri thức và cách thức tiếp cận của chúng ta với các nước  lân bang đang đi sau thực tiễn năng động và linh hoạt của tình hình khu vực. Đã đến lúc cần có những thay đổi trong cách thức tiếp cận, nghiên cứu, nhìn nhận Đông Nam Á với cặp mắt cập nhật và thực tế hơn, so với cách thức mà chúng ta vẫn nhìn khu vực được duy trì từ mấy thập kỷ qua. Cần phải có được cách tiếp cận đa chiều trong cách thức viết sử, dạy sử về các nước lân bang, cũng như hiểu biết về nhận thức của láng giềng dành cho người Việt.  Gần nhất là sự phát triển của Trung Quốc như một siêu cường. Chúng ta nói nhiều về điều này. Nhiều người nhận thức được tầm mức ảnh hưởng to lớn của nó, nhưng dường như chưa có một nghiên cứu, khảo sát có hệ thống nào về mô hình đi lên của Trung Quốc trong các thập kỷ tới, phân tích từ góc độ chính sách, dự báo tăng trưởng, và đề ra đối sách. Những người khác nói về “sự đe dọa” của Trung Quốc hay “cơ hội” từ sự phát triển của Trung Quốc. Có điều dường như chúng ta không biết một cách hệ thống điều gì đã và đang diễn ra ở Bắc Kinh. Công cuộc “sắp đặt”của Tập Cận Bình là sự thay đổi lớn nhất trong vòng ba thập kỷ trở lại đây (từ cải cách của Đặng Tiểu Bình). Cuộc cải tổ quân sự đang diễn ra là cải cách quân sự lớn nhất từ năm 1949 đến nay với sự thay đổi cấu trúc quyền lực, mở rộng hải quân chưa từng có từ thời Mao Trạch Đông. Những xác lập quyền lực của Tập Cận Bình là gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử hiện đại Trung Quốc cũng như dự án quyền lực toàn cầu của ông.  Đối với nhiều người Việt, đó vẫn là những tin tức xa lạ bởi vì với họ, Trung Hoa là một thế giới khác, có thể là nàng công chúa Hoàn Châu hồn nhiên và ông vua Càn Long vui tính, là cuộc chiến đẫm máu trên bến Thượng Hải, hay một AQ đáng thương. Xin hãy nhớ rằng: đó là Trung Hoa của ngày hôm qua.  Rõ ràng là người Việt đang cần những tiếp cận ngoại giao linh hoạt hơn đối với khu vực, tìm kiếm những vai trò ngoại giao mới, mô hình phát triển và đóng vai trò mới trong thời kỳ khu vực hóa và toàn cầu hóa. Để làm điều đó, chúng ta không chỉ cần lí thuyết hay cách thức tiếp cận mới, mà còn là sự định vị lại lịch sử Việt Nam và người Việt trong không gian khu vực. Đánh giá lại các mối tương tác của quá khứ làm cơ sở cho sự hội nhập của hiện tại và tương lai.    Đông Nam Á nằm ở giữa các hành lang an ninh và kinh tế Thái Bình Dương, xuyên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vì thế mà nó cũng được kỳ vọng sẽ kéo theo sự phát triển của các trung tâm học thuật mới nghiên cứu về Đông Nam Á và các cấu trúc mở rộng. Đó là cơ hội của giới học thuật đóng góp vào tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa của tri thức, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về tính cấp thiết của việc thay đổi cách tiếp cận và đa dạng hóa lí thuyết phản ánh, bên cạnh khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa và lấy người Việt làm trung tâm.      Tham khảo  Vũ Đức Liêm. Việt Nam ở giao điểm của nghiên cứu khu vực và toàn cầu hóa: tri thức Đông Nam Á của người Việt và cách thức tiếp cận mới. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Số 1 (477), 2016: 58-69.  Vu Duc Liem. Weaving Mekong, Connecting the past and integrating future: Asean’s young scholarship and regional connectivity, in Knowledge journey & Journeying knowledge., eds., Thuy Linh Le, Leigh D. Dwyer, and Phan Le Ha (Hanoi: The Gioi, 2016), pp. 294-315.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Khung đánh giá giúp tăng khả năng phục hồi của ngành ngư nghiệp trước biến đổi khí hậu      Mới đây, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực thủy sản đã xây dựng một khung ra quyết định mới có thể giúp ngành ngư nghiệp tăng cường khả năng thích ứng với hiện tượng nóng lên toàn cầu.      “Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra một khung đánh giá có thể áp dụng vào bất kỳ ngành nghề nào trong lĩnh vực ngư nghiệp, bất chấp điểm mạnh và điểm yếu trong từng trường hợp cụ thể”, nhà sinh thái học biển Jacob Eurich tại Trung tâm Quốc gia về Phân tích & Tổng hợp Sinh thái (NCEAS) thuộc Đại học California, Santa Barbara, cho biết. “Chúng ta có thể dự đoán các kịch bản trong tương lai bằng các kỹ thuật mô hình khác nhau để xem xét ngành nghề nào trong lĩnh vực ngư nghiệp có thể hứng chịu những tác động tiêu cực trong thập kỷ tới”. Ông cùng với Jacqueline Lau tại ĐH James Cook và Julia Mason tại Trung tâm Bền vững Cornell Atkinson đã công bố kết quả này trên tạp chí Fish and Fisheries.  Trong bối cảnh dân số toàn cầu tiếp tục tăng lên, ngành ngư nghiệp đảm trách “sứ mệnh” đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày một tăng cho thế giới. Đây cũng là một trong những hệ thống lương thực đầu tiên chịu tác động của biến đổi khí hậu, như nước biển ấm lên và đại dương bị axit hóa.  “Ví dụ, ở California từ năm 2014 đến 2016 đã xảy ra một đợt nắng nóng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nền ngư nghiệp địa phương”, Eurich kể về một đợt nắng nóng trên biển và tảo nở hoa đã ảnh hưởng đến những ngành nghề thủy sản gần và dọc theo bờ biển, từ hoạt động kinh doanh thương mại cua đá đỏ, trai móng tay cho đến cua Dungeness.  Những hành động mà ngành đánh bắt thủy sản ven biển California cần thực hiện nhằm ứng phó với các tác động từ môi trường có thể khác với những gì mà ngư trường cá tuyết ở Bắc Đại Tây Dương thực hiện, hoặc những gì mà ngành công nghiệp đánh bắt cá ngừ của quần đảo Thái Bình Dương triển khai.  Theo đó, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và xem xét dữ liệu về khả năng phục hồi của nền ngư nghiệp trên ba khía cạnh.  “Đầu tiên là hệ thống sinh thái – những gì đang diễn ra dưới nước, với quần thể cá”, Eurich giải thích. “Khía cạnh thứ hai là quản trị – nền ngư nghiệp thực sự được quản lý như thế nào? Và thứ ba – thường ít được chú ý nhất là khía cạnh kinh tế – xã hội, đặc biệt là khía cạnh xã hội, hay có thể hiểu là giá trị nội tại, sự liên quan mật thiết giữa chúng ta với ngành nghề này. Thông thường chúng ta hay tập trung vào lợi ích kinh tế, cấu trúc dân số và động lực của các loài, nhưng chúng tôi thực sự đang cố gắng làm nổi bật chiều kích con người ở đây.”  Việc đánh giá nền ngư nghiệp theo cách này sẽ không chỉ làm nổi bật những thế mạnh cụ thể của nó mà còn làm sáng tỏ thêm những rủi ro và điểm yếu tiềm ẩn có thể nảy sinh do biến đổi khí hậu. Ví dụ, theo bài báo, ngành công nghiệp đánh bắt thương mại cua California Dungeness rất phát triển do năng suất cao và kích thước quần thể lớn. Những đặc tính này đã dẫn đến tình trạng chủ quan trong giám sát quản lý và mức độ nhận thức rủi ro thấp, khiến nghề cá “không có sự chuẩn bị và phản ứng chậm” trước hiện tượng tảo nở hoa liên quan đến đợt nắng nóng biển 2014-2016. Kết quả là ngành đánh bắt bị thiệt hại kinh tế đáng kể.  Khung đánh giá này cũng cho phép các nhà quản lý học hỏi từ các ngành công nghiệp đánh bắt thủy sản khác để chuẩn bị tốt hơn và ứng phó với những thất bại tiềm ẩn mà không cần phải tốn công tốn sức cải tổ mọi thứ.   Ở Nam Thái Bình Dương, nơi các cộng đồng đã và đang cảm thấy gánh nặng của các tác động do biến đổi khí hậu gây ra, các nhà khoa học “đang cố gắng tiếp thu bài học từ những nơi như Kiribati hoặc Fiji và triển khai chúng ở những khu vực khác để chứng minh rằng quản lý khả năng thích ứng, tư duy bình đẳng và hòa nhập hoặc một hệ thống minh bạch hơn giữa con người và môi trường thực sự giúp tăng cường khả năng phục hồi của ngành”, ông nói.  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-resilient-fisheries.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng đến hàng tỉ người      Dù cho thấy một số điểm sáng nhưng đánh giá mới nhất về sự suy giảm trong đời sống sinh vật trên toàn cầu cho thấy những thay đổi đáng kể của việc đánh bắt cũng như các biện pháp khai thác tự nhiên khác sẽ vẫn dẫn đến rủi ro.      Một số loài chim hoang dã được bán ở chợ dân sinh ở Việt Nam. Nguồn: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty  Hàng tỉ người trên khắp thế giới sống phụ thuộc vào khoảng 50.000 loài trong tự nhiên với mục tiêu sử dụng làm thực phẩm, năng lượng, thuốc và thu nhập, theo một báo cáo khoa học mới của Nền tảng khoa học–chính sách Liên chính phủ về Đa dạng sinh học và Dịch vụ Hệ sinh thái Liên hợp quốc (IPBES). Báo cáo này đi đến kết luận là con người phải có những thành động thay đổi để giải quyết khủng hoảng về đa dạng sinh học đang ngày một gia tốc.  Báo cáo này, do 85 chuyên gia từ 33 quốc gia thực hiện trong vòng bốn năm, là một cái nhìn mang tính toàn diện vào các cách khai thác các loài sinh vật hoang dã một cách bền vững hoặc cách không dẫn đến suy giảm dài hạn với các nguồn tự nhiên đó và đảm bảo chúng vẫn tồn tại cho các thế hệ tương lai. Nó được rút ra từ hàng ngàn nghiên cứu khoa học và những tài liệu liên quan, bao gồm tri thức bản địa. Những cộng đồng nghèo thuộc nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất khi các loài sinh vật bị khai thác kiểu tận diệt.  “Một nửa lợi ích con người có được từ khai thác các loài sinh vật hoang dã nhưng thường con người lại không hiểu gì về điều đó”, Marla R. Emery, một trong số những người phụ trách báo cáo, cho biết. Một báo cáo rút gọn đã được trình bày trước đại diện của 139 quốc gia và bản đầy đủ sẽ được công bố sau vài tháng nữa.  Đánh giá mới được xây dựng trên cơ sở báo cáo năm 2019 của IPBES, trong đó kết luận là con người đã làm thay đổi thế giới tự nhiên một cách trầm trọng khiến một triệu cây và loài vật có nguy cơ tuyệt chủng. Năm 2020, một báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy nhiều quốc gia mới chỉ làm được chút ít để thực hiện các cam kết quốc tế từ năm 2010 nhằm khắc phục nguy cơ sụp đổ đa dạng sinh học.  Trong đánh giá mới cũng có thể thấy một số triển vọng tích cực, khi nhìn vào cách con người có thể sử dụng các loài sinh vật hoang dã một cách bền vững, theo nhận định của Jean-Marc Fromentin, một trong số đồng phụ trách báo cáo.  Một phần ba các loài sinh vật hoang dã có tên trong “danh sách đỏ” đang tồn tại một cách ổn định hoặc có xu hướng gia tăng số lượng, bất chấp việc con người khai thác, theo một nghiên cứu mà báo cáo trích dẫn. Điều này cho thấy “việc khai thác các loài cụ thể không ảnh hưởng một cách trực tiếp đến sự tồn tại của chúng”, Sophie Marsh, một học viên cao học về đa dạng sinh học tại University College London và là tác giả đầu một nghiên cứu về các loài bị đe dọa tuyệt chủng được xuất bản vào năm 2021.  Tri thức bản địa là điều cốt lõi để học hỏi về những biện pháp hữu hiệu nhất cho khai thác bền vững, báo cáo cho biết nhưng từ trước đến nay chưa được coi trọng. Các cộng đồng bản địa ở châu Mỹ từ lâu đã tích hợp cách khai thác bền vững trong những thực hành văn hóa của mình, và ước tính có 15% các khu rừng toàn cầu được quản lý như “những nguồn lực cộng đồng” bởi những người dân bản địa châu Mỹ và các cộng đồng địa phương.  Báo cáo đã chỉ ra những thực hành như những cách vẫn được sử dụng ở vùng Cordillera ở Luzon, hòn đảo lớn nhất ở Philippines. Ở đó, “toàn bộ cộng đồng di chuyển để bảo vệ lấy khu rừng”, Victoria Tauli-Corpuz, một nhà hoạt động về quyền người bản địa và cũng lớn lên từ vùng này, nói. Biện pháp này là Batangan, một hệ thống quản lý nguồn lực có sự tham gia giám sát đa dạng sinh học trong các khu rừng và lập kế hoạch trồng các cây mới thay thế các cây cũ bị bệnh.    Lạc đà vicuña được nuôi tại Puyo Puyo, Bolivia. Nguồn: Juan Karita/Associated Press  Và không chỉ là cây cối, “đó còn là về nước, cây và động vật, vi sinh vật”, và cả về biến đổi khí hậu vì các khu rừng đóng một vai trò quan trọng trong lưu trữ carbon, bà Tauli-Corpuz nói.  Khai thác các loài hoang dã bền vững nằm ở tâm điểm của sự nhận biết và tồn tại của nhiều cộng đồng bản địa, báo cáo lưu ý.  “Nếu thế giới hoang dã biến mất, văn hóa của chúng ta sẽ gặp rủi ro, đời sống của chúng ta và sinh kế của chúng ta cũng vậy”, Viviana Figueroa, một luật sư người châu Mĩ bản địa và tham gia vào các cuộc đối thoại với các tác giả bản báo cáo với vai trò thành viên của Diễn đàn Đa dạng sinh học bản địa quốc tế, nói. “Có quá nhiều việc phải làm nhưng chỉ một số ít được thừa nhận”, Figueroa nói.  Chính sách của các chính phủ trong tương lai về việc khai thác các loài hoang dã cần tính đến chiều lịch sử và xã hội và lợi ích từ đó có được phân bố một cách công bằng không. Ví dụ, lông lạc đà vicuña, nguyên liệu cho các sản phẩm xa xỉ, có giá rất cao và được lấy từ những con lạc đà vicuña do những cộng đồng bản địa thu nhập thấp ở Nam Mỹ nuôi nấng nên cần bảo tồn vicuña. Nhưng “gần như là không thể” với một cộng đồng vùng Andes xa xôi có thể thỏa thuận với một công ty quốc tế hoặc đơn giản là đặt sản phẩm của mình lên thị trường quốc tế, báo cáo cho biết. Điều đó có nghĩa là phần lớn lợi ích thương mại từ lông lạc đà vicuña đều thuộc về giới thương nhân và các công ty vải sợi.  Ngành công nghiệp đánh bắt hải sản sẽ cần giảm thiểu tình trạng khai thác cá bừa bãi và phi luật pháp, hỗ trợ nhiều hơn cho những người đánh bắt nhỏ và loại bỏ hỗ trợ đối với những bên khai thác quá mức, báo cáo đề xuất. Ngành công nghiệp khai thác gỗ sẽ cần phải đầu tư vào công nghệ giảm thiểu chất thải trong quản lý các sản phẩm từ gỗ và các chính phủ có thể cần gia tăng các lệnh cấm hoặc các quy định về săn bắt động vật hoang dã làm thực phẩm ở một số vùng song song với việc đánh giá một số chính sách có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực ở các vùng đó.  Việc khai thác quá mức động vật hoang dã không chỉ là nguyên nhân duy nhất dẫn đến suy giảm số lượng các loài; biến đổi khí hậu do nguyên nhân con người cũng là một tác động đáng kể, báo cáo cho biết. Dân số không ngừng tăng lên và việc tiêu thụ các sản vật, cùng với những tiên tiến về mặt công nghệ có thể khiến các biện pháp ngày một hiệu quả hơn, cũng đặt sức ép lớn hơn lên các loài hoang dã.  “Chúng ta phải đảm bảo các công cụ chính sach đem lại lợi ích cho mọi người”, Emma Archer, một giáo sư trường đại học Pretoria Nam Phi và là một trong những tác giả chính của báo cáo, nói. “Không thể có cả người chiến thắng và kẻ thua cuộc”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nytimes.com/2022/07/08/climate/species-biodiversity-united-nations.html  https://www.nature.com/articles/d41586-022-01917-3    Author                .        
__label__tiasang Khủng hoảng tiếp theo của Venezuela sẽ là các bệnh dễ lây nhiễm      Một cơn khủng hoảng y tế công cộng đang nổi lên như một vấn đề nghiêm trọng ở Venezuela bởi chương trình tiêm chủng quốc gia bị tê liệt, số lượng các trường hợp bị nhiễm sởi, bạch cầu và những căn bệnh mà vaccine có thể ngăn chặn đã tăng cao kỷ lục.      Vào tháng 2/2019, một cuộc biểu tình phản đối về tình trạng thiếu thuốc và vaccine đã diễn ra tại thủ đô Caracas. Nguồn: elpais.com  Một nghiên cứu do Viện Các mầm bệnh mới phát sinh, trường Y tế công cộng của trường đại học Florida cùng một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế từ châu Âu, Mỹ, thực hiện đã cho thấy, hệ thống y tế công cộng của Venezuela đã sụp đổ, đây là một nạn nhân khác của tình trạng bất ổn xã hội vốn đã diễn ra ở đất nước này trong nhiều năm. Kết quả là, các bệnh lây nhiễm từng được kiểm soát đã bắt đầu hoành hành trở lại và có thể lan rộng một cách nhanh chóng, theo nhận định của TS. Glenn Morris – một trong những tác giả của nghiên cứu và là Giám đốc của Viện Các mầm bệnh mới phát sinh.  “Về cơ bản, các vaccine dành cho trẻ em là vấn đề hết sức quan trọng của y tế công cộng toàn cầu. Dĩ nhiên, các căn bệnh mà vaccine có thể ngăn chặn có thể nhanh chóng trở lại khi không còn vaccine, như những gì chúng ta đang thấy ở Venezuela”, ông nói.  Trong công bố trên tạp chí Emerging Infectious Diseases, các tác giả đề xuất các quan chức địa phương và các nhà y tế công cộng cần thuyết phục Chính phủ Venezuela chấp nhận hỗ trợ quốc tế và tái lập các chương trình giám sát dịch tễ học. Điều này cũng sẽ giúp các quốc gia láng giềng có thể dập tắt những cuộc khủng hoảng y tế công cộng khu vực chắc chắn sẽ xảy ra.   Họ cũng tìm ra, sởi – căn bệnh có khả năng lây nhiễm cao do virus Measles gây ra từng được kiểm soát tốt ở Venezuela cho đến năm 2010, khi chương trình miễn dịch quốc gia mới bắt đầu bị ảnh hưởng cùng sự sụp đổ của nền kinh tế. Theo số liệu của Tổ chức Y tế châu Mỹ (PAHO-WHO), sởi mới tái xuất hiện ở Venezuela năm 2017 và bắt đầu có dấu hiệu ảnh hưởng tới các quốc gia láng giềng Mỹ Latin. Cũng trong năm 2017, người ta phát hiện ra khu vực này có 8.091 ca bạch hầu, trong đó 5.525 trường hợp ở Venezuela. Làn sóng bệnh dịch sẽ tiếp tục được mở rộng vì sự gia tăng các hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp dọc theo các khu rừng Amazon trên đất nước này, tạo ra lượng vận chuyển không ngừng tăng lên và gieo rắc dịch bệnh xuyên biên giới.Làn sóng bệnh dịch sẽ tiếp tục được mở rộng vì sự gia tăng các hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp dọc theo các khu rừng Amazon trên đất nước này, tạo ra lượng vận chuyển không ngừng tăng lên và gieo rắc dịch bệnh xuyên biên giới.    Kể từ năm 2016, Venezuela có 2.170 ca mắc bệnh bạch hầu, 287 người chết. Theo một báo cáo gần đây, vaccine bạch hầu có thể chỉ đạt 50% nhu cầu trong năm 2018, dẫn đến khoảng 3 triệu trẻ em không được tiêm vaccine. PAHO-WHO cũng cho biết trong năm 2018, từ Venezuela, bệch bạch hầu đã lan tới Brazil và Colombia.  Việc sụt giảm độ bao phủ của vaccine, sự tê liệt của các chương trình giám sát, khối lượng lớn những người di cư và tình trạng khủng hoảng kinh tế chính trị tới mức xấu nhất đang tạo cơ hội cho những dịch bệnh mới bùng phát ở Venezuela và Nam Mỹ.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://scienceblog.com/505706/venezuelas-next-crisis-rampant-spread-of-infectious-disease/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng long bạo chúa chạy được không?      Theo tính toán vừa được công bố của các chuyên gia thuộc Trường đại học Stanford (Mỹ), loài khủng long bạo chúa (Tyrannosaurus rex) sẽ không thể nào chạy nhanh như những nhân vật trong phim Công viên kỷ Jura, thậm chí chúng còn không hề biết… chạy!    Theo họ, nếu muốn chạy, khoảng  80% trọng lượng cơ thể chúng cần phải dồn vào chân sau và đây là một điều không thể nào diễn ra.  Trước đây, một số nhà khảo cổ đã tiến hành so sánh những chiếc chân dài, mảnh khảnh của khủng long với các động vật ngày nay như đà điểu hay ngựa và kết luận rằng khủng long có thể chạy tối đa 72km/giờ. Tuy nhiên, hai GS John Hutchinson và Mariano Garcia của Trường đại học Stanford chứng minh rằng để chạy được, bắt buộc cả hai chân con vật đều phải rời mặt đất.  Do vậy một con khủng long bạo chúa nặng trung bình 6 tấn trở lên muốn “guồng” với tốc độ 72km/giờ thì các cơ chân của nó phải chiếm tới 80% trọng lượng cơ thể. Song điều này thật phi lý, vì trong các sinh vật có xương sống mà con người từng biết được hiện nay (kể cả các loài khủng long), tỉ lệ cơ trên trọng lượng cơ thể tối đa chỉ vào khoảng 50%. Phát hiện này cũng góp phần giải thích vì sao cho đến nay người ta vẫn không hề tìm thấy hóa thạch các vết chân chạy hoàn chỉnh của loài khủng long bạo chúa.  (Theo Nature)  NGUYỄN SINH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng long bạo chúa là loài chậm chạp      Hình ảnh quen thuộc về loài vật ăn thịt lao bổ vào con mồi nhanh như chớp thực ra là chuyện viễn tưởng, một nghiên cứu mới hé lộ.    Mô hình máy tính cho thấy loài khủng long kinh hoàng này thực ra chỉ là một kẻ lờ đờ.   Các nghiên cứu trước kia từng tìm hiểu sự chuyển động của những loài chim – hậu duệ trực tiếp của khủng long, và các dấu chân hóa thạch để đánh giá sự di chuyển của khủng long bạo chúa.  Để có đánh giá tốt hơn về cử động của sinh vật này, nghiên cứu mới đã mô hình hóa một bộ xương điển hình của khủng long bạo chúa, nặng khoảng 6 đến 8 tấn, tính toán trọng tâm và sức ì (lực cản) sinh ra khi con vật rẽ hoặc quay. Trọng tâm được xem là một chỉ số quan trọng bởi hai con vật nặng tương đương nhau nhưng có thể cử động rất khác nhau, phụ thuộc vào sự phân bố khối lượng. Chẳng hạn, con voi có 4 chân vững chãi sẽ đặt trọng tâm lên chân của nó, trong khi khủng long phải cân bằng khối lượng của mình ở vị trí khác, vì hai chân trước quá bé so với hai chân sau, giúp cho nó khỏi bị ngã nhào.  Kết quả mô hình, công bố trên tạp chí Theoretical Biology, cho thấy khủng long bạo chúa có sức ì tương đối lớn, khiến nó không thể chạy nhanh được: một cú quay 45 độ đã tốn của nó mất 1-2 giây, lâu hơn nhiều so với con người.  Các tính toán sâu hơn đã ủng hộ những phỏng đoán trước kia rằng những loài khủng long hai chân cỡ lớn không thể chạy nhanh hơn 40 km mỗi giờ (và chắc chắn không thể là 70 km/giờ như trên phim), vì các cơ chân của nó không đủ cho việc chạy nhanh.  Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi John Hutchinson từ Đại học thú y hoàng gia, London, Anh.  T. An (theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng long biết bơi      Những dấu chân hóA thạch do khủng long để lại dưới đáy một con sông ở miền bắc Tây Ban Nha là một bằng chứng rõ rệt cho thấy ít nhất một vài con khủng long đã là những kẻ bơi lội cừ khôi.    Một con khủng long ăn thịt to lớn có thể đã để lại dấu chân 125 triệu năm trước khi móng của chúng cào lên đáy hồ. Khủng long cai trị mặt đất vào khoảng 230 đến 65 triệu năm trước. Nhưng việc chúng sống thế nào dưới nước thì vẫn chưa ai rõ.  Vào cùng thời điểm đó có nhiều loài thằn lằn biển, bao gồm xà đầu long và ngư long, nhưng chúng không phải là khủng long và thực tế có họ hàng rất xa.  Các nhà nghiên cứu do tiến sĩ Loic Costeur đứng đầu tại Đại học Nates ở Pháp đã miêu tả rằng dấu hóa thạch do một con khủng long để lại khi bơi ở sâu dưới 3,2 m và cào móng vào đáy sông. “Con vật chuyển động mái chèo ở xương chậu, giống như các con chim sống dưới nước ngày nay”.  Có khoảng 12 vết bơi trên một quãng đường dài 15 m bao gồm những rãnh dài và nhỏ. Những dấu hóa thạch này cho thấy con vật đang bơi ngược dòng nước và cố gắng tiến thẳng. Hình dáng của dấu vết cũng chứng tỏ con vật là loài khủng long lớn 2 chân chứ không phải là một con cá sấu to dù cá sấu cũng xuất hiện vào thời đó.  Các nhà khoa học nhận định những dấu vết mới cung cấp bằng chứng về hành vi bơi ở khủng long và mở ra những ý tưởng mới về loài vật cổ đại này, bao gồm một số có thể đã sinh sôi nảy nở ở trong môi trường nước.  M.T. (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng long càng lớn,máu càng nóng      Cuộc tranh luận về vấn đề liệu khủng long có máu lạnh như loài bò sát hay có máu nóng giống chúng ta có lẽ cuối cùng đã đi đến hồi kết. Theo như một số nhà lý sinh danh tiếng thì khủng long có máu lạnh hay máu nóng còn tùy thuộc vào độ lớn của chúng. Loài khủng long có hình thái giống với bò sát, vì vậy các nhà khoa học đã giả thiết rằng chúng có máu lạnh, chúng phải dựa vào ánh sáng mặt trời để điều khiển nhiệt độ cơ thể giống như loài bò sát.    Nhưng gần đây, các chi tiết giải phẫu về khủng long đã dẫn đến quan niệm rằng, chúng có thể chủ động điều phối nhiệt độ cơ thể giống như động vật có vú. Tuy nhiên vẫn có những nhà nghiên cứu quả quyết rằng loài khủng long không hề chủ động điều khiển nhiệt độ, chẳng qua là vì chúng mất nhiệt chậm đến mức quá trình trao đổi chất của chúng đủ để giữ ấm cơ thể. Và cuối cùng người giảng hòa cho hai luận điểm trên là Jamie Gilloody và các cộng sự ở Đại học Florida, họ cho rằng cả hai ý kiến trên đều có thể đúng.  Tốc độ của các phản ứng hóa sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thực tế là phụ thuộc vào nhiệt độ. Nhóm của Gillooly đã tìm ra rằng mối quan hệ này chứa đựng một số giá trị không đổi, chúng được đưa vào một phương trình đơn giản mô tả mối quan hệ giữa nhiệt độ, tốc độ sinh trưởng hoặc trao đổi chất với khối lượng cơ thể. Phương trình này có thể áp dụng cho hầu hết các loài động vật – từ sinh vật phù du cho đến cá voi xanh.  Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương trình của họ cho 8 loài khủng long, có khối lượng từ 12kg cho đến 13 tấn. Họ đã phải sử dụng các thông tin ước đoán về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể được các nhà nghiên cứu khác rút ra từ việc khảo cứu các hóa thạch xương. Theo phương trình này, khối lượng cơ thể cực đại cùng với tốc độ sinh trưởng được sử dụng để tính nhiệt độ. Và kết quả là, khủng long càng lớn nhiệt độ của nó càng cao. Những loài nhỏ hơn thực ra giống bò sát hiện đại, có nhiệt độ cơ thể cỡ 25oC – bằng với nhiệt độ môi trường trong kỷ nguyên của chúng.  Nhưng khi khủng long càng lớn, tỷ số giữa diện tích bề mặt và thể tích cơ thể của chúng giảm, chúng tỏa nhiệt kém hiệu quả hơn- đặc biệt là khi chúng vượt qua 600kg. Một con Apatosaurus 13 tấn có thể đạt đến 41oC. Nhiệt độ này là quá nóng đối với con người.  Một cơ sở quan trọng cho ý tưởng của nhóm chính là sự khảo sát 11 loài cá sấu hiện đại, có khối lượng từ 32-1000kg. Chúng khớp một cách chính xác với biểu đồ liên hệ giữa kích cỡ và nhiệt độ của khủng long. Phép ngoại suy toán học đã dẫn đến nhiệt độ cơ thể của loài khủng long lớn nhất Sauroposeidon là 48oC – đó chính là nhiệt độ giới hạn mà tại đó các mô thông thường bắt đầu bị phá hủy. Điều này cho thấy một giới hạn trên về kích cỡ của loài khủng long được quyết định bởi nhiệt độ của chúng.  Theo nhóm của Gilooly, những con Apatosaurus “nhi đồng” sẽ có nhiệt độ cơ thể khoảng 20oC, thấp hơn bố mẹ chúng, vì thế chúng phải thường xuyên tắm nắng giống bò sát, “có lẽ những con khủng long lớn hơn sẽ phải cần đến nước hoặc trú trong bóng râm để làm mát”, Gilooly nói. Ông hy vọng rằng, mô hình nghiên cứu này có thể làm rõ được thêm nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống loài khủng long.  Theo www.newscientist.com  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng long cũng bị giun      Từng ngự trị trên trái đất và đại dương 75 triệu năm trước, nhưng khủng long vẫn trở thành con mồi của những kẻ ở “đáy cùng xã hội” – những con giun trong ruột.  Một hoá thạch còn nguyên vẹn của khủng long mỏ vịt được tìm thấy ở Montana đã làm lộ ra toàn bộ chi tiết nội tạng của con vật, trong đó có những rãnh nhỏ xíu do giun sán tạo ra, nhóm tại Đại học Colorado, Mỹ, cho biết.    Họ đã tìm thấy hơn 200 vết rãnh đáng nghi ngờ mà rất có khả năng do những con giun nhỏ xíu tạo ra. Chúng tương tự như giun đốt và giun tròn sống trên loài vật ngày nay.  “Nghiên cứu này thật thú vị bởi nó cung cấp bằng chứng về những sinh vật tí xíu sống trong bụng khủng long”, trợ lý giáo sư địa chất Karen Chin nói.  “Thông thường một xác chết bao giờ cũng hấp dẫn vô số kẻ ăn xác thối, nhưng con vật này thì hầu như chưa bị suy chuyển”, Tweet nói. “Có thể là bởi xác con vật đã bị chôn vùi trước khi nó có cơ hội bị xâu xé, khi đó những sinh vật ký sinh còn lại đã hoành hành bên trong con vật khi nó chết”.  Khủng long mỏ vịt là động vật ăn thịt, dài tới 15 m và nặng 3 tấn. Con vật có biệt danh là “Leonardo”.   M.T. (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khuôn mặt ẩn giấu của Van Gogh      Trước kia, các kỹ thuật truyền thống X quang và phản quang hồng ngoại đã cho phép xác định được dưới bức tranh Một đám cỏ của Van Gogh một hình ảnh giống một khuôn mặt.      Nhưng các kỹ thuật này không cho phép thu được một hình ảnh rõ nét về bức tranh bị che giấu. Giải pháp nằm ở trong phổ kế huỳnh quang tia X. Nguyên lý là phóng một tia X mạnh đến một điểm cụ thể và phân tích ánh sáng phát ngược trở lại bởi các nguyên tử nặng có trong các sắc tố của bức tranh. Vấn đề là điều này rất mất thời gian. Nhóm nghiên cứu do GS Joris Dick của ĐH Delft, Hà Lan dẫn đầu đã sử dụng một tia X mạnh và đã phân tích 90.000 điểm ảnh. Ông cũng đã bóc tách bằng vi tính một góc vuông 17,5 cm, phát hiện ra một khuôn mặt phụ nữ rất rõ ràng. Sau khi đối chiếu với các bức tranh khác cùng thời kỳ của Van Gogh các nhà khoa học đã có thể chắc chắn rằng ông chính là tác giả của khuôn mặt này.   Đức Đan (Theo Sciences et Avenir)       Author                Quản trị        
__label__tiasang KHXH cần được thách thức bởi tranh luận      Trong khi KHXH phải trả lời rất nhiều những câu hỏi nhằm mô tả và giải nghĩa thế giới ta đang sống, đem lại những dự đoán xã hội, bắt nhịp được với các xu hướng nghiên cứu của thế giới, thì KHXH Việt Nam dường như đang khá lúng túng và còn “nợ” nhiều câu hỏi. Đó là những băn khoăn của chúng tôi và TS. Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS), khi nhìn từ những chủ đề của Diễn đàn KHXH quốc tế năm 2018 vừa qua và hiện trạng nghiên cứu KHXH ở Việt Nam.      TS Khuất Thu Hồng (giữa) và các đồng nghiệp, tại Hội nghị Châu Á Thái Bình Dương về Sức khỏe và Quyền Sinh sản và Tình dục 2017. Ảnh: NVCC.  Không thể tự loay hoay riêng mình  Được biết, năm 2018 bà đã tham gia Diễn đàn KHXH quốc tế năm 2018, bà có thể chia sẻ về những chủ đề, thảo luận chính mà các nhà KHXH trên thế giới đã đặt ra cho Diễn đàn này?  Diễn đàn vừa rồi là diễn đàn KHXH quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở Nhật Bản – một nước châu Á. Đây là một trong những hoạt động của Hội đồng KHXH quốc tế. Hội đồng này được manh nha từ năm 1948 và chính thức thành lập vào năm 1952 bởi một số các nhà khoa học quốc tế. Họ nhận thấy cơ chế phát triển của nhân loại có nhiều điểm chung, thách thức, hiểm họa chung, cho dù mỗi nước, mỗi dân tộc có nhiều vấn đề riêng. Thế thì phải có một thiết chế để mọi người cùng nhìn vào những vấn đề của thế giới này, của nhân loại này, từ các góc độ khác nhau để cùng tìm ra cách giải quyết, thay vì mỗi người, mỗi nước, mỗi châu lục tự loay hoay lấy riêng mình. Vì thế giới ngày càng đi đến chỗ mà lợi ích của nước này phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ với các nước khác. Câu chuyện mỗi quốc gia đóng kín ngày càng trở nên lỗi thời.  Các thảo luận ở Diễn đàn năm nay có ý nghĩa như thế nào đối với bối cảnh hiện nay trên thế giới và của Việt Nam (VN)?   Chủ đề của năm nay thực sự là rất phù hợp với bối cảnh. Có đại diện các nhà KHXH từ 71 nước tham gia thảo luận về rất nhiều chủ đề nhỏ khác nhau. Trong đó, vấn đề an ninh không chỉ là chiến tranh mà được hiểu rất rộng, bao gồm toàn bộ các mối đe dọa đến con người. Cho nên những vấn đề như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng giới, những dòng người di cư, hay ngay cả sự phát triển của công nghệ… cũng dẫn đến tình trạng mất an ninh và được thảo luận. Thậm chí những vấn đề như trí tuệ nhân tạo sẽ tác động như thế nào tới việc làm của con người, với mối quan hệ giữa người với người cũng được mổ xẻ. Ví dụ, ở Nhật người ta đang rất sợ đàn ông hoặc phụ nữ sẽ chỉ yêu búp bê tình dục, rồi công nghệ sẽ thay thế các mối quan hệ cụ thể của con người, con người sẽ ngày càng mất đi kỹ năng hiểu và tương tác với nhau, sẽ rút lại vào thế giới riêng của mình và tạo ra vô vàn thế giới nho nhỏ biệt lập. Điều đó có dẫn tới sự què quặt hay thậm chí diệt vong của con người? Con người liệu có đang mất đi rất nhiều kỹ năng sống?  Vấn đề này cũng liên quan tới bất bình đẳng giới. Vì trí tuệ nhân tạo đe dọa cơ hội việc làm của con người thì sẽ đặt ra câu hỏi là nó tác động tới vai trò của phụ nữ và nam giới ra sao? Nếu máy móc thay con người trong sản xuất, thì đàn ông còn có thể nói tôi là trụ cột gia đình, vẫn cần tới sức khỏe của tôi không? Rồi máy cũng có thể thay con người rất nhiều việc trong gia đình như chăm trẻ con, chăm người già, thì vai trò của người phụ nữ như thế nào? Nữ tính sẽ biến đổi ra sao?  Như vậy, xã hội ngày càng phức tạp và có nhiều mối đe dọa đến con người hơn, và các nhà khoa học xã hội trên thế giới thì khẳng định là KHXH phải lý giải và sử dụng các nghiên cứu của mình để giải quyết vấn đề đấy.  Tại diễn đàn, bà phân tích những vấn đề gì của Việt Nam với các đồng nghiệp quốc tế?   Tôi tham gia vào một phiên song song về “Lực lượng lao động làm công việc chăm sóc trong thời đại già hóa dân số và hướng đến việc dịch chuyển bền vững cho những người làm công việc chăm sóc”. Đây cũng là chủ đề thiết thân với Việt Nam, bởi Việt Nam đang phải đối phó với tình trạng già hóa tăng tốc cũng như vấn đề đưa người lao động đi nước ngoài. Bài trình bày của tôi về việc Việt Nam đã sẵn sàng để đưa người đi chưa? Có thể cạnh tranh với các nước khác ở Đông Nam Á không?       Tất cả yếu tố tạo ra sự chênh lệch quyền lực đang pha trộn với nhau, như giữa biến đổi khí hậu, khoa học và công nghệ, sẽ làm cho mối quan hệ giữa con người với con người biến đổi theo hướng dường như con người ngày càng phụ thuộc hơn, yếu đuối hơn, xung đột, khoảng cách giữa các nhóm xã hội ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.      Nhìn lại câu chuyện này của VN đang có những vấn đề là: Từ trước tới nay, Chính phủ VN đang dựa vào việc xuất khẩu lao động ở nước ngoài làm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đưa ngoại tệ về. Người lao động của VN đi nước ngoài đều là người lao động giá rẻ, không có tay nghề hoặc tay nghề rất thấp. VN cũng là một trong những nước có nhiều ngoại tệ nhất từ việc đưa người đi xuất khẩu lao động. Nhưng chiến lược đấy đang ngày càng trở nên khó chấp nhận trong thời đại này, vì như vậy đã đẩy những người chưa sẵn sàng, không có kỹ năng và sự chuẩn bị gì, thậm chí nhiều người ở vùng sâu vùng xa và chưa có hiểu biết gì về thế giới, bước ra thế giới để cạnh tranh với thế giới. Chiến lược này cũng ngày càng trở nên lỗi thời bởi đến nay, thế giới đang cần các công việc có kỹ năng hơn, các nước đang phát triển đang già hóa thì cần người có tay nghề. Khi đó, nếu Việt Nam có thể đưa người đi làm các công việc như điều dưỡng viên thì lại gặp một thế lưỡng nan: ai sẽ là người chăm sóc người già ở VN nếu lao động VN đi chăm sóc người già ở  nước ngoài?   Thứ hai, với hiện trạng như bây giờ, VN liệu có đủ năng lực cạnh tranh? Bởi đội ngũ điều dưỡng viên hay những người chăm sóc người già ở VN được đào tạo rất mỏng và về mặt tâm thức, người VN không thích phục vụ người khác, cơ chế chính sách của VN cũng không khuyến khích người ta làm công việc đấy. Nhìn chung, đến thời điểm hiện nay, Chính phủ VN không có chiến lược rõ ràng, chính sách mỏng và không phục vụ cho người lao động. Các luật đưa người lao động đi nước ngoài chỉ dành để quản lý các công ty tuyển dụng thôi chứ không nhắm tới [bảo vệ] người lao động (nếu xem lại thì không có điều khoản bảo vệ người lao động). Rà soát lại các chương trình mà VN gửi người đi nước ngoài thì thấy là Việt Nam rất thua thiệt, có thể phần nhiều nguyên nhân do người VN có kỹ năng kém, nhưng điều mà tôi và nhiều người nghi ngờ, là vì không có chiến lược nên cứ bám vào các hợp đồng lẻ tẻ nên mạnh ai nấy làm, các công ty của VN thì sẵn sàng nhượng bộ các công ty nước ngoài để có lợi, còn người lao động có được hưởng lợi không thì không được làm rõ.     Các đe dọa đan xen tác động tới những nhóm xã hội theo cách thức rất khác nhau. KHXH có trách nhiệm tìm hiểu những vấn đề đó. Ảnh: Những người nghèo ở Philipines sau cơn bão Typhoon. Ảnh: USC news.  Như vậy, chuyển hướng cho việc xuất khẩu lao động là không dễ dàng. Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong dòng chảy của thế giới về câu chuyện lực lượng lao động làm công việc chăm sóc? Đó là vấn đề mà tôi muốn xới lên và tiếp tục trong tương lai để tìm câu trả lời.  Tôi nhận thấy, có hai vấn đề nổi lên là họ bàn về quan hệ quyền lực và các nhóm yếu thế. Phải chăng đó là một nhiệm vụ cốt lõi của KHXH – phải đi giải thích các mối quan hệ quyền lực này đang chi phối các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội như thế nào, tác động như thế nào đến các nhóm yếu thế?  Có lẽ đặt vấn đề như thế cũng đúng. Nhưng phải khái quát, vấn đề đầu tiên là KHXH phải đi lý giải thế giới này nó đang như thế nào, thứ hai là cái “đang như thế nào” ấy làm cho mối quan hệ giữa người với người ra làm sao? Trong mối quan hệ đó, thì những mối quan hệ quyền lực có thể mang lại lợi ích cho một số nhóm, tước đi quyền lực của một số nhóm và tạo ra những khoảng trống, bất bình đẳng giữa các nhóm. Và tất cả yếu tố tạo ra sự chênh lệch quyền lực như thế lại pha trộn với nhau, như giữa biến đổi khí hậu, khoa học và công nghệ, sẽ làm cho mối quan hệ giữa con người với con người biến đổi theo hướng dường như con người ngày càng phụ thuộc hơn, yếu đuối hơn, xung đột, khoảng cách giữa các nhóm xã hội ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Bây giờ mình làm thế nào để giải quyết những điều đó, để đưa ra những gợi ý? Để thu hẹp khoảng cách?  Nghiên cứu phải được công bố ở bất kỳ đâu  Quay trở lại Việt Nam, là phải đưa ra các gợi ý chính sách có thể đo lường được, thế thì KHXH VN có thể đưa ra các khuyến nghị cụ thể như thế không?  Lẽ ra phải làm được việc đấy nhưng chưa làm được, vì nhiều lý do lắm, vì chưa có thảo luận học thuật khách quan, cũng vì KHXH chưa được đánh giá đúng chức năng, vai trò của nó. Cho đến bây giờ có thể nói, KHXH có hai dòng, một là dòng chính thống, mà những khuyến nghị của nó được cho là được nghe – thì đang làm việc phục vụ, tuyên truyền cho những đường lối chính sách hơn là phản biện, chỉ ra những khoảng trống, thiếu sót cần phải thay đổi. Còn lại, là lẻ tẻ những tiếng nói độc lập hơn, thì lại rất yếu ớt và cứ bị gán cho là tiêu cực.  Các hội khoa học đáng lẽ phải có tiếng nói độc lập nhưng cũng thấm đẫm tinh thần quốc doanh trong cách thức tổ chức, quản lý. Chưa kể họ hay ngại những quan điểm nhạy cảm chính trị. Chẳng hạn, Hội xã hội học VN lẽ ra phải tổ chức được những hội nghị hằng năm, kêu gọi các nghiên cứu đến chia sẻ, bàn luận về những vấn đề tương tự như các chủ đề của forum này, đó là: xã hội VN đang đối mặt với những vấn đề gì? Ai nghiên cứu, cái gì, ở đâu? Cùng vạch ra những đường hướng tới đây chúng ta sẽ làm gì. Nhưng cũng chưa làm được. Tôi ước ao là có một sự kiện như thế này ở cấp độ mini. Nhưng không thấy ai đứng ra làm việc đó.  Tôi không nghĩ các nhà KHXH VN kém cỏi gì, mà là điều kiện để họ tiếp xúc với những thành tựu khoa học của nhân loại, những hệ thống lý thuyết mới còn hạn chế, cho nên nền KHXH mới bị sài đẹn như vậy.  Tất cả những điều đó trộn lại, làm cho KHXH VN cứ còi cọc như thế.  Vấn đề cốt lõi ở đây là công bố công khai và kích thích thảo luận, dù trước công chúng hay là công bố quốc tế?   Đúng, KHXH phải bị thách thức bởi công bố dù bất cứ hình thức nào.  Quay trở lại Diễn đàn này, ở VN chỉ có tôi và một đại diện từ Bộ Y tế được mời đến thảo luận những vấn đề liên quan đến VN. Còn các nước khác, các Viện Hàn lâm KH đều tham gia và là thành viên của Diễn đàn này. Hội đồng KHXH quốc tế này tự nhận là một tổ chức phi chính phủ, thì liệu Viện Hàn lâm KHXH VN có muốn tới đây thảo luận không khi viện là một tổ chức nhà nước.  KHXH các nước bị thách thức, còn KHXH VN, khi anh đã làm trong các viện nghiên cứu thì không có thách thức nào cả. Ở các nước, giảng dạy và nghiên cứu KHXH gắn chặt với nhau, còn ở VN, người giảng dạy có thể cứ thế dạy một giáo trình cố định trong suốt hàng chục năm, người làm nghiên cứu thì kết quả không đưa vào giảng dạy. Như vậy người làm nghiên cứu không hề chịu áp lực phản biện. Nếu anh mang nghiên cứu đó đi giảng dạy hoặc công bố công khai thì có thể bị thách thức bởi sinh viên, bởi người khác và thấy nó chưa đủ, chưa hay, chưa để khái quát… hoặc có thể được xem xét ứng dụng nghiên cứu vào đâu đó. Nhưng VN thì không, nghiên cứu cứ làm cho đủ, hết kinh phí, làm cho xong.  KHXH phải được công bố dù dưới bất cứ hình thức nào: Khuyến nghị chính sách, công bố quốc tế, hay là đưa nó đến đại chúng, để người ta hiểu về ý nghĩa của nó là cái gì. Khi làm nghiên cứu KHXH, mặc dù mình cứ nói cho hay rằng phải đưa ra khuyến nghị chính sách, nhưng trước hết phải làm thế nào thay đổi nhận thức của công chúng, để họ hiểu. Những gì mà mình nghiên cứu, chia sẻ được với công chúng, có khi chỉ là điều gì đó rất nhỏ thôi nhưng có thể góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội, và thay đổi đó sẽ tạo ra những thay đổi lớn hơn. Suy cho cùng, nhiều khi chúng ta cứ phê phán những người lãnh đạo, nhưng lãnh đạo cũng từ dân mà ra, dân thiếu nhận thức thì không thể có lãnh đạo giỏi được.  Ví dụ như tôi làm về xuất khẩu lao động, hay bất bình đẳng giới, tình dục… thì hoàn toàn có thể được “dịch” thêm một lớp nữa cho người dân có thể hiểu rằng nghiên cứu đó có ý nghĩa với họ như thế nào, ít nhất mang lại tri thức nào đó. Nhưng ở các đơn vị nghiên cứu chính thống thì không như vậy, người dân không được biết một năm họ làm những công việc gì.   Tôi nghĩ rằng, con đường của mình quá chậm nhưng con đường đó bền vững, và an toàn ở chỗ: nếu mình nói thẳng bằng các khuyến nghị chính sách có khi người ta cũng không nghe, hoặc không được nói nữa, nhưng nếu mình chia sẻ những thông tin như vậy thì người dân sẽ thay đổi dần.  Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi! ¨  Diễn đàn KHXH thế giới đã tổ chức được 4 lần, với các chủ đề đều rất thú vị: lần đầu vào năm 2009 (Chỉ có một trái đất nhưng thế giới đang bị chia rẽ); lần hai vào năm 2013 (Chuyển đổi xã hội và thời kỳ của công nghệ số để phân tích cách thế giới này đang chuyển biến như thế nào, công nghệ số tác động như thế nào đến số phận của các dân tộc, của mỗi con người. Bởi chuyển đổi số rất mạnh mẽ, nó định dạng lại cách con người hiểu biết về thế giới, tác động rất nhiều vào mối quan hệ giữa con người với con người, vào cách sản xuất); năm 2015 là chủ đề Chuyển đổi các mối quan hệ toàn cầu cho chỉ một thế giới công bằng. Còn chủ đề của năm nay là: An ninh và bình đẳng cho những tương lai bền vững.  Bảo Như thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang KHXH trước thách thức hội nhập và phát triển      Song hành với khoa học tự nhiên và công nghệ  (gọi tắt là KHCN), KHXH Việt Nam đã ra đời và tồn tại hơn 100 năm qua  tính từ khi Đại học Đông Dương được thành lập (1906). Tuy nhiên, đối lập  với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN trong những năm qua, KHXH lại đang  có xu hướng thụt lùi.1      Điều đó không khỏi khiến cho các nhà khoa học đang hoạt động trong lĩnh vực KHXH lo lắng. Vậy thực trạng của KHXH ở Việt Nam như thế nào? Nguyên nhân do đâu? Hệ lụy ra sao? Đâu là giải pháp?… là những câu hỏi cần được đặt ra trong bối cảnh hiện nay.   KHXH trong tương quan với KHCN  Chúng ta đang sống trong một thế giới đổi thay từng giờ từng phút, những biến đổi đó đang diễn ra ngày càng nhanh và ngày càng rộng khắp từ Đông sang Tây, từ thành thị đến nông thôn, từ môi trường tự nhiên đến môi trường xã hội,… Bên cạnh những biến đổi tích cực từ sự phát triển thần kỳ của KHCN mà cả nhân loại đang hưởng thụ, thì những biến đổi về xã hội dường như lại có xu hướng trái chiều với nhiều tác động tiêu cực. Từ sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo đến sự huỷ hoại môi trường sống, từ những bất ổn xã hội đến xung đột tôn giáo đang có xu hướng ngày càng tăng,… Xa hơn, cuộc chiến tranh giành nguồn nước, tranh giành năng lượng do dân số tăng cao và tài nguyên cạn kiệt đang đẩy các nền văn minh đương đại vào cuộc chiến một mất một còn. Dường như KHCN chỉ giúp loài người trong giai đoạn hiện tại tăng mức độ hưởng thụ chứ không khiến cho họ hạnh phúc hơn. KHCN phát triển càng nhanh thì hệ luỵ xã hội càng lớn, nếu không có một chính sách phát triển hài hoà, đồng bộ giữa KHCN với KHXH thì những hệ luỵ từ mặt trái của quá trình phát triển có nguy cơ huỷ hoại toàn bộ thành quả mà nhân loại đã tạo ra trong hàng nghìn năm qua.   Ở Việt Nam, nền khoa học hàn lâm theo mô hình phương Tây mới chỉ được định hình cách đây hơn 100 năm nhưng những thành tựu KHCN của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể với nhiều công trình khoa học và nhà khoa học “tầm cỡ” thế giới như Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Tuỵ, Ngô Bảo Châu (Toán học); Võ Quý (sinh học); Trịnh Xuân Thuận (thiên văn); Trần Thanh Vân (vật lý),… Trong khi KHXH (ngành khoa học đóng vai trò “tối quan trọng” đối với đời sống tinh thần của một quốc gia) ở Việt Nam dường như vẫn dậm chân tại chỗ trong một thế kỷ qua. Thậm chí còn có bước lùi nếu so sánh với những thành tựu mà những người khai nền như Hồ Hữu Tường, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng (chính trị), Nguyễn Văn Vĩnh (ngôn ngữ và báo chí), Nguyễn Văn Huyên (dân tộc học), Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan, Tạ Quang Bửu (văn-sử),… đã đạt được từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Có lẽ vì vậy mà có tờ báo đã nhận định nền KHXH Việt Nam đã tụt hậu so với châu Âu hàng trăm năm ánh sáng(!).   Vậy vai trò của KHXH nằm ở đâu trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay ở Việt Nam? Câu trả lời đơn giản, KHXH là ngành khoa học giúp giải quyết các vấn đề mang tính xã hội từ văn hoá giao thông đến quy hoạch đô thị, từ phát triển nông thôn đến xoá đói giảm nghèo… bên cạnh chức năng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Rõ ràng, KHXH đóng vai trò vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng đến mọi mặt của quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay. Vậy tại sao vị trí của nó lại “thấp” như vậy so với KHCN? (nếu xét về mức độ đầu tư ngân sách – chẳng hạn mức lương của KHXH). Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có hai điểm căn bản đã “trói chân” KHXH trong suốt thời gian qua đó là: Hệ thống lý thuyết và cơ chế thực hiện.  Hai nguyên nhân chính của sự tụt hậu  Sự tụt hậu do không cập nhật hệ thống lý thuyết   Sau Karl Marx, nhà tư tưởng xuất sắc nhất thế kỷ XIX (1818-1883),2 thế kỷ XX đã cho ra đời nhiều nhà khoa học xã hội lỗi lạc như Max Weber, Emile Durkheim, Claude Levi-Strauss, John Dewey, Charles S. Peirce, William James,… Các tư tưởng và học thuyết của họ đóng vai trò quan trọng trong quá trình kiến tạo nên nền KHXH đương đại của thế giới và giúp tái thiết nền kinh tế và xã hội phương Tây vốn kiệt quệ sau hai cuộc chiến tranh thế giới. Trên thực tế, những thành tựu về giáo dục mà nước Mỹ và châu Âu đã tạo ra cho nhân loại có sự đóng góp rất lớn từ nền tảng tư tưởng và triết lý về giáo dục của các nhà KHXH từ hàng trăm năm trước (điều mà Bộ GD-ĐT VN đến nay vẫn đang đi tìm!); Những thành công về kinh tế xã hội của phương Tây hiện nay có phần đóng góp không nhỏ từ các học thuyết của Ludwig von Mises (kinh tế học), Max Weber, Emile Durkheim (xã hội học), Levi-Strauss (nhân học),… Nhưng tên tuổi của họ chỉ được một số ít nhà khoa học ở Việt Nam biết đến, còn tuyệt đại đa số học sinh, sinh viên trong các nhà trường ở bậc đại học trở xuống đều không biết đến vì hầu hết không được học ở các môn chính trong chương trình của Bộ GD-ĐT. Nói một cách ví von, ngành KHXH của Việt Nam đang chạy trên một đường ray giống hệt như con đường sắt Bắc-Nam mà chúng ta đang sử dụng hiện nay: Đó là khổ đường sắt 1m của thế kỷ XIX, trong khi hầu hết các nước trên thế giới đã chuyển sang loại đường ray 1,435m từ giữa thế kỷ XX.  Sự tụt hậu do cơ chế     Ở Việt Nam, nhiều nhà KHCN đã thành danh ở tầm quốc gia và quốc tế do hệ thống phòng thí nghiệm KHCN bắt buộc phải theo chuẩn quốc tế. Trong khi hầu hết các nhà KHXH vẫn đang “loay hoay” với các công trình nghiên cứu được phân bổ theo một cách thức “cổ điển” từ cấp nhà nước, cấp bộ đến cấp cơ sở và chia nhỏ kinh phí cho nhiều người cùng làm cùng hưởng. Cách quản lý khoa học theo hình thức “phân phối” này đã được định hình theo mô hình kế hoạch tập trung có từ Liên bang Xô Viết mà nước Nga và các nước Đông Âu đã xoá bỏ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Chính vì cách “phân phối” này nên hầu hết các công trình dạng trên rất ít được ứng dụng vào thực tiễn xã hội Việt Nam vì những lý do như: Công trình không phù hợp với thực tiễn (nhưng vẫn được thông qua!); công trình có ý nghĩa khoa học nhưng thiếu điều kiện thực hiện; công trình nhạy cảm không được thực hiện;… Do hệ thống các công trình nghiên cứu về KHXH của Việt Nam vừa cũ kỹ lại thiếu và yếu nên việc xây dựng các chương trình giảng dạy cũng cùn mòn và nhàm chán trong khi hệ thống tri thức về KHXH là loại tri thức không thể “nhập khẩu công nghệ” như KHCN. Chính vì vậy mà KHXH Việt Nam vẫn “loay hoay” cải tiến rồi lại cải cách trong gần ba thập niên qua nhưng vẫn không tìm ra được một điều hết sức căn bản như triết lý giáo dục.3 Tình trạng này đã nghiêm trọng đến mức các nhà KHXH đầu ngành ở Việt Nam đã phải “báo động đỏ về đào tạo khoa học xã hội và nhân văn.”4    Bên cạnh các vấn đề nói trên, hệ thống bậc lương “cổ điển” luôn phải gồng mình chạy theo giá khiến cho lương của các nhà KHXH ở Việt Nam là một trong những loại thu nhập thấp nhất trong xã hội hiện nay. Đây chính là những rào cản lớn khiến cho KHXH Việt Nam khó có thể phát triển. Hệ thống lương này phi lý tới mức GS. Hoàng Tuỵ đã phải dẫn lại lời một nhà khoa học lớn mà ông không nêu tên rằng: “khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở Việt Nam từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học.”5 Cụ thể, mức lương của người viết bài này ở mức “tập sự” năm 2001 là 310.000đ/tháng, khoảng ¾ chỉ vàng, so với những người tập sự hiện nay với mức 1.050.000đ không bằng ¼ chỉ vàng (đó là chưa so với giá rau muống: từ 300đ/mớ năm 2001 lên đến 7.000đ/mớ năm 2012). Như vậy thu nhập của cán bộ khoa học tập sự tại Viện KHXH Việt Nam cũng như nhiều nơi khác đã thấp lại còn bị giảm đi hơn 2/3 giá trị so với cách đây 11 năm.   Hệ luỵ xã hội   Có thể nói, hội nhập và phát triển không thể chỉ gói gọn trong các vấn đề có liên quan đến kinh tế và tăng trưởng GDP hay gia nhập WTO (lưu ý là Cuba gia nhập WTO từ năm 1995 nhưng Cuba không/chưa phải là đất nước phát triển, thậm chí gần đây còn phải đi xin và đi vay của Việt Nam!). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không chỉ là xây thêm nhiều nhà cửa, cầu cống, đường sá,… mà cần phải đặc biệt chú ý đến khía cạnh xã hội của chúng. Nhiều toà nhà được xây dựng hoàn thiện nhưng do không tính đến khía cạnh xã hội đã không có người ở trở thành những “khu đô thị ma,” thậm chí là cả những “thành phố ma.”6 Nhiều tệ nạn xã hội không thể giải quyết bằng luật pháp như mại dâm, ma tuý,… Nhiều vấn nạn nảy sinh từ hệ lụy của chính sách công lạc hậu như làm thẻ thương binh giả, làm hài cốt liệt sĩ giả, làm bằng giả, vẽ tranh giả thậm chí trong báo cáo mới nhất của Tổng cục thống kê, cả nước có tới 92.710 doanh nghiệp giả được gọi là doanh nghiệp “ma”.7 Có nghĩa là cứ gần 1.000 người dân thì có một doanh nghiệp ma!   Rõ ràng hệ luỵ của quá trình phát triển quá nóng mà không quan tâm đến khía cạnh xã hội đã “đẻ” ra trong xã hội Việt Nam nhiều loại “thây ma” chưa từng có trong lịch sử. Bóng ma khổng lồ của Vinashin vẫn hàng ngày hàng giờ ám ảnh mọi người dân Việt Nam với hàng tỷ đô-la tiền nợ và hàng loạt những con tàu ma nghìn tỷ vất vưởng, vật vờ nơi cửa biển chờ bán sắt vụn, ấy vậy mà dường như không một ai phải chịu trách nhiệm!8 Theo công bố mới nhất của Bộ Tài chính, các doanh nghiệp nhà nước hiện đang nợ hơn 1.000.000 tỷ đồng,9 tương đương 50 tỷ USD, gần bằng số nợ công của chính phủ tính đến cuối năm 2011. Có thể nói, khía cạnh xã hội chính là “linh hồn” của quá trình phát triển, nếu bị bỏ quên thì những hiện tượng xã hội – gian dối, cắp-cướp-hiếp sẽ còn phát triển ngày càng mạnh. Và những “thây ma” hào nhoáng của bất động sản đang nằm la liệt và “bất động” hơn hai năm qua chính là hệ luỵ của sự thiếu quan tâm đến khía cạnh xã hội này.  Đã đến lúc các nhà khoa học và các nhà quản lý cần phải gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với các tình trạng mang tính xã hội như suy đồi đạo đức, lối sống hủ bại và tình trạng văn hoá bị huỷ hoại trong xã hội đương đại. Để làm việc này, không ai khác, chính các nhà KHXH phải đi tiên phong trong việc góp phần định hướng xã hội bằng một hệ thống lý thuyết cập nhật và các nhà quản lý phải thay đổi cơ chế để KHXH Việt Nam đi trên một đường “ray” chung với nền khoa học của thế giới. Từ đó, điều chỉnh các hành vi xã hội của con người, hướng dần đến những giá trị đích thực của cuộc sống mà trong đó đời sống tinh thần với vai trò đặc biệt quan trọng của KHXH cần phải được đặt lên hàng đầu.    Thách thức hội nhập và phát triển      Năm 2000, quốc gia cuối cùng trên thế giới đã “mở cửa” đón nhận internet để “hoà mạng toàn cầu” đó là Bhutan. Điều đó cho thấy, không một quốc gia nào có thể hoàn toàn đóng cửa với nền văn minh công nghệ đã “phủ sóng” ở mức độ toàn cầu. Và khi đã tham gia vào cái “làng toàn cầu” đó thì mọi quốc gia đều phải tuân thủ luật chơi hay “lệ làng quốc tế” trong quá trình hội nhập và phát triển. Sau khi “mở cửa” với thế giới bên ngoài từ 1986, Việt Nam đã liên tục phát triển thành một “hiện tượng” của châu Á trong lĩnh vực kinh tế. Nhưng thật khó tin khi nền khoa học của Việt Nam vẫn ì ạch “đuổi theo” Singapore, Thái Lan rồi Malaysia với khoảng cách ngày càng xa. Ngay cả Philipines và Indonesia hiện nay cũng đang dần “vượt mặt” Việt Nam trên bản đồ khoa học của khu vực Đông Nam Á.10 Với một quốc gia đã được “lên chuẩn trung bình” về thu nhập trên thế giới, lại có mức chi tiêu đặc biệt cao cho giáo dục và y tế (hơn 50% tổng thu nhập)11 thì sự “xuống hạng” liên tục trong thời gian qua chứng tỏ nền khoa học giáo dục của Việt Nam đang có vấn đề nghiêm trọng.   Vậy ai sẽ tìm ra mấu chốt của các vấn đề nghiêm trọng nói trên? Chắc chắn chúng ta (những người làm KHXH) không thể đá bóng sang chân các nhà KHCN. Dường như những tiếng nói mạnh mẽ dành cho khoa học xã hội và giáo dục Việt Nam lại chủ yếu cất lên từ những nhà KHCN như Hoàng Tuỵ (toán học), Nguyễn Văn Tuấn (y học), Nguyễn Đăng Hưng, Giáp Văn Dương (vật lý học)… Đây rõ ràng là những vấn đề xã hội nên các nhà KHXH phải chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc mổ xẻ thực trạng xã hội bằng chính những tri thức về KHXH của mình. Thực tế cho thấy các nhà KHXH ở Việt Nam chưa thực sự đóng góp những “tinh hoa” trong chuyên ngành của mình để giải quyết các vấn đề này. Và để thực hiện “ca mổ” này thì chúng ta bắt buộc phải có công cụ – đó chính là một hệ thống lý thuyết cập nhật và tiên tiến mà các nước phát triển đã sử dụng thành công. Một ví dụ tiêu biểu là nước Mỹ đã sử dụng thành công các lý thuyết của John Deway, Wiliam James,… về khoa học giáo dục để biến quốc gia này thành đầu tàu về khoa học và giáo dục của thế giới.12  Nguồn lực ở đâu?  Để có thể hội nhập và phát triển cùng nền khoa học của thế giới, chúng ta cần phải cập nhật các tri thức tinh hoa của khoa học thế giới. Nhưng tri thức KHXH lại không thể nhập khẩu “nguyên đai nguyên kiện” từ nước ngoài vì không một hệ thống lý thuyết KHXH nào có thể đáp ứng 100% các yêu cầu đặt ra tại quốc gia “nhập khẩu.”  Do đó, chúng ta cần có một nguồn nhân lực cần và đủ cho quá trình “chuyển giao công nghệ KHXH.” Thực tế cho thấy, các nhà KHCN có thể làm việc ở bất cứ nơi nào trên thế giới miễn là nơi đó có đủ phòng thí nghiệm và đủ cơ sở vật chất để nghiên cứu cũng như làm thí nghiệm. Nhưng các nhà KHXH không thể nghiên cứu xã hội mà không sống hoặc làm việc với chính môi trường xã hội mà họ dự định nghiên cứu. Vì vậy, nguồn lực dành cho nghiên cứu KHXH Việt Nam không thể trông chờ ở bất cứ một “ngoại viện” nào mà chỉ có thể được sử dụng trong chính các cơ quan nghiên cứu hay các trường đại học trong nước. Tuy nhiên, việc chúng ta sử dụng các kết quả nghiên cứu của các học giả từ các nước phát triển gặp phải một rào cản lớn đó là ngôn ngữ. Với các quốc gia có một ngôn ngữ chiếm tuyệt đại đa số như Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam thì giải pháp sử dụng tiếng Anh hay tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính thức rất khó, nếu không nói là bất khả thi. Giải pháp dịch hầu như toàn bộ các tác phẩm kinh điển của thế giới ra tiếng Hàn và tiếng Nhật đã đuợc chính phủ hai quốc gia này thực hiện trong mấy chục năm qua. Kết quả là nền khoa học của hai quốc gia này đã giành vị trí đứng đầu châu Á chỉ sau hơn 30 năm phát triển đúng hướng. Ở Việt Nam, sau gần 30 năm mở cửa nhưng những đầu sách kinh điển vẫn chỉ được dịch “nhỏ giọt” chủ yếu nhờ vào tâm huyết của các dịch giả và các nhà khoa học. Thậm chí, thù lao bài dịch chỉ được trả bằng 70% so với một bài viết tương đương. Điều đó cho thấy, chúng ta đã “bỏ quên” một phần việc đặc biệt quan trọng đáng ra phải được làm từ năm 1986, nếu không nói là phải làm sớm hơn nữa.  Trong khi chờ đợi một giải pháp vĩ mô từ phía chính phủ (như cách mà các chính phủ Hàn Quốc và Nhật Bản đã làm), thiết nghĩ, các nhà KHXH cũng nên tự định hướng cho mình bằng việc tìm cách đọc hoặc dịch các tài liệu quan trọng từ tiếng nước ngoài để phục vụ cho chính nhu cầu của bản thân. Cách làm này đã được Tạ Quang Bửu, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đổng Chi, Từ Chi, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Đoàn Văn Chúc… thực hiện một cách thành công cho dù các nhà KHXH danh tiếng đó hầu như không có cơ hội được du học “bài bản” tại nước ngoài. Điều đó cho thấy, việc đọc tài liệu nước ngoài và áp dụng ngay trong thực tiễn của Việt Nam tại chính nơi làm việc của mình cũng không hề kém hiệu quả so với việc du học nhiều năm ở nước ngoài. Thậm chí, nếu rời xa môi trường xã hội của mình quá lâu, nhà KHXH có thể không hoà nhập trở lại được với “cộng đồng” khoa học của mình. Điều này đã xảy ra với nhiều du học sinh KHXH khi về nước: Do tiền thù lao phiên dịch cao gấp hàng chục lần thù lao làm khoa học nên nhiều người “say dự án” đến mức hầu như quên toàn bộ kiến thức chuyên môn đã được học. Sau 5-10 năm chỉ chuyên làm phiên dịch, họ đã tặc lưỡi bỏ nghề nghiên cứu. Đó là một sự “chảy máu chất xám” tại chỗ cần được các cơ quan chủ quản quan tâm và tìm giải pháp tháo gỡ. Có lẽ biện pháp đầu tiên là giúp họ có được mức lương tạm đủ sống để giữ “tình yêu khoa học” từng có trong quá khứ.  ***  Từ thực trạng của KHXH Việt Nam trước thách thức hội nhập và phát triển, tôi cho rằng, để khoa học Việt Nam nói chung và KHXH nói riêng “thoát” khỏi tình trạng tụt hạng hay lạc hậu thì cần phải có hai giải pháp căn bản. Giải pháp vĩ mô là từ cơ quan quản lý nhà nước bằng việc thay đổi cơ chế đang sử dụng hiện nay. Giải pháp vi mô đến từ chính các nhà khoa học, mà cụ thể ở đây là các nhà KHXH. Xã hội đang cần các nhà KHXH mổ xẻ căn bệnh của nó để chữa trị trước khi quá muộn. Đã đến lúc các nhà KHXH không thể “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (thơ Xuân Diệu) mà phải nhìn thẳng vào thực tại xã hội và tiếp cận nó bằng một hệ thống lý thuyết cập nhật trong tinh hoa của nền tri thức nhân loại.   —     1 Xem bài Báo động đỏ ngành khoa học xã hội trong http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/16930/bao-dong-do-nganh-khoa-hoc-xa-hoi-.html     2 Năm 1999, ĐH Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là Marx đứng đầu, còn Einstein đứng thứ hai. Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx  3 Xem thêm bài: Lại chuyên triết lý giáo dục, trong: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/222471/Lai-chuyen-triet-ly-giao-duc.html  4 Xem bài Báo động đỏ về đào tạo khoa học xã hội và nhân văn trong: http://vanhoanghean.vn/van-hoa-va-doi-song/van-hoa-hoc-duong/787-bao-dong-do-ve-dao-tao-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van.html  5  Xem: Hoàng Tuỵ, Đề cương cải cách giáo dục (phần in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh), trong http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5739  6 Xem bài: Thành phố ma lớn nhất Trung Quốc, trong: http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2012/03/thanh-pho-ma-lon-nhat-trung-quoc/  7 Theo Sài Gòn tiếp thị: http://sgtt.vn/Kinh-te/165548/Ca-nuoc-co-gan-93000-DN-%E2%80%9Cma%E2%80%9D.html  8 Hai con tàu “ma” trên vùng biển Quảng Ninh, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/2-con-tau-ma-tren-vung-bien-quang-ninh-658001.htm  9 Theo báo Tia sáng,  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=5346  10 Xem thêm bài: Xếp hạng nghiên cứu giáo dục: Việt Nam tiếp tục tụt hạng, trong: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Xep-hang-nghien-cuu-giao-duc-Viet-Nam-tiep-tuc-tut-hang/242106.gd  11 Xem: Giáo dục và y tế chiếm hơn 50% tổng chi tiêu hộ gia đình, trong http://www.baomoi.com/Giao-duc-va-y-te-chiem-hon-50-tong-chi-tieu-ho-gia-dinh/59/7326547.epi  12 Xem thêm cuốn sách: Dân chủ và giáo dục-Một dẫn nhập vào triết lý giáo dục của John Deway do Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri thức ấn hành năm 2008, tái bản 2010.           Author                Quản trị        
__label__tiasang KHXH Việt Nam nghiên cứu về toàn cầu hóa vẫn còn dè dặt      Khoa học xã hội (KHXH) Việt Nam tham gia vào quá trình toàn cầu hóa khá sớm nhưng nghiên cứu về các vấn đề toàn cầu hóa vẫn còn khá dè dặt và chưa có nhiều thành tựu. Đó là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu thảo luận tại hội thảo quốc tế “Hai thập kỷ bàn về toàn cầu hóa KHXH: khái niệm, chiến lược và thành tựu” do trường Đại học KHXH&NV Hà Nội và Mạng lưới khoa học xã hội thế giới (WorldSSHnet) tổ chức vào 18-19/1 vừa qua tại Hà Nội.      GS.TS Phạm Quang Minh, hiệu trưởng trường ĐH KHXH&NV phát biểu tại hổi thảo.   Bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra rất nhiều vấn đề mới mẻ, thách thức cả về lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và chủ đề nghiên cứu trong khối ngành KHXH&NV, theo ý kiến của đa số các nhà khoa học tham gia hội thảo. Do vậy, hội thảo đặt trọng tâm chính vào thảo luận về hai vấn đề chính: các ngành KHXH&NV ở các nước đang chuyển biến như thế nào để thích ứng/ tham gia vào quá trình toàn cầu hóa; mặt khác, các ngành KHXH đang nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu hóa như di dân và di động xã hội, di sản văn hóa và biến đổi văn hóa, các xung đột xã hội, chủ nghĩa khủng bố… ra sao.  Về phía Việt Nam, các ngành KHXH&NV đã có nhiều chuyển biến sâu sắc trong quá trình toàn cầu hóa. Điều đó thể hiện rõ trong hợp táp quốc tế ở các khía cạnh: 1) Đào tạo lực lượng nghiên cứu khoa học gắn với các môi trường học thuật quốc tế như Liên Xô và Âu, Mỹ (từ sau 1990); 2) Sử dụng lý thuyết, phương pháp nghiên cứu theo chuẩn mực quốc tế; và 3) Công bố quốc tế. Cụ thể, có thể thấy rõ xu thế quốc tế hóa ngành học qua trường hợp ngành xã hội học. Theo thống kê của TS. Nguyễn Tuấn Anh, Khoa Xã hội học, ĐH KHXH&NV Hà Nội, nguồn cán bộ được đào tạo từ các nước phương Tây đã góp phần quan trọng cho nguồn nhân lực của một số cơ sở nghiên cứu xã hội học như Viện xã hội học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nâm), Khoa Xã hội học (ĐH KHXH&NV Hà Nội). Thống kê giai đoạn năm 1997 – 2017 cho thấy viện Xã hội học có 10% thạc sĩ, 19% tiến sĩ được đào tạo ở các nước phương Tây, tỉ lệ tương ứng ở Khoa Xã hội học là 17% và 26%. Các dự án hợp tác với nước ngoài ở hai cơ sở nghiên cứu này cũng chiếm tỉ lệ lần lượt là 31% và 35% tổng số dự án nghiên cứu mà các cơ sở này thực hiện. Nguồn học liệu là tài liệu lý thuyết, phương pháp luận bằng tiếng Anh và tiếng Pháp được sử dụng ngày càng phổ biến.  PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV Hà Nội đồng tình với ý kiến cho rằng các ngành KHXH&NV đang tham gia vào quá trình toàn cầu ngày càng mạnh mẽ thông qua các hợp tác quốc tế, dưới sự hỗ trợ của nhiều quỹ nghiên cứu khoa học. Đồng thời ông thông tin thêm rằng, thực ra các ngành KHXH&NV ở Việt Nam đã tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sớm, chịu sự ảnh hưởng bởi các nền học thuật khác nhau ngay từ đầu thế kỷ XX. Trong thời thuộc địa, KHXH Việt Nam chịu sự ảnh hưởng về lý thuyết, phương pháp nghiên cứu của các học giả Pháp. Sau thời kỳ thuộc địa, học thuật KHXH Việt Nam chịu ảnh hưởng của học thuật Xô viết, tuy nhiên việc áp dụng hệ thống lý thuyết lại không rõ ràng. Mặt khác, ông đặt lại câu hỏi: KHXH&NV Việt Nam nghiên cứu về toàn cầu hóa như thế nào? Trước làn sóng toàn cầu hóa ảnh hưởng rộng khắp từ dân tộc thiểu số đến người đa số, nông thôn đến đô thị… thì ở Việt Nam có nghiên cứu những vấn đề này hay không? Có những đóng góp gì mới? Chúng ta đã thảo luận như thế nào với thế giới? Có thể nói rằng, tuy được/ bị ảnh hưởng sớm bởi toàn cầu hóa, nhưng chúng ta “nghiên cứu về quá trình toàn cầu hóa đó còn rất sơ sài, thậm chí ‘dửng dưng’, còn nhìn thấy các vấn đề của toàn cầu hóa như một nguy cơ bị san bằng, nguy cơ bị mất bản sắc hơn là các cơ hội, cho nên nghiên cứu về toàn cầu hóa gặp khó khăn, và gần như chưa có nhiều thành tựu trong khoa học xã hội”, PGS.TS Nguyễn Văn Chính nhận xét.       WorldSSHnet (World Social Sciences and Humanities Network) đã kết hợp với một số trường đại học trên thế giới tổ chức thảo luận về vấn đề toàn cầu hóa KHXH và KHXH nghiên cứu về toàn cầu hóa như thế nào trong một chuỗi các hội thảo quốc tế những năm gần đây. WorldSSHnet được thành lập từ năm 2010, đặt tại Đức, là một tổ chức quốc tế, chuyên tập trung thúc đẩy nghiên cứu về các vấn đề cơ hội và thách thức đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. WorldSSHnet có các thành viên sáng lập đến từ các cơ quan nghiên cứu khác nhau như ĐH Bremen, Đức, Viện nghiên cứu phát triển Pháp ngữ (IRD), Pháp, Đại học Quốc gia Seul, Hàn Quốc…    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Kịch bản khí nhà kính trong tương lai      Kịch bản Biến đổi khí hậu (BĐKH) là các kết quả dự tính về các biến đổi có thể xảy ra trong các thành phần hệ thống khí hậu dựa trên một số giả định về xã hội tương lai. Dựa trên các dự tính này mà các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách sẽ có những kế hoạch hành động ứng phó tương ứng.      IPCC dự báo, mức tăng trung bình của nhiệt độ ở Tây Phi có thể là 3,3°C, thậm chí tăng 4,7°C ở Bắc Mali vào năm 2100. Nguồn: Samuel TURPIN/Humans & Climate Change Stories.  Kịch bản thường được chú trọng xây dựng cho các giai đoạn tương lai gần (khoảng 20 năm tới), tương lai giữa thế kỷ (giữa những năm 2050) và tương lai xa vào cuối thế kỷ 21.   BĐKH hiện đại có nguyên nhân từ sự thay đổi cán cân bức xạ trong hệ thống khí hậu Trái đất, nghĩa là sự mất cân bằng giữa lượng bức xạ nhận được và lượng bức xạ phát ra từ Trái đất trong một khoảng thời gian xác định. Sự mất cân bằng này còn gọi là cưỡng bức bức xạ. Khi cưỡng bức bức xạ là dương nghĩa là Trái đất đang nóng lên; ngược lại khi cưỡng bức bức xạ là âm thì Trái đất bị lạnh đi. Khoa học đã chứng minh sự thay đổi của nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, trong đó khí CO2 đóng vai trò lớn nhất, làm gia tăng cưỡng bức bức xạ. Nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng từ giá trị khoảng 280 ppm (phần triệu) trong thời kỳ tiền công nghiệp lên tới giá trị xấp xỉ 415 ppm ngày nay do phát thải nhân tạo. Sự gia tăng này, cùng với kết quả từ các hoạt động khác của con người đóng góp đến 1,07ºC vào mức tăng nhiệt độ toàn cầu trên tổng mức tăng là 1,09ºC xác định được giữa thời kỳ 2010–2019 và 1850–1900 (IPCC, 2021).     Như vậy nồng độ khí nhà kính là thành tố trung tâm của bất kỳ đánh giá BĐKH nào, là yếu tố đầu vào cơ bản của các mô hình để dự tính các kịch bản BĐKH trong tương lai. Do đó để đánh giá BĐKH tương lai, đầu tiên cần phải xây dựng được các kịch bản khí nhà kính. Trong khi đó, các kịch bản khí nhà kính được xây dựng theo kèm với các giả định, các tưởng tượng về xã hội tương lai. Nồng độ khí nhà kính, hay lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển phụ thuộc vào các nhân tố như sự phát triển kinh tế, dân số, chính trị, công nghệ hay sử dụng đất. Một số kịch bản khí nhà kính đã được phát triển và sử dụng rộng rãi. Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã phát triển bốn kịch bản SA90 (IPCC Scenario A-D, năm 1990) sử dụng cho Báo cáo đánh giá lần thứ nhất, sau kịch bản IS92 (IPCC Scenarios, 1992) sử dụng trong Báo cáo đánh giá lần thứ ba, các kịch bản Báo cáo đặc biệt về phát thải SRES sử dụng trong Báo cáo đánh giá lần thứ ba và lần thứ tư. Kể từ Báo cáo đánh giá lần thứ năm, IPCC quyết định sử dụng các kịch bản được phát triển bởi cộng đồng nghiên cứu, bao gồm các kịch bản đường nồng độ tiêu biểu RCPs (Representative Concentration Pathways) và các kịch bản kinh tế-xã hội chia sẻ SSPs (Shared Socio-Economic Pathways).     Các kịch bản phát thải khí nhà kính từ SRES về trước được thực hiện dựa trên cách tiếp cận tuần tự. Những kịch bản này đưa ra một phổ giả định rộng lớn về các nhân tố chính tác động đến phát thải trong tương lai như dân số, sự phát triển kinh tế, cấu trúc của hệ thống năng lượng, mức độ thay đổi công nghệ, và thay đổi sử dụng đất; từ đó tính toán lượng phát thải tương ứng. Với cách tiếp cận này, quá trình xây dựng kịch bản và các đánh giá, hoạt động ứng phó theo kèm sẽ bao gồm các bước tuần tự như sau: xây dựng các kịch bản kinh tế xã hội; xây dựng các kịch bản phát thải khí nhà kính trong tương lai; đánh giá các tác động của các kịch bản phát thải này lên hệ thống khí hậu; hay nói một cách khác là thực hiện dự tính BĐKH; triển khai các hoạt động đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, thích ứng, và chiến lược giảm nhẹ BĐKH.       Để có thể tiến tới việc đạt được mục tiêu đề ra trong Thỏa thuận Paris 2015 là giữ cho nhiệt độ toàn cầu vào cuối thế kỷ không tăng quá 2ºC, và tham vọng hơn là không tăng quá 1.5ºC so với thời kỳ tiền công nghiệp, cả thế giới sẽ cần nỗ lực trong việc cắt giảm khí nhà kính một cách toàn diện và ngay lập tức.      Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là việc xây dựng các kịch bản phát thải SRES. SRES gồm một tập 40 kịch bản phản ánh khá đa dạng khả năng phát thải khí nhà kính có thể xảy ra trong thế kỷ 21 và được tổ chức thành bốn họ kịch bản gốc: A1, A2, B1, B2 (Hình 1). Các kịch bản này khác nhau về các viễn cảnh tương lai của các tác nhân phát thải chính như tốc độ tăng dân số, tốc độ phát triển kinh tế, công nghệ, cách thức sử dụng năng lượng, khả năng tương tác văn hóa, xã hội, chính sách, khả năng kết nối vùng miền của các khu vực trên thế giới. Hình 1 minh họa hai xu hướng chính của bốn họ kịch bản: một là sự ưu tiên giữa phát triển kinh tế hay bảo vệ môi trường, hai là xu hướng tăng cường toàn cầu hóa hoặc địa phương hóa. Từ đó có thể nhận được các nhóm kịch bản phát thải cao (A1FI, A2), thấp (A1T, B1) và trung bình (A1B, B2).    Sau khi xác định được các đặc điểm cơ bản của bốn họ kịch bản, các mô hình đánh giá tích hợp sẽ lượng hóa mức độ phát thải chi tiết, từ đó đưa ra được tập hợp gồm 40 kịch bản khác nhau. Chính vì vậy khi nhắc đến các kịch bản phát thải SRES, ta thường thấy chúng được gọi bằng những tên như A1B-MARIA, A2-MESSAGE, …, gồm hai phần chính là các họ kịch bản và mô hình sử dụng để đưa ra kết quả lượng hóa phát thải chi tiết.     Theo thời gian, các kịch bản phát thải khí nhà kính được xây dựng mới nhằm phản ánh những tiến bộ trong các nghiên cứu, những thay đổi trong các chính sách hợp tác phát triển trên thế giới, nhằm tích hợp các số liệu mới cũng như hỗ trợ các phân tích đánh giá và các mô hình khí hậu có mức phức tạp càng ngày càng cao. Với các kịch bản sử dụng từ Báo cáo đánh giá lần thứ năm của IPCC năm 2013, cách tiếp cận song song đã được áp dụng.     Cách tiếp cận song song có ưu điểm là rút ngắn thời gian phát triển và áp dụng các kịch bản mới, đồng thời đảm bảo việc tích hợp tốt hơn giữa các điều kiện kinh tế xã hội tương lai, các biến đổi của hệ thống khí hậu, và tính dễ bị tổn thương của hệ thống tự nhiên và con người. Thay vì bắt đầu với các kịch bản kinh tế xã hội từ đó xây dựng các kịch bản phát thải khí nhà kính, người ta bắt đầu với việc xem xét nồng độ khí nhà kính trong khí quyển. Cách tiếp cận song song được thực hiện như sau: 1. nồng độ khí nhà kính và mức cưỡng bức bức xạ tương lai được mô tả; 2. các mô hình khí hậu toàn cầu dự tính những thay đổi tương lai trong hệ thống khí hậu Trái đất do sự thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển và cưỡng bức bức xạ mô tả ở bước một; 3. các mô hình đánh giá tích hợp nghiên cứu các điều kiện kinh tế xã hội dẫn tới sự thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khi quyển như được mô tả ở bước một; 4. các hoạt động đánh giá tác động, thích ứng, tính dễ bị tổn thương và chiến lược giảm nhẹ.      Hình 1. Cây phát thải minh họa 4 họ kịch bản phát thải SRES (Nakicenovic và ccs., 2000).  Điểm khác biệt là bước hai và bước ba ở trên có thể được tiến hành song song, vì vậy rút ngắn được thời gian một cách đáng kể so với cách tiếp cận tuần tự.     Các kịch bản đường nồng độ tiêu biểu (RCPs) dựa trên việc tổng quan lại toàn diện cưỡng bức bức xạ của các kịch bản khí nhà kính trong quá khứ, với mục tiêu là lựa chọn được các RCPs sẽ có thể đại diện cho phần lớn các kịch bản này về mặt cưỡng bức bức xạ. Kết quả cho thấy cưỡng bức bức xạ từ các kịch bản đã được xây dựng trước đây có thể thay đổi từ các giá trị thấp là 2,5 Wm-2 đến các giá trị cao là giữa 8 Wm-2 và 9 Wm-2 hoặc thậm chí cao hơn. Từ đó 4 RCPs đã được lựa chọn và xác định, bao gồm:    1) RCP2.6: kịch bản giảm nhẹ với giá trị cưỡng bức bức xạ nhỏ và nồng độ khí nhà kính nhỏ vào cuối thế kỷ 21 là 2,6 Wm-2. Theo RCP2.6, mức độ cưỡng bức bức xạ đạt đỉnh xấp xỉ là 3,1 Wm-2 vào giữa thế kỷ 21, sau đó giảm dần về mức 2,6 Wm-2 vào năm 2100. Vì thế cũng có khi RCP2.6 được gọi là RCP3PD (peak decline – đỉnh giảm)    2) RCP4.5: kịch bản ổn định trung bình thấp với cưỡng bức bức xạ không vượt quá 4,5 Wm-2  và ổn định sau năm 2100.     3) RCP6: kịch bản ổn định trung bình cao với cưỡng bức bức xạ không vượt quá 6 Wm-2  và ổn định sau năm 2100.     4) RCP8.5: kịch bản cao với mức tăng của cưỡng bức bức xạ lên tới 8,5 Wm-2 vào năm 2100.      Việc sử dụng thuật ngữ “nồng độ” trong RCPs thay thế cho “phát thải” trong SRES cũng nhằm nhấn mạnh đến nồng độ được sử dụng như là sản phẩm chính của các RCPs, được xác định như là đầu vào của các mô hình khí hậu. Trong các RCPs, cưỡng bức bức xạ được đưa ra cho đến cuối thế kỷ XXI, còn giai đoạn hậu 2100 thì được gọi là giai đoạn mở rộng, mô tả bởi các ECPs (Extended Concentration Pathways).     Báo cáo đánh giá mới nhất của IPCC (IPCC, 2021) dựa trên các kết quả từ các kịch bản RCPs và các kịch bản kinh tế xã hội chia sẻ SSPs mới được xây dựng. Có năm họ kịch bản SSPs được dùng chủ yếu theo kèm với các giả định kinh tế xã hội tương ứng được phát triển, tương ứng gọi là SSP1-1.9, SSP1-2.6, SSP2-4.5, SSP3-7.0, SSP5-8.5. Con số phía trước chỉ đặc điểm kịch bản kinh tế xã hội, các con số phía sau tương ứng chỉ mức cưỡng bức bức xạ vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ tiền công nghiệp. Với SSPs, đã xuất hiện mức cưỡng bức bức xạ 1.9 W/m2 (trong SSP1-1.9), thấp hơn so với mức thấp nhất của RCPs. SSP3-7.0 và SSP5-8.5 là các kịch bản với phát thải cao và rất cao các khí nhà kính, với lượng phát thải CO2 gần như gấp đôi mức hiện tại tương ứng vào năm 2100 và 2050. Các kịch bản phát thải trung bình SSP2-4.5 với phát thải CO2 được giữ ở mức như hiện tại cho tới giữa thế kỷ. Các kịch bản phát thải rất thấp SSP1-1.9 và phát thải thấp SSP1-2.6 với sự phát thải CO2 giảm dần đến mức phát thải ròng bằng 0 (net-zero) vào xung quanh hoặc sau năm 2050, sau đó có các mức độ phát thải ròng đạt giá trị âm khác nhau. Lưu ý, mức phải thải ròng bằng 0 là khi lượng phát thải do con người đưa vào khí quyển bằng với lượng khí thải được hấp thu nhân tạo khỏi khí quyển.     Kết quả đánh giá sự hồi đáp của khí hậu cho thấy một bức tranh tương lai khá khác biệt với các kịch bản SSPs khác nhau. Nhiệt độ toàn cầu thời kỳ 2081–2100 được dự tính tăng so với thời kỳ 1850–1900 trung bình là 1.4ºC theo kịch bản phát thải khí nhà kính rất thấp SSP1-1.9, 1.8ºC theo kịch bản phát thải thấp SSP1-2.6, 2.7ºC theo kịch bản trung bình SSP2-4.5, 3.6ºC theo kịch bản SSP3-7.0, và 4.4ºC theo kịch bản phát thải rất cao SSP5-8.5.     Như vậy để có thể tiến tới việc đạt được mục tiêu đề ra trong Thỏa thuận Paris 2015 là giữ cho nhiệt độ toàn cầu vào cuối thế kỷ không tăng quá 2ºC, và tham vọng hơn là không tăng quá 1.5ºC so với thời kỳ tiền công nghiệp, cả thế giới sẽ cần nỗ lực trong việc cắt giảm khí nhà kính một cách toàn diện và ngay lập tức. Các kịch bản SSP1-1.9 và SSP1-2.6 minh họa một bức tranh rõ nét về con đường có thể thực hiện để đạt được mục tiêu. Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP26) vừa được tổ chức tại Glasgow, vương quốc Anh đã nhận được nhiều cam kết mạnh mẽ từ nhiều quốc gia. Đã có nhiều nước đưa ra tuyên bố ủng hộ mục tiêu đưa mức phát thải ròng về 0 vào năm 2050. Chúng ta cùng kỳ vọng các quốc gia, các tổ chức, các nhân, bao gồm cả chúng ta, bên cạnh các cam kết, sẽ có được các giải pháp và kế hoạch cụ thể để thực hiện thành công các cam kết này …     Tài liệu tham khảo  IPCC, 2021: Summary for Policymakers. In: Climate Change 2021: The Physical Science Basis. Contribution of Working Group I to the Sixth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Masson- Delmotte, V., P. Zhai, A. Pirani, S. L. Connors, C. Péan, S. Berger, N. Caud, Y. Chen, L. Goldfarb, M. I. Gomis, M. Huang, K. Leitzell, E. Lonnoy, J. B. R. Matthews, T. K. Maycock, T. Waterfield, O. Yelekçi, R. Yu and B. Zhou (eds.)]. Cambridge University Press. In Press.   Meinshausen, M., Smith, S. J., Calvin, K., Daniel, J. S., Kainuma, M. L. T., Lamarque, J., Matsumoto, K., Montzka, S. A., Raper, S. C. B., Riahi, K., Thomson, A., Velders, G. J. M., & van Vuuren, D. P. P. (2011). The RCP greenhouse gas concentrations and their extensions from 1765 to 2300. Climatic Change. https://doi.org/10.1007/s10584-011-0156-z  Nakicenovic, N., Swart, R., & Cambridge University Press  U.K., C. (2000). Special Report on Emissions Scenarios: A Special Report of Working Group III of the Intergovernmental Panel on Climate Change. http://www.grida.no/climate/ipcc/emission/index.htm    Author                Ngô Đức Thành        
__label__tiasang Kiểm điểm việc để mất liên tiếp các nguồn phóng xạ      Sau sự cố mất nguồn phóng xạ ngày tại công ty xi măng Sông Đà Hoà Bình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ KH&amp;CN làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ về việc để xảy ra liên tiếp các sự cố trên.    Thủ tướng yêu cầu Bộ chủ động thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ để không tái diễn sự cố mất nguồn phóng xạ. Bộ cần khẩn trương chủ trì, phối hợp với cơ quan công an tăng cường công tác tìm kiếm nguồn phóng xạ bị mất; chỉ đạo kiểm điểm và xử lý nghiêm thủ trưởng các đơn vị và cá nhân để mất nguồn phóng xạ.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm soát chi cho Khoa học-Công nghệ      Nhà nước không nên và cũng không bao giờ nên làm cái việc kiểm soát cán bộ khoa học (thật sự) chi tiêu cho hoạt động khoa học theo kiểu coi họ là đối tượng kiếm tiền. Cả thế giới này không ai làm như vậy, dù biết rằng đối tượng kiếm tiền bất chính trong khoa học không phải là hiếm.    Vì hiện nay nguồn chi cho KHCN chủ yếu đã, đang và sẽ là từ ngân sách, cho nên việc tuân thủ luật ngân sách là bắt buộc, không phải chỉ riêng của nước ta mà nước nào cũng phải có luật như thế, thậm chí còn chặt chẽ hơn. Năm 1987 tôi được mời trình bày Seminar khoa học, 45 phút, ở Đại học New York (CUNY-City University New York). Nhà trường cho tôi biêt họ trả cho tôi 200$ thù lao tiền chính thức lấy từ quỹ ngân sách (budget) của trường nhận từ nhà nước. Một tháng sau, khi về đến Hà Nội tôi mới nhận đựợc check của kho bạc Mỹ ở Albany (thủ phủ bang New York) gửi về Hà Nội cho tôi. Việc này sau này hỏi lại tôi mới biết rằng khi trả tiền chính thức từ ngân sách (budget) của trường nhận từ nhà nước họ chỉ làm giấy tờ, còn mọi thanh toán đều do kho bạc làm, không trả tiền mặt trực tiếp (tôi còn lưu giữ lại tài liệu này). Tôi cũng đã nhiều lần làm việc lâu ở Mỹ tại Đại học Minessota, Phòng thí nghiệm quốc gia Argone (Chicago)… và lúc này thì lại được trả tiền mặt trực tiếp rất đơn giản, không có gì hơn ngoài một chữ ký. Tiền này cũng là tiền công quỹ cấp, nhưng không phải là trực tiếp từ quỹ ngân sách (budget) , mà là từ các chương trình, quỹ nghiên cứu khoa học cấp theo công việc, trực tiếp cho nhà khoa học chủ trì. Chương trình của nhà khoa học này mời tôi cộng tác, họ toàn quyền trong khuôn khổ pháp luật về chi tiêu này, không phải thông qua một tổ chức nào cả. Việc chi tiêu rất đơn giản và do nhà khoa học được cấp tiền tự quyết định. Ở một quốc gia có mức độ quản lý rất chặt chẽ và khoa học như nước Đức, nơi tôi đã từng sống và làm việc hàng chục năm, tôi cũng chứng kiến việc quản lý chi khoa học cũng có hai kiểu tương tự như vậy, có điều là chi tiết hơn Mỹ. Ví dụ họ quy định khi dự trù kinh phí khoa học thì chi khách sạn lưu trú ở nước ngoài phải theo bảng phân loại, ví dụ Việt Nam thuộc bảng đắt đỏ loại 1, như ở Nhật, nếu tôi nhớ không nhầm là khoảng 150Eur/đêm vào năm 2002 khi tôi làm một dự án xin quỹ DFG (quỹ nhà nước) tài trợ. Còn cách chi tiêu nếu đã nằm trong chuẩn như vậy thì hoàn toàn do nhà khoa học tự quyết định, chữ ký của họ là đủ , kể cả check, không cần cơ quan nào cả.         Xu hướng quản lý là phải do nhà khoa học chịu trách nhiệm, cơ quan chủ quản được giao trách nhiệm phục vụ nhà khoa học làm việc, không phải để “hành” nhà khoa học dưới danh nghĩa giám sát.          Nói chung  việc chi cho KHCN ở ta (và cả trên thế giới cũng vậy) có thể phân loại như sau:  1) Chi cho tổ chức KHCN (Bộ, ngành, Viện Nghiên cứu, Đại học, Địa phương, phòng thí nghiệm trọng điểm…)  2) Chi cho việc thực hiện nhiệm vụ KHCN (ví dụ: Chương trình KHCN trọng điểm…)  3) Chi cho việc hỗ trợ KHCN (ví dụ: Chương trình hỗ trợ KH cơ bản, Dự án hỗ trợ sản xuất thử nghiệm…)  Trong 3 mục chi đó, mục 2) và 3) là chi cho nhà khoa học trực tiếp làm ra của cải vật chất và trí tuệ. Loại hình chi này (gọi tắt là loại B) đòi hỏi phải có cá nhân chịu trách nhiệm và có kết quả sản phẩm (vô hình và hữu hình) hoàn trả. Nói chung là khó hoàn thành, khó thanh quyết toán đẹp nhưng nhà quản lý lại dễ kiểm soát. Mục chi số 1) là loại hình chi chung (gọi tắt là loại A), rất lớn và cần thiết nhưng lại không gắn trách nhiệm cá nhân và không có sản phẩm hoàn trả bắt buộc. Nói chung là rất dễ hoàn thành, dễ thanh quyết toán đẹp và nhà quản lý không thể kiểm soát được.  Giá như thống kê được trong số 2% ngân sách (~260 triệu$) hàng năm dành cho KHCN tỷ lệ này cho 2 loại  như thế nào thì sẽ ước lượng được phần nào hiệu quả vĩ mô chi cho KHCN. Nhưng vì không có, nên với góc độ người làm khoa học trực tiếp, tôi chỉ nêu vài ví dụ để minh họa.  Đầu tiên là ví dụ loại hình B. GS.TSKH Vũ đình Cự, Chủ nhiệm chương trình trọng điểm KC01 cho biết (nguồn: Tia sáng số 9/ 5/2006): Trong 5 năm chương trình được chi 50 tỷ cho 30 đề tài và dự án (vay) khoa học, chọn lựa theo đấu thầu công khai, số cán bộ khoa học chủ chốt tham gia là 300, không tính số có tham gia nhưng không được đăng ký. Tính ra chi trung bình cho mỗi cán bộ khoa học chủ chốt là 33,3 triệu/năm bao gồm cả nhà xưởng, nguyên liệu, thiết bị, công lao động, quản lý phí và “tiêu cực phí”. Số tiền bồi dưỡng thực sự đến tay người làm khoa học, giỏi biến tấu lắm cũng không quá 20%, tức 6,6 triệu/năm hay 550.000VND/tháng. Đây đã là con số rất lý tưởng rồi! Tôi đã trực tiếp kiểm tra một đề tài mà tôi từng là chủ tịch Hội đồng tuyển chọn (Đề tài KC02.12) thì thấy được chi 2,4 tỷ với số người tham gia là 83, tham gia từ năm 2001, đến 2006 vẫn chưa được nghiệm thu. Tính ra cũng với tỷ lệ như trên mỗi cán bộ khoa học nếu được thù lao tối đa không quá 100.000VND/tháng. Bây giờ lại ngồi ở Hội đồng nghiệm thu đề tài này, tôi đang  tự hỏi phải bỏ phiếu sao đây? Làm sao mà họ có thể giao nộp kết quả chính xác với trình độ khoa học cao, thậm chí trình độ quốc tế theo yêu cầu nghiệm thu với một cái giá như vậy? Nhưng không lẽ lại phủ định công lao động chất lượng cao (nhưng rẻ quá) của họ! Đây là nói về thí dụ loại hình B.  Cũng theo GS.TSKH Vũ Đình Cự, một phòng thí nghiệm trọng điểm cũng được chi không dưới 50 tỷ. Đây là loại hình A, chỉ dành cho vài người được quyền chi trong một thời gian ngắn và hầu như không chịu trách nhiệm gì, vì nhiệm vụ chỉ là mua máy (tốt xấu tùy ý, càng đắt càng tốt), xây dựng cơ bản  (cũng tùy), nghiệm thu thanh toán và bàn giao cho ai đó sử dụng. Sử dụng được hay không, làm ra được sản phẩm gì  thì khỏi bàn, không ai bắt tội cả. Hai bên đều có thể đổ tội cho nhau. Hình như nước ta có đến 15-20 phòng thí nghiệm trọng điểm và có khoảng 12-15 chương trình trọng điểm thì phải.  Tôi có thể cam đoan rằng nếu kiểm tra thanh quyết toán thì chương trình của GS.Vũ Đình Cự sẽ không thể nào đẹp bằng bảng thanh quyết toán của một phòng thí nghiệm trọng điểm bất kỳ nào. Còn hiệu quả của đầu tư thì chắc chắn là ngược lại.  Lại lấy thí dụ Viện KHCN Việt Nam nơi tôi công tác, năm 2006 có tổng kinh phí ngân sách là 275 tỷ, một con số không nhỏ. Nếu biết được tỷ lệ loại hình A và B thì có thể ước đoán được hiệu quả ngay. Tôi chắc rằng con số này ở nhiều bộ, ban, ngành, địa phương cũng tương tự như vậy, và nếu chúng ta không phân loại ra được thì sẽ là một sự tù mù, oan ức cho cán bộ KHCN, nói rằng được đầu tư nhiều nhưng hiệu quả ít. Theo trải nghiệm bản thân, tôi trộm nghĩ rằng, số chi thực sự cho người làm việc (loại B) chắc không quá 15%. Có lần tôi hỏi một phòng thí nghiệm máy tính mới được đầu tư của một trường đại học ở ngay Hà Nội. Người lãnh đạo phòng thí nghiệm cũng không được biết là giá bao nhiêu. Không ai cho họ cái quyền được biết đó. Họ, những người làm khoa học chỉ được nhận cái người ta mua cho, còn mua như thế nào, ai mua, mua ở đâu thì đó không phải là chỗ để người chịu trách nhiệm sử dụng và khai thác tham dự vào!  Bộ KH&CN có nhiều chủ trương cách mạng, nhà nước hết lòng dành dụm đầu tư cho KHCN, nhưng cung cách thực hiện 90% các đầu tư cho KHCN ở cơ sở hiện nay là như vậy. Phép vua thua lệ Viện! Tôi đã từng làm Viện trưởng, từng làm nhà khoa học chủ trì đề tài, tôi đã từng  vùng vẫy và trả giá để cố thoát ra…. nên hiểu và thông cảm vô cùng với những nhà khoa học tâm huyết, không chút quyền lực trong tay. Tất cả tùy thuộc vào con dấu và chữ ký của ông viện trưởng và tâm trạng của cô kế toán. Mấy ai mà biết được, ngày nay có bao nhiêu viện trưởng là nhà khoa học có tâm huyết, nếu như cơ chế bổ nhiệm buộc ai muốn làm viện trưởng phải tìm cách mua phiếu, từ phiếu cấp trên đến đồng nghiệp rồi đến cả phiếu của chị lao công trong biên chế, của những người (nhiều lắm) ăn lương nhưng không một ngày đến viện làm việc mà vẫn quyết được việc đại sự trong khoa học! Một cơ chế tổ chức khoa học thực sự  không thể tin nổi. Với những nhà lãnh đạo cỡ viện trưởng do cơ chế đẻ ra như vậy, nhà khoa học thực sự vừa là con tin và mồi nhử của nhà lãnh đạo đối với cấp trên, vừa là con cưng đồng thời là nạn nhân và kẻ tội đồ của công chúng!  Theo tôi nghĩ, những cải cách hiện nay như tuyển chọn công khai chủ trì các đề tài khoa học trọng điểm là xu hướng tốt, đó là cách đầu tư trực tiếp cho nhiệm vụ khoa học. Tỷ lệ này cần tăng thêm và xu hướng quản lý là phải do nhà khoa học chịu trách nhiệm, cơ quan chủ quản được giao trách nhiệm phục vụ nhà khoa học làm việc, không phải để “hành” nhà khoa học dưới danh nghĩa giám sát. Thủ tục tài chính phải thông thoáng, tài khoản phải do người chịu trách nhiệm đề tài làm chủ. Như vậy sẽ rất tiết kiệm và tránh tiêu cực phí. Vấn đề là phải chọn người làm khoa học đáng tin cậy, làm khoa học thật. Uy tín khoa học, tài năng thực sự và phẩm chất cá nhân của nhà khoa học  là tiêu chí để đầu tư. Không được lấy chức danh quản lý để làm cai đầu dài khoa học. Tất nhiên cần tránh lặp lại việc chia nhỏ một đề tài cỡ 2,4 tỷ như KC02.12, lẽ ra chỉ dành cho không quá 10 nhà khoa học, lại phải chia ra cho đến gần 100 người để tồn tại ! (Nhưng cũng nên thông cảm, đó là vấn đề bất khả kháng của quá khứ.)  Cần phải giảm bớt loại hình đầu tư chung chung (loại hình A), và tăng cường quản lý chặt chẽ loại hình này vì đây là số rất lớn và kênh thất thoát hợp pháp là rất rộng. Ở đây, Luật ngân sách phải không được có kẽ hở, phải chặt chẽ giống như việc kho bạc Mỹ trả thù lao cho tôi như nói ở trên.  Một cải tiến khác nữa nên nghĩ đến là cần phải đồng nhất đầu tư loại hình A với người hoặc tập thể chịu trách nhiệm khai thác và sử dụng. Phải gắn loại hình A với trách nhiệm hoàn trả (bằng kết quả), kể cả việc xây dựng cơ bản, thì mới có cơ hội tăng được hiệu suất và trách nhiệm đầu tư.  Thay cho việc chi cho nhiều tổ chức KHCN như hiện nay, nên chăng hãy chi thông qua các quỹ quốc gia về KHCN một cách chuyên nghiệp, giống như quỹ NSF của Mỹ, Quỹ DFG của Đức.  Mỗi một việc chi cho loại hình A, bao gồm cả xây dựng cơ sở vật chất, cần phải nhắm đến một kết quả cụ thể và một nhóm nhà khoa học tài năng thực hiện, coi đây là sự đầu tư phát triển cưỡng bức của nhà nước và đều cần được thảo luận chi tiết (trừ vấn đề mật) về chuyên môn trước khi khởi sự. Nước Mỹ lớn như vậy mà cũng chỉ có không quá 33 tổ chức khoa học công nghệ quốc gia.  Giả sử như việc chi cho KHCN theo loại B tăng lên, tức là chi trực tiếp cho nhiệm vụ KHCN tăng lên, thì sẽ dẫn tới vai trò và trách nhiệm của nhà khoa học được nâng cao. Dù cho có đạt được như vậy thật thì tôi vẫn nghĩ lúc đó nhà nước không nên và cũng không bao giờ nên làm cái việc kiểm soát cán bộ khoa học (thật sự) chi tiêu cho hoạt động khoa học theo kiểu coi họ là đối tượng kiếm tiền. Cả thế giới này không ai làm như vậy, dù biết rằng đối tượng kiếm tiền bất chính trong khoa học không phải là hiếm. Các nhà quản lý của chúng ta hiện nay chắc là không thể đồng tình với quan điểm này, nhưng lâu dài tôi chắc là họ sẽ đồng tình vì như thế cái lợi lớn hơn cái mất rất nhiều.  Một nhà thông thái đã nói rằng có tiền thì có thể mua được sách nhưng vẫn không mua được trí tuệ!  GS Trần Xuân Hoài      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm soát xã hội đối với các chuẩn mực trong hoạt động khoa học      Hiện tượng lệch chuẩn “đạo đức” đang là vấn đề nhức nhối trong khoa học ở nước ta. Việc đưa ra các chế tài nhằm hạn chế lệch chuẩn góp phần làm trong sạch môi trường hoạt động khoa học là hết sức cần thiết.    1.      Lý do nào dẫn đến sự xuất hiện những chuẩn mực  Trong các cộng đồng xã hội đang cùng chung sống trên hành tinh, cộng đồng khoa học có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất. Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá bằng lao động trí tuệ, cũng sống bằng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại nhữg sản phẩm tinh thần bất diệt của lao động trí tuệ. Có thể nói, cộng đồng khoa học là một cộng đồng elit của xã hội. Vì vậy, cộng đồng này luôn chiếm giữ những vị trí ưu ái của nhân loại. Họ được trân trọng, được tôn vinh.  Tuy nhiên, cũng chính vì vai trò của đặc biệt này mà cộng đồng khoa học luôn gặp nhiều bi kịch:  –        Trước hết, những khám phá mới mẻ của họ luôn dẫn đến sự “phá cách” những chuẩn mực của xã hội, từ những chuẩn mực tư duy truyền thống, .. đến những phong tục, tập quán; từ những chuẩn mực pháp luật và đạo đức, .. đến những tín điều tôn giáo, và nhất là, những tư tưởng chính trị. Chính vì thế mà bên cạnh sự ưu ái của xã hội, họ luôn bị kỳ thị, thậm chí, chống đối bởi hàng loạt truyền thống xã hội, từ truyền thống văn hóa đến tôn giáo và chính trị.  –        Thứ hai, trong nội bộ cộng đồng này cũng luôn có sự phân hóa với những động cơ thôi thúc, một số người có xu hướng vượt trội lên tầng trên của elit, kéo theo ý chí nỗ lực của toàn cộng đồng; còn một số người khác thăng tiến chậm trễ hơn; một số người khác nữa thì không theo được với dòng chảy chung, bị tụt xuống hàng dưới của cộng đồng, thậm chí, bị đẩy ra ngoài nhóm elit. Trong những người “lo” bị đẩy tụt xuống hàng dưới, thậm chí bị đẩy ra ngoài nhóm elit, có những người đã tìm cách gian lận hoặc ăn cắp công trình của người khác để “đánh bóng” cho mình, hoặc để níu kéo vị trí elit đang tụt dần vào trong quên lãng.  Lịch sử khoa học đã chứng tỏ, hai hiện tượng trên đây trong xã hội nào cũng có, chỉ khác nhau về mức độ nghiêm trọng: Ở mức độ nhẹ thì người ta dè bỉu, che bai, định kiến; ở mức độ năng hơn thì người ta phê phán, lên án, thậm chí đưa lên giàn thiêu như Giáo hội đã xử với Gallileo; nặng hơn nữa thì người ta đàn áp, thậm chí bỏ tù, xử bắn cả một trường phái khoa học, gồm nhiều ngàn nhà sinh học thuộc trường phái Mendel-Morgan ở Liên Xô suốt hai thập niên 1930-1940.  Chính vì lịch sử đau buồn đó của khoa học, đã làm xuất hiện đòi hỏi phải đưa ra những chuẩn mực để vừa bảo vệ cộng đồng elit này, vừa tránh cho thành viên của cộng đồng này rơi vào những sai lệch chuẩn mực theo hướng tiêu cực. Những chuẩn mực này trước hết là cơ sở cho khung mẫu ứng xử chung của cộng đồng khoa học, nhưng cũng làm cơ sở cho việc hình thành những khung mẫu ứng xử của xã hội đối với cộng đồng khoa học.  2.      Các chuẩn mực trong hoạt động khoa học  Chuẩn mực là khái niệm của xã hội học. Đó là tập hợp những mong đợi, yêu cầu, quy tắc đối với hành vi của các thành viên trong xã hội. Chuẩn mực quy định cho mỗi thành viên những việc nào nên làm, không nên làm và cần xử sự như thế nào cho đúng trong mỗi tình huống xã hội.  Ngoài những chuẩn mực chung mang tính toàn xã hội, mỗi nhóm xã hội có những chuẩn mực riêng biệt. Cộng đồng những người làm khoa học, với tư cách là một nhóm xã hội, cũng có những chuẩn mực riêng biệt. Robert K. Merton, một nhà xã hội học người Mỹ, năm 1942 đã khái quát hoá thành bốn chuẩn mực, sau này được bổ sung thành 5 chuẩn mực như sau:  1) Chuẩn mực thứ nhất: Tính cộng đồng: Tri thức khoa học trong thời đại chúng ta là một loại sản phẩm vừa mang tính cá nhân rất cao, song lại là sự kế thừa những của nỗ lực cả một tập thể. Chuẩn mực này quy định rằng tri thức phải được chia sẻ, chứ không phải bị giữ bí mật hoặc giữ làm tài sản của riêng mình. Và vì vậy, nó phải được công bô, hoặc nói một cách hình ảnh, như cách nói của Zuckerman, đó là “biếu không” chúng cho các đồng nghiệp. Đó là biện pháp để làm cho mục tiêu của một nhóm trùng hợp với mục tiêu cá nhân; nghĩa là các nhà khoa học bị “bắt buộc” phải công bố công trình của họ.    2) Chuẩn mực thứ hai: Tính phổ biến. Chuẩn mực này xem rằng đóng góp khoa học phải được phán xét theo những tiêu chuẩn khách quan. Các thuộc tính xã hội của những người có công đóng góp, bất kể họ là ai, bất kể thuộc chính kiến nào; thuộc sắc tộc hoặc tôn giáo nào; có xuất thân giai cấp hoặc giới tính như thế nào đều không quyết định sự phán xét khoa học của họ. Chuẩn mực về tính phổ biến đòi hỏi, chỉ những khám phá đã được kiểm chứng bởi các luận cứ khoa học, có thể lặp lại trong quan sát hoặc thực nghiệm, chứ không phải là những khám phá ngẫu nhiên, tuỳ hứng, mới được xem là một kết quả khoa học.  3) Chuẩn mực thứ ba: Tính không thiên kiến. Không thiên kiến là một chuẩn mực đặc biệt thú vị trong khoa học. Mọi kết luận trong quan sát hoặc thực nghiệm khoa học cần được kiềm chế những thiên vị cá nhân, bao hàm sự kiểm soát của thiết chế đối với những động cơ làm khoa học nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức.  4) Chuẩn mực thứ tư: Tính độc đáo (originality). Chuẩn mực này quy định, khoa học phải có tính mới, không thể giầm chân trên những đường mòn.  5) Chuẩn mực thứ năm: Tính hoài nghi (skepticism). Chuẩn mực này được xem là “sứ mạng cả về mặt phương pháp luận và về mặt thiết chế”. Nó yêu cầu những người làm khoa học không được đưa ra kết luận vội vã, nó đòi hỏi phải “trì hoãn sự phán xét” cho đến khi có đầy đủ bằng chứng cần thiết. Chuẩn mực này đòi hỏi người làm khoa học phải biết đặt câu hỏi ngược lại với những lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng sơ bộ bằng quan sát hoặc thực nghiệm.  Bốn chuẩn mực trên đây đã được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu nói chung, và giới nghiên cứu xã hội học khoa học nói riêng.  3.      Các hành vi lệch chuẩn trong hoạt động khoa học  Có nhiều kiểu sai lệch chuẩn mực (gọi tắt là lệch chuẩn). Người làm khoa học có thể lệch chuẩn do vô tình hoặc cố ý, cũng có thể do trình độ của phương tiện và phương pháp nghiên cứu. Có bốn loại lệch chuẩn sau:    1) Lệch chuẩn nhận thức. Có hai ý nghĩa: (1) Loại lệch chuẩn phát sinh thiếu kiến thức, thiếu thông tin; (2) Loại lệch chuẩn xuất phát từ những nhận thức hoặc hành động khác với nhận thức được thời của khoa học, chẳng hạn, mô hình vũ trụ của Copernicus khác với mô hình vũ trụ của Ptolêmê đã được giới khoa học công nhận hồi trước thế kỷ XV.    2) Lệch chuẩn kỹ thuật. Là loại lệch chuẩn do phương pháp tiếp cận, trình độ phân tích, trình độ của phương tiện, thiết bị kỹ thuật. Dạng lệch chuẩn này cũng có hai loại: (1) Người nghiên cứu sai phạm ngẫu nhiên về phương pháp; (2) Người nghiên cứu gặp hạn chế về phương tiện và phương pháp..  3) Lệch chuẩn xã hội. Là loại lệch chuẩn do: (1) Hạn chế lịch sử trong điều kiện xã hội mà nhà nghiên cứu hoạt động. Hạn chế lịch sử dẫn đến những thiết chế khiến cho những kết luận khoa học bị sai lệch theo định kiến xã hội. Chẳng hạn, những nghiên cứu về tổ chức hệ thống kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ kinh tế chỉ huy không được vượt khỏi quan niệm về tổ chức sản xuất nông nghiệp của giai đoạn lịch sử đó, ví dụ, không “được phép” trao đổi sản phẩm trên thị trường; (2) Lệch chuẩn xã hội cũng có thể do sức ép của các quyền lực xã hội đưa lại. Chẳng hạn, vũ trụ quan của giáo hội không cho phép truyền bá quan điểm nhật tâm của Copernic.    4) Lệch chuẩn đạo đức. Là loại lệch chuẩn cố ý, với những toan tính tranh giành tối đa những lợi thế không chính đáng trước đồng nghiệp.  Mỗi kết luận sai lệch về khoa học có thể xuất hiện chỉ do một dạng lệch chuẩn, song có những kết luận sai lệch xuất hiện là do một số dạng lệch chuẩn, chẳng hạn, vừa lệch chuẩn kỹ thuật, vừa lệch chuẩn nhận thức, và có cả lệch chuẩn đạo đức và lệch chuẩn xã hội.  Lệch chuẩn nào cũng có thể dẫn đến những thiệt hại ở các mức độ rất khác nhau, và do vậy, dạng lệch chuẩn nào cũng có mức độ có thể lượng thứ hoặc không thể lượng thứ. Chẳng hạn, chúng ta quay trở lại mô hình của Ptôlêmê về vũ trụ, với Trái Đất là trung tâm, còn mặt trời và các vì sao khác quay xung quanh Trái Đất. Sau này, khi mô hình Copernic được thừa nhận, thì mô hình Ptôlêmê bị xem là một dạng lệch chuẩn nhận thức, đồng thời cũng có thể xem là một dạng lệch chuẩn kỹ thuật. Trường hợp này, có thể xem là loại lệch chuẩn có thể lượng thứ. Nhưng sau này, đến lượt Giáo hội chống Copernic, rồi chống Galilêô, thì từ lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật của Ptôlêmê, đã chuyển sang lệch chuẩn xã hội của Giáo hội. Rõ ràng, lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật là có thể lượng thứ, còn lệch chuẩn xã hội của Giáo hội, dẫn đến đàn áp tư tưởng và đàn áp thể xác nhà khoa học lại trở nên một hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.[1]  4.      Vài dạng lệch chuẩn điển hình  Điều được các nhà xã hội học khoa học quan tâm và thảo luận khá sôi động, là hai dạng lệch chuẩn điển hình: gian lận và ăn cắp. Mặc dầu có nhiều quan điểm và mức độ phán xét khác nhau về nguyên nhân và hậu quả của các dạng lệch chuẩn này, nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng, cả gian lận và ăn cắp đều là những hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.  Chẳng hạn, nhà miễn dịch học Peter Medawat (1976) xem các hành vi “ăn cắp và gian lận là những thứ đáng ghê tởm nhất“; nhà sinh học phân tử Salvadore Luria thì xem đó là “sự bê bối” mang “ý nghĩa  xúc phạm” (1975); còn nhà y học Robert Peteredorf thì cho đó là điều “chướng tai gai mắt” nhất (1986); đối với nhà sinh hoá Daniel Koshland thì đó là điều ‘không thể tha thứ được” (1987). Trên quan điểm của xã hội học khoa học, Zuckerman cho rằng, “gian lận và ăn cắp đã huỷ hoại niềm tin vào cộng đồng khoa học. Đó là niềm tin vốn rất chính đáng rằng, những gì mà các nhà khoa học nói, là chân lý tin cậy nhất“.  Vậy các dạng lệch chuẩn gian lận và ăn cắp cần được hiểu như thế nào?  Thứ nhất, gian lận trong hoạt động khoa học. Gian lận là sự cố ý lừa dối, thể hiện dưới ba hình thức:  (1) Giả mạo, tức là bịa đặt dữ kiện để đạt được một thành tích khoa học, nhằm giành lợi thế trong cộng đồng khoa học. Hậu quả hoàn toàn có thể đưa ra một bức tranh sai lệch về đối tượng nghiên cứu. Thật ra, người có hành vi vi phạm trong trường hợp này, không nhằm vào mục đích đưa ra bức tranh sai lệch, mà nhằm mục đích chủ yếu là giành lợi thế và những phần thưởng cho cá nhân. Với sự giả mạo này, đương sự đã làm cho cộng đồng hiểu và đánh giá sai về đương sự, rằng anh ta đã có một thành tích khoa học. Hậu quả là cộng đồng được nhận những thông tin sai lệch. Ví dụ, có một nhà địa chất, muốn chứng minh một quan điểm địa chất sai lệch của mình, đã cố ý ném một số cổ sinh vật hoá thạch vào khu vực được chọn làm đối tượng nghiên cứu, rồi đương sự đã đưa ra một báo cáo sai lệch về khu vực này.  (2) Xuyên tạc, tức làm biến dạng dữ kiện, để mô tả bức tranh khoa học theo ý muốn chủ quan của mình. Xét cả về hai phương diện, hậu quả xã hội và thực thể tri thức khoa học, loại hành vi lệch chuẩn này có thể đánh giá mức độ nghiêm trọng không kém gì hành vi giả mạo. Nếu như sự giả mạo thể hiện thái độ vô trách nhiệm trước thực thể tri thức khoa học, thì hành vi xuyên tạc thể hiện thái độ cố ý làm sai lệch khách thể theo một ý đồ không lành mạnh từ phía chủ quan của đương sự.  (3) Nhào nặn, tức “mông má” dữ kiện, nhằm vào việc tô hồng hoặc bôi đen sự kiện theo ý muốn chủ quan, thậm chí làm đảo ngược bức tranh khoa học về đối tượng nghiên cứu. Nhào nặn dữ kiện cũng dẫn tới sự huỷ hoại thực thể tri thức khoa học theo một định hướng chủ quan của đương sự.  Thứ hai, ăn cắp cũng là một hành vi cố ý lừa dối trong khoa học. Người có hành vi lệch chuẩn này mang động cơ chiếm đoạt cái mà họ không có, với tham vọng được cộng đồng thừa nhận một nấc thang khoa học mà họ hoàn toàn không xứng đáng.  Tuy cộng đồng nghiên cứu, và đặc biệt là các nhà xã hội học khoa học, thống nhất nhận thức rằng, cả hai hành vi lệch chuẩn – gian lận và ăn cắp, đều là những lệch chuẩn không thể lượng thứ, nhưng họ cũng chỉ ra rằng, ăn cắp tuy là một hành vi phi đạo đức; nhưng nó chỉ gây ra sự bất công, chứ không làm biến dạng và huỷ hoại thực thể tri thức khoa học. Còn hành vi gian lận, tuy không ăn cắp của ai, nhưng nó lại dẫn đến một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, là cung cấp một bức tranh sai lệch về thực thể nhận thức.  Cộng đồng khoa học cho rằng, cả hai tội này đều phải bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc, theo Zuckerman, “cần phải trừng phạt nghiêm khắc đến mức độ phải dẫn đến phá hoại toàn bộ sự nghiệp của đương sự.”  Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể thuộc loại gian lận, và cũng có thể thuộc loại ăn cắp. Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta đang là một hiện tượng nhức nhối. Thực tiễn cho thấy nhiều kiểu vi phạm:  ·        Sao chép hoặc lấy toàn bộ công trình của đồng nghiệp và ghi tên mình thay vì ghi trích dẫn tên đồng nghiệp. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.  ·        Dịch tài liệu, thậm chí dịch sách, rồi ghi tên mình là “tác giả” hoặc “người biên soạn”, thay vì phải ghi tên tác giả của bản gốc, rồi ghi tên mình là người “dịch”, “lược dịch”, hoặc “biên dịch”, v.v… Hành vi này vừa là ăn cắp, vừa là gian lận.  ·        Lấy nguyên văn hàng chương sách của đồng nghiệp để đăng báo và ký tên mình là tác giả. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.  ·        Lấy nguyên văn công trình đã công bố của mình ở diễn đàn này hoặc nhà xuất bản này, thay tên gọi của công trình, đôi khi có sửa một chút không quan trọng, rồi công bố ở nơi khác, để “tính điểm” số lượng công trình.  ·        Một số người khi đã đạt được địa vị lãnh đạo cơ quan, thì không còn tự mình viết, mà thường gọi nhân viên viết, thậm chí viết cả một cuốn sách để mình ký tên là tác giả, còn các tác giả thực thì được nhận mấy dòng gọi là để “cảm ơn” sự … “cộng tác”.  5.      Xử lý các hành vi lệch chuẩn  Ở nước ta, tội ăn cắp tài sản trí tuệ hiện đã có những chế tài cần thiết để điều chỉnh, trước hết, đó là ba chương liên quan sở hữu trí tuệ trong Luật Dân sự (Bản quyền tác giả, Sở hữu công nghiệp và Chuyển giao công nghệ). Nhưng tội gian lận trong hoạt động khoa học và công nghệ thì hiện nay, về cơ bản, chưa có chế tài hữu hiệu để điều chỉnh, kể cả trong đạo luật vừa mới được Quốc Hội thông qua, là Luật Khoa học và Công nghệ.  Đương nhiên, nếu như hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ không dễ bị phát hiện và loại trừ khỏi đời sống khoa học, thì hành vi gian lận còn khó bị phát hiện và khó bị trừng trị hơn nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vẫn có thể tìm ra những luận cứ khoa học quan trọng nhất để hình thành thiết chế phát hiện và điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn thuộc dạng này. Luận cứ có thể bao gồm trong hai hướng:  1)      Nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năng về phương pháp luận khoa học, nghĩa là sự thành thạo về kỹ năng của phương pháp, kể cả trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội. Chỉ có nhận thức thống nhất về phương pháp luận khoa học, mới có thể thống nhất được ngôn ngữ đánh giá tính đúng đắn của kết quả thu thập và chế biến dữ liệu.  2)      Có một cơ chế có hiệu quả để phân tích phản biện các kết quả nghiên cứu, giảm thiểu những mặt hạn chế của hệ thống đánh giá hiện nay: Thứ nhất, về chỉ báo, mang nặng những chỉ báo định tính, thiếu những chỉ báo chặt chẽ về phương pháp luận; Thứ hai, về phương pháp, khó tránh khỏi những đánh giá bị chi phối bởi tình cảm và thiên kiến chủ quan.  Cho đến nay ngay cả ở một số nước có nền khoa học phát triển trên thế giới cũng chưa có được một giải pháp hữu hiệu về kiểm soát xã hội đối với các hành vi lệch chuẩn. Những biện pháp được áp dụng, ngay ở những nước có truyền thống khoa học phát triển, cũng chỉ có tác dụng hạn chế trong chừng mực nào đó.  Nhà khoa học có vô tình hoặc cố ý thực hiện những hành vi lệch chuẩn hay không còn tuỳ thuộc phần lớn vào văn hoá và đạo đức của họ. Trong cộng đồng khoa học ở nước ta, hiện tượng lệch chuẩn là khá phổ biến, không loại trừ cả những người có học hàm, học vị và chức vụ cao.  Điều này có thể có cả hai nguyên nhân: thiếu các thiết chế xã hội để kiểm soát các hành vi lệch chuẩn và, mặt bằng văn hoá còn thấp trong cộng đồng khoa học nước ta. Một số bạn đồng nghiệp nghiên cứu chưa xem việc tôn trọng các chuẩn mực là sự thể hiện tính tự trọng và đạo đức khoa học.  Từ kinh nghiệm các nước có nền khoa học phát triển, từ các điều khoản đã được quy định trong Luật Dân sự của Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ, có thể nhấn mạnh các biện pháp sau đây:  Về mặt pháp lý, cần có những đạo luật quy định rằng, mọi kết quả nghiên cứu đều được quyền công bố hoặc không công bố dưới mọi hình thức thích hợp, như công bố thông qua các xuất bản phẩm công khai hoặc không công khai (trong trường hợp có quan hệ tới bí mật cạnh canh trong kinh doanh, hoặc có quan hệ tới quốc phòng và an ninh quốc gia).  Cũng cần coa những quy định về trích dẫn khoa học. Trong quá trình nghiên cứu về trích dẫn, chúng tôi đã có những cuộc trao đổi với một số viện trưởng, giám đốc hoặc ban biên tập một số nhà xuất bản về các quy định trích dẫn. Trong số các cơ quan mà chúng tôi có dịp đến phỏng vấn, chúng tôi chỉ mới gặp vài ba cơ quan có quy định chặt chẽ nhất về trích dẫn.  Quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Phải nói rằng, ở nước ta đã có nhiều bước phát triển trong việc nghiên cứu, công bố và thi hành các luật và văn bản dưới luật về sở hữu trí tuệ.  Tuy nhiên, việc thi hành luật chưa được thực hiện đúng với yêu cầu cần thiết cho sự phát triển khoa học, đặc biệt là việc xử lý những hiện tượng vi phạm tác quyền trong khoa học.  Hiện tượng lệch chuẩn “đạo đức” đang là vấn đề nhức nhối trong khoa học ở nước ta. Việc đưa ra các chế tài nhằm hạn chế lệch chuẩn đang là một công việc đầy nan giải, nhất là, khi một số người vi phạm các chuẩn mực lại có tước vị khoa học cao, hoặc cũng có cả một số người đang giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan khoa học, cơ quan quản lý khoa học và cả trong các cơ quan tham mưu của các cấp ủy Đảng về khoa học và giáo dục.  Mặc dầu vậy, khi xã hội đã lên tiếng đồng tình về tiêu chuẩn nhân cách của người làm khoa học, chắc chắn dư luận xã hội có thể ủng hộ việc đưa ra được những thiết chế ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn, đưa hoạt động khoa học của nước ta vào đúng quỹ đạo của nó.     —————-  1 Năm 1972, tức 352 năm sau vụ án Gallileo, Giáo hoàng John Paul II đã cho xem xét lại vụ án này. Năm 1992, Giáo hội chính thức kết luận tính chất sai lầm của vụ án.    Vũ Cao Đàm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm tra cách chúng ta hiểu về các lực trong vũ trụ      Một khám phá mới của một nhóm nghiên cứu do các nhà vật lý hạt nhân UMass Lowell dẫn dắt có thể làm thay đổi cách hiểu về các nguyên tử và giúp giải thích hiện tượng cực đoan ngoài không gian.      Trường đại học Michigan là nơi đặt Phòng thí nghiệm máy gia tốc Cyclotron siêu dẫn quốc gia  Đột phá này cho thấy một đối xứng tồn tại bên trong lõi của nguyên tử không như các nhà khoa học vẫn tin tưởng, Khám phá này đã rọi ánh  sáng vào những lực hoạt động trong các hạt nhân nguyên tử, mở cánh cửa cho những hiểu biết sâu sắc hơn về vũ trụ này. Nghiên cứu đã được xuất bản trên Nature “Mirror-symmetry violation in bound nuclear ground states”.  Khám phá này được hình thành khi nhóm nghiên cứu do UMass Lowell dẫn dắt đang nghiên cứu để xác định cách hạt nhân nguyên tử được tạo ra trong các bùng phát tia X –  các bùng nổ xảy ra trên bề mặt các ngôi sao neutron, vốn là những tàn dư của những ngôi sao có khối lượng lớn ở cuối vòng đời.  “Chúng tôi đang nghiên cứu cái gì xảy ra bên trong hạt nhân của các nguyên tử này để có thể hiểu biết rõ hơn về các hiện tượng trong vũ trụ và cuối cùng, để trả lời một trong những câu hỏi lớn nhất trong khoa học – các nguyên tố hóa học được tạo ra trong vũ trụ như thế nào”, Andrew Rogers, một trợ lý giáo sư vật lý ở UMass Lowell và là người dẫn dắt nhóm nghiên cứu, nói.  Nghiên cứu này được Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) tài trợ cho UMass Lowell và được thực hiện tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc Cyclotron siêu dẫn quốc gia (NSCL) tại trường đại học Michigan. Tại phòng thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã tạo ra hạt nhân nguyên tử ‘lạ’ để đo đạc các đặc điểm của nó theo thứ tự nhằm biết được vai trò của chúng như các khối cơ bản của vật chất, vũ trụ và sự sống.  Các nguyên tử là một trong những đơn vị nhỏ nhất của vật chất. Mỗi nguyên tử đều gồm có các electron quay theo quỹ đạo quanh một hạt nhân bé tí nằm sâu trong lớp lõi, vốn chứa phần lớn khối lượng và năng lượng nguyên tử. Hạt nhân nguyên tử được tạo ra từ hai hạt mới được nhận diện gần đây: các proton mang điện tích và các neutron không mang điện tích. Số lượng các proton tỏng một hạt nhân được xác định với nguyên tố hạt nhân trên bảng tuần hoàn và tính chất hóa học của nó. Các đồng vị của một nguyên tố có cùng số lượng proton nhưng lại có số lượng neutron khác biệt.  Tại NSCL, hạt nhân được gia tốc tới gần tốc độ ánh sáng và vỡ ra thành nhiều mảnh tạo ra strontium-73 – một đồng vị hiếm không được tìm thấy trên trái đất nhưng tồn tại trong thời gian ngắn ngủi trong suốt vi phạm nhiệt hạch các bùng phát tia X trên bề mặt của sao neutron. Đồng vị này của strontium chứa 38 proton và 35 neutron và chỉ tồn tại trong một phần nhỏ của giây.  Làm việc trong vòng hơn 8 ngày, nhóm nghiên cứu đã tạo ra hơn 400 hạt nhân strontium-73 và so sánh chúng với những đặc tính đã biết của bromine-73, một đồng vị chứa 35 proton và 38 neutron. Với số lượng proton và neutron được hoán đổi, hạt nhân bromine-73 nuclei được coi như “các đối tác gương” với hạt nhân strontium-73. Đối xứng gương trong hạt nhân tồn tại với sự tương đồng giữa các proton và neutron, và là cơ sở cho hiểu biết về vật lý hạt nhân.  Cứ khoảng nửa giờ, các nhà nghiên cứu lại tạo ra một hạt nhân strontium-73, vận chuyển nó thông qua máy phân tách đồng vị của NSCL và sau đó mang các hạt nhân đến một điểm trong trung tâm của dãy máy dò phức hợp, nơi họ có thể quan sát được các hành xử của chúng. Bằng việc nghiên cứu sự phân rã phóng xạ của các hạt nhân này, các nhà khoa học đã thấy strontium-73 hành xử một cách khác biệt so với bromine-73. Khám phá này làm dấy lên những câu hỏi mới về các lực hạt nhân, theo quan điểm của Rogers.  “Strontium-73 và bromine-73 cần xuất hiện với sự giống hệt nhau trong cấu trúc nhưng thật ngạc nhiên là trên thực tế lại không như vậy. Việc thăm dò các đối xứng tồn tại trong tự nhiên là một công cụ rất hữu hiệu với các nhà vật lý. Khi các đối xứng bị phá vỡ, nó cho chúng ta thấy có cái gì đó không đúng với hiểu biết của chúng ta và chúng ta cần có một cái nhìn gần hơn để có thể hiểu được nó,” Rogers nói.  Những gì các nhà khoa học thấy sẽ thách thức lý thuyết hạt nhân, theo lời Daniel Hoff, một nhà nghiên cứu ở UMass Lowell và là tác giả thứ nhất của bài báo, nói.  “So sánh các hạt nhân strontium-73 và bromine-73 giống như nhìn vào một tấm gương và không thấy người trong gương giống mình. Một khi chúng ta thuyết phục chính mình là những gì chúng ta thấy là sự thật, chúng ta có lẽ rất phấn khích”, Hoff nói.  Là một phần của nghiên cứu này, các tính toán lý thuyết hiện đại bậc nhất do Simin Wang, một nhà nghiên cứu tại trường, đảm trách và được Witold Nazarewicz, giáo sư John A. Hannah vật lý xuất sắc và người phụ trách Cơ sở Chùm tia đồng vị hiếm (FRIB) của trường, sẽ chính thức hoạt động vào năm tới.  Công trình của các nhà nghiên cứu này đã đưa ra những cái nhìn độc đáo vào cấu trúc của các đồng vị hiếm, Nazarewicz nhận xét. “Nhưng nhiều phần của công trình vẫn còn chưa được hoàn tất. Khi cơ sở nghiên cứu mới đi vào hoạt động vào năm tới, chúng sẽ góp phần đem lại cái nhìn sâu sắc hơn về câu đố đối xứng gương. Tôi tự hào về chùm tia ‘lạ’ của cơ sở chúng tôi, thiết bị độc nhất vô nhị và những tính toán lý thuyết đã đóng góp vào công trình nghiên cứu tuyệt vời này”.  Các kế hoạch cho nhiều thí nghiệm nữa đang được lên khuôn, vì các nhà nghiên cứu đang tinh chỉnh và xác nhận các quan sát của họ để nghiên cứu nhiều đồng vị khác.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-04-universe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiến nghị xét lại sự an toàn của những đập nước lớn trong vùng địa chấn bất ổn tại Tây Nam Trung Quốc      Đập thủy điện Tử B&#236;nh Ph&#244;( Zipingpu) được khởi c&#244;ng từ năm 2006 thuộc tỉnh Tứ Xuy&#234;n&nbsp; v&#224; mực nước d&#226;ng đầy khi vừa bắt đầu hoạt động v&#224;o năm 2008, đến ng&#224;y 12 th&#225;ng 5 đ&#227; c&#243; trận động đất 8.0 tr&#234;n Vấn Xuy&#234;n (Wenchuan) g&#226;y tử vong cho 69,000 người, từ 4,8 đến 11 triệu người v&#244; gia cư trong số 15 triệu d&#226;n cư trong v&#249;ng [1]. C&#225;c học giả v&#224; c&#225;c chuy&#234;n gia m&#244;i sinh Trung Quốc đ&#227; gửi thư thỉnh cầu ch&#237;nh quyền Trung Quốc x&#233;t lại an to&#224;n của những đập nước lớn v&#224; phổ biến kết quả nghi&#234;n cứu n&#224;y cho d&#226;n ch&#250;ng. Thư thỉnh cầu của họ đ&#227; được c&#244;ng bố tr&#234;n tờ Đệ Nhất T&#224;i Kinh Nhật B&#225;o- First Business Daily (diyicaijing bao)-&nbsp; ng&#224;y 12, th&#225;ng 6, năm 2008.Tia S&#225;ng xin lược tr&#237;ch bản dịch của Phạm Phan Long.    Ngày nay, việc điều tra tổn thất tại các đập nước và bảo trì an toàn cho chúng, chẳng khác gì mất bò mới lo làm chuồng, điều thiết yếu là tái khảo sát tất cả các đồ án phát triển thủy lợi đại quy mô chưa từng có trong vùng Tây Nam Trung Quốc. Trận động đất Vấn Xuyên đã làm nổi bật ba vấn đề quan trọng về kỹ thuật xây đập tại vùng Tây Nam, tất cả đều đáng quan tâm.    Xây hồ chứa lớn và đập nước cao trong vòng cung đại địa chấn có thích hợp không?Vùng Tây Nam Trung Quốc là nơi có cấu trúc địa chất phức tạp và nằm trên ảnh hưởng của các lớp địa chất di chuyển, đặc biệt là phía Đông đồng bằng Thanh Hải – Tây Tạng (Qinghai-Tibetan) bên cạnh Tứ Xuyên và các núi đồi và khe đá Đông Bắc Vân Nam, đã hình thành do là các lớp đất địa cầu vũ bão trồi lên và vỡ ra. Vùng Tây Nam này có những nguồn nước lớn nhất Trung Quốc và là nơi sản xuất thủy điện quan trọng nhất. Trong số 13 vùng kế hoạch thủy điện nằm trong phương án đã có, ba vùng quan trọng nhất là: Vùng thủy điện trên các sông Jinsha [Kim Sa Giang], Yalong [ Nhã Lung Giang], Dadu Đại Độ Hà, thuộc phía Tây Tứ Xuyên, Tây Bắc Vân Nam,                Hình Địa chấn Vấn Xuyên        Vùng thủy điện thượng lưu sông Dương Tử, Nanpan [Nam Bàn] và Hồng Thủy đều nằm giữa Tứ Xuyên và Vân Nam, và Vùng thủy điện sông Lan Thương [Lan Thương-Mekong) và sông Nujiang [Nộ Giang] tại Tây Bắc Vân Nam. (Xem phụ lục đính kèm: Bản đồ các đường địa chấn Vân Nam và các đập thủy điện trên sông Lan Thương nằm bên cạnh trong vòng 50 km)     Hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam là hai nơi đã xảy ra nhiều trận động đất nhất Trung Quốc. Hai tỉnh này thuộc vùng địa chấn Tứ Xuyên-Vân Nam, nơi cường độ động đất cao nhất và thường xảy ra động đất nhất Trung Quốc. Nhiều chuỗi đập đã và sắp xây lên sẽ nằm ngay trên các vùng địa chấn này. Thí dụ như chuỗi đập trên sông Min [Mân Giang] nằm trên vòng cung địa chấn Songfan [Tùng Phiên] và Long Môn Sơn [Long Môn Sơn]; chuỗi đập Đại Độ Hà (phụ lưu sông Dương Tử) đã nằm trên vòng cung địa chấn Xianshuihe [Tiên Thủy Hà]; chuỗi đập trên sông Nhã Lung Giang (phụ lưu sông Dương Tử) nằm gần vòng cung địa chấn  Anninghe-Zemuhe [An Ninh Hà]; đập Xiluodu ([Khê Lạc Độ] trên sông Kim Sa Giang (thượng lưu chính của Dương Tử) nằm trên vòng cung địa chấn Yongshan [Vĩnh Thiện], và những dự án thủy điện trên sông Lan Thương – Mekong và sông Nộ Giang nằm trên vòng cung địa chấn Tam Giang (Three Parallel Rivers) trong tình trạng đang hoạt động (active).                               Hình IRN: Đập Tử Bình Phô (Zipingpu)        Vùng Tây Nam Trung Quốc có cấu trúc địa chất mong manh, có sự kiện đá chảy, bùn trôi và sạt lở. Nếu xây hàng loạt những hồ chứa và đập cao trên 100m (có khi hơn 300 m) là điều nguy hiểm. Việc phá hủy các tầng đá rộng lớn dọc theo hồ chứa sẽ là việc cần thiết để dựng dốc bờ đê, xây xa lộ, và đường hầm sau khi hồ đầy. Trong cơn địa chấn nếu xảy ra, việc xây cất nêu trên sẽ tăng cường độ sạt lở, đá chảy, bùn trôi, và đất sụp, sẽ gây thêm các tổn thất phụ như lũ lụt to và đổ vỡ vì lũ lụt. Vì thế, chúng ta cần lưu tâm nhiều hơn về các vấn đề rắc rối và nguy tai ngấm ngầm có thể giáng xuống dân cư hạ nguồn hai bên sông.                              Đã có lầm lỗi khi thẩm định cường độ địa chấn khi soạn thảo phương án?Khi được hỏi về độ an toàn của các đập nước trên vùng địa chấn bất ổn Tây Nam Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc và công ty khai thác thủy điện thường trả lời một cách tự tin, nhấn mạnh yếu tố như các đập và hồ lớn đã có nghiên cứu khả thi và khảo sát khoa học, và đã có căn bản vững vàng về cường độ địa chấn của chúng để các con đập này an toàn chống được động đất. Tuy nhiên, trận động đất Vấn Xuyên chứng tỏ đã có những tính toán sai lầm trong việc thẩm định nguy cơ của hoạt động địa chấn khi xây đập trong vùng này.               Đập Zipingpu [Tử Bình Phô], đập lớn nhất trên thượng lưu sông Mân Giang là một thí dụ rõ ràng. Nằm 9 km trên thượng nguồn Dujiangyan [Độ Giang Yến], có dung tích 1.1 tỉ m3 và mực nước cao 156 m, Tử Bình Phô là một dự án khổng lồ. Không có gì lạ, khi các chuyên gia thủy học so sánh hồ chứa này như “một vạc nước to lớn đã treo trên đầu hàng triệu dân cư Chengdu [Thành Đô] và phụ cận”.Theo sự tiết lộ của chuyên gia địa chấn và thủy học, trong nghiên cứu khả thi của đập Tử Bình Phô, các nhà khoa học tiên liệu cường độ cao nhất tại công trường là 7, nhưng thực tế đã cao hơn thế nhiều vì đập chỉ cách tâm điểm địa chấn có 17 km. Một chuyên gia chống địa chấn cho các đập nước đã nói, “trong vùng địa chấn cao và gần tâm điểm như Tử Bình Phô cường độ địa chấn rất có thể đã lên đến 8 hay 9 (độ dao động như vậy là 10 hay 100 lần cao hơn đã tiên liệu). Đây là điều các nhà khoa học (thực hiện hồ Tử Bình Phô) đã không tiên đoán trước”.Tử Bình Phô nằm cao trên đồng bằng Thành Đô, gần bên kênh chuyển nước và dẫn thủy Dujiangyan-một công trình di sản thế giới công nhận – Tử Bình Phô là con đập cả của “Kế hoạch đại phát triển Tây Nguyên”, nên đã thu hút nhiều tranh luận ngay từ buổi đầu khi còn trong giai đoạn nghiên cứu khả thi. Trong đó mối ưu tư lớn nhất là tình trạng bất ổn của địa chất trong vùng nơi đập Tử Bình Phô sẽ được tọa lạc.                Kết quả động đất cho thấy đã có sai lầm trong việc nghiên cứu khả thi cho đập Tử Bình Phô khiến dân cư ngày nay hoang mang và chất vấn; nếu sai lầm như thế đã xảy ra cho một con đập cốt yếu như Tử Bình Phô, thì những con đập khác cùng xây trên vòng cung địa chấn trên thung lũng sông Mân Giang sẽ ra sao? Có thể có vi phạm sai lầm giống như Tử Bình Phô hay không? Vấn đề này có thể xảy ra cho các đập thủy điện khác đã xây và sắp xây trên các sông Đại Độ Hà, Nhã Lung Giang, Kim Sa Giang, Lan Thương-Mekong và sông Nộ Giang hay không? Các hồ chứa lớn và đập cao trong vùng địa chấn có gây ra động đất lớn không?Tâm điểm của trận đại địa chấn Vấn Xuyên chỉ cách ven bờ hồ Tử Bình Phô nửa km. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, hồ chứa Tử Bình Phô tọa lạc trên một vùng địa chấn bất ổn, với vòng cung địa chấn nổi tiếng tên Long Môn Sơn chạy qua đáy hồ và vùng phụ cận. Do đó dân cư có cơ sở để nghi ngờ rằng trận động đất kỷ lục này, xảy ra sau khi xây xong hồ và mực nước hồ lên cao đỉnh, rất có thể đã gây ra trận động đất ấy.                 Thảm họa do các công trình kỹ thuật khai phá của loài người, RIS (reservoir-induced seismicity) đang được thế giới theo dõi. Theo dữ liệu của các chuyên gia thuộc Ủy ban sông Trường Giang (Changjiang Water Resources Commission, Ministry of Water Resources) đã tiết lộ tại cuộc hội thảo khả thi của đập Tam Giáp, hồ chứa có đập cao trên 100 m có xác suất có RIS là 7% tại Trung Quốc. và xác suất có RIS là 34% cho các đập cao trên 200m .  Trên thế giới đã có bốn trường hợp hồ chứa gây ra động đất trên 6.0 (cao nhất là 6,5), mà cả bốn đập đã được làm trong những vùng địa chất ổn định với xác suất động đất tự nhiên vốn  thấp.  Tử Bình Phô không phải là hồ độc nhất xây trên vùng địa chấn còn bất ổn, còn nhiều đập khác nữa đã xây và sắp được xây tại miền Tây Tứ Xuyên và Tây Bắc Vân Nam, núi cao, khe sâu, nơi đang có các chuyển động địa chất mới và địa chấn hoạt động thường xuyên. Khi nghiên cứu khả thi cho đập Tam Giáp, các chuyên gia của ngành địa chất và địa chấn đã nhìn nhận rằng: “Hiện nay, không có lý thuyết khoa học vững vàng hay phương pháp nào để đánh giá và tiên liệu RIS”. Ngay cả “các nghiên cứu về cơ chế của RIS vẫn còn trong tình trạng giả thuyết”. Trong tình cảnh này, vì thế, chúng ta phải cẩn trọng về mối nguy hiểm khi cứ tiến hành khai thác thủy điện một cách tắc trách vội vàng, nhất là trên tầm thước đại quy mô trên vùng địa chấn bất ổn nổi tiếng như thế.——————–Nguồn tài liệu[1] http://en.wikipedia.org/wiki/2008_Sichuan_earthquake[2] Chinese environmentalists and scholars appeal for dam safety assessments in geologically unstable south-west China, Probe International, https:// probeinternational.org/ referenced/chinese-environmentalists-and-scholars-appeal-dam-safety-assessments-geologically-unstabl[3] GUO Shunmin, XIANG Hongfa , ZHOU Ruiqi, XU Xiwei, DONG Xingquan, ZHANG Wanxia, Longling-Lancang fault zone in southwest Yunnan, China, A newly-generated rupture zone in continental crust, Chinese Science Bulletin Vol. 45 No. 4 February 2000.http://csb.scichina.com:8080/kxtbe/fileup/PDF/ 00ky0376.pdf      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiến trúc phục vụ cho tâm thức      Vào thập niên 1950, Jonas Salk – bác sĩ và cũng là nhà sinh vật học từng đoạt nhiều giải thưởng đang nỗ lực tìm ra cách chữa trị bệnh bại liệt trong một phòng thí nghiệm ở dưới tầng hầm tối tăm tại Pittsburgh. Tiến trình diễn ra khá chậm, do vậy ông tới Assisi (Ý) du lịch để thư giãn đầu óc. Ở đó ông dành thời gian đến thăm một tu viện thuộc thế kỉ 13, và khi đi dạo giữa những hàng hiên và sân nhỏ, Salk chợt nhận thấy mình thông tỏ được nhiều điều, mà một trong số đó sẽ dẫn ông đến việc tìm ra loại vaccine bại liệt hiệu quả. Từ đó ông có niềm tin rằng kiến trúc có khả năng ảnh hưởng lên tâm thức con người.      Từ lâu, các kiến trúc sư đã trực cảm rằng nơi sinh sống có ảnh hưởng lên suy nghĩ, tình cảm và hành vi của chúng ta. Nửa thế kỉ sau chuyến hành trình đầy cảm hứng của Salk, các nhà khoa học hành vi đang khám phá những vùng không gian có thể đẩy mạnh tính sáng tạo, tạo sự tập trung và tỉnh táo, cũng như đem lại sự thư giãn thoải mái cho con người. Những viện nghiên cứu như Academy of Neuroscience for Architecture ở San Diego đang khuyến khích nghiên cứu liên ngành tìm ra cách lí giải làm thế nào mà một môi trường được sắp đặt sẵn có thể ảnh hưởng lên tâm thức con người, trong khi một số trường kiến trúc đang mở những khóa đào tạo não học dẫn nhập.   Những nỗ lực như thế ảnh hưởng lên lĩnh vực thiết kế, như dự án những căn hộ cho người già mắc bệnh sa sút trí tuệ, mà ở đó chính toà nhà là một phần của việc chữa trị [1]. Tương tự như vậy, trường Kingsdale ở London đã được thiết kế lại, với sự trợ giúp của các nhà tâm lí học, để đẩy mạnh tính gắn kết xã hội; cấu trúc mới cũng bao gồm những yếu tố giúp khuyến khích sự nhanh nhạy và tính sáng tạo. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu chỉ vừa mới bắt đầu mà thôi. “Tất cả điều này đang ở giai đoạn sơ khởi”, kiến trúc sư David Allison – người đứng đầu chương trình Kiến trúc + Sức khỏe của trường ĐH Clemson, nhận xét. “Nhưng chương trình não học vừa bắt đầu này có thể cho chúng ta thông hiểu hơn về cách làm thế nào mà môi trường được xây dựng tác động lên sức khoẻ và sự an lành của chúng ta, làm thế nào mà chúng ta làm việc và chúng ta cảm giác ra sao trong những môi trường như thế”.  Tư duy cao hơn (higher thought)  Những cuộc nghiên cứu nghiêm túc về cách thức con người tương tác với môi trường được xây dựng bắt đầu vào thập niên 1950, khi một vài nhóm nghiên cứu phân tích làm thế nào mà thiết kế của bệnh viện, đặc biệt là những khu trị liệu tâm lí, ảnh hưởng lên hành vi và kết quả của bệnh nhân. Thập niên 1960 và 1970 chứng kiến sự bùng nổ của ngành khoa học mang tên tâm lý học môi trường.  John Zeisel, nhà xã hội học lão luyện của trường Columbia University cho rằng, “Có điều gì đó về con người mà ta cần phải tìm ra để xây những khu nhà tương ứng với nhu cầu của chúng ta?”  Sự phát triển của các ngành khoa học nghiên cứu bộ não trong cuối thế kỉ 20 đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu những kỹ thuật, công cụ và lý thuyết để bắt đầu suy xét việc tận dụng sự thấu hiểu tường tận về bộ não để gây ảnh hưởng lên việc thiết kế.   Giờ đây sự phát triển của nghiên cứu đã giúp soi rọi quan sát của giáo sư Salk rằng một số khía cạnh của môi trường vật lý có khả năng ảnh hưởng tới tính sáng tạo. Năm 2007, Joan Meyers-Levy, giáo sư ĐH Minnesota, cho rằng độ cao của trần nhà gây tác động lên cách người ta tư duy. Với những trần nhà cao sẽ khuyến khích người ta suy nghĩ tự do hơn, điều này có thể dẫn đến việc họ sẽ tạo ra những kết nối trừu tượng hơn. Mặt khác, ý nghĩ về sự giam hãm tạo ra bởi trần nhà thấp có thể tạo ra cảm giác về một góc nhìn kĩ càng hơn – điều này có thể  có ích trong một vài hoàn cảnh. “Tùy thuộc rất nhiều vào loại công việc bạn đang làm”, Meyers-Levy giải thích. “Nếu bạn trong phòng mổ, có thể trần thấp sẽ tốt hơn. Bạn muốn bác sĩ giải phẫu thực hiện đúng các chi tiết”. Meyers-Levy chỉ ra rằng, độ cao thật sự của trần nhà không quan trọng bằng cảm giác về độ cao. “Chúng tôi nghĩ bạn có thể có được những hiệu ứng này bằng cách điều khiển khả năng cảm quan về không gian”, bà nói, bằng cách dùng sơn sáng màu, ví dụ vậy, hoặc dùng những tấm gương để khiến cho căn phòng trông như có nhiều khoảng không gian hơn.  Chú trọng vào thiên nhiên   Ngoài việc trần nhà cao, thì góc nhìn được tạo ra bởi toà nhà có thể ảnh hưởng đến trí năng – cụ thể là khả năng tập trung của người ở trong nhà. Mặc dù nhìn ngắm ra ngoài cửa sổ dường như cho thấy sự xao nhãng, nhưng việc nhìn ra khung cảnh thiên nhiên, như khu vườn, cánh đồng hoặc khu rừng, thật sự tăng cường sự tập trung. Một nghiên cứu ra mắt năm 2000 thực hiện bởi nhà tâm lí học môi trường Nancy Wells ở Cornell University cho thấy những sinh viên đại học ở trong ký túc xá có những góc nhìn hướng về tự nhiên khi được đo sự tập trung tinh thần thì sẽ đạt điểm cao hơn so với những sinh viên nhìn ra khung cảnh toàn là những vật thể do người làm ra. Không gian chơi đùa màu xanh lá có thể đặc biệt hữu ích cho những sinh viên mắc chứng rối loạn khả năng tập trung.   Kiến trúc sư và nhà nghiên cứu về phong cảnh William Sullivan của trường University of Illinois đã nghiên cứu 96 đứa trẻ bị chứng ADD (attention deficit disorder, tình trạng rối loạn thiếu khả năng tập trung). Các nhà khoa học yêu cầu những bậc cha mẹ mô tả khả năng tập trung của bọn trẻ – như là làm bài tập về nhà hoặc những chỉ thị bằng lời – sau khi bọn trẻ tham dự vào những hoạt động như câu cá, đá bóng, và chơi trò chơi điện tử, mà trong những hoạt động đó chúng được tiếp xúc với những sắc độ khác nhau của các cành lá xanh um. “Những bậc cha mẹ báo cáo lại rằng triệu chứng ADD của bọn trẻ bớt nghiêm trọng hơn sau khi chúng ở trong hoặc quan sát những khoảng không gian xanh rì”, Sullivan nói, kết quả của ông được công bố năm 2001.  Theo một nghiên cứu công bố năm 2009 được thực hiện bởi C. Kenneth Tamer, người đứng đầu School Design & Planning Laboratory của trường University of Georgia, trong số hơn 10,000 học sinh lớp năm của 71 trường tiểu học tại Georgia, học sinh nào ở trong lớp học có tầm nhìn không hạn chế ít nhất 50 bộ (khoảng 15m) bên ngoài cửa sổ, bao gồm vườn tược, đồi núi và những yếu tố tự nhiên khác, thì sẽ có điểm số cao hơn trong những bài kiểm tra từ vựng, nghệ thuật ngôn ngữ và toán, so với những học sinh không có những tầm nhìn mở rộng đến thế và có lớp học chỉ nhìn ra đường sá, các bãi đậu xe và những thứ khác trong nội thành.  Theo nhà tâm lí học Stephen Kaplan, những công việc trong thế giới hiện đại có thể gây ra sự kiệt quệ về tinh thần, trong khi đó việc nhìn ra ngoài khung cảnh tự nhiên thì hầu như không cần nỗ lực gì và có thể làm cho tâm trí có được sự nghỉ ngơi cần thiết. “Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khi người ta nhìn ra cảnh tự nhiên, cho dù những cảnh tự nhiên đó là thật hay được chiếu trên màn ảnh, thì khả năng tập trung của họ tăng lên”, Stephen Kaplan cho biết.  Nhìn thấy ánh sáng   Ngoài vấn đề cây cỏ, thế giới tự nhiên còn có một số thứ khác dâng tặng cho những người ở trong nhà: ánh sáng. Ánh sáng ban ngày đồng bộ hóa chu kì ngủ-thức của chúng ta, hoặc nhịp sinh học 24 giờ, làm cho chúng ta ở trạng thái tỉnh táo vào ban ngày và khiến ta có thể ngủ vào ban đêm. Dù vậy nhiều tòa nhà trụ sở không được thiết kế để có nhiều ánh sáng tự nhiên mà tâm trí và cơ thể ta cần.  Thiếu sáng có thể là vấn đề nghiêm trọng đối với trẻ trong độ tuổi đến trường. “Bạn lôi đứa trẻ không được nghỉ ngơi đầy đủ tới trước cổng trường nơi có rất ít ánh sáng tự nhiên, đoán xem điều gì sẽ xảy ra? Chúng sẽ rơi vào trạng thái mệt phờ”. Tanner nhận xét. Một nghiên cứu tiến hành năm 1992 với nhóm trẻ Thụy Điển tại bốn lớp học kéo dài trong một năm cho thấy những trẻ ở lớp có ít ánh sáng nhất sẽ bị rối loạn cortisol, một loại hormone chịu sự điều tiết bởi nhịp sinh học của cơ thể.  Nghiên cứu cũng đã cho thấy lượng ánh sáng Mặt trời đầy đủ sẽ cải thiện kết quả của học sinh. Năm 1999, Heschong Mahone-một nhóm tư vấn toạ lạc tại California chuyên về xây dựng những cấu trúc hiệu quả về mặt năng lượng, đã thu thập điểm số của những bài kiểm tra tiêu chuẩn về toán học và về môn tập đọc của hơn 21,000 học sinh tiểu học thuộc ba khu vực trường học của ba bang: California, Washington và Colorado. Dùng ảnh chụp, các bản vẽ kiến trúc, và đích thân thăm viếng, các nhà nghiên cứu đánh giá lượng ánh sáng ban ngày hiện hữu ở trong 2,000 lớp học theo thang điểm từ 0 đến 5. Tại một khu vực trường học – Capistrano, California – học sinh ở trong những lớp học sáng sủa nhất thì tăng 26% khả năng đọc nhanh và 20% trong việc làm toán nhanh trong thời gian một năm, so với những học sinh ở trong lớp có ít ánh sáng ban ngày. Ở hai khu vực kia, ánh sáng ban ngày dư dả làm tăng điểm số lên từ khoảng 7 đến 18%.  Trong một nghiên cứu công bố năm 2008, nhà não học Rixt F. Riemersma-van der Lek của Netherlands Institute for Neuroscience và đồng nghiệp đã chọn ngẫu nhiên 6 trong số 12 cơ sở hỗ trợ sinh sống tại Hà Lan để lắp đặt thêm thiết bị chiếu sáng, đưa độ sáng lên khoảng 1,000 lux; còn 6 khu kia được cung cấp hệ thống chiếu sáng mờ hơn vào khoảng 300 lux. Cuộc thí nghiệm diễn ra trong những khoảng thời gian sáu tháng suốt hơn ba năm rưỡi, các cư dân trong mấy tòa nhà sáng sủa hơn có mức giảm về khả năng tri nhận ít hơn 5% so với những người trong sáu tòa nhà tối hơn. Từ đó các nhà nghiên cứu tin rằng cung cấp nhiều ánh sáng ban ngày có thể sẽ giúp phục hồi các nhịp thích hợp và do vậy sẽ cải thiện chức năng não bộ nói chung.  Một căn phòng để thư giãn  Trong một nghiên cứu năm 2006, các nhà tư vấn phỏng vấn cá nhân 80 sinh viên đại học trong căn phòng tối mờ hoặc căn phòng sáng trưng. Các sinh viên được phỏng vấn trong căn phòng tối mờ thì cảm thấy thư giãn hơn, cách nhìn nhận của họ đối với người tư vấn cũng tích cực hơn và chia sẻ nhiều thông tin về bản thân họ hơn so với những sinh viên được tư vấn ở căn phòng sáng trưng kia. Những phát hiện đó hàm ý rằng ánh sáng tối mờ giúp cho con người ta thả lỏng mình. Nếu điều đó đúng, thì việc giữ ánh sáng ở cường độ thấp trong suốt buổi ăn tối hay ở những bữa tiệc có thể thúc đẩy sự thư giãn và tính thân mật.  Tương tự vậy, những thứ bên trong căn phòng có thể mang tính êm ả – hoặc ngược lại. Nhà não học Moshe Bar của Harvard Medical School, đã cho các đối tượng tham gia thí nghiệm thấy những bức ảnh của những phiên bản đồ vật trung tính khác nhau, như cái ghế bành hay đồng hồ. Các hình mẫu của mỗi món đó đều giống nhau ngoại trừ một số cái có góc cạnh uốn lượn hoặc được bo tròn, trong khi những cái khác thì có những cạnh trông sắc bén và vuông vức. Khi được yêu cầu để đưa ra những đánh giá tức thời về những món đồ này, thì những người tham gia thí nghiệm ưa chuộng những món có những đường cong hơn đáng kể. Bar cho rằng sự ưa chuộng này tồn tại vì chúng ta liên hệ những góc cạnh sắc nhọn với sự nguy hiểm. (Bộ não có thể nhận thức được mức độ nguy hiểm hơn, ví dụ, từ cái hang động có nhiều tảng đá nhọn lởm chởm nhô ra khỏi tường đá, so với cái hang có những tảng đá được bo tròn cũng nhô ra khỏi tường đá.) “Có lẽ cái vẻ sắc nhọn bên ngoài được bộ não mã hóa thành những mối đe dọa tiềm năng”, ông cho biết.          Những cửa thoát ra ngoài được ngụy trang như những cái này ở nhà của những bệnh nhân Alzheimer có thể cải thiện tâm trạng của những cư dân đó.          Sự lựa chọn đồ nội thất cũng có thể gây ảnh hưởng lên việc con người tương tác với nhau. Các nhà khoa học khám phá ra rằng cách thức thông thường khi sắp đặt những chiếc ghế dọc theo bức tường trong những căn phòng tập thể hoặc những phòng khách thật sự ngăn chặn việc hòa nhập. Để khuyến khích sự tương tác lẫn nhau cần sắp xếp đồ nội thất thành từng nhóm nhỏ rải rác khắp căn phòng.   ***  “Nhờ vào các tiến bộ của ngành não học, chúng ta có thể bắt đầu đo lường những hiệu ứng của môi trường ở mức chi tiết hơn trước đây”, Edelstein của trường University of California, San Diego cho biết. Đây là cơ sở cho các nhà thiết kế tạo ra những tòa nhà phục vụ cho tâm thức. Chẳng hạn như những khu chăm sóc đặc biệt dành cho bệnh nhân Alzheimer mà được thiết kế tốt thì làm giảm những mối lo âu, giận dữ, sự thoát li xã hội, trầm cảm và chứng rối loạn tâm thần, theo một nghiên cứu năm 2003 thực hiện bởi Zeisel và đồng nghiệp.   Đoàn Khương Duy dịch   Nguồn: Anthens, Emily. “Building around the Mind.” Scientific American Mind, April/May/June 2009: 52-59.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kim cương 4 tỷ năm tuổi      Các nhà khoa học Úc vừa đào được một viên kim cương có tuổi đời lên đến 4 tỷ năm, tương đương với tuổi của trái đất. Viên kim cương được tìm thấy tại khu vực Jack Hills ở miền Tây nước Úc và là viên kim cương lâu đời nhất được tìm thấy trên thế giới.    Các nhà khoa học tin rằng thông qua viên kim cương này, họ có thể phát hiện được nhiều điều thú vị trong quá trình tiến hóa của lớp vỏ trái đất. Một nhà khoa học tại ĐH Kỹ thuật Curtin nói: “Jack Hills là nơi duy nhất trên thế giới có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin về quá trình hình thành của trái đất. Chúng tôi đang cầm trong tay thứ vật chất cổ xưa nhất trên trái đất”.  Trái đất hình thành cách đây khoảng 4,5 tỷ năm và có nhiệt độ rất cao. Sau đó nhiệt độ dần giảm đi khiến những dung nham từ từ hóa rắn trở thành đá. Những phát hiện gần đây khi nghiên cứu khoáng chất ziricon cho thấy quá trình nguội dần của trái đất (từ nhiệt độ khoảng 6.000 độ C) diễn ra nhanh hơn chúng ta tưởng.   Tuy nhiên hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa biết nhiều chi tiết về đá và quá trình hình thành của chúng. Giáo sư Thorsten Geisler, nhà khoáng chất học thuộc ĐH Munster của Đức cho biết việc tìm ra viên kim cương 4 tỷ năm tuổi là bằng chứng cho thấy thời gian nguội đi của trái đất đã diễn ra rất nhanh.Trước đây viên kim cương xưa nhất từng được tìm thấy chỉ có độ tuổi 3 tỷ năm. Các nhà khoa học cũng tin rằng viên kim cương vừa tìm thấy đã hình thành khoảng 300 triệu năm sau khi trái đất ra đời.  Đ.K.L. Theo Xinhua      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kim tự tháp cổ đại xuất hiện ở Ukraine      Những kim tự tháp khổng lồ, tương tự như các công trình ở Ai Cập, mới được phát hiện ở Luganshchina. Các nhà khoa học kết luận rằng 5000 năm trước, một nền văn minh phát triển đã tồn tại trên mảnh đất là Ukraine ngày nay.    Phát hiện lý thú này do các em học sinh phổ thông trong một chuyến tham quan khảo sát đã tìm ra. Đến nay, chỉ phần đỉnh của công trình đồ sộ là được hé mở và các nhà khoa học cho biết cần cả một thập kỷ để quét sạch đất cát khỏi kim tự tháp.  Không có vàng hay vật quý nào được tìm thấy trong kim tự tháp. Tuy nhiên, bản thân công trình là vô cùng quý giá bởi các nhà khoa học tin rằng cuộc điều tra kỹ lưỡng về công trình này sẽ thay đổi đáng kể sự hiểu biết về lịch sử Châu Âu cổ đại.  (theo Pravda)  M.T       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính hiển vi chiếu rọi nguồn gốc của than củi      Một số lượng lớn than củi bán ở châu Âu đến từ các khu rừng nhiệt đới và nó thường không được “dán nhãn”, điều đó làm tăng lên các câu hỏi về việc liệu việc đốn cây có hợp pháp?    Gần một nửa số than củi dùng để nướng thịt được chuyển đến châu Âu đều có nguồn gốc từ cây trong các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong đó chỉ có một số ít được cấp phép, nó khiến người ta phải đặt câu hỏi là có phải chỉ một số than củi đó là được khai thác trong khuôn khổ pháp luật.    Đây là kết quả từ một phân tích hàng trăm mẫu than củi, sử dụng một kỹ thuật trên kính hiển vi điện tử mới. Các nhà khoa học đã tìm ra có nhiều túi than củi được dán nhãn không chính xác loại gỗ bên trong hoặc thậm chí không có liên quan giữa nhãn hiệu và gỗ, điều này dẫn đến sự lo ngại về nguồn gốc thực sự của chúng.  Công trình này mới xuất bản trên IAWA Journal, một nhà xuất bản thuộc Hiệp hội các nhà phân tích gỗ quốc tế. “Đây chỉ là một cái nhìn tổng thể nên không đủ thông tin để rung lên tiếng chuông cảnh báo. Muốn như vậy chúng tôi phải tìm được rất nhiều loại gỗ được khai thác từ rừng nhiệt đới”, Volker Haag, một nhà phân tích gỗ tại Viện nghiên cứu Gỗ Thünen ở Hamburg, Đức và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói.  Các nhà nghiên cứu đã khai thác những phát triển mới của kỹ thuật trên kính hiển vi để chuyển đổi nó thành công cụ chứng minh những điểm tối trong lĩnh vực thương mại than củi quốc tế có lợi nhuận hàng triệu đô la này. Các nhà vận động thường cho là có thể khoảng hai triệu tấn gỗ được khai thác bất hợp pháp vào tới châu Âu mỗi năm.  Châu Âu nhập khẩu khoảng 750.000 tấn than củi vào năm 2019, trong đó các quốc gia cung cấp bao gồm Nigeria (20%) và Paraguay (7%), vốn được biết là nơi phổ biến nạn khai thác gỗ bất hợp pháp. Nhưng một khi vào đến châu Âu, nó lại được bán một cách hợp pháp bởi vì mặt hàng này không phải chịu sự chi phối của Quy định gỗ công nghiệp châu Âu (European Timber Regulation EUTR), pháp luật cấm các công ty đưa gỗ khai thác bất hợp pháp vào thị trường châu Âu.  Tái cấu trúc số     Than củi rất khó để phân tích bởi đã bị mất đi các đặc điểm nhận diện của cây gỗ nguyên thủy như màu sắc, mùi và nó có thể vỡ vụn một cách dễ dàng. Nhưng Haag đã phát triển một kỹ thuật trên kính hiển vi  ánh sáng được phản chiếu ba chiều (3D-reflected-light microscopy) có thể tái cấu trúc bằng kỹ thuật số các mặt cắt của than củi từ những mẩu không đồng đều để có thể tạo ra những hình ảnh giúp người ta dễ nhận diện được loại gỗ nguyên bản – thông thường ở cấp độ gene. Điều này đủ để bác bỏ nhiều loại tuyên bố về nguồn gốc của gỗ.  Nhóm nghiên cứu của Haag đã phân tích 4.500 mẫu từ 150 túi than củi xuất phát từ 11 quốc gia trong thời gian từ năm 2019 đến 2020. Khoảng 46% số mẫu than củi là từ gỗ từ các khu rừng nhiệt đới và bán nhiệt đới, những nơi có tốc độ phá rừng ở mức cao trên thế giới. Tại Tây Ban Nha, Italy, Ba Lan và Bỉ, con số này là trên 60%. Dĩ nhiên, chỉ có 1/4 các túi mẫu có logo của những tổ chức cấp giấy chứng nhận phát triển bền vững như Hội đồng Quản lý rừng (Forest Stewardship Council FSC).  Thêm vào đó, chỉ có 1/4 số túi theo danh nghĩa ghi rõ loài hoặc nguồn gốc của gỗ – và chỉ một nửa các thông tin này là đúng đắn.  “Nếu anh tìm thấy một sản phẩm đi kèm với thông tin sai về loài bên trong thì đây là chỉ dấu rất mạnh về việc khai thác bất hợp pháp”, Johannes Zahnen, một chuyên gia về chính sách quản lý rừng tại Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới ở Berlin và là đồng tác giả công bố. “Kết hợp với hiểu biết là phần lớn than củi đến từ Nigeria và Paraguay thì nó có ‘nguy cơ’ cao là từ nguồn khai thác bất hợp pháp”.  Zahnen kêu gọi quy định EUTR mở rộng tới than củi và để các nhà chức trách yêu càu các nhà cung cấp dán nhãn lên các túi than củi bán trên thị trường.  Phil Guillery, giám đốc bộ phận phụ trách chuỗi cung cấp tại FSC có trụ sở tại Bonn, Đức, cho biết nghiên cứu đã chứng tỏ khi sử dụng chứng nhận phát triển bền vững thì thông tin rất chính xác. Kể từ năm 2017, FSC đã sử dụng kỹ thuật kính hiển vi khác để xác nhận những thôn tin về nguồn gốc các túi than củi trong nỗ lực ngăn chặn gỗ bất hợp pháp. “Năng lực kiểm tra than củi sẽ đóng một vai trò rất lớn trong quá trình này,” Guillery nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02672-z       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp: Từ quan sát protein đến Nobel Hóa học      Quan sát hình ảnh thực của những thực thể sinh học siêu nhỏ như virus, vi khuẩn, các phân tử protein,.. từng là thách thức lớn với các nhà sinh học. Do kích thước của chúng quá nhỏ nên không thể quan sát chúng bằng các công cụ hiển vi thông thường. Trong khi đó, kính hiển vi điện tử – công cụ tối tân của các nhà vật lý thường dùng để quan sát các vật liệu rắn ở các kích thước nhỏ hơn (nguyên tử, hạ nguyên tử), lại không thể quan sát những tế bào sinh học vì chùm điện tử của chúng có thể phá hủy các tế bào mong manh đó. Vì thế, các nhà khoa học, tiên phong là Richard Henderson, đã tìm cách sử dụng công cụ tối tân này trên các thực thể sinh học và xây dựng nên những hình ảnh thực về phân tử protein, các cấu trúc virus siêu nhỏ… Với thành tựu của họ, các nhà sinh học đã có thể bước vào thế giới siêu nhỏ của các phân tử sinh học và giải Nobel Hóa học 2017 đã vinh danh những đóng góp đó [1].      Ủy ban Giải thưởng Nobel hóa học giải thích, thành tựu giúp “mở ra một thế giới hoàn toàn mới khi giờ đây chúng ta đã có thể quan sát các phân tử và cách thức chúng tương tác dễ dàng hơn”,  Từ thách thức cấu trúc protein  Ngày nay, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các hình ảnh các virus siêu nhỏ (thậm chí ảnh 3D có chất lượng cao) do các nhà khoa học chụp bằng các công cụ hiển vi điện tử tối tân, điều cách đây hơn 30 năm từng gây đau đầu cho các nhà vật lý, sinh học bởi quá khó để nhìn thấy chúng bằng các công cụ quan sát thời đó. Từ những năm 1950, cấu trúc tinh thể đầu tiên của một số protein được xây dựng ở Đại học Cambridge (Vương quốc Anh) nhờ các phép nhiễu xạ tinh thể tia X. Từ đó, các nhà khoa học bắt đầu giả lập hình ảnh các phân tử protein. Nhưng để làm được điều đó, họ phải tinh thể hóa protein, vốn không dễ đạt được vì nhiều protein nằm ở bên trong màng tế bào.  Ban đầu, Richard Henderson2 theo đuổi nghiên cứu cấu trúc protein bằng tinh thể học tia X kể từ khi còn là nghiên cứu sinh ở Cambridge. Ông mong muốn chụp hình ảnh protein bằng tia X nhưng không thể đạt được vì vấn đề tinh thể hóa các protein. Khi thấy các đồng nghiệp nghiên cứu về cấu trúc vật liệu quan sát cấu trúc vật rắn với khả năng quan sát ở cấp độ nguyên tử bằng kính hiển vi điện tử truyền qua, Henderson tin rằng đây chính là công cụ mà ông đang cần. Tuy nhiên thực tế không hề đơn giản như vậy đối với các vật liệu sinh học mà Henderson đang nghiên cứu.  Kính hiển vi điện tử tối tân  Kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscope – TEM) là công cụ quan sát tối tân của các nhà vật lý học dùng để quan sát cấu trúc vật rắn do Ernst Ruska và Max Knoll phát minh vào năm 1931 ở Berlin. Hiểu một cách đơn giản thì sử dụng TEM tương tự như việc phóng đại ảnh ở các kính hiển vi ánh sáng được dùng bởi các nhà sinh học để nhìn các tế bào bé xíu. Do sóng ánh sáng có bước sóng rất dài (cỡ 400 nm là ánh sáng ngắn nhất) nên TEM không thể tạo được ảnh của các vật thể nhỏ hơn như vậy. Vì thế, thay vì dùng sóng ánh sáng, Ruska và Knoll đã dùng sóng điện tử được gia tốc dưới điện trường cao (hàng trăm kilovolt) có bước sóng cực ngắn (ví dụ như chùm điện tử 100 kV sẽ có bước sóng nhỏ hơn 0,004 nm) để chiếu qua mẫu vật, và dùng các thấu kính điện từ để tạo ảnh thay vì các thấu kính thủy tinh. Nhờ đó, TEM có thể tạo độ phóng đại hàng triệu lần và có thể phân giải các vật thể nhỏ tới cấp độ nguyên tử3. Bên cạnh khả năng quan sát các vật thể siêu nhỏ, TEM có thể tính toán cấu trúc tinh thể nhờ ghi lại phổ nhiễu xạ khi điện tử nhiễu xạ trên mẫu vật, hay xác định thành phần và liên kết hóa học nhờ tương tác của chùm điện tử với nguyên tử; hay xác định cấu trúc điện từ của vật rắn… Vì thế, TEM là một công cụ quan sát và phân tích tối tân của các nhà vật lý cho các nghiên cứu vật liệu rắn, và được yêu thích trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay.4     Hình 1. (a,b) Ảnh chụp một thiết bị TEM và nguyên lý quang học điện tử ở TEM 6,  (c) mô hình 3D của protein đầu tiên công bố bởi Henderson (1975) dựng từ các bức ảnh TEM có độ phân giải 7 Å 7.   Lý do gì khiến cho TEM không thể sử dụng cho các mẫu sinh học? Thứ nhất, tất cả cơ cấu quang học của TEM được đặt trong một cột chân không siêu cao (nhằm làm giảm việc mất mát năng lượng của sóng điện tử) nên nó làm khô các tế bào sinh học và trở nên không tương thích với các mẫu tế bào hay protein; thứ hai, sóng điện tử có năng lượng rất cao và thường làm cháy các mẫu tế bào. Thế nhưng Henderson vẫn tin rằng TEM là một công cụ tuyệt vời cho các nghiên cứu của ông.  TEM và các phân tử sinh học – các kết quả đầu tiên  Henderson đã đạt được thành tựu đầu tiên vào năm 1975 với mô hình protein đầu tiên được dựng từ những bức ảnh chụp TEM trên mẫu bacteriorhodopsin. Lúc đó do kỹ thuật làm lạnh chưa phát triển nên Henderson đã dùng dung dịch glucose để bảo vệ mẫu trong chân không, giảm liều lượng chùm điện tử chiếu qua mẫu ở mức rất thấp (chỉ có khoảng 1 điện tử đi qua diện tích 0,01 nm2 trong một giây) và đạt độ phân giải bất ngờ 7 Angstrom. Bằng việc chụp hình chiếu của phân tử protein ở nhiều góc chụp khác nhau (quay nghiêng mẫu) và kết hợp với ghi nhận phổ nhiễu xạ điện tử, Henderson đã xây dựng thành công mô hình ba chiều đơn giản đầu tiên của phân tử protein và khẳng định chắc chắn rằng TEM là công cụ tuyệt vời mà các nhà sinh học cần dùng để quan sát các phân tử sinh học.  Đông cứng tế bào và cryo-EM  Tuy chứng minh được tính hữu dụng của TEM nhưng Henderson vẫn gặp phải vấn đề bảo vệ mẫu trong buồng TEM. Việc giảm liều lượng chùm điện tử khiến ảnh trở nên rất kém chất lượng, thế nên để có ảnh chất lượng, việc tìm ra cách bảo vệ mẫu ở chùm điện tử mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đông cứng mẫu trong môi trường nước vẫn là biện pháp phổ biến được dùng sau đó, nhưng nó lại tạo ra sự khó chịu khác: nước khi đông lạnh lại sẽ trở thành các tinh thể đá và bức ảnh TEM chụp được sẽ là các protein nằm trên một nền tinh thể nước.Tinh thể nước sẽ tán xạ các điện tử rất mạnh mẽ và khiến cho tương phản của protein trong ảnh TEM trở nên mờ nhạt.    Hình 2. (a) Nguyên lý xử lý mẫu sinh học của Dubochet bằng cách đông cứng nhanh nước trong ethane lạnh, (b) ảnh chụp một cryo-TEM (FEI Tecnai Polara) ở Đại học Manchester (Anh), (c) ảnh TEM chụp các phân tử protein với độ tương phản mạnh của Dubochet, (d) mô hình ba chiều protein bacteriorhodopsin công bố bởi Henderson năm 1990  Năm 1978, khi trở thành trưởng nhóm nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử châu Âu ở Heidelberg (Đức), Jacques Dubochet7 bắt đầu theo đuổi nghiên cứu tương tự Henderson từ cách tiếp cận bảo vệ mẫu. Năm 1982, nhóm của Dubochet đã tìm ra cách giải quyết vấn đề tinh thể nước khi tạo ra mẫu chứa nước đông cứng bằng cách làm đông cứng nhanh trong ethane được làm lạnh ở nhiệt độ -196oC bằng nitơ lỏng. Cách làm đông cứng nhanh này cho phép giữ nguyên trạng thái không có cấu trúc tinh thể của nước, nhờ vậy nhóm của Dubochet đã chụp được những bức ảnh TEM chất lượng cao của các virus trong nước, với nhiều hình dạng khác nhau ở mức độ tương phản cực tốt. Từ đây, kỹ thuật cryoTEM (hay cryoEM) bắt đầu được phát triển từ đột phá của Dubochet. Người ta đã phát triển các công cụ làm lạnh mẫu và duy trì nhiệt độ siêu thấp cho mẫu bằng các công cụ làm lạnh với khí hóa lỏng cho thiết bị TEM, thiết bị mà trước đó không hề được làm lạnh mẫu. Sự phát triển của cryo-TEM giúp cho Henderson một lần nữa thành công rực rỡ khi công bố các bức ảnh chụp 3D của mẫu protein bacteriorhodopsin với độ phân giải siêu cao – cấp độ nguyên tử vào năm 1990. Lần này, kỹ thuật tạo ảnh TEM 3 chiều của các phân tử protein đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều nhờ một đóng góp khác về mặt tính toán của Joachim Frank làm việc ở phía bên kia Đại Tây Dương.  Kỹ thuật tạo ảnh 3D của Frank  Sau những công trình đầu tiên về ảnh 3 chiều của Henderson, năm 1975 Joachim Frank8 đã đưa ra một chiến lược lý thuyết nhằm xây dựng các bức ảnh 3 chiều từ các bức ảnh chụp 2 chiều của các phân tử protein. Khi các phân tử protein (có các định hướng ngẫu nhiên) tạo ra các vết tích trên bức ảnh TEM (vốn là ảnh 2 chiều), máy tính sẽ phân biệt các vết tích này với nhiễu nền và đặt các vết tích tương đồng nhau vào một nhóm. Bằng cách lọc ra hàng ngàn các vết tích, máy tính sẽ tạo ra một bức ảnh TEM 2 chiều có độ phân giải cao. Bằng cách tạo ra các bức ảnh 2D có độ phân giải cao từ cùng protein được chụp từ nhiều góc độ khác nhau, phần mềm sẽ dựng nên một bức ảnh 3 chiều có độ phân giải cao của các phân tử protein. Frank đã mất gần 10 năm để hoàn thành công trình này và ra mắt phần mềm máy tính vào giữa những năm 80, và lần đầu tiên ứng dụng thành công để xây dựng nên mô hình của ribosome. Thuật toán của Frank trở thành nền tảng cho các camera ghi ảnh và xử lý ảnh 3 chiều trong các cryo-TEM.  Chặng đường từ những bức ảnh TEM đầu tiên về các phân tử protein cho tới sự phổ biến của các cryo-TEM dùng cho nghiên cứu các mẫu sinh học ở cấp độ hạ tế bào trong gần 40 năm giúp mở ra những chân trời mới ở cấp độ hạ tế bào và giờ đây, mọi góc tối của tế bào đều có thể được khám phá nhờ cryo-TEM.9 Việc Henderson, Dubochet và Frank được trao giải Nobel nhiều người bất ngờ, nhưng sự bất ngờ không phải ở việc nghi ngờ họ có xứng đáng hay không, mà bất ngờ vì những đóng góp của họ được nhân loại ghi nhận và vinh danh sớm hơn nhiều người tưởng.  ——————–  1. Bài viết sử dụng nhiều tư liệu từ bài giới thiệu của Ủy ban Nobel về Giải Nobel Hóa học 2017.  2. Richard Henderson (sinh năm 1945 ở Edinburgh, Scotland), tốt nghiệp Đại học Edinburgh và nhận bằng PhD tại Cambridge năm 1969.  3. Các TEM hiện đại ngày nay có thể đạt độ phân giải tới 0,5 Å tức là ở mức độ hạ nguyên tử.  4. Dù đã phổ biến trên thế giới hơn 50 năm qua, TEM vẫn là một công cụ tối tân, đáng mơ ước ở bất kỳ phòng thí nghiệm phân tích vật liệu nào. Ở Việt Nam, thiết bị TEM đã và đang được vận hành ở một số phòng thí nghiệm (ví dụ như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ,..). TEM là một thiết bị tối tân, vận hành khá phức tạp, đòi hỏi chi phí vận hành lớn và nhân lực vận hành được đào tạo bài bản.  5. Hình trích từ Ngô Đức Thế, Các kỹ thuật Hiển vi Điện tử và Vi phân tích, NXB ĐHQGHN (2017).  6. R. Henderson & P. N. T. Unwin, Nature 257, 28-32 (1975).  7. Jacques Dubochet (sinh năm 1942) là công dân Thụy Sĩ, nhận bằng PhD về lý sinh năm 1973 ở Đại học Geneva và Basel.  8. Joachim Frank (sinh năm 1940 ở Đức), học đại học ở Đức, nhận bằng PhD ở Đại học Kỹ thuật Munich trước khi sang Mỹ làm việc và định cư.  9. Đánh giá của Ủy ban Nobel.       Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Kính Hubble chứng minh lý thuyết hình thành hành tinh      Theo kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Mỹ công bố trên Tạp chí Thiên văn học số ra tháng 10/2006, với những hình ảnh do kính thiên văn vũ trụ Hubble thu được, đã cung cấp bằng chứng đầy đủ chứng minh lý thuyết cho rằng các hành tinh được hình thành từ những “đĩa” bụi và khí bay xung quanh ngôi sao của nó.    Trưởng nhóm nghiên cứu trên, Fritz Benedict, thuộc trường Đại học Texas (Mỹ), cùng các đồng nghiệp đã lần đầu tiên phát hiện một hành tinh hiếm, có chung quỹ đạo với “đĩa” bụi và khí bên cạnh ngôi sao của nó. Hành tinh trên, có tên gọi là Epsilon Eridani b, được phát hiện vào năm 2000 với quỹ đạo gần với ngôi sao Epsilon Eridani. Epsilon Eridani b thuộc chòm sao Eridanus và cách Trái đất 10,5 năm ánh sáng. Quỹ đạo của hành tinh này nghiêng 30 độ so với Trái đất, cùng góc với “đĩa” bụi và khí xung quanh ngôi sao của nó.  Kết quả nghiên cứu mới này đã gây ra sự chú ý một cách đặc biệt, bởi đây là lần đầu tiên giới khoa học quan sát được hành tinh và “đĩa” bụi, khí trong quỹ đạo của cùng một ngôi sao, qua đó đã chứng minh được học thuyết về sự hình thành nên các hành tinh.  Theo các nhà khoa học, những hành tinh trong Hệ Mặt trời của chúng ta có sự liên kết chung, và nghiên cứu mới đã cho thấy chúng đã được hình thành trong cùng thời điểm từ “đĩa” bụi và khí của Mặt trời. Hiện Mặt trời là một ngôi sao ở “độ tuổi trung niên” khoảng 4,5 tỷ năm và đĩa bụi của nó đã tan đi từ lâu. Tuy nhiên, “Mặt trời” Epsilon Eridani vẫn còn “trẻ”, chỉ khoảng 800 triệu năm tuổi, do đó nó vẫn còn lớp “đĩa” bụi và khí bay xung quanh quỹ đạo của nó.  Những hình ảnh thu được từ kính Hubble cũng giúp các nhà nghiên cứu xác định được khối lượng thực sự của hành tinh trên, bằng khoảng 1,5 lần khối lượng sao Mộc, lớn hơn khá nhiều so với kết quả dự đoán trước đó.   P.V (Theo TTXVN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm thúc đẩy ĐMST của Phần Lan      Ông Esko Aho – cựu Thủ tướng Phần Lan – đến thuyết trình tại Bộ KH&CN vào ngày 18/9/2017 để chia sẻ kinh nghiệm của Phần Lan trong phát triển kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo.      Trong những năm gần đây, Phần Lan luôn ở top 10 quốc gia hàng đầu thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI). Các chỉ số về hiệu quả của các tổ chức công, hệ thống giáo dục đại học, mức độ đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, công bố và trích dẫn quốc tế, hợp tác công- tư của Phần Lan cũng luôn đứng hàng đầu thế giới. Bài học thành công của Phần Lan trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững dựa trên nhân tố đổi mới sáng tạo rất đáng để các quốc gia đi sau như Việt Nam tham khảo, học hỏi kinh nghiệm.  Ông Esko Aho là chuyên gia hàng đầu của Phần Lan và EU về chính sách phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ông đã trải qua nhiều vị trí chủ chốt trong Chính phủ và khu vực tư nhân như: Nguyên Thủ tướng Phần Lan (1991-1995), Nguyên Chủ tịch SITRA (Quỹ phát triển Đổi mới sáng tạo trực thuộc Nghị viện Phần Lan), Nguyên Phó chủ tịch Tập đoàn Nokia. Ông đã tham gia nhóm chuyên gia xây dựng chính sách cho EU thúc đẩy nghiên cứu và tăng cường hiệu năng cho đổi mới sáng tạo, chủ tọa nhóm nghiên cứu đề xuất chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia của Phần Lan năm 2008.  Nguồn video: Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Giai đoạn 2 (IPP2) thuộc Bộ KH&CN.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính nhìn ban đêm “Madein Vietnam”      Ống nhòm, ống ngắm bắn ban đêm – có lẽ nhiều người đã thấy… trên phim nước ngoài. Nhưng chắc ít người được biết, vừa qua nhóm nghiên cứu của Viện Vật lý và điện tử (Viện KH&amp;CN Việt Nam) đã chế tạo thành công liền ba loại sản phẩm nhìn ban đêm: kính quan sát một mắt, kính quan sát hai mắt và kính ngắm bắn, giá thành rẻ hơn 35 – 50% so với sản phẩm tương đương nhập ngoại. Đây là những sản phẩm thành công của đề tài cấp nhà nước KC.05.04 “Nghiên cứu công nghệ chế tạo và lắp ráp các linh kiện quang học của thiết bị nhìn đêm dựa trên nguyên lý khuếch đại ánh sáng mờ”.    Do là sản phẩm công nghệ cao, chủ yếu dùng cho quân sự nên các loại kính ngắm và kính quan sát tầm xa ban đêm thường bị cấm xuất khẩu sang những nước ngoài khối NATO. Nếu có mua được thì giá thành cũng rất cao. Như loại thấp nhất là kính quan sát mini đã có giá 6.000USD, còn giá thành chuyển giao cho một loại kính ngắm thông thường cũng đã lên tới hàng triệu USD. Nếu chủ động nghiên cứu chế tạo kính nhìn ban đêm trong nước, không những giảm giá thành so với nhập nguyên chiếc mà còn có thể đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên việc nghiên cứu chế tạo kính nhìn đêm đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ cao mà hiện chỉ có một số nước công nghiệp phát triển là có khả năng thực hiện được.              Kính quan sát        Việc nghiên cứu ban đầu gặp rất nhiều khó khăn do đây là công việc hoàn toàn mới mẻ, trong khi ta lại thiếu cả cơ sở vật chất lẫn tri thức công nghệ, thiếu hẳn những ngành bổ trợ như cơ khí chính xác, vật liệu quang học và hóa chất, thiếu đội ngũ thiết kế, kỹ sư công nghệ và công nhân lành nghề. Đến nay Việt Nam vẫn chưa có định hướng phát triển, chưa có mã ngành khoa học. Chính vì vậy mà nhóm nghiên cứu phải xây dựng một quy trình công nghệ, từ những việc rất nhỏ như tiện ren, gia công chế tạo các cụm chức năng cơ khí… cho đến những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao như nghiên cứu lý thuyết và quy trình tạo ảnh các chùm tia theo phân bố Gauss, thiết kế tối ưu các cụm chức năng, nghiên cứu và thực nghiệm các quy trình tạo vạch khắc trên bề mặt thủy tinh quang học… Tổng cộng có tới bảy lĩnh vực cần nghiên cứu, thử nghiệm: quang điện tử – laser; công nghệ màng mỏng, quang học kỹ thuật, cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển tự động và xử lý ảnh. “Chúng tôi phải chủ động giải quyết triệt để tất cả mọi khâu từ nghiên cứu, thiết kế cho đến công nghệ chế tạo và lắp ráp cho hầu hết các chủng loại ống kính thiết bị nhìn đêm sử dụng các đầu thu khuếch đại ảnh thế hệ hiện đại” – TS Minh, chủ nhiệm nhóm nghiên cứu cho biết.              Kính đeo trán        Ban đầu là tìm nhập những loại đầu thu khuếch đại ảnh cho ống kính nhìn đêm, đây là một việc không dễ dàng bởi mặt hàng này nhiều nước cấm mua bán. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã chọn mua loại đầu thu thế hệ XD-4. Loại đầu thu này không những có tính năng tốt mà còn rất bền. “Chính nhờ có quyết định đúng trong việc nhập loại đầu thu trên mà chúng tôi mới tạo được những ống kính thiết bị nhìn đêm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây còn là một định hướng chiến lược rất quan trọng cho các dự án đầu tư, nghiên cứu phát triển và sản xuất các ống kính thiết bị nhìn đêm ở trong nước, tránh mua phải dây chuyền lạc hậu” – TS Minh nói.  Những ai “chơi” máy ảnh đều biết, muốn nâng cao độ phân giải, độ nét sâu và độ sáng của các ống kính quang học thì phải tăng khẩu độ hay đường kính các thấu kính. Trong các thiết bị quang học cao cấp như ống kính cho camera chuyên dụng, ống kính chụp ảnh hàng không, telescope loại lớn… đường kính các chi tiết thấu kính và gương thường lớn hơn Ø100. Cho đến nay, các máy đánh bóng bề mặt quang học ở Việt Nam chỉ có khả năng gia công thấu kính có đường kính từ Ø 20 đến Ø 80. Muốn tạo được các chi tiết quang học có đường kính lớn hơn Ø 100, nhóm nghiên cứu phải đầu tư một thiết bị đo bán kính mặt cầu có độ chính xác nhất hiện nay, đồng thời thiết kế và chế tạo một máy mài và đánh bóng mặt cầu quang học lớn, một bộ gá tâm thấu kính và các dụng cụ đồ gá cho công đoạn mài rìa và khoan thấu kính với độ đồng trục cực chính xác.  Để tăng độ nét và độ trung thực của màu sắc, một công đoạn khác rất công phu mà nhóm nghiên cứu phải tiến hành là chế tạo các hệ màng mỏng giao thoa nhiều lớp bằng phương pháp bốc hơi trong chân không. Lớp màng mỏng trông như lớp váng dầu trên thấu kính này có tác dụng giảm độ phản xạ, tăng độ truyền qua của mỗi mặt khúc xạ, ngoài ra nó còn có tác dụng bảo vệ bề mặt kính khỏi tác động của hơi ẩm, hơi nước biển hay nấm mốc phá hủy.              Kính quay camera đêm        Cùng một loạt quy trình khác như thiết kế tối ưu các hệ thống ống kính đặc thù cho nhìn đêm, xây dựng bộ chương trình cải thiện chất lượng và xử lý hình ảnh, gia công chính xác cho các chi tiết cơ khí khó và phức tạp, đo đạc lắp ráp căn chỉnh ống kính và toàn bộ thiết bị, nhóm nghiên cứu đã chế tạo tương đối đầy đủ các chủng loại ống kính thiết bị nhìn đêm. Qua thử nghiệm trong một số cơ quan của Bộ Công an, sản phẩm kính quan sát một mắt của nhóm nghiên cứu có chất lượng ảnh tương đương với những mẫu tốt nhất cùng loại của nước ngoài. Loại kính nhìn đêm quan sát tầm xa mà nhóm nghiên cứu thiết kế chế tạo “vượt so với đăng ký” có độ phóng đại tới 45 lần. Ở chủng loại kính quan sát hai mắt, nhóm cũng chế tạo “vượt yêu cầu” mẫu kính gắn với mũ lái xe hoặc mũ phi công. Khi tháo kính ra khỏi mũ, nó được sử dụng như loại ống nhòm hai mắt, rất thuận tiện khi quan sát.  Riêng với chủng loại kính ngắm bắn, các chi tiết thấu kính và cơ khí phải có độ chính xác cao hơn hẳn so với loại dùng cho quan sát, chưa kể tất cả các cụm chức năng quang cơ điện tử laser của ống kính phải có kết cấu đặc biệt vững chắc để tránh xô lệch do lực rung rất mạnh khi bắn. Loại kính ngắm bắn mà nhóm nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công có thể sử dụng cả ban ngày lẫn trong đêm, quan sát rõ mục tiêu ở tầm 350m.  Tất nhiên từ sản phẩm chế thử đến sản xuất hàng loạt lại là cả chặng đường dài. “Một việc tưởng như đơn giản nhưng lại phải đầu tư rất lớn là phòng sạch vô trùng lắp kính, hoặc buồng khử tĩnh điện khi lắp ráp các mạch điện tử, vật liệu phải tẩm sấy theo quy trình công nghệ để không bị chập mạch, kín khít nước và bảo ôn… chúng tôi vẫn chưa có. Nhưng quan trọng nhất, tất cả những gì thuộc chuyên môn, quy trình công nghệ thì chúng tôi đã nắm được” – Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu nói.    ảnh trên cùng: Kính ngắm đêm cho súng bắn tỉa  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế học hành vi: Hai giải Nobel và hành trình từ “tháp ngà” đi vào thực tiễn      Giải Nobel kinh tế năm 2017 đã được trao cho Richard Thaler về những dấu ấn của ông trong việc đặt nền tảng, xây dựng và phát triển kinh tế học hành vi trong suốt 20 năm qua. Ông đã truyền cảm hứng cho sự hình thành của rất nhiều nhóm ứng dụng khoa học hành vi vào hoạt động của các tổ chức công và tư. Cảm hứng Thaler đến từ nguyên lý rất đơn giản: hành vi của con người có thể bị tác động từ những thay đổi rất nhỏ trong bối cảnh mà họ ra quyết định.    Kinh tế học hành vi là gì?   Việt Nam có hàng trăm ngàn người bệnh chờ được ghép tạng. Bệnh viện Chợ Rẫy thông báo chỉ có 2.900 người tình nguyện đăng ký hiến các bộ phận cơ thể của mình sau khi mất đi. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép Bộ phận cơ thể người đặt tại Bệnh viện Việt Đức có khoảng 3.900 người đăng ký hiến tạng [1]. Nhu cầu ghép tạng và lượng hiến tạng ở một khoảng cách rất xa. Làm thế nào để thu hẹp khoảng trống này? Chính sách chung ở Việt Nam là kêu gọi đăng ký tình nguyện hiến tạng, đồng thời sử dụng các câu chuyện cảm động để kêu gọi lòng nhân ái. Các nhà quản lý kỳ vọng dùng giáo dục, truyền thông để thay đổi quan niệm “chết toàn thây” của người Việt.  Các nhà kinh tế học truyền thống có thể đề nghị giải pháp khác: tạo lập thị trường bằng cách cho phép mua bán nội tạng. Họ lý luận rằng nếu mức giá đủ lớn, lượng cung sẽ tăng. Những người sẽ chết có thể muốn có thu nhập tăng thêm, có thể để lại cho người thân trong gia đình. Tuy nhiên giải pháp này không khả thi vì có quá nhiều vấn đề văn hóa, đạo đức và thể chế ràng buộc nguồn cung. Không một quốc gia nào trên thế giới hợp pháp hóa việc mua bán tạng người.    GS. Richard Thaler, người đặt nền móng và xây dựng, phát triển kinh tế học hành vi, được trao giải Nobel năm 2017. Nguồn ảnh:   (Reuters/Kamil Krzaczynski)  Kinh tế học hành vi có giải pháp cho vấn đề hóc búa này. Khi ra quyết định, con người không phải lúc nào cũng duy lý, tính toán đầy đủ thiệt hơn và xem xét mọi khía cạnh của vấn đề. Ngay cả với những quyết định quan trọng như trao cho người lạ mặt nào đó một phần cơ thể của mình sau khi mất đi, con người có thể sẽ quyết định rất khác, đơn giản chỉ là nếu bản đăng ký hiến nội tạng được trình bày theo một cách khác. Trong một nghiên cứu nổi tiếng đăng trên tạp chí Science năm 2003 [2], Johnson và Goldstein, ở Đại học Columbia, phân tích kết quả đăng ký hiến tạng ở châu Âu cho thấy nếu để người dân chủ động đăng ký, tỷ lệ đăng ký hiến tạng sẽ thấp (thấp nhất là 4.2% ở Đan Mạch và cao nhất là 27.5% ở Hà Lan). Trong khi nếu quy định mặc nhiên là mọi người sẽ tình nguyện hiến tạng, nếu ai không muốn thì làm đơn xin rút lui, thì tỷ lệ đăng ký hiến tạng ở mức rất cao (85.9% ở Thụy điển và trên 99% ở các nước Áo, Pháp, Hungary, Ba Lan hay Bồ Đào Nha). Ở đây cơ chế tâm lý con người có xu hướng bám víu vào tình trạng mặc định giúp giải thích sự khác biệt lớn trong lựa chọn quan trọng này. Xu hướng chọn trạng thái mặc định chứ không phải yếu tố giá cả, đạo đức, văn hóa, hay giáo dục là yếu tố quyết định giải thích con người có sẵn sàng hiến nội tạng của mình cho người khác hay không. Ứng dụng tâm lý học này đã chính thức đi vào chính sách ở Pháp: Quốc hội Pháp đã thông qua luật định từ năm 2017 công dân Pháp còn sống mặc định được coi là sẽ tình nguyện hiến tạng khi chết [3], ai không đồng ý có thể làm đơn không hiến tạng.  Kinh tế học hành vi là sự phối hợp giữa tâm lý học và kinh tế học. Kinh tế học truyền thống luôn giả định con người là duy lý, có sở thích rõ ràng và ổn định, luôn tối đa hóa lợi ích bản thân khi thực hiện một lựa chọn nào đó và dựa vào đó để xây dựng các mô hình dự báo cá nhân, công ty và xã hội tương tác và ra quyết định như thế nào. Còn các nhà kinh tế học hành vi đưa ra bằng chứng khoa học cho thấy con người đầy thiên kiến, nhiều trường hợp không biết mình muốn gì và có mối quan tâm đến lợi ích của người khác. Họ cho rằng các yếu tố tâm lý phải được đưa vào các mô hình dự báo hành vi, và hành vi của con người có thể thay đổi nếu bối cảnh ra quyết định được thiết kế phù hợp với các quy luật tâm lý.  Giúp tăng hiệu quả chính sách  Giải Nobel Kinh tế 2017 được trao cho Richard Thaler được xem như là một chiến thắng, một sự lên ngôi của Kinh tế học hành vi. Thực ra Kinh tế học hành vi đã chính thức lên ngôi cách đây 15 năm với giải Nobel của Daniel Kahneman (chia sẻ với Vernon Smith cho kinh tế học thí nghiệm). Có phải hai giải Nobel cho cùng một lĩnh vực đặc biệt của kinh tế học là sự khẳng định tính không-còn-ngoài-lề của kinh tế học hành vi hay đánh dấu bước tiến vượt bậc của chuyên ngành này? Hai cuốn sách tiêu biểu nhất của Kahneman và Thaler có thể giúp trả lời câu hỏi này [4]. “Suy nghĩ, nhanh và chậm” của Kahneman giải thích nhận thức của con người bị thiên lệch ra sao, bằng cách phân tích cơ chế não bộ hình thành suy nghĩ từ hai hệ thống, hệ thống 1 cho suy nghĩ nhanh, cảm tính và chứa cảm xúc trong khi hệ thống 2 dành cho suy nghĩ chậm và logic. “Cú huých” của Thaler ít thuật ngữ học thuật hơn, ít tập trung vào nguyên lý tâm lý mà chủ yếu hướng đến các ứng dụng tâm lý học vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, đặc biệt là chính sách của chính phủ.  Giải Nobel lần 2 đánh dấu bước tiến của Kinh tế học hành vi từ tháp ngà học thuật đi vào thực tiễn cuộc sống sinh động. “Cú huých” của Thaler, đồng tác giả với Cass Sunstein, xuất bản năm 2008, thực sự đã gợi ý cho giới quản lý nhà nước một hướng tiếp cận chính sách mới. Vẫn đảm bảo quyền lựa chọn của người dân, nhưng chính sách có lồng ghép các kiến thức về hành vi sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Năm 2010, Thaler đã giúp hình thành Nhóm kiến thức hành vi ở Anh (UK’s Behavioral Insights Team – UKBIT) có nhiệm vụ giúp tăng tính hiệu quả của quá trình ra chính sách của Chính phủ Anh. Thời gian ngắn sau đó, các nhóm tư vấn tương tự được thành lập ở Hội đồng châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc, Singapore và các tổ chức quốc tế như LiênHhiệp Quốc, Ngân hàng thế giới, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển. Báo cáo Phát triển thế giới thường niên của Ngân hàng Thế giới năm 2015 có chủ đề là “Tâm trí, Xã hội và Hành vi”, tập trung thảo luận làm thế nào để dùng kiến thức kinh tế hành vi để thúc đẩy thay đổi xã hội và phát triển.      Cảm hứng Thaler đến từ nguyên lý rất đơn giản: hành vi của con người có thể bị tác động từ những thay đổi rất nhỏ trong bối cảnh mà họ ra quyết định.      Kinh tế học hành vi không còn là một nhánh “thuần túy” của kinh tế học mà đã vươn bước chân ứng dụng của nó ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, môi trường, giáo dục, năng lượng, lao động, tài chính, thuế và tiêu dùng. Báo cáo của tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) năm 2014 thống kê kinh tế học hành vi đã tham gia vào hơn 60 chính sách của các nước khác nhau [5]. Ứng dụng kinh tế học hành vi để giảm tình trạng bác sĩ kê toa thuốc kháng sinh quá mức ở Anh có thể minh họa cho xu hướng này. Trước tình trạng sử dụng kháng sinh quá mức dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh, gây ra các vấn đề y tế cộng đồng nghiêm trọng như không kiểm soát được bệnh dịch trong tương lai nhưng các biện pháp như nhà nước kiểm tra hay thả nổi cho thị trường y tế kiểm soát không có tác dụng, năm 2015 bộ Y tế Anh kết hợp với nhóm tư vấn kiến thức hành vi (UKBIT) thử nghiệm một công cụ hành vi đơn giản là “Quy tắc xã hội” để giảm việc kê toa kháng sinh quá mức. Công cụ này được đưa ra dựa trên nguyên lý con người là con người hành động không dựa trên tính toán duy lý mà thường bị tác động bởi những người xung quanh – một dạng như tâm lý bầy đàn. Nhóm các bác sĩ được gửi thông tin toa kê ít kháng sinh hơn của những bác sĩ khác có xu hướng sẽ kê toa giảm 3.3% lượng kháng sinh so với nhóm không nhận được thông tin. Từ đó bộ Y tế Anh đưa ra quy trình gửi thông tin nhắc nhở và so sánh hoạt động kê toa, tạo một “cú huých” tâm lý hướng bác sĩ giảm lượng kháng sinh không cần thiết cho bệnh nhân [6].    TS Phạm Khánh Nam đã thiết kế thí nghiệm để người dân tự nguyện đóng góp xây dựng cầu ở ĐBSCL. Kết quả cho thấy mức độ hợp tác của nông dân Việt Nam rất cao và thay đổi khá lớn nếu dự án được thiết kế dựa trên cơ chế hợp tác: cung cấp thông tin về mức độ hợp tác của người khác. Ảnh: Cây cầu do người dân tự thiết kế, xây dựng tại Sóc Trăng. Nguồn: Tiền phong.  Tình hình nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam  Việt Nam đã bắt đầu biết tới nghiên cứu về kinh tế học hành vi vào năm 2004, với nghiên cứu đầu tiên do một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Washington thực hiện, đo lường sự ưa thích thời gian, hay suất chiết khấu xã hội của người Việt [7]. Tuy nhiên phải tới năm 2010, nghiên cứu kinh tế học hành vi mới thực sự bắt đầu phát triển với khá nhiều chủ đề đa dạng như đo lường lòng tin, sự ưa thích vị thế xã hội, thái độ đối với rủi ro, khả năng hợp tác, cơ chế hợp tác, lòng nhân ái và phân tích các yếu tố này tác động như thế nào đến hành vi sản xuất, tiêu dùng của người Việt.  Đo lường khả năng hợp tác của người dân và tìm hiểu cơ chế tác động thúc đẩy hợp tác luôn là chủ đề quan trọng trong kinh tế học hành vi, vì tiềm năng đóng góp của nó cho việc vận hành các dự án công, quản lý tài nguyên môi trường, hay quản trị tổ chức. Tác giả bài viết này đã thực hiện thí nghiệm tự nhiên tại ĐBSCL về khả năng hợp tác của nông dân [8].Chúng tôi thiết kế thí nghiệm để người dân cùng tự nguyện đóng góp xây dựng cây cầu bắc qua một sông nhỏ ở tỉnh Bến Tre. Vì cây cầu là hàng hóa công, ai cũng có thể sử dụng mà không cần bỏ ra chi phí nên kinh tế học truyền thống sẽ dự đoán dự án xây cầu thất bại, nghĩa là mức đóng góp sẽ rất thấp hoặc bằng không. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hợp tác (đo lường bằng mức đóng góp) của nông dân Việt Nam thực sự khá cao, cao hơn mức trung bình trên thế giới, và quan trọng hơn, sự hợp tác có thể thay đổi khá lớn nếu có thay đổi nhỏ trong thiết kế cơ chế hợp tác: cung cấp thông tin về mức độ hợp tác của người khác làm thay đổi mức độ hợp tác của cá nhân đến 20%. Tác giả cũng thực nghiệm hình thức đóng góp kết hợp, mô phỏng cơ chế tài chính nhà nước và nhân dân cùng làm trong xây dựng các công trình công cộng ở nông thôn. Kết quả thực nghiệm cho thấy cơ chế đóng góp nhà nước và nhân dân cùng làm sẽ thành công nếu thiết kế ở chế độ đóng góp tự nguyện, lúc này nhóm người có tinh thần hợp tác cao sẽ bù đắp cho nhóm có mức độ hợp tác thấp.  Hiện nay các trường đại học lớn ở Hà Nội, TP. HCM và Cần Thơ đang hình thành những nhóm nghiên cứu kinh tế học hành vi rất năng động.Trường Đại học Kinh tế Tp. HCM đã thiết lập hai phòng thí nghiệm kinh tế học hành vi, với phần mềm Z-tree được Việt hóa, là một trong những đầu tư hạ tầng nghiên cứu kinh tế học hành vi đầu tiên ở Việt Nam. Năm 2016 quỹ NAFOSTED đã tài trợ cho một số dự án nghiên cứu đo lường sự ưa thích rủi ro của người Việt Nam hay phân tích tác động của sản xuất đến hạnh phúc của nông dân.  Khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng kinh tế hành vi vào thực tiễn chính sách ở Việt Nam có vẻ còn khá lớn. Điểm quan trọng là với bối cảnh của những nước đang phát triển, cơ chế nào là phù hợp để tích hợp kết quả nghiên cứu vào quá trình thực hiện chính sách. Hiện tại Sáng kiến Môi trường cho Phát triển (EfD Initiative) và Đại học Gothenburg đang thiết lập nhóm nghiên cứu và thử nghiệm cơ chế này cho các nước đang phát triển. Sự tham gia của các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý Việt Nam vào những chương trình như thế này sẽ giúp đẩy nhanh quá trình tiếp cận các “công nghệ” quản lý hiện đại của thế giới.  Với sự khởi đầu còn ngập ngừng nhưng đầy quyết tâm, nghiên cứu kinh tế học hành vi ở Việt Nam sẽ có những bước tiến chắc chắn trong tương lai, hy vọng đóng góp gia tăng hiệu quả của quá trình thực thi chính sách, cả ở mức độ vĩ mô xã hội và mức độ vi mô trong các tổ chức.  Tiến sĩ Phạm Khánh Nam hiện là giám đốc Trung tâm Môi trường cho Phát triển (EfD-Vietnam) thuộc trường Đại học Kinh tế TP.HCM. TS. Nam cũng là thành viên hội đồng nghiên cứu hành vi thuộc Diễn đàn tri thức tăng trưởng xanh (Green Growth Knowledge Platform), một mạng lưới nghiên cứu của UN, OECD và WB. Lĩnh vực nghiên cứu của TS. Phạm Khánh Nam là sử dụng kinh tế học hành vi phân tích và giải quyết các vấn đề quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Anh đã có công bố trên các tạp chí khoa học uy tín như Journal of Public Economics, Oxford Economics Paper, Journal of Economic Psychology hay Journal of Development Studies.  Tài liệu tham khảo  [1] Số liệu từ bài viết “Hơn 6,800 người đăng ký hiến tạng“ trên báo Nhân dân điện tử, ngày 08/02/2017, http://www.nhandan.com.vn/suckhoe/item/32010602-hon-6-800-nguoi-dang-ky-hien-tang.html  [2] Johnson, E. & Goldstein, D. 2003. Do defaults save life? Science Vol. 302, Issue 5649, pp. 1338-1339.  [3] Thông tin đăng trên báo the Guardian ngày 2/1/2017 với tiêu đề “France introduces opt-out policy on organ donation”, được nhiều cơ quan báo chí quốc tế khác dẫn lại, https://www.theguardian.com/society/2017/jan/02/france-organ-donation-law  [4] Kahneman, D. 2011. Thinking, Fast and Slow. Farrar, Straus and Giroux. New York và Sunstein, C. & Thaler, R. 2008. Nudges. Yale University Press.  [5] OECD. 2014. Behavioral Economics and Regulatory Policy. OECD Publishing, Paris.  [6] OECD (2017), Behavioural Insights and Public Policy: Lessons from Around the World, OECD Publishing, Paris.  [7] Anderson, C., Dietz, M., Gordon, A., Klawitter, M. 2004 Discount rates in Vietnam. Economic Development and Cultural Change, Vol. 52, No. 4, pp. 873-887.  [8] Carlsson, F., Johansson-Stenman, O & Nam, P.K. 2015. Funding a new bridge in Vietnam: A field experiment on conditional cooperation and default contribution. Oxford Economic Papers, Vol. 67 (4): 987-1014.    Author                Phạm Khánh Nam        
__label__tiasang Kính thiên văn James Webb – “người quan sát bầu trời” sau Hubble      Kính thiên văn không gian Hubble lên quỹ đạo vào năm 1990 và dự kiến sẽ kết thúc công việc của mình vào khoảng 2020, sau 30 năm hoạt động. Mang tên nhà thiên văn Edwin Hubble (1889-1953)-nhà khoa học đã tạo ra cuộc cách mạng trong thiên văn và trong tư tưởng khoa học của nhân loại khi tìm ra bằng chứng về một vũ trụ giãn nở, chiếc kính thiên văn này đã không phụ lòng của những người mong đợi. Trong suốt chặng đường đã qua của mình, kính thiên văn Hubble (nay gọi tắt là Hubble) đã thực hiện các khám phá quan trọng trong hệ mặt trời (quan sát sự va chạm giữ sao chổi Shomaker-Levy va chạm vào khí quyển của Sao Mộc), các ngôi sao và môi trường liên sao (vòng đời của bụi, khí, sao), các vụ nổ siêu tân tinh (siêu tân tinh 1987A), lỗ đen, thiên hà, vũ trụ giãn nở và các vụ nổ vũ trụ. Thách thức đặt ra cho các nhà thiên văn và kỹ sư là phải tạo ra được một chiếc kính thiên văn mới để thay thế khi Hubble “nghỉ hưu”. Nhận ra rằng việc nghiên cứu và chế tạo một chiếc kính thiên văn phải mất vài thập kỉ, chỉ vài tháng trước khi Hubble được phóng lên quỹ đạo, Riccardo Giacconi (1), lúc đó là giám đốc Viện khoa học kính thiên văn không gian (Space Telescope Science Institute) đã kêu gọi giới thiên văn cùng thảo luận lập kế hoạch xây dựng chiếc kính thiên văn hậu duệ của Hubble. Dự án kính thiên văn James Webb&#160;(2) của NASA đã được triển khai từ nhiều năm nay với sự hợp tác của các cơ quan hàng không của Canada và Châu Âu, dự tính sẽ tiêu tốn khoảng 5 tỷ USD và sẽ được phóng vào năm 2014.    Thách thức kỹ thuật   Thấu kính                Thông tin từ các vật thể thiên văn di chuyển trong không gian dưới dạng sóng (hay ánh sáng, hạt), bất cứ kính thiên văn nào cũng có một hệ thống thấu kính để thu nhận dạng ánh sáng này và định hướng nó đi đúng vào vị trí của các máy móc phân tích nằm đằng sau kính. Đối với các nhà thiên văn thì thấu kính chính, tiếp nhận trực tiếp ánh sáng, là đáng quan tâm nhất bởi vì nó quy định độ phân giải lớn nhất mà kính thiên văn có thể phân tích tức là cấu trúc nhỏ nhất mà kính thiên văn có thể phân biệt, đồng thời ảnh hưởng đến độ nhạy cảm tức là độ sáng của các vật thể mà kính thiên văn có thể nhìn thấy. Thấu kính chính càng lớn và càng tốt sẽ cho ra hình ảnh rõ nét hơn, phân biệt được các vật thể nhỏ và mờ hơn, nhìn xa hơn. Mối liên hệ giữa độ phân giải với bước sóng và đường kính (D) của kính gọi là giới hạn nhiễu xạ:                       Vì vậy, một trong những mục tiêu của kính thiên văn James Webb là phải có thấu kính lớn hơn nhiều lần so với Hubble. Câu hỏi tiếp theo là lớn cỡ nào, dùng loại vật liệu gì, cấu trúc gì? Để đưa lên không gian một cách dễ dàng thì ưu tiên hàng đầu là nhẹ, gọn, bền, ổn định và không được lớn quá kích thước của con tàu vũ trụ. Để thỏa mãn các điều kiện kỹ thuật và nhiệm vụ khoa học đặt ra, một bản thiết kế chiếc kính đường kính 6.5m bằng kim loại berylium (kim loại nhẹ thứ hai sau Lithium) đã ra đời. Với độ dày chỉ 2.5mm, tổng khối lượng của chiếc kính là 21kg. Điểm đặc biệt là chiếc kính này không phải là một khối thống nhất như thường gặp mà bao gồm 18 kính hình lục giác đều nhỏ hơn ghép lại. Việc chia nhỏ thành 18 chiếc kính sẽ làm cho tổ hợp kính này khó bị biến dạng do các tác động bên ngoài nhưng sẽ đòi hỏi phải được mài rất nhẵn và ghép vào nhau với độ chính xác cực kỳ cao.  Giá đỡ và tấm chắn tia mặt trời  Để đo được các vật thể có độ sáng thấp và nhỏ thì thấu kính phải có giá đỡ để nó không bị rung, không làm nhòe hình ảnh và phải có tấm chắn sáng để ngăn sức nóng và ánh sáng từ mặt trời, mặt trăng, trái đất, hành tinh… làm nhiễu tín hiệu. Giá đỡ của kính rất chắc chắn, cho chỉ cho phép các tấm kính xê dịch trong khoảng cách một phần mười nghìn chiều rộng của một cọng tóc. Tấm chắn của kính thiên văn James Webb có kích thước khổng lồ, rộng 11m và dài 19m, bao gồm 5 lớp chồng lên nhau sẽ tuyệt đối ngăn chặn tất cả tia mặt trời. Nhờ vậy, nhiệt độ của thủy ngân – chất làm lạnh có thể giảm xuống chỉ còn – 218oC, cho phép máy dò đo được tín hiệu của ánh sáng xuất phát từ vùng xa xôi của vũ trụ 13 tỉ năm trước, ánh sáng này nay chỉ còn rất yếu.           Mô hình kính thiên văn James Webb Space Telescope        Tần số hoạt động  Cách đây 100 năm, nhà vật lý vĩ đại người Đức, Max Planck, đã tìm ra một định luật vật lý cơ bản mang tên ông: bất kì một vật thể nào có nhiệt độ lớn hơn – 273oC (0oK) sẽ phát ra một nguồn năng lượng tương ứng ở một tần số nhất định của dải tần điện từ. Dải tần điện từ có tần số từ vài Hz đến vài Exa Hz (1 Exa Hz = 1 triệu tỉ Hz) và mắt ta chỉ có thể quan sát được vật thể phát ra năng lượng ở tần số cao khoảng 450 – 790 Tera Hz (1 Tera Hz = 1 tỉ Hz). Dải tần này tương ứng với vật thể có nhiệt độ khoảng 6.000oC. Trong khi đó ánh sáng từ vũ trụ sơ khai, trải qua một hành trình dài lâu đã phát tán đi rất nhiều nhiệt của mình, hay ngay các đám mây phân tử trong giải Ngân Hà nơi các ngôi sao hình thành, có nhiệt độ rất thấp, chỉ khoảng – 263oC, theo định luật Planck sẽ phát ra 1 nguồn bức xạ tương ứng với dải điện từ có tần số khoảng vài trăm Giga Hz (1 Giga Hz = 1 tỉ Hz), vượt xa khỏi giới hạn quan sát bằng mắt thường.   Do trong không khí trái đất có rất nhiều hạt khí, bụi, đặc biệt là hơi nước hấp thụ hoặc tán xạ ánh sáng ở dải tần hồng ngoại này, dải tần này vẫn còn khá mới mẻ đối với các nhà thiên văn và kính thiên văn James Webb hứa hẹn sẽ phát hiện nhiều khám phá đột phá mới.  Quỹ đạo  Hubble bay vòng quanh trái đất ở độ cao khoảng 600 km, hoạt động ở khoảng nhiệt độ phòng thông thường (20 – 30 oC), vì vật mù đối với ánh sáng hồng ngoại từ các vật thể lạnh ở rất xa. Để hoạt động tốt ở dải tần hồng ngoại, kính thiên văn James Webb phải nằm ở vị trí rất ổn định và tránh được ánh sáng trực tiếp từ mặt trời. Rất may cho chúng ta là trong không gian tồn tại một điểm cân bằng trọng lực giữa trái đất và mặt trời gọi là điểm Lagrange 2 (3).   Điểm L2 nằm sau mặt trời và trái đất do đó trái đất đã tạo thành một tấm chắn to lớn che được ánh sáng của mặt trời (xem ảnh). Thêm vào đó, trọng lực của trái đất và mặt trời có thể giữ thăng bằng lên các vật ở điểm này nên sẽ tốn ít lực đẩy để giữ vệ tinh cố định. Nhờ không gian lạnh và cố định của L2 mà các kính thiên văn hồn ngoại hiện tại (Herschel và Planck) đang hoạt động ở điểm này và vì vậy mà L2 cũng được chọn làm đích đến cho kính thiên văn James Webb.                           Vị trí điểm Lagrange 2            Điểm bất lợi của quỹ đạo này là nó nằm qua xa trái đất nên trong trường hợp hư hỏng, người ta không thể gửi người lên để sữa chữa như đã từng làm với kính thiên văn Hubble.     Nhiệm vụ khoa học của kính thiên văn James Webb  Ánh sáng đầu tiên  Với độ phân giải và độ nhạy cao, nhiệm vụ chính của kính thiên văn James Webb là đo đạc ánh sánh đầu tiên của vũ trụ, tức ánh sáng của các ngôi sao đầu tiên, hình thành 400 triệu năm sau  vụ nổ lớn và kỷ nguyên tái-ion-hóa.   Trước đó vũ trụ tuyệt nhiên tối đen, không ngôi sao, không thiên hà nào tồn tại, vũ trụ chỉ bao gồm một bát súp các hạt cơ bản như electron và proton tự do đang trong quá trình nguội lại. Đến khoảng 400 năm, các hạt này đã nguội đủ để có thể hình thành các nguyên tử hydro (nguyên tử hydro gồm một electron và một proton), nhờ vậy mà ánh sáng không bị tán xạ bởi các hạt electron tự do và chúng ta có thể dò được dưới dạng bức xạ nền vũ trụ. Sau đó , những ngôi sao đầu tiên được hình thành và lý thuyết đoán rằng chúng rất nặng (30 đến 300 trăm lần nặng hơn mặt trời) và rất sáng (vài triệu lần sáng hơn mặt trời), đã bốc cháy thành các vụ nổ lớn chỉ sau vài triệu năm (rất ngắn so với vòng đời của mặt trời là 10 tỉ năm). Tìm ra được thời điểm hình thành các ngôi sao này và tính chất của nó, lịch sử vũ trụ sẽ được hiểu rõ hơn.  Sự hình thành thiên hà  Thiên hà hình thành như thế nào? Những thiên hà đầu tiên hình thành ra sao? Làm sao mà các dạng thiên hà khác nhau như hiện nay được hình thành? Mối liên hệ giữa các thiên hà và lỗ đen khổng lồ ở giữa thiên hà? Mối liên hệ giữa các thiên hà và cấu trúc lớn của vũ trụ là như thế nào? Tất cả các câu hỏi cơ bản này sẽ được kính thiên văn James Webb giải quyết được phần nào nhờ ánh sáng của các thiên hà xa xôi sẽ rơi vào đúng dải tần mà kính thiên văn James Webb quan sát, đồng thời độ phân giải cao và độ nhạy cao sẽ cho phép chúng ta quan sát được nhiều dạng thiên hà ở các độ tuổi khác nhau, các môi trường khác nhau.          Lịch sử vũ trụ theo lý thuyết Big Bang (trên trái), quá trinh hình thành và kết cấu thiên hà (trên phải), quá trình hình thành sao (dưới trái), quá trình hình thành hành tinh (dưới phải).        Sự khai sinh của các ngôi sao và hệ đĩa tiền-hành-tinh  Ngôi sao là đơn vị cấu thành của thiên hà, ngôi sao cũng là cơ thể mẹ của các hành tinh và cung cấp điều kiện đầu tiên cho các đĩa tiền hành tinh và hành tinh hình thành. Hiểu rõ ngôi sao hình thành như thế nào tức là hiểu thêm thiên hà, vũ trụ tiến hóa ra sao cũng như hành tinh, sự sống phát triển như thế nào. Quá trình hình thành của một ngôi sao là một cuộc chiến giữa trọng lực và phản lực bắt nguồn chủ yếu từ nhiệt độ, từ trường và độ hỗn độn. Nhưng các lực này bắt nguồn như thế nào, hoạt động ra sao, ảnh hưởng chừng nào vẫn là những câu hỏi mở. Các thiết bị chụp hình và quang phổ của kính thiên văn James Webb sẽ cho phép ta nghiên cứu các ngôi sao rất trẻ đang còn nằm trong cơ thể mẹ đầy bụi của các đám mây phân tử. Đây là một trong những khả năng chỉ có thể thực hiện được ở dải tần hồng ngoại.  Nguồn gốc sự sống và các hành tinh khác Hành tinh hình thành trong đĩa tiền hành tinh, ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành sao. Kính thiên văn James Webb sẽ  phân tích được thành phần hóa học, đặc biệt là thành phần hóa học hữu cơ của các ngôi sao trẻ và đĩa tiền hành tinh để tìm mối liên hệ giữa các thành phần hóa học hữu cơ này giữa các ngôi sao trẻ với các thành phần hóa học hữu cơ của sự sống.   Kính thiên văn James Webb cũng sẽ nghiên cứu các hành tinh trong hệ mặt trời, các hành tinh bên ngoài hệ mặt trời, các vật thể lạnh chứa đầy bụi như sao chổi, sao băng hình thành từ giai đoạn đầu của sao hiện vẫn đang chu du trong hệ mặt trời.  Kính thiên văn Hubble trong quá trình hoạt động 20 năm qua của mình đã giúp các nhà thiên văn học khám phá những miền đất mới lạ, những hiện tượng kỳ thú của vũ  trụ. Những nhà thiên văn học kỳ vọng kính thiên văn James Webb được hoàn thành trong vài năm tới cũng sẽ trở thành “trợ thủ đắc lực” của họ trong hành trình khám phá vũ trụ.   Chú thích:  (1)Riccardo Giacconi: nhà vật lý thiên văn học nổi tiếng người Ý, đoạt giải Nobel năm 2002 cho những công trình nghiên cứu tia X trong thiên văn.   (2)James E. Webb (1906-1992): Giám đốc điều hành NASA vào thời tổng thống Kenedy, giám sát chính cho các chương trình không gian Apollo đưa người lên mặt trăng.  (3)Joseph-Louis Lagrange (1736-1813): Nhà toán học, vật lý học, thiên văn học người Pháp gốc Ý. Trong thiên văn, ông nổi tiếng với bài toán ba vật thể.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính viễn vọng lớn nhất thế giới sẽ được đặt tại Chile      Tổ hợp các trường đại học Mỹ phụ trách dự án GMT đã chọn khu vực Las Campanas, (Chile) để xây kính viễn vọng thế hệ hai.      GMT sẽ là kính viễn vọng mặt đất mạnh nhất và lớn nhất. Nó cấu tạo bởi một gương đường kính 21,4m hợp thành từ 7 gương tròn. Sáu trong số các gương này được xếp thành hình cánh hoa xung quanh gương thứ bảy. Kính viễn vọng GMT dự kiến sẽ thu các hình ảnh đầu tiên vào năm 2016 và sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành thiên văn hiện đại với các thiết bị lớn hơn, có khả năng quan sát các thiên thể nhỏ nhất và xa nhất với độ phân giải cao hơn so với các kính viễn vọng không gian.   V.S (Theo Techno-Science)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính viễn vọng mạnh nhất thế giới      Kính viễn vọng Large Binocular thuộc Đài thiên văn quốc tế núi Graham, ĐH Arizona với hai tấm gương đường kính 8,4mét cùng tập trung nhiều ánh sáng hơn và có độ nét gấp 10 lần kính viễn vọng không gian Hubble.      Hệ thống này vừa cho những hình ảnh đầu tiên được công bố ngày 6-3. Đây được cho là kính viễn vọng mạnh nhất thế giới với trị giá 120 triệu USD và là kính viễn vọng thứ ba trên đỉnh núi cao 3.150 mét này, hai kính vễn vọng kia là kính viễn vọng Heinrich-Hertz Submilimeter và kính viễn vọng kỹ thuật cao của Vatican.   (Theo Physics Today).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kính viễn vọng quan sát tia gamma      Đầu năm sau, Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) sẽ đưa vào sử dụng một loại kính viễn vọng mới để quan sát các tia gamma được tạo ra bởi lỗ đen, siêu tân tinh, sao neutron….      Hiện nay, có đến hơn một nửa nguồn gốc các tia gamma chưa được biết đến. Các nhà khoa học tin rằng sự xuất hiện của một số tia gamma được tạo nên bởi các va chạm của vật chất tối. Vật chất tối, được cho là được tạo ra sau vụ nổ Big Bang, sẽ ảnh hưởng đến lực hấp dẫn của các thiên hà nơi nó trú ngụ. Các nhà khoa học hy vọng kính viễn vọng mới  sẽ cung cấp thêm các thông tin để nghiên cứu vật chất tối, vũ trụ thuở sơ khai và cho phép thí nghiệm các nguyên tắc cơ bản của vật lý.   Việt Phương (VP Bangkok)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Korado Korlević – Người đặt Croatia lên bản đồ thiên văn học      Với người đến Višnjan lần đầu, thật khó mà nhận thấy bất cứ mối liên hệ nào giữa thị trấn nhỏ 2000 dân trên bán đảo Istria (Croatia) này với thiên văn học. Và càng khó mà tưởng tượng được rằng ngôi tháp nhỏ đứng giữa một bãi cỏ tuyệt đẹp ở ngôi làng Tićan gần đó là nơi diễn ra những cuộc truy tìm tiểu hành tinh thuộc loại thành công nhất thế giới.      Đài thiên văn Višnjan nằm ở ngôi làng Tićan đẹp như tranh vẽ ở Croatia.    Trong hai năm qua, Đài thiên văn Višnjan đã giúp mô tả khoảng 40% các vật thể gần Trái Đất (near-Earth object – NEO) mới được phát hiện; đó là những vật thể, hầu hết là tiểu hành tinh, ở cách Mặt trời không quá 1,3 đơn vị vũ trụ. Trong khoảng thời gian đó, xét về số NEO mà Višnjan tham gia khám phá được, họ xếp thứ ba trong hơn 500 cơ quan nghiên cứu trên toàn thế giới có chia sẻ dữ liệu với Trung tâm Tiểu hành tinh (MPC) thuộc Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU). Và đài thiên văn nhỏ ở Istria đã đạt được điều đó với một kính thiên văn quang học đường kính 1 mét và một ngân sách hằng năm không đến 11000 euro.    Năng suất của Višnjan không phải là nhất thời. Kể từ những năm 1980, các nhà thiên văn học ở đó đã phát hiện hơn 1400 tiểu hành tinh, phần lớn thuộc vành đai [tiểu hành tinh] giữa sao Hỏa và sao Mộc, và giúp xác định các thông số vật lý và quỹ đạo của hàng nghìn NEO. Công việc đó càng trở nên quan trọng khi NASA và các tổ chức quốc tế khác nỗ lực nhận dạng càng nhiều càng tốt những tiểu hành tinh tiềm tàng nguy hiểm đối với Trái đất1.     Từ người giáo viên nghiên cứu thiên văn nghiệp dư     Trung tâm của câu chuyện thành công với ngân sách khiêm tốn ấy là nhà thiên văn học 61 tuổi Korado Korlević. Vốn là một giáo viên, Korlević không có bằng đại học về thiên văn hay vật lý. Thế mà mình ông đã phát hiện 1163 tiểu hành tinh và xếp thứ 21 trong danh sách những người săn lùng tiểu hành tinh thành công nhất mọi thời đại của MPC2.    Ở một nước có ngân sách cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thuộc loại thấp nhất Liên minh châu Âu3, Korlević là người vận động hăng hái nhất cho khoa học. Không chỉ ghi tên Croatia lên bản đồ thiên văn học, ông còn chủ trì một chương trình phát thanh khoa học đại chúng, tổ chức trại hè khoa học cho trẻ em, và tham gia đào tạo hàng chục sinh viên thành những nhà thiên văn học tầm cỡ quốc tế.    Câu chuyện của Đài thiên văn Višnjan bắt đầu từ cuối thập kỷ 1970, khi Korlević cùng với hai giáo viên trẻ khác của trường trung học địa phương thành lập một câu lạc bộ thiên văn nghiệp dư. Họ nghĩ rằng học sinh sẽ hứng thú với khoa học hơn khi được quan sát các vì sao một cách rõ ràng hơn. “Thật thất vọng khi chứng kiến những đứa trẻ có năng khiếu, đam mê và động lực nhưng lại được sinh ra ở vùng nông thôn, nơi người ta không kỳ vọng nhiều ở tương lai của chúng,” Korlević nói. Sau khi xin được hội đồng thành phố cấp cho một tòa nhà, các giáo viên mua một kính thiên văn nhỏ. Suốt nhiều năm sau đó, giáo viên và học sinh cùng nhau tự lắp kính thiên văn.    Đầu những năm 1990, Korlević quyết định tập trung nhiệm vụ của đài thiên văn cho việc phát hiện NEO. Đó là một góc nghiên cứu dễ tiếp cận, và ông được truyền cảm hứng từ một chuyến đi tìm hiểu di tích vụ nổ thiên thạch năm 1908 ở Tunguska, Siberia. “Tôi nghĩ rằng sớm tìm ra các vật thể nguy hiểm thì có ích hơn là nghiên cứu nơi xảy ra va chạm,” ông nói.  Trong Chiến tranh Nam Tư đầu thập kỷ 1990, đài thiên văn trao cả hai chiếc kính thiên văn của nó cho quân đội. Chiếc lớn hơn được đưa đến Sarajevo và được dùng để theo dõi đạn súng cối khi thành phố bị quân Serbia vây hãm. Muhamed Muminović, nhà thiên văn học người Bosnia, đích thân đem trả lại các bộ phận quan trọng của nó sau khi chiến tranh kết thúc. Chiếc thứ hai được quân đội Croatia sử dụng trong cuộc chiến giành độc lập và sau đó bị thất lạc, Korlević cho biết.      Korado Korlević, năm 2011.  Dù vậy, Korlević cùng với nhóm làm việc gồm học sinh và người tình nguyện của mình vẫn tìm được cách hoạt động trong thập kỷ bị chiến tranh tàn phá. Họ lắp một kính thiên văn phản xạ chuyên dụng đường kính 40 cm với thủy tinh từ một nhà máy địa phương và các linh kiện như động cơ lấy từ một máy in cũ. Học sinh trung học lắp phần điện tử, còn sinh viên đại học viết phần mềm.    Trong những năm 1990, đài thiên văn phát hiện hơn 1000 tiểu hành tinh trong vành đai tiểu hành tinh, sánh ngang với các cơ sở lớn hơn cả về ngân sách lẫn kính thiên văn. “Tôi nghĩ khoảng thời gian đó minh chứng cho những gì người ta có thể đạt được với một chút tài năng và một tinh thần dám làm,” theo Mario Jurić, nhà thiên văn học ở Đại học Washington, khi đó [những năm 1990] là sinh viên vật lý ở Đại học Zagreb.    Jurić đã tham gia phát triển Cơ sở dữ liệu Hình ảnh của Đài thiên văn Višnjan, góp phần làm tăng hiệu suất của đài thiên văn. Trước đó, khi tìm kiếm những thiên thể mới, các nhà thiên văn học phải so sánh một cách thủ công vị trí của những tiểu hành tinh đã biết với vị trí của những vật thể trong những bức ảnh mới. Jurić cùng một số sinh viên khác đã xây dựng một cơ sở dữ liệu cục bộ về các tiểu hành tinh đã biết, sau đó dùng các thuật toán để dự đoán vị trí của chúng tại thời điểm quan sát. Khi một bức ảnh mới [do kính thiên văn chụp] được đưa vào máy tính, tất cả các vật thể đã biết sẽ được đánh dấu, nhờ đó họ có thể nhanh chóng tập trung vào những vật thể còn lại. Bước xử lý này làm tăng tốc đáng kể quá trình phát hiện các vật thể mới. “Việc đó bây giờ rất bình thường, nhưng vào cuối những năm 1990 thì khá lạ lẫm, nhất là đối với những đài thiên văn nhỏ như Višnjan,” Jurić nói. “Và nó được viết bởi một lũ trẻ.”      Không chỉ ghi tên Croatia lên bản đồ thiên văn học, Korlević còn chủ trì một chương trình phát thanh khoa học đại chúng, tổ chức trại hè khoa học cho trẻ em, và tham gia đào tạo hàng chục sinh viên thành những nhà thiên văn học tầm cỡ quốc tế.      Jurić hiện là một chuyên gia hàng đầu thế giới về các dự án dữ liệu lớn trong thiên văn học. Ông dẫn dắt nhóm xử lý dữ liệu của Đài thiên văn Vera C. Rubin (tên cũ là Large Synoptic Survey Telescope – LSST, Chi-lê), đang được xây dựng để phục vụ cho một dự án vẽ bản đồ bầu trời lớn nhất từ trước tới giờ.     Phương pháp khác biệt     Đài thiên văn Višnjan nhận được một nâng cấp lớn vào đầu thiên niên kỷ mới: kính thiên văn Dagor đường kính 1 mét, được nhà vật lý thiên văn người Ý Margherita Hack thiết kế trong những năm 1980. Chiếc kính thiên văn này được đặt ở Basovizza, gần biên giới Ý – Slovenia, trước khi được tặng cho Đài thiên văn Višnjan vào năm 2002.    Họ lắp Dagor ở một cơ sở mới, lớn hơn đài thiên văn cũ một chút, ở ngôi làng Tićan gần đó, và cải tiến chiếc kính thiên văn cho phù hợp với nhu cầu của mình. “Nó rất chuyên dụng, giống như động cơ của một chiếc mô-tô đua địa hình,” Korlević nói. Với trường quan sát rộng và camera CCD cực nhạy, Dagor chuyên quan sát những vật thể nhỏ di chuyển nhanh – gồm không chỉ tiểu hành tinh và sao chổi mà còn cả những vật thể nhân tạo như vệ tinh hay rác vũ trụ.    Mặc dù vẫn tiếp tục công việc phát hiện tiểu hành tinh, Korlević và các cộng sự ngày càng tập trung vào việc theo dõi những NEO đã được các cơ quan khác lớn hơn phát hiện. Do vị trí cách nửa vòng Trái đất so với các đài quan sát lớn ở tây nam nước Mỹ và ở Hawaii, đài thiên văn Croatia này có thể định vị các vật thể trong vòng 10-12 giờ kể từ lúc chúng được phát hiện, đảm bảo việc theo dõi liên tục để xác định các đặc điểm quỹ đạo của chúng.    “Đài thiên văn Višnjan cung cấp các số liệu đo đạc thiên văn rất hiệu quả, giúp cho việc tính toán quỹ đạo chính xác hơn,” Tim Spahr, giám đốc MPC từ 2007 đến 2014, cho biết. “Họ giúp theo dõi các vật thể, một việc vô cùng quan trọng.”    Gần như đêm nào Korlević hoặc một trong các tình nguyện viên cũng làm việc hàng giờ với kính thiên văn Dagor. Lúc nào cũng có một danh sách cần theo dõi gồm các vật thể đã được các đài thiên văn lớn hơn phát hiện. Họ đo vị trí, sự dịch chuyển và độ sáng của chúng. Khi đã xác định tất cả các thông số quỹ đạo, MPC chính thức công bố phát hiện mới và bổ sung các thông tin về vật thể cùng với danh sách các đài thiên văn tham gia khám phá vào cơ sở dữ liệu. Dữ liệu của MPC được nhiều cơ quan, trong đó có Trung tâm Phối hợp về NEO của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Trung tâm nghiên cứu NEO thuộc Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (Jet Propulsion Laboratory – JPL, ở Pasadena, California) của NASA, sử dụng để đánh giá nguy cơ của từng NEO.    Korlević thừa nhận vị trí địa lý là một trong những nguyên nhân thành công của đài thiên văn, cũng như thời tiết nói chung thuận lợi hơn so với các đài thiên văn khác ở châu Âu. “Nhưng chúng tôi có một số phương pháp khác biệt,” ông nói.    Khác với nhiều nhà săn lùng tiểu hành tinh khác, Korlević thường quan sát ngay cả khi thời tiết xấu. “Mây khiến cho công việc vất vả hơn, và rốt cuộc chẳng ai muốn dụng cụ bị ướt,” ông nói. “Nhưng trong một nửa số trường hợp như thế, chúng ta vẫn có thể làm việc hiệu quả, nhất là nếu chúng ta biết rõ những hạn chế và cách giải quyết chúng.” Ông cũng là một trong những người đầu tiên áp dụng những kỹ thuật ngày nay đã trở nên phổ biến, chẳng hạn kỹ thuật “theo dõi tổng hợp” (synthetic tracking), trong đó nhiều bức ảnh phơi sáng nhanh được kết hợp với nhau để bù lại điều kiện quan sát không tốt.    Nguyên liệu cuối cùng và cũng là cốt yếu của thành công đơn giản là đam mê, Korlević cho biết. Nhiều sinh viên và tình nguyện viên ở Croatia và trên thế giới vui vẻ trực đêm để giúp theo dõi NEO. “Họ cảm nhận được việc mình làm là quan trọng,” ông nói.     Đào tạo những nhà thiên văn trẻ     Suốt nhiều năm, nhiều học sinh trung học và sinh viên đại học đã trải nghiệm săn lùng tiểu hành tinh khi tham quan và tham gia làm việc ở đài thiên văn trong vòng từ một ngày đến vài tuần, trong khuôn khổ các trường hè về thiên văn học. “Chúng tôi đang cố gắng đào tạo thế hệ tiếp theo cho công việc này,” Korlević nói.      Phần lớn công việc của đài thiên văn do sinh viên thực hiện.  Vì thế, hàng chục nhà khoa học thành đạt người Croatia ở khắp nơi trên thế giới cho biết trải nghiệm ở Višnjan có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của họ. Marina Rejkuba, nhà thiên văn học đứng đầu Phòng Hỗ trợ người dùng của Đài thiên văn phía Nam của châu Âu4, kể về lần tham quan Đài thiên văn Višnjan vào đầu thập kỷ 1990, khi bà còn là sinh viên vật lý ở Đại học Zagreb. “Nhóm chúng tôi đến Višnjan, và tôi vẫn nhớ Korado hỏi chúng tôi muốn làm dự án nào,” Rejkuba nói. “Hồi đó chúng tôi chưa có tư duy nghiên cứu. Điều đó đã thay đổi sau khi tiếp xúc với Korado. Chúng tôi có cơ hội vừa làm nghiên cứu, vừa học về thiên văn học quan sát.”    Rejkuba tham gia trường hè Višnjan mấy năm liền và trở thành phó phụ trách dự án. Qua những người bạn gặp ở Višnjan, bà liên hệ được với một nhà thiên văn học ở Đài thiên văn Asiago, Đại học Padua, Ý. Đó là nơi bà làm luận án tiến sỹ, với những kính thiên văn chuyên nghiệp, và gắn bó suốt đời [với công việc đó]. “Việc gặp gỡ Korado và làm quen với thiên văn học ở Višnjan đã quyết định sự nghiệp và tương lai của tôi,” bà nói.    “Đóng góp quan trọng của Korado là tạo điều kiện và khuyến khích các bạn trẻ thử thách giới hạn bản thân có thể đạt đến với năng khiếu và kỹ năng của mình,” nhận xét của Jurić, người đã cùng Korlević khám phá 125 tiểu hành tinh và một sao chổi được đặt tên 183P/Korlević–Jurić. Korlević khuyến khích các bạn trẻ đặt mục tiêu cao, tìm cách sáng tạo để vượt qua những trở ngại, và cải thiện kỹ năng cho đến khi đạt được kết quả. “Đó là một lối suy nghĩ rất doanh nghiệp, mà theo kinh nghiệm của tôi, rất hiếm gặp trong giáo dục Trung Âu,” Jurić nói.    Những cựu học sinh Višnjan khác cũng có cùng ý kiến. Trong các cựu sinh viên thừa nhận ảnh hưởng to lớn của trải nghiệm ở Višnjan đối với sự nghiệp của mình có thể kể đến Marina Brozović, nhà khoa học ở JPL, chuyên nghiên cứu về quan sát radar của NEO; Silvija Gradečak, trưởng một nhóm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật vật liệu ở Viện Công nghệ Massachussetts (MIT); và Ana Bonaca, nhà khoa học ở Trung tâm Vật lý thiên văn của Viện Smithson và Đại học Harvard (Harvard–Smithsonian Center for Astrophysics), chuyên nghiên cứu động lực học của các thiên hà và vật chất tối.      “Đài thiên văn Višnjan cung cấp các số liệu đo đạc thiên văn rất hiệu quả, giúp cho việc tính toán quỹ đạo chính xác hơn. Họ giúp theo dõi các vật thể, một việc vô cùng quan trọng.” (Tim Spahr, giám đốc MPC từ 2007 đến 2014).      Vận động cho khoa học     Dù Korlević được nhiều người Croatia biết đến như một nhà thiên văn học và một người vận động cho khoa học – chương trình phát thanh hằng tuần Explora của ông được nhiều người hâm mộ đón nghe – nhưng có lẽ ảnh hưởng lớn nhất của ông đối với xã hội Croatia đến từ những nỗ lực về giáo dục. Ngoài đài thiên văn, ở Višnjan còn có Trung tâm Khoa học và Giáo dục, nơi suốt ba thập kỷ vừa qua đã tổ chức các trại hè khoa học không chỉ về thiên văn học.    Đầu mỗi kỳ nghỉ hè cũng là lúc một ngôi trường ở Višnjan bắt đầu được lấp đầy bởi 600 trẻ em và thanh thiếu niên từ cả nước Croatia và cả từ nước ngoài. Chương trình một tuần dành cho học sinh tiểu học gồm có các xưởng và thí nghiệm sinh học, thiên văn học, vật lý, hóa học và rô-bốt. Trong những phòng thí nghiệm nhỏ, trẻ em xác định thành phần của kem chống nắng, so sánh răng và hàm của người Neanderthal với của chính mình, và lắp ghép những rô-bốt đơn giản. Chúng quan sát Mặt trăng bằng kính thiên văn rồi tự lắp kính thiên văn. Trẻ em mẫu giáo được dẫn đi dạo trong rừng để khám phá thiên nhiên, chúng được học vì sao có mưa và cách nhận biết hang của các con vật.    “Trẻ em cần học để đi đâu cũng thấy thoải mái như ở nhà,” Korlević nói. “Đó là một điều rất quan trọng cho các nhà khoa học tương lai.” Trung tâm tài trợ một nửa chi phí, giúp giảm phí của một số chương trình còn 200-250 euro.    Chương trình khoa học của Višnjan ngày càng được quan tâm. Đến nay, trại hè nhanh chóng được đăng ký hết mà không cần quảng cáo. Trong thành công đó có sự đóng góp của những cựu thành viên tình nguyện quay lại và trợ giúp trong các lớp học. Hè năm ngoái, trung tâm thu hút được hơn 70 tình nguyện viên từ Croatia, Ý, Slovenia, Bosnia và Herzegovina, Serbia, và cả Canada.     Hướng đến tương lai     Những nỗ lực quốc tế gần đây nhằm ưu tiên phát hiện NEO khiến công việc theo dõi của đài thiên văn ở Istria càng quan trọng hơn bao giờ hết. Năm 2013, một nhóm các tổ chức quốc tế, trong đó có ESA và NASA, thành lập Mạng lưới Quốc tế về Cảnh báo Tiểu hành tinh (International Asteroid Warning Network) để phát hiện, theo dõi và mô tả NEO. NASA được Quốc hội Mỹ giao nhiệm vụ nhận dạng ít nhất 90% tổng số [ước lượng] NEO có đường kính hơn 140 mét. Korlević dự đoán số vật thể được phát hiện sẽ tăng mạnh cùng với sự phát triển nhanh chóng của kính thiên văn và vệ tinh. “Tôi nghĩ hiện đã có một nhận thức nghiêm túc về mối nguy hiểm từ tiểu hành tinh, và có sự tập trung giải quyết bài toán đó – một việc khả thi,” ông nói.      Kính thiên văn Dagor đường kính 1 m của Đài thiên văn Višnjan theo dõi hàng trăm NEO mỗi năm. “L01” là mã của đài thiên văn trong danh sách của MPC.    Nhưng cơ hội luôn đi cùng thách thức. Những năm gần đây, ô nhiễm ánh sáng, đặc biệt từ đèn LED ở các thành phố lân cận và các điểm du lịch, ảnh hưởng đến việc quan sát bằng kính thiên văn; Korlević cho biết mỗi năm, độ nhạy của đài thiên văn lại giảm một chút. Năm ngoái, Croatia thông qua một luật khá nghiêm khắc về giới hạn ô nhiễm ánh sáng, nhưng theo Korlević, nó chưa được thực thi. Một số người dân địa phương đề xuất thêm, bên cạnh luật, việc thiết lập một vùng ít ánh sáng có đường kính 25 km xung quanh đài thiên văn.  Tháng 12, Korlević được cấp 11000 USD để mua linh kiện mới cho Dagor và phủ lại lớp nhôm đã bị hỏng vì độ ẩm. Đó là những cải thiện hữu ích, nhưng để giữ năng suất cao, Višnjan cần một kính thiên văn mới mạnh hơn. Bi quan về triển vọng nhận được hỗ trợ tài chính từ các cơ quan chính phủ cũng như ngoài chính phủ của Croatia, Korlević lại sẵn sàng xắn tay áo lên: “Chúng tôi sẽ tự mình xây dựng nó”. □     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: Physics Today, 25/02/2020 (DOI:10.1063/PT.6.4.20200225a)  ——  1Potentially hazardous object: những vật thể có quỹ đạo có thể đi qua gần Trái Đất và có kích thước đủ lớn để gây thiệt hại đáng kể nếu xảy ra va chạm – ND.  2https://minorplanetcenter.net/iau/lists/MPDiscsNum.html (truy cập tháng 2/2020).  3https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4269  4European Southern Observatory, tên thường gọi của European Organisation for Astronomical Research in the Southern Hemisphere: Tổ chức châu Âu về Nghiên cứu Thiên văn ở Bán cầu Nam – ND.    Author                Vedrana Simičević        
__label__tiasang KỲ 2: Thuở trời đất nổi cơn gió bụi      Những ngôi sao khối lượng lớn như Betelgeuse chết trong một vụ nổ sáng chói. Khi áp lực hướng ngoại không còn chống cự trọng lực hướng nội được nữa, phần lõi lập tức sụp về phía trong, sinh ra một lượng năng lượng khổng lồ xé tan các lớp ngoài cùng của ngôi sao.      Sao Betelgeuse. Nguồn: Adam Block/Steward Observatory, University of Arizona  Thiên văn học gọi đây là một siêu tân tinh loại II (type II supernova), và cho dù đây là loại siêu tân tinh được miêu tả nhiều nhất trên phương tiện đại chúng, nhiều câu hỏi vẫn cần được giải đáp, vì chúng ta vẫn chưa biết rõ một ngôi sao sẽ như thế nào trước khi trở thành siêu tân tinh loại II. Vào mùa đông năm 2019, Betelgeuse – một ngôi sao được cho là sẽ trở thành siêu tân tinh loại II – bỗng tối đi một cách bất thường, khiến nhiều người tự hỏi: phải chăng ngôi sao này đã hết năng lượng và chuẩn bị nổ tung?  Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?  Vào ngày 23 tháng 12 năm 2019, ba nhà thiên văn học Edward Guinan, Richard Wasatonic và Thomas Calderwood thông báo thông qua dịch vụ The Astronomer’s Telegram rằng họ đã nhận thấy một sự thay đổi độ sáng bất ngờ ở Betelgeuse. Dù họ đã quá quen với việc Betelgeuse thay đổi độ sáng rồi, sự thay đổi lần này rất khác biệt: Betelgeuse đã rời khỏi vị trí một trong mười ngôi sao sáng nhất bầu trời đêm và xuống tận vị trí thứ 21. Đến cuối tháng 1/2020, cùng thời điểm Tổ chức Y tế Thế giới ban bố Tình trạng Khẩn cấp Y tế Công cộng Quốc tế về dịch virus Covid-19, Guinan và Wasatonic ghi nhận được độ sáng của Betelgeuse ở cấp sao biểu kiến thấp kỉ lục là +1.614. Theo hai nhà thiên văn học này, đây là độ sáng thấp nhất mà họ từng ghi nhận được ở Betelgeuse trong suốt 25 năm họ theo dõi ngôi sao này.   Chứng kiến sự thay đổi độ sáng lạ lùng của Betelgeuse, cả cộng đồng thiên văn học lẫn công chúng đều không khỏi ngạc nhiên, và một giả thuyết bắt đầu lan rộng trên các phương tiện truyền thông trên khắp thế giới rằng ngôi sao này sắp phát nổ. Một bài báo của CNN (Mỹ) ngày 26/12/2019 có tiêu đề: “Một ngôi sao khổng lồ đang hành xử lạ lùng và các nhà khoa học nghĩ rằng nó sắp phát nổ.” Nửa tháng sau đó, báo Dân Trí (Việt Nam) cũng đưa tin: “Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời đêm sắp phát nổ.” Một tít báo trên tờ Le Figaro (Pháp) thì đặt câu hỏi: “Có phải ngôi sao siêu khổng lồ Betelgeuse sắp phát nổ?” Vô số kênh thông tin khoa học phổ thông khắc họa bức tranh về một cộng đồng thiên văn học hoặc là hoàn toàn chắc chắn, hoặc là nhận được rất ít ý kiến trái chiều khi cho rằng Betelgeuse sắp sửa trở thành một siêu tân tinh loại II. Song trên thực tế, viễn cảnh siêu tân tinh không những chỉ là một giả thuyết, mà còn ít được giới thiên văn học coi trọng. Quả thật là sự tối đi của Betelgeuse có thể được giải thích bằng viễn cảnh siêu tân tinh, trong đó ngôi sao bị cạn kiệt năng lượng, khiến vật chất của nó sớm muộn cũng sụp hết về phía lõi để rồi bùng nổ, phá tung các lớp ngoài cùng của ngôi sao. Tuy nhiên, Betelgeuse vẫn còn một chặng đường dài phía trước: theo mô hình tiến hóa sao của Dolan và cộng sự (2016), phải đến khoảng 100,000 năm nữa thì Betelgeuse mới có thể trở thành một siêu tân tinh loại II. Nói theo cách khác, có lẽ siêu tân tinh không phải câu trả lời thỏa đáng cho hiện tượng đầu năm 2020. Các nhà thiên văn học cần tìm ra một lời giải thích khác, trong bối cảnh một bệnh dịch mới đang bắt đầu lan rộng trên chính hành tinh của họ.  Vật đổi sao dời  Tháng 12 năm 2019, nghe tin về hiện tượng lạ lùng của Betelgeuse, nhóm nghiên cứu của nhà thiên văn học trẻ tuổi Miguel Montargès đã quan sát ngôi sao này bằng thiết bị nghiên cứu ngoại hành tinh với độ tương phản cao bằng quang phổ-phân cực kế (Spectro-Polarimetric High-contrast Exoplanet Research – SPHERE) ở Chile. Tình cờ làm sao, chính thiết bị SPHERE cũng đã chụp ảnh Betelgeuse vào tháng 1/2019, nghĩa là giờ đây, đội của Montargès có thể so sánh tình trạng của ngôi sao này trước và sau khi nó bắt đầu tối đi. Kết quả cho thấy: nửa phía trên của Betelgeuse không có sự thay đổi gì, song nửa bên dưới trong bức ảnh chụp cuối năm 2019 không những tối hơn rất nhiều mà còn có hình dạng khác.     Biểu đồ độ sáng của Betelgeuse từ năm 2018 đến tháng 2 năm 2020. Nguồn: AAVSO  Khi phát hiện này đến tai hai nhà thiên văn học Emily Levesque và Philip Massey, họ nhanh chóng đo nhiệt độ hiệu dụng (effective temperature) của Betelgeuse và nhận ra rằng ngôi sao này đã nguội đi, song sự chênh lệch về nhiệt độ vẫn còn quá nhỏ để quy cho một thay đổi ở bản thân ngôi sao. Trong nghiên cứu xuất bản vào tháng 2 năm 2020, Levesque và Massey cho rằng có lẽ Betelgeuse đã sinh ra một đám mây bụi khổng lồ, vừa làm giảm nhiệt độ, vừa chắn ánh sáng chiếu đến Trái đất từ nửa dưới của ngôi sao, dẫn đến “hình dạng khác” mà thiết bị SPHERE chụp được.  Đến ngày 17/2, Betelgeuse bắt đầu ngừng tối đi, rồi từ từ sáng trở lại. Với diễn biến mới này, giả thuyết siêu tân tinh đã bị dập tắt hoàn toàn, nhưng các nhà thiên văn học vẫn tiếp tục chú ý tới Betelgeuse với hy vọng giải thích được hiện tượng vừa qua. Ngày 21/2, từ đài quan sát thiên văn O’Brien của Đại học Minnesota, Robert Gertz và cộng sự nhận thấy độ sáng của Betelgeuse vẫn ổn định khi quan sát ở bước sóng hồng ngoại, một điều mà Emily Levesque và Philip Massey cũng xác nhận khi bài báo nghiên cứu của họ được xuất bản chỉ ba ngày sau đó. Dần dần, những phân tích mới càng chỉ ra rằng sự tối đi bất thường vừa rồi của Betelgeuse không liên quan gì tới sự sụp lõi hay là một sự thay đổi chóng vánh ở bản thân ngôi sao, mà thay vào đó chỉ là một quá trình nào đó mà các nhà thiên văn học vẫn còn chưa hiểu được rõ. Tuy nhiên, trong khi mọi người đang nỗ lực theo dõi và nghiên cứu một ngôi sao trên trời, tình hình dịch virus Covid-19 trên Trái đất đã bắt đầu có chuyển biến tiêu cực và gây ra những hệ lụy nghiêm trọng.  Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố gọi Covid-19 là một đại dịch toàn cầu. Ngày 18/ 3, Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức (DLR) thông báo rằng họ đang sử dụng một chiếc máy bay Boeing 747 được cải tiến thành đài quan sát thiên văn Hồng ngoại ở tầng bình lưu (SOFIA) để theo dõi sự tối đi của Betelgeuse. Họ dẫn lại phát hiện của đội của Miguel Montargès, và hy vọng rằng nhờ việc đưa SOFIA lên cao, họ sẽ loại bỏ được ít nhiều lượng bức xạ hồng ngoại từ Trái đất và ghi nhận được một sự khác biệt ở bước sóng hồng ngoại từ phía Betelgeuse. Nhưng chỉ một ngày sau, tất cả các chuyến bay của SOFIA đều bị hủy do Covid-19. Ở bán cầu bên kia, vào ngày 20/3, ban điều hành Đài thiên văn phương Nam châu Âu (ESO) tạm hoãn mọi hoạt động khoa học tại các cơ sở của họ ở bán cầu Nam, bao gồm cả thiết bị SPHERE ở Chile. Trong một bài phỏng vấn với tạp chí Science News cuối năm 2020, Miguel Montargès cho biết rằng anh cũng có kế hoạch sử dụng Dãy kính thiên văn lớn bước sóng milimét Atacama (ALMA) để quan sát Betelgeuse vào tháng sáu và tháng bảy, khi bầu trời mùa đông của bán cầu Nam ở điều kiện ổn định nhất. Tuy nhiên, đến tháng chín, ALMA vẫn còn đóng cửa vì Covid-19. Montargès nói: “Khi tôi nhận ra ALMA sẽ không mở cửa vào tháng sáu, tôi đã nghĩ rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm được lời giải đáp. Có lẽ ta sẽ chẳng bao giờ biết chắc được, chỉ vì Covid”.    Hai bức ảnh chụp Betelgeuse của thiết bị SPHERE vào tháng 1 và tháng 12 năm 2019. Trong bức ảnh tháng 12, nửa dưới của ngôi sao đã thay đổi về độ sáng và hình dạng. Nguồn: ESO/M. Montargès et al.  Năm gió bụi  Giữa một đại dịch toàn cầu, những người nghiên cứu Betelgeuse buộc phải xoay sở bằng tất cả những gì có sẵn. Ngày 31/3, ba tuần sau khi Chính phủ Ý bắt đầu lệnh phong tỏa toàn quốc, nhà vật lý thiên văn Costantino Sigismondi công bố thông qua dịch vụ The Astronomer’s Telegram những quan sát bằng mắt thường của riêng mình từ thủ đô Roma. Ông nhận thấy độ sáng của Betelgeuse đang tăng lên một cách nhanh chóng: tối ngày 23, Betelgeuse mới chỉ sáng hơn sao Pollux (cấp sao biểu kiến +1.08), song đến tối ngày 31 đã đạt tới +0.93.   Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, nhà vật lý thiên văn Andrea Dupree đưa ra một lời giải thích mới dựa trên dữ liệu quan sát Betelgeuse bằng kính viễn vọng không gian Hubble từ năm 2019. Bản thân Dupree là một người rất quan tâm tới Betelgeuse: vào năm 1995, chính nhóm nghiên cứu của bà đã chụp bức ảnh trực tiếp đầu tiên của ngôi sao này. Tháng 8/2020, Dupree và cộng sự báo cáo rằng từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2019, kính Hubble đã ghi nhận được một lượng vật chất nóng và dày đặc từ bề mặt Betelgeuse bay xuyên qua bầu khí quyển của ngôi sao. Theo họ, có lẽ lượng vật chất này chỉ là một trong những “quả bong bóng” plasma nóng thường thấy ở một ngôi sao có hoạt động dữ dội như Betelgeuse, song lần này quả bong bóng ấy lớn quá, tới mức nó thoát được khỏi bầu khí quyển ngôi sao. Tương tự như một xô nước nóng bị hắt ra ngoài trời lạnh, khi quả bong bóng gặp phải chân không, nó lập tức lạnh đi và trở thành một đám bụi che phủ một phần của Betelgeuse, gây ra cái “hình dạng khác” mà đội của Montargès chụp được. Bởi đám bụi này hình thành bên ngoài ngôi sao, nó vừa giải thích được sự giảm độ sáng có tính tạm thời, vừa khớp với kết luận của Levesque và Massey rằng sự giảm nhiệt độ của Betelgeuse còn quá nhỏ để quy cho một thay đổi ở bản thân ngôi sao.   Lời giải thích của Dupree và cộng sự nhanh chóng được đăng lên trang chính thức của NASA. Tuy nhiên, nhiều mâu thuẫn vẫn cần được giải quyết. Một tháng trước đó, nhóm của Thavisha Dharmawardena vừa xuất bản một phân tích dữ liệu quan sát Betelgeuse ở bước sóng dưới milimét (submilimeter). Nếu Betelgeuse bị bụi che phủ, đám bụi đã phải hấp thụ và phản chiếu ánh sáng ở bước sóng này, khiến ngôi sao sáng hơn bình thường khi được quan sát. Song, Dharmawardena và cộng sự lại thấy Betelgeuse tối hơn mức bình thường ở bước sóng nói trên. Khi một nhóm nghiên cứu khác phân tích dữ liệu mà SOFIA thu thập được ngay trước khi bị cấm cất cánh, họ cũng chẳng tìm thấy dấu hiệu của đám bụi ở bước sóng hồng ngoại. Cụ thể hơn, SOFIA quan sát dòng chảy vật chất quanh sao (circumstellar flow) ở Betelgeuse, và nếu đúng là một quả bong bóng plasma lớn bất thường đã đâm qua bầu khí quyển ngôi sao, nó cũng đã phải làm dòng chảy này nóng lên, khiến bức xạ hồng ngoại ở đây tăng đột ngột. Song, lượng bức xạ hồng ngoại mà SOFIA đo được chẳng chênh lệch nhiều so với mức thường thấy. Làm cách nào mà một quả bong bóng nóng thoát khỏi bầu khí quyển Betelgeuse nhưng không làm tăng lượng bức xạ hồng ngoại của dòng chảy vật chất quanh sao, rồi khi quả bong bóng này hóa thành bụi, đám bụi đó cũng không làm ngôi sao sáng hơn ở bước sóng milimét?  Theo Edward Guinan – người đã quan tâm tới sao Betelgeuse lâu không kém Andrea Dupree, giả thuyết của Dupree có lý nhưng vẫn chưa đủ. Thật vậy, những mâu thuẫn giữa ý tưởng của Dupree và các kết quả đo đạc ở các bước sóng khác nhau là những mâu thuẫn nghiêm trọng và cần được giải quyết. Song, do đại dịch Covid-19, hầu như mọi đài quan sát trên thế giới đã bị đóng cửa để đảm bảo an toàn cho các nhà thiên văn học và đội ngũ nhân viên. Với tốc độ tăng độ sáng như Costantino Sigismondi đã ghi nhận, khi những đài quan sát đầu tiên được mở cửa trở lại vào mùa hè và mùa thu năm 2020, Betelgeuse đã trở về độ sáng thông thường, trước khi bắt đầu gia nhập bầu trời ban ngày và không thể quan sát được từ mặt đất nữa. Nếu những dữ liệu và giả thuyết ở thời điểm hiện tại là tất cả những gì chúng ta có, dường như sự tối đi của Betelgeuse vào những tháng đầu năm 2020 sẽ vẫn đang chờ một lời giải đáp khác.□  —  Dharmawardena, T.E. et al (2020), “Betelgeuse fainter in the submillimeter too: An analysis of JCMT and APEX monitoring during the recent optical minimum”, The Astrophysical Journal Letters 897 (1).  Dolan, M.M., Mathews, G.J., Lam, D.D., Lan, N.Q., Herczeg, G.J. and Dearborn, D.S. (2016), “Evolutionary tracks for Betelgeuse”, The Astrophysical Journal 819 (1).  Dupree, A.K. et al (2020), “Spatially Resolved Ultraviolet Spectroscopy of the Great Dimming of Betelgeuse”, The Astrophysical Journal 899 (1).  ESO (2020), ESO Telescope Sees Surface of Dim Betelgeuse. https://www.eso.org/public/usa/news/eso2003/  Harper, G.M. et al (2020), “SOFIA-EXES Observations of Betelgeuse during the Great Dimming of 2019/2020”, The Astrophysical Journal Letters 893 (1).  Levesque, E.M. and Massey, P. (2020), “Betelgeuse Just Is Not That Cool: Effective Temperature Alone Cannot Explain the Recent Dimming of Betelgeuse”, The Astrophysical Journal Letters 891 (2).  Sigismondi, C. (2020), “Fall and raise of Betelgeuse in 2020”, Gerbertus 13, pp. 45-50.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Kỳ 3: Chiếc áo mơ phai của Betelgeuse      Dù sự kiện tối đi của Betelgeuse đầu năm 2020 không phải là dấu hiệu của một vụ nổ siêu tân tinh, các chủ đề như tuổi già và cái chết vẫn tiếp tục nhuốm màu cho những hiểu biết của con người về ngôi sao này. Điều này hoàn toàn dễ hiểu: nếu Betelgeuse vẫn còn nằm đâu đó trên dãy chính của biểu đồ Hertzsprung-Russell, nó sẽ không có màu đỏ cam như bây giờ, và ánh sáng của nó cũng sẽ không biến động bất thường như các nhà quan sát đã ghi nhận hàng trăm năm nay. Ngôi sao Betelgeuse mà con người biết đến là một ngôi sao khổng lồ đã cạn kiệt hydro trong lõi từ lâu, và những đặc tính quan sát được của nó đều liên quan ít nhiều tới sự cạn kiệt hydro này.      Sao Betelgeuse chụp ở bước sóng hồng ngoại. Nguồn: ESO/P. Kervella  Hai lần thắm lại  Khi John Herschel ghi nhận sự biến quang của Betelgeuse ở thế kỉ XIX, các nhà thiên văn học trên thực tế cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên. Bỏ qua các quan sát thời cổ đại, những ngôi sao biến quang đầu tiên đã được ghi nhận từ giữa thế kỉ XVII, và một lượng lớn các sao trong số đó được các nhà thiên văn học ở thế kỉ XX xác định là đã cạn kiệt hydro trong lõi và phình to ra hệt như Betelgeuse. Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi một khi một ngôi sao đã đốt sạch hydro ở lõi, lớp ngoài cùng của nó sẽ buộc phải phình to ra để làm giảm nhiệt độ ở phần lõi nay đã bắt đầu co lại. Một khi nhiệt độ đã được cân bằng, lớp ngoài cùng lại co lại, để rồi khi lõi bắt đầu nóng lên thì lại phình to ra cho lõi bớt nóng. Sự phình ra rồi co lại liên tục như vậy được gọi là sự xung động sao (stellar pulsation), và nó khiến cho ánh sáng của một ngôi sao cứ tăng rồi giảm rồi tăng trở lại. Sự xung động sao có thể diễn ra trong một khoảng thời gian đoán trước được, gây ra sự biến quang đều đặn. Mặt khác, một ngôi sao cũng có thể có xung động thất thường, khiến sự biến quang cũng thiếu đều đặn theo.   Tuy nhiên, Betelgeuse đặc biệt ở chỗ ngôi sao này có nhiều chu kì dao động. Biểu đồ độ sáng theo thời gian của Betelgeuse không phải là một đồ thị hình sin lên xuống đều đặn và có biên độ ổn định, mà là một sóng phức hợp (complex wave) có thể được tách thành các sóng sin (sine wave) riêng biệt với các chu kì khác nhau. Tận từ năm 1987, nhà vật lý thiên văn Margarita Karovska đã sử dụng giải tích Fourier (Fourier analysis) để tách biểu đồ độ sáng của Betelgeuse thành một dao động có chu kì một năm, và một dao động khác có chu kì 20 năm. Nhiều thập kỉ sau, một phân tích chính xác hơn của Richard B. Stothers đã kết luận rằng Betelgeuse có ít nhất hai chu kì dao động rõ rệt: một chu kì chính dài xấp xỉ 400 ngày, và một chu kì thứ yếu (secondary period) dài xấp xỉ 2100 ngày. Hai chu kỳ này ảnh hưởng trực tiếp lên nhau: dù chu kì 400 ngày có đẩy độ sáng lên giá trị cao nhất, nhưng ở cùng mốc thời gian đó, chỉ có mình chu kì 400 ngày đạt cực đại còn chu kì 2100 ngày đang hướng tới điểm cực tiểu, cái “giá trị cao nhất” ở trên nghiễm nhiên sẽ bị kéo xuống.   Ngày nay, nhiều nhà thiên văn học cho rằng chu kì dao động 400 ngày của Betelgeuse là do quá trình xung động thường thấy ở các ngôi sao đã về già, song nguồn gốc của chu kì thứ hai – chu kì dài đến tận 2100 ngày – vẫn là một câu hỏi cần lời giải đáp. Khi Edward Guinan và cộng sự phát hiện ra sự tối đi bất thường của Betelgeuse vào mùa đông năm 2019, họ cũng nhận thấy khoảng thời gian này chính là lúc cả hai chu kì dao động 400 ngày và 2100 ngày cùng đạt cực tiểu, khiến độ tối của ngôi sao bị khuếch đại tới một mức mà chưa ai ghi nhận được. Chính vì thế, một giả thuyết hoàn chỉnh dành cho hiện tượng tối đi của Betelgeuse không được phép chỉ đi tìm nguyên nhân tại sao Betelgeuse lại tối đi từ đầu tháng 12/2019 đến tháng 3/2020, mà buộc phải giải thích được toàn bộ chu kì biến quang dài 2100 ngày của ngôi sao. Có lẽ đây chính là lý do khiến Guinan nhận xét rằng giả thuyết của Andrea Dupree và cộng sự vẫn còn chưa đủ.    Mô phỏng hệ sao đôi Betelgeuse trước và trong khi Betelgeuse xé tan ngôi sao đồng hành của nó. Nguồn: Chatzopoulos và cộng sự (2020)  Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất  Ngoài sự biến quang không đều đặn, tuổi già của Betelgeuse còn gây ra ở ngôi sao này những hoạt động kỳ lạ làm cản trở các nỗ lực đo đạc của con người. Vào tháng 6/1997, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) xuất bản Danh mục Hipparcos ghi lại khoảng cách chính xác giữa Trái đất và hơn 118,200 ngôi sao lân cận, nhưng Betelgeuse lại là một trường hợp cá biệt mà các nhà khoa học không tài nào đo được khoảng cách chính xác. Lý do là bởi vì Betelgeuse nằm gần Trái đất, và phép đo khoảng cách hiệu quả nhất cho những ngôi sao nằm gần như thế đòi hỏi việc theo dõi sự thay đổi vị trí của ngôi sao theo thời gian trên một nền trời cố định. Tuy nhiên, những thiết bị đo đạc sự thay đổi vị trí của các ngôi sao khác lại chẳng thể áp dụng được với Betelgeuse. Nếu như ánh sáng của các ngôi sao được phát ra từ lớp vỏ ngoài gọi là quang cầu (photosphere), và quang cầu của Mặt trời mỏng đến nỗi nó tạo thành một đường bao sắc nét quanh Mặt trời khi ta quan sát từ Trái đất, thì ở Betelgeuse, quang cầu khuếch tán rộng ra ngoài, khiến ngôi sao này trông giống một đám mây đỏ mờ ảo hơn là một hình cầu rõ rệt. Thậm chí, mỗi lần một quả bóng plasma hay một đám mây bụi hình thành rồi tan biến trên bề mặt ngôi sao, hình dạng của quang cầu còn bị bóp méo, ngăn cản việc theo dõi chính xác sự dịch chuyển của ngôi sao trên nền trời. Trong Danh mục Hipparcos, khoảng cách của Betelgeuse được đo ở khoảng từ 352 đến 544 năm ánh sáng. Một phép tính toán khác của Harper và cộng sự (2008) lại đưa Betelgeuse ra xa hơn, ở khoảng từ 495 đến 789 năm ánh sáng. Đến năm 2017, đích thân Harper lại công bố thêm một kết quả khác ở khoảng từ 613 đến 880 năm ánh sáng. Nếu sự tăng dần của các con số tưởng chừng như gợi ý ra một xu hướng nào đó thì một nghiên cứu năm 2020 lại dập tắt tất cả: theo Joyce và cộng sự (2020), Betelgeuse chỉ nằm trong khoảng từ 499 đến 636 năm ánh sáng!  Việc khó xác định được khoảng cách chính xác của Betelgeuse cũng gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho việc truy lại nguồn gốc của ngôi sao. Theo các lý thuyết về sự hình thành sao, một ngôi sao không chào đời một cách riêng lẻ, mà được sinh ra cùng rất nhiều ngôi sao khác trong một đám mây khí và bụi, rồi dần dần phá hủy đám mây khí và bụi này để “đường ai nấy đi”. Hàng tỉ năm sau khi những ngôi sao đồng hương rời xa nhau, chúng vẫn sẽ mang các điểm tương đồng về thành phần hóa học, về vận tốc chuyển động, hay về khoảng cách so với Trái đất, và các nhà thiên văn học có thể dùng các điểm tương đồng đó để xác định xem những ngôi sao nào đã chào đời ở cùng một chỗ với nhau. Tuy nhiên, quá trình xác định này không hề đơn giản khi thực hiện với Betelgeuse, vì như chúng ta đã biết, các hoạt động của ngôi sao này ngăn cản các phép đo đạc có độ chính xác cao. Tính đến thời điểm hiện tại, Betelgeuse vẫn được xếp loại là một ngôi sao chạy trốn (runaway star), không rõ quê quán ở đâu, hay họ hàng bao gồm những ngôi sao nào. Một mô hình của Chatzopoulos và cộng sự (2020) gợi ý rằng có thể Betelgeuse đã từng là một hệ sao đôi (binary star system), tức là hai ngôi sao bị ràng buộc với nhau bằng lực hấp dẫn, nhưng ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, ngôi sao nhỏ hơn đã đến quá gần Betelgeuse, khiến Betelgeuse nuốt chửng toàn bộ vật chất của nó rồi lớn phổng lên cả về kích thước lẫn tuổi tác. Nếu giả thuyết này đúng, các nhà thiên văn học vẫn cần phải tìm xem hai ngôi sao này được sinh ra ở đâu. Song việc Betelgeuse “ăn thịt” bạn đồng hành của mình cũng sẽ lý giải được phần nào bản chất hỗn loạn của ngôi sao màu đỏ cam đứng trơ trọi ngày nay.  Một phút huy hoàng rồi chợt tối  Như đã đề cập ở Kỳ 1 và Kỳ 2, mô hình tiến hóa sao của Dolan và cộng sự (2016) đã ước tính được rằng Betelgeuse sẽ trở thành một siêu tân tinh trong vòng 100,000 năm nữa. Cụ thể hơn, vào thời điểm hiện tại, lõi của Betelgeuse đang đốt các nguyên tử heli của mình trong chuỗi các phản ứng hạt nhân gọi là quá trình ba-alpha (triple-alpha process), sinh ra sản phẩm cuối cùng là các nguyên tử carbon và đôi khi là cả nguyên tử oxy. Càng nhiều heli bị đốt, càng nhiều carbon và oxy được sinh ra trong lõi, buộc quá trình ba-alpha phải di chuyển dần dần ra ngoài, trong khi phần lõi dần trở thành một cái lõi trơ (inert core) bởi vì ngôi sao vẫn chưa đạt tới mức nhiệt cần thiết để bắt đầu tổng hợp lượng cacbon và oxy nói trên. Sớm muộn, Betelgeuse cũng sẽ cạn kiệt heli, và khi đó, nhiệt độ ở lõi của ngôi sao này sẽ đủ cao để bắt đầu tổng hợp các nguyên tử carbon, rồi hết carbon thì đến oxy và cuối cùng là silicon. Trong suốt các quá trình tổng hợp nguyên tử như vậy, ngôi sao sẽ càng ngày càng sáng hơn, cho tới khi lõi của nó chỉ còn toàn các nguyên tử sắt không tổng hợp theo cách thông thường được. Trọng lực sẽ thắng thế và làm sụp lõi, sản sinh ra một lượng năng lượng khổng lồ thổi bay tất cả vật chất của ngôi sao trong một vụ nổ siêu tân tinh loại II.     Mô phỏng vụ nổ siêu tân tinh của Betelgeuse bên cạnh các ngôi sao khác trong chòm sao Lạp Hộ (Orion). Nguồn: HeNRyKus/Wikimedia Commons; Celestia.  Khi Betelgeuse phát nổ, nó sẽ tạo ra siêu tân tinh gần Trái đất nhất trong suốt lịch sử quan sát của nhân loại, với cấp sao biểu kiến trung bình là -12.4, sáng ngang ngửa với trăng rằm. Siêu tân tinh SN 1054, thứ mà theo Tống sử đã làm các vật đổ bóng trên mặt đất, cũng sẽ chẳng là gì so với siêu tân tinh đánh dấu cái chết của Betelgeuse. Một vụ nổ kinh hoàng như vậy sẽ sinh ra một lượng tia X và tia gamma khổng lồ đe dọa tới các thiên thể xung quanh, song Dolan và cộng sự tính toán được rằng các tia này sẽ không gây hại gì cho hành tinh của chúng ta, vì chúng không đủ mạnh để đâm xuyên qua bầu khí quyển. Ngay cả cơn sóng xung kích (shock wave) mà siêu tân tinh của Betelgeuse gây ra cũng sẽ không có khả năng tác động trực tiếp tới Trái đất, và càng không thể tưới vật chất của ngôi sao đã chết lên bầu khí quyển của hành tinh chúng ta. Nói theo cách khác, sao Betelgeuse sẽ ra đi trong một ánh sáng huy hoàng mà chớp nhoáng, và chúng ta đủ gần để quan sát được toàn bộ cái chết của nó, nhưng vẫn còn quá xa và được bảo vệ quá tốt để bị cái chết ấy ảnh hưởng trực tiếp.   Vậy rốt cuộc ngôi sao này sẽ để lại được những gì sau khi chết? Ở vị trí hiện tại của ngôi sao, Dolan và cộng sự cho rằng tất cả những gì còn lại sẽ là cái lõi đã sụp thành sao neutron (neutron star) nặng gấp 1.5 lần khối lượng Mặt trời. Còn về những thứ bay đi, ước tính một lượng năng lượng lên đến 2 x 1046 joule sẽ được giải phóng dưới dạng các hạt neutrino bay tứ tung ra xung quanh, thắp sáng tất cả các máy dò neutrino mà con người đã xây dựng được vào thời điểm đó. Những nguyên tử được ngôi sao tổng hợp trước và trong khi chết cũng sẽ được giải phóng ra ngoài, và có thể một số đám mây bụi lân cận sẽ được thừa hưởng một lượng lớn các kim loại của Betelgeuse, khiến cho những ngôi sao sau này chui ra từ các đám mây đó có thành phần hóa học riêng biệt. Có thể người Kokatha 100,000 năm nữa sẽ chỉ thấy gã Nyeeruna đê tiện mất phép thuật lửa trong tay, có thể người Việt Nam 100,000 năm nữa sẽ chỉ thấy thửa ruộng xung quanh sao Cày thiếu hụt mất một góc, nhưng đâu đó trong vũ trụ, dấu ấn của Betelgeuse vẫn sẽ còn đó, không ít thì nhiều, không phải là các hạt thấm nhuần vào da thịt những ngôi sao mới sinh thì sẽ là những hạt bay mãi mãi trong khoảng không vô tận.□  —  Chatzopoulos, E., Frank, J., Marcello, D.C. and Clayton, G.C. (2020), “Is Betelgeuse the Outcome of a Past Merger?”, The Astrophysical Journal 896 (1).  Dolan, M.M., Mathews, G.J., Lam, D.D., Lan, N.Q., Herczeg, G.J. and Dearborn, D.S. (2016), “Evolutionary tracks for Betelgeuse”, The Astrophysical Journal 819 (1).  Joyce, M. et al (2020), “Standing on the shoulders of giants: New mass and distance estimates for Betelgeuse through combined evolutionary, asteroseismic, and hydrodynamical simulations with MESA”, The Astrophysical Journal 902 (1).  Karovska, M. (1987), “Multiperiodicity in the light curve of Alpha Orionis”, in Stellar Pulsation: Proceedings of a Conference Held as a Memorial to John P. Cox at the Los Alamos National Laboratory Los Alamos, New Mexico, USA, August 11–15, 1986, Springer, pp. 260-263.  Harper, G.M., Brown, A. and Guinan, E.F. (2008), “A new VLA-Hipparcos distance to Betelgeuse and its implications”, The Astronomical Journal 135 (4).  Harper, G.M., Brown, A., Guinan, E.F., O’Gorman, E., Richards, A.M.S., Kervella, P. and Decin, L. (2017), “An updated 2017 astrometric solution for Betelgeuse”, The Astronomical Journal 154 (1).  Stothers, R.B. (2010), “Giant Convection Cell Turnover as an Explanation of the Long Secondary Periods in Semiregular Red Variable Stars”, The Astrophysical Journal 725 (1).    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Kỷ băng hà lạnh đến mức nào?      Một nhóm nghiên cứu do Đại học Arizona dẫn đầu đã phát hiện ra thời kỳ băng hà cuối cùng (Last Glacial Maximum) cách đây 20,000 năm có mức nhiệt độ khoảng 7,8°C.      Đồ họa cảnh tượng Tây Ban Nha trong thời kỳ băng hà cuối cùng. Nguồn: icecoldjustice.com  Kết quả nghiên cứu này đã giúp các nhà khoa học khí hậu hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa mức độ gia tăng ngày nay của carbon dioxide trong khí quyển – một loại khí nhà kính – với nhiệt độ trung bình của trái đất.  Thời kỳ băng hà cuối cùng – Last Glacial Maximum (LGM) là giai đoạn vô cùng lạnh giá với những sông băng khổng lồ bao phủ đến gần một nửa Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu cùng nhiều khu vực ở châu Á. Đây cũng là giai đoạn các hệ động thực vật thích nghi được với khí hậu lạnh phát triển mạnh.  “Thời kỳ băng hà không phải là một chủ đề xa lạ, chúng ta đã nghiên cứu về nó từ lâu”, Jessica Tierney, Phó Giáo sư tại khoa Khoa học Địa chất, Đại học Arizona cho biết. “Tuy nhiên, có một câu hỏi mà giới khoa học vẫn chưa tìm được câu trả lời, đó là: Kỷ băng hà lạnh đến mức nào?”  Theo dõi nhiệt độ  Tierney cũng là tác giả chính của bài báo vừa công bố trên Nature. Theo bài báo, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra nhiệt độ trung bình toàn cầu trong kỷ băng hà ở khoảng 7,8°C, thấp hơn 6°C so với mức nhiệt trung bình 14°C của trái đất trong thế kỷ 20.  “Bạn có thể nghĩ rằng sự chênh lệch nhiệt độ này không quá lớn, tuy nhiên trên thực tế, đây là một sự thay đổi khổng lồ”, Tierney cho biết.  Cô và nhóm của mình cũng thiết lập các bản đồ mô tả sự khác biệt về nhiệt độ ở từng khu vực cụ thể trên thế giới.  “Tại Bắc Mỹ và châu Âu, hầu hết các vùng ở phía Bắc đã bị bao phủ trong băng và cực kỳ lạnh giá. Ngay cả Arizona cũng rất lạnh”, Tierney nói. “Tuy nhiên, các vùng có vĩ độ cao, ví dụ như Bắc Cực, mới là những nơi lạnh nhất. Lúc bấy giờ, nhiệt độ nơi đây thấp hơn 14°C so với ngày nay”.  Các phát hiện của họ cũng phù hợp với những hiểu biết khoa học về cách thức các vùng cực của trái đất phản ứng với sự thay đổi nhiệt độ.  “Theo các mô hình khí hậu, những nơi có vĩ độ cao sẽ ấm lên nhanh hơn những nơi có vĩ độ thấp”, Tierney giải thích. “Các dự báo tương lai chỉ ra rằng Bắc Cực sẽ thực sự nóng lên, đây là hiện tượng khuếch đại vùng cực. Và tương tự như vậy, trong suốt thời kỳ băng hà cuối cùng (LGM), Bắc Cực thực sự rất lạnh. Những nơi có vĩ độ cao hơn thì sẽ nhạy cảm hơn với biến đổi khí hậu và sẽ vẫn như vậy trong tương lai”.  Xác định lượng Carbon  Những hiểu biết về nhiệt độ trong kỷ băng hà có ý nghĩa quan trọng bởi đây sẽ là cơ sở để tính toán mức thay đổi của nhiệt độ toàn cầu trong tương quan với sự gia tăng của carbon trong khí quyển.  Tierney và nhóm của mình nhận ra rằng, cứ mỗi khi lượng carbon trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng 3,4°C, mức nằm giữa phạm vi mà thế hệ mô hình khí hậu mới nhất dự đoán (từ 1,8-5,6°C).  Trong suốt kỷ băng hà, mức carbon dioxide trong khí quyển chỉ khoảng 180 phần một triệu, đây là một mức rất nhỏ. Trước Cách mạng Công nghiệp, mức này đã tăng lên 280 phần một triệu, và ngày nay đã đạt 415 phần một triệu.  “Thỏa thuận chung Paris mong muốn giữ mức ấm lên toàn cầu không vượt quá 1,5°C so với thời tiền công nghiệp, tuy nhiên, với sự gia tăng carbon dioxide hiện nay, sẽ rất khó để tránh được mức ấm lên 2°C”, Tierney cho biết. “Chúng ta đã đạt mức 1,1°C, tuy nhiên cần giữ cho mức này càng thấp càng tốt bởi trái đất thực sự sẽ phản ứng lại với những biến đổi về lượng carbon dioxide”.  Xây dựng mô hình  Do thời kỳ băng hà không có nhiệt kế, Tierney và nhóm của mình đã phát triển các mô hình để chuyển dữ liệu thu thập được từ hóa thạch sinh vật phù du đại dương thành nhiệt độ bề mặt biển. Sau đó, bằng cách sử dụng một kỹ thuật có tên “đồng hóa dữ liệu” – kỹ thuật thường được dùng trong dự báo thời tiết, nhóm đã kết hợp các dữ liệu hóa thạch này với các mô phỏng mô hình khí hậu của thời kỳ băng hà cuối cùng”.  “Trong khi các trung tâm dự báo thời tiết đo nhiệt độ, áp suất, độ ẩm và sử dụng các phép đo này để dự báo về thời tiết trong tương lai, thì ở đây, chúng tôi sử dụng mô hình khí hậu của Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia tại Boulder, Colorado để tạo ra một dự báo quá khứ về thời kỳ băng hà cuối cùng, sau đó chúng tôi kết hợp dự báo này với các dữ liệu thực để đưa ra suy đoán về khí hậu ở giai đoạn đó”, Tierney nói.  Trong tương lai, Tierney và nhóm của mình cũng dự định sẽ sử dụng kỹ thuật tương tự để tái hiện lại các thời kỳ ấm áp của trái đất trong quá khứ.  “Nếu chúng ta có thể mô phỏng lại các thời kỳ khí hậu ấm áp từng xảy ra”, cô nói, “thì chúng ta sẽ bắt đầu trả lời được những câu hỏi quan trọng về cách trái đất phản ứng với mức carbon dioxide cao, cũng như cải thiện hiểu biết của mình các tình huống biến đổi khí hậu có thể xảy ra trong tương lai”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-cold-ice-age.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ký kết hiệp định Chính phủ về hợp tác KH&CN Việt Nam-Nhật Bản      Việt Nam và Nhật Bản sẽ có những quan tâm hơn trong việc tăng cường quan hệ hợp tác KH&amp;CN, đội ngũ nghiên cứu sẽ được chia sẻ những thông tin thiết yếu về yêu cầu cũng như khả năng hỗ trợ giữa hai Chính phủ cho hợp tác nghiên cứu” – Bộ trưởng KH&amp;CN Hoàng Văn Phong phát biểu trong Lễ kí kết Hiệp định Chính phủ về hợp tác KH&amp;CN Việt Nam – Nhật Bản ngày 21/8 tại trụ sở Bộ Khoa học và Công nghệ.    Đây là Hiệp định khung về hợp tác KH&CN giữa hai nước, theo đó hai bên sẽ trao đổi các nhà khoa học, tiến hành các chương trình và sự án nghiên cứu chung, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở Hiệp định, hai bên tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và cá nhân thuộc khu vực công và tư hoạt động hợp tác. Trước mắt, hai bên sẽ thành lập Ủy ban hợp tác Khoa học Kĩ thuật giữa hai nước, hằng năm luân phiên tổ chức hội nghị cấp bộ trưởng, v.v.  Trước đây Nhật Bản đã có nhiều đóng góp thiết thực cho Việt Nam trong việc nâng cao trình độ cho các chuyên gia kỹ thuật, nghiên cứu khoa học qua những dự án như “Hiện đại hóa hệ thống quản lý sở hữu công nghiệp”, “Xây dựng Trung tâm sát hạch kỹ sư CNTT ở Việt  Nam theo tiêu chuẩn của Nhật Bản”… Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Norio Hattori đánh giá: “Với Hiệp định này, quan hệ hợp tác KH&CN giữa hai nước phát triển tới mức cao nhất từ trước tới nay”.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ lục về khoảng cách của mật mã lượng tử      Mật mã lượng tử truyền qua sợi quang đã đạt được một khoảng cách kỷ lục là 421 km và hoạt động với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các trình diễn đường dài trước đây.      Hình 1. Sơ đồ mô tả thiết kế của Boaron và các cộng sự để thực hiện phân phối khóa lượng tử với khoảng cách kỷ lục 421 km. Thiết kế này sử dụng sợi quang có độ tiêu hao siêu thấp (ULL fiber), hệ thống quang-điện với tốc độ lặp cao (2,5 GHz) và thiết bị dò photon nhiễu thấp dựa trên các đầu dò đơn photon siêu dẫn (SNSPD).      Bảo mật dữ liệu là vô cùng quan trọng trong cộng đồng mạng của chúng ta. Một trong những giải pháp nhiều hứa hẹn nhất để bảo mật thông tin liên lạc là vận dụng các kỹ thuật mã hóa dựa trên các định luật cơ bản của cơ học lượng tử. Để phân phối khóa lượng tử giữa hai đối tác (Alice và Bob), các photon được sử dụng để chia sẻ khóa mã hóa với độ bảo mật tuyệt đối, vì bất kỳ người nghe lén nào (Eve) đều không thể trích xuất thông tin từ các photon mà không bị phát hiện. Công nghệ về phân phối khóa lượng tử đã tiến bộ rất nhanh trong thập kỷ vừa qua: các hệ thống phân phối khóa lượng tử đã được các ngân hàng, các chính phủ kiểm nghiệm, thậm chí còn được triển khai tại World Cup 2010 ở Nam Phi. Trong năm 2017, các nhà nghiên cứu đã tổ chức thành công một hội nghị trực tuyến qua video được bảo mật bởi giao thức phân phối khóa lượng tử giữa Trung Quốc và Áo thông qua vệ tinh lượng tử Micius (Mặc Tử) như một trạm chung chuyển tin cậy1.   Để có giải pháp khả thi về mặt thương mại thay cho mật mã thông thường, các nghiên cứu tập trung vào việc làm sao cho giao thức phân phối khóa lượng tử có giá thành rẻ hơn và thực tế hơn, cũng như có thể làm việc được trong phạm vi rộng hơn với tốc độ truyền khóa mã hóa nhanh hơn. Mới đây, Alberto Boaron từ Đại học Geneva và các đồng nghiệp đã thiết lập một kỷ lục mới về khoảng cách (421 km) 2 cho phân phối khóa lượng tử thông qua sợi quang. Mặc dù đây chỉ là một sự cải thiện khoảng cách khiêm tốn so với kỷ lục đã đạt được trước đó (404 km) 3, thiết kế mới của Boaron và các đồng nghiệp có khả năng trao đổi khóa mã hóa với tốc độ nhanh hơn nhiều – một điểm quan trọng đối với các ứng dụng. Tuy nhiên, thiết kế trước đó với khoảng cách 404 km có liên quan đến một phiên bản phân phối khóa lượng tử, được gọi là phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo; phiên bản này đạt được một mức bảo mật thực tế cao hơn.  Kể từ khi giao thức phân phối khóa lượng tử đầu tiên với khoảng cách của một băng ghế quang học chỉ dài 32 cm 4 được trình diễn, việc mở rộng phạm vi phân phối khóa lượng tử đã là một mục tiêu nghiên cứu thiết yếu. Trở ngại chính là ở chỗ trên thực tế hầu hết các photon dùng trong giao thức phân phối khóa lượng tử hoặc bị tán xạ hoặc bị hấp thụ trước khi đến được máy thu. Cụ thể, trong một sợi quang tiêu chuẩn hiện thời, cơ hội sống sót đến được đầu thu của một photon là 10% sau khi truyền được 50 km và giảm xuống chỉ còn 0,01% khi quãng đường truyền tăng lên thành 200 km. Hậu quả là giao thức phân phối khóa lượng tử bị thất bại vì các bộ lặp quang chuẩn không thể tái tạo tín hiệu lượng tử một cách trung thực, còn các bộ lặp quang lượng tử thì vẫn còn nằm ngoài phạm vi tiếp cận của công nghệ hiện nay. Mặc dù vậy, phân phối khóa lượng tử thông qua sợi quang đã được trình diễn giữa các mốc khoảng cách là 240 km 5, 307 km 6, … và bây giờ là 421 km 2.   Những kết quả này đạt được là nhờ vào sự sẵn có của các sợi quang với độ tiêu hao cực thấp và các hệ thống vận hành phân phối khóa lượng tử với tốc độ cao. Ngay cả khi độ mất mát của tín hiệu là lớn, tốc độ đếm photon trong máy dò của Bob vẫn có thể vượt quá một nghìn lần mỗi giây nếu hàng tỷ photon được truyền mỗi giây. Một yếu tố quan trọng khác là sự tiến bộ trong việc giảm nhiễu của máy dò. Nếu mức độ nhiễu là cực thấp, tỷ lệ tín hiệu trên tạp âm có thể đủ cao để cho phép Bob dịch tất cả các tín hiệu mà anh dò được thành các bit bảo mật của khóa mã hóa cuối cùng. Bob chỉ mất công đợi đủ lâu nếu muốn có một khóa bí mật đủ dài. Tuy nhiên, nhiễu của máy dò vẫn là một yếu tố hạn chế đáng kể. Các máy dò cảm ứng nhiệt gây ra các sự cố dò sai (gọi là “đếm trong bóng tối”: máy vẫn “nháy” báo hiệu là dò được tín hiệu khi thực tế không hề có tín hiệu nào đến đầu dò). Vì tín hiệu suy giảm nhanh theo hàm mũ đối với khoảng cách, trong khi sự cố “đếm trong bóng tối” của máy dò không phụ thuộc khoảng cách, nên ở một khoảng cách nhất định, tỷ lệ tín hiệu trên tạp âm trở nên quá nhỏ và tốc độ truyền khóa mã hóa của hệ thống phân phối khóa lượng tử giảm xuống bằng 0, đồng nghĩa với thất bại.  Nhắm mục tiêu vào nhiễu của máy dò là thành phần chính làm nên thành công của Boaron và đồng nghiệp. Các xung ánh sáng ở bước sóng 1550 nm được Alice  truyền qua hàng trăm km của sợi quang và được Bob dò bằng các đầu dò đơn photon dùng dây nano siêu dẫn (Hình 1). Mỗi thiết bị nhạy cảm này được làm từ một dây nano siêu dẫn dài được sắp xếp theo mô hình xoắn ốc trên một bề mặt phẳng. Để giảm sự cố “đếm trong bóng tối” của các máy dò, nhóm nghiên cứu đã làm lạnh chúng xuống 0,8 K và sử dụng một bộ lọc sợi được làm nguội đến 40 K nhằm loại bỏ phát xạ vật đen của sợi quang kết nối với các máy dò. Những biện pháp như thế  làm giảm một cách ấn tượng tốc độ của sự cố “đếm trong bóng tối” đến 0,1 Hz, khoảng 2 bậc về độ lớn thấp hơn so với các máy đếm thương mại. Với các “tiểu xảo” kỹ thuật này, xác suất xảy ra sự cố “đếm trong bóng tối” khi có một photon đến được hạ xuống chỉ còn 10-11.  Nhờ xác suất thấp của sự cố “đếm trong bóng tối” của các máy dò và nhờ việc sử dụng sợi quang có độ tiêu hao cực thấp, kết hợp với việc sửa đổi một giao thức chịu tổn thất 7, nhóm nghiên cứu đã đạt được một quá trình phân phối khóa lượng tử đường dài tốt nhất từ trước tới nay thông qua sợi quang. Với các sợi quang có chiều dài từ 251 đến 404 km, tốc độ thiết lập khóa mã hóa cao hơn 100 lần so với các cuộc trình diễn trước đó với cùng những khoảng cách như nhau, và chúng vẫn vượt trội tới một khoảng cách kỷ lục là 421 km. Sự gia tăng tốc độ tạo khóa mã hóa được đảm bảo bởi một thiết kế do chính Boaron và các đồng nghiệp phát triển gần đây. Điều này đã thiết lập được một trong những tốc độ lặp cao nhất (2,5 GHz) từng được sử dụng trong các thí nghiệm về phân phối khóa lượng tử. Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh được sự ổn định của hệ thống bằng cách vận hành nó trong hơn 24 giờ.  Để đánh giá kết quả của Boaron và các cộng sự cũng như triển vọng của các cải tiến trong tương lai, cần so sánh kỷ lục mới đạt được với các kỷ lục đã đạt được trước đó 3 theo kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo, một kỹ thuật được phát triển để khắc phục tất cả các lỗ hổng bảo mật tiềm ẩn của đầu thu. Kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo cần đến một bên thứ ba (Charlie), người “đóng đô” ở giữa kênh truyền thông và đo các photon được gửi bởi Alice và Bob rồi công khai công bố các kết quả đo của mình. Charlie không nhất thiết phải là người đáng tin cậy vì các định luật của cơ học lượng tử không cho phép anh ăn cắp khóa bí mật của Alice và Bob. Có thể chứng tỏ được rằng sự hiện diện của một trạm đo trung gian (Charlie) làm giảm đáng kể mức độ nhiễu do sự cố “đếm trong bóng tối” gây ra. Điều này dẫn đến một tuyên bố trong một hội nghị ở Tokyo năm 2015 rằng kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo có thể đạt được khoảng cách dài hơn so với kỹ thuật phân phối khóa lượng tử thông thường. Thí nghiệm dùng kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo trên khoảng cách 404 km được thực hiện trong năm 2016 3 dường như hỗ trợ tuyên bố này.   Nhưng bây giờ công trình của Boaron và các đồng nghiệp lại thách thức nó một lần nữa. Vậy giao thức nào trong hai giao thức nêu trên là tiềm năng hơn cho mật mã lượng tử áp dụng cho khoảng cách dài? Giả sử các điều kiện đối với sợi quang (loại có độ tiêu hao cực thấp) là y như nhau, một phân tích chi tiết cho thấy rằng đây là một cuộc đua cực kỳ gay cấn. Lý thuyết cho thấy, về nguyên tắc, kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo có một lợi thế về tỷ lệ tín hiệu trên tạp âm, nhưng thiết kế phức tạp mà thực tế đòi hỏi có thể làm mất lợi thế này. Kỹ thuật phân phối khóa lượng tử thông thường dựa trên triển khai thiết bị đơn giản hơn, có thể có tốc độ cao hơn và có thể dò tin hiệu hiệu quả hơn.  Điều quan trọng cần nhấn mạnh là sự so sánh giữa kỹ thuật thông thường và kỹ thuật không phụ thuộc thiết bị đo cho phân phối khóa lượng tử phải là một phân tích đầy đủ bao gồm mọi khía cạnh bảo mật. Kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo bảo đảm độ an ninh cao hơn so với kỹ thuật thông thường, đặc biệt trong việc chống lại các cuộc tấn công nhắm vào các thiết bị dò tìm của Bob 8 và các thành phần khác như bộ tách chùm mà Boaron và các cộng sự sử dụng trong việc lựa chọn cơ sở thụ động 9. Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới phân tích tính bảo mật đối với các kiểu tấn công “tập thể”, không phải là loại tấn công chung nhất 3, 5. Một cách khả dĩ để kéo dài thêm khoảng cách mà vẫn giữ được sự đảm bảo an ninh giống như trong kỹ thuật phân phối khóa lượng tử không phụ thuộc thiết bị đo là vận dụng kỹ thuật “trường sinh đôi” 10, một kỹ thuật mới được đề xuất tích hợp được các tính năng tốt nhất của cả kỹ thuật thông thường và kỹ thuật không phụ thuộc thiết bị đo mà không làm tăng đáng kể dộ phức tạp của thiết kế.  Cuối cùng, ứng dụng cụ thể sẽ quyết định giao thức nào sẽ đáp ứng các nhu cầu cần thiết về mặt an ninh, khoảng cách và tốc độ thiết lập khóa mã hóa. Các kết quả gần đây về phân phối khóa lượng tử đường dài cung cấp các tùy chọn thuyết phục mà người dùng tiềm năng có thể sử dụng cho các ứng dụng như điện thoại kỹ thuật số trong các mạng đô thị.  Kỷ lục về khoảng cách 421 km của mật mã lượng tử đã được công bố trong tạp chí Phys. Rev. Lett. 121, 190502 vào ngày 5//11/2018. Tác giả của bài viết giới thiệu này là Marco Lucamarini, nghiên cứu viên cao cấp tại Toshiba Research Europe ở Cambridge, Vương quốc Anh. □    Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v11/111?utm_campaign=weekly&utm_medium=email&utm_source=emailalert  ———  Tài liệu tham khảo  1. S.-K. Liao et al., “Satellite-relayed intercontinental quantum network,” Phys. Rev. Lett. 120, 030501 (2018).  2. A. Boaron et al., “Secure quantum key distribution over 421 km of optical fiber,” Phys. Rev. Lett. 121, 190502 (2018).  3. H.-L. Yin et al., “Measurement-device-independent quantum key distribution over a 404 km optical fiber,” Phys. Rev. Lett. 117, 190501 (2016).  4. C. H. Bennett, F. Bessette, G. Brassard, L. Salvail, and J. Smolin, “Experimental quantum cryptography,” J. Cryptol. 5, 3 (1992).  5. B. Fröhlich, M. Lucamarini, J. F. Dynes, L. C. Comandar, W. W.-S. Tam, A. Plews, A. W. Sharpe, Z. Yuan, and A. J. Shields, “Long-distance quantum key distribution secure against coherent attacks,” Optica 4, 163 (2017).  6. B. Korzh, C. C. W. Lim, R. Houlmann, N. Gisin, M. J. Li, D. Nolan, B. Sanguinetti, R. Thew, and H. Zbinden, “Provably secure and practical quantum key distribution over 307 km of optical fibre,” Nat. Photon. 9, 163 (2015).  7. K. Tamaki, M. Curty, G. Kato, H.-K. Lo, and K. Azuma, “Loss-tolerant quantum cryptography with imperfect sources,” Phys. Rev. A 90, 052314 (2014).  8. V. Makarov, A. Anisimov, and J. Skaar, “Effects of detector efficiency mismatch on security of quantum cryptosystems,” Phys. Rev. A 74, 022313 (2006).  9. H.-W. Li et al., “Attacking a practical quantum-key-distribution system with wavelength-dependent beam-splitter and multiwavelength sources,” Phys. Rev. A 84, 062308 (2011).  10. M. Lucamarini, Z. L. Yuan, J. F. Dynes, and A. J. Shields, “Overcoming the rate–distance limit of quantum key distribution without quantum repeaters,” Nature 557, 400 (2018).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ năng và năng lực cho khoa học mở: Thách thức và gợi ý cho Việt Nam      Khoa học mở là vấn đề lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, và trong điều kiện của Việt Nam thì nó là vấn đề của liên bộ. Vì vậy, cần có những chính sách và sự điều phối các hoạt động của khoa học mở được tốt, bao gồm cả các hoạt động huấn luyện đào tạo để đáp ứng các kỹ năng và năng lực của khoa học mở.      Ủy ban châu Âu – EC (European Commission) đã ra ‘Tuyên bố Đám mây Khoa học Mở châu Âu’ với mục tiêu tạo ra một nền tảng cho truy cập mở, từ đó thúc đẩy khoa học mở. Nguồn ảnh: Openscience   Ngày nay, khoa học mở không còn là khái niệm trừu tượng chỉ mang tính lý thuyết nữa, mà nó đang và sẽ trở thành dòng chính thống từ nay trở đi, nhất là sau cuộc họp của các bộ trưởng khoa học các nước G7 tại Turin, nước Ý, ngày 28/09/2017 gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Mỹ cùng với Ủy viên châu Âu về Nghiên cứu, Khoa học và Cách tân, nơi các bên tham gia đã ra thông cáo chung1 thừa nhận, khẳng định và ủng hộ việc ứng dụng và phát triển khoa học mở trong thời gian tới.  Gần một tháng sau sự kiện trên, ngày 26/10/2017, Ủy ban châu Âu – EC (European Commission) đã ra ‘Tuyên bố Đám mây Khoa học Mở châu Âu2’, gọi tắt là Tuyên bố EOSC (European Open Science Cloud), khẳng định tới năm 2020 sẽ làm cho tất cả các dữ liệu nghiên cứu khoa học sử dụng tiền từ khu vực nhà nước sẽ ‘mở mặc định’ theo các nguyên tắc: tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được – FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Re-usable), mở ra các cơ hội mới về nghiên cứu và cách tân trong khoa học không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học của châu Âu, mà toàn thế giới.  Để có thể hiện thực hóa được EOSC, EC đã ban hành hàng loạt các tài liệu chỉ dẫn, một trong số đó là tài liệu ‘Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở’, được EC xuất bản vào tháng 7/2017, nó liệt kê các kỹ năng đặc thù các nhà nghiên cứu cần có để làm khoa học mở và đưa ra các khuyến cáo chính sách cho các bên tham gia đóng góp ở mức châu Âu, quốc gia, và cơ sở để nâng cao nhận thức, huấn luyện, hỗ trợ, và khuyến khích các nhà nghiên cứu đi theo khoa học mở.  Trước khi đi sâu hơn vào các kỹ năng đặc thù cho khoa học mở, cần thiết để nêu định nghĩa khoa học mở là gì.  Định nghĩa khoa học mở  EC định nghĩa khoa học mở như sau3:  Khoa học Mở đại diện cho tiếp cận nghiên cứu có tính cộng tác, minh bạch, và truy cập được. Một dải rộng lớn các hoạt động tới dưới cái ô Khoa học Mở, bao gồm xuất bản Truy cập Mở, Dữ liệu Mở, Máy tính bảng Mở , Rà soát lại Ngang hàng Mở, và Giáo dục Mở. Nó cũng bao gồm cả khoa học công dân, nơi những người không phải là các chuyên gia tham gia trực tiếp vào nghiên cứu. Khoa học Mở đi cùng với liêm chính nghiên cứu, và đòi hỏi nhận thức về pháp lý và đạo đức từ phía các nhà nghiên cứu. Động lực cho Khoa học Mở là phong trào nghiên cứu và thẩm định nghiên cứu minh bạch cũng như quyền sở hữu nhà nước của khoa học, đặc biệt là nghiên cứu được nhà nước cấp vốn.  Định nghĩa ở trên cho chúng ta thấy khoa học mở không chỉ đi với các kỹ năng mang tính kỹ thuật công nghệ, mà còn cả các kỹ năng về đạo đức từ phía các nhà nghiên cứu.  Các kỹ năng đặc thù khoa học mở và khái quát chung hiện trạng ở Việt Nam  Để có thể thực hành khoa học mở, việc huấn luyện và phát triển các kỹ năng khoa học mở là quan trọng và không thể thiếu.     Hình 1: Bánh xe Khoa học Mở, mô tả các đặc tính và chỉ số chính của Khoa học Mở4, nhấn mạnh đặc biệt và trước nhất vào Truy cập Mở và Dữ liệu Mở.  Phù hợp với các đặc tính và chỉ số của Khoa học Mở được ưu tiên nhấn mạnh trước nhất theo Hình 1 ở trên, các kỹ năng Khoa học Mở của các nhà nghiên cứu có thể được chia thành 4 chủng loại lớn sau:  Các kỹ năng và sự tinh thông cần thiết cho xuất bản truy cập mở. Ở Việt Nam hiện nay khái niệm và các hoạt động liên quan tới truy cập mở tới các xuất bản phẩm hay xuất bản truy cập mở là chưa tồn tại.  Các kỹ năng và sự tinh thông về dữ liệu nghiên cứu, sản xuất, quản lý, phân tích/ sử dụng/ sử dụng lại, phổ biến dữ liệu và thay đổi hệ biến hóa từ “dữ liệu được bảo vệ mặc định” sang “dữ liệu mở mặc định”, trong khi vẫn tôn trọng các ràng buộc pháp lý và khác. Ở Việt Nam hiện nay chưa ở đâu có dữ liệu mở theo đúng định nghĩa như ở các quốc gia tiên tiến như châu Âu và Mỹ đang thực hành, lại càng không thể có nguyên tắc “dữ liệu mở mặc định” trong các nghiên cứu được nhà nước cấp vốn như chính sách EC đã nêu trong xây dựng và triển khai EOSC. Trong khi dữ liệu mở châu Âu được định hình theo các nguyên tắc tìm thấy được, truy cập được, tương hợp được và sử dụng lại được – FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Re-usable), thì dữ liệu mở ở Việt Nam còn chưa tồn tại, kể cả với các dữ liệu được cho là ‘mở’, nằm trong vùng được gắn nhãn ‘Dữ liệu mở’ trên trang chủ của Hệ tri thức Việt Số hóa (xem https://dulieu.itrithuc.vn/).  Các kỹ năng và sự tinh thông để hành động trong và ngoài cộng đồng hàn lâm và ngành nghề của riêng mình, bao gồm: (1) Các kỹ năng quản lý nghiên cứu; (2) Các kỹ năng pháp lý; (3) Các kỹ năng liêm chính nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu. Các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học của Việt Nam chắc chắn có cung cấp các kỹ năng như được nêu ở đây, dù nhiều khả năng là chưa phù hợp với khoa học mở, nhất là các kỹ năng pháp lý – khi có liên quan tới các vấn đề cấp phép mở cho các xuất bản phẩm và các dữ liệu nghiên cứu để chúng trở thành các xuất bản phẩm truy cập mở và các dữ liệu mở đúng.  Các kỹ năng và sự tinh thông là kết quả từ khái niệm chung và rộng về khoa học công dân, nơi các nhà nghiên cứu tương tác với công chúng nói chung để cải thiện tác động của khoa học và nghiên cứu.  Khái niệm khoa học công dân có lẽ cũng là rất mới đối với Việt Nam và nếu bạn tìm kiếm cụm từ ‘khoa học công dân’ thì hầu như sẽ không có kết quả nào được trả về, kể cả trên trang chủ của Bộ Khoa học và Công nghệ.  Điểm mấu chốt  Trên thực tế, ở châu Âu, các kỹ năng khoa học mở không chỉ được đào tạo trong giới hàn lâm mà còn mở rộng sang nhiều đối tượng khác nữa bao gồm những người làm chính sách, các nhà xuất bản, các doanh nghiệp ở mọi quy mô từ các công ty khởi nghiệp cho đến các tập đoàn thông qua các hội thảo chuyên đề, các tài liệu khuyến cáo hoặc các webinar trên mạng. Những đối tượng này được gọi là “các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và các thành phần của nó”. Hơn thế nữa, việc huấn luyện các kĩ năng khoa học mở được khuyến cáo đưa vào trong chương trình giáo dục từ sớm, không chỉ ở trình độ đại học và sau đại học mà còn ngay ở cấp phổ thông trung học5.    Cách tiếp cận và thực hành của khoa học truyền thống và khoa học mở trong từng thành phần của chúng là rất khác nhau, đôi khi ngược chiều nhau, ví dụ như: dữ liệu nghiên cứu chuyển từ “dữ liệu được bảo vệ mặc định” sang “dữ liệu mở mặc định”, trong khi vẫn tôn trọng các ràng buộc pháp lý và khác như được nêu ở trên; hay truy cập mở tới các xuất bản phẩm làm cho hệ thống truyền thông nghiên cứu chuyển từ chế độ người sử dụng trả tiền để được truy cập tới các xuất bản phẩm nghiên cứu sang chế độ tác giả trả tiền để được xuất bản các kết quả nghiên cứu của chính họ.  Chính sự khác biệt rất lớn và đôi khi ngược chiều nhau này giữa tiếp cận và thực hành khoa học truyền thống và khoa học mở đòi hỏi sự chuyển đổi lớn, tận gốc cách tư duy và thực hành khoa học và để vượt qua được thói quen vốn có từ nhiều thế kỷ nay trong tiếp cận và thực hành khoa học truyền thống sang khoa học mở. Đây là sự chuyển đổi không hề dễ dàng, nếu không nói là vô cùng khó khăn, vì nó liên quan tới sự thay đổi lớn của tất cả các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và từng thành phần của nó trong nhiều vấn đề, chỉ nêu ví dụ một vài vấn đề như trong các mô hình vận hành, mô hình tạo lập – phát triển, mô hình cấp phép, mô hình kinh doanh, và tới lượt nó, cần có sự điều phối, phối hợp để hài hòa hóa và tránh các xung đột lợi ích giữa tất cả các bên tham gia đóng góp đó.  Chắc chắn việc nói ‘hài hòa hóa lợi ích của tất cả các bên tham gia đóng góp cho khoa học mở và các thành phần của nó’ là dễ hơn rất nhiều lần so với việc hiện thực hóa nó, hay nói theo một cách dân dã, là nói luôn dễ hơn làm, biết rằng, nếu không có sự điều phối và/hoặc phối hợp, thì một cách tự nhiên, từng bên sẽ tối đa hóa lợi ích của mình mà không cần quan tâm tới lợi ích của các bên khác, và hệ quả là sự chuyển đổi từ khoa học truyền thống sang khoa học mở sẽ không bao giờ có cơ hội xảy ra.    Hình 2: Các bên tham gia đóng góp cho nghiên cứu và cách tân cung cấp huấn luyện về các kỹ năng Khoa học Mở (dữ liệu có nguồn gốc từ SPARC Europe).   Trên thực tế, sẽ không có bất kỳ cơ sở giáo dục nào ở bất kỳ cấp học nào, đặc biệt là các cơ sở giáo dục công lập, có thể mạo hiểm tiến hành các khóa huấn luyện đào tạo cho các đối tượng của khoa học mở khi chưa có chính sách chung về khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở các mức cần thiết như chính phủ, tỉnh – bộ – ngành và cơ sở vì các lý do, như ở trên đã nêu, sự khác biệt quá lớn, đôi khi trái ngược nhau giữa khoa học truyền thống và khoa học mở, đồng nghĩa là hệ thống chính sách hiện hành với hệ thống chính sách cho khoa học mở, nếu có, chắc chắn sẽ có nhiều điểm khác nhau, đôi khi sẽ là trái ngược nhau hoàn toàn. Vì vậy, việc triển khai các hoạt động huấn luyện và giáo dục đào tạo các kỹ năng và năng lực cho khoa học mở chắc chắn sẽ có nhiều điều trái ngược hoàn toàn với các chính sách hiện hành, điều mà sẽ không có cơ sở giáo dục nào dám mạo hiểm để tiến hành khi chưa có các chính sách ở các mức cần thiết cho khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó.  Vài gợi ý cho việc đáp ứng các kỹ năng và năng lực của khoa học mở  Khoa học mở là vấn đề lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, và trong điều kiện của Việt Nam thì nó là vấn đề của liên bộ, như đã được trình bày trong bài ‘Thách thức và giải pháp để thúc đẩy giáo dục mở ở Việt Nam6’. Vì vậy để có thể có được chính sách và sự điều phối các hoạt động của khoa học mở được tốt, bao gồm cả các hoạt động huấn luyện đào tạo để đáp ứng các kỹ năng và năng lực của khoa học mở, cần thiết và cấp bách:  Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về Khoa học mở do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng đứng đầu với các đại diện của các bộ – ngành và các bên khác có liên quan.  Xây dựng đường lối chính sách chung cho khoa học mở với tầm nhìn dài hạn và quyết tâm cao độ, chứ không phải là chính sách đẽo cày giữa đường hoặc chính sách dù có nhưng không triển khai thực hiện vì không có chế tài nếu không triển khai thực hiện nó, điều đã từng xảy ra trong thời gian nhiều năm qua với các chính sách về công nghệ thông tin có liên quan tới ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở7 trong các cơ quan nhà nước, cùng với lộ trình các giai đoạn triển khai càng cụ thể càng tốt và được cập nhật thường xuyên qua thời gian.  Điều phối và xây dựng chính sách truy cập mở ở mức Chính phủ và khuyến khích xây dựng chính sách truy cập mở ở các mức tỉnh – bộ – ngành, cơ sở giáo dục và các viện nghiên cứu dựa vào sự đồng thuận của các bên tham gia đóng góp. Chính sách truy cập mở nên được xây dựng trước một bước hoặc, tối thiểu, được xây dựng cùng với chính sách dữ liệu mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở. Lý do cho điều này là bất kỳ tài nguyên giáo dục mở hay dữ liệu mở nào, trước hết, cũng là tài nguyên truy cập mở, và truy cập mở tới các xuất bản phẩm/dữ liệu có liên quan tới nhiều bên tham gia đóng góp.  Trên cơ sở các chính sách về khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở ở các mức giáo dục thích hợp tương ứng, các cơ sở giáo dục ở các mức tướng ứng đó sẽ xây dựng các tài nguyên cần thiết, ưu tiên là các tài nguyên giáo dục mở, để cung cấp cho các nhà nghiên cứu, cả thế hệ hiện hành và trong tương lai, các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở. Khi cung cấp các kỹ năng và năng lực cần thiết cho các đối tượng của khoa học mở, luôn ưu tiên tiến hành trước hết và triệt để, không bỏ sót, trong tất cả các cơ sở giáo dục thuộc khối sư phạm.  Loại bỏ hoàn toàn và vô điều kiện việc giáo dục công nghệ thông tin chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp độc quyền duy nhất từ bậc tiểu học.  Còn quá sớm để nói tới một chiến dịch phát động các cơ sở giáo dục trong cả nước tiến hành huấn luyện đào tạo các kỹ năng và năng lực khoa học mở cho các đối tượng cần có nó khi chưa có chính sách khoa học mở và các thành phần cơ bản của nó ở các mức cần thiết với các chế tài cứng rắn và quyết liệt, đặc biệt là chính sách ở mức Chính phủ.  ————  Giấy phép mở của bài viết: CC BY 4.0 Quốc tế8  Tham khảo:  1. Thông cáo của các bộ trưởng khoa học các nước G7,  https://www.dropbox.com/s/ywum8nfcgw7c6jz/G7%20Science%20Communiqu%C3%A9_Vi_25022018.pdf?dl=0, các mục số 19 và 20  2. Tuyên bố EOSC, https://www.dropbox.com/s/0txrq8row8vdq2l/eosc_declaration_Vi_23022018.pdf?dl=0  3. Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 8  4. http://ec.europa.eu/research/openscience/ index.cfm?pg=home§ion=monitor  5. Cung cấp cho các nhà nghiên cứu các kỹ năng và năng lực họ cần để thực hành khoa học mở, https://www.dropbox.com/s/qc0cfjd80ipmvnx/os_skills_wgreport_final_Vi_01032018.pdf?dl=0, trang 13  6. Thách thức và giải pháp để thúc đẩy giáo dục mở ở Việt Nam, đường link tới bài trên Tia Sáng  7. Phần mềm Việt Nam, mở và đóng, bao giờ công bằng?, http://vnfoss.blogspot.com/2014/05/phan-mem-viet-nam-mo-va-ong-bao-gio.html  8. https://creativecommons.org/licenses/ by/4.0/       Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Kỷ nguyên Anthropocene      Các nhà nghiên cứu đưa ra những bằng chứng về&#160; một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Anthropocene, do con người đang thay đổi về cơ bản bộ mặt Trái đất.    Kỷ nguyên con người, tiếng Hy Lạp là “Anthropocen”, đã bắt đầu. Nhà nghiên cứu địa chất Mark Williams thuộc ĐH Leicester đã đưa ra những chứng cứ về việc thay đổi cơ bản diện mạo Trái đất do con người khoan, đào vào trong lòng đất để xây dựng những công trình ngầm. Từ đó đã ra đời kỷ nguyên địa chất mới – kỷ nguyên Anthropocene.     1. Bề mặt trái đất  “Nhân loại đã biến hơn một nửa diện tích đất đai thành đất canh tác”, Williams và đồng nghiệp của ông đã viết như vậy trên tạp chí chuyên đề “The Anthropocene”. Đường giao thông, các mỏ đá và diện tích đất nông nghiệp đã đẩy lùi thảm thực vật tự nhiên. Khoảng ba phần tư diện tích đất đai trên Trái đất đã được cải tạo bởi bàn tay con người, nhận định của nhà địa lý Erle Ellis thuộc ĐH Maryland. Chỉ có khoảng 23% diện tích là các khu bảo tồn thiên nhiên. Các công trình giao thông đô thị xé nhỏ môi trường sống của động vật, các nhà sinh học cảnh báo. Nước mưa không thể thẩm thấu và mặt đất trải nhựa đường làm cho không khí bị nung nóng.    2. Những đường ống  Dưới mặt đất là một mạng lưới chi chít đường hầm dùng cho tàu điện ngầm, đường ống nước, đường dây điện và điện thoại, các đường hầm. Như ở Tokyo có những đường hầm nhiều tầng sâu tới 40 m trong lòng đất, chạy dưới những ngôi nhà chọc trời, hay những tháp tích nước mưa khổng lồ nằm sâu trong lòng đất. Ở Moscow, tàu điện ngầm cũng hoạt động ở độ sâu 50 m trong lòng đất. Những bãi đỗ xe, nhà ga xe lửa, nhà kho, rạp chiếu bóng, nhà hát kịch và các trung tâm thương mại đều tìm cách chiếm dụng lòng đất. Ở Montreal, phần lớn khu trung tâm của thành phố nằm trong lòng đất.  Riêng ở nước Đức, hệ thống đường ống nước thải có độ dài tới 1,4 tỷ km, đủ để đi 35.000 vòng quanh Trái đất. Những hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt dài hàng nghìn km, một số đường ống chạy dài dưới đáy biển nối liền các châu lục, nếu xảy ra rò rỉ thì môi trường sẽ bị ô nhiễm nặng nề.  3. Khai khoáng  Trên thế giới có khoảng 10 khu mỏ ở độ sâu hơn 2,5 km trong lòng đất. Ở mỏ Mponeng, Nam Phi, các máy xúc hoạt động ở độ sâu tới 4 km để tìm vàng. Việc đào bới này làm cho mặt đất trở nên mất ổn định, ở nhiều nơi xảy ra sụt lở, dẫn đến động đất và từ đó lòng đất bị thay đổi, biến dạng. Riêng ở Đức, có tới hàng nghìn km đường hầm trong lòng đất, nhiều đường hầm không được đánh dấu trên bản đồ. Kết quả là có những nơi mặt đất bị lún vài ba chục mét; có nơi còn lún sâu hơn.   4. Các mũi khoan  Có những mũi khoan chỉ đạt độ sâu khoảng mười cm để lắp đặt đường dây điện thoại nhưng cũng có những mũi khoan sâu tới 15 m để làm đường ô tô. Người ta dùng sóng âm thanh để dò đường trong lòng đất. Mũi khoan sâu nhất vào trong lòng đất đạt 12 km ở trên đảo Kola miền bắc nước Nga, so với bán kính Trái đất là 6.400 km thì độ sâu này chỉ như vết muỗi đốt đối với hành tinh của chúng ta.  Tuy nhiên số lượng các mũi khoan này thật đáng lo ngại, theo Williams và cộng sự: riêng ở nước Anh đã có tới hơn một triệu lỗ khoan vào lòng đất để khai thác dầu mỏ và khí đốt dưới mặt đất, từ đó chúng làm biến dạng diện mạo tự nhiên của mặt đất.  Theo Williams và cộng sự thì không có sinh vật nào có thể vào sâu trong lòng đất như con người. Một số động vật bé nhỏ có thể đục sâu vào lòng đất không quá 2,5m. Chồn cáo và chó sói có khả năng đào bới đạt độ sâu khoảng 4 m và cá sấu có thể chui sâu khoảng 12 m vào lòng đất.  5. Kho chứa  Nhiều nước có những kho chứa khổng lồ trong lòng đất để chứa chất thải phóng xạ, rác thải hoá chất, khí đốt hoặc nước sạch. Các nhà khoa học cũng đang có kế hoạch đưa khí thải CO2 xuống lòng đất để chặn đứng tình trạng khi hậu nóng lên. Như trong lòng đất Biển Bắc ngoài khơi Na Uy hiện có một kho chứa CO2 nhân tạo lớn nhất thế giới của Tập đoàn dầu mỏ Statoil. Họ bơm khí CO2 hình thành qua quá trình khai thác khí đốt vào lớp sa thạch xốp ở độ sâu 1.000 m dưới đáy biển, phía trên được che phủ bởi một tấm đá phiến. Nhiều triệu tấn CO2 đã được xử lý trong lớp đá dày tới 200 m. Và đây mới là sự mở đầu.    6. Thử bom nguyên tử  Cho tới nay đã có trên 1.500 vụ thử bom nguyên tử trong lòng đất. Những cuộc thử trong lòng đất được coi là an toàn hơn vì một phần chất phóng xạ lưu lại đó. Tuy nhiên một lượng lớn bụi phóng xạ vẫn thoát ra không khí. Tác động của các vụ thử bom nguyên tử ở trong lòng đất như thế nào, vấn đề này hầu như chưa được nghiên cứu thấu đáo.  Kết luận của các nhà nghiên cứu   Xuất phát từ sáu bằng chứng kể trên, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận: “Sự nhiễu loạn ngày càng lan rộng trong lòng đất ở độ sâu tới hơn 5 km do con người gây ra có nghĩa là đã có một sự thay đổi diện mạo địa chất đáng kể.” Và trong lịch sử Trái đất chưa có trường hợp nào tương tự từng xảy ra.   Nhưng nhiều nhà địa chất đã phản đối kịch liệt kết luận này, bởi theo họ, cho đến nay còn thiếu những bằng chứng rõ rệt về sự quá độ chuyển sang một kỷ nguyên mới ở một số vùng rộng lớn như châu Mỹ, Trung Quốc hoặc khu vực Trung Cận Đông. Mặt khác, tác động của con người vào trong lòng đất kể từ thời ký đồ đá đã được đánh dấu là một kỷ nguyên địa chất Holocene. Vậy thì tại sao lại phải đặt ra một cái tên mới cho sự thay đổi diện mạo địa chất hiện nay?  Xuân hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ nguyên “Internet of things” và sự cáo chung của KHXH&NV?      Chúng ta đang trong một thế giới hỗn loạn. Cách mạng kỹ thuật, công nghệ diễn ra nhanh trong hai thập kỷ qua đã đảo lộn cách thức con người sống, tư duy, làm việc: từ liên lạc, thảo luận chính trị, họp Quốc hội, ra chính sách, cho đến cách tổ chức biểu tình; thay đổi từ cách vận hành trật tự thế giới cho đến cách thức bán bưởi Diễn. Chúng đặt ra thách thức mới ở tất cả mọi phương diện, sâu rộng đến mức đã đến lúc con người phải tái định nghĩa lại và tái tổ chức lại xã hội của mình, trong đó có số phận của giáo dục, khoa học, và sự lan truyền tri thức. Theo cách mô tả của GS. Schwab, người sáng lập Diễn đàn kinh tế Davos thì đó là kỷ nguyên “internet of things”, internet của mọi thứ, kết nối mọi thứ từ các hệ thống thật và ảo, cho đến cuộc cách mạng vật chất-công nghệ-sinh học chưa từng có.  Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là bắt đầu!      Alpha Go, chương trình máy tính chơi cờ đã thắng rất nhiều kỳ thủ cờ vây, trong đó có Lee Sedol, người từng 18 lần vô địch thế giới. Ảnh: MIT Review.   Dù là fan của công nghệ, tín đồ của các mẫu Iphone mới nhất hay là một người bảo thủ thì đối với chúng ta, cuộc cách mạng công nghệ này là không thể đảo ngược. Nó sẽ thống trị cách thức con người vận hành xã hội, tổ chức hệ thống giáo dục đào tạo thế hệ tương lai, nghiên cứu khoa học, và sáng tạo tri thức. Và trong lĩnh vực này thì đây là lúc tất cả mọi người nói đến trí tuệ nhân tạo-AI, dữ liệu lớn-big data, và “cách mạng 4.0”. Họ hy vọng các phần mềm, ứng dụng và hệ thống máy tính sẽ giải phóng con người, giúp vận hành thế giới tốt hơn, thuật toán sẽ giúp con người ra các quyết định chính xác hơn.   Những người lạc quan cho đây là cơ hội quý giá để mang lại sự thịnh vượng cho nhân loại. “Đừng lo, công nghệ sẽ giải quyết tất cả các vấn đề của bạn. Tất cả những gì bạn cần làm là sở hữu ngay chiếc điện thoại Samsung mới nhất”. Mark Zuckerberg tuyên bố rằng Facebook sẽ tạo ra một cộng đồng toàn cầu, và bằng cách kết nối này, nhân loại sẽ được sống trong hòa bình, thông tin được chia sẻ, tài nguyên được tái phân phối, dân chủ sẽ thắng thế, và con người sẽ mở lòng với nhau. Tuy nhiên, bức tranh ‘thế giới đại đồng’ có vẻ không hoàn hảo như Zuckerberg dự báo.  Trước khi nói về lợi và hại, hãy xem xu thế này đang làm gì đối với xã hội của chúng ta.   Hướng tới một nền giáo dục “độc canh”?  Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra hối thúc các xã hội chạy theo giáo dục STEM (Science/ khoa học, technology/công nghệ, engineering/kỹ thuật, và mathematics/toán). Hệ quả của nó là một số người coi nhẹ, thậm chí là bỏ qua ngôn ngữ, văn hóa, triết học, mỹ học… Không cần học ngoại ngữ, đã có Google translate và các thiết bị dịch cầm tay. Việc luyện viết chữ trở thành một kỹ năng ‘thừa’ vì ngày nay đâu cần viết tay! Quá nhiều thứ để xem và nghe, không có thời gian cho đọc sách. Tri thức và kỹ năng học khoa học xã hội: chẳng ai cần chúng nữa vì thế giới này đang trở nên thực dụng, được vận hành bởi công nghệ. Công nghệ này yêu cầu kỹ năng IT, toán học, khả năng lập trình, thiết kế đồ họa… chứ không phải ngôn ngữ, văn chương, thi ca, các phân tích khoa học xã hội, hay những bàn tay tài hoa.  Theo xu thế này, thời của các nhà nhân học, xã hội học đã hết. Việc đến từng nhà phỏng vấn, hay điều tra, phát phiếu thăm dò trở nên lỗi thời bởi vì các công ty công nghệ và chính phủ đã có đủ dữ liệu và có khả năng phân tích chúng. Dự án mới nhất của chính quyền Bắc Kinh cho phép dùng camera an ninh nhận diện khuôn mặt ‘đánh dấu’ và chấm điểm từng cá nhân trong số 1,5 tỉ người Trung Quốc. Bằng cách đó, giám sát từng người, ở bất cứ đâu, từ việc ngồi quán café nào cho đến mua bao thuốc lá hiệu gì ở cửa hàng tạp hóa.   Nhân loại cũng không cần đến các sử gia và việc học sử nữa, vì người ta nghĩ rằng lịch sử đơn giản là ghi nhớ các sự kiện, và chúng có thể được tìm kiếm trên internet bất cứ lúc nào. Kế tiếp trong danh sách này có lẽ là các nhà kinh tế. Những người này đã gây ra quá nhiều quyết định ‘sai lầm’ trong lịch sử, tạo ra nhiều cuộc khủng hoảng vì ‘không có đủ dữ liệu’. Giờ đây big data sẽ làm thay vai trò của họ, tính toán và đưa ra các giải pháp từ vi mô đến vĩ mô.   Xu thế này có những biểu hiện rõ ràng.   Khoa học xã hội đang “đi xuống” ở khắp mọi nơi, dù nước phát triển hay đang phát triển. Ở bất cứ quốc gia nào, nếu phải cắt giảm ngân sách đầu tư cho khoa học thì ‘nạn nhân’ đầu tiên hiện ra trong đầu các chính trị gia là giới khoa học xã hội và nhân văn. Với các nhà kỹ trị công nghệ số thì “lịch sử”, “địa lý”, “triết học”, “nghệ thuật” đã là ngôn từ của quá khứ. Đây là lúc để chào đón những từ khóa ‘con cưng’ của thời đại mới: 4.0, big data, AI, STEM, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…    Năm 2015, College of Asia and the Pacific – trường nghiên cứu về châu Á và Thái Bình Dương của Đại học Quốc gia Australia (ANU, Canberra) đã cắt giảm ½ nhân sự của Khoa Văn hóa, Lịch sử và Ngôn ngữ vì khoản lỗ 1,5 triệu dollar do không có ai theo học. Từ 2011 đến 2014, sinh viên đăng ký vào khoa giảm từ 42% xuống còn 28% so với số đăng ký vào trường châu Á – Thái Bình Dương. Năm đó, khoa cung cấp 167 khóa học, nhưng chỉ có 434 sinh viên. Hơn 120 khóa có số sinh viên thấp hơn 20 người.   Nhớ rằng, College of Asia and the Pacific là một trong những trường danh tiếng nhất trên thế giới về nghiên cứu châu Á, và là niềm tự hào trong nhiều thập kỷ của ANU và hệ thống đại học của Australia. Tuy nhiên, đó chỉ là khởi đầu của một làn sóng toàn cầu. Làn sóng công nghệ này đang tạo ra một nền giáo dục “độc canh” vì nó đánh giá các ngành xã hội nhân văn bằng thước đo kỹ nghệ và lợi nhuận. Nó yêu cầu lịch sử, triết học, mỹ học, văn hóa học… cũng phải làm ra lợi nhuận trực tiếp và bán sản phẩm cho người dùng giống như khoa các ngành công nghệ. Nếu không, hãy giải tán đi thôi!    College of Asia and the Pacific – trường nghiên cứu về châu Á và Thái Bình Dương của Đại học Quốc gia Australia đã phải cắt giảm ½ nhân sự của Khoa Văn hóa, Lịch sử và Ngôn ngữ. Ảnh: Sinh viên College of Asia and Pacific trong chương trình nghiên cứu văn hóa tại Myanmar. Nguồn: http://www.anu.edu.au.      Làn sóng công nghệ đang tạo ra một nền giáo dục “độc canh” vì nó đánh giá các ngành xã hội nhân văn bằng thước đo kỹ nghệ và lợi nhuận.      “Quá nhiều toán học, quá ít lịch sử”  Nhân loại đang lạc lối? hoặc ít nhất là chạy theo các chỉ số tăng trưởng thực dụng mà chưa thấy hết hệ quả lâu dài của các quyết định chính sách mà họ đang mải miết theo đuổi.   Đặc trưng của con người là tính xã hội. Tuy nhiên, tương tác xã hội đang nhường chỗ cho giao tiếp với máy móc và con người đang trao vận mệnh của mình cho máy tính. Các ngân hàng và thị trường chứng khoán hoạt động dựa trên thuật toán, và các quyết định kinh tế của chính phủ cũng thế. Điều đó không có nghĩa là xấu. Nhiều lĩnh vực, các máy tính không bị ngủ gật và không bao giờ quên, có thể nhanh chóng đưa ra giải pháp tối ưu. Chúng ưu thế hơn con người trong việc xử lí các vấn đề kỹ thuật. Điều này là không thể tranh luận.   Tuy nhiên, khi đối mặt với nhân tố xã hội phi-kỹ thuật như địa chính trị, tư tưởng, truyền thống, tôn giáo, các làn sóng văn hóa, hệ thống tổ chức nhà nước, quan hệ quyền lực, khả năng thích ứng của con người, xung đột xã hội, thực hành tín ngưỡng… thì đó là câu chuyện khác (Schwab 2016: 44-47).  Sự phức tạp, đan xen, nhiều khi là tập hợp của các mảng đối lập, phi kỹ thuật này chắc chắn không phải là địa hạt lí tưởng cho các thuật toán vì các mảng này gắn liền với đặc trưng riêng có của con người và hành vi xã hội loài người, trong địa hạt của cảm xúc, tham vọng, niềm tin, sự sùng kính, xả thân, ngưỡng vọng, tâm lí, quan hệ mạng lưới… Đây chắc chắn là nơi để khoa học xã hội và nhân văn lên tiếng. Các máy tính sẽ chỉ sử dụng trí thông minh của mình để hiểu được logic chứ không thể phân tích và đưa ra các quy luật phổ quát cũng như tập trung tìm hiểu con người như những cá thể riêng, độc nhất, hoạt động trong khung cảnh đặc thù. Những tri thức này vốn được tạo ra dựa vào tư duy phê phán, so sánh, lập luận, dựa trên ngôn ngữ, phân tích ngôn từ, quan sát sắc thái biểu đạt, đặt trong khuôn khổ của kinh nghiệm, thói quen, phong tục tập quán…      Sự đa dạng của thế giới không thể và không bao giờ có thể được mô tả bằng một thuật toán      Phần lớn các tri thức này, được tạo ra bởi khoa học xã hội và nhân văn là dựa trên các yếu tố mà không phải lúc nào cũng có thể định lượng được để nhập vào các phần mềm. Tri thức này dựa trên ngôn ngữ, thông qua việc hiểu và diễn dịch ngôn ngữ trong khung cảnh lịch sử, văn hóa, tôn giáo… mà không thể thuần túy dùng các tiêu chí của khoa học tự nhiên hay kỹ thuật để đánh giá. Vì thế, việc biến các vấn đề đa dạng, phức tạp và nhiều màu sắc của thế giới loài người thành việc đơn thuần giải một bài toán có thể gây ra những rủi ro do không thể lường trước đối với tương lai của nhân loại. Đơn giản vì sự đa dạng của thế giới không thể và không bao giờ có thể được mô tả bằng một thuật toán.   Đó là lí do cho “sức sống” của khoa học xã hội nhân văn. Mục tiêu của ngành không chỉ tìm kiếm các quy luật chung của sự vận hành thế giới mà còn phản ánh sự đa dạng, những ngã rẽ, khúc quanh, sự riêng biệt của mỗi cá nhân, mỗi xã hội vốn phức tạp và chứa đầy các mâu thuẫn mà không một mô hình, đồ thị, hay lí thuyết nào có thể bao quát. Nhà kinh tế Ha-Joon Chang đưa ra ví dụ về Singapore, một quốc gia được mô tả ‘tư bản tự do’, thịnh vượng, vận hành theo kinh tế thị trường. Tuy nhiên ở đó 90% đất đai thuộc sở hữu nhà nước, 85% nhà ở được cung cấp bởi chính phủ, và 24% GDP được tạo ra bởi các tập đoàn nhà nước. Bây giờ, theo bạn nó là “tư bản” hay “cộng sản”, hay…?     Lễ hội chém lợn của làng Ném Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Đây là một trong những lễ hội gây tranh cãi, tốn nhiều giấy mực của báo giới. Nguồn: Internet.  Tất cả sự đa dạng này của thế giới chỉ có thể được phản ánh bởi khoa học xã hội và nhân văn, nơi nó tìm kiếm ở con người và xã hội loài người các câu trả lời cho chính các vấn đề của nhân loại. Vì thế, điều chúng ta có thể làm không phải là dẹp bỏ các ngành xã hội nhân văn, hay nhìn nó như một món đồ cũ kỹ, bụi bặm, vô dụng, mà là tận dụng chính thành quả của công nghệ để thúc đẩy ngành này lên một bước mới nhằm gia tăng vai trò và tính ứng dụng. Tích hợp khoa học xã hội nhân văn vào các ngành kinh tế, kỹ thuật, tự nhiên đang bắt đầu trở thành một xu thế tại nhiều trường đại học phương Tây. Việc các kỹ sư thiết kế xe hơi hay kiến trúc sư đăng ký khóa học lịch sử triết học Trung Quốc hay những người học về thiết kế ở Singapore học về Nghiên cứu Đông Nam Á không còn là chuyện xa lạ.   Bản thân AI và big data cũng cần tư duy của khoa học xã hội và nhân văn vì mục đích của các phần mềm hay siêu máy tính là nhằm giải quyết các vấn đề của con người và xã hội loài người. Vì thế, ngay cả trong thời đại công nghệ, con người cần được dạy suy nghĩ phản biện, kỹ năng thích ứng, hay khả năng phân tích các vấn đề kỹ thuật công nghệ trong khung cảnh xã hội và nhu cầu của con người, văn hóa, phong tục, tập quán, quan hệ chính trị, thói quen… Những kỹ năng này chính là thuộc lãnh địa của khoa học xã hội nhân văn.   Dĩ nhiên, điều đó thúc đẩy những người làm khoa học xã hội nhân văn chuẩn bị kỹ lưỡng cho sự thay đổi để có đủ kỹ năng và tri thức nhằm vận hành các công cụ mới mà công nghệ đem lại, chứ không chỉ ‘than vãn’ cho sự ‘chậm chân’, hay mất đi ảnh hưởng chính trị – xã hội của mình. Hơn ai, chính họ hiểu rõ sức mạnh của công nghệ và kỹ thuật. Từ lưỡi cày đến máy tính, trong hàng nghìn năm qua, chúng làm cho các nghề nghiệp đến rồi đi, các giai tầng thịnh rồi suy, các học thuyết ‘tung rồi hoành’, các đế chế tan rồi hợp… Nghề nghiệp và vai trò xã hội của họ cũng vậy. Vì thế, thay vì ‘khóc than’, hãy tìm kiếm một vai trò mới trong thế giới công nghệ số.   Cuối cùng, câu chuyện về sự tương tác phức tạp giữa công nghệ, kỹ thuật với tri thức khoa học và biến đổi xã hội này không phải là một nỗ lực nhằm ‘cứu vớt’ tương lai của các ngành ngành khoa học xã hội và nhân văn. Cách mạng công nghệ, AI… là xu thế không thể đảo ngược, và không khó để chỉ ra lợi ích của khoa học công nghệ, internet, Facebook hay Google. Bài viết này hoàn toàn không có ý định khuyên độc giả thay Iphone X bằng Nokia 3310; từ bỏ MacBook Pro 2018 để quay về với máy chữ, lại càng không phải thuyết phục độc giả nộp hồ sơ học ngành Lịch sử hay văn hóa học. Nó đơn giản tìm kiếm một góc nhìn hài hòa và tỉnh táo hơn trong một thế giới đang quay cuồng với cuộc cạnh tranh các chỉ số tăng trưởng và các dòng điện thoại mới nhất, ở đó, bạn không chỉ cần một chiếc máy tính đời chót mà quan trọng hơn là sở hữu một tâm hồn có “cấu hình” mạnh, với bản sắc, bản lĩnh và các giá trị nhân văn.   ——–  Tham khảo  David Armitage and Jo Guldi. 2013. The history manifesto, Cambridge Univerity Press.  Emma Macdonald. 2015. Staff and budget cuts at esteemed ANU College of Asia and the Pacific, https://www.canberratimes.com.au/national/act/staff-and-budget-cuts-at-esteemed-anu-college-of-asia-and-the-pacific-20151102-gkojpp.html (accessed on January 4, 2019).   Klaus Schwab. 2016. The Fourth Industrial Revolution. Geneva, Switzerland: World Economic Forum.   Robert Skidelsky, Ha-Joon Chang, Steve Pisckhe, and Francesco Caselli. LSE debate, “Too much Maths, too little History: The problem of Economics”,  2015, https://www.youtube.com/watch?v=6rXBBqMmIP8  (accessed on December 15th, 2018).   Thongchai Winichakul. 2018. Southeast Asian Studies in the Age of Disruption, STEM and Hyper-utilitarianism, speech at the 100th Conference Japan Society for Southeast Asian Studies (University of Tokyo: December 1-2, 2018).  Vu Duc Liem. 2018. Vietnam at the Crossroads of Area and Global Studies: Changing Landscape of Knowledge Production on Southeast Asia. speech at the 100th Conference Japan Society for Southeast Asian Studies (University of Tokyo: December 1-2, 2018).    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Kỷ Nguyên Sáng Tạo liên quan gì với châu Á và Đạo Phật?      Lĩnh vực sáng tạo ở Mỹ chiếm 30% tổng số người lao động (nhiều hơn lĩnh vực sản xuất) và tạo ra 2 nghìn tỷ đôla thu nhập (gần bằng lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công lại). Giai tầng sáng tạo (Creative Class) bao gồm giới khoa học, kỹ sư, văn nghệ sỹ, diễn viên, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà ứng dụng (Adopter), nhà tư tưởng, nhà báo, những người mang tính sáng tạo trong y tế, luật pháp, kinh doanh, công nghệ cao, vv.     Theo Gs. Richard Florida (Carnegie Mellon, Mỹ), Sự Sáng Tạo của Con Người là nguồn kinh tế tối thượng (ultimate economic resource). Ông đã làm nhiều người (và chính mình) sửng sốt khi phát hiện các mối tương quan giữa tính Sáng Tạo với Văn Hóa, Tâm-Sinh Lý, Quan Điểm…của con người. Theo Gs Florida, ba yếu tố đem lại sự Sáng Tạo. Đó là Công Nghệ (Technology), Nhân Tài (Talent) và Lòng Khoan Dung (Tolerance) – 3 chữ T. Ông phát hiện mối tương quan thuận giữa Sáng Tạo với sự Đa Văn Hóa (Melting Pot Index), Tính Văn-Nghệ-Sỹ (Bohemian Index) và cộng đồng những người đồng tính (Gay Index). Những phát hiện của ông đóng góp nhiều, thậm chí đảo ngược quan  điểm trong việc hoạch định các vùng, miền sáng tạo. Singapore đã áp dụng các phát hiện này để có các biện pháp phát triển đất nước dựa trên Đổi Mới-Sáng Tạo (Innovation).   Bán Cầu Não Phải và tính Sáng Tạo     Kỷ Nguyên Thông Tin (Information Age) với ưu thế của Bán Cầu Não Trái (BCNT) đang dần lắng xuống, nhường bước cho Kỷ Nguyên Sáng Tạo (Creative Age) của Bán Cầu Não Phải (BCNP) chuyên cho sự Thấu Cảm và khả năng Phát Minh.              Bán Cầu Não Trái => Suy Nghĩ => Tri Thức      Bán Cầu Não Phải => Quán Tưởng => Sáng Tạo          – Mang tính tuần tự (sequential)  – Nặng về nghĩa “đen” (literal)      – Thiên về chức năng (functional)   – Nệ câu chữ (textual),   “hình”  – Nặng về phân tích (analytic)   – Logic, Tri Thức (Knowledge), Ý Thức (Consciousness)  – Thiên về tạo ra Tri Thức, dễ coi Tri Thức là Mục Đích; Nhận biết bản thể qua Tri Thức    – Tiệm cận bản thể bằng lý trí và gián tiếp qua các   trung gian, khái niệm…   – Tạo ra cái Ảo (Virtuality),   qua Mô Phỏng để biết bản thể  – Tiệm cận; không bao giờ nhất thể hóa với bản thể     – Liên quan nhiều tới Nghiên cứu (tạo ra Lý Thuyết)      – Một cách đồng thời (simultaneous) – Thiên về nghĩa “bóng” (metaphorical)  – Thiên về thẩm mỹ (aesthetic)  – Nắm ngữ cảnh (contextual),   “thần”   – Thiên về tổng hợp (synthetic)  – Phi logic, Thấu Cảm (Empathy), Vô Thức (Sub-consciousness)  – Vượt qua, phá bỏ Tri Thức, coi Tri Thức là   Phương Tiện; hướng tới đồng hóa với bản thể   – Cảm nhận bản thể trực tiếp qua giác quan, không   qua trung gian, khái niệm…  – Phá cái Ảo, Phá Chấp để nhập vào bản thể  – Tiệm cận (Tiệm   Ngộ), có thể nhất thể hóa với bản thể (Đốn Ngộ) => gần với Phát Minh, Khám Phá  – Liên quan nhiều tới Ứng Dụng (tạo ra Bản Thể),   Sáng Tạo-Đổi Mới (Innovation), Phát   Minh (Inventiveness), Phám Phá (Discovery)               BCNT dần mang lại Ánh Sáng của Trí Tuệ, nhưng luôn là Ảo. BCNP là sự Mờ Tối, Hỗn Độn của cõi Vô Thức, nhưng lại chứa đựng sự Thông Tuệ tối thượng vì đó chính là Thiên Nhiên, là Bản Thể. Vì vậy, các phát minh, khám phá, ứng dụng, sáng tạo – những điều luôn gắn với bản thể – luôn xuất phát từ BCNP. Nhận ra sự (có vẻ như) phi lý này, Lão Tử gọi đây là sự Mờ Tối của Thông Tuệ.  Hoạt động của BCNP (giác quan, sự thấu cảm, khả năng quán cảm, quán tưởng) không chỉ là bẩm sinh và có giới hạn mà luyện tập được, vô hạn, thậm chí có thể đưa người ta đến những tầng thức tưởng như siêu hình (meta-physic), siêu nhiên. Như vậy, để có Tri Thức (tức là có một sự mô phỏng gần đúng sự vật trong tư tưởng), cần Học (Learning) dựa trên các logic. Còn để sáng tạo (tức là áp dụng Tri Thức vào thực tế), người ta cần Hành, cần “Chơi” (Play) theo một nghĩa nào đó để cảm nhận, quán tưởng phi logic các bản thể. Hiện nay, người ta hướng trẻ em vào các hoạt động thể thao, nghệ thuật, giao lưu…hơn là vào học tập hàn lâm. Chỉ số Tình Cảm (EQ) liên quan nhiều hơn đến một cuộc sống, sự nghiệp lành mạnh, cân đối so với Chỉ số Thông Minh (IQ).  Nhìn nhận sự hạn chế, thậm chí bất lực, của Tri Thức và các biện pháp, công cụ của nó trong việc nhận biết bản thể, cổ nhân nói “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận lời, lời bất tận ý”“Đạo khả đạo phi Thường Đạo; Danh khả danh phi Thường Danh” (Chân Lý khi đã được nêu ra thì không còn là Đạo trường tồn, bất biến nữa; Sự thể khi đã có tên gọi thì tên gọi đó không phản ánh đúng sự thể đó nữa). (Sách không hết ngôn từ, ngôn từ không hết lời lẽ, lời lẽ không hết ý tứ). BCNP không dùng ngôn ngữ, lý luận, cũng đúng như Đạo Phật coi Bản Thể là “bất khả tư nghì” (không thể nghị bàn được). Hơn 2 ngàn năm trước, Lão Tử đã có một tuyên ngôn cương cường, bất hủ, thách thức Tri Thức hàn lâm dựa trên logic và ngày nay còn chân giá trị:     Trước kỷ nguyên sáng tạo, BCNT, Ý Thức, luôn điều khiển, chỉ lối cho BCNP. Trong kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta nhận ra rằng BCNP, Sự Thấu Cảm, mới dẫn dắt, quán xuyến chúng ta trọn vẹn nhất.  Ba yếu tố gây sự bùng nổ của Tính Sáng Tạo         Kỷ Nguyên Sáng Tạo xuất hiện nhờ sự hội tụ của 3 yếu tố: Sự Dư Thừa (Abundance), Châu Á (Asia) và Tự Động Hóa (Automation) – 3 chữ A.       Thứ nhất, sự “Dư Thừa” về hàng hóa của nền đại công nghiệp làm xuất hiện nhu cầu về Tính Khác Biệt. Sự Khác Biệt chỉ có được nhờ sự Sáng Tạo.  Thứ hai, Châu Á hội nhập đem lại 2 yếu tố quan trọng. Một, đó là nơi làm thuê khoán ngoài (out-sourcing) nhiều nhất để các nước phát triển chuyên chú hơn vào sáng tạo. Thứ nữa, châu Á đem lại một phương pháp sáng tạo khác hẳn, thậm chí trái ngược với phương Tây. Phương pháp này, đặc trưng là cách Quán Cảm bản thể của Đạo Phật, tương đồng một cách kinh ngạc với phương pháp luận sáng tạo hiện đại mà phương Tây đang đi sâu nghiên cứu và áp dụng.        Thứ ba, Đông Tây hợp tác được nhờ Công Nghệ, thiết bị…được biểu trưng bằng “Tự Động Hóa”.  Sự kết hợp của phương Tây nhiều Tri, ít Ngộ với phương Đông nhiều Ngộ, thiếu Tri đem lại sức Sáng Tạo chưa từng có cho Nhân Loại. BCNP chuyên về sự Thấu Cảm, Quán Tưởng bản thể như một Nhất Thể (không phân tích) một cách đồng thời, không qua trung gian, với toàn bộ ngoại cảnh, thậm chí kể cả thời gian. Đây cũng là điều Phật Pháp hướng tới từ hàng ngàn năm nay.    Sự Khác Biệt    Kỷ nguyên Sáng Tạo là của những người áp dụng Tri Thức vào thế giới thực. Lúc này, tri thức logic, trong một chừng mực nào đó, lại là rào cản con người đến với thực tế, đến với sáng tạo, đặc biệt ở những nước thụ động tiếp nhận tri thức. Các công ty công nghệ, sáng tạo Mỹ cần ngày càng nhiều Thạc sỹ Mỹ Thuật (Master Of Fine-Arts, MFA) thay vì Thạc sỹ Quản Trị Kinh Doanh (Master Of Business Administration, MBA). Nhiều trường đại học đã đưa các môn mỹ thuật, nghệ thuật vào khoa kinh doanh hoặc hướng sinh viên lấy hai bằng về kinh doanh và mỹ thuật (double degree).  Ắt hẳn các nhà vật lý lý thuyết đã chân nhận điều này ngay từ nửa đầu thế kỷ 20 khi Niels Bohr nói “Chúng ta phải hiểu rất rõ rằng, khi đến với những nguyên tử, chỉ có thể dùng được ngôn ngữ của thi ca”.  Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta ít nệ vào lý lẽ (Argument), mà thuyết phục qua kể chuyện (story telling); Không quan sát sự vật qua lần lượt phân tích lý, hóa tính…như nghe những bản Độc Tấu riêng lẻ của các nhạc cụ khác nhau (Solo, Focus) mà thưởng thức một Hòa Tấu (Symphony) của tất cả các nhạc cụ; Không hành động chỉ với Ý Thức (Seriousness) mà trải nghiệm sự cuộc chơi của Vô Thức (Play) với tất cả các giác quan.  Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, không phải Trí-Thức, mà “Cảm”-Thức mới là người mang lại giá trị gia tăng cao cho xã hội. Tính Sáng Tạo ít phụ thuộc vào Học Vấn mà vào Cách Sống. Trí Thức không còn ở bậc thang cao trong xã hội mà là Giai Tầng Sáng Tạo bao gồm rất nhiều các ngành nghề, cách sống, bản ngã, văn hóa, sắc tộc…khác nhau trên thế giới. Nếu các nước đang phát triển biết khai thác tốt khả năng sáng tạo của mình, bản đồ phân bố Tính Sáng Tạo của thế giới sẽ hoàn toàn khác so với ngày nay. Theo Gs. Florida, Kỷ nguyên Sáng Tạo là một cuộc chơi hoàn toàn rộng mở…(The Creative Age is a wide-open game…). Con người ngày càng tự do hơn, thoát khỏi các ràng buộc vật chất, các ước lệ hữu hạn thông qua việc nhất thể hóa với Thiên Nhiên.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà vật lý Andrei Sakharov      Nhân ngày sinh 21/5 của nhà vật lý và hoạt động nhân quyền xuất sắc, viện sĩ Andrei Sakharov (đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1975), hội thảo trực tuyến với chủ đề: “Vật lý, Hòa bình, và Nhân quyền” đã được tổ chức. Sự kiện này được Hiệp hội Khoa học Nga-Mỹ, Ủy ban Quốc tế về Quyền Tự do của các Nhà khoa học và Diễn đàn APS về Vật lý Quốc tế, Vật lý & Xã hội và Lịch sử Vật lý đồng tài trợ.      Giám đốc Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (JINR), Viện sĩ Grigory Trubnikov đã có bài phát biểu trong khuôn khổ tiểu ban về “Khám phá Vũ trụ: Những đóng góp của Sakharov đối với Vật lý Thiên văn” do Giáo sư tại Khoa Vật lý và Thiên văn của Đại học Bologna và INFN, Chủ tịch của Centro Fermi Luisa Cifarelli chủ trì.  Trong báo cáo: “Vật lý về vật chất baryonic đậm đặc: nghiên cứu sự chuyển pha và các điểm tới hạn trong khuôn khổ Dự án NICA tại Dubna”, viện sĩ Grigory Trubnikov đã trình bày lĩnh vực nghiên cứu của dự án nhằm mục đích nghiên cứu cấu trúc của vũ trụ vào khoảng micro giây thứ 10 sau Vụ nổ Big bang xảy ra khoảng 13 tỷ năm trước. Chủ tịch JINR đã nói về tình trạng hiện tại của dự án khoa học lớn và chương trình vật lý trong tương lai. Ông cũng nhấn mạnh dự án NICA không chỉ hướng đến nghiên cứu khoa học mà còn nhằm tăng cường vốn tri thức quốc tế. Chủ tịch JINR cho rằng sinh nhật của nhà vật lý học Andrei Sakharov là một sự kiện xã hội quan trọng đối với toàn thể cộng đồng Nga và kết luận báo cáo bằng cách trích câu nói của nhà khoa học lỗi lạc: “Tôi tin rằng nhân loại sẽ tìm ra những giải pháp hiệu quả cho các nhiệm vụ phức tạp, cần thiết trong khi vẫn bảo tồn tất cả những giá trị của con người trong nhân loại và những yếu tố tự nhiên trong thiên nhiên”.  Các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như giáo sư Andrei Linde và viện sĩ Valery Rubakov cũng trình bày báo cáo tại sự kiện này.  Hội thảo trực tuyến: “Vật lý, Hòa bình, và Nhân quyền” đã quy tụ các nhà vật lý xuất sắc đến từ Nga và Mỹ. Những người tham gia đã bày tỏ sự tôn vinh đối với những đóng góp của nhà khoa học, viện sĩ Andrei Sakharov trong ngành vật lý thiên văn, năng lượng nhiệt hạch, kiểm soát vũ khí và nhân quyền, cũng như mối liên hệ với những phát triển trong tương lai của các lĩnh vực này.  Trần Thiện Phương Anh dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-cua-nha-vat-ly-vien-si-andrei-sakharov/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ký Sự Ảnh: Mauna Kea – Quần thể Khoa Học Giữa Thái Bình Dương      Mauna Kea là vùng núi cao nhất trên hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hawaii ngoài khơi Thái Bình Dương, tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ. Theo tiếng địa phương, Mauna Kea có nghĩa là Núi Trắng. Bởi vì trên đỉnh núi vẫn thường hay có tuyết phủ, mặc dầu quần đảo này nằm ở vĩ độ 19, nghĩa là chỉ ngang với Nghệ An hay khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đây vốn là một ngọn núi lửa khổng lồ đã ngưng hoạt động từ hơn 3500 năm trước. Mauna Kea cao gần 4.205 m (13796 bộ Anh theo con số chính thức) trên mặt nước biển, áp suất khí quyển giảm xuống chỉ còn 60%, và lượng hơi nước chỉ còn chừng 2%. Những dữ liệu khô khan này đã tạo nên một bầu trời trong, tối và ổn định ở vùng thượng đỉnh Mauna Kea, và làm cho ngọn núi đơn điệu đến buồn tênh của hòn đảo nhiệt đới bỗng chốc trở thành một nơi quan sát thiên văn lý tưởng vào bậc nhất trên Trái đất kể từ đầu thập niên 90. (Ảnh của Mauna Kea Observatory).                        Toàn cảnh thượng đỉnh Mauna Kea. Hiện thời có 13 đài thiên văn của hơn 12 nước.                       Địa hình đặc thù của vùng núi Mauna Kea. Rải rác khắp nơi là những mỏm núi lửa đã ngưng hoạt động. Rặng núi thoai thoải đằng xa là Mauna Loa (Núi Dài), với chòm tuyết phủ là dấu vết còn lại của cơn bão nhiệt đới vừa mới đi qua. Những căn nhà nhỏ lác đác phía dưới bên trái là thuộc Trung Tâm Hale Pohaku, nơi ăn nghỉ của các nhà thiên văn. Từ Hale Pohaku mà lên đến đỉnh Mauna Kea còn khác biệt cả ngàn thước về độ cao, cho nên đây còn là nơi thích hợp cho các nhà khoa học tranh thủ để “nạp” lại oxy sau mỗi đêm quan sát ở thượng đỉnh.                         Đài Thiên Văn Keck bao gồm hai kính thiên văn quang học và hồng ngoại lớn nhất trên thế giới, với đường kính 10m. Khác với các mặt kính thiên văn cổ điển vốn thường chỉ là một thấu kính đơn độc, mỗi mặt kính của đài Keck được tạo thành từ 36 mảnh kính rời hình lục giác, mỗi mảnh có hình dạng riêng biệt để khi xếp lại tạo thành một mặt gương có hình parabol hoàn hảo. Kể từ khi xuất hiện (1993), cặp kính thiên văn Keck đã thu được rất nhiều phát hiện quan trọng mang tính cơ bản trong thiên văn học. Nổi bật nhất có lẽ là sự phát hiện của hơn 200 hành tinh ngoài Hệ mặt trời, sự tồn tại của một lỗ đen tại trung tâm của hệ Ngân Hà chúng ta, và sự phát hiện một thành phần năng lượng không thấy được bằng phương thức vật lý thông thường, còn gọi là “năng lượng tối” – đây là một phát hiện mang tính chấn động trong vật lý và vũ trụ học. Trong tương lai, những tiến triển của “quang học thích nghi” hứa hẹn Keck sẽ còn lập nên nhiều kỳ tích trong thiên văn học quan trắc. (Ảnh của Laurie Hatch)                    Keck dùng “adaptive optics”, tạm dịch là quang học thích nghi. Những biến động trong bầu khí quyển làm cho các vì sao “lấp lánh”, và vì thế làm nhòa các bức ảnh và giới hạn độ phân giải của các kính thiên văn trên mặt đất như Keck. Quang học thích nghi là kỹ thuật tiên tiến để vượt qua những trở ngại này, bằng cách thay đổi hình dạng của mảnh gương nhỏ một cách nhanh nhạy và liên tục để thích nghi với những biến chuyển trong đường đi của tia sáng do bầu khí quyển gây ra. Keck chiếu tia laser lên không trung để làm phát sáng khí sodium (Na), vốn ở cách bề mặt trái đất 90 km, tạo nên “ngôi sao nhân tạo” dùng để theo dõi những biến động của khí quyển. Với quang học thích nghi, kính thiên văn Keck có thể chụp những bức ảnh có độ rõ nét không kém các bức ảnh của kính thiên văn không gian Hubble, hay của James Webb Space Telescope trong tương lai (JWST là kính thiên văn lớn gấp ba Hubble, dự kiến sẽ phóng lên không gian trong vài năm nữa). (Ảnh của Laurie Hatch)                                Tiến sĩ Trần Đình Hiển, một trong hai tác giả của bài ký sự này, là chuyên gia tại Đài thiên văn Keck từ 2003. Trước khi về công tác tại Keck, anh là thành viên trong nhóm Advanced Camera for Survey của đài thiên văn không gian Hubble tại Đại Học John Hopkins. Vấn đề nghiên cứu chính hiện thời của anh là cấu trúc và sự phát triển của quasars, đây là những vật thể sáng cực mạnh được hình thành rất sớm trong vũ trụ.                       Đây là những dữ kiện nhà thiên văn Trần Đình Hiển thu được từ đài thiên văn không gian Hubble dựa trên số liệu từ Keck. Phần cốt lõi của ngân hà NGC 4261, cho thấy vòng khoanh bụi và khí bao phủ quanh lỗ đen tại trung tâm, đúng như đã tiên đoán bởi Trần Đình Hiển và các đồng nghiệp.                                 Nhà Thiên văn Lưu Lệ Hằng (Jane Luu). Một trong những kết quả đặt biệt của Đài thiên văn Keck tìm thấy trong Hệ mặt trời là vòng đai Kuiper, được lập nên bởi nhà thiên văn người Việt Lưu Lệ Hằng cùng thầy là David Jewitt. Từ 1951, nhà thiên văn người Mỹ gốc Hà Lan Gerard Kuiper tiên đoán về sự tồn tại của một vòng đai quanh Hệ mặt trời bên kia quĩ đạo của Hải Vương Tinh, vốn được xem là cái nôi phát sinh của những sao chổi. Đây là những vật thể tương đối rất nhỏ, và cũng như các thiên thể khác trong Hệ mặt trời, chúng không phát ra ánh sáng mà chỉ phản chiếu tia sáng từ Mặt trời, nên rất khó thấy. Nhà thiên văn kể rằng khi còn theo học cao học tại MIT, “mọi người cho rằng đó là một ý tưởng điên rồ, cho nên công trình đã không nhận được sự hỗ trợ nào cả”, chị và thầy mình đã phải tự xuất tiền túi để làm.     Dùng kính thiên văn Keck, chị Lưu Lệ Hằng đã lần đầu tìm thấy những vật thể này vào năm 1992, có kích cỡ tương tự như Diêm Vương Tinh (Pluto) và nhanh chóng kết luận, “chúng tôi tìm thấy hàng chục ngàn plutos ngoài ấy – chúng thay đổi hoàn toàn cách nhìn của chúng ta về các hành tinh”. Sự phát hiện này chính là cơ sở để hơn mười năm sau các nhà thiên văn đã giáng cấp Diêm Vương Tinh, từ một hành tinh xuống chỉ còn là… một thiên thạch. (Năm 1995, Lưu Lệ Hằng đã về Việt Nam để trình bày công trình này. Lúc ấy chị là phó giáo sư tại Đại học Harvard).                                        Khác với Keck và các đài thiên văn quang học khác, CSO (Caltech Submillimeter Observatory) chỉ được chế tạo cho các quan trắc ở bước sóng từ 0.3 mm đến vài mm (còn gọi là sóng cao tần hay vi ba). CSO bắt đầu đi vào hoạt động từ 1988, khi mà các kỹ thuật cảm biến cũng như thiết bị quan trắc vi ba còn sơ khai, và những kiến thức thiên văn trong vùng sóng này còn là một ẩn số. Gần hai mươi năm qua, CSO là nơi đi đầu trong việc phát triển các phương thức nghiên cứu cho các bước sóng vi ba, tạo tiền đề cho sự thành công sau này của các nhóm nghiên cứu về bức xạ nền và các lĩnh vực khác. Trong hình, từ trái sang, là Lieko Earle & Jason Glenn từ Đai học Colorado và James Bock từ JPL, đây là các thành viên của nhóm Z-Spec đang tìm cách tiếp cận mặt kính thứ hai của CSO.                     Z-Spec, một trong những thiết bị mới nhất có mặt tại CSO (2005), là máy chụp phổ vi ba (trong ảnh là Matt Bradford và Lieko Earle). Đây là một phát minh kỹ thuật rất nhiều hứa hẹn của Jet Propulsion Laboratory. Chúng tôi ước tính kỹ thuật của Z-Spec, nếu dùng cho các đài thiên văn vi ba không gian, sẽ mang lại khả năng đột phá trong việc quan sát. Hiện nay, cơ quan không gian của Nhật Bản và NASA đang xem xét việc thực thi ứng dụng kỹ thuật này của Z-Spec cho đài thiên văn không gian vi ba SPICA, dự kiến sẽ phóng lên trong vòng 10 năm nữa (SPICA với kỹ thuật của Z-Spec sẽ nhạy hơn gấp hàng triệu lần so với Herschel Space Observatory, một công trình hợp tác của NASA và ESA, cơ quan không gian của châu Âu, sẽ phóng vào cuối 2008).                 Bầu trời Mauna Kea không phải lúc nào cũng xanh trong, và thời tiết ở Mauna Kea không phải lúc nào cũng lý tưởng. Đây là những gì thấy được sau một cơn bão. Nhìn xuống núi quang cảnh thì “mờ nhân ảnh”, mà nhìn lên núi thì đường đi thượng đỉnh vẫn mịt mùng. Trong điều kiện thời tiết này, bánh xe buộc phải có vòng xích để khỏi bị trượt và rơi xuống núi. Trong hình là Lieko Earle, một sinh viên trong nhóm quan sát vừa tròng xong vòng xích cho xe.                 Tác giả, Nguyễn Trọng Hiền, trong ngày Giáng sinh trắng 2001 tại Mauna Kea. Nguyễn Trọng Hiền tham gia quan sát và chế tạo các thiết bị vi ba tại CSO, khởi đầu là Bolocam (1999) và hiện nay là thành viên của nhóm Z-Spec.  Các tác giả cảm ơn Laurie Hatch đã cung cấp một số ảnh cho bài ký sự.       ——————–  * JPL, NASA; Học viện Công nghệ California-Caltech;  **Đài thiên văn W. M. Keck  Nguyễn Trọng Hiền*, Trần Đình Hiển**     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ký Sự Ảnh: NAM CỰC 2007      LTS: Có lẽ ít người biết TS Nguyễn Trọng Hiền là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên đặt chân đến tận cực Nam của Trái đất, tại vĩ độ 90o Nam, vào cuối tháng 10 năm 1992. Trong lần đầu tiên đặt chân đến Nam Cực, anh đã tự tay may lá cờ Tổ quốc để cắm lên nơi lạnh lẽo nhất của hành tinh cùng với quốc kỳ của các quốc gia khác. Hiện tại anh đang ở Nam Cực để thực hiện những nghiên cứu khoa học. Nam Cực nối mạng qua vệ tinh. Việc thông tin từ Nam Cực với thế giới bên ngoài chỉ giới hạn trong khoảng 11h một ngày. Do các vệ tinh địa tĩnh chỉ lệch xuống Nam bán cầu trong khoảng thời gian rất ngắn trong ngày, thường là vào nửa đêm và rạng sáng theo giờ Nam Cực (tức là chiều hay tối giờ Việt Nam). Những bức ảnh ký sự “nóng hổi” với dung lượng lớn được TS Nguyễn Trọng Hiền gửi tới tòa soạn Tia Sáng vào khoảng thời gian này thông qua vệ tinh. Còn những thông tin ngắn dưới 24kB sẽ được gởi bất kỳ lúc nào qua vệ tinh Iridium    NĂM 2007-2009 ĐƯỢC ĐÁNH DẤU LÀ INTERNATIONAL POLAR YEAR-NĂM QUỐC TẾ VỀ BẮC/NAM CỰC. BÀI PHÓNG SỰ ẢNH DƯỚI ĐÂY ĐƯỢC GỬI VỀ TỪ NAM CỰC ĐỂ GIỚI THIỆU BẠN ĐỌC MỘT VÀI NÉT VỀ CHƯƠNG TRÌNH NÀY.                  Nam Cực là nơi đâu? Châu Nam Cực được bao quanh bởi Nam Băng Dương, giáp giới với Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Vượt qua các biển lớn này sẽ gặp các nước, lần lượt theo thứ tự trên, là Úc và New Zealand, Madagasce (Nam Phi) và Chile (Nam Mỹ).  Thành viên trong Đội BICEP (từ Berkeley, Caltech, JPL và UC San Diego) xúm quanh radiometer trước lúc chuyển xuống Nam Cực (tác giả đứng khuất phía sau, ảnh của Đội BICEP).                     Chiếc phi cơ C-17 đưa đón “cư dân” Nam Cực. Để bảo đảm an toàn và đề phòng khi phải hạ cánh khẩn cấp, mỗi “hành khách” buộc phải mặc quần áo lạnh cũng như giày chống lạnh đặc biệt do Cơ quan Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) cấp. Ngoài ra, mỗi người còn được mang theo một túi đồ tùy thân.                     Cột mốc Nam Cực. Bề mặt Cột mốc Nam Cực 2007 là một mặt tròn có hình châu Nam Cực lõm xuống ở giữa, bên ngoài có bốn góc chỉ về bốn hướng: tất cả là hướng Bắc. Quanh mặt tròn có ghi chú đặc trưng của các nhà địa chất “Jan 1 2007 90o South NSF Georaphic South Pole” (1 Tháng một 2007 90o Nam NSF Nam Cực Đia Lý), “50 Years of Sciences & IGY” (50 năm Khoa học & IGY, để kỷ niệm 50 năm thành lập trạm và Năm Quốc Tế Địa Vật Lý). Nơi đây đánh dấu trục quay của Trái Đất. Ở những vĩ độ lưng chừng, ta thấy Mặt trời và những thiên thể mọc lặn trong 24h ngược theo chiều quay Trái Đất. Ở Nam Cực, do nằm ở gần trục quay của Trái Đất, nên phần lớn các thiên thể thấy được quanh năm và gần như là vĩnh viễn. Nằm trên một cao nguyên băng tuyết cao gần 3.000m trên mực nước biển. Do sức ép của khối băng bên trên làm chảy tan láng nước đá mỏng gần lớp giáp ranh với mặt đất, rất trơn trượt. Và vì vậy, cả nguyên khối băng không lộ và trượt dần ra biển. Cột mốc Nam Cực mỗi năm đều phải di dời ngược lại. Mỗi năm, mỗi cột mốc được chế tạo với kiểu dáng riêng biệt.                   Trạm nghiên cứu Amundsen-Scott tại Nam Cực. Bên trái là Mái Vòm (The Dome) được xây dựng từ năm 1975 và trở thành biểu tượng của Nam Cực trong nhiều năm. Tác giả đã ở 12 tháng trong Mái Vòm này vào năm 1994 với tư cách là chỉ đạo khoa học và là đại diện của Cơ quan Khoa học Quốc gia Mỹ tại Nam Cực. Tòa nhà hộp đen bên cạnh là trạm mới để thay thế Mái Vòm. Toàn bộ sinh hoạt hàng ngày của các nhà khoa học diễn ra trong tòa nhà này. Trạm mới là một trung tâm khoa học liên hợp hiện đại có phòng họp, nhà ăn, thư viện, phòng tập thể dục. Trong tòa nhà này, các nhà khoa học không cần phải mặc áo rét.                   Vào ngày chủ nhật, các nhóm khoa học thay phiên tổ chức seminar. Giáo sư Andrew Lange (Caltech) trong một buổi seminar về bức xạ nền tại nhà ăn. Để thấy cơ sở hạ tầng ở Nam Cực đã có những bước tiến rất dài, ông nhắc lại những khó khăn mà các thí nghiệm ngày trước gặp phải. Trên màn ảnh, trong bức hình, là thí nghiệm White Dish tiến hành năm 1992 do Giáo sư Peterson (đại học Princeton) dẫn đầu. Thời đó, mọi người còn phải chịu cảnh “màn trời chiếu… tuyết”. (Từ trái sang: Greg Griffin, tác giả, Fred Mozek, Ted Griffith, và Jeff Peterson).                     BICEP là thí nghiệm để quan sát đặc tính phân cực của bức xạ nền. Mục đích của thí nghiệm là để tìm hiểu cơ chế vật lý mà vũ trụ được tạo thành, và kiểm chứng lý thuyết vũ trụ lạm phát, vốn cho rằng vũ trụ của chúng ta bắt nguồn từ… hư vô! Trong ảnh là Thủ tướng New Zealand, Bà Helen Clark-người đứng giữa-cùng John Kovac và Cynthia Chiang tại Đài thiên văn Robinson (còn gọi là BICEP). Bà đã xuống thăm Năm Cực vào ngày 19 tháng giêng năm 2007. Trước lúc bấm máy, Thủ tướng đến bắt tay và nói, “Hi Dr Nguyen! (Chào Tiến sỹ Nguyễn)”. Có vẻ như bà nhận ra họ Nguyễn quen thuộc của người Việt chúng ta.                      Con đường đi làm mỗi ngày của tác giả và đồng nghiệp. Từ trạm Amundsen-Scott ra đến DSL khoảng chừng một cây số. Chúng tôi đi bộ ra DSL mỗi buổi sáng, và trở vào trạm ăn trưa, tối và nghỉ ngơi. Bên trái tấm ảnh (không thấy được) là sân bay. Đằng xa có người đang đi lại, tay xách thùng nước, là Andrew Lange đi lấy nước về cho cả nhóm dùng ở DSL. GS Lange, Viện Công nghệ California, là người có công lớn với thí nghiệm Boomerang, một thí nghiệm dùng bóng thám không bay vòng quanh bầu trời Nam Cực (1998) để thu thập dữ liệu về bức xạ nền. Boomerang xác định tính hình học phẳng của vũ trụ, một đặc tính cơ bản của vũ trụ và vì thế gián tiếp xác nhận sự tồn tại của vật chất tối và năng lượng tối.                     Vòi phun nước ở Nam Cực. Tác giả trong khu vực của Đài thiên văn neutrino, còn gọi là Ice Cube (Cục Nước Đá) ở Nam Cực vào ngày mồng một Tết Bính Tuất. Ice Cube là một Đài thiên văn neutrino, chuyên chụp các vật thể phát ra tia neutrino trong vũ trụ. Ice Cube rải một chuỗi các hệ cảm biến (còn gọi là photomultiplier tube) dài chừng 2.4 km, trong một diện tích chừng 1 km vuông. Người ta phải khoan những ống có đường kính chừng 70 cm, sâu hơn 2.4 km trong lòng lớp băng. Để làm được chuyện này họ cho chất lỏng–glaco-ở 80oC chạy vòng một xoắn hình thù như một luồng khoan để làm tan băng (ảnh của Cynthia Chiang). Nước tan ra được đẩy lên trông như một vòi phun nước tự nhiên. Do nhiệt độ ở Nam Cực quá thấp (-40o C lúc chụp tấm hình này), một phần các tia nước bắn lên không trung trở thành tuyết. Khác hẳn với các đài thiên văn cổ điển thường thấy, Ice Cube không nhìn lên trời, mà nhìn xuyên qua lòng Trái đất. Các thiên thể trong vũ trụ ở phía bắc bán cầu nếu có phát ra tia neutrino sẽ được Ice Cube nhìn thấy. Đây là một công trình tốn kém nhất ở Nam Cực, hơn 300 triệu đôla (cách xa South Pole Telescope, đứng thứ hai với giá gần 20 triệu). Vậy mà khi các quan chức xuống viếng thăm thì chẳng thấy đài thiên văn neutrino đâu cả, chỉ thấy cánh đồng băng với vài ba căn lều lụp xụp, hỏi thì được bảo là chúng ở dưới lớp băng!                      Trong ảnh là nhà khoa học John Carlstrom trong một ngày trời đổi hướng gió ở Nam Cực, khoảng giữa tháng Giêng. Giáo sư Carlstrom, đại học Chicago, là người đứng đầu Đài thiên văn Nam Cực (The South Pole Telescope), có đường kính 10m. Đây là kính thiên văn lớn nhất châu lục, và là công trình mới nhất được xây dựng ở Nam Cực, chỉ vừa mới hoàn thành vào đầu năm 2007. Tòa nhà trong ảnh là Astro, bị tuyết phủ hơn một nửa. Nơi đây, vào cuối tháng 6 năm 1994, tác giả đã quan sát sao chổi Levy-Shoemaker 9 bị nổ tung do đi vào trường hấp dẫn của Sao Mộc. (ảnh của Steffen Richter).                    Cột Chào Đón (Ceremonial Pole) với cờ của 12 nước trong Hiệp ước Nam Cực (tác giả đã cắm cờ Việt Nam tại đây hồi 1994). Người ta thường đến đây để chụp ảnh lưu niệm. Mỗi người một kiểu khác nhau. Trong ảnh là Bill Jones (khoa học gia từ Jet Propulsion Laboratory, đi cùng với nhóm Bicep) trong màn trình diễn “thời trang mùa hè”. Nhiệt độ bên ngoài lúc này khoảng chừng 35 độ dưới không (ảnh của Cynthia Chiang). Không được sở hữu một ngoại hình và những số đo cơ thể lý tưởng của một người mẫu nam như đồng nghiệp của mình, thay vì trình diễn thời trang, tác giả đành làm một việc nhàm chán hơn là ra ngồi độc ẩm ở Cột Chào Đón. Trà vừa pha ra còn ấm. Uống được một ngụm, rồi bước sang bên cạnh để chụp hình cho một người bạn. Chưa đầy mươi phút sau quay trở lại, trà trong chén đã đông thành nước đá..                   Lớp băng ở Nam Cực (ảnh của NSF). Nhiệt độ ở Nam Cực về mùa đông có lúc xuống quá âm 75oC. Cộng thêm với gió, nhiều khi còn lạnh dưới âm 120oC (đây là con số tác giả đã từng kinh nghiệm qua). Nam Cực là châu lục lạnh nhất, cao nhất, khô nhất và lộng gió nhất. Tại sao Nam Cực lạnh như thế? Trước hết, do trục quay của Trái đất lệch 23.5 độ với mặt phẳng quĩ đạo quanh Mặt trời, hai vùng cực Bắc và Nam của Trái đất quanh năm chỉ có một ngày: liên tục 6 tháng ban ngày và nối tiếp bởi 6 tháng ban đêm. Ở đây Mặt trời lên cao lắm chỉ là 23.5 độ trên đường chân trời, tương đương như lúc sáng sớm hay xế chiều ở vĩ độ lưng chừng như nước ta. Ánh sáng Mặt trời lúc này phải đi qua một bầu khí quyển dày hơn và vì thế bị hấp thụ hơn một nửa so với khi Mặt trời ở thiên đỉnh, nhiệt độ do vậy sẽ phải thấp hơn so với các nước ở dọc đường xích đạo. Ngoài vĩ độ đặc biệt, thêm một lý do khác là do cao gần 3.000m, và một phần quan trọng nữa là do lớp băng vĩnh viễn phản chiếu năng lượng Mặt trời, vốn đã ít hơn những nơi khác, gần 80%. Còn nữa, khác với Bắc Cực vốn chỉ là biển, Nam Cực là một lục địa có đại dương vây quanh. Vùng bên trong châu lục không được hưởng sự điều hòa của nhiệt độ từ nước biển. Về mùa đông, lớp nước biển bao quanh đóng thành nước đá, nâng diện tích của châu lục lên gần gấp đôi, và ngăn cản sự truyền nhiệt từ biển vào bên trong lục địa. Tất cả các yếu tố này kết hợp lại tạo nên cái lạnh nghiệt ngã ở Nam Cực.               Tiến sỹ Denis Barkats và Mặt trăng trên thí nghiệm BICEP.        Đón bình minh ở Nam Cực (ảnh chụp bởi Robert Schwarz).          Cực quang ở Nam Cực (ảnh chụp bởi Robert Schwarz).     Nam Cực trong đêm Trăng rằm (ảnh của Denis Brakats).                           Loài chim cánh cụt có tên gọi là Adelie, lưng màu đen cao gần bằng đầu gối người (khác với loài Hoàng Đế hay Emperor, to cao hơn với lưng màu xanh đậm và vốn được biết đến nhiều hơn). Đây là loài chim rất thân thiện. Đa phần các loài thú đều sống ở vùng ven biển Nam Cực (khoảng 77 độ Nam) vì ở đây ấm hơn. Ở ngay tại Nam Cực, vĩ độ 90, không có một loài thực vật hay động vật sống nổi. Tác giả chụp bức ảnh này lúc đang dừng chân ở thị trấn nhỏ Mc Murdo với hơn một ngàn người dân. Sau 15 năm, đây là lần đầu tiên tác giả ghé lại phố Mac được nhìn lại lũ chim và được gần chúng như thế. Những lũ chim này thường theo tàu phá băng vốn mở ra cơ hội để chúng săn lùng thức ăn. Các tàu phá băng đi mở đường trước để các tàu vận tải có thể vào bờ cung cấp thiết bị hậu cần cho các nhà khoa học và cho cả châu lục. Hôm chúng tôi ghé thị trấn này, chiếc tàu phá băng Oden của Thuỵ Điển vừa cập bến và gặp mấy chú chim cánh cụt đang đú đởn quanh Láng Scott-một di tích lịch sử ở Nam Cực. Nơi đây, Scott và đồng đội đã ở qua mùa đông để chuẩn bị thực hiện chuyến đi định mệnh về Nam Cực trong khoảng thời gian 1911-1912. Hồi đầu thế kỷ trước, chim cánh cụt là nguồn thực phẩm cho các nhà thám hiểm đi tiên phong. Ngày nay, Hiệp ước Nam Cực nghiêm cấm gắt gao việc xâm phạm đến tất cả các loài vật ở Nam Cực.  Qua Tia Sáng, tác giả xin gởi lời chúc tới bạn đọc những ngày Tết tươi vui và hạnh phúc với một chút se lạnh của Nam Cực!  Tác giả cảm ơn các đồng nghiệp Gregory Albrecht, Cynthia Chiang và Steffen Richter đã cung cấp một số ảnh cho bài ký sự.                      TS. Nguyễn Trọng Hiền làm việc tại Jet Propulsion Laboratory (JPL) của Cơ quan Không gian-Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) đã nhiều lần đặt chân đến Nam Cực để thực hiện các quan trắc vũ trụ học. Anh là người Việt đầu tiên bảo vệ luận án tiến sỹ về vật lý tại Đại học Princeton và từng giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ. Hiện tại, anh là thành viên nhóm Vũ trụ học của NASA; giảng viên thăm viếng của Caltech (Viện Công nghệ Califonia). TS Hiền nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Vũ trụ học và Vật lý thiên văn, bao gồm: Nền vi ba vũ trụ (CMB), vũ trụ sơ khai, những thiên thể có độ dịch về đỏ cao. Đồng thời cũng là chuyên gia kỹ thuật về cảm biến và các thiết bị thiên văn hoạt động ở bước sóng vi ba, và lãnh đạo nhiều nhóm nghiên cứu của NASA.  Nguyễn Trọng Hiền      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật hạt nhân làm rõ tác động của vi nhựa lên sinh vật biển      Một nhóm nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học ở Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) dẫn dắt vừa xuất bản một bản đánh giá đầy đủ về tác hại lên cá của vi nhựa cỡ micromet và nanomet lên động vật biển.    Các mảnh vi nhựa đặc biệt nguy hiểm, bởi vì chúng rất dễ bị hấp thụ và xâm nhập vào cơ quan nội tạng cũng như dịch mô của các sinh vật, sau đó đi vào chuỗi thức ăn. Trên thực tế, những mảnh vi nhựa này sẽ mang theo nhiều chất hóa học và các chất ô nhiễm khác, khiến cho việc đánh giá chính xác ảnh hưởng cũng như độc tính của ô nhiễm nhựa là một việc rất khó khăn. Nhóm nghiên cứu này đã xuất bản một bản đánh giá đầy đủ về tác hại lên cá của những mảnh vi nhựa cỡ micromet và nanomet, trong đó làm rõ những mảnh vi nhựa nguyên sinh này chắc chắn đã ảnh hưởng đến các chức năng sinh học của cá, như tập tính, chức năng hoạt động thần kinh cũng như trao đổi chất, độ thấm của đường ruột và đa dạng vi sinh trong hệ tiêu hóa.  Marc Metian, một nhà khoa học nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Sinh học bức xạ của IAEA, một trong các tác giả của báo cáo đánh giá trên cho biết: “Việc giám sát chính xác là rất quan trọng để hiểu được tác động của những hạt vi nhựa tới sinh vật cũng như phác thảo được một chiến lược quản lý và giảm thiểu tác động của chúng tới môi trường một cách hiệu quả”.  Một số chiến lược, như đánh giá chính xác tác động lên hệ sinh thái tới cấp độ tế bào, hay sản xuất các vật liệu nhựa mới tự phân hủy sinh học, thân thiện môi trường có thể sẽ phải sử dụng đến các công nghệ hạt nhân hay kĩ thuật đồng vị mà IAEA có thể cung cấp sự hỗ trợ. Việc nhận diện được những chiến lược này sẽ là bước tiếp theo cần phải làm.    Nhựa trong đại dương  Theo như Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, 8 triệu tấn nhựa đã bị đổ ra biển mỗi năm, thường trôi ra từ các dòng sông. Nếu như xu thế này tiếp tục, đến năm 2050, đại dương của chúng ta sẽ chứa nhiều nhựa hơn cả cá.  Ô nhiễm nhựa đã trở thành một vấn đề xã hội và sinh thái lớn cần lưu tâm. Những loại nhựa gây ô nhiễm có kích cỡ rất đa dạng, từ những khối lớn như lưới đánh cá hay túi nylon dùng một lần cho đến các hạt nhựa kích cỡ nanomet. Trong khi ảnh hưởng nhãn tiền của các khối nhựa lớn, được gọi là macroplastic với môi trường biển đã được đánh giá khá đầy đủ thì tác hại tiềm tàng của vi nhựa kích cỡ micromet, thậm chí là nanomet mù mờ hơn nhiều.  Các hạt nhựa có kích cỡ nhỏ hơn 5 mm được gọi là vi nhựa. Những hạt nhỏ hơn với cỡ bằng hoặc bé hơn 100 nm (1/10.000 mm) được gọi là nhựa kích cỡ nano – nanoplastic. Chúng nhỏ đến mức mà bạn không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường, hay thậm chí là dưới kính hiển vi quang học thông thường.  Các sinh vật biển có thể vô tình hấp thụ các hạt vi nhựa, sau đó các sinh vật biển này lại bị các loại cá săn mồi lớn hơn ăn thịt. Các hạt vi nhựa cỡ nanomet còn nguy hiểm hơn vì chúng có thể được hấp thụ qua thành ống tiêu hóa, sau đó được vận chuyển lên các cơ quan nội tạng và mô. Kết cục là những hạt nhựa này có thể ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh học trong cơ thể, từ dẫn truyền thần kinh tới kích ứng oxi hóa và cả khả năng đề kháng của các sinh vật nước ngọt và sinh vật biển.  Trong thập niên vừa qua, cộng đồng khoa học toàn cầu đã bỏ nhiều công sức trong việc tìm hiểu về tác động của rác thải nhựa đến sự đa dạng sinh học sinh vật biển. Tuy nhiên, các phương pháp quan trắc vi nhựa cỡ micromet và nanomet đều đang ở giai đoạn đang được phát triển, có nghĩa là nồng độ chính xác của chúng trong đại dương vẫn là ẩn số.  Giáo sư Metian nói thêm: “Đây là nơi mà công nghệ hạt nhân có thể đóng vai trò quan trọng. Các kỹ thuật hạt nhân và đồng vị đã được sử dụng thành công trong việc nghiên cứu nhiều quá trình ô nhiễm. Lợi thế của chúng là độ nhạy cũng như độ chính xác cực kỳ cao, và có thể sử dụng theo cách tương tự để nghiên cứu con đường vận chuyển và tác động của vi nhựa”.  Bên cạnh đó, từ quan điểm độc học, việc phân biệt độc tính của các hạt nhựa và độc tính của các chất ô nhiễm đi kèm chúng là rất quan trọng. Cho đến nay, việc nghiên cứu tác động của vi nhựa nguyên sinh cỡ nanomet trong cá nước ngọt và cá biển vẫn rất hạn chế, do đó, IAEA hiện đang tăng cường tập trung vào nghiên cứu mức độ độc hại của vi nhựa nguyên sinh.  An Thái – Thục Phương/Viện Công nghệ xạ hiếm dịch  Nguồn: ttps://www.iaea.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật laze mới giúp phát hiện ung thư và hen suyễn      Các nhà nghiên cứu ĐH Colorado (Mỹ) vừa phát triển một phương pháp laze mới có khả năng giúp các bác sĩ nhận diện bệnh ung thư, hen hay một số căn bệnh hô hấp khác.      Thiết bị sử dụng gương soi để hắt ngược ánh sáng laze cho đến khi chạm tới tất cả các phân tử có chứa trong mỗi hơi thở của người bệnh. Việc này giúp theo dõi triệu chứng các bệnh như ung thư, hen suyễn, tiểu đường và các dấu hiệu của bệnh thận. Thử nghiệm được tiến hành ở một số sinh viên tình nguyện và kết quả cho thấy họ đã tìm ra các dấu hiệu của chất ammonia, carbon monoxide và methane trong hơi thở khi áp dụng kỹ thuật quang học nói trên.   Trang Anh (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỹ thuật mới để đo đạc hằng số cấu trúc tinh tế      Hằng số cấu trúc tinh tế là một trong những hằng số tự nhiên quan trọng nhất. Tại TU Wien, một cách đo đạc đáng chú ý đã được tìm thấy và chứng tỏ như một góc quay.    Giáo sư Andrei Pimenov của Viện Vật lý các chất đậm đặc ở TU Wien (trái)  Một trên 137 là một trong những con số quan trọng nhất của vật lý. Đó là giá trị xấp xỉ của cái gọi là hằng số cấu trúc tinh tế (fine structure constant) – một đại lượng vật lý vô cùng quan trọng trong vật lý hạt và vật lý hạt nhân bởi nó mang đặc trưng cho mức độ tương tác điện từ giữa các hạt cơ bản tích điện.  Có nhiều cách để đo đạc hằng số cấu trúc tinh tế – thông thường là đo đạc một cách gián tiếp bằng việc đo các đại lượng vật lý khác và sử dụng nó để tính toán hằng số cấu trúc tinh tế. Tại TU Wien, tuy nhiên, một thực nghiệm đã được thực hiện, trong đó hằng số cấu trúc tinh tế  tự nó có thể được đo đạc trực tiếp – như một góc.  1/137 – mã số bí mật của vũ trụ  Hằng số cấu trúc tinh tế miêu tả cường độ của tương tác điện từ. Nó chỉ dấu các hạt tích điện như thế nào khi các electron tương tác với trường điện từ. Nếu hằng số cấu trúc tinh tế có một giá trị khác biệt, vũ trụ của chúng ta có thể sẽ có sự khác biệt hoàn toàn – các nguyên tử có thể có một kích thước khác, vì vậy tất cả tính chất hóa học của chúng cũng sẽ hành xử theo cách khác biệt và tổng hợp hạt nhân trong các ngôi sao cũng trở nên khác biệt so với những gì chúng ta quan sát hiện nay.  Có một câu hỏi được thảo luận rất nhiều là liệu hằng số cấu trúc tinh tế là bất biến trên thực tế hay liệu nó có thể có sự thay đổi về giá trị của mình chút ít trong hàng tỉ năm qua không.  Những đo đạc trực tiếp thay vì tính toán  “Các hằng số vật lý quan trọng nhất đều có một đơn vị đặc biệt – ví dụ, tốc độ của ánh sáng có thể là đơn vị của mét mỗi giây”, giáo sư Andrei Pimenov của Viện Vật lý các chất đậm đặc ở TU Wien, nói. “Đó là sự khác biệt với hằng số cấu trúc tinh tế. Nó không có đơn vị như vậy mà chỉ đơn giản là một con số – đó là không thứ nguyên (dimensionless)”.  Nhưng thông thường, khi hằng số cấu trúc tinh tế được đo đạc thì vô số đại lượng với những đơn vị vật lý khác nhau cũng được đo đạc, và sau đó giá trị của hằng số cấu trúc tinh tế được suy ra từ những kết quả đó, ví dụ năm 2020, có nhóm các nhà khoa học đề xuất sử dụng phép đo giao thoa sóng vật chất để đo vận tốc giật lùi của nguyên tử rubidi hấp thụ một photon, qua đó xác định hằng số cấu trúc tinh tế 1.  Tuy nhiên ở đây là một cách tiếp cận mới. “Trong thực nghiệm của chúng tôi, nói cách khác, hằng số cấu trúc tinh tế tự nó trở nên hữu hình một cách trực tiếp”, Andrei Pimenov nói.  Một màng mỏng xoay ánh sáng   Một chùm laser được phân cực tuyến tính – ánh sáng dao động một cách chính xác theo chiều thẳng đứng. Sau đó chùm tia chiếu vào một lớp vật liệu đặC biệt có độ dày vài nano mét. Vật liệu này có đặc tính thay đổi chiều cực của ánh sáng. Một vật liệu xoay chiều cực của một chùm laser không có gì là bất thường. Các vật liệu khác cũng có thể làm được như vậy, vật liệu càng dày thì sự phân cực xoay chiều càng cao. Nhưng chúng ta có thể thấy một hiệu ứng hoàn toàn khác biệt xảy ra ở đây”, Andrei Pimenov nói. “Trong trường hợp của chúng tôi, sự phân cực không diễn ra một cách liên tục mà là nhảy cóc”.  Khi xuyên qua lớp màng mỏng, chiều phân cực của ánh sáng thể hiện một bước nhảy lượng tử. Sau khi xuyên qua, sóng ánh sáng giao động trong một chiều hoàn toàn khác trước. Và khi kích thước của bước nhảy này được tính toán, một kết quả vô cùng ngạc nhiên xuất hiện: lượng tử của thay đổi góc này chính xác là hằng số cấu trúc tinh tế.  “Do đó, chúng ta có thể trực tiếp xâm nhập vào một thứ hoàn toàn khác thường: một lượng tử quay”, Andrei Pimenov cho biết. “Hằng số cấu trúc tinh tế trở nên hữu hình như một góc”.  Nghiên cứu đã được xuất bản trên Applied Physics Letters 2.  Lê Anh Vũ dịch:  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-technique-fine-constant.html  ———–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-020-2964-7  2. https://aip.scitation.org/doi/10.1063/5.0105159    Author                .        
__label__tiasang Kỳ tích tìm dầu ở tầng đá móng      Một tin vui đến với toàn thể những người lao động ở ngành Dầu khí, đó là cụm công trình “Tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả các thân dầu trong tầng đá móng granitoit trước Đệ tam bể Cửu Long, thềm lục địa Việt Nam” đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Tham gia cụm công trình này có 49 nhà khoa học, cán bộ, kỹ sư của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1986 cho đến nay.      Tên “Bạch Hổ” đã đi vào các văn liệu dầu khí thế giới và được ghi nhận như mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là mỏ rất đặc trưng có trữ lượng cực lớn (trên 500 triệu tấn trữ lượng tại chỗ) được khai thác với cường độ và sản lượng cao (trên 12 triệu tấn/năm) từ tầng chứa là đá móng granitoid Mesozoi trong bể trầm tích Đệ Tam trên thế giới.   Vietsovpetro đã phát hiện và bắt đầu khai thác dầu từ móng mỏ Bạch Hổ kể từ ngày 6/9/1988 đến nay đã gần 24 năm. Từ kinh nghiệm Vietsovpetro, nhiều mỏ dầu trong tầng chứa móng nứt nẻ lần lượt được phát hiện và đưa vào khai thác ở Việt Nam.  Từ đó đến nay Việt Nam đã khai thác từ  tầng chứa móng nứt nẻ trên 200 triệu tấn dầu (khoảng 80% tổng sản lượng dầu), thu gom trên 26 tỉ m3 khí với gần 6 triệu tấn LPG và condensat, với tổng doanh thu dầu khai thác từ tầng đá móng trên 50 tỉ USD. Đó là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành Dầu khí Việt Nam, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, lương thực và sự phát triển ổn định chung của nền kinh tế Việt Nam.  Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam, đi đầu là Vietsovpetro không những đã xây dựng phương pháp luận về hệ thống dầu khí trong đá móng mà còn đóng góp về hệ phương pháp nghiên cứu mô hình mỏ, trong công nghệ khoan trong đá móng nứt nẻ, khai thác có duy trì áp suất vỉa, tối ưu hóa hệ số thu hồi dầu với nhịp độ cao, xây dựng các phần mềm tính toán thông số vỉa, tổ chức xây dựng mỏ v.v…  Các công ty dầu khí và dịch vụ nước ngoài cũng theo đó mà hoàn thiện hệ công nghệ nghiên cứu, khoan và khai thác dầu trong đá móng góp phần gia tăng sản lượng dầu Việt Nam.  Hiện nay tại bể Cửu Long, ngoài những mỏ dầu khí đã được phát hiện trong móng và đưa vào khai thác như Bạch Hổ, Rồng của Vietsovpetro; Sư Tử Đen, Sư Tử  Vàng  của Cửu Long JOC; Rạng Đông của JVPC; Ruby của Petronas; Cá Ngừ Vàng của Hoàn Vũ JOC  còn có những phát hiện khác như Sư Tử Nâu, Nam Rồng – Đồi Mồi, Jade, Diamond, Pearl, Hải Sư Đen, Thăng Long, Hổ Xám South cũng đang chuẩn bị đưa vào khai thác trong thời gian gần.  Tầng chứa đá móng granitoid trở thành đối tượng quan tâm khi tiến hành tìm kiếm thăm dò trong các bể trầm tích khác. Ngoài bể Cửu Long, dầu khí tiếp tục được phát hiện trong đá móng granitoid ở bể Nam Côn Sơn như ở mỏ Đại Hùng, Gấu Chúa v.v…  Những thành tựu khoa học – công nghệ của các nhà địa chất và kỹ sư dầu khí của ngành Dầu khí Việt Nam và Vietsovpetro có giá trị thực tiễn không chỉ trong bể Cửu Long mà có thể ứng dụng cho các bể chứa dầu khác trên thềm lục địa Việt Nam và khu vực.  Những thành tựu này là đóng góp khoa học – công nghệ cho khoa học dầu khí Việt Nam và thế giới.  Biểu hiện dầu trong đá móng mỏ Bạch Hổ được ghi nhận ở giếng BH-1 nhưng kết quả thử vỉa không cho dòng. Giếng khoan BH-6 khoan sâu vào móng 23m đến chiều sâu 3.533m và ngày 5/5/1987 khi thử vỉa cùng với tầng oligocen cho lưu lượng 477 tấn/ngày. Mặc dù còn có nghi vấn nhưng giếng BH-6 được xem là giếng phát hiện đầu tiên dòng dầu có lưu lượng công nghiệp trong tầng chứa là đá móng ở thềm lục địa Việt Nam. Dầu trong đá móng nứt nẻ được khẳng định có lưu lượng công nghiệp khi quay lại thử vỉa trong móng ở giếng BH-1 và được đưa vào khai thác ngày 6/9/1988.  Đây là thân dầu lớn trong đá chứa granitoid nứt nẻ – hang hốc với trữ lượng dầu tại chỗ trên 500 triệu tấn, diện tích gần 60km2 và chiều cao thân dầu được xác định 1.300m. Sản lượng đỉnh trên 12 triệu tấn/năm, lưu lượng giếng cao nhất ban đầu có thể đạt 2.000 tấn/ngày.  Năm 1974 Công ty Mobil (Mỹ) khoan giếng tìm kiếm BH-1X trên cấu tạo Bạch Hổ và chỉ phát hiện dầu trong tầng Miocen tuổi Đệ Tam. Trước năm 1975 quan điểm tìm kiếm của các công ty dầu nước ngoài chỉ tập trung trong tầng miocen, tầng chứa oligocen và lớp vỏ phong hóa trên móng được xem hình thành trong điều kiện lục địa nên không phải là mục tiêu để khoan tìm kiếm dầu khí. Hơn nữa, móng nằm lót dưới bề trầm tích Đệ Tam là các đá xâm nhập magma granitoid lại càng không phải là đối tượng được quan tâm vì theo học thuyết hữu cơ, dầu không thể sinh và chứa trong các đá magma có nguồn gốc sâu trong vỏ trái đất. Vì thế không chỉ ở Việt Nam mà theo sử liệu thống kê cho thấy, đến thập niên cuối của thế kỷ XX, những phát hiện dầu trong móng đều được xem không thể chứa sản phẩm và không được các nhà tìm kiếm dầu quan tâm.  Dầu khí cũng được khai thác trong đá móng ở nhiều nơi trên thế giới. Có trên 320 mỏ được phát hiện và một số được đưa vào khai thác.  Đá móng chứa dầu khí thường là các đá trầm tích hoặc trầm tích – biến chất, các đá trầm tích – phun trào, các đá biến chất cổ và chỉ một số ít có thành phần là đá magma như: Mỏ Lago Mercedes – Chilê; Xinglongtai – Trung Quốc; mỏ Hurghada và Zeit Bay – Ai Cập; Oymasha – Kazakhstan; mỏ PY-1 vịnh Bengal Ấn Độ; Nafoora – Augila ở Libya; các mỏ Hall – Gurney và Gorham ở Trung Kansas Mỹ; mỏ LaPaz – Venezuela. Ở tất cả các mỏ trên, các giếng khoan vào móng là đá granitoid không sâu thường  200-300m liên quan đến vỏ phong hóa nứt nẻ, lưu lượng thường nhỏ hơn 100 tấn/ngày trừ vài giếng riêng lẻ có thể đạt đến 1.000tấn/ngày, và được khai thác ở chế độ suy giảm tự nhiên kết hợp với các tầng chứa là các đá trầm tích nằm trên, trữ lượng được đánh giá không lớn do tính bất đồng nhất lớn về đặc tính thấm – chứa, không thể xác định được sự phân bố độ rỗng và chưa có hệ phương pháp nghiên cứu về mô hình mỏ, trừ mỏ LaPaz – Venezuela được xác định có trữ lượng tại chỗ khoảng 100 triệu tấn.  Như thế có thể xem mỏ Bạch Hổ với thân dầu trong móng granitoid nứt nẻ – hang hốc có trữ lượng và sản lượng lớn, cường độ khai thác cao và được tổ chức khai thác có hệ thống và hiệu quả là một điển hình  đầu tiên được ghi nhận trong văn liệu dầu khí thế giới.  Sau 20 năm khai thác dầu trong móng ở mỏ Bạch Hổ dựa trên diễn biến động năng của vỉa có thể chia quy trình khai thác thành 3 giai đoạn với hệ phương pháp kỹ thuật – công nghệ có tính đặc thù riêng biệt:  – Giai đoạn khai thác không có duy trì áp suất vỉa.  – Giai đoạn khai thác có duy trì áp suất vỉa bằng nước bơm ép.  – Giai đoạn khai thác suy giảm cuối đời mỏ.  Từ 9-1988 đến 6-1993, tầng móng được khai thác ở chế độ giảm áp tự nhiên. Từ nhận thức ban đầu thân dầu là lớp vỏ phong hóa, quá trình khoan phát triển và nghiên cứu mô hình mỏ ở giai đoạn này đã giúp Vietsovpetro nhận hiểu, đây là một mỏ lớn liên quan đến thân dầu trong đá móng nứt nẻ – hang hốc có độ bất đồng nhất thấm – chứa cao, thân dầu lớn và sâu, mà các phương pháp thông lệ thường không thể áp dụng được, đòi hỏi phải nghiên cứu và xây dựng hệ phương pháp riêng cho đặc tính thân dầu này, mà trọng tâm là mô hình mỏ với hệ các nứt nẻ liên quan đến đứt gãy được xem vừa là tầng chứa vừa là kênh dẫn và cơ chế dòng chảy trong môi trường rỗng nứt nẻ hở.  Việc khai thác dầu trong tầng móng ở chế độ suy giảm tự nhiên đã làm giảm mạnh áp suất vỉa ở độ sâu quy chiếu @3.650m từ 417 at còn 333,5 at vào tháng 6/1993, trung bình giảm 17,3 at/năm với 5,84 at/triệu tấn dầu. Đến hết năm 1993 sản lượng dầu khai thác được từ khối Trung tâm là 14,1 triệu tấn và từ các khối phía bắc  là 3,3 triệu tấn.  Tiềm năng chứa dầu trong móng mỏ Bạch Hổ cùng với sự ưu đãi của Luật Đầu tư đã hấp dẫn các công ty dầu đối với bể Cửu long như  Petronas Carigali (Malaysia), Mitshubishi Oil (NOEC – Nhật), Conoco Phillips (Mỹ), SK (Hàn Quốc) v.v…  Sự giảm mạnh áp suất vỉa trong khoảng thời gian ngắn ở thân dầu móng nứt nẻ đòi hỏi phải nhanh chóng áp dụng giải pháp duy trì năng lượng vỉa mới có thể đạt sản lượng đỉnh, tăng hệ số thu hồi dầu, phải nghiên cứu lại mô hình địa chất và mô hình khai thác mỏ Bạch Hổ.  Vietsovpetro đưa giải pháp kỹ thuật bơm ép nước xuống phần đáy của thân dầu vừa để duy trì áp suất vỉa trên áp suất bão hòa vừa tạo nước đáy nhân tạo để quét và đẩy dầu từ dưới lên. Phương pháp này ban đầu không được ủng hộ, lo ngại không kiểm soát được sự di chuyển của nước ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thu hồi dầu. Ngay các chuyên gia của World Bank cũng phản đối và cho rằng, các chuyên gia Vietsovpetro không thể quản lý được quy trình này.     Đêm Bạch Hổ  Vietsovpetro thiết kế phương án bơm ép nước và tháng 6/1993 tiến hành bơm ép thử nghiệm ở giếng 421 khối trung tâm mỏ Bạch Hổ nơi có suy giảm mạnh áp suất vỉa. Sau 2 năm, nước bắt đầu xuất hiện ở giếng khai thác 409, sau đó là một loạt giếng khác quanh đấy. Hình thành tầng nước đáy cục bộ. Hệ thống giếng khai thác và bơm ép nước dần được hoàn thiện. Hệ thống khai thác ban đầu được xây dụng theo mô hình 3 đới: đới bơm ép nước, đới khai thác chính và đới mủ khí tiềm năng ở phần đỉnh.  Do hiệu ứng tích cực của bơm ép nước và sự đối lưu tốt của dòng dầu từ dưới lên nên trong giai đoạn khai thác này không thể sớm hình thành mủ khí. Vietsovpetro xây dựng lại mô hình khai thác với 2 đới: đới khai thác chính và đới bơm ép, giữa chúng là vùng chuyển tiếp, mở rộng chiều cao đới khai thác. Nước bơm ép được xử lý chu đáo để có thể đẩy dầu từ những vi khe nứt dưới 1 micron, với quy trình hạn chế gây tổn hại đến môi trường chứa về phương diện hóa – lý.  Từ sản lượng 5,7 triệu tấn/năm vào 1993, Vietsovpetro nhanh chóng đạt sản lượng đỉnh trên 12,1 triệu tấn/năm vào 2001 và duy trì đến 2004 với sự gia tăng hằng năm trên 1 triệu tấn trước khi đạt đỉnh, nói lên hiệu quả tích cực của phương án bơm ép nước duy trì áp suất vỉa, tạo front nước đáy, tăng hệ số thu hồi dầu từ móng nứt nẻ đạt giá trị kỷ lục 0,37 – 0,42.  Từ năm 1994 đến hết 2004 Vietsovpetro đã khai thác từ thân dầu trong móng nứt nẻ khoảng 107,2 triệu tấn dầu. Vietsovpetro đề ra phương châm đúc kết từ kinh nghiệm của mình: – “Bơm đúng chỗ, bơm đúng lúc, bơm đúng áp suất, bơm đúng lưu lượng và bơm theo chu kỳ.  Để đạt mục tiêu tối ưu hóa vị trí các giếng phát triển và khai thác cần phải làm rõ cấu trúc móng,  nhận dạng các đới đứt gãy, các vùng nứt nẻ, và khả năng nối kết giữa chúng, đặc biệt ở không gian chứa với tính chất hai độ rỗng macro và micro.  Trong giai đoạn này các chuyên gia dầu khí Việt Nam đã nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp tính toán trữ lượng thu hồi do tính bất đồng nhất của các tham số vật lý vỉa và chất lưu và sự biến động của chúng trong quá trình khai thác do sự phân dị của dầu ở thân dầu chiều cao lớn và có xuất hiện nước đáy nhân tạo, hoàn thiện mô hình dòng chảy với độ thấm 2-pha và hệ số đẩy dầu do nước bơm ép trong môi trường rỗng nứt nẻ  của đá móng, xây dựng phần mềm mô phỏng quá trình chuyển động nhiều pha trong môi trường nứt nẻ chứa dầu phục vụ cho khai thác, cnâng cấp và cải tiến phần mềm Basroc (bản quyền Việt Nam) thành các phiên bản 2.0 (1997) và phiên bản 3.0 (2002) để tính giá trị độ rỗng của hệ nứt nẻ và tỷ lệ tham gia của 2 dạng độ rỗng macro- và micro- trong thể tích chứa và lưu chuyển dầu, xây dựng các phần mềm để thiết kế mạng lưới tối ưu các giếng khai thác – bơm ép, điều chỉnh kịp thời hệ số ngập nước ở các giếng, hạn chế sự hình thành các lưởi nước, tăng hệ số thu hồi dầu, nghiên cứu các giải pháp xử lý vận chuyển dầu 2 pha có hình thành nhũ tương.  Sau khi đạt đỉnh, từ năm 2005 sản lượng thân dầu móng mỏ Bạch Hổ bắt đầu suy giảm. Số giếng và hệ số ngập nước tăng nhanh, front nước đáy dâng cao không đồng đều tạo những lưởi nước. Cột dầu giảm, xuất hiện mủ khí cục bộ làm giảm sản lượng giếng. Áp suất vỉa tiệm cận áp suất bão hòa. Đó là những thách thức lớn đối với Vietsovpetro làm thế nào để giảm thiểu tốc độ suy giảm sản lượng.  Để hạn chế những bất cập trên, Vietsovpetro đã nghiên cứu và áp dụng các giải pháp công nghệ như : – điều chỉnh quy trình bơm ép nước hợp lý cho từng cụm khai thác theo chế độ: – bơm đúng áp suất, đúng lưu lượng, và theo chu kỳ, hạn chế lưởi nước đột biến, nghiên cứu các giải pháp tận thu dầu sót trong không gian rỗng nứt nẻ micro – có cơ chế đẩy dầu kiểu mao dẫn và ở những khối sót chưa tác động bởi hiệu ứng bơm ép nước, – tiếp tục áp dụng các hoạt chất bề mặt để giảm thiểu độ bão hòa dầu sót, và các giải pháp công nghệ khác nhằm tăng hệ số thu hồi dầu, – chính xác hóa mô hình phân bố độ rỗng trong không gian 3D và điều chỉnh mô hình khai thác và trữ lượng dầu còn lại.  Kinh nghiệm và các giải pháp khoa học – công nghệ trong tìm kiếm-khai thác thân dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, Rồng của Vietsovpetro được sáng tạo áp dụng thành công ở nhiều mỏ khác. Kết quả cho thấy sự đa dạng của mô hình địa chất mỏ, của thân dầu với sự có mặt của nước rìa, sự khác biệt về độ sâu phân bố và thành phần chất lưu (dầu, khí). Thân dầu trong móng nứt nẻ gặp ở độ sâu từ gần 2.000m đến trên 4.500m, các thông số vật lý của dầu như tỉ trọng, độ nhớt, độ khí hòa tan biến động. Sự phân bố độ rỗng – thắm có khả năng cho dòng công nghiệp phức tạp làm tăng độ rủi ro cao khi bố trí các giếng tìm kiếm và phát triển. Nhiều mỏ được phát hiện lại sau nhiều giếng khoan khô hoặc các công ty đã bỏ như Hải Sư Đen, Thăng Long v.v…  Việc áp dụng có chọn lọc các kinh nghiệm củaVietsovpetro từ mỏ Bạch Hổ và tăng hàm lượng nghiên cứu và đầu tư công nghệ mới đã làm phong phú thêm kinh nghiệm khai thác dầu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và tính hiệu quả cao trong tìm kiếm và tổ chức khai thác thân dầu trong đá móng granitoid nứt nẻ – hang hốc.  Tầng móng nứt nẻ – hang hốc granitoid trước Đệ tam ở bể Cửu Long và thềm lục địa nam Việt Nam trở thành đối tượng quan tâm đặc biệt trong chiến lược tìm kiếm và khai thác dầu khí của các công ty dầu hoạt động ở Việt Nam và được các tổ chức dầu thế giới đặc biệt quan tâm, thể hiện sự tham gia đông đảo các các nhà khoa học, công ty dầu quốc tế ở hai lần hội nghị quốc tế về kinh nghiệm phát triển và tổ chức khai thác dầu trong đá móng nứt nẻ được tổ chức ở Vũng Tàu. Có thể kết luận:  Phát hiện và Khai thác có hiệu quả dầu trong đá móng nứt nẻ – hang hốc là – thành tựu khoa học và công nghệ của Tập đoàn Dầu khí VN, đi tiên phong là Vietsovpetro, mang lại lợi ích kinh tế cực lớn và là sự đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn cho khoa học dầu khí thế giới.  —————-  * Tiến sĩ – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Tổng giám đốc Vietsovpetro        Author                Quản trị        
__label__tiasang Kỳ vọng khoa học trong năm 2018      Các sứ mệnh tới Mặt Trặng, các hệ gene cổ đại và tranh chấp xuất bản được dự đoán sẽ định hình hoạt động nghiên cứu khoa học trong năm 2018.      Dữ liệu vũ trụ  Các vụ bùng nổ sóng radio nhanh (Fast Radio Burst) sẽ ít bí ẩn hơn khi Thí nghiệm Kính thiên văn vô tuyến lập bản đồ cường độ hydro của Canada (CHIME) bắt đầu hoạt động toàn công suất vào năm nay. Các nhà thiên văn học hy vọng vào việc dùng CHIME để có thể quan sát hàng chục hiện tượng vũ trụ này mỗi ngày và đẩy mạnh số lượng quan sát vũ trụ– từ trước đến nay mới chỉ có vài chục lần quan sát như vậy. Vào tháng Tư tới, các nhà thiên văn học sẽ nhận được bộ dữ liệu thứ hai từ dự án Gaia của Cơ quan Vũ trụ châu Âu, trong đó sẽ tiết lộ vị trí và sự chuyển động của hàng tỷ ngôi sao trong Dải Ngân Hà. Dữ liệu này có thể góp phần tăng thêm hiểu biết của chúng ta về cấu trúc xoắn ốc của Dải Ngân Hà.  Người Mỹ cổ đại  Các kết quả từ một số nghiên cứu về hệ gene cổ đại dự kiến công bố trong năm 2018 sẽ giúp giải thích phương thức di cư khắp châu Mỹ của con người. Các nhà khoa học hy vọng sẽ có những ước tính chính xác hơn về thời gian và cách thức con người mở rộng lãnh thổ khoảng 15.000 năm trước, đồng thời xác định được thời gian và các tuyến di cư tiếp theo. Công trình này cũng có thể giúp lý giải sự đa dạng về gene trong quần thể người Mỹ bản địa ngày nay như chúng ta thấy.  Cải tiến đơn vị đo lường khoa học  Sau hàng thập kỷ thực hiện, việc xác định lại bốn đơn vị đo lường sẽ tiến hành vào cuối 2018. Tại hội nghị toàn thể về khối lượng và đo lường vào tháng 11/2018, đại biểu từ 58 quốc gia sẽ bỏ phiếu để thông qua định nghĩa mới của ampere – đơn vị đo cường độ dòng điện, kilogram – đơn vị đo khối lượng, Kelvin – đơn vị đo nhiệt độ và mole – đơn vị đo lường trong hóa học. Những đơn vị đo lường mới sẽ được xác định dựa vào những giá trị chính xác của các hằng số cơ bản, thay vì các định nghĩa tùy ý hoặc trừu tượng. Nếu được thông qua, những thay đổi này sẽ có hiệu lực từ tháng 5/2019.  Tới Mặt Trăng và xa hơn  Khi NASA đưa phi hành gia trở lại Mặt Trăng theo “đơn đặt hàng” của tổng thống Donald Trump, hai cơ quan vũ trụ khác cũng cố gắng hạ cánh ở đây. Vào đầu năm 2018, Chandrayaan-2 sẽ đánh dấu nỗ lực đầu tiên của của Ấn Độ để hạ cánh có kiểm soát trong không gian. Sau đó, vào tháng 12/2018, Chang’e-4 của Trung Quốc sẽ trở thành tàu thám hiểm đầu tiên nhắm đến vùng tối của Mặt Trăng. Các hoạt động nghiên cứu khám phá sẽ tiếp tục diễn ra trong những khu vực khác của Hệ Mặt trời: Hayabusa-2 của Cơ quan Thám hiểm Không gian Vũ trụ Nhật Bản sẽ tiến đến tiểu hành tinh RYUGU nguyên thủy vào tháng Bảy, và Osiris-Rex của NASA được lập kế hoạch để tới tiểu hành tinh Bennu vào cuối năm. Cả hai sẽ mang mẫu vật lấy được từ các hành tinh này về Trái Đất trong những năm 2020.  Bức tranh lớn hơn về ung thư  Những hiểu biết sâu sắc về các gene gây ung thư có thể có trong năm 2018 khi các nhà khoa học có điều kiện xem xét kỹ hơn dự án giải trình tự đa ung thư của toàn bộ các hệ gene trên quy mô lớn đầu tiên. Họ cũng nhận được kết quả từ một dự án lớn khác, Atlas hệ gene ung thư, sẽ công bố những phân tích các vùng mã hóa protein – được gọi là exome – của 33 loại khối u.  Hình ảnh siêu phân giải về cấu trúc nguyên tử của vật chất   Các nhà khoa học kỳ vọng một loạt nghiên cứu về vật chất sẽ thay đổi như thế nào trong những điều kiện cực đoan, ví dụ như trong lõi của một hành tinh. Các công cụ mới tại cơ sở của Trung tâm laser electron tự do tia X châu Âu (XFEL) trên toàn thế giới sẽ cho phép các nhà khoa học hình dung được sự thay đổi của các mẫu vật chất dưới nhiệt độ và áp suất cao. Dự kiến, chi phí nghiên cứu các phản ứng sinh học và hóa học cũng sẽ thấp hơn khi cơ sở đầu tiên của XFEL tại Trung tâm Gia tốc Electron Đức (DESY) ở Hamburg, Đức và ĐH bang Arizona ở Tempe, Mỹ, mở cửa.  Cuộc chiến trong ngành công nghiệp vũ trụ  Có đến năm đội đang cạnh tranh nhau cho giải Google Lunar XPrize trị giá 30 triệu USD cho đến 31/3/2018 để hạ cánh và điều khiển một máy bay – tài trợ bởi tư nhân đầu tiên trên Mặt trăng, sau đó truyền hình ảnh lại. Và các công ty hàng không vũ trụ Boeing và SpaceX dự định phóng tàu vũ trụ của họ tới Trạm Không gian quốc tế cho NASA vào tháng 11/2018.  Phương pháp điều trị bệnh  Những nỗ lực đưa các công cụ chỉnh sửa gene như CRISPR-cas9 tới các phòng khám đang phát triển. Giai đoạn đầu cảu thửu nghiệm CRISPR trên người – chỉnh sửa tế bào miễn dịch để giải quyết ung thư phổi – sẽ kết thúc vào tháng Tư. Các công ty bao gồm Locus Biosciences (Research Triangle Park, California) và Eligo Bioscience (Paris) sẽ làm việc hướng tới thử nghiệm sử dụng các thực khuẩn thể (bacteriophages) để khai thác hệ thống CRISPR chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh. Và thử nghiệm đầu tiên sử dụng các tế bào gốc phôi (induced pluripotent stem – iPS) để chữa trị bệnh Parkinson được bắt đầu ở Kyoto (Nhật Bản) vào cuối năm.  Gia tốc các hạt sơ cấp  Đây là thời gian tăng tốc cho phương pháp mới về gia tốc các hạt. Các nhà khoa học với thí nghiệm AWAKE tại CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt của châu Âu gần Geneva (Thụy Sĩ) đã chỉ ra rằng nguyên lý đằng sau đề xuất gia tốc các electron trên sóng plasma là âm thanh. Và hiện giờ, họ đang thực hiện điều đó. Nếu thành công, công nghệ này có thể tạo ra các vụ va chạm ở quy mô nhỏ hơn và chi phí thấp hơn.  Truy cập mở  Ai sẽ đầu hàng trước trong cuộc chiến giữa các nhà khoa học Đức và nhà xuất bản Elsevier? Khoảng 200 tổ chức học thuật của Đức đã mất quyền truy cập vào các tạp chí của Elsevier hồi 1/2017 tới khi hai bên có thể đạt được một thỏa thuận trong cuộc chiến dài hạn về phí đặt mua. Những người ủng hộ truy cập mở cũng sẽ theo dõi số phận của Sci-Hub – trang web cho truy cập trái phép đối với hàng triệu bài báo khoa học vốn phải trả phí– đã đóng một số tên miền của nó sau lệnh của tòa án Mỹ vào tháng Mười Một.   Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-00009-5       Author                Quản trị        
__label__tiasang KYOTO, một dự án có nguy cơ thất bại?      Sau tuyên bố của Canada tại Bonn tháng 5 năm 2006, Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) có nguy cơ thất bại, trong khi quả đất đang nóng dần [1].    Các mốc lịch sử  1992    Tại Rio lãnh đạo các nước thống nhất nhận thức về sự thay đổi khí hậu vì các khí gây hiệu ứng nhà kính.  1997    11 tháng 12: Nghị định thư Kyoto được ký kết [2].  2001    Mỹ tuyên bố không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto.  2002    23 tháng 5, Iceland phê chuẩn như vậy điều khoản 55 phía được thỏa mãn 17 tháng 12, Canada phê chuẩn Nghị định thư.  2004    18 tháng 11: Nga phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, như thế điều khoản 55% tổng phát thải được thỏa mãn  2005    1 tháng giêng: Thành lập hệ thống Châu Âu về trao đổi quyền phát thải CO2 ( EU Emisions Trading Scheme- EU  ETS)  16 tháng 2: Nghị định thư Kyoto chính thức có hiệu lực  28 tháng 7: “Thỏa thuận của liên hiệp Châu Á – Thái Bình Dương về khí hậu và phát sạch, Asia-Pacific Partnership on Clean Development and Climate” được ký kết (gồm Mỹ, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật & Hàn Quốc)  2006    Tháng 4: Sụt giá cacbon trên thị trường ở Châu Âu vì nhu cầu mua CO2 giảm (nguyên nhân do sự phát thải cacbon thấp hơn quota ấn định cho năm 2005).             Tháng 5: tại Bonn, Canada lại tuyên bố không cam kết gì về giảm thiểu phát thải các chất khí nhà kính.            Tháng 10: 166 nước đã phê chuẩn Nghị định thư.     Những điểm chính trong Nghị định thư  Mục tiêu: Giảm phát thải GHG (Green House Gas – Khí nhà kính) 5 % trong giai đoạn 2008-2012 so với mức phát thải năm 1990.  Thành phần các GHG chính:   CO2  Methane  Halocarbure  Protoxyde N  sulfur hexafluoride  Các nước liên quan: 151 nước trong tổng số 192, song mục tiêu giảm thiểu GHG chỉ nhằm vào khoảng 30 nước.  Nhiệt độ của khí quyển quanh mặt đất nóng dần vì một hiệu ứng gọi là hiệu ứng nhà kính. Năng lượng  mặt trời đi qua một lớp khí (khí nhà kính – Green House Gas GHG) gồm hơi nước, CO2, methane, NOx, ozone… Bức xạ hồng ngoại (sóng điện từ với bước sóng trong khoảng 0,000075 – 0,1 cm) trong phổ năng lượng đó phản xạ từ mặt đất ra vũ trụ song không dễ dàng đi qua lớp khí nhà kính và một phần bức xạ hồng ngoại bị hất lại quả đất làm cho quả đất có được nhiệt độ thuận tiện cho sự sống. Song nếu nhiệt độ tăng nhiều thì hiện tượng này sẽ gây nên những hệ quả có tính tai biến cho môi trường và cho con người.      UNCED ( United Nations Conference on Environment & Development) đã họp tháng 7/1992 tại Rio de Janeiro, Brazil (xem bảng Các mốc lịch sử) để tiến hành hội thảo về nguy cơ trái đất ấm lên vì hiệu ứng nhà kính do các hoạt động của con người gây ra. Đến hội thảo có đại diện của 172 nước. 11 tháng 12 năm 1997, NghÞ ®Þnh th­ Kyoto đã được ký kết và bao gồm hơn 160 nước phát thải đến 55% tổng phát thải khí nhà kính (GHG-GreenHouse Gas).  Theo NghÞ ®Þnh th­ Kyoto, đến giai đoạn 2008-2012 (xem bảng 1) các nước ký NghÞ ®Þnh th­ phải giảm tổng lượng thải GHG 5% so với mức năm 1990 (đối với các nước EU lượng này tương đương với 15 % mức dự đoán của năm 2008). Kết quả tính toán của các nhà khoa học cho thấy gia tăng nhiệt độ trung bình của quả đất sẽ vào khoảng 1,4oC đến 5,8oC. Nếu NghÞ ®Þnh th­ Kyoto được tuân thủ thì số gia tăng đó chỉ còn 0,02oC đến 0,28oC.  NghÞ ®Þnh th­ Kyoto miễn trừ nhiệm vụ giảm GHG cho Trung Quốc và Ấn Độ vì lý do đông dân. Mỹ và Australia rút khỏi NghÞ ®Þnh th­ Kyoto và ký kết một thỏa thuận ngoài NghÞ ®Þnh th­ Kyoto: Thỏa thuận của liên hiệp Châu Á – Thái Bình Dươngvề khí hậu và phát triển sạch (Asia-Pacific Partnership on Clean Development and Climate) cùng với các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật & Hàn Quốc. Thỏa thuận này chỉ dựa trên tinh thần tình nguyện và phát triển công nghệ cao để giảm thiểu phát thải GHG.  NghÞ ®Þnh th­ Kyoto cho phép những “cơ chế mềm dẻo” theo đó một nước thực hiện nhiệm vụ giảm GHG của mình có thể mua lượng giảm GHG của một nước khác thông qua việc chuyển tài chính (như quy định trong Sơ đồ buôn bán phát thải của EU – EU Emisions Trading Scheme) hoặc dưới dạng các dự án có khả năng giảm thiểu phát thải tại nước bán theo Cơ chế Phát triển Sạch (CDM- Clean Development Mechanism)[3].  Hiện trạng phát thải GHG trên thế giới và tại các nước có trách nhiệm giảm thải được trình bày ở các bảng 2 & 4.  Tháng 5 năm 2006 tại Bonn chính quyền bảo thủ vừa lên nắm chính quyền đầu năm nay ở Canada tuyên bố không thực hiện các cam kết của NghÞ ®Þnh th­ Kyoto vì cho rằng  “NghÞ ®Þnh th­ Kyoto đã áp đặt cho Canada những lượng giảm thải không thực tế”. Đây là một đòn đánh mạnh vào NghÞ ®Þnh th­.  Nhiều dư luận cho rằng áp đặt một hệ thống có tính bá quyền (hegemonic) như NghÞ ®Þnh th­ Kyoto trên toàn cầu là một việc không dễ thực hiện nếu không có một động cơ kích thích kinh tế rõ ràng trước mắt.  Một cơ chế có thể dùng làm đòn bẩy cho việc thực hiện NghÞ ®Þnh th­ là Sơ đồ buôn bán phát thải EU (EU  ETS), song dường như sơ đồ này cũng gặp khó khăn (xem bảng 3).  Chỉ có một tín hiệu lạc quan là mặc dầu Mỹ rút khỏi NghÞ ®Þnh th­ Kyoto, nhiều thành phố trong các bang của nước Mỹ tự động có kế hoạch giảm thải GHG theo tinh thần NghÞ ®Þnh th­ Kyoto. Các thành phố lớn đó là: Seattle, New York City, Los Angeles, Chicago, San Francisco, Boston, Denver, New Orleans, Minneapolis, Austin, Portland, Providence, Tacoma, San Jose, Salt Lake City, Little Rock, West Palm Beach, Annapolis, Madison, Wisconsin.  Tỉnh Quebec cũng tuyên bố không theo đường lối của chính quyền bảo thủ Canada trong vấn đề giảm thải GHG.  Dư luận cho rằng NghÞ ®Þnh th­ Kyoto có nguy cơ phá sản vào năm 2012, năm tổng kết tình hình. Lương tri thế giới mong muốn điều ngược lại.  CC biên dịch  Tài liệu tham khảo  [1] Boris Bellanger, Science & Vie, tháng 8,năm 2006  [2] Kyoto protocol, Wikipedia, free encyclopedia  [3] Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism-CDM) là một biện pháp dàn xếp trong khuôn khổ hiệp định Kyoto cho phép các nước  công nghiệp có cam ước giảm thải GHG đầu tư những dự án giảm thải GHG vào các nước phát triển thay vì phải thực hiện những biện pháp giảm thải GHG, vốn tốn kém hơn tại chính nước họ. CDM được giám sát bởi Hội đồng hành chính CDM (CDM Executive Board-CDM EB).  Boris Bellanger      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lá đòng giúp cải thiện hiệu suất quang hợp lúa      Một nhóm nghiên cứu từ Đại học Illinois và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) phát hiện ra rằng một số lá đòng của giống lúa khác nhau có khả năng biến đổi ánh sáng và CO2 thành carbohydrate tốt hơn những loại khác. Phát hiện này có thể mở ra cơ hội lai tạo các giống lúa năng suất cao hơn. Kết quả nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Journal of Experimental Botany ” Variation between rice accessions in photosynthetic induction in flag leaves and underlying mechanisms”.    Ở cây lúa, lá đòng mọc lên cuối cùng, đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn sinh trưởng của cây sang tạo hạt. Quá trình quang hợp ở lá đòng cung cấp phần lớn lượng cacbohydrate cần thiết để làm mẩy hạt, vì vậy nó là loại lá quan trọng nhất để tăng năng suất lúa.     Nghiên cứu này xem xét khả năng cảm ứng của lá đòng – tức quá trình lá “bắt đầu” quang hợp trở lại sau khi chuyển từ ánh sáng yếu sang ánh sáng mạnh. Đây là yếu tố quan trọng vì các điều kiện gió, mây và chuyển động của mặt trời sẽ gây ra những dao động thường xuyên trong các mức độ ánh sáng mà cây tiếp nhận được. Tốc độ thích ứng của quá trình quang hợp trước những biến đổi này sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa.  Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã tiết lộ sự khác biệt đáng kể về khả năng thích ứng của lá đòng ở các giống lúa khác nhau với sự giao động của ánh sáng, cũng như những khác biệt về khả năng thích ứng của lá đòng so với các loại lá hình thành trước khi ra hoa. Họ chọn ra sáu giống đại diện cho khoảng biến đổi di truyền trong bộ sưu tập đa dạng hơn 3000 giống lúa. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu phân tích chúng để xác định xem liệu có sự khác biệt về khả năng đáp ứng với những biến động của ánh sáng hay không.  Họ thấy rằng, lá đòng ở một giống lúa bắt đầu quang hợp nhanh gấp gần hai lần (185%) so với giống chậm nhất. Lá đòng của một giống lúa khác có khả năng cố định đường cao hơn 152% (so với các giống còn lại).  Họ cũng phát hiện ra lượng nước mà lá đòng dùng để trao đổi CO2 nhằm cung cấp nguyên liệu cho quá trình quang hợp có sự chênh lệch lớn (tới 77%) giữa các giống. Ngoài ra, họ cũng phát hiện ra hiệu quả sử dụng nước của lá đòng cũng tương quan với hiệu quả sử dụng nước trong quá trình phát triển của các giống lúa. Điều đó cho thấy, có thể sàng lọc hiệu quả sử dụng nước ở các giai đoạn phát triển sớm của cây.  “Hơn thế nữa, ngoài hiệu quả sử dụng nước, chúng tôi không tìm thấy mối tương quan khác giữa lá đòng và các loại lá khác trên cây, nghĩa là cả hai loại lá đều cần phải được tối ưu về tính cảm ứng”, GS. Stephen Long phụ trách môn Khoa học cây trồng và Sinh học thực vật của ĐH Illinois cho biết. “Mặc dù điều này cho thấy các nhà khoa học và các nhà chọn tạo giống vẫn còn nhiều việc phải làm, nó cũng tạo ra nhiều cơ hội để cải thiện hiệu quả quang hợp và sử dụng nước của cây trồng. Điều này ngày càng quan trọng, vì nông nghiệp chiếm hơn 70% lượng nước con người sử dụng và canh tác lúa có lẽ chiếm nhiều nhất trong số này”.  Kết quả lần này cũng khẳng định kết quả nghiên cứu trước đây của họ trên tạp chí New Phytologist “Start me up; harnessing natural variation in photosynthetic induction to improve crop yield”. Họ không tìm thấy mối tương quan nào giữa dữ liệu thu thập được trong điều kiện ánh sáng thất thường và điều kiện ổn định khi cây lúa tiếp xúc với ánh sáng cao liên tục. Điều này làm tăng thêm sự đồng thuận rằng các nhà khoa học nên tránh xa những nghiên cứu phụ thuộc vào các phép đo trạng thái ổn định.  Liana Acevedo-Siaca, đang làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại ĐH Illinois, cho biết: “Chúng tôi cần những thí nghiệm phản ánh chính xác hơn những gì cây lúa trải qua ngoài đồng ruộng. Chúng tôi sẽ cần tập trung nắm bắt các điều kiện động để cải thiện năng suất trong thực tế chứ không phải trong phòng thí nghiệm.”  Ngô Hà dịch  Theo <a data-cke-saved-href=”http://Ở cây lúa, lá đòng mọc lên cuối cùng, đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn sinh trưởng của cây sang tạo hạt. Quá trình quang hợp ở lá đòng cung cấp phần lớn lượng cacbohydrate cần thiết để làm mẩy hạt, vì vậy nó là loại lá quan trọng nhất để tăng năng suất lúa. Nghiên cứu này xem xét khả năng cảm ứng của lá đòng – tức quá trình lá ” href=”http://Ở cây lúa, lá đòng mọc lên cuối cùng, đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn sinh trưởng của cây sang tạo hạt. Quá trình quang hợp ở lá đòng cung cấp phần lớn lượng cacbohydrate cần thiết để làm mẩy hạt, vì vậy nó là loại lá quan trọng nhất để tăng năng suất lúa. Nghiên cứu này xem xét khả năng cảm ứng của lá đòng – tức quá trình lá ” bắt=”” đầu”=”” quang=”” hợp=”” trở=”” lại=”” sau=”” khi=”” chuyển=”” từ=”” ánh=”” sáng=”” yếu=”” sang=”” mạnh.=”” Đây=”” là=”” tố=”” quan=”” trọng=”” vì=”” các=”” điều=”” kiện=”” gió,=”” mây=”” và=”” động=”” của=”” mặt=”” trời=”” sẽ=”” gây=”” ra=”” những=”” dao=”” thường=”” xuyên=”” trong=”” mức=”” độ=”” mà=”” cây=”” tiếp=”” nhận=”” được.=”” tốc=”” thích=”” ứng=”” quá=”” trình=”” trước=”” biến=”” đổi=”” này=”” ảnh=”” hưởng=”” lớn=”” đến=”” năng=”” suất=”” lúa.=”” lần=”” đầu=”” tiên,=”” nhà=”” nghiên=”” cứu=”” đã=”” tiết=”” lộ=”” sự=”” khác=”” biệt=”” đáng=”” kể=”” về=”” khả=”” lá=”” đòng=”” ở=”” giống=”” lúa=”” nhau=”” với=”” giao=”” sáng,=”” cũng=”” như=”” so=”” loại=”” hình=”” thành=”” hoa.=”” họ=”” chọn=”” sáu=”” đại=”” diện=”” cho=”” khoảng=”” di=”” truyền=”” bộ=”” sưu=”” tập=”” đa=”” dạng=”” hơn=”” 3000=”” trên=”” cơ=”” sở=”” đó,=”” phân=”” tích=”” chúng=”” để=”” xác=”” định=”” xem=”” liệu=”” có=”” đáp=”” hay=”” không.=”” thấy=”” rằng,=”” một=”” nhanh=”” gấp=”” gần=”” hai=”” (185%)=”” chậm=”” nhất.=”” cố=”” đường=”” cao=”” 152%=”” (so=”” còn=”” lại).=”” phát=”” hiện=”” lượng=”” nước=”” dùng=”” trao=”” co2=”” nhằm=”” cung=”” cấp=”” nguyên=”” chênh=”” lệch=”” (tới=”” 77%)=”” giữa=”” giống.=”” ngoài=”” ra,=”” hiệu=”” quả=”” sử=”” dụng=”” tương=”” triển=”” Điều=”” đó=”” thấy,=”” thể=”” sàng=”” lọc=”” giai=”” đoạn=”” sớm=”” cây.=”” “hơn=”” thế=”” nữa,=”” nước,=”” tôi=”” không=”” tìm=”” mối=”” cây,=”” nghĩa=”” cả=”” đều=”” cần=”” phải=”” được=”” tối=”” ưu=”” tính=”” cảm=”” ứng”,=”” gs.=”” stephen=”” long=”” phụ=”” trách=”” môn=”” khoa=”” học=”” trồng=”” sinh=”” thực=”” vật=”” Đh=”” illinois=”” biết.=”” “mặc=”” dù=”” tạo=”” vẫn=”” nhiều=”” việc=”” làm,=”” nó=”” hội=”” cải=”” thiện=”” trồng.=”” ngày=”” càng=”” trọng,=”” nông=”” nghiệp=”” chiếm=”” 70%=”” con=”” người=”” canh=”” tác=”” lẽ=”” nhất=”” số=”” này”.=”” kết=”” khẳng=”” đây=”” tạp=”” chí=”” new=”” phytologist=”” “start=”” me=”” up;=”” harnessing=”” natural=”” variation=”” in=”” photosynthetic=”” induction=”” to=”” improve=”” crop=”” yield”.=”” nào=”” dữ=”” thu=”” thập=”” thất=”” ổn=”” xúc=”” liên=”” tục.=”” làm=”” tăng=”” thêm=”” đồng=”” thuận=”” rằng=”” nên=”” tránh=”” xa=”” thuộc=”” vào=”” phép=”” đo=”” trạng=”” thái=”” định.=”” liana=”” acevedo-siaca,=”” đang=”” tiến=”” sĩ=”” tại=”” illinois,=”” biết:=”” “chúng=”” thí=”” nghiệm=”” phản=”” chính=”” gì=”” trải=”” qua=”” ruộng.=”” trung=”” nắm=”” tế=”” chứ=”” phòng=”” nghiệm.”=”” ngô=”” hà=”” dịch=”” theo=”” https:=”” phys.org=”” news=”” 2020-12-flag-photosynthetic-rice.html”=””>https://phys.org/news/2020-12-flag-photosynthetic-rice.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lại điều tra các nhà khoa học Hàn Quốc      Tuyên bố của một nhóm khoa học Hàn Quốc về việc tạo ra những con sói nhân bản đầu tiên đã bị đưa vào tầm ngắm điều tra của các quan chức trường đại học nơi họ làm việc.    Nhóm nghiên cứu, dẫn đầu là Lee Byeong-chun, là một cộng tác viên trước đây với nhà khoa học bị sa thải Hwang Woo-suk. Năm 2005, Đại học quốc gia Seoul kết luận các tế bào gốc trong nghiên cứu của tiến sĩ Hwang là bịa đặt.  Nhóm nghiên cứu tuyên bố nhân bản chó sói hiện bị nghi ngờ là đã sử dụng các dữ liệu sai để thổi phồng khẳng định của mình.  Theo các điều tra viên của trường, kết quả nghiên cứu có thể đã chứa những thông tin sai lệch về ADN.  Lee Byeong-chun, một giáo sư thú y và là trưởng nhóm nghiên cứu, thông báo tháng trước rằng nhóm của ông đã thành công trong việc nhân bản hai con chó sói, đặt tên là Snuwolf và Snuwolffy. Những con vật này ra đời hồi tháng 10 năm 2005.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lại rơi rụng một “ngôi sao khoa học”      Gi&#225;o sư Scott S. Reuben- Gi&#225;m đốc bộ m&#244;n g&#226;y m&#234; của Trung t&#226;m Y khoa Baystate (bang Illinois, Mỹ), v&#224; trường Y thuộc Đại học Tufts. &#212;ng đ&#227; c&#244;ng bố 72 c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu khoa học tr&#234;n c&#225;c tập san y khoa h&#224;ng đầu trong ng&#224;nh g&#226;y m&#234; như: Anesthesiology, Anesthesia and Analgesia, Journal of Clinical Anesthesia&#8230; V&#236; vậy ng&#224;y 11/3/2009, cộng đồng g&#226;y m&#234; ở Mỹ v&#224; c&#243; lẽ cả thế giới đ&#227; sửng sốt khi Gi&#225;o sư Reuben th&#250; nhận rằng trong suốt từ 1996 đến nay, c&#243; khoảng 21 c&#244;ng tr&#236;nh &#244;ng chỉ giả tạo dữ liệu, chứ chẳng c&#243; nghi&#234;n cứu n&#224;o cả!     Một trong những lĩnh vực nghiên cứu ông theo đuổi và có ảnh hưởng lớn là “trường phái điều trị đa phương” bằng cách sử dụng nhiều thuốc chống đau để giảm tối đa những phẫu thuật mang tính xâm phạm. Từ năm 2000, bằng các nghiên cứu của mình, ông thuyết phục các bác sĩ giải phẫu chấn thương chỉnh hình sử dụng các thuốc như Celebrex, Vioxx, và Bextra để giảm đau (thay vì sử dụng NSAIDs như trước đó). Ông còn cho rằng phối hợp các thuốc trên và thuốc can thiệp hệ thần kinh (neuropathic agents) có hiệu quả cao hơn thuốc mô phỏng theo thuốc phiện (opioids). Có người cho rằng nhờ những nghiên cứu của Reuben mà những thuốc giảm đau như Celebrex, Vioxx có thị trường hàng tỉ USD mỗi năm.  Những nghiên cứu của Reuben đã bị đồng nghiệp đặt dấu hỏi và nghi ngờ từ lâu bởi tất cả kết quả nghiên cứu của ông đều có kết quả quá “đẹp”, chẳng có nghiên cứu nào của ông có kết quả “âm tính” cả! Trong khi đó nhiều người khác cố lặp lại những kết quả này đều thất bại.   Những nghi ngờ của đồng nghiệp trong giới gây mê đã có cơ sở. Ngày 11/3/2009, Giáo sư Reuben thú nhận rằng trong suốt từ 1996 đến nay, có khoảng 21 công trình ông chỉ giả tạo dữ liệu, chứ chẳng có nghiên cứu nào cả!   Giới khoa học xem đây là một trường hợp gian lận khoa học lớn nhất trong lịch sử y khoa Mỹ . Thật vậy, hiếm thấy trong lịch sử y khoa có một nhà khoa học nào ngụy tạo số liệu trong một thời gian dài như thế, và nhờ những ngụy tạo đó mà “leo” đến chức giáo sư y khoa! Chẳng những ngụy tạo dữ liệu, Giáo sư Reuben còn ngụy tạo cả… tác giả. Theo Giáo sư Evan Ekman (chuyên gia phẫu thuật chấn thương chỉnh hình thuộc Đại học Columbia) cho biết tên của ông xuất hiện trong 2 bài báo của Reuben, nhưng ông Ekman chẳng biết gì cả! Thật là hi hữu!              Trong một nghiên cứu trên 4.000 sinh viên bậc tiến sĩ trong 99 trường đại học ở Mỹ, Giáo sư Judith P. Swazey cho biết có đến 44% sinh viên và 50% giáo sư đại học từng biết ít nhất một hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu khoa học. Phần lớn những vi phạm này xảy ra trong các bộ môn khoa học thực nghiệm như sinh học, vật lí, hóa học, v.v… Nhưng vi phạm nhiều nhất vẫn là trong nghiên cứu y khoa.        Trường hợp gian lận của Giáo sư Reuben không phải là trường hợp duy nhất, và chắc chắn sẽ không phải là trường hợp sau cùng. Trong quá khứ đã có nhiều vụ gian lận nổi tiếng, thậm chí có người phải đi tù. Còn nhớ trước đây, vào năm 2004, tiến sĩ Hwang woo-suk tuyên bố rằng ông đã thành công tạo ra dòng tế bào gốc từ phôi thai nhân bản, đem lại biết bao hi vọng cho bệnh nhân nan y, nhưng đến cuối năm 2005, qua nhiều tháng điều tra chúng ta biết rằng ông chỉ ngụy tạo dữ liệu! Năm ngoái, cũng ở Hàn Quốc, Giáo sư Kim Tae kook cũng bị phát giác là ngụy tạo dữ liệu và phân tích dữ liệu trong hai công trình công bố trên tập san Science vào năm 2005 và /Nature Chemical Biology/ vào năm 2006. Trước đó, trường hợp bác sĩ John Darsee cũng gây nhiều tai tiếng trong dư luận công chúng vào thập niên 1980 khi ông, lúc đó là một giáo sư trẻ thuộc Đại học Emory (Atlanta, bang Georgia, Mỹ), công bố một loạt 10 bài báo mà ông đứng tên tác giả đầu. Với thành tích ấn tượng đó, Darsee được thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp khoa bảng, trở thành một nhà khoa học được nhiều đồng nghiệp kính trọng. Nhưng tất cả những bài báo đó là hoàn toàn giả tạo. Nói cách khác, ông đã tạo sự nghiệp dựa vào việc ngụy tạo nghiên cứu trong suốt 10 năm liền!  Một trường hợp giả tạo dữ liệu tinh vi nhất có lẽ là các công trình của bác sĩ Jon Sudbo, chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại học Oslo (Na Uy).  Trong một công trình công bố trên tập san Lancet (đứng hàng thứ 2 trong y khoa) vào năm 2005, Sudbo và 13 cộng sự viên báo cáo rằng họ đã tiến hành một nghiên cứu trên 908 đối tượng, và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAIDs có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư miệng! Phát hiện này thu hút chú ý của các chuyên gia ung thư học bởi vì các loại thuốc NSAIDs được sử dụng rất phổ biến để giảm đau, nhất là đau thấp khớp, và tương đối rẻ, và nếu quả thật thuốc có hiệu quả chống ung thư thì đó là một tin vui cho bệnh nhân: một thuốc mà đạt hai mục tiêu. Nhưng “Trời bất dung gian”, khi một nhà dịch tễ học Na Uy chú ý đến đoạn văn trong bài báo mà Sudbo cho biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu là từ một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc bệnh viện Radium, bởi vì trong thực tế ngân hàng dữ liệu này không hiện hữu! Sau cả năm trời điều tra, Sudbo thú nhận ông giả tạo tất cả các số liệu bằng cách… mô phỏng (simulation)! Khi điều tra lại các số liệu “gốc” (tức giả tạo), người ta mới phát hiện trong số 908 đối tượng ma này, có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh! Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong phân tích, Sudbo đã giả tạo rất tài tình, không để lộ một kẽ hở nào trong số liệu để người bình duyệt có thể đánh dấu hỏi. Tổng biên tập tập san Lancet, Richard Horton, phải công nhận là Sudbo quá thông minh và tinh xảo đến độ ông có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự viên là tác giả của bài báo, qua mặt tất cả các chuyên gia trong ngành đã bình duyệt bài báo, lường gạt luôn cả một chuyên gia thống kê học cũng là người bình duyệt bài báo!  Những trường hợp trên đây cho thấy nhiều nhà khoa học cũng rất “trần ai”, cũng bịp bợm, lưu manh, và phạm tội lường gạt. Họ cũng làm nghiên cứu giả dối, cũng che dấu sự thật, cũng chủ quan, cũng đạo văn, ăn cắp ý tưởng của người khác, cũng bịa đặt số liệu, cũng cố tình vặn vẹo số liệu theo ý muốn mình…   Nhìn người lại nghĩ đến ta   Trung thực và liêm chính là những đặc tính số một trong nghiên cứu khoa học, và công bố bài báo khoa học cũng như giảng dạy là raisons d’être (lí do để tồn tại) của nhà khoa học. Nếu thế giới khoa bảng chỉ gồm những người gian trá và thiếu trung thực thì cái thế giới đó không nên tồn tại. Một nhà khoa học có thể lừa gạt nhiều người trong một lần, hay lừa gạt một người trong nhiều lần, nhưng không thể nào lường gạt nhiều người trong nhiều lần. Khoa học là một ngành nghề được xây dựng và tồn tại dựa trên tinh thần chân thực và liêm chính. Vì thế, khoa học không thể nào dung túng tình trạng thiếu chân thực và vô liêm chính. Chúng ta cần phải truy tìm và đào cho tận gốc những gian lận trong khoa học.  Gian lận trong khoa học xảy ra ở bất cứ nước nào và bất cứ lúc nào. Có khác chăng là các nước tiên tiến có cơ chế xử lí vấn đề đến nơi đến chốn, và có nước (chẳng hạn như nước ta) chưa có cơ chế giải quyết các vấn đề vi phạm đạo đức khoa học, và hệ quả là nhiều vụ việc bị “chìm xuồng”. Nếu trường hợp của Giáo sư Reuben là một kinh nghiệm, tôi nghĩ Việt Nam cần một qui ước về đạo đức khoa học để ngăn ngừa và giải quyết các trường hợp gian lận trong nghiên cứu khoa học.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm chủ công nghệ thiết kế thiết bị vi mạch mã hóa video      Vào giữa tháng năm vừa qua, trường Đại học  Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội đã giới thiệu bộ vi mạch mã hóa video  VENGME H.264/AVC do nhóm nghiên cứu của PGS.TS Trần Xuân Tú thiết kế và  sản xuất.       Theo đánh giá của giới chuyên môn, thành  công này không chỉ  khẳng định khả năng làm chủ công nghệ thiết kế thiết  bị vi mạch của các  nhà khoa học Việt Nam mà còn cho thấy khả năng hợp  tác, chuyển giao công  nghệ với các doanh nghiệp trong lĩnh vực đầy tiềm  năng này.  Làm chủ công nghệ tiên tiến và phát triển sản phẩm ứng dụng   Đề cập đến vi mạch mã hóa video VENGME H.264/AVC, kết quả của hơn ba năm nghiên cứu thiết kế và sản xuất thử nghiệm, PGS.TS Trần Xuân Tú cho biết, anh nung nấu ý tưởng thiết kế các bộ mã hóa video từ năm 2009, khi bắt đầu gây dựng nhóm nghiên cứu ‘Thiết kế mạch tích hợp VLSI’ tại Phòng thí nghiệm mục tiêu Hệ thống tích hợp thông minh (SISLAB), ĐH Công nghệ. Trước tiềm năng ứng dụng của các bộ mã hóa video tại Việt Nam, nhóm chọn chuẩn mã hóa tiên tiến H.264/AVC để hướng tới hai yếu tố quan trọng, nghiên cứu những vấn đề khoa học đạt trình độ cao của thế giới và làm ra sản phẩm có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Vì vậy, nhóm đã bắt tay vào thực hiện đề tài khoa học cấp trường ĐH Quốc gia Hà Nội ‘Nghiên cứu và thiết kế bộ mã hóa video cho các thiết bị đa phương tiện thế hệ mới’, được Hội đồng khoa học trường thông qua vào những ngày cuối năm 2010.   Vào thời điểm đó, H. 264/AVC là chuẩn mã hóa/giải mã video tiên tiến nhất trên thế giới, được trang bị một tập các công cụ mã hóa hiệu quả, cho phép giảm đáng kể lượng thông tin của đoạn video sau mã hóa trong khi vẫn giữ được chất lượng hình ảnh cao. So với các chuẩn về mã hóa video trước, H.264/AVC có thể giảm được lượng tốc độ bit đến 80% nên có khả năng hỗ trợ cho nhiều ứng dụng khác nhau, từ các dịch vụ di động và hội nghị truyền hình, truyền hình số… đến các ứng dụng truyền hình độ phân giải cao, truyền hình IP và các thiết bị lưu trữ số. Là chuẩn công nghiệp được xây dựng rất chặt chẽ, có độ phức tạp cao nên việc đọc và hiểu một cách tường tận các nguyên tắc, quy định của chuẩn H. 246 cũng “đòi hỏi nhiều thời gian đối với nhóm nghiên cứu”, như giải thích của PGS.TS Trần Xuân Tú.    Vì vậy, nhóm nghiên cứu phải tổ chức các khóa đào tạo cho các kỹ sư thiết kế, vốn phải trải qua quá trình từ sáu tháng đến một năm mới nắm bắt được những vấn đề cơ bản về thiết kế vi mạch.            Việc chọn chuẩn có độ phức tạp cao như H.  264 để thiết kế bộ mã hóa video khiến nhóm nghiên cứu phải đối mặt với  nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh nguồn nhân lực chuyên về thiết  kế vi mạch còn rất mỏng bởi khi đó, sinh viên ít có cơ hội tiếp cận  kiến thức về thiết kế điện tử theo hướng hiện đại, chương trình đào tạo  chuyên ngành ở các trường đại học cũng đề cập rất ít đến lĩnh vực này.            Sau hơn ba năm kiên trì theo đuổi hướng triển khai nghiên cứu tiếp cận chuẩn mực quốc tế và gắn liền với thực tiễn Việt Nam, PGS.TS Trần Xuân Tú cùng các thành viên của nhóm nghiên cứu đã thiết kế và chế tạo thành công chíp VENGME H.264/AVC – thiết bị chuyên dụng dùng cho mã hóa video thuộc thế hệ vi mạch đang được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trên thế giới, có độ tích hợp cao với khoảng 2 triệu cổng lô-gic (tương đương 8 triệu transistors) trên diện tích gần 16mm2, được sản xuất với công nghệ CMOS 130 nanômét của hãng Global Foundry. Hướng tới các ứng dụng cho thiết bị di động nên nhóm tập trung giải quyết vấn đề giảm thiểu công suất tiêu thụ nhưng vẫn đảm bảo hiệu năng hoạt động của hệ thống và chất lượng hình ảnh sau nén. Để đạt được yêu cầu này, bên cạnh những phương pháp thiết kế truyền thống, nhóm đã phát triển một số giải pháp tối ưu riêng biệt như: đề xuất kiến trúc xử lý đường ống bốn tầng không cân bằng cho bộ mã hóa; giải pháp tái sử dụng dữ liệu nhằm giảm thiểu quá trình trao đổi dữ liệu giữa hệ thống với bộ nhớ ngoài; kỹ thuật tính toán song song với quá trình truyền dữ liệu giữa các khối cơ bản; kỹ thuật thiết kế công suất thấp. Nhờ đó, so với các sản phẩm cùng lĩnh vực trên thế giới, sản phẩm của nhóm có tính năng vượt trội về hiệu năng, năng lượng tiêu thụ và giá thành thiết kế.    Hướng tới ứng dụng trên camera an ninh, camera giao thông, camera giám sát hiện trường hay camera giám sát tòa nhà, trường học, các địa điểm công cộng… cũng như các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy quay video, VENGME H.264/AVC có khả năng xử lý thời gian thực (real time) các video có độ phân giải lên tới HD 720p ở tần số 100MHz với công suất tiêu thụ khá nhỏ, 53 mW. Không dừng lại ở đây, hiện nhóm đang bắt tay vào thực hiện tối ưu hóa VENGME H.264/AVC để giảm thêm 30% công suất tiêu thụ bằng tập trung nghiên cứu kỹ thuật điều khiển tần số và điện áp thích nghi theo tải hoạt động.    Các nội dung sáng tạo trong phương pháp thiết kế thiết bị VENGME H.264/AVC là cơ sở đem lại cho nhóm nghiên cứu tới 20 bài báo quốc tế, trong đó có 10 bài báo thuộc hệ thống ISI/Scopus và được cộng đồng khoa học quốc tế quan tâm với 26 lần trích dẫn. Thông qua quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã đào tạo được một nghiên cứu sinh và nhiều học viên cao học.    Nghiên cứu bằng nội lực và chủ động hợp tác   Qua quá trình nghiên cứu, nhóm đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học tương đối mạnh gồm trên 20 thành viên, trong đó có ba tiến sỹ, năm nghiên cứu sinh, có khả năng làm chủ được công nghệ thiết kế mạch tích hợp và giải quyết các vấn đề của công nghệ hiện đại. Vì nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ cao nên nhóm chú trọng đến vấn đề mở rộng hợp tác quốc tế nhằm gia tăng tiềm lực cho nhóm như khả năng sử dụng các công cụ thiết kế hay thư viện công nghệ của các hãng phát triển phần mềm và sản xuất vi mạch nổi tiếng thế giới cũng như thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ và sản phẩm nghiên cứu để sản phẩm đến được với thị trường tiêu dùng.    Nhóm nghiên cứu đã chủ động liên hệ, trao đổi về vấn đề hợp tác ứng dụng sản phẩm với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Viettel (Viettel R&D), Công ty Hanel, hay gần đây nhất là Công ty VP9. Tại lễ công bố sản phẩm VENGME H.264/AVC, ĐH Công nghệ và Công ty TNHH Giải pháp Thông minh Sài Gòn đã cùng ký thỏa thuận chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển thiết bị ứng dụng, bắt đầu cho quá trình thương mại hóa sản phẩm, vốn là đích đến của một thiết bị công nghệ.   Thành công của sản phẩm VENGME H.264/AVC được đánh giá là góp phần đem lại cơ hội phát triển cho Việt Nam trong lĩnh vực thiết kế sản xuất vi mạch, sản phẩm mang tính mấu chốt trong công nghiệp điện tử. Để phát triển bền vững lĩnh vực này, theo PGS.TS. Trần Xuân Tú, nhà nước cần chú trọng đầu tư đào tạo nguồn nhân lực hệ thống nhúng và thiết kế điện tử mà việc đầu tiên là thành lập một trung tâm hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo vi mạch có chức năng kết nối các trường/viện với các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các nhà nghiên cứu được phép truy cập bản quyền phần mềm và công cụ thiết kế tiên tiến của thế giới. Việc xây dựng một trung tâm như vậy sẽ cho phép các đơn vị cùng chia sẻ trang thiết bị, tập trung phát triển các nguồn lực và tránh hiện tượng nhà nước đầu tư trùng lặp, gây lãng phí ngân sách. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế đặc biệt về kinh phí cho các nhóm nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu thành công để họ tiếp tục triển khai nhiệm vụ và phát triển các sản phẩm hoàn chỉnh. Khi giải quyết được hai vấn đề cơ bản này, cộng đồng thiết kế thiết bị vi mạch Việt Nam sẽ có nhiều động lực phát triển trong tương lai.           GS.TS. Nguyễn Hữu Đức – Phó Giám đốc ĐH Quốc  gia Hà Nội nhận định, vi mạch là một sản phẩm công nghiệp cơ bản, mấu  chốt trong tất cả các sản phẩm công nghiệp, nhất là công nghiệp điện tử.  Việc chủ động thiết kế được các dòng vi mạch điện tử có chức năng đa  dạng và cập nhật công nghệ hiện đại nhất của thế giới không chỉ giúp  nâng cao giá trị sản phẩm điện tử sản xuất tại Việt Nam với mức lợi  nhuận đến 30%, giảm nhập siêu linh kiện điện tử và giải pháp công nghệ  mà còn đóng góp vào công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho  nền kinh tế tri thức.   Thành công này cũng mở ra hướng làm chủ công nghệ  điện tử phục vụ an ninh quốc phòng, thiết kế và chế tạo các vi mạch điện  tử quan trọng trong hệ thống vũ khí, khí tài quân sự, hệ thống định vị  mục tiêu; bảo mật thông tin. (Nguồn: ĐH Quốc gia Hà Nội)                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm chủ hệ thống máy tính IBM      Sau ngày đất nước thống nhất, những hệ thống máy tính IBM của chính quyền Sài Gòn và Mỹ để lại khá đồ sộ. Cục Máy tính được giao nhiệm vụ cử đoàn cán bộ vào TPHCM để tiếp quản công ty IBM tại đường Gia Long (nay là nhà 26B, phố Lý Tự Trọng, Quận 1).      Một lớp học vi tính thuở sơ khai (năm 1986). Từ những lớp học như thế này, các cán bộ thông tin của ta đã có thể làm chủ dàn máy IBM.  Theo hồi ức của ông Nguyễn Văn Ngô, nguyên cán bộ của Phòng Nghiên cứu Cơ học (Ủy ban KH&KT nhà nước), IBM – công ty máy tính của Mỹ, có mặt ở Việt Nam rất sớm và có trách nhiệm bảo quản, bảo trì, sửa chữa toàn bộ các dàn máy IBM serie 20, 30, 40, 50 tại Sài Gòn, hơn 20 dàn máy tại Sài Gòn lúc đó đa số đều là máy thuê của IBM Mỹ. Do đó, họ đã xây dựng được mạng lưới 24 trung tâm tính toán phục vụ các cơ quan quan trọng của quân đội và kinh tế của miền Nam. Giáo sư Nguyễn Lãm – lúc đó là đại úy, Phụ trách Trung tâm Toán – Máy tính Quân đội, cho biết: “Những người lính kỹ thuật đi cùng đoàn quân giải phóng vào tiếp quản Sài Gòn đã vinh dự được tham gia vào công việc tiếp quản các dàn máy của Mỹ ở miền Nam ngay từ những ngày đầu tiên, trong đó có một dàn máy IBM 360/50 là 1 trong 2 dàn máy lớn nhất, hiện đại nhất không chỉ ở Nam Việt Nam mà tại cả khu vực thời bấy giờ”.  Việc tiếp quản dàn máy tính IBM đã mở ra một cơ hội mới cho các cán bộ kỹ thuật. Khi quân giải phóng tiếp quản, các Trung tâm đó hầu như còn nguyên vẹn, ngoại trừ các hệ thống System 3, mới đặt ở Sài Gòn hơn một năm và hệ UNIVAC của Không lực Việt Nam cộng hòa (đã được đóng gói vận chuyển từ sân bay Biên Hòa về sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng chưa kịp chuyển về Mỹ do tốc độ tiến công của Quân Giải phóng quá nhanh). Do đó, dàn máy tính đã được khôi phục hoạt động trở lại ngay. “Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động thì xuất hiện hai khó khăn lớn: vấn đề thứ nhất là nhân lực. Cục Máy tính đã tổ chức đào tạo, huấn luyện cho các cán bộ của các Trung tâm tính toán thuộc Quân đội và Công an để các trung tâm này tự bảo trì, sửa chữa máy của mình, không phụ thuộc vào nhân viên bảo trì của công ty IBM nữa. Khoảng hai năm sau chúng tôi đã giải quyết được vấn đề nhân lực”, ông Ngô kể.  Tuy nhiên, vấn đề thứ hai khó giải quyết hơn, đó là vấn đề linh kiện phụ tùng thay thế. Sau khi miền Nam giải phóng, Mỹ đã thi hành một chính sách cấm vận rất nghiêm ngặt đối với Việt Nam. Bị phong tỏa kinh tế và không có phụ tùng thay thế, các dàn máy IBM hư hỏng ngày càng nhiều do mạch điện tử bị sự cố và cũng không có nhiều chuyên viên biết sửa máy. Trước tình hình đó, “chúng tôi đã xác định phải tự lực giải quyết vấn đề bằng cách tận dụng kho phụ tùng linh kiện có sẵn. Bằng cách này, chúng tôi đã kéo dài được tuổi thọ cho các dàn máy IBM”, ông Ngô nói. Tuy nhiên việc giải quyết vấn đề theo cách này cũng không còn hiệu quả vào năm 1985 vì cạn kiệt phụ tùng linh kiện thay thế. Hầu hết các Trung tâm IBM đều hoạt động cầm chừng: chỉ hoạt động trung bình 8-10 tiếng một ngày, vài nơi nhờ được Việt kiều Pháp cung cấp phụ tụng linh kiện nên việc duy trì giờ hoạt động nhiều hơn. Rất may, giai đoạn đó lại là thời điểm khởi đầu của một công nghệ máy tính mới – kỹ thuật vi xử lý và máy vi tính! Ông Ngô nhận xét: “Nó đã giải thoát cho chúng ta một thế cờ khó gỡ…”  Đội ngũ cán bộ Trung tâm Máy tính đã khai thác vận hành các máy tính IBM 360/50 phục vụ nhiều công việc, ví dụ như để quản lý cán bộ Khoa học Kỹ thuật, tổ chức công tác tuyển sinh đại học; xử lý các số liệu khai thác thăm dò dầu khí ngay tại Việt Nam mà không phải đưa sang Liên Xô xử lý. “Trên các dàn máy IBM 360/50, 360/40 (trước đây Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn dùng để quản lý quân nhân của chính quyền Sài Gòn), cán bộ Trung tâm Máy tính đã làm chủ và khai thác các cơ sở dữ liệu của Chính quyền cũ để phục vụ cho các công việc sau tiếp quản…”, giáo sư Nguyễn Lãm nhấn mạnh.  —  Xin trân trọng cảm ơn TS Thái Lê Thắng, chủ biến cuốn sách “Nửa thế kỷ CNTT Việt Nam – Dấu ấn người lính” đã cung cấp thông tin, góp ý và biên tập bài viết này.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/cong-nghe/lam-chu-he-thong-may-tinh-ibm/20200427040447286p1c859.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm gì để phát triển tạp chí KHXH&NV theo chuẩn mực quốc tế?      Thời gian gần đây đã có nhiều đại học, cơ quan nghiên cứu thảo luận, đưa vào chương trình nghị sự việc nâng cấp chất lượng tạp chí KHXH&NV đạt chuẩn quốc tế. Trong bài viết này, trên cơ sở quan sát và hiểu biết cá nhân, chúng tôi thử phân tích những điểm yếu của các tạp chí khoa học xã hội nhân văn và đề xuất một vài kiến nghị cụ thể nhằm cải thiện chất lượng của các tạp chí này theo các chuẩn mực quốc tế.        Chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải tiến đến phổ thông hóa loại hình “tạp chí theo chuẩn quốc tế” trong khi phấn đấu để tiến đến xây dựng một số “tạp chí quốc tế” thuộc danh mục ISI và Scopus. Tuy nhiên, cũng không thể làm đại trà loại hình tạp chí quốc tế được vì cần có nguồn lực về con người, về vật chất và tạo được mạng lưới liên kết, hợp tác quốc tế với các học giả và cơ quan xuất bản quốc tế. Trong điều kiện hầu hết các cơ quan khoa học mạnh ở nước ta đều đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước nên việc đầu tư hay hỗ trợ có trọng điểm cho một hai tạp chí phát triển thành “tạp chí quốc tế” sẽ khả thi hơn. Mặt khác, cần đặt ra một lộ trình và có những yêu cầu bắt buộc đối với các tạp chí khoa học còn lại phải “quốc tế hóa” quy trình tuyển bài, bình duyệt, và các yêu cầu kỹ thuật trong xuất bản tạp chí khoa học.     Những “tử huyệt” của các tạp chí KHXH&NV ở nước ta hiện nay  Cho đến nay, các tạp chí về KHXH&NV vẫn được xếp vào nhóm báo chí, và  công tác xuất bản của tạp chí được xem như hoạt động tuyên truyền văn hóa, chính trị và xã hội. Những người làm công tác biên tập của tạp chí được cấp thẻ phóng viên và chịu sự quản lý nghiệp vụ báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông. Thực ra, hoạt động nghiên cứu và công bố khoa học không giống như hoạt động tuyên truyền, bởi thuật ngữ tuyên truyền (Propaganda) có ngụ ý cung cấp thông tin một chiều nhằm thuyết phục người khác, trong khi tính minh bạch thông tin lại không rõ ràng. Thông tin trong khoa học, ngược lại, phải minh bạch, nhiều chiều và có tính tranh luận, phê bình. Tình trạng tréo ngoe như vậy làm ta thấy đôi khi có những tạp chí khoa học không khác tạp chí tuyên truyền minh họa là mấy.  Tình trạng lưỡng nan như nói ở trên, cùng với các ràng buộc khác, đã đặt các tạp chí khoa học và các nhà nghiên cứu xã hội nhân văn trước một số vấn nạn, mà chúng tôi có thể gọi là những “tử huyệt” của khoa học xã hội, nếu không vượt qua được thì không thể hy vọng có các tạp chí chuẩn quốc tế. Ít nhất, có năm vấn đề sau đây cần được nêu lên để thảo luận.  Thứ nhất, điểm yếu về nội dung của bài vở trên các tạp chí khoa học xã hội thường thấy là tình trạng nghèo nàn về nội dung, nặng về minh họa, kém thuyết phục về phương pháp thường không cập nhật được tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề mình đang nói tới, và hậu quả là không hội nhập được nghiên cứu của mình vào dòng chảy học thuật chung, có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu mà mình đang theo đuổi. Tình trạng này gây ra ba hệ quả trầm trọng. Một là nó làm cho nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của ta giống như đang diễn ra trong ao làng, mình viết mình đọc, mình tự khen nhau mà không thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Hai là nó không làm nổi bật được đóng góp mới của nghiên cứu do thiếu khảo cứu và cập nhật tình hình nghiên cứu của những học giả khác trong và ngoài nước về cùng chủ đề. Thậm chí có những chủ đề đã được nghiên cứu và công bố từ lâu ở nước ngoài nhưng trong nước không biết và không cập nhật. Và ba là nó không khuyến khích tạo ra các tranh luận khoa học để tìm ra phát hiện mới. Cần phải nhấn mạnh rằng trong KHXH&NV, nếu không có tranh luận và phê bình học thuật được xây dựng trên cơ sở những cứ liệu vững chắc thì khó có những phát hiện mới.    Thời gian qua, nhiều đơn vị đã tổ chức các hội thảo bàn về việc xây dựng tạp chí KHXH&NV theo chuẩn quốc tế. Ảnh: Hội thảo “Hình thức trình bày tạp chí theo chuẩn quốc tế” do Liên chi hội nhà báo Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tổ chức. Trong ảnh: PGS.TS. Phạm Minh Phúc, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức – Cán bộ trình bày báo cáo quy định mới về cấp, đổi thẻ Nhà báo. Nguồn: vass.gov.vn.  Thứ hai, công tác tuyển chọn bài vở và bình duyệt được làm có tính hình thức và không tuân thủ các nguyên tắc bình duyệt theo chuẩn mực, hoặc không có những chuẩn mực rõ ràng. Hầu hết các bài báo được lựa chọn trên cơ sở cảm tính, và chỉ được bình duyệt nội bộ (internal review), đôi khi chỉ là ý kiến của người quản lý tạp chí, chứ không phải là sự bình duyệt kín của các đồng nghiệp có chuyên môn sâu ở bên ngoài tạp chí (external/blind/peer review).1Một số tạp chí gần đây đã cố gắng gửi bài cho người bình duyệt bên ngoài tạp chí nhưng các bài bình duyệt này thường có xu hướng góp ý về kỹ thuật, thiếu tính phê phán và đề xuất hướng nâng cao chất lượng học thuật của bài báo. Bài vở được bình duyệt qua loa làm cho trạng thái hời hợt không được cải thiện nhiều sau khi gửi đăng.      Thảo luận công khai minh bạch trên tinh thần khoa học thay vì ngấm ngầm né tránh hoặc phê phán cực đoan thiếu khoa học sẽ giúp chúng ta có thể đứng vững trên đôi vai của thần công lý.      Thứ ba, các bài báo khoa học thường coi nhẹ việc trích dẫn khoa học, cả về mặt đạo đức nghề nghiệp và kỹ thuật trích dẫn. Vì nhiều lý do mà người biên tập thường khuyên cắt bớt phần thư mục hoặc các chú thích. Các quy định trích dẫn tài liệu của các tạp chí quá đa dạng, không theo nguyên tắc hay thông lệ chung của thế giới. Chẳng hạn như quy định về trích dẫn tài liệu khoa học cho nghiên cứu sinh và sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn duy trì hình thức mở ngoặc vuông, đánh số tài liệu tham khảo và số trang. Cách làm này rất bất tiện, khi thêm bớt tài liệu tham khảo lại phải đánh số lại, ít thông tin, hay nhầm lẫn, và không có tạp chí khoa học nào trên thế giới còn làm theo cách này. Ngoài ra, chúng ta vẫn chưa có các quy định về đạo đức nghề nghiệp khi dẫn nguồn tin, khai báo tên người cấp tin, và tính minh bạch thông tin. Các hội nghề nghiệp như Liên hiệp hội Khoa học và các Hội khoa học dường như vẫn đang đứng ngoài cuộc và ít can dự vào vấn đề như đạo đức nghề nghiệp của hội viên mà để mặc chính quyền xử lý.  Thứ tư, có những lo ngại hiển nhiên về những vấn đề bị coi là “nhạy cảm chính trị” hoặc “bí mật quốc gia” ở cả phía các nhà nghiên cứu và phía các tạp chí khoa học. Có những vấn đề khoa học quan trọng nhưng lại bị né tránh do lo sợ bị dán nhãn “nhạy cảm chính trị”. Có những lĩnh vực nghiên cứu thậm chí còn không có chuyên gia do bị né tránh quá lâu. Chẳng hạn, đến nay trong dân tộc học Việt Nam hầu như không còn chuyên gia có hiểu biết sâu về người Hoa do các nhà nghiên cứu e ngại chủ đề có thể nhạy cảm và dễ bị phiền toái, khó công bố. Vấn đề thường hay được nêu lên nhất trong các thảo luận gần đây về viết bài công bố quốc tế là xung đột giữa tự do học thuật và những phát biểu bị coi là nhạy cảm chính trị. Cần phải thừa nhận tự do học thuật là nguyên tắc tối thượng trong sáng tạo khoa học. Nhưng điều đó không có nghĩa là tự do nói xấu, xuyên tạc hay đi ngược lại lợi ích của đất nước. Các vấn đề nghiên cứu phải được giải quyết và đối xử trên tinh thần khoa học. Thực ra, việc thiên kiến chính trị là khó tránh khỏi, thậm chí ở ngay cả những tạp chí thuộc nhóm ISI/Scopus2. Trong KHXH&NV, mối liên hệ chặt chẽ giữa quan điểm chính trị và học thuật rất khó tách bạch, bởi các nhà nghiên cứu hay các tạp chí khoa học đều chịu chi phối bởi một tư tưởng chính trị nào đó. Nhưng vấn đề là thái độ ứng xử của chúng ta trước những thiên kiến đó như thế nào. Thảo luận công khai minh bạch trên tinh thần khoa học thay vì ngấm ngầm né tránh hoặc phê phán cực đoan thiếu khoa học sẽ giúp chúng ta có thể đứng vững trên đôi vai của thần công lý.      Muốn tạo cơ sở bền vững cho các tạp chí chuẩn mực quốc tế, phải bắt đầu công tác đào tạo ngay từ bây giờ ở tất cả các bậc đại học và sau đại học trong đó chú trọng rèn luyện cho sinh viên phương pháp nghiên cứu khoa học và các kỹ năng thực hành nghiên cứu, viết bài, tranh luận khoa học và trích dẫn tài liệu theo thông lệ quốc tế.      Thứ năm, có một thực tế là vai trò của các hội đồng biên tập của các tạp chí rất mờ nhạt trong khi người biên tập lại có thể tự cho mình cái quyền cắt xén, thêm thắt, sửa chữa cho bài viết phù hợp tư tưởng của tạp chí mà ít khi tham khảo ý kiến tác giả. Việc biên tập kỹ thuật và nội dung thường hay bị bỏ qua và đôi khi người biên tập chỉ làm mỗi việc sửa chính tả và ngôn từ. Nhìn vào danh sách hội đồng của các tạp chí, chúng ta thường thấy tên tuổi của nhiều nhà khoa học uy tín, nhưng đôi khi chính họ cho biết hội đồng chỉ có tính hình thức. Có những học giả nổi tiếng thế giới đã thẳng thắn chia sẻ với một tạp chí: Tôi đồng ý tham gia vào hội đồng biên tập (Tạp chí KHXH&NV, trường ĐH KHXH&NV) nhưng “Đừng nghĩ đưa tên của tôi vào thì sẽ làm uy tín của tạp chí tăng lên”. Một học giả khác có tên trong hội đồng cũng chỉ ra tính hình thức của danh sách: “Tôi thi thoảng nhận được yêu cầu bình duyệt, nhưng chưa bao giờ nhận được lời đề nghị nào về tham gia đóng góp ý kiến xây dựng tạp chí, có lẽ là do ban biên tập muốn “giữ mọi thứ trong tầm kiểm soát”. Ông giải thích thêm rằng các tạp chí khoa học Việt Nam được dẫn dắt bởi một hệ thống quản lý nhà nước mà các nhà khoa học, nhất là người nước ngoài, không thể can thiệp được.       Khảo sát nghiên cứu của nhóm nhà khảo cổ Việt Nam và quốc tế trong đề tài nghiên cứu Phân tích ADN người cổ đại ở Đông Nam Á. Nguồn ảnh: Lorna Tilley, Australian National University.  Giải pháp nào để hướng đến tạp chí chuẩn quốc tế và tạp chí quốc tế?      Các tạp chí khoa học cần phải được tách ra khỏi hệ thống tuyên truyền của báo chí và có cơ chế quản l˝ thích hợp để đảm bảo tôn trọng tuyệt đối tự do học thuật và các tạp chí, với tư cách là cơ quan truyền bá tri thức khoa học không bị chi phối bởi thiên kiến chính trị và lợi ích nhóm.      Từ những “tử huyệt” của tạp chí KHXH&NV nói trên, chúng tôi xin nêu một số gợi ý để tham góp vào các cuộc thảo luận của giới khoa học nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp, phát triển tạp chí khoa học Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế.  Trước hết, chúng tôi cho rằng muốn tạo cơ sở bền vững cho các tạp chí chuẩn mực quốc tế, phải bắt đầu ngay từ bây giờ công tác đào tạo ở tất cả các bậc đại học và sau đại học trong đó chú trọng rèn luyện cho sinh viên phương pháp nghiên cứu khoa học và các kỹ năng thực hành nghiên cứu, viết bài, tranh luận khoa học và trích dẫn tài liệu theo thông lệ quốc tế. Như đã chỉ ra ở trên, có những quy định về trích dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, trong khi ở nhiều trường đại học, việc trau dồi kỹ năng phương pháp chưa được chú trọng. Khi các trường đại học chuyển dịch theo hướng đại học nghiên cứu thì việc dịch chuyển phương pháp đào tạo trên cơ sở project-based learning cho sinh viên các năm cuối là một phương pháp thích hợp để tạo thói quen tư duy và kỹ năng thu thập thông tin và phân tích. Cách đào tạo của các ngành KHXH&NV hiện nay vẫn nặng về thuyết giảng mà không chú trọng các kỹ năng nghiên cứu.  Thứ hai, cần thiết phải xây dựng một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp (ethic code) và đưa vào giảng dạy ở các đại học định hướng nghiên cứu (research-oriented-university), các bậc học sau đại học và phổ biến trong giới nghiên cứu về các nguyên tắc trích dẫn khoa học, bảo vệ người cấp tin, và minh bạch thông tin. Cần vận động và tạo cơ chế cho các hội đoàn nghề nghiệp như Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật và các hội chuyên ngành tham gia sâu hơn vào việc tạo ra bầu không khí học thuật lành mạnh thay vì trông chờ ở các cấp chính quyền và cơ quan nhà nước.  Thứ ba, các tạp chí khoa học cần phải được tách ra khỏi hệ thống tuyên truyền của báo chí và có cơ chế quản lý thích hợp để đảm bảo tôn trọng tuyệt đối khách quan học thuật và các tạp chí, với tư cách là cơ quan truyền bá tri thức khoa học không bị chi phối bởi thiên kiến chính trị và lợi ích nhóm. Điều này không có nghĩa là khoa học thoát ly khỏi chính trị, mà là đảm bảo cho khoa học phát huy được tốt hơn vai trò của nó đối với xã hội.  Thứ tư, mỗi tạp chí cần tập hợp được một hội đồng biên tập có năng lực, nhiệt tình, làm việc trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí và chuẩn mực của một tạp chí quốc tế. Thêm nữa, tạp chí cần chủ động mở rộng mạng lưới tác giả để có nguồn bài vở phong phú, đa dạng, được tạo ra từ những công trình khoa học thực sự nghiêm túc thay vì ngồi chờ tác giả gửi bài tới như hiện nay. Thành viên hội động biên tập nên có sự tham gia của học giả trong và ngoài nước, và những nhà nghiên cứu có kinh nghiệm làm việc ở tầm quốc tế. Có cơ chế khuyến khích những tên tuổi khoa học có uy tín trong và ngoài nước tham gia viết bài cho tạp chí và lôi cuốn được học giả nước ngoài tham gia biên tập và bình duyệt.  Thứ năm, cần tổ chức xếp hạng tạp chí theo định kỳ thay vì lập một danh mục các tạp chí với những tiêu chí còn mơ hồ và ít thay đổi như hiện nay. Việc xếp hạng không nên giao cho một cơ quan nhà nước mà nên do Hội Liên hiệp các khoa học chủ trì, với sự tham gia của các nhà khoa học có chuyên môn sâu trong và ngoài nước. Cần thiết phải tạo ra một bộ tiêu chí và quy chuẩn của tạp chí khoa học theo chuẩn mực quốc tế và các tạp chí cần được đánh giá và xếp hạng theo những chuẩn mực này thay vì những chuẩn mực riêng lẻ, có tính địa phương.  Thứ sáu, khuyến khích các tạp chí trong nước hợp tác xuất bản với các cơ quan, tổ chức khoa học có uy tín của nước ngoài. Sự hợp tác có thể thực hiện ở nhiều cấp độ, như mời học giả viết bài theo chuyên đề, mời các học giả có uy tín thế giới làm guest editor cho các số chuyên đề của tạp chí cho đến ký kết các hiệp định hợp tác xuất bản với một cơ quan xuất bản quốc tế có uy tín.     Thứ bảy, các tạp chí cần mở rộng hình thức bài vở, thay vì chỉ tập trung vào các bài viết có tính học thuật như hiện nay. Ngoài mục đưa tin các hoạt động khoa học trong nước và trên thế giới, cần mở một phần điểm sách (literature review) trong nước và quốc tế để giới thiệu những nghiên cứu mới. Mục này hầu hết các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới đều làm, vì nó liên kết đọc giả, nhà nghiên cứu với cộng đồng học thuật, và khuyến khích họ quan tâm đến những phê bình góp ý của tạp chí. Một số tạp chí của ta hiện nay cũng có mục này, nhưng nghèo nàn về thông tin và còn vu vơ trong nhận xét đánh giá, phê bình, góp ý, do đó chưa tạo được sự kết nối và quan tâm của giới học thuật.  Cuối cùng, cần có quy chế và chính sách khuyến khích công bố trực tuyến theo hình thức open access để phổ biến tri thức khoa học ra cộng đồng học thuật. Nên học hỏi kinh nghiệm xây dựng hệ thống công bố mở của Nhật Bản J-STAGE, trên cơ sở đăng ký dữ liệu VCI và ACI. Các tạp chí khoa học xã hội của chúng ta hiện nay chủ yếu vẫn đang hoạt động theo cơ chế bao cấp, với kinh phí được nhà nước rót vào hằng năm, và hầu như chưa có tạp chí nào sống được từ nguồn bán tạp chí. Vấn đề quan trọng của khoa học xã hội là tác động xã hội. Việc tạo hệ thống công bố trực tuyến theo quy chế chặt chẽ chắc chắn sẽ giúp mở mang ảnh hưởng và góp phần làm tăng trích dẫn khoa học của các tạp chí.  —–  Chú thích:  1 Trần Mạnh Tuấn (2016). Nâng cao chất lượng Tạp chí Khoa học Xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế. Bài viết trình bày tại hội thảo Viện HLKHXH Việt Nam, 20/6/2016. Tài liệu lưu tại Viện thông tin Khoa học Xã hội, VASS.  2 Chẳng hạn, Daniel Klein và Eric Chiang (2004) đã báo cáo kết quả khảo sát chỉ số trích dẫn các tạp chí khoa học xã hội thuộc hệ thống ISI (Social Sciences Citation Index) và cho biết có biểu hiện của xu hướng thiên vị tư tưởng chính trị (Daniel Klein and Eric Chiang. The Social Science Citation Index: A Black Box—with an Ideological Bias? Econ Journal Watch, Volume 1, Number 1, April 2004, pp 134–165). Trong khi đó Albach Philip lại báo cáo xu hướng thiên kiến với các tạp chí ngoài tiếng Anh (Albach Philip (2005). “Academic Challenges: The American Professoriate in Comparative Perspective”. The Professoriate: Profile of a Profession. Dortrecht: Springer. pp. 147–165)          Author                Phạm Quang Minh, Nguyễn Văn Chính        
__label__tiasang Làm giàu từ khả năng tích hợp công nghệ      Chiếm gần 30% thị phần cột bơm xăng dầu điện tử trong nước, tham gia xấp xỉ 300 dự án lớn trong các lĩnh vực tự động hoá và xử lý nước thải, là một trong những công ty Việt Nam tiên phong trong việc sản xuất nhiều loại thiết bị đo lường công nghiệp và các loại công nghệ xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt …, tất cả những cố gắng trên đã mang lại cho Công ty kỹ thuật SEEN (SEEN Technologies Corporation) doanh thu hơn 100 tỉ đồng/năm. Tuy nhiên, tất cả dường như mới chỉ bắt đầu vì thị trường trước mắt đối với doanh nghiệp khoa học công nghệ này vẫn còn “mênh mông”-theo lời của Tổng giám đốc Lê Đức Bảo.    Thay thế và… đẩy bật hàng ngoại  Cuộc chiến khốc liệt giữa SEEN và các tên tuổi lớn của Hàn Quốc trên thị trường cột bơm xăng dầu điện tử cách đây vài năm chắc chắn không bao giờ phai nhòa trong ký ức của cán bộ, công nhân viên công ty. “Để chiếm lĩnh thị trường, các công ty nước ngoài thậm chí hạ giá xuống xấp xỉ với sản phẩm của chúng tôi, vốn có giá thành chỉ bằng 1/3 của họ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã có cách để không chỉ chiếm giữ mà còn tiếp tục phát triển thị trường”, Ông Bảo nhớ lại. Kết cục, các công ty này đã rút khỏi thị trường bởi không thể tiếp tục cạnh tranh với SEEN. Hiện chỉ còn lại các cột bơm xăng dầu của Nhật trong hệ thống các trạm bán xăng dầu của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Hầu hết thị trường bên ngoài, các trạm xăng tư nhân đều dùng hàng của SEEN. Đó ít nhất cũng là một thành công lớn và niềm tự hào của toàn bộ công ty. Theo ông Bảo, bí quyết chính vẫn là chất lượng sản phẩm được kiểm chứng qua thời gian cộng với mẫu mã đẹp, giá thành cạnh tranh và mạng lưới bảo hành 24/24 trên toàn quốc .  Một trong những mục tiêu chính mà SEEN đeo đuổi là tạo ra các công nghệ và sản phẩm thay thế hàng ngoại nhập. Để làm được điều này, lực lượng lao động được coi là “kho báu” đối với công ty. 140 kỹ sư, phần lớn tốt nghiệp từ Đại học Bách khoa, chính là những người phát triển khả năng sáng tạo của SEEN. “Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu, tiến tới làm chủ công nghệ và chuyển giao những công nghệ này cho các nhà máy”, ông Bảo nói. Hướng đi của SEEN thực ra cũng khá đơn giản. Đối với những công nghệ khó, công ty sẵn sàng đầu tư lớn để mua các bí quyết công nghệ ở đoạn công nghệ  khó nhất mà Việt Nam chưa thể hoặc không thể nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu và chuyên viên kỹ thuật của công ty làm nhiệm vụ tích hợp công nghệ. Từ đó tạo ra các giá trị gia tăng hoặc sản phẩm mới từ công nghệ hoặc đoạn công nghệ cũ.  Xử lý nước thải là một thành công của SEEN trong lĩnh vực nghiên cứu, triển khai và chuyển giao công nghệ. Đầu năm 2006, SEEN đã cùng Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội (Urenco) tổ chức lễ khánh thành Trạm xử lý nước rác Nam Sơn. Trạm có tổng mức đầu tư khoảng hơn 20 tỉ đồng (1,3 triệu USD), do SEEN là nhà thầu EPC. Ông Bảo cho biết: “Giá thành của trạm xử lý nước thải này chỉ bằng 1/10 so với giá trị dự án xử lý nước thải sinh hoạt công suất 3.500m3/ngày ở Trúc Bạch (Hà Nội) mà một công ty của Nhật xây dưng bằng vốn ODA .Trong khi công suất trạm xử lý nước thải của chúng tôi nếu quy chiếu theo chỉ số ô nhiễm BOD, COD của nước thải sinh hoạt thì công suất tương đương 75.000m3 / ngày ,còn lớn hơn nhiều lần”. Các cán bộ, công nhân kỹ thuật của SEEN hiện đang bận rộn với các dự án xử lý nước thải khác ở Khu Công nghiệp Biên Hoà II., Khu Công nghiệp Long thành – Đồng Nai, Khu Công nghiệp Tân Đông Hiệp–Bình Dương, Khu Công nghệ cao-TP. HCM và hàng chục các nhà máy công nghiệp khác.  Tuy nhiên, không phải sản phẩm nào của công ty cũng ngay lập tức thành công. Sản phẩm công tơ điện tử vừa hoàn thiện thì xảy ra vụ xì căng đan “điện kế điện tử chất lượng kém” tại TP HCM. Khách hàng dường như mất lòng tin đối với các loại công tơ điện tử sản xuất tại Việt Nam. Khoản đầu tư khoảng 1 triệu đô la như vậy bị “đóng băng”. Mặc dù vậy, lãnh đạo của công ty vẫn khá lạc quan: “Với chất lượng và uy tín đã có được, chúng tôi tin tưởng sẽ vượt qua các khó khăn trong năm 2006 này”, ông Bảo nói.  Con đường không bằng phẳng  Tốc độ tăng trưởng của SEEN trong những năm gần đây khá ấn tượng. Doanh số năm 2004 của công ty đạt khoảng 100 tỉ đồng thì doanh số ước tính 2005 đã tăng lên gần gấp đôi: khoảng 180 tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng trung bình vài năm vừa qua của SEEN, theo ông Bảo là khoảng 30%/năm. Thành công có được ấy đã phải dựa trên rất nhiều gian truân, khó khăn từ những ngày đầu khởi sự.                     Ông Bảo kể: trước, khi còn làm trong viện nghiên cứu của nhà nước, mình cũng có 1 bằng sáng chế (thiết bị đo từ xa đối với các bể dầu). Nhưng khổ nỗi lúc đó nghiên cứu cũng chỉ là để “khẳng định mình”, chứ không đi tới được sản phẩm cuối cùng. Tới năm 1994 thì mình theo bạn bè ra làm ngoài. Lúc đầu cũng tưởng “ngon ăn”, ai ngờ khó khăn chồng chất. Vài trăm triệu tiền của gia đình giành dụm được, lúc đó cũng khá lớn nhưng đổ vào nghiên cứu “vèo cái là hết”. Khó khăn lớn tới mức ảnh hưởng cả tới sức khỏe, có tuần 7 ngày thì ốm tới 4 ngày. Những sản phẩm đầu tiên làm ra mình phải tự đem đi chào bán. Đến năm 1997, Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Công trình SEEN chính thức ra đời. SEEN là từ viết tắt tiếng Anh của “Science for Electronicand and ENvironment”. Ngoài ra, theo ẩn ý của một thành viên sáng lập lớn tuổi, SEEN – phân từ quá khứ 2 của động từ See (nhìn – tiếng Anh) còn mang hàm nghĩa “biết nhìn trước, nhìn sau”. Thành công của sản phẩm đầu tiên là cột bơm xăng điện tử đã dẫn tới việc SEEN tiếp tục đi vào sản xuất các sản phẩm tự động hóa như thiết bị đo và điều khiển công nghiệp, bộ điều khiển hệ số công suất, thiết bị xử lý nước thải công nghiệp ,Trạm quan trắc môi trường tự động và công tơ điện tử ba pha…  Sự phát triển của thị trường đã buộc SEEN phải có một tổ chức hợp lý hơn. Năm 1999 đánh dấu sự ra đời của Công ty Cổ phần Kỹ thuật SEEN trong đó cổ đông lớn nhất vẫn là Liên hiệp kỹ thuật công trình SEEN. Cái tên SEEN được giữ lại cho công ty mới thành lập vì giờ nó đã trở thành một “thương hiệu” nhiều người biết đến. Chỉ có sự phân vai là khác đi: Liên hiệp kỹ thuật công trình vẫn tiếp tục giữ vai trò nghiên cứu và phát triển công nghệ, còn công ty đảm nhiệm việc sản xuất và khâu thị trường. Ông Bảo giải thích: “Vai trò của quản lý ngày càng thay đổi, sau khi có sản phẩm, thị trường thì điều quan trọng nhất là phải vận hành toàn bộ hệ thống ra sao cho hiệu quả. Chính vì vậy chúng tôi đã áp dụng mô hình mới như trên”.  Thành công của SEEN dựa vào nhiều yếu tố, trong đó, chủ lực nhất vẫn là một công ty đi lên từ sản xuất sẽ có một cơ sở bền vững nhiều hơn so với các công ty thương mại. Trong nội bộ, công ty đã xây dựng được một “văn hóa” riêng cho mình dựa trên chính sách đãi ngộ sòng phẳng, tạo điều kiện phát triển đối với những người tài và động viên, khích lệ đúng lúc, đúng chỗ với các cán bộ, công nhân viên trong công ty.  Ông Bảo cho biết: “Không trả lương cao thì khó mà có thể giữ được người giỏi. Vì vậy, riêng quĩ lương thưởng của công ty hàng năm đã lên tới gần 1 triệu đô la.  Trong điều kiện mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ vẫn còn nằm trên giấy tờ thì thực tế trên cả nước đã có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động rất hiệu quả trong lĩnh vực nghiên cứu, triển khai công nghệ. Tuy phải mày mò, vận lộn với thị trường nhưng do tiên phong trên những mảnh đất ít người khai thác nên khả năng thành công của những công ty này khá lớn. SEEN thực ra cũng chỉ là một trong số đó. Vấn đề chính của những người tiên phong là “phải biết dũng cảm để rút chân ra khỏi cơ chế nhà nước vốn khá trơ ì, ít năng động để ra ngoài tìm hướng đi mới cho chính mình”, TGĐ Bảo kết luận.      Thanh Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm khoa học vì yêu cầu của đất nước      Kết thúc bài phát biểu trong Lễ kỷ niệm 90 ngày sinh của GS. Lê Văn Thiêm tổ chức tại Viện toán ngày 28/3/2008, GS. Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán, đã dẫn câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Anh Lê Văn Thiêm qua đời càng làm nổi bật tầm vóc và sự cống hiến của nhà toán học và người chiến sỹ cộng sản Lê Văn Thiêm”.`    Sự thành danh của GS. Lê Văn Thiêm trên con đường vươn tới những đỉnh cao khoa học, theo GS. Hoàng Tụy, là cộng hưởng của ba yếu tố: niềm say mê toán học không dứt, tài năng thiên bẩm và mong muốn được cống hiến. Hội đủ cả ba tố chất đó khiến “ở tuổi 30, chàng trai đó nghiễm nhiên đã trở thành một bậc thầy toán học”(GS. Tạ Quang Bửu). Và thực tế, mới ở tuổi đời khoa học còn rất trẻ, nhưng chàng thanh niên Lê Văn Thiêm đã đưa ra lời giải đầu tiên cho Bài toán ngược của lý thuyết Nevanlina, một lý thuyết được coi là đẹp đẽ nhất của giải tích toán học đương đại. Không chỉ dừng lại ở việc chứng minh sự tồn tại nghiệm của bài toán ngược trong những tình huống tổng quát hơn so với công trình của Nevanlina, mà ông đã lần đầu tiên đưa công cụ ánh xạ á bảo giác và không gian Teichmuler vào việc giải bài toán ngược. Tư tưởng đó của GS. Lê Văn Thiêm đã được nhiều nhà toán học nổi tiếng khác như Goldberg, Weitsman, Drasin sử dụng để tiếp tục thu được những kết quả mới của bài toán này. Còn theo GS. Hà Huy Khoái, “Ngày nay, hầu như cuốn sách nào về hàm phân hình, khi nói đến lý thuyết Nevanlina, đều nhắc đến công trình đầu tiên của Lê Văn Thiêm. Không phải nhà khoa học nào đều có cái vinh dự được nhắc đến kết quả của mình hơn 60 năm sau”.  Đang sống trong tháp ngà khoa học, nhưng cách đó một phần tư vòng địa cầu là Tổ quốc đang rền vang tiếng súng của cuộc chiến tranh vệ quốc, theo tiếng gọi của Hồ Chủ Tịch, chàng thanh niên Lê Văn Thiêm đã chọn con đường về nước. Ở thời điểm “bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước” một quyết định như thế quả là khó khăn. Có ý kiến cho rằng, nếu GS. Lê Văn Thiêm tiếp tục ở lại châu Âu thì có lẽ ông sẽ trở thành người đầu tiên giải trọn vẹn bài toán ngược Nevanlina, nhưng ông đã chọn con đường trở về mặc dù biết rằng vô vàn gian khổ đang chờ đón phía trước. Có lẽ, ông làm thế là bởi vì ở quê hương đang còn rất nhiều “bài toán ngược” cần giải quyết.               GS. Hoàng Tụy trao bằng khen và phần thưởng Lê Văn Thiêm cho học sinh đạt thành tích xuất sắc trong học tập.            Để “hóa giải” những “bài toán ngược” đó, theo yêu cầu của đất nước, ông chuyển từ nghiên cứu lý thuyết sang nghiên cứu toán ứng dụng-một công việc đối với ông còn…“lạ nước lạ cái”. Và rồi hàng loạt những yêu cầu thực tiễn cấp bách như sự bền vững của các đê, đập nước hay khử mặn đất ven biển; bảo đảm giao thông trong chiến tranh phá hoại…đã được giải quyết một cách hiệu quả thông qua bài toán thấm, bài toán nổ định hướng…Và, “đáng ngạc nhiên hơn cả, trong số những công trình đầu tiên của ông về toán ứng dụng có những công trình đã trở thành kinh điển” (GS. Hà Huy Khoái).  Năm 1991, GS. Lê Văn Thiêm ra đi trong lặng lẽ, để lại cho lớp hậu bối cả một di sản khoa học, và trên hết, ông đã trở thành tấm gương say mê khoa học, là hiện thân của người trí thức yêu nước trong thời đại mới như tâm sự của GS. Hoàng Tụy, “Hình ảnh anh Thiêm làm sống dậy trong tôi niềm mơ ước từ lâu, tạo cho tôi một niềm phấn khởi vô hạn trên con đường nghiên cứu khoa học”.  Đức Phường       Author                Quản trị        
__label__tiasang “LÀM MỚI” quy hoạch khu CNC Hòa Lạc      Đầu tháng 9, đoàn nghiên cứu của JICA đã đưa ra bản Nghiên cứu cập nhật Quy hoạch chung khu CNC Hòa Lạc, trong đó đề xuất xây dựng khu CNC này với quy mô là Dự án cấp quốc gia    Tăng thẩm quyền của Ban Quản lý  Hiện khu CNC Hòa Lạc có 3 nhà máy (với 460 người, tổng diện tích sử dụng 7ha), có 3 công trình là trung tâm khởi động, trung tâm Ngân hàng dữ liệu IncomBank (đang thi công) và tòa nhà viễn thông (chưa sử dụng). Cơ sở hạ tầng cho Hòa Lạc đang được được xây dựng: hầu hết đường nội bộ trong khu CNC Hòa Lạc đã hoàn thành; đường điện 110kv đã lắp đặt; cáp quang cũng được nối từ Hà Nội tới trung tâm Hòa Lạc, tốc độ hiện nay mới khoảng 2Mbps, song đại diện của VNPT cam kết sẽ tăng lên 2,5 Gbps khi cần thiết. Hiện ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH FPT đã có kế hoạch di dời đến Hòa Lạc, song chưa có bất kỳ viện nghiên cứu của nhà nước nào đặt trụ sở tại khu CNC này.  Đoàn nghiên cứu của JICA cho rằng điểm yếu nhất của Hòa Lạc hiện là “thiếu môi trường sống”, “giao thông với Hà Nội chưa thuận tiện”, “đi làm bằng xe bus hằng ngày giữa Hà Nội và Hòa Lạc không dễ dàng”, “hạ tầng chưa hoàn chỉnh”… Tuy nhiên Hòa Lạc cũng có lợi thế rất lớn là mặt bằng rộng rãi rất thích hợp cho các khu nghiên cứu, giá đất cạnh tranh, có chính sách ưu đãi công nghệ cao và việc các trường đại học có kế hoạch dời tới đây sẽ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao.  Với mục tiêu chung là đẩy mạnh KH&CN tại Việt Nam, có thể nói mục tiêu và các nhiệm vụ phát triển khu CNC Hòa Lạc mà JICA đề xuất lần này không khác biệt nhiều so với bản Quy hoạch chung ban đầu. Sự khác biệt chủ yếu là  ở các dự án về tổ chức và quy hoạch, như tăng cường thẩm quyền của Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc bằng cách đặt Ban dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, thu hút các Viện nghiên cứu theo sáng kiến của Chính phủ, thành lập duy nhất một Công ty phát triển khu, dùng vốn ODA để đẩy mạnh KH&CN, xây dựng bảo tàng tại Hòa Lạc để giúp phổ biến tri thức KH&CN v.v.            Mô hình ĐH FPT ở Hòa Lạc           Tổng diện tích của khu CNC Hòa Lạc theo quy hoạch mà JICA đề xuất là 1.610 ha, gần giống với diện tích trong Quy hoạch chung ban đầu. Tuy nhiên ở bản quy hoạch lần này, khu phần mềm được bố trí riêng biệt với khu R&D; đồng thời thêm các khu mới là khu R&D, khu tổ hợp nhà ở, khu dữ trữ 180ha để thích ứng linh hoạt với nhu cầu tương lai.  Phía JICA cũng đề xuất một lộ trình thực hiện các dự án, theo đó từ nay đến 2010 sẽ giải phóng 810ha, đặt Ban Quản lý khu CNC dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng, thành lập Công ty phát triển khu, Chính phủ hỗ trợ di dời 6 viện nghiên cứu… Đến 2012 sẽ thu hút các ngành CNC trên diện tích 140ha, giải phóng mặt bằng hoàn toàn khu Hòa Lạc.  Tránh “bắc nồi chờ cơm”  Theo ông Mai Hà, Viện trưởngViện Chiến lược và Chính sách KH&CN, những điều chỉnh của JICA so với Quy hoạch chung trước đây đều có lập luận khoa học, dẫu vậy vẫn cần được làm rõ thêm về mối tương quan giữa quy hoạch khu CNC Hòa Lạc với chuỗi đô thị Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn (chuỗi đô thị này phát triển dọc theo quốc lộ 21A nên còn gọi là Hành lang 21, với mục tiêu chuỗi đô thị này sẽ là các thành phố vệ tinh của Hà Nội, quy mô 1 triệu dân).  Khi tiến hành khảo sát và xây dựng quy hoạch Hành lang 21 năm 1998, JICA đã ký một hợp đồng phụ với Viện KH&CN Việt Nam để tập hợp việc điều tra cơ bản các điều kiện tự nhiên và môi trường khu vực Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai –  Miếu Môn. Đến nay các dữ liệu đó đã cũ, cần cập nhật các biến động, đặc biệt về hiện trạng sử dụng đất và nguồn nước ở khu vực này. Hòa Lạc nằm trong vùng khô cằn, vài chục năm trước còn là khu cỏ tranh và là nơi cư trú của động vật hoang dã. Qua nhiều lỗ khoan sâu thăm dò ở đây cho thấy, nguồn nước ngầm ở vùng này không đủ cung cấp cho lượng lớn dân cư, càng không đủ để phục vụ cho nhu cầu phát triển công nghiệp. Theo dự kiến quy hoạch Hành lang 21, nước sông Đà sẽ được đưa theo đường dẫn, tới tháp phân phối trên đỉnh núi Mốc. Song một biện pháp quan trọng có thể làm ngay là tạo nguồn nước tự nhiên tại chỗ, cụ thể là trồng rừng. Có thể đề nghị Chính phủ cho kế hoạch ưu tiên trong Chương trình 5 triệu ha rừng, ĐH Lâm nghiệp tại Xuân Mai cũng có thể đóng góp phần quan trọng cho kế hoạch trồng rừng này. Và nếu rừng phát triển thì nguồn nước ngầm sẽ gia tăng, lớp phủ thực vật dày lên cũng sẽ tác động đến cảnh quan khí hậu vùng Hòa Lạc, hồ Tân Xã cũng sẽ không bị khô cằn như ngày nay.  Trong việc phân các khu chức năng, theo ông Mai Hà, cần đặc biệt cần cẩn trọng khi tách biệt khu R&D và khu GD&ĐT, bởi Việt Nam đang cố gắng khắc phục tình trạng “trường viện thụ thụ bất thân”. Khu CNC Hòa Lạc “có thể và cần phải trở thành một hình mẫu” về sự thống nhất giữa nghiên cứu và đào tạo. Điều chỉnh về quy mô các phân khu chức năng là một điểm nhấn trong điều chỉnh quy hoạch của JICA. Tuy nhiên cần chỉ rõ khả năng thu hút đầu tư, năng lực quản lý, “đầu ra” của các phân khu này. Cần tránh nguy cơ  từ chỗ không giải phóng được mặt bằng để xây dựng sang tình trạng giải phóng được mặt bằng lớn lại để bỏ trống. Hiện tượng “bắc nồi chờ cơm” cũng khá phổ biến ở các khu công nghiệp nước ta hiện nay.  Trên cơ sở nghiên cứu và tập hợp ý kiến từ các Bộ, ngành, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đề nghị Chính phủ cho xúc tiến hoàn thành 2 tuyến đường trọng yếu Hòa Lạc đi Nội Bài và Hòa Lạc đi Hải Phòng; phục hồi và nâng cấp 2 sân bay Hòa Lạc và Miếu Môn; tập trung xây dựng một thành phố nhỏ nhưng hiện đại, kiến trúc đẹp gần trung tâm khu CNC Hòa Lạc, quy mô đủ để gây niềm tin cho các nhà đầu tư ngay từ lần đầu tiên đến Hòa Lạc.  Việc xây dựng khu CNC Hòa Lạc cũng cần rút kinh nghiệm từ các khu CNC khác. Vốn đầu tư cho khu CNC thường rất lớn, thời gian để phát huy tác dụng cũng thường khá dài. Chẳng hạn, khu Sophia Antipolis (Pháp) được xây dựng với mục tiêu trở thành thành phố khoa học tầm cỡ quốc tế, và phải mất gần 30 năm Pháp mới gặt hái được thành quả sau khi bỏ ra khá nhiều tiền của. Khu CNC Tsukuba của Nhật được xây từ năm 1963 nhưng mãi đến năm 1980 mới kết thúc với kinh phí xây dựng 5,5 tỷ USD.  Năm 1998, JICA đã xây dựng  Quy hoạch chung cho khu CNC Hòa Lạc trên cơ sở chính sách CNH, HĐH của Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ sau đó đã phê duyệt quy hoạch chung ban đầu và kế hoạch đầu tư bước 1, song tiến độ dự án đã chậm hơn nhiều so với kế hoạch. Theo thỏa thuận của Chính phủ 2 nước Việt Nam và Nhật Bản, vừa qua đoàn nghiên cứu của JICA đã đưa ra bản Nghiên cứu cập nhật Quy hoạch chung khu CNC Hòa Lạc. Sau khi lấy ý kiến các bộ ngành, dự tính đến tháng 11 này, bản Quy hoạch chung này sẽ được hoàn thành để đệ trình lên Thủ tướng phê duyệt.  Các yếu tố quan trọng cần thiết dẫn đến thực hiện thành công khu CNC Hòa Lạc:  1. Cam kết mạnh mẽ của Chính phủ và các bộ, ngành liên quan về việc thực hiện khu CNC Hòa Lạc với tư cách là Dự án cấp quốc gia.  2. Phát triển hạ tầng cao cấp, kể cả hạ tầng vòng ngoài cần thiết để đẩy mạnh xúc tiến KH&CN và các ngành CNC.  3. Khu CNC Hòa Lạc sẽ là nơi làm việc và nghiên cứu cho các nhà khoa học và kỹ sư xuất sắc.  4. Bồi dưỡng tài năng trẻ, những người sau này sẽ là nhà lãnh đạo trong việc đẩy mạnh KH&CN tại Việt Nam.  5. Thu hút sự tín nhiệm của các nhà đầu tư bằng cách marketing chiến lược.  6. Phổ cập KH&CN trên toàn quốc.  (Theo tài liệu của JICA)  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm ra công nghệ có khó?      Nhà khoa học có thể làm ra sản phẩm công nghệ nhưng việc thương mại hóa nó thành công lại không phụ thuộc vào họ.      Phòng thí nghiệm công nghệ nano, trường đại học KH&CN Hà Nội (USTH). Nguồn: USTH  Trước hết, nhìn vào lĩnh vực vật liệu ứng dụng trong vật lý quang học và điện tử hoặc quang tử, vi điện tử, điện tử nano, lượng tử…, chúng ta có thể thấy có hai vấn đề: 1. Xét về mặt khoa học là ngành mạnh của Việt Nam vì số lượng công bố khá nhiều; 2. Xét về mặt tạo ra được công nghệ thì tương đối ít người làm bởi làm vật liệu để viết công bố xuất bản trên tạp chí có uy tín của thế giới đã là rất khó nhưng làm ra vật liệu có thể ứng dụng, doanh nghiệp sử dụng để tạo thành sản phẩm bán được trên thị trường thì độ khó của nó cũng ngang với những công bố cao như vậy.  Việc có được công bố tốt khó vì muốn được như vậy phải kết hợp nhiều yếu tố như trình độ thành viên, hệ thống cơ sở vật chất bởi vật liệu quang, vật liệu điện tử mà không có máy đánh giá đặc trưng để tìm hiểu tính chất, cấu trúc thì không làm gì được, ngay cả muốn công bố trên tạp chí bình thường cũng không được chứ chưa mong gì đến công bố tốt. Tôi nghĩ nếu minh làm trong một lĩnh vực nào đó đủ lâu và đủ sâu thì đến một lúc nào đó, mình cũng sẽ có khả năng làm ra được những công bố tốt. Nhìn lại một nhóm nào đó làm việc đủ sâu và đủ lâu, liên tục trong vòng 5 đến 10 năm thì sẽ đạt được kết quả như vậy. Hiện ở Việt Nam, chỉ có một số nghiên cứu có thể có công bố ở tạp chí có ảnh hưởng cao như nhóm của các giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Phạm Thành Huy (trường đại học Phenikaa).  Ở hướng làm ra được công nghệ để từ vật liệu ra đến linh kiện có khả năng đóng gói trong thiết bị lại có những đòi hỏi khác. Người dùng cuối không dùng đến vật liệu, cũng không dùng đến linh kiện mà chỉ dùng thiết bị, ví dụ trong điện thoại – thiết bị – có nhiều linh kiện như màn hình, cảm biến đọc vân tay, camerra chụp ảnh… Do đó, nếu muốn sản phẩm ra được đến thị trường, đến được người dùng thì ít nhất là nhà khoa học vật liệu phải có mặt trong quy trình chế tạo linh kiện và thiết bị đó. Nhưng liệu gia nhập quy trình đó có dễ thực hiện? Hãy nhìn vào thực tế Việt Nam hiện nay, việc sản xuất thiết bị, linh kiện của Việt Nam chưa nhiều và rất chật vật để cạnh tranh. Các nhà sản xuất trong nước khi cần đến các linh kiện điện tử như chip, sensor cảm biến vân tay… thì họ cũng đều chọn cách làm đơn giản và nhanh chóng là đi nhập hơn là chọn nhà cung cấp trong nước. Quyết định của họ cũng có lý bởi sản phẩm của họ phải cạnh tranh với sản phẩm quốc tế cùng loại và bài toán ở đây, ngoài chất lượng, độ ổn định thì còn có cả chi phí. Rong khi đó, các doanh nghiệp FDI khi vào đến Việt Nam thường cũng không chọn các nhà sản xuất trong nước vì theo quan sát của tôi, họ thường mang theo công nghệ đã định hình, “đón sóng” ưu đãi trong chính sách đối với doanh nghiệp FDI của chính phủ Việt Nam chứ không muốn đầu tư vào R&D. Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất pin mặt trời, các doanh nghiệp Trung Quốc lập nhà máy ở Việt Nam để đón làn sóng trước sau sẽ có là chính sách trợ giá, hỗ trợ dùng điện mặt trời hoặc việc sản xuất ở Việt Nam tránh được một số áp phá giá nếu chỉ sản xuất ở Trung Quốc.  Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên nhìn vào những khó khăn như vậy mà cảm thấy hết hi vọng. Tôi cho rằng trong tương lai xa hơn, các nhà khoa học vật liệu có thể phải nghĩ đến những xu hướng chính của thế giới, nếu không theo được thì chắc chắn mình sẽ bị loại, ví dụ như linh kiện lượng tử, AI, IoT… dùng trong thiết bị lượng tử. Ngoài ra, chúng ta nên nghĩ đến những vấn đề thiết thực như mỗi quốc gia đều có lĩnh vực đặc thù mà mình không làm thì không ai làm giúp mình, hoặc nếu đi mua thì phải bỏ rất nhiều tiền. Nhà khoa học nên hướng đến những công nghệ mà mình cần phải tự phát triển hoặc giải mã công nghệ và cải tiến công nghệ sẵn có của nước ngoài thành những công nghệ mang tính đa dụng, có thể là thứ công nghệ mà mình có thể phát triển được, ứng dụng được trên một chuỗi sản phẩm tiếp theo, ví dụ cái chip ảnh hồng ngoại để có thể nhìn trong đêm để ứng dụng trên diện rất rộng: xe tự lái, tăng xử lý hình ảnh bằng ánh sáng không khả kiến, camera an ninh…  Việc áp dụng cách làm này và đạt được kết quả từ đó không chỉ phụ thuộc vào nhà nghiên cứu mà còn phụ thuộc vào việc các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam muốn làm hay không và có đủ cơ sở vật chất để phát triển công nghệ hay không. Tôi tự tin là nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam có thể làm được nếu hội tụ đủ những điều kiện này, nếu không thì những sản phẩm công nghệ mà nhà nghiên cứu làm ra chỉ ở mức  vật liệu đơn giản, có thể dùng được luôn… chứ không đi theo phát triển vật liệu thành linh kiện và tích hợp trong thiết bị để dùng.  Có người đặt câu hỏi với tôi “vậy nhà khoa học vật liệu có cần nhà nước hỗ trợ để hình thành quy trình vật liệu – linh kiện – thiết bị”? Tôi cho rằng ở đây nhà nước chỉ nên đầu tư mang tính định hướng đầu tiên với những đầu tư vào nghiên cứu cơ bản hoặc cơ bản định hướng ứng dụng. Ngoài ra, nếu cần gì hơn là cơ chế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, để doanh nghiệp nhận thấy rằng nếu nhà nước đầu tư một đồng thì doanh nghiệp phải đầu tư gấp 100 lần. Nếu chúng ta không làm được điều này thì không bao giờ triển khai được. Lâu nay nhà nước vẫn hô hào là cần bảo vệ thị trường trong nước nhưng thực tế là không hiệu quả. Điều khả thi là nhà nước đầu tư mang tính định hướng ban đầu như ngòi nổ còn người làm ra sản phẩm và tạo ra giá trị cho sản phẩm là doanh nghiệp.  Ở Việt Nam bắt đầu có một số tín hiệu tích cực. Một số doanh nghiệp lớn bắt đầu nghĩ đến việc phải làmra  được những sản phẩm phức tạp, tích hợp nhiều loại linh kiện như CMC, FPT, VIN, Viettel… và họ cũng bắt đầu nghĩ đến việc đầu tư cho R&D. Tôi nghĩ rằng, có thể rất cần đến “làn sóng” các CEO vừa làm kinh doanh vừa hiểu về khoa học có được những kế hoạch R&D dài hơi để ra đời những sản phẩm mới…       Author                Nguyễn Trần Thuật        
__label__tiasang Làm sống lại hoa của 30 nghìn năm trước      Trong thời kỳ Băng hà, phía Bắc trái đất bị che phủ bởi những đồng cỏ lạnh giá, khô cằn, nơi sinh sống của voi ma mút, tê giác lông mịn, và bò rừng sừng dài. Hệ thống sinh thái này, được các nhà cổ sinh vật học gọi tên là thảo nguyên ma mút, đã biến mất từ 13 nghìn năm trước.      Nhưng một loài thực vật của kỷ nguyên này được người ta báo cáo là đã hồi sinh nhờ công một nhóm các nhà khoa học, những người may mắn được tiếp cận một “kho báu” những cây cỏ và hạt, được chôn vùi bởi những con sóc đất từ 30 nghìn năm trước, và bảo quản trong tầng đất vùng cực bị đóng băng vĩnh cửu (S. Yashina et al. Proc. Natl Acad. Sci. USA http://dx.doi.org/10.1073/ pnas.1118386109; 2012). Đây có thể coi là thực vật có tuổi thọ xưa nhất được con người hồi sinh; kỷ lục cũ thuộc về một cây chà là được trồng từ những hạt giống của 2000 năm trước.  Người ta tìm thấy 70 hang sóc bên bờ hạ lưu sông Kolyma, phía bắc Siberia, ở khoảng 20-40 m bên dưới bề mặt lãnh nguyên (tundra), vây bọc bởi xương ma mút cùng các sinh vật khác. Một số hang chứa hàng trăm nghìn cây cỏ và hạt, được bảo tồn một cách hoàn hảo trong môi trường khô, lạnh.   Các nhà nghiên cứu trước đây từng cố gắng ươm trồng cây từ những hạt tìm thấy trong các hang cổ này, từ những cây cói túi, cây chút chít Bắc cực (Arctic dock), cây thường xanh dây leo vùng cao (alpine bearberry), cây Silene stenophylla. Những cây này đã nảy mầm, nhưng sau đó sớm lụi tàn.   Không nản chí, nhà khoa học David Gilichinsky từ Viện Các vấn đề Hóa lý và Sinh học trong đất, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, quyết định thử một hướng tiếp cận mới (đáng tiếc là Gilichinsky vừa qua đời trong tháng 2 vừa rồi). Ông và các cộng sự lấy các mẫu sợi noãn từ cây S. stenophylla. Noãn của thực vật – một ví dụ dễ hiểu là phần ruột trắng bên trong những quả ớt tây – có chức năng sinh ra và lưu giữ hạt. Những sợi noãn sẽ tạo thành mầm khi được trồng trong ống nghiệm, và các nhà khoa học dùng cách này để nhân giống được nhiều cây. Chúng chính là những tổ chức sinh học đa bào cổ nhất của Trái đất, nhóm nghiên cứu cho biết.      Những cây này sau đó đã cho ra hạt có khả năng sinh sản, từ đó người ta đã trồng được lứa cây sinh sản thứ hai. Trong quá trình nhân giống, giống cây cổ cho ra nhiều nụ hoa hơn so với giống cây S. stenophylla hiện đại mọc bên bờ sông Kolyma, nhưng lại ra rễ chậm hơn. Điều này cho thấy giống cây cổ có đặc thù riêng, phù hợp để thích nghi với vôi trường khắc nghiệt trong thời kỳ Băng hà.  “Thật vui khi ai đó cuối cùng đã thành công trong thử nghiệm này”, phát biểu từ nhà khoa học Grant Zazula thuộc Chương trình Cổ sinh vật Yukon ở Whitehorse, Canada, người đã từng kiểm định những thử nghiệm nảy mầm hạt cổ trước đây. “Chúng ta có một cơ hội tốt trong việc làm sống lại những loài cây đã tuyệt chủng từ những hạt mầm đóng băng”.  Tuy tới nay một vài loài cây của hệ sinh thái thảo nguyên ma mút vẫn còn tồn tại, nhưng không nơi đâu trên Trái đất còn giữ được đầy đủ các thành phần cỏ dại, cây cói túi, và hoa dại như được tìm thấy trong dạ dày của những con voi ma mút bị vùi lấp, hay trong những hang sóc đóng băng. Zazula phỏng đoán rằng sau này những mẩu thực vật từ những thời kỳ sớm hơn rất nhiều – hàng trăm nghìn năm trước– vẫn có thể được làm hồi sinh, làm lộ ra những biến đổi mang tính cách mạng qua một giai đoạn dài, và giúp các nhà khoa học tìm hiểu những hệ sinh thái ngày nay đã không còn, ví dụ như thời kỳ Băng hà.    Dịch theo bài của Sharon Levy, Nature News  http://www.nature.com/news/wild-flower-blooms-again-after-30-000-years-on-ice-1.10069    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sống lại tế bào động vật đông lạnh      Lần đầu tiên các nhà khoa học đã thành công trong việc làm đông lạnh tế bào động vật có nhân, sau đó làm cho tế bào này sống lại, tạo bước đột phá trong việc bảo tồn các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng.     Các nhà khoa học trường Đại học Teramo ở Italy đã tách các tế bào từ buồng trứng của một con cừu cái và gửi các mẫu tế bào này sang làm lạnh ở Israel. Sau đó, các tế bào đông lạnh được đưa trở lại Italy và được bảo quản trong môi trường có độ ẩm thích hợp. 5 năm sau, họ cấy tế bào đông lạnh vào tế bào buồng trứng của một con cừu khác mà nhân tế bào đã bị lấy đi. Trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Pasquano Loi cho biết các tế bào thí nghiệm đã chết khi được làm lạnh, nhưng sau đó đã làm sống lại và tiếp tục phát triển trong buồng trứng của con cừu mới. Các nhà khoa học hy vọng có thể áp dụng cách thức này trong việc nhân bản một số loài động vật để lấy thịt và lông như cừu. Trước đây, người ta mới chỉ thành công trong việc làm đông lạnh nấm men, các loại nấm đơn bào thường được dùng để lên men bánh mì hay trong việc sản xuất các đồ uống có cồn. Ngoài ra, các tế bào máu không có nhân cũng đã được đông lạnh thành công trong một thí nghiệm cách đây 10 năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm thế nào để điểm trúng một lỗ sâu đục (nếu nó tồn tại)      Một nghiên cứu mới đã nêu một phương pháp dò một hiện tượng mang tính suy luận nhưng thu hút sự tưởng tượng của những người yêu khoa học viễn tưởng: các lỗ sâu đục, vốn hình thành như một hành lang giữa hai vùng không thời gian bị chia tách.         Rất nhiều cách có thể kết nối một khu vực trong vũ trụ của chúng ta với một thời gian khác và/hoặc trong vũ trụ của chúng ta, hoặc với một vũ trụ khác hoàn toàn.  Liệu các lỗ sâu đục có tồn tại hay không đã gây tranh luận. Qua một công trình xuất bản trên Physical Review D “Observing a wormhole”, các nhà vật lý đã miêu tả một kỹ thuật dò được các “cây cầu” đặc biệt này.  Phương pháp này tập trung vào điểm một lỗ sâu đục quanh Sagittarius A*, một vật thể được coi là một lỗ đen siêu khối lượng tại tâm của dải Ngân hà. Trong khi chưa có bằng chứng là có một lỗ sâu đục tại đây, có một chỗ hợp lý để tìm nó bởi người ta chờ đợi các lỗ sâu đục ở trong những điều kiện về hấp dẫn lên tới cực điểm như sự hiện diện của các lỗ đen siêu khối lượng.  Trong công trình mới này, các nhà khoa học đã viết, nếu một lỗ sâu đục tồn tại ở khu vực Sagittarius A*, gần những ngôi sao có thể bị lực hấp dẫn của các ngôi sao tại một lỗ đen siêu khối lượng khác ở cuối hành lang này ảnh hưởng. Và kết quả là có thể dò được sự hiện diện của một lỗ sâu đục bằng việc tìm những sai lệch nhỏ trong quỹ đạo được chờ đợi của các ngôi sao gần Sagittarius A*.  “Nếu có hai ngôi sao, mỗi ngôi sao ở một phía của lỗ sâu đục này, ngôi sao về phía chúng ta phải cảm nhận được sự ảnh hưởng của lực hấp dẫn từ ngôi sao ở phía bên kia. Thông lượng hấp dẫn này sẽ đi qua lỗ sâu đục”, TS. Dejan Stojkovic, nhà vũ trụ học tại trường Khoa học và nghệ thuật, trường đại học Buffalo, nói. “Vì vậy nếu anh lập bản đồ quỹ đạo anh dự đoán của một ngôi sao quanh Sagittarius A*, anh phải thấy những sai lệch từ quỹ đạo nếu lỗ sâu đục ở đó với một ngôi sao ở phía bên kia”.  Stojkovic dẫn dắt nghiên cứu này cùng tác giả thứ nhất, TS. De-Chang Dai, trường đại học Dương Châu, Trung Quốc.  Nhìn cận cảnh tại S2, ngôi sao đi theo quỹ đạo Sagittarius A*  Stojkovic lưu ý, nếu các lỗ sâu đục được khám phá thì chúng sẽ không giống loại mà khoa học viễn tưởng vẫn thường hình dung.  “Ngay cả nếu một lỗ sâu đục đi qua, con người và cả tàu vũ trụ phần lớn đều sẽ không nghĩ là đã vượt qua nó”, ông nói. “Thực tế là cần một nguồn năng lượng âm để giữ cho lỗ sâu đục mở và chúng ta không biết cách nào làm được điều đó. Để tạo ra một lỗ sâu đục lớn đủ bền, anh cần một số… phép ma thuật”.  Tuy nhiên, các lỗ sâu đục, dù đi qua hay không – vẫn là một hiện tượng lý thuyết thú vị để nghiên cứu. Trong khi chưa có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy các hành lang đó tồn tại nhưng chúng vẫn có thể tồn tại, ít nhất là về lý thuyết. Như Stojkovic giải thích, các lỗ sâu đục là “một giải pháp vô cùng phù hợp với các phương trình của Einstein”.  Nghiên cứu được công bố trên Physical Review D tập trung vào cách các nhà khoa học có thể săn tìm một lỗ sâu đục bằng việc tìm các nhiễu loạn trong con đường của S2, một ngôi sao mà các nhà thiên văn đã quan sát đi theo quỹ đạo của Sagittarius A*.  Trong khi các kỹ thuật giám sát hiện hành không đủ độ chính xác để tiết lộ được sự hiện diện của một lỗ sâu đục, Stojkovic cho biết việc thu thập dữ liệu về S2 trong thời kỳ dài hoặc phát triển các kỹ thuật dò chuyển động của nó một cách chính xác hơn có thể giúp đem đến khả năng làm được điều đó trong tương lai gần. Những kỹ thuật tiên tiến như vậy có thể sẽ không quá xa chúng ta, anh dự đoán và có thể xảy ra trong một vài thập kỷ tới.  Dẫu sao, Stojkovic thận trọng, trong khi phương pháp mới có thể được dùng để dò một lỗ sâu đục, nếu quả thật nó tồn tại, thì nó cũng không đủ chứng minh rằng một lỗ sâu đục có tồn tại. “Khi đạt đến độ chính xác cần thiết cho quan sát của chúng ta, chúng ta có thể đủ khả năng nói một lỗ sâu đục là thứ hoàn toàn có thể giải thích được nếu như dò sự nhiễu loạn trong quỹ đạo của S2. Nhưng chúng ta không thể nói, ‘vâng, đây đích xác là một lỗ sâu đục’. Có thể có một số giải thích khác, một cái gì đó về sự nhiễu loạn trong chuyển động của ngôi sao ở về phía chúng ta”, ông nói.  Dẫu bài báo tập trung vào việc các lỗ sâu đi qua, kỹ thuật này có thể chỉ dấu sự hiện diện cả một lỗ sâu chuyển động hoặc không chuyển động, Stojkovic nói. Anh giải thích, lực hấp dẫn là độ cong của không thời gian, các hiệu ứng của hấp dẫn bị mất về hai phía của lỗ sâu đục, dù các vật thể có thể đi qua hay không.  Tô Vân dịch  Nguồn:  https://phys.org/news/2019-10-wormhole.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu ăn thử thịt bò nhân tạo      Ngày 5/8 vừa qua, tại một nhà hàng ở London,  hai người tình nguyện đã tiến hành ăn thử chiếc bánh ham-bơ-gơ đầu tiên  trên thế giới có nhân bánh làm từ thịt bò nhân tạo. Loại thịt này do  các nhà khoa học Hà Lan chế tạo trong phòng thí nghiệm, vì thế còn được  gọi là thịt ống nghiệm hoặc thịt tổng hợp (synthetic meat).     Nó có giá cao khủng khiếp, tính ra giá thành đắt gấp 100.000 lần thịt bò thật. Đó là vì phí tổn chi cho Dự án nghiên cứu chế tạo thịt nhân tạo lên tới 325.000 USD, kết quả chỉ mới làm được 142 gam thịt nhân tạo.   Người tài trợ cho dự án này là Sergey Brin, nhà đồng sáng lập Google. Ông cho rằng đây không phải là ý tưởng điên rồ, rất có thể thịt nhân tạo sẽ làm thay đổi thói quen ăn uống của mọi người. Ông nói, một thế giới không có sức tưởng tượng thì sẽ trì trệ không tiến lên được; thịt nhân tạo là một khái niệm có tính sáng tạo. Brin nói ông đầu tư vào việc chế tạo thịt nhân tạo là vì lợi ích của các loài động vật, tức là để giảm số gia súc bị giết mổ.  Một trong hai người nếm thử chiếc bánh độc đáo kể trên là chuyên gia ẩm thực Hanni Rützler người Áo. Trước mặt công chúng, bà cắn một miếng bánh, nhai 27 lần rồi mới nuốt. Sau đó bà nói: “Tôi muốn khẩu vị mềm hơn một chút… Mùi vị giống như thịt bò nhưng hơi khô.” Một người nữa là nhà báo chuyên bình luận về ẩm thực Josh Schonwald thì nhận xét: “Hương vị giống như thịt, chỉ có điều thiếu chất mỡ. Cảm giác chung là đang ăn một chiếc ham-bơ-gơ.”   Loại thịt nhân tạo nói trên do GS Mark Post, chuyên gia sinh học tại trường ĐH Maastricht, chủ trì nghiên cứu chế tạo. Tại buổi ăn thử, Post nói: “Mẫu thịt nhân tạo đầu tiên có thể không ngon, nhưng đó là một khởi đầu tốt.” Khi được hỏi ông có cho lũ trẻ nhà mình ăn thịt nhân tạo không, Post nói ông sẽ mang một miếng bánh ham-bơ-gơ này về nhà cho con ông nếm.  Post cho biết loài bò cần 100 gam protein thực vật để làm ra 15 gam protein động vật, nghĩa là hiệu quả rất thấp, chúng ta phải mất rất nhiều thực phẩm để nuôi bò lấy thịt. Nếu làm được thịt nhân tạo thì hiệu quả sẽ cao hơn vì mọi quá trình đều được kiểm soát và hơn nữa người ta không cần giết bất cứ con bò nào.  Cách đây sáu năm, Mark Post bắt đầu nghiên cứu làm ra thịt nhân tạo. Mới đầu họ thử làm thịt chuột nhân tạo, sau đó thử làm thịt lợn nhân tạo có pha thêm sợi thịt lấy từ cá mực có tính đàn hồi, cuối cùng mới chuyển sang làm thịt bò nhân tạo.   Quá trình nói trên gồm bốn bước:   – tách ra tế bào gốc từ thịt bò;   – ngâm tế bào gốc trong dung dịch chứa đường, a-xit amin, chất béo, khoáng chất và một số chất dinh dưỡng khác; qua đó tế bào gốc bước đầu trở thành một chất có tính kết dính;   – để chất này “lớn lên” rồi kéo chúng thành những “sợi thịt” nhỏ; ngoài ra còn dùng cách làm cho sợi thịt được dai hơn và tránh bị thoái hóa;   – cắt vụn các sợi thịt, pha thêm chất mỡ và chất tạo màu giống như thịt thật.  Cách đây khoảng ba tháng, nhóm nghiên cứu của Post bắt đầu chế tạo miếng nhân bánh ham-bơ-gơ nói trên. Đầu tiên họ lấy ra khoảng chục nghìn tế bào gốc từ những mảnh sinh thiết của hai con bò sống (chứ không phải giết bò) rồi nuôi cấy chúng trong môi trường dinh dưỡng, sau ba tháng, số tế bào gốc này sinh sôi nảy nở gấp 1.000 tỷ lần, làm thành khoảng 20.000 sợi thịt, mỗi sợi dài không quá 3 mm. Thời gian ba tháng là quá nhanh so với thời gian lớn lên của con bê. Post dùng 142 gam thịt nhân tạo này làm ra miếng nhân thịt chiếc bánh lịch sử kể trên.  Post cho biết nhóm nghiên cứu không làm cho các tế bào gốc có bất kỳ thay đổi nào.  Tuy thịt nhân tạo mới đầu có giá đắt khủng khiếp, nhưng Post cho rằng sau này thịt nhân tạo sẽ được tiêu thụ rộng rãi. Ông nói, việc nghiên cứu chế tạo và tổ chức ăn thử thịt nhân tạo không nhằm tạo ra một loại thịt ngon mà nhằm theo đuổi ý tưởng phát triển bền vững, nhằm tìm kiếm một loại thực phẩm thay thế thịt đạt được tốt hơn yêu cầu bảo vệ môi trường, mặt khác giải quyết được nạn thiếu thực phẩm trên toàn cầu.  Theo thống kê của WHO, đến năm 2030 sản lượng thịt toàn thế giới hằng năm sẽ tăng lên 376 triệu tấn, so với 218 triệu tấn những năm 1990, có nghĩa là cần nhiều hơn đất đai, nước, các loại cỏ, rơm, đồng thời sẽ sinh ra nhiều rác thải và chất khí nhà kính. Số lượng gia súc nhiều gần gấp đôi số người trên trái đất; chúng thải ra khoảng 5% khí CO2 và 40% khí mê tan, là các khí thải nhà kính mà loài người đang cố giảm.  Các nhà khoa học Anh và Hà Lan cho rằng thịt nhân tạo có thể giảm được 45% tiêu hao năng lượng, 96% khí thải nhà kính và 99% đất đai cần dùng trong chăn nuôi. Theo tính toán, số tế bào gốc lấy từ một con bò có thể làm ra được một lượng thịt nhân tạo nhiều gấp một triệu lần số thịt của một con bò bị giết mổ.  Ngoài ra sẽ tránh được việc giết mổ một cách đau đớn rất nhiều loài gia cầm và gia súc cho thịt. Một đồng nghiệp của Post nói: “Sau này khi ăn ham-bơ-gơ, chúng ta sẽ không còn bị ám ảnh bởi ý nghĩ thịt ta đang ăn lấy từ xác một con vật!”   Trong tương lai, quá trình chế tạo thịt nhân tạo sẽ được rút ngắn xuống còn sáu tuần và được an toàn hơn về mặt kiểm dịch. Nhưng quá trình từ nay cho đến khi thịt nhân tạo an toàn, tin cậy, có thể sản xuất theo quy mô công nghiệp và được thị trường chấp nhận cần ít nhất 20 năm.  Post cho biết, sau đây ông sẽ tập trung nghiên cứu thịt tổ hợp, “thí dụ thịt gấu mèo tổ hợp với thịt hổ!”  Vấn đề quan trọng nhất là thịt nhân tạo phải hoàn toàn giống thịt tự nhiên về mùi vị và màu sắc, nếu không sẽ ít người dám ăn.  Còn Cơ quan Tiêu chuẩn thực phẩm Anh cho rằng, trước khi thương mại hóa việc sản xuất thịt nhân tạo cần làm rõ vấn đề ăn loại thịt này có an toàn hay không.    Nguyễn Hải Hoành tổng hợp từ theguardian.com, zmescience.com, economist.com …     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu chữa khỏi ung thư máu bằng liệu pháp gene      Một bệnh nhi ở Anh bị ung thư máu vừa khỏi bệnh nhờ được tiêm tế bào bạch  cầu của người hiến tặng khỏe mạnh đã được tiến hành chỉnh sửa gene vào cơ thể.       Mạng newscientist.com mới đây cho biết: Khi 14 tháng tuổi, Layla được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính, còn gọi là ung thư máu. Cô bé được bệnh viện GOSH ở London chạy chữa bằng các liệu pháp truyền thống như hóa trị và cấy tủy, vốn chỉ cho tỷ lệ khỏi bệnh 25% đối với các trẻ quá nhỏ như Layla.    Do việc điều trị cho Layla không có kết quả, các thầy thuốc gửi thư đề nghị GS Waseem Qasim ở University College London giúp đỡ – ông đang nghiên cứu liệu pháp gene điều trị ung thư, đã được thử dùng cho chuột thí nghiệm.     Sau khi cha mẹ Layla đồng ý và chính quyền cho phép, các thầy thuốc tiến hành chỉnh sửa gene đối với tế bào bạch cầu của người hiến tặng khỏe mạnh rồi tiêm một lượng nhỏ tế bào được gọi là UCART19 đó vào cơ thể Layla để chúng tìm diệt tế bào ung thư.  Hai tháng sau, cô bé được cấy tủy, nhằm thay tủy đã bị bạch cầu phá hoại. Một tháng sau, Layla hoàn toàn khỏi bệnh và được về nhà.    GS Qasim cho biết: vì Layla rất khỏe nên các thầy thuốc còn phải nghiên cứu xem liệu pháp nói trên có thích hợp với các trẻ khác hay không, nhưng ông cho rằng liệu pháp này có tiềm năng rất lớn, nếu được chứng minh là hiệu quả thì y học sẽ đạt được một bước tiến lớn trong lĩnh vực điều trị ung thư máu và các bệnh ung thư khác.     Đây là ca ung thư máu đầu tiên trên thế giới được chữa khỏi nhờ liệu pháp gene.    Nguyên Hải lược dịch  Nguồn:  https://www.newscientist.com/article/dn28454-gene-editing-saves-life-of-girl-dying-from-leukaemia-in-world-first/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu chụp được ảnh màu sao Diêm Vương      Ngày 9/4, camera Ralph lắp trên tàu vũ trụ  New Horizons đã chụp được bức ảnh màu đầu tiên về sao Diêm Vương (Pluto)  và vệ tinh lớn nhất của nó là Charon ở khoảng cách 115 triệu km, tương  đương khoảng cách từ Mặt trời tới sao Kim (Venus), đánh dấu một giai  đoạn mới trong tiến trình thăm dò Hệ Mặt trời.    Tàu vũ trụ New Horizons do NASA phóng ngày 19/1/2006, sau hành trình kéo dài chín năm, đã chụp được bức ảnh nói trên và gửi về Trái đất.   Cathy Olkin, nhà khoa học hành tinh ở Viện nghiên cứu Tây Nam (Southwest Research Institute, San Antonio), phó giám đốc dự án New Horizons, nói: “Từ tháng Năm trở đi chúng tôi sẽ nhận được những tấm ảnh sao Pluto có độ phân giải cao nhất trong lịch sử và chất lượng hình ảnh sẽ ngày một tốt hơn.”   Dự kiến công tác thăm dò sẽ lên tới cao điểm vào ngày 14/7, khi New Horizons ở gần Pluto nhất. Vận tốc bay của New Horizons là 50.000 km/h. Khi gần Pluto nhất, độ phân giải của ảnh chụp sẽ đạt tới mức 400 m/pixel.  John Grunsfeld, Phó Giám đốc hành chính NASA, nói: “Tàu New Horizons sắp sửa kết thúc sứ mệnh vĩ đại của loài người là thăm dò Hệ Mặt trời.” Sứ mệnh này gồm có việc nghiên cứu chi tiết từ hành tinh gần Mặt trời nhất là sao Thủy (Mercury) cho tới hành tinh xa Mặt trời nhất là sao Hải Vương (Neptune). Người phụ trách quan sát chính, Alan Stern, nói: “New Horizons có nhiệm vụ lần đầu tiên quan trắc Hệ hai sao [Pluto và Charon] ở cự ly gần và lần đầu tiên thâm nhập thăm dò Vùng thứ ba của Hệ Mặt trời”. Khái niệm Vùng thứ ba do Stern đề xuất, là chỉ vùng băng giá hình vành khăn ở bên ngoài các hành tinh đất đá và hành tinh thể khí trong Hệ Mặt trời. Trước NASA, chưa cơ quan nghiên cứu vũ trụ nào đề xuất dự án thám hiểm tương tự, bởi vậy sứ mệnh thăm dò của New Horizons có ý nghĩa rất quan trọng.  Stern và đồng nghiệp còn liệt kê những khám phá khác mà sứ mệnh thám hiểm lần này có thể thực hiện được: 1- Các vệ tinh mới ngoài năm vệ tinh đã biết của sao Pluto và giải vật chất nhiệt độ thấp hình vành khăn bao xung quanh; 2- Các chi tiết làm nên sự khác biệt giữa Pluto với Charon. Vệ tinh Charon tương tự như Mặt trăng, được cho là vật còn sót lại sau khi Pluto bị tiểu hành tinh va chạm; 3- Bản đồ toàn cầu của Pluto và Charon, kể cả vùng cực của Pluto, nơi chưa bao giờ có ánh sáng Mặt trời, nhưng được chiếu sáng bởi sự phản quang của Charon, nhờ đó camera của tàu vũ trụ có thể chụp được ảnh vùng đó; 4- Trên Pluto và Charon có thể tồn tại lớp chất lỏng với thành phần là nước hoặc các vật chất đặc biệt khác và những dòng sông Neon.  Năm 2006, sao Pluto từng bị Hội Thiên văn quốc tế loại ra khỏi danh sách các hành tinh của Hệ Mặt trời và xếp vào loại hành tinh lùn, nhưng nhiều nhà khoa học không đồng ý với quan điểm đó.  H.H tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu chụp được ảnh màu sao Diêm Vương      Ngày 9/4, camera Ralph lắp trên tàu vũ trụ New Horizons&#160;đã chụp được bức ảnh màu đầu tiên về sao Diêm Vương (Pluto) và vệ tinh lớn nhất của nó là Charon ở khoảng cách 115 triệu km, tương đương khoảng cách từ Mặt trời tới sao Kim (Venus), đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình thăm dò Hệ Mặt trời.  &#160;    Tàu vũ trụ New Horizons do NASA phóng ngày 19/1/2006, sau hành trình kéo dài chín năm, đã chụp được bức ảnh nói trên và gửi về Trái đất.   Cathy Olkin, nhà khoa học hành tinh ở Viện nghiên cứu Tây Nam (Southwest Research Institute, San Antonio), phó giám đốc dự án New Horizons, nói: “Từ tháng Năm trở đi chúng tôi sẽ nhận được những tấm ảnh sao Pluto có độ phân giải cao nhất trong lịch sử và chất lượng hình ảnh sẽ ngày một tốt hơn.”   Dự kiến công tác thăm dò sẽ lên tới cao điểm vào ngày 14/7, khi New Horizons ở gần Pluto nhất. Vận tốc bay của New Horizons là 50.000 km/h. Khi gần Pluto nhất, độ phân giải của ảnh chụp sẽ đạt tới mức 400 m/pixel.  John Grunsfeld, Phó Giám đốc hành chính NASA, nói: “Tàu New Horizons sắp sửa kết thúc sứ mệnh vĩ đại của loài người là thăm dò Hệ Mặt trời.” Sứ mệnh này gồm có việc nghiên cứu chi tiết từ hành tinh gần Mặt trời nhất là sao Thủy (Mercury) cho tới hành tinh xa Mặt trời nhất là sao Hải Vương (Neptune). Người phụ trách quan sát chính, Alan Stern, nói: “New Horizons có nhiệm vụ lần đầu tiên quan trắc Hệ hai sao [Pluto và Charon] ở cự ly gần và lần đầu tiên thâm nhập thăm dò Vùng thứ ba của Hệ Mặt trời”. Khái niệm Vùng thứ ba do Stern đề xuất, là chỉ vùng băng giá hình vành khăn ở bên ngoài các hành tinh đất đá và hành tinh thể khí trong Hệ Mặt trời. Trước NASA, chưa cơ quan nghiên cứu vũ trụ nào đề xuất dự án thám hiểm tương tự, bởi vậy sứ mệnh thăm dò của New Horizons có ý nghĩa rất quan trọng.  Stern và đồng nghiệp còn liệt kê những khám phá khác mà sứ mệnh thám hiểm lần này có thể thực hiện được: 1- Các vệ tinh mới ngoài năm vệ tinh đã biết của sao Pluto và giải vật chất nhiệt độ thấp hình vành khăn bao xung quanh; 2- Các chi tiết làm nên sự khác biệt giữa Pluto với Charon. Vệ tinh Charon tương tự như Mặt trăng, được cho là vật còn sót lại sau khi Pluto bị tiểu hành tinh va chạm; 3- Bản đồ toàn cầu của Pluto và Charon, kể cả vùng cực của Pluto, nơi chưa bao giờ có ánh sáng Mặt trời, nhưng được chiếu sáng bởi sự phản quang của Charon, nhờ đó camera của tàu vũ trụ có thể chụp được ảnh vùng đó; 4- Trên Pluto và Charon có thể tồn tại lớp chất lỏng với thành phần là nước hoặc các vật chất đặc biệt khác và những dòng sông Neon.  Năm 2006, sao Pluto từng bị Hội Thiên văn quốc tế loại ra khỏi danh sách các hành tinh của Hệ Mặt trời và xếp vào loại hành tinh lùn, nhưng nhiều nhà khoa học không đồng ý với quan điểm đó.  H.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu có bộ dữ liệu trong vòng 60 năm về rác thải nhựa đại dương      Qua sổ ghi chép hoạt động của các thiết bị theo dõi sinh vật phù du, các nhà nghiên cứu đã có trong tay bộ dữ liệu 60 năm về rác thải nhựa đại dương. Kết quả phân tích từ bộ dữ liệu này đã  được xuất bản trên tạp chí Nature Communications vào ngày 16/4/2019, trong đó nêu bằng chứng vững chắc đầu tiên về sự gia tăng của lượng nhựa gây ô nhiễm đại dương ở những thập kỷ gần đây.      Các đại dương ngày một ô nhiễm hơn bởi các mảnh rác thải nhựa cỡ lớn. Nguồn: Angel Fitor/Science Photo Library.  Dữ liệu được ghi lại từ các máy theo dõi sinh vật phù du liên tục (continuos plankton recorder  CPR – các thiết bị giống như ngư lôi đã được sử dụng từ năm 1931 để khảo sát quần thể sinh vật phù du bằng cách lọc các sinh vật này khỏi nước bằng các dải tơ trong thiết bị). Do các con tàu tình nguyện như phà và tàu container kéo theo trong quá trình chúng di chuyển trên khắp các đại dương, các máy theo dõi ngày càng thường xuyên bị vướng vào các vật thể nhựa lớn như túi và dây câu. Đến năm 2000, tần suất máy theo dõi bị mắc vật thể nhựa gấp ba lần so với những thập kỷ trước. Clare Ostle, nhà sinh vật học biển tại Hiệp hội sinh học biển ở Plymouth, Anh, giám sát đội tàu của các thiết bị CPR cho biết như vậy.  Mỗi khi một con tàu kéo theo một thiết bị CPR, thủy thủ đoàn sẽ điền vào sổ nhật ký và ghi chú mọi vấn đề xảy ra với thiết bị. Ostle và các đồng nghiệp của cô đã xem xét tất cả các bản ghi chép của các tàu kéo ở Bắc Đại Tây Dương từ năm 1957 đến năm 2016 để xác định xem việc thiết bị CPR vướng nhựa có trở nên phổ biến hơn không. Trong giai đoạn 60 năm, 208 lần vướng nhựa như vậy đã được ghi lại. Dù số lần vướng nhựa thuộc những năm 1950 và 1960 trở nên ít đi nhưng kể từ đó đến nay, tần suất CPR vướng vào các miếng nhựa lớn đã trở nên phổ biến hơn nhiều, đặc biệt từ những năm 1980 và 1990. Tình trạng này đạt tới đỉnh điểm vào những năm 2000, khi CPR bị vướng vào nhựa trong khoảng 3% số lần kéo. Dụng cụ câu cá là thủ phạm lớn nhất – liên quan đến 55% các lần CPR vướng nhựa.  Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu chứng minh sự gia tăng của nhựa đại dương bằng cách sử dụng đơn nhất một bộ dữ liệu dài hạn, Erik van Sebille, một nhà hải dương học tại Đại học Utrecht, Hà Lan nhận xét. “Tôi rất vui vì chúng ta đã có được bằng chứng”, anh nói.  Mặc dù những kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng từ trước đến nay chúng ta  có rất ít dữ liệu dài hạn về nhựa đại dương để làm căn cứ cho nghiên cứu. Trước đây, chủ yếu các nhà khoa học dựa vào bằng chứng tích lũy rác thải nhựa ở các sinh vật biển trong một khung thời gian ngắn.  Sự gia tăng số lần vướng nhựa không phải do việc ghi chép nhật ký tốt hơn. Khi nhóm nghiên cứu phân tích số lần CPR vướng vào các vật phẩm tự nhiên, như rong biển và cá, họ không thấy có thay đổi đáng kể nào trong 60 năm qua, trong khi đó số lần vướng vào nhựa thì tăng rất nhiều.  Van Sebille nói rằng vì nghiên cứu tập trung vào các mảnh nhựa lớn, nên kết quả không tiết lộ nhiều về số lượng vi nhựa, các mảnh dài dưới 5 mm, trong các đại dương. Những chất gây ô nhiễm nhỏ này đến từ các nguồn như bao bì nhựa dùng một lần, thay vì từ dụng cụ câu cá.  Tuy nhiên, ông nói thêm, nghiên cứu chứng minh rằng nghề cá là nguyên nhân chính trong ô nhiễm nhựa. Kết quả cũng sẽ cung cấp dữ liệu cơ bản để theo dõi xem các thay đổi chính sách có ảnh hưởng đến mức độ nhựa trong đại dương hay không. “Các tổ chức đánh bắt cá đang trở nên chuyên nghiệp hơn, đặc biệt là ở Biển Bắc, hy vọng chúng ta có thể thấy sự suy giảm rác thải nhựa”, Van Sebille nói.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01252-0     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu quan sát chính xác những gì diễn ra trong một phản ứng hóa học      Phản ứng hóa học ở nhiệt độ thấp nhất được biết đến trong vũ trụ diễn ra tại điểm sẽ xuất hiện một hỗn độn của những tia laser. Sự xuất hiện này ẩn chứa một điều khác biệt: ở sâu bên trong là những hỗn độn được sắp xếp một cách cẩn thận, với những mức nhiệt độ lạnh hơn hàng triệu lần vũ trụ liên sao, nhà nghiên cứu Kang-Kuen Ni đã đạt được một kỳ tích về sự chính xác trong quan sát này.      Các phản ứng hóa học chuyển các chất phản ứng thành chất khác thông qua một trạng thái trung gian, nơi liên kết hóa học bị phá vỡ và hình thành. Do diễn ra trong khoảng thời gian quá ngắn nên rất khó quan sát. Bằng việc “cấp đông” các hoạt động của chất phản ứng (ở dây là phân tử potassium-rubidium) tới nhiệt độ 500 nanokelvin, con số cho phép tồn tại mức năng lượng để giới hạn chất tạo ra . “Bẫy”  được giai đoạn trung gian đủ lâu, các nhà nghiên cứu có thể quan sát phan này một cách trực tiếp. Kỹ thuật này có thể tiến tới kiểm oats phản ứn hóa học ở cấp độ lượng tử với các phân tử siêu lạnh. Nguồn: Ming-Guang Hu  Để cho các phân tử siêu lạnh tiếp xúc và tương tác, bà đã phá vỡ và hình thành những liên kết ở điều kiện nhiệt độ thấp nhất trong lịch sử của các ghép đôi phân tử.  “Có thể trong nhiều năm sắp tới, chúng tôi chỉ có duy nhất một phòng thí nghiệm có thể làm được điều này”, Ming-Guang Hu, một postdoc tại phòng thí nghiệm của Ni và là tác giả thứ nhất của công bố “Quan sát trực tiếp các phản ứng chứa hai phân tử của các phân tử KRb siêu lạnh” (Direct observation of bimolecular reactions of ultracold KRb molecules) xuất bản trên Science. Năm năm trước, Ni, phó giáo sư hóa học và sinh học hóa học Morris Kahn và là một nhà tiên phong về hóa học siêu lạnh (ultracold chemistry), đã thiết kế để xây dựng một công cụ mới có thể có được các phản ứng hóa học mức nhiệt độ thấp nhất, thấp hơn cả bất kỳ công nghệ hiện hành nào. Nhưng họ không thể chắc chắn là kỹ thuật phức tạp của mình có thể vận hành được.  Hiện tại, họ không chỉ thực hiện được phản ứng ở mức nhiệt độ thấp nhất mà còn khám phá ra thiết bị mới của mình có thể làm được những điều mà họ thậm chí còn không thể dự đoán được. Trong nhiều mức nhiệt độ cực lạnh – 500 anokelvin hoặc chỉ một vài phần triệu một độ trên độ không tuyệt đối – các phân tử của chúng di chuyển chậm hơn cho tới tốc độ đóng băng, Ni và nhóm nghiên cứu của cô có thể thấy được những thứ mà không ai trước đây có thể thấy được: một khoảng khắc hai phân tử gặp nhau để hinhd thành hai phân tử mới. Về bản chất, họ “bắt” được một phản ứng hóa học ở đúng hành động khó nắm bắt và có ý nghĩa nhất.  Các phản ứng hóa học là kết quả của mọi hoạt động theo đúng nghĩa đen: thở, nấu nướng, tiêu hủy, tạo năng lượng, chế tạo thuốc và các hoạt động như làm xà phòng. Vì vậy việc hiểu cách chúng diễn ra nhu thế nào tại mức độ cơ bản có thể giúp các nhà nghiên cứu thiết kế ra các hợp chất mà thế giới chưa từng thấy. Với một số lượng vô hạn của những kết hợp mới có thể tạo ra, những phân tử mới có thể đem đến nhiều ứng dụng từ việc tạo ra năng lượng hiệu quả hơn đến những vật liệu mới như những bức tường có khả năng chống mốc và thậm chí là có thể xây dựng những khối cơ bản cho máy tính lượng tử.  Trong nghiên cứu trước đây của mình, Ni đã áp dụng những mức nhiệt độ thấp hơn cho nghiên cứu về ma thuật hóa học này: các phân tử gập được từ những nguyên tử có thể chưa bao giờ tương tác. Lạnh ở mức tới hạn, các nguyên tử và phân tử chuyển động chậm dần thành giếng lượng tử, trạng thái năng lượng thấp nhất có thể của chúng. Ở đó, Ni có thể điều khiển các liên phản ứng phân tử với độ chính xác cực điểm. Nhưng thậm chí cô có thể chỉ thấy phần bắt đầu của các phản ứng đó: hai phân tử tiến vào nhưng sau đó là gì? Những gì diễn ra trong giai đoạn giữa và cuối như một lỗ đen mà chỉ lý thuyết mới có thể hiểu và giải thích.  Các phản ứng hóa học xảy ra chỉ trong phần triệu của một phần tỷ một giây, khoảng thời gian này được biết như mức femtoseconds. Thậm chí phần lớn các công nghệ phức tạp bậc nhất hiện nay không thể “bắt” được sự tồn tại ngắn ngủi như thế, dẫu một số công nghệ đã tiến gần tới mức đó. Trong 20 năm gần đây, các nhà khoa học đã sử dụng các tia laser cực nhanh như các camera có khả năng chụp nhanh hành động, bắt nhanh các hình ảnh phản ứng khi chúng xảy ra. Nhưng chúng không thể có được bức tranh tổng thể. “Phần lớn thời gian, anh chỉ có thể thấy các chất phản ứng này biến mất và các thứ tạo ra xuất hiện tại thời điểm anh có thể đo đạc. Nó không đo đạc được trực tiếp những gì diễn ra trong các phản ứng hóa học đó”, Ni nói. Cho đến tận bây giờ.  Các mức nhiệt độ siêu lạnh của Ni thúc đẩy các phản ứng đó tới một tốc độ gần như tê liệt ngay tức thì. “Bởi vì các phân tử đều rất lạnh, Ni nói, “giờ đây chúng ta đạt được hiệu ứng thắt cổ chai”. Khi cô và nhóm nghiên cứu của mình tương tác hai phân tử potassium rubidium – được chọn vì tính dễ uốn của chúng – các mức nhiệt độ siêu lạnh đẩy các phân tử nán lại trong giai đoạn trung gian ở khoảng thời gian microseconds – khoảng phần triệu một giây. Đây là khoảng thời gian có thể quá ngắn nhưng gấp triệu lần thông thường và đủ dài để Ni và nhóm nghiên cứu của mình tìm hiểu pha phá vỡ các liên kết hóa học và hình thành về bản chất cách một nguyên tử chuyển sang một nguyên tử khác như thế nào.  Với tầm nhìn gần như vậy, Ni cho biết cô và nhóm nghiên cứu của mình có thể kiểm tra các lý thuyết vẫn dự đoán những gì diễn ra trong “lỗ đen” của một phản ứng nếu chúng thực sự xảy ra. Sau đó, nhóm nghiên cứu của cô có thể soạn các lý thuyết mới, sử dụng dữ liệu thực tế để có dự đoán một cách chính xáccía gì xảy Ra trong những phản ứng hóa học khác, ngay cả những phản ứng diễn ra trong thực tại lượng tử đầy bí ẩn.  Ngay lập tức, nhóm nghiên cứu phát hiện những gi họ có thể học hỏi trong thí nghiệm siêu lạnh của mình. Bước tiếp theo, họ có thể điều khiển được các chất phản ứng, kích thích chúng trước khi chúng phản ứng để nhìn thấy mức năng lượng cao của chúng tác động như thế nào đến kết quả cuối cùng. Hoặc chúng có thể ảnh hưởng đến phản ứng khi phản ứng xảy ra. “Với khả năng kiểm soát của mình, thời gian cửa sổ đủ dài để chúng tôi có thể chứng minh được”, Hu nói. “Hiện tại, với công cụ này, chúng tôi có thể nghĩ về khả năng đó. Không có kỹ thuật này, không có công trình nghiên cứu này, chúng tôi thậm chí không thể hiểu được chúng”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-ultracold-chemistry-chemical-reaction.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tạo ra được “lỗ sâu” từ tính      Nhờ những tiến bộ về siêu vật liệu và kỹ thuật tàng hình, các nhà nghiên cứu đã thực hiện điều không tưởng là tạo ra “lỗ sâu” từ tính.    “Lỗ sâu” là các “đường hầm” có thể kết nối hai khu vực cách xa nhau trong vũ trụ. Đây là khái niệm được phổ biến qua các công trình nghiên cứu vật lý lý thuyết và các tác phẩm khoa học giả tưởng. Với công nghệ hiện nay thì việc tạo ra một “lỗ sâu” từ tính là điều không tưởng, bởi để điều khiển được từ trường này phải cần đến một nguồn trọng lực hấp dẫn lớn mà con người vẫn chưa biết cách phải tạo ra nguồn trọng lực này như thế nào. Tuy nhiên, trong lĩnh vực điện từ học, những tiến bộ về siêu vật liệu và kỹ thuật tàng hình đã giúp các nhà nghiên cứu thực hiện được điều này.    Các nhà khoa học thuộc Khoa Vật lý trường Đại học Autònoma de Barcelona, Tây Ban Nha, mới thiết kế và tạo ra thành công “lỗ sâu” thí nghiệm đầu tiên có khả năng kết nối hai khu vực trong vũ trụ bằng từ tính. Thiết kế này bao gồm một đường hầm chuyển từ trường từ một điểm này tới một điểm khác và giữ cho từ trường này vô hình trong suốt quãng đường vận chuyển.    Nhóm nhà khoa học nói trên đã sử dụng các siêu vật liệu và siêu bề mặt để xây dựng đường hầm này trong phòng thí nghiệm, theo đó từ trường phát ra từ một nguồn – chẳng hạn như từ một nam châm hay nam châm điện – có thể xuất hiện ở đầu kia của “lỗ sâu” như một đơn cực từ bị cô lập. Đây là một kết quả đáng kinh ngạc, bởi đơn cực từ – tức nam châm chỉ có một cực, bắc hoặc nam – không tồn tại trong tự nhiên. Kết quả thu về là một từ trường dường như đi từ một điểm A tới một điểm B thông qua một chiều nằm ngoài ba chiều không gian thông thường.    Phát minh này có thể dẫn tới những ứng dụng mới trong các lĩnh vực sử dụng từ trường, như y học. Chẳng hạn, công nghệ này có thể giúp bệnh nhân chụp cộng hưởng từ (MRI) cảm thấy dễ chịu hơn bằng đặt máy chụp ở xa họ, hoặc cho phép thực hiện đồng thời nhiều hình chụp MRI tại các điểm khác nhau trên cơ thể người bệnh.1  Trang Bùi lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên bệnh di truyền về tim có thể được chữa khỏi      Với khoản tài trợ trị giá 30 triệu bảng Anh, một nhóm các nhà khoa học ở Anh, Mỹ và Singapore đang hợp lực nghiên cứu để tạo ra một mũi tiêm có khả năng “viết lại” DNA và cứu sống hàng ngàn người trên thế giới.       Các nhà khoa học sẽ lần đầu tiên sử dụng kỹ thuật di truyền chính xác đối với tim để nghiên cứu phương pháp chữa trị cho các bệnh cơ tim di truyền. Ảnh: Getty Images/as-ansar.org  Phương pháp chữa trị đầu tiên cho bệnh di truyền về tim này được cho là sẽ tạo ra “thời khắc quyết định” đối với lĩnh vực y học về tim mạch.  Theo đó, nhóm nghiên cứu sẽ lần đầu tiên sử dụng kỹ thuật di truyền chính xác, được gọi là “base editing” (chỉnh sửa cơ bản) và “prime editing” (chỉnh sửa ở mức cao), đối với tim để thiết kế và thử nghiệm phương pháp chữa trị đầu tiên cho các bệnh cơ tim di truyền. Mục đích của phương pháp này là ngăn chặn sự biểu hiện của những gene bị lỗi trong tim. Các nghiên cứu trên động vật cũng đã cho thấy hiệu quả của các kỹ thuật này,  “Đây là thời khắc quyết định đối với lĩnh vực y học tim mạch”, theo giáo sư Nilesh Samani – giám đốc y khoa của Quỹ Tim mạch Anh – tổ chức đã tài trợ kinh phí cho nhóm nghiên cứu.  Các bệnh cơ tim di truyền bắt nguồn từ nhiều bất thường khác nhau ở trái tim, song chúng có thể khiến người bệnh đột tử hoặc mắc chứng suy tim tiến triển. Chỉ riêng ở Anh, đã có khoảng 260,000 người gặp phải tình trạng bệnh tim này. Không chỉ vậy, mỗi tuần ở Anh cũng có 12 người dưới 35 tuổi tử vong vì những bệnh tim chưa được chẩn đoán, trong đó, nguyên nhân thường gặp là bệnh cơ tim di truyền.  Điều đáng lo ngại là tất cả những người mắc căn bệnh này đều có 50/50 nguy cơ truyền các gene bị lỗi cho mỗi đứa con của mình. Và không ít gia đình đã có nhiều thành viên cùng mắc bệnh suy tim, cần ghép tim hoặc chết khi còn trẻ.  Theo giáo sư Hugh Watkins (Đại học Oxford) – nghiên cứu viên chính của dự án CureHeart, bệnh cơ tim “thực sự phổ biến” và cứ 250 người trên khắp thế giới thì lại có một người mắc phải căn bệnh nguy hiểm ấy.  Do đó, một nhóm các nhà khoa học đã được thành lập với sự lựa chọn của ban cố vấn do giáo sư Patrick Vallance – cố vấn khoa học trưởng của chính phủ Vương quốc Anh – đứng đầu.  “Dự án này là cơ hội vô cùng hiếm có để chúng tôi có thể tìm ra giải pháp chữa trị, giúp xoa dịu nỗi lo lắng của nhiều gia đình về những cái chết đột ngột hay nguy cơ phải cấy ghép tim”, ông nói. “Sau 30 năm nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều gene và các lỗi di truyền cụ thể gây ra các bệnh cơ tim cũng như cách mà chúng hoạt động. Bởi vậy, chúng tôi tin rằng trong 5 năm tới, chúng tôi sẽ có thể có một liệu pháp gene sẵn sàng để bắt đầu thử nghiệm lâm sàng”.  Theo chương trình nghiên cứu mới, các chuyên gia hy vọng sẽ có thể “sửa chữa” vĩnh viễn hoặc ngăn chặn sự biểu hiện của các gene đột biến gây ra bệnh tim.  Christine Seidman – giáo sư y khoa tại Trường Y Harvard (Mỹ) và là đồng trưởng dự án CureHeart – cho biết, ý tưởng của nhóm nghiên cứu là tìm ra giải pháp để “sửa trái tim” và đưa chúng trở lại hoạt động bình thường.  “Mặc dù có rất nhiều đột biến khác nhau, nhưng hầu hết các đột biến mà chúng tôi tìm thấy ở bệnh nhân của mình thường chỉ làm thay đổi một ký tự duy nhất của mã DNA”, bà nói. “Nhờ điều này, việc thay đổi một ký tự và khôi phục mã DNA để tạo ra một gene bình thường, với chức năng bình thường, cũng trở nên khả thi hơn”.  Đáng chú ý, các nhà khoa học cho biết, họ có thể “cung cấp những liệu pháp này cho những cá nhân đã xét nghiệm di truyền và phát hiện ra nguy cơ mắc bệnh hoặc tiến triển thành suy tim bất thường chứ không phải đợi đến lúc bệnh nhân đã phát bệnh”.  “Trước đây, chúng tôi chưa bao giờ có thể đưa ra các phương pháp chữa trị như vậy. Nhưng bây giờ, chúng tôi biết mình có thể làm được và chúng tôi đặt mục tiêu để bắt đầu”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: Genetic heart conditions could be cured for first time in ‘defining moment’    Author                .        
__label__tiasang Lần đầu tiên diệt u não không mở hộp sọ      Các chuyên gia Pháp vừa hủy thành công các u di căn trong não bằng tia lade. Phương pháp này sử dụng công nghệ hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân mà không cần mở hộp sọ.     “Đây là lần đầu tiên chúng tôi sử dụng công nghệ lade trong việc giải phẫu trong sọ, tức là giữ nguyên hộp sọ khép kín, và sử dụng công nghệ hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân để tránh tổn thất cho các bộ phận xung quanh“, BS.Alexandre Carpentier (Bệnh viện Pitié-Salpetrière, Paris) – người chỉ đạo ê-kíp chuyên gia thực hiện “sự kiện đầu tiên trong ngành phẫu thuật thần kinh thế giới” cho biết. Khi đã định vị được khối u và đã luồn dây quang vào trong hộp sọ, lade bắt đầu được kích hoạt và đốt nóng khối di căn trong vòng một đến hai phút rồi hủy khối di căn. Một hệ thống tin học cho phép điều chỉnh năng lượng do lade giải phóng ra, hơi nóng được kiểm soát 3 giây một lần để không vượt quá 90 độ. Các bản đồ nhiệt cho phép nhận ra những vùng đã bị hủy. Kết quả điều trị rất khả quan và không có biến chứng. Các tác giả cho biết: “Cách điều trị này mở màn cho việc phát triển các kỹ thuật sử dụng công nghệ hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân trong phẫu thuật thần kinh“.   Anh Khôi (Le Monde)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên đo chính xác xác suất bắt electron bằng hạt nhân phóng xạ neon-20      Một nhóm nghiên cứu quốc tế lớn đã đo đạc được khả năng bắt eletron của đồng vị neon-20 (20Ne) lần đầu tiên. Họ đã xuất bản hai bài báo trên tạp chí Physical Review C, trong đó mô tả thành công  của họ và giải thích cách các thực nghiệm liên quan đến sự phân rã của các ngôi sao có kích thước trung bình.      Nghiên cứu trước đó đã chứng tỏ ở cuối chu kỳ tồn tại của mình, các ngôi sao nhỏ suy sụp thành sao lùn trắng trước khi bị rã các lớp bên ngoài. Và các ngôi sao lớn kết thúc với một cuộc bùng phát siêu tân tinh, dẫn đến việc hình thành một ngôi sao neutron hay lỗ đen. Tuy nhiên việc các ngôi sao có kích thước trung bình vẫn còn chưa được xác định một cách thực sự rõ ràng. Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất là chúng mất khối lượng và trở thành những sao lùn trắng; một số nhà nghiên cứu khác lại tìm thấy là chúng bùng phát như những ngôi sao lớn. Có nghiên cứu trước đó đã chứng tỏ, một trong những yếu tố xác định cách một ngôi sao có kích thước trung bình chết đi là khi tỷ lệ bắt electron bằng 20Ne và hệ quả là tỷ fluorine-20 (20F) xuất hiện. Nhưng cho đến bây giờ, xác suất chuyển đổi bằng các hạt nhân vẫn chưa được đo đạc bằng thực nghiệm. Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc JYFL Phần Lan đã làm được điều này.  Trong phòng thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã bắn phá một tấm carbon với hạt nhân 20F, tác động lên chúng để chúng gắn vào tấm carbon – sau đó, họ đã đo đạc phân ra phóng xạ này. Bước tiếp theo, họ tính toán xác suất của một chuyển pha và cho biết tìm thấy 0,00041% hạt nhân 20F bị phân rã thành 20Ne0+.  Nhóm nghiên cứu đã ứng dụng những gì họ đã học được về cái chết của ngôi sao có kích thước trung bình. Sử dụng các kết quả từ thực nghiệm của mình, họ đã tìm thấy một lượng đáng kể gia tăng về tỷ lệ bắt electron (8 lần). Bởi vì số lượng lớn nên các nhà nghiên cứu đã đề xuất là nó có thể dẫn đến tổng hợp oxy tại các mức mật độ thấp. Kết quả dẫn đến vụ nổ này do đó có thể chỉ ở mức nhỏ, không phải là siêu tân tinh. Kết quả cuối cùng có thể là sự hình thành sao lùn trắng. Khi chạy các mô phỏng bằng các kết quả mình tìm ra, họ đều thấy việc hình thành sao lùn trắng này. Do đó họ kết luận, khi kết thúc chu kỳ tồn tại thì các ngôi sao trung bình không chắc trở thành các ngôi sao neutron hay lỗ đen.  Nghiên cứu trước đó đã chứng tỏ ở cuối chu kỳ tồn tại của mình, các ngôi sao nhỏ suy sụp thành sao lùn trắng trước khi bị rã các lớp bên ngoài. Và các ngôi sao lớn kết thúc với một cuộc bùng phát siêu tân tinh, dẫn đến việc hình thành một ngôi sao neutron hay lỗ đen. Tuy nhiên việc các ngôi sao có kích thước trung bình vẫn còn chưa được xác định một cách thực sự rõ ràng. Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất là chúng mất khối lượng và trở thành những sao lùn trắng; một số nhà nghiên cứu khác lại tìm thấy là chúng bùng phát như những ngôi sao lớn. Có nghiên cứu trước đó đã chứng tỏ, một trong những yếu tố xác định cách một ngôi sao có kích thước trung bình chết đi là khi tỷ lệ bắt electron bằng 20Ne và hệ quả là tỷ fluorine-20 (20F) xuất hiện. Nhưng cho đến bây giờ, xác suất chuyển đổi bằng các hạt nhân vẫn chưa được đo đạc bằng thực nghiệm. Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc JYFL Phần Lan đã làm được điều này.  Trong phòng thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã bắn phá một tấm carbon với hạt nhân 20F, tác động lên chúng để chúng gắn vào tấm carbon này – sau đó, họ đã đo đạc phân ra phóng xạ này. Bước tiếp theo, họ tính toán xác suất của một chuyển pha và cho biết tìm thấy 0,00041% hạt nhân 20F bị phân rã thành 20Ne0+.  Nhóm nghiên cứu đã ứng dụng những gì họ đã học được về cái chết của ngôi sao có kích thước trung bình. Sử dụng các kết quả từ thực nghiệm của mình, họ đã tìm thấy một lượng đáng kể gia tăng về tỷ lệ bắt electron (8 lần). Bởi vì số lượng lớn nên các nhà nghiên cứu đã đề xuất là nó có thể dẫn đến tổng hợp oxy tại các mức mật độ thấp. Kết quả dẫn đến vụ nổ này do đó có thể chỉ ở mức nhỏ, không phải là siêu tân tinh. Kết quả cuối cùng có thể là sự hình thành sao lùn trắng. Khi chạy các mô phỏng bằng các kết quả mình tìm ra, họ đều thấy việc hình thành sao lùn trắng này. Do đó họ kết luận, khi kết thúc chu kỳ tồn tại thì các ngôi sao trung bình không chắc trở thành các ngôi sao neutron hay lỗ đen.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-scientists-accurately-probability-electron-capture.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên đo được vận tốc tự quay của hố đen      Tạp chí Nature số mới đây có đăng bài cho biết lần đầu tiên loài người đã đo được vận tốc tự quay của một hố đen siêu lớn.     Khi tiến hành đo lường, các nhà khoa học đã sử dụng 2 kính viễn vọng tia X là chiếc Nustar (Nuclear Spectroscopic Telescope Array) của NASA và chiếc XMM-Newton của ESA tức Cơ quan Vũ trụ châu Âu (European Space Agency). Nustar chuyên dùng đo các tia X năng lượng cao, được phóng lên vũ trụ hồi tháng 6/2012. XMM-Newton chuyên dùng đo các tia X năng lượng thấp.   Hố đen được quan sát nằm ở trung tâm Thiên hà xoắn NGC 1365, cách Trái đất 56 triệu năm ánh sáng. Nó có đường kính lớn tới mức khó hiểu, — bằng 3,2 triệu km, và có khối lượng gấp hơn 2 triệu lần Mặt trời.  Kết quả đo đạc cho thấy, hố đen nói trên đang quay với vận tốc bằng khoảng 84% vận tốc mà thuyết tương đối của Einstein cho phép, — tức 84% vận tốc của ánh sáng (1,08 tỷ km/h). Với kích cỡ khổng lồ như vậy mà nó lại quay nhanh thế, đây thật là điều các nhà khoa học khó có thể tưởng tượng.   Thành tựu nghiên cứu này cung cấp cho các nhà khoa học những đầu mối quý giá trong việc nghiên cứu quy luật trưởng thành của hố đen và tìm hiểu hố đen đạt được trạng thái siêu khối lượng như thế nào. Sự lớn lên của hố đen có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình tiến hóa của các hệ sao như hệ Thiên hà.  Công tác nghiên cứu hố đen có rất nhiều khó khăn, bởi lẽ thiên văn học phổ biến dựa vào các biện pháp đo lường quang học, song khi thăm dò hố đen thì các biện pháp ấy hoàn toàn vô hiệu.   Hố đen là vật thể khó hiểu nhất trong không gian vũ trụ. Nó sử dụng lực hấp dẫn mạnh tới mức khó tin của mình để tóm bắt nuốt chửng mọi thứ, từ đất đá tới chất khí, tới các định tinh và cả ánh sáng, không thứ nào thoát khỏi lực hút của hố đen. Vì thế mà xung quanh nó hình thành một vành đĩa bụi và khí với kích thước ngày càng lớn (accretion disk), cái đĩa ấy nóng lên dần và phát ra những tia X năng lượng lớn. Bằng cách đó, hố đen xé nát cấu trúc không gian-thời gian của biên hố đen, khiến người ta rất khó tìm hiểu nó.  Trước đây, trong các nghiên cứu lượng hóa sự tự quay của hố đen, người ta đã thử phân tích các tia X này, căn cứ vào tình hình khúc xạ của tia X có thể sơ bộ đoán ra hành vi của hố đen; đặc biệt, các tia X có chứa các nguyên tử sắt rất dễ trông thấy. Nhưng những nghiên cứu đó đều chỉ tập trung vào các tia X năng lượng thấp. Trên chặng đường xa xôi từ hố đen đến Trái đất, tia X năng lượng thấp bị can nhiễu nghiêm trọng bởi những thiên thể khác hoặc các tầng khí quyển (kể cả khí quyển Trái đất), bởi vậy các nghiên cứu trước kia có sai số rất lớn, không thể tin cậy. Giờ đây các nhà khoa học sử dụng những tia X năng lượng cao do hố đen phát ra khi nó “ăn” các nguyên tử sắt để đo vận tốc quay của hố đen, đồng thời vẫn sử dụng các tia X năng lượng thấp do nó phát ra.  Việc khám phá hố đen siêu lớn có vận tốc tự quay gần bằng vận tốc ánh sáng đã chứng minh sự đúng đắn của các giả thiết nghiên cứu trước đây cho rằng hố đen quay cực nhanh.     NHH   tổng hợp từ các tư liệu trên mạng  Nguồn chính:  – Black hole’s spin measured accurately for first time is near speed of light (28 February 2013, by Liat Clark)  http://www.wired.co.uk/news/archive/2013-02/28/black-hole-spin-explained  – ‘Nearby’ supermassive black hole rotates at close to the speed of light  http://www.guardian.co.uk/science/2013/feb/27/supermassive-black-hole-rotate-speed-light    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên nuôi cấy được tim từ tế bào gốc      Các nhà nghiên cứu Trường ĐH Kyoto nuôi cấy được các tế bào tim, tạo ra một đột phá mới trong y học.      Nhóm các nhà di truyền học Nhật Bản do một nhà khoa học Nga là Konstantin Agladze đứng đầu lần đầu tiên đã nuôi cấy được một trái tim người sống từ tế bào gốc. Công trình được tiến hành trong một phòng thí nghiệm của Trường Đại học Kyoto.  Theo các chuyên gia, kết quả này có thể làm thay đổi về cơ bản những quan điểm không chỉ về cấy ghép, mà còn về ngành công nghiệp dược phẩm.  Nhóm nghiên cứu cho biết tế bào gốc lấy từ bào thai ở giai đoạn phát triển ban đầu là nguồn cung cấp các vật liệu di truyền. Từ các tế bào gốc phát triển thành các cơ quan trong cơ thể. Theo các nhà di truyền học, mục tiêu chính của nghiên cứu là để xác định các điều kiện hình thành bất cứ mô nào.  Tại phòng thí nghiệm của Trường ĐH Kyoto, các nhà khoa học đã tìm ra được một loại hoá chất kích hoạt cơ chế chuyển hoá. Trong số 100 tế bào nguyên sinh cảm ứng thì 80 đã trở thành tế bào tim. Họ cũng tìm được nhiệt độ tối ưu để bảo quản các tế bào là khoảng – 37 độ C.  Ông Konstantin Agladze cho biết: “Mô cấu trúc của tim mà chúng tôi tạo ra có hai ưu điểm cơ bản. Thứ nhất, chúng tôi có thể kiểm tra dễ dàng tác dụng của các chất khác nhau. Thứ hai, chúng tôi có thể sử dụng các tấm lưới sợi nano của những tế bào này để cấy ghép vào một trái tim bị hư hại”.  Để chứng tỏ rằng những tế bào tim thực sự sống, người ta đặt nó dưới kinh hiển vi điện tử có độ phóng đại vài triệu lần người ta thấy rất rõ các mô co lại và giãn ra (50-70 nhịp trong một phút) và cơ tim làm việc mà không cần kích thích từ bên ngoài.  Ngoài ra, các nhà khoa học còn nghiên cứu ảnh hưởng của các chất khác nhau đến các tế bào tim, dùng lưới sợi nano cấy vào tim của một số người bị bệnh nặng ít khả năng sống sót để theo dõi.  Cũng cần nói thêm rằng, nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học này không chỉ giới hạn ở tim mà còn ở các cơ quan khác trong cơ thể, trước hết là thận.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên phát hiện cá ngủ đông      Những con cá tuyết Nam cực lặn xuống đáy biển, hạn chế ăn uống và làm chậm lại nhịp tim. Đây có thể là một cách để chúng sống sót qua mùa đông tối tăm ở Nam cực, thời kỳ kiếm ăn khó khăn.      Nghiên cứu mới đây tiết lộ loài cá tuyết Nam cực chủ động ngừng hoạt động và chợp mắt một giấc dài trong những tháng mùa đông lê thê. Đây là lần đầu tiên hoạt động này được ghi nhận ở cá. Nhiều loài cá nước ngọt rơi vào giấc ngủ đông bị động do nhiệt độ giảm xuống, làm chậm lại cơ chế trao đổi chất của chúng, ngược lại, cá Nam cực chủ động giảm “chi phí sự sống”.   T.An (Theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên tái cấu trúc hàm sóng Bloch bằng thực nghiệm      Tốc độ ánh sáng là vận tốc nhanh nhất trong trong vũ trụ này. Không có ngoại lệ. Bất cứ ai đã nhìn thấy sự phân tách ánh sáng trắng hình lăng trụ thành cầu vồng đều có thể chứng kiến các đặc tính vật chất có thể ảnh hưởng đến hành xử của các vật thể lượng tử như thế nào: trong trường hợp này là tốc độ lan truyền ánh sáng.      Trong vùng thấp bên dưới tia laser cận hồng ngoại chia tách hai electron (các vòng tròn rỗng) thành hai dạng lỗ (các vòng tròn đặc). Việc tích điện đã gia tốc chúng dịch chuyển xa nhau bằng dao động điện trường khỏi laser terahertz (sóng xám). Trường thay đổi sau đó kéo các vật mang điện tích hướng về nhau, kết hợp và phát xạ thành hai tia sáng. Các quỹ đạo được miêu tả trong một chiều không gian với thời gian chảy trôi từ dưới cùng bên phải lên tới trên cùng bên trái. Nguồn: Brian Long  Các electron hành xử hoàn toàn khác biệt bên trong các vật liệu so với khi chúng ở trong không gian tự do, và việc hiểu rõ điều này giúp các nhà khoa học nghiên cứu về các đặc tính của vật liệu cũng như các kỹ sư có thể phát triển được các công nghệ mới. “Bản chất của sóng electron rất đặc biệt. Nếu muốn thiết kế các thiết bị trong tương lai để tận dụng sự tiên tiến trong bản chất của cơ học lượng tử này, anh phải biết rõ các hàm sóng đó”, Joe Costello, một học viên cao học về vật lý các chất đậm đặc ở UC Santa Barbara, nói.  Trong công trình mới, đồng tác giả Costello, Seamus O’Hara và Qile Wu cùng các đồng nghiệp đã phát triển một phương pháp tính toán bản chất của sóng, hay còn gọi là hàm sóng Bloch, từ các đo đạc vật lý. “Đây là lần đầu tiên có một thực nghiệm tái cấu trúc hàm sóng Bloch”, Mark Sherwin, một giáo sư về vật lý các chất đậm đặc tại UC Santa Barbara, nói. Phát hiện này của nhóm nghiên cứu đã được xuất bản trên Nature, đúng 90 năm sau khi Felix Bloch miêu tả lần đầu hành xử của các electron trong các chất rắn ở dạng tinh thể 1.  Giống như mọi vật chất, các electron có thể hành xử như hạt và sóng. Các đặc tính giống sóng của chúng được miêu tả bằng các công thức toán học mà chúng ta gọi là hàm sóng. Các hàm này có cả các thành phần thực và ảo, khiến chúng trở thành cái mà các nhà toán học vẫn gọi là các hàm phức. Nhưng không thể đo đạc trực tiếp giá trị hàm sóng Bloch của một electron; tuy nhiên, có thể quan sát một cách trực tiếp các đặc tính liên quan đến nó.  Hiểu về các hàm sóng Bloch là điều tối cần thiết để thiết kế các thiết bị mà các kỹ sư có thể mường tượng ra trong tương lai, Sherwin nói. Thách thức cho việc hiểu về hàm sóng là ở chỗ không thể tránh được sự ngẫu nhiên xuất hiện trong một vật liệu, các electron di chuyển xung quanh và các hàm sóng của chúng phân tán như giải thích của O’Hara. Những điều này xảy ra vô cùng nhanh trong vòng 100 femto giây (nhỏ hơn phần triệu giây), khiến các nhà khoa học khó có đủ thời gian thực hiện đo lường các đặc tính giống sóng của electron trong vật liệu để tái cấu trúc hàm sóng Bloch.  Thật may mắn là nhóm nghiên cứu của Sherwin có quyền tập hợp nhân lực và thiết bị để giải quyết khó khăn này.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một loại vật liệu bình thường, gallium arsenide, để thực hiện thực nghiệm của mình. Tất cả các electron trong vật liệu này ban đầu bị kẹt trong các nguyên tử Ga và As. Sử dụng một tia laser hồng ngoại tần số cao, cường độ thấp, họ kích thích các electron trong vật liệu này. Mức năng lực dư không ràng buộc được một số electron trong mối liên kết của nó, khiến chúng linh hoạt hơn. Mỗi electron tự do rời đi để lại một “lỗ” tích điện dương giống như một cái bong bóng trong nước. Trong gallium arsenide, có hai dạng lỗ, các lỗ “nặng” và các lỗ “nhẹ”, hành xử như những hạt với khối lượng khác nhau, Sherwin giải thích. Sự khác biệt nhỏ này sau đó đã lên tới kịch điểm.  Trong thời gian thực hiện thí nghiệm, một tia laser terahertz rất mạnh đã tạo ra một điện trường dao động bên trong vật liệu, có thể gia tốc những điện tích tự do mới đó. Nếu các electron không được ràng buộc kia và các lỗ được tạo ra đúng thời điểm, chúng có thể gia tốc xa nhau, chậm dần, dừng lại, sau đó tăng tốc về phía nhau và kết hợp lại. Tại điểm này, chúng có thể phát xạ ra một xung ánh sáng, hay còn gọi là dải biên, với một mức năng lượng riêng. Sự phát xạ dải biên này mã hóa thông tin về các hàm sóng lượng tử, bao gồm cả các pha của chúng, hoặc cách dịch chuyển các hàm sóng.    Từ trái sang phải: Mark Sherwin, Seamus O’Hara, Joe Costello và Qile Wu. Costello đang cầm một thiết bị ở quy mô mô hình của máy gia tốc UCSB FEL, đặt trong tòa nhà phía sau họ. Nguồn: Changyun Yoo  Bởi vì các lỗ nặng và nhẹ được gia tốc khác nhau trong trường laser terahertz, các hàm sóng Bloch của chúng đạt được các pha lượng tử khác nhau trước khi chúng kết hợp với các electron. Kết quả là các hàm sóng của chúng giao thoa với nhau để tạo ra bức xạ cuối cùng được đo đạc bằng các thiết bị. Sự giao thoa đó cũng bức chế độ phân cực của dải biên cuối cùng, vốn có thể là hình tròn hoặc elip ngay cả sự phân cực của các tia laser là tuyến tính.  Đó là sự phân cực kết nối với dữ liệu thực nghiệm với lý thuyết lượng tử, được nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ Qile Wu diễn giải. Lý thuyết của Qile là có một tham số tự do, một số có giá trị thực kết nối lý thuyết với dữ liệu thực nghiệm. “Vì vậy chúng ta có một mối tương quan rất đơn giản kết nối với thuyết cơ học lượng tử với thực nghiệm trong thế giới thực”, Wu nói.  “Tham số của Qile miêu tả một cách đây đủ các hàm sóng lỗ của Bloch mà chúng tôi tạo ra trong vật liệu gallium arsenide”, đồng tác giả thứ nhất Seamus O’Hara, một nghiên cứu sinh trong nhóm của Sherwin nói. Nhóm nghiên cứu có thể làm được điều này bằng việc đo đạc điện cực của dải biên và sau đó tái cấu trúc các hàm sóng, vốn biến đổi dựa trên góc mà tại đó lỗ lan truyền trong tinh thể. “Lý thuyết tinh tế của Qile kết nối với các hàm sóng Bloch được tham số hóa theo dạng ánh sáng mà chúng ta có thể quan sát bằng thực nghiệm”.  “Nguyên nhân khiến các hàm sóng Bloch trở nên quan trọng”, Sherwin cho biết thêm, “là bởi vì hầu hết bất kỳ tính toán nào anh muốn làm với sự tham gia của các lỗ đó, anh cần biết hàm sóng Bloch”.  Hiện tại, các nhà khoa học và các kỹ sư phải phụ thuộc vào các lý thuyết với những tham số mà người ta chưa hiểu nhiều về nó. “Vì vậy, nếu chúng ta có thể tái cấu trúc chính xác các hàm sóng Bloch trong rất nhiều vật liệu khác nhau rồi sau đó chuyển thành thông tin phục vụ cho việc thiết kế và kỹ thuật các dạng thiết bị hữu dụng và thú vị như laser, máy dò và thậm chí một số cấu trúc máy tính lượng tử”, Sherwin nói.  Thành công này là kết quả tích lũy nghiên cứu hơn một thập kỷ, kết hợp với một nhóm nghiên cứu hết sức năng động và thiết bị tốt. Một buổi họp giữa Sherwin và Renbao Liu, tại trường đại học Hong Kong bên lề hội thảo năm 2009 đã dẫn đến sự hình thành dự án nghiên cứu này.  Sherwin nhận ra là thiết bị Laser Eletron tự do tại UC Santa Barbara có thể cung cấp các điện trường cần thiết để gia tốc và tạo ra va chạm của các electron và các lỗ đồng thời với việc xử lý tần số có thể điều hướng một cách vô cùng chính xác.  Ban đầu, họ còn chưa hiểu hết về dữ liệu mình thu thập được, và mất thời gian để ghi nhận sự phân cực dải biên là yếu tố chính để tái cấu trúc các hàm sóng. “Chúng tôi đã phải căng não suốt vài năm”, Sherwin nói, “và với sự hỗ trợ của Qile, cuối cùng chúng tôi đã xác định được sự phân cực này thực ra nói với chúng tôi rất nhiều điều”.  Hiện tại, họ đánh giá phép đo đạc các hàm sóng Bloch trong một vật liệu mà họ quen thuộc, họ rất háo hức áp dụng kỹ thuật của mình vào những vật liệu mới và nhiều giả hạt lạ hơn. “Mục tiêu của chúng tôi là mời vào nhóm những người muốn học hỏi về hàm sóng Bloch để tìm hiểu một số vật liệu thú vị mới”, Costello nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-scientists-experimentally-reconstruct-bloch-wavefunction.html  https://scitechdaily.com/first-experimental-reconstruction-of-a-bloch-wavefunction/  ——————–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-021-03940-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên tái tạo nhanh virus SARS-CoV-2 bằng phương pháp sử dụng nấm men      Nhóm tác giả, gồm tác giả thứ nhất NCS Trần Thị Như Thảo, 2 tác giả liên hệ là GS Joerg Jores và GS Volker Thiel, đều ở ĐH Bern, Thụy Sĩ đã công bố trên tạp chí Nature một phương pháp mới, tái tạo thành công virus corona và một số họ virus khác bằng cách sử dụng nấm men.      Quy trình tái tạo virus sử dụng TAR, ảnh trong bài báo nghiên cứu của nhóm tác giả.  Phương pháp này rất có ý nghĩa trong bối cảnh các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đang tìm nhiều cách tổng hợp và kiểm tra các mẫu virus corona, tìm thuốc kháng virus và phát triển vaccine càng nhanh càng tốt. Và trong tương lai, phương pháp được phát triển ở Bern cũng có thể được sử dụng để chống lại các loại virus có khả năng lây nhiễm cao khác.  Nhóm tác giả công bố “Rapid reconstruction of SARS-CoV-2 using a synthetic genomics platform” [Tái tạo nhanh virus SARS-CoV-2 bằng cách sử dụng nền tảng gene tổng hợp] đã tái tạo thành công virus SARS-CoV-2 từ DNA tổng hợp (axit deoxyribonucleic). Các bản sao DNA có chứa các đoạn của bộ gene coronavirus đã được đưa vào các tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae và được ghép thành một bản sao virus hoàn chỉnh.  “Dựa trên nền tảng này, chúng tôi có thể sắp xếp và khôi phục được virus SARS-CoV-2 tổng hợp chỉ trong vòng 1 tuần sau khi có các đoạn DNA tổng hợp”, các tác giả viết trong bài báo trên Nature. Hệ thống tế bào nấm men cũng được phát triển ở ĐH Bern từ trước đó – đây là lần đầu tiên được chứng minh giá trị để cấy ghép các đoạn gene coronavirus trong tình hình dịch bệnh.   Phương pháp mới này không chỉ tái tạo ra SARS-CoV-2 mà còn cho phép tạo ra các bản sao các virus mới và lây lan nhanh khác nhau thuộc họ Coronaviridae, Flaviviridae và Paramyxoviridae. “Chúng tôi đã tối ưu hóa hệ thống này để cho phép nhân bản coronavirus và các loại virus khác một cách nhanh chóng”, giáo sư Jörg Jores, Viện Vi khuẩn thú y tại ĐH Bern cho biết.  Các kết quả nghiên cứu được đăng trên Nature và bản thảo trên hệ thống truy cập mở Biorxiv.org đã thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn. Nhiều công ty và các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã đề nghị nhóm nghiên cứu thử nghiệm cách tác nhân chống virus trên các bản sao virus mà nhóm tạo ra.   Tiến bộ kỹ thuật   Trong phương pháp của nhóm nghiên cứu này, các mảnh của bộ gene coronavirus được tạo ra từ DNA tổng hợp và sau đó được ghép lại trong các tế bào nấm men bằng cách sử dụng một quá trình được gọi là kỹ thuật tái tổ hợp liên kết- chuyển đổi (Transformation-associated recombination – TAR). Kỹ thuật này gắn các phần bộ gene virus vào những vị trí cụ thể trong bộ gene của nấm men. Kết quả là tạo ra được một nhiễm sắc thể nấm men nhân tạo mà trong đó lưu trữ thông tin di truyền của virus. RNA của virus sau đó được sản xuất trong ống nghiệm (không có tế bào nấm men) sử dụng chất xúc tác T7 RNA polymerase.   Để xem liệu nền tảng tổng hợp gene có thể áp dụng được cho các virus trong họ coronavirus hay không và liệu nó có thể dùng để gây đột biến nhanh hay không, các nhà nghiên cứu đã thực hiện một thí nghiệm tương tự, sử dụng virus MERS-CoV, một số chủng coronavirus và những virus họ khác như virus Zika, virus hợp bào hô hấp RSV ở người. Họ đã dòng hóa thành công các bộ gen virus này trong nấm men, bất kể nguồn virus, mẫu axit nucleic hay số lượng đoạn DNA.  “Nói chung, các kết quả này chứng minh rằng nền tảng tổng hợp gene này cung cấp những tiến bộ kỹ thuật để nhanh chóng tạo ra các dòng phân tử vô tính của RNA virus khác nhau, bằng cách sử dụng nguyên liệu ban đầu là các virus phân lập, DNA nhân bản, DNA tổng hợp hoặc các mẫu lâm sàng.”  Một ưu điểm chính của hệ thống nhân bản dùng phương pháp TAR là bộ gene của virus có thể phân chia thành ít nhất 19 mảnh chồng nhau và được ghép lại với hiệu quả vượt trội, các tác giả nói thêm.  Ngô Hà tổng hợp  Nguồn  https://phys.org/news/2020-05-synthetic-coronavirus-clones.html  https://www.genomeweb.com/synthetic-biology/researchers-rapidly-reconstruct-sars-cov-2-virus-using-synthetic-genomics#.XrIivCkzbIU  Nguồn nghiên cứu gốc: Thao, T.T.N., Labroussaa, F., Ebert, N. et al. Rapid reconstruction of SARS-CoV-2 using a synthetic genomics platform. Nature (2020). https://doi.org/10.1038/s41586-020-2294-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên thể hiện sự đồng bộ hóa nhịp bẩm sinh ở động vật      Người ta từng cho rằng việc chuyển động một cách chính xác theo nhịp phách nhạc là kỹ năng riêng có của con người. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới cho thấy những con chuột hóa ra cũng có năng lực này. Tốc độ tối ưu cho việc lắc lư theo nhạc phụ thuộc vào hằng số thời gian trong não (tốc độ mà bộ não có thể phản hồi với một đối tượng nào đó) tương tự ở khắp mọi loài.    Điều đó có nghĩa là năng lực của các hệ thính giác và hệ thần kinh vận động tương tác và chuyển động theo âm nhạc có thể phổ biện rộng hơn giữa các loài hơn trước đây chúng ta từng nghĩ. Phát hiện mới không chỉ nhìn sâu hơn vào bộ não động vật mà còn góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc của âm nhạc và các điệu vũ của chính chúng ta.  Bạn có thể chuyển động theo nhịp hay bạn vụng về? Hình như, chúng ta có thể ấn định được tốt thời gian cho chuyển động theo âm nhạc của chúng ta phụ thuộc vào năng lực gene bên trong của chúng ta, và trước đây, người ta vẫn cho là kỹ năng đó là đặc điểm riêng có của con người. Trong khi động vật tương tác để nghe tiếng động hoặc có thể tạo ra những âm thanh nhịp nhàng, hoặc được huấn luyện để phản hồi với âm nhạc, điều đó không cùng loại với các quá trình xử lý thần kinh phức tạp và quá trình vận động mà khi kết hợp lại với nhau có thể làm tăng cường sự ghi nhận một cách tự nhiên nhịp của một bài hát, phản hồi hoặc thậm chí là dự đoán nó. Điều này chính là sự đồng bộ nhịp.  Chỉ mới gần đây, các nghiên cứu (và video) đã chứng tỏ là một số loài vật dường như chia sẻ với ham muốn của chúng ta về chuyển động đặc biệt đó. Một bài báo do một nhóm nghiên cứu tại trường đại học Tokyo đã đem lại bằng chứng là chuột cũng là một trong số những loài vật đó.  “Chuột thể hiện phẩm chất bẩm sinh – đó là, không cần bất kỳ tập luyện nào hay từng được nghe nhạc trước đó – với sự đồng bộ hóa nhịp trong khoảng 120 – 140 bpm (số nhịp tim trong một phút), giống như con người đã có được sự đồng bộ nhịp”, phó giáo sư Hirokazu Takahashi từ trường KH&CN thông tin, nói.  “Vỏ đại não, vùng trong não của chúng ta xử lý âm thanh ở khoảng 120-140 bpm, nên chúng ta có thể giải thích bằng việc sử dụng mô hình toán học biểu hiện khả năng đáp ứng não”.  Nhưng tại sao việc chơi nhạc với chuột lại được thử nghiệm đầu tiên? “Âm nhạc ảnh hưởng rất mạnh đến bộ não và có những hiệu ứng sâu sắc lên xúc cảm và nhận thức. Để sử dụng âm nhạc một cách hiệu quả, chúng tôi cần tìm hiểu cơ chế thần kinh nằm bên trong sự thật đã được trải nghiệm”, Takahashi nói. “Tôi cũng là một chuyên gia về điện sinh lý học, liên quan đến hoạt động điện hóa trong não, và đã nghiên cứu đại não trong nhiều năm”.  Nhóm nghiên cứu đã đưa ra hai giả thuyết luân phiên: đầu tiên là nhịp điệu âm nhạc tối ưu cho sự đồng hóa nhịp có thể được xác định bằng hằng số thời gian của cơ thể. Đó là sự khác biệt giữa các loài và  ở các loài động vật nhỏ nhanh hơn nhiều với người (chúng ta hãy nghĩ đến một con chuột có thể chạy nhanh như thế nào); thứ hai là nhịp độ tối ưu có thể thậm chí được xác định bằng hằng số thời gian của não, vốn tương đồng một cách đáng ngạc nhiên giữa các loài.  “Sau khi thực hiện nghiên cứu trên 20 người và 10 con chuột, kết quả cho thấy là nhịp độ tối ưu cho đồng bộ nhịp phụ thuộc vào hằng số thời gian trong não”, Takahashi nói. “Điều này chứng minh là não động vật cũng có thể có năng lực trong việc giải thích các cơ chế tri giác về âm nhạc”.  Những con chuột đã được kết nối với những gia tốc kế không dây, có thể đo đạc được những chuyển động đầu nhỏ nhất. Những người tham gia cũng mang tai nghe gắn gia tốc kế. Sau đó các trích đoạn dài một phút từ bản sonata cho hai piano cung Rê trưởng K. 448 của Mozart ở bốn tốc độ khác nhau: bằng 75%, 100%, 200% và 400% so với tốc độ nguyên gốc.  Tốc độ nguyên gốc của trích đoạn là 132 bpm. Kết quả cho thấy là sự đồng bộ hóa nhịp của chuột rõ ràng trong khoảng 120-140 bpm. Nhóm  nghiên cứu phát hiện ra là cả chuột và người đều lắc đầu theo nhịp trong một nhịp điệu tương đồng và mức độ của việc lúc lắc đầu giảm đi nhiều khi âm nhạc được gia tốc.  “Theo hiểu biết tốt nhất của chúng tôi, đây là báo cáo đầu tiên về sự đồng bộ nhịp bẩm sinh trong động vật chứ không phải là do huấn luyện hoặc được tiếp xúc với âm nhạc”, Takahashi nói.  “Chúng tôi đã đặt giả thuyết là sự đáp ứng trong thời gian ngắn trong não đã dự phần vào việc điều chỉnh nhịp trong vỏ đại não. Chúng tôi đã có thể giải thích điều này bằng việc đưa dữ liệu hoạt động thần kinh vào một mô hình toán học biểu thị sự đáp ứng. Hơn nữa, mô hình đáp ứng của chúng tôi cho thấy là phản hồi với các chuỗi click ngẫu nhiên, hiệu suất dự đoán nhịp cao nhất xuất hiện khi khoảng thời gian giữa các liên kích thích (thời điểm giữa phần cuối của một kích thích và phần bắt đầu của kích thích khác) là 200 mili giây (một phần nghìn của một giây). Điều này khớp với thống kê của các đoạn nghỉ liên nốt trong âm nhạc cổ điển, nó cho thấy là việc sở hữu khả năng đáp ứng trong bộ não là nền móng của nhận thức và sáng tạo âm nhạc”.  Cùng với hình thành một cái nhìn sâu sắc vào bộ não động vật và sự phát triển của sự đồng bộ hóa nhịp trong bộ não chúng ta, các nhà nghiên cứu còn có thêm cái nhìn mới vào sự sáng tạo âm nhạc của con người.  “Bước tiếp theo, tôi cũng muốn tìm hiểu cách các đặc tính âm nhạc khác như giai điệu và sự hòa âm liên quan đến động lực của bộ não như thế nào. Tôi cũng quan tâm đến các cơ chế gì của bộ não đã sáng tạo ra các lĩnh vực văn hóa của con người, như nghệ thuật, âm nhạc, khoa học, công nghệ và tôn giáo; và theo cách ấy thì các cơ chế sáng tạo như thế nào, tại sao lại như vậy”, Takahashi nêu ý định của mình.  “Tôi tin là câu hỏi này là điều chính yếu để hiểu cách bộ não hoạt động và phát triển được thế hệ AI tiếp theo. Và cũng là một kỹ sư, tôi quan tâm đến cách sử dụng âm nhạc cho một cuộc đời hạnh phúc”.  Công trình “Spontaneous beat synchronization in rats: Neural dynamics and motor entrainment” được xuất bản trong tạp chí Science Advances 1.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-rats-bopping-video-innate-synchronization.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/11/221111155715.htm  ——————————————  1 . https://phys.org/news/2022-11-rats-bopping-video-innate-synchronization.html    Author                .        
__label__tiasang Lần đầu tiên thực hiện tính toán lượng tử đám mây      Năng lượng liên kết của deuteron lần đầu tiên đã được tính bằng thuật giải lượng tử thông qua việc sử dụng kết nối mạng từ xa với các thiết bị lượng tử.      Trong khoa học, công việc tính toán từ lâu đã được tiến hành theo cách gõ lệnh trên màn hình rồi gửi những lệnh đó đến một máy tính, có thể là ở ngay toà nhà bên cạnh hoặc ở một địa điểm khác rất xa. Truy cập từ xa như thế cho phép các nhà khoa học sử dụng các siêu máy tính mà họ không thể có tại nơi họ làm việc. Bây giờ ý tưởng này đã lan đến lãnh địa của tính toán lượng tử. Cái gọi là tính toán lượng tử đám mây hiện đang được cung cấp bởi một số công ty như IBM, Google và Rigetti, những công ty có các chip lượng tử kết nối được với internet. Người được cấp quyền sử dụng chỉ cần gửi mã lập trình lượng tử của mình đến một trong những công ty trên: chương trình lượng tử sẽ được chạy và kết quả sẽ được gửi trở lại, không cần người dùng rời khỏi văn phòng hoặc thậm chí không cần tìm hiểu bất kỳ chi tiết phức tạp nào về “phần cứng lượng tử”. Vận dụng xu hướng này, Eugene Dumitrescu từ Phòng thí nghiệm Quốc gia Mỹ Oak Ridge ở Tennessee và các cộng sự đã tính năng lượng liên kết của deuteron bằng việc sử dụng bộ vi xử lý lượng tử truy cập qua máy chủ đám mây1. Lời giải của bài toán này đã được biết từ trước, nhưng đây là lần đầu tiên bài toán này được giải với máy tính lượng tử. Điều này tạo ra cơ hội tốt cho các nhà khoa học khi các máy tính lượng tử ngày càng trở nên phổ biến hơn.    Hình 1: Bit và bit lượng tử (qubit) đều được đặc trưng bởi hai trạng thái riêng biệt. Sự khác nhau là bit chỉ có thể ở một trong hai trạng thái, còn qubit có thể cùng một lúc ở cả hai trạng thái.  Mặc dù ý tưởng về các máy tính lượng tử đã tồn tại từ nhiều thập kỷ nay, việc thiết kế các máy tính như vậy chỉ trở nên khả thi trong vài năm gần đây. Máy tính lượng tử dựa trên khả năng thao tác trên các bit lượng tử (gọi là các qubit), là các trạng thái lượng tử có thể tồn tại như một chồng chập tùy ý của các trạng thái của bit (Hình 1). Việc đồng thời ở cả hai trạng thái có nghĩa là qubit mang nhiều thông tin hơn bit. N bit chỉ có thể biểu diễn một trong 2N trạng thái khả dĩ, trong khi đó N bit chỉ có thể biểu diễn một trong 2^N trạng thái khả dĩ, trong khi đó N qubit có thể biểu diễn tất cả 2^N trạng thái cùng một lúc.”. Sức mạnh của máy tính lượng tử là khả năng tạo ra các trạng thái chồng chập lớn, các trạng thái rối lượng tử và sự giao thoa lượng tử, những điều không tồn tại trong tính toán thông thường. Điều này tạo nên sự tăng tốc đáng kể trong tính toán: một số bài toán đòi hỏi số thao tác (đồng nghĩa với thời gian tính toán) tăng theo cấp số mũ so với số liệu đầu vào nếu sử dụng máy tính thông thường, nhưng chỉ tăng theo cấp đa thức trên máy tính lượng tử.  Hiện nay đã xuất hiện một vài máy tính lượng tử kết hợp các bit với vài chục qubit. Các qubit có thể hiện thực hóa bằng nhiều hệ vật lý khác nhau, như chồng chập của trạng thái spin có chiều hướng lên và spin có chiều hướng xuống của các nguyên tử hoặc chồng chập của hai trạng thái kích thích trong một mạch siêu dẫn, v.v. Một số máy tính lượng tử đơn giản đã được thiết kế để phục vụ khách hàng từ xa. Ví dụ, IBM Q Experience là một nền tảng dựa trên cơ chế đám mây cho phép các nhà nghiên cứu chạy các chương trình riêng của mình trên một trong những máy tính lượng tử dựa trên chất siêu dẫn được đặt trong các phòng nghiên cứu khác nhau của IBM. Cụ thể, Dumitrescu và các cộng sự^ …1 được quyền truy cập vào hai hệ thống tính toán lượng tử đám mây: một chip lượng tử QX5 của IBM và một chip lượng tử Rigetti 19Q.  Để sử dụng máy tính lượng tử cần thành thạo “ngôn ngữ” lượng tử, khác với ngôn ngữ vẫn dùng trên máy tính thông thường. Nói chung, có thể chia thành ba bước chính: (i) xây dựng vấn đề cần giải quyết thông qua các ma trận unita, (ii) viết lại các ma trận đó dưới dạng các cổng logic có thể thực hiện được trên một máy tính lượng tử đã cho, và (iii) thực hiện các cổng logic đó với nỗ lực nâng cao hiệu quả của bước (ii), giảm tối đa số cổng logic (trên thực tế chỉ cần một số lượng rất nhỏ các cổng logic vẫn đủ để thực hiện gần như bất kỳ một ma trận unita nào).  Cổng logic trong máy tính lượng tử là một thao tác trên các qubit, nó luôn được biểu diễn bởi một toán tử unita. Nếu coi trạng thái một qubit là trạng thái của một spin, thì toán tử unita tương ứng sẽ là một phép quay của spin đó. Lấy một ví dụ đơn giản, giả sử ta muốn tìm năng lượng của một trạng thái cụ thể |ψ〉. Để xây dựng trạng thái này, ta sẽ thiết kế một toán tử unita U. Toán tử này tác động lên một hoặc nhiều qubit trong trạng thái cơ bản |0〉của chúng: |ψ〉 = U|0〉. Giả sử Hamiltonian có thể được tính từ một toán tử unita W khác. Một cách để tính năng lượng trung bình là thực hiện các thao tác trên các qubit biểu diễn trạng thái |ψ〉 (ở đây là tác động W lên |ψ〉) kết hợp với thao tác trên một qubit bổ sung (gọi là qubit ancilla) như trên Hình 2. Sau khi kết thúc các tác động nói trên, qubit ancilla sẽ được đo và nhận được kết quả dưới dạng các bit. Tuy nhiên, kết quả đo này chỉ là một trong nhiều khả năng có thể xảy ra, vì vậy cần lặp lại phép đo nhiều lần và lấy giá trị trung bình, là giá trị liên quan đến giá trị kỳ vọng 〈W〉, có thể biến đổi thành năng lượng trung bình cần tính.    Hình 2: Trong tính toán lượng tử đám mây, người dùng công thức hóa vấn đề cần giải quyết, như tính năng lượng liên kết của một hạt nhân chẳng hạn, dưới dạng các ma trận unita U, W, v.v.. Các ma trận này được chuyển đổi thành các cổng logic với các lệnh thực hiện theo trình tự cụ thể. Các lệnh này được gửi qua internet tới một cơ sở tính toán có trang bị một con chip lượng tử (hiển thị ở bìa phải). Một ví dụ về tính toán lượng tử được hiển thị trong phần hình màu xanh lá cây: Đầu tiên, cho toán tử U tác động lên trạng thái cơ bản |0〉 của các qubit để tạo ra hàm sóng mong muốn |ψ〉. Sau đó thực hiện các cổng H (gọi là cổng Hadamard) lên qubit ancilla và cổng W lên các qubit trong trạng thái |ψ〉 theo một trình tự nhất định. Cuối cùng, qubit ancilla sẽ được đo và kết quả (dưới dạng các bit thông thường) được gửi lại cho người dùng.  Dumitrescu và các cộng sự đã chọn bài toán tính năng lượng liên kết của deuteron. Hamiltonian trong trường hợp này rất đơn giản và lời giải có thể được tìm thấy một cách giải tích. Tuy nhiên giải bài toán này trên máy tính lượng tử là một bài tập hữu ích, sẽ giúp phát triển các thủ tục để giải các bài toán khác khó hơn nhiều. Xét về ba bước chính của tính toán lượng tử đã nói ở trên, các tác giả đã mô tả rất rõ ràng và sư phạm các bước (i) và (ii), trong khi bước (iii) là nặng về kỹ thuật và vượt ra ngoài phạm vi của bài toán này.  Chiến lược của nhóm Dumitrescu là sử dụng phương pháp tìm hàm riêng/trị riêng lượng tử. Ban đầu, nhóm đã thực hiện một phép tính hai qubit, chỉ tính đến hai trạng thái cơ sở kết hợp cụm. Họ tìm được kết quả phù hợp từ các chip của IBM và Rigetti. Sau đó họ thực hiện tiếp một phép tính ba qubit chỉ với chip của IBM. Khi các kết quả được ngoại suy đến giới hạn có vô số trạng thái cơ sở (là giới hạn có thể tính được một cách giải tích), giá trị năng lượng liên kết được tính bằng tính toán lượng tử đám mây phù hợp tuyệt vời với các tính toán giải tích chính xác.  Hiện nay, các máy tính lượng tử khá bị hạn chế về số lượng qubit và các cổng logic lượng tử. Ngoài ra, có thể nói rằng thao tác trên các qubit không hề dễ. Ví dụ, spin của một nguyên tử biểu diễn trạng thái của qubit tất yếu bị ảnh hưởng bởi môi trường. Điều này có nghĩa là các thao tác trên các qubit sẽ bị lỗi với mức độ tăng theo số cổng logic được áp dụng trên chúng. Mặc dù còn những hạn chế như vậy, sự quan tâm đến tính toán lượng tử vẫn đã “bùng nổ” trong cộng đồng các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Số lượng các phần cứng lượng tử cần thiết cũng đang tăng lên theo thời gian và điều này sẽ gia tăng đáng kể cơ hội khám phá những cách thức mới để giải quyết các bài toán lượng tử nhiều hạt trong vật lý và hóa học.  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v11/51  —-  1. E. F. Dumitrescu và cộng sự, “Cloud Quantum Computing of an Atomic Nucleus,” Phys. Rev. Lett.120, 210501 (2018).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên tìm thấy vi nhựa trong mô phổi người      Một nhóm nghiên cứu từ trường đại học Hull và bệnh viện Castle của Anh đã nhận diện được các hạt vi nhựa trong các mô phổi được lấy từ các bệnh nhân đang điều trị. Đây là phát hiện lần đầu tiên người ta quan sát được những vật liệu trong cơ thể người sống.      Kết quả được nhóm nghiên cứu miêu tả trong một công trình xuất bản trên tạp chí Science of the Total Environment.  Những nghiên cứu trước đây từng cho thấy nhựa ở mọi kích thước đã được tìm thấy khắp hành tinh này. Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tìm thấy những hạt vi nhựa trong cơ thể động vật và người. Nhiều hạt đã được tìm thấy trong gan, thận, lá lách của cả người sống lẫn người chết. Và mới tháng trước, một nhóm nghiên cứu ở Hà Lan ghi nhận phát hiện vi nhựa trong mạch máu của một bệnh nhân.  Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu trường đại học Hull và bệnh viện Castle đã tìm thấy vi nhựa trong các mô phổi được lấy từ bệnh nhân đang điều trị trong một bệnh viện.  Nghi ngờ các hạt nhựa ở kích thước micro có thể được một số người hít vào, các nhà nghiên cứu đã làm việc cùng với một nhóm bác sĩ phẫu thuật tại bệnh viện Castle Hill và bệnh nhân của họ, những người mới phẫu thuật để điều trị một số bệnh về phổi và cho phép trích xuất mô phổi từ các cuộc phẫu thuật. Với sự đồng ý này, nhóm nghiên cứu đã có thể thu thập được 13 mẫu, mỗi mẫu sau đó đã được kiểm tra trong kính hiển vi. Qua đó, họ đã tìm thấy vi nhựa ở 11 mẫu.  Khi nghiên cứu các mảnh nhựa này, họ đã tìm thấy chúng đến từ 12 nguồn khác nhau, bao gồm những loại từ các sản phẩm dân dụng chung trong gia đình như quần áo, đồ gói hàng và chai. Tuy nhiên gây ngạc nhiên nhiều nhất là các nơi tìm thấy các hạt này. Thay vì tìm thấy ở đường hô hấp trên, vốn được các nhà nghiên cứu chờ đợi, họ đã tìm thấy chúng ở khu vực đường hô hấp dưới. Điều này gây nhạc nhiên bởi đường thở trong phổi thường nhỏ, khiến cho các hạt này khó có thể đến được đường hô hấp dưới. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng ngạc nhiên khi thấy mức cao của vi nhựa trong các bệnh nhân nam so với các bệnh nhân nữ.  Họ cho biết thêm là chưa ai biết rõ những hạt nhựa bé nhỏ này sẽ tác động như thế nào đến cơ thể và sức khỏe của người mang chúng. Do vậy, không nghi ngờ gì nữa, cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để xác định được tác động đó.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-04-microplastics-lung-tissue-human.html  https://www.usatoday.com/story/news/health/2022/04/08/microplastics-lungs-human/9487249002/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu tiên tổng hợp được nhiễm sắc thể nấm men      Ngày 27/3/2014, tạp chí Nature và một số báo  của Anh đưa tin lần đầu tiên các nhà khoa học đã thành công tổng hợp  được nhiễm sắc thể của một sinh vật phức tạp là nấm men (yeast).     Đây là  thành tựu có ý nghĩa cột mốc lịch sử trong lĩnh vực sinh vật học tổng  hợp và hứa hẹn tạo ra cuộc cách mạng trong y học và công nghệ sinh học.  Trước kia nhà di truyền học Craig Venter phải mất 15 năm và chi phí hết 40 triệu USD để tổng hợp được hệ gene của một vi khuẩn ký sinh. Vi khuẩn là sinh vật nhân sơ (prokaryotes), thuộc loại tế bào đơn giản nhất. Nấm men cao cấp hơn, là các sinh vật nhân chuẩn (eukaryotic organisms, gồm từ thực vật đến con người). Ngày nay một nhóm nhà khoa học, hầu hết là nghiên cứu sinh, đã tái thiết kế và làm ra được nhiễm sắc thể nấm men (yeast chromosome) hoàn chỉnh, có đầy đủ các chức năng bình thường.   Nhóm nghiên cứu dựa vào nhóm gene nấm men rượu (yeasts Saccharomyces cerevisiae) đã biết để nối liền các mảnh rời của DNA tổng hợp, từ đó làm ra được nhiễm sắc thể nhân tạo của nấm men. Họ dự kiến trong vòng bốn năm tới sẽ tạo ra được nhóm gene nấm men hoàn toàn tổng hợp của 16 nhiễm sắc thể.  Tác giả chủ yếu của công trình nghiên cứu này là nhà di truyền học hàng đầu thế giới Jef Boeke hiện ở Trung tâm Y tế Langone thuộc ĐH New York. Ông nói: “Việc nghiên cứu của chúng tôi giúp cho sinh vật học tổng hợp đi từ lý thuyết đến thực tiễn. Trong lĩnh vực chế tạo nấm men nhân tạo, đây là bước tiến lớn nhất cho tới nay đã đạt được… Đây là nhiễm sắc thể biến động lớn nhất đã chế tạo được trong lịch sử. Nhưng đột phá thực sự quan trọng là ở chỗ đã dung hợp được nó vào một tế bào nấm men sống. Các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tế bào nấm men mang nhiễm sắc thể tổng hợp đó tỏ ra rất bình thường… Chúng dường như giống hệt mọi tế bào nấm men thiên nhiên, chỉ có điều hiện nay chúng có một số chức năng mới, có thể thực hiện được những điều mà nấm men thiên nhiên không thể thực hiện được.”  Việc làm ra nhiễm sắc thể nấm men tổng hợp này mất rất nhiều công sức, được ví như leo lên đỉnh Everest, vì nó đòi hỏi phải nối 273.871 thành phần (component) của DNA theo một thứ tự chính xác và khử bỏ khoảng 5.000 trình tự (sequence) trùng lặp dư thừa.  Nhà sinh học tế bào Farren Isaacs ở ĐH Yale nói: “Việc lần đầu tiên tổng hợp và thiết kế được nhiễm sắc thể sinh vật nhân chuẩn là một cột mốc làm mọi người phấn khởi.”  Công trình mô tả sự tổng hợp nhiễm sắc thể nấm men của Boeke và các đồng sự đã được đăng trên tạp chí Nature.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lần đầu trong danh sách có người Việt Nam      Lần đầu trong danh sách các nhà khoa học “có ảnh hưởng lớn nhất” do Thomson Reuters công bố hằng năm có tên ba nhà khoa học Việt Nam.    Thomson Reuters, một tổ chức hàng đầu thế giới về việc  theo dõi và công bố thông tin tri thức về chuyên gia nghề nghiệp toàn  cầu, vừa báo cáo danh sách hơn 3.000 nhà khoa học “có ảnh hưởng  lớn nhất” trong năm 2014.  Đây là công trình tổng hợp của một ê kíp chuyên gia đông đảo không dưới 4000 người bao gồm tất cả các ngành khoa học công nghệ đang được hầu hết các nước trên thế giới triển khai thực hiện, khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật, y dược, kinh tế-kinh doanh…  Họ theo dõi sách báo, công trình khoa học đã được xuất bản trong năm 2013, họ đánh giá các tác giả qua ảnh hưởng của các công trình, số lần được các tác giả khác trích dẫn, mỗi tác giả chủ yếu dựa trên 25 công trình đăng tải gần nhất.                   Báo chí khoa học quốc tế, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học đã đón nhận tài liệu này như một bản đánh giá thành tích khoa học khách quan vô tư nhất. Nếu bạn dùng cụm từ “highly cited researchers 2014″ tìm thông tin trên Google thì thấy dày đặc những bài viết của các trung tâm các trường về chỗ đứng của cơ quan, địa bàn mình trên danh sách.  Ở đây tôi không có ý đi sâu vào phân tích đánh giá toàn cầu, tôi chỉ kê khai vài chi tiết mà người Việt chúng ta quan tâm.  Thật vậy, sau những tiếng chuông cảnh báo về tình trạng thê thảm của công bố khoa học Việt Nam, ai cũng muốn biết năm 2014 có gì đáng nói cho Việt Nam chúng ta?  Xin nói ngay là trong danh sách có ba người Việt.  Người thứ nhất là GS Đàm Thanh Sơn đang giảng dạy tại Đại học Chicago, Hoa Kỳ về ngành vật lý.  Người thứ hai là GSTS Nguyễn Sơn Bình (SonBinh T. Nguyen) đang nghiên cứu giảng dạy tại Đại học Northwestern, Hoa Kỳ về ngành hoá học.  Người thứ ba chính là điều mới mẻ nhất.   Đó là PGSTS Nguyễn Xuân Hùng, đang tác nghiệp giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại Việt Nam, trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Việt – Đức Sài Gòn về ngành tính toán cơ học.  Trong danh sách của Thomson Reuters PGSTS Nguyễn Xuân Hùng được sắp trong danh sách ngành “Computer Science”.  Tôi là người rất vui trước thành quả bất ngờ của PGSTS  Nguyễn Xuân Hùng vì người này là học trò của lớp EU-EMMC (ĐHBK TP HCM, 2001-2003) đã làm luận văn thạc sỹ và sau đó tiến sỹ do tôi hướng dẫn, bảo vệ thành công tại Đại học Liège, Bỉ.  Hiện nay, PGSTS Nguyễn Xuân Hùng là Phó tổng biên tập tờ báo khoa học “Asia Pacific Journal of Computational Engineering, APJCEN” mà tôi là Tổng biên tập!  Niềm vui của tôi chưa dừng lại ở đây vì còn có ba người khác được nêu tên trên danh sách Thomson Reuters là thành viên của ban biên tập APJCEN.  Đó là các Giáo sư Liu Gui Rong, ĐH Cincinnati, Giáo sư Liu Wing Kam, ĐH Northwestern, hai đồng biên tập của tôi.  Người thứ ba là Giáo sư Rabczuk Timon, ĐH Bauhaus, Weimar, Đức.   Giáo sư này vừa mới xung phong đứng ra làm Phó biên tập số đặc biệt APJCEN sắp ra năm nay với chủ đề: “Những xu hướng mới nhất của ngành tính toán cơ học”.  Bản báo cáo của Thomson Reuters nêu rõ sự kiện khoa học được các nhà khoa học quan tâm và bàn thảo nhiều nhất là sự kiện khám phá ra hạt HIGGS vì đã có đến không dưới 500 công trình đã công bố về lĩnh vực này.  Hai  ngành nghiên cứu được xem như nóng nhất hành tinh là:  1.    Sinh Y (Biomedecine)  2.    Vật liện nano (Nonomaterials)                   Nhà nghiên cứu nữ Stacey B. Gabriel được sắp hàng đầu trong danh sách vì đã có đến 23 công trình nóng nhất trong năm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Làn sóng dịch Corona thứ ba hoành hành ở châu Phi      Làn sóng dịch corona thứ ba đang hoành hành ở Châu Phi, một số địa phương đang trải qua tình trạng tồi tệ chưa từng có. Biến thể Delta đã xuất hiện tại 14 quốc gia, đâu đâu cũng thiếu oxy và giường bệnh dành cho bệnh nhân chăm sóc đặc biệt.      Nam Phi đã có hơn 58.000 ca tử vong do corona. Ảnh: bloomberg  Nhà dịch tễ Catherine Kyobutungi là một trong những chuyên gia hàng đầu, giàu kinh nghiệm ở Châu Phi. Tuy nhiên những gì xảy ra tuần qua khiến bà hoàn toàn bất ngờ. Một làn sóng corona đang hoành hành tại quê hương bà và các số liệu về lây nhiễm đã phá mọi kỷ lục. Người đầu tiên bị tai họa trong gia đình là cụ thân sinh của  Kyobutungi, ông bị bệnh Covid-19. Cụ thuộc diện có nhiều nguy cơ lây nhiễm, năm nay 82 tuổi, bị đái tháo đường từ lâu.  “Nồng độ oxy hạ xuống mức cận đáy, ông hoàn toàn không ăn uống gì cả. Tình hình thực sự nghiêm trọng. Tuy vậy bác sỹ khuyên tốt nhất để cụ ở nhà cho gia đình chăm sóc, bệnh viện chật cứng rồi”. Sau đó Kyobutungi tìm kiếm bình oxy, nhưng bói cũng không ra. Cuối cùng bà gặp may, đã thuê được thiết bị của một nhà buôn. “Sau vài ngày tình hình tiến bộ hơn. Những người không có tiền và không có kiến thức y  tế cần thiết đành nhìn người thân lịm dần và ra đi”. Kyobutungi kể.  Ông Semu Nsibirwas là chủ một cửa hàng kinh doanh thiết bị kỹ thuật ở thủ đô Kampala của Uganda. Vị thương nhân này tạm gác việc kinh doanh khác và chuyển sang dịch vụ chăm sóc bệnh nhân covid-19. Ông nói “đầu óc tôi muốn nổ tung vì đông bệnh nhân quá. Ông chính là người cho Kyobutungi thuê máy – với giá 70 USD/ngày. Giờ đây ông làm cả dịch vụ xét nghiệm máu, liên hệ với các bệnh viện tìm chỗ cho các bệnh nhân nặng.   Theo Nsibirwa thì chỉ có giường bệnh nếu đêm có ai đó bị chết. Nói chung phần lớn bệnh nhân nặng lúc này đều phải điều trị tại nhà và đành tự thuê các thiết bị y tế cần thiết, nếu có và nếu gia đình người bệnh có tiền! WHO nhấn mạnh tình hình ở Uganda hết sức nghiêm trọng. Tuy nhiên tổ chức này phủ nhận thông tin các bệnh viện từ chối không nhận bệnh nhân. Trên mạng xã hội nhiều người mô tả phải đưa người bệnh đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác nhưng ở đâu cũng không tiếp nhận vì hết chỗ.   Bệnh viện lớn nhất nước thừa nhận tuần qua có thời kỳ bị quá tải, oxy bị thiếu. Bình quân mỗi phút một người bệnh cần tới 60-70 lít oxy. Các bác sỹ nói làn sóng dịch bệnh hiện nay khiến hầu hết bệnh nhân đến viện đều cần máy thở nên tình trạng thiếu bình oxy trở nên nghiêm trọng. Bộ trưởng Y tế Uganda, bà Jane Aceng, thừa nhận: “Chúng tôi gặp vấn đề về thiếu oxy. Điều đó có nghĩa là số ca tử vong sẽ tăng lên. Nhân viên y tế  cũng đã quá mệt mỏi vì làm việc căng thẳng liên tục”. Tuy nhiên bà phủ nhận chuyện bệnh viện nhà nước không nhận bệnh nhân vì thiếu giường bệnh. Cuối cùng mới đây thì Tổng thống Yoweri Museveni đã ban lệnh phong tỏa nghiêm ngặt trong cả nước.  Làn sóng Covid cũng đã lan tới các công ty xe đòn đám ma. Tại các công ty dịch vụ tang lễ lớn nhất ở thủ đô, số ca tử vong phải giải quyết mỗi ngày đã tăng hơn nhiều. “Số người chết trẻ ngày càng nhiều hơn, thậm chí có cả người chết mới  15 đến 20 tuổi”, ông giám đốc công ty nghĩa trang Funeral Services nói. Điều này rất khác so với các đợt dịch trước. Thân nhân người chết cũng rất đau buồn vì mỗi tang lễ không được tập trung quá 20 người.   Các vụ lây nhiễm tăng đột ngột từ giữa tháng 5 và kéo dài cho đến tận bây giờ. Điều này diễn biến tương tự như ở Ấn Đô hồi tháng 4. Các chuyên gia ví sự lây nhiễm này nhanh chóng, ồ ạt như cháy rừng và số bệnh nhân trẻ bị bệnh nặng tăng vọt. Họ đều cho thủ phạm là biến thể Delta.   Ở miền tây Kenya người ta đã xác định biến thể Delta là tác nhân chính gây đại dịch tại nước này. Cho đến nay biến thể Delta đã có mặt tại 14 quốc gia Châu Phi.   Bên cạnh Uganda thì Namibia cũng đang khốn đốn vì đại dịch corona, nước này có tỷ lệ tử vong vào loại cao nhất Châu Phi.   Cũng như ở Uganda, tại Namibia cũng thiếu trầm trọng oxy y tế và giường bệnh chăm sóc đặc biệt, đây là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong cao. Hai nước này có một điểm chung nữa là tỷ lệ tiêm  chủng rất thấp. Tại Namibia mới có 18.000 người đã tiêm chủng hai lần, khoảng 100.000 người mới được tiêm một lần, tổng số được tiêm chưa được 7% số người cần được tiêm chủng tại đất nước này. Đất nước này đang chịu nghịch lý, một mặt là thiếu vaccine nghiêm trọng, nhưng ngược lại hiện có tình trạng ùn ứ vaccine vì người dân rất nghi ngờ việc tiêm chủng. Hiện trong kho còn trên  80.000 liều vaccine.   Catherine Kyobutungi nói “Hiện tại các chính phủ đều không biết khi nào sẽ nhận được bổ sung vaccine. Mỹ và Châu Âu hứa sẽ tặng vaccine cho các nước nghèo, nhưng số lượng đó không thấm vào đâu. Trong khi các quốc gia ở bắc bán cầu đua nhau thu gom vaccine để sử dụng nội bộ thì Châu Phi chỉ còn biết dài cổ chờ đợi.  Ấn Độ cũng mất mấy tuần lễ mới khống chế được biến thể Delta vì Ấn Độ có khả năng tổ chức tiêm chủng rộng rãi để chặn đứng virus lây lan. “Trong khi chúng tôi không thể làm gì hơn là ngồi chờ và hy vọng mọi sự sẽ qua đi”, Kyobutungi.  Xuân Hoài lược dịch      Nguồn: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fausland%2Fcorona-in-afrika-delta-variante-sorgt-fuer-sauerstoffknappheit-a-ea1fdcfa-8ecd-4283-b26d-4583f5e29f45     Author                Quản trị        
__label__tiasang Làn sóng lắp đặt ADSL tại gia và vấn đề an ninh mạng      Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 13 triệu người sử dụng internet. Với tốc độ phát triển 25%, Việt Nam đang là thị trường đầy triển vọng cho ngành thông tin mạng. Trong đó, việc phát triển thị trường internet tại gia đang được các nhà cung cấp dịch vụ như: VNPT, FPT, Viettel, Truyền hình cáp… coi là hướng phát triển mũi nhọn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, trái ngược với sự phát triển vũ bão của dịch vụ internet, nhận thức của người sử dụng về vấn đề an ninh mạng còn rất “ngây thơ”, tạo nên một thị trường màu mỡ cho các loại virus và phần mềm gián điệp tác oai, tác quái gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế. Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với anh Nguyễn Tử Quảng- Giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS (Đại học Bách khoa- Hà Nội) về những ẩn họa trên mạng.      Phóng viên (PV): Lắp internet băng thông rộng (ADSL) tại gia đang trở thành trào lưu tại các thành phố lớn. Là một chuyên gia về an ninh mạng, anh có những cảnh báo gì cho người sử dụng?  Nguyễn Tử Quảng (NTQ): Trước hết, tôi muốn nói internet đã mang lại sự thay đổi to lớn, tác động tốt vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, nhận thức của người sử dụng về an ninh mạng chưa theo kịp phát triển của Internet. Đa số người sử dụng vẫn… hồn nhiên nghĩ rằng, máy tính ở trong nhà mình thì không ai có thể xâm phạm được. Đó là một sai lầm lớn sẽ dẫn tới việc hỏng các linh kiện, ảnh hưởng tới tuổi thọ của máy, bị xâm phạm thông tin riêng tư… Nhìn chung, đã nối ADSL là máy tính của bạn sẽ online suốt ngày đêm (theo thói quen sẽ rất ít người tắt moderm mạng khi không vào mạng). Online cũng giống như việc bạn chấp nhận mở cửa nhà mình cho tất cả mọi người ngó vào mà nhà của bạn lại nằm “trên phố đông người qua”. Có thể nói rằng, không đâu lại mất an toàn như trên internet, có thể hình dung như thế này, internet giúp cho bạn “nói một câu” ở nơi này thì ngay lập tức người ở một nơi khác cách đó hàng trăm ngàn cây số có thể “nghe” được (nghe và nói ở đây chính là việc trao đổi thông tin giữa các máy tính nối mạng). Có thể ví những người đang nối mạng internet giống như những người đang cùng ngồi với nhau trong một phòng họp nhưng lại không nhìn thấy nhau. Điều này có nghĩa là mỗi hành động của bạn sẽ có thể “đập vào mắt” của hàng triệu người khác xét trên khía cạnh kỹ thuật chuyên môn, nhưng bạn, tôi, chúng ta không hề nhìn thấy gì cả (những điều đó chỉ diễn ra trong một thế giới ảo của 0 và 1). Nếu có phương tiện kỹ thuật thì tôi chắc rằng, đa số chúng ta sẽ giật mình khi nhìn thấy vô số những người “đi ra khỏi nhà mà không khóa cửa”, “để sổ tiết kiệm trên bậu cửa sổ”… những người đó cũng giống như chúng ta không nhìn thấy sự sơ hở của mình và tưởng rằng người khác cũng không thấy gì cả. Vì vậy, họ cũng như bạn rất dễ trở thành nạn nhân của những vụ tấn công lấy cắp thông tin, xóa thông tin… Nếu máy tính của bạn không có dữ liệu quan trọng thì bạn cũng đừng nghĩ rằng nó không cần được bảo vệ, tin tặc có thể đột nhập và sử dụng nó làm bàn đạp cho các cuộc tấn công khác hoặc làm nơi phát tán thư rác (spam), lúc đó thì bạn sẽ lãnh trách nhiệm là thủ phạm! Tóm lại, nếu không cẩn thận, bạn rất dễ bị người khác chiếm quyền điều khiển máy tính mà khi đó thì họ có thể làm đủ trò.                                                                   Anh có thể cho bạn đọc biết một số vụ phá hoại đã đi vào… lịch sử của virus và phần mềm gián điệp không?  Ồ! Nhiều chứ. Năm 2000, virus Love Letter do một sinh viên Philipines tạo ra, chỉ trong vòng 6 giờ đã làm lây nhiễm 55 triệu máy tính ở 20 nước trong đó có Việt Nam, gây thiệt hại 8,7 tỷ USD. Năm 2003, mở đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các virus khai thác lỗ hổng phần mềm để cài đặt, lây nhiễm lên các máy tính từ xa (đây cũng chính là xu hướng phát triển hiện nay của virus trên thế giới). Đầu tiên là virus Slammer (nhà tù) khai thác lỗ hổng phần mềm Microsoft’s SQL 2000 servers, chỉ trong vòng 10 phút đã lây nhiễm trên 75 nghìn máy tính trên toàn cầu. Tiếp đến là virus Blaster (MsBlast) khai thác lỗi tràn bộ đệm trong công nghệ DCOM – RPC trên hệ điều hành Window2K, XP, xuất hiện trên thế giới vào ngày 11/8/2003, virus Blaster nhanh chóng lây lan trên 300 nghìn máy tính. Những người sử dụng máy tính ở Việt Nam hẳn vẫn chưa quên sự hỗn loạn vì hàng loạt máy tính bị shutdown tự động trong ngày 12/8/2003 do virus này. Năm 2005, xuất hiện các virus lây qua các dịch vụ chatting mà virus “gái xinh” vừa qua là một ví dụ. Trong thời gian tới những virus tấn công thông qua các dịch vụ chatting sẽ còn tiếp tục xuất hiện nhiều hơn nữa khi số người sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng.                    Vậy theo anh, người sử dụng phải làm gì để phòng ngừa sự… đột nhập của… “người lạ”?                                                       Để phòng ngừa sự xâm nhập của virus và các loại phần mềm gián điệp: spyware (phần mềm gián điệp), adware (phần mềm quảng cáo bất hợp pháp), Backdoor (phần mềm mở cổng cho hacker chiếm quyền điều khiển máy của nạn nhân), người sử dụng cần nâng cao cảnh giác trước những bức thư điện tử (email) lạ, những lời mời mọc hấp dẫn. Ví dụ: Xrobots “gái xinh” lây lan theo cơ chế “đánh lừa người dùng”, giả dạng câu mời chào một bức ảnh phụ nữ đẹp. Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc Xrobots lây nhiễm tràn lan (chỉ trong hai ngày 10-11/4 đã lây lan đến hơn 20 nghìn máy tính) chính là nhận thức của người dùng còn quá chủ quan! Hiện tượng này cũng trùng với kết quả cuộc điều tra cuối năm 2005 của BKIS từng cho thấy những con số đáng ngại: 94% số người được hỏi nói rằng, máy tính của họ bị nhiễm virus (năm 2004 là 97%); 23% trong số này cho biết, họ sẽ bấm luôn vào đường dẫn (link), nếu có một người khác gửi cho họ khi đang chat bằng Yahoo Messenger…   Ngoài nguy cơ với máy tính cá nhân, ở nước ta đã có một số nhóm tội phạm mạng chuyên đi tấn công các website thương mại điện tử, rồi sau đó chúng lại liên lạc với thân chủ để đề nghị giúp đỡ khắc phục, bảo vệ và tất nhiên là phải chi tiền cho chúng, giống như một dạng bảo kê vậy. Trong trường hợp đó, người bị hại hãy báo cho chúng tôi, việc tìm ra thủ phạm là hoàn toàn có thể. Trung tâm an ninh mạng đã hợp tác cùng C15 Bộ Công an triệt phá vài vụ như thế.   Nhìn chung, bạn sẽ loại bỏ được 90% các nguy cơ nếu: Hạn chế tối đa việc nháy chuột (click) vào những đường dẫn (link) lạ; xem những file đính kèm trong e-mail mà chưa rõ nguồn gốc; hạn chế tối đa việc mò mẫm, tìm kiếm các công cụ crack (phá khóa phần mềm) hoặc vào các trang web khiêu dâm, các site âm nhạc, phim, truyện… miễn phí mà không rõ nguồn gốc.  Cuối cùng, bạn phải cài một phần mềm diệt virus cùng với một phần mềm tường lửa (firewall)  và thường xuyên cập nhật mới chúng (up date).  Thưa anh, trong môi trường mạng thì cũng có lúc “tránh trời không khỏi nắng” chứ và khi đã gặp nạn rồi thì người sử dụng nên xử lý như thế nào?                    (cười). Đúng là, kể cả khi người sử dụng đã có tinh thần cảnh giác rồi có khi vẫn gặp phải sự cố như thường. Vừa qua, trong số những nạn nhân của virus “gái xinh” có cả người làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Khi máy tính… gặp nạn, bạn có thể gọi điện đến BKIS theo số điện thoại: 04.8683583; 1900585850 để được tư vấn qua điện thoại. Nếu bạn ở Hà Nội hoặc các vùng lân cận thì có thể gọi điện tới số: 04.5188 199 của Trung tâm cứu hộ máy tính 911, là nơi cung cấp dịch vụ cứu hộ máy tính tại gia. Ở phía Nam bạn có thể gọi tới số 990.0000 của Bệnh viện máy tính quốc tế icare. Ngoài ra, bạn đọc trong toàn quốc có thể vào các trang web của các cơ quan trên theo các địa chỉ: www.bkav.com.vn (trang web của Trung tâm An ninh mạng BKIS); www.911.com.vn (trang web của trung tâm cứu trợ 911); www.icare.com.vn (trang web của bệnh viện máy tính quốc tế icare) để trao đổi và  tham khảo thêm thông tin.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lạnh và cảm lạnh      Chắc hẳn bạn luôn nhớ lại lời mẹ dặn khi còn bé: hãy đi tất ấm vào mùa đông và che mặt khi đi ra đường để khỏi bị lạnh. Lời căn dặn này giờ càng đúng hơn khi các nhà khoa học của Đại học Cardiff (Anh) vừa chứng minh được quan hệ giữa giá lạnh và cảm lạnh trên 180 người tình nguyện.    Họ yêu cầu những người tình nguyện cởi trần và tắm tuyết trong vòng 20 phút. Kết quả: 29% trong số họ bị cảm lạnh so với 9% trong số những người bình thường mặc áo phong phanh trước giá lạnh. Theo giáo sư Ronald Eccles, trưởng nhóm nghiên cứu, các mạch máu ở mũi bị co lại khi gặp lạnh làm giảm lượng máu ấm vốn mang nhiều tế bào kháng khuẩn. Do vậy, virut tha hồ hoành hành. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu sau khi phỏng vấn các bệnh nhân thường nhận thấy có sự liên quan trực tiếp giữa cảm lạnh với việc mũi bị hứng quá nhiều gió. Cách tốt nhất tránh cảm lạnh là đừng để cơ thể bị lạnh, đặc biệt là chân và mũi, đúng như lời của các bà mẹ thường nói  PV      Nguồn tin: www.cf.ac.uk/biosi/associates/cold/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lao động nhập cư Ấn Độ thời Covid-19: Cuộc trường chinh của những người phiêu bạt      Ở Ấn Độ, khoảng 200.000 lao động ngoại tỉnh được phép trở về quê hương bản quán. Tuy nhiên, họ buộc phải tuân thủ một số quy định, bao gồm cung cấp dữ liệu liên lạc, giấy chứng nhận sức khỏe và trả thêm tiền tàu xe.      Lao động ngoại tỉnh Ấn Độ ở Uttar Pradesh đang trên đường trở về nhà.  Hàng nghìn lao động nhập cư đứng chen chúc trước trạm cảnh sát ở khu ổ chuột Dharavi thuộc Mumbai, với mong muốn đăng ký được một suất trở về quê nhà. Phần lớn trong số họ là nam giới, những thanh niên trai tráng. Khu ổ chuột lớn nhất thành phố này có khoảng 200.000 dân, nhưng không nhiều người có được chỗ ở ổn định, nhất là trong tình hình dịch bệnh căng thẳng.   Sau nhiều ngày bị cách ly, hàng nghìn lao động nhập cư Ấn Độ không có mong muốn gì hơn là được nhanh chóng trở về với gia đình. Nhưng không phải cứ xếp hàng đăng ký là được trở về ngay, trước tiên họ phải nộp một số dữ liệu để liên lạc, sau đó là trả thêm tiền tàu xe – do các quy định về giãn cách, và cuối cùng là phải có giấy chứng nhận sức khỏe. Chính vì thế, trước các phòng khám y tế gần khu ổ chuột, người xếp hàng cũng rất đông.   Dù chính phủ Ấn Độ đã yêu cầu chính quyền thành phố tổ chức cho những lao động ngoại tỉnh bị mắc kẹt được về nhà. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến việc để lao động giá rẻ này ra đi.  Tăng giãn cách có nghĩa chở được ít hành khách hơn  Thời gian đầu phương tiện giao thông chỉ có xe buýt. Tuy nhiên từ khi có dịch, chính phủ quy định các xe không được vận chuyển quá 20 hành khách, dẫn đến lượng xe không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Trải qua một cuộc thương lượng, xe lửa của nhà nước chính thức được đưa vào hoạt động. Trong năm ngày đầu tiên, 70 chuyến tàu đặc biệt đã vận chuyển hơn 80.000 lao động bị mắt kẹt về quê nhà.  Tuy vậy, không dễ để mua vé tàu, vì các tuyến đường sắt chỉ vừa quay lại hoạt động sau nhiều tuần. Ngoài ra, vì số lượng hành khách mỗi toa bị hạn chế nên giá vé tăng – có khi bằng mấy ngày lương của người lao động. Trên các toa tàu đều có cảnh sát túc trực để kiểm tra việc thực hiện giãn cách. Nhiều người vì không mua nổi vé nên đành lội bộ.   “Tôi không ngờ tình hình lại có thể bi đát đến như vậy”, anh Hemraj, 29 tuổi, một người chạy xích lô nói với vẻ thất vọng. Anh chỉ muốn rời khỏi Mumbai càng sớm càng tốt. Anh bị kẹt ở đây từ khi Ấn Độ ban hành lệnh giới nghiêm vào ngày 25.3, và anh cũng chính thức thất nghiệp kể từ thời gian đó.   Bà Jayati Ghosh, giáo sư kinh tế thuộc trường Đại học Jawaharlal Nehru ở New-Delhi cho rằng lệnh giới nghiêm được ban hành quá đột ngột, khiến nhiều người không kịp lên đường về nhà.  Bà nói với phóng viên tờ TAZ rằng Ấn Độ đã chọn cách làm cứng rắn. “Chúng ta không thể cứ tự dưng mà yêu cầu: ‘Các người không được làm việc nữa’, trong khi không hề đưa ra một sự hỗ trợ tài chính nào”. Bà Ghosh phê phán việc bắt người lao động tự chi trả vé tàu xe trong khi họ đã cạn kiệt tiền vì dịch bệnh.    Ngoài ra số lượng lao động Ấn Độ bị kẹt ở nước ngoài cũng rất lớn. Chính phủ đã tổ chức những chuyến bay đưa người lao động làm việc ở 12 quốc gia trở về quê hương. Số lao động này sẽ phải bị cách ly hai tuần. Đặc biệt, trong máy bay có khu vực dành riêng cho bệnh nhân có triệu chứng lây nhiễm corona.  Điều quan trọng là được trở về nước  Đã có khoảng 1.000 công dân Ấn Độ làm việc tại Maldives và Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất trở về nước bằng tàu thủy của quân đội. Ngay từ khi chưa có lệnh giới nghiêm, đã có hàng nghìn lao động Ấn Độ làm thuê tại các nước Vùng Vịnh về nước bằng máy bay. Vẫn còn một hàng dài người chờ đợi để về quê nhà. Riêng tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, đã có 200.000 người đến Đại sứ quán Ấn Độ để đăng ký trở về nước.   Theo Centre for Monitoring Indian Economy (CMIE), trong tháng ba và bốn đã có 114 triệu lao động Ấn Độ rơi vào cảnh mất việc làm. Đảng Quốc Đại – đảng đối lập chính ở Ấn Độ – hứa sẽ chi trả tiền vé tàu xe cho những lao động bị kẹt muốn trở về quê hương.  Mặc cho tình hình căng thẳng lúc này, đối với Hemraj thì điều anh quan tâm nhất vẫn là được gặp lại cha mẹ mình.  Xuân Hoài dịch (Theo taz.de)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Laser giúp xử lý chất thải hạt nhân và dọn rác vũ trụ      Các chùm tia laser đang được các nhà khoa học đặt hy vọng sẽ trở thành giải pháp hữu hiệu để giúp xử lý an toàn chất thải hạn nhân và làm sạch không gian vũ trụ    Các chuyên gia Nhật Bản đang nghiên cứu cách dùng tia laser để xử lý chất thải hạt nhân một cách an toàn  Tháng 5 vừa qua, Đại hội Quang học và Quang lượng tử Quốc tế 2016 – hội nghị quốc tế lớn nhất về công nghệ quang học đã họp ở Yokohama, Nhật Bản. Cuộc họp lần thứ 5 này gồm 11 chủ đề, trong đó có chủ đề “Laser dùng cho vũ trụ và trên Trái đất.”  Ông Yoshiaki Kato, giám đốc trường Phát triển các ngành Công nghiệp Quang lượng tử và chủ tịch ban tổ chức đại hội phát biểu: “Mục tiêu trong không gian là loại bỏ các mảnh vụn vũ trụ và mục tiêu trên Trái đất là giúp giải quyết vấn đề ở các nhà máy điện hạt nhân ngừng hoạt động”.  Việc ngày càng có nhiều quốc gia phóng vệ tinh lên quỹ đạo thường được coi là những tin tức tốt. Tuy nhiên các vệ tinh cuối cùng cũng phải kết thúc cuộc đời của chúng và trở thành rác vũ trụ. Ngay cả các tên lửa dùng để đẩy vệ tinh sau khi hết nhiệm vụ của mình cũng có nguy cơ va chạm với các vệ tinh. Người ta cần phải xử lý chúng để lấy chỗ cho các vệ tinh và tàu vũ trụ mới hoạt động.  Trên mặt đất, xử lý an toàn rác thải phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân cũng là một vấn đề nan giải.  Các chuyên gia laser đang đưa vấn đề này vào tầm ngắm và xem ra laser có khả năng dọn sạch cả trên Trái đất và trong không gian vũ trụ.  Xử lý an toàn chất thải hạt nhân  Loại rác đang trở thành một vấn đề khó xử là nhiên liệu nóng chảy đã đông cứng với hàm lượng phóng xạ rất cao trong lò phản ứng của nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, bị phá hủy bởi cơn động đất và sóng thần năm 2011 ở vùng đông bắc Nhật Bản. Không chỉ có vậy, ngay cả các lò phản ứng không bị nóng chảy vẫn còn chứa các thanh nhiên liệu và có nhiều cấu trúc quanh lò phản ứng cũng mang tính phóng xạ. Hiện người ta vẫn chưa xác định được địa điểm xử lí nhưng loại rác phóng xạ này cần phải được cắt vụn (hoặc tán nhỏ) và dọn đi. Có một khó khăn là con người không thể đến gần các cấu trúc đó, do hàm lượng bức xạ tỏa ra quá cao.  Trong năm tài chính 2015, Hội Laser Nhật Bản đã thành lập “Hội đồng Chuyên gia Nghiên cứu sử dụng Laser để đóng góp tăng cường sức mạnh Tổ quốc” nhằm bảo đảm các kiến trúc hạ tầng công cộng được an toàn. Các chuyên gia đã bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng laser để xử lý các vấn đề trong lò phản ứng hạt nhân và trong các đường hầm quanh khu vực lò. Tại hội thảo mới đây họp ở Yokohama, hội đồng và Toshikazu Ebisuzaki, nhà vật lí thiên văn và nghiên cứu cấp cao của Viện Riken (Nhật Bản) đã thảo luận về cách ứng dụng công nghệ laser trên Trái đất và trên quỹ đạo.  Vào tháng 7/2015, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản đã đồng ý cùng với Hitachi-GE Nuclear Energy và Sugino Machine phát triển các công nghệ cơ bản để giải quyết số nhiên liệu còn lại ở Fukushima Daiichi. Họ định dùng laser để cắt các ống áp suất của lò phản ứng, có thể dày đến 30cm, và tán nhỏ nhiên liệu, vốn là các ô-xít kim loại siêu cứng. Mục tiêu tiếp theo là dùng robot để xử lí rác thải sau khi kích cỡ của chúng được giảm xuống để phù hợp với công việc này.  Viện Nghiên cứu Công nghiệp Điện năng Trung ương (CRIEPI) hiện đang phát triển một công nghệ dùng laser để phân tích các cấu trúc bê tông cốt thép tại các nhà máy điện hạt nhân ven biển. Nước muối có thể thấm vào bê tông, làm cốt thép bên trong bị han gỉ, khiến cho cấu trúc bê tông đó bị yếu đi. Hiện nay việc kiểm tra cấu trúc được thực hiện bằng cách cắt lấy một thỏi bê tông hình trụ đường kính 10cm, dài 20cm. Sau đó cắt nhỏ thỏi bê tông và phân tích trong phòng thí nghiệm. Quá trình này cần vài ngày.  Bê tông phát ra ánh sáng khi được chiếu sáng bằng tia laser. Dựa vào các bước sóng của ánh sáng chúng phát ra, có thể phân tích các nguyên tố như clo và carbon.  Laser có thể kiểm tra mẫu vật ngay tại chỗ như kiểm tra hàm lượng clo (chlorine) và carbon trong bê tông. Bê tông khi còn mới mang tính kiềm nhưng lâu dần nó sẽ hấp thụ carbon và trở nên trung tính, phá vỡ bề mặt bao phủ các sợi cốt thép. Sau đó clo sẽ phản ứng làm cốt thép bị han gỉ.  Takashi Fujii, một nhà nghiên cứu của CRIEPI nói: “Hiện nay các cơ sở hạ tầng được xây dựng trong giai đoạn phát triển kinh tế [của Nhật Bản] đang có dấu hiệu lão hóa. Vì vậy, ngay từ bây giờ, công nghệ kiểm tra dùng laser sẽ có một vai trò quan trọng. Chúng tôi gần như đã hoàn tất công nghệ này và dự định sẽ thương mại hóa công nghệ đó trong 5 năm tới.”  Ngoài việc dùng laser xử lý nhà máy điện hạt nhân, Viện Công nghệ Laser, một tổ chức dịch vụ công của Nhật Bản, đang phát triển laser để kiểm tra đường hầm và các kết cấu hạ tầng khác. Ý tưởng chính là kiểm tra các lỗi của bê tông bên trong các đường hầm, qua đó tiến tới sửa chữa chúng.  Lính bắn tỉa không gian  Toshikazu Ebisuzaki, người chủ trì cuộc họp về chủ đề Laser dùng cho vũ trụ và trên Trái đất, tin rằng việc dọn một lượng lớn rác vũ trụ quay xung quanh Trái đất mang vai trò hết sức quan trọng. Một năm trước, ông từng kết hợp với các nhà khoa học Pháp, Ý và Mỹ viết một bài nghiên cứu tổng quan về vấn đề này.  Trong nghiên cứu này nêu rõ, ranh giới giữa vũ trụ và bầu khí quyển Trái đất bắt đầu từ độ cao khoảng 330 km. Ở khu vực này có hàng triệu mảnh vụn từ các tên lửa đẩy và vệ tinh đã hết hạn, nhiều nhất là các mảnh có kích cỡ từ 3mm đến 10cm nhưng những mảnh nhỏ như vậy cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu chúng va chạm với một vệ tinh đang hoạt động hay thậm thí Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) cũng không ngoại lệ.  Ebisuzaki đề nghị bắn rơi các mảnh vụn này bằng tia laser chiếu lên từ mặt đất. Ông tin rằng, ưu tiên số một là dọn các mảnh vụn ở độ cao 700 đến 900km, nơi các mảnh vụn dầy đặc nhất.  Tại Viện Riken, Marco Casolino và nhóm của ông đang nghiên cứu phát triển một kính viễn vọng rộng 2,5m được đặt tên là EUSO. Kính này vốn được thiết kế để phát hiện những tia sáng rất nhỏ phát ra khi các tia vũ trụ đi vào bầu khí quyển. EUSO nhạy đến mức cũng có thể bắt được ánh sáng mặt trời phản chiếu từ các mảnh vụn ở khoảng cách 100km. Casolino nói “Chúng tôi có thể phát hiện được các mảnh vụ nhỏ chỉ vài milimet.”  Sử dụng tia sáng phản chiếu này, họ có thể tính được vị trí và tốc độ của các mảnh vụn. Sau đó một nguồn laser 500kW đặt gần kính thiên văn sẽ chiếu tia laser vào mảnh vụn. Tia này sẽ đốt nóng bề mặt mảnh vụn, tạo ra plasma (tức khí bị ion hóa), làm mảnh vụn di chuyển chậm lại, rời khỏi quỹ đạo và rơi trở về Trái đất rồi cháy tan trong bầu khí quyển.  Ebisuzaki nói: “Có rất nhiều vấn đề phải giải quyết trước khi có thể ứng dụng công nghệ này. Các mảnh vụn vũ trụ đều có chủ và không phải ai cũng có thể tùy ý phá hủy chúng mà không xin phép chủ nhân của chúng”.  Còn nhiều khó khăn khác đang chờ các nhà khoa học khi dùng tia laser “bắn tỉa” các loại rác vũ trụ: 1. Các mảnh vụn bị bắn rơi không được phép va chạm với các vệ tinh đang hoạt động bên dưới; 2. Khó khăn trong việc chia xẻ chi phí (vốn dĩ không nhỏ) giữa các bên liên quan; 3. Phải tránh việc biến công nghệ đó thành một thứ vũ khí. Ebisuzaki nói, “Dù việc này khả thi về mặt kỹ thuật nhưng các bên liên quan sẽ vẫn cần đối thoại với nhau một cách thấu đáo. Tuy nhiên, do rác vũ trụ đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng nên chúng tôi hi vọng sẽ thương mại hóa được ý tưởng này trong vòng một thập niên tới.”  Hội nghị Yokohama thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề dùng laser để dọn rác vũ trụ và bảo đảm an toàn cho các kết cấu hạ tầng trên toàn thế giới tham dự. Fujii cho rằng, “việc thảo luận với các chuyên gia trong các lĩnh vực khác sẽ giúp tôi phát triển kiến thức về lĩnh vực của mình.” Ông Ebisuzaki đã quyết định sẽ tổ chức hội nghị hàng năm.  Sự phát triển công nghiệp trên toàn thế giới đã gây ra tác hại phá hoại môi trường. Laser có thể giúp con người thấy được các thiệt hại đó cũng như sửa chữa chúng.  N.H tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Laser tia gamma tiến gần hơn với thực tế      Một nhà vật lý tại trường đại học California, Riverside, đã thực hiện các tính toán để chứng tỏ các bong bóng hình cầu rỗng chứa đầy các nguyên tử khí positronium bền trong helium lỏng.      Những tính toán này đã đưa các nhà khoa học tới một bước gần hơn việc hiện thực hóa một laser tia gamma hay còn gọi là graser – một thiết bị mới tồn tại trên lý thuyết và có thể tạo ra những tia gamga dính kết với nhau, vốn hứa hẹn nhiều ứng dụng trong chụp ảnh y tế, động cơ đẩy tàu vũ trụ và điều trị ung thư. Nhà vật lý đoạt giải Nobel 2003 Vitaly Ginzburg đã cho rằng laser tia gamma là một trong 30 vấn đế quan trọng bậc nhất của vật lý.  Với thời gian tồn tại vô cùng ngắn ngủi, positronium là một nguyên tử giống hydro và là một hỗn hợp của vật chất và phản vật chất – đặc biệt, liên kết các trạng thái của những electron và những phản hạt của nó là positron. Để tạo ra một chùm tia laser tia gamma, positronium cần hinh thành một trạng trái bền mà người ta vẫn gọi là ngưng tụ Bose-Einstein – một sự kết hợp các nguyên tử positronium trong một trạng thái tương tự trạng thái lượng tử, cho phép nhiều tương tác và bức xạ gamma. Như thế một trạng thái ngưng tụ là thành phần chính của laser tia gamma.  “Tính toán của tôi đã chứng tỏ một bong bóng trong dung dịch helium lỏng chứa một triệu nguyên tử positronium có thể có một trạng thái đậm đặc gấp sáu lần không khí thông thường và có thể tồn tại như một vật chất – phản vật chất ngưng tự Bose-Einstein”, Allen Mills, một giáo sư Khoa Vật lý và vật lý thiên văn và là tác giả duy nhất của nghiên cứu “Positronium Bose-Einstein condensation in liquid He-4 bubbles” (Ngưng tụ Bose-Einstein của positronium trong các bong bóng He-4 lỏng) xuất bản trên Physical Review A.  Helium, nguyên tố nhiều thứ hai trong vũ trụ, tồn tại ở dạng lỏng chỉ trong điều kiện nhiệt độ cực thấp. Mills giải thích, helium có ái lực âm với positronium; các bong bóng hình thành trong helium lỏng do helium đẩy positronium. Quãng thời gian tồn tại dài của positronium trong helium lỏng được công bố lần đầu vào năm 1957.  Khi một electron gặp một positron, việc tiêu hủy lẫn nhau của chúng có thể đem lại hai kết quả, một là tạo ra một dạng năng lượng bức xạ điện từ mà người ta gọi là bức xạ gamma, hai là việc hình thành positronium.  Hiện đang phụ trách Phòng thí nghiệm Positron tại trường đại học UC Riverside, Mills cho biết phòng thí nghiệm đang lập cấu hình một chùm tia phản vật chất trong một cuộc khám phá để tạo ra các bong bóng “lạ” trong helium lỏng mà tính toán của ông đã dự đoán. Các bong bóng này có thể được coi như một nguồn của các trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein positronium.  “Những kết quả gần trong các thực nghiệm của chúng tôi là có thể quan sát được hiện tượng “đường hầm” positronium thông qua một tấm graphene, vốn không để bất cứ các nguyên tử của các vật chất thông thường lọt qua, bao gồm cả helium, cũng như sự hình thành của một chùm tia laser nguyên tử positronium với các ứng dụng điện toán lượng tử có thể thực hiện được”, Mills nói.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-gamma-ray-laser-closer-reality.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấy tế bào gốc mà không cần phá huỷ phôi      Người ta không cần phải phá hủy phôi nữa khi muốn lấy ra tế bào gốc phục vụ y học. Một công ty sinh học Mỹ đã thành công trong việc tách các tế bào từ phôi mà không giết chết chúng, loại bỏ được trở ngại về vấn đề đạo đức lâu nay.    Năm ngoái, Bob Lanza và nhóm của ông từ Công ty Advanced Cell Technology ở Massachusetts, đã chứng minh rằng có thể lấy ra các tế bào gốc từ những phôi chuột mà không phá hủy chúng. Giờ đây, họ đã làm được điều này với các phôi người – các phôi dư trong kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.  Các nhà nghiên cứu đã áp dụng một kỹ thuật được dùng trong chẩn đoán gene trước khi cấy ghép (PGD) – ở đó một tế bào đơn hay “blastomere” được lấy ra từ khối gồm 8-10 tế bào hình thành trong giai đoạn sớm của phôi. Từ tế bào đơn này, họ có thể nuôi cấy ra một dòng tế bào gốc, mà vẫn để phôi sống sót. Các tế bào gốc đó có thể phát triển thành 3 dạng mô chính.  Lanza hy vọng vì kỹ thật này không gây chết phôi, nên nó sẽ được sự ủng hộ của chính phủ, tránh được những chỉ trích lâu nay về mặt đạo đức.  Các phôi thụ tinh nhân tạo đã bị sinh thiết để làm PGD vẫn phát triển thành những em bé bình thường, Alison Murdoch từ Trung tâm Quốc tế về sự sống ở Newcastle, Anh, cho biết. “Tuy nhiên, sẽ không đúng nếu nói rằng sinh thiết không gây ảnh hưởng đến phôi”, bà nói. “Một số phôi vẫn không sống sót được”.  Lanza cho rằng trước khi sự an toàn của các mô đã được kiểm tra kỹ hơn, quy trình này chỉ nên áp dụng trên một tế bào được lấy ra từ phôi chỉ dùng cho PGD.  (theo NewScientist)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lê Bá Thảo, người tình chung thủy của thiên nhiên      Với cụm công trình: Thiên nhiên, lãnh thổ và  các vùng địa lý Việt Nam, gồm ba công trình: Thiên nhiên Việt  Nam (1977), Việt Nam: Lãnh thổ và các vùng địa lý (1998) và Lê Bá  Thảo: Những công trình địa lý tiêu biểu (2007), Cố GS Lê Bá Thảo đã được  trao giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&amp;CN năm 2010.    Giáo sư Lê Bá Thảo sinh năm 1923, vào tuổi Quý Hợi, trong một gia đình công chức, được theo học trường Providence dành cho con Tây ở Huế. Ở đây từ bé ông được trau dồi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp cổ một cách thuần thục. Đậu tú tài triết học rồi theo học Y khoa Đại học Đông Dương ở Hà Nội được gần hai năm thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ở ngã ba đường lúc đó trong bạn bè trí thức có hai khuynh hướng đi theo kháng chiến hay ở lại nội thành tiếp tục theo đuổi học hành, khoa cử. Không phải số phận mà lòng yêu nước đã đưa Lê Bá Thảo – một chàng trai 27 tuổi, cựu sinh viên trường Đại học Đông Dương – đến quyết định “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” coi “công danh như phù vân”, đưa tấm thân mảnh dẻ của cậu sinh viên dài lưng tốn vải vào quân đội để được chiến đấu cho tự do của đất nước.  Vốn có học vấn lại năng nổ và tháo vát, ông được cử vào khu Bốn làm Trưởng ban địa đồ tham gia khảo sát và thiết kế con đường chiến lược nối liền khu Bốn và khu Ba. Lê Bá Thảo và ba người nữa lặn lội từ Yên Lại (Nho Quan) đến Phố Cát (Thanh Hóa), không ai có kiến thức về cầu đường, không một chiếc máy đo đạc cầm tay, tất cả công việc đều dựa vào những hiểu biết và tinh thần tháo vát của một cựu hướng đạo sinh hăng hái.  Cuối năm 1947, Lê Bá Thảo được lệnh ra Việt Bắc. Tại Bộ Quốc phòng của Chính phủ kháng chiến, ông được đích danh Thứ trưởng Tạ Quang Bửu giao trách nhiệm là “tham chính văn phòng”, theo dõi hoạt động của ngành hậu cần, làm phái viên xuống các mặt trận được nóng bỏng. Chính những chuyến đi ấy cho ông điều kiện đặt chân lên nhiều vùng khác nhau của đất nước, nghiên cứu kỹ càng địa thế hiểm trở cho quân sự, củng cố cho ông tình yêu thiên nhiên. Sau này ông nói: nếu không đi kháng chiến thì chưa chắc tôi đã trở thành nhà địa lý.        Theo đánh giá của Hội đồng Hội đồng cấp Nhà  nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, cụm công trình có những thành tựu  khoa học đặc biệt xuất sắc: đã tổng kết và đánh giá một cách toàn diện  và đúng đắn tiềm năng của đất nước Việt Nam (về tự nhiên, dân cư, các  hoạt động kinh tế), đặt cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng và phát  triển kinh tế- xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới; có giá trị khoa học  rất cao về lý luận, phương pháp luận địa lý hiện đại; có những đóng góp  lớn về lý luận tổ chức lãnh thổ, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam (lần  đầu tiên ở nước ta vấn đề tổ chức lãnh thổ được nhìn nhận theo cách tiếp  cận chiến lược).              Cụm công trình đã có những đóng góp to lớn trong thực tế: đã xác định  được các cực phát triển và các tuyến trọng điểm cho cả nước và mỗi vùng  lãnh thổ, làm bộ khung cho việc tổ chức lãnh thổ; đã đánh giá lại và  phát hiện những đặc tính, thế mạnh, những hạn chế và những điểm chưa hợp  lý trong phát triển các vùng lãnh thổ, đồng thời đã đề xuất những định  hướng chiến lược và những giải pháp cụ thể về tổ chức lãnh thổ để phát  triển kinh tế-xã hội trên quy mô cả nước và các vùng địa lý đã thực sự  phát huy tác dụng to lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng rộng  lớn và lâu dài trong đời sống nhân dân, góp phần quan trọng trong việc  thúc đẩy sự phát triển của khoa học địa lý, kinh tế, văn hóa-xã hội cũng  như trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước.        Bước ngoặt quan trọng của cuộc đời Lê Bá Thảo là sau chiến dịch Biên giới, lúc ông được điều sang dạy học ở Khu Học xá Trung ương năm 1952. Từ một sinh viên dự bị y khoa, Lê Bá Thảo thành thầy dạy địa lý. Ông không phàn nàn gì về nhiệm vụ mới này. Ở đây ông được gặp và được làm việc với những nhà khoa học đàn anh nổi tiếng như Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kon Tum, Lê Văn Thiêm… và các bạn cùng lứa như Hoàng Tụy, Nguyễn Cảnh Toàn, Đinh Gia Khánh, Hoàng Như Mai… Tình yêu thiên nhiên ban đầu đã biến thành niềm say mê khám phá một ngành khoa học hầu như còn rất mới mẻ của xứ sở.  Kháng chiến thành công, Lê Bá Thảo trở về Hà Nội, dạy học tại Đại học Việt Nam. Hồi đó giảng đường đặt ngay tại ngôi trường ông đã từng học mười năm trước khi lên đường kháng chiến trên đường Lê Thánh Tông, dưới bóng những cây me, cây sấu đầy vẻ u hoài của Thủ đô cổ kính. Cùng với những giáo sư đồng sự như Hoàng Thiếu Sơn, Trần Đình Gián, Nguyễn Đức Chính, ông đặt những viên gạch đầu tiên cho khoa học địa lý Việt Nam. Trước đây, người Việt phải nghe giảng, phải đọc sách của người Pháp viết để hiểu non sông đất nước mình. Giờ đây hoài bão của ông và các đồng sự là chúng ta sẽ làm nên địa lý học của chính chúng ta.  Sau nhiều năm giảng dạy và xây dựng khoa Địa lý từ 1959 được đặt ở Đại học Sư Phạm, Lê Bá Thảo lên đường sang đại học Lô-mô-nô-xốp để thực tập và nghiên cứu địa lý. Trong những ngày này, ông đã có dịp tham gia những đoàn nghiên cứu quan trọng của Viện Hàn lâm Liên Xô, làm quen và trao đổi khoa học với những bác học nổi tiếng của Liên Xô và nhiều nước khác. Sau ngày trở về nước, ông bắt đầu viết những công trình nghiền ngẫm lâu nay và tham gia nhiều chương trình, đề tài khoa học trong khi vẫn giữ cương vị chủ nhiệm khoa Địa tại trường Đại học Sư phạm I, ngôi trường ông đã gắn bó hầu như suốt đời. Nhưng ông vẫn nôn nao được đi, được nghiên cứu thiên nhiên và địa lý đất nước.  Thời cơ đã đến, đất nước đã thống nhất một dải. Trong cái vui chung, cái vui của nhà địa lý còn gấp bội. Cuộc tổng điều tra cơ bản các vùng lãnh thổ của Nhà nước đã chắp cánh cho Lê Bá Thảo. Ông được giao làm cố vấn khoa học, rồi chủ nhiệm các chương trình nghiên cứu Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và miền Tây Nguyên. Như cá gặp nước, đây là cơ hội tuyệt vời để một lần nữa Lê Bá Thảo được đắm mình trong thiên nhiên đất nước, Rồi đến thời kỳ đổi mới. Đó là thời gian nhà địa lý Lê Bá Thảo làm việc có hiệu quả nhất, hào hứng nhất. Ông bỏ ra ngoài mọi toan tính xa lạ với nhân cách một nhà khoa học để toàn tâm toàn ý phục vụ khoa học địa lý, tình yêu của đời ông.  Những hoạt động của ông trong các Ủy ban và Hội đồng của Chính phủ liên quan đến địa lý với tư cách Chủ tịch Hội Địa lý Việt Nam và Chủ tịch bộ môn Địa lý Bộ Giáo dục đào tạo đã được đánh giá cao. Nhưng các công trình khoa học, những tác phẩm của ông về khoa học địa lý mới được mọi người và chính ông coi trọng hàng đầu. Miền núi và con người (1970), Cơ sở địa ký tự nhiên (1983-1984), Địa lý đồng bằng sông Cửu Long (1986), Thiên nhiên Việt Nam (1977), Tổ chức đồng bằng sông Hồng và tuyến trọng điểm (1994), Tổ chức lãnh thổ Việt Nam (1996) và Việt Nam, lãnh thổ và các vùng địa lý (NXB Thế Giới 1998-607 trang, được in bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung và tiếng Việt). Những tác phẩm đó tuy chỉ là một phần công trình khoa học đồ sộ nhất của Lê Bá Thảo cũng đã đủ để đưa ông lên một trong những vị trí cao nhất của khoa học địa lý nước nhà. Đặc biệt cuốn Việt Nam, lãnh thổ và các vùng địa lý đã gây được tiếng vang lớn ở Paris ngay sau khi bản tiếng Pháp ra đời. Trên tờ AFRASE (Hiệp hội nghiên cứu về Đông Nam Á của Pháp), nữ giáo sư Manuelle Franck tại INALCO (Viện nghiên cứu ngôn ngữ và văn minh phương Đông quốc gia Pháp) viết ngay sau khi bà mới được đọc bản tiếng Anh: “AFRASE không có lệ điểm sách xuất bản bằng tiếng Anh, nhưng đối với cuốn sách này của Lê Bá Thảo là một ngoại lệ”. Và bà khẳng định: “Đây là cuốn sách vượt hẳn lên mọi cuốn sách địa lý Việt Nam đã được xuất bản đến hôm nay” (Afrase số 47/1998).  ***  Giáo sư Lê Bá Thảo, con người thẳng thắn, giản dị, có cái nhìn nhân hậu và có tình người ấy rất dễ gần tuy ta vẫn nhận ra cái “cốt cách kiêu ngạo” bên trong. Người trí thức Tây học xuất thân từ một gia đình công chức ấy cuối cùng đã trở thành đảng viên cộng sản. “Tôi đã thích nghi được, vất vả, đau đớn nữa là khác. Nhưng tôi thích nghi và không đánh mất chính mình”- đó là điều ông nói với tôi khi ông đã ở tuổi 76. Trả lời câu hỏi, những gì ông tâm đắc nhất trong một đời làm người tình chung thủy của địa lý Việt Nam, ông đáp: “Có chứ! Đó là vấn đề tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian” (L’organisation de l’espace) của đất nước. Trước đây, những nhà địa lý lớn người Pháp về Việt Nam như P.Gourou tuy có nghiên cứu sâu sắc về địa lý Đông Dương, nhưng họ chưa có thể bàn về vấn đề tổ chức không gian, đơn giản vì phương hướng này chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở Mỹ và phương Tây từ năm 1950. Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây tôi đã trình bày được cặn kẽ vấn đề đó nhằm mục đích sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước tốt hơn. Tôi cũng đã đi tới những kết luận trong việc nghiên cứu phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng lãnh thổ và cuối cùng là những dự báo cần thiết cho tương lai. Quả thực trước đây những vấn đề đó vẫn còn là những trang trắng trong khoa học địa lý nước nhà”. Như tôi hiểu, Lê Bá Thảo đã đột phá một bước lớn trong việc nâng cao và biến đổi căn bản phương hướng nghiên cứu địa lý học nước nhà. Trước đây, địa lý chỉ là một khoa học mô tả thiên nhiên. Với phương hướng “tổ chức không gian” địa lý đã biến thành một khoa học hướng dẫn hành động và được ứng dụng trong thực tiễn.  Tôi cũng biết sự đánh giá cao của bạn bè, đồng nghiệp và nhiều nhà địa lý đương đại trên thế giới về những công trình nghiên cứu của ông. Tiến sĩ Patroce Cosaert, Giáo sư Đại học La Rochelle đã cho rằng nội dung Chương trình Quy hoạch lãnh thổ đồng bằng sông Hồng do Giáo sư Lê Bá Thảo đưa ra đã thu hút được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, những người phụ trách quy hoạch về kết cấu không đồng đều của lãnh thổ, về tầm quan trọng của việc điều tra và nghiên cứu trên thực địa trước khi đi đến quyết định qui hoạch phát triển. Cụ thể giáo sư đã phân biệt lãnh thổ đồng bằng sông Hồng thành hai vùng: vùng 1 là bản thân tam giác phát triển với các cực Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long đã được công nghiệp hóa và có khả năng thu hút các nhà đầu tư; vùng 2 chủ yếu là nông nghiệp đang còn ở trong nền kinh tế khép kín vì thiếu đường giao thông. Đặc biệt Giáo sư đã nhấn mạnh vai trò của thành phố (gọi là các cực phát triển) và các trục giao thông (các tuyến lực) trong kiến trúc của không gian. Hai khái niệm nay lần đầu tiên được GS Lê Bá Thảo đưa ra chắc chắn sẽ được sử dụng lâu dài trong tư duy của các nhà lãnh đạo và các nhà qui hoạch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lê Thùy Quyên niềm vui được nhân ba.      Trẻ trung và năng động, Lê Thuỳ Quyên vừa tốt nghiệp Khoa Công nghệ sinh học Trường ĐHDL Phương Đông đã vượt qua nhiều bạn sinh viên khác với đề tài “Nghiên cứu chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae sorok để ứng dụng phòng hại cậy trồng” giành liền hai giải nhất, một của BGD &amp; ĐT và một của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt nam – Giải Sáng tạo kỹ thuật Việt Nam VIFOTECH trao tặng cho sinh viên có công trình nghiên cứu khoa học xuất sắc nhất đồng thời đề tài của Quyên được BGD &amp; ĐT chọn gửi đi đề cử trao giải WIPO, giải thưởng của tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới.    Sinh ra trong gia đình có truyền thống sư phạm, bố là giảng viên khoa Sinh trường ĐH Sư phạm Hà Nội, mẹ là giáo viên Trường tiểu học Cát Linh, Quyên được sự ủng hộ và khuyến khích rất nhiều của gia đình. Suốt mười một tháng ròng rã từ hè năm 2005 cho tới khi làm luận văn tốt nghiệp tháng 6 năm 2006, Quyên cùng với cô giáo PGS.TS Phạm Thị Thùy (Viện Bảo Vệ Thực Vật) mới hoàn thành xong đề tài này.  Thời gian đầu, không chỉ có Quyên mà còn có năm bạn khác cùng tham gia, nhưng chỉ hơn một tháng sau ba bạn cùng nhóm đã nản chí, chỉ còn lại Quyên và một người nữa. Từ thành phố về nông thôn, bắt sâu, trồng cây, tìm nấm… dưới cái nắng gay gắt của mùa hè không ngày nào Quyên và bạn không có mặt tại Viện Bảo Vệ Thực Vật cũng như trên đồng ruộng. Ba tháng sau, nhiều vất vả cực nhọc cũng như nhiều lý do khác người bạn cuối cùng trong nhóm cũng bỏ cuộc chuyển sang làm đề tài khác. Còn lại một mình, Quyên kiên nhẫn từng ngày tiếp tục công trình nghiên cứu. Vì làm việc quá sức Quyên bị ốm rất nặng phải nhập viện, cha mẹ và gia đình vô cùng lo lắng và muốn Quyên chuyển hướng, nhưng với quyết tâm làm bằng được sau khi ra viện Quyên lại bắt tay tiếp tục công việc.  Khi đi được nửa quãng đường, Quyên lại ốm. Lần này mọi người ai cũng khuyên nên chuyển sang đề tài khác nhẹ nhàng hơn, nhưng Quyên nghĩ “ốm rồi cũng khỏi, mà lúc đó cũng là tháng ba rồi bỏ thì tiếc lắm, chuyển sang đề tài khác cũng không kịp” và Quyên lại tiếp tục trong sự thán phục của nhiều người. Không những động viên và khuyến khích, bố Quyên còn là người có ảnh hưởng rất lớn từ lúc Quyên chọn chuyên ngành công nghệ sinh học cho đến khi em chọn đề tài và bắt tay làm nghiên cứu. Vì bố dạy Sinh học nên nhiều khâu con gái cũng được bố giúp rất nhiều. Muốn biết vòng đời, tập tính, mức độ gây hại và thức ăn… của sâu cũng như hình thù và nhận dạng chúng, Quyên được bố hướng dẫn rất tỉ mỉ.  Với dáng người thanh và gầy, lại nghiên cứu làm việc nhiều trên ruộng nhiều người không tin vào khả năng thành công của Quyên. Là người con của thành phố, từ chỗ không biết cuốc đất trồng cây, không biết bắt sâu và nhận biết cây quả, Quyên trở thành “người nông dân thực sự”. Ban đầu khi cầm quốc Quyên vừa đau tay, vừa mỏi nhừ cả lưng, rồi đến chuyện bắt sâu, sợ lắm, sợ đến nỗi Quyên phải dùng đến cái panh gắp từng con. Nhờ được cô giáo khuyến khích Quyên đã dũng cảm cầm và bắt từng con sâu ngoài ruộng lựa và đếm chúng. Mỗi lần Quyên phải làm đến bốn thí nghiệm, số sâu phải bắt lên tới 160 con. Những lúc vạch lá, bới đất tìm sâu, Quyên đi từ ruộng này qua ruộng khác, có ruộng trồng rất nhiều hoa. Chìm ngập giữa cánh đồng nhiều loài hoa khiến Quyên vô cùng thích thú. Nhiều sâu hoa cũng được Quyên mang về nghiên cứu và thí nghiệm. Nhiều khi thời tiết xấu, nắng gắt hoặc mưa rào số sâu bắt không đủ Quyên phải tìm trứng sâu cho vào lọ nuôi. Đấy cũng là kỉ niệm khó quên đối với Quyên. Số trứng sâu bắt về Quyên bỏ vào lọ bọc giấy báo lại nhưng ai đó không biết đã mở ra, hôm sau trứng nở, sâu bò lung tung trên mặt bàn Quyên lại cần mẫn ngồi nhặt từng con cho vào lọ. Trồng cây và nuôi sâu đối với Quyên cũng đã thành quen, giờ đây sau khi tốt nghiệp hằng ngày Quyên vẫn đến Viện hướng dẫn các em sinh viên làm đề tài, tiếp tục nghiên cứu và chuẩn bị cho kì thi cao học sắp tới. Đề tài của Quyên lấy chủng nấm Metarhizium anisopliae có nguồn gốc từ tự nhiên về gây và nhân trong phòng thí nghiệm. Ban đầu nấm được trồng trong môi trường thạch cao lỏng, chi phí rất cao, sau đó Quyên cùng cô giáo đã tìm ra môi trường trấu và cám ngô… nấm sinh trưởng và phát triển rất tốt. Phải tốn nhiều thời gian Quyên và cô giáo mới tìm ra được nấm có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn có khả năng diệt trừ nhiều loại sâu bệnh như :sâu khoang, sâu xanh bướm trắng hại rau, mối đất hại cây ăn quả, bọ hung hại mía…  Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae đã được ứng dụng rộng rãi trên cả nước đặc biệt là các vùng có trồng rau sạch như Nghệ An, Đà Lạt, Cà Mau…  Thời gian đầu, người nông dân chưa thừa nhận cũng như chưa hiểu về ứng dụng của công nghệ sinh học trong việc diệt trừ sâu hại. Thực tế người nông dân muốn hiệu quả ngay sau khi phun còn sau một thời gian sâu mới chết thì họ không tin lắm. Chính vì thế mà Quyên cùng với một số cán bộ trong Viện tiến hành phun thử nghiệm và phát miễn phí chế phẩm nấm này cho nông dân. Quá trình phun thử nghiệm chia làm hai ruộng một ruộng phun thuốc hóa học, ruộng còn lại phun chế phẩm nấm. Phun thuốc hóa học rất hại, thường nông dân trang bị rất kỹ từ khẩu trang, kính, ủng… nhưng vì lý do nào đó, người cán bộ ở Viện quên không mang kính, một lượng thuốc hóa học rất nhỏ bay vào mắt và chân, ngay sau đó mắt và chân anh sưng đỏ, có dấu hiệu sốt, phải hơn một tuần sau mới khỏi. Còn Quyên và một số bạn khác khi phun chế phẩm nấm, không những không mang khẩu trang mà còn nói cười rất thoải mái mà không ảnh hưởng tới sức khỏe. Vài ngày sau, ở ruộng Quyên phun, số sâu bệnh đã chết rất nhiều, hiệu quả rất rõ rệt. Quyên giải thích, tùy theo tập quán sinh sống cũng như vòng đời của sâu mà hiệu quả khác nhau, nhiều trường hợp chỉ cần phun một góc ruộng số sâu bệnh tự lây lan sang nhau mà chết hoặc gặp thời tiết thuận lợi bào tử nấm phát tán trong không khí khi gặp côn trùng chúng lại làm nhiệm vụ của mình lấy nguồn dinh dưỡng từ côn trùng sinh trưởng và phát triển, giết chết côn trùng đó… Nhờ quá trình thử nghiệm thành công này, chế phẩm nấm do Viện Bảo Vệ Thực Vật sản xuất ra đã đến được tay người nông dân. Tuy hiện nay giá thành của thuốc còn tương đối đắt so với thuốc hóa học, song hiệu quả cao và lâu dài. Nhiều người dân đã ý thức được vấn đề bảo về sức khỏe của chính mình, bảo vệ môi trường sống và đảm bảo thương hiệu rau sạch khi sử dụng chế phẩm nấm này họ đã tìm mua và gửi cho Quyên nhiều mẫu sâu bệnh khác.  Với Quyên cũng như với nhiều cán bộ Viện Bảo Vệ Thực Vật còn phải mất nhiều thời gian tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ vì theo Quyên khó khăn nhất khi nghiên cứu đề tài về công nghệ sinh học là đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị hiện đại, nhưng cho tới nay, Quyên và rất nhiều người trong Viện làm việc trong điều kiện rất khó khăn, hầu hết các khâu đều làm thủ công tốn rất nhiều thời gian và công sức.  Quyên tâm sự: có được thành công này ngoài sự động viên gia đình và bạn bè, sự may mắn mắn, thì cô giáo PGS.TS Phạm Thị Thùy chính là người có đóng góp nhiều hơn cả. Trong lòng em, cô vừa là cô giáo vừa là nhà khoa học chân chính, phần lớn thời gian của cô đều dành cho khoa học. Sự chăm chỉ cần cù và niềm đam mê khoa học của cô chính là tấm gương giúp em nỗ lực cố gắng và vượt qua nhiều khó khăn để nghiên cứu thành công đề tài này.  Công trình của Quyên là một trong số rất hiếm công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên đã ứng dụng trên thực tế mang lại hiệu hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ sức khoẻ cho người sản xuất, vật nuôi và thân thiện với môi trường. Trong tương lai, Quyên có nhiều dự định, song quan trọng và có ý nghĩa hơn cả, Quyên mong có điều kiện để tiếp tục nghiên cứu và phát triển cao hơn với nhiều nguyên vật liệu mới trên nhiều chủng nấm khác. Chân trời mới đang mở ra trước mắt Thùy Quyên, chắc chắn tương lai khoa học Việt Nam phải trông cậy nhiều vào lớp những người tiên phong dám nghĩ, dám làm từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường như thế!      Ngọc Tú      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lê Trí Viễn, bậc sư biểu “kính nhi cận chi”      Với chúng tôi và nhiều thế hệ học sinh,  GS.NGND Lê Trí Viễn – một giáo sư đầu ngành, một nhà khoa học uyên bác  Đông Tây kim cổ – là một bậc sư biểu “kính nhi cận chi” – vô hạn kính  trọng và vô cùng gần gũi.    GS.NGND Lê Trí Viễn sinh ngày 10 tháng 3 năm 1918 trong một gia đình bần nho tại thôn Bào Đông, xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ học tại nhà, sau theo học trường và cũng chỉ được học hết Cao đẳng tiểu học. Năm 21 tuổi là giáo viên trường Tiểu học Bảo An tại quên nhà. Vừa dạy, vừa tự học, Thầy lần lượt đỗ tú tài 1 tại Quảng Nam, rồi thủ khoa kỳ thi tú tài 2 ngành Triết học năm 1945 tại Huế. Vẫn tiếp tục con đường vừa dạy vừa tự học, thầy giáo trẻ Lê Trí Viễn đã có tiếng tăm về học vấn, nên ngay khi cách mạng Tháng Tám thành công Thầy đã được cử giảng dạy tại trường Quốc học Huế. Bên cạnh học vấn tự học từ sách vở, từ trường đời, ở Lê Trí Viễn đã xuất lộ thi tài với những bài thơ mang đậm phong cách riêng: Vườn khuya (1940), Tới đây (1942), Bào Nghi Châu (1943)… Tuy nhiên, duyên mệnh của Thầy vẫn là nghiệp văn gắn liền với nghề giáo.  Kháng chiến toàn quốc, năm 1947 trường Quốc học Huế chuyển ra Hà Tĩnh, đổi tên thành trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Cũng từ ngôi trường này, từ người thầy Lê Trí Viễn, sau này đất nước có những nhà khoa học nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực – khoa học xã hội như Nguyễn Tài Cẩn, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đức Nam, khoa học tự nhiên như Nguyễn Đình Tứ… Năm 1950, Thầy về dạy rồi làm hiệu trưởng trường cấp 3 Lê Khiết – Quảng Ngãi. Thời kì kháng chiến chống Pháp, nghiệp văn của Thầy Lê Trí Viễn không chỉ gắn bó với nghề giáo qua các bài giảng mà còn qua những sáng tác văn chương. Bên cạnh cuốn lịch sử văn học đầu tiên được viết với quan điểm macxit – Việt Nam văn học sử – thời Lê mạt, Nguyễn sơ (1951), Thầy còn sáng tác nhiều truyện ngắn và kí đăng trên các tạp chí văn nghệ của Liên khu IV.   Năm 1954, Thầy Lê Trí Viễn tập kết ra Bắc, công tác tại ban Tu Thư của Bộ Giáo dục. Thời gian làm việc tại ban Tu Thư, Thầy viết sách giáo khoa văn cho các cấp 2, 3. Lê Trí Viễn cùng với các nhà văn, các nhà khoa học tên tuổi như Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Liên, Huỳnh Lí, Chương Trính, Đỗ Đức Hiểu thành lập nhóm nghiên cứu văn học mang tên Lê Quý Đôn. Lê Trí Viễn còn là dịch giả nổi tiếng với những dịch phẩm như Thần khúc (Dante), Những người khốn khổ (V.Hugo, dịch chung)…   Từ năm 1958, Thầy về giảng dạy tại khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội và ở cương vị chủ nhiệm khoa từ năm 1963 đến năm 1978, Thầy Lê Trí Viễn có nhiều công trình khoa học đặt nền móng cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam, nhất là văn học trung đại, như bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (đồng tác giả, 3 tập, 1958), Một số vấn đề lịch sử văn học Việt Nam (1961, xuất bản tại Trung Quốc, trong thời gian làm chuyên gia tại Đại học Bắc Kinh), Thơ văn Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (1968). Năm 1978, Thầy chuyển vào giảng dạy tại Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu. Thầy hưu công chức chứ không hưu công việc. Thầy vẫn tham gia đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, viết sách, mở trường trung học phổ thông, phát triển nhà trường với vị thế đứng ở tốp đầu trong hệ thống các trường dân lập ở thành phố Hồ Chí Minh… Thầy xuất bản một loạt công trình, kết tinh độ chín nhất về khoa học cơ bản và khoa học sư phạm của “một đời dạy văn, một đời viết văn”: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao càng nhìn càng sáng (1982), Lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ X – giữa thế kỉ XIX (1985), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (1996), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương (viết chung, 1996), Đến với thơ hay (1997), Quy luật phát triển của lịch sử văn học Việt Nam (1998)…  GS.NGND Lê Trí Viễn là một tấm gương về quyết tâm và nghị lực tự học đến phi thường. Tự học kiên trì để từ trình độ tiểu học, vượt xuất sắc qua trình độ tú tài rồi trở thành giảng viên, thành giáo sư đại học, thành chuyên gia đầu ngành thuộc tầm cỡ số một trong giảng dạy và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam. Tự học quyết liệt để từ vốn chữ Hán ban đầu khiêm tốn học tại gia “cha truyền con nối”, từ vốn tiếng Pháp không nhiều khi theo học bậc tiểu học trường Pháp Việt, trở thành người uyên thâm Hán Nôm, tinh tường Pháp văn, dịch và viết thơ chữ Hán, dịch nhiều tác phẩm từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, trong đó có những bản dịch đã trở thành kinh điển như Những người khốn khổ của Victor Hugo. Tự học thông minh, sáng tạo để có được phong cách độc đáo trong giảng dạy và nghiên cứu văn chương: uyên bác mà tài hoa, khoa học mà nghệ sĩ, trí tụê mà tràn đầy cảm xúc, tỉnh táo mà say đắm hết mình. Tự học mà vươn tới đỉnh cao thành tựu, để lại một di sản đồ sộ: bộ Lê Trí Viễn toàn tập gồm 7 cuốn với gần 6000 trang sách khổ lớn.   Con đường tự học của GS.NGND Lê Trí Viễn lại làm cho bậc sư biểu gần chúng ta hơn. Học trò từng ghi lại lời tâm sự của Thầy: “Một lần tôi suýt bị chết đuối do bơi kém. Khi ra Huế, tôi quyết tâm đi học bơi một năm, thành một tay bơi có hạng. Khi về quê, tôi bơi một mạch qua sông hai lần không nhằm nhò gì. Ấy là bởi may mắn trong tôi sớm có được cái “Chí”: ý chí vượt khó và lòng ham mê văn chương”. Việc tự học của Thầy đâu có gì cao sang, diệu vợi. Nó tự nhiên, đơn giản như việc tập bơi. Nó cần có “chí” và “lòng ham mê”, mà điều này vẫn tiềm ẩn trong mỗi con người. Con đường tự học của thầy gieo vào lòng ta một niềm tin giản dị mà mạnh mẽ, như lời thơ của Nguyễn Trãi: “Càng khó bao nhiêu chí mới hào”.   Từ con đường tự học của chính mình, GS.NGND Lê Trí Viễn lại vô cùng nhiệt huyết với sự nỗ lực vươn lên của những sinh viên nghèo vượt khó. Năm 2007, khi Thầy tuổi chín mươi, từ thành phố Hồ Chí Minh, Thầy đã gửi tặng khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 50 triệu đồng để làm giải thưởng cho những sinh viên nghèo vượt khó. Giải thưởng này mang tên GS.NGND Lê Trí Viễn và hàng năm vẫn trao cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhưng đã nỗ lực vươn lên đạt kết quả cao trong học tập. Chính điều này càng làm cho các thế hệ sinh viên “kính nhi cận chi” đối với Thầy Lê Trí Viễn.     Chúng tôi thuộc những thế hệ sinh viên cuối cùng của khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội có niềm may mắn lớn được thụ giáo, thụ nghiệp Thầy (vì sau đó Thầy chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh). Hôm tựu trường, một chủ nhiệm khoa đầy uy vọng mà chúng tôi từng biết tiếng lại đón những tân sinh viên bằng nụ cười hiền từ, đôn hậu với câu thơ giản dị như không thể giản dị hơn, nhưng hết sức sâu sắc: “Đến đây thì ở lại đây/Bao giờ chữ tốt văn hay hãy về”. Các sinh viên còn lưu truyền những giai thoại về bài giảng của Thầy. Khi Thầy giảng bài Nam quốc sơ hà, ánh mắt Thầy long lanh như nhập cả hồn vía vào bài thơ. Giọng Thầy âm vang mà trầm đến dễ sợ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Nghe giọng thầy, nhìn ánh mắt và dáng vẻ của thầy mà tự nhiên thấy sởn gai ốc. Có bạn như không chịu nổi, đứng lên xin Thầy đừng đọc nữa. Lúc đó Thầy phá lên cười một cách sảng khoái: Thầy đọc bài thơ giữa giảng đường mà các anh chị còn sợ thế thì bài thơ Thần được phát ra từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát, trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, trong không khí của một đêm thiêng thì quân giặc sợ đến vỡ mật mà tháo chạy là phải rồi. Phương pháp dạy của thầy như “cây đời mãi mãi xanh tươi” là thế. Chúng tôi cũng còn nhớ mãi hình ảnh Thầy hôm chia tay khoa Ngữ văn vào Thành phố Hồ Chí Minh, Thầy vận Kiều để nói về 15 năm mình làm chủ nhiệm khoa: “Mười lăm năm cho đủ một thân Kiều”. Thầy cao cả lớn lao mà sao Đời đến vậy. Thầy rất Đời trong công việc chung, trong quan điểm lãnh đạo: đừng để quan tính lấn nhân tính. Thầy rất Đời trong cuộc sống riêng tư: “Có quê mà chẳng có nhà / Đành đem giấc ngủ gửi bà con thôi/ Nửa đêm sực tỉnh bồi hồi /Mẹ ơi, con chết nửa người, mẹ ơi!”, “Đêm Thuý Kiều sang nhà Kim Trọng / Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn”.   GS.NGND Lê Trí Viễn rất Đời khi đi vào cõi vĩnh hằng. Thầy từ biệt dương gian sau kì nghỉ Tết Nguyên đán, nhằm ngày 3 tháng 2 năm 2012 (ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Thìn). Thầy muốn mọi người đón mùa xuân bằng nụ cười, bằng niềm vui chứ không phải bằng những giọt nước mắt và nỗi buồn. Chín mươi lăm năm tại thế của Thầy làm ta nhớ đến 95 năm tại thế của Tuyết giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thầy Lê Trí Viễn từng nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tuyết giang phu tử là bậc sư biểu mà thầy luôn ngưỡng vọng. Để rồi chính GS.NGND Lê Trí Viễn cũng trở thành sư biểu – bậc sư biểu “kính nhi cận chi” của nhiều thế hệ học trò.  —                                      * Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội          Author                Quản trị        
__label__tiasang LED màu xanh được tìm ra như thế nào      Mới đây, ba nhà khoa học là Isamu Akasaki, Hiroshi Amano và Shuji Nakamura đã giành Giải thưởng Nobel Vật lý cho những nỗ lực tìm “mảnh ghép cuối cùng” để hoàn thiện phổ ánh sáng trắng nhân tạo từ các nguồn sáng LED. Ủy ban Giải thưởng Nobel năm nay đánh giá phát minh LED phát ánh sáng xanh của họ là “một ích lợi lớn cho nhân loại”.    Bắt đầu từ những năm 1970, ba nhà khoa học Amano, Akasaki và Nakamura đã giải quyết thành công một loạt những thách thức trong lĩnh vực vật lý linh kiện và khoa học vật liệu để làm ra diode phát ánh sáng xanh (sau đây gọi tắt là LED xanh). Có thể nói sự ra đời của diode phát ánh sáng xanh năm 1993, cùng với các diode phát ra ánh sáng đỏ và xanh lá cây (LED màu đỏ và LED màu xanh lá cây) trước đó từ những năm 1960, đã hoàn chỉnh phổ ánh sáng nhìn thấy. Một loạt các ứng dụng tiềm năng, từ chiếu sáng dân dụng tới việc lưu trữ quang học, đã mở ra. So sánh với đèn sợi đốt, đèn sử dụng LED có hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao hơn gấp mười lần, có tuổi thọ lớn hơn cả trăm lần, và có khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt lớn hơn rất nhiều lần. Với thực tế 20-30% lượng điện toàn thế giới được dùng để chiếu sáng thì việc sử dụng LED một cách rộng rãi sẽ làm giảm đáng kể việc tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới, và do đó có thể làm giảm đáng kể lượng carbon dioxide phát tán vào khí quyển.  Chặng đường đi tới LED phát ánh sáng xanh  Về cơ chế hoạt động, các LED màu xanh làm việc tương tự như các LED màu đỏ và màu xanh lá cây. Các LED được tạo ra từ việc ghép hai lớp bán dẫn, một được pha tạp loại p và một được pha tạp loại n. Khi áp một điện thế qua hai lớp vật liệu, theo định hướng từ lớp p tới lớp n, các electron có năng lượng từ bên trong dải dẫn của lớp n sẽ được định hướng chuyển động sang và điền đầy vào các vị trí của các hole trong vùng hóa trị của lớp bán dẫn p. Sự kết hợp electron-hole sẽ giải phóng ra các photon ánh sáng.  Nếu electron có thể chuyển qua được một khe năng lượng mà xung lượng của nó không bị thay đổi, nghĩa là nếu vị trí cực tiểu của vùng năng lượng dẫn và vị trí đỉnh của vùng năng lượng hóa trị thẳng hàng nhau trong không gian năng-xung lượng (các bán dẫn có khe năng lượng thẳng), thì sự tái hợp electron-hole sẽ dẫn đến một photon với năng lượng bằng đúng với độ rộng khe năng lượng.  Các vật liệu bán dẫn có khe năng lượng thẳng có thể được dùng để tạo ra các LED rất hiệu quả (thật ra là phải có những ngoại lệ chứ không đơn thuần là một quy tắc của các chất bán dẫn). Như đã biết, silicon là một chất bán dẫn ưu việt nhưng nó lại có khe năng lượng không trực tiếp. Phần lớn các LED – kể cả các LED màu đỏ nguyên thủy tới LED màu xanh – đều được làm từ các hợp chất của các nguyên tố hóa học thuộc nhóm III và V trong bảng Hệ thống tuần hoàn.  Các LED màu đỏ và màu xanh lá cây được làm từ vật liệu gallium arsenide (GaAs) và gallium phosphide (GaP). Về mặt nguyên tắc, để có thể tạo ra các photons có bước sóng ngắn hơn đòi hỏi phải mở rộng khe năng lượng của chất bán dẫn. Điều đó gợi ý rằng nên kết hợp các nguyên tử Ga với các nguyên tử nhẹ hơn (As và P) thuộc nhóm V như nitrogen (N) vì khi đó với kích thước nguyên tử nhỏ hơn, N sẽ liên kết chặt hơn với Ga và do đó có thể mở rộng khe năng lượng.  Có thể nói nhu cầu khai thác khe năng lượng của GaN cho mục đích phát quang đã được đặt ra từ những năm 1950, nghĩa là trước khi LED màu đỏ được tạo ra vào đầu năm 1962. Tuy nhiên, chỉ cho đến đầu những năm 1970, các tiến bộ mới được thiết lập. Chế tạo ra các tinh thể GaN với kích thước của các linh kiện và giữ ổn định cấu trúc tinh thể của chúng sau khi pha tạp đã cho thấy là việc làm rất khó khăn.  Tuy nhiên đến giữa thập kỷ 1970, triển vọng được lóe lên khi kỹ thuật nuôi mọc tinh thể từ pha hơi kim loại-hữu cơ (metalorganic vapor phase epitaxy – MOVOPE) được phát triển để tạo ra các tinh thể theo cách thức nuôi mọc từng lớp từng lớp một. Amano và Akasaki đã xác định mục đích sử dung phương pháp MOVOPE này để tạo các tinh thể GaN pha tạp loại p và loại n. Năm 1986, sau một thập kỷ nỗ lực, họ đã phát hiện ra công thức dẫn tới thành công, đó là lắng đọng GaN cùng với các tạp chất lên trên một lớp vật liệu aluminum nitride (AlN) mà chính lớp này cũng được tạo ra bằng bằng cách lắng đọng trên một lớp đế sapphire. Họ nhận thấy, lớp đế sapphire-AlN đã định hướng rất tốt cho sự hình thành các lớp tinh thể GaN. Một cách độc lập, Nakamura cũng chạm đúng được vào công thức này năm 1991.  Vật liệu GaN có thể được pha tạp bằng magnesium (Mg) hay zinc (Zn) để tạo ra các tinh thể bán dẫn loại p nhưng khả năng nhận thêm các electron của chúng là rất kém. Tuy nhiên, tình cờ vào cuối những năm 1980, Amano và Akasaki đã phát hiện ra rằng các mẫu vật liệu mà họ đã khảo sát bằng kính hiển vi điện tử lại trở nên có khả năng nhận điện tử tốt hơn. Nguyên nhân của vấn đề này đã được Nakamura làm sáng tỏ – đó là vì trong quá trình nuôi mọc các tinh thể GaN, các tạp chất đã tạo thành các phức hợp với các nguyên tử hydrogen (H) có sẵn trong các tiền tố hữu cơ được sử dụng trong phương pháp MOVPE. Tuy nhiên, các phức hợp này sẽ bị phá vỡ dưới tác động của chùm tia điện tử hoặc các điều kiện xử lý nhiệt.  Bước cuối cùng để đi đến việc tạo ra các LED màu xanh là việc phải vận dụng khái niệm cấu trúc dị thể (heterostructure). Trong các LED làm bằng vật liệu GaN cũng như các LED làm bằng GaAs trước đó, các chất bán dẫn được tạo ra bằng cách kết hợp Ga với các nguyên tố khác nhau thuộc nhóm V trong bảng Hệ thống tuần hoàn được tạo thành các lớp với nhau. Mối quan hệ họ hàng giữa các loại vật liệu như thế đảm bảo sự tương thích về mặt cấu trúc giữa các lớp vật liệu, mặc dù chúng có độ rộng khe năng lượng và hệ số khúc xạ khác nhau. Bằng cách lựa chọn đúng đắn các lớp vật liệu, các electron và hole linh động có thể bị nén trong một thể tích không gian hẹp, và theo cách đó sẽ làm tăng hiệu quả kết hợp electron-hole. Hiệu quả kết hợp này còn được gia tăng hơn nữa trên cơ sở khai thác các tính chất quang học của các lớp vật liệu cũng như việc tối ưu hóa cấu trúc.  Trong các LED màu xanh đầu tiên, Amano và Akasaki đã gắn kết lớp GaN với lớp AlGaN; Nakamura thì lại kết hợp lớp GaN với lớp InGaN và lớp InGaN với lớp AlGaN. Năm 1993, Nakamura đã tạo ra được một LED màu xanh bé xíu nhưng nó có thể phát sáng như một ngọn nến. Trong linh kiện này, ánh sáng được phát ra từ lớp vật liệu InGaN pha tạp Zn (lớp bán dẫn loại p) đặt nằm xen giữa hai lớp AlGaN pha tạp loại n và loại p; các lớp này sau đó lại được kẹp giữa các lớp GaN pha tạp loại n và loại p. Cho đến nay, bài báo mô tả cấu trúc linh kiện này đã được xem là một cột mốc quan trọng và đã được trích dẫn hơn 3.000 lần.  Ngoài tiềm năng cắt giảm năng lượng điện tiêu thụ trên toàn thế giới, các LED làm từ vật liệu GaN còn có nhiều ứng dụng quan trọng rộng rãi khác, chẳng hạn như làm các linh kiện phát ra ánh sáng sử dụng cho các màn hình điện thoại, máy tính và tivi. Ở nhiều quốc gia hay các vùng sâu vùng xa đã có các dự án sử dụng các LED làm đèn chiếu sáng nuôi bằng các pin năng lượng mặt trời để thay thế cho các loại đèn dầu đốt.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Leonhard Euler – người thầy vĩ đại      Euler là một nhà toán học, vật lý học, thiên văn học vĩ đại. Ông là người đã đặt nền móng cho không biết bao nhiêu lý thuyết sâu sắc giúp giải quyết cho rất rất nhiều các bài toán thực tế và quả thật ông là một người thầy vĩ đại của tất cả chúng ta.  Bài viết này giới thiệu giản lược về cuộc sống của ông và tóm tắt các công trình của ông.       Kỳ 1 : Cuộc sống thăng trầm của Euler  Thời niên thiếu  Leonhard Euler sinh ngày 15/04/ 1707 và là con trai cả của Paulus Euler và Margaretha Brucker. Khi mới sinh Euler, cha của ông là Paulus khi ấy còn đang là một cha xứ tại nhà thờ thánh Jakob ngoại ô Basel. Mặc dù là một cha xứ nhưng ông lại rất yêu thích Toán học, vì vậy trong hai năm đầu đại học, ông đã đăng ký để được học các môn Toán với nhà Toán học nổi tiếng Jakov Bernuly. Sau đó, gia đình Euler chuyển tới Riehen, một vùng ngoại ô của thành phố Basel, tại đây cha của Euler đã trở thành mục sư Tin Lành của giáo xứ địa phương cho tới cuối đời.   Năm 8 tuổi Euler được gửi tới trường Latin để học tập, nhưng trước đó Euler đã được học Toán và các kiến thức khác từ cha của mình. Trong thời gian học ở trường Latin, Euler sống cùng với bà ngoại và học thêm với gia sư Johannes Burckhardt, một nhà Thần học trẻ tuổi và đặc biệt say mê Toán học. Tháng 10/1720, ở tuổi mười ba1 Leonhard theo học tại Đại học Basel với chuyên ngành Triết học, đồng thời đăng ký học phần toán sơ cấp và được chính Johann Bernoulli2 giảng dạy. Bằng sự đam mê và nhiệt huyết của mình trong việc học tập mà chàng trai trẻ Leonhard nhanh chóng được Bernoulli để ý và khuyến khích Leonhard học tập và nghiên cứu Toán học. Năm 1723, Euler tốt nghiệp thạc sĩ và có một bài giảng đại chúng3 với chủ đề “so sánh triết học Descart và triết học Newton”.  Năm 19 tuổi, Euler đã giành được một giải thưởng từ Viện Hàn lâm Khoa học Paris với lý thuyết về vị trí tối ưu của cánh buồm trên các con tàu. Điều đặc biệt là trong suốt quãng thời gian trước đó, Euler hầu như không thấy một con tàu nào. Một năm sau, khi chiếc ghế giáo sư vật lý tại Đại học Basel bị khuyết, Euler đã được Johann Bernoulli hỗ trợ rất nhiều để có thể ngồi vào vị trí này, nhưng thất bại, cũng dễ hiểu bởi khi đó Euler còn quá trẻ và thiếu các nghiên cứu được công bố rộng rãi. Sau thất bại này, Euler nhận lời mời từ Viện Hàn lâm Khoa học ở  St. Petersburg, mới được thành lập vài năm trước đó bởi Nga Hoàng Peter I (căn nguyên của lời mời này xuất phát từ Johann Bernoulli và hai con trai của ông bởi tất cả đã từng làm việc tại đây).   Bước chuyển lớn  Đầu năm 1727, Euler chuyển tới St. Petersburg. Tại đây ngoài việc nghiên cứu Toán, Euler còn tham vấn cho Nga về các câu hỏi khoa học và công nghệ trong bài kiểm tra trong các kỳ thi dành cho thiếu sinh quân Nga.  Khác biệt với các nghiên cứu viên nước ngoài tại viện, Euler nhanh chóng thích nghi với điều kiện sống khắc nghiệt ở Bắc Âu và đồng thời Euler cũng nhanh chóng học và sử dụng thành thạo tiếng Nga để phục vụ cho đời sống và các nghiên cứu của mình. Trong thời gian này, Euler sống cùng với Daniel Bernoulli và trở thành bạn thân của Christian Goldbach4, thư ký của Viện. Những trao đổi giữa Euler và Goldbach đã trở thành những cứ liệu quan trọng cho lịch sử khoa học thế kỷ 18.   Khoảng thời gian ở Viện là khoảng thời gian Euler làm việc hiệu quả và sáng tạo nhất, ông đã cho ra nhiều kết quả đặc biệt và chúng đã mang lại cho ông vị trí và sự nổi tiếng tại Viện và trên toàn thế giới sau này.   Tháng 1/1734, Euler kết hôn với Katharina Gsell, con gái của một họa sĩ Thụy Sĩ cũng đang giảng dạy trong Viện. Cuộc sống gia đình của Euler không hề suôn sẻ như công việc của ông tại Viện, họ có tới 13 người con nhưng chỉ có 5 trong số đó là phát triển khỏe mạnh, trong đó có một người trở thành một nhà Toán học và là trợ lý của ông sau này. Năm 1735 ông bệnh nặng, và tưởng như không qua khỏi. Một phép màu đã giúp ông vượt qua nó, nhưng suốt ba năm sau đó bệnh tật tiếp tục hành hạ Euler và lần này nó khiến ông mất con mắt bên phải (có thể nhận thấy rất rõ điều này qua những bức chân dung của Euler từ khoảng thời gian này).   Cùng với thời điểm cuộc khủng hoảng chính trị ở Nga năm 1740, gây ra cái chết của nữ hoàng Nga Anna Ivanovna, Euler nhận được lời mời từ Quốc vương Phổ Frederick II đến Berlin để giúp thành lập Viện Hàn lâm Khoa học tại đây và ông đã quyết định rời St. Petersburg. Thêm nữa, ông cũng đã viết trong hồi ký của mình như sau: “… năm 1740, khi Nhà vua Phổ bắt đầu lên nắm quyền hành, tôi nhận được một lời mời từ Berlin, và tôi nhận lời không chút ngần ngại, sau khi nữ hoàng Anne bị sát hại và kéo theo đó là sự trì trệ của vương triều…”  Tháng 6/1741, Euler cùng với vợ và hai người con của mình khi ấy là Johann Albrecht sáu tuổi và Karl mới một tuổi rời St. Petersburg để tới Berlin.  Thời ở Berlin 1741-1766  Một khởi đầu có vẻ không thuận lợi như Euler nghĩ, vì còn dang dở cuộc chiến ở Silesia, Frederick II chưa thể tập trung cho việc xây dựng viện, vì thế mãi tới tận 1746 viện mới chính thức ra đời. Viện trưởng là nhà toán học Pháp, còn Euler phụ trách ngành Toán. Trong suốt thời gian dài chờ đơi, Euler đã hoàn thành cuốn hồi ký viết tới 200 lá thư cùng năm bài luận lớn.  Tuy phải đảm trách rất nhiều công việc tại Viện từ quản lý đài thiên văn, vườn bách thảo, làm việc trực tiếp với nhân viên, nghiên cứu viên, thậm chí đảm trách cả việc bán những cuốn niên giám để đảm bảo nguồn thu cho Viện, nhưng không vì vậy mà năng suất làm Toán của Euler bị suy giảm.  Trong thời gian này Euler tham gia cuộc tranh luận về nguồn gốc của “nguyên lý tác động tối thiểu (principle of least action)”5. Năm 1740, nguyên lý này được phát biểu bởi Pierre- Louis Moreau de Maupertuis, nhưng Johann Samuel căn cứ vào bức thư của Leibniz gửi Jakob đã cho rằng người phát biểu nguyên lý này đầu tiên là Leibniz. Euler được lôi vào cuộc tranh luận nhằm làm sáng tỏ vấn đề, nhưng do không mấy đồng tình với triết học của Leibniz, Euler đã đứng về phía Maupertuis và cáo buộc Johann làm giả tài liệu. Cuộc tranh cãi này càng trở nên sôi nổi khi Voltaire tham gia cuộc tranh luận và ông đứng về phía Johann, Voltaire đã chỉ trích rất gay gắt cả Euler và Maupertuis. Trước áp lực dư luận Maupertuis đã rời khỏi Berlin và Euler chịu trách nhiệm mọi công việc ở Viện.  Quan hệ của Euler với Fredric II không được “suôn sẻ”, do sự khác biệt rõ rệt về tính cách cũng như tư tưởng. Fredric tự tin, hài hước và quảng giao còn Euler khiêm tốn, sống kín đáo và là một tín đồ theo đạo Tin Lành. Mặt khác sau khi Maupertuis rời Berlin, Euler là người đã chèo chống con thuyền Viện Hàn lâm nhưng Ferderic khi đó đã phớt lờ mọi lời giới thiệu Euler vào vị trí viện trưởng và bỏ qua tất cả để rồi sau đó tuyên bố chính mình mới là Viện trưởng Viện Hàn lâm. Tất cả các điều trên cùng với việc không được sự ủng hộ của các quý tộc khác dẫn tới Euler chấp nhận một lời mời của nữ hoàng Catherine II để trở về St.Petersburg.  St. Petersburg 1766–1783   Thời kỳ này cuộc sống của Euler có nhiều trắc trở về mặt cá nhân, mắt phải của ông bị đục thủy tinh thể (mắt còn tốt) và làm giảm thị lực rất nhiều. Năm 1771, sau ca phẫu thuật, thị lực của mắt phải của ông suy giảm nhanh chóng, và gần như mù hẳn. Cũng trong năm này, nhà của Euler bị cháy trong trong vụ đại hoả hoạn ở St. Peterburg vào tháng năm thiêu rụi hơn 5000 ngôi nhà, Euler được cứu bởi người hầu của mình là Peter Grimm.          Euler được Peter cứu thoát từ ngôi nhà của mình trong trận đại hoả.          Bù đắp lại một phần khó khăn của Euler, nữ hoàng Catherine đã cho xây dựng lại một căn nhà khác cho Euler.   Thêm một nỗi đau năm 1773, vợ ông, Katharina Gsell chết. Euler tái hôn ba năm sau đó để không phải phụ thuộc vào con cái của mình.  Trong hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn như vậy nhưng Euler không hề nản chí, ông vẫn làm việc và say sưa nghiên cứu với sự giúp đỡ từ những người khác, đầu tiên là từ nữ hoàng Catherine, sau đó là Niklaus Fuss, một người đồng hương tới từ Thuỵ Sỹ, cháu rể tương lai của Euler và người con trai của mình. Gần một nửa các công trình khoa học, các bài báo của Euler được viết trong quãng thời gian ở St.Petersburg lần thứ hai này.   Leonhard Euler chết vì đột quỵ ngày 18/9/1783 trong khi chơi với một trong những đứa cháu của mình. Cũng chính vào ngày này, trên hai phiến đá lớn, ông đã viết ra công thức diễn giải bản chất Toán học có liên quan tới việc chuyển động của khinh khí cầu mà chuyến bay đầu tiên do hai em nhà Montgolfier thực hiện vào ngày 5/6/1783. Đó là bài viết cuối cùng của ông, và chuẩn bị xuất bản bởi con trai của ông là Johann Albrecht. Nhưng việc xuất bản các công trình cũng như bài viết của Euler vẫn còn kéo dài suốt 50 năm kể từ sau ngày ông mất.   ————-  113 tuổi Leonhard vào đại học không phải là điều bất thường vào thời điểm đó.   2 Là một nhà Toán học nổi tiếng với khái niệm vô hạn. Ông cũng là em trai của Jakob Bernoulli thầy của cha Leonhard.  3 Bài giảng bằng tiếng Latin.  4 Christian Goldbach nhà Toán học người Đức, ông nổi tiếng với giả thuyết Goldbach mà cho tới ngày nay vẫn còn đang là một bài toán chưa có lời đáp.   5 Nguyên lý tác động tối thiểu là một nguyên lý biến phân được áp dụng rộng rãi trong vật lý. Áp dụng nguyên lý này có thể dễ dàng tìm ra được phương trình quỹ đạo của các chuyển động.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Leptin và béo phì: một kinh nghiệm làm khoa học      Một trong những kh&#225;m ph&#225; khoa học quan trọng nhất li&#234;n quan đến b&#233;o ph&#236; trong thế kỉ 20 l&#224; vai tr&#242; của k&#237;ch th&#237;ch tố c&#243; t&#234;n leptin &nbsp;được tiết ra từ c&#225;c tế b&#224;o b&#233;o (fat cells). Nếu cơ thể thiếu leptin, bộ n&#227;o tưởng rằng cơ thể đang đ&#243;i v&#224; ra &#8220;lệnh&#8221; ăn uống th&#234;m, g&#226;y n&#234;n t&#236;nh trạng b&#233;o ph&#236;. Do đ&#243;, điều trị b&#233;o ph&#236; bằng leptin c&#243; thời được xem l&#224; một ch&#236;a kh&#243;a để chinh phục nạn b&#233;o ph&#236; đang trở n&#234;n cực k&#236; phổ biến trong x&#227; hội, nhất l&#224; tại c&#225;c nước &#194;u Mỹ. Nhưng kết quả nghi&#234;n cứu gần đ&#226;y cho thấy những hi vọng v&#224;o leptin chỉ l&#224; hi vọng h&#227;o huyền &#8230;  Tuy nhi&#234;n, nhiều người &#8211; ngay cả trong giới y khoa &#8211; vẫn c&#242;n lẫn lộn mối li&#234;n hệ giữa leptin v&#224; b&#233;o ph&#236;, v&#236; những th&#244;ng tin tr&#234;n mặt b&#225;o đại ch&#250;ng thường thiếu t&#237;nh hệ thống, thậm ch&#237; giật g&#226;n. V&#236; vậy, c&#226;u chuyện xung quang việc kh&#225;m ph&#225; ra leptin c&#243; thể gi&#250;p c&#225;c bạn trẻ đang dấn th&#226;n v&#224;o con đường nghi&#234;n cứu khoa học một v&#224;i kinh nghiệm c&#243; &#237;ch.     Chuột ob  Câu chuyện leptin bắt đầu từ Phòng thí nghiệm Jackson (Jackson Laboratory), một trong những trung tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, tọa lạc tại thành phố Bar Harbor, bang Maine (Mỹ). Phòng thí nghiệm Jackson là nơi sản xuất và nuôi dưỡng hàng chục ngàn chuột chuyên dùng cho thí nghiệm. Những chuột này được lai giống thành 2,500 giống chuột khác nhau. Các nhà nghiên cứu trên thế giới muốn nghiên cứu bất cứ bệnh gì đều có thể đặt hàng tại đây để mua chuột về làm thí nghiệm (với một cái giá không rẻ chút nào). Thí nghiệm trên chuột là một mô hình nghiên cứu rất phổ biến và có ích trong y sinh học, bởi vì chuột và con người khá giống nhau về cấu trúc di gene; một phát hiện mới trên chuột có thể từng bước đem vào ứng dụng trên con người.   Đầu thập niên 1950 các nhà nghiên cứu tại đây chú ý đến một con chuột có một cá tính rất đặc biệt: Nó có nhiều lông lá hơn, và béo nhất so với tất cả chuột khác trong chuồng. Suốt ngày chú chuột cá biệt này chỉ thu mình trong một góc chuồng, và hoạt động duy nhất của nó là… ăn. Ngoài ăn ra nó không làm gì khác. Có người ví von nói chú chuột này được sinh ra chỉ để ăn. Ban đầu, các nhà nghiên cứu nghi rằng nó có mang; nhưng khi khám kĩ thì con chuột này là giống đực. Họ đặt tên cho chú chuột này là obese (phì), và sau này viết tắt là ob. (Chữ Anh obese xuất phát từ tiếng Latinh, obesus, có nghĩa là ăn hết.     Béo phì và di truyền  Trong cùng thời gian đó, một nhà khoa học người Anh tên Gordon Kennedy tiến hành một loạt thí nghiệm cho thấy các tế bào béo (fat cells) tự chúng có khả năng chi phối đến thói quen ăn uống của loài bọ gặm nhấm (như chuột chẳng hạn). Ông suy luận rằng có một số gene kiểm soát hoạt động của các tế bào béo, và vì thế, béo phì có thể do gene quyết định một phần. Lúc ông cho công bố công trình nghiên cứu này trên một tập san khoa học, giới khoa học tỏ vẻ rất nghi ngờ, bởi vì suy nghĩ “chính thống” thuở đó cho rằng béo phì chủ yếu do các yếu tố tâm lí và môi trường chi phối, chứ các yếu tố di truyền hay gene chẳng có vai trò gì đáng kể.   Nhưng một nghiên cứu trong thập niên 1970 bắt đầu làm cho cán cân nghiên cứu về di truyền trong béo phì trở nên cân bằng hơn. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Rockefeller (New York) tiến hành một nghiên cứu trên những người sinh đôi. Họ tìm khoảng 200 cặp sinh đôi, và họ tính chỉ số béo phì body mass index (BMI) bằng cách lấy trọng lượng chia cho chiều cao bình phương. Người có BMI cao cũng có nghĩa là có tỉ lệ chất béo cao; và ngược lại, người có chỉ số BMI thấp cũng có nghĩa là tỉ lệ chất béo trong cơ thể thấp [1].  Chúng ta biết rằng có hai dạng sinh đôi: những anh em sinh đôi dạng MZ (tức monozygotic twins) là những cặp mà gene của họ giống nhau 100%; và những anh em sinh đôi dạng DZ (dizygotic twins) là những cặp sinh đôi mà gene của họ chỉ giống nhau 50%. (Cần phải mở ngoặc ở đây để nói thêm rằng trong anh em cùng cha mẹ, số gene giống nhau cũng 50%). Thành ra, nếu béo phì (hay BMI) thực sự do gene chi phối thì mức độ khác biệt BMI trong những cặp sinh đôi MZ sẽ thấp hơn mức độ khác biệt BMI trong những cặp sinh đôi DZ. Nói theo ngôn ngữ thống kê, nếu BMI do các yếu tố di truyền quyết định, thì hệ số tương quan (correlation coefficient) trong những cặp sinh đôi có cùng gene (MZ) phải cao hơn khoảng 2 lần trong cặp sinh đôi chia xẻ 50% gene (DZ) [2].   Và, kết quả như giả thuyết đặt ra: hệ số độ tương quan  của BMI trong những cặp sinh đôi MZ khoảng 0.70, gần gấp hai lần so với những cặp sinh đôi DZ mà hệ số tương quan chỉ 0.37. Các nhà nghiên cứu còn ước tính rằng gene có thể quyết định khoảng 60-70% những khác biệt về BMI trong con người.                      Gene ob (hay Lepob) và leptin  Nhưng trong mỗi tế bào có cả 30.000 đến 40.000 gene; vì thế, vấn đề được đặt ra tiếp theo là: gene nào có liên quan đến béo phì?  Tìm vài gene trong một quần thể 40.000 gene chẳng khác nào “mò kim đáy biển” vậy. Công việc này cũng giống như đi tìm nhà của người quen, mà chúng ta chỉ biết “địa chỉ nhà bác ấy ở đâu đó bên Việt Nam”. Một công việc cực kì khó khăn và đầy thử thách. Ấy thế mà sau 6 năm trời miệt mài theo đuổi, các nhà nghiên cứu tìm ra 4 gene.   Sau khi tìm ra gene, nghiên cứu kế tiếp là phải xác định các gene này sản xuất protein gì. Cuối cùng, họ tìm ra một phân tử (molecule) có chức năng chuyên sản xuất chất béo, và quá trình sản xuất này do một gene điều khiển. Họ đặt tên cho gene này là gene ob để nhớ đến chú chuột ob tại Phòng thí nghiệm Jackson như đề cập phần trên. Roger Guillemin, Nhà sinh học từng chiếm giải Nobel, đề nghị các nhà nghiên cứu Rockefeller là trong thực tế, gene này nên đặt tên lepto (từ tiếng Hi Lạp Leptos có nghĩa là gầy hay mong manh). Ngày nay, giới khoa học đồng ý đặt tên gene này là Lepob (chữ Lep lũy thừa ob), và phân tử do leptoob sản xuất được gọi là leptin. Danh từ leptin có mặt trong trường khoa học từ đó [3].   Nghiên cứu thêm về leptin cho thấy trong thực tế nó là một loại hormone – kích thích tố. Kích thích tố leptin được sản xuất trong nhiều loại tế bào, nhưng chủ yếu là trong các tế bào béo (fat cells). Các nhà nghiên cứu Đại học Rockefeller khám phá rằng những chuột thiếu leptin là những chuột rất phì. Sau khi được các tế bào béo tiết ra, leptin di chuyển theo đường máu đến bộ não và trú ngụ trong vùng não có tên là hypothalamus. Nhiệm vụ của leptin là giao chuyển tín hiệu (hay hiệu lệnh) của gene ob báo cho não biết là cơ thể đã no rồi, đừng ăn uống thêm nữa. Thành ra, khi chuột không có leptin (và não không nhận được tín hiệu), não tưởng rằng cơ thể vẫn còn đói nên ra lệnh cho cơ thể ăn uống tiếp. Trường hợp chú chuột ob đề cập phần trên là trường hợp thiếu leptin.   Khi những chú chuột béo phì được tiêm leptin chúng trở nên mảnh dẻ và bình thường. Ngay cả chuột có trọng lượng bình thường khi được tiêm leptin, chúng cũng mất cân. Vì thế, leptin được xem là một kích thích tố chống béo phì.   Kể từ đó người ta đặt niềm hi vọng vào leptin như là một “thần dược” có thể cứu lấy nhân loại thoát khỏi cơn đại nạn béo phì. Nắm lấy thời cơ, các nhà nghiên cứu Đại học Rockefeller bèn đăng kí bản quyền (patent). Công ti Công nghệ Sinh học Amgene thấy có thể làm ra tiền với leptin, họ bỏ ra 20 triệu Mỹ kim để mua bản quyền sản xuất leptin. Có lẽ đây là giá bản quyền cao nhất trong lịch sử nghiên cứu khoa học [4].      Hai trường hợp chị em họ cá biệt   Nhưng những phát hiện và hiệu quả của leptin vừa trình bày chỉ trên chuột mà thôi, và chuột thì không thể có thị trường cho leptin; cho nên bước kế tiếp là nghiên cứu trên con người. Câu chuyện leptin và béo phì trong con người bắt đầu từ hai trường hợp rất đặc biệt xảy ra tại Anh vào năm 1998. Các nhà nghiên cứu béo phì thuộc Đại học Cambridge (Anh) được mời khám bệnh cho hai chị em họ (một gái, một trai) người gốc Pakistan nhưng sinh sống tại Anh. Hai chị em này lớn lên trong một đại gia tộc, mà trong đó bà con lấy nhau rất nhiều. Nói cách khác, gene của đại gia tộc này được bảo tồn rất cao.   Người chị lúc đó 8 tuổi, cân nặng 86 kg; và người em trai tuy mới 2 tuổi nhưng cân nặng gần 30 kg. Cả hai chị em đi đứng rất khó. Cả hai chị em có triệu chứng háu ăn (hyperphagia), tức họ rất ham ăn uống bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Nếu không cho họ ăn uống, họ sẽ rất giận dữ và gây náo loạn cả nhà. Cha mẹ hai em cho rằng vì ăn nhiều quá nên hai em trở nên béo phì; họ không nghĩ đó là một “bệnh”. Họ cũng không nghĩ thói háu ăn là do gene mà ra.   Khi đo huyết áp thì kết quả bình thường. Các chỉ số sinh hóa khác cũng bình thường. Chiều cao của hai em cũng bình thường. Bởi vì leptin được sản xuất trong các tế bào béo, cho nên các nhà nghiên cứu suy luận rằng vì hai em có trọng lượng quá cao (chất béo nhiều) nên lượng leptin trong máu chắc cũng sẽ rất cao.   Nhưng khi thử máu hai em thì các nhà nghiên cứu mới phát hiện một kết quả hết sức bất ngờ: Cả hai em đều không có leptin trong máu!   Qua kết quả bất ngờ trên, các nhà nghiên cứu suy luận rằng gene sản xuất leptin trong cơ thể hai em có “vấn đề”, hay có đột biến (mutation). Khi so sánh chuỗi DNA trong gene ob của hai em và chuỗi DNA trong gene ob bình thường, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng một mảng DNA khá lớn trong gene ob của hai em bị mất, hay nói theo ngôn ngữ di truyền học là bị đột biến [5].   Giải pháp điều trị, do đó, là làm cho gene của hai em bình thường lại, tức là di truyền trị liệu (geneetic therapy). Nhưng đây là một việc làm rất khó, cho nên các nhà nghiên cứu quyết định một phương án dễ hơn: tiêm leptin.   Nhưng vì chữa trị béo phì bằng cách tiêm leptin chưa bao giờ được tiến hành trên con người, cho nên Ủy ban y đức Đại học Cambridge chỉ cho phép điều trị thử (trial treatment) trên một em mà thôi. Các nhà nghiên cứu chọn người chị để điều trị trước. Chỉ trong vòng 2 tuần tiêm leptin, em bắt đầu xuống cân, và quan trọng hơn là không thèm ăn như trước đây nữa. Sau 12 tháng tiêm leptin, kết quả thật bất ngờ, ngoài sự kì vọng của những người lạc quan nhất (xem bảng tóm tắt dưới đây).   Tóm lược những thay đổi quan trọng của một trường hợp béo phì được điều trị bằng leptin trên một em bé gái béo phì gốc người Pakistan tại Anh                     Lúc bắt đầu điều trị (cuối năm 1998)      Sau 12 tháng điều trị bằng leptin          Tuổi       9 tuổi      10 tuổi          Chiều cao      140 cm      143 cm          Trọng lượng      94,4 kg      78 kg          (Lượng chất béo)      (56 kg)      (40 kg)          Lúc khởi đầu điều trị (lúc đó em đã 9 tuổi) trọng lượng của em là 94,4 kg; sau 12 tháng trọng lượng giảm xuống còn 78 kg. Tính trung bình em giảm 1,3 kg mỗi tháng. Lúc mới điều trị trong cơ thể em có đến 56 kg chất béo (tức 59% trọng lượng), sau 12 tháng điều trị em mất gần 16 kg chất béo [6]. Nói cách khác, leptin làm giảm lượng chất béo trong cơ thể, nhưng không thay đổi xương và phần nạc trong cơ thể (xem bảng tóm tắt sau đây).                  Nhưng con người phức tạp hơn nhiều!  Sau khi thành công với trường hợp thứ nhất, các nhà nghiên cứu xin phép Ủy ban Y đức và được chấp nhận cho điều trị người em họ 2 tuổi và kết quả cũng rất khả quan. Tin tức điều trị béo phì thành công này làm chấn động dư luận y học thế giới. Ai cũng nghĩ là các nhà nghiên cứu Anh đã khám phá một chìa khóa trị liệu cho tình trạng béo phì. Có người lạc quan tin rằng béo phì sẽ bị y học hiện đại chinh phục như bệnh lao từng bị khống chế trước đây.   Nhưng thực tế không đơn giản như thế. Thật vậy, hai trường hợp cá biệt trên (mà sau này y khoa gọi là thiếu leptin bẩm sinh, congeneital leptin deficiency) rất hiếm trong dân chúng. Chưa ai biết có tỉ lệ thiếu leptin bẩm sinh trong dân số là bao nhiêu, nhưng các chuyên gia ước đoán dưới 0.1 phần trăm.   Trong đại đa số những người béo phì, nguyên nhân chính không phải do thiếu leptin. Rất nhiều nghiên cứu trên con người cho thấy người có tỉ lệ chất béo trong cơ thể càng cao thì leptin trong máu càng cao. Hệ số tương quan giữa lượng leptin trong máu và lượng chất béo (fat mass) thường dao động giữa 0.6 đến 0.8 [7].   Đến đây thì vấn đề trở nên phức tạp. Các trường hợp cá biệt vừa trình bày trên cho thấy thiếu leptin dẫn đến béo phì; nhưng trong phần đông dân số, càng béo phì càng có nhiều leptin!  Tại sao lại có tình trạng mâu thuẫn này?   Qua hàng trăm nghiên cứu tiếp theo về vai trò của leptin, chúng ta có nhiều thông tin hữu ích về vai trò của kích thích tố kì diệu này. Xin nhắc lại: lep tin mang tín hiệu đến não để nói cho não biết “đã no rồi”, và não ra lệnh cho cơ thể không ăn uống thêm nữa. Nhưng nếu mọi việc xảy ra như trên thì không có vấn đề gì đáng nói. Vấn đề ở đây mà ngày nay qua nghiên cứu chúng ta biết rằng các tín hiệu của leptin có khi bị nhiễu, thậm chí mất tín hiệu. Khi não không nhận được tín hiệu từ leptin, não ra lệnh cho cơ thể ăn tiếp và gây nên tình trạng béo phì. Cái khó khăn là không ai biết tín hiệu leptin lúc nào bị nhiễu và lúc nào là không bị nhiễu.   Ngoài ra, rất có thể cơ thể chúng ta cần một liều lượng leptin nào đó để duy trì một lượng béo cần thiết (cơ thể cần chất béo để vận hành); khi leptin quá thấp hơn hay quá cao so với liều lượng lí tưởng này đều có thể gây ra béo phì. Nhưng không ai biết được cái liều lượng lí tưởng này, nếu thực sự nó hiện hữu.   Thành ra, thành công của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Rockefeller và Cambridge tuy rất ngoạn mục nhưng chẳng giải quyết được vấn đề béo phì cho một quần thể lớn. Những bản tin giật gân, những tuyên bố hồ hởi, những tiên đoán lạc quan ban đầu đều bị thời gian chứng minh là sai, quá hấp tấp, và chỉ là hoang tưởng. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa hiểu nhiều về nguyên nhân béo phì trong phần đông con người. Cái “nguyên nhân” mà chúng ta chỉ có thể nói [chung chung] là “béo phì là hệ quả của nhiều yếu tố di truyền, môi trường, và tâm lí”, nhưng không ai biết cái nào là quan trọng và quan trọng cỡ nào.     Bài học leptin   Qua thành công ngoạn mục này, nghiên cứu béo phì trở thành một đề tài khoa học nóng, một cục nam châm thu hút nhiều nhà khoa học trẻ tuổi tài ba nhất và tham vọng nhất dấn thân vào nghiên cứu. Lí do đơn giản là vì béo phì là một thị trường thuốc khổng lồ, chỉ một khám phá nhỏ cũng có thể đưa nhà khoa học lên đài danh vọng và giàu có trong chốc lát. Nghiên cứu béo phì là một mỏ vàng để các nhà khoa học khai thác. Dù công cuộc chinh phục béo phì vẫn chưa đến đâu, nhưng các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa đầu hàng.   Chúng ta có thể rút ra một số bài học quan trọng chung quanh việc phát hiện và phát triển leptin. Thứ nhất, muốn nhanh chóng thành công trong khám phá khoa học, nhất là y học, đối tượng nghiên cứu cần phải là những trường hợp đặc biệt, như trường hợp hai chị em họ đề cập trên, hay những trường hợp sinh đôi mà một người bình thường và một người đặc biệt. Những trường hợp như thế rất có khả năng cung cấp cho chúng ta những manh mối quan trọng và thích hợp.   Khoa học đương nhiên là dựa vào sự thật (facts), nhưng sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Trong câu chuyện về leptin và béo phì, sự thật là những trường hợp (chuột và người) béo phì và đó chính là những trường hợp không chỉ cần thiết nhưng còn có liên quan đến việc nghiên cứu béo phì, bởi vì nếu là những người – chẳng hạn như – có nhiều tóc thì chắc chẳng dẫn đến khám phá gì mới cho béo phì.   Thứ hai, việc ứng dụng những khám phá từ những trường hợp đặc biệt thường rất hạn chế. Những bệnh khá phổ biến như béo phì, loãng xương, viêm khớp xương, bệnh tim mạch, v.v… thường là hệ quả của một loạt bất bình thường từ gene và môi trường. Nhưng gene và môi trường thường tương tác với nhau; vì thế một khám phá gene hay một khám phá kích thích tố riêng biệt không bao giờ là câu giải đáp cho một số đông mà chỉ giới hạn trong một số nhỏ bệnh nhân mà thôi.   Gần đây, có một trường phái mới mà những người theo thuyết này tự gọi là Y học tiến hóa (Evolutionary Medicine) cho rằng tình trạng béo phì ngày nay là hệ quả của sự mất tương đồng giữa tiến hóa gene trong con người và môi trường sống. Thuyết y học tiến hóa giải thích rằng chúng ta vẫn còn mang trong người những gene từ cấu trúc cho môi trường săn bắt và hái lượm (môi trường mà tổ tiên chúng ta phải lao động rất cực nhọc để có miếng ăn), nhưng nay lại sống trong môi trường thụ động (như ít đi bộ, không phải săn bắt thú vật như ngày xưa), và cơ thể chưa tiến hóa kịp để thích nghi với môi trường mới; do đó, chúng ta trở nên béo phì. Đây là một thuyết rất thú vị và đáng chú ý, nhưng người viết sẽ trở lại trong một bài viết khác.   Thứ ba, cần phải kiên nhẫn theo đuổi một ý tưởng nghiên cứu tới cùng. Trong trường hợp câu chuyện leptin, các nhà nghiên cứu bỏ ra 6 năm trời lần dò, truy tìm những gene liên hệ đến béo phì. Một khi tìm ra gene, họ bỏ thêm hàng chục năm nữa để tìm hiểu sản phẩm của các gene (genee products) và phát triển thành thuốc để chữa bệnh béo phì. Thành công trong nghiên cứu khoa học ít khi nào đến với chúng ta một sớm một chiều.   Nói tóm lại, khám phá leptin dù không đem đến cho con người một viên thuốc thần diệu nào, nhưng nó làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại vai trò của gene và tâm lí trong vấn đề thèm ăn, nó giải thích tại sao một số người dù với bất cứ biện pháp giảm cân nào cũng chỉ đem đến thất bại. Đối với khoa học, khám phá leptin mở ra một kỉ nguyên mới cho nghiên cứu về béo phì và đem đến cho y học một luồng sinh khí mới.    Tài liệu tham khảo và đọc thêm:   [1]  Xin xem bài bình luận “Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì cho người Việt” của Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên www.ykhoa.net.  [2]  Về nghiên cứu những cặp sinh đôi và béo phì, xin xem bài báo của tôi trong: Nguyen TV, et al. Bone mass, lean mass and fat mass: same genees or same environments. American Journal of Epidemiology 1998; 147:3-16.  [3]  Zhang Y, et al. Positional cloning of the mouse obese genee and its human homologue. Nature 1994; 372:425-32; và bài đính chính đăng trên Nature 1995; 374:479.  [4]  Về câu chuyện mua bán bản quyền gene lepto, có thể đọc Chương 3 trong cuốn “The Hungry Genee: The Science of Fat and the Future of Thin”, của tác giả Ellen Ruppel Shell. Nhà xuất bản Atlantic (Mỹ).   [5]  Montague CT, et al. Congeneital leptin deficiency is associated with severe early onset obesity in humans. Nature 1997; 387:903-908.  [6]  Farooqi S, et al. Effects of recombinant leptin therapy in a child with congeneital leptin deficiency. New England Journal of Medicine 1999; 341:879-884.   [7]  Về vai trò của leptin và mối liên hệ giữa leptin với lượng béo trong cơ thể, xin xem loạt bài đặc biệt về leptin trong Tập san Nutrition Review, số tháng 10 năm 2002.     Author                Quản trị        
__label__tiasang LHC cần gia hạn 1 năm để tìm kiếm hạt Higgs      Các nhà khoa học đang chuẩn bị kéo dài thời gian chạy máy gia tốc (Large Hadron Collider-LHC) lớn nhất Thế giới thêm một năm trong nỗ lực tìm kiếm hạt Higgs, loại hạt được cho là một phần trong cơ chế hình thành khối lượng ở các loại hạt khác.    Nếu kế hoạch này được thực hiện, máy gia tốc được đặt tại CERN, gần Geneva, Switzerland, sẽ chạy tới cuối năm 2012 — thay vì 2011 — trước khi ngừng hoạt động để nâng cấp. Nhóm điều hành cũng như hội đồng của CERN mong muốn kéo dài thời gian hoạt động của LHC vì tin rằng những phát kiến mới đang ở rất gần.   Thực vậy, nhiều nhà vật lý coi việc tìm kiếm hạt Higgs như nguyên nhân tồn tại của LHC. Các nhà vật lý lý thuyết tin rằng hạt Higgs, cùng các trường liên quan, tạo ra khối lượng trong các hạt khác. Cơ chế này được coi là phần bổ sung cần thiết đối với “mô hình chuẩn” của vật lý hạt, bộ môn hiện đang gặp khó khăn trong việc lý giải nguồn gốc của khối lượng, và vì sao một số hạt nặng trong khi các hạt khác hầu như không có khối lượng.   Săn tìm hạt Higgs  Ban đầu, có những nghi ngờ về việc liệu LHC có thể tìm ra được hạt Higgs dựa vào các nguồn năng lượng hiện có. Sau một tai nạn nghiêm trọng vào năm 2008, LHC chỉ hoạt động ở mức một nửa công suất. Các nhà quản lý CERN dự kiến sẽ ngừng hoạt động của cỗ máy trong vòng 15 tháng kể từ đầu năm 2012 để thu thập dữ liệu, và giúp cỗ máy nâng cấp về mức năng lượng đầy đủ.   Nhưng nay cộng đồng khoa học cho rằng LHC có thể đạt được môi trường tiêu chuẩn để tìm ra hạt Higgs mà không nâng cấp. Theo đánh giá được coi là sát nhất của đa số các nhà vật lý hiện nay, hạt Higgs nặng khoảng 114 tới 600 gigaelectronvolts (109 electronvolts). Khối lượng của Higgs sẽ quyết định hạt có thể bị phân hủy ra sao, và khả năng tìm thấy được là ở mức nào.   Hạt Higgs càng nặng thì càng dễ tìm thấy, Bertolucci- giám đốc điều hành nghiên cứu và tính toán của CERN nói. Hạt Higgs nặng thì sẽ dễ phân hủy thành các cặp hạt hiếm và nặng, được biết đến là các hạt W và Z. Các cặp hạt W và Z sẽ lộ diện rất rõ ràng giữa các hạt khác được tạo ra do LHC. Nhưng nếu hạt Higgs nhẹ hơn, dấu vết của nó sẽ bị trộn trong hỗn độn, khiến cho khó phát hiện hơn và đòi hỏi các nhà vật lý nhiều tháng để phân tích và sang lọc dữ liệu.   Tuy nhiên, Bertolucci khẳng định ông “rất lạc quan” rằng LHC có thể phủ kín hầu như mọi lãnh địa nơi dự kiến có thể tìm thấy hạt Higgs. Cỗ máy đã hoạt động rất tốt sau vụ trục trặc năm 2008, và ông cho rằng nó sẽ cung cấp được lượng dữ liệu cần thiết trong giai đoạn hoạt động 2011-2012. Thêm vào đó, ông nói, các nhà quản lý nghĩ rằng họ có thể cho va đập các hạt ở mức 8 teraelectronvolts (TeV; 1012 electronvolts), từ mức năng lượng 7-TeV hiện nay, và vẫn thấp hơn nhiều so với mức năng lượng 14-TeV theo thiết kế của máy.   Hướng tới mục tiêu  Các nhà vật lý làm việc tại các đầu máy tìm kiếm ủng hộ kế hoạch kéo dài thời gian hoạt động. “Ý kiến của cá nhân tôi cho rằng chúng ta cần phải dồn tất cả những gì đang có cho mục tiêu”, nhận định từ David Francis, nhà vật lý làm việc với đầu máy ATLAS, một trong hai đầu máy khổng lồ được xây dựng chủ yếu để tìm hạt Higgs. “Các thí nghiệm đang tiến triển tốt, cỗ máy đang hoạt động tốt”, nhận xét từ Joe Incandela, nhà vật lý từ trường University of California tại Santa Barbara và là phó đại diện phát ngôn tại đầu máy CMS, đầu máy lớn thứ hai trong cuộc truy tìm hạt Higgs. “Hãy thực sự thúc đẩy để chúng ta đạt được những dữ liệu hữu ích cho ngành vật lý”.   Bertolucci cho rằng có cả những lý do chính trị để kéo dài thời gian vận hành này. Cỗ máy gia tốc lớn thứ 2 trên Thế giới, máy Tevatron tại phòng thí nghiệm Fermilab ở Batavia, Illinois, Mỹ, đang bám sát gót LHC, và nếu cỗ máy này tiếp tục chạy, nó có thể vượt mặt LHC. Hơn nữa, các kế hoạch liên quan tới vật lý năng lượng cao, và cả các kế hoạch của Thế giới cho thế hệ máy gia tốc mới, đang đối diện với những quyết định lớn và sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ kết quả mà LHC đạt được.   Nhưng duy trì cỗ máy chạy thêm một năm sẽ kéo theo cả những hậu quả. Kết cấu siêu dẫn tinh xảo của LHC sẽ phải được bảo dưỡng nhiều hơn. Các nguồn tài nguyên dành cho tính toán sẽ phải xử lý nguồn dữ liệu khổng lồ mà cỗ máy tìm thấy.   Các nhà quản lý nhận ra những khó khăn này, nhưng Bertolucci nói rằng họ có động cơ mạnh mẽ để kéo dài đợt vận hành. “Nếu chúng tôi dừng lại, thì có 3000 người vẫn đang chờ đợi kết quả dữ liệu, và chúng tôi sẽ chẳng thể về tới nhà mà lốp xe không bị xiên thủng”.   Quyết định chính thức sẽ được thảo luận tại thị trấn Chamonix của Pháp vào cuối tháng 1, và sẽ được đưa ra chính thức sớm sau đó.   (Geoff Brumfiel, Nature News)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử chữ Quốc ngữ từ 1615 đến 1861: Quá trình La-tinh hóa tiếng Việt trong trào lưu ngữ học truyền giáo      Lời tòa soạn: Vừa qua, đề xuất lấy tên Alexandre de Rhodes đặt cho một con đường ở Đà Nẵng đã gây ra cuộc tranh cãi dữ dội xung quanh vai trò, đóng góp của chữ Quốc ngữ với sự phát triển văn hóa dân tộc: chữ Quốc ngữ là thành tựu văn minh hay là “công cụ xâm lăng”? Và cuộc tranh luận ngày càng đa chiều, mở rộng, ban đầu từ vấn đề chữ Quốc ngữ, giờ đây còn sang cả chữ Nôm, chữ Hán, cũng như lịch sử ra đời, vai trò của các loại chữ viết này trong lịch sử Việt Nam. Những tranh cãi gay gắt này dường như không có lời kết. Để đưa ra căn cứ có hệ thống, đa chiều, góp phần luận giải vấn đề này, ngày 6/12 Tia Sáng đã tổ chức cuộc tọa đàm giữa TS Hán Nôm Trần Trọng Dương và TS Ngôn ngữ học Phạm Thị Kiều Ly với chủ đề “Từ chữ Nôm tới chữ Quốc ngữ”. Tia Sáng xin giới thiệu bài viết của TS Phạm Thị Kiều Ly về quá trình các nhà truyền giáo nghiên cứu và hoàn thiện cách ghi âm tiếng Việt bằng con chữ La – tinh, một nội dung chị đã trình bày tại tọa đàm.          Bồ Đào Nha được quyền bảo trợ phía Đông. Trong ảnh: Thuyền của Vasco da Gama rời bến đi Ấn Độ vào năm 1497. Nguồn ảnh: The Diplomat.  Người Việt Nam sử dụng chữ La-tinh là hiện tượng đơn lẻ trong số các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa và chính trị Khổng giáo. Tuy nhiên việc ghi âm tiếng bằng con chữ La-tinh lại không phải là một hiện tượng đơn lẻ, công cuộc này được thực hiện ở tất cả các nước có dấu chân của các Thừa sai đến truyền giáo kể từ Phục Hưng (châu Mỹ, Á, Phi). Các Thừa sai đều dùng ngữ pháp La-tinh như một mô hình để miêu tả các ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới và ghi âm các ngôn ngữ đó bằng chữ alphabet để dễ bề học tiếng.     Việc ghi âm tiếng Việt bằng chữ alphabet được bắt đầu khi các Thừa sai Dòng Tên tới Đàng Trong từ năm 1615, rồi tiếp theo là Đàng Ngoài từ 1626. Vì nhu cầu giao tiếp với người dân bản xứ, các Thừa sai học tiếng Việt và miêu tả ngôn ngữ này theo mô hình ngữ pháp La-tinh, đồng thời ghi âm tiếng Việt theo con chữ La-tinh (mà chúng ta gọi ngày nay là chữ Quốc ngữ). Trong kỳ 1 của bài viết này, tôi tập trung trình bày lịch sử chữ Quốc ngữ từ 1615 đến 1861 (tức là mới chỉ được sử dụng trong khuôn khổ của Giáo hội), tôi gọi đây là chữ tiền Quốc ngữ.     Sau hiệp ước Tordesillas (1498) giữa hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha do giáo hoàng dàn xếp, Tây Ban Nha được quyền thám hiểm ở phía Tây (chủ yếu là châu Mỹ) và Bồ Đào Nha được quyền bảo trợ phía Đông. Bởi vậy, Việt Nam nằm trong vùng truyền giáo do vua Bồ Đào Nha bảo trợ. Những chiếc thuyền đầu tiên của người Bồ tới vùng đất Đàng Trong của Việt Nam năm 1523 theo ghi nhận của sử liệu (Manguin 1972 : 47). Nhưng mãi đến năm 1612, khi Nhật Bản cấm đạo và các thừa sai Dòng Tên bị trục xuất về Macao trong lúc chờ nhiệm vụ mới, theo khuyến nghị của nhà buôn Fernandes da Costa, ba thừa sai Dòng Tên1 được cử tới Đàng Trong, họ cập bến Cửa Hàn ngày 18 tháng 01 năm 1615. Thời kỳ đầu, các thừa sai được giáo dân Nhật Bản2 giúp đỡ và làm thông ngôn với người Việt.     Lược sử quá trình ghi tiếng Việt bằng ký tự La-tinh từ 1615 đến 1651     Giai đoạn đầu từ 1615 đến 1630  Giáo sĩ Francisco de Pina (1585-1625) tới Đàng Trong năm 1617. Tư liệu từ bản cáo cáo của João Roiz cho chúng ta biết, năm 1619, Pina đã viết xong một bản từ vựng tiếng Việt. Sau đó Gaspar do Amaral cũng làm một cuốn từ vựng năm 1634, nhưng các bản thảo viết tay này đều đã bị mất. Để phục dựng lại quá trình các giáo sĩ lựa chọn các con chữ để ghi tiếng Việt, tôi đã dựa vào các văn bản viết tay bằng chữ Bồ Đào Nha, La-tinh hiện được lưu trữ tại Lisbonne và Rome có điểm xuyết những âm tiếng Việt được ghi lại bằng con chữ Latinh. Tôi tập trung giải thích logic của việc lựa chọn con chữ của các Thừa sai cũng như tìm hiểu những cuộc gặp gỡ, những biến cố lịch sử dẫn tới sự thay đổi cách viết chữ tiền Quốc ngữ. Con chữ ghi âm tiếng Việt đầu tiên được ghi nhận là trong một báo cáo năm 1617 (Jap-Sin 114, fol. 144v-145v). Ngoài tên các địa danh như Cochinchina, Tonquin, Faifo, Pullo Cambim, tôi còn ghi nhận con chữ  Chuua (Chúa).     Qua nghiên cứu 20 báo cáo thời kỳ này, tôi ghi nhận việc ghi âm đầu tiếng Việt không có nhiều trở ngại. Các thừa sai rất nhanh chóng tìm ra các con chữ Latinh phù hợp để ghi âm đầu tiếng Việt. Các báo cáo thời kỳ này có 24 âm đầu được ghi bằng các con chữ La-tinh (từ điển Việt-Bồ La ghi nhận 26 âm đầu); tôi cũng nhấn mạnh đó không phải là do các thừa sai không ghi hết mà do thiếu từ vựng chứa đủ các âm đầu của tiếng Việt.     Tuy nhiên, các giáo sĩ chưa tách các con chữ (tiếng Việt đơn âm tiết nhưng các giáo sĩ ghi thành đa âm tiết). Ngoài ra, các thừa sai cũng lúng túng trong việc ghi âm phần vần của tiếng Việt. Nghiên cứu các báo cáo thời kỳ này ghi nhận có 6 con chữ a, e, i, o, ô, u để ghi âm các nguyên âm. Còn về việc ghi thanh điệu, có 4 dấu thanh  xuất hiện ” `, ´ , ?, ~ “, nhưng cách sử dụng các dấu thanh này còn chưa thống nhất.    Báo cáo của João Rodrigues (1619) [Cha Pina đã viết xong bản từ vựng của ngôn ngữ này thay vì ngữ pháp, tiếng Trung cũng không có ngữ pháp]      Cuộc gặp gỡ ở Macao và các văn bản mang tính “bản lề”     Sau đó, các báo cáo thời kỳ từ 1630 đến 1634 chỉ ra đây là thời kỳ bản lề cho việc ghi tiếng Việt bằng ký tự La-tinh: các con chữ được tách riêng biệt, xuất hiện 5 dấu thanh để ghi 6 thanh điệu, xuất hiện đủ con chữ để ghi hệ thống âm chính tiếng Việt3, hoàn thành một cuốn từ vựng. Thời điểm quyết định cho những thay đổi này là cuộc gặp gỡ ở Macao năm 1630-1631 của các thừa sai hoạt động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Xin lưu ý lúc đó học viện Saint-Paul của Dòng Tên chuyên đào tạo linh mục đi truyền giáo ở Á Đông. Trong một bản báo cáo ghi vào năm 1632 của bề trên Palmeiro, các thừa sai cùng làm việc chung và cùng dịch bản Pater Noster (Kinh lạy cha) (Jap-Sin 194, fol. 005r – 011v) sang tiếng Việt, Trung, Nhật và có kèm một số nhận xét về ba ngôn ngữ này4.     Khi nghiên cứu bản Kinh lạy cha này, Giáo sư Roland Jacques cho rằng phần con chữ La-tinh do Alexandre de Rhodes viết và de Rhodes là thư ký của nhóm có nhiệm vụ sao chép văn bản (Jacques 2004: 190 – 191). Năm 1629, giám mục Francesco Ingoli, thư ký của Bộ truyền giáo, “cho tiến hành điều tra rộng rãi để biết rõ hơn những dân tộc mà các thừa sai tiếp xúc”, trong đó có ngôn ngữ. Nhưng Roland Jacques không đặt câu hỏi: vậy ai (những ai) là người tham gia vào việc miêu tả tiếng Việt trong văn bản này? Và vì sao văn bản này lại quan trọng.    Gaspar do Amaral thông báo đã soạn xong cuốn từ vựng năm 1634  [Chúng con đã làm vài văn bản bằng tiếng địa phương. Cha Antonio de Fontes đã dịch hai lời giải thích về tín điều và bí tích của cha Bellarmino, chúng con đã viết về đời sống của mười hai tông đồ và của thánh Paul. Dành cho các cha sắp tới, chúng con đã soạn một cuốn từ vựng của ngôn ngữ này]     Khi chúng ta nghiên cứu các sự kiện lịch sử thời đó, chúng ta ghi nhận: Alexandre de Rhodes và Gaspar do Amaral bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài năm 1630, trong khi đó các Thừa sai Dòng Tên cũng bị trục xuất khỏi Đàng Trong năm 1629. Tất cả đều quy tụ tại Macao. Như vậy ý định dịch  Kinh lạy cha sang ba ngôn ngữ có lẽ bắt đầu năm 1630. Xin lưu ý là tháng 2 năm 1630, nhóm bốn Thừa sai (do Amaral, de Fontes, Palmeiro et Cardim) quay lại Đàng Ngoài (Jap-Sin 88, fol. 348v). Có lẽ trước khi đi Đàng Ngoài, Palmeiro có giao dự án này cho các Thừa sai và cũng có thể các giáo sĩ đã cùng thảo luận trước khi lên đường. Cuộc gặp ở Macao có ý nghĩa quan trọng vì các giáo sĩ có thể khẳng định được các thanh điệu và tính đơn âm tiết của tiếng Việt (giống tiếng Trung).     Từ Macao đi Đàng Ngoài tháng 2 năm 1631, António de Fontes viết báo cáo này vào tháng 12 năm 1631 (Jap-Sin 85, fol. 89r-123r). Văn bản này có ba điểm lý thú cần lưu ý:  – Mỗi con chữ ghi một âm tiết – Fontes ghi nhận chắc chắn tính đơn âm tiết của tiếng Việt                           – Trước năm 1631, việc sử dụng các dấu thanh còn chưa chắc chắn nhưng trong văn bản này của Fontes, các dấu thanh ” `, ´ , ˀ, ~, ” được dùng để ghi đúng thanh điệu cần ghi.                                               Tiếng Đàng Trong có 5 thanh điệu, cần phải đợi đến lúc Fontes hoặc trước đó Alexandre de Rhodes tiếp xúc với tiếng Đàng Ngoài mới biết được đủ 6 thanh điệu của tiếng Việt.  – Ở trong văn bản này, tôi còn ghi nhận sự xuất hiện của chữ cái ô và â. Hai con chữ này đã xuất hiện ở trong báo cáo của Fontes năm 1626, nhưng không ghi rõ ràng. Hơn nữa, văn bản này cũng ghi nhận có sự xuất hiện lần đầu của hai chữ cái ơ và ư. Như vậy, các nguyên âm của tiếng Việt đã được ghi đầy đủ.             Báo cáo của Fontes 1631                Kẻ chợ  oũ thưong duyen (Ông Thượng Duyên)          Báo cáo của Amaral năm 1632  (Jap-sin 85, fol. 125r-174r)            Nhà thượng đày (nhà thượng đài)             Trước đây khi chúng ta nói đến các Thừa sai đóng góp cho sự hình thành chữ tiền Quốc ngữ ở thời kỳ đầu, chúng ta thường nói tới Alexandre de Rhodes, Gaspar do Amaral, António Barbosa. Nhưng với những điểm cần lưu ý ở trên, tôi nghĩ rằng vai trò của António de Fontes rất quan trọng. Thừa sai này chính là cầu nối của cách ghi âm đã học được ở Đàng Trong và ông hoàn thiện nó khi ra Đàng Ngoài, rồi truyền lại cho các tu huynh khác như Amaral, Barbosa…  Đến Đàng Ngoài năm 1631 để cùng học tiếng với António de Fontes và các tu huynh khác, Gaspar do Amaral có khả năng ngôn ngữ thiên bẩm, chỉ mất một năm để ghi âm rất tốt tiếng Việt (giống với cách viết của Fontes trong bản báo cáo năm 1631) và đến 1634, đã báo cáo hoàn thành xong một cuốn từ vựng (Jesuítas na Ásia, vol. 49-V-31, fol. 308). Amaral chỉ rõ trong bản báo cáo của mình rằng cuốn từ vựng này là để cho các Thừa sai chuẩn bị tới và học tiếng. Như vậy đến thời điểm này, về căn bản việc ghi tiếng Việt bằng ký tự La-tinh được khá ổn định và có quy tắc.      Bản đồ An Nam do Alexandre de Rhodes vẽ năm 1651, trong đó có chữ “Cocincina” (tay trái) and “Tunkin” (tay phải). Nguồn: alamy  In từ điển Việt-Bồ-La     Nhưng có lẽ phải tới năm 1645, tại Macao, trong cuộc họp của 35 Thừa sai Dòng Tên trong đó có Gaspar do Amaral, António Barbosa, Alexandre de Rhodes… để thảo luận xung quanh việc dịch mô thức rửa tội (Jap-Sin 80, fol. 35r-38v), thì các Thừa sai đã quyết định cần soạn thảo một cuốn từ điển và giáo lý để thuận lợi cho việc học tiếng và thống nhất chính tả. Rhodes rời Macao tháng 12-1945 và trải qua hành trình dài về Roma tháng 6-1649 xin văn khố của bộ truyền giáo 300 écus để in ba cuốn Grammatica, Dittionario e Catechismo nelle lingua del Tonchino (Nguyễn Khắc Xuyên 1961: 183-196). Cuốn Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum (có kèm 31 trang ngữ pháp) và Catechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus được in năm 1651.  Việc in từ điển này có ý nghĩa rất lớn: giúp thống nhất chính tả, là công cụ học hữu hiệu cho các giáo sĩ khi đi truyền giáo và hơn nữa đây còn như một cuốn từ điển giải thích phong tục tập quán của người An Nam thời đó.     Vai trò của Hội Thừa sai Paris     Ở Roma năm 1649, Alexandre de Rhodes vận động Bộ Truyền giáo gửi đại diện tông tòa (vicaire apostolique) sang xứ An Nam. Không nhận được câu trả lời, De Rhodes gặp Giáo hoàng Innocent X để trình bày những thỉnh nguyện trên. Tòa thánh không thể quyết định, với sự chấp thuận của Giáo Hoàng, năm 1652, Rhodes phải sang Pháp để vận động vua và giới quý tộc Pháp đưa thêm linh mục sang miền Viễn Đông5. Rhodes bị gửi sang Ba Tư năm 1654 trước khi nhìn thấy thành quả các cuộc vận động của mình. Năm 1658-1659, ba Thừa sai người Pháp là François Pallu, Pierre Lambert de la Motte và Ignace Cotolendi được sắc phong làm giám mục in partibus và là giám mục hiệu tòa tại Đàng Ngoài, Đàng Trong và Trung Quốc. Hội Thừa sai Paris chính thức được thành lập năm 1663.     Đào tạo linh mục bản xứ và sự lựa chọn ngôn ngữ truyền giáo     Trường tổng đào tạo linh mục được đặt tại Ayutthaya –Thái Lan năm 1666. Các giám mục tông tòa được cử tới Á Đông với nhiệm vụ đào tạo linh mục bản xứ. Tiếng La-tinh là ngôn ngữ bắt buộc trong các nghi thức công giáo. Một trong những thách thức với các thầy giảng người bản xứ là học tiếng La-tinh như Lambert de la Motte viết trong một báo cáo năm 1667 (Fauconnet-Bezelin 2006: 436). Việc học La-tinh khó đến nỗi Lambert de la Motte chấp nhận thụ phong cho một số linh mục người Việt năm 1668 mặc dù họ đọc tiếng La-tinh mà không hiểu. Nhiệm vụ dạy tiếng La-tinh được đặt ra cấp thiết. Các giám mục tông tòa hy vọng có thể biến La-tinh thành ngôn ngữ giao tiếp chung của các linh mục và thầy giảng tại trường Dòng.  Năm 1671, trường Dòng ở Ayutthaya có 25 chủng sinh trong đó có 6 người Việt (Forest 1998, T. 1: 197). Hai năm sau, số lượng chủng sinh là 17 thì có tới tận 12 người Đàng Trong và hai người Đàng Ngoài. Trước tình hình này, giám mục Laneau quyết định ưu tiên dạy tiếng Việt và chữ tiền Quốc ngữ cho các chủng sinh (Forest 1998, T. 1: 196). Chữ tiền Quốc ngữ trở thành chữ viết trung gian giữa các giám mục người nước ngoài và chủng sinh, linh mục bản xứ.      Dinh trấn Thanh Chiêm (Trích đoạn từ bức tranh “Shuin-sen Kochi toko zukan” – Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển. Ảnh do TS Trần Đức Anh Sơn chụp tại Bảo tàng Quốc lập Kyushu năm 2013), gần đây Dinh trấn này đã được công nhận là di tích quốc gia. Tại hội thảo ‘Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ’ tại Quảng Nam, các nhà khoa học tin rằng Francisco de Pina đã lưu lại đây nhiều lần đến đây để dạy chữ. Nguồn: Báo Quảng Nam.     Văn khố của Hội Thừa sai Paris còn lưu trữ hàng trăm báo cáo do các linh mục người Việt viết. Văn bản đầu tiên được viết năm 1667 tại Đàng Trong (AME, V. 733, p. 477) và năm 1687 tại Đàng Ngoài (AME, V. 681, p. 20-21). Chúng ta biết rằng với chính sách đào tạo linh mục bản xứ dưới thời Hội thừa sai, các linh mục người Việt được phép viết báo cáo và gửi trực tiếp về trụ sở tại Paris. Nhưng tại sao các linh mục người Việt lại không viết bằng chữ Nho hoặc Nôm mà lại bằng tiền Quốc ngữ?  Khi các giám mục tông tòa đầu tiên tới Đại Việt, chữ Nho và chữ Nôm vẫn được sử dụng phổ biến để viết các cuốn giáo lý. Cho tới tận năm 1679, Deydier vẫn viết trong báo cáo của ông rằng các phép bí tích phải được viết bằng ngôn ngữ và chữ viết bản xứ để cho các linh mục có thể đọc được khi cử hành các nghi lễ (Marillier 1995, T. I: 13).     Nhưng theo báo cáo thường niên năm 1685, lính gác và quan bắt một người giúp việc trong nhà Dòng ở Nghệ An khi người này mang hai tập tài liệu viết bằng chữ Nho và chữ La-tinh. Tình cờ lính chỉ mở tập tài liệu ghi bằng chữ La-tinh, họ không hiểu nên để cho người giúp việc của nhà Dòng được đi tiếp. May mắn với người này hoặc là may mắn cho số phận của chữ Quốc ngữ vì “tất cả báo cáo viết bằng chữ viết của người bản xứ chứa toàn bộ thông tin quan trọng của truyền giáo nhưng bị cấm” (AME, V. 651, p. 128). Ngay lập tức Deydier ra lệnh, tất cả các giấy tờ, thông tin quan trọng cần được viết bằng con chữ La-tinh, tức chữ tiền Quốc ngữ.     Chính bước ngoặt quan trọng này mà chữ tiền Quốc ngữ được dạy, sử dụng trong cộng đồng công giáo trong vòng ba trăm năm trước khi nó được đưa vào trường học ở Đàng Trong năm 1861. Việc học và sử dụng chữ tiền Quốc ngữ phụ thuộc rất lớn vào các trường Dòng đặt tại các địa phương. Văn khố của Hội Thừa sai Paris lưu trữ rất nhiều văn bản viết tay của các linh mục Đàng Ngoài, nhưng từ năm 1700, tôi không tìm thấy báo cáo do linh mục Đàng Trong viết nữa.     Vấn đề này có thể lý giải bằng việc lập các trường Dòng tại hai miền. Năm 1666, Deydier tập hợp 15 thầy giảng trong đó có Bentô Hiên [Thiện] et Giuong Hoè và thành lập trường Dòng đầu tiên tại Đàng Ngoài. Năm 1682, Deydier mở thêm một trường nữa tại Kiên Lao (Marillier 1995, T. I: 117). Trường thứ ba đặt tại Kẻ Cọc năm 1685 (Marillier 1995, T. I: 114). Một trường nữa đặt tại Kẻ Vĩnh năm 1713. Trong khi đó tại Đàng Trong, Lambert de la Motte đã thăm địa phận hai lần bí mật trong thời gian từ 1671 tới 1676. Giám mục tông tòa đầu tiên Louis Chevreuil được gửi tới Đàng Trong năm 1664, ông gặp hai linh mục Dòng Tên là Marques và Fuciti. Nhưng cũng năm đó Hiền Vương cấm đạo. Rồi những tranh chấp giáo phận giữa Dòng Tên, dòng Phan Sinh và Hội Thừa sai diễn ra khiến cho công việc truyền giáo gặp trở ngại, việc lập trường Dòng ở Đàng Trong cũng không được thực hiện. Hơn nữa cũng có rất ít người Đàng Trong được thụ phong linh mục. Cho tới năm 1690, cũng mới chỉ có 8 linh mục người Đàng Trong được thụ phong (Trương Bá Cần 2008, T. I : 219-233). Nhưng sau đó, các đại diện tông tòa buộc phải dựa vào các thầy giảng, nhưng các thầy giảng cũng chỉ phụ trách việc ghi sổ sách sinh tử, hay là những người mới tới, chứ không thể lo cử hành lễ.     Chính hoàn cảnh lịch sử như vậy đã khiến cho chữ tiền Quốc ngữ không phát triển ở Đàng Trong, cho đến khi Pigneaux de Béhaine dẫn chủng sinh về Hòn Đất lánh nạn năm 1765.    Báo cáo của giám mục Deydier (1685) yêu cầu các thừa sai và chủng sinh viết báo cáo bằng con chữ La-tinh.     Đóng góp của linh mục người Việt     Lưu trữ của Hội Thừa sai Paris hiện còn giữ hai cuốn từ điển cùng niên đại (1772-1773). Cuốn từ điển Dictionarium Annamiticum-Latinum đã được in bản Fac-similé mà chúng ta biết mang tên Pigneaux de Béhaine. Nhưng bản viết tay không phải do Pigneaux de Béhaine ký tên.     Vị giám mục Ardan này có thể giữ vai trò là người điều phối làm từ điển nhưng ông thể tham gia trực tiếp được như ông viết trong một bản báo cáo khác: “Sau mười tháng làm việc và với sự trợ giúp của tám người Đàng Trong, con vừa hoàn thành sáu bản cuốn từ điển có tất cả các chữ  và tất cả các từ theo thứ tự alphabet” (AME, V. 994, p. 736). Vậy ai là những người Việt tham gia cuốn từ điển này? Bản báo cáo của Pigneaux de Béhaine nêu tên 6 người là: Chantra Toû (Tú ?), Antoine Lợi, Paul Nghị, André Loan, Dominique Vãng et Raphael Chay (Cháy ?) (AME, V. 994, p. 736-737), còn lại hai người vô danh.     Hơn nữa cuốn từ điển Dictionarium Annamiticum-Latinum phản ảnh tư duy làm công cụ học tiếng của người bản xứ chứ không phải người nước ngoài. Thông thường khi một người nước ngoài học một ngôn ngữ mới, từ điển và ngữ pháp là hai công cụ không thể tách rời. Việc không có ngữ pháp đính kèm từ điển như các công trình ngôn ngữ của các thừa sai khắp nơi trên thế giới thời kỳ đó có thể giải thích cho việc cuốn từ điển này là do người Việt làm là chính.     Tiểu kết     Như vậy chữ tiền Quốc ngữ được sáng tạo ở Đàng Trong như một phương pháp học tiếng rồi cách ghi tiếng Việt này được truyền lại cho các thừa sai ở Đàng Ngoài thông qua hai nhịp cầu chính: Alexandre de Rhodes và António de Fontes. Việc các thừa sai hoàn thành một cuốn từ vựng ở Đàng Ngoài năm 1634 là cơ sở nền tảng để Alexandre de Rhodes soạn cuốn Việt-Bồ-La.     Dười thời Hội Thừa sai Paris, chữ tiền Quốc ngữ đã chuyển từ vai trò là một công cụ học tiếng sang thành một chữ viết trung gian, công cụ giao tiếp giữa các Thừa sai người nước ngoài và linh mục, thầy giảng người Việt. Quyết định của giám mục Deydier góp phần phổ biến chữ tiền Quốc ngữ trong các bản báo cáo của các linh mục. Cũng cần nhấn mạnh việc tổ chức các trường Dòng đóng góp rất quan trọng vào việc giảng dạy và gìn giữ chữ tiền Quốc ngữ trong vòng gần ba trăm năm trong lòng giáo hội. Chính các linh mục, chủng sinh người Việt góp phần to lớn vào việc gìn giữ, phát triển chữ tiền Quốc ngữ. □  (Còn tiếp kỳ 2)  ——  *Ghi chú: Bài báo này trích ra từ luận án Tiến sĩ của tác giả với tiêu đề “La grammatisation du vietnamien (1615-1919): histoire des grammaires et de l’écriture romanisée du vietnamien”. Tác giả đã bảo vệ thành công luận án vào tháng 11-2018 tại Université Sorbonne Nouvelle – Paris 3.  —–  1 Thành lập năm 1540 do Giáo Hoàng Paul III phê chuẩn, đấng sáng lập là Ignace de Loyola. Ba vị Thừa sai đầu tiên là : Francesco Buzomi (1575-1639) ; Diogo Carvalho (1578-1624) ; António Dias (1585- ?).  2 Kể từ 1612, vua Nhật cấm đạo gắt gao. Rất nhiều giáo dân Nhật rời khỏi đất nước và tới sinh sống tại Hội An.  3 Hệ thống âm chính tiếng Việt được đảm nhiệm bởi 11 nguyên âm đơn (được ghi bởi 12 con chữ) và 3 nguyên âm đôi (được ghi bởi 6 con chữ).  4 Trang đầu của văn bản được xếp ở phần phụ lục.  5 Trong cuốn Divers voyages et missions (Hành trình truyền giáo), xuất bản năm 1653, Alexandre de Rhodes có ghi “envoyer des soldats” tức là gửi thêm chiến sĩ phúc âm. Theo từ điển ngữ nguyên tiếng Pháp do Giáo sư Alain Rey chủ biên, soldat ngoài nghĩa là người lính quân sự thì còn là người bảo vệ cho đức tin, ví dụ “soldat du Christ” tức người chiến sĩ phúc âm.    Author                Phạm Thị Kiều Ly        
__label__tiasang Lịch sử cổ đại rọi ánh sáng mới vào sự kết nối giữa thời tiết và chiến tranh      Dữ liệu trích xuất từ những tài liệu về lịch sử Hàn Quốc cổ nhất còn tồn tại cho thấy một sự tương quan mật thiết giữa các sự kiện thời tiết và chiến tranh.      Bản đồ cho thấy những cú sốc thời tiết và xung đột vũ trang giữa các vương quốc cổ đại ở Nam Á. Việc rơi vào xung đột vũ trang giữa năm 18 TCN và 660 CN giữa các vương quốc cổ đại ở Nam Á với những mũi tên chỉ dấu tấn công và các con số bên cạnh hiển thị số lượng các cuộc xâm lăng. Ở đây, “Trung Quốc” là đại diện chung cho các triều đại Trung Quốc ở Mãn Châu, và “Nhật Bản” đại diện cho nhiều vương quốc gia khác nhau tồn tại trên lãnh thổ Nhật Bản ngày nay. Các biểu đồ hình cột hiển thị tần suất của bốn loại hiện tượng thời tiết cực đoan ở mỗi quốc gia trong số ba vương quốc trên bán đảo Triều Tiên và con số bên dưới xác định các năm đã xảy ra ít nhất một cơn sốc thời tiết xảy ra. Các khu vực bóng mờ thể hiện lãnh thổ gần đúng của mỗi vương quốc vào thế kỷ thứ tư và thứ năm sau CN.  Nghiên cứu “Extreme weather events and military conflict over seven centuries in ancient Korea” (Những sự kiện thời tiết cực đoan và xung đột chiến tranh suốt bảy thế kỷ ở Hàn Quốc cổ đại) mới được xuất bản trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS). Nó chứng tỏ ba vương quốc kiểm soát bán đảo Triều Tiên từ năm 18 trước công nguyên đến 660 công nguyên tăng gấp đôi nguy cơ tham gia vào một cuộc xung đột có vũ trang với vương quốc láng giềng khi trải qua một đợt sốc thời tiết như hạn hán hoặc quá dư thừa nước sau những đợt mưa quá lớn.  Với nghiên cứu này, giáo sư Rajiv Sethi (trường Barnard thuộc đại học Columbia) và đồng tác giả là Tackseung Jun (trường đại học Kyung Hee Hàn Quốc) đã phân tích dữ liệu trích xuất từ những hồ sơ  chi tiết về giao tranh và các sự kiện thời tiết cực đoan có trong Samguk Sagi (Tam quốc sử ký) – một sử liệu của người Triều Tiên bằng chữ Hán về Tam Quốc là Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La trong lịch sử Triều Tiên.  Được biên soạn theo lệnh của vua Injong (Nhân Tông) của thời đại Goryeo (Cao Ly) vào thế kỷ 12, Samguk Sagi cung cấp cho các nhà khoa học cơ hội truy cập vào dữ liệu sử liệu hiếm, bao gồm một bộ sử liệu đáng tin cậy về cả thời tiết lẫn các sự kiện giao tranh được ghi nhận trong toàn bộ các thế kỷ đó.  Phân tích của các nhà nghiên cứu đã tiết lộ một vương quốc trải qua những cú sốc thời tiết cực đoan có khả năng dễ bị một vương quốc khác tấn công hơn là họ đi xâm chiếm một quốc gia khác. Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy tình trạng bấp bênh về lương thực là một nguồn cơn nguy hiểm thực sự, có thể dẫn đến cảnh bị xâm chiếm.  Công trình của Rajiv Sethi và Tackseung Jun đã rọi ánh sáng mới vào mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và chiến tranh. Có thể cuối cùng nó cũng giúp cho các chính phủ nhận biết được tính quan trọng của vấn đề bảo vệ cuộc sống của con người trong thế giới ngày nay, vốn đã bị tổn thương bởi những xung đột liên quan đến khí hậu.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-ancient-history-weather-war.html  https://www.pnas.org/content/118/12/e2021976118    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử cuộc đua lên Mặt trăng      Ngày 20.7.1969  Neil Armstrong là người Mỹ đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng, đánh dấu mốc loài người lần đầu tiên có mặt tại một thiên thể ngoài hành tinh. Đằng sau đó là một cuộc đua quyết liệt giữa Mỹ và Liên Xô. Và có một kiến trúc sư của chương trình nghiên cứu của Liên Xô, vẫn còn rất ít được biết đến.      Phóng Saturn V, đưa “Apollo 11” lên Mặt trăng.  Những người tiên phong  Từ thời cổ đại, con người đã quan tâm đến mặt trăng, các hành tinh khác và mơ về việc tiếp cận những hành tinh xa xôi này bằng những phương tiện kỳ ​​quặc như tàu buồm bay hoặc xe do chim kéo, có lúc nghiêm túc, đôi khi chỉ là sự châm biếm hài hước. Chính các nhà thơ đã mơ về những chuyến đi như vậy.   Đôi khi các nhà khoa học suy đoán về các thế giới có sự sống, tuy nhiên hầu như tuyệt đại đa số đều cho rằng không thể có các chuyến du hành vũ trụ trong thế kỷ 20. Chính các nhà văn, nhà thơ lại là những người đưa ý tưởng du hành vũ trụ sát với thực tế cuộc sống. Jules Verne (1828–1905) đã viết liền mấy cuốn sách như  “Từ Trái đất lên Mặt trăng” (1865), hay “Chuyến đi vòng quanh Mặt trăng” (1870), dù hoàn toàn không phải là những cuốn sách về chuyên môn nhưng lại đề cập đến những vấn đề cơ bản về du hành vũ trụ như tốc độ thoát, động lực tên lửa, việc chọn lựa bãi phóng tên lửa, vấn đề không trọng lượng, hạ cánh trên mặt nước… và một vấn đề không kém phần quan trọng là toàn bộ công tác điều hành, quản lý dự án vô cùng phức tạp này.  Nếu như không có bộ sách lý thú này thì đã không có nhà nghiên cứu du hành vũ trụ đầu tiên, điều này đã được chính ông nói ra. Đó là một người Nga, ông tin chắc rằng những ý tưởng của Jules Verne về du hành vũ trụ đến một ngày nào đó sẽ trở thành hiện thực. Người đó là Konstantin Ziolkowski (1857–1935).   Thoạt đầu hầu như không có ai quan tâm đến những gì mà Ziolkowski nghiên cứu,  ông miệt mài với kỹ thuật tên lửa và du hành vũ trụ. Ông làm điều đó khi những chiếc ô tô đầu tiên mới bắt đầu xuất hiện. Ngày nay ông là một trong số những người đi tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ. Ngay cả cái tên  “Sputnik” được đặt cho vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 cũng xuất phát từ câu chuyện khoa học viễn tưởng  của ông, nhằm phổ biến rộng rãi hơn ý tưởng của mình.      “Trái đất đúng là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ Mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta.”      Ziolkowski xây dựng đường hầm gió đầu tiên vào năm 1896. Sang thế kỷ hai mươi ông đã công bố phương trình tên lửa, cùng với những thứ khác như tên lửa nhiều tầng, vệ tinh, trạm không gian và bộ quần áo vũ trụ. Ông từng viết: “Trái đất đúng là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ Mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta”.   Sau đó, Hermann Oberth (1894–1989) người Đức, dường như là người kế nhiệm Ziolkowski. Ông cũng rất ngưỡng mộ Jules-Verne. Luận án tiến sỹ của ông “Tên lửa đến các không gian hành tinh“ bị trường Đại học Heidelberg từ chối năm 1922 vì không có người hướng dẫn đủ trình độ chuyên môn. Năm sau đó, ông công bố tác phẩm tầm cỡ thế kỷ này dưới dạng một cuốn sách chuyên khảo “bình thường”.   Robert Goddard (1882–1945), người Mỹ, là nhân vật thứ ba trong nhóm các nhà tiên phong quan trọng nhất này. Năm 1920, ông công bố một công trình mang tên “Methods of Reaching Extreme Altitudes”, đề cập đến các chuyến bay không có người lên Mặt trăng, đã bị đông đảo dư luận chế nhạo và chê cười mặc dù trước đó ông đã phát triển thành công tên lửa chất rắn phục vụ mục đích quân sự.     Đài tưởng niệm Sergey Pavlovich Korolyov  (1907–1966) ở vùng Baikonur của Nga ở Kazakhstan.  Những nhà sản xuất  Cho đến thời điểm đó, tất cả các nghiên cứu về du hành vũ trụ đều có tính lý thuyết thực nghiệm có nhưng còn nhỏ lẻ, khiêm tốn. Người ta thiếu kinh phí để làm những tên lửa cỡ lớn.   Cho đến một bước ngoặt, với sự ra đời của Viện Nghiên cứu quân sự của Đức và Wernher von Braun là giám đốc kỹ thuật khi còn rất trẻ. Đỉnh cao trong sự nghiệp phát triển tên lửa của ông diễn ra năm 1939 với quả tên lữa cỡ lớn dài 14 mét (A4), còn có tên là vũ khí trả đũa (Vergeltungswaffe 2 – V2). Tháng 10/1942 trong một chuyến thử tên lửa lên tới độ cao 84,5 km (lên quá ranh giới không gian là 80 km – theo tiêu chuẩn của NASA hiện nay), hai năm sau lên đến độ cao 174,6 km. Từ 1944, tên lửa này được coi là tên lửa khủng bố đối với nhiều nước. Wernher von Braun là người đóng vai trò quyết định trong việc phát triển tên lửa lỏng A4/V2.  Cả người Nga và người Mỹ đều ý thức được sự vượt trội về công nghệ nghiên cứu tên lửa của Đức. Vì vậy khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945, họ đã tìm mọi cách để vơ vét tất cả những gì liên quan đến tên lửa V2. Vì thế nên ngay cả đến bảo tàng của Đức ở Peenemünde cũng chỉ có bản sao của V2 để giới thiệu với công chúng.  Người ta không chỉ lấy đi các nguyên liệu, bản vẽ mà cả những tác giả của công nghệ tên lửa. Những chuyên gia tên lửa hàng đầu của Đức đã cùng với Wernher von Braun nhanh chóng chạy về vùng Bayern để đầu hàng quân đội Mỹ. Một số người khác, tài năng không kém, thì rơi vào tay quân Nga. Nhưng bọn họ đã nhanh chóng được thả sau khi đã khai báo mọi sự hiểu biết của mình. Lý do là nhờ cá nhân một người đàn ông, người đó là Sergey Pavlovich Korolyov (1907–1966).   Korolyov có một thời gian dài ở Đông Đức  để nghiên cứu các kế hoạch về  A4/V2, nhờ các chương trình này ông đã phát triển R1 của Liên Xô. Không lâu sau nổ ra cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô trước tiên đơn thuần về mặt quân sự. Trên cơ sở A4, cả hai bên này đều chú trọng phát triển tên lửa liên lục địa.  Du hành vũ trụ dân sự được phát triển như một bước ngoặt. Liên Xô với “Sputnik 1”năm 1957 đã tạo ra một đòn trúng đích, đã thực sự làm thức tỉnh nước Mỹ. Sau đó Liên Xô tiếp tục dẫn đầu: “Luna 2” thực hiện chuyến hạ cánh cứng đầu tiên lên Mặt trăng vào năm 1959, Yuri Gagarin là người đầu tiên bay quay quanh trái đất vào năm 1961 trên tàu vũ trụ “Vostok 1”.      Von Braun tại Trung tâm Phi hành không gian Marshall vào năm 1964, đằng sau là những mô hình Saturn. Nguồn ảnh: https://www.nasa.gov/topics/history/features/vonbraun.html     Để đối chọi với “Sputnik” Mỹ trước hết tung ra dự án “Vanguard”, theo đó Hải quân Mỹ được giao chính thức  nhiệm vụ phục vụ Năm vật lý địa cầu 1958. Tuy nhiên dự án “Vanguard” là một thất bại, trong số 12 cuộc phóng thì 9 không thành công. Dù sao thì từ năm 1958 đã có ba vệ tinh  lên được quỹ đạo Trái đất.  Còn các chuyên gia tên lửa của Đức không tham gia hoạt động này. Kể từ khi tái định cư, họ chịu sự quản lý của quân đội Mỹ, cư trú tại căn cứ quân sự Fort Bliss ở El Paso (Texas), từ năm 1950 ở Huntsville (Alabama). Lúc đầu họ làm thí nghiệm với A4 và đầu những năm 1950 phát triển tên lửa quân sự như Redstone trên nền tảng này. Có lẽ, Wernher von Braun không được khai thác hết năng lực nên ông ta viết sách khoa học cũng như sách, báo khoa học thường thức, rồi còn làm phim hoạt hình cùng hợp tác với Walt Disney.  Cuộc chạy đua  Năm 1961 có ý nghĩa quyết định đối với con đường lên Mặt trăng. Ngày 25/5 Tổng thống Kennedy tuyên bố mục tiêu ngay trong thập niên này sẽ đưa người lên mặt trăng và trở về an toàn. Đây là một dự án đầy tham vọng và vô cùng tốn kém nhưng được khích lệ bởi quyết tâm không để thua Liên Xô một lần nữa.  Cũng trong năm đó Liên Xô ra một quyết định tương tự, chương trình Mặt trăng, nhưng giữ bí mật. Chương trình  Apollo của Mỹ do Cơ quan không gian dân dụng NASA, ra đời năm 1958, chịu trách nhiệm. Wernher von Braun và đội ngũ của ông đóng vai trò quyết định cho dù NASA thời kỳ đầu có tới 450.000 nhân sự tham gia giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ của chương trình Apollo mà thoạt đầu tưởng chừng không thể kham nổi.   Von Braun và người của ông có nhiệm vụ phát triển một loại tên lửa đẩy thích hợp. Sau đó Saturn V đã thành hình, với chiều cao 111 mét, cho đến nay vẫn là loại tên lửa đẩy lớn nhất thế giới. Các bộ phận riêng lẻ được lắp ráp với nhau trong một nhà xưởng lắp ghép cao tới 160 mét ở Trung tâm Vũ trụ  John F. Kennedy (KFC).  Chuyên gia tên lửa von Braun không chịu trách nhiệm thiết kế tàu vũ trụ Apollo dài 11 mét và các bộ phận đi kèm. Khi thử nghiệm trên mặt đất năm 1967 rất tiếc một thảm họa nghiêm trọng đã xảy ra. Khoang Apollo 1 bốc cháy làm ba nhà du hành vũ trụ bị chết ngạt.  Trong khi đó Saturn V ngay trong chuyến bay thử đầu tiên vào ngày 9/11/1967 đã thành công. Có thể nói toàn bộ chương trình Apollo với tên lửa đẩy khổng lồ hầu như không có trục trặc đáng kể nào. Phải chăng von Braun và các cộng sự của ông đã gặp nhiều may mắn? Nhưng, may mắn chỉ đến với những người thực sự tài năng và có quyết tâm. Và thành công này là vô cùng xuất sắc.  Trong khi đó Liên Xô vẫn lặng lẽ bí mật xúc tiến chương trình của mình. Đối thủ của Apollo khi đó là tàu vũ trụ Sojus, cho đến tận ngày nay vẫn còn hoạt động. Ngay trong chuyến bay đầu tiên đã xảy ra một tai nạn chết người, khi hạ cánh dù không hoạt động. Để phục vụ cho các chuyến bay lên Mặt trăng, Liên Xô dự định sử dụng loại tên lửa đẩy N1, cao 105 mét. Trong khi tiến triển dự án ngành du hành vũ trụ Liên Xô đã bị một cú đánh trời giáng. Kiến trúc sư thiên tài Sergey Korolyov đã qua đời năm 1966 trong một ca phẫu thuật bệnh tim, hậu quả của thời kỳ bị tù đầy khắc nghiệt trước đó dưới thời Stalin.  Hai kỳ phùng địch thủ Korolyov và von Braun trong cùng một giải đấu nay đã chỉ còn lại một. Nếu như Koroljow không phải rời khỏi cuộc chơi vì bệnh tật và cái chết, điều gì sẽ xảy ra? Có phải Liên Xô vẫn có cửa thắng chăng?  Thực ra sau đó thì cuộc đua ở phía Liên Xô bị trì trệ. Tất cả bốn cuộc thử tên lửa từ 1969 đến 1972 đều trục trặc, không thành công, đến đây cuộc chạy đua coi như đã bị thất bại, Liên Xô ngừng chương trình lên Mặt trăng.  Còn về phía Korolyov, Liên Xô đã giữ bí mật về sự tồn tại của ông mãi đến khi ông qua đời. Người Mỹ thực sự mù tịt không biết ai thực sự là đối thủ chính của mình trong cuộc chạy đua này. Sau này Sergey Korolyov được an nghỉ ở chân tường điện Kremli. Người ta xây tượng đài để tưởng niệm ông, nhiều nước Đông Âu phát hành các bộ tem bưu chính lưu niệm về ông.   Còn Wernher von Braun, dù có vai trò to lớn trong việc phát triển ngành du hành vũ trụ, tuy nhiên do dính líu với chế độ Quốc xã nên tên tuổi ông có phần bị lu mờ.   Sứ mệnh lên cung trăng vẫn tiếp tục. Sứ mệnh “Apollo 8” diễn ra ngày 21/12/1968 là một bước đệm quan trọng trên con đường đưa người lên Mặt trăng. Chưa đầy ba ngày sau đã lên quỹ đạo bay quanh Mặt trăng ở độ cao 112 km. Trong chuyến bay này và mười vòng bay xung quanh Mặt trăng người ta đã chụp được vô vàn các bức ảnh với rất nhiều chi tiết về mặt trăng. Gần đúng 100 năm sau, tầm nhìn của  Jules Vernes về một chuyến bay lên cung trăng nay đã trở thành hiện thực.  Sau các cuộc thử nghiệm mô-đun Mặt trăng trong quỹ đạo Trái đất và Mặt trăng với “Apollo 9” và “Apollo 10” vào đầu năm 1969, các phi hành gia trên “Apollo 11” Neil Armstrong và Edwin Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng. □  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/geschichte/article192905081/Sergei-Koroljows-Tod-machte-die-USA-zum-Sieger-auf-dem-Mond.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử hộp đen      Sau hai vụ tai nạn máy bay bí ẩn xảy ra  vào năm 1954, nhà khoa học người Australia David Warren đã chế tạo ra  thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay, vẫn được gọi là hộp đen, góp phần làm  cho hoạt động hàng không an toàn hơn.     Năm 1954 là một năm hẩm hiu đối với ngành hàng không thế giới. Một vụ tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra khi kỷ nguyên máy bay phản lực mới bắt đầu. Sau khi cất cánh từ Rome chiếc máy bay Anh quốc De Havilland “Comet” đã bị nổ tung trên bầu trời và lao xuống Địa Trung Hải làm 35 người bị tử nạn.   Trừ một vài dân chài, hầu như không có ai chứng kiến vụ tai nạn kinh hoàng. Không một ai trên máy bay sống sót, không tìm thấy mảnh vỡ nào và không có dữ liệu nào khả dĩ cho biết đôi chút về nguyên nhân tai nạn. Trong khi đó áp lực kinh tế lại hết sức to lớn: “Comet” là máy bay phản lực chở hành khách đầu tiên trên thế giới và có nhiều thành công; sau khi tất cả máy bay loại này phải tạm dừng hoạt động để kiểm tra thì nay đã đến lúc phải cho chúng cất cánh càng nhanh càng tốt. Cho dù không biết điều gì đã xảy ra trong buồng lái chiếc máy bay bị nạn, một số chuyên gia phỏng đoán có thể đã có một vụ nổ ở bộ phận động cơ khiến máy bay bị rơi.   Tuốc-bin được gia cố, máy bay “Comet” lại cất cánh, nhưng chỉ ba tháng sau lại có một máy bay cùng loại bị rơi: lần này máy bay cũng xuất phát từ Rome sau khi bay được 30 phút và lên đến độ cao 10.000 mét thì bị nổ tung. Những mảnh vỡ của máy bay ngay sau đó đã được phát hiện ở vùng biển gần Naples. Vụ rớt máy bay lần này không chỉ là một thảm kịch đối với bạn bè và người thân của 21 hành khách trên máy bay. Toàn bộ ngành hàng không dân dụng non trẻ đang chuẩn bị thăng hoa dường như đứng trước một nguy cơ lớn. Các chuyên gia hàng không thế giới ra sức tìm nguyên nhân của các thảm hoạ này.   Ý tưởng   Khi đó, ở bên kia bán cầu, nhà hoá học trẻ tuổi David Warren, làm việc tại Cơ quan nghiên cứu hàng không (Aeronautical Research Laboratories) của Australia, chuyên sâu về nhiên liệu máy bay, cũng tham gia tìm hiểu nguyên nhân hai vụ tai nạn. Do máy bay “Comet” cũng sắp được đưa vào sử dụng ở lục địa thứ năm nên nhà hoá học 29 tuổi này nghiễm nhiên có tên ở một trong các ban nghiên cứu về vụ tai nạn.   Warren – bản thân anh đã mất cha trong vụ tai nạn máy bay nghiêm trọng đầu tiên xảy ra ở Australia – cũng không biết gì hơn các đồng nghiệp của mình nhưng anh đã có ý tưởng giúp tìm ra nguyên nhân các vụ tai nạn trong tương lai: Ở một hội chợ, Warren đã trông thấy một máy ghi âm chỉ to bằng lòng bàn tay do Đức sản xuất. Anh chợt nghĩ liệu có thể lắp một máy ghi âm tương tự trong buồng lái để ghi lại các cuộc trò chuyện và ghi lại các dữ liệu quan trọng nhất liên quan đến chuyến bay và lưu giữ chúng một cách an toàn.   Warren trình bày với Uỷ ban về ý tưởng của mình nhưng không được quan tâm. Anh viết bài để công bố rộng rãi trên toàn thế giới về ý tưởng của mình, tuy nhiên cũng không nhận được hồi âm nào. Cuối cùng chàng thanh niên ưa mày mò sáng tạo đã tự chế tạo ngoài giờ làm việc một thiết bị mà anh đặt tên là “Memory Flight Unit”.   Cấu trúc của thiết bị khá đơn giản nhưng khôn ngoan: một sợi dây thép mảnh mai, tương tự như những sợi dây thép vẫn được dùng trong những thiết bị âm thanh hiện đại ở thời đó, được từ hoá và trở thành một đầu bút, điều khiển bằng điện. Bằng cách này thiết bị ghi lại các cuộc trò chuyện của phi công và mỗi giây có thể ghi lại nhiều nhất tám dữ liệu về chuyến bay. Cứ sau bốn tiếng đồng hồ, băng ghi âm lại bắt đầu lại từ đầu, các dữ liệu mới tiếp tục được ghi. Warren lắp toàn bộ thiết bị trong một cái hộp có khả năng chịu va đập mạnh.   Hai anh em nhà Wright ngay trong chuyến bay có động cơ đầu tiên của họ vào năm 1903 cũng đã có một thiết bị ghi dữ liệu đơn giản đặt trong buồng lái. Thiết bị này ghi nhận nhiều dữ liệu trong đó có số liệu về tốc độ và vòng quay của cánh quạt. Nhưng những người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không đã không nghĩ đến việc phải cất giữ thiết bị ghi dữ liệu trong một cái vỏ bọc chắc chắn để phòng khi máy bay rơi. Thực ra họ đâu cần làm việc này vì vào thời điểm đó, máy bay của họ mới chỉ đạt độ cao vài ba mét.   Thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay của hai chuyên gia người Pháp François Hussenot và Paul Beaudouin chế tạo năm 1939 tinh vi hơn nhiều. Hai kỹ sư này dùng một đoạn phim dài tám mét cho vào một hộp kín mít, hoàn toàn không có ánh sáng. Trong khi bay, đoạn phim âm bản lộ sáng nhờ một cái gương, cái gương này xoanh nhanh hay chậm tùy thuộc vào độ cao hay tốc độ của máy bay. Từ đó ghi lại được các dữ liệu. Thiết bị này bên trong hoàn toàn tối đen – có lẽ đây là lý do vì sao thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay cho đến nay vẫn có tên là hộp đen.   Các kỹ sư Pháp đặt tên cho thiết bị của họ là Hussenograph, tuy nhiên trong thực tế thiết bị này có nhiều nhược điểm: phim chỉ sử dụng được một lần, sau đó phải thay thế, máy không ghi lại được các cuộc nói chuyện vì vậy người ta chỉ sử dụng thiết bị một cách hạn chế, thí dụ trong các chuyến bay thử.   Trong khi đó thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay của Warren có thể sử dụng được nhiều lần và không có các nhược điểm trên. Tuy vậy nhà sáng chế người Australia vẫn bị hoài nghi, vả lại thời đó nhiều năm liền ở châu lục này không hề có vụ tai nạn máy bay nào. Tệ hại hơn là sự thờ ơ của nhà đương cục Australia, họ cho rằng “thiết bị này ít có giá trị thực tế đối với ngành hàng không dân dụng”. Trong khi đó, lực lượng không quân Australia lại phỏng đoán sẽ chỉ nghe thấy trong buồng lái “những lời nói thô tục thay vì sự giải thích, trần tình”. Giới phi công thì kháo nhau về một tên gián điệp cài trong buồng lái.   Cú đột phá   Trong khi đó Vương quốc Anh lại nhìn nhận vấn đề này một cách bình thản hơn. Khi vị lãnh đạo Cục hàng không Anh quốc viếng thăm Australia và được nghe kể về sáng chế của Warren, ông liền đề nghị nhà sáng chế mang thiết bị của mình tới London. Hãng BBC cực kỳ ấn tượng nên đã giới thiệu thiết bị đó trên truyền hình và đài phát thanh. Chỉ sau một thời gian ngắn, sáng chế của Warren đã xuất hiện trên thị trường Anh quốc. Theo hình dạng và mầu sắc của mình, thiết bị có tên là “Red Egg” (Quả trứng Đỏ).   Giới chuyên môn ở Pháp và Canada cũng rất ấn tượng với thiết bị ghi dữ liệu này. Riêng Mỹ thì tỏ ra dè dặt. Vào thời điểm đó, kỹ sư James Ryan cũng vừa sáng chế một máy ghi dữ liệu chuyến bay, tuy nhiên nó không có khả năng ghi lại các cuộc đàm thoại.   Có lẽ việc ghi lại được những âm thanh trong buồng lái lại là ý tưởng tốt nhất của David Warren. Trong khi các vấn đề về kỹ thuật trong các chuyến bay nhờ có hàng loạt dữ liệu (những máy ghi dữ liệu chuyến bay hiện đại có khả năng lưu trữ tới hàng nghìn thông số) có thể được nhận diện tương đối nhanh thì những âm thanh ghi lại trong buồng lái nhiều khi đem lại những bước ngoặt đầy bất ngờ trong các cuộc điều tra.   Thí dụ chuyến bay TWA 800 bị nổ tung trên bầu trời phía đông New York hồi tháng 7/1996. Không đầy một giây trước khi bị rơi, trên băng ghi âm bỗng xuất hiện hai tiếng động khẽ ở độ cao âm thanh 400 Hertz – tần số tương tự với tần số của việc cung cấp điện trong máy bay. Chính nhờ các âm thanh này các nhà điều tra mới đi đến nhận định đã xảy ra hai cú chập mạch trong đồng hồ nhiên liệu ở thùng nhiên liệu chính của máy bay và gây ra vụ nổ.   Đôi khi băng ghi âm còn lưu lại sự hoảng hốt, tuyệt vọng và bất lực của những người có mặt trong buồng lái. Một ví dụ, vụ rơi chiếc máy bay Boeing 757 của hãng hàng không Thổ Nhĩ Kỳ Birgenair hồi năm 1996 ở gần bờ biển Cộng hòa Đô-mi-nic làm 189 hành khách thiệt mạng. Khi đó ống pitot bị tắc nên cung cấp số liệu về tốc độ cho phi công và thiết bị điều khiển tự động không chính xác. Ngay sau đó là giọng nói thất thanh, hốt hoảng của cơ trưởng. “Cần đẩy, đẩy, đẩy, đẩy”, ông hét lớn với lái phụ. Rồi: “Tôi phải làm gì đây?” Khi đề cập đến van tiết lưu, ông ta la lên: “đừng đóng, đừng đóng” Mặc dù đây là một sự cố về kỹ thuật nhưng Uỷ ban điều tra – dựa vào những gì đã ghi lại trong buồng lái – cuối cùng vẫn cho rằng phi công là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn này.   Còn với vụ “Comet”, cũng chính nhờ vụ này mà ngày nay hầu như tất cả các máy bay chở hành khách đều được trang bị thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay, thì việc nghiên cứu về nguyên nhân gây tai nạn đã diễn ra trong một thời gian rất dài. 52 năm sau, kể từ ngày máy bay gặp nạn, chuyên gia hàng không Paul Withey nhận nhiệm vụ của “National Geographic” mới tìm được lời giải. Nhờ kính hiển vi điện tử, ông đã khẳng định điều mà ngay từ đầu Uỷ ban điều tra đã nhận định: Áp lực trong buồng lái của chiếc máy bay “Comet” có trục trặc vì vật liệu bị oải do việc lắp đặt cửa sổ bị sai sót.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử khai thác tự nhiên ở châu thổ sông Hồng      Hà Nội, trung tâm của vùng châu thổ rộng 15,000 km2, một trong những đồng bằng có mật độ tập trung dân cư cao nhất thế giới (từ năm 1931, dân số của vùng đã là 6,5 triệu với bình quân 430 người/km2). Với quy mô dân cư này, con người đã khai thác tài nguyên và xác lập không gian sinh tồn như thế nào?Tác động của sự mở rộng cấu trúc kinh tế đến thay đổi cấu trúc quyền lực vùng? Quan hệ giữa nhà nước với người dân dưới sự tác động của thiên tai, nạn đói và di cư?      Trận lụt ở Hà Nội năm 1926 (thư viện EFEO; O. Tessier 2011).   Thay đổi cấu trúc cư dân gắn với chuyển dịch quyền lực  Khung cảnh tự nhiên của châu thổ Bắc Bộ được cấu tạo bởi hai hệ thống dòng chảy chính: sông Hồng và sông Thái Bình. Lưu vực mà nó tạo ra được chia làm 3 vùng: đồng bằng trung tâm (trung tâm là Hà Nội), vùng phía đông (trung tâm là Hải Dương), và vùng phía đông nam (trung tâm là Nam Định). Trong vòng 4000 năm qua, dòng chảy dài 1,100 km của sông Hồng từ Vân Nam thường xuyên biến đổi; dẫn đến quy mô của lưu vực đã thay đổi đáng kể theo thời gian. Diện tích lưu vực đã tăng lên 10 lần trong thời gian này (Maren 2004).  Tại khu vực này, con người đã xây dựng các nền văn hóa đồ đá và kim khí tương đối sớm trên những thềm cao trước khi tiến hành khai phá tự nhiên và xác lập định cư dọc theo dòng sông, vào các vùng đất thấp, và hướng ra biển. Phải mất hàng nghìn năm để vùng châu thổ có diện mạo như ngày nay: từ những biến đổi ở thời đại kim khí, khi cư dân di chuyển từ vùng trung du xuống đất trũng, sử dụng công cụ kim loại và sức kéo động vật để phát triển nông nghiệp lúa nước một cách quy mô; đến cuộc khai hoang của Nguyễn Công Trứ theo vùng duyên hải, cho đến thời kỳ hàng nghìn người chạy khỏi Hải Dương, Thái Bình, Nam Định vì lụt lội và nạn đói để xuống khu vực phía nam châu thổ vào giữa thế kỷ XIX.   Nếu vấn đề của châu thổ Mekong là xây dựng hệ thống kênh rạch thì với đồng bằng Bắc Bộ, đó là đắp đê. Công việc mà những cư dân trên vùng đất này đã làm trong hơn 2000 năm qua, và vẫn còn tiếp tục. Thăng trầm của châu thổ này gắn liền với quá trình khai thác, quản lí nguồn nước và khai phá đất đai nhằm xây dựng các vùng nông nghiệp lúa nước. Thủy lợi và khai phá đất đai vì thế giúp định hình cấu trúc quyền lực vùng và sự thay thế của các vương triều, cũng như là cơ sở cho mối quan hệ phức tạp giữa nhà nước với nông dân.      Nói một cách “đơn giản” thì các con đê, lúa chiêm và gốm sứ đã giúp thay đổi cán cân quyền lực trên vùng châu thổ.      Cấu trúc cư dân của vùng cho thấy rõ cuộc di cư trong hai nghìn năm qua. Ở thiên niên kỷ đầu tiên là từ vùng trung du xuống khu vực thấp dọc hai bên bờ sông và sang phía đông: Hải Dương, Quảng Ninh. Trong thiên niên kỷ thứ hai là vào các vùng trũng và duyên hải đông, đông nam: Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định. Bản đồ phân bố các di chỉ khảo cổ và lịch sử từ thế kỷ I-đến thế kỷ X dưới đây cho thấy sự chuyển dịch này. Ở đầu công nguyên, các vùng cư trú dày đặc thuộc về vùng trung tâm như Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, trong khi các khu vực ở phía nam như Thái Bình, Nam Định dân cư khá phân tán. Nhiều nhóm cư dân cũng từ Trung Hoa di cư xuống. Tại Hải Dương, tổ tiên của Khúc Thừa Dụ là những người mới di cư xuống, đã chọn Ninh Giang; trong khi một viên quan nhà Đường là Vũ Hồn định cư ở Mộ Trạch vào những năm 840 (Keith Taylor 1983: 5, 217, 260).    Bản đồ di chỉ khảo cổ và dấu tích lịch sử niên đại thế kỷ I-X ở châu thổ sông Hồng (Nishimura, M. 2005).  Quá trình khai thác tự nhiên được đẩy mạnh nhờ sự ra đời của vương quốc độc lập ở thế kỷ X với kinh đô tại Hà Nội. Vùng đất này trở thành bàn đạp cho các cuộc di cư về phía nam của dòng sông và khu vực thấp hơn của châu thổ, nơi sẽ chứng kiến sự trỗi dậy của nhiều quyền lực mới. Sự thay đổi dân số và đa dạng hóa kinh tế sẽ làm thay đổi căn bản cấu trúc chính trị của châu thổ sông Hồng. Quyền lực của các vùng đất cổ: Cổ Loa, Luy Lâu, họ Ngô, họ Phùng ở Đường Lâm, họ Lý ở Bắc Ninh sẽ nhường chỗ cho một thế lực mới vùng duyên hải: họ Trần. Gia tộc này di cư từ phía bắc xuống Nam Định và xác lập dấu ấn tại đây với nghề đánh cá, buôn bán… Sự hưng thịnh của họ ở thế kỷ XIII cho thấy tính năng động kinh tế của châu thổ này đã dần mở rộng xuống phía đông và đông nam, hướng ra biển, nơi một gia tộc khác cũng sẽ đặt dấu ấn lên tiến trình lịch sử Đại Việt: họ Mạc (Whitmore 2006, 2011).  Sự thay đổi nhanh chóng của cấu trúc tự nhiên  Lúa chiêm, đê điều và gốm sứ giúp đặt nền tảng quyền lực  Gắn với những thăng trầm chính trị này là công cuộc chinh phục tự nhiên của cư dân Đại Việt. Dấu ấn quan trọng giúp mở rộng đất đai canh tác là sự du nhập của lúa chiêm có khả năng chống chịu điều kiện đất đai vùng duyên hải và vùng trũng. Chính nhờ đó mà sử gia Nhật Bản Yumio Sakurai cho rằng từ năm 1200 đến 1340, dân số châu thổ sông Hồng đã tăng gấp đôi, lên 3 triệu người. Đến giữa thế kỷ XIV, mật độ dân số của vùng có thể đến 150-180 người/km2 (Lieberman 2003:368). Biến đổi khí hậu cũng có thể là nhân tố đứng sau sự phát triển nông nghiệp của thời Lý-Trần. Giai đoạn 900 đến 1250-1300 là thời kỳ Đông Nam Á ấm bất thường do ảnh hưởng của hiện tượng La Niña. Mùa mưa kéo dài đã thúc đẩy sản xuất lúa gạo, mở rộng canh tác và đem đến sự thịnh vượng cho Đại Việt (Lieberman & Buckley 2012).  Tuy nhiên, sau đó, vào cuối thế kỷ XIII, những biến đổi khí hậu, gắn với những trận thiên tai nghiêm trọng đã làm thay đổi cấu trúc của đồng bằng sông Hồng. Nếu thế kỷ XI có 6 trận lụt, thế kỷ XII có 5; thì con số này ở thế kỷ XIII lên tới 16. Đặc biệt, 14 trận lụt trong số này rơi vào khoảng giữa các năm 1236 và 1270. Trong đó, kinh thành bị nhấn chìm vào các năm 1236, 1238, và 1243. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại việc cư dân phải di chuyển bằng thuyền trên đường phố Thăng Long năm 1270. Cũng chính vì thế, dự án đê lớn đầu tiên, đê Đỉnh Nhĩ được bắt đầu vào năm 1248. Đến cuối thế kỷ XIV, đê điều trên vùng châu thổ sông Hồng về cơ bản được hoàn thành. Các dự án sau chỉ là sự mở rộng của hệ thống này (Momoki Shiro 2011).  Trên nền tảng đó, sự mở rộng của kinh tế điền trang thái ấp và trao đổi thương mại đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp dọc theo miền duyên hải từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định (Nguyễn Thị Phương Chi 2002; Momoki Shiro 2011, Nguyễn Văn Kim 2015). Nói một cách “đơn giản” thì các con đê, lúa chiêm và gốm sứ đã giúp thay đổi cán cân quyền lực trên vùng châu thổ. Việc canh tác trên các vùng trũng và duyên hải tạo ra sự “bùng nổ dân số” thế kỷ XIII-XIV. Dòng di cư xuống phía đông nam châu thổ giúp tạo ra trung tâm quyền lực mới ở Nam Định. Thống kê của nhà Minh đầu thế kỷ XIV cho thấy Nam Định và Thái Bình góp 16% sản xuất lúa. Từ thế kỷ XV, nhà nước Đại Việt đẩy mạnh quá trình khai thác tự nhiên ở phía nam sông Hồng và thúc đẩy xác lập thêm các khu vực cư trú mới dọc theo duyên hải, từng bước biến nơi đây thành nơi tụ cư đông đúc nhất châu thổ như chúng ta thấy ngày nay (Nguyễn Hải Kế 1984, Đào Tố Uyên và Trần Văn Kiên 2009).  Khai thác rừng cũng làm thay đổi sâu sắc cấu trúc tự nhiên của khu vực. Xây dựng và sản xuất thủ công nghiệp được coi là hai nguyên nhân chính làm biến mất rừng ở vùng châu thổ. Bùng nổ xây dựng cung điện và chùa chiền thời kỳ Lý – Trần cần khối lượng gỗ khổng lồ.Việc đúc chuông và tượng cũng cần một khối lượng chất đốt đáng kể. Chỉ riêng trong năm 1314, nhà sư Pháp Loa xây 33 khu nhà trong khuôn viên chùa Quỳnh Lâm. Cũng trong vòng một năm (1329), ông tiếp nhận thêm 15,000 sư sãi, những người cần một khối lượng gỗ không nhỏ làm nơi cư trú và duy trì sinh hoạt (Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Pham Ngọc Long 1993: 109).  Thủ công nghiệp cũng là tác nhân ảnh hưởng đến việc đốn rừng. Các lò gốm ở Vạn Yên, Chu Đậu, Thổ Hà, Bát Tràng… đòi hỏi khối lượng đất và gỗ khổng lồ. Tại làng Vạn Yên (Chí Linh), khảo cổ học khai quật dấu tích của hơn 100 lò trên diện tích 40,000 m2. Không phải ngẫu nhiên, khu vực này cũng chính là thái ấp của Trần Hưng Đạo. Quy mô sản xuất của các lò gốm sứ thế kỷ XIII-XVII là rất lớn. Chỉ riêng con tàu đắm Cù Lao Chàm (khai quật 1997-1999) đã bao gồm 240,000 hiện vật cùng hàng nghìn mảnh vỡ khác. Quy mô sản xuất đó cho thấy khối lượng rừng lớn đã bị đốn hạ để phục vụ các lò gốm sứ này. Sử gia Li Tana gợi ý rằng cứ mỗi 1,000 sản phẩm gốm sứ cần 80-100 khúc gỗ; hoặc 50 kg gỗ cho mỗi 65 kg đồ gốm. Chính vì thế, riêng việc duy trì lò gốm Vạn Yên trong vòng hai thế kỷ, toàn bộ rừng khu vực Chí Linh chắc chắn đã bị xóa sổ (Li Tana 2014).  Ứng phó với sự thay đổi dòng chảy sông Hồng  Trong vòng ba thế kỷ trở lại đây, dòng chảy sông Hồng có tác động cực kỳ lớn đến đời sống cư dân và nền chính trị của người Việt. Nguyên nhân là sự gia tăng bất thường của lũ lụt dọc theo hai bờ. Những biến cố này làm xáo trộn đời sống cư dân dưới thời Lê-Trịnh, làm “đau đầu” nhà Nguyễn, và đặt ra thách thức cho kỹ thuật trị thủy của người Pháp.   Các sử gia thời hiện đại mô tả chế độ phong kiến dưới thời nhà Nguyễn thối nát không quan tâm đến đê điều, dân chúng để gây ra tai họa. Trái lại, nếu qua châu bản triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, các bản tấu sớ của Đặng Trần Thường, Lê Đại Cương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đức Oánh, Nguyễn Văn Siêu … thì trị thủy luôn là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với các nhà vua ở Huế. Thống kê của quan Đê chính Lê Đại Cương năm 1829 cho thấy đê dọc sông Hồng là 952 km, trong đó 144,5 km được xây dựng trong 26 năm đầu triều Nguyễn (Tessier 2011).      Không ở đâu sự vật lộn với tự nhiên lại diễn ra lâu dài và quyết liệt như cách thức người Việt xây dựng nhà nước của mình trên vùng châu thổ sông Hồng và đấu tranh bảo vệ từng ngôi nhà, mảnh vườn, thửa ruộng. Cũng không ở đâu nhà nước lại dành ra nhiều công sức và mối bận tâm với việc ứng xử với tự nhiên để duy trì tính chính thống quyền lực như miền Bắc Việt Nam.      Một gợi ý khác cho câu trả lời cũng có thể nằm ở phía thượng nguồn: rừng bị tàn phá ở khắp vùng Vân Nam từ thế kỷ XVII. Điều này ngay lập tức giáng họa cho hạ nguồn.Không phải ngẫu nhiên mà từ “Hồng” bắt đầu được gắn với dòng sông này vào giữa thế kỷ XIX (Hồng Hà). Đó là khi rừng ở Vân Nam bị tàn phá làm gia tăng lượng phù sa và đất xói mòn theo dòng chảy. Ngày nay, Vân Nam chỉ còn 19% đất có rừng bao phủ, và những khu vực rừng dưới 1200m hầu như bị xóa sổ hoàn toàn. Thủ phạm chính là việc khai thác đồng, kẽm, thiếc được tiến hành ở quy mô lớn. Vào cuối thế kỷ XIX, Cá Cựu, một thị trấn nằm không xa biên giới Việt Nam trở thành thủ phủ sản xuất thiếc ở Vân Nam và toàn nam Trung Hoa (Li Tana 2016).  Cách các mỏ thiếc này hàng ngàn km về phía đông nam là quan Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Ông có lẽ không nhận ra sự thay đổi này khi đi tổ chức khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải. Tuy nhiên gia tăng phù sa đã giúp sức cho công cuộc khai mở đất đai duyên hải của ông. Thống kê cho thấy trong vòng 150 năm từ 1831 đến 1959, châu thổ sông Hồng tiến ra biển 19km, tức là khoảng 161m một năm, trong khi giai đoạn 1471-1830 chỉ là 21m một năm (Lê Bá Thảo. Thiên nhiên Việt Nam.1977: 142–143).  Nhưng tai họa đối với hai bên bờ sông là thảm khốc.  Thế kỷ XVIII có 3 lần vỡ đê. Con số này ở thế kỷ XIX là 48.  Riêng từ 1803 đến 1861 đã có 27 trận lụt được sử quán nhà Nguyễn ghi nhận, chưa kể các đợt vỡ đê cục bộ là chuyện xảy ra hằng năm. Lụt và nạn đói là nguyên nhân trực tiếp của 4 cuộc nổi dậy thời Gia Long, 11 cuộc thời Minh Mệnh, 1 cuộc thời Thiệu Trị và 3 cuộc thời Tự Đức, trên tổng số 400 cuộc nổi dậy trong vòng 60 năm. Nhiều vùng đất ở Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định gần như bỏ hoang và tình trạng cư dân phiêu tán, tụ tập trong các nhóm vũ trang địa phương trở nên phổ biến. Nhiều quan chức nhà Nguyễn đã gần như tuyệt vọng với tình hình và đề xuất phá bỏ hệ thống đê điều. May mắn là ý tưởng này đã không trở thành hiện thực.    Bản đồ đê vùng châu thổ Bắc Bộ năm 1905 (Gauthier, 1930:172)  Dù chúng ta không biết rõ quy mô cụ thể sự tàn phá của lụt lội lên sản xuất nông nghiệp thời Nguyễn, ghi chép của người Pháp có thể giúp xác định được quy mô này. Trận lụt năm 1913 làm vỡ 30 đoạn, thiệt hại 100,000 ha, khoảng 150,000 tấn lúa. Trận lụt năm 1915 do 48 đoạn đê bị vỡ, làm ngập khoảng 365,000 ha, tức là ¼ diện tích toàn châu thổ (Tessier 2011). Sự tàn phá này diễn ra ngay cả khi quy mô của hệ thống đê, cả chính và phụ ở đầu thế kỷ XX đạt độ dài 4,000 km (gấp hai lần quãng đường từ Hà Nội vào Cà Mau).  Trận lụt sau đó vào năm 1971 được coi là lớn nhất trong lịch sử, cuốn theo 28 triệu tấn phù sa trong vòng 10 ngày, tương đương với lượng phù sa của 7 mùa khô liên tục (Hoekstra & Van Weering, 2007: 506).  Cuối cùng, từ góc nhìn lịch sử, hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình chính là cốt lõi của hệ sinh thái, nền tảng kinh tế, môi trường văn hóa lịch sử của cư dân Bắc Bộ trong suốt hàng nghìn năm qua. Các yếu tố tự nhiên này đã trở thành một phần trong di sản văn minh người Việt, cái nôi nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực cho sự hưng thịnh của các vương quốc và đế chế. Bất cứ quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng nào cũng cần phải tính cả yếu tố sinh thái, lịch sử, văn hóa, dân cư, chứ không đơn thuần phản ánh trên lợi ích kinh tế hay thiết kế chính trị của nhà nước.  ***  Hà Nội có lịch sử tương tác đặc biệt giữa con người và tự nhiên. Vùng đất này đã từng là nơi sông Hồng đổ ra biển.Khai quật ở Hoàng thành Thăng Long phát hiện dấu tích hóa thạch của ít nhất là 13 loài ốc. Tên cũ của vùng đất này, “Long Đỗ” (rốn rồng) phản ánh rõ cho vị trí “trũng” của nó so với các trung tâm xung quanh như Đường Lâm, Cổ Loa, Luy Lâu… Từ các thế kỷ tiếp giáp công nguyên cho đến nhà Đường, Hà Nội có lẽ được bao quanh bởi hệ thống nhiều ao hồ và rừng rậm. Khi Mã Viện đánh Hai Bà Trưng, từng mô tả về vùng hồ Lãng Bạc (có lẽ là một trong các hồ thuộc khu vực này) rằng “dưới thì nước lụt, trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem lên thấy chim diều bay là là rơi xuống nước.” Các địa danh như Gia Lâm, Đông Ngàn, Trường Lâm… có lẽ là dấu tích về sự tồn tại của hệ thống rừng bao quanh Hà Nội. Từ thời Đường, trị sở cai trị bắt đầu được chuyển từ Bắc Ninh ra Hà Nội, và sau đó được xây dựng kiên cố để chống Nam Chiếu, vì thế cũng bắt đầu quá trình khai phá tự nhiên mới, phá rừng, lấp ao hồ…cho tới việc xây dựng đê bao, phủ thành, cung điện, căn cứ thủy quân…của nước Đại Việt. Nói cách khác, Thăng Long được tạo nên từ một vùng trũng thấp nhờ vào việc lấp ao hồ, sông ngòi và khai phá rừng. Vì thế, vùng đất này luôn bị đe dọa bởi dòng sông Hồng. Vào mùa mưa, lưu lượng dòng chảy của sông khoảng 28,000 m3/ giây, đưa mực nước mùa khô khoảng 2,5m trên mực nước biển lên 10m chỉ sau vài ngày. Vùng trung tâm của Hà Nội cao khoảng 5m trên mực nước biển, vì thế, trong suốt lịch sử của vùng đất này, mùa mưa là lúc cả thành phố nằm trong hiểm nguy thường trực.  ————-  Tham khảo  Đỗ Đức Hùng. 1979. Về trị thủy – thủy lợi ở nước ta nửa đầu thế kỷ XIX. Nghiên cứu lịch sử 4(187):46–56.  Đào Tố Uyên, Trần Văn Kiên. 2009. Khai hoang ven biển ở Nam Định thời Lê Sơ qua nghiên cứu trường hợp khai hoang ở Quần Anh, huyện Hải Hậu (1485-1511). Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (397): 32-43.  Keith W. Taylor. 1983. The birth of Vietnam. University of California Press.  Li, T. (2014). Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c.900–1400. Journal of Southeast Asian Studies, 45(3), 315–337.  Li, T. (2016). A Historical Sketch of the Landscape of the Red River Delta. TRaNS: Trans -Regional and -National Studies of Southeast Asia, 4(2), 351–363.  Momoki Shiro. 2011. The formation and transformation of the medieval state of Đại Viêt: A Vietnamese history during the Lý-Trần period within regional histories, Osaka: Osaka University Press, 2011.  Nguyễn Hải Kế. 1984. Đê Hồng Đức và công cuộc khẩn hoang vùng ven biển nam sông Hồng thời Lê Sơ, http://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/e-hng-c-va-cong-cuc-khn-hoang-vung-ven-bin-nam-song-hng-thi-le-s-pgstskh-nguyn-hi-k/  Nguyễn Thị Phương Chi. 2002. Vài nét về tình hình điền trang thời Trần. Nghiên cứu Lịch sử, số  2 (321): 50-58.  Nishimura, M. 2005. Settlement patterns on the Red River Plain from the late prehistoric period to the 10th century AD. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 25(3): 99–107  Poisson E. 2009. Détruire ou consolider les digues du fleuve Rouge.Aséanie 23:77–96.  Tessier, Olivier. 2011. “Outline of the Process of Red River Hydraulics Development During the Nguyễn Dynasty (Nineteenth Century).” In Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta, edited by Mart A. Stewart and Peter A. Coclanis, 45–68. Springer.   Victor Lieberman and Brendan Buckley. 2012. ‘The impact of climate on Southeast Asia, circa 950–1820: New findings’, Modern Asian Studies 46 (5): 16.       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Lịch sử khoa học dưới góc nhìn của một nhà vật lý      Trong cuốn sách mới nhất của mình, Steven Weinberg- nhà vật lý từng đoạt giải Nobel- suy ngẫm về hành trình khoa học đã tạo nên thế giới hiện đại như thế nào và sẽ đưa chúng ta đến đâu.    Ta có thể coi lịch sử vật lý như một nỗ lực nhằm thống nhất thế giới xung quanh ta: dần dần qua nhiều thế kỷ, ta nhận ra rằng những hiện tượng tưởng chừng như không liên quan đến nhau thực ra lại liên kết với nhau một cách mật thiết. Nhà vật lý Steven Weinberg thuộc Đại học Texas, Austin, đã nhận giải Nobel vào năm 1979 cùng với Abdus Salam và Sheldon Glashow cho một bước đột phá lớn trong cuộc tìm kiếm sự thống nhất này, đó là chỉ ra rằng điện từ và lực hạt nhân yếu là những biểu hiện của cùng một lý thuyết cơ bản. Công trình đó đã trở thành nền tảng của Mô hình Chuẩn (Standard Model) trong vật lý hạt, trong đó miêu tả những khối xây dựng nền tảng của vũ trụ đã kết hợp như thế nào để tạo nên thế giới mà ta thấy.  Trong cuốn sách mới Giải thích Thế giới: Sự Phát kiến Khoa học Hiện đại (To Explain the World: The Discovery of Modern Science) vừa xuất bản đầu năm nay, Weinberg tìm hiểu sự ra đời của khoa học hiện đại. Bằng cách lần theo sự phát triển của cái mà ngày nay chúng ta gọi là “phương pháp khoa học”- một cách tiếp cận được phát triển qua hàng thế kỷ, chú trọng vào thí nghiệm và quan sát hơn là lý luận từ những nguyên lý cơ bản – ông lập luận rằng khoa học, không như các cách lý giải thế giới xung quanh khác, có thể mang lại tiến bộ thực sự. Qua khoa học, hiểu biết của chúng ta về thế giới được cải thiện theo thời gian, dựa vào những thành tựu đi trước. Sai lầm có thể xảy ra, nhưng cuối cùng cũng có thể được sửa chữa.   Weinberg đã trò chuyện với tạp chí Quanta về quá khứ và tương lai của vật lý, về vai trò của triết học trong khoa học, và về một khả năng đáng kinh ngạc rằng vũ trụ mà chúng ta thấy chỉ là một mảnh bé xíu của một đa vũ trụ rộng lớn hơn rất nhiều.   Tạp chí Quanta: Là một nhà khoa học, góc nhìn của ông về lịch sử khoa học khác với góc nhìn của một nhà sử học như thế nào?  STEVEN WEINBERG: Một khác biệt hiển nhiên là họ biết nhiều hơn tôi – ít nhất là trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Các nhà sử học thực thụ có thể nắm bắt những nguồn tư liệu gốc tốt hơn tôi nhiều. Ví dụ nếu họ nghiên cứu lịch sử thế giới cổ đại, họ sẽ phải thành thạo tiếng Hi Lạp và La-tinh, trong khi tôi hoàn toàn không có hiểu biết gì về những ngôn ngữ đó.  Nhưng cũng có cả sự khác biệt trong quan điểm nữa. Nhiều nhà sử học rất phản đối cách diễn giải lịch sử theo trường phái Whig (the Whig interpretation of history), theo đó ta cố tìm ra những sợi chỉ dẫn dắt quá khứ đến hiện tại. Họ cho rằng khi làm lịch sử, điều quan trọng hơn nhiều là phải thâm nhập được vào trong khung tư tưởng của những người sống trong thời kỳ mà ta đang nghiên cứu. Họ có cái lý của họ, nhưng tôi sẽ tranh luận rằng, đối với lịch sử khoa học thì sử dụng cách diễn giải trường phái Whig hợp lý hơn nhiều. Lý do là vì khoa học, khác với chính trị hay tôn giáo, là một nhánh kiến thức mang tính chất tích lũy. Ta có thể nói, với một đánh giá tỉnh táo chứ không dựa vào ý thích riêng, rằng Newton biết về thế giới nhiều hơn Aristotle, và Einstein biết nhiều hơn Newton. Thực sự là đã có sự tiến triển trong khoa học. Và để theo dõi tiến triển đó, sẽ là có lý nếu ta soi xét nền khoa học trong quá khứ để tìm ra những phương thức tư duy đã dẫn đến hay cản trở sự tiến triển.  Vì sao ông lại tập trung vào lịch sử vật lý và thiên văn học?   Bời vì đó là lĩnh vực tôi hiểu biết và có ít nhiều năng lực. Nhưng cũng có một lý do khác nữa: khoa học trở nên “hiện đại” đầu tiên là ở lĩnh vực vật lý và thiên văn. Newton mang đến cho chúng ta cách tiếp cận vật lý hiện đại vào cuối thế kỷ 17. Các nhánh khác của khoa học chỉ trở nên hiện đại gần đây hơn: hóa học vào đầu thế kỷ 19, sinh vật học vào giữa thế kỷ 19 hay có lẽ là đầu thế kỷ 20. Bởi vậy mà nếu ta muốn tìm hiểu sự phát kiến khoa học hiện đại- đây cũng là phụ đề cho cuốn sách của tôi – thì phát kiến đó được hình thành trong bối cảnh vật lý, đặc biệt là khi áp dụng trong thiên văn học.   Vật lý lý thuyết thường được coi là cuộc tìm kiếm sự thống nhất- Newton thống nhất vật lý trái đất và vật lý vũ trụ, hay James Clerk Maxwell thống nhất điện, từ trường, và ánh sáng. Và tất nhiên cả công trình của ông cũng như vậy. Cuộc tìm kiếm sự thống nhất này hiện nay đang đứng ở đâu?  Nó chưa tiến bộ nhiều lắm, trừ việc những lý thuyết mà chúng ta suy đoán vào những năm 1960 đã được khẳng định bởi quan sát. Trong lý thuyết mà tôi phát triển vào năm 1967 (Abdus Salam cũng phát triển về cơ bản cùng lý thuyết đó một cách độc lập vào năm 1968), một trường phá vỡ đối xứng đóng vai trò cơ bản, được biểu thị ở một hạt có tên gọi là boson Higgs, những thuộc tính của hạt này ta đã đều dự đoán được, trừ khối lượng. Ngày nay, nhờ có các thí nghiệm được tiến hành ở CERN, hạt Higgs đã được xác nhận. Như vậy, chúng ta đã có được một nền tảng vững chắc hơn, nhưng lại chưa tiến thêm được bước nào. Đã có những nỗ lực rất lớn để tiến xa hơn, đặc biệt là trong bối cảnh lý thuyết dây (string theory). Lý thuyết dây thống nhất tất cả các lực- cả lực hạt nhân mạnh và yếu, lực điện từ, cùng với lực hấp dẫn, và đã đưa ra một số ý tưởng toán học sâu sắc về một cơ chế thống nhất đó. Nhưng chúng ta vẫn còn xa khả năng chứng thực được lý thuyết đó- xa hơn nhiều so với khả năng chứng thực lý thuyết điện yếu (electroweak theory) của chúng ta 40 năm trước đây.  Máy gia tốc hạt lớn (LHC) được dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động lại năm nay, với công suất gấp đôi lần hoạt động đầu tiên. Ông hi vọng nó sẽ tìm ra được những gì? – tôi không rõ dùng từ “hi vọng” có đúng không?    “Hi vọng” là từ chính xác! Nó phụ thuộc vào việc những hạt mới có khối lượng nằm trong phạm vi mà LHC có thể dò không. Cái hiển nhiên nhất mà ta đang muốn tìm là hạt vật chất tối. Ta biết từ thiên văn học rằng năm phần sáu vật chất trong vũ trụ không khớp với Mô hình Chuẩn của vật lý hạt, nhưng ta không biết tí gì về khối lượng của nó. Các nhà thiên văn học có thể cho chúng ta biết tổng khối lượng của vật chất tối, nhưng không phải khối lượng của từng hạt vật chất. Nếu nó là một hạt vật chất tối thông thường, gọi là WIMP- các hạt có khối lượng tương tác yếu, thì LHC có thể tìm ra. Điều này còn phụ thuộc vào hạt nặng bao nhiêu, phân rã như thế nào, bởi vì ta không bao giờ nhìn được hạt cả mà chỉ nhìn được các sản phẩm phân rã của nó.  LHC cũng có thể sẽ tìm được những dấu hiệu của “siêu đối xứng’ (supersymmetry), một lý thuyết thừa nhận rằng mỗi hạt đã được biết đến đều có một hạt đi kèm (partner particle), nhưng chúng ta cũng không biết được khối lượng của những hạt đi kèm này là gì. Và ở đây còn có một sự mơ hồ hơn nữa: Chúng ta không biết liệu siêu đối xứng có ý nghĩa gì trong thế giới thực hay không. Có thể còn có những hạt quark nặng hơn, hay thậm chí là những phiên bản nặng hơn của hạt Higgs.  Đã có lúc người ta nói rằng siêu đối xứng sẽ “bật đèn xanh” cho lý thuyết dây, một lý thuyết không thể được kiểm chứng một cách trực tiếp. Nếu LHC không tìm thấy bằng chứng gì về siêu đối xứng thì chuyện gì sẽ xảy ra với lý thuyết dây?     Tôi không thể biết được. Không may là lý thuyết dây không đưa ra những dự đoán cụ thể về vật lý ở những loại năng lượng mà chúng ta có thể tiếp cận được. Loại năng lượng của những cấu trúc mà lý thuyết dây đề cập quá cao, chúng ta có lẽ sẽ không bao giờ có thể mô phỏng được những năng lượng đó trong phòng thí nghiệm. Nhưng những năng lượng này đã từng phổ biến ở thời kỳ đầu hình thành vũ trụ. Như vậy, bằng cách quan sát vũ trụ, ta có thể nắm được vật lý của những năng lượng cực kỳ cao này. Ví dụ, nếu mật độ vật chất-năng lượng tại thời điểm lạm phát của vũ trụ mà có bậc độ lớn mang đặc trưng của lý thuyết dây thì một lượng lớn bức xạ hấp dẫn đã phải được tạo ra vào lúc đó, và như thế nó đã phải để lại dấu vết trên nền vi sóng vũ trụ. Năm ngoái, các nhà khoa học làm việc với kính viễn vọng BICEP2 tuyên bố rằng họ đã tìm ra những sóng hấp dẫn này; bây giờ thì có vẻ như thực sự họ đã đo bụi vũ trụ. Tiếp tục quan sát với vệ tinh Planck có thể sẽ giúp trả lời câu hỏi này. Tôi nghĩ đây là một trong những chủ đề nghiên cứu thú vị nhất trong ngành khoa học vật lý hiện giờ.  Mục đích cuối cùng của các nhà lý thuyết có phải là để tìm ra được một hệ phương trình mà ta có thể in được trên áo phông?  Mục tiêu đúng là như vậy đấy, vì Mô hình Chuẩn thì phức tạp quá nên hơi khó để in lên áo phông. Lý thuyết mới mà chúng tôi đang nghiên cứu sẽ không tính đến lực hấp dẫn nên sẽ không phải là một “thuyết vạn vật” được, nhưng nó sẽ là một lý thuyết về tất cả những gì mà chúng tôi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm vật lý. Mô hình Chuẩn quá phức tạp và có nhiều những thông số bất kỳ nên chúng tôi biết nó không thể là câu trả lời cuối cùng được. Mục tiêu là phải có được một lý thuyết đơn giản hơn với ít thông số bất kỳ hơn, thậm chí là không có thông số bất kỳ nào- một lý thuyết mà có thể in vừa trên một chiếc áo phông. Chúng ta vẫn chưa đến được cái đích đó.  Một số nhà vật lý gợi ý rằng chúng ta có thể sẽ phải tiến đến một loạt những lý thuyết khác nhau, đại diện cho những lời giải khác nhau cho các phương trình của lý thuyết dây. Có thể mỗi lời giải đó tương ứng với một vũ trụ khác nhau- là từng phần của một “đa vũ trụ” nào đó rộng lớn hơn?  Tôi không phải là một người đề xướng ý tưởng rằng vũ trụ sinh ra từ vụ nổ Big Bang của chúng ta chỉ là một phần của một đa vũ trụ rộng lớn hơn. Nhưng ý kiến này cũng cần được xem xét nghiêm túc như một khả năng. Và nó cũng dẫn ra một số hệ quả thú vị. Ví dụ như nó sẽ lý giải vì sao một số hằng số trong tự nhiên, đặc biệt là năng lượng tối, lại mang những giá trị có vẻ thuận lợi cho sự xuất hiện sự sống. Thử tưởng tượng bạn có một đa vũ trụ mà trong đó các hằng số như năng lượng tối thay đổi từ vụ nổ lớn này đến vụ nổ lớn khác. Khi đó, nếu bạn hỏi tại sao nó lại mang đúng những giá trị mà nó đã mang trong vụ nổ Big Bang của vũ trụ chúng ta, bạn sẽ phải cho rằng đã có tác động của sự chọn lọc: chỉ ở những vụ nổ lớn mà năng lượng tối mang giá trị thuận lợi cho sự xuất hiện sự sống thì mới tồn tại con người để đặt ra câu hỏi này.   Vấn đề này rất tương tự như một câu hỏi liên quan đến Trái đất và Mặt trời mà các nhà thiên văn học đã bàn cãi hàng nghìn năm nay. Tại sao Mặt trời lại cách chúng ta một khoảng cách như vậy? Nếu nó ở gần hơn, Trái đất sẽ bị quá nóng; nếu ở xa hơn, Trái đất sẽ quá lạnh cho sự sống. Vậy tại sao nó lại cách chúng ta khoảng cách chuẩn đó? Phần lớn mọi người, như vị bác sĩ thời La Mã Galen, cho rằng đó là nhờ sự từ bi của các vị chúa mà vạn vật được sắp xếp để có lợi cho con người. Một câu trả lời tốt hơn nhiều- câu trả lời mà chúng ta ngày nay đưa ra, đó là vì có hàng tỷ hành tinh trong thiên hà của chúng ta, và hàng tỷ thiên hà trong vũ trụ này. Như vậy chẳng có gì ngạc nhiên nếu một vài trong số hàng tỷ hành tinh có các hằng số thuận lợi cho sự sống.  Nhưng ít nhất thì ta có thể nhìn thấy một vài hành tinh khác, trong khi đó ta không thể nhìn thấy và kiểm chứng những vũ trụ khác mà người ta cho rằng tạo nên đa vũ trụ.  Một lý thuyết vật lý thành công không bắt buộc yêu cầu mọi điều nó giải thích phải quan sát được, hay mọi dự đoán của nó phải có thể xác minh được. Ví dụ, ta có một lý thuyết rất thành công về những lực hạt nhân mạnh, gọi là sắc động lực học lượng tử (QCD). Lý thuyết này dựa trên ý tưởng rằng các hạt quark được liên kết với nhau bởi các lực tăng theo khoảng cách, như vậy trên nguyên tắc, ta sẽ không bao giờ có thể quan sát hạt quark đứng riêng một mình. Tất cả những gì chúng ta có thể quan sát là những dự đoán thành công khác của QCD. Chúng ta không thực sự phát hiện được các hạt quark, nhưng điều đó không quan trọng; ta biết lý thuyết sắc động lực học lượng tử là đúng vì nó đưa ra những dự đoán mà ta có thể xác minh được.  Tương tự như vậy, lý thuyết dây dự đoán một đa vũ trụ cũng không thể được xác minh bằng cách phát hiện ra các phần khác của đa vũ trụ. Nhưng nó có thể đưa ra những dự đoán mà ta có thể xác minh được. Ví dụ, nó có thể cho rằng trong tất cả các vụ nổ lớn trong đa vũ trụ, một số đối xứng nhất định sẽ luôn luôn có thể quan sát được, hoặc một số đối xứng sẽ luôn luôn bị phá vỡ theo một cơ chế nào đó mà ta có thể quan sát. Nếu lý thuyết dây có thể đưa ra đủ những dự đoán như vậy thì ta có thể cho rằng nó đúng, từ đó dự đoán về đa vũ trụ của nó cũng đúng. Ta không cần phải xác minh mọi dự đoán để biết được rằng một lý thuyết là đúng.  Khi ta nói về đa vũ trụ, có vẻ như vật lý đang đụng chạm đến triết học. Một số nhà vật lý, bao gồm Stephen Hawking và Lawrence Krauss đã làm các nhà triết học tức giận khi coi triết học là vô dụng. Trong cuốn sách mới của mình, có vẻ như ông cũng đồng tình với họ. Không biết điều này có đúng không?  Tôi nghĩ triết học hàn lâm chỉ có giá trị kiểm chứng phủ định – tức là đôi khi các nhà vật lý ấn tượng với các ý tưởng triết học, họ sẽ thấy hữu ích nếu được nghe từ các chuyên gia rằng những ý tưởng đó đã được thử thách trong cộng đồng triết học. Một ví dụ là chủ nghĩa thực chứng (positivism), quy định rằng ta chỉ nên nói về những gì có thể được trực tiếp nhận thấy hay quan sát. Tôi nghĩ các nhà triết học đã thách thức quan điểm này, và thật tốt để biết được điều đó đối với một nhà vật lý như tôi.  Mặt khác, lúc nào cũng có những thảo luận mang tính triết học diễn ra giữa các nhà vật lý. Ví dụ, thảo luận giữa chúng ta vừa rồi về đa vũ trụ đã đặt ra một vấn đề là chúng ta mong chờ gì ở một lý thuyết khoa học – khi nào thì chúng ta bác bỏ nó là vượt ra ngoài phạm vi khoa học; khi nào thì ta chấp nhận rằng nó là sự thật được khẳng định. Đây là những câu hỏi mang tính siêu khoa học (meta-scientific), và chính là những câu hỏi triết học. Các nhà khoa học dường như chẳng bao giờ có thể đồng ý với nhau về những vấn đề này- như trường hợp ý tưởng đa vũ trụ chẳng hạn- nhưng ngay cả các triết gia cũng không thể đi đến một kết luận chung.Đôi khi, những ý tưởng của các nhà triết học cũng làm cản trở sự tiến triển, như ví dụ về chủ nghĩa thực chứng. Một trường hợp tương tự là với cách tiếp cận kiến tạo (constructivism) – cho rằng mỗi lý thuyết khoa học đều là sản phẩm của một xã hội, như các tổ chức chính trị của nó vậy, và phải được hiểu như là sản phẩm của một môi trường văn hóa cụ thể. Tôi không rõ nên gọi đó là một lý thuyết triết học hay lý thuyết lịch sử, nhưng ở mức nào thì tôi cũng cho rằng quan điểm đó là sai. Tôi còn cho rằng nó có thể cản trở việc làm khoa học nữa, bởi vì nó tước đi mất một trong những động lực vĩ đại nhất của khoa học, đó là khám phá ra một điều gì đó, tuyệt đối tách biệt khỏi bất cứ môi trường văn hóa nào, là thực sự đúng.   Ông đã 81 tuổi. Nhiều người ở tuổi này thường tính chuyện nghỉ ngơi, không làm việc nữa, nhưng ông vẫn đang rất hăng say làm việc. Vậy hiện tại ông đang nghiên cứu gì?  Có một việc mà tôi đã nghiên cứu hơn một năm nay rồi – có lẽ nó chỉ là một nỗi ám ảnh của một ông già, nhưng tôi đang cố tìm ra một cách tiệm cận cơ học lượng tử thuyết phục hơn những cách tiếp cận hiện giờ. Tôi vừa biên tập xong tái bản lần hai của cuốn “Những bài giảng về cơ học lượng tử” của mình, trong đó tôi nghĩ tôi đã củng cố lập luận rằng không một cách diễn giải cơ học lượng tử nào hiện giờ là hoàn toàn thỏa đáng.  Tôi không có ý định nghỉ hưu, bởi vì tôi vẫn yêu thích công việc của mình hiện giờ. Tôi thích dạy, thích theo dõi các nghiên cứu và thích tự làm nghiên cứu độc lập nho nhỏ. Vào năm kia, trước khi bị cuốn vào mối quan tâm với cơ học lượng tử, tôi đã viết các bài nghiên cứu về những vấn đề thực tế trong lý thuyết hạt cơ bản, và tôi cũng nghiên cứu cả vũ trụ học nữa. Tôi hi vọng mình sẽ quay lại các vấn đề này.  Khánh Minh biên dịch từ phiên bản bài phỏng vấn đã được biên tập và rút gọn trên tạp chí Quanta.  Cao Chi hiệu đính       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lịch sử môi trường và thiên tai ở Việt Nam      Lời tòa soạn: Nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai có vai trò rất quan trọng trong việc mang lại những hiểu biết về cách thức nhân loại đối phó với các thách thức như biến đổi khí hậu hay cạn kiệt tài nguyên. Tuy nhiên, đây vẫn là một chủ đề mới mẻ với Việt Nam. Trong loạt bài viết về vấn đề này, tác giả Vũ Đức Liêm sẽ lần lượt chỉ ra sự cần thiết của nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai ở Việt Nam, điểm lại lịch sử khai thác hai châu thổ sông Hồng, sông Mekong và những trận đại dịch trong lịch sử.      Bắc Ninh trong trận lụt năm 1923 (ảnh: EFEO, Olivier Tessier 2011).  Thực tế cho thấy lũ lụt, động đất, sóng thần, hạn hán, lở đất, côn trùng… ghi dấu trên bước đường đi của nhân loại, ảnh hưởng trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, từ tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh đến tổ chức chính trị. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai của Việt Nam không chỉ là cách giúp tìm câu trả lời cho những vấn đề cấp thiết về tài nguyên, môi trường hiện nay của chúng ta, mà còn giúp hiểu rõ hơn bản sắc và những đặc trưng cội rễ của dân tộc.   Môi trường và thiên tai: Bài học từ lịch sử  Các nghiên cứu gần đây cho thấy lịch sử môi trường thực sự mang lại những hiểu biết quan trọng trong cách thức nhân loại đối phó với thách thức biến đổi khí hậu hay cạn kiệt tài nguyên. GS. Jared Diamond, ở Đại học California, Los Angeles (UCLA) viết trong công trình quan trọng về tương tác giữa con người với môi trường và đặt ra câu hỏi: Tại sao các xã hội lại thất bại hoặc thành công? Ông chỉ ra nguyên nhân cốt lõi chính là cách thức các xã hội tương tác với môi trường, sử dụng các nguồn tài nguyên, đặc biệt là đất đai, nguồn nước, và rừng. Sự suy thoái của các nhân tố này sẽ đóng vai trò quyết định đến sống còn của các xã hội, trước khi thay đổi thời tiết, bệnh dịch, hay ngoại xâm ra những đòn cuối cùng.  Jared Diamond dẫn một vài ví dụ thất bại, trong đó có sự sụp đổ của xã hội trên đảo Phục Sinh. Đây là dải đất xa nhất của trái đất có tồn tại con người cư trú. Vùng đất liền gần nhất là Chile cách đó 2,300 dặm và quần đảo Polynesia cách đó 1,300 dặm. Hòn đảo rộng 164 km2 này ngày nay để lại hàng trăm bức tượng đổ nát, mỗi bức cao từ 5 đến 21 m và nặng từ 10 đến 270 tấn. Trong nhiều thập kỷ, nền văn minh bị đổ vỡ này đặt ra câu hỏi lớn cho các nhà khoa học về nguyên nhân suy tàn. Khi người châu Âu đến đây lần đầu tiên vào năm 1728, cả hòn đảo hầu như không có cây cối, không có các loài động vật lớn, không có các công cụ vận chuyển, máy móc, và đồ sắt. Khảo cổ học đã giúp vén bức màn bí ẩn của hòn đảo này. Những cư dân đầu tiên xuất hiện trên hòn đảo khoảng năm 900. Lúc đó, trên đảo được bao phủ bởi rừng rậm nhiệt đới, bao gồm cả loài cọ lớn nhất thế giới. Dân số lúc cao nhất của hòn đảo ước tính khoảng 6,000 đến 30,000 người, những người này đã chặt cây lấy gỗ làm nhà, đóng thuyền, làm công cụ xây các bức tượng lớn, cho đến khoảng năm 1650, họ chặt hạ những cây cuối cùng. Không còn cây cối, cả hòn đảo rơi vào nạn đói và chiến tranh vì không còn môi trường tìm kiếm thức ăn hay chế tạo công cụ đánh cá. Việc ăn thịt người trở nên phổ biến, dân số của hòn đảo giảm 90%. Khi đó, câu nói phổ biến được dùng để nhục mạ kẻ thù: “thịt của mẹ mày vẫn còn dính trong kẽ răng của tao” (Jared Diamond 2008).  Sự sụp đổ của Angkor hay đế chế của người Maya cũng được mô tả trong những khung cảnh tương tự, liên quan đến phá rừng hay biến đổi khí hậu. Hạn hán là nhân tố góp phần làm sụp đổ đế chế Angkor, đặc biệt là các đợt hạn kéo dài cả thập kỷ vào cuối thế kỷ XIV và đầu XV, khiến vương quốc này suy yếu và trở thành nạn nhân của người Thái.    Liệu người Việt có sẵn sàng học được điều gì từ bài học thất bại và thành công của nhân loại trong lịch sử ứng phó với môi trường, tài nguyên và biến đổi khí hậu?  Lịch sử môi trường ở Việt Nam?  Trên thế giới, lịch sử môi trường đang trở thành ngành được quan tâm và các sử gia về lịch sử môi trường gần đây đã có nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là kết hợp sử dụng tư liệu lưu trữ và ghi chép với thành tựu nghiên cứu của các khoa học liên ngành khác.  Mặc dù vậy, lịch sử môi trường ở Việt Nam vẫn là một chủ đề mới ít được quan tâm.  Các khảo sát về lịch sử môi trường và thiên tai trong thập kỷ vừa qua chủ yếu chú ý đến quá trình khai thác hai vùng châu thổ sông Hồng và sông Mekong, liên quan đến mở rộng đất đai canh tác, việc phá rừng, sử dụng và quản lí nguồn nước, và lụt lội. Mặc dù vậy, bức tranh về lịch sử môi trường đối với cả hai vùng châu thổ hiện mới chỉ sơ khai. Chúng ta chú ý nhiều đến lịch sử khai phá, lập nhà nước, xác lập chủ quyền lãnh thổ. Còn lịch sử khai thác tự nhiên như thế nào, đê điều, khai hoang, kỹ thuật khai hoang, trị thủy, cách thức đối phó với lụt và hạn hán, thiên tai, quản lí hệ thống đê điều… thì hầu như còn là khoảng trống.    Đê ở châu thổ sông Hồng năm 1803 (Li Tana 2016).  Tiếp nối các học giả người Pháp như Paul Mus và Pierre Gourou, sử gia người Nhật Yumio Sakurai khảo sát mối tương tác giữa “đất, nước, lúa, và con người” trong việc định hình mô hình nông nghiệp và tổ chức chính trị-xã hội sơ kỳ Việt Nam. Địa hình, nguồn nước và các vùng nông nghiệp đã đóng vai trò quyết định hình thành nên cấu trúc dân cư và phân bổ trung tâm chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng. Sự tương tác giữa các vùng này, như GS Sakurai lập luận, định hình nên cấu trúc không gian xã hội và chính trị Việt Nam từ các thế kỷ đầu CN cho đến nhà Lý. Chuyển sang giai đoạn sau đó, TS. Phùng Minh Hiếu gần đây hoàn thành luận án tại ĐH Hawaii về “Đất và nước: lịch sử thế kỷ XV của Việt Nam nhìn từ góc độ môi trường”, cung cấp góc nhìn mới về sự tương tác giữa các nhân tố tự nhiên như đất, nước, và lúa nước với nhịp điệu thăng trầm của cấu trúc chính trị-xã hội Đại Việt thời Lê.  Li Tana từ Đại học Quốc gia Australia tập trung khảo sát lịch sử môi trường khu vực phía Đông của châu thổ sông Hồng trong một chuỗi các tương tác giữa gia tăng dân số, mở rộng đất đai, xây dựng các công trình công cộng, thủ công nghiệp với việc phá rừng lấy gỗ, củi đốt, và hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh trong khoảng năm 900 đến 1400. Khảo sát gần đây của bà liên quan đến hệ thống đê điều trong 23 thế kỷ qua và lập luận rằng khu vực châu thổ này là một trong những nơi có địa hình thay đổi nhiều nhất trên thế giới. Nhân tố quan trọng nhất giúp định hình liên tục cấu trúc lãnh thổ này chính là việc các con đê được xây dựng, phá bỏ, tái tạo không ngừng bởi vô số các dự án lớn nhỏ trong 2000 năm qua.    Về khu vực này ở thế kỷ XIX, GS Yumio Sakurai và TS. Olivier Tessier (EFEO, 2011) tìm hiểu hệ thống đê điều thời Nguyễn gắn với tình trạng thiên tai, lũ lụt và mất mát dân cư. Các nghiên cứu này phác thảo mối liên hệ chặt chẽ giữa các trận lụt và biến động xã hội đầu thời Nguyễn, mặc dù triều đình Huế có nhiều nỗ lực nhằm củng cố hệ thống đê điều. Lụt lội và thiên tai vì thế gắn trực tiếp với bạo lực xã hội và tình trạng nổi loạn tại Bắc Kỳ.  Quá trình lịch sử về mối tương tác giữa con người với tự nhiên ở đồng bằng Bắc Bộ là phức tạp và là chủ đề nghiên cứu quan trọng vì nó giúp hiểu rõ quá trình định hình nên châu thổ sông Hồng như một trong những lưu vực sông có mật độ dân cư đông nhất trên thế giới.  Vùng hạ lưu Mekong dường như ít được quan tâm hơn. Có lẽ một trong những người mở đầu là Sơn Nam với Lịch sử khẩn hoang miền Nam. David Biggs là học giả gần đây có đóng góp quan trọng đối với lịch sử môi trường của vùng đất này. Cuốn sách của ông (2010) phân tích sự gắn kết giữa xây dựng quốc gia với sự thay đổi môi trường tự nhiên châu thổ Mekong thông qua các hệ thống thủy lợi thời hiện đại. Công trình là một phác họa sống động về các dự án chính trị của nhà Nguyễn, chính quyền thuộc địa, và chính quyền Nam Việt Nam trong việc đưa nhà nước vào các vùng sình lầy và rừng rậm. Sự xác lập của quyền lực trung ương, các dự án định cư, đặc biệt là thủy lợi đã thay đổi cấu trúc và diện mạo của vùng châu thổ, xác lập một khung cảnh địa lý nhân văn hoàn toàn mới theo thiết kế của chính quyền.  Sự phát triển của người Việt và các cộng đồng cư dân đa dạng ở miền đông bán đảo Đông Dương cung cấp một khung cảnh hấp dẫn cho các nhà lịch sử môi trường. Sự đa dạng của các loại hình tương tác giữa con người với tự nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai, và bệnh dịch… là những sự kiện không hề hiếm gặp. Thực tế cho thấy ảnh hưởng cực kỳ to lớn của chúng đối với khung cảnh xã hội và tổ chức chính trị của người Việt. Charles Wheleer đưa ra ví dụ về sự cần thiết tái định vị vai trò của biển và nước trong lịch sử Việt Nam thông qua khảo sát về Hội An và vùng Thuận Quảng thời sơ kỳ hiện đại (2002). Những nỗ lực như thế sẽ giúp các sử gia giải thoát mô hình xưa cũ của lịch sử Việt Nam ra khỏi sự cầm tù của lũy tre làng, và tìm kiếm những liên hệ mới của người Việt Nam trong tương tác khu vực và toàn cầu.  Chiến tranh là nhân tố chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tự nhiên, đồng thời cũng đưa lại sự tàn phá khốc liệt đối với môi trường và tài nguyên. Việc lấy gỗ đóng tàu phục vụ quân sự ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII là một ví dụ, gắn liền với việc khai thác gỗ từ các khu rừng thượng nguồn ở Quy Nhơn, Quang Hóa (Tây Ninh), vùng Hà Tiên, An Giang, dọc duyên hải Cambodia (Vu Duc Liem 2017). Chúng tôi cũng đã chỉ ra vai trò của hệ thống kênh rạch và điều chỉnh hệ thống thủy lợi, kênh đào ở hạ lưu Mekong đã làm thay đổi cấu trúc dân cư, địa hình, lãnh thổ, và đường biên giới Việt Nam-Cambodia (xem Tia Sáng số 17- 05.9/2017). Khai hoang, xác lập khu dân cư, và hệ thống dẫn nước, kênh đào là quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, chiếm lĩnh địa hình để xác lập chủ quyền của con người lên tự nhiên.  Những chủ đề này chỉ là phần nhỏ trong những vấn đề rất hứa hẹn còn đang bỏ ngỏ của lịch sử môi trường Việt Nam  ***  Thực tế cho thấy hiện vẫn chưa thực sự xuất hiện ngành nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai ở Việt Nam. Thiên tai và tác động của tự nhiên ghi dấu ấn cực kỳ quan trọng trong lịch sử loài người. Phần lớn các dân tộc trên thế giới trong tâm thức sơ khai của mình đều có câu chuyện về hồng thủy. Lũ lụt, động đất, sóng thần, hạn hán, lở đất, côn trùng… ghi dấu trên bước đường đi của nhân loại, ảnh hưởng trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, từ tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh đến tổ chức chính trị. Việc giải mã các nhân tố này không chỉ là cách giúp tìm câu trả lời cho những vấn đề cấp thiết về tài nguyên, môi trường ở Việt Nam, mà còn giúp hiểu rõ hơn bản sắc và những đặc trưng cội rễ của dân tộc.    Mô hình thống kê các trận lụt, hạn hán, nạn đói và dịch bệnh ở Hà Nội, 1300-1800 (Brendan M. Buckley et al, 2014).  Một trong những vấn đề cốt lõi của nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai là tìm kiếm cách thức hiệu quả mà các nhóm bản địa đã theo đuổi nhằm duy trì cuộc sống hài hòa với tự nhiên. Đó có thể là cách thức người Tây Nguyên khai thác tài nguyên rừng, các nhóm dân cư hạ lưu Mekong dựa vào mùa nước lên xuống để tồn tại, cách thức chống hạn hán của cư dân Nam Trung Bộ, hay những giống cây con bản địa có khả năng chống chọi tốt với sự khắc nghiệt của thời tiết… Những tri thức này là cực kỳ hữu ích đối với xã hội hiện đại.  Cuối cùng, kỷ nguyên của chinh phục và chế ngự tự nhiên đã qua. Con người giờ đây tìm kiếm những cách thức chung sống hòa đồng và bền vững cùng tự nhiên. Đó cũng chính là lúc lịch sử có thể góp tiếng nói của mình. Quá khứ luôn cho chúng ta những bài học sống động, và không bao giờ lỗi thời.  Vua thứ hai triều Nguyễn là Minh Mệnh có mối ưu phiền lớn đối với các cư dân ở châu thổ Mekong: tại sao dân ở đây không lập làng định cư mà đi lại tự do theo con nước? Tại sao triều đình khuyến khích họ làm nông nghiệp, bắt sống trong làng xã nhưng một lượng không nhỏ dân cư theo mùa nước lên xuống buôn bán? Vua Minh Mệnh đã đúng từ góc độ nhà nước, để quản lí được dân cư, chính quyền phải đưa dân vào các không gian xác định, buộc chặt họ với đất đai, thuế khóa, tuyển lính, xây dựng bản đồ dân cư… Nhưng điều đó cũng có nghĩa là tạo ra xung đột giữa lối sống bản địa và đặc thù tương tác của họ với tự nhiên. Một nhà nước kiến tạo phát triển và một xã hội theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững cần lắng nghe và tôn trọng lợi ích của các cộng đồng bản địa gắn với tự nhiên, gắn phát triển với bảo tồn. Với những điều này, lịch sử chắc chắn là một phần của câu trả lời.    Bản đồ địa hình và vùng sinh thái của châu thổ sông Mekong (David Biggs).  ———–  Tài liệu tham khảo:  Brendan M. Buckleya et al, (2009). Climate as a contributing factor in the demise of Angkor, Cambodia. PNAS 13/04/2009, vol. 107, no. 5  David Biggs, (2010). Quagmire: Nation-Building and Nature in the Mekong Delta, University of Washington Press  Jared Diamond, (2005). Collapse: How Societies Choose to Fail or Succeed. Viking.  Jared Diamond, (2008). https://www.youtube.com/watch?v=bc4bXIg8JDk&t=209s  Li Tana, (2014). Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c.900–1400. Journal of Southeast Asian Studies, 45, pp 315-337  Li, Tana (2016). A Historical Sketch of the Landscape of the Red River Delta. TRaNS: Trans -Regional and -National Studies of Southeast Asia, 4(2), 351-363  Phùng Minh Hiếu. (2017). “Land & Water: A History of Fifteenth-Century Vietnam from an Environmental Perspective”, PhD Dissertation, Hawaii University at Manoa.  Vu Duc Liem, (2017). The age of the Sea Falcons: Naval Warfare in Vietnam, 1771- 1802, in Beyond Courts and Colonists: New Sources and Reconstructions of Indigenous Warfare in Early Modern Southeast Asia, edited by Michael Charney and Kathryn Wellen (Nordic Institute of Asian Studies Press – NIAS Press).  Yumio Sakurai. (n.d.) Land, Water, Rice, and Men in early Vietnam: Aggrarian Adaptation and Socio-political Organization, ed. Keith W. Taylor, transl. Thomas A. Stanley, Cornell University.  Yumio Sakurai, (1997). “Peasant Drain and Land- Mortgage in the Red River Delta between 1750-1850”, pp. 133-152 in The Last Stand of Asian Autonomies, ed. Anthony Reid, 1997.       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Lịch sử nhân loại: Một bước ngoặt mới      Cuộc khủng hoảng [Covid-19] hiện tại sẽ đẩy xã hội nhân loại vào một bước ngoặt mới. Chúng ta rồi sẽ về đâu? Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với đài DW của Đức, giáo sư sử học Yuval Noah Harari – tác giả một loạt sách về lược sử và tương lai loài người đã giải thích các quyết định của loài người hôm nay sẽ làm thay đổi tương lai như thế nào.      Giáo sư Yuval Noah Harari, tác giả của các cuốn sách lược sử loài người bán chạy nhất thế giới, đã được dịch sang tiếng Việt là “Sapiens: Lược sử loài người”, “Homo Deus: Lược sử tương lai”, “21 bài học cho thế kỷ 21”.  “Mối nguy lớn nhất không phải là con virus”  Thưa giáo sư Harari, chúng ta đang ở giữa đại dịch toàn cầu. Điều gì làm ông lo lắng nhất về sự thay đổi của thế giới?  Tôi nghĩ mối nguy lớn nhất không phải là con virus. Nhân loại có đầy đủ các tri thức khoa học và công cụ công nghệ cần thiết để chiến thắng nó. Vấn đề lớn thật sự là con quỷ nội tâm của chúng ta: sự thù ghét, tham lam và ngu dốt. Tôi sợ rằng mọi người đối phó với đại dịch không phải bằng sự đoàn kết toàn cầu mà bằng lòng thù hận, thói đổ lỗi cho các quốc gia khác, cho các nhóm tôn giáo và sắc tộc thiểu số. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta có khả năng nuôi dưỡng lòng bao dung, quảng đại để giúp mọi người lúc khốn khó. Chúng ta sẽ có khả năng phân biệt sự thật và không tin vào những thuyết âm mưu. Nếu làm được, tôi không nghi ngờ gì về khả năng chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua được cuộc khủng hoảng này.  Như ông từng nói trong một bài viết mới đây, rằng chúng ta phải đối mặt với sự lựa chọn giữa giám sát và tôn trọng quyền tự do của công dân. Nếu chúng ta không thận trọng, dịch bệnh này có thể là một bước ngoặt trong lịch sử về quyền giám sát công dân. Nhưng làm thế nào tôi có thể thận trọng với những thứ ngoài tầm kiểm soát?  Chuyện đó không hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của công dân trong một cơ chế dân chủ. Bạn bỏ phiếu bầu cho các chính trị gia cụ thể và các đảng dựa trên chính sách mà họ đề ra. Vì vậy, công chúng có quyền kiểm soát hệ thống chính trị. Ngay cả khi không có các cuộc bầu cử như hiện nay, các chính trị gia vẫn phải đáp ứng các áp lực của công chúng.  Nếu công chúng sợ hãi về dịch bệnh và muốn một nhà lãnh đạo mạnh tay tiếp quản, điều này giúp một nhà độc tài chiếm quyền lãnh đạo. Mặt khác, công dân cũng có quyền lên tiếng ngăn chặn một chính trị gia nếu họ đẩy mọi chuyện đi quá xa, điều này giúp tránh những diễn biến nguy hiểm nhất xảy ra.  Chúng ta đã có kinh nghiệm trong quá khứ. Nếu bạn thấy các chính trị gia nói dối trong nhiều năm, thì bạn ít có lý do để tin tưởng họ trong các tình huống khẩn cấp. Thêm nữa, bạn cần đặt câu hỏi về những điều mà họ nói với bạn. Nếu ai đó đưa ra một số thuyết âm mưu về nguồn gốc và sự lây lan của coronavirus, hãy yêu cầu người này giải thích về virus là gì và nó gây bệnh như thế nào. Nếu người đó không thể nêu ra những kiến thức khoa học cơ bản, thì cùng đừng tin bất cứ điều gì mà họ nói với bạn về đại dịch lần này. Bạn không cần phải trở thành tiến sĩ ngành sinh học, nhưng bạn cần một số hiểu biết khoa học cơ bản về những điều này.  Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến nhiều chính trị gia dân túy công khai tấn công khoa học, họ bảo các nhà khoa học là những người ưu tú biệt lập, mất kết nối với mọi người, rêu rao chớ nên tin vào những “trò lừa bịp” kiểu như biến đổi khí hậu. Nhưng trong thời điểm khủng hoảng, chúng ta thấy mọi người tin vào khoa học hơn bất cứ điều gì khác.  Tôi hy vọng chúng ta khắc ghi khoa học không chỉ trong khủng hoảng, mà sau đó cũng thế. Học sinh cần được dạy về virus và lý thuyết tiến hóa. Công chúng cần được cảnh báo rằng những vấn nạn khác như biến đổi khí hậu và sự sụp đổ của hệ sinh thái cũng gây ra các hậu quả nghiêm trọng như đại dịch.  Nhiều nước đang tăng cường các cơ chế giám sát kỹ thuật số nhằm ngăn chặn virus lây lan. Vậy làm thể nào để kiểm soát các cơ chế đó?    Công dân Đức có thể tự nguyện trao dữ liệu về coronavirus thông qua ứng dụng theo dõi của cơ quan y tế liên bang RKI. Ảnh: DW  Tăng cường giám sát công dân phải đi đôi với tăng cường giám sát chính phủ. Trong cuộc khủng hoảng này, các chính phủ đang tiêu tiền như nước. Ở Mỹ, hai nghìn tỷ USD. Ở Đức, hàng trăm tỷ Euro. Là công dân, tôi muốn biết ai đưa ra quyết định và tiền đã đi đâu. Liệu tiền có được sử dụng để bảo lãnh cho các tập đoàn lớn, những tổ chức vốn đã gặp rắc rối tài chính từ trước dịch bệnh vì những quyết định sai lầm của họ hay tiền thực sự giúp các doanh nghiệp nhỏ, nhà hàng, cửa hiệu,…Nếu chính phủ muốn giám sát nhiều hơn, thì sự giám sát phải có tính hai chiều. Nếu chính phủ phát triển được một hệ thống giám sát khổng lồ để xem tôi đi đâu mỗi ngày, thì cũng có thể phát triển được một hệ thống cho biết chính phủ đã làm gì với tiền thuế của chúng tôi.  Hệ thống giám sát phục vụ trong cuộc khủng hoảng hiện tại có khả năng tiến thêm một bước nữa, gọi nôm na là giám sát dưới da – nghĩa là hệ thống mới có khả năng phá vỡ sự riêng tư ở mức độ chưa từng có.  Ngay hiện nay, một công nghệ truy vết đang được thử nghiệm ở rất nhiều nước: đó là khuyến khích công dân sử dụng các phần mềm cài vào điện thoại để truy vết người nhiễm hoặc nghi nhiễm Covid-19. Nếu điện thoại của bạn cài phầm mềm này, khi đi gần một người nhiễm Covid-19 thì điện thoại của bạn sẽ xuất hiện cảnh báo.  Còn đối với công nghệ giám sát dưới da, chúng ta nên rất, rất thận trọng bởi vì công nghệ này cho phép theo dõi bạn làm gì, nơi bạn đi, bạn xem gì trên tivi hoặc bạn truy cập vào trang web nào. Không cần thâm nhập vào cơ thể nhưng hệ thống vẫn ghi nhận nhiệt độ, xa hơn nữa là huyết áp, nhịp tim, hoạt động não của bạn. Khi làm được điều đó, bạn có thể biết về mọi người ở mức độ chưa từng có.  Những công nghệ này có thể tạo ra chế độ giám sát chưa từng tồn tại trước đây. Nếu bạn biết những gì tôi đọc hoặc xem trên tivi, những công nghệ đó sẽ cho tôi biết về thị hiếu nghệ thuật, quan điểm chính trị, tính cách của tôi. Nhưng mức độ bấy nhiêu vẫn còn hạn chế. Xa hơn nữa, thử nghĩ bạn có thể theo dõi nhiệt độ cơ thể, huyết áp và nhịp tim của tôi khi tôi đọc bài viết hoặc xem chương trình trực tuyến hoặc truyền hình. Sau đó bạn biết những gì tôi cảm thấy ở từng khoảnh khắc.  Cuộc khủng hoảng Covid-19 này có khiến ông điều chỉnh lại hình ảnh về nhân loại mà ông đã đưa ra trong thế kỷ 21 hay không?  Chúng ta không biết, bởi vì nó phụ thuộc vào quyết định mà chúng ta đưa ra. Nguy cơ của một tầng lớp nhàn rỗi thực sự tăng lên đáng kể bởi vì tình trạng khủng hoảng kinh tế hiện tại. Chúng ta đang nhìn thấy sự gia tăng của tự động hóa, trong đó robot và máy tính thay thế con người ngày một nhiều khiến nhiều nghề nghiệp lâm vào khủng hoảng, bởi vì con người bị cách ly chặt ở nhà, con người có thể bị nhiễm bệnh, còn robot thì không. Chúng ta có thể thấy các quốc gia hồi hương ngành công nghiệp thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nhà máy ở nước ngoài. Sự diễn ra đồng thời của tự động hóa và đảo ngược toàn cầu hóa, đặc biệt ở các nước đang phát triển dựa vào lao động giá rẻ, đột ngột khiến một số lượng lớn nhân công mất việc, vì bị máy móc thay thế hoặc nhà máy chuyển đi nơi khác.  Điều này cũng có thể xảy ra ở các nước giàu. Covid-19 đang gây ra sự khủng hoảng to lớn trong thị trường việc làm. Mọi người làm việc ở nhà, làm việc trực tuyến. Nếu chúng ta không cẩn trọng, nó có thể dẫn đến sự sụp đổ của các tổ chức lao động, ít nhất là trong các ngành công nghiệp. Nhưng đó không phải là một hệ quả tất yếu. Đó là một quyết định chính trị. Chúng ta có thể đưa ra các quyết định bảo vệ quyền của người lao động ở đất nước của mình, hoặc trên toàn thế giới trong tình huống này. Chính phủ đang đưa ra các gói cứu trợ các ngành công nghiệp và các tập đoàn, đổi lại có thể buộc họ tạo điều kiện để bảo vệ quyền lợi của người lao động của mỗi nước. Vì vậy, đó hoàn toàn là những quyết định do chúng ta đưa ra.  Các nhà sử học tương lai sẽ nói gì về thời điểm này?  Tôi nghĩ họ sẽ nhìn thời điểm này như một bước ngoặt của lịch sử thế kỷ 21. Nhưng ngoặt theo hướng nào là tùy vào quyết định của chúng ta, không phải tất yếu.     Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liêm chính trong học thuật      Gần đây, hiện tượng “đạo văn” và “tham nhũng học thuật” đã nổi lên như một vấn nạn nghiêm trọng, tạo ra một hình ảnh rất không đẹp về nền giáo dục của Việt Nam.  Làm thế nào để cải thiện tình trạng này? Chúng tôi đặt câu hỏi trên cho GS Frances Hoffmann từ Connecticut College (Hoa Kỳ), học giả Fulbright tại ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh năm học 2009-2010. Câu trả lời của bà là đạo đức của một nhà khoa học cần phải được vun đắp lâu dài, chứ không thể là kết quả của một vài quy định hành chính. Và các giá trị đạo đức này cần được nhấn mạnh ngay từ khi một sinh viên mới bước chân vào trường đại học.    Để tạo điều kiện thảo luận về vấn đề này, chúng tôi đã tổ chức một buổi trao đổi giữa GS Hoffmann với các giảng viên trẻ của ĐHQG-HCM vào cuối tháng 5/2010 về chủ đề “Sự liêm chính học thuật: Nó là gì, tại sao nó quan trọng, và làm thế nào để khuyến khích điều này?” (Academic integrity: what is it, why is it important, and how to encourage it?) Bài viết dưới đây là bản tóm tắt những ý chính của buổi trao đổi nói trên, dựa trên phần chuẩn bị bằng tiếng Anh (file powerpoint) của GS Hoffmann.  Giá trị cốt lõi trong cuộc hành trình tri thức/chân lý   Trường đại học là cộng đồng nơi các giảng viên và sinh viên cùng nhau bước đi trong cuộc hành trình chân lý, và xét theo một nghĩa nào đó trường đại học cần được xem là một vùng đất thiêng liêng. Sự theo đuổi chân lý không đòi hỏi một chủ thuyết được áp đặt sẵn, mà là tinh thần khách quan không thiên vị, óc phân tích nghiêm nhặt và khoa học, và sự liêm chính học thuật.  Tri thức khoa học chỉ có thể tiến bộ khi công trình của các nhà khoa học được đưa ra công khai và được thẩm định thông qua quá trình đánh giá của đồng nghiệp (peer review), công bố kết quả trên các tạp chí chuyên ngành, và cung cấp đầy đủ thông tin về phương pháp tiến hành cũng như các nguồn thông tin sử dụng trong công trình.  Nêu rõ nguồn thông tin (full disclosure of sources) vừa là một yêu cầu về đạo đức, nó đòi hỏi nhà khoa học phải trung thực và thông báo cho cộng đồng khoa học về những người có đóng góp cho công trình, vừa là một yêu cầu thực tế vì nó giúp ích cho việc kiểm chứng những kết quả nghiên cứu khi cần.  Dối trá trong học thuật  Ngược lại với sự liêm chính là sự dối trá trong học thuật. Dối trá trong học thuật là điều không thể chấp nhận được đối với một nhà khoa học, vì “nó hủy hoại mối liên hệ được xây dựng trên sự tin cậy và tính trung thực giữa các thành viên của cộng đồng khoa học, và xét cho cùng nó chính là sự lừa đảo đối với công chúng, những người trông cậy vào tri thức và sự liêm chính của chúng ta [tức các nhà khoa học]”.1  Thế nào là dối trá trong học thuật? Dưới đây là một số ví dụ rút ra từ Bộ Luật ứng xử đạo đức dành cho sinh viên của trường Đại học Connecticut nơi tôi giảng dạy:  Trao đổi trái phép về nội dung của các bài thi hoặc bài tiểu luận cuối khóa;  Tìm sự trợ giúp trái phép trong các bài thi hoặc các bài làm có chấm điểm;  Đạo văn, kể cả do sơ ý hoặc không biết cách trích dẫn nguồn thông tin theo đúng các thông lệ mà nhà trường yêu cầu;  Vi phạm các quy định trong một kỳ thi;  Bất kỳ hành vi gian lận hoặc thiếu trung thực trong học thuật nào khác.  Các trường đại học Mỹ khuyến khích sự liêm chính trong học thuật bằng cách nào?  Việc khuyến khích sự liêm chính trước hết phải được thực hiện qua con đường giáo dục. Các trường đại học Mỹ hằng năm đều có tổ chức tuần lễ “định hướng”, khi ấy các tân sinh viên sẽ được cung cấp các sổ tay nêu rõ các quy định về hành vi, bộ luật đạo đức, các yêu cầu của giảng viên về bài làm, bộ phận hỗ trợ học tập cho sinh viên, và các trang web cung cấp thông tin về những điều cần biết.  Việc rèn luyện sự liêm chính trong học thuật còn được thực hiện qua các biện pháp cưỡng chế thông qua các hội đồng học thuật, các thủ tục đề nghị cưỡng chế của giảng viên, và các biện pháp cưỡng chế như cảnh cáo, khiển trách, buộc tạm ngưng học tập, hoặc đuổi học.   Các chiến lược khuyến khích sự liêm chính học thuật được các trường đại học Mỹ chủ động lựa chọn và áp dụng sao cho phù hợp với sứ mạng đặt ra, và được xem là vấn đề riêng của từng trường, do trường tự quyết, không có bất kỳ sự can thiệp nào của chính quyền. Sự trung thực khoa học được xây dựng dựa trên những giá trị chung của cộng đồng khoa học, trong đó mỗi cá nhân được giáo dục để hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của chính mình.   ——-  1 Pavela, Gary (1997) Applying the power of association on campus: Model code of academic integrity. Journal of College and University Law. V. 24:1.  Phương Anh giới thiệu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên kết nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu lâm sàng tế bào gốc      Tháng 4 vừa qua, Bộ Y tế Hàn Quốc công bố sẽ  cấp một khoản kinh phí 33 tỷ Won (29 triệu USD) cho nghiên cứu tế bào  gốc và y học tái sinh trong năm 2012, tăng bốn lần so với năm 2011 nhằm hỗ trợ kinh phí cho việc liên kết nghiên  cứu cơ bản với các nghiên cứu lâm sàng tế bào gốc với mục tiêu sớm  thương mại hóa các nghiên cứu ngay từ bước đầu.    Như  vậy riêng nghiên cứu về tế bào gốc sẽ nhận nguồn kinh phí khoảng 100 tỷ  Won từ sáu Bộ khác nhau.  Ông Hyung Min Chung, Chủ tịch Công ty công nghệ sinh học Cha Bio & Diostech tại Seoul, đồng thời là cố vấn kế hoạch ngân sách của Nhà nước trong lĩnh vực này cho biết trong thời gian tới, Chính phủ sẽ nhanh chóng thông qua các quyết định đầu tư phát triển liệu pháp tế bào gốc. Nguồn kinh phí đó sẽ phân bổ cho hai lĩnh vực. Một là nghiên cứu trị bệnh nan y hoặc bệnh hiếm gặp như tổn thương tủy sống, vốn là lĩnh vực rất khó thu hút đầu tư tư nhân. Hai là đầu tư nghiên cứu điều trị các bệnh mãn tính phổ biến như viêm khớp, nhằm giúp các công ty Hàn Quốc chiếm được một phần của thị trường điều trị đầy tiềm năng này.  Trong năm 2011, Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) Hàn Quốc đã phê duyệt 3 phương pháp điều trị tế bào gốc đầu tiên: Hearticellgram-AMI, Cupistem và Cartistem, căn cứ trên các thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp tế bào gốc phôi người đã được phê duyệt năm 2010, theo quy định của Bộ Y tế. Thành công này đã khiến các nhà quan sát công nghiệp hoàn toàn bất ngờ, và quốc tế đã chú ý hơn vào những gì đang diễn ra trong ngành công nghiệp tái sinh ở Hàn Quốc. Ông Douglas Sipp, người làm việc trong mảng chính sách và đạo đức về tế bào gốc tại Trung tâm Sinh học phát triển của Viện Riken tại Kobe, Nhật Bản nhận xét: “Điều này cho thấy FDA Hàn Quốc đang tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm thông qua lộ trình phê chuẩn nhanh chóng”.  Lộ trình phê chuẩn quá nhanh của FDA Hàn Quốc khiến một số nhà khoa học lo ngại. Dong Wook Han, giáo sư sinh học về tế bào gốc tại Đại học Konkuk ở Seoul, cho rằng, những quy định của Đức đối với nghiên cứu lâm sàng trên tế bào gốc nghiêm ngặt hơn nhiều so với Hàn Quốc; điều đó có nghĩa là các nhà nghiên cứu của Hàn Quốc có nhiều cơ hội hơn trong nghiên cứu lâm sàng. Nhưng thay vì tiến triển quá nhanh, Hàn Quốc cần phải áp dụng các quy định chặt chẽ của các nước khác để kiểm tra mức độ an toàn và hiệu quả.  Hàn Quốc đã cố gắng khôi phục lại hình ảnh xấu mình trong lĩnh vực này sau vụ tai tiếng của một trong những nhà khoa học tế bào gốc xuất sắc của họ- Woo Suk Hwang, người đã bị kết án trong năm 2009 vì tham nhũng và vi phạm đạo đức sinh học khi làm giả mạo kết quả nghiên cứu, qua một loạt các dự án nghiên cứu thành công và nay được xếp hạng top 10 của thế giới cả về số lượng và chất lượng các ấn phẩm nghiên cứu tế bào gốc và y học tái sinh.   Thu Quỳnh dịch theo Nature  Nguồn: http://www.nature.com/news/south-korea-steps-up-stem-cell-work-1.10565    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu có ranh giới trong khoa học?      Khoa học luôn có những ranh giới mà đa phần là kìm hãm hơn là thúc đẩy những hiểu biết chung của chúng ta về các vấn đề của nhân loại: ranh giới giữa các quốc gia, giữa các ngôn ngữ và từ vựng, giữa nhận thức luận và phong cách, giữa các nhà khoa học và công chúng. Cần phải vượt qua và phá vỡ chúng mới có thể tạo điều kiện cho cả khoa học và xã hội phát triển.       GS Oscar Salemink (bìa trái) trong chuyến làm việc với PGS.TS Nguyễn Văn Huy (đứng) tại Trung tâm di sản các nhà Khoa học Việt Nam. Nguồn ảnh: cpd.vn.  Không có biên giới trong KHXH&NV  Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng cho rằng khoa học thực nghiệm phản ánh thực tại hay nói cách khác, tri thức khoa học là sự biểu diễn trừu tượng, chân xác của các định luật khách quan. Vì những định luật này được thừa nhận ở mọi nơi nên những tri thức khoa học bắt nguồn hay phản ánh từ chúng cũng giống nhau ở mọi nơi. Những phương trình toán học chẳng hạn, không thay đổi kết quả khi vượt qua biên giới của một quốc gia.  Tuy nhiên, với lĩnh vực KHXH&NV, nhận thức luận của chủ nghĩa thực chứng khó có thể đứng vững. Thứ nhất, xã hội loài người đang thay đổi liên tục và nhanh chóng khiến kiến thức khoa học về xã hội con người càng trở nên mong manh hơn. Trong khi khoa học tự nhiên vận hành dưới giả định rằng những định luật tự nhiên không đổi, bởi vậy các tri thức khoa học sẽ không có sự thay đổi căn bản cùng với sự biến đổi của môi trường tự nhiên – mà nó sẽ chỉ ngày càng tăng thêm cùng với những tiến bộ khoa học – thì những định luật của xã hội con người lại luôn biến đổi. Thậm chí, rắc rối hơn nữa là, đối tượng nghiên cứu của ngành KHXH&NV lại chính là chủ thể nghiên cứu của nó: tri thức của con người về chính mình, khiến cho bản thân khoa học trở thành một phần của thế giới mà nó khám phá. Michel Foucault [1926 – 1984], Bruno Latour [1947] và những nhà khoa học về sau đã nghiên cứu sâu rộng tác động của lịch sử và xã hội đến những thực hành và tri thức khoa học trong xã hội hiện đại và đương đại. Tuy nhiên, ý tưởng cho rằng tri thức là hệ quả những thực hành của con người đã được đưa ra từ trước đó, khởi đầu là những học giả theo chủ nghĩa Marx như Antonio Gramsci [1891 – 1937] và không thể không kể đến Karl Marx. Nhìn chung, những học giả này đều có cùng quan điểm rằng tri thức khoa học chính là tri thức của xã hội về chính nó và khi xã hội biến đổi, những tri thức ấy cũng sẽ biến đổi theo.  Mặc dù một mặt khá thuyết phục, nhưng mặt khác, nền tảng nhận thức luận của những học thuyết này lại bị lung lay khi họ thừa nhận bản thân chủ thể nghiên cứu là một phần của đối tượng nghiên cứu, nhưng họ cũng lại giả định về khả năng tồn tại của tri thức khách quan về xã hội; Minh họa của Thomas Kuhn ở lĩnh vực khoa học tự nhiên trong cuốn Cấu trúc của các cuộc Cách mạng khoa học (1962) ám chỉ rằng các học giả có niềm tin quá mãnh liệt vào tính xác quyết của học thuyết họ ủng hộ sẽ trở nên phiến diện: Sự tuân thủ học thuyết nghiêm ngặt sẽ giúp họ thấy được những mối liên kết cụ thể được nhấn mạnh trong lý thuyết đó, nhưng lại ngăn cản họ tiếp thu bất cứ điều gì bên ngoài kiểu mẫu khoa học ấy. Nói cách khác, học thuyết khoa học làm sáng tỏ thực tế hỗn độn thông qua thực chứng nhưng nó cũng rất dễ trở thành gông cùm nhận thức nếu áp dụng một cách cứng nhắc.  Nỗ lực xuyên biên giới của Việt Nam  Từ những năm 1950, các nhà khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam (VN) đã kết nối với nền khoa học thế giới. Thế hệ trước đây, điển hình như Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên Nguyễn Văn Huyên, được đào tạo bởi người Pháp, nhưng vào những năm 1960, một số người VN lại quay trở về với giới Hán ngữ. Những năm 1970 và 1980, nhiều học giả đã học tập ở Liên Xô cũ và các nước thuộc khối phía Đông (COMECON) ở khu vực Trung và Đông Âu, như Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary và Bungari, tuy nhiên, kể từ sau năm 1989, con đường [học tập] đó đã chấm dứt.  Dù được đánh giá là có chuyên môn giỏi thì bản thân các học giả VN và những nhà hoạch định chính sách đều thừa nhận rằng cách tiếp cận lý thuyết và phương pháp luận khi được đào tạo ở các nước đồng minh với Liên Xô cũ không thực sự phù hợp với định hướng kinh tế thị trường mà VN đang áp dụng trong quá trình thực hiện những chính sách Đổi Mới.  Vì vậy việc tiếp thu các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới trong KHXH&NV, tạo điều kiện cho việc thực hiện thành công các công trình nghiên cứu về những thách thức mà VN đang phải đối mặt bởi sự chuyển đổi xã hội nhanh chóng cùng với sự hội nhập vào hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa khu vực cũng như toàn cầu NV là một nhu cầu cấp thiết. Để đáp ứng nhu cầu này, các nhà nghiên cứu cao cấp và tập sự ở các viện, trường đều  tham gia các khóa học ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài. Cũng trong khoảng thời gian này, ngày càng nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, trong số đó có nhiều người thành thạo tiếng Việt, đến VN để tìm hiểu về mọi lĩnh vực. Họ thường cộng tác với các đồng nghiệp người VN, qua đó xây dựng các kỹ năng cần thiết phục vụ cho nghiên cứu của mình ở VN.  Quá trình gặp gỡ, giao lưu và phối hợp này đã đem lại cho các nhà nghiên cứu VN và nước ngoài những kinh nghiệm học hỏi giá trị và làm phong phú lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của cả hai bên, cũng như đưa đến nhiều khái niệm mới trong từ vựng của khoa học xã hội Việt Nam. Mặt khác, góc nhìn chuyên sâu từ bối cảnh VN giúp các học giả VN và nước ngoài có thể phát triển các lý thuyết dựa trên nền tảng tri thức đó. Có thể kể đến trường hợp của tôi trong một cuộc họp vào năm 2012 với việc đưa ra khái niệm di sản hóa [heritagization] để chỉ nỗ lực công nhận hàng loạt các di tích, vật thể và thực hành [văn hóa] thành những di sản văn hóa trên diện rộng. Mặc dù khái niệm heritagization đã từng tồn tại trong tiếng Anh nhưng phải đến khi tôi dịch cụm từ ”di sản hóa”, một khái niệm đã đi vào tiếng Việt kể từ sau công ước UNESCO năm 1972 và 2003 sang tiếng Anh, nó mới được sử dụng rộng rãi.      Điều đó có nghĩa rằng các khái niệm lý thuyết trong KHXH&NV di chuyển xuyên biên giới. Chúng có thể dùng để lý giải các quá trình ở Việt Nam hiệu quả như ở bất cứ nơi nào khác. Đồng thời, những khái niệm được phát triển ở Việt Nam cũng có thể đi ra ngoài biên giới để làm sáng tỏ các hiện tượng ở những nơi khác.  Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe người ta tranh luận rằng “Việt Nam nó khác” nên các học thuyết “nước ngoài” hay “thế giới” sẽ không thể áp dụng tại đây. Tuy nhiên, tôi không chấp nhận quan điểm này. Nếu đây là một lập luận có cơ sở và được thừa nhận thì KHXH&NV sẽ không còn là ngành khoa học theo nghĩa bao gồm những tri thức thực nghiệm dựa trên những tiền đề nhận thức luận được thừa nhận trên thế giới và những khái niệm lý thuyết có tiềm năng phổ quát trên toàn cầu. Lập luận này cũng vấp phải sự phản đối của các chuyên gia VN trong KHXH&NV, những người từng tham dự các khóa học trao đổi tri thức khoa học toàn cầu, thông qua các công bố của họ bằng tiếng Anh trên các diễn đàn quốc tế. Và những học giả VN này cũng nhận ra rằng, công bố quốc tế không chỉ là chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Anh, họ phải quen với những cách viết đa dạng, dựa trên các nguyên tắc nhận thức luận khác nhau để trở nên thuyết phục hơn. Theo nghĩa này, ai đó có thể nói rằng KHXH&NV có những ranh giới, nhưng chúng cần phải liên tục bị phá vỡ vì lợi ích của tất cả các học giả trong nước và quốc tế.  Một điểm khác biệt nữa giữa các nhà KHXH&NV VN và quốc tế thể hiện ở mức độ tự do phản biện các quan điểm chính trị chủ đạo. Nhiều học giả VN viết và công bố tác phẩm của mình bằng tiếng Anh chọn thực hiện nghiên cứu ứng dụng trong bối cảnh có sự tham gia của các tổ chức phát triển quốc tế hay các dự án được tài trợ từ nước ngoài. Đây là lựa chọn hợp lý về mặt tài chính, tuy nhiên lại không đem đến những tri thức sắc sảo nhất, đột phá nhất về mặt lý thuyết, bởi vì các vấn đề và phương pháp nghiên cứu được định sẵn bởi những tổ chức triển khai vốn kỳ vọng kết quả đầu ra phải ăn khớp nhất định với các tiêu chí của mình. Do vậy, những nghiên cứu ứng dụng kiểu này hiếm khi tạo ra một góc nhìn phản biện, theo nghĩa đem đến một ánh sáng mới cho những hiện tượng quen thuộc hoặc khám phá ra những mối liên hệ chưa ai biết từ một góc nhìn khác. “Phản biện” có thể bao gồm tính chính trị nhưng không nhất thiết là một thái độ tiêu cực hoặc nhằm vào thể chế chính trị.  Khi ngân sách cấp cho các nghiên cứu độc lập ngày càng cạn kiệt thì những nghiên cứu mang tính tìm tòi lại càng trở nên khan hiếm với nguồn tài trợ ít ỏi, có nghĩa rằng, nghiên cứu phản biện, dựa trên việc lý thuyết hóa những phát hiện mới một cách chặt chẽ, đem đến sự khái quát mang tính nền tảng, lại vô cùng hiếm hoi ở VN.  Tôi đã đôi lần tham gia phản biện với các nhà hoạch định chính sách ở VN và nhận thấy khá rõ ràng rằng, với các học giả nước ngoài, việc thể hiện thái độ như vậy sẽ dễ dàng hơn nhiều so với các học giả VN, sống ở VN. Khi phải phản biện, điều quan trọng ta cần nhận ra, là những nhà KHXH&NV, chúng ta luôn viết cho những con người có chính kiến riêng, những người có thể bất đồng với những phân tích của chúng ta. Những phân tích phản biện như vậy cần được viết ra với thái độ tôn trọng và nên là những điều có thể tạo ra sự can thiệp chính sách tích cực nhưng mới mẻ. Theo một nghĩa nào đó, điều này đòi hỏi giáo dục kiên trì, không chỉ với cộng đồng, không chỉ với những nhà lãnh đạo chính trị mà với cả chúng ta ở cương vị người viết về những vấn đề đang diễn ra trên cơ sở những học thuyết và phương pháp tiên tiến nhất. Phong cách của chúng ta và nhận thức của họ sẽ không thể thay đổi qua một đêm, nhưng chúng ta có thể nhích từng bước trên một định hướng đúng đắn.  Khoa học luôn có những ranh giới mà đa phần là kìm hãm hơn là thúc đẩy những hiểu biết chung của chúng ta về các vấn đề chung của nhân loại. Ta cần phải vượt qua và phá vỡ chúng mới có thể tạo điều kiện cho cả khoa học và xã hội phát triển.  —–  * Đại học Copenhagen, o.salemink@ anthro.ku.dk, đã có thâm niên nghiên cứu về Việt Nam gần 40 năm.  Bảo Như và Hảo Linh lược dịch từ bản tiếng Anh do tác giả viết riêng cho Tia Sáng.       Author                Oscar Salemink*        
__label__tiasang Liệu có thể phát hiện các chiều dư nhờ ngưng tụ Bose-Einstein?      Theo Lý thuyết dây, vũ trụ ngoài 4 chiều không thời gian thông thường ghi là s còn có  thêm 6 chiều dư (extra dimension) ghi là l. Hy vọng phát hiện những chiều dư đó bằng ngưng tụ Bose-Einstein (Bose-Einstein condensate) quả là một vấn đề lý thú vì liên kết được hai lĩnh vực khác nhau là lý thuyết trường với lý thuyết hệ nhiều hạt của môi trường đông đặc [1]. Trong bài viết sau đây, chúng ta sẽ thấy ý tưởng chính là sử dụng bước nhảy (discontituity) của nhiệt dung (specific heat) trong ngưng tụ Bose-Einstein tại nhiệt độ ngưng tụ vốn lại là hàm số của các chiều dư để đối chiếu với thực nghiệm.      Nhập đề  Một khó khăn của vật lý hiện đại là không có phiên bản lượng tử cho hấp dẫn. Như chúng ta biết hiện tồn tại các lý thuyết sau: Lý thuyết dây, Lý thuyết lượng tử vòng (Loop quantum gravity), Hình học không giao hoán (Non commutative geometry)… nhằm đưa lượng tử vào hấp dẫn.  Mặt khác vật lý các chất khí lượng tử siêu lạnh (ultra – cold quantum gases) cũng là một điểm nóng trong vật lý hiện đại với nhiều khả năng (siêu chảy, các hệ có số chiều thấp…).  Các tác giả S. Guti´errez, A. Camacho, và H. R´ıos  nghiên cứu khả năng đóng góp của lý thuyết các hệ siêu lạnh vào bài toán hấp dẫn lượng tử.  Như chúng ta biết trong Lý thuyết dây để thỏa mãn những điều kiện toán học cần đưa thêm l – chiều dư ngoài s chiều thông thường của không thời gian. Những chiều dư sẽ compact hóa nghĩa là sẽ cuộn lại.  Các tác giả trên khảo sát xem sự xuất hiện những chiều dư l compact (compact dimensions) trong Lý thuyết dây có ảnh hưởng gì đến các tính chất nhiệt động học của hệ nhiều hạt ở nhiệt độ siêu lạnh (nhiệt dung, năng lượng…).  Ngưng tụ Bose-Einstein  Người ta xét một hệ gồm N hạt ở nhiệt độ siêu lạnh, nhiệt độ của ngưng tụ.  Trong 5 trạng thái (khí, lỏng, rắn, plasma, ngưng tụ Bose-Einstein) của vật chất thì ngưng tụ Bose-Einstein có lẽ là một trạng thái chứa nhiều điều lý thú.  Ngưng tụ Bose-Einstein là trạng thái vật chất của một hệ boson làm lạnh đến nhiệt độ gần không tuyệt đối (0 K hay -273.150C). Ở nhiệt độ đó hầu hết các boson sẽ chiếm trạng thái thấp nhất ở đấy xuất hiện các hiện tượng lượng tử vi mô.  Ngưng tụ Bose – Einstein được phát hiện trong năm 1924 – 1925 bởi Satyendra Nath Bose và Einstein về mặt lý thuyết, mãi đến 1995 mới được Eric A.Cornell và Carl E.Wieman thực hiện trên thí nghiệm (giải Nobel Vật lý 2001).  Ta sử dụng một ngưng tụ Bose – Einstein với sự hiện diện của l – chiều dư compact của Lý thuyết dây với kích thước lP (độ dài Planck). Không thời gian của chúng ta có s – chiều không compact.  Hạt xem như bị giam giữ trong một hộp có thế năng với  hình học của hệ là: một hình siêu ellipsoid l – chiều (compact) + một bẫy điều hòa  trong không thời gian s – chiều (non compact).  Nhiệt dung có một bước nhảy tại nhiệt độ tới hạn Tc và bước nhảy này lại là hàm của số chiều. Các tác giả chứng minh rằng bước nhảy đó của khí bosonic sẽ là hàm của số nguyên tử có mặt trong chất khí N trong giả định có s = số chiều không compact thông thường  và l = số chiều compact (theo Lý thuyết dây).  Vậy xét một hệ bosonic với N hạt, đo nhiệt dụng trên và dưới nhiệt độ ngưng tụ và tính bước nhảy đó.  Thực hiện với nhiều trị số N ta sẽ thu nhận được một đoạn thẳng mô tả bước nhảy chứa thông tin về s và l.  Phần viết sau đây có một số công thức toán chỉ cốt để minh họa vấn đề, tuy rất hữu ích cho các độc giả muốn đi sâu.  Các chiều dư và chất khí boson  Ý tưởng chính là sử dụng bước nhảy của nhiệt dung trong ngưng tụ Bose – Einstein tại nhiệt độ ngưng tụ vốn là hàm số của các chiều dư l để đối chiếu với thực nghiệm.  Gọi Rj kích thước của các chiều compact (kích thước cỡ  lP – độ dài Planck – như trong Lý thuyết dây), gọi = tần số của vùng harmonic ứng với các chiều không compact s, i =1,2,…s.  Đây là một bài toán cơ học lượng tử bình thường vậy ta  có:    Trong công thức trên ni và qj là các số lượng tử gắn liền với thế năng dao động tử điều hòa trong trường hợp một hạt bị giam giữ trong một hộp kích thước Rj.  Chuyển sang tính nhiệt độ ngưng tụ (condensation temperature) Tc. Các tác giả1 thu được phương trình cho phép tính Tc. Sau đó cần tính năng lượng E của hệ khi T < Tc và T > Tc.  Nhiệt dung được tính theo công thức:     với     và N = constant.  Trong đó      = trung bình hình học của các tần số.  Bước nhảy nhiệt dung được định nghĩa như sau:    Kết quả tính toán trong công trình2 là    ζ hàm zeta Riemann.  Từ công thức trên ta thu được:  A/. Khi s = 3 và l = 0 ta có lại kết quả của BEC trong một bẫy điều hòa không đẳng hướng (anisotropic).  B/. Nếu cho s = 3 và l = 6 (như trong LTD) ta lại có      ……………………………*                                                  Trong đó  μc = thế hóa học tại điểm tới hạn còn N ~ 103.  Để kiểm nghiệm công thức   người ta có thể đo nhiệt dung ví dụ của ngưng tụ rubidium.  Kết luận  Ý tưởng của các tác giả S. Guti´errez, A. Camacho, and H. R´ıos có thể nói là rất sáng tạo mở một đường kiểm tra thực nghiệm cho Lý thuyết dây. Nếu thực nghiệm thu được trị số lý thuyết trên của                     thì xem như sự tồn tại các chiều dư compact của Lý thuyết dây (l = 6) được giải nghiệm.  Ý tưởng sử dụng vật lý môi trường đông đặc để kiểm nghiệm một vấn đề lý thú là số chiều dư trong Lý thuyết dây thuộc phạm vi lý thuyết trường đã làm nổi bật mối liên quan bất ngờ giữa hai lĩnh vực đó.  Tài liệu tham khảo  [1] String theory phenomenology and quantum many–body systems  S. Guti´errez, * A. Camacho,† and H. R´ıos‡  Departamento de F´ısica, Universidad Aut´onoma Metropolitana–Iztapalapa  arXiv:1707.07757v1 [gr-qc] 24 Jul 2017  [2] Hamish Johnston, Could extra dimensions be detected by a Bose–Einstein condensate?  http://physicsworld.com/cws/article/news/2017/aug/01/could-extra-dimensions-be-detected-by-a-bose-einstein-condensate    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Liệu Ebola có thể trở thành một vấn đề toàn cầu?      Câu hỏi này đã được đặt ra với GS Bernhard  Fleischer, phụ trách Trung tâm Chuẩn quốc gia về các tác nhân gây bệnh  truyền nhiễm nhiệt đới (Viện Bernhard-Nocht) ở Hamburg, Đức.     Cho tới thời điểm này đã có hai y tá bị nhiễm bệnh Ebola ở ngoài khu vực Tây Phi, dù được trang bị quần áo bảo hộ trong quá trình chăm sóc người bệnh. Vậy điều gì đã xảy ra?  Một mặt của vấn đề là lượng virus trong máu của người bệnh cao đến mức khó lường nên chúng cũng rất cao trong các chất bài tiết. Hãy tưởng tượng một người bị bệnh nặng, có tới 2 tỷ virus trong mỗi ml máu. Nếu pha loãng ra theo tỷ lệ một phần triệu thì dung dịch này vẫn có khả năng lây nhiễm. Vì thế người ta phải được làm việc trong điều kiện bảo đảm an toàn tuyệt đối.  Nhưng nhân viên y tế tại các bệnh viện chuyên biệt ở Dallas và Madrid đã được huấn luyện kỹ lưỡng.  Đúng vậy, nhưng ở  Madrid, một cô y tá có lẽ đã lỡ tay đụng vào mặt bệnh nhân. Đây là điều tối kỵ và nhất thiết phải tránh – và nhất là sau đó không được đụng chạm đến mặt mình, làm như vậy thì vật gây bệnh có thể xâm nhập qua các chất nhầy ở mắt, mũi hay miệng để xâm nhập vào cơ thể mình. Chính vì thế việc chăm sóc người bệnh bao giờ cũng phải do hai người thực hiện. Khi kính bị xệ hoặc ngứa đầu thì y tá tuyệt đối không được điều chỉnh kính hoặc gãi đầu mà phải nhờ đồng nghiệp [không đụng chạm đến người bệnh] làm hộ.    Đã có hai ca lây nhiễm xảy ra mặc dù chỉ có rất ít các ca điều trị Ebola bên ngoài châu Phi. Theo giáo sư thì đây có phải là một vấn đề về cấu trúc không?  Những ca lây nhiễm này xảy ra với các y tá chỉ đeo mặt nạ và mặc áo choàng vì ở đây không có Trung tâm điều trị chuyên biệt. Do đó, những nhân viên y tế ở đây hầu như cũng không có trang thiết bị khả dĩ hơn so với đồng nghiệp ở châu Phi. Những Trung tâm điều trị ở Đức đã đưa ra yêu cầu về mức độ an toàn rất cao, cơ quan y tế đòi hỏi các phòng thí nghiệm, các trung tâm điều trị phải trang bị đồng bộ áo liền quần.  Nhưng dù mặc áo liền quần thì nhân viên y tế rốt cuộc cũng phải thay trang phục phải không?  Đúng thế, nhưng đối với bộ áo liền quần thì được xối sạch và khử trùng trước khi thay.  Điều này làm giảm nguy cơ bị lây nhiễm khá rõ rệt. Vì thế tôi tin chắc rằng ở phòng thí nghiệm chỗ chúng tôi dứt khoát đồ vật gây bệnh không thể thất thoát ra ngoài. Chúng tôi đã làm việc và nghiên cứu với các loại virus nguy hiểm từ 20 năm nay, mọi người đều phải thường xuyên tập huấn sử dụng các loại phương tiện bảo hộ chuyên dụng để ngăn chặn sự cố.   Thomas Frieden, lãnh đạo Cơ quan phòng chống dịch của Hoa kỳ CDC mới đây tỏ ý  lo ngại Ebola có thể trở thành một tai họa, lây lan như bệnh Aids. Theo giáo sư, căn bệnh này có thể trở thành một nguy cơ toàn cầu hay không?   Kể từ dịch  SARS cách đây 10 năm, chưa có dịch bệnh nào gây ra nhiều lo lắng và có những thách thức vô cùng to lớn như  Ebola. Hậu quả về kinh tế đối với những nước có dịch ở châu Phi cũng hết sức to lớn. Tuy nhiên xét về khía cạnh y học thì sự so sánh này là khập khiễng. Vì siêu vi trùng Ebola và siêu vi trùng HIV, gây bệnh suy giảm miễn dịch Aids là hoàn toàn khác nhau –  nhất là đối với chiến lược lây lan của chúng. Những người bị lây nhiễm virus HIV thường nhiều năm sau khi bị lây nhiễm mới dẫn đến cái chết. Vấn đề là ở chỗ đó: những người bị lây nhiễm có nhiều thời gian để tiếp tục lây lan bệnh sang người khác ngay cả trước khi đổ và khi đó họ mới bị coi là bị nhiễm HIV. Ngược lại, Ebola gây tử vong rất nhanh, đến mức bệnh dịch tự triệt tiêu. Ở đây chỉ có hai khả năng: hoặc là người bệnh bị chết – và cái chết diễn ra rất nhanh, hoặc là thoát chết, và khi đó người bệnh có khả năng miễn dịch và được bảo vệ chống lại loại virus nguy hiểm này. Chính vì thế tôi không tin Ebola có thể lây lan rộng rãi trên thế giới như dịch cúm  năm  1918 hay bệnh dịch hạch hoành hành trên thế giới ở thế kỷ 14. Virus Ebola không có khả năng lây lan như các loại dịch bệnh nói trên.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: “Tuần kinh tế” tháng 10/2014       Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp gene trị ung thư ở Trung Quốc      Dù còn những tranh cãi xung quanh hiệu quả thực sự của liệu pháp này, song có một điều chắc chắn: Nhờ chính sách đặc thù, Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về nghiên cứu trị ung thư bằng liệu pháp gene (gene therapy).    Khi quyết định bỏ tiền điều trị ung thứ vú bằng liệu pháp gene – bà bác sĩ ngoại khoa Đan Mạch Maria Corina Roman đã làm nên sự kiện y học quốc tế vì là người đầu tiên áp dụng “gene trị” thương mại. Thất vọng với phương pháp thông thường, năm 2004, Roman bay tới Trung Quốc để điều trị bằng thuốc Gendicine – loại thuốc có chứa virus ghép gene ức chế ung thư(p53). Vài ngày sau đó, Roman thông báo mình khỏe lên và thấy thèm ăn. Nhà sản xuất Gendicine – công ty SiBiono GeneTech ở Thẩm Quyến – lập tức nổi tiếng thế giới. Tin tức về liệu pháp gene trị ung thư xuất hiện trên một loạt báo lớn như Financial Times, Business Week, China Daily… Nhưng cuối năm đó, khối ung thư của Roman xuất hiện trở lại. Peng Zhaohui, giám đốc điều hành SiBiono vẫn cho rằng dẫu sao thuốc cũng đã chứng tỏ “hiệu lực tốt”, và Roman – bệnh nhân nổi tiếng nhất của SiBiono – “nên tiếp tục điều trị bằng Gendicine”.  Lời khuyên của Peng còn hơn cả sự lạc quan, nó phản ảnh chính sách quốc gia của Trung Quốc. Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Trung Quốc (SFDA) cho phép dùng Gendicine trong điều trị từ tháng 10/2003 và đến đầu năm 2004 thì cho phép đưa ra thị trường. Năm 2005, SFDA còn cho phép sản phẩm điều trị ung thư bằng gene thứ hai: virus biến đổi mang ký hiệu H101. Cùng với H101, các chế phẩm H102 và H103 cũng đang được nhà sản xuất – công ty Sunway Biotech ở Thượng Hải – chờ cấp phép để thương mại hóa. Công ty này cũng đang thỏa thuận để cùng với tập đoàn Genzyme Corp ở Cambridge, Massachusetts thử nghiệm “gene trị” với H101 ở Mỹ.  Trong khi ở Trung Quốc, việc thử nghiệm thuốc liệu pháp gene trong giai đoạn “tiền thương mại” (premaket) thuận lợi, thì ở Mỹ và châu Âu việc này hết sức khó khăn. Sau cái chết của một bệnh nhân ở Mỹ  (1999) và hai trẻ em phát triển bệnh bạch cầu ở Pháp (2002) trong khi điều trị bằng liệu pháp gene, Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) đã thắt chặt việc kiểm soát thử nghiệm. Các công ty của phương Tây nói vẫn đang đạt được tiến bộ, song không loại thuốc “gene trị” nào được đưa ra thị trường. Điều đó có nghĩa là Trung Quốc đã bắt kịp, thậm chí vượt qua phương Tây trong lĩnh vực này. “Tương lai của liệu pháp gene sẽ ở Trung Quốc” – Andre Lieber, nhà nghiên cứu liệu pháp gene của Đại học Washinton phát biểu. Song ông cũng nhắc nhở rằng phải nhìn nhận thành công của người Trung Quốc bằng con mắt cảnh giác: Luôn có “vấn đề” về việc dịch những nghiên cứu lâm sàng thực hiện ở Trung Quốc. So với tài liệu nguyên bản, tài liệu được dịch sang tiếng Anh có thể bị lược những thông tin phản biện. Quyền sở hữu trí tuệ cũng là vấn đề. Một số nhà nghiên cứu phương Tây nghi ngờ sự sáng tạo của các công ty dược Trung Quốc – điều này có thể hạn chế việc bán thuốc Trung Quốc ở phương Tây. Và cuối cùng, các ý kiến chỉ trích đều thống nhất là hệ thống luật lệ của Trung Quốc không nghiêm ngặt. Ví như Gendicine, dù thiếu những bằng chứng về tác dụng song vẫn được phép lưu hành.  Kỳ vọng  Trên mảnh đất nhỏ ở ngoại ô Thẩm Quyến nổi lên một tòa nhà trống trải với cửa kính mờ đục. Những ông chủ ở đây dự định mỗi năm sẽ sản xuất 15 triệu lọ Gendicine, gấp 7 lần năng lực hiện nay của SiBiono. Dọc đường dẫn tới phòng điều hành công ty là đầy những mẩu báo tiếng Trung và quốc tế viết về Gendicine dán kín trên tường. Giám đốc Peng Zhaohui cho biết, với Gendicien, Sibiono sẽ dẫn đầu trong lĩnh vực “gene trị” thương mại. Gendicine được người Trung Quốc đặt cái tên “na ná”: JinYouSheng (Kim hựu sinh: nay sống lại) – tên do Phó chủ tịch nước Trung Quốc Tăng Khánh Hồng đặt trong chuyến thăm công ty SiBiono, một tháng trước khi SFDA cho phép bán loại thuốc này ra thị trường.  SFDA cho phép dùng Gendicine để điều trị ung thư ở vùng cổ và đầu chỉ nhờ những thử nghiệm lâm sàng nhỏ. Khi kết hợp với phương pháp trị liệu khác, 64% bệnh nhân thử nghiệm không còn khối u; còn nếu điều trị riêng bằng Gendicine  thì con số là 19%. Peng gọi đó là thử nghiệm “giai đoạn II/III”, thuật ngữ chỉ thời kỳ cả thử nghiệm chứng tỏ thuốc an toàn (giai đoạn I và II) và có hiệu quả (giai đoạn III). Năm 2005, SFDA cho phép dùng H101 sau khi 74% bệnh nhân chấp nhận dùng H101 bổ sung với hóa trị đã thu nhỏ được khối u so với 40% nếu chỉ điều trị bằng hóa chất.               Peng Zhaohui, giám đốc điều hành SiBiono            Gendicine hiện đang được cho hơn 4.000 bệnh nhân để điều trị cho 50 loại ung thư ở vùng đầu và cổ. SiBiono nhận được 6 triệu USD từ đầu tư khởi nghiệp của chính phủ, các nhà đầu tư cá nhân cũng đầu tư một số tiền tương đương. Giám đốc Peng từng ước tính đến hết năm 2006 sẽ có khoảng 50.000 người điều trị bằng Gendicine, song thực tế ít hơn nhiều. Nhưng nếu thuốc thật sự có tác dụng, và nếu người bệnh có thể kham nổi khoản chi phí từ 1680 USD đến 3360 USD cho mỗi đợt điều trị, thì thị trường của Gendicine chỉ riêng ở Trung Quốc thôi sẽ là khổng lồ.  Bắt chước hay sáng tạo?  Một số công ty Mỹ cáo buộc thuốc liệu pháp gene của Trung Quốc thực ra “thoát thai” từ các sáng chế của phương Tây. Hãng Introgene Therapeutics ở Texas tuyên bố sản phẩm Gendicine tương tự như một sản phẩm thử nghiệm tái tổ hợp adenovirus chứa gene p53 của người (rAd-p53) của công ty này.  Wei-Wei Zhang, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của GenWay Biotech ở San Diego công bố nghiên cứu đầu tiên về rAd-p53 khi còn làm việc ở Trung tâm Ung thư M.D Aderson của Đại học Texas. Wei được cấp bằng sáng chế về tái cấu trúc virus. Trung tâm M.D Anderson thỏa thuận cấp phép với Introgen và công ty này đầu tư hơn 70 triệu USD để triển khai loại thuốc mang tên Advexin dựa trên nghiên cứu của Zhang. Bắt đầu thử nghiệm để điều trị ung thư vùng cổ và mặt từ năm 1994, đến nay đang trong thời kỳ thử nghiệm giai đoạn III, Advexin vẫn còn chờ để được FDA chấp thuận.  Thử nghiệm thuốc giai đoạn II trên 106 bệnh nhân của Introgen chỉ điều trị bằng Advexin cho thấy 10% bệnh nhân có “khối u đáp ứng với thuốc” (tumor response rate), trong đó chắc chắn có 30% là khối u thu nhỏ lại. Introgen tuyên bố là thử nghiệm giai đoạn III thuốc Advexin tiến triển tốt, đồng thời cũng cáo buộc Gendicine chỉ là sản phẩm “phái sinh”. Tháng 8/2006, khi nộp hồ sơ lên Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (Securities and Exchange Commission), Introgen lại cáo buộc nhà sản xuất Gendicine xâm hại bản quyền. Phía SiBiono lại tuyên bố Gendicine “rất khác” với sản phẩm của Introgen, điểm giống nhau duy nhất là có sử dụng gene p53.  Công ty Sunway thì thừa nhận sản phẩm H101 được “truyền cảm hứng” từ các nghiên cứu của Mỹ, song nó là kết quả của nghiên cứu độc lập. Theo một số chuyên gia, H101 giống một sản phẩm mang tên Onyx-015 của công ty Onyx Pharmaceuticals. Cả Onyx-015 lẫn H101 đều dùng adenovirus biến đổi để tiêu diệt những tế bào có thể gây ung thư do thiếu hay có gene p53 bị biến đổi. Thử nghiệm thuốc giai đoạn II, Onyx-015 đã chứng tỏ có thể làm khối u ở vùng cổ và đầu của 60 -70% bệnh nhân nhỏ lại, song vẫn chưa đủ để FDA chấp thuận. FDA muốn nhiều bằng chứng hơn nữa, đặc biệt là số liệu chứng tỏ Onyx-015 kéo dài cuộc sống người bệnh. Năm 2005, Onyx đã chấm dứt thử nghiệm thuốc giai đoạn II khi những nhà đầu tư chủ chốt rút lui, nhờ vậy mà Sunway có được độc quyền từ Onyx để sử dụng virus biến đổi 015. “Chúng tôi mua bản quyền của Onyx để có thể bán thuốc ở châu Âu, Mỹ và  Nhật Bản” – Hu Fang, giám đốc điều hành của Sunway phát biểu.  Tiêu chuẩn khác nhau  Chính phủ Trung Quốc vừa là nhà đầu tư, vừa là người cấp phép cho những công ty công nghệ kiểu như SiBiono hay Sunway. Một số nhà quan sát lo ngại việc nhà nước đóng “hai vai” có thể khiến tiêu chuẩn sản phẩm bị hạ thấp. Từ 2001 đến 2005, Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đã chi khoảng 106 triệu USD cho triển khai những sáng chế về thuốc, một phần trong khoản chi này là cho SiBiono. Giám đốc Peng Zhaohui còn viết một cuốn sách hướng dẫn đánh giá các sản phẩm liệu pháp gene cho SFDA. Peng thừa nhận SiBiono được chính phủ ủng hộ và sản phẩm Gendicine nhanh chóng được cấp phép là nhờ “một kênh đặc biệt”. Tài liệu về thử nghiệm Gendicine được đệ trình lên SFDA từ tháng 3/2003, 7 tháng sau, Gendicine được chấp thuận. Sản phẩm H101 của Sunway cũng được cấp phép sau 10 tháng.  Cơ cấu tiêu chuẩn của Trung Quốc khác với phương Tây. Trong khi FDA đòi hỏi thuốc mới chữa ung thư kéo dài cuộc sống của người bệnh thì SFDA chấp thuận cả Gendicine lẫn H101 chỉ do khối u thu nhỏ lại.  Hu Fang nói tới đây Sunway sẽ chứng tỏ H101 vừa làm nhỏ khối ung thư vừa làm chậm tiến trình bệnh. “Thời gian còn lại của người bệnh rất quan trọng”. Hu cho biết, một nghiên cứu từng cho thấy H101 có thể kéo dài thời gian sống của người bệnh thêm 7 tháng.  Có một lý do đáng để trông đợi vào tương lai tươi sáng của các công ty công nghệ sinh học Trung Quốc là họ “có điều kiện tuyệt vời, rất nhiều tiền và rất nhiều người giỏi” – Lieber của Đại học Washinton nhận xét. Còn Wei-Wei Zhang thì đánh giá các nhà sinh học Trung Quốc xứng đáng vượt qua người Mỹ trong lĩnh vực liệu pháp gene chữa ung thư. Hiện có đến gần chục loại thuốc trị ung thư liệu pháp gene đang được thử nghiệm lâm sàng ở Trung Quốc – Savio Woo, cựu giám đốc Hiệp hội Liệu pháp gene Mỹ cho biết. Trung Quốc cũng thu hút thêm nhiều nhà đầu tư đáng kể vào lĩnh vực này, Genzyme là một ví dụ. “Trung Quốc đang thay đổi với rất nhiều công ty sáng tạo công nghệ” – Earl Collier,  phó chủ tịch Genzyme nói – “Và chúng tôi muốn tham gia”.  Dẫu sao thì Wei-Wei Zhang cũng lo lắng rằng “cơn sốt truyền thông” có thể khiến “quan chức và nhà đầu tư định hướng sai lầm, làm hỏng lai tương phát triển của nền công nghiệp sinh học Trung Quốc” như đã từng xảy ra ở phương Tây trước đây.  VIỆT ANH. Theo Science      Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu pháp tâm lý trực tuyến      Bạn bị lo âu, mất ngủ, trầm cảm? Ý định đi tìm một bác sĩ chuyên ngành tâm lý luôn thôi thúc bạn? Hãy thoải mái đi, rất có thể bạn tìm được ánh sáng cuối đường hầm ngay trên… Internet.    Sau khi so sánh các kết quả điều trị bằng liệu pháp tâm lý truyền thống với các chương trình điều trị (tự động) trên Internet, một bác sĩ người Hà Lan đã khẳng định: liệu pháp tâm lý trực tuyến có hiệu quả hầu như tương đương với liệu pháp tâm lý thông thường (với sự có mặt của bác sĩ) đối với một số căn bệnh như lo âu, suy nhược thần kinh, trầm cảm và cả… béo phì. Có điều, rất có thể bạn phải giỏi ngoại ngữ, ít nhất là tiếng Anh chẳng hạn.  PV      Nguồn tin: P. Emmelkam, Psychother. Psychosom., 74, 336, 2005.    Author                Quản trị        
__label__tiasang LIGO: Chậm mà chắc      Lời tòa soạn: LIGO đã phát hiện ra sóng hấp dẫn cách đây gần hai năm và các thành viên của dự án này đã gặt hái hầu hết các giải thưởng lớn về khoa học trên thế giới, kể cả giải Nobel vào tháng 10 vừa qua. Nhưng là một nhà vật lý thực nghiệm, TS. Nguyễn Trọng Hiền, người chủ nhiệm dự án BICEP2 đi tìm sóng hấp dẫn thuở ban sơ của vũ trụ chỉ thực sự cảm thấy thuyết phục sau khi LIGO công bố phát hiện được sóng hấp dẫn từ vụ va chạm của hai sao Neutron vào tháng 11 vừa qua với sự kiểm chứng độc lập của một loạt các đài thiên văn khác.  Bài viết dưới đây của anh lý giải tại sao, LIGO không chỉ là bước nhảy vọt mà còn là một nỗ lực kiên trì và phi thường bậc nhất trong lịch sử của vật lý thực nghiệm.      Cài đặt máy dò phiên bản cao cấp LIGO (Advance LIGO) có độ nhạy gấp 10 lần so với phiên bản LIGO cơ bản (Initial LIGO). Nguồn ảnh: Caltech/MIT/LIGO Lab.  Khác với hầu hết các thí nghiệm, vốn chỉ mong “đánh nhanh thắng nhanh”, dự án LIGO đã dọn sẵn lộ trình lâu dài, mất hơn vài thế hệ vật lý để các thiết bị dần dần đạt được độ tinh nhạy cần thiết, như Rain Weiss, Nobel 2017 nói, “chậm mà chắc”.  Tháng Hai, 2016, thí nghiệm LIGO công bố là đã quan sát được sóng hấp dẫn. Tháng mười năm sau, Ủy ban Nobel trao giải Nobel về Vật lý cho ba nhà vật lý đứng đầu LIGO, Rain Weiss (MIT), Bary Barish và Kip Thorne (Caltech) vì họ “đã có những cống hiến quan trọng trong hệ cảm biến LIGO và sự quan sát sóng hấp dẫn”.  “Mất cả 40 năm, người ta luôn nghĩ về chuyện này, gắng tìm cách phát hiện, có lúc thất bại trong thời kỳ đầu, rồi dần dần, chậm mà chắc, xây dựng kỹ thuật để có thể làm chuyện này”,  Weiss nói. “Thật là phấn khởi là cuối cùng ta đã phát hiện được, và thật sự tăng thêm tri thức, thông qua sóng hấp dẫn, về những gì xảy ra trong vũ trụ”.    LIGO là một thí nghiệm đặc biệt trong lịch sử vật lý. Có thể nói, trước LIGO chưa hề có một thí nghiệm như thế. Kết quả 2016 của LIGO kiểm chứng trực tiếp dự đoán cuối cùng lý thuyết tương đối của Einstein, đánh dấu kỳ tích trong tư duy con người, và là một thành tích vượt bậc trong phát triển kỹ thuật.   1. Khó khăn lý thuyết  Thuyết Tương đối ra đời từ 1916, đến mãi đầu thập niên 60, tức là gần năm mươi năm sau ngày lý thuyết ra đời, vẫn là một đề tài nghiên cứu không mấy hấp dẫn. Điều này có nhiều nguyên do, nhưng không phải là do nó khó hiểu. Bởi ngay từ lúc ra đời, thuyết tương đối đã là một lý thuyết hoàn chỉnh. Với lý thuyết tương đối (LTTĐ), Einstein đã đạt được cả hai điều quan trọng nhất khi xây dựng một lý thuyết vật lý: ông có nguyên lý vững chắc (nguyên lý tương đương) và phương thức xử lý hiệu quả (hình học vi phân). Công trình của Einstein đã được trình bày gọn ghẽ trong một bài viết duy nhất, và có lẽ tương đối “dễ hiểu” đối với số đông các nhà vật lý thời ấy. Tôi nói tương đối “dễ hiểu” là nếu ta so sánh với vật lý lượng tử, người ta phải phán đoán những cơ chế vật lý mới – và rất khó hiểu – để giải thích các kết quả thực nghiệm. Vật lý lượng tử khó hiểu, nhưng đã có những bước nhảy vọt nhờ thực nghiệm. Vật lý tương đối dễ hiểu hơn, nhưng đã dậm chân tại chỗ trong thời gian dài, chỉ vì thiếu thực nghiệm.      Có thể nói, vào những năm 50 hay 60, chuyện đưa người lên mặt trăng là gần như không tưởng với đại đa số dân chúng trên thế giới. Nhưng thực ra điều này không khó, nói một cách nghiêm túc. Những nguyên tắc vật lý đã có sẵn. Tên lửa cũng đã thử nghiệm. Chỉ là vấn đề đầu tư tiền bạc và thời gian.        Như trên đã nói, LTTĐ tương đối đơn giản (ít ra là về mặt khái niệm) vì bởi nền tảng lý thuyết Einstein đã giải quyết xong rồi. Thử thách là làm sao để tiếp nối công trình của Einstein. Có những vấn đề tiếp theo đã không được giải quyết thoả đáng trong một thời gian dài. Bản thân Einstein không chấp nhận sự tồn tại của lỗ đen. Einstein còn hụt mất một phát hiện quan trọng vào hàng bậc nhất của văn minh nhân loại: sự giãn nở của vũ trụ. Ngay đến sóng hấp dẫn, chính Einstein cũng đã khá… bối rối khi bàn về sự tồn tại của nó. Chỉ trong vài tháng sau khi LTTĐ ra đời, tức là một trăm năm trước, ông đã chỉ ra sự tồn tại của sóng hấp dẫn. 20 mươi năm sau, 1936, Einstein đổi ý. Tạp chí Physics Today (Vật lý Ngày nay) kể lại,  “Mặc dầu khái niệm về bức xạ hấp dẫn bấy giờ còn tương đối mới, và không có bằng chứng thực nghiệm để kiểm chứng, nhưng sự tương đồng với trường điện từ hết sức rõ rệt, nên vào khoảng thập niên 30 hầu hết các nhà khoa học đã nghĩ, về mặt nguyên tắc, là sóng hấp dẫn phải tồn tại. Vậy mà, hồi 1936 Einstein gửi cho bạn ông là Max Born: “Cùng với người cộng tác trẻ, tôi đạt được kết quả lý thú là sóng hấp dẫn không tồn tại, dầu ban đầu mọi người đã khá chắc chắn về nó. Đến bây giờ, điều này cho thấy là phương trình vô tuyến tính cho ta biết nhiều hơn, hay đúng ra, giới hạn chúng ta nhiều hơn chúng ta tưởng”.  Einstein gửi nghiên cứu này đến Physical Review, tựa đề công trình “Sóng hấp dẫn tồn tại không”? Và ông trả lời là “Không”.  Công trình này bị Physical Review trả lại vì cho rằng kết quả của Einstein không đúng (bản gốc không còn giữ). Năm sau, sau khi đã sửa lại bài viết, ông gửi đến tạp chí Journal of the Franklin Institute. Lần này, Einstein trả lời là “Có”. Câu chuyện lý thú này bạn đọc có thể tham khảo thêm ở tạp chí Vật lý ngày nay. (Daniel Kennefick, “Einstein vs. Physical Review”, Physics Today, Sept 2005.)  Dù sao thì cuối cùng sau nhiều thập kỉ, cộng đồng vật lý đã không còn nghi ngờ gì về sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Câu hỏi là làm sao để phát hiện trực tiếp được sóng này.   2. Thử Thách thực nghiệm  Nếu ta giả thiết, từ các thiên hà xa xôi, có hai hố đen cỡ khối lượng nặng hơn mặt trời vài lần, xoay quầng rồi rơi vào nhau, làm nảy sinh sóng hấp dẫn và làm cho không gian co giãn chừng 10-22. Tức là khi ta lấy khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời là 150 triệu km, thì không gian sẽ co giãn chừng một phần mười tỉ mét, tức là ~ đường kính một nguyên tử. Và sự co giãn chỉ xảy ra trong nháy mắt, chừng vài mili giây.    Sẽ khó có một Rain Weiss thứ hai thực hiện được thí nghiệm cam go này.  Nguồn: Sciencemag.  Thí nghiệm lấy khoảng cách Trái đất – Mặt trời không dễ làm ngay. Trước mắt, người ta chọn khoảng cách trên mặt đất cho tiện. LIGO để hai tấm gương phản chiếu cách nhau 4 km để theo dõi sự co giãn của khoảng cách này. Khi sóng hấp dẫn lan đến, sẽ làm 4 km co giãn chừng 10-19 m. Tức là nhỏ hơn đường kính nguyên tử một phần tỉ lần.    Có thể nói, vào những năm 50 hay 60, chuyện đưa người lên Mặt trăng là gần như không tưởng với đại đa số dân chúng trên thế giới. Nhưng thực ra điều này không khó, nói một cách nghiêm túc. Những nguyên tắc vật lý đã có sẵn. Tên lửa cũng đã thử nghiệm. Chỉ là vấn đề đầu tư tiền bạc và thời gian.  Chuyện Rain Weiss và đồng đội của ông muốn làm, là đo cho được 10-19m hay là một phần tỉ đường kính nguyên tử, so với đưa con người lên Mặt trăng hay sao Hỏa, khó gấp… muôn vàn lần. Họ biết phương thức đúng đắn là dùng kính giao thoa, nhưng đạt được mức tinh nhạy 10-22 họ cần: 1. Laser công suất lớn, với độ bình ổn cao, 2. Cách ly dao động từ môi trường, 3. Thiết bị quang học với độ phản chiếu cao. Cứ 3 triệu photon thì chỉ cho phép 1 photon được hấp thụ. Gương hấp thụ ít photon thì sẽ không bị nóng, hình dạng sẽ không đổi, giữ cho chất lượng của laser được tốt. Mặt gương được mài nhẵn đến độ mức sai lệch giữa bản vẽ và gương thật chỉ vài nguyên tử. 4. Cuối cùng, sự kiện co giãn chỉ xảy ra trong tích tắc, nên cần tốc độ dữ liệu cao, và vì phải quan sát liên tục nên đưa đến số lượng dữ liệu lớn. Caltech hiện đang giữ 4.5 PB (bốn triệu rưỡi GB), và mỗi năm nhập thêm 0.8 PB.  Những yêu cầu thiết bị như trên vào những năm 70, khi Weiss và Thorne khởi đầu xây dựng thí nghiệm LIGO, là điều không tưởng, đạt đến đó phải mất một thời gian dài, rất tốn kém và không chắc là sẽ thành công. Lúc bấy giờ, người ta mới chỉ nghĩ đến việc lưu trữ hàng Kilo byte, sau đó 20 năm đến thời của tôi, chỉ mơ tới đĩa cứng có Giga byte. Chứ có đâu mà một chục triệu GB? Đâu ai nghĩ bộ nhớ máy tính bây giờ có thể rẻ như vậy? Nhưng đây mới là chỉ những trở ngại cần tiền và thời gian. Một trở ngại cơ bản khác, đó là cho dẫu họ đạt được mức tinh nhạy mà thiết bị cho phép thì mức tinh nhạy này vẫn bị giới hạn lượng tử. Và đây mới chính là điều người ta lo. Giữa thập niên 80 người ta mới biết cách để vượt giới hạn của nhiễu loạn lượng tử trên lý thuyết. Đến 2014, người ta mới thật sự làm được chuyện này.      “LIGO về thực chất là một máy đo động đất khổng lồ, đo được dao động từ xe cộ ở đường gần đấy, biến động của thời tiết từ những châu lục xa xôi, nhân viên khoa học mà đi xe đạp dọc theo đường ống thí nghiệm, máy cũng phát hiện được, sóng biển ở cách hàng trăm dặm cũng nghe, và những cuộc động đất lớn nhỏ quanh trái đất đều được ghi lại tất!” (theo trang web của LIGO) Điều mâu thuẫn ở đây là, để làm được việc LIGO phải hết sức nhạy để mới cảm được dao động nhỏ nhất, gần hay xa, nhưng lại phải không nhạy với các nhiễu như trên từ môi trường. Rồi là, cần laser với mức ổn định cao và công suất lớn, nhưng công suất lớn sẽ làm mặt gương nóng lên, phá huỷ mức ổn định của laser… Trong mỗi khâu, mỗi công đoạn của LIGO, đều có đầy những mâu thuẫn như thế.  Họ bắt đầu hầu như con số không. Vậy mà họ đã bắt tay làm. Hầu hết mọi người trong cộng đồng vật lý đã rất nghi ngờ tính khả thi của dự án này. Chẳng ai nghi ngờ sự tồn tại của sóng hấp dẫn, nhưng để thấy được nó qua thực nghiệm là điều không thể. Có họa là điên mới bỏ công làm những chuyện này. Thực ra, những từ như “điên rồ”, “liều lĩnh”, v.v… cũng không đủ để diễn tả chuyện này. Bản thân tôi, là “thứ” đi sau gần hai thế hệ, cách đây không đầy mười năm còn không tin là LIGO sẽ làm được.    Vậy mà họ làm được. Họ biết trước là họ sẽ cần hai thế hệ các nhà vật lý, và cần một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học vào cuộc. Họ thuyết phục được các nhà quản lý khoa học. Cá nhân tôi có nghe, rằng lãnh đạo của Quỹ Khoa học Quốc gia (National Science Foundation – NSF) quyết định hỗ trợ thí nghiệm LIGO bởi họ nghĩ, sẽ khó có một Rain Weiss thứ hai để thực hiện được thí nghiệm cam go này. Trong thành công của LIGO, phải kể đến lãnh đạo NSF bấy giờ.  3.  Lời Kết  Nhắc lại chuyện “ban đêm trời tối”. Ai cũng biết cả, nên “phát hiện” này trở thành hiển nhiên. Ông bà ta hiểu về điều này như sau: Mặt trời lặn nên trời tối. Cách đây hơn 400 năm, Copernic bảo, không phải Mặt trời lặn mà “vì Trái đất xoay”, và nửa kia của Trái đất che Mặt trời đi, nên bầu trời tối trở lại. Tức là, bầu trời luôn tối quanh năm suốt tháng, đêm hay ngày. Nếu có ngôi sao nào đó gần đấy chiếu sáng, như Mặt trời chẳng hạn, thì bóng đêm tạm thời tan đi thôi. Gần đây hơn, các nhà vũ trụ học cho thấy màn đêm của bầu trời còn có liên hệ đến sự giãn nỡ của vũ trụ, rằng vũ trụ thấy được là hữu hạn (nếu vô hạn thì hằng hà sa số các ngôi sao trong vũ trụ sẽ hợp lại làm cho bầu trời đêm sáng như ban ngày). Nói gì thì nói, sự thật là bầu trời tối cố hữu. Điều này vốn đã được xác định từ xa xưa, và sẽ còn mãi sau này. Tự nhiên vốn bất di bất dịch, và dĩ nhiên, độc lập với hiểu biết của chúng ta.    Hai nhà vật lý Bary Barish và Kip Thorne (Caltech)  ăn mừng giải Nobel 2017. Bản thân Kip Thorn (phải) là người đồng sáng lập dự án LIGO từ năm 1984. Nguồn: Latimes  “Kết quả của LIGO minh chứng Einstein đã đúng”. Báo chí đã đua nhau đưa tin. Thì đã đành. Einstein đã đúng một cách thần kỳ. Thuyết tương đối đã cho chúng ta cái nhìn đúng đắn về tự nhiên. Không thời gian cong từ lâu đã là bộ phận của di sản tri thức loài người. Nếu không có LTTĐ, chẳng ai hoài công xây đắp hệ thống LIGO để đo cho được mức dao động không đầy 10-19m. Nhưng sẽ rất là thiếu sót nếu chúng ta chỉ nói LIGO kiểm chứng lý thuyết tương đối. Con số đo chính xác đến 10-19m của LIGO hay của Virgo hoàn toàn độc lập với bất kỳ lý thuyết nào. Sự co giãn của không thời gian do các thiên thể rơi vào nhau, phát hiện gần đây bởi các đài thiên văn sóng hấp dẫn (LIGO & Virgo), và được kiểm chứng tuy gián tiếp nhưng đầy thuyết phục từ các đài thiên văn cổ điển (sóng điện từ), một lần nữa, hoàn toàn độc lập với LTTĐ hay với bất kỳ lý thuyết nào.  Đây là thực nghiệm. Phát hiện thực nghiệm cho ta thấy một cách trực tiếp nhất bản chất của tự nhiên. Phát hiện thực nghiệm khẳng định sự hiển nhiên.     Thanksgiving, 2017       Author                Nguyễn Trọng Hiền        
__label__tiasang LIGO sẽ tăng gấp đôi năng lực dò      Một kế hoạch nâng cấp trị giá 35 triệu USD có thể khiến LIGO có khả năng điểm trúng một cuộc sáp nhập lỗ đen mỗi giờ vào giữa những năm 2020.      Việc điểm được sóng hấp dẫn mỗi giờ sẽ thành hiện thực vào thập kỷ tới. Bắt đầu vào năm 2023, LIGO sẽ trải qua một cuộc nâng cấp đáng kể nhất kể từ năm 2015. Các tổ chức đầu tư cho khoa học của Anh và Mỹ mới loan báo thông tin này vào ngày 14/2/2019.  Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ đang đóng góp 20,4 triệu USD cho dự án đài quan trắc Advanced LIGO Plus (ALIGO+), và Cơ quan Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Anh cung cấp một khoản trị giá 10,7 triệu bảng (13,7 triệu USD), cùng với một khoản đóng góp nhỏ của Australia. Việc nâng cấp ở cả hai địa điểm LIGO là Washington và Louisiana, sẽ bao gồm việc bổ sung thêm một buồng quang học chân không siêu cao dài 300m. Nó sẽ giúp các nhà khoa học có thể thao tác trên các tính năng lượng tử của các chùm tia laser tại trung tâm của hệ dò LIGO và cắt giảm tiếng ồn.  LIGO bao gồm cả các giao thoa kế hình chữ L tại Hanford, Washington, và Livingston, Louisiana, với mỗi cánh tay dài 4km. Đợt vận hành đầu tiên từ năm 2002 đến 2010, sau đó được tái khởi động vào năm 2015 sau những nâng cấp đắt đỏ.  Đài quan trắc này đã có kết quả dò đầu tiên vào tháng 9/2015 – sóng hấp dẫn từ một cuộc sáp nhập hai lỗ đen. Nó cũng mới bắt được tín hiệu từ 10 cuộc sáp nhập lỗ đen, cộng thêm một cuộc sáp nhập của hai ngôi sao neutron. LIGO đã trải qua những cuộc cải tiến định kỳ và giờ đang tái mở lại sau một đợt nâng cấp được thiết kế để nâng cao độ nhạy lên 50%.  Nâng cấp hệ thống  Nhưng những nâng cấp ALIGO+ sẽ có rất nhiều nét kịch tính. Nếu mọi chuyện theo đúng kế hoạch, LIGO sẽ có khả năng dò được các cuộc sáp nhập của sao neutron xảy ra trong vòng 325 megaparsecs (khoảng 1 tỷ năm ánh sáng) trái đất, Ken Strain – một nhà vật lý tại trường đại học Glasgow, Anh và lãnh đạo một liên doanh các trường đại học Anh đang chờ đợi sẽ nhận được nhiều kinh phí tài trợ của quốc gia này, cho biết. Có thể là gần gấp đôi thiết kế độ nhạy của 173 megaparsecs mà LIGO chờ đợi trước khi nâng cấp ALIGO+.  LIGO hiện đang sẵn có khả năng điểm được các lỗ đen cách hàng tỷ parsecs. Vào năm 2022, nó có thể dò được lỗ đen mỗi ngày và việc nâng cấp ALIGO+ có thể thúc đẩy độ nhạy lên mức cao hơn là cứ vài giờ sẽ dò được một sự kiện vũ trụ.  Những thay đổi này sẽ làm tăng chất lượng của các đợt quan sát, không chỉ ở tần suất phát hiện, cựu giám đốc LIGO Barry Barish cho biết tại một cuộc họp báo ở Washington DC. Ví dụ, việc cắt giảm tiếng ồn sẽ giúp các nhà khoa học biết về các lỗ đen quay trước khi chúng sát nhập như thế nào, vốn có thể cung cấp manh mối về lịch sử sáp nhập của chúng. “Nó sẽ trao cho anh năng lực để đo đạc nhiều điều mà giờ anh không thể thực hiện được”, Barish nói. Ông là nhà vật lý tại Viện Công nghệ California ở Pasadena và chia sẻ giải Nobel vật lý 2017 về chiến công dò được sóng hấp dẫn cùng hai đồng nghiệp khác.  Cắt giảm tiếng ồn  Các giao thoa kế sóng hấp dẫn hoạt động bằng việc so sánh liên tục độ dài của hai cánh tay của nó. Chúng làm được điều đó bởi các chùm tia laser bật nhảy giữa các cặp gương tại điểm cuối mỗi cánh tay, và sau đó khiến hai chùm tai phủ lấy một điểm trung tâm và chồng lên nhau. Trong lúc chưa có sóng hấp dẫn, sự giao động điện từ của các chùm tia được triệt tiêu. Nhưng nếu không – thời gian bị nhiễu và các cánh tay thay đổi độ dài, các chùm tia laser không còn triệt tiêu lẫn nhau nữa và một cảm biến bắt đầu dò.  Trong thực tế, các tấm gương không thể giữ được độ miễn nhiễm hoàn hảo với rung động nhiệt và địa chấn. Dẫu sao, bản thân tia laser cũng tạo ra tiếng ồn, vì bản chất ngẫu nhiên của vật lý lượng tử. Các nhà khoa học của LIGO đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để cắt giảm những nguồn phát tiếng ồn này và trích xuất được những tín hiệu từ bất kỳ tiếng ồn nào.  Việc nâng cấp LIGO này đang gần hoàn tất, bao gồm cả thực hiện một kỹ thuật có tên gọi là ánh sáng ép, vốn được các giao thoa kế Virgo ở gần Pisa, Ý áp dụng. Hệ ánh sáng ép của LIGO sẽ cắt giảm các dao động trong số lượng của các photon chạm tới cảm biến ánh sáng nhưng làm tăng cách các chùm tia đẩy tới những tấm gương xung quanh. Giống như không khí trong một tấm nệm không khi bị phồng một phần, âm thanh lượng tử có thể không hoàn bị loại bỏ mà chỉ chuyển vòng xung quanh.  Đợt cải tiến ALIGO+ sẽ giới thiệu kỹ thuật “ép phụ thuộc tần suất”. Có khả năng các giao thoa kế giảm bớt được cả áp suất lên các tấm gương và những biến động photon cùng một thời gian. Những cải tiến khác sẽ bao gồm những chiếc gương mới với các lớp phủ tiên tiến, vốn được chờ đợi là giảm  tiếng ồn nhiệt xuống 4 lần.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00573-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang LIGO tiếp tục phát hiện tiếng thì thầm từ vụ sáp nhập hai hố đen      Sau phát hiện lịch sử lần đầu tiên vào cuối tháng 9, đài quan sát đôi LIGO đã phát hiện ra sóng hấp dẫn một lần nữa vào ngày lễ tặng quà (Boxing day 26/12), theo những kết quả được công bố hôm 15/6 vừa qua.    Ảnh minh họa hai hố đen vặn xoắn tạo ra sóng hấp dẫn  Trước 4 giờ sáng ngày 26/12, nhà nghiên cứu Sathyaprakash thức giấc cùng một tin tức đáng mừng: sóng hấp dẫn đã được phát hiện lần thứ hai trong lịch sử.  Chiếc laptop của nhà vật lý lý thuyết từ Đại học Cardiff, nước Anh được đặt ở đầu giường khi ông ngủ có thiết lập chế độ báo động tự động khi nhận email từ máy tính ở bộ phận giao thoa kế Laser của Đài quan sát sóng hấp dẫn (LIGO).  “Tôi tỉnh dậy và kiểm tra máy tính. Và ngạc nhiên chưa, một sự kiện vừa xảy ra 2 phút trước,” ông nói. Vào 3:38:53 theo giờ quốc tế, đài quan sát đôi LIGO ở Louisiana và Washington đã ghi nhận được dấu hiệu sóng của hai vật thể khối lượng cực lớn – có thể là hai hố đen– ở cuối giai đoạn vặn xoắn giữa chúng.  Vào thời điểm đó, các nhà khoa học quốc tế tại LIGO và các cộng sự của họ tại đài quan sát Virgo, gần Pisa, Ý, đang bận rộn phân tích những khám phá đầu tiên của LIGO – sự kiện đã được khám phá vào ngày 14 tháng 9. Các nhà khoa học đã công bố kết quả tìm kiếm này vào tháng hai, gây ra sự chấn động toàn cầu. Họ sẽ đưa ra những phân tích đầy đủ cho sự kiện thứ hai sau một tuần nữa, Bruce Allen một nhà vật lý tại LIGO đồng thời là giám đốc điều hành Viện Vật lý Hấp dẫn Max Plank, Hanover, Đức cho biết.  Thành công thứ hai  “Điều đó thật dị thường, làm cách nào mà chỉ vài tháng sau sự kiện đầu tiên, chúng ta lại có được kết quả tiếp theo,” Sathyaprakash nhận định.  Khám phá thứ hai đã “chỉ ra rằng toàn bộ việc này không phải chỉ là một kiểu chó ngáp phải ruồi” Clifford Will, một nhà vật lý lý thuyết tại đại học Florida ở Gainesville nhận xét, ông không phải thành viên của nhóm nghiên cứu LIGO hay Virgo. Tưởng rằng khám phá lần đầu vào tháng 9 là một sự may mắn, nhưng thành công của sự kiện thứ hai này chỉ ra rằng có một số lượng lớn các cặp hố đen thường xuyên tạo ra các vụ sáp nhập ngoài vũ trụ. LIGO và Virgo có thể mong chờ những phát hiện xảy ra thường xuyên, Will nói “Đây sẽ là một hướng đi mới của thiên văn học.”  Einstein tiên đoán những chuyển động có gia tốc và chuyển động quay của những vật thể có khối lượng có thể tạo nên những gợn sóng trong cấu trúc không gian (ở phát hiện đầu tiên, trong 0,2 giây mà thiết bị đo được, vận tốc của hố đen tăng từ 30% đến 60% tốc độ ánh sáng). Ta có thể hình dung sóng hấp dẫn cũng giống như sóng âm thanh, nhưng di chuyển với vận tốc ánh sáng và có thể lan truyền trong chân không.  Những phân tích chi tiết khẳng định rằng tín hiệu thu được phải là của các gợn sóng từ các cặp hố đen (xem video trong link bên dưới). Lần này, tín hiệu từ sóng hấp dẫn kéo dài trong một giây, thay vì một phần năm giây như trong sự kiện đầu tiên. Sự kiện thứ hai bao trùm 27 lần xoay quanh nhau cuối cùng (vặn xoắn) giữa hai hố đen trước khi chúng sáp nhập. trong khi sự kiện đầu tiên chỉ có 5 vòng xoay. Điều này cho phép các nhà khoa học có thể kiểm chứng thuyết tương đối rộng với độ chính xác gấp đôi so với thí nghiệm ở phát hiện đầu tiên. Các tính chất cơ bản, khối lượng và spin, của hố đen sau va chạm có giá trị phù hợp với dự đoán của thuyết tương đối rộng.  Điều này vẫn đúng ngay cả khi sự kiện tháng 9 là “ầm ĩ hơn” so với sự kiện tháng 12. Cặp hố đen đầu tiên có khối lượng gấp 36 và 29 lần khối lượng Mặt trời. Trong khi cặp hố đen thứ hai có khối lượng gấp 14 và 8 lần khối lượng mặt trời và bức xạ phát ra có năng lượng chỉ bằng một phần ba lần đầu (ở cả hai trường hợp, các cặp hố đen đã chuyển động xoáy tròn quanh nhau hàng triệu hoặc hàng tỷ năm, nhưng LIGO chỉ có thể chụp bắt được vào giai đoạn cuối sự kiện, tại thời điểm tần số của sóng hấp dẫn tăng lên đột ngột trước khi hai hố đen hợp nhất, dải tần số này nằm trong vùng thu nhận của giao thoa kế tại LIGO.)  Quà tặng đúng lúc  Các nhà khoa học tại LIGO và Virgo ước tính cả hai vụ va chạm xảy ra cách xa chúng ta hơn 400 megaparsecs (megaparsec là đơn vị đo dùng trong thiên văn, 400 megaparsecs bằng 1,3 tỷ năm ánh sáng.) Nhóm nghiên cứu đã trình bày những nghiên cứu mới nhất của họ vào ngày 15 tháng 6 trong buổi họp của Hiệp hội Cộng đồng Thiên văn Hoa Kỳ ở San Diego, bang California, và được xuất bản trên tờ tạp chí Physical Review Letters.  Một cộng sự của LIGO tại đại học bang Pennsylvania thuộc đại học Park, Chad Hana, đặc biệt hứng thú với những khám phá gần đây nhất. Hana nhận được tin nhắn báo đến vào thời điểm lễ Giáng sinh ở Mỹ, và ông đang ở bên gia đình mình. Vì việc hợp tác nghiên cứu này yêu cầu các thành viên của nó phải bảo mật toàn bộ dữ liệu, vì vậy, Hana đã ngay lập tức bật khỏi ghế ngồi, lấy laptop và vào một phòng trống ở trên gác. Ban đầu, ông rất hoài nghi ông nói: “Tôi chỉ không nghĩ rằng vũ trụ đã thật hài hước khi gửi đến một kết quả đúng vào ngày lễ Giáng sinh.”  Tuy thế, ông nhanh chóng nhận ra rằng, mặc dùng những tín hiệu rất yếu, nhưng chúng là thật. Đây là một phép thử quan trọng cho phần mềm mà ông giúp thiết kế để xử lý các dữ liệu thu được từ hai đài quan sát. Hệ thống này có thể phát hiện ra những sự kiện kể cả khi mức độ nhiễu lên tới 50%, và không đưa ra quá nhiều báo động giả.  Những sự kiện khác  Cuối cùng, những báo hiệu tự động cũng ngay lập tức được thông báo tới hàng chục nhóm nghiên cứu thiên văn. Các nhà nghiên cứu này dự định sẽ đặt lại vị trí các kính viễn vọng của họ nhằm thu được ánh sáng nhìn thấy, hoặc các sóng điện từ có nguồn gốc từ các sự kiện tạo ra sóng hấp dẫn tương tự.  Trong 4 tháng kể từ sự kiện khoa học này (tháng 9 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016), Đài quan sát 620 triệu USD Advanced LIGO – một phiên bản nâng cấp của đài quan sát trước đó – đang đóng cửa để chờ nâng cấp, sẽ tái hoạt động vào tháng 9, cùng với đó là phiên bản Virgo mới nhất.  Những kết quả công bố vào thời điểm này đã hoàn thiện công cuộc tìm kiếm các vụ sáp nhập hố đen trong đợt hoạt động vào mùa thu của LIGO . Nhưng những nhà nghiên cứu đang liên kết dữ liệu thu được với những sự kiện khác – và có lẽ sẽ có những phát kiến xa hơn trước khi dự án tiếp tục một đợt tới. Cụ thể, dự án mang tên Einstein@home đang tìm kiếm những tín hiệu mới cùng với sự giúp đỡ từ các máy tính thuộc về các tình nguyện viên trên toàn thế giới.  Kết luận của người dịch  Việc đo được trực tiếp sóng hấp dẫn đã mang đến mở đầu cho kỷ nguyên mới của thiên văn học sóng hấp dẫn. Trước khi có phát hiện này, các nhà thiên văn vật lý và vũ trụ học có thể thực hiện các quan sát dựa trên bức xạ điện từ, và các thực thể hạt vi mô. Các miền phổ này có những giới hạn nhất định – không phải vật thể nào cũng phát ra ánh sáng và những bức xạ khác, và các bức xạ này có thể bị che khuất đằng sau những vật thể khác. Sóng hấp dẫn có thể khắc phục nhược điểm này, mang đến cho chúng ta những thông tin về quá trình tiến hóa sao, giúp kiểm chứng thuyết tương đối rộng, bên cạnh đó, sẽ tác động sâu sắc đến hoạt động nghiên cứu vũ trụ học trong tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lise Meitner- Nhà vật lý chưa bao giờ mất đi tính nhân văn      Có lúc nào đó tình cờ lướt xuống phía dưới hàng cuối của bảng tuần hoàn, nhìn vào số hiệu nguyên tử 109, ắt hẳn bạn sẽ nhìn thấy một nguyên tố có hoạt độ phóng xạ cao, không tồn tại trong thế giới tự nhiên và có độ bền bậc nhất trong số các nguyên tố dạng này với chu kỳ bán rã khoảng 7,6 giây: Meitnerium– một trong hai nguyên tố mang tên phụ nữ.     Lisa Meitner. Nguồn: researchgate.net  Nếu nguyên tố thứ nhất curium được đặt theo tên Marie Cuire, nhà khoa học hai lần đoạt giải Nobel mà ai cũng biết và ngưỡng mộ, thì nguyên tố thứ hai và cái tên Lisa Meitner chỉ quen thuộc với người trong giới. Dường như, ngoài giới khoa học thì không mấy ai biết đến nhà vật lý hạt nhân tiên phong nửa đầu thế kỷ 20 này. Tại sao vậy? Điều gì khiến tên tuổi của bà vẫn bị khuất lấp? Khi nhìn lại cuộc đời bà để tìm câu trả lời, người ta bỗng cảm thấy ngậm ngùi bởi quá nhiều bất công và sự vô lý mà bà phải hứng chịu như định kiến giới tồn tại trong khoa học cũng như sự không may mắn của số phận. Quá nhiều thách thức mà ngày nay thế hệ hậu sinh khó có thể hình dung được một cách đầy đủ…  Khó có chỗ đứng cho phụ nữ  Trong một bài viết ngắn “Looking back” (Nhìn lại), xuất bản trên Bulletin of the Atomic Scientists vào năm 1964, Lisa Meitner ở tuổi 88 đã tổng kết ngắn gọn cuộc đời làm vật lý của mình là “theo đuổi một thứ vật lý kỳ diệu trong suốt cuộc đời và được làm việc cùng những con người vĩ đại, đáng yêu” nhưng tất cả “luôn luôn không dễ dàng”. Quả thật, nếu nhìn lại định kiến với phụ nữ theo đuổi việc học đại học nói chung và làm khoa học nói riêng trong nửa đầu thế kỷ 20 thì mới thấy cụm từ “không dễ dàng” thực sự như thế nào.  Theo những dòng ngậm ngùi này, người ta biết rằng ở tuổi 13, Lise Meitner, con gái thứ ba trong gia đình một luật sư Do Thái ở Vienna, chợt nhận ra tình yêu với toán học và vật lý của mình lớn hơn với âm nhạc. Do đó, cô quyết tâm học lên đại học, dù phải tới sáu năm sau, các trường đại học ở châu Âu bắt đầu chính thức nhận sinh viên nữ. Năm 23 tuổi, cô mới vào được đại học.  Trong quãng thời gian này, nhà vật lý Ludwig Boltzmann – người phát triển những trụ cột nền tảng cho vật lý hiện đại và là người có ảnh hưởng lớn nhất với Meitner khi truyền cho cô niềm say mê cấu trúc nguyên tử của vật chất. Sau này, Lise vẫn còn nhớ những bài giảng sống động, thú vị của ông cũng như những buổi hòa nhạc buổi tối mà ông ưu ái mời cô tới dự. Người thứ hai có ảnh hưởng đến Meitner là Franz Exner, giáo sư hướng dẫn cô luận án tiến sĩ về “Thermal Conductivity in Non-Homogeneous Bodies” (Tính dẫn nhiệt trong các vật thể không đồng nhất) và đào tạo ra nhiều nhà vật lý tài năng như Egon von Schweidler, Stefan Meyer, Karl Przibram, Victor Franz Hess, Erwin Schrödinger…  Vào ngày 1/2/1906, Meitner trở thành người phụ nữ thứ hai được nhận bằng tiến sĩ vật lý ở trường Đại học Vienna. Năm 1906, thời điểm cô công bố bài báo độc lập đầu tiên “Some Conclusions Derived from the Fresnel Reflection Formula” trên Proceedings of the Imperial Academy of Sciences trùng khớp với thời điểm Vienna cùng với Paris, Cambrigde và Berlin là những trung tâm nghiên cứu về lĩnh vực mới, vật lý phóng xạ. Thủ đô của đế chế Habsburg có được vị trí này một phần là do độc quyền khai thác mỏ uranium ở St. Joachimsthal (Jáchymov) ở Bohemia – điểm khởi đầu sản xuất ra radium và các sản phẩm phụ phóng xạ của nó. Vào thời điểm đó, người ta không thể mua urani với số lượng lớn từ bất kỳ nơi nào ngoài mỏ này. Thông qua một thỏa thuận với Bộ Nông nghiệp, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Áo đã quản lý độc quyền. Với ưu thế đó, Franz Exner và các học trò có thể thực hiện nhiều thí nghiệm về phóng xạ, trong đó có Meitner với nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Physikalische Zeitschrift.    Trong vật lý, việc tạo ra hay quan sát một hiện tượng mới là một điều kỳ diệu nhưng hiểu được bản chất vật lý và giải thích được nó quan trọng không kém, thậm chí trong nhiều trường hợp còn sáng giá hơn, bởi nó sẽ dẫn đường đến với những kết quả mới. Đó chính là chỗ cho tài năng của Meitner “nở hoa”.    Thành công ban đầu này khiến nhiều người quan tâm đến nhà vật lý trẻ, trong đó có nhà sáng chế và nhà công nghiệp Áo Carl Auer von Welsbach với lời đề nghị cô về làm việc cho công ty của ông. Tuy nhiên Meitner đã khước từ lời mời đi kèm mức lương hậu hĩnh này bởi những vấn đề lý thuyết căn bản mới là mục đích của cô. Hơn nữa, cô gái trẻ đã có ý định rời Vienna. Cơ hội được tuyển dụng vào Viện Vật lý số 2 không nhiều do phải cạnh tranh với nhiều học trò của Exner và có thể còn lý do khác – một mối quan hệ không thành, được nhắc đến một cách mơ hồ trong các tài liệu về Meitner. Do đó, khi được nghe bài giảng của Max Planck, Meitner quyết định chuyển tới Berlin để mong “có được một số hiểu biết thực sự về vật lý” từ người thầy xuất chúng này.  Meitner đến Berlin mà không biết là ở các trường đại học Phổ lúc đó, phụ nữ chỉ được dự thính ở trường và chỉ khi vượt qua được kỳ thi gắt gao mới được phép theo học chính thức. Ngay cả Planck cũng chưa từng nhận học trò nữ nhưng rất nhanh chóng, ông đã chấp nhận Meitner và rất yêu quý cô. Với năng lực hiếm có, cô còn được Heinrich Rubens, Viện trưởng Viện Vật lý thực nghiệm dành cho một vị trí trong phòng thí nghiệm của mình, cơ hội để qua đó gặp nhà hóa học trẻ tuổi Otto Hahn, người đang kiếm tìm một nhà vật lý để hợp tác nghiên cứu về phóng xạ. Như cá gặp nước, Meitner đã nhận lời mời của Hahn bởi cô đang chờ được làm việc một cách bình đẳng với nhà hóa học phóng xạ dễ mến cũng trạc tuổi mình. Đó là sự khởi đầu cho một mối hợp tác và tình bạn kéo dài đến tận cuối đời với đầy rẫy vui buồn và để lại dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của cả hai.  Lisa Meitner và Otto Hahn trong phòng thí nghiệm vào năm 1912. Nguồn: The Conversation  Đi bằng cửa sau  Đến lúc này, tưởng chừng số phận đã sắp đặt cho Meitner một con đường sự nghiệp ổn thỏa: một môi trường khoa học đỉnh cao, một cộng sự tốt và đầy tiềm năng. Ở thời điểm bắt đầu, Otto Hahn, sinh sau Meitner vỏn vẹn bốn tháng, là tên tuổi đang lên, từng theo học Ernest Rutherford ở Montreal, và là trợ lý của Emil Fischer ở Viện Hóa số một tại trường Đại học Berlin. Quả thật, sự nhạy bén mang tính trực giác của Hahn và năng lực phân tích, phản biện của Meitner đã bổ sung cho nhau, đem lại một mối hợp tác hoàn hảo. Môi trường khoa học tại Viện Vật lý và những buổi seminar thứ tư hằng tuần do Heinrich Rubens khởi xướng, sau đó được Max von Laue kế tục, đã tạo ra một nhóm nhỏ xung quanh Max Planck, Walther Nernst và từ năm 1913, Albert Einstein cũng như Otto von Baeyer, James Franck, Gustav Hertz và những người khác. Trong bối cảnh đó, Hahn và Meitner có được thành công đầu tiên vào năm 1908 với việc phân lập được một chất phóng xạ mới là actinium C. Với việc giải thích được hiện tượng giật lùi hạt nhân vào năm 1909 của Hahn, họ đã có được một phương pháp phân tách các thành phần phóng xạ khác từ một chất và được xác định là những sản phẩm phân rã mới.    Trong công trình nghiên cứu về phổ năng lượng của bức xạ beta, Hahn và Meitner, cùng với Otto von Baeyer, đã phát triển được quang phổ kế beta từ tính đầu tiên tại Viện Vật lý. Vào năm 1915, họ đã dùng nó để tìm hiểu về phổ beta của gần như tất cả các nguyên tố phóng xạ.    Thế nhưng, những thách thức của cuộc đời Meitner mới thực sự bắt đầu. Meitner không được trả lương: vào thời điểm đó, không có lương cho một nhà khoa học nữ, chưa có tiền lệ. Ngoài ra, không giống như các đồng nghiệp nam, cô phải đến và rời viện một cách phi chính thức bằng cửa sau. Quy định này chỉ được gỡ bỏ khi tất cả các trường đại học của đế chế Phổ cho phép phụ nữ vào trường kể từ mùa đông năm học 1908/09. Lúc này, hỗ trợ của gia đình, dẫu không thật sự dồi dào nhưng cũng đủ giúp Meitner theo đuổi nghiên cứu mà không cần lương bổng. Vào năm 1912, sau năm năm nghiên cứu thành công, Meitner mới nhận được tháng lương đầu tiên khi được bổ nhiệm làm trợ lý của Max Planck, qua đó trở thành nhà khoa học nữ đầu tiên có tên trong “sổ lương” của một trường đại học Phổ. Cùng năm, Hahn là thành viên của Viện Hóa Kaiser Wilhelm (KWI) mới thành lập và điều hành một bộ phận nhỏ về hóa phóng xạ. Meitner được tuyển dụng vào viện, ban đầu với tư cách là thành viên “mời”, và khi đó Khoa hóa phóng xạ được thiết kế thành Phòng thí nghiệm Hahn-Meitner.  Trong thời điểm diễn ra Đại chiến thứ nhất, trong bối cảnh không có vật liệu nghiên cứu, nhờ mối quan hệ cũ tại Áo, Meitner có được các vật liệu phóng xạ cần thiết để tiếp tục nghiên cứu với Hahn. Do đó, vào những năm 1920, nghiên cứu tại Viện KWI tập trung vào bức xạ beta và gamma, có được hiểu biết về cấu trúc hạt nhân, lớp vỏ nguyên tử và các quá trình phân rã phóng xạ. Để ghi nhận thành công của Meitner, vào năm 1919, bà được Bộ Khoa học, nghệ thuật và Giáo dục Phổ trao danh hiệu giáo sư, một phần nhờ cả sự kêu gọi của hai nhà khoa học được trao giải Nobel Max Planck và Walther Nernst. Năm 1922, bà trở thành nhà vật lý nữ đầu tiên ở Đức nhận được chứng nhận đủ trình độ giảng dạy (Habilitation) từ Đại học Berlin và hai năm sau, cùng với Hahn, bà được đề cử giải Nobel Hóa học. Năm 1930, Meitner cùng với nhà vật lý Leó Szilárd – người vào cuối năm 1939 viết một bức thư xin chữ ký Einstein, nguyên cớ dẫn đến dự án Manhattan – giảng seminar về “Những câu hỏi về vật lý nguyên tử và hóa nguyên tử”.  Giải Nobel bị tước đoạt  Khi bắt đầu được công nhận, những tưởng Meitner có thể yên tâm với niềm say mê của mình thì bầu không khí Berlin trở nên căng thẳng khủng khiếp với sự ra đời và nắm quyền của Đảng Quốc xã. Là người Do Thái, Meitner bị sa thải nhưng vẫn được phép tới Viện KWI, chủ yếu là do không còn được nhận lương và mang quốc tịch Áo. Bà quyết định ở lại Berlin khi điều này còn có hiệu lực, bởi không muốn bị gián đoạn nghiên cứu với Hahn. Lúc đó, khởi nguồn từ thực nghiệm của Enrico Fermi, Meitner, Hahn và Fritz Straßmann đã làm thí nghiệm về việc tạo ra “các nguyên tố siêu uranium” được cho là tạo thành từ việc chiếu xạ uranium với các neutron – đây là các nguyên tố hóa học có số nguyên tử lớn hơn 92 và có đặc điểm là không bền vì dễ bị phân rã thành nguyên tố khác. Từ những kết quả này, cuốn sách duy nhất của bà “The Structure of the Atomic Nucleus” (Cấu trúc của các hạt nhân nguyên tử) được bà viết cùng trợ lý của mình là Max Delbrück, sau nhận giải Nobel Y sinh vào năm 1969.  Otto Hahn, Lise Meitner và Thủ tướng Đức Willy Brandt (thứ 2, 3, 4 từ trái qua) tại lễ khai trương Viện Hahn-Meitner vào năm 1958 tại Berlin. Nguồn: dpma.de  Họ là những nhà khoa học đầu tiên đo đạc được thời gian bán rã 23 phút của uranium-239 và xác định về mặt hóa học nó là một đồng vị của uranium nhưng không đủ khả năng tiếp tục thí nghiệm để đi đến kết luận hợp lý. Để giải thích chúng, Meitner phải nêu giả thuyết mới về một lớp phản úng mới và sự phân rã alpha của uranium, vốn chưa từng biết đến trước đây và bởi thiếu bằng chứng vật lý. Meitner đã phải thiết kế các thực nghiệm mới để tìm hiểu về quá trình diễn ra các phản ứng này. Tháng 5/1937, cả Meitner và Hahn đều xuất bản bài báo, một trên Zeitschrift für Physik với Meitner là tác giả chính và một trên Chemische Berichte với Hahn là tác giả chính. “Đây chắc chắn phải là quá trình bắt neutron của uranium-238, dẫn đến hình thành ba hạt nhân đồng phân của uranium-239. Kết quả này khó tương hợp với các khái niệm hiện tại về hạt nhân” là kết luận của Meitner.  Tình thế ngày một nguy hiểm với Meitner. Năm 1947, đủ bình tĩnh nhìn lại tất cả, bà cũng hối hận vì không rời Đức sớm như Albert Einstein hay James Franck. Có lẽ, sai lầm này khiến tính mạng bà bị đe dọa vì bà bị mất quyền công dân khi Đức xâm lược Áo. Trước tình thế nguy ngập này, Niels Bohr tìm một vị trí cho Meitner trong khu vực Scandinavia đồng thời vận động đồng nghiệp giải cứu bà. Một kế hoạch được vạch ra kỹ lưỡng với mức độ hoàn hảo: nhà vật lý Dirk Coster được giao trực tiếp đưa Meitner sang Hà Lan bằng tàu hỏa, còn bà phải đánh lạc hướng bằng việc ở lại viện đến khuya và nghỉ lại qua đêm ở nhà Hahn, sáng sớm khởi hành với hai chiếc vali nhỏ, 10 mark trong túi và một chiếc nhẫn kim cương mà Hahn trao phút cuối phòng khi bất trắc. Ngày 12/7/1938, người Đức cho bà qua biên giới vì nghĩ bà là vợ một giáo sư. Khi phi vụ thành công, Wolfgang Pauli gửi điện tín cho Coster là giờ độ nổi tiếng của ông vì ‘bắt cóc’ Lise Meitner cũng ngang với độ nổi tiếng vào năm 1923 khi phát hiện ra nguyên tố hafnium.  Rời Đức, Meitner tạm ở lại Copehagen cùng vợ chồng Niels Bohr, nơi cháu bà là nhà vật lý Otto Frisch cũng đang làm việc. Sau đó, Bohr thu xếp cho bà vị trí ở một phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân mới ở Stockholm, bà nhận lời vì có thể quay lại nghiên cứu theo hướng mình thích. Khi đến, bà thất vọng nhận ra thiết bị nơi này không phù hợp với nghiên cứu của mình và do đó, không có cộng sự nào hỗ trợ. Thậm chí, bà không được trao chìa khóa phòng thí nghiệm nên chỉ có thể tiếp tục nghiên cứu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Khi tới gặp Meitner vào tháng 12 nhân lễ trao giải Nobel của chồng mình là Enrico Fermi, Laura Fermi nhận thấy bà đã trở thành “một phụ nữ đầy lo âu, mệt mỏi với vẻ mặt căng thẳng như bất cứ người tị nạn nào khác”.    “Những người may mắn có được một trí tuệ sáng láng và một tài năng làm khoa học đều có bổn phận cao hơn trước khi khám phá, đó là bổn phận với nhân loại. Khoa học có thể được sử dụng cho mục đích xấu hoặc tốt; vì vậy phận sự của các nhà khoa học là phải làm cho thế giới này trở nên tốt đẹp hơn”. Lise Meitner    Ngôn ngữ và sự cô lập xã hội – bà nhanh chóng học tiếng Thụy Điển nhưng phát âm khó khăn – đã nhanh chóng theo gót sự cô lập trong khoa học. Do đó, bà vui mừng khi nhận được thư của Hahn, trao đổi về thực nghiệm mà ông và Straßmann tiến hành ở Berlin. Trong thư, Hahn đề nghị Meitner giải thích về những kết quả “lạ” của bức xạ neutron của uranium: quan sát thấy uranium “tách” thành những mảnh nhẹ hơn được họ cho là barium. Nhưng thực chất nó là gì? Thiếu sự hỗ trợ quan trọng của Meitner, Hahn không thể lý giải nổi hiện tượng. Sau đó do căng thẳng, Hahn và Strassmann đã gửi bài báo của mình tới Naturwissenschaften mà không chờ giải thích của Meitner.  Trong vật lý, việc tạo ra hay quan sát một hiện tượng mới là một điều kỳ diệu nhưng hiểu được bản chất vật lý và giải thích được nó quan trọng không kém, thậm chí trong nhiều trường hợp còn sáng giá hơn, bởi nó sẽ dẫn đường đến với những kết quả mới. Đó chính là chỗ cho tài năng của Meitner “nở hoa”. Trong ngày đầu tiên của năm 1939, trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, Meitner đã cùng Otto Frisch, giải thích thành công về mặt lý thuyết phản ứng phân hạch hạt nhân và tính được mức năng lượng cực lớn mà nó tạo ra, dựa trên công thức nổi tiếng của Einstein E=mc2. Meitner và Frisch viết bài báo và dự kiến xuất bản trên Nature vào tháng 2/1939 nhưng vì nhiều lý do mà bài báo không xuất hiện.  Sau chiến tranh, thật bất ngờ là Hahn được trao giải Nobel hóa học “cho khám phá về các hạt nhân nguyên tử nặng”. Đó là một bất công khủng khiếp với Meitner. Năm 1997, viết trên PhysicsToday, Ruth Lewin Sime cho rằng “việc bị loại của Meitner khỏi giải Nobel Hóa học có thể là kết quả của sự thiên kiến, mù quáng chính trị, không hiểu biết và vội vàng”. Trong lễ trao giải năm đó, theo nhật ký của Meitner, bà ngồi giữa những người tham dự, hy vọng mong manh là Hahn có thể sẽ đề cập đến tên mình, nhưng ông không hề.  Hẳn là bà rất thất vọng, nhưng có vẻ như bà cam chịu với sự hẩm hiu của mình và tự biện minh cho quyết định của Hahn. “Chắc chắn là Hahn xứng đáng hoàn toàn với giải Nobel. Không nghi ngờ gì về điều này nhưng tôi tin là Frisch và tôi đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc làm cho rõ ràng quá trình phân hạch uranium – cách nó được tạo ra như thế nào và tạo ra năng lượng ở mức nào, vốn là những điều xa lạ với Hahn”, bà viết trong một bức thư.  Tuy nhiên, vai trò của bà trong phát hiện ra phân hạch hạt nhân đều được cộng đồng khoa học ghi nhận. Thậm chí, bà còn được gọi là “mẹ của bom nguyên tử”, sau khi hai quả bom được ném xuống Hiroshima và Nagasaki, dù trước đó, bà đã từ chối tham gia dự án Manhattan vì lý do đạo đức. Bà đã nêu quan điểm của mình trong một bức thư đề tên Hahn nhưng rồi không gửi: “Những người may mắn có được một trí tuệ sáng láng và một tài năng làm khoa học đều có bổn phận cao hơn trước khi khám phá, đó là bổn phận với nhân loại. Khoa học có thể được sử dụng cho mục đích xấu hoặc tốt; vì vậy phận sự của các nhà khoa học là phải làm cho thế giới này trở nên tốt đẹp hơn”.  Meitner không gửi thư này cho Hahn, bởi có những dòng chất vấn Hahn về việc ông tham gia quân đội Đức, sử dụng hiểu biết của mình để làm vũ khí hóa học. Bà không bao giờ muốn làm tổn thương ai. Tình bạn của bà với Hahn vì thế bền chặt đến cuối đời. Và dẫu tình bạn của họ có nhiều thử thách nhưng chưa bao giờ bà cất tiếng thở than về bất cứ điều gì ảnh hưởng đến Hahn, thậm chí còn nhấn mạnh đến những phẩm chất cá nhân, sự duyên dáng và tình yêu âm nhạc của ông. Vào những năm 1950 và 1960, bà vẫn thường trở lại Đức trong các kỳ nghỉ với Hahn và gia đình ông.  Meitner qua đời trong khi đang thiếp ngủ tại Cambridge, Anh, vào ngày 27/10/1968 ở tuổi 89, sau Hahn và vợ ông vài tháng. Trên tấm bia mộ giản dị, Otto Frisch cho khắc dòng chữ “Lise Meitner, nhà vật lý chưa bao giờ mất đi tính nhân văn”. □  Anh Vũ tổng hợp  https://blog.degruyter.com/lise-meitner-a-physicist-who-never-lost-her-humanity/  https://nationalatomictestingmuseum.org/2022/03/12/women-of-science-series-lise-meitner/  https://www.newscientist.com/people/lise-meitner/  ————-  Trong cuộc đời mình, Meitner nhận được nhiều giải thưởng. Với công trình nghiên cứu về phổ beta, Meitner được trao Silver Leibniz Medal của Viện Hàn lâm Khoa học Phổ năm 1924; năm 1925, là nhà khoa học nữ đầu tiên nhận giải Ignaz Lieben của Viện Hàn lâm Khoa học Áo “cho luận thuyết về tia beta và gamma của các chất phóng xạ xuất bản năm 1922 đến năm 1924 trên Zeitschrift für Physik”… Theo tài liệu của Ủy ban Nobel, bà được đề cử giải Hóa học 19 lần vào giữa năm 1924 và 1948, 29 lần với giải Vật lý từ năm 1937 đến năm 1965, bởi những tên tuổi Arthur Compton, Dirk Coster, Kasimir Fajans, James Franck, Otto Hahn, Oscar Klein, Niels Bohr, Max Planck, Max Born, Werner Heisenberg…  Kể từ năm 2008, Hội Vật lý Đức và Áo đã tổ chức Các bài giảng Lise Meitner thường niên, trường đại học lập giải Lise Meitner cho vật lý hạt nhân, tương tự một chương trình xuất sắc của Hội Max Planck được thành lập vào năm 2018 nhằm thu hút và thúc đẩy những nhà khoa học nữ xuất sắc. Thêm vào đó, một chương trình mang tên bà được thiết kế để cấp học bổng cho các nhà khoa học nước ngoài (nam và nữ) đến Áo học tập.        Author                .        
__label__tiasang Lở đất đe dọa giấc mơ thủy điện Himalaya      Một nghiên cứu trên tạp chí Geophysical Research Letters về trận động đất năm 2015 ở Nepal cho thấy nhiều dự án đã bị quét sạch bởi các lở đất.      Đập Tehri và nhà máy thủy điện đậu ở chân đồi của dãy Himalaya Ấn Độ.  Vào đầu tháng 4/2015, khi đến Nepal lần đầu tiên, Wolfgang Schwanghart – nhà địa chất học, làm việc tại Đại học Potsdam, Đức đã bị sốc khi thấy nhiều đập thủy điện nằm trên địa hình dốc Himalaya. “Chúng trông khá bấp bênh”. Hai tuần sau, một trận động đất mạnh 7,8 độ rich-te xảy ra làm gần 9.000 người chết. Trận động đất cũng làm hư hại 31 dự án thuộc loại “bấp bênh”. Công bố của Schwanghart và cộng sự đã cho thấy, không phải như giả định của hầu hết mọi người là rung chấn phá hủy các dự án mà là sạt lở gây ra bởi trận động đất phá huỷ các dự án.  Nghiên cứu nhấn mạnh đến nguy cơ sạt lở đất do động đất gây ra đối với việc phát triển thủy điện ở dãy Himalaya – một điểm nóng toàn cầu về loại năng lượng này. Schwanghart nói: “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra một nhu cầu cấp thiết: cần phải đánh giá lại sự phát triển thủy điện ở dãy Himalaya”.  Nhóm nghiên cứu đã rà soát các báo cáo về các nhà máy thủy điện bị hư hại. Họ lưu ý, ở những nơi rung chấn động đất không quá mạnh, độ dốc của các bờ sông là một chỉ báo tin cậy về mức độ tàn phá. Họ đã phát triển một mô hình trải độ dốc của sông trong dãy Himalaya lên một bản đồ cường độ rung lắc từ trận động đất năm 2015. Nhóm cũng phát hiện ra một mẫu lặp lại, trong đó hiệu ứng kết hợp giữa rung lắc động đất và độ dốc của sông dẫn đến thiệt hại lớn nhất cho các nhà máy thủy điện. Việc tái hiện lại thiệt hại của các nhà máy này sau hậu quả của trận động đất đã xác nhận linh cảm của các nhà nghiên cứu: sạt lở đất đã phá hủy các địa điểm này.  Nhóm nghiên cứu đã áp dụng mô hình này để kiểm tra 273 dự án thủy điện đang được vận hành, đang trong quá trình xây dựng hay mới lên kế hoạch xây dựng ở Himalaya, Ấn Độ, Nepal và Bhutan. Kết quả cho thấy, một phần tư số đó có khả năng phải đối mặt với thiệt hại nghiêm trọng từ sạt lở đất. Tương tự, 10% các khu có tiềm năng thủy điện dọc theo các sông ở Himalaya cũng rơi vào tình trạng này.  Theo các nhà nghiên cứu, hiếm khi vấn đề này được giải quyết một cách đầy đủ, mặc dù sạt lở từ động đất gây thiệt hại về người nhiều nhất trên toàn cầu. Từ 2004 đến 2011, 49.000 vụ lở đất chết người – gần 60% tổng số lở đất toàn cầu – là do động đất gây ra.  Nghiên cứu mới này đã cho thấy có một cách tương đối đơn giản để xác định xem các trận sạt lở do động đất có gây ra vấn đề lớn cho một dự án thủy điện không, theo đánh giá của Dave Petley, một nhà địa chất tại Đại học Sheffield, Anh. “Việc này khá tinh tế.”  Mô hình này cũng sẽ giúp các nhà phát triển đánh giá chính xác hơn về các rủi ro tại các địa điểm dự kiến xây nhà máy thủy điện, theo David Gernaat, người lập mô hình tính toán tại Cơ quan đánh giá môi trường Hà Lan PBL, thành phố Hague.  Năm ngoái, Gernaat và các cộng sự đã nêu: gần 40% công suất thủy điện có khả năng được tạo ra với chi phí thấp là ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, tuy nhiên các phân tích chỉ tính đến rủi ro từ động đất, không phải do sạt lở đất. Điều này có nghĩa là “chúng tôi đã đánh giá cao tiềm năng thủy điện trong khu vực và đánh giá thấp chi phí”, Gernaat nói. Một số địa điểm mà nghiên cứu của Gernaat gợi ý phát triển thủy điện có thể dễ bị sạt lở đất – dù có hoặc không có động đất. Gernaat có kế hoạch đưa yếu tố nguy cơ sạt lở đất vào trong các đánh giá trong tương lai.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06212-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen giống hologram?      Theo một công trình mới do các nhà nghiên cứu ở SISSA, ICTP và INFN thực hiện, các lỗ đen có thể là các hologram, trong đó mọi thông tin để tạo ra một hình ảnh ba chiều được mã hóa thành bề mặt hai chiều.      Khi được xác nhận bằng lý thuyết lượng tử, các lỗ đen có thể phức tạp một cách đáng kinh ngạc và tập trung một lượng thông tin khổng lồ trong các dạng hai chiều, như những chiếc đĩa cứng lớn nhất tồn tại trong tự nhiên. Ý tưởng này có thể đặt cạnh Thuyết tương đối của Einstein, vốn miêu tả các lỗ đen như những vật thể ba chiều, đơn giản, hình cầu và trơn tru, như được miêu tả trong hình ảnh đầu tiên về lỗ đen năm 2019. Tóm lại, lỗ đen xuất hiện trong hình dạng ba chiều như các hologram.  Nghiên cứu này kết nối hai lý thuyết trái ngược nhau mới được xuất bản trên Physical Review X “Black Holes in 4-D N=4 Super-Yang-Mills Field Theory”.  Bí ẩn của các lỗ đen  Với các nhà khoa học, lỗ đen cho thấy những thách thức về lý thuyết bởi nhiều nguyên nhân. Ví dụ chúng là những đại diện tiêu biểu của những khác biệt vô cùng của vật lý lý thuyết về sự kết hợp của những nguyên tắc trong Thuyết hấp dẫn tương đối rộng của Einstein với vật lý lượng tử của hấp dẫn. Theo thuyết tương đối, các lỗ đen là những vật thể đơn giản không có thông tin. Nhưng theo vật lý lượng tử, do Jacob Bekenstein và Stephen Hawking đề xuất, chúng là những hệ tồn tại trong trạng thái phức tạp nhất bởi chúng được biểu thị bằng những entropy cực lớn, vốn đảm bảo sự phức tạp của một hệ và do đó chứa rất nhiều thông tin.  Nguyên lý toàn ảnh ứng dụng với các lỗ đen  Để nghiên cứu các lỗ đen, hai tác giả của nghiên cứu mới là Francesco Benini (giáo sư SISSA, cố vấn khoa học của ICTP và nhà nghiên cứu ở INFN) và Paolo Milan (nhà nghiên cứu SISSA và INFN) đã sử dụng một ý tưởng đã tồn tại 30 nămgọi là nguyên lý toàn ảnh. Các nhà nghiên cứu viết, “Nguyên lý mang tính cách mạng và phản trực giác này đề xuất một vấn đề là hành xử của một hấp dẫn trong một vùng cho trước trong vũ trụ có thể được miêu tả bằng những thuật ngữ của một hệ khác biệt, trong đó chỉ tồn tại ở vùng rìa của vùng đó và do đó trong một chiều thấp hơn. Và quan trọng hơn, trong sự miêu tả thay thế này (gọi là holographic), hấp dẫn không xuất hiện một cách rõ ràng. Nói cách khác, nguyên lý toàn ảnh cho phép chúng ta miêu tả hấp dẫn bằng một ngôn ngữ không chứa hấp dẫn, do đó tránh được mâu thuẫn với cơ học lượng tử”.   Những gì Benini và Milan đã làm là ứng dụng thuyết nguyên lý toàn ảnh về các lỗ đen. Theo cách này, cá đặc tính động lực học bí ẩn của chúng đã trở nên hiểu một cách rõ ràng hơn nhiều: tập trung vào dự đoán là các vật thể này có một entropy cực lớn và quan sát chúng trong những thuật ngữ của cơ học lượng tử, người ta có thể miêu tả chúng như một hologram – vật thể hai chiều, trong đó hấp dẫn biến mất nhưng chúng được tái tạo thành một vật thể ba chiều.  Từ lý thuyết đến quan sát  Nghiên cứu này chỉ là bước tiến đầu tiên tới một hiểu biết sâu hơn về các vật thể vũ trụ này và của các đặc tính biểu thị rõ đặc điểm của chúng khi cơ học lượng tử gặp thuyết tương đối rộng. Điều quan trọng nhất hiện nay là tại một thời điểm khi các quan sát trong vật lý thiên văn đang  không ngừng được thực hiện và phát triển. Hãy chỉ cần nghĩ đến việc quan sát các sóng hấp dẫn  từ sự nóng chảy của các lỗ đen, kết quả của sự hợp tác giữa LIGO và Virgo, hoặc thậm chí là lỗ đen từ Kính viễn vọng Chân trời sự kiện đã tạo ra hình ảnh lạ thường đó. Ở tương lai gần, chúng ta có thể có khả năng kiểm nghiệm những dự đoán lý thuyết của chúng ta liên quan đến hấp dẫn lượng tử như những thứ được nhắc đến trong nghiên cứu này bằng quan sát. Và điều này, từ một góc nhìn khoa học, có thể là một điều hoàn toàn khác biệt.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-06-black-holes-hologram.html.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen hay không lỗ đen: Trên kết quả về những va chạm sao neutron      Một nghiên cứu do các nhà khoa học GSI và các đồng nghiệp quốc tế thực hiện về sự hình thành của lỗ đen trong các vụ sáp nhập sao neutron được công bố trên tạp chí “Physical Review Letters” “Equation of State Constraints from the Threshold Binary Mass for Prompt Collapse of Neutron Star Mergers”.      Các mô phỏng trên máy tính cho thấy những đặc tính của vật chất hạt nhân đậm đặc đóng một vai trò quan trọng, vốn có mối liên hệ trực tiếp sự kiện sáp nhập vật lý thiên văn với các thí nghiệm va chạm ion nặng tại GSI và FAIR. Các đặc tính đó sẽ được nghiên cứu một cách cẩn thận hơn tại FAIR.    Với giải thưởng Nobel Vật lý 2020 cho những miêu tả các lỗ đen về mặt lý thuyết và cho khám phá một vật thể siêu khối lượng tại trung tâm dải Ngân hà, chủ đề lỗ đen ngày một thu hút sự chú ý. Nhưng lỗ đen hình thành trong những điều kiện thực tế nào? Đây là câu hỏi trung tâm của một nghiên cứu do các nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu ion nặng GSI Helmholtz (GSI Helmholtzzentrum für Schwerionenforschung) ở Darmstadt và các đồng nghiệp quốc tế thực hiện. Sử dụng các mô phỏng máy tính, các nhà khoa học đã tập trung vào một quá trình riêng biệt hình thành các lỗ đen từ sáp nhập của các ngôi sao neutron.  Các ngôi sao neutron chứa vật chất được nén hết sức đậm đặc. Thông thường, khối lượng gấp rưỡi mặt trời sẽ được nén xuống kích thước vài ki lô mét.  Nó tương tự hoặc thậm chí còn có mật độ đậm đặc cao hơn cả bên trong hạt nhân nguyên tử. Nếu hai ngôi sao neutron sáp nhập, vật chất bị nén thêm trong suốt quá trình va chạm. Điều này dẫn tàn dư sáp nhập tới bên bờ suy sụp thành một lỗ đen. Các lỗ đen là những vật thể compact trong vũ trụ, ngay cả ánh sáng cũng không thể vượt qua, vì vậy không thể quan sát các vật thể này một cách trực tiếp.  “Giới hạn cực trị là tổng khối lượng các ngôi sao neutron. Nếu nó vượt quá một ngưỡng nhất định thì sự suy sụp thành lỗ đen chắc chắn phải diễn ra”, tiến sĩ Andreas Bauswein từ Khoa Lý thuyết GSI, tổng kết. Tuy nhiên, khối lượng ngưỡng chính xác phụ thuộc vào các đặc tính của vật chất hạt nhân có độ đậm đặc cao. Đến nay người ta vẫn chưa hiểu rõ một cách chi tiết các đặc tính của vật chất có độ đậm đặc cao đó, đây là lý do vì sao các phòng thí nghiệm như GSI lại cho va chạm các hạt nhân nguyên tử – giống như một sáp nhập sao neutron nhưng ở quy mô nhỏ hơn nhiều. Trên thực tế, các va chạm ion nặng dẫn đến những điều kiện tương tự như sáp nhập của các ngôi sao neutron. Trên cơ sở những phát triển về mặt lý thuyết và thí nghiệm vật lý ion nặng, có thể tính toán các mô hình vật chất sao neutron, hay còn gọi là các phương trình trạng thái.    Trung tâm nghiên cứu ion nặng GSI Helmholtz  Sử dụng vô số các phương trình trạng thái, nghiên cứu mới đã tính toán ngưỡng ngối lượng có khả năng dẫn đến sự hình thành lỗ đen. Nếu vật chất sao neutron hay vật chất hạt nhân dễ bị nén lại – nếu phương trình trạng thái ‘mềm’ –  lập tức sự sáp nhập các ngôi sao neutron nhẹ có liên quan có thể dẫn đến sự hình thành của lỗ đen. Nếu vật chất hạt nhân ‘đặc’ và ít bị nén hơn, tàn dư ổn định hơn so với suy sụp hấp dẫn và tàn tích của sao neutron quay, có khối lượng lớn được hình thành từ va chạm đó. Do đó ngưỡng khối lượng cho suy sụp tự nó mang thông tin về đặc tính vật chất siêu đậm đặc. Nghiên cứu mới cho thấy ngưỡng dẫn đến suy sụp có thể thậm chí còn làm rõ liệu trong suốt quá trình va chạm, nucleon có phân rã thành các hạt quark hay không.  “Chúng tôi rất phấn khích về kết quả này bởi chúng tôi chờ đợi những quan sát trong tương lai có thể cho thấy khối lượng ngưỡng”, giáo sư Nikolaos Stergioulas của Khoa vật lý trường đại học Thessaloniki Aristotle tại Hi Lạp cho biết. Chỉ vài năm trước đây, người ta đã lần đầu tiên quan sát được sóng hấp dẫn từ một vụ sáp nhập sao neutron. Các kính thiên văn tìm thấy phản điện từ trường và dò được ánh sáng từ sự kiện sáp nhập. Nếu một lỗ đen được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình va chạm, phát xạ quang học của vụ sáp nhập rất mờ nhạt. Do đó, dữ liệu quan sát sẽ chỉ dấu có lỗ đen được tạo ra không. Cùng thời điểm đó, tín hiệu sóng hấp dẫn mang thông tin về tổng khối lượng của hệ. Các ngôi sao có khối lượng lớn thì tín hiệu sóng hấp dẫn mạnh hơn, vốn cho phép xác định khối lượng ngưỡng.  Trong khi các máy dò sóng hấp dẫn và kính thiên văn đang chờ những vụ sáp nhập sao neutron mới, nghiên cứu này được thiết lập tại Darmstadt để cso thể thậm chi hiểu về nó chi tiết hơn. Máy gia tốc mới tại FAIR, hiện đang được xây dựng tại GSI, sẽ tạo ra những điều kiện tương tự như điều kiện trong các vụ sáp nhập sao neutron. Cuối cùng, chỉ sự kết hợp của những quan sát thiên văn, các mô phỏng máy tính và các thực nghiệm ion nặng có thể giải quyết được những câu hỏi về những khối cơ bản của vật chất và các đặc tính của nó và bằng cách đó, họ sẽ làm sáng tỏ sự suy sụp để xuất hiện một lỗ đen như thế nào.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-black-hole-outcome-neutron-star.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen khổng lồ chưa từng thấy trong vũ trụ      Các nhà thiên văn Mỹ vừa phát hiện một lỗ đen khổng lồ với khối lượng bằng ít nhất 24 lần Mặt trời trong chòm sao Cassiopeia, phá vỡ kỷ lục mà các nhà khoa học công bố vào ngày 17/10 vừa qua liên quan đến một lỗ đen có khối lượng gấp 16 lần Mặt Trời trong thiên hà M33.      Lỗ đen mới phát hiện ở gần thiên hà lùn IC 10 cách Trái Đất 18 triệu năm ánh sáng. Nó thuộc nhóm lỗ đen được hình thành sau cái chết của những ngôi sao khổng lồ với khối lượng thường gấp 10 lần Mặt Trời.   V.N (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen lớn ở cụm thiên hà Virgo phát “nhạc”      Các nhà khoa học Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) vừa phát hiện một vụ nổ lớn cùng những âm thanh như “nhạc” phát ra từ một lỗ đen khổng lồ ở cụm thiên hà Virgo.  “Chúng tôi có thể nói rằng có nhiều âm thanh trầm và rất khác nhau phát ra từ thiên hà Virgo trong hầu hết khoảng thời gian của vũ trụ”, nhà khoa học William Forman thuộc Trung tâm vật lý học thiên thể Harvard-Smithsonian nói.    Bằng cách sử dụng đài quan sát tia X Chandra của NASA, các nhà khoa học đã thu thập được các dữ liệu về M87 – một thiên hà hình elip khổng lồ nằm trong cụm thiên hà Virgo và được xem là một trong các lỗ đen lớn nhất của vũ trụ, các nhà khoa học đã phát hiện ra hiện tượng trên.  Các nhà khoa học cho rằng vụ nổ cùng âm thanh này xảy ra khi các vật chất rơi vào lỗ đen. Đa số các vật chất sẽ bị lỗ đen nuốt chửng, tuy nhiên cũng có một số bị tống mạnh ra ngoài.  Theo giải thích của các nhà khoa học, các vụ nổ như thế thường xảy ra vài triệu năm/1 lần, ngăn khí nguội đi và hình thành các ngôi sao mới, và đây cũng là nguyên nhân khiến M87 vẫn giữ nguyên hình dạng elip.  (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen nhỏ nhất và nhẹ nhất vũ trụ      Các nhà khoa học của NASA cho biết vừa phát hiện lỗ đen nhỏ nhất và nhẹ nhất từ trước tới nay. Theo tính toán, lỗ đen này có đường kính chỉ 24km và nặng khoảng 3,8 lần khối lượng Mặt trời.      Nó nằm trong hệ XTE J1650-500 thuộc Dải Ngân hà, ở hướng nam của chòm sao Ara. Vệ tinh tia X Rossi Timing Explorer (RXTE) của NASA phát hiện ra hệ này vào năm 2001. Ngay khi phát hiện ra J1650 các nhà thiên văn đã nhận thấy rằng nó chứa một ngôi sao bình thường và một lỗ đen hạng nhẹ. Nhưng khối lượng lỗ đen chưa từng được đo đến độ chính xác cao.   Minh Anh (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen ở dải ngân hà cung cấp thí nghiệm về Thuyết tương đối rộng của Einstein      Các nhà thiên văn đã bắt được lỗ đen khổng lồ tại tâm thiên hà của chúng ta, đang kéo dài (bước) sóng ánh sáng do một ngôi sao chuyển động theo quỹ đạo tạo ra – gần ba thập kỷ sau lần đầu tiên họ dò thấy ngôi sao này. Sau khi Thuyết tương đối tống quát của Einstein dự đoán về hiện tượng dịch chuyển đỏ sóng hấp dẫn, các nhà vật lý thiên văn đã tìm hiểu về chúng nhưng đến tận bây giờ vẫn chưa dò được chúng trong các môi trường của một lỗ  đen.      Khi ngôi sao S2 băng qua lỗ đen ở trung tâm Thiên hà,  trường sóng hấp dẫn mạnh là nguyên nhân gây ra việc kéo dài bước sóng ánh sáng để chuyển thành dịch chuyển đỏ. Nguồn: Nature  Đây là một bước tiến lớn trong việc đưa chúng ta tới gần hơn hiểu biết về lỗ đen khổng lồ này”, Heino Falcke, nhà vật lý thiên văn tại trường đại học Radboud tại Nijmegen, Hà Lan, nhận xét. “Thật tuyệt vời là chúng ta có đủ khả năng để quan sát các ảnh hưởng sóng hấp dẫn này”.  Một nhóm nghiên cứu với nhiều thành viên thuộc các trường đại học và viện nghiên cứu tại Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, Thụy Sỹ, Hà Lna, Mỹ và Ireland do Reinhard Genzel ở Viện Vật lý ngoài trái đất Max Planck ở Garching (Đức) đã thông báo khám phá này tại một cuộc họp báo và công bố kết quat trên tạp chí Astronomy & Astrophysics.  Genzel và đồng nghiệp đã dõi theo hành trình di chuyển của ngôi sao mang tên S2 này kể từ đầu những năm 1990. Sử dụng kính viễn vọng tại Đài quan sát Nam Âu tại Chile, họ đã thấy nó di chuyển theo một quỹ đạo hình elip quanh hố đen khổng lồ nằm trong chòm sao Nhân mã và cách trái đất 26.000 năm ánh sáng. Với khối lượng gấp 4 triệu lần mặt trời, lỗ đen này sinh ra một trường hấp dẫn mạnh nhất trong dải Ngân hà. Do đó đây là nơi lý tưởng để săn tìm các hiệu ứng liên quan đến thuyết tương đối.  Vào ngày 19/5/2018 vừa qua, ngôi sao S 2 đã tiến gần hơn về lỗ đen này. Các nhà nghiên cứu đã dò được đường đi của nó bằng việc sử dụng nhiều thiết bị, trong đó có GRAVITY, một giao thoa kế  kết hợp ánh sáng từ 4 kính viễn vọng có đường kính dài 8 m và bắt đầu được vận hành vào năm 2016. “Với các đo đạc của chúng tôi, cánh cửa đã rộng mở với các nhà vật lý nghiên cứu về lỗ đen”, Frank Eisenhauer – một thành viên của nhóm nghiên cứu tại Viện Max Planck – cho biết.  GRAVITY đã đo được chuyển động băng qua bầu trời của S2; tại thời điểm chuyển động nhanh nhất, nó vèo qua với vận tốc hơn 7.600 km/s hoặc gần 3% tốc độ ánh sáng. Trong khi đó, một thiết bị khác đã nghiên cứu S2 chuyển động nhanh như thế nào khi hướng đến và ra xa trái đất, khi nó dao động qua lỗ đen. Kết hợp các quan sát cho phép nhóm của Genzel có thể dò tìm được dịch chuyển đỏ của ngôi sao S2 – trong đó miêu tả ánh sáng của sao bị kéo căng với các bước sóng dài hơn do lực hút hấp dẫn vô cùng lớn của lỗ đen khổng lồ. Hiện tượng này phù hợp với dự đoán của thuyết tương đối rộng.  “Những gì chúng tôi đo đạc được không thể miêu tả bằng định luật vạn vật hấp dẫn của Newton”, Odele Straub, nhà vật lý thiên văn tại đài quan sát Paris nói. Những quan sát trong tương lai về S2 có thể sẽ xác nhận những dự đoán khác của Einstein, như một lỗ đen tự quay kéo không thời gian theo quanh nó như thế nào.  “Các dữ liệu của họ thật đẹp”, Andrea Ghez, nhà thiên văn tại trường đại học California, Los Angeles, nhận xét. Chị hiện đang dẫn dắt một nhóm nghiên cứu cạnh tranh với nhóm của Genzel, và sử dụng kĩnh viễn vọng ở Hawaii để đo đạc đường đi quanh trung tâm Ngân hà của ngôi sao này.  Phái mất 16 năm để S2 hoàn thành một quỹ đạo quay quanh lỗ đen, vì thế cả hai nhóm nghiên cứu sớm chờ đợi hành trình gần nhất năm nay của nó. Nhưng Ghez cho rằng nhóm nghiên cứu của cô đang lập kế hoạch chờ đến cuối năm mới công bố kết quả nghiên cứu bởi trong ba sự kiện quan trọng trên chặng đường sẽ diễn ra vào năm 2018 này, mới chỉ có hai là đã diễn ra.  Vào tháng 4/2018, S2 đã đạt đến vận tốc tối đa trên tầm nhìn từ trái đất. Và tháng 5/2018, nó tiến gần hơn đến trung tâm dải Ngân hà. Và cuối tháng 8, đầu tháng 9, vận tốc ở mức thấp nhất trên tầm nhìn từ trái đất. “Phải mất 20 năm để đón nhận khoảnh khắc này. Chúng tôi sẽ đợi cho đến tận cuối của chặng đường, cho đến khi ngôi sao có thể hoàn tất bất kỳ hành động gì”, Ghez nói.  S2 đã sẵn sàng để bắt đầu chuyển động chậm hơn, theo hướng đi có thể quan sát được từ trái đất – cách tiếp cận sự kiện thứ ba trong năm. Và các nhóm nghiên cứu ở Mỹ và châu Âu đang chờ nó đến gần nhất. “Chúng tôi đang trong tình huống hấp dẫn nhất. Thật đáng thú vị”, Ghez nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05825-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ đen tại gốc thời gian      Các tác giả Niayesh Afshordi, Robert B.Mann &amp; Razieh Pourhasan (Đại học Waterloo) đưa ra một giả thuyết giải trình cách hiểu Big Bang. Họ hình dung Big Bang đã đột sinh từ sự hình thành một lỗ đen trong một vũ trụ có bốn chiều không gian. Giả thuyết này cung cấp câu trả lời cho cách hiểu Big Bang và loại bỏ thời kỳ lạm phát (inflation).     Theo các tác giả thì giả thuyết này có khả năng  kiểm chứng được. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của ba tác giả trên công bố tại Scientific American, tháng 8/2014.    Vũ trụ hiện tại có không gian ba chiều và một chiều thời gian. Và ta hãy gọi đó là vũ trụ ba chiều. Ta có thể nghĩ rằng trước Big Bang, vũ trụ đã sở hữu thêm một chiều không gian dư (extra dimension) nữa.                     Trong kịch bản chúng tôi đề ra thì vũ trụ ba chiều hiện tại chỉ là cái bóng của một vũ trụ bốn chiều (tức có bốn chiều không gian).  Một vụ nổ hướng nội (implosion) đã tạo nên một cấu trúc ba chiều chung quanh một lỗ đen: vũ trụ chúng ta chính là cái cấu trúc đó (xem hình 1).             Hình 1. Một vụ nổ trong vũ trụ bốn chiều có thể tạo nên vũ trụ ba chiều của chúng ta           Giả thuyết của chúng tôi dựa trên cơ sở của nguyên lý toàn ảnh (holography). Nguyên lý toàn ảnh (xem phần chú thích) là nguyên lý chuyển sự mô tả vật lý từ một không gian với số chiều này sang không gian với một số chiều khác.   Sự thắng lợi của nguyên lý toàn ảnh đã thuyết phục nhiều nhà khoa học rằng đây không chỉ đơn thuần là một phép toán học. Có lẽ ranh giới giữa các không gian với số chiều khác nhau là ít ổn định hơn chúng ta tưởng. Có thể các định luật của vũ trụ được tạo nên trong một không gian với số chiều nào đó và sau  được chuyển dịch sang một không gian với số chiều mà chúng ta quan sát được. Chúng ta sống trong không gian ba chiều nhưng nếu đào sâu vấn đề, chúng ta có thể thấy rằng nguồn gốc để trả lời các câu hỏi lại nằm trong không gian bốn chiều. Vũ trụ bốn chiều đáng được tư duy đến vì nó có thể cho phép chúng ta  hiểu được những bí ẩn về nguồn gốc và bản chất của vũ trụ chúng ta.  Hãy xét Big Bang- sự bùng nổ đầu tiên dẫn đến sự hình thành vũ trụ của chúng ta. Các nhà lý thuyết hiện đại cho rằng sau Big Bang là một thời kỳ “lạm phát” – một thời kỳ dãn nở cực nhanh làm cho kích thước vũ trụ tăng lên 1078 lần hoặc hơn. Song quá trình lạm phát này không hề cung cấp được một tia sáng nào vào câu hỏi điều gì đã gây nên Big Bang. Ngược lại giả thuyết vũ trụ bốn chiều mà chúng tôi giải trình sau đây có cơ giúp tìm hiểu được cái bí ẩn tối hậu là Big Bang và loại bỏ thời kỳ lạm phát.             Hình 2. Kính viễn vọng đặt tại Nam cực để truy tìm những thời điểm đầu tiên của vũ trụ. Ngày 17/3/2014 ,nhóm Bicep2 thông báo đã tìm thấy dấu vết phân cực của sóng hấp dẫn từ lạm phát. Điều này nếu đúng thì khẳng định được quá trình  lạm phát. Kết quả của Bicep2 cho thấy, mức quan sát được của sóng hấp dẫn có thể so sánh với mức các mật độ và nhiệt trong vũ trụ sơ sinh. Tuy nhiên kết quả của Bicep2 cần được kiểm tra xem những dữ liệu đó có thuộc về CMB (thuộc về phông-background) hay lẫn với bức xạ vi ba từ bụi các thiên hà thuộc bình diện phía trước phông-foreground).           Vũ trụ đã biết và chưa biết  Sự nghiên cứu của chúng tôi về vũ trụ bốn chiều phát sinh từ nhưng bài toán chúng ta gặp phải trong vũ trụ ba chiều. Vũ trụ học hiện đại có nhiều thành tựu rực rỡ song nhiều bí ẩn buộc chúng ta phải cầu cứu đến nguyên lý toàn ảnh.  Các nhà vũ trụ có thể mô tả lịch sử toàn vũ trụ bằng cách sử dụng một số phương trình (chủ yếu phương trình Einstein) và tập năm thông số sau: mật độ vật chất; mật độ vật chất tối; mật độ năng lượng tối; biên độ (amplitude) và hình dáng (shape) các thăng giáng lượng tử lúc sơ thời của vũ trụ.   Một hệ hình (paradigm) mô tả được nhiều quan trắc vũ trụ thu được trong nhiều tỷ năm và trong không gian cực lớn của vũ trụ là mô hình Vật chất Tối và Lạnh-Lambda (Lambda-Cold Dark Matter, Λ-CDM). Song hệ hình đó vẫn còn bỏ ngỏ việc chúng ta đối diện với nhiều bí ẩn chưa có câu trả lời.    Vấn đề 1: chúng ta không hiểu được năm thông số của mô hình Λ-CDM  Hãy xét mật độ của vật chất và năng lượng trong vũ trụ. Đã nhiều thập kỷ các nhà khoa học hiểu nhầm rằng vật chất thông thường – các nguyên tố tạo nên bảng Mendeleev – là dạng vật chất ngự trị. Bây giờ chúng ta mới vỡ lẽ hiểu được rằng đó chỉ là 5% của tổng năng khối lượng, còn lại 25% thuộc về vật chất tối (chỉ có tương tác hấp dẫn) và 70% thuộc năng lượng tối, vốn gây nên dãn nở vũ trụ với gia tốc (chứ không phải dãn nở chậm dần vì sức hút  hấp dẫn như người ta nghĩ). Vật chất tối và năng lượng tối là gì? Chúng ta không biết.  Có thể câu trả lời nằm trong việc thấu hiểu Big Bang – nguồn gốc đột biến của không thời gian trong một plasma của bức xạ và hạt ở nhiệt độ 1027 độ.  Khó lòng hình dung được tình huống vì sao sau Big Bang vũ trụ lại trở thành như ta quan sát được hiện nay: một vũ trụ có nhiệt độ đồng nhất và với một độ cong gần phẳng dẫn đến các góc của một tam giác có tổng bằng 180 độ.   Trong khuôn khổ vật lý hiện nay thì chỉ có lạm phát mới dẫn đến tình huống như vậy. Lạm phát đã là phẳng mọi chỗ có độ cong của vũ trụ và đã làm cho vũ trụ có nhiệt độ đồng nhất mọi nơi. Giống như một máy khuếch đại khổng lồ, lạm phát đã khuếch đại những thăng giáng nhỏ của mật độ năng lượng thành những vật thể có kích thước vũ trụ. Chính các thăng giáng này đã là mầm của các cấu trúc như thiên hà, sao, hành tinh và thậm chí các cơ thể sống như chúng ta.  Lạm phát được xem như một hệ hình (paradigm) có hiệu quả. Đã nhiều thập kỷ các nhà vũ trụ học truy tìm và nghiên cứu CMB (Cosmic Microwave Background), bức xạ tàn dư của thăng giáng mật độ thuở vũ trụ sơ sinh. Những kết quả của vệ tinh Planck của European Space Agency  cho thấy rằng, vũ trụ quả là gần như phẳng và đồng nhất (đây hai tiên đoán chìa khóa của lạm phát). Ngoài ra biên độ và hình dáng (shape) của các thăng giáng sơ khai quan sát được cũng phù hợp với việc khuếch đại chân không lượng tử bởi lạm phát.    Vấn đề 2: lạm phát là một quá trình khó hiểu   Điều gì đã khởi động lạm phát, điều này cần năng lượng lớn. Phải chăng do trường inflaton? Như chúng ta biết trường Higgs có thể đóng vai trò inflaton, Inflaton có hai nhiệm vụ: bảo đảm dãn nở vũ trụ và bảo đảm cấu trúc của vũ trụ hiện tại từ những thăng giáng nhỏ ban đầu trong năng lượng trường inflaton.  Song inflaton cũng không giải quyết vấn đề mà chỉ đẩy các vấn đề lùi lại một bước: chúng ta không hiểu được bản chất của inflaton, nó từ đâu đến và làm sao tìm được nó, và không biết nó có tồn tại hay chăng?  Và người ta cũng không thể hiểu lạm phát đã kết thúc như thế nào? đó là bài toán thoát ra (exit) của lạm phát. Nếu một trường nào đó khởi động lạm phát thì vì sao nó lại dừng lại? điều gì đã làm nó dừng lại?  Chúng ta cũng không có lời giải thích về 5 thông số của mô hình Lambda – CDM. Chúng ta cũng chưa có lời giải thích về bản chất vũ trụ trước lạm phát.    Vấn đề 3: chúng ta không hiểu được mọi việc bắt đầu như thế nào.  Một thách thức lớn của vũ trụ học là vấn đề Big Bang – một điểm kỳ dị tại đấy mọi định luật vật lý bị phá sản. Điểm kỳ dị là một vũ trụ không có thứ tự không có luật lệ nào cả. Khó lòng hiểu được từ một vũ trụ đó lại sinh ra một vũ trụ có mọi định luật như vũ trụ hiện tại.  Điểm kỳ dị là điều kỳ lạ song không phải là không quen thuộc: ta đã có hình tượng của điểm kỳ dị đó là tâm của các lỗ đen hình thành từ sự co lại của các sao lớn. Khi nhiên liệu hạt nhân đã bị đốt hết thì hấp dẫn thắng thế và sao co lại dưới lực hấp dẫn. Những sao ít nhất lớn hơn 10 lần mặt trời sẽ co lại và bùng nổ thành siêu tân tinh (siêu tân tinh loại II ). Nếu sao lại lớn hơn 15-20 lần mặt trời thì siêu tân tinh sẽ để một hạt nhân (core) co về lỗ đen.  Lỗ đen được hình dung là một vùng mà ánh sáng không thoát ra được. Biên vùng đó là một mặt hai chiều gọi là chân trời sự cố (event horizon), đây là biên giới từ đó có đường vào mà không có đường ra. Mọi vật rơi vào quá chân trời sẽ bị cô lập với thế giới bên ngoài.  Giống như Big Bang mọi định luật bị phá sản tại lỗ đen. Song điều khác là lỗ đen lại được bao quanh bởi mặt biên gọi là chân trời sự cố. Mặt này có tác động như một vỏ thiết giáp – nó ngăn không cho mọi thông tin nội tại về kỳ dị thoát ra ngoài. Chân trời ngăn không cho người bên ngoài biết được mọi sự cố tai biến của kỳ dị.  Chúng ta trở thành bất lực đối với điểm kỳ dị vì nó bị ngăn bởi một vỏ bọc. Mọi sự cố không thoát ra được cho nên không thể nào áp dụng những định luật gì để mô tả được những điều đã xảy ra và tiên đoán được những điều sẽ đến.  Nhìn từ xa, lỗ đen là một vật thể rất đơn giản. Lỗ đen chỉ còn là một cấu trúc phẳng phiu đặc trưng bởi khối lượng, momen góc (và có thể bởi điện tích nếu có). Các nhà vật lý gọi đặc trưng đó là “lỗ đen không có tóc”.  Ngược lại, Big Bang không có vỏ bọc nào cả. Big Bang không có – chân trời (mặt biên sự cố). Chúng ta mong muốn tạo một vỏ bọc cho điểm kỳ dị Big Bang tựa như chân trời sự cố của lỗ đen.  Các tác giả bài báo này chính đang làm việc đó khi đưa ra kịch bản trong đó Big Bang biến thành một ảo ảnh vũ trụ. Điều này sẽ giúp chúng ta thoát khỏi việc cần thiết phải thấu triệt mọi hệ quả bất thường và bí ẩn của Big Bang.  Thứ nguyên dư đã co lại (EXTRADIMENSIONAL COLLAPSE)  Hãy hình dung rằng vỏ bọc được hình thành sau một quá trình co vũ trụ – giống y như đường chân trời hai chiều của lỗ đen được hình thành sau quá trình co của một sao ba chiều. Như vậy nếu quá trình co nói ở đây được thực hiện trong một vũ trụ bốn chiều không gian thì chúng ta sẽ có một vỏ bọc ba chiều.   Ở đây ta gặp lại ý tưởng của Theodor Kaluza năm 1919 và sự phát triển của Oskar Klein năm 1920 về sự tồn tại những chiều dư (extra dimensions). Ý tưởng này bị lãng quên trong hơn nửa thế kỷ và được phục hồi nhờ LTD (Lý thuyết dây – String theory) năm 1980. Hiện nay các nhà vật lý đã sử dụng ý tưởng đó để xây dựng một vũ trụ gọi là vũ trụ màng (brane world).  Ý tưởng chính của vũ trụ màng là vũ trụ ba chiều của chúng ta chỉ là một vũ trụ con (subuniverse) nhúng trong một vũ trụ có số chiều không gian lớn hơn (bốn hoặc nhiều hơn). Và vũ trụ ba chiều của chúng ta sẽ được gọi là một màng còn vũ trụ lớn được tạm gọi là “siêu vũ trụ”. Mọi dạng khối lượng và năng lượng đều dán dính trên một màng ba chiều giống như một phim được chiếu trên một màn ảnh.   Chỉ riêng hấp dẫn là có thể thoát ra khỏi màng hay nói cách khác hấp dẫn thẩm thấu khỏi màng lan sang siêu vũ trụ có số chiều lớn hơn.  Hãy hình dung rằng siêu vũ trụ bốn chiều có thể tồn tại trước Big Bang. Chúng ta có thể tưởng tượng siêu vũ trụ được lấp đầy bởi những đối tượng như sao bốn chiều, thiên hà bốn chiều. Những thiên thể bốn chiều này có thể tiêu thụ cạn nhiên liệu giống như các thiên thể ba chiều và co lại thành lỗ đen.  Một lỗ đen bốn chiều sẽ được hình dung ra thế nào? Chúng phải có một – chân trời không phải là một mặt hai chiều như trong lỗ đen mà là một chân trời ba chiều không gian như trên đã nói.   Khi mô hình hóa một quá trình chết do sự co hấp dẫn của một sao bốn chiều chúng tôi thấy rằng trong nhiều trường hợp các vật liệu bị bắn ra từ vụ co hấp dẫn của sao có thể tạo nên một màng ba chiều dãn nở chậm quanh chân trời ba chiều (giống như hai mặt cầu bao quanh một quả cầu). Vũ trụ chúng ta là một màng ba chiều – đó chính là một hologram (toàn ảnh) của một sao bốn chiều – đã co lại thành lỗ đen. Như vậy, điểm kỳ dị Big Bang sẽ bị giấu kín đối với chúng ta sau một  chân trời ba chiều (xem hình 3).              Hình 3. Trong lý thuyết chuẩn Big Bang bắt đầu từ một điểm kỳ dị. Tuy nhiên điểm  kỳ dị là một điều đáng lo ngại : ở đấy mọi định luật vật lý phá sản và khó hình dung được từ kỳ dị có thể đột sinh một vũ trụ như chúng ta quan sát hiện tại. Thay vì điều đó, các tác giả bài viết này đưa ra giả thuyết mọi việc bắt đầu bằng sự cố một vũ trụ bốn chiều co lại thành một lỗ đen tại gốc thời gian. Vũ trụ của chúng ta được bảo vệ khỏi điểm kỳ dị ở tâm lỗ đen đó bởi một chân trời sự cố ba chiều. Trên hình vẽ, chúng tôi mô tả quá trình trong ba chiều bởi vì không ai biết được một vũ trụ bốn chiều trông ra như thế nào.             Giả thuyết này có thực tế không?  Giả thuyết này của chúng tôi có ưu điểm là loại bỏ được điểm kỳ dị (gắn liền với Big Bang). Vậy các vấn đề còn lại như tính gần phẳng và tính đồng nhất cao của vũ trụ thì sao?  Vì rằng siêu vũ trụ bốn chiều tồn tại trong một thời gian vô tận trong quá khứ cho nên nó có đủ thời gian để làm cân bằng mọi điểm nóng và điểm lạnh. Ngoài ra siêu vũ trụ vốn là phẳng cho nên vũ trụ của chúng ta cũng thừa hưởng được tính phẳng đó. Hơn nữa lỗ đen bốn chiều cũng không có tóc cho nên cái màng ba chiều cũng do đó mà phẳng phiu.  Vậy tính phẳng của vũ trụ chúng ta là sự tàn dư của quá trình co một của siêu vũ trụ  Như vậy giả thuyết của chúng tôi không những giải quyết vấn đề về tính gần phẳng và tính đồng nhất cao của vũ trụ mà không cần đến lạm phát và cũng đồng thời làm triệt tiêu mọi hệ quả khó khăn gây ra bởi điểm kỳ dị ban đầu.  Ý tưởng của chúng  tôi trông có vẻ kỳ lạ song có nhiều con đường để kiểm nghiệm. Một con đường đó là nghiên cứu CMB.   Chúng tôi có thể chỉ ra rằng các thăng giáng nhiệt trong siêu vũ trụ đó sẽ tạo nên những thăng giáng trên màng ba chiều và chúng lại làm nhiễu CMB bằng những đại lượng nhỏ song ghi đo được. Những tính toán của chúng tôi có khác với những dữ liệu cuối cùng của đài Planck của European Space Agency vào khoảng 4%. Song những chênh lệch này có thể do những hệ quả thứ cấp mà chúng tôi chưa tính đến.  Ngoài ra nếu lỗ đen bốn chiều có chuyển động quay thì màng ba chiều sẽ trông khác nhau theo các hướng, vậy về cấu trúc quy mô lớn thì vũ trụ chúng ta sẽ có tính bất đẳng hướng. Các nhà vũ trụ học có thể phát hiện được sự bất đẳng hướng này khi nghiên cứu các biến đổi tinh tế của CMB.   CC. biên dịch và chú thích  Đọc thêm:  Có những điều còn quan trọng hơn giải thưởng  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=7859  —                    [1] Nguyên lý toàn ảnh: năm1993 Gerard ‘t Hooft đề ra nguyên lý toàn ảnh  (holographic): theo nguyên lý này tồn tại một vật lý n chiều trên mặt biên mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1) chiều của hệ nằm trong mặt biên. Một ví dụ ứng dụng nguyên lý toàn ảnh: theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn.   Trong quang học hologram là bức ảnh 2 chiều có khả năng tái lập  một vật thể 3 chiều.  [2] Out of the White Hole: A Holographic Origin for the Big Bang. Razieh Pourhasan, Niayesh Afshordi and Robert B. Mann in Journal of Cosmology and Astroparticle Physics, Vol. 2014, Article No. JCAP04( 2014)005; April 2014.   [3] Out of the Darkness. Georgi Dvali; February 2004.  [4] The Illusion of Gravity. Juan Maldacena; November 2005.  [5] Origin of the Universe. Michael S. Turner; September 2009      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Lò đốt rác phát điện” ở Thái Bình, những thông tin thiếu trung thực      &#160;Sau khi đọc thông tin: Chủ nhân lò đốt rác phát điện “cầu viện” Tiến sỹ Việt, Tiến sỹ vật lý Nguyễn Văn Khải (hay còn gọi là ông già ozone) đã về ngay Thái Bình. Sau khi gặp “chủ nhân” tại&#160; nhà riêng xã Thái Giang, xem sơ đồ, nghe thuyết trình về cấu tạo, quy trình vận hành và xem những “nguyên liệu” xây dựng nên “lò đốt rác phát điện” được vứt bữa bãi ở sân, vườn nhà… Tiến sỹ vật lý Nguyễn Văn Khải đã trao đổi với tôi và nói “anh phải lên tiếng về những thông tin một số tờ báo nêu phản khoa học quá..”. Vậy đâu là những thông tin thiếu trung thực, lừa dối dư luận.    1. Công suất buồng đốt 20-30tấn/ngày đêm. Buồng đốt “lò đốt rác phát điện” của ông Kiên có hình trụ tròn, đường kính khoảng 50cm, chiều dài khoảng 0,5m, bên trong lò được xây bằng gạch chịu lửa, bên ngoài bọc tôn, không có cách nhiệt, không có bản vẽ chi tiết.. theo ông Kiên có thể đốt được 20-30 tấn rác/ngày đêm. Đây là thông tin không trung thực, không có cơ sở khoa học, lừa dối dư luận.   Bởi, với đường kính 50cm, chiều dài 0,5m, thể tích buồng đốt tối đa khoảng 1m3(V = hxpi(rxr) và tối đa đốt được 300-350 kg rác/ giờ, vì rác sinh hoạt độ ẩm thường xuyên 40%, khi có thức ăn thừa độ ẩm lên tới 65-70%.  Như vậy đốt liên tục 24 giờ tối đa cũng chỉ được 8,5tấn/ngày đêm.  Lò đốt rác SANKYO của Nhật Bản, nhập khẩu vào Việt Nam. Kích thước: dài: 2.56m, rộng: 1,45m, cao:2,0m, nặng 8,5 tấn, có 2 buồng đốt…công xuất đốt tối đa cũng chỉ đạt 450kg rác/giờ (( tương đương trên 10 tấn/24 giờ). Các lò đốt của Thái Lan cũng tường tự. Hiện các lò đốt rác này ở Việt Nam tỉnh nào cũng có, Vĩnh Phúc đã lắp đặt trên 40 lò cho các địa phương, Thái Bình cũng có vài lò đốt rác ở các địa phương.              Cấu tạo lò đốt rác SANKYO           2. Nhiệt độ lò đốt 1600-2000độ C, nhiên liệu cháy hết không còn cả tro than. Theo chúng tôi có lẽ vì “tin vịt” này mà “nhà doanh nghiệp Nhật Bản” vội tìm đến để mua bản quyền. Vì lò đốt rác SANKYO của Nhật, nặng 8,5 tấn, có 2 buồng đốt, và buồng đốt được xây bằng 2 lớp gạch chịu nhiệt, chịu lửa, bê tông chịu nhiệt, bê tông chịu lửa, sợi ceramic, vỏ kết cấu thép dày 6mm…nhiệt độ tối đa trong lò cũng chỉ đạt 800 – 1000độC. Các lò đốt rác của Thái Lan, Đức…..nhiệt độ tối đa trong lò cũng tương tự đạt 800 – 1000độC.    “Lò đốt rác phát điện” với kết cấu lò xây một lớp gạch chịu nhiệt, vỏ bọc bằng lớp tôn mỏng…nếu nhiệt độ lò 1500 – 2000 độC, sau vài tiếng lò đã nổ tung từ lâu rồi. Có lẽ người Nhật chán sống, muốn tìm bí quyết “nổ tung lò” nên đã tìm đến mua bản quyền. Theo tôi, không nên bán mà biếu không công nghệ và quy trình vận hành “lò đốt rác phát điện” để sau thời gian ngắn các nhà máy, công xưởng ở Mỹ, Nhật “nổ tung” hết, khi đó Việt Nam sẽ vươn lên thành cường quốc về công nghệ.             Tác giả và tua bin của “lò đốt rác phát điện”           Còn về tin “không còn tro than sau khi đốt lò”, xin thưa với “tác giả “: Với 2 quạt công suất lớn thổi không khí vào lò thì đá cũng phải bay lên mây chứ chưa nói gì đến tro, than. Tro than bay đi đâu thì tôi không biết, nhưng chỉ biết ngày 24/8/2011 tôi đến khảo sát “lò đốt rác phát điện” toàn bộ quần áo của tôi đã một màu của tro, bụi, tôi đã nói đùa với ông: “ông phải đền tôi 1 gói omo nhé”.   3. 1 kg rác sẽ được 1,5 KW điện, 1kg gỗ sẽ đươc 4-5 KW điện. Với “tin vịt” như thế này, không riêng gì người Nhật, mà cả thế giới đều sửng sốt và đều muốn có ‘bản quyền phát minh” trong tay. Đọc những thông tin này cho thấy đây chỉ là những “tin vịt”, vì cả người nói và người viết đều không có chút kiến thức nào về nhiệt lượng, năng xuất tỏa nhiệt và công xuất tỏa nhiệt tương đương của nhiên liệu…   Theo từ điển bách khoa điện năng, năng suất tỏa nhiệt (là nhiệt lượng tỏa ra khi 01kg nhiên liệu bị đốt cháy hoàn toàn) của một số nhiên liệu như sau: Củi khô: 10.106J/kg (Jun); than bùn: 14.106J/kg; than gỗ: 34.106J/kg; xăng: 46.106J/kg; than đá: 27.106J/kg.  Công thức tính nhiệt lượng do nhiên liệu bị đốt cháy tỏa ra: Q = q x m (q: năng suất tỏa nhiệt; m: khối lượng của nhiên liệu bị dốt cháy hoàn toàn), đơn vị tính Kcal(kilocalo): 1kg củi khô cho nhiệt lượng: 2.100Kcal; 1kg củi trấu: 3.900kcal; 1kg củi rơm rạ: 3.900kcal….  Công suất phát nhiệt tương đương( (Kg/Kwh): 1kg trấu = 0,5Kw điện; 1,1 kg củi = 1Kw điện; 1kg rác = 0,45Kw điện…  Như vậy, thông tin đốt 1 kg rác sẽ được 1,5 KW điện, 1kg gỗ sẽ đươc 4-5 KW điện là hoàn toàn không có cơ sở khoa học, chỉ là “ý tưởng” của những người ngoài hành tinh mà thôi. Ông Kiên còn nói: “thậm chí cả đá đưa vào trong lò cũng trở thành tro bụi”, thật hết nói.  4. “Lò đốt rác phát điện” cung cấp đủ điện cho 20 hộ gia đình.” Những ngày đầu hè nắng nóng, mất điện, cả xã Thái Giang như hừng hực lên trong không khí oi bức của mùa hè, thì chỉ duy nhất có nhà anh Bùi Xuân Kiên sáng rực điện, quạt chạy như thường” (đây là một đoạn trong bài báo viết về “lò đốt rác phát điện”). Với những “tin vịt” kiểu này tại sao người Mỹ, người Nhật không cuống cả lên mới lạ.  Phải nói cho rõ, đây là “tin vịt”. Cả 3 lần thử nghiệm, tôi chứng kiến, chỉ duy nhất một lần “nhấp nháy đỏ sợi tóc” của 5-10 bóng điện 100W. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Quang (Viện KH&CN Nhiệt lạnh – Đại học Bách khoa Hà Nội) khi trực tiếp khảo sát mô hình đã kết luận: “Về mặt tổng thể với mô hình hiện tại, việc phát điện chỉ mang tính trình diễn, với việc điện phát chỉ có thể làm sáng các bóng đèn sợi đốt. Chất lượng điện ra không đảm bảo về tần số để có thể sử dụng cho việc khác”  thế là đã rõ.   Từ trước, thuở xã Thái Giang có điện đến nay, hàng tháng, gia đình ông Kiên và hàng xóm xung quanh vẫn phải sử dụng điện của EVN và đều đều trả tiền họ (hóa đơn tiền điện hàng tháng tại xã Thái Giang.). Một câu hỏi đặt ra, mô hình chưa thành công, nhà mình vẫn phải sử dụng điện của EVN, thì làm sao có điện cung cấp cho các hộ xung quanh; kiểu tung ‘tin vịt” này nhằm mục đích gì?             Tác giả và “lò đốt rác phát điện”           5. Tôi đã chế tạo một số mô hình áp dụng cho doanh nghiệp trong tỉnh rất hiệu quả, tiết kiệm cho họ 7 triệu tiền củi một ngày, trong khi chi phí lắp đặt là 25 triệu. Cũng có khoảng 20 doanh nghiệp đến đặt hàng tôi, nhưng tôi chưa nhận lời ai..  Đây lại là “tin vịt” kiểu bán hàng ” mua ngay kẻo hết” hay truyện Trạng Quỳnh cởi trần trên sông “Cấm ai nói với ai”.  Xin thưa với tác giả, tôi nguyên là Phó chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ tỉnh Thái Bình và hiện nay là Thành viên Ban cố vấn cho Hiệp hội Doanh nghiệp Thái Bình, với trên 350.000 doanh nghiệp trong tỉnh, tôi chưa thấy bất kỳ doanh nghiệp nào sử dụng  công nghệ “lò đốt rác phát điện” của tác giả Bùi Khắc Kiên vì như các nhà khoa học cả TW và địa phương đều khảng định: “mô hình chưa thành công”.  6. Kết kuận. Trong thời đại công nghệ thông tin, mọi thông tin phải chuẩn xác, vì các thông tin đều được xã hội kiếm chứng. Mọi thông tin thiếu trung thực, kiểu ‘tin vịt’ sẽ dễ dàng bị lột tẩy bằng cơ sở khoa học.  Tôi dùng ý kiến của Ông Phan Vinh Quang, Phó Giám đốc Văn phòng Chứng nhận hoạt động Công nghệ cao – Bộ KH&CN tại buổi làm việc giữa các chuyên gia Bộ KH&CN, Đại học BKHN, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, lãnh đạo các sở ngành, địa phương tỉnh Thái Bình, ngày 26/7/2012 tại gia đình ông Bùi Khắc Kiên để thay lời kết của bài viết này…  – Đây là kết luận cuối cùng của Bộ KH&CN đối với trường hợp “lò đốt rác phát điện” của ông Kiên.  – Anh Kiên đừng nghĩ đến phát điện và không bao giờ nghĩ đến phát điện vì không đủ kiến thức, phương tiện. Làm ra gia đình còn chẳng dùng được… nên anh đừng có mơ tưởng phát điện nữa.  – Đừng mày mò tự làm, không an toàn, gây tốn kém kinh tế cho gia đình..  – Nếu có làm thì làm lò đốt rác, đốt rơm rạ…  – Dây chuyền nên dỡ ra cho gọn, tận dụng bán phế liệu, để không an toàn  – Nếu anh muốn đốt phải xin phép sở KH&CN, Sở Công thương, Sở TN&MT… vì an toàn và môi trường. Người ta cấm là đúng vì an toàn và môi trường….  ——  *TS. Ủy viên Hội đồng TW, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam             Lò đốt rác ở Cẩm Khê-Phú Thọ         Lò đốt rác ở Kinh Môn-Hải Dương                       Lò đốt rác ở Tiền Hải – Thái Bình          Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò luyện nhân tài      Điều g&#236; sẽ xảy ra nếu như tr&#234;n thế giới n&#224;y người ta kh&#244;ng chỉ săn l&#249;ng c&#225;c cầu thủ b&#243;ng rổ t&#224;i ba m&#224; l&#249;ng t&#236;m cả c&#225;c nh&#224; khoa học xuất ch&#250;ng đủ khả năng giải quyết những vấn nạn to&#224;n cầu.    Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đông bắc Bronx trong những năm tám mươi khi mà những cầu thủ như Michael Jordan và Dominique Wilkins được mọi người tôn vinh như những vị anh hùng. Phần lớn bạn bè tôi, kể cả tôi, đều ước mơ một ngày nào đó được chơi trong NBA. Tất nhiên bọn chúng tôi cũng khoái chơi bóng rổ. Nhưng bóng rổ còn có một điều hấp dẫn nữa vì với các vận động viên có xuất xứ và điều kiện  xã hội như bọn tôi thì ngoài việc buôn lậu ma túy thì chỉ có môn thể thao này mới có thể mang lại sự giàu có và địa vị cao trong xã hội.  Mặc dù tôi yêu thích các môn khoa học và toán học khá sớm nhưng tôi vẫn hay trốn học để có mặt nhiều giờ liền trên sân bóng rổ  P. S. 16. Tại đây nhiều khi tôi luôn tưởng tượng một ngày nào đó sẽ có mặt trong đội tuyển nhà trường và có khả năng thực hiện những cú xoay người 360o tung bóng vào rổ. Nhưng rốt cuộc tôi chẳng có mặt trong đội tuyển cũng như không thể thực hiện những cú tung bóng ngoạn mục, chuẩn xác.Khi tôi 15 tuổi, trong một lần tung người ném bóng tôi bị trượt chân và bị chấn thương đầu gối. Tôi buộc phải ngừng chơi bóng nửa năm trời và lại cặm cụi làm bài tập và đi học rất đều đặn. Phần lớn các bạn chơi bóng rổ với tôi thời đó không tốt nghiệp nổi trường trung học. Mặc dù họ chơi bóng rổ giỏi hơn tôi nhiều nhưng cuối cùng cũng chỉ có một người có mặt trong NBA. Một vài người khác rơi vào tầm ngắm của những tay săn lùng các cầu thủ tài năng và cuối cùng họ cũng có mặt tại một trong mười câu lạc bộ bóng rổ hàng đầu nước Mỹ. Cho đến tận bây giờ, mỗi khi có dịp trở lại nơi ở cũ của mình tôi vẫn bắt gặp một số bạn bè thủa ấy, chưa tốt nghiệp trung học, vẫn tập những đường chuyền bóng cơ bản như thời còn học phổ thông xa xưa.               Stephon Alexander, Giáo sư Vật lý tại Đại học Haverford College  bang Pennsylvania. Ông nghiên cứu về vật chất tối, phản vật chất và  Quantengravitation– ông còn chơi nhạc  Jazz với kèn Saxophone.         Đúng vào cái năm tôi bị chấn thương đầu gối tôi nhận được học bổng của một quỹ tư nhân và được tham dự một trại hè vật lý dành cho thiếu niên (ISI, International Summer Institute). Trại được tổ chức tại Southampton, Long Island, đây là nơi hoàn toàn khác so với những vùng mà tôi từng biết đến. Phần lớn thành viên tham dự trại đều từ nước ngoài tới. Tôi làm quen, kết bạn với những con người rất xa lạ với mình, thí dụ với Hong, một học sinh Hàn Quốc.  Suốt cả mùa hè cậu ấy chỉ cặm cụi tính toán những con số sau dấu phảy của số Pi. Tôi cũng kết bạn với một nhóm toàn những người ham mê môn cờ vua mà huấn luyện viên của họ là một kiện tướng cờ vua người Nga. Còn tôi chọn môn vật lý bậc đại học. Phần lớn các học sinh tham dự trại hè này sau này đều trở thành những nhà khoa học tài ba, cho đến tận ngày nay tôi vẫn giữ liên hệ với một người bạn từ thời đó. Cũng vào dịp đó tôi quen biết người tổ chức trại hè, đó là một người đàn ông mà suốt cả mùa hè luôn khoác một cái áo da, đó là nhà khoa học Sheldon Glashow, người từng được giải thưởng Nobel (rất tình cờ là hồi trung học ông đã học tại một trường gần với trường của tôi). Ông đã có một bài nói chuyện về nhập môn vật lý. Qua đó tôi mới biết trên đời này còn có những don – có thể khác các cầu thủ bóng rổ , nhưng vẫn có khoản thu nhập đáng kể, cần thiết. Nhưng còn có một điều quan trọng hơn với tôi lúc đó: bọn trẻ chúng tôi khi đó đã tạo ra được một sự liên kết, gắn bó thực sự và ở chừng mực nào đó chúng tôi đã trở thành một cộng đồng toàn cầu gồm các nhà khoa học tương lai. Khi trở về Bronx thực sự tôi không kể gì nhiều về  những ấn tượng của mình ở trại hè. Rõ ràng là sự thảo luận về hệ thức bất định của  Heisenberg đâu có thú vị bằng những cuộc tán gẫu trên sân bóng rổ. Tôi chơi bóng rổ ngày càng thưa thớt hơn và cuối cùng tôi vào đại học và trở thành nhà vật lý. Tuy vậy tôi luôn thấy áy náy trong lòng. Tận đáy lòng mình tôi  biết một thiên tài toán học ở ngay gần nơi tôi sinh sống, đó là một gã tên là Eric Deabreu. Ấy vậy mà cậu ta không tài nào tốt nghiệp nổi bậc trung học.           “… Tôi cho rằng nếu chúng ta quảng bá tinh thần nghiên cứu khoa học đến mọi ngóc ngách của Trái đất này với sự nhiệt tình, năng nổ và quyết tâm như đi tìm các tài năng bóng rổ ở mọi sân bãi, tại tất cả những nơi có thể chơi bóng rổ, thì thế giới này sẽ có biết bao đổi thay…”.                           Stephon Alexander          Giá như mà trên thế giới này có một tổ chức quốc tế gồm các nhà khoa học và sư phạm chuyên lùng tìm nhân tài, những kẻ có tài năng tiềm tàng như Michael Jordan trong khoa học – bất chấp kẻ đó ở đâu trên Trái đất này và thành phần xã hội ra sao? Trong phạm vi khu vực đã có những tổ chức săn lùng như vậy, nhưng trên phạm vi quốc tế thì điều này chưa có. Điều gì sẽ xảy ra nếu  những học sinh này có đầy đủ các  điều kiện để phát huy hết tiềm năng của mình và họ có thể tự mình đứng ra thành lập một cộng đồng toàn cầu gồm các bạn bè, đồng nghiệp làm công tác nghiên cứu khoa học? Kết quả sẽ là, bên cạnh nhiều điều ưu việt sẽ có một sự phối hợp toàn diện để tấn công vào những vấn đề khoa học gai góc nhất và cũng khẩn cấp nhất đang được đặt ra trước các thế hệ ngày nay và mai sau, đó là: khủng hoảng năng lượng, sự biến đổi khí hậu toàn cầu, HIV, quan hệ đối ngoại vv… Tôi cho rằng nếu chúng ta quảng bá tinh thần nghiên cứu khoa học đến mọi ngóc ngách của Trái đất này với sự nhiệt tình, năng nổ và quyết tâm như đi tìm các tài năng bóng rổ ở mọi sân bãi, tại tất cả những nơi có thể chơi bóng rổ, thì thế giới này sẽ có biết bao đổi thay. Từ lâu tôi đã ước nguyện có một tổ chức đứng ra lo liệu, thực hiện sáng kiến này và trên cơ sở những nỗ lực đã được thực hiện trong thời gian qua thông qua một số thành viên thuộc cộng đồng các tổ chức khoa học cỡ như Clifford Johnson, Jim Gates và Neil Turok, tôi tin rằng, bản thân mình sẽ được chứng kiến sự hoạt động của tổ chức này.  Xuân Hoài  dịch ( Spiegel 30.7)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lo ngại quanh dự án đưa nước Biển Đỏ vào Biển Chết      Kế hoạch xây một đường ống dẫn nước từ Biển Đỏ nhằm cứu Biển Chết đang dần  khô kiệt đã được cân nhắc triển khai trong tháng Hai vừa qua, nhưng các nhà hoạt động môi trường khẳng định có những giải  pháp khác giúp cứu Biển Chết với chi phí rẻ hơn và ít  tác động hơn tới hệ sinh thái của khu vực.    Nếu dự án này được hoàn thành, đường ống dài 180 km được chôn dưới đất sẽ giúp vận chuyển 2 tỷ m3 nước biển mỗi năm từ Vịnh Aqaba ở Biển Đỏ qua lãnh thổ Jordan vào Biển Chết.  Biển Chết là khu vực thấp nhất trong đất liền. Đã có những đề xuất xây dựng đường ống theo cách dẫn dòng nước chảy xuống qua một nhà máy thủy điện, và nhà máy này sẽ cung cấp năng lượng cho một nhà máy lọc nước mặn, giúp cung cấp 850 triệu m3 nước ngọt hằng năm cho khu vực. Nước mặn thải ra từ nhà máy sẽ được chảy vào Biển Chết, vốn đã chứa toàn nước mặn, bù vào lượng nước bốc hơi ở biển này – nguyên nhân khiến Biển Chết bị tụt xuống 1 m mỗi năm.   Dự kiến chi phí dự án là 10 tỷ USD, trong đó 2 tỷ USD dành cho các trang thiết bị bơm nước được lọc mặn từ Biển Chết tới Amman– khoảng cách giữa hai nơi là 200 km, với chênh lệch độ cao là 1000 m.  Công chúng lo ngại  Trong hai tuần của tháng Hai, Ngân hàng Thế giới đã tổ chức các diễn đàn về các đề án tại sáu thành phố tại ba khu vực bị ảnh hưởng: Amman và Aqaba ở Jordan; Eilat và Jerusalem ở Israel; Ramallah và Jericho ở vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Palestine. Những cuộc hội thảo này được tổ chức sau khi đã có ba báo cáo quan trọng được công bố trong năm ngoái – nghiên cứu luận chứng kinh tế, đánh giá tác động môi trường và xã hội, và một nghiên cứu các giải pháp thay thế.  Alex McPhail, trưởng nhóm nghiên cứu chương trình Biển Đỏ – Biển Chết của Ngân hàng Thế giới, đã trình bày ba báo cáo này tại cuộc hội thảo ở Jerusalem, nơi nổ ra nhiều bất đồng. McPhail nói rằng các đánh giá môi trường và xã hội, được thực hiện bởi tổ chức Quản lý Tài nguyên Môi trường, một nhà tư vấn quốc tế, cho thấy “mọi tác động môi trường và xã hội có thể được giảm thiểu tới mức độ chấp nhận được” – ngoại trừ một ngoại lệ đáng chú ý.  Các nghiên cứu cho thấy nếu có nhiều hơn 400 triệu m3 nước biển được đổ vào Biển Chết, thì nơi này sẽ bị lây nhiễm tảo alga, và tác động gây ra sẽ khó lường. Nhưng đó cũng là lượng nước cần thiết được đổ vào để ổn định mực nước của Biển Chết.  Tác động môi trường của việc pha trộn Biển Đỏ vào Biển Chết là một trong những vấn đề gây nhiều trở ngại nhất cho dự án, theo nhận định của tổ chức phản đối dự án mạnh mẽ nhất, có tên gọi Friends of the Earth Middle East (FoEME), trụ sở đặt tại Amman.  Giải pháp khác  FoEME cho rằng nên tìm kiếm những giải pháp khác cho mục tiêu lấy nước ngọt và cứu Biển Chết, như gia tăng tái chế và bảo tồn nước ở Israel và Jordan; nhập khẩu nước từ Thổ Nhĩ Kỳ, và lọc nước biển từ các vùng ven biển Địa Trung Hải và Aqaba, sau đó đổ nước mặn vào Biển Chết và bơm nước ngọt về Amman.  Bơm nước ngọt được lọc từ nước biển Địa Trung Hải qua Israel tới Amman “gần như chắc chắn sẽ rẻ hơn” so với bơm nước biển qua lãnh thổ Jordan, nhận định từ David Meehan, chủ nhiệm nghiên cứu luận chứng kinh tế dự án. “Nhưng điều đó có lẽ rất khó được Jordan chấp nhận, vì như vậy về cơ bản Israel sẽ kiểm soát nguồn nước cung cấp cho Amman”.  Jordan là quốc gia ủng hộ mạnh mẽ cho dự án, chủ yếu vì lượng nước tiêu thụ theo đầu người ở nước này thuộc loại thấp nhất trên thế giới. Saad Abu Hammour, Tổng thư ký của Jordan Valley Authority, phát biểu tại hội thảo ở Israel rằng nạn khan hiếm nước ở Jordan ngày càng trở nên trầm trọng vì có hơn 250 nghìn người nhập cư từ Syria kể từ khi cuộc nội chiến nổ ra ở nước này năm 2011.  Căng thẳng quốc tế  Quyên tiền xây dựng đường ống là một vấn đề khó khăn hiện nay khi nhiều chính phủ trên thế giới đang phải thắt chặt hầu bao. Nhưng trở ngại còn lớn hơn là tình hình chính trị trong khu vực, theo nhận xét của Gidon Bromberg, giám đốc FoEME ở Israel. Tiến độ dự án phụ thuộc vào việc cả 3 bên liên quan cùng ký một hiệp định, nhưng chưa chắc Chính phủ Israel sẽ chịu ký cùng một hiệp ước với Nhà nước Palestine.  Nguồn: http://www.nature.com/news/environmental-concerns-reach-fever-pitch-over-plan-to-link-red-sea-to-dead-sea-1.12515    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng công suất nhỏ và triết lý an toàn      TS. Lê Văn Hồng (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) đã trao đổi với tạp chí Tia Sáng về những ưu điểm và triển vọng phát triển của loại lò phản ứng công suất nhỏ kiểu module (SMRs) với những đổi mới về thiết kế nhằm đảm bảo sự an toàn trong quá trình vận hành.      TS. Lê Văn Hồng, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam  Các lò phản ứng cải tiến công suất lớn thế hệ 3 + đang được xây dựng và vận hành khá phổ biến trên thế giới. Vậy tại sao lò phản ứng SMRs lại trở thành xu hướng phát triển mới của ngành hạt nhân?  Hiện nay, các nhà máy điện hạt nhân xây mới chủ yếu sử dụng loại công nghệ lò cải tiến dùng nước làm mát công suất lớn (Advanced Large Water Cooled Reactors). Loại lò này thường được kết hợp giữa công nghệ đã được kiểm chúng với những cải tiến đột phá của các hệ thống an toàn. Kết quả đã cho ra đời nhiều công nghệ lò cải tiến công suất lớn thế hệ 3+ với độ an toàn cao và cạnh tranh tốt về mặt kinh tế1. Ví dụ, RosAtom (LB Nga) hiện tại có thể cung cấp các loại lò nước áp lực (PWR) công suất lớn kiểu VVER-1000 AES-92 và VVER-1200 AES-2006. AREVA (Pháp) có công nghệ EPR-1600 hiện đang được xây dựng tại Phần Lan, Pháp và Trung Quốc. Mitsubishi Heavy Industries (MHI-Nhật Bản) có ba loại: JP-APWR, US-APWR, và EU-APWR thiết kế phù hợp với yêu cầu đặc thù của từng nước, dải công suất từ 1538 MWe đến1700 MWe. Toshiba-Westinghouse (Nhật-Mỹ) có AP-1000 với điểm nhấn là an toàn thụ động. ATMEA là công ty liên doanh giữa AREVA (Pháp) và Mitsubishi Heavy Industries (MHI-Nhật Bản) đang giới thiệu với thị trường công nghệ lò ATMEA1 công suất 1100 MWe. Korea Electric Power Company (KEPCO – Hàn Quốc) thiết kế và xây dựng loại APR-1400. Ngoài ra, còn có các loại lò nước sôi cải tiến như ABWR-1400, ESBWR-1500 của Ge-Hitachi (Nhật Bản) và KERENA-1250 của AREVA (Pháp)… cũng đang được đưa ra thị trường.  Song hành với xu hướng phát triển các loại lò công suất lớn là xu hướng phát triển các loại lò công suất nhỏ kiểu module (Small Modular Reactor – SMR) với thiết kế đổi mới (innovative designs). Hiện nay, có 15 nước thành viên của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA đang nghiên cứu phát triển các loại lò công suất nhỏ và trung bình với trên 50 thiết kế khác nhau đang được nghiên cứu phát triển từ thiết kế khái niệm đến thiết kế cơ sở 2,3, 4.  Các loại thiết kế mới này đều tiến tới thỏa mãn các yêu cầu cơ bản của IAEA, đó là: đảm bảo an toàn cao nhất; bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững và đảm bảo cạnh tranh kinh tế với các nguồn năng lượng khác 3. Đồng thời, để thuận lợi cho các nước sử dụng, các loại thiết kế mới còn đảm bảo có chu trình sử dụng nhiên liệu kéo dài nhiều năm (2 đến 10 năm) và có thể xây dựng ở nhiều nơi: trên mặt đất (land-based); đặt trên các con tàu (floating e.g. barge-mounted NPPs) hoặc đặt dưới lòng đất (underground reactor models) 4. Những thiết kế đổi mới này có thể được đưa vào thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2030. Chúng ta có thể kiểm định khoảng thời gian có thể đưa vào khai thác sử dụng của hai loại lò công suất nhỏ kiểu module: loại thay nhiên liệu tại chỗ theo phương pháp truyền thống và loại không thay nhiên nhiên liệu tại chỗ như hình minh họa.    Khoảng thời gian có thể đưa vào khai thác sử dụng của hai loại lò công suất nhỏ kiểu module – SMR 3, 4  Ông mới đề cập đến tính an toàn của SMRs và coi nó đạt tới mức cao hơn nhiều loại lò phản ứng thông thường. Vậy ông có thể giải thích rõ hơn về điều này?  Triết lý an toàn của lò công suất nhỏ kiểu module – SMR là “an toàn bởi thiết kế” (safety by design) với mục tiêu là loại trừ đến mức tối đa có thể các sự kiện khởi phát gây ra sự cố, với phần còn lại sẽ kết hợp một cách hợp lý giữa các hệ thống an toàn chủ động với an toàn thụ động 4,5. Để đạt được mục tiêu này, các nhà thiết kế sử dụng cách tiếp cận thiết kế tích hợp (integral design).  Với thiết kế tích hợp, toàn bộ hệ thống vòng tuần hoàn sơ cấp bao gồm vùng hoạt, thiết bị sinh hơi, thiết bị điều áp và bơm tuần hoàn đều được đặt trong thùng lò phản ứng. Cách tiếp cận này được sử dụng trong thiết kế CAREM-25, SMART, IRIS, Westinghouse SMR, IMR, mPower, NuScale… Độc giả Tia Sáng có thể tham khảo hình ảnh mô tả sơ đồ điển hình của loại lò có thiết kế tích hợp.    Sơ đồ điển hình của loại lò có thiết kế tích hợp 4,5  Thiết kế tích hợp không cần đến hệ thống ống dẫn tuần hoàn chất tải nhiệt, như vậy, khả năng xảy ra sự cố LOCA lớn (do vỡ ống dẫn tuần hoàn) bị loại trừ, đồng thời làm giảm hậu quả của các loại sự cố LOCA khác (nếu xảy ra), từ đó, làm giảm và đơn giản hóa hệ thống an toàn.  Tất cả các lò SMR có thiết kế tích hợp đều đảm bảo được khả năng tải nhiệt dư sau khi khi dừng lò bằng đối lưu tự nhiên. Một số thiết kế như CAREM-25 (Argentina), ABV-6E (LB Nga), NuScale (Hoa Kỳ), SMR-160 (Hoa Kỳ)… thậm chí còn sử dụng cả đối lưu tự nhiên trong chế độ làm việc có công suất nghĩa là không cần đến bơm tuần hoàn chính. Không có bơm tuần hoàn đã loại trừ được khả năng xảy ra sự cố LOFA (sự cố mất dòng chất tải nhiệt) do hỏng bơm hoặc mất điện cấp cho máy bơm.    Sơ đồ đối lưu tự nhiên trong mọi chế độ hoạt động của lò MASLWR 4  Một số lò SMR thiết kế tích hợp như CAREM-25, IRIS, IMR, mPower…còn đưa cả hệ thống dẫn động thanh điều khiển vào trong thùng lò. Thiết kế như vậy đã loại trừ được khả năng xảy ra sự cố RIA (sự cố tăng bất ngờ độ phản ứng dương do bật thanh điều khiển ra ngoài).  Thiết kế tích hợp với việc đưa thiết bị sinh hơi vào trong thùng lò và áp lực phía trong ống nhỏ hơn áp lực bên ngoài đã loại trừ được khả năng xảy ra sự cố SGTR (sự cố làm vỡ ống trao đổi nhiệt của thiết bị sinh hơi). Sự cố này trong các lò PWR công suất lớn dễ làm thoát xạ ra môi trường.  Với việc đưa các thiết bị quan trọng của lò phản ứng vào thùng lò, thiết kế tích hợp có thể góp phần loại trừ được những nguy cơ có thể dẫn đến sự cố nóng chảy vùng hoạt trong quá trình vận hành lò phản ứng như người ta vẫn thường lo ngại?  Đúng vậy, với thiết kế tích hợp, lò công suất nhỏ kiểu module – SMR (thuộc dòng nước áp lực – PWR) đã loại trừ được bốn nhóm sự kiện khởi phát cơ bản: RIA, LOFA, LOCA và SGTR. Đây là những nhóm sự kiện khởi phát được sử dụng làm cơ sở thiết kế của các hệ thống an toàn trong các lò PWR công suất lớn. Loại trừ được các nhóm sự kiện khởi phát này làm tăng lên đáng kể mức độ an toàn của lò SMR, đồng thời làm giảm nhẹ mức độ phức tạp trong thiết kế hệ thống an toàn để khống chế những sự kiện khởi phát còn lại.  Theo kết quả tính toán phân tích an toàn, lò công suất nhỏ kiểu module – SMR có xác suất nóng chảy vùng hoạt CDF rất thấp (10-6-10-8) nghĩa là ngang bằng hoặc nhỏ hơn một bậc so với lò PWR công suất lớn tốt nhất hiện nay. Xác suất phát xạ lớn LERF thường là nhỏ hơn CFD 10 lần.  Ngoài sự nổi trội về tính an toàn, lò SMRs còn có những ưu điểm nào, thưa ông?  Hiện nay, các chuyên gia quốc tế đã công bố một số công trình chuyên đề cập tới khả năng cạnh tranh kinh tế của lò SMR.  Ví dụ, David Shropshire đã phân tích bốn mô hình thị trường điện tại khu vực châu Âu và kết quả tính toán có tính tới thuế carbon cho thấy, lò SMR có thể cạnh tranh được trong thị trường điện tương lai nếu chi phí đầu tư được kiểm soát và nguồn tài chính có thể thu xếp được 6.  Robert Rosner và Stephen Goldberg đã phân tích toàn diện tính kinh tế của lò SMR so với lò công suất lớn cũng như các dạng năng lượng khác với việc chi tiết hóa các thành phần của vốn đầu tư và đưa ra kết luận: lò SMR là lĩnh vực công nghiệp quan trọng của Hoa Kỳ và sẽ đóng vai trò đưa Hoa Kỳ trở lại vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ lò phản ứng, đặc biệt là nâng cao vai trò dẫn đầu thế giới trong an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân, không phổ biến vũ khí hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ 7. Hay một số tác giả khác đã phân tích một cách toàn diện tính kinh tế của lò SMR so với lò công suất lớn cũng như các dạng năng lượng khác 8,9,10.  Trên cơ sở các kết quả tính toán, họ đã kết luận:  – Lò phản ứng hạt nhân công suất nhỏ kiểu module – SMR thông thường có chi phí sản xuất điện năng quy dẫn – LUEC cao hơn so với loại lò công suất lớn.  – Một số loại lò công suất nhỏ kiểu module – SMR có thể cạnh tranh được với các nguồn năng lượng khác, đặc biệt là so với năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời.  – Lò công suất nhỏ kiểu module – SMR sẽ trở nên cạnh tranh hơn nếu tính cả thuế carbon trong chi phí sản xuất điện.  –  Lò công suất nhỏ kiểu module – SMR có tính cạnh tranh cao đối với các vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng đảo biển, nơi lưới điện quốc gia không thể kết nối được (off-grid locations).  Xu thế phát triển lò SMRs đem lại gợi ý gì cho những quốc gia mới bắt đầu phát triển chương trình điện hạt nhân?  Với những ưu thế vượt trội về mặt an toàn và khả năng cạnh tranh về mặt kinh tế, lò phản ứng hạt nhân công suất nhỏ kiểu module – SMR đang được xem xét như một lựa chọn khôn ngoan trong chiến lược phát triển năng lượng bền vững của nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước khu vực ASEAN11.  Hiện tại, việc cung cấp năng lượng cho các vùng biển đảo của các quốc gia có nhiều lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào năng lực kỹ thuật và điều kiện cụ thể của từng nước, đó là cấp điện bằng cáp ngầm (nếu gần đất liền), cấp điện bằng máy phát diesel hoặc bằng nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời… Trong tương lai không xa, một số quốc gia như Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc… thậm chí là cả Indonesia sẽ dùng năng lượng hạt nhân với lò công suất nhỏ kiểu module – SMR để cung cấp năng lượng cho các vùng biển đảo.  Cám ơn ông  Thanh Nhàn thực hiện  ——————————————————————  Tài liệu tham khảo:  1. Advanced Large Water Cooled Reactors. A supplement to the IAEA’s Advanced Reactor Information System (ARIS), IAEA 2015.  2. IAEA-TECDOC-1451 “Innovative small and medium sized reactors: Design features, safety approaches and R&D trends”, Austria, May 2005.  3. IAEA-TECDOC-1485 “Status of innovative small and medium sized reactor designs With conventional refuelling schemes”, Austria, March 2006.  4. IAEA-TECDOC-1536 “Status of Small Reactor Designs Without On-Site Refuelling”, Austria, January 2007.  5. Iraj Mahmoudzadeh Kani, Mehdi Zandieh, Saeed Kheirollahi HosseinAbadi “Design Characteristics for Pressurized Water Small Modular Nuclear Power Plants with Focus on Safety Aspects”, International Journal of Review in Life Sciences ISSN 2231-2935, Research Article.  6. David Shropshire, “Economic viability of small to medium-sized reactors deployed in future European energy markets”. Progress in Nuclear Energy 53 (2011), 299-307.  7. Robert Rosner and Stephen Goldberg, “Small Modular Reactors – Key to Future Nuclear Power Generation in the U.S. Energy Policy Institute at Chicago. The Harris School of Public Policy Studies. Technical Paper, Revision 1, November, 2011.  8. Giorgio Locatelli, Chris Bingham, Mauro Mancini, “Small modular reactors: A comprehensive overview of their economics and strategic aspects”. Progress in Nuclear Energy 73 (2014) 75-85.  9. Mark Cooper, “Small modular reactors and the future of nuclear power in the United States”. Energy Research & Social Science 3 (2014) 161–177.  10. Current Status, Technical Feasibility and Economic of Small Nuclear Reactors, Nuclear Energy Agency, June 2011.  11. Victor Niana, John Baulya, “Nuclear Power Developments: Could Small Modular Reactor Power Plants be a “Game Changer”? – The ASEAN Perspective”. The 6th International Conference on Applied Energy – ICAE2014.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng hạt nhân mini      Một nh&#224; sản xuất ở Mỹ dự kiến sẽ tung ra thị trường h&#224;ng loạt l&#242; phản ứng hạt nh&#226;n mini c&#243; khả năng cung cấp điện v&#224; nhiệt phục vụ 10.000 hộ gia đ&#236;nh trong nhiều năm liền m&#224; hầu như kh&#244;ng cần bảo dưỡng với độ an to&#224;n được coi l&#224; tuyệt đối.    Sau khi nhận được lò phản ứng mini, khách hàng chỉ cần đào sâu chôn chặt nhà máy điện hạt nhân rồi lắp hệ thống dẫn điện và nhiệt vào nhà. Trên đây là ý tưởng của hãng Hyperion Power Generation ở bang New Mexico Mỹ về việc cung cấp năng lượng trong tương lai. Pete Peterson là nhà sáng chế, ông từng làm công tác nghiên cứu tại Los Alamos National Laboratory, nơi vẫn đang nắm bản quyền phát minh đối với “Compact Self Regulating Transportable Reactor” (Comstar). Tuy nhiên quyền tiếp thị sản phẩm này lại thuộc hãng Hyperion, nơi nhà sáng chế giữ vai trò nhà khoa học trưởng.  Lò phản ứng mini chỉ cao gần 4m, có thể lắp đặt ở mọi nơi, nhất là ở những nơi điều kiện giao thông có nhiều khó khăn. Theo nhà chế tạo thì toàn bộ lò phản ứng hạt nhân sẽ vùi sâu dưới lòng đất, chỉ có hệ thống dây dẫn và ống dẫn lộ diện trên mặt đất để từ đây dẫn nhiệt vào các hộ tiêu dùng và thông qua máy phát tạo ra điện năng nên có độ an toàn tuyệt đối và không thể xảy ra tai họa kiểu như vụ tai nạn ở Chernobyl vì trong lò phản ứng không có các bộ phận động để có thể gây sự cố. Kalium là chất làm lạnh lò phản ứng, Uranhydrid là nhiên liệu chạy lò phản ứng. Chất này còn có tác dụng hãm các nơtron chạy quá nhanh, cần thiết để tạo ra phản ứng dây chuyền. Trong trường hợp quá nóng, lượng hydro sẽ giảm, hãm quá trình phản ứng dây chuyền. Hoạt động của lò phản ứng nước cũng diễn ra tương tự: khi dây chuyền tuần hoàn làm lạnh bị sự cố phản ứng dây chuyền chặn lại vì nước vừa là chất làm lạnh đồng thời là chất hãm. Theo nhà sản xuất các loại Mini-Reaktor này dễ dàng phát tán nhiệt dư thừa ra môi trường xung quanh nhưng không gây nguy hại cho con người.  Công nghệ lò phản ứng hạt nhân mini hoàn toàn không có gì mới mà đã có từ những năm năm mươi. Nga và Mỹ từng sản xuất các lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ để phục vụ những vùng xa xôi hẻo lánh. Công nghệ này dựa trên cơ sở lò phản ứng được sử dụng trong tàu ngầm nguyên tử. Nhật Bản cũng đã phát triển thành công lò phản ứng cực nhỏ. Nga dự kiến chậm nhất sẽ cho ra đời một nhà máy điện nguyên tử nổi vào năm 2010. Loại lò phản ứng cỡ nhỏ này sẽ được vận chuyển trên mặt nước. Ưu thế của loại lò phản ứng nhỏ là ở chỗ khi hệ thống làm nguội bị sự cố sẽ không dẫn đến hiện tượng quá nóng. Lò phản ứng “Hyperion” không sử dụng bộ pin nguyên tử mà trước đây Liên Xô hay sử dụng, ở đây diễn ra một phản ứng dây chuyền thực sự.    So với nhà máy điện hạt nhân cỡ lớn, lò phản ứng “Hyperion” có lợi thế lớn là không phải thực hiện chế độ bảo dưỡng. Thường sau 5 năm thì thay mới. Giá một lò phản ứng mini khoảng 25 triệu USD, với công suất điện của “Hyperion” đạt 25 MW, lượng nhiệt là 70 MW, thỏa mãn nhu cầu về điện và nhiệt cho khoảng 10.000 hộ gia đình bình thường ở Mỹ, đây là mức giá chấp nhận được. “Chúng tôi muốn sản xuất điện ở bất cứ nơi nào trên Trái đất với giá thành 10 Cent/kW/h”, ông giám đốc John Deal đã trao đổi trên tờ báo Anh “The Guardian”.   Hiện nay hãng này đã nhận được hàng trăm đơn đặt hàng từ các ngành dầu mỏ và năng lượng. Cộng hòa Séc đặt mua 6 lò phản ứng đầu tiên, sau đó dự kiến mua thêm 12 chiếc nữa. Hyperion Power Generation dự định sẽ sản xuất và bán ra thị trường 4.000 nhà máy điện mini trong khoảng thời gian từ 2013 – 2023.   Tuy nhiên để có thể thực hiện sản xuất hàng loạt “Hyperion Power Module” cần phải có sự khảo nghiệm kỹ lưỡng của cơ quan có thẩm quyền của Mỹ. Giới am hiểu cho rằng có nhiều khả năng đến năm 2012 cơ quan Nuclear Regulatory Commission sẽ cấp giấy phép sản xuất hàng loạt đối với loại lò phản ứng mini này.    Xuân Hoài –   Theo Spiegel 13.11    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng hạt nhân mini- một cuộc cách mạng năng lượng?      Một nh&#224; sản xuất ở Mỹ dự kiến sẽ tung ra thị trường h&#224;ng loạt l&#242; phản ứng hạt nh&#226;n-mini c&#243; khả năng cung cấp điện v&#224; nhiệt phục vụ 10.000 hộ gia đ&#236;nh trong nhiều năm liền m&#224; hầu như kh&#244;ng cần bảo dưỡng với độ an to&#224;n được coi l&#224; tuyệt đối.    Sau khi nhận được lò phản ứng mini, người đặt hàng chỉ cần đào sâu chôn chặt nhà máy điện hạt nhân rồi  lắp hệ thống dẫn điện và nhiệt vào nhà. Trên đây là ý tưởng của hãng Hyperion Power Generation  ở bang New Mexico Hoa Kỳ về việc cung cấp năng lượng trong tương lai. Los Alamos National Laboratory, một cơ quan nghiên cứu khổng lồ ở Mỹ đã từng nghiên cứu, phát triển và sản xuất thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã nghiên cứu phát triển “Hyperion’’một loại lò phản ứng mini.  Lò phản ứng mini  chỉ cao gần 4 m, có thể lắp đặt ở mọi nơi, nhất là ở những nơi điều kiện giao thông có nhiều khó khăn. Theo nhà chế tạo thì toàn bộ lò phản ứng hạt nhân sẽ vùi sâu dưới lòng đất, chỉ có hệ thống dây dẫn và ống dẫn lộ diện trên mặt đất để từ đây dẫn nhiệt vào các hộ tiêu dùng và thông qua  máy phát  tạo ra điện năng.   Công suất điện của “Hyperion” đạt 25 MW, lượng nhiệt là 70 MW, thỏa mãn nhu cầu về điện và nhiệt cho khoảng 10.000 hộ gia đình bình thường ở Mỹ. Giá một lò phản ứng mini khoảng 25 triệu USD. Nếu phân bổ đều cho tất cả các hộ tiêu thụ thì mức giá này là chấp nhận được. “Chúng tôi muốn sản xuất điện ở bất cứ mọi nơi trên trái đất với giá thành 10 Cent/ kW/h”, theo lời ông giám đốc John Deal khi trao đổi với tờ báo Anh “The Guardian”.             Trang web của hãng Hyperion cho rằng các lò phản ứng mini cao gần 4m, sạch và an toàn hơn         Hiện nay hãng của ông đã nhận được hàng trăm đơn đặt hàng từ các ngành dầu mỏ và năng lượng. Cộng hòa Séc đặt mua 6 lò phản ứng  đầu tiên, sau đó dự kiến mua thêm 12 cái nữa. Hyperion Power Generation dự định sẽ sản xuất và bán ra thị trường 4.000 nhà máy điện mini trong khoảng thời gian từ 2013 – 2023.   Nhà sản xuất cho hay loại nhà máy mini này có độ an toàn tuyệt đối và không thể xảy ra tai họa kiểu như vụ tai nạn ở Chernobyl vì trong lò phản ứng không có các bộ phận động để có thể gây sự cố. Kalium là chất làm lạnh lò phản ứng, Uranhydrid  là nhiên liệu chạy lò phản ứng. Chất này còn có tác dụng hãm các nơtron chạy quá nhanh, cần thiết để tạo ra phản ứng dây chuyền.   Theo ông Deal, nguyên tắc này giúp cho lò phản ứng tự điều chỉnh: Trong trường hợp quá nóng lượng hydro sẽ giảm, hãm quá trình phản ứng dây chuyền. Hoạt động của lò phản ứng nước cũng diễn ra tương tự : khi dây chuyền tuần hoàn làm lạnh bị sự cố phản ứng dây chuyền bị chặn lại vì nước vừa là chất làm lạnh đồng thời là chất hãm. Theo nhà sản xuất các loại Mini-Reaktor này dễ dàng phát tán nhiệt  dư thừa ra môi trường xung quanh nhưng không gây nguy hại cho con người.  So với nhà máy điện hạt nhân cỡ lớn, lò phản ứng “Hyperion” có lợi thế lớn là không phải thực hiện chế độ bảo dưỡng. Thường sau 5 năm thì thay lò phản ứng. Lò phản ứng mini này không sử dụng cái gọi là bộ pin nguyên tử mà trước đây Liên Xô hay sử dụng. Ở lò phản ứng “Hyperion” diễn ra một phản ứng dây chuyền thực sự.   Pete Peterson là nhà sáng chế  “Hyperion”, ông từng làm công tác nghiên cứu tại  Los Alamos National Laboratory. Cơ quan nghiên cứu này tiếp tục nắm bản quyền phát minh đối với “Compact Self Regulating Transportable Reactor” (Comstar). Tuy nhiên quyền tiếp thị lại thuộc hãng Hyperion, nhà sáng chế  Peterson hiện là nhà khoa học trưởng tại hãng này.  Công nghệ lò phản ứng hạt nhân mini hoàn toàn không có gì mới mà đã có từ những năm năm mươi. Nga và Mỹ từng sản xuất các lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ để phục vụ những vùng xa xôi hẻo lánh. Công nghệ này dựa trên cơ sở lò phản ứng được sử dụng trong tàu ngầm nguyên tử. Nhật Bản cũng đã phát triển thành công lò phản ứng cực nhỏ. Nga dự kiến chậm nhất sẽ cho ra đời một nhà máy điện nguyên tử nổi vào năm 2010. Loại lò phản ứng cỡ nhỏ này sẽ được vận chuyển trên mặt nước. Ưu thế của loại lò phản ứng nhỏ là ở chỗ khi hệ thống làm nguội bị sự cố sẽ không dẫn đến hiện tượng quá nóng.   Theo nhà sản xuất thì lò phản ứng Hyperion do chôn trong lòng đất nên đặc biệt an toàn. Do kết cấu đặc biệt nên loại lò phản ứng mini này không gây sự cố khi vận hành  không đúng quy định hoặc khi bị phá hoại. Hơn nữa chất đốt sử dụng ở lò phản ứng này không thể  sử dụng để sản xuất vũ khí giết người hàng loạt.    Tuy nhiên để có thể thực hiện sản xuất hàng loạt “Hyperion Power Module” cần phải có sự khảo nghiệm kỹ lưỡng của cơ quan có thẩm quyền của Mỹ. Giới am hiểu cho rằng có nhiều khả năng đến năm 2012 cơ quan Nuclear Regulatory Commission sẽ cấp giấy phép sản xuất hàng loạt đối với loại lò phản ứng mini này.   Lợi ích của nhà máy điện nguyên tử mini: Tránh tình trạng dư thừa công suất,  sản xuất điện an toàn và không còn là mục tiêu phá hoại hấp dẫn đối với các phần tử khủng bố. Câu hỏi đặt ra là : khi trên thế giới xuất hiện hàng vạn lò phản ứng mini thì lượng Uran hiện có đáp ứng được bao nhiều lâu? Những người chỉ trích năng lượng nguyên tử thường nhấn mạnh : tương lai của năng lượng nguyên tử bị hạn chế vì trữ lượng Uran có hạn như dầu mỏ, khí đốt và than đá.   Việc dự báo về khả năng cung cấp Uran rất khó. Năm 2006 các nước OECD cho rằng khoảng 80 năm nữa lượng Uran sẽ bị cạn kiệt nếu lượng tiêu thụ giữ nguyên mức như hiện nay. Tuy nhiên gần đây do giá Uran tăng, giới chuyên gia lại dự báo Uran còn đủ dùng trong 200 năm nữa. Cho dù  Uran còn đủ dùng đối với các lò phản ứng mini trong một thời gian nào đi nữa thì vấn đề rất nan giải chưa giải quyết được vẫn là việc xử lý rác thải nguyên tử .  ————–    ảnh trên: Nhà máy điện nguyên tử Temelin: thay cho các nhà máy điện nguyên tử cỡ lớn hãng Hyperion Power Generation của Mỹ chủ trương sản xuất các lò phản ứng cỡ nhỏ với công suất cỡ 25 MW.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?      Các đại gia công nghệ như Bill Gates đang giúp lập quỹ tài trợ thế hệ mới các lò phản ứng hạt nhân thương mại, một số lò này có khả năng được xây dựng ở Trung Quốc, coi đó như một giải pháp biến đổi khí hậu. Kế hoạch mới của Mỹ về nguồn năng lượng sạch liệu có thể sẽ kích thích các đại gia đó hay không?  &#160;      Khi các lò phản ứng hạt nhân mới cuối cùng của Mỹ bắt đầu sản xuất điện thì Leslie Dewan còn đang là cô nữ sinh lớp sáu làm ra một guồng bánh xe nước nhỏ xíu trong lớp học khoa học.  Bây giờ, ở tuổi 30, chị là gương mặt thuộc thiên niên kỷ thế hệ nhà máy điện hạt nhân tiếp theo. Với dáng người thoáng nhìn khá giống nữ diễn viên Amy Adams, hiện nay Leslie Dewan là đồng tác giả của loại lò phản ứng muối nóng chảy mới, không theo mẫu lò phản ứng của các nhà khoa học hạt nhân trước đó.  Nhiều lực lượng hiểu biết khoa học và công nghệ đang thúc đẩy sự tái khởi động truyền thống phấn khởi của ĐHN. Nhiều công ty ở Mỹ khởi nghiệp bằng việc thiết kế lò phản ứng tiên tiến, họ nhận được sự hỗ trợ từ các nhà đầu tư mạo hiểm chứ không phải từ chính phủ Mỹ. Động lực của họ cũng khác. Không giống như các nhà khoa học Mỹ trong những năm 1950 và 1960s, những người bị mắc kẹt trong cuộc Chiến tranh Lạnh nhằm chạy đua với Liên Xô, giờ đây họ nhằm mục đích đối phó với biến đổi khí hậu.  “Tôi là một nhà bảo vệ môi trường. Tôi đang làm việc này, bởi lẽ tôi nghĩ rằng điện hạt nhân (ĐHN) là cách tốt nhất để sản xuất một lượng lớn điện năng không có carbon,“ Dewan nói, chị là kỹ sư hạt nhân của trường MIT và là nhà thám hiểm mới nổi của tạp chí National Geographic. Chị nói thế giới cần ĐHN cùng điện mặt trời, điện gió, thủy điện, điện địa nhiệt — là những dạng năng lượng nhằm cắt giảm khí thải giữ nhiệt.  Không phải tất cả các nhà bảo vệ môi trường đều đồng ý như vậy. Trên thực tế, điện hạt nhân đang chia rẽ họ. Chất thải phóng xạ của nó và những vụ tai nạn hạt nhân — gồm vụ Three Mile Island ở Mỹ năm 1979, vụ Chernobyl ở Ukraine năm 1986 và vụ Fukushima Daiichi ở Nhật năm 2011 — đã khiến nhiều người tranh cãi rằng điện hạt nhân quả là quá nguy hiểm. Nhật và Đức hiện đang cắt giảm điện hạt nhân.  Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khí hậu nói ĐHN phải là một phần của giải pháp chống lại sự biến đổi khí hậu. Viện dẫn các mối nguy hiểm của sự nóng lên toàn cầu, họ nói bất cứ giải pháp nào trong tương lai mà không xét tới “vai trò đáng kể” của hạt nhân thì đều không có tính hiện thực. Họ công khai kêu gọi công chúng cần có “một cách tiếp cận mới đối với ĐHN trong thế kỷ XXI”.  Các mẫu thiết kế thế hệ ĐHN tiếp theo không phải là lò phản ứng thế hệ cũ. Các thiết kế này hứa hẹn sẽ an toàn hơn, rẻ hơn, và hiệu quả hơn. Chúng đang thu hút vốn đầu tư mạo hiểm từ các đại gia công nghệ, kể cả Bill Gates người đồng sáng lập Microsoft, Jeff Bezos, CEO của Amazon và các cựu nhân viên của công ty SpaceX.  Riêng gần 50 công ty khởi nghiệp tại Mỹ và Canada đã kiếm được hơn 1,3 tỷ USD đầu tư tư nhân, theo bản báo cáo “Trở lại Tương lai” do “ Con đường thứ ba (Third Way) ”, một think tank thuộc phái trung gian công bố vào tháng 12/2014. Các khoản tài trợ đang tiếp tục tăng.  Một số công ty khởi nghiệp đang làm loại lò phản ứng nhỏ kiểu mô-đun gọn nhẹ và dùng cấu kiện đúc sẵn. Một số mạnh dạn sử dụng phản ứng tổng hợp hạt nhân (nuclear fusion), từ lâu được coi là ước mơ (nguyên văn Chén thánh) của năng lượng không ô nhiễm. Các công ty khác thử dùng nhiên liệu mới sáng tạo và chất làm lạnh thay thế.  Lò phản ứng muối nóng chảy (molten salt) có khả thi hay không?  Dewan tiến hành công việc theo hướng dùng lò phản ứng muối nóng chảy. Chị và Mark Massie, một đồng nghiệp ở MIT, người từng làm việc tại TerraPower, một công ty hạt nhân khởi nghiệp được Gates hậu thuẫn, đã xây dựng được lò phản ứng muối nóng chảy xử lý hủy diệt chất thải (Waste-Annihilating Molten Salt Reactor). Thiết kế của họ là phương án hiện đại hóa một lò phản ứng thử nghiệm từng được triển khai vào nửa thế kỷ trước tại phòng thí nghiệm quốc gia. Lò phản ứng muối nóng chảy có thể hoạt động bằng các chất thải hạt nhân.  Họ ước tính: nếu toàn bộ 270.000 tấn chất thải hạt nhân cấp cao hiện có được đưa vào các lò phản ứng này, thì họ có thể sản xuất đủ điện để cung cấp cho thế giới dùng trong 72 năm, ngay cả khi giả thiết nhu cầu năng lượng toàn cầu sẽ tăng lên đi nữa.  Làm thế nào để thực hiện được điều đó? Các lò phản ứng loại thông thường được cấp nhiên liệu bằng những viên bột ôxit uranium thể rắn, loại nhiên liệu này chỉ sử dụng hết 3 % hoặc 4 % năng lượng của uranium, vì thế chất thải của nó vẫn còn là chất phóng xạ tồn tại trong hàng trăm hàng ngàn năm nữa. Nhưng vì lò phản ứng của Dewan sử dụng uranium dưới dạng chất lỏng thay vì chất rắn, cho nên có thể tận dụng được tới 96 % năng lượng của uranium.    Kỹ sư hạt nhân Leslie Dewan đã thiết kế một lò phản ứng muối nóng chảy mới sử dụng chất thải hạt nhân và có khả năng đông lại nếu lò phản ứng bị mất nguồn điện.  “Chúng tôi có thể sử dụng hầu như tất cả các nhiên liệu đã dùng qua (spent fuel),” Dewan nói.  Nhiên liệu lỏng có một lợi thế: giả thử lò phản ứng muối nóng chảy bị mất nguồn điện (như trường hợp đã xảy ra tại nhà máy Fukushima sau thảm họa sóng thần), khi ấy nhiên liệu sẽ tự động chảy vào một bể chứa phụ và đông cứng lại sau vài giờ, vì thế sẽ không xảy ra tình trạng lò bị nóng chảy.  Dewan và Massie thành lập công ty riêng của mình, đó là công ty Transatomic Power, nhằm thương mại hóa công nghệ muối nóng chảy. Họ đã thu hút được 6 triệu USD vốn đầu tư mạo hiểm, trong đó có 2 triệu từ quỹ Founders Fund — nhà đầu tư ban đầu vào công ty SpaceX.  Thế nhưng xây dựng và duy trì các nhà máy ĐHN, ngay cả nhà máy cỡ nhỏ, là việc rất tốn kém. Giá gas thấp đã làm cho một số nhà máy nhiệt điện đốt than cũ của nước Mỹ ngày nay trở nên không kinh tế, dẫn đến việc đóng cửa ít nhất bốn nhà máy trong hai năm qua.   Khó thực hiện lò phản ứng muối nóng chảy?    “Đây là những hệ thống phức tạp,” Matthew McKinzie nói, ông là giám đốc chương trình hạt nhân tại Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên, một nhóm môi trường ưa chuộng năng lượng mặt trời, năng lượng gió và hiệu suất của năng lượng, chứ không thích dùng ĐHN như là một biện pháp giải quyết vấn đề khí hậu.  “Các hệ thống đó xem ra thì tuyệt vời đấy, nhưng trên thực tế lại có thể khó thực hiện,” ông nói về các loại lò phản ứng tiên tiến. “Rất nhiều dự án tiến hành trước đây đã đem lại nỗi thất vọng.” Theo ông, trong các nhà máy điện hạt nhân hiện nay lò phản ứng phổ biến không sử dụng thiết kế nước nhẹ sẽ cần nguyên mẫu để thử nghiệm và các quỹ tư nhân của họ không đủ khả năng trang trải các chi phí.  Ngoài ra, “khó có thể làm việc với muối nóng chảy có tính ăn mòn và bẩn”, McKinzie, người có bằng tiến sĩ vật lý hạt nhân thực nghiệm nói.  Thế hệ nhà máy ĐHN tiếp sau là “hoàn toàn có thể làm được,” Russ Bell, Giám đốc cấp cao nhà máy mới vừa được cấp phép, nói. Ông cho rằng nhiều thiết kế lò phản ứng mới bảo đảm được an toàn và “vô cùng sáng tạo”, nhưng vì chúng phải tạo ra nguyên mẫu, tức sẽ cần 20-25 năm để đưa chúng ra thị trường.  “Điều này xem ra cần một thời gian dài, nhưng trong nghề của chúng tôi thi mọi thứ đều cần thời gian,” Bell nói. Ví dụ, có thể mất 10 năm hoặc hơn để hoàn thành quá trình từ lúc được cấp giấy phép cho tới lúc bắt đầu hoạt động thương mại một trong 5 lò phản ứng đang được xây dựng ở Mỹ.  Trung Quốc sẽ dẫn đầu?  Trung Quốc có thể đi nhanh hơn. Một số công ty Mỹ chú ý tới Trung Quốc, nước đã nhanh chóng phát triển sử dụng năng lượng hạt nhân như là một biện pháp hạn chế sự ô nhiễm không khí đang làm các đô thị của họ bị ngạt thở. Trung Quốc hiện xếp thứ 5 về công suất ĐHN, và có kế hoạch sớm tăng gấp đôi con số đó. Đến năm 2020, Trung Quốc có thể được xếp thứ ba sau Mỹ và Pháp.  Bill Gates đã mấy lần đến thăm Trung Quốc để tìm kiếm sự hợp tác trong việc phát triển lò phản ứng hạt nhân thế hệ tiếp theo. Ông là chủ tịch công ty TerraPower, công ty đã thiết kế một lò phản ứng sóng di chuyển (Traveling-Wave Reactor hay TWR) hoạt động bằng uranium nghèo và sản xuất rất ít chất thải hạt nhân.  Dewan nói, công ty của chị muốn xây dựng lò phản ứng muối nóng chảy đầu tiên ở Mỹ. Theo chị, Ủy ban Điều tiết hạt nhân Mỹ (U.S. Nuclear Regulatory Commission) đang tìm kiếm các kiểu lò phản ứng tiên tiến, là loại được ưu tiên cấp phép.  “Đó là công nghệ Mỹ. Cá nhân tôi muốn nước Mỹ đầu tiên có công nghệ này,“ chị nói. Công ty Transatomic của Dewan đã lên kế hoạch dành năm năm cho việc thử nghiệm và thiết kế trước khi nhắm tới mục tiêu xây dựng một nhà máy mẫu 20 megawatt.  “Chúng tôi đã nói chuyện với các phòng thí nghiệm quốc gia về điều đó,” chị nói, lưu ý rằng Bộ Năng lượng đang có chương trình bảo lãnh vay vốn mới cho các lò phản ứng tiên tiến. “Đây là điều thực sự tốt khi Bộ Năng lượng bỏ tiền để phát triển một loạt các công nghệ.”  Dewan nói, cho dù khi mọi việc đều suôn sẻ thì cũng phải mất ít nhất một thập niên để xây dựng một lò phản ứng muối nóng chảy dùng trong thương mại. Chị lạc quan tin rằng điều đó sẽ xảy ra và hoan nghênh công việc của các công ty hạt nhân khởi nghiệp khác.  “Thật dễ chịu khi thấy bao nhiêu phát triển mới đang diễn ra,” Dewan, phiên bản trưởng thành của cô học sinh lớp sáu biết cách tạo ra ánh sáng bằng cách kết nối bánh xe nước vào máy phát điện, cho biết. “Điều đó khiến tôi thấy hy vọng hơn về nền công nghiệp.”   Ng.Hải lược dịch  Nguồn: http://news.nationalgeographic.com/energy/2015/07/150724-next-gen-reactors-seek-to-revive-nuclear-power/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng nghiên cứu trên thế giới      Trên thế giới, có một xu thế đáng chú ý là các cường quốc về năng lượng hạt nhân cũng là những nơi tập trung nhiều lò phản ứng nghiên cứu nhất. Hiện Liên bang Nga đang là quốc gia dẫn đầu về số lượng lò nghiên cứu với 63 lò, bao gồm cả tổ hợp tới hạn; tiếp theo là Hoa Kỳ 42, Trung Quốc 17, Pháp 10, Nhật Bản 8 và Đức 8.      Lò phản ứng nghiên cứu HARANO của Hàn Quốc.  Việc các cường quốc đầu tư cho các lò nghiên cứu là điều dễ hiểu, bởi từ những “cỗ máy cái” này, rất nhiều công trình nghiên cứu quan trọng, cung cấp những khám phá mới, những hiểu biết mới và sản phẩm mới cho con người, không riêng lĩnh vực năng lượng nguyên tử mà còn ở nhiều lĩnh vực khác, đã ra đời. Vì thế, nhiều quốc gia đang phát triển cũng đầu tư vào lò nghiên cứu là Algeria, Bangladesh, Colombia, Ghana, Jamaica, Libya, Morocco, Nigeria, Thái Lan… và cả Việt Nam với lò phản ứng Đà Lạt. Một số quốc gia thành viên của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đang xây dựng hoặc có kế hoạch xây dựng (trong tương lai gần) lò nghiên cứu đầu tiên là Jordan, Azerbaijan, Sudan, Bolivia, Tanzania, Saudi Arabia. Nhiều lò nghiên cứu được xây dựng vào những năm 1960-1970, đạt đỉnh về số lượng vào năm 1975 là 373 lò, so với hiện nay có tổng số 264 lò (bao gồm cả 19 lò dừng tạm thời) tại 55 quốc gia. 70% số lò đang vận hành có tuổi đời hơn 30 năm, 50% có tuổi đời hơn 40 năm. Cho đến thời điểm hiện tại, đã có 483 lò nghiên cứu dừng (shutdown) hoặc chấm dứt hoạt động (decommissioning), một số được chuyển thành bảo tàng lịch sử hạt nhân. Có thể nói, người ta vẫn có thể tận dụng được giá trị của một lò nghiên cứu dù vòng đời [hoạt động] của nó chấm dứt.  Dù hiện nay, nhiều lò nghiên cứu không được sử dụng hết công suất, nhiều lò cũ sẽ sớm dừng và chấm dứt hoạt động thì trong nhiều thập kỷ tới, lò nghiên cứu vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành năng lượng nguyên tử. Vì vậy, từ năm 2005 đến năm 2014, thế giới đã chứng kiến 19 lò mới ra đời và hiện tại đang có 6 lò nghiên cứu trong quá trình xây dựng. Một số lò mới được thiết kế đặc biệt để có thể tạo ra thông lượng neutron cao, đa mục tiêu, đáp ứng nhu cầu đặc thù của thế hệ tiếp theo của lò phản ứng phân hạch hoặc lò phản ứng tổng hợp.  Mặc dù công chúng vẫn lo ngại về sự an toàn của lò phản ứng hạt nhân nhưng trong lịch sử hơn 60 năm vận hành và sử dụng lò nghiên cứu của thế giới, chưa hề xảy ra một sự cố hạt nhân nghiêm trọng nào đối với con người và môi trường. Vì vậy, nhiều lò nghiên cứu còn được đặt trong khuôn viên của trường đại học hoặc viện nghiên cứu, giữa các thành phố và trung tâm.  Về mặt kỹ thuật, lò nghiên cứu được trang bị các hệ thống an toàn tuân thủ nguyên lý “bảo vệ theo chiều sâu”, trong đó sử dụng các lớp bảo vệ vật lý khác nhau, nhằm ngăn chặn rò rỉ khí thải i-on hóa, vật liệu hạt nhân và các chất phóng xạ. Khi có bức xạ xuyên qua một lớp bảo vệ an toàn, hệ thống điều khiển sẽ lập tức cảnh báo để chấm dứt ngay lập tức phản ứng hạt nhân trong quá trình lò đang vận hành, qua đó ngăn chặn phát tán các chất phóng xạ. Hệ thống này cũng dựa trên khái niệm “an toàn theo chức năng”, tuân thủ nguyên lý ALARA cho hoạt động tự bảo vệ của lò phản ứng, nghĩa là các mức rủi ro có thể xảy ra đều ở “mức thấp nhất có thể đạt được một cách hợp lý”.  ————–  Tài liệu tham khảo  [1] Research Reactors: Purpose and Future, IAEA (2016).  [2] Các báo cáo tại Hội thảo khoa học do Bộ KH&CN, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Tập đoàn Năng lượng nguyên tử Liên bang Nga đồng tổ chức ngày 10/2/2017 tại Hà Nội.    Author                Lê Chí Dũng        
__label__tiasang Lò phản ứng nhiệt hạch 10 triệu độ C      Công ty tư nhân Tri Alpha Energy (Mỹ) vừa  tuyên bố đã chế tạo được một hệ thống thiết bị có khả năng giữ một khối  khí hình cầu siêu nóng 10 triệu độ C ổn định được trong 5 phần nghìn  giây (5 milliseconds) mà không bị hư hỏng.      Quãng thời gian này cực ngắn, nhưng đã vượt quá bất kỳ thử nghiệm tương tự nào trước đây. Nhiệt độ 10 triệu độ C đủ cao để duy trì phản ứng nhiệt hạch. Điều đó có nghĩa đây là một đột phá của công nghệ tổng hợp hạt nhân.   Hiện nay các dự án nghiên cứu phản ứng tổng hợp hạt nhân đều là những dự án lớn do nhà nước đầu tư, như Lò phản ứng nhiệt hạch thí nghiệm quốc tế ITER (International Thermonuclear Experimental Reactor) đang xây dựng tại Pháp với chi phí 20 tỷ USD và Thiết bị điểm hỏa quốc gia NIF (National Ignition Facility) được Bộ Năng lượng Mỹ đầu tư 4 tỷ USD. Nhưng các dự án đó đều rất phức tạp và tốn kém, nhiều người e ngại khó thu hồi vốn.   Tổng hợp nhiệt hạch về nguyên lý có vẻ đơn giản nhưng lại cực khó thực hiện. Khi chất khí được nung nóng tới nhiệt độ cao, các nguyên tử chất khí bị mất hết electron, hình thành một hỗn hợp gồm electron và ion, gọi là plasma. Dưới tác dụng của ngoại lực, các ion sẽ kết hợp lại với nhau đồng thời giải phóng ra một năng lượng lớn, quá trình đó gọi là tổng hợp hạt nhân. Để quá trình này diễn ra an toàn, phải tìm cách giam giữ khối plasma không để chúng thoát ra ngoài lò phản ứng, thế nhưng cho tới nay chưa tìm được loại vật liệu nào có thể chịu được nhiệt độ cao như vậy để làm thành lò.  Để giải quyết vấn đề đó, các nhà khoa học nghĩ ra lò phản ứng nhiệt hạch giam giữ quán tính, kiểu như NIF, và lò phản ứng nhiệt hạch giam giữ từ tính, kiểu như ITER.   Tri Alpha Energy dùng cách thứ hai. Họ dùng một kết cấu hình chiếc lốp xe gọi là FRC (field-reversed configuration) để giam giữ plasma. FRC đã được dùng từ thập niên 1960 nhưng các nhà khoa học chỉ giam giữ được khối plasma trong 0,3 milliseconds. Giờ đây, khi dùng phương pháp đó, Tri Alpha Energy có thể nung nóng Hydrogen và Boron tới 10 triệu độ C. Sắp tới đây, họ sẽ nâng cấp thiết bị để nâng cao nhiệt độ gấp 10 lần.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗ trắng trong vũ trụ      Lỗ trắng là thiên thể đối ngược của lỗ đen, nếu lỗ đen cuốn hút vật chất thì lỗ trắng bức xạ vật chất. Lỗ trắng cũng là lời giải của Thuyết tương đối rộng (General Relativity).    Nếu thấy một thiên thể phát ra những luồng vật chất thì đó là những lỗ trắng. Vật chất chỉ đi vào được lỗ trắng khi sở hữu một năng lượng khổng lồ. Theo Steven Weinberg, Robert Wald (Đại học Chicago) thì lỗ trắng không tồn tại. Song ngược lại theo những nhà vật lý khác thì lỗ trắng có thể tồn tại: lỗ trắng tồn tại và điều lý thú là lỗ trắng lại là giai đoạn cuối đời của lỗ đen.  Vật chất và năng lượng bị cuốn hút vào lỗ đen lại tái đột sinh và phát ra từ một lỗ trắng. Hiện tượng này xuất phát từ Lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng (Loop Quantum Gravity LQG) và trả lời được hai câu hỏi quan trọng:  1. Điều gì đã xảy ra trong lòng lỗ đen? Vật chất có tích lũy đến vô cùng trong lỗ đen được chăng?  2. Chung cuộc của một lỗ đen là gì?  Như ta biết lỗ đen có bức xạ Hawking (1970) làm cho lỗ đen trở thành nhỏ dần song sau đó là gì? Chưa ai biết được.  Thuyết tương đối rộng đã giải thích được về sự tồn tại của lỗ đen song chưa giải thích được hai câu hỏi trên. Lời giải Schwarzchild không nói cho chúng ta biết rõ điều gì sẽ xảy ra trong tâm lỗ đen và điều gì xảy ra tiếp theo trong tương lai xa. Theo Thuyết tương đối rộng thì mật độ vật chất sẽ tiến đến vô cùng và ta có một điểm kỳ dị. Đến đây thì thực tại dường như biến mất. Song kết luận này dường như không đúng vì tại đây chúng ta đã phải rời khỏi Thuyết tương đối rộng và cần đến những hệ quả của lượng tử của không thời gian hay nói cách khác cần đến Lý thuyết lượng tử của hấp dẫn.  Người ta cho rằng các hệ ứng của hấp dẫn lượng tử sẽ làm biến mất các đại lượng vô cùng, do vậy làm biến mất các điểm kỳ dị.  Hai lý thuyết thích hợp để nghiên cứu ở đây:  1. Lý thuyết dây  2. Lý thuyết lượng tử vòng, vốn xem không thời gian cũng phải tuân thủ các hiện tượng lượng tử. Những quan điểm lượng tử không những chỉ điều khiển các hạt mà còn điều khiển cả không thời gian2.  Tác giả Rovelli chọn LQG1.  Lý thuyết lượng tử vòng được phát triển từ năm 1980. Không thời gian sẽ gồm bằng những quanta (lượng tử). Và trong kích thước lớn, mạng quanta sẽ là một continium tiến triển theo Thuyết tương đối rộng. Chúng ta không thể bỏ qua cấu trúc gián đoạn của không thời gian. Vì thế các tiên đoán của Lý thuyết lượng tử vòng sẽ cho những kết quả khác Thuyết tương đối rộng cổ điển.  Không thời gian gián đoạn này sẽ dẫn đến một hệ quả: không tồn tại điểm kỳ dị – một thể tích vô cùng nhỏ với một mật độ vô cùng lớn. Năm 2014, tác giả Rovelli chứng minh rằng mật độ sẽ rất lớn song không là vô cùng – một đối tượng thiên thể gọi là “sao Planck” thay vì một điểm kỳ dị. Mật độ sao Planck là mật độ tối đa trong vật lý.  Và điều gì sẽ xảy ra nếu vật chất tiếp tục bị hút vào lỗ đen: vật chất chỉ có một con đường là nhảy bật khỏi đó. Lý thuyết lượng tử vòng cho phép không thời gian tạo nên hiện tượng nhảy bật đó và như vậy tạo nên một không thời gian mới thay đổi không thời gian của lỗ đen.  Cùng với Hal Haggard (Bard College, Mỹ), Rovelli đã chứng minh rằng trái ngược với những điều suy nghĩ trước đây, tồn tại khả năng một lỗ đen biến thành một lỗ trắng trong tương lai sau khi vượt qua một pha lượng tử1.  Một hiện tượng tương tự: xét một quả bóng rơi xuống đất và dội ngược lên, giai đoạn dội ngược lên sẽ là giai đoạn tương tự biến thành lỗ trắng.  Các nhà vật lý chứng minh rằng lỗ trắng tạo nên ở ngay vị trí của lỗ đen ban đầu. Có một thời điểm chân trời sự kiện, lỗ đen  biến thành chân trời sự kiện lỗ trắng.  Năm 1920, người ta đã biết đến hiện tượng đường hầm giải thích phóng xạ alpha. Trong hạt nhân nguyên tử, hạt alpha không thể vượt qua thế hạt nhân tạo nên từ tương tác mạnh và điện từ tác động vào hạt nhân. Song nhờ hiệu ứng đường hầm mà hạt alpha có thể lọt qua và bắn ra ngoài.  Tác giả Rovelli cùng cộng sự đã chứng minh được rằng là sự chuyển biến lỗ đen thành lỗ trắng là khả dĩ nhờ hiệu ứng đường hầm (xem hình 1) trong khuôn khổ của Lý thuyết lượng tử vòng. Đồng thời Abhay Ashtekar cùng đồng nghiệp cũng khẳng định, rằng sự biến đổi lỗ đen thành lỗ trắng cũng là hiện tượng khả dĩ.  Kết hợp với các phương trình phía ngoài vùng mà ở đấy lượng tử là quan trọng thì các tác giả thu được một mô tả đầy đủ của biến đổi lỗ đen thành lỗ trắng.                  Hình 1. Quá trình lỗ đen biến thành lỗ trắng.    Trên hình 1 ta có các công đoạn sau :  1. Cuối đời, sao bùng nổ thành siêu tân tinh và biến thành lỗ đen.  2. Không thời gian trở thành cong một cách mãnh liệt.  3. Tâm sao trở thành lỗ đen, lỗ đen bức xạ Hawking.  4. Vật chất tiếp tục co lại, ta sẽ có sao Planck.  5. Hiệu ứng đường hầm (tunnel effect) là một hiệu ứng lượng tử, không thời gian một lỗ đen qua hiệu ứng đường hầm sẽ biến thành không thời gian của một lỗ trắng.  6. Vật chất được phóng ra từ lỗ trắng, nếu lỗ đen có khối lượng lớn ta sẽ có một bùng nổ gamma hoặc một bức xạ radio nhanh (sursaut radio rapide).  7. Nếu lỗ trắng là nhỏ thì đây là một ứng viên của vật chất tối.  Chú ý rằng hiệu ứng đường hầm xảy ra rất chậm vì xác suất nhỏ, như vậy lỗ đen không biến thành lỗ trắng ngay tức khắc. Khi lỗ đen lớn thì quá trình đó càng chậm.  Sự biến đổi lỗ đen thành lỗ trắng chứa nhiều điều thú vị. Có thể kể vấn đề bảo toàn thông tin.  Kịch bản lỗ đen biến thành lỗ trắng dễ dàng giải quyết vấn đề thông tin rơi vào lỗ đen có bị mất mát chăng? Ta thấy rằng khi lỗ đen biến thành lỗ trắng thì mọi đối tượng (kể cả thông tin) rơi vào lỗ đen sẽ theo lỗ trắng mà thoát ra ngoài.  Đời sống của một lỗ đen phụ thuộc vào bức xạ Hawking và xác suất biến thành lỗ trắng.  Lỗ trắng ứng viên vật chất tối  Một khả năng thú vị xảy ra trong trường hợp lỗ trắng là tương đối ổn định. Các hệ quả lượng tử ngăn không cho lỗ trắng tiêu mất hoàn toàn khối lượng cho nên đời sống của chúng rất dài và các nhà vật lý nghĩ rằng chúng có thể là ứng viên của vật chất tối.  Trong phạm vi hệ Thái dương mật độ vật chất tối là 0,01 khối lượng mặt trời/parsec cube. Để thỏa mãn điều này chỉ cần một lỗ trắng/10.000 km3.  Hiện tượng dịch về phía đỏ  Một dấu hiệu để truy tìm lỗ trắng là hiệu ứng dịch về phía đỏ (redshift). Hai hiện tượng đóng góp vào đây là: sự dãn nở của vũ trụ, nếu ánh sáng ở càng xa – vũ trụ còn trẻ- thì ánh sáng càng có nhiều lệch đỏ và hiệu ứng chuyển dịch hấp dẫn (décalage gravitationnel), nếu sao  bức xạ có khối lượng càng lớn thì bức xạ đó càng lệch về phía đỏ. Và những lỗ đen đầu tiên trở thành lỗ trắng thì có khối lượng nhỏ hơn hơn các lỗ đen sau. Do đó độ lệch phía đỏ nhỏ hơn --> nhờ hiện tượng này người ta truy tìm lỗ trắng. Sự truy tìm lỗ trắng sẽ đi sâu vào hấp dẫn lượng tử, tìm hiểu các khía cạnh lượng tử của không thời gian. Quá trình lỗ đen biến thành lỗ trắng sẽ làm sáng tỏ nhiều khía cạnh vật lý lý thuyết và vũ trụ học.  Hiện nay chưa tìm được lỗ trắng nào. Hy vọng rằng thời gian tìm ra lỗ trắng sẽ ngắn hơn thời gian phát hiện lỗ đen.     Kết luận     Quá trình lỗ đen biến thành lỗ trắng là một quá trình chứa nhiều điểm quan trọng. Quá trình này kiểm định lại sự đúng đắn của Lý thuyết lượng tử vòng như thế khẳng định không thời gian phải được lượng tử hóa. Pha đường hầm trong quá trình đó cũng là một yếu tố bộc lộ các hệ quả của lượng tử. Việc truy tìm lỗ trắng trong thời gian tiếp là việc cần thiết để đi sâu vào hấp dẫn lượng tử vào vũ trụ học. □  ——-  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1 CARLO ROVELLI,professeur à l’université d’Aix-Marseille, chercheur  au Centre de physique théorique de Luminy,LA CHASSE AUX TROUS BLANCS  Pour la science số tháng 8/2019.  2 Cao Chi , Những vấn đề mới trong vật lý hiện đại, NXB Tri thức 2018.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Lo xa      &#160;Triết gia Daniel C. Dennett, Đại học Tufts, là người lo xa. Khoảng ba  mươi mấy năm trước, ông đã lo là cuộc cách mạng máy tính sẽ khuếch đại  cách biệt giữa bọn kỹ phiệt ở các nước phương Tây giàu có và những người  không có máy tính và phương tiện công nghệ cao ở các xứ nghèo nàn lạc  hậu khác.         Cũng giống như tài phiệt là kẻ nắm tư bản tài chính chi phối chính trị,  quân phiệt là kẻ dùng quân đội để cầm quyền, kỹ phiệt là người nắm/dùng  khoa học kỹ thuật chi phối các thiết chế quyền lực xã hội, tạm dịch từ  chữ technocrat. Từ này ngày nay thường hiểu theo nghĩa phổ thông là  chuyên viên trong lãnh vực khoa học kỹ thuật. Trong nỗi lo xa của  Dennett những người này trở thành bọn kỹ phiệt. Thực tế cho thấy những  người này, thí dụ Bill Gates, Steve Jobs, Zuckerberg, quả thực đã giàu  lên nhanh chóng và ngày càng giàu hơn.   Nhưng cuộc cách mạng máy tính đã diễn ra thật sâu, rộng, nhanh và kỳ  diệu không ngờ. Từ những cỗ máy đồ sộ đắt đỏ, máy tính đã trở nên rẻ và  gọn nhẹ đến nỗi trở thành vật dụng cá nhân, cùng với hàng loạt sản phẩm  công nghệ cao khác, như  điện thoại khôn (smartphone), biến trái đất  thành một quả cầu được kết nối toàn diện và (tưởng như) mọi cách biệt  được san phẳng. Sản phẩm công nghệ cao không còn giới hạn trong tầng lớp  giàu có và trí thức nữa. Khi có điều kiện sản xuất đại trà với giá  thành thấp, thì nhu cầu tiêu thụ cũng được tạo ra trong đại chúng. Một  anh nông dân không còn đất cày ở Cà Mau trôi dạt lên thành phố chạy xe  ôm cũng có nhu cầu/ khả  năng sắm điện thoại khôn, thậm chí cả máy tính  bảng. Sự cách biệt không còn ở khả năng “sở hữu”, mà ở khả năng “sử  dụng”. Thí dụ:  Zuckerberg lợi dụng internet để tạo ra mạng xã hội  Facebook và trở thành tỷ phú, anh xe ôm Cà Mau vay nợ sắm điện thoại  khôn để chơi game, coi phim sex, giựt le.  Chính việc sử dụng sản phẩm  công nghệ cao như thế nào mới làm cho khoảng cách giàu nghèo trên trái  đất sâu rộng hơn.   Nhưng khoảng cách giàu nghèo không còn là mối bận tâm của triết gia  Dennett nữa. Hiện nay ông đang lo là người ta đã lệ thuộc vào internet  đến nỗi nếu nó bị “cúp” chừng hai tuần lễ thì thảm họa thế giới sẽ xảy  ra. Chuyện internet bị cúp rất có khả năng xảy ra và người ta đã chuẩn  bị cho khả năng đó mấy phen (hồi năm 2000 chẳng hạn). Nhiều người ngày  nay không thể hình dung cuộc sống mà không có internet. Chỉ tưởng tượng  bị cúp internet chừng 2 tuần là thiên hạ hoảng loạn. Theo Dennett thì  chính nỗi hoảng loạn này sẽ đưa tới thảm họa.    Nhà khoa học máy tính David Gelernter, Đại học Yale, lại lo lắng về một  thảm họa khác: Chuyện tào lao Internet. Ông viết: “Internet tạo ra sự  giảm giá chung của chữ nghĩa: một sự giảm phát toàn cầu về giá trị của  chữ trung bình trên nhiều trục (tuyến). Khi mỗi chữ nhận được ít sự quan  tâm hơn, ít thời gian đọc hơn, và ít giá trị tiền bạc hơn ở đầu ra tiêu  thụ, thì tự nhiên nó có xu hướng chiếm ít thời gian hơn để viết và ít  sự quan tâm biên tập hơn ở đầu vào của sản phẩm. Dần dà, khi thời gian  đầu tư của người viết trung bình và người đọc trung bình vào mỗi câu văn  trung bình bị sút giảm thì khả năng truyền thông bằng chữ của xã hội bị  hư hoại. Và mối đe dọa đến khả năng đọc và viết của chúng ta là một cú  đấm trí mạng từ từ giáng vào khoa học, nghệ thuật, học thuật – thực sự  là gần như mọi thứ mang tính đặc trưng của loài người, những thứ mà loài  chồn hôi hay cá heo không thể làm được hay làm tốt hơn con người.”*  Gelernter dẫn chứng cho nỗi lo của ông: báo Daily Mail (xuất bản ở  London) gần đây tường thuật một nghiên cứu về khả năng viết tiếng Anh  của sinh viên Mỹ cho thấy mặc dù sinh viên bây giờ tự tin ở tài năng  ngôn ngữ của mình nhưng điểm kiểm tra của chúng thấp hơn hẳn sinh viên  hồi thập niên 1960, thời người ta còn rị mọ viết tay. Ông đổ lỗi cho  “khả năng phát hành gần như tức thì của internet khiến cho không có thời  gian chùng chình giữa viết ra và xuất bản, lại thêm khả năng quảng bá  rộng khắp thế giới của internet khiến người viết bị áp lực sản xuất  (nhanh, nhiều) hơn nữa. Sự giảm phát toàn cầu về giá trị của chữ cũng  khiến việc biên tập và tự biên tập bị coi nhẹ hay bỏ qua.”*    Còn khoảng hơn chục nỗi lo khác liên quan đến internet khiến các học  giả, chuyên gia, nghệ sĩ, trí thức bận tâm khi trả lời câu hỏi của  George Dyson trên edge.org. Đây là một trang web do John Brockman, một  người môi giới xuất bản, người chuyên đi tìm và giới thiệu bản thảo cho  các nhà xuất bản để ăn hoa hồng, ông này nổi tiếng là kiếm được những  khoản tiền đặt cọc to cho các tác giả, và giúp ra đời những cuốn sách  hay trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.  Khoảng mươi năm trước, Brockman  nảy ra sáng kiến lập ra một mạng lưới kết nối những học giả trong lãnh  vực khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội … đặt cho họ một câu hỏi (lớn)  để có những gợi ý hay và tập hợp những câu trả lời đáng chú ý in thành  sách. Câu hỏi và câu trả lời vừa nhận được đưa ngay lên trang edge.org  từ đầu năm cho thiên hạ tranh luận, đến cuối năm thì tuyển lại, biên tập  và xuất bản dưới dạng sách giấy và sách điện tử.  Câu hỏi của năm 2013 là: Chúng ta nên bận tâm điều gì? (Chúng ta lo lắng  bởi vì chúng ta được tạo ra với khả năng dự kiến tương lai. Không gì  khiến chúng ta ngừng lo được, nhưng khoa học có thể dạy chúng ta biết  cách lo tốt hơn và biết khi nào thì bớt lo. Hãy nói cho chúng tôi biết  điều gì khiến quí vị bận tâm (có nguyên nhân khoa học), nhưng chưa nổi  cộm lên, và tại sao điều đó khiến quí vị lo lắng. Hoặc là nói cho chúng  tôi biết nỗi lo nào quí vị đã thôi bận tâm đến, cho dù người khác vẫn  còn lo, và tại sao điều đó không đáng lo nữa).*   Đến nay đã có 155 học  giả, nghệ sĩ, giáo sư, nhà hoạt động xã hội, kinh tế gia, vv, cung cấp  hơn một trăm rưởi câu trả lời, nêu ra hàng trăm điều đáng lo, hoặc không  nên lo; dĩ nhiên trong đó có nỗi lo, và không nên lo, về chính những  nỗi lo.   Phải nói là thiên hạ lo đủ thứ. Seth Lloyd của viện MIT lo lắng về lỗ  đen tài chánh. Ông là giáo sư công nghệ cơ học lượng tử và tác giả một  cuốn sách có tựa “Lập trình vũ trụ”. Lãnh vực chuyên môn của ông và vấn  đề ông lo lắng (tài chánh) đều vượt tầm nhận thức của tôi, nên đọc xong  thấy ông bảo khỏi lo chuyện mặt trời của chúng ta bị hút vào lỗ đen vũ  trụ thì cũng mừng. (Còn chuyện ông lo ngân hàng sập thì tôi không lo, vì  đã đào đất chôn vàng rồi!)   Nghệ sĩ lừng danh Brian Eno có mối bận tâm lớn là hầu hết những người  khôn ngoan mà ông quen biết đều không muốn dính dáng tới chính trị. Ông  thắc mắc có phải vì trong chính trị khó xảy ra điều gì thực sự có ý  nghĩa lớn lao, hay vì những bộ óc vĩ đại đều quá bận bịu với những lãnh  vực chuyên môn cao siêu hơn, như  vật lý lượng tử. Hoặc họ cho rằng đâu  sẽ vào đấy, việc đời sẽ được một bàn tay vô hình sắp đặt tử tế? Và họ để  mặc cho người khác làm. Cho nên, theo Eno, chiến tranh triền miên, nợ  ngập đầu dân các nước nghèo, đám nhà băng quậy kinh tế thế giới điêu  đứng, là tại bởi vì những người vĩ đại lo làm toàn chuyện vĩ đại, chừa  cái ao con chính trị cho bọn cò con tha hồ quậy đục nước.       Những vấn đề mà Eno đổ thừa cho chính trị ấy, nếu chấp nhận thuyết của  David M. Buss, giáo sư tâm lý ở Đại học Texas, thì đều có nguyên nhân là  tình trạng khan hiếm bạn tình. Tất nhiên con người cần phải duy trì nòi  giống, và ai cũng muốn dòng dõi của mình ngày càng ưu tú. Vì vậy ai  cũng mong muốn giao phối với một đối tác “mười phân vẹn mười”. Thực tế  là những người vẹn toàn tám chín phân cũng đã hiếm, cho nên cái đám có  được năm bảy phân ưu thế phải đấu nhau kịch liệt trong cuộc cạnh tranh.  Cả đàn ông lẫn đàn bà đều theo bản năng mà muốn giao phối với người hoàn  hảo hơn mình, cho dù đó là chân dài hơn, hay học cao hơn, tiền bạc rủng  rỉnh hơn. Canh cánh nỗi lo không tìm được người giao phối khiến người  ta căng thẳng, hung tợn, hiếu chiến, tàn nhẫn, gian manh, mưu mô, hiểm  độc. Những chuyện si tình, thất tình, ngoại tình, lừa tình… trở thành đề  tài hấp dẫn của thi ca nghệ thuật vì thực tế mối bận tâm lớn nhất của  con người là kiếm được người giao phối lý tưởng.    Con người là đối tượng tập trung nhiều mối lo nhất (ngoài vấn đề liên  quan đến internet). Nhờ những thành tựu trong lãnh vực gene và mã di  truyền, khoa học thần kinh và nhận thức, con người ngày nay dường như  sắp đạt được câu trả lời khoa học “tôi là ai?”. Cho nên phần lớn các học  giả không còn bận tâm đến những vấn đề của cái tôi cá thể nữa, mà tập  trung lo lắng cho số phận chung của nhân loại.    Trước tiên là dân số. Lâu nay người ta lo dân số ngày càng tăng, theo  các nhà dân số học của Liên Hiệp Quốc thì dân số thế giới sẽ tăng đều  đều trong 40 năm nữa và đạt tới đỉnh là 9,2 tỷ người. Kevin Kelly, chủ  bút của mạng truyềng thông Wired, bèn thắc mắc là lên tới đỉnh rồi sao  nữa? Đặt xong câu hỏi ông phát lo, bởi vì không tìm thấy số liệu nào về  cuộc lao dốc dân số sau đó. Thường thì lên dốc mới cực, chứ xuống dốc èo  một cái tới đáy lúc nào không hay. Mối nguy ở chỗ người ta cứ cổ xúy  giảm dân số, nên có khả năng cá thể loài người sẽ giảm trầm trọng trong  một trăm năm nữa! Hiện nay dân số Nhật và nhiều nước châu Âu đang giảm.  Mà ngay cả ở những nước nghèo vốn “mắn đẻ” thì tỷ lệ sinh cũng đang  giảm. Ôi, Kelly lo quá. Không ai lo thì dân số giảm tới zero chứ chẳng  chơi.  Nhà báo David Berreby không lo xa tới số lượng cá thể con người. Nỗi lo  trước mắt là dân số đang già đi. Trước năm 2000 số người trẻ luôn đông  hơn số người già, nhưng từ sau năm 2000 thì số người già ngày một đông  hơn, đến “đỉnh” vào năm 2050 thì ở các nước giàu cứ 3 người có một người  trên 60 tuổi, và sẽ có 2 tỷ người trong tổng số 9,2 tỷ dân mắc chứng lú  lẫn vì quá già. Chắc chắn là sẽ có rất nhiều vấn đề xã hội nảy sinh.  Điều đáng lo là chúng ta chưa từng có kinh nghiệm giải quyết vấn đề này,  càng đáng lo hơn nữa là chúng ta chưa sẵn sàng đối phó.  Mà cái sự  người ta già đi là không tránh được. Và người già sẽ sống dai hơn trước  đây.  Bà giáo sư Kate Jeffery thậm chí lo là người ta sẽ không chịu chết. Dĩ  nhiên đâu có ai muốn chết. Bao nhiêu công trình nghiên cứu y học hiện  nay đều nhằm kéo dài tuổi thọ con người và đã đạt  những thành tựu đáng  kể. Người ta tin là một thế hệ con người mới đã chào đời với gene được  điều chỉnh để có thể sống đến 150 tuổi. Những thế hệ sau có thể còn sống  lâu hơn, hoặc không bao giờ chết. Điều này mà thành hiện thực thì nỗi  lo dân số giảm của Kelly được hóa giải, nhưng nỗi lo dân số già của  Berreby trở thành ác mộng.   Nhưng cơn ác mộng lớn nhất của nhân loại, theo giáo sư Douglas  T.Kenrick, là tình trạng nhân loại bị ngu đần hóa. Tình trạng này có thể  xảy ra trong vài trăm năm tới nếu tình trạng sinh sản hiện nay tiếp  diễn trong chừng một chục thế hệ nữa. Hiện nay những người đẻ nhiều  thường có những đặc điểm này: sống trong gia đình đông anh chị em, học  vấn và chỉ số IQ trung bình, nghèo, dậy thì sớm, đẻ con đầu lòng sớm. Do  vậy con cái họ cũng không có nhiều cơ hội học cao, mở mang trí tuệ, mà  thường tiếp tục vòng luẩn quẩn của cha mẹ. Cũng có nhiều người thông  minh xuất sắc sinh ra từ những bà mẹ trí tuệ trung bình, nhưng tỷ lệ con  cái có IQ trung bình luôn lớn hơn một hai đứa thông minh đột xuất.  Ngược lại người có học vấn và IQ cao thì lập gia đình, sinh ít, thậm chí  không con. Hậu quả là số người bẩm sinh thông minh ngày càng ít, trong  khi người ngu si đần độn ngày càng nhiều. Người ngu sẽ dễ hùa nhau  chống-trí-thức khiến cho đà phát triển văn minh nhân loại chậm lại.   Nhưng không sao, nhà văn Ed Regis vừa cung cấp thông tin: Ngày 13/9/2012  tại Houston, Texas, hàng trăm khoa học gia, ký giả, nhà giáo, và nhiều  thành phần trí thức khác, đã tựu tập để chứng kiến việc ra mắt đề án Tàu  vũ trụ 100 năm, với những báo cáo khoa học phác thảo dự án di tản con  người ra khỏi trái đất hướng đến những vì sao, tạo ra một Trái đất khác  (phiên bản 2.0) trong vòng một thế kỷ. Nghe có vẻ chuyện khoa học viễn  tưởng. Regis mong rằng dự án lãng mạn và rất ư mơ mộng ấy không bao giờ  thành hiện thực, vì ông không muốn rời bỏ trái đất thân yêu này. Nhưng  những người lập dự án di tản này hẳn đã lo rằng trái đất sẽ đầy nhóc bọn  IQ trung bình chỉ biết ăn nhậu, tàn phá thiên nhiên và đẻ ra những đứa  con giống mình. Biết làm gì với đám nhân loại đó? Chỉ còn nước đi tìm  một thế giới khác giữa các vì sao!   ———————-  (*) Trích dịch từ 2013: What “should”  we be worried about?  http://edge.org/responses/q2013    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loại bụi nguy hiểm nhất đối với sức khỏe?      Các nhà nghiên cứu phải tìm ra, ở mỗi vùng, đâu là loại bụi nguy hiểm nhất đối với sức khỏe người dân, để từ đó có thể đề xuất chính sách phù hợp nhằm ưu tiên giảm thiểu mức độ của các chất gây ô nhiễm. Đây là bài toán mà Xiangdong Li (Đại học Bách khoa Hongkong) và các đồng sự đang kêu gọi cả thế giới cùng hợp sức giải quyết.      Hai người đang ngồi trên một tòa nhà cao tầng để quan sát màn sương mù dày đặc bao trùm Trịnh Châu, Trung Quốc, vào tháng 1 năm 2017. Ảnh: VCG / Getty.    Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có đến hơn 4 triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời. Thủ phạm chính là các hạt bụi mịn có kích thước đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2.5 micromet (PM2.5). Chúng có thể xâm nhập sâu vào phổi, tim và máu, từ đó gây ra các căn bệnh khác nhau và thậm chí là ung thư.    Nhưng các ước tính trung bình kiểu này đã mặc nhận rằng các hạt bụi mịn trên toàn thế giới đều giống nhau. Thật ra không phải thế. PM2.5 là một hỗn hợp các chất hóa học (gồm hydrocarbon, muối và các hợp chất từ hoạt động giao thông, bếp nấu và hoạt động sản xuất công nghiệp) và các thành phần tự nhiên khác như bụi và vi sinh vật. Hỗn hợp này – cùng độc tính của nó – thay đổi tùy theo địa điểm và thời gian, theo những những cách mà chúng ta không thể theo dõi, hiểu hay kiểm soát được.  Ví dụ, ở châu Á, bồ hóng từ máy sưởi và bếp dân dụng là nguồn phát thải PM2.5 lớn nhất. Ở các nước châu Âu, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản và miền Đông Hoa Kỳ, khí thải nông nghiệp như amoniac là nguồn phát thải chính. Hiện chúng ta vẫn chưa rõ trong số trên, đâu là nguồn phát thải nguy hiểm nhất.     Độc tính không đồng đều     Ở mỗi khu vực trên thế giới, ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe người dân theo những cách khác nhau. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều người chết vì ô nhiễm không khí – các thành phố công nghiệp của hai quốc gia này đều có đặc điểm là bị ô nhiễm nặng, có mật độ dân cư cao; nhưng các thị dân ở châu Âu và Hoa Kỳ lại có độ rủi ro về bệnh tật cao hơn. Cụ thể, khi tiếp xúc với một mức PM2.5 tương đương nhau, khả năng tử vong vì bệnh tim và các cơn hô hấp cấp tính của người châu Âu và Bắc Mỹ cao hơn so với người dân ở Trung Quốc.      Danh sách các loại bệnh do ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên sức khỏe con người vẫn còn dài. Nhưng rốt cục, câu hỏi quan trọng nhất được đặt ra ở đây là: ở một địa điểm nhất định, đâu là chất gây ô nhiễm nguy hiểm nhất, cần phải ưu tiên giảm thiểu ngay lập tức?      Khả năng tử vong vì ô nhiễm không khí giữa các thành phố cũng khác nhau. Khi nồng độ khói bụi tăng cao, cư dân London và New York sẽ có nguy cơ tử vong cao hơn cư dân Bắc Kinh. Mỗi miligram PM2.5 trong không khí bẩn ở Milan có nhiều khả năng tạo ra các các phản ứng oxy hóa (gốc tự do) gây hại cho cơ thể con người hơn so với ở Lahore hoặc Los Angeles4. Cư dân của các thành phố ở miền Đông Trung Quốc, như Thượng Hải, Hàng Châu và Nam Kinh, có nguy cơ tử vong cao hơn trên mỗi đơn vị nồng độ PM2.5 tăng lên so với cư dân ở các thành phố khác trong nước. Nói cách khác, mỗi miligram PM2.5 ở các thành phố phía Đông này độc hại hơn so với phần còn lại của Trung Quốc. Và màn sương mù mùa đông dày đặc bao trùm thủ đô Bắc Kinh còn nguy hiểm hơn sương mù ở Quảng Châu – một thành phố có kích thước tương tự nằm ở miền Nam Trung Quốc.    Các nghiên cứu được thực hiện trên những dòng tế bào và động vật đã góp phần củng cố những phát hiện này (chưa thực hiện được việc kiểm tra độc tính của các chất ô nhiễm không khí trực tiếp trên cơ thể người vì điều này vi phạm đạo đức nghiên cứu). Ví dụ, phổi của những con chuột đã tiếp xúc với bụi PM2.5 từ California trong 24 giờ bị viêm nhiều hơn so với những con chuột tiếp xúc với nồng độ PM2.5 tương tự trong không khí từ Trung Quốc. Dẫu biết rằng rất khó để đánh đồng động vật với cơ thể người, nhưng sự khác biệt này vẫn phần nào cho thấy mức độ carbon hữu cơ và đồng hữu cơ cao hơn trong khói giao thông ở California.    Hỗn hợp các chất gây ô nhiễm không khí cũng có thể độc hơn các thành phần của chúng khi tồn tại ở dạng đơn lẻ. Ví dụ, các tác động kết hợp của ô nhiễm không khí ngoài trời, trong nhà và khói thuốc lá có thể gây ra nhiều hơn gấp 2-3 lần số trường hợp chết yểu trên toàn cầu mà WHO ước tính hiện nay.      Các loại bếp lò đốt củi cũng tạo ra bồ hóng, một trong những nguồn phát thải làm ô nhiễm không khí ngoài trời. Nguồn: Dmitry Feoktistov/TASS/Getty.  Rất ít những nghiên cứu về tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe con người liên quan đến các thành phần của PM2.5. Hầu hết chỉ đơn giản là nhìn vào khối lượng của các hạt PM2.5 và đề ra một công thức duy nhất. Ví dụ, dự án “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu” (Global Burden of Disease) quy các rủi ro về sức khỏe trong một công thức duy nhất là ‘phản hồi – phơi nhiễm’, đây cũng là hướng tiếp cận của WHO. Công thức này cho rằng khi một người hít phải một lượng bụi mịn PM2.5 nhất định, khả năng cao là anh ta sẽ tử vong sau đó vì một căn bệnh liên quan. Kết luận này được đưa ra dựa trên hàng trăm nghiên cứu dịch tễ học, chủ yếu được thực hiện ở châu Âu và Hoa Kỳ.    Trên thực tế, chúng ta biết rất ít về việc khói bụi thực sự ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào. Một số chất được cho là gây hại nếu hít phải. Ví dụ, các kim loại chuyển tiếp, bao gồm sắt và đồng, tạo ra các gốc tự do (chất oxy hóa). Mối liên hệ giữa phơi nhiễm các gốc tự do trong PM2.5 trước khi sinh với tình trạng trẻ sinh nhẹ cân đã được báo cáo trên 31 thành phố ở Ontario, Canada. Ngược lại, sunfat, nitrat và amoni xuất hiện phổ biến hơn trong khói bụi nhưng ít gây hại hơn so với kim loại.    Các nhà khoa học vẫn tiếp tục phát hiện thêm một số chất nguy hiểm có trong không khí. Ví dụ, kim loại độc hại và hydrocarbon thơm đa vòng (PAH) chiếm gần 40% tổng khả năng tạo ra các gốc tự do trong bụi mịn PM2.5 ở Bắc Kinh và Quảng Châu vào tháng 1 năm 2014. Số còn lại là những chất gì?    Khả năng là phần còn lại gồm các sol khí hữu cơ thứ cấp. Chúng có nguồn gốc từ các phản ứng quang hóa của các hợp chất hữu cơ như isoprene (do thực vật và động vật tạo ra, có thể tìm thấy trong cao su tự nhiên). Bên cạnh đó, đất và than giải phóng các chất hữu cơ ‘humic’ khác. Chất hóa dẻo như bisphenol và phthalate ảnh hưởng đến hệ nội tiết. Nhưng độc tính của tất cả các chất này trong không khí vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu thêm.      Cần chia sẻ công khai cơ sở dữ liệu độc tính toàn cầu, bao gồm dữ liệu từ các địa điểm vào những mùa khác nhau – giống như cách mà WHO đã chia sẻ về tỷ lệ tử vong toàn cầu do mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí.      Trong các nghiên cứu về sức khỏe, những thành phần sinh học như vi khuẩn và nấm vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Những yếu tố này tự thân nó có thể mang độc tính, hoặc có thể tương tác với các hóa chất khác gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Bên cạnh đó, cần thêm nhiều những nghiên cứu chuyên sâu về mầm bệnh và chất gây dị ứng. Chẳng hạn, lơ lửng trong màn sương mùa đông ở Bắc Kinh là một loại vi khuẩn phổ biến có thể gây viêm phổi (Streptococcus pneumoniae) và một chất gây dị ứng nấm (Aspergillus fumigatus) có thể xâm nhập vào đường thở của những người bị suy giảm hệ miễn dịch. Các hợp chất trong thành tế bào của vi khuẩn (nội độc tố) có thể gây viêm, còn chất độc chuyển hóa thứ cấp do các sinh vật thuộc giới nấm tạo ra (độc tố nấm mốc) có thể dẫn đến các bệnh về đường hô hấp và bệnh nhiễm trùng.    Danh sách các loại bệnh do ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên sức khỏe con người vẫn còn dài. Nhưng rốt cục, câu hỏi quan trọng nhất được đặt ra ở đây là: ở một địa điểm nhất định, đâu là chất gây ô nhiễm nguy hiểm nhất, cần phải ưu tiên giảm thiểu ngay lập tức?     Bước tiếp theo     Trước tiên, trọng tâm của các nghiên cứu về ô nhiễm không khí nên chuyển sang đo lường các tác động sức khỏe, chứ không chỉ tập trung vào khí thải và hóa học khí quyển. Để làm được điều này, cần thiết phải có sự tham gia của những chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau như sinh học phân tử, độc học, khoa học sức khỏe và kinh tế. Nhà nghiên cứu nên xếp hạng các nguồn PM2.5 theo mức độ độc hại của chúng và kiểm tra độc tính của các mẫu không khí thực.    Tiếp theo, những nghiên cứu đó phải được chuyển hóa thành biện pháp cụ thể, nhằm kiểm soát các nguồn ô nhiễm nguy hiểm nhất. Ví dụ, giảm thiểu khí thải từ đời sống thường nhật của người dân có thể là phương án tốt nhất để giảm số ca tử vong do ô nhiễm không khí ở Trung Quốc và Ấn Độ; tương tự, ở phía Bắc Trung Quốc, việc chuyển từ sử dụng than để sưởi ấm vào mùa đông sang sử dụng khí đốt tự nhiên là một phương án đang được cân nhắc kỹ lưỡng. Còn tại Hoa Kỳ, chính quyền đang thúc đẩy các biện pháp tiết kiệm nhiên liệu sạch, chất thải vô cơ từ nông nghiệp định hướng giải quyết ngay tại nông thôn.      Để làm được điều này, WHO nên sử dụng dữ liệu của mình để xác định các điểm nóng – những quốc gia ô nhiễm bụi mịn PM2.5 ở mức báo động. Danh sách này nên bao gồm cả Nigeria, Ấn Độ, Ai Cập và Nepal vì đây là những nơi có nồng độ bụi mịn và tỷ lệ tử vong cao. Có thể xem tình trạng bụi mịn PM2.5 ở Nigeria, Chad, Yemen, Sierra Leone và Cote D’lvoire đang ở mức đặc biệt nguy hiểm vì các quốc gia này có nồng độ bụi mịn PM2.5 ở mức trung bình đến thấp, dẫn đến tỷ lệ tử vong vì các bệnh liên quan tương đối cao.    Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới nên tài trợ phát triển một mạng lưới các trạm chuyên theo dõi những hợp chất có trong không khí tại những địa điểm quan trọng, bắt đầu với các điểm nóng kể trên, từ đó mở rộng sang các điểm khác. Các nhà khoa học nên tiến hành nghiên cứu  trên tế bào và động vật tại môi trường sống cụ thể của chúng, từ đó chuẩn hóa phương pháp nghiên cứu trên tế bào, động vật và con người. Ví dụ, đối với các xét nghiệm trên tế bào, có thể định lượng độc tính của hỗn hợp PM2.5 bằng cách so sánh với tác động của các hóa chất khác, tương tự như đánh giá chất lượng nước.    Cần chia sẻ công khai cơ sở dữ liệu độc tính toàn cầu, bao gồm dữ liệu từ các địa điểm vào những mùa khác nhau – giống như cách mà WHO đã chia sẻ về tỷ lệ tử vong toàn cầu do mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí. Chúng ta cũng có thể thu thập dữ liệu chất lượng không khí đã được cá nhân hóa, ví dụ từ máy cảm biến đeo trên cơ thể, hoặc xác định mối liên hệ giữa  việc phơi nhiễm các chất ô nhiễm và tình trạng sức khỏe của một cá nhân.    Cần thu thập thêm dữ liệu về hành vi và nhận thức của mọi người, để tìm hiểu cơ chế phơi nhiễm với các chất độc có trong không khí xuyên suốt hoạt động sống thường nhật. Dựa trên những dữ liệu đó, các chuyên gia sẽ đưa ra cảnh báo, khuyến nghị về chất lượng không khí và phương pháp quản lý sức khỏe – đều đã được cá nhân hóa. Xa hơn, chúng ta có thể tạo ra một hình thức cảnh báo di chuyển dành cho người nhạy cảm, giúp họ tránh phơi nhiễm với các chất độc, chẳng hạn như khi lưu lượng giao thông dày đặc hoặc điều kiện thời tiết có khả năng hình thành bụi mù. □     Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01960-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài chim cánh cụt cổ đại lớn như con người      Gerald Mayr tại Viện nghiên cứu Senckenberg và Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Frankfurt, Đức và cộng sự đã phân tích bộ xương hóa thạch của một loài cánh cụt khổng lồ (Kumimanu biceae) từng được khám phá tại Moeraki Formation ở Otago, New Zealand.      Nhóm nghiên cứu ước lượng, với chiều cao 1,77m và nặng hơn 100 kg, đây là loài chim cánh cụt lớn nhất thế giới và sống cách đây khoảng 55 – 60 triệu năm. Hiện nay, cánh cụt hoàng đế (Aptenodytes forsteri) giữ kỷ lục loài chim cánh cụt còn sống lớn nhất, cũng chỉ cao 1,2m ở độ tuổi trưởng thành.  Công bố “Loài cánh cụt ở thế Paleocene từ New Zealand chứng minh nguồn gốc đa dạng của tính chất khổng lồ trong hóa thạch bộ Sphenisciformes” (A Paleocene penguin from New Zealand substantiates multiple origins of gigantism in fossil Sphenisciformes) của họ được xuất bản trên trên tạp chí Nature Communications hôm 12/12.  Bộ xương hóa thạch của loài K. biceae được hai nhà nghiên cứu Alan Tennyson và Paul Scofield tìm thấy vào năm 2004 trông có vẻ quá lớn so với kích thước của chim cánh cụt. Do vậy lúc đầu người ta giả định bộ xương này nguyên thủy là một con rùa. Sau khi nằm trên kệ trong hơn 10 năm, bộ xương hóa thạch cuối cùng cũng được kiểm tra lại và xác định thuộc về một loài chim cánh cụt. Gerald Mayr cho biết, nhiều khả năng tập tính của chim cánh cụt K. biceae “tương tự như chim cánh cụt hiện đại”.  Những con chim cánh cụt cổ đại có khả năng phát triển kích thước cơ thể khổng lồ, vượt xa các loài chim cánh cụt hiện đại lớn nhất. Để so sánh, chim cánh cụt hoàng đế – loài cao nhất và nặng nhất đang sinh sống trên Trái đất – chỉ có thể đạt được chiều cao khoảng 1,22 mét và trọng lượng 45 kg ở độ tuổi trưởng thành.  Thay vì có bộ lông màu trắng – đen như thường lệ, K. biceae màu nâu và có mỏ dài hơn so với chim cánh cụt hiện đại.  Chim cánh cụt đã tiến hóa từ những con chim biết bay cách đây hàng chục triệu năm. Chúng đánh mất khả năng bay lượn và thay vào đó là khả năng bơi lội. Sau khi sống trên mặt đất, một số loài chim cánh cụt trở nên lớn hơn. Chúng phát triển từ chiều cao ban đầu khoảng 80cm lên gấp đôi.  Công bố của Gerald Mayr và cộng sự chỉ ra, một số loài cánh cụt trở thành “kẻ khổng lồ” sớm ngay sau khi có cuộc tiến hóa đầu tiên và chuyển từ biết bay sang lặn. Vào thời điểm loài K. biceae còn sống, có thể chúng đã sống ở môi trường cận nhiệt đới ấm áp cùng với nhiều loài chim biển, rùa và cá mập khác.  Việc có được những thông tin về K. biceae đã góp phần đem lại những hiểu biết mới về quá trình tiến hóa của chim cánh cụt. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của K. biceae cho đến nay vẫn là điều bí ẩn. Nhiều khả năng, chúng phải cạnh tranh thức ăn với động vật biển có vú hoặc trở thành con mồi của những động vật ăn thịt khác.  Nguồn: http://www.ibtimes.co.uk/kumimanu-biceae-giant-human-sized-ancient-penguin-has-been-discovered-1651197  https://www.theguardian.com/science/2017/dec/12/fossil-hunters-find-man-sized-penguin-on-new-zealand-beach  Quốc Hùng dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài ếch kỳ lạ không có phổi      Con ếch đầu tiên không có phổi đã được phát hiện ẩn nấp trong khu rừng Borneo, Indonesia. Loài lưỡng cư bí ẩn này, có tên là Barbourula kalimantanensis, vẫn thường lấy oxy qua da của chúng.      Khi các nhà nghiên cứu bắt đầu phẫu thuật sinh vật bắt được, họ ngạc nhiên phát hiện nó không hề có phổi. Các cơ quan nội tạng khác cũng rất kỳ cục. Toàn bộ phần còn lại trong bụng bị thay đổi vị trí để lấp chỗ trống vốn dành cho phổi. Theo các nhà nghiên cứu, việc không có phổi giúp loài ếch căng tối đa bề mặt da, giúp chúng hấp thu oxy tốt hơn. Nhóm cho rằng việc mất phổi có thể là một cách thích nghi với môi trường sống lạnh lẽo của chúng. Những vùng nước như vậy có hàm lượng oxy cao. Ngoài ra, các con ếch có thể bơi chìm dưới nước thay vì trôi nổi theo dòng chảy, nên việc không có phổi sẽ giúp chúng lặn tốt hơn.   M.T (theo Livescience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài người có tổ tiên từ Châu Á?      Các nhà khoa học thống nhất rằng tổ tiên gần  nhất của chúng ta, loài vượn lưng thẳng, có nguồn gốc từ châu Phi.  Nhưng phát hiện về một loài linh trưởng sống cách nay 37 triệu năm ở  những đầm lầy cổ nay thuộc Myanmar, đã củng cố quan điểm cho rằng nguồn  gốc sâu xa của loài người là ở Châu Á.     Nếu khám phá là đúng thì nó cho thấy tổ tiên của tất cả mọi loài khỉ, vượn, và người – gọi chung là anthropoid (có hình người)– khởi phát từ Châu Á, và đã trải qua một hành trình gian nan để đến sống tại châu Phi khoảng 40 triệu năm trước.  Cách đây 18 năm đổ về trước, các mẫu di vật hóa thạch của một loài nghi là anthropoid đều được tìm thấy từ Ai Cập, và có niên đại 30 triệu năm trước. Nhưng bắt đầu từ thập kỷ 1990, các nhà nghiên cứu bắt đầu khám phá ra những di vật hóa thạch của những linh trưởng có niên đại 37 tới 45 triệu năm trước ở Trung Quốc, Myanmar, và một số nước Châu Á khác. Điều này cho thấy các anthropoid bắt đầu tồn tại ở Châu Á, sau đó vài triệu năm di cư sang châu Phi. Tuy nhiên, các nhà cổ sinh vật học vẫn thiếu những mẫu hóa thạch cho thấy các anthropoid di cư khi nào và như thế nào từ Châu Á sang châu Phi, theo lời nhà cổ sinh vật học K. Christopher Beard, thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Carnegie ở Pittsburgh, bang Pennsylvania, Mỹ.  Tới năm 2005, Beard và một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế trong khi xem xét một số mẫu hóa thạch răng của cá, rùa, và hà mã cổ đại tại một địa điểm khai quật gần làng Nyaungpinle ở Myanmar đã tìm thấy một mẫu răng có kích cỡ bằng một hạt bỏng ngô. Chiếc răng này có niên đại 38 triệu năm trước, thuộc về một loài linh trưởng cổ đại. Sau vài năm tìm kiếm vất vả, nhóm thu được tất cả là bốn mẫu răng của loài này, và họ đặt tên loài là Afrasia djijidae. “Thật là một nơi khó làm việc; mất 6 năm chỉ để tìm ra bốn chiếc răng”, Beard nói.  Bốn mẫu răng là đủ để Beard và Jean-Jacques Jaeger, trưởng nhóm nghiên cứu, từ Đại học Poitiers của Pháp, thấy rằng Afrasia có mối quan hệ gần gũi với với một loài linh trưởng khác sống ở cùng thời gian tại châu Phi – loài Afrotarsius libycus sống ở khu vực nay thuộc Libya. Khi các nhà nghiên cứu kiểm tra răng của hai loài dưới kính hiển vi, họ thấy chúng tương đồng về kích thước, hình dạng, và niên đại, tới mức có khả năng chúng là cùng một loài, Beard cho biết. Sự tương đồng gần gũi này giữa những mẫu hóa thạch tìm thấy ở Châu Á và châu Phi là “chưa từng thấy trước đây”, các nhà nghiên cứu viết trên trang mạng tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences ngày 4/6 vừa qua.  Tuy nhiên, qua kiểm tra kỹ hơn, nhóm nghiên cứu thấy rằng mẫu răng của loài Afrasia từ Châu Á thô hơn mẫu răng của loài Afrotarsius từ Libya, cụ thể là chỗ phình ra của răng hàm dưới có kích cỡ to hơn. Những vết thô này, cùng với thực tế là những mẫu hóa thạch của các loài anthropoid từ Châu Á có sự đa dạng cao hơn, niên đại cổ hơn, cho thấy rằng nhóm linh trưởng này xuất hiện ở Châu Á, và di cư tới châu Phi trong khoảng 37 triệu tới 30 triệu năm trước. “Anthropoid chưa đặt chân tới Châu Á trước khi có những mẫu hóa thạch ở Libya”, Jaeger nói.  Câu chuyện về các loài linh trưởng di cư khỏi Châu Á có lẽ khá phức tạp. Nhóm nghiên cứu cho rằng có nhiều hơn một loài anthropoid di cư từ Châu Á sang châu Phi trong giai đoạn này, vì có ít nhất hai loài anthropoid cổ đại khác từng sống trong cùng thời kỳ với loài Afrotarsius từ Libya, nhưng chúng không có mối liên hệ gần với hai loài Afrotarsius và Afrasia. Có lẽ nguyên nhân là do khi đặt chân tới châu Phi, môi trường mới quá tươi tốt, ít loài ăn thịt, và trải qua “một cuộc tiến hóa bùng nổ”, Beard nói, đã khiến nhanh chóng xuất hiện thêm các loài mới.  Các nhà khoa học khác nhất trí cho rằng nếu cả hai loài linh trưởng Myanmar và Libya đều là các loài anthropoid cổ thì khám phá về chúng đã củng cố cho thuyết coi tổ tiên anthropoid là từ Châu Á. “Nếu được chứng minh thì tầm ý nghĩa của những khám phá này là rất lớn”, nhận định từ nhà cổ sinh vật học Richard Kay từ Đại học Duke, Durham, bang North Carolina. Nó cho thấy rằng đã có một cuộc di cư lớn của linh trưởng và có lẽ cả những động vật có vú khác giữa hai châu lục ở một thời kỳ rất khó để vượt qua Biển Tethys cổ đại ngăn cách châu Phi và Châu Á. Đối với con người, khám phá này sẽ cho thấy tổ tiên sâu xa nhất của chúng ta là từ Châu Á, không phải châu Phi.  Tuy nhiên, sự tương đồng giữa hai loài chỉ mới căn cứ vào bốn mẫu răng của loài Afrasia, Kay lưu ý, dù rằng kiểm định răng là cách đang tin nhất để đánh giá mối liên hệ. Và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng Afrotarsius từ Libya không phải là một loài anthropoid gốc, mà chỉ là một tổ tiên của các loài khỉ lùn tarsier – là những loài linh trưởng không phải anthropoid. Nhưng Kay cho rằng các giả thuyết đang nghiêng về phía cội nguồn Châu Á. “Chúng ta đều từng nghe về thuyết tổ tiên loài người di cư ra khỏi châu Phi”, Beard nói thêm. “Nay chúng ta lại thấy rằng trước đó từng có một cuộc di cư về châu Phi.”   Tia Sáng dịch theo   http://news.sciencemag.org/sciencenow/2012/06/an-asian-origin-for-human-ancest.html?ref=hp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài người có tồn tại được trong vũ trụ?      Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Loài người có thể tồn tại được trong vũ trụ không?”, NASA đã thực hiện một chuỗi thí nghiệm trên hai phi hành gia Mark và Scott Kelly, một cặp anh em sinh đôi, trong vòng 25 tháng. Đây được coi là một chiến thắng của khoa học liên ngành với sự phối hợp chặt chẽ của 82 nhà nghiên cứu thuộc 10 nhóm khác nhau tại các trường đại học Mỹ.       Cặp phi hành gia sinh đôi Mark và Scott Kelly tham gia thí nghiệm của NASA. Nguồn: Nature.   Francine Garnett-Bakelman, tác giả chính của nghiên cứu mới công bố trên Science này và là nhà sinh vật học phân tử tại Đại học Virginia, cho biết đây là kết quả toàn diện nhất có thể đạt được dựa trên dữ liệu có được từ thí nghiệm. Nhưng để trả lời câu hỏi quan trọng “Loài người có tồn tại được trong vũ trụ?” thì những thông tin có được từ nghiên cứu này vẫn chưa đầy đủ.   Đến nay, đã có hơn 500 người đã bay vào vũ trụ và chỉ có bốn cá thể sống lâu dài hơn một năm trong không gian, nhưng những tác động sinh lý của vũ trụ trong thời gian dài là vẫn còn là điều bí ấn. Trong khi đó, thời gian khám phá sao Hỏa sẽ kéo dài tối thiểu 3 năm. Do đó, để chương trình khám phá Hành tinh Đỏ trở thành hiện thực khi quỹ đạo của nó gần Trái đất nhất vào năm 2033, thì chúng ta cần có thêm nhiều thông tin hơn.  Trước hết, NASA nhận thấy sự biến đổi cơ thể của các phi hành gia trong quá trình làm việc cho dù thời gian làm việc có thể ngắn hơn một tháng hay kéo dài sáu tháng do chất dịch, nước và máu di chuyển lên đầu của phi hành gia, khiến cho bán cầu não trái phình lên. Trong vũ trụ, khuôn mặt của các phi hành gia sẽ bị đỏ lựng, sưng húp và họ cảm thấy khó chịu vì sự tắc nghẽn hoặc tăng áp trong tai họ. Thậm chí tệ hơn, 40% phi hành gia sống trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) bị tổn thương mắt như phù giác mạc, dẹt nhãn cầu và nếp gấp trong lớp màng đệm bị dãn phẳng…. NASA cho rằng áp lực nội sọ là nguyên nhân chính dẫn tới hội chứng thần kinh mắt liên quan đến vũ trụ và họ đã phát triển các xét nghiệm để đo lượng máu đẩy lên đầu và mắt của các phi hành gia.      Nghiên cứu về cặp song sinh giúp lập bản đồ toàn diện về hệ gene người trong không gian vũ trụ. Đây là bước tiến lớn đầu tiên trên con đường 500 năm, thể hiện lộ trình ứng phó và rủi ro y sinh đối với các chuyến bay vũ trụ trong thời gian dài, giúp các phi hành gia có thể sống sót sau chuyến đi tới sao Hỏa và sống được trên đó.      Do đó, họ đã kiểm tra áp suất nội sọ của các phi hành gia trong không gian. Đầu tiên là thu thập các mẫu cơ bản về máu, nước bọt và nước tiểu và chụp ảnh siêu âm các mạch máu trong tim, cổ, đầu và mắt của bạn. Sau đó, người được kiểm tra mặc quần Chibis – một loại quần bằng cao su được thiết kế để hút chân không, tương tự như lực hấp dẫn trên trái đất hút chất lỏng (máu, chất nhầy, nước) trong cơ thể và từ hộp sọ xuống nửa dưới của cơ thể. Việc mặc chiếc quần này đôi khi cũng gây ra phiền toái. Đã có lần, một phi hành gia người Nga bị bất tỉnh khi nhịp tim bị giảm xuống. Đồng đội của anh đã nghĩ rằng anh đang bị đau tim. Một lần khác, trạm vũ trụ đã giảm áp lực quá mức khiến làm tăng sức hút và phi hành gia cảm thấy “như thể ruột của tôi bị rút ra vô cùng khó chịu”. Nhưng nếu không có chuyện gì xảy ra, phi hành gia sẽ mặc bộ đồ trong vài giờ, chụp thêm hình ảnh siêu âm, rồi tiến hành một loạt kiểm tra huyết áp, đo dịch ốc tai bằng một dụng cụ chuyên dụng trong tai và ghi lại áp suất nội nhãn bằng cách chạm vào cảm biến áp suất chống lại nhãn cầu gây mê, quét nhãn cầu bằng tia laser để hình dung các nếp gấp của màng đệm và mức độ sưng của dây thần kinh thị giác.     Thí nghiệm từ ý tưởng của người trong cuộc     Thí nghiệm “dịch chuyển chất lỏng” là một trong rất nhiều các thí nghiệm được thực hiện đối với phi hành gia Scott Kelly khi anh sống trên ISS gần 1 năm (từ 27/3/2015 đến 1/3/2016), chuyến du hành vũ trụ dài nhất của một người Mỹ, và anh trai của anh. Trong suốt hơn 25 tháng, cả hai anh em đã tham gia các bài kiểm tra nhận thức và kiểm tra thể chất song song trước, trong và sau nhiệm vụ. Tổng cộng, có 317 mẫu phân, nước tiểu và máu từ cả hai cặp song sinh đã được thu thập và phân tích về sự thay đổi biểu sinh, chuyển hóa, phiên mã, protein và microbiome. Đây là lần đầu tiên NASA tiến hành phân tích toàn diện về hệ omics đối với một phi hành gia, hơn nữa, còn đối chứng với người anh song sinh cùng trứng.       Scott Kelly và các phi hành gia phải trải qua các đợt kiểm tra sức khỏe nghiêm ngặt. Ảnh: CNN  Ý tưởng đằng sau nghiên cứu có một logic rất đơn giản: Bởi vì cặp song sinh có chung bộ gene, bất kỳ thay đổi nào xảy ra với Scott và mà không xảy ra với Mark có thể là do chuyến du hành vũ trụ trong thời gian dài. Điều ngạc nhiên là, nguồn gốc về nghiên cứu cặp song sinh Scott và Mark lại không xuất phát từ NASA. Chính Scott tự đề xuất ý tưởng. “Trong một sự kiện truyền thông khoa học mà tôi tham gia, tôi đã nói: Này, nếu có một câu hỏi nào đó về người anh song sinh của tôi, Mark, các ông có quan tâm tới việc nghiên cứu di truyền học đối với chúng tôi không?” ‘Không’, đó là câu trả lời của họ. Nhưng, vài tuần sau, chính họ đã tìm đến Scott vì các nhà nghiên cứu ở các trường đại học đánh giá cao ý tưởng đó.    Scott và Mark Kelly được sinh ra ở thành phố Orange, bang New Jersey, vào năm 1964. Họ là hai phi hành gia sinh đôi duy nhất trong lịch sử NASA với những tố chất đặc biệt. Quan sát thời niên thiếu của họ, không ai cho rằng họ sẽ trở thành phi hành gia trong tương lai, ngoại trừ một nhà tâm lý học nhi khoa chuyên về các thiếu niên thích mạo hiểm. Trong cuốn tự truyện với tiêu đề “Endurance” của mình, anh kể lại những rủi ro điên rồ mà anh với Mark đã trải qua khi còn nhỏ và những hậu quả không thể tránh khỏi khi bị gãy xương. Trong kỳ nghỉ hè, họ đã mua một chiếc thuyền cũ nát mà không có thiết bị định vị hay đài vô tuyến và lái thuyền ra ngoài đường chân trời của bờ Jersey trong mọi điều kiện thời tiết.   Cha mẹ họ là những cảnh sát nát rượu. Scott viết, “Đôi khi tôi nghĩ nếu bố tôi không phải là cảnh sát, ông ấy sẽ là tội phạm”. Tương tự thế, nếu bố mẹ họ không phải là cảnh sát, họ có thể đã bị giam giữ trong các trại dành cho trẻ vị thành niên.  Cả hai đều học kém ở trường nhưng cùng có một mong muốn là trở thành phi hành gia, vì họ cùng yêu thích các tác phẩm của Tom Wolfe. “Tôi muốn trở thành một phi công hải quân. Tôi vẫn còn là một thiếu niên 18 tuổi học vấn kém cỏi với những điểm số tệ khủng khiếp và không biết gì về máy bay. Nhưng The Right Stuff của Tom Wolfe đã giúp tôi định hình tương lai của mình”.  Họ vào khu cảng hàng không thuộc hải quân thông qua ROTC tại Học viện Hàng hải Merchant (Mark) và Đại học Hàng hải Đại học New York (Scott). Ở trường đại học, họ phát hiện ra mình là những kỹ sư rất thông minh với những điểm số hoàn hảo cho những môn tính toán. Rút cục, họ cũng có thể đáp máy bay trên các tàu sân bay và trở thành phi công thử nghiệm. Mark đã bay trong chiến tranh vùng Vịnh.  Cả hai đều được chọn làm phi hành gia trong khóa huấn luyện năm 1996. Trong sự nghiệp của họ tại NASA, Mark là phi công hoặc chỉ huy của bốn nhiệm vụ của Tàu con thoi; Scott đã lái và chỉ huy hai tàu con thoi và dành sáu tháng trên ISS trước chuyến du hành vào vũ trụ kéo dài một năm của anh. Sau khi vợ Mark, Đại diện Arizona Gabby Giffords, bị bắn vào năm 2011, anh đã thực hiện nhiệm vụ cuối cùng và quyết định nghỉ hưu. Scott luôn hào phóng nói về những gì mà nghiên cứu về cặp song sinh của NASA đòi hỏi ở anh trai của mình: “Các anh phải ghi công lớn cho anh ấy. Anh tôi đã không nhận được bất kỳ vinh quang nào cho việc trở thành phi hành gia. Anh tôi tham gia vì lợi ích của khoa học”.  Nhưng những yêu cầu nghiên cứu về thể chất cũng không dễ dàng gì đối với Scott do thí nghiệm được thực hiện trong không gian. “Thường xuyên, có lẽ là một lần một tuần, tôi phải thực hiện việc thu thập mẫu thí nghiệm cả ngày. Thức dậy từ sớm, lấy máu, ly tâm và cất trong tủ lạnh. Sau đó, thu thập mẫu nước tiểu trong suốt ngày đó. Thu mẫu nước tiểu suốt 24h trong vũ trụ thật không dễ dàng gì bởi vì bạn không thể sử dụng bồn cầu được thiết kế cho phi hành gia. Và khi bạn đi tiểu vào chiếc túi này, bạn phải loại bỏ ống nghiệm khỏi chiếc túi và dán mã barcode, quét mã và đặt chúng vào tủ lạnh. Thậm chí, chiếc tủ lạnh chứa mẫu cũng phức tạp. Nó là chiếc tủ âm 800oC nên bạn không thể mở nó quá lâu, và đôi khi bạn bị bỏng lạnh. Cũng trong ngày đó, bạn phải tiến hành thu thập mẫu da, phân…”.      Quãng thời gian sống trong ISS khiến DNA của Scott bị xoắn một cách kỳ lạ. Ảnh: CNN  Không trọng lượng đặt ra những thách thức đặc biệt cho một chương trình nghiên cứu về con người, đặc biệt là đối với một phi hành gia thường xuyên mệt mỏi, lạnh và cáu gắt vì hít phải quá nhiều CO2. Hơn nữa, Trạm không gian ISS không được thiết kế cho mục đích nghiên cứu này nên có rất nhiều bất tiện xảy ra. Thiết bị nghiên cứu phải gắn lên tường. Môi trường ồn ào, và bị ô nhiễm bởi đủ thứ mùi từ cơ thể con người, từ rác thải…     Những kết quả kỳ lạ     Chúng ta học được gì từ kết quả nghiên cứu? Chris Mason, trưởng nhóm nghiên cứu biểu hiện gene và là giáo sư sinh lý học và vật lý sinh học tại Weill Cornell Medicine, đã ví sự ảnh hưởng của không gian đối với các gene của Scott: “Không chỉ là một tia sáng le lói, mà nó như là một màn pháo hoa rực rỡ trên bầu trời”. Hơn 10.000 gene được kích hoạt trong không gian vũ trụ. “Bạn cần phải hiểu rằng, hệ gene của chúng ta có khoảng 58.000 gene, do đó, 10.000 gene được kích hoạt có nghĩa là cơ thể đã kích hoạt rất nhiều đáp ứng khác nhau đối với môi trường của vũ trụ”.  Các nhóm nghiên cứu đã bị choáng bởi những thay đổi lớn xảy ra ở khắp mọi nơi trong cơ thể Scott, bao gồm cả chiều dài của telomere của anh ta, mũ ở cuối nhiễm sắc thể bảo vệ sự toàn vẹn của DNA; mạng điều hòa gene, được đo bằng cả sự tương tác với môi trường và sự phối hợp hoạt động của gene; hệ vi khuẩn đường ruột của anh ta; kích thước của động mạch cảnh của anh ta; và trạng thái sức khỏe của đôi mắt của anh.  Hệ miễn dịch Scott nói chung là hỗn loạn trong suốt thời gian trên không gian: Nhiều con đường trao đổi chất trong tế bào liên quan đến miễn dịch bị phá vỡ, bao gồm hệ thống miễn dịch thích nghi, phản ứng miễn dịch bẩm sinh và các tế bào tiêu diệt tự nhiên (natural killer-cell) bảo vệ cơ thể khỏi bệnh ung thư như bệnh bạch cầu và virus (Kết quả này đã xác nhận một nghiên cứu gây sốc được công bố trước đó so sánh hệ thống miễn dịch của 8 phi hành gia đã làm việc trên sáu tháng ở ISS với những người trưởng thành khỏe mạnh trên Trái đất: Chỉ trong 90 ngày trong tàu vũ trụ, các tế bào tiêu diệt tự nhiên NK mất đi 50% khả năng chiến đấu với các tế bào ung thư bạch cầu). Chức năng nhận thức của Scott cũng bị biến đổi: anh trở thành nguời lầm lì, lơ đễnh.   Nhưng cơ thể con người có khả năng thích nghi tuyệt vời: Scott trở lại bình thường trong vòng sáu tháng sau khi trở lại Trái đất, ngoại trừ những sự suy giảm bình thường của tuổi tác. Đáng ngạc nhiên nhất là telomere của anh kéo dài một cách kỳ lạ, có lẽ vì anh tập thể dục quá nhiều trong khi lại ăn rất ít. Nhưng trong vòng 48 giờ sau khi trở về Trái đất, hầu hết các telomere cũng đã trở lại mức cơ bản ban đầu, sáu tháng sau nhiệm vụ của mình, số lượng telomere tổng thể ít đi trong khi số lượng telomere cực ngắn lại tăng. Phát hiện đó rất đáng báo động: Mất telomere có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư và các bệnh khác của tuổi già đối với các phi hành gia.  Các tác giả thực hiện nghiên cứu này đã xác định: ảnh hưởng mất telomere của Scott được cho là “nguy cơ chưa xác định”; sự biến đổi của hệ vi sinh đường ruột là “nguy cơ thấp”; hội chứng thần kinh mắt liên quan tới không gian là “nguy cơ cao”. Và một trong những thay đổi có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là sự thay đổi về DNA và biểu hiện gene. 91,3% hệ gene của Scott mà có biểu hiện thay đổi trong chuyến du hành đã trở lại trạng thái bình thường trong vòng sáu tháng sau đó nhưng biểu hiện của một tập hợp gene chuyên biệt gồm 811 gene đã không trở về trạng thái ban đầu, hầu hết tất cả chúng đều liên quan đến chức năng miễn dịch và sửa chữa DNA. Đó là tin xấu cho tương lai của con người trong không gian, bởi vì chúng chính là những gene bảo vệ các phi hành gia khỏi bức xạ không gian.  Từ trường và bầu khí quyển Trái đất che chở chúng ta khỏi hầu hết các bức xạ ion hóa truyền qua không gian. Trong khi đó, một phi hành gia có thể đã nhận được 5,59 mSv trong một tuần. Phi hành đoàn của Apollo 14 phơi nhiễm với 11,4 mSv còn Scott Kelly đã hấp thụ 146,34 mSv trong năm. DNA của Scott bị xoắn một cách kỳ lạ. Các đoạn trên nhiễm sắc thể của anh dịch chuyển và đảo ngược, phần lớn có lẽ là kết quả của bức xạ không gian và tổn thương DNA đó có thể góp phần vào sự mất kiểm soát biểu hiện gene. Có một chi tiết đặc biệt đáng lo ngại, số lượng gene được biểu hiện khác biệt cao hơn gấp sáu lần trong sáu tháng cuối của Scott. Cả Chris Mason và bất kỳ nhà nghiên cứu khác đều không biết liệu sự mất kiểm soát biểu hiện gene có giảm hay tiếp tục tăng nếu Scott sống thêm sáu tháng hoặc lâu hơn trên ISS. “Chúng tôi biết rằng đó không phải là hướng đi mà chúng tôi muốn. Chúng tôi thấy một loạt các mạng điều hoà gene được kích hoạt để đáp ứng với tổn thương DNA và sự thích nghi của cơ thể, nhưng từng đó có thể không đủ để khắc phục thiệt hại do phóng xạ gây ra”, Mason nói.  Nên nhớ, trạm không gian ISS chỉ cách Trái đất 250 dặm, một khoảng cách quá nhỏ so với khoảng cách từ Trái đất đến sao Hỏa. Nếu thám hiểm sao Hỏa, một phi hành gia có thể hấp thụ tới 1.200 mSv. Mặc dù vậy, nguy cơ mắc bệnh ung thư nói chung đối với các phi hành gia hiện nay là tương đối thấp do họ đang có những chuyến du hành gần Trái đất. Lượng bức xạ lớn sẽ có thể là vấn đề nghiêm trọng đối với phi hành gia khi thám hiểm sao Hỏa.    Mở ra những nghiên cứu mới    Nghiên cứu về cặp đôi song sinh của NASA có hạn chế rõ ràng. “Với một thí nghiệm phức tạp như vậy mà chỉ có duy nhất một đối tượng thì chúng ta không thể quy kết nhân quả giữa việc du hành vũ trụ với những biến đổi ngẫu nhiên của cơ thể. Cần phải thực hiện thêm các thử nghiệm đối chứng”. Một kỹ sư sinh hóa của trường Đại học MIT chỉ trích.  Bill Paloski, giám đốc chương trình nghiên cứu con người của NASA, đồng thời là ủng hộ nhiệt thành cho nghiên cứu, hiểu điều đó. Ông tin rằng nghiên cứu này là nền tảng đưa ra các giả thuyết quan trọng cho việc định hình các nghiên cứu sâu hơn. Chris Mason, người đầu tiên đề xuất theo dõi bộ gene và biểu sinh của các phi hành gia trước, trong và sau khi lên vũ trụ năm 2010, sẽ tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này. Nhóm của ông có thêm bảy bài báo đang được bình duyệt, bao gồm các bài viết về đột biến soma và động lực học tế bào đơn. Ngoài ra, có năm hoặc sáu bài báo khác cũng sắp được công bố từ các nhóm nghiên cứu khác.  Mason thậm chí còn có tham vọng lớn hơn nhiều với đề xuất kế hoạch 500 năm cho việc khám phá không gian. “Nghiên cứu về cặp song sinh giúp lập bản đồ toàn diện về hệ gene người trong không gian vũ trụ. Đây là bước tiến lớn đầu tiên trên con đường 500 năm, thể hiện lộ trình ứng phó và rủi ro y sinh đối với các chuyến bay vũ trụ trong thời gian dài, giúp các phi hành gia có thể sống sót sau chuyến đi tới sao Hỏa và sống được trên đó”.  Ngày nay, chúng ta đơn giản là chưa biết về ảnh hưởng của bức xạ vũ trụ đối với con người trong khoảng thời gian dài lên tới vài năm. Và chúng ta cũng chưa có liệu pháp nào để ngăn ngừa hay điều trị các bệnh gây ra bởi bức xạ từ trường. Điều cần phải làm tiếp theo là NASA sẽ hợp tác với các nhà nghiên cứu trước đây thu thập thêm nhiều dữ liệu bằng cách mở rộng nghiên cứu với nhiều phi hành gia hơn. □    Nguyễn Cường lược dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/are-humans-fit-for-space-a-herculean-study-says-maybe-not/  Với Mark và Scott, việc tham gia dự án nghiên cứu của NASA đã trở thành quá khứ. Scott Kelly đã nghỉ hưu và kết hôn với người đồng nghiệp lâu năm của mình còn Mark đang tranh cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. Khi được hỏi liệu có cảm thấy gì khác biệt không, Scott nói, “Tôi thực sự không thể mô tả một cách chi tiết được những gì mình thu nhận trực tiếp từ chuyến du hành vũ trụ. Tôi chỉ thấy có những thay đổi về tầm nhìn của mình về thế giới. Mặc dù tôi không cảm thấy gì về việc bức xạ làm thay đổi DNA của tôi nhưng tôi biết nó đã diễn ra. Tôi không thực sự lo lắng lắm. Có lẽ, tôi sẽ cảm thấy ảnh hưởng của nó trong 20 năm tới.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài người thừa hưởng gene vi khuẩn cổ như thế nào?      Tóm tắt kì trước: Một nhà vi trùng học kín tiếng ở Đại học Ilinois ở Urbana vào đầu thế kỉ 19, Carl Woese đã đưa ra những khám phá quan trọng khiến chúng ta thay đổi góc nhìn của mình về cây tiến hóa của Darwin. Cây tiến hóa không chỉ gồm hai nhánh cây sinh ra từ một gốc mà Woose phát hiện ra là nó có tới ba nhánh. Nhưng điều sốc hơn, đó là nếu như với Darwin, các nhánh này luôn độc lập và tách biệt, không bao giờ hội tụ hay hợp lại với nhau thì với Woose, có những cành cây đã vươn từ nhánh này sang nhánh khác: di truyền không chỉ diễn ra theo chiều dọc mà còn diễn ra theo chiều ngang. Chính vì vậy con người, không chỉ là “hậu duệ” của loài vượn cổ như ta đã biết mà còn thừa hưởng gene của nhiều loài vi khuẩn cổ, theo thời gian, trong hàng triệu năm tiến hóa. Nhưng tiếc thay, sau khi công bố phát hiện của mình, không ai hiểu được Woose nói gì và theo lời của Raph Wolfe, đồng nghiệp của ông, các báo thậm chí còn giật tít theo những cách phi khoa học nhất có thể, khiến nhiều nhà khoa học coi Woose là kẻ điên khùng. Và ý tưởng của ông bị kéo lùi ít nhất là một thập kỉ hay mười lăm năm, theo lời của Wolfe.      Woese, khoảng năm 1982.Nguồn: Charlie Vossbrinck.  Sự công nhận muộn màng  Cuối cùng thì các ý tưởng của Woese đã tìm được “bến đỗ” – châu Âu công nhận và dần dần, các nhà khoa học ở Mỹ cũng phải thừa nhận ông đã đúng. Năm 1984, Woese nhận được học bổng MacArthur vì những nỗ lực phân tích phát sinh gene và khám phá ra vi khuẩn cổ. Và bởi vì mãi đến năm 1988, khi đã 59 tuổi, ông mới được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia nên ông vẫn luôn nghĩ mình là người ngoài cuộc bị lãng quên.  Điều đó đã cho ông không gian để tiếp tục tham vọng, táo bạo và cứng đầu. Và ông muốn quay trở lại với “archea” yêu dấu của ông.   Kết quả của sự quay trở lại này, Woese đăng trên tạp chí Bản thảo của Viện Hàn lâm Khoa học mà vì giờ đây ông là thành viên của Viện Hàn lâm – Ông có thể suy diễn nhiều hơn so với việc đăng trên tạp chí như Science và Nature. Bài báo lớn tiếp theo của ông được xuất bản vào tháng 6 năm 1990 cùng với hai đồng tác giả và có tựa đề là “Hướng tới một hệ thống sinh vật tự nhiên”. Trong bài báo này, ông đã đưa ra một số khẳng định quan trọng. Đầu tiên, bất kỳ hệ thống phân loại nào cũng phải tuân theo tự nhiên và phản ánh các mối quan hệ tiến hóa. Thứ hai, cần có ba nhóm chính của sự sống, chứ không phải chỉ có hai (quan điểm chiếm ưu thế lúc bấy giờ, hoặc năm (một đề xuất khác công nhận động vật, thực vật, vi khuẩn, nấm và một nhóm các sinh vật nhân thực khác). Để tránh một cuộc chiến khác nổ ra về việc phân loại các “lĩnh giới” (các nhóm sinh vật lớn), bài báo đã đề xuất việc thế giới sinh vật bao gồm ba lĩnh giới, và bao gồm cả các lĩnh giới sinh vật cũ.   Điểm quan trọng cuối cùng chính là việc thống nhất tên gọi cho ba lĩnh giới là: vi khuẩn, sinh vật nhân thực, và vi khuẩn cổ. Một cây sự sống được giới thiệu, với những đường nét thẳng và đơn giản nhưng vẫn phong phú và đầy hấp dẫn.  Thập kỷ tiếp theo chứng kiến sự bùng nổ của một hiện tượng kỳ quái và phản trực giác được gọi là chuyển gen ngang, cũng như vai trò của nó trong suốt lịch sử của sự sống. Tuy sự bùng nổ chỉ xảy ra trong những năm 1990, trước đó nó đã được nhắc đến, kể cả trước khi công trình của Woese giúp mở toang cánh cửa, người ta bắt đầu đánh giá cao sự phổ biến và ý nghĩa không thể tưởng tượng được của nó. Sự công nhận đầu tiên của khoa học rằng sự chuyển gene ngang (H.G.T.) có thể xảy ra là vào năm 1928, khi một nhà nghiên cứu y học người Anh tên là Fred Griffith lần đầu tiên phát hiện ra một sự biến đổi khó hiểu giữa các vi khuẩn gây viêm phổi do phế cầu khuẩn: một chủng này đột nhiên biến thành một chủng khác, từ vô hại sang độc lực chết người.   Tại Viện Rockefeller ở New York trong những năm 1940, Oswald Avery và hai đồng nghiệp đã xác định nguyên lý biến đổi của sự biến hóa tức thời như vậy (như trong DNA trần): chính là gene đã di chuyển ngang, từ một chủng vi khuẩn sang một chủng vi khuẩn khác. “Kỳ quặc” là một từ quá nhẹ nhàng để mô tả hiện tưởng đó. Gene vốn không thể di chuyển ngang như vậy, nó cần phải được chuyển từ bố mẹ sang con cái (di chuyển dọc), ngay cả khi “bố mẹ” là vi khuẩn, sinh sản bằng cách phân hạch. Nhưng đến năm 1953, nhà khoa học vĩ đại Joshua Lederberg tại Đại học Wisconsin đã chỉ ra rằng loại biến đổi này, được đặt lên lại là di truyền truyền nhiễm, là một quá trình diễn ra thường xuyên và quan trọng ở vi khuẩn. Và bất ngờ hơn, gene di chuyển ngang (H.G.T). không phải chỉ diễn ra ở vi khuẩn.  Sự dịch chuyển trong trọng tâm của giới sinh học  Dù khởi đầu khá chậm rãi, và những năm 1980 và đầu những năm 1990, sự chuyển giao ngang của gene (H.G.T.) đã trở thành một trọng tâm nghiên cứu ưa thích tại nhiều phòng thí nghiệm. Nhiều nhà nghiên cứu đã theo chân Woese, sử dụng rRNA ribosome làm cơ sở để so sánh một sinh vật này với một sinh vật khác, đánh giá sự liên quan và xây dựng cây sự sống. Nhưng sau đó, khi các công cụ và phương pháp mới làm cho trình tự gene trở nên dễ dàng và nhanh hơn, và khi các máy tính mạnh hơn cho phép phân tích các kho dữ liệu gen khổng lồ, các nhà nghiên cứu đã vượt xa 16SrRNA, so sánh các gene khác và toàn bộ bộ gene. Những gì họ phát hiện ra đã khiến chính họ phải ngạc nhiên: khá nhiều gene đã di chuyển ngang từ dòng này sang dòng khác. Những gene như vậy có thể vắng mặt ở hầu hết các loài sống trong cùng một nhóm (giả sử là một họ bướm), điều này có thể suy ra rằng gene đó cũng không tồn tại ở tổ tiên chung của chúng. Tuy nhiên, nó có thể xuất hiện bất ngờ ở một loài bướm trong họ, và rất gần với một gene chỉ tồn tại trong một loài khác (như vi khuẩn chẳng hạn), một loài được xếp vào một nhánh hoàn toàn khác của cây sự sống. Tại sao điều này có thể xảy ra? Nếu gene không tồn tại trong tổ tiên của chúng, nó không thể được truyền theo chiều dọc.  Các nhà nghiên cứu đã xác định ba cơ chế chính mà H.G.T. có thể xảy ra: liên hợp, biến đổi và tải nạp. Liên hợp đôi khi được gọi một cách lỏng lẻo là giới tính của vi khuẩn. Sự cố xảy ra khi hai vi khuẩn riêng lẻ (không nhất thiết cùng loại) tạo thành một kết nối giống như giao hợp và một đoạn DNA truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác. (Dùng từ giao hợp có thể không chính xác vì có sự trao đổi gene nhưng không có sinh sản). Fred Griffith nhận ra cơ chế “biến đổi” vào năm 1928: một tế bào sống sẽ hấp thu DNA trần bị trôi nổi trong môi trường sau khi một tế bào sống nào đó bị vỡ (chúng không nhất thiết cùng loài). Sự tải nạp là một loại thủ thuật kéo và thả được thực hiện bởi virus, lấy các DNA từ các tế bào mà chúng lây nhiễm, sau đó thả các DNA đó vào bên trong các tế bào bị nhiễm khác, từ đó chúng có thể được đưa vào bộ gene.    Mạng cành cây của Ford Doolittle. Nguồn: Ford Doolittle và A.A.A.S.  Liên hợp khá phổ biến ở vi khuẩn. Biến đổi và tải nạp cũng có khả năng xảy ra giữa các sinh vật khác, ngay cả sinh vật nhân chuẩn – động vật và thực vật – mặc dù viễn cảnh đó khá không chắc chắn và khá gây sốc tại thời điểm đó. Tuy nhiên việc cải thiện trình tự bộ gen và sự xem xét kỹ lưỡng hơn đã mang lại nhiều bất ngờ. Một vi khuẩn đã gửi các DNA của nó vào bộ gen hạt nhân của cây bị nhiễm bệnh. Tại sao lại có cơ chế này? Có vẻ như một loài nhím biển đã chia sẻ một trong những gene của nó với một loài nhím biển rất khác, một loài có tổ tiên đã rẽ sang nhánh khác từ hàng triệu năm về trước. Đó là một sự vươn ngang.   Một vi khuẩn khác là E. coli đã chuyển DNA của mình vào men bia, cụ thể hơn khiến nó bị nấm. Men bia là vi sinh vật, một sinh vật nhỏ tương đối đơn giản, nhưng dù sao cũng là sinh vật nhân thực (nhân chuẩn). Các nhà nghiên cứu tuyên bố rằng sự pha trộn giữa vật chủ nấm và gene vi khuẩn đã xảy ra thông qua quá trình tiếp cận giống như sự biến đổi của vi khuẩn, và các nhà nghiên cứu cho rằng có thể có ý nghĩa tiến hóa trong việc thúc đẩy trao đổi gene xuyên lĩnh giới. Xuyên lĩnh giới là một hành trình dài đối với một gene.   Các nghiên cứu mới xuất hiện, và những cải tiến trong công nghệ giải trình tự gene đã tạo ra bộ gene hoàn chỉnh hơn, cho thấy những bước nhảy vọt triệt để hơn đang diễn ra dù không thường xuyên. Chúng ta có thể lấy một ví dụ: Có một nhóm động vật nhỏ đặc biệt được gọi là luân trùng, trước đây chỉ được nghiên cứu bởi các nhà động vật học không xương sống nhưng bây giờ đang được chú ý trong sinh học phân tử bởi vì chúng có thể tiếp nhận một lượng khổng lồ gene ngoại lai. Luân trùng đơn giản ngoài sức tưởng tượng. Chúng sống trong nước, chủ yếu là nước ngọt và trong môi trường ẩm ướt như đất và rêu, máng xối nước mưa và bể xử lý nước thải. Một số loài thích môi trường khắc nghiệt, có thể thay đổi đôi khi bị khô và cá thể của chúng có thể sinh sản mà không có giao hợp. Mặc dù không có sự giao hợp nhằm xáo trộn kho gene của quần thể và đưa ra các tổ hợp gene mới, những luân trùng này đã tìm cách tạo sự mới mẻ bằng các phương tiện khác, ví dụ như chuyển gene ngang. Ba nhà nghiên cứu tại Harvard và Woods Hole đã giải trình tự các phần của bộ gene của một loài luân trùng nhất định và tìm thấy đủ kiểu điên rồ đáng lẽ ra không thể xuất hiện ở đó. Cụ thể hơn, họ đã tìm thấy ít nhất 22 gene từ các sinh vật khác, hầu hết trong số đó, họ kết luận, hẳn phải nhờ vào H.G.T. Một số trong đó là genecủa vi khuẩn, một số là nấm. Một gene đến từ một loài thực vật. Ít nhất một số ít trong các gene đó vẫn đang hoạt động, tạo ra các enzyme hoặc các sản phẩm khác hữu ích cho luân trùng.  Ngoài lĩnh giới của côn trùng và luân trùng, bằng chứng của H.G.T. thậm chí đã được tìm thấy ở động vật có vú – một loài động vật có nguồn gốc từ Nam Mỹ, một giống chó đến từ Madagascar, một con ếch từ Tây Phi, tất cả đều mang các đoạn DNA có vẻ như được truyền theo chiều ngang bởi một loại nhiễm trùng nào đó. Một lần nữa chúng ta lại bắt gặp truyền nhiễm di truyền. Ngay cả bộ gene của con người cũng đã bị ảnh hưởng. Trình tự của nó đã tiết lộ một thực tế đáng kinh ngạc rằng 8 phần trăm hệ gene của chúng ta gồm DNA của virus, được truyền vào nhánh của chúng ta bởi các virus sao ngược (retrovirus). Nhà khoa học người Pháp Thierry Heidmann và các đồng nghiệp của ông đã khám phá ra một vài trong số các gene virus đó, và thậm chí chúng còn đóng góp trong hoạt động sinh lý của con người, ví dụ như tạo ra một lớp màng cần thiết giữa nhau thai và thai nhi trong thai kỳ.    Luân trùng có thể tiếp nhận một số lượng khổng lồ các loại gene ngoại lai.  Những khám phá trên về H.G.T. đã có một tác động đến tư duy tiến hóa. Chúng ta có thể kể đến ý tưởng về cây tiến hóa – như chúng ta có thể thấy trên cây của Woese – sử dụng RNA ribosome như là dấu hiệu mạnh mẽ của lịch sử cuộc sống không ngừng phân nhánh. Các nhà nghiên cứu khác đã bắt đầu đưa ra những hình ảnh khác nhau về lịch sử của sự tiến hóa, cung cấp những cây sự sống khác, có tính đến H.G.T. sự liên kết chằng chịt của lịch sử tiến hóa. Một trong những minh họa sinh động nhất chính là bức vẽ của Ford Doolittle, một nhà sinh vật học người Mỹ tại Đại học Dalhousie ở Halifax, Nova Scotia, người đã biết đến Woese trong những năm nghiên cứu ở Urbana. Trong một bài viết cho Science năm 1999, Doolittle đã tự tay vẽ một cái cây thay cho cây ba nhánh của Woese.  Doolittle được gọi là “cây hình mạng lưới,” nhưng nó trông cũng có vẻ giống hệ thống ống nước trong tầng hầm với những hệ thống chằng chịt. Có thể cuối cùng thì cái cây sự sống chẳng phải là một cái cây.   Carl Woese ở cuối sự nghiệp, cho rằng vai trò mới của mình là một ông già được trọng vọng nhưng cáu bẳn và cực đoan. Ông giờ đây ngồi thu hái giải thưởng, và ông viết. Với một giải MacArthur, một giải thưởng từ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia và Huy chương Leeuwenhoek (vinh dự cao nhất của ngành vi trùng học) từ Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoàng gia Hà Lan, năm 2000, ông được công bố là người chiến thắng Huân chương Khoa học Quốc gia, do Tổng thống Hoa Kỳ trao tặng. Năm 2003, ông nhận được giải thưởng Crafoord, do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng. Woese đã được đề cử giải Nobel, nhưng khám phá về vi khuẩn cổ ông hơi mơ hồ, và ông cũng không sống đủ lâu. Woese có một khả năng học tập tuyệt vời, chủ yếu kiến thức của ông có được bằng cách tự học, không phải đào tạo chính quy – và một bộ não không ngừng đặt câu hỏi. Woese đã được đào tạo tại Yale như một nhà sinh lý học chứ không phải là một nhà sinh vật học. Larry Gold, hiện là một nhà sinh học phân tử và doanh nhân công nghệ sinh học nổi tiếng, biết Woese từ những ngày đầu ở Schenectady khi cả hai làm việc cho G.E, và vẫn thân thiết với ông trong suốt nhiều năm. Gold cho biết, Woese “không biết gì về sinh học, và sau này kiến thức sinh học của ông cho đến tận lúc chết chưa chắc đã bằng tôi.” Theo Gold, Woese thực sự không quan tâm đến sinh học, ông tò mò về những gì đã xảy ra 3,5 tỷ năm trước. Nó liên quan nhiều hơn đến vật lý, tiến hóa phân tử và địa chất. Nhưng chính việc tìm ra chuyện gì đã xảy ra hàng tỷ năm về trước là cốt lõi của sự hiểu biết về sự tiến hóa.   Sinh học mới cho một thế kỷ mới  Một năm sau Giải thưởng Crafoord, Woese đã xuất bản một chuyên luận lớn và đầy tham vọng của mình. Ông đặt tiêu đề cho bài tiểu luận này là “Sinh học mới cho một thế kỷ mới”. Quan điểm trung tâm của ông là sinh học phân tử đã đi lạc từ lời hứa ban đầu của nó và trở thành một môn kỹ thuật. Nó dành quá nhiều sự quan tâm đến các ứng dụng, như biến đổi gene của sinh vật, nông nghiệp, khắc phục môi trường, và sức khỏe con người, thay vì các câu hỏi cơ bản về cách cuộc sống đã phát sinh như thế nào, trở nên phức tạp ra sao và phát triển trong hàng tỷ năm. Tồi tệ hơn, sinh học phân tử đã trở nên khá hạn hẹp trong các tiếp cận, chỉ nhìn vấn đề dưới góc nhìn cơ học, Woese lập luận, chẳng hạn như hoạt động của gene và tế bào. Nó đã đánh mất tầm nhìn về những vấn đề toàn diện về sự tiến hóa, nguồn gốc sự sống và những bí ẩn sâu sắc nhất về cách thức các dạng sống được tổ chức. Một bộ môn khoa học có ý định thay đổi thế giới của sự sống mà không cố gắng hiểu nó, Woese nói thêm, là một sự nguy hiểm cho chính nó.       Woese thực sự không quan tâm đến sinh học, ông tò mò về những gì đã xảy ra 3,5 tỷ năm trước. Nó liên quan nhiều hơn đến vật lý, tiến hóa phân tử và địa chất. Nhưng chính việc tìm ra chuyện gì đã xảy ra hàng tỷ năm về trước là cốt lõi của sự hiểu biết về sự tiến hóa.       Woese khó chịu ra mặt với Charles Darwin, một phần vì sự bất đồng trong tư tưởng: chính Darwin và sự tổng hợp các ý tưởng của Darwin đã trở thành lối suy nghĩ chính thống trong thế kỷ 20, chỉ tập trung vào sự tiến hóa từ từ và ít chú ý đến các quá trình kế thừa, biến đổi và sinh sản ở vi khuẩn, trái ngược với động vật và thực vật. Woese đã thấy sự tiến hóa của vi sinh vật và sau này sự di truyền theo chiều ngang (H.G.T.) là cần thiết để hiểu lịch sử tiến hóa một cách sâu sắc ở những thời điểm mà trước khi tư tưởng của Darwin có thể được áp dụng. Nhưng mặt khác, ông cũng phần nào ghen tị với Darwin, ông tin rằng mình là một nhà tư tưởng quan trọng hơn, sâu sắc hơn và mang tính cách mạng hơn chính Darwin.   Woese đến cuối đời vẫn bất cần và cay đắng. Nhưng ông cũng là một nhà khoa học vĩ đại, một trong những người vĩ đại nhất, nếu không phải ngang hàng với Darwin, với tư cách là một người có tầm nhìn về những bí ẩn tiến hóa. Ông thách thức tư duy phân loại về các khía cạnh của cuộc sống trên trái đất. Chúng ta vẫn biết có ba vương quốc: loài, cá thể, cây. Loài là một tập thể với những thực thể riêng biệt, giống như một câu lạc bộ với một danh sách thành viên cố định. Cá thể là một sinh vật riêng biệt, với một bản sắc đơn nhất. Có một con chó màu nâu tên là Rufus; có một con voi với chiếc ngà phi thường; có một con người tên là Charles Robert Darwin. Không có một sự pha trộn nào có thể ảnh hưởng đến sự đồng nhất của cá nhân. Cây: Sự kế thừa chảy theo chiều dọc từ tổ tiên sang hậu duệ, luôn phân nhánh và phân kỳ, không bao giờ hội tụ. Vì vậy, lịch sử của cuộc sống có hình dạng như một cái cây. Giờ đây nhờ Carl Woese và những người nối tiếp ông, chúng ta đã biết rằng sự phân loại đó là sai.   Vào đầu mùa hè năm 2012, khi đang đi nghỉ cùng vợ ở Vườn nho Martha, Woese phát hiện mình bị bệnh tắc nghẽn đường ruột, và sau đó là ung thư tuyến tụy. Ông yêu cầu người trợ lý thân thiết và bạn của mình, Debbie Piper, đến để cùng hỗ trợ gia đình. Tháng 8 năm đó, ông đã đồng ý thực hiện một loạt các cuộc phỏng vấn video để đóng góp vào hồ sơ lịch sử. Woese đã cố hết sức để trả lời, với những suy ngẫm về công việc, những khám phá của ông, về khoa học của thời đại. Sức khỏe của ông đi xuống nhanh chóng, dù có quá nhiều điều vẫn cần nói. Tuy nhiên giờ đã quá muộn. Ông dừng lại hồi lâu. Đã có lúc, ông thừa nhận trí nhớ của mình rất tệ.   Nhiều tháng sau khi tổ chức lễ tưởng niệm cho ông, có người đã nảy ra ý tưởng phát những thước phim tư liệu này, Piper phản đối: “Ôi, làm ơn đừng. Bởi vì Woese chỉ còn vẻ ngoài và cách nói năng của một của một ông già ốm yếu”.   Nhưng bên trong ông già bệnh tật là vô số những thực tại khác, một số ngày càng vươn thẳng rõ nét, một số rẽ sang những nhánh mới. □  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.nytimes.com/2018/08/13/magazine/evolution-gene-microbiology.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài nhện biển kỳ quặc      Những sinh vật kỳ lạ giống nhện sống ở dưới đáy đại dương và sử dụng những chiếc vòi để hút dịch từ con mồi đang làm các nhà khoa học bối rối.    Nhà sinh vật biển Claudia Arango tại Bảo tàng Australia ở Sydney đồng ý rằng chúng thuộc gia đình động vật chân đốt, nhưng là nhóm nào thì vẫn chưa rõ.  Trong hơn 100 năm qua, các nhà khoa học đã không hiểu phải xếp nhện biển vào danh mục nào. Chúng bò dọc theo đáy biển, đôi khi ở dưới độ sâu 6.000-7.000 m, chúng sống trong bóng tối và ăn bọt biển, hải sâm.  Các sinh vật này gồm nhiều khúc và có bộ xương ngoài khiến chúng trở thành động vật chân đốt, cùng gia đình với loài giáp xác, côn trùng, động vật nhiều chân và nhện.  Nhưng chúng cũng có một loạt đặc điểm kỳ lạ, và một cơ chế ăn độc đáo. “Chúng có một cái vòi giống như ống hút mà chúng ấn vào người con mồi và hút ra chất dịch”, Arango nói.  Những đặc điểm này khiến người ta khó xếp chúng vào bất cứ nhóm động vật chân đốt nào được biết tới.  Arango đã nghiên cứu sự đa dạng và tiến hóa của nhện biển. Bà đã sử dụng công nghệ ADN và hình thái học để tạo ra một cây phả hệ, dựa trên 60 loài nhện biển trên toàn thế giới.  Một số nhà khoa học cho rằng nhện biển là một nhóm sinh vật nguyên thuỷ mới xuất hiện, ở gốc của cây phả hệ động vật chân đốt. Nhưng kết quả tìm kiếm của Arango đã ủng hộ một giả thuyết khác: rằng chúng có họ gần hơn với nhóm động vật chân đốt bao gồm nhện và bọ cạp.  Arango cho biết những con nhện biển kỳ lạ nhất sống ở Nam cực. Chúng phong phú hơn, đông hơn, to hơn và kỳ quặc hơn những con nhện biển khác.  M.T. (theo ABC Online)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Loại thuốc tiềm năng mới trong điều trị bệnh Alzheimer      Một loại thuốc thử nghiệm có tên BAN2401 đang chứng tỏ khả năng điều trị bệnh Alzheimer một cách hiệu quả, mặc dù vài tháng trước từng suýt bị cho là thất bại.      Một loại thuốc mới có khả năng “dọn sạch” các mảng bám protein (phải) hình thành quanh neuron thần kinh. Nguồn: Sciencemag  Trong thử nghiệm giai đoạn II, BAN2401 đã không chứng tỏ được mức yêu cầu của hai nhà phát triển loại thuốc này – tập đoàn Biogen, Cambridge, Massachusetts và công ty Eisai, Tokyo. Nhưng theo báo cáo tại Hội nghị quốc tế do Hiệp hội Alzheimer tổ chức tại Chicago, Illinois ngày 25/7/2018, một loạt các phân tích từ chính các ca điều trị thử nghiệm cho thấy, BAN2401 có thể làm chậm tốc độ suy giảm nhận thức của bệnh nhân Alzheimer, đồng thời làm giảm độ gia tăng của một loại protein gây ra thoái hóa thần kinh ở não bộ. Do số ca thành công vẫn ở mức khiêm tốn (161/856) cùng với những thay đổi bất ngờ khiến nhiều người hoài nghi rằng còn quá sớm để ăn mừng.  Keith Fargo, giám đốc Các chương trình khoa học và tiếp cận ở Hiệp hội Alzheimer, Chicago, cho biết: “Nếu những kết quả mà chúng ta thấy hôm nay tiếp tục đạt thành công trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III thì đây có thể là thuốc trị bệnh Alzheimer hiệu quả đầu tiên trên thế giới”. Cũng như một số loại thuốc điều trị Alzheimer khác, mục tiêu của BAN2401 là β-amyloid, một đoạn protein hình thành nên các mảng dính xung quanh những tế bào thần kinh. Nhiều nhà khoa học tin rằng β-amyloid là thủ phạm chính gây ra bệnh Alzheimer do ngăn chặn sự liên kết giữa các tế bào thần kinh và cuối cùng tiêu diệt chúng. BAN2401 là một kháng thể liên kết và “dọn sạch” các cấu trúc β-amyloid đang trong quá trình kết tụ thành mảng. 856 bệnh nhân mắc Alzheimer ở giai đoạn đầu đã tham gia cuộc thử nghiệm dựa trên một phương pháp đo lường mới về chức năng nhận thức mang tên Điểm tổng hợp bệnh Alzheimer (ADCOMS). Các công ty cũng quyết định thực hiện một nghiên cứu phức tạp và sáng tạo: cuộc thử nghiệm mang tính “điều chỉnh linh hoạt”, thay vì chia ngẫu nhiên một trong 5 nhóm điều trị, mỗi bệnh nhân sẽ nhận được các liều lượng thuốc khác nhau phù hợp với từng người. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê Bayes để phân tích phản ứng của các nhóm bệnh nhân khác nhau trong quá trình tiến hành thử nghiệm thay vì đợi đến khi hoàn thành. Cách tiếp cận này cho phép nhà nghiên cứu sớm biết được tác dụng của thuốc. Đây là lần đầu tiên phương pháp thống kê Bayes được sử dụng trong thử nghiệm Alzheimer.  Hồi đầu tháng 7, họ đã công bố rằng thuốc có những tác dụng đáng kể đối với một số bệnh nhân. Hình ảnh quét não bộ cũng cho thấy mảng bám amyloid đã giảm bớt và sau 18 tháng điều trị, 81% bệnh nhân được đánh giá là “âm tính với amyloid”. Nhưng một nhân tố biến đổi bất ngờ cũng được Kramer đề cập đến trong cuộc thử nghiệm. Các nhà nghiên cứu đã theo dõi nguy cơ sưng não và các kháng thể kháng amyloid trong bệnh nhân – đặc biệt là những người mang gene APOE4 – một loại gene làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và có liên hệ tới tốc độ suy giảm nhận thức. Vào tháng 7/ 2014, một cơ quan quản lý bên ngoài Hoa Kỳ – các công ty không chỉ rõ là cơ quan nào – đã yêu cầu ngừng thử nghiệm thuốc với liều lượng cao trên các bệnh nhân mang gene APOE4. Các công ty đã tuân thủ các yêu cầu trên.  Lawrence Honig, một  nhà thần kinh học thuộc trường đào tạo bác sĩ và phẫu thuật viên Vagelos của Đại học Colombia cho biết: “Tôi nghĩ có lẽ mọi người không còn hào hứng như trước kia”. Honig khẳng định sự thay đổi ngẫu nhiên của nghiên cứu “gây ra ảnh hưởng nhỏ, nhưng kể cả không có tác động trên thì thử nghiệm này cũng chưa thể kết luận được”. Ông cũng nhấn mạnh rằng nhiều loại thuốc thử nghiệm tiềm năng trong giai đoạn II nhưng lại thấy bại khi nghiên cứu quy mô lớn hơn.  Thanh An lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/ news/2018/07/new-alzheimer-s-drug-shows-hints-promise-inventive-tri    Author                Quản trị        
__label__tiasang Loài tuatara tiến hóa nhanh nhất thế giới      Các nhà khoa học đã phân tích ADN từ xương của 33 con tuatara cổ đại, và mẫu máu của 41 con hiện đại, và so sánh với các loài khác.      Kết quả là tuatara (New Zealand) có tốc độ tiến hóa kỷ lục, theo sau là các loài: chim cánh cụt Adelie, bò rừng châu Âu, chim Moa tuyệt chủng, bò bison, gấu nâu, gấu hang, sư tử hang, bò đực và ngựa. Sinh vật giống như thằn lằn này có tốc độ biến đổi ADN tự nhiên nhanh hơn bất kỳ loài động vật nào khác. Phát hiện này đặc biệt gây ngạc nhiên, bởi thực tế là tuatara đã không thay đổi ngoại hình nhiều lắm kể từ khi tổ tiên của nó chạy cùng khủng long 225 triệu năm trước.   T. An (theo Discovery)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời giải cho cấu trúc hạt nhân của hạt nhân nhẹ      Trong hạt nhân, tất cả các lực cơ bản của tự nhiên đều có vai trò quan trọng. Vùng đậm đặc tại trung tâm của một nguyên tử – nơi có thể tìm thấy các proton và các neutron – là điểm mà các nhà khoa học có thể kiểm chứng hiểu biết của mình về những tương tác cơ bản của các khối cấu trúc nhỏ nhất của vật chất trong vũ trụ.      Saori Pastore, một trợ lý giáo sư vật lý ở Khoa học và nghệ thuật trường đại học Washington tại St. Louis, đã giải thích điều gì diễn ra trong hạt nhân khi chúng bị phân rã, tán xạ lẫn nhau chúng hoặc tiếp xúc với các hạt hạ nguyên tử.  Công trình mới của chị, “Weak Transitions in Light Nuclei” trên tạp chí Frontiers in Physics, đem lại những tính toán mô tả những cấu trúc và tương tác hạt nhân ngày một chính xác.  Nghiên cứu lý thuyết hạt nhân của Pastore bổ sung một cách trực tiếp vào công việc thực nghiệm sẽ được thực hiện tại Cơ sở Thiết bị chùm tia đồng vị hiếm (FRIB) trị giá 760 triệu USD mà Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) đang xây dựng tại trường đại học bang Michigan (MSU). Các nhà vật lý trường đại học Washington đã hợp tác với các nhà nghiên cứu tại MSU, một trung tâm khoa học hạt nhân Midwestern trong nhiều thập kỷ.  Pastore là nhà nghiên cứu chính của dự án do Phòng khoa học DOE tài trợ “Các tính toán tương tác hạt nhân lượng tử Monte Carlo”.  “Tại trường đại học Washington, chúng tôi thực hiện các tính toán vi mô về cấu trúc và tương tác hạt nhân bằng việc sử dụng những phương pháp lý thuyết và tính toán”, Pastore nói. “Điều này cho phép chúng tôi giữ được đầy đủ phức hợp các tương quan và động lực hạt nhân, vốn đóng vai trò cốt lõi trong việc giải thích các đặc tính hạt nhân. Chúng tôi cung cấp cho cộng đồng nghiên cứu một ước tính chính xác về các hiệu ứng hạt nhân” effects”.  Với tài trợ mới của DOE, Pastore đang tập trung vào tính toán các tỉ lệ phân rã beta trên hạt nhân nhẹ. Một công bố mới đây trên tạp chí Physical Review C, do Garrett King, một sinh viên vật lý tại trường đại học Washington là tác giả chính, đã nêu cách tiếp cận này.  “Trong phân rã beta, một neutron bên trong hạt nhân phân rã thành một proton trong khi phát ra một electron và một phản neutrino”, Pastore nói. “Bằng thực nghiệm, chúng tôi có thể nhận biết được các tỉ lệ này với độ chính xác cao và sử dụng chúng để kiểm tra độ hợp lệ của các mô hinh vi mô của mình”.   “Chúng tôi sẽ sử dụng tài trợ này để tiếp tục thực hiện chương trình tính toán các tương tác của neutrino với hạt nhân – cụ thể, các quá trình hiếm dữ liệu thực nghiệm hoặc rất khó để thu được hoặc còn chưa được biết rõ”, chị giải thích.  Pastore hợp tác chặt chẽ với đồng nghiệp là Maria Piarulli, một trợ lý giáo sư vật lý và thành viên của nhóm Monte Carlo lượng tử của trường để  thúc đẩy nghiên cứu của trường với các nhà nghiên cứu sẽ làm việc tại FRIB. Chị là thành viên của nhóm nghiên cứu Vật lý hạt, vật lý hạt nhân, vũ trụ và Hấp dẫn của Trung tâm Khoa học không gian McDonnell.  Là người sinh ra tại Salento, Italy, Pastore có nhiều mối quan hệ trong và ngoài quốc gia này, thường xuyên tới dự các hội thảo quốc tế. Hiện tại, vì ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, rất nhiều công việc đòi hỏi phải thực hiện qua mạng.  “Thật dễ dàng để các nhà lý thuyết chuyển mọi thứ sang làm việc qua mạng”, Pastore nói. “Cũng có một chút mệt mỏi nhưng không thể không vượt qua được. Tôi cảm thấy thật may mắn vì tôi có thể tiếp tục làm việc và thấy các đồng nghiệp của tôi. Tôi nghĩ những gì còn thiếu thực sự là một dạng chất lượng nào đó với các đồng nghiệp của tôi, ý tôi ở đây là một cuộc trò chuyện thật mật bên cốc cà phê”, chị nói. “Tôi đoán, đó là điều mà tất cả bọn tôi đã cùng để lỡ”.   Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-nuclear-nuclei.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi hàng trăm tỷ đồng từ một đề tài      Mặc dù Việt Nam đang hướng đến phát triển các nguồn năng lượng mới nhưng trong vài thập kỷ tới, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất điện năng. Vì vậy, giảm tiêu thụ than nhiên liệu, giảm lượng tro xỉ, giảm phát thải khí nhà kính đồng thời tăng hiệu suất của lò đốt mà không cần những thay đổi tốn kém về thiết bị của nhà máy nhiệt điện là những yêu cầu cấp bách hiện nay. Đề tài KC05.25/11-25 do Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam chủ trì đã tìm ra giải pháp quan trọng cho các vấn đề trên.      Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Chính phủ đã thực hiện chính sách đa dạng hóa các ngành năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện. Ngoài các loại nhiên liệu truyền thống như than, dầu, khí đốt, Việt Nam đang hướng tới điện hạt nhân, điện mặt trời, nhiệt điện sử dụng khí hóa lỏng. Tuy nhiên trong khoảng một, hai thập kỷ tới, nhiệt điện than vẫn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu điện năng sản xuất. Theo Quy hoạch điện VII (chưa hiệu chỉnh), năm 2020 nhiệt điện than sẽ chiếm khoảng 48% về công suất và 46,8% về sản lượng điện cả nước. Năm 2030, các tỷ lệ này dự kiến sẽ là 51,6% và 56,4%.  Lượng than tiêu thụ vì vậy sẽ tăng mạnh. Nhu cầu than cho ngành điện năm 2015 là 33,3 triệu tấn, trong đó một phần phải nhập khẩu. Năm 2020, con số này dự kiến là 79 triệu tấn và năm 2025 là 116 triệu tấn. Trong khi đó, cung ứng than trong nước nhiều khả năng không thể tăng, chỉ vào khoảng 31-32 triệu tấn/năm, nên lượng than nhập khẩu sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.   Trước tình hình trên, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tìm kiếm tư vấn có đủ kinh nghiệm tiến hành nghiên cứu việc đốt than trộn giữa than trong nước và than nhập khẩu để các nhà máy nhiệt điện than sử dụng và nâng cao hiệu suất.  Nhận thấy đây là một nội dung nghiên cứu quan trọng, Bộ KH&CN đã giao cho Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam thực hiện đề tài cấp nhà nước về “Nghiên cứu công nghệ đốt than trộn của than khó cháy với than nhập khẩu dễ cháy nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu tại các nhà máy nhiệt điện đốt than ở Việt Nam”, với mục tiêu là đưa ra các giải pháp kỹ thuật đốt than trộn tại các nhà máy nhiệt điện có công suất từ 200MW trở lên trên cơ sở xác định tỷ lệ trộn hợp lý các nguồn than (nội, ngoại), đạt hiệu quả cao theo hướng ổn định về chủng loại và chất lượng than. Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu được giao, Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam đã tập hợp các đơn vị nghiên cứu đầu ngành ở trong nước như Viện Nhiệt-Lạnh (ĐHBK Hà Nội), Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), Viện Khoa học Năng lượng (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và Trung tâm Thí nghiệm điện miền Bắc cùng tham gia.  Một đề bài hóc búa  Theo PGS.TS.Trương Duy Nghĩa, chủ nhiệm đề tài, các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam có đặc điểm chỉ dùng một loại than ổn định cho suốt cuộc đời của nhà máy và loại than này được chọn ngay từ khâu thiết kế. Hầu hết các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam sử dụng than antraxit, loại than xấu rất khó cháy. Nếu đem trộn than antraxit với than nhập ngoại cùng loại thường không gây trở ngại về kỹ thuật, nhưng nếu trộn với than khác loại có thể sẽ là một vấn đề kỹ thuật lớn. Trên thế giới, trữ lượng than antraxit rất nhỏ, phần lớn các nhà máy nhiệt điện than ở nước ngoài sử dụng than bitum và á bitum (steam coal), rất ít nhà máy sử dụng than antraxit, vì vậy, không có nhiều nghiên cứu đốt than trộn giữa antraxit với bitum (hay á bitum) trong nhà máy nhiệt điện.  Nay chúng ta đem trộn giữa hai chủng loại than khác nhau, nghĩa là đã thay đổi hẳn đặc tính than so với than thiết kế, sẽ cần có rất nhiều nghiên cứu về sự đáp ứng của thiết bị, về sự điều chỉnh các chế độ vận hành… sao cho có thể thích nghi đối với than mới. “Đây là một công việc khó do nhà máy nhiệt điện là một hệ thống thiết bị rất lớn về quy mô, phức tạp về vận hành và sử dụng nhiều lượng than tiêu thụ” – PGS.TS. Trương Duy Nghĩa cho biết.  Thành công ngay từ thử nghiệm đầu tiên!  Nhưng điều nhóm nghiên cứu không ngờ là thành công đến ngay trong lần thử nghiệm đầu tiên khi tiến hành trộn than á bitum của Indonesia với than antraxit của Việt Nam. Phương pháp này nhằm giảm chỉ tiêu xấu của than nội địa (như giảm lượng tro) để cải thiện quá trình cháy, tăng hiệu suất cháy và giảm lượng than tiêu thụ. Tuy nhiên, việc trộn than phải được nghiên cứu xem nên tiến hành trước hay sau khi nghiền than. Quá trình thí nghiệm đã được triển khai tại Nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, đơn vị cùng tham gia đề tài với Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam.   Từ trước đến nay nhà máy này chỉ dùng than antraxit nên khi thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã nhập về 580 tấn than á bitum của Indonesia để tiến hành trộn với than antraxit theo các tỷ lệ khác nhau, ở các công suất khác nhau của lò hơi. Giám đốc Công ty Cổ phần Nhiệt điện Ninh Bình Trịnh Văn Đoàn cho biết: “Chúng tôi cho nghiền hai loại than này rồi đem trộn với các tỷ lệ á bitum /antraxit là 5/95, 10/90, 15/85, 20/80, 30/70. Tổng số than sau khi trộn là 5.000 tấn”. Tất cả những lần thử nghiệm đều được thực hiện dưới sự giám sát của Trung tâm Thí nghiệm điện miền Bắc.   Kết quả là ngay từ những mẻ trộn đầu tiên đã đưa vào lò đốt, hiệu suất cháy đã tăng 1%, có trường hợp tăng tới 5%. Giám đốc Đoàn hồ hởi: “Anh em công nhân mừng lắm. Họ cũng không ngờ có ngay kết quả như vậy. Nếu sử dụng theo công nghệ này, hiệu suất của nhà máy chắc chắn sẽ cải thiện rõ rệt”.   Ngoài việc theo dõi hiệu suất của nhà máy khi sử dụng than trộn, nhóm nghiên cứu còn phải tìm hiểu xem việc đưa than á bitum vào sử dụng liệu có ảnh hưởng gì đến thiết bị hay không. Thực tế cho thấy, nếu cần có những điều chỉnh các thông số vận hành của thiết bị như điều chỉnh độ mịn bột than, tốc độ và hướng phun dòng ra khỏi vòi đốt…  thì những điều chỉnh này đều nằm trong phạm vi cho phép của nhà máy và chi phí sẽ không đáng kể. Từ đó có thể khẳng định, các nhà máy nhiệt điện đang đốt than antraxit nội địa có thể chuyển sang đốt than trộn mà không cần có những cải tạo cơ bản về thiết bị.   Như vậy, nếu tất cả các nhà máy nhiệt điện than trong nước đều áp dụng theo thành công ở Ninh Bình thì hiệu suất toàn ngành sẽ tăng đáng kể. Năm 2015, Việt Nam dự kiến tiêu thụ khoảng 33,3 triệu tấn than cho sản xuất điện. Chỉ cần tiết kiệm 1% nhiên liệu, ta sẽ giảm được 333.000 tấn than, tương đương gần 33 triệu USD (trung bình 100 USD/tấn). Chưa kể còn giúp giảm 10% lượng tro thải, giảm 10% hàm lượng cacbon trong tro, giảm 2-5% tổn thất do than chưa cháy hết. Bột than sau khi nghiền cũng không yêu cầu độ mịn quá cao, than có thể nghiền thô hơn mà vẫn không ảnh hưởng đến hiệu suất của lò hơi, do vậy, có thể tiết kiệm lượng điện năng để nghiền than.   Lời giải cho quy hoạch nguồn cung về than  Đánh giá về kết quả đề tài, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho rằng “đề tài có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang có những khó khăn về đáp ứng nhu cầu năng lượng của công nghiệp hóa”. Bên cạnh đó, đề tài còn có một ý nghĩa lớn hơn, như nhận định của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, đó là giúp “tìm ra lời giải cho nguồn cung về than”, đặc biệt trong bối cảnh “việc đảm bảo nguồn cung than rất khó khăn, khi chúng ta phải nhập khẩu than thì việc quy hoạch than, sử dụng than và trộn than nội-ngoại như thế nào cũng phải tính toán tối ưu”. Kết quả của đề tài chính là cơ sở để đưa ra những tính toán tối ưu như vậy cho công tác quy hoạch than.  Căn cứ trên những kết quả nghiên cứu đạt được, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đề nghị nhóm nghiên cứu “tính toán cụ thể hơn về hiệu quả kinh tế, tiếp tục xây dựng các phương pháp theo hướng chuẩn hóa để việc đốt than trộn được triển khai rộng rãi trong các nhà máy nhiệt điện than, trước mắt là các nhà máy có công suất tổ máy 300 MW, các nhà máy dùng lò hơi lớp sôi”.   Phó Thủ tướng cũng yêu cầu “trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, các nhà máy nhiệt điện than tự áp dụng và nghiên cứu phương pháp, tìm ra tỷ lệ trộn than tối ưu cũng như chủng loại than phù hợp nhất với điều kiện vận hành của mỗi nhà máy, từ đó xây dựng kế hoạch cung cấp than ổn định trong một thời gian lâu dài”. Riêng Công ty Cổ phần Nhiệt điện Ninh Bình, sau khi thử nghiệm thành công đã quyết định áp dụng tỷ lệ trộn 15/85 để nâng cao hiệu suất, đồng thời đề nghị cho phép nhập khẩu than á bitum để đưa vào sử dụng ngay trong năm 2016.   Kết quả của đề tài KC05. 25/11/15 sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện chế độ vận hành tối ưu khi chuyển từ than antraxit sang than trộn. Những nhà máy nhiệt điện than nguyên được thiết kế để đốt than nhập khẩu cũng có thể tham khảo kết quả này để nghiên cứu, áp dụng đốt than trộn, theo hướng giảm bớt lượng than bitum nhập khẩu và thay thế một phần bằng than antraxit nội địa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời hứa hão của những người tạo mưa      Đốt rừng, b&#243;ng bay, diều mang thuốc nổ, s&#250;ng đại b&#225;c, m&#225;y bay, m&#225;y đốt chạy bằng dầu mazut&#8230; Một loạt c&#225;c phương ph&#225;p v&#224; thiết bị được con người nghĩ ra để &#8220;h&#244; mưa, gọi gi&#243;&#8221;. Thế nhưng, kết quả đạt được cũng ph&#249; phiếm giống như những đ&#225;m m&#226;y tr&#234;n trời m&#224; con người muốn điều khiển.     Như Cơ quan Điều chỉnh thời tiết Trung Quốc đã thông báo rất chính thức trước hàng tháng, vào ngày khai mạc Thế vận hội, trời đã rất đẹp ở Bắc Kinh. Những đám mây có nguy cơ gây mưa đã được Cơ quan này dùng hỏa tiễn đuổi khỏi thủ đô. Một kỳ tích về công nghệ? Không hẳn. Những phương pháp mà Trung Quốc sử dụng đã được biết đến từ nửa thế kỷ trước … nhưng theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), hiệu quả của chúng cần được kiểm chứng. Vậy, có thể lý giải mối quan tâm từ vài năm nay của Trung Quốc, của cả Nga, Israel, Thái Lan và nhiều quốc gia châu Phi đối với việc điều chỉnh thời tiết như thế nào?   Cũng như ngành khí tượng, các dự án nghiên cứu nhằm điều chỉnh thời tiết đã ra đời từ lâu và những chuyển biến của các dự án ấy phản ánh rõ nét những thăng trầm của ngành khoa học này. Chẳng hạn, giữa thế kỷ XIX, các nhà khoa học lý giải hiện tượng bão tố và mưa gió là do các luồng khí nóng trong khí quyển bốc lên cao. James Pollard Espy, một trong những nhà khí tượng người Mỹ nổi tiếng nhất vào thời đó, đã rút ra một kết luận lôgic: để gây mưa, chỉ cần làm cho bầu khí quyển nóng lên. Tháng 7 năm 1849, ông đã đốt năm hecta rừng ở bang Virginia … nhưng mưa đã không trút xuống và sự nghi ngờ của các đồng nghiệp càng tăng lên.  Hai thập niên sau, một lý thuyết mới ra đời. Lần này, nó dựa trên một sự quan sát mang tính hiển nhiên: suốt cuộc chiến tranh ly khai tàn phá đất nước Hoa Kỳ (1861 – 1865), sau mỗi trận chiến, trời thường mưa rất to. Do vậy, các nhà khoa học cho rằng bầu khí quyển đã bị rung chuyển do đạn pháo. Năm 1891, trước yêu cầu chống hạn hán cấp thiết, Quốc hội Mỹ quyết định cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu. Suốt cả mùa hè, bóng bay, diều nổ khô rốc trên bầu trời Texas đến nỗi một tờ báo địa phương đã miêu tả là “giống một trận chiến thực sự”. Kết luận: các vụ nổ có thể gây mưa trong điều kiện thuận lợi nhưng do các thiết bị quá cồng kềnh, phương pháp này không thể triển khai trên diện rộng được. Vậy nên, các nhà khí tượng học thôi để tâm đến chuyện “hô mưa, gọi gió” và chuyển việc ấy cho những tay bịp bợp miền Viễn Đông… Thế là những người hoài nghi càng được thể lên giọng rằng nếu như trời mưa sau các trận chiến là vì các đạo quân tận dụng thời tiết đẹp để đánh nhau.  Súng thần công phá mưa đá  Tại châu Âu, vào cuối thế kỷ XIX, cái làm mọi người lo sợ nhất không phải nạn hạn hán mà những trận mưa đá tàn phá các ruộng nho và vườn cây ăn quả. Với những khẩu đại bác khổng lồ hình cái phễu, Albert Stiger, kỹ sư và người đứng đầu xã Windisch-Feistritz (tỉnh Styrie, Vương quốc Áo-Hung), đã giúp xã này tránh khỏi những cơn mưa đá. Các đám khói hình tròn màu đen bốc lên theo hình xoáy sau mỗi tiếng nổ cao đến 600 mét. Stiger cho rằng khí thoát ra làm các mây mất cân bằng và biến mưa đá thành mưa thông thường. Ba mươi khẩu đại bác mà Stiger đặt quanh xã đã làm nên điều kỳ diệu cho mùa hè năm 1896 và 1897: mưa đá tàn phá các làng xã lân cận nhưng lại chừa ra Windisch-Feistritz. Do vậy, mọi người đổ xô đến Áo, Italia và miền Nam Pháp để chiêm ngưỡng những “khẩu thần công phá mưa đá”, giúp việc làm ăn của hãng Greinitz, nơi sản xuất những khẩu đại bác ấy, ngày càng phát đạt. Năm 1900, Italia có khoảng 1000 khẩu súng loại này, những viên đạn bắn ra giúp các ruộng nho nước này tránh bị mưa đá tàn phá nhưng lại giết chết 7 người và khiến 78 người khác bị thương.           TẠI CAO NGUYÊN LANNEMEZAN, nằm ở vùng Hautes-Pyrénées, năm 1962, Henri Dressens lắp đặt 100 máy đốt chạy bằng dầu mazut trên một đường tròn đường kính 100 mét. Mục đích của ông: tạo mây.        Tuy nhiên, các vụ tai nạn ấy chưa phải vấn đề duy nhất được đặt ra. Các nhà vật lý nhận thấy không cơ chế nào có thể giải thích một cách hợp lý hiệu quả của súng bắn mưa đá. Thất bại cứ nối tiếp nhau. Ý kiến các chuyên gia tại hội thảo quốc tế bàn về vấn đề này diễn ra ở Gratz (Áo) năm 1902 cũng không thống nhất: 17 chuyên gia cho rằng phương pháp này chắc chắn hoặc có khả năng đạt hiệu quả, 20 người nghĩ ngược lại và 13 chuyên gia khác nói chưa thể kết luận được điều gì. Nhằm chấm dứt tranh cãi, hai thử nghiệm trên quy mô lớn đã được tiến hành ở Windisch-Feistritz và Italia vào năm 1904. Mưa đá (mà theo như ta biết hiện nay, xảy ra theo chu kỳ xen kẽ năm “có”, năm “không”) đã trút xuống cả hai vùng này. Thế là số phận của những khẩu thần công bắn mưa đá cũng đến hồi kết, hãng Greinitz chuyển sang sản xuất vũ khí trong khi chiến tranh có dấu hiệu bùng nổ ở châu Âu.   Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề điều chỉnh thời tiết lại rộ lên. Mọi chuyện bắt đầu tại phòng thí nghiệm ở New York của nhà khoa học đoạt giải Nobel Hóa học Irving Langmuir (ông làm việc cho General Electrics). Tại đây, vào năm 1946, khi nghiên cứu về vấn đề sương giá của các động cơ máy bay bay cao cho Không lực Mỹ (US Air Force), nhà khoa học này phát hiện rằng tuyết cacbon hoặc i-ốt bạc làm nước vẫn ở thể lỏng lúc nhiệt độ xuống dưới 0oC trong các đám mây ngưng tụ lại. Tình hình càng khả quan hơn khi những thí nghiệm thực địa đầu tiên tiến hành từ một chiếc máy bay nhỏ cho thấy mưa đã rơi. Do đó, Langmuir tin rằng mình đã tìm ra phương pháp điều chỉnh thời tiết dựa trên những lý thuyết vật lý – hóa học hợp lý, vừa có thể tạo mưa theo ý muốn, vừa có thể ngăn mưa đá, đồng thời giảm nhẹ cường độ hoặc làm lệch hướng đi của các cơn bão. Tuy nhiên, cấp trên của nhà bác học này ở General Electrics lo ngại những hệ lụy pháp lý mà các thí nghiệm biến đổi thời tiết có thể gây ra nên đã quyết định chuyển giao chương trình nghiên cứu này cho quân đội.  Cho kẻ thù lấm lem bùn đất  Quân đội Hoa Kỳ tiếp nhận không một chút do dự. Vào giai đoạn đầu của chiến tranh lạnh, mọi thứ đều có thể được sử dụng để chống lại người Liên Xô, kể cả vũ khí thời tiết. Quả vậy, gió ở bán cầu Bắc thổi từ Tây sang Đông nên chỉ cần thả cho bóng bay chứa chất gây mưa nổ trên lãnh thổ Liên Xô cũng đã đủ nhấn chìm cây cối và đội xe thiết giáp nước này trong bùn đất. Năm 1947, tướng Kennedy của Cơ quan Chỉ huy chiến lược Không quân Hoa Kỳ khẳng định: “Quốc gia nào (…) biết cách điều khiển độ dài và nơi xảy ra các cơn mưa đầu tiên sẽ thống trị thế giới”.      Mây nhân tạo  Vấn đề này không chỉ thu hút sự quan tâm của quân đội. Vào thập niên 1950, ngành công nghiệp mưa làm ăn rất phát đạt ra đời. 10% đất đai ở Trung Đông đã được ký hợp đồng bảo đảm rằng chúng sẽ được tưới bằng phương pháp bắn hỏa tiễn mang i-ốt bạc khi chủ nhân yêu cầu. Tại Pháp, một vị tướng không quân đã thực hiện lại phương pháp này theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành phố Saint-Chamond, ông Antoine Pinay, để giúp thành phố ông thoát khỏi cảnh hạn hán. Nếu người Mỹ tự hào vì đã tạo được mưa thì người Pháp có thể huênh hoang rằng mình có thể tạo ra mây nhờ các máy đốt chạy bằng dầu mazut do nhà khí tượng Henri Dessens lắp đặt ở cao nguyên Lannemezan (miền Nam Pháp) năm 1962.   Chưa bao giờ chịu lạc hậu về công nghệ, đầu thập niên 1970, Liên Xô thông báo nước này có khả năng phá hủy 90% lượng mây gây mưa đá bằng hỏa tiễn mang i-ốt bạc. Thông báo của Liên Xô gây ấn tượng mạnh cho Hoa Kỳ: nông dân nước này thúc giục chính phủ trang bị cho họ những kỹ thuật tương tự. Các nhà khí tượng Mỹ triển khai một chương trình nghiên cứu rất rầm rộ: ra-đa, trạm dự báo thời tiết, hỏa tiễn bắn mưa đá mang i-ốt bạc được lắp dày đặc trên một diện tích rộng hơn một tỉnh của Việt Nam, các nhà khoa học được trang bị những phương pháp thống kê tốt nhất để đánh giá hiệu quả của những lần bắn mưa đá trong thời gian 5 năm. Tổng kết chương trình nghiên cứu khi nó kết thúc năm 1982 nêu rõ: không thể rút ra kết luận. Jean-Pierre Chalon, chuyên gia Đài khí tượng Pháp và đã tham gia chương trình nghiên cứu trên của Mỹ, giải thích: “Kết quả thu được, nếu có, chỉ đạt dưới 30% nhưng có thể kéo theo nguy cơ giảm lượng mưa và tăng mức độ tàn phá của những trận mưa đá”.          CƠ QUAN ĐIỀU CHỈNH THỜI TIẾT TRUNG QUỐC sẵn sàng tác chiến vào tháng 8 năm 2008 nhằm bảo đảm cho mưa gió không phá hoại Thế vận hội Bắc Kinh. Cơ quan này thường xuyên sử dụng 32.000 nhân viên trên khắp đất nước với tổng kinh phí từ 40 đến 70 triệu Euro.        Tại sao bản tổng kết lại không mấy chắc chắn như thế? “Do tính chất cực kỳ đa dạng của các đám mây, nó cũng giống như loài người vậy, nên các nhà khoa học không dự báo được một đám mây đang phát triển sẽ gây mưa như thế nào. Vậy nên, họ chẳng biết được liệu sự can thiệp của họ có phải là nguyên nhân gây mưa, hay dù sao chăng nữa, mưa có lẽ cũng sẽ rơi ít hoặc nhiều.”   Ngoài việc thiếu cơ sở khoa học như đã nêu, cộng đồng quốc tế càng sửng sốt hơn khi biết quân đội Mỹ đã phun i-ốt bạc một cách vô tội vạ trong chiến tranh Việt Nam. Một công ước quốc tế nghiêm cấm việc “thao túng” thời tiết vì mục đích quân sự đã được ký năm 1978 dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Hoa Kỳ giảm một nửa ngân sách chi cho nghiên cứu mưa nhân tạo, từ bỏ chương trình chống mưa đá và dẹp chương trình Stormfury vào năm 1983 (suốt hai mươi năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã không chứng minh được họ có thể giảm cường độ các cơn bão, chứ đừng nói là làm lệch hướng đi của chúng).  Năm 1992, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) tổng kết bốn mươi năm công tác nghiên cứu làm mưa nhân tạo bằng cách phun hóa chất vào mây. Chỉ các nhà khoa học Israel chứng minh một cách thuyết phục tính hiệu quả của một phương pháp. Nhưng kết quả đạt được cũng rất khiêm tốn: chỉ tạo thêm 12% lượng mưa và phương pháp này chỉ áp dụng cho một vài loại mây vào mùa đông. Do đó, WMO kết luận: cần nghiên cứu nhiều hơn về những hiện tượng vật lý diễn ra bên trong những đám mây trước khi nghĩ đến việc điều khiển chúng.   Vậy, sau thời gian dài thất bại, có thể lý giải như thế nào việc hiện nay các quốc gia lại quan tâm đến vấn đề điều chỉnh thời tiết? Trước tiên, vì lý do kỹ thuật. Một phương pháp phun hóa chất vào mây mới (dùng muối hút ẩm thay cho tuyết cacbon và i-ốt bạc) vừa được triển khai ở Nam Phi năm 1999. Những thử nghiệm nghiêm ngặt về mặt thống kê (thí nghiệm đơn thuần và thí nghiệm có so sánh đối chiếu với mẫu thử không chứa hóa chất như trong ngành y) cho thấy những kết quả rất hứa hẹn. Sau đó, và có thể đây là nguyên nhân quan trọng nhất, vì lý do chính trị. Dưới góc độ lịch sử, những nghiên cứu về điều chỉnh thời tiết đặc biệt phát triển trong hai trường hợp sau. Thứ nhất: một nước muốn phô trương sức mạnh của mình bằng cách chứng tỏ cho thế giới thấy quốc gia này có khả năng điều khiển cả trời đất. Đó là những gì hiện đang diễn ra không chỉ ở Trung Quốc, Nga, vốn không phải những quốc gia hoạt động tích cực nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này, mà cả ở Maroc, nơi Hoàng đế Hassan Đệ nhị quá cố đã phát động một chương trình nghiên cứu mà kể từ đó, nó đã gây chia rẽ ở Tây Phi. Trường hợp thứ hai: các quốc gia cần hành động cấp thiết để chống thiên tai… Đây há chẳng phải những gì hiện đang diễn ra vào thời điểm này ư, nhất là trong bối cảnh những hậu quả của hiện tượng Trái đất nóng lên làm chúng ta càng thêm mất ăn mất ngủ mỗi ngày.  Hồ Thủy An dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợi ích kinh tế nào khi Việt Nam có giống cây trồng biến đổi gene?      Cây trồng biến đổi gene là kết quả của công nghệ tiên tiến, hiện đại, có khả năng giúp con người vượt qua chặng đường khó khăn về an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, tăng chất dinh dưỡng và đặc biệt hơn hết là vẫn an toàn không khác gì các loại cây trồng khác. Nhưng rất tiếc việc sử dụng thức ăn biến đổi gene lại không có sự đồng thuận rộng rãi của giới tiêu thụ trên thế giới, làm thành một lực cản về kinh tế cho một số nước đang phát triển ủng hộ nghiên cứu và trồng đại trà giống cây trồng biến đổi gene.     Việt Nam có chủ trương đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp. Nhưng hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp, trong đó sản xuất nông sản chiếm 20% GDP (2009) và xuất khẩu nông sản là một trong những “lợi ích cốt lõi” của Việt Nam. Gạo, cà phê, điều, hạt tiêu, tôm, cá tra…là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem hàng tỷ USD về cho đất nước cho nên việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai cây biến đổi gene phải được nhìn thêm một góc cạnh khác ngoài khoa học kỹ thuật. Đó là góc cạnh kinh tế và thương mại. Đó là thị hiếu của khách hàng. Chúng ta cần phải biết khi sản xuất đại trà thì liệu khách hàng của Việt Nam có chấp nhận thức ăn biến đổi gene không?                Cứ giả sử 4-5 triệu tấn gạo của Việt Nam là “gạo biến đổi gene” thì liệu ta có bán được để thu vào 2.6 tỷ USD như năm 2009 không? Một ví cụ thể là vào năm 2006, Hoa Kỳ đã không xuất khẩu được gạo, mất 1,2 tỷ USD vì có sự hiện diện của giống lúa biến đổi gene. Cũng cần nhắc lại trước đây, vào năm 1999, ngô của Hoa Kỳ cũng đã bị thị trường Âu châu tẩy chay vì là ngô biến đổi gene (Hình 1). Hoặc thức ăn cho tôm cá của Việt Nam được nuôi bằng ngô, đậu tương biến đổi gene thì liệu khách hàng của chúng ta có bỏ ra 5 tỷ USD như năm 2010 để mua thủy sản Việt Nam không? Chúng ta nên nhớ đối với Hoa Kỳ mất 1.2 tỷ USD vì không xuất khẩu được gạo, hoặc ngay cả 5 tỷ USD vì không xuất khẩu được tôm cá thì đó là chuyện nhỏ vì lợi nhuận trong việc bán giống biến đổi gene và những phụ kiện công nghệ sinh học của Hoa Kỳ còn lớn hơn nhiều. Chỉ với một công ty Monsanto thôi, họ đã thu vào 17.1 tỷ USD qua kênh biến đổi gene vào năm 2007 (hạt giống 5 tỷ USD, thuốc diệt cỏ và thuốc BVTV 3.6 tỷ USD, các sản phẩm công nghệ sinh học khác 8.5 tỷ USD).   Khách hàng chính của nông thủy sản Việt Nam là EU và Nhật. Đây là 2 khách hàng cực kỳ khó tính, chống đối thức ăn biến đổi gene một cách mãnh liệt. Phát biểu của Ủy Ban Nông nghiệp Âu Châu về việc Hoa kỳ mất thị trường ngô ở EU vì thức ăn biến đổi gene (Về thị trường ngô ở EU, thị phần của Hoa Kỳ đã giảm một cách rõ rệt trong khi thị phần của các bạn hàng khác, đặc biệt Argenetina và Hungary, đã tăng một cách đáng kể. Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ USDA đã nhận định rằng việc mất thị phần (ngô) ở thị trường EU là kết quả từ những vấn đề liên quan đến công nghệ sinh học (http://ec.europa.eu/agriculture/publi/gmo/ch5.htm), và có hơn 100 hội đoàn phi chính phủ của EU đã ký tên vào một lá thư ngỏ gửi cho OXFAM  ngày 12/4/2010  để phản đối tổ chức này đưa ra bản báo cáo về hiệu quả cây biến đổi gene chỉ dựa vào kết quả tốt mà không nói đến kết quả xấu là những dẫn chứng có thật về sự chống đối mạnh mẽ thức ăn biến đổi gene của EU (www.gmwatch.org/).    Tại Úc, cho đến nay chưa sản xuất được hạt giống biến đổi gene. Hầu hết các tiểu bang (ngoại trừ Queensland) đều ngăn cấm không cho phép trồng cây biến đổi gene (www.gmo-compass.org/eng/news/stories). Bang Queensland nơi được phép thử nghiệm, người ta nhận thấy vì phải phụ thuộc vào công ty nước ngoài về giống và những phụ kiện khác, nông dân đã không thu được nhiều lợi nhuận và việc cải thiện môi trường không diễn ra tốt đẹp như nhiều người tưởng. Chỉ có doanh nghiệp là lời to, nhất là các công ty hạt giống siêu quốc gia. Tuy vậy, giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Bộ Nông nghiệp của chính phủ Liên bang Úc cũng nhận thấy Úc sẽ mất 1.8 – 7 tỷ USD nếu không tự mình phát triển giống cây biến đổi gene để tham gia vào sự phát triển chung của thế giới. Vì lý do đó mà nay Chính phủ Liên bang Úc châu đã cho phép nghiên cứu và trồng thử cây biến đổi gene. Nhưng cũng chỉ thử nghiệm bó gọn trong 3 loại: cải dầu, bông vải và hoa cẩm chướng. Không có thứ nào trực tiếp làm thức ăn cả.     Tại Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã khẳng định cho đến nay đã có ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm ba giống cây chủ lực là ngô, đậu tương và bông vải; và Việt Nam sẽ có giống cây trồng biến đổi gene năm 2011 và đến 2013 sẽ sản xuất giống đại trà để trồng trên diện rộng (Theo Tuoitre Online ngày 11/12/2010). Như vậy từ năm 2013 xác xuất ngô và đậu tương biến đổi gene dùng cho thức ăn gia súc và thủy sản của Việt Nam là rất cao, nếu không nói là toàn bộ. Nếu là vậy thì mặt hàng thịt và tôm cá của Việt Nam cũng được xem là có hàm lượng biến đổi gene. Như vậy khi xuất khẩu, hàng Việt Nam phải dán nhãn có thức ăn biến đổi gene. Việt Nam tự mình tạo thêm một rào cản khác ngoài an toàn vệ sinh thực phẩm: đó là thức ăn biến đổi gene.   Để phát triển một cách bền vững các giống cây biến đổi gene nói trên, và giúp các  doanh nghiệp thủy sản Việt Nam không dính vào những khó khăn như vụ cá tra bị EU                đưa vào sổ đỏ vào cuối năm 2010, Việt Nam cần phải tính đến mặt kinh tế khi bằng cách làm rõ những vấn đề sau:   1. Xác nhận xem khách hàng của ta, cụ thể là EU và Nhật, có chấp nhận mua tôm cá trong đó thức ăn là ngô và đậu tương biến đổi gene không?  2.  Nghiên cứu xem để biết giống cây trồng biến đổi gene của Việt Nam có thể cạnh tranh với giống của các công ty siêu quốc tế (ví dụ như AmGene, Geneetech, Monsanto… nơi đã dành hàng tỷ USD cho nghiên cứu) về chất lượng hạt giống, về giá hạt giống không? Kinh nghiệm của nhiều nước trồng cây biến đổi gene trên thế giới cho biết chỉ khi nào (Việt Nam) tự sản xuất được giống cây biến đổi gene thì khi đó mới thực sự giúp nông nghiệp và nông dân Việt Nam phát triển bền vững.  3. Nếu giao khoán cho ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm và sau đó (dĩ nhiên) được phép kinh doanh hạt giống thì xin điều tra kỹ về những thủ tục cực kỳ khó khăn trong việc mua hạt giống hoặc mua bản quyền giống từ các các công ty siêu quốc gia, để tìm ra giải pháp thích hợp có lợi cho nông dân và nông nghiệp Việt Nam.  Cho đến bây giờ không ai có thể bảo rằng thức ăn biến đổi gene là không an toàn cho nên đứng về mặt phát triển khoa học kỹ thuật, Việt Nam phải tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene. Chúng ta cần phải nghiên cứu các loại lúa chống mặn, chống lụt (gene Sub1) để đối phó với biến đổi khí hậu; các loại cây cố định đạm để đối phó với đất bạc màu, đất phèn, đất bị ô nhiễm… để bảo vệ môi trường; các loại cây có dinh dưỡng cao (tăng lượng  β carotene cho gạo, tăng lượng Oleic acid & Omega-3 cho  đậu nành) để  tăng dinh dưỡng cho thực phẩm; hoặc đánh giá cây biến đổi gene cho các loại nông sản quan trọng như lúa, ngô, đậu tương, bông vải và rau quả, cũng như chẩn đoán có hay không gene biến đổi trong nông sản hoặc thức ăn nhập khẩu như ngô, đậu tương, sữa, bơ, phó mát, khoai tây chiên… là những việc rất quan trọng mà Việt Nam cần phải làm ngay, vừa để theo kịp đà tiến bộ chung của thế giới, vừa sửa soạn cho đến khi giới tiêu thụ thế giới chấp nhận thức ăn biến đổi gene, thì Việt Nam cũng đã có sẵn cán bộ và các kỹ thuật công nghệ sinh học về giống, tạo giống và nhân nhanh giống biến đổi gene, phục vụ kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam, phát triển xuất khẩu.   Việc tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene là cần thiết song phải có lộ trình thích hợp, không nên vì lợi ích của một nhóm người rồi bị rơi vào cái bẫy của những công ty siêu quốc gia khi họ không xâm nhập được thị trường Âu châu và Nhật bản nay quay sang Việt Nam tìm kiếm thị trường mới.           Để nông dân không phải trả giá quá cao…  GS. Võ Tòng Xuân  Ý kiến của TS Nguyễn Quốc Vọng trên đây là ý kiến đã được nghiên cứu kỹ. Hiện nay nước ta đang theo sau nhiều quốc gia khác trên thế giới, ngay cả sau Philippines và Thái Lan trong ứng dụng giống cây trồng có gene biến đổi (giống GM), mặc dù đã có nhiều cuộc trồng thử không chính thức giống bông vải Bt (có lẽ nhập từ Trung Quốc). Sở dĩ có sự chậm trễ này là vì các nhà xây dựng chính sách của ta, từ Bộ NN&PTNT, Bộ KH&CN, đến Bộ Tài nguyên & Môi trường đều rất đắn đo trước những ý kiến ủng hộ (có nhiều bằng chứng) và chống đối (thường dùng lý do giả tưởng, không có minh chứng rõ ràng). Tình trạng này cũng giống như ý kiến phản bác đi ô-tô vì căn cứ vào sự kiện vài tai nạn đã gặp mà kết luận là đi ô-tô sẽ hoặc có thể gặp tai nạn. Cuối cùng thì các chuyên của các Bộ ngành đều nhất trí với các nhà khoa học hoạt động trong ngành CNSH kiến nghị với Chính phủ chính thức công nhận cho nghiên cứu giống GM bằng một loạt các văn bản chính qui: Qui định về an toàn sinh học năm 2005 đến Nghị định số 69/2010/NĐ-CP năm 2010.  Hiện nay hầu như các giống GM được bán trên thế giới là giống do một số ít công ty đa quốc gia đã đầu tư hàng tỉ USD để nghiên cứu và sản xuất như Monsanto (Mỹ), DuPont (Mỹ), Syngeneta (Thụy Sĩ), Bayer (Đức). Đây là những công ty chuyên sản xuất dược phẩm, thuê những chuyên viên CNSH trả lương rất cao và đầu tư thiết bị rất đắt tiền, mua cả những công ty giống cây trồng để tạo giống GM. Ngoài gene chủ yếu muốn đưa vào giống mới (năng suất cao, kháng sâu bệnh) họ còn đưa thêm gene kháng một loại hóa chất khác mà họ muốn bán kèm với hạt giống, thí dụ gene kháng thuốc diệt cỏ Roundup. Cho nên khi nông dân trồng bắp Bt họ phải mua thuốc diệt cỏ Roundup để sử dụng. Ở nước ta, việc nghiên cứu giống GM vẫn còn phôi thai, chủ yếu mới chỉ tập trung tại một ít cơ sở khoa học có thiết bị tương đối hiện đại như Viện Công nghệ sinh học ở Hà Nội và Viện Lúa ĐBSCL. Nhưng tất cả các cơ sở vẫn phải nhờ nguồn gene biếu từ các công ty đa quốc gia, và phải tranh thủ phần lớn kinh phí nước ngoài. Kết quả đến nay chúng ta vẫn chưa tạo được giống GM mà người nông dân nghèo rất cần có để trồng như lúa chịu hạn, lúa chịu mặn, bắp chịu hạn…  Vì thế khi quyết định sử dụng giống GM, chúng ta cần lưu ý các đề nghị mà TS Nguyễn Quốc Vọng đã nêu, nhất là giống mà ta có thể tạo ra trong nước để nông dân nghèo không phải trả giá quá cao.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỗi phiên mã DNA liên quan đến bệnh thoái hóa thần kinh      Một nhóm nhà nghiên cứu từ nhiều viện khác nhau đã thăm dò tỷ lệ lỗi phiên mã trong tế bào người và những cơ chế ảnh hưởng đến chúng.     Nghiên cứu mới đưa ra ước tính đầu tiên về tỷ lệ lỗi phiên mã trong tế bào người.  Phiên mã DNA là quá trình quan trọng trong biểu hiện thông tin di truyền, vì nó chuyển thông tin lưu trữ trong DNA thành RNA thông tin (mRNA), sau đó có thể được dịch mã thành các protein. Độ chính xác của quá trình này rất khác biệt giữa các loài, giữa các loại tế bào và trong các vùng riêng biệt của bộ gene, gây ra những hệ quả nghiêm trọng với sức khỏe và bệnh tật.  Mặc dù phiên mã là một nền tảng quan trọng của sự sống, nhưng chúng ta vẫn chưa nắm được hết cơ chế phân tử đằng sau quá trình phiên mã chính xác. Nghiên cứu mới này cung cấp ước tính đầu tiên về tỷ lệ lỗi phiên mã trong tế bào người, xác định những yếu tố di truyền và ngoại di truyền khác nhau gây ra lỗi. Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ lỗi phiên mã cao quan sát được trong một số loại tế bào thần kinh cụ thể là nguồn tiềm tàng gây bệnh thoái hóa thần kinh, gồm cả bệnh Alzheimer.  Lỗi phiên mã xảy ra trong quá trình sao chép thông tin di truyền từ DNA vào RNA, đây là một bước quan trọng trong biểu hiện gene. Những lỗi này có thể phát sinh do DNA bị hỏng, nhận dạng sai mẫu DNA do cơ chế đọc genne (gọi là RNA polymerase) hay các vấn đề với cơ chế sửa chữa để khắc phục sai sót trong quá trình phiên mã. Quá trình phiên mã không chính xác có thể sinh ra các protein bị thay đổi hoặc cắt ngắn, khiến chúng không thể thực hiện các chứng năng bình thường, do đó dẫn tới bệnh tật.  Có vài yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ lỗi phiên mã. Nghiên cứu đã chứng minh tỷ lệ lỗi này phụ thuộc vào độ dài và độ phức tạp của DNA, các loại RNA polymerase và tốc độ phiên mã của chúng.  Ngoài ra, các protein sửa chữa DNA – chịu trách nhiệm sửa lỗi sai trong quá trình phiên mã sau khi lỗi xảy ra – cũng có hành vi và hiệu quả khác nhau. Các nhà khoa học đã nghiên cứu một protein như vậy có tên là BRCA1 và tìm ra một vai trò mới của nó.  Lâu nay, đột biến gene BRCA1 được biết là liên quan tới một loạt các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, nhất là ung thư vú và ung thư buồng trứng. Các đột biến BRCA1 cũng liên quan tới các vấn đề sức khỏe khác như ung thư tuyến tụy, ung thư tế bào hắc tố và ung thư buồng trứng. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã chỉ ra BRCA1 dường như cũng cải thiện độ trung thực trong quá trình phiên mã, bên cạnh vai trò sửa chữa DNA tổn thương và ngăn ngừa nó tích tụ trong bộ gene.  Các nhà nghiên cứu đã phát triển mô hình chuột để thăm dò loại tế bào nào dễ sản sinh ra nhiều protein gập sai nhất do lỗi phiên mã. Các loại tế bào thần kinh liên quan đến bệnh Alzheimer có tỷ lệ lỗi phiên mã tương đối cao. Một tác động của điều này là tạo ra một dạng protein độc hại gọi là APP, tiền thân của các mảng amyloid tích tụ và làm mờ không gian giữa tế bào của não – dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer.  Nghiên cứu đã xác định được loại tế bào và mô dễ bị lỗi phiên mã nhất: các tế bào thần kinh trong hai khu vực quan trọng của não là CA1 và vùng hồi răng. Phát hiện này ủng hộ giả thuyết cho rằng lỗi phiên mã góp phần gây bệnh Alzheimer và các tác động tiềm ẩn khác trong não bộ.  Những sai lệch protein như vậy do lỗi phiên mã có thể là tác nhân gây ra các bệnh thoái hóa thần kinh khác, như bệnh Parkinson, chứng xơ cứng teo cơ một bên và bệnh sa sút trí tuệ tiền đình thái dương.  Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.□  Phương Anh dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-02-dna-transcription-uncovers-links-neurodegenerative.html    Author                .        
__label__tiasang Lợi thế ở các trường học nông thôn      Học sinh vùng thôn quê té ra lại học giỏi môn tự nhiên hơn bạn bè đồng lứa ở thành thị, và các giáo viên nông thôn nhìn chung cũng hài lòng hơn với học trò của mình.    Đây là kết quả một nghiên cứu mới đây của Ủy ban giáo dục trên toàn liên bang Mỹ. Theo đó, nhìn chung, khoảng 1/3 các trường công lập Mỹ nằm ở vùng nông thôn (được định nghĩa là vùng có mật độ nhỏ hơn 500 người trên một dặm vuông). Điều ngạc nhiên là nói về thành tựu, khoa học lại là điểm mạnh của các học sinh ở những vùng thôn quê này.Đó có thể là do trẻ em nhận được sự giáo dục trong môi trường thực tế bên cạnh các bài học chính khóa, Marty Strange, giám đốc chính sách của tổ chức Rural School and Community Trust, nhận xét. “Cuộc sống thôn dã gần gũi hơn với thiên nhiên”, ông nói.  Trong nhóm giáo viên, các thầy cô ở nông thôn cũng cho biết họ hài lòng hơn với điều kiện giảng dạy trong trường. Tuy nhiên, lương của họ lại thấp hơn. Các trường quê dường như cũng nhỏ hơn và có tỷ lệ học sinh/giáo viên thấp hơn ở thành phố, điều có thể lý giải vì sao giáo viên lại nói điều kiện ở đây là tốt, Strange cho biết. “Tất cả mọi người đều biết nhau. Quan hệ giữa mọi người ở các trường càng nhỏ càng tốt”, ông nói.  T. An (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lợn chỉnh sửa gene: Tham vọng của Trung Quốc      Công nghệ “cướp quyền tạo hóa” của các nhà khoa học Trung Quốc không chỉ tạo ra những em bé biến đổi gene mà còn có khả năng đem đến những chú lợn mini và mi nhon. Nó thể hiện một chiến lược đầy tham vọng ở qui mô toàn cầu của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ sinh học toàn cầu.      Các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra những con lợn mi ni để phục vụ nghiên cứu khoa học từ năm 2015.Nguồn: Nature  Các nhà khoa học đã để mắt tới những đồng nghiệp Trung Quốc từ vài năm nay, sau nhiều công bố quốc tế về công nghệ chỉnh sửa gene. Nhưng không chỉ có bài báo, các nhà khoa học Trung Quốc còn khiến cộng đồng thế giới sửng sốt bằng những sản phẩm thật, ví dụ hai chú lợn có kích thước mini bên lề Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo công nghệ sinh học quốc tế Thâm Quyến vào tháng 9/2015. Lars Bolund, nhà gene học y sinh tại trường Đại học Aarhus (Đan Mạch) tham gia phát triển chương trình chỉnh sửa gene lợn với Viện nghiên cứu hệ gene Bắc Kinh (BGI), không hết ngạc nhiên khi nhớ lại sự kiện này với Nature: “Cả đám đông vây quanh chúng tôi, ai cũng bị chúng thu hút, ai cũng muốn chạm vào chúng”.  Dễ thương và ngộ nghĩnh, những chú lợn Bama này chỉ nặng chừng 15kg khi trưởng thành, quá đủ tiêu chuẩn trở thành thú cưng cho nhiều người. Tại hội nghị, Yong Li – giám đốc kỹ thuật của bộ phận khoa học vật nuôi của BGI, tiết lộ Viện sẽ có kế hoạch bán những chú lợn mini với giá 10.000 nhân dân tệ (tương đương 1.600 USD) trong tương lai gần. Khi đó, người mua sẽ có thể đặt mua những chú lợn xinh xắn với những loại màu sắc và kiểu lông khác nhau. BGI sẵn sàng đáp ứng yêu cầu bằng việc áp dụng công nghệ chỉnh sửa gene.  Có vẻ như sẽ có nhiều người thích thú với ý tưởng này. Vài năm trước có trào lưu nuôi lợn “teacup” (nhỏ gọn trong tách trà) và thị trường sôi động với mức giá từ 750 đến hơn 3.500 USD/con. Một vài nhân vật nổi tiếng như Victoria Beckham và Paris Hilton đều “thửa” cho mình một chú, vốn đều được tạo ra bằng phương pháp sinh sản tiêu chuẩn trên những con lợn ỷ Việt Nam. “Tôi mua online con lợn nhỏ xinh này và được biết là khi lớn hết cỡ thì nó cũng chỉ nặng dưới 6 kg. Nó thông minh, đáng yêu, sạch sẽ và được huấn luyện tốt,” Hilton trả lời tạp chí Hello như vậy. Tuy nhiên, lời quảng cáo đã bị thổi phồng: công chúa Pigelette (tên con lợn của Hilton) vẫn lớn phổng như đồng loại của mình. Có người nhận xét, dù ước muốn có một con lợn kích cỡ tương đương con Chichihuahua nhưng thực ra bạn lại nhận phải một con béc giê Đức.  Điều đó sẽ không xảy ra với sản phẩm của BGI. Với sự can thiệp của kỹ thuật chỉnh sửa gene, Bama của BGI sẽ khác biệt, nó sẽ thực sự nhỏ, Yong Li cam kết.  Mở ra cơ hội điều trị nhiều căn bệnh trên người  Để có được Bama theo ý muốn, nhóm nghiên cứu của BGI đã kết hợp với các nhà khoa học quốc tế như nhà gene học y sinh Lars Bolund, Jens Boch tại trường Đại học Martin Luther tại Halle-Wittenberg, Đức phát triển một kỹ thuật chỉnh sửa gene với tên gọi TALENs. Họ lựa chọn giống lợn Bama, vốn chỉ nặng chừng 35 đến 50 kg khi trưởng thành trong khi nhiều loại lợn khác thường nặng trên 100 kg. Để chúng trở nên nhỏ hơn, nhóm nghiên cứu BGI đã nhân giống các con lợn từ các tế bào của một phôi thai Bama có một trong số hai bản sao chép gene thụ thể hormone tăng trưởng (GHR) bị kỹ thuật TALENs làm cho bất hoạt. Khi thụ thể này không hoạt động, các tế bào sẽ không nhận được tín hiệu tăng trưởng trong suốt quá trình phát triển, kết quả là tạo ra những chú lợn mini.  Mối quan tâm tới lợn Bama của các nhà khoa học khác biệt so với người tò mò thông thường. TS. Hannah Brown của trường Đại học Adelaide (Úc) cho rằng, việc tạo ra chúng trước tiên là để nghiên cứu y học, còn bán như thú cưng chỉ là mục đích phụ: “Họ cố gắng tạo ra những con lợn nhỏ hơn, được sinh sản nhanh hơn để có thể dùng chúng cho các thí nghiệm di truyền, phát triển những mô hình bệnh tật trên động vật tiền lâm sàng để giúp họ hiểu sâu hơn về cơ chế của các bệnh tật trên người. Lợn thông thường quá lớn nên mất nhiều kinh phí chăm sóc và mất nhiều thuốc thử nghiệm hơn, việc giảm thiểu kích cỡ của chúng cũng là cách giảm chi phí đầu tư và dễ dàng chăm sóc hơn”.  Từ trước đến nay, các nhà khoa học vẫn thường chủ yếu dùng chuột làm mô hình nghiên cứu bệnh tật nhưng chúng không thể hiện đầy đủ các triệu chứng vẫn có ở trên người bệnh và nhiều biện pháp điều trị trên loài gặm nhấm này không thể áp dụng trên người. So với chuột, lợn gần gũi hơn với người về mặt di truyền và sinh lý học. Vì thế, về lâu dài, việc thử nghiệm thành công trên lợn cũng giúp các nhà nghiên cứu có nhiều cơ hội hơn. “Điều trị một bệnh di truyền cũng sẽ đòi hỏi chúng ta xác định được thông tin trong DNA bị lỗi, thay thế nó và về cơ bản, đó là những gì các nhà khoa học Trung Quốc đã thực hiện trên những con lợn này”, TS. Hannah Brown giải thích. Hiện nay y học thế giới đã biết có bao nhiêu gene hoặc bao nhiều phần của DNA liên qua đến các bệnh như u xơ nang – một loại rối loạn gene dẫn đến bệnh phổi, tụy, gan, thận, bệnh Huntington – bệnh di truyền do thoái hóa các tế bào thần kinh trong não bộ gây ra, các kỹ thuật chỉnh sửa gene sẽ giúp chúng ta loại bỏ những đoạn DNA có khả năng dẫn đến bệnh tật.  Một tiến triển như vậy đã tới vào tháng 5/2018. Một nhóm các nhà khoa học tại trường Đại học Tế Nam (Trung Quốc) và trường Emory (Mỹ) đã có công bố trên tạp chí Cell về việc sử dụng kỹ thuật CRISPR-Cas9 để đưa một đoạn gene với vùng lặp glutamine rất dài của người mắc bệnh Huntington vào các nguyên bào sợi của lợn, rồi chuyển các nhân tế bào soma vào phôi lợn, qua đó tạo ra con lợn đầu tiên trên thế giới mang bệnh này. Qua quan sát, họ nhận thấy chúng đã có một số triệu chứng như chậm chạp trong di chuyển, khó khăn về hô hấp – triệu chứng không xuất hiện trên chuột, đồng thời trong não chúng, vùng vân cũng bị thoái hóa tương tự như người mắc bệnh.  Đây là một bước tiến nhỏ để hướng đến giải quyết một vấn đề lớn hơn. Những con lợn mang bệnh Huntington sẽ được dùng để thử nghiệm các loại thuốc và tham gia các ca điều trị bằng tế bào gốc. Về lâu dài, các nhà khoa học hy vọng sẽ tìm được phương thức điều trị hữu hiệu cho các bệnh thần kinh của người do biến đổi gene gây ra.  BGI không nằm ngoài cuộc chạy đua tìm hiểu mô hình bệnh tật này. Yong Li cho biết, trên thực tế, lợn mini đã được chứng minh là hữu dụng trong nghiên cứu về tế bào gốc và hệ vi sinh vật đường ruột vì kích thước nhỏ gọn khiến họ có thể dễ dàng thay thế vi khuẩn trong đường ruột chúng. Họ sẽ còn dùng lợn mini để nghiên cứu về chứng bệnh Laron, một kiểu bệnh lùn do đột biến gene GHR trên người.  Những rào cản khó vượt qua  Tuy nhiên dù phục vụ cho mục tiêu nào thì tương lai của các con lợn chỉnh sửa gene vẫn mờ mịt. Giáo sư Xiaojiang Li, người tham gia nghiên cứu với các đồng nghiệp trường Đại học Tế Nam về bệnh Huntington cũng thừa nhận, một phần nguyên nhân khiến ông hợp tác với họ là do nghiên cứu trên lợn ở Trung Quốc không gặp phải nhiều rào cản như ở Mỹ vì “thật vô cùng khó khăn để được chấp thuận triển khai dự án nghiên cứu trên lợn và động vật linh trưởng ở Mỹ. Chi phí thực hiện các dự án này cũng rất cao”, giáo sư Xiaojiang Li chia sẻ trên tranginkstonenews.com.  Về cơ bản thì vấn đề GMO vẫn còn là nhạy cảm ở Trung Quốc, một phần vì nhiều bê bối về an toàn thực phẩm đã xảy ra tại quốc gia này vài năm qua. Chính phủ cũng muốn thay đổi điều đó và một trong những việc họ làm là thăm dò quan điểm của dân chúng. Vào tháng 6/2017, một nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Thanh Hoa đã có cuộc điều tra quan điểm của người dân về thực phẩm GMO, tuy nhiên người dân tỏ vẻ không mặn mà với nó.  BGI mới lên sàn chứng khoán vào giữa năm 2017 với mức chào bán công khai 251 triệu USD tại Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến. Không có trang nào trong số các tài liệu công khai của GBI nhắc đến lợn mini, điều đó có nghĩa là kế hoạch thương mại lợn mini của GBI vẫn chưa thể thực hiện được. “Chúng tôi không còn kế hoạch bán chúng nữa”, Yong Li cho biết.  Chính phủ Trung Quốc vẫn mong muốn thúc đẩy một số công ty lớn của mình lên tầm vóc toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Vì thế, dù kế hoạch thương mại hóa lợn và một số vật nuôi siêu tính năng vẫn còn xếp lại thì BGI vẫn tiếp tục mở rộng nghiên cứu về động vật tại một trang trại rộng 200 acre tại vùng cao nguyên ven biển nhiệt đới ở nam Thâm Quyến với mục tiêu áp dụng nhiều phương pháp thử nghiệm trên động vật để tạo ra những loài mới có những tính năng vượt trội.  Anh Vũ tổng hợp từ Nature,Guardian, Telegragh, MIT Technology Review  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/lon-chinh-sua-gene-tham-vong-cua-trung-quoc/2019021410392850p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lông chim đổi màu theo thức ăn      Một cuộc phân tích mới về những loài chim biết hót cho thấy những gì chúng ăn trong quá trình rụng lông có thể ảnh hưởng tới màu lông của chúng. Sự biến đổi màu sắc do chế độ ăn uống cũng giúp tạo đà cho sự phát triển của những loài mới.    Ryan Norris và cộng sự tại Đại học Guelph ở Ontario, Canada, đã đánh dấu và theo dõi hơn 200 con chim đỏ đuôi châu Mỹ (Setophaga ruticilla) ở Caribbean.  Những con chim di cư này đến nghỉ hè ở các vùng giữa British Columbia ở Canada và Louisiana ở nam Mỹ. Sau khi sinh sản ở phía bắc, chúng mọc lông mới trong khoảng thời gian 3 tuần trước khi chuyển về phía nam.  Các nhà nghiên cứu có thể xác định từng con chim đã đi nghỉ hè ở đâu bằng cách phân tích tỷ lệ giữa các chất đồng vị hydro nặng và nhẹ trong lông. Norris giải thích rằng sẽ có nhiều chất đồng vị nặng hơn ở lông những con chim nghỉ hè ở vùng vĩ tuyến thấp. Chất đồng vị hydro trong nước theo chuỗi thức ăn đi vào con chim.  Những con chim với lông màu sẫm thường nghỉ hè ở miền nam nước Mỹ. Những con chim lông vàng có hàm lượng chất đồng vị nặng nhiều gấp 3 lần những con có lông màu cam sẫm.  Màu sắc lông chim phụ thuộc vào lượng sắc tố caratinoid trong sợi lông – lông càng sẫm thì càng có nhiều chất này hơn. Norris tin rằng những con chim ở các khu vực rụng lông khác nhau sẽ có màu lông khác nhau bởi tại các vĩ độ, chúng ăn những con côn trùng hoặc trái cây có các chất caratinoid khác nhau.  Chế đọ ăn phong phú làm biến đổi màu sắc lông có thể ảnh hưởng tới sự lựa chọn bạn tình và từ đó dẫn tới sự phân hoá giống nòi, Norris bổ sung.  M.T. (theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lòng mê nghề tạo cho tôi  bản lĩnh      &#160;Trong số nhiều tấm gương khởi nghiệp thành công, có người làm nên nhờ  táo bạo trong kinh doanh, có người lại nhờ sự đam mê nghiên cứu đổi mới  công nghệ. Lý Ngọc Minh tiêu biểu cho cả hai hình mẫu, và điều đáng nói  là ông chưa từng qua trường lớp chính quy nào.     Khó có thể hình dung được những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao nổi tiếng  với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đã chinh phục được nhiều thị trường  trên thế giới, với một số tính năng vượt trội hơn cả sản phẩm của những  hãng gốm sứ quốc tế danh tiếng hàng đầu, lại là kết quả của một quá  trình mày mò tự nghiên cứu của một người chủ chưa từng qua đào tạo chính  quy về gốm, và trình độ học vấn chưa qua lớp 4 trường làng. Ông hóm  hỉnh gọi nhà máy của mình là trường học đại, vì “nơi đây toàn những  người xuất phát không hiểu biết gì về công nghệ gốm sứ, cũng không qua  trường lớp đào tạo chính quy về nghề này”.  Quyết tâm làm chủ công nghệ        “Tôi mê nghề chứ không quá  ham chuyện kiếm tiền. Chính sự mê nghề đã tạo cho tôi bản lĩnh và sự bạo  dạn, và cho phép mình đầu tư những khoản đầu tư lớn, dù có thể không  đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn nhưng đem lại thành tựu kỹ thuật.  Đối với tôi, thành tựu kỹ thuật quan trọng hơn thành tựu kinh tế”.                         Ông Lý Ngọc Minh, chủ doanh nghiệp Minh Long 1        Với xuất phát điểm từ chỗ thiếu cả kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức  chuyên môn, ông Lý Ngọc Minh và những cộng sự của mình đã phải tự mày mò  tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi liên tục. Chính nhờ quá trình học hỏi  liên tục mà hoạt động và kỹ thuật sản xuất của công ty không ngừng được  cải tiến, nhiều công nghệ và thiết bị được công ty áp dụng và sửa đổi  lại vừa phù hợp với ý muốn của mình, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào nước  ngoài.   Ví dụ như loại bột tạo phôi mà ở nước ngoài các công ty gốm sứ phải lấy  nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất chuyên trách, trong đó đòi hỏi máy  móc hiện đại và kỹ thuật rất cao, nhưng Minh Long hoàn toàn tự chủ động  sản xuất lấy. “Nếu nhập của nước ngoài thì thời gian chậm quá, không kịp  phục vụ sản xuất, và mỗi khi cần thay đổi một loại đất nào đó thì lại  gặp khó khăn. Mặc dù tự sản xuất thì cũng khá vất vả nhưng chi phí vẫn  rẻ hơn, giúp tiết kiệm 30 – 50% so với nhập của nước ngoài”, ông Minh  giải thích.   Một ví dụ khác là các loại khuôn đặc chủng mà trước đây Minh Long bắt  buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài và gặp hạn chế là mỗi nhà máy của họ  chỉ sản xuất được 100-200 chủng loại khuôn, trong khi Minh Long phải sản  xuất tới cả nghìn chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng đặc thù văn hóa  người tiêu dùng của Việt Nam vốn luôn đòi hỏi sự phong phú về kiểu dáng,  mẫu mã. Vì vậy, sau gần 10 năm từ học hỏi cách bố trí máy móc, thiết  bị, phần mềm, huấn luyện tạo đội ngũ người làm, và liên tục cải tiến,  Minh Long đã tạo ra được một quy trình sản xuất khuôn suôn sẻ, với giá  thành chỉ bằng một phần tư giá nhập khẩu.     Phần lớn các đổi mới công nghệ tại Minh Long chủ yếu do ban giám đốc  nghiên cứu, khảo sát, từ đó đề ra những ý tưởng đổi mới, và tự tìm cách  xử lý các vướng mắc”, ông Minh lý giải. Chẳng hạn như với công nghệ men  chống bám dính, khi nghe nói trên thế giới có công nghệ men giúp gốm sứ  không bám bẩn dầu mỡ, ông Lý Ngọc Minh và ban giám đốc đã tự tìm hiểu về  nguyên lý chế ra men đạt tới kích thước nano để có độ bóng và chống bám  dính như mong muốn, rồi cũng tự họ nghiên cứu tìm mua máy móc về sản  xuất lấy. Những máy móc này, cũng như đa số các thiết bị nhập khẩu khác  từ nước ngoài, khi nhập về Minh Long luôn tìm cách học cách tự cài đặt  sử dụng để khi không có chuyên gia nước ngoài thì công ty vẫn có thể tự  chủ được. “Kể cả khi một số linh kiện hư hỏng chúng tôi cũng tự chế tạo  được để có thể sử dụng tạm thời khi chưa có linh kiện nhập thay thế”,  ông Minh tự tin khẳng định.   Màu và men: làm được điều thế giới chưa làm được  Từ khi mới xuất hiện, gốm sứ Minh Long đã nổi tiếng vì độ trắng bóng, và  trong thời gian liên tục mười mấy năm những phẩm chất này vẫn liên tục  được cải tiến nâng cao. “Tới nay, độ trắng bóng của gốm sứ Minh Long gần  như đạt tới tuyệt đối”, ông Minh khẳng định. Theo ông, trong số hàng  nghìn hãng gốm sứ trên thế giới, chỉ có khoảng năm hãng có chất lượng  tương đương với Minh Long về độ trắng, độ bóng, độ cứng, và không có  hãng nào, dù là của Đức, Pháp, hay Nhật, hơn được sản phẩm của Minh Long  về các tiêu chí này.   Bên cạnh đó, tất cả những hãng gốm nổi tiếng về kỹ thuật vẽ gốm bằng tay  – như hãng Meissen của Đức và Herend của Hungary nổi tiếng về vẽ tay  trên bình hoa, hay hãng Royal Copenhagen của Đan Mạch đứng đầu về vẽ tay  trên chén, đĩa – đều phải dùng công nghệ truyền thống là nung sản phẩm ở  nhiệt độ 800 – 850 độ C, trong khi công nghệ gốm vẽ tay của Minh Long  cho phép nung sản phẩm tới nhiệt độ 1230 – 1250 độ C. Ông Minh khẳng  định rằng sự vượt trội này về công nghệ khiến sản phẩm vẽ tay của Minh  Long đứng xa thấy đẹp, lại gần thì mịn màng, sờ vào thấy mát, còn sản  phẩm vẽ tay của nước ngoài có thể đứng xa thấy đẹp nhưng lại gần thấy  màu men bị đục, sờ vào thấy cộm. Nhìn vào những sản phẩm này của nước  ngoài không thể thấy chiều sâu của họa tiết, trong khi nhìn vào họa tiết  của Minh Long dưới lớp men được nung ở nhiệt độ cao đem lại hiệu ứng ba  chiều và độ sâu, tạo cảm giác sinh động hơn.   Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có hãng gốm nào có được một số màu  sắc đặc biệt như sản phẩm của Minh Long khi nung ở nhiệt độ cao, ví dụ  như màu đỏ sậm, hay màu xanh dương – để trong phòng thì là màu xanh  thẫm, khi mang ra ngoài sáng thành tươi màu thiên thanh – mà ông Minh  gọi là màu king blue. Với nhiệt độ nung tối đa là 850 độ C mà công nghệ  chung của thế giới hiện nay đang áp dụng, khi sản phẩm tiếp xúc lâu với  mưa, nắng, hoặc gặp môi trường khắc nghiệt như kiềm, mặn, hay chua (tiếp  xúc với chanh, dấm) thì men có thể sẽ bị bong tróc hoặc phai mờ. Ngoài  vấn đề về thẩm mỹ, điều này còn gây nguy hại cho người sử dụng, vì men  chính là lớp bảo vệ ngăn chất độc – thông thường các sản phẩm màu đẹp,  như các màu đỏ, vàng chanh, hay vàng cam, thì đều có cadmidium, hoặc một  số sản phẩm gốm sứ của Trung Quốc dùng màu pha chì cũng rất độc hại nếu  bị hỏng lớp men bảo vệ. Nhưng với sản phẩm của Minh Long, ông Minh  khẳng định rằng lớp men bảo vệ sau khi trải qua nhiệt độ nung cao sẽ tồn  tại được bền vững “hàng nghìn năm mà không gặp vấn đề gì”, và ngăn được  chất độc tiết ra từ màu khi sản phẩm trong quá trình sử dụng tiếp xúc  lâu với kiềm hay axit. Cũng nhờ bảo đảm an toàn như vậy nên sản phẩm của  Minh Long dễ dàng vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật của  những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản.   Khi được hỏi vì sao các hãng làm gốm vẽ tay trên thế giới không nung  được ở nhiệt độ cao như Minh Long, ông Minh nói: “Vì công nghệ của chúng  tôi rất khó”. Khi gốm được nung ở nhiệt độ cao, men và màu cùng bị tan  chảy và thay đổi về cấu trúc cũng như bước sóng ánh sáng khi nhìn vào,  khiến hình ảnh và màu sắc cũng bị thay đổi không còn được như ý muốn ban  đầu của người nghệ nhân. Ngoài ra, khi men nóng chảy thì màu vẽ bên  dưới cũng có thể bị rung, nhòe, dịch chuyển, khiến nét vẽ bị biến đổi,  ông nói. Tuy nhiên, ông không tiết lộ chi tiết bí quyết giúp Minh Long  vượt qua những khó khăn kỹ thuật này. “Đơn giản là chúng tôi nắm vững và  vận dụng một số kiến thức vật lý, và trong chừng mực nào đó biết cách  làm ảo thuật– những nhà ảo thuật đều là những người giỏi vận dụng các kỹ  thuật vật lý – để có thể đạt được những kết quả mà người khác không đạt  được”.     Linh tính và những may mắn tình cờ   Nói về bí quyết thành công của bản thân, ông Minh khiêm tốn cho rằng  mình là người gặp nhiều may mắn. Ông kể nhiều câu chuyện để chứng minh  cho sự may mắn của mình. Một lần ông đóng vai là người đang tìm mua lò  gốm vào tham quan một nhà máy sản xuất gốm ở châu Âu, kỳ thực là ngầm  tìm cách học hỏi về cách bố trí máy móc của xưởng gốm. Nhưng người quản  lý nhà máy hôm đó đoán được ý định của ông nên chỉ cho ông đứng xem lò  chứ không cho tự do đi xem những nơi khác. “Tôi đứng đó hết một buổi mà  không có cách gì khác, đành phải thất vọng đi về, trong lòng thầm nghĩ  vậy là tốn sức vô ích, mất công chạy ô tô xa 3-4 trăm km mà đành về  không.” Nhưng thật tình cờ, khi về trên con đường cao tốc nơi những  chiếc xe đều phóng với tốc độ 150-170 km/giờ, một người quen đi ngược  chiều, cũng chính là người bán lò cho ông Minh, đã nhận ra xe của ông và  đánh xi nhan để hai bên dừng lại. Khi biết được nỗi thất vọng của ông,  người bạn liền thuyết phục ông cùng quay lại nhà máy đó vào ngày hôm  sau. “Khi chúng tôi quay lại thì người phụ trách hôm đó là người phó của  vị quản lý hôm trước, và anh này vì không biết được ý đồ của tôi nên đã  cho phép tôi đi lại tham quan tự do”. Nhờ cơ hội đó mà ông học hỏi được  từ xưởng gốm đó những thông tin thiết yếu về bố trí thiết bị, hoàn toàn  khớp với dây chuyền công nghệ mà Minh Long khi đó nhắm tới.   Nhưng với những công nghệ cốt lõi bên trong – như về cấu trúc vật liệu  hay những loại màu, men mới – là những điều không thể học lỏm được, thì  ông bắt buộc phải đầu tư nghiên cứu, học hỏi qua sách vở và nhiều nguồn  khác nhau. Trong quá trình đó, ông cũng nhận được những sự giúp đỡ hoàn  toàn bất ngờ. Có những người bạn không làm nghề gốm, nhưng bỗng mang đến  tặng cho ông những cuốn sách tư liệu hữu ích. Cũng chính là bạn bè đã  giới thiệu về máy đo laze để ông nghiên cứu sử dụng thay thế cho cách đo  cổ điển, từ khi loại thiết bị này còn rất mới và không mấy ai biết.  “Khi mua máy đo laser, chúng tôi phải năn nỉ, thuyết minh rất nhiều họ  mới tin là dùng cho sản xuất gốm sứ, và người bán máy bắt tôi cam kết  không dùng vào mục đích quốc phòng”, ông Minh kể.   Cũng có lúc sự may mắn của ông tình cờ đến mức lạ lùng, như lần ông tự  mày mò chế được màu đỏ ô xít thiếc của Anh mà ông không thể tìm được  trong sách vở vì nhà sản xuất giấu kín bí quyết. Đó là một lần làm việc  cẩu thả, do nghiên cứu tìm tòi lâu ngày mà không ra nên ông mỏi mệt,  lười không dọn dẹp phòng thí nghiệm. Tình cờ trong số các màu rơi vãi  lẫn lộn chồng chéo vào nhau, ông linh cảm rằng một trong số đó chính là  thứ màu ông hằng tìm kiếm, và linh tính của ông đã hoàn toàn đúng.  Ông Minh cho rằng yếu tố may mắn tình cờ là rất cần thiết trong mọi  việc, kể cả trong công việc của những người làm khoa học và công nghệ.  Nhưng điều quan trọng là làm sao nắm bắt được những cơ hội bất ngờ đó.  “Người khác có thể cũng gặp tình huống tình cờ như tôi, nhưng điều khác  biệt là tôi có linh tính để nắm bắt được”.  Vào sinh ra tử  Làm gốm tới mức đam mê như ông Lý Ngọc Minh thì cũng có cả những lần vào  sinh ra tử. Ông kể cho chúng tôi về những chuyến đi lý thú nhưng cũng  đầy bất trắc tới các mỏ đất, trong đó có hai lần suýt bỏ mạng khi một  lần bị kẹt trong mưa rừng Phú Thọ giữa lúc chiều tối, và một lần đi  đường 9 Nam Lào gặp đúng đoạn đèo bị sạt lở. Ông không chỉ tới các mỏ  đất ở Việt Nam, mà lặn lội đến cả những mỏ đất lớn trên thế giới, tìm  xuống những hầm mỏ đất sâu tới hàng trăm mét ở Trung Quốc, trong những  chiếc lồng sắt không đèn đuốc mà mỗi lần đi xuống phải mất hàng 5-7  phút. “Vừa đi tôi vừa run, sợ rằng không may lồng bị đứt xuống thì biết  làm sao”, ông vui vẻ kể lại.  Nhưng đối với ông, những chuyến đi đó chưa thể so được với ba lần “sinh  tử”, khi ông cận kề cái chế trong gang tấc. Lần thứ nhất vào năm 1980,  khi ông xây một hồ nước mấy trăm khối để lọc đất. Thời đó rất thiếu xi  măng nên ông tiết kiệm, pha lẫn với vôi. Hậu quả là nước bị rò dưới  chân. Chỉ giây lát sau khi ông xem xét chỗ rò và quyết định ngày hôm sau  sẽ sửa lại, vừa bước đi được 5 m thì toàn bộ hồ đang đầy bị vỡ toang.  “Nếu tôi ở gần hơn chắc chắn toàn bộ bức thành bể xây gạch dày 20 phân  sẽ cuốn bay vào đầu”, ông kể. Lần thứ hai xảy ra khoảng một năm sau, vào  thời kỳ Minh Long còn làm bộ trà phỏng theo hình trái măng cụt. Để ra  màu măng cụt phải sử dụng men chảy, vì vậy phải dùng máy để mài những  mẩu men rớt xuống chân đế sản phẩm. Thấy công nhân mài quá chậm ông đích  thân thử làm nhằm tìm ra cách nhanh hơn hướng dẫn lại cho họ. Bánh đá  mài thời đó phải dùng loại của Liên Xô, không được thẳng như của Nhật  nên rất dễ bị rung. Khi ông vừa ngồi xuống thì nghe một tiếng nổ lớn như  lựu đạn. Nhìn xuống tay thấy bình trà măng cụt vỡ nát, nhìn lên trên  thấy một mảnh bánh đá mài bắn văng lên cắt đứt ngọt tấm mái tôn. Hai  mảnh còn lại của chiếc bánh đá mài bay sát người của ông. Với tốc độ  quay của bánh đá mài lên tới 2500 vòng/phút, nếu chúng văng vào người  thì chắc chắn ông không thể tránh được và sẽ rất khó sống sót. Còn lần  thứ ba xảy đến sau đó vài năm, khi ông ở trong phòng thí nghiệm mải mê  nấu keo chế loại màu nhẹ lửa, đang tập trung cao độ nên sơ ý, để cho hai  sợi dây điện âm – dương kẹp vào tay. “Tôi nghe như có tiếng pháo nổ và  lửa đất trên đầu, miệng há ra mà không kêu được”, ông kể. Khi đó ông  nghĩ thầm chắc chắn mình sẽ không thể thoát được, nhưng thật may mắn là  sợi dây điện không đủ dài nên bị tuột ra theo cú ngã của ông.   Ngoài những lần cận kề cái chết đó, còn không ít những lần biến cố xảy  đến với xưởng gốm, như có lần phòng thí nghiệm của ông bùng cháy khắp  nơi, khói bốc nghi ngút nhưng không hiểu sao lửa không bùng to và cuối  cùng dập tắt được. Nhưng tất cả những hiểm nguy đó xảy ra không làm ông e  ngại, chùn chân. Trái lại, “chúng xảy đến như để báo cho tôi biết rằng  mình được phù trợ để làm được những việc lớn mà mình luôn theo đuổi”,  ông nói.  Đắc nhân tâm                        “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ, vừa là thầy trò, vừa là anh em”.        Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm sứ – cả ông nội và cha  đều theo nghiệp gốm – song chưa từng có ai đẩy được cơ nghiệp lên tới  đỉnh cao như Lý Ngọc Minh, do ông không dễ dàng thỏa mãn với những gì  làm được mà luôn đặt ra mục tiêu hướng tới cho doanh nghiệp, cả trước  mắt và lâu dài. Trước mắt là tìm cách cải tiến sản xuất để có thể hạ  thấp chi phí, tạo ra được mức giá đủ thấp giúp công ty trụ vững qua thời  kỳ khó khăn chung về kinh tế, và hướng tới mục tiêu rút ngắn quy trình  sản xuất để từ hòn đất ra tới sản phẩm chỉ mất 24 tiếng đồng hồ thay vì  hàng tuần lễ như hiện nay. Xa hơn là tạo ra những sản phẩm mới có tính  đột phá về kỹ thuật, không chỉ thuần túy phục vụ tiêu dùng mà sẽ có cả  những sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp. “Chúng tôi sẽ tạo tiền đề  để thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp kế tiếp thực hiện được bước phát triển  này trong tương lai”, ông nói.  Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đề ra, theo ông Minh phải thực  hiện tốt nguyên tắc quyền lợi người lao động gắn liền với quyền lợi của  doanh nghiệp, đồng thời phải truyền được cảm hứng và nhiệt huyết từ  người chủ doanh nghiệp tới mọi người lao động, hay nói cách khác là khả  năng thu phục nhân tâm. “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ,  vừa là thầy trò, vừa là anh em”, ông nói.   Khi cùng ông Minh đi tham quan nhà máy, chúng tôi thấy ông vừa giới  thiệu từng chi tiết dây chuyền công nghệ, vừa liên tục dừng lại trao đổi  công việc với mọi người ở mọi cấp bậc, từ thấp tới cao, với tâm thế ôn  hòa, cẩn trọng, và hết sức giản dị. Trong ánh mắt những người nhân viên  chúng tôi thấy sự tin tưởng và yên tâm thoải mái, hoàn toàn không có sự  xa cách. Không chỉ những người công nhân, mà tất cả mọi người từng tiếp  xúc với ông Minh đều tìm thấy ở ông sự bình dị nhưng không sơ sài, luôn  chu đáo với mọi người. Và có lẽ đó là lý do nhiều người chỉ một lần tiếp  xúc đã tìm cách giúp đỡ ông một cách hoàn toàn vô tư. Ông kể với chúng  tôi rằng năm 1987, trong dịp đi Đức dự một hội chợ ở Leipzig, anh tham  tán thương mại của sứ quán Việt Nam khi nghe ông nói chuyện, bày tỏ mong  muốn được đi tham quan một nhà máy làm sứ cách điện, đã ngay lập tức  đồng ý giúp đỡ. Ông còn nhớ rằng đêm hôm ấy hai người phải dậy từ 3 giờ  sáng, ra đường giữa cái rét 0 độ C, và đi xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ.  Nhưng thật đáng tiếc sau đó hai người bị thất lạc liên lạc, và đây là  điều mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy áy náy.        Câu chuyện về chiếc Chén ngọc Thăng Long            Chén ngọc Thăng Long, sản phẩm chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội                    Để làm ra chiếc chén ngọc Thăng Long  là một quá trình dài, thai nghén ý  tưởng mất 5-6 năm, rồi mất 3-4 năm làm đi làm lại mới ra được sản phẩm  cuối cùng. Từ mười mấy năm trước sự kiện kỷ niệm một nghìn năm Thăng  Long – Hà Nội, chúng tôi đã nghe phong thanh về sự kiện này và thai  nghén tìm ý tưởng chuẩn bị. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều, không biết làm  cách nào để cô đọng nội dung và ý nghĩa lịch sử của sự kiện thành một  biểu tượng trên gốm. Cuối cùng, chúng tôi quyết định làm một chiếc cúp –  sản phẩm đỉnh cao về kỹ thuật làm gốm sứ do mức độ khó khi chế tác – và  đưa ra tham dự một chương trình đầu giá từ thiện nơi có sự góp mặt của  giới trí thức và nghệ sỹ, và mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp  của công chúng. Lần đó, có ý kiến cho rằng chiếc cúp tuy đẹp nhưng vẫn  không phản ánh đặc thù văn hóa cổ truyền, dù có gắn hai con rồng chầu  hai bên thì hình hài cơ bản của chiếc cúp vẫn là từ châu Âu. Vì thế, tuy  cuộc đấu giá thành công, chiếc cúp bán được khoảng 60-70 nghìn USD,  nhưng chúng tôi thấy vẫn chưa đạt được mục đích như mong muốn.               Tiếp tục suy nghĩ, tôi thấy rằng chiếc cúp xuất xứ lấy hình hài từ chiếc  ly của châu Âu, mà dân ta từ xưa đâu có ăn uống bằng ly. Cuối cùng  chúng tôi nảy ra ý tưởng chế tác thành chiếc chén ngọc, gần gũi với văn  hóa người Á Đông hơn, đồng thời biểu tượng chén ngọc cũng đủ sức đối  chọi ngang tầm với biểu tượng những chiếc cúp vàng của châu Âu.               Tuy nhiên, nếu vẫn làm hai linh vật chầu hai bên thì sản phẩm vẫn thành  hình chiếc cúp chứ không thành chén được. Vì thế, thay vì làm hai linh  vật chầu hai bên, chúng tôi làm ba con rồng đội chiếc chén, có ý nghĩa  tượng trưng cho ba miền đất nước. Về nội dung hình vẽ trên thân chén,  thay vì vẽ hình ảnh rồng bay lên vốn đã thành khuôn sáo mà nhiều người  đã từng làm, chúng tôi sưu tập tài liệu để vẽ hình ảnh Thăng Long nghìn  năm trước, với hình ảnh thành cổ, những nhà cửa và ngựa xe tấp nập, và  phía xa vẽ cảnh Hà Nội hiện đại trong hiện tại và tương lai. Đồng thời  sau nhiều cân nhắc lựa chọn, để tăng tính sang trọng chúng tôi cho chạm  nổi họa tiết lên thân chén, rồi tô lên bằng vàng và màu cô-ban.               Về công nghệ chế tác, khó khăn nhất là khi đặt chiếc chén ngọc lên ba  linh vật (từ lúc chưa nung), do chén ngọc rất nặng nên sẽ dễ bị nghiêng  đổ. Ở nước ngoài người ta có thể làm rời, sau đó lắp ráp bằng keo hoặc  ốc vít, nhưng chúng tôi mong muốn làm được liền khối. Để ra được sản  phẩm hoàn chỉnh, chúng tôi phải làm sao để cấu trúc vật liệu vừa chịu  được lực, vừa chịu được nhiệt độ cao để không bị biến dạng sau khi nung.              Tuy nhiên, chiếc chén mà chúng tôi đã rất vất vả làm mất mấy năm, nung  đi nung lại mới xong thì lại có khuyết điểm (bị nghiêng một chút), còn  chiếc chén tiếp theo làm mất vài tháng thì tới sát ngày bàn giao sản  phẩm mà vẫn chưa được hoàn thành. Nhưng thật may mắn là đúng vào sáng  ngày bàn giao, khi chiếc xe đến chuyên chở lùi vào trong xưởng, thì cũng  là lúc chiếc chén ngọc mới được ra đời, chỉ nung một lần mà rất hoàn  chỉnh, vừa kịp đóng gói để chất lên xe chở đi.              Đó là chuyện may mắn hi hữu, vì sau bao năm tháng thai nghén không ra  được sản phẩm hoàn hảo, không ai dám chắc là trong ngày giờ cuối cùng sẽ  kịp làm ra được sản phẩm hoàn chỉnh như mình mong muốn.                       Lý Ngọc Minh               (trò chuyện với nhóm phóng viên Tia Sáng)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Lớp “bọt biển” khổng lồ quanh sao Thổ      Theo nhiều phân tích mới đây của tàu thăm dò Cassini, một trong những vành đai bao quanh Sao Thổ đang phải “hứng chịu” những vật chất bắn ra từ những mạch nước phun của vệ tinh nhân tạo Enceladus băng giá.      Vành A của Sao Thổ và vệ tinh Enceladus cách nhau đến 100.000 km, tuy nhiên giữa chúng lại có một liên kết vật lý khá bền vững. Những quan sát của con tàu thăm dò Cassini chứng minh rằng Enceladus thực tế đánh mất hoàn toàn một phần khối lượng của mình cho bờ ngoài của vành A. Vật chất plasma từ Enceladus sẽ tạo một đám mây có hình dạng xuyến quanh SaoThổ sau đó bị hấp thụ bởi vành A, tạo nên một lớp “bọt biển” khổng lồ quanh vành A. http://rada.vn/ads/meta_system/700×90.swf  Đức Thoại (Theo Techno-science.net)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lũ lụt và hạn hán sẽ ngày càng trầm trọng hơn      Các hiện tượng thời tiết cực đoan giống như những gì đã diễn ra tại nhiều quốc gia trong mùa hè vừa rồi có nguy cơ sẽ trở nên ngày càng dày đặc và nghiêm trọng hơn trong tương lai. Xu hướng này cũng ứng với cả sóng nhiệt và hạn hán – hai hiện tượng thời tiết đã thay phiên nhau gây ra các trận cháy rừng thảm khốc.      Những trận lũ lụt nghiêm trọng như trận lũ xảy ra ở Đức vào giữa tháng bảy vừa qua có khả năng sẽ xuất hiện thường xuyên hơn trong tương lai. Ảnh: dpa.  Đây là kết luận được hơn 200 nhà khoa học thuộc 66 quốc gia đưa ra trong báo cáo đánh giá thứ  sáu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), dựa trên cơ sở khoa học về biến đổi khí hậu của hơn 14.000 nghiên cứu.    Họ dự đoán, cháy rừng sẽ diễn ra ngày càng thường xuyên hơn ở phía Bắc của Địa Trung Hải do các đợt hạn hán và sóng nhiệt có khả năng sẽ xuất hiện nhiều hơn ở khu vực này, cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới trong thời gian tới. Nếu mức ấm lên trung bình là 1,50C, tần suất xuất hiện của sóng nhiệt sẽ tăng hơn 9 lần, và với mức tăng 20C, tần suất sẽ tăng 14 lần. Không chỉ vậy, các đợt sóng nhiệt cũng sẽ nóng hơn khoảng 2 hoặc 2,70C so với giai đoạn trước năm 1900. Nếu so sánh với thời điểm đó, hạn hán ngày nay có lẽ cũng đã xuất hiện nhiều hơn 1,7 lần do biến đổi khí hậu. Và nếu nhiệt độ ấm lên là 20C, số đợt hạn hạn sẽ tăng 2,4 lần, đồng thời mức độ khô hạn cũng cao hơn trước.    Các nhà khoa học đã đưa ra được những kết luận này nhờ vào các nghiên cứu xác định xác suất hiện tượng cực đoan xảy ra khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên một mức nhất định. Và theo đó, do không khí nóng hơn có thể hấp thụ nhiều hơi ẩm hơn, mưa lớn được dự đoán sẽ tăng lên tại một số khu vực ở châu Âu. Tương tự, lượng mưa trung bình ở các vĩ độ cao cũng sẽ ngày một nhiều hơn.    Chúng ta vẫn có thể “cứu vãn” một số hậu quả của biến đổi khí hậu, nhưng hoàn toàn không phải là tất cả. Chẳng hạn, các sông băng ở Greenland gần như chắc chắn sẽ tiếp tục thu nhỏ lại trong thế kỷ này, và băng mùa hè ở Bắc Cực cũng sẽ càng ngày càng ít hơn nữa. Đây là xu hướng không thể đảo ngược trong hàng thập kỷ tới, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ. “Chúng ta đã từng nói rằng vẫn có thể ngăn chặn được việc Bắc Cực trở thành nơi không còn băng tuyết. Nhưng hiện giờ, có lẽ đây là lần đầu tiên chúng ta biết được rằng đã quá muộn để có thể làm được điều đó”, Dirk Notz, một nhà khoa học tại Viện Khí tượng Max Planck, giáo sư tại đại học Hamburg, đồng thời là tác giả chính của chương báo cáo về đại dương – băng quyển – mực nước biển, cho biết.    Bên cạnh đó, báo cáo phụ cũng có những bằng chứng rõ ràng nhất từ trước đến nay về việc phát thải khí nhà kính là nguyên nhân khiến nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 1,10C. Nếu cắt giảm phát thải CO2, chúng ta có thể ngăn nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 20C và thậm chí là 1,50C, như Thỏa thuận Khí hậu Paris kỳ vọng. Tuy nhiên, để làm được điều đó, lượng phát thải CO2 phải được cắt giảm một cách nhanh chóng. “Đó là cơ hội duy nhất để đạt được các mục tiêu. Và chúng ta phải làm ngay trong thập kỷ này”, Jochem Marotzke, Giám đốc Viện Khí tượng Max Planck và là một trong các tác giả của chương về tương lai của khí hậu toàn cầu, cho biết. “Để đạt được mục tiêu 1,50C, chúng ta cần phải giảm lượng phát thải CO2 xuống mức phát thải ròng bằng 0 vào giữa thế kỷ này”. Chúng ta vẫn có thể phát thải CO2, song, lượng khí thải ấy phải được loại bỏ khỏi khí quyển thông qua nhiều phương thức khác nhau, ví dụ như trồng lại rừng.    Việc hạn chế nồng độ khí nhà kính đang ngày càng trở nên khó khăn hơn trong bối cảnh: các đại dương và thảm thực vật trên đất liền đã hấp thụ một lượng lớn CO2 do con người thải ra, song, những “bể chứa carbon” này đang ngày càng kém hiệu quả hơn và tỉ lệ CO2 mà nó hấp thụ được đang liên tục giảm xuống trong suốt thế kỷ. □     Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-intense-frequent-droughts-future.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lứa chó thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên      Các nhà nghiên cứu ở ĐH Cornell, New York,  và Viện Smithsonian, Washington, vừa cho ra mắt lứa chó đầu tiên được  sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).        Bảy chú chó này chào đời hôm 10/7, bao gồm năm chú chó dòng beagle và hai thuộc dòng lai giữa beagle và cocker spaniel.  IVF là quá trình cho trứng thụ thai với tinh trùng bên ngoài cơ thể, sau đó cấy phôi thai vào trong cơ thể nữ giới. Phương pháp này đã được sử dụng từ thập niên 1970 cho người. Tuy nhiên, bấy lâu nay các nhà khoa học vẫn loay hoay chưa tìm ra cách thực hiện IVF cho chó, bởi chu kỳ sinh sản của chó khác với các loài động vật có vú khác.    Chó cái chỉ rụng trứng một-hai lần trong năm, và tới thời điểm rụng trứng, trứng vẫn chưa phát triển hoàn toàn.    Alex Travis, thành viên nhóm nghiên cứu, cho hay, nghiên cứu được dựa trên một nghiên cứu thành công từ trước đó. Năm 2012, phòng thí nghiệm của ông đã tạo ra được Klondike, chú chó đầu tiên ở Tây Bán Cầu sinh ra từ một phôi thai đông lạnh.    Theo Travis, có thể tiến tới sử dụng phương pháp này để giúp các loài động vật đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng sinh sản.   Trang Bùi lược dịch  Nguồn:  http://www.reuters.com/article/us-science-dogs-ivf-idUSKBN0TS2ZM20151210      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lụa và Gạo xuất khẩu: Hình ảnh của một nền thương mại phụ thuộc      Không quá khi nói rằng lụa và các sản phẩm về lụa là sản phẩm tiêu biểu nhất trong suốt thời kì huy hoàng của thương mại Việt Nam cận đại, còn gạo nổi lên từ khi đồng bằng sông Cửu Long trở thành một phần của Việt Nam và cho đến hiện nay vẫn được coi là một trong những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu quan trọng của nước nhà. Ở thời điểm đó, cả lụa và gạo đều mang hình ảnh của một nền thương mại nhiều phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.         Hội An trong bức họa “Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” thế kỷ 17 của Chaya Shinroku. Nguồn: wiki.    Lụa – sản phẩm xuất khẩu tiêu biểu của Đàng Ngoài thế kỷ XVII     Một điều không cần bàn cãi là trong “kỷ nguyên thương mại” (age of commerce) của Đông Nam Á, Việt Nam cũng để lại những dấu ấn nhất định với sự trỗi dậy, bùng nổ hoạt động giao thương trong suốt thế kỷ XVII. Hoạt động buôn bán không chỉ diễn ra với người Trung Quốc, Nhật Bản, hay các thương nhân Đông Nam Á mà còn với các thương nhân phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp và Anh. Nhiều sản phẩm được nhắc đến như hồ tiêu, đường, các loại gỗ hay sản vật tự nhiên, nhưng không mặt hàng nào được khao khát như lụa và sản phẩm từ lụa. Người Nhật đến cả Hội An, Phố Hiến, Thăng Long trong suốt thời kỳ “châu Ấn thuyền” với mục đích chính là thu mua lụa và các vật phẩm khác. Thương nhân người Hoa cũng hoạt động không biết mệt mỏi, thậm chí phát triển thành các cộng đồng lớn ở những cảng thị, đô thị trung tâm để thu mua lụa từ chúa Trịnh và thương nhân bản địa Đàng Ngoài. Đầu thế kỷ XVII, người Bồ Đào Nha phát triển tuyến đường buôn bán Macao-Nagasaki-Hội An/Phố Hiến nhằm dùng bạc Nhật Bản để thu mua lụa Việt Nam và bán vũ khí cho chính quyền chúa Nguyễn hoặc chúa Trịnh. Người Hà Lan thậm chí đã phát triển hơn một bước so với người Bồ Đào Nha khi cố gắng xây dựng thương điếm ở Hội An và sau đó là duy trì hoạt động của công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) ở Phố Hiến và Thăng Long hơn nửa thế kỷ (1637-1700) nhằm thu mua lụa Đàng Ngoài đem sang Nhật Bản, hoặc phần nào là Amsterdam trong hệ thống thương mại bạc – lụa. Người Anh đến Việt Nam đầu thế kỷ XVII cũng với mục đích chính là tìm kiếm nguồn lụa để cung cấp cho Nhật Bản. Đến cuối thế kỷ, thương điếm của người Anh ở Đàng Ngoài được lập ra cũng nhằm trao đổi lụa – bạc. Có lẽ, cũng không nhiều người biết hết tên và đặc điểm của các sản phẩm lụa Việt Nam như thương nhân người Anh, William Gyford năm 1672. Ông đã thống kê và báo cáo về London một số sản phẩm lụa nổi tiếng được biết đến bởi cả những thương nhân châu Âu khác như lĩnh, hoàng quyến, the thùa, tơ tằm cùng nhiều sản phẩm khác.1 Do nhu cầu ngày càng lớn của thương nhân quốc tế, việc sản xuất lụa đã trở thành một trong những “ngành công nghiệp” phát triển mạnh mẽ nhất Việt Nam thế kỷ XVII bên cạnh gốm sứ và đường. Theo các tác giả Hoàng Anh Tuấn, Li Tana, hoạt động sản xuất này nhận được sự tham gia của ít nhất là 100.000 lao động ở các vùng khác nhau thuộc đồng bằng sông Hồng.2 Nhu cầu “nóng” của lụa Đàng Ngoài còn dẫn đến việc thúc đẩy sản xuất lụa vụ đông (tháng 11, 12) mặc dù khí hậu miền Bắc lạnh và chất lượng sản phẩm không thể tốt bằng lụa vụ hè (tháng 6, 7 hàng năm). Sự thay đổi cơ cấu lao động, ngành nghề của Việt Nam, sự xuất hiện của cả thương nhân khu vực và châu Âu đã chứng tỏ một điều quan trọng về sức hút của lụa Việt Nam, cụ thể là lụa Đàng Ngoài trong thế kỷ XIX. Biết đến đây, hẳn không ít người tự hào về lụa Việt Nam, một sản phẩm được “săn đón” bởi thương nhân quốc tế trong suốt thế kỷ XVII.     Tuy nhiên, sức hút đó không đến từ chất lượng của lụa Việt Nam hay nhu cầu tiêu thụ hoặc nhu cầu “thời trang” của người châu Âu. Dù chấp nhận hay không, lụa Việt Nam được tìm kiếm vì là mặt hàng thay thế giá rẻ cho lụa Trung Quốc trong giai đoạn khủng hoảng chính trị, và chính sách đóng cửa của triều Minh, Thanh đã buộc thương nhân quốc tế tìm đến những giải pháp tạm thời, trong đó có lụa Việt Nam. Tuy vậy, Việt Nam chủ yếu sản xuất tơ tằm, lụa trắng trơn hoặc các sản phẩm đơn giản khác trong khi nhu cầu thế giới đa dạng với lụa hoa, nhung, gấm, lụa chất lượng cao. Trình độ sản xuất kém, lạc hậu, đơn giản theo kiểu thủ công gia đình không thể giúp lụa có chất lượng cao. Đã không dưới hai lần người Anh cử chuyên gia về sản xuất, mua bán lụa đến Đàng Ngoài trong các năm 1678, 1681 nhằm tìm cách nâng cao chất lượng hàng hóa Việt Nam nhưng bất thành. Năm 1680, Giám đốc thương điếm Anh ở Phố Hiến đã nhận xét thẳng thắn rằng lụa Việt Nam vừa ít về số lượng, vừa kém về chất lượng so với lụa Trung Quốc.3    Đáng tiếc nhất ở đây chính là việc chính quyền và người dân Đàng Ngoài đã không tận dụng được thời cơ khủng hoảng ở Trung Quốc để thay đổi kĩ thuật sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng đúng nhu cầu của thương nhân quốc tế.    Những sản phẩm đáng được tự hào nhất của nền thương mại Việt Nam trong thế kỷ XVII, cuối cùng thực chất là sản phẩm thay thế tạm thời cho hàng hóa Trung Quốc. Hàng Trung Quốc luôn được Nhật Bản ưa chuộng và giá trị của lụa Trung Quốc có thể tăng gấp nhiều lần khi được vận chuyển sang cảng Nagasaki. Tuy nhiên, cuối thế kỷ XVI, để chống lại nạn hải tặc, nhà Minh đã cấm buôn bán trực tiếp với Nhật Bản, thúc đẩy nhu cầu hàng thay thế từ Việt Nam. Nhu cầu đó tiếp tục tăng cao với cuộc chiến giành quyền lực giữa Mãn Thanh và nhà Minh, sau đó là chiến tranh với họ Trịnh ở Đài Loan đến 1683. Những cuộc chiến không ngừng cùng chính sách kiềm tỏa bờ biển của chính phủ đại lục đã khiến thương nhân quốc tế không thể với tới lụa Trung Quốc. Nhu cầu lụa Việt Nam cho Nhật Bản trở thành “tất yếu” để đổi lấy bạc Nhật Bản, giúp thương nhân châu Âu tiếp tục đầu tư cho các hoạt động khác.     Như vậy, nhìn một cách tích cực, lụa Việt Nam, cũng như gốm sứ được biết đến rộng khắp trong khu vực và bởi các thương nhân quốc tế chính là việc “hưởng lợi” từ những vấn đề chính trị ở Trung Quốc và khu vực. Nhìn theo góc độ khác, rõ ràng lụa và hàng hóa Việt Nam đang bị “lệ thuộc” vào tình hình “sức khỏe” của nền chính trị, thương mại của người láng giềng hùng mạnh. Sự lệ thuộc đó được thể hiện rõ nét nhất sau năm 1684 khi Trung Quốc thống nhất cả Đài Loan, mở cửa biên giới cho thương nhân quốc tế trực tiếp buôn bán khiến lụa Đàng Ngoài không được “đoái hoài”. Vai trò của lụa, và lớn hơn của nền thương mại Việt Nam trong hệ thống thương mại khu vực thay đổi, suy yếu rõ rệt. Điều đáng tiếc nhất ở đây chính là việc chính quyền và người dân Đàng Ngoài đã không tận dụng được thời cơ khủng hoảng ở Trung Quốc để thay đổi kĩ thuật sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng đúng nhu cầu của thương nhân quốc tế mà vẫn tiếp tục duy trì thói quen sản xuất manh mún, lạc hậu truyền thống hộ gia đình. Tất yếu, lụa Việt Nam bị loại khỏi thị trường thương mại quốc tế cuối thế kỷ XVII, trong khi lụa Bengal (Ấn Độ) dù ban đầu có chất lượng tương đương hàng Việt Nam đã vươn lên trở thành điểm cung cấp hàng đầu vì đã biết cải tạo kĩ thuật sản xuất và đáp ứng được thị hiếu của châu Âu.       Tranh dân gian Đông Hồ về nghề trồng lúa.     Xuất khẩu gạo cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và vấn đề tái cơ cấu thị trường     Nếu như Lụa Việt Nam mãi vẫn không thoát khỏi mác “hàng thay thế chất lượng thấp” cho lụa Trung Quốc để đi vào thị trường châu Âu hay Nhật và để rồi bị loại khỏi thị trường thương mại quốc tế, thì câu chuyện xuất khẩu lúa gạo cho thấy hầu như Việt Nam không có điểm đến nào khác ngoài Trung Quốc cho tới đầu thế kỷ XX. Nhưng ngay cả khi muốn mở cửa thị trường khó tính hơn như châu Âu thì cũng rất chật vật, vấn đề chính vẫn là do chất lượng.     Triều Nguyễn coi gạo là sản phẩm độc quyền của thương mại nhà nước, ngăn cấm mọi hoạt động buôn bán tư nhân sản phẩm quan trọng này nhằm đảm bảo an ninh lương thực và sự cân bằng vùng miền. Tuy vậy, ghi chép của các phái đoàn Anh, Mỹ ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XIX đều cho thấy việc buôn bán gạo vẫn diễn ra, thậm chí ở mức độ cao, với vai trò quan trọng của thương nhân người Hoa. Cùng với Miến Điện và Xiêm, Việt Nam trở thành một trong những nguồn cung cấp gạo lớn nhất thế giới lúc đó.     Gạo Việt Nam xuất khẩu cũng khá đa dạng với thóc, gạo trắng và gạo đỏ. Từ khi Pháp hoàn thành xâm lược và tiến hành khai thác thuộc địa toàn Việt Nam, gạo đã trở thành sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất của chính quyền thuộc địa. Năm 1884, xuất khẩu gạo của riêng Nam Kỳ là 600.000 tấn, nhưng đến năm 1914 đã lên đến 1,3 triệu tấn, gấp đôi số lượng. Với sự tăng trưởng đó, không ngạc nhiên khi gạo đóng góp nguồn thu lớn nhất cho ngoại thương Nam Kỳ và thậm chí cả Việt Nam. Ví dụ, năm 1901 và 1902, gạo lần lượt chiếm 90,4 và 90,9% khối lượng hàng xuất khẩu của Nam Kỳ. Năm 1904, giá trị xuất khẩu gạo đạt 98,2 triệu francs, chiếm 70,4% tổng giá trị hàng xuất khẩu Nam Kỳ; năm 1905 là 98,2 triệu francs (tiền Pháp) và 70,4%; năm 1907 là 63,9 triệu francs và 60,2%.4 Năm 1908, giá trị xuất khẩu gạo đạt khoảng 4,3 triệu sterling (bảng Anh), tức 108,9 triệu francs, chiếm 79,7 % (tổng giá trị xuất khẩu là 136,6 triệu francs).5 Trên toàn Đông Dương, gạo luôn chiếm khoảng 50% đến 65% giá trị xuất khẩu, và phần còn lại thuộc về toàn bộ các mặt hàng khác như dầu dừa, hồ tiêu, thuộc da, xi măng, các sản phẩm liên quan đến cá, ngô, xi măng, than đá. Như vậy, có thể thấy, giống như lụa ở thế kỷ XVII, gạo ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là sản phẩm chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam.     Dù gạo là sản phẩm tiêu biểu, quan trọng hàng đầu của kinh tế Việt Nam đến trước năm 1914, sự phụ thuộc vào Trung Quốc hay thương nhân người Hoa được thể hiện khá rõ. Trước hết, đó là sự kiểm soát của thương nhân người Hoa trong hoạt động sản xuất, cụ thể là mở rộng đồn điền trồng lúa và xay xát gạo theo công nghệ mới. Pháp chỉ có thể hạn chế việc người Hoa mở rộng diện tích canh tác nhưng không hạn chế được vai trò của họ trong việc thu mua, vận chuyển từ các vùng trồng lúa đến Sài Gòn. Giai đoạn 1869-1870, những nhà máy xát gạo chạy bằng hơi nước đầu tiên ra đời ở Sài Gòn và thuộc sở hữu của người châu Âu nhưng đến năm 1878 người Hoa đã bắt đầu xây dựng nhà máy xay xát. Năm 1907, Sài Gòn có 9 nhà máy xát gạo, công suất từ 450 đến 900 tấn/ ngày và người Hoa sở hữu 6 nhà máy, thuê lại của người Đức 2 nhà máy, tức là họ gần như độc quyền xay xát. Đến năm 1910, họ sở hữu 9 nhà máy có công suất trên 500 tấn thóc/ngày và đến năm 1914, khi Pháp tập trung cho chiến tranh thì họ sở hữu tất cả các nhà máy có công suất trên 300 tấn/ ngày ở Nam Kỳ. Nhìn vào những chỉ số trên, không quá khó khăn để thấy tầm ảnh hưởng của thương nhân người Hoa cũng như khả năng họ hoàn toàn khống chế, độc quyền toàn bộ nền thương mại lúa gạo Nam Kỳ. Rõ ràng, sản xuất lúa gạo của Việt Nam không nằm trong tay người bản địa hay châu Âu mà nằm trong tay thương nhân láng giềng.      Nguồn: Diplomatic and Consular Reports. 1906. Report for the year 1904 on the Trade, Commerce and Navigation of Cochin-China. No. 3628, pp. 582-583.     Thứ hai, trước năm 1884, Trung Quốc tuy là thị trường lớn nhất của lúa gạo Nam Kỳ, nhưng lại chủ yếu nhập khẩu thóc. Điều đó có nghĩa là, nền nông nghiệp Việt Nam chỉ là nơi xuất khẩu “thô” và Trung Quốc nắm quyền điều tiết sản phẩm, chủng loại nhập khẩu, dẫn đến giá trị xuất khẩu khá thấp. Sự khống chế này chỉ hạn chế phần nào khi Pháp tăng thuế xuất khẩu thóc, nhưng Trung Quốc (bao gồm cả Hong Kong) là thị trường quan trọng nhất của Nam Kỳ đến trước năm 1899. Cụ thể, giai đoạn 1872-1881, Trung Quốc chiếm 63% gạo xuất khẩu của Nam Kỳ. Năm 1886, 7,4 triệu piculs gạo (khoảng 440.476 tấn – hơn 80% tổng xuất khẩu) và năm 1887 là 6,2 triệu piculs (369.047 tấn – hơn 70%) được đem sang Trung Quốc. Sang đầu thế kỷ XX, sự trỗi dậy của các thị trường khác như Nhật Bản, Philippines, Singapore và châu Âu là rất đáng chú ý, dẫn đến giảm dần tỉ trọng xuất khẩu gạo của Nam Kỳ tới Trung Quốc – nhưng đây vẫn là thị trường lớn và quan trọng nhất, không thể thay thế trong thời gian ngắn. Như vậy, dù cho Pháp tìm cách can thiệp, các thị trường khác được mở ra, gạo Việt Nam vẫn rất “trung thành” với bạn hàng láng giềng. Điều đó gây ra hệ lụy không hề nhỏ khi thị trường này gặp bất cứ vấn đề gì và thóc gạo Việt Nam sẽ kẹt trong mâu thuẫn cung – cầu.     Như biểu đồ trên đã chỉ ra, tuy xu hướng xuất khẩu gạo đến Trung Quốc giảm, nhưng vẫn không thể phủ nhận được vai trò hàng đầu của quốc gia này trong so sánh với từng quốc gia hoặc khu vực trong việc tiêu thụ hàng Việt Nam. Câu chuyện của gạo không chỉ đơn thuần là câu chuyện của một mặt hàng mà là câu chuyện của cả nền kinh tế. Khi công nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp với đặc thù là sản xuất giản đơn, trình độ kĩ thuật lạc hậu, việc xuất khẩu khó tìm được lối thoát rõ ràng ngoài việc tiếp tục nhìn về thị trường Trung Quốc. Dẫu vậy, biểu đồ trên cũng chỉ ra rằng thương mại Việt Nam đã dần được đa dạng hóa dưới vai trò của Pháp và Trung Quốc từng bước không còn là số một, duy nhất có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam hay theo cách khác, cơ cấu thị trường của Việt Nam đang được tái cấu trúc.     Tuy nhiên, một lần nữa bài toán về chất lượng sản phẩm, về tính thích nghi và sự phụ thuộc được đặt ra với gạo. Người Anh đã nhận xét rằng gạo Nam Kỳ (trung tâm sản xuất gạo hàng đầu Việt Nam) có kích thước nhỏ hơn thông thường, văn hóa trồng lúa có nhiều khiếm khuyết cần phải thay đổi. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến việc gạo Việt Nam bị hạn chế xuất khẩu sang châu Âu bởi những hạt gạo nhỏ đó không phục vụ được nhu cầu thực phẩm trong khi sản phẩm từ Miến Điện, Ấn Độ và Xiêm lại được ưa chuộng. Các báo cáo chỉ ra rằng, gạo Việt Nam được Pháp nhập sang châu Âu cho hai mục đích: chăn nuôi và tái xuất khẩu sang các thuộc địa của Pháp. Như vậy, giống như lụa không phù hợp với thị hiếu thời trang châu Âu, gạo Việt Nam không đảm bảo chất lượng phục vụ nền ẩm thực của họ và chỉ được nhập cho những mục đích thứ cấp hơn. Điều đó một lần nữa gián tiếp tạo ra sự phụ thuộc và thị trường Trung Quốc.      Nhà máy xay xát gạo ở Chợ Lớn đầu thế kỷ XX. Nguồn ảnh: historicvietnam.com.      Phụ thuộc – bài toán lâu dài của nền thương mại Việt Nam     Từ lụa ở thế kỷ XVII đến gạo cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và hiện nay là nông sản cùng nhiều loại hàng hóa công-nông nghiệp khác, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy một mẫu số chung về tính phụ thuộc vào nhân tố Trung Quốc. Đó có thể là sự phụ thuộc vào điều kiện buôn bán, hoặc trực tiếp là phụ thuộc về mặt thị trường mặc dù các sản phẩm của Việt Nam đều được coi là nổi tiếng, có giá trị nhất định. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân thực tế, chúng ta không khỏi giật mình bởi dù là sản phẩm quan trọng của nước nhà, được thế giới biết đến nhưng vẫn chịu những tác động lớn từ tình hình thương mại của Trung Quốc. Xét một cách khái quát, vấn đề này rõ ràng là khó tránh khỏi khi Trung Quốc luôn là thị trường lớn hàng đầu thế giới trong mọi giai đoạn và do đó luôn có tác động nhất định đến thị trường lân cận. Nhưng điều đáng bàn ở đây là việc lụa hay gạo, người sản xuất, nhà quản lý đã thích ứng như thế nào với tác động và tính phụ thuộc đó. Trong khi lụa bị chìm vào quên lãng cuối thế kỷ XVII, gạo mở rộng thị trường đến Singapore, Philippines, các nước châu Âu đầu thế kỷ XX và dần dần được san sẻ vai trò bởi các mặt hàng khác. Phụ thuộc hay không phụ thuộc, cuối cùng vẫn là dựa vào khả năng quản lý và thích nghi của người sản xuất. □     —-  *TS Trần Ngọc Dũng, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội     Tài liệu tham khảo      1 IOR/G/12/17/1, Tonkin to London, 7 December 1672, pp. 45b-46a.  2 Hoàng Anh Tuấn, Silk for Silver, Dutch- Vietnamese relations 1637-1700 (Leiden, 2007), pp. 181-182; Li Tana, “Tongking in the age of commerce” in G. Wade & T. Li (eds.), Anthony Reid and the study of the Southeast Asian past (Singapore, 2012), pp. 246-270, p. 251.  3 IOR/G/21/7A, Letter from Thomas James and Council in Tonkin, 1 November 1680, pp. 38-43, p. 39.  4DCR. 1906-1908. Report for the year1905-1907 on the Trade, Commerce and Navigation of Cochin-China. No.3628: 582; No.4028: 513.  5 Số liệu được tổng hợp từ các báo cáo của Bộ ngoại giao Anh về kinh tế Nam Kỳ thuộc Pháp trong giai đoạn trước 1914.    Author                Trần Ngọc Dũng        
__label__tiasang Luận án tiến sĩ      Một anh bạn tiến sĩ gọi điện cho tôi, hỏi: “Ông có chuyển ‘phông’ chữ được không?”. Tôi bày cách cho anh: download gõ tiếng Việt miễn phí Unikey trên mạng, bộ gõ này tích hợp luôn công cụ chuyển phông. Lát sau, anh lại gọi điện, hỏi: “Chuyển phông Unicode sang ABC thế nào?”. Tôi hướng dẫn cho anh từng bước một. Tưởng xong, lát sau lại nhận điện của anh: “Chuyển ‘phông’ VNI sang ABC thế nào?” Rồi lại nghe anh gọi: “ABC sang Unicode thế nào”… Thêm mấy cuộc nữa, cuối cùng anh bảo: “Ông đến tận nơi giúp tôi. Có lắm loại chữ lằng nhằng lắm. Không biết phông gì!”    Cách đây mấy tháng, anh bạn của tôi bảo vệ xong luận án tiến sĩ kinh tế. Luận án đã sao, đã đóng bìa, đã nộp cơ quan. Tưởng xong, bất đồ lại bị ông sếp đòi copy bản “file vi tính”. Khó cho anh. Trước khi in, anh đã cẩn thận chuyển tất cả chữ về cùng “co”, cùng kiểu nên khó ai nhận ra. Nhưng nếu đọc trên máy tính, nếu tinh ý, sẽ nhận ngay ra đoạn nào anh “gõ”, đoạn nào anh “tham khảo” từ đủ mọi nguồn: báo mạng, luận án và khóa luận của bạn bè…  Trong hội thảo về “Thư viện điện tử” do Tia Sáng tổ chức, có ý kiến nêu phải “số hóa” tất cả các luận văn làm cơ sở dữ liệu, công bố lên mạng. Một vị, không phát biểu, nhưng “phản ứng” ngay với người ngồi cạnh: Làm sao có thể được, còn cả vấn đề về bản quyền, rồi bí quyết công nghệ.  Tôi nghe được, nghĩ: Không khéo trong vô số các khó khăn để xây dựng một hệ thống thư viện số tử tế ở Việt Nam, còn thêm “khó khăn” nữa là có những tác giả luận văn… không biết chuyển phông.  Vì thế, phải hoan nghênh Vụ Đại học và sau Đại học của Bộ GD&ĐT đã “vượt khó” khi công bố luận án tiến sĩ trên trang web http://www.hed.edu.vn, dù mới chỉ có phần “Tóm tắt những điểm mới”.  Xin trích dẫn một số trong đó:  – Luận án: “Nhận thức của công chức hành chính về việc sắp xếp lại bộ máy của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố”.  Những kết luận mới của luận án: Trên cơ sở khảo sát 762 công chức hành chính, luận án đã đánh giá được thực trạng nhận thức của công chức hành chính về sự cần thiết, về mục tiêu, nội dung, biện pháp, lợi ích; các mức độ nhận thức của công chức trước và sau khi tiến hành sắp xếp lại bộ máy các cơ quan chuyên môn trong cải cách hành chính (CCHC) hiện nay.  – Luận án: ”Nhận thức của thanh niên nông thôn về chất lượng cuộc sống gia đình hiện nay”.  Những kết luận mới của luận án: Thực tiễn khảo sát 564 thanh niên nông thôn (TNNT) cho thấy thực trạng nhận thức của TNNT về chất lượng cuộc sống gia đình (CLCSGĐ) ở mức độ trung bình. Họ nhận thức còn phiến diện, chưa đầy đủ, chưa hài hòa giữa các mặt, các giá trị trong CLCSGĐ. Có 33,2% số ý kiến đề cao yếu tố vật chất, kinh tế trong CLCSGĐ. Điểm trung bình về nhận thức đối với những giá trị phản ánh CLCSGĐ thiên về các giá trị vật chất, kinh tế nhiều hơn là những giá trị văn hóa tinh thần  – Luận án: “Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên”.  Tóm tắt những kết luận mới của luận án:  Luận án đã xây dựng được hệ thống lý luận tâm lý học về nhu cầu điện ảnh, đặc biệt là đã xây dựng được bốn cấp độ của nhu cầu này của người xem nói chung, đó là: cấp độ nhu cầu giải trí; cấp độ nhu cầu thông tin; cấp độ nhu cầu cảm thụ nghệ thuật; cấp độ tái tạo (tái sáng tạo) nghệ thuật, với những biểu hiện cụ thể của từng cấp độ và mối liên hệ giữa chúng…  – Luận án: “Phát huy vai trò của tri thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới”.  Tóm tắt những kết luận mới của luận án: Xác định ba cách tiếp cận đối với tầng lớp trí thức gồm: phân biệt lao động trí óc của viên chức và của trí thức; tiếp cận nhân cách trí thức là tổng hoà động sự hiểu biết với lương tri và tính cách cá nhân; tiếp cận sự xích lại gần nhau giữa công nhân và trí thức. Làm rõ ưu, nhược điểm của tầng lớp trí thức Việt , nhất là trong thời kỳ đổi mới…  -Luận án: “Lịch sử phát triển giáo dục – đào tạo ở An giang(1975 – 2000)  Những kết quả mới của luận án: Luận án tập hợp, hệ thống những tài liệu cơ bản và đáng tin cậy để trình bày tương đối toàn diện, đầy đủ về các chặng đường phát triển của sự nghiệp giáo dục – đào tạo ở An Giang trong 25 năm cuối thế kỷ XX trên cả ba phương diện giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội…  (http://www.hed.edu.vn/TrangChu/LuanAnTienSi/TomTatNhungDiemMoi/)  Phần bình luận, xin dành cho người đọc!  ———–  Văn An       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lực cơ bản thứ năm có thể tồn tại nhưng chưa được xác nhận      Bốn lực cơ bản chi phối vũ trụ là tương tác hấp dẫn, tương tác điện từ, tương tác mạnh và tương tác yếu. Các lực này chi phối sự vận động (chuyển động, tính chất, v.v.) của mọi thứ mà chúng ta thấy. Ít nhất, đó là những gì chúng ta nghĩ. Nhưng nhiều năm qua, bằng chứng về sự tồn tại của lực cơ bản thứ năm cũng tăng lên. Dù chưa phát hiện về lực thứ năm này nhưng nghiên cứu mới cũng cho thấy, chúng ta vẫn không hiểu một cách đầy đủ về những lực vũ trụ này.      Các hạt và tương tác boson của Mô hình chuẩn. Nguồn: Particle Data Group  Các lực cơ bản này là một phần của Mô hình Chuẩn (Standard Model) của vật lý hạt. Mô hình này miêu tả tất cả các hạt lượng tử, bao gồm electron, proton, phản vật chất và những hạt khác. Các hạt quark, neutrino và hạt Higgs boson tất cả là phần của Mô hình Chuẩn.  Có một chút nhầm lẫn về thuật ngữ “lực” trong mô hình này. Với Mô hình Chuẩn, mỗi lực đều là kết quả của một loại hạt boson truyền. Các photon là boson truyền tương tác điện từ. Các gluon là boson truyền tương tác mạnh và các boson như W và Z truyền tương tác yếu. Về mặt kỹ thuật thì lực hấp dẫn không thuộc về Mô hình Chuẩn nhưng giả định là hấp dẫn lượng tử có một hạt boson mà chúng ta vẫn biết là graviton. Hiện giờ chúng ta vẫn chưa hiểu biết đầy đủ về hấp dẫn lượng tử nhưng theo một ý tưởng nêu thì hấp dẫn có thể được thống nhất với Mô hình Chuẩn để tạo ra một lý thuyết hợp nhất toàn vũ trụ.  Mỗi hạt mà chúng ta đã khám phá ra đều là phần của Mô hình Chuẩn. Hành xử của các hạt đó trùng chính xác với dự đoán của Mô hình Chuẩn đến kinh ngạc. Các nhà khoa học đã tìm kiếm các hạt ngoài Mô hình Chuẩn nhưng vẫn chưa tìm được bất kỳ hạt nào. Mô hình Chuẩn vẫn là chiến thắng của hiểu biết khoa học và là đỉnh cao của vật lý lượng tử.  Nhưng chúng ta mới bắt đầu học hỏi được một vài vấn đề đáng chú ý.    Các quan sát những thiên hà chứng tỏ sự phân bố của vật chất tối. Nguồn: X-ray: NASA/CXC/Ecole Polytechnique Federale de Lausanne, Switzerland/D.Harvey & NASA/CXC/Durham Univ/R.Massey; Optical & Lensing Map: NASA, ESA, D. Harvey (Ecole Polytechnique Federale de Lausanne, Switzerland) và R. Massey (Durham University, UK)  Để bắt đầu, chúng ta đều biết Mô hình Chuẩn không thể kết hợp với hấp dẫn theo cách chúng ta nghĩ. Trong Mô hình Chuẩn, các lực cơ bản “thống nhất” tại các mức năng lượng cao hơn.  Lực điện từ và lực yếu kết hợp thành lực điện yếu và lực điện yếu hợp nhất với lực mạnh để trở thành lực điện hạt nhân (electronuclear force). Tại các mức năng lượng siêu cao, lực điện hạt nhân và lực hấp dẫn có thể hợp nhất. Các thực nghiệm trong vật lý hạt đã chứng tỏ các năng lượng hợp nhất không khớp với nhau.  Phức tạp hơn cả là vấn đề của vật chất tối. Vật chất tối được đề xuất ban đầu để giải thích tại sao các ngôi sao và khí ở vùng ngoài rìa một thiên hà lại chuyển động nhanh hơn dự đoán từ lực hấp dẫn. Có thể thuyết hấp dẫn của chúng ta sai hoặc phải có một phân bố khối lượng không nhìn thấy (tối) trong các thiên hà. Hơn 50 năm qua, bằng chứng cho vật chất tối đã xuất hiện. Chúng ta đã quan sát cách vật chất tối tập hợp các thiên hà lại với nhau, cách nó được phân bố trong các thiên hà riêng biệt và cả cách hành xử của chúng. Chúng ta biết nó không tương tác mạnh với vật chất thông thường hoặc chính nó, và nó chiếm phần lớn khối lượng trong hầu hết các thiên hà.  Nhưng không hạt nào trong Mô hình Chuẩn lại có thể phù hợp với vật chất tối. Vật chất tối có thể được tạo ra từ những như lỗ đen nhỏ, nhưng dữ liệu thiên văn học không ủng hộ ý tưởng này. Vật chất tối có thể được tạo ra từ những loại hạt còn chưa được xác định, do đó Mô hình Chuẩn không thể dự đoán được.  Sau đó là năng lượng tối. Các quan sát chi tiết về các thiên hà có khoảng cách chứng tỏ vũ trụ đang giãn nở với tốc độ tăng chưa từng thấy. Dường như là một loại năng lượng đang điều khiển quá trình này, và chúng ta không hiểu quá trình này diễn ra như thế nào. Có thể sự gia tốc này là kết quả của cấu trúc không gian và thời gian, một loại hằng số vũ trụ là nguyên nhân dẫn đến vũ trụ giãn nở. Cũng có thể một lực mới chưa được phát hiện điều khiển quá trình này. Bất kể năng lượng tối là gì, nó chiếm tới 2/3 năng lượng vũ trụ.   Tất cả các điểm này đưa ra một sự thật là Mô hình Chuẩn chưa hoàn thiện. Đây là những thứ mà chúng ta thiếu hiểu biết một cách cơ bản về cách vũ trụ vận hành. Phần lớn các ý tưởng đề xuất điều chỉnh Mô hình chuẩn, từ siêu đối xứng đến các hạt quark còn chưa được khám phá, nhưng có một ý tưởng nêu, đó là lực cơ bản thứ năm. Lực này có thể có các hạt hạt boson truyền của chính nó cũng như các hạt mới ở ngoài phạm vi các hạt mà chúng ta đã khám phá.        Chúng ta chưa hiểu được nhiêu về vũ trụ. Nguồn: Chandra X-ray Observatory  Chính lực thứ năm có thể tương tác với các hạt mà chúng ta đã quan sát được theo cách tinh tế và mâu thuẫn với Mô hình Chuẩn. Nó dẫn chúng ta đến một công bố là đã có bằng chứng rõ rệt về tương tác.  Công trình này tập trung vào một dị thường trong phân rã hạt nhân helium-4, và xây dựng nghiên cứu sớm hơn những phân rã beryllium-8.  Beryllium-8 có hạt nhân không bền, vốn phân rã thành hai hạt nhân helium-4. Năm 2016, nhóm nghiên cứu này đã tìm thấy phân rã của beryllium-8 dường như vi phạm với Mô hình Chuẩn ở mức không đáng kể. Khi các hạt nhân này ở một trạng thái kích thích, nó có thể phát xạ một cặp electron-positron trong quá trình phân rã. Số các cặp được quan sát tại các góc rộng hơn lớn hơn dự đoán của Mô hình chuẩn, và nó được biết dưới cái tên dị thường Atomki.  Có rất nhiều giải thích có thể cho dị thường này, bao gồm lỗi thực nghiệm, nhưng có một giải thích: nguyên nhân gây ra là hạt boson mà nhóm nghiên cứu đặt là X17. Có thể là hạt boson truyền lực cơ bản thứ năm (chưa được biết đến trước đây) với khối lượng của 17 MeV. Trong bài báo mới “New evidence supporting the existence of the hypothetic X17 particle” (Bằng chứng mới về sự tồn tại của hạt X17 về giả thiết), nhóm nghiên cứu đã tìm thấy một độ lệch tương tự trong quá trình phân rã helium-4. Hạt X17 có thể giải thích được dị thường này.  Dù điều này có vẻ thú vị nhưng cần cẩn thận trong suy xét. Khi nhìn vào các chi tiết của công bố, có một chút “sai sót” dữ liệu. Về cơ bản, nhóm nghiên cứu đã giả định X17 là chính xác và chứng tỏ rằng dữ liệu này được tạo ra để phù hợp với mô hình của họ. Điều này cho thấy, một mô hình có thể giải thích những dị thường không giống như chứng minh mô hình giải thích được các dị thường. Các giải thích khác là có thể. Nếu X17 tồn tại, chúng ta có thể quan sát được nó trong những thực nghiệm hạt khác, tuy nhiên chúng ta chưa thấy. Do đó bằng chứng cho “lực thứ năm” vẫn còn yếu.  Lực thứ năm có thể tồn tại nhưng chúng ta chưa tìm được nó. Nhưng gì chúng ta biết là Mô hình Chuẩn vẫn chưa bổ sung được toàn bộ các lực trong vũ trụ và điều đó có nghĩa là còn nhiều khám phá thú vị đang chờ đợi chúng ta ở phía trước.  Anh Vũ dịch   Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-fundamental-havent.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lực lưỡng và vạm vỡ      Tin tức mới đây1 cho biết, GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng được Hội đồng giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ đợt 5 đề nghị trao Giải thưởng Nhà nước cho chuyên khảo Khái luận văn tự học chữ Nôm.2 Mọi người không ai lấy làm ngạc nhiên trước thông tin này, thậm chí có người còn than tiếc cho rằng công trình ấy xứng đáng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh. Bởi học giới biết rằng, con người ấy từ lâu đã khẳng định được tầm vóc tri thức và ảnh hưởng học thuật; công trình ấy đã được thừa nhận về tầm lí luận cũng như khả năng xây dựng khung khổ.      1. Nguyễn Quang Hồng: nhân vật học thuật “lực lưỡng”  Dù sinh ra (1939) và làm việc tại Việt Nam, nhưng tác giả Nguyễn Quang Hồng lại có được cơ duyên đào tạo trường kì ở những trung tâm học thuật nước ngoài ngay từ thuở sinh viên. Ông tốt nghiệp Cử nhân Ngữ văn tại Đại học Bắc Kinh (1965), tốt nghiệp Phó tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) Ngữ văn tại Đại học Quốc gia Moskva và Viện Đông phương học Liên Xô (1974), sau đó tốt nghiệp Tiến sĩ khoa học Ngữ văn tại Đại học Quốc gia Moskva (1985). Được đào tạo căn bản và thâu thái được cái tinh hoa của hai trung tâm khoa học Ngữ văn Đông và Tây thời danh kể trên, ông đã cho ra đời những công trình nghiên cứu ngữ văn Hán Nôm và ngôn ngữ học không lẫn vào đâu được. Đặc điểm bao trùm của những công trình ấy là tính lí thuyết cao, vấn đề nghiên cứu được triển khai một cách logic và hệ thống, lối hành văn chặt chẽ khoa học, nhưng không cố lên gân lên cốt, mà nhiều lúc hóm hỉnh, hấp dẫn.  Sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ và văn tự tại nhiều trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành, ông đã “trình làng” nhiều tác phẩm then chốt: Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (chủ biên, 1992), Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (chuyên luận, 1994, 2001, 2012), Di văn chùa Dâu (chủ biên, 1996), Truyền kì mạn lục giải âm (biên khảo, phiên chú, 2001), Tự điển chữ Nôm (chủ biên, 2006), Kho chữ Hán Nôm mã hoá (đồng chủ biên, 2008), Khái luận văn tự học chữ Nôm (chuyên luận, 2008), Tự điển chữ Nôm dẫn giải (2 tập, 2014, gần 2.400 trang, công trình cá nhân). Ông còn là tác giả của hơn 100 bài nghiên cứu công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành cả trong và ngoài nước. Ông cũng từng được mời thuyết trình và giao lưu khoa học tại Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore.  Với uy tín của mình, ông được phong Phó Giáo sư (1984), Giáo sư (1991), Nghiên cứu viên cao cấp, và từng nắm giữ nhiều vị trí lãnh đạo học thuật quan trọng trong các lĩnh vực Hán Nôm và ngôn ngữ. Ông cũng đã đào tạo nhiều tiến sĩ cả trong và ngoài nước mà hiện nay họ đều đã thành danh trên lĩnh vực học thuật.  2. Khái luận văn tự học chữ Nôm: tác phẩm học thuật “vạm vỡ”  Đặc trưng căn bản và tiên quyết của cuốn chuyên khảo này chính là tiền đề phương pháp luận lấy văn tự học làm bản vị. Đây là điểm cốt yếu và khác biệt của cuốn sách, bởi các chuyên khảo về chữ Nôm trước đây thường đặt vấn đề ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt lên trên vấn đề văn tự học khi tiếp cận kho tàng văn hiến chữ Nôm. Việc trả lại bản chất văn tự học cho hướng tiếp cận nghiên cứu chữ Nôm còn giúp cho cuốn sách, xét từ khía cạnh lịch sử văn hiến, khắc phục được nhược điểm cố hữu trong việc nghiên cứu chữ Nôm là thường quá chú trọng tới những văn hiến có niên đại sớm, mà xao lãng những văn hiến có niên đại muộn, khoảng từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.  Từ tiền đề phương pháp luận trên, cuốn sách đã triển khai nghiên cứu một cách hệ thống và mang đậm tính lí luận. Từ lâu nay, giới nghiên cứu Hán Nôm cũng đã không còn xa lạ với phong cách nghiên cứu ấy của tác giả Nguyễn Quang Hồng qua hàng loạt chuyên luận và bài viết của ông. Trong tình trạng việc nghiên cứu Hán Nôm thường còn dừng lại ở mức độ miêu tả sự kiện, thì những nghiên cứu mang tính lí luận chuyên ngành của Nguyễn Quang Hồng lại hướng tới phân tích, giải thích sự kiện, và đó chính là điểm sáng nổi trội mà một lối tư duy thông thường nào đó hoàn toàn có thể phán rằng “những cái ấy ai chẳng biết!”. Nhưng để khái quát hóa “những cái ai chẳng biết” vốn lẻ tẻ và rời rạc ấy thành một hệ thống mang tính lí luận như những gì mà tác giả đã thực hiện trong các công trình của mình (tất nhiên không loại trừ cuốn sách này) thì lại hoàn toàn không phải là điều dễ dàng mà ai cũng làm được.  Về nội dung, công trình này nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về những vấn đề chủ yếu đặt ra khi đi vào tìm hiểu chữ viết cổ truyền của các dân tộc Việt Nam, mà trọng tâm là chữ Nôm của người Việt. Nội dung chuyên luận trình bày trong sáu chương và một phụ chương. Ba chương đầu giới thiệu các hệ thống văn tự cổ truyền ở Việt Nam, tìm hiểu về nguồn gốc, sự hình thành chữ Nôm và xác định đặc trưng loại hình của nó trong sự đối chiếu với chữ Hán và các văn tự khác có liên quan trong khu vực. Hai chương Bốn và Năm đi sâu xem xét cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể của chữ Nôm Việt cùng những diễn biến của chúng qua thời gian. Chương cuối xem xét các chức năng xã hội và môi trường hành chức của chữ Nôm, vai trò của nó bên cạnh chữ Hán và chữ Quốc ngữ trong xã hội Việt Nam, quá khứ và hiện tại. Ngoài ra còn có một phụ chương để giới thiệu một số ý tưởng của các bậc tiền bối, mong muốn tạo lập các hệ thống chữ Việt bằng nét bút lông, mang dáng dấp của chữ Nôm, nhưng lại là văn tự ghi âm, cho thấy một nét đặc biệt trong tư duy văn tự học của tiền nhân.  Cuốn sách là một thành tựu nghiên cứu có bề dày và chiều sâu, vừa có “diện” vừa có “điểm”, chứa nhiều điều mới mẻ dựa trên cơ sở tích lũy và tổng kết tri thức khắp suốt xưa nay. Chính vì vậy, ngay sau khi vấn thế, cuốn sách đã được sử dụng làm tài liệu dạy học của ngành Hán Nôm nói riêng và ngành ngữ văn học nói chung ở các bậc đại học, Cao học, và Nghiên cứu sinh ở nhiều đơn vị đào tạo.3  3. Những đạo hữu học thuật  Học giới Việt Nam đã thừa nhận vị trí hàng đầu của hai tượng đài ngôn ngữ học: GS Cao Xuân Hạo (1930-2007) và GS Nguyễn Tài Cẩn (1926-2011). Khi hai nhà khoa học trứ danh này lần lượt khuất bóng, đã có nhiều bài viết kỉ niệm về họ, mà hai bài “Hoài niệm…”4 của GS Nguyễn Quang Hồng nằm trong số những bài đáng đọc nhất, vừa tình cảm vừa khoa học, toàn diện mà chi tiết, khúc chiết, mạch lạc và thích đáng trong đánh giá khoa học.  Nguyên nhân để hai bài “Hoài niệm…” ấy thành công, ngoài vốn tri thức chắc nịch và tình cảm sâu nặng của người viết đối với các đạo hữu, theo tôi, còn do sự tương đồng về quan điểm tiếp cận khi nghiên cứu ngôn ngữ văn tự học giữa ba nhà khoa học. Họ nằm trong số không nhiều người cùng sớm nhận ra sai lầm của tư tưởng “Âu tâm luận” (Eurocentrism) từng khá phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói riêng và nghiên cứu khoa học nói chung ở Việt Nam. Có lẽ chính vì vậy mà, trong danh tác Âm vị học và tuyến tính (bản tiếng Pháp năm 1985), GS Cao Xuân Hạo đã nhận xét về một công trình năm 1974 của GS Nguyễn Quang Hồng bằng những dòng rất trân trọng, mang tính nhận đồng trong tư tưởng phủ định “chiết đoạn luận” kiểu châu Âu, tức là phê phán việc sử dụng lí thuyết âm vị học châu Âu vốn chỉ phù hợp với các ngôn ngữ khuất chiết** vào phân tích các ngôn ngữ đơn lập và chắp dính ở phương Đông như tiếng Trung, Việt, Nhật.5  Đọc hai bài “Hoài niệm…” này, tôi thấy tâm đắc với hai từ láy mà GS Nguyễn Quang Hồng sử dụng. Ông phẩm bình hai cuốn chuyên luận về ngữ âm và ngữ pháp của GS Cao Xuân Hạo là “vạm vỡ”, ông lại đánh giá các chuyên luận của GS Nguyễn Tài Cẩn là “lực lưỡng”. Ngẫm lại, cả ba nhà khoa học ấy dù có vóc dáng nhỏ gầy, nhưng đều “vạm vỡ” và “lực lưỡng” trong khoa học. Đó mới là điều khó đạt tới. Thiết nghĩ, cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm của GS Nguyễn Quang Hồng cũng đã đạt tới độ “vạm vỡ” và “lực lưỡng” như vậy, nên tôi xin phép mượn dùng hai từ láy trên để mô tả chính người đã từng sử dụng chúng một cách đắc địa. Giải thưởng Nhà nước này là sự khẳng định giá trị của cuốn sách và tầm vóc của nhà khoa học từ phía giới quản lí khoa học và công nghệ quốc gia, sau khi giới học thuật đã khẳng định từ trước.  ———–  Chú thích:  *Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.  ** Trong bản in bị sai là khúc chiết  1 Xem: http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Khoa-hoc/845236/195-nha-khoa-hoc-nhan-giai-thuong-ho-chi-minh-va-giai-thuong-nha-nuoc-ve-khoa-hoc—-cong-nghe-.  2 Nguyễn Quang Hồng, Khái luận văn tự học chữ Nôm, NXB Giáo dục, 2008, 538 trang, khổ 16×24 cm.  3 Xem thêm 3 bài điểm sách đã công bố: (1) Nguyễn Tuấn Cường, “Đọc sách Khái luận văn tự học chữ Nôm” của GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng”, Tạp chí Hán Nôm, số 4/2009, tr. 74-78. (2) Đinh Khắc Thuân, “Đọc sách Khái luận văn tự học chữ Nôm”, Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2009, tr. 44-45. (3) Trần Đình Sử, “Một đóng góp mới về nghiên cứu chữ Nôm”, Văn Nghệ, số 27 (2579), thứ Bảy ngày 4/9/2009.  4 Xem: (1) Nguyễn Quang Hồng, “Hoài niệm về anh Cao Xuân Hạo”, Ngôn ngữ và Đời sống, số 11/2007, tr. 38-39 (bản điện tử: http://ngonngu.net/?m=print&p=354). (2) Nguyễn Quang Hồng, “Hoài niệm về Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn”, Từ điển học và Bách khoa thư, số 2/2011, tr. 78-84 (bản điện tử: http://khoavanhoc.edu.vn/tintuc-sukien/878-gstskh-nguyn-quang-hng).  5 Cao Xuân Hạo, Âm vị học và tuyến tính: Suy nghĩ về những định đề của âm vị học đương đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001, tr. 303-306.    Author                Nguyễn Tuấn Cường        
__label__tiasang LUDWIG BOLTZMANN – Vật lý, Âm nhạc, Triết học và Cái chết      Đã một trăm năm trôi qua kể từ khi Ludwig Boltzmann tự vẫn. Trong một thế kỷ đó, càng chứng kiến sự phát triển của nhận thức và khoa học người ta càng nhớ đến những công lao to lớn của ông – một trong nhà vật lý và triết học lỗi lạc nhất.    Ludwig Edward Boltzmann sinh ngày 20/2/1844 ở quận Landstrasse thành Vienna, bắt đầu học vật lý ở Đại học Vienna năm 1863 và nhận học vị tiến sỹ năm 1866. Ở tuổi 25, Boltzmann trở thành giáo sư vật lý toán ở Đại học Graz và sau đó trở về Đại học Vienna năm 1873. Năm 1876, Boltzmann lấy Henriette von Aigentler, một phụ nữ xinh đẹp với mái tóc dài và đôi mắt xanh đến từ Graz. Trong suốt 14 ngày hạnh phúc ở Graz, Boltzmann đã phát triển những ý tưởng của ông về khái niệm thống kê của tự nhiên.  Năm 1885, Boltzmann trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia, và năm 1877 là Hiệu trưởng Đại học Graz. Boltzmann cũng được mời làm trưởng khoa Vật lý lý thuyết Đại học Munich năm 1890. Sau khi quay lại Đại học Vienna năm 1894, Boltzmann đã cảm thấy khó tìm được ở đây một nhóm bạn và đồng nghiệp tốt như hồi ở Munich. Vì không chịu ở cùng với Ernst Mach (1838-1916), đặc biệt là sau khi Mach trở thành giáo sư triết và lịch sử khoa học ở Đại học Vienna năm 1895, ông lại quyết định sang Leipzig và dạy vật lý lý thuyết ở đó. Sau khi Mach về nghỉ hưu, Boltzmann mới trở về Vienna vào mùa thu năm 1902.  Ngoài vật lý, Boltzmann cũng đã bắt đầu giảng dạy triết học vào năm 1903. Với cương vị là trưởng khoa triết học tự nhiên, ông đã dạy một loạt bài giảng với tiêu đề “Các Phương pháp và Lý thuyết Phổ quát của Khoa học Tự nhiên” nhằm thế chỗ loạt bài giảng trước đó của Mach có tên gọi “Lịch sử và Lý thuyết của Khoa học Quy nạp”. Vào thời đó, các bài giảng Boltzmann về triết học tự nhiên đã rất nổi tiếng và thu hút được sự chú ý lớn. Ngay bài giảng đầu tiên đã có được thành công lớn. Mặc dù một hội trường lớn nhất đã được sử dụng cho bài giảng nhưng người đến dự vẫn đứng chật kín các lối đi và cầu thang. Sinh viên, trợ lý, giáo sư và cả các quý bà quý cô cũng đến. Tất cả báo chí đều đưa tin về sự kiện này. Hoàng đế Franz Joseph đã nói với Boltzmann rằng, ông rất vui về sự trở về của Boltzmann.  Bảo vệ thuyết nguyên tử  Hồi cuối thế kỷ 19, Boltzmann là người có công lớn nhất bảo vệ thuyết nguyên tử. Thời đó, nhiều nhà khoa học coi các nguyên tử và phân tử chỉ là những phép ẩn dụ – một sự hư cấu có ích dùng để giải thích các hiện tượng bằng toán học. Nhưng Boltzmann tin rằng, các phương trình thống kê của Maxwell đã mô tả một thế giới thực của các phân tử và nguyên tử. Ông đã nghiên cứu các chất khí và đặc tính của chúng. Ông đã biết rằng, việc một lượng khí có thể bị nén sẽ được giải thích nếu nó cấu tạo bởi rất nhiều những thực thể rất nhỏ. Boltzmann không thể nhìn thấy các nguyên tử nhưng ông có thể đo được các đặc tính của chúng. Phương pháp của ông dựa trên thống kê và đo lường, chúng đã dẫn ông đến “lý thuyết động học” về chất khí – một nền tảng quan trọng của nhiệt động lực học. Boltzmann đã chỉ ra rằng, chuyển động của các phân tử và nguyên tử sinh ra nhiệt. Ông cũng tìm ra quy luật phân bố vận tốc của các phân tử chất khí. Những khám phá của Boltzmann đã xây dựng nên cơ sở của vật lý thống kê, nhưng vào thời của ông có rất ít người nhận ra tầm quan trọng của chúng.  Bắc cầu cho vật lý hiện đại  Boltzmann là một nhà vật lý cổ điển, nhưng ông đã có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành các lĩnh vực vật lý hiện đại. Lý thuyết động học chất khí của ông đã là một nguyên mẫu đầu tiên của môn cơ học thống kê với những ứng dụng quan trọng cho đến ngày nay. Các phương trình Boltzmann là những ý tưởng trọng yếu cho nhiệt động lực học không cân bằng và các quá trình thuận nghịch. Chúng đã trở thành những vấn đề rất quan trọng của vật lý hiện đại cũng như là mối quan tâm lớn của triết học. Boltzmann cũng có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ định luật hai của nhiệt động lực học, phát triển định nghĩa entropy từ quan điểm thống kê thuần túy và đánh đổ quan điểm chết nhiệt vũ trụ. Max Planck viết: “Trong tất cả những nhà vật lý của thời đó, Boltzmann là người hiểu được ý nghĩa của entropy sâu sắc nhất”.  Trên thực tế, ngoài Planck ra còn có một người có công đầu đề xuất ý tưởng cho thuyết lượng tử, đó chính là Boltzmann. Trong những công trình của Boltzmann năm 1872 (trước Planck 28 năm), ông đã lần đầu tiên chia năng lượng của một hệ thành những phần gián đoạn rất nhỏ. Tuy nhiên, ông đã chỉ nhận thức “sự lượng tử hóa” này như một thủ thuật toán học cho phép việc sử dụng các phương trình trong tính toán xác suất. Các lượng tử năng lượng đã không còn xuất hiện trong những phương trình cuối cùng, nhưng có một điều chắc chắn là chính Boltzmann đã dọn đường cho thuyết lượng tử.  Chống Schopenhauer  Trong một bài giảng gửi cho Hội Triết học Vienna ngày 21/1/1905, Boltzmann đã phê phán tất cả các triết học của Schopenhauer. Ông viết: “Toàn bộ hệ thống của Schopenhauer không hề có sự phân tích đầy đủ mà chỉ là những suy nghĩ thoáng qua về một chủ đề.” Trên thực tế Boltzmann đã cố gắng chỉ ra rằng, vấn đề đối với triết học Schopenhauer chính là cái nền tảng siêu hình trong suy nghĩ của ông ta đã dẫn đến sự chệch đường của ông ta cũng như tất cả những niềm tin của ông ta. Một điểm đáng chú ý là Boltzmann đã nói về sự mâu thuẫn trong định nghĩa không gian và thời gian của Schopenhauer. Ông nhấn mạnh sự bất cẩn của Schopenhauer trong việc sử dụng sự “tiên nghiệm”. Boltzmann đã phủ nhận sự “tiên nghiệm” của Schopenhauer cho rằng không gian chỉ có thể có ba chiều bằng việc khẳng định một không gian có nhiều hơn ba chiều là hoàn toàn có thể hiểu được, thậm chí không gian đó có thể phi Euclide.  Boltzmann cũng cho thấy một cách chi tiết sự cố gắng vô nghĩa của Schopenhauer khi áp dụng giả thuyết của ông ta cho các nghệ thuật khác nhau. Ông giải thích rằng, thậm chí sự phân loại các nghệ thuật khác nhau của Schopenhauer cũng không hề bao hàm bất cứ thứ nghệ thuật khả dĩ nào. Schopenhauer coi âm nhạc như sự biểu diễn trực tiếp của ý chí tới mức nó không còn là khách thể nữa. Trái lại, tất cả các nghệ thuật khác cũng biểu diễn ý chí nhưng chỉ là gián tiếp và được coi như một dạng khách thể cá biệt của âm nhạc. Sự tách biệt giữa âm nhạc và các nghệ thuật khác của Schopenhauer như vậy là xuất phát từ một cái nhìn thiếu hiện thực, dẫn đến những hệ quả buồn cười cũng như những mâu thuẫn nghiêm trọng. Theo Schopenhauer, âm nhạc là một tấm gương phản ánh toàn bộ thế giới, còn thế giới lại đang là một sự biểu hiện của ý chí vũ trụ và một thứ âm nhạc khác, có được bằng những cách khác và độc lập với thứ âm nhạc ban đầu. Như vậy, âm nhạc có thể tiếp tục tồn tại nếu thế giới không tồn tại. Nghĩa là trong cả những trường hợp không có đàn violin, không có không khí truyền âm thanh, không có những đôi tai hay không có những óc nhận thức thì âm nhạc vẫn tồn tại!  Một con người của khoa học, nghệ thuật và cái đẹp  Âm nhạc và nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Boltzmann. Ông là một nghệ sỹ piano xuất sắc và đã từng học nhạc với Anton Bruckner, nhà soạn nhạc giao hưởng danh tiếng cuối thế kỷ 19. Boltzmann đã từng chỉ ra rằng, cái công việc của Schopenhauer – phân loại nghệ thuật để đọc ra các quy tắc của chúng chỉ là một trò thông thái rởm, ngớ ngẩn và nực cười. Có thể thấy được niềm ngưỡng mộ của Boltzmann  đối với nghệ thuật và cái đẹp qua những gì ông viết: “Có lần tôi đã cười ầm lên khi đọc được rằng, có một họa sỹ đã mất nhiều ngày đêm để đi tìm một màu đơn sắc, nhưng bây giờ tôi không cười về điều đó chút nào nữa. Tôi đã khóc khi tôi nhìn thấy màu sắc của biển; tôi không hiểu vì sao tôi lại khóc chỉ vì một màu sắc. Đó là ánh trăng, hay là sự phát sáng của mặt biển trong một đêm tối thăm thẳm. Nếu có điều gì đó đáng để chúng ta ngưỡng mộ hơn cả vẻ đẹp của tự nhiên, thì đó chính là nghệ thuật của con người… Kỳ quan vĩ đại nhất của tự nhiên chính là tư duy của loài người!”  Boltzmann là một nhà sư phạm xuất sắc và đối xử rất tốt với các học trò. Một học trò nổi tiếng của ông, Lise Meitner đã viết: “Ông có một tâm hồn trong sáng, thuần khiết và một trái tim nhân hậu. Mối quan hệ của ông với các sinh viên rất mang tính nhân văn. Ông vẫn thường chơi piano cho chúng tôi nghe và nghệ sỹ piano tài năng này cũng hay kể với chúng tôi về những câu chuyện cuộc đời của ông”.  Boltzmann vẫn quan hệ tốt với những đối thủ của mình mặc dù ông có nhiều mâu thuẫn gay gắt với họ về những quan điểm triết học và khoa học. Boltzmann và Wilhelm Ostwald (1853-1932) đã thường xuyên chống đối nhau trong triết học và khoa học nhưng về mặt cá nhân, họ vẫn là những người bạn tốt. Chẳng hạn, Boltzmann đã từng đến Leipzig vì một lời mời của Ostwald. Boltzmann rất khó chịu đối với tư tưởng của Mach, thậm chí ông đã dời bỏ thành Vienna yêu dấu của mình vào năm 1900 chỉ vì có sự tồn tại của Mach ở đây. Nhưng trên thực tế, hai người này vẫn cư xử rất lịch sự và tôn trọng nhau. Thực ra, một trong những lý do quan trọng khiến Boltzmann phê phán Schopenhauer mạnh mẽ là do Schopenhauer đã sử dụng những từ ngữ bất lịch sự để chống lại các nhà triết học khác. Boltzmann nói rằng với một học giả lớn thì không thể dùng những từ ngữ đó.  Nhưng người bạn của Boltzmann thường thấy ở ông những đặc điểm giống như một đứa trẻ, ngây thơ, chất phác và thánh thiện. Ostwald đã từng gọi Boltzmann là một “kẻ lạ trên thế giới này.” Lý do khiến mọi người gọi ông là một đứa trẻ ngoan là bởi vì ông bảo vệ và tuân theo vô điều kiện những truyền thống và quy ước, nghĩa là tiếp cận những vấn đề trong khoa học và trong cuộc sống theo một con đường mở. Những thành tựu của ông đã chứng tỏ rằng, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày ông cũng nhận thức rõ mục đích của mình, nhưng những hành động của ông thường là khác thường so với những người khác. Chẳng hạn, người ta kể rằng, sau khi mua một con bò cho ngôi nhà ở ngoại ô, ông đã đến nhờ một người bạn của mình, một giáo sư động vật học cố vấn cho ông về cách lấy sữa.  Khả năng làm việc của Boltzmann thực sự là tuyệt vời. Ông đã từng làm giáo sư toán, vật lý toán, vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm. Ông có bài giảng về rất nhiều lĩnh vực như cơ học, lý thuyết nhiệt, đàn hồi, lý thuyết toán cho âm học, mao dẫn, phương pháp tính, phép tính vi phân và tích phân, lý thuyết số, các chủ đề đặc biệt về giải tích nâng cao, hình học giải tích, lý thuyết hàm số, cơ học giải tích, lý thuyết khí, lý thuyết điện và từ, nhiệt động lực học và các nguyên lý trong triết học tự nhiên. Nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng H. A. Lorentz rất ngưỡng mộ Boltzmann và đã viết về ông như sau: “Ông là một nhà vật lý thông thái, những lời của ông đã đem ông đến gần với trái tim chúng tôi hơn… Ở đây, ông chia sẻ với chúng tôi những niềm vui và cả những trăn trở, ông đã dẫn dắt chúng tôi qua cái nhìn khoa học logic về Tự nhiên”.        “Năng lượng tinh thần” và Thượng đế  Trong tranh biện triết học, Boltzmann đã từng phân tích về các dạng năng lượng vật lý và năng lượng tinh thần. Ông cho rằng, không thể xét chung hai dạng năng lượng này trong cùng một thế giới được. “Trong khoa học tự nhiên, năng lượng là một đại lượng đo được với những đơn vị thích hợp và luôn duy trì giá trị của nó sao cho nếu nó triệt tiêu ở chỗ này thì ở chỗ khác sẽ có một lượng bằng như vậy được sinh ra. Cho nên nếu muốn xây dựng một khái niệm năng lượng tinh thần tương đương với năng lượng vật lý thì phải chứng minh rằng, năng lượng tinh thần cũng đo bằng đơn vị giống như năng lượng vật lý và một lượng của nó được sinh ra thì một lượng năng lượng vật lý chính xác bằng với lượng đó sẽ phải mất đi. Tuy nhiên, việc chứng minh nhận định này không thể nào thực hiện được. Bởi vì nó hoàn toàn sai. Sự tương đương giữa các các hiện tượng tinh thần và những quá trình vật lý của bộ não sinh ra khả năng là tất cả năng lượng được duy trì không đổi dưới dạng vật lý của nó bên trong khối lượng bộ não. Toàn bộ những quá trình tinh thần chỉ là những hiện tượng phụ tương đương và có lẽ cũng chỉ là một bức tranh thứ hai của các quá trình vật lý được nhìn ở một góc độ khác, mà cái đó thì chắc chắn là không chứa đựng bất cứ loại năng lượng mới nào có ý nghĩa vật lý”. Theo Boltzmann, việc phổ biến cái gọi là lý thuyết về năng lượng tinh thần trong khoa học vật lý là không đúng. “Năng lượng vật lý và cái mà tôi gọi là năng lượng tinh thần là hai thứ hoàn toàn khác nhau, được gọi bởi cái tên giống nhau chỉ vì có một sự tương tự hời hợt. Tôi nghĩ là sai lầm khi người ta nói mà không phân biệt được các khái niệm về lý thuyết năng lượng trong cơ học, hóa học với các hiện tượng tinh thần như sự vui vẻ và những thứ tương tự”.  Triết học của Boltzmann được coi là chủ nghĩa duy vật hiện thực (realism-materialism). Ông viết: “Chắc chắn là, chỉ một người điên mới phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế. Nhưng điều này cũng tương đương với trường hợp là, tất cả các ý tưởng của chung ta về Thượng đế chỉ là những thuyết phỏng theo người (anthropomorphism) không dựa trên phương pháp luận khoa học chính thống. Thành ra, theo cách đó, những điều chúng ta tưởng tượng về Thượng đế sẽ không tồn tại. Nếu một người tin là Thượng đế tồn tại và một người khác không tin Thượng đế tồn tại thì có lẽ cả hai người đều nghĩ cùng những suy nghĩ mà thậm chí không nghi ngờ về nó. Chúng ta không được hỏi liệu Thượng đế có tồn tại hay không trừ phi chúng ta có thể tưởng tượng được điều gì đó xác định khi nói như vậy. Thay vào đó, chúng ta phải hỏi rằng, bằng những ý tưởng nào để chúng ta có thể đến gần hơn tới cái khái niệm cao nhất mà có thể bao quát mọi thứ.”  Cái chết                  Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Boltzmann suy sụp nghiêm trọng. Ông đã thường xuyên tham gia vào những cuộc tranh cãi đầy mệt mỏi của mình. Thị lực của ông suy giảm đến mức ông phải thuê một người đọc các bài báo khoa học cho ông. Vợ ông cũng phải viết các tác phẩm ra giấy giúp ông. Ngoài căn bệnh hen suyễn vẫn dày vò hàng đêm, ông còn bị đau đầu nặng do làm việc quá nhiều. Tuy vậy, Boltzmann đã không bao giờ chú trọng đến sức khỏe, ông đã hy sinh nó cho những nghiên cứu miệt mài của mình.  Luwig Boltzmann, một trong những tư duy vĩ đại nhất của mọi dân tộc và mọi thời đại đã tự vẫn vào ngày 5/9/1906. Rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng thời đó đã đến dự đám tang của ông với niềm kính trọng và thương tiếc. Cái chết của Boltzmann còn buồn hơn bởi vì lúc sinh thời chính ông đã từng nói rằng, ông không muốn chết bởi vì cái chết sẽ ngăn cản ông muốn được chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học. Boltzmann được chôn cất ở nghĩa trang trung tâm của thành Vienna. Trên ngôi mộ bằng đá của ông có khắc phương trình entropy S = k log W. Phương trình này là thành tựu khoa học vĩ đại nhất của Boltzmann. Nó đã và sẽ còn in sâu trên đá qua bụi thời gian hàng thế kỷ cũng như trở thành một trong những phương trình kinh điển và có giá trị nhất trong lịch sử khoa học.  Trần Trung lược thuật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lún đất ở Hà Nội: Những mảnh ghép rời      Từ những mảnh ghép rời rạc trong quá khứ và hiện tại, liệu chúng ta có thể hiểu rõ về tình trạng lún ở Hà Nội hay không?    Lún ở khu tập thể năm tầng C1 Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội cách đây hơn 15 năm. Nguồn: Báo Tuổi trẻ  Nhưng có gì lạ với lún ở Hà Nội? Cách đây hơn 15 năm, Hà Nội đã từng chứng kiến cảnh tượng khó quên ở khu tập thể năm tầng C1 Thành Công, quận Ba Đình: mặt đất như muốn nuốt chửng hơn một nửa tầng một khiến toàn bộ tầng này chỉ còn nhô lên khỏi mặt đất chừng hơn một mét, phần cầu thang giữa hai đơn nguyên gãy gập theo đường gấp khúc, một vài cầu thang khác uốn cong theo chiều võng của tòa nhà khiến việc di chuyển được người dân sống ở đó miêu tả là “như leo thác”. Nhiều tờ báo như Tuổi trẻ, Nhân dân, CAND, Vietnamnet… vào thời điểm đó đã đồng thanh lên tiếng về hiện tượng này.  Câu chuyện này, ngày hôm nay nhìn lại, chỉ là một ví dụ rất nhỏ về hiện tượng lún trong lòng một thành phố lớn đang ngày một phát triển và mở rộng về cả diện tích lẫn dân số, thậm chí cũng chỉ phản ánh một khía cạnh của lún – lún cục bộ do tòa nhà được xây dựng trên nền đất yếu, khả năng chịu tải rất thấp trong khi hạn chế về kỹ thuật thi công móng công trình.   Vậy vì lẽ gì Hà Nội phải quan tâm đến lún, một hiện tượng mà theo góc nhìn của các nhà địa kỹ thuật như TS. Nguyễn Văn Phóng (Đại học Mỏ Địa chất) là “sự biến dạng của bề mặt đất theo phương thẳng đứng do quá trình nén chặt đất khi phải chịu các tác động của tải trọng ngoài hoặc trọng lượng bản thân đất”? Trong một, hai năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã không ngừng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ rủi ro từ lún đối với các vùng đồng bằng châu thổ có tình trạng khai thác quá mức nước ngầm, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển với sự yếu kém của hệ thống quản lý tài nguyên nước. Một trong số đó, “Mapping the global threat of land subsidence” (Lập bản đồ mối nguy lún đất toàn cầu) xuất bản trên tạp chí Science vào tháng 1/2021, đã đưa Hà Nội, TP.HCM, ĐBSCL và một số thành phố khác ở Đông Nam Á vào danh sách 200 địa điểm (phần lớn là đô thị) thuộc 34 quốc gia khắp thế giới nếm trải lún đất trong vòng một thế kỷ qua.     Không giống như những thảm họa tự nhiên khởi phát một cách đột ngột và thường diễn ra trong khoảng thời gian giới hạn theo giờ như động đất, trượt lở…, lún kéo dài hàng thập kỷ và chất chứa nhiều chi tiết phức tạp mà những góc nhìn khác nhau có thể dẫn đến những diễn giải và kết luận khác nhau. Lún, bản thân nó đã là một phép thử của lòng kiên nhẫn.    Hà Nội, thành phố nằm trọn vẹn trong lòng đồng bằng châu thổ sông Hồng và chính thức khai thác nước ngầm từ năm 1894, hiện giờ phải đối mặt với tình trạng lún như thế nào? vì sao lại lún? những kịch bản nào sẽ xảy ra ở tương lai? liệu có thật sự rủi ro?… Những câu hỏi ấy, đặt ra thì dễ nhưng quả thật không dễ trả lời. “Lún là một quá trình phức tạp liên quan đến rất nhiều nguyên nhân, ví dụ bản thân vận động của Trái đất chẳng hạn. Dù Hà Nội có nhiều tiền đề [có thể] gây ra lún như các thành phố khác nhưng để nói [hiện trạng] đó là lún và [từ đó] dẫn đến chính sách giảm lún thì phải có đầy đủ cơ sở, nghĩa là phải có những nghiên cứu đa thành phần về lún”, một nhà khoa học có thâm niên vài thập kỷ nghiên cứu về lún ở Đông Nam Á, cho biết như vậy.  Lún từ các góc nhìn  Có thể thấy phần lớn các nền văn minh trên thế giới đều khởi phát trên các đồng bằng châu thổ và duyên hải. Địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ và nguồn nước dồi dào là những điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng. Tuy nhiên, việc tận dụng những lợi thế đó để đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng của các cộng đồng cư ngụ trên đất lành cũng có ngày dẫn đến những rủi ro mới. “Nước là máu của con người và máu của mọi sự sống trên trái đất”, như lối ví von của chuyên gia Liên Hợp quốc về môi trường David R. Boyd, do đó, cũng như các đô thị lớn khác, Hà Nội khát nước sạch. Trả lời Kinhtedothi.vn vào tháng 4/2021, ông Lê Văn Du, phó phòng Hạ tầng kỹ thuật (Sở Xây dựng HN), cho biết, tổng công suất các nguồn nước sạch tập trung toàn thủ đô đạt 1.520.000m3/ngày đêm, trong đó tổng công suất của Công ty Nước sạch HN gần 600.000 m3/ngày đêm. Từ những mũi khoan đầu tiên tại làng Thạch Khối và Yên Định để hình thành bốn giếng thuộc nhà máy nước Yên Phụ (tiền thân của Công ty Nước sạch HN Hawacom) với tốc độ hút 40.000 m3/ngày đêm vào năm 1909, đến nay, Hawacom có 12 nhà máy và một số trạm cấp nước nhỏ khai thác nước ngầm. Tuy nhiên, Hawacom không là nơi duy nhất của Hà Nội khai thác trữ lượng nước ngầm quý giá bởi ngoài ra còn có khai thác đơn lẻ của một số cơ quan, nhà máy…, chưa kể hàng triệu giếng khoan tự phát tại các hộ dân, theo lời giáo sư Trần Đức Hạ, Viện trưởng Viện Cấp, thoát nước và Môi trường (Hội Cấp Thoát nước VN) được Hà Nội mới trích dẫn vào tháng 4/2022.  Bản đồ dự đoán lún Hà Nội vào năm 2013 của TS. Phí Hồng Thịnh (ĐH Giao thông vận tải HN). Nguồn: NXB Elvervier  “Ở Hà Nội này, người ta hút nước ngầm khắp mọi nơi”, một nhà nghiên cứu ẩn danh nhận xét. Sau hơn một thế kỷ khoan hút nước ngầm, điều gì sẽ xảy ra? Nguồn nước ngầm Hà Nội nằm ở bốn tầng chứa nước chính là tầng Holocene (chủ yếu các giếng tự phát khoan xuống tầng Holocene), tầng aquifer, tầng Pleistocen (chủ yếu các nhà máy của Hawacom khoan xuống tầng Pleistocen với độ sâu khoảng 30–80 m) và tầng Neogen. Các tầng chứa nước này thường trữ “mỏ” nước quý trong các khoảng không gian rỗng được sắp xếp theo một trật tự ngẫu nhiên giữa các lớp cát sỏi hoặc đất sét. Sự suy giảm của nước, dù được hút ra từ tầng nào, cuối cùng cũng dẫn đến hệ quả là khoảng không gian giữa các hạt cát sỏi bị nén lại. Điều này tạo ra sự cố kết mới trong lòng đất và làm biến dạng bề mặt đất. Đó là một quá trình dẫn đến lún.  Lún ở Hà Nội không xuất hiện trong một ngày. Nó diễn ra một cách chậm chạp và dần dần giống như mực nước biển dâng, nghĩa là có thể âm thầm xê dịch mỗi năm chỉ vài đến vài chục milimet nên không thể nhận biết trực quan bằng mắt thường. Theo dữ liệu thu thập vào năm 1998 ở trạm quan trắc đặt tại sáu nhà máy nước Ngọc Hà, Pháp Vân, Thành Công, Lương Yên, Hạ Đình, Mai Dịch, tốc độ lún hằng năm giữa các khu vực này không đều nhau: khoảng 30 mm tại Thành Công, 20 mm tại Pháp Vân, 10 mm tại Hạ Đình, Lương Yên trong khi Mai Dịch là 3 mm và Ngọc Hà 1mm. “Có thể giải thích sự khác biệt về lún tại những địa điểm khác nhau là do các điều kiện về đất cục bộ, thời gian và tốc độ khai thác nước ngầm, sai số trong quan trắc dữ liệu và thời gian đất bị nén chặt”, PGS. TS Phạm Huy Giao và cộng sự lý giải vào năm 2000 1.     Sự suy giảm của nước, dù được hút ra từ tầng nào, cuối cùng cũng dẫn đến hệ quả là khoảng không gian giữa các hạt cát sỏi bị nén lại. Điều này tạo ra sự cố kết mới trong lòng đất và làm biến dạng bề mặt đất. Đó là một quá trình dẫn đến lún.    Có thể đoán nhận được chỉ báo của lún thông qua sự mở rộng của các phễu hạ thấp mực nước – diện tích khu vực có mực nước suy giảm vì khai thác nước, phần lớn xuất hiện quanh các điểm khai thác nước ở quy mô công nghiệp. “Kể từ Chương trình cấp nước Phần Lan bắt đầu từ năm 1986, công suất khai thác nước dưới đất gia tăng đã góp phần cải thiện đời sống người dân nhưng cũng làm mở rộng các phễu hạ thấp mực nước tại các lỗ khoan”, TS. Trần Quốc Cường, Viện phó Viện Địa chất (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), cho biết.   Năm 2015, TS. Phí Hồng Thịnh (ĐH Giao thông vận tải HN) và cộng sự đã thử lập bản đồ lún cho Hà Nội2. Theo đó, người ta có thể hình dung bản đồ dự đoán lún vào năm 2013: phần lớn các khu vực ở quận Thanh Xuân, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng và một phần ở quận Đống Đa, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ, Cầu Giấy, Từ Liêm và Thanh Trì năm 2013 bị lún quá 30 cm; trong khi các khu vực quanh các nhà máy nước lún từ 60 đến 90 cm; còn các khu vực ngoài phễu như Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thường Tín, Chương Mỹ, Quốc Oai, Hoài Đức, Mê Linh…, độ lún từ 0 đến 10 cm. “Theo bản đồ này, từ năm 2006 đến 2013, vùng trung tâm Hà Nội lún với tốc độ 1,25 đến 3,75 cm, và lún lớn nhất ở Hạ Đình và Hoàng Mai với tốc độ 7,5 đến 11,25 cm)”, Nguyễn Minh, một nhà nghiên cứu trẻ ở Viện Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học Đài Loan-Academia Sinica), nhận xét.   Tuy nhiên, nếu áp dụng các phương pháp khác nhau và quãng thời gian đánh giá dài hơn thì các kết quả tính toán về lún và dự báo lún cũng khác biệt. “Nếu nhìn vào góc nhìn rộng hơn là lún theo vùng, chúng ta sẽ thấy, một số vùng trước đây như trung tâm Hà Nội hay được mặc định là lún nhưng thực ra tương đối ổn định, tốc độ lún tương đối thấp dưới 1cm/năm”, Nguyễn Minh nói. Trong vòng ba năm, anh và cộng sự nghiên cứu về lún ở Hà Nội dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh thu nhận trong 12 năm và dữ liệu nước ngầm 22 năm3. “Vùng lún không chỉ ở trung tâm Hà Nội mà còn xuất hiện ở các khu đô thị vệ tinh như Hà Đông và Hoài Đức. Trong đó, Hà Đông là một điểm nóng với tốc độ lún 5 cm/năm”, anh cho biết và đề xuất nguyên nhân là “sự gia tăng khai thác của nhà máy nước, đặc biệt từ năm 2015. Bên cạnh đó, cấu trúc dễ lún/nén của hệ tầng chứa nước cũng có thể là tạo ra vùng lún lớn về cả diện và lượng”.   Tưởng chừng vào lúc có thể hiểu được vấn đề lún ở Hà Nội thì bất ngờ lại mở ra. Khi thực hiện nghiên cứu, TS. Trần Quốc Cường và nhóm nghiên cứu đã nhận thấy, không phải cứ nơi nào có hạ thấp mực nước dưới đất cũng gây ra biến dạng bề mặt đất. Thực tế, những điểm nóng về lún bề mặt đất ở Hà Nội hội tụ đủ cả hai yếu tố nêu trên (ngoài trừ lún công trình do xây dựng)4.  Tránh sao khỏi lún?  Một trong những hệ quả của lún là làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt. Ảnh: Một đoạn phố Liễu Giai sau những đợt mưa lớn tháng 5/2022. Nguồn: Báo QĐND  Lún của Hà Nội, thật ra là một câu chuyện phức tạp hơn người ta tưởng. Sự biến dạng bề mặt đất là kết quả của rất nhiều điều kiện tự nhiên và nhân sinh. Do đó, “bao giờ cũng vậy, cần phải xét đến các điều kiện cần và đủ một cách cụ thể để đi đến kết luận có lún hay không”, TS. Nguyễn Văn Phóng nhận xét.  Với một thành phố phát triển trên nền đất nhiều hệ tầng đan xen như Hà Nội, điều kiện cần cho lún bao giờ cũng sẵn có. Đó là lý do khi thực hiện đề tài, TS. Trần Quốc Cường và cộng sự đã đối chiếu với các nghiên cứu trước, so sánh giữa vùng lún bề mặt đất xác định từ kỹ thuật ra-đa giao thoa từ dữ liệu ra-đa vệ tinh và cấu trúc địa chất công trình khu vực Hà Nội để lần nữa khẳng định những nhân tố quan trọng, tiền đề của lún là đặc điểm cấu trúc địa chất công trình, liên quan trực tiếp đến sự phân bố của lớp đất yếu thuộc hệ tầng Hải Hưng – một hệ tầng mà theo TS. Nguyễn Văn Phóng, được hình thành vào thời kỳ Holocene sớm giữa, bao gồm đất sét, thực vật hóa than bùn có độ dày từ vài mét đến vài chục mét. Cùng với các điều kiện tự nhiên (điều kiện cần), “hạ thấp mực nước dưới đất do khai thác nước tập trung là điều kiện đủ gây ra hiện tượng biến dạng bề mặt đất tại Hà Nội”, TS. Trần Quốc Cường cho biết.   Về nguyên tắc, nước ngầm gánh một phần tải trọng của lớp đất bên trên. Vì vậy, việc hạ thấp mực nước ngầm đã làm tăng thêm tải trọng tác động lên đất, từ đó gây ra lún.    “Vùng lún không chỉ ở trung tâm Hà Nội mà còn xuất hiện ở các khu đô thị vệ tinh như Hà Đông và Hoài Đức. Trong đó, Hà Đông là một điểm nóng với tốc độ lún đạt 5 cm/năm”. (Nguyễn Minh, Viện Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học Đài Loan – Academia Sinica).    Có một vấn đề là do diễn tiến về lún thường quá chậm so với những tai biến thiên nhiên khác như động đất, núi lửa… nên thường bị bỏ qua hoặc nếu có quan tâm thì cũng không đúng mức. Người ta chỉ nhận biết đến lún khi bắt đầu xảy ra thiệt hại cho các kiến trúc hoặc cơ sở hạ tầng, hoặc làm gia tăng diện tích ngập lụt ở khu vực đồng bằng châu thổ, nhà khoa học địa chất Gerardo Herrera-García (Viện Mỏ và Địa chất Tây Ban Nha), người tham gia lập bản đồ nguy cơ lún toàn cầu, lưu ý với Wired.  Trong mối quan tâm về lún, Hà Nội cũng không ngoại lệ, phần vì thành phố này hiện còn phải đối mặt với quá nhiều vấn đề nóng liên quan trực tiếp đến bài toán quy hoạch. Dẫu vậy, cũng có thời điểm, Hà Nội đã đi đến quyết định quan trọng là giảm công suất khai thác nước ngầm và bổ sung ba nhà máy cung cấp nước mặt. Tuy vậy, lún không phải là nguyên nhân duy nhất khiến các nhà quản lý phải cân nhắc ra quyết định. Một số nghiên cứu về cơ chế giải phóng arsenic từ trầm tích vào nước ngầm, quá trình vận chuyển arsenic giữa các tầng ngậm nước, dự đoán vùng ô nhiễm arsenic… của giáo sư Phạm Hùng Việt (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) và cộng sự đã trở thành điều kiện đủ để góp phần đưa Hà Nội ra khỏi danh sách gồm rất ít thành phố trên thế giới có hệ thống cung cấp nước phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác nước ngầm.  Tuy nhiên, đất đai vẫn luôn lưu giữ trong lòng nó những bí mật của riêng mình. Không phải lúc nào nhà khoa học cũng có cơ may hiểu được trọn vẹn một cơ chế, một quá trình có quá nhiều yếu tố đan xen như lún. Có những vấn đề chỉ được bóc tách dần dần theo thời gian. Đó là lý do mà trong thời gian gần đây, các nhà khoa học quốc tế mới phát hiện ra, việc dừng khai thác nước ngầm cũng không hẳn tối ưu về dài hạn. “Khi mực nước ngầm trong các tầng ngậm nước được dâng lên lại, nó sẽ tạo ra hiện tượng đẩy nổi. Nếu mọi người chú ý thì hiện tại đã có những nghiên cứu gần về tác hại của việc không hút nước ngầm”, một nhà nghiên cứu ẩn danh cho biết.  Do đó, sự cẩn trọng luôn là điều cần thiết của các nhà nghiên cứu về lún. “Tôi nghĩ, vấn đề ở đây là cần đưa ra được bài toán cân bằng, nghĩa là cân bằng giữa yếu tố tự nhiên và con người, giữa khai thác nước và bổ cập nước”, TS. Nguyễn Văn Phóng nói.     “Những bài toán nghiên cứu về lún hỗ trợ rất nhiều cho công tác quản lý đô thị của Hà Nội, không chỉ riêng cho nội đô mà cả vùng vành đai bên ngoài, bởi lún đất đô thị liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau như địa chất thủy văn, khai thác nước dưới đất, cơ sở hạng tầng đô thị, các công trình xây dựng…”. (TS. Trần Quốc Cường, Viện Địa chất, VAST)    Thật ra, giữ được sự cân bằng là điều rất khó, nếu đặt một thành phố có nhiều tiền đề về lún như Hà Nội vào bối cảnh biến đổi khí hậu. Theo dự tính khí hậu của GS. Phan Văn Tân (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) và cộng sự, nguy cơ hạn hán có thể xuất hiện khắp Việt Nam, trong đó đáng chú ý mùa đông hạn hán ở đồng bằng Bắc Bộ và độ dài các đợt hạn chắc chắn sẽ dài hơn vào giữa thế kỷ. Rất nhiều khả năng, nguồn nước mặt sẽ khan hiếm và Hà Nội phải tính đến việc tăng hút nước ngầm trở lại.   Hiện tại, một số nhà khoa học tư vấn phương thức bổ cập nước nhân tạo – đưa nước trở lại vào lòng đất theo những lỗ khoan. Nhưng đây cũng có thể là cách làm thất bại, địa chất có những quy luật của riêng nó. Các hệ tầng lưu giữ trong lòng nó dấu vết những lần biển thoái, biển tiến hơn 20 triệu năm trước và cả tác động của con người ngày nay. Một khi việc khai thác nước đã làm mất đi các lỗ rỗng thì nó có thể làm suy sụp cấu trúc của một tầng chứa nước, không có cách nào đưa nó về trạng thái ban đầu được nữa – đó là hệ quả của quá trình biến dạng không đàn hồi. Theo một nghiên cứu theo dõi lún ở San Joaquin Valley trong vòng 65 năm của nhóm nhà khoa học ĐH Stanford mới công bố vào tháng 4/2022, ngay cả khi bổ cập nhân tạo thì cũng không thể đảo ngược tình thế và không thực tế nếu đặt kỳ vọng mặt đất sẽ được nâng lên bằng khoảng một phần ba so với vị trí cũ.  Có cần nghiên cứu lún?  Không ai có thể bỏ qua lún trong bài toán quy hoạch đô thị. Nguồn: zing.vn  So với Tehran (Iran), thành phố có tốc độ lún nhanh hàng đầu thế giới ở mức 25 cm/năm, Hà Nội vẫn còn quá yên bình. Vậy thì tại sao Hà Nội phải quan trắc và nghiên cứu về lún? Lẽ giản đơn là không ai có thể bỏ qua lún trong bài toán quy hoạch đô thị. “Những bài toán nghiên cứu về lún hỗ trợ rất nhiều cho công tác quản lý đô thị của Hà Nội, không chỉ riêng cho nội đô mà cả vùng vành đai bên ngoài, bởi lún đất đô thị liên quan đến nhiều  lĩnh vực chuyên môn khác nhau như địa chất thủy văn, khai thác nước dưới đất, cơ sở hạng tầng đô thị, các công trình xây dựng…”, TS. Trần Quốc Cường trao đổi.   Rõ ràng, bài toán lún không chỉ đơn thuần là đo đếm hằng năm độ hạ thấp mặt đất mà còn đem lại những tham số quan trọng để giải những bài toán khác. Ví dụ, PGS. TS Phạm Huy Giao và cộng sự đã tìm hiểu tác động có thể có của lún đối với tuyến đường sắt đô thị đang được xây dựng, Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo chạy qua trung tâm Hà Nội dài 11,5km (8,9km ngầm). Dựa trên dữ liệu đất từ 30 lỗ khoan khảo sát có độ sâu 60 mét để phân tích, xác định đặc điểm của cấu tạo địa chất bên dưới tuyến đường, kết hợp với các dữ liệu khác và các mô hình, ông đã dự báo sự phân bố, diễn biến lún và tổng độ lún sau 25 năm. Do đó, ông cho rằng, cần phải xem xét vấn đề lún trong quá trình xây dựng và bảo trì các tuyến đường sắt trên cao ở Hà Nội, đặc biệt đối với đoạn ngầm được xây dựng trên lớp đất sét mềm5.  Theo cách như vậy, những thông tin từ lún bề mặt đất sẽ vô cùng quan trọng khi Hà Nội ngày một tiến tới khả năng trở thành siêu đô thị và đặt mục tiêu “smart city” vào năm 2030. Hào hứng khi thấy tiềm năng của dữ liệu lún có thể đóng góp vào mục tiêu này, TS. Trần Quốc Cường cho rằng, “có thể đây sẽ là một cách tiếp cận góp phần đánh giá và cảnh báo tốt hơn vấn đề biến dạng bề mặt đất khu vực Hà Nội theo thời gian, qua đó hỗ trợ công tác quy hoạch, quản lý thành phố, trong đó có quản lý rủi ro do tai biến lún bề mặt đất. Việc bắt đầu xây dựng dữ liệu lớn nêu trên cũng phù hợp với định hướng xây dựng thành phố thông minh của Hà Nội”. Theo giải thích của anh, việc xây dựng dữ liệu lớn về lún của Hà Nội trước hết ưu tiên khu vực nội đô gồm các lớp thông tin về cấu trúc địa chất công trình, địa chất thủy văn, sử dụng đất, công trình xây dựng, công trình ngầm, phân bố giếng khai thác nước tập trung và công suất khai thác, quan trắc lún theo diện theo điểm, kết hợp với các mô hình tính toán xử lý trên các máy tính hiệu năng cao.  Ngay cả đặt mục tiêu như vậy thì hiện Hà Nội vẫn còn phải vật lộn với những vấn đề rất cơ bản của mọi thành phố như giao thông, môi trường, nước sạch, xử lý chất thải… Đương nhiên, việc quan trắc lún bề mặt đất một cách liên tục và thường xuyên vô cùng hữu ích với các nhà quản lý trong quy hoạch đô thị. Tuy vậy, để các kết quả nghiên cứu như vậy thành lời tư vấn chính sách cần phải rất nhiều nỗ lực. Hầu hết các nhà nghiên cứu về lún ở Hà Nội đều thừa nhận, một trong những cái khó của họ là dữ liệu dài hạn và đủ tốt để có thể giúp hình thành một bức tranh toàn cảnh và tiến triển theo thời gian. Nghiên cứu thường được thực hiện trên quy mô nhỏ nên cũng gặp giới hạn, ví dụ khi lập bản đồ lún, TS. Phí Hồng Thịnh lấy số liệu từ các trạm đo đặt ở các vị trí lún với tốc độ lớn trong giai đoạn trước. Nhược điểm của cách làm này là phải nội suy từ số lượng trạm nhỏ, phân bố trạm thưa trong khi giá trị các tham số của hệ tầng chứa nước trong một diện tích nhỏ lại thay đổi rất nhanh… “Số liệu liên quan đến lún ở Hà Nội hay TP.HCM từ năm 1999 đến giờ đều không tốt và không thể truy cập được. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên công khai về lún, về hạ mực nước ngầm. Tại sao lại ngại công khai? vì ảnh hưởng của lún, so với nhiều thứ khác, còn thấp hơn nhiều”, một nhà khoa học ẩn danh nêu quan điểm.   Việc thiếu chất liệu cơ bản đó khiến đến nay, nghiên cứu lún ở Hà Nội vẫn là những mảnh ghép rời rạc. Trên khuôn hình được dựng lên, nhiều khối chỉ là những nét phác thảo chưa định hình và những dị biệt về lún còn đang bỏ ngỏ… Giữa muôn vàn vấn đề của Hà Nội, lún dường như vẫn là một câu chuyện của lòng kiên nhẫn.□  ———  1. “Primary analysis of Hanoi land subsidence with reference to groundwater development” (Phân tích đầu tiên về lún đất Hà Nội liên quan đến phát triển nước ngầm), xuất bản trên Lowland Technology International  2. “Prediction maps of land subsidence caused by groundwater exploitation in Hanoi, Vietnam” (Bản đồ dự đoán lún đất do khai thác nước ngầm ở Hà Nội) trên Resource-Efficient Technologies.  3. “Assessment of long-term ground subsidence and groundwater depletion in Hanoi, Vietnam” (Nghiên cứu tổng thể về quá trình lún bề mặt đất và suy giảm nước ngầm dài hạn ở Hà Nội) trên Engineering Geology.  4. Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở KH và đề xuất giải pháp dự báo lún mặt đất thành phố Hà Nội bằng kỹ thuật ra-đa giao thoa” (2012- 2015)  5. “Land subsidence prediction for a new urban mass rapid transit line in Hanoi” (Dự đoán lún đất cho một tuyến đường sắt đô thị mới ở Hà Nội) trên Underground Space.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Lược giải về thuyết Tương Đối Hẹp      Ai trong chúng ta đi máy bay, sau khi máy đã vút lên cao để bay đều đều, mà có thể cảm thấy mình di chuyển với vận tốc khoảng ngàn cây số trong một giờ?        Hơn bốn trăm năm trước đây Galileo Galilei cũng đưa ra một ví dụ tương tự mở đầu cho nguyên lý tương đối mang tên ông: trong hầm kín của một chiếc tàu thủy di chuyển thẳng và đều đặn (vectơ vận tốc cố định, không thay đổi với thời gian), ta hãy quan sát những con bướm bay và những giọt nước tí tách rơi. Nay tàu đứng yên, cách thức bướm bay và nước rơi vẫn như khi tàu di chuyển, chẳng có gì thay đổi. Rồi tàu lại di chuyển nhưng với vận tốc và chiều hướng cố định khác, bướm vẫn bay và nước vẫn rơi hệt như trước. Nói cách khác: những định luật vật lý miêu tả sự vận hành của các hiện tượng tự nhiên (bướm bay, nước rơi) không thay đổi trên tàu di chuyển thẳng và đều, kể cả tàu dừng ở bến. Người ở trong tàu nếu chỉ quan sát đo lường những hiện tượng trong tàu mà không tiếp xúc với bên ngoài để so sánh thì chẳng sao biết là tàu đứng hay đi, và đi với vận tốc nào, chiều hướng nào. Nói cách khác, di động đều đặn chỉ là chuyện tương đối, chẳng sao phân biệt bến hay tàu cái nào đứng yên, cái nào chuyển vận.   Nguyên lý tương đối được Galilei tóm tắt trong một câu ngắn gọn ‘’di chuyển đều đặn cũng như không’’, hàm ý là định luật cơ học không thay đổi dạng trong các hệ quy chiếu quán tính1, ví dụ của hai hệ quy chiếu quán tính: K bất động còn K’ di chuyển đều đặn  so với K. Vì chuyển động của một vật (kể cả ánh sáng) là sự thay đổi vị trí không gian của vật đó theo thời gian, nên ta gọi tọa độ của đa tạp không- thời gian bốn chiều trong K  là x, y, z, t (toạ độ của không gian ba chiều là x, y, z và của thời gian là t) còn toạ độ trong K’ là x’, y’, z’, t’. Đa tạp đó có tung độ là trục thời gian t, còn hoành độ là không gian ba chiều với 3 trục Ox, Oy, Oz. Phương trình diễn tả sự vận hành của cùng một sự kiện vật lý trong K và K’ đều phải có chung một dạng: f(x, y, z, t) = f (x’, y’, z’, t’), hàm số f chỉ định một định luật vật lý nào đó.  Khi nguyên lý này áp dụng cho hiện tượng điện-từ để diễn tả vận tốc ánh sáng c không thay đổi trong mọi hệ quy chiếu quán tính thì hàm f(x, y, z, t) mang dạng x² + y² + z² – (ct)². Bất kỳ lúc nào và ở đâu cũng tồn tại một đại lượng s²≡ x² + y² + z² – (ct)² bất biến và = 0 vì c = r/t với r² = x² + y² + z².   Đồ thị của phương trình s² ≡ x² + y² + z²  – (ct)² trong đa tạp bốn chiều không-thời gian là một cái nón ánh sáng2 (light cone) và biểu thức x² + y² + z² – (ct)² đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự khám phá thuyết tương đối hẹp và rộng như ta sẽ thấy.  I- Không cần ether để truyền đi sóng điện-từ  Khởi đầu là một hiện tượng mà Albert Michelson và Edward Morley phát hiện năm 1887, nó trái ngược với trực giác và định kiến của mọi người trước năm thần kỳ 1905 (năm Albert Einstein sáng tạo ra thuyết tương đối hẹp). Như sóng nước và sóng âm thanh theo thứ  tự là dạng dao động tuần hoàn của nước và của không khí, những loại sóng đó cần nước và cần không khí để truyền đi. Vì vậy định kiến ăn sâu vào tâm khảm mọi người thời đó cho rằng phải có một chất liệu gọi là ether để nhờ đó sóng ánh sáng dao động, không ai tin là sóng điện-từ có thể truyền trong chân không, chẳng cần môi trường chất liệu nào. Vì ánh sáng đến với ta từ các thiên thể xa xăm, ether phải trải rộng tràn ngập khắp vũ trụ không gian, đâu và lúc nào cũng có, như vậy ether được coi là một hệ quy chiếu tuyệt đối bất động. Nay ta hãy thay bến bằng ether và tàu bằng trái đất di động trong ether.   Lấy trường hợp vận tốc v song song cùng chiều với trục Ox như một thí dụ cụ thể của hai hệ quy chiếu quán tính đơn giản nhất là J (bến) và J‘ (tàu). Theo cơ học cổ điển của Isaac Newton, nếu vận tốc ánh sáng đo trên bến là c thì người đứng trên bến sẽ nghĩ rằng vận tốc ánh sáng phát ra ở trên tàu phải là c ± v (luật cộng trừ vận tốc) tùy theo ánh sáng chạy song song cùng chiều hay ngược chiều với tàu. Cũng vậy, người trên tàu khi đo vận tốc ánh sáng cũng sẽ thấy vận tốc đó phải khác vận tốc ánh sáng truyền đi trên bến, sự khác biệt đó sẽ cho ta v. Michelson và Morley tìm kiếm vận tốc của làn gió ether thổi so với trái đất coi như đứng yên bằng cách đo lường sự khác biệt khoảng cách mà ánh sáng truyền đi theo hai chiều thẳng góc với nhau (song song với v và thẳng góc với nó như một ví dụ điển hình). Khoảng cách khác biệt đó, nếu có, sẽ được phát hiện bằng hiện tượng giao thoa ánh sáng, nhưng sau bao lần tìm kiếm hai vị chẳng thấy chút khác biệt nào và như vậy vận tốc ánh sáng không thay đổi trong bất kỳ chiều hướng nào nó phát ra trên trái đất, do đó chẳng sao phát hiện nổi sự hiện hữu của ether.  Dùng kết quả thực nghiệm này, Einstein bèn chấp nhận nguyên lý tương đối áp dụng cho hiện tượng điện-từ như một tiền đề, theo đó vận tốc ánh sáng c (khoảng 300 ngàn km/s) bao giờ cũng bằng nhau trong tất cả các hệ quy chiếu quán tính, như vậy giả thuyết chất liệu ether tràn ngập vũ trụ không cần thiết nữa. Dùng tiền đề này, ông suy diễn những hệ quả và đề xuất cũng như tiên đoán những hiện tượng kiểm soát đo lường được. Tiếp cận cách tân như vậy khởi đầu từ Galilei – trong đó suy luận, phê phán bằng lý tính và kiểm chứng bằng thực nghiệm đóng vai trò chủ đạo – là bài học sâu xa cho hậu thế và tiếp tục làm kim chỉ nam cho tiến trình nghiên cứu sáng tạo của khoa học ngày nay. Phương pháp giải đáp của Einstein khác hẳn cách thức của Hendrik Lorentz và Henri Poincaré vì hai vị (và nhiều nhà vật lý khác) đều đề xuất một vài giả thuyết về lực tác động lên cách vận hành của vật chất để tìm cách chứng minh ngược lại là hiện tượng điện-từ tuân thủ nguyên lý tương đối.   Tuy hai cách tiếp cận trái ngược chiều nhau nhưng đều có chung một phương trình để diễn tả vận tốc ánh sáng c trong hai hệ quy chiếu quán tính K và K‘ phải như nhau, c = r/t = r’/t’ với r² = x² + y² + z², r’² = x’² + y’² + z’²:   s² ≡  x² + y² + z² – (ct)²  =  x’² + y’² + z’² – (ct’)² .         Các tọa độ bốn chiều (x, y, z, t) và (x’, y‘, z’, t’) của hai hệ quy chiếu phải liên kết, hoán chuyển giữa chúng với nhau như thế nào để sao cho đại lượng s² không thay đổi, hay bất biến.   II- Hoán chuyển Lorentz của không-thời gian và Cơ học tương đối tính   Trong trường hợp vận tốc v song song cùng chiều với trục Ox của 2 hệ quy chiếu J   và  J  ‘ nói trên thì đẳng thức bất biến s² thu hẹp thành s² ≡  x² – (ct)²  = x’² – (ct’)²  vì y = y’ và z = z’. Nếu như x² + (ct)² = x’² + (ct’)² (dấu cộng thay dấu trừ trong s²) thì sự hoán chuyển các tọa độ (x, ct) để thành (x’, ct’) sẽ là phép quay các tọa độ (x, ct) một góc φ:    x’ =  x cosφ – (ct) sinφ;   (ct’) =  (ct) cosφ + x sinφ      Tính toán cho biết tanj chính là v/c. Thực thế một quan sát viên đứng ở điểm x’ = 0 chẳng hạn cho ta: x’ =  x cosφ – (ct) sinφ = 0 →  x/ct º v/c = tanφ.   Sự thay đổi dấu (+ ↔ -) trong s² dẫn đến thay đổi lượng giác hyperbolicφ ↔ iφ (i2 = – 1)  cosφ ↔ chφ, sinφ ↔  shφ ↔,  cos2φ ↔ + sin2φ = 1↔ ch2φ- sh2φ = 1  1 + tan2φ = 1/cos2φ ↔ 1 – th2φ = 1/ch2φ.   Để cho x² – (ct)²  = x’² – (ct’)² thì sự hoán chuyển giữa các tọa độ (x’, ct’) và (x, ct) sẽ là:   x’ =   x chφ – (ct) shφ  (ct’) = (ct) chφ – x shφ;   với thφ = v/c. Gọi β ≡ v/c và γ ≡ 1 ⁄ √1− β2, ta có: x’ = γ (x – vt)       (I)  ct’ = γ (ct – βx)  hay  t’ = γ (t = xv/c2).    Ngược lại, hệ quy chiếu J  chạy với vận tốc – v so với hệ quy chiếu J ‘ và như vậy ta có: |  x = γ (x’ + vt’)        (I’)  ct = γ (ct’ + bx’)  hay  t = γ (t’ + x’v/c2).    Sự hoán chuyển không gian và thời gian hỗn hợp nhau như vậy trong công thức trên thường được gọi là phép hoán chuyển Lorentzii 3 đặc biệt. Dùng phép hoán chuyển này, ta kiểm chứng dễ dàng là khi x = ct thì tự động ta cũng có x’ = ct’ kèm theo, vận tốc ánh sáng – đo lường trong các hệ quy chiếu quán tính di chuyển với bất kỳ vectơ vận tốc cố định v nào – đều giống hệt nhau và bằng c.   Cũng trong hai hệ quy chiếu J và J’ này, cơ học cổ điển (với thời gian phổ quát t’ = t và không gian chẳng mảy may liên hệ với thời gian) cho ta x’ = x – vt, y’ = y, z’ = z, t’ = t. Như vậy thì x² + y² + z² – (ct)² ≠ x’² + y’² + z’² – (ct’)², vế phải phụ thuộc vào v và s² không bất biến. Điều này làm đau đầu bao nhà khoa học vì không sao giải thích nổi sự mâu thuẫn giữa lý thuyết (cơ học cổ điển) và thực nghiệm (Michelson & Morley).  Einstein giải quyết mâu thuẫn trên như thế nào? Câu hỏi đầu tiên ông đặt ra là sự hỗn hợp không gian với thời gian của mấy phương trình hoán chuyển Lorentz có ý nghĩa vật lý gì hay chỉ là một hiếu kỳ toán học? Trước hết ông nhận xét là tính đồng thời của hai (hay nhiều) sự kiện phải phụ thuộc vào hệ quy chiếu, điều mà cơ học cổ điển Newton bỏ qua không xét kỹ. Thực thế nếu định nghĩa tính đồng thời ở hai điểm xa nhau A và B trên trục Ox là tín hiệu ánh sáng phát ra từ A và từ B phải đi tới trung điểm M của AB cùng một lúc, ta thấy ngay cái đồng thời của sự kiện xảy ra ở M (ngồi trên bến) phải khác cái đồng thời xảy ra ở trên tàu (chạy với vận tốc v song song với AB). Thực thế tín hiệu ánh sáng phát ra từ B để tới M (nay ngồi trên tàu) phải đến trước tín hiệu ánh sáng phát ra từ A vì ánh sáng chạy theo B và bỏ lại A đằng sau. Vì vận tốc ánh sáng c tuy rất lớn nhưng không vô hạn, nó cần thời gian ¹ 0 để gửi tín hiệu nên cái đồng thời của người đứng yên phải khác cái đồng thời của người di động. Khi phân tích kỹ lưỡng khái niệm về thời gian, Einstein nhận ra vai trò cực kỳ quan trọng của nó trong cách giải quyết mâu thuẫn.  Thêm bước nữa, sáng tạo độc đáo của Einstein là ông nhận thức rằng luật cộng trừ vận tốc trong cơ học Newton thực ra chỉ là một định kiến vì nó dựa vào một giả thuyết chưa bao giờ được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Giả thuyết đó cho rằng một mét chiều dài và một giây đồng hồ đo trên tàu cũng bằng một mét và một giây đo trên bến. Trước Einstein, chẳng ai đặt câu hỏi là đối với những vật chuyển động thì thước đo độ dài không gian và nhịp độ tích tắc của đồng hồ đếm thời gian có thay đổi hay không, và ông chứng minh là thực sự chúng phải thay đổi ra sao.  Nếu w là vận tốc đo trên tàu của bất kỳ một vật nào, còn v là vận tốc của tàu chạy so với bến đứng yên, thì vận tốc của vật đó đo trên bến là w ± v mà cơ học cổ điển đương nhiên chấp nhận. Einstein nhận thấy luật này chỉ gần đúng và ông tìm ra công thức (w ± v)/(1 ± wv/c2) thay thế nó4. Khi vật đó là ánh sáng (w = c), kỳ thú thay (c ± v)/(1 ± cv/c2) không tùy thuộc vào v nữa mà lúc nào cũng bằng c, giải thích thoả đáng thực nghiệm Michelson & Morley. Dù bay nhanh đến đâu chăng nữa, thậm chí v = 99,99% c, ta vẫn không sao đuổi kịp ánh sáng vì nó vẫn chạy xa ta với vận tốc c  như khi ta đứng yên!   Điểm then chốt là Lorentz, Poincaré, Einstein mỗi người mỗi cách khác nhau đã tìm ra công thức (I) và đặc biệt hệ số γ º 1 ⁄ √1− (v² ⁄c²) ≥ 1, chìa khoá mở đường cho cơ học tương đối tính5 thay thế cơ học cổ điển.  Hoán chuyển toạ độ t’ = t, x’ = x – vt trong cơ học cổ điển chỉ là dạng xấp xỉ của phép hoán chuyển không-thời gian t’ = γ (t – xv/c2), x’ = γ(x – vt) trong cơ học tương đối tính khi v/c « 1 hay  c ↔ ∞, γ ↔ 1. Tuy tất cả các vị đều cảm thấy là phép hoán chuyển Lorentz có thể đóng vai trò quan trọng nào đó trong cách giải thích thực nghiệm Michelson & Morley, nhưng chỉ riêng Einstein đã thành công vì ông nhận thức được bản chất của thời gian là không phổ quát mà co dãn, trong khi các vị khác vẫn tiếp tục suy luận với một thời gian duy nhất, tuyệt đối của Newton.   Thông điệp cách mạng của Einstein so với cơ học cổ điển Newton, là chẳng có một thời gian tuyệt đối và phổ quát trong một không gian biệt lập với thời gian, chúng mật thiết liên đới, mỗi thời-điểm phải gắn quyện với mỗi không-điểm trong một thực tại bốn chiều sau này gọi là thế giới Minkowski để diễn tả sự vận hành của các sự kiện vật lý, cái lúc nào phải kèm theo cái ở đâu. Sân khấu của các sự kiện không phải là thời gian, cũng không phải là không gian mà là đa tạp tích hợp: không-thời gian. Sự gắn bó chặt chẽ thời gian với không gian (qua thế giới bốn chiều Minkowski) để diễn tả các sự kiện vật lý phản ánh tính chất phong phú và độc đáo của cơ học tương đối tính. Hermann Minkowski là người đầu tiên năm 1908 đề xuất thế giới bốn chiều vì ông thấu hiểu bản chất gắn quyện thời gian với không gian của thuyết tương đối mà ngay Einstein năm 1905 cũng chưa nhận thấy khi ông gắn ký hiệu i vào thời gian t trong s2 ≡  x2 + y2 + z 2  + (it)2.   Thời gian thậm chí còn đóng vai trò thước đo độ dài của không gian, định nghĩa chính thức hiện đại của một mét là 1/(299792458) của một giây-ánh sáng. Đơn vị của độ dài không gian như giây-ánh sáng (hay năm-ánh sáng) chỉ định khoảng cách mà ánh sáng di chuyển trong một giây (hay một năm). Vân tốc c như vậy đóng vai trò hằng số cơ bản của tự nhiên.  Có muôn ức thời gian, t và t’ đều chỉ định thời gian trong hai hệ quy chiếu chuyển động với vận tốc khác nhau. Đồng hồ trong mỗi hệ quy chiếu quán tính đều có nhịp độ tích tắc nhanh chậm khác nhau, khoảng cách thời gian của mỗi hệ quy chiếu tùy thuộc vào vận tốc chuyển động của hệ ấy. Nhịp đập thời gian của bạn khác của tôi, ở mỗi điểm không gian lại gắn một đồng hồ đo thời gian với nhịp độ tích tắc khác nhau. Sở dĩ bạn và tôi tưởng rằng chúng ta chia sẻ một thời gian phổ quát, chỉ vì cộng nghiệp con người trong cái không gian quá nhỏ bé của trái đất so với vũ trụ, bạn và tôi đâu có xa nhau gì, vận tốc tương đối giữa chúng ta thấm gì so với vận tốc ánh sáng (v²⁄c² « 1, γ ≈ 1). Không có mũi tên thời gian lạnh lùng trôi của trực giác mà cơ học cổ điển Newton thừa nhận, không có cái đồng thời phổ quát và cái hiện tại của sự kiện, cái bây giờ  chẳng thể xác định và giữ vai trò ưu tiên đặc thù nào hết vì liên tục có muôn vàn đỉnh nón ánh sáng (phụ chú 2) trong thế giới Minkowski của các sự kiện, mỗi đỉnh nón là một cái bây giờ.   Hơn nữa, không-thời gian và vật chất lại hợp nhất như hình với bóng trong vũ trụ co dãn (thuyết tương đối rộng). Đã không có hiện tại thì nói chi đến quá khứ và tương lai, đó là nội dung triết học kinh ngạc của thuyết tương đối trong nhận thức về thời gian, cái ‘bây giờ’ chỉ là một ảo tưởng. Diễn tả hàm súc nhất về nhận thức này có lẽ nằm trong bức thư Einstein gửi cho con trai của Besso6 khi nghe tin bạn mất. Bức thư viết: ‘’Vậy bạn đã trước tôi một chút giã từ cái thế gian lạ lùng này. Nhưng cái đó chẳng nghĩa lý gì. Đối với chúng ta, những nhà vật lý có xác tín, sự chia cách quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là một ảo giác, dẫu nó dai dẳng đến thế nào’’.  III-Vài hệ quả kỳ diệu kiểm chứng được bằng thực nghiệm.  A- Hệ quả đầu tiên của thuyết Tương đối hẹp là khi chuyển động với vận tốc v thì một mét chiều dài không gian và một giây đồng hồ của thời gian sẽ thay đổi, khoảng cách độ dài không gian co ngắn lại và thời gian dãn nở ra. Khám phá ra điều cực kỳ quan trọng này vì Einstein thấu hiểu ý nghĩa vật lý của phương trình hoán chuyển x, t, trong khi Lorentz tuy cũng đã thấy không gian co cụm là một đáp số của phương trình nhưng cho đó chỉ là một hiếu kỳ toán học của phép hoán chuyển mà không có ý nghĩa vật lý nào khả dĩ kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Còn sự dãn nở của thời gian thì duy nhất chỉ có Einstein khám phá ra.  1- Câu hỏi là một mét mà hai đầu đặt ở hai điểm O‘ và X‘ (toạ độ x’ của J’) thì người quan sát nằm trong J  đo lường thấy là bao nhiêu ở bất kỳ một thời điểm t nào, đặc biệt  t = 0. Nói cách khác, khoảng cách OX (tọa độ x của J đứng yên) khác biệt ra sao so với khoảng cách O‘X’ di động với vận tốc v.   Phương trình x’ = γ (x – vt) của (I) với t = 0 cho ta x = x’/γ = x’√(1− v² ⁄c²). Vì O’X’chuyển động với vận tốc v nên cái thước OX (đo lường bởi một người quan sát nằm trong J ) bị co ngắn đi bởi hệ số 1/γ = √(1− v² ⁄c²) < 1. Ngược lại nếu coi OX chuyển động (với vận tốc – v)  so với O’X’ đứng yên (J  chuyển động so với J ‘ đứng yên) thì phương trình x = γ (x’ + vt) của (I’) cho kết quả tương tự x’ = x/γ = x√(1− v² ⁄c²), độ dài không gian của vật di động với vận tốc ± v  bao giờ cũng bị co ngắn bởi 1/γ = √(1− v² ⁄c²). Độ dài không gian di chuyển theo hướng song song với vận tốc v bị co, một mét trên tàu chỉ bằng √(1− v² ⁄c²) mét trên bến. Ngược lại một mét trên bến bằng √(1− v² ⁄c²) mét trên tàu. Nhưng độ dài không gian khi di chuyển theo hướng thẳng góc với v thì không thay đổi trong mọi trường hợp.   2- Cũng vậy, một độ dài thời gian (toạ độ t’ của J‘ ở bất kỳ không điểm x’ nào) nhưng đo lường bởi một người quan sát nằm trong J  chính là độ dài thời gian (toạ độ t của J ). Thời gian t của hệ quy chiếu bất động J dài hơn gấp γ lần thời gian t’của hệ quy chiếu J ‘ di chuyển với vận tốc v: t = γ t’ = t’/√(1− v² ⁄c²).   Thực thế thời gian t’ chỉ định bởi đồng hồ di động đặt ở trung tâm toạ độ O‘ (r’ = 0) cho ta  ct’ – 0 = (ct)√(1 – r²/t²c²) = (ct)√(1– v²/c²), do đó t = γt’. Một cách chứng minh khác cũng cho kết quả tương tự. Với x’ = 0, phương trình thứ nhất x’ = γ (x- vt) của (I) cho ta x = vt. Thay thế  x bằng vt trong phương trình thứ hai t’ = γ (t – xv/c2) của (I), ta có t’ = t/γ.   Một giây của đồng hồ di động bằng γ giây của đồng hồ đứng yên, thời gian ở trên bến dài gấp γ lần thời gian ở trên tàu. So với nhịp độ tích tắc của đồng hồ trên bến thì đồng hồ trên tàu đập chậm đi γ lần, nếu đồng hồ trên bến có nhịp đập mỗi tíc tắc là một giây thì nhịp tíc tắc đồng hồ trên tàu là γ giây. Các vật di chuyển càng nhanh thì thời gian của chúng càng trôi chậm, thậm chí thời gian của ánh sáng ngưng đọng như đóng băng (γ = ∞).   Từ nay ta gọi chung tất cả các τ ≡ t/γ là thời gian riêng của hệ quy chiếu chuyển động với vận tốc v, còn t chỉ định thời gian của hệ quy chiếu bất động.   Sự co dãn thời gian (nhịp độ đồng hồ đập nhanh chậm khác nhau) của các vật chuyển động với vận tốc lớn đã được thực nghiệm kiểm chứng nhiều lần từ những năm 1970 dùng đồng hồ nguyên tử đặt trên máy bay, hoả tiễn, tiếp nối bởi biết bao ứng dụng thực tiễn trong đời sống con người mà Hệ thống Định vị Toàn cầu (Global Positioning System, GPS) là một ví dụ. Trên các vệ tinh của GPS, sự chính xác cực kỳ của nhịp độ đồng hồ là điều kiện tối quan trọng cho GPS đo đạc khoảng cách không gian thành công. Trên các vệ tinh đó, thuyết Tương đối rộng cho ta hệ quả ngược với thuyết Tương đối hẹp, thời gian co cụm lại vì cường độ trọng lực trên vệ tinh giảm đi so với mặt đất. Nhưng vệ tinh GPS vì chuyển động nhanh so với mặt đất đứng yên nên thời gian trên đó cũng dãn nở theo thuyết Tương đối hẹp, như vậy ta phải kết nối hai hệ quả trái ngược nhưng khác nhau về độ lớn của sự thay đổi nhịp tích tắc đồng hồ trên vệ tinh GPS.   Câu chuyện ẩn dụ Từ thức thăm Thiên thai rồi trở về cố hương thấy cảnh vật đổi thay nhiều, thời gian dưới trần trôi quá nhanh, một kịch bản Đông phương của nghịch lý hai anh em sinh đôi, người anh bay với vận tốc cao trong vài năm rồi trở về thấy em ở lại nhà nay đã thành lão, hay chuyện khoa học cho đại chúng của nhà vật lý G. Gamow với nhân vật M. Tompkins sống trong một thế giới tưởng tượng ở đó vận tốc ánh sáng chỉ bằng 30 km/h, có bà mẹ đặt một con sơ sinh trên vòng ngựa gỗ quay với vận tốc xấp xỉ bằng vận tốc ánh sáng, còn con sinh đôi đặt ở dưới đất bên cạnh. Quên đi năm sau trở lại thấy bé trên vòng ngựa gỗ vẫn gần như xưa còn hai mẹ con trên đất già thêm là một ẩn dụ  khác7.                  B- Hệ quả tuyệt vời thứ hai là phương trình E = γmc² của thế kỷ liên kết năng lượng E khổng lồ với khối lượng m nhỏ bé của vật chất, trong một gam khối lượng tiềm ẩn một năng lượng tương đương với nhu cầu dinh dưỡng của vài chục ngàn người trong vài năm!  1-Vài điều sơ đẳng trong cơ học cổ điển  Khối lượng của vật chất là một khái niệm quan trọng trong khoa học mà nhân loại đã ý thức ít nhiều về nó ngay từ thuở các nền văn hiến ngàn xưa. Một cách định tính, ta hãy khởi đầu với cơ học cổ điển của Galilei và Newton theo đó khối lượng m của một vật được hiểu như bản tính nội tại của nó, m gói ghém “số lượng của vật chất” kết tụ trong đó.  Còn năng lượng? Dưới dạng sức nóng – mà ta gọi là nhiệt năng – có lẽ con người đã cảm nhận ra khái niệm năng lượng ngay từ thuở họ phát minh ra lửa, không phải ngẫu nhiên mà ngôn từ calorie đã được dùng để chỉ định đơn vị năng lượng. Nó là căn nguyên tác động lên vạn vật để làm chúng biến đổi dưới mọi hình thái hoặc làm chúng di chuyển. Như vậy năng lượng chẳng thể tách rời khỏi lực và để diễn tả chính xác thì năng lượng được định nghĩa như tích số của vectơ lực F nhân với vectơ chiều dài  x mà vật di chuyển do tác động của F áp đặt lên nó. Thực vậy, tích số F. x trước hết gọi là công làm ra bởi lực F tác động lên một vật. Đó là một định nghĩa hợp lý vì nó chỉ định cái công sức mà lực phải bỏ ra để làm cho vật di chuyển một đoạn chiều dài x với vận tốc v = dx/dt. Khi ta mang cho vật cái công sức của F thì vật đó phải biến đổi bởi vì nó thu nhận một năng lượng E, và ta định nghĩa năng lượng mà vật thu được chính là công của lực F mang cho nó. Vậy E = F. x, và dưới dạng vi phân dE = F.dx, ta suy ra là sự biến đổi theo thời gian t của năng lượng dE /dt chính là tích số F.v, dE/ dt = F.v mà ta sẽ dùng để tìm ra phương trình E = γmc2 của thế kỷ.  Trong cơ học có hai loại năng lượng thường được nhắc đến: thế năng và động năng. Thí dụ thứ nhất là trọng lực Fg = mg (với g = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|g| ≈ 9.81m/s2  chỉ định gia tốc tạo nên bởi trọng trường của trái đất). Sức hút Fg kéo khối lượng m rơi từ trên một độ cao h = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|x| xuống mặt đất. Vì Fg và  x song song và c‌‌ùng hướng về trung tâm trái đất nên Fg. x = mgh. Đại lượng mgh gọi là thế năng của vật đặt ở độ cao h so với mặt đất. Ở bất kỳ một điểm cao h nào đó, vật mang sẵn một năng lượng mgh tiềm tàng, một thế năng. Thí dụ thứ hai là với bất cứ một lực F nào ta cũng có dE =  F.dx, khi thay dx = vdt và F  = mdv/dt, ta có dE = mv.dv,  làm tích phân ta được E = (½)mv2, với v = ‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌‌|v|. Ta gọi năng lượng (½)mv2 là động năng. Một vật khối lượng m chuyển động với vận tốc v mang động năng (½) mv2. Một vật đứng yên (v = 0) rơi từ một độ cao h, khi chạm đất nó có vận tốc v = (2gh)½, thế năng mgh chuyển sang động năng (½) mv2, minh họa định luật bảo toàn năng lượng.  Sau hết, ta định nghĩa vectơ xung lượng p =  mv và phương trình cơ bản  F = mdv/dt nay viết dưới dạng F = dp/dt.  2- Hai con đường đến E = γmc2  Tại sao hai? Nhà vật lý kỳ tài Richard Feynman từng khuyến khích là nếu có thể thì nên suy diễn, trình bày hay chứng minh một kết quả khoa học nào đó theo nhiều phương pháp khác nhau để rọi sáng vấn đề. Tập sách tuyệt vời The Feynman Lectures on Physics có nhiều thí dụ diễn giảng theo vài cách khác nhau mà lại bổ túc cho nhau.  Trước hết cần minh định là chỉ có phương trình E0= mc2 hay E = γmc2 mới thực sự phản ánh ý nghĩa của thuyết tương đối hẹp, E thay đổi theo vận tốc của vật, động năng (½) mv2 là ví dụ cụ thể nhất, còn E0 là năng lượng khi vật đứng yên (v = 0, γ = 1). Phương trình E0 = mc2  và ΔE0 = (Δm)c2 chính Einstein đã viết ra trong công trình năm 1905. Ngoài ra Einstein còn đề xuất cách kiểm chứng E0 = mc² bằng thực nghiệm, hạt nhân phóng xạ tự nhiên (như radium) khi mất đi một chút năng lượng ΔE0 thì khối lượng nó phải giảm đi Δm = ΔE0/c² mà năm 1932 John Cockcroft và Ernest Walton ở Đại học Cambridge chứng nghiệm .     Trong cơ học tương đối tính (hay thuyết tương đối hẹp), theo Einstein8 để tránh sự mơ hồ, thậm chí nhầm lẫn về khái niệm khối lượng, ta không nên đưa ra hai ký hiệu: m(v) ≡ γm và m0 ≡ m(v = 0) theo đó m0 là khối lượng bất động của một vật và m(v) = m0/√(1− v²⁄c²) là ‘khối lượng tương đối tính’ khi vật chuyển động với vận tốc v. Tích số của γ với m không nên hiểu và truyền bá như “khối lượng thay đổi với vận tốc’’ và viết γm dưới dạng m0/√(1 –v2 /c2) trong các sách giáo khoa. Chỉ có một khối lượng m trong các định luật vật lý, không có khối lượng m0 của vật bất động hay khối lượng ‘tương đối tính’ m(v) hàm số của vận tốc v.  a- Henri Poincaré, nhà toán học uyên bác và phổ quát Pháp, năm 1900 (trước năm thần kỳ 1905) đã viết ra9 E = mc2, nhưng phương pháp thiếu nhất quán của ông để tìm ra nó khiến tác giả đã quên hẳn đi đến nỗi năm 1908, ba năm sau khi Einstein khám phá ra E0 = mc2, Poincaré – khi so sánh một vật phát xạ ánh sáng với một khẩu đại bác bắn ra một viên đạn – đã viết trong La dynamique de l’électron, Science et Méthode (1908) mấy câu sau: “Khẩu đại bác giật lùi vì viên đạn bị bắn ra đã tác động trở lại. Trường hợp vật phóng quang lại là chuyện khác, ánh sáng phát ra không phải là vật chất, đó là năng lượng, mà năng lượng thì không có khối lượng’’. Qua câu trên, Poincaré dẫu có viết ra E = mc2 thì ông đã quên nó rồi.   Poincaré tìm ra E = mc2 bằng cách nào? Trước hết, ông xem xét một chùm sóng ánh sáng có năng lượng E và xung lượng p. Theo định lý Poynting trong điện-từ thì p ≡ |p| = E/c, điều chính xác đối với photon không có khối lượng. Cái lầm của Poincaré là dùng phương trình của cơ học cổ điển p = mv (với v = c) để áp dụng cho ánh sáng vì năm 1900 ông chưa suy diễn ra hệ số quan trọng γ. Đó là nghịch lý vì cơ học cổ điển chỉ áp dụng cho những di động chậm, v « c. Kết hợp hai cái xung khắc là p = E/c với p = mc, ông thấy E = mc2, vì thiếu hệ số γ nên công thức đưa đến hệ quả sai là ánh sáng với năng lượng E có khối lượng m = E/c2 ≠ 0. Điều ngạc nhiên là ngày nay hãy còn vài tác giả Pháp bảo hoàng hơn vua khẳng định Poincaré là tác giả phương trình của thế kỷ10.  b- Cần nhắc điều quan trọng là trong thuyết tương đối hẹp, mỗi không-điểm x (3 thành phần x, y, z) phải gắn một thời-điểm t trong một thực tại không-thời gian bốn chiều Minkowski. Một tứ-vectơ không-thời gian là tập hợp có 4 thành phần mang ký hiệu xμ (x0 = ct, x1, x2, x3), với x1 = x, x2 = y, x3 = z, viết gọn là xμ (x0 = ct, x). Từ tứ-vectơ xμ, ta lập một tứ-vectơ xung lượng pμ = mdxμ/dτ, và tính toán ra bốn thành phần của pμ (p0 =  γmc, p = γmv). Dùng định nghĩa quen thuộc của vectơ vận tốc v = dx/dt, vectơ gia tốc a = dv/dt, ta tính ra đẳng thức: dγ/dt = γ3(v.a)/c2                              Phương trình F = dp/dt = md(γv)/dt cho ta F = [mγ3(v.a)/c2] v + mγa thay thế F = ma, cũng như p = mγv thay thế p = mv của cơ học cổ điển, chúng là giới hạn khi c → ∞ của cơ học tương đối tính.  c- Hai phương pháp chứng minh E = γmc2.   Cách thứ nhất dựa vào dE/dt = F.v đề cập ở đoạn 1. Dùng F =[mγ3(v.a)/c2] v + mγa vừa thiết lập, ta có F.v = mγ3(v.a), khi kết hợp nó với dγ/dt = γ3(v.a)/c2, ta được F.v = mc2 dγ/dt = dE/dt và như vậy E = γmc2.  Cách thứ hai là liên kết thành phần p0 = γmc (của tứ-vectơ xung lượng pμ) với năng lượng E, và xin chú tâm đến thứ nguyên ML2/T2 của năng lượng (ba đại lượng cơ bản, khối lượng M, chiều dài không gian L, thời gian T). Vậy phép phân tích thứ nguyên bảo ta p0 = E chia cho một vận tốc nào đó. Ta chỉ có hai lựa chọn, đó là v hay c, nhưng v không thích hợp vì nó có thể bằng 0 và đưa p0 đến một giới hạn vô tận, vậy p0  = E/c. Với p0 = γmc, ta có E = γmc2. Lựa chọn p0  = E/c còn phù hợp với trường hợp v « c, vì khi ta khai triển hệ số γm thành chuỗi (v/c)n thì ta có γmc2 ~ mc2 + (½)mv2 + (3/8)m(v4/c2 )…, ta nhận ra  γmc2 chứa đựng động năng (½)mv2 quen thuộc. Đó là phương pháp Einstein dùng để tìm ra phương trình của thế kỷ11. Hai phương trình cơ bản tóm tắt thuyết tương đối hẹp là:    E2  – |p|2c2 = m2c4                                 p  =  (E/c2) v                             Hai phương trình trên áp dụng cho mọi trường hợp của khối lượng m bằng hay khác 0. Với photon (m = 0), phương trình trên cho ta E = pc, trùng hợp với định lý Poynting. Hơn nữa ánh sáng (photon) vì không có khối lượng, nó chẳng bao giờ bất động, vận tốc lúc nào cũng bằng c, do đó tích số γm của photon mang dạng 0/0 và năng lượng E = γmc2  của nó có thể là bất cứ con số nào khác 0 và thực vậy. Ta đi vào lãnh vực của lượng tử với Max Planck: E = hν = pc. Năng lượng của photon không xác định được trong thuyết tương đối mà lại đến bằng con đường lượng tử. Tuy khối lượng bằng 0, nhưng photon có năng lượng khác 0 và bằng tần số dao động ν của nó nhân với hằng số Planck h = 6.63 x 10–34 Js.       Tạm dừng trước khi bước tiếp  Mời bạn chú tâm đến câu ‘’di chuyển đều đặn cũng như không’’của Galilei liên đới đến trường hợp đặc biệt của vận tốc cố định không thay đổi với thời gian (gia tốc = 0) trong các hệ quy chiếu quán tính, đặc trưng của thuyết Tương đối hẹp. Tính từ hẹp dùng ở đây để chỉ định sự chuyển động không có gia tốc này. Có lẽ Einstein tự đặt trong tiềm thức câu hỏi là các kết quả của Thuyết Tương đối sáng tạo năm 1905 sẽ thay đổi ra sao trong trường hợp di chuyển không đều đặn, rồi một ngày tháng 11 năm 1907 Einstein chợt nẩy ra một ý tưởng mà ông coi như mãn nguyện nhất trong đời: một người rớt từ trên cao xuống không cảm thấy sức nặng của mình. Ông nhận ra vai trò quyết định của trọng trường trong sự nới rộng phạm trù không gia tốc của thuyết tương đối hẹp sang phạm trù có gia tốc của thuyết tương đối rộng. Câu ‘’di chuyển đều đặn cũng như không’’ của Galilei, qua ý tưởng sung sướng nhất trong đời của Einstein, nay biến thành ’’di chuyển không đều đặn chẳng khác gì tác động của trọng lực’’đã mở đầu một kỷ nguyên mới cho vật lý, nới rộng thuyết tương đối hẹp (hay đặc biệt) sang thuyết tương đối rộng (hay tổng quát) để thay thế thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton, định luật cổ điển này là truờng hợp xấp xỉ gần đúng của thuyết tương đối rộng chính xác hơn.   Ngoài ra còn thêm một nguyên nhân thúc đẩy Einstein mở rộng thuyết tương đối hẹp vì ông nhận ra có một mâu thuẫn giữa thuyết này (theo đó vận tốc của mọi tín hiệu đều có hạn, kể cả ánh sáng) và luật cổ điển vạn vật hấp dẫn của Newton (theo đó trọng lực truyền đi với vận tốc vô hạn để vạn vật hút nhau tức thì). Vậy sửa đổi luật hấp dẫn Newton sao cho nhất quán với thuyết tương đối hẹp sẽ tự động giải đáp được mâu thuẫn nói trên.  Đó là điểm khởi đầu cho thuyết Tương đối rộng mà chúng ta sẽ tiếp tục trong những phần sau. Mời bạn thưởng ngọan phương trình Einstein của thuyết Tương đối rộng mà vế trái mô tả hình hài cong uốn của không-thời gian trong đó vận hành vạn vật, còn vế phải là năng-xung lượng của vật chất tạo dựng nên cấu trúc đó:  Rμν – (½)R gμν =   (8πG/c4)Tμν      Nhà vật lý Nhật bản Yoichiro Nambu minh họa vế trái phương trình Einstein bằng lâu đài Himeji-jo xa xưa của một thoáng không gian thanh thoát bên bờ suối, còn vế phải bên kia cầu vương vấn trong cảnh trần ai bởi khói than nhà máy phản ánh vật chất nặng nề!                                           Phụ chú  1 Hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu di chuyển với vectơ vận tốc v đều đặn (độ dài và chiều hướng của v cố định, không thay đổi với thời gian, như vậy gia tốc a ≡ dv/dt = 0), kể cả v = 0. Các vectơ trong không gian ba chiều đều viết dưới dạng in đậm như  v, k và v ≡ |v|, k = |k|. Vectơ X có 3 thành phần không gian là x, y, z, ta viết gọn X (x, y, z).      2 Đa tạp bốn chiều không-thời gian có tung độ là trục thời gian ct, hoành độ là không gian ba chiều với ba trục Ox, Oy, Oz. Đồ thị của phương trình s² ≡ x² + y² + z²  – (ct)² trong đa tạp này là một nón ánh sáng với đỉnh là một điểm T nằm trên tung độ (OT = ct), còn đáy nón là quả cầu S bán kính r, với r2 = x² + y² + z², nửa góc ở đỉnh nón bằng 45°. Quỹ đạo của các tia ánh sáng (khối lượng = 0, tương ứng với trường hợp s² = 0 vì ct = r) là vành biên của nón, nối đỉnh T với chu vi của mặt cầu, còn quỹ đạo của các vật mang khối lượng m ≠ 0 (tương ứng với trường hợp  s² > 0 vì v < c) nằm bên trong nón ánh sáng. Các quỹ đạo vận hành của vật chất (sự kiện) đều có thể diễn tả bởi những đường cong nằm trong nón ánh sáng. Trong hình dưới đây, quả cầu S được tượng trưng bởi một vòng tròn nằm trong mặt phẳng của hai trục không gian Ox, Oy, mặt phẳng này cắt quả cầu S bởi một mặt phẳng khác thẳng góc với trục không gian Oz. Nón úp diễn tả quá khứ, nón mở là tương lai, còn đỉnh nón T là bây giờ.                        3 Poincaré là người đầu tiên gán tên Lorentz cho phép hoán chuyển này vì Lorentz viết nó ra dưới dạng gần đúng năm1895 và dạng chính xác năm 1904. Thực ra Woldemar Voigt tìm ra năm 1887 nhưng chỉ khác bởi một hệ số chung toàn bộ và Joseph Larmor năm 1900. Poincaré tổng quát hóa hoán chuyển Lorentz bằng ma trận 4 x 4 với cả bốn toạ độ x, y, z, t, thay vì hai tọa độ x, t. Tuy biết công trình gần đúng năm 1895 của Lorentz nhưng Einstein khi phân tích những khái niệm cơ bản về thời gian và không gian đã suy diễn ra phương trình hoán chuyển giữa x và t này một cách độc đáo và khác các vị trên. Còn cách giải thích và nhận xét ý nghĩa vật lý của sự hoán chuyển x, t thì hoàn toàn khác biệt giữa Einstein và các vị tiền bối khác.   4 Từ phép hoán chuyển Lorentz, ta có thể suy ra luật cộng trừ các vận tốc trong cơ học tương đối tính. Vận tốc w của một vật chuyển động trên tàu (hệ quy chiếu J ‘ chạy với vận tốc v  đối với  hệ quy chiếu J ) theo định nghĩa chính là w ≡ x’/t’. Theo cơ học cổ điển x’ = x – vt, t’ = t, thì người trên bến sẽ thấy vật di chuyển với vận tốc W ≡ x/t = (x’ + vt’)/ t’ = w + v.   Nhưng trong cơ học tương đối tính, vận tốc W đo trên bến sẽ phải thay đổi theo công thức (I’) của phép hoán chuyển Lorentz : W ≡ x/t = (x’ + vt’)/(t’ + x’v/c2) = (w + v)/ (1+ wv/c2), dùng w≡ x’/t’.  5 Một cách đơn giản cơ học tương đối tính là cơ học cổ điển kèm thêm hệ số γ, trong các phương trình diễn tả cơ học Newton ta thay thế các đại lượng vật lý (khối lượng m, xung lượng p…) bằng tích số của chúng với γ để thành cơ học tương đối tính. Cơ học cổ điển (tương ứng với trường hợp các chuyển động chậm, v/c « 1 hay c → ∞, γ →1) là dạng xấp xỉ của cơ học tương đối tính.      6 Michele Angelo Besso, người bạn thân thiết cùng sở làm ở Bern, người duy nhất ông cảm ơn trong công trình để đời đăng trên Annalen der Physik về thuyết tương đối hẹp mà ông khám phá ra trong lúc hai người dạo chơi và bàn luận về bí hiểm ether ngày chủ nhật cuối tháng 5 năm 1905 trên đồi Gurten, xa xa dưới chân là thành phố Bern cổ kính. Trong bài đó ông rất tự tin, không hề trích dẫn bất kỳ tài liệu tham khảo nào mặc dầu lúc ấy chẳng ai biết đến ông. Chữ gläubige trong bức thư không nên hiểu theo nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, mà hàm ý xác tín vào lý trí. Bức thư gửi chưa đến một tháng thì Einstein cũng vào cõi vĩnh hằng.   Mời bạn tham khảo hai chương đầu cuốn sách của Thibault Damour: Si Einstein m’était conté, Le cherche midi, 2005, và bài của Craig Callender: Is time an illusion? Scientific American, tháng 6/ 2010 do Cao Chi biên dịch dưới nhan đề Thời gian phải chăng chỉ là một ảo tưởng?, tạp chí Tia sáng 19/07/ 2010   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=3316  7 Bạn có thể thắc mắc là hai anh em di chuyển với vận tốc cố định so với nhau, người này so với người kia biết ai bay ai ở (như chuyển động tương đối giữa hai hệ quy chiếu quán tính J và J ‘ với nhau, với vận tốc v của J ‘ so với J  và – v của  J  so với J ‘ nói trong bài), anh hay em người nào cũng thấy thời gian của mình dài hơn thời gian của người kia, làm sao biết ai già ai trẻ? Đúng vậy trong trường hợp vận tốc v của hỏa tiễn mãi mãi cố định trên một đường thẳng duy nhất không thay đổi chiều hướng và cường độ. Để thấy sự khác biệt, ta phải xét trường hợp có một bất đối xứng nào đó, một trong hai người di chuyển với vận tốc thay đổi về chiều hướng và/hay cường độ, thí dụ bay đến một hành tinh, đậu xuống đấy và trở về trái đất.     8 Thư của A. Einstein cho Lincoln Barnett, ngày 19 tháng 6 năm 1948 (Hebrew University of Jerusalem, Israel). Xem thêm bài của Lev. B. Okun, Physics Today June 1989, 31-36.   9 H. Poincaré, Arch. Neerland. 5, 252 (1900).  10 Jean-Paul Auffray, Einstein et Poincaré, éditions Le Pommier (1999). Jules Leveugle, La Relativité, Poincaré et Einstein, Planck, Hilbert, l’Harmattan (2004). Jean Hladik, Comment le jeune et ambitieux Einstein s’est approprié la Relativité restreinte de Poincaré, Ellipses (2004). Coi sách đã dẫn của T. Damour về các tác giả trên.  11 Mặc dầu bốn thành phần của tứ-vectơ pμ vì phụ thuộc vào hệ số γ nên chúng đều thay đổi theo v, nhưng độ dài bình phương của tứ-vectơ (p0)2  – |p|2 không phụ thuộc vào v, nó bất biến: (p0)2  – |p|2  = m2c2. Cũng vậy, năng lượng E = γmc2 và xung lượng p = γmv đều thay đổi theo v nhưng E2  – |p|2c2 = m2c4 không phụ thuộc vào v, nó bất biến trong mọi hệ quy chiếu. Bất biến là điều kiện tiên quyết mà thuyết tương đối đòi hỏi, nếu E ≠ γmc2 (thí dụ E = γmcv) thì ta không có một bất biến nào.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lược khảo Kinh tế học trường phái Áo      Nơi từng là trung tâm văn hóa – học thuật vĩ đại của thế giới, từng là bá chủ châu Âu một thời gian dài này đã sản sinh ra những nhà kinh tế học lỗi lạc và độc đáo bậc nhất thời hiện đại như Carl Menger, Bohm von Bawerk, Joseph Schumpeter, Ludwig von Mises, Fredrick von Hayek…Những trí thức này đã tiến hành phê phán các trường phái kinh tế học đương thời, theo mọi chủ nghĩa, từ tất cả những khía cạnh khác nhau. Và trường phái Áo đã lan tỏa, sinh sôi ra khắp thế giới.      Kinh tế học Trường phái Áo thoạt nghe có vẻ đơn độc và nhỏ bé. Vì nhiều độc giả đương thời hẳn đang nghĩ tới nước Áo như một quốc gia nhỏ bé xinh đẹp giữa lòng châu Âu, và dường như không có tên tuổi của nhà kinh tế lớn nào hay một đại học kinh tế lớn nào gắn liền với nước Áo lúc này. Thế nhưng chúng ta đừng quên rằng mới chỉ một thế kỷ trước đây thôi, nước Áo – với thủ đô Vienna, đang là trung tâm văn hóa – học thuật và quyền lực vĩ đại bậc nhất thế giới, là trái tim của Đế quốc Áo-Hung từng bá chủ Châu Âu một thời gian dài.  Và chính tại nơi đây vào đầu thế kỷ XX, tri thức của loài người đã bùng nổ với những phát kiến quan trọng nhất trong triết học, khoa học, nghệ thuật… có ảnh hưởng đến văn minh loài người trong suốt thế kỷ XX và cho tới bây giờ. Trong bối cảnh đó, từ truyền thống trí tuệ rực rỡ này đã sản sinh ra những nhà kinh tế học lỗi lạc và độc đáo bậc nhất thời hiện đại: Carl Menger (1840-1921), Bohm von Bawerk (1851-1914), Joseph Schumpeter (1883-1950), Ludwig von Mises (1881-1971), Fredrick von Hayek (1899-1992)… Những trí thức này đã tiến hành phê phán các trường phái kinh tế học đương thời, theo mọi chủ nghĩa, từ tất cả những khía cạnh khác nhau. Từ cuộc chiến tư tưởng đó đã cô đọng lại một hệ thống phương pháp tư duy, nhìn nhận về các vấn đề xã hội và nền kinh tế một cách tổng quát, sâu sắc và độc đáo. Tất cả những đặc điểm đó đã hình thành nên một trường phái kinh tế học đặc biệt, gọi là Trường phái Áo, theo tên gọi của mảnh đất đã nảy mầm và vươn lên những cây cổ thụ. Ảnh hưởng của trường phái này lên lý thuyết kinh tế học và chính sách kinh tế – xã hội là sâu đậm. Với sức sống mạnh mẽ của nó, trường phái Áo đã lan tỏa và sinh sôi ra khắp thế giới.   Bằng tài năng và tri thức uyên bác của mình, tác giả Eamonn Butler đã tóm lược một cách cô đọng và sắc bén những nội dung quan trọng nhất của hệ thống tư duy kinh tế này trong một cuốn sách nhỏ nhắn đến ngạc nhiên. Đây chính là sự ưu việt của tác phẩm này. Người đọc có thể lướt nhanh qua hết cuốn sách chỉ trong vài giờ đồng hồ, là đã “thấy” những điểm cốt tủy của Trường phái Kinh tế Áo. Nhưng bạn sẽ phải quay lại nhiều lần, nghiền ngẫm từng đoạn ngắn để có thể thẩm thấu sâu sắc hơn cách nhìn về thực tại, và sẽ thấy chiều sâu không dễ lĩnh hội của những tư tưởng này. Nhưng nếu bạn chấp nhận mất công cho cuộc vật lộn dài hơn của tư duy, bạn sẽ nhận ra có những cách nhìn mới trong những chiều kích sâu hơn xuyên qua thực tại đang hiển bày của thế giới.   Cuốn sách mỏng này nằm trong hệ thống một loạt sách giới thiệu về tự do kinh tế nói chung của cùng tác giả Eamonn Butler, và đều do dịch giả tài hoa Phạm Nguyên Trường thực hiện. Các tác phẩm đã xuất bản khác như: Khảo lược Adam Smith, Von Mises Lược khảo, Của cải của các quốc gia và lí thuyết về cảm nhận đạo đức rút gọn, đều đã được Nxb Tri thức xuất bản và đều đáng có trong bộ sưu tập của bạn.  Dù không muốn nhắc lại, nhưng tôi mong bạn sẽ đọc cuốn sách nhỏ bé này không chỉ một lần, vì càng về những lần đọc sau, bạn lại càng thấy thế giới khác lạ hơn những gì bạn đang thấy mỗi ngày.    Author                Nguyễn Đức Thành        
__label__tiasang Lược sử Thung lũng Silicon      Sự hình thành và phát triển của Thung lũng Silicon gắn liền với một trường đại học, một giáo sư điện tử, một công ty “start-up”, một nhà vật lý nhận Giải Nobel, tám “kẻ phản bội”, nhiều tài năng trẻ, nhiều ý tưởng thông minh, nhiều nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, và cả những cuộc chiến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường công nghệ cao thế giới.    Những người khai sinh thung lũng    “Thung lũng Silicon” là cái tên mà báo chí đã đặt cho Thung lũng Santa Clara từ những năm 1970. Thực ra, Santa Clara chỉ là một “bán” thung lũng, phía tây được bao bọc bởi rừng và các dãy đồi, còn phía đông là Vịnh San Francisco. Năm mươi năm về trước, đây vốn là một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với nhiều vườn cây ăn quả, chỉ mới có duy nhất một trung tâm lớn là Đại học Stanford.  Công nghệ điện tử sơ khai đã xuất hiện ở Santa Clara từ cuối thế kỷ 19, mặc dù quy mô của nó còn khiêm tốn. Năm 1890, công ty điện báo liên bang đã được thành lập ở Palo Alto, một thành phố nằm ở khu vực Vịnh San Francisco. Cũng vào thời gian đó, tại thành phố San Jose nằm trong thung lũng, người ta đã lần đầu tiên thực hiện được sự truyền sóng radio liên tục. Công nghệ khuếch đại bằng đèn chân không khi đó đã cho phép sự truyền tín hiệu đàm thoại qua khoảng cách từ bờ phía đông sang bờ phía tây của vịnh.              David Packard, Frederick Terman và William Hewlett, thập kỷ 1970 (từ trái sang phải)           Frederick Terman có thể được coi là cha đẻ của Thung lũng Silicon. Vốn là con trai của một giáo sư ở Stanford, Frederick nhận được học vị phó tiến sỹ kỹ thuật điện ở MIT và cũng trở thành một giáo sư về điện tử ở Đại học Stanford. Cuốn Bài giảng về kỹ thuật vô tuyến của Terman đã cuốn hút được rất nhiều sinh viên tài năng, trong số đó có David Packard và Bill Hewlett. Năm 1938, với sự khuyến khích của Terman, Packard và Hewlett đã phát triển thành công một loại mạch dao động mới. Một năm sau đó, với số vốn ban đầu 538 USD, hai người này đã thành lập nên công ty “start-up” công nghệ cao đầu tiên. Hiện nay, HP (Hewlett-Packard) được biết đến như một công ty lừng danh thế giới.  Vào thập kỷ 1950, Terman đã mang về Santa Clara nhà vật lý William Shockley cùng với công nghệ bán dẫn Silicon. Trước đó, vào năm 1947, tại Bell Lab, Shockley cùng với hai đồng nghiệp là Bardeen và Brittain đã chế tạo thành công chiếc transitor bán dẫn đầu tiên. Ba người được nhận Giải Nobel vào năm 1956. Sự ra đời của transitor đã đánh dấu sự chuyển mình vĩ đại của công nghệ điện tử. Có cùng các chức năng nhưng transitor ưu việt hơn rất nhiều so với đèn chân không, nó nhỏ hơn, ít tỏa nhiệt hơn, ổn định hơn và phản ứng nhanh hơn.     “Tám kẻ phản bội”               Nhóm “Tám kẻ Phản bội” ở tập đoàn Fairchild            Năm 1956, Shockley thành lập cơ sở riêng của ông ở Palo Alto mang tên “Phòng thí nghiệm Bán dẫn Shockley” để sản xuất transitor và các link kiện bán dẫn khác. Shockley là một nhà khoa học cực kỳ thông minh nhưng lại là một nhà quản lý tồi. Sau một năm điều hành nhà máy, tám nhân viên hàng đầu của Shockley đã dời bỏ ông. Shockley đã tức giận gọi họ là “tám kẻ phản bội.” Tám người đó là Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Gordon Moore, Jay Last, Victor Grenich, Julius Blank, và Robert Noyce. Họ có một ý tưởng về cái gọi là “transitor silicon khuếch tán kép” nhưng Shockley nghĩ là quá viển vông nên đã từ chối không cho họ tiếp tục nghiên cứu về nó.   “Tám kẻ phản bội” bỏ đi, tìm đến sự giúp đỡ của một ngân hàng đầu tư ở New York. Người của ngân hàng này đã giới thiệu họ với Sherman Fairchild, chủ một nhà máy thiết bị quân sự ở Long Island. Vốn là một kỹ sư nên Fairchild cũng phần nào hiểu được ý tưởng của nhóm tám người, ông đã giúp cho họ một khoản vay 1,5 triệu USD. Và kết quả là, năm 1957, tại thành phố Mountain View (gần Palo Alto), Tập đoàn Bán dẫn Fairchild được thành lập nhằm khai thác ý tưởng công nghệ của “tám kẻ phản bội.” Khái niệm về “transitor silicon khuếch tán kép” đã đạt được sự chấp thuận của không lực Hoa Kỳ. Điều đó đã khích lệ nhóm tám người vượt qua được những khó khăn kỹ thuật để chế tạo thành công loại transitor mới. Và chỉ sau một năm rưỡi, loại transitor này đã trở thành một sản phẩm độc quyền của Tập đoàn Fairchild.    Từ IC đến PC                  Công viên Nghiên cứu Stanford (Stanford Research Park)          Năm 1958 là năm đánh dấu bước chuyển mình thứ hai của công nghệ điện tử. Chiếc mạch tổ hợp (IC) được phát triển bởi Robert Noyce (một trong “tám kẻ phản bội”) lần đầu tiên được đưa vào sản xuất. Thành công của Noyce đã trở thành yếu tố quyết định cho sự cất cánh của Tập đoàn Bán dẫn Fairchild. Năm 1959, Sherman Fairchild đã quyết định mua lại toàn bộ tập đoàn mang tên ông. Mỗi người trong nhóm tám nhận được 250.000 USD, một khoản tiền đủ làm họ trở nên giàu có vào thời đó. Nhưng một hệ quả không hay cho Fairchild đã xảy ra, “tám kẻ phản bội” dần dần đoạn tuyệt với tập đoàn, hai người ra đi sau cùng là Noyce và Moore, vào năm 1968. Fairchild chấm dứt hoạt động. Bây giờ, thay thế cho đại bản doanh của nó ở Mountain View là toàn văn phòng của hãng Netscape.  Tháng 7 năm 1968, vẫn tại Mountain View, Noyce và Moore thành lập công ty “Integrated Electronics”, gọi tắt là Intel. Họ không đơn giản là chỉ lặp lại những việc đã làm ở Fairchild mà còn vạch ra một hướng chiến lược hoàn toàn mới, đó là chiến lược thu nhỏ các mạch tổ hợp. Năm 1969, chíp nhớ đầu tiên ra đời, mang nhãn hiệu Intel, và đến năm 1971 là sự ra đời của bộ vi xử lý đầu tiên. Thung lũng Santa Clara bắt đầu được gọi bằng cái tên “Thung lũng Silicon” của Mỹ kể từ một bài báo của Dan Hoefler đăng trên tờ Electronic News. Thời kỳ đầu, giống như Fairchild, Intel chủ yếu cung cấp các sản phẩm phục vụ lĩnh vực quân sự. So với đối thủ chính là hãng Texas Instruments, Intel đã thay đổi đến tận gốc rễ phương thức sản xuất, đặt ra những chuẩn mực cao hơn về mức độ tin cậy. Hai năm sau khi bộ vi điều khiển đầu tiên mang tên TMS1600 của Texas Instruments ra đời, Intel đã đuổi kịp Texas với sản phẩm Intel 8748.  Các bộ vi điều khiển đã tạo điều kiện về mặt kỹ thuật cho sự ra đời của các máy tính cá nhân (PC). Năm 1976, hai chàng tài tử trẻ tuổi là Steve Wozniak (26 tuổi) và Steve Jobs (21 tuổi) đã lắp ráp nên chiếc PC đầu tiên, gồm cả một bàn phím và một monitor, nó được gọi là Apple 1. Với sự giúp đỡ về vốn của Arthur Rock, các chàng trai trẻ đã thành lập được hãng Máy tính Apple và nhanh chóng tung ra thị trường sản phẩm PC Apple 2. Đến năm 1978, Apple đã thu được một lợi nhuận hơn 2 triệu USD.    Thời đại “dotcom”   Giai đoạn phát triển tiếp theo của Thung lũng Silicon bắt đầu vào năm 1993 với sự khai thác thương mại đối với Internet và sự ra đời của “world wide web.” Internet bắt đầu được truy cập rộng rãi là nhờ vào chương trình “Mosaic” được phát triển bởi chàng sinh viên 21 tuổi  Marc Andreesen ở Đại học Illinois. Nó vốn là một phần mềm miễn phí và đã có số người sử dụng lên đến 1 triệu, tính đến cuối năm 1993. Vì Đại học Illinois không mấy quan tâm đến Mosaic nên sau khi tốt nghiệp, Andreesen quyết định khăn gói đến Thung lũng Silicon tìm vận may. Ở đây anh đã gặp Jim Clark, nhà sáng lập giàu có của hãng Silicon Graphic. Đến tháng 4 năm 1994, họ đã cùng nhau thành lập hãng Mosaic Communications, ít lâu sau được đổi tên thành Netscape. Đến tháng 10 năm đó, Netscape đã tung ra thị trường sản phẩm trình duyệt (browser) đầu tiên của nó mang tên “Navigator,” phần mềm này thậm chí còn thành công hơn cả Mosaic. Ngược lại với các dự định ban đầu của Andreesen, Netscape ngay lập tức đòi những người dùng  phải trả tiền cho Navigator. Sự nổi lên của Netscape từ Thung lũng Silicon có vẻ như đã tạo ra một sự khiêu khích đối với Bill Gates ở Micosoft. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Gates tung ra Window 95 có kèm theo trình duyệt “Internet Explorer” miễn phí. Nước cờ của Gates đã tỏ ra rất thành công khi gây ảnh hưởng đến con đường kiếm tiền của Netscape. Đến năm 1998. Netscape không còn lựa chọn nào khác là phải miễn phí hóa trình duyệt của mình. Netscape được tiếp quản bởi American Online (AOL) vào tháng 11 năm 1998. Tuy bị tuột khỏi tay thị trường trình duyệt nhưng nó vẫn là một đối thủ sừng sỏ trên sân chơi công nghệ Internet.  Trong thời gian các cao thủ Microsoft và Netscape đang đánh nhau, hai nghiên cứu sinh Đại học Stanford là  Jerry Chih-Yang và David Filo đã thiết lập nên cái gọi là “Jerry’s Fast Track to Mosaic,” sau này đổi tên thành “Yahoo.” Đến cuối năm 1994, Yahoo đã có 100.000 người truy cập mỗi ngày. Ban đầu, mục đích tạo ra Yahoo của Chih-Yang và Filo chỉ là để chơi cho vui, nhưng sau đó họ đã biến nó thành công việc làm ăn. Để kiếm tiền, họ đã quyết định vận hành nó theo kiểu một đài phát thanh tư nhân, cung cấp các dịch vụ và cho đăng quảng cáo. Cùng với sự tham gia của Mike Moritz và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Sequoia, Yahoo đã danh chính ngôn thuận trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn vào năm 1995. Trụ sở của nó cũng “bon chen” được vào khu vực Mountain View. Bí quyết thành công của Yahoo cũng giống như nhiều công ty khác trong Thung lũng Silicon, đó là họ đã có ý tưởng hay, đúng nơi và đúng lúc. Để chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng, Yahoo đã sớm cung cấp cho cư dân mạng những địa chỉ Email miễn phí và thường xuyên duy trì liên kết với các website khác. Tính đến 1999, sau 4 năm thành lập, từ số vốn ban đầu 1 triệu USD, tài sản của Yahoo đã tăng lên đến 8 tỷ USD.    T.T. lược thuật  Lược sử Thung lũng Silicon cũng không thể không kể đến các anh tài hàng đầu thế giới về công nghệ phần mềm. Nổi bật lên trong số đó là Oracle, hãng phần mềm lớn thứ hai thế giới sau Microsoft. Xuất phát điểm với 2000 USD vào năm 1977, tính đến 1999, tài sản của hãng này đã lên tới 50 tỷ USD. Cùng với Oracle là nhiều cái tên quen thuộc khác có trụ sở làm việc ở Thung lũng Silicon như: Sun Micro Systems, 3D Graphics, và Silicon Graphics, tất cả đều phát triển xung quanh môi trường Đại học Stanford.    Đại học Stanford – một phần cơ thể của Thung lũng Silicon   Năm 1953, Frederick Terman đã phát động một chương trình hợp tác để tạo cơ hội cho các kỹ thuật viên làm việc tại các công ty trong thung lũng có thể tham dự các khóa học buổi tối ở Đại học Stanford để nâng cao kiến thức. Chương trình này đã thắt chặt thêm sự gắn bó giữa trường đại học và các công ty trong thung lũng. Nó cho phép các kỹ sư có thể học hỏi và cập nhật kịp thời những kiến thức mới, đồng thời các thành viên trong trường đại học cũng có dịp được tiếp xúc với thực tiễn công nghệ. Đồng thời, Terman cũng đã thành lập nên “công viên công nghiệp” đầu tiên của trường đại học, gọi là Công viên Nghiên cứu Stanford. Tính đến năm 2000, nơi này đã có khoảng 50 công ty với 23.000 nhân viên và 50 trung tâm nghiên cứu. Các viện nghiên cứu đóng vai trò như sợi dây liên kết giữa Đại học Stanford và nền công nghiệp của Thung lũng Silicon. Việc đào tạo nâng cao chuyên môn cho các cán bộ trẻ được vận hành thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập giữa các công ty và các giáo sư đại học. Những giám đốc của các trung tâm nghiên cứu luôn là những người vừa có chuyên môn như các giảng viên đại học lại vừa có năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh.   Ở Thung lũng Silicon, có vẻ như hãng nào càng ra đời muộn thì lại càng “béo nhanh”, thậm chí nhanh với tốc độ chóng mặt. Hewlett-Packard (ra đời năm 1939) phải mất 47 năm để đạt tới tài sản 1 tỷ USD. Trong khi đó, để “béo” được bằng mức ấy, Yahoo (thành lập năm 1995) chỉ mất 2 năm, còn Netzero (sinh năm 1998) chỉ mất 6 tháng! (Nhận xét ở đây đã bỏ qua số vốn ban đầu của các hãng, vì vốn ban đầu dù là vài trăm USD hay vài triệu USD thì vẫn coi là rất nhỏ so với 1 tỷ USD.)     Tài liệu tham khảo   – Kaplan D. A., The Silicon Boys and Their Valley of Dreams, New York (1999), N.Y. Harper&Collins.   – Hutchisons, “Technology and Economics in the Semiconductor Industry”, Scientific American, October 1967.   – Kenney, M. (Hrsg.), Understanding Silicon Valley. The Anatomy of an Entrepreneurial Region, Stanford University Press (2000).   -Lee, C. M., Miller, W.F., Hancock, M.G., Rowen, H.S. (Hrsg.)  The Silicon Valley Edge. A Habitat for Innovation and Entrepreneurship, Stanford University Press (2000).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lược sử về cư dân thời tiền Đại Việt      LTS: Mười thế kỷ đầu Công nguyên được cho là giai đoạn quan trọng- vốn không chỉ có những cuộc kháng chiến giành độc lập mà còn có những bước phát triển mới về kinh tế và văn hóa, giai đoạn chuẩn bị những điều kiện tiền đề cho bước phát triển huy hoàng của văn hóa, văn minh Đại Việt. Nhưng đây cũng là giai đoạn còn mờ tỏ của dân tộc, và các nhà lịch sử, khảo cổ học vẫn phải tiếp tục đi tìm thêm bằng chứng rõ ràng hơn về bức tranh đời sống và dân cư thời kỳ này. Bài viết dưới đây cho chúng ta thấy một bức tranh khái lược nhất, với những phát hiện gần đây nhất của các sử gia nghiên cứu về giai đoạn này.      Vị trí Ngũ Lĩnh và khu vực Lĩnh Nam (Ảnh Internet)   Những nghiên cứu về lịch sử thương mại chính trị và di dân đã chỉ ra rằng, trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, khu vực lãnh thổ Bắc Bộ ngày nay là điểm đến của các luồng di dân nằm ở giao điểm của những mạng lưới thương mại xuyên Á, kết nối vùng lục địa từ phía Nam Trung Quốc với các khu vực duyên hải Ấn Độ Dương và vẫn chưa tồn tại một cộng đồng dân cư đồng nhất, có một bản sắc riêng biệt. Sau Bắc thuộc, vùng này là nơi hội tụ của ba nhóm dân cư chính: nhóm người bản địa – có thể coi là những chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn, nhóm di dân từ phương Bắc có nhiều ảnh hưởng của văn hóa Hán, và nhóm di dân từ phương Nam có nhiều ảnh hưởng của văn hóa Chămpa và Ấn Độ.     Trong mạng lưới thương mại xuyên Á thời đầu lịch sử     Chứng cứ khảo cổ học đã chỉ ra rằng nhóm dân cư bản địa đầu tiên sống trên nền lãnh thổ Đại Việt [vịnh Bắc Bộ] chủ yếu tập trung ở dải đất thuộc thượng lưu, trung lưu của sông Hồng, sông Cả, sông Mã và các vùng phụ cận. Bên cạnh đó, vùng này có sự kết nối tự nhiên với khu vực vùng núi phía Nam của Trung Quốc, và thường được gọi chung là Lĩnh Nam. Nhưng nhờ có núi Ngũ Lĩnh như những bức tường thành tự nhiên mà khu vực Lĩnh Nam dường như ít có sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Nguyên [là vùng lãnh thổ của các nhà Hạ – Thương – Chu của Trung Quốc].      Văn hóa Hán tác động không nhỏ đến phong tục bản địa, ví dụ như trống đồng, một đặc trưng của Văn hóa Đông Sơn và là biểu tượng quyền lực của quý tộc địa phương, cũng dần biến mất. Một số học giả cho rằng bởi vì những vị quan người Hán bắt đầu quan niệm một số tập tục địa phương là “man di” cho nên nhóm dân địa phương cũng dần dần thay đổi tập tục của mình.      Khu vực Lĩnh Nam được miêu tả là mảnh đất trù phú có nhiều sản phẩm tự nhiên của vùng nhiệt đới như ngà voi, ngọc trai, đồi mồi … Đặc biệt, nơi đây cũng có nhiều mỏ kim loại (đồng, sắt, vàng) lộ thiên dễ khai thác, tạo nên một nền văn hóa kim khí rực rỡ từ rất sớm. Riêng tại vịnh Bắc Bộ, theo ghi chép của An Nam chí nguyên vào cuối thời Trần, thì ở phủ Thái Nguyên có 17 mỏ vàng, phủ Lạng Sơn có 4 mỏ, châu Quảng Oai [Sơn Tây] có 59 mỏ, châu Gia Hưng [Phú Thọ] có 5 mỏ, châu Ninh Hóa [Ninh Bình] có 3 mỏ, Châu Quỳ [Nghệ An] có 1 mỏ,  châu Ngọc Ma [Nghệ An]  có 6 mỏ, châu Trà Long [Nghệ An] có 3 mỏ.1 Điều kiện tự nhiên đã ưu ái cho khu vực này những thương phẩm được ưa chuộng trong mạng lưới thương mại xuyên Á thời đầu lịch sử.2 Nguồn dân cư đông đúc, tài nguyên trù phú, và thương mại nhộn nhịp là nguồn lực quan trọng cho sự hình thành của các nhà nước bản địa đầu tiên ở cộng đồng Bách Việt, như nước Đông Âu ở tỉnh Triết Giang, Mân Việt ở vùng Phúc Kiến, Trung Quốc, và nước Văn Lang ở khu vực Phú Thọ Việt Nam.    Những nguồn lợi kinh tế đã khiến vùng Lĩnh Nam nhanh chóng trở thành mục tiêu xâm chiếm của đế quốc Trung Nguyên. Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thôn tính xong các nước chư hầu cũ của nhà Chu, nhanh chóng để ý đến vùng phương Nam. Để chuẩn bị cho việc tấn công các tộc Bách Việt, năm 214 TCN, ở mạn Đông Nam, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh đào sông Linh Cừ 灵渠 ở tỉnh Quảng Tây, nối sông Tương với sông Ly, khai thông con đường nối vùng Trung Nguyên với vùng biển phía Đông Nam ở Nam Hải, Quảng Châu. Trước đó, ở mạn phía Tây Nam, nhà Tần cũng đã cho xây dựng đường Ngũ xích đạo 五尺道, kết nối kinh đô Hàm Dương với khu vực nước Ba Thục ở vùng Tứ Xuyên, Vân Nam. Mặc dù chưa thành công trong việc thôn tính toàn bộ vùng Lĩnh Nam, nhưng Tần Thủy Hoàng đã xây dựng những tuyến giao thông quan trọng, tạo tiền đề cho sự mở rộng lãnh thổ của người phương Bắc.    Triệu Đà có thể coi là người được thừa hưởng thành quả đầu tiên từ các dự án chính trị của Tần Thủy Hoàng. Ông người gốc Chân Định ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, vốn là một quận úy nhà Tần. Trong buổi giao tranh Tần – Hán, ông đã tự xưng vương và lập ra nước Nam Việt năm 204 TCN, bao gồm khu vực ba quận của nhà Tần là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng (khu vực phía Bắc Việt Nam ngày nay). Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung [Quảng Châu], là đầu mối của tuyến giao thương duyên hải vùng Hoa Nam. Trong giai đoạn đầu, nhà Hán cũng tạm chấp nhận quan hệ chư hầu của Triệu Đà nhưng đến năm 185 TCN, khi tình hình Trung Nguyên đã ổn định, nhà Hán bắt đầu kế hoạch thôn tính nước Nam Việt và vùng Lĩnh Nam. Một trong những quyết sách của nhà Hán lúc bấy giờ là cấm dân mua bán đồ sắt của Nam Việt. Triệu Đà không phục quyết định này, cho rằng “Khi Cao Đế lên ngôi, ta cùng thông sứ chung đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời gièm pha, phân biệt đồ dùng Hán, Việt” [ĐVSKTT] nên ông đã tự xưng làm Nam Việt Vũ Đế 南越武帝 đồng thời kết minh với các nước Mân Việt, Tây Âu, Lạc… đối đầu với nhà Hán.      Bản đồ phân bố các điểm di tích thời đại đồ sắt ở vùng sông Hồng và vùng phụ cận. Nguồn: Masanari, Nishimura. Settlement patterns on the Red River plain from the late prehistoric period to the 10th century AD.” Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 25 (2007): 99-108.     Trong khi đó, An Dương Vương, vốn là hậu duệ của nước Ba Thục ở vùng Tứ Xuyên Trung Quốc, để tránh sự tấn công của quân Tần, đã di chuyển xuống vùng đồng bằng sông Hồng. Ông diệt nước Văn Lang, thành lập ra nước Âu Lạc. Kinh đô của Âu Lạc được đặt tại Long Biên. Trên thực tế Long Biên lúc đó cũng là một điểm trung chuyển quan trọng trong mạng lưới thương mại đường biển giữa Quảng Châu và khu vực Bắc Bộ ngày nay.3 Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy về quan hệ hôn nhân giữa con trai vua nước Nam Việt ở Quảng Châu và con gái vua  nước Âu Lạc ở Long Biên chính là những kí ức cộng đồng ghi nhớ về buổi đầu tiếp xúc mật thiết giữa các nhóm người vùng Vân Nam – Lưỡng Quảng – Bắc Việt, trước khi khu vực này nằm chung dưới sự cai trị của nhà Hán.     Mối quan hệ với phương Bắc     Năm 111 TCN, nhà Hán diệt nước Nam Việt, sau đó quân Hán tiếp tục mở rộng xuống khu vực vịnh Bắc Bộ, gộp cả khu vực Lĩnh Nam vào lãnh thổ của nhà Hán. Năm 106 TCN, nhà Hán đặt ra Giao Châu, gồm 4 quận phía Nam Trung Quốc là Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố và ba quận phía Bắc Việt Nam là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Giao Chỉ là nơi tập trung dân cư đông hơn hẳn so với các vùng khác. Đây cũng là trung tâm của các cuộc nổi dậy chống người Hán của dân bản địa. Năm 38 TCN, Trưng Trắc, Trưng Nhị nổi dậy ở Phong Châu (Phú Thọ). Hai bà có được sự ủng hộ của toàn cõi Lĩnh Nam: “hô một tiếng mà 65 thành thuộc Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng vùng Lĩnh ngoại (phía Nam của Ngũ Lĩnh) đều hưởng ứng” [ĐVSKTT]. Đây có thể coi là điểm chốt cuối cùng của nền văn hóa Lĩnh Nam bản địa. Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nhà Hán thắt chặt nền cai trị và thực hiện chính sách đồng hóa ở Giao Châu. Khối cộng đồng Bách Việt vùng Lĩnh Nam dần phân tách, tùy theo mức độ tiếp nhận văn hóa Hán.             Tên quận      Số huyện      Số hộ      Số nhân khẩu          Nam Hải (Quảng Đông)      6      19613      94 253          Uất Lâm (Quảng Tây)      12      12 415      71 142          Thương Ngô (Quảng Tây)      10      24 379      146 160          Hợp Phố (Quảng Đông)      5      15 398      78 980          Giao Chỉ (Bắc Bộ)      10      92 440      756 237          Cửu Chân (Thanh – Nghệ – Tĩnh)      7      35  743      166 013          Nhật Nam (từ Hoành Sơn đến Quảng Nam)      5      15 460      69 485          Bảng 1: Dân số 7 quận lục địa của Giao Châu thời Hán năm 106 TCN. Nguồn: Tiền Hán thư, Lịch sử Việt Nam (15 tập), tập 1.   Sự cai trị của người Hán tạo ra một con đường di cư của người phương Bắc xuống khu vực đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt, trong giai đoạn triều Tân (9–23), Vương Mãng cho phép các vị quan thú cai trị vùng biên được ở chức lâu dài, cha truyền con nối, chứ không phải theo nhiệm kỳ một đến bốn năm như trước kia. Mặt khác, khi Vương Mãng gây ra cuộc phiến loạn, cùng với sự quấy nhiễu thường xuyên của nhóm ngoại tộc ở biên giới phía Bắc, dân Trung Nguyên tìm cách di chuyển xuống phía Nam, Giao Chỉ hiện lên như một vùng đất hứa vì vẫn còn “tương đối bình yên”.4 Khi tình hình Trung Nguyên đã yên ả trở lại, nhà Hán lấy lại ngôi vị, một số lượng lớn các quan lại đã quay trở về phương Bắc, nhưng có người ở lại và định cư ở vùng đất mới. Họ trở thành những thủ lĩnh của vùng đất phương Nam vào các thế kỉ sau đó.5  Các chứng cứ khảo cổ học cho thấy ảnh hưởng văn hóa người Hán ở vịnh Bắc Bộ nở rộ từ sau cuộc binh phạt của Mã Viện chống lại khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Các khu mộ xây bằng gạch theo phong cách của người Hán được tìm thấy nhiều ở các vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, là nơi đặt trụ sở của người Hán. Trong khi đó ở vùng Nhật Nam dù không thấy dấu tích của mộ gạch để minh chứng cho sự xuất hiện của nhóm quan lại nhà Hán, nhưng trong các mộ huyệt đất vẫn tìm thấy các đồ gốc Hán, là minh chứng cho sự tiếp nhận văn hóa Hán của quan lại địa phương cũng như thủ lĩnh hay người giàu bản địa6. Văn hóa Hán tác động không nhỏ đến phong tục bản địa, ví dụ như trống đồng, một đặc trưng của Văn hóa Đông Sơn và là biểu tượng quyền lực của quý tộc địa phương, cũng dần biến mất. Một số học giả cho rằng bởi vì những vị quan người Hán bắt đầu quan niệm một số tập tục địa phương là “man di” cho nên nhóm dân địa phương cũng dần dần thay đổi tập tục của mình.7      Vị trí sông đào Linh Cừ và đường Ngũ Xích Đạo thời Tần (Nguồn ảnh: https://www.sohu.com/a/320197721_249325. Trần Thị Xuân chú thích tiếng Việt)     Sau khi nhà Hán sụp đổ, Trung Quốc trải qua thời kỳ phân liệt. Các bộ tộc phương Bắc tràn vào Trung Nguyên, sử gọi là “Ngũ Hồ loạn Hoa”. Nhờ sự suy yếu của triều đình trung ương ở phương Bắc, các vùng đất phương Nam có được sự độc lập nhất định về chính trị. Ở mạn biên giới Việt – Trung, từ thời kỳ nhà Tấn (280- 464), một nhóm người Li – Liao phát triển mạnh mẽ. Nhóm này án ngữ con đường bộ an toàn kết nối vùng vịnh Bắc Bộ với Trung Nguyên người Hán. Trong khi đó, trước thời Đường, con đường biển nối phía Nam Trung Quốc đến các vùng phía Bắc Việt Nam vô cùng nguy hiểm, do dòng nước chảy mạnh và một dải đá ngầm lớn. Việc vượt biển giai đoạn này chủ yếu giới hạn trong nhóm thương nhân muốn tranh thủ những nguồn lợi từ mạng lưới buôn bán. Những trở ngại về giao thông đã ngăn cản quá trình di cư của người Hán xuống phía Nam.8 Chính vì thế đến trước đời Tùy – Đường, vùng vịnh Bắc Bộ được hưởng một giai đoạn tương đối độc lập, tạo điều kiện cho sự phát triển và duy trì của bản sắc địa phương, đồng thời “địa phương hóa” các văn hóa Hán và văn hóa bản địa. Đây cũng là giai đoạn ghi nhận sự lớn mạnh của các thủ lĩnh địa phương, những người sau đó đã tích cực chống lại sự thống trị của người phương Bắc, thành công thành lập nhà nước Đại Việt thế kỷ 10. 9    Nhưng tình hình chính trị thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn Tùy Đường. Các đế quốc hùng mạnh lại được dựng lên ở Trung Nguyên, mở rộng xuống phía Nam, chinh phạt nhóm người Li – Liao, đặt nền cai trị đến tận khu vực vịnh Bắc Bộ.10 Trong khi đó, đường biển nối Nam Trung Quốc với vịnh Bắc Bộ cũng được khai thông nhờ có công của Cao Biền. Khi được bổ nhiệm làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ, ông đã đặt phá dải đá ngầm, tạo ra con đường biển an toàn kết nối vịnh Bắc Bộ và miền Nam Trung Quốc.11 Bên cạnh đó, nhà Đường đặt An Nam Đô hộ phủ, lập trường học dạy chữ Hán, phương ngữ Trường An trở thành ngôn ngữ chung (lingua franca) ở khu vực Lĩnh Nam. Chính điều này đã xúc tiến sự trao đổi giữa các cộng đồng dân cư trong khu vực. Trong thế kỉ thứ 8, dân số ở vùng đồng bằng sông Hồng (Giao Chỉ) tăng ba lần, một phần lớn là do sự gia tăng của dân di cư từ phương Bắc. Theo ghi chép của sách Lĩnh ngoại đại đáp, dân số vùng đồng bằng sông Hồng hết sức đông đúc và nửa trong số đó là từ Quảng Đông, Quảng Châu.12      Khu mộ Hán tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội, có niên đại vào khoảng thế kỉ I-III sau Công nguyên. Ảnh: Bộ môn khảo cổ, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.   Từ sau chính biến An Lộc Sơn, nhà Đường bắt đầu suy yếu, địa phương cát cứ, tạo ra cục diện “Ngũ đại thập quốc”. Bên cạnh đó các bộ tộc phương Bắc thường xuyên tấn công Trung Nguyên, chiếm lĩnh một phần đất đai rộng lớn ở phương Bắc, lập ra triều Liêu – Hạ, đẩy triều đình của người Trung Nguyên xuống phía Nam (nhà Nam Tống). Đến thế kỉ 13, quân đội Mông Cổ thậm chí còn chiếm lĩnh toàn bộ Trung Nguyên, tạo ra sự bùng nổ của người Hoan [Trung Nguyên] di cư  trong khắp khu vực duyên hải châu Á. Mặt khác, so với vùng đất phía Nam của Trung Quốc, đồng bằng sông Hồng có điều kiện tự nhiên vượt trội hơn hẳn, có thể phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung ứng cho dân số đông đúc. Trong khi đó, các khu gần biên giới Việt Trung, chủ yếu là đồi núi với những mảnh đồng bằng nhỏ hẹp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào biển với các nghề như làm muối, đánh bắt cá, đóng tàu và thương mại. Ví dụ như vùng Phúc Kiến với 80% là núi, 10% sông hồ, chỉ 10% là đất trồng trọt, dân Phúc Kiến ngay từ sớm đã phát triển nền kinh tế biển.13 Tận dụng lợi thế về đóng tàu và thương mại, khi chính trị bất ổn định hay nông nghiệp suy tàn, họ tìm kiếm những cơ hội mới ở vùng vịnh Bắc Bộ. Họ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng người chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán ở trung tâm đồng bằng sông Hồng và trở thành một lực lượng chính trị quan trọng của khu vực. Không quá khó hiểu khi tổ tiên của nhà Lý và nhà Trần của Đại Việt đều có nguồn gốc từ Phúc Kiến.      Những trở ngại về giao thông đã ngăn cản quá trình di cư của người Hán xuống phía Nam. Chính vì thế đến trước đời Tùy- Đường, vùng vịnh Bắc Bộ được hưởng một giai đoạn tương đối độc lập, tạo điều kiện cho sự phát triển và duy trì của bản sắc địa phương, đồng thời “địa phương hóa” các văn hóa Hán và văn hóa bản địa.      Các dòng di dân phương Nam     Trong khi khu vực đồng bằng sông Hồng đón các dòng người từ phương Bắc, thì khu vực Thanh – Nghệ là điểm đến của các dòng di dân của các cư dân phương Nam. Vào thời Hán, đế quốc Kushana (30–375) của vùng biển Bắc Ấn Độ tích cực mở rộng buôn bán và truyền bá kinh Phật đến các vùng của châu Á. Vùng Giao Châu ngay từ sớm đã có sự tiếp xúc với những người đến từ “vùng biển phía Tây”, trong đó Luy Lâu – Bắc Ninh là trung tâm Phật giáo lớn nhất Lĩnh Nam lúc bấy giờ.14 Nhóm người Hồ – chỉ người Nam Á, thường xuyên được chào đón ở vùng Giao Châu vì những lợi ích thương mại. Trong lá thư của Viên Huy nhà Hán gửi cho Thượng thư lệnh là Tuấn Túc năm 207, khi miêu tả đoàn tùy tùng của Sĩ Nhiếp, đã nhắc đến “mười mấy người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương” (ĐVSKTT). Nhiều thương cảng quốc tế sớm được hình thành tại khu vực Thanh – Nghệ. Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy Cửa Sọt của Nghệ Tĩnh là một thương cảng sầm uất kết nối vùng Vân Nam với Đông Á, Đông Nam Á và Trung Á. Đây là nơi tụ tập của các thương gia Hán, Chăm và Khmer. Đặc biệt, một lượng lớn các mộ của người Hán được tìm thấy ở vùng này.15 Cũng chính vì lợi ích thương mại mà các đoàn thủy quân của Chiêm Thành thường xuyên kéo lên vùng biển Thanh – Nghệ và thậm chí Thăng Long để đánh chiếm. Các thủ lĩnh địa phương vùng Thanh – Nghệ cũng liên kết với người Chăm để giành quyền kiểm soát mạng lưới thương mại, như cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế ở vùng Nghệ An năm 713 có sự hưởng ứng rộng rãi của người Lâm Ấp và Chân Lạp. Số liệu thời cuối Đường cho thấy có một sự thay đổi đáng kể về dân số vùng đồng bằng sông Cả, đây là kết quả của dòng di dân vùng Đông Nam Á, thường đi theo một nhóm gia đình lớn, bộ tộc hay dòng họ.16    Đề cập tới tính đa dạng sắc tộc ở khu vực Bắc Bộ, không thể không tính mối liên hệ với các nhóm người sống ở các khu vực miền núi Tây Bắc, ven biên giới vùng Vân Nam và Lào. Theo ghi chép của chính sử Đại Việt, năm 550, em trai Lý Nam Đế, là Lý Thiên Bảo, sau khi thua ở đồng bằng sông Hồng, đã thu nhặt tàn quân khoảng vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, lập nước Dã Năng, tự xưng là Đào Lang Vương [ĐVSKTT]. Đặc biệt là năm cuộc giao tranh giữa quân Nam Chiếu (738–937) – một đế quốc ở vùng Vân Nam với nhà Đường ở Giao Châu trong khoảng 846-866. Quân Nam Chiếu có bốn lần đánh chiếm Đại La (năm 846, 860, 862 và 863), đồng thời chiếm lĩnh vùng đồng bằng trung tâm trong khoảng hai năm (863-865). Riêng năm 863, quân Nam Chiếu hai lần chiếm Giao Châu, vừa giết vừa bắt gần 150 000 người, khi rút lui còn lưu lại 20.000 quân. Năm 865, tướng nhà Đường là Cao Biền đến vùng Nam Định, Phong Châu thấy hơn 50.000 quân Man đang gặt lúa. Khi Cao Biền dẹp yên quân Nam Chiếu thì có hơn 170.000 quân Man theo về [ĐVSKTT]. Đây chính là những minh chứng quan trọng cho sự tiếp xúc giữa nhóm dân cư ở mạn núi phía Tây Bắc với vùng đồng bẳng duyên hải. Các nhóm này luôn tồn tại với tính độc lập tương đối, sự lớn mạnh của họ đôi khi đủ sức đe dọa chính quyền ở Đại La và có thể di chuyển, định cư tại vùng đồng bằng.    Nhìn chung, cho đến cuối đời Đường, vùng vịnh Bắc Bộ có thể chia thành bốn khu vực. Khu vực trung tâm đồng bằng sông Hồng, vùng quanh Hà Nội, là trung tâm của chính quyền đô hộ phương Bắc. Đây là nơi tập trung của nhóm chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Hán và cũng như người di cư từ phương Bắc. Khu vực Tây Bắc của sông Hồng, xung quanh khu vực Phú Thọ vốn là trung tâm của nền văn minh Đông Sơn. Tại đây duy trì cả văn hóa bản địa và một phần văn hóa Hán. Khu vực đồng bằng sông Cả sông Mã và dải đất Tây Nam của sông Hồng, với trung tâm là Hoa Lư, là khu vực có ít ảnh hưởng văn hóa Hán hơn. Và cuối cùng là vùng Thanh – Nghệ khu vực giáp ranh với nước Chiêm Thành ở phía Nam, là nơi khu vực pha trộn với nhóm người bản địa và di dân phương Nam, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa Chăm pa và Ấn Độ, cũng là nơi có ít ảnh hưởng văn hóa phương Bắc nhất.17    Kể từ sau thế kỷ thứ 10, các nhóm này liên tục tương tác lẫn nhau, cùng hòa quyện vào một nền văn hóa chung, vừa mang yếu tố Đông Á vừa mang yếu tố Đông Nam Á của cư dân Đại Việt. □  —  * Tác giả Trần Thị Xuân là NCS ngành Lịch sử, ĐH Hamburg.     (Kỳ tiếp: Những cư dân nước Đại Việt)  —-  1 Trần Quang Đức. “Ngàn năm áo mũ: Lich sử trang phục Việt Nam giai đoạn.” TP Hồ Chí Minh: Nhã Nam (2013).tr.51-2  2 Hoàng Anh Tuấn. Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 1-16.  3 Bellwood, Peter.  Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago, 1985; Honolulu: University of Hawai’s Press, 1997. trang 269; Higham, Charles.  The Bronze Age of Southeast Asia.  Cambridge:P Cambridge University Press, 1996, các trang 37-38, 90, 94, 96, 108-109, 324;  4 Taylor, Keith Weller. The birth of Vietnam. Univ of California Press, 1983. tr. 81  5 Taylor, Keith Weller. A History of the Vietnamese. Cambridge University Press, 2013. tr.19  6 Lâm Thị Mỹ Dung, Giao thương thời tiền, sơ sở trên biển Đông qua tài liệu khảo cổ học, 25 Việt Nam học theo định hướng liên ngành, Hà Nội, NXB Thế giới, 2014, trang 47 – 68  7 Churchman, Catherine. The people between the rivers: the rise and fall of a bronze drum culture, 200–750 CE. Rowman & Littlefield, 2016; Cooke, Nola, Tana Li, and James A. Anderson, eds. The Tongking gulf through history. University of Pennsylvania Press, 2011.  8 Churchman, Michael. “ The People in Between”: The Li and Lao from the Han to the Sui. University of Pennsylvania Press, 2011.  9 Cooke, Nola, Tana Li, and James A. Anderson, eds. The Tongking gulf through history. University of Pennsylvania Press, 2011. tr.9 .  10 Holcombe, Charles W. “Southern Integration: The Sui Tang (581–907) Reach South.” Historian 66.4 (2004): 749-771.).  11 Câu chuyện Cao Biền phía tảng đá ngầm được ghi chép trong Tân đường thư, tập 19, Cao Biền truyện  và Đại Việt sử ký toàn thư, kỉ thuộc Tùy Đường, hoặc trong Tôn Quang Hiến (Tống), Bắc Mộng Tỏa ngôn, có viết: 孫光憲 (宋). 北夢瑣言. 三秦出版社, 卷2，2003: 安南高骈奏开本州海路。初交趾以北距南海，有水路，多覆巨舟。骈往视之，乃有横石隐隐然在水中，因奏请开凿以通南海之利。)  12 Tana, Li. “A view from the sea: Perspectives on the northern and central Vietnamese coast.” Journal of Southeast Asian Studies 37, no. 1 (2006): 83-102.  13 Eduard B. Vermeer, Up the Mountains and Out to the Sea: The expansion of the Fukienese in the Late Ming Period; in Murray A. Rubinstein, Taiwan: new history, (New York: M.E. Sharpe Inc), 1998, pp.45 – 83.  14 Taylor, Keith Weller. The birth of Vietnam. Univ of California Press, 1983. tr.80.  15 Li Tana, The rise and fall of Jiaozhi yang region, in Schottenhammer, Angela, and Roderich Ptak, eds. The Perception of Maritime Space in Traditional Chinese Sources. Vol. 2. Otto Harrassowitz Verlag, 2006, p. 123 – 140). (Momoki, Shiro. “Dai Viet and the South China Sea Trade: from the 10th to the 15th Century.” Crossroads 12.1 (1998).  16 Taylor, Keith W. “An evaluation of the Chinese period in Vietnamese history.” 嬴撮嬴翱掘 23, no. 1 (1980): 139-164.  Sau này, khi nhà nước Đại Việt tìm cách độc quyền Nghệ – Tĩnh, thì nơi đây cũng là nơi giao tranh của giữa Đại Việt – Chiêm Thành (983, 989, 1006, 1009, 1011, 1012, 1029, 1031 và 1043), phải đến năm 1044, nhà Lý khi hoàn toàn kiểm soát vùng này, tình hình mới tạm ổn định.  17 See more in Keith Taylor, A history of the Vietnamese, or John Whitmore, The rise of The coast.    Author                Trần Thị Xuân        
__label__tiasang Lưu trữ thông tin bằng không gian ba  chiều      Lần đầu tiên các nhà khoa học thuộc ĐH Bordeaux 1 đã thành công trong việc biến một loại vật liệu thủy tinh thành nơi lưu trữ thông tin ba chiều dựa trên công nghệ ánh sáng.      Các nhà nghiên cứu đã chiếu các xung laser ngắn cường độ cao hội tụ 200µm lên thủy tinh kẽm phốt-phát đặc biệt chứa các ion bạc, thay đổi năng lượng tia laser và số xung lên các mẫu, ghi lại vùng được chiếu của vật liệu hấp thụ như thế nào và chiếu lại. Cùng một tia này, nhưng với cường độ thấp hơn, được dùng để trích xuất thông tin. Dữ liệu rất ổn định ở điều kiện chuẩn (cho đến 85oC). Thành tựu này có thể là một bước tiến quan trọng để cung cấp cho cuộc sống thêm một loại vật liệu hữu ích có khả năng chứa hàng terabit dữ liệu chỉ trong một cm3.   Tuệ Minh (Theo PhysOrg)           Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý Ngọc Minh-Một “Edison” của Việt Nam      Khác biệt với nhiều doanh nhân khác, tuy chỉ học hết lớp 5, nhưng nhà khoa học thực nghiệm- Anh hùng Lao động- Lý Ngọc Minh đã vượt lên nghịch cảnh, khẳng định mình bằng lòng đam mê gốm sứ để “trình làng” những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước. Có thể không ngoa khi nói rằng, ông là một “Edison” của Việt Nam.        “Khởi nghiệp” từ con số không  Yêu thích khoa học và đam mê gốm sứ, chàng trai trẻ Lý Ngọc Minh tự mày mò lao vào tìm hiểu gốm sứ và thành công đầu tiên là đã tạo ra được những màu men cơ bản. Sau 3 năm làm việc cật lực cùng với những kinh nghiệm có được ban đầu anh đã “bạo gan” cùng với một người bạn thành lập công ty Minh Long. “Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng đây sẽ là tiền đề cho việc sản xuất gốm sứ chất lượng cao sau này.  “Sau khi có chút hiểu biết về ngành gốm, tôi mới thấy để chế tạo ra gốm có chất lượng cao như của Nhật hay các nước phương Tây là điều không phải dễ vì ngoài kiến thức còn phải có tiền trang bị phòng thí nghiệm, máy móc sản xuất”, ông Lý Ngọc Minh cho biết.  Không thể bắt tay ngay vào “cuộc cách mạng” này nên Lý Ngọc Minh đ/BaoTiaSang/ành chuyển qua làm mỹ nghệ xuất khẩu để tích thêm vốn. Khi mọi thứ “đầu xuôi đuôi lọt” cộng với chút kiến thức về chế tạo men màu trong thời gian nghiên cứu nên những sản phẩm “khởi nghiệp” của ông làm ra có màu sắc tươi tắn, bắt mắt nên tiêu thụ nhanh, sản xuất đến đâu bao tiêu đến đó.                Năm 1975, doanh nghiệp của ông gặp phải khó khăn do thông thương chưa tốt. “Sau khi có chính sách mở cửa chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu và dần chiếm lĩnh thị trường châu Âu về con giống bằng gốm sứ với số lượng hàng triệu sản phẩm/năm”, ông Lý Ngọc Minh cho biết, “Do có công nghệ nhiệt độ thấp nên màu sắc sản phẩm rất đẹp và thân thiện môi trường nên lợi nhuận thu được khá lớn. Nhưng giấc mơ gốm sứ dân dụng với chất lượng cao cứ mãi đeo đuổi, không thể dứt ra được trong tôi. Đó là giấc mơ của một cậu bé có dịp theo cha xem triển lãm đồ sứ vào năm 12 tuổi, mơ lớn lên làm cuộc cách mạng làm gốm sứ đẹp như hàng của Trung Quốc và Nhật Bản mà mình đã ngưỡng mộ. Đến nay đã hơn 30 năm, giấc mơ đó trong tôi không bao giờ phai nhạt”.    “Muốn cạnh tranh phải ứng dụng công nghệ cao”  Đến 1994, thị trường gốm sứ trong nước bị hàng ngoại tràn vào làm cho hàng loạt doanh nghiệp gốm sứ trong nước đóng cửa. “Chua xót nhất là phải chứng kiến cảnh ngành sản xuất gốm sứ gia dụng truyền thống trong nước bị mai một”, ông Lý Ngọc Minh kể. Bài toán khó đặt ra, khó khăn là vậy nhưng ông đã nhanh chóng tìm ra lời giải: Phải đổi mới công nghệ. “Nhưng phải bắt đầu từ đâu và dùng công nghệ nào?”, ông tự hỏi.  Thế là ngay lập tức ông lên kế hoạch, “khăn gói” lên đường làm một cuộc khảo sát để chọn thiết bị ở Nhật, Đức, Anh, Pháp, Mỹ, Ý, Tây Ban Nha là những nơi, mà theo ông đều là những nước nổi tiếng có công nghệ cao về gốm. “Tôi tổng hợp lại và chọn mỗi nước một vài thiết bị mà sở trường họ mạnh giống như người ta chơi một dàn máy nghe nhạc cao cấp vậy”, ông bộc bạch.  “Là “thế hệ sinh sau đẻ muộn” nên muốn theo kịp phải chọn công nghệ tốt nhất, máy tốt nhất mới chiếm lĩnh được thị trường”, ông Minh cho biết. Vì vậy, ông đã quyết định chọn công nghệ nung nhanh, nhiệt độ cao không có bao nung vì công nghệ này sử dụng ít năng lượng, không có bao nung sẽ đỡ tốn nhiệt và nhiệt độ cao thì không phải sử dụng hóa chất độc hại.  Gian nan đi tìm công nghệ          Công ty Minh Long I với tổng vốn đầu tư hơn 500 tỷ đồng, công suất hơn 40 triệu sản phẩm/năm với doanh số hơn 250 tỷ đồng, xuất khẩu trên 70%. Hiện nay, xưởng được xây dựng khép kín từ nhà xưởng đến công nghệ với tổng diện tích đã xây xưởng là 60.000m2, đang xây tiếp 60.000m2. Cứ trong 3 phút, không khí trong nhà xưởng được lọc mới bằng máy hút qua 2 màng lọc bụi, hệ thống chiếu sáng bằng kính lắp trên cao để tiết kiệm điện thắp sáng, quản lý bằng hệ thống mạng vi tính. Chúng tôi sản xuất từ đầu vào cho đến đầu ra, có nghĩa là làm từ A đến Z, đầu vào là đất đá nguyên liệu thô, thiết kế, in ấn, làm khuôn, cơ khí điện, chúng tôi đều tự cung tự cấp, không lệ thuộc bất cứ nguyên liệu chế biến nào vì chúng tôi tự phối chế lấy cho đến thành phẩm cuối cùng. Xử lý môi trường bằng 2 hệ thống thoát nước, nước sạch và nước bẩn. Tiến tới, chúng tôi nghiên cứu sản xuất theo phương pháp “Sạch Bằng 0” kể cả phế liệu, phế phẩm cũng được nghiên cứu tận dụng để không thải ra rác, dù là rác sạch.          “Tôi phải bỏ rất nhiều thời gian nghiên cứu mới sử dụng được công nghệ mình lựa chọn vì người ta chỉ bán thiết bị chứ không bán công nghệ. Vả lại, đất đá từng vùng miền, thành phần hóa học không giống nhau nên họ cũng không thể chỉ ngay được”, ông Lý Ngọc Minh cho biết. Có những lần ông phải gian nan hàng nghìn cây số trên nước bạn mới mong muốn được “tận mục sở thị” quy trình công nghệ sản xuất gốm của họ, nhưng khi đến nơi họ chỉ cho ông “ngắm” lò. “Chỉ quan sát lò không thì không thu được thông tin gì cả”, ông Minh nói. Trong lúc thất vọng thì ông lại gặp may khi một người Đức mà ông từng quen, thuyết phục ông quay lại khi đã đi một đoạn đường dài. Rồi cuối cùng với “kế ngoại giao”, ông đã không chỉ được thỏa mắt quan sát tất cả các công đoạn của quy trình sản suất mà còn “thả sức” chụp ảnh. Bây giờ ngẫm lại ông mới thấy việc đi tìm công nghệ là một trong những thử thách lớn nhất để có được thành công sau này.   Khi đã quyết định chọn lò 1380oC, ông giám đốc thương mại của hãng sản xuất lò Reid Hammer bảo với ông, “Cậu phải đưa sản phẩm để chúng tôi nung thử rồi quyết định có bán lò cho cậu hay không. Nếu không khi ráp lò xong, lúc đốt, cậu bảo lò tôi không đốt được thì sao”. Rồi ông lại phải về nghiên cứu, chế tạo ra lò để thử nghiệm nung được sản phẩm ở nhiệt độ 1380oC và nung nhanh 5 tiếng từ nguội đến nguội. Đây quả là một thử thách, bởi theo ông, “mua lò đắt tiền cũng như mua xe đắt tiền, không phải cứ có tiền là sẽ mua được vì họ còn xem khả năng mình sử dụng có phù hợp hay không”. Và mất khoảng 1 năm nghiên cứu rồi thử nghiệm, gửi mẫu thử nghiệm cho hãng sản xuất lò đốt thử. “Cũng may, kết quả ra lò đạt kết quả rất tốt”, ông Minh phấn khởi.  Đến năm 1996, 8 tháng sau khi đặt, lò được chuyển đến Việt Nam cộng với thời gian ráp lò mất thêm 4 tháng. “Lúc chạy thử, tôi rất hồi hộp vì nung quá nhanh, chu kỳ chỉ có 5 tiếng, có nghĩa là từ nhiệt độ bình thường lên đến 1380oC chỉ mất 2h30’ và 2h30’ làm nguội sản phẩm”, ông Minh cho biết, “Sản phẩm không được để cạnh bể trong sốc nhiệt và men không bị sôi do nhiệt độ nóng chảy quá nhanh”. Lúc bấy giờ, ông muốn hỏi ai cũng khó vì trong nước và các nước xung quanh chưa có công nghệ nung nhanh này. Cuối cùng ông cũng thở phào nhẹ nhõm khi lò nung kết thúc cho ra chất lượng sản phẩm như mong muốn. “Tôi nghĩ đây cũng là sự may mắn vì ít có ai đốt 1 lần là nghiệm thu”, ông Minh hồ hởi.   Khẳng định thương hiệu       Với mong muốn cung cấp sản phẩm gốm sứ chất lượng cao, giá thành rẻ vị giám đốc này đã không ngừng đầu tư công nghệ cao để xây dựng một phòng thí nghiệm hoàn chỉnh. “Tôi phải trang bị phòng thí nghiệm một số máy phân tích như: máy phân tích dãn nở nhiệt, máy đo cỡ hạt, kính hiển vi điện tử… Nhờ đó, tôi có phòng thí nghiệm với máy móc tương đối đầy đủ và hiện đại”, ông Minh cho biết.    gày nay, nhà máy sản xuất Minh Long I thuộc loại hiện đại so với thế giới với những công nghệ tạo hình bằng trục lăng, dập bột đẳng tĩnh, đúc áp lực cao, tráng men li tâm, phun men, in hoa, nung đốt đa phần là tự động hóa. “Gần đây nhất chúng tôi có ứng dụng công nghệ nano trong men, tạo cho mặt men có lớp phủ kín gần như tuyệt đối khiến cho dầu mỡ và những chất bám bẩn nhất cũng khó dính, chỉ cần rửa nước thường cũng sạch” ông Minh cho biết. Theo ông, đây là công nghệ thân thiện môi trường, hợp vệ sinh cho người tiêu dùng. Sở dĩ chúng ông chọn công nghệ nung ở nhiệt độ cao là vì sản phẩm khi ra lò có độ bền chắc, đặc biệt không chì và không thấm lậu cadmidium, dùng lâu vẫn mới vì mặt men rất bền chắc.Hiện nay, Minh Long I được người tiêu dùng biết đến như một hãng có sản phẩm chất lượng và sản xuất bằng công nghệ cao. Tất cả những chỉ tiêu kỹ thuật các hãng lớn làm được, Minh Long I đều làm được nhưng ngược lại, có một số kỹ thuật Công ty Minh Long I sớm thành công như màu đỏ cung đình, màu xanh vua và  kỹ thuật vẽ màu trên nhiệt độ cao 1230o-1380oC. Và chỉ riêng Minh Long I là có bước đột phá mà cho đến nay chưa thấy có hãng nào sánh kịp và với công nghệ nano, hi vọng sẽ có nhiều cái mới và ngạc nhiên khác.    Theo lời kể của ông Lý Ngọc Minh tại Tọa đàm Dự thảo Luật công nghệ cao do Bộ KH&CN tổ chức.           Lê Long        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết dây và thực nghiệm      Lý thuyết dây, do một nhóm các nhà vật lý, trong đó có nhà vật lý người Việt Đàm Thành Sơn, nghiên cứu, có thể là công cụ  hữu ích để phân tích một số trạng thái kỳ lạ của vật chất, từ những quả  bóng quark và gluon siêu nóng đến các nguyên tử siêu lạnh.     Jan Zaanen, một nhà vật lý chất rắn tại trường Đại học Leiden, Hà Lan mô tả hai nhóm nhà khoa học như sau: Các nhà lý thuyết dây là những người dành cả thời gian của họ để đeo đuổi một lý thuyết tinh tế, ở mức độ toán học cao. Đó là “lý thuyết cho mọi thứ”. Còn đồng nghiệp của họ là những người chỉ muốn tập trung vào bản chất của vật liệu thực trong phòng thí nghiệm.  Các nhà khoa học đang cố gắng kết nối những kiến thức này được thôi thúc bởi một khám phá trùng hợp đáng ngạc nhiên: phương trình lý thuyết dây có thể là công cụ hữu ích để phân tích một số trạng thái kỳ lạ của vật chất, từ những quả bóng quark và gluon siêu nóng đến các nguyên tử siêu lạnh. Chỉ riêng năm qua đã có ít nhất bốn hội thảo quốc tế để khuyến khích sự hợp tác giữa các lĩnh vực khác nhau này, trong đó có một hội nghị được tổ chức bởi Zaanen ở Leiden.   Nhiều người vẫn hoài nghi rằng liệu liên minh kỳ lạ này có dẫn đến hiểu biết mới nào không, hay đó chỉ là sự kết hợp vì lợi ích. Ví dụ như lý thuyết dây gợi ý sự tồn tại của nhiều trạng thái mới của vật chất. Nhưng những dự đoán này quá khó để chứng minh và kiểm tra thực nghiệm bây giờ mới đang ở giai đoạn lập kế hoạch.  Trong lúc này lợi ích đối với từng bên là rất rõ ràng. Lý thuyết dây, từ lâu đã bị chê là không liên kết được với thực tế, đã nhận được tín nhiệm bằng thực nghiệm. Còn vật lý chất rắn có được một công cụ toán học mới – là lý thuyết dây mà truyền thông chưa bao giờ ưu ái.  Việc tác hợp bắt đầu cách đây khoảng chục năm bằng cuộc tái ngộ giữa Đàm Thanh Sơn và Andrei Starinets, hai người là sinh viên đại học và là bạn cùng ký túc xá tại Đại học Moscow những năm 1980. Đôi bạn mất tin tức của nhau lúc rời nước Nga sau khi chế độ cộng sản sụp đổ năm 1991. Nhưng năm 1999, Sơn đang làm tại Đại học Columbia ở thành phố New York, và nghe tin Starinets đang làm tiến sĩ về lý thuyết dây cách đó chỉ vài km tại Đại học New York. Do đó, Sơn đã đến thăm Starinest.   Hợp tác là điều nằm xa nhất trong suy nghĩ của anh. Lý thuyết dây rất phong phú về mặt toán học và có sự quyến rũ không cưỡng lại được. Nhưng đó là vật lý ở thang 10-35 m (10 phần tỉ tỉ tỉ tỉ m) – ý tưởng này dành cho các hạt cơ bản dường như không thể phân chia được, ví dụ như các hạt quark và electron sẽ trở nên nhỏ bé, các ống năng lượng luôn rung động khi nhìn ở thang độ này. Nhưng sợi dây này có thể có độ lớn nhỏ hơn khoảng 20 thang độ so với một proton, làm cho lý thuyết này nằm ngoài tầm với của bất kỳ thực nghiệm kiểm chứng trực tiếp nào. Chuyên ngành của Sơn, ngược lại, cắm rễ sâu vào thực nghiệm: anh cố hiểu các tính chất của plasma quark– gluon, những quả cầu siêu nóng có thời gian sống rất ngắn được tạo thành khi những hạt nhân nặng như vàng va đập mạnh vào nhau trong máy gia tốc. Tất cả những gì liên quan đến dây đều xa lạ với anh.   Ngoại trừ việc đó, khi Sơn nhìn thấy các tính toán của lý thuyết dây mà Starinets đang làm cùng với người bạn nghiên cứu sinh Giuseppe Policastro, anh nhận ra những phương trình này tương tự như những phương trình mà anh sử dụng để phân tích plasma. Ngay lập tức Sơn muốn biết chuyện gì đang xảy ra, và Starinets bắt đầu giải thích. Starinets và Policastro đã dựa trên ý tưởng được đưa ra bởi Juan Maldacena, nhà vật lý ở Đại học Havard ở Cambridge, Masachusetts. Maldacena bấy giờ đang ở viện nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey, đã nhận ra rằng lý thuyết dây dự đoán một sự tương đương toán học giữa hai vũ trụ giả thuyết, một trong hai giống với vũ trụ của chúng ta. Ví dụ, nó cũng có ba chiều không gian và một chiều thời gian, và được lấp đầy bằng cùng nhiều loại hạt cơ bản, và tuân theo phương trình trường lượng tử quen thuộc. Nhưng nó không thể chứa dây hay trọng lực.  Còn vũ trụ kia thì ngược lại: chứa cả dây và trọng lực mạnh đến nỗi có thể tạo thành các lỗ đen – nhưng không có các hạt cơ bản. Nó cũng có thêm một chiều không gian.   Tầm nhìn Maldacena thật đơn giản, khá táo bạo: xem bất kỳ quá trình bao gồm các và trường ở vũ trụ thứ nhất, ông nói, nó có thể được mô tả bằng một quá trình bao gồm trọng lực, lỗ đen và các dây ở vũ trụ thứ hai, và ngược lại. Các phương trình có thế rất khác nhau. Nhưng bản chất vật lý thì hoàn toàn giống nhau.  Nó giải thích vì sao Sơn nhìn thấy các phương trình quark – gluon trong tính toán lý thuyết dây, Starinets giải thích: đó là phương trình tương đương ba chiều của trường hấp dẫn mà anh và Policastro đang nghiên cứu trong vũ trụ bốn chiều.  PHỐI HỢP VÌ LỢI ÍCH  Việc nhảy qua nhảy lại giữa các vũ trụ thật khó hiểu ngay cả theo tiêu chuẩn lý thuyết dây (và còn khó hiểu hơn đối với những người không nghiên cứu lý thuyết dây, bởi vì Maldacena chỉ ra rằng phép chiếu không những chỉ đúng với không gian ba chiều và bốn chiều mà còn giữa bốn và năm chiều, năm và sáu chiều,…vv). Khi giáo sư Sơn và Starinets nói chuyện, họ nhận ra rằng phép chiếu Maldacena có thể là một công cụ giải toán hữu hiệu. Họ có thể bắt đầu bằng tập hợp một mớ lộn xộn các phép tính trường lượng tử trong thế giới thực ba chiều –  tức là các phương trình plasma quark – gluon – và chiếu những phương trình này lên không gian bốn chiều, mà trong đó các phương trình dường như dễ hơn rất nhiều. Sau đó họ có thể chiếu lại qua không gian ba chiều và lọc ra đáp án.    Việc này đã thành công. “Chúng tôi đã quay vòng các phép tính để cho ra một dự đoán của độ nhớt biên của plasma”, Sơn nói về một thông số mấu chốt của quả cầu quark – gluon. “Một người bạn của tôi trong ngành vật lý hạt nhân đã đùa rằng kết quả của chúng tôi là bài báo có ích đầu tiên của lý thuyết dây”, Sơn nói.  Năm 2008, dự đoán của nhóm đã được xác nhận lại tại máy gia tốc hạt ion nặng đóng ở phòng thí nghiệm quốc gia Blookhaven, Upton, New York. “Đây là kết quả định lượng chắc chắn và đến hôm nay nó vẫn là kết quả tốt nhất thu được từ phương trình liên kết lý thuyết dây với thực nghiệm”, Steve Gubser – một nhà lý thuyết dây tại Đại học Princeton, và là một trong những người tiên phong trong việc ứng dụng nguyên lý này cho các bài toán ở thế giới thực – nói.  Thành công của nhóm đồng thời cũng nhận được sự quan tâm của Subir Sachdev, nhà lý thuyết chất rắn tại Harvard. Cũng như Sơn đã nhìn thấy plasma trong các phương trình của Starinets, Sachdev nhìn thấy sự chuyển pha tới hạn lượng tử – sự thay đổi trạng thái tìm thấy ở vật chất khi chúng gần đến độ không tuyệt đối, khi các tác dụng của cơ học lượng tử bắt đầu chiếm ưu thế. “Chúng tôi sử dụng từ ngữ khác nhau”, ông ấy nói “nhưng về bản chất vật lý thì giống nhau”.  Sachdev đã hy vọng rằng ý tưởng của Maldacena có thể cung cấp cho ông và đồng nghiệp sự giúp đỡ cần thiết để khảo sát lĩnh vực không mấy thuận lợi này.  Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà thực nghiệm đã khám phá ra một loạt các trạng thái lượng tử chiếm ưu thế kỳ lạ- bao gồm chất siêu dẫn cho phép dòng điện truyền qua mà không có điện trở; chất siêu lỏng không có độ nhớt và có thể bò lên thành cốc: ngưng tụ Bose- Einstein làm từ các nguyên tử chuyển động từng bước giống như một “siêu nguyên tử” đơn; và kim loại “kỳ dị” có biểu hiện hoàn toàn khác so với kim loại thông thường. Nhưng các nhà vật lý vẫn không có cách nào để dự đoán những gì sẽ đến tiếp theo. “Chúng ta còn không thể trả lời câu hỏi cơ bản là tồn tại bao nhiêu pha vật chất”, Sean Hartnoll, một nhà lý thuyết dây ở Đại học Stanford tại California nói.  Cố gắng đầu tiên của Sachdev là áp dụng ý tưởng của Maldacena lên vật liệu trong phòng thí nghiệm đem lại kết quả là hai bài báo mà ông là đồng tác giả vào năm 2007, một là với Sơn và một đồng nghiệp của Sơn, và một bài khác cùng với nhóm trong đó có Hartnoll. Kể từ đó, Sachdev và các cộng sự đã xây dựng một phương pháp để tính dẫn xuất của kim loại lạ dựa vào các tính chất của lỗ đen trong vũ trụ bốn chiều của lý thuyết dây. Đây là một kỹ thuật mà John Mc Greevy tại viện kỹ thuật Massachsetts ở Cambridge và cộng sự cũng đeo đuổi. Kết quả là những nhóm này đã tạo lại được các tính chất lạ thường của kim loại ở nhiệt độ thấp. Họ cũng đã chiếu tính chất lỗ đen bốn chiều trong lý thuyết dây lên điều kiện mà ở đó nhiều vật liệu sẽ đổi pha thành các trạng thái khác ngoài chất rắng, lỏng và khí quen thuộc. “Bây giờ chúng tôi đã có một công cụ mạnh mẽ hoàn toàn mới để giải quyết các bài toán mà tôi đã nghiên cứu trong 20 năm qua”, Sachdev nói.  Sự tham gia của Sachdev đã kích thích sự quan tâm của các nhà vật lý chất rắn khác. “Phần lớn chúng tôi tham gia vào lĩnh vực này bởi vì sự lôi cuốn của tính cách và danh tiếng của Subir – chúng tôi nhận thấy rõ rằng nếu ông ấy coi vấn đề này là nghiêm túc, thì chúng tôi cũng nên làm như vậy”, Andrew Green, một nhà vật lý rắn ở Đại học St Andrwes, Anh nói.  Sự cộng tác với lĩnh vực chất rắn dường như hoàn hảo để kết nối lý thuyết dây với thực tế. Nếu không có gì khác, nó hứa hẹn sẽ cho ra vô số kết quả – khoảng 10500 lời giải cho phương trình cơ bản của nó, mỗi lời giải mô tả vũ trụ khả dĩ có kích thước, hình dạng, chiều và các định luật vật lý riêng. Thông qua ý tưởng của Maldacena, nhà lý thuyết Jerome Gautlett tại Đại học Hoàng gia London nói, “mỗi lời giải có thể được diễn tả bằng vô số vật liệu đang chờ khám phá”.  Phần thưởng chia đều cho nhau, Zaanen nói: “Nếu tôi nói về chất siêu dẫn và lỗ đen trong một buổi nói chuyện, mọi người bị thu hút bởi nó giống như con ong bị thu hút bởi mật vậy”. “Bây giờ, nó đang mang đến bầu nhiệt huyết tươi trẻ cho vật lý chất rắn, như là sự lựa chọn đầu tiên của nó”.  Sự tác hợp này đôi khi vẫn có nhiều mâu thuẫn. Mọi người đồng ý rằng các nhà vật lý chất rắn còn nhiều do dự về việc tác hợp này hơn là các nhà lý thuyết dây. “Tôi đã thất bại trong việc thuyết phục các nhà vật lý chất rắn cho phép các nhà lý thuyết dây thuyết trình tại các hội nghị lớn của họ”, Zaanen nói. “Họ e ngại rằng họ cần phải học lý thuyết dây để nói chuyện được với những người kia. Giống như tôi hỏi họ về việc uống cà phê với những sinh vật ngoài Trái đất”.  Polchinski thừa nhận sự hoài nghi về chất rắn là có cơ sở. “Tôi không nghĩ rằng các nhà lý thuyết dây đem lại điều gì mà các nhà vật lý chất rắn chưa biết”, ông ấy nói. Các kết quả định lượng dường như chỉ là việc tìm lại các câu trả lời mà các nhà vật lý chất rắn đã tìm ra thông qua các phương pháp thông thường.    Và còn tệ hơn, một vài dự đoán có thể kiểm chứng được từ lý thuyết dây trông quá kỳ dị khi khìn từ quan điểm chất rắn. Ví dụ như, các tính toán đề nghị rằng khi một vài chất tinh thể được làm lạnh tới độ không tuyệt đối, chúng sẽ đạt tới một trạng thái có năng lượng sàn thấp nhất. Nhưng điều đó vi phạm định luật thứ 3 của nhiệt động học, nói rằng những vật liệu này chỉ có duy nhất một trạng thái cơ bản.   Để xóa tan sự hoài nghi, các nhà lý thuyết đang bận rộn tìm kiếm các dự đoán có thể được để tìm ra bằng chứng xác thực nhất về sự hữu ích của việc cộng tác. Nhóm của Gauntlett, và các nhóm khác đang tìm kiếm cấu hình của lỗ đen trong vũ trụ lý thuyết dây để vạch ra các hiện tượng chuyển pha chưa được khám phá. Kỹ xảo là phải tìm ra vật chất có thể hiện sự chuyển pha này. Gaunlett nói: “Hy vọng rằng với kỹ thuật tiên tiến, các nhà thực nghiệm sẽ có khả năng chế tác ra vật chất có các tính chất mà chúng ta sự đoán”.  Sachdev đang áp dụng lý thuyết dây vào một vấn đề nhiều thách thức: tính toán sự biến động của độ dẫn đối với nhiệt độ khi các nguyên tử siêu lạnh chuyển từ trạng thái siêu lỏng tới một trạng thái cô lập khác. Ông ấy nghĩ rằng dự đoán của ông có thể được kiểm chứng trong vài năm tới.  Ngay cả khi chương trình này thành công thì lợi ích qua lại vẫn còn giới hạn. Lý thuyết dây có thể đưa ra một mớ tính chất để tìm kiếm, và các dự đoán về việc chúng sẽ thay đổi như thế nào trong các thí nghiệm. Nhưng nó sẽ không bao giờ đưa ra được một lý thuyết giải thích làm sao những tính chất này tạo thành từ các tính chất của electron. Tương tự như vậy, thí nghiệm xác minh các dự đoán của lý thuyết dây về chất rắn sẽ không chứng minh được rằng chính lý thuyết dây là lý thuyết mô tả chính xác nhất của thực tế.  Nhưng có lẽ, Green chỉ rõ mối quan hệ với vật chất sẽ chỉ ra rằng mọi người đã nhầm một cách cơ bản về lý thuyết dây. “Có thể lý thuyết dây không phải là lý thuyết duy nhất của thực tế mà có thể là cái gì đó sâu xa hơn – tập hợp các nguyên lý toán học có thể được sử dụng để liên kết tất cả các lý thuyết vật lý chẳng hạn”. Green cho hay, “Có thể lý thuyết dây là phép toán mới”.  Hoàng Thanh Phi Hùng dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết Maxwell khó hiểu, vì sao ?      Vào năm 1865, James Clerk Maxwell ở tuổi 34 công bố bài báo “Một lý thuyết động lực học của trường điện từ” trên tạp chí Triết học của Hội Hoàng gia Anh. Đó là sự kiện quan trọng nhất của lịch sử khoa học vật lý trong thế kỷ 19 và nếu ta xem sinh học như là một bộ phận của vật lý học thì công trình của Maxwell chỉ xếp sau “Nguồn gốc các loài” của Darwin. Nhưng trong hơn hai mươi năm, lý thuyết điện từ của ông đã không được các đồng nghiệp ngó ngàng tới. Họ cho rằng lý thuyết của Maxwell rất khó hiểu và thiếu các bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ.       Tính khiêm tốn của Maxwell  Nhà vật lý Micheal Pupin trong cuốn “From Immigrant to Inventor – Từ một người lưu vong tới nhà phát minh” đã kể lại việc, năm 1883, ông đã từ Mỹ sang châu Âu để tìm kiếm xem có ai đó hiểu được lý thuyết của Maxwell không (giống như một kỵ sĩ đi tìm chiếc Chén Thánh vậy) và trước tiên, Pupin tới Cambridge với nguyện vọng được học lý thuyết từ chính Maxwell. Sau khi biết rằng Maxwell đã mất, ông theo học với một vị trợ giảng. Nhưng vị này thậm chí còn không biết nhiều về lý thuyết Maxwell bằng ông. Vì vậy, Pupin rời Cambridge để tới Berlin và đăng ký theo học Hermann von Helmholtz. Helmholtz đã dạy Pupin những gì ông biết về lý thuyết của Maxwell. Rồi Pupin trở lại New York, trở thành giáo sư Đại học Columbia và dạy nhiều thế hệ sinh viên kế tiếp, những người đã góp phần phổ biến lý thuyết của Maxwell ra khắp nước Mỹ.  Vì sao lý thuyết Maxwell lại bị đối xử lạnh nhạt như thế?   Maxwell đâu có như người cùng thời với ông, Gregor Mendel, một mục sư làm việc âm thầm trong một tu viện ít người biết đến ở Bohemia. Maxwell là một giáo sư nổi tiếng, giám đốc phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge, Chủ tịch tiểu ban Toán Lý của Hiệp hội vì Sự tiến bộ của Khoa học Anh. Khi hiệp hội này tổ chức một buổi gặp mặt thường niên ở Liverpool năm 1870, ông đã có một bài diễn văn, qua đó chúng ta có thể hiểu tại sao lý thuyết của Maxwell lại không được mọi người quan tâm đến một cách nghiêm chỉnh.   Lẽ ra với bài thuyết trình với tư cách chủ tịch này, ông hoàn toàn có cơ hội để công bố với thế giới tầm quan trọng của các phát minh mà ông đã tìm ra năm năm trước đó. Tuy nhiên, ông đã không làm như thế. Đầu tiên Maxwell thông báo về những tiến bộ lớn gần đây ở ranh giới giữa vật lý và toán học. Sau đó, ông nồng nhiệt nói về lý thuyết xoáy của các phân tử, mới được Sir William Thompson (người sau này trở thành Lord Kelvin) xây dựng trên những định lý rất đẹp về thủy động lực học của Helmholtz, nhằm tìm kiếm những tính chất của các nguyên tử trong những vòng xoáy của một chất lỏng đồng chất, không ma sát, không chịu nén. Maxwell đã ca tụng lý thuyết xoáy của vật chất này như một ví dụ tuyệt vời về sự tương tác đầy hiệu quả giữa toán học và vật lý.  Không thể biết chắc Maxwell có thực sự tin vào những điều ông nói về lý thuyết xoáy hay không. Ông vốn là người có óc hóm hỉnh kín đáo và có thể ông ca ngợi lý thuyết xoáy một cách châm biếm thâm trầm vì biết rằng các thính giả sáng suốt trong cử tọa sẽ hiểu rằng đây chỉ là một trò đùa. Chỉ đến khi kết thúc bài nói chuyện, Maxwell mới đề cập đến lý thuyết điện từ của mình. Ông nói về nó theo kiểu không mấy hứng thú, chỉ đơn giản: “Một lý thuyết khác về điện mà tôi ưa thích đã phủ nhận tương tác xa (tức tương tác trên khoảng cách), mà gán tác dụng điện cho sức căng và áp lực trong một môi trường tràn ngập không gian, các ứng suất này cũng cùng loại với những ứng suất đã quá quen thuộc với các kỹ sư, và môi trường này hoàn toàn đồng nhất với môi trường được coi là truyền ánh sáng. Cụm từ “Một lý thuyết khác về điện” mà tôi ưa thích có vẻ như được sử dụng một cách có dụng ý để làm lu mờ đi thực tế đó là lý thuyết của chính ông. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên rằng thính giả của ông có ấn tượng với lý thuyết xoáy của Kelvin nhiều hơn các phương trình của Maxwell.  Nếu tính khiêm tốn của Mendel làm chậm lại quá trình phát triển của sinh học tới 50 năm, còn tính khiêm tốn của Maxwell làm vật lý chậm lại 20 năm. Cũng vĩ đại như Newton nhưng Maxwell đã không sử dụng bài nói chuyện với tư cách chủ tịch của mình ở Liverpool giống như Newton đã làm để quảng bá cho phần ba của cuốn Những nguyên lý toán học (Principia Mathematica): “Từ chính những nguyên lý đó, giờ đây tôi chỉ còn phải diễn tả bộ khung của hệ thống của thế giới mà thôi”. Newton đã không nói tới định luật vạn vật hấp dẫn như là “một lý thuyết khác về hấp dẫn mà tôi ưa thích”.    Lý thuyết Maxwell và Cơ học lượng tử  Tất nhiên, bên cạnh tính khiêm tốn của Maxwell, còn có nhiều lý do khác khiến cho lý thuyết của ông khó hiểu. Ông thay thế vũ trụ kiểu Newton của các vật thể hữu hình tương tác xa với nhau (tức trên một khoảng cách) bởi một vũ trụ của các trường lan tỏa qua không gian và chỉ tương tác một cách định xứ với các vật thể hữu hình. Khái niệm trường là khó nắm bắt bởi chúng là không hữu hình, tức không nhìn thấy và không sờ mó được. Các nhà khoa học thời đó bao gồm cả chính Maxwell đã cố gắng hình dung trường như các cấu trúc cơ học, bao gồm rất nhiều các bánh xe nhỏ và các vòng xoáy lan truyền khắp không gian. Các cấu trúc này được cho là mang những ứng suất cơ học mà điện trường và từ trường truyền đi giữa các điện tích và dòng điện. Để làm cho các trường thỏa mãn các phương trình Maxwell, hệ thống những bánh xe và vòng xoáy phải cực kỳ phức tạp. Nếu thử hình dung lý thuyết Maxwell nhờ các mô hình cơ học này, thì nó sẽ gợi cho bạn nhớ tới thiên văn học của Ptolemy, với các hành tinh ngự trên các vòng tròn và các ngoại luân trên bầu trời. Nó không giống như mô hình thiên văn đẹp đẽ của Newton. Các phương trình Maxwell được viết với những ký hiệu cồng kềnh, hết sức rối rắm, nhưng mô hình cơ học của ông còn tồi tệ hơn thế. Đối với những người đương thời, lý thuyết của Maxwell chỉ là một trong số rất nhiều những lý thuyết về điện và từ, nó lại rất khó hình dung và không hề có ưu thế rõ ràng so với các lý thuyết khác mô tả các lực điện và từ theo kiểu Newton như là một tác dụng trực tiếp từ xa giữa các điện tích và nam châm. Vì thế không có gì lạ là rất ít những người đương thời của Maxwell bỏ công ra học nó.  Lý thuyết của Maxwell sẽ trở nên đơn giản và dễ hiểu nếu như bạn thay vì xem các vật thể cơ học là chính yếu và các trường điện từ là hệ quả thứ yếu, bạn cần coi các trường điện từ là chính yếu và lực cơ học là phụ. Trường là một khái niệm trừu tượng, xa rời hẳn với thế giới quen thuộc của các vật thể và các lực. Các phương trình trường của Maxwell là các phương trình đạo hàm riêng. Chúng không thể được diễn tả bằng vài lời như định luật chuyển động của Newton, lực bằng khối lượng nhân gia tốc. Lý thuyết của Maxwell phải đợi đến thế hệ tiếp theo của vật lý, Hertz, Lorentz, và Einstein, mới hé lộ hết sức mạnh của nó và các khái niệm của nó mới trở nên rõ ràng.   Quan điểm hiện đại về thế giới xuất hiện trong lý thuyết của Maxwell là một thế giới với hai lớp. Lớp thứ nhất, lớp của những thành phần cơ bản cấu thành nên thế giới, bao gồm các trường thỏa mãn các phương trình tuyến tính đơn giản. Lớp thứ hai, lớp của những gì chúng ta có thể cảm nhận và đo được một cách trực tiếp, bao gồm các ứng suất cơ học, năng lượng và lực. Hai lớp này liên kết với nhau bởi vì các đại lượng trong lớp thứ hai là các tổ hợp bậc hai hoặc song tuyến tính của các đại lượng trong lớp thứ nhất. Cấu trúc hai lớp của thế giới là nguyên nhân cơ bản khiến lý thuyết Maxwell trở nên huyền bí và khó hiểu. Các đối tượng trong lớp thứ nhất, các đối tượng mà thực sự rất cơ bản, chúng đều là những trừu xuất mà các giác quan của chúng ta không thể tiếp cận trực tiếp được. Các đối tượng mà chúng ta có thể cảm nhận và sờ mó được nằm trong lớp thứ hai, và dáng điệu của chúng chỉ được xác định gián tiếp qua các phương trình xác định trong lớp thứ nhất. Cấu trúc hai lớp của thế giới chỉ ra rằng các quá trình cơ bản của tự nhiên ẩn giấu trước con mắt của chúng ta.  Sáu mươi năm sau khi Maxwell công bố lý thuyết của ông, Schrodinger, Heisenberg và Dirac khám phá ra cơ học lượng tử và được chấp nhận nhanh hơn rất nhiều so với lý thuyết của Maxwell bởi nó có rất nhiều các tiên đoán xác định về các quá trình trong nguyên tử và các thí nghiệm cho thấy những tiên đoán đó là chính xác. Mặc dù cơ học lượng tử nhanh chóng được chấp nhận, nhưng những khác biệt gay gắt về quan điểm trong việc giải thích cơ học lượng tử tồn tại dai dẳng tới 70 năm. Nguyên nhân là do mọi giải thích khác nhau đều cố gắng mô tả thế giới lượng tử bằng một ngôn ngữ thiếu vắng các khái niệm phù hợp.   Sự tương tự giữa cơ học lượng tử và lý thuyết Maxwell  Có thể sẽ hữu ích cho việc tìm hiểu cơ học lượng tử nếu chúng ta nắm bắt được sự tương tự giữa cơ học lượng tử và lý thuyết Maxwell. Thứ nhất, những cố gắng để hiểu cơ học lượng tử theo ngôn ngữ dựa trên các khái niệm cổ điển cũng tương tự như việc cố gắng để hiểu lý thuyết Maxwell theo các mô hình cơ học. Lý thuyết Maxwell trở nên hài hòa và dễ hiểu chỉ sau khi từ bỏ những cố gắng diễn tả trường điện từ bằng mô hình cơ học. Tương tự như vậy, cơ học lượng tử sẽ trở nên trong sáng và dễ hiểu nếu ta từ bỏ việc mô tả nó bằng các từ ngữ. Để thấy vẻ đẹp của lý thuyết Maxwell, chúng ta cần giã từ các mô hình cơ học và đi vào thế giới trừu tượng của trường. Để thấy vẻ đẹp của cơ học lượng tử, chúng ta cần phải từ bỏ việc mô tả bằng lời và đi vào thế giới trừu tượng của hình học. Toán học là ngôn ngữ của tự nhiên, ngôn ngữ toán học làm cho thế giới các trường của Maxwell và thế giới các quá trình lượng tử trở nên trong suốt như nhau.  Mối liên hệ thứ hai giữa lý thuyết Maxwell và cơ học lượng tử là sự tương tự sâu sắc về cấu trúc. Giống như lý thuyết Maxwell, cơ học lượng tử chia thế giới thành hai lớp. Lớp thứ nhất chứa các hàm sóng của Schrodinger, các ma trận của Heisenberg và các véc-tơ trạng thái của Dirac. Các đại lượng trong lớp thứ nhất tuân theo các phương trình tuyến tính đơn giản. Dáng điệu của chúng có thể được tính toán một cách chính xác. Nhưng chúng ta không quan sát được chúng một cách trực tiếp. Lớp thứ hai bao gồm xác suất của các va chạm và chuyển hóa của các hạt, cường độ và phân cực của bức xạ, giá trị kỳ vọng của năng lượng và spin của các hạt. Những đại lượng trong lớp thứ hai có thể quan sát được trực tiếp nhưng không tính được trực tiếp. Chúng không tuân theo các phương trình đơn giản. Chúng hoặc là bình phương của các đại lượng thuộc lớp thứ nhất hoặc là tích của hai đại lượng nào đó trong lớp thứ nhất. Trong cơ học lượng tử, cũng như trong lý thuyết Maxwell, tự nhiên sống trong thế giới toán học trừu tượng của lớp thứ nhất nhưng chúng ta, con người, lại sống trong thế giới cơ học cụ thể của lớp thứ hai. Chúng ta chỉ có thể mô tả tự nhiên bằng ngôn ngữ toán học trừu tượng bởi vì ngôn từ bằng lời thông thường của chúng ta chỉ có thể mô tả lớp thứ hai. Giống như trong trường hợp lý thuyết Maxwell, phẩm chất trừu tượng của các đại lượng thuộc lớp thứ nhất được hé lộ thông qua các đơn vị dùng để biểu thị chúng. Ví dụ, phương trình sóng Schrodinger được biểu thị qua đơn vị bằng căn bậc hai của nghịch đảo của mét khối. Chỉ một thực tế này thôi cũng cho thấy rõ ràng rằng hàm sóng là một thực thể trừu tượng, mãi mãi ẩn giấu dưới con mắt chúng ta. Không ai có thể đo trực tiếp được căn bậc hai của một mét khối cả.  ***  Tất cả các thành công vĩ đại của vật lý thế kỷ 20: lý thuyết tương đối của Einstein, cơ học lượng tử, lý thuyết Yang-Mills về các bất biến chuẩn (gauge) tổng quát, và cho lý thuyết thống nhất của các trường và hạt, được biết đến dưới cái tên Mô hình chuẩn của vật lý hạt đều dựa trên các khái niệm trường động lực, mà Maxwell đã đưa ra vào năm 1865. Tất cả chúng đều có cấu trúc hai lớp, chia tách thế giới của các phương trình động lực đơn giản ra khỏi thế giới quan sát được của con người. Tất cả những lý thuyết đó đều thể hiện cùng một phẩm chất trừu tượng hóa toán học, điều đã làm cho lý thuyết Maxwell trở nên khó nắm bắt đối với những người đương thời với ông. Chúng ta hy vọng rằng sự hiểu biết sâu sắc lý thuyết Maxwell sẽ xua tan màn sương mù những hiểu nhầm bao quanh sự giải thích cơ học lượng tử. Chúng ta cũng hy vọng rằng sự hiểu biết sâu sắc ấy sẽ dẫn chúng ta đến những thành công to lớn hơn của vật lý học trong thế kỷ 21.   Nguyễn Duy Khánh dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết mới về nguồn gốc vật chất tối      Một nghiên cứu mới đây của trường đại học Melbourne đề xuất một lý thuyết mới về nguồn gốc vật chất tối, có thể giúp các nhà thực nghiệm ở Australia và quốc tế trong việc tìm kiếm thứ vật chất bí ẩn này.      Được xuất bản trên Physical Review Letters, công trình “Filtered Dark Matter at a First Order Phase Transition” đã miêu tả cách các bong bóng giãn nở trong vũ trụ sớm có thể là chìa khóa để hiểu về vật chất tối.  “Cơ chế do chúng tôi đề xuất cho thấy có thể xác định được sự phong phú của vật chất tối trong một chuyển pha vũ trụ”, TS. Michael Baker, một postdoct tại trường đại học Melbourne và là một trong số các tác giả, cho biết.  “Những chuyển pha đó được chờ đợi để chiếm chỗ trong vũ trụ sớm và có thể tương tự với các bong bóng khí hình thành trong nước sôi. Chúng tôi chứng tỏ là thật khó trông đợi các hạt vật chất tối xuyên vào được các bong bóng đó, do đó giải thích vì sao lại có thể “quan sát” một lượng vật chất tối lớn như thế trong vũ trụ”.  Dẫu chưa có bất kỳ thực nghiệm nào phát hiện ra hạt vật chất tối, không ai thành công. Phần lớn thí nghiệm đã tìm kiếm các hạt nặng tương tác yếu (Weakly Interacting Massive Particles), vốn từng được cho là ứng cử viên vật chất tối nhiều thập kỷ. Dẫu sao, các thực nghiệm đó vẫn chưa từng “nhìn” thấy bất kỳ cái gì. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều nhà lý thuyết nghĩ khác đi.  “Chúng ta biết vật chất tối không ở đó nhưng chúng ta vẫn chưa biết thêm nhiều lắm”, TS. Baker nói. “Nếu đó là một hạt mới thì đó là cơ hội tốt để chúng ta có thể dò được một cách thực tế trong phòng thí nghiệm. Chúng ta có thể tìm ra các tính chất của nó, như khối lượng và các tương tác, đồng thời học hỏi thêm điều mới mẻ và sâu sắc về vũ trụ”.    Phòng thí nghiệm vật lý dưới lòng đất Stawell hiện đang được xây dựng sẽ là nơi diễn ra các thí nghiệm về vật chất tối của Úc. Nguồn: Stawell Times  Nghiên cứu này là sự hợp tác giữa trợ lý giáo sư Andrew Long của trường đại học Rice, Texas, và giáo sư Joachim Kopp của CERN và trường đại học Mainz. Nó chỉ ra cách thức thực hiện kế hoạch thực nghiệm mới để tìm kiếm vật chất tối. “Một khía cạnh thú vị về ý tưởng này là nó cũng phù hợp với các hạt vật chất tối nặng như các hạt nặng tương tác yếu, trên những thí nghiệm tìm kiếm vật chất tối mà chúng ta đã thực hiện trong quá khứ”, giáo sư Kopp nói. “Do đó, công việc của chúng tôi là thúc đẩy sự mở rộng phạm vi tìm kiếm vật chất tối đối với cả các ứng cử viên có khối lượng lớn hơn”  Phát hiện này có thể đóng vai trò quan trọng với các thực nghiệm trong tương lai về vật chất tối ở Australia.  Phòng thí nghiệm vật lý dưới lòng đất Stawell hiện đang được xây dựng ở Victoria, nằm sâu dưới bề mặt một ki lô mét bên dưới một khu mỏ vàng cũ. Nó sẽ là phòng thí nghiệm vật lý hạt đầu tiên dưới mặt đất ở Nam Hemisphere, và sẽ là nơi diễn ra nhiều ths nghiệm kiếm tìm vật chất tối trong những năm đến.  Các đề suất lý thuyết mới sẽ giúp định hướng thiết kế các thực nghiệm, vốn là cơ hội để kiểm chứng một phạm vi rất rộng các ứng viên vật chất tối, qua đó trao cho các nhà khoa học cơ hội khám phá vật chất bí ẩn bậc nhất vũ trụ.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-theory-dark.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết mới về tổ tiên dân Bắc Mỹ      Các chuyên gia thuộc ĐH Oregon (Mỹ) và ĐH Copenhagen (Đan Mạch) đã nghiên cứu những đoạn DNA có trong phân người hóa thạch được tìm thấy trong các hang động cổ xưa tại sa mạc Oregon (Mỹ).      Những hóa thạch này có độ tuổi vào khoảng 14.340 năm. Mẫu chất thải này chứa 2 loại gien chính có nguồn gốc châu Á là đặc điểm của thổ dân châu Mỹ hiện nay. Điều này cho thấy quá trình di cư đã xảy ra sớm hơn 1.000 năm so với các kết luận trước đây. Theo lý thuyết dựa trên sự phân tích các công cụ bằng đá từ thời nền văn hóa Clovis, một số người tại Siberia đã băng qua một dải đất từng nối khu vực này với Bắc Mỹ và định cư tại vùng đất mới cách đây 13.000 năm.    T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết tai biến và phức hợp      Lý thuyết tai biến (catastrophe theory/viết tắt là LTTB – một trong những lý thuyết đẹp đẽ mà con người có thể sáng tạo ra) nghiên cứu và xếp loại các hiện tượng đột biến của một hệ động học gây nên bởi những nhiễu loạn ngoài, đã hội nhập như một cách tiếp cận độc đáo, sáng tạo với khoa học phức hợp (complexity science) hiện đại trong thế kỷ 21.      1 .  Khoa học phức hợp (Complexity science- viết tắt KHPH)  Sau đây KHPH được trình bày tóm tắt, chi tiết xin xem tài liệu [1]). KHPH nghiên cứu các hệ phức hợp là những hệ chứa nhiều thành phần con tương tác với nhau và nếu hệ thống đó lại biểu hiện những tính chất, những lối hành xử (behavior) mà chúng ta không thể suy ra một cách hiển nhiên từ tương tác của những thành phần cấu thành nó. Đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống phức hợp là hiện tượng đột sinh (emergence). Hiện tượng đột sinh là hiện tượng xuất hiện những quy luật, những hình thái, những trật tự mới từ  hiệu ứng tập thể của  các tương tác giữa các thành phần của hệ thống.  Các hệ phức hợp nằm  ở ranh giới giữa hỗn độn và trật tự (balanced on the edge of chaos –not too orderly, not too  disordered). Cho nên việc nghiên cứu phức hợp gắn liền với lý thuyết hỗn độn (chaos theory).  Phần của không gian pha (ví dụ không gian tọa độ-xung lượng trong cơ học) ứng với một hành xử nhất định của hệ phức hợp làm thành tập hút (attracting set) gồm điểm hút và quỹ đạo hút (attractor).  Lý thuyết hỗn độn dẫn đến 3 loại tập hút (attractor) mô tả trạng thái của hệ theo thời gian: điểm hút (mô tả trạng thái cân bằng-equilibrium), quỹ đạo hút giới hạn (mô tả dao động), quỹ đạo hút lạ (mô tả hỗn độn).  Quá trình rẽ (bifurcation) là quá trình biến đổi định tính cấu trúc tập hút, khi các thông số điều khiển thay đổi: một điểm hút mô tả trạng thái cân bằng có thể chuyển sang một quỹ đạo hút chu kỳ mô tả một dao động và một tập hút chu kỳ có thể chuyển sang một tập hút lạ (strange attractor) mô tả trạng thái hỗn độn.  Tập các điều kiện ban đầu dẫn đến một tập hút cho trước gọi là thung lũng hút (basin).  2 . Lý thuyết tai biến  Lý thuyết tai biến (catastrophe theory) viết tắt là LTTB được René Thom phát triển vào những năm đầu thập kỷ 70 trước [2],[3],[4],[5]. LTTB nghiên cứu những quá trình đột biến của một hệ và xếp loại các đột biến đó.  Nhiều người cho rằng sau lý thuyết tương đối của Einstein, lý thuyết tai biến của René Thom là một trong những lý thuyết đẹp đẽ nhất mà con người có thể sáng tạo ra. René Thom là nhà toán học người Pháp được giải thưởng Fields (tương đương giải thưởng Nobel trong toán học) năm 1958 về những công trình xuất sắc trong tôpô. René Thom chết lặng lẽ trong một thành phố nhỏ gần Paris năm 2002. Lý thuyết tai biến cung cấp cho chúng ta một cách nhìn và mô tả thế giới có khả năng làm xuất hiện những điểm dị đồng giữa những hiện tượng và hình thái rất xa lạ của tự nhiên.  Trong [2] René Thom đưa ra những khái niệm sau:  1. Mỗi đối tượng hay nói cách khác mỗi hình thái vật lý được mô tả bởi một tập hút trong không gian trạng thái các biến số trong.  2. Đối tượng như thế ổn định do đó nhận biết được chỉ trong trường hợp tập hút tương ứng là ổn định cấu trúc.  3. Mọi tạo sinh hoặc hủy biến của hình thái (morphogenesis) có thể mô tả bởi sự biến mất của tập hút trong dạng thái ban đầu để được thay thế bởi tập hút mới trong dạng thái cuối cùng. Quá trình này gọi là tai biến và được mô tả trong không gian các biến số ngoài.           Hình 2. Các mốc lịch sử của khoa học phức hợp          LTTB là lý thuyết toán học nghiên cứu các đột biến gián đoạn. LTTB được xem như bộ phận của lý thuyết hỗn độn (chaos theory).  LTTB  phù hợp với của khoa học phức hợp hiện đại. Sau một thời gian ít nhiều bị quên lãng LTTB  hội nhập vào KHPH như một mốc phát triển quan trọng và một công cụ hữu hiệu không thể vắng mặt trong khoa học phức hợp cùng với các lý thuyết khác như fractal, lý thuyết về hỗn độn (chaos theory) (xem hình 2).  3 . Bảy tai biến cơ bản  Người ta sẵn sàng tin vào truyền thuyết cho rằng René Thom tìm ra LTTB khi ông quan sát các tia sáng mặt trời phản chiếu từ một cốc càfê. Chính René Thom đã phát biểu những ý sau đây. Chung quanh chúng ta có biết bao nhiêu hiện tượng quen thuộc chưa được một lý thuyết nào làm sáng tỏ, ví dụ những vết nứt trên một bức tường cổ, hình dáng của một đám mây, một lá vàng rụng bên giếng, bọt trong một vại bia, ánh sáng phản chiếu từ một cốc cà phê. Biết đâu những suy nghĩ toán học sâu hơn về những hiện tượng nhỏ như thế không dẫn đến một lý thuyết quan trọng?  Những hiện tượng nhỏ mà René Thom nêu ra đều chứa những điểm khác thường nào đó. Ví dụ như lúc quan sát tia ánh sáng mặt trời phản chiếu từ một cốc càfê, ta thấy có những vùng đặc biệt mà ở đấy cường độ ánh sáng rất lớn. Những vùng đó chính là những mặt tụ quang, mặt này tiếp tuyến với các tia sáng phản chiếu. Nói cách khác, những hiện tượng dễ đập vào giác quan chúng ta, chính là tập những điểm kỳ dị mà trong vật lý học người ta gọi là những điểm tới hạn. Có thể lấy một ví dụ khác về những điểm tới hạn quen thuộc hơn trong vật lý học: đó là những điểm tới hạn trong lý thuyết chuyển pha. Tại những điểm đó trạng thái của hệ đột biến, nói cách khác, hệ nhảy từ trạng thái này sang trạng thái khác một cách gián đoạn, ví dụ từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn. Những hiện tượng đột biến có tên là tai biến (catastrophe) trong LTTB của René Thom. Chữ tai biến mà René Thom sử dụng chỉ có ý nghĩa toán học.  Một điều quan trọng đáng chú ý là ta luôn quan sát được các mặt tụ quang với những hình dáng nhất định khi nhìn vào một cốc càfê để dưới ánh nắng mặt trời. Điều đó có nghĩa rằng hiện tượng ấy ổn định, mặc dầu lần quan sát thứ hai khác lần quan sát thứ nhất bởi muôn nghìn nhiễu loạn nhỏ mà ta không thể nào điều khiển được. Trong LTTB người ta đưa vào khái niệm ổn định cấu trúc để diễn tả tính ổn định của hình thái các tai biến dưới tác động của những nhiễu loạn không điều khiển được.  Các tai biến có thể là những đột biến trong tâm lý một người bạn gái, có thể là tai nạn sập cầu, hoặc những khủng hoảng trong nền kinh tế một quốc gia,… Các tai biến đó có thể là những điểm kỳ dị Landau của giản đồ Feyman trong lý thuyết trường [6].  Các hiện tượng và hình thái của thiên nhiên rất đa dạng đến mức ta khó lòng nắm được mối liên quan giữa chúng. Có điểm gì giống nhau giữa các hiện tượng quang học và một hiện tượng tâm lý? Câu hỏi tưởng chừng như vô nghĩa, nhưng bạn đọc sẽ thấy LTTB cung cấp cho chúng ta một cách mô tả làm nổi lên những điểm dị đồng giữa nhiều hiện tượng và hình thái.  René Thom tìm ra được 7 tai biến cơ bản (hình 3), theo đó có thể xếp hạng nhiều hiện tượng và hình thái trong thiên nhiên, và như vậy cho chúng ta thấy được mối liên quan ví dụ giữa một hiện tượng tâm lý với một hiện tượng quang học. Có thể nói LTTB là một bài thơ thất ngôn tuyệt đẹp về nhiều hiện tượng và hình thái của thiên nhiên.  4 . Hai biến số trong N & bốn biến số ngoài C  Những phương pháp tính toán do Leibnitz và Newton đề ra chỉ ứng dụng được cho những hiện tượng liên tục. Những hiện tượng đột biến đòi hỏi những lý thuyết mới. Người ta đã nghiên cứu các hiện tượng có tính gián đoạn trong 300 năm qua, và theo một số nhà toán học có lẽ còn sẽ nghiên cứu chúng trong 300 năm tới?  Khi nghiên cứu một hệ trong môi trường người ta thấy có hai trường hợp. Trong trường hợp thứ nhất sự tương tác của hệ với môi trường được mô tả bởi một hàm thế V của các biến số trong X,Y,Z,… chỉ trạng thái của hệ và các biến số ngoài a, b, c,… chỉ môi trường. Ngoài ra ta có một hệ phương trình vi phân cho V. Hệ sẽ ở vào những trạng thái ứng với các cực tiểu địa phương, nghĩa là những điểm ở đấy V nhỏ nhất so với vùng lân cận. Những điểm đó thuộc về những điểm tới hạn của hàm V. LTTB với giả thiết có tồn tại một hàm thế có thể gọi là LTTB hẹp.  Trong trường hợp thứ hai ta không có một hàm thế như trên và phải sử dụng nhiều công cụ toán học tổng quát hơn lý thuyết phương trình vi phân. LTTB không hàm thế gọi là LTTB rộng.  Trong LTTB hẹp người ta công nhận sự tồn tại một hàm thế và một hệ phương trình vi phân song không đặt vấn đề giải hệ phương trình vi phân ấy vì đó là một việc làm quá khó khăn lúc số biến số quá lớn. Vậy LTTB sử dụng cách tiếp cận nào và dẫn đến những kết luận gì?            Hình 3.  Bảy tai biến trong LTTB của René Thom xếp từ trên xuống dưới, bên trái:  nếp xếp, nếp gấp lùi, đuôi én, bướm, bên phải:  rốn hyperbolic, rốn elliptic, rốn parabolic.          Đối với một hàm có kỳ dị ta có thể tìm được một hệ tọa độ trong đó ta có thể phân hàm thành hai phần Q và G: Q là một dạng toàn phương không suy biến, còn G chứa số biến số còn lại. Hàm G gọi là kỳ dị thặng dư và số biến số trong G gọi là đối hạng của kỳ dị. Chỉ hàm G mới quan trọng về mặt tôpô và ứng với những hàm G khác nhau ta có những loại kỳ dị khác nhau. Hàm G chưa ổn định. Đem nhiễu loạn hàm G ta có những hàm mới chứa thêm các biến số ngoài a, b, c,… Các hàm này có tính ổn định cấu trúc, có nghĩa là khi chúng bị nhiễu loạn, hình học của hiện tượng vẫn không thay đổi. Các hàm có tính ổn định với số biến số ngoài nhỏ nhất đóng vai trò hàm thế nói trên. Như vậy mỗi mầm hàm có hai đặc trưng quan trọng là:  –   đối hạng N tức số biến số trong còn lại trong kỳ dị thặng dư và  –   đối chiều C tức số biến số ngoài đưa vào với mục đích thu được một hàm ổn định dưới các nhiễu loạn.  Chiếu tập những điểm tới hạn của hàm V xuống không gian các biến số ngoài a, b, c,… ta có các hình thái đặc trưng cho các tai biến (xem hình 3).  Hạn chế N # 2  và C # 4, René Thom tìm ra được 7 tai biến cơ bản. Các tai biến đó có ký hiệu (N,C):  1/  nếp xếp (1,1) – fold catastrophe  2/  nếp gấp lùi  (1,2) – cusp catastrophe  3/  đuôi én (1,3) – swallowtail catastrophe  4/  bướm (1,4)- butterfly catastrophe  5/  rốn hyperbolic (2,3)- hyperbolic catastrophe  6/  rốn elliptic (2,3)- elliptic catastrophe  7/  rốn parabolic (2,4)- parabolic catastrophe  Hai hình vẽ cuối cùng ở hình 3 là hình chiếu của tai biến có C = 4 xuống không gian 3 chiều. Chú ý số chiều của không gian ta sống bằng 4: ba chiều thời gian và một chiều thời gian, liệu có mối liên quan với hạn chế C = 4 trong LTTB của René Thom?  Khi xét một hệ trong thực tế, chúng ta thường phải đưa vào một số biến số trong rất lớn. Trong LTTB của René Thom ta thấy N # 2, điều đó có nghĩa rằng về mặt tai biến chỉ có 2 trong số biến số trong mô tả trạng thái của hệ là quan trọng.  Như thế LTTB cho ta hiểu sự phát triển của hệ mà không cần giải một hệ phương trình vi phân với số biến số quá lớn, nói cách khác LTTB công nhận một tất định luận (determinism) ẩn mà không đặt mục đích tìm ra tường minh tất định luận đó.  Có thể nói việc tìm ra 7 tai biến cơ bản có điều gì tương đương với việc tìm  6 hạt quark trong vật lý các hạt cơ bản. Các hạt được cấu thành từ 6 hạt quark trong khi các đột biến trong thiên nhiên sẽ là tổ hợp của 7 tai biến cơ bản.  5 . Làm thế nào để tìm ra tai biến của một hiện tượng?  Đọc đến đây có thể chúng ta vẫn chưa hình dung được rõ vấn đề.  Hãy xét một ví dụ để thấy thế nào là biến số trong, biến số ngoài, hàm thế, điểm tới hạn,và cách tìm ra tai biến trong một hiện tượng.  Các khái niệm sẽ được làm rõ trong máy tai biến của Zeeman  trình bày sau đây.  Lấy  một đĩa tròn có thể quay được chung quanh tâm O (xem hình 4). Tại điểm R của đĩa tròn ta buộc hai dây cao su RP và RQ với điểm P di động trong mặt phẳng của đĩa và điểm Q nằm cố định. Thí nghiệm cho thấy rằng tồn tại một vùng hình sao bốn cạnh ABCD: nếu điểm P nằm ngoài vùng đó thì đĩa có một trạng thái cân bằng ổn định, nếu điểm P lọt vào vùng ABCD thì đĩa có hai trạng thái cân bằng ổn định. Khi điểm P di chuyển từ trong ra ngoài ABCD theo đường UV thì ở biên CB  đĩa rời bỏ trạng thái cân bằng cũ một cách đột ngột để nhảy sang trạng thái cân bằng mới. Trong máy này góc quay x đóng vai trò biến số trong còn tọa độ a, b của nút di động P là các biến số ngoài.  Dùng định lý Hook có thể viết được thế năng V của đĩa. Tập các điểm tới hạn của V, tại đó đạo hàm của V theo x bằng không cho ta trạng thái cân bằng của đĩa. Các điểm này nằm trên một mặt cong K có dạng nếp nhăn của một miếng vải. Chiếu K xuống mặt phẳng a, b ta có tai biến nếp gấp lùi (tai biến thứ hai bên trái ở hình 3).          Hình 4. Máy tai biến Zeeman        Như vậy động học của máy tai biến Zeeman ứng với một tai biến – tai biến nếp gấp lùi  (1,2) trong LTTB của René Thom. Tại những điểm của tai biến đó, góc x có thể nhảy từ trị số này sang trị số khác. Bước nhảy này được mô tả bởi mũi tên MN (xem phía trái hình 4).  Tóm lại: Muốn biết một hiện tượng thuộc loại tai biến nào, chỉ cần tìm hàm V, xong tìm các điểm tới hạn của V theo các biến trong, rồi chiếu chúng xuống không gian các biến ngoài thì thu được tai biến của hiện tượng.  Một số ví dụ khác:  a. Sóng biển chạy vào bờ và vỡ tan: tai biến rốn hyperbolic (N=2, C=3)  b. Các cấu hình tạo nên bởi ánh sáng trong môi trường nước và thủy tinh: 5 tai biến đầu trên hình vẽ số 3. LTTB cho phép các nhà quang học tính được cấu trúc tinh vi của các mặt tụ quang (xem hình số 5) mà trước đây người ta chưa hiểu được. Những hiện tượng trong quang học là những hiện tượng chung cho vật lý sóng, cho nên có thể nghĩ đến những tai biến như thế trong âm học, trong cơ học lượng tử.                Hình 5. Một mặt tụ quang AB thuộc tai biến nếp gấp lùi           c. Các kỳ dị Landau của giản đồ Feynman có tai biến đuôi én.  d. Một ví dụ lý thú trong tâm lý học do Zeeman đưa ra (xem hình 6): khi một thanh niên tìm cách tiếp cận một thiếu nữ  (quỹ đạo 1), thường người thiếu nữ lúc đầu e lệ có ý tránh xa (quỹ đạo 2). Song dần dần thiếu nữ chịu làm quen, còn nhiệt tình của người thanh niên có giảm đi một chút ít. Đến một lúc đột nhiên giữa hai người nảy sinh một mối cảm tình mạnh mẽ (quỹ đạo 3). Mặt cong K biểu diễn tình cảm giữa hai người nam nữ. Các biến số ngoài biểu diễn khoảng cách xa gần giữa hai đối tượng. Thái độ ban đầu của thiếu nữ ứng với phần gấp dưới của mặt K. Khi có đột biến về mặt tình cảm thì sẽ có bước nhảy từ phần gấp dưới lên phần gấp trên. Đây là tai biến nếp gấp lùi (N=1,C=2).  Ta thấy 3 hiện tượng rất khác nhau về bản chất: máy tai biến Zeeman ở hình 4 (cơ học), mặt tụ quang ở hình 5 (quang học) và hiện tượng tâm lý ở hình 6 (tâm lý học) lại thuộc cùng một tai biến nếp gấp lùi của René Thom.  7 . Những phản biện  Từ khi cuốn sách “ ổn định cấu trúc và nguồn gốc các hình thái – Structural Stability and Morphogenesis” [2], của René Thom ra đời đến nay LTTB đã được sử dụng rộng rãi trong vật lý học, hóa học,sinh học, kinh tế, tâm lý và ngôn ngữ.  LTTB đã từ những tạp chí khoa học bước vào những tạp chí có tính phổ biến và thu hút thị hiếu của công chúng. Nhiều ứng dụng của LTTB có lẽ đã vượt ra ngoài khuôn khổ cách tiếp cận vấn đề của René Thom. Thậm chí nhiều nhà tâm lý học người Anh đã dùng lý thuyết này để đưa ra những lời khuyên nhằm giúp chính quyền Anh ngăn ngừa những vụ nổi loạn trong nhà tù. Họa sĩ nổi tiếng Salvador Dali (hình 7) cũng có tác phẩm lấy cảm hứng từ LTTB của René Thom.               Hình 6: Hiện tượng tâm lý Zeeman            Qua một thời gian, số mô hình tai biến (nhất là các mô hình trong khoa học xã hội có giảm đi) song người ta đã bắt đầu thu được một số kết quả nhờ LTTB, như các kết quả trong quang học, trong lý thuyết chuyển pha (tương đương với lý thuyết Landau). Đối với những nhà vật lý, LTTB đã cung cấp một cách tiếp cận mới mẻ vấn đề phá vỡ đối xứng (broken symmetry) trong cơ sở khái niệm ổn định cấu trúc.  Nhiều nhà toán học đã xét lại vấn đề và cho rằng nhiều mô hình tai biến không đúng với thực tế. Song họ không công kích những cơ sở toán học của René Thom mà chỉ vạch ra những mô hình tai biến không có tính thuyết phục do nhiều tác giả đưa ra.   Bản thân René Thom cũng thiên về ý nghĩ LTTB chủ yếu được áp dụng cho vật lý học.   Năm 1978 các nhà toán học Hector Sussmann và Raphael Zahler đã viết một bài trong tạp chí triết học Synthèse công kích mạnh mẽ các tác giả ít nhiều tùy tiện áp dụng LTTB vào các khoa học xã hội và sinh học. Theo hai tác giả trên LTTB chỉ có thể áp dụng vào vật lý và kỹ thuật.   Trước sự cuồng nhiệt quá mức với LTTB của nhiều tác giả, bản thân René Thom cũng thốt lên rằng “ LTTB đã chết” vào năm 1997. Ông cũng nghĩ rằng LTTB không thể cho chúng ta những kết quả định lượng được (tuy thế trái với ý kiến của bản thân René Thom nhiều tác giả đã thu được kết quả định lượng khi ứng dụng LTTB vào vật lý và kỹ thuật[6]).                                Hình7.  Họa sĩ Salvador Dali, chân dung tự họa và bức tranh tiêu biểu:  Giấc mơ trong tiếng ong kêu .  8 . LTTB trở lại hội nhập khoa học phức hợp?   Một thời gian LTTB có phần lắng xuống vì lẽ lúc bấy giờ LTTB dường như cô độc trong một cách tiếp cận vấn đề phức hợp (complexity). Song giờ đây khi khoa học phức hợp (complexity science) [1] trở thành một ngành khoa học chủ yếu (essential) của thế kỷ 21 thì LTTB trở thành một phạm trù, một công cụ, một mốc phát triển quan trọng của  khoa học phức hợp.    Như trên đã thấy LTTB cho ta một cách nhìn thống nhất đối với nhiều hiện tượng khác nhau. LTTB trở thành một bộ phận của lý thuyết hỗn độn và do đó của khoa học phức hợp – khoa học của thế kỷ 21.   Các nhà vật lý lý thuyết cho rằng không có lý thuyết nào đẹp đẽ và tổng quát như LTTB trong lúc nghiên cứu các kỳ dị trong các giản đồ Feynman, trong các hiện tượng chuyển pha. Và nếu nói đến một văn hóa trong nhận thức luận nói chung của nhân loại thì LTTB là một tiếp cận vấn đề phức hợp  độc đáo và sáng tạo[6].                                                                                                    ————   Tài liệu tham khảo   [1] CC, Khoa học phức hợp  – khoa học của thế kỷ 21,Tia Sáng, số 16-20/08/2007.   [2] René Thom, ổn định cấu trúc và nguồn gốc các hình thái, Structural Stability and Morphogenesis –  Benjamin-Cummings Publishing, Reading, Massachusetts, 1975.   [3] Christopher Zeeman,  Lý thuyết tai biến in 1977.   [4] Ivan Ekeland, Lý thuyết tai biến, La Recherche, số 81, 1977   [5] Tạ Quang Bửu, Vài điều giới thiệu về các bài giảng của GS Chenciner.   GS Tạ Quang Bửu đã tổ chức một seminar lý thú về LTTB tại Hà nội có nhiều nhà vật lý và toán học tham gia vào những năm 70 trước.   [6] Tim Poston, Ian Stewart, Lý thuyết tai biến và ứng dụng.   ———————-    ảnh: René Thom (02/tháng 07/1923 – 25/tháng10/2002) là  nhà toán học Pháp. Ông nghiên cứu tôpô, lý thuyết kỳ dị (singularity theory) và trở thành nổi tiếng nhờ sáng tạo lý thuyết tai biến (catastrophe theory). Ông nhận giải  Fields năm 1958.  Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý thuyết trường chuẩn, đối ngẫu điện-từ trong vật lý và chương trình hình học Langlands      Bài biên dịch sau đây nhằm mục đích giới thiệu cụm các bài viết&#160; [1],[2],[3] về mối liên quan giữa lý thuyết trường chuẩn (gauge theory) và đối ngẫu điện-từ trong vật lý với chương trình hình học Langlands. Nhiều chi tiết toán học quá chuyên sâu đều được bỏ qua chỉ giữ lại những phần thật cần thiết cho vật lý. Xin bạn đọc hãy tìm đến các tài liệu gốc ghi ở cuối bài này để bổ sung những điều cần thiết. Sự quan tâm của bạn đọc đến vấn đề này có thể tăng lên nhất là sau khi Ngô Bảo Châu chứng minh thành công Bổ đề cơ bản.&#160;  &#160;  Có thể nói đây là hướng nghiên cứu mà toán học xâm nhập một cách sâu sắc vào vật lý đưa vật lý đến một đỉnh cao mới. Song ngược lại chúng ta cũng có thể thấy rằng vật lý đã cung cấp một số đoán nhận về ý nghĩa của chương trình Langlands và thế giới khách quan vật lý lại có mối liên quan kỳ diệu với các giả thuyết toán học trong chương trình Langlands.    Những kiến thức cần thiết   Những kiến thức cơ bản mà bạn đọc cần có để định hướng được trong khi tìm hiểu mối liên quan giữa vật lý và chương trình hình học Langlands là:  – đại số (trường, phạm trù, lý thuyết nhóm…),  – hình học đại số (không gian phân thớ, không gian moduli,…),  – lý thuyết trường chuẩn (lý thuyết Yang-Mills, liên thông,..).  Nhập đề  Năm 1960 Robert Langlands đưa ra chương trình Langlands với tham vọng nối liền Lý thuyết số và Giải tích điều hòa (Harmonic Analysis). Langlands đưa ra giả thuyết (conjecture) các biểu diễn Galois có thể mô tả bằng các biểu diễn tự đẳng cấu. Một giả thuyết quan trọng là giả thuyết Shimura-Taniyama – Weil (cần cho định lý Fermat lớn mà A.Wiles và các người khác đã chứng minh) phát biểu rằng thông tin về các biểu diễn Galois gắn liền với các đường cong elliptic trên Q (trường các số hữu tỷ) đều mã hóa trong khai triển Fourier của những dạng modular (modular forms) trên nửa mặt phẳng trên[1].  Một yếu tố quan trọng là nhóm đối ngẫu Langlands LG. Trong tương ứng Langlands (Langlands correspondence), các biểu diễn tự đẳng cấu của nhóm G sẽ ứng với các biểu diễn Galois với trị số trong LG.  Một điều đáng ngạc nhiên là nhóm đối ngẫu Langlands cũng xuất hiện trong Vật lý lượng tử cụ thể là đối ngẫu điện-từ. Khi xét các phương trình Maxwell người ta dễ dàng nhận thấy rằng các phương trình này bất biến đối với phép thay thế giữa điện trường và từ trường. Trong lý thuyết lượng tử một tham số quan trọng là điện tích e. Các nhà vật lý cho rằng đối ngẫu điện từ được thực hiện bằng phép  e → 1/e. Dưới đối ngẫu này hạt mang điện tích sẽ thay chỗ bởi hạt mang từ tích, tức đơn cực từ Dirac.  Trong ngôn ngữ hiện đại lý thuyết Maxwell là một ví dụ của lý thuyết trường chuẩn (gauge theory) Yang-Mills 4D, được định nghĩa (cổ điển) trong không gian các liên thông của phân thớ Gc trên đa tạp bốn chiều trong đó Gc là nhóm Lie compact. Điện-từ ứng với nhóm abelian U(1).   Điều dĩ nhiên là sự xuất hiện câu hỏi: liệu có tồn tại đối ngẫu (như trong điện-từ) đối với các lý thuyết với nhóm không Abelian?  Năm 1970 tiếp theo sau Goddard, Nuyts & Olive (viết tắt là GNO), Montonen & Olive (viết tắt là MO) đã đưa ra câu trả lời rằng có một đối ngẫu như thế và đối ngẫu đó gọi là đối ngẫu S.   GNO đã chỉ ra rằng trong các lý thuyết chuẩn, điện tích lấy các trị số trên mạng trọng số (weight lattice) của nhóm chuẩn G trong khi từ tích lại lấy các trị số trên mạng căn số (root lattice). GNO cũng chứng minh rằng đối với mọi nhóm Lie đơn giản đều tồn tại một nhóm “đối ngẫu” gọi là nhóm đối ngẫu GNO hoặc Langlands và ghi là LG, mạng của hai nhóm này đổi chỗ cho nhau.  Sau đó MO còn đi xa hơn và đưa ra ý tưởng là trong một số lý thuyết chuẩn tồn tại đối ngẫu điện-từ chuyển ngược hằng số tương tác chuẩn và đồng thời thay G bằng LG.  Hiện nay chúng ta được biết rằng đối ngẫu MO được thực hiện trong các lý thuyết chuẩn siêu đối xứng N=4.  Nếu điều này là đúng thì đây là một hệ quả vô cùng quan trọng đối với lý thuyết chuẩn lượng tử vì rằng nó nối liền một lý thuyết có hằng số tương tác nhỏ với một lý thuyết chuẩn có hằng số tương tác lớn. Lý thuyết chuẩn lượng tử thường sử dụng phép phân tích thành dãy theo hằng số tương tác, dãy chỉ hội tụ nếu hằng số tương tác là nhỏ. Đối ngẫu S chỉ tỏ rằng tồn tại một lý thuyết trong dạng không nhiễu loạn. Đây quả là cái chén thánh (holy grail) cho Lý thuyết lượng tử.  Một câu hỏi quan trọng: đối ngẫu Langlands trong toán học liệu có gắn liền với đối ngẫu S trong vật lý lượng tử?  Câu hỏi này trước đây là một điều bí ẩn.   Tháng 3 năm 2004 trong một hội thảo tại Advanced Study ở Princeton, Edward Witten (Fields 1990) đã phác thảo mối liên quan giữa hai lĩnh vực này. Sau đó các bài báo của Edward Witten và Anton Kapustin[2],[3] đã xây dựng một cái cầu vững chắc giữa hai lĩnh vực quan trọng đó, mở đường cho nhiều nghiên cứu quan trọng.                       Edward Witten nhà vật lý (duy nhất hiện nay) giải Fields năm 1990        Tương ứng (correspondence) hình học Langlands  Chương trình Langlands có nhiều phiên bản: phiên bản lý thuyết số, phiên bản trên các trường hàm và phiên bản hình học[1].  Phiên bản hình học thích hợp nhất cho vật lý học.  a/ Gọi E là phân thớ chính LG  trên X. Một liên thông phẳng trên E có hai thành phần. Thành phần (0,1) đối với cấu trúc phức trên X, xác định cấu trúc chỉnh hình (holomorphism)  trên E, còn thành phần (1,0) xác định chỉnh hình liên thông ▼.  Như thế một phân thớ LG với một liên thông phẳng trên X đúng là cặp (E,  ▼) trong đó E là một phân thớ LG chỉnh hình đồng cấu trên X và  ▼ là một liên thông chỉnh hình trên E.  Như vậy các đối tượng ở một vế bên này của tương ứng Langlands là những lớp tương đương của phân thớ LG phẳng (E, ▼ ).  b/ Thế còn ở vế bên kia thì sao? đối tượng hình học nào sẽ thay thế các biểu diễn tự đẳng cấu?  Tồn tại một bó moduli đại số (algebraic moduli sheaf) với ký hiệu là BunG. Đối tượng hình học ta đang tìm là những bó  trên BunG thỏa mãn điều kiện Hecke (Hecke là toán tử trong lý thuyết các dạng modular), ta gọi các bó đó là các bó riêng (eigensheaves) Hecke.  Nói chính xác hơn các bó đó là những D-module trên BunG. (D-module là module của bó các toán tử vi phân).  Gọi ε = (E, ▼) là một phân thớ LG phẳng trên X. Một  D-module F trên BunG sẽ được gọi là bó riêng Hecke với trị riêng ε.  Ta sẽ có tương ứng (correspondence) hình học Langlands sau:  Phân thớ LG phẳng trên X  →  Bó riêng Hecke trên BunG      ε → Fε  Điều quan trọng là cấu trúc trên có mối liên quan đến lý thuyết trường lượng tử.  Phát biểu phạm trù của tương ứng hình học Langlands  Hãy nhìn vào tương ứng trên ta thấy có một bất đối xứng giữa hai vế. Bên trái ta có phân thớ LG phẳng, đó là những điểm của hệ định xứ LocLG của phân thớ LG phẳng trên X.  Còn bên phải ta có các bó riêng (eigensheaves) Hecke, vốn là những đối tượng của một phạm trù, cụ thể phạm trù các D- module trên BunG.   Để làm hai vế đối xứng ta thay một điểm ε є LocLG bởi một đối tượng của một phạm trù khác cụ thể là bó O ε tại ε được xem như một đối tượng của phạm trù các O – modules trên LocLG.  Như vậy một phát biểu mạnh hơn của tương ứng hình học Langlands là phát biểu phạm trù sau:  Phạm trù của O-module trên LocLG↔Phạm trù của D-module trên BunG  Lý thuyết trường chuẩn và đối ngẫu điện-từ trong vật lý   Chúng ta bắt đầu với lý thuyết Yang-Mills (lý thuyết trường chuẩn) 4D trên một đa tạp Riemann bốn chiều M4. Gọi Gc là nhóm Lie compact.  Cần mở rộng siêu đối xứng N=4 của mô hình. Điều này có nghĩa cộng vào các trường fermion và bosonic sao cho tác động của nhóm Lorentz được mở rộng thành tác động của nhóm siêu đối xứng.  Một gợi ý quan trọng của David Ben-Zvi là tồn tại mối liên quan giữa chương trình hình học Langlands với quá trình compact hóa siêu đối xứng Yang-Mills  N=4 từ 4 chiều xuống 2 chiều trên mặt Riemann Σ.  Kapustin và Witten [2], [3] giả định rằng đa tạp bốn chiều M4 có dạng M4 = Σx X.  Trong đó Σ là mặt Riemann có biên. Lấy X  nhỏ ta có lý thuyết compắc hóa. Trong trường hợp đó lý thuyết sẽ mô tả bởi một lý thuyết trường hai chiều trên Σ. Lý thuyết này được đồng nhất với mô hình sigma trên Σ với đa tạp bia (target manifold) MH(G) là không gian moduli HITCHIN của phân thớ G  trên X, vì rằng các phương trình  trường trên  Σ sẽ tương đương với các phương trình Hitchin [2].   Đối ngẫu S trong lý thuyết siêu chuẩn trên Σx X sẽ trở thành Đối xứng gương giữa các mô hình sigma với bia là  MH (G) và MH (LG).  Bây giờ ta xét các điều kiện biên, điều này sẽ dẫn đến các màng (brane) trong những mô hình sigma đó.  Đối ngẫu S thiết lập sự tương đương giữa các phạm trù màng cho MH (G) và MH (LG). Kapustin và Witten nối liền sự tương đương đó với tương ứng phạm trù hình học Langlands.  Như thế hai tác giả trên đã thiết lập một đường nối giữa đối ngẫu S với đối ngẫu hình học Langlands.  Các thớ (fibrations) đối ngẫu Hitchin  Người ta thu được hai thớ trên cùng một cơ sở (base) B    Ứng với mỗi b є B hai thớ Hitchin là hai hình xuyến LFb và Fb. Hai thớ đó đối ngẫu với nhau. Đối ngẫu của hai hình xuyến là ví dụ của Đối xứng gương, đó là đối ngẫu T.   Có thể chứng minh rằng đối ngẫu Montonen-Olive trong lý thuyết chuẩn tương ứng với đối ngẫu T trong không gian moduli Hitchin.   Đây là một ví dụ của trường hợp tổng quát hơn (Strominger,Yau và Zaslow): đối xứng gương giữa hai đa tạp Calabi-Yau X và Y phải được thực hiện như đối ngẫu T.  Trong ý nghĩa đó đối ngẫu S quy về đối ngẫu T.  Chương trình hình học Langlands nhằm xây dựng các toán tử có khả năng chuyển màng này thành màng kia.  Bây giờ ta xét đến màng riêng (eigenbrane) ứng với bó riêng (eigensheaf) trong chương trình hình học Langlands.   Hãy ký hiệu  TR’  và  WR  là các toán tử ‘t Hooft và Wilson[3] đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết trường, trong đó R là biểu diễn của G còn R’ là biểu diễn của LG. Các toán tử này sẽ chuyển màng này thành màng kia. Các toán tử ‘t Hooft tương ứng với các toán tử Hecke trong chương trình hình học Langlands.  Màng riêng của toán tử WR là màng B thỏa mãn phương trình WR B=B. Màng riêng điện (electric eigenbrane) chính là màng zero trong không gian moduli Hitchin MH. Mục tiêu của chương trình hình học Langlands ứng dụng trong vật lý là xây dựng màng riêng từ (magnetic eigenbrane). Đối ngẫu của màng riêng điện sẽ là màng riêng từ. Chúng ta xây màng riêng từ bằng cách thực hiện đối ngẫu T trong các thớ của  MH. Theo phép đối ngẫu T thì  đối ngẫu của màng zero sẽ là một màng bao quanh trên một thớ của phân thớ Hitchin. Màng zero là một màng riêng điện như thế màng bọc quanh một thớ của các thớ của MH sẽ là màng riêng từ.  Các toán tử ‘t Hooft có thể chứng minh là các toán tử Hecke trong chương trình hình học Langlands. Các bó riêng (eigensheaves) Hecke là những D–module.  Đối với lý thuyết siêu chuẩn Yang-Mills người ta cũng chứng minh dược rằng đối ngẫu S sẽ hoán vị toán tử t’Hooft (ứng với Hecke trong Langlands) với toán tử Wilson.   Kết luận  Cuối cùng hãy tóm tắt lý thuyết trường lượng tử liên quan đến chương trình hình học Langlands như thế nào? Trong phép tương ứng chuẩn của hình học Langlands thì những phân thớ phẳng  trong mặt hai chiều của chúng ta Σ là tương ứng một-một với những D–module trong không gian moduli M của những phân thớ G chỉnh hình (holomorphic). Một phân thớ (bundle) trên Σ sẽ cho ta một điểm trong MH, ứng với màng riêng điện.  Đối ngẫu S của nó sẽ là một màng riêng từ và những màng riêng từ thực tế cho ta các D–module.  Như vậy ý nghĩa của tương ứng trong hình học Langlands có thể nói đó là đối ngẫu điện-từ suy rộng của lý thuyết trường chuẩn trong vật lý.  Đây là một kết quả hết sức ấn tượng về mối liên quan giữa một lý thuyết hiện đại trong vật lý là lý thuyết trường chuẩn (với đối ngẫu điện-từ) và một chương trình thống nhất lớn trong toán học là chương trình Langlands.  Cao Chi biên dịch và chú thích  Tài liệu gốc:   [1] Edward Frenkel, Gauge theory and Langlands duality, Seminaire Bourbaki, 6/2009, arXiv:hep-th/0512172  [2] Edward Witten, Gauge theory and the Geometric Langlands Program,Workshop in Mathematics and Physics SUNY at Stony Brook, July 25 – August 26, 2005  [3] Anton Kapustin, Lectures on Electric-Magnetic Duality and the Geometric Langlands Program,January 1, 2008, arXiv:hep-th/0604151  Các chú thích  A/ Không gian phân thớ (chính) được ký hiệu là E=(M,F,G, p, ø) trong đó M là không thời gian hay nói chung là không gian cơ sở, F là thớ, G là nhóm biến đổi chuẩn, p là ánh xạ: EM thế nào cho:  1/đối với mỗi x  є M thì tập các yếu tố p-1(x) = Fx đồng phôi với F  2/ đối với mỗi x  є M có vùng lân cận U và phép đồng phôi φ є ø mà φ: Ux G→p -1(U) thỏa mãn điều kiện p (φ(x’,y) ) = x’, x’ є U, y є F.  B/ Không gian moduli: ví dụ một đĩa có N lỗ trống cần 1 tham số để xác định bán kính và thêm 2 tham số nữa để xác định tọa độ tâm của mỗi lỗ trống, như vậy cần 3N tham số cho N lỗ trống. Nói chung không gian moduli là tập các tham số dùng xác định các chi tiết hình học của không gian đó.  Nhờ các biến đổi conform người ta có thể thu được độ cong bằng constant, như vậy không gian M ta quan tâm đến là không gian với độ cong constant chia cho tập các vi phôi trên M:  Không gian moduli = Mconst / Diff(M).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lý trí bảo vệ chúng ta trước ảo giác như thế nào?      Hơn 300 năm trước, nhà bác học René Descartes từng hỏi: “Nếu giác quan của chúng ta không phải lúc nào cũng đáng tin cậy thì làm sao có thể tách rời ảo giác với hiện thực?”      Ảo giác sinh ra do những niềm tin và kỳ vọng. Nguồn: The Conversation.  Mới đây, một nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học Yale cho thấy chúng ta có khả năng đó, bởi não bộ con người thường hay lưu giữ những mảng thực tại thông qua quá trình truy vấn liên tục về những kỳ vọng và niềm tin trong quá khứ. Khi quá trình tự kiểm chứng nội tại đó thất bại, ảo giác sẽ phát sinh. Phát hiện này có thể trở thành cơ sở cho những phương pháp điều trị mới, hiệu quả hơn đối với những bệnh nhân bị chứng tâm thần phân liệt hay những rối loạn khác.  Con người không phải lúc nào cũng có khả năng nhận thức về thế giới, mặc dù họ thấy hoặc nghe được về nó. Năm 1890, những nhà khoa học tại Yale đã làm thí nghiệm khi họ liên tục phát cho những tình nguyện viên thấy một hình ảnh, đi kèm với một giai điệu. Khi âm thanh ngừng phát, những người tham gia dường như vẫn “nghe” thấy giai điệu đó khi hình ảnh xuất hiện. Một ảo giác tương tự cũng hay xảy ra trong đời sống thường ngày: nhiều người cho rằng họ nghe thấy tiếng chuông điện thoại hay tiếng buzz, nhưng thực tế là điện thoại của họ đang tắt. Những ví dụ trên cho thấy ảo giác phát sinh khi não bộ của chúng ta phải xử lý quá nhiều những kỳ vọng và niềm tin về thế giới bên ngoài so với những gì mà nó thực sự cảm nhận được.  Phát hiện mới này góp phần khẳng định: khi chúng ta nhận thức về thế giới, những ý tưởng và niềm tin có thể dễ dàng chiến thắng khả năng của những giác quan. Những nghiên cứu mở rộng hơn trong tương lai có thể tiếp tục làm rõ: liệu có sự khác biệt nào giữa não bộ của người mắc chứng tâm thần với người khỏe mạnh trong khi đang nghỉ ngơi? Những nghiên cứu hứa hẹn mang tới triển vọng giúp các bác sĩ dự đoán chính xác ở giai đoạn lâm sàng nguy cơ diễn tiến sang chứng tâm thần phân liệt ở người bệnh, để từ đó sớm có những phác đồ điều trị.  Thế Hải dịch  Theo Science  http://www.sciencemag.org/news/2017/08/how-your-mind-protects-you-against-hallucinations       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ma thuật” lượng tử có thể giúp giải thích nguồn gốc của không thời gian      Một đặc tính lượng tử được gán cho cái mũ “ma thuật” có thể là yếu tố quan trọng để giải thích không gian và thời gian đột sinh như thế nào, một phân tích toán học mới của ba nhà vật lý RIKEN đã đề xuất như vậy.     Bức ảnh lỗ đen của Nhóm hợp tác Chân trời sự kiện (EHT). Nguồn: EHT  Nghiên cứu này được xuất bản trên tạp chí Physical Review D 1.  Thật khó để tìm ra điều gì cơ bản hơn sự đan dệt của không thời gian đang làm nên vũ trụ, nhưng các nhà vật lý lý thuyết đã từng đặt vấn đề với giả định này. “Các nhà vật lý đã bị thu hút về khả năng không gian và thời gian không phải là những đại lượng cơ bản mà còn có thể được gợi suy ra từ những thứ thậm chí còn cơ bản hơn”, Kanato Goto của Bộ phận Các khoa học toán học và lý thuyết liên ngành RIKEN (iTHEMS), nói.  Ý niệm này được thúc đẩy mạnh vào những năm 1990, khi nhà vật lý lý thuyết Juan Maldacena liên kết thuyết tương đối chi phối không thời gian với một lý thuyết có liên quan đến các hạt lượng tử. Cụ thể, ông hình dung ra một không gian giả thuyết – có thể được hình dung ra như khi tiến gần tới những thứ như một hộp xúp vô hạn hoặc “một đại lượng thể tích lớn hơn – nắm giữ những vật thể như các lỗ đen bằng lực hấp dẫn. Maldacena cũng tưởng tượng ra các hạt dịch chuyển trên bề mặt của hộp xúp và được cơ học lượng tử kiểm soát. Ông nhận ra là về mặt toán học, một lý thuyết lượng tử thường được dùng để miêu tả các hạt trên đường biên tương đương với thuyết hấp dẫn miêu tả các lỗ đen và không thời gian bên trong một đơn vị thể tích lớn. “Mối liên hệ này chỉ dấu bản thân không thời gian không tồn tại một cách cơ bản mà đột sinh từ một số bản chất lượng tử”, Goto nói. “Các nhà vật lý đang cố gắng hiểu là đặc trính lượng tử này là yếu tố quan trọng trong quá trình này”.  Ý tưởng ban đầu này xuất phát từ rối lượng tử – sự liên kết các hạt không phụ thuộc vào khoảng cách giữa các hạt – là một nhân tố quan trọng: các hạt rối càng nhiều trên đường biên thì không thời gian trong đơn vị thể tích lớn càng trơn mượt. “Nhưng nếu chỉ xem xét mức độ rối trên đường biên thì không thể giải thích được mọi đặc trưng của các lỗ đen, cách phần bên trong của chúng có thể không ngừng mở rộng như thế nào”, Goto nói.  Vì vậy Goto và đồng nghiệp ở iTHEMS là Tomoki Nosaka và Masahiro Nozaki tìm kiếm đại lượng lượng tử khác có thể đưa vào hệ đường biên và có thể lập bản đồ cho đơn vị đại lượng thể tích lớn để miêu tả các lỗ đen ngày một gia tăng khối lượng. Cụ thể, họ lưu ý là các lỗ đen có một đặc điểm hỗn loạn cần được miêu tả. “Khi xuyên qua một thứ gì đó như một lỗ đen, thông tin mà nó nhận được rất hỗn độn và không thể thu lại được”, Goto nói. “Sự xáo trộn này là một sự biểu thị của hỗn độn”.  Nhóm nghiên cứu vượt qua “ma thuật”, một đo đạc toán học miêu tả sự khác biệt của trạng thái lượng tử để mô phỏng việc sử dụng một máy tính cổ điển. Tính toán của họ chứng tỏ là một hệ hỗn loạn ở bất kỳ trạng thái nào hầu như sẽ tiến hóa thành một “ma thuật tối đa” – sự khó khăn bậc nhất để mô phỏng.  Điều này đem lại đường liên hệ trực tiếp đầu tiên giữa một đặc trưng lượng tử của ma thuật và bản chất hỗn loạn của các lỗ đen. “Phát hiện này đề xuất ma thuật có liên quan đến sự đột sinh của không thời gian”, Goto nói.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-quantum-magic-spacetime.html  https://www.iflscience.com/the-origin-of-space-time-maybe-its-quantum-magic-68527  ———————————–  1.https://journals.aps.org/prd/abstract/10.1103/PhysRevD.106.126009    Author                .        
__label__tiasang Mã vạch bảo vệ kim cương      Để bảo vệ những đồ quý giá như kim cương hay những bức tranh đắt tiền khỏi bị ăn cắp hoặc làm giả mạo, một nhóm các chuyên gia của Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia Anh quốc đã khai triển một phương thức đánh dấu đặc biệt.    Đó là một loại mã vạch ba chiều cực nhỏ mà kẻ gian khó có thể biết được do không thể nhìn bằng mắt hoặc sờ bằng tay.  Mã vạch có hình dạng một con súc sắc được làm từ silicon và trên bề mặt được bao bọc bởi một lớp nhựa Polymethylmethacrylat trong suốt  mỏng độ 100 nanomet. Mã vạch không thể dán lên trên món hàng quý cho nên người ta phải dùng tia điện để khắc 90.000 ô vuông nhỏ li ti lên mặt nhựa của súc sắc. Bản khắc có thể thực hiện với 5 độ sâu khác nhau với các họa tiết rất độc đáo.  Chủ nhân của viên kim cương hay của bức tranh hay của bất cứ một vật quý giá nào khác nếu chẳng may có bị mất cắp có thể nhờ vào mã vạch để chứng minh mình là sở hữu chủ của món hàng bị đánh cắp. Kẻ trộm hay những kẻ chuyên làm giả khó có thể đọc được mặt khắc trên súc sắc, trừ khi có một máy hiển vi điện tử. Nhiều nhà buôn kim cương rất chú ý đến sáng chế này và các nhà nghiên cứu cũng đã nhận được khá nhiều đơn đặt hàng. http://www.newscientist.com/channel/mech-tech/dn7756     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạch phun bùn Java do con người gây ra      Cách đây hai năm, trên đảo Java của Indonesia bất ngờ xuất hiện một mạch phun nước và bùn. Hai năm liền một dòng hàng trăm nghìn mét khối chất lỏng nóng và có mùi khó chịu, chứa metan, phun ra từ lòng đất.    Và cũng đã hai năm các chuyên gia đã tranh cãi nhau để xác định thủ phạm: động đất hay khoan thăm dò ? Theo các kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí của Geological Society of America, chính hoạt động khoan thăm dò cách đó vài mét đã gây ra sự hình thành mạch phun. Nghiên cứu khẳng định kịch bản được Richard Davies (ĐH Durham, Anh) đưa ra mười tám tháng trước: Khoan thăm dò đã chọc thủng một nguồn nước nóng dưới áp lực ở độ sâu gần ba nghìn mét. Nước đã phá vỡ các tầng đá xung quanh và phun lên bề mặt, kéo theo nó trầm tích. Theo nghiên cứu vừa công bố, mạch này sẽ tiếp tục phun trong vài tháng, thậm chí vài năm nữa và không thể có cách nào làm cho nó dừng lại. Mọi ý định lấp mạch đều thất bại vì áp lực quá lớn. Gần mười nghìn kilômét vuông quanh Lusi, tên do người Indonesia đặt cho mạch phun này, đã bị bùn xâm lấn, mười ba người đã chết và hơn mười nghìn người đã phải chuyển đi nơi khác.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mắm tôm, nguyên nhân và hệ quả      Bệnh tả và dịch tiêu chảy cấp tính coi như đã được khống chế, nhưng các giới chức y tế vẫn chưa nhất trí nguyên nhân bộc phát của bệnh. Ngay từ những ngày bệnh mới phát sinh ở qui mô quần thể, các quan chức trong Bộ Y tế đã khẳng định mắm tôm là một “thủ phạm”. Nhưng qua gần 4 tuần điều tra và xét nghiệm mắm tôm được “minh oan”. Chiều ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn kết luận: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. (báo Pháp Luật TPHCM). Trước đó một ngày, phát biểu trên báo chí Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển cũng cho biết mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả: “Mắm tôm không phải là nguyên nhân gây dịch bệnh tiêu chảy lần này.”    Tuy nhiên, phát biểu trên Tuổi Trẻ, cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế), Tiến sĩ Trần Đáng khẳng định ngược lại: “mắm tôm là thức ăn nguyên nhân, là nguồn lây nhiễm bệnh trong giai đoạn đầu của vụ dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm ở miền Bắc từ cuối tháng mười đến cuối tháng mười một vừa qua.”  Theo ông cục trưởng, kết luận này dựa vào lời khai của 61 bệnh nhân trước khi mắc bệnh đều có ăn mắm tôm.  Trước những tuyên bố đầy tính khẳng định của các quan chức như trên, chúng ta biết tin ai?  Bài viết này sẽ giải thích thế nào là nguyên nhân, và thế nào là yếu tố nguy cơ của bệnh, với hi vọng sẽ làm sáng tỏ và minh oan cho mắm tôm.  Những lí giải của tôi rất cơ bản, vì đó là những sự thật trong sách giáo khoa (mà tôi rất ngại viết ra vì khá nhàm), và vì thế, hi vọng rằng trong tương lai chúng ta cũng không cần đến những lí giải cơ bản này nữa khi bàn đến những vấn đề y tế công cộng mang tính “đại sự”.  Trước khi bàn chuyện nghiêm chỉnh, tôi muốn chia sẻ với các bạn một kinh nghiệm cá nhân (hôm nay là ngày cuối năm rồi, chúng ta cần vài phút thư thái, nhẹ nhàng!)  Hồi còn nhỏ, tôi sống ở trong quê, và ở quê thì không thể thiếu tiếng gà gáy.  Tiếng gà gáy thánh thót nhưng cũng có lúc não nùng đó người thành thị không thể nào cảm nhận được.  Thử tưởng tượng: mỗi sáng gà gáy ó o và vài giây hay phút sau đó mặt trời mọc.  Thời đó, trong sự tưởng tượng phong phú của trẻ thơ, tôi thầm nghĩ con gà khiêm tốn như vậy mà lại “ngon lành”, có khả năng điều khiển cả mặt trời!  Con cóc nữa: mỗi lần nó nghiến răng là có trời mưa, nên người ta hay nói “con cóc là cậu ông trời”.  Mấy con vật nhỏ nhoi như vậy nhưng xem ra có khả năng phi thường!   Thời gian là người thầy tuyệt vời.  Khi có dịp đọc sách triết học và khoa học tôi mới thấy những nhận định của mình lúc còn trẻ thơ “có vấn đề”, vì sự nhầm lẫn giữa nguyên nhân và hệ quả.  Khi theo học môn dịch tễ học, thầy tôi — một ông giáo sư có tuổi cực kì khó tính (chẳng bao giờ thấy ông cười) — giảng thao thao bất tuyệt về những nhầm lẫn về hai thuật ngữ “causation” và “association” với những ví dụ chỉ có thể nói là cười ra nước mắt (nhưng ông không cười).  Chẳng hạn như ông đưa ra ví dụ trong thời thế chiến thứ II, giới quân sự chú ý rằng các phi công chiến đấu cơ thường bắn không chính xác khi bầu trời sáng sủa; hay qua phân tích thống kê giới xã hội học nhận thấy khi phụ nữ trẻ mặc quần áo ngắn (tươi mát) là lúc tình hình kinh tế đang phát triển, và ngược lại khi phụ nữ mặc đồ dài thùy mị là lúc kinh tế có xu hướng xuống dốc; v.v… Các ví dụ trên cho thấy trời trong sáng không phải là nguyên nhân của sự thiếu chính xác khi bỏ bom, bởi vì vào lúc đó phi cơ đối phương cũng bay lên tác chiến và gây ra tình trạng nhiễu sóng dẫn đến sai sót mục tiêu.  Tương tự, kích thước quần áo của phụ nữ không phải là nguyên nhân của phát triển (hay suy thoái) kinh tế, nhưng có thể kích thước quần áo họ mặc là một “marker” phản ảnh gián tiếp tình hình kinh tế: trong thời kì kinh tế khó khăn, phụ nữ khó kiếm việc làm hơn đàn ông, và phải ở nhà chăm sóc con cái, nên thường ăn mặc nghiêm chỉnh; và khi tình hình kinh tế phát triển, họ không cần đến sự hỗ trợ kinh tế của đàn ông (vì họ cũng tìm được việc làm dễ dàng), nhưng họ khó tìm chồng, nên họ cần phải có cách thu hút đàn ông qua ăn mặc củn cỡn một chút.   Bài học quan trọng qua các ví dụ trên là: cần phải phân biệt mối quan hệ nhân quả (cause-effect relationship) và mối liên quan (association).  Gà gáy không phải là nguyên nhân làm cho mặt trời mọc và cóc nghiến răng không phải là nguyên nhân làm cho trời đổ cơn mưa; chúng ta do đó chỉ có thể nói có sự liên quan giữa gà gáy và mặt trời mọc, hay giữa cóc nghiến răng và trời mưa.  Tương tự, nếu chúng ta thấy phần lớn những người mắc bệnh tả từng ăn mắm tôm, điều đó không có nghĩa rằng mắm tôm là nguyên nhân bệnh tả, mà chỉ có thể phát biểu rằng có mối liên quan giữa hai sự kiện.     Nguyên nhân  Chính vì thế mà tôi cảm thấy phân vân với hai chữ “nguyên nhân” gắn ghép với mắm tôm trong câu phát biểu của ông cục trưởng …  Ở đây, tôi sẽ không bàn đến cách hiểu “nguyên nhân” của những triết gia vì như thế sẽ làm cho câu chuyện thêm rối rắm.  Chúng ta biết rằng mối liên hệ giữa nguyên nhân và hệ quả (hay mối liên hệ “nhân quả”) đóng vai trò cực kì quan trọng trong y khoa, bởi vì biết được nguyên nhân của bệnh sẽ dẫn đến điều trị hợp lí, và xác định sai nguyên nhân sẽ dẫn đến sai lầm trong điều trị.  Tương tự, đối với y tế cộng đồng, khẳng định sai nguyên nhân có thể làm tác động (hay nói đúng hơn là tác hại) đến nhiều người.  Thành ra, xác định nguyên nhân trong y tế công cộng đóng vai trò cực kì quan trọng cho việc hoạch định chính sách y tế cho một quần thể.  Trong y học nói riêng, và khoa học nói chung, xác định nguyên một bệnh hay một sự kiện không phải là điều dễ dàng chút nào, vì nó đòi hỏi nghiên cứu nghiêm chỉnh và thời gian.  Nói một cách ngắn gọn, một vi khuẩn (hay một yếu tố sinh học) là nguyên nhân gây bệnh nếu hội đủ 4 tiêu chuẩn (hay bốn bước) sau đây:  * thứ nhất, vi khuẩn đó phải tồn tại ở số lượng lớn trong tất cả bệnh nhân, nhưng không tồn tại trong những người không mắc bệnh;  * thứ hai, vi khuẩn đó phải được tách ra từ cơ thể bệnh nhân và có thể nuôi dưỡng trong môi trường thí nghiệm (mẻ cấy vi khuẩn);  * thứ ba, khi vi khuẩn nuôi trong môi trường thí nghiệm cấy vào con người bình thường sẽ làm cho người đó mắc bệnh; và  * thứ tư, khi vi khuẩn cấy vào người và gây bệnh được tách ra phải chính là vi khuẩn được tác ra ở bước 2 (tức là khi cấy vào con người ở bước ba vi khuẩn không đột biến thay đổi).  Dựa vào các tiêu chuẩn trên, vào thế kỉ 19, Robert Koch đã chứng minh rằng V. cholerae chính là vi khuẩn gây bệnh tả. Ngày nay chúng ta biết rằng tất cả những người mắc bệnh tả đều bị nhiễm vi khuẩn, nhưng họ phải hấp thụ trên một triệu vi khuẩn V. cholerae thì triệu chứng và bệnh mới phát sinh.   Vi khuẩn tả có thể có mặt trong bất cứ thực phẩm nào, nhất là các món ăn đồ biển, nhưng rất khó tồn tại trong mắm tôm.  Thật vậy, đã có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng mắm tôm có thể tồn tại và phát triển trong môi trường với nồng độ muối từ 0,1% đến 4% (cỡ môi trường nước biển hay nước lợ), nhưng không thể sống nổi trong môi trường mà nồng độ muối trên 20-30% như trong mắm tôm.  Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể tồn tại trong môi trường pH<3.  Các nghiên cứu khoa học cũng trong y văn cũng cho biết chỉ cần khử trùng bằng một trái chanh, trong vòng 5 phút, 99,9% số vi khuẩn tả đều bị tiêu diệt; sau 2 giờ khử trùng, không còn một vi khuẩn nào tồn tại.   Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy tất cả các mẫu mắm tôm trên cả nước được đem đi xét nghiệm đều có kết quả âm tính với vi khuẩn tả.  Tính đến nay đã có 138 mẫu mắm tôm được xét nghiệm (50 ở Hà Nội, 24 ở Thành phố Hồ Chí Minh, 32 mẫu ở Thanh Hóa, 35 mẫu ở Hải Phòng, Hải Dương, và Nghệ An) và tất cả đều không hàm chứa vi khuẩn tả.  Và, cũng không ngạc nhiên khi báo chí cho biết có nhiều người không ăn mắm tôm nhưng cũng mắc bệnh tả và tiêu chảy.  Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho chúng ta biết một trường hợp rất thú vị và có liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn như sau: “Ông Nguyễn Xuân Mịch, 73 tuổi. Ông Mịch từ Thanh Trì, Hà Nội, xuống Ninh Bình ăn cỗ. Mâm cỗ có thịt chó, mắm tôm, nhưng ông Mịch khai rằng ông là người duy nhất trong bàn ăn hôm đó không ăn mắm tôm. Cho tới nay, những người ngồi cùng mâm và có ăn mắm tôm thì không ai mắc dịch, trừ một người không ăn, ông Mịch.”  Do đó, tôi e rằng kết luận mắm tôm là nguyên nhân của bệnh tả và tiêu chảy có phần quá dễ dãi, không phù hợp với y văn thế giới, và cũng không phù hợp với bằng chứng thực tế.     Yếu tố nguy cơ  Nhưng sự thật (hãy cứ cho là “sự thật” = fact) rằng 61 bệnh nhân từng có tiền sử ăn mắm tôm thì phải được diễn giải như thế nào đây?  Bởi vì mắm tôm, cho dù có pha loãng với nồng độ muối giảm xuống còn 10-15% đi nữa thì khả năng vi khuẩn sống sót rất thấp.  Mà, cho dù có vài vi khuẩn sống sót đi nữa, với một lát chanh (thậm chí chỉ một trái cà chua), thì vi khuẩn cũng không thể nào tồn tại được.  Đó là lí do sinh học rất thực tế, còn về mặt logic, sự thật đó không cho phép chúng ta phát biểu gì về nguyên nhân của bệnh tả cả.  Thật là sai lầm nếu lí giải rằng “vì 100% bệnh nhân từng bị phơi nhiễm yếu tố X, suy ra X là nguyên nhân của bệnh”.  Bất cứ ai làm trong ngành loãng xương đều biết rằng khoảng 90% bệnh nhân gãy cổ xương đùi là do té, nhưng không ai dám can đảm nói rằng té là nguyên nhân dẫn đến gãy cổ xương đùi, bởi vì chỉ có 3-5% người té sẽ bị gãy xương.  Do đó, số liệu mà chúng ta cần biết thêm là: trong số những những người ăn mắm tôm, có bao nhiêu người mắc bệnh tả?  (Câu hỏi này dĩ nhiên là khác với câu hỏi trong số những người mắc bệnh tả, có bao nhiêu người ăn mắm tôm).  Đến đây thì chúng ta cần phải phân biệt hai khái niệm rất quan trọng trong dịch tễ học và y khoa: nguyên nhân (cause) và yếu tố nguy cơ (risk factor).  Nguyên nhân là yếu tố sinh học trực tiếp gây bệnh, như vi khuẩn V. cholerae gây bệnh tả.  Yếu tố nguy cơ là những yếu tố — qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp — làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân.  Chẳng hạn như nước bị ô nhiễm có thể là một yếu tố nguy cơ của bệnh tả vì nước có thể hàm chứa vi khuẩn tả; nhưng nước không phải là nguyên nhân gây bệnh tả bởi vì không phải ai uống nước ô nhiễm cũng đều mắc bệnh, họ chỉ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không uống nước ô nhiễm.  Theo quan điểm của dịch tễ học, một yếu tố nguy cơ được xem là nguyên nhân nếu hội đủ 5 điều kiện sau đây:  • mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh phải có cơ sở sinh học;  • phơi nhiễm yếu tố nguy cơ phải xảy ra trước khi bệnh xảy ra;  • người bị phơi nhiễm yếu tố nguy cơ càng cao có nguy cơ mắc bệnh càng cao;  • mối liên hệ phải được “chứng minh” trong nhiều quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập, chứ không phải chỉ một quần thể hay một nghiên cứu; và  • nếu can thiệp làm thay đổi mức độ phơi nhiễm yếu tố nguy cơ làm thay đổi nguy cơ mắc bệnh.  Thông thường, các bệnh truyền nhiễm hay suy dinh dưỡng chỉ có một nguyên nhân duy nhất.  Chẳng hạn như nguyên nhân của bệnh tả là vi khuẩn V. cholerae, bệnh lao là siêu vi khuẩn bacillus, hay bệnh pellagra là do thiếu niacin.  Nhưng sự bộc phát của bệnh truyền nhiễm có thể có nhiều yếu tố nguy cơ.  Thế thì câu hỏi đặt ra là yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả là gì?   Rất tiếc là cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nguy cơ và qui mô bệnh dịch tả được công bố trên các diễn đàn y học quốc tế, nên chúng ta chưa biết rõ các yếu tố nguy cơ bệnh dịch tả ở nước ta là gì. Do đó, tôi dựa vào y văn nước ngoài để trình bày trong phần bàn về các yếu tố nguy cơ của bệnh dịch tả.   Kinh nghiệm từ các vụ bộc phát bệnh tả tại một số nước trên thế giới cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố nguy cơ đáng chú ý. Trong thời gian 2001 đến 2004, bệnh dịch tả bộc phát ở tỉnh Sistan-va-Baluchestan (Iran), và các nhà nghiên cứu Iran đã làm một việc có ý nghĩa: họ tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để hệ thống hóa đặc điểm vùng bị nhiễm vi khuẩn và nhận dạng các yếu tố nguy cơ.  Qua kết quả phân tích dữ liệu, các yếu tố nguy cơ được phát hiện bao gồm:  • uống nước và bia từ các hàng quán bên lề đường;  • không rửa tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu;  • không rửa tay trước khi ăn uống;  • ăn thức ăn còn dư lại từ hôm trước; và  • uống nước giếng / sông không đun sôi.  Ngoài ra, kết quả của họ còn cho thấy đàn ông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn phụ nữ đến 3,7 lần, và người mù chữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người biết chữ khoảng 6 lần. Năm 1997, bệnh dịch tả bộc phát ở vài vùng ở Tanzania. Các nhà nghiên cứu tận dụng “cơ hội” này để tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học và kết quả cung cấp cho chúng ta một số yếu tố nguy cơ có vẻ “gần” với những đặc điểm sinh sống ở nước ta:  • dự đám tang gần đây;  • nhà có vách làm bằng bùn;  • trần nhà không có tole hay ngói;  • không có cầu tiêu / nhà xí trong nhà;  • uống nước không đun sôi;  • tắm sông;  • ăn cá khô, tôm khô; và  • ăn rau cải sống (không nấu chín).  Kết quả trên một lần nữa cho thấy các yếu tố như nguồn nước uống, nhà xí, tắm sông là những yếu tố rất quan trọng có liên quan đến bệnh dịch tả. Chú ý trong danh sách “yếu tố nguy cơ” trên cũng khá phù hợp với một bản tin gần đây trên báo Tuổi Trẻ, mà theo đó, “Tại tỉnh Hải Dương (mới phát hiện có người mắc bệnh khoảng ba ngày nay) nhưng số bệnh nhân đã xấp xỉ 100 người, phần lớn trong số này cùng ăn cỗ tại một đám tang, với các thực phẩm truyền thống như thịt lợn, bò, giò chả.”  Tất nhiên, dự đám tang không phải là nguyên nhân, nhưng chỉ là một yếu tố nguy cơ gián tiếp!  Và hệ quả …  Các lí giải trên tuy quan trọng, nhưng mang tính… hàn lâm. Hệ quả thực tế còn đáng quan tâm hơn.  Do những phán xét vội vã của Bộ Y tế về mắm tôm trong thời gian qua, một bộ phận doanh nghiệp mắm tôm đã bị tổn thất về kinh tế. Theo Người lao động, ngày 19/12, 13 tấn mắm tôm lấy từ Thành phố Hồ Chí Minh đã được thiêu hủy.  Điều đáng nói là việc làm này xảy ra sau khi các quan chức của Bộ Y tế xác nhận mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả.  Điều đáng chú ý hơn nữa là các mẫu mắm tôm bị tịch thu này đã được xét nghiệm, về kết quả không thấy có mầm bệnh.   Do đó, việc thiêu hủy số lượng lớn mắm tôm như thế chẳng những không phù hợp với công văn của Bộ Y tế (trong đó có giải thích rõ rằng thiêu hủy chỉ áp dụng đối với sản phẩm mắm tôm đã được xác định ô nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh), mà còn thiếu nhất quán với các kết luận mới nhất của Bộ Y tế.  Ai đứng ra bồi thường cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng?  Và, cũng không một lời xin lỗi từ bất cứ một giới chức y tế nào.   Xin được nói thêm. Xin lỗi, không chỉ là một cách hành xử văn minh mà còn là một cách hành xử nhân văn rất cần thiết cho các quan chức và cơ quan y tế của nhà nước cũng như tư nhân. Ở Sydney vài năm trước đây, khi Bộ Y tế bang New South Wales do lỗi kĩ thuật để lộ hồ sơ cá nhân của bác sĩ trên mạng, và dù chưa gây thiệt hại đến ai, nhưng Bộ trưởng phải lên đài truyền hình, và qua báo chí cũng như internet xin lỗi thành khẩn.  Và giới báo chí bình luận rằng lời xin lỗi như thế làm cho quần chúng tin vào sự lãnh đạo của ông Bộ trưởng hơn.  Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Màn trình diễn của sao chổi trên bầu trời      Một sao chổi đang làm phấn khích các nhà thiên văn với những cảnh tượng kỳ thú mà nó tạo ra trong bầu trời đêm khi lướt qua gần Trái đất. Một quả cầu gồm băng, đá và bụi đã vỡ thành 60 mảnh, hai trong số những mảnh vỡ lớn có thể được quan sát qua các ống nhóm và kính thiên văn nhỏ. Cứ tiếp tục tan rã như thế này thì rất có thể đây sẽ lần cuối cùng vòng quanh Mặt trời của Sao chổi 73P/Schwassmann-Wachmann 3.    “Đây là cơ hội hiếm hoi để công chúng có dịp quan sát một hiện tượng tuyệt đẹp, không phải lúc nào mọi người cũng có thể được nhìn thấy một sao chổi đang tan vỡ”. Tiến sỹ Robert Massey, thuộc Đài quan sát Hoàng gia Greenwich nói.  Sao chổi 73P/Schwassmann-Wachmann 3 được khám phá năm 1930 bởi các nhà thiên văn Đức. Chu kỳ quỹ đạo của nó quanh Mặt trời là 5,4 năm. Cái đuôi dài của nó đã lần lượt quét qua Mộc tinh và sau đó là Trái đất và Mặt trời. Tất cả các Sao chổi tuần hoàn giống như sao chổi này đều chịu chung số phận là phải tan vỡ và chết đi. Vào năm 1995, các nhà thiên văn lần đầu tiên đã nhận ra rằng, Sao chổi 73P bị tách thành một số mảnh. Khi nó quay trở lại Mặt trời vào tháng ba năm nay, có bảy mảnh vỡ đã được quan sát. Hai trong số đó, các mảnh B và C là đặc biệt sáng. Người ta đã có thể quan sát được chúng trong khoảng những ngày từ 11-14/5 với những ống nhòm và thậm chí bằng mắt thường.  P.V    Nguồn tin: BBC News      Author                Quản trị        
__label__tiasang Màng bong bóng xà phòng lạnh hơn không khí xung quanh      Một nhóm nghiên cứu tại trường đại học Paris-Saclay, CNRS, đã khám phá ra là màng mỏng tạo ra các bong bóng xà phòng thông thường lạnh hơn không khí xung quanh.     Trong bài báo xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters 1, họ đã miêu tả các thí nghiệm mà họ thực hiện với các bong bóng xà phòng.  Các bong bóng tồn tại dưới nhiều dạng trong các môi trường khác nhau, từ những chiếc cốc bia đến những máy giặt quần áo và đĩa bát hay giọt nước trên đỉnh sóng. Thậm chí chúng còn tồn tại trong môi trường nhỏ bé như không gian giữa những chiếc răng người. Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về các bong bóng, phần lớn đều tập trung vào việc kiểm soát chúng trong các quá trình công nghiệp. Nhưng vẫn còn nhiều điều để nghiên cứu, như các nhà khoa học ở Orsay gần đây khám phá ra một số điều mới về chúng – các màng mỏng lạnh hơn không khí xung quanh chúng.  Như nhiều khám phá trong khoa học, các nhà nghiên cứu không thực hiện để có được khám phá này; họ đang nghiên cứu về tính bền của các bong bóng và trong khi triển khai theo hướng đó, việc sử dụng các hiết bị cho phép họ đo đạc nhiệt độ màng bong bóng và phát hiện ra là nó lạnh hơn không khí xung quanh mọi chiếc bong bóng mà họ làm thí nghiệm.  Trong công trình của họ, các nhà nghiên cứu tạo ra các bong bóng bằng việc sử dụng một đĩa xà phòng thông thường, nước và glycerol. Sau khi khám phá ra một nhiệt độ khác biệt, nhóm nghiên cứu đã tái tập trung vào nỗ lực của mình để tìm hiểu thêm. Họ đã cố gắng thay đổi nhiệt độ của không khí, độ ẩm và cả tỉ trọng thành phần nguyên liệu mà họ sử dụng để tạo ra các bong bóng. Họ tìm thấy là họ có khả năng tạo ra các bong bóng có mức nhiệt độ thấp hơn 8 độ C so với không khí xung quanh. Họ cũng tìm thấy sự thay đổi của khối lượng tác động đến nhiệt độ của các bong bóng được hình thành – càng nhiều bong bóng thì nhiệt độ càng cao.  Các nhà nghiên cứu đề xuất các màng mỏng lạnh hơn có thể là kết quả của sự hóa hơi khi bong bóng hình thành. Họ lưu ý là khi bong bóng còn tồn tại thì các màng của chúng trở nên ấm hơn một cách chậm chạp, cuối cùng thì tương đương không khí xung quanh. Họ đề xuất là các mức khác biệt về nhiệt độ lớn hơn mà họ thấy ở một số bong bóng có thể có tác động đến độ bền của bong bóng và kết luận là cần phải nghiên cứu nhiều hơn để tìm ra nguyên nhân tại sao màng mỏng lại lạnh hơn và liệu đó có phải là một thuộc tính hữu ích hay không.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:: https://phys.org/news/2022-12-soap-cooler-air.html  https://www.sciencealert.com/something-strange-happens-to-the-temperature-around-freshly-formed-bubbles  ——————————————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.129.268001    Author                .        
__label__tiasang Mang gươm mở nước: Những diễn ngôn lịch sử      Như Lê Thái Tổ từng viết khi đánh Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ (Lai Châu) vào năm 1431: “cây cỏ hãi hùng trận mạc, núi sông đã nhập bản đồ (thảo mộc kinh phong hạc, sơn xuyên nhập bản đồ)”, đây là một tuyên cáo về quyền sở hữu đất đai của bên thắng trận, đó cũng là diễn ngôn xuyên suốt của chính thể Đại Việt trong nhiều thế kỷ.       Thiên hạ đệ nhất hùng quan Hải Vân quan, được xây từ đời Trần và được trùng tu vào thời Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 7 – năm 1826), cửa trông về phủ Thừa Thiên đề ba chữ “Hải Vân Quan”, cửa trông xuống Quảng Nam. Nơi đây là ranh giới giữa Việt và Champa kể từ sau khi vua Chế Mân cắt đất cầu hôn công chúa Huyền Trân. Đèo Hải Vân và cửa ải trên đỉnh đèo được triều đình nhà Nguyễn coi trọng nên vua Minh Mệnh đã truyền cho khắc hình vào đỉnh thứ 8 của Cửu Đỉnh trong sân Thế miếu. Ảnh: Flickr.    Lịch sử Việt Nam đã từng được viết nên như là một lịch sử miên trường của các cuộc chiến tranh vệ quốc. Trong không khí thắm hồng của chủ nghĩa yêu nước thế kỷ XX, các cuộc chiến tranh bảo vệ lãnh thổ của người Việt đã được nhấn mạnh ở nhiều chiều kích nhằm để hun đúc lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân phục vụ cho các cuộc chiến tranh chống lại các thế lực phương Tây, phương Bắc và phía Tây Nam. Song, bên cạnh các cuộc nội chiến và các cuộc chiến tranh vệ quốc, còn có một lịch sử của các cuộc chiến tranh chinh phạt và quá trình thôn tính các tiểu quốc Champa, Chân Lạp, Thủy Xá, Hỏa Xá,… để mở rộng lãnh thổ. Trên cương vị của những người có nhiều chiến thắng hơn trong các cuộc chiến với các quốc gia cổ khác, người Việt dần dà trang bị thêm những cụm từ như “Nam tiến”, “mở nước” để đề cao tính chính đáng – chính nghĩa (vì quyền lợi chung) của mình. Quá trình Nam tiến (đôi khi còn cả Tây tiến nữa) được mĩ hóa bằng cả tư tưởng giáo hóa của Nho giáo, tư tưởng thực dân và tư tưởng quốc dân. Như Lê Thái Tổ từng viết khi đánh Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ (Lai Châu) vào năm 1431: “cây cỏ hãi hùng trận mạc, núi sông đã nhập bản đồ (thảo mộc kinh phong hạc, sơn xuyên nhập bản đồ)”, đây là một tuyên cáo về quyền sở hữu đất đai của bên thắng trận, đó cũng là diễn ngôn xuyên suốt của chính thể Đại Việt trong nhiều thế kỷ.  Chiến tranh, nếu nhìn từ góc độ lịch sử, như là một hiện tượng xã hội phổ biến của bất kỳ quốc gia, hay cộng đồng người nào. Người Việt trong quá trình đi lên để hình thành một quốc gia, đã luôn phải đối mặt với chiến tranh, hoặc chủ động tham chiến để tìm phương thức sinh tồn và phát triển. Ngay từ thế kỷ X, Lê Hoàn đã thực thi một thủ pháp chính trị “Bắc cự Nam tiến” (phá Tổng bình Chiêm) để phù hợp với vị trí địa chính trị của mình. Trước giấc mộng bành trướng của các đế chế Trung Hoa hùng hậu, họ luôn cố gắng cầm cự bằng chính sách ngoại giao theo mô hình Đông Á: thiên triều- phiên triều. Sự ổn định về phía Bắc sẽ là điều kiện tiên quyết cho quá trình chinh phạt phương Nam. Những khối núi phía Tây từ Vân Nam qua Lào, chạy xuống Trường Sơn khiến cho biên giới phía Tây tương đối an toàn. Người Việt chỉ việc nương núi hướng biển, men theo duyên hải mà tiến. Cuộc chiến về phía Nam là một chuyện được coi là bình thường, bởi cái thế Việt – Chăm trong mấy trăm năm luôn là “cò trai tranh cạnh”. Cái thế “lưỡng đầu thọ địch” của người Việt buộc họ luôn phải tính toán. Dù rằng cuộc chiến dai dẳng bay tám trăm năm ấy đã diễn ra bằng nhiều phương thức chính trị khác nhau. Nó cũng cho thấy, khuôn mặt chiến thắng dần hiện ra bởi những động lực của tư tưởng và sức mạnh quân sự.    Năm 1471, Lê Thánh Tông dấn đến Nước Mặn, Quy Nhơn, biên giới phía Nam đến đèo Cù Mông. Ảnh: Bìa sách vua Lê Thánh Tông của NXB Trẻ.  Ta thử đếm nhanh các mốc thời gian của những bước chân Nam tiến. Năm 982-990, Lê Hoàn giằng co vài lần với Chiêm Thành giữa khoảng phía Nam đèo Ngang. Năm 1069, bước tiến đầu tiên lấn đến Quảng Bình – Quảng Trị: Lý Thánh Tông khiến Chế Củ phải dâng ba châu Địa Lý – Ma Linh – Bố Chính. Năm 1306, Trần Nhân Tông dùng Huyền Trân đổi được hai châu Ô – Lý, đất Thừa Thiên – Huế được nhập bản đồ. Năm 1402, Hồ Quý Ly lấn thêm đến bốn châu Thăng – Hoa – Tư – Nghĩa. Năm 1471, Lê Thánh Tông dấn đến Nước Mặn, Quy Nhơn, biên giới phía Nam đến đèo Cù Mông. Năm 1611, Nguyễn Hoàng đặt phủ Phú Yên.  Năm 1623, Nguyễn Phước Nguyên được vua Chân Lạp cho lập hai đồn thuế tại Bến Nghé – Sài Gòn. Năm 1653, Nguyễn Phước Lan lập dinh Thái Khang (Khánh Hòa). Năm 1691, Nguyễn Phước Chu lập trấn Thuận Thành, năm 1697, đổi thành phủ Bình Thuận. Năm 1698, lập phủ Gia Định (gồm Sài Gòn – Đồng Nai). Năm 1708, Mạc Cửu xin Nguyễn Phước Chu sáp nhập trấn Hà Tiên (từ Kompong Som đến Cà Mau) vào bản đồ Đàng Trong. Năm 1757, Nguyễn Phước Khoát lấy được Tầm Phong Long (An Giang – Vĩnh Long) sau khi hỗ trợ Nặc Tôn lên ngôi vua Chân Lạp. Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất lãnh thổ. Năm 1889-1907, người Pháp dần sáp nhập hai nước Thủy Xá – Hóa Xá (Tây Nguyên) vào bản đồ chính trị Đông Dương.       Trên cương vị của những người có nhiều chiến thắng hơn trong các cuộc chiến với các quốc gia cổ khác, người Việt dần dà trang bị thêm những cụm từ như “Nam tiến”, “mở nước” để đề cao tính chính đáng- chính nghĩa (vì quyền lợi chung) của mình.      Như vậy, lãnh thổ như hiện nay được hình thành bởi những phương thức chính trị rất khác nhau: hoặc chiến tranh mở nước hoặc thông hôn hòa bình dưới áp lực của quân sự, có khi lại là do sự thâu nạp các lực lượng chính trị “bên lề”, có khi là sản phẩm từ việc can thiệp chính trị và chủ nghĩa thực dân. Song dù thế nào đi chăng nữa thì phương thức chiến tranh và lực lượng quân sự đồn trú vẫn chiếm ưu thế lấn lướt.  Đến đầu thế kỷ XX, khi lịch sử đã sang trang, người Việt đối diện với sự thất bại về quân sự, và chịu chính sách bảo hộ và khai thác thuộc địa của Pháp. Ngay ở lúc này, những diễn biến về tâm lý và hệ tư tưởng đã diễn ra một cách phức tạp trong tầng lớp trí thức và xã hội. Tư tưởng tiểu bá bành trướng của Nho giáo vẫn hằn trong trí não họ, niềm tự tôn dân tộc “con Lạc cháu Hồng” trong quá trình nhận đồng văn hóa và lịch sử khiến họ vẫn nhìn các nước/ các dân tộc khác (như Chăm, Lào, Thái,..) như là những nhóm người man di có thể chinh phục. Sự nhận đồng huyết thống về nguồn gốc Hán tộc (từ huyền thoại Thần Nông) khiến người Việt vừa muốn dựa vào người Hán để đánh Pháp, lại vừa e sợ sức mạnh và mối nguy hiểm tiềm tàng đến từ lịch sử bành trướng hàng ngàn năm của Hán tộc. Như Phạm Quỳnh chẳng hạn, ông vừa tự hào nhận nòi giống An Nam là miêu duệ văn minh của Hoa Hạ, có thể vác cờ hiệu Chi-na để bành trướng mở cõi về phương Nam, lại vừa lo sợ cái “họa Chi-na” ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ do Pháp gây nên (1931 : 5, 1918). Nghĩa là, Phạm Quỳnh vừa ghét – sợ Pháp – Tàu, lại vừa muốn mình giống như họ để tiếp tục mở rộng đất đai của dân tộc. Trong ông có sự hỗn hòa của cả tâm lý bành trướng Đại Việt có gốc Nho giáo, vừa có cả ham muốn thực dân – thuộc địa có gốc phương Tây. Thậm chí có khi, với tâm thế của một trí thức Bắc Kỳ, ông nhìn các vùng đất Nam Kỳ, miền núi phía Bắc, và xứ Lào với con mắt của đế quốc (ý của Lê Nguyên Long 2017).    Bản đồ Nam tiến của GS Lê Thành Khôi, TS Trần Trọng Dương sửa chữa, bổ sung.  Cái ham muốn đầy mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: họ vừa muốn đánh đuổi người Pháp, lại vừa muốn nương theo Pháp để thực dân hóa các nước nhỏ khác. Chính lúc này, quá trình Nam tiến được hình dung trong đầu óc họ như là một truyền thống sức mạnh và thành quả của người Việt trong nghìn năm chinh chiến. Trúc Khê Ngô Văn Triện đã phát biểu hiển ngôn rằng: hai dân Chiêm Thành – Chân Lạp đều nhỏ yếu, vì vậy mà “sức bành trướng của dân tộc ta trước sau đều chỉ tràn về mặt nam”. (Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt Nam 1921: 5). Ông lý giải rằng, nguồn gốc của sức mạnh ấy đến từ một truyền thống của lịch sử dân tộc: “Tổ tiên gây dựng biết bao công, Đánh Lạp bình Chiêm trải mấy đông. Nghiệp cả nối noi nên kính úy, Sao cho không hổ giống Tiên Rồng” (Việt Nam dân tộc Nam tiến sử). Ông coi rằng việc đánh dẹp Chân Lạp, bình định Chiêm Thành là một “đại nghiệp” đáng kính, là thể hiện công nghiệp của loài giống Rồng Tiên. Tức là, ông sử dụng cả niềm tự hào chủng tộc (từ Nho giáo chuyển thành giống nòi thượng đẳng trong chuỗi tiến hóa ở khu vực) để hỗ trợ cho điểm nhìn của người đồng bằng sông Hồng về những người Chăm-Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Như lời đề từ của Nhượng Tống trong sách, thì “gấm vóc non sông một dải liền” bởi “máu đào xương trắng điểm tô lên”. Hình thể địa lý quốc gia thống nhất liền một dải kia là kết quả được đánh đổi bằng xương bằng máu của bao nhiêu thế hệ người Việt. Diễn ngôn chiến thắng của người Việt ở đây đã hiện rõ. Những xương máu của giống dân Hời hay dân Chân Lạp không được đếm kể đến. Nhượng Tống tin giang sơn gấm vóc này là một thành quả của người Việt, nhưng hàm ý của cả hai bài thơ lẫn cuốn sách của Trúc Khê lại không hoàn toàn nằm ở văn chương hay lịch sử, mà nó là một biểu hiện cho cái trở kháng (antagonism) của một chủ thể Việt đang bị thực dân đô hộ. Đó là sự kháng cự bằng tâm thức/ tâm thế của một kẻ bị trị đã từng là thế lực thống trị các nhóm người khác.   Niềm tự hào Nam tiến không chỉ được sử dụng để làm giảm đau vết thương tâm hồn khi người Việt bị thế lực khác khống chế, mà còn được dùng để phục vụ cho cách mạng và dòng ý thức hệ Marxist trong nửa sau thế kỷ XX. Người chiến sĩ nổi tiếng nhất đáng được kể đến ở đây là Huỳnh Văn Nghệ. Khi ở Chiến khu Đ năm 1946, ông đã viết bài Nhớ Bắc như sau: “Ai về xứ Bắc ta đi với, Thăm lại non sông giống Lạc Hồng, Từ độ mang gươm đi mở cõi, Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Bài thơ là một sử liệu thú vị cho thấy những đan xen về tư tưởng chính trị và tự hào chủng tộc. Tác giả bài thơ là một người Việt (hoặc ít nhất là một người nói tiếng Việt) sinh ra, lớn lên và hoạt động cách mạng ở Nam Kỳ. Hoạt động chính trị của ông là theo tư tưởng Marxist. Nhưng tâm tư và tình cảm của ông là sản phẩm phái sinh từ tư tưởng nhà Nho và nhãn quan người đồng bằng sông Hồng. Ông – một người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, đang muốn thực hiện một chuyến “du hành xuyên thời gian-xuyên không gian”. Ông coi đất Bắc như là một chốn đất tổ – nơi đã phát nguyên ra giòng giống Lạc Long của họ Hồng Bàng. Hay nói cách khác, ông nhận mình là một nhánh con cháu dòng dõi Lạc Hồng trên mảnh đất phương Nam. Nhưng thú vị nhất chính là hình ảnh trung tâm “mang gươm đi mở cõi” trong sự đối sánh với sự nghiệp cách mạng của Huỳnh Văn Nghệ, nó cho thấy mục đích cách mạng – tâm thức dân tộc đã hòa quyện trong ngôn từ và hành động của ông. Như Bùi Quang Huy nhận định: “Tiếng thơ ấy là tiếng hát của một người trong cuộc – mà người ấy ở vị trí đầu đoàn quân ra trận nên cũng là khúc tráng ca của hàng vạn con người.” □    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Mạng lưới vật chất tối cực lớn      Các nhà thiên văn quốc tế đã lập bản đồ của cấu trúc được xem là mạng lưới vật chất tối lớn nhất đến nay.    Nó trải dài trên 270 triệu năm ánh sáng, tức là lớn gấp 2.000 lần Dải Ngân hà của chúng ta. Kết quả này là một bước tiến lớn vì sự có mặt của một mạng lưới vật chất tối trong vũ trụ trải rộng đến nhường ấy là chưa hề được quan sát trước đây. Khoảng 1/5 thể tích vũ trụ được cho là chứa đầy vật chất tối – tản ra dưới dạng các sợi, phiến và cụm bí ẩn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạng thần kinh đồ thị từ vật lý giải bài toán tối ưu tổ hợp      Các bài toán tối ưu kết hợp là những bài toán phức tạp với một tập hợp lớn những giải pháp khả thi nhưng rời rạc. Một số những ví dụ nổi tiếng bậc nhất của bài toán dạng này là các bài toán người bán hàng di chuyển, đóng gói thùng và các bài toán về lập lịch điều độ sản xuất…    Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Các giải pháp lượng tử Amazon, một phần của Phòng thí nghiệm Các công nghệ máy tính tiên tiến và thông minh AWS mới đây đã phát triển một công cụ kết hợp các bài toán tối ưu tổ hợp, trên cơ sở các mạng thần kinh đồ thị (GNNs). Cách tiếp cận này do Schuetz, Brubaker và Katzgraber phát triển, xuất bản trên tạp chí Nature Machine Intelligence, có thể hữu dụng để tối ưu cho vô số các bài toán trong thế giới thực.  “Công trình của chúng tôi đã được truyền cảm hứng từ những nhu cầu của khách hàng”, Martin Schuetz, một trong số các tác giả của nghiên cứu này, trao đổi với TechXplore. “Trong công việc hàng ngày ở Phòng thí nghiệm Các giải pháp Lượng tử Amazon, chúng tôi tương tác với nhiều khách hàng trên nhiều lĩnh vực dọc của họ về cuộc hành trình để có được sự sẵn sàng lượng tử…, chuẩn bị cho một tương lai khi công nghệ mới nổi này được thương mại hóa thực sự. Phần lớn khách hàng đều dùng những trường hợp liên quan đến những bài toán tối ưu tổ hợp”.  Trong bối cảnh của công việc dịch vụ khách hàng, các bài toán tối ưu tổ hợp có thể xuất hiện ở nhiều hình thức khác biệt. Hai ví dụ nổi tiếng của dạng bài toán này là bài toán tối ưu danh mục đầu tư trong tài chính và bài toán lên lịch điều độ sản xuất. Thuật ngữ tối ưu danh mục đầu tư liên quan đến quá trình một người lựa chọn danh mục tốt nhất hoặc sự phân bổ tài sản cho một tình huống cụ thể giữa một loạt danh mục hiện tại.  Bài toán lên lịch điều độ sản xuất, nói cách khác, xuất hiện trong những trường hợp một loạt công việc hoặc nhiệm vụ phải được thực hiện và có giới hạn các nguồn lực/công cụ để thực hiện nó. Trong các trường hợp này, người ta phải hỏi để tìm ra một lịch trình tối ưu sử dụng những công cụ hiện có để thực hiện nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất có thể.  Vì công nghệ lượng tử vẫn còn ở giai đoạn phát triển ban đầu nên các nhà nghiên cứu đang cố gắng phát triển các công cụ tối ưu mà không hoàn toàn phụ thuộc vào máy tính lượng tử, ít nhất cho đến khi các máy tính đó sẵn sàng về mặt thương mại. Trong công trình của mình, Schuetz và cộng sự đã đưa vào một kỹ thuật tối ưu dựa trên GNNs được lấy cảm hứng từ vật lý.  “Với khả năng có thể mở rộng của chúng, các GNN từ vật lý có thể hữu dụng cho giải xấp xỉ (quy mô lớn) các bài toán tối ưu tổ hợp với mô hình gốc lượng tử, trong khi vẫn hỗ trợ được khách hàng của chúng tôi để họ có được sự sẵn sàng lượng tử qua sự trình diễn toán học mà các thiết bị lượng tử có thể hiểu”, Brubaker nói.  Cách tiếp cận do Schuetz và cộng sự phát triển lần đầu nhận diện là bài toán Hamilton (hàm chi phí) mã hóa các bài toán tối ưu hóa cụ thể mà người ta đang cố gắng giải quyết. Nó liên quan đến các biến quyết định phản hồi với các nút bên trong một biểu đồ.  “Ý tưởng chính của chúng tôi là sau đó định khung các bài toán tối ưu tổ hợp dưới dạng nhiệm vụ phân loại nút không giám sát mà GNN học hỏi về màu sắc (nói cách khác, spin hoặc biến) cho mọi nút”, Schuetz giải thích. “Đến điểm cuối, GNN được huấn luyện qua một hàm mất khách hàng được mã hóa bài toán tối ưu cụ thể mà bạn quan tâm, trong một phản hồi một đối một với bài toán Hamilton ban đầu, đem lại một lựa chọn nguyên tắc cho hàm mất của GNN”.  Sau khi huấn luyện GNN, nhóm gnhieen cứu dự tính giá trị cuối cùng của bài tập phép gán nút mềm cho các phép gán lớp cứng. Kết quả cuối cùng cho phép họ tính xấp xỉ bài toán tối ưu tổ hợp quan tâm.  Các tiếp cận này có rất nhiều điểm tiên tiến so với những phương pháp khác vẫn dùng để giải các bài toán tối ưu tổ hợp. Nổi tiếng nhất, phương pháp của họ ở quy mô lớn, có nghĩa là hữu dụng trong giải quyết về mặt tính toán các bài toán phức tối ưu với hàng trăm triệu nút.  “GNN được tối ưu của chúng tôi đặt trên cơ sở liên quan toán học tổng quát và trực tiếp giữa các Ising spin Hamiltonians kiểu mẫu và hàm mất khác biệt. Chúng tôi huấn luyện GNN trên cơ sở đó, qua đó đem đến một khung độc đáo cho một phạm vi lớp các bài toán tối ưu tổ hợp và mở ra một công cụ hiệu quả của vật lý cho các cách tiếp cận học máy hiện đại”, Brubaker nói. “Các ý tưởng từ vật lý kết hợp với công cụ học máy hiện đại giúp chúng tôi đề xuất một cách giải quyết đơn giản, tổng quát và mạnh mẽ không hề phụ thuộc vào hàm mất mát”.  Đáng chú ý, cách tiếp cận này có thể giải xấp xỉ các bài toán tối ưu mà không cần huấn luyện dán nhãn, vốn là một đòi hỏi chính của mọi phương pháp học có giám sát. Vì kỹ thuật này đóng vai trò trong các bài toán tối ưu như các đồ thị Ising Hamilton, nó có thể chạy trên phần cứng lượng tử.  “Chúng tôi đã đem đến một khung liên ngành độc đáo cho các bài toán tối ưu kết hợp những cái nhìn từ vật lý và công cụ từ học sâu hiện đại”, Schuetz giải thích. “Với cái khung này, chúng tôi đã có một công cụ có thể áp dụng rộng rãi cho các bài toán NP-khó chính tắc; các ví dụ chính bao gồm cắt tối đa, độ phủ tối thiểu, các bài toán độc lập tối đa cũng như bài toán thủy tinh spin  Ising”.  Trong tương lai, phương pháp dựa trên GNN mới do nhóm nghiên cứu này giới thiệu có thể hữu dụng để giải quyết các bài toán tối ưu phức tạp của thế giới thực. Vì đây là phương pháp có thể mở rộng quy mô nên Phòng thí nghiệm Giải pháp lượng tử của Amazon và AWS có kế hoạch cung cấp nó cho khách hàng như một công cụ để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi của họ sang công nghệ lượng tử. Trên thực tế thì kỹ thuật của họ có thể cho phép khách hàng tiếp cận cả hai vấn đề liên quan đến các trường hợp sử dụng cụ thể trong khuôn khổ mô hình gốc lượng tử, cả trên quy mô nhỏ và quy mô phù hợp với ngành.  “Trong tương lai, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về khái niệm, lý thuyết cũng như cả các câu hỏi ứng dụng. Nói cách khác chúng tôi có vô số ý tưởng cải thiện các năng lực mà GNN đề xuất và như thế có nhiều ứng dụng cho các trường hợp mà chúng tôi có thể cố gắng giải quyết được bằng công cụ mới. Chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng các phản hồi của khách hàng để giúp hướng dẫn mình và tối ưu chương trình nghiên cứu của mình”, Katzgraber nói.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://combonews.online/graph-neural-networks-influenced-by-physics-to-handle-combinatorial-optimization-problems/  https://techxplore.com/news/2022-05-physics-inspired-graph-neural-networks-combinatorial.html       Author                .        
__label__tiasang Mảnh đất trồng người tài      Sau 15 năm tìm kiếm tài liệu, đầu năm 2005, sách “Hồ sơ Thúc Tinh Bắc” của Lưu Hải Quân được xuất bản ở Trung Quốc (TQ) và nhanh chóng gây chấn động trong giới khoa học và dư luận nước này. Có người quá lời gọi ông là “Einstein của TQ”. Thế mà trước đó người TQ hầu như không biết Thúc Tinh Bắc là ai.    Trong giới khoa học TQ, hiếm người có tư chất trời cho tuyệt vời và tính cách mạnh như Thúc Tinh Bắc (1906-1983). Năm 1926, Thúc đi Mỹ, thi vào khoa Vật lý trường Đại học (ĐH) Bake ở Kansas, rồi chuyển đến ĐH bang California vừa học vừa lao động kiếm sống. Ông hăng hái hoạt động, vào đảng Cộng sản Mỹ, từng đi thăm Liên Xô và nhiều nước khác. Tốt nghiệp, ông đến ĐH Eddingburgh ở Anh học vật lý và toán dưới sự hướng dẫn của nhà vật lý nổi tiếng E. I. Whittaker và nhà toán học C. G. Darwin. Một năm sau ông nhận học vị thạc sĩ với luận văn “Bàn về cơ sở của vật lý toán học”. Tháng 2.1930, được hai thầy giới thiệu, ông đến ĐH Cambridge theo học Eddington, nhà vật lý dùng hiện tượng nhật thực toàn phần năm 1919 kiểm chứng Thuyết Tương đối của Einstein. Tại đây Thúc đã tham gia công tác suy diễn phương trình Dirac và tiếp cận với Thuyết Tương đối. Tháng 8.1930, ông đến Học viện Công nghệ Massachusetts làm trợ giáo kiêm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của nhà toán học D. J. Struik. Năm 1931, ở tuổi 25, ông nhận học vị thạc sĩ với luận văn “Sơ bộ nghiên cứu hệ thống siêu phức số và ứng dụng trong hình học”. Tháng 9. 1931, Thúc Tinh Bắc về nước, sau đó không ra nước ngoài lần nào nữa. Ông được mời về dạy trường ĐH Triết Giang, nơi tập hợp nhiều giáo sư (GS) hàng đầu TQ – toán học có Tô Bộ Thanh; vật lý có Vương Kim Xương (sau là Phó Chủ tịch Viện Liên hợp Hạt nhân Dubna); sinh vật có Bối Thời Chương v.v… là những ngôi sao trên bầu trời khoa học TQ mà Thúc Tinh Bắc được coi là đại diện xuất sắc. Năm 1937, Niels Bohr đến báo cáo khoa học tại trường này. Khi về Đan Mạch, Bohr nhận được thư của nhiều thầy trò TQ hỏi về cách ra nước ngoài học thêm. Bohr trả lời: các ngài có những nhà vật lý giỏi như Thúc Tinh Bắc, Vương Kim Xương thì còn cần gì phải ra nước ngoài học nữa? Năm 1944, Joseph Needham- nhà khoa học người Anh- đến thăm ĐH Triết Giang đã gọi đây là “Cambridge phương Đông”, vì có nhiều công trình nghiên cứu trình độ hàng đầu thế giới. Needham mang 5 bài viết của Thúc Tinh Bắc, Vương Kim Xương… về Anh và gửi đăng tạp chí “Nature”. Thầy Thúc thường giảng dạy có nhấn trọng điểm, đi sâu vào khái niệm, nguyên lý cơ bản, gợi ý, dẫn dắt sinh viên (SV) suy nghĩ, tranh luận bình đẳng; nhờ đó Lý Chính Đạo và nhiều SV khác đã thay đổi hướng học tập của mình. Học trò ông là viện sĩ Trình Khai Giáp (một trong những người đầu tiên làm bom nguyên tử và sáng lập sự nghiệp thử nghiệm vũ khí hạt nhân của TQ) nhận xét: người như Thúc Tinh Bắc vừa là nhà khoa học, vừa là nhà giáo dục, tập họp cả tài hoa thiên bẩm lẫn nhiệt tình giảng dạy thật hiếm thấy.  Thúc Tinh Bắc và Vương Kim Xương là hai đại sư trong ngành vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm TQ hồi đó, đã đào tạo được một số nhân tài có tên tuổi trên thế giới, như Ngô Kiện Hùng, Lý Chính Đạo v.v… Nhưng GS Thúc làm công tác học thuật quá ư thẳng tính và kỹ tính, không nể mặt người khác. Trong các buổi sinh hoạt khoa học, người báo cáo rất ngại thấy ông có mặt, vì ông hay hỏi nhiều câu hóc búa. Hồi ở nước ngoài, Thúc học được phương pháp nghiên cứu khoa học, tác phong thích tranh cãi của Eddington. Các đồng nghiệp và học trò đều nhận xét GS Thúc rất ngang ngạnh. May sao các trường ĐH TQ nửa đầu thế kỷ XX có thể bao dung những cá tính sắc sảo, gai góc, thẳng tính, bốp chát, không chịu được bất công và mờ ám. Thời kháng chiến chống Nhật, xuất phát từ lòng yêu nước, GS Thúc từng bỏ giảng dạy một thời gian, lao vào nghiên cứu các loại vũ khí như máy bay và tàu chiến không người lái, laser, rada. Sau kháng chiến, để phản đối việc Quốc Dân đảng bức ép ông vào đảng này, ông bảo SV tháo dỡ máy rada đã lắp xong, vì thế bị bỏ tù một thời gian. Trong phong trào cải tạo tư tưởng năm 1950 ở ĐH Triết Giang, thấy GS Tô Bộ Thanh bị sỉ nhục, Thúc Tinh Bắc căm phẫn đấm một vị chủ nhiệm của nhà trường rồi mắng: “Anh biết Tô Bộ Thanh là người thế nào không hả? Đồ các anh thì là cái thá gì cơ chứ!” Kết quả, GS Thúc bị kết tội ẩu đả cán bộ cách mạng, trở thành đối tượng đầu sỏ bị phê phán.  Nếu năm 1952 Thúc Tinh Bắc nhận lời mời của Vương Kim Xương về nghiên cứu ở Viện Khoa học TQ thì có lẽ ông sẽ dễ thở hơn. Ông không về vì thấy ở đó có một số “học giả chính trị” (như Trần Bá Đạt bí thư của Mao Trạch Đông được cử làm Phó Chủ tịch Viện). Ông xin đi giảng dạy ở trường ĐH Sơn Đông, nhưng nơi này không còn bao dung như trước nữa. Hiệu trưởng ĐH Sơn Đông hồi ấy là Hoa Cương, một người cộng sản ngay thẳng, đã cho Thúc Tinh Bắc cùng các nhà khoa học khác hưởng chế độ đãi ngộ GS; nhưng Thúc cũng không vì thế mà chịu phục tùng. Hoa cho rằng duy vật biện chứng là khoa học của mọi khoa học; Thúc khăng khăng khoa học tự nhiên là số một, triết học Mác là số hai. Dù thế, hiệu trưởng vẫn không đánh tụt tiêu chuẩn GS của Thúc, cho đến ngày Hoa Cương cũng vào tù vì bị kết tội tham gia “Tập đoàn Hồ Phong”.  Năm 1955, phong trào “Quét sạch phản cách mạng” bắt đầu, GS Thúc bị quy là “phần tử phản cách mạng”, bị đình chỉ chức vụ, đấu tố. Dù đã dán lên trước cổng nhà tờ yết báo: “Xin miễn vào nhà. Chỗ ở của công dân không được xâm phạm – điều 70 Hiến pháp nước CHND Trung Hoa”, nhưng ông cũng không thể ngăn được vụ khám nhà. Người ta thu được một đài thu thanh bán dẫn tự lắp, coi là chứng cớ ông nghe đài địch. GS Thúc bị cấm giảng bài. Ông chuyển sang nghiên cứu khí tượng học. Trong hơn một năm, ông viết mười mấy bài luận văn về lĩnh vực này, làm rung chuyển giới khí tượng học TQ.            Bìa sách “Hồ sơ Thúc Tinh Bắc”        Năm 1957, ông bị đánh là “phần tử cực hữu”, không được lĩnh lương, chỉ phát 20 Yuan mỗi tháng (sinh hoạt phí của lưu học sinh Việt Nam ở TQ hồi ấy là 32 Yuan), vợ ông không có việc làm, lại nuôi 7 đứa con. Năm 1958, GS Thúc bị quy là phần tử phản cách mạng, bị quản thúc 3 năm, đưa đi lao động cải tạo đào hồ chứa nước, và suýt chết mấy lần trong những năm đói kém ấy. Năm 1960, GS Thúc bị điều về Học viện Y khoa Thanh Đảo, chuyên quét dọn nhà vệ sinh, rửa dụng cụ thí nghiệm, xuống nhà xác làm tiêu bản xác chết. Về sau, nhờ thành tích sửa được máy điện não đồ nhập khẩu nên ông được phép lên lớp một số giờ.  Thập kỷ 60, nghe nói TQ sắp thử vũ khí hạt nhân, GS Thúc muốn được tham gia công tác này, vì vậy ông ra sức “cải tạo”, nhưng đều vô ích. Suốt 10 năm “Cách mạng văn hóa” ông tiếp tục quét dọn nhà vệ sinh, đồng thời đã sửa chữa thành công nhiều thiết bị y học của địa phương và quân đội: máy X quang, máy điện tâm đồ, điện não đồ, máy siêu âm, máy quét chất đồng vị, máy hưng phấn điện tử, máy gây tê sinh lý điện tử, kính soi dạ dày. Song mọi cố gắng ấy đều không mang lại cho ông cơ hội được phục vụ tổ quốc với tư cách của một nhà vật lý. Năm 1972, Lý Chính Đạo về thăm TQ, muốn gặp thầy cũ của mình mà không được, song từ đó GS Thúc được đối xử khá hơn: năm 1974, được tháo mũ “phản cách mạng”, được giảng dạy. Ông vẫn giữ được các phẩm chất ưu tú cũng như tật xấu cũ, chỉ chăm chú viết lách, chẳng để ý gì đến mọi chuyện. Năm 1979, công trình nghiên cứu tên lửa vượt đại châu đầu tiên của TQ cần tính toán thời hạn tối ưu nhận và vớt khoang số liệu đầu đạn. Tiền Học Sâm (cha đẻ công nghiệp tên lửa vũ trụ TQ, tiến sĩ toán học Viện MIT của Mỹ năm 1939, từng nghiên cứu chế tạo tên lửa trong quân đội Mỹ, 1955 về TQ) giao Thúc Tinh Bắc làm việc này, với kinh phí 1 triệu Yuan (120.000 USD). Thúc không nhận tiền, chỉ dùng bút giấy và máy tính, nhanh chóng tính toán ra kết quả chính xác. Năm ấy ông 73 tuổi. Giới khoa học hàng không vũ trụ TQ được một phen náo động: thiên tài vẫn cứ là thiên tài!  Thúc Tinh Bắc qua đời năm 1983. Trước khi chết, ông trăng trối hiến xác mình cho Học viện Y khoa Thanh Đảo. Ông bảo nên mổ não ông, mong đó là đóng góp cuối cùng cho y học, vì bộ não ấy thông minh quá mức bình thường, chính ông cũng thấy lạ, hơn 70 tuổi mà vẫn như hồi 20-30 tuổi. Lúc ấy viện đang thay lãnh đạo; nửa năm sau, người ta nhớ ra việc này thì xác ông đã rữa nát, đành đem chôn.  Nhận xét về “Hồ sơ Thúc Tinh Bắc” một độc giả TQ viết: “… đọc sách, không thể không suy ngẫm về số phận của giới khoa học TQ trong giai đoạn lịch sử bi tráng thập kỷ 50-70, và về vấn đề: cần một chế độ xã hội và chính trị thế nào để những người tài ba lỗi lạc và cương trực được tự do suy nghĩ và thực hiện sự nghiệp sáng tạo của họ. Có tác giả TQ hỏi: hơn nửa thế kỷ qua, TQ phát triển nhanh mạnh như thế, tại sao nhân tài vẫn hẫng hụt, vẫn chưa đào tạo được các nhà khoa học tài giỏi thế hệ hồi nửa đầu thế kỷ XX như Lý Tứ Quang, Vương Kim Xương, Thúc Tinh Bắc…?”.  Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Mánh khóe” xâm lược tế bào của SARS-CoV-2      Các nhà khoa học ngày càng hiểu rõ về vòng đời của SARS-CoV-2 và “mánh khóe xâm lược” của chúng.       Protein gai của SARS-CoV-2 được bao phủ bởi các phân tử đường glycan. Cuống của nó có 3 điểm uốn giúp tăng độ linh hoạt. Ảnh: Lorenzo Casalino, UCSD, đồ họa: Nik Spencer/Nature  Như một số loại virus “sói đội lốt cừu” khác, các protein ngoài màng SARS-CoV-2 được bao phủ một lớp “bọc đường” glycan ngụy trang để trốn tránh hệ miễn dịch của con người. Lúc đầu các nhà sinh học cấu trúc còn chưa biết “cái móc” không được phủ glycan trên đầu protein gai được dùng để làm gì? Thì ra đó chính là “miền gắn thụ thể” (RBD), là một trong ba vị trí giúp virus “móc” vào tế bào người.  Theo mô phỏng của nhà sinh học Amaro tại đại học UCSD, khi “miền gắn thụ thể” trồi lên khỏi “đám đông” phân tử glycan để tiếp xúc với tế bào vật chủ, thì có ngay hai glycan sà vào khóa cố định “miền gắn thụ thể” để làm vững chắc liên kết với tế bào vật chủ vừa được thiết lập. Không chỉ Amaro, nhóm của nhà McLellan, nhà sinh học cấu trúc tại Đại học Texas-Austin, cũng thử làm đột biến phân tử glycan trên mô hình máy tính. Kết quả dẫn đến sự sụp đổ của “miền gắn thụ thể”, điều này gợi ý rằng nếu tìm ra giải pháp loại bỏ các cặp phân tử glycan nói trên sẽ làm giảm khả năng lây nhiễm của virus. Tuy nhiên, ý tưởng này vẫn chưa trở thành hiện thực.  Các nhà khoa học vẫn đang miệt mài tìm hiểu chi tiết về cách thức lây nhiễm của SARS-CoV-2, về khả năng thích ứng đáng kinh ngạc của virus bám và xâm nhập vào bên trong tế bào người, cũng như quá trình xử lý quan trọng của các hạt virus con để sau đó có thể tiếp xúc xâm nhiễm các tế bào khác.  Mở cửa, bám và bắt  Mỗi hạt virus SARS-CoV-2 được phủ 24-40 protein gai trên bề mặt. Khác với gai tương đối cứng của virus cúm, các gai của SARS-CoV-2 cực kỳ linh hoạt với cấu trúc khớp nối tại ba điểm. Điều này cho phép các gai xoay trở, lắc lư quét qua bề mặt tế bào để tìm kiếm vị trí thụ thể gắn kết.     Nguồn: Hui (Ann) Liu, Univ. Utah; Đồ họa: Nik Spencer/Nature.  Ngay từ đầu đại dịch, các nhà nghiên cứu đã xác định được “miền gắn thụ thể” của SARS-CoV-2 gắn vào thụ thể ACE2 phổ biến trên màng tế bào phổi và hầu họng tương tự như SARS-CoV nhưng mạnh hơn 2-4 lần nhờ các hàng loạt các biến đổi cấu trúc giúp “miền gắn thụ thể” trở nên ổn định hơn.  Các biến thể đáng lo ngại của SARS-CoV-2 có xu hướng bị đột biến tại tiểu đơn vị S1 chứa “miền gắn thụ thể” (cũng như đột biến tại tiểu đơn vị S2 đóng vai trò giúp virus hòa màng xâm nhập tế bào).  Biến thể Alpha mang 17 thay đổi trong trình tự protein gai, khiến “miền gắn thụ thể” dễ dàng trồi lên để bám bắt thụ thể hơn, tăng khả năng lây nhiễm tế bào.  Biến thể Delta đang hoành hành khắp thế giới cũng mang nhiều đột biến tại tiểu đơn vị S1, bao gồm ba đột biến tại “miền gắn thụ thể”, giúp cải thiện khả năng liên kết với thụ thể ACE2 cũng như trốn tránh hệ miễn dịch.  Xâm nhập  Một khi virus bám được vào thụ thể ACE2, các protein khác của tế bào vật chủ sẽ kích hoạt một quá trình hòa màng giúp virus xâm nhập vào bên trong tế bào.  SARS-CoV sử dụng hai con đường xâm nhiễm tế bào khác nhau thông qua hai enzyme protease (men li giải protein): TMPRSS2 hoặc cathepsin L. SARS-CoV thường thông qua cathepsin L để xâm nhập tế bào, nhưng cũng thường bị protein kháng virus của tế bào bắt giữ.  Nhưng SARS-CoV-2 thì khác với SARS-CoV, nó sử dụng hiệu quả enzyme TMPRSS2 có số lượng lớn trên bề mặt tế bào hô hấp. TMPRSS2 cắt tiểu đơn vị S2, khiến amino acid kị nước của protein gai lộ ra và mau chóng vùi vào màng tế bào, tách màng tế bào ra như mở khóa kéo để màng virus hòa vào.    Một khi virus bám được vào thụ thể ACE2, các protein khác của tế bào vật chủ sẽ kích hoạt một quá trình hòa màng giúp virus xâm nhập vào bên trong tế bào. Source: Janet Iwasa, Univ. Utah; Graphic: Nik Spencer/Nature.  Nhờ cách này, bộ gene của virus SARS-CoV-2 có thể xâm nhiễm nhanh hơn mà không bị kẹt lại bên trong endosome như người anh em SARS-CoV của nó. Và đó cũng là lí do chloroquine không hiệu quả trong điều trị COVID mặc dù các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đạt kết quả hứa hẹn ban đầu. Một hoạt chất ức chế TMPRSS2 tên camostat mesylate, vốn được phê duyệt cho điều trị viêm tụy tại Nhật, được kì vọng sẽ ngăn chặn virus xâm nhập tế bào phổi, nhưng đáng tiếc cũng không giúp cải thiện kết quả điều trị trong thử nghiệm lâm sàng.   Không cho tế bào “vẫy cờ trắng”  Khi bộ gene RNA của virus đi vào tế bào chất, hai đoạn RNA của virus sẽ được dịch mã thành các chuỗi amino acid dài, sau đó được cắt thành 16 protein, nhằm tổng hợp RNA mới. Nhiều RNA mới sẽ tiếp tục dịch mã tổng cộng 26 protein của virus, bao gồm protein gai và protein phụ trợ. Bằng cách nào virus lợi dụng bộ máy của tế bào vật chủ để nhân bản hàng loạt bộ gene và các protein cần thiết.      Điều may mắn là hầu hết các đột biến cho đến nay đều làm tăng khả năng lây lan hơn là tăng độc lực của virus. Điều quan trọng là các loại vaccine hiện nay đều giữ được hiệu quả tương đối cao trước các biến thể, kể cả Delta.      Đầu tiên, virus loại bỏ sự cạnh tranh: ngay khi vào tế bào chất, RNA virus dịch mã ngay protein phi cấu trúc NSP1. Nó băm nát tất cả RNA thông tin (mRNA) của tế bào người (không có đuôi nhận dạng là RNA của virus) một cách có hệ thống. Tiếp đó, virus giảm 70% tổng hợp protein của tế bào.   Cuối cùng, virus tắt hệ thống cảnh báo của tế bào, theo nhiều cách khác nhau. Nhóm của Stern-Ginossar tại viện khoa học Weizmann, Israel, đã làm rõ được một cách trong số đó: virus ngăn cản mRNA rời khỏi nhân để phát tán cảnh báo miễn dịch. Một nhóm khác đã xác nhận cơ chế này, và lại một lần nữa chỉ ra rằng chính NSP1 đã chẹn đường thoát ra khỏi nhân của mRNA.  Không thể sản sinh nhiều phân tử interferon đóng vai trò đưa ra các tín hiệu cảnh báo “vẫy cờ trắng” báo hiệu nguy kịch, nên tế bào không thể phát tín hiệu cho đội quân miễn dịch về sự hiện diện của virus. Nhìn chung, SARS-CoV-2 làm điều này đặc biệt hiệu quả so với SARS-CoV hoặc RSV. Nghiên cứu mới đây cho thấy biến thế Alpha thậm chí còn hiệu quả hơn nữa trong cơ chế này.   Vì thế, khi hệ miễn dịch nhận ra cơ thể bị nhiễm virus thì tải lượng của chúng đã quá lớn. Khi đó các protein đáp ứng miễn dịch tràn vào máu gây ra thiệt hại nặng nề.      Mô phỏng cách thức hòa màng của SARS-CoV-2 với tế bào. Nguồn: Janet Iwasa, ĐH Utah.  Chiếm và tân trang nhà mới  Một khi chiếm được quyền dịch mã, tức là biến tế bào thành nhà riêng, lũ virus cải tạo tế bào phục vụ nhu cầu của mình. Một số protein gai của hạt virus mới sẽ trồi lên bề mặt tế bào để gắn thụ thể ACE2 của tế bào lân cận, tiến hành hòa màng hợp nhất tế bào nhiễm bệnh với tế bào lành, và có thể phát triển thành hợp bào khổng lồ chứa 20 nhân từ một cụm 20 tế bào.   Nhà sinh học phân tử Mauro Giacca tại King’s College London đã phát hiện ra hiện tượng này, đặt giả thuyết rằng hợp bào là nơi trú ẩn lâu dài để nhân bản số lượng các hạt virus. “Chúng không đánh rồi bỏ chạy, mà muốn bám trụ trường kì.”   Bên trong tế bào chất, SARS-CoV-2 biến lưới nội chất mỏng dẹt thành các khối dạng bọt biển gồm nhiều túi màng kép hình cầu (DMV), có vẻ như đây là nơi trú ẩn an toàn cho RNA của virus được sao chép và dịch mã, được che chắn khỏi sự tấn công của các thụ thể miễn dịch nội bào.   Hầu hết các virus xuất bào bằng cách lấy một phần màng tế bào làm lớp bao bọc – nôm na là chúng “ăn cắp” màng tế bào làm thành chiếc áo mặc. Tuy nhiên, coronavirus sử dụng cách thức khác biệt. Chúng lợi dụng phức bộ Golgi – vốn là nơi đóng gói các thành phần của tế bào – làm bưu cục vận chuyển chúng ra khỏi tế bào. Nhưng kể cả có chặn bưu cục Golgi thì chúng vẫn xuất bào thành công thông qua lysosome. Protein của virus tạo cho mình vỏ bao bằng cách nảy chồi vào lưới nội chất, rồi chiếm lấy lysosome để xuất bào. Vì thế giờ đây các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm các hoạt chất ức chế lysosome như một giải pháp kháng virus tiềm năng.  Thực ra xuất bào thông qua phức bộ Golgi hoặc lysosome chậm và kém hiệu quả hơn cách thức thông thường nhưng các nhà khoa học vẫn chưa biết tại sao SARS-CoV-2 lại ưa thích cơ chế này. Phải chăng thành phần vỏ lipid của phức bộ Golgi hoặc lysosome phù hợp hơn với virus so với màng tế bào? Làm rõ được điều này có thể mở ra cơ hội cho các liệu pháp kháng virus mới.   Lát cắt cuối cùng  Trong khi các coronavirus khác chỉ có duy nhất một amino acid arginine (Arg) tại điểm nối hai tiểu đơn vị S1 và S2 thì SARS-CoV-2 có một chuỗi 5 amino acid Pro-Arg-Arg-Ala-Arg. Một protein của tế bào là furin nhận diện và cắt chuỗi amino acid này, và diện cắt furin đóng vai trò thiết yếu để virus xâm nhập tế bào phổi của người một cách hiệu quả. Nếu những con chồn nhiễm SARS-CoV-2 bị mất diện cắt furin, chúng thải ra nồng độ virus thấp hơn và mất khả năng truyền bệnh. Các virus cúm gia cầm độc lực cao cũng có diện cắt furin tương tự. Nghiên cứu tại Hà Lan cũng cho thấy cho thấy virus có diện cắt furin nguyên vẹn xâm nhập tế bào hô hấp của người nhanh hơn.  Sau khi được lắp ráp hoàn chỉnh, hạt virus mới cần phải náu trong các bào quan để tắm mình trong protease furin, nhà nghiên cứu Tom Gallagher tại Đại học Loyola đặt ra giả thuyết.   Nếu không có sẵn diện cắt furin làm lỏng lẻo liên kết giữa tiểu đơn vị S1 và S2, có lẽ virus sẽ bỏ qua con đường TMPRSS2 để bước vào quá trình nhập bào endosome.  Hai biến thể Alpha và Delta đã thay đổi diện cắt furin so với SARS-CoV-2 ban đầu: Proline được thay bằng Histidine (biến thể Alpha) hoặc Arginine (biến thể Delta) khiến chuỗi acid amin có tính kiềm hơn, dễ nhận diện để cắt hơn.   Nhiều diện cắt furin cũng đồng nghĩa càng nhiều protein gai làm mồi khởi đầu sự xâm nhiễm tế bào. Tỉ lệ protein gai mồi của SARS-CoV là 10%, còn SARS-CoV-2 là 50%, thậm chí lên đến 75% đối với biến thể Delta.   Những điều còn chưa biết  Số lượng thụ thể ACE2 cần thiết để gắn với mỗi protein gai, và chính xác khi nào thì tiểu đơn vị S2 bị cắt bởi TMPRSS2, và số lượng protein gai cần thiết cho sự hòa màng virus-tế bào. Hồi tháng 4/2020, một nhóm từ Đại học UCSF đã xác định được tới 332 tương tác giữa SARS-CoV-2 với protein người.  Thật khó để bắt kịp với tốc độ biến đổi của virus. Chúng ta vẫn chưa rõ bằng cách này Delta nhân bản nhanh và nhiều hơn so với các biển thể trước.  Điều may mắn là hầu hết các đột biến cho đến nay đều làm tăng khả năng lây lan hơn là tăng độc lực của virus. Riêng biến thể Delta đã làm tăng tải lượng virus trong cơ thể người nhiễm một cách nhanh chóng. Nhưng điều quan trọng là các loại vaccine hiện nay đều giữ được hiệu quả tương đối cao trước các biến thể, kể cả Delta.□  Cao Hồng Chiến lược dịch   Nature doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-02039-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mảnh vải còn sót lại sau 2.700 năm ở Hy Lạp      Các nhà khảo cổ Hy Lạp đã phát hiện ra một mẩu vải hiếm có 2.700 tuổi trong một bình đựng hài cốt bằng đồng thuộc một ngôi mộ cổ Hy Lạp.    Mảnh vật liệu dễ vỡ màu vàng được tìm thấy khi các nhà khoa học đang khai quật ở thị trấn miền nam Argos. “Đây là một phát hiện vô cùng hiếm, bởi vải là vật liệu hữu cơ bị phân hủy nhanh chóng”, nhà khảo cổ Alkistis Papadimitriou cho biết. Chỉ có rất ít những tạo vật như vậy được tìm thấy ở Hy Lạp.  Bình đựng hài cốt hình trụ chứa những quả lựu khô – vật hiến tế liên quan tới các vị thần cổ đại ở âm phủ – cùng với tro và xương người hóa thân được thiêu đốt từ đầu thế kỷ thứ 7 Tr.CN.  Papadimitriou cho biết loại vải này được bảo tồn 3.000 năm là nhờ chiếc bình đồng bị ăn mòn. “Đồng oxit giết chết những vi khuẩn phân hủy sợi vải. Chúng tôi sẽ nghiên cứu mẩu vải trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu về kỹ thuật dệt vải thời đó”.  “Hình thức hoả táng là rất đặc biệt tại Argos và việc phát hiện mẩu vải càng làm cho nó trở nên khác thường”, Papadimitriou nói. “Có thể một người giàu có nào đó muốn bắt chước phong tục tang lễ do Homer miêu tả để trở nên nổi bật trong số những người được chôn quanh đó”.  Sử thi Iliad và Odyssey của Homer rất được ưa thích tại Hy Lạp. Được sáng tác vào thế kỷ thứ 8 Tr.CN và lấy cảm hứng từ một cuộc chiến xảy ra 4 thế kỷ trước đó, tác phẩm Iliad miêu tả các anh hùng ngã xuống được hoả thiêu trong một nghi lễ rất cầu kỳ và trở thành mốt thời thượng về sau.  Thị trấn Argos hiện đại nằm cách thủ đô Athen 145 km về phía Nam, được xây dựng trên một trong những thành phố cổ đại nổi tiếng nhất của Hy Lạp. Thành cổ này cũng tên là Argos được Homer miêu tả là chỗ dừng chân của vị vua anh hùng Mycenaean trong cuộc chiến đấu với quân Hy Lạp tại thành Troy.  M.T.  (theo AP)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mảnh vụn không gian      Ngày 28 tháng Sáu 2011, một mảnh vụn đã bay đến gần Trạm Không gian Quốc tế (ISS, International Space Station), chỉ cách 250m làm người ta sợ xảy ra một vụ va chạm lớn có thể phá huỷ ISS. Các mảnh vụn không gian ngày càng nhiều đang là mối nguy cho các con tàu vũ trụ cũng như cho các vệ tinh đang bay trên quỹ đạo Trái Đất.        Khi được báo là có một mảnh vụn không rõ nguồn gốc đang bay tới với tốc độ gần 47.000 km/giờ và có thể va chạm với Trạm Không gian Quốc tế (Hình 1), sáu phi hành gia gồm 3 người Nga, 2 người Mỹ và 1 người Nhật đang công tác trên ISS phải vội sơ tán vào các phi thuyền Soyouz neo sẵn vào Trạm Không gian để dùng cho những trường hợp cứu hộ như vậy. Vì được báo quá muộn, chỉ 15 giờ trước đấy nên các phi hành gia không đủ thì giờ để lái con tàu tránh xa vật thể đang bay đến. Khoảng 30 phút sau, báo động được dỡ bỏ và các phi hành gia trở lại trạm không gian để tiếp tục làm việc.  Các mảnh vụn trong không gian  Hiện nay, người ta ước tính có đến 22.000 mảnh vụn trong không gian có kích thước lớn hơn 10 cm bay trên tất cả các quỹ đạo, trong số đó có 2200 vệ tinh đã hết hạn sử dụng hay các tầng tên lửa cuối cùng đã đưa các vệ tinh vào quỹ đạo. Những mảnh vụn lớn có chiều dài vượt quá 20 m và đường kính trên 5 m. Ngoài ra còn có khoảng 650.000 mảnh vụn nhỏ hơn cỡ 1 đến 10 cm và khoảng 150 triệu hạt nhỏ hơn 1 cm nhưng khối lượng tổng cộng của chúng vượt quá 5 triệu kilôgram.  Phần lớn các mảnh vụn này được tìm thấy ở độ cao giữa 800 km và 1500 km, vùng không gian có nhiều vệ tinh được phóng lên. Ở đấy, khí quyển rất loãng và lực ma sát không đủ để đốt cháy chúng như ở những quỹ đạo thấp hơn. Các mảnh vụn này vì thế có thể tồn tại hàng thế kỷ hay hàng thiên niên kỷ.  Phân loại các mảnh vụn không gian  Howard Baker trong The American Journal of International Law năm 1992 đã chia các mảnh vụn không gian thành 4 loại:  –    các mảnh vụn không còn có hoạt động. Đó là các vệ tinh đã cạn hết nhiên liệu, hoặc không hoạt động tốt hay không còn điều khiển được,  –    các mảnh vụn còn có hoạt động. Đó chủ yếu là các thân tên lửa còn ở lại trên quỹ đạo sau khi đã phóng vệ tinh,  –    các mảnh vụn bị vỡ. Chúng được tạo ra từ các vật thể không gian sau các vụ nổ, va chạm, hỏng hóc. Các va chạm có thể xảy ra giữa các vật thể không gian và các mảnh vụn nhân tạo hay thiên nhiên trên quỹ đạo.  –    các hạt nhỏ bé. Chúng có xuất xứ từ các bề mặt hay các lớp sơn của các con tàu vũ trụ bị thoái hoá trong môi trường khắc nghiệt của không gian.  Sự hình thành các mảnh vụn không gian  Các mảnh vụn đều có nguồn gốc từ các bộ phận của những thiuết bị phóng vào không gian. Từ năm 1957 đến năm 2006. số các chuyến bay trên quỹ đạo Trái Đất hay ra ngoài Trái Đất lên đến 4477. Mỗi chuyến bay có thể tạo ra nhiều loại mảnh vụn to nhỏ khác nhau. Trước hết là các tầng tên lửa sau khi hoàn thành nhiệm vụ phóng vệ tinh  có thể ở lại quỹ đạo. Nhiều vệ tinh sau thời gian hoạt động có ích cũng được bỏ lại trên quỹ đạo cũng như các bộ phận của tàu vũ trụ đước tách ra khỏi nhau để đáp ứng các mục đích khác nhau của chuyến bay.  Nhưng các vụ nổ và các va chạm trong không gian là nguồn lớn nhất tạo ra các mảnh vụn. Chỉ trong năm 2005, đã có đến 180 vụ nổ trên quỹ đạo tạo ra 40% các mảnh vụn không gian của năm ấy. Ngày 23 tháng 6-1961, tấng trên cùng của tên lử Able Star dùng để phóng vệ tinh Transit-4A đã nổ và tạo ra 296 mảnh vụn được Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ theo dõi. Đến tháng Giêng 2007, 181 mảnh vụn này vẫn còn bay trên quỹ đạo. Tháng 2-2006, tên lửa Vanguard-3 bị một va chạm nhỏ và tung ra một mảnh vụn đặc biệt có tốc độ chậm bay trên quỹ đạo giữa 510 km và 3310 km. Tháng 12-2006, tầng 2 của một tên lửa Delta có 17 năm tuổi đã phát ra 36 mảnh vụn ở độ cao giữa 685 và 790 km và chúng dần dần rơi hết xuống mặt đất, chỉ còn lại ba mảnh. Tháng 1-2006, bộ xử lý của vệ tinh địa tĩnh Mỹ Galaxy-3R bị hỏng và vệ tinh không còn điều khiển được nữa nên người ta không lái được nó ra khỏi quỹ đạo địa tĩnh. cả vệ tinh Galaxy-3R trở thành một mảnh vụn quan trọng. Năm 2009, hai vệ tinh của Nga là Kosmos-2251 và Iridium-33 đã đâm vào nhau trên quỹ đạo ở độ cao 780 km trên bầu trời Siberia, tạo ra rất nhiều mảnh vụn. Người ta cũng tính thêm vào số này nhiều mảnh vụn bất ngờ như cái găng tay của Ed White bị tuột ra khi phi hành gia này thực hiện cuộc đi bộ trong không gian năm 1965, hoặc cái tuốc nơ vít bị rơi ra ngoài không gian na9m 1984 khi các nha du hành vũ trụ đang sửa chũa vệ tinh Solar Max.  Vào tháng Giêng-2007, Mạng lưới Giám sát Không gian của Mỹ (SSN, US Space Surveillance Network) đã kiểm kê được trên 30.000 vật thể trong không gian, trong số đó có 8% là các con tàu vũ trụ đang hoạt động, 50% là các vệ tinh chết và các tầng tên lửa và các vật thể phục vụ cho các chuyến bay. Số 42% còn lại gồm các mảnh vỡ của các thiết bị từ năm 1961. Cho đến năm 2007, đã có 189 vệ tinh bị vỡ. Chương trình Mảnh vụn Quỹ đạo của NASA (ODPO, Orbital Debris Programme Office) là tổ chức có uy tín nhất trên thế giới theo dõi các vấn đề mảnh vụn không gian. ODPO đã có những chương trính máy tính kiểm kê và cập nhật các mảnh vụn. Trên Hình 2, ta có vị trí của các mảnh vụn ở quỹ đạo thấp, dưới 2000 km, do máy tính vẽ ra.          Hình 2 . Các mảnh vụn không gian ở quỹ đạo thấp . Nguồn: NASA, ODPO          Phần lớn các mảnh vụn này bay ở độ cao trên 850 km, phần lớn giữa hai độ cao 700 và 1000 km (vệ tinh viễn thám), khoảng 1400 km (vệ tinh viễn thông) và gần 16.000 km (vệ tinh địa tĩnh).  Các nguy cơ va chạm  Các nguy cơ va chạm là mối lo lớn đối với những vệ tinh đang hoạt động và các chuyến bay vũ trụ có người lái. Ở tốc độ 28.000 km/giờ, một mảnh vụn chỉ lớn 1 cm sẽ có đủ động năng để phá huỷ một con tàu không gian loại trung. Những mảnh vụn nhỏ hơn, cỡ 1 mm cũng có thể phá huỷ những bộ phận nhạy cảm của các phi thuyền. Các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm cho thấy một giọt xút NaOH lỏng va chạm với tốc độ 10 km/s đã có sức công phá của một trái lựu đạn và một mảnh vụn 10 cm có sức công phá của 25 bánh thuốc nổ đinamít.  Ngày 19 tháng 2-2007, tầng Breeze-M trên một tên lửa Proton của Nga bay giữa 1500 km và 400 km đã nổ tung sau một năm trên quỹ đạo, tạo ra nhiều mảnh vụn. Sự cố này rất nguy hiểm đối với Trạm Không gian ISS vì nó có cùng độ nghiêng 51°5 như tầng Breeze-M. Cuộc va chạm của hai vệ tinh Nga Kosmos-2251 và Iridium-33 năm 2009 cũng tạo ra rất nhiều mảnh vụn. Nhưng một sự kiện nghiêm trọng d0 con người cố tình tạo ra một đám mây mảnh vụn trong không gian đã xảy ra ngày 11 tháng Giêng-2007 khi một tên lửa mặt đất của Trung Quốc được bắn lên để phá huỷ vệ tinh Phong Vân-1C, một vệ tinh khí tượng đã được phóng lên quỹ đạo 650 km từ năm 1999. Đây là một thành công lớn của nền kỹ thuật không gian quân sự của Trung Quốc nhưng lại là một thảm hoạ đối với ngành hàng không vũ trụ thế giới. 1100 mảnh vỡ lớn hơn 10 cm phát ra từ vệ tinh Phong Vân-1C tạo thành một đám mây dày đặc bay giữa các độ cao 200 km và 3850 km tức là trên tất cả các quỹ đạo thấp của vệ tinh quanh Trái Đất. Ngoài ra còn có thể có hàng triệu mảnh vụn nhỏ hơn, NASA ước tính rằng một phần tư các mảnh vụn được kiểm kê trên các quỹ đạo thấp của Trái Đất (LEO, Low Earth Orbit) có xuất xứ từ vệ tinh Trung Quốc. Ở độ cao 850 km, các mảnh vụn này có thể tồn tại ít nhất là 2 thế kỷ còn trên 4000 km, thời gian sống của chúng phải tính hàng nghìn năm.          Hình 3 – Số các vật thể không gian và nguồn gốc của chúng. Nguồn : Futron Corporation, 2006          Vì số các vệ tinh phóng lên không gian ngày càng cao (Hình 3) nên khả năng va chạm với các mảnh vụn cũng ngày càng lớn. Hai chuyên gia của NASA là Liou và Johnson đã phân tích chi tiết và dự đoán các nguy cơ va chạm trong một báo cáo nổi tiếng (Science 311, 2006). Theo các tác giả, khoảng 60% các va chạm sẽ xảy ra giữa các độ cao 900 và 1000 km làm cho số các mảnh vụn có kích thước lớn hơn 10 cm sẽ tăng lên gấp 3 lần sau 20 năm, xác suất va chạm cũng tăng gấp 10 lần.  Các nguy cơ va chạm sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh thế thế giới khi ngành công nghiệp không gian vũ trụ phải chịu nhiều rủi ro, ngành này hiện có doanh thu khoản 16 tỷ USD nhờ sự phát triển của các vệ tinh viễn thông quốc tế. Để phóng lên vệ tinh Vinasat-1, chúng ta đã phải đầu tư trên 300 triệu USD.  Những công ước quốc tế về các mảnh vụn không gian  Người ta nhận thấy rằng khoảng không vũ trụ, nhất là các quỹ đạo gần Trái Đất là những tài nguyên thiên nhiên cần phải được bảo vệ vì lợi ích chung của nhân loại. Các quỹ đạo địa tĩnh (36.000 km) ngày càng được sử dụng và số vệ tinh bay trên quỹ đạo này ngày càng nhiều. Cũng như các dòng sông quốc tế hay các vùng lãnh hải, mặc dù có nhiều công ước hay hiệp ước quy định việc sử dụng nhưng vẫn có những quốc gia không chịu tuân thủ các điều khoản ứng xử trong không gian theo quy định. Thậm chí tám quốc gia vùng xích đạo đã ra tuyên bố đòi quyền kiểm soát vùng quỹ đạo địa tĩnh nằm trên địa phận của họ. Đòi hỏi này được đưa ra tại hội nghị Bogota năm 1976 nhưng chưa được thế giới chấp nhận.  Hiện nay, việc sử dụng không gian chưa được các quy định quốc tế xác định rõ và không có những chế tài dứt khoát nên còn nhiều quốc gia vẫn còn tuỳ tiện trong việc khai thác khoảng không vũ trụ. Trong số các quy định quốc tế, ta có thể kể:  –    Hiệp ước khoảng không vũ trụ (Outer Space Treaty) năm 1966  –    Hiệp định về cứu hộ (Rescue Agreement) năm 1967  –    Công ước về Đền bù (Liability Convention) năm 1971  –    Công ước về Đăng ký (Registration Convention) năm 1974  –    Hiệp ước về mặt Trăng (Moon Treaty) năm 1979  Một công ước về mảnh vụn không gian đang được xem là cần thiết sau vụ phá huỷ vệ tinh Phong vân-1C. Từ năm 2002, Uỷ ban Liên Cơ Quan Phối hợp các Mảnh vụn Không gian (IASDCC) có sự tham gia của 11 Cơ quan không gian chính trên thế giới đã thống nhất về một số biện pháp để quản lý nhằm giảm bớt số mảnh vụn. Năm 2007, Uỷ ban Liên Hiệp quốc về sử dụng Hoà bình Khoảng không Vũ trụ (COPUOS) đã thông qua những hướng dẫn về việc giảm thiểu tác hại của các mảnh vụn không gian. Hướng dẫn này đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc thông qua vào tháng 5-2008. Hướng dẫn này gồm việc thiết kế và quản lý các tàu vũ trụ với mục đích giảm số mảnh vụn phát ra trong quá trình hoạt động, giảm nguy cơ vỡ tan trên quỹ đạo, tránh việc tự phá huỷ và có đề cập đến các vấn đề chất độc và chất phóng xạ dùng trong các hệ thống năng lượng phóng vào không gian. Tháng 6-2010, Tổ chức Chính sách Không gian Quốc gia của Mỹ cũng đưa ra một khuyến cáo để “giảm thiểu và lấy đi các mảnh vụn trên quỹ đạo, loại bỏ các nguy cơ gây ra bởi các mảnh vụn.”  Trước khi có các biện pháp hữu hiệu để loại bỏ các mảnh vụn trên quỹ đạo, người ta phải tìm cách kiểm soát sự sản sinh ra các mảnh vụn trong không gian bằng cách tránh các vụ nổ của những bình chứa nhiên liệu chưa cháy hết hay thay quỹ đạo cho các vệ tinh, đưa chúng xuống những quỹ đạo thấp một khi chúng đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong “Sống sót qua 1000 thế kỷ” (Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thọ Nhân, NXB Tri thức 2011) tác già Roger Bonnet đưa ra đề nghị kéo các vệ tinh đã hết thời hạn sử dụng lên Mặt Trăng để giải phóng quỹ đạo địa tĩnh, đồng thời tái tuần hoàn các thiết bị không gian và thu hồi các kim loại quý dùng trong việc chế tạo các vệ tinh. Gần đây, Cơ quan Không gian Nhật Bản (JAXA) đã kết hợp với công ty sản xuất lưới đánh cá Nitto Seimo để chế tạo những tấm lưới rộng vài cây số nhằm thu gom các mảnh vụn. Theo Nitto Seimo, lưới này sẽ có ba lớp giây kim loại rất chắc chắn có đường kính 1mm và nó sẽ ở trên không gian khoảng một vài tuần mỗi lần. Lưới này và các mảnh vụn thu được sẽ mang điện tích và được kéo về  nhờ từ trường của Trái Đất, như vậy tránh được khả năng cháy trong khí quyển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Margaret Rossiter – Đơn thương độc mã nghiên cứu lịch sử phụ nữ trong khoa học      Nhà sử học Margaret Rossiter đã cống hiến sự nghiệp trọn đời để công chúng biết đến thành tựu của các nhà khoa học nữ đã đặt những nền móng rất quan trọng nhưng đã vô tình hoặc cố ý bị xóa tên trong lịch sử.         Cả Margaret Rossiter (trong ảnh) và Matilda Gage đều đã tạo ra những đóng góp quan trọng, độc đáo đối với nền học thuật Hoa Kỳ nhưng lại bị xem nhẹ trong suốt một thời gian dài.    Năm 1969, Margaret Rossiter khi đó 24 tuổi, là một trong số ít phụ nữ nhập học chương trình sau đại học ngành lịch sử khoa học tại Yale. Mỗi thứ Sáu, Rossiter đều đặn tham gia buổi họp mặt không chính thức giữa các giáo sư và sinh viên tại khoa. Trong những buổi họp vào chiều muộn này, khi mọi người thường uống bia, Rossiter chọn hút thuốc tẩu dù chẳng hứng thú gì, bà cũng tập pha trò trong khi bản thân không hề có óc hài hước. Vì lo sợ bị gạt ra rìa, bà vẫn cố gắng duy trì sự hiện diện của mình, chiến đấu để được chấp nhận trong môi trường mà đàn ông chiếm đa số.   Trong một khoảng yên ắng giữa một buổi trò chuyện như thế, Rossiter đã đưa ra một số câu hỏi cho nhóm giáo sư. “Đã từng có nhà khoa học nữ nào chưa?” Câu trả lời bà nhận được rất rõ ràng: Không. Chưa bao giờ. “Họ đáp lại đầy hống hách,” Rossiter giờ đây đã là giáo sư danh dự (sau khi về hưu) tại Đại học Cornell nhớ lại. Vài người thậm chí còn không thèm nhắc về một nữ khoa học gia lỗi lạc là Marie Curie, người hai lần đoạt giải Nobel. Họ cho rằng Marie Curie chỉ là trợ lý cho chồng và chồng bà mới là thiên tài thực sự phía sau những phát kiến vĩ đại của họ. Thay vì tranh cãi, Rossiter chọn cách im lặng: “Tôi nhận ra họ không chấp nhận thảo luận đề tài này.”   Bị cố ý che mờ sự hiện diện  Chấp nhận hay không, lịch sử của phụ nữ trong khoa học vẫn sẽ trở thành sự nghiệp cả đời của Rossiter, một chủ đề mà bà gần như đơn thương độc mã thực hiện. Công trình “Các nhà nữ khoa học ở Hoa Kỳ” của bà chất chứa hơn một thập kỷ vất vả và bền bỉ thu thập tư liệu, vượt qua nhiều ngàn dặm hành trình để vén bức màn dày đặc của thời gian và đưa những giá trị bị lãng quên ra đại chúng.   “Điều quan trọng cần lưu ý là sự yếu thế xưa nay của phụ nữ trong khoa học (đến nỗi các sử gia chuyên về khoa học không thèm bận tâm) không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, cũng không phải vì đóng góp của họ quá ít ỏi, mà bởi sự cố ý che mờ sự hiện diện của họ trong khoa học.” Rossiter viết như vậy trong lời mở đầu của tập đầu tiên.  Nghiên cứu của Rossiter “mang tính cách mạng” là đánh giá của Anne Fausto-Sterling, giáo sư danh dự tại Đại học Brown, chuyên gia về di truyền học phát triển, người đã rất ngạc nhiên với tập một khi cuốn sách được ra mắt. “Nghĩa là tôi đừng bao giờ nên tin bất kỳ điều gì mà bất kỳ ai nói với tôi về những gì phụ nữ đã làm hoặc không làm trong quá khứ, tôi cũng không nên đưa ra bất kỳ đánh giá nào về những gì họ có thể làm trong tương lai.”  Các nhà sử học hàn lâm thường không tạo ra tác động tức thời đến cuộc sống hằng ngày. Nhưng Rossiter là một ngoại lệ. Khi “khai quật” lại cuộc đời bị chôn vùi của những phi hành gia, nhà vật lý, hóa học, côn trùng học và thực vật học là nữ, Rossiter đã dọn đường cho các nhà khoa học nữ tương lai. “Nghiên cứu của bà khẳng định đóng góp của phụ nữ trong khoa học và rằng đội ngũ của chúng ta có thể lớn mạnh vì phụ nữ có đầy đủ năng lực khoa học,” theo Londa Schiebinger, sử gia chuyên về khoa học tại Đại học Stanford. Thêm vào đó, nghiên cứu của Rossiter cũng giải thích rằng các nhà quản trị cần phải tái cấu trúc môi trường học thuật sao cho thu hút được nữ giới. “Bà đã khiến chúng ta ngộ ra nhiều rào cản mà những phụ nữ tài năng đối mặt.”  Những phát hiện của Rossiter đã gây ấn tượng đối với các nhân vật chủ chốt ở Quỹ Khoa học Quốc gia (Hoa Kỳ), nơi tài trợ cho nghiên cứu của bà từ thập niên 1980 và duy trì suốt nhiều năm, cũng bắt đầu cấp ngân sách nhằm gia tăng sự hiện diện và tiến bộ của nữ giới trong lĩnh vực kỹ thuật và khoa học hàn lâm.” Schiebinger nói. “Tất cả những nghiên cứu được dẫn chứng cặn kẽ của Margaret Rossiter đã đánh động được các tổ chức học thuật phải thay đổi.”     Matilda Gage (1826-1898) là tiêu điểm nghiên cứu của Rossiter, Rossiter đã trích dẫn Gage: “đàn ông cấm phụ nữ gặt hái thành quả từ công sức khó nhọc của chính họ.” Ảnh: Alamy.    Hiệu ứng Matilda  Ngược về năm 1993, khi đó bà đã sáng tạo một khái niệm mà đã trở thành hiện tượng được nhiều người biết đến: “hiệu ứng Matilda”, được đặt theo tên của nhà hoạt động đòi quyền bầu cử cho phụ nữ là Matilda Gage, người mà thành tựu của bà bị các sử gia gạt đi, bản thân Gage cũng từng viết tường tận về cách mà các nhà khoa học nữ bị lịch sử chối bỏ. Rossiter đã sáng tạo nên khái niệm này nhằm hình tượng hóa những sự tôn vinh sai đối tượng và được trích dẫn trong hàng trăm nghiên cứu, gây được ấn tượng khiến các tổ chức học thuật phải đấu tranh để loại trừ nó và khiến các học giả có tư tưởng bình đẳng giới theo dõi vấn đề một cách chặt chẽ hơn nữa.   Cả Margaret Rossiter và Matilda Gage đều đã tạo ra những đóng góp quan trọng, độc đáo đối với nền học thuật Hoa Kỳ nhưng lại bị xem nhẹ trong suốt một thời gian dài.  Tôi gặp Rossiter ở Trung Tâm Matilda Joslyn Gage tại Fayetteville, New York và Colleen Pilcher lúc đó là phó giám đốc bảo tàng cùng đợi để được gặp bà. Rossiter quan sát xung quanh và dừng lại ở một khung ảnh chụp cảnh Gage dựa tay lên cạnh bàn, mái tóc xoăn đã hoa râm, đang nhìn vào tập hồ sơ mải mê và chăm chú. “Họ dám chống lại thế lực đang kiểm soát mọi thứ trên đời — báo chí, nhà thờ, mọi văn phòng công vụ từ địa phương đến trung ương. Đàn ông nắm giữ tất cả sức mạnh, ở khắp mọi nơi,” Rossiter nói.  Không kém cạnh những nhà cải cách đã thành công trong việc loại bỏ thế lực nhà thờ khỏi chính quyền, Gage là người đầu tiên xuất bản một nghiên cứu về phụ nữ Hoa Kỳ trong khoa học, trước Rossiter cả một thế kỷ. Trong tiểu luận “Phụ nữ, nhà phát minh” xuất bản năm 1870 và in lại trên tờ North American Review năm 1883, bà viết: “Những phát minh của một quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với tự do của người dân của quốc gia đó.” Nếu được trao nhiều tự do hơn, phụ nữ sẽ có cơ hội cống hiến cho sự tiến bộ kỹ thuật của đất nước. Bà chứng minh cho lập luận này bằng một loạt các phát minh do phụ nữ khởi xướng (trong đó có xe nôi, lò nung chảy quặng, đinh vít, …).   Rossiter lần đầu biết về Gage vào đầu thập niên 1990, khi đọc một cuốn sách khá mơ hồ về những phụ nữ trí thức bị phớt lờ. Gần ngay sau đó, năm 1993, Rossiter tham dự một hội nghị mà tại đó các nhà nghiên cứu trình bày một số công trình về những nhà khoa học nữ có thành tựu bị ghi nhận sai là thuộc về nam giới. “Nó là một hiện tượng,” Rossiter nhớ lại. “Bạn cần đặt tên cho nó. Nó sẽ được biết đến rộng rãi trong giới khoa học nếu có một cái tên.” Bà quyết định đặt là “hiệu ứng Matilda,” và viết một bài luận trên tạp chí Social Studies of Science với tiêu đề “Hiệu ứng Matthew Matidal trong Khoa học.” Rossiter viết “Gage nhận ra phụ nữ làm việc càng nhiều thì đàn ông xung quanh hưởng lợi càng nhiều, còn họ thì nhận được ít đi.”  Rossite trích dẫn một nạn nhân của hiện tượng Matilda từ thế kỷ 11 đồng thời cũng nêu ra những trường hợp gần hơn như Jocelyn Bell Burnell, một nghiên cứu sinh về thiên văn vô tuyến ở Đại học Cambridge cuối thập niên 1960 là người đầu tiên trong phòng thí nghiệm của bà phát hiện thiên thể mà sau này được xác nhận là sao Pulsar. Mặc cho những đóng góp rõ ràng, bà vẫn không được xem là đồng tác giả với các đồng nghiệp nam trong khi nhóm nghiên cứu của bà đoạt giải Nobel Vật lý năm 1974 cho khám phá này. Năm ngoái, tức 25 năm sau khi Rossiter ghi nhận thành tựu của Bell Burnell và 44 năm sau khi bị cướp mất giải Nobel, Burnell mới được trao Giải Đột phá Đặc biệt (Special Breakthrough Prize) Phần thưởng trị giá 3 triệu USD được bà quyên tặng cho Viện Vật lý Anh quốc, nhằm tài trợ cho những thành phần chịu sự đánh giá bất công – phụ nữ, người tị nạn, và sắc tộc thiểu số. “Tôi linh cảm là những người thiểu số bị lãng quên sẽ đem đến một góc nhìn mới mẻ về mọi thứ,” Burnell chia sẻ với BBC.  * * *    Matilda Gage (1826-1898) là tiêu điểm nghiên cứu của Rossiter, Rossiter đã trích dẫn Gage: “đàn ông cấm phụ nữ gặt hái thành quả từ công sức khó nhọc của chính họ.” Ảnh: Alamy.    Rossiter nghĩ việc mình lần đầu đến thăm bảo tàng Gage chỉ là chuyến tham quan một di tích của đề tài lịch sử mà bà quan tâm nhưng hóa ra lại là một chuyến khám phá. Trên thực tế, không phải chế độ nam quyền đã gạch bỏ Matilda ra khỏi lịch sử, Colleen Pilcher giải thích, nghiên cứu của bà đã được trích dẫn bởi người đồng nghiệp Wagner trong hàng thập kỷ. Nhưng các nhân vật tai to mặt lớn đã tách Gage khỏi hai cộng sự cùng đấu tranh đòi mở rộng quyền bầu cử, bằng cách lợi dụng sự chia rẽ quan điểm giữa họ về vai trò của tôn giáo đối với phong trào.  “Gage cảm thấy chính Cơ đốc giáo là gốc rễ của các vấn đề của nữ giới,” Pilcher nói. Các bài viết của Elizabeth Cady Stanton – đồng sự của Gage đã cho thấy việc họ hợp tác với các nhóm phụ nữ sùng đạo, bao gồm  Liên minh do Frances Willard (nhà cải cách, sáng lập và là Chủ tịch Hiệp hội phụ nữ vận động vì Cơ đốc giáo) lãnh đạo. Nhóm này muốn Chúa phải là lãnh tụ tối cao trên của chính phủ Hoa Kỳ. Động thái trên đã khiến Gage tách khỏi Stanton và Susan B.  Anthony để lập ra nhóm đấu tranh riêng, cạnh tranh với nhóm ban đầu. Đến khi Stanton và Anthony chỉnh sửa lại cuốn Lịch sử quyền bỏ phiếu của phụ nữ mà Gage từng là cộng sự, họ đã xóa tên tác giả của bà.   Ta thấy ở đây một điều lạ lùng của lịch sử nữ quyền, một trong những thuật ngữ nổi tiếng nhất về hiện tượng những nhà khoa học nữ bị chối bỏ lại được đặt theo tên một phụ nữ từng bị cố ý hạ thấp vai trò – không phải bởi một gã cướp công nào đó mà là chính hai nhà nữ quyền có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử. Trong nỗ lực giành quyền bỏ phiếu, Stanton và Anthony đã đưa ra các quyết định thích nghi với cấu trúc quyền lực truyền thống – có những kẻ phân biệt chủng tộc, một số chân tay của nhà thờ, và tất cả đều là đàn ông. Có cơ sở khi nói rằng đàn ông đã ép Stanton và Anthony phải xóa Gage. “Nhưng ‘cuối cùng’ chế độ trọng nam khinh nữ loại bỏ luôn Susan B. Anthony và Elizabeth Cady Stanton,” Rossiter sau đó viết trong một email. “Bởi trong thời của tôi (học đại học và sau đại học vào thập niên 1960), tất cả lịch sử của phụ nữ bị lãng quên hoặc rất ít được dạy ở trường.”  Lần theo dấu vết   “Thế hệ thứ 5 của Malden” Rossiter thích nói về mình như vậy, theo như phả hệ vùng New England. Malden có thể ít được biết đến, nhưng nó rất giàu truyền thống đấu tranh: Đây là thị trấn đầu tiên kiến nghị lên chính phủ thực dân phải rút ra khỏi ách thống trị của Anh. Cặp đồng tính kết hôn hợp pháp đầu tiên của Hoa Kỳ đến từ Malden (họ cưới nhau gần Cambridge). Cha của Rossiter là cựu sinh viên Harvard và giáo viên trung học môn lịch sử , còn mẹ bà tốt nghiệp trường Radcliffe, nuôi dạy con và chỉ ra ngoài làm việc sau khi nhận bằng thạc sĩ. Trước khi vào bậc trung học, Margaret Rossiter là cô bé nghiện đọc trong một ngôi nhà đầy sách, đã hình thành niềm đam mê với lịch sử khoa học. “Margaret, người dự định học toán tại Radcliffe, liệt kê tiểu sử những nhân vật ở thế kỷ 17 mà bà muốn đọc,” tờ Boston Globe viết như thế năm 1962, trong một bài báo khen ngợi cô nữ sinh Rossiter vì đã giành được một suất học bổng quốc gia dành cho học sinh xuất sắc về cho khu vực. Bà theo học trường Radcliffe và tốt nghiệp năm 1966. Bà vẫn nhớ mình đã từng miệt mài đọc tập san lịch sử khoa học Isis, trên chiếc giường cao nhất trong phòng ký túc xá.      Vera Cooper Rubin (1928-2016), tiên phong nghiên cứu phát hiện ra bằng chứng về vật chất tối và suốt đời ủng hộ cho sự tiến bộ phụ nữ.     Sau khi hoàn thành bậc học tiến sĩ tại Yale năm 1971, bà trở thành người phụ nữ hiếm hoi trong một chuyên ngành hẹp và muộn như vậy đã nhận học bổng nghiên cứu tại Harvard. Ở nơi đây, bà lật giở kỹ lưỡng bộ sách Những người đàn ông Hoa Kỳ trong Khoa học, một kiểu bách khoa toàn thư lịch sử. Bất chấp sự khẳng định của các giáo sư tại Yale rằng không có những nhà khoa học nữ và bất chấp tiêu đề của bộ sách, bà đã kinh ngạc khi thấy một số bài viết về phụ nữ – những nhà thực vật học tại Wellesley, nhà địa chất học từ Vermont. Từ đây có những cái tên, những dấu vết bà có thể lần theo. Sau đó Rossiter cũng tiến hành nghiên cứu về phụ nữ trong khoa học ở kho tư liệu của viện Smithsonian tại Washington, D.C.  Từ Malden, bà lái chiếc xe gia dụng Volkwagen đến những trường đại học nữ sinh, đào bới trong những hộp lưu trữ. Dựa vào thông tin trên cáo phó, bà phát hiện những nhà khoa học nữ bị cô lập bên trong những trường dành cho nữ (bà định nghĩa đó là “sự phân chia địa hạt”) hoặc họ bị đánh giá thấp, bị trả lương thấp, chỉ làm chân trợ lý ở nơi chứa hàng núi công việc tẻ nhạt, không bao giờ được thăng chức như đồng nghiệp nam (“phân chia thứ bậc”). Bà cũng phát hiện, khi đọc những lá thư giới thiệu, những cách thức mà bà gọi là “thứ logic kém cỏi” được đàn ông vin vào để giải thích tại sao nữ giới không nên được thăng chức (một ví dụ kinh điển: “không có tiền lệ cho việc này”). Tóm lại, bà đã phát hiện rằng nhiều nhà khoa học nam không đủ lý trí khi nói đến phụ nữ. Phụ nữ không được công nhận “vì điều này không tuân theo khuôn mẫu, vì nỗi sợ và vì quan điểm bảo thủ lâu nay,” bà viết. Ví dụ,  tập thể các giáo sư nam đã nỗ lực thẩm tra, ngăn chặn việc bổ nhiệm chức danh giáo sư cho nhà vật lý Đức nổi tiếng, Hertha Sponer – người phụ nữ đầu tiên trong khoa Vật lý ở Đại học Duke.       Matilda, một trong những thuật ngữ nổi tiếng nhất về hiện tượng những nhà khoa học nữ bị chối bỏ, được đặt theo tên một phụ nữ từng bị cố ý hạ thấp vai trò.      Bản thân Rossiter, sau khi tốt nghiệp một thập kỷ, vẫn không thể đảm nhận được một vị trí chính thức, và vẫn chỉ là học giả mời tại Đại học Cornell. “Margaret biết mình xứng đáng được hưởng  chức danh trọn đời (tenure track),” Fausto-Sterling nhớ lại, “thật là bất công cho cô ấy”.   Sau đó, vào cuối năm 1982, Rossiter xuất bản tập đầu tiên của bộ sách Các nữ khoa học gia tại Hoa Kỳ, được nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins ấn hành. New York Times đã nhiệt liệt tán dương bộ sách lịch sử. “Những chi tiết phong phú mà bà phát hiện về lịch sử của những nhà khoa học nữ Hoa Kỳ, đặt trong bối cảnh xã hội thay đổi trong hế kỷ 19 và 20, và kết quả là một cuốn sách bề thế,”, nhà phê bình, cùng là nhà sử học Alice Kimball Smith viết.  Rossiter là học giả khách mời ở Cornell khi bà được trao học bổng của Quỹ MacArthur (thường gọi là quỹ tài trợ cho thiên tài) vào năm 1989. Mùa xuân năm 1990, Đại học Georgia đề bạt bà vào một vị trí chính thức. Về phía Đại học Cornell, bà nghĩ rằng một thành viên nữ trong hội đồng tín thác Cornell đã can thiệp, bởi vì Cornell bất ngờ thành lập một khoa mới phù hợp với sở nguyện của Rossiter – Chương trình sau đại học về Lịch sử và Triết học của Khoa học và Công nghệ. Nhiệm kỳ bắt đầu từ năm 1991. Sau nhiều năm tìm kiếm để phản bác lại những người mà bà theo học, cuối cùng bà đã nhận được hỗ trợ từ tổ chức để tìm hiểu về những trở ngại mà những người xứng đáng nhưng không được hỗ trợ phải đối mặt.      Hertha Sponer (1895-1968), nhà vật lý nổi tiếng người Đức và là người phụ nữ đầu tiên trong khoa Vật lý ở Đại học Duke.    Năm 2013, Fausto-Sterling, người đã sử dụng tiếp cận sinh học để nghiên cứu về bản dạng, khác biệt giới, đã đồng hành cùng Rossiter để đảm bảo những đóng góp của Rossiter được tiếp cận rộng rãi. Fausto-Sterling đã tham gia cùng với cựu sinh viên của bà, Maia Weinstock, người dẫn đầu một loạt các chỉnh sửa trên Wikipedia về đời sống và thành tựu của các nhà khoa học nữ trên bộ bách khoa toàn thư trực tuyến, đa nguồn và miễn phí này. Fausto-Sterling phát hiện rằng trang viết về Rossiter còn rất sơ sài. “Tôi đã bị sốc khi trang viết về bà chỉ gồm các đề mục,” Fausto-Sterling sau đó đã chỉnh sửa, thêm nhiều nội dung chi tiết cho trang này. □  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/unheralded-women-scientists-finally-getting-their-due-180973082/  Đầu năm nay, tạp chí y học danh tiếng Lancet đã dành toàn bộ một số chỉ viết về sự hiện diện ít ỏi của phụ nữ trong khoa học, họ cho biết rằng có chưa tới 30% số nhà nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới là nữ. Nghiên cứu trên Lancet lặp lại nhiều câu hỏi mà Rossiter từng đưa ra năm 1982: Những thiên kiến nào đang kìm hãm phụ nữ? Nơi nào số lượng nữ giới là thấp nhất, và tại sao? Tại sao họ nhận được ít tài trợ hơn nam giới? Sự đối xử bất công với phụ nữ trong khoa học và các ngành nghề khác đã nhóm lên sự hưởng ứng phong trào #MeToo trong công chúng.    Author                Susan Dominus        
__label__tiasang Maria Sibylla Merian: Nhà côn trùng học và minh họa khoa học      Cho đến tận ngày nay, minh họa khoa học (science illustration) là một hoạt động quan trọng của ngành phân loại học sinh học nhằm giúp phóng đại, làm rõ chi tiết đặc điểm giải phẫu đặc biệt trên cơ thể sinh vật, đặc biệt là với các sinh vật có kích thước nhỏ như côn trùng. Ít ai biết đến Maria Sibylla Merian, một người phụ nữ thầm lặng kiên quyết theo đuổi công việc này, đã đặt nền móng cho nghiên cứu côn trùng, để rồi bị chỉ trích và lãng quên suốt ba thế kỷ.      Ngày nay hầu hết học sinh có thể mô tả chi tiết vòng đời của bướm: trứng nở thành sâu bướm, sâu bướm biến thành kén và kén nở ra bướm. Nhưng những kiến thức hết sức căn bản này đã từng là chủ đề được tranh luận sôi nổi vào thời mà nhà tự nhiên học tiên phong Maria Sibylla Merian sinh sống. Bà là người có những quan sát tỉ mỉ, kết luận mối quan hệ giữa sâu bướm với bướm, đặt nền móng cho các lĩnh vực côn trùng học, hành vi động vật và sinh thái học.  Maria Sibylla Merian sinh năm 1647 tại Frankfurt, Đức vào thời mà nghiên cứu khoa học về sự sống còn hết sức sơ khai. Mặc dù được đào tạo để trở thành một họa sĩ, nhưng Merian lại được biết đến là một trong những nhà sinh thái học thực địa đầu tiên. Cô đã nghiên cứu hành vi và mối tương tác của các sinh vật vào thời điểm mà phân loại học và hệ thống học (đặt tên và lập danh mục) là mục tiêu theo đuổi chính của các nhà tự nhiên học.  Giống như hầu hết các nhà côn trùng học hiện đại, niềm đam mê với côn trùng của Merian bắt đầu từ rất sớm. Năm 13 tuổi, được sự khuyến khích của cha dượng, người cũng là một họa sĩ, cô bắt đầu sưu tập và nuôi sâu bướm để làm chủ đề cho các bức tranh của mình. Cô thường vẽ dưới ánh nến, chờ đợi khoảnh khắc khi một con sâu bướm cuốn kén của nó hoặc một con bướm mới bắt đầu xuất hiện từ chiếc kén.  Merian vẽ sâu bướm ăn thực vật mà nó bám vào và động vật săn mồi ăn sâu bướm. Cô định ghi chép lại, không chỉ giải phẫu của các đối tượng mình quan sát mà còn cả vòng đời và sự tương tác của chúng với các sinh vật sống khác. Thay vì quan sát các mẫu vật đã được ướp (như quy ước thời đó), cô đã vẽ về hệ sinh thái của các loài từ hàng thế kỷ trước khi thuật ngữ này bắt đầu ra đời.  Nhưng Merian phải rất tranh thủ thời gian để tiến hành các nghiên cứu của mình cho thỏa trí tò mò. Không giống như nhiều nhà tự nhiên học nam giới thời đó, Merian không có tự do để dành toàn bộ thời gian cho việc nghiên cứu côn trùng. Năm 1665, ở tuổi 18, Merian kết hôn với họa sĩ Johann Andreas Graff, sinh hai con gái nhưng cuộc hôn nhân dường như không hạnh phúc nên đã ly hôn và chịu trách nhiệm nuôi nấng cả hai con.   Kể từ khi ly hôn, bà mới có cơ hội để theo đuổi mơ ước minh họa khoa học của mình. Để đảm bảo tài chính cho gia đình, bà dạy vẽ tranh cho con gái của những gia đình giàu có. Theo nhiều cách, bà là một trong những “bà mẹ làm khoa học” đầu tiên, cố gắng cân bằng những thách thức trong nghiên cứu của mình với cuộc sống gia đình nhiều áp lực cơm áo gạo tiền. Bà phải làm tất cả những điều này vào thời điểm mà những người phụ nữ thông minh, tò mò thực sự bị coi là rất nguy hiểm thậm chí còn bị kết tội phù thủy.  Người đặt nền móng  Nghiên cứu của Merian về sâu bướm đã đem lại hiểu biết và đóng góp quan trọng vào một cuộc tranh luận đang diễn ra gay gắt vào thời mà bà sống. Một bên là những người tin rằng sự sống nảy sinh từ vật chất vô tri vô giác: ví dụ như ruồi, sinh ra từ những đống mục rữa; côn trùng khác hình thành từ bùn; hạt mưa tạo ra ếch nhái. Còn một bên là những người tin rằng sự sống chỉ nảy sinh từ dạng tồn tại trước đó. Để trả lời câu hỏi đó, Merian đã lai tạo bướm từ trứng thành bướm trưởng thành trong nhiều thế hệ và cho thấy một cách dứt khoát rằng trứng nở thành sâu bướm, cuối cùng biến thành bướm. Sau đó, những cuốn sách của Merian về sâu bướm (xuất bản năm 1679 và 1683) đã đủ để giúp bà có một vị trí không thể thay thế trong lịch sử khoa học.  Nhưng phải tới năm 1699, ở tuổi 52 bà cùng con gái út (lúc đó 20 tuổi) bắt đầu một trong những chuyến thám hiểm khoa học thực sự đầu tiên trong lịch sử. Lênh đênh 5000 dặm, trong một hành trình đầy hiểm nguy qua Đại Tây Dương vào thời đó là một thách thức rất lớn với phụ nữ ở thời của bà (thời ấy, phụ nữ đi xa thường phải có nam giới đi cùng). Mục tiêu của bà là vẽ minh họa các loài côn trùng mới ở Surinam, một quốc gia Nam Mỹ (nay được gọi là Suriname) chỉ vừa mới trở thành thuộc địa của Hà Lan.     Chân dung Merian được in lên tiền Đức.   Sau hai tháng du hành đầy nguy hiểm, hai người phụ nữ đã đến thiên đường của các nhà côn trùng học. Ngập tràn những loài mới xung quanh, Merian rất muốn thu thập và vẽ mọi thứ mà bà có thể chạm tay vào nhưng ngay lập tức bà gặp phải vấn đề – những người Hà Lan ở đây không muốn giúp hai người phụ nữ không có người giám hộ đi thu thập côn trùng trong rừng, một công việc mà họ cho là rất … vớ vẩn. Vì vậy, Merian đã xây dựng mối quan hệ với người nô lệ châu Phi và thổ dân, họ đồng ý mang mẫu vật cho bà và còn chia sẻ với bà về cách thức sử dụng nhiều loại cây để chữa bệnh hoặc nấu ăn. Ví dụ, Merian viết rằng những phụ nữ Amerindian bị bắt làm nô lệ đã sử dụng hạt từ một số loại cây để phá thai nhằm tránh cho con cái họ khỏi kiếp sống nô lệ. Đó là một lời nhắc nhở rõ ràng về sự khủng khiếp của chủ nghĩa thực dân những năm 1600.  Merian và con gái đã nghiên cứu ở Surinam trong hai năm trước khi bà mắc chứng sốt rét, sức khỏe suy giảm đã buộc Merian phải trở về nhà. Trong bốn năm sau đó, bà đã làm được tới 60 bản in khắc về sinh vật ở Suriname và cuốn sách đúc kết về những năm tháng ở đây, cuốn Metamorphosis insectorum Surinamensium (Biến hình của các loài côn trùng ở Suriname), đã nổi tiếng trong cả giới nghệ thuật và khoa học vào thời đó.   Những người đàn ông hoài nghi  Mặc dù là một người đặt nền móng cho ngành sinh thái học côn trùng nhưng sau khi bà qua đời (vào năm 1717) thì hầu như người ta lại không nhắc đến vai trò của bà mà thậm chí còn phê phán. Sau khi bà mất, người ta bắt đầu thêm những điểm không chính xác len lỏi vào các bản sao vẽ tay của sách Merian. Các tranh côn trùng tưởng tượng được thêm vào, một số tranh thì được “cải tạo lại” bằng cách tô thêm màu để tăng “tính thẩm mỹ” cao hơn. Sự chú ý cẩn thận tỉ mẩn đến từng chi tiết một cách đáng kinh ngạc của Merian dần bị làm nhòe đi.  Vào những năm 1830, nhà thần học và tự nhiên học Lansdowne Guilding – người nghiên cứu về thực vật vùng Caribe nhưng chưa bao giờ đến thăm Surinam – đã viết một bài phê bình gay gắt về công việc của Merian trong một cuốn sách có tựa đề “Những quan sát về công việc của Maria Sibylla Merian về côn trùng, ở Surinam”. Ông dùng những từ phê phán rất gay gắt như “bất cẩn”, “vô dụng” và “thấp hèn và vô dụng” để mô tả các bản in của Merian mà ông ta cảm thấy có nhiều điểm không chính xác. Nhiều lỗi như ông ta đã chỉ ra được thêm vào nguyên tác mặc dù bà đã mất từ trước đó.         Các bài phê bình nặng lời của Guilding cũng đầy tính phân biệt giới hoặc ông ta buộc tội Merian đã bỏ qua những vấn đề mà “mọi nhà côn trùng học đều biết”. Guilding cũng chỉ trích Merian vì dựa quá nhiều vào kiến ​​thức của nô lệ châu Phi và người thổ dân nơi đây, những người mà ông cho là không đáng tin cậy.  Xuất thân của Merian là một nghệ sĩ không được đào tạo chính quy về khoa học cũng trở thành vấn đề bị lôi ra chỉ trích để làm giảm uy tín của của bà sau khi mất. Đến những năm 1800, người làm trong ngành sinh học phải được các học giả đào tạo ở trường đại học và những người tự thân gom nhặt kiến thức như Merian giờ đây hoàn toàn bị khinh thường. Họ hoàn toàn không quan tâm đến thực tế là phụ nữ thời Merian bị cấm tham gia các chương trình giáo dục đại học.  Chưa kể, một số quan sát của Merian nghe có vẻ viển vông ở thời ấy – bà cho biết rằng ở Surinam có loài nhện ăn thịt chim và kiến ​​thì biết tự nối với nhau để bắc cầu. Những mô tả này dường như quá kỳ lạ nên cũng bị hoài nghi và các tác giả khác cũng bắt đầu săm soi những mô tả của Merian và chuyến du hành khoa học của bà có phần nhiều là tưởng tượng thực ra là vượt quá tầm hiểu biết của một bà già. Và vì vậy Merian không còn được nhớ đến như một nhà tự nhiên học tiên phong. Bà bị loại bỏ ra khỏi thế giới khoa học và chỉ còn được nhớ đến như một bà lão vẽ những bức tranh đẹp – nhưng hoàn toàn phi khoa học – về những con bướm. Mặc dù công việc của bà tiếp tục truyền cảm hứng và ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhưng những đóng góp của bà với tư cách một nhà khoa học đã bị lãng quên.  May mắn thay, thế kỷ 20 đã có cái nhìn công bằng hơn với những đóng góp mang tính nền tảng của bà. Khi các nhà khoa học hiện đại xác nhận thói quen “ăn thịt chim” của loài nhện tarantula và giờ đây chúng ta biết rằng kiến ​​lê dương (army ants) thực sự biết nối nhau xây thành chiếc cầu thì rốt cuộc, “những chuyến đi kỳ thú” của Merian mới không hề là câu chuyện viển vông. Những bức tranh minh họa sống động của bà nay được lưu giữ tại các viện bảo tàng trên thế giới. Để kỷ niệm công việc tiên phong của bà, một số bảo tàng như Bảo tàng Bản in và Bản vẽ Berlin đã tổ chức một cuộc triển lãm tác phẩm của bà vào năm 2017, tạp chí trực tuyến Atlas Obscura có tuyển chọn các tác phẩm công phu của bà và ngân hàng liên bang Đức đã in chân dung bà lên tờ tiền 500 mác. □  Bảo Như tổng hợp  Nguồn:   https://theconversation.com/hidden-women-of-history-maria-sibylla-merian-17th-century-entomologist-and-scientific-adventurer-112057  https://www.atlasobscura.com/articles/maria-sibylla-merian-artist-insects-flowers  Nhà thực vật học người Thụy Điển Karl Linnaeus, một trong những người tiên phong của ngành sinh thái học hiện đại và được tôn vinh là “Vua của giới thực vật học” vì đặt nền móng cho việc phát triển một hệ thống phân loại sự sống, đã đề cập nhiều đến các hình minh họa của Merian trong các mô tả loài của ông. Erasmus Darwin, ông nội của Charles Darwin, trích dẫn công việc của Merian trong cuốn sách “Vườn thực vật” của mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Marica Brachesi: Gắn kết các nhà nghiên cứu      Chị là nhà vật lý thiên văn góp phần giúp các nhà khoa học làm nên sự kiện dò tìm sóng hấp dẫn quan trọng trong lịch sử khoa học.      Trong vòng vài tuần kể từ ngày 17/8, dường như mọi kính thiên văn trên mặt đất và trên không trung đều đang nhìn về một hướng. Được thúc đẩy bởi những lần dò thành công tín hiệu sóng hấp dẫn từ các cơ sở nghiên cứu ở Italia và Mỹ trước đó, khoảng 70 nhóm nghiên cứu thiên văn đã “đổ xô” đi dõi theo những quan sát trực tiếp đầu tiên của sự sáp nhập giữa hai ngôi sao neutron. Những gì họ thấy đã góp phần giải quyết cùng lúc nhiều bí ẩn của vật lý thiên văn, bao gồm bản chất tự nhiên của những vụ nổ tia γ và cả nguồn gốc của các nguyên tố nặng hơn trong vũ  trụ.  Nỗ lực này là kết quả của nhiều năm chuẩn bị với trọng trách của Marica Branchesi, một thành viên của nhóm VIRGO, những người tham gia điều hành hệ thống dò sóng hấp dẫn gần Pisa, Italia. Branchesi đã gắn kết sự chia tách giữa những quan sát của vật lý thiên văn và lãnh địa của vật lý hạt nặng (physics-heavy) trong nghiên cứu về sóng hấp dẫn – các lĩnh vực mà cho đến gần đây, mới có một chút lí do để cùng hợp tác. “Marica là người truyền đạt chính [các thông tin nghiên cứu] giữa các nhà thiên văn học và các nhà vật lý [hạt], Gabriela González, nhà vật lý tại Trường Đại học bang Louisiana tại Baton Rouge và cựu phát ngôn viên của nhóm LIGO – đối tác của VIRGO, cho biết.  Branchesi, bản thân cũng là một nhà vật lý thiên văn, đã tham gia VIRGO vào năm 2009 ngay từ khi còn làm việc tại trường đại học Urbino ở Italia. Cũng trong thời gian này, VIRGO và LIGO đã bắt đầu gắn kết trong hoạt động như một nhóm thống nhất, và có một điều trở nên rõ ràng hơn là họ cần một người đóng vai trò như một đại sứ của cộng đồng thiên văn. Các sóng hấp dẫn, vốn là các biến đổi trong không – thời gian, đã tiết lộ một khía cạnh của vũ trụ mà các kính thiên văn thông thường không thể phát hiện được. Nhưng trong trường hợp vụ sáp nhập ngôi sao neutron, LIGO và VIRGO chỉ có thể dò được những phút cuối của hiện tượng sát nhập; nhiều thông tin về những va chạm – và các nguyên tố được sinh ra trong quá trình đó – chỉ có thể có được từ các kính thiên văn tiêu chuẩn.   Khi bắt đầu đảm trách công việc, Branchesi thấy rằng chị phải khuyến khích các nhà vật lý để họ gửi các thông báo về các sự kiện tiềm năng, ngay cả khi họ vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn xác thực về chúng. Chị cũng thuyết phục các nhà vật lý thiên văn rằng [những điều đó] đáng được lắng nghe. Nhiều người hoài nghi rằng LIGO và VIRGO, vốn đã hoạt động trong nhiều năm mà không hề dò được tín hiệu nào, cũng có thể không tìm ra được cái gì. “Công việc của tôi là thuyết phục các nhà vật lý thiên văn rằng đó là lĩnh vực đầy hứa hẹn”, Branchesi nói, chị mới chuyển đến Viện nghiên cứu khoa học Gran Sasso ở Italia ở L’Aquila vào năm 2017. Branchesi cho biết, chị bắt đầu thấy những quan điểm thay đổi xảy ra từ năm 2013, khinhững nâng cấp quan trọng trên các cỗ máy dò đã gần hoàn tất; những điều có thể nâng tính ly kỳ trong các khám phá hàng nghìn lần. Rất nhanh, rất nhiều các nhóm thiên văn học đã đă đăng ký để nhận các thông báo về việc dò tìm từ LIGO và VIRGO. (Đổi lại, họ phải giữ bí mật về các nghiên cứu của mình cho đến khi các nhóm nghiên cứu dò tìm sóng hấp dẫn sẵn sàng loan báo về việc).  Các kỹ năng ngoại giao của Branchesi trở nên đặc biệt quan trọng khi đến thời điểm phải viết các kết quả của khám phá về sao neutron. Rất nhiều bài báo được xuất bản vào ngày 16/10, một trong số đó là một bài tổng kết vinh danh 3.500 tác giả (B. P. Abbott et al. Astrophys. J. Lett. 848, L12; 2017). Branchesi đã tập trung được một số lớn các nhóm cộng tác viên tham gia vào công trình và đảm bảo những phát hiện của họ đều được tổng hợp một cách công bằng. “Chị ấy đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tất cả những kết quả có ý nghĩa đều có mặt trong công bố”, Eleonora Troja – đồng tác giả và là nhà vật lý thiên văn ở Goddard Space Flight Center NASA ở Greenbelt, Maryland, (Mỹ), cho biết.  Giống như những nhà nghiên cứu khác, Branchesi cho rằng, chị chờ đợi sẽ có được những khám phá tiếp theo. Nhưng kết quả của năm 2017 thật khó để đánh bại. Khi các nhà vật lý thiết kế và xây dựng LIGO và VIRGO, việc dò tìm những cuộc sáp nhập sao neutron luôn dẫn đầu danh sách mơ ước. Cuối cùng vũ trụ đã “phát lộ” ra cuộc sáp nhập, thậm chí sớm hơn cả chờ đợi: “Đó là tất cả những gì tôi đã hi vọng”, chị nói.   Thanh Nhàn dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, Đại học KHTN, Đại học Quốc gia HN) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html#marica-branchesi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Maryam Mirzakhani: Càng dành nhiều thời gian  cho toán học, tôi càng phấn khích      GS Maryam Mirzakhani, người phụ nữ đầu tiên nhận Huy chương Fields danh giá, trò chuyện về cuộc sống của mình dưới góc nhìn của một nhà toán học.     Chị có thể kể một vài ký ức sớm nhất của mình về toán học?  Khi còn nhỏ, tôi mơ ước trở thành nhà văn. Trò giải trí thú vị nhất đối với tôi là đọc tiểu thuyết; thực tế, tôi đã đọc bất kỳ thứ gì tôi tìm thấy. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại theo đuổi toán học cho đến tận năm cuối phổ thông trung học. Tôi lớn lên trong một gia đình có ba anh chị em. Bố mẹ tôi luôn ủng hộ và khuyến khích [chúng tôi]. Đối với bố mẹ, điều quan trọng là chúng tôi làm những công việc có ý nghĩa và mãn nguyện chứ họ không quan tâm lắm đến thành công và thành tích.  Dưới nhiều góc độ, đó là một môi trường sống tuyệt vời đối với tôi, dù có những giai đoạn khó khăn trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến Iran-Iraq. Nhìn chung anh trai cả chính là người hướng tôi đến với khoa học. Anh ấy có thói quen kể cho tôi nghe những điều học được ở trường. Kỷ niệm đầu tiên về toán học có lẽ là lần anh ấy kể cho tôi nghe về bài toán cộng các con số từ 1 đến 100. Tôi nghĩ là anh ấy đã đọc trong một tờ tạp chí khoa học thường thức về việc Gauss đã giải bài toán đó như thế nào. Cách giải của ông hoàn toàn mê hoặc tôi. Đó là lần đầu tiên tôi hào hứng với một lời giải đẹp, dù tôi không phải là người tìm ra nó.  Những trải nghiệm nào và những ai đã đặc biệt ảnh hưởng đến việc học toán của chị?  Tôi đã hết sức may mắn theo nhiều cách. Chiến tranh kết thúc khi tôi học xong tiểu học; tôi sẽ không có được những cơ hội tuyệt vời nếu tôi ra đời sớm hơn 10 năm. Tôi vào một trường trung học xuất sắc ở Tehran, trường Farzanegan – và được học với nhiều thầy giáo giỏi. Tôi đã gặp Roya Beheshti ngay trong tuần lễ đầu tiên ở trường trung học. Thật vô giá khi có một người bạn để chia sẻ những mối quan tâm, và điều đó giúp bạn luôn có động lực.   Ngôi trường của chúng tôi ở Tehran gần một con phố đầy những hiệu sách. Tôi vẫn nhớ cảm giác phấn khích khi đi dạo trên con phố đông đúc đó và bước vào các hiệu sách. Chúng tôi không được đọc “chùa” như người ta vẫn thường làm trong các hiệu sách ở đây [Mỹ], vì vậy chúng tôi thường phải mua nhiều cuốn sách ngẫu nhiên.   Ngoài ra, hiệu trưởng của trường tôi là một người phụ nữ mạnh mẽ, bà sẵn sàng làm mọi điều để đem đến cho chúng tôi những cơ hội tương tự như ở các trường nam sinh.   Sau đó, tôi tham gia các kỳ thi Olympic Toán học, khiến tôi phải suy nghĩ về những bài toán hóc búa hơn. Ở tuổi teen, tôi thích được thử thách. Nhưng quan trọng nhất, tôi đã gặp nhiều nhà toán học và nhiều người bạn truyền cảm hứng cho tôi khi vào Đại học Sharif. Càng dành nhiều thời gian cho toán, tôi càng phấn khích.   Chị có thể bình luận về những khác biệt trong việc dạy toán ở Iran và Mỹ không?  Khó mà bình luận về vấn đề này bởi những trải nghiệm của tôi ở Mỹ chỉ giới hạn trong một vài trường đại học, và tôi biết rất ít về giáo dục phổ thông trung học ở đây. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng, hệ thống giáo dục ở Iran không giống như mọi người ở đây hình dung. Khi còn là nghiên cứu sinh ở Đại học Harvard, tôi đã phải nhiều lần giải thích rằng ở Iran, tôi vẫn được vào đại học, dù tôi là nữ. Mặc dù sự thật là cho đến bậc trung học, nam và nữ học ở các trường riêng, nhưng điều đó không ngăn cản chúng tôi được tham gia, chẳng hạn, các kỳ thi Olympic hay trại hè.   Nhưng cũng có nhiều khác biệt: Ở Iran, bạn sẽ chọn ngành học chính của mình trước khi vào đại học, và có một kỳ tuyển sinh quốc gia cho các trường đại học. Thêm nữa, ít nhất theo những gì tôi được thấy từ các lớp học của mình ở đại học, chúng tôi tập trung nhiều vào cách giải quyết các vấn đề cụ thể hơn là tham gia những khóa học lý thuyết cấp cao.     Vậy điều gì cuốn hút chị vào những vấn đề cụ thể mà chị nghiên cứu?  Khi vào Đại học Harvard, nền tảng kiến thức của tôi chủ yếu là về tổ hợp và đại số. Tôi thích thú với phép phân tích tổ hợp nhưng lại không biết nhiều về nó. Giờ nhìn lại, tôi thấy rằng mình hoàn toàn thiếu những kiến thức cần thiết. Tôi cần phải học thêm nhiều môn mà đa số sinh viên ở những trường đại học tốt ở đây đều được học.   Tôi bắt đầu tham gia khóa seminar ngoại khóa của Curt McMullen. Phần lớn thời gian, tôi không hiểu diễn giả nói gì. Nhưng tôi có thể hiểu một số bình luận của Curt. Tôi đã say mê cách ông ấy làm cho mọi điều trở nên giản dị và tao nhã. Vì vậy tôi bắt đầu thường xuyên đặt câu hỏi cho ông, và suy nghĩ về những vấn đề xuất hiện từ những cuộc thảo luận khai tâm này.   Sự khuyến khích của ông là vô giá. Làm việc với Curt đã tác động lớn đến tôi, mặc dù giờ đây tôi ước gì mình học được nhiều hơn từ ông. Cho đến thời điểm tốt nghiệp, tôi đã có một danh sách dài những ý tưởng sơ khởi mà tôi muốn khám phá.   Chị có thể miêu tả về nghiên cứu của mình theo cách dễ hiểu được không? Nó có được ứng dụng trong các lĩnh vực khác không?  Phần lớn các vấn đề tôi nghiên cứu đều liên quan tới những cấu trúc hình học trên các bề mặt và những biến dạng của nó. Tôi đặc biệt quan tâm tìm hiểu những bề mặt hyperbol. Đôi khi có thể hiểu rõ hơn những đặc tính của một bề mặt hyperbol cố định nhờ việc nghiên cứu module không gian với tất cả các cấu trúc hyperbol được biểu hiện bằng tham số trên một bề mặt topo nào đó.   Bản thân các module không gian vốn giàu tính hình học, và xuất hiện theo nhiều cách tự nhiên và quan trọng trong hình học vi phân, hình học hyperbol và hình học đại số. Chúng cũng kết nối với vật lý lý thuyết, hình học topo, và các toán học tổ hợp. Tôi thấy điều đó thật hấp dẫn khi bạn có thể xem xét một vấn đề từ những góc nhìn khác nhau và tiếp cận nó bằng những phương pháp khác nhau.   Chị thấy điều gì là thỏa mãn nhất hoặc hữu ích nhất đối với mình?   Dĩ nhiên, phần thỏa mãn nhất là khoảnh khắc được thốt lên “A ha”, niềm phấn khích của việc khám phá và tận hưởng hiểu biết về một điều mới mẻ – cảm giác lên tới đỉnh núi và có một tầm nhìn rõ ràng. Nhưng phần lớn thời gian, làm toán với tôi giống như một hành trình dài không theo đường vạch sẵn và không thấy được điểm kết thúc.  Tôi thấy việc thảo luận về toán với các đồng nghiệp có nền tảng kiến thức khác nhau là một trong những cách hiệu quả nhất làm nên sự tiến bộ.  Chị có lời khuyên nào cho những người muốn hiểu biết thêm về toán học – nó là gì, nó đóng vai trò như thế nào trong xã hội, v.v?  Đây là một câu hỏi khó. Tôi không nghĩ rằng ai cũng có thể trở thành nhà toán học nhưng tôi tin rằng nhiều sinh viên chưa dành cho toán cơ hội thực sự. Tôi từng kém toán trong một vài năm ở trung học; chỉ là tôi không quan tâm đến nó. Tôi thấy rằng nếu thiếu đam mê thì sẽ chỉ thấy toán học vô nghĩa và buồn tẻ. Toán học chỉ phô ra vẻ đẹp của mình cho những người kiên nhẫn theo đuổi nó.   Đọc thêm:  Giải thưởng Fields lần đầu thuộc về phụ nữ    http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=7770&CategoryID=2  Thanh Nhàn dịch   theo http://www.theguardian.com/science/2014/aug/13/interview-maryam-mirzakhani-fields-medal-winner-mathematician    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mất cảm giác đau do biến đổi gien      Một nhóm các nhà khoa học quốc tế đã phát hiện một hiện tượng đột biến gien có khả năng làm mất cảm giác đau đớn. Kết quả nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố.     Một bé gái bốn tuổi hoàn toàn không có cảm giác về sự đau đớn. Từ nghiên cứu trường hợp này, các nhà khoa học ở Jena (Đức) đã kết luận, đột biến gien trong tế bào ở tủy sống gây ra hiện tượng này, gien đột biến ngăn cản sự truyền dẫn tín hiệu đau.  Nhóm nghiên cứu ở Jena, dưới sự chủ trì của nhà di truyền học Ingo Kurth, đã tìm thấy ở bé gái trên sự đột biến ở gien SCN11A. Sự biến đổi gien dẫn đến vượt quá chức năng của kênh natri trong vỏ tế bào thần kinh ở tủy sống và làm tê liệt những tế bào bị quá tải. Do lỗi chức năng ở tế bào tủy sống, cảm giác đau không được chuyển tiếp lên não, vì thế đương sự khi bị thương hoàn toàn không thấy đau đớn.      Kết quả này gây bất ngờ đối với các nhà nghiên cứu vì khi kênh natri bị vượt quá chức năng thì thông thường sẽ diễn ra điều ngược lại. “Những bệnh tương tự, mà nguyên nhân là do vượt quá chức năng, thì thường làm cho người bệnh có cảm giác đau đớn hơn,” TS Enrico Leipold thuộc Trung tâm Y- sinh học phân tử Đại học Jena, tác giả chính của công trình nghiên cứu, nói. Ông và các cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí chuyên đề “Nature Genetics”.   Bên cạnh bé gái nói trên, các nhà khoa học còn nghiên cứu trường hợp của một cậu bé ở Thụy Điển cũng có sự đột biến tương tự.   Dựa vào các nghiên cứu nêu trên, các nhà khoa học đã làm thí nghiệm trong phòng về biến đổi gien tương tự ở chuột. “Chúng tôi có thể chỉ rõ qua các thí nghiệm khi có đột biến thì chức năng của tế bào thần kinh thay đổi như thế nào,” TS Leipold giải thích.  Giờ đây, người ta hy vọng có thể áp dụng những kiến thức thu được để bào chế những loại thuốc chống lại sự vượt quá chức năng của kênh Natri. “Điều mà chúng ta học được ở đây có thể áp dụng phần nào đối với các bệnh khác,” TS Leipold giải thích. Trong tương lai, việc điều trị giảm đau cũng sẽ được hưởng lợi từ những kiến thức mới thu được này.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mất địa vị dễ rơi vào trầm cảm hơn?      Nghiên cứu mới trên tạp chí Cell của nhóm nhà khoa học đến từ Đại học Chiết Giang (Trung Quốc) đã công bố những phát hiện mới từ mô hình trầm cảm trên chuột và những cơ chế thần kinh quan trọng đằng sau quá trình này.    Ở cả người và động vật, địa vị xã hội có tác động đáng kể đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Ảnh: health.harvard.edu  Alpha là “vua” trong một bầy chuột. Khi gặp những con chuột khác trong đường ống, Alpha có thể dễ dàng khiến chúng bỏ chạy chỉ với một cái liếc mắt. Tuy nhiên, một ngày, một con chuột bé nhỏ đã trực tiếp đẩy Alpha ra khỏi đường đi chỉ sau vài giây đụng đổ. Sau khi liên tiếp trải nghiệm thất bại, Alpha dần trở nên trầm cảm.  Sự đảo ngược này đã được “dàn dựng” bởi một nhóm các nhà khoa học não bộ – những người đã chứng kiến toàn bộ quá trình “đánh mất ngôi vua” của Alpha và ghi lại những hoạt động thần kinh trong não của con chuột này. Sau sáu năm làm thí nghiệm, nhóm nghiên cứu do giáo sư Hu Hailan dẫn đầu đã thiết lập một mô hình trầm cảm trên chuột để khám phá những cơ chế thần kinh quan trọng đằng sau đó.  Hệ thống phân cấp xã hội là điều rất phổ biến ở cả người và động vật. Để đo thứ bậc xã hội ở chuột, nhóm của Hu đã phát triển thử nghiệm trong các ống, theo đó thứ bậc xã hội của mỗi con chuột được xác định bằng số trận thắng khi thi đấu với những con chuột khác trong đường ống.  Ở cả người và động vật, địa vị xã hội có tác động đáng kể đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Một nghiên cứu về những người nhập cư ở Hoa Kỳ cho thấy, những người nhập cư bị “suy giảm” địa vị xã hội dễ mắc trầm cảm hơn gấp gần ba lần so với những người khác.  Cơ chế thần kinh đằng sau những hiện tượng này đã truyền cảm hứng cho giáo sư Hu Hailan. “90% các trường hợp trầm cảm của con người là do các yếu tố xã hội kích hoạt”. Đối với các nhà khoa học, bước đầu tiên trong nghiên cứu là xây dựng các mô hình động vật có thể mô phỏng quá trình này trong phòng thí nghiệm. Do đó, Alpha trở thành con chuột “được chọn” vì nó là “vua” trong các thí nghiệm “đường ống”.  Theo đó, khi một con chuột nhỏ sắp phải đi qua đường ống, các nhà khoa học đã chặn lối đi đằng sau của nó để chừa lại lối thoát duy nhất ở phía trước. Do đó, con chuột nhỏ này đã gồng mình để đẩy mạnh Alpha và sau vài lần xô đẩy qua lại, Alpha bị đẩy ra khỏi đường.  Sau nhiều ngày liên tiếp bị “bắt buộc phải thất bại”, ngay cả khi không có sự can thiệp của con người, con chuột “vua” bắt đầu nhường nhịn con chuột nhỏ một cách tự nhiên. “Điều này cho thấy nó đã mất đi vị trí thống trị của mình”, Fan Zhengxiao – tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  Các bài kiểm tra bơi hoặc các sở thích về đường sau đó cho thấy Alpha thể hiện các hành vi giống như trầm cảm. “Ở một mức độ nào đó, trải nghiệm của Alpha cũng giống như sự trầm cảm do bị suy giảm quyền thống trị trong thế giới loài người. Các nhà nghiên cứu có thể thực hiện các thí nghiệm trên mô hình động vật mới này để khám phá cơ chế thần kinh đằng sau nó”, Fan Zhengxiao nói.  Theo Fan Zhengxiao, những con chuột có địa vị thấp hơn sẽ không chán nản ngay cả khi chúng liên tục bị thua trước những con chuột có thứ bậc cao hơn. Các hành vi giống như trầm cảm chỉ được kích hoạt ở những con chuột có thứ hạng cao hơn – những con chuột mà địa vị xã hội của chúng bị suy giảm nhanh chóng. Điều này cho thấy trầm cảm có thể liên quan đến sự khác biệt giữa kỳ vọng chiến thắng và sự thua cuộc trong thực tế.  Trong nghiên cứu, nhóm của Hu liên tục “diễn lại” kịch bản “mất ngôi” và theo dõi hoạt động của canxi và tín hiệu hoạt động điện thần kinh ở các vùng não cụ thể thông qua phép đo quang sợi. Sau một loạt thí nghiệm, cơ chế thần kinh dần thể hiện rõ ràng. Nhóm của Hu đưa ra giả thuyết rằng lỗi “dự đoán phần thưởng” có thể đóng vai trò là chất xúc tác cho những thay đổi thần kinh, làm trung gian cho các hành vi giống như trầm cảm do mất địa vị xã hội.□  Kim Dung lược dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2023-03-people-high-social-status-prone.html    Author                .        
__label__tiasang Mất gió      Trở về, điều l&#224;m t&#244;i khủng khiếp l&#224; từ qu&#234; ra tỉnh giờ b&#237; bức qu&#225;. Qu&#234;, th&#236; m&#225;i bằng m&#225;i nhọn ch&#243;p củ h&#224;nh, chỗ giống điện Kremlin, chỗ từa tựa nh&#224; thờ Hồi gi&#225;o. &#208;ến cả b&#227;i tha ma cũng nhốn nh&#225;o y hệt phố phường.     Tỉnh, là Hà Nội của tôi mà khi xa tôi vẫn gào “mỗi khi lòng xác xơ” thì chuồng cọp, sinh cùng thời nhà lắp ghép Giảng Võ Trung Tự Thành Công, có xấu cũng còn phúc chán. Vì còn có nơi cho gió đi về. Còn giờ, phố phường nêm chặt toàn người với tường. Trở lại khu tập thể từng sống suốt tuổi thơ, suốt một thời con gái, kinh ngạc không còn kịp ngậm ngùi nỗi trẻ con giờ không còn chỗ mà chạy nhảy. Mãi mãi chỉ còn trong kí ức vườn hoa xưa, mái hầm công cộng cỏ xanh um nơi trốn tìm lí tưởng, tiếng bóng chuyền dội trong mỗi hoàng hôn và tiếng trẻ reo à à.   Nhà tôi đã nhanh chân nhảy ra khỏi khu tập thể mười mấy năm nay, nhảy ra rồi bò vào trong làng hẳn hoi. Hồi nhà mới chuyển, ông ngoại các cháu sung sướng lắm. Vì đêm có tiếng ếch nhái, tiếng mưa rơi trên ao nước sau nhà, chiều tạnh cơn giông rô ron rạch lên tận cửa, lại còn con tắc kè ẩn cư bên vườn nhà thờ đêm nào cũng động giấc già. Lương hưu thì mua được mấy con tem bưu điện gửi ra nước ngoài, vậy mà cụ thư nào cũng lòng thòng đủ thứ chuyện quê trong phố như thế.  Nhưng trở về, lạ lùng vì chỉ có dăm ba năm mà những chuyện vui tuổi già đã tiệt đâu mất. Không còn vườn trong phố. Vườn trong phố mất trước cả khi tác giả bài thơ (Lưu Quang Vũ) mất. Dĩ nhiên rồi. Trong làng cũng chả mấy nhà còn vườn. Ngõ làng cũng không còn những mảng tường gạch vỡ đặc trưng mà tôi thậm ghét, do có cái lỗ chọc từ phía trong chuồng lợn ra thiên nhiên, đóng góp cho mọi thôn xóm Việt Nam cái mùi đồng quê đặc biệt. Bảo là dễ chịu thì lạy trời, chắc chắn là không phải. Nhưng trong gió quê làng mà thiếu cái mùi đó là thiếu hẳn một chút gì để biết thời này vẫn là thời của mình.   Thì còn chỗ nào để cho gió vào ra chuyên chở mùi nữa. Nhà ai bây giờ tứ bề không áp tường nhà hàng xóm thì không phải là dân quê đặc hoặc nghèo kiết hoặc lẩm cẩm hơn cả mình chắc cũng cỡ đại gia. Thành thử về nhà, được anh hàng xóm lần đầu gặp mặt mời qua chơi, đứng dưới gốc cau, sung sướng thấy hóa ra Hà Nội vẫn còn chiều gió nổi là cả một khám phá với người trở về. Bởi vì đi cách Hà Nội đến cả năm mươi cây số, trên vùng đất cao Bất Bạt, nơi người sống kí gửi xương cốt người thân đã khuất cho mát mẻ mà lạy giời, cũng cấm có gió. Bốn bề bia mộ bê tông đá rửa, nuốt hơi nắng hạ và nhả ra lập tức, có cảm giác lá cây bạch đàn gầy guộc lào phào trên đầu cũng có thể bất thần rụng xuống, khô cong.  Nhân định thắng thiên. Thì đã có máy điều hòa. Lại nhớ câu người đời thương nhau vẫn dặn nhau, kể cũng tới ngàn đời: “cẩn thận kẻo gió máy thì khốn”.  Tôi vẫn không hiểu tại sao lại có âm tiết “máy” trong từ “gió máy”. Chắc có chút gì dính líu tới sự xoay vần của “con tạo” chăng? “Gió” không thì lành. „Gió máy“ thành dữ. Máy điều hòa thì không đến nỗi vậy. Không có nó thì làm sao ngủ nổi, nếu là người dư ăn dư mặc không phải lăn lưng làm cửu vạn. Dù biết hơi mát mình đang hưởng có phần hơi nóng của máy lạnh tỏa nhiệt người khác chịu thay mình. Hạnh phúc chẳng phải lúc nào cũng là cái chăn như cụ Nam Cao hình dung, nhưng đúng lúc nào cũng hẹp.  Ấy, sự đời. Sướng thì phải hưởng. Nhưng để cho cái sướng được vẹn toàn thì phải luyện chiêu day dứt. Ơ hơ, cứ cái đà này, niềm sung sướng giản dị của nhiều đời nhiều thời “tịch” mất rồi. Là gió, gió đồng ngô, gió bãi sông, gió đầu dốc bến, gió bờ giếng, gió trên cầu, gió từ vườn xa thổi dọc phố làm tung vạt áo con gái, ướp những chũm cau tuổi mười lăm mười sáu một mùi ổi chín, của thời tôi. Thứ gió mềm bởi sạch, không mang theo hơi xăng, không mang theo cát bụi. Thứ gió lành mà bà tôi năm xưa được đêm trăng sáng không có máy bay Mỹ vào ra vẫn tấm tắc “gió mát như quạt hầu”. Thứ gió diệu kì làm người ta thấp tha thấp thỏm “Gió sao gió mát sau lưng – dạ sao dạ nhớ người dưng…”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mật mã khóa công khai: Hành trình 35 năm      Mã hóa khóa công khai ra đời cách đây 35 năm, đánh dấu bởi công trình khoa học của Diffie-Hellman. Đó thực sự là một bước ngoặt đưa mật mã từ một nghệ thuật thành một ngành khoa học.    Trong quá trình 35 năm phát triển, những phát kiến trong mật mã hầu hết rất phản trực quan, và do đó càng bất ngờ thú vị, đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành khoa học khác: áp dụng những kết quả trừu tượng trong lý thuyết số vào thực tế; thúc đẩy sự phát triển của các thuật toán xác suất; đưa ra những khái niệm quan trọng trong lý thuyết tính toán mà điển hình là khái niệm chứng minh tương tác; tạo cầu nối giữa lý thuyết số và khoa học máy tính thông qua lý thuyết số tính toán…  Thay đổi trong cách tiếp cận tính an toàn  Từ ngàn xưa con người ta đã có nhu cầu trao đổi bí mật: từ những mệnh lệnh trong các cuộc chiến tranh cho đến những hẹn hò thường nhật. Ta tìm thấy vết tích của mật mã từ thời Ai Cập cổ đại, hệ mã mà Ceasar dùng trong thời La Mã, cho tới bức thư tình nổi tiếng mà George Sand gửi cho Alfred de Musset… Ở thời kỳ sơ khai, mật mã có thể coi như nghệ thuật che giấu thông tin mà độ an toàn đạt được là nhờ có sự thống nhất một qui ước bí mật chung. Như vậy, thuật toán lập mã và giải mã là bí mật. Nhưng khi tầm ứng dụng càng rộng thì yêu cầu bí mật cơ chế mã lại càng không hợp lý vì nhiều người sử dụng nên sẽ rất dễ bị lộ. Cuối thế kỷ 19, Kerckhoffs đề nghị một nguyên tắc xem xét độ an toàn chỉ dựa trên khóa bí mật còn thuật toán lập mã/giải mã không cần phải giữ kín. Tuy vậy, sự cần thiết chia sẻ khóa bí mật là rào cản lớn cho việc trao đổi thông tin trên diện rộng: ví dụ để thiết lập kênh bí mật đôi một giữa một nghìn người thì cần tới cả nửa triệu khóa bí mật.  Mật mã khóa công khai đã vượt qua rào cản đó và đưa đến một bước ngoặt trong sự phát triển ngành mật mã. Ý tưởng chính của nó khá giản đơn: lập mã và giải mã là hai quá trình có bản chất khác nhau, nếu như giải mã nhất thiết phải dùng khóa bí mật (nếu không ai cũng giải được) thì lập mã lại không nhất thiết như vậy, và thậm chí sẽ càng tốt hơn khi ai cũng có thể lập mã. Do vậy, nếu ta có thể tạo ra một khóa bí mật cho giải mã và một khóa công khai tương ứng cho lập mã thì quá trình lập mã không còn cần bất kỳ bí mật nào. Tuy có vẻ tự nhiên nhưng việc mã hóa sử dụng khóa công khai làm thay đổi hoàn toàn yêu cầu về sự an toàn: khóa bí mật không cần chia sẻ nữa, mỗi người giữ khóa bí mật của riêng mình. Sự đảm bảo an toàn không còn cần dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau giữa người gửi và người nhận.  Mật mã với lý thuyết độ phức tạp tính toán  Bên cạnh những ưu điểm mang tính bước ngoặt, mã hóa khóa công khai ẩn chứa một điều đáng lo ngại về tính an toàn: khi công bố khóa công khai tương ứng với khóa bí mật sẽ có thể dẫn tới việc khóa bí mật không còn … hoàn toàn bí mật! Điều lo ngại đó hoàn toàn có cơ sở bởi một kẻ tấn công có thể thử hết các trường hợp có thể để tìm ra khóa bí mật tương ứng với khóa công khai. Do đó, về nguyên tắc, kẻ tấn công có thể phá được sơ đồ mã hóa, tìm ra khóa bí mật mà không cần quan sát bất kể bản mã nào! Chính vì thế mà độ an toàn của mật mã khóa công khai sẽ không thể chỉ dựa trên sự giữ bí mật khóa nữa. Muốn đảm bảo sự an toàn, ta phải chứng tỏ làm sao, dù về nguyên tắc, kẻ tấn công có thể tìm ra khóa bí mật, nhưng thời gian để đạt được mục đích đó phải là rất lớn, cỡ hàng triệu năm trên một máy tính nhanh nhất chẳng hạn. Hay nói cách khác, độ phức tạp mà kẻ tấn công có thể tìm lại khóa bí mật là lớn phi thực tế.                           Một cách rất tự nhiên, nghiên cứu độ an toàn của mật mã khóa công khai đã nằm gọn trong lý thuyết độ phức tạp tính toán (Computational Complexity). Trong lý thuyết độ phức tạp, ta không chỉ quan tâm xem một bài toán có thể giải được hay không, mà điều quan trọng nhất là nghiên cứu xem để giải bài toán đó thì độ khó khăn lớn đến đâu. Độ phức tạp được phân cấp theo các lớp, trong đó hai lớp quan trọng nhất là lớp P và lớp NP. Lớp P bao gồm những bài toán giải được trong thời gian đa thức (số bước đi đến lời giải có thể bị chặn bởi một đa thức trên độ dài của đề bài), và nó được coi là lớp các bài toán có thể giải được trong thực tế. Chẳng hạn các bài toán sắp xếp một dãy số theo thứ tự tăng dần, giải hệ phương trình tuyến tính, tìm đường đi ngắn nhất giữa hai thành phố đều là những bài toán giải được trong thời gian đa thức, và vì vậy thuộc lớp P. Lớp NP là lớp các bài toán có thể kiểm tra được lời giải đúng hay sai trong thời gian đa thức, nó có vai trò quan trọng vì rõ ràng chỉ khi lời giải có thể kiểm tra được trong thời gian thực tế thì bài toán mới được quan tâm. Ví dụ bài toán tô bản đồ bằng ba màu để không có hai miền giáp ranh nào được tô cùng màu là thuộc lớp NP vì nếu có ai đề xuất một lời giải thì ta có thể kiểm tra xem lời giải đó đúng hay sai một cách dễ dàng. Tuy nhiên, để đưa ra lời giải cho bài toán này thì rất khó, thậm chí nó được đánh giá là một trong các bài toán khó nhất trong lớp NP. Câu hỏi trọng tâm của lý thuyết độ phức tạp là liệu P có bằng NP? Một chứng minh khẳng định sẽ đem lại một sự bất ngờ cho nhận thức của chúng ta: việc tìm ra lời giải cũng chỉ khó như việc kiểm tra lời giải. Điều khó tin đó làm người ta thường giả thuyết rằng P khác NP. Sự quan trọng của câu hỏi “P = NP?” là lý do để nó được Viện Clay xếp vào một trong bảy bài toán thiên niên kỷ.            Xem xét lý thuyết mật mã dưới góc nhìn của lý thuyết độ phức tạp, ta có thể định nghĩa hệ mã bị phá nếu như có thuật toán phá mã để tìm lại khóa bí mật từ khóa công khai hay, đơn giản hơn, tìm lại bản rõ từ bản mã trong thời gian đa thức. Vậy độ phức tạp của thuật toán phá mã liệu có thể đánh giá trong trường hợp chung? Câu trả lời là mọi sơ đồ mã hóa khóa công khai đều có thuật toán phá mã thuộc lớp NP bởi bài toán kiểm tra xem một khóa bí mật có tương ứng với một khóa công khai hay không là dễ. Bài toán “P chọi NP” trở nên có tầm quan trọng sống còn tới lý thuyết mật mã: nếu hai lớp này tương đương thì toàn bộ lý thuyết nghiên cứu mật mã dưới góc nhìn độ phức tạp sẽ hoàn toàn sụp đổ vì việc phá mã, vốn thuộc NP, khi đó sẽ có thể thực hiện được trong thời gian đa thức. Và cũng do vậy, nghiên cứu độ phức tạp trong mật mã cần phải dựa trên giả thuyết “P khác NP”.  Sự phát triển của lý thuyết số tính toán   Khi tính an toàn chia tay với nghệ thuật che giấu bí mật để chuyển sang dựa trên lý thuyết độ phức tạp thì cũng là lúc mật mã bất ngờ tìm đến và làm những nghiên cứu trừu tượng trong lý thuyết số bỗng có những áp dụng đầy ý nghĩa trong thực tế. Nó cũng đưa lý thuyết số tính toán (computational number theory) trở thành một nhánh nghiên cứu quan trọng, nằm giữa vùng giao thoa của toán học và tin học.    Giáo sư Martin Hellman (giữa) cùng đồng nghiệp là Whitfield Diffie (phải) đã khám phá ra mật mã khóa công khai Diffie-Hellman.  Tựu chung yêu cầu để xây dựng mật mã khóa công khai là: hàm lập mã thì dễ (với khóa công khai), nhưng hàm giải mã thì khó khi không có khóa bí mật. Đó là các hàm cửa lật một chiều (trapdoor oneway functions): tính xuôi thì dễ, tính ngược phải khó, nhưng với cửa lật là khóa bí mật thì tính ngược, tức giải mã, cũng phải dễ. Yêu cầu trông có vẻ đơn giản đó nhưng thực tế là sau rất nhiều năm tìm kiếm vẫn chỉ có rất ít hàm có thể thỏa mãn.  Những hàm cửa lật thông dụng trong mật mã đã đến từ những bài toán rất cổ điển của lý thuyết số! Đó là bài toán phân tích số (cho một số N = pq là tích của hai số nguyên tố, phân tích nó ra thừa số nguyên tố p,q) và bài toán logarit rời rạc trong trường hữu hạn (cho một phần tử sinh g của một nhóm con của một trường hữu hạn, và một phần tử nhóm u=ga, bài toán là phải tìm lại a). Cả hai bài toán này, tuy về mặt toán học là giải được, nhưng cho đến nay không thể giải được trong thời gian đa thức. Bài toán phân tích số là nền tảng cho độ an toàn của hệ mã nổi tiếng RSA, và bài toán logarit rời rạc là cơ sở cho hệ mã Elgamal. Chính vì tính phổ dụng của hai hệ mã này mà một cách tất nhiên, bài toán phân tích số và bài toán logarit rời rạc trở thành đối tượng nghiên cứu rất được quan tâm. Việc nghiên cứu tính phức tạp của việc tìm ra lời giải cho các bài toán lý thuyết số đã đưa tới sự phát triển sâu rộng của lý thuyết số tính toán.  Sau nhiều công trình nghiên cứu quan trọng thì các bài toán phân tích số và bài toán logarit rời rạc tuy chưa giải được trong thời gian đa thức nhưng cũng không cần đến thời gian hàm mũ để giải nó, mà đã có các thuật toán dưới mũ (sub-exponention) như thuật toán dùng tính chỉ số (index calculus) và thuật toán dùng đường cong elliptic của Lenstra, được giới thiệu năm 1985. Dù cho những công trình này không làm các hệ mã sụp đổ, nhưng làm cho cách xây dựng các hệ mã phải giảm hiệu quả vì phải dùng các khóa dài hơn để đảm bảo an toàn. Công trình của Lenstra cũng đánh dấu lần đầu tiên lý thuyết các đường cong elliptic được sử dụng vào mật mã, ở đây có vai trò như phá mã. Điều thú vị là ngay sau đó thì lý thuyết các đường cong elliptic đã được sử dụng cho việc lập mã. Koblitz và Miller cùng độc lập đề nghị thay thế việc sử dụng nhóm trong trường hữu hạn bằng nhóm các điểm trên đường cong elliptic vì ở đó, các thuật toán dưới mũ đã biết để giải quyết bài toán logarit rời rạc có vẻ như không thể áp dụng được.  Các kết quả lý thuyết sâu sắc trong lý thuyết số tiếp tục được áp dụng vào mật mã. Tấn công MOV (đưa ra bởi Menezes, Okamoto, và Vanstone) sử dụng phép ghép cặp (pairings) trên các đường cong elliptic để chỉ ra không phải loại đường cong elliptic nào cũng có thể được sử dụng, đặc biệt là các đường cong siêu lạ (supersingular) rất được ưa dùng ở giai đoạn đầu. Không chỉ phục vụ cho việc phá mã, việc sử dụng phép ghép cặp sau đó đã trở nên cực kỳ hữu hiệu trong việc xây dựng mã. Sự kiện nổi bật là việc dùng phép ghép cặp để giải quyết vấn đề mở về xây dựng mã hóa dựa trên danh tính (Identity based Encryption), được đề nghị bởi Sakai-Ohgishi-Kasahara và Boneh-Franklin những năm 2000. Ngay sau đó, phép ghép cặp đã được sử dụng hầu khắp trong mọi lĩnh vực của mật mã (mã hóa, chữ ký điện tử, sơ đồ định danh…) để nâng cao tính an toàn và hiệu quả và đôi khi giải quyết những bài toán mở đã bế tắc trong thời gian dài. Cách đây vài năm người ta đã tổ chức hẳn một hội nghị dành cho các nghiên cứu liên quan đến các thuật toán xây dựng và phân tích các phép ghép cặp trên các đường cong elliptic hay hyperelliptic và các phương pháp mã và tấn công mã dựa trên phép ghép cặp.      Muốn đảm bảo sự an toàn của mật mã, ta phải chứng tỏ làm sao, dù về nguyên tắc, kẻ tấn công có thể tìm ra khóa bí mật, nhưng thời gian để đạt được mục đích đó phải là rất lớn, cỡ hàng triệu năm trên một máy tính nhanh nhất chẳng hạn. Hay nói cách khác, độ phức tạp mà kẻ tấn công có thể tìm lại khóa bí mật là lớn phi thực tế.      Nhìn lại các phát triển của lý thuyết số tính toán, có thể nhận thấy các phương pháp mới thường được đề nghị đầu tiên cho phá mã, nhưng rồi sau đó lại được sử dụng rất hiệu quả cho việc lập mã. Điều đó cũng phần nào chứng tỏ vai trò tương hỗ giữa cộng đồng những người phá mã và lập mã: trong rất nhiều trường hợp, chính những người say mê tìm cách phá tính an toàn của các hệ thống mật mã, sẽ là những người đem tới những phát kiến mới mẻ để xây dựng những hệ mã an toàn hơn.  Lý thuyết các thuật toán xác suất  Để có thể cài đặt được hệ mã RSA, một phần tất yếu là sự cần thiết phải tìm được những số nguyên tố lớn để có thể đảm bảo yêu cầu an toàn tối thiểu (khóa công khai chứa tích của hai số nguyên tố, và nếu một trong hai số nguyên tố nhỏ thì bài toán phân tích số sẽ dễ). Từ đó mà yêu cầu tìm các số nguyên tố lớn trở nên rất cần thiết.  Cho tới nay, các phương pháp tìm số nguyên tố lớn đều theo nguyên tắc hai bước: bước 1 là chọn một số tự nhiên đủ lớn và bước 2 kiểm tra xem số được chọn có là số nguyên tố hay không. Do các số nguyên tố có cấu trúc rất bí hiểm và ta chưa hiểu được quy luật tường minh của chúng nên bước 1 chưa có cách nào khác là chọn một số ngẫu nhiên. Trong bước thứ 2, những thuật toán kiểm tra tính nguyên tố, mà điển hình là những thuật toán được sử dụng rộng rãi của của Rabin và Solovay, Strassen, đã khởi đầu cho việc dùng xác suất để thiết kế các thuật toán.            Mật mã là ngành khoa học trẻ, hứa hẹn nhiều phát kiến thú vị trong tương lai          Sau nhiều phát triển quan trọng của lý thuyết thuật toán xác suất, người ta quay lại hoài nghi “liệu độ ngẫu nhiên có thực sự mang tới sự hiệu quả?”. Bên cạnh câu hỏi mở tổng quát này, nhiều nhà nghiên cứu tập trung trở lại với bài toán tìm số nguyên tố nhằm đưa ra một lời giải tất định cho nó. Công trình lý thuyết đột phá của Agrawal–Kayal–Saxena đưa ra năm 2000, đã chỉ ra một thuật toán tất định để kiểm thử tính nguyên tố trong thời gian đa thức, giải quyết trọng vẹn bước thứ 2 một cách tất định. Sự hấp dẫn của một lời giải hoàn chỉnh cho bài toán tất định tìm số nguyên tố chính là nguồn cảm hứng chung rất lớn của các nhà toán-tin học và nó được chọn là bài toán khởi đầu cho một kế hoạch đầy tham vọng nhằm thay đổi tư duy trong hợp tác nghiên cứu khoa học: hợp tác mở thông qua đóng góp, trao đổi mở trên mạng. Với sự nhiệt tình của Timothy Gower, Terence Tao (cả hai đều đoạt giải thưởng Fields), đã có rất nhiều nhà khoa học tham gia vào dự án mở Polymath để cùng trao đổi nhằm tìm kiếm lời giải cho bài toán này. Tuy chưa thể đưa ra lời giải toàn phần, họ đã có một số kết quả dẫn tới một bài báo khoa học dưới tên tác giả Polymath. Rất có thể đây sẽ là một hình thức cộng tác khoa học xuyên biên giới có sức mạnh tổng hợp lớn trong tương lai.  Chứng minh tương tác không để lộ tri thức   Trong mật mã, mọi trao đổi thông tin đều giả thiết có sự hiện diện của kẻ xấu. Mục đích của ta là vừa có thể thuyết phục người đối thoại về tính đúng đắn của một mệnh đề nào đó, lại vừa không cần tin tưởng anh ta, và không muốn sau khi trao đổi anh ta cũng có khả năng chứng minh mệnh đề đó với người khác. Chẳng hạn, một thành viên của một câu lạc bộ bí mật muốn chứng minh danh tính của mình cho người gác cổng, nhưng lại không muốn nói mật khẩu của mình vì sợ chính người gác cổng sẽ bán nó cho kẻ khác. Trong ngữ cảnh đó, một trong những khái niệm thú vị nhất của khoa học máy tính đã được đề nghị: chứng minh tương tác (interactive proofs). Khái niệm này được đưa ra bởi Goldwasser, Micali và Rackof vào đầu những năm 80 và nhờ đó họ đã được trao giải Gödel đầu tiên trong lịch sử.           Chứng minh không để lộ tri thức là một thành phần không thể thiếu trong sơ đồ bầu cử điện tử        Dưới góc độ toán học, ta thường quan niệm chứng minh là một dãy các lập luận logic có thể trình bày tường minh trên giấy. Liệu chăng yếu tố đối thoại, tương tác giữa người chứng minh và người kiểm tra có mang đến điều mới mẻ? Để trả lời câu hỏi đó, trước hết khái niệm về một chứng minh sẽ phải thay đổi. Goldreich thường trích lời thầy giáo Simon của mình khi giảng về các chứng minh tương tác:  “Chứng minh là bất kể cách gì có thể thuyết phục được tôi”   (“ A proof is whatever convinces me”).  Theo nghĩa đó, một chứng minh tương tác là một cuộc đối thoại, cho tới khi người hỏi bị thuyết phục hoàn toàn bởi người chứng minh. Một câu chuyện vui kể rằng, một cậu bé cho rằng mình có câu thần chú để mở vách ngăn giữa hai nhánh của một hang động. Tất nhiên cậu ta không muốn lộ câu thần chú của mình, nhưng lại muốn chứng minh khả năng đó. Trò chơi đuổi bắt có thể là một chứng minh tương tác hiệu quả: cậu bé chạy vào một trong hai ngã, người đuổi chọn một hướng nhằm dồn chú vào vách ngăn nhưng cuối cùng không lần nào bắt được cậu ta. Nếu đuổi một lần ta có thể cho là cậu bé đã ăn may chọn ngã khác, nhưng lặp đi lặp lại trò chơi tới 100 lần mà không lần nào đuổi được thì có lẽ ta bị thuyết phục đúng là cậu bé có câu thần chú thật. Các chứng minh tương tác hầu hết dựa trên một tinh thần như thế.      Khi tính an toàn chia tay với nghệ thuật che giấu bí mật để chuyển sang dựa trên lý thuyết độ phức tạp thì cũng là lúc mật mã bất ngờ tìm đến và làm những nghiên cứu trừu tượng trong lý thuyết số bỗng có những áp dụng đầy ý nghĩa trong thực tế. Nó cũng đưa lý thuyết số tính toán (computational number theory) trở thành một nhánh nghiên cứu quan trọng, nằm giữa vùng giao thoa của toán học và tin học.      Có những bài toán mà người ta chưa biết cách nào chứng minh trong thời gian đa thức, nhưng lại chứng minh được thông qua tương tác, chẳng hạn bài toán chứng minh hai đồ thị không đồng cấu với nhau. Hơn thế nữa, trong nhiều bài toán, người chứng minh có thể không cần để lộ ra bất kể tri thức nào anh ta có về cái chứng minh đó (zero-knowledge proofs). Kết quả tuyệt đẹp của Goldreich, Micali và Wigderson chỉ ra rằng tất cả những gì ta có thể chứng minh trong thực tế (tức mọi bài toán trong NP), đều có thể chứng minh mà không để lộ tri thức! Bài toán chứng minh danh tính để vào cổng câu lạc bộ bí mật phía trên là một trong số đó.  Các chứng minh không để lộ tri thức đặc biệt quan trọng trong mật mã, là thành phần cơ bản trong việc xây dựng các sơ đồ mã hóa, chữ ký điện tử. Chứng minh không để lộ tri thức cũng là thành phần không thể thiếu trong một sơ đồ bầu cử điện tử, cho phép mỗi cử tri kiểm tra được lá phiếu của mình đã được tính đến mà việc kiểm phiếu lại không cần phải công bố nội dung từng lá phiếu, đảm bảo quyền lựa chọn bí mật của cử tri.  Ở một khía cạnh khác, chứng minh tương tác cũng là phần hồn của nhánh khoa học “chứng minh tính bảo mật” (provable security), nơi ta cố gắng chứng minh tính an toàn của hệ thống trong một thế giới tương tác rất phức tạp (với sự hiện diện của kẻ tấn công luôn muốn lừa hệ thống thông qua quan sát, nghe trộm, đóng giả người tốt để truy nhập hệ thống) dựa trên những giả thuyết tĩnh, giản đơn của toán học.  Một số hướng đi tương lai của mật mã   Bảo mật trong điện toán đám mây (cloud computing)  Điện toán đám mây cho phép ta lưu trữ những khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng và thực hiện các thao tác trên nó một cách dễ dàng. Nó có thể giúp ta giải quyết những bài toán lớn mà trước đây khó có thể giải quyết trên một mạng lưới các máy tính mang tính chất cục bộ. Tuy nhiên, điều đó mang tới một thách thức vô cùng lớn về tính bảo mật. Có hai điều có vẻ như mâu thuẫn nhau: để dữ liệu lớn trên các hệ thống xa lạ rõ ràng rất dễ bị đánh cắp thong tin, nhưng nếu ta mã hóa toàn bộ dữ liệu thì sẽ khó có thể tận dụng sức mạnh của tính toán đám mây để thao tác dữ liệu.  Nhưng gần đây, vấn đề tưởng khó có thể giải quyết này đã có chút tia hy vọng, với công trình của Gentry về mật mã đẳng cấu theo cả phép nhân và phép cộng (fully homomorphic encryption). Hệ mã này cho phép, từ hai bản mã của hai bản rõ m và m’, ta có thể tính được bản mã nhân của mm’ và bản mã cộng của m+m’. Vấn đề với bề ngoài đơn giản nhưng chứa đựng không ít nghịch lý trong nó: nó vừa phải đảm bảo an toàn cho dữ liệu (không thể biết thông tin về bản rõ m, m’, mà lại vẫn thao tác được trên dữ liệu đó). Và cũng với bề ngoài giản đơn như vậy, nó lại mang đến một ý nghĩa rất bao quát: do mọi tính toán đều có thể qui về các phép toán cơ bản là cộng và nhân, một hệ mã như vậy cho ta làm mọi tính toán trên dự liệu được mã hóa! Điều đó có nghĩa ta có thể để tất cả dữ liệu bảo mật trên những máy mạng không an toàn mà vẫn có thể tận dụng sức tính toán lớn của điện toán đám mây để thực hiện mọi thao tác tính toán trên đó. Tuy nhiên, hiện tại, hệ mã Gentry và một số hệ mã cải tiến còn có hiệu quả vô cùng thấp, hầu như chỉ mang tính lý thuyết. Một hệ mã hiệu quả sẽ là lời giải tuyệt vời cho bài toán an toàn thông tin trong điện toán đám mây.  Mở rộng mô hình mã hóa: cho đối tượng nhóm và cho việc giải mã bộ phận  Mã hóa thường cho ta thiết lập kênh trao đổi thông tin giữa một người với một người. Tuy nhiên, những ứng dụng thực tế đòi hỏi khả năng ta mã một lần sao cho nhiều người cùng có thể giải mã. Một ví dụ điển hình là việc phát chương trình truyền hình mã hóa sao cho hàng triệu thuê bao đều giải được mã. Nhưng một ứng dụng như vậy sẽ đặt ra hai vấn đề: mã một lần cho nhiều người (broadcast encryption) và ngăn chặn một người hay một nhóm người thuê bao cấu kết nhau để làm một bộ giải mã giả (tracing traitor). Hiện tại các thuật toán được sử dụng trong truyền hình thuê bao hầu hết đang còn ở thời nguyên thủy: độ an toàn buộc phải dựa trên tính bí mật của thuật toán. Nhưng cũng bởi vậy nên khi một nhóm phá mã có thể phá được nguyên lý bằng kỹ nghệ đảo ngược (reverse engineering) thì thị trường chợ đen có thể bán tràn lan các bộ giải mã giả mà không có cách gì truy lại được ai là thủ phạm.  Những năm gần đây người ta đang đề nghị thêm một loại mã bao quát hết các khái niệm mã hóa công khai, mã hóa dựa trên danh tính, hay mã hóa một lần cho nhiều người. Đó là loại mã hàm (functional encryption) ở đó nó cho phép người lập mã định nghĩa một cơ chế giải mã để đối với người nhận, tùy vào thuộc tính mình có mà có thể truy cập sâu vào bản rõ tới đâu. Cho tới nay, đối với những cơ chế mã với các cấu trúc tương đối phức tạp, các phương án lập mã còn rất hạn chế về hiệu quả. Những kết quả trong tương lai chắc chắn sẽ mang tới những ứng dụng rất hiệu quả, đặc biệt là cho việc truy cập các cơ sở dữ liệu mã hóa lớn.  An toàn trước các tấn công vật lý   Mật mã thường phân tích tính an toàn dựa trên giả thuyết là khóa bí mật được bảo vệ tốt. Tuy nhiên, những tấn công vật lý đôi khi lại có thể tìm ra những thông tin về khóa (chẳng hạn bằng cách đo độ năng lượng tiêu thụ của máy giải mã trên các bản mã khác nhau). Do vậy, một trong các mục đích của mật mã là tìm cách hình thức hóa các khái niệm tấn công vật lý để bao được hầu hết các loại tấn công thực tế. Sau đó thiết kế sơ đồ mã hóa mà tính an toàn có thể đảm bảo chỉ duy nhất dựa trên các giả thiết toán học. Hướng nghiên cứu an toàn trong mô hình khóa bị lộ (key leakage resilient cryptography) đang khá được quan tâm trong cộng đồng mật mã.  An toàn trước sự tấn công của máy tính lượng tử   Cuối cùng, chúng ta không thể bỏ qua sự hiện diện tiềm tàng của máy tính lượng tử dù rằng cho tới nay trong thực tế các máy tính lượng tử mới chỉ phân tích được số 21 ra thừa số nguyên tố. Nhưng về mặt lý thuyết, nó có tiềm năng to lớn không thể không kể tới. Công trình của Shor năm 94 đã chỉ ra rằng bài toán phân tích số có thể giải được trong thời gian đa thức bởi máy tính lượng tử.  Bài toán logarít rời rạc trong trường hữu hạn hay trên đường cong elliptic cũng có thể giải được trong thời gian đa thức bởi máy tính lượng tử. Điều đó có nghĩa các hệ mã thong dụng hiện nay sẽ bị phá vỡ một khi máy tính lượng tử được thiết kế chạy được trên dữ liệu lớn. Để phòng ngừa trước điều đó (dù khả năng sớm xảy ra được đánh giá là rất nhỏ), nhiều nghiên cứu nhằm xây dựng các hệ mã có thể an toàn trước máy tính lượng tử được đề nghị. Hai hướng chính đang được quan tâm là các hệ mã dựa trên mã sửa sai (error correcting codes) và dựa trên lý thuyết lưới Euclid (lattice based cryptography), nơi sự hiện diện của máy tính lượng tử có vẻ như không đem lại hiệu quả đặc biệt.    Author                Phan Dương Hiệu        
__label__tiasang Mật mã wheellock      Những cuốn sổ ghi chép của Leonardo Da Vinci có đầy ắp các bản thiết kế phát minh, từ những cấu tạo súng phức tạp đến những chiếc xe đạp và thậm chí là “ô tô”. Căn cứ vào một số bản vẽ, một số nhà sử học đã chỉ ra rằng chính Da Vinci đã phát minh ra wheellock (cái lẫy súng dùng bánh xe).    Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã phủ nhận quan điểm đó. Họ cho rằng, những cái wheellock đầu tiên đã được chế tạo ở một vùng thuộc phía Bắc châu Âu, bây giờ là nước Đức. Họ kết luận rằng, Leonardo đã vẽ ra một phiên bản thiết kế cái wheellock của ông sau khi được biết về sản phẩm của người Đức.  Wheellock là một cấu tạo cơ khí nhỏ sinh ra tia lửa để khơi mào những hỗn hợp dễ cháy, chẳng hạn như thuốc súng. Một biến thể hiện đại của wheellock có thể được tìm thấy trong hầu hết những chiếc bật lửa, một số bộ phận của wheelock cũng tương tự như các bộ phận trong cái khóa cửa. Vào thời của Leonardo, wheellock chủ yếu được dùng trong các loại súng nhỏ, những súng này gồm ba bộ phận: cò súng, báng súng và nòng súng.                      Những minh họa đầu tiên của người Đức về wheellock đã có từ hồi đầu thế kỷ 16, khá gần với thời điểm ra đời các bản phác thảo của Leonardo. Tuy nhiên, một cách tiếp cận mới đối với vấn đề này đã đem lại bằng chứng cho thấy Leonardo đúng là người phát minh ra wheellock, khi ông bắt đầu nghiên cứu về nó vào khoảng năm 1493.     Những chữ V  Có vẻ như Da Vinci đã sử dụng các bộ phận từ những cỗ máy khác mà ông đã làm việc trong thời gian thập kỷ 1480 và 1490- chẳng hạn như những chiếc khoá cửa và xe đạp- để tạo ra cái wheellock theo một cách mới.          Hình vẽ thiết kế wheellock trong cuốn Codex Atlanticus của Leonardo Da Vinci          Trong một tập hợp các bản thảo của Leonardo mang tên Codex Atlanticus, có những hình vẽ dây xích và lò xo được tìm thấy trong những cái wheelock. Các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng những hình vẽ này chứng tỏ sự hiểu biết của Leonardo về thiết bị. Trong các bản thảo còn có cả những cái đục hình chữ V dùng để đẽo gỗ, mà ở đây rõ ràng là Leonardo đã thử dùng chúng để đục kim loại.  Những cái đục mà Leonard đã vẽ là đặc biệt đáng chú ý. Hình dạng của chúng là để tạo ra một đường rãnh hình chữ V dọc theo vành bánh xe. Những vành bánh xe của các wheellock ban đầu thường có những đường rãnh kiểu như thế này. Thêm vào đó, những vành này thường có thêm những đường rãnh rất hẹp, cắt ngang những đường ren bao quanh vành. Kiểu thiết kế này mới nhìn thì cứ tưởng là phức tạp không cần thiết nhưng trên thực tế thì nó rõ ràng là có hiệu quả hơn. Nó có thể che kín ổ thuốc súng và giữ thuốc súng tốt hơn, điều này rất quan trọng bởi vì những khẩu súng nhiều khi vẫn được mang trên lưng ngựa, dễ bị sóc. Mặc dù công việc của Leonardo với các lò xo, dây xích và đục đã chứng tỏ là ông thực sự biết về các bộ phận của wheellock, nhưng vẫn còn vấn đề là ông đã lắp ráp chúng để tạo thành thiết bị này như thế nào. Vào năm 1493, Leonardo thuê nhà kỹ thuật Giulio Tedesco (còn có tên là “Jules người Đức”) làm việc trong xưởng của ông ở Milan. Các học giả không biết chính xác Giulio đã dời Milan khi nào nhưng có lẽ là không muộn hơn năm 1500. Chuyên môn của Giulio thực chất là thiên về các cơ chế khoá cửa và lò xo, chúng cũng được ứng dụng trong các loại nỏ và những chiếc kéo lớn.  Khoá và xe đạp  Các bức vẽ những chiếc khóa dùng để khóa cửa và khóa hòm của Leonardo cũng có một số bộ phận có vẻ giống các bộ phận của wheellock. Những tương đồng này ngụ ý rằng, wheellock đã được nghiên cứu chế tạo bởi Leonardo và Giulio hồi giữa thập kỷ 1490. Thêm vào đó, Jules người Đức có thể đã mang thiết kế wheellock trở về quê hương sau khi dời Leonardo. Điều đó có thể giải thích tại sao mà thiết bị quan trọng này lại có mặt ở miền Bắc châu Âu vào đầu thế kỷ 16.                      Nhà sử học Claude Blair, từng làm việc ở bảo tàng Victoria và Albert cũng đã có những bằng chứng bổ sung quan trọng chứng minh rằng Da Vinci đã phát minh ra wheellock. Blair đã xác định rằng, ở thành phố Cividale thuộc bang Friuli, miền Bắc Italy, việc sản xuất các wheellock đã bắt đầu ít nhất là từ năm 1510. Leonardo đã làm việc ở Friuli một thời gian khi đang khảo sát những pháo đài, thời điểm đó chắc chắn là không muộn hơn năm 1500, tức là trước lúc người Đức cho ra mắt  wheellock.  Leonardo cũng nghiên cứu về thiết kế của chiếc xe đạp trong thập kỷ 1490. Một số kiểu dây xích và cơ chế phanh trong chiếc xe đạp của ông cũng lại na ná như trong những cái wheelock. Một bản phác thảo thiết kế xe đạp được tìm thấy trong cuốn sổ ghi chép của Leonardo đã được cho là của một trong những học trò ông. Tuy nhiên, người ta tin rằng, bản thiết kế này phản ánh những nghiên cứu trước đó của Da Vinci về xe đạp cũng như các bộ phận của nó. Có một số vấn đề trong bản vẽ này, đặc biệt là ở những cái pedal.  Một số nhà nghiên cứu ở Đại học Pursue đã nghiên cứu và bổ sung cho bản vẽ để có thể tái tạo lại hệ thống cơ học khá tinh xảo của thiết kế xe đạp đó. Leonardo đã vẽ một số chi tiết có vẻ giống như bộ phanh chân cho chiếc xe đạp. Nó cho phép cái xe đạp lăn đi mà không cần đạp pedal. Điều đáng chú ý là, cả cơ chế xích và lò xo của chiếc xe đạp đều xuất hiện lại trong những cái wheellock đầu tiên của ông.                      Việc phát minh ra cái wheellock thực sự là một vấn đề quan trọng. Những thiết kế súng trước đó, chẳng hạn như kiểu súng hỏa mai, đều phải dùng nguồn nhiệt bên ngoài như diêm hoặc mồi rơm để đốt cháy thuốc súng. Sau khi wheellock ra đời, những khẩu súng đã có thể sẵn sàng nhả đạn mà không cần chờ đánh diêm. Phát minh wheellock là một bước ngoặt cơ bản trong lịch sử phát triển của các loại súng, những thứ vũ khí đã có tác động to lớn trong lịch sử xã hội loài người.     TT lược thuật      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Mắt thần đại dương”      Viện nghiên cứu Sintef, Na Uy phối hợp cùng 5 công ty và học viện lớn tại nước này đang nghiên cứu và xây dựng một hệ thống giám sát đại dương tân tiến.    Hệ thống này sử dụng công nghệ định vị toàn cầu, vệ tinh, radar đặt trên mặt đất, tàu thủy và các bộ cảm biến nối mạng không dây để theo dõi các luồng cá trên biển. Bằng cách này, người ta có thể xác định chính xác các khu vực có nhiều cá và khối lượng cá cụ thể. Ngoài ra, hệ thống này còn hỗ trợ công tác bảo vệ các giàn khoan dầu, đường ống dẫn dầu, khí đốt và các tuyến cáp viễn thông trên biển.    C.M.L       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặt trái của thuật toán      Ứng dụng thuật toán ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế giới, không chỉ trong kinh doanh thương mại và sản xuất chuyên nghiệp, mà ngay cả trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Song song với sự phổ biến này là những mối lo ngại về thiên kiến thuật toán (algorithm bias), khái niệm chỉ ra những hệ quả bất cập trong việc xã hội đang ngày càng lệ thuộc vào những thuật toán tưởng chừng như rất khách quan và công bằng.      Khi người tại Mỹ dùng nhập từ khoá “CEO” vào công cụ Google Image, kết quả tìm kiếm chỉ cho thấy 11% hình ảnh CEO phụ nữ, góp phần làm hằn sâu tư duy kỳ thị giới tính.  Thuật toán là gì?  Phó Giáo sư Robert K. Hill tại đại học Portland State định nghĩa thuật toán là một cấu trúc toán học với ‘‘cấu trúc điều khiển phức hữu hạn, trừu tượng, hiệu quả, mang tính mệnh lệnh, hoàn thành một mục đích nhất định, theo các quy định nhất định.” Theo như định nghĩa này, một thuật toán không thể chỉ được hiểu đơn thuần dưới ngôn ngữ và lập luận của toán học. Việc định nghĩa thuật toán bao hàm cả những khái niệm như “mục đích” và “quy định” đồng nghĩa với việc thuật toán luôn tồn tại dưới dạng áp dụng thực tiễn, thi hành dưới những bối cảnh cụ thể, và tạo ra những hiệu ứng cụ thể.   Ngày nay, khi công chúng và báo đài nói về thuật toán, họ không đơn thuần chỉ nói về những công thức toán được làm ra nhằm mục đích giải quyết một vấn đề mang tính toán học. Khi nhắc đến thuật toán, người ta ngày càng mở rộng ý nghĩa của khái niệm này trong bối cảnh áp dụng khoa học công nghệ khi giải quyết các vấn đề bình thường nhất: nhà hàng nào bán món phở ngon nhất tại Hà Nội, thông tin gì đáng chú ý trên news feed cá nhân trên Facebook, hay tài xế Grab nào đang ở gần bạn nhất. Cách hiểu phổ biến này chỉ chú trọng đến một loại thuật toán rất cụ thể: thuật toán dùng để đưa ra quyết định. Giải thích một cách nôm na, thuật toán ứng dụng quyết định thường được dùng để tìm ra những giải pháp “tốt nhất”: hành động tốt nhất có thể đưa ra trong một tình huống nhất định, cách giải thích dữ liệu tốt nhất khi xử lý một khối dữ liệu, vân vân. Dưới cách hiểu này, thuật toán không chỉ làm tăng năng suất mà còn hoàn toàn thay thế hành vi phân tích và quyết định của con người. Cụ thể hơn, thuật toán thường hoàn toàn thay thế con người trong việc đưa ra các quyết định khi phạm vi hoặc quy mô của dữ liệu và các quy tắc liên quan đến việc xử lý dữ liệu này quá lớn hoặc quá phức tạp.  Ứng dụng của thuật toán mang tính phổ biến rộng rãi nhất trong cuộc sống hằng ngày, tuy nhiên, lại không nằm ở lĩnh vực tự động hóa quyết định. Trong sản xuất và chế biến tự động, việc áp dụng thuật toán để tự động hoá các công việc mang tính lặp đi lặp lại đã được thực hiện từ rất lâu. Việc sử dụng thuật toán trong tự động hóa quyết định khác với các ứng dụng phổ biến khác của thuật toán ở chỗ, thuật toán trong tự động hoá quyết định thường đưa ra các quyết định và giải pháp nhìn chung mang tính đáng tin cậy cao; tuy nhiên, các giải pháp này thường vô cùng chủ quan, và không nhất thiết là luôn đúng. Việc ứng dụng thuật toán trong tự động hoá quyết định thường gây nhiều tranh cãi, do thuật toán trong hạng mục này luôn dựa trên các quy tắc quá phức tạp, gây nhiễu và làm khó cho việc phân tích thẩm định tính chính xác và hệ quả đạo đức của các thuật toán này.   Ứng dụng thuật toán trong tự động hoá quyết định  Ứng dụng thuật toán trong tự động hoá quyết định tại các quốc gia phát triển ngày nay vô cùng đa dạng, bao gồm từ những mô hình đưa quyết định đơn giản đến những thuật toán định dạng hồ sơ phức tạp. Những ví dụ tiêu biểu nhất cho sự đa dạng này bao gồm các đại lý phần mềm trực tuyến được sử dụng bởi các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến thay mặt người dùng thực hiện các thao tác cần thiết trên môi trường mạng, thuật toán giải quyết tranh chấp trực tuyến thay thế con người ra quyết định hòa giải tranh chấp, hệ thống đề xuất và lọc so sánh và nhóm người dùng để cung cấp nội dung cá nhân hóa, hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng giúp đề xuất sử dụng thuốc và phương pháp điều trị cho bác sĩ, và thuật toán điều khiển hệ thống kiểm soát và dự đoán dự đoán các điểm nóng tội phạm nhằm hỗ trợ lực lượng cảnh sát điều tra. Sự áp dụng rộng rãi này không chỉ góp phần giúp các công việc trước đây thường đảm nhiệm bởi con người được thực thi một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, mà còn có khả năng thay đổi cách con người hiểu và nhìn nhận những công việc này. Ví dụ điển hình cho điều này là việc phân loại nhóm rủi ro cho người mua bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm lớn trên thế giới thực hiện lên mỗi khách hàng của họ. Các thuật toán phân tích xử lý dữ liệu với quy mô cao để xác định các yếu tố nào liên quan tới việc liệu người mua bảo hiểm thuộc đối tượng rủi ro cao hay thấp, và thuộc định loại rủi ro nào. Nếu trước đây công việc này được tỉ mẩn đánh giá bởi các nhân viên bảo hiểm dựa trên vài chục tiêu chí đánh giá, thì giờ đây thuật toán có thể xử lý hàng chục ngàn các yếu tố liên quan từ trực tiếp đến gián tiếp ảnh hưởng mức độ rủi ro của một khách hàng, và tối ưu hóa các gói bảo hiểm mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho họ.      Song song với việc hiểu được rằng thuật toán luôn luôn sẽ mắc sai lầm, dù nhỏ hay lớn, là việc thay đổi nhận thức luận về ứng dụng thuật toán và ảnh hưởng xã hội của nó.       Sự phức tạp của ứng dụng thuật toán lên các quyết định có hệ quả trực tiếp đến con người đồng nghĩa với việc khó khăn trọng lý giải tường tận và cụ thể quy trình cũng như logic của việc đưa ra các quyết định này. Con người, với ngôn ngữ và khả năng xử lý thông tin hạn hẹp hơn hẳn máy tính, khó lòng giải thích triệt để lý luận đưa ra quyết định của thuật toán. Hai cá nhân A và B có cùng độ tuổi, thu nhập, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, và thói quen sinh hoạt thể thao có để được phân loại vào hai nhóm rủi ro hoàn toàn khác nhau dựa trên phân tích của thuật toán, mà công ty bảo hiểm cũng như hai cá nhân này không thể đưa ra lý giải triệt để cho sự phân loại này. Hàng chục ngàn các yếu tố khác nhau, như việc cá nhân A đã lập gia đình, sinh sống tại khu vực tỉnh lẻ phía Bắc, sống chung với cha mẹ và ông bà, thường hay chơi game trực tuyến, và có thói quen uống bia rượu vào cuối tuần đều được thuật toán xử lý trong nháy mắt, cùng với tất cả các thông tin mà công ty bảo hiểm có thể thu thập được một cách tự động từ A, để đưa ra quyết định phân loại.    Công cụ nhận diện khuôn mặt của Amazon Rekognition đã nhầm lẫn 28 nghị sĩ Mỹ với tội phạm.   Vì sao thuật toán có thiên kiến?  Thiên kiến thuật toán thực chất không phải là một vấn đề mới. Ngay từ những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, Trường Y khoa Bệnh viện St. George, Vương quốc Anh đã từng bước đầu sử dụng một phần mềm máy tính sử dụng thuật toán để sàng lọc tự động việc tuyển chọn các ứng viên có nguyện vọng theo học tại ngôi trường này. Thuật toán này được thiết kế với khả năng bắt chước các quyết định tuyển sinh mà trường đã thực hiện trong quá khứ. Sau quá trình nghiên cứu đánh giá, kết quả cho thấy, có hơn 60 ứng viên bị loại khỏi danh sách phỏng vấn chỉ vì họ là phụ nữ, hoặc mang tên đến từ các quốc gia không thuộc khối châu Âu. Điểm đáng lo ngại của kết quả đánh giá này nằm ở chỗ, thuật toán được viết ra với mục đích đơn thuần là phát hiện và bắt chước những xu hướng tuyển sinh đã xảy ra trong quá khứ; người lập trình viên thiết kế ra chương trình này không hề có ý định phân biệt hay kỳ thị phụ nữ hay các ứng viên thiểu số đến từ các nước nằm ngoài khu vực châu Âu. Nói theo cách khác, đã từ rất lâu, việc thuật toán có thể làm lộ ra những thiên kiến được hằn sâu trong những quyết định do con người làm ra đã được chú ý tới bởi giới học thuật và các nhà làm luật. Không chỉ vậy, thuật toán còn có khả năng bao bọc những thiên kiến mang tính kỳ thị này dưới cái tên “khách quan” và “khoa học”, góp phần làm tăng sự thiếu công bằng trong các quyết định tự động hóa. Vào năm 1988, Ủy ban về sự bình đẳng chủng tộc của Vương quốc Anh đã kết luận rằng Trường Y St. St. George vi phạm phân biệt chủng tộc và giới tính trong quá trình tuyển sinh, và yêu cầu ngôi trường này ngưng sử dụng phần mềm với thuật toán đã gây nên sự phân biệt với các ứng viên nữ và không mang quốc tịch châu Âu.   Gần đây hơn, vào năm 2015, khi các nhà nghiên cứu tại Đại học Carnegie Mellon sử dụng một công cụ có tên AdFisher để theo dõi và đo đạc mức độ thành công của quảng cáo trực tuyến bằng cách mô phỏng hành vi duyệt web của phái nam và phái nữ khi tìm kiếm việc làm trực tuyến. Họ đã vô cùng bất ngờ khi kết quả cho thấy hệ thống quảng cáo của Google liệt kê các công việc thu nhập cao cho nam giới với tỷ lệ cao hơn gấp sáu lần so với tỷ lệ hiển thị cùng cho phụ nữ. Họ kết luận rằng thuật toán quản lý việc hiển thị quảng cáo việc làm của Google, dù vô tình hay cố tình, đã mang tính kỳ thị giới tính. Trong một nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu từ Đại học Washington đã phát hiện ra rằng khi người tại Mỹ dùng nhập từ khoá “CEO” vào công cụ Google Image, kết quả tìm kiếm chỉ cho thấy 11% hình ảnh CEO phụ nữ. Tỉ lệ này phản ánh sai hiện thực rằng 27% CEO tại Mỹ là phụ nữ, và do đó góp phần làm hằn sâu tư duy kỳ thị giới tính khiến cho phái nam giữ vững hình ảnh lãnh đạo trong kinh doanh. Một nghiên cứu thực hiện bởi đại học Harvard vào năm 2012 cũng kết luận rằng quảng cáo cho các dịch vụ trực tuyến giúp tra cứu hồ sơ bắt giữ xuất hiện thường xuyên hơn khi người dùng internet tại Mỹ nhập vào các tên gọi của người Mỹ gốc Phi. Định kiến về giới tính và chủng tộc thường ăn sâu vào các thuật toán tưởng chừng như rất công bằng và minh bạch.   Một điều đáng lưu tâm là việc các thuật toán thường được thiết kế và sử dụng khi không có phương pháp nào đáng tin cậy hơn có thể được sử dụng. Thuật toán không bao giờ là hoàn hảo. Song song với việc hiểu được rằng thuật toán luôn luôn sẽ mắc sai lầm, dù nhỏ hay lớn, là việc thay đổi nhận thức luận về ứng dụng thuật toán và ảnh hưởng xã hội của nó.   Một số vấn đề mở trong thiên kiến thuật toán  Nhìn từ góc độ pháp lý, thiên kiến thuật toán được nhìn nhận một các khác nhau ở châu Âu và Mỹ. Liên minh châu Âu đã thông qua và chính thức đưa vào hiệu lực Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (GDPR) vào năm 2018. GDPR bao gồm quy định quan trọng về quyền được giải trình, theo đó công dân châu Âu có quyền được đòi hỏi các đơn vị kiểm soát và xử lý thông tin cung cấp một lời giải thích thỏa đáng về cách thức, lý do, bối cảnh, yều cầu, và các kết cấu phân loại mà đơn vị này đã sử dụng trong quá trình đưa ra quyết định liên quan đến họ một cách tự động hóa. Quy định này đi ngược lại với cách hiểu của Mỹ về thuật toán; Mỹ cho rằng toán là sản phẩm trí tuệ mang tính độc quyền, và do đó người viết ra thuật toán và các công ty kinh doanh dựa trên thuật toán được giữ bí mật thuật toán của họ một cách hợp pháp nhằm tránh sự dòm ngó của các đối thủ cạnh tranh và công chúng nói chung.   Từ góc độ học thuật, ứng dụng thuật toán hiện nay đưa ra nhiều vấn đề đạo đức phức tạp còn bỏ ngỏ. Nhóm nghiên cứu tại Đại học Oxford đề xuất sáu lĩnh vực đạo đức cần được nghiên cứu dựa trên đánh giá thi hành thuật toán rộng rãi trên toàn khối châu Âu như sau:   1. Bằng chứng không đủ tính kết luận: thuật toán đưa ra kết luận từ dữ liệu thông qua các phương pháp số liệu thống kê suy luận hoặc/và các kỹ thuật học máy (machine learning). Loại kiến thức được tạo ra từ các phương pháp này luôn mang xác suất; tuy xác suất chuẩn xác của các kết luận này thường là cao (tùy vào mức độ định nghĩa giới hạn xác suất của người thiết kế thuật toán), kết luận đưa ra bởi thuật toán luôn luôn không chắc chắn. Tuy vậy, các tổ chức cơ quan xã hội thường có xu hướng phớt lờ, hoặc không hiểu rõ đặc tính hoạt động của thuật toán, và đánh đồng lượng dữ liệu và khả năng xử lý dữ liệu chóng mặt của quy trình tự động hóa quyết định với chất lượng của quyết định được thuật toán đưa ra.   2. Bằng chứng không thể dò xét: Khi dữ liệu được sử dụng (hoặc được xử lý để tạo ra) kết luận, một yêu cầu hợp lý cho quá trình này là việc người dùng có quyền đòi hỏi lý giải sự tương quan giữa dữ liệu được dùng và kết luận. Cụ thể hơn, việc giám sát mối quan hệ giữa dữ liệu đi vào và kết luận đi ra cần được mang ra tranh luận công khai, nhằm tránh việc thuật toán bị lạm dụng vì mục đích xấu. Tuy nhiên, bởi các vận hành tự động với quy mô lớn của thuật toán và các ứng dụng sử dụng thuật toán, việc dò xét bằng chứng và đánh giá chất lượng từ bằng chứng đến kết luận một cách thủ công là vô cùng khó khăn và tốn thời gian.   3. Bằng chứng dẫn dắt sai lầm: một số lý thuyết định lượng truyền thông, đặc biệt là mô hình toán học về truyền thông của Shannon và Weaver, xuất bản năm 1998, đã từ lâu nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng bằng chứng trong việc đánh giá chất lượng mô hình xử lý dữ liệu. Shannon và Weaver tóm gọn quy tắc này trong câu nói bất hủ ‘garge in, garbage out’, tạm dịch là ‘nếu đầu vào là rác, thì chắc hẳn đầu ra cũng không thể nào khác hơn’. Với số lượng loại dữ liệu khổng lồ mà thuật toán được thiết kế để xử lý, việc rà soát độ ‘rác’ của dữ liệu đi vào là hầu như không thể.    4. Kết quả thiếu công bằng: Các quyết định đưa ra bởi thuật toán có thể được đánh giá theo nhiều tiêu chí và nguyên tắc đạo đức khác nhau; liệu tác động của một quyết định tự động hóa có công bằng hay không phụ thuộc vào đối tượng chịu thiệt thòi từ quyết định đó. Ngay cả khi một quyết định được đưa ra trên cơ sở bằng chứng thuyết phục, xem xét kỹ lưỡng và có căn cứ, không ai có thể cam đoan rằng các nhóm xã hội cần được bảo vệ (như phụ nữ, nhóm sắc tộc thiểu số, nhóm xu hướng tính dục thiểu số) không chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những quyết định này trên diện rộng.   5. Hệ quả mang tính biến đổi vĩ mô: Các hoạt động dựa trên thuật toán, điển hình như việc lập hồ sơ con người và chia họ vào các nhóm khác nhau, có khả năng tái định hướng cấu trúc xã hội thông qua cách hiểu và lập luận theo lý luận của thuật toán. Luciano Floridi, triết gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực lý luận thông tin, nhận định rằng tư duy thuật toán có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận thế giới, và từ đó thay đổi tổ chức chính trị xã hội theo tư duy thuật toán.   6. Khả năng truy xuất nguồn gốc: tác hại gây ra bởi ứng dụng thuật toán thường rất khó để gỡ lỗi, từ việc phát hiện tác hại đến việc tìm ra nguyên nhân. Khó hơn nữa là việc xác định ai phải chịu trách nhiệm về tác hại gây ra bởi thuật toán.   Sáu vấn đề nêu trên đặt ra một số câu hỏi còn bỏ ngỏ trong vấn đề thiên kiến thuật toán mà các nhà khoa học cũng như các nhà làm luật đang ngày càng quan tâm tìm cách giải quyết. Làm thế nào để có thể thiết kế ra các hệ thống thuật toán khiến con người có thể hiểu được mà vẫn không làm giảm hiệu suất của tự động hóa? Làm thế nào có thể đạt được tính minh bạch và trách nhiệm trong hệ thống thuật toán không thể dò xét được bởi con người? Làm thế nào để chỉ ra những tương đồng giữa các hệ thống đang dần được giới thiệu vào thị trường nhằm mục đích xác định các yêu cầu trách nhiệm đạo đức? Câu trả lời vẫn chờ đợi chúng ta trong tương lai. □    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Mặt trăng không phản chiếu ánh sáng      Phải chăng Edward Munch đã đãng trí khi bỏ quên ánh sáng phản chiếu của trăng trong nhiều bức tranh của ông? Không, ông đã tuân theo các quy luật quang học.    Edward Munch (1863-1944), họa sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện trong hội họa, ngay từ khi mới khởi nghiệp vào cuối thế kỷ XIX, đã để lại rất nhiều bức tranh in đậm nỗi buồn và hoài niệm như: Đứa trẻ ốm, Tiếng kêu, Đêm… Đây đều là những bức tranh khá nổi tiếng và gây được sự chú ý nhất định. Tuy nhiên, phải bước sang thế kỷ XX, ông mới đạt đến “thời hoàng kim” của mình. Thời kỳ này tranh của ông sống động và mạnh mẽ hơn, mà điển hình là bức Thiếu nữ trên bờ đê. Ông vẽ cảnh này trong mùa hè năm 1901 ở Asgardstrand, một bãi tắm ở bờ Tây của Vịnh Oslo. Năm 1933, giám đốc Trung tâm triển lãm mỹ thuật Quốc gia Oslo đã coi bức Thiếu nữ trên bờ đê là “bức tranh lớn nhất và nổi tiếng nhất trong các bức tranh của Munch”. Bức tranh đặt ra hai câu hỏi khó cho các nhà thiên văn học. Thiên thể được vẽ bên trái bức tranh là Mặt trăng hay Mặt trời? Lúc bắt đầu mọc hay lúc đang lặn? Hay phải chăng đó là Mặt trời giữa đêm? Và tại sao người ta không thấy ánh sáng phản xạ của thiên thể này xuống mặt nước? Donald Olson và các đồng nghiệp của ông tại ĐH Texas đã tìm ra câu trả lời.                     Mặt trời mọc giữa đêm bị loại ngay từ đầu, bởi Asgardstrand nằm ở phía Nam của Bắc Cực. Ở khu vực này, vào thời điểm hạ chí, Mặt trời không xuất hiện. Còn về câu hỏi đó là Mặt trăng hay Mặt trời, một số người bảo đó là Mặt trăng, nhưng một số người lại khẳng định đó là Mặt trời. Vậy chỉ còn cách đến tận nơi họa sĩ đã từng vẽ bức tranh.  Các nhà thiên văn học đã dễ dàng tìm thấy chỗ Munch đặt giá vẽ, và họ đã đưa ra được rất nhiều thông số. Họ đã chứng tỏ rằng Munch đã vẽ một thiên thể mà ông nhìn thấy ở một phương vị 63 độ. Các thiên thể nhìn thấy được trong vùng trời này, nhìn từ Asgardstrand có một độ lệch (góc giữa một vật và xích đạo Mặt trời) khoảng -18 đến – 20 độ. Kết quả là, thiên thể không thể là Mặt trời (vì Mặt trời luôn nằm ở phía Bắc của xích đạo Mặt trời vào mùa hè, nghĩa là có độ lệch dương). Thiên thể được vẽ vì vậy phải là Mặt trăng.  Bây giờ chúng ta còn cần phải giải thích tại sao Mặt trăng không toả ánh sáng xuống mặt nước vịnh Oslo? Một số người đã đưa ra cách giải thích rằng Mặt trăng mà họa sĩ vẽ chỉ mang tính tượng trưng. Thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Khi vẽ bức tranh này, Munch ngồi cách mặt nước 3,4 mét và tầm nhìn của ông hướng xuống phía dưới bức tường bao quanh nhà màu trắng phía trên đầu các cô gái. Ngôi nhà dưới trăng cách chỗ họa sĩ ngồi vẽ 100 mét và cao hơn mặt nước biển 15 mét. Hình minh họa bên cho chúng ta biết rằng đường thẳng nối họa sĩ với mái nhà tạo thành một góc 6,6 độ so với đường chân trời. Hình ảnh của mái nhà như vậy được nhìn thấy dưới mặt nước biển 15 mét, tức là 18,4 mét (15+3,4) “dưới” đường chân trời của họa sĩ (tức là với một góc 10,4 độ). Bằng tính toán người ta có thể xác định được rằng Mặt trăng được nhìn ở góc 8 độ phía trên đường chân trời, tức là phía trên ngôi nhà. Phản ảnh của Mặt trăng cũng sẽ phải được nhìn ở góc tương tự, nhưng hướng nhìn này đã bị phản ảnh của ngôi nhà choán mất. Như vậy, bóng trăng không thể xuất hiện. Hiện tượng này cũng giải thích tại sao mái nhà và phản ảnh của nó không giống nhau.  Mặc dù cuộc sống của Munch phải trải qua đầy những bi kịch nhưng như chúng ta vừa thấy ông không vì thế mà đánh mất khả năng suy xét.  Chú thích hình vẽ: Các định luật về phản xạ giải thích tại sao không có bóng trăng xuống mặt nước. Họa sĩ ngồi cao hơn mặt nước biển 3,4 mét. Vì Mặt trăng nằm ở khoảng cách (gần như) vô hạn, nên góc phản xạ trong nước bằng với đường chân trời (màu đỏ) của người quan sát. Tuy nhiên, hình ảnh được phản chiếu của ngôi nhà, được nhìn dưới một góc độ khác với góc mà ngôi nhà thật tạo thành, đã khiến họa sĩ không thấy Mặt trăng tỏa bóng xuống nước.  Ngô Vũ  Dịch từ Pour la Science, số 351, tháng 1/2007      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mặt trời từng có rất nhiều chị em      Mặt trời, ngôi sao màu vàng có kích thước trung bình, khi sinh ra không hề cô độc mà có hàng trăm nghìn anh chị em.    “Bằng chứng về chị em của mặt trời được tìm thấy trong những ‘người con’ của nó , chẳng hạn như những phân tử bị phá huỷ từ chất đồng vị phóng xạ của sắt, bị kẹt trong những thiên thạch còn sót lại của hệ mặt trời thời kỳ đầu”, nhà nghiên cứu Leslie Looney tại Đại học Illinois, Mỹ, cho biết.  Những “người con” này cho phép Looney và cộng sự nhận ra rằng một ngôi sao băng có khối lượng bằng 20 lần mặt trời đã nổ tung gần với mặt trời khi nó hình thành 4,6 tỷ năm trước. Và ở nơi có những sao băng hay ngôi sao khổng lồ thì bạn cũng nhìn thấy hàng trăm nghìn ngôi sao khác giống mặt trời.  Tập hợp của hàng nghìn ngôi sao này đã bị giải tán từ hàng tỷ năm trước do thiếu sức hút của trọng lực, khiến cho các chị em mất hút trong không trung và mặt trời trở thành đứa con cô độc từ hồi đó.  M.T. (theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máu muỗi tiết lộ lịch sử nhiễm bệnh ở người      Mới đây, các nhà khoa học đã đưa ra một phương pháp sáng tạo, phân tích mẫu máu muỗi hút lần cuối để tìm bằng chứng nhiễm bệnh ở người hay động vật. Trình bày tại Đại hội quốc tề về bệnh truyền nhiễm tại Kuala Lumpur vào 20/11, các nhà khoa học cho biết có thể dùng phương pháp này để nghiên cứu trước đây người và động vật đã tiếp xúc với những mầm bệnh nào, đồng thời tránh được các vấn đề đạo đức và thực tiễn khi xét nghiệm trực tiếp.    “Đây là một phương pháp thú vị và mới lạ, cho thấy những cách sáng tạo khi nghiên cứu các yếu tố môi trường xung quanh chúng ta để hiểu thêm về việc tiếp xúc với bệnh tật”, nhà khoa học về vaccine Shelly Bolotin tại Đại học Toronto ở Canada, cho biết.  Phương pháp này cũng có thể hỗ trợ việc phát hiện sớm ở động vật những căn bệnh như Ebola và SARS-CoV-2, Niels Verhulst, nhà nghiên cứu các mầm bệnh truyền từ côn trùng tại Đại học Zürich, Thụy Sĩ, cho biết. Và nó có thể giúp các nhà khoa học xác định động vật nào là vật chủ của một loại virus mới, Verhulst nói thêm, ông đã thử nghiệm phương pháp này.  Các nghiên cứu trước đã phát hiện việc tiếp xúc với mầm bệnh trước đây bằng cách xét nghiệm máu để tìm kháng thể, những dấu hiệu nhiễm bệnh trong quá khứ có thể tuần hoàn trong máu hàng tháng tới hàng năm trời, từ các vật chủ cụ thể. Phương pháp này từng được nhà sinh thái học bệnh tật Carla Vieirra tại Viện Nghiên cứu Y khoa QIMR Berghofer ở Brisbane, Úc sử dụng, nó có thể phát hiện kháng thể trong máu từ một loạt động vật và người.  Vieirra tập trung vào virus sông Ross, một bệnh do muỗi lây truyền có thể gây suy nhược, đây là căn bệnh đặc thù ở Úc và các đảo nam Thái Bình Dương. Virus này thuộc về một họ gồm sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản và sốt vàng da.  Vieira cùng các cộng sự đã bẫy khoảng 55.000 con muỗi trong các công viên ở Brisbane vào năm 2021 và 2022. Từ những con muỗi vừa hút máu, họ vắt ra vài mililit máu và xét nghiệm nó để tìm kháng thể có thể liên kết với virus sông Ross.  Trong các kết quả sơ bộ trình bày tại hội nghị, Vieira báo cáo bắt được 480 con muỗi đã hút no máu. Hơn một nửa trong số này đã hút máu ở người, khoảng 9% ở bò, và 6% ở kangaroo, ngoài ra còn có các con vật khác. Trong 253 mẫu từ người, hơn một nửa có kháng thể với virus sông Ross, đây là một con số rất cao. Gần ba phần tư các mẫu từ bò và kangaroo cũng có bằng chứng về việc tiếp xúc với mình trong quá khứ.  Trong một nghiên cứu riêng biệt được đăng vào tháng Một, Verhulst cùng đồng nghiệp đã phát hiện các kháng thể với SARS-CoV-2 và ký sinh trùng Toxoplasma gondii trong máu mà muỗi hút từ động vật, bao gồm cả lạc đà không bướu và mèo.  Về lý thuyết, phương pháp này có thể được dùng “đối với hầu hết mọi mầm bệnh gây ra phản ứng miễn dịch trong vật chủ”, nhà côn trùng học và ký sinh trùng Carl Lowenberger tại Đại học Simon Fraser ở Vancouver, Canada, cho biết.  Kỹ thuật này rất thú vị và có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu một số bệnh mà chúng ta chưa hiểu rõ, chẳng hạn bệnh viêm não Nhật Bản ở Úc, một nhà sinh thái học bệnh tật Eloise Skinner tại Đại học Griffith ở Gold Coast, cho biết. “Nhưng nó cũng có những giới hạn lớn”. Ví dụ, dữ liệu thiếu chi tiết về vị trí của người và động vật phơi nhiễm, và khi nào họ nhiễm bệnh. Đây là những hạn chế khi sử dụng phương pháp này để giảm thiểu rủi ro lây nhiễm virus.  Một nhược điểm khác của kỹ thuật này là nó không làm rõ tỷ lệ mẫu máu chứa kháng thể phản ánh tỷ lệ người nhiễm bệnh chính xác thế nào, nhà dịch tễ học y tế David Harley tại Đại học Queensland ở Brisbane, cho biết. Nhiều con muỗi có thể đã cắn cùng một người.  Cũng rất khó bắt được những con muỗi đã hút no máu, điều này hạn chế việc sử dụng kỹ thuật này để giám sát bệnh bùng phát. Dựa trên việc muỗi bị thu hút bởi khí carbon dioxide, Verhulst và đồng nghiệp đã tạo ra một hỗn hợp được sản xuất bằng cách lên men mật mía để bắt được nhiều muỗi đã hút máu hơn so với khi không dùng hỗn hợp này. Họ hy vọng sẽ sớm có thể thử nghiệm phương pháp này ngoài phòng thí nghiệm.□  Phương Anh lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-04125-1    Author                .        
__label__tiasang Màu sắc và sự hình thành tư duy của loài người.      Một nhà khoa học đang làm việc ở Châu Phi tuyên bố rằng các bằng chứng được tìm thấy ở Châu Phi đã cho thấy con người đã biết sử dụng màu sắc để làm biểu tượng cách đây có lẽ khoảng 200.000 năm về trước.    Đó là nhà khoa học Lawrence Barham. Ông đã nghiên cứu các dụng cụ và các đồ tạo tác khác được những người cổ đại để lại tại một vùng ở Zambia. Ông cho rằng các loại chất màu vô cơ hoặc đất son được tìm thấy ở vùng này cho thấy người cổ đại sử dụng sơn có thể là để vẽ các biểu tượng lên cơ thể. Đây là một ví dụ cho thấy con người có tư duy trừu tượng và nếu điều này là đúng thì thời điểm con người có tư duy trừu tượng trong một ví dụ được phát hiện lần đầu tiên trước đây sẽ phải lùi lại ít nhất là 100.000 năm về trước.  Có khả năng tạo ra các ý tưởng trong não – khả năng lấy vật này để biểu tượng cho một vật khác – là một bước đại nhảy vọt trong sự tiến hóa của loài người.  Chính hoạt động về tư duy cho phép con người phát triển ngôn ngữ và kĩ năng toán học phức tạp sau này. Lâu nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng những vỏ sò được xâu lại thành các sợi dây chuyền hoặc vòng đeo tay được tìm thấy ở Irsael là bằng chứng cổ xưa và rõ ràng nhất chứng tỏ khả năng hình thành ý tưởng ở loài người. Nhưng tiến sĩ Barham, nhà nghiên cứu của trường đại học Liverpool, cho biết thật khó để chấp nhận rằng con người không có những hoạt động tư duy như thế sớm hơn thời điểm khoảng hơn 200.000 năm về trước trong các tài liệu của ngành khảo cổ học.  Ông nói: “Là một nhà khảo cổ học, tôi rất quan tâm đến việc tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi biểu tượng về màu sắc của con người xuất hiện lần đầu tiên ở đâu bởi vì để các biểu tượng về màu sắc có ý nghĩa thì nó phải được kết hợp chặt chẽ với ngôn ngữ.”  Trước đây có rất nhiều lập luận cho rằng con người đã có các suy nghĩ trừu tượng từ rất lâu cách đây hàng trăm ngàn năm về trước. Đa số các lập luận đó đều gắn liền với các tảng đá được cho là miêu tả hình dáng con người.  Ví dụ như bức tượng đá Berekhat Ram được tìm thấy ở Isarel và tượng đá Tan-Tan đuợc tìm thấy ở Ma Rốc được cho là tác phẩm của kiểu người Homo erectu. Nhưng các nhà nghiên cứu khác nghi ngờ rằng những tượng đá này chỉ là sản phẩm của quá trình phong hoá của thiên nhiên mà thôi. Chúng là những vật thể được tình cờ tạo thành hình dáng của một con người qua các quá trình địa chất.  Và tiến sĩ Barham biết rằng ông sẽ có một cách nào đó để thuyết phục các đồng nghiệp của ông về trường hợp nghiên cứu của ông.  Ông phát biểu với BBC News: “Các nhà khảo cổ học là những người rất cẩn thận. Chúng tôi đặt ra các chuẩn mực cao cho việc công nhận cách giải thích dựa dựa trên khả năng hình thành biểu tượng ở con người”.   Theo BBC News  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy ảnh cho người đãng trí      SenseCam là tên loại máy ảnh tí hon có thể đeo trên cổ như một sợi chuyền và tự động chụp hình để trợ giúp cho những người có trí nhớ kém.    Có kích thước chỉ bằng một lá bài và ống kính có thể xoay chuyển linh hoạt, máy ảnh có thể chụp chân dung, phong cảnh và các sự kiện mới nhất. Nó có thể hoạt động như  một “nhật ký bằng hình ảnh” để giúp người sử dụng tìm lại những điều đã quên. Chỉ với hai cục pin nhỏ loại AA, máy tí hon này có thể hoạt động liên tục 12 tiếng đồng hồ và chụp khoảng 2.000 tấm hình cỡ 64 kilobytes, có sức chứa độ 128 MB. Thực ra, sáng kiến này của Bộ phận nghiên cứu của Microsoft tại Anh quốc có mục đích chính là ứng dụng cho ngành đồ chơi. Nhưng nó lại được khắp nơi nồng nhiệt đón nhận và được xem như một phát minh hữu hiệu nhằm hạn chế những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt là đối với những người có trí nhớ kém vì những bức hình chụp liên tục sẽ giúp họ nhớ lại những thứ đã quên. http://www.newscientist.com/channel/info-tech/mg18625066.700    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay an toàn như tàu thủy      Trung Quốc đã phát triển thành công một chiếc máy bay “Wing-In-Ground” có thể bay đường dài nhưng ở độ cao chỉ cách mặt biển nửa mét.  Máy bay có thể đạt tốc độ tới 300 km/giờ và có thể mang tới 4 tấn hàng.    “Nó an toàn như tàu thuỷ, song lại nhanh gấp 4-5 lần”, giáo sư Xu Zhengyu, Phó chủ tịch nhóm nghiên cứu tại Đại học Tongji ở Thượng Hải, cho biết.  “Và nó có thể chở nặng hơn nhiều so với các máy bay thông thường trong khi chi phí chỉ bằng một nửa và sử dụng một nửa số nhiên liệu”.  Hiệu quả mà Wing In Ground có được là nhờ giảm được lực cản khi máy bay đạt độ cao gần gấp đôi chiều dài sải cánh so với bề mặt đất hoặc các bề mặt khác như mặt biển.  Còn theo phân tích của tờ China Daily, “động lực của hiệu ứng mặt đất sẽ bổ sung lực nâng khi bay ở độ cao rất thấp, do đó máy bay có thể bay gần mặt nước rất hiệu quả.”  Xu cho biết loại máy bay này có thể dùng cho mục đích quân sự hoặc tuần tra biên giới.  Đại học Tongji dự định sẽ chế tạo một chiếc WIG 50 chỗ ngồi vào năm 2013, và 200 chiếc có thể chở từ 200 đến 400 tấn hàng vào năm 2016 hoặc 2017.  T. An (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay bay liên tục 21 ngày      Công ty Hybrid Air  Vehicles (HAV, Anh Quốc) mới đây đã cho ra mắt loại thiết bị bay HAV304 có tên  Airlander, nặng 38 tấn, kích thước dài-rộng-cao 91x34x26 m, thân thiện  với môi trường và bay lâu nhất thế giới.    Vài năm trước, chiếc HAV Airlander đầu tiên được thiết kế chế tạo để bán cho quân đội Mỹ để thực hiện giám sát trên không tại chiến trường Afghanistan. Nó từng nhiều lần bị đạn bắn thủng nhưng vẫn có thể tiếp tục bay. Do Chính phủ Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng, tháng 11/2013, quân đội Mỹ phải bán lại chiếc Airlander này cho công ty HAV với giá 301.000 USD, chưa bằng 1% giá mua.   Nhìn bên ngoài, Airlander giống như chiếc khí cầu siêu lớn, là thể hỗn hợp của máy bay, phi thuyền, máy bay lên thẳng, và thủy phi cơ. Nó có thể dừng một lần tại cùng một điểm trên không trung lâu tới 21 ngày, hoặc có thể bay liên tục vòng quanh trái đất hai vòng. Nó cũng có thể điều khiển từ xa bằng vô tuyến, tức không cần người lái. Airlander có thể hạ cánh trên một khoảnh đất nhỏ, hạ cánh trên mặt nước và trên băng. Nó thuộc loại Hybrid Air Vehicles, tức máy bay dùng động cơ hỗn hợp chạy bằng hai hoặc hơn hai dạng năng lượng. Điều đặc biệt là loại máy bay này sử dụng khí helium chứ không dùng hydrogen như trước kia, loại khí từng gây ra những tai nạn nổ khí cầu.  Airlander dài hơn 18 m so với loại máy bay chở khách lớn nhất hiện nay là Airbus 380 và Boeing 747-8; dài hơn 9 m so với chiếc Antonov An-225, loại máy bay chở hàng dài nhất thế giới do Liên Xô cũ chế tạo.  Airlander có giá thành chế tạo là 60 triệu Bảng Anh (100 triệu USD). HAV dự kiến sẽ nâng tải trọng của nó lên tới 50 tấn hàng, tức gấp đôi máy bay lên thẳng, hoặc 1.000 người. Hiện nay công ty HAV đã được chính phủ Anh tài trợ 2,5 triệu Bảng (4,1 triệu USD).   Ông Vince Cable, Bộ trưởng Thương mại Anh, nói: “Chính phủ sẽ đầu tư tổng cộng 2 tỷ Bảng cho việc nghiên cứu chế tạo loại máy bay thế hệ mới ít tiếng ồn, sử dụng năng lượng hiệu quả và thân thiện môi trường hơn… Khoản kinh phí này bao gồm cả đầu tư cho dự án Hybrid Air Vehicles nghiên cứu phát triển loại máy bay mới thải ít carbon, sao cho nước Anh giữ được vai trò dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ mới này.”   Công ty HAV dự định sản xuất 1.000 chiếc Airlander trong các thập niên tới, với tốc độ mỗi tháng một chiếc.   Hậu thuẫn cho dự án chế tạo loại máy bay nói trên là một nhóm người luôn luôn yêu cầu sáng tạo cái mới; trong đó có Bruce Dickinson, ca sĩ hàng đầu của ban nhạc Iron Maiden, đồng thời là phi công kiêm doanh nhân và nhà đầu tư cho dự án HAV.  Ông nói: Chiếc máy bay này sẽ thay đổi quy tắc trò chơi, nó sẽ ảnh hưởng tới công nghiệp hàng không và phương thức tư duy đổi mới của loài người… Nó thân thiện với môi trường hơn 70% so với các loại máy bay chở hàng thông thường, cũng chẳng cần tới đường băng cất cánh và hạ cánh… Nó đạt được mọi ước mơ của tôi, sẽ bay từ Bắc Cực đến Nam Cực… Chúng tôi sẽ bay qua Amazon ở độ cao 6m và qua những thành phố lớn nhất thế giới và phát đi quá trình bay trên internet.   Công ty HAV dự kiến sẽ cho Airlander bay chuyến đầu tiên vào cuối năm nay. Họ hy vọng các công ty dầu mỏ hoặc khai thác khoáng sản sẽ mua loại máy bay này để chuyên chở các thiết bị nặng tới mọi địa điểm trên khắp thế giới. Nhưng họ cũng muốn nó có thể phục vụ các nhiệm vụ nhân đạo như chở hàng hóa cho vùng bị thiên tai.    Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay chống không tặc      Các nhà khoa học Pháp đang nghiên cứu chế tạo một loại máy bay có thể chống không tặc. Máy bay được trang bị một máy tính, ghi nhận các cử chỉ bất thường của hành khách và một hệ thống tránh va chạm giúp điều chỉnh đường bay để tránh việc máy bay bị bọn khủng bố cướp và cho đâm vào núi hoặc tòa nhà cao tầng.    Nhóm chuyên gia cũng đang nghiên cứu để tạo ra một máy tính trên máy bay có thể tự động hướng máy bay đến sân bay gần nhất trong trường hợp bị không tặc. Giới khoa học hy vọng mô hình máy bay chống không tặc kể trên sẽ trở thành hiện thực vào năm 2008.  (Reuters)  C.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay giấy lên vũ trụ?      Nhật Bản có ý định cho một máy bay giấy lên tàu vũ trụ ISS bay trở về trái đất. Chuyên gia bậc thầy về gấp máy bay giấy, ông Takuo Toda đã giới thiệu ở Thủ đô Berlin về chiếc tàu lượn bằng giấy của mình. Liệu chiếc tàu lượn mong manh này có bốc cháy khi bay vào bầu khí quyển? Takuo Toda đã có câu trả lời về vấn đề này    Với đôi bàn tay khéo léo của mình với 70  thao tác gấp trong 5 phút ông Takuo Toda đã biến một tờ giấy hình vuông thành một tàu vũ trụ. Ông Toda là chủ một doanh nghiệp chuyên sản xuất máy công cụ ở Nhật Bản, nhưng ông hầu như dành toàn bộ tâm trí cho một hoạt động giải trí mà ông rất yêu thích, ông là Chủ tịch Hội gấp máy bay giấy của Nhật Bản (Jopa). Hiện nay ông đang  làm một tàu lượn bằng giấy để phi hành đoàn tàu vũ trụ quốc tế ISS có thể  thả chiếc máy bay này từ vũ trụ trở về trái đất.               Ông Takuo Toda cần năm phút để với 70  thao tác gấp  một mẩu giấy hình vuôngthành một vật thể bay trên vũ trụ.            Đầu tháng 5-2008, tạp chí SPIEGEL ONLINE đã đưa tin một nhóm chuyên gia ngành hàng không và vũ trụ  thuộc Đại học Tokyo đang nghiên cứu về một loại tàu lượn vũ trụ đặc biệt. Nhà nghiên cứu Shinji Suzuki phụ trách nhóm các nhà khoa học này hợp tác với Hội gấp máy bay giấy của Nhật Bản để chế tạo một mô hình tàu lượn vũ trụ có khả năng bay từ vũ trụ trở về trái đất.  Mô hình tàu lượn bằng giấy này tương tự như tàu con thoi Space Shuttle. Ông Shinji Suzuki nói ý tưởng làm tàu lượn vũ trụ đã có cách đây 10 năm, ông tư vấn cho Chủ tịch Hội gấp máy bay giấy Nhật Bản khi Hội làm một máy bay giấy dài 3 mét cho một chương trình truyền hình.     Trường Đại học Tokyo có một phòng thí nghiệm về tốc độ gió lên đến  Mach 7,  tức 8600 km/ giờ và với tốc độ gió này sẽ tác động vào máy bay giấy. Một vấn đề mà các nhà nghiên cứu và các chuyên gia gấp máy bay trăn trở là, liệu máy bay giấy có thể tồn tại khi bay vào bầu khí quyển không. Thực tế thử nghiệm đầu tiên đã thành công trong vòng 10 giây ở tốc độ  Mach 7, máy bay giấy chịu được áp lực cũng như nhiệt độ lúc cao nhất lên tới 200 độ Celsius.  Trong thực tế, tàu vũ trụ cỡ lớn như tàu con thoi của NASA lao vào trái đất với tốc độ từ Mach 20 trở lên, tức khoảng 25.000 km/giờ. Tàu sẽ bị nung nóng ở tốc độ đó và các kỹ sư của NASA đã tạo lớp vỏ giảm nhiệt. Khó khăn lớn nhất đối với các nhà chế tạo tàu bay giấy là khả năng chịu nhiệt của máy bay, để nó không bị bốc cháy khi bay vào quỹ đạo trái đất. Yếu tố then chốt ở đây là tốc độ máy bay gấp lao vào bầu khí quyển chậm hơn hẳn so với những con tàu cỡ lớn. Đây là lý do vì sao các nhà nghiên cứu cho rằng tàu bay giấy có nhiều cơ sở khẳng định sự tồn tại khi từ vũ trụ bay trở về trái đất. Tất nhiên tàu bay giấy sẽ trải qua các khâu xử lý đặc biệt để tăng khả năng chịu nhiệt. Một loại hóa chất làm tăng sức bền của giấy  đối với nhiệt độ cao cũng như đối với nước. Đó là loại giấy “có chất lượng như thuỷ tinh”.  Chiếc tàu bay giấy mà ông Toda  giới thiệu  tuần này tại Thủ đô Berlin có tên là “Orispace” và sẽ được đưa lên vũ trụ tới đây là “Orispace” dài 30 cm, rộng 10 cm và nặng 30 gram. Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Nhật Bản Jaxa có chương trình hỗ trợ dự án “tàu bay giấy” trong 3 năm, khoản tiền tài trợ mỗi năm là  300.000USD.                 Thử nghiệm trong kênh gió siêu âm: chiếc máy bay giấy dài 8 cm đã chịu được trongmười giây vận tốc Mach 7 – 8600 km/giờ.          Ba ngày sau khi xuất phát và lên đến độ cao 400  km thì “Orispace” sẽ quay trở lại trái đất. Trong trường hợp rất đặc biệt tàu bay giấy có thể bay khoảng một năm, thời gian bay trở về phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên.  Loại giấy đặc biệt mà ông Toda sử dụng là loại giấy làm bằng sợi mía tên là Bagasse. Loại giấy nặng và bền hơn so với các loại giấy thông thường, cấu trúc bề mặt của giấy trông như da voi. Cho đến nay ông Toda đã gấp khoảng 3000 máy bay giấy để làm quen với mọi thao tác. Ông Toda thử nghiệm nhiều loại băng dính để gia cố máy bay và tạo ra một loại hóa chất để tăng độ bền.     Qua thử nghiệm tại phòng thí nghiệm trường Đại học Tokyo chiếc máy bay giấy này đã chịu đựng trong 10 giây ở tốc độ Mach 7 – 8600 km/giờ. Lúc này nhiệt độ lên đến 200 độ C. Giấy sẽ  bốc cháy ở nhiệt độ 220 độ C.  Ông Toda hy vọng 2 năm tới những chiếc tàu bay giấy của ông sẽ được đưa vào thử nghiệm trong thực tế. Theo ông thì lý tưởng nhất là một nhà du hành vũ trụ Nhật Bản sẽ mang theo khoảng 20 tàu lượn “Orispace” do chính tay ông gấp lên vũ trụ, sau đó những tàu lượn này sẽ xuất phát từ tàu vũ trụ ISS bay ngược chiều với hướng bay của trạm vì qua đó tốc độ bay sẽ chậm hơn và giảm được nguy cơ bị bốc cháy để  từ đó bay về hướng trái đất.  Toda và nhóm các nhà nghiên cứu do Suzuki chủ trì cho rằng, thử nghiệm không bình thường này có thể có ý nghĩa về mặt khoa học nghiên cứu về những phác thảo mới đối với tàu vũ trụ  đưa trở lại trái đất. Và nếu những con tàu vũ trụ này cũng có thể bay vào quỹ đạo trái đất như tàu lượn Origami thì sẽ giảm chi phí tạo lớp vỏ chống nóng, đây là một vấn đề rất hóc búa và chưa được giải quyết đối với tàu  con thoi của Mỹ. Ông Toda thậm chí còn hy vọng đến một ngày nào đó tàu bay giấy sẽ được sử dụng làm phương tiện vận chuyển các nhà du hành vũ trụ bị ốm đau trở về trái đất: “bệnh nhân sẽ được đặt lên tàu bay giấy để trở về trái đất”. Các nhà khoa học Nhật Bản đang tiến hành những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này. Hiện nay  người ta chưa tính được thời gian bay cũng như địa điểm hạ cánh của máy bay giấy vì không thể theo dõi những máy bay giấy này khi chúng bay vào bầu khí quyển. Vì thế người ta hy vọng rằng 20 máy bay giấy được thả từ vũ trụ sẽ không hạ cánh tất cả xuống các đại dương. Nếu như một vài chiếc hạ cánh ở những vùng có con người sinh sống thì cần có những dẫn giải bằng nhiều loại ngôn ngữ về ý nghĩa và mục đích của thí nghiệm này.  Ông Toda đặc biệt nhấn mạnh, những sáng tạo của ông hoàn toàn không gây nguy hại đối với con người.  Những tàu bay giấy của ông sẽ từ từ hạ cánh hết sức nhẹ nhàng. Thậm chí ông còn chú ý không để các máy bay của ông có góc nhọn phòng khi nó có đụng vào ai đó khi tiếp đất cũng không gây thương tích cho người đó.    Theo Spiegel 18.6  Xuân Hoài       Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay không người lái phục vụ vận chuyển ở Kenya      Ở Châu Phi, người nông dân chủ yếu dùng lừa  để vận chuyển hàng hóa, bởi vậy họ không thể đi xa và chỉ có thể tiêu  thụ sản phẩm của mình ở địa phương. Thậm chí, nông sản sẽ bị hư hỏng nếu  không có nơi tiêu thụ và việc mua phân bón, giống má cũng khó khăn. Đã  đến lúc phải thay thế con lừa ở châu Phi.    Đã đến lúc lừa cũng phải học bay     Jonathan Ledgard là người phụ trách Afrotech – một cơ sở nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ tại Lausanne (Swiss Federal Institute of Technology in Lausanne – EPFL) chuyên phát triển các công nghệ phục vụ cho châu Phi. Theo Ledgard, “Người dân châu Phi muốn làm ăn buôn bán, nhưng gặp nhiều khó khăn vì thiếu phương tiện vận chuyển, chi phí vận tải khá đắt đỏ.”  Mới đây, Ledgard đã giới thiệu kế hoạch đầy tham vọng của ông tại Nairobi (Kenya), đó là xây dựng ở nước này một mạng lưới vận tải gồm các vật bay không người lái có thể đi từ làng này sang làng khác tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa. Để làm việc này, các nhà khoa học ở EPFL đã khởi động cuộc thi The Flying Donkey Challenge. Cuộc thi mời gọi các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới tham gia phát triển các vật thể bay kiểu mới có thể vận chuyển lượng hàng hóa lên tới 60 kg.   Không phải chỉ các chuyên gia Thụy Sỹ có ý tưởng này, hãng kinh doanh trên mạng Amazon cũng nuôi mộng cung cấp dịch vụ Prime Air, theo đó vật thể bay không người lái sẽ nhận giao hàng trong vòng 30 phút, trong khi hãng kinh doanh sách Zookal (Úc) dự kiến phối hợp với công ty startup Flirtey ở Sydney chuyển giao sách bằng máy bay trực thăng mini từ năm 2014. Dự án Matternet của Mỹ cũng có một kế hoạch tương tự trong việc cung cấp cho người dân ở các nước đang phát triển bằng phương tiện trên không. Tuy nhiên, nếu vật thể bay của Matternet chỉ nhằm vận chuyển các mặt hàng nhỏ gọn như thuốc men thì mục tiêu của Ledgard là vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn hơn như rau, quả tới các chợ ở cự ly tương đối gần. Mọi sự sẽ được xúc tiến từ tháng 4/2014: Ledgard và các cộng sự đã chọn 15 nhóm tham gia cuộc thi. Họ được trao 2 triệu USD để khởi động dự án, tức thiết kế, lắp các vật thể bay không người lái thích hợp.   Vòng chung kết sẽ diễn ra vào năm 2018: các đội thi phải chứng minh thành quả của mình bằng một chuyến bay vòng quanh Mount Kenya, đỉnh núi cao thứ hai ở châu Phi trong tối đa là 24 tiếng đồng hồ. Trên quãng đường bay dài khoảng 200 km, chúng phải ba lần tiếp nhận hàng, mỗi lần 20kg và giao hàng tại những địa điểm nhất định.   Đội thi sẽ bị mất điểm khi vật bay lệch ra khỏi hành lang bay đã quy định trước, hoặc làm hư hại hàng hóa mang theo và gây tổn hại ở những nơi chúng bay qua. Vật thể bay đạt tốc độ cao, giá thành rẻ và tiết kiệm năng lượng sẽ được thêm điểm. Ba con lừa bay xuất sắc nhất sẽ được trao một khoản tiền thưởng hai triệu USD, trong khi cá nhân kỹ sư xuất sắc sẽ được trao khoản tiền thưởng 1 triệu USD.   Công nghệ vận tải sinh lời  Ledgard là người Anh, đã có nhiều năm viết cho tờ Economist về châu Phi. Có thể nói ông là một người am hiểu về châu Phi. Ông tin rằng, dự án của mình sẽ được sự quan tâm của dư luận và “Nếu giá thành của vật thể bay vận tải dưới mức 2.000 USD thì công nghệ này có thể sinh lời.”  Những vật thể bay được kỳ vọng sẽ kết nối các ngôi làng ở Kenya – nhiều nơi trong số đó hiện nay ngay cả ô tô tải cũng không thể tiếp cận được, vì nước này chỉ có khoảng 11.000 km đường nhựa, phần lớn còn lại là đường cấp phối với rất nhiều ổ gà, ổ voi.   Ông Ledgard hy vọng từ năm 2020, hệ thống vật thể bay có thể nối liền vùng sâu vùng xa, các trang trại và cơ quan chính quyền ở các địa phương với thế giới bên ngoài. Để thực hiện được dự án, các nhà kỹ thuật phải chế tạo một loại thùng chuẩn dài khoảng 0,5 m để các vật thể bay có thể dễ dàng câu móc tự động. Các làng cũng phải thành lập các trạm để vật thể bay tới nhận hoặc giao hàng, tiếp nhiên liệu và sửa chữa khi bị hư hỏng. Vật thể bay phải bay trên một hành lang theo quy định nối liền các bãi đáp với nhau và ở độ cao từ 50 đến 300 mét.   Theo dự kiến, đến năm 2030, một mạng lưới vật thể bay toàn cầu sẽ được hình thành, bảo đảm vận chuyển hàng hóa an toàn đến các thị trường liên vùng và những vùng xa xôi hẻo lánh nhất mà hiện nay người ta đang phải vận chuyển hàng hóa đến bằng máy bay có người điều khiển. Đến khi đó, những chú lừa chỉ còn xuất hiện trong sở thú.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay mặt trời bay xuyên đêm      Zephyr-chiếc máy bay nhẹ chạy bằng năng lượng mặt trời – đã phá kỷ lục thế giới về hành trình bay không người lái dài nhất khi vận hành 54 giờ không nghỉ, kéo dài qua hai đêm.    Công ty quốc phòng Anh Qinetiq sản xuất chiếc Zephyr tin rằng, đây là lần đầu tiên một chiếc máy bay chạy năng lượng mặt trời có thể bay bằng năng lượng tự sinh lâu như vậy. Kỷ lục không người lái trước kia được lập năm 2001, khi một chiếc phản lực của không quân Mỹ bay hơn 30 giờ. Zephyr không phải là chiếc máy bay năng lượng mặt trời đầu tiên chạy xuyên đêm. Một chiếc khác, có tên là SoLong do công ty AC propulsion của Mỹ chế tạo đã bay 48 giờ liền năm 2005. Khác với Zephyr, chiếc SoLong không bay liên tục, mà thường xuyên lượn hoặc chao.  Cơ quan vũ trụ Mỹ NASA cũng đã chế tạo chiếc Pathfinder và Helios với mục đích thay thế các vệ tinh hoặc các phương tiện không người lái khác để khám phá các vật thể ngoài trái đất. Helios đã vỡ tan trong một chuyến bay năm 2003.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay năng lượng mặt trời lập kỉ lục bay lâu nhất      Ngày 3/7, máy bay Solar Impulse 2 đã phá vỡ  kỉ lục chuyến bay liên tục dài nhất bằng năng lượng mặt trời do một phi  công điều khiển. Solar Impulse 2 hạ cánh ở Sân bay Kalaeloa, Honolunu,  sau chặng bay kéo dài 4 ngày 21 giờ 52 phút, trải qua 7.212km từ Nhật  Bản tới Hawaii.    Solar Impulse 2 có vận tốc tối đa là 90 dặm/giờ (khoảng 145km/giờ). Trong chặng bay này, nó bay với vận tốc trung bình là 40 dặm/giờ và hoàn thành nhiệm vụ trong 117 giờ 52 giây. Để so sánh, một chiếc Boeing 777 với vận tốc tối đa khoảng 600 dặm/giờ (khoảng 966 km/giờ) có thể thực hiện cùng chuyến bay này trong khoảng 8,8 giờ.              Solar Impulse là tên dự án tư nhân thử  nghiệm máy bay sử dụng năng lượng mặt trời ở Thụy Sĩ do kỹ sư kiêm doanh  nhân André Borschberg và nhà tâm lí học kiêm phi hành gia Bertrand  Piccard đồng góp vốn thực hiện. Mẫu máy bay thứ nhất, Solar Impulse 1,  có thể duy trì bay trong 36 giờ. Chiếc máy bay này thực hiện chuyến bay  thử nghiệm lần đầu vào tháng 12/2009. Solar Impulse 2 được hoàn thiện  vào năm 2014, được trang bị nhiều pin mặt trời hơn, nhiều động cơ mạnh  hơn, cùng nhiều cải tiến khác.         Đây cũng là chặng bay dài nhất của Solar Impulse 2 trong hành trình bay vòng quanh thế giới do hai phi công Thụy Sĩ Bertrand Piccard và André Borschberg thay phiên điều khiển. Máy bay khởi hành từ Abu Dhabi (UAE) hồi tháng Ba và dự kiến sẽ quay trở về điểm xuất phát vào mùa hè này.    Do Solar Impulse 2 chỉ chở được một người nên hai phi công thay nhau lái. Trong chặng bay vượt Thái Bình Dương, Borschberg là người điều khiển (Piccard đợi trước ở Hawaii). Đây được coi là chặng bay nguy hiểm nhất trong toàn bộ hành trình bởi nếu gặp sự cố khẩn cấp, máy bay sẽ không có điểm hạ cánh. Không chỉ có thế, trong suốt gần năm ngày bay liên tục, để giữ Solar Impulse 2 đi đúng hướng, Borschberg chỉ chợp mắt ngủ 20 phút mỗi lần. Trên tài khoản Twitter cá nhân, ông chia sẻ bí quyết: “Yoga đã giúp tôi rất nhiều trong chuyến bay vượt Thái Bình Dương này, nó giúp tinh thần và đầu óc tôi được tỉnh táo.” Sau khi hạ cánh, vị phi công 62 tuổi nói: “Chuyến bay căng thẳng tới nỗi tôi chỉ có thể tập trung hết sức vào những gì đang diễn ra trước mắt và tìm cách duy trì năng lượng cơ thể cũng như sự tỉnh táo.”    Chuyến bay của Borschberg cũng phá vỡ kỷ lục bay một mình dài nhất do Steve Fossett lập năm 2006 với thành tích 76 giờ 45 phút.    Sau 12 năm nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển, Solar Impulse 2 là máy bay sử dụng năng lượng mặt trời đầu tiên thực hiện chuyến bay vòng quanh thế giới.    Tiếp theo, Solar Impulse 2 sẽ bay qua lục địa Mỹ với các trạm dừng chân là Phoenix và một trạm dừng chân khác chưa xác định ở Midwest. Sau đó, máy bay này sẽ bay qua Đại Tây Dương và dừng chân ở nam châu Âu hoặc bắc châu Phi trước khi kết thúc hành trình tại Abu Dhabi.    Qua chuyến đi này, Borschberg và Piccard muốn nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế về việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng các công nghệ sạch. Hai cánh của Solar Impulse 2 được gắn hơn 17.000 tấm pin mặt trời có nhiệm vụ trữ năng lượng đồng thời cung cấp năng lượng để máy bay sử dụng trong đêm.    Trang Bùi tổng hợp từ Nature và các báo nước ngoài    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay VAM_1: Danh và thực      Ngày 6/3, Hội đồng nghiệm thu Sở Khoa học – Công nghệ (KH-CN) TP.HCM đã xếp loại khá cho đề tài “Nghiên cứu, thiết kế và kiểm định máy bay nhỏ VAM-1 (Vietnam Association Mechanics – Hội Cơ học Việt Nam)” do GS. TSKH Nguyễn Xuân Hùng, Hội Cơ học Việt Nam, làm chủ nhiệm đề tài. Hướng tiếp theo là chế tạo máy bay VAM-2 có tỷ lệ nội địa hóa khoảng 70%. Và trong 5 năm tới, máy bay nhỏ sẽ trở thành một sản phẩm chủ lực, đặc biệt là trong ngành hàng không dân sự của TP.HCM. Còn ý kiến của KS Mai Thế Chiến ở Cục Hàng không Việt Nam về chiếc máy bay này thế nào?    Tất cả các thiết kế lắp lên tầu bay, động cơ và cánh quạt tầu bay, vật liệu sử dụng trên tầu bay cũng phải đáp ứng các quy định của “Tiêu chuẩn kỹ thuật” (ở Mỹ là TSO, ở Châu Âu là JTSO”) áp dụng cho từng loại thiết bị, vật liệu.  Tổ chức sản xuất: là cá nhân hoặc tập thể các cá nhân có đủ cơ sở nhà xưởng, hệ thống chất lượng, công nhân có tay nghề cao, máy móc gia công, thiết bị kiểm tra, thử nghiệm…   Tổ chức thiết kế và tổ chức sản xuất tầu bay thường là một, chẳng hạn như Boeing Company, AIBUS INDUSTRIE hay EUROCOPTER. Các tổ chức này được Nhà chức trách hàng không phê chuẩn, được giám sát chặt chẽ.  Trước khi bàn luận tiếp, chúng ta cũng nên tìm hiểu đôi chút về một số khái niệm trong ngành HKDD:  “Tầu bay” là tên gọi chung để chỉ máy bay cánh bằng (máy bay cánh cố định), máy bay trực thăng (máy bay cánh quay hoặc máy bay lên thẳng), tầu lượn, khí cầu… Máy bay cánh bằng và máy bay trực thăng còn được chia thành nhiều loại theo trọng lượng cất cánh hoặc theo chức năng sử dụng, chẳng hạn như máy bay vận tải thương mại loại lớn (trọng lượng cất cánh tối đa lớn hơn 5700 kg), máy bay siêu nhẹ (được lắp 01 động cơ, có không quá 02 ghế, trọng lượng cất cánh tối đa không quá 750 kg, tốc độ hạ cánh không quá 83,34 km/h)… Mỗi loại phải được thiết kế theo tiêu chuẩn ĐĐKB cho riêng mình. Chẳng hạn, máy bay vận tải thương mại loại lớn phải được thiết kế theo tiêu chuẩn JAR-25 (Châu Âu) hoặc FAR-25 (Mỹ), máy bay siêu nhẹ phải được thiết kế theo tiêu chuẩn JAR-VLA (Châu Âu) hoặc FAR-23 (Mỹ)… Động cơ máy bay thì được thiết kế theo tiêu chuẩn JAR-E (Châu Âu) hoặc FAR-33 (Mỹ). Khinh khí cầu hoặc tầu lượn… cũng đều phải được thiết kế và sản xuất theo các tiêu chuẩn ĐĐKB riêng cho mỗi loại.       Phê chuẩn tầu bay  Tàu bay, động cơ và cánh quạt tàu bay trước khi được đưa vào sản xuất hàng loạt, phải trải qua quá trình phê chuẩn theo quy trình do nhà chức trách công bố. Ở Mỹ, đó là FAR-21, ở Châu Âu trước đây là JAR-21, nay là EASA Part 21. Còn ở nước ta, đó là Quy chế hàng không 21 do Cục HKVN ban hành.  Quá trình phê chuẩn  bao gồm các bước:  1- Đánh giá kỹ thuật (Engineering Evaluation), thường bao gồm: cam kết phù hợp (giải trình về tiêu chuẩn thiết kế được áp dụng, phương pháp tính toán, các hệ số, định nghĩa…); kiểm tra bản vẽ; kiểm tra các tính toán; đánh giá an toàn.  2- Thử nghiệm (Test), thường bao gồm các nội dung: thử nghiệm tại phòng thí nghiệm; thử nghiệm tầu bay tại mặt đất; bay thử; thử mô phỏng.  3- Kiểm tra (Inspection), bao gồm kiểm tra hồ sơ sản xuất, thử nghiệm, kiểm tra chất lượng.  Quá trình phê chuẩn một kiểu loại tầu bay vận tải thương mại thường kéo dài 2 đến 5 năm, rất tốn kém, đòi hỏi Nhà chức trách hàng không phải có đội ngũ chuyên gia đủ trình độ chuyên môn, nhà sản xuất phải có các phòng thí nghiệm, trung tâm bay thử. Thông thường, để hoàn thành quá trình phê chuẩn, nhà sản xuất những máy bay hiện đại như AIRBUS A320/330/340/380, BOEING B767/777/787… phải sản xuất loạt đầu tiên 5 chiếc máy bay cho mỗi kiểu loại, tiến hành đủ loại thử nghiệm, trong đó có những thử nghiệm phải thực hiện liên tục suốt ngày đêm, tháng này qua tháng khác, cho đến khi máy bay bị phá hủy hoàn toàn! Mục đích là để xác định được các tính năng tới hạn, sức chịu tải, thọ mệnh thiết kế, tìm ra các điểm yếu để hoàn thiện thiết kế…      Chỉ sau khi vượt qua được chương trình thử nghiệm khắc nghiệt, tàu bay, động cơ và cánh quạt tàu bay mới được Nhà chức trách hàng không cấp chứng chỉ loại (TC) cùng với một bản Bảng dữ liệu chứng chỉ loại (TCDS)- là hồ sơ pháp lý cấp cho các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn ĐĐKB.    Về máy bay VAM-1 của Hội cơ học Việt Nam  Theo nội dung công văn số 052/2004/ĐK ngày 02-02-2004 của Cục Đăng kiểm Việt Nam gửi Bộ Giao thông vận tải và báo cáo kết quả việc đánh giá và khảo sát kèm theo, thì máy bay VAM1 thực chất là máy bay cũ, kiểu BEAVER RX 550, số xuất xưởng TC022114, đã đăng ký ở Canada với số hiệu C-IBUN, chứ không phải là máy bay được thiết kế, chế tạo mới như báo chí đã đăng tải. Theo Website www.transport-canada.org của Bộ Giao thông vận tải Canada thì máy bay này được đăng ký lần đầu từ năm 1984. Hội cơ học chỉ thực hiện một vài cải tiến (hoán cải) trên máy bay này.    Khả năng phục vụ cuộc sống của máy bay VAM-1  VAM-1 là máy bay siêu nhẹ. Ở các nước công nghiệp phát triển, những máy bay như vậy được sản xuất hàng loạt, giá bán cỡ chục ngàn đôla Mỹ mỗi chiếc, chủ yếu để bán cho những người yêu thích bay giải trí.  Ý kiến sử dụng VAM-1 phục vụ cuộc sống như “dùng trong du lịch, phục vụ nông nghiệp và một số lĩnh vực khác của xã hội như y tế, chữa cháy…” (Báo Người lao động, số ra ngày 12/12/2005) có lẽ cần phải xem xét lại.  Thứ nhất, về pháp lý. Muốn bay phục vụ cuộc sống, tức là bay thương mại, thì máy bay phải có ít nhất hai động cơ. Bởi vì, động cơ không thể có độ tin cậy tuyệt đối, tức là không bao giờ xảy ra chết máy trên khi bay. Mà VAM-1 chỉ có một động cơ, lại là động cơ pit-tông, với độ tin cậy thấp hơn động cơ phản lực.  Thứ hai, muốn bay vận tải thương mại thì phải có khả năng mang “tải thương mại”, tức là ngoài trọng lượng bản thân máy bay cộng thêm trọng lượng phi công, nhiên liệu, dầu nhờn, các thiết bị phục vụ cho khai thác như ghế ngồi cho khách, thiết bị cứu thương, chỗ ngồi cho nhân viên y tế bay theo người bệnh, hoặc bình chứa chất dập cháy, hoặc máy gieo hạt… máy bay còn có khả năng chở thêm hành khách, chất dập cháy, hạt giống… Tôi không nghĩ rằng máy bay VAM-1 có thể đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu vừa nêu.  Máy bay có nhiều kiểu loại: có máy bay lớn, nặng hàng trăm tấn, có máy bay nhỏ chỉ nặng một vài trăm cân; mục đích sử dụng máy bay cũng khác nhau: có máy bay để bay giải trí, có máy bay để vận tải thương mại nhằm mục đích thu lợi… Mỗi loại có tiêu chuẩn thiết kế riêng, các yêu cầu về bảo dưỡng, khai thác cũng khác nhau, nhưng đều phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn rất cao, nhằm đảm bảo tính mạng cho người ngồi trên máy bay, tính mạng cho người và an toàn cho công trình ở mặt đất.  Chúng ta đã có một số bài học về an toàn bay đối với các loại máy bay tự thiết kế và sản xuất rồi. Gần 30 năm trước, đã có máy bay rơi ở hồ Lâm Du (xã Bồ Đề – Gia Lâm). Mới đây nghe nói lại có máy bay tự “thiết kế và sản xuất trong nước” rơi ở hồ Đồng Mô (Sơn Tây), may mà không chết người.  ———  * KS Cục HKVN    Mai Thế Chiến      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bay “xanh”      Hãng Boeing cho biết đã thử nghiệm thành công chuyến bay có người lái sử dụng pin nhiên liệu thân thiện với môi trường. Đây là bước đột phá hứa hẹn một tương lai “sạch” hơn cho ngành hàng không.      Chiếc máy bay này có 2 chỗ ngồi, sải cánh 16,3 m, dài 6,5 m và khối lượng 800 kg, là máy bay thử nghiệm đầu tiên dùng pin nhiên liệu (fuel cell) để tạo năng lượng cung cấp cho động cơ điện. Theo các nhà nghiên cứu của Boeing, công nghệ fuel cell có thể sử dụng để cung cấp năng lượng cho máy bay nhỏ hoặc máy bay không người lái. Trong tương lai không xa, fuel cell có thể sử dụng làm hệ thống tạo năng lượng phụ trợ cho máy bay chở hành khách loại lớn. Boeing cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu tiềm năng của fuel cell cũng như các nguồn năng lượng và nhiên liệu thay thế khác để cải thiện môi trường.   Trường Thịnh (Theo AFP)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy bơm sinh học      Đó là một lý thuyết do hai nhà khoa học Nga đề xuất có thể khiến chúng ta nghĩ lại về các cánh rừng và tác động của nó đến khí hậu toàn cầu.      Hai nhà vật lý Anastassia Makarieva và Victor Gorshkov. Nguồn: Anastassia Makarieva  Ý tưởng “máy bơm sinh học”     Mỗi mùa hè, Anastassia Makarieva rời phòng thí nghiệm của mình ở St.Petersburg để đi nghỉ trong những khu rừng rộng lớn ở miền Bắc nước Nga. Các nhà vật lý hạt nhân cắm trại trên bờ Biển Trắng, giữa những cây vân sam và thông, rồi chèo thuyền kayak dọc theo các con sông rộng trong khu vực và ghi chép về tự nhiên và thời tiết.     “Rừng là một phần quan trọng trong tâm hồn tôi”, chị nói. Trong suốt 25 năm, hằng năm chị đều di chuyển về phía Bắc, và chúng đã trở thành một phần quan trọng trong sự nghiệp của chị.  Trong hơn một thập kỷ, Makarieva cùng với Victor Gorshkov, cố vấn và đồng nghiệp của chị tại Viện Vật lý hạt nhân Petersburg (PNPI), đã nêu lý thuyết thoạt tiên có vẻ kỳ lạ về khả năng các khu rừng sâu của Nga điều hòa khí hậu khu vực Bắc Á – đơn giản chỉ từ góc độ vật lý với những hệ quả sâu rộng, mô tả cách hơi nước thoát ra từ cây làm ảnh hưởng đến vận động của gió: những luồng gió đi xuyên qua lục địa, mang theo không khí ẩm từ châu Âu, qua Siberia, và tiếp tục vào Mông Cổ và Trung Quốc. Chính những luồng gió mang lại những cơn mưa giúp giữ nước cho những dòng sông khổng lồ ở miền Đông Siberia tiếp tục chảy; gió mang hơi nước đến với Đồng bằng Bắc Bộ của Trung Quốc – giúp cung cấp lương thực cho quốc gia đông dân nhất trên Trái đất.      Năm 2007, trong tạp chí Hydrology and Earth System Sciences, họ lần đầu tiên vạch ra khái niệm “máy bơm sinh học”. Lý thuyết đã khiêu khích từ ngay từ đầu bởi vì nó mâu thuẫn với nguyên lý thường trực của khí tượng học: gió được điều khiển phần lớn bởi sự gia nhiệt khác biệt của khí quyển. Khi không khí ấm lên, nó làm giảm áp suất không khí bên dưới nó, và khiến cho không khí ở bề mặt di chuyển. Ví dụ như vào mùa hè, đất liền có xu hướng nóng nhanh hơn và hút ẩm từ những làn gió mát từ đại dương.      Với khả năng hấp thụ carbon dioxit và nhả oxy, những khu rừng lớn thường được gọi là lá phổi của hành tinh. Nhưng Makarieva và Gorshkov cho rằng chúng cũng đồng thời là nhịp đập của trái tim hành tinh này. “Rừng rất phức tạp, chúng tự duy trì hệ thống tạo mưa và là động lực chính của hoàn lưu khí quyển trên Trái đất,” Makarieva nói. Chúng tái sử dụng lượng lớn hơi ẩm trong không khí và cũng tạo ra gió giúp bơm hơi nước đi khắp thế giới. Ý tưởng rừng với công dụng như cỗ máy tạo mưa do nhiều nhà khoa học khác đề xuất và ngày càng được các nhà quản lý tài nguyên nước trên thế giới đánh giá cao. Nhưng phần bồi đắp cho ý tưởng là một lý thuyết mà Makarieva gọi là “máy bơm sinh học” còn gây nhiều tranh cãi. Nền tảng lý thuyết đã được xuất bản ở một tạp chí ít tên tuổi hơn và Makarieva đã nhận được hỗ trợ từ một nhóm nhỏ các đồng nghiệp. Lý thuyết “máy bơm sinh học” hứng chịu một loạt chỉ trích, đặc biệt là từ những người theo mô hình khí hậu. Thực chất Makarieva là người ngoài cuộc: một nhà vật lý lý thuyết trong thế giới của những người theo mô hình khí hậu, một người Nga ở một lĩnh vực do phương Tây dẫn đầu, và một nhà khoa học nữ ở ngành do nam giới thống trị. Tuy nhiên, nếu lý thuyết đúng, ý tưởng có thể giúp giải thích tại sao, những khu vực xa xôi trong lục địa với diện tích rừng lớn có thể nhận được nhiều mưa như ở các bờ biển mặc dù có khoảng cách tương đối lớn với đại dương – và tại sao những vùng không có rừng thường có xu hướng khô cằn. Từ những khu rừng rộng lớn ở Nga đến rừng nhiệt đới Amazon, cây cối không chỉ phát triển ở nơi thời tiết thích hợp mà chính chúng cũng ảnh hưởng lên thời tiết. “Tất cả những gì tôi đã nghiên cứu cho đến nay đều chỉ ra rằng ‘máy bơm sinh học’ là một lý thuyết chính xác”, Douglas Sheil, một nhà sinh thái học tại Đại học Khoa học sự sống Na Uy, cho biết. “Tương lai của rừng đang ngày bị đe dọa nên ngay cả khi cơ hội chứng minh ý tưởng là đúng rất mong manh thì nó cũng có tầm quan trọng lớn trong ứng phó”.     Nhiều sách giáo khoa về khí tượng vẫn dạy học sinh về bức tranh vòng tuần hoàn của nước với sự bay hơi của nước trong đại dương là nguồn gốc của hầu hết không khí ẩm ngưng tụ trong mây và rơi xuống dưới dạng mưa. Hình ảnh này đã bỏ qua vai trò của thảm thực vật, đặc biệt là cây cối đang hoạt động như những vòi phun nước khổng lồ. Rễ của chúng lấy nước từ đất để quang hợp và các lỗ cực nhỏ trong lá thải ra nước dưới dạng hơi vào không khí. Quá trình này tương đương với việc thực vật đổ mồ hôi, hay còn được gọi là thoát hơi nước. Bằng cách này, chỉ cần một cây trưởng thành cũng có thể thải ra hàng trăm lít nước mỗi ngày. Với việc tán lá cung cấp diện tích bề mặt dồi dào cho việc trao đổi [nước], một khu rừng thường có thể cung cấp độ ẩm trong không khí nhiều hơn lượng hơi nước từ khu vực biển hoặc ao hồ có cùng kích thước.      Lý thuyết do Anastassia Makarieva đề xuất.  Tầm quan trọng của việc rừng tái sử dụng hơi nước để tạo ra mưa đã bị bỏ qua cho đến năm 1979, khi nhà khí tượng học Brazil Eneas Salati báo cáo các nghiên cứu về isoto-thành phần của nước mưa được lấy mẫu từ lưu vực sông Amazon. Khi đó, nước chứa nhiều phân tử hơn với đồng vị oxy-18 nặng hơn nước bốc hơi từ đại dương. Salati đã chứng minh một nửa lượng mưa trên Amazon đến từ quá trình chuyển đổi của chính bản thân rừng. Vào thời điểm này, các nhà khí tượng học đã theo dõi một “dòng tia” (một dải hơi nước khổng lồ) nằm ở bên trên khu rừng, tại độ cao khoảng 1,5 km. Hãy thử hình dung với gió thổi từ Đông sang Tây qua Amazon, dòng tia như một chiếc máy bay phản lực tầm thấp Nam Mỹ lao nhanh trước khi bị dãy núi Andes chuyển hướng về phía Nam. Salati và những người khác phỏng đoán dòng tia đã độ ẩm lớn ở đây ảnh hưởng, mang theo hơi nước. Họ gọi nó là một “dòng sông bay”. Sông bay Amazon được cho là mang theo nhiều nước như dòng sông ở ngay dưới nó, Antonio Nobre, một nhà nghiên cứu khí hậu tại Viện Nghiên cứu Không gian quốc gia Brazil cho biết. Trước đây, những dòng sông bay được cho là chỉ giới hạn ở Amazon nhưng trong những năm 1990, Hubert Savenije, một nhà thủy văn học tại Đại học Công nghệ Delft đã bắt đầu nghiên cứu việc tái sử dụng độ ẩm ở Tây Phi. Sử dụng mô hình thủy văn dựa trên dữ liệu thời tiết, ông nhận ra khi chúng ta di chuyển từ bờ biển vào đất liền, tỉ lệ lượng mưa từ rừng càng ngày càng lớn có khu vực lên tới 90%. Điều này giúp giải thích vì sao Sahel lại trở thành một khu vực khô cằn khi rừng ven biển biến mất ở mức đỉnh điểm trong nửa thế kỷ qua. Một trong những học trò của Savenije, Ruud van der Ent, đưa ý tưởng đi xa hơn, tạo ra một mô hình dòng ẩm trong không khí. Ông thu thập dữ liệu về lượng mưa, tốc độ gió và nhiệt độ để đưa ra lý thuyết về sự thoát hơi nước của cây cối và tạo ra mô hình độ ẩm đầu tiên hoạt động ở phạm vi lưu vực sông.      “Tôi nghĩ rằng máy bơm tồn tại, nhưng hiện tại nó chỉ là lý thuyết và các cộng đồng làm mô hình khí hậu không chấp nhận nó, dù người Nga là những nhà lý thuyết xuất sắc nhất thế giới, vì vậy chúng ta cần các thí nghiệm để kiểm tra nó”.  (Jose Marengo, nhà khí tượng học ở Trung tâm giám sát và cảnh báo Thiên tai quốc gia, Brazil)      Năm 2010, van der Ent và các đồng nghiệp báo cáo kết luận của mô hình: Trên toàn cầu, tới 40% lượng mưa đến từ đất liền chứ không phải đại dương, và con số này thường lớn hơn. Sông bay của Amazon cung cấp 70% lượng mưa rơi ở Río de la Plata Basin, trải dài khắp khu vực Đông Nam của châu Mỹ. Van der Ent ngạc nhiên nhất khi thấy rằng Trung Quốc lấy 80% lượng nước từ phía Tây, chủ yếu là từ hơi ẩm Đại Tây Dương được “tái chế” bởi những khu rừng sâu ở Scandinavia và Nga. Quá trình bao gồm nhiều giai đoạn- chu kỳ thoát hơi nước, theo sau là mưa gió – và mất khoảng sáu tháng trở lên. “Nó trái ngược với điều trước đây bạn học”, ông nói. “Trung Quốc cạnh Thái Bình Dương nhưng phần lớn lượng mưa của nó là hơi ẩm từ vùng đất xa xôi về phía Tây”.     Rừng quan trọng hơn ta tưởng     Nếu Makarieva đúng, rừng cung cấp không chỉ hơi ẩm, mà còn những cơn gió mang nó tới. Trong một phần tư thế kỷ, chị làm việc với Gorshkov, ban đầu với cương vị là học trò, tại PNPI—một khu vực quân sự và dân sự quan trọng nhất của Nga – Viện nghiên cứu hạt nhân Kurchatov. Ngay từ đầu họ đã nghiên cứu sinh thái học ở một nơi có nhiều nhà vật lý, những người sử dụng chùm neutron từ phản ứng hạt nhân để nghiên cứu. Là những nhà lý thuyết, họ có “quyền tự do nghiên cứu và suy nghĩ, theo đuổi vật lý khí quyển tới bất cứ nơi nào nó đưa đến”, chị nói. “Victor đã dạy tôi ‘Đừng sợ bất cứ điều gì’”. Năm 2007, trong tạp chí Hydrology and Earth System Sciences, họ lần đầu tiên nêu ra khái niệm “máy bơm sinh học”. Lý thuyết khiêu khích ngay từ đầu bởi nó mâu thuẫn với nguyên lý thường trực của khí tượng học: gió được điều khiển phần lớn bởi sự gia nhiệt khác biệt của khí quyển. Khi không khí ấm lên, nó làm giảm áp suất không khí bên dưới nó, và khiến cho không khí ở bề mặt di chuyển. Ví dụ như vào mùa hè, đất liền có xu hướng nóng nhanh hơn và hút ẩm từ những làn gió mát từ đại dương.    Makarieva và Gorshkov lập luận, quá trình tạo mưa thứ hai đôi khi có thể chiếm ưu thế. Khi hơi nước từ rừng ngưng tụ thành những đám mây, chất khí trở thành một chất lỏng chiếm diện tích ít hơn. Điều đó làm giảm áp lực của khí và hút không khí theo chiều ngang từ khu vực ít ngưng tụ hơn. Trong thực tế, nó có nghĩa là việc ngưng tụ hơi trên các khu rừng ven biển sẽ khiến tăng áp gió biển, hút không khí ẩm trong đất liền, cuối cùng ngưng tụ và rơi như mưa. Nếu tiếp tục gặp rừng, chu kỳ có thể diễn ra tiếp tục, duy trì gió ẩm tới hàng nghìn km.    Lý thuyết này làm đảo ngược tư duy truyền thống: Không phải hoàn lưu khí quyển thúc đẩy chu kỳ thủy văn, mà chính thủy văn là nguyên nhân của vòng tuần hoàn của không khí. Sheil, người ủng hộ lý thuyết này từ hơn một thập kỷ trước, nghĩ về nó như một ví dụ cho “dòng sông bay”. “Chúng không loại trừ lẫn nhau”, ông nói. “Lý thuyết về máy bơm đưa ra lời giải thích về sức mạnh của những con sông”. Theo ông, máy bơm sinh học rõ ràng chính là “nghịch lý của Amazon lạnh giá”. Từ tháng một đến tháng 6, khi lưu vực sông Amazon lạnh hơn hơn đại dương, gió mạnh thổi từ Đại Tây Dương đến Amazon – ngược lại với những gì sẽ xảy ra nếu chúng là kết quả của sự khác biệt trong nhiệt độ. Nobre, một người ủng hộ khác, say sưa nói: “Họ không bắt đầu với dữ liệu, họ bắt đầu với những nguyên tắc cơ bản”. Ngay cả những người nghi ngờ lý thuyết cũng đồng ý rằng mất rừng có thể dẫn đến các hậu quả sâu rộng về mặt khí hậu. Nhiều nhà khoa học đã tranh luận vụ phá rừng hàng ngàn năm trước chính là nguyên nhân cho sự sa mạc hóa ở Úc và Tây Phi.     Điều đáng lo ngại là nạn phá rừng trong tương lai có thể khiến các khu vực khác trở thành hoang mạc, ví dụ như khu vực từ rừng nhiệt đới Amazon đến vùng xa-van. Các vùng quê ở Trung quốc, châu Phi và Pampas ở Argentian cũng đang bị đe dọa, theo Patrick Keys, một nhà hóa học khí quyển tại Đại học Bang Colorado, Fort Collins. Vào năm 2018, Keys và đồng nghiệp đã áp dụng cách tương tự như Van der Ent’s để theo dõi nguồn mưa cho 29 siêu đô thị trên toàn cầu. Ông thấy 19 khu vực phụ thuộc rất nhiều vào những khu rừng ở xa xôi để cung cấp nguồn nước, bao gồm Karachi, Pakistan; Vũ Hán và Thượng Hải, Trung Quốc; New Delhi và Kol-kata, Ấn Độ. Ngay cả những thay đổi nhỏ trong lượng mưa – điều phát sinh từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất có thể tác động đến việc cung cấp nước vốn đã mong manh, ”ông nói.     Một số mô hình thậm chí còn gợi ý, khu vực bên ngoài của các “dòng sông bay” cũng có thể bị nạn phá rừng ảnh hưởng. Thật vậy, phá rừng có thể thay đổi các mô hình thời tiết bằng cách di chuyển nguồn cung cấp không khí ẩm. Cũng giống như El Niño, sự thay đổi trong hướng gió ở vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương cũng ảnh hưởng đến thời tiết các khu vực trong đất liền thông qua “kết nối từ xa”. “Liệu nạn phá rừng ở Amazon có thể làm giảm lượng mưa ở khu vực Trung và Tây Hoa Kỳ cũng như băng tuyết ở Sierra Nevada hay không?”, Roni Avissar, nhà khí hậu học tại Đại học Miami từng mô hình hóa các kết nối từ xa, nêu vấn đề.       Một nửa lượng mưa của Amazon từ độ ẩm của chính các khu rừng. Ngoài ra, nó có thể mang gió tới các lục địa? Brusini Aurélien/Hemis/Alamy Stock photo  Điều này chỉ là viễn tưởng? Roni khẳng định: “Không hề, chúng tôi biết El Niño có thể làm điều này, bởi vì không giống như phá rừng, nó tái diễn và chúng ta có thể tái hiện nó bằng mô hình. Cả hai đều do những thay đổi nhỏ về nhiệt độ và độ ẩm trong bầu khí quyển gây ra”.     Lan Wang-Erlandsson, người nghiên cứu sự tương tác giữa đất, nước và khí hậu ĐH Stockholm, cho rằng đã đến lúc các nhà quản lý tài nguyên nước chuyển hướng tập trung từ việc sử dụng nước và đất trong lưu vực sông sang những thay đổi trong việc sử dụng đất xảy ra bên ngoài. “Chúng tôi cần các thỏa thuận thủy văn quốc tế để duy trì rừng của các vùng nguồn”, chị cho biết.    Hai năm trước, tại một cuộc họp của Diễn đàn các quốc gia về rừng, David Ellison, nhà nghiên cứu đất đai tại ĐH Bern, đã trình bày một trường hợp cụ thể: 40% tổng số lượng mưa ở vùng cao nguyên Ethiopia, nguồn của sông Nile, được cung cấp từ hơi nước “tái sử dụng” từ rừng của lưu vực Congo. Ai Cập, Sudan và Ethiopia đang đàm phán một thỏa thuận về việc chia sẻ vùng nước của sông Nile. Thỏa thuận như vậy sẽ vô giá trị nếu nạn phá rừng ở Congo, một khu vực ở xa ba quốc gia ảnh hưởng tới lượng nước của sông. Ellison cho biết: “Ảnh hưởng giữa rừng và lượng nước đã gần như hoàn toàn bị bỏ qua trong chính sách quản lý tài nguyên nước ngọt toàn cầu”. Lý thuyết “máy bơm sinh học” thậm chí còn đi xa hơn khi gợi ý tình trạng phá rừng không chỉ làm thay đổi nguồn ẩm mà còn ảnh hưởng đến các hướng gió. Nếu đúng, lý thuyết này sẽ có “ý nghĩa quan trọng đối với lưu thông không khí của Trái đất”, Ellison nói, đặc biệt là những hướng gió mang không khí ẩm vào đất liền.     Cuộc chiến bảo vệ     Những người ủng hộ chỉ là thiểu số.     Makarieva, Gorshkov, Sheil, Nobre,và Bai-Lian Li, một nhà sinh thái học tại ĐH California, Riverside, đã gửi những mô tả về “máy bơm sinh học” cho Atmospheric Chemistry and Physics, một tạp chí có ảnh hưởng lớn. Tạp chí phải đối mặt với một loạt chỉ trích, và họ phải mất nhiều tháng để tìm hai nhà khoa học nhận lời bình duyệt. Isaac Held, nhà khí tượng học tại phòng thí nghiệm Động lực học chất lỏng địa vật lý ở Princeton, cuối cùng đã tình nguyện xem xét và bác bỏ lý thuyết. “Đây không phải là một bí ẩn”, ông nói. “Nó nhỏ và đã bao gồm trong một số mô hình khí quyển.” Các nhà phê bình cho biết sự giãn nở của không khí từ nhiệt tỏa ra khi hơi nước ngưng tụ lại bù trừ cho hiệu ứng tạo không gian của sự ngưng tụ. Nhưng Makarieva cho rằng hai tác động tách biệt về mặt không gian với hiệu ứng làm ấm đang xảy ra trên cao và sự sụt giảm áp suất của sự ngưng tụ xảy ra gần với mặt đất, nơi nó tạo ra gió sinh học.    Một bình duyệt khác là Judith Curry, nhà vật lý khí quyển tại Viện Công nghệ Georgia, cảm thấy bài báo rất cần được xuất bản và việc phản đối bài báo là “điều rất tồi tệ đối với khoa học khí hậu khi rất cần cái nhìn của các nhà vật lý”. Sau ba năm tranh luận, biên tập viên của tạp chí đã quyết định xuất bản bài báo “để thúc đẩy sự tiếp tục nghiên cứu của một vấn đề lý thuyết đang gây tranh cãi và có thể dẫn đến việc bác bỏ hoặc xác nhận hơn là một sự chứng thực”.    Gavin Schmidt, một nhà lập mô hình khí hậu tại Đại học Columbia, nhận xét, “Nó đơn giản là vô nghĩa”. Thiện chí hơn, Jose Marengo, một nhà khí tượng học ở Brazil và người dẫn dắt Trung tâm giám sát và cảnh báo Thiên tai quốc gia, nói: “Tôi nghĩ rằng máy bơm tồn tại, nhưng hiện tại nó chỉ là lý thuyết và các cộng đồng làm mô hình khí hậu không chấp nhận nó, dù người Nga là những nhà lý thuyết xuất sắc nhất thế giới, vì vậy chúng ta cần các thí nghiệm để kiểm tra nó”.     Tuy nhiên, không ai, kể cả Makarieva, đề xuất rõ ràng việc thực nghiệm để kiểm chứng. Về phần mình, Makarieva đang tiếp tục xây dựng lý thuyết, tranh luận trong một loạt các bài báo về việc lốc xoáy nhiệt đới cũng có cùng cơ chế và bị nhiệt tỏa ra hơi ẩm trên đại dương điều khiển. Trong một bài báo năm 2017 ở Atmospheric Research, chị và cộng sự đã đề xuất máy bơm sinh học, xuất phát từ những khu rừng giàu độ ẩm trong không khí để giải thích tại sao lốc xoáy hiếm khi hình thành ở Nam Đại Tây Dương: rừng nhiệt đới Amazon và Congo nằm giữa chúng đã hút đi nhiều hơi ẩm đến mức còn lại quá ít để cung cấp nhiên liệu cho các cơn bão.    Makarieva không đồng tình với việc những người cho rằng lý thuyết về cường độ bão “xung đột với các định luật nhiệt động lực học.” Chị cho biết: “Chúng tôi lo ngại, mặc dù có được sự khuyến khích của biên tập viên, công việc của chúng tôi sẽ lại bị từ chối một lần nữa.” Năm ngoái, chính phủ bắt đầu công khai đối thoại để sửa đổi luật lâm nghiệp. Ngoài những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, các vùng rừng khác được mở để khai thác thương mại nhưng chính phủ và Bộ Lâm nghiệp đang xem xét một sửa đổi để tính đến “rừng phòng hộ khí hậu”.    Mùa hè này, coronavirus đã ngăn chuyến đi hằng năm của chị đến vùng rừng phía Bắc. Trở lại St Petersburg, tuy vẫn tiếp tục vấp phải sự phản đối nhưng chị tin tưởng lý thuyết máy bơm cuối cùng sẽ chiếm ưu thế bởi vì rút cục khoa học đích thực sẽ được công nhận.□     Hạnh Duyên dịch  Science Doi: 10.1126/science.368.6497.1302    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy chụp cắt lớp vi tính “siêu đẳng”      Các chuyên gia Hoa Kỳ vừa chế tạo thành công máy chụp cắt lớp vi tính Brilliance TC có khả năng cung cấp ảnh 3 chiều rõ đến mức chưa từng có, và hơn nữa, còn giúp giảm mức phơi nhiễm phóng xạ đến 80%.      Nó có thể chụp ảnh 3D của toàn bộ trái tim chỉ sau 2 nhịp tim đập, và chỉ cần không đầy 1 phút để chụp ảnh toàn bộ cơ thể. Tiến sĩ Keith Prowse, Chủ tịch Hiệp hội Phổi Anh, phát biểu: “Với ảnh có độ phân giải cao, các bác sĩ sẽ nhìn thấy rõ hơn những chi tiết nhỏ, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và hiệu quả điều trị”. Sử dụng máy này trong điều trị ung thư, các chuyên gia sẽ xác định mức độ lan rộng của ung thư chính xác hơn. Máy cũng sẽ giúp phát hiện những dấu hiệu bất thường trong cơ thể để có biện pháp can thiệp kịp thời.   Quang Thịnh  (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang máy CNC “Made in Viet Nam”      Mới đây, máy phay CNC 5 trục – sản phẩm của đề tài nghiên cứu “Thiết kế chế tạo máy phay CNC 5 trục” của TS Hoàng Vĩnh Sinh (ĐH Bách Khoa HN) đã được công ty Rorze Robotech của Nhật đặt chế tạo với giá 140.000 USD. Khi được hỏi: “Nhà khoa học trẻ cần gì để phát huy hết khả năng?” TS Hoàng Vĩnh Sinh – người trẻ nhất trong các chủ nhiệm đề tài thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước -cho rằng: “Cần nhất là sự tin tưởng”. Sự tin tưởng đối với lớp trẻ, theo anh, còn “quý hơn nhiều những lời khuyên về kỹ thuật”.    Tiến vào thị trường 4,5 tỷ USD  Hiện nay ngành khuôn mẫu và ngành nhựa của Việt Nam đang phát triển rất mạnh. Những khuôn mẫu đơn giản thì có thể gia công bằng máy tay hoặc máy vạn năng, song để tạo ra  các khuôn mẫu, chi tiết máy phức tạp thì bắt buộc phải gia công trên các máy công cụ điều khiển số CNC (gọi tắt là máy CNC).  Với giới công nghiệp, người trong ngành không lạ gì máy CNC, nhưng với người bình thường thì chắc ít khi nghe đến loại thiết bị được coi là “thay đổi nền công nghiệp” này. Máy CNC – viết tắt của Computer Numerical Control  (điều khiển bằng máy tính) được phát triển cuối thập niên 40 đầu thập niên 50 ở phòng thí nghiệm Servomechanism của trường MIT nay đã được phổ biến rộng rãi trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp cơ khí – xương sống của các ngành công nghiệp khác.             TS Hoàng Vĩnh Sinh          Với máy CNC, việc tạo ra các khuôn đúc, chi tiết máy phức tạp không còn là vấn đề “đau đầu” nữa. “Chỉ cần thiết kế bằng phần mềm CAD, thông qua chức năng CAM sẽ có thể sinh ra được các mã lệnh phù hợp với bộ điều khiển CNC. Truyền các mã này vào máy rồi ra lệnh chạy máy là sẽ có được sản phẩm theo đúng thiết kế” – TS Hoàng Vĩnh Sinh cho biết. Tất nhiên đó chỉ là những hình dung cơ bản của 1 quá trình sản xuất có sự trợ giúp của máy CNC, thực tế có thể phức tạp hơn.  Việc gia tăng tự động hóa trong quá trình sản xuất với máy CNC tạo nên sự phát triển đáng kể về chính xác và chất lượng. Kĩ thuật tự động của CNC giảm thiểu các sai sót và giúp người thao tác có thời gian cho các công việc khác. Ngoài ra còn cho phép linh hoạt trong thao tác các sản phẩm và thời gian cần thiết cho thay đổi máy móc để sản xuất các linh kiện khác. Một số máy CNC hiện đại có thể sản xuất hàng nghìn chi tiết máy trong vài ngày mà không cần người vận hành. Nó cũng có thể tự kiểm tra lỗi sản phẩm bằng các mắt đọc laser; trong trường hợp máy có lỗi trong lúc chạy, có có thể gọi di động đến cho người vận hành.  Trong môi trường sản xuất, một loạt các máy CNC kết hợp thành một tổ hợp, gọi là cell, để có thể làm nhiều thao tác trên một bộ phận. Máy CNC ngày nay được điều khiển trực tiếp từ các câu lệnh do phần mềm CAM (Computer Aided Manufacturing) tạo ra, vì thế một bộ phận hay lắp ráp có thể trực tiếp từ thiết kế sang sản xuất mà không cần các bản vẽ in của từng chi tiết. Có thể nói CNC là các phân đoạn của các hệ thống robot công nghiệp, tức là chúng được thiết kế để thực hiện nhiều thao các sản xuất.  TS Hoàng Vĩnh Sinh cho biết, năm 2006,  Việt Nam bỏ ra khoảng 4,5 tỷ USD để nhập các máy CNC. Cũng năm ngoái, 23 doanh nghiệp Nhật Bản sang Việt Nam tìm nhà cung cấp phụ kiện cho các sản phẩm của họ nhưng không được, nguyên nhân thì có nhiều song  một phần chính là do các doanh nghiệp trong nước còn thiếu những chiếc máy CNC chất lượng cao.  Trên thị trường Việt Nam, các máy CNC do Đài Loan và Trung Quốc sản xuất có phần điều khiển mua của các hãng nổi tiếng như FANUC, MITSHUBISHI,… có giá bán khá phù hợp với đại đa số các doanh nghiệp trong nước song còn yếu các khâu như đào tạo, dịch vụ sửa chữa và thay thế sau bán hàng, chất lượng còn chưa đồng đều. Máy CNC của các nước phát triển như Nhật, CHLB Đức,… có chất lượng tốt song giá thành đắt, rất khó bảo trì bảo dưỡng. Giá thành cao, nhu cầu lại lớn nên ở TP Hồ Chí Minh đã hình thành những công ty và nhóm chuyên gia chuyên lắp ráp máy CNC cũ /hỏng thành máy mới. Ngoài ra, một số công ty cơ khí cũng bắt đầu tự nhập bộ điều khiển và chế tạo phần cơ để cho ra đời những chiếc máy CNC “made in Vietnam” đầu tiên. Tuy nhiên do chưa nắm vững công nghệ trong việc quản lý chất lượng cũng như khi lắp ráp, những chiếc máy này thường có độ chính xác không cao, độ tin cậy không lớn.  Khó khăn nhất trong phần chế tạo máy CNC “made in Vietnam” không phải ở phần điều khiển hay phần điện tử mà chính là phần cơ khí, phần kết cấu và dẫn truyền cơ khí .  Từ bài toán công nghệ tới bài toán thị trường               Máy phay CNC 5 trục của BKMech            Năm 2004, khi đảm nhiệm đề tài KC.05.28 về “Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy phay CNC 5 trục”, nhóm nghiên cứu của TS Hoàng Vĩnh Sinh tại Trường ĐHBK Hà Nội đã phải bắt đầu từ khâu “thô” nhất là thiết kế, đúc thân máy. “Cái khó là Việt Nam thiếu ngành công nghiệp phụ trợ, vì thế ngay cả những chi tiết đơn giản chúng tôi cũng phải tự làm với số lượng nhỏ nên giá thành khá cao” – TS. Sinh cho biết. Tiếp theo tủ điện, rồi những chi đòi hỏi chuẩn xác như cơ cấu lắp  ray dẫn hướng và vít me bi, toàn bộ khâu căn chỉnh, chống rung đều do nhóm nghiên cứu thực hiện.  “Trên thị trường Việt Nam, các máy CNC bình thường có sai số vị trí là 0,01mm. Máy CNC do chúng tôi chế tạo sau 3 serie đã đạt được sai số vị trí  0,005mm”. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu sẽ còn phải làm nhiều việc để đạt tới “ngưỡng” sai số 0,002mm của những máy CNC cao cấp chuyên chế tạo những chi tiết điện tử tinh xảo.  Giải được cơ bản các vấn đề về công nghệ trong điều kiện công nghệ của Việt Nam hiện nay mới là một bước cơ bản. Giờ đây “bài toán” chủ  yếu của nhóm nghiên cứu là kinh doanh phát triển sản phẩm. Hiện giá máy CNC của nhóm nghiên cứu chỉ bằng 85%-90% giá máy nhập ngoại cùng cấu hình và độ chính xác của Đài Loan. “Nếu sản xuất lô trên 10 cái thì giá thành sẽ chỉ còn bằng khoảng 80%” – TS. Sinh thông báo.  Có thị trường lớn, có sản phẩm với giá “cạnh tranh”, nhóm nghiên cứu đã thành lập công ty BKMech – thành viên công ty đều là những nhà khoa học trẻ, giờ đây “thử sức” trong vai trò doanh nhân.  Làm thế nào để sản phẩm cạnh tranh được với những sản phẩm của các công ty nước ngoài đã có truyền thống hàng chục năm chế tạo máy CNC?  “Lợi thế của BKMech là chúng tôi làm được rất tốt khâu tư vấn, đào tạo sử dụng và bảo hành” –TS. Sinh cho biết. Ngoài ra BKMech còn cung cấp hoàn chỉnh các dịch vụ khác để phục vụ cho các khách hàng sử dụng máy CNC như: cung cấp các phần mềm CAD/CAM có bản quyền, cung cấp giải pháp CAE phục vụ mô phỏng cho thiết kế khuôn mẫu, ứng dụng công công nghệ thông tin cho công nghệ chế tạo, cung cấp các loại hình dịch vụ khác nhau từ khâu khảo sát, phân tích để lựa chọn giải pháp đầu tư hợp lý cho hệ thống, đào tạo sử dụng thiết bị và phần mềm…  TS Sinh cho biết, một hãng chế tạo máy lớn của Đài Loan mới đây đã chính thức công nhận họ là nhà chế tạo thiết bị gốc (OEM) cho hãng tại Việt Nam và các sản phẩm trong tương lai của nhóm không những sẽ được hãng này chuyển giao công nghệ chế tạo, kiểm soát chất lượng mà còn sẽ được bán trên khắp thế giới thông qua các đại lý bán hàng của hãng này. Trong nửa năm đầu 2008, một nhà máy sản xuất máy CNC có quy mô 150 chiếc/năm sẽ được khánh thành ở phía Bắc và sản phẩm máy CNC “made in Việt Nam” sẽ có điều kiện để nhanh chóng có mặt trên thị trường.    Chú thích ảnh trên cùng: Bộ trưởng bộ KH&CN Hoàng Văn Phong với nhóm nghiên cứu  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy gia tốc hạt giải mã huyền thoại nhiều thập kỷ về Tiếng thét      Cuộc tranh cãi kéo dài nhiều thập kỷ chung quanh vết trắng tình cờ ở trung tâm kiệt tác Tiếng thét của danh họa Edvard Munch cuối cùng đã được khép lại bằng kết quả phân tích mẫu vật trên máy gia tốc PETRA III đặt tại Trung tâm Gia tốc Electron Đức (DESY).    Họa sỹ Edvard Munch đã vẽ bốn phiên bản Tiếng thét bằng sơn dầu và phấn màu trong quãng thời gian từ năm 1893 đến 1910. Hiện bức sơn dầu vẽ năm 1839 được trưng bày tại Phòng trưng bày Quốc gia Na Uy, bức sơn dầu vẽ năm 1893 và phấn màu vẽ năm 1910 tại Bảo tàng Munch, bức thứ tư – phấn màu vẽ năm 1895 – đã được nhà đấu giá Sotheby bán vào ngày 2/5/2012 cho doanh nhân người Mỹ Leon Black với giá 119,9 triệu USD. Nhà phê bình Arthur Lubow từng viết trên tạp chí Smithsonian của Viện nghiên cứu Smithsonian (Mỹ) năm 2006, “Tiếng thét của Munch là biểu tượng của nghệ thuật hiện đại, một Mona Lisa của thời đại chúng ta”. Cũng như nhiều tác phẩm khác của Munch, Tiếng thét được sinh ra từ những bi kịch, bệnh tật và thất bại của cá nhân họa sĩ, như có lần ông đã viết, “Cũng như bệnh tật, nỗi sợ hãi cuộc đời là điều cần thiết đối với tôi. Không lo âu và bệnh tật, tôi chỉ là con thuyền không bánh lái… Đau đớn, khổ sở là một phần của bản thân tôi và nghệ thuật của tôi. Chúng với tôi là một, và hủy diệt chúng cũng có nghĩa là hủy diệt nghệ thuật của tôi”.    Vết trắng trong kiệt tác Tiếng thét  Đáng chú ý trong số bốn phiên bản Tiếng thét thì bức sơn dầu ở Phòng trưng bày Quốc gia Na Uy được chú ý nhiều nhất, không chỉ ở chỗ được vẽ sớm nhất mà còn bởi có một vết trắng bí ẩn nằm ở trên vai nhân vật chính của bức tranh. Vết trắng này đã trở thành chủ đề gây tranh cãi nhiều thập kỷ qua. Người ta vẫn biết rằng Munch đã vẽ hầu hết các phác thảo ở ngoài trời và ông thích đưa các hiện tượng thiên nhiên vào trong tác phẩm của mình. Điều đáng nói là Tiếng thét được đưa thẳng vào Phòng trưng bày Quốc gia Na Uy từ xưởng vẽ của họa sỹ và ngay từ lúc đó, người ta đã thấy vết trắng trên tranh. Có giả thiết cho rằng Munch đã để bức tranh ngoài trời và một vài con chim đã vô tình để lại “dấu ấn” trên kiệt tác của ông.  Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu lại không nghĩ như vậy. GS Tine Frøysaker (ĐH Oslo), nhà nghiên cứu trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, đã thường xuyên đối chiếu những đốm trắng với vết phân chim trên các nhà thờ Na Uy và cho rằng, dưới kính hiển vi, nó không giống phân chim. Bà đưa ra giả thiết “có thể các chất liệu như sơn hoặc phấn màu đã rơi vào Tiếng thét khi Munch đang vẽ các bức tranh khác của ông tại xưởng”. Thierry Ford, nhà phục chế tranh tại Phòng trưng bày Quốc gia Na Uy, cũng tán thành quan điểm trên với bằng chứng đưa ra là “phân chim được biết đến như chất có thể ăn mòn hoặc ảnh hưởng đến bất kỳ loại chất liệu nào, trong khi đó với Tiếng thét, các đốm trắng tồn tại mà không tổn hại đến tranh”.  Những bằng chứng kỹ thuật còn cho thấy Munch đã dùng giấy bìa, loại vật liệu không đủ bền, dễ hút ẩm và có thể đã bị ảnh hưởng bởi thời tiết khi ông vẽ ngoài trời, làm nền cho bức tranh.  Hồi tháng 5/2016, GS Tine Frøysaker đã mời TS Geer Van der Snickt, nhà nghiên cứu về di sản văn hóa, và nhóm nghiên cứu của ông tại trường Đại học Antwerp (Bỉ) cùng tham gia xác định rõ chất liệu và kỹ thuật mà Munch sử dụng khi vẽ Tiếng thét. Theo TS Snickt, việc xác định đốm trắng có phải là phân chim hay không không phải là mục đích chính của nghiên cứu này nhưng “sẽ sai lầm nếu không khai thác thế mạnh của kỹ thuật hiện đại bậc nhất của Đại học Antwerp để thử nghiệm và giải quyết cuộc tranh cãi đã kéo dài nhiều năm”.  Tác phẩm được nhóm nghiên cứu đưa vào máy quét cắt lớp huỳnh quang X quang macro (MA-XRF) và những kỹ thuật quét không xâm lấn (non-invasive) đã phát hiện ra bên trong vết ố bí ẩn của Tiếng thét không có cả chất nhuộm màu lẫn calcium như nghi ngờ, như vậy có thể loại bỏ nghi vấn về chất liệu vẽ hay phân chim. Vì vậy nhóm nghiên cứu liên ngành này đã quyết định trích một mẫu cực nhỏ từ vết trắng để phân tích trên máy gia tốc PETRA III đặt tại DESY, Hamburg. Trên PETRA III, các hạt cơ bản có tốc độ nhanh phát ra từ một máy gia tốc hạt tạo ra luồng ánh sáng tia X cực mạnh. “Từ quá trình tán xạ tia X với mẫu, cấu trúc nội tại của mẫu khảo sát có thể được xác định tới mức nguyên tử”, TS Gerald Falkenberg, trưởng trạm đo P06 ở PETRA III, giải thích.    Các nhà nghiên cứu tìm hiểu bức tranh bằng kỹ thuật phân tích mới.     “Việc dùng các máy gia tốc hạt để nghiên cứu chất liệu làm nên tác phẩm có thể đem đến một cuộc cách mạng trong nhận thức của chúng ta về các thủ pháp hội họa”, GS hóa học Koen Janssens, thành viên nhóm nghiên cứu, nói. “Trong vài năm gần đây, chúng ta đã có khả năng làm sáng tỏ quá trình phân rã của các hợp chất hóa học, nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng các bức họa bị nhạt màu hoặc bị bong, vốn là kiến thức quan trọng để tăng cường công tác bảo tồn di sản văn hóa”.  Nghiên cứu sinh Frederik Vanmeert, người đảm trách công việc phân tích mẫu trên máy thang đo mirco sử dụng tán xạ tia X, đã có phát hiện đáng ngạc nhiên: “Ngay lập tức tôi nhận thấy sự tán xạ của sáp trên mẫu vì tôi đã từng bắt gặp chất liệu này trong nhiều lần nghiên cứu tranh”. Trước đây, người ta thường tẩm sáp ong (hoặc một chất tương tự) vào toan để ngăn sơn dầu bị bong hoặc bồi thêm một lớp vải nữa phía sau nền tấm toan. Trong trường hợp này, rất có thể những đốm trắng trên bức tranh là những vệt sáp rỏ từ nến thắp trong xưởng vẽ của Munch.  Thế còn những vệt phân chim? “Ban đầu, tôi định đi tham quan một vài thắng cảnh trong ngày cuối ở Oslo”, TS Snickt kể. “Suốt buổi tôi tò mò nhìn xuống đất để tìm kiếm các mẫu phân chim, coi đó như một bằng chứng cho nghiên cứu, và tìm thấy vài mẫu hoàn hảo ngay bên ngoài nhà hát opera cũng như ở phía ngoài tòa lâu đài gần đó”. Quang phổ thu được từ các mẫu đó đã hiển thị kết quả. Ngay cả một người bình thường cũng có thể thấy rằng tán xạ tia X trong mẫu kiểm nghiệm trùng khớp với mẫu sáp ong và hoàn toàn khác với mẫu phân chim. TS Snickt nói thêm: “Khó có thể coi phân chim mà tôi thu thập ở Oslo là mẫu đúng quy cách, mặt khác hợp chất này còn phụ thuộc vào thức ăn của chim nữa, nhưng tôi thực sự nghi ngờ khả năng bức họa của Munch bị phân chim rơi vào. Theo tôi, bây giờ chúng ta có thể chấm dứt giả thiết này”.  Nhìn lại công việc đã thực hiện để tìm hiểu về vết trắng bí ẩn trên Tiếng thét, TS Snickt nói: “Chính những chất liệu không ngờ tới này đã góp phần giải thích tại sao mối liên kết giữa khoa học và nghệ thuật lại mê hoặc tôi đến vậy. Việc giải thích huyền thoại về những đốm trắng như phân chim trên bức họa Tiếng thét cũng đã chứng tỏ tại sao chúng tôi lại có nhiều điểm chung với các chuyên gia pháp y. Giống như pháp y, ngành khoa học nghiên cứu di sản văn hóa có đặc điểm là luôn cập nhật những kỹ thuật mới nhất và điều đó cho phép chúng tôi tìm ra những thông tin mới về những kiệt tác nghệ thuật, dẫu cho chúng đã được nghiên cứu hàng thập kỷ”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn:  https://www.uantwerpen.be/en/rg/axes/chair-for-the-arts/research-activities/the-scream-by-e—mun/  https://www.uantwerpen.be/en/rg/axes/chair-for-the-arts/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cỗ máy tạo ra sự va chạm giữa các hạt năng lượng cao      Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider – LHC), cỗ máy tạo ra sự va chạm giữa các hạt năng lượng cao để tạo thành và nghiên cứu các hạt nhỏ hơn, sắp hoạt động trở lại sau hơn ba năm ngừng hoạt động.    Trong hai kỳ hoạt động đầu tiên, vào 2009-2013 và 2015-2018, LHC đã khám phá thế giới vật lý đã biết. Tất cả những công việc đó – gồm cả dấu mốc khám phá ra hạt Higgs vào năm 2012 – đã khẳng định lý thuyết của các nhà vật lý về các hạt và lực tạo nên vũ trụ: mô hình chuẩn. Nhưng sau hàng triệu tỷ vụ va chạm giữa các hạt năng lượng cao, LHC vẫn chưa tìm ra bằng chứng về bất kỳ hạt mới đáng ngạc nhiên nào, hoặc bất kỳ thứ gì hoàn toàn chưa được biết đến.        Kỳ hoạt động lần này có thể khác. LHC đã được nâng cấp để tạo ra nhiều dữ liệu hơn, sử dụng máy dò tốt hơn và nhiều kỹ thuật mới. Lần này, các nhà khoa học sẽ săn tìm các hạt bên ngoài mô hình chuẩn.    Năng lượng cao hơn và nhiều dữ liệu hơn    Sau khi được nâng cấp, LHC sẽ tạo ra va chạm giữa các proton ở 13,6 nghìn tỷ electron volt (TeV, đơn vị đo động năng) – so với 13 TeV ở kỳ hoạt động thứ hai – làm tăng cơ hội tạo ra các hạt trong vùng năng lượng cao, nơi một số giả thuyết cho rằng có thể sinh ra các kiến thức vật lý mới – Rende Steerenberg tại Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu CERN cho biết. LHC cũng sẽ tạo ra các chùm hạt dày đặc hơn, làm tăng xác suất va chạm, tạo ra nhiều dữ liệu hơn, tương đương với lượng dữ liệu của cả hai kỳ hoạt động trước gộp lại.    Để xử lý hàng loạt vụ va chạm xảy ra nhanh, các máy dò trong LHC – các lớp cảm biến thu nhận các hạt bắn ra từ các vụ va chạm và đo năng lượng, động lượng và các đặc tính khác của chúng – cũng đã được nâng cấp để tăng hiệu quả và độ chính xác.    Một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu LHC là khả năng lưu trữ dữ liệu. LHC gây va chạm theo chùm proton 40 triệu lần mỗi giây. Và mỗi va chạm giữa hai proton, hay còn gọi là “sự kiện va chạm”, có thể bắn ra hàng trăm hạt nhỏ hơn. Hệ thống ghi nhận phải loại bỏ rất nhiều sự kiện, thực tế là loại bỏ phần lớn dữ liệu. Ví dụ, tại CMS – một trong bốn thí nghiệm chính của LHC – một bộ ghi nhận được tích hợp trong phần cứng phải loại bỏ khoảng 100.000 sự kiện mỗi giây dựa trên cơ sở đánh giá các thuộc tính như năng lượng của các hạt, sau đó phần mềm mới chọn ra khoảng 1.000 sự kiện để tái tạo đầy đủ và đưa vào phân tích.    Nhờ những cải tiến trong toàn bộ quá trình, kỳ hoạt động này LHC sẽ thu thập được nhiều dữ liệu gấp 4 lần so với kỳ hoạt động thứ hai, Yasmine Amhis, nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm Vật lý Irène-Joliot Curie, cho biết. Nó “gần giống như một máy dò hoàn toàn mới”.    Kỳ hoạt động này cũng sẽ mang lại cho các nhà vật lý các phép đo chính xác hơn đối với các hạt đã biết, chẳng hạn như boson Higgs. Chỉ riêng điều này có thể tạo ra kết quả mâu thuẫn với lý thuyết vật lý đã biết – ví dụ: khi đo lường chính xác hơn, phạm vi sai số có thể sẽ đủ nhỏ để đẩy kết quả ra ngoài dự đoán của mô hình chuẩn.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Máy học so với người học      Giấc mơ về trí tuệ nhân tạo (AI) có từ thời tiền sử. Trong thần thoại Hy Lạp đã có người máy (automaton) Talos làm bằng sắt, và trong thần thoại Việt Nam cũng có ngựa sắt của Thánh Gióng. Nhưng cụm từ “artificial intelligence” mới chính thức xuất hiện từ năm 1955, do John McCarthy (1927-2011) đề xuất. Phương pháp chính để tạo ra AI là tạo ra những máy “biết học” để “thông minh dần lên” để ngày càng trở thành đầy tớ của con người.      Một phần fresco của Mantegna tại nhà thờ Emeritani.     Máy thông minh hơn người?  Nhà thờ “Eremitani” (“Các thầy tu khổ hạnh”) ở thành phố Padova, xây từ thời Trung cổ, từng được trang trí bằng những bức tranh trên tường (fresco) rất lớn do họa sĩ Andrea Mantegna vẽ từ thời Phục Hưng, làm cho rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có đại thi hào Goethe. Vào năm 1944, trong một trận ném bom của Mỹ vào Phát xít Đức, nhà thờ bị trúng bom, và các bức tranh trên tường bị phá tan tành. Người ta tìm lại được 88 ngàn mảnh nhỏ của các bức tranh, phủ được một diện tích 77 mét vuông, chỉ bằng một phần mười so với ban đầu, những chỗ còn lại thì bị mất hoàn toàn. Và trong vòng mấy thập kỷ, các mảnh vụn này được cất giữ trong các kho bảo tàng. Đến năm 1992, nhờ có kỹ thuật ảnh số, chúng mới được lau chùi, chụp ảnh, phân loại, rồi được đưa cho các nhà toán học nghiên cứu.  Đến năm 2000, nhóm nghiên cứu của giáo sư Massimo Fornasier phát triển được một phần mềm máy tính, dựa trên một phương pháp toán học gọi là “circular harmonic decomposition” (“phân tách điều hòa vòng quanh”), để ghép các mảnh vụn của bức tranh. Sau đó phải mất 6 năm trời chạy máy tính, từ 2000 đến 2006, nhóm của Fornasier mới hoàn thành công việc.  Năm 2006 là mới cách đây có 13 năm thôi, nhưng đó là thời mà còn chưa ai biết đến khái niệm “học sâu” (deep learning), và muốn xử lý ghép ảnh người ta phải tự tìm tòi ra thuật toán sắc sảo đưa vào máy tính, chứ máy chưa tự nghĩ ra được thuật toán.  Mười hai năm sau, vào cuối năm 2018, nhóm AI (artificial intelligence – trí tuệ nhân tạo) của tôi ở Toulouse gặp phải một “trò chơi ghép hình” tương tự, tuy chỉ là một vấn đề có tính chất học thuật chứ không có ý nghĩa thiết thực như vấn đề mà Fornasier đã giải quyết, nhưng về độ phức tạp không kém nhiều: Làm sao ghép 22 ngàn bức ảnh nhỏ lại với nhau cho khớp để tạo thành những bức ảnh khổ lớn, mỗi bức gộp lại của hàng trăm mẩu ảnh nhỏ? Điều duy nhất chúng tôi biết là những bức ảnh nhỏ mà chúng tôi có là những mảnh nhỏ của những bức ảnh lớn hơn nhiều đã bị cắt vụn ra, và nếu ghép lại được thì sẽ khôi phục được nhiều thông tin giá trị mà nếu chỉ nhìn các bức ảnh nhỏ riêng biệt thì không thấy được. Nhưng phải ghép như thế nào thì chúng tôi không biết. Và chúng tôi phải tìm cách giải nó, không phải là trong 6 năm, mà là trong 1-2 tuần.  Ban đầu, chúng tôi thử dùng các phương pháp toán học khác nhau, từ khai triển Taylor cho đến xác định hướng của các “đường mức” ở gần mép ảnh, v.v. để so sánh giữa các ảnh với nhau xem ảnh nào có vẻ khớp với ảnh nào. Các kết quả thu được đều khá tồi: với mỗi ảnh nhỏ thì thuật toán cho ra rất nhiều các ảnh nhỏ “ứng cử viên” của việc ghép vào bên cạnh, tất nhiên hầu hết sẽ là sai, nhưng dùng máy để phân biệt cái nào đúng cái nào sai vẫn rất khó (còn nếu làm “thủ công” dùng mắt người để phân biệt thì có khi làm trong 10 năm cũng chưa xong). Sau nhiều lần thử không ra được thuật toán như ý, chúng tôi đành “đầu hàng”, thôi không cố tự viết ra thuật toán nữa. Thay vào đó, chúng tôi muốn thử “bắt” máy tự tìm ra thuật toán ghép hình. Chúng tôi bèn viết một chương trình cho máy “học sâu”, một mô hình mạng thần kinh (neuron network) đi kèm với một “ống bơm dữ liệu” (data generator pipeline) gồm hàng triệu cặp ảnh ghép được và cặp ảnh không ghép được.  Những cặp ảnh ghép được là chính do máy tạo ra từ các ảnh đã có bằng cách cắt chúng ra rồi ghép lại, chứ với các ảnh ban đầu thì tất nhiên máy và người đều không biết ảnh nào ghép được với ảnh nào.  Kết quả đạt được tốt một cách bất ngờ: chỉ sau 4 tiếng học như vậy, máy đã tự tạo ra được thuật toán và chương trình ghép ảnh chạy trên PC, có khả năng tìm nhanh và khá chính xác xem ảnh nào có thể ghép được vào ảnh nào trong số 22 nghìn ảnh ban đầu. Kết quả này khiến cho cả nhóm chúng tôi phải thừa nhận rằng trí tuệ nhân tạo, do chúng tôi tạo ra cho máy, đã thật sự giỏi hơn chúng tôi về khả năng nghĩ ra thuật toán đề giải quyết một vấn đề cụ thể, ở đây là vấn đề ghép ảnh. Chúng tôi chỉ “chỉ đạo chung chung” cho máy là cần phải “học theo những bước nào”, còn máy “tự học là chính” để tự tạo ra phần mềm ghép ảnh.  Việc AI đánh thắng được cả những người vô địch quốc tế về cờ vua hay cờ vây thì chắc nhiều người đã nghe nói. Một ví dụ “nhỏ” khác nhưng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Các bác sĩ da liễu đều biết rằng việc chẩn đoán các bệnh da là việc khó khăn, tỷ lệ chẩn đoán sai lên đến 50%, không phải là vì các bác sĩ không tận tâm hay kém trình độ, mà vì bệnh da có nhiều và rất phức tạp, dễ lẫn kiểu bệnh này sang kiểu bệnh khác. Tuy nhiên AI đang làm thay đổi tình hình: với sự trợ giúp của AI thì tỷ lệ chẩn đoán sai của các bác sĩ sẽ giảm từ 50% xuống chỉ còn 10-20% hoặc thấp hơn nữa, và đó là điều vô cùng đáng mừng cho các bác sĩ, và đặc biệt là cho các bệnh nhân.  Nhóm AI của tôi cũng có tham gia vào một chương trình hợp tác “Deep Clinics” về bệnh da, cùng với một số bác sĩ da hàng đầu ở Việt Nam như GS. Phạm Hoàng Khâm và PGS. Đinh Văn Hân và những người khác. Một kết quả về bệnh acne (trứng cá) cho thấy, ngay từ khi mới chỉ được học chưa thật nhiều trường hợp, máy đã có khả năng khoanh vùng và phân loại các mụn acne rất nhanh nhạy, có thể tin tưởng là sẽ giúp ích nhiều cho các bác sĩ và bệnh nhân.  Nhìn một cách lạc quan, AI càng ngày càng trở thành đầy tớ trung thành tài giỏi giúp ích cho cuộc sống của con người. Ngay những con sư tử dữ tợn còn tuyệt đối trung thành với người chăm sóc nó từ bé. AI không có bản năng tấn công tự vệ để sinh tồn như sư tử, nên lại càng dễ trung thành với con người, vì con người “tạo ra và chăm sóc” nó. Và tuy chúng ta sẽ “không thông minh bằng” AI trong phần lớn các lĩnh vực, nhưng AI sẽ giúp chúng ta ngày càng thông minh và văn minh lên.  “Mạng thần kinh” của máy  Năm 1959, một trong những nhà tiên phong khác trong lĩnh vực AI tên là Arthur Samuel đưa ra cụm từ “machine learning” (“học máy”) để chỉ việc cho máy học đó. Ý tưởng chính của các nhà tiên phong và những người kế tục là thiết kết “máy biết học” dựa trên mô phỏng bộ não và quá trình suy nghĩ và học tập của con người và động vật. Đặc biệt là, máy cũng có các “neuron” (tế bào thần kinh) như người!    Một ví dụ sơ đồ đơn giản hóa về “neural network”: các nút tròn là “neuron” (mỗi nút ứng với một tham số), các mũi tên là các “axon”.   “Mạng thần kinh” trong một chương trình máy tính là cái gì đó nghe có vẻ rất thần bí khó hiểu, nhưng thực ra có thể hình dung nó rất đơn giản như sau. Một chương trình máy tính “cố điển” (chưa có học máy) là một cái “hộp” H có khả năng nhận các thông tin ở “đầu vào” và cho ra thông tin ở “đầu ra”. Về mặt toán học, có thể biểu diễn nó như là một ánh xạ H: V → R từ tập “đầu vào” V đến tập “đầu ra” R. Ví dụ như, đầu vào v ∈ V là một văn bản, đầu ra r = H(v) ∈ R là các lỗi chính tả được chương trình phát hiện trong văn bản đó. Một chương trình “học máy” cũng là một cái “hộp” H, nhưng ngoài tập “đầu vào” V và tập “đầu ra” R, còn có một tập khác liên quan, là tập các tham số T: H : T x V → R.   Với mỗi tham số θ ∈ T cố định thì ta được một chương trình “cổ điển” Hθ tương ứng: Hθ (v) = H(θ, v). Quá trình học của “máy H” chính là quá trình thay đổi dần và chọn lựa các tham số θ ∈ T sao cho Hθ “thông minh nhất” có thể, làm được công việc yêu cầu một cách tốt nhất có thể. Trái với các đầu vào được nhận từ phía bên ngoài của cái máy “biết học” H, các tham số nằm trong bản thân máy, và mỗi một chỗ trong máy dùng để chứa tham số nào đó được gọi là một neuron thần kinh của máy.  Như vậy, nói một cách đơn giản, ở trong máy, các neuron chẳng qua là… các số có thể điều chỉnh. Người ta hình dung là tín hiệu từ đầu vào phải đi qua các neuron (để thu thập các tham số) bằng các “đường truyền tín hiệu” (các công thức) trước khi ra đến đầu ra. Người ta hình dung các “đường truyền tín hiệu” đó như là các cái “râu” (axon) nối từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác trong một bộ não, và thế là các “neuron” cùng với các “axon” đó tạo thành “neuron network” (mạng thần kinh) của máy. Để thay đổi trị số ở các neuron (tức là để cho máy học, thay đổi các tham số), cần phải dùng các công thức nhận biến số là giá trị hiện tại của các tham số, và cả các giá trị tại đầu vào và đầu ra. Người ta hình dung nó nôm na như là một quá trình lan tỏa ngược lại (back propagation) từ đầu ra qua các axon đến các neuron. Cơ chế “lan tỏa ngược lại” để học này tương tự như là cơ chế tạo phản xạ có điều kiện trong các thí nghiệm của Pavlov vậy.  Thực ra thì, cho đến cách đây một thập kỷ, những thuật toán phổ biến nhất cho máy học, ví dụ như thuật toán gọi là SVM (support vector machine), còn chưa dùng đến khái niệm “mạng thần kinh”, tuy rằng khái niệm này có từ những năm 1960. Khái niệm “mạng thần kinh” chỉ trở nên thật sự phổ biến khi người ta thiết kế được các mạng thần kinh có nhiều “lớp” (chính vì thế mà gọi là “học sâu” – “deep learning” – sâu ở đây có nghĩa là có nhiều lớp) với khả năng học vượt trội hơn hẳn so với các thuật toán trước đó, đồng thời với việc xuất hiện các bộ vi xử lý GPU (graphic processing units) mạnh, có khả năng tính toán song song hàng nghìn phép tính đồng thời, thích hợp cho việc học của các mạng thần kinh này. Các “deep neural network” mới bắt đầu thật sự vượt lên trên các phương pháp học máy khác trong thập kỷ 2010. Đến ngày hôm nay, hầu hết các chương trình học máy quan trọng nhất và hiệu quả nhất đều dựa trên “deep learning”, cũng tương tự như là TV kỹ thuật số đã thay thế hoàn toàn TV có ống cathode vậy.  Máy học so với người học  Một phần chính vì các máy AI được “thiết kế theo hình ảnh bộ não con người”, nên tuy máy là “cục sắt” nhưng nó học rất giống người học! Dưới đây là một danh sách nhỏ không đầy đủ các điểm giống nhau đó.  Máy học bằng cách ghi nhớ và bắt chước, thậm chí có thể đến mức “như con vẹt, thuộc lòng” một số thứ hay gặp nhất. Người học nhiều khi cũng phải bắt chước, ghi nhớ những thứ cơ bản quen thuộc nhất, để “có gì đó trong đầu” rồi mới lấy đó làm cơ sở để mà hiểu và vận dụng.  Thậm chí, để kiểm tra xem một mô hình học máy có thích hợp cho một vấn đề nào đó hay không, người ta cho nó học trên một lượng nhỏ các đầu vào (input) xem nó có thể học thuộc được các ví dụ đó hay không, tức là khi đầu vào là các ví dụ đó thì đầu ra có chính xác gần 100% hay không? (Kiểu kiểm tra này gọi là overfit, máy muốn học tốt được thì cũng phải overfit được).  Máy học bằng các ví dụ, cũng giống như người. Các ví dụ chính là các “tấm gương” để bắt chước theo. Dù cho cấu trúc mô hình của máy có tốt đến mấy (hay là đứa trẻ có nhiều tài năng bẩm sinh đến mấy), nhưng các “tấm gương” mà tồi, sai lệch nhiều, thì kết quả của việc học tất nhiên cũng tồi theo.  Càng nhiều ví dụ (data) chất lượng cao thì máy càng dễ học giỏi, và đó chính là một điểm mấu chốt trong lĩnh vực AI: data đủ tốt và đủ nhiều là tối quan trọng.  Nếu so giữa máy và người, thì khả năng “tiêu thụ data” của người chậm hơn máy nhiều. Một máy AI có thể xem hàng triệu ca bệnh để học trong một buổi trong khi một bác sĩ cả năm may ra xem được vài nghìn ca bệnh. Bù lại, người có thể học được kể cả khi chỉ có rất ít data vì có khả năng “tổng quát hóa” cao, còn máy thường “tiêu tốn” nhiều data hơn (tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến chuyện thiết kế máy có khả năng học với rất ít data).  Máy học có bài kiểm tra (vaditation/test), cũng như người khi học phải làm bài kiểm tra. Phải có kiểm tra thì qua đó bản thân máy mới “biết được” là nó đã học được đúng sai hay dở ra sao, rồi tìm cách củng cố cái đúng, sửa cái sai, tăng cái hay, giảm cái dở.  Máy có thể học có hướng dẫn (supervised learning) hoặc tự học (unsupervised learning). Cũng tương tự như với người, nếu có được hướng dẫn tốt, thì sử dụng hướng dẫn chắc sẽ học nhanh hơn, nhưng khi khó tìm được hướng dẫn (mà càng “lên cao, đi xa” càng khó tìm hướng dẫn), thì phải mày mò tự học là chính.  Máy học có thưởng có phạt (gain/loss function), cũng tương tự như người và động vật. Thưởng phạt tạo ra động lực để thay đổi hành vi nhằm tăng được thưởng, giảm bị phạt. Hệ thống thưởng phạt (hay là có thể gọi là hàm số thưởng phạt đối với máy) đóng vai trò rất quan trọng trong việc học. Nếu hàm này mà bị thiết kế tồi, việc thưởng phạt sẽ không khuyến khích được học cho đúng, và kết quả cuối cùng sẽ tồi.      Nếu như trong giai đoạn đầu của sự phát triển AI, người ta chỉ mong tạo được máy mô phỏng trí tuệ của người cho tốt, đuổi kịp được người, thì ngày nay người ta đã nói đến chuyện máy đạt tới “siêu trí tuệ”, vượt xa người.      Máy có thể học theo kiểu tiến hóa, tức là “biến đổi gene, di truyền và chọn lọc tự nhiên”, tương tự như quá trình tiến hóa của động vật theo học thuyết Darwin. Chỉ khác là, quá trình tiến hoá trong một một chương trình học máy có thể diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với ở động vật: chỉ mất vài ngày chạy máy thay vì hàng trăm nghìn năm.  Máy có thể học để sáng tạo. Sáng tạo chẳng qua là kết quả của việc áp dụng nền tảng trí tuệ (đã có bên trong) vào những kích thích gây cảm hứng (từ bên ngoài). Khả năng sáng tạo không chỉ con người mới có, mà máy cũng có thể học làm việc đó.  Máy có thể sử dụng trí tuệ tập thể, hay nói cách khác, nhiều máy khác nhau có thể học kết hợp lại với nhau để cho ra kết quả tốt hơn, tương tự như là một hội đồng chuyên gia sẽ cho ra được ý kiến đáng tin cậy hơn là chỉ một chuyên gia.  Những bài học từ học máy?  Nếu như trong giai đoạn đầu của sự phát triển AI, người ta chỉ mong tạo được máy mô phỏng trí tuệ của người cho tốt, đuổi kịp được người, thì ngày nay người ta đã nói đến chuyện máy đạt tới “siêu trí tuệ”, vượt xa người. Sự học của máy không nhất thiết phải tương tự như của người mà có thể có những phương pháp khác, hoàn toàn lạ lẫm, miễn sao có được trí tuệ.  Tuy nhiên, dù là người học, hay chim chóc học, hay máy học, thì cũng đều có thể mô hình hóa bằng các mô hình toán học, và để học cho hiệu quả thì cũng đều phải tuân theo một số nguyên tắc chung nào đó. Bởi vậy mà, ta có thể tin tưởng rằng, dù máy có không cần bắt chước cách học của người nữa, thì người học vẫn giống máy học về rất nhiều điểm, và việc nghiên cứu sự học máy cho các hệ quả quan trọng cho bản thân việc học của con người: những nguyên tắc gì làm tăng hiệu quả của máy học, thì cũng có nhiều khả năng làm tăng hiệu quả của người học, tăng trí tuệ của loài người! Các nhà giáo dục cần chú ý đến điều này.  Ví dụ, nếu có một lý thuyết nào đó về giáo dục, nếu áp dụng các ý tưởng đó vào máy học mà thấy sai lè lè, thì rất nhiều khả năng đó cũng là một lý thuyết lang băm đối với con người. Thay vì thử nghiệm trên người (và làm hại hàng triệu học sinh nếu là lang băm), ta có thể thử áp dụng lý thuyết vào máy học trước đã. Những ví dụ về lý thuyết lang băm nhưng khoác vỏ “công nghệ” hay “khoa học” trong giáo dục có lẽ không thiếu (về điều này tôi đã có nhiều lần viết trong các bài báo khác).  Một ví dụ có tính chất tích cực hơn: đó là việc nghiên cứu các hàm thưởng/phạt trong học máy cũng cho chúng ta các hệ quả về tính hiệu quả của thưởng phạt trong học tập của trẻ em, học phải có thưởng có phạt hợp lý, và “thi sao học vậy”. Chương trình thi cử mà không thích hợp với mục đích của chương trình học thì ắt dẫn đến học sai lệch, học đối phó, học tủ, học vẹt, học để không hiểu gì mà thi vẫn đạt điểm cao, làm hại học sinh. Trong lúc máy học thì thỉnh thoảng cần kiểm tra, nhưng kiểm tra quá nhiều thì cũng không cần thiết và lãng phí thời gian. Bài kiểm tra mà thiết kế tồi thì điểm làm bài có thể rất cao nhưng mang ra dùng trong thực tế lại thành kết quả rất tồi. Máy hay là người cũng vậy. Thiết kế “bài kiểm tra” sao cho phản ánh đúng nhu cầu của thực tế là điều rất quan trọng, đối với cả máy lẫn người. □    Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Máy in 3D sẽ làm thay đổi chiến tranh và chính sách ngoại giao      Peter Singer, chuyên gia về chiến tranh  trong tương lai ở Quỹ Nước Mỹ Mới (New America Foundation) nói, nếu đưa  máy in 3D ra mặt trận thì nó sẽ làm thay đổi mạnh mẽ công việc của các  công ty sản xuất vũ khí.    Singer nói: “Trước đây các nhà thầu sản xuất hàng cho ngành quốc phòng mỗi khi bán ra một thứ vũ khí nào đấy thì họ đều nắm giữ quyền cung ứng các chi tiết của loại vũ khí đó trong vòng 50 năm tới. Nhưng máy in 3D sẽ làm thay đổi tình trạng này. Một người lính chiến đấu ở những nơi thiếu vật tư, thí dụ ở Afghanistan, sẽ có thể dùng máy in 3D để thiết kế và in ra các chi tiết cơ khí họ cần.”   Ông cho biết, điều đó sẽ làm giảm mạnh số lượng nhà thầu cung cấp vũ khí cho quân đội, ngoài ra sự kết hợp máy in 3D với dây chuyền chế tạo sẽ thu nhỏ đáng kể quy mô dây chuyền sản xuất của nhà thầu, hậu quả khiến cho nhiều công nhân mất việc làm.   Máy in 3D cũng ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại, thí dụ về mặt trừng phạt kinh tế.  Singer nói: “Trừng phạt kinh tế là một trong các thủ đoạn cực kỳ quan trọng của chính sách đối ngoại. Khi Mỹ trừng phạt một nước nào thì nước đó sẽ bị cấm nhập khẩu nhiều mặt hàng, nhất là các chi tiết của máy bay quân sự và thiết bị công nghiệp dầu mỏ. Thế nhưng máy in 3D sẽ làm cho hành động trừng phạt trở nên mất hiệu lực, rốt cuộc nước bị trừng phạt có thể dùng máy in 3D để làm ra các thứ vật tư họ cần.”  Ngoài ra máy in 3D còn có thể đơn giản hóa việc sản xuất súng, điều này tạo ra nguy cơ đe dọa nhất định đối với công tác trị an của xã hội.  Alex Chausovsky, một nhà phân tích ở công ty Công nghệ IHS cho rằng máy in 3D sẽ làm cuộc cách mạng trong nền kinh tế toàn cầu. Ông nói nếu tất cả mọi vật phẩm bán lẻ đều có thể in ra thì những nước có nền kinh tế dựa vào lao động giá rẻ trong ngành chế tạo sẽ lâm vào cảnh khó khăn.       Phát minh máy in 3D ra đời từ thập niên 80 thế kỷ XX nhưng đưa vào sử dụng rất muộn. Các patent quan trọng đầu tiên về máy in 3D dùng cho hệ thống sử dụng plastic đã hết thời hạn bảo hộ vào năm 2009. Các patent quan trọng tiếp theo, đã hết thời hạn bảo hộ vào nửa đầu năm 2014, đều liên quan tới công nghệ dùng tia laser làm nóng chảy một cách có lựa chọn [“selective laser sintering”], để in các vật làm từ kim loại như nhôm, đồng và thép.    Nguyên Hải lược dịch theo nguồn   http://www.spacedaily.com/reports/How_3D_printing_could_revolutionise_war_and_foreign_policy_999.html 3D printing could revolutionise war and foreign policy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy in 3D sẽ lên Trạm Vũ trụ quốc tế      Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đang  chuẩn bị kế hoạch gửi một máy in 3D lên Trạm Vũ trụ quốc tế (ISS) vào  năm 2014 để làm việc như một “công xưởng bay”.    Hiện NASA đang thử nghiệm thiết bị này trên máy bay. Máy in 3D đó phải có khả năng chịu được chấn động trong quá trình phóng tên lửa và khả năng hoạt động an toàn trong không gian trạm ISS bọc kín.  Máy in 3D nói trên do công ty Made In Space chế tạo, có kích thước tương đương chiếc lò vi sóng. Vỏ máy làm bằng kim loại và được bọc bằng nhựa trong suốt để các nhà du hành vũ trụ (DHVT) có thể quan sát máy làm việc. Máy in 3D sẽ giúp họ tự chế tạo các chi tiết máy móc thiết bị và dụng cụ cần thiết cho hoạt động của trạm ISS, nhờ thế giảm được việc tiếp tế những thứ đó từ mặt đất lên – một việc rất mất thời gian và công sức, kinh phí và nhờ vậy sẽ xóa sổ khái niệm dự trữ sẵn trên trạm ISS những thứ đó.  Aaron Kemmer, giám đốc công ty Made In Space, nói: Hãy tưởng tượng, khi tiến hành những sửa chữa cực kỳ quan trọng quyết định sự tồn vong của trạm ISS, nếu các nhà DHVT có thể dùng máy in 3D tự chế tạo tại chỗ các chi tiết và dụng cụ nào họ cần tới thì sẽ tốt hơn là dự trữ sẵn trên trạm tất cả những thứ ấy.  Dave Korsmeyer, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Ames của NASA, nói: “Nếu bạn muốn có năng lực thích ứng mạnh hơn thì bạn cần có khả năng thiết kế và chế tạo ngay (các thứ cần thiết) trên chuyến bay của mình. Vì thế công nghệ in 3D sẽ rất hữu dụng trên vũ trụ.”               Trên tàu vũ trụ Apollo 13 phóng lên Mặt trăng năm 1970, các nhà DHVT bắt buộc phải tự chế tạo một bộ lọc khí CO2 cứu sinh từ các vật liệu như túi nylon, bìa tập tài liệu và băng từ, nhưng rốt cuộc họ không làm được gì cả và do đó chuyến bay thất bại. Nếu có máy in 3D thì có lẽ chỉ trong vài phút là có thể giải quyết được vấn đề này.                                                                                                                                      Các máy in 3D hiện đại có thể dùng nguyên vật liệu như chất dẻo polymer in thành từng lớp mỏng chồng lên nhau và tạo ra các đồ vật thật. Hiện nay các nhà khoa học bắt đầu sử dụng bột ti tan và niken-crôm được làm nóng chảy bằng tia laser để chế tạo các chi tiết chịu lực.  Ngoài ra, trong phòng thí nghiệm, các kỹ sư NASA đang thử dùng máy in 3D in ra các vệ tinh nhỏ có thể phóng đi từ trạm ISS để chuyển số liệu về Trái Đất.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Mấy kỷ niệm với anh Nguyễn Đình Ngọc      Cuộc đời anh Ngọc tự nó đã là một cuốn tiểu thuyết.      GS Nguyễn Đình Ngọc. Nguồn: QĐND  Do những quy định nghiêm ngặt của nghề làm Toán, tôi có lẽ là người duy nhất mà cả hai luận án (tiến sĩ và tiến sĩ khoa học) đều do anh Nguyễn Đình Ngọc phản biện. Vì thế, tôi biết ít nhiều về cuộc đời, những tâm tư, dằn vặt của anh, qua những lần cùng đạp xe dọc phố phường Hà Nội.   Một đêm trăng trên thành cổ Warszawa, hè 1984, anh Ngọc và tôi dạo bước, cả hai im lặng đã lâu. Bỗng anh hỏi tôi: “Theo cậu thì tình cảm nào là đáng sợ nhất đối với con người?” Tôi biết anh đang có điều muốn tâm sự, bèn đáp: “Em không biết”. Im lặng hồi lâu. Dường như ánh trăng vằng vặc đã khiến anh Ngọc chia sẻ: “Theo mình, đó là sự ân hận”. Tôi hỏi: “Đã có điều gì trong đời khiến anh phải ân hận chăng?” Anh bảo: “Bản thân chữ ân hận đã hàm nghĩa, dù tiếc nuối người ta không làm lại được nữa”. Lại lặng im. Rồi anh kể về một điều mà anh ân hận với gia đình nhỏ của mình, ngày anh rời Paris về nước năm 1966.   Anh Ngọc đã chứng kiến cảnh ông cụ anh, một bác sĩ quân y của Việt Minh, bị lính Pháp bắn chết năm 1947 gần cầu Đuống, trên đường chúng giải ông cụ từ bệnh viện dã chiến Vĩnh Phúc, nơi cụ là Viện trưởng và bị bắt, về Hà Nội. Ngay từ đầu, tôi nhận ra câu chuyện có vị chát của chuyện Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi ngày xưa.      Năm 1953, ông Nguyễn Hữu Khiếu, lúc ấy là Giám đốc Công an Liên khu 4, đã huấn luyện anh Ngọc trên vùng rừng núi Con Cuông, Nghệ An, trước khi anh thành một tình báo viên đơn tuyến… Ông Khiếu nói: “Cậu học giỏi, hãy gắng lấy thật nhiều bằng cấp. Mỗi tấm bằng sẽ là một cái mộc che chắn cho cậu về sau”.   Sau đó, anh Ngọc “dinh tê”, lấy cớ là phải về Hà Nội để chữa lao. Mà anh chớm lao thật, phải nằm ở nhà thương Đồn Thủy (bệnh viện Hữu Nghị bây giờ) một thời gian. Quân Pháp vì thế không nghi ngờ gì nữa.  Năm 1954 anh di cư vào Nam. Anh Ngọc học giỏi có tiếng, nên được giới thiệu làm gia sư trong nhà ông Phan Huy Quát, người giữ vai trò Tổng trưởng nhiều bộ khác nhau trong nhiều giai đoạn của chính quyền Sài Gòn. Sau anh Ngọc yêu và lấy chị T., danh nghĩa là cháu vợ ông Phan Huy Quát, nhưng thân phận thật thì như một người giúp việc. Sau này, khi về lại Sài Gòn, có lần anh Ngọc mượn xe của Tổng trưởng Phan Huy Quát, chạy thẳng vào rừng, tiếng là đi săn, kỳ thật là vội báo tin cho Trung ương cục Miền Nam.  Anh Ngọc kể khi mới về Sài Gòn 1966, anh đã ngạc nhiên thấy người Sài Gòn tin Tử Vi thế nào. Ban đầu anh định học Tử Vi, để dùng nó như một công cụ thời thượng (ít nhiều lừa gạt) mà hành nghề tình báo. Nhưng rồi, càng học càng đọc thì anh càng bị Tử Vi cuốn hút và chinh phục tự lúc nào… Anh Ngọc đã trở thành một trong số ít ỏi những nhà Tử Vi uy tín nhất Việt Nam. Anh để ý mối liên hệ giữa 60 năm (một vòng thời gian Phương Đông) với Ngũ hành. Ai cũng biết cả thảy có 120 = 1 x 2 x 3 x 4 x 5 dãy (các hoán vị) tạo thành từ 5 yếu tố (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Chẳng hạn, Mộc, Kim, Thủy, Hỏa, Thổ là một hoán vị. Mỗi lần chỉ đổi chỗ 2 chữ trong bộ 5 chữ, người ta bảo rằng hoán vị đổi hướng (đổi dấu). Nếu xét các dãy 5 chữ bảo toàn một hướng nào đó, nghĩa là quan tâm tới Ngũ hành tương sinh (và do đó, tới Ngũ hành tương khắc), thì có 60 Ngũ hành tương sinh (hoán vị chẵn) và 60 Ngũ hành tương khắc (hoán vị lẻ). Vậy 60 năm (một vòng thời gian phương Đông) chính là lượng Ngũ hành tương sinh (60 là số phần tử của nhóm các hoán vị chẵn A5). Nhưng tại sao lại chọn Ngũ hành? Bởi vì trong dãy nhóm A2, A3, A4, A5 thì A5 là nhóm đơn (không giao hoán) đầu tiên (không có nhóm A1 vì chỉ với một phần tử thì không có hướng). Điều đó chứng tỏ rằng các mô hình Nhị hành, Tam hành, Tứ hành quá đơn giản, còn Ngũ hành là đối tượng đầu tiên mà tổ hợp trên nó không đơn giản, nhưng cũng không quá phức tạp đến mức không chế ngự nổi. (A5 là nhóm đơn không giao hoán đầu tiên trong họ An, và kể từ đó mọi nhóm trong hệ này đều là nhóm đơn). Ngũ hành xứng đáng dùng làm mô hình cho xã hội loài người. Những người học Toán còn biết rằng việc A5 là nhóm đơn khiến cho n=5 là bậc thấp nhất sao cho tồn tại một phương trình đa thức bậc n không thể giải được nếu chỉ dùng các phép toán cộng trừ nhân chia và khai căn. Tôi xin lỗi các bạn không học Toán, đoạn này chứng tỏ rằng các nhà Toán học có thể nhìn Tử Vi bằng một cách khác.         Ở Sài Gòn, anh Ngọc nổi tiếng là một giáo sư lập dị. Người ta kể rằng Sài Gòn rộng thế, nắng nôi là thế, mà giáo sư toàn đi bộ, mặc dù lương giáo sư có thể mua cả ôtô. Sau này anh Ngọc bảo tôi, anh đi như thế là để bọn theo dõi anh, nếu có, phải bỏ cuộc. Anh phân tích, bọn này thường lười, quen theo dõi bằng ôtô hay xe máy. Nhưng anh toàn chọn đường một chiều, và đi bộ ngược dòng xe. Trước khi đến điểm hẹn, anh thường đi bộ tha thẩn như thế hơn chục cây số. Những cái đuôi (nếu có) đều rụng hết, vì lười. Vả lại, đi ngược dòng xe cơ giới như thế, anh có cơ hội nhìn vào kính của ôtô đang đi tới để biết liệu có kẻ nào theo dõi anh không. Thì ra, cái lập dị của ông giáo sư tình báo là thế.   Thu Đông 1994, đang trong khoảng thời gian hai năm làm việc tại Viện Toán CRM Barcelona, tôi quen giáo sư Paulo Ribenboim, một người Canada gốc Brazil. Ông vốn là một học trò của Jean Dieudonné ở Nancy (Pháp) và là một bạn thân của Alexander Grothendieck. Còn Grothendieck là nhà Toán học lớn nhất thế giới của thế kỷ 20 và cũng là một bạn thân của anh Ngọc. Trong hồ sơ của Grothendieck có đoạn, ngay sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, và chưa tìm được công việc lâu dài, ông đã tới Brazil làm việc hơn một năm. Đó chính là theo lời mời của người bạn thân Ribenboim.   Cuối tuần, ông bà Ribenboim thường mời tôi tới uống trà, ăn bánh ngọt mà bà tự làm theo kiểu Pháp, quê hương bà. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên đời, và cố nhiên không quên nhắc đến Grothendieck. Paulo kể rằng Grothendieck có đến 100 người đàn bà. Bà vợ Paulo quay sang lườm: “Sao ông lại nói vậy”. Paulo bảo: “Tôi nói thế không đúng à?” Rồi ông kể một lần, quãng đầu những năm 1970, ghé qua Paris, ông bà gặp một người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhắn, tóc đen, rất đẹp, trong nhà Grothendieck. Tôi hiểu người đó chính là chị T., vợ anh Ngọc.  Anh Ngọc không thể không biết rằng, như lời Paulo, Grothendieck là một người đàn ông có tới 100 người đàn bà. Nhưng vì sao, khi nhận lời với tổ chức trở về Việt Nam, anh Ngọc lại tới nhờ ông bạn Grothendieck chăm sóc vợ con mình? Phải chăng anh cảm thấy chuyến đi của anh lành ít dữ nhiều, khả năng anh toàn mạng sống là rất thấp. Vì thế, anh muốn dù có thế nào Grothendieck sẽ nuôi nấng vợ con anh? Ý nghĩ đó đã đến với tôi từ khi anh Ngọc còn sống. Nhưng tôi không đủ can đảm hỏi anh.      Có lần, thong thả đạp xe với tôi trên đường Hà Nội, đến gần Cửa Nam, anh Ngọc trầm ngâm kể tôi nghe anh đã trả lời ra sao bức thư chung của chị T., vợ anh, và A. Grothendieck, bạn anh, về tình cảnh chung của ba người.   Năm 1966, A. Grothendieck được trao huy chương Fields tại Đại hội Toán học thế giới tại Moscova, nhưng từ chối nhận để phản đối chính sách của Liên Xô đối với người Do Thái. Năm 1968, Grothendieck sang thăm Bắc Việt Nam qua đường bay Phnompenh. Hồi đó, phần lớn trí thức Pháp đều ủng hộ cuộc đấu tranh của Việt Nam chống Mỹ. Các trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội hồi ấy đều sơ tán ở Thái Nguyên. Grothendieck đã giảng nhiều bài tại những đại học này. Cũng có dịp Grothendieck về Hà Nội làm việc. Một trong những người nghe chính của Grothendieck là chị Hoàng Xuân Sính ở Đại học Sư phạm. Về sau chị Sính kể dạo đó chị được giao nhiệm vụ bám chặt Grothendieck. Tổ chức bảo rằng, nếu có thời gian thể nào ông ta cũng tìm về cuối đường Tuệ Tĩnh, nơi có bà mẹ của người bạn ông ta là Nguyễn Đình Ngọc, một giáo sư phản động của Sài Gòn… Hoàng Xuân Sính đã cố gắng giữ chặt Grothendieck. Một buổi trưa, sau một thời gian làm việc căng và ăn uống kham khổ, chị mệt quá, định nằm nghỉ một chút ở nhà trước khi đến khách sạn Metropole nghe Grothendieck giảng tiếp buổi chiều, nhưng rồi ngủ quên. Khi chị choàng tỉnh, chạy vội đến khách sạn thì đã không thấy Grothendieck đâu. Chiều muộn, khi Grothendieck về khách sạn, chị Sính xin lỗi vì tới trễ và hỏi Grothendieck đi đâu. Ông ta khoe đã tìm đến nhà riêng, gặp mẹ người bạn là Nguyễn Đình Ngọc. Nhưng “ngôn ngữ” của hai người chỉ là hoa chân múa tay.   Bà cụ mẹ anh Ngọc kể lại rằng trong hơn 20 năm, từ 1954 đến 1975, gia đình cụ luôn bị hắt hủi vì có anh Nguyễn Đình Ngọc vào Nam theo địch.     GS Nguyễn Đình Ngọc. Ảnh: Tư liệu Trung tâm Di sản các nhà Khoa học Việt Nam.   Năm 2007, khi anh Ngọc đã mất, còn tôi đang làm việc tại Viện Toán IHES, nơi Grothendieck làm việc ngày xưa, một bữa trưa Laurent Lafforgue, một huy chương Fields của Pháp, kể rằng Grothendieck (lúc ấy đã ở ẩn, không ai biết tung tích) vừa gọi điện cho anh phàn nàn rằng ông ta cần bản chụp một số tài liệu, mà các thư ký của IHES không tích cực giúp ông. Nhân đó, tôi bảo mọi người rằng Grothendieck là một nhà toán học lớn, nhưng là một người bạn tồi. Mọi người quanh bàn ăn hỏi tôi vì sao. Tôi kể tóm tắt câu chuyện vợ chồng anh Ngọc. Laurent Lafforgue bảo rằng anh ấy cũng đã từng nghe chuyện đó.   Vài tháng trước ngày 30/4/1975, anh Ngọc có dấu hiệu bị lộ. Hai sĩ quan CIA người Mỹ, tự giới thiệu là thuộc bộ phận CIA Tây Âu, đã tới văn phòng của anh ở Đại học Sài Gòn. Họ hỏi: “Thưa giáo sư, chúng ta nên nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh hay bằng tiếng Việt?” Hai sĩ quan CIA đó đưa ra (loáng thoáng) bức thư của một người chiêu hồi. Sau cuộc gặp, anh Ngọc nhận định: Phía Mỹ đã nghi ngờ, theo dõi anh từ khi anh ở bên Pháp, nhưng những bằng chứng của họ chưa đủ. Mãi tới chiều muộn ngày 29/4/1975, khi ra khỏi Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, nghe tiếng súng ven đô đã rất gần, anh mới tin là mình còn sống.   Bài báo đầu tiên của tôi trên tạp chí Comptes Rendus Acad. Sci. Paris 1983, do Henri Cartan giới thiệu, được anh Ngọc dịch giúp từ bản tiếng Anh (do tôi viết) sang tiếng Pháp, vì tôi không tự tin về tiếng Pháp cho lắm. (Hơn 20 năm sau, tạp chí này mới nhận những bài viết bằng tiếng Anh, nhưng vẫn đòi có tóm tắt bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp).   Hồi tôi sắp bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học, có hai lần tôi cần gặp anh Ngọc để đưa tận tay luận án và để nhận văn bản phản biện. Cả hai lần anh đều hẹn tôi vào lúc gần 5 giờ sáng, tại cổng Bộ Công an, đường Trần Nhân Tông. Lúc ấy anh vừa xong một đêm làm việc, sẽ trở về nhà ở khu Trung Tự ngả lưng một lát, trước khi tới Bộ làm việc bình thường vào sáng hôm ấy. Tôi không hiểu anh Ngọc lấy ở đâu năng lượng để làm việc khủng khiếp như thế. Dường như anh cảm nhận thời gian còn lại của anh không nhiều. Nghe nói, một số nhân viên của anh trong Cục Tin học không thích anh làm việc nhiều như thế, vì họ không theo kịp, chẳng hóa ra họ lười.   Hằng ngày anh Ngọc chỉ ăn một bữa tối. Hôm tôi bảo vệ luận án Tiến sĩ Khoa học, tôi mời anh cùng các thành viên hội đồng ăn trưa. Nể tôi lắm, anh cũng ngồi một lúc cho vui. Lúc ấy anh đang là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Tin học Bộ Công an. Dạo ấy, thường trong những bữa như thế, người có lái xe riêng như anh sẽ nói khổ chủ mời lái xe cùng ngồi. Khi tôi hỏi lái xe đâu để tôi mời, anh Ngọc nói cậu ấy đi ăn chỗ khác rồi. Tôi tỏ ra áy náy. Anh Ngọc bảo: “Ông yên tâm, cái phong bì lúc nãy tôi đã đưa cậu ấy rồi”. (Đấy là phong bì thù lao phản biện của anh.) Anh Ngọc bao giờ cũng là người chu đáo, việc nào ra việc nấy như thế.   Chuyện tôi tình cờ sưu tầm được một bức ảnh quý của anh Ngọc khá ly kỳ. Hè 1993 tôi tới Đại học Heidelberg làm việc. Một ngày cuối tuần, vợ chồng giáo sư Dieter Puppe mời tôi tới nhà ăn trưa. Bà Puppe là một phụ nữ Đức nhỏ nhắn, xinh đẹp. Chúng tôi đã biết nhau khi bà cùng đi với ông tới Warszawa hè 1984. Ông bà khoe tôi bộ ảnh, đã chế thành slide để chiếu lên tường, về Hội nghị quốc tế Tôpô Đại số tại Oberwolfach 1966. Dạo ấy A. Dold (sinh năm 1928) và D. Puppe (sinh năm 1930) lần đầu tổ chức một hội nghị quốc tế. Mùa hè, hai chàng trai chưa đầy 40 tuổi hăm hở cuốc bộ từ Heidelberg xuống Oberwolfach (vùng rừng đen Freiburg), cứ băng rừng nhằm hướng Nam, theo bản đồ mà đi. Trong bộ slide, có bức ảnh giáo sư Nguyễn Đình Ngọc, lúc ấy 34 tuổi, nom trẻ hơn nhiều so với tuổi, từ Paris sang thuyết trình. Nguyễn Đình Ngọc đầu cắt trọc, mắt sáng ngời, đang chỉ tay vào bảng, giải thích một điều do chính ông viết. Có thể thấy đấy là một văn bản về K-theory, lý thuyết sâu sắc mới ra đời lúc ấy. Nhận ra ngay đó là một bức ảnh quý, tôi xin phép D.Puppe cho in lại. Gần 10 năm sau, năm 2002, nhân dịp mừng giáo sư Nguyễn Đình Ngọc 70 tuổi, tôi cho phóng to bức ảnh ấy, lấy chữ ký của toàn bộ thành viên trong seminar chúng tôi, lồng khung kính, và kính tặng giáo sư. Hôm phóng ảnh, ông thợ ảnh cứ xuýt xoa: “Ai mà đẹp trai, thông minh đến thế”.   Mùa hè 2002, có lần tôi tới tìm anh Ngọc tại nhà anh, khu tập thể Bộ Công an ở Trung Tự. Đã quá trưa, và mặc dù có hẹn trước, vẫn chưa thấy anh Ngọc về. Quãng 1 giờ chiều mới thấy anh lễ mễ lôi về một xe đạp tuột xích. Người nhễ nhại mồ hôi, anh xin lỗi và bảo vừa từ Đại học Thăng Long về, mà xe hỏng giữa đường. Tôi ái ngại nhìn chiếc áo anh mặc, chiếc áo công an đã rách lớp cổ ngoài, lòi ra lớp cổ bên trong đen xỉn vì thiếu xà phòng. Tôi nhẩm tính, anh có thể mua một sơ mi tươm tất, giá rẻ, chừng 50 ngàn, một chiếc xe đạp còn tốt với giá không đầy 1 triệu. Lúc ấy anh Ngọc đang lĩnh lương hưu Thiếu tướng công an, theo ước lượng của tôi, không dưới 15 triệu một tháng.    Noel 2003, hội nghị Đại số – Hình học – Tôpô toàn quốc tổ chức tại Đại học Đà Lạt. Đó là một hội nghị quốc gia, nhưng do có nhiều khách quốc tế, nên phần lớn các báo cáo được trình bày bằng tiếng Anh. Anh Ngọc có một báo cáo ngả về công nghệ thông tin. Khả năng tiếng Pháp và tiếng Anh của anh Ngọc từ lâu đã được đặt ở vị trí hàng đầu của Hội Toán học Việt Nam. Mở đầu anh nói bằng một giọng tiếng Anh thuần thục: “Thưa quý bà, quý ông; tôi có thể trình bày báo cáo này bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, để nhiều đồng nghiệp của tôi có thể theo dõi được, tôi xin nói bằng tiếng Việt”. Rồi anh chuyển sang tiếng Việt. Thỉnh thoảng anh trở nên khó hiểu như thế.  Noel 2004, anh Ngọc và chị D., người bạn đời về sau của anh, tham dự hội nghị do tôi tổ chức ở Sa Pa về “Thuật ngữ và Dịch thuật Toán học”. Tối hôm trước, 9 giờ, hai anh chị chờ tôi ở cửa ga Hàng Cỏ, phía đường Trần Quý Cáp, để nhận vé tàu đi Lào Cai. Bạn đã thấy Thiếu tướng công an nào cùng vợ đi dự hội nghị bằng tàu hỏa hạng thường chưa? Tại hội nghị ấy, anh Ngọc trình bày một tham luận trong đó anh yêu cầu ông Bộ trưởng GD&ĐT từ bỏ cái gọi là “Giáo dục toàn diện”, trở về với nguyên tắc “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” của các cụ nhà ta từ ngàn đời. Đó là hội nghị khoa học cuối cùng mà tôi gặp anh, trước khi anh vĩnh viễn ra đi năm 2006.  Năm 2007, tôi từ Viện Toán IHES Paris đi Djerba, đảo du lịch của Tunisia, nổi tiếng từ thời Đế quốc La Mã, dự hội nghị quốc tế mừng Jean Lannes 60 tuổi. Tại đây, sau bài nói 1 giờ của tôi, giáo sư Karoubi, người Pháp gốc Do Thái (sinh ra và lớn lên ở Tunisia) tìm gặp tôi trong giờ giải lao, bên bể bơi trong xanh. Ông hỏi: “Anh có biết Nguyễn Đình Ngọc không?” Tôi nói: “Ông ấy phản biện cả hai luận án của tôi”. Câu chuyện nhanh chóng trở nên thân mật. Người Việt lang bạt trên thế giới kể đã nhiều. Mấy ai được bạn bè lừng lẫy thế giới còn nhớ sau 40-50 năm xa cách?  Khi anh Ngọc còn chưa hưu, có người hỏi rằng anh có được trọng dụng không. Anh điềm tĩnh và hóm hỉnh trả lời: “Có trọng mà không dụng”. Anh như con dao sắc bén, rất quý nhưng đâu phải dễ dùng.   Cuộc đời anh Ngọc tự nó đã là một cuốn tiểu thuyết.     Author                Nguyễn Hữu Việt Hưng        
__label__tiasang Máy lọc nước “cứu” thế giới      Cha đẻ xe Segway vừa trình làng một phát minh mới mà ông tin rằng có thể cứu thể giới khỏi nạn thiếu nước sạch.    Tháng chín vừa qua đã có một cuộc gặp mặt của hàng trăm nhà doanh nghiệp, đại diện các tổ chức Phi chính phủ và chuyên gia về phát triển bền vững ở New York theo lời mời của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton và quỹ của ông để thảo luận về những vấn đề khẩn thiết nhất hiện nay của thế giới và đưa ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề đó.  Một trong những đại biểu tham dự là ông Dean Kamen, 62 tuổi, người bỏ dở đại học, kiếm sống chủ yếu bằng bằng sáng chế thiết bị thẩm tách lưu động. Tuy nhiên ông được biết đến nhiều hơn cách đây mười năm khi cho trình làng xe Segway, một loại xe hai bánh chạy bằng điện và tự lấy thăng bằng nhờ trọng lượng người điều khiển.  Cũng từ đó, ông miệt mài nghiên cứu về một hệ thống làm sạch nước, mà ông đặt tên là “Slingshot”, tạm dịch thiết bị bắn đá. Ông Kamen nói không mấy khiêm tốn “Với máy bắn đá, David đã hạ gục Goliath, giờ đây chúng tôi cũng muốn giải quyết vấn đề nước sạch theo tinh thần đó.“ Từ “chúng tôi“ bao gồm Kamen và ông chủ Coca-Cola Muhtar Kent. Bộ đôi này dự kiến từ nay đến năm 2015 sẽ sản xuất từ 1.500 đến 2.000 máy của Kamen để đưa vào sử dụng ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Cho đến thời điểm đó các máy “Slingshots” sẽ cung cấp khoảng 500 triệu lít nước sạch.  Mục tiêu đầy tham vọng của Kamen và Kent là đến năm 2020 sẽ đưa thêm hàng nghìn máy vào hoạt động. Hiện có khoảng một tỷ người trên trái đất không được tiếp cận nước sạch và khoảng nửa triệu người trong số này hàng năm bị chết thiếu nước sạch.  Chạy liên tục mà không cần sửa chữa  Tính năng hoạt động của máy Slingshot khá đơn giản: máy dùng động cơ chạy bằng năng lượng mặt trời hay sinh khối; nước thải hoặc nước sông, hồ sẽ được đun dưới áp lực như ở một máy chưng cất nước đến khi bốc hơi. Quá trình này diệt vi khuẩn đồng thời sàng lọc các chất thải rắn nguy hại, như các kim loại.      Thiết bị có kích cỡ như một máy giặt, mỗi ngày có thể tạo ra khoảng 850 lít nước sạch. Để chứng minh khả năng sáng chế của mình, ông Kamen đã uống luôn nước tiểu của mình sau khi cho chạy qua máy để làm sạch.  Giờ sẽ có ai đó nêu câu hỏi vậy chuyện này có gì đặc biệt? Thiết bị lọc nước ra đời từ nhiều thập niên nên không có gì lạ. Bản thân ông Kamen thấy khó khăn lớn nhất là ở chỗ, phải làm sao tiếp tục phát triển những vật liệu hiện có cũng như kỹ thuật điều khiển, để thiết bị có thể chạy hàng năm liên tục mà không cần phải sửa chữa.   “Một rào cản nữa là, thiết bị phải gọn nhẹ để có thể lắp đặt ở khắp mọi nơi trên thế giới và máy phải “tự chạy” là chính“, Kamen cho hay. Ngoài ra phải làm sao để có thể chế tạo chúng trên quy mô công nghiệp.    Sẽ chỉ đắt bằng một cái tủ lạnh  Kamen thừa nhận ở đây có vấn đề: “Công nghệ này thì quá tuyệt với, tuy nhiên nó không thể làm ảo thuật.“ Ở những vùng khô cằn không có nước thì máy này cũng trở nên vô dụng.  Kamen tỏ ra lạc quan hơn ở một khía cạnh khác. Thiết bị nguyên mẫu lọc nước đầu tiên có giá tới hàng trăm nghìn đôla. Một vài năm nữa giá sẽ chỉ còn tương đương giá một cái tủ lạnh.  Sau khi đã giải quyết xong các vấn đề về kỹ thuật, Kamen lại đối mặt với một vấn đề khác: Làm thế nào để đưa thiết bị đến những nơi mà người ta cần nó và ai là người trả tiền?  Đây chính là lúc Coca-Cola tham gia cuộc chơi. CEO Kent của tập đoàn nước giải khát lớn nhất thế giới rất tâm đắc với công nghệ của Kamen.  Cái máy của ông Kamen hoàn toàn phù hợp với chủ trương của tập đoàn nước giải khát này: Vì Coca Cola muốn đến năm 2020 sẽ sản xuất “nước sạch”. Có nghĩa là, cứ một lít nước dùng vào sản xuất nước giải khát thì ở đâu đó hãng phải tạo ra một lít nước sạch. Bên cạnh việc tái chế nước và sử dụng tài nguyên nước có hiệu quả hơn thì thiết bị tạo nước sạch của ông Kamen cũng có một vai trò nhất định đối với Coca Cola.   Nước sạch trở thành chuyện kinh doanh  Việc tập đoàn nước giải khát của Mỹ hỗ trợ ông Kamen và công nghệ Slingshot của ông không nhất thiết xuất phát từ tình yêu đối với con người, khi giới thiệu về dự án này ở New York ông Kamen đã không dấu diếm: “Chỉ những nơi làm ăn phát đạt mới là nơi chúng tôi thu được kết quả tốt đẹp trong kinh doanh.“      Nhưng ông Kent sẽ không phải là sếp của một trong những tập đoàn lớn nhất thế giới, nếu ông ta không phát triển một mô hình kinh doanh liên quan đến “Slingshot”.  Thiết bị làm sạch nước này sẽ được lồng ghép trong một hệ thống có tên là Ecocenter, thực chất là một loại Kiosk bán nước sạch, điện mặt trời hay điện sinh học để nạp điện cho Laptop hay điện thoại di động, và đây cũng là nơi cung cấp dịch vụ kết nối Internet công cộng.   Điều hành các Kiosk này là chị em phụ nữ trên toàn thế giới. Ngoài những dịch vụ chính như điện, nước và phương tiện truyền thông, chị em còn có thể kinh doanh những mặt hàng thiết yếu thường ngày khác.   Ecocenter đầu tiên đã xuất hiện ở Nam Phi. Từ nay đến năm 2015, 150 Kiosk nữa sẽ được triển khai. Để thực hiện dự án này, ông Kamen và Kent cùng với các chuyên gia IT của Qualcomm, doanh nghiệp điện mặt trời lớn của Mỹ và bốn doanh nghiệp khác, đã hùn vốn xây dựng một ngân hàng phát triển.   “Phương án này chỉ thực sự hoạt động một khi những người điều hành cũng có thể kiếm ra tiền từ đây“, ông Kent đoan chắc như vậy.  Thí dụ có thể nghĩ đến chuyện các bà chủ những Ecocenter trong tương lai có thể mua hoặc thuê Kiosk bằng tín dụng ngân hàng với điều kiện thuận lợi và sau đó hoàn trả dần.  Nhưng dù cuối cùng chọn mô hình kinh doanh nào đối với các Ecocenter, điều đã được khẳng định là, tất cả các doanh nghiệp tham gia dự án đều không muốn cho không các Kiosk.   Các bên tham gia cũng không nhất thiết muốn dự án phải mang lại lợi nhuận cho họ. Đối với hãng Coca-Cola, đây là một nước cờ khôn ngoan: Nếu hệ thống này vận hành tốt, họ sẽ được nhiều nước sạch bảo đảm cân đối về phát triển bền vững mà chỉ trả ít tiền, thậm chí không mất tiền. Người dân trong khu vực cũng được hưởng lợi. Kết quả: đây là một ví dụ điển hình về Win-Win. Thật quá đẹp nếu như nó trở thành sự thật. Điều này sẽ được chứng minh trong những năm tới.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy phiên dịch      Các nhà khoa học tại Đại học Carnegie Mellon, Pittsburg, Mỹ đã sử dụng các điện cực nối với cổ và mặt để phát hiện các chuyển động xảy ra khi miệng nói không thành lời các từ và các nhóm từ.    Khi sử dụng các dữ liệu này, máy vi tính có thể tạo ra các âm thanh và sau đó biến các âm thanh này thành các từ. Hệ thống này có khả năng dịch các từ sang một ngôn ngữ khác và phát ra một loại tiếng nói tổng hợp.  Tạp chí New Scientist mô tả hệ thống này chưa hoàn toàn chính xác, nhưng các chuyên gia cho biết kỹ thuật này đang đạt đến sự hoàn thiện để hai người nói hai ngôn ngữ khác nhau có thể đối thoại với nhau.  Q.HƯƠNG (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy quang phổ phát xạ tia X phát hiện sự thịnh vượng của các đế chế      Một nghiên cứu về các đồng xu vàng lưu hành ở những thời điểm khác hay của đế chế La Mã đã cho thấy nền kinh tế thịnh vượng tại thời điểm đó.      Các đồng xu La Mã. Nguồn: phys.com  Để đưa ra được kết luận này, các nhà nghiên cứu đã mang ba đồng xu La Mã đến Cơ sở Máy gia tốc neutron và muon ISIS của Hội đồng Các cơ sở KH&CN để phân tích.  Nhìn về quá khứ  Khi cần phân tích các di vật có giá trị cao, nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các kỹ thuật đánh giá không phá hủy. Các nhà nghiên cứu của trường đại học Oxford và trường đại học Warwick đã mang ba đồng xu La Mã đến cơ sở ISIS. Họ muốn xem xem liệu các đồng xu này có lớp bề mặt được “gia cố” như thế nào hoặc pha trộn một cách bí mật với những kim loại khác ra sao.  Bằng cách đó, các nhà nghiên cứu có thể tìm thấy rất nhiều điều về xã hội tiêu dùng những đồng tiền đó, bao gồm cả mức độ ổn định của nền kinh tế.  Các đồng xu được phân tích này thuộc về ba triều đại của ba vị hoàng đế La Mã:  Tiberius (đầu thế kỷ thứ nhất trước công nguyên)  Hadrian (giữa thế kỷ thứ hai trước công nguyên)  Julian II (giữa thế kỷ thứ tư trước công nguyên)  Để đo đạc được độ nguyên chất của các đồng xu vàng, họ sử dụng máy quang phổ phát xạ tia X muon, một quá trình phân tích không phá hủy bao gồm cả việc “nung” các hạt muon mang điện tích âm trên đồng xu.  Các hạt muon sau đó bắt giữ các nguyên tử bên trong các đồng xu, vốn phát xạ một “vết” của các tia X muon mang đặc điểm độc nhất vô nhị của nguyên tố mà chúng mới được tách ra.  “Lõi” của đồng xu  TS. George Green của trường đại học Oxford, một trong số các tác giả, nói: “Các kết quả từ những phân tích mức bề mặt của các đồng xu cho thấy chúng đều được làm từ vàng có độ nguyên chất rất cao. Tuy nhiên, những phép đo đạc thực hiện trên một vài phần của mili mét trích xuất từ đồng xu, vì vậy có một câu hỏi rất hợp lý là “liệu có gì khác không?”. Liệu có thường xuyên có những chất khác ngoài vàng bên trong đồng xu không? Chúng ta biết là người La Mã vẫn thường cố tình pha trộn các đồng tiền bạc của mình để giấu đi một thực tế là pha rất nhiều đồng ở trong, vì vậy rất có thể xảy ra điều đó với các đồng vàng.  Việc thực hiện công trình nghiên cứu ở ISIS trích mẫu ở giữa các đồng xu bằng cách đánh giá không phá hủy cho thấy độ nguyên chất của nó trên bề mặt cũng biểu hiện được thành phần tại “lõi”. Ở một mức độ cơ bản, nó không chỉ thể hiện được mức độ ổn định của nền kinh tế đế chế La Mã, những kết luận rút ra từ nghiên cứu đó cũng hữu dụng cho các nhà nghiên cứu cần sử dụng các phương pháp đánh giá có xâm lấn hoặc không xâm lấn trên bề mặt của các đồng vàng La Mã. Giờ đây, họ có thể tin tưởng rằng các bề mặt của những đồng xu cũng thể hiện rất nhiều tính chất của các đồng xu đó”.    Dưới đế chế La Mã, thông thương mua bán và vận tải đã ở mức phát triển rất cao. Nguồn: historyhit.com  Kỹ thuật không phá hủy   Việc sử dụng kỹ thuật này giúp các nhà khoa học chứng minh được chính xác hơn các thành phần làm nên các hiện vật cổ xưa mà không thể có được, nếu sử dụng các phương pháp khác.  Máy quang phổ phát xạ tia X muon lại có ưu điểm không đòi hỏi vật thể cần kiểm tra phải được làm sạch trước khi phân tích, qua đó làm giảm khối lượng công việc của các viện nghiên cứu di sản văn hóa.  Việc làm sạch một số hiện vật có thể dẫn đến làm hư hại chúng. Kỹ thuật này, do đó, vô cùng hữu dụng để phân tích các hiện vật vẫn bị bùn đất bao phủ, ví dụ như những hiện vật được lấy lên từ những con tàu đắm.  TS. Adrian Hillier, người phụ trách nhóm nghiên cứu về muon ISIS, nói: “Những kết quả đó nhấn mạnh vào tiềm năng của kỹ thuật đánh giá không phá hủy ở lĩnh vực di sản văn hóa. Nó cho phép có thể lấy mẫu sâu    hơn dưới lớp bề mặt của các hiện vật khảo cổ, không cần phải chuẩn bị mẫu và không để lại phóng xạ trên bề mặt hiện vật cần kiểm tra. Điều này khiến cho nó trở thành một công cụ hoàn hảo cho những công việc thực hiện trên các bộ sưu tập của bảo tàng. Việc nghiên cứu được độ tinh khiết của vật thể có thể giúp xác định được chiều sâu của độ ăn mòn trên vật thể, nhận diện được những thay đổi về mặt hóa học bên trong hiện vật do quá trình chế tác, hoặc cho thấy hiện vật mà chúng ta nghĩ là làm từ một vật liệu nhưng trên thực tế là được làm giả mạo từ vật liệu khác, thực hiện được tất cả những điều đó mà không làm suy suyển hiện vật quý”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-muonic-x-ray-emission-spectroscopy-roman.html  https://www.ox.ac.uk/news/features/all-glistened-was-gold-roman-coin-study-reveals-thriving-empires-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy thời gian      Du hành thời gian đã trở thành câu chuyện nổi tiếng kể từ khi H. G. Wells viết cuốn tiểu thuyết lừng danh Máy thời gian vào năm 1895. Trong nhiều thập kỷ sau đó vấn đề này vẫn chỉ mang nhiều tính văn học giả tưởng và nằm ngoài sự quan tâm của khoa học chính thống. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, du hành thời gian đã trở thành cái gì đó giống như một “nghề thủ công” trong giới các nhà vật lý lý thuyết.                    Đối với các nhà lý thuyết, chủ đề nghiên cứu này vốn vẫn mang nhiều ý nghĩa tiêu khiển. Nhưng lần này họ đã “tiêu khiển” một cách nghiêm túc. Thông suốt được mối quan hệ nhân quả là một vấn đề cơ bản để xây dựng một lý thuyết thống nhất của vật lý. Nếu du hành không giới hạn trong thời gian là khả dĩ, thậm chí là chỉ trên nguyên tắc, thì một lý thuyết thống nhất như vậy có thể bị ảnh hưởng trầm trọng.  Có hai cách để bơi  Cho đến nay, những hiểu biết tốt nhất của chúng ta về thời gian đều dựa trên các lý thuyết tương đối của Einstein. Lý thuyết tương đối đặc biệt tiên đoán một hiệu ứng được gọi là sự dãn nở thời gian, xảy ra khi hai người quan sát chuyển động tương đối với nhau. Hiệu ứng này chỉ thể hiện rõ rệt đối với chúng ta khi các chuyển động là gần với tốc độ ánh sáng. Thậm chí ở tốc độ của máy bay phản lực, sự dãn nở thời gian cũng chỉ vài phần tỷ giây. Tuy nhiên, các đồng hồ nguyên tử là đủ chính xác để phát hiện sự dãn nở đó và xác nhận rằng thời gian thực sự bị dãn ra do chuyển động. Như vậy, du hành vào tương lai là một thực tế đã được chứng minh, cho dù hiệu ứng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày là không lớn.              Máy kiến tạo Wormhole, hình ảnh tưởng tượng của nghệ sỹ vị tương lai (futurist) Peter Bollinger. Bức hình này mô tả một máy gia tốc hạt đặt trong không gian rộng lớn, có khả năng phóng đại và di chuyển các wormhole để sử dụng như một máy thời gian.            Để thấy rõ hơn về hiệu ứng này, chúng ta phải nhìn vượt ra bên ngoài những trải nghiệm thường ngày. Có những hạt sơ cấp trong tia vũ trụ chuyển động rất nhanh nhưng thời gian sống rất nhỏ. Trong “thế giới” (hệ quy chiếu) riêng của những hạt này, chúng chỉ có nhiều lắm là vài phút trước khi “chết” để băng qua khoảng cách thiên hà và đến với Trái Đất của chúng ta. Chúng ta đứng trên hệ quy chiếu Trái Đất và thấy rằng, chúng dường như phải mất đến hàng nghìn năm để làm việc đó. Nếu không có sự dãn nở thời gian, những tia vũ trụ này sẽ không thể có mặt trên Trái Đất.  Tăng tốc độ là một cách giúp chúng ta “bơi” nhanh hơn dòng chảy thời gian. Trường hấp dẫn cũng là một cách khác. Trong lý thuyết tương đối tổng quát, Einstein đã tiên đoán rằng trường hấp dẫn làm chậm thời gian, nghĩa là đồng hồ ở tầng thượng sẽ chạy nhanh hơn đồng hồ ở tầng trệt chút xíu, vì càng lên cao trường hấp dẫn của Trái Đất càng nhỏ đi. Tương tự như vậy, đồng hồ trong không gian chạy nhanh hơn đồng hồ dưới đất. Lần này, hiệu ứng cũng rất nhỏ nhưng vẫn có thể đo được bằng những đồng hồ nguyên tử. Thực ra, sự cong vênh thời gian do hấp dẫn đã được ứng dụng rất tốt cho Hệ thống Định vị Toàn cầu. Nếu không có ứng dụng này, một số thủy thủ, tài xế taxi và cả các tên lửa hành trình có lẽ sẽ gặp rắc rối.  Ở bề mặt sao neutron, trường hấp dẫn mạnh đến mức, thời gian bị chậm khoảng 30% so với thời gian ở Trái Đất. Nếu chúng ta đứng trên một ngôi sao như vậy mà quan sát thì những sự kiện trên Trái Đất sẽ giống như một bộ phim tua nhanh. Ta sẽ thấy rằng, trẻ con chỉ được nghỉ tết 7 ngày thay vì 10 ngày, và sẽ có khoảng 2 ngày tết, thay vì 3. Và thậm chí, có người ở  sao neutron sẽ ngạc nhiên mà hỏi rằng, tại sao trên Trái Đất, bánh chưng chóng hỏng và hoa đào chóng tàn thế?  Một lỗ đen có thể bóp méo thời gian đến hết cỡ, ở “bề mặt” của nó, thời gian sẽ đứng lại so với Trái Đất. Nếu liên tưởng thời gian ở mỗi nơi là một dòng sông, thì ở đây không phải “tất cả các dòng sông đều chảy.” Nếu một nhà du hành có thể mon men lại bờ của cái “dòng sông không chảy ấy”, giả tưởng rằng anh ta không bị làm sao (lực hấp dẫn của lỗ đen có thể “xé tan và nghiền nát” mọi thứ), thì khi quay lại Trái Đất, anh ta sẽ đi rất xa vào tương lai.                Bơi ngược dòng?  Đi ngược thời gian ư? Quay về quá khứ ư? Vấn đề này thực sự là nghiêm trọng. Năm 1948, Kurt Gôdel ở Viện Nghiên cứu Cấp cao Princeton đã đưa ra một nghiệm của phương trình hấp dẫn Einstein mô tả một vũ trụ quay. Trong vũ trụ này, một nhà du hành có thể đi xuyên qua không gian để trở về quá khứ. Điều này có được là do cơ chế tác động của trường hấp dẫn đối với ánh sáng. Sự quay của vũ trụ sẽ kéo theo ánh sáng (và do đó là cả mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật) tham gia vào sự vận động của nó. Điều này cho phép một thực thể vật chất đi theo một vòng kín trong không gian, và đó cũng là một vòng kín trong thời gian, ở đây không cần bất cứ quá trình nào vượt quá tốc độ ánh sáng trong môi trường giữa các hạt. Người ta coi nghiệm của Gôdel chỉ là một sự kỳ lạ toán học, vì các quan sát không hề cho thấy bất cứ dấu hiệu nào của một vũ trụ quay. Tuy nhiên, cái nghiệm đó dù sao cũng đã minh họa rằng, đi ngược lại thời gian là không bị cấm trong lý thuyết tương đối. Thực ra Einstein cũng đã từng thú nhận rằng, ông rất trăn trở về việc lý thuyết của mình cho phép sự du hành vào quá khứ trong một số tình huống nhất định.  Có những nghiên cứu khác cũng cho thấy khả năng trở lại quá khứ. Chẳng hạn, vào năm 1974, Frank J. Tipler ở Đại học Tulane đã tính toán rằng, một hình trụ có mật độ khối lượng lớn và dài vô hạn, khi quay quanh trục của nó với tốc độ gần ánh sáng cũng sẽ có thể kéo theo ánh sáng vào một vòng kín và đưa các nhà du hành trở về quá khứ của họ. Năm 1991, J. Richard Gott ở Đại học Princeton đã phỏng đoán rằng, những dây vũ trụ – những cấu trúc mà các nhà vũ trụ học tin nghĩ là được tạo ra trong những giai đoạn ban đầu của big bang – có thể đem lại những kết quả tương tự. Nhưng vào giữa thập kỷ 1980, bối cảnh hiện thực nhất cho một cỗ máy thời gian chính là dựa trên khái niệm về wormhole (lỗ sâu).  Trong giả tưởng khoa học, các wormhole đôi khi được gọi là các cổng sao (stargates), chúng mang lại một con đường tắt giữa hai điểm rất cách xa nhau trong không gian. Chui qua một wormhole giả thuyết này, bạn có lẽ sẽ đến được những thời điểm muộn hơn ở phía bên kia của thiên hà. Các wormhole phù hợp một cách tự nhiên với lý thuyết tương đối tổng quát, trong đó, trường hấp dẫn làm cong cả thời gian lẫn không gian. Các nhà lý thuyết đã đưa ra một không gian với những cấu trúc nối kết nhau bởi những “đường hầm” wormhole. Một đường hầm đi xuyên qua một quả đồi đương nhiên là ngắn hơn đường đi trên bề mặt. Tương tự như thế, một wormhole có thể là con đường ngắn hơn con đường thông thường trong không gian.  Khái niệm wormhole đã từng được sử dụng cho một thiết bị tưởng tượng trong tiểu thuyết Contact của Carl Sagan, viết năm 1985. Ngay sau Kagan, Kip S. Thorne và các cộng sự ở Viện Công nghệ California đã tìm cách chứng minh xem, liệu các wormhole có phù hợp với vật lý chính thống hay không. Xuất phát điểm của họ là một wormhole tương tự với một lỗ đen mang trường hấp dẫn khủng khiếp. Nhưng ở đây có một sự khác nhau, đường vào lỗ đen sẽ chẳng dẫn tới đâu cả, còn một wormhole thì có cả đường vào lẫn đường ra.  Máy thời gian wormhole                     Để con đường wormhole có thể đi được, nó phải chứa cái mà Thorne gọi là vật chất kỳ cục. Cái thứ vật chất này sẽ sinh ra sự phản hấp dẫn để chống lại lực hấp dẫn khổng lồ của một hệ có khối lượng lớn. Phản hấp dẫn, hay lực đẩy hấp dẫn, có thể được sinh ra bởi năng lượng âm hoặc áp suất âm. Các trạng thái năng lượng âm được biết là tồn tại trong những hệ lượng tử nhất định. Điều đó cho thấy rằng, vật chất kỳ cục của Thorne không bị bác bỏ bởi các định luật vật lý mặc dù Thorn vẫn chưa nói rõ ràng về việc liệu có đủ vật liệu phản hấp dẫn để ổn định hoá wormhole hay không.  Ngay khi Thorne và các cộng sự nhận ra rằng, nếu một wormhole ổn định được tạo ra, khi đó nó có thể sẵn sàng để trở thành một cỗ máy thời gian. Khi một nhà du hành đi qua nó, anh ta không những sẽ đi đến một nơi khác trong vũ trụ mà còn đi đến một thời điểm khác trong thời gian, đến tương lai hoặc về quá khứ.  Để một wormhole hoạt động như máy thời gian, một trong những cái miệng của nó có thể được đặt gần bề mặt một sao neutron. Trường hấp dẫn của sao sẽ làm chậm thời gian ở một miệng wormhole sao cho sự sai khác thời gian giữa hai cái miệng của wormhole sẽ được tích tụ dần dần. Nếu cả hai cái miệng được đặt tại những nơi thích hợp trong không gian, sự sai khác thời gian này sẽ được giữ ổn định.  Giả sử rằng sự sai khác là 10 năm. Một nhà du hành chui qua wormhole theo một chiều và nhảy đến 10 năm sau trong tương lai. Một nhà du hành khác đi theo chiều ngược lại và trở về 10 năm trước trong quá khứ. Bằng việc bay thật nhanh để trở về xuất phát điểm trong không gian thông thường, nhà du hành thứ hai có thể trở về nhà trước thời điểm anh ta chui vào wormhole. Nói cách khác, một vòng kín trong không gian có thể trở thành một vòng kín trong thời gian. Có một hạn định là, nhà du hành không thể trở về thời điểm trước khi wormhole được lần đầu tiên được tạo ra.  Vấn đề cực kỳ khó khăn trong việc tạo ra một máy thời gian wormhole là đầu tiên phải làm thế nào để có được một wormhole. Có lẽ không gian vốn được xâu chuỗi một cách tự nhiên bởi những cấu trúc như vậy, chúng là những tàn dư của big bang. Nếu như vậy, một nền siêu văn minh có thể sử dụng chúng. Mặt khác, các wormhole có thể tồn tại tự nhiên ở những kích thước vô cùng nhỏ, vào cỡ cái gọi là độ dài Planck. Về nguyên tắc, một wormhole tí xíu như vậy có thể được ổn định hóa bởi một xung năng lượng và ở một mức độ nào đó, nó sẽ được phình to ra đến các kích thước có thể sử dụng được.  Các tiểu thuyết cần phải được kiểm định!  Giả sử rằng, chúng ta có thể vượt qua được những khó khăn kỹ thuật, việc chế tạo cỗ máy thời gian sẽ gặp phải hàng loạt những nghịch lý nhân quả không thể chấp nhận. Các nghịch lý loại này nảy sinh khi những kẻ du hành thời gian cố gắng làm thay đổi quá khứ, điều này rõ ràng là không thể. Nhưng chuyện đó cũng không ngăn cản ai đó trở thành một phần của quá khứ. Giả sử rằng, người du hành thời gian trở về quá khứ và cứu một cô gái trẻ trong một vụ mưu sát, cô gái này về sau trở thành mẹ của anh ta. Cái vòng tròn nhân quả bây giờ trở nên tự nhất quán và không còn nghịch lý nữa. Sự nhất quán nhân quả có thể áp đặt những hạn định đối với khả năng hành động của một nhà du hành thời gian, nhưng nó không bác bỏ hoàn toàn sự trở về quá khứ.  Thậm chí, nếu du hành thời gian không phải là một nghịch lý hà khắc thì nó vẫn chắc chắn là một chuyện quá kỳ cục. Hãy thử xét trường hợp một nhà du hành thời gian đi tới tương lai một năm sau và đọc được một công thức toán học mới trên tờ Tia Sáng chẳng hạn. Khi quay trở về thời điểm ban đầu của mình, anh ta sẽ dạy công thức đó cho một sinh viên, và người sinh viên này lại viết nó trong một bài báo đăng trên tờ Tia Sáng. Tất nhiên, bài báo đó chính là bài mà nhà du hành đọc được. Khi ấy, câu hỏi được đặt ra là: thông tin về công thức đến từ đâu? Không phải từ nhà du hành, vì ông ta đã đọc được nó, cũng không phải từ cậu sinh viên, vì cậu đã học nó từ nhà du hành. Thông tin dường như không đến từ đâu cả, không từ nguyên cớ nào cả.                                             Những hệ quả quái gở của du hành thời gian đã dẫn một số nhà khoa học đi đến dứt khoát từ bỏ ý niệm về nó. Stephen S. Hawking ở Đại học Cambridge đã đề xuất một “phỏng đoán bảo vệ trình tự thời gian”, coi các vòng nhân quả là “ngoài vòng pháp luật”. Vì lý thuyết hấp dẫn được biết là cho phép các vòng nhân quả, sự bảo vệ trình tự thời gian sẽ đòi hỏi thêm một thừa số khác nào đó can thiệp vào, nhằm ngăn cản sự du hành về quá khứ. Thừa số đó có thể là gì? Có một đề xuất rằng, các quá trình lượng tử sẽ tham gia vào việc cứu nguy này. Sự tồn tại của một máy thời gian sẽ cho phép các hạt trở về quá khứ của chúng. Các tính toán ngụ ý rằng, sự nhiễu loạn lượng tử sẽ có thể làm hỏng wormhole.  Sự bảo vệ trình tự thời gian vẫn chỉ là phỏng đoán, do đó việc du hành thời gian vẫn là một điều khả dĩ. Lời giải cuối cùng cho vấn đề này có lẽ phải chờ đợi đến sự thống nhất thành công của cơ học lượng tử với hấp dẫn, có lẽ phải qua một lý thuyết kiểu như lý thuyết dây hoặc sự mở rộng của nó, cái gọi là M-lý thuyết. Thậm chí, chúng ta vẫn có thể tưởng tượng được rằng, các thế hệ máy gia tốc sau này sẽ có thể tạo ra những wormhole ở cấp độ dưới nguyên tử. Chúng có thể tồn tại đủ lâu để làm các hạt gần đó bay vào các vòng nhân quả. Điều này vẫn còn xa so với tưởng tượng của Wells về máy thời gian, nhưng nó sẽ làm thay đổi vĩnh viễn bức tranh của chúng ta về hiện thực vật lý.  Trần Trung biên thuật    BA QUY TRÌNH PHỎNG ĐOÁN CHO MỘT MÁY THỜI GIAN WORMHOLE  1. Tìm hoặc kiến tạo một wormhole                     Máy gia tốc có thể được sử dụng để kiến tạo nên những wormhole nhân tạo. Những wormhole này được tăng kích thước có lẽ là bằng việc sử dụng những trường năng lượng giống như ở thời điểm đầu của big bang, làm không gian nở ra.  2. Ổn định hoá wormhole                     Một sự truyền năng lượng âm, được tạo ra theo quá trình lượng tử, chẳng hạn như cái gọi là hiệu ứng Casimir, cho phép một tín hiệu hoặc vật thể đi an toàn qua wormhole. Năng lượng âm sẽ ngăn cản không cho wormhole trở thành một lỗ đen.  3. Sắp xếp wormhole                     Một tàu không gian, giả sử là được chế tạo với công nghệ cao sẽ “kéo” một miệng của wormhole lại gần một sao neutron có trường hấp dẫn mạnh.   Paul Davies      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính bảo vệ môi trường      Google và Intel phát động chiến dịch “Sáng kiến Máy tính Bảo vệ Khí hậu” giới thiệu máy tính cá nhân và hệ thống máy chủ sử dụng năng lượng hợp lý nhằm tiết kiệm năng lượng và giảm hiệu ứng nhà kính.    Chương trình đã ký thoả thuận với các nhà sản xuất máy tính Dell, Hewlett-Packard, IBM, Lenovo, hãng phần mềm Microsoft, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ cùng hơn 25 tổ chức bảo vệ môi trường, công ty và trường đại học cùng tham gia chiến dịch.  Tiêu chuẩn mới quản lý tiêu thụ điện của máy tính và công cụ phần mềm được đưa ra. “Ngày nay, PC lãng phí gần 1/2 lượng điện, máy chủ thì 1/3”, Phó giám đốc Google Urs Holzle cho biết. “Tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng điện 90% sẽ cắt giảm hiệu ứng nhà kính tới 54 tấn/năm và tiết kiệm 5,5 tỷ USD chi phí năng lượng”.  K.LINH (Theo Australian IT)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính điện tử Minsk-22: Điểm khởi đầu của công nghệ thông tin Việt Nam      Hơn 50 năm trước đây, tòa nhà 39 Trần Hưng Đạo, nơi đặt trụ sở của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (cơ quan tiền thân của Bộ KH&CN), đã chứng kiến mốc khởi đầu của nền công nghệ thông tin Việt Nam. Và giáo sư Tạ Quang Bửu (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT), lúc đó là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, đã có tác động quan trọng để thành lập Phòng Máy tính đầu tiên của nước ta (24/5/1968) tại đây với Minsk-22, chiếc máy tính vạn năng giúp giải quyết nhiều bài toán lớn của đất nước.      Bàn điều khiển và Phòng máy tính Minsk-22.  Có lẽ, khi bàn thảo đi đến quyết định thành lập Phòng máy tính Minsk-22, với tầm nhìn chiến lược của mình, những người như giáo sư Tạ Quang Bửu đã nghĩ đến những triển vọng phát triển trong tương lai của cả một ngành mới với những ứng dụng không chỉ cho riêng lĩnh vực KH&CN mà còn cho nhiều ngành nghề khác trong xã hội, xuất phát từ điểm mốc quan trọng này. Tuy nhiên thuở ban đầu, mục tiêu đặt ra thật khiêm tốn so với tiềm năng của nó, “thực tế lúc bấy giờ, sự mong mỏi có một phương tiện tính toán nhằm giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực KH&KT, cũng như trong công tác đào tạo là một nhu cầu rất lớn của đội ngũ cán bộ KHKT của nước ta…”, TS. Nguyễn Lãm, nguyên trưởng Phòng Máy tính đầu tiên của nước ta và là sĩ quan biệt phái từ Quân đội sang, nhớ lại.  Điểm khởi đầu  Vào thời điểm đó, Minsk-22 là một trong những máy tính hiện đại nhất của Liên Xô và Đông Âu. Thuộc thế hệ thứ hai dòng máy tính lớn dùng linh kiện bán dẫn (chưa phải mạch tổ hợp) kết hợp với cơ khí chính xác, Minsk-22 được thiết kế và chế tạo tại Belarus, Liên Xô. Hiện nay, khó ai có thể hình dung ra chiếc máy tính đặc biệt này: diện tích đặt máy khoảng 80m2 với một đơn vị trung tâm, dung tích bộ nhớ gồm 4096 ô, mỗi ô có 37 ngăn (bit), khoảng 19kb.  Để chuẩn bị tiếp nhận, quản lý và vận hành Minsk-22 thì Việt Nam đã có bước chuẩn bị khá bài bản: vào đầu năm 1967, Ủy ban KH&KT Nhà nước cử đoàn thực tập sinh sang Liên Xô học tập về sử dụng, vận hành với năm người, trong đó có ba kỹ sư phần cứng là Nguyễn Ngọc Hoàng, Vũ Hồng Sơn, Bạch Hưng Khang và hai cử nhân toán học tính toán về lập trình là Nguyễn Văn Kỷ và Nguyễn Chí Thành. Tại Viện Hàn lâm khoa học Belarus ở thủ đô Minsk, Belarus, cả năm đều cố gắng học tập, thực hành, lập trình ứng dụng giải một số bài toán thực tiễn đơn giản. Do Minsk-22 là máy tính thuộc thế hệ thứ 2, lập trình chủ yếu bằng ngôn ngữ máy nên “lúc đầu chúng tôi cũng có khó khăn. Lâu dần chúng tôi cũng quen và trở nên thành thạo đến mức có thể can thiệp vào hệ điều hành của máy tính”, ông Nguyễn Chí Thành, nguyên cán bộ phần mềm Phòng Máy tính Minsk-22, kể lại. Sau gần một năm thực tập, các cán bộ đã nắm vững kiến thức và đủ khả năng làm chủ hoàn toàn Minsk-22.  Vào giữa năm 1968, Minsk-22 được chuyển bằng đường sắt về đến Hà Nội, thật may mắn trước đúng một ngày trước khi cầu Long Biên bị máy bay Mỹ đánh hỏng. Ngay sau đó, đoàn chuyên gia Belarus đã sang Hà Nội tiến hành lắp ráp, hiệu chỉnh và bàn giao máy tính cho Ủy ban KH&KT Nhà nước. “Tôi nhớ là trước lúc bàn giao, có chuyên gia hỏi về hệ điều hành của máy Minsk-22. Rất may là khi đi thực tập về, tôi có mang theo hệ điều hành trên băng đục lỗ chuyên dụng của máy nên ngay lập tức tôi nhập vào máy tính để vận hành thử nghiệm. Kết quả máy đã hoạt động ổn định, và cũng kể từ đây bắt đầu việc lập trình giải nhiều bài toán ứng dụng phục vụ chiến đấu và sản xuất giữa lúc cả miền Bắc đang tập trung chống chiến tranh phá hoại của Mỹ”, theo hồi ức của ông Nguyễn Chí Thành.  “Tôi nghẹn ngào nhớ lại Bác Tạ Quang Bửu, người có công đầu tiên đặt những nền tảng cho ngành công nghệ thông tin nước ta, người say mê nghiên cứu những hướng phát triển mới của khoa học. Bác đã xông xáo, mạnh dạn giải quyết những khó khăn, cản trở trong quá trình xây dựng và cũng chính Bác Bửu có tác động lớn trong việc đặt máy Minsk-22 ở tầng 1 tòa nhà 39 Trần Hưng Đạo. Trong công việc, mỗi khi gặp khó khăn gì là tôi lại tìm gặp Bác Bửu. Ngành công nghệ thông tin nước ta luôn luôn ghi nhớ công sức của Bác Bửu” – Giáo sư Nguyễn Lãm.  Chắc chắn ở thời điểm hiện nay, khi đã quen thuộc với các máy tính thế hệ mới, không ai có thể tưởng tượng nổi những thao tác và vận hành trên một chiếc máy tính thế hệ cũ như Minsk-22 ngày ấy. Để được vào chạy máy, chương trình bằng ngôn ngữ máy trong hệ 8. Cả chương trình và số liệu lại phải được viết bằng tay lên giấy mẫu quy ước. Sau đó tất cả gom giấy mẫu đưa đến Phòng đục lỗ để các cán bộ ở đó đục ra băng giấy. Máy đục lỗ giống máy đánh chữ, vừa đục lỗ lên băng giấy, vừa đánh mực in lên băng giấy khổ hẹp để kiểm tra lỗ đục, có lỗ đục là 1, không có lỗ đục là 0 trong hệ 2. Sau khi đục lỗ, mỗi người nhận được cuộn băng giấy đục lỗ và một mẩu giấy in chương trình, số liệu để kiểm tra. Phải thuộc lòng mã M-2 và dò băng giấy trước khi đến phòng máy. Nóng đổ mồ hôi để dò tương ứng các lỗ theo hệ 2 với các chữ số hệ 8 và hệ 2-10 quy ước. Khi phát hiện sai sót, máy đục thiếu lỗ, bộ phận kỹ thuật đục sai, lại phải dùng lưỡi dao cạo (tốt nhất là tìm được lưỡi CROMA của CHDC Đức, rất hiếm hồi đó) để cố gắng khoét tròn lỗ bị thiếu hay lỗ chưa thủng (đường kính cỡ 1,5 mm) hoặc dán che lỗ lại.    Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp gỡ và làm việc với giáo sư Tạ Quang Bửu, giáo sư Hoàng Tụy cùng một số nhà khoa học máy tính.  Những câu chuyện như thế cứ diễn ra thường nhật. Ai cũng hồi hộp muốn xem kỹ thuật viên lắp giấy vào máy đọc như thế nào nhưng chưa kịp định thần thì máy đã đọc xong rồi và chỉ trong tích tắc, đoạn băng (bề rộng cỡ 35 mm) đã chạy vào qua dãy tế bào quang điện và một chuỗi tiếp theo: đèn báo lỗi sáng lên bảng điều khiển báo hiệu chương trình sai, hoặc do lỗi đục lỗ. Vậy là lại phải cuộn vội băng giấy mang về chuẩn bị lại từ đầu. Đến lúc thành công, ai nấy cầm trong tay đoạn giấy khổ hẹp in kết quả, các chữ số in lượn sóng nhích lên, thụt xuống, chữ đậm, chữ nhạt, vỏn vẹn vài ba hàng mà vui như mở cờ trong bụng.  Bước đầu giải các bài toán lớn  Do khâu tiếp nhận và lắp đặt đã được chuẩn bị chu đáo nên không lâu sau khi được các chuyên gia Liên Xô lắp đặt, phòng máy tính Minsk-22 đã mở cửa cho các đơn vị khai thác tính toán và học tập. Chỉ sau một thời gian, nhu cầu tính toán của các nơi gia tăng khiến phòng máy tính phải tổ chức cho máy làm việc không phải chỉ là một ca (8 giờ) mà 2, 3 ca. Ai muốn tính toán phải đăng ký trước hàng tuần.  Sau khi máy tính Minsk-22 được lắp đặt xong, ông Nguyễn Chí Thành đã viết chương trình in ảnh Bác Hồ trên máy in khổ rộng và các đoàn đến tham quan đều được tặng bức ảnh đó. Máy tính vẽ được ảnh Bác Hồ quả là một điều kỳ diệu, khó hình dung nổi đối với nhiều người lúc bấy giờ! Miền Bắc lúc ấy chỉ mới có một máy tính điện tử và nó lại làm được những điều kỳ diệu như vậy, nên rất nhiều cơ quan, các trường học đến tham quan. Các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng đến. Sau khi tiếp xúc với một số cán bộ trong đơn vị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn mời cơm thân mật ở Phủ Chủ tịch và chiêu đãi toàn đơn vị một buổi xem kịch ở Nhà hát lớn.  Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Minsk-22 là hỗ trợ xây dựng các bảng bắn cho pháo binh Việt Nam. Ông Nguyễn Chí Thành nhớ lại: “Tháng 8/1968, sau khi đến thăm phòng máy Minsk-22, Bộ tư lệnh pháo binh có công văn đề nghị Ủy ban KH&KT nhà nước giúp điều chỉnh hệ số các bảng bắn của Pháo binh (đều nhập từ nước ngoài) cho phù hợp hơn với thực tế nước ta, bởi vì những yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió, tốc độ gió đều ảnh hưởng đến đường đạn. Bộ Tư lệnh pháo binh muốn dùng bộ số liệu khí tượng của nước ta để tính lại, hiệu chỉnh lại các bảng bắn”. Vì khối lượng tính toán rất lớn, Phòng máy tính Minsk-22 đã phối hợp với Bộ Tư lệnh pháo binh, Nha khí tượng Việt Nam tiến hành thu thập số liệu thống kê về hướng và tốc độ gió trong 20 năm, mỗi năm 4 mùa ở nhiều vùng miền của Việt Nam với nhiều độ cao khác nhau. Do khối lượng số liệu quá lớn, Bộ Tư lệnh Pháo binh phải cử hẳn 1 tiểu đội làm việc hơn 3 tháng ở Phòng máy tính chỉ để chuyển số liệu từ giấy sang băng đục lỗ để nhập vào máy tính. Dữ liệu khí tượng nhiều đến mức máy tính phải làm 2 ca/ngày mới bảo đảm tiến độ thời gian theo yêu cầu. Sau khi máy tính có dữ liệu số rồi, việc còn lại là lập trình theo các công thức toán học đặc dụng, theo đó máy tính xử lý và đưa ra kết quả làm cơ sở hình thành các bảng bắn phù hợp với thời gian và các vùng miền của Việt Nam.    Các kỹ sư và thao tác viên Phòng Máy tính Minsk-22, Trung tâm Máy tính quân đội trong một ca trực.  Ngoài các bài toán phục vụ chiến đấu, trong giai đoạn này Minsk-22 cũng giúp các nhà khoa học giải nhiều bài toán kinh tế xã hội ở miền Bắc thời điểm đó. Ví dụ như nhiệm vụ xử lý rung lắc trên con tàu đóng mới. Năm 1969, Cục đường biển ở Hải Phòng có gửi một văn bản tới Ủy ban KH&KT nhà nước cho biết vừa chế tạo một con tàu mới nhưng khi chạy thử thì bị rung lắc mạnh không rõ nguyên nhân và hướng giải quyết. TS. Nguyễn Văn Ngô, nguyên cán bộ của Phòng Nghiên cứu cơ học nhớ lại, công việc chính của phòng là nghiên cứu thuật toán để số hóa các bài toán trong tính toán và thiết kế kết cấu công trình nhằm sử dụng được máy tính điện tử Minsk-22 trong tính toán, thiết kế, nhất là đối với các bài toán kết cấu có độ tự do cao (hệ các phương trình đại số tuyến tính có nhiều ẩn số), trước đây không thể giải được nếu tính toán thủ công. Nhận nhiệm vụ, các cán bộ của Phòng đi khảo sát thực nghiệm và chạy thử con tàu. Họ đánh giá đây có thể là vấn đề cộng hưởng do sự kích động của máy nổ đặt trên tàu có tần số trùng với tần số riêng của con tàu. Sau khi đo đạc tính toán và đánh giá tình hình, các cán bộ đề nghị thay đổi kết cấu của vỏ tàu để tần số riêng của vỏ tàu lệch xa với tần số gây kích động của máy nổ. Đây là một công việc tương đối phức tạp và họ đã tính toán trên máy Minsk-22 để đề ra phương án sửa chữa. Sau đó, họ nhận được thông báo là con tàu đã khử được độ rung lắc.  Cũng theo hướng này, các cán bộ của Phòng Nghiên cứu Cơ học đã tham gia công tác bảo đảm giao thông ở Tổng cục Đường sắt với các nhiệm vụ tính toán phục vụ sửa chữa nhịp số 2 của cầu Long Biên bị đánh sập, khôi phục cầu Hàm Rồng… Theo ký ức của TS. Nguyễn Văn Ngô, trong việc khôi phục cầu Hàm Rồng, “công ty thiết kế của Tổng cục Đường sắt đã đưa ra phương án làm một vòng vây bằng tôn dày bao xung quanh trụ cầu rất tốn kém. Sau khi nghiên cứu, chúng tôi đề xuất dùng mô hình màng mỏng vào thiết kế vòng vây đó, theo kết quả tính toán trên Minsk-22, chúng tôi đề xuất chỉ cần dùng loại tôn dày 2 ly. Công ty thiết kế đó đã chấp nhận phương án này và công trường đã áp dụng thành công. Việc áp dụng mô hình này đã giảm 70% chi phí cho công trường”;  Một kỷ niệm đáng ghi nhớ nữa với việc dùng máy tính Minsk 22 phục vụ sự nghiệp giao thông là đầu những năm 1970, Trung Quốc có kế hoạch giúp Việt Nam xây dựng cầu Thăng Long. Cầu Thăng Long được Trung Quốc thiết kế hai tầng gần giống như cầu Trường Giang, chỉ khác phần người đi bộ hai bên. Bộ Giao thông vận tải một mặt cử đoàn kỹ sư sang Trung Quốc nghiên cứu thiết kế, phương án thi công, một mặt nhờ phòng Nghiên cứu Cơ học tính toán kiểm tra độc lập nội lực trong các thanh dàn và dầm cầu. Vượt qua những hạn chế của hệ thống máy tính, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thuật toán và chương trình chạy trên Minsk-22 để tính toán và in ra biểu đồ ‘Đường Ảnh hưởng’ mô men và lực dọc các kết cấu cầu, kết quả tương đồng với thiết kế phía Trung Quốc gửi sang.  Không chỉ có vậy, Minsk-22 còn giúp giải nhiều bài toán thống kê như bài toán điều tra sức khỏe học sinh, xác định hệ số hô hấp, phân tích quặng, tính toán điều tra quy hoạch rừng, xác định chỉ tiêu than cho các đầu máy xe lửa, chỉnh lý số liệu địa chất cho thiết kế xây dựng, phân tích khách quan trường khí tượng ban đầu, quản lý cán bộ khoa học kỹ thuật… Giáo sư Nguyễn Lãm, nguyên phụ trách Phòng toán học tính toán của Ủy ban KH&KT nhà nước nhận xét: “Nội dung xử lý của loại bài toán này rất phong phú và thường đưa đến việc tính giá trị trung bình, tính tần suất, tính độ lệch chuẩn, xác định các hàm tương quan… Muốn sử dụng máy tính điện tử để phân tích số liệu một cách thuận lợi, cần tiến hành nghiên cứu cải tiến nhiều khâu trong việc thu thập số liệu từ nội dung các chỉ tiêu điều tra đến cách ghi chép, cách lưu trữ, cách đục lỗ số liệu, kiểm tra và cập nhật số liệu”. Điều đó cho thấy, việc phải giải những bài toán thực tế trên Minsk-22 đã tạo động lực để các cán bộ thực hiện nhiều đổi mới, cải tiến ở nhiều khâu liên quan.  Theo ký ức của ông, Minsk-22 cùng với các máy cơ điện như Cellatron, Robotron xử lý số liệu điều tra ngành lâm nghiệp: xử lý số liệu đo đếm rừng phục vụ thống kê tài nguyên của 70 lâm trường trong các năm 1968-1975, xử lý số liệu đo đếm rừng vùng nguyên liệu cho Nhà máy giấy Bãi Bằng (1968-1972), xử lý số liệu giải tích đo cây rừng để lập biểu thể tích cây gỗ, trọng lượng tre nứa và biểu tăng trưởng rừng trên toàn quốc, qua đó áp dụng cho dự án VIE/76/014 do Liên hợp quốc tài trợ (1979-1982)… “Thật khó hình dung là một máy tính với tốc độ chỉ 6000 phép tính/giây và bộ nhớ chỉ vẻn vẹn 32K mà lại giải các bài toán quy hoạch! Thâm nhập vào thực tiễn trong nhiều lĩnh vực hoạt động của kinh tế- xã hội lúc bấy giờ, các nhà toán học phân tích, tìm mô hình giải quyết, dẫn đến các bài toán quy hoạch và đã có một số bài toán cụ thể được tính trên Minsk-22 như quy hoạch điện miền Bắc, cân đối than, tính đường ống nước Hà Nội, phân phối các phương tiện vận tải…”, ông đánh giá hiệu suất của Minsk-22 và những người vận hành nó.  Hiệu quả của Minsk-22 không chỉ ở giải quyết các bài toán lớn mà còn nằm ở việc đào tạo. Các trường đại học, đặc biệt là Đại học Bách khoa và Đại học Tổng hợp (nay là ĐHQGHN) thường xuyên gửi sinh viên đến thực tập, qua đó Khoa Máy tính của Đại học Bách khoa ngày càng thu hút nhiều sinh viên còn Đại học Tổng hợp thì phát triển nhanh ngành phương pháp tính.  Với những đóng góp của mình, Minsk-22 đã góp phần đánh dấu cột mốc khởi đầu trong lịch sử phát triển ngành Máy tính-Công nghệ thông tin Việt Nam.  —  * Xin trân trọng cảm ơn TS Thái Lê Thắng, chủ biến cuốn sách “Nửa thế kỷ CNTT Việt Nam – Dấu ấn người lính” đã cung cấp thông tin, góp ý và biên tập bài viết này.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/cong-nghe/may-tinh-dien-tu-minsk22-diem-khoi-dau-cua-cong-nghe-thong-tin-viet-nam/20200427034530759p1c859.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính dùng ống nano carbon      Tạp chí Nature mới đây  đăng bài Máy tính ống nano carbon, nói về một nhóm nghiên cứu ở ĐH Stanford đã thành công trong việc dùng ống nano carbon (carbon nanotube  CNT) chế tạo các transitor, từ đó làm ra chiếc máy tính đầu tiên  trên thế giới hoàn toàn sử dụng transitor ống nano carbon, chứ không dùng transitor silicon như các loại máy tính  trước đây.  &#160;    Mihail Roco, Cố vấn cấp cao về công nghệ nano của Quỹ Khoa học nhà nước Mỹ, nói đây là “một đột phá khoa học quan trọng”. GS Giovanni De Micheli, Giám đốc Học viện Công trình điện thuộc Đại học Công nghệ Thụy Sĩ, cho rằng thành tựu mang ý nghĩa thế giới này có hai cống hiến công nghệ quan trọng: thứ nhất, thực hiện được quá trình công nghệ chế tạo mạch điện dựa trên CNT; thứ hai, thiết kế được một mạch điện đơn giản hữu hiệu chứng tỏ có thể dùng CNT làm các thiết bị tính toán.  Các nhà khoa học cho rằng: cho tới nay, việc dùng CNT thay cho silicon để chế tạo transitor vẫn chưa thể đạt được tiến triển đột phá, nguyên nhân chủ yếu là khi dùng làm vật liệu bán dẫn thì CNT bộc lộ hai nhược điểm: thứ nhất, rất khó xếp ngay ngắn các ống này để hình thành mạch điện transitor; thứ hai, do cách xếp các CNT mà sau khi chế tạo thành transitor thì một số transitor luôn có tính dẫn điện như kim loại, chứ không thể đóng ngắt dòng điện như transitor làm từ các chất bán dẫn khác. Bởi vậy, tuy từ năm 1998 đã chế tạo được transitor CNT nhưng vì chúng không làm được chức năng đóng ngắt dòng điện cho nên không thể dùng cho các sản phẩm điện tử.  Trong quá trình dùng CNT chế tạo transitor, nhóm nghiên cứu – gồm Philip Wong và Subhasish Mitra (hai người lãnh đạo nhóm), các nghiên cứu sinh tiến sĩ: Max M. Shulaker, Gage Hills, Nishant Patil, Hai Wei, Hong-Yu Chen – đã tìm ra được cách thiết kế khắc phục nhược điểm nói trên, gọi là Thiết kế tránh được ảnh hưởng của nhược điểm (imperfection-immune design). Một mặt họ thiết kế ra phương pháp tính toán thông minh, có thể tự động bỏ qua các CNT xếp hàng mất trật tự; mặt khác dùng dòng điện thiêu hủy những CNT chỉ có tính dẫn điện. Kết quả họ thu được một mạch điện hoạt động bình thường.  Nhóm nghiên cứu dùng phương pháp trên làm ra được con chip máy tính chứa 178 transitor, mỗi transitor cấu tạo bởi từ 10 đến 200 CNT. Thể tích con chip chỉ vào khoảng vài milimet khối. Với bộ xử lý trung tâm làm từ con chip đó, họ làm ra chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới toàn bộ cấu tạo bởi các transitor CNT. Nhưng đây chỉ là chiếc máy tính nguyên mẫu.  Hãng thông tấn RFI nhận xét: Tuy chiếc máy tính tí hon ấy chỉ có một số chức năng cơ bản, tốc độ tính toán chỉ tương đương loại máy tính thập niên 50 thế kỷ XX, nhưng nó được coi là một bứt phá trong quá trình tìm kiếm vật liệu thay thế transitor silicon và mở ra hướng tiến tới sản xuất loại máy tính tốc độ nhanh, thể tích nhỏ, hiệu suất năng lượng cao hơn trước.  Hiện nay các transitor silicon trong bộ xử lý đã đạt được độ dày 8 micron (8.10-6 mét); số lượng transitor silicon trong một bộ xử lý đã lên tới con số vài tỷ. Transitor đang được tiếp tục nghiên cứu theo hướng thu nhỏ thể tích nhằm để con chip có thể chứa được càng nhiều transitor càng tốt. Nhưng cùng với việc thu nhỏ kích thước transitor thì trong không gian chật hẹp sẽ sinh ra nhiều nhiệt lượng, lãng phí càng nhiều điện năng. Rõ ràng không thể thu nhỏ hơn nữa kích thước transitor silicon. Nghiên cứu cho thấy, CNT rất có hiệu quả trong việc điều khiển dòng điện; bởi vậy lối thoát chỉ có thể là CNT.  Ống nano carbon do S. Iijima (người Nhật) ở công ty NEC khám phá năm 1991, có ưu điểm nhẹ, kết cấu hình sáu cạnh hoàn mỹ và có nhiều tính năng kỳ lạ về cơ học, điện học và hóa học.  Đó là loại ống dùng một lớp mỏng nguyên tử carbon cuộn thành. Phải dùng kính hiển vi mới nhìn thấy nó, vì nó chỉ dày có 1 nm (nanometre, 10-9 mét). Một không gian to bằng sợi tóc (dày khoảng 100 micron) có thể chứa được hàng nghìn CNT. Loại ống này có thể uốn cong được và hiện nay có tỷ suất độ bền/trọng lượng cao nhất trong tất cả các loại vật liệu loài người từng biết. Silicon là một chất bán dẫn tốt nhưng không thể nén thành lớp mỏng như vậy. Các nhà khoa học cho rằng, cấu trúc của CNT cho phép chúng dẫn điện tốt hơn, do đó có thể tạo ra loại transitor có tốc độ nhanh, hiệu quả năng lượng cao và thể tích nhỏ hơn transitor silicon.   Tuy vậy việc thực sự chế tạo được các con chíp bằng CNT lại cực kỳ khó.  Giáo sư Subhasish Mitra, đồng tác giả bài báo kể trên nói: “Người ta đang bàn về một kỷ nguyên mới của các sản phẩm điện tử làm bằng CNT, nhưng cho tới nay mới chỉ thấy rất ít sản phẩm trình làng. Lần này sẽ là một bằng chứng.”   Con chip bộ xử lý lắp bởi 178 transitor CNT nói trên có kết cấu đơn giản và tốc độ xử lý chậm, nhưng các nhà nghiên cứu tin rằng sau này họ sẽ làm được những bộ xử lý có số lượng transitor vượt xa con số 178.  Jan Rabaey, chuyên gia hệ thống điện và mạch điện nhận xét: “Trong một thời gian rất dài trước đây, transitor CNT luôn luôn được coi là có tiềm năng thay thế transitor silicon. Có thể khẳng định, tiến bộ công nghệ mới đó sẽ thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chất bán dẫn. Họ sẽ thăm dò khả năng áp dụng công nghệ này để trong một thập niên tới sẽ làm ra được bộ xử lý có hiệu suất sử dụng năng lượng cao.”  Bản tin của đài BBC nói: Trong 40 năm nay, chúng ta đã dự kiến sự kết thúc của thời đại silicon; có lẽ giờ đây đã thấy sự kết thúc đó. Báo chí Mỹ bình luận: trong tương lai có lẽ Thung lũng Silicon sẽ phải đổi tên [ĐH Stanford ở trong Thung lũng Silicon], nếu không người ta có thể nghĩ Silicon là một công nghệ lỗi thời của quá khứ.   Nguyễn Hải Hoành lược thuật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính lượng tử không phải là ảo tưởng      “Nếu Định luật Moore mà còn đúng trong 10-15 năm nữa, chúng ta sẽ có những transistor có kích cỡ của các nguyên tử” . Đó là câu nói của tiến sỹ Laflamme, một nhà vật lý ở Đại học Waterloo, Canada. Ông là thành viên của nhóm nghiên cứu đang làm việc để đưa máy tính lượng tử trở thành hiện thực.    Vấn đề bây giờ là, theo Laflamme, trong vật lý cổ điển và trong máy tính cổ điển, một bít, hay một mẩu thông tin, chỉ có thể chiếm một vị trí ở một thời điểm. Nhưng, ông giải thích: “ở cấp độ lượng tử, các định luật vật lý sẽ thay đổi. Trong cơ học lượng tử, các bit có thể tồn tại cùng một lúc ở hai vị trí”. Và câu hỏi được đặt ra là chúng ta có thể khai thác được tính chất này hay không. Laflamme tin là có: “Từ mười năm trước, chúng tôi đã được điều này là có thể, và nó cho phép chúng tôi giải quyết những bài toán mà trước đó được coi là quá hóc búa”.                Trong công trình đăng ở Physical Review Letters, nhóm nghiên cứu của Laflamme đã mô tả một thuật toán làm tiêu chuẩn cho một hệ tính toán 12 qubit (các bit của thông tin lượng tử). Mặc dù điều này cũng không phải là ấn tượng lắm (vì nó đã được thực hiện trên một máy tính cổ điển), nhưng Laflamme đã chỉ ra tính hữu ích của nó: “Hiện tại, chúng tôi vẫn cần một máy tính cổ điển để xem nó làm việc như thế nào. Nhưng khi chúng tôi đạt đến 30 hoặc 40 qubit thì sẽ không thể làm như vậy được. Điều cần làm bây giờ là phải tìm ra cách điều khiển hệ sao cho chúng ta có thể đi sâu hơn vào thế giới lượng tử, nơi mà máy tính cổ điển không thể giúp chúng ta hiểu được có những điều gì sẽ xảy ra ở đó”.  “Chúng tôi đã chỉ ra hai phương pháp”, Laflamme nói: “Một phương pháp sử dụng nhiều nguồn và cho độ chính xác đáng kinh ngạc. Phương pháp kia sử dụng ít nguồn hơn và kém chính xác hơn”. Đáng tiếc là, phương pháp đầu tuy mạnh hơn và tốt hơn nhưng lại không thể phát triển được. Nó không thể được xây dựng trong các điều kiện thực tế để có khả năng đưa vào một số mô hình máy tính lượng tử. Laflamme nói rằng nhóm nghiên cứu của ông sẽ tiếp tục làm việc để tìm ra một cách tốt nhất kết hợp cả hai phương pháp trên.  Trong khi có một số nhà khoa học tỏ ra chán nản với ý tưởng xây dựng các máy tính lượng tử, thì Laflamme vẫn quả quyết rằng: “Máy tính lượng tử hoàn toàn không phải là một ảo tưởng”.  P.V    Nguồn tin: tác giả Miranda Marquit, http://www.physorg.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính lượng tử mới của Google      Trong một dự án hợp tác với Trung tâm Nghiên  cứu Ames của NASA, Google vừa công bố họ đã có trong tay chiếc máy tính  lượng tử mạnh hơn bất kỳ máy tính kỹ thuật số nào khác: D-Wave 2X.    Google cho biết D-Wave 2X nhanh hơn 100 triệu lần so với bất kỳ chiếc máy tính nào hiện nay. Như vậy, trên lý thuyết, chiếc máy tính lượng tử này có thể thực hiện trong vòng vài giây những phép tính mà một chiếc máy tính kỹ thuật số phải mất 10.000 năm để xử lý.     Sự ra đời của D-Wave 2X không chỉ là một bước nhảy vọt đối với ngành máy tính mà còn đối với cả lĩnh vực trí thông minh nhân tạo. Thực ra, Google gọi dự án mà họ hợp tác với NASA là “trí thông minh nhân tạo lượng tử”. Sở dĩ như vậy là vì những vấn đề quá khó khăn hay quá phức tạp đối với các máy tính hiện nay có thể được xử lý gần như tức thời trong tương lai.     Nhờ quá trình vận hành gọi là quantum annealing (ủ lượng tử), những ứng dụng trực tiếp của D-Wave 2X sẽ giúp giải quyết một lớp các vấn đề thuộc về trí thông minh nhân tạo (AI), được gọi chung là những vấn đề về tối ưu hóa. Chẳng hạn, NASA có thể sử dụng máy tính lượng tử để tối ưu hóa đường bay trong vũ trụ, hãng chuyển phát nhanh FedEx có thể tối ưu hóa các phương tiện vận tải của mình, một sân bay có thể tối ưu hóa mạng điều khiển không lưu, quân đội có thể bẻ bất kỳ một code được mật mã hóa nào, hoặc một công ty dược phẩm có thể tối ưu hóa công cuộc tìm kiếm một loại thuốc đột phá mới.    Như vậy, chiếc máy tính lượng tử mới của Google có thể đáng giá hàng triệu, nếu không muốn nói là hàng tỉ đô-la, đối với một số công ty và cơ quan chính phủ.    Không chỉ có vậy, người tiêu dùng cũng có thể hưởng lợi từ việc phát triển trí thông minh nhân tạo lượng tử. Chẳng hạn, họ có thể thông báo với chiếc máy tính về dự định thực hiện một chuyến du lịch tới châu Âu, những thành phố họ muốn đến, khoản tiền mà họ có thể chi trả, và Google có thể tối ưu hóa hành trình để bạn có được một chuyến du lịch hoàn hảo.    Tuy vậy, vẫn tồn tại một vấn đề nhỏ ở đây: máy tính lượng tử là những “con quái vật” khó thuần chủng. Về cơ bản, trong mỗi chiếc máy tính lượng tử đều có một con mèo của Schrödinger  nằm “phục kích”. Với máy tính lượng tử, ta có các bit lượng tử (qubit). Trong khi bit số thuộc hệ nhị nguyên (1 hoặc 0) thì qubit có thể là một trong hai hoặc cả hai cùng một lúc. Điều có có nghĩa rằng bạn phải xử lý tất cả những đặc tính của phân tử mà cơ học lượng tử đã dự đoán – chẳng hạn như siêu vị trí và rối lượng tử – để có thể lập trình chính xác các máy tính lượng tử.    Ngoài ra, chiếc D-Wave 2X cao tới hơn 3m này còn phải được làm lạnh ở nhiệt độ thấp hơn 150 lần so với những vùng bên ngoài vũ trụ, như vậy những ai không mang theo helium lỏng sẽ khó lòng tiếp cận được chiếc máy tính này.    Trước D-Wave 2X, đã có chiếc IBM Watson tham dự vào trò chơi tối ưu hóa AI. IBM Watson cũng có tham vọng tối ưu hóa quy trình R&D cho các nhà nghiên cứu dược phẩm và tham gia vào lĩnh vực tiêu dùng – trên thực tế nó đã và đang thực hiện tối ưu hóa cơ chế tập luyện cho các vận động viên thể thao.  Trang Bùi lược dịch    Nguồn:  https://www.washingtonpost.com/news/innovations/wp/2015/12/10/why-googles-new-quantum-computer-could-launch-an-artificial-intelligence-arms-race/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính lượng tử: thêm một khó khăn được giải quyết      Để chế tạo được máy tính lượng tử, các nhà khoa học vẫn phải đối mặt với một vài thách thức. Một trong những thách thức đó là, các máy tính lượng tử rất dễ bị “tổn thương” bởi tác động của môi trường xung quanh. Các ngoại lực có thể phá hủy rất nhanh cấu trúc thông tin của máy tính lượng tử, hiện tượng này còn được gọi là “sự li khai” (“decoherence”) – ngược với “sự kết hợp” (“coherence”).    Để xử lý một cách kết hợp thông tin lượng tử, người ta sử dụng một phương pháp có liên quan đến điện động lực học lượng tử (QED). Trong phương pháp này, các nhà khoa học sử dụng một hốc nhỏ để có được động học kết hợp giữa một nguyên tử và một photon – tức là sử dụng những tấm gương để điều khiển các tính chất bức xạ của một nguyên tử. Các nhà khoa học ở Viện Công nghệ California là những người đi đầu trong phương pháp này. Gần đây, họ đã công bố một bước tiến quan trọng trong việc tạo ra một sự phân bố kết hợp thông tin lượng tử.   Trong công trình đăng trên Physical Review Letters, nhà vật lý David Boozer và các đồng nghiệp đã mô tả sự chuyển trạng thái thuận nghịch của một xung ánh sáng kết hợp đi đến và đi ra từ trạng thái nội tại của một nguyên tử bị bẫy trong hốc quang. Quan sát này đã lần đầu tiên xác minh được giả thiết của nhà vật lý nguyên tử Ignacio Cirac về quan hệ thuận nghịch của của các trạng thái lượng tử giữa ánh sáng và vật chất khi sử dụng hốc QED để tạo ra sự kết cặp cho tương tác nguyên tử-photon.  “Kết quả hay nhất của nghiên cứu này chính là sự minh họa tính thuận nghịch (tức là tính kết hợp) đối với các quá trình phát xạ và hấp thụ ánh sáng,” Boozer nói. “Tính kết hợp của quá trình này có nghĩa là nó bảo toàn sự chồng chập các trạng thái lượng tử, từ đó mở ra con đường cho việc kết nối thông tin lượng tử giữa nguyên tử và ánh sáng.”  Các nguyên tử thường có thời gian kết hợp dài, đóng vai trò như những qubit “đứng yên”, hay những điểm nút của mạng lưới. Còn các photon đóng vai trò như những qubit “bay nhảy”, chúng là các kênh lượng tử nối kết các nút trên những khoảng cách dài.  “Về nguyên tắc, trong một máy tính lượng tử có một vài cổng logic, mỗi cổng này thực hiện một sự vận hành lượng tử cơ sở đối với một hoặc hai qubit đứng yên,” Boozer giải thích. “Những cổng logic được nối kết với nhau trong một mạng lưới, sao cho đầu ra của một cổng có thể được chuyển đi theo một qubit ‘bay nhảy’ đến đầu vào của cổng kế tiếp. Như vậy, vấn đề ở đây là cần tìm cách để chuyển những qubit đứng yên thành những qubit bay nhảy và ngược lại. Và nghiên cứu này của chúng tôi đã minh họa được cách đó.”  Với khả năng biến đổi thuận nghịch trạng thái của qubit từ “bay nhảy” sang “đứng yên” và ngược lại, các nhà khoa học đã đạt được bước tiến quan trọng trong sự truyền thông tin lượng tử một cách kết hợp trong một mạng lưới, đồng thời môi trường bên ngoài không thể phá hoại được thông tin đó. “Trong công trình này, qubit được mã hoá theo các trạng thái số photon của ánh sáng và các mức siêu tinh tế của nguyên tử,” Boozer nói. “Trong tương lai, chúng tôi có một kế hoạch hay ho là sẽ mã hóa theo bậc tự do phân cực của ánh sáng và các mức con của nguyên tử trong từ trường. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu làm tăng hiệu quả của quá trình truyền trạng thái.”  Nguồn: “Reversible State Transfer between Light and a Single Trapped Atom.” Physical Review Letters 98, 193601 (2007).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Máy tính trí tuệ tương lai –  các hệ tính toán tự nhiên      Để giải quyết những hạn chế về hiệu quả tính toán và điện năng, trong tương lai, các máy tính AI sẽ phải dựa trên các cấu trúc gần với tự nhiên hơn, hay còn gọi là Natural Intelligence (NI).    Các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay đang trở nên phổ biến và mang lại nhiều giá trị trong mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên việc tính toán AI trên công nghệ hiện tại vẫn mang tính nhân tạo và kém hiệu quả về mặt năng lượng so với các hệ thống tự nhiên như não bộ của chúng ta. Hệ quả là thời gian tính toán AI, đặc biệt là phần học (training), rất lâu và tốn nhiều điện năng. Cùng với sự kết thúc của Định luật Moore (kích thước của mạch điện không thể nhỏ hơn được nữa) và nhu cầu tính toán AI tăng theo hàm mũ thì các hạn chế của công nghệ AI hiện tại sẽ ngày càng bộc lộ rõ. Do đó trong tương lai, các máy tính AI sẽ phải dựa trên các cấu trúc gần với tự nhiên hơn, hay còn gọi là Natural Intelligence (NI).  Nút thắt cổ chai ALU  Gần như tất cả các hệ thống AI hiện nay đều dựa trên các máy tính có kiến trúc Neumann (GS. John von Neumann – được coi như người phát minh ra máy tính). Ở đó mọi tính toán được thực hiện ở Bộ logic số học (Arithmetic Logic Unit – ALU) trung tâm (còn gọi là core), tách biệt khỏi bộ nhớ. Chỉ có một hay một số core trong máy tính và chúng tính toán mọi thứ. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn ứng dụng chúng ta đang chạy cùng lúc như xem ảnh, đọc báo, copy file, phát nhạc, kết nối với Internet, gửi mail,… thực chất được thực hiện nối tiếp trên các core này, mỗi thời điểm chỉ có một ứng dụng chạy trên một core. Sở dĩ chúng ta không cảm nhận được giới hạn này và cảm thấy như tất cả ứng dụng chạy đồng thời vì ALU chạy rất nhanh, vài tỷ lần chuyển mạch mỗi giây.     Hình ảnh 1: Hàng trăm ứng dụng có thể chạy cùng lúc trên một hoặc chỉ một số core (2, 4, 8)  Nhưng các ứng dụng AI thì không dễ dàng như vậy bởi khối lượng tính toán rất lớn. Ví dụ một mô hình AI mạng neuron có 10 triệu trọng số (không quá lớn) với 1 triệu hình ảnh mẫu sẽ có 10.000.000.000.000 (mười nghìn tỷ) đối tượng cần được tính toán. Hơn thế nữa, mỗi đối tượng phải được tính toán nhiều ngàn lần mới tìm được giá trị phù hợp. Điều này giống như mười nghìn tỷ bệnh nhân xếp hàng để khám, mỗi bệnh nhân phải khám hàng ngàn lần mới chữa xong, mà chỉ có một, hai hay bốn bác sĩ (ALU/core) mà thôi.    Hình ảnh 2: Các trọng số trong mạng AI giống như hàng ngàn tỷ bệnh nhân đợi khám, mỗi người cần khám hàng ngàn lần với chỉ vài bác sỹ (core, có thể là CPU hay GPU)  Kết quả là ngày nay, các bài toán AI chạy cả ngày lẫn đêm. Các nhà khoa học thì phải cắt bớt độ phức tạp của mô hình (do đó giảm hiệu suất) để giảm thời gian tính toán, các sinh viên thì ít khi nào có đủ phần cứng để chạy các mô hình AI mong muốn. Trong doanh nghiệp, các hãng khổng lồ như Google, Facebook có ưu thế vượt trội vì có trung tâm dữ liệu khủng. Và AI đang dần trở thành một ngành “công nghiệp” thực sự vì nhiệt lượng tỏa ra quá lớn. Tính toán nối tiếp qua ALU trong máy tính hiện nay dường như là một nút cổ chai trong thời đại AI.    Hình 3: So sánh kiến trúc AI hiện tại với thiết kế mạng lưới ở phần mềm, tính toán ở phần cứng trên máy tính cấu trúc Neumann, so với não bộ có sự tích hợp giữa thiết kế mạng lưới, tính toán và bộ nhớ hoàn toàn trên phần cứng. Tính toán thực hiện ở mọi neuron và dây thần kinh.  Các hệ thống AI của tương lai do vậy cần có một kiến trúc khác, phi Neumann, làm sao cho tính toán có thể diễn ra ở nhiều nơi hơn nhiều trong hệ thống, tính toán khu vực ở mức độ linh kiện. Ví dụ: nếu một bộ xử lý có 1 tỷ bóng bán dẫn, thì phải có 1 tỷ đơn vị tính toán hoặc ít nhất vài trăm triệu. Lý tưởng nhất là mỗi bóng bán dẫn cũng có thể tính toán. Một kiến trúc như vậy sẽ tự nhiên hơn, giống như trong não của chúng ta tính toán diễn ra trên mọi nơ-ron và dây thần kinh. Một hệ tính toán phi tập trung như vậy (não của chúng ta hoàn toàn phi tập trung, không có bộ phận xử lý trung tâm) mới có thể thực hiện các tính toán AI hiệu quả được. Và hệ thống cần được thiết kế dựa trên các thành phần vật liệu nhỏ hơn, dựa trên các định luật vật lý cơ bản hơn, và trở thành các hệ thông minh tự nhiên.  Số hóa hay không số hóa?  Khoảng 70 năm trước đây, transitor điện tử bán dẫn lần đầu tiên ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng máy tính. Transistor là một thiết bị điện tử có thể chuyển mạch giữa hai trạng thái 0 và 1. Với 2 transistor và 3 điện trở chúng ta có thể tạo ra một cổng logic, ví dụ cổng NAND trong hình 2, là một đơn vị tính toán nhị phân cơ bản.     Hình 4: Cổng  NAND với 2 transistor và 3 điện trở. Nguồn: https://electronics.stackexchange.com/  Với các cổng logic (AND, OR, NAND, XOR, …) chúng ta có thể tạo ra các máy tính bằng cách chuyển mọi bài toán thành dạng nhị phân, sử dụng đại số Bool, và cho các cổng logic tính toán. Sở dĩ transistor bán dẫn được chọn vì chúng có thể được sản xuất hàng loạt, giá thành rẻ, độ ổn định cao, độ bền cao. Ngày nay, người ta có thể sản xuất hàng tỷ transistor trên một chip, và hàng tỷ chip mỗi năm. Thuật ngữ số hóa được ra đời với hàm ý số 0 và 1, tương ứng với hai trạng thái đóng và mở của transistor. Và hầu như mọi hoạt động của con người hiện nay dựa trên sự đóng và mở của các transistor.  Tính toán nhị phân do vậy là một sự ngẫu nhiên lịch sử. Điện tử ra đời và phổ biến nên đã tạo ra số hóa, số hóa nhị phân. Nếu không phải điện tử thì có thể đã không có số hóa, hoặc số hóa không nhị phân.     Hình ảnh 5: Số hóa được hiểu như số nhị phân (0 và 1) và có ở trong mọi thiết bị đời sống hàng ngày.  Mặc dù vậy việc số hóa cũng có hạn chế trước hết là làm tăng số tính toán cần làm. Ví dụ như trong não bộ con người, việc cộng hai số nhỏ như 24 + 35 có thể làm trong tích tắc (giả sử đã được học cộng), thì với máy tính nó phải tuần từ số hóa các số, cộng trên nhị phân, trả lại kết quả nhị phân và tương tự hóa trở lại để hiển thị. Hơn nữa, quá trình tính toán nhị phân còn trải qua rất nhiều bước truyền dữ liệu từ thiết bị ngoại vi vào bộ nhớ, vào cache, tính toán trên ALU và trả ngược lại. Nói tóm lại, máy tính cần đến hàng ngàn chu kỳ chuyển mạch mới cộng được hai số đơn giản. (Tuy vậy nếu máy tính chạy hàng tỷ chu kỳ một giây thì nó vẫn có thể cộng hàng nghìn số trong 1 milli giây).  Quá trình tính toán nói trên như vậy rất nhân tạo và không giống các hệ tự nhiên như não bộ con người. Thực tế thì trong tự nhiên tính toán diễn ra ở rất nhiều hiện tượng mà không cần số hóa.    Hình 6: Với số hóa, để cộng hai số đơn giản máy tính có thể cần đến hàng ngàn bước    Hình ảnh 7: Một số ví dụ tính toán trong tự nhiên không số hóa: hai dòng điện cộng lại; hai sóng ánh sáng hình sin cộng lại; tuyết rơi được tích phân và sụp xuống khi đủ một ngưỡng (Hình ảnh từ Wikipedia)  Như vậy là cùng với việc tính toán nối tiếp qua ALU, việc số hóa nhị phân cũng làm tăng gánh nặng cho các bài toán AI. Hai điều này đều có từ lịch sử phát triển từ mạch điện cho đến AI.  Các hệ AI tương lai do vậy có thể được thiết kế cơ bản hơn, đi trực tiếp từ vật liệu cấu tạo thành mạng neuron, bỏ qua các transistor và quá trình số hóa và vận hành chủ yếu dựa trên các quy luật vật lý cơ bản.     Hình 8: Các bước phát triển từ transistor đến AI và các bước thấp hơn bên dưới.  Tính toán tự nhiên hơn  Các ứng dụng AI đã tạo nên những câu chuyện thành công ngoạn mục gần đây. Hầu như tất cả mọi người đều sử dụng ít nhất một, nếu không muốn nói là nhiều ứng dụng AI trong cuộc sống hằng ngày. Mặc dù AI vẫn dựa trên máy tính của kiến ​​trúc Neumann như đã nói ở phần 1 thì lợi nhuận AI mang lại vẫn cao hơn chi phí tính toán của nó. AI đã tạo ra sự hấp dẫn do lần đầu tiên máy tính thực sự có khả năng bắt chước các giác quan của con người, đặc biệt là thị giác và thính giác. Máy tính ngày nay có thể “nhìn”, nhận biết và phản hồi, cũng như “nghe”, hiểu và trả lời.   Tuy nhiên khi các bài toán AI trở nên phức tạp hơn các giới hạn của cấu trúc hiện tại sẽ bộc lộ và chúng ta cần tìm kiếm một giải pháp thay thế.   Hãy nhìn lại rằng mô hình AI là sự phát triển tiếp nối của mô hình mạng nơ-ron (neural network – NN), mô hình mô phỏng lại cấu trúc của bộ não, nối tiếp bởi mô hình Deep Learning (Deep Neural network – DNN). Bằng cách sử dụng nhiều lớp, DNN có thể xử lý dữ liệu tuần tự với độ phức tạp tăng dần. Bằng việc kết hợp kỹ thuật tích chập chúng ta có thể tích hợp cường độ của các điểm lân cận trong một hình ảnh giống như mắt người nhận dạng các vùng trong ảnh. (các mô hình ANN truyền thống xử lý các pixel hình ảnh một cách độc lập).   Tuy nhiên có một sự khác biệt quan trọng là cách lan truyền thông tin giữa các nơ-ron thì DNN giống máy tính hơn là não bộ. Các nghiên cứu thần kinh học đã cho thấy thông tin được lan truyền giữa các nơ-ron theo dạng các xung ngắn hay “spike”, hoặc một chuỗi các xung. Đáng ngạc nhiên, các xung này có hình dạng tín hiệu giống nhau, đồng nhất với cường độ khoảng  có biên độ 100mV và độ rộng khoảng 1 milli giây. Điều này hoàn toàn trái ngược với ANN/DNN, nơi tín hiệu có giá trị liên tục và thông tin được chứa trong chính cường độ. Chính sự quan sát này đã dẫn đến một kiến trúc mạng nơ-ron mới, mạng nơ-ron dạng xung (Spiking Neural Network – SNN), ở đó thông tin được chứa theo chiều thời gian.    Hình 9: a) Mạng SNN: mỗi thực thể trong mạng nơ-ron thế hệ 3 gồm chức năng nhớ và tính toán. Thông tin truyền dạng xung theo thời gian. b) Mạng DNN hiện tại: Tín hiệu đồng bộ và liên tục theo thời gian, số hóa;c) Tín hiệu không đồng bộ và rời rạc theo thời gian, ở dạng xung chuẩn. Thời gian giữa xung chứa thông tin.  Hơn nữa trong SNN, thời gian giữa các xung hoặc giữa xung đến và đi khỏi dây thần kinh đã chứa toàn bộ dữ liệu nên việc xử lý thông tin được thực hiện qua xung và cấu trúc mạng SNN gần như là không đổi. Ngược lại trong DNN, người ta phải thiết kế mạng phù hợp cho từng vấn đề nhận dạng, như mạng CNN, RNN, LSTM,…  Tính phổ quát của mạng SNN có thể thấy với não bộ của chúng ta. Khi một người không may bị hỏng một giác quan (ví dụ mắt), phần não bộ xử lý thông tin của giác quan đó không còn hoạt động nữa nhưng có thể chuyển sang để xử lý thông tin từ giác quan khác (ví dụ tai), khiến cho người này nhạy bén hơn ở giác quan còn lại.   Ngoài ra vì các xung được mã hóa theo sự kiện, chúng chỉ được tạo khi dữ liệu thay đổi, ví dụ như hình ảnh có nhiều tương phản, âm thanh xuất hiện, tần các xung ít hơn nhiều so với việc mã hóa toàn bộ tín hiệu. Điều đó làm giảm đáng kể số lượng xung được tạo ra, số lượng tính toán cần thực hiện và tối ưu hóa mức tiêu thụ năng lượng. Chúng ta thấy rõ điều này khi tập trung thực hiện một nhiệm vụ, ví dụ một anh bảo vệ đang trông cửa hàng. Nếu không có khách (tín hiệu không thay đổi nhiều) thì anh ta có thể nghỉ ngơi, thậm chí thiu thiu ngủ (não hoạt động ít) mà vẫn trông được cửa hàng. Nhưng nếu có khách tới (tín hiệu biến đổi), não sẽ tạo ra xung và xử lý giúp người bảo vệ bật dậy giữ xe. Ngược lại với hệ thống giám sát AI hiện tại, máy tính chạy liên tục cả khi có và không có khách. (ngay cả khi không có khách, hình ảnh vẫn cần được xử lý để nhận dạng ra là không có khách).  Bên cạnh việc tối ưu năng lượng tiêu thụ, SNN sẽ rất phù hợp với các ứng dụng AI xử lý các tín hiệu biến đổi theo thời gian như phát hiện cử chỉ, nhắm mục tiêu di động, xe tự lái,…  Nhưng bên cạnh thông tin dạng xung thì một mạng SNN cần những gì?   Hai thành phần cơ bản khác trong mạng SNN là các nơ-ron thần kinh và các khớp thần kinh liên kết nơ-ron với nhau. Trong đó, các nơ-ron có thể mô phỏng theo cơ chế tích lũy và phát (Integrated and Fire – I&F) đơn giản như sau: nơ-ron nhận xung từ các nơ-ron khác qua các dây thần kinh làm tăng điện thế lên, đến khi điện thế vượt quá một ngưỡng xác định nơ-ron sẽ phát ra một xung và điện thế được đặt lại bằng không. Với các khớp thần kinh, các nhà khoa học thần kinh đã phát hiện ra độ dẫn điện của chúng có thể được thay đổi tùy theo hiệu số thời gian xung đến và đi. Nếu tế bào thần kinh đến kích hoạt xung trước tế bào thần kinh sau thì độ dẫn điện của khớp thần kinh sẽ tăng lên ngược lại.   Cơ chế này cho phép các khớp thần kinh “học” (điều chỉnh độ dẫn) thông qua các xung chảy qua nó và gọi là cơ chế đàn hồi xung thời gian (Spike-timing Dependent Plasticity – STDP). I&F và STDP là hai tính năng cơ bản nhất của một mạng SNN, đều lấy ý tưởng từ các cơ quan sinh học và do vậy được kỳ vọng sẽ khiến cho SNN có được hiệu suất gần hơn với trí thông minh tự nhiên.  Bên cạnh các cơ chế I & F và STDP, chúng ta cần thêm các quy tắc học cho SNN cho các bài toán AI, cả không giám sát và giám sát. Các công trình gần đây đã cho thấy sự tiến bộ về các thuật toán và quy tắc này. Vấn đề còn khó khăn hơn ở mức độ chế tạo. Ở mức cao, chúng ta có thể sử dụng máy tính kiến trúc Neumann và công nghệ CMOS để mô phỏng SNN, ví dụ:  1. SpiNNaker (Đại học Manchester) sử dụng lõi ARM9 để làm nơ-ron thần kinh, giao tiếp với nhau qua xung với giao thức hướng sự kiện. Hệ thống lớn nhất bao gồm 1 triệu lõi / bộ xử lý và mô phỏng được các chức năng cơ bản của bộ não  2. TrueNorth (IBM): nơ-ron thần kinh được tích hợp trên chip và dây thần kinh được mô phỏng bởi bộ nhớ SRAM cục bộ với một mức độ rời rạc nhất định. Các nơ-ron có thể thực hiện cơ chế I & F động và hoạt động không đồng bộ. Việc tích hợp trên chip cho ra hiệu suất năng lượng cao hơn khoảng ba cấp so với CPU thông thường.  3. Loihi (Intel): sử dụng kiến ​​trúc sư tương tự như TrueNorth với bóng bán dẫn hiệu ứng trường kích thước 14nm. Chip chứa đựng 130.000 nơ-ron và 130 triệu khớp thần kinh, cho phép một số dạng quy tắc học tập STDP  Tuy nhiên các cấu trúc trên vẫn dựa trên công nghệ CMOS và cần số số lượng lớn mạch, transistor để mô phỏng nơ-ron và khớp nối thần kinh. Chúng đã thực hiện được các chức năng chính của SNN là I & F, STDP, giao tiếp không đồng bộ nhưng còn phức tạp về mặt kiến trúc vật liệu. Gần đây, các thiết bị trở nhớ – memristive đã nổi lên như là công nghệ nano thay thế cho công nghệ CMOS cho mạng SNN.   Đây là một điện trở với hai đầu cuối, đặc biệt ở chỗ điện trở có thể thay đổi liên tục bằng cách áp dụng các xung điện thích hợp. Tính nhớ được này được thực hiện thông qua các cơ chế vật lý khác nhau như chuyển pha, khuếch tán ion, hiệu ứng spintronic,… và có thể được sử dụng để biểu diễn các cơ chế I & F, STDP chỉ trên một linh kiện duy nhất (hoặc thêm một trở nữa). Thiết bị này trở nên đặc biệt phù hợp để triển khai SNN vì nó cho phép tích hợp rất nhiều trở nhớ, giống như cách mạch IC tích hợp transistor, tạo thành mạng SNN với hàng trăm triệu nơ-ron và khớp thần kinh. Hiệu suất như vậy cao hơn ít nhất một nghìn lần so với công nghệ hiện tại và rất thuận tiện cho việc tính toán AI (đào tạo) hay các trung tâm dữ liệu để giảm chi phí thực hiện các tính toán AI trên đám mây.   Hơn nữa, nhờ việc chỉ có hai đầu cuối, các memristor có thể được chế tạo ở dưới kích thước 10 nano mét và chuyển đổi với thời gian nano giây, cho phép tích hợp phần cứng dày hơn. Các công nghệ hiện tại vẫn đang gặp khó khăn ở việc chế tạo ổn định (các đặc tính I&F, STDP) và tích hợp quy mô lớn, nhưng memristor đang là một ứng cử viên lý tưởng cho các thiết bị AI trong tương lai. Đặc biệt phù hợp hơn cho các thiết bị nhúng cần hạn chế về năng lượng tỏa ra ví dụ: điện thoại di động, robot di động và thiết bị bay không, thiết bị internet (vạn vật),…  Tóm lại, tương lai của AI được dự đoán sẽ dựa trên công nghệ mới không bị ràng buộc bởi kiến trúc máy tính Neumann hiện tại, với các tính năng cơ bản sau:  – Tính toán quy mô lớn trên linh kiện và bộ nhớ cục bộ  – Không sử dụng (hoặc rất ít) số hóa nhị phân  – Tính toán tự nhiên hơn: dựa trên hiệu ứng vật lý/sinh học.  Trên thị trường, trở nhớ đã được dùng để chế tạo bộ nhớ (ReRAM) và đã được thương mại hóa bởi HP, Fujitsu S bán dẫn, Hynix, …. Chip AI dựa trên trở nhớ cũng đang được nghiên cứu và phát triển tích cực bởi các nhóm ở IBM, Đại học Massachusetts, với độ chính xác đang tiếp cận với kiến ​​trúc DNN hiện tại (nhưng điện năng tiêu thụ nhỏ hơn nhiều).   Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là chip AI có thể sử dụng các hiệu ứng và vật liệu khác, phi điện tử, không nhất thiết theo kiến trúc SNN nói trên. Ví dụ như Lightelligence, Luminous and Lightmatter là các start-up AI sử dụng ánh sáng để chứa thông tin và tính toán bằng các thiết bị quang học như giao thoa kế, bộ suy hao. Những start-up này được tài trợ bởi các nhà đầu tư nổi tiếng bao gồm Bill Gates và Travis Kalanick. Ngoài ra thì AnotherBrain còn đề xuất một ý tưởng táo bạo hơn là dùng các cấu trúc tế bào sinh học để thực hiện tính toán AI. AnotherBrain cũng đã được đầu tư nhiều chục triệu đô la.   Hãy tưởng tượng trong tương lai, thiết bị AI sẽ như là một chiếc hộp đen có thể phát hiện nếu một con vật đi qua, với bên trong hoặc là các gương, giao thoa kế, … hoặc là các mạch điện nối qua các linh kiện nano. Các thiết bị này nhận dạng tức thời do truyền ánh sáng hoặc điện thế với tốc độ ánh sáng, không tính toán số, không vi xử lý và không phần mềm (hoặc rất ít để hỗ trợ). □  ——-    Tài liệu tham khảo  1. Tavanaei, A., Ghodrati, M., Kheradpisheh, S. R., Masquelier, T., and Maida, A. (2018). Deep learning in spiking neural networks. Neural Networks  2. W. Gerstner, W. M. Kistler, R. Naud, and L. Paninski, Nơ-ronal dynamics: From single nơ-rons to networks and models of cognition. Cambridge University Press, 2014.  3. Wang, Z., Joshi, S., Savel’ev, S. et al. Fully memristive neural networks for pattern classification with unsupervised learning. Nat Electron 1, 137–145 (2018) doi:10.1038/s41928–018–0023–2  4. Bipin Rajendran, Abu Sebastian, Michael Schmuker, Narayan Srinivasa, Evangelos Eleftheriou, Low-Power Neuromorphic Hardware for Signal Processing Applications, Special Issue on Learning Algorithms and Signal Processing for Brain-Inspired Computing in the IEEE Signal Processing Magazine  5. Pfeiffer M and Pfeil T (2018) Deep Learning With Spiking Nơ-rons: Opportunities and Challenges. Front. Neurosci. 12:774. doi: 10.3389/fnins.2018.00774  6. Camuñas-Mesa, L.A.; Linares-Barranco, B.; Serrano-Gotarredona, T. Neuromorphic Spiking Neural Networks and Their Memristor-CMOS Hardware Implementations. Materials 2019, 12, 2745.  7. Boybat, I., Le Gallo, M., Nandakumar, S.R. et al. Neuromorphic computing with multi-memristive synapses. Nat Commun 9, 2514 (2018) doi:10.1038/s41467–018–04933-y  *TS Nguyễn Quang (ĐH Quốc tế Hồng Bàng)       Author                Nguyễn Quang        
__label__tiasang Mê Kông: “Dòng sông năng lượng”?      Hàng loạt đập thủy điện lớn nhỏ đã và đang được xây dựng trên thượng nguồn Mê Kông và ở các nhánh sông – các quốc gia thuộc lưu vực sông Mê Kông đang biến con sông dài 4880 km này trở thành “dòng sông năng lượng”. An ninh năng lượng thì chưa thấy đâu nhưng những rủi ro về môi trường và mất an ninh sinh kế thì đã đến cận kề.                          Theo thống kê của TS Đào Trọng Tứ thuộc Mạng lưới Đối tác vì Nước (VNWP), tính tới thời điểm này, hiện có 3 đập thủy điện lớn được xây dựng trên thượng lưu sông Mê Kông trong đó có con đập cao tới 291 m, 12 đập thủy điện khác với công suất từ 10 MW tới 1000 MW cũng đang được xây dựng trên lãnh thổ của Lào, Thái Lan và Việt Nam. Trong vòng vài năm tới, sẽ có 20 đập thủy điện lớn sẽ được xây dựng trên dòng chính của Mê Kông.  Nhiều nhà khoa học lên tiếng cảnh báo về các ảnh hưởng tiêu cực của việc xây dựng ồ ạt các đập thủy điện: xây dựng các hồ chứa nước dẫ tới phá rừng làm đất bị xói mòn, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp; những người dân sống dưới hạ lưu, do điều kiện thủy văn thay đổi, sẽ bị mất đi nguồn lợi thủy sản buộc phải di cư sang các vùng khác sinh sống; nhiều loài sinh vật quý có nguy cơ bị tuyệt chủng dẫn tới hệ cân bằng sinh thái bị phá vỡ.   Không dễ chia sẻ nguồn lợi thiên nhiên  Các diễn giả tại tọa đàm “Mê Kông: Năng lượng – Môi trường – An ninh sinh kế”* cho rằng để đạt được sự phát triển về kinh tế phải có những đánh đổi nhất định. Tuy nhiên, bài toán đánh đổi giữa “đập thủy điện và con cá” phải được xem xét thấu đáo hơn. Xây dựng thủy điện có thể giúp đảm bảo an ninh năng lượng trong 10-20 năm nữa nhưng thiệt hại trước mắt là cuộc sống của người dân và môi trường bị đe dọa nghiêm trọng.  Thủy điện chiếm 30-33% tổng năng lượng của Việt Nam, 15-18% năng lượng của Thái Lan, 5% tại Campuchia… Lào là quốc gia đang có kế hoạch xây dựng rất nhiều nhà máy thủy điện trên sông Mê Kông. Nhưng nguồn năng lượng này không phải để đáp ứng nhu cầu phát triển của quốc gia này mà để bán cho các nước láng giềng như Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam. Ông Richard Cronin thuộc Trung tâm Henry L. Stimson nói, “Chính phủ nước này rõ ràng đã phải hy sinh các quyền lợi của quốc gia để đổi lấy sự tăng trưởng trước mắt”. Ông cũng đặt câu hỏi, ”Tại sao các nhà đầu tư Việt Nam lại muốn tham gia vào xây dựng các đập thủy điện tại Lào và Campuchia trong khi họ biết Việt Nam sẽ là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất nếu như các điều kiện thủy văn của Mê Kông thay đổi.”  Ông Đào Trọng Tứ cho biết, “một trong những khó khăn trong việc đưa ra các quyết định liên quan tới xây dựng các đập thủy điện là do vẫn còn thiếu những thông tin khoa học mới về tác động của các đập thủy điện trên sống Mê Kông, đặc biệt là những tác động sau khi những đập mới được xây dựng”. Nhiều nhà xây dựng thủy điện cho rằng các hồ chứa nước sẽ giúp điều phối mực nước tốt hơn trên sông, làm giảm nguy cơ hạn hán, lũ lụt. Tuy nhiên, thực tế của những thiệt hại do việc nước ở các đập thủy điện tràn ra ở Trung Quốc và Việt Nam cho thấy sự thất bại của vai trò này.                  Từ khi thành lập tới nay, Ủy hội sông Mê Kông (MRC) bao gồm 4 nước thành viên (Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam) đã tích cực hoạt động bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên chung mà Mê Kông mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, MRC không phải là những người quyết định, họ chỉ có thể đưa ra các sáng kiến. Điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ những cái được và mất khi đưa ra lựa chọn “con cá hay đập thủy điện”.  Các quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông vẫn duy trì cơ chế hợp tác đa phương và song phương. Tuy nhiên, vẫn rất khó tìm được sự đồng thuận trong cách thức chia sẻ các nguồn lợi thiên nhiên, giữa các quốc gia thiệt hại và quốc gia hưởng lợi từ các nguồn lợi này.  Trung Quốc chưa thực sự tỏ ra thiện chí muốn tham gia vào các cuộc đàm phán của các quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông. Trong khi đó, việc xây dựng thủy điện ở các nhánh sông nhỏ của dòng Mê Kông của các nước vùng hạ lưu phụ thuộc rất nhiều vào các động thái của Trung Quốc: nếu họ giữ nước ở thượng nguồn thì các đập thủy điện không thể nào hoạt động được. Hơn nữa, theo ông Timothy Hamlin, “một khi các đập thủy điện được xây dựng, lưu lượng phù sa sẽ mắc lại ở các con đập thay vì chảy xuống hạ lưu như trước đây. Điều này sẽ gây bất lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia vùng hạ lưu”.   Thúc đẩy đối thoại, hợp tác  Để tìm lối thoái cho bài toán “thủy điện hay con cá”, các nước hạ lưu sông Mê Kông, đặc biệt là Việt Nam – nước sẽ bị thiệt hại nhiều nhất nếu như các điều kiện thủy văn của Mê Kông thay đổi, nên tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán đa phương và song phương liên quan tới các vấn đề về sông Mê Kông. Bên cạnh đó, cũng cần hối thúc Trung Quốc và cả Myanmar tham gia vào Ủy hội sông Mê Kông cùng thảo luận, đàm phán về các chính sách phát triển liên quan tới sông Mê Kông.  Diễn giả Ngụy Thị Khanh thuộc Mạng lưới sông ngòi Việt Nam nhấn mạnh tới vai trò của các xã hội dân sự thông qua việc tiến hành các nghiên cứu độc lập, cung cấp thông tin nâng cao nhận thức của người dân giúp họ có tiếng nói mạnh mẽ hơn với Chính phủ về các vấn đề liên quan tới cuộc sống của họ.  Ông Richard Cronin cho rằng, Mỹ có thể giúp các quốc gia trong khu vực sông Mê Kông về mặt công nghệ giúp đưa ra các quyết định chính xác hơn khi cân nhắc chi phí – lợi ích của các lựa chọn. Mỹ cũng đã triển khai chương trình sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông (LMI) với mục tiêu kêu gọi nỗ lực của các bên trong việc cải thiện chất lượng giáo dục, môi trường, sức khỏe và cơ sở hạ tầng trong khu vực; mục tiêu địa chính trị nhằm cân bằng ảnh hưởng bên ngoài đối với khu vực ASEAN.    ———————-  * Tọa đàm “Mê Kong: Năng lượng – Môi trường – An ninh sinh kế” do PanNature, Trung tâm Stimson và Mạng lưới sông ngòi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 3/8/2010.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mẹ trầm cảm dễ đánh thức con buổi đêm      Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã biết rằng trẻ  sơ sinh của những bà mẹ bị trầm cảm thường dễ thức dậy vào buổi đêm.  Nhưng người ta không rõ nguyên nhân. Liệu có phải vì cơ chế di truyền  nào đó khiến những bà mẹ bị trầm cảm và con của họ cùng bị nhạy cảm quá  mức và dễ thức dậy? Hay vì lý do khác?     Cách duy nhất để trả lời là tìm hiểu các bà mẹ vào buổi đêm, và các nhà nghiên cứu ĐH bang Pennsylvania đã làm điều này.  Trong nghiên cứu này, được công bố trong tháng 4 vừa qua trên tạp chí Child Development, họ đặt vài camera trong nhà của 45 bà mẹ da trắng của 45 em bé độ tuổi từ 1 tới 24 tháng; 14 bà mẹ trong số đó được báo cáo là có triệu chứng trầm cảm ở mức độ từ thấp tới cao. Có khoảng 2 tới 4 camera được gắn ở các vị trí khác nhau, bao gồm nơi em bé ngủ, cửa ra vào phòng em bé (để biết ai ra vào), nơi cho em bé ăn hoặc phòng cho em bé ăn nếu biệt lập với các vị trí khác. Các thiết bị sẽ ghi lại mọi hoạt động trong khoảng 12 tiếng, từ lúc bắt đầu giờ ngủ tới sáng hôm sau.   Douglas Teti, chủ nhiệm nghiên cứu, là giáo sư ngành phát triển con người, tâm lý, và nhi khoa tại Đại học bang Pennsylvania, đã đặt ra hai giả thuyết:  Mối liên quan giữa trạng thái trầm cảm và việc thức dậy vào buổi đêm của người mẹ là gây ra bởi em bé, do em bé thức dậy nên người mẹ phải dậy theo nhiều lần; mất ngủ nhiều trong thời gian dài khiến mẹ bị trầm cảm nặng hơn.  Hoặc là:   Những người mẹ bị trầm cảm càng dễ lo lắng về con, khiến họ hay đi kiểm tra con một cách không cần thiết.  “Điều ngạc nhiên trong kết quả thu được là, chúng tôi nhận thấy các bà mẹ trầm cảm hoặc lo lắng quá mức thường hay đi kiểm tra con vào giữa buổi đêm, và ở đó với con cho dù chúng không cần như vậy”, Teti nói. “Một số em bé đang ngủ ngon thì người mẹ đến bế chúng lên, làm chúng tỉnh dậy”.   Cũng có khi, những bà mẹ này dành nhiều thời gian bên con vào buổi đêm, chăm sóc và nằm cạnh con, cho dù con không khóc, và Teti gọi đây là những “hành vi chủ động của người mẹ”, vốn không được thấy ở những bà mẹ không bị trầm cảm. Những bà mẹ không bị trầm cảm thường chỉ đến với con vào buổi đêm khi chúng khóc.  Teti phỏng đoán rằng những bà mẹ trầm cảm thường quá lo về con – họ sợ rằng con mình bị bỏ đói hoặc cảm thấy bị bỏ rơi vào buổi đêm – hoặc là người mẹ tìm con vào buổi đêm đơn giản chỉ để cảm thấy yên tâm. Thường là do cả hai lý do.  Các bà mẹ trầm cảm dù không lo lắng quá mức vẫn thường tìm đến con, nhiều hơn là các bà mẹ không bị trầm cảm. Điều này cho thấy có thể các bà mẹ này tìm con để có cảm giác an toàn, hoặc vì “sự dễ chịu khi tương tác”.   Trong bản tóm tắt của một nghiên cứu khác, Teti tổng hợp các dữ liệu cho thấy những bà mẹ có vấn đề về hôn nhân sau khi sinh con thường dễ ngủ cạnh con cho tới khi bé 6 tuổi. Với những bà mẹ không hạnh phúc, việc nằm chung giường với em bé – hoặc đánh thức chúng vào buổi đêm – có thể là một cách để cảm thấy dễ chịu trong tình cảm.  “Điều này quan trọng vì nó lý giải mối liên quan được biết đến từ lâu giữa sự trầm cảm của người mẹ và sự gia tăng thức dậy vào buổi đêm của trẻ sơ sinh”, Teti nói. “Khi các bà mẹ đánh thức con vô cớ vào buổi đêm, sẽ tiềm tàng những ảnh hưởng tiêu cực về lâu dài trong quan hệ giữa mẹ và con”. Ví dụ như một số nghiên cứu khác đã cho thấy có sự liên quan giữa việc bị đánh thức buổi đêm với các vấn đề về hành vi ban ngày của trẻ.   TS dịch từ:  http://healthland.time.com/2012/04/17/never-wake-a-sleeping-baby-why-depressed-moms-dont-follow-that-advice/?iid=hl-main-feature#ixzz1t8agpSsd    Author                Quản trị        
__label__tiasang MERS khó có khả năng bùng phát thành đại dịch      Theo các chuyên gia, chúng ta có những lý do  để tin rằng MERS sẽ không bùng phát thành đại dịch. Tuy nhiên, các biện  pháp nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus và chuẩn bị cho nguy cơ bùng  phát dịch trong tương lai vẫn được thực hiện ráo riết ở Hàn Quốc, nơi  dịch bệnh bắt đầu xuất hiện cách đây một tháng.       Tính đến ngày 15/6 vừa qua, theo công bố chính thức, tại Hàn Quốc đã có 150 ca nhiễm bệnh và 15 ca tử vong do nhiễm virus MERS-CoV. Kể từ khi trường hợp nhiễm virus đầu tiên được phát hiện ngày 20/5 năm nay, dịch bệnh này lây lan nhanh chóng trong các bệnh viện. Tuy nhiên, số lượng ca nhiễm bệnh mới mỗi ngày hiện đang có dấu hiệu giảm xuống, cho thấy tốc độ lây lan của dịch chậm lại. Điều này phần nào chứng tỏ rằng các biện pháp khống chế dịch tại chỗ đã có hiệu quả, dẫu vẫn còn sớm để đánh giá đầy đủ tác động của các biện pháp này.  Bài viết này nhằm đưa ra những khó khăn trong việc phát hiện và kiểm soát dịch bệnh tại Hàn Quốc, đặc điểm dịch, cũng như những biện pháp được khuyến nghị để khống chế dịch.  Những thách thức trong việc chẩn đoán ban đầu  MERS-CoV rất khó chẩn đoán, đặc biệt là trong thời kỳ đầu bùng phát dịch bệnh, bởi lúc này nhận thức về dịch vẫn ở mức tương đối thấp. Trong lần đầu tiên đi khám, bệnh nhân nhiễm virus đầu tiên tại Hàn Quốc đã không thông báo rằng anh mới ở Trung Đông về, do đó các bác sĩ không nghi ngờ anh nhiễm MERS, và phải một tuần sau đó bệnh nhân mới bị cách ly. Ngoài ra, các triệu chứng ban đầu của bệnh cũng tương tự như các chứng cảm cúm thông thường khác, nên càng khó phát hiện hay nghi ngờ bệnh nhân nhiễm MERS.           Để có thể lây lan ở cấp độ đại dịch, virus  phải có khả năng lây truyền dễ dàng giữa người với người, nhưng MERS-CoV  lại chủ yếu là virus lây truyền trong động vật. Virus này thi thoảng  lây từ người sang người như tình hình ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng chúng  chỉ lây lan trong môi trường bệnh viện, hoặc ở quy mô hẹp hơn là trong  các gia đình có bệnh nhân mắc virus và các thành viên khác gần gũi để  chăm sóc bệnh nhân.         Ở giai đoạn đầu của bệnh, đường hô hấp trên của bệnh nhân bị nhiễm trước tiên nên càng khó phát hiện ra virus. Kết quả chẩn đoán sẽ chính xác hơn nếu lấy được mẫu bệnh phẩm ở đường hô hấp dưới, tuy nhiên tới lúc này thì bệnh đã tiến triển tới giai đoạn sau, khi bệnh nhân phải nhập viện. Hơn nữa, các mẫu bệnh phẩm ở đường hô hấp trên (ví dụ: nước mũi) đôi khi có kết quả âm tính với bệnh, còn các mẫu bệnh phẩm ở đường hô hấp dưới, vốn khó lấy hơn, lại thường cho kết quả dương tính. Hiện Hàn Quốc đang tiến hành kiểm tra lại các trường hợp có triệu chứng của bệnh nhưng có kết quả kiểm tra âm tính.  Một xu hướng chung giữa dịch bệnh này và các dịch bệnh khác là, xuất phát từ những nhầm lẫn trong việc chẩn đoán bệnh nên không kịp thời cách ly bệnh nhân, cộng với thói quen giới thiệu bệnh nhân tới các cơ sở y tế khác để kiểm tra thêm, nên từ một ca nhiễm bệnh đầu tiên, dịch có thể lây lan rất nhanh chóng.   Đặc điểm dịch bệnh MERS ở Hàn Quốc  Điều kiện sống và phong tục tập quán ở Hàn Quốc cũng có thể là một tác nhân giúp dịch bệnh phát tán nhanh như hiện nay. Với điều kiện sống của người Hàn và mạng lưới chăm sóc sức khỏe dày đặc ở đất nước này, người dân Hàn Quốc có thói quen tới thăm khám tại nhiều địa điểm y tế khác nhau trước khi ra quyết định cuối cùng.  Hơn nữa, người dân Hàn Quốc còn có thói quen tới thăm họ hàng hoặc bạn bè nằm viện. Các thành viên trong gia đình cũng hay túc trực tại giường bệnh nhân để có thể chăm sóc bệnh nhân 24/24, chính vì thế càng làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm bệnh trong các cơ sở y tế.  Tuy nhiên, chúng ta có những lý do sau đây để tin rằng MERS sẽ không bùng phát thành đại dịch:  1.    MERS không phải là virus lây từ người sang người  Để có thể lây lan ở cấp độ đại dịch, virus phải có khả năng lây truyền dễ dàng giữa người với người, nhưng MERS-CoV, loại virus được phát hiện lần đầu ở Saudi Arabia năm 2012, lại chủ yếu là virus lây truyền trong động vật. Có giả thiết cho rằng virus này xuất nguồn từ loài dơi, và thỉnh thoảng lây sang người qua các loài động vật trung gian, có thể là lạc đà. Virus này thi thoảng lây từ người sang người như tình hình ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng chúng chỉ lây lan trong môi trường bệnh viện, hoặc ở quy mô hẹp hơn là trong các gia đình có bệnh nhân mắc virus và các thành viên khác gần gũi để chăm sóc bệnh nhân. Bệnh nhân nhiễm virus MERS-CoV đầu tiên ở Hàn Quốc là một cụ già 68 tuổi, trở về Seoul ngày 4/5 vừa qua sau một chuyến du lịch tới bốn quốc gia Trung Đông. Trước khi được chẩn đoán nhiễm MERS-CoV, bệnh nhân đã lây virus sang cho người thân trong gia đình, các nhân viên y tế và bệnh nhân tại bốn cơ sở y tế mà ông đã tới điều trị. Để trở thành đại dịch, virus MERS-CoV cần phải biến đổi để có thể lây truyền dễ dàng hơn từ người sang người trong một môi trường rộng hơn, nhưng những thông tin về dịch tễ học hiện nay cho thấy không có gì bất thường ở đợt bùng phát dịch này ở Hàn Quốc.    2.    MERS chủ yếu lây lan trong bệnh viện  Tuy không được coi là virus gây bệnh trên người, nhưng MERS-CoV lại hoạt động tương tự như loại virus này khi ở trong một môi trường cụ thể là bệnh viện. Tại đây, các quy trình điều trị đối với bệnh nhân chưa được chẩn đoán nhiễm virus – chẳng hạn trợ thở – có thể đưa sol khí [chất lơ lửng phân tán trong không khí với kích thước dạng keo và tương đối bền, khó lắng] từ phổi phát tán ra ngoài, khiến virus lây truyền sang những người xung quanh. Ở môi trường khác, virus MERS-CoV vốn đi sâu vào các khu vực khác trong phổi nên không dễ bay ra ngoài khi bệnh nhân ho. Trong đợt bùng phát dịch lần này ở Hàn Quốc, người bệnh phát triển các triệu chứng giống cảm cúm và bị ho vào ngày 11/5, nhưng người ta chỉ phát hiện ra bệnh và tiến hành cách ly bệnh nhân vào ngày 20/5. Trong khoảng thời gian này, không có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát lây nhiễm nào được áp dụng, nên bệnh nhân đã truyền virus sang cho người khác. Việc bệnh nhân tới thăm khám ở bốn cơ sở y tế khác nhau cũng làm tăng thêm nguy cơ lây nhiễm.  3.    Hàn Quốc đang xử lý dịch rất tốt  Vì khả năng lây nhiễm từ người sang người rất hạn chế, nên có thể kiểm soát virus MERS-CoV bằng các biện pháp bảo đảm sức khỏe y tế cộng đồng, và Hàn Quốc đang rất tích cực thực hiện các biện pháp này. Các nhà chức trách Hàn Quốc đã và đang ráo riết triển khai việc tìm kiếm những đối tượng tiếp xúc với người nhiễm bệnh và theo dõi họ trong 14 ngày – khoảng thời gian ủ bệnh tối đa của virus này. Bất kỳ ai có triệu chứng nhiễm bệnh đều được cách ly. Tính đến nay, tất cả các ca mới mắc bệnh đều nằm trong danh sách những người từng tiếp xúc với người nhiễm bệnh, do đó chúng ta càng có lý do để tin rằng bệnh dịch đang được kiểm soát tốt.   4.    MERS không phải là SARS          Liệu  MERS-CoV có tiến hóa để gây ra đại dịch như SARS không? Không thể loại  trừ khả năng đó. Nhưng kết quả nghiên cứu [bộ gene virus] không cho thấy  điều gì bất thường trong đợt bùng phát dịch MERS hiện nay ở Hàn Quốc.        Dịch MERS có thể khiến nhiều người liên tưởng tới đại dịch SARS từng quét qua nhiều quốc gia trên thế giới vào năm 2003. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn giữa SARS và MERS: chủng coronavirus gây ra đại dịch SARS đã tiến hóa để có thể lây lan từ người sang người nhanh hơn, còn virus MERS-CoV thì ngược lại. Liệu MERS-CoV có tiến hóa để gây ra đại dịch như SARS không? Virus là loài khó đoán trước, nên không thể loại trừ khả năng đó, nhưng nếu khả năng đó tồn tại, thì cũng có thể tránh được. Khi dịch bệnh bùng phát, các nhà khoa học sẽ tiến hành giải trình bộ gene virus để tìm hiểu xem có sự biến đổi nào không. Nhưng kết quả nghiên cứu không cho thấy điều gì bất thường trong đợt bùng phát dịch MERS hiện nay ở Hàn Quốc, nên thiết nghĩ cũng không cần phải quá lo lắng.  5.    Quy mô dịch bệnh nhỏ    Hàn Quốc có thể là địa điểm bùng phát dịch lớn nhất bên ngoài khu vực Trung Đông, song quy mô của nó không lớn. Đợt bùng phát dịch bệnh ở Jeddah, Saudi Arabia, vào mùa xuân năm 2014 khiến 255 người nhiễm bệnh; và đợt bùng phát bệnh trong một bệnh viện ở Al-Hasa, miền đông Saudi Arabia năm 2013 khiến 23 người nhiễm bệnh, 11 người nghi nhiễm. Tính đến nay, ở Saudi Arabia đã có hàng chục đợt bùng phát bệnh trong các bệnh viện, và các nhà chức trách y tế địa phương đã khoanh vùng lực lượng nhân viên y tế ở đó để kiểm soát việc lây nhiễm bệnh. Số ca nhiễm virus ở Hàn Quốc có thể cũng sẽ tăng lên, bởi các nhà chức trách ở đây đã thực hiện kiểm tra toàn diện đối với các trường hợp tiếp xúc với virus, và có thể họ sẽ phát hiện ra một số ca nhiễm bệnh nhẹ, không được phát hiện trong các đợt bùng phát bệnh trước đây ở các bệnh viện.    Các biện pháp kiểm soát dịch MERS  WHO và Hàn Quốc đã thực hiện một dự án chung nhằm đánh giá các đặc điểm dịch tễ học của virus MERS-CoV ở Hàn Quốc cũng như các đặc điểm của loại virus này và các triệu chứng lâm sàng của bệnh. Dự án cũng đánh giá về kết quả của các biện pháp chăm sóc sức khỏe y tế công cộng kể từ ca nhiễm bệnh đầu tiên được phát hiện.   Ban thực hiện dự án đã công bố các phát hiện của mình vào ngày 13/6 vừa qua. Các kiến nghị trong đó được xếp thành ba lĩnh vực hành động chính như sau:  •    Các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của virus: Xác định sớm và điều tra đầy đủ về tất cả các trường hợp tiếp xúc với virus; cách ly và theo dõi sát sao tất cả các trường hợp tiếp xúc với virus hoặc nghi nhiễm virus; thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát dịch; kiểm soát việc đi lại – đặc biệt là ra nước ngoài – của các bệnh nhân nhiễm bệnh hoặc những người từng tiếp xúc với virus. Các chuyên gia còn đề xuất lựa chọn một số bệnh viện để thực hiện phân loại và đánh giá các ca nghi nhiễm MERS. Điều này sẽ giúp bảo vệ các nhân viên chăm sóc sức khỏe, đồng thời giảm thiểu khả năng làm gián đoạn hoạt động chăm sóc sức khỏe thông thường do tâm lý người dân muốn tránh lui tới các địa điểm chăm sóc cho bệnh nhân nhiễm MERS.     •    Thường xuyên cung cấp thông tin cho công chúng: Để bảo đảm người dân nắm được thông tin đầy đủ về tình hình diễn biến dịch bệnh, các chuyên gia đề xuất cung cấp thông tin đều đặn bằng cả tiếng Anh và tiếng Hàn. Các thông tin cần bao gồm thông tin về tiến triển của dịch bệnh, và các biện pháp cần làm khi nghi nhiễm bệnh cũng như các biện pháp cần tránh để không mắc bệnh. Nên tận dụng tối đa các kênh truyền thông được nhiều người sử dụng như TV và mạng xã hội để thông tin được lan tỏa. Cần huy động các chính quyền địa phương vào cuộc chiến toàn quốc chống lại dịch bệnh phức tạp và lan rộng này.    •    Chuẩn bị cho nguy cơ bùng phát dịch trong tương lai: Các chuyên gia đề xuất Hàn Quốc tăng cường củng cố các cơ sở y tế để có thể xử lý được những bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng, cụ thể: nâng cao số lượng phòng cách ly áp lực âm; nghiên cứu các cách giúp làm giảm thói quen đi khám nhiều nơi của người dân Hàn Quốc; đào tạo thêm nhiều chuyên gia ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh, chuyên gia bệnh truyền nhiễm, các nhà khoa học phòng thí nghiệm lâm sàng, các nhà dịch tễ học, và các chuyên gia truyền thông; đầu tư củng cố năng lực chăm sóc sức khỏe và năng lực lãnh đạo trong lĩnh vực này. Đợt bùng phát bệnh này cũng tạo cơ hội để Hàn Quốc đầu tư hơn vào các nghiên cứu toàn diện nhằm lấp đầy lỗ hổng về kiến thức dịch bệnh như các nghiên cứu dịch tễ học huyết thanh.   Nguồn:http://www.nature.com/news/south-korean-mers-outbreak-is-not-a-global-threat-1.17709   http://www.who.int/csr/disease/coronavirus_infections/situation-assessment/update-15-06-2015/en/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Meson mang điện tích bất thường      Các nhà vật lý ở Belle làm việc tại Phòng thí nghiệm KEK (Nhật Bản) vừa phát hiện một hạt cơ bản mới với những bằng chứng hết sức thuyết phục cho thấy có một số meson chứa tới bốn hạt quark thay vì hai quark như các hạt thông thường.    Meson này được đặt tên là Z(4430) là meson mới đầu tiên phát hiện mang điện tích, và sẽ là một thách thức với mô hình quark. Với phát hiện này, các nhà vật lý sẽ phải kiểm tra lại sự chính xác của Lý thuyết Sắc động học lượng tử, được dùng để lý giải tại sao các hạt quark và phản quark có thể liên kết với nhau và với các hạt khác. Theo Vật lý Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Methadone có khả năng chữa ung thư máu      Các nhà nghiên cứu người Đức vừa phát hiện ra rằng méthadone có khả năng giết chết các tế bào bạch cầu gây bệnh. Ngoài ra, chất này còn đặc biệt hiệu quả trên các bệnh nhân mắc bệnh ung thư đã qua xạ trị và hóa trị nhưng không có hiệu quả.      Kết quả này vừa được đăng trên tạp chí Cancer Research. Các nhà nghiên cứu đã có ý tưởng thử nghiệm sản phẩm này vì dòng tế bào ung thư nguyên bào bạch huyết và ung thư tủy cũng thể hiện sự tiếp nhận opioïde. Các kết quả cho thấy hiệu quả của methadone lên các tế bào ung thư tương đương với hóa trị hoặc xạ trị nhưng ưu điểm hơn ở chỗ nó không ảnh hưởng đến các nguyên bào bạch huyết không bị ung thư. Liều methadone duy nhất cần thiết để tiêu diệt các tế bào ung thư cao hơn các liều được sử dụng để điều trị cho người mắc nghiện ma túy. Các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng một liều nhẹ hơn, nhưng dùng hằng ngày, có thể dẫn đến kết quả tương tự. Liên quan đến sự phụ thuộc vào methadone, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nó nhẹ hơn đối với sự phụ thuộc gây bởi các ma túy khác và việc cai dễ dàng hơn. Methadone đã được các nhà nghiên cứu Đức thử nghiệm trong những năm 1930 nhằm chế tạo thuốc giảm đau dùng trong phẫu thuật. Trong những năm 1960, nó được sử dụng với vai trò là sản phẩm thay thế cho những người cai nghiện heroin ở Mỹ.   Quốc Thái (Theo Sciences et Avenir)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Michael Collins  và giây phút cô độc      Michael Collins vừa qua đời vào ngày 28/4/2021 sau cuộc chiến chống chọi với bệnh ung thư. Dưới đây là bài báo trên tạp chí The Atlantic vào năm 2019, phóng viên Marina Koren trò chuyện với ông về trải nghiệm trên chuyến đi quanh quỹ đạo Mặt trăng, 50 năm sau sự kiện Apollo 11 diễn ra.      Michael Collins tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy ở Cape Canaveral, Florida, ngày 19 tháng 6 năm 1969 trước khi Apollo 11 hạ cánh lên Mặt trăng. Ảnh: NASA/Reuters.  Phi hành gia của Apollo 11 nổi tiếng vì một mình bay quanh quỹ đạo Mặt trăng.  Đã năm thập kỉ kể từ ngày ông tới Mặt trăng và Michael Collins biết chính xác chuyến du hành tiếp theo của mình là gì.   “Tôi sẽ tìm một tảng đá to đẹp, để trốn dưới đó,” Collins nói với tôi gần đây.   Khi sự kiện kỉ niệm sứ mệnh Apollo 11 tới gần, Collins ngập trong một loạt yêu cầu phỏng vấn, xuất hiện trước công chúng và các sự kiện kỉ niệm. Sự chào đón nồng nhiệt như vậy đã diễn ra tương tự ở lần kỉ niệm trước đó, trước đó và trước đó nữa. Collins đã quá quen với việc là tâm điểm của sự chú ý; các cuộc họp báo là một phần trong mô tả công việc của một phi hành gia. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông thích điều đó. Và đợt kỉ niệm lần này có lẽ là căng thẳng nhất.   Collins chưa bao giờ đặt chân đến Mặt trăng. Khi Neil Amstrong và Buzz Aldrin hạ cánh mô đun Mặt trăng, Collins vẫn ở lại trên quỹ đạo, vận hành mô đun điều khiển. Ông cũng không chứng kiến khoảnh khắc hạ cánh; con tàu của ông vẫn tiếp tục di chuyển sau khi thả hai người đồng nghiệp phi hành gia xuống, và quang cảnh từ độ cao đó chẳng có gì ngoài các hố Mặt trăng. Ông có nghe thấy giọng nói của Amstrong đứt gãy qua radio, nói với trung tâm điều khiển dưới mặt đất rằng ông và Aldrin đã hạ cánh thành công.   Collins bay vòng quanh Mặt trăng, hoàn toàn cô độc, trong hơn một ngày. Ông lắng nghe tiếng các đồng nghiệp đi đi lại lại trên nền đất mấp mô trong bộ đồ phồng rộp màu trắng, nghe họ gỡ các thiết bị khoa học và xúc những viên đá vào trong các hộp. Cứ vài tiếng một lần, các âm thanh lại im bặt, khi tàu của ông bay đến phía sau Mặt trăng, nơi các phi hành gia hay trung tâm điều khiển dưới mặt đất đều bị mất liên lạc với ông. Quang cảnh xung quanh đẹp tuyệt vời. Nhưng với Collins, quang cảnh đẹp nhất là khi mô đun Mặt trăng quay trở lại, một dấu chấm nhỏ di chuyển lại từ xa, một dấu chấm màu đen giữa nền ghi lấp lánh. Khi đó, ông biết Neil và Buzz sẽ sớm quay trở lại con tàu. Rồi tất cả sẽ cùng trở về nhà.   Collins giờ đã 88 tuổi. Ông không bao giờ quay trở lại vũ trụ sau Apollo 11 mà thay vào đó là chuyển sang những công việc không đòi hỏi di chuyển xa như vậy. Ông làm ở Bộ Ngoại giao và sau đó làm Giám đốc Bảo tàng Quốc gia Hàng không và Vũ trụ Smithsonian. Hôm nay, ông đã nghỉ hưu và sống ở Florida. Khi ông không ở trên sân khấu hoặc trên điện thoại để được yêu cầu phải sống lại một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử, thì ông thích đọc, phần lớn là sách báo và tạp chí, ở nhà.   “Tôi không thể nói rằng sáng nào ngủ dậy tôi cũng nghĩ, Ôi, Apollo 11, thế này, thế nọ,” Collins nói. “Tôi có thể, bình thường, trải qua một hai tháng mà không nghĩ gì về sự kiện đó. Nhưng khi tôi nghĩ về nó, nó trở về với tôi, sáng rõ hơn mức tôi tưởng”.  Mặc dù những kí ức về sứ mệnh Apollo 11 vẫn hiển hiện trong trí óc của ông, vẫn có một mảnh bị khuyết: đó là kí ức về việc ông biết mình được tham gia sứ mệnh đó như thế nào.   “Tôi không thể nào nhớ nổi trong suốt cuộc đời mình là tôi đã nhận được thông tin đó như thế nào, khả năng cao là từ Neil hoặc từ Deke (Deke Slayton, giám đốc quản lý đội bay),” Collins viết trong hồi kí của ông, xuất bản vào năm 1974, năm năm sau sự kiện hạ cánh xuống Mặt trăng. “Nhưng tôi cảm thấy mình như một thằng dở người khi đi kiểm tra lại thông tin đó, ‘Kiểu như,…, này Neil, có phải ông đã báo với tôi là tôi được vào đội của ông không, cái đội mà bay lên Mặt trăng ấy?”     Michael Collins khi đang đào tạo để thực hiện sứ mệnh Gemini X (chuyến bay vào vũ trụ thứ 8 của người Mỹ) vào năm 1966. Ảnh: NASA.  Collins tham gia NASA với vai trò là một phi hành gia vào năm 1963, chỉ năm năm sau khi cơ quan này thành lập. Ông là một phi công trẻ, với ba người con nhỏ hơn 5 tuổi. Ông là đứa con của quân đội, sinh ra ở Rome, nơi bố của ông, một sĩ quan quân đội Mỹ đóng quân. Sau khi tốt nghiệp West Point, ông lựa chọn Không quân thay vì Lục quân, để không phải lo việc mình bị mang tiếng là dựa hơi của gia đình; Bố của Collins, anh trai, hai người chú và các anh em họ của ông đều phục vụ trong Lục quân. Ông phục vụ ở căn cứ Không quân Edwards tại California, đạt được số giờ bay quy định khi nghe tin NASA đang tuyển lứa phi hành gia đầu tiên. “Tôi chắc chắn không hề có ước mơ thời thơ ấu là bay lên Mặt trăng hay bất kì nơi nào như thế, nhưng ý tưởng đó vẫn siêu cuốn hút,” Collins viết. Ông quyết định nộp đơn sau khi John Glen bay vòng quanh Trái đất vào năm 1962, người Mỹ đầu tiên làm được điều đó. Ông viết “Tưởng tượng có thể bay xung quanh địa cầu và cứ 90 phút mỗi lần được bay cao lên trên hẳn những đám mây và những cơn bão!”  NASA đạt được một con số ấn tượng những thành tựu sau bảy năm thực hiện chuyến bay của Glenn. Cơ quan này đã thử nghiệm một chiếc tàu vũ trụ người lái phức tạp bay vòng quanh Trái đất. Nó cũng đưa các phi hành gia bay xung quanh Mặt trăng và quay trở lại. Một đội thậm chí còn tiến gần đến bề mặt của nó trên một chiếc phi thuyền nhưng rồi quay trở lại modun điều khiển trước khi hạ cánh xuống mặt đất. Cơ quan này cũng mất ba phi hành gia, tử nạn trong một vụ cháy trong một cuộc tập dượt phóng trên mặt đất, nhưng những kĩ sư vẫn kiên trì thực hiện cam kết của John F. Kennedy về việc đưa người lên Mặt trăng vào cuối thập kỉ. Vào mùa hè năm 1969, việc duy nhất còn lại để làm chỉ là thực hiện điều đó.   Collins dành hàng tháng trời huấn luyện cho tất cả những hoạt động tinh vi của sứ mệnh Apollo 11. Ông di chuyển qua lại giữa các trung tâm của NASA ở Houston và Cape Canaveral trên một chiếc T-38, một máy bay hai chỗ gọn nhẹ, thường là một mình. Vào ngày phóng, Collins đã hoàn thành 400 giờ trong chiếc mô phỏng modun điều khiển, đối phó với các tình huống nguy cấp và tập luyện tất cả các bước của chuyến đi, bao gồm cả việc quay trở lại khí quyển Trái đất đầy nguy hiểm. “Các nguy hiểm có lẽ liên quan đến tinh thần nhiều hơn là vật chất, và tôi được yêu cầu phải xử lý một loạt các bí ẩn liên quan đến những hỏng hóc thiết bị đầy mơ hồ,” Collins nhớ lại trong sách của ông. “Vài lần tôi giải quyết được, nhưng thường là tôi thất bại, và hơn một lần tôi lao xuống biển, chưa bung được dù ra, nổ tung chính mình cùng với Neil và Buzz (đó là tôi đã giả sử là mình không bỏ họ lại luôn trên Mặt trăng)”.  Collins phải chịu một áp lực rất khác với các phi hành gia khác: Ông là người duy nhất chở họ về nhà. Cả đội ba người sẽ đến Mặt trăng cùng nhau. Armstrong và Aldrin sẽ di chuyển xuống và từ bề mặt Mặt trăng trên một chiếc tàu dùng để hạ cánh và Collins, trong modun điều khiển, sẽ thả chiếc tàu này ra hay tóm họ lại. Nếu có gì đó không suôn sẻ trong quá trình điều khiển tinh vi này, các phi hành gia bước trên Mặt trăng sẽ bị kẹt lại. Collins sẽ phải học cách làm sao để lái modun điều khiển quay trở về Trái đất vì sẽ có một khả năng tồi tệ rằng ông là người duy nhất quay trở lại.   Collins nói rằng ông không còn đầu óc nào để nghĩ về điều đó trong thực tế, khi Armstrong và Aldrin rời đi và chỉ còn một mình ông trong modun điều khiển. Trong đó ông phải thực hiện một loạt kiểm tra và khởi động hệ thống. Và dĩ nhiên là ở ngoài vũ trụ thì điều đó không thể dễ như dưới mặt đất.  Tuy nhiên, trong trường hợp những du khách tới Mặt trăng trong tương lai có tò mò, thì với ông, được chiêm ngưỡng quang cảnh từ quỹ đạo Mặt trăng đã đủ mãn nguyện. Đức trên bề mặt Mặt trăng “bạn đứng ở giữa một cái hố, nhìn về hướng Bắc, bạn thấy một vành hố, nhìn về hướng Nam, bạn cũng chỉ thấy vành hố”, Collins nói với tôi. “Nhưng nếu ở trên quỹ đạo quanh Mặt trăng, bạn có một cái nhìn toàn cảnh”.   Với tất cả chúng ta, Mặt trăng luôn chỉ là một đồng xu phẳng, hai chiều ở giữa đêm tối. Collins và những phi hành gia Apollo khác được trải nghiệm Mặt trăng như chính nó, một quả cầu giữa thinh không, được khum lại bởi ánh sáng và bóng tối. Và có cả một phần phía xa bị khuất khỏi tầm nhìn. Trong cuốn sách của ông, mô tả của Collins về hướng đó của Mặt trăng, được bao phủ hoàn toàn bởi bóng tối, vừa dễ thương lại cũng vừa khó chịu bởi vì dù cố gắng đến mức nào, chúng ta cũng không thể chấp nhận được quang cảnh đó: “Nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi có thể thấy các ngôi sao – chỉ thế thôi. Nơi mà tôi biết có mặt trăng ở đó, chỉ là một khoảng màu đen tăm tối; sự hiện diện của Mặt trăng được xác định bằng sự vắng Mặt của các vì sao”.   Hàng giờ bay trong cô độc là phần của nhiệm vụ mà các phóng viên luôn muốn hỏi Collins. Ông cảm thấy thế nào khi ở trạng thái cô độc tuyệt đối như thế? Đứng một mình ở phía bên này của mặt trăng còn toàn thể nhân loại đứng ở phía bên kia? Câu trả lời của ông trăm lần như một: Ông cảm nhận sâu sắc sự cô độc, nhưng ông hoàn toàn ổn. “Tôi không cô đơn, dù vài tít báo nói như vậy” – nói đến đây, ông giả giọng đau khổ của một người dẫn chương trình truyền hình – “Collins là người đàn ông cô đơn nhất từng trải qua một chuyến bay vòng quanh quỹ đạo một mình, ở một nơi đơn côi…Trời ơi, ông cô đơn biết bao!”  Thực ra có một cảm giác dễ chịu khi được ở một mình sau vài ngày bị “mắc kẹt” với hai người khác. Trước ngày phóng, Armstrong và Aldrin đã có một buổi tối tranh cãi gay gắt trong nhà nghỉ của đội bay ở Cape Canaveral. Armstrong đã lái hỏng phi thuyền hạ cánh trong một bài tập mô phỏng ngày hôm đó, khiến cả anh và Armstrong thiệt mạng. Chưa đầy một tháng sau là việc điều khiển đó sẽ diễn ra ngoài thực tế. Chứng kiến hai người đàn ông tranh cãi, Collins cảm thấy biết ơn người đồng hành của mình trong modun điều khiển: là cái máy tính.   “Một cách lịch sự, tôi cáo lui và leo lên giường đi ngủ, không muốn tham gia vào cuộc đối chất nảy lửa về tính cách hay kĩ thuật,” ông viết trong cuốn sách của mình. “Ơn trời, trong modun điều khiển chỉ có mình tôi và Colossus IIA, và nếu nó dám chống đối thì tôi sẽ ngắt điện nó ngay lập tức”.   Sau khi phi hành đoàn Apollo 11 quay trở lại Trái đất, họ không còn là chính họ nữa. Họ trở thành người hùng của nước Mỹ và với vai trò đó, họ còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác. Ngoại trừ Aldrin, người sôi nổi nhất nhóm, hai người còn lại không mấy mặn mà với điều đó.   Phi hành đoàn phải thực hiện một chuyến “lưu diễn” vòng quanh thế giới, bắt đầu với buổi diễu hành ngập pháo giấy ở thành phố New York thu hút bốn triệu người tham dự mà với họ, những người đàn ông này không phải là người phàm nữa, mà là anh hùng. Họ đi qua 28 thành phố, qua 25 quốc gia trong 38 ngày, bắt tay với những người ban phước lành – bao gồm cả nữ hoàng Anh – cho đến khi những ngón tay của họ mỏi rụng rời. “Vài năm đầu sau chuyến bay, không có nơi nào bố tôi đặt chân đến mà không bị phát hiện” Kate Collins, khi bố cô bay lên Mặt trăng là lúc cô 10 tuổi, nói với tôi.   Kịch bản về cuộc đời họ có thay đổi chút ít theo thời gian. Với Armstrong, qua đời vào năm 2012, ai ai cũng muốn biết ông cảm thấy thế nào khi là người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng. Với Aldrin, giờ đang ở tuổi 89, mọi người muốn biết ông cảm thấy thế nào khi là người thứ hai, một câu hỏi thật nhức nhối. Và với Collins, người ta muốn biết cảm thấy cực kì cô đơn là như thế nào.   Việc trả lời phỏng vấn truyền thông liên tục có thể mệt mỏi, dù có 50 năm luyện tập cũng không khiến việc bị chú ý trở nên dễ chịu hơn. “Thực ra sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu không phải nói chuyện với một loạt các nhà báo vô cùng thông minh, vô cùng cương quyết chất vấn tôi và khiến tôi phải vận hết nội công để trả lời” – Collins giờ đây nói.   Sự khó chịu đó là chắc chắn. Phóng viên là những kẻ tò mò và hỏi tới tấp, nhất là khi nguồn tin của họ là các phi hành gia. Ngay khi các phi hành gia của Apollo 11, đáp con tàu của họ xuống Đại Tây Dương, họ trở thành báu vật quốc gia. Cứ như thể những nhà du hành vũ trụ đã nắm được bí ẩn vũ trụ mà không ai tiếp cận được. Cùng bị hút bởi lực hấp dẫn của Trái đất, chúng ta lao đến họ, cố gắng định hình những cảm nhận rời rạc của mình về vũ trụ dựa trên những trải nghiệm của họ, rồi tạo cho họ những huyền thoại. □  Nguyên Hạnh dịch   Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2019/07/michael-collins-moon-landing-apollo-11/594238/       Author                Quản trị        
__label__tiasang MicroRNA cường hóa giúp điều trị bệnh ung thư      Khi các microRNA trở nên quá tích cực (cường hóa – overactive), chúng có thể giúp duy trì sự sống lâu hơn cho các tế bào ung thư – mở ra triển vọng về phương pháp điều trị bệnh ung thư bằng microRNA.    Thông tin di truyền đóng vai trò kết nối & giúp thấu hiểu những bước phát triển của tế bào phôi.      * Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của microRNA trên khía cạnh hiểu biết của chúng ta về ung thư ở người. Biểu hiện của microRNA phản ánh một cách mạnh mẽ trạng thái biệt hóa của các khối u, khi các microRNA trở nên quá tích cực sẽ giúp duy trì sự sống lâu hơn cho các tế bào ung thư.  Những mẩu thông tin vật chất di truyền có mối liên hệ đến bệnh ung thư cũng như đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển bình thường của tế bào phôi ở loài chuột, theo bài báo mới được các nhà sinh vật học thuộc Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) công bố.  Theo bài báo trên Tạp chí Tế bào vào ngày 7 tháng 3, nhóm microRNA giúp bảo vệ tế bào phôi chuột trong suốt quá trình phát triển & giữ chúng trưởng thành bình thường. Nhưng vai trò bảo vệ của microRNA có thể bị ngăn chặn, theo giả thuyết của các nhà nghiên cứu, khi các microRNA trở nên quá tích cực (cường hóa – overactive), chúng có thể giúp duy trì sự sống lâu hơn cho các tế bào ung thư – mở ra triển vọng về phương pháp điều trị bệnh ung thư bằng microRNA.  10 năm trước đây các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng khi các microRNA được sinh ra, chúng sẽ nằm kẹt giữa các RNA vận chuyển (mRNA), ngăn chặn hình thành protein cho mục đích nhân bào, nhờ đó mà kiềm chế vai trò điều khiển của gene. Tuy nhiên cách mà các microRNA thực hiện được điều này vẫn còn là một bí ẩn.  · RNA là chất biên dịch mã di truyền của DNA thành protein. Về mặt cấu trúc, RNA là một chuỗi các phân tử phosphate, đường và nucleotide. mRNA là dạng phổ biến nhất của RNA, chứa hàng ngàn nucleotide và là sơ đồ kế hoạch di truyền được tế bào sử dụng để kết hợp axit amin tạo thành protein. MicroRNA là phân tử RNA dây đơn không mang mật mã & bao gồm chỉ khoảng 20 nucleotide. Tất cả các microRNA “điều hoà giảm” quá trình tạo ra các protein nhất định bằng sự gây rối mRNA theo một số cách & được tổng hợp bằng cùng một cơ chế để sản xuất các loại RNA khác nhau trong tế bào. Khi vừa được tạo thành, microRNA gắn vào RNA thông tin và giống như một tờ giấy nhàu nát bị kẹt trong máy in, ngăn cản sự hình thành protein. Do đó, miRNA có thể can thiệp vào tiến trình giải mã (điều hòa sự thể hiện gen), đôi khi có ảnh hưởng gây thoái hóa gene mục tiêu.  “Cộng đồng các nhà khoa học đang nỗ lực cố gắng để hiểu được những chức năng sinh sinh học đặc biệt mà các microRNA có thể tác động”, Andrea Ventura, người hướng dẫn công trình nghiên cứu này & hiện đang làm nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ tại Trung tâm nghiên cứu ung thư (Viện nghiên cứu Ung thư Koch) thuộc MIT cho biết.  Venture đồng thời là giám đốc Viện Koch kiêm thành viên phòng thí nghiệm Tyler Jacks & các đồng nghiệp của cô đã tiến hành nghiên cứu chức năng của họ microRNA được biết đến với tên gọi nhóm miR-17~92.  Nhóm tác giả công trình nghiên cứu chứng minh microRNA giữ vai trò duy trì quá trình phát triển bình thường ở tế bào phôi chuột. Từ phải qua trái, Amanda Young – nghiên cứu sinh ngành sinh vật học, Monte Winslow nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ, Laura Lintault – kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Tyler Jacks & Andrea Ventura – nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ. (Nguồn hình web.mit.edu)  Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra tằng miR-17~92 có thể được cường hóa trong một vài loại bệnh ung thư, nhất là trong dạng ung thư phổi & ung thư tế bào bạch huyết cầu – loại tế bào B (B cells).  · B cells là những tế bào loại B có sẵn trong bạch huyết cầu, cùng với tế bào loại T làm nhiệm vụ thường trực bảo vệ cơ thể khỏi những xâm nhập của vi trùng hay kháng nguyên lạ. Mặc dầu cả hai loại tế bào này đều có thể phát triển thành tế bào ung thư, nhưng ung thư hạch loại tế bào B thường xảy ra hơn là loại tế bào T. Trong các ung thư hạch bạch huyết loại không – Hodgkin, loại tế bào B chiếm 85% và loại tế bào T chiếm 15%. Tế bào B và T có nhiệm vụ khác nhau trong hệ thống miễn nhiễm của cơ thể. Tế bào B giúp bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh như vi trùng hay vi khuẩn bằng cách sinh ra các kháng thể. Các kháng thể này bám vào vỏ của vi trùng hay vi khuẩn, và lôi cuốn được các tế bào khác của hệ thống miễn nhiễm bao bọc và tiêu hóa các vi trùng hay vi khuẩn đã được kháng thể bám lấy. Các kháng thể này cũng lôi cuốn được một vài loại chất đạm trong máu có thể hủy diệt vi trùng.  Để hiểu rõ hơn vai trò của microRNA trong các dạng bệnh ung thư, nhóm đã nghiên cứu chức năng thông thường của chúng. Bằng cách bẻ gãy chuỗi microRNA làm chúng bị hư hại & mất tác dụng, dẫn đến vai trò của microRNA bị cô lập khỏi gene. Thông qua quan sát những tác động manh mối xảy có thể xảy ra, mà nhóm nghiên cứu hiểu được vai trò của microRNA khi khối u ở tình trạng quá biểu hiện (overexpressed).  Họ nhận thấy khi hoạt động của miR-17~92 trong tế bào phôi chuột bị cô lập sẽ làm chuột con sau khi sinh bị chết nhanh hơn, có vẻ như bởi phổi của chúng quá nhỏ hơn so với thông thường. Kết quả tương tự với tế bào loại B (một loại tế bào miễn dịch), chúng bị chết đi ở giai đoạn đầu của sự phát triển tế bào.  Hình bên trái cho thấy phổi ở loài chuột phát triển bình thường. Hình bên phải cho thấy phổi teo đi khi cô lập hoạt động của nhóm microRNA khỏi bộ gene, dẫn đến chuột con sau khi sinh bị chết rất nhanh chóng. (Nguồn hình web.mit.edu)  Điều này cho thấy rằng miR-17~92 đóng vai trò quyết định đến tiến trình phát triển bình thường của các tế bào phổi & tế bào loại B. Trong tế bào loại B, microRNA dường như đóng vai trò thúc đẩy sự tồn tại của các tế bào bởi khả năng ngăn chặn hoạt động thanh lọc tế bào của gene, Ventura cho biết.  Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết cho rằng khi miR-17~92 hoạt động tích cực trong các tế bào ung thư, sẽ giúp các tế bào này đương đầu được với quá trình lập trình sẵn cho cái chết để sống xót lâu hơn.  Khối các microRNA hoạt động tích cực được coi như một triển vọng hứa hẹn trong phép điều trị bệnh ung thư. Nghiên cứu đang hướng đến tìm hiểu các phân tử cho phép ngăn chặn các microRNA liên kết với các mRNA mục tiêu.  Cần rất nhiều những nghiên cứu mới có thể cho ra những chất kiềm chế tin cậy & có thể phân rã kèm với thuốc uống vào, đó là điều có thể thực hiện được trong tương lai xa, Ventura cho biết.  Chính xác, các nhà khoa học vẫn chưa biết được những gene nào bị chi phối bởi miR-17~92, nhưng gene được nghi ngờ nhiều nhất có tên gọi là Bim, có nhiệm vụ thúc đẩy quá trình các tế bào chết đi. Tuy nhiên một microRNA đơn lẻ có thể nhắm tới nhiều mục tiêu vì vậy dường như sẽ có nhiều gene bị kiềm chế bởi microRNA.  Các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu về những tác động khi cô lập 2 nhóm microRNA khác, có họ gần gũi với miR-17~92, nhưng nằm ở những vị trí khác trong bộ gene.  Họ thấy rằng khi chỉ cô lập 2 nhóm microRNA này (nhóm miR-17~92 không bị can thiệp) thì phôi chuột vẫn phát triển như thường lệ. Tuy nhiên nếu miR-17~92 bị cô lập cùng với bất kỳ một trong 2 nhóm RNA kia thì phôi chuột sẽ bị chết trước khi sinh. Điều này cho thấy có những tác động đồng vận giữa các nhóm microRNA.  Đồng tác giả của công trình này có nghiên cứu sinh ngành sinh vật học Amanda Young; Monte Winslow, nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ tại Trung tâm Ung thư (CCR); Laura Lintault, thành viên của CCR; Alex Meissner, giảng viên giảng dạy tại Viện MIT & Harvard; Jamie Newman, nghiên cứu sinh ngành sinh vật học; Denise Crowley, thành viên của CCR; Rudolf Jaenisch, giáo sư sinh vật học kiêm thành viên của Viện nghiên cứu thuốc sinh học Whitehead; Phillip Sharp, giáo sư tại MIT; và Jacks, giáo sư sinh vật học.  Nghiên cứu được tài trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia & Viện ung thư quốc gia (Mỹ).     Nam Hy Hoàng Phong (dịch & chú thích theo Anne Trafton, MIT News)       Chú thích      * Tên bài gốc là “MIT researchers demonstrate protective role of microRNA”, dịch sát nghĩa là “Các nhà nghiên cứu MIT chứng minh vai trò bảo vệ của microRNA”. Tuy nhiên trong bài dịch tôi dùng tiêu đề “MicroRNA cường hóa giúp điều trị bệnh ung thư” để nêu bật nội dung chính của bài báo (một số nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Mỹ về những nhóm microRNA khác có khả năng kìm hãm tế bào ung thư phát triển cũng đã minh chứng khả năng này của mircroRNA), phù hợp hơn khi dùng với mục đích điểm tin khoa học, rất mong Ban biên tập giữ nguyên tiêu đề này.      * Trong bài dịch tôi có thêm vào lời dẫn cho bài dịch; sơ đồ mối quan hệ giữa các loại RNA; bổ xung 2 đoạn chú thích về microRNA & tế bào B để giúp độc giả hiểu rõ hơn bài báo. Kính mong Ban biên tập không cắt bỏ cụm từ “dịch & chú thích” cuối bài này.      * Url của bài gốc: “http://web.mit.edu/newsoffice/2008/microrna-0307.html” http://web.mit.edu/newsoffice/2008/microrna-0307.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Microsoft, kinh tế tri thức toàn cầu và Việt Nam      Có thể Google mới là nóng hổi, bởi vì người ta đang so sánh Google với Chúa trời. Người ta đồn rằng Google đang có kế hoạch tạo ra con robot biết cách nấu phở ngon nhất thế giới và có thể Google sẽ thành công. Nhưng như Bill Gates nói về Google, “họ đang trong tuần trăng mật” và hãy đừng quên một điều thực tế rằng chính Microsoft mới là trung tâm của thế giới nối mạng này.    Kinh doanh với tốc độ suy nghĩ  Microsoft, công ty thành công nhất thế giới với các sản phẩm được sử dụng gần như mọi nơi, mọi lúc là hình ảnh lý tưởng cho một thế giới gắn kết, trong đó chính Microsoft là trục trung tâm lớn nhất (the biggest hub). Tại sao lại khẳng định như vậy? Google đúng là số một nhưng vẫn phải chia sẻ miếng bánh của mình với Yahoo, với MSN. Còn Microsoft thì không. Gần 90% máy tính trên thế giới chạy Windows và truy cập Internet sử dụng trình duyệt IE. Không có kẻ chiến thắng nào có được nhiều đến thế và cũng chẳng có kẻ chiến thắng nào bỏ xa được đối thủ của mình đến thế trong cuộc cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu hiện nay.  Với mục tiêu “Siêu dễ dàng – Siêu lợi ích”, Microsoft đã thống trị công nghệ phần mềm thế giới, bán được siêu nhiều các sản phẩm và duy trì giá thành siêu rẻ của mình (ít nhất là đến khi Linux – mã nguồn mở- ra đời). Còn gì nữa có thể tốt hơn cho khách hàng? Và vì thế Microsoft đã phát triển với tốc độ siêu nhanh- kinh doanh với tốc độ của ý nghĩ. Trong vẻn vẹn 30 năm, công ty này đã vượt xa các đối thủ. Cũng trong chừng ấy năm, tổng giá trị của Microsoft đã lên gần 300 tỷ USD, Bill Gates trở thành người giàu nhất thế giới. Hơn thế nữa, ông ta còn tạo ra thêm 3.000 triệu phú khác. Thành công cũng phải, bởi Bill Gates thành lập và điều hành Microsoft chỉ với một phương châm: luôn luôn chiến thắng.            Lễ giới thiệu Window Vista        Bill Gates tin chắc vào 2 điều: thứ nhất máy tính cá nhân sẽ thống trị thế giới (điều này đã đúng và niềm tin này hiện có giá trị gần 300 tỷ USD), thứ hai công nghệ thông tin sẽ số hóa thế giới thành một nền kinh tế tri thức toàn cầu. Với tầm nhìn này, Microsoft đã hiện thực hóa sự phổ biến của công nghệ thông tin thông qua ứng dụng của phần mềm máy tính cá nhân, Microsoft Windows và Office biến máy tính cá nhân thành công cụ dễ dùng, tiện dụng nhất và cũng mạnh mẽ nhất. Con người nhờ vậy đã tiến hóa thêm một bước dài về tính hiệu quả và cũng nhanh chóng thích nghi với một phiên bản mới của thế giới – thế giới ảo do máy tính và Internet tạo ra.   Lần đầu tiên trên thế giới chúng ta có thể cùng đồng ý với nhau về một màu xanh windows (Windows blue) trong vô vàn màu xanh và về một hành vi đầy mâu thuẫn – “để tắt đi (Shutdown) hãy bấm vào nút khởi đầu (Start)”. Đấy là chưa kể đến những việc phức tạp hơn như chia sẻ tài liệu qua email, qua Internet, chia sẻ dữ liệu qua XML, tích hợp toàn bộ qui trình của doanh nghiệp (thậm chí là của cả chính phủ) với nhau một cách dễ dàng và minh bạch… Microsoft không phát minh ra tất cả những công nghệ này, nhưng chắc chắn chúng ta phải biết ơn công ty này vì đã kiên định biến tất cả những điều từ đơn giản đến phức tạp này thành phổ biến và dễ dàng nhất để có thể sử dụng trên toàn thế giới.  Với dự dẫn dắt của Kiến trúc sư trưởng (vị trí hiện tại) Bill Gates, Microsoft đã làm được điều đó. Công nghệ của Microsoft giúp công ty này luôn dẫn đầu về hệ điều hành và phần mềm văn phòng cho cá nhân. Nhưng đồng thời Microsoft cũng đã liên tục đổi mới để cung cấp những giải pháp hàng đầu về công nghệ cho doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ. Bill Gates với tầm nhìn về một nền kinh tế tri thức toàn cầu số hóa đã dẫn dắt Microsoft đi từ những công nghệ trên diện từ hẹp (doanh nghiệp) đến rộng (như hệ thống hành chính quốc gia), tới những công nghệ giúp hiện thực hóa tính lưu động của thông tin (truy cập, chia sẻ mọi lúc mọi nơi) và tất nhiên công nghệ số hóa tất tần tật. Quỹ nghiên cứu hàng năm của Microsoft là 6,5 tỷ USD (2005) và bao trùm mọi lĩnh vực từ Internet cho đến nhận dạng giọng nói, từ hệ chuyên gia cho đến giao diện 3 chiều. Bill Gates mỗi năm cũng thường dành vài tuần để suy tư về tương lai của công nghệ phần mềm và… ngủ. Những cuốn sách (như “Kinh doanh với tốc độ của ý nghĩ”) và những định hướng của Microsoft có lẽ được khởi đầu từ đây.  Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Microsoft là đầu tầu duy nhất của công nghệ phần mềm thế giới bởi thế giới đã phẳng hơn rất nhiều. Hình ảnh về một ngành công nghiệp không còn đơn thuần là một đoàn tàu lên xuống dốc mà dường như là một mô hình khác, bình đẳng hơn.  Những rắc rối cũng đã bắt đầu, không phải từ hôm nay mà từ quá khứ, và cả tương lai. Những chuyện như: Hacker quậy phá, Bộ Tư pháp gửi tráp đòi hầu tòa, những nhân tài về tay đối thủ (Kai-Fu Lee về với Google), sự chậm chân trong kinh doanh trên Internet (bị Google, Yahoo bỏ xa) và nhạc số (Ipod – Apple) đều không phải là thảm họa. Có thể chính việc bướng bỉnh cố gắng ngăn chặn dòng chảy của dòng sông thế giới phẳng (mà một trong số đó là phong trào mã nguồn mở) mới là định mệnh buồn của một kẻ luôn quen với chiến thắng.  Bill Gates, người đã từng bị tạp chí Time cho rằng có các đặc điểm của người bị bệnh tự kỷ (khả năng tư duy trừu tượng và hướng mục tiêu tuyệt vời; đột ngột hoảng loạn, giận dữ không kiểm soát được…) cũng lại vừa được chính tạp chí Time bầu là nhân vật của năm 2005 nhờ các hoạt động nhân đạo vô cùng tích cực của quỹ Bill và Melinda Gates Foundation. Vợ chồng ông đã phát biểu: “Chúng tôi dành một sự ngưỡng mộ to lớn cho những người tâm huyết và thầm lặng lao động hàng ngày để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn. Chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi đã vô cùng may mắn trong kinh doanh, và muốn chia sẻ những điều tốt lành cho nhiều người nhất.”  Dẫu luôn là một người mạnh mẽ và luôn chứng tỏ mình là kẻ thông minh hơn những người khác, Bill Gates lại là một người rất cẩn trọng trong việc lập gia đình, trong vai trò làm cha… Bill dường như không còn cố gắng bật cao hơn trong cái đám đông kinh doanh nhộn nhạo và đã thay đổi. Sau chuyến thăm Trung Quốc, Bill đã nói tới việc đưa thuyết ngũ hành vào màu sắc của Windows. Và bây giờ Bill sang thăm Việt Nam!  Lợi thế quốc gia trong một nền kinh tế toàn cầu                     80 triệu dân, Việt Nam là một khách hàng lớn đồng thời là nguồn nhân lực lớn (và trẻ) cho bất cứ ngành công nghiệp nào. Có thể điều này chỉ đúng với một vài lĩnh vực trong hiện tại, nhưng chắc chắn sẽ là lợi thế bất biến trong tương lai.  Trong một nền kinh tế tri thức toàn cầu, Việt Nam còn có nhiều lợi thế quốc gia khác nữa. Thí dụ như việc sở hữu một ngôn ngữ riêng (có thể là ngôn ngữ duy nhất bắc cầu giữa phương Tây và phuơng Đông) tương ứng với một nền văn hóa riêng. Nền kinh tế tri thức của Việt Nam đòi hỏi công nghệ thông tin phải có sự phục vụ khác biệt và chắc chắn công nghệ thông tin Việt Nam cũng sẽ góp những nét riêng vào nền kinh tế tri thức của Thế giới. Sẽ có một “Cách Việt Nam” trong nền kinh tế tri thức thế giới. Cách này cụ thể thế nào thì giờ chưa hiển hiện rõ nhưng một điều chắc chắn là nó sẽ được tạo thành dựa trên tinh thần đoàn kết, truyền thống gia đình và sẽ đi như một dòng sông.  Trong một thế giới mở, một tinh thần mở, sự linh hoạt sẽ là lợi thế rất lớn. Biết tận dụng lợi thế này một cách khoa học, chúng ta có thể hòa vào dòng chảy của thế giới một cách hài hòa mà vẫn duy trì được bản sắc rất riêng biệt. Chúng ta sẽ cùng kinh doanh sòng phẳng trên một thế giới phẳng nơi mà những cơ hội không chỉ dành riêng cho những ông lớn như Microsoft.  Có thể sự phát triển kinh tế của Việt Nam đã tỏa nhiệt đến độ các ông lớn như Intel, Microsoft cảm nhận được điều đó. Nhưng tôi còn được nghe nói và tin ngay rằng một trong những yếu tố quyết định cho chuyến đi này chính là ở những người Việt Nam trong nước và ngoài nước hàng ngày trao đổi với Bill Gates tại Microsoft. Bằng một cách không cố ý, những người này đã tạo ra những ấn tượng Việt Nam, những “Cách Việt Nam” rất đặc biệt. Đây mới là lợi thế quốc gia. Lợi thế này có thể giúp chúng ta có một vị trí đáng kể trong nền kinh tế tri thức toàn cầu với độ nghiêng về giá thành còn được duy trì trong khi thế giới đã phẳng hơn rất nhiều về kỹ nghệ. Các công ty Việt Nam hoàn toàn có những cơ hội toàn cầu rất lớn.  Mặc dù Microsoft đã có mặt ở Việt Nam 10 năm nay nhưng đây là lần đầu tiên Việt Nam trở lên quan trọng như vậy trong bản đồ của Microsoft. Nhận lời mời của chính phủ Việt Nam cũng có nghĩa là Bill Gates sẽ làm việc rất nhiều với các bộ ngành khác nhau. Tuy nhiên theo lịch trình, ít nhất ông có hai buổi giao lưu với các doanh nghiệp và sinh viên CNTT. Hãy lắng nghe theo cách của Việt Nam và ông sẽ nghe thấy thông điệp “hãy cùng chúng tôi đi như một dòng sông”.             Những cột mốc đáng nhớ của Microsoft                Nguyễn Thế Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình chống Covid-19 của Trung Quốc: Bài học gì cho thế giới?      Các nhà khoa học tính toán, “liên hoàn trận” của Trung Quốc gồm phát hiện sớm, cách ly, phong tỏa đã giúp tránh kịch bản có thêm 8 triệu ca nhiễm mới trong đợt dịch vừa rồi [so với không áp dụng].      Trung Quốc thực hiện cách ly, giãn cách xã hội từ rất sớm. Ảnh: Người dân Vũ Hán ở các khu cách ly nhận đợi phát thịt lợn. Nguồn: Theguardian.   Vào giữa tháng 1 vừa qua, chính quyền Trung Quốc đã đưa ra các biện pháp chưa từng có để ngăn chặn virus, bằng cách phong tỏa thành phố Vũ Hán, trung tâm của dịch bệnh và ngăn chặn di chuyển ở 15 thành phố khác ở tỉnh Hồ Bắc – nơi sinh sống của hơn 60 triệu người. Các chuyến bay và xe lửa bị hủy, đường bị chặn.  Ngay sau đó, người dân ở nhiều thành phố của Trung Quốc được khuyên ở nhà và chỉ dám ra ngoài để nhận thức ăn hoặc trợ giúp y tế. Theo thông tin của New York Times, khoảng 760 triệu người, gần một nửa dân số đất nước này, đã bị giới hạn trong nhà.  Đã hai tháng kể từ khi bắt đầu phong tỏa, số trường hợp nhiễm mới giảm mạnh, từ hàng ngàn ca mỗi ngày vào lúc cao điểm xuống chỉ còn vài chục ca, có ngày không ca nào mới. “Việc hạn chế di chuyển gắt gao đã khá thành công”, Michael Osterholm, nhà khoa học về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Minnesota ở Minneapolis, Mỹ đánh giá.  Trong một báo cáo được công bố vào cuối tháng trước, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chúc mừng Trung Quốc về “một giải pháp y tế công cộng độc đáo và chưa từng có, đã làm lật ngược tình thế ngày càng nghiêm trọng”.  Nhưng câu hỏi quan trọng là sự can thiệp nào của Trung Quốc là quan trọng nhất trong việc ngăn chặn virus lây lan, Gabriel Leung, một nhà nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Hồng Kông nói. “Các nước giờ đang phải đối mặt với làn sóng [lây nhiễm] đầu tiên cần phải biết điều này”, ông nói.  Tờ Nature đã trao đổi với các nhà dịch tễ học về giải pháp phong tỏa có thực sự hiệu quả hay không, hay khuyến khích người dân tránh tập trung đông người là đủ và các quốc gia khác có thể học được những gì từ kinh nghiệm của Trung Quốc.  Ước tính phong tỏa giúp giảm bao nhiêu ca nhiễm?  Trước khi có giải pháp can thiệp, các nhà khoa học ước tính rằng mỗi người nhiễm bệnh đã truyền coronavirus cho hơn 2 người khác, khiến dịch bệnh này có khả năng lây lan nhanh chóng. Các mô hình ban đầu về tình trạng lây lan của dịch dự đoán rằng SARS-CoV-2 sẽ lây nhiễm 40% dân số Trung Quốc – khoảng 500 triệu người.  Nhưng từ 16 đến 30 tháng 1, trong khoảng 7 ngày đầu tiên phong tỏa, ước tính 1 người có bệnh có thể lây lan cho 1.05 người khác, theo Adam Kucharski, nhà nghiên cứu mô hình bệnh truyền nhiễm tại Trường vệ sinh London và y học nhiệt đới cho biết. “Rất tuyệt vời”, Adam Kucharski nói.  Số ca nhiễm mới mỗi ngày ở Trung Quốc dường như đã lên đến đỉnh điểm vào ngày 25 tháng 1, chỉ hai ngày sau khi Vũ Hán bị phong tỏa.  Tính đến ngày 16 tháng 3, khoảng 81.000 trường hợp nhiễm ở Trung Quốc đã được ghi nhận, theo WHO. Một số nhà khoa học nghĩ rằng nhiều trường hợp không được ghi nhận báo cáo, vì họ không mắc phải các triệu chứng nghiêm trọng đến mức phải chăm sóc y tế, hoặc vì không xét nghiệm. Nhưng rõ ràng rằng các biện pháp được thực hiện trong thời gian này đã hiệu quả, Christopher Dye, nhà dịch tễ học tại Đại học Oxford, Vương quốc Anh đánh giá.      Một mô hình mô phỏng của Lai Shengjie và Andrew Tatem, các nhà nghiên cứu về bệnh dịch mới nổi tại Đại học Southampton, Anh, cho thấy nếu Trung Quốc thực hiện các biện pháp kiểm soát ngay từ trước đó một tuần, thì đã có thể ngăn chặn 67% tất cả các trường hợp [lây nhiễm] ở đó. Nếu thực hiện các biện pháp 3 tuần trước đó, tức là ngay từ đầu tháng 1, sẽ giúp giảm số lượng người bị lây nhiễm xuống chỉ còn 5%.      Trung Quốc có thể làm tốt hơn nếu không trì hoãn và lỡ pha lúc đầu  Tuy nhiên, các nhà dịch tễ học cũng cho biết phản ứng của người khổng lồ Trung Quốc có một lỗ hổng: đó là bắt đầu quá muộn. Trong những tuần đầu tiên của đợt bùng phát vào tháng 12/2019 và tháng 1/2020, chính quyền Vũ Hán đã chậm ghi nhận các trường hợp lây nhiễm lạ, trì hoãn các biện pháp ngăn chặn. Howard Markel, nhà nghiên cứu y tế công cộng tại Đại học Michigan ở Ann Arbor nói, “hành động trì hoãn của Trung Quốc có lẽ là nguyên nhân của biến cố quốc tế này”.  Một mô hình mô phỏng của Lai Shengjie và Andrew Tatem, các nhà nghiên cứu về bệnh dịch mới nổi tại Đại học Southampton, Anh, cho thấy nếu Trung Quốc thực hiện các biện pháp kiểm soát ngay từ trước đó một tuần, thì đã có thể ngăn chặn 67% tất cả các trường hợp [lây nhiễm] ở đó. Nếu thực hiện các biện pháp 3 tuần trước đó, tức là ngay từ đầu tháng 1, sẽ giúp giảm số lượng người bị lây nhiễm xuống chỉ còn 5%.    Phun khử trùng một nhà thờ ở Vũ Hán. Ảnh: Nature.  Dữ liệu từ các thành phố khác cũng cho thấy các hành động nhanh chóng sẽ có lợi hơn. Ở các thành phố đình chỉ giao thông công cộng, khu giải trí khép kín và cấm tập trung đông người trước khi có ca mắc COVID-19 đầu tiên thì các trường hợp mắc ít hơn tới 37% so với các thành phố không thực hiện các biện pháp đó, theo bản thảo bài báo nhóm nhóm Christopher Dye gửi Nature về nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn bệnh dịch ở 296 thành phố Trung Quốc.  Cấm đi lại có tác dụng trong bao lâu?  Nhiều phân tích về đường hàng không cho thấy lệnh cấm du lịch Hồ Bắc, ngăn người dân rời khỏi tỉnh này bằng máy bay, tàu hỏa hoặc ô tô đã làm chậm sự lây lan của virus, nhưng không lâu. Một nghiên cứu ngày 6 tháng 3 trên Science của các nhà khoa học ở Ý, Trung Quốc và Mỹ đã phát hiện ra rằng việc phong tỏa Vũ Hán làm chậm sự lây lan sang các thành phố khác ở Trung Quốc trong khoảng bốn ngày. Các lệnh cấm trên phạm vi quốc tế có tác dụng lâu dài hơn, giúp ngăn chặn bốn phần năm các trường hợp từ Trung Quốc sang các nước khác trong hai đến ba tuần.  Nhưng sau đó, lượng người di chuyển lại tiếp tục gieo rắc virus sang các thành phố khác nhau trên thế giới, gieo mầm cho những đợt bùng phát mới. Mô hình trong bài báo trên Science gợi ý rằng, cả khi chặn tới 90% chuyến du lịch, thì tốc độ virus lan truyền chỉ chậm lại ở mức độ vừa phải, trừ khi có thêm các biện pháp khác được đưa ra.  Vì các lệnh cấm đi lại chỉ có thể làm chậm sự lây lan của dịch bệnh, nên điều quan trọng là các lệnh cấm được thực hiện theo cách khuyến khích động viên. Justin Lessler, nhà dịch tễ học tại Đại học Johns Hopkins ở Baltimore đưa ra khuyến nghị “nếu khiến mọi người nói dối hoặc cố gắng phá vỡ lệnh cấm, thì sẽ thất bại”.  Hàng chục quốc gia trên khắp châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Á hiện đã hạn chế đi lại. Mặc dù WHO cũng có cảnh báo rằng không phải điều đó lúc nào cũng hiệu quả và có thể làm chệch các nguồn lực cho các biện pháp hữu ích khác hoặc chặn viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật, chưa kể tới việc làm thiệt hại cho nhiều ngành công nghiệp.  Bài học nào cho các nước khác?  Mô hình của Lai Shengjie và Andrew Tatem, đánh giá hiệu quả tổng thể của việc phát hiện và cách ly sớm, hạn chế tiếp xúc của người dân và lệnh cấm đi lại giúp làm giảm lây lan virus ở Trung Quốc. Các biện pháp này phối hợp với nhau, đã giúp giảm việc gia tăng các trường hợp nhiễm mới tới 67 lần [so với việc không áp dụng] – tức là nếu không áp dụng thì đã có gần 8 triệu ca nhiễm vào cuối tháng Hai.  Việc giảm tiếp xúc của người dân có vai trò rất quan trọng. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu về vị trí của điện thoại từ di động ở Trung Quốc và thấy di chuyển của người dân giảm đáng kể và điều đó hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp với nhau – nếu không thì số ca nhiễm bệnh đã tăng 2,6 lần vào cuối tháng Hai, hai tác giả nghiên cứu cho biết.  Phát hiện sớm và cách ly là yếu tố quan trọng nhất trong việc giảm các trường hợp nhiễm COVID-19 mới. Nếu không có những nỗ lực đó, số lượng người Trung Quốc bị nhiễm bệnh đã tăng nhiều gấp năm lần vào cuối tháng Hai vừa qua. “Nếu muốn tìm giải pháp ưu tiên, thì phát hiện sớm và cách ly là điều quan trọng nhất”, Tatem nói.  Phát hiện sớm đã giúp ích rất nhiều cho Singapore. Vernon Lee, người đứng đầu nhóm nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm của Bộ Y tế Singapore cho biết, Singapore là một trong những nước phát hiện các trường hợp một cách nhanh nhất. Khi các trường hợp “viêm phổi lạ” xuất hiện ở Singapore, các bác sĩ đã kịp thời xác định, cách ly những người đó và bắt đầu truy tìm dấu vết liên lạc, Lee Vernon cho biết. Singapore có chưa tới 250 trường hợp COVID-19, và không cần phải đưa ra các biện pháp hạn chế di chuyển quyết liệt như ở Trung Quốc. “Một số sự kiện đã bị hủy, những người mắc COVID-19 đang bị cách ly, theo dõi nhiệt độ và các biện pháp cộng đồng khác được đưa ra. Nhưng cuộc sống vẫn đang diễn ra bình thường”, Lee nói.  Còn việc đóng cửa trường học ở Trung Quốc có tác động như thế nào thì các đánh giá chưa cho thấy rõ. Một bản thảo nghiên cứu của nhóm Qifang Bi (Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health) về sự lây lan của COVID-19 ở Thâm Quyến đã phát hiện ra rằng mặc dù trẻ em cũng có khả năng bị nhiễm bệnh như người lớn và nhiều trẻ không có biểu hiện triệu chứng, nhưng vẫn chưa rõ liệu trẻ em có thể truyền virus không. “Đây là điều rất quan trọng trong việc đánh giá tác động của việc đóng cửa trường học”, Lessler, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết.  Nguồn bài gốc: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00741-x#ref-CR4  doi: 10.1038 / d41586-020-00741-x  Phương Hoa dịch/Khoa học và phát triển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Chuẩn của Vật lý Hạt cơ bản: Chuyện kể về quark (Phần II)      Vậy là trong những khái niệm vật lý và hóa học, chắc chắn từ nay chúng ta phải đưa vào một yếu tố gián đoạn, nhảy từng bước; điều mà trước đây vài năm không ai ý thức.&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;  &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Marcel Brillouin       Yếu tố mà Brillouin nói đến gọi là Lượng tử, vậy chúng ta trước hết hãy làm quen với vài thuật ngữ và khái niệm thường được dùng trong ngành vật lý hạt để từ đó nắm bắt mấy điều căn bản: lượng tử, spin, phản vật chất, sắc tích và hương vị của quark.                                           IIa – Một thoáng Lượng tử, đơn vị năng lượng cơ bản.     Những viên gạch cơ bản của vật chất vẫy vùng trong thế giới vi mô của Lượng tử, vậy khái niệm này là gì, đến từ đâu? Vào cuối thế kỷ thứ 19, một mâu thuẫn căn bản được phát hiện giữa lý thuyết điện-từ và nhiệt động học – hai trụ cột của vật lý thời ấy – với thực nghiệm về cường độ bức xạ của vật đen2. Thực thế, hai lý thuyết đó đưa đến một hệ quả phi lý là tổng năng lượng phóng xạ bởi vật đen phải vô hạn, nôm na như ngồi trước một bếp sưởi hồng, bất kỳ nhiệt độ cao thấp ra sao ta sẽ bị tiêu hủy hết. Hệ quả phi lý này chỉ có thể được giải đáp nếu có một khái niệm hoàn toàn mới lạ nào đó bổ sung hoàn thiện hệ hình cổ điển trên. Nhân tố đó gọi là Lượng tử tức là đơn vị năng lượng cơ bản, một giả thiết mà Max Planck đưa ra khi ông tìm cách diễn tả phổ bức xạ của vật đen. Bằng một hành động hầu như tuyệt vọng để tìm cho bằng được một công thức sao cho phù hợp chính xác với đo lường thực nghiệm, Planck (và sau đó Einstein bổ sung) phải đưa ra một tiền đề theo đó các vật thể, khi dao động với tần số ν, thì sự phân bố năng lượng E phát ra của chúng phải là những đơn vị rời rạc, gọi là lượng tử, như 1hν, 2hν, 3hν … chứ không thể liên tục. Kỳ lạ thay năng lượng phát ra theo từng đơn vị hν lẻ tẻ. Tựa như giữa 0 và 1 có muôn vàn số liên tục không sao đếm xuể, nhưng chỉ có mười con số thập phân là 0.1, 0.2,…1. Chính sự khác biệt giữa liên tục và rời rạc trong sự phân bố năng lượng này đã giải quyết hệ quả phi lý nói trên.      Cho bất kỳ một tần số sóng dao động ν của một vật thể vi mô và một năng lượng trung bình kBT quy định bởi nhiệt độ T, ta chỉ cần N gói hν là đủ đạt tới kBT rồi, Nhν ≈ kBT, ν càng lớn thì N càng nhỏ và những gói từ (N+1)hν trở lên vì vượt quá kBT nên bị khử mạnh khiến cho tổng năng lượng phóng xạ bởi vật đen trở thành hữu hạn. Điểm then chốt mà Planck giả định là một vật chỉ có thể tiếp nhận hay mất đi những gói năng lượng hν. Dùng phổ bức xạ của vật đen đo đạc bởi các nhà thực nghiệm, năm 1900 Planck tìm ra  h ≈ 6.55×10-34 J.s. Đo đạc ngày nay cho kết quả h ≈ 6.626×10-34 J.s = 4.134×10-15 eV. s, hằng số h từ đây mặc nhiên là biểu trưng của vật lý lượng tử.      Albert Einstein là người đầu tiên dùng giả thuyết lượng tử ánh sáng hν để diễn giải hiện tượng quang điện. Đặc tính nội tại không liên tục của lượng tử được Niels Bohr áp dụng để sáng tạo ra thuyết nguyên tử vì ông thấy phổ năng lượng của electron trong nguyên tử cũng rời rạc. Tiếp theo là Louis de Broglie vén mở lưỡng tính sóng-hạt của mọi vật thể vi mô, chúng đều dao động như sóng ánh sáng, và cơ học lượng tử hình thành với nguyên lý bất định của Werner Heisenberg và phương trình sóng của Erwin Schrödinger. Lượng tử của Planck do đó không còn là giả thuyết nữa mà trở thành một trong vài nguyên lý nền tảng của vật lý và khoa học nói chung mà dấu ấn ngày càng in đậm trong sinh hoạt của con nguời; khởi đầu từ khoa học, công nghệ rồi lan rộng sang nhiều khía cạnh khác nhau của triết học, nghệ thuật, văn chương. Hằng số Planck h trong E = hν có gốc nguồn ở chữ hilfe (tiếng Đức là phụ trợ), chi tiết nói lên sự khiêm tốn của nhà bác học lớn.      Do tính toán qua hằng số rất nhỏ h, danh từ vi mô trong khoa học tự nhiên được hiểu như những vật chất kích thước bằng hay nhỏ hơn một phần tỷ mét, hay nano-mét. Như vậy một nhóm nguyên tử rộng dài khoảng nano-mét (kích thước một nguyên tử ở cỡ 1/10 nano-mét) có thể được coi như ngưỡng cửa bắt đầu đi sâu xuống thế giới vi mô trong đó bao gồm những hạt nhỏ hơn nữa như electron cùng proton và neutron, hai thành phần chủ chốt của hạt nhân nguyên tử do quark cấu tạo nên.      Hằng số Planck h, vận tốc ánh sáng c và hằng số G của lực hấp dẫn Newton là ba hằng số cơ bản chi phối sự vận hành của vạn vật trong vũ trụ, từ đó mà mọi đơn vị vật lý đều có thể suy diễn, tính toán ra.       IIb –Yukawa và lực hạt nhân mạnh.      Máy siêu gia tốc Large Hadron Collider của CERN là máy phóng hai chùm hadron có gia tốc cực kỳ cao va chạm nhau với ưu tiên số một là săn lùng hạt Higgs. Vậy trước hết hadron là gì? Lấy từ tiếng Hy Lạp hadros có nghĩa là mạnh, hadron là hạt bị chi phối bởi lực mạnh, hằng số tương tác của nó lớn hơn rất nhiều hằng số tương tác điện-từ αem= e2/ћc ≈ 1/137 với ћ= h/2π. Thí dụ điển hình của hadron là hạt proton (p) mang điện tích dương +e và hạt neutron (n) không có điện tích, chúng là hai thành phần chủ chốt gắn kết nhau để tạo nên hạt nhân của các nguyên tử trong Tự nhiên.      Đơn giản nhất là nguyên tử Hydrogen bao gồm một electron dao động chung quanh một proton, hạt nhân của nguyên tử đó. Nguyên tử Helium có hai electron chuyển động chung quanh hạt nhân của nó bao gồm hai neutron và hai proton. Điều cần thiết để mọi nguyên tử được trung hòa điện tích, như ta thấy trong thiên nhiên, là số lượng electron phải bằng số lượng proton mà hai nguyên tử Hydrogen và Helium minh họa.      Tất cả các hadron đều là những hợp tố cấu tạo bởi những thành phần sơ cấp hơn gọi là quark. Vậy hadron và quark là đặc trưng của lực hạt nhân mạnh, một trong bốn lực cơ bản của Tự nhiên, ba lực cơ bản khác là điện-từ, hạt nhân yếu và hấp dẫn.     Hai chùm hadron trong máy gia tốc khổng lồ LHC chính xác ra là hai chùm proton va chạm nhau cực mạnh để sản sinh ra những hạt mới lạ như các quark nặng s, c, b, t; các boson chuẩn như W, Z; hạt Higgs để từ đó nghiên cứu và khám phá những lực chi phối sự vận hành của chúng, chủ đề của vật lý hạt cơ bản.       1- Hadron (baryon, meson) và  Lepton: Ngoài proton và neutron ra còn có biết bao các hadron khác được phát hiện, một số trong đó là các hạt có spin ½ như N, Λ0,Σ, Ξ … gọi chung là baryon, tiếng Hy Lạp có nghĩa là nặng. Quark, tượng trưng của lực hạt nhân mạnh, là thành phần sơ cấp cấu tạo nên baryon nói riêng và hadron nói chung.     Lepton tiếng Hy lạp có nghĩa là nhẹ đối chọi với nặng như một cách để phân biệt giữa hai loại hạt cơ bản của vật chất là lepton và quark. Lepton thứ nhất là hạt electron e– quá quen thuộc, hạt µ– (muon) được khám phá năm 1936 là thí dụ thứ hai của lepton, hạt thứ ba gọi là  τ– (tauon) phát hiện năm 1975. Ba hạt e–, µ–, τ– đều có điện tích âm -e, song hành cùng ba hạt neutrino νe, νµ, ντ   trung hòa điện tích, 6 lepton này cùng với 6 quark u, d, c, s, t, b cả thảy là 12 viên gạch cơ bản của vật chất phác họa ở Hình 1 trong phần Nhập đề.     Ở giữa bên nặng (baryon) và bên nhẹ (lepton) là những hạt trung dung (meson), thí dụ điển hình là meson π hay pion. Hadron gồm hai loại: baryon có spin ½ và meson có spin là số nguyên 0, 1.      Sự hiện hữu của hạt pion vô hướng (spin 0) được tiên đoán năm 1935 bởi Hideki Yukawa (người Nhật đầu tiên nhận giải Nobel năm 1949) theo đó lực gắn kết proton và neutron trong hạt nhân nguyên tử là do sự trao đổi meson π, hạt này có vai trò làm trung gian truyền tải lực mạnh cho proton và neutron tương tác gắn kết với nhau.      Sáng tạo của Yukawa khởi nguồn từ sự nhận thức sâu sắc về khái niệm trường (field) của hai lực cơ bản mà con người từ lâu đã biết rõ, đó là lực điện-từ (diễn tả bởi phương trình Maxwell, người tổng hợp và bổ sung công trình mở đường của Ampère, Faraday…) và lực vạn vật hấp dẫn (diễn tả bởi phương trình Einstein mở rộng định luật Newton). Điện tích di chuyển tạo nên trường điện-từ, phát tán ánh sáng và tác động đến các điện tích khác ở khắp nơi và mọi lúc. Cũng vậy khối lượng tạo nên trường hấp dẫn thu hút vạn vật ở khắp nơi, mọi lúc. Vậy trường là nhân tố và cũng đồng thời làm trung gian để cho lực tác động lên mọi vật đặt ở một chỗ nào đó trong không gian và một lúc nào đó của thời gian, gọi chung là một không-thời gian. Trường là một thực thể tồn tại ở khắp mọi điểm của không-thời gian, khác với hạt chỉ hiện diện ở một điểm chính xác của không-thời gian. Trong ngôn từ toán học, trường là một hàm số (mà biến số là bốn toạ độ không-thời gian), hàm số này tuân thủ một định luật vật lý diễn tả bởi một hay nhiều phương trình nào đó với ký hiệu toán học.      Đặc điểm của hai trường cổ điển điện-từ và hấp dẫn, theo thứ tự chi phối bởi hai phương trình Maxwell và Einstein, là chúng biểu hiện dưới dạng sóng lan tỏa khắp không gian với vận tốc của ánh sáng. Nhưng khi hòa nhập với thế giới của lượng tử thì sóng và hạt tuy hai mà một, sóng điện-từ cũng xuất hiện dưới dạng hạt cưỡi sóng, gọi là photon, mà Einstein đã chứng minh với hiện tượng quang điện. Ngược lại, Louis de Broglie với cái nhìn thông tuệ thấy hạt cũng dao động như sóng để thành trường lượng tử, điều chứng nghiệm sau đó bởi Clinton Davisson và Lester Germer mà ứng dụng trực tiếp là sự phát minh ra kính hiển vi điện tử.     Điểm quan trọng cần nắm bắt là giữa hai electron phải có sự trao đổi sóng điện-từ được “lượng tử hóa” dưới dạng hạt gọi là photon, hạt này làm trung gian truyền tải lực điện-từ để cho electron đẩy nhau. Cũng vậy, giữa hai khối lượng có sự trao đổi sóng hấp dẫn, diễn tả bởi hạt graviton, để chúng hút lẫn nhau. Dùng tiên đề này, Yukawa đi xa hơn và đưa ra giả thuyết là giữa hai nucleon (tên gọi chung cho proton và neutron) phải có sự trao đổi một hạt nào đó làm tác nhân cho lực mạnh gắn kết nucleon trong hạt nhân nguyên tử khiến cho vật chất bền vững nói chung. Hạt trung gian đơn giản nhất của lực mạnh mà Yukawa đề xuất là meson π vô hướng (spin 0), khác với photon của lực điện-từ có spin 1.     Không những tiên đoán phải hiện hữu hạt pion để truyền tải lực hạt nhân mạnh, ông còn ước tính được khối lượng của nó bằng cách mô phỏng tĩnh điện học, theo đó sự trao đổi hạt photon giữa hai điện tích cho ta thế năng ~ e2/R mà đạo hàm của nó là lực Coulomb ~ – e2/R2 quen thuộc, với R là khoảng cách giữa hai điện tích. Thực vậy, dùng phép biến đổi Fourier cho hàm truyền 1/k2 của photon nối kết hai điện tích e, (k là  vectơ xung lượng của photon trung gian, Hình 3 phía trái ở trên), ta tính được thế năng e2/R của lực điện-từ mà de Coulomb năm 1785 đã đo lường và chứng nghiệm.      Cũng vậy, với g là hằng số tương tác pion-nucleon, m là khối lượng của meson π, ta có hàm truyền 1/(k2+ m2c2) của pion, hạt trung gian nối kết proton và neutron (Hình 3 phía phải ở dưới). Dùng phép biến đổi Fourier cho hàm truyền pion, Yukawa tính ra được thế năng ~ g2e–λ/R của lực mạnh, với λ = mc/ħ . Trong hệ số λ  ta thấy tác động của lượng tử qua hằng số h của Planck. Khi khối lượng của meson trung gian bằng 0 (trường hợp photon), lực Yukawa trở thành lực Coulomb (m → 0, e–λ/R → 1/R) chứng tỏ sự nhất quán của phép tính toán dùng hàm truyền của hạt trung gian (như photon, W, gluon, meson π) để tải lực. Vậy thế năng Coulomb là một trường hợp đặc biệt của thế năng Yukawa phổ quát.                Hình 3: Giản đồ Feynman   Phía trái ở trên: Photon truyền tải lực điện từ để electron tương tác (QED) .               Phía phải ở trên: Phân rã n → p + e– + νe, boson chuẩn W truyền tải lực yếu giữa nucleon (n, p) và lepton (electron, neutrino).              Phía trái ở dưới: gluon truyền tải lực mạnh để quark tương tác (QCD).              Phía phải ở dưới: meson π (gạch chấm) nối kết hai nucleon để diễn tả tương tác proton và neutron.               Richard Feynman là ngọn hải đăng của ngành vật lý hạt với các giản đồ  (diagrams), hàm truyền (propagators), quy luật (rules) mang tên ông.          Khối lượng m của hạt trung gian (photon, meson π, hay bất kỳ hạt boson trung gian nào) cho ta hệ số hàm mũ e–λR để xác định độ dài truyền tải R của lực: R ~ 1/λ = ħ /mc, m càng lớn bao nhiêu thì tầm truyền R của lực càng nhỏ bấy nhiêu, điều phù hợp với nguyên lý bất định Heisenberg Rmc ~  h. Mối liên hệ giữa m và  R được minh họa bởi lực điện-từ, photon không có khối lượng nên nó có thể truyền đi vô hạn (m = 0 ↔ R = ∞).     Biết độ dài tác động của lực mạnh R ~ 10-15 m do Ernest Rutherford trước kia đã đo lường kích thước của hạt nhân nguyên tử, Yukawa suy ra là khối lượng của meson π vào khoảng 140 MeV/c2, nặng hơn electron gần ba trăm lần3 . Kết quả quan trọng này có một điểm tương đồng với hiệu ứng Meissner, theo đó từ trường bị ngăn chặn trong các vật liệu siêu dẫn điện-từ 4, một đề tài liên quan mật thiết đến boson Higgs của lực yếu trong SM mà ta sẽ đề cập sau ở phần IVe.       2- Năm 1947, meson π được phát hiện bởi các tia vũ trụ, đó là các chùm hadron có năng lượng cực kỳ cao từ các thiên hà xa xăm bay đến và va chạm những hạt nhân nguyên tử nằm trong khí quyển bao quanh trái đất. Do tác động của lực mạnh, tia vũ trụ sản xuất ra meson π theo quy trình: p + p → p + n + π+ , n + p → p + p + π–, p + p → p + p + π0… Sau khi sinh ra bởi lực mạnh, meson π liền phân rã bởi lực yếu, thí dụ π ± → µ± + v± và  lepton µ± vừa sinh ra cũng lại phân rã thành các lepton nhẹ hơn µ± → e± + ve + vµ, cứ thế tiếp nối vòng sinh hủy, sinh bởi lực mạnh và hủy bởi lực yếu.     Ngoài ra tia vũ trụ cũng phát hiện meson K năm 1947 và baryon Λ0 năm 1950, chúng là những hạt mang kỳ tính đầu tiên được biết đến. Kỳ tính, một “hương vị của quark”, sẽ được đề cập sau ở đoạn IIc. Tuy có năng lượng cao rất cần thiết cho sự khám phá hạt, nhưng tia vũ trụ lại tản mát khắp không gian nên chúng chỉ là phương tiện mang tính ngẫu nhiên và khó có thể khai thác một cách hệ thống. Do đó máy gia tốc hạt được xây dựng ở nhiều nơi từ Mỹ sang Âu, Á để dễ dàng thao tác, truy tìm, phát hiện ra nhiều hạt mới lạ, kinh nghiệm cho thấy gia tốc càng cao thì càng khám phá ra nhiều hiện tượng bất ngờ. Máy gia tốc vô hình trung là biểu tượng của ngành vật lý hạt, không có những dụng cụ ngày càng hoành tráng này thì vật lý hạt khó phát triển thêm và thiên văn, vũ trụ học có thể trở lại vai trò nguyên thủy như một phòng thí nghiệm lớn mà Thiên nhiên tặng con nguời nếu biết khai thác hữu hiệu.      Vào thời điểm trước khi SM ra đời, hàng trăm hadron như vậy được phát hiện bởi tia vũ trụ và máy gia tốc. Bản chất chúng là gì, có tuân thủ một trật tự nào giống như sự sắp xếp các nguyên tố hoá học trong Thiên nhiên với bảng tuần hoàn Mendeleev không?     Những câu hỏi mà sau này ta sẽ làm quen và giải đáp, theo đó hadron là phức hợp của quark hay/và phản quark gắn kết với nhau bởi gluon: baryon được cấu tạo bởi 3 quark và meson bởi quark gắn kết với phản quark. Thực là một thành tựu lớn vì chỉ với mấy viên gạch cơ bản mà ta xây dựng nên tất cả các hadron và diễn tả nhất quán những tính chất của chúng.      Phản vật chất nói chung và phản hạt nói riêng là khám phá kỳ diệu của Paul Adrien Maurice Dirac (1902-1984), một thiên tài tầm cỡ Albert Einstein. Điều ngẫu nhiên là cả hai vị đều 26 tuổi khi khám phá ra phương trình nền tảng của vật lý E = mc2 và  (iћγμ∂μ – mc)Ψ(x) = 0 từ đó mọi phát triển bây giờ và sau này đều phải dựa vào như một hệ hình của khoa học để vươn cao lên nữa. Khi kết hợp nhuần nhuyễn cơ học lượng tử với thuyết tương đối hẹp, Dirac đã sáng tạo ra phương trình chi phối sự vận hành của những viên gạch sơ cấp cấu tạo nên vật chất như lepton, quark và rộng ra của tất cả các fermion phức hợp khác như proton, neutron, baryon. Tại sao kết hợp? Lượng tử là điều dĩ nhiên cho vật thể vi mô, còn thuyết tương đối hẹp thì tối cần thiết để diễn tả sự chuyển động với vận tốc rất cao của các hạt vi mô.      Phương trình 5 Dirac là bản giao hưởng tuyệt vời của sự hợp phối nói trên, nó mở ra hai chân trời mới lạ: thứ nhất là electron mang spin ћ/2, một đặc trưng độc đáo của lượng tử, thứ hai là sự hiện hữu tất yếu của phản electron (gọi là positron) nói riêng và của phản quark, phản hạt, phản vật chất nói chung 6. Hạt và phản hạt có cùng khối lượng nhưng tất cả các đặc tính khác (spin, điện tích, sắc tích, hương vị) của chúng đều ngược dấu. Carl Anderson khám phá ra positron e+ vào năm 1932.        3- Điện động lực học lượng tử (QED)- Thời “tiền Mô Hình Chuẩn” khoảng trước 1950, khởi đầu bởi Dirac và kết thúc bởi Richard Feynman, Julian Schwinger, Sin-Itero Tomonaga, Freeman Dyson, duy nhất chỉ có lý thuyết diễn tả tương tác điện-từ giữa các hạt mang điện tích gọi là Điện động lực học lượng tử là đã được hoàn tất. Lý thuyết hoàn chỉnh QED này kết hợp trường điện-từ cổ điển với tính lượng tử (qua các tính chất phi liên tục, xác suất và bất định của vật thể vi mô) để thành trường lượng tử photon. Cũng vậy hàm số sóng electron, nghiệm số của phương trình Dirac cũng được “lượng tử hóa lần thứ hai” để thành trường lượng tử electron diễn tả những khía cạnh sóng-hạt, phi liên tục, bất định trong đó electron, positron sinh hủy liên hồi. Trường lượng tử QED diễn tả sự biến hoá, sản sinh và hủy diệt của photon, lepton, phản lepton, tổng số những hạt này không cố định mà biến đổi, một đặc trưng của các trường lượng tử tương tác với nhau. Như vậy, trường lượng tử là công cụ lý thuyết rất phù hợp với vật lý hạt cơ bản vì tính chất phong phú đa dạng vừa sóng vừa hạt của chúng với số lượng hạt và phản hạt sinh hủy và biến đổi không ngừng.      Thuyết QED có một cấu trúc tính toán chặt chẽ và nhất quán gọi là phương pháp nhiễu loạn (perturbative method) bằng cách triển khai thành chuỗi các lũy thừa của hằng số tương tác điện từ αem  ≈ 1/137. Vì αem << 1 nên triển khai theo lũy thừa của αem là chính đáng.     Mỗi đại lượng vật lý đều được trình bày như chuỗi Σn αnem An mà ta phải tính toán những biên độ An, A1 tương ứng với giản đồ cây (tree diagram) minh hoạ bởi Hình 3, An (n ≥ 2) với những vòng kín (loop) minh họa bởi Hình 4.      Nhưng QED chỉ là tương tác điện-từ của lepton với photon thôi, còn hai tương tác mạnh và yếu của hadron và neutrino là cả một tiến trình gian nan nhưng kỳ thú trong sự khám phá các hạt quark, boson chuẩn W, Z, gluon cũng như những định luật vận hành của chúng để cuối cùng ra đời SM, một bước nhảy vượt bậc của vật lý hạt cơ bản. Feynman, với các giản đồ và quy luật mang tên ông, thực sự là người dẫn đường cho sự phát triển của QED, thuyết này trở thành mẫu hình cho hai thuyết Điện-Yếu và QCD mô phỏng và thăng hoa.                Hình 4: Vài thí dụ về vòng kín  lượng tử (quantum loop). Phép tính nhiễu loạn khởi đầu bằng 0 vòng kín  (0-loop) hay giản đồ cây minh hoạ bởi Hình 3, rồi tiếp tục bởi Hình 4: 1  vòng kín (one-loop) ở hai đầu bên trái (với photon γ ) và bên phải (với  gluon g), 2 vòng kín (two-loop) ở giữa.           IIc- Hương và Sắc của quark.      Ngoài sắc tích đã biết (xem phần Nhập đề), quark cũng mang hương vị, lần nữa lại là một thuật ngữ riêng tư của vật lý hạt để chỉ định sự khác biệt giữa 2 loại quark u, d không hương vị của vật chất bền vững hiện diện khắp nơi, với 4 loại quark s, c, b , t có hương vị, chúng mang tên kỳ (strange), duyên (charm), đáy (bottom), đỉnh (top), những đặc tính của một loạt hạt vật chất mới lạ, nặng và phân rã nhanh chóng, thời gian sống trung bình khoảng giữa 10-10 và 10-13 giây, sự sản sinh ra chúng đòi hỏi máy gia tốc khổng lồ với năng lượng cực kỳ cao.     Trước hết hãy xem vì đâu có tên kỳ như vậy? Vào những năm 1950 trong những buồng sương Wilson dò tìm hạt, sự phát hiện những hạt mang tên V (vì từ một điểm chung có hai vết tách rời nhau tựa như chữ V) là điểm khởi đầu của một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển vật lý hạt, từ đó khái niệm hương vị của vật chất ra đời, mang hương cho quark. Được sản sinh ra bởi sự va chạm giữa các hadron trong tia vũ trụ hay trong máy gia tốc, những hạt V này có một tính chất lượng tử lạ lùng là bao giờ cũng ghép đôi, biểu lộ thành hai vết giống như chữ V khi được sản sinh bởi các tương tác mạnh của hạt nhân nguyên tử. Câu hỏi đầu tiên là tại sao hai hạt cặp đôi trong V lại dễ dàng được sinh ra ở cùng một điểm, trong khi một hạt duy nhất lại không được tạo ra, điều trái ngược với trải nghiệm bình thường?      Ngạc nhiên không kém là sau khi được sinh ra, mỗi nhánh trong cặp đôi của V lại phân rã thành vài hạt quen biết như π hay/và nucleon với cường độ rất nhỏ so với cường độ phân rã mạnh hơn nhiều của các hạt khác (như baryon N* hay meson ρ chẳng hạn phân rã rất nhanh ra nucleon hay π). Lý do là N* (hay meson ρ) đều đơn giản chỉ là những hạt cộng hưởng do nucleon và  kết tụ nên chúng lại phân rã nhanh chóng ra nucleon (hay π) bởi lực hạt nhân mạnh, khác hẳn với hai nhánh của V bị phân rã rất chậm bởi lực hạt nhân yếu.      Phân tích kỹ lưỡng những hiện tượng này đưa tới kết luận là phải hiện hữu một tính chất lượng tử mới lạ nào đó mà sau này được gọi là hương vị của quark s (và phản quark s–) để chúng cấu tạo nên cặp hadron và phản hadron như hai nhánh của V. Mỗi nhánh mang một đại lượng mới lạ đối lập nhau và luôn đi kèm nhau, tựa như photon của lực điện-từ sản sinh ra cặp hạt và phản hạt của chính nó như cặp e– e+, µ– µ+ chứ không phải cặp e– µ+ hay µ– e+, vì như vậy không có sự bảo toàn số lượng electron hay số lượng muon. Murray Gell-Mann, giải Nobel 1969, gọi đại lượng được bảo toàn bởi lực mạnh là  kỳ tính 7 vì trước đó không ai biết vật chất mới lạ này mà chỉ thấy vật chất bình thường bền vững như nucleon tạo nên bởi quark u, d không hương vị thôi.      Phản ứng π+ + n → K+ + Λ0 là một ví dụ về sự bảo toàn kỳ tính của lực hạt nhân mạnh. Khởi đầu từ hadron không hương vị là  π+ và  n, chúng va chạm nhau để sản xuất ra V gồm hai nhánh là K+ và  Λ0. Mỗi nhánh phải mang kỳ tính s và  s–  đối ngược nhau để chúng tự triệt tiêu và bảo toàn kỳ tính của hệ thống K+ và  Λ0, trong Λ0 có quark s và trong K+ có phản quark s– .     Hạt V được phát hiện đầu tiên là cặp meson K+, K– hay cặp K0, phản K0; K+ cấu tạo bởi cặp s– u, K– bởi u–s, K0 bởi s–d, phản K0 bởi d–s. Baryon Λ0 là do các tổ hợp của 3 quark u, d, s cấu tạo nên.         Sau khi được sản sinh ra, các hadron kỳ như K+ và  Λ0 lại phân rã bởi lực yếu, lực này vi phạm kỳ tính, K+ → π0 + e+ + ve, K+ → π+ + π0, Λ0 → p + e– + ve, Λ0 → p + π–  là vài ví dụ của hadron phân rã bởi lực yếu vi phạm kỳ tính. Các phân rã K+ → π0 + e+ + ve và  Λ0 → p + e– +  v–e cho ta nhận ra một điều quan trọng là dòng lực yếu chỉ biến chuyển với thay đổi điện tích như K+ → π0 hay Λ0 → p, chứ không bao giờ có K+ → π+  hay Λ0 → n. Khi lực mạnh sản sinh ra quark s, nó liền phân rã và mất đi kỳ tính bởi lực yếu, hơn nữa thực nghiệm trên cho biết kỳ tính mất đi phải dưới dạng thay đổi điện tích s → u mà không phải dưới dạng s → d (điện tích không thay đổi). Không có dòng lực yếu s → d (thay đổi hương vị mà không thay đổi điện tích), sự triệt tiêu dòng lực yếu s → d này chính là điểm khởi đầu để cho cơ chế GIM (Glashow, Iliopoulos, Maiani) tiên đoán sự hiện hữu của quark duyên mà ta sẽ đề cập sau ở Phần IVc .      Tóm lại lực hạt nhân mạnh bảo toàn hương vị của quark, trong khi lực hạt nhân yếu vi phạm hương vị của nó. Không những vi phạm hương vị, lực yếu còn vi phạm phép đối xứng trái-phải (đối xứng P), và phép đối xứng vật chất-phản vật chất (đối xứng CP) mà chúng ta sẽ đề cập ở Phần IV về thuyết Điện-Yếu.      Cho đến cuối những năm 1950, vài trăm hadron được phát hiện bởi thực nghiệm, ngoài các hadron bình thường không mang hương vị như meson π, ρ, ω… và baryon N*, N**… (đó là những cộng hưởng do nucleon và pion hợp tụ), còn có nhiều hadron khác mang kỳ tính như meson K và baryon Λ0, Σ, Ξ…      Quan sát những đặc trưng của chúng (khối lượng, spin, các kiểu sản xuất và phân rã) để tìm ra những quy luật chi phối chúng một cách định tính và sắp xếp chúng một cách có hệ thống theo từng nhóm bội (coi hình 5), năm 1953 Murray Gell-Mann, đồng thời với Kazuhiko Nishijima và đồng nghiệp Tadao Nakano tìm ra một đẳng thức mang tên GNN (Gell-MannNakanoNishijima) nối kết ba đại lượng Q, Iz, Y của hadron, với Q là điện tích (tính theo đơn vị điện tích +e), Iz là thành phần chiếu xuống trục z của vectơ spin đồng vị 8 I và  Y là siêu tích 9. Đó là:  Q = Iz + Y/2                      (công thức GNN)     Ý tưởng cốt lõi trong GNN là phải có một số lượng tử mới lạ nào đó (gọi là siêu tích Y) được bảo toàn trong sự sản sinh hadron (cả baryon lẫn meson) bởi lực hạt nhân mạnh, nhưng khi hadron phân rã bởi lực hạt nhân yếu thì Y không còn được bảo toàn nữa mà bị vi phạm. Vậy ngoài Y ra, phải bổ sung thêm một thành phần nào khác của hadron để diễn tả đồng loạt hai hiện tượng (bảo toàn và vi phạm) trái ngược này. Thành phần bổ khuyết đó gọi là spin đồng vị (ký hiệu Iz) được bảo toàn bởi lực mạnh nhưng cũng bị vi phạm bởi lực yếu, hai đại lượng Y và Iz này gắn bó mật thiết với nhau như một quy luật chi phối cả ba lực điện-từ, mạnh và yếu. Khi Y thay đổi một đơn vị thì Iz thay đổi nửa đơn vị ± ½ để làm sao cho tổng số của chúng lại chính là điện tích Q, một đại lượng bất biến của điện-từ.     Bề ngoài có vẻ giản đơn nhưng do tính phổ quát của công thức GNN đối với các hạt (hadron, quark, lepton), các lực tương tác (mạnh, yếu, điện-từ) và các phép đối xứng, nó là kim chỉ nam định hướng sau này cho cấu trúc của hai lực yếu và điện-từ trong sự thống nhất chúng thành thuyết Điện-Yếu, hai lực đều có I ≠ 0 (bởi Iz ) và I = 0 (bởi Y).     Đẳng thức GNN còn được dùng để tìm ra điện tích của quark. Thực thế, vì phải cần 3 quark gắn kết với nhau để tạo thành baryon, nên “số baryon” b– của quark là ⅓ (phụ chú 9), do đó:    u (Iz = 1/2, Y = 1/3), d (Iz = – 1/2, Y = 1/3), s (Iz = 0, Y = – 2/3)  c (Iz = 0, Y = 4/3), b (Iz = 0, Y = – 2/3), t (Iz = 0, Y = 4/3)  từ đấy ta tính được điện tích +(⅔)e  cho ba quark u, c, t  và – (⅓)e cho d, s, b.     Việc phát hiện ra hương vị kỳ của vật chất bởi lực mạnh đã mở đường cho lực yếu phát triển và đưa đến hệ quả tuyệt vời là sự hiện hữu tất yếu của ba hương vị mới lạ của vật chất, đó là: duyên, đáy và đỉnh mà sau đó được thực nghiệm kiểm chứng thành công. Meson K0 đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ hữu cơ giữa hai lực mạnh và yếu để đưa đến sự tiên đoán này. Quark duyên bởi Sheldon Glashow, John Iliopoulos và Luciano Maiani (cơ chế GIM), hai quark đáy và đỉnh bởi Makoto Kobayashi và Toshihide Maskawa (cơ chế KM diễn tả sự bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất).     Không những tiên đoán ba hương vị mới lạ của vật chất mà ngay cả khối lượng của các quark duyên và đỉnh cũng được ước lượng chính xác bởi những tính toán phức tạp các vòng kín lượng tử, soi đường cho thực nghiệm dò tìm và đo lường tính chất của chúng. Phép tính toán những vòng kín này (mà Hình 4 minh họa) được xây dựng bởi Gerardus ’t Hooft và người thày hướng dẫn luận án tiến sĩ Martinus Veltman. Mục tiêu của hai vị là để chứng minh thuyết Điện-Yếu của Sheldon Glashow, Abdus Salam và Steven Weinberg cũng được hoàn chỉnh như QED nghĩa là cũng như lực điện-từ, lực yếu có thể tái chuẩn hóa 10 (renormalization) và từ đó thuyết Điện-Yếu thăng hoa vì có một khuôn khổ tính toán hoàn hảo, chặt chẽ và nhất quán như QED. Hiếm thấy ngành khoa học nào có ba giải Nobel chỉ với luận án tiến sĩ: ‘t Hooft chứng minh sự tái chuẩn hóa của Điện-Yếu, Politzer và Wilczek với “tự do tiệm cận” (asymptotic freedom) của quark và gluon trong QCD. Điện-Yếu và QCD là hai trụ cột xây dựng nên SM của vật lý hạt.      IId- Gell-Mann, con số 3 và bát chánh đạo.      Tìm kiếm một trật tự nào đó giữa cả một rừng hỗn loạn của các hadron được biết thời 1960, xếp đặt chúng một cách tuần tự và hệ thống là mục tiêu phải giải quyết trước tiên để đi xa hơn nữa. Khởi đầu cuộc hành trình là ý tưởng của Enrico Fermi với các hạt không hương vị (quark u, d theo ngôn từ thời nay), theo đó meson π là hợp tố của nucleon và phản nucleon, rồi đến Shoichi Sakata mở rộng sang các hạt có kỳ tính theo đó 3 baryon p, n và  Λ0 đóng vai trò chủ động để cấu tạo nên các hadron có (và không có) kỳ tính. Ví dụ π+ cấu tạo bởi n–p, K– bởi p– Λ0, nhưng Sakata chỉ giới hạn ở phạm vi meson còn đối với những baryon khác như Σ±, Σ0, Ξ–, Ξ0 thì mô hình Sakata với 3 baryon p, n, Λ0  đành bó tay, không thể cấu tạo chúng một cách trực tiếp mà phải kết hợp với meson π và K để tạo thành, ví dụ Σ+ = Λ0 π+, Ξ– = Λ0 K–…     Bổ sung khuyết điểm và mở rộng kịch bản của Sakata, Gell-Mann nhận thấy là giữa các hadron (cả meson lẫn baryon) có một phép đối xứng ngự trị chúng, đó là nhóm đối xứng unita SU(3) của 3 vật thể (quark) bề ngoài tương tự như 3 baryon p, n, Λ nhưng hoàn toàn khác về bản chất.      Chỉ cần 3 viên gạch cơ bản của vật chất mà Gell-Mann gọi là 3 quark 11 u, d, s để cùng với 3 phản quark  u–, d–, s– cấu tạo nên tất cả các meson và baryon mà người ta biết ở thời điểm trước năm 1974, sắp xếp chúng theo một trình tự nhất quán, đưa ra nhiều tiên đoán mà điển hình là meson Ω– với khối lượng ước tính sẵn, trước khi thực nghiệm khám phá ra.     Vì meson cấu tạo bởi quark và phản quark, chúng là tổ hợp của một trong 3 quark u, d, s gắn ghép với một trong 3 phản quark  u–, d–, s–  như vậy cả thảy tổng cộng có 9 cặp quark-phản quark, chia làm hai biểu diễn 8 và  1 của nhóm SU(3): 3 x 3*= 8 + 1. Biểu diễn 8 gồm có s–d,  s–u,  u–d, ( u–u – d–d), (u–u + d–d – 2s–s), d–u, d–s, u–s theo thứ tự là 8 meson K0, K+, π–, π0, η0, π+, (phản K0) , K– của Hình 5.      Còn baryon là hợp tố của ba quark qi qj qk với i, j, k là bất kỳ một trong ba hương vị u, d, s, vậy cả thảy có 33 = 27 bộ ba: 3 x 3 x 3 = 8 + 8 + 10 + 1. Trong biểu diễn 8 ta nhận ra tám baryon của Hình 5: n, p, Λ0, Σ±, Σ0, Ξ–, Ξ0, thí dụ Σ+ = uus, Ξ– = sds (so sánh với mô hình Sakata Σ+ = Λ0π+, Ξ– =  Λ0 K– ta thấy rõ sự khác biệt), trong biểu diễn 10 có meson Ω– = sss mang spin 3/2, tiên đoán bởi Gell-Mann.                       Hình 5: Nhóm bội hadron (meson  và baryon) được sắp xếp cân đối trên hình tám cạnh đều đặn theo toạ độ  Iz (trục ngang) và Y (trục thẳng đứng) gặp nhau ở trung tâm (0 và 0).  Ba đại lượng Q, Iz và Y của những hadron tuân thủ đẳng thức GNN.  Gell-Mann gọi cách xếp đặt nhóm bội hadron theo hình tám cạnh đều đặn là  Bát chánh đạo của Bụt.          Ngoài ra lại còn thêm một con số 3 nữa, nhưng lần này không phải là 3 hương vị u, d, s của quark mà là 3 sắc tích đỏ, xanh, lam sẽ được tận dụng để khám phá ra định luật cơ bản chi phối sự vận hành của quark, đó là Sắc động lực học lượng tử (QCD) mà Gell-Mann cũng góp phần sáng tạo. Nhóm SU(3)C dùng trong QCD là nhóm đối xứng giữa 3 sắc tích, cần phân biệt với nhóm đối xứng SU(3)F giữa 3 hương vị u, d, s của quark mà biểu diễn 8 của nó là hai hình bát giác trong Hình 5.      Lực mạnh QCD có một đặc trưng duy nhất và độc đáo mà các lực khác không có, đó là tính chất “tự do tiệm cận”, theo đó ở nhiệt độ cao (năng lượng E lớn) quark và gluon không gắn bó với nhau nữa và được tự do, hằng số tương tác αQCD của chúng nhỏ dần như 1/Log(E) khi E tăng. Tự do tiệm cận của QCD cho phép ta dùng phương pháp nhiễu loạn như QED để triển khai thành chuỗi các lũy thừa của αQCD → 0.      Ngược lại ở nhiệt độ bình thường (E nhỏ), quark và gluon bị giữ chặt trong các hadron. Tính chất lạ lùng và độc đáo này, mệnh danh nô lệ hồng ngoại (infrared slavery), coi như là hệ quả của sự kéo dài liên tục từ E lớn xuống E nhỏ của 1/Log(E), hàm này tăng khi E giảm làm cho αQCD >> 1.      Vì E và độ dài R liên đới nghịch với nhau theo nguyên lý bất định E x R ~ h (coi phần IIb) nên hệ quả của “nô lệ hồng ngoại” là cường độ của lực mạnh gắn kết quark lại tăng lên với khoảng cách R của quark, càng đẩy chúng ra xa để tách rời chúng thì lực gắn kết chúng lại càng mạnh hơn lên để kéo giữ chúng lại với nhau. Quark mãi mãi bị cầm tù trong hadron, ở nhiệt độ bình thường trong đời sống hằng ngày, quark không sao thoát ra ngoài hadron để lộ mặt, không như electron nhan nhản khắp nơi. Điều cần nhấn mạnh là hadron không mang sắc tích vì 3 sắc tích của quark đều hòa quyện với nhau làm một trung bình để hadron được trung tính về sắc tích, cũng như electron và proton triệt tiêu điện tích của nhau để các nguyên tử trung hòa điện tích.     IIe- Quark có thật với vài thực nghiệm tiêu biểu.     Tuy không trực tiếp ra mặt như lepton hay boson chuẩn nhưng sự hiện diện gián tiếp của quark và gluon rất rạch ròi trong nhiều thực nghiệm độc lập với nhau và tính chất của chúng được nghiệm chứng chính xác. Việc truy tìm quark, thành phần sơ đẳng cấu tạo nên hadron, cũng tựa như Rutherford năm 1911 khám phá ra proton trong hạt nhân nguyên tử. Khi bắn chùm nguyên tử Helium (tia alpha) vào một phiến vàng mỏng, một phần chùm alpha quay ngược trở lại (tán xạ với góc lớn hơn 90°), Rutherford suy ra là hạt nhân nguyên tử phải chứa một cái gì đó rất nhỏ và cứng mang điện tích dương nằm ở trung tâm, đó chính là hạt proton.      Quark cũng được phát hiện như vậy bởi chùm electron đập mạnh vào nucleon và thấy xuất hiện đến bất ngờ nhiều tán xạ với góc rất lớn, Hình 6.      Khi phân tích chi tiết các số liệu thực nghiệm về phân bố tán xạ ở năng lượng cao, điều ngạc nhiên trái ngược với trực giác thông thường là các thành phần cơ bản (quark và gluon) cấu tạo nên nucleon hầu như không chút nào bị gắn kết chặt chẽ mà lại dao động tự do trong nucleon. Tính chất tự do tiệm cận của QCD giải thích điều này vì ở năng lượng cao thì hằng số tương tác αQCD → 0, quark thoải mái vẫy vùng không bị bó chặt trong hadron.                           Hình 6: Phía trên: nếu nguyên  tử có electron và hạt nhân tản mác khắp nơi thì chùm tia alpha bắn vào  sẽ đi thẳng không bị quay ngược trở lại. Phía dưới: vì nguyên tử có một  hạt nhân rất cứng và nặng nằm trong trung tâm, một phần chùm alpha bắn  vào sẽ bị quay ngược trở lại với góc lớn hơn 90°.          Điện tích phân số của quark cũng được xác định rõ rệt khi so sánh tiết diện tán xạ của electron và của neutrino12 .     Còn 3 sắc tích của quark cũng được chứng minh ít nhất bởi hai loại thực nghiệm hoàn toàn độc lập chẳng chút gì liên đới: tiết diện σ (e– + e+ → hadrons) và tốc độ phân rã của pion ra hai photon: π0 → γ + γ .        • Vì hadron là do quark cấu tạo nên, do đó sự sản sinh hadron bởi e– + e+ → hadrons cũng tương đương như e– + e+ → Σj  q–j + q j với tổng cộng tất cả 6 hương vị (u,d,s,c,b,t) của quark qj và phản quark q–j, chúng đều được tạo ra từ photon. Thực vậy, khi e– và phản hạt của nó e+ tụ hội, chúng tự hủy để biến thành năng lượng thuần khiết tượng trưng bởi photon ảo  γ* với khối lượng Ŝ ≠ 0 và bằng tổng năng lượng của e– và e+. Khối lượng Ŝ của photon ảo này lại sinh ra các cặp vật chất-phản vật chất, tượng trưng bởi các cặp quark.      Khi so sánh e– + e+ →  γ* → Σj ( q–j + q j ) với e– + e+ →  γ* → µ– + µ+, ta nhận thấy vì µ± không có sắc tích và điện tích của muon cũng khác quark, nên tỷ số r giữa σ (e– + e+ → hadrons) và σ (e– + e+ → µ– + µ+) chính là r = Nc Σj Qj2, với Nc là số lượng của sắc tích (Nc = 3) và Qj là điện tích của quark j (theo đơn vị +e).      Nếu tổng năng lượng Ŝ của cặp e– + e+ (cũng là của cặp quark qj q–j được sản xuất ra) ở dưới ngưỡng khối lượng của cặp quark duyên, thì r = 3{(2/3)2 + 2(-1/3)2} = 2. Nếu Ŝ vượt qua khối lượng của cặp quark duyên thì r = 3{2(2/3)2 + 2(-1/3)2} = 10/3, quá ngưỡng của quark đáy thì r = 11/3, tất cả các kết quả trên đều được thực nghiệm kiểm chứng thành công. Trên nguyên tắc, giá trị tiệm cận của r là r → 5 khi Ŝ vượt quá khối lượng của cặp quark đỉnh. Đóng góp của 1 vòng kín lượng tử trong QCD cho kết quả chính xác r = Nc Σj Qj2 {1+ αs /π} với αs ≈ 0.15 là hằng số tương tác của QCD, so với hằng số tương tác điện-từ αem  ≈ 1/137.        • Tốc độ phân rã của π0 → γ + γ  tính toán bằng vòng lượng tử hình tam giác theo quy trình π0 → (u–u –  d–d) →  γ + γ sẽ cho ta kết quả nhỏ hơn thực nghiệm 9 lần nếu ta quên không tính đến bình phương của hệ số sắc tích (Nc = 3).      Đâu có thể là ngẫu nhiên mà hai thực nghiệm hoàn toàn xa lạ cùng đưa đến một kết luận chung là quark phải có Nc = 3 sắc tích.  ———-   Chú thích Phần II      2Vật đen (black body) là một vật chỉ hấp thụ ánh sáng mà không phản chiếu lại, vậy năng lượng nó nhận được không bị mất đi. Từ ngữ đen được dùng để chỉ định tính chất đặc thù này. Thí dụ cụ thể của vật đen là một lò bịt kín nung nóng ở nhiệt độ T và khi đục một lỗ nhỏ trên thành lò, ta có thể nghiên cứu phổ bức xạ nhiệt phát ra qua lỗ. Bức xạ này chỉ phụ thuộc vào T thôi chứ không vào bất cứ hình thù, cấu trúc cũng như chất liệu nào ở trong lò, điều này chứng tỏ bức xạ nhiệt của vật đen chỉ phụ thuộc vào sự dao động của các thành phần cơ bản chung cho mọi vật chất. Sự dao động của các thành phần cơ bản đó chính là nguồn tạo ra nhiệt độ của vật chất. Như vậy phổ bức xạ nhiệt của vật đen là một trường hợp hi hữu trong vật lý có tính phổ quát tuyệt đối, đó là một hàm F(T,ν) chỉ tùy thuộc vào nhiệt độ T và tần số ν của ánh sáng bức xạ, mỗi tần số gắn liền với một màu (từ đỏ sang tím) của ánh sáng.      Trong những năm từ 1900 đến 1905, dùng nhiệt động học và thuyết điện-từ cổ điển, Lord Rayleigh trước tiên (bổ sung bởi Sir James Jeans) rồi sau đó đến Albert Einstein đều phát hiện ra kết quả phi lý là tổng cường độ bức xạ của vật đen phải tăng vô hạn. Nghịch lý này được giải đáp với giả thuyết lượng tử E = hv và ngày 14 tháng chạp năm 1900, Max Planck dùng giả thuyết lượng tử để tìm ra công thức cho phổ bức xạ F(T,ν) của vật đen, công thức chính xác và phổ quát đến nỗi nó áp dụng từ lò kín nung nóng của phòng thí nghiệm ở đại học Berlin thế kỷ 19 cho đến bức xạ nền của Vũ trụ sau Vụ Nổ Lớn mà ngày nay hai vệ tinh COBE và WMAP vừa đo lường được tàn dư nhiệt lượng phóng xạ cách đây khoảng 13.7 tỷ năm (giải Nobel vật lý 2006). Biết đâu trăm năm sau, ở thế kỷ 22, con người sẽ đo lường được bức xạ của một vật đen khác kỳ dị hơn nữa, đó là lỗ đen lượng tử hóa (theo J.D. Bekenstein và S. Hawking) nên có thể phóng xạ ra ngoài chân trời tối kín của nó, lỗ đen chẳng còn hoàn toàn đen nữa. Lượng tử không còn là giả thuyết mà trở thành nguyên lý nền tảng của vật lý đương đại.      Tham khảo: Nguyễn Trọng Hiền, Sự đo đạc hằng số Planck, Kỷ Yếu Max Planck, Người khai sáng thuyết Lượng tử, trang 203-234, nxb Tri Thức (2009).      3Trong vật lý hạt, đơn vị của năng lượng E là electron-volt (eV), đó là năng lượng nhận được bởi một electron đặt trong một điện thế 1 volt, vậy 1eV =1,6 10-19 Joule (J), các bội số của eV là MeV = 106 eV, GeV = 109 eV. Do E= mc2 nên khối lượng có đơn vị là eV/c2. Electron có khối lượng bằng 0,511MeV/ c2 = 9.1 10 -31 kg.      4 Hàm mũ e-λR nhắc nhở cách giải thích hiệu ứng Meissner với độ thấm sâu từ trường λL của hai anh em Fritz và Heinz London. Hạt boson ở đây là cặp Cooper của hai electron trong siêu dẫn điện từ . Tham khảo: Thân Đức Hiền, Siêu dẫn, cùng trong cuốn Kỷ Yếu Higgs.      5Phương trình Dirac (iћγμ∂μ – mc)Ψ(x) = 0 có bốn ma trận 4×4 Dirac γμ (μ = 0,1,2,3) kèm theo bốn đạo hàm ∂μ ≡ ∂/∂xμ đối với bốn toạ độ không-thời gian xμ ≡ (x0 = ct, x), điều quen thuộc với thuyết tương đối.      6Máy chụp hình nổi PET (Positron Emission Tomography) dùng trong y học ngày nay là một ứng dụng trực tiếp của positron, khi nó hòa tụ với electron sẵn có trong cơ thể con người thì cặp positron-electron biến thành tia bức xạ cực kỳ tinh vi để rọi sáng mọi chi tiết.     Trong cơ học cổ điển, một vật có xung lượng P quay xung quanh một trục đặt cách nó một đoạn dài R thì momen góc của vật là  L = R x P. Mọi vật thể dù lớn như các hành tinh hay nhỏ như một electron, quark, photon đều có spin, một thuộc tính quay nội tại của vật, là momen góc của vật. Spin của photon cũng là lý do tại sao chúng ta có thể xem được phim 3D.     Trong thế giới của lượng tử, ta hình dung hạt vi mô như một con quay với momen (hay xung lượng) góc nội tại, gọi là spin J. Độ dài của vectơ L (hay J) có thứ nguyên là ML2 T-1 với M, L,T theo thứ tự là khối lượng, chiều dài không gian và thời gian. Vì hằng số Planck h = E/v có cùng thứ nguyên như |J|, nên h là đơn vị của spin. Phương trình Dirac cho biết spin của electron bằng ћ/2 = h/4π tựa như nó phải tự quay xung quanh mình hai vòng 4π mới trở lại trạng thái ban đầu. Vì mang điện tích và tự quay tròn chung quanh trục của nó nên electron có momen từ lưỡng cực để tác động giống như một chiếc kim la bàn nhỏ xíu. Spin mở ra một phạm trù mới cho vật lý hiện đại, nhánh ‘spin-điện tử’ đã mang giải Nobel vật lý 2007 đến Albert Fert và Peter Grünberg với hiệu ứng Từ trở Khổng lồ mà một trong nhiều ứng dụng là bộ nhớ MRAM cùng các đầu đọc, đầu ghi của đĩa cứng trong máy vi tính.      7Tựa như trong logic tin học, hai con số 1 và 0 diễn tả có và  không, ta gán cho kỳ tính một “số lượng tử” S_, theo đó hạt không mang kỳ tính có S_ = 0, hạt mang kỳ tính (như baryon Σ, baryon  Λ0, meson K–) có S_ = – 1, phản hạt (như phản baryon Σ, phản baryon Λ0 , meson K+) mang phản kỳ tính có S_ = + 1. Coi hình 5.      8Hai hạt proton và neutron tuy khác nhau về điện tích nhưng vận hành như hệt nhau dưới tác động của lực mạnh, chúng được coi như hai thành phần của một hạt duy nhất là nucleon. Để diễn tả tính chất của lực mạnh không phụ thuộc vào điện tích (ở đây là nucleon), Heisenberg đưa ra khái niệm spin đồng vị để sắp xếp những hadron chia sẻ vài đặc tính chung thành từng nhóm bội (multiplet), theo đó nếu N hạt có chung vài đặc tính thì spin đồng vị I của chúng là N = 2 ǀIǀ +1, vậy spin đồng vị của nucleon là ½, của pion là 1 (vì có 3 pion π+, π–, π0). Tựa như một fermion mang spin ½ có hai thành phần +½ và ½ chiếu lên vectơ xung lượng k của nó, thành phần chiếu lên trục Oz của vectơ spin đồng vị là Iz, với Iz của proton là +½ và Iz của neutron là -½.      Một cách tổng quát thì spin đồng vị I có (2J +1) thành phần Iz, cũng như xung lượng góc L có (2L +1) thành phần Lz và spin J có (2J +1) thành phần Jz, sự tương đồng về cấu trúc của I và  J khiến Heisenberg gọi I là spin đồng vị. Hệ thống meson K+ và K0 có spin đồng vị là ½, Iz của K+ là +½, của K0 là – ½, Iz của π+ là +1, của π–  là -1, của π0 là 0.      9Siêu tích là khái niệm mở rộng kỳ tính S (hay duyên tính C hay đáy tính B, nói chung là hương vị của quark) để có thể áp dụng cho cả hai trường hợp baryon lẫn meson. Trước hết ta cần biết rằng trong các phản ứng chi phối bởi cả ba lực mạnh, yếu, điện-từ, số lượng baryon bao giờ cũng được bảo toàn, trong khi số lượng meson thì không thế, nó có thể biến đổi. Thực vậy trong các phản ứng (viết tắt A → B) nếu ở A có baryon thì trong B cũng có baryon tuy có thể không cùng loại, thí dụ π + p → n + ρ + 3π hay π + p → Λ + K. Ta thấy rõ baryon (p, n, Λ) bao giờ cũng hiện diện trong cả hai vế (đầu vào A và đầu ra B), còn meson như π, ρ, K không thế. Cũng như số lượng baryon, số lượng lepton cũng được bảo toàn trong các phản ứng của hai lực yếu và điện-từ, lepton không bị chi phối bởi lực mạnh.     Tựa như kỳ tính với hai con số 1 và 0 diễn tả có và  không có kỳ tính, sự bảo toàn baryon được diễn tả bởi “số lượng tử baryon b_” , baryon có b_ = 1, còn meson có b_ = 0. Siêu tích được định nghĩa như Y = b_ + S (hay b_ + C, b_ + B). Vì kỳ tính S = -1 nên siêu tích của baryon mang kỳ tính là Y = 0 còn siêu tích của meson mang kỳ tính là Y =  -1. Vì 3 quark cấu tạo nên baryon, vậy quark có b_ = ⅓.      10Tái chuẩn hóa (renormalization) là phương pháp để giải quyết một cách nhất quán và chặt chẽ theo nghĩa toán học những con số vô hạn mà ta gặp khi tính toán. Một ví dụ của vô hạn là lấy tích phân một số vòng kín nào đó của giản đồ Feynman minh họa bởi Hình 4; tuy nhiên chỉ có một số nhỏ vòng kín phân kỳ thôi. Tái chuẩn hóa hàm ý là tách mấy đại lượng vô hạn đó ra khỏi cái hữu hạn bằng cách định nghĩa, sắp xếp chúng một cách nhất quán và có hệ thống. Vô hạn không biến đi mà chỉ bị tách biệt.       (i)- Những con số vô hạn nói trên phản ảnh cái khó khăn là theo thuyết tương đối, mọi vật cách nhau không thể tương tác tức thì; để thỏa mãn điều kiện này thì các trường lượng tử ở hai điểm khác nhau y và z của không-thời gian phải tương tác ở một điểm chung gọi là tương tác định xứ (khoảng cách x = y – z → 0). Nhưng với nguyên lý bất định, khoảng cách x → 0 đưa đến năng lượng E → ∞, vậy không ngạc nhiên ta gặp những kết quả phân kỳ. Ngay trong cơ học cổ điển, năng lượng tự tại (self energy) của hạt điểm không có kích thước cũng vô hạn, minh hoạ bởi thế năng Coulomb 1/R của lực điện từ, hay thế năng Yukawa  e–λR/R của lực mạnh khi R→ 0.       (ii)- Đặc tính phong phú của QED nói riêng (và của các tương tác khác như QCD và Điện-Yếu nói chung) là các trường lượng tử (thí dụ hai trường electron và photon) không thể tự tồn tại riêng biệt, phải nương dựa vào nhau, tương tác với nhau mà phát khởi, chúng không có tự tính mà phụ thuộc lẫn nhau (interdependent), electron được xác định bởi photon và ngược lại photon bởi electron, chúng chỉ hiện hữu trong sự tương tác, chằng chịt với nhau. Như vậy khối lượng m0 và điện tích e0 của electron ‘trần trụi’ (không tương tác với môi trường chung quanh) không thể xác định đuợc vì electron không sao tách biệt khỏi photon. Cũng vậy khối lượng trần trụi của photon không thể xác định đuợc vì tự nó luôn bị ràng buộc bởi các cặp vật chất-phản vật chất như electron-positron, trừ phi ngay từ đầu ta bó buộc nó phải bằng 0 vì một tiên đề nào đó (đối xứng chuẩn).                      (iii)- Nhưng nếu hãy tạm dùng e0, m0 để tính toán (lấy tích phân những vòng kín lượng tử) một đại lượng vật lý Φ nào đó (như momen từ của electron chẳng hạn) thì ta có thể gặp kết quả nghịch lý là đại lượng đó phân kỳ. Φ (e0, m0, Λ) là một hàm số của các đại lượng trần trụi e0, m0 và một thông số Λ diễn tả sự phân kỳ của Φ.      Mặt khác, ta biết là electron lúc nào cũng bao quanh bởi photon, còn photon bởi các cặp electron-positron, minh hoạ bởi các vòng lượng tử (a), (b), (c); vậy những đại lượng trần trụi m0, e0 của electron và khối lượng photon ω cũng phải thay đổi theo thứ tự thành δm (hình a), Ze (hình b), δω (hình c). Khi tính toán δm, Ze, δω ta cũng lần nữa gặp phải những con số vô hạn. Cũng như Φ, các δm, Ze, δω đều là hàm số của e0, m0, Λ. Phân kỳ không ở trong bản chất của electron cũng như của lực điện từ tác động lên nó, mà do giả thuyết electron trần trụi.       (iv)- Có 2 loại đại lượng: loại không thể xác định (có thể vô hạn) như e0 , m0 và loại phân kỳ δm, Ze, và δω. Tái chuẩn hoá điện tích và khối lượng của electron là ghép cái vô hạn (Ze, δm) và cái không thể xác định (e0, m0) vào điện tích e, khối lượng m của electron mà các nhà thực nghiệm đo lường, e và m dĩ nhiên đều hữu hạn.      Điều kỳ diệu của tái chuẩn hóa mà Feynman, Schwinger, Tomonaga (giải Nobel 1965) và Dyson chứng minh được là khi ta thay e0Ze = e, m0 + δm = m và trong hàm δω (e0, m0, Λ) thay thế e0, m0 bằng e, m rồi ấn định khối lượng của photon bằng 0, thì Φ(e0, m0, Λ) trở thành một hàm mới ΦR (e, m) hữu hạn, không phụ thuộc vào thông số Λ → ∞. Hai đại lượng có thể đều vô hạn nhưng khi ghép hợp sắp xếp chúng (hay hiệu số) có thể hữu hạn, đó là ý nghĩa vật lý của tái chuẩn hóa; electron tự do không tương tác và electron trong nguyên tử tương tác với hạt nhân, năng lượng tự tại của hai loại electron đó đều vô hạn nhưng năng lượng của electron mà ta đo lường thì hữu hạn.     Tomonaga gọi tái chuẩn hóa là “nguyên lý từ bỏ” một thuật ngữ thấm đượm bản sắc phương Đông với hàm ý khiêm tốn chấp nhận có cái bất khả tư nghị, có cái tính toán được. Sự tách biệt (nhất quán và chính xác theo nghĩa toán học) giữa hai cái vô hạn và hữu hạn được gọi là tái chuẩn hóa. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng nó chỉ là phương pháp chẩn đoán bệnh và điều trị vấn đề phân kỳ của các lý thuyết trường lượng tử trong bối cảnh của phép tính nhiễu loạn.       (v)- Vòng kín lượng tử rất quan trọng vì trong Σn αnem An không có lý do gì phải ngưng ở biên độ đầu A1, có nhiều quá trình và đại lượng vật lý quan trọng chỉ có thể phát hiện bởi vòng kín lượng tử. Cấu trúc siêu tinh tế của nguyên tử Hydrogen và momen-từ lưỡng cực dị thường của electron là hai ví dụ. Sự tiên đoán (cơ chế GIM) ra hương vị duyên bởi quá trình vòng kín lượng tử liên đới tới meson K là ví dụ thứ ba.        (vi)- Một tương tác ‘’tái chuẩn hóa được’’ (renormalizable) nếu những đại lượng phân kỳ chỉ giới hạn trong một vài con số, thí dụ QED chỉ có 2 con số vô hạn khi tính toán những vòng lượng tử với bất kỳ cấp bậc n nào, hai con số đó là sự thay đổi khối lượng δm và sự thay đổi điện tích Ze của electron bởi photon. Trong các tương tác ‘tái chuẩn hóa được’, một hệ quả tích cực của đối xứng chuẩn, tính phân kỳ chỉ nhẹ nhàng như Log(E) chứ không mạnh mẽ như lũy thừa En, khi E→∞.      11Chữ “quark” theo sau con số 3 của câu ‘3 quark cho Muster Mark’ trong truyện hoang đường Finnegans Wakes của James Joyce gợi cho Gell-Mann dùng chữ quark lạ lùng này để đặt tên cho hạt cơ bản tạo nên hadron. George Zweig, môn đệ của Feynman, cũng đồng thời năm 1964 đưa ra ý tưởng về viên gạch cơ bản kỳ lạ có điện tích phân số, nhưng Zweig lại đặt cho tên là ace (có 4 ace trong một cỗ bài), còn trước khi nhớ lại truyện Finnegans Wake thì Gell-Mann gọi chúng là kwork. Nếu Gell Mann biết là phải có 6 (chứ không phải chỉ có 3) loại hạt cơ bản của vật chất chi phối lực mạnh thì chắc ông đã chẳng dùng tên quark.       12Tham khảo: Jerome Friedman, Con đường dẫn tới giải Nobel, Kỷ Yếu Max Planck, Người khai sáng thuyết Lượng tử, trang 163-172, nxb Tri Thức (2009).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Chuẩn của Vật lý Hạt cơ bản: Hợp âm trong vùng Điện-Yếu (Phần IV – Hết)      Lý do hiển nhiên là hầu hết các thành viên chủ chốt của ban Lý thuyết ở CERN đã không quan tâm tới tương tác yếu và không tuyển dụng những nhà vật lý trẻ có tiềm năng đã làm việc ở đó.  &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; John Iliopoulos, Lịch sử của CERN (1993)       Trong những phần trước, chúng ta làm quen với hai trong ba lực cơ bản của Tự nhiên: lực điện-từ (QED) và lực hạt nhân mạnh (QCD), phần cuối này dành cho lực hạt nhân yếu. Quark có điện tích và sắc tích nên bị chi phối bởi cả ba lực: điện-từ, hạt nhân mạnh, hạt nhân yếu. Electron, muon, tauon mang điện tích nhưng không có sắc tích nên chịu sự tác động của hai lực: điện-từ và yếu. Neutrino không có cả sắc tích lẫn điện tích nên duy nhất chỉ có lực yếu điều hành chúng.   Thuật ngữ yếu thoảng nghe như chuyện phù vân ngay cả đối với nhiều nhà vật lý hạt trước năm 1970 như Iliopoulos nhắc nhở trên đây. Thực ra ngược lại mới đúng khi biết rằng lực yếu chi phối sự phân rã của hạt nhân nguyên tử, chủ chốt điều hành những phản ứng nhiệt hạch trong các thiên thể, phát tán năng lượng cực kỳ cao mang ánh sáng cho bầu trời ban đêm, phóng ra muôn tỷ hạt neutrino từng giây phút đang xuyên qua da thịt chúng ta. Sự tổng hợp nhiệt hạch trong tâm lõi mặt trời làm nó nóng rực tới chừng 20 triệu độ là hiện tượng phát xạ neutrino bởi lực yếu (Hình 7).              Hình 7: tổng hợp nhiệt hạch: 4 H → He + 2 e+ + 2 ve           Mới cách đây có 18 ngàn năm trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ băng hà, tuyết phủ dầy đặc bao trùm phần lớn trái đất, ngay cả vùng xích đạo. Người tiền sử có thể đã thoát khỏi nạn tuyệt chủng bởi cái lạnh kinh hoàng này, vì may thay trong thời kỳ băng lạnh đó thì núi lửa lại hoạt động cực kỳ mạnh, khí nóng lan toả nhanh chóng xuống mặt đất qua hiện tượng nhà kính. Nhiệt lượng phun ra từ núi lửa là do phóng xạ neutrino của Uranium ở trung tâm trái đất.  Tiến trình tìm hiểu và khám phá định luật của tương tác yếu khoảng đầu những năm 1970 đã đóng vai trò quyết định và mở đường khai phóng cho Vật lý Hạt thăng hoa với những phát hiện kỳ diệu như:    • ba hương vị mới của vật chất là duyên (charm), đáy (bottom), đỉnh (top);   • boson chuẩn của lực yếu W± và Z;    • chỉ hiện hữu có ba neutrino với khối lượng cực kỳ nhỏ, những khối lượng quá ư nhỏ bé đó có thể đo lường bằng cách xác định sự hoán chuyển giữa ba loại neutrino ve ↔ vμ ↔ vτ;    • boson Higgs mang khối lượng cho vạn vật để vũ trụ hình thành trong đó có con người.   Cả hai lực mạnh và yếu đều được diễn tả bởi thuyết Yang-Mills với nhóm đối xứng SU(3)C của ba sắc tích cho lực mạnh và nhóm đối xứng SU(2)W của cặp đôi quark u, d (hay cặp đôi lepton e–,ve) cho lực yếu. Hơn nữa lực điện-từ (nhóm đối xứng U(1)) lại hòa nhập với lực yếu nên cấu trúc của SM được biểu trưng ngắn gọn như tích số của ba nhóm đối xứng SU(3)C x SU(2)W x U(1) theo thứ tự chi phối ba lực mạnh, yếu và điện-từ.   IVa- Neutrino, cái thuở ban đầu.  Sự phát hiện ra lực yếu mở đầu năm 1896 khi Henri Becquerel (giải Nobel 1903) quan sát thấy một số hạt nhân nguyên tử tự nhiên phóng xạ mà không do một tác động nào từ bên ngoài. Một trong những bức xạ tự nhiên là sự phân rã Carbon-14 ra Nitrogen-14 kèm theo electron và neutrino gọi là phân rã β, diễn tả bởi n → p + e–+ v–e.   Thực ra trước n ăm 1930 chẳng ai ngờ thời đó có neutrino cả mà chỉ biết electron thôi và nghĩ rằng n → p + e–, nhưng nếu thế thì luật bảo toàn năng lượng bó buộc electron chỉ có một năng lượng duy nhất là  E = En – Ep. Ngạc nhiên biết mấy khi đo lường năng lượng của electron, thì thấy phổ năng lượng của nó là cả một đường cong liên tục với bất kỳ một trị số nào nằm giữa 0 và  En – Ep. Chẳng lẽ định luật phổ quát nhất của khoa học, định luật bảo toàn năng lượng, lại bị vi phạm trong trường hợp đặc biệt của phân rã β sao? Ngay cả Niels Bohr (giải Nobel 1922), vị trưởng lão của trường phái Copenhagen về cách diễn giải cơ học lượng tử, người đặt nền tảng cho lý thuyết nguyên tử, cũng miễn cưỡng chấp nhận sự vi phạm này.   Nhưng Wolfgang Pauli (giải Nobel 1945) không thể đồng ý với cách thỏa hiệp dễ dãi ấy của Bohr, bảo toàn năng lượng là định luật phổ quát mà tất cả mọi hiện tượng phải tuyệt đối tuân thủ. Để giải đáp nghịch lý này, năm 1931, Pauli giả định là có một cái gì đó phát ra cùng với electron (sơ đồ n → p + electron + cái gì đó) để chia sẻ với nó tổng số năng lượng En – Ep. Vì neutron trung hoà điện tích và cặp proton-electron triệt tiêu điện tích của nhau nên hạt giả định bởi Pauli phải trung hòa không mang điện tích, nó cũng phải mang spin ½ như electron và hầu như không có khối lượng. Hơn nữa, so với phóng xạ rất nhanh của điện từ (như tia X) thì phân rã β lại rất chậm chạp, cường độ phân rã rất nhỏ nên được gọi là lực yếu và neutrino hoàn toàn bị chi phối bởi lực này. Khác với electron mang điện tích, hạt giả định bởi Pauli đã nhẹ như tơ và vận hành duy nhất bởi một lực mà cường độ tương tác lại rất nhỏ nên xác định sự hiện hữu của nó bằng thực nghiệm là một điều cực kỳ khó khăn và Pauli đành tuyên bố: Tôi chót phạm một điều tai quái là giả định sự  tồn tại của một hạt nhưng lại không có cách nào dò tìm ra nó được.   Từ nay mang ký hiệu ν, hạt ma rất khó nắm bắt này chính là neutrino (neutron nhỏ), tên đặt bởi Enrico Fermi (giải Nobel 1938), vị giáo hoàng của nền vật lý Ý, khi ông ghép trung hoà (neutro) với nhỏ xíu (ino), hai ngôn từ gắn bó với quê hương ông. Lần đầu tiên năm 1955 hạt ve được phát hiện bởi Clyde Cowan và Frederick Reines (giải Nobel 1995) trong một thực nghiệm ở lò điện hạt nhân Savannah River. Ngày nay chùm neutrino được sản sinh dễ dàng từ các máy gia tốc hạt mà LHC của CERN đóng vai trò hàng đầu thế giới.   Nhưng neutrino không chỉ sản sinh trên trái đất, còn có muôn tỷ neutrino trong vũ trụ từ các thiên thể xa xăm kể cả mặt trời đến với chúng ta, vấn đề là làm sao dò được ra, rồi xác định cùng đo lường tính chất của chúng. Các nhà vật lý-thiên văn dùng nhiều máy móc rất khác nhau để tìm bắt, quan sát neutrino.             Hình 8: Máy dò neutrino Super-Kamiokande           Ở Kamiokande (Nhật), máy dò là một bình khổng lồ chứa 50 ngàn m3 nước tinh khiết như pha lê trong đó lung linh hàng ngàn thiết bị điện tử tinh vi đặt dưới hầm mỏ thiếc (Hình 8), nhóm IMB đặt máy trong hầm mỏ muối ở Ohio (Mỹ), ở Baksan (Nga) đài quan sát neutrino đặt sâu trong rặng núi Caucasus. Ngày 23 tháng 2 năm 1987 ba đài ‘thiên văn-neutrino’ này đã quan sát đo lường được cả thảy 24 hạt đến từ một siêu tân tinh (supernova) SN1987A trong thiên hà lùn Magellan (sát cạnh Dải Ngân hà) cách đây 163 ngàn năm đã nổ bùng, mà độ chói sáng rực rỡ tương đương với mươi tỷ mặt trời và phát tán hằng hà sa số, tổng cộng 1058  hạt neutrino.  IVb- Thời xa vắng.   1- Do thực nghiệm phát hiện ra, lực yếu có đặc điểm là nó vi phạm đối xứng gương (P) và đối xứng vật chất-phản vật chất (CP) trong khi các lực điện-từ và mạnh tuân thủ hai đối xứng này. P và  CP là những đối xứng gián đoạn, khác với tính liên tục của đối xứng chuẩn. Bạn hình dung đối xứng gương như sau: tay phải (hay trái) của ta có hình trong gương hệt như tay trái (hay phải), và cái ta gọi là phía phải hay phía trái chỉ là một ước lệ giữa con người. Không có gì cho ta phân biệt được một hiện tượng ở ngoài gương và hình chiếu của hiện tượng đó trong gương, sự đảo ngược không gian x ↔ – x không làm thay đổi những hiện tượng, chúng bất biến. Tháp rùa cổ kính soi hình xuống nước trong vắt pha lê của Hồ Gươm mùa thu là biểu hiện của đối xứng gương toàn vẹn, tháp với hình chẳng sao phân biệt.   Khoảng đầu những năm 1950 thực nghiệm phát hiện một điều khó hiểu là meson K+ lúc thì phân rã ra 2 pion, lúc ra 3 pion. Nếu lực yếu tuân thủ đối xứng gương thì đó là một nghịch lý vì tính chẵn lẻ nội tại 20 của K+ (meson 0–) bó buộc nó chỉ được phân rã ra 3 pion thôi. Hai nhà vật lý Trung Quốc ở Mỹ Lý Chính Đạo (T.D. Lee) và Dương Chấn Ninh (C. N. Yang), giải Nobel 1957 khi tìm hiểu và phân tích “nghịch lý” trên bèn giả định là lực yếu vi phạm đối xứng gương P và đề xuất ra phương cách kiểm chứng giả thuyết này bởi thực nghiệm, trong đó spin đóng vai trò quyết định. Nhà nữ vật lý thực nghiệm Ngô Kiện Hùng (Chien-Shiung Wu), cùng ở Đại học Columbia với Lý Chính Đạo và bàn luận với ông, khám phá trong quá trình phân rã β của Cobalt phân cực là electron chỉ phát ra theo phía ngược chiều với trục phân cực của Cobalt 21; rõ ràng có một bất đối xứng trong sự phân phối electron chung quanh trục phân cực, chứng minh lực yếu vi phạm tối đa đối xứng gương.     2- Một thí dụ khác là đối xứng vật chất-phản vật chất hay đối xứng CP, theo đó các định luật vận hành của vật chất và của phản vật chất phải giống hệt nhau. Chữ C trong CP chỉ định điện tích vì sự hoán chuyển vật chất ↔ phản vật chất là thay đổi dấu của điện tích e– ↔ e+. Cần nhấn mạnh là trong tất cả các hạt trung hòa điện tích, không phải lúc nào hạt và phản hạt cũng là một (như photon, meson π0, ρ0, η0). Phần lớn những hadron trung hoà điện tích như neutron, meson K0, baryon Λ0, meson B0 đều khác phản hạt của chúng.   Trường hợp neutrino rất đặc thù vì là hạt cơ bản duy nhất trung hòa điện tích (quark và ba lepton e–, µ–, τ– đều không thế), câu hỏi ‘neutrino và phản neutrino có khác nhau không?’ chưa được thực nghiệm trả lời. Nếu chúng khác nhau thì chẳng có gì lạ, chuyện bình thường như neutron khác phản neutron thôi và được gọi là neutrino Dirac. Nhưng nếu không, neutrino cũng chính là phản neutrino, thì chúng là neutrino Majorana. Bản chất của neutrino Majorana cực kỳ quan trọng vì nó vi phạm luật bảo toàn số lượng lepton mà hệ quả là sự hiện hữu của phân rã  β kép “0 neutrino”: n + n → p + p + e–+ e–. Vế đầu n + n không có lepton, vế sau có hai electron, vậy số lượng lepton không bảo toàn. Nếu neutrino là loại Dirac thì phân rã β kép phải kèm theo hai v–e : n + n → p + p + e– + e– +  v–e +  v–e , với hai  v–e  (phản lepton) và hai e– (lepton) ở vế sau thì số lượng lepton được bảo toàn.   Sự  phát hiện được phân rã β kép “vắng bóng neutrino” sẽ là một bước ngoặt của ngành vật lý hạt vì nó vượt ra ngoài khuôn khổ của SM, thuyết này sẽ phải mở rộng sang một hệ hình mới.  Năm 1964, James Cronin và Van Fitch cùng hai cộng sự viên phát hiện sự vi phạm đối xứng CP bởi meson K0L trung tính (K0L chỉ phân rã ra 3 pion nếu lực yếu tuân thủ CP, nhưng nó cũng phân rã ra 2 pion, tuy ít xảy ra hơn so với 3 pion và như vậy vi phạm chừng mực CP) và hai vị nhận giải Nobel 1980. Sự vi phạm đối xứng CP của lực yếu được xác nhận sau đó bởi nhiều thực nghiệm khác nhau liên đới đến các hadron K (mang kỳ tính) và B (mang đáy tính). Trong ba tương tác cơ bản phi hấp dẫn, lực điện-từ và hạt nhân mạnh đều tuân thủ phép đối xứng gián đoạn P và  CP, chỉ lực hạt nhân yếu mới vi phạm chúng, tối đa với đối xứng P, đôi chút với đối xứng CP, tương tác yếu của hạt và của phản hạt khác nhau ở mực độ vừa phải.    3- Cho đến đầu những năm 1970, trước khi SM được hoàn tất, lực yếu 22  được tiếp cận dưới nhãn quan mang tính chất tạm thời và hiệu dụng gọi là thuyết Fermi. Thực vậy, mặc dầu thuyết này diễn tả chính xác những quá trình phân rã ở năng lượng thấp, nhưng ở năng lượng cao E ≥ 600 GeV, nó tự mâu thuẫn. Nguồn gốc của nghịch lý này là thuyết Fermi chủ yếu diễn tả tác động của 4 fermion tụ chung ở một điểm x (Chú thích 22). Vì tụ chung ở một điểm nên biên độ tương tác của chúng tính ra là GFE2, nhưng nếu E ≥ 600 GeV thì biên độ này có xác suất ≥ 1, điều tối kỵ.  Chiến lược đặt ra để giải quyết nghịch lý nói trên là xem lực yếu có tuân thủ một phép đối xứng chuẩn nào không, vì nếu có thì định luật cơ bản của lực yếu tránh được khuyết điểm của thuyết Fermi (do hàm truyền của boson trung gian W nên 4 fermion không tụ ở một điểm mà tách ra ở 2 điểm, coi hình f ở Chú thích 22), do đó có nhiều khả năng lực yếu cũng được hoàn chỉnh như lực điện-từ. Nhưng lại nảy ra chuyện hóc búa là giống như photon của điện-từ, đối xứng chuẩn bó buộc boson truyền tải lực yếu W phải không có khối lượng 23, điều trái ngược với thực nghiệm24.   Giải đáp thỏa đáng vấn đề trên là cả một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình khám phá SM vì cần phải vượt qua hai giai đoạn hầu như khó dung hoà: (a) xác nhận định luật của lực yếu là lý thuyết chuẩn Yang-Mills và (b) phá vỡ tự phát phép đối xứng để mang khối lượng cho boson chuẩn của lực yếu. Nôm na như một viên đá ném trúng cả hai đích: vừa có đối xứng chuẩn vừa có khối lượng cho boson chuẩn! Ý nghĩa của sự phá vỡ tự phát đối xứng chuẩn là thực ra nó không bị phá vỡ hoàn toàn mà chỉ bị che khuất cục bộ bởi hệ thống vật chất trong trạng thái căn bản với năng lượng tối thiểu.  IVc- Mấy dặm sơn khê  Trước khi đi xa hơn trong quá trình vượt khỏi thuyết Fermi để đặt nền tảng nhất quán cho lực yếu qua hai giai đoạn nói trên, chúng ta hãy tóm tắt những nét chính của lực này:        1- Khi quan sát và phân tích những hiện tượng xảy ra bởi tác động của lực yếu, có mấy đặc tính sau đây cần nhấn mạnh:     • thứ nhất là dòng lực yếu thay đổi điện tích khi phân rã β, thí dụ n → p, π+ → π0 của hadron (tượng trưng bởi quark d → u) và  µ– → vµ , e– → ve của lepton;     • thứ hai là những hadron mang hương vị (như kỳ tính) khi phân rã và thay đổi điện tích như  Λ0 → p, K0 → π+ (tượng trưng bởi quark s → u) đều có cường độ khá nhỏ khoảng 5% so với phân rã của những hadron bình thường không hương vị như n → p, π+ → π0.   Để giải thích những hiện tượng này, thay vì có hai loại quark phân rã biệt lập d → u và s → u, Nicola Cabibbo đề xuất là hai quark d và  s hỗn hợp bởi góc θc khi phân rã ra quark u theo như sơ đồ (d cosθc + s sinθc ) → u; khác với các lepton không hỗn hợp như µ–  → vµ  , e– → ve.   So sánh s sinθc → u với d cosθc → u, con số 5% ≈(0.22)2 = tan2θc phản ánh chính xác cường độ phân rã Λ0 → p, K0 → π+ của kỳ tính so với n → p, π+ → π0 không hương vị.   Vì cos2 θc ≈ 0.95, sự phân rã của hadron n → p (tương ứng với d cosθc → u) phải nhỏ hơn chút xíu phân rã của lepton µ– → vµ, điều xác định bởi thực nghiệm.  Vì K0 và  K–0 đều phân rã ra 2 hoặc 3 pion, K0 → pion K– 0 nên hệ quả là phải có những chuyển biến vật chất trở thành phản vật chất mà K0 → K– 0  là một ví dụ. Tuy nhiên tính toán theo thuyết Fermi đưa đến kết quả bất ngờ là chuyển biến vật chất ↔ phản vật chất lớn hơn đo lường thực nghiệm cả vài ngàn lần.   Ngoài ra còn một đặc tính thứ ba khó hiểu là những loại phân rã  trung tính đổi hương vị (flavor changing neutral current) đều rất hiếm so với những loại phân rã điện tích đổi hương vị (flavor changing charged current), thí dụ K0 → µ+ + µ– khoảng 10-4 so với K+ → µ+ vµ + mà tiên nghiệm thì không thấy chúng có gì khác nhau quá đáng như vậy.   Để giải quyết những nghịch lý này, năm 1970 Glashow, Iliopoulos, Maiani (cơ chế GIM) đề xuất là phải tồn tại một loại quark thứ tư mới lạ gọi là quark duyên c trực giao với quark u theo như sơ đồ (s cosθc d sinθc ) → c để phần nào triệt tiêu (d cosθc → + s sinθc) → u. Hơn nữa, sự triệt tiêu có thể tính toán thành hiệu số giữa khối lượng của hai quark c và u, do đó khối lượng của c ≈ 1.5 GeV/c2 được tiên đoán trước khi phát hiện quark duyên tháng 11 năm 1974 đồng thời ở Stanford và Brookhaven với hạt J/Ψ(3.1) và một loạt các hạt charmonium khác. Sự kiện phát hiện này được mệnh danh sau đó là cuộc cách mạng tháng 11 của vật lý hạt vì nó mở đầu cho SM thăng hoa.     2- Như đã trình bày, lực yếu vi phạm đối xứng CP, tương tác yếu của vật chất và của phản vật chất khác nhau. Trong bối cảnh 1973 của vật lý hạt thời ấy đang ở buổi sơ khai, hai nhà vật lý Nhật bản Makoto Kobayashi và Toshihide Maskawa (KM), giải Nobel 2008 tiên phong đi tìm hiểu cơ chế nào cho phép sự vi phạm này. Trước hết KM nhận ra là hỗn hợp của các quark không chỉ là một tiền đề ad-hoc đưa ra bởi Cabibbo 25 mà cần phải mở rộng thành ma trận 2×2 với những hệ số (cosθc, sinθc) trực giao với (- sinθc, cosθc) qua đó GIM tiên đoán quark duyên. Sau nhiều cuộc vật lộn với toán ‘ứng dụng’, hai vị tìm ra là ma trận unita 2×2  nói trên chỉ có hệ số thực nên không thể vi phạm đối xứng CP được. Thực vậy,  sự vi phạm CP chỉ  có  thể xảy ra nếu ma trận unita hỗn hợp quark có hệ số phức26 . KM chứng minh là nếu có N cặp quark phân rã (như các cặp d → u, s → u, c → s, c→d trong ma trận hỗn hợp 2×2) thì ma trận NxN có hệ số phức nếu (N–1)(N–2) ≥ 2, vậy N ≥ 3 và ba cặp hay sáu quark là ở đó.   Từ đây ra đời ma trận phức unita 3×3 CKM (Cabibbo-Kobayashi-Maskawa), một thành phần cơ bản trong cấu trúc của lực yếu.   Thực là một trí tưởng tượng phong phú vì vào thời buổi ấy quark chỉ là một giả thuyết, một đề tài tế nhị, nhiều người bài bác kể cả những cây đại thụ như S.Weinberg, và ngay cả nếu chấp nhận giả thuyết quark thì lúc ấy chỉ biết có ba quark u,d,s cùng lắm là thêm c thành bốn quark thôi. Thực nghiệm liên tiếp chứng tỏ sau này sự đúng đắn, chính xác của cơ chế vi phạm CP mà Kobayashi và Maskawa (KM) đề xướng. Năm 1974 quark duyên bắt đầu lộ diện rồi quark đáy (năm 1977) và quark đỉnh (năm 1994).  Khám phá của GIM và KM góp phần cực kỳ quan trọng cho sự hình thành của SM. Chính sáu quark trong Hình 1 sắp dọc theo ba cặp quark (u-d, c-s, t-b) để diễn tả tất cả những đặc trưng của lực yếu với ma trận 3×3 CKM hỗn hợp ba cặp quark nói trên. Sáu lepton cũng sắp dọc theo từng cặp (e–– ve, µ– – vµ, τ– – vτ) nhưng với ma trận hỗn hợp của các lepton (khác với ma trận CKM hỗn hợp của  các quark) để diễn tả sự hoán chuyển giữa 3 neutrino ve ↔ vµ ↔ vτ đã nói qua ở đoạn đầu của Phần IV.   Bài học rút tỉa từ đó là giữa trăm ngàn các hiện tượng vật lý rối rắm, điều quan trọng là biết nhận xét, phân tích dữ kiện, phân biệt cái chính cái phụ và đặt những câu hỏi cốt lõi có nội dung bao quát, tổng quan. Khởi đầu các tác giả đều tập trung nghiên cứu về những đặc trưng của lực yếu: kỳ tính biến hóa và vi phạm đối xứng CP, hệ quả bất ngờ lại chuyển sang địa hạt của lực mạnh với sự phát hiện ra ba loại quark vật chất mới lạ là  duyên, đáy và  đỉnh. Như ai đó có câu “đặt trúng vấn đề là đã giải quyết được nửa phần rồi “.    IVd- Lực yếu xuất phát từ đối xứng chuẩn Yang-Mills    1-Khoảng những năm đầu 1950, nhiều nhà vật lý (trong đó Sidney Bludman, John Clive Ward) đã tinh ý nhận ra là giữa hai tương tác điện-từ và yếu có nhiều cấu trúc và tính chất đồng nhất, vậy hầu như là chuyện đương nhiên nếu ta sử dụng phương pháp rất hiệu lực của đối xứng chuẩn trong điện-từ để khám phá những định luật vận hành của lực yếu.   Đặc thù của lực yếu là sự phân rã β theo đó các cặp quark hay lepton thay đổi một đơn vị điện tích. Lấy trường hợp của cặp lepton ve và e– (hay cặp quark u và  d) như một thí dụ. Dưới tác động của lực yếu, chúng thay đổi điện tích e– ↔ ve (hay u ↔ d ) với cấu trúc vectơ ‘quay về trái’ (V A) của dòng lực yếu giữa hai đối tượng ve và e– (Chú thích 22). Vậy hầu như đương nhiên nhóm đối xứng đáp ứng tính bất biến của lực yếu bởi sự hoán chuyển của hai đối tượng ve và e– chính là nhóm SU(2) mà ta đã làm quen với thuyết Yang-Mills ở phần IIIb, chỉ cần thay thế cặp p-n thành cặp ve – e– .  Nói chung, nhóm đối xứng SU(N) hoán chuyển N vật bằng (N2 – 1) ma trận NxN, tương ứng với (N2 – 1) boson chuẩn nối kết N vật này. Vậy nhóm đối xứng chuẩn SU(2) của lực yếu có 3 boson chuẩn W+, W–, W3 nối kết e– → ve + W–, ve → e– + W+,  ve → ve + W3, e– → e– + W3. Sự hiện diện của boson W3 và dòng lực yếu trung hòa điện tích e– → e– + W3 gợi ngay ra mối liên hệ nào đó với dòng lực điện-từ quen thuộc của electron e– → e– + γ, cái khác nhau duy nhất giữa chúng là cấu trúc vectơ (V – A)  ‘quay về trái’ của dòng lực yếu, trong khi dòng lực điện-từ chỉ có cấu trúc vectơ V.   Còn quá trình với neutrino: ve → ve  + W3 thì hoàn toàn mới lạ vì trước đó ta chỉ biết lực yếu thay đổi điện tích của các hạt như e– → ve hay ve → e–. Để chứng minh tính đúng đắn của thuyết Yang-Mills dùng nhóm đối xứng chuẩn SU(2) như phác hoạ ở trên, việc đầu tiên là kiểm chứng phản ứng ve → ve  + W3 bởi thực nghiệm; xem neutrino có tán xạ ‘thay đổi điện tích’ hay không, theo như ve + nucleon → ve + hadron. Tán xạ ve+ nucleon → e– + hadron thì bình thường vì dòng lực yếu thay đổi điện tích mà  ve → e– là thí dụ. Nhóm thực nghiệm Gargamelle ở CERN năm 1973 cho kết quả ve + nucleon → ve+ hadron đúng như tiên đoán của thuyết điện-yếu; một sự kiện lịch sử của vật lý hạt, chứng tỏ SM với thuyết Yang-Mills đi đúng hướng.  Và đây là điểm then chốt trong tiến trình xây dựng cấu trúc của SM: khi lực yếu bị chi phối bởi đối xứng SU(2) thì các cặp đôi lepton hay quark (ve và e–, u và  d như vài thí dụ) đều có spin đồng vị I = ½, và như vậy đẳng thức phổ quát của Gell-Mann-Nakano-Nishijima (GNN) mà ta đã làm quen ở IIc đương nhiên đóng vai trò hướng dẫn cho sự hợp nhất của hai lực điện-từ và hạt nhân yếu vì cả hai lực đều có chung cấu trúc Q = Iz + Y/2.   Vì boson W3 là thành phần thứ ba tương ứng với Iz nên Glashow (năm 1960) và sau đó Salam, Weinberg (năm 1967) nhận định là phải thêm một boson X tương ứng với siêu tích Y/2, cả hai W3 và  X đều trung hòa điện tích. Sự liên đới giữa hai lực điện-từ và yếu được thực hiện bằng sự hỗn hợp  tự nhiên (qua một thông số góc θw) giữa hai boson chuẩn: Z của lực yếu và photon γ của lực điện-từ, hoặc là giữa hai boson: W3 của Iz và  X của Y/2. Hơn nữa cường độ của hai lực yếu và điện-từ cũng liên kết qua góc θw.   Cho đến giai đoạn xây dựng cấu trúc liên kết hai lực điện-từ và yếu qua thuyết Yang-Mills SU(2)× U(1) này, tất cả bốn boson chuẩn (ba của lực yếu W+, W–, Z và một của lực điện-từ γ) đều không có khối lượng vì chúng tuân thủ đối xứng chuẩn.     2- Giai đoạn tiếp là làm sao mang khối lượng rất lớn cho W+, W–, Z của lực yếu để phù hợp với thực nghiệm trong khi photon γ của lực điện-từ vẫn giữ khối lượng bằng 0 ? Thách thức này được giải đáp bởi cơ chế mang tên Phá vỡ tự phát tính Đối xứng (Spontaneous Breaking of Symmetry, viết tắt SBS) mà Yoichiro Nambu (giải Nobel 2008) mở đường khai sáng.   Trong vật lý, cũng như trong nhiều ngành khác, có một số nhỏ nhà khoa học kiến thức xuyên ngành uyên thâm, nhìn rộng ra ngoài cái chuyên môn của mình, tìm hiểu những gì phổ quát để mang lại cho ngành mình một luồng gió mới. Nhà vật lý Nhật bản Nambu ở đại học Chicago là một trong số đó. Chuyên gia về hạt cơ bản nhưng ông cũng lưu tâm và có cái nhìn bao quát về hiện tượng Siêu dẫn điện-từ khác lạ với Vật lý hạt. Ông xét thấy có cái gì liên kết hai ngành – cấu trúc toán học thì giống nhau nhưng vật lý thì lại khác biệt – và nhận ra được tính chất đặc thù của SBS mà hiện tượng Siêu dẫn là một biểu trưng.  Mô phỏng hiện tượng SBS, Peter Higgs và đồng nghiệp sáng tạo ra cơ chế BEH (Brout, Englert, Higgs)28  bằng cách giả định là phải hiện hữu một trường Φ (x) vô hướng gọi là trường Higgs, tác động lên các boson chuẩn để mang khối lượng cho chúng. Nguyên nhân nào thúc đẩy Nambu nhận chân ra SBS và sáu nhà vật lý đề xuất cơ chế BEH? Đó là sự tìm hiểu tại sao hạt ánh sáng (photon γ) không khối lượng lại trở thành có khối lượng khi nó di chuyển trong các vật liệu siêu dẫn điện-từ.   Sau đó Abdus Salam và Steven Weinberg (giải Nobel 1979) dùng kịch bản BEH để xây dựng nên thuyết điện-yếu và tiên đoán boson Z với dòng lực yếu trung hòa điện tích mà biểu hiện đặc  trưng nhất là sự tán xạ đàn hồi của neutrino khám phá bởi thực nghiệm Gargamelle  29 ở CERN vào năm 1973.   Tuy W±, Z có khối lượng nhưng khối lượng này không phá vỡ đối xứng chuẩn SU(2) của lực yếu, đối xứng chỉ bị thu hẹp, che khuất bởi hệ thống vật chất trong chân không (trạng thái có năng lượng cực tiểu), tương tự như photon tuy có khối lượng ở trạng thái siêu dẫn điện-từ (hiệu ứng Meissner) nhưng đối xứng chuẩn U(1) của lực điện-từ đâu có bị phá vỡ trong toàn thể.   IVe- Sự phá vỡ tự phát tính đối xứng (SBS)    1- Vài khái niệm sơ lược: Ta cần phân biệt hai điều quan trọng khi bàn luận về tính đối xứng: một là định luật vật lý diễn tả bởi phương trình, hai là trạng thái của hệ thống vật lý diễn tả bởi nghiệm số của phương trình trên. Sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng hàm nghĩa là định luật (hay phương trình) mang một phép đối xứng nào đó, trong khi nghiệm số của phương trình ấy lại không có cái đối xứng nguyên thủy, tính đối xứng bị thu hẹp lại nhưng không mất đi trong hệ thống vật chất. Tìm ra phương trình (hay định luật vật lý) là một chuyện, còn giải được để có nghiệm số thỏa mãn điều kiện ban đầu nào đó lại là chuyện khác. Ở đây điều kiện ban đầu là năng lượng cực tiểu và nghiệm số tương ứng gọi là trạng thái căn bản hay chân không. Đối xứng bị phá vỡ một cách tự phát nếu phương trình diễn tả định luật vật lý thì đối xứng nhưng trạng thái căn bản thì không. Đối xứng không bị phá vỡ hoàn toàn mà nó chỉ bị thu hẹp, che khuất bởi vật chất trong trạng thái căn bản.   Một ẩn dụ cụ thể để minh họa điều nói trên: ta ấn đầu một thanh gỗ dẻo đặt thẳng đứng trên bàn, lực ấn có đối xứng hoàn hảo so vào trục thẳng Oz của thanh gỗ trước khi bị ấn, lực này không ưu đãi bất kỳ một mặt phẳng thẳng đứng nào trong không gian ba chiều, chúng hoàn toàn bình đẳng. Nhưng hệ thống vật chất (thanh gỗ bị ấn) sẽ cong đi, khi cong như vậy thanh gỗ tự nó đã nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng nào đó cụ thể, hệ thống vật chất chỉ đối xứng trong mặt phẳng hai chiều, nó không còn mang tính đối xứng nguyên thủy của lực trong không gian ba chiều.   Cần tránh sự hiểu nhầm về ý nghĩa giữa một bên là SBS theo đó đối xứng không bị phá vỡ (chỉ có trạng thái vật chất là bất đối xứng thôi) và bên kia là những đối xứng khác thực sự bị phá vỡ như đối xứng gương (P), đối xứng vật chất-phản vật chất (CP) hay đối xứng hương vị SUF(3). Sự hiểu lầm này ngay cả W. Heisenberg và S. Weinberg cũng mắc phải lúc ban đầu, hai vị đã coi SBS như biểu trưng của một đối xứng xấp xỉ, bị phá vỡ thực sự.     2- Vì trạng thái căn bản được coi là trạng thái đối xứng hoàn hảo nhất, nó bất biến bởi mọi chuyển đổi và do đó ta có thể nghĩ rằng chỉ có duy nhất một trạng thái căn bản hay chân không, được định nghĩa như trạng thái vật chất có năng lượng tối thiểu. Nhưng có nhiều trường hợp không phải như vậy, có thể có muôn vàn trạng thái cơ bản tương đương nhau, chẳng sao phân biệt, ta phải chọn cụ thể một trạng thái nhất định nào đó để xác định chân không. Tính đối xứng không bị phá vỡ trong toàn thể, nhưng bị phá vỡ một phần nào trong chân không, đó là SBS với Hình 9 như một ẩn dụ.                Hình 9 : Hiện tượng SBS qua một ẩn dụ: Thế giới hoàn toàn đối xứng chung  quanh trục thẳng đứng, khi em  nhỏ nhìn từ đỉnh cao chót (nhưng bấp  bênh) của nón. Sàn dưới vành nón (trạng thái căn bản) vững chắc nhưng xa  trục thẳng đứng, đối xứng thu hẹp trong vành nón đối với em nhỏ nằm  trên đó. Nằm trong vành nón, em nhỏ không ngờ là có một đối xứng khác ở  đỉnh nón           Hiện tượng SBS khá phổ biến trong vật lý mà vật liệu sắt-từ (kim loại sắt hay kền) là một ví dụ. Định luật cơ bản chi phối chất sắt-từ thì hoàn toàn đối xứng trong sự phân phối spin (coi như những la bàn nhỏ xíu) của các nguyên tử kền. Spin song song của chúng không có một chiều hướng nào giữ ưu thế trong toàn thể không gian ba chiều. Nhưng trong một thỏi nam châm của vật liệu sắt-từ, nghĩa là trong trạng thái căn bản của các nguyên tử kền, thì spin song song của các nguyên tử này lại chỉ có một chiều nhất định bắc nam, vậy trạng thái vật chất chỉ còn đối xứng thu hẹp trong đó.   Cũng vậy, siêu dẫn điện-từ minh họa hiện tượng SBS. Tính siêu dẫn của một số vật liệu ở nhiệt độ thấp là một đặc trưng của vật lý lượng tử, nó không có điện trở, vì thế nó trục xuất bất kỳ một điện trường lớn nhỏ ở ngoài áp đặt vào nó. Hơn nữa, để gần vật liệu siêu dẫn thì thỏi nam châm bị đẩy ra ngoài, từ trường bị đẩy ra khỏi vật liệu siêu dẫn, đó là hiệu ứng Meissner- Ochsenfeld. Hiệu ứng này có thể là cội nguồn cho xe lửa trong tương lai được nâng lên trên đường ray khi chạy (tàu đệm từ), không bị lực ma sát nên xe lửa chạy nhanh. Như vậy vật liệu siêu dẫn ngăn chặn tầm truyền của trường điện-từ, nó là một hệ thống vật chất trong đó photon chỉ có thể tác động trong một khoảng cách ngắn, khác với bản chất tự tại của sóng điện-từ có thể truyền đi vô hạn. Khi chuyển động trong vật liệu siêu dẫn thì photon, boson chuẩn của điện-từ, bị cản trở bởi một bức tường chắn và như vậy photon tác động giống như mang một khối lượng (Chú thích 4 của IIb), mặc dầu phương trình Mawwell của điện-từ vẫn tuân theo đối xứng chuẩn.   Bức tường chắn đó trong lý thuyết siêu dẫn của John Bardeen, Leon N. Cooper và Robert Schrieffer (BCS), giải Nobel 1972, là trạng thái căn bản của hệ thống vật chất với muôn ngàn cặp Cooper, cặp liên kết hai electron có spin đối nghịch và như vậy cặp này mang spin 0. Mỗi cặp Cooper mang điện tích – 2e nhưng vì có spin 0 nên những cặp này có thể hoà đồng chung sống tựa như một ngưng tụ Bose-Einstein. Mỗi electron thì cô đơn và có cá tính mạnh mẽ, nhưng kỳ lạ thay ở một hoàn cảnh đặc biệt nào đó (nhiệt độ thấp) chúng lại dễ kết đôi, mỗi cặp tuy mảnh mai nhưng khi tụ họp đông đảo lại hòa đồng để vận hành như một dòng chảy thuần khiết của muôn ngàn điện tích và trở nên siêu dẫn.   Mặc dù photon có khối lượng khác 0, đối xứng chuẩn Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x) trong định luật điện-từ không bị phá vỡ mà chỉ thu hẹp bởi Ψ(x) → – Ψ(x) với hệ quả là sự xuất hiện ở trạng thái căn bản các cặp chẵn electron đối nghịch spin, số lượng của các cặp Cooper không bảo toàn mà thay đổi không ngừng. Siêu dẫn là một biểu hiện sự phá vỡ tự phát của tính đối xứng chuẩn; cùng với hiện tượng sắt-từ, đó là hai ví dụ của SBS.     3- Hiện tượng SBS giúp ta hiểu tại sao boson chuẩn photon, trên nguyên tắc phải không có khối lượng, cuối cùng lại hóa ra có khối lượng trong hiện tượng siêu dẫn. Nó quả là một diệu pháp khiến cho hai boson chuẩn không khối lượng của lực yếu W, Z dựa vào để có khối lượng. Trong cơ chế BEH, cặp Cooper mang khối lượng cho photon được thay thế bởi trường Higgs Φ(x) vô hướng để mang khối lượng cho boson chuẩn của lực hạt nhân yếu (Chú thích 28).  Nhưng hãy còn một vướng mắc quan trọng phải vượt qua. Thực vậy, một hệ quả tất yếu của hiện tượng SBS (do Nambu nhận chân ra và Jeffrey Goldstone triển khai thêm rồi cuối cùng Goldstone, Salam, Weinberg chứng minh thành một định lý) là theo đó phải tồn tại một hạt không khối lượng, không spin, được gọi là boson Nambu-Goldstone (NG). Ta có thể cảm nhận bằng trực giác định lý Goldstone khi quan sát em nhỏ trên vành nón (hình 9). Em chẳng cần mất một chút năng lượng nào mà vẫn có thể di chuyển dễ dàng suốt quanh vành nón vì bất kỳ trạng thái căn bản nào trên vành nón cũng đều giống hệt nhau. Không cần chút năng lượng nào để biến chuyển thì cũng tựa như dựa vào tác động của một hạt nhạt phèo, không khối lượng, không spin, đó chính là boson NG mà thực nghiệm có thể dễ dàng phát hiện.   Định lý này đã làm đau đầu bao nhà vật lý khi muốn áp dụng đối xứng chuẩn Yang-Mills và SBS để khám phá định luật của lực yếu vì thực nghiệm chẳng bao giờ thấy bóng vía của boson NG bao giờ cả (trừ trường hợp gần đúng của pion có khối lượng rất nhỏ so với các hadron), boson NG là một di sản cồng kềnh của SBS cần phải loại bỏ.  P. Higgs và đồng nghiệp đã thành công trong cách chứng minh nhất quán được sự triệt tiêu boson NG trong trường hợp đối xứng chuẩn định xứ (và chỉ trong trường hợp này thôi) mà trước đó Philip Anderson cũng đã phác hoạ ra ý tưởng có sự triệt tiêu này. Một cách tổng quát thì bất kỳ hạt nào có spin 1 và không khối lượng (như photon chẳng hạn) chỉ có hai phân cực (spin ±1) trực giao với vectơ xung lượng k của nó. Nếu hạt spin 1 đó có thêm phân cực thứ ba (spin 0) nằm dọc trên k thì nó sẽ có khối lượng. Trong cơ chế BEH, chính boson NG spin 0 (coi như phân cực thứ ba) đã mang khối lượng cho boson chuẩn W, Z của lực yếu (Chú thích 28).   Vì đối xứng chuẩn bị phá vỡ tự  phát do trường vô hướng Higgs tạo nên, trong khi định luật tương tác của lực yếu thực sự nhìn về tổng thể không hề bị phá vỡ nên Gerard ‘t Hooft và Martinus Veltman đã thành công trong cách chứng minh 30 là lực yếu cũng hoàn chỉnh và tái chuẩn hóa được như điện-từ, hai vị nhận giải Nobel 1999 vì công trình này.   Ta có thể tóm tắt nôm na là BEH đạt hai đích với một mũi tên qua hình ảnh tượng trưng: boson chuẩn của lực yếu khởi đầu nhẹ tênh đã nuốt ba boson NG để cuối cùng trở thành W+, W–, Z0 nặng nề. Không những mang khối lượng cho W, Z, trường Higgs cũng mang khối lượng cho quark và lepton với đặc điểm là những khối lượng này tỷ lệ thuận với cường độ tương tác của chúng với boson Higgs.                                   Tạm kết  Hiện tượng khám phá boson Higgs mà CERN vừa tìm thấy dấu vết rất khả tin ngày 04/07/2012 (và mới đây bổ sung thêm nhiều dữ kiện mới ngày càng chính xác của hai thực nghiệm Atlas và CMS) là kết quả lao động và đam mê không ngừng của các nhà vật lý khi CERN quyết định xây dựng máy gia tốc khổng lồ LHC có năng lượng cao nhất thế giới để săn tìm hạt Higgs. Nó mở đầu một chương mới trong vật lý vì đây là lần đầu con người khám phá ra một lực mới lạ, lực mang khối lượng cho vật chất, có thể coi như lực cơ bản thứ năm của Tự nhiên, bên cạnh bốn lực cơ bản quen thuộc. Đây cũng là lần đầu xuất hiện một hạt cơ bản duy nhất có spin 0. Các hạt khác đều có spin khác 0: vật chất tượng trưng bởi quark và lepton có spin ½, các boson chuẩn W, Z, γ, g (nối kết và truyền tải thông tin để cho các viên gạch cơ bản của vật chất tương tác với nhau) có spin 1.   Nó gợi ra cách tiếp cận mới về khối lượng của vật chất, khác với quan điểm cố hữu coi khối lượng là cái gì cho trước bởi Tự nhiên mà không ai hiểu nguồn gốc sâu xa. Theo SM, khối lượng của vật chất được tạo ra bởi sự tương tác của chúng với trường Higgs tràn đầy trong chân không của vũ trụ từ Vụ Nổ Lớn. Khởi đầu tất cả đều không có khối lượng, do tương tác với trường Higgs mà vật chất mang khối lượng, nặng hay nhẹ tùy theo cường độ tương tác lớn hay nhỏ của chúng, càng tác động mạnh với trường Higgs thì vật chất càng có khối lượng lớn, quark top tương tác mạnh mẽ nhất, neutrino hay electron quá hững hờ, còn photon thì hoàn toàn vô cảm.   Quan điểm về khối lượng có thể đổi khác từ nay, sự tương tác của vật chất với trường Higgs trong chân không lượng tử, một vũ đài náo nhiệt, mới chính là gốc nguồn của khối lượng. Đừng quên là khối lượng (tức năng-xung lượng là gốc nguồn của lực hấp dẫn).  Như một lời tạm kết với Mô Hình Chuẩn, xin trích vài câu mà Einstein trình bày trong bài giảng về thuyết Tương đối rộng ở đại học Glasgow năm 1933: “Kết quả cuối cùng rất giản dị, bất kỳ một sinh viên thông minh nào cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nhưng chỉ có thể hiểu được sau khi đã trải qua những năm tháng âm thầm tìm kiếm một sự thật mà người ta chỉ cảm thấy chứ không thể diễn tả chính xác được. Người ta chỉ có thể hiểu được điều đó khi lòng ham muốn lên đến mức cuồng nhiệt, và khi đã trải qua những giai đoạn tin tưởng rồi nghi ngờ, nghi ngờ rồi tin tưởng cho tới một lúc nào đó, bừng hiểu rõ được sự thật sáng sủa”.  ———-  Chú thích     Phần IV  20Dưới sự đảo ngược không gian ba chiều x → – x, tính chẵn lẻ nội tại (mang ký hiệu P) của một boson được đánh dấu là dương (nếu nó không thay đổi) hoặc là âm (nếu nó đổi dấu). Thí dụ một vectơ ba chiều A có tính chẵn lẻ P âm (viết tắt 1–) vì A trở thành – A khi đảo ngược không gian. Trái lại tích vectơ AxB của 2 vectơ A và  B là một vectơ trục (axial vector), nó có P dương (viết tắt 1+ ) vì AxB không đổi dấu mà vẫn là AxB khi đảo ngược không gian. Tích vô hướng A.B của hai vectơ A và B là một đại lượng vô hướng (scalar) có P dương, viết tắt 0+. Trái lại (AxB).C là một giả vô hướng (pseudo-scalar) có P âm, viết tắt 0–. Để phân loại rõ rệt các meson, ngoài spin J = 0, 1… ra, chúng còn mang thêm tính chẵn lẻ P và mang ký hiệu JP , các meson π, K, D, B đều có JP là 0–, meson ρ, K*, Φ, J/Ψ có JP là 1–, meson A1 có JP là 1+, boson Higgs có JP là 0+. Hệ thống 2 pion trong trạng thái căn bản có tính chẵn lẻ dương, còn 3 pion có tính chẵn lẻ âm. Ngoài khối lượng, điện tích và spin, các meson còn có thêm ký hiệu JP để xác định đặc trưng của nó.    21 Cobalt nhúng vào nhiệt độ cực thấp trong một từ trường thì bị phân cực với vectơ phân cực S. Gọi k là vectơ xung lượng của electron phát ra trong quá trình phân rã β của Cobalt phân cực với spin S. Spin hay phân cực đóng vai trò quyết định trong phương cách tìm kiếm sự vi phạm đối xứng gương vì S.k là một giả vô hướng, S.k → S.k bởi sự đảo ngược không gian x → – x. Tương quan giữa hai vectơ S và k là đại lượng giả vô hướng S.k, đối xứng gương bị vi phạm nếu S.k ≠ 0.   Ngoài nhóm Ngô Kiện Hùng ra, hai nhóm thực nghiệm khác Leon Lederman và Valentine Telegdi cũng tìm ra lực yếu vi phạm đối xứng gương trong π → µ + v tiếp theo bởi µ → vµ + e– + v–e với µ phân cực. Spin là momen góc nội tại, vậy nếu spin s của electron đi ngược chiều với xung lượng k trong phân rã β thì ta có thể hình dung như nó quay từ phải sang trái xung quanh trục của nó.      22 Phương trình diễn tả lực yếu “thời tiền SM’’ là thuyết Fermi. Trong những công trình rực rỡ của Enrico Fermi (người cha của phản ứng dây chuyền Uranium, tiền thân của bom hạt nhân A), nhiều nhà vật lý cho rằng đóng góp quan trọng nhất của ông là đã phỏng theo lực điện-từ mà đề xuất ra dạng của lực yếu, nó vẫn mang dấu ấn mãi tới ngày nay mặc dầu nhiều thay đổi về cấu trúc.   Mô phỏng định luật điện-từ là tích số của dòng điện electron eΨ– (x)yµΨ(x) với trường photon Aµ(x), Fermi bèn đề xuất định luật phân rã β của n → p + e–+ v– cũng là tích số dòng lực yếu proton-neutron Ψ–p(x)γµΨn(x) với dòng lực yếu neutrino-electron Ψ–v(x)γµΨe(x), vậy mô hình của lực yếu theo Fermi là {Ψ–p(x)γµΨ(x)n} {Ψ–v(x)γµΨ(x)e} với hằng số GF  ≈ 1.17 ×10-5/GeV2 trích từ thực nghiệm. Ma trận γµ mang tính chất vectơ viết gọn là V (JP = 1–), và vì tích số V.V là vô hướng 0+ nên thuyết Fermi tuân thủ đối xứng gương. Khi thực nghiệm chứng minh sự vi phạm đối xứng gương thì Marshak, Sudarshan, Feynman, Gell-Mann, Sakurai nhận thấy chỉ cần thay thế γµ bằng γµ (1- γ5) trong mô hình Fermi là đủ đáp ứng sự vi phạm này, vì γµγ5 mang tính chất vectơ trục JP = 1+. Từ nay sự thay đổi đó mang tên (V- A) phản ánh cấu trúc γµ (1- γ5), tích số (V -A).(V- A) hòa hợp cả hai thành phần tuân thủ và vi phạm đối xứng gương: tuân thủ do V.V + A.A (mang tính 0+) và vi phạm do V.A + A.V (mang tính 0–). Dấu trừ trong (V-A) hàm nghĩa các hạt khi phân rã đều có spin ngược chiều với xung lượng, spin quay về phía trái (chú thích 21). Cấu trúc (V – A) là tính chất căn bản của lực yếu do thực nghiệm phát hiện mà sau này  SM vẫn phải dựa vào để xây dựng thuyết Điện-Yếu.  Tuy nhiên cần nhấn mạnh là dù dưới dạng V.V hoặc (V – A).(V – A) thì định luật hiệu dụng Fermi như tích số của 2 dòng yếu vẫn tự mâu thuẫn ở năng lượng cao E  ≥ 600 GeV. Nguồn gốc của tính thiếu nhất quán này là thuyết Fermi diễn tả tác động của 4 fermion (tích số của hai dòng yếu (µ – vµ)x(e-ve) mỗi dòng có 2 fermion) tụ hội ở chung một không-thời điểm x (phía trái Hình f), điều gây đủ mọi phân kỳ ở năng lượng cao. Đó cũng là lý do thuyết này không tái chuẩn hóa được; càng triển khai bao nhiêu lũy thừa của hằng số tương tác yếu GF thì ta lại càng gặp bấy nhiêu kết quả phân kỳ, những con số vô hạn cứ trùng điệp xuất hiện, không sao xử lý nổi.                              Hình f : Phía trái, 4 fermion tụ ở chung một điểm (thuyết Fermi). Phía  phải, 4 fermion tách ra bởi boson chuẩn W thành 2 dòng µ – vµ và e-ve, mỗi dòng có 2 fermion (MHC). Phía phải thành phía trái khi MW → ∞.           23 Tham khảo Chú thích 18 trong đoạn III: Sắc động lực học lượng tử, QCD.      24 Lực yếu có một độ dài tác động RW  rất nhỏ, hạn chế trong hạt nhân nguyên tử. Do nguyên lý bất định thì boson trung gian truyền tải lực yếu phải có khối lượng MW  rất lớn, MW ~ ħ/cRW.      25  Sự hỗn hợp của hai neutrino ve và  vµ được đề xuất bởi trường phái Nagoya ở Nhật bản: Zito Maki, Masami Nakagawa, Shoichi Sakata vào năm 1962 trước khi Cabibbo đề xuất hỗn hợp của quark vào năm 1963.      26 Phân rã β bởi lực yếu (điện tích thay đổi một đơn vị e, thí dụ điển hình là neutron → proton) có thể diễn tả bằng ngôn từ quark. Gọi ba quark điện tích +(⅔)e là Qi với i = 1,2,3 đại diện cho u,c, t, và 3 quark điện tích -(⅓)e là qj với j = 1,2, 3 đại diện cho d, s, b. Phân rã Qi → qj viết ngắn gọn là UijQiqj. Hỗn hợp các quark bởi ma trận 2×2 theo như (cosθc d + sinθc s) →  u và hỗn hợp trực giao (cosθc s – sinθc d) → c nay mở rộng thành ma trận unita 3×3, Uij gọi là ma trận CKM (Cabibbo-Kobayashi-Maskawa) với đường chéo Ui = j  ≈ 1; U12  ≈ – U 21  ≈ sinθc; U23 ≈ – U32 ≈ (sinθc)2 ; U13 ≈ U31 ≈ (sinθc)3. Khi phân tích các hiện tượng phân rã của các hadron mang kỳ tính, Cabibbo tìm ra sinθc ≈  0.22.   (i) Chính sự trực giao giữa hai quark u và  c (U12 ≈ – U 21 ≈ sinθc) làm cho đóng góp của u bị triệt tiêu bởi đóng góp của c và sự triệt tiêu này giải thích tại sao những loại phân rã trung tính đổi hương vị như K0 → µ+ + µ– lại hiếm khoảng 10-4 so với những loại phân rã điện tích đổi hương vị như K+ → µ+ +vµ.    (ii) Vi phạm đối xứng CP được phản ánh qua một pha δ ≠ 0 của ma trận unita Uij. Thực thế nếu biên độ phân rã của vật chất là T thì biên độ phân rã của phản vật chất là T*, vi phạm đối xứng CP nghĩa là T ≠ T*, vậy phần ảo của T (pha δ của ma trận CKM) phải ≠ 0. Ma trận unita N x N có pha δ ≠ 0 nếu (N – 1)(N – 2) ≥ 2, hay N ≥ 3, vậy phải có ít nhất ba cặp Qi-qj hay sáu quark mới vi phạm được đối xứng CP.      27 Hai boson trung hoà điện tích W3 và  X của GNN là hỗn hợp giữa boson chuẩn Z của lực yếu với photon γ của điện-từ:           W3 = cosθw Z + sinθw γ ;  X = cosθw γ – sinθw Z  Cường độ của lực điện-từ (diễn tả bởi αem ≈ 1/137) và của lực yếu (diễn tả bởi hằng số Fermi GF ≈1.17 ×10-5/GeV2) liên kết bởi hệ thức (sinθw MW)2 = (παem)/(GF√2). Khối lượng của 2 boson chuẩn W và Z cũng liên kết bởi MW = cosθwMZ.       28 Thực ra có sáu người trong ba nhóm độc lập với nhau hầu như đồng thời cùng đề xuất cơ chế mang khối lượng cho boson chuẩn (lúc ấy internet chưa có để đưa bài lập tức lên mạng như ngày nay các nhà nghiên cứu thường làm). Nhóm thứ nhất gồm Robert Brout và François Englert, xuất bản ngày 31/08/1964; nhóm thứ hai riêng một mình Peter Higgs, xuất bản ngày 19/10/1964; nhóm thứ ba gồm Gerard Guralnik, Carl Hagen và Thomas Kibble, xuất bản ngày 16/11/1964. Tất cả đều trên tạp chí Phys. Rev. Lett. số 13.   Bài của Higgs thực ra được gửi cuối tháng 7 năm 1964 trước cho tạp chí Phys. Lett. ở CERN, nhưng bị từ chối ông bèn gửi sang Phys. Rev. Lett. Người thẩm định bài của Higgs cho Phys. Rev. Lett. chính là Nambu.  Cần nhấn mạnh là chỉ riêng Peter Higgs đã đề xuất là phải hiện hữu hạt cơ bản mang spin 0, và như vậy cơ chế BEH có thể kiểm chứng bởi thực nghiệm. Weinberg gọi hạt này là boson Higgs. Trường Φ(x) có bốn thành phần Φ± , Φ0 , (Φ0)*, ba trong bốn thành phần này trở thành ba boson NG nằm dọc trên k để mang cho ba boson chuẩn W+ , W–, Z0 khối lượng. Thành phần cuối, trực giao với photon không mang khối lượng cho nó, chính là boson Higgs với khối lượng 125 GeV/c2 mà LHC vừa tìm thấy dấu vết ngày 04/07/2012.       29 Nhà vật lý Nguyễn Khắc Ứng là một trong các tác giả của nhóm Gargamelle đã khám phá ra dòng lực yếu trung hoà điện tích, tiền thân của boson chuẩn Z; Phys. Lett. 46B (1973), 138.      30 Chính những boson NG spin 0 đã làm triệt tiêu những phân kỳ trùng trùng điệp điệp xảy ra với W, Z spin 1 trong các vòng kín lượng tử để thuyết điện-yếu trở thành tái chuẩn hóa được.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Chuẩn của Vật lý Hạt cơ bản: Nhập đề (Phần I)      Khi thuyết tương đối rộng của Einstein thay thế thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton, nó không nhằm chỉnh sửa đôi chút định luật nghịch đảo bình phương mà bằng cách loại bỏ khái niệm cơ bản của Newton, theo đó luật hấp dẫn là lực tác động lên một vật thể bởi vật thể khác. Trong thuyết Tương đối rộng, ta không đề cập đến lực mà quan tâm đến độ cong của không gian và thời gian. Tuy hệ quả – của sự thay thế cơ học Newton bằng thuyết Tương đối rộng – là có sửa đổi chút xíu (nhỏ hơn một phần triệu) những tiên đoán về sự vận hành của hệ Mặt trời, nhưng thuyết của Einstein đã làm một cuộc cách mạng trong nhận thức về tự nhiên. Ngày nay chúng ta cần một cuộc cách mạng khác nữa.  &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Steven Weinberg       Tóm tắt- Bài viết trình bày về một lý thuyết được gọi là “Mô hình Chuẩn (the Standard Model, SM)” của Vật lý Hạt cơ bản để diễn tả hệ thống của những “viên gạch” sơ cấp cấu tạo nên vật chất trong vũ trụ.   Vật lý hạt cơ bản có mục tiêu tìm hiểu, tiên đoán, phân loại, sắp xếp các thành phần sơ cấp của vật chất và khám khá những đặc tính cũng như những định luật cơ bản chi phối sự vận hành của chúng. Mô hình Chuẩn là lý thuyết giải thích toàn vẹn, chặt chẽ và nhất quán những đặc trưng của những thành phần sơ cấp trong thế giới vi mô dưới tác động của ba trong bốn lực cơ bản của Tự nhiên: lực điện-từ, lực hạt nhân mạnh và lực hạt nhân yếu để từ đó vạn vật hình thành và biến hóa. Lực vạn vật hấp dẫn, diễn tả bởi thuyết Tương đối rộng của thế giới vĩ mô, là lực cơ bản thứ tư nằm ngoài phạm trù của SM và do đó không là đối tượng của bài viết này.  Bài viết gồm bốn phần:  PHẦN I: Nhập đề, phác họa và dẫn giải tổng quan để độc giả làm quen với những thuật ngữ và khái niệm chủ yếu của SM, qua đó có cái nhìn bao quát về những đề tài của thế giới vi mô.  PHẦN II: Mô tả những hiện tượng điển hình liên quan đến các hạt quark, thành phần sơ cấp của hạt nhân nguyên tử. Quark bị chi phối chủ yếu bởi lực mạnh gắn kết chúng để cấu tạo nên hadron gồm hai loại là hạt baryon (spin ½) và hạt meson (spin 0, 1). Trong tiến trình khám phá ra lực mạnh, lý thuyết Yukawa đóng vai trò mở đường, theo đó sự tương tác của các baryon là do trao đối các meson giữa chúng. Thế năng Coulomb 1/R của lực điện-từ và thế năng Yukawa e-mR/R của lực mạnh theo thứ tự là do trao đổi photon và meson p (với khối lượng 0 và m). Thế năng Coulomb là một trường hợp đặc biệt của thế năng phổ quát Yukawa: khi m→ 0, e-mR/R → 1/R, m càng lớn thì tầm truyền R của lực càng nhỏ, photon không có khối lượng nên lực điện-từ truyền đi vô hạn (nguyên lý bất định Rm ~ ћ).  Nguyên lý đối xứng được khai thác với dụng cụ toán học là nhóm SU(3) để khám phá những tính chất đặc thù, phong phú của các hạt cơ bản, thứ nhất là hương và sắc của quark, thứ hai là công thức phổ quát GNN (Gell-Mann, Nakano, Nishijima) chi phối các hadron, các hạt cơ bản và các lực. Công thức GNN  cũng sẽ là kim chỉ nam định hướng cho sự hoà nhập giữa lực điện-từ và lực yếu, chủ đề của PHẦN IV.   Tựa như bảng tuần hoàn Mendeleïev trong hóa học, các nhóm bội baryon và meson có thể sắp xếp theo hình tám cạnh đều đặn mà Gell-Mann gọi là Bát chánh đạo của Bụt.  PHẦN III: Trình bày phương pháp cơ bản để khám phá ra Sắc động lực học lượng tử (QCD), định luật chi phối sự vận hành của quark. Trước hết cần thấu triệt một nguyên lý cực kỳ phong phú gọi là Đối xứng Chuẩn Định xứ (local gauge symmetry) đã làm nền tảng cho Điện động lực học lượng tử (QED), lý thuyết về lực điện-từ được hoàn tất thời tiền SM. Nguyên lý này được mở rộng và khai thác để khám phá ra hai định luật cơ bản khác là QCD (ở PHẦN III) và Điện-Yếu (ở PHẦN IV).                                QED ⇒ đối xứng chuẩn định xứ⇒ QCD và Điện-Yếu  Đối xứng chuẩn xác định là phải tồn tại những boson chuẩn mang spin 1 để truyền tải lực cho quark và lepton tương tác, những boson này tuân theo phương trình Maxwell (cho photon của lực điện-từ) và Yang-Mills (cho gluon của lực mạnh và W, Z của lực yếu). Hai tính chất đặc thù của QCD là “Tự do tiệm cận” và “Nô lệ hồng ngoại” giải thích quark và gluon bị gắn chặt không trốn thoát nổi ra ngoài hadron ở nhiệt độ (năng lượng) thấp. Trái lại năng lượng càng cao thì quark và gluon càng tự do, không bị gắn kết chặt chẽ trong hadron. Đó chính là trạng thái của vật chất ở thuở Big Bang và ở các máy gia tốc có năng lượng cực kỳ lớn.  PHẦN IV: Dành cho lực hạt nhân yếu và sự hoà nhập của nó với lực điện-từ để trở thành thuyết Điện-Yếu, đó thực sự là đỉnh cao của SM. Bố cục của PHẦN IV gồm ba chủ đề:  Mở đầu với neutrino và hai tính chất đặc thù của lực yếu là sự vi phạm đối xứng phải-trái (P), và đối xứng vật chất-phản vật chất (CP).   Thứ hai, khi nghiên cứu hai hiện tượng đặc trưng của lực yếu: ‘kỳ tính’ biến chuyển thành ‘phản kỳ tính’ với Glashow, Iliopoulos, Maiani (GIM) và sự vi phạm đối xứng CP với Kobayashi, Maskawa (KM), các tác giả trên đã tiên đoán (và thực nghiệm sau đó xác nhận) sự hiện hữu của ba loại vật chất mới lạ là các quark duyên (charm), đáy (bottom) và đỉnh (top); minh họa mối tương quan sâu sắc giữa hai lực mạnh và yếu.   Cuối cùng định luật chi phối lực yếu được khám phá qua hai giai đoạn:      • Đối xứng chuẩn và thuyết Yang-Mills với nhóm SU(2) liên kết hai dòng trung hoà điện tích của lực yếu và lực điện-từ để hoà nhập chúng.     • Cơ chế BEH (Brout, Englert, Higgs) với hạt Higgs diễn tả sự phá vỡ tự phát của phép đối xứng chuẩn để mang khối lượng cho hai boson W, Z của lực yếu.  Sự kiện phát hiện boson Higgs ở CERN chứng kiến một chương cũ sắp khép lại và một trang sử mới đang ló dạng trong vật lý hạt. Khép chương cũ vì đã hoàn tất một đoạn đường dài là tất cả 17 loại hạt cơ bản đều được thực nghiệm khám phá hết, không còn gì thiếu sót. Điều này khẳng định sự vững chắc của SM, một hệ hình mà từ đây mọi phát triển sau này đều phải dựa vào để phát triển xa hơn nữa. Mở chương mới, vì cơ chế BEH thực sự lên ngôi. Cơ chế này có thể ảnh hưởng đến nhiều ngành khác, nó ra đời như một liên đới sâu sắc giữa hai ngành khác biệt: vật lý chất ngưng tụ (siêu dẫn điện-từ) và vật lý hạt (lực yếu của neutrino). Đây là lần đầu tiên con người khám phá ra một lực mới lạ, diễn tả bởi trường Higgs, mang khối lượng cho vật chất, có thể coi như lực cơ bản thứ năm của Tự nhiên bên cạnh bốn lực quen thuộc.   Bốn Phần đều tương đối độc lập tuy cũng có ít nhiều liên quan. Những chi tiết kỹ thuật đều tập trung trong phần Chú thích ở cuối bài.  Phần I-Nhập đề  Neutrino là mảnh nhỏ nhất của thực tại vật chất mà con người từng hình dung ra, cái lớn nhất là vũ trụ.                                      Clyde Cowan và Frederick Reines  Trong câu mở đầu của bản báo cáo về sự kiện lần đầu tiên phát hiện ra hạt cơ bản neutrino ở lò phản ứng hạt nhân Savannah River (South Carolina, Mỹ), hai nhà vật lý Cowan và Reines (giải Nobel 1995) dùng động từ hình dung ra, điều gây chút ngạc nhiên cho người viết bài này khi đọc câu đó lần đầu, nhưng suy ngẫm lại mới càng thấy thấm đượm.  Thực thế, khi con người xây dựng được một hệ thống nghiêm túc của những ý tưởng và suy luận chặt chẽ, nhất quán cũng như những ngôn từ tương xứng để diễn tả và giải thích thế giới bên ngoài cũng như khám phá những hiện tượng mới lạ và những định luật chi phối điều hành chúng, thì theo nghĩa đó họ đã hình dung ra thực tại của Tự nhiên mà Hạt cơ bản và Vũ trụ là ví dụ điển hình về cái mà chúng ta hiểu biết về hai thái cực vô cùng nhỏ cũng như vô cùng lớn đó. Hạt cơ bản có vai trò nào trong cuộc tìm kiếm cội nguồn của con người nối liền quá khứ với tương lai trong vũ trụ, chúng ta từ đâu đến, là gì, về đâu, những câu hỏi muôn thuở?  Khái niệm về hạt cơ bản (viên gạch vi mô của vật chất, không thể chia cắt nổi) hay vũ trụ (tổng thể vĩ mô bao trùm vạn vật cả không gian và thời gian) – mà con người từng nhận định ra – không duy nhất, sự hiểu biết về chúng thăng trầm theo các thời đại và các nền văn hiến.   Hết rồi thời xa xưa khi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là 5 thành phần sơ cấp cốt lõi của vật chất. Mới cách đây trăm năm thôi phân tử vẫn còn được coi là hạt sơ đẳng. Ngày nay chúng ta biết phân tử chỉ là tập hợp của nhiều nguyên tử khác nhau liên kết bởi electron ngoại vi, mà mỗi nguyên tử lại được cấu tạo bởi hạt nhân của nó với những electron dao động chung quanh, rồi hạt nhân nguyên tử cũng lại do proton cùng neutron gắn kết với nhau mà thành, sau hết proton và neutron cũng đều là trạng thái cấu tạo bởi quark u, d được gắn kết bởi gluon. Cứ thế như những con búp bê Nga liên hồi chứa đựng nhau, chuỗi dài của những hạt cơ bản đi từ phân tử đến quark là cả một quá trình sáng tạo, khám phá bền bỉ khi lên lúc xuống, lý thuyết cùng thực nghiệm chặt chẽ đan xen.   Còn vũ trụ từ thuyết địa tâm trước thời Copernic, Galilei tới thuyết Nổ Bùng (Big Bang) ở thuở nguyên sơ cách đây gần 14 tỷ năm, tại thời điểm đó vật chất-không gian-thời gian là một, gia tốc của vũ trụ giảm dần trong khoảng 7 tỷ năm đầu rồi từ đó đến nay lại tăng nhanh, một phạm trù kỳ diệu nhưng khác với hạt cơ bản nên không đề cập tiếp ở đây.  Khoa học nói chung là cái mãi mãi phải đi tìm, không có điểm tận cùng.  Vật lý hạt cơ bản có mục tiêu là tìm kiếm, phân loại các thành phần sơ cấp của vật chất và quan trọng hơn là phám khá những tính chất cũng như những định luật cơ bản chi phối sự vận hành của chúng. Mô hình Chuẩn (SM) của ngành Vật lý hạt cơ bản là lý thuyết diễn tả toàn vẹn và giải thích nhất quán những đặc trưng của những viên gạch cấu tạo nên vật chất, dưới tác động của 3 trong 4 lực cơ bản của Tự nhiên: lực điện-từ, lực hạt nhân mạnh và lực hạt nhân yếu để từ đó vạn vật được hình thành và biến hóa. Hạt cơ bản tiêu biểu hơn cả là electron được khám phá lần đầu tiên bởi Joseph John Thomson năm 1897. Electron chính là gốc nguồn của hiện tượng điện-từ mà ngay từ thời xa xưa con người đã cảm nhận thấy có cái gì liên quan đến điện khi nhìn sấm sét trên trời mưa bão cũng như khi rà sát hổ phách có thể bị điện giật nảy mình. Từ ánh đèn lân quang thời xa xưa đến iPad tân kỳ thời nay, dấu ấn của electron vô hình trung ngày càng đậm nét trong nếp sống của mỗi chúng ta.   Hiện tình của các hạt cơ bản1 được tóm lược trong sơ đồ Hình 1, chúng gồm có ba phần: thứ nhất là mười hai hạt có spin ½ như quark và  lepton vắn tắt gọi chung là trường vật chất; thứ hai là bốn boson chuẩn có spin 1 gồm photon g của lực điện-từ, gluon g của lực mạnh, hai boson W, Z của lực yếu, gọi chung là trường lực; thứ ba là boson Higgs có spin 0 đóng vai trò chủ động tạo nên khối lượng cho vạn vật.                  Hình 1: Sơ đồ các hạt cơ bản trong Mô hình Chuẩn (SM) Ở trung tâm của Hình 1, duy nhất boson Higgs mang màu xám nhạt như để nhắc nhở là hạt này, tuy là điểm mấu chốt của SM để trước hết mang khối lượng cho hai boson chuẩn W, Z của lực yếu, nhưng tại thời điểm của hình vẽ lại chưa được thực nghiệm khẳng định, khác với quark, lepton, boson chuẩn (Z, W, g, g) đã được thực nghiệm xác nhận là hiện hữu. Rất có thể kể từ ngày mồng 4 tháng 7 năm 2012, màu xám của hạt Higgs sẽ rực rỡ ánh vàng vì hai nhóm thực nghiệm ATLAS và CMS ở Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạn nhân (CERN) vừa tìm ra dấu vết nó trong máy siêu gia tốc Large Hadron Collider (LHC).  Vật chất (quark cũng như lepton) tương tác với nhau qua sự trao đổi các boson chuẩn. Boson chuẩn có vai trò làm trung gian nối kết và truyền tải lực để các viên gạch vật chất cơ bản (quark hay/và lepton) tương tác với nhau.   Có 6 loại quark mang ký hiệu u (up), d (down), s (strange), c (charm), t (top), b (bottom) và 6 loại lepton bao gồm 3 hạt e– (electron), μ– (muon), τ– (tauon) mang điện tích âm -e, và 3 hạt neutrino ne, nμ, nτ  trung hòa điện tích, theo thứ tự ba hạt neutrino này bao giờ cũng sánh đôi từng cặp với ba hạt electron, muon, tauon trong tương tác của chúng. Sự cân bằng số lượng 6 loại quark và 6 loại lepton không phải ngẫu nhiên mà liên đới sâu sắc đến tính đối xứng chuẩn và tính tái chuẩn hóa trong lý thuyết trường lượng tử, nền tảng trên đó SM được xây dựng.   Lực mạnh gắn kết hạt cơ bản quark u, d trong hạt nhân nguyên tử và làm cho vật chất vững bền nói chung. Lực điện-từ diễn tả electron tương tác với hai quark u, d trong hạt nhân nguyên tử để tạo dựng nên nguyên tử của các nguyên tố hóa chất trong bảng tuần hoàn Mendeleïev cũng như của các tế bào sinh vật trên trái đất. Lực yếu của quark và lepton chi phối sự phân rã của các hạt nhân nguyên tử, điều khiển các phản ứng nhiệt hạch trong lòng các ngôi sao, mang ánh sáng cho bầu trời ban đêm cũng như phát tán muôn tỷ hạt neutrino từng giây phút xuyên qua da thịt chúng ta.   Lực mạnh của các quark trao đổi gluon g giữa chúng với nhau được gọi là  Sắc động lực học lượng tử (Quantum Chromodynamics viết tắt là QCD), thuật ngữ mô phỏng Ðiện động lực học lượng tử (Quantum Electrodynamics hay QED) là lý thuyết trường lượng tử đã được hoàn tất thời “tiền SM” để diễn tả lực điện-từ của các hạt mang điện tích trao đổi photon g giữa chúng. Do đó SM bao gồm lực mạnh (QCD), lực điện từ (QED) và lực yếu; hơn nữa lực điện-từ và lực yếu lại được thống nhất thành lực Điện-Yếu (Electroweak).  Nếu điện tích là tính chất thường gắn bó với lực điện-từ cũng như khối lượng với lực hấp dẫn, thì danh từ sắc tích (color charge) là để chỉ định thêm một tính chất lượng tử đặc thù của các hạt quark. Cũng như danh từ quark, danh từ sắc dùng ở đây là thuật ngữ riêng của Vật lý hạt cơ bản, nó chẳng có chút liên hệ nào với màu sắc xanh, đỏ của ngôn ngữ thông thường. Thực thế, trong vật lý lượng tử, có một định lý liên kết spin với phép thống kê Fermi-Dirac, theo đó các fermion (hạt có spin bằng n + ½, n là một số nguyên) không thể đồng nhất cùng chiếm lĩnh một trạng thái vật lý xác định bởi năng lượng, spin, vận tốc, vị trí, hay bất kỳ một đặc tính nào. Ví dụ hai fermion khi ở chung một điểm không gian thì chúng phải có hoặc vận tốc hoặc chiều quay của spin khác nhau; nếu cùng vận tốc thì spin của chúng phải quay ngược chiều hoặc không ở chung một vị trí. Đó là những hạt có cá tính mạnh mẽ, sự phân bố trạng thái các hạt fermion phải tuân theo phép thống kê Fermi-Dirac. Thống kê này có thể phần nào giải thích tại sao cũng với từng ấy mật độ electron mà có những vật liệu cái thì cách điện, cái thì dẫn điện, thậm chí siêu dẫn điện-từ. Tính chất này của fermion hoàn toàn trái ngược với tính hoà đồng trong cùng một trạng thái của boson (mang spin số nguyên như 0, 1) minh hoạ bởi chùm ánh sáng laser ở đó muôn vàn photon trong cùng một trạng thái chung sống.  Vì quark là fermion nên khi 3 quark u, u, d kết hợp với nhau ở trạng thái căn bản (năng lượng liên kết cực tiểu) để tạo thành proton thì sự kết hợp đó phải phản đối xứng (đổi dấu) trong bất kỳ sự giao hoán nào giữa các cặp fermion. Tính phản đối xứng này chỉ hoàn thành nếu các quark, ngoài điện tích và khối lượng ra, phải có thêm một tính chất gì nữa để chúng tự khác biệt với nhau, phải gắn cho mỗi quark ba đặc trưng riêng biệt, (xem hình 2). Đáng lẽ gắn ba đặc tính này bằng ba con số 1, 2, 3 hoặc ba con chữ a, b, c thì các nhà vật lý hạt dùng ba màu đỏ, xanh, lam mang tên sắc tích để tượng trưng cho tính lượng tử đặc thù này của quark. Giả thiết về 3 sắc tích của quark sau đó được chứng minh chính xác bởi nhiều thực nghiệm khác nhau và sẽ được đề cập sau trong những Phần II, III, IV.                   Hình 2: Ba sắc tích của quark.  Quark, ngoài điện tích còn mang 3 sắc tích, tượng trưng bởi 3 màu. Proton cấu tạo bởi hai quark u và một quark d còn neutron bởi hai quark d và một quark u. Ba sắc tích khác nhau của quark được hoà quyện đều đặn để cuối cùng proton và neutron trung hoà sắc tích, cũng như điện tích âm và dương của electron và proton hoà quyện để nguyên tử trung hoà điện tích.  Quark khác lepton ở chỗ là ngoài sắc tích ra (lepton không có sắc tích), chúng cũng mang điện tích, nhưng điện tích của chúng không phải là con số nguyên -e như electron mà là +(⅔)e  cho ba quark u, c, t  và -(⅓)e cho ba quark d, s, b.   Chính vì quark có cả điện tích và sắc tích nên chúng bị chi phối bởi cả 3 lực: điện-từ, hạt nhân yếu, hạt nhân mạnh. Còn electron, muon, tauon vì mang điện tích và không có sắc tích nên chỉ bị tác động bởi 2 lực: điện-từ và yếu. Neutrino không có cả sắc tích lẫn điện tích nên bị điều hành duy nhất bởi lực yếu.  Hai lực điện-từ và yếu, tuy cường độ tương tác hiệu dụng của chúng quá khác biệt, nhưng hai lực này lại có nhiều đặc tính chung nên có thể kết hợp trong một tương tác duy nhất gọi là Điện-Yếu, một trong hai trụ cột của SM; trụ cột thứ hai là Sắc động lực học lượng tử diễn tả lực hạt nhân mạnh. Sự thống nhất hai hiện tượng điện-từ và yếu trong cùng một quy luật là một bước tiến lớn của vật lý ở cuối thế kỷ 20, có thể ví như sự tổng hợp ba hiện tượng điện, từ và quang ở cuối thế kỷ 19. Hai nguyên lý nền tảng, làm ngọn hải đăng chỉ đường cho sự hợp nhất này, là  đối xứng chuẩn định xứ (local gauge symmetry) và sự phá vỡ tự phát (spontaneous breaking) của nó. Sự phá vỡ này, được gọi là cơ chế BEH (Brout-Englert-Higgs, tên của ba trong sáu tác giả đã đề xuất ra nó), có nhiệm vụ là mang khối lượng cho vạn vật.   Lực cơ bản thứ tư, lực hấp dẫn (diễn tả bởi thuyết Tương đối rộng) kiến tạo nên cấu trúc của vũ trụ bao la và chi phối sự vận hành của các thiên thể, còn ba lực phi hấp dẫn nói trên chủ yếu chỉ tác động trong thế giới vi mô của vật lý hạt; ba lực này đều xây dựng trên nền tảng của thuyết Lượng tử. Tuy nhiên lượng tử không chỉ giới hạn ở đó mà còn lan tỏa sang hầu hết các ngành vật lý khác.   Dẫu hiện diện khắp nơi trong cả hai thế giới vi mô và vĩ mô, nhưng ở phạm vi hạ nguyên tử vì lực hấp dẫn có cường độ tác động quá nhỏ khoảng 10-39 so với cường độ của ba lực kia nên cụ thể không quan trọng.   Trái lại tại những thời khắc ban đầu của Vụ Nổ Lớn (Big Bang) của vũ trụ hay trong trạng thái khi một số thiên thể tàn lụi để trở thành Lỗ đen (Black hole), trong một không gian nén ép vô cùng nhỏ với mật độ, năng lượng và nhiệt độ vô cùng lớn (gọi chung là bức tường Planck), thì cường độ trọng lực lại rất mạnh tương tự như cường độ của ba lực phi hấp dẫn. Vì tất cả bốn lực đó cùng đóng vai trò chủ chốt ở Lỗ đen và ở cái không-thời điểm Big Bang ban đầu đó, chúng phải mặc nhiên hòa nhập với nhau trong cùng một hệ thống chặt chẽ và nhất quán để lý giải mọi hiện tượng. Tuy nhiên, sự thống nhất cần thiết này giữa hai cột trụ của vật lý là Tương đối rộng và Lượng tử đến nay chưa được các nhà vật lý thực hiện nổi, mặc dầu biết bao cố gắng từ nhiều năm qua. Nguyên do chính yếu là không như ba lực phi hấp dẫn đã thành công trong việc được lượng tử hóa và tái chuẩn hóa thì thuyết Tương đối rộng chưa thể nhất quán hoà hợp với Lượng tử. Đó có lẽ là vấn đề hóc búa số một của vật lý hiện đại.   Tạm gác lại câu hỏi trên, ta trở về với SM của hạt cơ bản. Tuy mới ra đời non nửa thế kỷ nay (thuyết Điện-Yếu và Sắc động lực học ra đời những năm 1970), quãng thời gian tương đối ngắn so với nhiều ngành khoa học khác trong tiến trình khám phá (với lý thuyết và thực nghiệm luôn liên kết hỗ tương), với khoảng 30 khôi nguyên của giải Nobel vật lý trong ba mươi năm gần đây, SM đã mang lại cả một kho tàng tri thức khoa học đồ sộ, tiên đoán nhiều hiện tượng và hạt mới lạ cũng như những tính chất độc đáo của chúng mà sau đó đều được thực nghiệm kiểm chứng với độ chính xác đáng kinh ngạc. Hãy tạm kể sự khám phá dòng trung hòa điện tích của lực hạt nhân yếu; các loại quark duyên, đáy, đỉnh; hai boson chuẩn W, Z; chỉ hiện hữu có ba neutrino với khối lượng cực kỳ nhỏ thôi; hạt khối lượng ≈ 125 GeV/c2 vừa phát hiện tháng 7 năm 2012 ở Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Âu châu (CERN).   Sự kiện lịch sử này được các nhà vật lý hồi hộp đón chờ từ năm 1994 khi CERN quyết định xây dựng máy gia tốc LHC có năng lượng cao nhất thế giới để săn tìm hạt Higgs. Nếu thực nghiệm khẳng định nó chính là hạt boson mang spin 0 mà Peter Higgs đề xuất với những kiểu sản xuất và phân rã của nó đúng như SM tiên đoán, thì chúng ta đang chứng kiến một chương cũ sắp khép lại và một trang sử mới đang ló rạng của vật lý. Khép chương cũ vì đã hoàn tất một đoạn đường dài là tất cả 17 loại hạt cơ bản trong Hình 1 đều được thực nghiệm phát hiện hết, không còn gì thiếu sót. Điều này khẳng định hơn bao giờ hết sự vững chắc của SM, một hệ hình mà từ đây mọi phát triển sau này đều phải dựa vào để phát triển xa hơn nữa.   Mở chương mới, vì cơ chế BEH thực sự lên ngôi. Cơ chế này có thể ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành khác, nó ra đời thông qua một phối hợp hài hòa giữa hai ngành khác biệt: vật lý chất rắn (siêu dẫn điện-từ) và vật lý hạt (lực yếu của neutrino). Cách tiếp cận quy giản của các nhà vật lý hạt qua việc tìm kiếm phương trình cơ bản mới lạ đã huởng thụ cách tiếp cận hiệu dụng, đột khởi, thiên về tìm kiếm những nghiệm số nhiều khi chỉ là xấp xỉ, tương ứng với muôn vàn điều kiện ban đầu cụ thể nào đó của hai phương trình căn bản Maxwell và Dirac đã biết sẵn, quả là một bài học phong phú.  Chương mới trong vật lý vì đây là lần đầu con người khám phá ra một lực mới lạ, diễn tả bởi trường Higgs, mang khối lượng cho vật chất, coi như lực thứ năm của Tự nhiên, bên cạnh bốn lực cơ bản quen thuộc nói ở trên. Cũng như trường điện-từ cho ánh sáng hay trường trọng lực lôi hút vạn vật, trường Higgs tràn đầy vũ trụ. Nó gợi ra cách tiếp cận mới về khối lượng của vật chất, khác với quan điểm cố hữu coi khối lượng là cái gì cho trước bởi Tự nhiên mà không ai hiểu nguồn gốc sâu xa. Theo SM, khối lượng của vật chất được tạo ra bởi sự tương tác của chúng với trường Higgs trong chân không của vũ trụ từ thủa nguyên thủy của Vụ Nổ Lớn. Khởi đầu tất cả đều không có khối lượng, do tương tác với trường Higgs mà vật chất mang khối lượng, nặng hay nhẹ tùy theo cường độ tương tác lớn hay nhỏ của chúng, càng tác động mạnh với trường Higgs thì vật chất càng có khối lượng lớn.   Đoạn đường mới với câu hỏi tiếp: Tuy trường Higgs mang khối lượng cho vạn vật, nhưng cái gì mang lại khối lượng 125GeV/c2 cho chính boson Higgs mà LHC vừa khám phá ra? Đừng quên là khoảng 96% năng-khối lượng của vũ trụ (mệnh danh là  năng lượng tối và  vật chất tối) hãy còn ở ngoài sự hiểu biết hiện nay của con người. Chúng ta ý thức rằng SM không phải là giải đáp cuối cùng của mọi vấn đề cơ bản vì hiển nhiên trong SM hãy còn nhiều thông số và hạt mà chúng ta không hiểu tại sao lại thế; có thể coi đó là những thiếu sót về mặt toàn hảo mỹ thuật.  Trái lại, nếu sắp tới thực nghiệm cho ta biết hạt vừa được khám phá ở CERN không phải là boson Higgs mà là cái gì khác lạ, thì sự kiện này cũng đánh dấu một bước ngoặt không kém phần thú vị, đầy triển vọng và mang đến nhiều câu hỏi cho ngành vật lý hạt, thường được gọi là Vật lý Mới. Cơ chế BEH của sự phá vỡ đối xứng chuẩn để mang khối lượng cho lực yếu cần phải thay đổi hay/và bổ sung bởi một cái gì đó chưa ai biết rõ, có thể chiều dư của không gian như một ứng viên chăng?   Trong cả hai trường hợp, một chân trời kỳ thú đang đón chờ, nhưng trước hết chúng ta hãy ôn cố tri tân, cùng nhau học hỏi những điều mà bao người siêu việt đi trước mở đường soi sáng. Trước khi đi vào chi tiết của SM trong những phần sau, hãy liệt kê vài nét tổng quan đặc thù của ngành vật lý hạt cơ bản:    1- Thứ nhất, cách tiếp cận quy giản qua sự tìm kiếm định luật căn bản thuộc về biên giới của tri thức. Trong khi đó, nhiều ngành vật lý khác có cách tiếp cận hiệu dụng và đột khởi thiên về tìm hiểu cũng như khai thác những hiện tượng xảy ra trong những trạng thái vật chất, tức là những nghiệm số (tương ứng với những điều kiện cụ thể nào đó) của những định luật cơ bản mà SM khám phá ra.   Lấy một ví dụ để minh họa, hạt electron tuân thủ phương trình cơ bản Dirac, còn vật lý chất rắn thì khai thác những tính chất phong phú của chất bán dẫn, siêu dẫn do tác động của electron vận hành trong những điều kiện đa dạng của vật chất. Dưới nhãn quan quy giản của nhà vật lý hạt cơ bản thì tất cả mọi tính chất của các hệ thống vật chất, dẫu phức tạp phong phú đến mấy đều đương nhiên là phải như vậy, bởi vì những viên gạch sơ cấp cấu tạo nên hệ thống đó tuân thủ những nguyên lý của SM và được điều hành bởi ba lực cơ bản: điện-từ, mạnh và yếu.  Một bên thì tìm kiếm phương trình cơ bản chi phối sự vận hành tổng quan của vật chất, bên kia thì tìm tòi khai thác những nghiệm số phong phú đa dạng của phương trình cơ bản với những điều kiện khác nhau của môi trường vĩ mô trong đó vật chất được đặt vào. Hai cách tiếp cận quy giản và đột khởi bổ sung cho nhau, cũng như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng qua lại đan xen lẫn nhau, không có cái này thì cũng không thể có cái kia.    2- Thứ hai, những công nghệ tân tiến mũi nhọn về vật liệu, điện tử, siêu dẫn, máy tính được tận dụng và khai thác để xây dựng những đường hầm rất dài và sâu cho những máy siêu gia tốc và những công cụ thực nghiệm cực kỳ phức tạp và tinh vi với mục tiêu sản xuất, phân tích, khám phá những hạt cơ bản và hiện tượng mới lạ, kiểm chứng hoặc bác bỏ những đặc tính của các hạt mà lý thuyết tiên đoán hay đề xuất. Ngành vật lý này đôi khi được gọi một cách trào phúng là “Đại Khoa học ” (Big Science) vì những máy gia tốc và dò tìm hạt đều hoành tráng, khổng lồ, được ví von như những giáo đường hay kim tự tháp kỳ vĩ của thời xa xưa.     3- Thứ ba, sự cộng tác trao đổi thường xuyên và cần thiết giữa những nhà vật lý hạt ở khắp năm châu và sự tập trung nghiên cứu trong một vài cơ quan quy mô quốc tế với hàng ngàn nhà vật lý thường trực như CERN, DESY ở Âu châu, Fermi-lab, SLAC, Brookhaven ở Mỹ châu, KEK ở Nhật bản.   Sự kiện thành lập CERN quả là một bài học vượt xa đối tượng khoa học thuần tuý. Trên cánh đồng hoang lác đác mấy chú bò ăn cỏ ở Ferney-Voltaire biên giới Pháp-Thụy Sĩ, ngay sau Thế chiến thứ hai, nhiều nhà vật lý Âu châu di tản khắp nơi vì nạn phát xít đã trở về cố hương cùng đồng nghiệp ở lại xây dựng nên CERN. Vì hòa bình và phát triển qua nghiên cứu cơ bản, với sự hỗ trợ tích cực của một số chính khách Pháp, Đức, Anh có tầm nhìn xa, họ đã chung sức mở đường cho sự hồi sinh và hoà giải của các nước Âu châu. Mỗi nước riêng lẻ không sao đủ nhân sự và phương tiện để hoàn thành sứ mạng, nguyên tắc tổ chức của CERN – tập hợp đóng góp tài năng, ngân quỹ từ nhiều nước – đã tiên phong làm mô hình cho nhiều ngành hoạt động khoa học khác phỏng theo từ thiên văn, sinh học, thậm chí cả chính trị, CERN ra đời nhiều năm trước Liên minh Âu châu. Mạng lưới toàn cầu (world wide web) của internet ra đời ở đó khoảng năm 1990 là một trong nhiều thành công kỳ diệu từ nghiên cứu cơ bản sang ứng dụng của cơ quan này, máy chụp hình scanner trong y học, công nghệ siêu dẫn điện-từ tạo nên những khối nam châm khổng lồ là vài ví dụ khác. Hơn nữa CERN còn giang tay đón mời sự cộng tác của những tài năng đến từ khắp mọi miền trên trái đất, kể cả những nước đang phát triển để tận mắt tận tay học hỏi rồi sáng tạo. Một cơ hội ngàn vàng đối với tài năng trẻ Việt Nam để tiếp cận với nghiên cứu quốc tế trong chương trình quan trọng này, ở những lãnh vực thuộc biên giới của tri thức nhân lọai.    Xem tiếp Phần II- Chuyện kể về quark  Chú Thích Phần I  1Những thuật ngữ như Lượng tử, Trường lượng tử, Tái chuẩn hóa, Spin, Sắc tích, Quark, Lepton, Phản quark, Phản vật chất, Đối xứng chuẩn, Phá vỡ tự phát, Cơ chế BEH … sẽ dần dần được đề cập, giải thích trong những phần sau II,III, IV.  Rất khó soạn một cuốn sách giáo khoa về ngành vật lý hạt ở trình độ cử nhân, nhưng nếu chọn thì có lẽ đây là cuốn sách hay và dễ đọc nhất, có thể lấy miễn phí trên internet  http://www2.fisica.unlp.edu.ar/materias/seminariopyc/Griffiths.pdf  Tác giả David Griffiths của cuốn sách cho rằng thời điểm đã chín muồi để môn vật lý hạt nằm trong chương trình cử nhân vật lý đại cương.  Tài liệu tham khảo:   -The Rise of the Standard Model, công trình hồi ức tập thể của hơn 40 tác giả tiêu biểu (với 13 giải Nobel) đã khám phá ra Mô Hình Chuẩn, Ed. by Lillian Hoddeson, Laurie Brown, Michael Riordan, and Max Dresden, Cambridge University Press (1997).   – Yoichiro Nambu, Quarks, World Scientific (1985).   – Steven Weinberg, The Making of the Standard Model, arXiv: hep-ph 0401010, (2004).   – Về hạt Higgs liên đới đến hiện tượng Siêu dẫn điện-từ (Anderson, Cooper, Nambu)  http://www.conferences.uiuc.edu/bcs50/video.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Chuẩn của Vật lý Hạt cơ bản: Sắc động lực học lượng tử (Phần III)      Chúng tôi, những nhà vật lý hạt, thực sự không mấy quan tâm đến hạt mà chú trọng đến những nguyên lý cơ bản, chúng tôi dùng hạt như những công cụ để tìm hiểu thấu suốt những nguyên tắc nền tảng tiềm ẩn trong đó.   Steven Weinberg  Normal  0  false  false  false  MicrosoftInternetExplorer4  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:”Table Normal”;  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-parent:””;  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin:0in;  mso-para-margin-bottom:.0001pt;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:-->         Như mào đầu ở phần Nhập đề, định luật diễn tả lực mạnh gắn kết các hạt cơ bản quark được gọi là  Sắc động lực học lượng tử (viết tắt QCD). Thuật ngữ sắc (sắc tích) trong QCD chép mượn chữ điện (điện tích) trong Ðiện động lực học lượng tử (QED).      QED là lý thuyết hoàn hảo duy nhất của ngành vật lý hạt cơ bản được xây dựng những năm 1950 thời “tiền Mô Hình Chuẩn” để diễn tả tương tác điện-từ. QED, mà Feynman gọi là hòn ngọc của lý thuyết trường lượng tử, đạt tới mức chính xác một phần mười tỷ khi so sánh thực nghiệm và tính toán; hai ví dụ là momen-từ lưỡng cực dị thường của electron và các trạng thái năng lượng cực kỳ tinh vi của nguyên tử hydrogen.     Nguyên lý đối xứng đóng vai trò cốt tủy cho sự hoàn tất của QED nói riêng và cho sự khám phá những định luật vận hành và cấu trúc của vật lý hạt cơ bản nói chung. Nó rọi sáng chỉ đường để phát hiện ra hai định luật tương tác cơ bản mới lạ là QCD và Điện-Yếu.      Thật vậy, cả 3 lực: mạnh, điện từ và yếu đều bị chi phối, điều hành bởi một nguyên lý căn bản gọi là  đối xứng chuẩn định xứ (local gauge symmetry), một công cụ nhiệm mầu để phát hiện ra cả 3 định luật cơ bản nói trên. Đối xứng này xác định trước hết là phải tồn tại những boson chuẩn mang spin 1 để truyền tải lực cho quark và lepton tương tác, những boson chuẩn này tuân theo phương trình Maxwell (cho photon của lực điện-từ) và Yang-Mills (cho gluon của lực mạnh và W, Z của lực yếu).      Lịch sử khám phá QED thực ra đã đi con đường ngược lại: electron và dòng điện của nó lấy từ phương trình Dirac chính là nguồn tạo nên trường điện-từ photon (diễn tả bởi phương trình Maxwell); từ đó tổng hợp chúng để hình thành định luật tương tác giữa electron và photon (QED). Khi phân tích cấu trúc toán học của QED thì nguyên lý đối xứng chuẩn định xứ được phát hiện. Đối xứng này từ đó trở thành ngọn hải đăng trong ngành vật lý hạt, khi khai thác và mở rộng nó thì hai định luật của tương tác mạnh và yếu được khám phá; theo thứ tự chúng mang tên QCD và Điện-Yếu. Tóm lại:         QED ⇒ đối xứng chuẩn ⇒ định luật Yang-Mills: QCD và Điện-Yếu      IIIa- Vài điều về Đối xứng.     Trong tiến trình khám phá các định luật khoa học, nhiều nhà nghiên cứu lấy nguồn cảm hứng trong cái đẹp cân đối hài hoà của thiên nhiên để quan sát, tìm tòi, suy luận, sáng tạo. Cái đẹp đó có thể chủ quan trong nghệ thuật, văn chương, hội họa, âm nhạc nhưng trong khoa học tự nhiên nó khách quan, định lượng và mang tên gọi đối xứng với dụng cụ toán học là  nhóm đối xứng để phân tích, xếp đặt thứ tự các trạng thái, phát hiện phương trình diễn tả quy luật tương tác của hệ thống và tiên đoán những hệ quả kiểm chứng bởi thực nghiệm. Sự tìm kiếm những đối xứng và sự vi phạm tuần tự của nó, cũng như xác định được những gì bất biến trong vật lý là phương pháp chỉ đường phổ biến và hữu hiệu trong công cuộc khám phá.      Đối xứng được định nghĩa theo nhà toán học Hermann Weyl (1885-1955) như sau: một định luật khoa học mang một tính đối xứng nếu nó biểu hiện không hề thay đổi khi ta tác động lên nó bởi một phép biến chuyển. Hình cầu là một minh hoạ rõ rệt của một vật thể đối xứng: phép quay trong không gian ba chiều với bất kỳ một góc nào chung quanh tâm của hình cầu không làm nó thay đổi hình dạng. Nói cách khác, đường kính của hình cầu là một bất biến của phép quay chung quanh tâm của nó.      Có hai định lý vô cùng phong phú – khám phá bởi nhà nữ toán học Emmy Noether năm 1918 – theo đó khi một tính đối xứng chi phối một hệ thống vật lý nào đó thì phải có một định luật bảo toàn kèm theo, và như vậy phải có một đại lượng bất biến tương ứng. Định lý thứ nhất liên đới đến tính đối xứng toàn bộ (global symmetry) hàm nghĩa là phép biến chuyển không phụ thuộc vào từng điểm của không-thời gian, diễn tả bởi tứ-vectơ xμ. Định lý thứ hai liên đới đến tính đối xứng định xứ (local symmetry) hàm nghĩa là phép biến chuyển phụ thuộc vào xμ, nó phong phú hơn nhiều vì nhờ đó mà phát hiện một trường tương tác mới lạ gọi là boson chuẩn có spin 1 và điều kỳ diệu tiếp theo là khám phá ra phương trình diễn tả sự tương tác của chúng.     Bản thân của mỗi định luật căn bản vật lý nhiều khi tuân thủ một phép đối xứng nào đó mà nhà nghiên cứu cần tìm kiếm ra.     Ví dụ của định lý Noether thứ nhất là luật bảo toàn năng lượng, hệ quả của tính đối xứng toàn bộ bởi sự chuyển đổi tịnh tiến của thời gian (một thí nghiệm thực hiện hôm nay, năm trước hay tuần sau, trong cùng một điều kiện, cũng đều giống hệt nhau). Tính đối xứng bởi sự chuyển đổi tịnh tiến của không gian (thí nghiệm thực hiện trong cùng một điều kiện tại Hà Nội, Paris, Washington đều như nhau) cho ta định luật bảo toàn xung lượng. Hai định luật bảo toàn này, theo thứ tự, diễn tả tính đồng nhất của thời gian (lúc nào cũng thế) và của không gian (đâu cũng vậy). Ngoài ra còn có đối xứng bởi phép quay chung quanh một trục, nó đưa đến định luật bảo toàn xung lượng góc. Định luật này diễn tả tính đẳng hướng của không gian (bất kỳ chiều hướng nào cũng tương đương như nhau). Đồng nhất và Đẳng hướng là hai đối xứng cơ bản của không gian và thời gian.     Một ví dụ của định lý Noether thứ hai là sự bảo toàn điện tích, hệ quả của phép đối xứng chuẩn định xứ trong lực điện-từ. Điện tích chẳng bao giờ mất đi hay sinh ra cả, nó bất biến bởi phép biến chuyển chuẩn (gauge transformation). Danh từ chuẩn, cũng do Hermann Weyl đưa ra, hàm ý là không có một thang chuẩn mực, thước đo tuyệt đối nào trong cách tính toán, đong đếm, đo lường giá trị nội tại của các đại lượng khoa học. Mét hay một năm ánh sáng,  đơn vị nhiệt độ Fahrenheit hay Celsius đều tương đương, đó chỉ là ước lệ của con người. Bất biến bởi đối xứng chuẩn hàm ý là giá trị tự tại của một đại lượng không phụ thuộc vào phương cách, mực thước, đơn vị mà ta dùng để đo lường, tính toán.     Đối xứng chuẩn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trình khám phá, khởi đầu trong điện từ và sau đó lan rộng sang nhiều ngành khoa học như vật lý hạt, vật lý chất rắn, vũ trụ thiên văn vô hình trung kèm theo những ứng dụng kỳ diệu trong công nghệ liên đới đến những ngành này13 .     Vậy đối xứng chuẩn và biến chuyển chuẩn là gì? Ai trong chúng ta khi làm quen với cơ học lượng tử đều biết rằng bình phương độ lớn của hàm số sóng |Ψ(x)|2 của electron cho ta xác suất trạng thái của nó. Ta thấy ngay phép biến chuyển chuẩn Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x) với bất kỳ một hàm thực α(x) nào đều không làm thay đổi |Ψ(x)|2 của electron. Biến chuyển chuẩn (chuyển pha) có hai đặc tính là liên tục (vì α(x) là hàm liên tục của x) và định xứ. Tính từ “định xứ” nhấn mạnh α(x) tuỳ thuộc vào biến số x, chữ viết tắt của tứ-vectơ xμ ≡ (ct, x) diễn tả không-thời gian bốn chiều.      Cũng vậy phương trình Maxwell của photon, diễn tả bởi tứ-vectơ điện thế Aμ(x), không thay đổi bởi phép biến chuyển Aμ(x) → Aμ(x) – (1/e) ∂α(x)/∂xμ, ta thêm vào hay bớt đi đạo hàm ∂α(x)/∂xμ của bất kỳ hàm α(x) nào trong Aμ(x) cũng không làm thay đổi phương trình Maxwell. Định luật điện-từ bất biến bởi phép biến chuyển Aμ(x) → Aμ(x) – (1/e) ∂α(x)/∂xμ và Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x) với bất kỳ hàm thực α(x) nào 14.      Cụ thể, ta mường tượng đối xứng này như sau: điện thế của trái đất là một triệu volt và hai cực điện trong nhà là 1000000 volt và 1000220 volt, nhưng máy của chúng ta chạy với 220 volt không hề trục trặc mặc dầu hàng triệu volt điện thế của quả đất. Cái quan trọng là hiệu số của điện thế chứ không phải bản thân của điện thế ở mỗi điểm x của không-thời gian. Vì α(x) là bất kỳ hàm gì, có muôn ngàn điện thế tùy tiện khác nhau ở mọi nơi trong hoàn vũ bao la, nhưng định luật chi phối sự vận hành của chúng phải được điều chỉnh ra sao để cho ta một trường điện từ duy nhất, lực điện từ trong máy của chúng ta cũng là lực điện từ trên các thiên thể. Hệ quả của đối xứng định xứ là số lượng điện tích bao giờ cũng được bảo toàn trong các quá trình vật lý, chúng bất biến với thời gian và không gian. Đó là ý nghĩa vật lý của các loại đối xứng định xứ, nó tác động lên cả bốn lực cơ bản: hấp dẫn, mạnh, điện-từ, yếu.       IIIb-Từ đối xứng đến định luật.        1- Theo thuyết tương đối rộng (luật hấp dẫn), mọi người quan sát bất kể họ chuyển động ra sao đều bình đẳng như nhau, người di chuyển với gia tốc cũng có thể nói họ đứng yên vì họ có thể thay thế lực mà họ bị tác động lên bằng lực hấp dẫn mà họ bị đặt vào. Sự tương đương giữa gia tốc và trọng lực có thể minh họa qua hình ảnh quen thuộc của phi hành gia lơ lửng đứng yên trong hỏa tiễn bay với gia tốc lớn. Nó phản ánh ý tưởng mà Einstein coi như mãn nguyện nhất trong đời ông: “một người rớt từ trên cao xuống không cảm thấy sức nặng của mình”. Theo nghĩa đó, lực hấp dẫn tuân thủ một phép đối xứng định xứ, nó bảo đảm rằng tất cả các  hệ quy chiếu ở mọi điểm của không-thời gian đều tương đương với nhau.         2- Đối xứng chuẩn định xứ khẳng định tính bất biến của định luật điện-từ bởi những chuyển dời của điện tích từ điểm này đến điểm kia của không-thời gian. Cũng thế, đối với lực mạnh của hạt nhân nguyên tử thì hai hạt proton và neutron đều hoàn toàn bình đẳng, định luật tương tác mạnh của hạt nhân không thay đổi bởi sự hoán chuyển proton ↔ neutron ở bất kỳ điểm nào trong không-thời gian.      Và đây là điểm cốt lõi: Sự tương đương của mọi hệ quy chiếu (bất kỳ chúng chuyển động có hay không có gia tốc) đòi hỏi phải có luật hấp dẫn và xác định được luật hấp dẫn dưới dạng phương trình Einstein của thuyết tương đối rộng 15.        3- Định luật tương tác điện-từ giữa electron với photon cũng có thể được phát hiện như vậy. Mở đầu chỉ có một trường electron Ψ(x), với điều kiện là hoán chuyển Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x) không làm biến đổi dạng của hàm Lagrange 16 Ψ–(x)(iћγμ∂μ – mc) Ψ(x) của electron. Đòi hỏi này đưa tới hệ quả là phải hiện hữu một trường tứ-vectơ Aμ(x). Thực vậy, đạo hàm ∂μ ≡ ∂/∂xμ áp đặt lên eieα(x) Ψ(x) bó buộc một trường Aμ(x) nào đó phải hiện hữu để triệt tiêu hệ số ∂μα(x) và góp phần cho hàm Lagrange bất biến bởi hoán chuyển Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x). Hơn nữa, trường Aμ(x) và tenxơ liên đới Fμv ≡ ∂μAv (x) – ∂vAμ (x) lại tuân thủ phương trình Maxwell, vậy Aμ(x) chính là trường photon. Kết quả cuối cùng để cho hàm Lagrange bất biến là cả hai trường electron Ψ(x) và photon Aμ (x) phải gắn kết dưới dạng eΨ–(x)γμΨ(x)Aμ(x), mà công thức này chính là định luật tương tác điện-từ (QED), kỳ thú thay!       4- Cũng theo cách lập luận như trên, ta sẽ đi từ đối xứng giữa proton và neutron trong các quá trình của hạt nhân nguyên tử để phát hiện ra định luật tương tác của chúng, định luật này là phiên bản đầu tiên của lý thuyết chuẩn Yang-Mills. Thực thế neutron giống hệt như proton trong những tác động của chúng ở lãnh vực hạt nhân nguyên tử, vậy phép đối xứng định xứ giữa hai thành phần proton và neutron của nucleon (ở bất kỳ một điểm nào của không-thời gian) đòi hỏi tương tác mạnh phải được diễn tả dưới dạng của một phương trình cụ thể nào đó.      Chen Ning Yang cùng đồng nghiệp Robert Mills bàn luận về tính bất biến của lực mạnh dưới sự hoán chuyển proton ↔ neutron và tìm ra định luật tương tác đáp ứng phép đối xứng này. Công trình cực kỳ phong phú đó gọi là lý thuyết chuẩn Yang-Mills 17 với nhóm đối xứng SU(2) giữa hai đối tượng là proton và neutron.      Mô phỏng phương pháp này vào trường hợp của quark mang sắc tích bằng cách thay thế nhóm đối xứng SU(2) giữa proton và neutron bởi nhóm đối xứng SU(3)C giữa 3 sắc tích của quark, thuyết Yang-Mills xây dựng với SU(3)C do đó mang tên Sắc động lực học lượng tử và boson chuẩn của nó là gluon.      Đối xứng chuẩn định xứ giữa ba sắc tích của quark diễn tả tính bất biến của QCD bởi những chuyển rời của sắc tích từ một điểm không-thời gian này đến một điểm không-thời gian kia.       IIIc- Tự do tiệm cận và nô lệ hồng ngoại.     Về mặt cấu trúc toán học thì sự hoán chuyển của N vật thể bởi nhóm đối xứng SU(N) được biểu diễn với (N2 – 1) ma trận N x N, tương ứng với (N2 – 1) boson chuẩn nối kết N vật thể với nhau. Với nhóm SU(2) ta có 3 ma trận Pauli, với nhóm SU(3) ta có 8 ma trận Gell-Mann và QCD có 8 boson chuẩn (gluon) nối kết quark; cả gluon lẫn quark đều mang sắc tích. Vì những ma trận của SU(N) phản giao hoán (ab ≠ ba) nên đối xứng chuẩn với nhóm SU(N) mang tên đối xứng chuẩn không giao hoán.      Một hệ quả độc đáo do tính không giao hoán của nhóm SU(N) trong lý thuyết Yang-Mills nói chung (và nhóm SU(3)C trong QCD nói riêng) là các (N2 – 1) boson chuẩn phải trực tiếp tác động giữa chúng với nhau, khác với điện-từ không có tương tác trực tiếp này. Thực thế nhóm đối xứng U(1) của QED là eieα(x) chỉ có một thông số α(x), tương ứng với một boson chuẩn (photon) nên đương nhiên đối xứng chuẩn U(1) giao hoán. Theo định lý Noether, hệ quả của đối xứng SU(3)C trong QCD là sự bảo toàn sắc tích, cũng như hệ quả của đối xứng U(1) trong QED là sự bảo toàn điện tích.     Tác động trực tiếp với nhau giữa các gluon là gốc nguồn của tính chất “tự do tiệm cận” 18, theo đó, cường độ của lực mạnh giảm đi khi năng-xung lượng E dùng để thám dò quark tăng lên, hằng số tương tác αQCD nhỏ dần như 1/Log(E) khi E tăng. Trong vùng năng lượng cao, quark và gluon không liên kết chặt chẽ với nhau nữa và được tự do; ngược lại, ở vùng năng lượng thấp (nhiệt độ bình thường), quark và gluon bị giữ chặt trong các hadron. Tính chất lạ lùng này, mệnh danh “nô lệ hồng ngoại”, có thể coi như hệ quả của sự nối dài liên tục từ E lớn xuống E nhỏ của hàm 1/Log(E), hàm này tăng khi E giảm làm cho αQCD >>  1. Vì khoảng cách không gian R và năng-xung lượng E tỷ lệ nghịch theo nguyên lý bất định, tính “nô lệ hồng ngoại” khiến cho cường độ αQCD của lực mạnh gắn quark với nhau lại tăng lên với khoảng cách của hai quark, càng đẩy chúng ra xa để tách rời chúng thì lực gắn kết chúng lại càng mạnh hơn lên để kéo giữ chúng với nhau, trái ngược với lực Coulomb của điện-từ bị giảm theo bình phương của khoảng cách giữa hai điện tích. Quark bị cầm tù trong hadron, ở nhiệt độ bình thuờng chúng không sao thoát ra ngoài để lộ mặt. Tính chất độc đáo “tự do tiệm cận” của QCD đã mang giải Nobel 2004 cho Gross, Politzer và Wilczek.      Khi phân tích chi tiết các số liệu thực nghiệm về phân bố tán xạ, điều ngạc nhiên là ở năng lượng cao (nhiệt độ lớn), các thành phần cơ bản quark và gluon hầu như không chút nào bị gắn kết chặt chẽ trong các hadron. Tính tự do tiệm cận của QCD giải thích điều này vì ở năng lượng cao thì lực mạnh nhỏ dần, quark thoải mái vẫy vùng tự do trong hadron. Cũng vậy trong máy gia tốc có năng lượng cao hay ở các thiên thể bùng phát, đặc tính tự do tiệm cận tiên đoán quark cũng như gluon không còn gắn chặt với nhau nữa mà tập hợp vĩ mô của chúng trở thành lỏng và quánh như mật, một trạng thái mới của vật chất gọi là quark-gluon plasma. Trong những giây phút đầu tiên của Vụ Nổ Lớn với năng lượng, nhiệt độ, áp suất, mật độ cao cùng cực, quark và gluon hoàn toàn tự do không còn chút nào gắn kết, tương tác với nhau, vật lý thời nguyên thủy thực là đơn sơ! Khi vũ trụ nguội dần, entropy tăng trưởng, lực mạnh giữa quark gluon tăng dần, gắn kết chúng để thành hadron và vật chất nói chung trở nên phức tạp.      Đặc điểm cần nhấn mạnh của đối xứng chuẩn định xứ là nó đòi hỏi các boson chuẩn – làm trung gian sứ giả cho những trường vật chất quark và lepton tương tác với nhau – phải không có khối lượng 19. Photon hay gluon là ví dụ của boson chuẩn không có khối lượng. Đó cũng là điều kiện tiên quyết cho sự tái chuẩn hóa thành công của QED và QCD.     Cuối cùng còn lại lực yếu. Đối xứng chuẩn, một nguyên lý mầu nhiệm, có thể đóng vai trò nào cho lực yếu không? Nhìn bề ngoài thì vô vọng vì khối lượng MW của hạt trung gian truyền tải lực yếu không những khác 0 mà lại rất lớn theo nguyên lý bất định (MW ˜  ћ/RW) mà  độ dài truyền tải của lực yếu RW thì cực kỳ nhỏ vì nó chỉ tác động trong hạt nhân nguyên tử.      Ây vậy mà câu trả lời là có, nhưng phải qua nhiều chặng đường khó khăn mà ngoạn mục mang tên gọi là sự phá vỡ tự phát của đối xứng chuẩn định xứ, điều liên đới đến boson Higgs đề cập sau ở Phần IV về thuyết Điện-Yếu.                           Chú thích Phần III     13 Tạm kể mấy thành quả kỳ diệu của công nghệ mang đến cho đời sống hàng ngày:         (i)- Mạng lưới toàn cầu (www) được sáng tạo và dùng đầu tiên bởi các nhà vật lý ở CERN. Vì hàng ngàn nhà vật lý ngành năng lượng cao này đều sinh hoạt ở nhiều quốc gia tản mát khắp địa cầu không phải lúc nào cũng có thể thường xuyên làm việc bên CERN, để dễ dàng cộng tác và trao đổi rất nhiều dữ liệu, cùng nhau phân tích tổng hợp nhanh chóng các kết quả nghiên cứu, khoảng năm 1990 đã xuất hiện mạng lưới toàn cầu. Chưa đầy mười năm sau, internet đã nhanh chóng tràn ngập thị trường thông-truyền-tin quốc tế mà điển hình là động cơ truy cập Google.         (ii)- Cuộc cách mạng số trong những phương tiện truyền thanh, truyền hình, quay phim, điện thoại v.v. được phát triển nhờ những khám phá về laser và chất bán dẫn mà đại diện là các linh kiện vi tính, vi điện tử, quang điện tử.          (iii)- Hệ thống GPS (Global Positioning System) để xác định tức khắc các địa điểm trên toàn cầu trang bị các phương tiện vận tải, thông truyền tin. Hệ thống đó tùy thuộc căn bản vào máy đo thời gian vô cùng chính xác (đồng hồ nguyên tử khai thác sự dao động tuần hoàn của các nguyên tử vi mô) được dùng đầu tiên với mục tiêu khoa học thuần túy để kiểm chứng thuyết tương đối rộng trong vũ trụ học và thiên văn. Theo thuyết này nhịp độ của đồng hồ thay đổi với sức hút của quả đất, trọng lực giảm trên các vệ tinh GPS thì tần số dao động cũng giảm theo, hay thời gian trôi nhanh lên.         (iv)- Công nghệ liên quan đến y tế dùng máy gia tốc của các hạt proton hay electron, laser trong giải phẫu, trị bệnh, máy chụp hình nổi như MRI (magnetic resonance imaging), PET (positron emission tomography) trong đó hạt positron (tức phản electron) được tận dụng để rõi theo sự biến chuyển của tế bào.        (v)- Hiện tượng siêu dẫn điện-từ ở nhiệt độ thấp (từ sát 0K đến 165 K) là một đặc trưng của vật lý lượng tử. Vật liệu siêu dẫn không có điện trở, điện không bị thất tán nếu truyền tải bằng dây siêu dẫn. Hơn thế nữa, một thanh nam châm để gần một vật liệu siêu dẫn sẽ bị nâng bật ra ngoài, khác với điện từ ở điều kiện bình thường. Với những đặc tính trên và từ trường cực kỳ mạnh duới trạng thái siêu dẫn, có nhiều triển vọng cho công nghiệp của thế kỷ 21, đặc biệt trong sự sản xuất, tích trữ và chuyển vận năng lượng. Một ví dụ là khả năng điều khiển được sự tổng hợp nhiệt hạch với lò phản ứng nhiệt hạch quốc tế ITER xây dựng ở Cadarache miền nam nước Pháp. Ngoài ra còn phải kể đến khả năng chủ yếu của siêu dẫn trong các ngành liên quan đến điện tử (với máy tính và dữ kiện dùng vật liệu siêu dẫn), đến sinh học (với thiết bị sensor cực kỳ nhậy bén), đến vận tải (với tàu hỏa tốc hành nâng lên bởi từ trường siêu dẫn, không chạm đường ray nên tàu chạy rất nhanh lại an toàn), đến vật liệu carbon như fullerene C60, vật dẫn điện hữu cơ, đất hiếm.  14 Trong phương trình Maxwell thực ra có 6 đại lượng vật lý gồm vectơ điện E và vectơ từ B (mỗi vectơ có 3 thành phần), nhưng E và B có thể suy tính ra từ một tứ vectơ điện thế Aμ  với 4 thành phần. Tứ vectơ Aμ  này được coi như công cụ để thao tác tính toán dễ dàng, nó không thể trực tiếp quan sát đo lường được, khác với E và B. Có muôn vàn điện thế Aμ (x) khác nhau ở mỗi điểm của không-thời gian (vì có thể thêm bớt vào Aμ (x) bất kỳ một đạo hàm ∂α(x)/∂xμ), nhưng chúng cho ra duy nhất chỉ có một E và một B thôi, minh họa tính bất biến của các đại lượng vật lý bởi phép biến chuyển chuẩn. Cái tùy tiện của điện thế Aμ  tuy vậy không phải là một trở ngại, trái lại là khác vì ta có thể lợi dụng điều kiện đó để, tùy trường hợp, thay thế chuẩn mực này bởi chuẩn mực khác để dễ dàng tính toán, miễn là cuối cùng phải kiểm soát kết quả tính toán không tùy thuộc vào bất kỳ một chuẩn nào cả.     Nôm na như đo lường khoảng cách thời gian trôi không phụ thuộc vào loại đồng hồ và đơn vị thời gian.      15Trong phương trình Einstein Rμν – (½)R gμν = (8πG/c4)Tμν, hệ số (½)Rgμν (mà riêng ông đã tìm ra và đặt thêm vào ngày 25/11/1915) đóng vai trò tối cần thiết để đáp ứng luật bảo toàn năng-xung lượng ∂μTμν = ∂vTμv = 0. Trước đó năm 1913, Grossmann và Einstein cộng tác đã đi gần tới đích với tenxơ Ricci: Rμν = (8πG/c4)Tμν, nhưng vế trái ∂μ Rμν và ∂vRμν đều ≠ 0 trong khi vế phải ∂μTμν = ∂νTμν = 0 nên hệ số (½)Rgμν phải thêm vào vế trái phương trình để đạo hàm của Rμν và (½)Rgμν triệt tiêu nhau và tuân thủ định luật bảo toàn năng-xung lượng.      16Hiệu số giữa động năng và thế năng của một vật, hàm Lagrange đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cơ học cổ điển cũng như trong cơ học và trường lượng tử, nó cho ta phương trình vận chuyển và quỹ đạo của vật.      17 Thuyết Yang-Mills mở rộng thuyết điện-từ bởi sự thay thế electron bằng 2 thành phần của  nucleon là proton và neutron, nhóm đối xứng U(1) của điện-từ được thay thế bởi nhóm SU(2) của Yang-Mills. Đại thể như sau:    (i)- Hoán chuyển giữa 2 vật thể proton ⇔ neutron được thực hiện bởi nhóm đối xứng SU(2) với 3 ma trận 2 x 2 của Pauli τ+, τ–, τ3 viết tắt là vectơ ma trận τ . τ+ chuyển n thành p, τ– chuyển p thành n, τ3 giữ nguyên vẹn p và n. Đồng hành với vectơ ma trận τ  là hàm vectơ α(x) cũng có 3 thành phần α+(x), α-(x), α3(x) để cho tích số τ.α(x) của hai vectơ τ và  α(x) là một lượng vô hướng. Lượng τ.α(x) và eiτ.α(x) thay thế, theo thứ tự, α(x) và eieα(x) của phép hoán chuyển chuẩn Ψ(x) → eieα(x) Ψ(x) trong điện-từ. Với nhóm SU(2), ta có 3 ma trận Pauli nói riêng và với nhóm SU(N) ta có (N2 – 1) ma trận nói chung.      (ii)- Mở đầu là trường nucleon Ψ2(x) (có 2 thành phần proton và neutron) với điều kiện là phép hoán chuyển chuẩn Ψ2(x) → eiτ.α(x) Ψ2(x) không làm biến đổi dạng của hàm Lagrange Ψ–2(x)(iћγμ∂μ – mc) Ψ2(x) của nucleon. Đòi hỏi này đưa tới hệ quả là phải hiện hữu 3 tứ-vectơ Aμ (x), viết gọn là  Aμ (x), đó là 3 boson chuẩn của nhóm SU(2). Tính toán ma trận cho ta tenxơ Fμv = ∂μAv – ∂v Aμ + Aμ x Av thay thế tenxơ Fμv = ∂μAv –  ∂v Aμ của điện-từ. Chính sự hiện hữu của tích số vectơ Aμ x Av, đặc trưng của lý thuyết Yang-Mills, là do tính không giao hoán của các ma trận Pauli.    (iii)- Từ nhóm SU(2) nguyên thủy, ta mở rộng sang các nhóm đối xứng SU(N) khác. Boson chuẩn của điện từ (photon) được thay thế bởi (N2 – 1) boson chuẩn mở rộng Aμ. Các boson chuẩn Yang-Mills trực tiếp tác động với nhau qua số hạng được mở rộng Aμ x Av với (N2 – 1) thành phần.  QCD là thuyết Yang-Mills với nhóm đối xứng SU(3)C giữa 3 sắc tích của quark, và boson chuẩn của QCD là 8 gluon. Ronald Shaw môn đệ ở đại học Cambridge của Abdus Salam cũng có ý tưởng tương tự, trong luận án tiến sĩ của Shaw năm 1954, ông cũng tìm thấy phương trình (nay mang tên Yang-Mills) mặc dầu không hề biết đến công trình của Yang-Mills lúc ấy chưa in trên Physical Review 96, 191 (1954). Ngày nay thông tin khoa học được nhanh chóng cập nhật với hệ thống arXiv.    18Tính chất độc đáo của QCD (do Aμ x Av) là boson chuẩn gluon phải trực tiếp tác động giữa chúng với nhau (Hình e), khác với boson chuẩn của điện-từ (photon) không có tương tác trực tiếp này. Chính sự gắn bó giữa ba gluon là gốc nguồn của tính chất “tự do tiệm cận” và mang giải Nobel 2004 cho ba tác giả David J. Gross, H. David Politzer và Frank Wilczek đã chứng minh được tính chất này. Để được giải Nobel này, tất cả chỉ là một dấu trừ, như Politzer vui vẻ bình luận trong diễn văn nhận giải.   Thực thế, do tác động của các hạt ảo (hạt mà năng lượng E, xung lượng k và khối lượng m của nó không tuân thủ đẳng thức Einstein E2 – k2c2 = m2c4 của hạt thực) tràn ngập chân không lượng tử nên các hằng số tương tác không cố định mà thay đổi với năng lượng, một đặc trưng chung cho các lý thuyết trường lượng tử tái chuẩn hóa. Đặc tính này gọi là hằng số di động (running coupling constant); đạo hàm (đối với năng lượng) của hằng số di động gọi là hàm bêta, vậy tùy theo hàm bêta dương hay âm mà hằng số di động tăng hay giảm. Trong QED, hàm bêta dương, thực nghiệm cho αem(E = 0) ˜  1/137 và αem(E = 100 GeV) ˜ 1/129.   Tại sao hằng số lại thay đổi tuy chỉ nhẹ nhàng như hàm Logarithm? Lý do là electron trần trụi lúc nào cũng bị vây quanh, trước hết bởi những positron bị electron hút gần vào (do lực Coulomb), rồi những positron ấy lại bị nhiều electron khác kèm thành cặp, cứ thế liên hồi chúng ngăn chặn làm khó khăn cho photon thăm dò electron trần trụi. Muốn càng gần electron để đo lường điện tích của nó thì photon phải có năng lượng E càng lớn để vượt qua rào cản của các cặp fermion ảo e–e+ vây quanh electron trần trụi, và hằng số tương tác điện-từ αem như vậy tăng lên với E, minh họa bởi Hình d.              Hình d: electron trần trụi ở trung tâm bị rào cản bởi muôn vàn cặp ảo electron-positron (hình bầu dục xanh vàng)             Ngược lại, hàm bêta của QCD có dấu âm, khi E → ∞ thì hằng số di động của tương tác mạnh nhỏ dần như 1/Log(E) → 0. Lý do là gluon khi thăm dò quark lại được vài gluon bạn (Hình e) kèm theo trợ giúp (điều mà photon không có) nên gluon dễ dàng tiến gần vào quark, mặc dầu cũng bị rào cản bởi các cặp ảo quark-phản quark giống như trường hợp photon bị rào cản bởi các cặp e–e+ trong QED. Nhưng được nâng đỡ bởi các gluon bạn nên rốt cuộc các gluon bạn thắng được sự rào cản của các cặp ảo quark-phản quark. Chính xác ra hàm bêta của QCD   ˜  2NF  – 11NC , NF là số hương vị và NC = 3 là số sắc tích của quark. Vì NF = 6 (chỉ có 6 loại quark u, d, c, s, t, b như ta biết ở năng lượng dưới 200 GeV) nên hàm bêta của QCD có dấu âm và QCD có tính tự do tiệm cận. Ngược lại, nếu trong thiên nhiên số lượng hưong vị của quark NF ≥ 17 thì hàm bêta của QCD có dấu dương như QED.             Hình e: 3 và 4 gluon gắn kết tương tác với nhau.             Cái khó khăn trong kỹ thuật tính toán hàm bêta của QCD là có 3 và 4 boson chuẩn (gluon) của QCD trực tiếp tác động và trợ giúp nhau (Hình e), điều mà QED thiếu.Tính toán nhọc nhằn được hàm bêta của QCD là cả một kỳ công, dấu cộng hay trừ ở đây quyết định tất cả. Khi Politzer (mới 24 tuổi) trình bày dấu trừ cho thầy hướng dẫn luận án của ông là Sidney Coleman, một chuyên gia hàng đầu về lý thuyết trường lượng tử ở Đại học Harvard, Coleman cho rằng trò mình lầm và bắt làm lại. Wilzeck (mới 22 tuổi) cùng Gross, thày hướng dẫn luận án ở Đại học Princeton, cộng tác mật thiết trong việc tìm ra dấu trừ cho hàm bêta của QCD.  Ngược với tự do tiệm cận (ở năng lượng cao) là “nô lệ hồng ngoại’’ hàm ý là ở năng lượng thấp (ánh sáng hồng ngoại) thì quark bị cầm tù trong hadron, ở năng lượng cao thì quark được tự do. Viện toán học Clay (Clay Mathematics Institute) treo giải một triệu dollars cho người nào chứng minh chính xác được tính nô lệ hồng ngoại của QCD. Nói theo ngôn từ vật lý thì “nô lệ hồng ngoại’’ hàm ý sự hiện hữu của khe năng lượng ∆ ≠ 0 tựa như trong hiện tượng siêu dẫn điện-từ. Cũng viện Clay này năm 2004 đã vinh tặng hai G.S. Gérard Laumon và Ngô Bảo Châu giải được một phần của bổ đề Langlands với nhóm unita.  19 Thực thế nếu boson chuẩn  Aμ có khối lượng M ≠ 0, thì hệ số M2Aμ Aμ làm cho hàm Lagrange không còn bất biến bởi hoán chuyển chuẩn Aμ(x) → Aμ(x) – ∂α(x)/∂xμ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình hóa vật chất ở cấp độ nano bằng AI      Trong một bài báo xuất bản trên tạp chí Science, DeepMind đã trình bày cách  các mạng thần kinh có thể hữu dụng để mô tả các tương tác electron trong các hệ hóa học chính xác hơn hơn nhiều các phương pháp hiện tại.      Bài báo “Pushing the frontiers of density functionals by solving the fractional electron problem” (Thúc đẩy các biên  giới của các hàm mật độ bằng việc giải quyết bài toán electron phân đoạn) 1.  Lý thuyết phiếm hàm mật độ, được thiết lập từ những năm 1960, đã miêu tả sự sắp xếp giữa mật độ electron và năng lượng tương tác. Trong hơn 50 năm, bản chất chính xác của sự sắp xếp giữa mật độ electron và năng lượng tương tác – cái gọi là hàm mật độ – vẫn còn chưa rõ ràng. Trong nỗ lực thúc đẩy sự tiến bộ của lĩnh vực này, nhóm DeepMind đã chứng tỏ có thể dùng các mạng thần kinh để xây dựng một bản đồ mật độ và tương tác giữa các electron chính xác hơn nhiều so với những gì đạt được trước đây.  Với việc biểu hiện chức năng như một mạng thần kinh và tích hợp các đặc tính chính xác vào dữ liệu dùng để huấn luyện, DeepMind đã có thể huấn luyện mô hình học được các hàm từ hai sai số hệ thống quan trọng – sai số tái định xứ và phá vỡ đối xứng – đạt kết quả miêu tả tốt hơn về một lớp rộng của các phản ứng hóa học.  Về ngắn hạn, điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu có được sự cải thiện gần đúng của hàm mật độ chính xác sử dụng trực tiếp qua mã hiện có của chúng ta. Về dài hạn, đó là một bước đi chứng tỏ sự hứa hẹn của deep learning trong mô phỏng vật chất một cách chính xác ở mức cơ học lượng tử – vốn có thể làm tăng cường khả năng thiết kế vật liệu trên mát tính thông qua việc giúp các nhà khoa học khám phá các vấn đề về vật liệu, y học và xúc tác ở cấp độ nano.  “Hiểu biết về công nghệ ở cấp độ nano đang ngày một trở thành điều cốt lõi để giúp chúng ta giải quyết một số thách thức lớn cuat thế kỷ 21, từ điện sạch đến ô nhiễm nhựa”, James Kirkpatrick, nhà nghiên cứu tại DeepMind, nói. “Nghiên cứu này là một bước tiến thẳng tới chỗcho phép chúng ta hiểu tốt hơn về những tương tác giữa các electron, chất keo gắn nắm giữ các phân tử lại với nhau”.  Với mục tiêu gia tốc tiến triển trong lĩnh vực này, DeepMind đã thực hiện nghiên cứu và cung cấp mã nguồn mở miễn phí cho mọi người có thể tự do tìm hiểu.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-simulating-nanoscale-ai.html  https://www.newscientist.com/article/2300626-deepmind-ai-helps-study-strange-electrons-in-chemical-reactions/  ———————-  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abj6511    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình phát triển của kiến thức theo Michel Foucault      Foucault không chỉ là một trong những triết gia đầu tiên chết vì bệnh sida. Foucault cũng không chỉ là một ngôi sao sáng trong nền triết học hiện đại thế giới. Bỏ qua tất cả những nồng nhiệt của báo chí và sự sôi nổi của tiếp nhận tư tưởng Foucault về chính trị và xã hội (nhất là các tư tưởng và hành động vì xã hội kỷ cương), những ồn ào mà bản thân Foucault cũng từng kinh sợ, vẫn còn một Foucault khác. Một Foucault với những tư tưởng độc đáo, một Foucault chưa từng dẫm lên chân ai trong suốt chặng đường tri thức. Một Foucault dám nghĩ khác, nghĩ rộng, thậm chí nghĩ đến tất cả. Có một năng lượng Foucault mạnh mẽ trong suy tư, những khám phá, những gợi ý mang ý nghĩa to lớn cho bất kỳ con người hiện đại nào muốn suy nghĩ về lịch sử, triết học, y học và kiến thức.    Foucault sinh năm 1926 tại thành phố Poitiers. Bố là một bác sĩ phẫu thuật, dòng dõi toàn bác sĩ, mẹ cũng là con một bác sĩ phẫu thuật. Tất cả chuẩn bị để ông trở thành một bác sĩ, và quả thật tuy được coi là triết gia lớn của Pháp nhưng gần như cả đời chức danh của ông tại các trường đại học đều là chân giảng dạy về tâm lý học. Những năm học ở trường Sư phạm phố Ulm của Foucault vừa chứng kiến những cơn khủng hoảng tâm lý, phần nhiều liên quan đến tình dục, thậm chí nhiều khi dẫn ông đến ý định tự tử, nhưng đồng thời cũng mở ra cho ông chân trời khoa học, với dấu ấn sâu đậm trước hết của triết gia Maurice Merleau-Ponty, khi đó vừa trở thành giảng viên tâm lý học. Những bài giảng của Merleau-Ponty về thống nhất thể giữa linh hồn và cơ thể ở Malebranche, Maine de Brian và Bergson giúp Foucault định hình được dự án nghiên cứu đầu tiên của mình, về sự ra đời của tâm lý học ở các nhà tư tưởng hậu Descartes.             Một góc ở bảo tàng Michel Foucault ở Berlin        Năm 22 tuổi, Foucault nhận bằng licence (tương đương cử nhân) triết học tại Đại học Sorbonne. Những tiếp xúc với Louis Althusser tại Ulm hướng Foucault đến chủ nghĩa cộng sản, tuy ông sẽ nhanh chóng tách ra; đó cũng là thời điểm tại trường Sư phạm, hai ý thức hệ tư sản và vô sản đụng độ ghê gớm, với đại diện của phái vô sản là hai triết gia Jean-Toussaint Desanti và Trần Đức Thảo, hai người mà Althusser đánh giá là “hai niềm hy vọng của thế hệ chúng tôi”. Năm 1949, ảnh hưởng lớn cuối cùng mà Foucault tiếp nhận trong quá trình học vấn là tư duy hình thức về ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure, được Merleau-Ponty truyền tải. Như vậy đã hình thành ở Foucault các nhóm kiến thức nền tảng: tâm lý học, triết học chính trị và cấu trúc luận. Cộng thêm vào đó là tâm tính và những xung năng tình dục phức tạp của con người ông, khiến cho tác phẩm lớn đầu tiên của Foucault sẽ là một lịch sử về bệnh điên. Sau này, nhất là từ cuối những năm 1960 và trong suốt thập niên 1970, Foucault trở thành tâm điểm của tư duy chính trị của Pháp, ông trở thành một nhà triết học dấn thân hàng đầu, vừa giảng ở trường Trung học Pháp quốc (Collège de France) vừa hăng hái chiến đấu cải thiện tình trạng nhà tù. Những hoạt động thực tế không chỉ có lúc đưa ông sát cánh cùng Jean-Paul Sartre, mà ông rất không ưa, mà còn khiến ông đưa ra những lý thuyết sẽ gây ảnh hưởng sâu rộng sau này về xã hội kỷ cương. Cộng thêm những chuyến đi liên miên khắp thế giới, trong đó đặc biệt là Thụy Điển và Mỹ, Foucault  trở thành gương mặt triết học Pháp nổi bật nhất, được biết đến nhiều nhất; ngay cả hiện nay những tư tưởng của ông về chính trị, xã hội và nhà tù vẫn tiếp tục được nghiên cứu trên diện rộng. Bài viết của tôi sẽ chỉ tập trung vào giai đoạn trước khi Foucault trượt từ tâm lý học và triết học lịch sử sang triết học chính trị, mà đỉnh cao là Từ và Vật, được xuất bản cách đây đúng 40 năm.  Từ và Vật (Les Mots et les Choses) là cuốn sách quan trọng hơn cả của Foucault. Thứ nhất, xét về khía cạnh cá nhân, đó là nơi Foucault đúc kết lý thuyết của mình về quá trình phát triển của kiến thức trong lịch sử Tây phương, từ khởi thủy đến thời hiện đại. Đây là cuốn sách mang lại danh tiếng lớn cho triết gia, cho đến khi đó vẫn chỉ mới được coi là một nhà tâm lý học độc đáo với hai tác phẩm Lịch sử bệnh điên thời cổ điển (1961) và Sự ra đời của bệnh viện. Một khảo cổ học về cái nhìn y học (1963). Nhưng Từ và Vật còn là một trong những cuốn sách quan trọng của cấu trúc luận Pháp. Năm 1966 khi cuốn sách ra đời chính là năm cấu trúc luận trước đó còn phải lép vế trước hiện tượng luận và chủ nghĩa hiện sinh, một thứ triết học “hạng hai”, nay đột khởi với hàng loạt tác phẩm của Claude Lévi-Strauss, Émile Benveniste, Jacques Lacan, Roland Barthes, Gérard Genette hay Serge Doubrovsky.             Foucault là người thật sự bị ám ảnh bởi ngôn ngữ        Nhẽ ra cuốn sách của Foucault phải có tên là L’Ordre des choses (Trật tự vật), nhưng vì trùng tên với một cuốn sách khác của Jacques Brosse vừa xuất bản nên buộc phải đổi tên. Quả thật, điều Foucault muốn giải quyết với cuốn sách là trật tự, hệ thống của vật, sau khi đã đề cập những chi tiết trong hai cuốn sách trước. Nhưng hơn hết, ông muốn vạch lại đường phát triển ngầm của lịch sử kiến thức phương Tây, những “tầng ngầm”, nói tóm lại là một “khảo cổ học”, đúng như tiêu đề cuốn sách đã chỉ ra: Một khảo cổ học về các khoa học nhân văn (Une archéologie des sciences humaines).  Để làm được điều đó, Foucault đi theo một con đường hết sức độc đáo. Trước ông đã nhiều người viết lịch sử tổng quát về tư tưởng và kiến thức phương Tây, nhưng phải đến ông mới có một bức tranh với những khối màu rõ ràng, những nét vẽ dứt khoát và chuyên chở được tối đa ý nghĩa. “Nền” của bức tranh đó là ba épistémè (từ Hy Lạp được Foucault sử dụng để diễn tả mô hình tổng quát của diễn ngôn): cho đến thế kỷ XVI, vai trò quan trọng nhất là sự tương tự (similitude), ngôn ngữ là tấm gương trung thành phản chiếu thế giới thật. Trong mô hình tương tự đó, Foucault xác lập bốn yếu tố: convenientia, aemulatio, analogie và sympathie, đi từ sự đặt cạnh nhau đơn giản đến những mối quan hệ tương tự trừu tượng hơn rất nhiều. Nhưng hệ thống đó vẫn chưa đủ, vì “nó cần một dấu hiệu hữu hình cho những tương đồng vô hình” (tr. 41), nên cần thêm một yếu tố thứ năm, mà Foucault gọi là chữ ký (signature); kể từ đó, ngôn ngữ “trở thành thành phần của sự phân chia lớn các tương tự và chữ ký” (tr. 50).  Bước sang thời Phục Hưng, từ được cung cấp một quyền lực mới: quyền lực trình bày (représentatif). Khoảng cách giữa từ và vật được nới rộng, tuy “độ dày của thế giới” vẫn chưa đủ để che lấp toàn bộ từ. Xuất phát nhu cầu hệ thống hóa ngôn ngữ, và ra đời cái mà Foucault gọi là bộ môn “ngữ pháp chung”. Trong tính hệ thống mới được thiết lập đó, diễn ngôn cổ điển đặc biệt quan tâm đến vấn đề định danh (nomination); danh từ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, bởi vì “Trong vòng hai thế kỷ, diễn ngôn phương Tây trở thành nơi trú ngụ của bản thể luận”. (tr. 133). Thời cổ điển đó, với nhu cầu nhìn mọi vật một cách sáng sủa hết mức có thể, sử dụng rộng rãi cách diễn đạt vật thông qua bảng (tableau), cách biểu đạt trong sáng nhất, nhưng ẩn đằng sau đó là cả một cấu trúc nhờ vào đó mà bất kỳ ai cũng có thể trình bày giống hệt nhau về cùng một chủ thể. Mô hình hóa (ở mức độ bảng biểu) đi kèm với các hệ thống phân loại, nhất là trong lịch sử tự nhiên, khi nhu cầu mô tả hệ thống động vật và thực vật một cách tường minh hết mức có thể vô cùng lớn, thao tác đặc biệt nổi bật của thời cổ điển, mà thời hiện đại sẽ kế thừa.  Épistémè cuối cùng là của thời hiện đại (hình thành vào khoảng cuối thế kỷ VIII). Từ nay Diễn ngôn đã biến mất, tất cả đã xoay quanh một đối tượng kỹ thuật duy nhất: con người; cũng chính từ đó mà các bộ môn khoa học nhân văn thực sự tìm được chỗ đứng. Nhưng thời hiện đại không chỉ chứng kiến sự ra đời của các môn khoa học nhân văn, mà còn chứng kiến sự xuất hiện của văn học, với mối quan tâm thường trực đặt vào chính bản thân ngôn ngữ, coi ngôn ngữ là đối tượng của suy tư, chứ không chỉ là một thứ công cụ để biểu đạt ý tưởng. Đây chính là truyền thống văn học bắt nguồn từ tư tưởng về ngôn ngữ của nhà thơ Stéphane Mallarmé, người đầu tiên đặt ngôn ngữ ở tầm siêu hình học, và cũng là người đặt chủ trương viết Cuốn sách viết hoa, chứ không phải là những cuốn sách dùng ngôn ngữ để chuyên chở những cái bên ngoài.  Đặc biệt đáng chú ý là những suy nghĩ của Foucault đặt ở hai chương cuối Từ và Vật, khi ông đặt trọng tâm vào épistémè hiện đại và tình thế của con người. Theo Foucault, “con người không tồn tại” (tr. 355) ở thời cổ điển, vì khi đó con người bị chìm lấp phía sau diễn ngôn, nếu muốn nghiên cứu ba khía cạnh chính của hoạt động con người (ngữ pháp chung, lịch sử tự nhiên và phân tích sự giàu có – sau này ở thời hiện đại sẽ phát triển thành ngôn ngữ học, sinh học và kinh tế học), chỉ cần quan tâm đến diễn ngôn là đủ. Như vậy là con người thoát được khỏi gánh nặng ngôn từ để xuất hiện với ba chiều chính: sinh học, kinh tế và chủ thể ngôn ngữ. Con người sống, nói năng và làm việc, như một hữu thể hoàn thiện.  Thế nhưng (đây chính là điểm quan trọng nhất của Từ và Vật, và cũng gây tranh cãi nhiều nhất), con người vẫn phải sống trong thế bất hòa giữa bản thân mình và hệ thống ngôn ngữ. Những vấn đề cũ biến mất khi diễn ngôn mất đi sức mạnh, giờ lại sống dậy; con người khi đã phế bỏ sự thống trị của diễn ngôn, sẽ phải hứng chịu sự trả thù. Kiến thức hiện đại đến lúc cũng từ bỏ con người để quay sang một đối tượng duy nhất: ngôn ngữ. Toàn bộ sẽ trở thành ngôn ngữ, trừu tượng, cấu trúc, ký hiệu. Kể từ nay, hiểu biết không còn là khám phá một bản chất người, mà là giải mã ngôn ngữ. Con người, do đó, tất yếu bị diệt vong, bị nhấn chìm đằng sau ngôn ngữ. Câu kết của cuốn sách là một báo hiệu ghê gớm về tình thế bi thảm của con người, khi Foucault sử dụng ẩn dụ “chúng ta có thể cá cược rằng con người sẽ biến mất, giống như khuôn mặt vẽ trên bờ cát ở sát mép nước” (tr. 398).  Có thể thấy rất rõ rằng Foucault thật sự bị ám ảnh bởi vấn đề ngôn ngữ. Người ta buộc phải đi qua ngôn ngữ để có thể với tới vật. Mối quan hệ là như vậy: phải qua từ mới với tới được vật. Từ giống như một thứ màn ngăn cách, một thứ trung gian không mấy khi chịu hợp tác, nói tóm lại, một thứ trung gian quá nhiều sức mạnh. Có thể nói rằng lịch sử kiến thức mà Foucault trình bày trong Từ và Vật là lịch sử được nhìn qua lăng kính ngôn ngữ. Mặt khác, trong hệ thống của ông, ngôn ngữ còn đóng vai trò điều hòa, như một thứ mẫu hình chuẩn mà các yếu tố khác phải tuân theo: quả thật, theo Foucault, các mối quan hệ quan trọng giữa trình bày (représentation) và tư tưởng hay chức năng của giá trị trong kinh tế học cũng được so sánh với các yếu tố của ngôn ngữ. Chính sự biến đổi về tính chất của ngôn ngữ đã đóng vai trò chủ chốt trong sự biến mất của con người: “Kể từ thế kỷ XIX, ngôn ngữ tự thu mình vào trong chính nó, tự tạo ra độ dày của mình, trình bày một lịch sử, các quy luật và một tính khách quan chỉ thuộc về nó” (tr. 309). Kết quả là độ dày của từ dần che lấp khuôn mặt của con người.  Sau này Foucault sẽ viết thêm một cuốn sách nữa để bổ sung cho lý thuyết “khảo cổ” của mình: Khảo cổ học kiến thức (L’Archéologie du savoir), năm 1969, trong đó ông quay trở lại với vấn đề “con người biến mất”, sau này sẽ được nhiều nhà cấu trúc luận tiếp nhận và tiếp nối, chẳng hạn như Roland Barthes khi khẳng định “tác giả đã chết”, một cách gián tiếp hơn, khi viết “ngày nay, lịch sử là thứ biến tài liệu (documents) thành công trình (monuments)” (tr. 15).  —————-  Les Mots et les Choses. Une archéologie des sciences humaines, Gallimard, collection “Tel”, 1999  L’Archéologie du savoir, Gallimard/nrf/Bibliothèque des sciences humaines, 1989  Ảnh trên cùng: Michel Foucault, tranh của Jesse Bransford  Cao Việt Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình sản xuất điện từ rác thải sinh hoạt: Một số sự cố có thể xảy ra      Đánh giá mô hình sản xuất điện từ rác thải sinh hoạt của nông dân Bùi Khắc Kiên ở xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình, một tiến sĩ Viện KH&amp;CN Nhiệt Lạnh, ĐH Bách Khoa Hà Nội, cho rằng, việc vận hành lò hơi mà không có sự hiểu biết đầy đủ của tác giả là rất nguy hiểm, có thể gây mất an toàn cho chính tác giả và cả những nhà xung quanh khi sự cố nổ lò xảy ra.       Bản đánh giá chi tiết đã được TS Nguyễn Xuân Quang gửi cho Bộ KH&CN từ cuối năm 2012. Tia Sáng xin được giới thiệu đầy đủ bản đánh giá này.    1.    Mô tả hiện trạng của mô hình.    Mô hình sản xuất điện từ rác thải của tác giả Bùi Khắc Kiên là một mô hình kế thừa từ những thử nghiệm và phát triển các loại lò đốt rác thải sinh hoạt trước đó từ tác giả sau khi nhận biết một lượng nhiệt thừa khá lớn sau lò đốt rác và mong muốn tận dụng nó cho phát điện. Mô hình gồm có những trang thiết bị sau:  Một buồng đốt rác thải tự chế có cấu tạo hình trụ tròn đường kính trong khoảng 50cm chiều dày khoảng 15cm không có bản vẽ hoàn chỉnh chi tiết. Bên trong lò được xây bằng gạch chịu lửa, bên ngoài bọc tôn không có cách nhiệt. Buồng đốt được thiết kế với một cửa nhập liệu từ phía trên, một cửa nhìn và nhóm lửa ở phía dưới và một cửa ra xỉ ở dưới cùng.   Không khí cấp cho lò là không khí nóng được đi qua bộ sấy không khí tận dụng nhiệt thừa khói thải thông qua một quạt gió để cấp gió vào từ dưới ghi.  Lò được thiết kế với một số lỗ có thể cho phép các thanh sắt có thể dịch chuyển nhằm giúp cho rác vào không rơi ngay xuống mặt ghi mà có thể phân bố khắp chiều dài thân lò để công đoạn sấy được thực hiện dễ dàng.  Cơ cấu tích nhiệt của lò sử dụng các miếng gạch chịu lửa rời giúp lò có khả năng tích lũy lượng nhiệt cao với nhiệt độ ổn định để có thể đốt các loại nhiên liệu có độ ẩm cao và khó cháy như các loại rác sinh hoạt ẩm (rau củ quả tươi, giẻ vải ướt, v.v.).  Phía trên buồng đốt có lắp đặt một lò hơi được chế tạo bởi một chi nhánh của công ty cổ phần nồi hơi và thiết bị áp lực Đông Anh có mã hiệu LHT D0,05/15 có công suất sản xuất hơi là 50kg/giờ với áp suất định mức là 15 bar sản xuất hơi bão hòa. Lò hơi có mục đích tận dụng nhiệt thải ra từ buồng đốt rác thải để sản xuất hơi cho mục tiêu phát điện.  Khói thải sau lò hơi được đi qua bộ sấy không khí rồi qua một bể sục đến một khay chứa rác mà hiện tại đang dùng rơm ướt nhằm lọc bụi cho khói lò trước khi thải khói ra ngoài môi trường.  Về cơ cấu phát điện, hơi sinh ra từ lò hơi được dẫn tới một tua bin tự chế mô phỏng theo một số thiết bị quay hiện có với một tầng cánh không có điều chỉnh tốc độ. Tua bin được hàn bọc kín nên không thể tháo ra để xem chi tiết bên trong. Tua bin sau đó được nối với máy phát 3kW của Trung Quốc thông qua bộ đai truyền. Điện sinh ra từ máy phát được đưa tới các bóng điện sợi đốt 100W để có thể phát sinh ánh sánh nhằm chứng minh khả năng sinh ra điện từ hệ thống.  Hiện trạng vận hành cho thấy hệ thống có thể hoạt động sinh ra điện với mục tiêu thắp sáng các bóng đèn sợi đốt tuy nhiên điện này chỉ sử dụng được cho đúng mục đích đó mà thôi.   2.    Đánh giá về phương pháp thực hiện mô hình  Do có hạn chế về kiến thức chuyên môn và trình độ văn hóa, phương pháp thực hiện mô hình của tác giả chủ yếu là phương pháp thử – sai – sửa- thử lại cho đến khi thành công.   Trong quá trình thực hiện mô hình, các ý tưởng dẫn đến việc chỉnh sửa, sửa đổi chủ yếu đến từ việc tham khảo các thiết bị tương tự ở các nơi mà không có thiết kế tổng thể, hợp lý.  3.    Đánh giá chi tiết về mô hình  3.1.     Đánh giá chung  Việc đốt rác và sử dụng nhiệt thừa phát điện theo mô hình của tác giả Bùi Khắc Kiên là hoàn toàn có thể thực hiện được về mặt nguyên lý. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn về kiến thức chuyên môn và nguồn lực thực hiện, mô hình do tác giả dựng lên có những vấn đề sau.  Về mặt tổng thể, với mô hình hiện tại, việc phát điện chỉ là mang tính trình diễn với việc điện phát ra có thể làm sáng các bóng đèn sợi đốt. Chất lượng điện ra không đảm bảo về mặt tần số để có thể sử dụng cho các việc khác.  Mô hình không có thiết kế tổng thể, các thiết bị như lò hơi, tua bin và lò đốt rác không tương thích về các thông số kỹ thuật để có thể tận dụng tốt lượng nhiệt thừa khói thải cho phát điện.  Mô hình được lắp đặt tại nhà nằm trong khu dân cư thiếu tính an toàn cháy nổ, an toàn lao động và có thể gây ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường.   Việc phát điện cần được tính toán trước về mặt công suất để hệ thống mang tính kinh tế khả thi.Nếu công suất lò đốt rác quá nhỏ, việc phát điện không thực hiện được vì không có thiết bị thích hợp và không có tính kinh tế khi triển khai.  3.2.    Đánh giá về tua bin hơi nước  Tua bin hơi nước là thiết bị sử dụng năng lượng của hơi nước ở áp suất và nhiệt độ cao đi qua một hệ thống cánh quay để biến đổi thành cơ năng làm quay trục nối với máy phát để phát điện. Nhìn chung, Tua bin là thiết bị thuộc loại cơ khí chính xác cao mà Việt nam chưa chế tạo được. Để phát điện, nhìn chung các tua bin hơi nước được thiết kế chế tạo với số vòng quay là 3000 vòng/phút rồi nối với máy phát để có thể phát ra được dòng điện có tần số 50 Hz. Với tốc độ quay lớn như vậy, tua bin hơi nước cần được chế tạo với độ cân bằng tốt và độ chính xác thiết bị hết sức cao. Tua bin cũng là thiết bị đắt tiền. Hệ thống điều khiển tốc độ quay của tua bin là một hệ thống phức tạp. Các Tuabin cỡ nhỏ cũng có nhưng khó mua.  Tua bin tự chế của tác giả là sự mô phỏng các thiết bị quay kiểu guồng nước, không có tính toán thiết kế mà chỉ là thử – sai – sửa. Tua bin không có bình ngưng đi kèm, không điều khiển được tốc độ quay trục, tốc độ quay thấp. Nhìn chung tua bin này chỉ có thể sử dụng để chứng minh có thể quay được mà không thể là một thứ có thể sử dụng được một cách hữu ích.  3.3.    Đánh giá về lò hơi và hệ thống hơi.   Lò hơi và đường ống dẫn hơi được chế tạo và lắp đặt bởi công ty cổ phần nồi hơi và thiết bị áp lực Đông Anh. Đây là một cơ sở chế tạo có năng lực và được phép chế tạo các thiết bị áp lực nên lò hơi và hệ thống ống dẫn hơi là đảm bảo về mặt an toàn thiết bị. Tuy nhiên, hệ thống lò hơi và hệ thống ống dẫn hơi có tồn tại một số vấn đề sau.  Hệ thống lò được bảo ôn rất kém bằng bông cách nhiệt có bọc vải bên ngoài và nằm ngoài trời nên với ảnh hưởng của thời tiết có mưa, bông cách nhiệt bị ướt gây nên tổn thất nhiệt lớn.  Một số đoạn ống trần có khả năng gây bỏng khi tiếp xúc.  Hệ thống giàn dáo được lắp đặt thủ công bằng tre, ván gỗ không chắc chắn dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xử lý sự cố nếu cần.  Tác giả là người không có hiểu biết về thiết bị áp lực và an toàn nổ trong lò hơi và bình chịu áp. Việc vận hành lò cũng không được thực hiện bởi bất cứ ai có sự hiểu biết tối thiểu về vấn đề này nên việc vận hành là hết sức nguy hiểm. Thiết bị được thiết kế với áp suất làm việc là 15 bar nhưng tác giả luôn nói đến việc vận hành lò ở áp suất lên tới 70 cân (tương đương với khoảng 70 bar). Về thực tế tác giả không thể thực hiện được điều này tuy nhiên sự thiếu hiểu biết và sẵn sàng thay đổi để đạt mục đích phát điện của tác giả là rất nguy hiểm và có thể gây mất an toàn cho chính tác giả và cả những nhà xung quanh khi sự cố nổ lò xảy ra.   Việc tận dụng nhiệt thừa từ rác thải để sinh hơi cũng cần để ý đến tính ăn mòn cao của môi trường khói thải có nhiều chất gây ăn mòn như khói thải từ rác.   3.4.    Đánh giá về lò đốt rác thải  Lò đốt rác thải đã có sự để ý đến việc lọc khói, tận dụng nhiệt thừa khói thải để sấy không khí cấp cho quá trình cháy trong lò.Hệ thống tích nhiệt có thể giúp cho lò đốt được những loại rác khó cháy. Tuy nhiên lò đốt rác còn một số điểm sau:  Do chỉ có một quạt gió cấp không khí vào lò nên áp suất trong lò là áp suất dương dẫn đến sự phì lửa ra ngoài khi đốt gây nguy hiểm. Khói thải cũng dễ dàng bị xì ra ngoài gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Tác giả cần có phương án lắp đặt quạt hút khói ở đầu ra lò nhằm tránh khuyết điểm này.  Khói thải của lò mặc dù được lọc bụi khá tốt ở cường độ đốt gián đoạn không liên tục nhưng chưa có cơ chế để loại bỏ các khí thải độc hại sinh ra trong quá trình cháy. Cấu tạo của lò cũng sẽ dẫn tới nhiều khó khăn trong vận hành trong trường hợp lò hoạt động liên tục. Khi đó người vận hành sẽ gặp khó khăn hơn trong việc lấy nước bẩn của quá trình lọc bụi ra và lấy ra khay rác vốn được đưa vào lò với mục đích lọc bụi.  4.    Kiến nghị  Đối với cơ cấu lò hơi, hệ thống hơi và tua bin, tác giả không nên tự chế tạo hoặc vận hành để tránh những sự cố cháy nổ làm ảnh hưởng tới bản thân gia đình tác giả và các hộ gia đình xung quanh. Trong trường hợp tác giả vẫn mong muốn cải tiến, sửa đổi, thí nghiệm thì yêu cầu tác giả phải trải qua một khóa đào tạo vận hành lò hơi và thiết bị áp lực có cấp chứng chỉ từ một cơ sở có thẩm quyền (thường là các cơ quan đăng kiểm lò hơi của các bộ).  Đối với lò đốt rác thải, lò chỉ nên được sử dụng để đốt rác thải thông thường không dẫn đến sự hình thành các khí thải độc hại như các loại thực vật (rau củ quả, rơm, rạ, trấu giấy thải loại, vải thô v.v.). Việc đốt các loại rác thải có nguy cơ sinh ra khí độc như các loại nhựa PVC, túi nilon, cao su, xác và các bộ phận động vật lớn v.v. là không thích hợp.  Tác giả cũng nên lưu ý tới vị trí và cách thức thuận tiện để đưa rác vào lò nhằm giúp cho người vận hành giảm thiểu thời gian và cường độ tiếp xúc với rác.  5.    Kết luận  Trên đây là nhận xét tổng thể và chi tiết về mô hình đốt rác phát điện của tác giả Bùi Khắc Kiên. Việc có được những con người năng nổ, dám nghĩ, dám làm ở mọi trình độ là rất đáng quý và góp phần vào sự nghiệp phát triển những cơ cấu ứng dụng trong đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân. Tuy nhiên, việc thực hành những cơ cấu có thể gây tác động nguy hại trong điều kiện thiếu hiểu biết có thể gây ra những sự cố nghiêm trọng không mong muốn. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp để có thể giúp những nhà khoa học chân đất này có khả năng tiếp cận những nguồn tri thức phù hợp đồng thời tư vấn những quy định, quy phạm liên quan để các phát minh, sáng chế có thể đi đúng đường tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình thời tiết 10 năm      Các nhà khoa học Anh thông báo họ vừa thiết kế được mô hình dự báo được các đại dương chảy như thế nào, cũng như hoạt động của loài người sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ mười năm sau ra sao.  Mô hình này cũng tập trung vào vấn đề trái đất sẽ nóng lên như thế nào trong 1 thế kỷ tới.    Các nhà nghiên cứu thuộc Cơ quan khí tượng Anh nói rằng giữa năm 2009 và 2014, tình trạng ấm lên toàn cầu sẽ vượt mức kỷ lục hiện tại. Tuy nhiên, các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu và dự báo thời tiết Hadley cho rằng việc đó sẽ xảy ra sớm hơn, ở giữa khoảng thời gian hiện nay và năm 2009.  Tiến sĩ Doug Smith, chuyên gia thời tiết thuộc Trung tâm Hadley nói: “Trong phạm vi 10 năm,  cả hai vấn đề thay đổi khí hậu và dấu hiệu nóng lên của trái đất đều quan trọng; trái lại đến năm 2010, chỉ có dấu hiệu nóng lên của trái đất lại trội hơn hẳn. Chúng ta sẽ bắt đầu với tình trạng hiện tại của đại dương và khí quyển, sau đó cố gắng để đi đến kết luận đúng đắn hơn”.  Còn theo tiến sĩ Smith: “Khí hậu đã, đang và sẽ thay đổi. Con người cần có những thông tin dự báo chính xác hơn giúp họ điều chỉnh lại hành vi của mình”.  L.AN (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô phỏng chứng tỏ lỗ đen siêu khối lượng có thể hình thành từ những “kẻ” bị sáp nhập      Một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học đến từ nhiều viện nghiên cứu của Mỹ, 1 viện nghiên cứu của Ấn Độ và Hungary đã tạo ra những mô phỏng có thể giải thích các lỗ đen được hình thành ở gần các lỗ đen siêu khối lượng tại trung tâm của các thiên hà có thể lớn hơn người ta chờ đợi.      Trong công bố “Hierarchical black hole mergers in active galactic nuclei” xuất bản trên Physical Review Letters, nhóm nghiên cứu miêu tả cách họ tạo ra các mô phỏng và những gì chúng chứng tỏ.  Các nghiên cứu trước đã cho thấy, các lỗ đen được hình thành từ cái chết của một ngôi sao không thể vượt quá khối lượng 40 lần mặt trời – các ngôi sao nặng hơn có thể có nhiều hạt nhân, điều đó gợi ý chúng có thể xếp thành các cặp siêu tân tinh không bền. Nhưng các nhà nghiên cứu làm việc tại dự án LIGO và VIRGO đã tìm thấy bằng chứng về các lỗ đen lớn hơn ngưỡng khối lượng 40 lần mặt trời. Một vài người trong lĩnh vực nghiên cứu này đã đề xuất, nhiều lỗ đen có thể là kết qủa của những va chạm và sáp nhập ngẫu nhiên với những lỗ đen khác – nhưng đến giờ thì ý tưởng này vẫn chưa được phát triển một cách đầy đủ.  Trong một nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã xây dựng trên cơ sở những nghiên cứu trước, vốn đề xuất bản chất của các lỗ đen: những lỗ đen tồn tại ở gần trung tâm của một thiên hà có thể dao động hướng về một vòng tròn tồn tại quanh một lỗ đen siêu khối lượng ở ngay trung tâm của thiên hà đó. Rất nhiều lỗ đen bị “mắc kẹt” trong vòng này và có thể tập hợp trong cái gọi nhân thiên hà hoạt động. Trong một kịch bản thì một trong số các lỗ đen này có thể dao động đủ gần với lỗ đen khác rồi hai lỗ đen này có thể bị tác động qua lực hấp dẫn của một lỗ đen khác, cuối cùng là một vụ sáp nhập xảy ra. Với một kịch bản như vậy, có thể có nhiều vụ sáp nhập tương tự xảy ra với lỗ đen khác, kết quả là lỗ đen này trở nên lớn hơn và lớn hơn nữa. Để kiểm tra lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã đưa dữ liệu miêu tả các hoạt động đó vào một máy tính và từ các mô phỏng để ước tính khả năng có thể lớn hơn những lỗ đen bình thường. Họ cho biết các mô phỏng chứng tỏ các lỗ đen hình thành từ các vụ sáp nhập có thể lớn hơn nhiều so với các lỗ đen thông thường trong nhiều điều kiện, ở phạm vi khối lượng từ 60 đến 80 lần mặt trời. Nhóm nghiên cứu cũng tìm thấy rất nhiều lỗ đen có thể có spin theo hướng ngược lại với chuyển động quỹ đạo của chúng.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-11-simulations-massive-black-holes-mergers.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô phỏng sự hình thành thiên hà không có vật chất tối      Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu từ trường đại học Bonn và Strasbourg đã mô phỏng sự hình thành của các thiên hà trong một vũ trụ không có vật chất tối. Để tái tạo quá trình này trên máy tính, họ thậm chí biến đổi định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Các thiên hà được tạo ra trong máy tính với các tính toán tương tự như các thiên hà mà chúng ta vẫn thường thấy ngày nay. Theo các nhà khoa học, các giả thuyết của họ có thể giúp giải quyết được nhiều bí ẩn của vũ trụ học hiện đại.    Kết quả được công bố trên Astrophysical Journal.  Các nhà vũ trụ học ngày nay giả định, vật chất không được phân bố trong vũ trụ một cách đồng nhất sau Big Bang. Những nơi đậm đặc hơn thu hút nhiều vật chất hơn so với khu vực xung quanh tùy theo các lực hấp dẫn của chúng. Trải qua tiến trình kéo dài hàng tỉ năm, những kết tụ khí cuối cùng dẫn đến hình thành các thiên hà mà chúng ta thấy ngày nay.    1,5 tỉ năm sau sự khởi đầu của mô phỏng. Vùng sáng hơn của màu sắc, độ đậm đặc hơn của sự hội tụ khí, màu xanh nhạt chứng tỏ các ngôi sao trẻ. Nguồn: AG Kroupa/Uni Bonn  Một thành phần quan trọng trong lý thuyết này là vật chất tối. Một mặt, nó được coi là nguyên nhân gây ra từ sự phân bố không cân bằng ban đầu, dẫn đến sự kết tụ của các đám mây khí. Nó cũng giải thích cho một số quan sát khiến các nhà vũ trụ học bối rối. Ví dụ, các ngôi sao trong các thiên hà quay thường chuyển động rất nhanh đến mức cuối cùng chúng có thể bị bắn ra. Có một lực hấp dẫn bổ sung vào trong các thiên hà này khiến có thể ngăn cản điều đó xảy ra – một loại “sao gắn kết” mà các kính viễn vọng không thể quan sát được: vật chất tối.  Dẫu sao, nó không bắt rễ trực tiếp với sự tồn tại của chính nó. “Có lẽ các lực hấp dẫn này tự chúng đơn giản là hành xử khác biệt so với trước đây chúng ta từng nghĩ”, theo suy nghĩ của giáo sư Pavel Kroupa của Viện nghiên cứu Phóng xạ và vật lý hạt nhân Helmholtz tại trường đại học Bonn và Viện thiên văn của trường đại học Charles ở Prague. Giả thuyết này mang được viết tắt là MOND (MOdified Newtonian Dynamics); nó được nhà vật lý Mordehai Milgrom người Israel khám phá ra. Theo lý thuyết này, sự hấp dẫn giữa hai khối lượng tuân theo định luật Newton chỉ diễn ra ở một điểm nhất định. Dưới những gia tốc vô cùng chậm, như trường hợp của các thiên hà, nó trở nên mạnh hơn một cách đáng kể. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao các thiên hà không bị phá vỡ như kết quả từ tốc độ quay của chúng.  Các kết quả gần hơn với thực tế  “Trong hợp tác với TS. Benoit Famaey ở Strasbourg, chúng tôi mô phỏng cho lần đầu tiên để xem liệu các thiên hà có thể hình thành trong một vũ trụ MOND không và nếu vậy thì là cái nào”, theo lời nghiên cứu sinh Nils Wittenburg do Kroupa hướng dẫn. Để làm điều đó, anh đã dùng một chương trình máy tính để tính toán lực hấp dẫn phức hợp, vốn do nhóm Kroupa phát triển. Bởi vì với MOND, sức hút của một vật thể không chỉ phụ thuộc vào chính khối lượng của nó mà còn vào việc liệu có các vật thể khác ở vùng lân cận không.  Các nhà khoa học sau đó sử dụng phần mềm này để mô phỏng sự hình thành của các thiên hà và các sao, bắt đầu từ một đám mây khí ở thời điểm hàng trăm ngàn năm sau Big Bang. “Trong nhiều khía cạnh, các kết quả của chúng tôi đã gần hơn một cách đáng kể với những gì chúng tôi quan sát trên thực tế với các kính thiên văn”, Kroupa giải thích. Ví dụ, sự phân bố và vận tốc của các ngôi sao trong các thiên hà do máy tính tạo nên theo cùng mẫu hình mà người ta có thể thấy trên bầu trời đêm. “Ngoài ra, mô phỏng của chúng tôi có kết quả chủ yếu trong sự hình thành của các thiên hà quay dạng đĩa như Ngân hà và phần lớn các thiên hà lớn mà chúng ta biết. Mặt khác, các mô phỏng vật chất tối chủ yếu là tạo ra các thiên hà không có các đĩa vật chất khác biệt – một sự thiếu nhất quán với các quan sát rất khó giải thích”, các nhà khoa học cho biết.  Các tính toán trên cơ sở sự tồn tại của vật chất tối là vô cùng nhạy để thay đổi các thông số nhất định, như tần số của các siêu tân tinh và ảnh hưởng của chúng lên sự phân bố của vật chất trong các thiên hà. Trong mô phỏng MOND, những yếu tố này thật khó đóng một vài trò nhất định.  Trong kết quả mới công bố của Bonn, Prague và Strasbourg không tương ứng với thực tế trong nhiều điểm. “Mô phỏng của chúng tôi mới chỉ là bước đầu tiên”, Kroupa nhấn mạnh. Ví dụ, các nhà khoa học không chỉ tạo ra các giả định rất đơn giản về sự phân bố ban đầu của vật chất và các điều kiện trong các vụ trụ trẻ. “Chúng tôi hiện giờ phải lặp lại các tính toán và đưa vào nhiều yếu tố ảnh hưởng hơn. Sau đó chúng ta sẽ thấy liệu giả thuyết MOND có thực sự giải thích được thực tại không”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-galaxy-formation-simulated-dark.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô phỏng sự sống      Liệu một chương trình máy tính có thể tái tạo mọi điều xảy ra trong một tế bào sống ?      Gần 30 năm trước Harold J.Morowitz đã phác thảo một chương trình cho sinh học phân tử. Ông đưa ra kế hoạch nghiên cứu sinh thể đơn giản nhất là một vi khuẩn thuộc chi Mycoplasma. Công việc bước đầu là giải mã chuỗi gen, giải mã dãy acid amino của tất cả protein trong tế bào. Vào năm 1980 việc đọc hệ gen không phải là việc thường nhật như hiện nay song Morowitz lý luận rằng công việc đó có thể thực hiện được nếu hệ gen (genome) là đủ nhỏ.  Morowitz tính được dung lượng thông tin DNA của Mycoplasma là vào khoảng 160.000 bit. Morowitz cho rằng lượng thông tin đó bao trùm được các protein và logic của sự sống có thể viết lại trong một số bước. Hiểu được tường tận các quá trình trong một tế bào nhân sơ (prokaryotic) như vậy là trong tầm của khả dĩ.  Chương trình của Morowitz là:  Với một số bước hữu hạn có thể xây dựng một mô hình máy tính và từng bước này có thể  thực hiện trong phòng thí nghiệm. Và hy vọng điều này sẽ cho phép hiểu được hệ mẫu (paradigm) của sinh học phân tử. Nhìn từ phía sinh học hiện đại (genomics [1] và proteomics [2]) thì thấy Morowitz có lý và đường đi mà Morowitz vạch ra là đúng hướng. Tuy nhiên việc thách thức viết ra được “logic của sự sống” trong một số bước để hiểu được một tế bào sống cũng dễ làm người ta lo lắng: liệu kết quả mô phỏng sự sống này có tương thích với thực tại của những cơ thể sống hay không?  Hiện nay đã có một chương trình máy tính với mục tiêu trên của nhóm Markus W.Covert (Đại học Stanford) cùng 8 cộng sự có tên là WholeCell.[3] &[4]. Chương trình này mô phỏng toàn vòng đời của Mycoplasma genitalium, một loại vi khuẩn thuộc chi mà Morowitz gợi ý. Trong mô hình có tất cả những quá trình chính quan trọng của sự sống: sự phiên mã [5] DNA [6] vào RNA [7], dịch mã [8] của RNA vào protein, quá trình chuyển hóa (metabolism) của các chất dinh dưỡng để tạo ra năng lượng, sự tái tạo (replication)[9] của hệ gen, và cuối cùng là sự phân chia tế bào. Kết quả máy tính thu được dường như tương thích với kết quả thực nghiệm. Và câu hỏi đặt ra là liệu với WholeCell có thể nói chúng ta đã bước vào ngưỡng cửa của quá trình xây dựng hoàn chỉnh sinh học phân tử chăng?    Dạng sống nhỏ nhất  Vi khuẩn Mycoplasma là sinh thể nhỏ nhất đơn giản nhất có khả năng tự nhân bản (self-replicating) (virut có thể nhỏ hơn nhưng chỉ tự tạo nhờ sử dụng cơ chế hóa sinh của tế bào chủ-host).  Lúc Mycoplasma được quan sát lần đầu tiên trong thế kỷ 19 người ta cho đó là một loại nấm (fungi, tiền tố myco có gốc Hy lạp là nấm). Mycoplasma cung cấp một số thức ăn cho con người đồng thời cũng là nguyên nhân sinh bệnh cho động vật (như bệnh viêm phổi) và thực vật.  Mycoplasma có kích thước vào khoảng ½ micrometer (xem hình 1).Tế bào đơn giản và hệ gen rõ ràng  của Mycoplasma là những điều kiện tốt cho một chương trình máy tính để hiểu được sự duy trì sự sống.          Hình 1.  Tế bào  Mycoplasma. Mycoplasma là những cơ thể sống tự do nhỏ nhất và đơn giản nhất. Bên phải  là một bức tranh nghệ thuật vẽ tế bào mycoplasma bằng thuốc nước của họa sĩ David S.Goodsell.          Trong một khía cạnh nào đó mô phỏng sự sống bằng máy tính còn khó hơn việc tìm cách tổng hợp sự sống từ những thành phần hóa học. Nếu biết được các thành phần đúng đắn một nhà sinh học có thể tổng hợp một tế bào sống mà không cần hiểu hết các chi tiết các quá trình mà các thành phần tương tác với nhau. Nhưng chỉ có chương trình máy tính mới có thể mô tả chi tiết từng quá trình tương tác của các thành phần và sự diễn biến của các sự kiện phân tử.  Mức độ chi tiết của mô hình  Xây dựng một mô hình máy tính đòi hỏi sự lựa chọn, sự chắt lọc nhiều bước để đi đến một mức độ chi tiết nhất định. Lấy ví dụ trường hợp chuyển hóa các carbohydrate  trong đó đường biến thành nước và carbon dioxide:  C6H12O6 +6O2  =  6CO2+6H2O.  Công thức trên không nói lên được điều gì đã thực tế xảy ra trong tế bào. Một khảo sát sâu hơn đòi hỏi phải đưa vào cả chục bước trung gian:  Ví dụ phân tử glucose 6-carbon trước tiên rã thành 2 phân tử pyruvate giải phóng năng lượng, năng lượng này lại bị bắt bởi adenosine triphosphate  và vân vân… Thêm nhiều chi tiết dẫn đến nhiều phản ứng hóa học.  Về nguyên tắc sự mô phỏng phải theo dõi từng phân tử một đúng như các quá trình đã thực tế xảy ra.  Mô hình WholeCell được cấu tạo bởi 28 mođun quá trình (xem hình 2) tương ứng với các hoạt động chính yếu trong tế bào như sự tái bản hệ gen, sự tổng hợp protein, sự sửa chữa các DNA bị hư hỏng… Ngoài ra còn có 16 dữ liệu cấu trúc gọi là các biến số trạng thái biểu diễn trạng thái tức thời của những hệ con khác nhau tại nhiều thời điểm. Chương trình bắt đầu bằng các biến số trạng thái của một tế bào vừa xuất hiện sau quá trình phân chia. Sau đó 28 mô đun quá trình sẽ chạy. Sau một thời đoạn ta có những biến số trạng thái với kết quả của các phép tính và chu trình lại tiếp tục. Việc mô phỏng tiếp tục đến khi tế bào hoàn thành vòng đời và bắt đầu phân chia. Đối với Mycoplasma thời gian tính vào khoảng 9 tiếng đồng hồ thực hiện 32.000 lần lặp của vòng mô phỏng. Và thời gian chạy chương trình gần bằng thời gian thực tại của một thế hệ. Chương trình được viết trong MATLAB. Cùng với Covert, các tác giả phần mềm là Jonathan R.Karr và Jayodita C. Sanghvi.                        Hình 2. Chương trình WholeCell chứa 16 biến số trạng thái (bên trái hình vẽ) và 28 mô đun quá trình (bên phải hình vẽ). Các biến số trạng thái mô tả trạng thái biến đổi sinh lý của tế bào.Các mô đun quá trình thực hiện các bước của mô phỏng như sự sao chép genome,sự phiên mã DNA vào RNA và dịch mã RNA vào protein. Mô đun chuyển hóa bao gồm nhiều phản ứng hóa học cung cấp năng lượng và nguyên liệu.               Các đường nối trên hình vẽ biểu diễn mối liên hệ giữa các biến số trạng thái với những quá trình đó.Cột phía ngoài bên phải cùng chỉ số gen có đóng góp vào các mô đun (không phải tất cả  gen đều hiện diện trên bảng trên). Các mô đun quá trình đọc các trị số hiện hành của các biến số trạng thái, sẽ tính điều gì sẽ xảy ra trong một đơn vị thời gian sau đó cập nhật các biến số. Chu trình đó liên tục tiếp diễn đến khi vòng đời của vi khuẩn kết thúc vào khoảng 9 tiếng đồng hồ.           Các mô đun quan trọng  Để hiểu thêm chương trình chúng ta xét 3 mô đun quan trọng:  mô đun chuyển hóa (metabolism),   mô đun phiên mã (transcription) của thông tin gen, mô đun mô tả diễn biến kích thước và hình dáng của tế bào trong quá trình sinh trưởng.  1/ Mô đun chuyển hóa là mô đun mô tả quá trình các hiện tượng  hóa sinh cổ điển xảy ra. Ngay đối với Mycoplasma mô đun này cũng bao gồm một mê lộ các quá trình hóa học tương liên với nhau. Mô đun này của WholeCell chứa 104 enzymes [10], 585 chất nền (subtrate), 441 phản ứng hóa học và 204 quá trình di động (transport). Kích thước và sự phức tạp của mô đun đòi hỏi nhiều phương pháp giải tích toán học. Tốc độ của mỗi phản ứng hóa học phụ thuộc một phần vào mật độ các chất phản ứng và thành phẩm. Và thành phẩm của mỗi phản ứng lại là input đầu vào của một phản ứng khác cho nên các quá trình không thể được tính toán độc lập với nhau.  2/ Những tính toán trong mô đun phiên mã hoàn toàn khác các tính toán trong mô đun chuyển hóa. Thay vì chương trình tuyến tính ở đây ta gặp mặt những tính toán thuộc phạm trù xác suất. Sự phiên mã của một gen bắt đầu lúc một phân tử của enzyme  RNA polymerase[11] kết với một điểm nhiễm sắc thể (chromosome site) gọi là promoter. Sau đó enzyme móc dọc vào sợi xoắn kép (double helix) tạo nên một sợi của thông tin RNA (mRNA) vốn là sợi  bổ sung của sợi DNA. Khi phiên mã (transcription) hoàn thành thì polymerase rơi khỏi sợi xoắn đôi và rời RNA.   Quá trình chuyển tiếp (transitions) giữa các trạng thái là những sự kiện ngẫu nhiên với xác suất tính được phù hợp với phân bố thực nghiệm quan sát được.  3/ Hai mô đun trên không liên quan đến không gian song sự mô phỏng phải xét đến một biến số trạng thái mô tả hình học để biểu diễn hình dạng của vi khuẩn và những phân rã có thể xảy ra. Hình dạng trong mô phỏng có thể  không phải là hình dạng thực tế của tế bào sinh học. Mycoplasma thường được hình dung có dạng một quả lê. Đưa vào chi tiết này thực ra không tăng thêm thông tin sinh học mà chỉ gây thêm khó khăn cho nên người ta sử dụng hình học đơn giản nhất: một hình cầu nhỏ kéo dài thành một hình trụ với hai bán cầu ở hai đầu. Ở cuối chu trình sống sau khi 2 phiên bản (copy) của hệ gen ( genome) đi về phía 2 đầu của tế bào thì phần giữa của hình trụ teo lại và chuẩn bị cho sự hình thành 2 tế bào mới.  Quy luật cho sự tăng trưởng của tế bào không khó hiểu: khi thể tích của chất tế bào (cytoplasm) lớn lên, thì màng bọc phải lớn lên về diện tích. Cơ chế chủ yếu của sự phân chia là sự hiện diện của  một protein gọi là FtsZ, protein này làm thành một vòng (ring) trong mặt phẳng chung của hai tế bào con và là ranh giới chia đôi hai tế bào con.  Vấn đề dữ liệu  Chương trình WholeCell dựa trên dữ liệu của 900 công trình. Hơn 1.900 trị số bằng số lấy từ các công trình đó biến thành các thông số của mô hình. Đây quả là một việc gây ấn tượng về phương diện dữ liệu. Các trị số đều lấy từ thực nghiệm. Vấn đề khó khăn ở chỗ chọn các dữ liệu sao cho tương thích với nhau. Cần tiến đến một bộ dữ liệu đầy đủ tin cậy về hóa sinh.  Hiện nay thì các mô phỏng trong công trình WholeCell  cho những kết quả chấp nhận được. Thời gian vòng đời tế bào, tốc độ tăng trưởng và mật độ các chất chuyển hóa (metabolites)  đều gần với các trị số đo được trong các tế bào thực.  Kết hợp quy giản luận   Ý tưởng xây dựng một dạng sống nhân tạo nhờ một phần mềm hoặc nhờ sự tổng hợp cytoplasm luôn luôn là một vấn đề gây tranh cãi. Mary Shelley gần 200 năm trước đã viết một trước tác sâu sắc về vấn đề này: Frankenstein, or the Modern Prometheus. Ở thời đại của Shelley vấn đề nêu ra được quy về sự tranh chấp giữa hai quan điểm sinh lực luận (vitalism) và  tế bào cơ học luận (mechanism). Sinh học luận  chủ trương rằng vật chất sống  khác với vật chất không sống nhờ một tia lửa sống (spark of life). Ngược lại phái cơ học luận  mà đại diện là René Descartes lại xem cơ thể sống như một đồng hồ cơ học automat.   Ngày nay trong khoa học hiện đại sinh lực luận xem như đã chết. Trong những năm của sinh học phân tử, DNA là bản thiết kế của sự sống. Quá trình cơ bản của sự sống quy về sự thao tác của những ký hiệu: kết đôi G với C và A với T [6] sau đó ánh xạ bảng chữ cái  4-chữ của nucleotide vào bảng chữ cái 20-chữ của các acid amin. Nếu chúng ta biết đọc bản thiết kế và giải mã các thông điệp gen thì chúng ta có thể hiểu được sự sống đã hoạt động như thế nào. Hiện nay chúng ta có thể đọc được dãy DNA khá thành thạo.  Ý tưởng mô phỏng một tế bào sống bằng máy tính nằm trên giao điểm của  quy giản luận (reductionism)[12] và một tổng luận  của sinh học.  Mặt khác chương trình WholeCell cho thấy rõ dãy DNA tự thân chưa phải là chìa khóa chính của sự sống. Mặc dầu sự chuyển thông tin từ DNA cho RNA là yếu tố trung tâm của mô hình song điều đó không thể được vận dụng như một ánh xạ đơn giản giữa các bảng chữ cái. Điều nhấn mạnh ở đây là quá trình xảy ra trên các phân tử chứ không phải là quá trình thao tác trên các ký hiệu.  Mặt khác sự xây dựng mô hình là một tuyên ngôn rằng sự sống có thể hiểu được, ở đây không có điều gì là siêu nhiên mà có thể quy về  một thuật toán – một quá trình tính toán hữu hạn. Mọi điều xảy ra trong tế bào mô hình hóa đều xuất phát từ những định luật mà chúng ta liệt kê ra được, hiểu được và viết ra được.  Chúng ta có thể tin tưởng rằng thắng lợi của các phương pháp mô phỏng trong sinh học sẽ dẫn đến những phương pháp tổng hợp mới và có hy vọng tạo nên nhiều ảnh hưởng quan trọng đối với các đàm luận triết học vô tận về sự sống.                                                    CC biên dịch và chú thích             American Scientist số tháng 1/2013  Tài liệu tham khảo và các chú thích  [1] Genomics , môn học di truyền về genom (hệ gen) của các sinh thể.  [2] Proteomics, môn học về cấu trúc và chức năng của protein. Protein được tổng hợp tại những ribosome. Ribosome là những vật thể trong tế bào có cấu trúc: protein+RNA có dạng hạt đường kính 300 Angstrom.  [3] Barile, M.F.,and S.Razin,1989.The Mycoplasmas. New York:Academic Press.  [4] Karr, J.R.,et al .2012.A WholeCell computational model predicts phenotype from genotype. Source code: http://wholecell.stanford.edu.  [5] Transcription   = sự phiên mã, sự sao chép, đây là quá trình tạo ra một bản sao  bổ sung RNA của dãy DNA.  [6] DNA= deoxyribonucleic acid có cấu trúc sợi kép xoắn, vật liệu di truyền, chứa mọi thông tin  gen về sự phát triển và vận hành của mọi cơ thể sống. DNA gồm một dãy các nucleotide với các gốc (base)  là adenine A, guanine G,cytosine C và thymine T.  [7] RNA=ribonucleic acid có cấu trúc sợi kép xoắn giống như DNA hoặc có cấu trúc một sợi đơn.   [8] Translation = dịch mã, trong quá trình dịch mã RNA thông tin (mRNA) tạo nên trong quá trình phiên mã được giải mã bởi ribosome để sản ra một dãy amino acid đặc biệt hay polypeptide mà sau này sẽ nhập vào một protein hoạt động.  [9] replication =quá trình tái tạo,  self-replication=quá trình tự tái tạo  DNA replication =quá trình sao chép một sợi kép DNA  [10] Enzyme= một nhóm con của protein  làm nhiệm vụ xúc tác (có thể làm tăng tốc độ phản ứng lên nhiều lần).  [11]Polymerase  =các enzym xúc tác với nhiệm vụ trung tâm gắn liền với DNA và RNA, polymerase có chức năng polyme-hóa các DNA và RNA mới trong quá trình tái tạo và phiên mã.  [12] Quy giản luận (reductionism-nhiều tác giả còn dùng từ reductivism) là luận thuyết nhằm giải thích mọi hiện tượng trong thiên nhiên bằng những quy luật cơ bản nằm ở lớp cơ sở. Ý tưởng quy giản luận xuất phát từ  Descartes (phần V tác phẩm Discourses – 1637).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô phỏng thành công lỗ đen năm chiều      Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Cambridge và trường Đại học Queen Mary, London vừa công bố trên tạp chí Physical Review Letters rằng họ đã mô phỏng thành công một lỗ đen có hình dạng giống một vòng tròn mỏng; vòng tròn này tạo ra một loạt những “chỗ phình” được liên kết với nhau bằng những sợi dây mỏng dần theo thời gian và cuối cùng những sợi dây này trở thành một loạt những lỗ đen thu nhỏ, tương tự như một dòng nước tách ra thành những giọt nước nhỏ.      Các nhà vật lý lý thuyết đã “phát hiện ra” các lỗ đen hình vòng tròn từ năm 2002, nhưng đây là lần đầu tiên giới khoa học mô phỏng thành công cơ chế hoạt động của chúng nhờ sử dụng các siêu máy tính. Khi loại lỗ đen như thế này hình thành, nó sẽ làm xuất hiện một “điểm kỳ dị trần trụi” – điều có thể làm phá vỡ các phương trình của thuyết tương đối tổng quát.  Thuyết tương đối tổng quát hiện là nền tảng cho những hiểu biết của chúng ta về trọng lực, giúp chúng ta biết rằng vật chất làm cong không thời gian xung quanh nó, từ đó tạo ra một hiệu ứng gọi là trọng lực. Trong suốt 100 năm kể từ khi công bố, thuyết này đã đứng vững trước mọi thử thách, nhưng một trong những hạn chế của nó là sự tồn tại của những điểm kỳ dị.  Điểm kỳ dị là điểm mà tại đó trọng lực có cường độ lớn đến nỗi không gian, thời gian, và các quy luật vật lý đều bị phá vỡ. Thuyết tương đối tổng quát dự đoán rằng các điểm kỳ dị này tồn tại ở trung tâm các lỗ đen, và rằng chúng bị bao bọc bởi một chân trời sự kiện, nơi mà lực hút trọng lực mạnh đến nỗi không gì có thể thoát khỏi đó, vì vậy không thể quan sát tâm lỗ đen từ bên ngoài.  Markus Kunesch, đồng tác giả nghiên cứu trên, cho biết: “Chừng nào các điểm kỳ dị còn nằm ẩn đằng sau một chân trời sự kiện thì chúng sẽ không gây ra rắc rối gì và thuyết tương đối tổng quát vẫn còn giá trị – theo luận đoán “kiểm duyệt vũ trụ”, điều này luôn xảy ra. Chừng nào luận đoán kiểm duyệt vũ trụ còn đúng thì chừng đó chúng ta còn có thể dự đoán được tương lai bên ngoài các lỗ đen.”  Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu tồn tại một điểm kỳ dị nằm bên ngoài chân trời sự kiện? Trong trường hợp này, chúng ta không những có thể nhìn thấy điểm kỳ dị đó từ bên ngoài mà nó còn trở thành một vật thể đã vận động thành một khối xác định, một trạng thái có thể phá vỡ mọi quy luật vật lý. Các nhà vật lý lý thuyết đã đưa ra giả thiết rằng một khối như thế – hay còn được gọi là điểm kỳ dị trần trụi – có thể tồn tại ở những chiều cao hơn.  Saran Tunyasuvunakoo, đồng tác giả của nghiên cứu trên, cho biết: “Nếu những điểm kỳ dị trần trụi tồn tại, thuyết tương đối tổng quát sẽ bị phá vỡ. Và khi thuyết tương đối bị phá vỡ, mọi thứ sẽ bị đảo lộn vì khi đó thuyết này sẽ không còn bất kỳ năng lực dự đoán nào nữa, nó sẽ không còn được coi là một lý thuyết độc lập giúp giải thích vũ trụ nữa.”  Chúng ta vẫn hình dung ra vũ trụ hiện nay có ba chiều, cộng thêm chiều thứ tư là thời gian – gộp lại thành không thời gian. Nhưng trong các ngành vật lý lý thuyết, chẳng hạn như lý thuyết dây, vũ trụ có thể được cấu tạo từ 11 chiều khác nhau. (Các chiều khác có thể giãn nở hay cuộn lại nên khó phát hiện ra). Con người chỉ có thể trực tiếp cảm nhận được ba chiều và chúng ta chỉ có thể suy đoán được sự tồn tại của các chiều khác thông qua những thí nghiệm năng lượng cao, chẳng hạn như những thí nghiệm được thực hiện ở máy gia tốc hạt lớn.  Lý thuyết của Einstein không nói rõ trong vũ trụ có bao nhiêu chiều, vì thế lâu nay các nhà vật lý lý thuyết đang nghiên cứu thuyết tương đối tổng quát ở những chiều cao hơn để xác minh xem liệu luận đoán kiểm duyệt vũ trụ có còn đúng nữa không. Phát hiện về các lỗ đen hình vòng tròn trong năm chiều đã dẫn các nhà nghiên cứu đi tới một giả thiết rằng loại lỗ đen này có thể làm xuất hiện một điểm kỳ dị trần trụi.  Nhờ sử dụng siêu máy tính COSMOS đặt tại trường Đại học Cambridge, nhóm nghiên cứu trên đã mô phỏng được trọn vẹn lý thuyết của Einstein trong những chiều cao hơn, từ đó giúp họ không những khẳng định được rằng những “vòng tròn đen” này là không bền vững mà còn chỉ ra được số phận chung cuộc của chúng. Thông thường, một vòng tròn đen sẽ co trở lại vào một khối cầu, nhờ vậy mà điểm kỳ dị sẽ nằm bên trong đường chân trời sự kiện. Chỉ có những vòng tròn rất mỏng mới trở nên không bền vững tới mức hình thành nên những “điểm phình” được kết nối bằng những sợi dây ngày một mỏng đi và cuối cùng chúng tách nhau ra để hình thành nên một điểm kỳ dị trần trụi. Cần phải có những kỹ thuật mô phỏng và code máy tính mới để có thể kiến tạo những hình dạng ở mức cực đoan này.  Tunyasuvunakool cho biết: “Càng mô phỏng được thuyết hấp dẫn của Einstein ở những chiều cao hơn, chúng ta càng dễ dàng sử dụng các kỹ thuật máy tính mới tiến bộ bấy nhiêu. Chúng ta đang có những bước tiến trong ứng dụng máy tính vào việc tìm hiểu lý thuyết của Einstein. Nhưng nếu luận điểm kiểm duyệt vũ trụ không đúng trong vũ trụ nhiều chiều hơn thì khi đó có lẽ chúng ta cần phải tìm hiểu xem điều gì đã đã khiến nó đúng với vũ trụ bốn chiều.”  Luận điểm kiểm duyệt vũ trụ được số đông tin rằng đúng với vũ trụ bốn chiều, nhưng nếu luận điểm này bị phản bác, khi đó chúng ta sẽ cần phải tìm ra được một cách khác để lý giải vũ trụ. Một khả năng thay thế là thuyết hấp dẫn lượng tử, vốn gần đúng với những phương trình của Einstein khi ở xa điểm kỳ dị nhưng cũng đồng thời cung cấp những cơ chế vật lý mới mô tả khá sát với điểm kỳ dị.   Trang Bùi dịch từ Science Daily    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô tả các thí nghiệm vật lý lượng tử: Số phức hay số thực?      Câu trả lời là số phức. Mới đây, hai nhóm nghiên cứu độc lập đã cho thấy cơ học lượng tử phải cần đến số phức chứ không phải số thực để tái tạo các kết quả thực nghiệm.      Hình 1: Phác thảo trò chơi lương tử ba bên được sử dụng bởi nhóm của Chen và nhóm của Li nhằm chứng minh rằng lý thuyết lượng tử dựa trên số thực không thể mô tả đưoc kết quả thông kê của một số phép đo trên các mạng lượng tử nhỏ. Trong trò chơi có hai nguồn phân phối các qubit rối cho ba người chơi là những người sẽ tính toán “điểm số” đạt được từ các kết quả của các phép đo trên các qubit mà họ nhận được từ các nguồn phân phối qubit rối.   Số phức được sử dụng rộng rãi trong vật lý cổ điển và vật lý tương đối tính. Ví dụ, trong điện từ học, sử dụng số phức đơn giản hóa rất nhiều việc mô tả các hiện tượng dạng sóng. Tuy nhiên, đối với các hiện tượng này số phức không hoàn toàn cần thiết, vì tất cả các số liệu quan sát được đều có thể biểu thị được bằng việc sử dụng số thực. Vì vậy, sử dụng số phức chỉ được coi như một công cụ tính toán thuận tiện. Nhưng vai trò của số phức là gì trong vật lý lượng tử khi các khái niệm cơ bản của nó (như hàm sóng, không gian Hilbert, v.v.) về bản chất là phức? Câu hỏi đơn giản này đã đồng hành cùng sự phát triển của cơ học lượng tử kể từ khi nó ra đời: chính những người sáng lập ra nó như Schrödinger, Lorentz, Planck … đã tranh luận về vấn đề này (xem các thư của họ 1).  Từ rất sớm, những người tiên phong của cơ học lượng tử đã không phát triển lý thuyết lượng tử dựa trên các số thực vì họ cho rằng nó không thuận tiện trong tính toán lý thuyết. Tuy nhiên, sử dụng các số thực chưa bao giờ bị loại trừ một cách chính thức. Các kết quả lý thuyết gần đây cho thấy lý thuyết lượng tử dựa trên các số thực có thể mô tả rất nhiều hệ lượng tử khác nhau 2. Nhưng mới đây lý thuyết lượng tử dựa trên số thực đã bị bác bỏ bằng thực nghiệm của hai nhóm nghiên cứu độc lập, một nhóm do Ming-Cheng Chen ở Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc chủ trì 3 và một nhóm do Zheng-Da Li của Đại học Khoa học và Công nghệ Nam Trung Quốc chủ trì 4. Cả hai nhóm đều chỉ ra, buộc phải sử dụng số phức trong cơ học lượng tử để mô tả kết quả của các thí nghiệm trên mạng lượng tử đơn giản.  Điểm xuất phát cơ bản của lý thuyết lượng tử là biểu diễn trạng thái của một hạt bằng một véc tơ trong không gian phức, gọi là không gian Hilbert. Tuy nhiên, việc mô tả một hệ lượng tử riêng lẻ dựa hoàn toàn vào các số thực cũng rất đơn giản: chỉ cần nhân đôi số chiều của không gian Hilbert, vì không gian phức là tương đương, hoặc “đẳng cấu”, với mặt phẳng thực hai chiều (một chiều biểu diễn phần thực và chiều kia là phần ảo của số phức). Vấn đề trở nên ít hiển nhiên hơn khi xét tới các tương quan lượng tử kỳ lạ trong cơ học lượng tử như rối lượng tử chẳng hạn. Rối lượng tử có thể phá vỡ nguyên tắc hiện thực cục bộ (local realism), như đã được chứng minh và kiểm chứng thông qua cái gọi là bất đẳng thức Bell 5. Thoạt đầu số phức được cho là thiết yếu để có thể mô tả sự vi phạm bất đẳng thức Bell 6. Nhưng vào năm 2009, một công trình lý thuyết đã chứng minh rằng sử dụng số thực vẵn có thể tái tạo kết quả thống kê của bất kỳ thí nghiệm Bell chuẩn nào, kẻ cả những thí nghiệm trên nhiều hệ lượng tử 2. Kết quả này củng cố giả thuyết số phức là không cần thiết. Nhưng việc vẫn chưa có bằng chứng tổng quát về sự tương đương giữa lý thuyết lượng tử “phức” (dựa trên số phức) và lý thuyết lượng tử “thực” (dựa trên số thực) đã mở đường cho những nghiên cứu sâu sắc hơn về vấn đề này.    Số phức vượt số thực  Mới đây, một nghiên cứu như vậy đã xuất hiện vào năm 2021. Đó là một công trình lý thuyết xuất sắc của Marc-Olivier Renou thuộc Viện Khoa học Quang tử ở Tây Ban Nha và các đồng nghiệp 7. Các tác giả đã xét đồng thời cả hai lý thuyết (“phức” và “thực”): một lý thuyết dựa trên các tiên đề chuẩn của cơ học lượng tử (tức là sử dụng không gian Hilbert phức như trong cách tiếp cận truyền thống), còn lý thuyết kia sử dụng không gian thực. Sau đó, họ nghĩ ra cách thiết kế các thí nghiệm kiểu như thí nghiệm Bell nhưng có sự mở rộng thích hợp nhằm chứng minh sự không phù hợp của lý thuyết lượng tử dựa trên các số thực.  Các thí nghiệm đó về lý thuyết có thể mô tả như sau. Hai nguồn độc lập tạo ra và phân phối các cặp qubit rối tới các nút khác nhau trong một mạng lượng tử. Tại mỗi nút các phép đo độc lập được tiến hành và các kết quả đo tiết lộ các mối tương quan lượng tử mà không có lý thuyết lượng tử “thực” (dựa trên số thực) nào có thể thiết lập được.  Nhóm của Chen và nhóm của Li đồng thời tiến hành thử nghiệm theo đề xuất của Renou và đồng nghiệp nhưng ở hai nền tảng vật lý khác nhau. Các thử nghiệm được diễn đạt như một “trò chơi” trong đó ba người chơi, Alice, Bob và Charlie, thực hiện các thao tác kiểu Bell mở rộng như trên Hình 1. Có hai nguồn tạo các cặp qubit rối. Một nguồn phân phối các qubit rối cho Alice và Bob, nguồn còn lại phân phối các qubit rối cho Bob và Charlie. Mỗi người chơi lựa chọn một cách độc lập các phép đo từ một tập hợp xác định để đo các qubit của mình. Vì hai nguồn rối là độc lập với nhau, các qubit mà Alice và Charlie nhận được hoàn toàn không có tương quan nào với nhau. Bob nhận được hai qubit từ cả hai nguồn và thực hiện phép đo Bell trên hai qubit đó. Bằng cách ấy Bob tạo ra rối giữa các qubit của Alice và Charlie, mặc dù các qubit của Alice và Charlie không hề tương tác với nhau (theo hiện tượng “tráo rối” (“entanglement swapping”) trong cơ học lượng tử [8]). Sau đó, một “điểm số” được tính toán theo phân phối thống kê của các kết quả đo. Đúng như đã được chứng minh bằng lý thuyết bởi Renou và các đồng nghiệp, lý thuyết lượng tử phức (dựa trên các số phức) có thể đạt được một điểm số lớn hơn điểm số mà lý thuyết lượng tử thực có thể.  Hai nhóm nghiên cứu đã có các cách tiếp cận khác nhau đối với trò chơi lượng tử nói trên. Nhóm của Chen sử dụng một bộ xử lý lượng tử siêu dẫn, trong đó các qubit có thể điều khiển được và đo được một cách riêng lẻ. Thách thức chính và rất nghiêm ngặt của cách tiếp cận này là phải làm cho các qubit trên cùng một mạch siêu dẫn thực sự độc lập và tách rời với nhau. Nhóm của Li lại chọn cách tiếp cận quang tử để dễ đạt được sự độc lập và tách rời giữa các qubit hơn. Cụ thể, họ sử dụng các photon rối phân cực được tạo ra bởi quá trình chuyển đổi tham số và được đếm trong các máy dò đơn photon dây nano siêu dẫn. Tuy nhiên, cách tiếp cận quang tử lại chịu một thách thức khác: Giao thức do Renou và các đồng nghiệp đề xuất yêu cầu các phép đo trạng thái Bell phải là hoàn hảo (từng trạng thái Bell phải được phân biệt chính xác 100%). Phép đo Bell hoàn hảo có thể thực hiện được trên các qubit siêu dẫn nhưng lại  không thể trên các quang tử với các thiết bị quang học tuyến tính. Do đó, Li và các đồng nghiệp phải dựa vào phép đo Bell không hoàn hảo (tức là từng trạng thái Bell không phân biệt chính xác được).  Bất chấp những khó khăn vốn có trong mỗi cách tiếp cận, kết quả của cả hai thử nghiệm của nhóm Cheng và nhóm Li đều rất thuyết phục. Điểm số của lý thuyết phức đã vượt trội điểm số của của lý thuyết thực (độ lệch chuẩn giữa lý thuyết phức và lý thuyết thức lần lượt là 43 sigma và 4.5 sigma trong cách tiếp cận của nhóm Chen và nhóm Li). Đó là bằng chứng thuyết phục sự cần thiết của số phức trong mô tả các thí nghiệm vật lý lượng tử.  Khối cơ bản của internet lượng tử   Điều thú vị là thí nghiệm của cả hai nhóm đều dựa trên một sơ đồ mạng lượng tử tối thiểu, chỉ gồm hai nguồn tạo rối và ba nút đo. Đó là một khối nền tảng cơ bản đầy hứa hẹn cho việc tạo dựng các mạng internet lượng tử trong tương lai. Vì vậy, các kết quả thu được cung cấp thêm một minh chứng về việc các công nghệ lượng tử mới hiện có có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng có thể kiểm tra các khía cạnh cơ bản của cơ học lượng tử. Ngược lại, những hiểu biết cơ bản mới này về cơ học lượng tử có thể có những tác động bất ngờ đối với sự phát triển của các công nghệ thông tin lượng tử mới.  Một điều đáng lưu ý là chúng ta phải thận trọng khi đánh giá tác động của những kết quả này. Người ta có thể dễ bị cám dỗ và đi đến kết luận rằng số phức là không thể thiếu để mô tả thực tại vật lý của Vũ trụ. Tuy nhiên, kết luận như vậy chỉ đúng nếu chúng ta chấp nhận khung chuẩn của cơ học lượng tử dựa trên một số tiên đề cụ thể. Như Renou và các đồng nghiệp đã chỉ ra, những kết quả này sẽ không thể áp dụng cho các khung thay thế khác của cơ học lượng tử, chẳng hạn như khung của cơ học Bohmian, là khung dựa trên các tiên đề khác so với khung chuẩn thông thường. Cơ học lượng tử xây dựng trong khuôn khổ của khung chuẩn với những thành công to lớn trong việc giả thích/tiên đoán các kết quả thực nghiệm là không thể phủ nhận, nhưng theo quan điểm diễn giải (interpretative point of view) nó vẫn bị coi là không đầy đủ [9]. Do đó, những kết quả được nói tới ở đây có thể kích thích những nỗ lực vượt ra ngoài khung chuẩn của cơ học lượng tử.  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: http://vnlib.kias.re.kr/87656e7/_Lib_Proxy_Url_Https/physics.aps.org/articles/v15/7  ——————————–  Tài liệu tham khảo   1. C. N. Yang, “Square root of minus one, complex phases and Erwin Schrödinger,” Selected Papers II with Commentary (World Scientific, Hackensack, 2013)   2. M. McKague et al., “Simulating quantum systems using real Hilbert spaces,” Phys. Rev. Lett. 102, 020505 (2009).  3. M.-C. Chen et al., “Ruling out real-valued standard formalism of quantum theory,” Phys. Rev. Lett. 128, 040403 (2022).  4. Z.-D. Li et al., “Testing real quantum theory in an optical quantum network,” Phys. Rev. Lett. 128, 040402 (2022).  5. A. Aspect, “Closing the door on Einstein and Bohr’s quantum debate,” Physics 8, 123 (2015).  6. N. Gisin, “Bell Inequalities: Many Questions, a Few Answers,” in Quantum Reality, Relativistic Causality, and Closing the Epistemic Circle, edited by W. C. Myrvold et al. The Western Ontario Series in Philosophy of Science, Vol. 73 (Springer, Dordrecht, 2009).  7. M.-O. Renou et al., “Quantum theory based on real numbers can be experimentally falsified,” Nature 600, 625 (2021).  8. J.-W. Pan et al., “Experimental entanglement swapping: Entangling photons that never interacted,” Phys. Rev. Lett. 80, 3891 (1998).  9. T. Norsen, Foundations of Quantum Mechanics – An Exploration of the Physical Meaning of Quantum Theory, Undergraduate Lecture Notes in Physics (Springer, Cham, 2017).    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Mổ xẻ” hạt bụi đô thị      Câu chuyện về hạt bụi PM2.5 có lẽ là một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay về ô nhiễm không khí, không chỉ ở thế giới mà cả ở Việt Nam.      Hạt bụi ở các kích thước khác nhau so với sợi tóc người. Nguồn. Viện Kỹ thuật hóa học (ĐH Bách khoa HN).  Cũng giống như con virus SARS-CoV-2 – càng nghiên cứu thì người ta càng cảm thấy kinh ngạc và lo ngại về sự tối ưu giúp lan truyền nhanh hơn sau mỗi lần biến đổi, hạt bụi PM2.5 ẩn chứa lượng thông tin phong phú đến mức người ta thấy khó mường tượng ngay cùng một lúc. “Nhỏ mà có võ”, hạt bụi không đơn giản là hạt bụi, nó “thiên biến vạn hóa” theo nhiều cách với những đặc tính riêng biệt, phụ thuộc vào quá trình hình thành, nguồn phát thải, điều kiện khí tượng, thời gian… Do hình thành trên những điều kiện phức tạp như vậy nên bụi PM2.5 ở các thành phố khác nhau đều khác nhau, TS. Lý Bích Thủy, một nhà nghiên cứu nhiều năng lực ở Viện Công nghệ Môi trường (ĐH Bách khoa HN), cho biết tại hội thảo “Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020 và ứng dụng dữ liệu vệ tinh trong giám sát và nghiên cứu”.     Cận cảnh hạt bụi     Bản thân hạt bụi PM2.5 vô cùng phức tạp khi có thể chứa tới hàng trăm thành phần hóa học khác nhau, bất chấp kích thước “tối giản” chỉ bằng 1/30 sợi tóc của mình. Hãy thử tưởng tượng, nếu nhìn cận cảnh một hạt bụi mịn theo cách như vậy, chúng ta có thể thấy một số thành phần của nó được tạo thành trực tiếp từ một số nguồn phát thải như các địa điểm xây dựng, đốt phụ phẩm nông nghiệp, cháy rừng… nhưng một số thành phần khác là kết quả của những phản ứng phức tạp trong khí quyển của các hóa chất như sulfur dioxide (SO2) và nitrogen oxide (NO2), vốn là sản phẩm phát thải của các nhà máy sản xuất và nhiên liệu hóa thạch bị đốt cháy không hoàn toàn trong các động cơ ô tô, xe máy.      Riêng về Hà Nội, các hạt bụi mịn có chứa 22 nguyên tố kim loại như natri, mangan, nhôm, silic, chì, kali, sắt, đồng, kẽm, thủy ngân…, trong đó nồng độ lớn nhất thuộc về silic, canxi, kali, nhôm, sắt và magie.      Tương tự, quá trình hình thành của hạt bụi cũng phức tạp không kém vì liên quan đến “những phần đóng góp qua cơ chế hình thành bụi thứ cấp bên cạnh nguồn sơ cấp, vận chuyển dài hạn”, TS. Lý Bích Thủy từng cho biết như vậy vào năm 2020. Hạt bụi lơ lửng trong bầu không khí mà chúng ta hít thở không hình thành ngay trong một thời điểm và cũng không hình thành ngay tại nơi ta sống. Nó có thể xuất phát từ những nơi xa xôi, theo các luồng chảy trôi trong khí quyển và được vận chuyển tới Việt Nam, được bổ cập thêm những hợp chất phát thải ở địa phương trong những điều kiện nhất định theo mùa về độ ẩm, nhiệt độ… Ví dụ hạt bụi PM2.5 ở Hà Nội trong giai đoạn 2001-2013 thì “36% là từ hoạt động vận chuyển xuyên biên giới, bắt nguồn từ bụi cát ở 12 sa mạc lớn trên đất Trung Quốc, Mông Cổ như Gobi, Taklamakan và từ phát thải của 33 nhà máy nhiệt điện than Trung Quốc và Việt Nam”, theo TS. Vương Thu Bắc (Viện Khoa học Kỹ thuật hạt nhân, Viện NLNTVN), một nhà nghiên cứu có thâm niên 20 năm trong lĩnh vực chất lượng không khí 1.    Câu chuyện về hạt bụi đã được nối dài. Trong vài năm gần đây, khi những cơ sở hạ tầng thiết bị đã được nâng cao, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về cơ chế hình thành hạt bụi với những chi tiết thú vị về sự đóng góp của các nguồn thứ cấp. Trong một nghiên cứu được thực hiện vào tháng 7/2020 do Quỹ NAFOSTED tài trợ, PGS. TS Nguyễn Đức Lượng (Khoa Kỹ thuật Môi trường, ĐH Giao thông vận tải Hà Nội) và cộng sự đã tìm hiểu về sự biến thiên của nồng độ PM2.5 và các quá trình ảnh hưởng đến nó2. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra, các chất hữu cơ và các dạng thứ sinh do hoạt động của con người (NO3−, SO42−, và NH4+) là những yếu tố đóng góp chính cho PM2.5. Do đó, họ cho rằng, khí thải tại chỗ là một trong những nguồn quan trọng gây ô nhiễm bầu không khí đô thị Hà Nội.    Có lẽ, người ta sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi được bổ sung những thông tin mới về hạt bụi. Theo những nghiên cứu trước đây, khi tập trung vào vận chuyển tầm xa, các nhà nghiên cứu lão thành đã phát hiện ra quy luật ô nhiễm theo mùa của Hà Nội và hiện tượng nghịch nhiệt: “trong mùa khô, ô nhiễm nặng thường bắt đầu vài ngày sau khi gió mùa Đông Bắc tràn về và kéo dài trong nhiều ngày liền cho đến khi gió thịnh hành chuyển sang hướng Đông Nam trước khi xuất hiện đợt gió mùa mới”3. Tiếp nối, lớp nhà nghiên cứu hậu sinh đã đi sâu vào tìm hiểu cơ chế đằng sau hiện tượng ô nhiễm bụi PM2.5 theo mùa như so sánh mẫu bụi mùa đông với mùa hè và tìm hiểu sự tác động của độ ẩm tuyệt đối lên hạt bụi. Đi sâu vào những phân tích tinh tế, nghiên cứu sinh Trương Thị Huyền (ĐH Saitama, Nhật Bản) và nhóm nghiên cứu chị tham gia đã “túm” được bằng chứng để chứng tỏ carbon hữu cơ và carbon nguyên tố là các hợp chất chính trong PM2.5 và carbon hữu cơ thứ cấp chiếm trên 30% tổng lượng carbon hữu cơ. “Có mối tương quan giữa độ ẩm tuyệt đối và các thành phần hóa học khác cho thấy PM2.5 được hình thành do các quá trình thứ cấp trong pha nước trên bề mặt sol khí… Sự phát triển của các hạt bụi phụ thuộc vào số lượng phân tử nước trên một mức nhất định trong các điều kiện thời tiết như mưa phùn đặc biệt”, các tác giả viết trong nghiên cứu4.      Trong phòng thí nghiệm ngành Khoa học môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Nguồn: VNUA.  Nhưng rút cục những gì người ta biết về hạt bụi PM2.5 chỉ có thế? Dưới lăng kính khoa học, thứ vật chất này còn phô ra những thông số khác, đó là các nguyên tố kim loại nặng. “Phần lớn các nguyên tố kim loại trong không khí Hà Nội có nồng độ cao hơn ở Huế, Hội An, TP.HCM. Đặc biệt nồng độ bari ở Hà Nội cao gấp 15,5 lần so với TP. HCM”, giáo sư Lê Hồng Khiêm, Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cho biết như vậy sau hơn tám năm dùng rêu làm chỉ thị sinh học để nghiên cứu về chất lượng không khí. Riêng về Hà Nội, các hạt bụi mịn có chứa 22 nguyên tố kim loại như natri, mangan, nhôm, silic, chì, kali, sắt, đồng, kẽm, thủy ngân…, trong đó nồng độ lớn nhất thuộc về silic, canxi, kali, nhôm, sắt và magie5.    Trong các đô thị ở Việt Nam, nơi được đặt giữa những vùng đồng bằng châu thổ trù phú, hạt bụi không thể không có sự “đóng góp” của các hoạt động trồng trọt, ví dụ phát thải ammonia (NH3) hay các loại thuốc trừ sâu. Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản đã tìm ra vết và siêu vết của 19 loại thuốc trừ sâu giữa các hợp phần của hạt bụi, trong đó 16 loại lần đầu tiên được phát hiện6. Rất may là nguy cơ rủi ro đến sức khỏe của chúng không đáng kể.    Vậy là, khi tìm hiểu thông tin về hạt bụi PM2.5 ở các khu đô thị Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM, người ta mới biết mình đang nhìn vào hạt bụi qua nhiều lớp rèm. Để vén những bức rèm ấy lên, ắt hẳn phải cần đến vô số nguồn lực, vô số cách tiếp cận và cả thời gian của các nhóm nghiên cứu.     Mới chạm đến lớp vỏ ngoài     Mặc dù đến giờ, người ta đã có thể tạm hình dung về những thành phần phức tạp và sự hình thành của hạt bụi PM2.5 trong các đô thị, nhưng dường như với các nhà nghiên cứu, vẫn còn quá nhiều điều chúng ta chưa biết về nó hoặc nếu có thì cũng chưa đủ sâu. “Ngày trước cũng có người phát biểu là ‘không còn gì để nghiên cứu về bụi ở Hà Nội nữa’. Nếu không tìm hiểu kỹ thì ai đó cũng có thể nói ‘tại sao mỗi hạt bụi mà cứ phải nghiên cứu đi nghiên cứu lại’. Trên thực tế thì nó giống như một đối tượng nghiên cứu quan trọng, cần phải hiểu nó thật kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh”, TS. Lý Bích Thủy từng trao đổi như vậy với Tia Sáng vào năm 2020.    Đó là lý do giải thích vì sao, khi lên Google scholar gõ cụm từ “air pollution” (ô nhiễm không khí), PM2.5 và chọn năm 2021, trong vòng phần trăm giây đã ra 18.800 kết quả liên quan. Dẫu đi trước Việt Nam trong nghiên cứu về hạt bụi mịn nhưng đến giờ, cộng đồng khoa học quốc tế vẫn còn quan tâm đến đặc điểm và hành xử của nó ở những góc độ ngày một tinh tế hơn, đi sâu vào quá trình hình thành hạt bụi và ảnh hưởng của nó. Những phát hiện của họ không ngừng mở ra những thông tin mới, ví dụ phát thải từ các quá trình nấu nướng như rán ngập dầu mỡ đã bổ cập một tỉ lệ phần trăm đáng kể ô nhiễm không khí trong các thành phố, đặc biệt trong các hạt bụi PM2.5 hoặc các gốc oxy bổ sung có thể gây hại cho sức khỏe của con người được hình thành trong những hạt bụi ở những điều kiện thông thường và có tác động của những phản ứng quang hóa… Mới đây, trong một nghiên cứu xuất bản trên Science, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã cho thấy sự đóng góp của ammoni (NH3) vào bụi PM2.5 lớn hơn nitrogen oxide (NOx)7. Việc kiểm tra dữ liệu trên phạm vi phần lớn các quốc gia trên thế giới đều cho thấy, ammonia ảnh hưởng đến sự hình thành của bụi ở kích thước này nhiều hơn nitrogen oxide…    Trong suy nghĩ của các nhà nghiên cứu tại Việt Nam, những đề tài như vậy đang thành hình, thậm chí nhiều thứ đã bắt đầu trở thành hiện thực, ví dụ như việc làm chủ các mô hình tiếp nhận bụi PM2.5, mô hình đánh giá lan truyền hóa học… Một trong những nỗ lực đó là công bố “Application of WRF-Chem to simulate air quality over Northern Vietnam” (Ứng dụng mô hình WRF-Chem để mô phỏng chất lượng không khí khắp miền Bắc Việt Nam) xuất bản trên tạp chí Environmental Science and Pollution Research (đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ) do các nhà nghiên cứu ĐHQGHN thực hiện – một gợi mở về khả năng dự báo trước ô nhiễm bụi mịn trong tương lai.    Có lẽ, cũng như những người khác, câu hỏi day dứt của các nhà nghiên cứu Việt Nam là “làm cách gì để bầu không khí có thể trở lại trong lành như trước”, “những cách nào hiệu quả nhất để giảm thiểu ô nhiễm”, “làm thế nào để có thể giải quyết căn cơ trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”… Những nghiên cứu của họ, không chỉ để thỏa mãn trí tò mò “trong hạt bụi có gì”, “hạt bụi sẽ hành xử ra sao trong điều kiện không khí nồm ẩm vào mùa xuân” hay “sự phân bổ của nguồn thứ cấp và sơ cấp trong hạt bụi như thế nào”…, mà hướng đến việc có thể đưa ra những khuyến nghị và giải pháp để các cơ quan quản lý cân nhắc lựa chọn để giám sát chất lượng môi trường không khí. Việc dựa trên bằng chứng khoa học sẽ giúp các cơ quan quản lý tránh khỏi việc triển khai rầm rộ một số giải pháp thiếu hiệu quả nhưng có thể làm lãng phí nguồn lực hoặc “nếu chúng ta làm không cẩn thận thì không biết kết quả đi đến đâu, có khi nó lại tù mù hơn?”như tình huống TS. Hoàng Dương Tùng giả định.    Trong lúc chưa có tín hiệu rõ rệt về một kế hoạch thực thi với lộ trình và chỉ tiêu cụ thể nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Việt Nam thì các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục công việc của mình với mong ước một ngày nào đó sẽ sử dụng những công cụ hữu ích như mô hình WRF-Chem, mô hình tiếp nhận bụi PM2.5 tại địa điểm tiếp nhận… vào một kế hoạch như thế. Dù không biết sẽ phải chờ đến bao lâu để được tham gia hoặc chứng kiến một cuộc ra quân loại bỏ ô nhiễm trong môi trường không khí như vậy, những người quan tâm đến một bầu không khí trong lành có lẽ chỉ còn một cách là “mài sắc vũ khí” hoặc làm những việc đơn giản hơn như giải thích cho mọi người xung quanh hiểu về ô nhiễm…□  “Một số câu hỏi quan trọng khác mà còn chưa có được câu trả lời như: đặc trưng hóa lý và hệ số phát thải của bụi từ các nguồn ô khác nhau, cơ chế hình thành các đợt bụi kéo dài ở Hà Nội, các quá trình xảy ra trong khí quyển, hay nguồn nào đóng góp nhiều nhất cho sự phơi nhiễm ô nhiễm không khí”. Anh dự đoán, những câu hỏi còn để ngỏ này có thể trở thành những đề tài nghiên cứu đáng kể cho các nhà nghiên cứu Việt Nam trong thời gian tới” (TS. Vũ Tuân).  —-  1. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Khong-khi-Ha-Noi-o-nhiem-o-muc-nao–25320  2. Investigation of sources and processes influencing variation of PM2.5 and its chemical compositions during a summer period of 2020 in an urban area of Hanoi city, Vietnam  https://link.springer.com/article/10.1007/s11869-021-01100-z  3. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/ha-noi-bi-o-nhiem-nhieu-hon-ve-mua-dong-831  “The effects of meteorological conditions and long-range transport on PM2.5 levels in Hanoi revealed from multi-site measurement using compact sensors and machine learning approach” trên tạp chí Journal of Aerosol Science.  4. “Characteristics of Chemical Components in Fine Particles (PM2.5) and Ultrafine Particles (PM0.1) in Hanoi, Vietnam: a Case Study in Two Seasons with Different Humidity” https://link.springer.com/article/10.1007/s11270-021-05108-0  5. “Assessment of atmospheric deposition of metals in Ha Noi using the moss bio-monitoring technique and proton induced X-ray emission”. https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs10967-020-07066-z  6. “Comprehensive study of insecticides in atmospheric particulate matter in Hanoi, Vietnam: Occurrences and human risk assessment”. https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0045653520322232  7. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abf8623    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Mỗi lần tiếp nhận di sản của nhà khoa học với chúng tôi thực sự là một ngày hội      Ngày 2/11, tại Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam đã tổ chức trọng thể “Lễ tiếp nhận bộ sưu tập tư liệu hiện vật của cố GS.TS.NGND Nguyễn Văn Chiển với sự tham dự của nhiều đại biểu là đồng nghiệp, học trò và đại diện ĐHQG Hà Nội, Viện Hàn lâm KH&amp;CN VN.      Thay mặt gia đình, TS Nguyễn Hoa Cương – con trai GS.NGND Nguyễn Văn Chiển đã trao tặng toàn bộ khối tài liệu hiện vật cá nhân của ông hồm 2500 tư liệu, chủ yếu là tư liệu gốc gồm các sổ ghi chép, nhật ký địa chất, bản thảo công trình nghiên cứu, bài viết, ảnh tư liệu, hiện vật khối được lưu giữ từ sau năm 1945 đến nay cho Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam. Đây là một bộ sưu tập tư liệu quý không chỉ liên quan đến lịch sử cuộc đời của GS Nguyễn Văn Chiển mà còn có nhiều ý nghĩa đối với lịch sử ngành địa chất VN, phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên, phát triển giáo dục.     Phát biểu tại buổi lễ, PGS TS. Nguyễn Văn Huy, Giám đốc chuyên môn Trung tâm di sản các nhà khoa học đã chia sẻ với các đại biểu tham dự một vài suy nghĩ về hoạt động tiếp nhận hồ sơ di sản của các nhà khoa học ở Trung tâm Di sản các nhà khoa học VN. Dưới đây là một phần của bài phát biểu đó.                       Như đã thành thông lệ, ở Trung tâm Di sản các nhà khoa học VN, mỗi lần tiếp nhận hồ sơ với chúng tôi thực sự là một ngày hội với rất nhiều cảm xúc.     Đó là lễ tiếp nhận hồ sơ của GS Nguyễn Văn Nhân được tổ chức tại gia đình khi sức khoẻ của GS phẫu thuật chỉnh hình nổi tiếng trong và ngoài nước đã quá yếu. Ai cũng nhận thấy Gương mặt bừng sáng lên và giọng nói của GS thực sự xúc động khi những hồ sơ bệnh án, những sưu tập phim chụp về các vết thương chiến tranh ở tứ chi mà GS vô cùng trân trọng, cần mẫn tích luỹ, lưu giữ suốt cuộc đời, nay được trao cho địa chỉ mà GS hoàn toàn an tâm, hoàn toàn thanh thản trước ra đi.     Đó là lễ tiếp nhận những khối di sản tư liệu, hiện vật khổng lồ và vô cùng quý giá của các GS Tôn Thất Tùng, Chu Văn Tường, Đặng Văn Chung và nhiều nhà khoa học quá cố khác đã được gia đình trân trọng và tin cậy bàn giao, gửi gắm TT lưu giữ.     Không thể kể hết tên các nhà khoa học vì 387 nhà khoa học đã được TT nghiên cứu, tư liệu hoá hồ sơ di sản và các nhà khoa học này hay gia đình họ đã đặt niềm tin qua việc gửi gắm 10 vạn đầu tư liệu, hiện vật vào kho lưu trữ của Trung tâm di sản các nhà khoa học VN.     Tại sao chúng tôi quan niệm, mỗi lễ tiếp nhận di sản của nhà khoa học là một ngày hội của TT ?  Là ngày hội vì mỗi khi hồ sơ của nhà khoa học được đưa về TT lưu giữ là chúng ta đã cứu được một phần di sản cho khoa học, cho đất nước, làm giầu thêm văn hoá và lịch sử của dân tộc. (bởi chúng tôi biết thực tế là rất nhiều di sản của các nhà khoa học không còn nữa, do bị mối xông, chuật, nhậy cắn hay bị bán giấy vụn, thậm chí bị chính nhà khoa khọc đốt đi).     Là ngày hội vì đây chính là thời điểm, cơ hội để các nhà khoa học, những học trò, đồng nghiệp của nhà khoa học hiến tặng tư liệu, hiện vật như trường hợp giáo sư Nguyễn Văn Chiển ngày hôm nay gặp gỡ, chia sẻ những kỷ niệm, hồi ức về lịch sử của lĩnh vực chuyên ngành, về người giáo sư khả kính.     Là ngày hội của TT Di sản các nhà kho học VN chúng ta vì nhà khoa học hay gia đình nhà khoa học và nói rộng hơn là xã hội đã đặt niềm tin vào TT, gửi gắm niềm tin vào TT di sản các nhà khoa học VN.     Chúng ta vẫn biết rằng chúng ta nhận thức sâu sắc việc làm của TT là một công việc rất nhân văn, thầm lặng, nhưng vô cùng có ích cho lịch sử và văn hoá đất nước. Tuy nhiên để xã hội tin chúng ta không phải dễ; dành được niềm tin của nhà khoa học, của xã hội là vô cùng khó khăn, nhất là trong nền kinh tế thị trường sôi động, trong bối cảnh xã hội đang mất niềm tin như hiện nay, khi cái giả nhiều hơn cái thực.     Cho nên hôm nay thực sự là ngày hội của TT  khi gia đình và người con trai trưởng của Giáo sư Nguyễn Văn Chiển, anh Hoa Cương đã trao cho TT những những kỷ niệm quý giá nhất với người bố, những di sản phản ảnh cả cuộc đời tâm huyết với khoa học và trách nhiệm cao với đất nước của GS Nguyễn Văn Chiển. Đó là sự tin cậy của gia đình nhưng cũng là biểu hiện niềm tin của xã hội với Trung tâm chúng ta.     Chúng tôi hứa 4700 đầu mục tư liệu, hiện vật phản ánh lịch sử cuộc đời của GS Nguyễn Văn Chiển cùng 10 vạn di sản của các nhà khoa học khác đang lưu giữ tại TT sẽ được giữ gìn tốt nhất và phát huy giá trị cao nhất.     Hãy biết trân trọng mỗi sự tin cậy, hãy giữ gìn, nâng niu và nhân rộng sự tin cậy đó.     Đó là cơ sở, là nền tảng của sự phát triển bền vững của Trung tâm.     Xin chân thành cảm ơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mối liên hệ gene giữa sức sáng tạo với… bệnh tâm thần      Mối liên hệ gene giữa sức sáng tạo với bệnh tâm thần    Đó là kết quả nghiên cứu của Kari Stefansson, nhà sáng lập và là Giám đốc deCODE, một công ty chuyên nghiên cứu di truyền học có trụ sở tại Reykjavik (thủ đô Iceland) trong một công bố về kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa một số bệnh thần kinh với khả năng sáng tạo của con người trên Tạp chí Nature Neuroscience.  Người Hy Lạp cổ đại đầu tiên đề cập quan điểm này. Shakespeare cũng từng nói về vấn đề đó. Nhưng có thể lời lẽ của nhà thơ lãng mạn người Anh Lord Byron thẳng thừng hơn: “Nghề nghiệp của chúng ta đều điên rồ cả” – ông tâm sự với nữ bá tước Blessington, nhà thơ đồng hương của mình.  “Thông thường, khi sáng tạo mới một cái gì đấy, cuối cùng người sáng tạo ở vào giữa hai trạng thái tỉnh táo và điên rồ,” Stefansson nói. “Tôi cho rằng kết quả ấy ủng hộ quan điểm cũ về thiên tài điên rồ (the mad genius). Sáng tạo là một phẩm chất đem lại cho chúng ta những người như Mozart, Bach, Van Gogh. Phẩm chất đó rất quan trọng đối với xã hội. Tuy thế nó kèm theo sự rủi ro đối với các cá nhân và 1% số người phải trả giá cho sự sáng tạo.”    Van Gogh tự họa sau khi tự cắt tai mình và gửi cho một cô gái (1889). Ảnh: TheGuardian.     Dự án nghiên cứu do công ty deCODE tiến hành đã phân tích gene của 86.000 người Iceland nhằm tìm các biến thể di truyền (genetic variants) làm tăng gấp đôi nguy cơ trung bình mắc bệnh tâm thần phân liệt, và làm tăng hơn một phần ba nguy cơ rối loạn lưỡng cực.  Kết quả phân tích cho thấy yếu tố di truyền làm tăng nguy cơ rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt được tìm thấy thường xuyên hơn ở người làm những ngành nghề sáng tạo (creative professions). Tính trung bình, các họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và vũ công có biến dị di truyền nhiều hơn 25% so với người làm những ngành nghề được các nhà khoa học đánh giá là ít sáng tạo, – trong số đó có nông dân, người lao động chân tay và nhân viên bán hàng. Những nghệ sĩ là thành viên các hội nghệ thuật quốc gia có biến thể di truyền nhiều hơn 17% so với những nghệ sĩ không phải là thành viên các hội này.  “Để sáng tạo, bạn phải suy nghĩ khác người,” Stefansson nói với tờ Guardian. “Và khi đã khác người, chúng ta có xu hướng bị thiên hạ gọi là loại người kỳ quặc, điên rồ, thậm chí mất trí.”  Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích cơ sở dữ liệu y tế lớn hiện có ở Hà Lan và Thụy Điển nhằm kiểm chứng phát hiện nói trên của họ. Trong số đó có dữ liệu của khoảng 35.000 người được coi là làm công việc có tính sáng tạo (theo nghề nghiệp hoặc thông qua trả lời câu hỏi); khoảng 25% số người này có nhiều khả năng mắc các biến chứng rối loạn tâm thần.  Tuy nhiên, một số nhà khoa học khác vẫn đang nghi ngờ rằng các kết quả đó. Albert Rothenberg, giáo sư tâm thần học tại Đại học Harvard lại không tán thành quan điểm trên. Ông tin rằng chưa có chứng cứ đầy đủ chứng minh mối liên hệ giữa bệnh tâm thần và sự sáng tạo. “Đó là khái niệm lãng mạn ở thế kỷ XIX, cho rằng các nghệ sĩ là những nhà tranh đấu tách khỏi xã hội và vật lộn với ma quỷ trong nội tâm mình,” ông nói. “Như Van Gogh, ông đúng là nhà sáng tạo mắc bệnh tâm thần. Đối với tôi, đảo ngược lại mới thú vị hơn: những người sáng tạo nói chung không mắc bệnh tâm thần, nhưng họ sử dụng quá trình suy nghĩ tất nhiên là sáng tạo và khác người “.  Hải Hoành dịch  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/suc-khoe/moi-lien-he-gene-giua-suc-sang-tao-voi-benh-tam-than/20190808114622518p1c784.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mối liên hệ lạ thường giữa trí não và vật lý lượng tử      Không ai hiểu ý thức là gì hay ý thức vận hành như thế nào. Cũng chẳng có ai hiểu cơ học lượng tử. Nhưng người ta vẫn tin rằng chúng liên quan đến nhau và nỗ lực đi tìm mối quan hệ ấy.      Nhiều nhà khoa học cảm thấy chúng ta vẫn chưa hề nắm bắt được nguồn gốc xuất xứ của ý thức. Nguồn: Sciepro/Science Photo Library.  Tôi không thể định nghĩa vấn đề thực sự ở đây là gì, bởi vậy tôi ngờ rằng chẳng có vấn đề gì cả, nhưng tôi không chắc có đúng là không có vấn đề hay không.”  Nhà vật lý người Mỹ Richard Feynmann đã nói như vậy về các vấn đề hóc búa và những nghịch lý nổi tiếng trong cơ học lượng tử, lý thuyết mà các nhà vật lý đã sử dụng để mô tả các vật thể nhỏ bé nhất trong Vũ trụ. Nhưng cũng có thể đó là ông đang nói về ý thức, một vấn đề không kém phần nan giải.  Một số nhà khoa học tin rằng chúng ta đã hiểu được ý thức là gì, hoặc cũng có người cho rằng ý thức đơn thuần là một ảo tưởng. Nhưng rất nhiều nhà khoa học cảm thấy chúng ta vẫn chưa hề nắm bắt được nguồn gốc xuất xứ của ý thức.  Vấn đề nan giải bất tử về ý thức thậm chí đã khiến một số nhà nghiên cứu dùng đến vật lý lượng tử để giải thích nó. Điều này hiển nhiên luôn vấp phải hoài nghi: thật không khôn ngoan khi dùng bí ẩn này để lý giải một bí ẩn khác. Tuy nhiên, những ý tưởng như vậy không hẳn là kỳ quặc, và cũng không hề tùy hứng.  Các nhà vật lý vẫn thường cảm thấy khó chịu trước thực tế là yếu tố ý thức xuất hiện trong lý thuyết lượng tử ngay từ thời kỳ đầu. Hơn nữa, các máy tính lượng tử được dự đoán là có khả năng hoàn thành những việc máy tính thông thường không thể, tương tự như cách trí não có thể làm được những điều vượt xa khả năng của trí tuệ nhân tạo. “Ý thức lượng tử” thường bị chế nhạo như một lời tán tỉnh huyễn hoặc, nhưng người ta vẫn không thể bác bỏ nó.  Cơ học lượng tử là lý thuyết tốt nhất mà con người có khi mô tả thế giới ở cấp độ cơ bản của nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử. Điều đặc biệt bí ẩn nổi tiếng nhất của nó là thực tế rằng kết quả của một thí nghiệm lượng tử có thể thay đổi tùy thuộc vào việc chúng ta có đo đạc tính chất nào đó của các hạt tham gia thí nghiệm hay không.  Hiện tượng này có tên gọi là “hiệu ứng người quan sát”, từng khiến các nhà lý thuyết lượng tử tiên phong vô cùng bối rối. Có vẻ như nó phá hoại giả định cơ sở ẩn sau tất cả các ngành khoa học: rằng có một thế giới khách quan ngoài kia, không phụ thuộc vào chúng ta. Nếu sự vận hành của thế giới tùy thuộc vào cách chúng ta quan sát nó, thì khái niệm “hiện thực” thật ra đâu còn ý nghĩa gì?  Một số nhà nghiên cứu cảm thấy bị ép buộc phải kết luận rằng tính khách quan thực ra chỉ là một ảo ảnh, rằng ý thức phải được coi như một tác nhân tham gia chủ động trong lý thuyết lượng tử. Với số khác, điều này chẳng có ý nghĩa gì cả. Chắc chắn, Albert Einstein đã từng phàn nàn rằng, Mặt trăng đâu chỉ tồn tại khi chúng ta nhìn nó!  Ngày nay, một số nhà vật lý nghi ngờ rằng, dù yếu tố ý thức có ảnh hưởng lên cơ học lượng tử hay không, có lẽ thực tế là ý thức tồn tại chính nhờ cơ học lượng tử. Họ tin rằng lý thuyết lượng tử là điều không thể thiếu để giải thích đầy đủ sự vận hành của trí não.  Có lẽ, cũng như các đối tượng lượng tử có thể đồng thời hiện hữu ở hai vị trí, một trí não lượng tử cũng có thể giữ hai ý tưởng loại trừ lẫn nhau tại cùng một thời điểm?  Sự xâm nhập nổi tiếng nhất của trí não vào cơ học lượng tử đến từ “thí nghiệm hai khe hẹp”. Tưởng tượng rằng ta chiếu một tia sáng trước một màn chứa hai khe hẹp song song. Một phần ánh sáng đi qua các khe, và được hứng bởi một màn chắn phía sau.  Ánh sáng có thể được coi như một dạng sóng và khi các sóng hiện ra sau hai khe chúng có thể giao thoa với nhau. Nếu các đỉnh sóng trùng nhau, chúng sẽ cộng hưởng, còn nếu một đỉnh và một hõm trùng nhau thì chúng sẽ triệt tiêu nhau. Sự giao thoa các sóng này được gọi là hiện tượng nhiễu xạ, nó tạo ra một dãy luân phiên các dải sáng tối trên màn chắn sau khi các sóng ánh sáng cộng hưởng và triệt tiêu nhau.  Thí nghiệm này được hiểu như một đặc tính của các sóng trong suốt 200 năm, trước khi lý thuyết lượng tử xuất hiện.  Thí nghiệm hai khe cũng có thể thực hiện được với các hạt lượng tử như electron, loại hạt vi mô mang điện cấu thành nên nguyên tử. Những hạt này cũng có thể hành xử như sóng, nghĩa là chúng cũng có thể trải qua sự nhiễu xạ khi một dòng các hạt electron đi qua hai khe hẹp tạo ra giao thoa.  Giả sử các hạt lượng tử được gửi qua các khe lần lượt mỗi hạt một lần, rồi lần lượt đập vào màn chắn phía sau. Giờ đây rõ ràng chẳng có gì trên đường đi của mỗi hạt để nó có thể giao thoa – nhưng quy luật các điểm va chạm của mỗi hạt theo thời gian đều là các dải giao thoa.  Có vẻ như thí nghiệm này ngụ ý rằng mỗi hạt đều đồng thời đi qua cả hai khe và tự giao thoa với chính nó. Sự kết hợp của việc “đi qua cả hai đường ở cùng một thời điểm” này được gọi là một trạng thái chồng chập.  Nhưng điều tiếp theo sau đây mới thực sự kỳ dị.  Bằng cách đặt một máy dò bên trong hoặc ngay sau một khe, ta có thể phát hiện ra hạt vi mô có đi qua nó hay không. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự giao thoa biến mất. Đơn giản chỉ với việc quan sát đường đi của hạt – ngay cả khi sự quan sát này không làm nhiễu chuyển động của hạt – mà chúng ta đã thay đổi kết quả thí nghiệm.  Nhà vật lý Pascual Jordan, người đã làm việc cùng với bậc thầy lượng tử Niels Bohr ở Copenhagen vào những năm 1920, đã kết luận rằng “sự quan sát không chỉ làm nhiễu cái cần được đo, chúng còn định dạng ra nó nữa… Chúng ta đã ép [một hạt lượng tử] phải mang một vị trí xác định.” Nói cách khác, Jordan nói, “chính chúng ta đã định đoạt kết quả thí nghiệm.”  Nếu như vậy, hiện thực khách quan có vẻ như là điều không tồn tại.  Và thậm chí nó còn trở nên kỳ lạ hơn.    Thí nghiệm hai khe hẹp nổi tiếng. Nguồn: Victor de Schwanberg/Science Photo Library.  Nếu tự nhiên có vẻ như đang thay đổi hành vi của nó tùy thuộc vào việc chúng ta có “quan sát” nó hay không, ta có thể lừa nó tiết lộ mục đích của mình. Để làm vậy, ta có thể đo xem hạt đi qua khe nào trong hai khe, nhưng chỉ khi nó đã đi qua hai khe ấy. Từ đó, nó hẳn đã phải “quyết định” sẽ đi một hoặc cả hai đường.  Một thí nghiệm như vậy do nhà vật lý Mỹ John Wheeler đề xuất vào những năm 1970, được gọi là “sự lựa chọn bị trì hoãn”, và được thực hiện trong thập kỷ tiếp theo. Nó sử dụng các kỹ thuật thông minh để thực hiện những phép đo trên quỹ đạo của các hạt lượng tử (thường là các hạt lượng tử ánh sáng, còn gọi là photon) sau khi chúng đã chọn đi một đường hay là một chồng chập của cả hai đường.  Thực tế hóa ra, cũng như Bohr đã tự tin tiên đoán, không có gì khác biệt trong chuyện chúng ta có trì hoãn phép đo hay không. Cứ khi nào chúng ta đo đường đi của photon trước khi nó chạm đến máy dò là tất cả hiện tượng giao thoa biến mất.  Cứ như thể tự nhiên không chỉ “biết” khi bị chúng ta quan sát, mà còn ngay từ khi chúng ta dự định quan sát nữa.  Trong những thí nghiệm này, bất cứ khi nào thấy đường đi của một hạt lượng tử, đám mây những đường đi của nó “chập lại” thành một trạng thái đơn lẻ được xác định cụ thể. Hơn thế, thí nghiệm sự lựa chọn bị trì hoãn ngụ ý rằng, chỉ riêng hành động quan sát, chứ không tính đến bất kỳ sự gây nhiễu cụ thể nào gây ra bởi phép đo, có thể gây ra sự chập lại. Nhưng phải chăng điều này có nghĩa rằng sự chập lại thực sự chỉ xảy ra khi kết quả của một phép đo chạm vào nhận thức của chúng ta?  Khả năng này được nhà vật lý người Hungary Eugene Wigner thừa nhận vào những năm 1930. “Nó có nghĩa là những ấn tượng đi vào nhận thức của tôi sẽ ảnh hưởng tới việc mô tả lượng tử các đối tượng,” ông viết. “Thuyết duy ngã có thể nhất quán một cách lôgic với cơ học lượng tử hiện tại.”  Wheeler thậm chí còn hình dung rằng sự hiện hữu sinh vật, vốn có khả năng “nhận biết”, đã biến thứ trước đó là một chồng chập những quá khứ lượng tử thành một lịch sử cụ thể. Theo nghĩa này, Wheeler nói, chúng ta đã trở thành thành viên trong chu trình tiến hóa của Vũ trụ ngay từ khởi đầu của nó. Nói như ông, chúng ta đang sống trong một “vũ trụ cho phép sự tham gia của cá nhân”.  Ngày nay, các nhà vật lý vẫn chưa đồng thuận xem đâu là cách tốt nhất để giải thích các thí nghiệm lượng tử này, và ở một mức độ nào đó tự bản thân bạn (ở thời điểm hiện tại) có thể tùy chọn cho mình ý nghĩa của chúng. Nhưng dù là cách này hay cách khác, thật khó để lờ đi ngụ ý rằng ý thức và cơ học lượng tử có liên quan với nhau theo một cách nào đó.  Đến đầu những năm 1980, nhà vật lý người Anh Roger Penrose đã đề xuất rằng mối liên quan này có thể theo một hướng khác. Dù nhận thức có ảnh hưởng lên cơ học lượng tử hay không, ông nói, có lẽ cơ học lượng tử vẫn luôn có vai trò trong ý thức.  Nếu, Penrose hỏi, có những cấu trúc kiểu phân tử trong trí não của chúng ta, có khả năng thay đổi trạng thái của chúng để đáp lại một sự kiện lượng tử đơn lẻ thì sao? Liệu những cấu trúc này có thể gắn với một trạng thái chồng chập, cũng như các hạt trong thí nghiệm hai khe hẹp không? Và liệu có thể rằng các trạng thái chồng chập lượng tử ấy cũng xuất hiện trong những phương thức kích hoạt các nơron thông tin cho nhau qua các tín hiệu điện hay không?  Có lẽ, Penrose nói, khả năng duy trì những trạng thái tinh thần có vẻ như không tương thích của chúng ta, không phải là điều dị thường của ý thức, mà là một hiệu ứng lượng tử thực sự.  Sau cùng, trí não con người có vẻ như có khả năng xử lý các quá trình ý thức vượt xa khả năng của các máy tính kỹ thuật số. Có lẽ thậm chí chúng ta có thể thực hiện những nhiệm vụ tính toán bất khả với các máy tính thông thường, vốn sử dụng lôgic kỹ thuật số cổ điển.  Penrose đề xuất quan điểm về hiệu ứng lượng tử trong ý thức của con người trong cuốn sách in năm 1989 của ông, The Emperor’s New Mind (Trí não mới của Hoàng đế). Ý tưởng này được gọi là Orch-OR, viết tắt của “orchestrated objective reduction” (sự giản lược khách quan hài hòa).  Orch-OR đã gợi đến đề xuất của Penrose rằng lực hấp dẫn là nguyên nhân dẫn tới thực tế rằng các vật thể đời thường, như những chiếc ghế hay các hành tinh, không thể hiện hiệu ứng lượng tử. Penrose tin rằng sự chồng chập lượng tử trở nên bất khả với các đối tượng vô cùng lớn so với nguyên tử, bởi hiệu ứng hấp dẫn của chúng sẽ ép buộc hai phiên bản không tương thích của không-thời gian đồng thời tồn tại.  Penrose đã phát triển ý tưởng này xa hơn cùng với bác sĩ người Mỹ Stuart Hameroff. Trong cuốn sách in năm 1994 Shadows of the Mind (Những cái bóng của trí não), ông đề xuất rằng những cấu trúc tham gia vào nhận thức lượng tử này có thể là các dải protein gọi là microtubule. Chúng xuất hiện ở hầu khắp các tế bào của chúng ta, bao gồm cả các nơron trong não bộ. Penrose và Hameroff lập luận rằng những rung động của microtubule có thể gắn với một trạng thái chồng chập lượng tử.  Nhưng không có bằng chứng nào cho một niềm tin mơ hồ như vậy.  Người ta từng nghĩ rằng ý tưởng chồng chập lượng tử trong các microtubule được ủng hộ bởi một số thí nghiệm thực hiện năm 2013, nhưng thực tế những nghiên cứu này không hề đề cập đến các hiệu ứng lượng tử.  Bên cạnh đó, đa số các nhà nghiên cứu nghĩ rằng ý tưởng Orch-OR đã bị một nghiên cứu công bố năm 2000 loại bỏ. Nhà vật lý Max Tegmark đã tính toán rằng các trạng thái chồng chập lượng tử của những phân tử xuất hiện trong tín hiệu nơron không thể tồn tại trong thậm chí một phần nhỏ của thời gian cần thiết để tín hiệu ấy có thể được truyền đi.  Các hiệu ứng lượng tử như sự chồng chập rất dễ bị phá hủy bởi một quá trình gọi là sự phân rã, có nguồn gốc từ những tương tác của một đối tượng lượng tử với môi trường xung quanh nó, qua đó “tính lượng tử” mất đi.  Sự phân rã được coi là vô cùng nhanh trong môi trường nóng ẩm như các tế bào sống.  Tín hiệu thần kinh là những xung điện, do các nguyên tử mang điện đi qua vách tế bào thần kinh tạo ra. Nếu một trong những nguyên tử này đang ở trong một trạng thái chồng chập và sau đó va chạm với một nơron, Tegmark đã chỉ ra rằng sự chồng chập này có thể phân rã trong không tới một phần tỉ tỉ của một giây. Cần có ít nhất mười nghìn tỉ lần thời gian như vậy để một nơron phóng ra một tín hiệu.  Do đó, người ta hết sức hoài nghi các ý tưởng về những hiệu ứng lượng tử trong não.  Tuy nhiên, Penrose không bị những lập luận này lay chuyển và không thay đổi giả thuyết Orch-OR. Và mặc cho dự đoán của Tegmark về sự phân rã vô cùng nhanh trong các tế bào, các nhà nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng cho những hiệu ứng lượng tử trong sinh vật. Một số người chỉ ra rằng cơ học lượng tử chính là cơ chế giúp những con chim di cư sử dụng hệ thống dẫn đường bằng từ, và giúp những cây xanh sử dụng ánh sáng để tạo ra đường từ sự quang hợp.  Bên cạnh đó, một nghiên cứu công bố năm 2015, nhà vật lý Matthew Fisher của Đại học California ở Santa Barbara lập luận rằng não bộ có thể chứa những phân tử có khả năng duy trì những trạng thái chồng chập lượng tử mạnh hơn. Ông tin rằng những hạt nhân nguyên tử phốt pho có thể có khả năng này.  Các nguyên tử phốt pho tồn tại ở khắp mọi nơi trong tế bào sống. Chúng thường ở dạng các ion phốt pho, trong đó một nguyên tử phốt pho kết hợp với bốn nguyên tử ôxy.  Những ion như vậy, là đơn vị cơ bản của năng lượng trong tế bào. Hầu hết năng lượng của tế bào đặt trong các phân tử gọi là ATP, vốn chứa một dây ba nhóm phốt phát kết hợp thành một phân tử hữu cơ. Khi một trong ba gốc phốt phát tách ra tự do, năng lượng được giải phóng để tế bào sử dụng.  Các tế bào có cơ cấu phân tử để tập hợp các ion phốt phát thành nhóm và tách chúng trở lại. Fisher đề xuất một lược đồ trong đó hai ion phốt phát có thể được đặt trong một trạng thái chồng chập đặc biệt gọi là một “trạng thái rối”.  Các hạt nhân phốt phát có một tính chất lượng tử gọi là spin, khiến chúng giống như những nam châm với các cực chỉ theo những hướng cụ thể. Trong một trạng thái rối, spin của một hạt nhân phốt pho phụ thuộc vào spin của hạt nhân còn lại.  Nói cách khác, các trạng thái rối thực ra chính là những trạng thái chồng chập với nhiều hơn một hạt lượng tử.  Fisher nói rằng động thái mang tính cơ-lượng tử của những spin của các hạt nhân này có thể cản trở tương đối hiệu quả sự phân rã theo thang thời gian của con người. Ông đồng ý với Tegmark rằng những rung động lượng tử, như những gì đã được Penrose và Hameroff đặt làm tiên đề, sẽ có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi môi trường xung quanh “và sẽ phân rã gần như ngay lập tức”. Nhưng các spin của hạt nhân sẽ không tương tác đủ mạnh với môi trường xung quanh chúng, và động thái lượng tử trong spin của hạt nhân phốt pho sẽ phải được “bảo vệ” khỏi sự phân rã.  Điều này có thể xảy ra, Fisher nói, nếu các nguyên tử phốt pho kết hợp chặt chẽ thành một đối tượng gọi là “các phân tử Posner”. Chúng là một cụm sáu ion phốt phát, kết hợp với chín ion canxi. Có vài nguyên nhân cho thấy, chúng có thể tồn tại trong các tế bào sống, mặc dù còn xa ta mới có thể kết luận từ đây.  Trong các phân tử Posner, Fisher lập luận, spin của phốt pho có thể ngăn trở sự phân rã trong một ngày hoặc hơn, thậm chí là trong các tế bào sống. Điều này có nghĩa là chúng có thể ảnh hưởng lên cách thức hoạt động của não bộ.  Ý tưởng ở đây là các phân tử Posner có thể bị các nơron nuốt mất. Một khi đã vào bên trong, các phân tử Posner có thể kích hoạt việc bắn một tín hiệu sang nơron khác, bằng cách rời ra và giải phóng các ion canxi của chúng.  Do trạng thái rối lượng tử trong các phân tử Posner, hai tín hiệu như vậy vướng vào nhau: chúng ta có thể coi đó như một dạng chồng chập lượng tử của một “suy nghĩ”. “Nếu việc xử lý lượng tử với spin của các hạt nhân thực tế cũng hiện hữu trong não bộ, nó sẽ là một hiện tượng cực kỳ phổ biến, xảy ra hầu hết mọi lúc,” Fisher nói.  Ý tưởng này xuất hiện lần đầu tiên khi ông bắt đầu nghĩ về bệnh tâm thần.  “Đường vào ngành hóa sinh não bộ của tôi bắt đầu khi ba hay bốn năm trước tôi quyết định khám phá xem làm thế nào mà các ion liti trên Trái đất có thể có hiệu ứng kinh ngạc đến vậy trong việc điều trị các bệnh thần kinh,” Fisher nói.  Các chất gây nghiện chứa liti được sử dụng rộng rãi để điều trị chứng rối loạn lưỡng cực, nhưng không ai biết tác dụng của chúng đến từ đâu.  “Khi đó tôi chưa tìm kiếm một giải thích mang tính lượng tử,” Fisher nói. Nhưng rồi ông lướt qua một báo cáo rằng các chất gây nghiện chứa liti có những ảnh hưởng khác nhau lên hành vi của chuột, tùy thuộc vào dạng – hay “đồng vị” – liti được sử dụng.  Đây thực sự là một vấn đề vô cùng nan giải, ngay từ nghĩa đen. Trong ngôn ngữ hóa học, các đồng vị khác nhau có hoạt tính gần như đồng nhất, vậy nên nếu liti có tác dụng như một chất gây nghiện nhân tạo thì tất cả các đồng vị của nó cũng phải tạo hiệu ứng tương tự.  Nhưng Fisher nhận ra rằng hạt nhân của các nguyên tử với những đồng vị khác nhau của liti có thể có spin khác nhau. Tính chất lượng tử này có thể ảnh hưởng đến cách tác động của chất gây nghiện chứa liti. Chẳng hạn, nếu liti thay thế cho canxi trong các phân tử Posner, spin của liti có thể “cảm thấy” và ảnh hưởng lên những nguyên tử phốt pho, do đó giao thoa với trạng thái rối của chúng.  Nhưng nếu đúng thì điều này sẽ giúp giải thích tại sao liti có thể điều trị chứng rối loạn lưỡng cực.  Ở điểm này, đề xuất của Fisher chỉ là một ý tưởng hấp dẫn. Nhưng có một vài phương pháp mà tính chính xác của chúng có thể được kiểm định, bắt đầu với ý tưởng spin của phốt pho trong các phân tử Posner có thể giữ được sự gắn kết lượng tử trong quãng thời gian dài. Đó chính là điều tiếp theo mà Fisher hướng tới.  Cũng như vậy, ông thận trọng với việc liên kết những ý tưởng ban đầu về “ý thức lượng tử”, mà với ông thì cùng lắm chúng cũng chỉ mang tính ức đoán.  Đa số các nhà vật lý không cảm thấy thực sự thoải mái với mối quan hệ có thể có giữa lý thuyết lượng tử và ý thức, đa số hi vọng rằng hai lĩnh vực tồn tại độc lập với nhau. Sau cùng, chúng ta còn chưa thực sự biết ý thức là gì, càng chưa thể có một lý thuyết để mô tả nó. Mọi chuyện càng trở nên huyền hoặc khi hiện nay mới có một nhóm nghiên cứu quy mô nhỏ, tập trung vào khái niệm “ý thức lượng tử”, khẳng định rằng cơ học lượng tử đưa ra cơ sở khả dĩ cho việc tìm hiểu những hiện tượng như thần giao cách cảm và cách không di vật. Hệ quả là, các nhà vật lý thường cảm thấy ngại ngùng khi đề cập đến quan hệ giữa “lượng tử” và “ý thức”.  Nhưng gạt những chuyện ấy qua một bên, thì ý tưởng về mối quan hệ này đã có một lịch sử lâu dài, và một số nhà nghiên cứu tin rằng sẽ chẳng bao giờ có thể bác bỏ nó.  Năm 2016, Adrian Kent ở Đại học Cambridge, Anh, một trong những “triết gia lượng tử” đáng kính nhất, đã dự đoán rằng ý thức có thể ảnh hưởng đến động thái của các hệ thống lượng tử theo những cách thức vi tế nhưng có thể đo được.  Kent rất thận trọng với ý tưởng này. “Không có lý do bắt buộc nào về mặt nguyên lý để tin rằng lý thuyết lượng tử là lựa chọn đúng đắn để thử tạo lập một lý thuyết cho ý thức, hay có sự liên quan giữa các vấn đề lượng tử với vấn đề về ý thức,” ông thừa nhận.  Nguyễn Duy Khánh dịch  Nguồn: http://www.bbc.com/earth/story/20170215-the-strange-link-between-the-human-mind-and-quantum-physics    Author                Philip Ball        
__label__tiasang Mối liên hệ mà Einstein chưa từng nghĩ đến: ER = EPR      Trong số tạp chí cuối cùng của năm 2015 – năm đánh dấu 100 năm thuyết tương đối rộng của Einstein – ban biên tập Tia Sáng xin gửi tới bạn đọc bài viết của GS. Cao Chi về công thức ER=EPR [1], biểu diễn cho mối liên quan giữa hiện tượng liên đới lượng tử mô tả bởi cặp hạt EPR trong Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) và cấu trúc hình học lỗ sâu đục ER trong Lý thuyết tương đối rộng (General Relativity), là thành quả nghiên cứu của hai nhà vật lý lý thuyết Juan Maldacena (Viện nghiên cứu tiên tiến Princeton-Institute for Advanced Study&#160; – IAS) và Leonard Susskind (Đại học Stanford). Qua đó, vấn đề liên đới lượng tử trong cơ học lượng tử vì tính phi định xứ (non-locality) xưa nay vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc diễn dịch ý nghĩa vật lý, thì giờ đã có một cách hiểu kỳ diệu theo hình học trong thuyết tương đối rộng. Ngoài ra, giả thuyết này còn giúp từ chối mô hình tường lửa quanh lỗ đen gây tranh cãi&#160; của nhóm các tác giả AMPS.        Việc đầu tiên là giải thích công thức ER=EPR.      ER – chữ cái đầu của Einstein và Rosen – là ký hiệu của cầu ER (ER bridge) hay lỗ sâu đục (wormhole) nối liền hai lỗ đen trong thuyết tương đối rộng, còn EPR – chữ cái đầu của Einstein, Podolsky, Rosen – là ký hiệu của mối liên đới lượng tử (quantum entanglement) nối liền hai hạt trong cơ học lượng tử.      Một điều thú vị là cả hai vế của công thức trên đều xuất phát từ hai bài báo mà bản thân Einstein (cùng với các tác giả cộng sự) viết vào năm 1935. Hai công trình liên quan đến hai hiện tượng rất khác nhau (thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử), và sau này Einstein cũng không bao giờ nghĩ là chúng có thể có liên hệ gì với nhau. Vậy mà nay các nhà vật lý đã tìm được mối liên hệ mà bản thân Einstein không hề nghĩ đến[1].      Liên đới lượng tử hay “ma lực ở một khoảng cách”     Một đặc tính của các trạng thái lượng tử, khác biệt với các trạng thái cổ điển là hiện tượng liên đới lượng tử, theo đó sự tương tác giữa các qubit (bit lượng tử) làm phát sinh một sự chồng chất liên kết (giao thoa) các trạng thái lượng tử. Sự chồng chất này không thể đưa về tích trực tiếp của các qubit riêng lẻ. Ví dụ đối với 2 qubit ≠ Ψ1 O Ψ2 có những dạng trộn lẫn như sau:      │B00 ˃ = │00 ˃ +│11 ˃  │B01 ˃ = │01 ˃ +│10 ˃  │B10 ˃ = │00 ˃ -│11 ˃  │B11 ˃ = │01 ˃ -│10 ˃     Các trạng thái  │Bmn ˃gọi là các trạng thái Bell, hoặc trạng thái EPR hoặc cặp EPR, đặt theo chữ cái đầu tiên của tên các tác giả Einstein, Podolsky và Rosen là những người đầu tiên phát hiện ra các tính chất kỳ lạ của những trạng thái đó.     Nếu xét đặc trưng lượng tử là hình chiếu sz của spin chẳng hạn xuống trục z,  thì m là hình chiếu của hạt thứ nhất, còn n là hình chiếu của hạt thứ hai. Vì ở đây ta xét các qubit có khả năng lấy hai trị số cho nên m & n = 0 (sz = ½, chiều quay hướng lên trên ↑ ­) hoặc 1 (sz = -1 /2, chiều quay hướng xuống dưới ↓).      Ví dụ hãy thực hiện phép đo sz của hạt thứ nhất khi hệ nằm trong trạng thái │B11 ˃. Lẽ dĩ nhiên kết quả đo sẽ cho ta 1/2 hoặc – 1/2 với xác suất bằng nhau và giả sử thu được sz = 1/2, sau phép đo này hàm của hệ rút về (collapse ) thành hàm riêng ứng với trị riêng đo được:  │B11 ˃ → │01 ˃       Do đó khi đo sz của một hạt thứ hai ta chỉ thu được sz = -1 /2 (ứng với n = 1). Như vậy xuất hiện một điều kỳ lạ, trị riêng đo được của hạt này lại phụ thuộc vào trị riêng đo được của hạt kia, dù rằng chúng được tách rời nhau đến vô cực! Người ta nói rằng hai hạt EPR là liên đới lượng tử. Einstein đã gọi hiện tượng này là một tác động ma lực ở một khoảng cách (spooky action at a distance). Đây là một hiện tượng thuần tuý cơ học lượng tử.      Đối ngẫu AdS/CFT     Năm 1997, Juan Maldacena (IAS) phát hiện một cách tiếp cận nối liền giữa thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử, được gọi là đối ngẫu Maldacena (còn gọi là đối ngẫu AdS/CFT, AdS = không gian anti de Sitter, CFT = conformal field theory – lý thuyết trường conformal). Dựa trên lý thuyết dây Maldacena chứng minh rằng một lý thuyết có chứa thuyết tương đối rộng trong nội vùng của không gian AdS tương đương với một lý thuyết trường CFT trên ngoại biên của vùng đó. Điều này giống như một không gian 3-chiều chiếu xuống một hình cầu 2-chiều.     Maldacena đưa ra kết luận: vùng 3-chiều của vũ trụ chúng ta có thể mô tả nhờ thông tin mã hóa trên biên 2-chiều, tương tự như ánh sáng laser có thể mã hóa không gian 3-chiều nhờ một hologram 2-chiều. Nói cách khác, vũ trụ là hình chiếu của thông tin nằm trên biên 2-chiều.     Theo Maldacena thì vũ trụ 3-chiều chứa dây và lỗ đen điều khiển bởi hấp dẫn có biên là mặt 2-chiều trên đó các hạt cơ bản và trường tuân theo những định luật vật lý không có hấp dẫn.   Nếu xét một lỗ đen thì chân trời sự cố của lỗ đen là biên holographic chứa mọi thông tin về nội vùng của lỗ đen.      Bức xạ Hawking     Năm 1974, Hawking đưa ra lý thuyết về bức xạ của lỗ đen: đó là bức xạ Hawking. Kết quả lý thuyết xuất sắc này đã đưa Stephen Hawking lên hàng những nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc nhất của thời đại. Theo lý thuyết này, lỗ đen bức xạ giống như một hòn than nóng, với nhiệt độ tỷ lệ nghịch với khối lượng. Ví dụ với một lỗ đen có khối lượng bằng 1012 kg thì nhiệt độ tương ứng sẽ là 1012 độ Kelvin và lỗ đen sẽ bức xạ các hạt không có khối lượng như photon và các hạt có khối lượng như electron, proton.      Nếu một cặp hạt sinh ra trong chân không của trường hấp dẫn, có thể xảy ra tình huống trong đó một hạt sinh ra nằm dưới chân trời sự cố của lỗ đen, hạt này có năng lượng âm và người quan sát bên ngoài không thấy được, hạt còn lại vượt hàng rào thế và đi ra vô cực. Khi có hạt bay ra vô cực thì ta có hiện tượng bức xạ Hawking. Vì bức xạ, lỗ đen tiêu hao khối lượng, vậy trọng trường nhỏ đi và nhiều hạt có cơ hội thoát khỏi lỗ đen (hình 1).               Hình 1. Bức xạ Hawking: một hạt rơi vào lỗ đen, một hạt bay ra vô cực          Hawking chứng minh rằng lỗ đen nói chung có khả năng bức xạ photon, neutrino, graviton giống như một vật đen bị đốt nóng đến nhiệt độ           ħg  T = —— ,           2�cK  K- hằng số Boltzmann.      Tường lửa của AMPS      Mô hình tường lửa quanh lỗ đen được xây dựng năm 2012 bởi Ahmed Almhein, Donald Marof , Joseph Polchinski và James Sully (viết tắt là AMPS)[3].     Nhóm AMPS chú ý đến hiện tượng liên đới lượng tử trong bức xạ Hawking. Trong hiện tượng liên đới lượng tử nếu hạt A liên đới với hạt B thì không thể liên đới lượng tử với hạt C nào nữa (nói nôm na là có chế độ một vợ một chồng – MONOGAMY trong liên đới lượng tử).     Theo quan điểm được nhiều người đồng thuận của Don Page và Leonard Susskin thì một hạt bức xạ ra ngoài lỗ đen tại thời điểm t sẽ liên đới lượng tử với một hạt của bức xạ Hawking đã bắn ra trước đó < t.     Trong lỗ đen lấy một hạt trong bức xạ Hawking gọi nó là B và gọi hạt song hành bị rơi vào lỗ đen là A. A và B liên đới lượng tử với nhau.Tiếp theo thông tin rơi vào lỗ đen được mã hóa trong các hạt bức xạ Hawking. Bây giờ nếu thông tin không bị mất thì hạt photon thoát ra phải kết thúc vào một trạng thái lượng tử xác định cho nên B phải liên đới với một hạt C nào khác đã bay ra ngoài (nếu không thì output không bảo toàn thông tin). Như vậy ta có mâu thuẫn (vì có hiện tượng đa thê thay vì chế độ một vợ một chồng của liên đới lượng tử).     Để giải quyết mâu thuẫn trên cần làm biến mất liên đới lượng tử giữa A và B. Sự mất liên đới lượng tử này đòi hỏi phải có năng lượng giống như sự phá vỡ liên kết hóa học cần năng lượng. Phá vỡ liên đới lượng tử, các cặp Hawking đòi hỏi sự có mặt của một bức tường các hạt năng lượng cao mà AMPS gọi là tường lửa (firewall). Một du hành vũ trụ khi cắt ngang đường chân trời sự cố sẽ không trơn tru như thuyết tương đối giả định mà gặp phải một bức tường lửa. Nhiều nhà vật lý tỏ thái độ nghi ngờ ý tưởng của nhóm AMPS.      ER: chiếc cầu tưởng ngắn nhưng lại dài vô cùng      Các phương trình của Einstein có một lời giải đặc biệt quan trọng, đó là lời giải Karl Schwarzschild tìm ra năm 1916.     Năm 1935, ở một trong hai bài báo năm 1935 (đã nói đến ở phần đầu bài), Einstein và Nathan Rosen, một cộng tác viên của Einstein ở IAS, tìm ra một khía cạnh rất thú vị của nghiệm Schwarzschild. Họ tìm ra rằng nghiệm này chứa hai không gian độc lập nối với nhau bằng một cái “ống” hay nói cách khác bằng một cái cầu.     Sự kết nối hình học mà Einstein và Rosen tìm ra được gọi là “cầu Einstein-Rosen” (ER bridge), hay lỗ sâu đục (xem hình 2).               Hình 2. Lỗ sâu đục hay cầu EP nối liền 2 không gian          Chiếc cầu nguyên thuỷ của ER nối hai không gian độc lập. Tuy nhiên, ta có thể có những nghiệm giống như vậy nhưng hai vùng được nối cùng thuộc về một không gian (xem hình 3). Chỉ cần thay đổi một chút, nghiệm Schwarzchild có thể được diễn giải như là một nghiệm chứa hai lỗ đen ở rất xa nhau nhưng bên trong lại nối với nhau. [2]               Hình 3. Cầu EP nối liền 2 lỗ đen của một không gian           Hãy tưởng tượng có một lỗ đen ở gần trái đất và một lỗ đen gần sao Vega (xem hình 4). Nếu ruột của hai lỗ đen được nối với nhau bằng một chiếc cầu ER, khoảng cách giữa trái đất và sao Vega nếu tính xuyên qua cầu ER lại ngắn đi so với khoảng cách 25 năm ánh sáng theo đường ngoài lỗ đen.             Hình 4. Lỗ sâu đục dường như rút  ngắn khoảng cách giữa trái đất và sao Vega.Vega (α Lyr, α Lyrae, Alpha  Lyrae) là sao thuộc quần thể Lyra, đây là sao có độ sáng thứ năm trên  bầu trời đêm và có độ sáng thứ hai trên bầu trời Bắc,cách trái đất 25  năm ánh sáng.           Tuy nhiên năm 1963, Robert W. Fuller ở Đại học Columbia và John A. Wheeler ở Đại học Princeton đã chứng minh rằng không thể dùng cầu ER để gửi bất kỳ loại tín hiệu nào [3]. Để thấy điều này ta phải xem xét tính chất động của hình học trong đó thời gian đóng một vai trò quan trọng. Lỗ sâu đục của chúng ta mô tả hình học của không gian tại một thời điểm cố định. Nhưng hình học này tiến hoá theo thời gian. Fuller và Wheeler chứng minh được rằng chiếc cầu ER giãn ra – độ dài của cầu trở thành vô cùng – trước khi người quan sát kịp vượt nó.      Trong trường hợp hai lỗ đen nối với nhau ở bên trong bằng một lỗ sâu đục, chân trời của hai lỗ đen chạm vào nhau tại một khoảnh khắc, nhưng sau đó rời nhau ra quá nhanh để cho ai đó có thể kịp vượt cầu sang bên kia. Như thế nếu Romeo (trên trái đất) muốn gửi một thông điệp nhanh hơn tốc độ ánh sáng cho Juliet (trên thiên hà Vega), anh ta sẽ không thể làm được.      Cầu ER là một cầu không qua được (non-traversable).     Cần phải nhấn mạnh là những lỗ sâu đục ER rất khác những lỗ sâu đục gặp trong viễn tưởng du hành theo thời gian. Những lỗ sâu đục này là đi qua được -traversable – và đòi hỏi một loại vật chất có năng lượng âm để duy trì (như trong thí nghiệm Casimir) [4].                                  EP = EPR     Juan Maldacena và Leonard Susskind nghiên cứu hiện tượng liên đới lượng tử của các trạng thái lượng tử của hai lỗ đen và đưa ra lý thuyết về sự tồn tại một lỗ sâu đục thực sự giữa hai lỗ đen. Như vậy có một lỗ sâu đục trong AdS nối liền hai CFT liên đới lượng tử với nhau.     Cầu Einstein-Rosen (hay lỗ sâu đục) là biểu hiện của mối liên đới lượng tử.     Các tác giả trên ghi lý thuyết này bằng công thức ER=EPR. Nói cách khác cầu ER là một loại liên đới lượng tử EPR.     Cũng theo Maldacena và Susskind có thể tạo nên một liên thông bằng lỗ sâu đục giữa hai hạt lượng tử như quark và phản quark (xem hình 5).               Hình 5. Hệ toàn ảnh quark-phản quark liên đới lượng tử trong một cặp EPR          Trở về với bức xạ Hawking và nghịch lý AMPS.     Về nguyên tắc bức xạ Hawking có thể được thu thập lại và từ đó tạo dựng lại thành một lỗ đen thứ hai, vậy ở đây ta có hai lỗ đen. Theo Maldacena và Susskind thì các trạng thái lượng tử của hai lỗ đen liên đới lượng tử với nhau, như vậy giữa hai lỗ đen có một lỗ sâu đục tức là một cái cầu ER (hình 6).               Hình 6. Cầu ER  giữa lỗ đen và bức xạ Hawking.          Trong lý thuyết AMPS các hạt trong bức xạ Hawking tưởng chừng như liên đới lượng tử một cách nghịch lý (paradoxically) vừa với lỗ đen vừa liên đới với nhau (vi phạm nguyên lý monogamy) thì giờ đây ta có 2 lỗ đen nối liền với nhau bằng một lỗ sâu đục. Và tường lửa của AMPS không còn cần thiết nữa.     Nội vùng lỗ đen bây giờ được xác định nhờ liên đới lượng tử với bức xạ Hawking.   Liên đới lượng tử EPR và cầu ER được xem như hai mặt của một đồng tiền.Nhờ  cầu ER nối hai điểm cách xa nhau trong không gian, mỗi trạng thái vi mô của lỗ đen thứ nhất có tương quan với trạng thái vi mô tương ứng của lỗ đen thứ hai.     Khi đã có một lỗ sâu đục nối liền hai lỗ đen (lỗ đen ban đầu và lỗ đen khôi phục lại từ bức xạ Hawking) thì chúng ra không cần tường lửa của AMPS nữa vì nếu ta quan sát được lỗ đen thứ nhất ở một trạng thái vi mô nhất định, thì lỗ đen thứ hai cũng ở đúng trạng thái này.      Kết luận      Theo tài liệu [2], công thức ER=EPR tạm thời chỉ có có thể chứng minh chặt chẽ trong một vài trường hơp cụ thể, nhưng có lẽ đúng trong trường hợp tổng quát. Ý tưởng của Maldacena và Susskind về mối liên hệ giữa hình học và liên đới lượng tử có thể là một nguyên tắc mà tất cả lý thuyết lượng tử của không-thời gian, hay hấp dẫn lượng tử, phải tuân theo. Nguyên tắc này có những hệ quả quan trọng. Thậm chí, một cách nào đó, có thể chính không-thời gian cũng xuất hiện ra từ sự liên đới lượng tử của những thành phần vi mô cơ bản nhất của thế giới.   Một cách tự nhiên, ta có thể nghĩ là không-thời gian, một cấu trúc liên tục, có thể bắt nguồn từ liên đới lượng tử. Ý tưởng này đang là tiêu điểm của nhiều nhà nghiên cứu, nhưng còn chưa được tổng hợp lại thành một phát biểu chính xác [2].   —–  Tài liệu tham khảo  [1]Juan Maldacena, Leonard Susskind, Cool horizons for entangled black holes, arXiv:1306.0533v2[hep-th] 11 Jul 2013  [2] Joseph Polchinski , Mô hình tường lửa quanh lỗ đen, Scientific American số tháng 4/2015   [3]Juan Maldacena, Geometría y entrelazamiento cuántico, Investigación y Ciencia, số 11/2015)  Đàm Thanh Sơn Facebook 28/11/2015  [4] Paul Davies, How to build a time machine, Scientific American số tháng 9/2002. Có thể tham khảo tại:  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=9178      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mối liên kết giữa Higgs boson và top quark      Các nhà vật lý Francisco Yumiceva, Marcus Hohlmann và Marc Baarmand của Florida Institute of Technology đã thực hiện thí nghiệm và lần đầu tiên kết nối hai hạt cơ bản nặng nhất của Mô hình Chuẩn      Nam châm trong máy dò Compact Muon Solenoid. Nguồn: phys.org  Bằng cách sử dụng máy dò Compact Muon Solenoid (CMS), hoạt động như một chiếc máy ảnh tốc độ cao khổng lồ “chụp ảnh” 3D của các va chạm hạt từ mọi hướng với tốc độ lên tới 40 triệu lần mỗi giây, các nhà khoa học tại Máy gia tốc hạt lớn (LHC) gần Geneva, Thụy Sĩ đã công bố những phát hiện cho thấy độ mạnh của tương tác giữa Higgs boson và hạt cơ bản nặng nhất từng được biết đến – top quark.  Các phép đo từ nhóm CMS và một nhóm hợp tác khác gọi là ATLAS chỉ ra rằng hạt Higgs đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng lớn của top quark. Trong khi điều này chắc chắn là một đặc điểm quan trọng của Mô hình Chuẩn – lý thuyết bao quát trong vật lý mô tả các thành phần cơ bản của vật chất và các lực lượng chi phối tương tác của chúng – đây là lần đầu tiên nó được xác minh bằng thực nghiệm.  Trong Mô hình Chuẩn, Higgs boson có thể kết hợp với các hạt được gọi là fermion (ví dụ như các electron và proton tạo ra nguyên tử thông thường). Fermion nặng nhất từng được biết tới là top quark. Nói chung, các nhà khoa học có thể đo lường độ mạnh mối nối giữa hạt Higgs và fermion bằng cách đo tốc độ phân rã của Higgs boson thành các hạt nhẹ hơn khác. Nhưng vì boson Higgs không thể phân rã thành một cặp top quark, nên cách duy nhất để đo mối nối này nghiên cứu sự tạo ra 1 Higgs boson trong mối liên kết với top quark.  “Đây là lần đầu tiên những sự kiện này được quan sát thấy trong máy dò của chúng tôi. Chúng ta đã thấy sự tương tác với các hạt khác nhưng chưa từng là với hạt nặng nhất trong tất cả – top quark”, Yumiceva, một thành viên dài hạn của nhóm hợp tác CMS nói.  Các nhà nghiên cứu đã công bố bằng chứng về mối liên hệ giữa Higgs boson-top quark trên Physical Review Letters trong tháng này. Nhóm nghiên cứu ATLAS và CMS vào 6 năm trước cũng đã báo cáo độc lập về việc khám phá ra Higgs boson. Thông báo đã thành tiêu điểm trên toàn thế giới: Khám phá xác nhận sự tồn tại của hạt cơ bản cuối cùng còn thiếu trong Mô hình Chuẩn, đúng nửa thế kỷ sau khi Higgs boson được dự đoán trên lý thuyết. Đồng thời khám phá này cũng đánh dấu sự khởi đầu một chương trình thử nghiệm để xác định các tính chất của hạt mới này.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2018-06-higgs-boson-quarks-linked-milestone.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mối liên quan kỳ diệu giữa Lý thuyết dây, đại số và Lý thuyết số      Sự phát hiện ra mối liên quan giữa LTD (Lý thuyết dây), đại số (gắn liền với các đa tạp Calabi-Yao, K3) và lý thuyết số là một thành tựu nổi bật của các nhà toán học và vật lý đề cập đến một vấn đề rất thời sự và chứa nhiều yếu tố mới lạ gây ấn tượng mạnh lên trí tưởng tượng.      Mối liên quan này giúp các nhà vật lý LTD và các nhà toán học dễ dàng hiểu nhau và giúp họ tìm những ý tưởng tương đồng trong quá trình  nghiên cứu.  Bài viết này nhằm trình bày ý tưởng chính của vấn đề vốn rất đơn giản. Trong phần tài liệu tham khảo có các đường link đến các kiến thức toán học cần thiết.  Năm 1978 nhà toán học John McKay đã nhận xét một điều tưởng chừng như một sự trùng hợp lạ lùng1. McKay nghiên cứu cấu trúc của một thực thể toán học được gọi là siêu nhóm (monster group)2 mà các nhà toán học nghĩ rằng nhóm này trình bày một đối xứng mới. Họ tin rằng nếu siêu nhóm tồn tại thì nó hoạt động trong những chiều đặc biệt, hai chiều đầu tiên là 1 và 196.883.  McKay cũng đề cập đến một lĩnh vực hoàn toàn khác liên quan đến j – hàm số3, một trong các đối tượng cơ bản của lý thuyết số. Một điều lạ lùng là hệ số đầu tiên của hàm này là 196.884, McKay hiểu ngay rằng 196.884 = 1+196.883 là tổng của hai chiều đặc biệt trong siêu nhóm.  Đa số các  nhà toán học nghi ngờ về mối quan hệ giữa siêu nhóm và j – hàm số. Song John Thompson, giải Field (Đại học Florida ) lại tìm ra hệ số thứ hai của j – hàm số là 21.493.760 = 1 + 196,883 + 21,296,876 = tổng ba chiều đặc biệt của siêu nhóm. Như vậy không còn nghi ngờ gì về mối liên quan giữa j-hàm số và cấu trúc của siêu nhóm.  Năm 1979, John Conway (Đại học Princeton) & Simon Norton cho rằng có mối liên quan thực sự giữa siêu nhóm và j – hàm số và gọi mối liên quan đó là  Siêu Ánh trăng (Montrous Moonshine)4.  Từ Ánh trăng được dùng để chỉ đến sự liên quan của hai đối tượng rất cách xa nhau, tưởng chừng như không có điều gì là chung cả .Từ này được John Conway & Simon P.Norton đưa vào năm 1979.  Như chúng ta biết đối xứng của một hình sẽ ứng với một nhóm đại số. Trong suốt thế kỷ 20, các nhà toán học đã xây dựng lý thuyết nhóm và xếp hạng chúng.  Nhóm có kích thước lớn nhất là siêu nhóm được phát hiện cuối cùng. Siêu nhóm  (Monster group) có số yếu tố là 1053, số này lớn hơn số nguyên tử trong một ngàn Trái đất. Theo Borcherds, cái cầu nối giữa 2 lĩnh vực đó chính là  LTD (Lý thuyết dây – String theory). Hàm j mô tả các dao động của dây trong một mô hình của LTD còn siêu nhóm  mô tả đối xứng của không thời gian (có đa tạp Calabi – Yau) trong đó dây cư trú.  Sự phát hiện của Borcherds dẫn đến một lĩnh vực mới đó là đại số Kac-Moody. Tiếc thay đối với các nhà LTD điều này dường như dẫn đến một vũng nước tù, vì rằng LTD 24 – chiều nối liền j – hàm số với siêu nhóm đã bị bỏ rơi khỏi các mô hình LTD.  Song Ánh trăng giờ đây lại có một thời phục hưng.  Năm 2012, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết Umbral Moonshine (Bóng Ánh trăng), theo giả thuyết này ngoài Siêu Ánh trăng (Montruous Mooshine) còn có 23 Ánh trăng khác: tồn tại mối liên quan nói chung giữa số chiều của một nhóm đối xứng và hệ số của một hàm đặc biệt.  23 ánh trăng mới bắt nguồn từ một cấu trúc quan trọng trong LTD: đó là các mặt K35,6. Mối liên quan đó gắn liền với đối xứng ẩn của các mặt K3 đó, theo phát biểu của Miranda Cheng (Đại học Amsterdam).  Trong mỗi trường hợp trong số 23 trường hợp sẽ tồn tại một mô hình LTD.  Như chúng ta biết LTD tồn tại trong không-thời gian 10-chiều, 6 chiều dư bị côm-pắc hóa nghĩa là bị cuộn lại. Số khả năng côm-pắc hóa vào khoảng 10500 và khó lòng nói được phương án côm-pắc hóa nào ứng với thực tại. Chúng ta không thể nghiên cứu hết mọi khả năng côm-pắc hóa. Chúng ta cần một giải pháp đơn giản hóa. Phương án K3 là phương án không quá đơn giản mà cũng không quá phức tạp. K3 có các tính chất của đa tạp Calabi-Yau của LTD mà chúng ta đã quen thuộc. K3 cũng là một đa tạp Kahler (variétés kählériennes) như Calabi-Yau.    Hàm modular7, 8  Như đã nói McKay phát hiện mối liên quan giữa siêu nhóm và j-hàm. Các j-hàm thuộc về một lớp hàm mà biểu đồ của chúng là những hình lặp lại giống như trong bức tranh của họa sĩ M.C.Escher, các hình nhỏ dần khi đến gần biên.    Hình 2.  Các hàm modular có biểu đồ lặp lại giống như trong bức tranh trên  Các hàm modular đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết số ví dụ trong phép chứng minh của Andrew Wiles năm 1994 định lý Fermat cuối cùng.Nhà toán học Kachru phát biểu: mỗi lần chúng ta nghe nói đến một thành tựu xuất sắc nào đó trong lý thuyết số là y như rằng điều đó có liên quan đến các dạng modular.  Giống như trong âm học j – hàm có thể phân tách thành các giọng và các hệ số của j-hàm môt tả độ trầm bổng của mỗi giọng. Chính nhờ các hệ số này mà McKay phát hiện được mối liên quan đến siêu nhóm (monster group). Năm 1990 Borcherds chứng minh rằng tồn tại một mô hình LTD trong đó hệ số j – hàm mô tả sự dao động của dây tại mỗi mức năng lượng còn siêu nhóm mô tả đối xứng của các mức năng lượng đó.  Nhờ đó mà các nhà toán học có thể nghiên cứu được siêu nhóm bằng cách sử dụng j-hàm vì hệ số j-hàm là dễ tính hơn.Như vậy các nhà toán học có thể nghiên cứu một lĩnh vực bằng cách nghiên cứu một lĩnh vực dễ tiếp cận hơn.  Những Ánh trăng mới  Trong khi các nhà toán học đi sâu vào  Siêu Ánh trăng  thì các nhà vật lý LTD quan tâm đến vấn đề: nghiên cứu hình học của những chiều không thời gian nhỏ trong các mô hình LTD. Với các hình học khác nhau thì dây sẽ dao động khác nhau tương tự độ căng của mặt trống sẽ làm thay đổi dao động âm của trống. Nhiều thập kỷ các nhà vật lý đi tìm hình học tạo nên các hệ quả vật lý của thế giới thực tại.  Một yếu tố quan trọng là ứng viên cho một hình học như thế là mặt K3 (theo chữ đầu của tên ba nhà toán học Kummer, K¨ ahler, and Kodaira).  Năm 2010, ba nhà vật lý LTD Tohru Eguchi ( Kyoto University), Hirosi Ooguri ( California Institute of Technology) và Yuji Tachikawa (University of Tokyo) tìm ra các hàm mô tả dao động trong LTD và hệ số các hàm đó ứng với các chiều của nhóm M24 (Mathieu 24) chứa 250 triệu yếu tố. Như vậy ba nhà LTD trên đã tìm ra một Ánh trăng mới. Các nhà toán học và vật lý đều sửng sốt trước kết quả này. Nhà toán học Zagier phát biểu: tôi tham dự nhiều hội thảo, tại hội thảo nào người ta cũng bàn đến M24, Ánh trăng Mathieu.  Bản thân nhà toán học Zagier cũng đang nghiên cứu những dạng gọi là “giả modular – mock modular” 7,8 gắn liền với các hàm modular. Các dạng giả modular có lớp chứa các j – hàm.  Zagier đặt câu hỏi liệu các hàm modular này có liên quan đến một nhóm nào không? Theo Duncan thì nhóm đó là M12, ngoài nhóm M24. Như vậy có thể có nhiều Ánh trăng.  Năm 1913. nhà toán học Anh G.H.Hardy nhận được một bức thư từ một tu sĩ ở Madras, Ấn Độ viết về một số công thức mà tu sĩ đã tìm ra. Hardy vội mời tu sĩ đến Anh để cùng đàm luận.    Hình 3. Thư của tu sĩ Ramanujan gửi nhà toán học Hardy  Ramanujan nói rằng các công thức ông tìm ra là nhờ thần Namagiri đã mách bảo trong ý thức của ông. Đường đời của Ramanujan quá ngắn ông mất lúc 32 tuổi năm 1920. Ông đã viết cho Hardy rằng ông đã tìm ra những hàm gọi là “giả theta-mock theta”. Ramanujan đưa ra 17 ví dụ về các hàm đó. Chỉ sau 8 thập kỷ, vào năm 2002, nhà toán học Sander Zwegers (Đại học Cologne, Đức) chúng minh rằng các hàm đó chính là các  dạng giả modular (mock modular form).  Tại hội thảo Ánh trăng Zurich, các nhà vật lý Cheng, Duncan và Harvey chứng minh rằng M24 chỉ là một trong 23 Ánh trăng khác, mỗi Ánh trăng đó có liên quan đến các chiều đặc biệt của một nhóm và những hệ số của một dạng giả modular, hoàn toàn tương tự như Siêu Ánh trăng đặt mối liên quan giữa siêu nhóm và j-hàm.  Với mỗi Ánh trăng đó, các nhà khoa học đã đoán nhận sự tồn tại của một mô hình LTD trong đó dạng giả modular mô tả các trạng thái của dây còn nhóm mô tả hình học của mô hình.  Mỗi dạng giả modular gắn liền với một hàm modular gọi là bóng (shadow, tiếng Latin Umbra). Theo giả thuyết Umbra Moonshine tồn tại 23 ánh trăng, giả thuyết này được Duncan và cộng sự đưa ra năm 2012. Nhiều dạng giả modular trong giả thuyết đó thuộc về 17 ví dụ mà Ramanujan nói trong bức thư tiên tri của ông.  Đi tìm quái vật  Những tìm tòi mới dẫn đến kết quả: LTD nối liền những nhóm với những dạng giả modular. Harvey cho rằng các nhà khoa học đã đi đúng đường.  Cheng cho rằng tồn tại một đối xứng đặc biệt tác động lên vật lý của các mặt K3. Các nhà vật lý nghiên cứu K3 hiện chưa phát hiện được đối xứng này.  Các nhà vật lý cũng rất quan tâm đến giả thuyết về mối liên quan giữa Ánh trăng và hấp dẫn lượng tử. Năm 2007, Edward Witten (giải Fields) cho rằng LTD trong Siêu Ánh trăng  (monstruous moonshine) có thể giúp xây dựng một lý thuyết hấp dẫn lượng tử 3-chiều  trong đó 104 phân loại (categories) của các yếu tố sẽ ứng với 194 lớp các lỗ đen.  Giả thuyết Umbral Moonshine có thể dẫn các nhà vật lý đến kết quả như vậy đồng thời cung cấp những gợi ý khác cho lý thuyết hấp dẫn lượng tử. Tình huống giống như khi truy tìm một quái vật trên sao Hỏa chúng ta đã thấy được các vết chân của con thú, bây giờ công việc còn lại là phải tìm ra nó.  Kết luận  Sự phát hiện ra mối quan hệ giữa LTD, đại số (nhóm) và lý thuyết số không những giúp các nhà vật lý LTD tìm ra được nhiều nhiều phương án côm-pắc hóa các chiều dư mà còn giúp ngược lại các nhà toán học phát hiện thêm nhiều Ánh trăng.  Có thể nói mối liên quan này đã mở ra một trang mới cho LTD, đại số và lý thuyết số.  Tài liệu tham khảo  1. a /Erica Klarreich, Mathematicians Chase Moonshine’s Shadow- Các nhà toán học đi tìm Bóng Ánh trăng,  ScientificAmerican.com.  HTTP://WWW.QUANTAMAGAZINE.ORG/20150312-MATHEMATICIANS-CHASE-MOONSHINES-SHADOW/  b / Wolchover,  The physicist-mathematician Miranda Cheng is working to harness a mysterious connection between string theory, algebra and number theory.  HTTP://WWW.QUANTAMAGAZINE.ORG/20160804-MIRANDA-CHENG-MOONSHINE-STRING-THEORY/  2. WIKI, Monster group  https://en.wikipedia.org/wiki/Monster_group  3. Wolfram, j-Function  http://mathworld.wolfram.com/j-Function.html  4. WIKI, Montrous Moonshine  https://en.wikipedia.org/wiki/Monstrous_moonshine  5. WIKI, K3 surfaces  https://en.wikipedia.org/wiki/K3_surface  6. Andrew J. Hanson, Ji-Ping Sha, Visualizing the K3 Surface  ftp://ftp.cs.indiana.edu/pub/hanson/forSha/AK3/old/K3-pix.pdf  7. Amanda Folsom: What is a Mock Modular Form?  http://www.ams.org/notices/201011/rtx101101441p.pdf  8.  Atish Dabholkar, Sameer Murthy, and Don Zagier: Quantum Black Holes, Wall Crossing, and Mock Modular Forms  http://arxiv.org/pdf/1208.4074.pdf    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Mỗi nhà một người máy giúp việc?      Dưới đầu đề Mỗi nhà một người máy: Dyson  tiến vào cuộc chạy đua cung cấp “Những người máy gia dụng tiên tiến” cho  mọi gia đình, trang mạng independent.co.uk ngày 9-2 vừa rồi đưa tin  doanh nhân người Anh Sir James Dyson vừa tuyên bố sẽ đầu tư 5 triệu Bảng  (8 triệu USD) để lập Phòng thí nghiệm Robot tại Imperial College  London.     Trọng điểm nghiên cứu của phòng thí nghiệm này sẽ là triển khai hệ thống thị giác có thể giúp người máy-robot “nhận biết và thích nghi với môi trường xung quanh”.  Thị giác của robot nghĩa là con mắt của nó. Đây là một lĩnh vực rất rộng và vấn đề mấu chốt là phải chế tạo được nhiều chủng loại thiết bị phức tạp. Chính vì thế mà trong 5 năm tới Dyson sẽ đầu tư một khoản tiền khá lớn cho công tác nghiên cứu thị giác robot, tiến hành tại một phòng thí nghiệm liên doanh hợp tác với Imperial College London. Họ sẽ thiết kế những thế hệ robot mới không những nhìn được các vật xung quanh mà còn có phản ứng đối với chúng.   Dyson là Giám đốc một doanh nghiệp mang tên ông, thành lập năm 1991, hiện có gần 2.000 nhà khoa học và kỹ sư chuyên thiết kế đồ gia dụng. Mặc dù Công ty Dyson đã có 15 năm kinh nghiệm làm robot nhưng họ cần hợp tác với học viện nói trên, vì nơi đây đang nghiên cứu các hệ thống có khả năng nhìn, hiểu và “dẫn đường một cách logic” (logically navigate) khi gặp các vật xung quanh. Từ năm 2005 đến nay Dyson liên tục hợp tác với GS Andrew Davison của học viện; vị giáo sư này sẽ lãnh đạo phòng thí nghiệm mới lập.  Lĩnh vực công việc mà phòng thí nghiệm thực thi sẽ được mở rộng dần. Những người máy gia dụng tiên tiến (advanced household androids) của Dyson sẽ có thể lau cửa sổ, gác tài sản và hút bụi cho các tấm thảm. Dyson nói: “Thế hệ chúng tôi trước đây tin rằng đến năm 2014 thì robot sẽ có mặt trên khắp thế giới. Hiện nay chúng tôi đã có khả năng về cơ khí và điện tử nhưng các robot vẫn còn thiếu năng lực hiểu biết – tức nhìn thấy và suy nghĩ theo cách của con người. Nếu các robot đều có những khả năng ấy thì đời sống của chúng ta sẽ trở nên dễ dàng hơn và sẽ xuất hiện những công nghệ trước đây chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi”.  “Hy vọng là sau đây 5 năm, tất cả chúng ta sẽ được sống cùng đội quân tự động làm công việc nội trợ do Dyson thiết kế” – techcrunch.com viết. Lúc ấy gia đình nào cũng có ít nhất một robot để giúp chủ nhân làm những công việc lao động chân tay đơn giản nhưng mất thì giờ.  Công ty Dyson đang chạy đua với các nhà khoa học trường Đại học Waseda (Nhật Bản) trong việc xây dựng các robot gia dụng đa mục đích đầu tiên. Năm 1999, Sugano Laboratory thuộc Waseda University đã cho ra mắt robot có tên Twenty-One, có thể nghe hiểu mệnh lệnh lời nói của con người để thực hiện việc nấu ăn hoặc trông trẻ. Cỗ máy tìm kiếm khổng lồ Google, nhà chế tạo thiết bị quân sự Boston Dynamics và công ty robot Schaft (Nhật Bản) cũng là những đối thủ cạnh tranh của công ty Dyson.  James Dyson năm nay 62 tuổi, nổi tiếng thế giới do có nhiều phát minh phục vụ nhu cầu công việc gia đình. Cho đến nay ông đã thiết kế chế tạo được hơn 5.000 mẫu thiết bị gia dụng kiểu mới. Công ty Dyson hiện thuê hơn 4.100 nhân viên trên toàn cầu. Các sản phẩm của công ty được tiêu thụ ở hơn 50 nước, mang lại doanh thu khoảng 1 tỷ Bảng và lợi nhuận hơn 300 triệu Bảng (số liệu năm 2011). Thập niên 90 Dyson làm ra loại máy hút bụi không có túi đựng bụi, nhờ đó nâng cao đáng kể hiệu suất sử dụng của máy, tránh được nhược điểm phổ biến của các loại máy trước đó là khi túi đựng bụi đầy dần lên thì lực hút của máy cũng giảm dần đến lúc máy ngừng họat động. Năm 2009 ông phát minh ra loại quạt không cánh có tên Dyson Air Multiplier vừa an toàn (điều đặc biệt cần thiết với trẻ em) vừa đem lại chất lượng gió tốt nhất – gió êm dịu, liên tục và không gây ồn.   Nhà phát minh huyền thọai này đã được Nữ hoàng Anh phong tước Hiệp sĩ, vì thế người ta đều trân trọng gọi ông là Sir James Dyson.     Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường cho sáng tạo      LTS: Trong khi báo chí thời gian qua tốn khá nhiều giấy mực quanh chuyện một số cán bộ cấp sở, vụ xin ra ngoài biên chế, thì việc những người trẻ tài năng nhất rời bỏ các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước dường như đang thành… chuyện thường. Vì thế mà cuộc tọa đàm Xây dựng cơ chế chính sách để phát huy tài năng, trí tuệ nhà khoa học trẻ” của Tia Sáng đã thu hút ý kiến đóng góp của các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước: Pierre Darriulat, Hoàng Tụy… và một số nhà khoa học trẻ: Nguyễn Đức Thành, Hoàng Vĩnh Sinh, Phan Việt, Hoàng Thúc Hào…    Ai là người tài?  Là người từ lâu quan tâm đến việc đào tạo và phát triển “nguồn lực” khoa học, GS.  Hoàng Tụy cho rằng, muốn có cơ chế phát huy tài năng trẻ thì trước hết phải có cơ chế đánh giá thật chính xác thế nào là người tài, thế nào là tài năng? Muốn vậy thì các cơ quan như Hội đồng Quốc gia giáo dục, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, các hội đồng khoa học… cần phải làm việc theo đúng thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Theo đó, “thủ trưởng các cơ quan nghiên cứu khoa học phải được bầu chọn theo những cách thông thường hiện nay trên quốc tế, việc tuyển chọn phải đảm bảo dân chủ, đảm bảo quyền của người làm khoa học được tham gia ý kiến lựa chọn người trực tiếp lãnh đạo mình về chuyên môn”.  Cùng trả lời cho câu hỏi “Ai là người tài?”, TS. Hoàng Vĩnh Sinh (ĐH Bách khoa Hà Nội) cho rằng “mẫu” người tài có thay đổi ở từng thời gian, từng hoàn cảnh. Thời bao cấp, chỉ cần có các công bố quốc tế, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học uy tín đã được coi là thành công; nhưng khi xã hội phát triển thì đòi hỏi người tài phải có những sản phẩm cụ thể và hiệu quả. TS. Hoàng Vĩnh Sinh còn nêu lên ý kiến cơ chế là quan trọng, nhưng bản thân nhà khoa học trẻ cần phải thay đổi cách suy nghĩ, tư duy, không nên chờ đợi mà nên tự vận động và chứng minh năng lực. Đó cũng là suy nghĩ chung của nhiều nhà khoa học trẻ khác có mặt trong buổi tọa đàm. KTS. Hoàng Thúc Hào bổ sung thêm, “Nếu đã là tài năng thì phải có hành động cụ thể, phải tìm mọi cách tự tạo ra cơ chế hay mô hình để có thể chủ động được công việc của mình”.  TS. Nguyễn Đức Thành (ĐH Kinh tế Quốc dân) thì đưa ra quan niệm về người tài nhìn từ góc độ của một nhà nghiên cứu kinh tế: “Nhân tài là người có năng suất cao trong xã hội các nước phương Tây thu hút nhân tài chủ yếu để tăng năng suất cho xã hội”. Theo TS. Thành, vấn đề có thể lật ngược lại: Ai tự nhận mình là người tài? Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh hiện nay, có thể nói phần lớn người năng động và có kiến thức thực sự đều tìm được cách có được sự đãi ngộ thoả đáng. Tuy nhiên, với những người theo đuổi khoa học thuần tuý thì việc vừa phát huy được tài năng, vừa nhận được đãi ngộ xứng đáng ở trong nước không phải là dễ dàng.  Gửi hay giữ lại?  Đã từng gắn bó lâu năm và rất tâm huyết với sự phát triển của các nhà khoa học trẻ, GS. Pierre Darriulat nêu lên các rào cản đối với sự phát triển của hoạt động khoa học Việt Nam như các vấn đề lựa chọn, lương bổng, chảy máu chất xám và sự tôn trọng đối với công việc trí tuệ. Các rào cản trên có mối liên hệ với nhau vì vậy phải giải quyết đồng thời ở cấp chính phủ và phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch. Khi những tài năng trẻ nhận được một thông điệp rõ ràng từ phía chính phủ về những ưu đãi, về một môi trường làm việc tốt, họ sẽ cống hiến hết mình.  Lo ngại trước thực trạng chảy máu chất xám, GS. Pierre cho rằng đây là một vấn đề rất rõ ràng nhưng chưa được nhiều người chú ý. Nhiều giáo sư đại học thường tự hào gửi được nhiều sinh viên ra nước ngoài nghiên cứu trong khi đáng ra họ nên tự hào khi có nhiều sinh viên từ nước ngoài đến Việt Nam học tập. Khác với ý kiến của GS. Pierre, GS. Trần Đình Thiên lại cho rằng, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, việc gửi sinh viên ra nước ngoài học tập là cần thiết để học hỏi khoa học công nghệ ở các nước phát triển-một lợi thế của những nước đi sau. Điều quan trọng là làm sao để họ học tốt và trở về phục vụ đất nước, ngay cả sự trở về chậm lại năm mười năm sau, khi ở trong nước đã có môi trường thuận lợi hơn để phát huy tài năng, và khi đó những người này không chỉ mang theo kiến thức, vốn liếng mà còn mang về một hệ thống quan hệ mạng lưới với thế giới, đó là một “tài sản” rất quý.  Lương bổng và sự tôn trọng  Một câu hỏi được các nhà khoa học đặt ra: Làm thế nào để phát huy trí tuệ của các nhà khoa học trẻ, đặc biệt là những nhà nghiên cứu trẻ, đồng thời “giữ chân” họ? Câu trả lời được “xoáy” vào hai ý-sự tôn trọng và lương bổng.  Là một người “khá nhạy cảm” với môi trường nghiên cứu ở Việt Nam, GS. Pierre nhận định, “Xã hội chưa có một sự tôn trọng thích đáng với những người làm công việc trí tuệ vì Việt Nam đang thiếu một môi trường khoa học, bản thân một số người làm khoa học không có sự say mê, không thực sự hiểu ý nghĩa của công việc nghiên cứu khoa học. Đó chính là điểm quan trọng nhất và là vấn đề đặc thù của Việt Nam nên không thể trông chờ vào yếu tố bên ngoài”. Ý kiến này nhận được sự đồng tình của mọi người trong buổi tọa đàm. Như để giải thích cho thực tế trên, GS. Trần Đình Thiên cũng chỉ ra một hiện tượng phổ biến có ở những người làm khoa học Việt Nam, là có những nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học với tư cách công chức, mà tư cách công chức lại gắn liền với cơ chế bao cấp trong hoạt động khoa học làm cho hệ thống khoa học không hướng đến mục tiêu, hiệu quả thiết thực. Điều này làm cho các tiêu chuẩn khoa học bị thụt lùi, hệ thống đánh giá vô hình trung bị… “hư hỏng”. Với cách nhìn của một nhà kinh tế, ông nói thêm, “Dù trong khoa học hay kinh tế thì người phải đi tìm việc, chứ như cơ chế hiện nay khiến việc lại đi… tìm nhà khoa học”. Và như vậy sẽ dẫn đến phân bổ lao động chồng chéo để rồi “cha chung không ai khóc”, không hướng tới kết quả nghiên cứu cuối cùng.  Tuy nhiên, “lời nói phải đi đôi với việc làm”, vì vậy, theo GS. Pierre, tôn trọng nhà khoa học không phải chỉ là sự “tán dương” mà còn phải tạo mọi điều kiện để họ toàn tâm toàn ý cho sáng tạo cho nên vấn đề lương bổng phải được coi trọng hơn bao giờ hết. GS. Pierre cho rằng lương cho người làm khoa học là một vấn đề rất lớn, một người không thể nào làm một nhà nghiên cứu tốt nếu phải kiếm sống bằng nghề thứ hai. Giải quyết vấn đề lương bổng không phải bằng cách tìm nguồn tài chính để trả lương cho người tài mà là tái phân bổ hợp lý nguồn lực hiện đang có. Đồng quan điểm với GS. Pierre, GS. Hoàng Tụy cho rằng cần phải cải tổ hệ thống lương cho ngành khoa học và giáo dục, điều này đặc biệt cần thiết cho những nhà khoa học trẻ, đảm bảo cho họ toàn tâm toàn lực làm khoa học trong một thời gian đủ dài để có những tích lũy cần thiết phát huy tài năng của mình. Tuy nhiên xét theo hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam, GS. Nguyễn Lân Dũng cho rằng, “Khả năng tăng lương là rất khó nhưng vẫn có hướng giải quyết đó là ứng dụng các nghiên cứu đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, đem lại ích lợi cho xã hội và dùng những lợi nhuận thu được để tái đầu tư phục vụ công việc nghiên cứu”.  Nên có một môi trường  “sinh hoạt” khoa học  Chúng ta nên duy trì một văn hóa nghiên cứu. Ý tưởng được mọi người tán thành và góp ý sôi nổi nhất là ý tưởng tổ chức “Câu lạc bộ các nhà khoa học làm việc hướng tới các chuẩn mực quốc tế” (tên gọi theo đề xuất của TS. Phạm Đức Chính) để các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ có chỗ dựa về tinh thần, có môi trường để thảo luận và giải quyết các khúc mắc trong công việc và bước đầu chứng minh năng lực của mình. GS. Pierre cũng bổ sung thêm, với môi trường như vậy các nhà khoa học trẻ có thể thoải mái đưa ra các ý tưởng nghiên cứu, những ý tưởng đó có thể chưa chính xác nhưng ích lợi đầu tiên mang lại cho các nhà khoa học trẻ là họ học hỏi và nhận được sự giúp đỡ từ những người đi trước.  Bên cạnh đó, GS. Phan Đình Diệu đưa ra ý tưởng cần phải tổ chức một trung tâm thông tin khoa học, xây dựng một thư viện điện tử mà ở đó sẽ thu thập, lưu trữ tất cả các tạp chí khoa học có uy tín thế giới để các nhà khoa học có thể truy cập tới các tài liệu liên quan đến hướng nghiên cứu của mình. Còn theo GS. Nguyễn Tuấn Hoa thì Bộ KH&CN nên lập ra các viện nghiên cứu để các nhà khoa học chỉ làm việc trong một thời gian kéo dài ba đến bốn năm. Khi đã chứng minh năng lực, những nhà khoa học này sẽ được cử tới các cơ sở khác để trở thành cán bộ nòng cốt, rồi sau đó tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ hơn phát triển tài năng.  TS PHẠM ĐỨC CHÍNH, Viện Cơ học:  Cần tổ chức câu lạc bộ các nhà khoa học quan tâm tới chuẩn mực quốc tế  (Kèm ảnh 1)  Với các tài năng trẻ bước đầu đã được khẳng định  Bộ KH&CN cần tập hợp các tài năng trẻ đã có thành tích công bố quốc tế và bẳng phát minh, sáng chế (trong đó có các nhà khoa học trẻ mới từ nước ngòai trở về) trong một phong trào, bảo vệ họ khỏi bị tác động của các yếu tố tiêu cực xung quanh, để họ tập chung vào chuyên môn hướng tới làm việc theo chuẩn mực quốc tế. Nếu họ còn chưa được chủ trì hay tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) các cấp phù hợp, hãy để họ đăng ký đề tài nghiên cứu cơ bản trên cơ sở thành tích 5 năm gần nhất. Kinh phí hỗ trợ cũng phải bù đắp được tiền lương thấp, và ít nhất cũng phải cạnh tranh được với các việc làm khác như dậy thêm, làm thợ tin học,… – mà thu nhập hiện cũng rất khá. Các Hội đồng nghiên cứu cơ bản ngành cùng với Trung tâm hỗ trợ đánh giá KH&CN có thể giúp đỡ đắc lực các nhà quản lý của Bộ KH&CN trong việc này.  Với các nhà khoa học trẻ nói chung  Hãy tạo môi trường lành mạnh để họ phấn đấu vươn lên đóng góp cho nghề nghiệp, cho xã hội, và có được lợi ích chính đáng cho bản thân. Một số cơ sở như Viện Tóan và Viện Vật lý có được một văn hóa làm việc khá tốt. Thử tưởng tuợng một bạn trẻ có năng lực và tâm huyết với nghề rơi vào một nơi có không khí làm việc không nghiêm túc, thủ trưởng tiêu cực: bạn đó sẽ cần một chỗ dựa. Bộ KH&CN cần giúp tổ chức câu lạc bộ các nhà khoa học quan tâm tới chuẩn mực quốc tế (có thể phát triển từ chính Nhóm của chúng ta), có sinh họat định kỳ. Các nhà quản lý có thể nghe các nguyện vọng và các vấn đề của họ để có các chính sách và tác động hợp lý. Các nhà khoa học có thể trao đổi kinh nghiệm công việc, công bố quốc tế, thậm chí cả hợp tác chuyên môn, tạo tinh thần đồng đội trong NCKH chất lượng cao. Câu lạc bộ cũng được phân thêm ra các Nhóm sinh họat theo ngành và địa phương.  Không gian làm khoa học lành mạnh và thu nhập thỏa đáng theo năng lực sẽ hấp dẫn các bạn trẻ theo nghề làm khoa học – một vấn đề nhức nhối đối với Việt Nam hiện nay. Hiện thì các Viện nghiên cứu của Viện KH&CN Việt Nam không hấp dẫn các bạn trẻ có năng lực, và Viện cũng chẳng còn mấy biên chế giành cho họ.  Một thăm dò của CNN gần đây cho thấy, ở Mỹ, ngành nghề được kính trọng nhất là cứu hỏa, tiếp đến là khoa học (cách đây 10 năm thì nghề làm khoa học dẫn đầu), rồi đến nghề bác sĩ-hộ lý. Cuối bảng là nghề môi giới bất động sản, rồi đến đầu cơ chứng khoán. Nghệ sĩ, vận động viên và chủ nhà băng cũng ở mức uy tín thấp. Theo một, thăm dò trong giới thanh niên Nhật bản thì nghề yêu thích nhất của họ là GS đại học; ở Trung Quốc cũng vậy. Nếu cuộc thăm dò được tổ chức ở Việt Nam, tôi nghĩ kết quả sẽ khác nhiều (?). Một số nhà khoa học chuyển sang kinh doanh coi thường khối những người làm khoa học ra mặt. Ở cơ quan tôi, một số bạn trẻ, mặc dù vẫn ăn lương cán bộ nhà nước và đứng tên tham gia các đề tài NCKH, nhưng lại dùng thời gian cơ quan để lên sàn chứng khoán, và nếu ti-vi có quay tới thì lẩn như trạch để giấu mặt (chính họ kể lại).  TS ĐẶNG HỮU CHUNG, Viện Cơ học:    Nên luật hoá việc phong chức danh và bổ nhiệm cán bộ  Quy trình bổ nhiệm, sử dụng cán bộ khoa học và bố trí công việc chuyên môn ở một số nơi, đôi khi còn chưa được công khai, thiếu công bằng và các chuẩn mực hợp lý. Do đó nó sẽ tạo thành một chuỗi tiêu cực mà có thể được khái quát hóa như cấu trúc mạch vòng khép kín:  Lãnh đạo chuyên môn kém     Tiêu chuẩn lọc thấp  chức danh dởm  đào tạo tồi Lãnh đạo chuyên môn kém.  Với cấu trúc này còn chỗ nào dành cho người tài không? Những nhà khoa học chân chính thường sẽ trải qua hai giai đoạn trong cuộc đời, đó là bắt đầu sự nghiệp bằng tình trạng “quá trẻ” và sau đó tiến thẳng lên giai đoạn “quá già” (nếu diễn giải bằng tiếng Anh thì có thể nói “too young/old to do something”). Ở các nước phát triển, mọi người không phân biệt nam nữ, bằng cấp đều có quyền làm việc, nhưng đến tuổi 63 và nếu muốn ở lại thêm thì lương sẽ không còn được hưởng 100% như trước, trong khi đó ở ta ngồi càng lâu lương (và có thể thêm “lậu”) cứ thế càng lớn. Tôi nghĩ rằng Nhà nước cần nhanh chóng luật hóa công tác bổ nhiệm cán bộ cũng như các chức danh khoa học và xem việc chấp hành pháp luật là chuẩn mực đạo đức duy nhất trong xã hội nhằm tránh những khái niệm mơ hồ và mỗi người hiểu theo một kiểu khác nhau.  Tôi luôn hy vọng rằng những người có khuynh hướng canh tân tích cực trong khoa học – giáo dục – công nghệ sẽ tiếp tục bày tỏ quan điểm của mình một cách thuyết phục mới mong tháo gỡ được mắc xích mạch vòng nêu trên. Và Việt Nam chắc chắn sẽ là nơi quy tụ các bậc hiền tài.  GS PHẠM XUÂN YÊM, Nguyên giám đốc nghiên cứu CNRS và Đại học Pierre et Marie Curie, Paris:  Chuyển giao dần trọng trách khó khăn cho các nhà khoa học trẻ  Qua tìm hiểu những nguyện vọng của một số anh chị em trẻ đi du học, cộng với kinh nghiệm tiếp xúc với các bạn đồng nghiệp Trung Quốc, Ấn độ, Đài Loan, Hàn quốc từ thuở họ và tôi cùng ‘hàn vi’ làm việc trong nhiều năm ở những nước phát triển Âu Mỹ, tôi xin có mấy đề nghị cụ thể sau đây:  – Cung cấp đủ kinh phí để trang bị thư viện, thư viện điện tử cho đầy đủ tạp chí khoa học và sách giáo khoa chuyên đề. Nhà khoa học trẻ rất nhanh chóng tiếp thu các kiến thức mới từ các tạp chí chuyên ngành mới nhất.  – Đã có một số không nhỏ thành đạt ở ngoài khi về nước chưa được sử dụng công bằng để có điều kiện phát huy tài năng. Ở đại học họ phải giảng dạy quá nhiều giờ so với đồng nghiệp nước ngoài (ở Pháp khoảng 180 giờ/ năm cho phó giáo sư, 130 giờ/năm cho giáo sư), không còn đủ thời gian làm nghiên cứu sáng tạo để trưởng thành và phát huy chất lượng ;  – Tháo gỡ những thủ tục hành chính và cấp kinh phí cứng nhắc, tạo điều kiện cho nhà khoa học trẻ giao lưu, cộng tác thường xuyên với các cơ quan giảng dạy nghiên cứu ở các nước khoa học tiên tiến.  GS TRƯƠNG NGUYÊN TRÂN, ĐH Bách khoa Paris:  Thuyết phục một số nhà khoa học trẻ ở nước ngoài về Việt Nam phục vụ đất nước  Để thuyết phục, Nhà nước nên lập ra những viện nhỏ để bảo trợ cho những tài năng này trong những năm đầu trở lại phục vụ đất nước, làm sao để họ có thể bỏ ra phần lớn thời gian của họ để tập trung vào những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy. Tôi muốn nói là những viện Millenium Science Initiatives (MSI) mà GS Griffith của viện Cao Học Princeton đã trình lên chính phủ VN cách đây 4, 5 năm nhưng vẫn không được chấp thuận. Tôi tin rằng trong những năm đầu chúng ta không cần một số tiền khổng lồ như GS Griffith đã đưa ra và chỉ cần một hai triệu USD là tạm đủ.  Đánh giá đúng tài năng cũng rất quan trọng trong việc thu hút nhà khoa học trẻ. Tôi muốn lấy ví dụ trường hợp anh Nguyễn Bá Ân ở viện Vật Lý. Anh là một nhà khoa học có uy tín nhưng 15 năm nay và vẫn không được lên chức GS. Về tài năng, theo tôi anh Ân có thể là “thầy” của một số GS trong danh sách các GS được phong gần đây ở Việt Nam. Mỗi năm anh công bố trên 5 bài khảo cứu trong những tạp chí quốc tế uy tín. Nếu không một số lớn nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài sẽ không hiểu được tiêu chuẩn đánh giá công việc ở trong nước dựa vào những tiêu chuẩn nào?  Tuấn Linh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường: Chức năng “standby” và môi trường      Công ty cung cấp năng lượng lớn nhất Scotland-ScottishPower vừa đề nghị các nhà sản xuất ở nước này bỏ hẳn nút “standby”, tức là nút chờ ở các thiết bị điện tử như TV, máy tính để hạn chế… ô nhiễm môi trường.    Theo các nghiên cứu sơ bộ, các thiết bị sử dụng chế độ “chờ” khiến Scotland mỗi năm phải tiêu tốn thêm lượng năng lượng không cần thiết trị giá tới 62 triệu euro. Để có được lượng năng lượng này, bầu không khí phải hứng chịu thêm 360.000 tấn CO2. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất cho rằng việc loại bỏ nút “chờ” buộc họ phải thiết kế các loại thiết bị điện tử và điều này có thể khiến giá thành sản xuất các thiết bị này gia tăng. Tổ chức nghiên cứu Energy Saving Trust đưa ra một con số rất thú vị: một gia đình bình thường ở Scotland lúc nào cũng có khoảng 12 thiết bị điện tử trong gia đình thường để ở chế độ “chờ” hoặc ở chế độ làm việc. Trong khi đó, một chiếc TV ở chế độ chờ tiêu thụ tới 90% năng lượng so với chế độ làm việc, chứ không hoàn toàn ít như mọi người nghĩ. (Scotman)  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường và tăng trưởng kinh tế      Mùa hè vừa qua cả thế giới khốn khổ vì cơn giận dữ của thời tiết. Chỉ trong một tuần, không khí nóng cướp đi gần 500 mạng người châu Âu. Nạn lụt lớn chưa từng thấy nhấn chìm mấy nghìn ngôi nhà ở Anh quốc và làm hàng triệu người châu Á mất nhà cửa, mùa màng, trong đó có dân cố đô Huế nước ta. Sang tháng 12, bão lũ vẫn đang tiếp tục đổ bộ vào Quảng Nam. Do đâu khí hậu toàn cầu biến đổi ác liệt một cách không quy luật như vậy và ngày càng ác liệt? Nếu khí hậu cứ tiếp diễn như thế thì xã hội loài người và nền kinh tế được vun trồng mấy chục nghìn năm nay sẽ ra sao ? Người ta bỗng nhớ đến những hồi chuông báo động thảm họa môi trường đã vang lên từ lâu.    “Giới hạn của tự tăng trưởng”  Lời cảnh báo đáng sợ ấy viết trong một cuốn sách mỏng xuất bản năm 1972 có tên Các giới hạn của sự tăng trưởng (Limits to Growth), do một tổ chức phi chính phủ có tên Câu lạc bộ Rome (Club of Rome) soạn thảo. Lần đầu tiên trên thế giới, sách nêu ra vấn đề các giới hạn của Trái Đất và của sự tăng trưởng kinh tế-xã hội, dự đoán xu thế phát triển dài hạn toàn cầu về dân số, kinh tế và môi trường, đưa ra quan điểm về cách giải quyết các vấn nạn môi trường. 30 triệu cuốn sách này in bằng 28 ngôn ngữ đã được người đọc trên thế giới mua hết, xếp đầu bảng các bestseller viết về môi trường. CLB Rome và Các giới hạn của sự tăng trưởng được coi là ngọn cờ đầu phong trào bảo vệ môi trường, là cái mốc đánh dấu lịch sử sự nghiệp này của loài người.            Donella H. Meadows, Gore,  Brundtland        Sau tai họa thay đổi khí hậu mùa hè 2007, dư luận đang nhắc tới Limits to Growth và không tiếc lời ca ngợi tác giả chính của nó là bà Donella H. Meadows (1941-2001) – tiến sĩ vật lý sinh học, giáo sư ĐH Dartmouth (Mỹ). Năm 1972 bà tham gia một nhóm làm việc theo yêu cầu của CLB Rome, chuyên nghiên cứu mô hình máy tính toàn cầu World3 tại trường MIT. World3 đưa ra các dự báo giới hạn cuối cùng về năng lực chịu đựng của Trái Đất và sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Trên cơ sở đó, bà viết đề cương cho sách trên. Năm 2004, Limits to Growth được các tác giả còn lại sửa chữa và tái bản.    CLB Rome do Aurelio Peccei (Italy) và Alexander King (Scotand) sáng lập năm 1968 nhằm nghiên cứu các vấn đề của thế giới. Chủ tịch CLB hiện là hoàng thân El Hassan bin Talal của Jordan, trong số thành viên có những tên tuổi đáng nể như vua Tây Ban Nha Juan Carlos I, nữ hoàng Hà Lan Beatrix, cựu TT Liên Xô Gorbachep, cựu TT Gruzia Shevardnadze, cựu Thủ tướng Ấn Độ Karan Singh, bà Rigoberta Menchú (giải Nobel Hòa bình) cùng một số chính khách, doanh nhân, nhà khoa học nhiều nước.  Hồi chuông báo động của CLB Rome vang lên đã 35 năm, môi trường toàn cầu chẳng những chưa được cải thiện mấy mà còn xấu đi nhanh chóng. Xã hội loài người sẽ ngừng phát triển vào năm 2015! Dường như nhân loại chưa biết mối hiểm họa mà họ đang xích gần tới ấy đáng sợ nhường nào.    Cứu Trái Đất quan trọng hơn làm Tổng thống nước Mỹ  Đó là ý nghĩ của Al Gore sau khi ông bị Tòa Tối cao Mỹ xử thất cử trong kỳ bầu Tổng thống (TT) Mỹ năm 2000, mặc dù Gore được nhiều phiếu hơn Bush, và sau khi ông từ chối ra tranh cử năm 2004 cũng như mới đây lại tuyên bố không định tái tranh cử năm 2008 – ý định này trái với nguyện vọng của không ít người Dân chủ Mỹ, vì họ sợ mấy ứng viên non choẹt hiện có của đảng họ không “đấu” nổi các ứng viên nặng ký của đảng Cộng hòa, trong khi Al Gore từng 8 năm làm phó Tổng thống thành công và hơn 30 năm đại biểu quốc hội. 7 năm qua Gore bôn ba khắp thế giới thuyết phục mọi người bắt tay đối phó sự thay đổi khí hậu. Mỗi lần đáp máy bay, ông đều gửi tiền thuê trồng giúp một cây ở đâu đó; “Cánh rừng Gore” hiện đã có hơn 1000 cây. Ông còn tập hợp 1000 người đem bộ phim Một sự thật khó chịu (An Inconvenient Truth, do Gore đóng vai chính, trùng tên với một bestseller của ông xuất bản 2006) đi chiếu khắp thế giới; phim này đoạt giải Oscar 2007 thể loại phim tài liệu. Cách đây 30 năm, khi được bầu vào Quốc hội Mỹ, Gore đã kêu gọi đối phó với sự ấm lên toàn cầu. Năm 1992, ông viết Earth in the Balance và dẫn đầu chính phủ Clinton-Gore thực thi nhiều nỗ lực bảo vệ môi trường (BVMT). Ông là người sáng lập và chủ tịch của một số tổ chức BVMT như Alliance for Climate Protection, Generation Investment Management và hoạt động hòa nhạc Live Earth Benefit Concerts. Giải Nobel Hòa bình 2007 tặng cho Al Gore (cùng Intergovernmental Panel on Climate Change) là sự đánh giá xứng đáng công sức của ông.  Phát triển bền vững mới thực sự là phát triển  Phát triển là lẽ sống còn của tất cả các nước, nhất là nước nghèo; nhưng nếu phát triển không đúng cách thì sẽ dẫm chân tại chỗ hoặc tụt lùi. Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) xuất hiện lần đầu năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược gìn giữ thế giới do Hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế IUCN công bố, sau đó được phổ biến rộng rãi nhờ Báo cáo Brundtland (công bố năm 1987)– lấy tên của chủ tịch Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển WCED là bà Brundtland, Thủ tướng Na Uy nhiệm kỳ 1986-1989 và 1990-1996. Báo cáo này định nghĩa PTBV là “sự phát triển có thể đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, không tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau”; nói cách khác, phải phát triển kinh tế một cách có hiệu quả, bảo đảm xã hội công bằng và gìn giữ được môi trường. Đây là một mục tiêu rất khó thực hiện. Nhiều nước nghèo đang lao vào con đường tăng trưởng càng nhanh càng tốt, bất chấp cái giá phải trả do tàn phá môi trường; hậu quả vô cùng tai hại. Phương châm PTBV hiện nay được chính phủ tất cả các nước tuyên bố tuân theo, tuy rằng sự thực thi còn rất dè dặt.  Tiếng chuông cảnh tỉnh mới nhất            Al Gore        Ngày 25 tháng 10 năm nay, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố bản báo cáo Viễn cảnh môi trường toàn cầu- 4 (Global Environment Outlook- 4, viết tắt GEO-4). GEO-4 dày 570 trang là bản tổng quan bao quát nhất về sự biến đổi của khí quyển, đất, nước và đa dạng sinh học trên Trái Đất từ năm 1987 tới nay. Trong khi nhấn mạnh “Mục tiêu (của báo cáo này) không phải là đưa ra một kịch bản ảm đạm, mà là một lời kêu gọi hành động khẩn cấp”, GEO-4 cảnh báo: Môi trường Trái đất đang tiến dần tới ngưỡng giới hạn; sự tồn vong của nhân loại phụ thuộc vào việc chúng ta bắt tay hành động ngay hôm nay, chứ không phải ngày mai!  Dưới đây là vài điểm chính trong báo cáo GEO-4:  1- Toàn thế giới đang sống vượt quá sức chịu đựng sinh học của Trái Đất. Để đáp ứng nhu cầu của một con người, Trái Đất cần có 21,9 ha bề mặt, trong khi công suất sinh học của bình quân của nó hiện chỉ là 15,7 ha/người, bằng 2/3 nhu cầu của chúng ta. 2- Nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,74oC trong 100 năm qua, và trong thế kỷ này có thể tăng thêm 1,8-4 oC. Nó làm tan băng ở hai cực Trái Đất, khiến nước biển dâng lên. Những nước ven biển sẽ chịu hậu quả trước tiên; thí dụ 20 triệu người Việt Nam sẽ mất nhà cửa và đồng ruộng vì nước biển dâng ngập. Thời gian 1992-2001, lũ lụt gia tăng đã khiến gần 100.000 người thiệt mạng và tác động tới 1,2 tỉ người. Tình hình nghiêm trọng đến mức, cần phải xem xét một công ước mới thay thế Nghị định thư Kyoto, nhằm buộc các nước đang phát triển cũng phải cam kết cắt giảm khí nhà kính, mà không được miễn trừ như trước. 3- Nguồn nước ngọt giảm nhanh, năm 2025 sẽ có 1,8 tỷ người cực kỳ thiếu nước. Chất lượng nước tiếp tục hạ thấp, mà nguồn nước bị ô nhiễm là một trong các nguyên nhân chính làm cho con người mắc bệnh và chết. 4- Diện tích đất bình quân đầu người đang nhanh chóng thu hẹp, từ 7,9 hecta năm 1900 xuống còn 2,02 năm 2005 và dự kiến là 1,63 hecta năm 2050. 5- Đa dạng sinh học biến đổi nhanh nhất trong lịch sử, với hơn 30% động vật lưỡng cư, 23% động vật có vú và 12% loài chim có nguy cơ tuyệt diệt. Lượng cá biển bị đánh bắt lớn gấp 2,5 lần so với sản lượng khai thác bền vững của biển. “Cuộc đại diệt chủng sinh vật lần thứ 6 đã bắt đầu, mà nguyên nhân là do các hoạt động của nhân loại” – GEO-4 báo động.  Tăng trưởng dân số là nguyên do chủ yếu đòi hỏi tăng trưởng kinh tế, đồng nghĩa với việc tăng khai thác tài nguyên thiên nhiên; mà tài nguyên lại hữu hạn. Số dân Trái Đất tăng lên nhanh chóng, nay “mới có” hơn 6 tỷ người mà đã khai thác Trái Đất vượt quá khả năng của nó; đến năm 2050 sẽ tới 8-9,7 tỷ người – khi ấy chúng ta lấy gì để sống?  Ông Achim Steiner Phó tổng thư ký LHQ và Giám đốc điều hành UNEP nhấn mạnh: “Sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên một cách có hệ thống đã tới cái ngưỡng mà khả năng sống còn của các nền kinh tế bị thách thức nghiêm trọng, hóa đơn thanh toán của chúng ta để lại cho con cháu sẽ không thể thanh toán được”   Sau khi UNEP công bố GEO-4, ông Dennis L. Meadows, một đồng tác giả Limits to Growth nói: “Các dự đoán ban đầu của chúng tôi là đúng, sự phát triển của xã hội nhân loại thời gian từ 2010 đến 2030 sẽ gặp những vấn đề nghiêm trọng, trong tình hình bi quan nhất, sự phát triển đó sẽ chấm dứt vào năm 2015. Nhưng đấy chỉ là sự đánh giá bình quân mức của toàn thế giới, một số vùng vẫn phát triển tốt, trong 50 năm đầu thế kỷ XXI đều có hy vọng tránh được sự sụp đổ; song một số vùng khi vừa sang thế kỷ XXI đã sớm rơi vào tình trạng suy thoái lâu dài. Thời gian 1990-2001, tại 54 quốc gia chiếm 12% số dân thế giới đã xuất hiện tình trạng GDP đầu người sụt giảm… Có điều, xin chớ gắn việc chấm dứt phát triển xã hội với cái gọi là ngày tận thế của Trái Đất. Loài người đã tồn tại 20 nghìn năm, cộng lại có tới 10 nghìn năm sống trong điều kiện khí hậu ác liệt, nhưng nhân loại ngoan cường không vì thế mà bị diệt vong. Cho nên trước lần biến đổi lớn khí hậu này, chúng ta cũng có thể sống tiếp, song e rằng sự phát triển của xã hội nhân loại sẽ gặp những thử thách nghiệt ngã, số dân toàn cầu sẽ giảm đáng kể, nền văn minh công nghiệp thịnh vượng sẽ có thay đổi lớn”.    Môi trường sinh thái ở Việt Nam ra sao?  Sau khi GEO-4 được công bố, bà Nguyễn Ngọc Lý, trưởng phòng Phát triển bền vững của UNDP Việt Nam đã cảnh báo về tình hình môi trường nước ta. Bà nói: cách đây 12 năm, TP Hồ Chí Minh (TPHCM) từng tính tới nguy cơ trở thành một Bangkok thứ hai về mức độ ô nhiễm, nay thì ô nhiễm ở đây chẳng khác Bangkok, nếu chưa nói là tệ hại hơn. Theo GEO-4, mức độ ô nhiễm không khí của Hà Nội cao hơn TPHCM một bậc, chỉ kém Bắc Kinh, Thượng Hải. “Bây giờ là thời điểm mà Việt Nam cần kiên trì theo đuổi phát triển bền vững… Nếu không giải quyết được những vấn đề dai dẳng này thì Việt Nam sẽ có thể xoá đi tất thảy các thành tựu đã đạt được cho đến nay”, bà Lý dẫn lời UNEP.  Ông Hoàng Dương Tùng, giám đốc Trung tâm Quan trắc và Thông tin môi trường thuộc Cục Bảo vệ môi trường cho biết: Việt Nam có tất cả các vấn đề được nêu trong GEO-4; các chuyên gia quốc tế nhận định tăng trưởng kinh tế Việt Nam chỉ ở mức 3-4% thay vì 8% như công bố, nếu xét tới các tổn thất về môi trường do tăng trưởng đem lại. Xét về độ an toàn môi trường, Việt Nam xếp cuối cùng trong 8 nước ASEAN (trừ Singapore và Brunei) và thứ 98 trong 117 nước đang phát triển.  Điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam John Hendra cảnh báo: “Người dân London hoặc vùng hạ Manhattan có thể bình thản đón nhận viễn cảnh biến đổi khí hậu làm tăng mực nước biển bởi lẽ họ có hệ thống đê bao kiên cố, nhưng đối với Bangladesh, đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam thì hoàn toàn có cơ sở để cho rằng đây là mối hiểm họa đáng lo ngại”.  Báo cáo Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu – đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách của UNDP cảnh báo: “15 năm qua, Việt Nam đã có tiến bộ vượt bậc về phát triển con người… Tuy vậy, biến đổi khí hậu gây ra mối đe dọa thật sự đối với những thành tựu đó, và không đâu nghiêm trọng hơn khu vực đồng bằng sông Cửu Long”.  Thật là những lời cảnh báo đáng sợ! Song nhiều người cứ như chưa nghe thấy gì cả! Thử hỏi chính bạn đã biết gì về GEO-4? Báo đài ta dành bao nhiêu dòng, bao nhiêu phút cho vấn đề môi trường, liệu có bằng tin thể thao không ? Khi yêu cầu chính phủ nâng mức tăng trưởng kinh tế, hoặc khi bàn về độ cao đập thủy điện Sơn La, các đại biểu Quốc hội đã cân nhắc, tính toán vấn đề môi trường ra sao? Hàng núi rác đổ ra ngoại thành Hà Nội và TP HCM, đã ai nghĩ tới hậu quả khi rác thối ngấm xuống sâu, toàn bộ nước ngầm bị ô nhiễm? TPHCM xây lắm cao ốc, đất lún sụt rồi sẽ phải bỏ nhà đi đâu mà ở?…  Loài người sẽ sống ra sao trong thiên niên kỷ thứ ba?  Đó là nội dung của Dự án Thiên niên kỷ (Millennium Project) do American Council for the United Nations University hợp tác với The Foundation for the Future (xem: futurefoundation.org và acunu.org) đang tiến hành. Chớ nên nghĩ rằng các tác giả dự án đó ngông cuồng, viển vông. Kinh Thánh từng nói tới nạn hồng thủy cách đây nhiều nghìn năm. Khoa học phải tỉnh táo đi trước lịch sử hàng thế kỷ thì mới kịp sửa được những sai lầm tự hủy diệt của nhân loại. Bước đầu Dự án trên đưa ra mấy kịch bản ứng với trường hợp khi nhân loại sinh sôi nảy nở vượt quá khả năng chịu đựng của Trái Đất, trong đó có kịch bản di cư một phần loài người lên các thiên thể khác.  Mới đây Stephen Hawking nói sự sống trên Trái Đất đang có nguy cơ bị tiêu diệt do khí hậu toàn cầu ấm lên, do có thể xảy ra chiến tranh hạt nhân, và do virus…; loài người muốn tồn tại lâu dài thì phải di cư lên thiên thể khác. (“I don’t think the human race will survive the next 1,000 years unless we spread into space”). Ông tán thành ý định của các nhà khoa học muốn lập trên Mặt Trăng một kho lưu trữ gien của tất cả mọi sinh vật trên Trái Đất – một kiểu thuyền Noah mới. Kinh Thánh đâu phải không có căn cứ lịch sử!       Phải hành động ngay, nếu không sẽ quá muộn  Những lời cảnh báo thảm họa môi trường vang lên từ lâu lắm và ngày một nhiều người đang nói như vậy. Song họ chỉ là một số rất nhỏ so với mấy tỷ con người nghèo khổ đang đòi hỏi phải gấp rút được sống sung sướng, nghĩa là phải phát triển kinh tế, phải khai thác tài nguyên, cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ nhu cầu sống no ấm, đủ tiện nghi. Tăng trưởng càng nhanh càng tốt là đòi hỏi của các nước đang phát triển; BVMT cũng quan trọng nhưng chưa cần thiết bằng tăng trưởng! Trong niềm say mê đó, người ta đành tạm tự an ủi: sau này giàu có rồi thì sẽ lo chuyện BVMT cũng được chứ sao.  Nhưng cách tăng trưởng như thế rất có thể lại là dẫm chân tại chỗ hoặc tụt lùi, là góp phần đẩy nhanh tốc độ hủy diệt loài người!  Đã đến lúc tất cả mọi người cần lắng nghe những hồi chuông báo động thảm họa môi trường và hành động ngay để cứu chính chúng ta, nếu không muốn để quá muộn!  Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Môi trường vùng than Quảng Ninh      Khai th&#225;c than lộ thi&#234;n ở Quảng Ninh đang l&#224;m tổn hại nghi&#234;m trọng đến c&#225;c m&#244;i trường: Đất, nước, kh&#244;ng kh&#237;, sinh vật.&nbsp; Trong khi đ&#243;, ng&#224;nh than vẫn chưa c&#243; một chiến lược tổng thể để giảm thiểu c&#225;c ti&#234;u cực đến m&#244;i trường. C&#225;c giải ph&#225;p đang được triển khai về bảo vệ m&#244;i trường chỉ mang t&#237;nh đối ph&#243;. Việc cải thiện đ&#227; v&#224; đang c&#243; được về m&#244;i trường ở v&#249;ng than Quảng Ninh chủ yếu nhờ c&#225;c giải ph&#225;p mang t&#237;nh tổ chức v&#224; quản l&#253; của c&#225;c cơ quan cấp tr&#234;n v&#224; của ch&#237;nh quyền địa phương. Tuy nhi&#234;n, c&#225;c giải ph&#225;p đ&#243; chỉ mang t&#237;nh &#8220;đặc trị&#8221;.     Bệnh ung thư đang chuyển sang giai đoạn di căn  Ở Quảng Ninh, từ trước đến nay, môi trường bị huỷ hoại chủ yếu là do than được khai thác bằng phương pháp lộ thiên (giống phương pháp sẽ được áp dụng để khai thác bauxite ở Tây Nguyên). Trong công nghệ khai thác lộ thiên, bình quân để lấy được 1 tấn than, chúng ta phải khoan, nổ mìn làm tơi để xúc lên, rồi vận chuyển đi xa (với cung độ bình quân 3-5km) và đổ thải ra chỗ khác khoảng 5-10 m3 đất đá. Các công đoạn không thể tránh khỏi này của khai thác lộ thiên ở Quảng Ninh dẫn đến việc môi trường sinh thái bị ảnh hưởng tiêu cực, đã xâm hại đến môi trường đất, nước, không khí (nguồn tài nguyên tái tạo); hệ thực vật, hệ động vật (nguồn tài nguyên không tái tạo). Địa hình của tỉnh Quảng Ninh biến động nhanh và với qui mô lớn chủ yếu do khai thác than lộ thiên.  Quốc lộ 14 chạy qua thị xã Hòn Gai và thị trấn Cẩm Phả, trước kia từng gắn với sự nghiệp “cải tạo 3 mỏ lộ thiên” nhiều đoạn đã phải dịch chuyển ra phía biển để nhường chỗ cho các bãi thải đất đá của các mỏ  khai thác than bằng công nghệ lộ thiên (Hà Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu).  Suối Vàng Danh và sông Mông Dương, gắn với việc phát triển các mỏ than hầm lò nổi tiếng Vàng Danh (Uông Bí) và Mông Dương (Mông Dương-Khe Chàm) cũng đã bị thay đổi (nhưng không phải vì khai thác than hầm lò, mà chủ yếu vì khai thác than lộ thiên). Trước đây, con suối chảy từ mỏ Vàng Danh ra Uông Bí từng là nguồn cung cấp nước cho cả thành phố Hải Phòng vì nước trong và sạch. Ở vùng than Uông Bí, không ai quên câu ca dao từ thời Pháp “nước Vàng Danh, canh Hải Phòng”. Ngày nay, khi khu mỏ Vàng Danh (trước đây, Liên Xô chỉ thiết kế khai thác bằng công nghệ hầm lò với công suất tối đa có 1,8 tr.t/năm) nay được mở rộng ra bằng các công nghệ khai thác than lộ thiên, tổng công suất các mỏ than đã lên tới gần 5 triệu tấn/năm, thì nước suối Vàng Danh đã không thể dùng để dẫn về Hải Phòng. Lớn hơn suối Vàng Danh là con sông Mông Dương (hợp lưu của nhiều con suối xuất phát từ khai trường của những mỏ than lộ thiên trong vùng). Trước đây, người Pháp đã dùng con sông này làm đường thủy chở than Mông Dương ra biển để xuất khẩu. Ngày nay, con sông này đã bị loại ra khỏi danh sách các tuyến vận tải thủy.  Việc xâm hại môi trường và sinh thái ở vùng than Quảng Ninh do khai thác lộ thiên đã trầm trọng giống như căn bệnh ung thư đang chuẩn bị di căn. Nhưng, đang được giao cho một “thầy lang” mới chập chững bước vào nghề chữa trị. Công ty Xây dựng Công trình Môi trường Mỏ-TKV được coi là “đơn vị chủ lực, có bề dầy kinh nghiệm” thực chất chỉ mới vừa được thành lập bằng một phép cộng và trừ (với 2 xí nghiệp và 7 công trường). Cái gọi là “bề dày kinh nghiệm” của “đơn vị chủ lực” này của TKV về bảo vệ môi trường ở vùng Quảng Ninh cũng chẳng khác nào bề dày kinh nghiệm của người gác cổng của Bệnh viện K Hà Nội về căn bệnh ung thư nay mới được chuyển vào phụ trách phòng mổ.  Một sự đánh đổi  Trước hết: Việc khai thác than là để phục vụ trực tiếp cho các ngành kinh tế quan trọng (điện, xi măng, phân bón, hóa chất, giấy, vật liệu xây dựng) của đất nước. Khi “Tổ quốc cần than như con thơ cần sữa mẹ”, sự hy sinh về môi trường của Quảng Ninh còn có thể chấp nhận được như một sự đánh đổi cần thiết. Quảng Ninh đã biết và quen chấp nhận sự “đánh đổi” này là vì sự nghiệp phát triển của các ngành kinh tế và các địa phương khác của đất nước. Tỉnh Quảng Ninh đã từ lâu thuộc vào hàng ngũ các tỉnh “nghìn tỷ”, nhưng, việc cân đối ngân sách của địa phương từ xa xưa đã là một cân đối tổng thể của cả nền kinh tế. Việc phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ninh đã không thể tách rời việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quảng Ninh có thế mạnh về rất nhiều mặt (khoáng sản, thuỷ sản, du lịch, cảng biển, năng lượng v.v.). Nhưng Quảng Ninh cũng không thể chỉ dựa vào một ngành nào để phát triển bền vững.  Thứ hai: Vùng than Quảng Ninh có một lợi thế là nằm sát bờ biển. Các dòng sông, suối có chiều dài không lớn, chủ yếu đổ thẳng ra biển, hầu như không có vùng hạ lưu để bị ảnh hưởng khi khô cạn. Các vùng đất canh tác nông-lâm nghiệp chủ yếu của Quảng Ninh thường không nằm trong vùng hạ lưu của các con sông suối chảy ra từ những vùng khai thác than. Ngoài ra, vì có bờ biển tương đối dài (hàng vài chục cây số), khi môi trường đất bị xâm hại do đổ thải trong quá trình khai thác than lộ thiên, Quảng Ninh còn có điều kiện để “cơi nới” diện tích đất bằng việc san lấp bờ biển. Tuy có ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên của vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, nếu việc “cơi nới” này được thực hiện có bài bản sẽ hình thành các khu dân cư đô thị mới, hay khu du lịch gắn với vịnh. Đó là sự đánh đổi có thể.  Chữa bệnh ung thư bằng liều thuốc cảm  Có thể nói, hiện nay chỉ có môi trường không khí ở vùng than Quảng Ninh là được cải thiện, còn môi trường đất và môi trường nước thì vẫn ngày càng bị xâm hại. Cùng với việc cải thiện của môi trường không khí, cảnh quan thiên nhiên và đô thị cũng được cải thiện rõ nét.              Giải pháp bảo vệ môi trường tiếp theo là đình chỉ hoạt động của các bến, và các cảng than trên bờ vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long        Trên thực tế, quỹ bằng tiền cho công tác bảo vệ môi trường trong khai thác than đã có và đang không tiêu hết, nhưng chúng ta lại chưa có quỹ kiến thức về bảo vệ môi trường. Trước hết là chúng ta chưa có chiến lược về bảo vệ môi trường. Mỏ than nào, dự án nào ở Quảng Ninh cũng có đánh giá tác động môi trường (ĐTM) dày hàng trăm trang, đã được phê duyệt. Nhưng vì không có chiến lược chung, những giải pháp bảo vệ môi trường chỉ được đưa ra một cách riêng lẻ, manh mún, cục bộ chủ yếu tập trung giải quyết phần hậu quả. Mặc dù vậy, có dự án còn mang tính “viễn tưởng” về kỹ thuật như dự án xử lý nước moong mỏ than Cọc Sáu để cấp nước công nghệ (chạy lò hơi) cho nhà máy điện Cẩm Phả (làm mát đã được thiết kế dùng nước biển). Thực chất, “sự nghiệp” bảo vệ môi trường chỉ là các công việc như nạo vét sông, nạo vét hồ, xây kè, trồng cỏ, trồng cây, xử lý các chất thải (nước thải, dầu mỡ thải, rác thải) v.v. Đó chỉ là những giải pháp mang tính đối phó, xử lý phần “ngọn” của vấn đề (chẳng khác nào giải pháp của Bệnh viện K Hà Nội phát thuốc chữa cảm cúm cho người bệnh đang bị ung thư).  Nguyên nhân của tình trạng môi trường ngày càng xấu đi, cũng giống như của tình trạng tai nạn lao động rất lớn hiện nay trong ngành than là sự vi phạm những kỹ thuật cơ bản trong khai thác mỏ. Để giải quyết vấn đề môi trường và tai nạn lao động chết người của ngành than cần phải có các giải pháp công nghệ và kỹ thuật cơ bản để xử lý tận “gốc”. Hiện nay, TKV đang tập trung xử lý phần “ngọn” của hai căn bệnh nan y này theo kiểu “công tử Bạc Liêu”. Kết quả của những giải pháp thuộc về “phần ngọn” thường thể hiện nhanh, đáp ứng được cho việc tổng kết hay báo cáo thành tích, nhưng nguy cơ về môi trường hay nguy cơ về tai nạn lao động thì vẫn như cũ. Rất tiếc, những giải pháp kỹ thuật cơ bản có liên quan đến bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn cho công nhân mỏ đã và đang tiếp tục bị vi phạm (về vấn đề này, chúng tôi xin phép được trình bày trong một bài riêng).  Giải pháp đặc trị  Từ những năm 90 của thế kỷ trước, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh- nơi ngành công nghiệp than khi đó mới được tổ chức lại, và đang trên đà phát triển, đã sớm nhắc đến sự lựa chọn giữa than và du lịch, giữa phát triển bền vững với việc tăng thu ngân sách của tỉnh từ hòn than, để trên cơ sở đó đã có những giải pháp liên quan đến bảo vệ môi trường vùng than.  Trước hết, và chủ yếu đó là những giải pháp có liên quan đến cấm hoạt động khoáng sản. Giải pháp “cấm hoạt động khai thác khoáng sản” cũng giống như liều thuốc có hại, không ai muốn dùng, nhưng đặc trị để đối phó với bệnh ung thư đang di căn khi bản thân cơ thể đã mất sức đề kháng.  Thực tế ở Quảng Ninh cho thấy, chỉ những nơi bị cấm hoạt động khoáng sản thì môi trường đã được cải thiện. Còn những nơi vẫn diễn ra các hoạt động khoáng sản, đặc biệt là hoạt động khai thác lộ thiên thì môi trường vẫn còn là một vấn đề phức tạp.  Việc đóng cửa hoạt động của phân xưởng than luyện của nhà sàng Hòn Gai từ những năm 70 của thế kỷ trước có thể coi là hoạt động khoáng sản đầu tiên được êrể bảo vệ môi trường. So với nhà máy alumina thì phân xưởng này có qui mô rất nhỏ, lượng hoá chất sử dụng rất ít. Phân xưởng này đã được đóng cửa sau nhiều năm thực hiện sứ mệnh là đơn vị duy nhất cung cấp than cho ngành đường sắt để chạy tàu bằng các đầu máy hơi nước. Công nhân trực tiếp sản xuất đã được chuyển sang phân xưởng mới và người dân sống xung quanh đã được hưởng môi trường trong sạch.   Tiếp đến, trong khi ngành than và Bộ Năng lượng đang quyết tâm đầu tư cải tạo mới và mở rộng nâng công suất nhà máy sàng tuyển than Hòn Gai (để sản xuất ra các loại than tốt có thể xuất khẩu cứu nguy cho cả ngành than) thì Chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã cương quyết kiến nghị, và được Chính phủ chấp nhận di dời toàn bộ công trình trọng điểm này của Bộ Năng Lượng ra một địa điểm mới ở Nam Cầu Trắng để tránh gây ô nhiễm cho khu vực dân cư. Mặc dù khi đó chủ đầu tư đã cam kết nhà máy được đầu tư với công nghệ tiên tiến hiện đại nhất của Australia, dự án được khẳng định là có hiệu quả và đảm bảo về môi trường, hợp đồng đã được ký kết với đối tác nước ngoài, công việc đang được triển khai, nhưng công trình mang tính chất “cứu cánh” này của TKV đã được Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt quyết định phải di dời. Vụ việc đã được giải quyết bằng một tầm nhìn sáng suốt và với ý thức chính trị cao, nhưng cũng đã tốn khá nhiều giấy mực để tranh cãi, giải trình, báo cáo v.v. (tất nhiên chưa bằng bauxite ngày nay) cũng giữa một phía là chủ đầu tư (ngành than) và bộ chủ quản (Bộ Năng lượng) với một phía “bên kia” là các cán bộ khoa học kỹ thuật và những người dân sẽ phải hứng chịu ảnh hưởng của suy thoái môi trường, cảnh quan đô thị do nhà máy này sẽ mang lại nếu không di chuyển. Thực tế hiện nay đã chứng minh sự sáng suốt và tầm nhìn xa trông rộng của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.  Giải pháp tiếp theo để bảo vệ môi trường là chấm dứt hoạt động của cảng than Hòn Gai. Đây là một cảng than nổi tiếng thế giới, được người Pháp xây dựng để xuất khẩu anthracite của Việt Nam. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ, cảng Hòn Gai cùng với nhà sàng Hòn Gai nói trên là mục tiêu quan trọng trong trận ném bom huỷ diệt đầu tiên của Mỹ vào ngày 5/8/1964. Hiện nay, trên địa điểm của cảng Hòn Gai ngày xưa, hoạt động khoáng sản đã được thay bằng hoạt động du lịch và tàu biển chở khách.  Hoạt động khoáng sản tiếp theo được đình chỉ đã góp phần cải thiện môi trường ở Quảng Ninh là dỡ bỏ 2 tuyến đường sắt chuyên dụng chở than (tuyến Hà Lầm- Hòn Gai; và tuyến Mạo Khê – Bến Cân). Cùng với việc chấm dứt hoạt động của nhà sàng than Hòn Gai, cảng than Hòn Gai, và tuyến đường sắt Hà Lầm-Hòn Gai, bộ mặt của thị xã Hòn Gai đã thay đổi cơ bản và sau này đã được Chính phủ nâng cấp và mở rộng lên thành đô thị loại 2. Trước đây, khi nhắc đến thị xã Hòn Gai, chúng ta thường nghĩ đến như một trung tâm khai thác than. Ngày nay, nhờ có các giải pháp cấm hoạt động khoáng sản, thủ phủ của ngành than đã được cả thế giới biết đến với cái tên khác cũng rất quen thuộc là thành phố Hạ Long.  Giải pháp bảo vệ môi trường tiếp theo là đình chỉ hoạt động của các bến, và các cảng than trên bờ vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, trên các sông Mông Dương, Diễn Vọng, Bạch Đằng v.v., đồng thời cấm các ô tô vận tải than chạy dọc tuyến đường 14.  Việc cấm các hoạt động khoáng sản xung quanh khu di tích văn hoá-lịch sử Yên Tử trong những năm trước 2000 đã từng là giải pháp duy nhất để bảo tồn khu văn hoá quan trọng bậc nhất này của Đạo Phật Việt Nam.  Vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác than cần được nhận thức khoa học, tư duy đúng, cần được quản lý thực hiện một cách bài bản, và đòi hỏi cán bộ điều hành phải có đủ trình độ chuyên môn và kỹ thuật. Với tình trạng như hiện nay, vấn đề môi trường và vấn đề an toàn lao động của TKV vẫn sẽ tiếp tục là những nguy cơ có nguồn gốc từ chính con người cản trở sự phát triển bền vững của ngành than..   ——————  (*) Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng-TKV    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Mọi xã hội đều sẽ bị tàn lụi”      Nhà nghiên cứu lịch sử thời Trung cổ Johannes Fried cho rằng, chưa bao giờ khả năng tự hủy diệt của con người lại to lớn như hiện tại, và từ những nền văn minh sẽ bị lụi tàn là cơ hội cho các dân tộc vươn lên đầy sức sống.    Nền văn minh phương Tây của chúng ta hiện nay tích lũy một khối lượng tri thức nhiều gấp bội so với các nền văn minh trước chúng ta. Liệu điều đó có cứu xã hội của chúng ta tránh được một sự sụp đổ?  Fried: Chỉ có những người không hiểu biết lịch sử mới có thể nói như vậy. Ở đây còn có yếu tố tâm lý. Thí dụ như sự ghen ghét, đố kị. Điều này cũng không có sự khác biệt nhiều đối với các quốc gia. Đặc trưng của xã hội chúng ta là sự cạnh tranh rất khốc liệt và tôi không tin rằng đấy là sự bảo đảm cho sự tồn tại. Không thể có sự cạnh tranh mà không hy sinh.    Như vậy có nghĩa là cạnh tranh kinh tế sẽ dẫn đến hủy diệt?          Johannes Fried, 66 tuổi, ở Frankfurt (Đức) là một trong những nhà nghiên cứu lịch sử thuộc diện độc đáo nhất của Đức. Một trong những lĩnh vực mà ông từng nghiên cứu là  tư duy về ngày tận thế thời trung cổ.          Đề nghị đừng hiểu nhầm tôi – đối với sự hủy diệt của một xã hội bao giờ cũng có nhiều nguyên nhân. Vì vậy, với tư cách là một nhà khoa học lịch sử tôi luôn tìm cách nhìn vấn đề này với nhiều yếu tố khác nhau như: quan hệ sản xuất, các điều kiện khí hậu, thức ăn, tư duy tôn giáo, mối quan hệ giữa bạn và thù, những tranh luận về trí tuệ của một thời đại. Tuy vậy có thể có những thay đổi tưởng như là nhỏ lại có thể gây ra những tác động cực kỳ to lớn.  Tỷ như con bướm, theo quan điểm của thuyết hỗn loạn, có thể gây một cơn lốc xoáy ở tận cùng thế giới?  Đúng thế. Xin nêu một ví dụ: trong thời kỳ đồ đá con người chỉ biết khung dệt đứng, với loại khung dệt này người ta chỉ có thể sản xuất  những mảnh vải có kích thước nhất dịnh.  Vào thế kỷ thứ 10 xuất hiện loại máy dệt ngang và đạp chân, với loại máy dệt này về nguyên tắc người ta có thể sản xuất vải tấm với bất kỳ kích thước nào. Sự đổi mới này dẫn đến một sự thay đổi xã hội đáng kể, thậm chí thay đổi đó đã vượt khỏi biên giới quốc gia. Công việc dệt vải vốn là công việc của người phụ nữ, nay trở thành công việc của người đàn ông, vì nó là một công việc rất nặng nhọc, vất vả. Khi đó xuất hiện những trung tâm sản xuất mới ở Anh, ở Hà Lan hay ở Florenz. Ngành công nghiệp này tạo ra nguồn tài chính thúc đẩy sự phát triển của các thành phố và các quốc gia – và dẫn đến sự sụp đổ của kẻ khác. Cả sự phát triển của cái cày cũng dẫn đến những thay đổi có tính hệ thống như vậy .    Như vậy có nghĩa là sự phát triển của lịch sử  có khi lại phụ thuộc vào những đổi mới kỹ thuật  mà ta không thể lường trước được?  Đúng thế, thí dụ vào năm 1900 làm sao có thể tiên đoán hoặc lên kế hoạch về Computer.    Thưa ông tại sao một xã hội năng động lại không thể phản ứng kịp thời trước những sự phát triển như vậy ?  Chúng ta thậm chí còn không thể tiên đoán về những phát minh lớn và những hệ quả  khôn lường của chúng. Hơn nữa cho đến nay mọi xã hội đều bị diệt vong: Cho đến năm 1300 Venice từng là một cường quốc ở khu vực Địa trung hải. Nhưng cường quốc này đã bị sụp đổ – một phần cũng vì những nước lân cận giành được độc lập. Hoặc Roma thời kỳ hậu cổ đại bị suy sụp vì tầng lớp đại quý tộc không chịu sinh đẻ. Phải chăng đó là một cái mốt? Điều đó chúng ta không biết. Trong thế kỷ thứ 6 ở miền Nam Gallia các dòng họ của những nghị sỹ bị thui chột vì những đại diện xuất sắc nhất của các dòng họ này lại ẩn mình trong các nhà tu kín. Chúng ta thường thấy những hiện tượng này trong lịch sử. Khi cuộc sống dễ chịu, khá giả người ta sinh con đàn cháu đống. Nhưng sau đó mọi chuyện đảo ngược; có nhiều lý do cho hiện tượng này. Nếu trong bối cảnh đó lại có dịch bệnh nghiêm trọng hoặc thiên tai kinh hoàng thì xã hội có thể bị sụp đổ. Ngày nay khả năng tự hủy diệt của loài người tăng lên đáng kể. Một cuộc chiến tranh nguyên tử có thể xóa sổ toàn nhân loại.  Thưa ông vai trò của các khủng hoảng sinh thái trong lịch sử như thế nào?  Tôi chỉ xin nêu hai ví dụ: Từ đầu thời kỳ đồ đồng người ta đã phá rừng ở vùng núi Alps,  vì ở đó có nhiều mỏ đồng. Nhà cửa ở Venice được xây dựng bằng những cây gỗ sồi vì thế gỗ sồi vùng duyên hải Adria bị chặt đốn đến tàn lụi. Bất cứ nơi nào mà con người phát hiện có nguồn nguyên liệu thì ở đó nguyên liệu bị bòn vét vô tội vạ – đây là con đường một chiều dẫn đến sự diệt vong.    Thưa ông  hy vọng của con người vào  một sự ổn định xã hội quan trọng đến đâu? Thời Trung cổ người ta cũng từng lo sợ trước sự cáo chung của nhân loại.  Sự hy vọng điều khiển hành động của con người. Trên cơ sở sự rao giảng của thánh John  cũng như từ nhiều đoạn trong kinh thánh các tín đồ Thiên chúa giáo thời Trung cổ coi  ngày tận thế là điều không phải bàn cãi. Tuy vậy điều đó không làm cho họ nản chí, thất vọng. Họ coi ngày tận thế như  một sự thử thách mà các tín đồ Thiên chúa  giáo phải vượt qua. Tín đồ Thiên chúa giáo có nhiệm vụ truyền  lời răn của Chúa  đến mọi nơi trên thế giới. Christoph Kolumbus  từng viết thư cho nhà vua và hoàng hậu Tây Ban Nha rằng đến năm 1648 ngày tận thế sẽ diễn ra – và phải làm sao cho đến ngày đó kinh Phúc âm đến được với mọi người trên trái đất. Đây chính là động cơ để khám phá Trái đất, để phát triển ngành đóng tàu, để mở mang thuộc địa. Niềm tin đó thôi thúc con người xây dựng nhà thờ, xây dựng bệnh viện. Niềm tin vào ngày tận thế tạo nên một động lực!    Thưa ông, vậy không có một sự  ngưng trệ?  Hoàn toàn không. Tư duy về ngày tận thế thậm chí còn thúc đẩy sự phát triển cả khoa học tự nhiên. Trong Phúc âm – Matthew  còn đề cập đến những dấu hiệu của vũ trụ là những tín hiệu cho sự phán xử trên thế giới: những ngôi sao sa, nhật thực, nguyệt thực, sẽ xảy ra  động đất, nạn đói, dịch bệnh… Vì thế mỗi khi có nhật thực các học giả buộc phải xem xét, phải chăng đây là dấu hiệu của sự tận thế. Để làm việc đó người ta phải tìm hiểu biên niên sử và phải nghiên cứu bầu trời. Để giải thích điềm lành, điềm dữ người ta nghiên cứu chiêm tinh học. Chiêm tinh học ra đời trong thế giới Ả Rập và lan truyền sang phương Tây từ thế kỷ 11 và đã giúp vào việc tính toán các quỹ đạo của hành tinh.    Thưa ông, vậy phải chăng tín ngưỡng là động cơ cho sự phát triển khoa học hiện đại?  Ngay đến Isaac Newton cũng viết về ngày tận thế nhiều hơn về vật lý…  Người ta cho rằng sau một thảm họa sự vật vẫn phát triển.  Đúng thế. Hãy giả thiết, một nửa trong số 6 tỷ người sẽ bị chết vì chiến tranh hoặc dịch bệnh. Như vậy trên trái đất vẫn còn 3 tỷ người – vẫn nhiều hơn trước đây.    Và chúng ta muốn sống trong một thế giới như thế?          Con bướm theo quan điểm của thuyết hỗn loạn, có thể gây một cơn lốc xoáy ở tận cùng thế giới            Đương nhiên. Những cuộc chiến tranh và các đợt dịch bệnh tàn khốc đã giết hàng triệu người. Nhưng những người sống sót là những người đã miễn dịch với các bệnh dịch đó  và họ có cơ sở vật chất  để xây dựng một cuộc sống mới. Chính vì thế sau nạn dịch bệnh thời Trung cổ những người sống sót rất thích ăn diện vì họ vui mừng khi thấy mình vẫn tồn tại. Dân số sụt giảm vì các đợt dịch bệnh hồi thế kỷ thứ 6 đã tạo cơ hội mới cho các dân tộc trẻ tuổi ở phương Bắc và phương Đông. Sau mỗi sự hủy diệt đều diễn ra một sự vươn lên đầy sức sống.  Điều đó có làm ông lạc quan?  Không nhất thiết. Mọi việc làm của tôi đều không hướng theo sự tận thế. Tôi muốn hỗ trợ để con người phát triển. Tôi có con, có cháu và tôi cố gắng tạo những điều kiện tốt đẹp để con, cháu tôi vào đời được thuận lợi. Nhưng là  nhà nghiên cứu lịch sử tôi cũng nhận thức được rằng, một tai họa diễn ra trong cuộc đời mình sẽ tạo cơ hội cho những người khác.      P.V Hubertus Breuer  Xuân Hoài (theoSpiegel 16.8)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Mona Lisa vừa sinh con khi ngồi làm mẫu      Mona Lisa, người đàn bà bí hiểm trong bức kiệt tác của danh hoạ Leonardo da Vinci vào thế kỷ 16, ngồi làm mẫu lúc vừa sinh đứa con trai thứ 2, một chuyên gia mỹ thuật Pháp tuyên bố.    Phát hiện được thực hiện nhờ vào công nghệ hồng ngoại 3 chiều nhìn xuyên qua lớp sơn màu của tác phẩm.  Bruno Mottin tại Trung tâm nghiên cứu và phục chế của Bảo tàng Louvre, Pháp, cho biết khi kiểm tra kỹ lưỡng bức vẽ, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rõ rằng chiếc váy của Mona Lisa được phủ một lớp vải voan trong suốt.  “Kiểu váy choàng mỏng tang này là rất điển hình vào đầu thế kỷ 16, được những phụ nữ Italy mặc khi mang thai hoặc vừa mới sinh con. Đó là điều đến nay chưa từng biết bởi bức vẽ có màu tối và rất khó kiểm tra”.  “Giờ chúng ta có thể nói rằng Leonardo da Vinci đã vẽ bức hoạ để mừng sự ra đời của người con trai thứ 2 của Mona Lisa, vào khoảng năm 1503”.  Người phụ nữ trẻ với nụ cười nửa miệng đã được xác định là Lisa Gherardini, vợ của nhà buôn Francesco de Giocondo ở Florentine. Nàng có 5 người con.  Mottin cũng cho biết ngược với quan niệm thông thường của mọi người, người đẹp không để tóc xoã tự do mà thực tế đã đội một chiếc mũ tròn bao trùm cả đầu.  “Mọi người luôn viết rằng Mona Lisa để tóc xoã qua vai. Điều này khiến các lịch sử gia ngạc nhiên bởi để tóc xoã tự do trong thời Phục Hưng chỉ dành cho những cô gái trẻ và phụ nữ thấp kém”, ông nói.  Các chuyên gia từ Viện nghiên cứu quốc gia Canada cho biết bức hoạ hiện trong tình trạng rất dễ hư hỏng, nhưng nếu được bảo quản kỹ lưỡng sẽ không bị xuống cấp.  Các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ tìm hiểu rõ thêm về kỹ thuật “sfumato” – vẽ các sắc thái mờ hoà vào nhau để tạo nên hiệu ứng vầng hào quang. “Bức hoạ được tô vô cùng mỏng và phẳng, nhưng chi tiết của từng lọn tóc lại rất nổi bật. Vì vậy với chúng ta, kỹ thuật này vô cùng mới. Leonardo thực sự là một bậc thầy của chính mình”, nhà khoa học John Taylor nói.  (theo Reuters)  M.T.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỏng như giấy, chắc như thép      Các nhà khoa học của ĐH Michigan (Mỹ) vừa phát minh ra một loại nhựa trong suốt, mỏng như giấy mà chắc như thép.      Tính năng gần như hoàn hảo nhưng thành phần của nó rất đơn giản vì chỉ gồm đất sét và một loại keo không độc thường được sử dụng trong lớp học. Việc sản xuất và tiêu hủy cũng trên cả mong đợi: tốn rất ít năng lượng để sản xuất, chi phí khá rẻ và phân hủy nhanh nhờ vi khuẩn. Theo nhà nghiên cứu Nicholas Kotov, loại nhựa này có thể được dùng để giảm năng lượng cần đến khi phải tách khí trong các nhà máy hóa chất, cải thiện các kỹ thuật tinh vi như bộ vi mạch,  cảm biến đo lường y sinh và thậm chí một ngày kia sẽ tạo ra những chiếc xe thiết giáp mạnh và nhẹ hơn cho quân đội và cảnh sát.   Thủy Tùng      Author                Quản trị        
__label__tiasang MOSAiC: Bộ dữ liệu vô giá về hiện tượng ấm lên toàn cầu      Kéo dài một năm với tổng kinh phí 150 triệu USD, Đài quan sát nổi Đa ngành phục vụ Nghiên cứu Khí hậu Bắc Cực (MOSAiC) sẽ là chuyến thám hiểm Bắc Cực có quy mô lớn nhất và thời gian dài nhất để tìm hiểu tác động của hiện tượng ấm dần lên ở nơi này đối với cuộc sống con người.    Phần lớn cuộc thám hiểm sẽ diễn ra trên con tàu phá băng Polarstern của Đức. Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Vùng cực và đại dương Helmholtz, Đức.  Môi trường nghiên cứu khắc nghiệt  600 nhà nghiên cứu từ 19 quốc gia đang ráo riết chuẩn bị cho một cuộc thám hiểm khắc nghiệt với những đêm vùng địa cực, nơi thiếu ánh sáng Mặt trời, bão lớn và nhiệt độ có thể xuống tới mức gần âm 45oC. Đó là lý do tại sao nhà khoa học khí quyển Markus Rex, người dẫn đầu đoàn thám hiểm Bắc Cực, phải suy nghĩ đến tất cả những tình huống rủi ro với cuộc hành trình. “Chúng tôi lên kế hoạch cho toàn bộ những trường hợp có thể xảy đến, thậm chí là trường hợp khi bị lạc mất tàu,” ông nói, mặc dù ông không nghĩ rằng nó có thể xảy ra.  Khởi hành từ Tromsø, Na Uy vào ngày 20/9/2019, con tàu tự định vị theo dòng chảy qua các vùng địa cực, rồi thả trôi, neo vào tảng băng trong một năm, trôi dạt về phía Bắc đảo Greenland (Đan Mạch). Phần lớn cuộc thám hiểm sẽ diễn ra trên một tàu phá băng của Đức có tên Polarstern, nhưng bốn tàu phá băng hỗ trợ do Thụy Điển, Nga và Trung Quốc cung cấp sẽ định kỳ vận chuyển người, thiết bị, nhu yếu phẩm.  Những nhà khoa học tham gia vào chặng nghiên cứu diễn ra trong suốt đêm vùng cực sẽ phải tiến hành nghiên cứu của mình một cách cẩn trọng. Các nhà sinh thái học nghiên cứu thực vật phù du và tảo sẽ chỉ được sử dụng đèn phát ánh sáng đỏ (ánh sáng trắng có thể phá vỡ các mẫu hình theo mùa của chúng). Những người canh gác phải đeo kính bảo hộ nhìn đêm để theo dõi, đề phòng gấu Bắc cực. Những hoạt động vào ban ngày sẽ được tổ chức chặt chẽ để đảm bảo duy trì nhịp sinh học của tất cả các thành viên trên tàu.  Điều gì khiến cho chuyến đi nhọc nhằn này trở nên đáng giá?  Nhiệt độ Bắc Cực đang ấm dần lên, và nó không chỉ tác động đến những tảng băng trôi trên biển. “Bắc Cực là khu vực nơi rất nhiều yếu tố của thời tiết được hình thành,” Rex nói. “Hiểu rõ về Bắc Cực sẽ giúp chúng ta hiểu về các kiểu thời tiết trái mùa, khắc nghiệt.”  Sự tương phản giữa không khí lạnh và không khí nhiệt đới ấm áp ngay giữa cực, giúp  cho dòng tia cực (polar jet stream) thổi đều trên bán cầu Bắc. Khi sự chênh lệch nhiệt độ đó giảm xuống, dòng tia bị yếu đi, và một khối không khí lạnh xoáy được gọi là xoáy cực (polar vortex) có thể tạo ra những luồng không khí lạnh lẽo về phía Nam. Các chuyên gia cho biết, dòng tia yếu hơn này là một phần nguyên nhân của đợt rét đột ngột khiến nhiều vùng ở Hoa Kỳ lạnh hơn cả Bắc Cực trong mùa đông vừa qua. Nghiên cứu cũng còn chỉ ra mối liên hệ giữa một dòng tia yếu hơn với các đợt nóng kỷ lục và lũ lụt.  “Sau cùng, toàn bộ kế hoạch này là để cải thiện các mô hình khí hậu của chúng tôi,” Matthew Shupe, một nhà khoa học Trái đất tại Đại học Colorado và Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hệ thống Trái đất của Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), người tham gia vào cuộc thám hiểm, cho biết. “Chúng tôi sẽ nghiên cứu được nhiều hơn về các quá trình vật lý khí quyển, điều này sẽ giúp chúng tôi cải thiện khả năng dự đoán của mình,” ông nói.  Vào năm 2008, Shupe từng tham gia vào chuyến thám hiểm Bắc Cực kéo dài trong vòng sáu tuần, lần thám hiểm ấy ông cảm tưởng như công việc nghiên cứu đã kết thúc từ trước khi bắt đầu. Một năm sau đó, Shupe bắt đầu nung nấu ý định theo đuổi một hành trình thám hiểm Bắc Cực dài hơi trong vòng một năm. “Tôi không biết băng từ đâu đến [và] nó sẽ về đâu sau khi chúng tôi rời đi,” ông nói. Một năm thực hiện các phép đo chính xác và theo dõi các thay đổi theo mùa có thể cung cấp cho họ dữ liệu ban đầu cần thiết để tạo ra các mô hình khí hậu, qua đó cho chúng ta biết điều gì có thể xảy ra khi điểm cực của thế giới ấm lên.  Lần này Shupe sẽ quan sát các chòm mây. “Có rất nhiều điều kỳ thú về các đám mây ở Bắc Cực — các hiệu ứng bức xạ và hiệu ứng trên bề mặt nguồn năng lượng của chúng, những yếu tố đó sẽ quyết định đến các hiện tượng như đóng băng và tan băng,” ông cho biết.  Chúng ta sẽ được xem trọn vẹn những thước phim về cách các lớp băng được hình thành và phát triển,” Don Perovich, một nhà vật lý về băng biển ở Dartmouth, người tham gia vào chặng thứ năm của cuộc thám hiểm, cho biết. Ông muốn biết về những gì xảy ra với lượng nhiệt được đại dương hấp thụ. Liệu nó có làm tan chảy phần dưới của băng? Hay các cạnh bên của khối băng? Hoặc có thể nó bị mắc lại trong lòng đại dương, và rồi nó có thể sẽ gây ảnh hưởng đến sự hình thành băng vào năm sau đó, tạo ra một vòng lặp tuần hoàn, đẩy nhanh tốc độ ấm lên toàn cầu. “Đây là một câu hỏi mà tôi đã đặt ra từ khi viết luận án tiến sĩ vào năm 1983, tôi đã suy nghĩ về nó trong một thời gian dài,” ông cho biết.  Quá trình chuẩn bị của các nhà nghiên cứu  Nghiên cứu trên băng là một thách thức về thể chất, và trong trường hợp có tình huống khẩn cấp xảy ra trong hoặc ngoài tàu, những người tham gia không thể nhận được hỗ trợ ngay lập tức. Đó là lý do tại sao những người lên tàu Polarstern phải vượt qua một chương trình huấn luyện nghiêm ngặt, nơi họ được huấn luyện về chữa cháy, di tản bằng tàu mô phỏng, và thậm chí là sử dụng súng trường trong trường hợp bị gấu Bắc Cực tấn công.  “Tôi còn lạ gì những chú gấu Bắc Cực nữa,” Hans Honold, người phụ trách canh chừng gấu Bắc Cực cho chặng đầu tiên của chuyến đi, cho biết. Honold từng phục vụ trong lực lượng vũ trang Đức, về sau ông trở thành chuyên gia dẫn đường ở vùng núi và địa cực. Ông cho rằng đêm vùng cực có thể sẽ là thách thức về mặt tâm lý, nhưng quãng thời gian xa nhà kéo dài thì chắc chắn sẽ trở thành nỗi ám ảnh thường trực. Tại mỗi trạm nghiên cứu trên băng, Honold và nhóm của ông sẽ xây dựng một hàng rào dài hai dặm bảo vệ vòng ngoài. Ở đó, ông sẽ ngồi với kính bảo hộ nhìn đêm, chăm chú vào đường chân trời. Nếu phát hiện ra một con gấu, cả nhóm phải lập tức quay trở lại tàu. Nếu họ không có đủ thời gian, con tàu sẽ hú còi để hù dọa gấu.  Nếu khẩu súng bắn pháo sáng (không gây sát thương) và bình xịt hơi cay đều không có tác dụng, họ sẽ buộc phải sử dụng đến súng trường – phương án sau chót mà không một ai mong muốn, Honold nhấn mạnh. “Với một con gấu Bắc Cực, chúng ta không thể lường trước được điều gì,” ông cho biết. “Một số thì rất nguy hiểm, nhưng hầu hết chỉ tò mò và muốn biết chuyện gì đang diễn ra – ‘thứ này ăn được không nhỉ?’”  Những thử thách khác trong chuyến thám hiểm sẽ đến từ việc sống trong những khu vực bị đóng kín, phải chia sẻ không gian với người lạ và vượt qua quãng thời gian xa người thân. “Chúng tôi không có nhà tâm lý học nào trên tàu, nhưng những người dẫn đầu hành trình đã học qua một số khóa đào tạo để xử lý các tình huống căng thẳng cực độ và những người lâm vào trạng thái gần như khủng hoảng,” Rex nói. “Chúng tôi hiểu rằng mỗi người đều cần nương tựa vào nhau.  Polarstern còn được trang bị phòng tắm hơi, hồ bơi và phòng tập thể dục để lấp đầy những khoảng thời gian lãng phí ngắn ngủi.  Di sản cho thế hệ sau  Perovich ví cuộc thám hiểm MOSAiC với chuyến đi Bắc Cực nổi tiếng năm 1896 do nhà thám hiểm người Na Uy Fridtjof Nansen dẫn đầu, với tham vọng trở thành người đầu tiên đến Bắc Cực. Mặc dù không thành công, nhưng con tàu Nansen ngày trước đã trôi dạt theo cùng một dòng chảy mà Polarstern ngày nay sẽ thực hiện. Theo ông, “đây là cuộc thám hiểm lớn đầu tiên về Bắc Băng Dương, ở một Bắc Băng Dương khác hẳn mà chúng ta từng biết đến”.  “Di sản để lại chính là dữ liệu. Chúng tôi sẽ thu thập bộ dữ liệu đáng kinh ngạc này với hy vọng mọi người sẽ sử dụng nó trong nhiều thập kỷ tới.” ông nói thêm. “Chúng tôi mong muốn có thể dự đoán được những gì sắp xảy ra. Để làm được điều đó, trước tiên chúng tôi phải quan sát được những gì đang xảy ra, từ đó tìm hiểu lý do đằng sau những biến đổi đó.”  Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/environment/2019/09/inside-training-for-mosaic-largest-arctic-expedition-in-history    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một bí ẩn chưa có lời giải đáp      Não bộ con người có khoảng 100 tỷ neuron thần kinh, kết nối với nhau thông qua khoảng 100.000 tỷ sợi liên bào (synapse). Sự liên kết này giúp cho các neuron có thể thông tin qua lại lẫn nhau. Nhưng từ nhiều năm nay, có một nghịch lý vẫn làm đau đầu các nhà khoa học : Tốc độ truyền thông tin lớn hơn tốc độ truyền của các sợi liên bào – một bí ẩn chưa có lời giải đáp!        Não bộ phản ứng rất nhanh. Nó chỉ mất khoảng 120 mili giây để phản ứng lại một kích thích từ bên ngoài. Cơ chế hoạt động của nó có thể giải thích như sau. Khi một «neuron phát » phát tín hiệu đến một “ neuron nhận”, “neuron phát” sẽ phát ra một tín hiệu hoá học, truyền đi trong sợi liên bào, người ta gọi nó là một “tín hiệu neuron”. Và điều này sẽ kích thích « neuron nhận » sản sinh ra một tín hiệu mới, từ đó tiếp tục truyền đi khắp não bộ. Chỉ có điều, từ 10 năm nay, chúng ta vẫn cho rằng, sau khi tiếp nhận một  «tín hiệu neuron », «neuron nhận » sẽ phải thay đổi trạng thái, và do đó không kịp nhận một tín hiệu khác đến ngay tiếp theo trong khoảng thời gian một vài trăm mili giây, tương đương với tần số vài chục Hz. Tuy nhiên, chúng ta cũng lại biết là tần số truyền tin của sợi liên bào là vào khoảng 200 Hz, tương đương với cứ 5 mili giây một, nhanh hơn rất nhiều so với thời gian « neuron nhận » phải mất để trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Nghịch lý này có nguyên nhân từ đâu ? Mới đây, các nhà khoa học tại Bordeaux, Pháp đã kết hợp với các nhà thần kinh học người Đức và Mỹ để lý giải bí ẩn này.    Những nghiên cứu trên sát sợi liên bào  Quay trở lại thời điểm năm 2002, khi nhóm nghiên cứu của tiến sỹ (TS) Daniel Choquet, tại phòng thí nghiệm LPCS, đại học Bordeaux 2 công bố giả thiết mới: “neuron nhận” không đứng yên trên các sợi liên bào trong quá trình nhận “tín hiệu neuron”. Ngược lại, không như từ lâu chúng ta vẫn nghĩ, có vẻ như chúng chuyển động không ngừng. Liệu chúng ta có thể tìm ra quy luật của sự dịch chuyển? Nếu được, thì đó sẽ là một bước tiến dài trong quá trình khám phá não bộ. “Lúc đó, công nghệ đo của chúng tôi chưa đủ tinh vi để quan sát được khoảng cách từ 10 đến 40 nm giữa 2 neuron trên một sợi liên bào” – TS Choquet cho biết.  Và cuối cùng thì các nhà thần kinh học cũng nảy ra ý tưởng mới: kết hợp với nhóm nghiên cứu quang học tại phòng thí nghiệm CPMOH của TS Brahim Lounis, đại học Bordeaux 1.Và sau đúng 6 năm, họ đã thành công. “Khi nghiên cứu “neuron nhận” glutamat trên phần mã ngư (hippocampe) của chuột, nhờ một thiết bị đặc biệt, chúng tôi đã chứng minh được rằng các “neuron nhận” chuyển động rất nhanh trên các sợi liên bào” – TS Choquet nói. Để làm được điều này, các nhà khoa học đã dùng một kính hiển vi huỳnh quang – do nhóm của Brahim cung cấp – nhờ đó, giúp mắt người thường có thể định vị được nguyên tử ở cỡ nano mét. Để xác định chính xác quỹ đạo chuyển động của các “neuron nhận” glutamat, người ta cấy vào nó một loại kháng thể huỳnh quang, được gọi là các “hạt lượng tử” – là các tinh thể huỳnh quang bán dẫn cỡ nano. “Nó cũng như thể là bạn đeo vào các “neuron nhận” một hạt phấn màu” TS Cognet tại phòng thí nghiệm CPMOH so sánh. Kế theo đó là một loạt các thao tác: kích thích laser, sử dụng thiết bị quang học và các máy đo siêu nhậy, và cuối cùng khâu quan trọng và thú vị nhất: phân tích hình ảnh. “Tín hiệu chúng tôi đo được là vô cùng nhỏ, để phân tích chúng, quả là không dễ chút nào” – TS Cognet nhận xét. Nhưng dù sao thì sự hợp tác giữa các nhà vật lý và thần kinh học cũng đem lại thành quả: thí nghiệm đã chứng minh được giả thuyết chuyển động của các “neuron nhận” trên các sợi liên bào là đúng.  Cơ chế nào giúp các neuron có thể truyền thông tin liên tục?  Điều gì sẽ xảy ra nếu như “neuron nhận” được cố định? Liệu sự trao đổi thông tin trong não bộ có bị ảnh hưởng? Để thực kiểm chứng điều này, các nhà khoa học kích thích các “neuron nhận” bằng một chuỗi kích thích tần số cao (tương ứng với quá trình suy nghĩ, học bài hay đọc sách).  Trong trường  hợp  đó  thì “tốc độ truyền tin vẫn không bị chậm đi” – TS Choquet cho biết. Bởi ngay khi một “neuron nhận” bị dừng lại thì sẽ xuất hiện ngay một “neuron nhận” khác đến để tiếp nhận kích thích. “Phát hiện này là cơ sở để chúng ta hiểu kỹ hơn về một số hiện tượng bệnh lý có liên quan đến quá trình truyền thông tin trong các sợi liên bào, như bệnh động kinh hay Parkinson chẳng hạn” – TS Antonie Triller, nhà nghiên cứu về thần kinh học tại Đại học Sư phạm Paris cho biết. Nhưng đó vẫn chưa phải là hệ quả duy nhất “Từ thí nghiệm này, tôi nghĩ ta có thể nghiên cứu thêm cả về việc lưu trữ thông tin trong não bộ” – TS Choquet cho biết về các dự định sắp tới của nhóm nghiên cứu. Và bước tiếp theo sẽ là “Kiểm chứng lại giả thiết trên não bộ của động vật cỡ lớn hơn hoặc thậm chí đối với các mẫu động vật có mang bệnh lý về thần kinh.”   Dù sao đi nữa, thì từng đấy cũng đủ cho chúng ta một phát hiện thú vị.    Phạm Hiệp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một bóng ma trong không gian      Một nhà thiên văn nghiệp dư vừa phát hiện ra một loại thiên thể mới: một cấu trúc khí kỳ lạ, ở giữa có một lỗ thủng và được chiếu sáng bằng một ánh sáng của một chuẩn tinh đang bốc hơi !    Một số người gọi nó là “ma vũ trụ”, hay “Hanny voorwerp”, theo tên của người phát hiện ra nó là một giáo viên cấp 1 người Hà Lan tên là Hanny van Arkel.Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng đó là một cấu trúc gồm khí rất nóng và có vẻ như không chứa sao nào. Tuy nhiên nó sáng và phản xạ một thứ ánh sáng mầu xanh lục nhạt. Các nhà thiên văn học nghĩ rằng voorwerp trên thực tế phản xạ ánh sáng của một chuẩn tinh nằm trong thiên hà bên cạnh mang tên IC 2497 nhưng đã biến mất cách đây hơn 100.000 năm! Chỉ còn ánh sáng của nó là kéo dài cho đến ngày nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cách diễn giải mới về lịch sử      Sau hơn 3 năm chuẩn bị, Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia đặc biệt Dinh Độc Lập (Dinh), đã tổ chức khai trương Trưng bày “Từ Dinh Norodom đến Dinh Độc Lập” tại một tòa nhà duy nhất xây dựng từ thời Pháp thuộc còn tồn tại trong khuôn viên của Dinh. Cuộc trưng bày ngay từ khi ra mắt đã cuốn hút sự quan tâm của công chúng và của giới nghiên cứu lịch sử. PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa (VUSTA), người tư vấn chuyên môn cho Dinh Độc Lập sẽ chia sẻ về tính mới trong trưng bày này.      Khách tham quan Trưng bày sử dụng màn hình tương tác   Tại sao cuộc trưng bày “Từ Dinh Norodom đến Dinh Độc lập” (Trưng bày) lại có một sức cuốn hút đặc biệt với công chúng, giới nghiên cứu lịch sử và truyền thông như vậy. Tôi cho rằng đó chính là mang đậm trong mình những tính mới, những sự mới mẻ, tươi mới và cái đẹp trong trưng bày. Người ta không nhìn thấy ở trưng bày này những lối mòn, những gì cũ kỹ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc.Vậy tính mới thể hiện ở đâu trong trưng bày? Cái gì mới ở trưng bày này?  Nhìn đa chiều để tiệm cận nhất với sự thật lịch sử  Dinh Độc Lập có lịch sử 150 năm nhưng trưng bày này chỉ tập trung kể câu chuyện về 100 năm đầu, từ tòa nhà đầu tiên cho đến khi nền Cộng hòa đệ nhất sụp đổ. Dinh Độc Lập mới được xây dựng và khánh thành vào năm 1966, thời gian còn lại là câu chuyện ở toà nhà chính từ thời nền Cộng hòa đệ nhị cho tới khi chính thể này sụp đổ, Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, mở đầu cho một trang sử mới của Dinh Độc Lập.  Nét nổi bật của Trưng bày này chính là thực hành một cách diễn giải mới về lịch sử, một cách kể chuyện mới về những sự kiện lịch sử. Những người làm trưng bày cố gắng không nhìn những sự kiện lịch sử một chiều, mà nhìn một cách đa chiều, đa dạng để có thể tiệm cận gần nhất với sự thực lịch sử. Chẳng hạn như trưng bày có cách nhìn chế độ thuộc địa đa chiều hơn, đa dạng hơn; không chỉ nhìn thấy chế độ thực dân thuần tuý bóc lột, sưu cao thuế nặng, đàn áp, bắt bớ mà thấy cả ở khía cạnh phát triển và du nhập văn hóa Đông – Tây. Trưng bày cho thấy người Pháp đã chăm chút vào việc xây dựng, phát triển thành phố Sài Gòn nói chung và Dinh Độc Lập nói riêng như thế nào.  Những quyết sách từ người đứng đầu Dinh này đã làm thay đổi bộ mặt Sài Gòn, biến Sài Gòn thành một thành phố thuộc địa, một thành phố hiện đại. Sài Gòn được quy hoạch với một tầm nhìn xa. Một hệ thống xe điện được xây dựng ngay từ năm 1881 và ngày càng mở rộng, từ một tuyến phát triển thành hai tuyến xe chạy khắp Sài Gòn và Chợ Lớn. Người xem cũng được giới thiệu trong trưng bày này những gương mặt đại diện cho Sài Gòn đầu thế kỷ 20. Trưng bày giới thiệu lịch sử thay đổi và phát triển của chỉ một con phố – đường Nguyễn Huệ nổi tiếng ngày nay mà ban đầu chỉ là một đường đất ven kênh Sài Gòn, sau thành Đại lộ Charner.  Người xem cũng nhận thấy sự đa dạng của các gương mặt Sài Gòn đầu thế kỷ 20, ở đó không chỉ giới thiệu những nhà cách mạng như Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, mà cả đại diện giới trí thức như Trương Vĩnh Ký, doanh nhân thành đạt như Trương Văn Bền hay một điền chủ, người đã cộng tác với thực dân Pháp như Đỗ Hữu Phương. Một gương mặt đại diện cho giới phụ nữ đương thời, bà Sương Nguyệt Anh cũng được giới thiệu một cách trang trọng.  Các sự kiện lịch sử bao giờ cũng được những người làm trưng bày chú trọng nhìn nhận để giới thiệu sự việc không biệt lập, không cô độc mà luôn gắn trực tiếp với bối cảnh lịch sử chính trị rộng lớn hơn, giúp người xem liên tưởng và hiểu cặn kẽ hơn các diễn biến lịch sử trong điều kiện nào. Chẳng hạn, khi đề cập đến buổi đầu của chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương, trưng bày giới thiệu một bức ảnh về nước Pháp đã bị thất bại ê chề trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ với việc Hoàng đế Pháp Napoleon đệ tam bị bắt và nộp gươm cho Hoàng đế Phổ Wilhelm I (năm 1871). Khi nói về Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, khách tham quan có thể tiếp cận với những bức ảnh suốt dọc tường cầu thang với các sự kiện đa dạng diễn ra như sự hình thành trục phát xít Đức, Ý, Nhật; quân Nhật đổ bộ vào Việt Nam; Cách mạng Tháng Tám; thành lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chính quyền quốc gia; Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Geneve… Đó chính là bối cảnh giúp người xem liên tưởng, hiểu các sự kiện lịch sử trong mối liên hệ với những diễn biến chính trị thế giới từ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến bối cảnh chính trị nước ta dẫn đến việc hai miền Nam Bắc tạm thời bị chia cắt.  Khi nói về cuộc đảo chính dẫn đến cái chết của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, người xem lại được tiếp cận với bối cảnh chính trị vô cùng phức tạp ở miền Nam lúc đó như sự lớn mạnh của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với chiến thắng Ấp Bắc, sự mâu thuẫn đến đỉnh điểm của các tầng lớp nhân dân, của giới Phật giáo với chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm, sự bất mãn của các tướng lĩnh cũng như mối quan hệ rạn nứt giữa Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ…    Khách tham quan trước hình ảnh gia đình họ Ngô  Mục tiêu chủ đạo trưng bày trên toàn bộ tầng 2 là muốn giúp khách tham quan trả lời câu hỏi chế độ Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm đã được hình thành như thế nào và vì sao nó lại mau chóng bị sụp đổ? Các phòng trưng bày được sắp xếp từ Gia đình trị, Cuộc chiến tranh giành quyền lực, Cà phê Sài gòn và Ấp Chiến lược đến Các cuộc đảo chính là cách dẫn dắt du khách đi theo tiến trình lịch sử, đồng thời cũng cho thấy những nguyên nhân, những mâu thuẫn trong chế độ ấy hình thành, rồi dần dần lên đến cực điểm, cuối cùng dẫn đến cái chết thê thảm của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm.  Nhân đây, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng những người làm trưng bày luôn muốn giúp người xem tìm thấy được cái mới trong những sự việc cũ. Chọn lọc tư liệu, hình ảnh là rất quan trọng. Trưng bày cố gắng không đưa ra những hình ảnh lặp lại, cũ, nhất là quá quen thuộc với người xem mà tìm tòi và đưa ra những hình ảnh mới, tạo cảm nhận mới. Tìm, lựa chọn những hình ảnh mới, sao cho không thấy trưng bày là sáo mòn, lặp lại những bức ảnh ở đâu đó, ở bảo tàng hay bất cứ triển lãm nào cũng thấy.  Chú trọng trải nghiệm của người xem    Trưng bày này hầu như không có hiện vật khối. Trong Dinh không lưu giữ được những hiện vật từ thời Pháp và thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, một phần bởi thời gian đã quá xa và một phần bởi sau khi Dinh bị ném bom vào năm 1962, Văn phòng Tổng thống đã chuyển hết sang Dinh Gia Long, Dinh cũ bị san bằng để xây dinh hoàn toàn mới. Trong khi đó, Trưng bày lại muốn hướng nhiều đến giới công chúng trẻ – vốn luôn đòi hỏi một cái gì mới mẻ, hấp dẫn và trực tiếp được trải nghiệm. Trong bối cảnh ấy, việc lựa chọn công nghệ là một giải pháp hợp lý nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức như dùng công nghệ để chuyển tải câu chuyện như thế nào cho hấp dẫn, không đơn điệu. Trưng bày đã lựa chọn hai phương thức, trình chiếu video clip và màn hình tương tác. Trong phòng trưng bày về chế độ gia đình trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm người xem được trải nghiệm trước một màn hình lớn trình chiếu liên tục những hình ảnh của các thành viên gia đình họ Ngô, gồm cả gia đình thông gia tham gia các hoạt động trong đời sống chính trị ở Sài Gòn thể hiện đậm nét tính gia đình trị – mà đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự mâu thuẫn và sụp đổ của chế độ này. Một màn hình khác người xem có thể tự chọn những chủ đề khác nhau nói về chế độ gia đình trị này.  Tự trải nghiệm và khám phá trên màn hình cảm ứng là một hoạt động quan trọng trong trưng bày. Mỗi màn hình có hai lựa chọn chính (nội dung và trò chơi). Trong thực đơn về nội dung lại có nhiều lựa chọn dành cho những người xem muốn tìm hiểu thông tin sâu về các sự kiện. Chẳng hạn trong phần Đời sống Sài Gòn có một màn hình cảm ứng, khách có thể tự tìm chọn để nghe những video clip kể về từng nhân vật tình báo như Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Trần Kim Tuyến và Rufus Phillips mà mình quan tâm. Hoặc ở một màn hình khác khách có thể tự chọn để xem về lịch sử Ấp Chiến lược hay đời sống của Sài Gòn khi văn hóa Mỹ bắt đầu tràn vào…  Cách trưng bày truyền thống với những tấm ảnh, tài liệu cùng với các thông tin đi kèm đã được đổi mới với những thủ pháp trưng bày về đồ họa hoàn toàn mới mẻ, bắt mắt. Trưng bày ưu tiên cái đẹp. Các bức ảnh chất lượng cao được phóng to tạo cảm giác thực. Trên một số mảng tường, chữ viết, các con số năm tháng được in to đập ngay vào mắt và gây sự chú ý với người xem.  Tránh sự nhàm chán, đơn điệu trải nghiệm là một yêu cầu cao đặt ra với trưng bày này. Do vậy, người xem được khuyến khích và có nhiều cơ hội thực hành tương tác ngay trong trưng bày. Các sự kiện, hiện vật được nêu ra với nhiều góc cạnh khác nhau giúp người xem tự chiêm nghiệm, suy nghĩ. Có những hiện vật không được phô bày trực tiếp nhưng mỗi khi người xem tác động vào một điểm nào đó trên mặt tủ thì cánh tủ tự bật ra, bất ngờ xuất hiện một hiện vật mang tính đại diện gắn với nhân vật trên bức ảnh như một khẩu súng ổ quay với Trần Lệ Xuân, một gạt tàn thuốc lá với Ngô Đình Nhu, một cơi trầu với Ngô Đình Cẩn, một máy ảnh với Ngô Đình Diệm.  Bảo tồn không gian di sản  Khách thăm Trưng bày “Từ Dinh Norodom đến Dinh Độc lập” không những khám phá nội dung lịch sử mà còn được thưởng thức không gian của một tòa nhà được xây dựng từ thời thuộc địa. Những người làm trưng bày ngay từ đầu đã có ý thức và tổ chức cách làm để cho việc trang trí nội thất và trưng bày không ảnh hưởng đến cấu trúc của tòa nhà di sản. Có nhiều giải pháp để trưng bày không can thiệp vào di sản kiến trúc như giữ nguyên các buồng và hành lang của tòa nhà; việc sử dụng các tấm trưng bày bằng kính mà người làm đồ họa thể hiện sao cho người xem vẫn có thể nhận ra những đường nét của các cửa chớp xưa được nhìn xuyên từ kính hay đặt khéo vừa vặn vào khuôn cửa sổ; các hoa văn trang trí xưa được làm nổi bật với sắc màu trắng; cầu thang và cửa sổ kính lấy ánh sáng được giữ nguyên vẹn… Trong bối cảnh nhiều ngôi nhà cũ có giá trị di sản kiến trúc dễ dàng bị phá hủy hay làm biến dạng hiện nay thì cách tôn trọng kiến trúc xưa trong trưng bày này như một tính mới, một lời kêu gọi hay một mẫu mực về sự cần thiết phải biết tôn trọng những di sản kiến trúc khi sử dụng hay tu bổ di tích.  Trưng bày đã sử dụng khá thành công cách tiếp cận đa giọng nói. Các câu chuyện lịch sử được diễn giải không chỉ nói giọng – tức các quan điểm chính thống của nhà nước, của những người làm bảo tàng mà còn được kể thông qua giọng nói của những người trong cuộc hay những nhà báo đương thời… Đó là những quan chức người Pháp như Paul Doumer, cựu Toàn quyền Đông Dương, Tổng thống Mỹ Kennedy, hay một cựu nhân viên tình báo Mỹ. Những lời nói trực tiếp thể hiện quan điểm của Tổng thống Ngô Đình Diệm, của tướng tá chính quyền Sài Gòn, hay của nhà báo Mỹ… trước những sự kiện lịch sử cho thấy tính khách quan của diễn giải lịch sử. Chẳng hạn trong giờ phút gay cấn của cuộc đảo chính năm 1963, Trưng bày đã trích câu nói của Ngô Đình Diệm: “Tôi ra lệnh cho tất cả quân đội không được nghe lệnh của ai ngoại trừ lệnh của tôi mà thôi” hoặc “Tôi sẽ không đi đâu hết. Tôi sẽ đến Tổng hành dinh… Tổng thống không bao giờ bỏ chạy”. Hoặc Tướng trẻ Tôn Thất Đính tuyên bố về lý do đảo chính: “Diệm bất nhẫn và trắng trợn lừa dối chúng tôi”.  Tài liệu giấy và ảnh là nguồn hiện vật quan trọng nhất của Trưng bày này. Những người làm trưng bày đã rất công phu khai thác các nguồn lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 2 ở TP. HCM lưu giữ nhiều tư liệu, hình ảnh cả của chính quyền thời thuộc địa lẫn chính quyền Việt Nam Cộng hòa; Trung tâm Việt Nam ở Đại học Texas, Hoa Kỳ đã sưu tầm và lưu giữ rất nhiều tài liệu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam của chính quyền Mỹ, của cựu binh Mỹ, của truyền thông… Nhờ cố gắng vượt bậc trong việc sưu tầm tư liệu cho nghiên cứu – trưng bày và lại có cái nhìn mở nên trưng bày đã sử dụng hiệu quả nhiều tài liệu mới, có những tài liệu, bức ảnh lần đầu tiên được công bố ở trong nước. Hầu hết các bức ảnh được trưng bày là những bức ảnh gốc phản ánh chân thực và sống động những sự kiện của câu chuyện được kể. Cho nên trưng bày giúp người xem có cái nhìn sự kiện, sự vật, nhân vật từ nhiều góc cạnh. Mỗi người có thể ngẫm nghĩ, suy tư và tự cảm nhận từ câu chuyện được dẫn dắt này theo nhãn quan riêng của mình. Để đảm bảo tính trung thực của lịch sử các sự kiện, tư liệu, hình ảnh nêu ra trong trưng bày đều được kiểm chứng từ tư liệu gốc hoặc được sự thẩm định của các chuyên gia có thẩm quyền ở từng chuyên ngành. Có thể nói lần đầu tiên một cuộc trưng bày bảo tàng thực hiện nghiêm chỉnh việc tôn trọng luật bản quyền. Các ảnh, tư liệu lịch sử được sử dụng đều có nguồn gốc hoặc mua bản quyền. Trưng bày sử dụng ảnh gốc, tuyệt đối không dùng ảnh copy lấy trên mạng hay sao chép tùm lum từ sách báo. Ảnh, tư liệu đa phần đều lấy từ lưu trữ; vì vậy, chất lượng hình ảnh rõ nét, có thông tin chính xác.     Nguồn ảnh trong bài: Nguyễn Văn Huy    Author                Nguyễn Văn Huy        
__label__tiasang Một chuyến phiêu lưu kỳ thú      Chúc mừng tất cả các bạn đang cầm trong tay cuốn sách “Tế bào gốc: Khám phá cùng nhà khoa học” của tác giả Paul Knoepfler. Tôi tin rằng, cũng giống như tôi, bạn sẽ thấy đây là cuốn sách khoa học thú vị, hấp dẫn và hữu ích nhất trong lĩnh vực y học và sức khỏe mà bạn từng được đọc!      Là một người ngoại đạo đối với nhóm ngành khoa học về sức khỏe, tôi khá ngạc nhiên khi được mời đọc và viết lời giới thiệu cho bản dịch cuốn sách này. Điều tôi lo ngại nhất là tôi sẽ không có đủ hiểu biết chuyên ngành để hiểu rõ những thông tin chứa trong cuốn sách, từ đó sẽ cảm thấy nó khô khan, khó đọc, khó hiểu.  Nhưng không, tôi đã nhầm. Cuốn sách lôi cuốn tôi từ những lời giới thiệu của chính tác giả cuốn sách, Tiến sĩ Paul Knoepfler, cái tên mà giờ đây đã trở thành nổi tiếng khắp thế giới trong lĩnh vực tế bào gốc. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn đề cập ở đây. Suy cho cùng, trên thế giới này đâu phải chỉ có một mình Paul Knoepfler có những nghiên cứu hoặc viết sách về tế bào gốc. Điều làm cho cuốn sách của ông đặc biệt hữu ích, hấp dẫn và thú vị nằm ở chỗ khác. Ông không chỉ viết nó với tư cách một nhà khoa học, mà còn nhiều hơn thế.  Dựa trên những trải nghiệm cá nhân của một người đã chiến đấu để vượt qua căn bệnh ung thư, Paul Knoepfler đã đưa ra một góc nhìn vừa sâu sắc vừa gợi mở. Không chỉ đơn thuần trình bày những thành tựu khoa học mới nhất và các vấn đề còn cần tiếp tục khai phá  với những người trong ngành, cuốn sách của ông còn nhằm tiếp cận và giáo dục cộng đồng, đặc biệt là các bệnh nhân và gia đình của họ, về những tiềm năng cũng như nguy cơ và thách thức xoay quanh việc điều trị bằng tế bào gốc. Sự kết hợp độc đáo này không phải tác giả nào cũng có thể dễ dàng làm được.  Với tổng cộng 14 chương, cuốn sách đã đưa chúng ta vào thế giới bí ẩn lạ lùng của tế bào gốc, những tế bào nằm ngay trong cơ thể của chúng ta, từng phút từng giây âm thầm định đoạt chất lượng cuộc sống và cả sinh mạng của chúng ta, nhưng chúng ta lại biết quá ít về chúng. Cuốn sách đã giới thiệu cho chúng ta những tiềm năng to lớn trong việc cải thiện cuộc sống của con người mà những đóng góp mới của khoa học trong lĩnh vực tế bào gốc đang mở ra – từ việc điều trị những căn bệnh gây biết bao đau khổ cho con người như ung thư, tự kỷ, Alzheimer, đến việc làm chậm quá trình lão hóa – và, tại sao lại không nhỉ, hiện thực hóa ước mơ “cải lão hoàn đồng” đã đeo đẳng nhân loại từ ngàn xưa.  Từ những ước mơ xa vời đó, tác giả đưa chúng ta về thực tại bằng những lời cảnh báo về các nguy cơ và những vấn đề đạo đức trong việc sử dụng tế bào gốc để điều trị cho bệnh nhân. Thậm chí, một dự luật còn được đưa ra trình bày và thảo luận nhằm lôi kéo những người có thẩm quyền về pháp luật quan tâm đến việc bảo vệ bệnh nhân tế bào gốc khỏi những hành vi trái đạo đức của những người khai thác sự thiếu hiểu biết của bệnh nhân và công chúng nói chung để trục lợi cho riêng mình.  Nhưng thôi, tôi không nên nói thêm về nội dung cuốn sách, vì cần phải để cho độc giả tự khám phá. Tôi chỉ muốn dành những lời cuối cùng cho nhóm dịch giả. Phải nói rằng việc dịch thuật một cuốn sách vừa có tính khoa học cao lại vừa nhắm đến một đối tượng độc giả đa dạng như thế này là một việc làm vô cùng khó khăn mà người ta chỉ có thể làm được vì tình yêu. Bản dịch của cuốn sách đã bộc lộ rõ tình yêu ấy lớn lao như thế nào, thể hiện qua sự cẩn trọng trong việc chọn lựa từng câu từ, từng cách diễn đạt, từng dòng chú thích, từng thuật ngữ khoa học và y học cùng sự tôn trọng độc giả, dễ thấy nhất là ở phần danh mục tra ngược thuật ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Là một người làm việc trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và thường xuyên gặp khó khăn với cách dùng thuật ngữ không thống nhất tại Việt Nam, tôi cho rằng bản dịch này là một đóng góp to lớn của nhóm dịch giả vào việc thúc đẩy phát triển khoa học và ngôn ngữ học thuật của nước nhà – một nỗ lực và một thành tựu đáng ca ngợi.  Nào, các bạn còn chờ gì nữa, chúng ta hãy nhanh chóng bước vào để khám phá thế giới bí ẩn lạ lùng của tế bào gốc, với sự dẫn dắt của một người trong nghề. Chúc các bạn có một chuyến phiêu lưu kỳ thú.    GS Paul S. Knoepfler (sinh năm 1967) là một nhà sinh vật học, tác giả và blogger người Mỹ. Ông là giáo sư môn Sinh học tế bào và Giải phẫu người, Trung tâm Nghiên cứu Ung thư và Trung tâm Gene thuộc trường Y, Đại học California, Davis. Năm 2013, Knoepfler được mệnh danh là một trong 50 người có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực tế bào gốc.  Nghiên cứu của Paul S. Knoepfler tập trung vào iệc tăng cường sự an toàn của các phương pháp điều trị tế bào gốc và phát triển các liệu pháp mới để nhắm vào các bệnh ung thư, đặc biệt là các khối u não. Phòng thí nghiệm của ông nghiên cứu về Myc (trong hệ gene của con người, Myc nằm trên nhiễm sắc thể số 8, việc nghiên cứu Myc đang được coi là chìa khóa đầy hứa hẹn cho các loại thuốc chống ung thư) và các yếu tố khác nhằm điều chỉnh tế bào gốc và chất nhiễm sắc của tế bào ung thư.  Không chỉ đóng góp cho xã hội bằng các nghiên cứu học thuật, Knoepfler còn nỗ lực mang kiến thức y học đến với đại chúng thông qua một loạt các phương tiện truyền thông từ xuất bản sách khoa học thường thức, báo, đài cho đến mạng xã hội. Blog của ông (http://www.ipscell.com) đã giải đáp hàng loạt những thông tin không đúng sự thật về tế bào gốc, ví dụ như công bố những sự thật về sự bùng nổ của mỹ phẩm tế bào gốc hay phanh phui vụ gian lận của Hisashi Moriguchi ở Nhật Bản, người tuyên bố đã cấy tế bào gốc đa tiềm năng cảm ứng (induced pluripotent stem – iPS) vào cơ thể người vào năm 2012 và từng là ứng cử viên đứng thứ ba cho giải Nobel Sinh học năm 2012.    Author                Vũ Thị Phương Anh        
__label__tiasang Một chuyến thăm viện Toán học      LTS: Vào tháng 6/1978, vợ chồng giáo sư Neal Koblitz tới Việt Nam từ Moscow, nơi ông làm việc trong khuôn khổ chương trình trao đổi giữa hai Viện Hàn lâm khoa học của Mỹ và Liên bang Xô viết. Với một tháng ở Hà Nội, giáo sư Neal Koblitz tham gia giảng dạy tại Viện Toán học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam hiện nay). Tia Sáng trích đăng bài viết của giáo sư Neal Koblitz về chuyến tới Việt Nam này.      Phòng Tô pô – Hình học và khách tại cơ sở Đội Cấn-Ba Đình, năm 1981. Từ phải: Nguyễn Sỹ Minh, Lê Dũng Tráng, Ngô Việt Trung, Lê Văn Thành, Nguyễn Hữu Đức, Hà Huy Vui, Hoàng Tụy, Kyoji Saito, Huỳnh Mùi (ĐH Tổng hợp Hà Nội).  Sau khi tới Hà Nội, tôi đã thực hiện ngay cuộc đến thăm Viện Toán học.   Sau khi đi qua lăng Hồ Chủ Tịch và ngôi chùa hình bông sen mang tên chùa Một Cột, tôi nhìn lại vào tấm bản đồ Hà Nội của mình và địa chỉ của Viện Toán học: 208-D Đội Cấn. Trong chốc lát, khi đã bỏ lại sau lưng những khu phố với những đại lộ, đại sứ quán, những tượng đài, tòa nhà chính phủ, tôi dừng lại trên một khu phố hẹp và nườm nượp những chiếc xe đạp, trẻ em, những con gà, vũng nước, những người tiểu thương buôn bán rau quả. Dù tấm biển chỉ đường ghi rõ là phố Đội Cấn nhưng tôi bắt đầu nghi ngờ việc có thể tìm thấy Viện Toán học ở đây – nơi mà vài chục cựu sinh viên của Nevanlinna, Grothendieck, Hatori, Babbitt, Harish-Chandra, Kirillov, Manin, Sinai, Oleinik, Markov, Fomenko, Gelfond, Sukharov, Shilov, Kurosh, Efimov, Ivanov, làm việc? Nhưng đi tiếp khoảng một cây số, tôi bước vào một lối dành cho xe vào nhà có số 208-D và nhìn thấy một dãy các ngôi nhà một tầng xây bằng đá của Viện Toán học.   Đến Viện Toán học, tôi được biết rằng viện trưởng, giáo sư Lê Văn Thiêm, người đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc xin thị thực vào Việt Nam, vẫn đang đi công tác ở TPHCM (Sài Gòn cũ). Người sẽ đón tiếp chúng tôi trong cả ba tuần ở Hà Nội là trợ lý của ông Thiêm, Vương Ngọc Châu, một người làm toán ứng dụng trẻ tuổi. Anh Châu đến cùng một người bạn, đồng nghiệp của tôi là Hà Huy Khoái. Khoái vừa trở về Việt Nam sau khi hoàn thành một luận văn thú vị trong lĩnh vực của tôi, giải tích p-adic. Khoái và một cựu sinh viên của Kirillov, Đỗ Ngọc Diệp, đang lên kế hoạch tổ chức một seminar về giải tích p-adic, và đề nghị tôi giảng bài trong những buổi đầu.   Nghiên cứu toán học ở Việt Nam  Tôi trình bày sáu báo cáo, mỗi bài ba tiếng, tập trung chủ yếu vào những nghiên cứu gần đây về L-hàm và hàm Gamma p-adic, và sau đó trình bày một bài tổng quan dài hai tiếng về một số kết quả mới trong lý thuyết số đại số. Tôi giảng bài bằng tiếng Nga, Khoái giúp tôi dịch sang tiếng Việt (ở Viện Toán học, các ngôn ngữ châu Âu có nhiều người thông thạo nhất theo thứ tự là tiếng Nga, tiếng Anh, và tiếng Pháp.) Có khoảng bảy, tám nhà toán học trẻ đã lắng nghe toàn bộ các bài giảng 18 tiếng của tôi. Họ giúp nhau theo dõi chi tiết bài giảng và đã đặt ra một số câu hỏi có chiều sâu xoay quanh bài nói. Đáng ngạc nhiên là ở Việt Nam, không chỉ có một ai đó, mà có đến bảy, tám người, quan tâm đến một ngành toán học tương đối bí hiểm, chỉ có “ứng dụng” trong lý thuyết số và hình học đại số. Giải tích p-adic chưa bao giờ giúp bất cứ ai xây dựng nhà máy hay cơ giới hóa nông nghiệp!     Vợ chồng giáo sư Neal Koblitz (bên phải) tại trụ sở Viện Toán học. Nguồn: Viện Toán học.  Toán học Việt Nam tập trung chủ yếu vào các ngành có ứng dụng thực tế. Những ngành trọng điểm được nêu ra tại Hội nghị Toán học toàn quốc năm 1971 gồm có:   (1) khoa học máy tính, lý thuyết thông tin, giải tích số, toán rời rạc (các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực này của Việt Nam gồm có Phan Đình Diệu, Phạm Trà Ân, Tạ Văn Đĩnh, Phan Văn Hạp);  (2) giải tích toán học, tối ưu hóa (Hoàng Tụy, Bùi Công Cường, Phạm Hữu Sách);   (3) xác suất thống kê (Trần Vinh Hiển, Nguyễn Văn Hộ, Hoàng Hữu Như);   (4) giải tích, phương trình đạo hàm riêng, vật lý toán (Lê Văn Thiêm, Phan Văn Chương, Đỗ Hồng Tân, Nguyễn Đình Trí, Nguyễn Thừa Hợp, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Đặng Đình Áng, Tôn Thất Long);   (5) tôpô, hình học đại số (Hoàng Xuân Sính, Đoàn Quỳnh, Lại Đức Thịnh, Nguyễn Văn Khuê, Trần Văn Hạo, Huỳnh Mùi, Phạm Ngọc Thao, Nguyễn Hữu Anh).  Tuy nhiên người ta không áp đặt máy móc các mục tiêu trọng điểm này: những hướng nghiên cứu hiện có dường như cũng phụ thuộc vào việc những nhà toán học nước ngoài nào đã đến thăm, hay những nhà toán học Xô viết và Đông Âu nào đã hướng dẫn luận án phó tiến sĩ1 cho các sinh viên được cử đi du học. Minh chứng cho điều này có các lĩnh vực như đại số, nhóm Lie, lý thuyết biểu diễn, lý thuyết số, logic hình thức, tuy không nằm trong danh sách ưu tiên kể trên nhưng xuất hiện trong các seminar và các bài báo nghiên cứu. Một nguồn ảnh hưởng quan trọng nữa đối với sự phát triển của toán học Việt Nam là những nhà toán học người Việt làm việc ở nước ngoài nhưng thường xuyên ghé thăm Hà Nội (phần lớn ở Pháp và Canada). Lĩnh vực nghiên cứu của họ bao gồm: xác suất (Bùi Trọng Liễu, Nguyễn Xuân Lộc), hình học đại số và hình học giải tích (Lê Dũng Tráng, F. Phạm), giải tích phức (Nguyễn Thanh Vân), lý thuyết thông tin (Hoàng Hữu Tuệ), toán kinh tế (Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Hải Học).      Những người làm toán được coi trọng cũng còn vì một lý do thực tế hơn. Người Việt Nam đang dồn sức để phát triển khoa học và công nghệ với sự quyết tâm và nhiệt huyết họ đã dành cho ba thập kỷ chiến tranh giành độc lập.      Sự tôn trọng toán học   Các nhà toán học Việt Nam sống ra sao? Ở hầu hết các nước nghèo, giới trí thức thuộc về một tầng lớp có đặc quyền cao: ví dụ các nhà nghiên cứu tại Viện Tata có cuộc sống tốt hơn hẳn so với mức trung bình của người dân Ấn Độ. Tình thế hoàn toàn khác ở Việt Nam, nơi các nhà toán học sống gần giống như những người dân thường. Mức lương của một phó tiến sĩ toán là 90 đồng/tháng (30USD). Đó có thể là mức lương thấp nhất được trả cho một người làm toán trên thế giới. Nhưng sự trọng thị của người Việt đối với giới trí thức quả là đáng kinh ngạc. Xác suất một người Việt bình thường biết đến Lê Văn Thiêm cũng khoảng bằng xác suất một người Mỹ bình thường biết đến những ngôi sao điện ảnh hay những vận động viên nổi tiếng. Một hôm, khi Ann đang ở trong phòng của khách sạn Thắng Lợi, một số nhân viên dọn phòng đến trò chuyện với cô, nửa bằng tiếng Anh, nửa bằng tiếng Việt (Ann và tôi có một vốn tiếng Việt sơ đẳng). Khi biết tôi là giáo sư ở Mỹ, các nhân viên đó đã ôm chầm lấy và chúc mừng Ann vì cô có một người chồng làm một công việc cao quý đến như vậy. Do đó, dù có thể thấy rất khổ sở nếu phải sống và làm việc trong điều kiện thiếu thốn như các nhà toán học Việt Nam, các nhà toán học phương Tây có lý do để ghen tỵ với các đồng nghiệp Việt Nam vì sự tôn trọng họ nhận được từ những người dân Việt.   Viện Toán học có khoảng năm mươi nghiên cứu viên, hầu hết đều làm luận án ở nước ngoài; thực tế một phần đáng kể những người quay trở về Việt Nam sau khi có bằng phó tiến sĩ trở thành nghiên cứu viên của viện. Tuy không phải giảng dạy, mỗi năm họ phải báo cáo về tiến độ nghiên cứu của mình. Một số người tham gia giảng dạy ở đại học, và được trả lương tỷ lệ thuận với thời gian đứng lớp. (Viện Toán nhất định đề nghị trả tiền cho 20 giờ giảng bài của tôi, với mức thù lao rất hào phóng theo tiêu chuẩn Việt Nam:150 đồng tất cả). Điều đáng nói là Việt Nam sẵn sàng tài trợ cho một viện có quy mô lớn như vậy, với nhiều nghiên cứu viên không tham gia giảng dạy, dù chỉ với mức lương thấp 90 đồng/tháng. Việc tôn trọng giới trí thức có một phần nguyên nhân truyền thống. Những truyền thống đó phần nào giải thích tại sao, trong số các sinh viên đến từ các nước đang phát triển đến học tập tại Moscow, sinh viên Việt Nam thường là những người chăm chỉ và thành công nhất. Một nhà toán học trẻ người Việt từ Moscow trở về sau khi hoàn thành luận án phó tiến sỹ có thể cảm thấy hân hoan như những tiến sĩ của các kỳ thi của triều đình trong lịch sử. (Trong thực tế, dường như rất nhiều thành viên của Viện Toán được sinh ra trong một gia đình có nhiều thế hệ trí thức, có lẽ trong vài trường hợp họ còn là con cháu của các vị tiến sỹ của các kỳ thi của triều đình ngày xưa).   Lên kế hoạch cho tương lai  Một hôm Châu và Khoái nói với tôi rằng Việt Nam đã gia nhập Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế của Khối Xã hội Chủ nghĩa), Việt Nam cùng với Cuba và Mông Cổ là những thành viên duy nhất không thuộc châu Âu. Châu và Khoái rất hài lòng với những tin tức này, bởi vì nó sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kinh tế Việt Nam.   Các nhà toán học không muốn nhắc đi nhắc lại chuyện trong quá khứ. Họ lên kế hoạch cho tương lai. Và để đi tới tương lai, họ cần sách báo, tạp chí, tiền ấn phẩm, và những cộng tác chuyên môn với các đồng nghiệp phương Tây. Họ không có ngoại tệ để trả cho những thứ đó, nhưng đổi lại họ có thể cung cấp quyền đặt báo dài hạn tạp chí Acta Mathematica Vietnamica, trong đó có các bài báo nghiên cứu tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga. Hầu hết các tác giả là người Việt, nhưng đôi khi cũng có đóng góp của các nhà toán học nước ngoài (tập 2 của tạp chí xuất bản năm 1977 có đăng một bài báo quan trọng của Hironaka “Bimeromorphic smoothing of a complex analytic space”). Đã có khá nhiều nhà toán học phương Tây đến thăm Viện Toán học Hà Nội trong những năm vừa qua. Phần lớn là người Pháp (Grothendieck, Martineau, Chenciner, Malgrange, Krickeberg, L. Schwartz, M. H. Schwartz, Dacunha-Castelle, Cartier, Verdier, Tartar), nhưng cũng có cả những người Nga (Lavrentiev, Girsanov, Dorodnitsin), hai người Rumani (Boboc, Jon), một người Đông Đức (Matter), một người Thụy Điển (Bj¨ork), một người Canada (ChandlerDavis), và giờ là một người Mỹ.   Tài chính là một trong những nguyên nhân giải thích cho sự phân bố số lượng các nhà toán học đến thăm Hà Nội của các nước. Chỉ có duy nhất Chính phủ Pháp là tài trợ cho các nhà khoa học đến thăm Việt Nam, những trường hợp khác phải lo chi trả theo cách riêng của mình. Số chuyến thăm của các nhà toán học Liên Xô ít đến mức bất ngờ như vậy là do những người này chỉ có thể đến trong khuôn khổ các hiệp định viện trợ, trong đó trọng tâm là tài trợ cho sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Liên bang Xô viết. Thêm nữa, theo hiệp định đó thì Việt Nam sẽ phải trả cho những người Nga đến giảng dạy nghiên cứu một mức lương rất cao so với tiêu chuẩn của người Việt. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, những chuyến thăm từ phía phương Tây là khoản lợi nhuận đối với người Việt, trong khi đó những chuyến thăm từ phía Liên Xô đòi hỏi một khoản chi phí.   Bất chấp tất cả những bất lợi về mặt vật chất – thiếu kinh phí, cô lập về thông tin – triển vọng cho sự phát triến toán học ở Việt Nam là khả quan. Các nghiên cứu viên của Viện chủ yếu là những người trẻ – dưới 40 tuổi – và hầu hết đều được đào tạo bài bản tại Moscow hoặc thủ đô của các nước Đông Âu khác. Họ đề ra những tiêu chuẩn cao cho bản thân cũng như sinh viên của mình. Rất nhiều sự quan tâm được dành cho giáo dục toán học ở mọi cấp bậc, để một ngày nào đó sinh viên sẽ không cần phải ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh nữa. Năm nay tại kỳ thi Olympic Toán quốc tế diễn ra tại Bucharest, trong 20 đội tham dự (hầu hết đến từ các quốc gia phát triển), đội Việt Nam đứng ở vị trí thứ 4 toàn đoàn, với thành tích chênh lệch không đáng kể so với đội xếp vị trí thứ 3 đến từ Vương quốc Anh.   Chuyến đến thăm Việt Nam cho chúng tôi một trải nghiệm, một bài học tuyệt vời. Chúng tôi giúp cho Viện Toán có được một nguồn thông tin và tài liệu toán học. Hơn thế, chuyến thăm như thế này còn có giá trị biểu trưng cho tính quốc tế của hoạt động toán học. Không có gì ngăn cản chúng ta dành sự hỗ trợ và tình bạn thân thiết cho cộng đồng toán học đang lớn mạnh ở Việt Nam. □  Đỗ Việt Cường (Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) dịch  —-  * Nguyên bản: A mathematical visit to Hanoi, Math. Intell., March 1979, Vol. 2, No. 1, 38–42.  1. Tương đương với bằng tiến sĩ ngày nay    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Một chuyến về thăm quê (kỳ 2)      Những ngày ở Việt Nam của giáo sư Lê Dũng Tráng đan xen nhiều kỷ niệm gia đình và toán học.      Giáo sư Lê Dũng Tráng. Nguồn: nld.com.vn  Tết đến và nó đi qua với những điều tốt lành. Gia đình chú dì tôi đưa tôi đi xem chợ Tết. Thú thật là tôi không nhớ được là nó ở đâu. Tôi chỉ còn giữ lại được một kỷ niệm với phiên chợ này, bởi vì nó khá thú vị. Khi đi qua một lối nhỏ trong chợ, tôi thấy người ta bán hoa. Đặc biệt là những bông hoa trên kệ đằng sau cô bán hàng rất đẹp. Tôi nói với chú tôi rằng tốt nhất là nên mua những bông hoa đó. Chú tôi đồng ý và hỏi người bán hàng. Cô ta trả lời chú tôi rằng những bông hoa đó là để trưng bày, không phải để bán. Thế là chú tôi chỉ sang tôi. Cô bán hàng nói: “Với chuyên gia Nhật Bản thì tôi có thể bán được”. Đó là cách mà chúng tôi có được một bó hoa đẹp với một cái tiếng là chuyên gia nước ngoài. Tôi đã quên mất rằng vẻ ngoài của tôi, nhất là chiều cao của tôi, làm cho tôi trông không giống người Việt Nam lắm.    Sau Tết là đến lớp học nhỏ mà tôi đã đề nghị giáo sư Lê Văn Thiêm tổ chức. Ông đã tập hợp bốn người. Hà Huy Khoái, Lê Văn Thành từ phòng Toán rất nhỏ thuộc Ủy ban khoa học nhà nước, Nguyễn Văn Khuê từ trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Lê Hùng Sơn từ trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi đã giảng khoảng hai mươi buổi cho lớp học nhỏ này. Tôi không biết rằng họ thu nhận được những gì, nhưng em trai của Hà Huy Khoái là Hà Huy Vui đã nói với tôi rằng những gì anh học được về điểm kì dị là từ những ghi chép của anh mình. Sau một thời gian, tôi thử giảng bằng tiếng Việt. Tôi ái ngại cho cái nhóm nhỏ phải chịu những lỗi về phát âm của tôi. May mắn thay, Khoái và Thành là người gốc miền Trung nên họ ít nghiêm khắc với các lỗi về thanh điệu của tôi.    Một tháng sau khi tôi về, người ta tổ chức một chuyến đi cho tôi về thăm ngôi làng quê của cha tôi ở Thanh Hóa. Khi tới tỉnh Thanh Hóa, lúc đó vẫn đang bị máy bay Mỹ ném bom, có hai chiếc máy bay bay qua đầu chúng tôi. Chúng tôi dừng lại để xem chúng sẽ làm gì tiếp. là chúng không quan tâm đến chúng tôi. Sau đó chúng tôi biết rằng chúng vừa phá hủy một bệnh viện của tỉnh.    Tới Thanh Hóa, tôi được dẫn đi thăm một xưởng sửa chữa khổng lồ giấu kín trong lòng một quả đồi. Thành phố Thanh Hóa gần như không còn tồn tại sau những đợt ném bom liên tiếp của quân Mỹ. Ngày hôm sau, chúng tôi đi về ngôi làng của tổ tiên tôi1. Chúng tôi khá khó khăn trong việc tìm đúng làng. Ba ngôi làng nằm sát cạnh nhau dọc theo sông Mã và chúng tôi không biết đó là ngôi làng nào. Tôi nhớ rằng bố tôi đã nói với tôi về ba ngôi làng và làng chúng tôi ở gần một ngọn đồi và đó là làng nghèo nhất. Vậy đó là ngôi làng nằm ở phía Tây. Người ta đưa tôi tới Ủy ban xã. Tôi vẫn giữ ký ức là có rất nhiều trẻ em đi học, 1000, 1500 hay 2500. Ngôi làng rất nghèo, nhưng, như tất cả những gì tôi thấy trong chuyến đi này, những người Việt Nam luôn cư xử rất đúng mực. Tôi chụp vài bức ảnh về chuyến đi thăm làng này. Cha tôi rất xúc động khi ông xem chúng sau chuyến đi đầu tiên của tôi.      Một buổi seminar  Viện Toán học.  Khi trở lại Hà Nội, chúng tôi đi bằng những con đường nhỏ để tránh máy bay Mỹ. Thực ra, chúng tôi đã đi qua một địa điểm kì diệu, nơi có một cánh rừng nguyên sinh, rừng Cúc Phương. Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã hẹn chúng tôi ở lối vào rừng. Ông đến cùng với một đoàn gồm khoảng mười người. Tôi nhớ có giáo sư Đào Văn Tiến2 vốn là một người bạn của cha tôi. Cha tôi đã nhờ tôi hỏi thăm tin tức về ông.    Rừng Cúc Phương nằm trong một lòng chảo với đường kính lên tới vài kilomet. Ở trung tâm của lòng chảo có những cây cổ thụ nghìn năm. Để tới xem chúng thì phải đi bộ. Vậy là cả nhóm người bắt đầu bước theo sau Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Ông đi khá nhanh, chắc là với sự rèn luyện trong kháng chiến. Dù gì thì tôi cũng rất vất vả để theo được. Cuối cùng thì chúng tôi cũng tới được chỗ một cây có hơn một nghìn năm tuổi. Đào Văn Tiến giải thích với tôi là khu rừng vẫn còn là rừng nguyên sinh ở những chỗ cách xa những con đường có người hay qua lại. Ở chỗ này có những loài cây, chim và thú rừng đặc chủng. Nhưng tôi không có khả năng miêu tả lại chúng. Chúng tôi qua đêm trong một chỗ trú chân ở trong rừng. Ngày hôm sau, tất cả đều đi về.    Tôi bắt đầu dạy lại các lớp học của mình. Tôi đi thăm nhiều ngôi trường khác nhau ở Hà Nội. Ngôi trường tồi tàn nhất là trường Sư phạm. Các giáo viên sống trong các lán với mái lợp bằng rơm mà nước sẽ thấm qua vào mùa mưa. Điều này làm tôi nhớ tới một buổi giảng của Grothendieck trong đó ông nói về những bữa ăn của ông khi ông ở miền núi Việt Nam để giảng bài. Ông đã nhận ra rằng những người đi cùng để phục vụ ông, lái xe hay bảo vệ không ăn cùng một thứ thức ăn với ông, nhất là họ không có thịt. Do Grothendieck ăn chay nên với ông có thịt hay không cũng không quan trọng. Ông đã đề nghị được ăn như họ. Tôi nghĩ rằng nếu ông thấy những chiếc lán tại trường Sư phạm, ông cũng sẽ đề nghị được ngủ trong đó.    Điều này khiến tôi cảm thấy không thoải mới với khách sạn tuyệt hảo của tôi, nơi ta có thể ăn mọi món ăn truyền thống mà ta muốn: thịt kho tàu, rau muống, trứng tráng, v.v. Hơn nữa, nhân viên khách sạn biết tôi. Một trong người phụ nữ làm việc ở khách sạn là một người cô, chị em họ của chú tôi, người luôn nhìn thấy tôi mỗi khi tôi đến thăm chú dì. Mối quan hệ kiểu này rất quan trọng ở Việt Nam, và tôi cũng biết tất cả nhân viên. Có một người phụ nữ tên là Nga có tiếng bởi vì cô là xạ thủ giỏi nhất của khách sạn, bắn trúng 5/5 mục tiêu. Tôi tin rằng cô để mắt tới tôi. Tôi có những kỷ niệm đẹp với những người thợ cắt tóc của khách sạn. Tôi đã kết bạn với họ bằng cách tới cắt tóc và theo năm tháng tôi mang về cho họ những cây kéo hoặc dao cạo từ Nhật Bản, Pháp hay những nơi khác.    Tôi cũng có họ hàng bên ngoại, khá gần gũi. Đó là gia đình của một trong những người cậu của mẹ tôi. Tôi gặp những người họ hàng này lần đầu vào dịp Tết. Do không có gì tại Hà Nội, món quà nhỏ nhất cũng rất giá trị. Tôi có thể mua bánh ga tô, bia và Coca Cola tại quầy bar khách sạn. Tôi đã mua cả một lô để mang về cho gia đình. Đó là cách mà tôi kết thân với các nhân viên quầy bar.    Người ta đã tổ chức cho tôi một chuyến đi thăm đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh Hòa Bình khá gần với Hà Nội và ông chủ tịch tỉnh là người Mường. Tôi không biết gì về người dân tộc thiểu số và về người Mường thì càng ít hơn. Có một sự cố xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều và gốc gác mà tôi có thể có. Việc tới Hòa Bình không có vấn đề gì. Chúng tôi đi theo một xe ô tô dẫn chúng tôi tới nhà ông chủ tịch. Đó là một ngôi nhà sàn lớn và “bàn ăn” được bày trên chiếu dưới đất. Chúng tôi ngồi dưới đất và ăn dưới đất. Ông chủ tịch hướng về phía những người phụ tá của mình và hỏi:    “Mọi việc tốt đẹp chứ?”    Do không có ai trả lời, tôi nói:    “Không có vấn đề gì cả”.    Thế là cả căn phòng im lặng và tất cả đều nhìn tôi. Cuối cùng, ông tỉnh trưởng hỏi:    “Ông nói tiếng Mường à?”    Tôi ngạc nhiên nhìn ông ta.    “Không, tôi tưởng là ông nói tiếng Việt”.    Thực tế, tiếng Mường cũng giống tiếng Việt, nhưng với những thanh điệu khác. Với tôi điều đó là lí tưởng do tôi nói tiếng Việt mà sai thanh điệu.      Phòng Tô pô – Hình học (Viện Toán học) và khách tại cơ sở Đội Cấn-Ba Đình, năm 1981. Từ phải: Nguyễn Sỹ Minh, Lê Dũng Tráng, Ngô Việt Trung, Lê Văn Thành, Nguyễn Hữu Đức, Hà Huy Vui, Hoàng Tụy, Kyoji Saito, Huỳnh Mùi (ĐH Tổng hợp Hà Nội).  Khi trở về Hà Nội, tôi đi gặp Phạm Huy Thông, một nhà nho Việt Nam đã từng là chủ tịch hội người Việt tại Pháp và là Viện trưởng Viện khảo cổ Hà Nội. Ông trả lời tôi rằng mối quan hệ giữa dân tộc Mường và Kinh không được rõ ràng lắm, nhưng tôi đã đúng khi nói rằng tiếng Mường cũng giống như tiếng Việt với những thanh điệu khác. Do thời thế đã thay đổi, dường như người ta đã công nhận rằng Lê Lợi, ông vua đầu tiên của triều Lê là người Mường. Mà làng nơi ông sinh ra chỉ cách làng tôi 30km về phía Tây. Có thể gia đình tôi cũng thuộc dân tộc Mường.    Tôi đã đi một chuyến khác tới Cao Bằng để thăm những cái hang mà bác Hồ đã trú ở đó khi Bác trở về Việt Nam lần đầu tiên kể từ khi ra đi. Người ta kể với tôi rằng quân Trung Quốc đã cho nổ những hang động này khi chúng cố xâm lược Việt Nam năm 1979. Chuyến đi tới đó mất 5 hoặc 6 tiếng. Tại phía Bắc Hà Nội, chúng tôi tắc đường và chúng tôi lo sợ máy bay Mỹ. Trên đường, tài xế gặp một người chị em họ đang đi kiếm củi để nấu nướng. Những cái hang rất thú vị. Tôi đã từng đi thăm một vài cái hang khác tại Pháp nhưng bé hơn. Người ta chỉ cho tôi chỗ mà bác Hồ sử dụng như là bàn làm việc, nơi Bộ chính trị họp. Phải nói rằng điều đó khá cảm động. Trên đường quay về, theo chiều ngược lại, tài xế lại gặp người chị em họ của mình, người đã đi bộ gần mười tiếng để đem về thứ có thể giúp nấu bếp trong hai ba ngày. Ta có thể đo được sự nghèo đói của Việt Nam thông qua những hoạt động thiết yếu như vậy mà người dân vẫn thực hiện với rất nhiều phẩm giá.    Một buổi sáng tại Hà Nội, tôi được dẫn tới trụ sở của Đoàn thanh niên cộng sản nơi mà người ta giới thiệu với tôi hai bạn trẻ khoảng hai mươi tuổi, một bạn trai và một bạn gái. Họ mặc trang phục du kích miền Nam. Họ nói với tôi về những chiến công của họ. Cùng với nhóm của mình họ đã chống lại một đội quân Mỹ và mỗi người đã hạ được khoảng một chục lính địch. Chúng tôi trò chuyện trong khi uống trà xanh. Tôi không biết nói gì. Tôi lúng búng một lời khen ngợi. Họ đồng thanh trả lời tôi rằng họ mới là người phải cảm ơn tôi. Tôi đã làm cho Tổ quốc điều tốt nhất mà tôi có thể trong việc học hành và nghiên cứu của tôi và những điều họ biết được về tôi khiến họ thấy tự hào. Họ thêm vào rằng tôi đã làm điều tốt nhất có thể ở nơi tôi đã sống, cũng như họ đã làm điều tốt nhất có thể ở nơi họ sống.    Cuộc gặp gỡ này khiến tôi bối rối. Tôi nhớ rằng tôi đã kể với Tạ Quang Bửu ngay tối hôm đó. Tạ Quang Bửu cho phép tôi tới thăm ông khi tôi muốn, khi tôi có vấn đề gì đó. Tối hôm đó là dịp để làm điều đó, bởi tôi thực sự bối rối. Những điều mà các chiến sĩ trẻ nói với tôi đó là tôi cần phải nghĩ đến việc trở về Việt Nam một ngày nào đó. Nhưng Việt Nam còn quá nghèo để tôi nghĩ đến việc đó và tôi không thấy mình có thể làm được gì ở đây. Tạ Quang Bửu nói rằng ông hiểu, rằng tôi không cần phải quyết định về nước, rằng tôi có thể giúp Việt Nam từ bên ngoài nhiều hơn là từ bên trong. Cuộc nói chuyện với Tạ Quang Bửu đã cho tôi nhiều quyết tâm hơn trong những gì tôi làm. Các bài giảng của tôi mất nhiều công sức hơn, dù tôi không chắc rằng chúng có giúp ích gì không. Nhưng không sao, những điều tôi muốn làm kéo dài nhiều năm. Dù gì thì tôi cũng làm sao để những chuyến đi của tôi ít tốn kém cho phía Việt Nam nhất.    Cơ quan phụ trách chuyến đi của tôi tại Việt Nam là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Chính thức thì Tạ Quang Bửu không có ảnh hưởng gì tới cơ quan này. Thực tế là chiếc ô tô sử dụng cho các chuyến đi của tôi tới ngôi làng tại Thanh Hóa, tới Cao Bằng hay Hòa Bình là một chiếc ô tô thuộc ban đối ngoại của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Chủ tịch Ủy ban là Trần Đại Nghĩa, một kĩ sư được đào tạo tại Pháp và rất có tiếng. Ông được biết đến với khẩu bazooka mà ông sáng chế. Nó đã trở thành một vũ khí đáng gờm chống lại quân Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Người có vai trò quan trọng tại Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước là Trần Quỳnh3, một người ít được giới khoa học đánh giá cao. Tôi không biết lí do cho sự không ưa này, nhưng Trần Quỳnh là một người thực dụng và tôi cho là những người làm khoa học, giống như tất cả các đồng nghiệp châu Á của họ, có xu hướng coi thường những người bình dân.    Một hôm, Trần Quỳnh mời tôi lên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước để trao đổi với tôi. Tôi đến đó bằng xe đạp vì rất gần với khách sạn. Tôi ngạc nhiên khi thấy ông chỉ có một mình. Ông mời tôi trà và lạc. Chúng tôi chào hỏi xã giao bằng tiếng Pháp bởi Trần Quỳnh nói tiếng Pháp rất tốt. Ông đặt cho tôi câu hỏi đầu tiên rất đường đột:    “Tráng, cậu về Việt Nam làm gì?”    Câu hỏi đột ngột đến nỗi tôi khó khăn để tìm được từ ngữ. Tôi trả lời: “Tôi muốn Việt Nam sẽ có một giải Fields trong 25 năm nữa”. Hiển nhiên là tôi phải giải thích giải Fields là gì, rằng không có giải Nobel Toán học, rằng giải Fields được coi như tương đương với giải Nobel nhưng nó chỉ được trao trước năm 40 tuổi. Tôi giải thích tại sao lại có giới hạn 40 tuổi đó. Tôi đưa ra vài ví dụ về các nhà toán học đã được giải Fields. Tôi nhắc đến Grothendieck và Laurent Schwartz, những người đã tới Việt Nam. Tôi nói thêm rằng nhiều người Pháp đã đoạt giải Fields, rằng khoản tiền giải thưởng thì rất nhỏ so với giải Nobel và rằng nó chỉ được trao từ năm 1936. Trần Quỳnh có vẻ hài lòng với cuộc trao đổi và chúng tôi từ biệt nhau. Tôi không thể tưởng tượng được rằng giấc mơ của tôi đã trở thành sự thật sau hơn 30 năm với Ngô Bảo Châu.    Tôi không gặp lại Trần Quỳnh trong lần về nước đó, nhưng tôi đã gặp một người đàn ông mà sau này tôi sẽ gặp với Trần Quỳnh và Tố Hữu. Tôi không nhớ hoàn cảnh nào đã dẫn tôi tới gặp Trần Quang Huy. Dù gì thì ông cũng là người phụ trách giáo dục của trung ương Đảng4. Ông hẳn phải biết sự có mặt của tôi tại Hà Nội. Tôi gặp ông một buổi tối sau bữa cơm. Cuộc gặp gỡ rất thân mật dù giới trí thức cũng không coi trọng ông cho lắm. Ông cũng nói tiếng Pháp, nhưng kém hơn Trần Quỳnh và Tạ Quang Bửu. Ông giải thích rằng ông biết rõ chú tôi hay đúng hơn là ngôi mộ chú tôi. Ông từng tham gia phụ trách Đoàn thanh niên của Đảng và hằng năm vào dịp giỗ chú tôi, ông cùng với những người phụ trách đoàn thanh niên khác tới thăm mộ chú tôi. Vì lí do đó mà một cách gián tiếp, ông biết gia đình tôi.    Chú tôi, Phạm Giang, chồng của dì Kim, đã nói với tôi rằng tôi cần phải nói chuyện với Trần Quang Huy nếu như tôi có các dự án về giáo dục. Tôi cho rằng tôi sẽ nói với Trần Quang Huy là tôi muốn trở lại Việt Nam trong tương lai để làm các seminar hay tổ chức đưa các đồng nghiệp nước ngoài về làm việc.  Tôi ở lại Việt Nam bốn tháng. Một cuối tuần, tôi đi thăm chùa Tây Phương với bộ sưu tầm tượng La Hán vui, gầy, no, v.v. Trong phần còn lại của chuyến đi, tôi đi thăm vịnh Hạ Long. Người ta đã sắp xếp cho tôi ở cái khách sạn tuyệt vời mà ta thấy trong phim Đông Dương, xa về phía Nam của thành phố than Cẩm Phả. Tôi đã có may mắn được tham quan vịnh Hạ Long và Hòn Gai trước khi du lịch tràn tới đây vào năm 1990. Tôi trở về Hà Nội bằng đường đi qua Hải Phòng, gần như hoàn toàn bị phá hủy bởi bom Mỹ, chỉ còn lại một nhà máy xi măng vẫn còn hoạt động. Theo những gì tôi thấy, chỉ còn những cánh đồng lúa là có người, và đây đó một nhà máy hoặc công xưởng núp kín mà quân Mỹ cố gắng tàn phá.    Lê Văn Thiêm thỉnh thoảng tới xem seminar diễn ra tới đâu. Ông nói với tôi về khó khăn của Việt Nam sẽ phải đóng hội phí cho Hội Toán học quốc tế. Tôi nói với ông rằng tôi sẽ xem xem có thể làm gì. Đó là cái cách mà tôi tham gia vào trong mối quan hệ với Hội Toán học quốc tế. Khoản tiền cần phải thu được là 200 franc Thụy Sĩ một năm. Khoản đó tương đương với 250 franc Pháp. Đó là một khoản tiền lớn thời bấy giờ. Nó vào khoảng 1/5 lương tháng của tôi. Sau khi tìm hiểu các nhà toán học mà tôi quen, tôi thấy việc gom được số tiền này là khả thi. Tôi ra đi với lời hứa sẽ trở lại vào năm sau với tiền đóng hội phí cho Hội Toán học quốc tế.    Tôi ra đi bằng máy bay tới Moscow từ sân bay Gia Lâm vào tháng năm. Máy bay là một chiếc máy bay cánh quạt. Chuyến đi kéo dài hơn 40 tiếng đồng hồ. Sau khi đổi chuyến bay ở Moscow, tôi về tới Paris.□     PGS.TS Nguyễn Việt Dũng, Viện Toán học dịch   GS. Ngô Việt Trung viết lời tựa và hiệu đính  ——–  1 Làng Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc  2 Chủ nhiệm Khoa Sinh học của trường Đại học Tổng hợp  3 Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước  4 Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương    Author                Lê Dũng Tráng        
__label__tiasang Một cơ sở dữ liệu mở về điện não đồ của người Việt      Vào tháng 10 năm 2017, DTT và Emotiv đã ký biên bản ghi nhớ  cùng thành lập một chuỗi phòng thí nghiệm về sóng não ở Việt Nam. Cuối tháng 1 vừa qua, kế hoạch này đã tiến thêm một bước nữa khi bà Tara Thiagarajan, Chủ tịch Sapien Labs, một trong những tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu về điện não đồ (EEG) đầu tiên trên thế giới tới Việt Nam và ngỏ ý muốn thiết lập Sapien Lab Vietnam thông qua việc hợp tác với khu công nghệ cao Hòa Lạc.    Tại sao lại cần cơ sở dữ liệu về não của người Việt?   Việc khởi động Sapien Labs Vietnam được đánh dấu bằng một buổi tọa đàm giữa bà Thiagarajan, đại diện khu công nghệ cao Hòa Lạc cùng các đại diện đến từ khoa thần kinh của những bệnh viện ở Hà Nội nhằm thảo luận về tính khả thi về cơ chế hợp tác giữa các bên trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về não của bện nhân. Trong buổi tọa đàm, ông Nguyễn Trung Quỳnh, Phó trưởng ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc cho biết, dù nói nhiều đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghiệp tri thức, nhưng không phải công nghệ mà “con người mới là quan trọng nhất. Nếu đi vào lĩnh vực [dữ liệu sóng não] này thì chúng ta có cơ hội nâng cao thể chất, trí thông minh, sức sáng tạo của người Việt”.   Cho đến tận ngày hôm nay, các nhà khoa học thần kinh vẫn chưa thể xác định được một bộ não như thế nào mới được coi là “bình thường”. Não của mỗi người rất khác biệt. Mặc dù cấu trúc của não được quy định bởi gene nhưng hình dạng và chức năng của nó lại được quyết định bởi trải nghiệm của mỗi người, trải nghiệm khác nhau sẽ tạo ra những kích thích liên kết nơ ron thần kinh theo cách khác nhau. Tuy nhiên, trái với sự đa dạng của não bộ của con người, những nghiên cứu thần kinh hiện nay lại vô cùng thiên lệch: 75% các nghiên cứu về khoa học thần kinh được thực hiện ở Mỹ và Châu Âu với đối tượng tham gia thí nghiệm là một nhóm rất khu biệt là sinh viên. Hơn nữa, mỗi lần thực hiện thí nghiệm, số lượng mẫu rất nhỏ, chỉ từ 20 – 50 người.   Điều đó đồng nghĩa với việc, những mẫu nghiên cứu về não người hiện nay không đủ để đại diện cho số đông. Có một lỗ hổng lớn trong hiểu biết về não bộ của con người hiện nay. Chúng ta đã “bỏ quên” phần lớn não bộ của nhân loại, đặc biệt là những người đến từ khu vực kém phát triển về kinh tế. Vì vậy, các phương pháp xác định các bệnh về tâm lý (đặc biệt là căn bệnh nổi cộm trên thế giới hiện nay như trầm cảm) và thuốc chữa các chứng bệnh này có thể hiệu nghiệm ở Châu Âu và Mỹ nhưng có phần vô nghĩa ở những vùng khác.   Sapien Labs được lập ra để thu thập dữ liệu về não bộ đa dạng của nhiều người dân trên toàn thế giới với vọng có thể tìm ra cách thức giải quyết vấn đề trên. Nếu tham dự, Việt Nam sẽ có một cơ sở dữ liệu lớn về não bộ của người dân trong nước. Điều này không chỉ thúc đẩy những nghiên cứu cơ bản về thần kinh, tâm lý, hành vi của người Việt Nam để trong tương lai, tiến tới việc tìm ra cách thức chữa trị các bệnh tâm thần hiệu quả hơn, mà còn hiểu được tiềm năng của người Việt, tạo cơ hội để tạo ra những giải pháp phục vụ con người tối ưu hơn trong giáo dục, kinh doanh, thiết kế chính sách, xây dựng đô thị…    Bà Tara Thiagarajan cho biết, hiện nay Sapien Labs ưu tiên hỗ trợ thiết bị đo điện não đồ Emotiv Epoc+ với giá khoảng 800 USD. Hai người sáng lập Emotiv đều là người gốc Việt, bản thân công ty này cũng có bộ phận đặt tại Việt Nam nên có thể hỗ trợ các thành viên của Sapien Labs Vietnam về mặt kĩ thuật. Đầu năm nay, Emotiv sẽ cho ra mắt thiết bị có hình dáng là chiếc mũ đội đầu (cap), cho phép nghiên cứu trên cả trẻ sơ sinh (Epoc+ hiện nay là quá rộng với đầu trẻ nhỏ).    Sự phát triển công nghệ ngày nay đã cho phép thu thập dữ liệu về não dễ dàng, cho phép đa dạng hóa các đối tượng nghiên cứu về thần kinh, cung cấp cơ hội cho những nhà khoa học ở những nước đang phát triển với giá rẻ. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về mức độ chính xác của phương pháp điện não đồ (EEG) nhưng Tara Thiagarajan, tốt nghiệp tiến sĩ ngành khoa học thần kinh tại Đại học Standford (Mỹ), cho rằng đây không phải là phương pháp “hoàn hảo” nhưng sai số “chấp nhận được” và có thể khắc phục nếu có lượng dữ liệu lớn. Thiết bị để đo điện não đồ có giá khoảng 1000 USD, chỉ bằng 1/100 so với các thiết bị chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ…và được sử dụng rất linh hoạt do gọn nhẹ, được kết nối và điều khiển không dây với các thiết bị di động (đối tượng nghiên cứu không bị bó buộc về thời gian, tư thế mà có thể vừa đeo thiết bị, vừa sinh hoạt bình thường nên mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới).   Việt Nam sẽ tham gia như thế nào?   Sapien Labs có một bộ công cụ cung cấp miễn phí cho những nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển bao gồm: Brainbase (nền tảng quản lý, xác thực, giao thức dữ liệu và cộng tác nghiên cứu), Brainview (công cụ tự động phân tích những dữ liệu điện não đồ), các bài giảng và hướng dẫn online. Ngoài ra, họ cũng cung cấp một khoản tài trợ tối đa là 5000 USD để mua trang thiết bị. Các dữ liệu của Sapien Labs đều được chuẩn hóa và mở. Các công bố khoa học sử dữ liệu của Sapien Labs cũng phải được mở cho công đồng. Hiện nay, Sapien Labs có vài trăm ngàn bộ dữ liệu điện não đồ mở được cung cấp bởi bệnh viện của Đại học Standford và Đại học Temple (Mỹ).   Dù có hay không thành lập Sapien Labs Vietnam, các nhà khoa học Việt Nam vẫn được sử dụng những công cụ này miễn phí. Tuy nhiên, Sapien Labs Vietnam, với tư cách là một cộng đồng mới có thể giải quyết những khúc mắc liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu và thúc đẩy các hợp tác nghiên cứu, các dự án liên ngành.     Bà Tara Thiagarajan, chủ tịch Sapien Labs  Bà Tara Thiagarajan cho rằng, nếu bước vào lĩnh vực dữ liệu sóng não từ bây giờ, chuẩn hóa việc hợp tác giữa các bệnh viện, viện nghiên cứu và trường đại học về thân kinh, Việt Nam thậm chí có cơ hội để đi nhanh hơn những nước phát triển. Ở Mỹ, nghiên cứu và sử dụng phương pháp EEG đã “trăm hoa đua nở” từ lâu, với định dạng và cách thức thu thập dữ liệu khác nhau, dẫn đến việc “quy” dữ liệu “về một mối” rất khó khăn và mất thời gian. Đó còn chưa kể, có những nơi không có chính sách công bố dữ liệu não của bệnh nhân, dù là phục vụ cho nghiên cứu. Đây là cơ hội để Việt Nam tập hợp các bên liên quan giải quyết những vấn đề này ngay từ đầu với tầm nhìn tạo ra những dự án ở quy mô lớn về thần kinh trong tương lai.   Dự kiến, Ban quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc sẽ là đầu mối để tập hợp và cung cấp thông tin cho các bên liên quan, từ đó đặt ra quy tắc làm việc chung (đặc biệt là các nguyên tắc về công khai, sở hữu và sử dụng dữ liệu), trong tương lai, họ thậm chí sẽ xin tài trợ từ Bộ KH&CN cho các dự án nghiên cứu liên quan đến cơ sở dữ liệu lớn về điện não đồ. Tuy nhiên, những người vận hành Sapien Labs Vietnam chính là các bác sĩ và nhà khoa học ở các bệnh viện, viện nghiên cứu, trường đại học. “Các phương thức làm việc thì đơn giản nhưng vấn đề là các anh chị có thấy dự án này đem lại lợi ích thực sự cho mình hay không?” Anh Thế Trung, tổng giám đốc công ty DTT, người đề xuất thành lập Sapien Labs Vietnam nói trong buổi tọa đàm.   Chuỗi phòng thí nghiệm Neuron Labs của Sapien Labs Vietnam sẽ được hình thành theo cách: mỗi thành viên của Sapien Labs Vietnam sẽ thành lập một phòng thí nghiệm nhỏ về điện não đồ trong đơn vị của mình, có người chịu trách nhiệm và làm đầu mối, thu thập và tải dữ liệu lên nền tảng của Sapien Lab quốc tế thường xuyên. Anh cho rằng, ban đầu chỉ cần ít đơn vị tham gia “nhưng thực chất và có dữ liệu thường xuyên” nhưng từ đó dự án sẽ được khởi tạo và lan tỏa ở quy mô rộng lớn hơn.             Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Một công ty spin-off dự định chế tạo các màn hình bằng dầu và nước      Liquavista, một công ty mới được sáng lập bởi Philips Research và New Venture Partners sẽ tìm cách thương mại hóa một công nghệ chế tạo màn hình kiểu mới cho các máy nghe nhạc MP3.    Đối với loại màn này, mỗi điểm ảnh sẽ chứa một lượng nhỏ chất dầu được nhuộm màu và nước, đặt trên một lớp vật liệu đặc biệt có khả năng chuyển từ trạng thái chống thấm nước sang trạng thái thấm nước dưới tác dụng của điện thế. Khi vật liệu ở trạng thái chống thấm nước, nước sẽ thoát ra khỏi nó và đẩy chất dầu nhuộm áp vào bề mặt. Một nguồn sáng được chiếu từ phía sau mỗi điểm ảnh sẽ làm hiển thị màu sắc của chất dầu nhuộm. Trong trạng thái thấm nước, nước bị hút vào bề mặt vật liệu và đẩy chất dầu nhuộm sang một bên, từ đó làm thay đổi màu sắc hiển thị của điểm ảnh. Một màn hình chứa hàng triệu điểm ảnh như thế này sẽ tạo nên một hình ảnh. Liquavista tuyên bố rằng, vì sử dụng chất màu nhuộm nên hiệu quả hình ảnh sẽ tự nhiên hơn. Và ít nhất là theo các kết quả của phòng thí nghiệm, loại màn hình này cũng sẽ tiêu thụ ít năng lượng hơn so với màn hình tinh thể lỏng (LCD) truyền thống. Các màn hình dựa trên hiệu ứng electrowetting (làm ướt bằng điện) này lại tương thích với hệ thống công nghệ chế tạo các màn hình LCD, và có thể được chế tạo tại các nhà máy LCD hiện có nên sẽ được thương mại hóa nhanh chóng và nó sẽ không bị đắt như như người ta vẫn thấy đối với sự ra đời của một công nghệ mới. Các màn hình electrowetting sẽ được đưa ra triển lãm vào tháng 6/2006 ở San Francisco.   P.V    Nguồn tin: http://www.news.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một dạng của đơn cực từ đã được tìm ra ?      Tại sao chỉ có những hạt mang điện tích hoặc dương hoặc âm mà lại không có những hạt mang từ tích hoặc Bắc hoặc Nam? Bài toán đã được đặt ra cách đây hơn một thế kỷ. Năm 2009 những chuẩn hạt (quasi-particle) đơn cực từ đã được phát hiện trong các tinh thể băng spin (spin ice) bởi Claudio Castelnovo (Oxford), Jonathan Morris (Trung tâm Helmholtz, Berlin), Tom Fennell (Viện Laue-Langevin, Grenoble)…  Có thể nói đây là một phát hiện quan trọng đối với lý thuyết lẫn công nghệ.         Trong vật lý học đơn cực từ là một hạt giả định, có thể được miêu tả như là một thanh nam châm chỉ có một cực, Bắc hoặc Nam. Sự tồn tại của đơn cực từ đã được các nhà vật lý lý thuyết tiên đoán hơn một thế ký trước đây.        Một thỏi từ luôn có hai cực: Nam và Bắc. Nếu cắt thỏi từ làm hai thì mỗi phần cũng lại có hai cực như ban đầu. Nếu tiếp tục cắt nữa thì ta vẫn không thu được thỏi từ đơn cực. Sự tồn tại song song hai cực dường như là một đặc tính không thay đổi của các vật thể từ, nói cách khác dường như đơn cực từ không tồn tại.        Song nhiều thế kỷ nay các nhà vật lý lý thuyết có đầy đủ cơ sở khoa học để nói rằng tồn tại những đơn cực từ. Người ta đã truy lùng đơn cực từ trong các phiến đá ngầm ở dưới mặt đất, trong bụi từ Mặt trăng, và cả trong các máy gia tốc khổng lồ, song kết quả vẫn là số không.       Lý thuyết điện từ       Như chúng ta biết nguyên tử cũng có từ trường. Trong mẫu Bohr về nguyên tử, các electron quay chung quanh hạt nhân của nguyên tử, chính chuyển động này đã tạo nên từ trường của nguyên tử.        Người khởi xướng đầu tiên về sự tồn tại của đơn cực từ là Pierre Curie vào năm 1894, cuối thế kỷ XIX. Ông nhận thấy rằng hai cực khác tên của nam châm hút nhau và hai cực cùng tên đẩy nhau hoàn toàn tương tự như hai điện tích khác dấu và đồng dấu.        Năm 1873 Maxwell tìm ra các phương trình điện từ nối liền điện trường và từ trường. Dạng chuẩn không chứa một từ tích qm nào. Nếu đưa từ tích qm (tương tự như điện tích qe ) vào thì các phương trình hoàn toàn đối xứng với phép thay điện trường và từ trường.        Một câu hỏi: “Tại sao từ tích dường như luôn luôn bằng không?”        Joseph Polchinski, một nhà lý thuyết dây đã mô tả tình huống liên quan đến sự tồn tại của đơn cực từ như là “một cuộc đánh đố an toàn nhất mà người ta có thể đặt cược trong vật lý song lại chưa ai thắng được cược vì đơn cực từ chưa được tìm ra”.       Điều kiện lượng tử hóa của Dirac         Năm 1931 Paul Dirac xét một hệ gồm một đơn cực điện và một đơn cực từ, điện từ trường bao quanh hệ có một mômen góc tổng cộng tỷ lệ với qe qm đại lượng này không phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai tích.        Lý thuyết lượng tử buộc rằng mômen góc này phải được lượng tử hóa trong đơn vị ħ. Như thế nếu tồn tại đơn cực từ và nếu phương trình Maxwell là đúng thì các điện tích phải được lượng tử hóa (và chúng ta đã biết rằng quả là điện tích chỉ lấy những trị số gián đoạn hay nói cách khác là bị lượng tử hóa, vậy đơn cực từ phải tồn tại).        Hãy tìm điều kiện lượng tử hóa. Dirac lại xét một từ tích nguồn qm và một điện tích thăm dò (probe) qe chuyển động quanh đường xích đạo của từ trường. Khi điện tích trở về điểm ban đầu thì hàm sóng thu được một pha (hiệu ứng Aharonov-Bohm), pha này tỷ lệ với cả qe và qm.        Vì electron trở về điểm xuất phát cho nên pha exp(iφ) của hàm sóng phải không thay đổi cho nên pha φ phải là một bội của 2π: qe . qm phải tỷ lệ với 2π ħZ.        Trong đó Z là tập các số nguyên. Đấy chính là điều kiện lượng tử hóa của Dirac         Các lý thuyết thống nhất         Vì thiếu các chứng cứ thực nghiệm về sự tồn tại của đơn cực từ cho nên đơn cực từ thường được xem như một hạt hoàn toàn giả định có tính lý thuyết. Song đến những năm 1960 quan điểm này đã thay đổi vì sự xuất hiện nhiều lý thuyết thống nhất. Theo các lý thuyết này ngay sau Bigbang mọi tương tác đều thống nhất thành một, chỉ sau đó các tương tác mới tách thành nhiều nhánh. Trong các lý thuyết thống nhất đều xuất hiện những đơn cực. Ví dụ trong nhiều lý thuyết GUT (Grand Unified Theory- Lý thuyết Thống nhất Lớn thống nhất tương tác điện yếu với tương tác mạnh) xuất hiện đơn cực từ.        Lý thuyết Dây (String Theory) cũng dẫn đến sự tồn tại của nhiều loại đơn cực. Như vậy đơn cực từ có thêm nhiều bằng chứng tồn tại tất yếu không còn là giả định như riêng trong lý thuyết điện từ.           Một thể hiện của đơn cực từ đã được tìm ra         trong môi trường đông đặc (condensed matter)          Không phải trong vũ trụ cũng không phải trong các máy gia tốc khổng lồ hiện đại mà chính trong môi trường đông đặc thông thường các nhà vật lý lần đầu tiên đã phát hiện một dạng của đơn cực từ. Họ đã quan sát được hiện tượng này trong các tinh thể bình thường gọi là băng spin (spin ice).         Chúng ta đã biết trong tinh thể băng của nước (ice) ta có cấu hình trong đó các nguyên tử H nằm trên đỉnh của một hình tứ diện (Hình 1).        Các tinh thể băng spin được tìm ra năm 1997 bởi Mark Harris (Đại học Oxford). Một tinh thể như thế là Dy2Ti2O7, dysprosium titanate (xem Hình 2).        Sở dĩ tinh thể này gọi là băng spin vì các nguyên tử O trong tinh thể nằm trên đỉnh của một hình tứ diện (tetrahedron) có spin hướng theo một cấu hình giống như trong tinh thể băng của nước (Hình 3). Các hình tứ diện này sắp xếp thành mạng tinh thể.        Những spin này tạo nên những nam châm vi mô. Và ở nhiệt độ thấp, trong mạng tinh thể, các nam châm này xếp đặt theo cấu hình cực Bắc của nam châm này hướng liền với cực Nam của nam châm lân cận theo các định luật của cơ học lượng tử.        Song nếu chúng ta cung cấp cho mạng một năng lượng dưới dạng nhiệt năng thì điều này có thể giải phóng một số ràng buộc cách xếp đặt trên và dẫn đến hiện tượng quay đảo của một nam châm (lấy ngẫu nhiên) và cực Bắc nam châm này có thể hướng liền với cực Bắc của nam châm kia và hình thành một “từ tích-charge magnétique” nói cách khác hình thành một đơn cực Bắc. Một đơn cực Nam cũng sẽ hình thành như vậy (Hình 4).         Do tác động của nhiệt năng, spin lân cận với spin ban đầu lại cũng sẽ bị quay đảo theo kiểu như thế và hiên tượng xảy ra liên hoàn. Ludovic Jaubert, phòng thí nghiệm vật lý Đại học Sư phạm cao cấp Lyon giải thích tiếp như sau: những đơn cực hình thành như thế lan truyền trong mạng tinh thể và tạo nên một loại khí các đơn cực. Claudio Castelnovo đã thực hiện các phép tính theo một mô phỏng số và tìm thấy rằng ở nhiệt độ một kelvin (xem chú thích) xuất hiện một hai đơn cực từ trên mỗi trăm hình tứ diện của mạng.         Đây là một hiện tượng đột sinh quan trọng.        Song nên chú ý rằng những đơn cực từ này chưa phải là những hạt cơ bản mà Dirac nói đến, chúng mới chỉ là những chuẩn hạt (quasi-particles) trong môi trường đông đặc (condensed matter). Song lối hành xử của những chuẩn hạt này không phân biệt được so với những hạt đơn cực từ thực, cho nên những chuẩn hạt này hoàn toàn xứng đáng được xem là những đơn cực từ. Nhóm Tom Fennell đã đo được giá trị của từ tích vào cuối năm 2009 (5.10-13 joules/ tesla.m , xem chú thích).    Trên hình vẽ mô tả cấu hình của Dy2Ti2O7 các nguyên tử oxygen (hình tròn màu đen) nằm trên các đỉnh của một hình tứ diện    Hướng spin của các nguyên tử oxygen    Sự hình thành các đơn cực tù trong mạng tinh thể: các mũi tên là các nam châm vi mô có hai cực Bắc & Nam, sau quá trình quay đảo của các mũi tên ta có vòng tròn N (Nord) mô tả một đơn cực Bắc còn vòng tròn S (Sud) – một đơn cực Nam.     Detector trong thí nghiệm MoEDAL trên máy gia tốc LHC nhằm tìm các hạt lạ (exotic) như đơn cực từ và các hạt siêu đối xứng (supersymmetric).    Những dòng từ dạng ống trên hình vẽ đã xuất hiện trong các băng spin do chuyển động của các đơn cực từ chuẩn hạt trong lòng tinh thể.       Sự quan trọng của việc phát hiện chuẩn hạt đơn cực từ        Tuy rằng những đơn cực từ được phát hiện chưa phải là những đơn cực từ thực thụ song ý nghĩa của sự phát hiện những chuẩn hạt này không vì thế mà kém phần quan trọng. Trước hết phát hiện này cho phép hiểu được các tính chất cơ bản của các loại băng spin (spin ice) như dysprosium titanate. Phát hiện này thiết lập được mối tương tự quan trọng giữa vật lý các môi trường đông đặc gắn liền với việc nghiên cứu các chất rắn và vật lý năng lượng cao gắn liền với việc nghiên cứu các hạt cơ bản. Sự phát hiện các đơn cực từ trong băng spin có thể là kim chỉ đường cho sự phát hiện những hạt đơn cực từ thực thụ. Trên máy gia tốc siêu đại LHC thí nghiệm MoEDAL (Monopole and Exotics Detector at the LHC) được xây dựng để tìm các đơn cực từ chính hiệu phát sinh từ va chạm các proton ở năng lượng siêu cao (Hình 5).          Những đơn cực từ chuẩn hạt gây nên những dòng từ (courant magnétique) (Hình 6), giống như những dòng điện trong công nghệ điện tử (electronique). Và mục tiêu cuối cùng sẽ là việc sử dụng những dòng từ này vào việc lưu trữ và chuyển tải thông tin. Hiện nay cũng đã phát sinh một từ ngữ khoa học mới, đó là từ magnetricity (từ học) bên cạnh từ electricity (điện học).        Kết luận         Như vậy bài toán hóc búa tìm đơn cực từ đã hé mở một góc của bức màn bí mật. Chắc chắn người ta sẽ tìm ra hạt đơn cực từ thực thụ (xin đọc lại lời phát biểu dẫn trên đây của Joseph Polchinski) và kết quả này sẽ chứng minh tính đối xứng tuyệt đối giữa điện và từ và đẩy công nghệ ứng dụng điện từ lên một trình độ cao hơn hiện nay nhờ sử dụng điện tích (đơn cực điện) lẫn từ tích (đơn cực từ).  ——————   Tài liệu tham khảo và chú thích   [1] Franck Daninos, Premiers monopoles magnetiques, La Recherche, tháng 1/2010   [2] C.Castelnovo et al., Nature,451, 42, 2008   [3] D.Morris et al.,Science Express, doi :10.1126/science, 1178868,2009   [4] T.Fennelletal, Science Express, 326, 417, 2009   [5] Tesla = đơn vị đo từ trường =104 Gauss   [6] Độ Kelvin nối liền với độ Celsius bởi công thức : K= oC+273,15       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một dạng mới của tương quan lượng tử      Nếu nhiều nhà vật lý vẫn còn bị mắc kẹt trong khuôn mẫu do John Stewart Bell đề xuất từ hơn 50 năm trước thì Marc-Olivier Renou (Đại học Geneva) và đồng nghiệp đã nêu dạng tương quan phi cổ điển mới, khác biệt một cách cơ bản so với các dạng tương quan từ bất đẳng thức Bell.         Nhà vật lý John Stewart Bell. Nguồn: physicsworld.    Bất đẳng thức Bell: sự khác biệt giữa vật lý lượng tử và vật lý cổ điển  Các thí nghiệm về bất đẳng thức Bell, gọi tắt là các thí nghiệm Bell, chắc hẳn là minh chứng rõ ràng nhất về sự khác biệt về chất giữa vật lý lượng tử và vật lý cổ điển. Trong các thí nghiệm Bell, các cặp hạt lượng tử được chuẩn bị ở các trạng thái rối lượng tử đặc biệt và được đo một cách riêng biệt bằng hai thiết bị đo đặt cách xa nhau. Các kết quả đo cho thấy có mức độ tương quan mạnh hơn mức cho phép bởi bất kỳ lý thuyết định xứ cổ điển (classical local theory) nào. Vài thập kỷ qua đã chứng kiến những nỗ lực to lớn trong các nghiên cứu về hiện tượng này, cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm, bao gồm cả các kết quả kín kẽ (loophole-free) chỉ mới lần đầu tiên đạt được trong thời gian gần đây và các ứng dụng của nó trong việc xử lý thông tin lượng tử. Nhưng tất cả những nghiên cứu đó đều bị mắc kẹt vào cùng một khuôn mẫu do John Stewart Bell đề xuất từ hơn 50 năm trước: hai hoặc nhiều hạt vi mô được làm rối với nhau bằng một nguồn duy nhất và sau đó được đo một cách độc lập với nhau.  Năm 1935, Albert Einstein, Boris Podolsky và Nathan Rosen (viết tắt là EPR) đã cho thấy lý thuyết lượng tử dẫn đến các mối tương quan khác thường trong kết quả của các phép đo riêng biệt trên hai hạt ở cách xa nhau nhưng đã được làm rối với nhau từ trước. Bằng việc đưa ra một giả thiết định xứ (locality assumption) – khi hai hạt ở cách xa nhau và không tương tác với nhau thì phép đo trên một hạt sẽ không có tác động ngay lập tức nào đến trạng thái của hạt kia – EPR cho rằng lý thuyết lượng tử là chưa đầy đủ (incomplete) và cần phải được hoàn chỉnh (tức làm cho nó trở thành đầy đủ) sao cho có thể giải thích được cả các mối tương quan khác thường này. Nếu sự hoàn chỉnh này có thể thực hiện được thì các tương quan lượng tử sẽ không có gì là bí ẩn hơn so với việc tìm thấy cùng một câu chuyện từ các bản sao khác nhau của một tờ báo. Nhưng sau đó Bell đã chỉ ra rằng các thí nghiệm có thể tiết lộ các mối tương quan lượng tử đủ mạnh để loại trừ mọi cách giải thích tầm thường như vậy.  Phải mất một thời gian nhất định để có thể đánh giá những lập luận của Bell, nhưng một loạt các công trình cuối cùng đã tiếp nhận cái nhìn sâu sắc của Bell. Về phương diện lý thuyết, các nhà nghiên cứu đã hiểu rõ hơn, về mặt toán học, tính phi định xứ của Bell, tổng quát hóa nó cho trường hợp có nhiều hạt bị rối với nhau hơn và đề xuất một số ứng dụng của hiện tượng này trong lĩnh vực mật mã. Về phương diện thực nghiệm, các mối tương quan khó giải thích như này đã được kiểm chứng trong các điều kiện khắt khe hơn, mà đỉnh điểm là vào năm 2015 khi các kết quả hoàn hảo, không có kẽ hở (loophole-free) đã đạt được. Những thí nghiệm thành công một cách đầy thuyết phục đã xua tan mọi suy luận (có vẻ) có lý rằng thế giới của chúng ta có thể được mô tả, bằng cách này hay cách khác, bởi một hình thức luận lý thuyết cổ điển. Những thí nghiệm đó cũng mở đường cho các ứng dụng thực tế.      Giống như tính phi định xứ Bell đã được công nhận là một nguồn tài nguyên cho các nhiệm vụ trong lĩnh vực mật mã như phân phối khóa lượng tử và tạo các bit ngẫu nhiên thực thụ, một số dạng tương quan lượng tử mới này sẽ có thể được sử dụng trong các nhiệm vụ mới phù hợp với các kịch bản mới.      Tất cả các nghiên cứu từ trước tới nay đều liên quan đến cùng một kịch bản, gọi là “kịch bản Bell” với nội dung như sau. Một nguồn chung tạo ra trạng thái rối giữa hai hoặc nhiều hơn hai hạt; từng hạt trong trạng thái rối này được gửi đến các nhà quan sát ở các địa điểm cách xa nhau; sau khi nhận được hạt của mình các nhà quan sát đo hạt đó một cách độc lập bằng một phép đo được chọn một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu xét tới các mạng lượng tử phức tạp hơn đối với các nguồn tạo các trạng thái rối và các phép đo cũng được thiết kế một cách phức tạp hơn, nhằm tìm kiếm các dạng mới của tương quan phi cổ điển với hy vọng vận dụng các các dạng phi cổ điển mới trong các ứng dụng về xử lý thông tin lượng tử. Thí dụ, trong kịch bản “song định xứ” (“bilocality”), hai nguồn độc lập chia sẻ các cặp hạt rối với ba người quan sát. Kịch bản này có thể được sử dụng để thực hiện việc tráo rối (entanglement swapping) – một giao thức để làm rối các hạt không có tương tác trực tiếp với nhau trong quá khứ. Một kịch bản thú vị khác liên quan đến hình học tam giác: ba nguồn độc lập trên các cạnh của một tam giác tạo ra ba cặp hạt rối rồi phân phối các hạt rối cho ba thiết bị đo ở ba góc của tam giác (xem Hình 1).      Hình 1: Trong kịch bản mạng lượng tử hình tam giác, ba nguồn độc lập (ký hiệu là S) trên ba cạnh của hình tam giác phân phối các trạng thái rối lượng tử cho ba thiết bị đo ở ba góc của hình tam giác. Mỗi thiết bị thực hiện các phép đo chung (joint measurement) trên các hạt lượng tử đến từ hai nguồn lân cận.  Giống như trong kịch bản Bell, các công trình lý thuyết trước đây đã chỉ ra rằng cả kịch bản “song định xứ” và kịch bản “hình học tam giác” đều có thể dẫn đến tương quan lượng tử, tức là tương quan với mức độ mạnh hơn nhiều so với mức độ tương quan có thể đạt được theo cách cổ điển. Tuy nhiên, các nghiên cứu đối với cả hai kịch bản nói trên đều dựa trên sự thích ứng của tương quan lượng tử suy ra từ kịch bản Bell. Nói cách khác, những công trình như vậy cuối cùng cũng nhắm tới sự vi phạm bất đẳng thức Bell thông thường.   Dạng tương quan lượng tử mới   Thoát ra khỏi kịch bản Bell, một dạng mới thực sự của tính phi cổ điển phải là bẩm sinh từ một kịch bản mới. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa có cách chính thức để chứng minh tính bẩm sinh của một dạng tương quan mới. Tuy nhiên, có những lý do thuyết phục để tin rằng các tương quan lượng tử được Renou và các đồng nghiệp định danh với căn nguyên từ kịch bản hình tam giác. Đây là thí dụ đầu tiên về một dạng tương quan lượng tử khác biệt hoàn toàn, khác biệt về căn bản so với những gì có được từ kịch bản Bell.  Marc-Olivier Renou thuộc Đại học Geneva và các đồng nghiệp đã phát hiện ra một dạng mới của tương quan lượng tử bộc lộ trong một mạng hình tam giác phức tạp hơn đối với các nguồn tạo ra các trạng thái rối lượng tử và các nhà quan sát. Kết quả mới này vừa được công bố trên tạp chí Physical Review Letters 123, 140401 (2019) với nhan đề “Tính phi định xứ lượng tử chính hiệu trong mạng tam giác” (Genuine quantum nonlocality in the triangle network). Điều này gợi ý một cách trêu ngươi là có thể có cả một ‘sở thú’ của các dạng tương quan phi cổ điển hoàn toàn khác biệt (khác biệt về chất, khác biệt một cách cơ bản) so với những gì đã được Bell xác định.   Cách tiếp cận của Renou và các đồng nghiệp là tập trung vào kịch bản tam giác và xác định đúng dạng tương quan lượng tử mới. Họ đã chọn các loại hạt lượng tử đơn giản nhất (là các qubit có hai mức năng lượng) và tập trung chú ý vào các tình huống gắn với tính đối xứng của hình tam giác (Hình 1): Trên ba cạnh là ba nguồn tạo ra cùng một loại trạng thái rối và phân phối cho ba người quan sát ở ba góc; ba người quan sát này sẽ thực hiện cùng một loại phép đo. Giả định này làm đơn giản vấn đề một cách đáng kể: chỉ có một sự lựa chọn đối với trạng thái rối và một sự lựa chọn đối với phép đo. Các nghiên cứu sơ bộ về kịch bản tam giác đã chọn các trạng thái và các phép đo có tính phi cổ điển cao, xem như chúng  được “rối tối đa” với nhau. Tiếc thay, người ta đã nhanh chóng phát hiện ra tính lượng tử của các trạng thái và các phép đo “rối tối đa” như vậy, khi được kết hợp trong một mạng hình tam giác, sẽ triệt tiêu lẫn nhau, dẫn đến các tương quan không hề mạnh hơn các tương quan cổ điển.  Một ý tưởng để tiến lên là giữ các trạng thái giống nhau như trước nhưng làm các phép đo khác nhau. Gần đây, Nicholas Gisin, một trong những tác giả của bài báo mới nói trên, đã đề xuất một sự lựa chọn ít hiển nhiên hơn đối với các phép đo. Nhờ vậy nhóm của ông đã đưa ra được các kết quả tính số đầy hứa hẹn. Tuy vậy họ vẫn không thể chứng minh được rằng các tương quan mà họ thu được là phi cổ điển.       Hình 2: Ba người quan sát A, B và C ở ba góc của hình tam giác. A và B chia sẻ với nhau một trạng thái rối hai qubit ‌‌‌‌|ya>AgBg A và C chia sẻ với nhau một trạng thái rối hai qubit ‌|yb>ABCB còn B và C chia sẻ với nhau một trạng thái rối hai qubit |ya>BACA  Sau đó, Renou và các cộng sự đã mở rộng “kịch bản hình tam giác” như sau. Giả sử ba nguồn độc lập tạo ra ba trạng thái rối hai qubit ‌‌‌‌‌‌‌|ya>AgBg , ‌|yb>ABCB và |ya>BACA rồi phân phối các qubit của các trạng thái rối đó cho ba người quan sát A, B và C ở ba góc của hình tam giác như trên Hình 2: A sở hữu qubit Ab và Ag, B sở hữu qubit Ba và Bg  còn C sở hữu qubit Ca và Cb. Ba người quan sát A, B và C đo hai qubit của mình và nhận được kết quả tương ứng là a, b và c. Các phép đo được thiết kế phức tạp hơn như một sự kết hợp giữa các thành phần lượng tử với các thành phần cổ điển. Các số liệu thống kê của các phép đo được đặc trưng bởi hàm phân bố xác suất chung (joint probability distribution) P (a,b,c). Vì các nguồn tạo rối là độc lập nên việc tính trực tiếp P (a,b,c) là khó. Vì vậy các tác giả đã tiếp cận vấn đề một cách gián tiếp. Đầu tiên, các phân bố xác suất lượng tử chung (joint quantum probability distribution) PQ(a,b,c) được dẫn ra một cách tường minh dựa trên các trạng thái rối cụ thể và các phép đo (phức tạp) cụ thể. Sau đó, các tác giả cho thấy rằng PQ(a,b,c) không thể nhận lại được bởi bất kỳ mô hình cổ điển định xứ nào. Các tác giả đã không dựa vào việc vi phạm các bất đẳng thức Bell, mà dựa trên một mâu thuẫn logic. Nói một cách chính xác hơn, đầu tiên họ xác định một số thuộc tính cần thiết mà bất kỳ mô hình cổ điển định xứ nào cũng cần phải có để tái tạo được PQ(a,b,c) và sau đó họ cho thấy rằng các thuộc tính này không thể tất cả đều được thỏa mãn cùng một lúc. Bằng cách đó, họ đã có thể chỉ ra một cách giải thích rằng các tương quan mà họ thu được không hề tương thích với bất kỳ một kiểu giải thích cổ điển nào.  Xác định được dạng tương quan lượng tử mới lạ này chỉ là bước đầu tiên. Bản chất của các trạng thái và các phép đo được lựa chọn – vốn đã được gắn với hình học của hình tam giác – là một gợi ý các dạng tương quan này không thể chỉ là một biểu hiện của tính phi định xứ Bell thông thường. Nhưng để chứng minh điều đó, cần phải tiến hành các nghiên cứu sâu hơn. Ngoài kịch bản Bell, và bây giờ là cả kịch bản hình tam giác, còn có nhiều kịch bản khác mà theo đó các dạng tương quan lượng tử chưa từng được biết tới trước đây có thể sẽ được khám phá. Giống như tính phi định xứ Bell đã được công nhận là một nguồn tài nguyên cho các nhiệm vụ trong lĩnh vực mật mã – như phân phối khóa lượng tử và tạo các bit ngẫu nhiên thực thụ – một số dạng tương quan lượng tử mới loại này sẽ có thể được sử dụng trong các nhiệm vụ mới phù hợp với các kịch bản mới. Thật khó để dự đoán đó là những nhiệm vụ cụ thể gì, nhưng công bố mới này cho thấy kịch bản hình tam giác có thể là nơi tốt nhất để bắt đầu tìm kiếm những dạng tương quan lượng tử hoàn toàn mới.□  Nguyễn Bá Ân tổng hợp   Nguồn: https://physics.aps.org/articles/v12/106?utm_campaign =weekly&utm_medium=email&utm_source=emailalert và https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/Phys evLett.1 23.140401    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một dạng mới của Vi phạm đối xứng được phát hiện      Các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Gia tốc Tuyến tính Stanford (SLAC) vừa phát hiện ra một dạng mới của Vi phạm đối xứng. Kết quả này được hy vọng là sẽ đem lại khả năng tốt hơn trong việc tìm hiểu sự bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất. Nó cũng có thể là một trong những cơ sở để xây dựng những mô hình vật lý trong tương lai, vượt ra ngoài Mô hình Chuẩn.    Nghiên cứu về những phân rã cực hiếm của các hạt đã đem lại một số chứng cứ đầu tiên gợi ý cho sự phá vỡ Mô hình Chuẩn. Bằng việc đạt tới những ngưỡng mà tại đó, sự bất đối xứng trong những phân rã này có thể được quan sát, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu hé mở cánh cửa để đi tìm những mô hình vật lý mới.  Kết quả mới này được nghiên cứu trên cơ sở xem xét giản đồ phân rã “hình chim cánh cụt” – trong đó, một hạt B sẽ phân rã thành hai hạt khác là meson Eta-phẩy và meson K trung hòa. Phân rã kiểu chim cánh cụt này là hiếm hơn mười lần so với các tương tác trước đây được sử dụng để đo sự bất đối xứng vật chất-phản vật chất.   “Những phân rã như vậy là rất khó để nhận diện. Nhưng một vài năm gần đây, chúng tôi đã biết cách để phân tách rõ ràng một trong một triệu sự kiện,” Giáo sư James Smith thuộc Đại học Colorado nói. “Chúng tôi đang chờ đợi thêm nhiều kết quả thú vị nữa”.  Theo Stanford Linear Accelerator Center   P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một đạo luật góp phần nâng cao sức cạnh tranh      Tại cuộc toạ đàm về Dự thảo Luật Công nghệ cao do Bộ KH&amp;CN tổ chức, có khá nhiều ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân cho rằng Luật Công nghệ cao ra đời sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu triển khai cũng như lợi ích kinh tế từ lĩnh vực này.        Khái niệm công nghệ cao được đề cập ở Việt Nam vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước và được sử dụng một cách rộng rãi, chính thức trong các tài liệu khoa học, các văn bản, văn kiện của Đảng và Nhà nước vào thập kỷ 80, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây.    Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này còn tản mạn, chưa thống nhất và đồng bộ; thiếu các hướng dẫn cụ thể trong nhiều lĩnh vực. Một số khía cạnh liên quan tới công nghệ cao được điều chỉnh đơn lẻ trong các đạo luật chuyên ngành (Luật Khoa học & Công nghệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử) mà chưa có một văn bản luật điều chỉnh thống nhất và toàn diện lĩnh vực này. Các chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng phát triển công nghệ cao mới được thể chế hoá ở các văn bản có hiệu lực pháp lý thấp, chủ yếu ở cấp Thủ tướng Chính phủ, cấp Bộ và nhìn chung còn mang tính định hướng. Các quy định về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, chuyển giao công nghệ, thị trường công nghệ, đào tạo – sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ cao chỉ được điều chỉnh bởi một số quy định rời rạc trong các đạo luật khác nhau. Các quy định về ưu đãi, khuyến khích, thu hút đầu tư, quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng ứng dụng và phát triển công nghệ cao chủ yếu được quy định tại các văn bản về khu công nghệ cao ở tầm dưới Luật.  Vì vậy hầu hết các đại biểu tham dự toạ đàm đều cho rằng việc ban hành Luật Công nghệ cao là cần thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên WTO.  Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Đình Tiến, “Luật Công nghệ cao là phương tiện cực kỳ quan trọng để hiện đại hoá các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam. Nếu không có Luật này, các sản phẩm Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục tiêu tốn nhân lực và vật lực, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ rất khó thực hiện”. Thứ trưởng Lê Đình Tiến nhận định: “Các bộ Luật liên quan tới lĩnh vực khoa học đã tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh. Chính vì vậy, các công ty ‘khổng lồ” như Intel, Nidec chỉ đầu tư hàng tỷ USD vào Việt Nam khi chúng ta có một hệ thống pháp lý tương đối hoàn thiện”.  Nội dung Dự thảo Luật công nghệ cao   Thứ trưởng Lê Đình Tiến cho biết: Luật gồm 6 chương, 37 điều nhằm quy định về hoạt động và các biện pháp thúc đẩy công nghệ cao. Trong Chương I “Những quy định chung” của Dự thảo, các khái niệm “công nghệ cao”, “hoạt động công nghệ cao”, “ươm tạo công nghệ cao”, v.v…được định nghĩa. Các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên xác định theo nguyên tắc “phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cao của thế giới”, “có hiệu quả lớn đối với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế” , cụ thể là các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tự động hoá và vật liệu mới – những lĩnh vực dù các nhà khoa học của ta chưa nắm được công nghệ “nguồn” nhưng những ứng dụng của nó đã rất phổ biến ở Việt Nam.  Chương II của Dự thảo về “Ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao” nêu những biện pháp khuyến khích hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao như ưu đãi về thuế, Nhà nước hỗ trợ đào tạo nhân lực… Theo đó, việc ứng dụng các công nghệ cao đáp ứng những yêu cầu “tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao”, “tiết kiệm năng lượng”, “bảo vệ sức khoẻ con người”… sẽ được khuyến khích hỗ trợ. Các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao sẽ là “ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu ở mức cao nhất”, “được trích khấu hao nhanh đối với tài sản cố định đầu tư cho dự án ứng dụng công nghệ cao”, “được Chương trình quốc gia về công nghệ cao xem xét hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo”. Trong việc nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ cao, các tổ chức, cá nhân sẽ “được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ”. Đây chắc chắn sẽ là điều được rất nhiều doanh nghiệp hoan nghênh.  Chương III của Dự thảo về “Công nghệ cao và Doanh nghiệp công nghệ cao” quy định: “Chính phủ xác định và xây dựng chiến lược phát triển một số ngành công nghệ cao”. Các Bộ, UBND tỉnh, Thành phố thuộc Trung ương triển khai nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc gia về công nghệ cao như xây dựng cơ sở ươm tạo, xây dựng công nghiệp phụ trợ. Các dự án sản xuất sản phẩm cùng các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, cơ sở ươm tạo… đáp ứng những số yêu cầu như có sản phẩm, dịch vụ trong Danh mục công nghệ cao, có đầu tư liên tục cho R&D, có đội ngũ cán bộ trình độ cao… sẽ được ưu đãi về đất, thuế. Các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm cho công nghệ cao cũng được quy định “hưởng mức ưu đãi cao nhất trong thuế thu nhập doanh nghiệp”.  “Phát triển nhân lực công nghệ cao” – một trọng tâm quan trọng của Dự thảo – được nêu trong Chương IV với các chi tiết về quy hoạch phát triển, đầu tư phát triển cơ sở đào tạo, sử dụng nhân lực công nghệ cao. Theo đó, “Bộ Khoa học và công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ ngành có liên quan xây dựng trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch quốc gia phát triển nguồn nhân lực”. Trong sử dụng nhân lực công nghệ cao, “Nhà nước có chế độ lương, nhà ở và điều kiện thuận lợi để thu hút nhân lực công nghệ cao vào làm việc tại cơ sở do Nhà nước quản lý”. Ngoài ra, chuyên gia công nghệ cao là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.  Các yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ, quy hoạch phát triển khu công nghệ cao được xác định trong Chương V “Khu Công nghệ cao”. Chương này cũng xác định, các tổ chức, cá nhân khi đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng công nghệ cao sẽ được “giao đất không thu tiền”, được “hỗ trợ một phần kinh phí từ Chương trình quốc gia về công nghệ cao”, v.v…      “Ưu đãi phải kèm chế tài”    Đồng tình với Thứ trưởng Lê Đình Tiến về sự cần thiết của Luật CNC, GS Nguyễn Thu Vân, Giám đốc Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 cho rằng Luật “chắc chắn sẽ được các nhà khoa học hoan nghênh”. Nếu coi công nghệ cao là một giải pháp đột phá bảo đảm nâng cao năng suất và chất lượng cạnh tranh của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực KH&CN của nước nhà thì Dự thảo Luật cũng cần đề cập đến chính sách “bảo hộ sản phẩm công nghệ cao sản xuất trong nước”. Tuy nhiên GS Vân cũng nhấn mạnh: “ưu đãi trong Luật rất lớn, nên phải kèm theo đó là chế tài”. Ở một số chi tiết, GS Vân tỏ ra băn khoăn: “Luật ưu đãi các doanh nghiệp công nghệ cao ‘mới ươm tạo”, nhưng các doanh nghiệp công nghệ cao đã hoạt động lâu thì ưu đãi như thế nào?” Trong phần ưu đãi nhân lực, GS Vân cho rằng: “Có cảm giác ưu đãi nhà khoa học Việt Nam định cư ở nước ngoài hơn nhà khoa học trong nước”.  Bài tham luận của Anh hùng Lao động Lý Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Tổng công ty TNHH Minh Long I là câu chuyển kể về con đường qua nhiều gian nan đi tìm công nghệ cao dẫn đến thành công của gốm sứ Minh Long thực sự là bài học sinh động và thiết thực cho việc tìm ra những giải pháp hiện đại hoá, nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề truyền thống. Theo ông Minh, cần có sự tách bạch rõ những ưu đãi về thuế trong nhập khẩu thiết bị công nghệ cao. Lý do là đầu tư công nghệ cao cần thời gian dài hơn. Ví dụ như máy móc gốm sứ từ lúc đặt hàng cho đến khi máy về đến Việt Nam là 8 tháng, giai đoạn lắp ráp và vận hành thử nghiệm mất 3 – 4 tháng, tổng cộng mất hơn 1 năm. Bên cạnh đó, thiết bị càng hiện đại càng khó vận hành và cần thời gian hiệu chỉnh trong những năm đầu sản xuất nên cần được ưu đãi về thuế như đầu tư công nghệ cho vùng sâu vùng xa.  TS Nguyễn Quang A thì tỏ ra “lo lắng” vì “Dự thảo Luật nói đến ưu đãi quá nhiều”, “không cẩn thận thì ‘ưu đãi’ thành ‘phản ưu đãi’, bởi đã có nhiều ví dụ trong nền kinh tế Việt Nam chứng minh điều này”. Theo TS Nguyễn Quang A, “tinh thần” của Dự thảo Luật này dường như vẫn dựa trên “tư duy cũ”, vì thế “có khi mục tiêu, ý định rất hay, nhưng không nhìn ra hết hệ quả của nó”.   Xuất thân là nhà khoa học nông nghiệp, Hiệu trưởng Trường ĐH Nông nghiệp I Trần Đức Viên cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh nông sản khốc liệt, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, v.v… thì “lối thoát của công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn chỉ là công nghệ cao”, song “Dự thảo Luật đã ít đề cập tới công nghệ cao trong nông nghiệp”.   Giám đốc Công ty phát triển Công viên phần mềm Quang Trung, Chu Tiến Dũng nhận định: “Có lẽ sẽ cần rất nhiều hướng dẫn cho Luật này” bởi rất nhiều khái niệm như “cung ứng dịch vụ công nghệ cao”, “nhân lực công nghệ cao” vẫn chưa được làm rõ.  Đồng ý với TS Nguyễn Quang A về việc Luật Công nghệ cao chỉ nên tạo môi trường chứ không “ưu đãi” hoạt động công nghệ cao, song từ thực tế đang xây dựng Viện tiên tiến Khoa học và công nghệ mới thành lập, TS Phạm Hoàng Lương cho rằng vẫn cần Nhà nước “hỗ trợ”, vì “những lĩnh vực như công nghệ sinh học hay vật liệu mới, nếu Nhà nước không hỗ trợ, nhất là về nhân lực thì rất… khó”.  PGS Nguyễn Ngọc Châu- một trong những người còn băn khoăn về tính khả thi của Luật này, cho rằng bất kỳ điều luật nào ra đời cũng phải trên cơ sở phục vụ thực tiễn cuộc sống – tức là có hiệu lực điều chỉnh các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đòi hỏi. Luật Công nghệ cao khó có một cơ sở như vậy khi mà ở Việt Nam nền tảng công nghệ cao hầu như chưa hình thành. Ngoài ra, điều đáng lưu ý là ngay cả nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Tây Âu có nền KH&CN phát triển cũng không có một luật riêng cho công nghệ cao. Luật Công nghệ cao ra đời trong khi các luật khác liên quan (như Luật KH&CN, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật GD&ĐT, Luật Doanh nghiệp) còn chưa hoàn thiện, sẽ có thể xuất hiện các vấn đề hoặc các xung đột giữa Luật Công nghệ cao với các văn bản pháp luật khác (như Nghị định 115). Mặt khác, khi điều kiện chưa chín muồi, nhiều tổ chức cá nhân có thể nhân danh công nghệ cao, lợi dụng các ưu đãi của Luật để “làm nghèo đất nước”.  Phó Chủ nhiệm UB KH-CN&MT Quốc hội Nghiêm Vũ Khải đánh giá: “Dự thảo Luật này tương đối chi tiết và khả thi” và cho biết: Dự thảo Luật Công nghệ cao sẽ được Quốc hội cho ý kiến vào ngày 28/5, sau Ban soạn thảo sẽ tiếp tục xây dựng và dự kiến đến cuối tháng 10, Quốc hội sẽ cho ý kiến và thông qua Luật này.    Việt Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một đời dành cho cây lúa      Chỉ sau gần 100 ngày, một giống lúa mới trên những thửa ruộng khảo nghiệm từ Hải Phòng, Hà Nam đến Bắc Giang, Lào Cai, Hòa Bình và ngoại thành Hà Nội đã đến vụ thu hoạch. Đó là giống lúa lai hai dòng đầu tiên có tên Việt Lai 20 hoàn toàn “Made in Việt Nam”, sản phẩm của đề tài “Giống lúa lai hai dòng” do PGS TS Nguyễn Văn Hoan, Khoa Nông học – ĐHNN I Hà Nội, làm chủ nhiệm.    Trên đường ra ruộng thí nghiệm, nếu không nghe thấy những cô cậu sinh viên chào “Thầy ra thăm ruộng ạ”, thì người ta dễ tưởng ông là một “nông dân” chính hiệu. Giữa cái nắng oi ả đầu hè, phe phẩy chiếc mũ cối xanh rêu, ông thổ lộ, “Cây lúa như là cái duyên, cái nghiệp của mình vậy”.  Sinh ra trên mảnh đất trung du Phú Thọ, khi còn nhỏ, nhà ông đã có hẳn một “trang trại” lớn. Có lẽ vì vậy mà ông đã “bén duyên” với nông nghiệp từ đó. Kết thúc những năm theo học về “Di truyền giống” và nghiên cứu lúa mì ở Bulgary, ông được phân công về công tác ở ĐHNN1 và bắt tay ngay vào nghiên cứu về lúa nước. Nhiều người lúc đó gàn ông vì lý do “lúa mì” khác xa “lúa nước”, nhưng ông vẫn bỏ ngoài tai, “bướng bỉnh” lao vào nghiên cứu, phân tích chọn tạo nhiều giống lúa lai. Đóng góp “khởi nghiệp” quan trọng của ông là cho ra đời giống lúa ĐH60. Đây là giống lúa đầu tiên góp phần hình thành nên vụ hè thu và nhanh chóng được gieo trồng ở Bắc Trung Bộ rồi lan sang cả Nam Trung Bộ thời đó. “Vạn sự khởi đầu nan”, từ đây nhiều kết quả nghiên cứu về lúa tiếp tục được tạo ra trong sự kiên trì của nhà khoa học này. Ông quan niệm: “Muốn trở thành một nhà khoa học nông nghiệp, thì trước hết phải là một người nông dân”, nên chẳng lấy làm lạ khi thấy ông lội ruộng, rồi cũng “tay cuốc, tay cày” như bao người nông dân chân chất vậy.  Từng lặn lội khắp đó đây, từ đỉnh cao Phanxipăng đến những vùng kênh rạch, miệt vườn Nam Bộ, rồi ra xa tận quần đảo Trường Sa để thu thập nguồn gen, đánh giá vùng sinh thái, nhưng “nghiệp” của ông gắn với cây lúa.  Những cây lúa “Made in Việt Nam”  “Với dân số tăng nhanh như hiện nay và diện tích đất trồng lúa giảm hàng năm do đô thị hóa, phát triển các khu công nghiệp và mở đường giao thông qua những vùng đất trồng lúa phì nhiêu, thì đến năm 2025, nếu không đẩy mạnh nghiên cứu, mở rộng sản xuất lúa lai chúng ta sẽ bị thiếu lương thực trầm trọng. Lúa lai là câu trả lời cho vấn đề này”, TS Nguyễn Văn Hoan nhận định.  Qua nhiều năm thu thập mẫu vật, phân tích và chọn tạo, TS Nguyễn Văn Hoan và cộng sự đã cho ra đời giống lúa Việt Lai 20 (VL20). Đây là dòng lúa được chọn tạo trên cơ sở dòng bất dục mẹ kiểu TMGS và dòng bố là dòng phục hồi R20. Để có đánh giá khách quan, ông đã phải lặn lội trên nhiều thửa ruộng ở khắp các tỉnh phía Bắc, vì ở đây VL20 được trồng thử nghiệm rộng rãi. Ông nhận thấy, ở những vùng đất thuận lợi như Thái Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc thì năng suất của tổ hợp lai VL20 tương đương với giống Bồi tạp Thanh sơn. Nhưng gieo trồng VL20 trên những vùng đất khó khăn như Quảng Ninh, Hải Phòng (đất hơi mặn ven biển); Hà Tây, Phú Thọ, Ninh Bình (đất chua, Trung du); Lào Cai, Bắc Giang (vùng núi các tỉnh phía Bắc) và các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Quảng Bình, Khánh Hòa thì VL 20 tỏ ra hơn hẳn đối chứng ở vụ xuân cực muộn.  Đến khi VL20 “chào đời”, TS Nguyễn văn Hoan mới thở phào nhẹ nhõm. Nghĩ đến những khó khăn gặp phải mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy “toát mồ hôi hột”. Bởi vì ban đầu nhiều người cho ông là “điên khùng” làm “những việc không thể”, ấy là chưa kể đến những “sự cố” trong quá trình nhân dòng mẹ. Để làm công việc này, ông đã phải “thám thính” nhiều nơi, tìm nhiều vùng có điều kiện thích hợp. Chuyến “công du” đầu tiên là “cưỡi” trên chiếc Cup50 leo đỉnh Ba Vì. Lên đến nơi, thấy không được, đành phải dùng “diệu kế” của kiểm lâm, buộc cành cây sau xe để “hãm tốc độ” an toàn khi “xuống núi”. Khi đến Tam Đảo, nhìn thấy nước thì reo lên sung sướng. Nhưng khi vừa đặt nhát cuốc đầu tiên liền bị “tóm” vì xâm phạm vùng sinh thái quốc gia. Không bỏ cuộc, ông lại ngược lên Sa Pa và nhận thấy mọi điều kiện ở đây rất thích hợp cho công việc nhân dòng. Nhưng rồi cũng lại làm ông thất bại vì mây mù quá, hơi nước bão hòa, thiếu ánh nắng làm cây lúa ngắn lại không phát triển. Đúng là “quá tam ba bận”, rồi cuối cùng ông cũng tìm đến được thung lũng Bắc Hà. Được sự phối hợp của Công ty giống cây trồng Lào Cai, dòng mẹ được nhân lên ngoài mong đợi.  VL20 có nhiều ưu việt như thời gian sinh trưởng cực ngắn: vụ mùa 90-95 ngày; vụ xuân từ 115-120 ngày. Năng suất của VL20 cũng khá cao: 65-75 tạ/ha ở vụ hè thu, 70-80tạ/ha ở vụ đông xuân. “Những giống lúa nhập nội của Trung Quốc công việc chăm bón đòi hỏi yêu cầu cao, khắt khe mới cho năng suất ổn định. Trong khi đó, những giống lúa lai hai dòng do chúng ta sản xuất, không đòi hỏi yêu cầu chăm bón nghiêm ngặt như thế”, TS Nguyễn Văn Hoan cho biết. Do được chọn lọc và sản xuất ở Việt Nam nên khả năng chống chịu sâu bệnh của VL20 tốt hơn hẳn bất cứ giống nhập nội nào.  Bởi vì “Made in Việt Nam” nên giá thành hạt giống của VL20 thấp hơn khoảng 30% giống nhập nội từ Trung Quốc. TS Nguyễn Văn Hoan cho biết thêm, “Trong thời gian tới các nhà sản xuất phấn đấu duy trì với giá thấp hơn giống nhập nội 40%”.  Từ phòng thí nghiệm ra thị trường  TS Nguyễn Văn Hoan cho rằng, thành công của VL20 không chỉ là thành công của cá nhân hay một nhóm nghiên cứu, mà nó đã khẳng định rằng, các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ được công nghệ lai tạo. Nếu ngày trước, hàng năm chúng ta phải bỏ ra một khoản tiền khoảng 40-50 triệu USD để mua giống nhập nội, thì hôm nay chúng ta có thể thay thế đến 60% (khoảng 30 triệu USD).  Quan trọng hơn, thành công này đã kích thích sáng tạo đối với các nhà khoa học, vô hình trung đã hình thành nên một trường phái nghiên cứu về lúa lai hai dòng sánh ngang với thế giới trong trường ĐHNN1. Chỉ một năm sau, giống TH3-3 ra đời và được công nhận là giống quốc gia, tiếp đó là giống VL24, TH3-4 rồi TH5-1 cũng lần lượt được công nhận. Những giống lúa lai TH3-3, TH3-4 do TS Nguyễn Thị Trâm và cộng sự ở Viện sinh học Nông nghiệp-ĐHNN1 chọn tạo cũng đã đem lại nhiều lợi ích cho bà con nông dân do giá thành hạt giống rẻ hơn 25-30%, chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ít hơn 20%, năng suất cao và giá thành thóc thương phẩm cao hơn 10%. Đây thực sự trở thành “luồng gió mới” cho cây lúa Việt Nam. Việc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Kỹ thuật cao Hải Phòng mua bản quyền giống VL20 đã tạo ra bước khởi đầu đột phá trong việc bắt tay chặt chẽ giữa nhà khoa học, nhà quản lý và nhà sản xuất.  Viện Nghiên cứu lúa được thành lập đầu năm 2006 mà TS Hoan làm giám đốc là minh chứng cho lớn mạnh của “phong trào” nghiên cứu và sản xuất lúa lai ở trường ĐHNN1. Đây là một trong những viện nghiên cứu đầu tiên hoạt động theo tinh thần của Nghị định 115: các đơn vị nghiên cứu hoàn toàn tự lập (tự hạch toán, tự nghiên cứu, tự trả lương). Với “lực lượng” còn khiêm tốn, khoảng 40 người bao gồm cả một số cán bộ giảng dạy, và sau một năm chứng minh vượt lên bao khó khăn bộn bề, Viện đã khẳng định khả năng tự “nuôi mình”. Ban đầu, nhà trường chỉ  “hỗ trợ” 5 “biên chế” cho bộ máy lãnh đạo, đến năm 2008 chỉ còn 2 xuất và đến năm 2009 thì viện hoàn toàn phải “tự nuôi”.  Để tự “bơi”, tìm nguồn kinh phí, Viện đã đăng ký kinh doanh tiến hành sản xuất hạt giống bố mẹ bán cho các công ty giống cây trồng các tỉnh; sản xuất hạt giống F1 đóng gói nhãn mác bán cho bà con nông dân. Ngoài ra, Viện còn tiến hành sản xuất, tư vấn theo đơn đặt hàng của các sở nông nghiệp. Một nguồn kinh phí khác thu được từ việc tham gia đấu thấu các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ. Theo TS Nguyễn Văn Hoan thì nguồn kinh phí này hiện tại mới chỉ đáp ứng được từ 5-10%, nhưng về lâu dài, đây sẽ là nguồn kinh phí chủ yếu. Nguồn tài chính thu được ngoài việc trang trải trả lương còn được sử dụng để sản xuất và quay vòng đầu tư cho nghiên cứu.  Do tính ưu việt vượt trội, VL20 nhanh chóng được đặc cách công nhận là giống quốc gia trước hơn một năm và được bà con nông dân chấp nhận rộng rãi. Năm 2002, diện tích gieo trồng VL20 khoảng 500ha, năm 2003 đạt 700ha thì đến năm 2004 tăng lên khoảng 17.000ha. Ngày nay, VL20 đã được gieo trồng trên diện rộng ở nhiều tỉnh thành cả nước như Hải Phòng, Lào Cai, Thanh Hóa, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Nội…  ảnh trên: PGS TS. Nguyễn Văn Hoan đang kiểm tra giống trên ruộng thí nghiệm của Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội      Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một “đòn bẩy” cho nghiên cứu khoa học      Việc Quỹ Phát triển KH&amp;CN Quốc gia sẽ chính thức đi vào hoạt động trong năm 2007, đánh dấu một bước phát triển mới trong quản lý hoạt động khoa học. Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Lê Đình Tiến đã có cuộc trao đổi với phóng viên Tia Sáng một số vấn đề về Quỹ này.    PV: “Làm dự toán, giải trình tài chính còn mệt hơn nghiên cứu”, “quy chế tài chính buộc nhà nghiên cứu phải ‘nói dối”… Không ít nhà khoa học đã than phiền như vậy. Phải chăng, khi đi vào hoạt động, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia sẽ góp phần quan trọng thay đổi điều đó?  Thứ trưởng Lê Đình Tiến: Cho đến thời điểm này, hoạt động khoa học – từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu triển khai – của nước ta vẫn theo kế hoạch, chủ yếu do Nhà nước tài trợ. Quản lý khoa học theo kế hoạch đã bộc lộ nhiều bất cập. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học mà như cho công trình xây dựng: đầu năm duyệt kế hoạch, các hạng mục… Hết năm quyết toán, không thực hiện được thì xuất toán. Trong khi đó, đặc thù của khoa học là nghiên cứu điều chưa biết, làm sao có thể kế hoạch hóa điều chưa biết. Mặt khác, không ai có thể tiên liệu được thời điểm, quy mô bệnh vàng lùn xoắn lá, dịch cúm gia cầm… Vì thế, với quy chế tài chính cũ, không thể đáp ứng kịp thời kinh phí để nghiên cứu ngăn chặn những bệnh dịch trên. Với Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, cơ chế tài chính cho khoa học sẽ theo nguyên tắc: thông thoáng, linh hoạt, phù hợp với hoạt động khoa học và kích thích hiệu quả hoạt động nghiên cứu. Ở đây, cơ chế tài chính sẽ không là rào cản, mà là một đòn bẩy cho nghiên cứu khoa học.     Xin Thứ trưởng cho biết đôi nét về cơ cấu tổ chức, nguồn vốn và hoạt động của Quỹ?              Nghiên cứu nuôi cấy tế bào mô ở Viện Bỏng quốc gia        Trên cơ sở Luật KH&CN, và Nghị định 112/2003/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia, năm 2006, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ký quyết định thành lập Hội đồng Quỹ và bổ nhiệm nhân sự Cơ quan điều hành Quỹ. Cơ cấu của Quỹ gồm Hội đồng quản lý Quỹ, Cơ quan điều hành Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ, Hội đồng Khoa học. Hội đồng quản lý Quỹ quyết định phương hướng và kế hoạch hoạt động của Quỹ trên cơ sở các định hướng ưu tiên phát triển KH&CN của Nhà nước. Cơ quan điều hành Quỹ có nhiệm vụ chuẩn bị và thực hiện các quyết định của Hội đồng quản lý Quỹ. Hội đồng Khoa học có nhiệm vụ tư vấn, đánh giá các nghiên cứu được Quỹ tài trợ. Vì là quỹ đầu tiên cho hoạt động khoa học nên việc xây dựng cơ cấu, quy chế hoạt động cho Quỹ đều học tập từ mô hình quỹ khoa học của các nước phát triển.  Ngoài nguồn vốn cấp ban đầu 200 tỷ đồng từ ngân sách sự nghiệp khoa học và được bổ sung hằng năm, Quỹ cũng huy động nguồn vốn ngoài ngân sách như các khoản đóng góp tự nguyện, hiến tặng của các tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế. Với nguồn vốn này, Quỹ sẽ tài trợ hoàn toàn cho nghiên cứu cơ bản, cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất, có triển vọng. Quỹ sẽ hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp và cho vay ưu đãi để giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Việc tài trợ, cho vay của Quỹ cho các hoạt động KH&CN được thực hiện theo hợp đồng.  Trọng tâm hoạt động của Quỹ trong năm 2007 này là tập trung xây dựng Quy chế hoạt động và các quy định cụ thể quản lý Quỹ. Vừa qua, Bộ KH&CN đã tổ chức xin ý kiến của nhiều nhà khoa học về Quy chế này và việc này sẽ tiếp tục làm trong thời gian tới sao cho phù hợp với đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. Đồng thời cùng với Bộ Tài chính xây dựng thông tư hướng dẫn về cơ chế, chế độ tài chính của Quỹ.  Dù có các quy định, cơ chế hoàn thiện tới đâu, Quỹ cũng sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu những người điều hành giỏi, nhất là các thành viên Hội đồng Quản lý Quỹ. Thứ trưởng có thể cho biết tiêu chí để tuyển chọn thành viên Hội đồng này?  Thành viên Hội đồng quản lý Quỹ trước hết phải là những nhà khoa học có uy tín, đang thực sự hoạt động khoa học và những nhà quản lý khoa học có tầm nhìn chiến lược; đồng thời phải đại diện cho các tổ chức khoa học lớn: Viện Khoa học công nghệ Việt Nam, các trường đại học lớn… và đại diện các lĩnh vực khoa học mà Quỹ ưu tiên tài trợ.    Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của Quỹ sẽ như thế nào, thưa Thứ trưởng?  Chỉ tiêu để đánh giá hoạt động của Quỹ sẽ được đưa ra sau khi thống kê, phân loại kết quả các hoạt động khoa học được Quỹ tài trợ theo những chuẩn mực quốc tế. Đây sẽ là một trong những trọng tâm trong quy chế hoạt động của Quỹ.  Xin cảm ơn Thứ trưởng!  P.V thực hiện     Nhiệm vụ, quyền hạn của Quỹ:   – Công bố các định hướng ưu tiên, nội dung, yêu cầu và thể thức cụ thể để mọi tổ chức, cá nhân đề xuất nhiệm vụ khoa học công nghệ thích hợp đề nghị Quỹ tài trợ, cho vay.  – Tổ chức xét chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ để Quỹ tài trợ, cho vay.  – Ban hành Quy chế hoạt động và các quy định khác phục vụ cho hoạt động của Quỹ.  Hội đồng quản lý Quỹ:  Hội đồng quản lý Quỹ là các nhà khoa học, nhà quản lý hoạt động kiêm nhiệm theo nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên do Bộ trưởng KH&CN bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề xuất của các tổ chức KH&CN và các cơ quan quản lý.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một dự án của NASA bị phá hoại      Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA đang tiến hành điều tra một vụ phá hoại hệ thống máy tính sẽ được tàu con thoi Endeavour mang lên Trạm không gian quốc tế ISS vào tháng tới. NASA thông báo cho biết đã phát hiện tình trạng hư hại trên mạng đường dây của hệ thống máy tính và đây là việc phá hoại do cố ý nhưng vẫn có thể sửa chữa được trước khi tàu con thoi này được phóng lên không gian vào ngày 7.8. Các quan chức NASA nói rằng sự an toàn của chuyến bay cũng như của các phi hành gia vẫn được đảm bảo tuyệt đối.    Đồng thời từ hai vụ việc gần đây nhất, một ủy ban y tế độc lập đã phát hiện rằng các phi hành gia của NASA vẫn được phép bay sau khi có phát hiện mùi rượu bia mặc dù các bác sĩ đã cảnh báo rằng họ say rượu đến nỗi có thể nguy hiểm đến tính mạng. NASA đã thành lập ủy ban này để nghiên cứu các vấn đề về sức khỏe tiếp theo sau vụ nữ phi hành gia Lisa Nowak bị bắt giam vì tội bắt cóc và tấn công tình địch của mình. Các kết quả điều tra mới nhất của ủy ban này tuy không liên quan trực tiếp đến vụ Nowak nhưng đã được phản ánh trên tờ tạp chí “Aviation Week and Space Technology”.  Được biết, NASA sẽ công bố kết quả nghiên cứu về sức khỏe và tâm lý của các phi hành gia vào ngày hôm nay để chuẩn bị cho chuyến bay vào không gian của tàu con thoi Endeavour trong tháng 8.  Được biết, đây là vụ phá hoại đầu tiên các trang thiết bị của chuyến bay vào không gian mà NASA từng phát hiện. Ban lãnh đạo NASA cho rằng sự việc này không liên quan đến vụ đình công đang diễn ra tại trung tâm không gian Kennedy giữa nhà thầu hàng đầu Space Alliance của Mỹ và công đoàn các thợ máy.  Vĩnh Bảo (theo CNN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một hợp tác không tưởng      Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nhà sản xuất của cả hai phe Đông – Tây vẫn tìm thấy rất nhiều lý do để hợp tác, kể cả trong một công nghệ được coi là nhạy cảm như giữa Liên Xô và Phần Lan trong chế tạo tàu phá băng hạt nhân.      Kỹ sư ở xưởng đóng tàu Wärtsilä Helsinki ở Phần Lan chuyên đóng các tàu phá băng và tàu chở khách có khả năng tiến vào những cảng bị đóng băng. Ảnh của Volker von Bonin, 1996, được Helsinky City Musemum cho phép, giấy phép CC BY 4.0.  Mùa xuân năm 1988, công ty đóng tàu Wärtsilä có trụ sở ở Helsinki, Phần Lan đã hoàn thành một đơn hàng đặc biệt – tàu phá băng Taymyr, con tàu mới nhất của hạm đội tàu phá băng Liên Xô tại thời điểm đó. Đây là một sự kiện hiếm hoi bởi trong Chiến tranh Lạnh, chỉ duy nhất hai quốc gia có dự án đóng tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân – những người khổng lồ của đại dương với khả năng khai thông tuyến vận tải biển xuyên Bắc Băng Dương (xem thêm hình minh họa 1). Đó là Liên Xô – đất nước có đường bờ biển rất dài dọc theo Bắc Băng Dương với kinh nghiệm vượt trội trong sản xuất động cơ hạt nhân, và Phần Lan – một quốc gia nhỏ bé không hề có năng lực đóng tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân, không tiếp giáp trực tiếp Bắc Băng Dương, và cũng không có nhu cầu nội địa đối với loại phương tiện đặc biệt như tàu phá băng có khả năng vận hành ở vùng Cực.     Tàu biển chạy bằng năng lượng hạt nhân có ý nghĩa chính trị quan trọng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh bởi đây là biểu trưng cho sự vượt trội về mặt ý thức hệ, cũng như cho vị thế của quốc gia sở hữu trên trường quốc tế. Hình ảnh của những con tàu hạt nhân thường gắn liền với sức mạnh của nhà nước, năng lực của đội ngũ kỹ sư là sản phẩm của nền giáo dục của một quốc gia, và khả năng của quốc gia đó trong những lĩnh vực liên quan. Bởi vậy, việc Liên Xô – một siêu cường hạt nhân lại lựa chọn việc nhập khẩu những con tàu mang tính biểu tượng ấy từ quốc gia láng giềng nhỏ bé thay vì tự đóng chúng quả thực là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử Chiến tranh Lạnh.    Dự án hợp tác Liên Xô – Phần Lan trong việc đóng tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân là sản phẩm của mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia láng giềng này, cũng như khuôn khổ chuyển giao công nghệ Đông – Tây vốn luôn bị chính trị hóa trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nhưng khác với những sự kiện chuyển giao công nghệ chiến lược được biết tới nhiều hơn giữa hai phe Đông – Tây trong thời Chiến tranh Lạnh, dự án tàu hạt nhân Liên Xô – Phần Lan lại là câu chuyện về hợp tác đa quốc gia thay vì cạnh tranh quốc tế, trong đó một trong những nhân vật chính lại là một công ty tư nhân thay vì các tập đoàn được nhà nước chống lưng. Đó là bài học về cách một quốc gia nhỏ có thể dựa vào năng lực công nghệ để duy trì chỗ đứng trong quan hệ với một láng giềng mạnh chứ không phải câu chuyện về một cường quốc sử dụng công nghệ để làm công cụ quyền lực trong bang giao quốc tế.     Những con tàu mang giá trị trọng yếu với quốc gia     Xét trên nhiều khía cạnh, Liên Xô và Phần Lan là hai quốc gia hoàn toàn đối nghịch. Liên Xô là một đất nước rộng lớn, đông dân, một siêu cường hạt nhân, và là lãnh tụ của phe Xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, Phần Lan lại là một quốc gia tư bản với dân cư thưa thớt và từng bị người láng giềng khổng lồ đánh bại tới hai lần liên tiếp trong Chiến tranh mùa đông 1939-1940 và trong mặt trận Phần Lan 1941-1944 của Thế chiến thứ hai. Nhưng khác với một số quốc gia nhỏ ở khu vực Đông Âu, dù thất trận nhưng Phần Lan vẫn không có sự đồn trú của quân đội Liên Xô. Tuy vậy, tình thế khó khăn khi phải duy trì quan điểm trung lập ở ngay giữa chiến tuyến giữa hai phe Đông – Tây đã luôn là một vấn đề hết sức nhạy cảm với quốc gia Bắc Âu này trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh.      Tuyến đường biển xuyên Bắc Băng Dương chạy dọc bờ biển cực Bắc của Nga là tuyến đường có thể kết nối châu Âu với châu Á nhưng chỉ tàu phá băng mới có thể di chuyển trên tuyến đường này. (Ảnh của iStock.com/Rainer Lesniewski.).    Một trong những điểm chung hiếm hoi giữa hai quốc gia rất khác nhau này đó là sự quan tâm đến công nghệ tàu phá băng. Việc giao thương hàng hóa ở Phần Lan phụ thuộc rất nhiều vào hạm đội tàu phá băng của nước này trong những tháng mùa đông bởi tất cả các cảng biển của Phần Lan đều rơi vào tình trạng đóng băng trong giai đoạn này. Với một quốc gia dựa nhiều vào xuất khẩu như Phần Lan thì việc duy trì sự thông suốt trong giao thương đường biển mang ý nghĩa sống còn với sự phồn vinh của quốc gia, đồng thời việc kiểm soát đường bờ biển cũng là hết sức quan trọng để đảm bảo chủ quyền của đất nước. Về phía mình, Liên Xô luôn coi hạm đội tàu phá băng là trọng tâm của chiến lược khám phá và khai thác các lãnh thổ vùng Cực của nước này.    Các con tàu phá băng hạng nặng có vai trò trọng yếu trong việc duy trì giao thông đường biển khu vực Siberi. Tầm quan trọng của Bắc Băng Dương đã được chú ý tới ngay từ giai đoạn khởi phát của Chiến tranh Lạnh và càng ngày càng được đề cao trong những năm chia cắt Đông – Tây bởi đây là tuyến đường biển ngắn nhất nối liền Liên Xô và Hoa Kỳ. Ở cả Liên Xô và Phần Lan, sự quan tâm của công chúng dành cho các con tàu khổng lồ do nhà nước sở hữu này không chỉ dừng lại ở giá trị hàng hải của chúng, bởi với người dân hai nước thì những con tàu có cái tên ai cũng có thể nhận ra này còn là biểu tượng cho sức mạnh và năng lực. Tàu phá băng là một tượng đài về mặt công nghệ đã góp phần vào việc tạo dựng thương hiệu của Phần Lan như một quốc gia công nghiệp phương Bắc. Còn với Liên Xô, những con tàu này lại là nhân vật chính cho câu truyện về cuộc chinh phục Bắc Băng Dương mang màu sắc xã hội chủ nghĩa của đất nước này.    Sau Thế chiến thứ hai, các nhà lãnh đạo của Liên Xô đã đặt trọng tâm vào việc kiểm soát đường biên giới chiến lược dài tới 1340 km với Phần Lan. Để thực hiện việc này, Liên Xô cần Phần Lan có được một chính phủ dù có thể không theo phe Cộng sản nhưng vẫn phải tin cậy được, và sẵn sàng đồng thuận và thực hiện những đề nghị của người láng giềng. Về phía Phần Lan, ưu tiên của chính phủ nước này sau chiến tranh đó là tránh xa việc bị cuốn vào xung đột giữa các siêu cường, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế với cả hai phe Đông – Tây. Hiểu được những quan tâm chiến lược của lãnh đạo quốc gia láng giềng, Chính phủ Phần Lan đã đưa ra nguyên tắc ngoại giao trung lập vốn được nước này duy trì xuyên suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh.    Phần Lan đã phải cân bằng các nguyên tắc dân chủ và tư bản chủ nghĩa của đất nước này với những chính sách mang tính thực dụng trong việc tạo dựng quan hệ ổn định với Liên Xô. Các thỏa thuận về kinh tế được đàm phán và ký kết sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc đã dần được Phần Lan phát triển lên mức quan hệ chính trị phản ánh cách tiếp cận ngoại giao của nước này trong việc cân bằng giữa áp lực trong nước, và sức ép quốc tế.      NS Savannah, tàu chở khách và hàng hóa chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Hoa Kỳ.  Với Liên Xô, việc giao thương với quốc gia trung lập Phần Lan đã đem lại lợi ích cho nền kinh tế trong nước, đồng thời tạo ra tiềm năng mở rộng cho các ngành sản xuất nội địa. Còn với Phần Lan, quan hệ kinh tế với người láng giềng xã hội chủ nghĩa đã góp phần vào sự ổn định trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, và cũng đóng góp tới 1/5 tổng lượng xuất nhập khẩu của nước này. Nhu cầu tưởng như vô tận của Liên Xô với các mặt hàng tinh chế từ dầu mỏ và máy móc đã đem lại nguồn thu nhập đều đặn cho tầng lớp lao động vốn ngày một đông đảo ở các thành phố của Phần Lan. Quan hệ giữa hai nước đã chứng minh cho các nhà lãnh đạo Liên Xô thấy rằng một Phần Lan tư bản chủ nghĩa nhưng thân thiện còn có ý nghĩa hơn nhiều một quốc gia vệ tinh nơi Liên Xô có thể cho quân đội đóng quân nhưng vẫn không thể duy trì quan hệ ổn định. Mặc dù phần lớn khối lượng giao dịch ngoại thương của Phần Lan vẫn nhắm tới các thị trường phương Tây, các thỏa thuận giữa nước này và Liên Xô đã dần biến thành một biểu tượng cho khả năng chung sống trong hòa bình giữa phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.      Tàu phá băng là một tượng đài về mặt công nghệ đã góp phần vào việc tạo dựng thương hiệu của Phần Lan như một quốc gia công nghiệp phương Bắc. Còn với Liên Xô, những con tàu này lại là nhân vật chính cho câu truyện về cuộc chinh phục Bắc Băng Dương mang màu sắc xã hội chủ nghĩa của đất nước này.        Sau Thế chiến thứ hai, một trong những nhu cầu bức thiết của Liên Xô là phải tái lập và mở rộng đội tàu biển. Bước ra từ cuộc chiến này trong tư cách một quốc gia bại trận, Phần Lan buộc phải trả khoản bồi thường chiến tranh với giá trị khoảng 300 triệu USD, trong đó tàu biển chiếm một phần không nhỏ. Phần lớn trong số này là các tàu buôn và sà lan thông thường, nhưng số lượng lớn các con tàu như vậy đã buộc Phần Lan phải mở thêm các xưởng đóng tàu mới và hiện đại hóa năng lực đóng tàu vốn có của quốc gia này. Khi quá trình bồi thường kết thúc vào năm 1952, thị trường Liên Xô vẫn là mảnh đất màu mỡ cho các nhà đóng tàu Phần Lan bởi rất nhiều trong số các xưởng đóng tàu mới mở này không thể cạnh tranh về mặt giá thành với các đối thủ ở các quốc gia phương Tây khác. Về phía mình, Liên Xô đánh giá việc nhập khẩu tàu từ Phần Lan vừa là nhân tố quan trọng để xây dựng lại đội tàu thương mại vốn bị chiến tranh tàn phá nặng nề, vừa giúp vượt qua những rào cản xuất nhập khẩu vốn hạn chế khả năng của Liên Xô trong việc mua tàu từ các quốc gia phương Tây có khả năng đóng tàu vượt trội hơn Phần Lan.    Sáng kiến để Phần Lan xuất khẩu tàu phá băng sang Liên Xô đến từ một công ty tư nhân có tên Wärtsilä trong những năm đầu thập niên 1950. Đây là chủ sở hữu của một trong những xưởng đóng tàu lớn nhất Phần Lan tại Helsinki, và cũng đã có một số kinh nghiệm nhất định trong việc đóng cho chính phủ Phần Lan một số tàu phá băng. Khát vọng của Wärtsilä là đóng được những con tàu có khả năng đi lại tại các vùng biển đóng băng vốn đòi hỏi những công nghệ đặc dụng nhưng cũng đem lại lợi nhuận lớn hơn so với việc đóng tàu buôn thông thường.    Lý do cho chiến lược kinh doanh hướng Đông của công ty này cũng rất rõ ràng bởi nhu cầu tàu phá băng ở khu vực biển Baltic là rất hạn chế, trong khi vùng biển Bắc Bắc Dương do Liên Xô quản lý lại là thị trường với tiềm năng vô hạn. Đầu những năm 1950 Wärtsilä nhận được hợp đồng đầu tiên từ Liên Xô trong việc đóng ba tàu phá băng lớp Kapitan với năng lực xuyên thủng mặt biển đóng băng của biển Baltic trong mùa Đông. Từ năm 1959 đến 1969,. Phần Lan đã đóng một loạt năm tàu phá băng Bắc Cực lớp Moskva vốn được thiết kế để phá vỡ được lớp băng nhiều năm trên các vùng biển Bắc.    Trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh, tàu phá băng là những phương tiện mang ý nghĩa chiến lược, được sử dụng cho mục đích quân sự. Bởi vậy, ban đầu Ủy ban điều phối xuất khẩu đa phương (CoCom) của phe tư bản chủ nghĩa đã ngăn cản việc Liên Xô nhập khẩu loại tàu này từ phần lớn các quốc gia phương Tây. Nhưng với Chính phủ Phần Lan, thì các tàu phá băng lại hoàn toàn là các phương tiện dân sự với vai trò cung cấp dịch vụ hàng hải, bởi vậy việc xuất khẩu loại tàu này hoàn toàn không mâu thuẫn với chính sách trung lập về quân sự của nước này. Còn Liên Xô cũng xác định rằng việc thuê các nhà đóng tàu Phần Lan gánh bớt một phần nhu cầu đóng tàu phá băng trong nước chính là giúp nền công nghiệp đóng tàu Liên Xô có thể dành những xưởng đóng tàu có năng lực cao cho việc phát triển các con tàu quân sự.     Tiềm năng từ nguyên tử     Sau Thế chiến thứ hai, cả thế giới đã nhận ra rằng công nghệ hạt nhân hứa hẹn có thể đem lại cả cuộc sống và sự chết chóc: nỗi sợ hãi về một sự hủy diệt toàn diện đến từ vũ khí hạt nhân, và hy vọng của một nguồn năng lượng vô tận có thể giúp nâng cao chất lượng sống. Ngay sau khi tro tàn vừa lắng xuống trên đống đổ nát của hai thành phố bị đánh bom nguyên tử là Hiroshima và Nagasaki, các nhà khoa học và chính trị gia đã ngay lập tức tìm cách ứng dụng sức mạnh hạt nhân cho cả mục đích quân sự và dân sự.    Sự quan tâm ngày một lan rộng tới công nghệ hạt nhân đã tạo ra rất nhiều những ý tưởng và mơ mộng khác nhau, từ tàu hỏa hay máy bay sử dụng động cơ hạt nhân, cho tới máy tạo nhịp tim hay lò phản ứng mini dành cho gia đình với kích cỡ chỉ như một chiếc máy chữ. Lãnh đạo của các quốc gia cũng nhận ra rằng ứng dụng hòa bình của năng lượng hạt nhân cũng có thể biến thành công cụ tuyên truyền để họ có thể đạt được các mục đích về văn hóa, chính trị, kinh tế, hay công nghệ.    Từ khía cạnh công nghệ, các nhà thiết kế tàu thủy vốn thường phải vật lộn với việc làm thế nào để giải quyết bài toán trọng lượng của một con tàu bỗng nhận ra rằng thời gian hoạt động dài và khối lượng nhỏ của nhiên liệu hạt nhân là những ưu thế hết sức hấp dẫn của loại năng lượng mới này. Chỉ một mẩu nhỏ uranium-235 cũng đã là đủ để tạo ra nguồn năng lượng tương đương hàng tấn dầu diesel. Một con tàu được lắp đặt lò phản ứng hạt nhân hứa hẹn có thể giúp vượt qua những quãng đường xa hơn với giá thành thấp hơn và tốc độ cao hơn các phương tiện sử dụng năng lượng phi hạt nhân.    Tàu ngầm quân sự Nautilus của Hoa Kỳ là phương tiện đầu tiên hiện thực hóa được tiềm năng đó của năng lượng hạt nhân. Trong các chuyến chạy thử dưới biển đầu tiên năm 1955, Nautilus đã đi được quãng đường gấp 10 lần quãng đường bất cứ con tàu ngầm nào trước đó từng đi được, và với vận tốc cao chưa từng có tại thời điểm đó. Cũng trong năm này, Tổng thống Hoa Kỳ Dwight Eisenhower đã đề xuất việc đóng tàu thương mại chạy bằng năng lượng hạt nhân thành một phần của chương trình Nguyên tử phụng sự hòa bình (Atoms for Peace). Bốn năm sau đó, đệ nhất phu nhân Mamie Eisenhower đã chủ trì lễ đặt tên cho NS Savannah – con tàu với khả năng chở khách và hàng hóa chạy bằng động cơ hạt nhân với hai mục đích là kiểm nghiệm khả năng ứng dụng động cơ hạt nhân trên tàu dân sự, và quảng bá cho năng lực công nghệ của Hoa Kỳ. Liên Xô cho ra đời con tàu chạy bằng công nghệ hạt nhân đầu tiên cho mục đích phi quân sự vào năm 1957. Tàu phá băng mang tên Lenin được lắp đặt ba lò phản ứng nước áp lực với khả năng cấp hơi cho các tuốc-bin động cơ điện để tạo năng lượng cho chân vịt của tàu. Lenin được coi là một thành tựu đáng kể trong cuộc chạy đua công nghệ thời kỳ Chiến tranh Lạnh và trở thành một biểu tượng đầy giá trị của sự tiến bộ của chủ nghĩa xã hội, như được minh hoạ trong hình 2.    Ngoài mục đích phục vụ các nhu cầu dân sự, cả Savannah và Lenin đều được đóng và vận hành để chứng tỏ cho công chúng thấy năng lực công nghệ của quốc gia, và tiềm năng ứng dụng của năng lượng hạt nhân. Ở quy mô nhỏ hơn nhưng không kém phần tham vọng, các quốc gia mạnh về hàng hải, trong đó có những người láng giềng vùng Scandinavi của Phần Lan là Thụy Điển, Na Uy, và Đan Mạch cũng bắt đầu nghiên cứu tính khả thi của công nghệ tàu hàng sử dụng động cơ hạt nhân dù cuối cùng họ không đóng bất cứ tàu nào sử dụng công nghệ này.    Trong khi các quốc gia Scandinavi láng giềng bước chân vào kỷ nguyên nguyên tử với sự hỗ trợ của các đồng minh phương Tây, thì Phần Lan vẫn đang phải vật lộn với quá trình tái thiết hậu chiến tranh, và cố gắng tìm cho mình một vị trí phù hợp trong trật tự thế giới mới. Trong những năm đầu Chiến tranh Lạnh, Phần Lan không thể nghiên cứu phát triển năng lượng hạt nhân vì lo ngại sự đổ vỡ của vị thế trung lập vốn mong manh và nhạy cảm của nước này giữa chiến tuyến của hai phe Đông – Tây. Mặc dù không tham gia cuộc chạy đua về công nghệ hạt nhân, Phần Lan vẫn mong muốn trở thành quốc gia hiện đại và vượt trội về mặt công nghệ. Các kỹ sư Phần Lan đã theo dõi và học hỏi từ các tạp chí công nghệ quốc tế, để từ đó có được rất nhiều báo cáo về các ứng dụng mới mẻ của năng lượng nguyên tử, cũng như về các dự án nghiên cứu mới. Họ cùng đọc các tài liệu nghiên cứu giống như đồng nghiệp nước ngoài, và trở nên hết sức quan tâm tới tiềm năng của năng lượng hạt nhân.□ (Còn tiếp)     Nguyễn Việt Phương dịch  Đây là một bản rút gọn từ bài nghiên cứu “Flashy flagships of Cold War cooperation: The Finnish– Soviet nuclear icebreaker project” (Biểu trưng hào nhoáng cho hợp tác thời Chiến tranh Lạnh: Dự án tàu phá băng hạt nhân Phần Lan – Liên Xô), Technology and Culture 60, 347 (2019).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một lần gặp Bhaskar Save      Trong ông có một vị hiền triết hiểu rõ đạo  trời, có người nông dân chăm chỉ làm việc trên mảnh đất ông cha để lại,  có nhà khoa học cần mẫn thu thập số liệu, và có nhà hoạt động xã hội  không ngừng cổ súy cho nền nông nghiệp hữu cơ.     Tháng 4/2012, tôi được tham gia khóa học “Đào tạo lãnh đạo phong trào nông nghiệp hữu cơ” do IFOAM tổ chức tại Ấn Độ. Học viên đến từ các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Bhutan, Nepal, Philippines và Việt Nam với thành phần đa dạng: nhà kinh doanh sản phẩm hữu cơ, giáo sư giảng dạy và nghiên cứu về nông nghiệp hữu cơ, quan chức chính phủ, cán bộ khuyến nông, nhà báo và các nhà hoạt động xã hội. Mặc dù vị trí công việc khác nhau, chúng tôi gặp nhau ở một điểm chung: tình yêu nông nghiệp hữu cơ. Trong mười ngày học tập, phần lớn thời gian dành cho việc tiếp xúc với những cá nhân có thành tựu nổi bật trong việc phát triển nông nghiệp hữu cơ, nghe những câu chuyện truyền cảm hứng từ họ. Ấn tượng nhất đối với tôi là câu chuyện về lão nông Bhaskar Save, người được phong là vị thánh nông nghiệp hữu cơ ở Ấn Độ.  Chúng tôi đến thăm trang trại của ông vào một buổi chiều muộn. Trước mắt chúng tôi hiện ra một khu rừng, cây cối um tùm, tưởng như không có dấu chân người. Một cụ già trong bộ trang phục truyền thống bước ra, và ngay lập tức những người bạn Ấn Độ cúi rạp đầu xuống đất thể hiện sự tôn kính tột bậc. Với nụ cười hiền từ, ông giảng giải triết lý làm nông như một tôn giáo, một con đường để con người đến với Thượng đế. Với niềm tin như thế, trang trại của ông là một minh chứng sống về nguyên tắc làm nông nghiệp hữu cơ. Muôn loài sinh ra đều có quyền thiêng liêng được sống. Con kiến làm tơi đất, con ong làm mật, con nhện ăn các con côn trùng, cỏ dại là bạn nhà nông vì tác dụng chống xói mòn đất của rễ cỏ. Con người không được xâm hại thiên nhiên kỳ diệu bằng những hóa chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu.   Từ hơn 40 năm nay, Bhaskar Save không hề dùng bất kỳ chất hóa học nào trong trang trại của mình. Kỳ diệu thay, năng suất cây trồng (dừa, hồng xiêm, xoài, đu đủ) từ trang trại của ông luôn cao nhất vùng. Hàng ngàn nhà khoa học, sinh viên trong và ngoài nước đã đến đây nghiên cứu và học tập. Trong buổi gặp mặt, ông đã dành gần một giờ đồng hồ giảng giải cho chúng tôi về vai trò của kiến. Với trí nhớ đáng kinh ngạc, ông đã đưa ra những số liệu cụ thể dựa trên quan sát về loài kiến trong hơn 40 năm trồng trọt ở trang trại, làm các nhà khoa học trong đoàn chúng tôi hết sức thán phục.   Lắng nghe ông nói, tôi cảm tưởng như trong ông có một vị hiền triết hiểu rõ đạo trời, có người nông dân chăm chỉ làm việc trên mảnh đất ông cha để lại, có nhà khoa học cần mẫn thu thập số liệu, và có nhà hoạt động xã hội không ngừng cổ súy cho nền nông nghiệp hữu cơ. Trải nghiệm ở trang trại của ông giống như đến thăm một khu đền thiêng, nơi đó con người được thanh lọc những ham muốn tầm thường để hướng tới sứ mệnh tối thượng, qua sự tồn tại của mình, làm cho thế giới tốt đẹp hơn.  —-    * Giám đốc Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị (ACCD)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một loại hình khoa học mới: 256 quy tắc để hiểu toàn bộ thế giới thực tại?      Một hiện tượng không ngớt gây sự chú ý và nhiều tranh cãi trong giới khoa học đến nay là sự xuất hiện cuốn sách: Một loại hình khoa học mới (A New Kind of Science –viết tắt là NKS) của Stephen Wolfram vào năm 2002. Tác giả Wolfram cho rằng mọi hiện tượng trong vạn vật từ vũ trụ đến thị trường chứng khoán đều có thể quy về những chương trình tin học đơn giản và mọi hiện tượng phức tạp đều là kết quả phát triển của những tế bào ban đầu gọi là các tế bào autômát (viết tắt là CA-cellular automaton).      Stephen Wolfram là một nhà khoa học xuất sắc, nghiên cứu nhiều lĩnh vực (vật lý các hạt cơ bản, vũ trụ, toán học, tin học,…), tác giả của Mathematica, một phần mềm nổi tiếng được sử dụng trên toàn thế giới. Wolfram sáng lập tập đoàn phần mềm hàng đầu Wolfram Research,Tnc. Có trên 2 triệu người sử dụng Mathematica, nhiều phiên bản mới của Mathematica liên tục bảo đảm cuộc sống của hơn 300 người trong công ty Wolfram Research,Tn.                                             Hình 1 . Stephen Wolfram và cuốn sách đồ sộ dày 1280 trang Một loại hình khoa học mới (NKS)  Wolfram nhiều năm suy nghĩ về một câu hỏi lớn: mọi cấu trúc phức tạp và đa dạng trong thế giới thực tại đã hình thành như thế nào?  Liệu thiên nhiên có sử dụng một số quy tắc nào trong khi sáng tạo ra mọi vật, liệu có một khoa học lý thuyết nào để mô tả những quy tắc này? Trong thời gian sau này Wolfram rời quản lý công ty để chuyên nghiên cứu CA và năm 2002 công bố cuốn sách Một loại hình khoa học mới (A New Kind of Science viết tắt là NKS )[1] (dày 1280 trang); cuốn sách sớm trở thành hiện tượng trong giới khoa học (hình 1). Khi nói đến cuốn sách này người ta không thể không nói đến quyển Mathematica [2] (hình 2), cơ sở tính toán cho NKS.  Wolfram tin rằng tồn tại một chương trình rất đơn giản, nếu chạy trong một thời gian rất dài sẽ dẫn đến mọi phức tạp (complexity) trong vũ trụ: các sao, mặt trời, khí hậu, các sinh vật, các dòng chảy của chất lỏng, thị trường chứng khoán…Và chương trình đó chính là lý thuyết tối hậu của vật lý.  Nhiều người hỏi Wolfram các quy tắc mà ông đưa ra có dài dòng hay không? Wolfram trả lời rằng có lẽ chúng không dài dòng, trong ngôn ngữ Mathematica chúng chiếm chừng 3 đến 4 dòng. Wolfram hy vọng xuất phát từ những dữ liệu và điều kiện ban đầu đơn giản có thể tái tạo sự phức tạp của vũ trụ. Tham vọng của Wolfram rất lớn: giải thích toàn thể vũ trụ kể cả thế giới sinh vật, các dòng chảy,… thị trường chứng khoán. Và Wolfram đã tìm ra nhiều quy tắc cho sự phát triển của CA để thực hiện tham vọng của mình.  Theo Wolfram (và nhiều nhà khoa học khác) thì vũ trụ là không liên tục mà gián đoạn – giống như những bit trong thông tin cho nên ý tưởng về CA tức tế bào autômát là cơ bản. Họ muốn thiết lập mối quan hệ giữa vật lý và tin học [3].  Vũ trụ là một máy tính khổng lồ. Số phép tính mà vũ trụ thực hiện trong suốt lịch sử có thể lên đến 10120 trên lượng thông tin bằng 1090 bit [4]. Vũ trụ tính điều gì? Vũ trụ tính quá trình tiến triển động học của chính mình!  Trong lý thuyết CA của mình, Wolfram muốn chứng minh rằng với những quy tắc đơn giản chúng ta có thể thu được những hình thái rất phức tạp (kết quả này cũng thu được trong máy Turing [5]).  Gregory Chaitin, một nhà toán học lớn [6] đã phát biểu một cách ngưỡng mộ: Stephen Wolfram muốn phát hiện những viên gạch đầu tiên mà Chúa đã đặt xuống để xây dựng vũ trụ.                  Hình 2 . Wolfram và cuốn Mathematica nổi tiếng        1/ Tế bào autômát (CA) cơ bản  Tế bào autômát là đơn vị nằm trong một ô mạng gián đoạn sử dụng cho tính toán. CA cơ bản có một chiều (dimension), mỗi tế bào có 2 trạng thái: 1 & 0 hay đen & trắng, mỗi tế bào có 2 tế bào lân cận nằm hai bên. Sở dĩ các tế bào này được gọi là autômát vì chúng tự động phát triển trong thời gian theo những quy tắc nhất định.              Hình 3 . Kết quả áp dụng 110 sau 10 lần lặp            Như vậy với các CA cơ bản ta có một tập gồm 3 tế bào vậy có 23 = 8 cấu hình cho một tập như thế. Sau đây là 8 cấu hình của các tập 3 tế bào (ở hàng một ta dùng số 1 & 0 để chỉ trạng thái, ở hàng dưới ta dùng màu đen & trắng để chỉ trạng thái):                Bảng1: quy tắc110,trạng thái biểu diễn bằng màu: đen (ứng với số1)& trắng (ứng với số 0)  2/ Sự phát triển của CA theo thời gian  Lấy một tế bào đen trên hàng thứ nhất (xem hình 3).  Trên hàng thứ hai (ứng với thời điểm tiếp theo, như thế không gian và thời gian quyện với nhau) ta lấy thêm một tế bào bên trái, vậy ta có hai tế bào, chúng có màu đen hay màu trắng? Trạng thái mới của tế bào phụ thuộc vào trạng thái trước của nó và của hai tế bào lân cận. Ta phải lấy một quy tắc nào đó để gán màu cho chúng. Sau đây ta dùng quy tắc gọi là quy tắc 110 biểu diễn ở bảng 1. (Vì sao gọi là quy tắc 110, xin xem chú thích [7]).   Màu của tế bào nằm ở hàng tiếp theo tùy thuộc vào các màu của 3 tế bào nằm đúng trên nó một hàng (tế bào nằm dưới ở ngay vị trí giữa của 3 tế bào nằm trên). Theo quy tắc nêu ở bảng 1: ví dụ 3 tế bào nằm trên có cấu hình 111 thì tế bào nằm dưới sẽ là tế bào 0 tức là tế bào trắng, nếu trên có cấu hình 110 thì tế bào dưới sẽ là tế bào đen và…  Sau 10 lần lặp (lấy liên tiếp 10 hàng) ta có hình 1, sau 700 lần lặp ta có hình 2.             Hình 4. Kết quả áp dụng quy tắc 110 sau 700 lần lặp          Có bao nhiêu quy tắc như quy tắc 110 mà chúng ta vừa áp dụng? Vì mỗi tế bào có hai trạng thái cho nên đối với một tập 8 tế bào (xem hàng thứ hai ở Bảng 1) số cấu hình khác nhau sẽ cho ta số quy tắc bằng:  28 = 256  quy tắc.  Wolfram cho rằng sử dụng 256 quy tắc cho sự phát triển của CA, chúng ta có thể tái tạo mọi sự phức tạp (complexity) trong vạn vật. Trong 256 quy tắc đó, quy tắc 110 (và quy tắc 30 [ 7 ]) là lý thú nhất.  Chú ý : Các CA có thể có dạng hình học khác (không phải hình vuông mà ví dụ là hình lục giác) và số chiều của CA có thể lớn hơn 1 (xem hình 5 ).           Hình 5 . Ví dụ CA trong 3D (3 chiều) tạo nên bởi CA  2D phát triển trong thời gian.          Stephen Wolfram nếu không phải là người duy nhất có tư tưởng về các tế bào autômát thì cũng là người làm hồi sinh ý tưởng này trên một bình diện mới mẻ và phổ quát.  Nội dung của NKS bao trùm từ những hiện tượng chảy của chất lỏng, sự tăng trưởng của các tinh thể, … đến diễn biến của thị trường chứng khoán, và cũng không để ngoài các định luật trong cơ lượng tử, lý thuyết tương đối rộng và thậm chí lĩnh vực  nghệ thuật.  Theo Wolfram sự phức tạp (complexity) nảy sinh từ những điều đơn giản.  Wolfram phát biểu: các tế bào autômát là những máy tính phổ quát (universel), điều đó có nghĩa là chúng có thể mô phỏng mọi phép tính (operation): từ phép cộng đến thuật toán tạo dãy số ngẫu nhiên.  Từ bản chất là những đối tượng tin học, những tế bào autômát có khả năng tiếp cận đến vật lý, sinh học và  triết học.  3/ Một số ví dụ minh họa   a. Cháy rừng: có thể tái tạo quá trình rừng cháy bằng CA, mỗi tế bào có bốn trạng thái (không có cây, có cây xanh, có cây đang cháy, cây đã cháy thành than). Cơ quan CIRID (Cơ quan hợp tác quốc tế phát triển nông nghiệp) đã dùng lý thuyết CA để tạo cháy rừng ảo để khảo sát hiện tượng cháy rừng.  b. Nam châm từ: mỗi tế bào có 2 trạng thái (từ trường hướng lên trên và hướng xuống dưới). Sử dụng lý thuyết CA có thể tái tạo chuyển pha loại hai (tức là loại chuyển pha liên quan đến phá vỡ đối xứng).  c. Các đa dạng trong thế giới tự nhiên và sinh học.  Xem hình 6 ta bất giác tự hỏi , từ đâu đến sự phức tạp và vẻ đẹp của các bông tuyết? Thế nhưng trong khuôn khổ các tế bào autômát Wolfram có thể tái tạo những hoa văn đó của tự nhiên (xem các hình 7,8).  Sự hình thành các dạng sinh học của cây cối, các sắc tố có dạng hoa văn trên vỏ sò, nhiều hình fractal [8] cũng có thể thu được nhờ sự phát triển của các CA (xem các hình 9,10). Nhiều hoa văn thu được từ CA cũng được sử dụng trong mỹ thuật trang trí (xem hình 11).        a. Sự sống  Năm 1970 nhà toán học người Anh John Conway sử dụng CA trong không gian 2 chiều, mỗi tế bào có 8 tế bào lân cận và mỗi tế bào có hai trạng thái: chết (tế bào đen) và sống (tế bào trắng) để xây dựng trò chơi: Trò chơi sự sống. Quy tắc chơi: một tế bào chết sẽ trở thành tế bào sống nếu có 3 tế bào lân cận là tế bào sống, một tế bào sống sẽ sống nếu có ít nhất 2 tế bào lân cận là tế bào sống.  Trò chơi này được Christopher Langton nâng cấp thành một phiên bản tinh xảo với ý đồ nghiên cứu “trí khôn nhân tạo”. Nếu cho chương trình của phiên bản này chạy một điều kỳ diệu đã xảy ra: một cá thể (individu-tập một số tế bào) có thể tạo sinh ra một cá thể khác đồng nhất với nó.  Liệu Stephen Wolfram có sử dụng những ý tưởng trên khi phát hiện ra 256 quy tắc của mình đối với các tế bào autômát một chiều? Trong khi áp dụng lý thuyết tế bào autômát vào sự sống Wolfram cho rằng sự phức tạp trong thế giới sinh học ít liên quan đến thuyết chọn lọc tự nhiên (sélection naturelle) mà là kết quả của dãy biến thiên của các tế bào autômát.  Ngoài ra Jean-Philippe Rennard, nhà tin học tác giả cuốn sách “Sự sống nhân tạo” đã phát biểu: “Đóng góp lớn của lý thuyết các tế bào autômát  Wolfram là phát hiện hiện tượng đột sinh (émergence).  Đột sinh trong lý thuyết tiến hóa là sự xuất hiện những hệ thống không thể đoán trước hoặc giải thích trên cơ sở những điều kiện trước đó.  b. Thị trường chứng khoán  Từ đâu phát sinh những biến động ngẫu nhiên trên thị trường chững khoán. Lẽ dĩ nhiên một nguyên nhân là tác động của môi trường song một nguyên nhân khác là ngẫu nhiên đã phát sinh một cách nội tại. Wolfram trong lý thuyết CA của mình đã minh họa được sự phát sinh những ngẫu nhiên nội tại (intrinsic randomness) nhờ quy tắc 30.  c. Vũ trụ  Theo Wolfram vũ trụ tuân theo một quy tắc thống nhất, đơn giản, tiềm ẩn.  Từ trước nhà vật lý lý thuyết nỗi tiếng Richard Feynman, giải Nobel năm 1965 đã đưa ra ý tưởng về một vũ trụ-máy tính. Trong thời gian hiện nay các nhà vật lý đã xây dựng nhiều lý thuyết phức tạp thống nhất lượng tử và hấp dẫn như lý thuyết dây.  Trong khuôn khổ lý thuyết tế bào autômát Wolfram không cần đến những định luật phức tạp. Vũ trụ đã chạy chương trình các tế bào autômát từ thuở nguyên sinh. Một nhà vật lý muốn thử nghiệm điều này phải cần một thời gian tương tự và một không gian lớn như vậy. Ngoài ra cần một lý thuyết tế bào autômát nhiều chiều với một cấu trúc không thời gian phức tạp.  Wolfram cho rằng các định luật vật lý tìm ra đến nay đều không là cơ bản mà chỉ là những tính chất đột sinh từ các quy tắc tiềm ẩn trong lý thuyết các tế bào autômát.  d.  Hấp dẫn  Chúng ta có thể mô tả không gian phẳng bằng một mạng CA có hình lục giác (xem hình 12)  Hình 12 . Mạng CA hình lục giác  Song nếu ta đưa vào mạng của các ô lục giác những ô ngũ giác và thất giác  (5&7 cạnh), ta sẽ thu được không gian cong (xem hình 13) trong lý thuyết  hấp dẫn.  Hình 13 . Mạng CA có chen những hình 5 & 7 cạnh vào mạng gốc chứa các hình lục giác mô tả không gian có độ cong.  e. Vật lý hạt cơ bản  Xem hình 3 ta thấy rằng ngoài những cấu trúc mang tính đều (xem mép trái của hình 4) chúng ta còn thấy xuất hiện những cấu trúc mới đột sinh (xem mép phải của hình 4). Trong lý thuyết CA, Wolfram có thể thu nhận được những cá thể như ở hình 14 nhờ quy tắc 110. Trên hình này có thể đoán nhận sự tương tác của các hạt theo sơ đồ Feynman.  Hình 14 . CA mô tả tương tác của các hạt cơ bản  4/ Các phản biện  Cuốn sách A new kind of  Science- NKS  có thể xem là một hiện tượng. Các báo chí đã không ngớt lời ngợi khen. Sau đây là sự đánh giá của các báo lớn trên thế giới.  New-York Times: Đây là tác giả đã làm chấn động khoa học.  Frankfurter Allgemeine Zeitung: Newton,Einstein hay Wolfram?  Time: Như vậy vạn vật được giải thích.  Newsweek: Những bộ óc lớn, những tư tưởng lớn.  The Daily Telegraph: Wolfram mạnh hơn cả Newton và Darwin?  Personal Computer World: Thế giới dưới con mắt của Wolfram.  New Scientist: Đây là cuốn sách của những khám phá.  Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã phản đối mạnh mẽ NKS vì 2 lý do:  a. Trong cuốn sách của mình Wolfram đã viết nhiều lời thiếu khiêm tốn khi cho rằng “ đây là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong lịch sử khoa học lý thuyết”. Ngoài ra Wolfram không  trích dẫn những công trình trước dẫn đến ý đồ của mình. Nhiều người còn cho đây là một cử chỉ có thể bị kết tội  “đạo văn” (thực tế thì Wolfram chỉ phạm lỗi thiếu trích dẫn nhiều công trình quan trọng trước mình còn những đóng góp của Wolfram là rất mới mẻ và độc đáo).  Trong lịch sử Stanislaw Ulam & John von Neumann là các tác giả của tế bào autômát.  Nhà toán học Edward Fredkin trong những năm 60 cũng đã đưa ra ý tưởng về những tế bào autômát  và sự tồn tại những quy tắc phát triển đơn giản của các tế bào đó để giải thích nhiều hiện tượng.  Nicolas Metropolis, Paul Stein & Myron Stein đã đề cập đến vấn đề tính phức tạp (complexity) có thể phát sinh từ sự lặp lại của những quá trình đơn giản.  John Conway đã đưa ra một trò chơi tin học trở thành thịnh hành trong sinh viên: Trò chơi sự sống như trên đã nói.  b. Khi nghi ngờ quy luật chọn lọc tự nhiên, Wolfram đã không nói tường minh rằng các kết quả của ông ở mức hệ gen (genome) hay ở mức tế bào. Theo nhiều tác giả lý thuyết CA không thể nói đến các hoạt động phức tạp của não bộ, của hệ miễn dịch, của quá trình biến dưỡng (metabolisme) của tế bào. Trong khi đó chính những quy luật chọn lọc tự nhiên (selection naturelle) và thích nghi (adaptation) lại cần thiết để hiểu các vấn đề này.  Về nguyên lý tương đương tính toán (computational equivalence) do Wolfram đưa ra khẳng định rằng mọi hệ thống đều thực hiện những chương trình tính toán và có thể đạt đến mức cao nhất của công suất tính toán thì Melanie Mitchell [9] cho rằng con người và con giun Caenorhabditis elegans [10] có thể đều thực hiện những chương trình tính toán song các phép tính thực hiện không thể đồng cấp về mức phức tạp.  Tác giả Ray Kurzweil [11] cho rằng một điểm yếu của lý thuyết CA của Wolfram là thiếu khả năng tiên đoán, qua một số lặp người ta không thể biết trước điều gì sẽ xảy ra.  Thứ hai, các cấu trúc đã xuất hiện sẽ tái xuất nhưng mức  phức tạp (order of complexity) không tăng lên, vậy khó lòng tạo nên sinh vật, con người hoặc bản dạo khúc của Chopin.  Theo Ray Kurzweil lý thuyết CA của Wolfram cần bổ sung quy tắc liên quan đến thuật toán tiến hóa (evolutiary algorithm). Nhờ thuật toán này lý thuyết mới có khả năng chọn lời giải thích ứng nhất với môi trường và như thế mở khả năng dẫn đến mức phức tạp cao hơn.  Ngoài ra một vấn đề quan trọng khác là mối liên hệ giữa liên tục (mô tả bởi toán học cổ điển cùng với các phương trình vi phân) và gián đoạn mô tả trong lý thuyết CA. Dường như thiên nhiên dao động giữa tương tự (analog) và số hóa (digital). Các transistor có thể điều khiển những electron như một thiết bị số hóa song nếu xét ở mức sâu hơn chúng ta cần những phương trình tương tự của lý thuyết lượng tử. Nhiều đối xứng trong thiên nhiên như đối xứng quay, đối xứng tịnh tiến, đối xứng Lorentz, đối xứng điện yếu và nhiều đối xứng khác là liên tục và khó lòng được mô tả trong khuôn khổ của vật lý số hóa. Đây là một vấn đề lớn về vật lý và triết học: liệu có thể quy mọi quá trình về các quá trình số hóa?  5/ Kết luận  Số người phản đối NKS không phải là ít. Tuy thế  ý tưởng táo bạo của Stephen Wolfram vẫn là hấp dẫn đối với nhiều nhà khoa học ít nhất vì lý thuyết CA của Wolfram đã đề cập đến câu hỏi sâu kín nhất của khoa học và triết học: mọi hình thái của thực tại từ đâu đến? NKS có thể là cái phôi nào đó của một chân lý lớn.  Nhiều nhà khoa học cho rằng Wolfram đang đi đúng đường[9] và lý thuyết CA của Wolfram xứng đáng được gọi là một loại hình khoa học mới, một NKS.  Ray Kurzweil trong cuối bài phát biểu [11] cho rằng cuốn Một loại hình khoa học mới của Wolfram là một công trình quan trọng về bản thể học (ontology)[12]. Thời gian từ lúc công bố NKS còn quá ít để có thể đánh giá đúng đắn giá trị của nó.                                                                                                                        CC.  Tài liệu tham khảo & chú thích  [1]   Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS | ON LINE, 2007  [2]   Stephen Wolfram, Mathematica  [3]   David Larousserie, Le nouveau jeu de la vie, Science et Avenir, tháng 1/năm 2003  [4]   Olivier Postel -Vinay & . L’Univers est-il un calculateur? La Recherche, tháng 1/ năm 2003  [5]   Máy tính trừu tượng nhận thức bởi Alan Turing có khả năng về mặt lý thuyết thực hiện mọi tính toán          toán học.  [6]   CC .  Có thể hiểu vũ trụ?  Tia Sáng số 17 – 05/09/2006  [7]   Tại sao quy tắc này có tên là quy tắc 110?          Hãy nhìn dãy số ứng với trạng thái của tế bào nằm giữa trên hàng dưới (bảng 1):          01101110= trong hệ nhị phân dãy số này bằng =          0.27 + 1.26+ 1.25 + 0.24 + 1.23 + 1.22 +1.21 + 0.20  =  64+32+8+4+2 =110         Vì thế quy tắc này gọi là quy tắc 110.          Nếu dãy số ứng với trạng thái của tế bào nằm giữa trên hàng dưới cua bảng 1 lại là : 00011110 thì          chúng  ta có quy tắc 30.  [8]   Fractal là một hình hình học mà mỗi phần của nó lại đồng dạng với toàn hình đó (Benoit Mandelbrot,         1975), fractal có số chiều không nguyên (theo định nghĩa số chiều của Felix Hausdorff).  [9]   Melanie Mitchell .Quelques raisons de douter, La Recherche, tháng 1/ năm 2003  [10] Caenorhabditis elegans là một loài giun đa bào đầu tiên.  [11] Ray Kurzweil, Reflections on S.Wolfram’s NKS          http://www.kurzweilai.net/articles/art0464.html?printable=1  [12] Môn triết học nghiên cứu bản chất của sự sống, của thực tại, của sự hiện hữu             Author                Quản trị        
__label__tiasang Một loại vitamin giúp làm ngừng lão hoá      Các nhà khoa học đã chứng minh được một loại vitamin có hiệu quả tuyệt vời trong việc giúp cơ thể ngưng quá trình lão hóa, thúc đẩy khả năng tự phục hồi, tái tạo.        Trước đây, Nicotinamide riboside (NR) đã được chứng minh có khả năng thúc đẩy mạnh mẽ sự trao đổi chất. Nhưng đến nay, một nhóm các nhà nghiên cứu gồm Johan Auwerx và các cộng sự tại Phòng thí nghiệm Sinh lý học các hệ thống tích hợp (LISP) thuộc EPFL, Thuỵ Sĩ đã công bố nhiều bí mật hơn nữa về hợp chất này. Trong một bài báo đã xuất bản trên Science ngày 28 tháng 4, Hongbo Zhang, thuộc nhóm nghiên cứu đã mô tả chi tiết về những tác động tích cực của NR lên chức năng của các tế bào gốc: NR giúp phục hồi tế bào.  Ty thể (mitochondria): rất hữu ích trong các tế bào gốc  Chuột cũng như mọi loài động vật có vú khác đều bị suy giảm khả năng tái tạo của một số cơ quan như gan, thận và các cơ (bao gồm cả cơ tim) khi già đi. Và khả năng phục hồi sau chấn thương cũng bị ảnh hưởng. Những điều này dẫn tới nhiều rối loạn đặc trưng của quá trình lão hoá.  Nhóm các nhà khoa học trên đã cùng nhau tìm hiểu quá trình tái sinh bị suy giảm đi như thế nào cùng với quá trình lão hoá. Thông qua việc phân tích một số nhân tố, các nhà khoa học đã có thể xác định các chuỗi phân tử điều chỉnh chức năng của Ty thể – những “nhà máy” của tế bào như thế nào và những nhân tố này thay đổi ra sao khi cơ thể già đi. Trước đây, vai trò của Ty thể đã được chứng minh một cách đầy đủ, “nhưng lần đầu tiên chúng tôi có thể chỉ ra rằng hoạt động của Ty thể rất quan trọng với tế bào gốc”, Auwerx nói.  Trong điều kiện bình thường, các tế bào gốc này có nhiệm vụ trả lời các tín hiệu do cơ thể gửi tới, tái tạo bộ phận của cơ thể bị tổn thương bằng cách sản xuất các tế bào mới. Ít nhất các chức năng này hoạt động tốt trong cơ thể khi trẻ. Còn khi lão hoá, “chúng tôi đã chứng minh rằng sự suy giảm sức chịu đựng của các tế bào gốc là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm quá trình tái sinh hoặc thậm chí thoái hóa trong các mô hoặc cơ quan nào đó,” Hongbo Zhang nói.  Đây là lý do vì sao các nhà khoa học muốn hồi sinh các tế bào gốc trong các cơ bắp của những con chuột già. Và họ đã hồi sinh các tế bào gốc này bằng cách nhắm mục tiêu vào các phân tử có thể giúp các Ty thể hoạt động đúng chức năng của nó. Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đưa nicotinamide riboside vào những con chuột hai tuổi – mức tuổi già của chúng. Chất NR này (gần giống với vitamin B3, là một tiền chất của NAD +) đã đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của Ty thể và đem lại kết quả rất hứa hẹn: Những con chuột đã được truyền NR có khả năng tái tạo cơ bắp tốt hơn nhiều và sống lâu hơn so với những con chuột không được truyền NR”.  Một bước đột phá của y học tái tạo  Một nghiên cứu song song cũng đã công bố một tác động mang tính so sánh về tế bào gốc của não bộ và làn da. Auwerx nói: “Nghiên cứu này có thể có ý nghĩa rất quan trọng trong lĩnh vực y học tái tạo. Chúng tôi không nói về việc đưa các chất lạ vào cơ thể, mà muốn khôi phục lại khả năng tự tái tạo của cơ thể bằng một loại sản phẩm có thể được dung nạp cùng với thức ăn”. Nghiên cứu này về quá trình lão hóa cũng có tiềm năng trong việc điều trị một số loại bệnh có thể gây ảnh hưởng, thậm chí tử vong ở những người trẻ – bệnh teo cơ (myopathy).  Cho đến nay, không thấy có tác dụng phụ nào được phát hiện khi sử dụng NR, kể cả ở liều cao. Nhưng vẫn phải cẩn trọng khi sử dụng loại “thần dược” này, vì nó có tác dụng thúc đẩy chức năng của tất cả các tế bào, trong đó có thể gồm cả tế bào bệnh lý. Vì vậy, nghiên cứu chuyên sâu hơn về điều đó là rất cần thiết.   Bảo Như lược dịch theo Sciencedaily  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/04/160428152124.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một năm KH&CN trọng điểm      Tại buổi “Báo cáo tình hình tổ chức triển khai thực hiện các chương trình KH&amp;CN trọng điểm cấp nhà nước năm 2007, kế hoạch và nhiệm vụ hoạt động của các chương trình năm 2008” do Bộ KH&amp;CN vừa tổ chức, phần lớn thành viên ban chủ nhiệm chương trình đều cho rằng công tác quản lý của Bộ KH&amp;CN đã sát sao và hợp lý hơn; dầu vậy, các vấn đề về tài chính, thủ tục vẫn cần thông thoáng hơn nữa.    Những thành quả mới nhất  Tại HTX nông nghiệp Tam Hưng (Thanh Oai, Hà Tây), có hơn 20 ha đồng trũng, đất xấu, rất khó canh tác. Nhưng từ gần 2 năm trở lại đây, có hai giống lúa mới luôn tươi tốt trên cánh đồng này: hai giống lúa ĐB5 và ĐB6. Cũng trên khu ruộng “xấu” đó, giống lúa vốn khá phổ biến với người dân Tam Hưng là Khang dân và Q5 bị đổ rạp. Ông Kiều Văn Quy, chủ nhiệm HTX Tam Hưng cho biết, hai giống ĐB5 và ĐB6 này có khả năng chịu sâu bệnh khá. Trên cùng khu đồng, giống Bắc thơm bị bạc lá nặng, trong khi giống ĐB 5 không hề bị, ĐB 6 thì chỉ bị bạc lá nhẹ… Ông Phạm Như Hải, đồng tác giả của hai giống lúa trên cho biết, ĐB5, ĐB6 có năng suất 63-70 tạ/ha, khả năng thích ứng rộng. Chỉ trong một thời gian ngắn, ĐB5 và ĐB6 đã tham gia vào cơ cấu xuân muộn – mùa sớm ở các tỉnh phía Bắc, vụ đông xuân – hè thu ở các tỉnh miền Trung với tổng diện tích lên tới 20.000 ha.  Hai giống lúa thuần cao sản ĐB5 và ĐB6 của Trung tâm Khảo nghiệm      giống sản phẩm cây trồng và phân bón quốc gia là “sản phẩm” của Dự án SXTN KC.06.DA.05/06-10, một dự án thuộc Chương trình trọng điểm khoa học cấp nhà nước KH&CN.06 “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu vả sản phẩm chủ lực”.  Cũng có thể kể đến một “thành quả” mới nhất của các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước trong năm 2007 là Quy trình công nghệ chế tạo và lắp đặt dàn chống tự hành trong khai thác than với điều kiện địa chất có độ dốc vỉa dày đến 35o . Với đề tài KC.06.01/06-10, Viện Công nghệ Mỏ kết hợp với công ty than Vàng Danh đã sản xuất thử được 30 bộ dàn chống, đáp ứng được tất cả các thông số về năng suất, sản lượng, an toàn lao động mà giá thành chỉ bằng 75% nhập ngoại.  Ngoài ra còn phải kể đến các kết quả của các chương trình KH&CN trọng điểm trong năm qua như Quy trình công nghệ chế biến mủ cao su RSS quy mô tiểu điền: 3 dây chuyền chế biến này đã được lắp đặt tại các công ty cao su, đảm bảo chất lượng xuất khẩu (Dự án SXTN KC.06.DA.08/06-10). Trong đề tài KC.09/06-10, công nghệ sản xuất viên nang mềm HASAMIN bào chế từ hải sâm đã được cấp bằng sáng chế độc quyền và chuyển giao cho Công ty cổ phần dược phẩm Đông Dương để sản xuất cho thị trường quốc tế.  Với đề tài KC.04.06/06-10 nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất que thử heroin và methamphetamine, những lô que thử đã được sản xuất để cung cấp cho một số cơ quan điều tra. Gần đây, một số vụ án lớn liên quan đến ma tuý đã được phá với sự “giúp sức” của những que thử ma tuý này.  Thủ tục hành chính “vẫn gây khó”  Dù đã có được một số kết quả đáng kể trên, cũng phải nói rằng việc thực hiện khối lượng các đề tài, dự án trong các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước năm 2007 vừa qua vẫn còn “ở mức hạn chế”. Nguyên nhân chính là kinh phí cấp muộn (từ tháng 6/2007) nên thời hạn thực hiện chỉ còn có 6 tháng. Một lần nữa, bài toán “cơ chế tài chính cho khoa học” tồn tại hàng chục năm qua vẫn tiếp tục… chờ giải!  Phần lớn thành viên trong Ban chủ nhiệm các chương trình trọng điểm cấp nhà nước đều  nói gặp khó khăn trong thủ tục hành chính về mua sắm thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ nghiên cứu. Góp ý với lãnh đạo Bộ KH&CN, TS Tô Văn Trường, Viện trưởng Viện Quy hoạch thuỷ lợi Miền nam (BCN KC.08) cho rằng, thủ tục hành chính rắc rối đã khiến một số nhà khoa học tài năng “ngán” các đề tài cấp nhà nước. Ông nêu ví dụ về một nhà khoa học rất giỏi về…, sau một vài lần “trượt” đăng ký đề tài chỉ vì sai sót trong hồ sơ đã không còn muốn đăng ký đề tài tiếp nữa.  Đồng ý với ý kiến của GS Tô Văn Trường, TS Dương Vũ Hiệp (KX.05) cũng cho rằng việc đăng ký và thực hiện các đề tài trọng điểm giờ đây “dân chủ hơn, nghiêm túc hơn”, đồng thời cũng… rắc rối hơn. TS Hiệp cũng nêu một thực tế: “Trong khi không quản được những chuyến đi nước ngoài lãng phí mà kết quả là những báo cáo nghèo nàn, thì cơ chế tài chính lại đi quản việc chi tiêu từng tờ giấy, cái bút”.  Theo quy chế mới về tổ chức quản lý hoạt động các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006 – 2010, việc lập Văn phòng các chương trình trực thuộc Bộ KH&CN nhằm giúp hoạt động quản lý của các Ban chủ nhiệm chương trình được thuận lợi hơn. Tuy nhiên do mới đi vào hoạt động nên sự phối hợp giữa các thành viên mới của Ban chủ nhiệm với Văn phòng các chương trình vẫn chưa thật “nhịp nhàng”. TS Phan Đức Hiền (KC.05) phát biểu: Ngay chức năng nhiệm vụ của thư ký chương trình, Ban chủ nhiệm cũng “chưa thuộc”.  Bên cạnh các ý kiến về tài chính, quản lý các chương trình KH&CN trọng điểm, còn nổi lên vấn đề về đánh giá hiệu quả của các chương trình này. Có thể nói, các yêu cầu về sáng chế độc quyền, kết quả và sản phẩm công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế trong các chương trình trọng điểm vẫn chưa được đề cập một cách quyết liệt. Phải chăng điều đó “không cần thiết” – như một vài thành viên ban chủ nhiệm chương trình từng nói – hay là các chuẩn mực nghiêm túc về chất lượng của “trọng điểm” vẫn bị xem nhẹ?   TRẦN ANH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một nan đề của vũ trụ học      Nếu phóng tầm mắt vào khoảng không vũ trụ, bỏ qua tất cả các hành tinh và thiên hà, bạn nghĩ những gì còn lại chắc chỉ là một chân không thuần khiết, nhưng hóa ra không phải. Thay vào đó, bạn sẽ thấy một khung cảnh vô cùng náo nhiệt với những phân tử đột nhiên sinh ra và mất đi gần như ngay lập tức.     Khi hai sao neutron va chạm nhau, sóng hấp dẫn hình thành có thể giúp các nhà vật lý nghiên cứu về hằng số vũ trụ. Ảnh: MIT news  Cơ học lượng tử, lý thuyết chi phối thế giới vi mô, không cho phép sự tồn tại của hư vô. Năng lượng không bao giờ bằng một con số không tròn trĩnh, ở bất cứ thời điểm nào trong không thời gian – luôn có không gian cho dao động nhất định. Từ không gian đó, các hạt “ảo” có thể nảy sinh – cụ thể là một cặp hạt và phản hạt của nó, chúng hủy nhau và biến mất cũng nhanh như xuất hiện. Dù điều này thật kỳ lạ, các thí nghiệm đã quan sát những ảnh hưởng của các hạt ảo lên thế giới thực. Khi các máy gia tốc hạt bắt đầu đo khối lượng của hạt boson Z, kết quả hơi khác với khối lượng thuần túy của nó, vì đôi khi nó biến thành một quark đỉnh ảo – một trong nhiều quan sát chứng minh rằng các hạt ảo có tồn tại.  Kết quả của việc tất cả các hạt này sinh ra và biến mất là một “năng lượng chân không” liên tục lấp đầy không gian và làm giãn nở chính bản thân không gian. Hoạt động này là lời giải thích khả dĩ nhất cho năng lượng tối – nguyên nhân vũ trụ, thay vì tĩnh tại hay giãn nở với tốc độ ổn định, thì lại giãn nở mỗi lúc một nhanh.  Vấn đề là không có đủ năng lượng chân không. Khi các nhà khoa học bắt đầu nghĩ về ý tưởng này, họ tính toán rằng lượng năng lượng này phải lớn khổng lồ – nó đã khiến vũ trụ giãn nở mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức mà không ngôi sao hay thiên hà nào có cơ hội thành hình. Và vì chuyện không xảy ra như vậy, nên năng lượng chân không trong vũ trụ phải rất nhỏ – nhỏ hơn mức lý thuyết lượng tử dự đoán 120 lần. Điều đó cũng giống như nói rằng một vật nặng 2,4kg bỗng chỉ thực sự nặng 0,02kg vậy. Sự thiếu nhất quán này đã khiến một số nhà khoa học gọi năng lượng chân không là “phỏng đoán lý thuyết tồi tệ nhất trong lịch sử vật lý”.  Năng lượng chân không được coi là thành phần chính trong “hằng số vũ trụ”, một đối tượng toán học trong các phương trình của thuyết tương đối rộng. Sự khác biệt lớn giữa mức năng lượng chân không dự đoán và mức đo được thường được gọi là vấn đề về hằng số vũ trụ. “Nó thường được coi là một trong những vấn đề khó xử, rối rắm, khó nhất của vật lý lý thuyết ngày nay,” Antonio, Paddila, một nhà vật lý ở Đại học Nottingham ở Anh, người đã dành 15 năm khám phá nó, cho hay. “Nó gợi ý rằng câu chuyện của chúng ta còn thiếu gì đó. Thật là phấn khích – làm sao có thể không muốn tìm kiếm điều đó cơ chứ ?”  Tóm tắt bài toán về hằng số vũ trụ. Ảnh: Scientific American  Câu đố này đã quyến rũ một số bộ óc vĩ đại nhất trong vật lý và làm nảy sinh một biển ý tưởng để giải quyết nó. Năm ngoái, nhà vật lý Gregory Gabadadze tại Đại học New York đã dành hẳn một tiếng đồng hồ chỉ để tóm tắt tất cả các ý tưởng mà các nhà vật lý lý thuyết phát biểu từ xưa đến nay trong một bài giảng tại khoa Vật lý, Đại học Brown. Cuối bài giảng, một khán giả đã hỏi rằng có ý tưởng nào mà ông hứng thú không. “Không có ý tưởng nào,” Gabadadze đáp. Tất cả đều quá “kỳ dị”, ông nói, và đều đòi hỏi “phá vỡ các nguyên lý bất khả xâm phạm”.  Nhưng một số nhà vật lý lại cho rằng công trình lý thuyết mới đang đem lại điều thú vị cho tình cảnh bất định này. Nhưng những bước tiến gần đây trong các thử nghiệm chính xác trong phòng thí nghiệm để thăm dò hấp dẫn, cũng như sự ra đời của thiên văn học sóng hấp dẫn, hứa hẹn rằng cuối cùng chúng ta có thể thử nghiệm, hoặc loại bỏ một số giải pháp gợi ý giải quyết nan đề trên.  Sự ra đời của nan đề  Hằng số vũ trụ có một lịch sử thăng trầm. “Đó là thứ ta có thể gọi là phi-lời-giải cho phi-vấn-đề” – nhà vật lý Rafael Sorkin ở Viện Vật lý lý thuyết Pi, Ontario, nói. Ban đầu Albert Einstein đã chế ra nó năm 1917 như một “mẹo” toán học để ép các phương trình trường trong thuyết tương đối rộng của ông dự đoán một vũ trụ tĩnh, khi đó ông và hầu hết các nhà khoa học đều tin vũ trụ là như vậy. Nhưng năm 1929, nhà thiên văn Edwin Hubble đã đo tốc độ của nhiều thiên hà, và ông hoàn toàn ngạc nhiên khi thấy tất cả đều đang rời xa khỏi chúng ta – thực tế, thiên hà càng ở xa, thì càng rời đi nhanh hơn. Những phép đo của ông đã chỉ ra, không gian giãn nở ở khắp mọi nơi, và bất kể bạn nhìn vào đâu, dường như tất cả các thiên hà đều lùi ra xa, bởi vì khoảng cách giữa tất cả mọi thứ đều tăng liên tục. Đối diện với tin tức này, ít năm sau, Einstein quyết định bỏ hằng số vũ trụ ra khỏi các phương trình của mình, gọi đó là “sai lầm lớn nhất của tôi”, theo lời kể của nhà vật lý George Gamow.  Hằng số vũ trụ từng chỉ là một phụ chú trong lịch sử khoa học, nhưng nó đã âm thầm chờ được tỏa sáng. Những năm cuối thập niên 90, hai nhóm nghiên cứu thiên văn đã đua nhau đo mức độ chậm lại của sự giãn nở vũ trụ, được dự đoán gây ra do lực hấp dẫn có xu hướng kéo vật chất lại với nhau. Năm 1998 và 1999, họ công bố các kết quả của mình dựa trên những đo đạc về một số vụ nổ siêu tân tinh mà khoảng cách đến chúng ta có thể xác định cực kì chính xác. Những siêu tân tinh ở xa nhất hóa ra mờ hơn nhiều, và bởi vậy, chúng ở xa hơn ta tưởng. Sự giãn nở không hề chậm lại – mà hóa ra đang tăng tốc. Phát hiện báo động này đã mang lại giải Nobel cho ba người đứng đầu của hai nhóm nghiên cứu này và khiến nhà vũ trụ học Micheal Turner đưa ra thuật ngữ “năng lượng tối” để đặt tên cho lực bí ẩn đang gây ra sự tăng tốc này. Ngay lập tức các nhà khoa học đề xuất rằng nguồn gốc của năng lượng tối có thể là hằng số vũ trụ – hay nói cách khác là năng lượng chân không. “Có lẽ sai lầm của Einstein còn mang lại nhiều giá trị hơn những nỗ lực lớn nhất của người trần mắt thịt” Saul Perlmutter, một trong những người khám phá ra sự tăng tốc, viết sau đó.  Wolfgang Pauli (phải) là người đã thấy năng lượng chân không cực lớn theo tính toán của vật lý lượng tử là vô lý.  Mặc dù hằng số vũ trụ cho phép các nhà khoa học một lần nữa cân bằng các phương trình trường của Einstein, khiến chúng dự đoán về một vũ trụ đang tăng tốc giãn nở giống như vũ trụ mà các nhà thiên văn học đã quan sát được, thì giá trị của hằng số này lại hết sức vô lý. Một vấn đề vốn khiến các nhà khoa học nhức óc giờ lại càng trở nên khó nhằn hơn. Trong những năm mà hằng số này đang “bơ vơ”, các nhà khoa học đã liên hệ nó từ lý thuyết tương đối rộng đến khái niệm năng lượng chân không của vật lý lượng tử. Nhưng nếu thế thì năng lượng chân không đáng lẽ phải cực lớn.  Một trong những người đầu tiên cảm thấy có gì đó lấn cấn là nhà vật lý Wolfgang Pauli. Trong những năm 1920 ông đã nhận ra rằng năng lượng này đáng ra phải mạnh đến mức vũ trụ đáng ra đã giãn nở vượt xa mức mà ánh sáng có thể truyền đi giữa hai vật bất kỳ trong đó. Nhưng nếu thế thì toàn bộ vũ trụ khả kiến của chúng ta khi nhìn từ trái đất, Pauli tính toán, “thậm chí còn không vươn xa đến được Mặt trăng”. Người ta kể lại rằng, ông rất thích thú với ước lượng của mình, dù ở thời điểm đó không ai nghiêm túc với nó. Người đầu tiên thực sự tính toán giá trị của hằng số vũ trụ dựa trên dự đoán của lý thuyết lượng tử đối với năng lượng chân không là nhà vật lý Yakov Zel’dovich, người vào năm 1967 đã khám phá ra rằng năng lượng này sẽ khiến hằng số vũ trụ lớn khủng khiếp. Nhưng lúc đó, các nhà khoa học đang nghĩ rằng vũ trụ đang giãn nở với tốc độ ổn định hoặc chầm chậm tăng dần, và hầu hết mọi người đều tin rằng hằng số vũ trụ có giá trị bằng 0. Bài toán hằng số vũ trụ ra đời là vì vậy.  30 năm sau, khi các nhà thiên văn học nhận ra rằng sự giãn nở của vũ trụ đang tăng tốc, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết. Mức độ tăng tốc, mặc dù đã gây sốc ở thời điểm đó, vẫn không đáng kể so với giá trị mà lý thuyết lượng tử dự đoán. Có thể nói, việc khơi lại hằng số vũ trụ chỉ như đổ thêm dầu vào lửa. Cố gắng hình dung tại sao hằng số này lại đúng bằng 0 là một chuyện. Hiểu tại sao nó lại lớn hơn 0 đôi chút còn khó hơn nhiều. “Giá trị của nó rất kỳ lạ,” nhà vật lý lý thuyết Katherine Freese tại Đại học Texas, Austin, nói. “Thậm chí còn kỳ lạ hơn số 0”.  Không phải ai cũng đồng thuận rằng đây là một vấn đề cần giải quyết. Hằng số vũ trụ, về mặt kỹ thuật, chỉ là một hằng số của tự nhiên, một con số trong một phương trình mà có thể nhận bất cứ giá trị nào, theo lời Sabine Hossenfelder, nhà vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu Cấp C\cao Frankfurt, Đức. Giá trị hiện tại của hằng số vũ trụ qua chỉ là một trùng hợp về mặt số học. “Bạn lấy số nào cũng được và thế là xong,” Hossenfelder nói. “Tất cả các cuộc tranh luận về việc tại sao nó đang có giá trị như vậy không phải những câu hỏi có giá trị về mặt khoa học”, cô nói. Lý thuyết lượng tử không có gì bịa đặt khi dự đoán của nó không khớp với những đo đạc thiên văn, và nó vẫn cứ hữu dụng như vậy. “Tôi tin rằng hầu hết mọi người trong cộng đồng vũ trụ học và vật lý thiên văn tin rằng đó là vấn đề vì họ bị nghe như vậy trong suốt một thời gian dài”.  Nhưng rất nhiều nhà vật lý vẫn không muốn buông xuôi. Giá trị nhỏ bất ngờ của hằng số vũ trụ như một cái gai cần phải nhổ. “Nó khiến tôi rất đau đầu, và tôi cần tìm ra lời giải đáp.” – Gabadadaze nói.  Trăm lý thuyết đua nở  Mặc dù nhiều nhà vật lý cùng xắn tay vào giải quyết vấn đề, tốc độ tiến triển vẫn chậm đến phát mệt. “Đã 50 năm kể từ khi Zel’dovich thực sự chỉ ra vấn đề là gì, và rõ ràng chưa có lời giải đáp nào được chấp nhận hay được xác minh,” Padilla nói. “Các ý tưởng đến rồi đi, nhưng nhìn chung rất ít lý thuyết đứng được”.  Hầu hết các giải pháp đề xuất cho vấn đề hằng số vũ trụ rơi vào ba nhóm: thay đổi phương trình mô tả sự giãn nở của vũ trụ trong lý thuyết tương đối rộng, thay đổi các phương trình dự đoán mức năng lượng chân không trong lý thuyết lượng tử, hay tung một thứ gì đó hoàn toàn mới vào trong mớ hỗn độn.  Việc điều chỉnh lý thuyết tương đối rộng có thể thay đổi hay thậm chí loại bỏ vai trò toán học của hằng số vũ trụ. Chẳng hạn, Freese và các đồng nghiệp của cô, đi theo hướng giải thích sự tăng tốc giãn nở của vũ trụ mà không cần dùng hằng số này, bằng việc thay đổi cách tính toán của lý thuyết tương đối rộng khi áp dụng vào sự giãn nở của vũ trụ. “Vật chất và photon có thể là đủ, mà không cần có thêm bất cứ thành phần nào mới trong vũ trụ, nếu vai trò của chúng trong các phương trình là khác nhau,” cô nói. Mô hình của cô dựa trên ý tưởng rằng, các chiều dư ngoài ba chiều không gian và một chiều thời gian mà chúng ta quan sát được, có thể ẩn khỏi tầm nhìn của chúng ta.  Nhóm Eöt-Wash với ba nhà khoa học (từ trái sang) là Jens Gundlach, Eric Adelberger và Blayne Heckel đang nỗ lực tìm kiếm sự tồn tại của quintessence.  Một góc nhìn khác về việc cập nhật lý thuyết tương đối rộng được gọi là lý thuyết cô lập, do Padilla và các đồng nghiệp của ông đề xuất. Họ chỉnh sửa lý thuyết của Einstein theo một cách thức cô lập hấp dẫn, để nó không phải chịu tác động của năng lượng chân không. “Tôi sẽ không giả vờ rằng đây là một mô hình đã được xác minh, nhưng chưa từng có ai có thể loại bỏ nó” Padilla nói thêm.  Tuy nhiên, nếu không phải là lý thuyết tương đối rộng, thì có thể vấn đề nằm ở lý thuyết lượng tử. Một số nhà lý thuyết đề xuất rằng phương pháp tính toán năng lượng chân không của lý thuyết trường lượng tử không còn hợp lý. Stefan Hollands, Đại học Leipzig, Đức và các đồng nghiệp cực lực phản đối việc áp dụng các phương trình lượng tử chính quy cho không thời gian cong, nói rằng chúng được thiết kế cho không gian phẳng. Nếu các nhà vật lý có thể tinh chỉnh chính xác chúng cho không gian cong, vấn đề hằng số vũ trụ sẽ biến mất, họ lập luận.  Nhưng lời giải có thể đòi hỏi nhiều hơn là điều chỉnh toán học các phương trình truyền thống. Một ý tưởng không chính thống gần đây được Steve Carlip ở Đại học California, Davis, đề xuất, rằng không thời gian về cơ bản được cấu tạo từ các “bọt”. Trong bức tranh này, độ cong của không gian sẽ thăng giáng liên tục ở mức cực kì nhỏ, vượt xa khỏi bất cứ thứ gì chúng ta có thể hi vọng đo được. Thứ tôpô phức tạp này sẽ loại bỏ hầu hết ảnh hưởng của hằng số vũ trụ, khiến nó có giá trị rất nhỏ ở thang địa phương. “Đó là một kiểu ý tưởng kỳ dị,” Carlip nói. “Nó là một phép đo tuyệt vọng, nhưng các nỗ lực xử lý hằng số vũ trụ khác cũng như vậy, và đó là những thời điểm tuyệt vọng”.  Sorkin, người cho rằng lý thuyết bọt thời gian của Carlip “đang đi đúng hướng”, cũng tham gia lĩnh vực này theo cách của riêng mình. Ông tiếp cận vấn đề theo cách thống nhất cơ học lượng tử và hấp dẫn gọi là lý thuyết tập hợp nhân quả. Theo mô hình này, không thời gian về cơ bản là rời rạc – có nghĩa rằng thay vì giãn nở liên tục, trơn, nó được chia thành các khối đơn vị không thời gian và thời gian riêng, nhỏ li ti, mô tả các khối cơ bản của không thời gian như thể nguyên tử là các khối cơ bản của vật chất. Nếu đúng như vậy, việc tính toán hằng số vũ trụ sẽ bao hàm việc chia cho số lượng đơn vị không thời gian trong vũ trụ, dẫn tới một giá trị gần với kết quả quan sát được của các nhà thiên văn hơn rất nhiều.  Một trong những giải pháp hứa hẹn nhất – cũng như bị phản đối nhiều nhất, với một số người – cho vấn đề hằng số vũ trụ được gọi là nguyên lý vị nhân. Lối tư duy này chấp nhận rằng hằng số vũ trụ trong vũ trụ của chúng ta mang một giá trị không thể tính được, nhưng giải thích nó bằng cách phát biểu rằng chúng ta sống trong một đa vũ trụ. Nếu vũ trụ của chúng ta là một bong bóng trong biển vũ trụ, và mỗi bong bóng đều có các định luật vật lý khác nhau và các hằng số khác nhau, thì chắc chắn sẽ có một bong bóng với giá trị mà chúng ta đang quan sát được. Hầu hết những bong bóng khác không có một vũ trụ với các thiên hà, ngôi sao, hành tinh hay sự sống, nên thực tế rằng chúng ta thấy mình trong một ngoại lệ là hoàn toàn có khả năng. Bởi vì lý thuyết dây đòi hỏi một đa vũ trụ, các nhà lý thuyết dây có xu hướng coi vấn đề hằng số vũ trụ về cơ bản được giải quyết bằng lập luận như vậy. Tuy nhiên các nhà vật lý khác lại cho triết lý này là một kiểu đối phó. “Như thế chẳng qua là từ bỏ vấn đề,” Sorkin nói.  Tất cả những chiến lược này có xu hướng liên quan đến những sửa đổi sâu sắc nền vật lý đã được thiết lập vững chắc. “Ý tưởng nào cũng đều dẫn đến một cải tiến mạnh mẽ các nguyên lý cơ bản, hoặc về không thời gian, hoặc về số chiều của vũ trụ,” Gabadadze nói. “Theo nghĩa nào đó thì chúng đều trái khoáy.” Không lý thuyết đơn lẻ nào vượt hẳn lên. “Đến thời điểm này thì đây là vấn đề của sở thích, (ai thấy mình hợp với lý thuyết nào thì chọn cái đó)” Carlip nói. “Có lẽ câu trả lời nằm ở điều gì đó mà không ai từng nghĩ đến”.  Bất biến hay quintessence (Tinh túy)  Hằng số vũ trụ vẫn là lời giải thích tốt nhất cho vật chất tối – lực bí ẩn khiến sự giãn nở của vũ trụ tăng tốc. Nhưng nếu vật chất tối lại thực sự không liên quan chút nào tới hằng số vũ trụ hay năng lượng chân không thì sao? Nếu năng lượng chân không của vũ trụ bằng cách nào đó lại bị hủy hoàn toàn và hằng số vũ trụ bằng 0 thì sao? Trong trường hợp này, năng lượng tối có thể là tác phẩm của thứ gì đó gọi là quintessence.  Các nhà vật lý Robert Caldwell, Paul Steinhardt, và Rahul Dave đưa ra khái niệm quintessence vào năm 1998, như một lời giải thích khác cho sự tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ. Quintessence sẽ là một dạng năng lượng nào đó tràn ngập không gian với áp suất âm. Trái ngược với hằng số vũ trụ, quintessence có thể thay đổi theo thời gian. Một phiên bản quintessence gọi là năng lượng ma, thừa nhận sự tồn tại của một năng lượng mà mật độ của nó tăng theo tuổi của vũ trụ, cuối cùng dẫn tới một “vụ xé lớn”, khi không gian bị xé toạc bởi sự giãn nở điên cuồng cho tới khi khoảng cách giữa các hạt trở nên vô hạn.    “Đã 50 năm kể từ khi Zel’dovich thực sự chỉ ra vấn đề là gì, và rõ ràng chưa có lời giải đáp nào được chấp nhận hay được xác minh,” Padilla nói. “Các ý tưởng đến rồi đi, nhưng nhìn chung rất ít lý thuyết đứng được”.    Để kiểm tra xem liệu năng lượng tối do quintessence hay hằng số vũ trụ gây ra, các nhà khoa học cần phải xác định xem liệu cường độ năng lượng tối có thay đổi theo thời gian hay không. Nhiều dự án khác nhau đã thu thập dữ liệu về mức độ giãn nở của không gian ở những kỷ nguyên khác nhau của vũ trụ. Một ví dụ là Dark Energy Survey, một nỗ lực trong vòng sáu năm, lập bản đồ các thiên hà ở những khoảng cách khác nhau tới Trái đất của chúng ta trên khắp một khu vực rộng lớn của bầu trời, sử dụng kính thiên văn Victor M. Blanco ở Chilê. Dữ liệu đã có, nhưng các nhà khoa học vẫn đang phân tích chúng – cho tới nay tất cả những dấu hiệu đều hướng tới việc năng lượng tối là bất biến. Một cách khác để khám phá xem liệu quintessence có thật hay không là tìm kiếm bằng chứng cho thấy thứ năng lượng này đã thay đổi các hằng số cơ bản của tự nhiên theo thời gian. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy các hằng số có thể thay đổi.  Trong vòng vài thập kỷ tới, các thí nghiệm sẽ cho các nhà khoa học một ý tưởng tốt hơn rằng liệu hằng số vũ trụ (và năng lượng chân không đằng sau nó) có phải nguồn gốc của năng lượng tối hay không. Dự án Khảo sát Di sản của Không gian và Thời gian của Đài thiên văn Vera C. Rubin, dự định bắt đầu vào năm 2022 với một kính thiên văn đang được xây dựng ở Chile, sẽ cải thiện đáng kể độ chính xác của các phép đo của lịch sử giãn nở của vũ trụ. Sớm thôi, các nhà khoa học sẽ có khả năng phát biểu tường minh hơn rất nhiều về sự tồn tại của quintessence trong dữ liệu hay liệu có một lực bất biến đang hoạt động.  Những rung động của không thời gian và các sao neutron  Nếu như cho tới nay mọi bằng chứng có vẻ chỉ ra, năng lượng tối quả thực là kết quả của hằng số vũ trụ, vẫn có hi vọng nhất định trong việc kiểm chứng một loạt các lý giải mà các nhà khoa học đề xuất về giá trị nhỏ bất ngờ của nó. Những thí nghiệm và quan sát thiên văn sắp tới có thể cung cấp một cách thức để sắp xếp núi lý thuyết, loại bỏ một số này, và có thể, cung cấp bằng chứng một số khác.  Năm năm trước, các nhà khoa học đã có một thấu kính hoàn toàn mới để nghiên cứu vũ trụ khi họ bắt đầu phát hiện ra sóng hấp dẫn, những rung động trong không thời gian do sự va chạm của những vật thể có khối lượng khổng lồ như các lỗ đen và sao neutron. Những đài quan sát sóng hấp dẫn như LIGO ở Mỹ và Virgo ở châu Âu giờ đây thường xuyên phát hiện ra các sóng do những biến động lớn trong vũ trụ gây ra, và những sóng này có thể hữu ích trong việc dò tìm bản chất của năng lượng chân không. Một số nỗ lực giải quyết vấn đề hằng số vũ trụ dựa vào những thay đổi trong lý thuyết tương đối rộng khiến lực hấp dẫn di chuyển chậm hơn đôi chút so với tốc độ của ánh sáng. Thực tế rằng các sóng hấp dẫn dường như xuất hiện đồng thời với ánh sáng từ chính sự kiện, đã dập tắt ý tưởng này, loại bỏ một số lý thuyết. “10 năm trước chúng ta có một mô hình gọi là Fab Four, với mục đích giải quyết vấn đề hằng số vũ trụ,” Padilla nói. “Tôi đã bắt đầu nghi ngờ nó, nhưng dữ liệu về sóng hấp dẫn đã phủ nhận nó luôn.”  Các sóng hấp dẫn cũng tiết lộ hoạt động kỳ dị bên trong những ngôi sao neutron. Những tàn dư gọn ghẽ của các vụ nổ siêu tân tinh đặc tới mức các nguyên tử suy sụp, proton và electron của chúng va mạnh vào nhau để tạo thành một vật thể hầu như thuần túy chỉ có neutron. Trạng thái kỳ dị này gây ra những hiện tượng lạ lùng – chẳng hạn, lõi của sao neutron có thể chứa một trạng thái mới của vật chất có thể khiến mức năng lượng chân không trong lòng nó thay đổi đột ngột. Các đài quan sát sóng hấp dẫn có thể đủ nhạy với những ảnh hưởng hấp dẫn của mức năng lượng chân không dư ở đây, có tiềm năng hé lộ những bí ẩn về bản chất của năng lượng chân không.  Và trong khi các thí nghiệm vật lý thiên văn tìm kiếm manh mối ở thang kích thước vũ trụ, các thí nghiệm gần gũi với Trái đất hơn có thể cũng giúp các nhà nghiên cứu lựa chọn trong các giả thuyết về hằng số vũ trụ. Những thiết lập trong phòng thí nghiệm nhằm thăm dò vũ trụ ở những khoảng cách nhỏ nhất có thể đủ nhạy trước một số thay đổi của lý thuyết tương đối rộng mà các nhà vật lý đang đề xuất.  Chẳng hạn như công trình của nhóm Eöt-Wash ở Đại học Washington, nơi các nhà khoa học sử dụng một thí nghiệm cân xoắn cực kỳ nhạy để thực hiện những thử nghiệm chính xác về lực hấp dẫn. Dụng cụ của họ là một cân xoắn: một đĩa kim loại với các lỗ thủng treo trên một dây mảnh, với một đĩa tương tự ngay bên dưới nó, chuyển động đều. Hai đĩa cách nhau một khoảng bằng bề rộng của một tờ giấy, và khi đĩa bên dưới quay, lực hấp dẫn của nó khiến đĩa bên trên xoắn qua lại.  Thí nghiệm cực kỳ nhạy này cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi cách hoạt động của lực hấp dẫn ở thang kích thước cỡ nanô mét. Nếu lực hấp dẫn yếu đi ở những khoảng cách nhỏ như vậy, như một số ý tưởng đề xuất – hay nếu có thể thấy rõ những chiều dư, nhỏ của không gian ở đó – nhóm Eöt-Wash sẽ phát hiện ra. Cho tới giờ, trong các thí nghiệm của họ, lực hấp dẫn vẫn tuân theo các định luật của Newton và Einstein một cách chính xác và chưa quan sát được chiều dư nào, nhưng các nhà khoa học tiếp tục điều chỉnh cân của họ để thăm dò ở các khoảng cách ngày một nhỏ hơn. Ngay cả nếu nhóm này không phát hiện ra những sai lệch ảnh hưởng đến năng lượng chân không, điều đó cũng không nhất thiết là kết luận: có thể rằng những thay đổi như vậy chỉ xảy ra ở những khoảng cách ngoài tầm với của chúng ta.  “Chúng tôi sẽ tiếp tục thử,” Gabadadze nói về những nỗ lực để kiểm chứng những giả thuyết về hằng số vũ trụ với các thí nghiệm. “Mọi thế hệ các nhà vật lý từ khoảng những năm 1960 đã thấy những lời giải thích mới xuất hiện. Có lẽ một ngày nào đó một trong số chúng sẽ có những dự đoán khả kiến có thể được kiểm chứng, nhưng hiện tại, chúng ta vẫn chưa thấy.” Mặc cho độ khó của vấn đề, ông và các nhà vật lý khác vẫn hi vọng vào một lời giải đáp trong tương lai gần. Có lẽ những nỗ lực để hiểu vấn đề hằng số vật lý sẽ hé lộ những sự thực sâu sắc hơn về vật lý lượng tử và thuyết tương đối rộng. Hay có thể các nhà khoa học sẽ khám phá ra một cách sửa đổi đơn giản hơn. Và ngay cả khi họ đang cố gắng theo đuổi một lời giải có thể không bao giờ thành hình, rất nhiều nhà vật lý vẫn đang say sưa với cuộc tìm kiếm. □  Hoàng Lam dịch   Nguồn: https://www.scientificamerican.com/article/the-cosmological-constant-is-physics-most-embarrassing-problem/    Author                .        
__label__tiasang Một ngành khoa học cơ bản bị lãng quên      Chỉ là một phòng thí nghiệm nhỏ nhưng Đài thiên văn khoa Vật lý, ĐH Sư phạm Hà Nội, đã trở thành “cơ sở vật chất” hàng đầu ở Việt Nam giúp tiến hành nghiên cứu và giảng dạy một cách có hệ thống ngành thiên văn trong nước. Tuy nhiên, nghiên cứu thiên văn ở Việt Nam vẫn được mọi người cho là “xa xỉ” nên bấy lâu nay vẫn còn…bị lãng quên mặc dù, xét cho cùng, đó là một ngành khoa học cơ bản, thậm chí rất cơ bản, như bao ngành khoa học khác như Toán, Lý, Hóa, Sinh.v.v.     “Ngắm” vũ trụ từ Hà Nội    Theo chân hai nhà thiên văn trẻ Nguyễn Anh Vinh và Nguyễn Đức Phường “lọc cọc” qua những bậc cầu thang lên thượng đỉnh tòa nhà khoa Vật lý, ĐH Sư phạm Hà Nội, để “tận mục sở thị” cái kính thiên văn lớn nhất Việt Nam. Nguyễn Anh Vinh đùa, “Lầu Vọng Nguyệt của chúng tôi đấy!”. Quả thật, “cửa sổ” nhìn vào vũ trụ của hai nhà thiên văn chỉ là một phòng ốc nhỏ cô quạnh trên gác thượng và tách biệt hẳn với những phòng thí nghiệm, phòng chuyên đề khác. “Trên thế giới, các đài thiên văn thường đặt trên núi cao, xa những khu dân cư sầm uất hay các thành phố vừa là để hạn chế ô nhiễm ánh sáng, vừa là để tận dụng sự “trong lành” và ổn định của khí quyển để cuối cùng thu được hình ảnh của thiên thể rõ nhất, trung thực nhất”-Vinh giải thích – “Nhưng ở đây, do bất khả kháng, chúng tôi đặt trên…nóc nhà”.              Hệ thống kính MEADE LX200 với đường kính gương phản xạ hơn 40 centimét (16 inches) phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy và nghiên cứu thiên văn ở ĐHSP Hà Nội.          Trước mắt tôi là hơn một chục cái kính thiên văn lớn nhỏ nhưng ấn tượng nhất là hệ thống kính MEADE LX200 với đường kính gương phản xạ hơn 40 centimét với tiêu cự 4 mét. “Đây là hệ kính phản xạ thuộc hệ kính Schmit-Cassegrain nên tuy tiêu cự hiệu dụng là 4 mét nhưng ống kính chỉ hơn 1mét”, Nguyễn Đức Phường cho biết. “Việc điều khiển kính có thể thực hiện hoàn toàn tự động. Chỉ cần nhập các thông tin về đối tượng quan sát là kính sẽ tự động hướng đúng vào thiên thể đó, và hơn nữa, kính cũng sẽ luôn hướng chính xác vào đối tượng trong suốt thời gian quan sát. Mặc cho Trái đất quay”, Vinh cho biết thêm. Như để chứng minh, anh thực hiện thao tác gõ nhẹ vào bàn phím, ngay tức thì, như một robot thông thái, toàn bộ hệ thống cơ học của kính hướng chính xác vào thiên hà Tiên nữ (tên chuyên môn gọi là M31). Sau vài động tác xử lý hình ảnh, thiên hà cách chúng ta 2,2 triệu năm ánh sáng này hiện ngay trên màn hình máy tính. “Cũng giống như nghệ sĩ nhiếp ảnh, các nhà thiên văn cũng là một…phó nháy. Nhưng để chụp được một bức ảnh thiên văn phải cần hàng giờ, thậm chí phải “xài” mất vài đêm. Càng mở ống kính lâu, càng quan sát và chụp ảnh được các thiên thể ở xa trong vũ trụ”. Hỏi tại sao chỉ là hình ảnh đen trắng, Phường giải thích, “Để chụp được một bức ảnh màu trung thực của một hành tinh, cấu trúc của đám tinh vân hay những cánh tay xoắn mềm mại của các thiên hà chúng tôi phải chụp ít nhất 3 lần cùng một đối tượng với ba bộ lọc màu xanh lá cây, xanh da trời và đỏ, sau đó xử lý qua phần mềm chuyên dụng. Ngoài ra, hệ thống CCD chuyên dùng cho thiên văn nhạy sáng hơn cả vạn lần một máy ảnh kỹ thuật số tân tiến nhất bây giờ”.  Với “con mắt thần kỳ” này, các nhà thiên văn ở Đài thiên văn khoa Vật lý, ĐHSP Hà Nội, có thể quan sát được hơn 60 nghìn thiên thể, trong đó có hàng vạn thiên hà cũng như các tinh vân khác trong Dải Ngân Hà của chúng ta.  “Phải dành không gian cho nghiên cứu thiên văn…”  Đối với GS. Pierre Darriulat thì, “Một đất nước bao giờ cũng phải dành không gian cho nghiên cứu cơ bản để phát triển nghiên cứu dụng, và vật lý thiên văn không phải là ngoại lệ”. Cùng quan điểm với GS.Pierre, GS.Trịnh Xuân Thuận, ĐH Virginia, cho rằng, “Mặc dù Việt Nam đang rất cần nghiên cứu ứng dụng nhưng chúng ta không được bỏ rơi nghiên cứu cơ bản trong đó có thiên văn”. Còn theo nhà thiên văn Phan Văn Đồng, Phó chủ tịch Hội Thiên văn-Vũ trụ Việt Nam và cũng là một trong những người đã từng gắn bó với ngành thiên văn trong nước ngay từ chặng đường đầu thì, “Phát triển thiên văn ở Việt Nam là một công việc lâu dài. Nhưng có thể khẳng định ngành khoa học này có vai trò quan trọng đối với phát triển xã hội đặc biệt là trong nhận thức thế giới quan, nhân sinh quan và bài trừ mê tín dị đoan,…”. Ông Đồng ví dụ, “Nhiều hiện tượng thiên văn được người dân ở một số nơi, đặc biệt là vùng sâu vùng xa gán ghép cho các tác động tâm linh huyền bí, nhiều hủ tục mê muội con người như nhật nguyệt thực, sao chổi hay sao băng”. “Trong khi cả thế giới và khu vực đang gắng sức để chạy đua vào vũ trụ, thì rất nhiều sinh viên năm cuối chuyên ngành vật lý trong nước lại không phân biệt thế nào là một hành tinh”, ông Đồng thoáng tư lự.              Sao Kim đi qua đĩa Mặt trời chụp bởi các nhà thiên văn Phan Văn Đồng, Nguyễn Anh Vinh và Nguyễn Đức Phường           Nhật thực toàn phần xảy ra tại Phan Thiết. Chụp bởi nhà thiên văn Phan Văn Đồng             Một khía cạnh khác làm cho thiên văn trở thành một trong những nền tảng của nghiên cứu cơ bản được GS.Nguyễn Quang Riệu, Nguyên giám đốc điều hành Đài thiên văn Paris, dẫn chứng, “Vũ trụ là phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại, ở đó có những hiện tượng vật lý không thể tái tạo trong các phòng thí nghiệm trên Trái Đất. Từ đó, việc xây dựng các kính thiên văn có vai trò như những đầu dò và ghi nhận như trong các phòng thí nghiệm để quan sát, kiểm chứng và khám phá ra các quy luật vật lý mới”. Ông lý giải thêm, “Hệ thống nghiên cứu của nước ta còn rất thiếu những phòng thí nghiệm vật lý hiện đại vì vậy tham gia nghiên cứu thiên văn có thể tận dụng được “cỗ máy thí nghiệm” trời cho để phát triển nghiên cứu lý thuyết”.  Là một khoa học gia của Phòng thí nghiệm JPL của NASA, TS.Nguyễn Trọng Hiền nhấn mạnh, “Nghiên cứu thiên văn đòi hỏi phải được trang bị những kỹ thuật hiện đại, tinh vi như các trạm tham dò không gian, các phi thuyền vũ trụ, kính thiên văn không gian,…Như vậy, vô hình chung đã thúc đẩy và tạo động lực cho sự phát triển kỹ thuật công nghệ”. “Không lâu nữa việc phát triển và ứng dụng những công nghệ vũ trụ của Việt Nam là hiển nhiên”.  “Khởi động” một ngành khoa học    “Xét về mặt lịch sử nước ta có một nền thiên văn khá lâu đời. Nhưng do chiến tranh và điều kiện đất nước không cho phép nên ngành khoa học này đã có thời gian dài rơi vào quên lãng”, GS. Nguyễn Đình Huân, Chủ tịch Hội Thiên văn-Vũ trụ Việt Nam, cho biết. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của thiên văn, Hội Thiên văn-Vũ trụ Việt Nam, dưới sự giúp đỡ của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU), Hội Thiên văn Thái Bình Dương, Hội Thiên văn Nhật Bản,…đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm chấn hưng ngành khoa học còn non trẻ này. “Những hoạt động trong khuôn khổ chương trình TAD với sự tham gia của các nhà thiên văn quốc tế là một hoạt động rất có giá trị, góp phần định hướng các hoạt động giảng dạy, phổ biến và nghiên cứu thiên văn cho phù hợp với hoàn cảnh và mục đích thực tiễn trong nước đồng thời vẫn bám sát các nghiên cứu của cộng đồng thiên văn quốc tế”, GS.Huân cho biết thêm.            Nhà thiên văn Phan Văn Đồng chụp ảnh nhật thực toàn phần tại Phan Thiết.          Không chỉ còn là những cố gắng của các nhà khoa học “khai sinh” ra ngành thiên văn trong nước như PGS. Phạm Viết Trinh, TS. Nguyễn Mậu Tùng, nhà nghiên cứu Đặng Mộng Lân, với mong muốn phát triển thiên văn ở Việt Nam, nhiều cây đa cây đề trong làng thiên văn thế giới như GS. Y.Kozai (Nguyên Chủ tịch IAU), GS. Donat Wenzel, GS. Michele Gerbali, GS. Grant J. Mathews…đã đến Việt Nam giảng dạy, và xin tài trợ thiết bị, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu thiên văn trong nước. Nhiều thiết bị của Phòng thiên văn (ĐHSP Hà Nội), ĐH Vinh, ĐHSP.Tp.Hồ Chí Minh, nhà chiếu hình vũ trụ ở Tp.Vinh đều có được là nhờ những giúp đỡ quốc tế này. “Thực tế, các thiết bị này đã phát huy tác dụng, phục vụ hiệu quả công việc giảng dạy thiên văn trong trường ĐH Sư Phạm”, TS. Nguyễn Quỳnh Lan, ĐHSP Hà Nội, cho biết. Sau khi nhà chiếu hình vũ trụ Tp.Vinh xây dựng, không chỉ có sinh viên các trường ĐH, CĐ trong cả nước về tham quan học tập, mà còn thu hút một lượng lớn dân chúng yêu khoa học đến tìm hiểu. Là một người gắn bó lâu năm với ĐH Vinh đồng thời cũng là người “khởi xướng” nhà chiếu hình vũ trụ này, GS. Huân cho biết thêm, “Đây thực sự là một cung văn hóa khoa học của công chúng. Nếu Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng một vài nhà chiếu hình vũ trụ ở Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh sẽ tạo nên một công cụ hiệu quả phổ biến khoa học cho người dân”. Tuy nhiên, ông than phiền, “giờ nhà chiếu hình vũ trụ dường như bị “cấm cửa” vì khuôn viên của nó bị lọt vào giữa một khu vui chơi giải trí. Nếu muốn vào thăm, khách thăm quan buộc phải qua “của ải” của trung tâm giải trí này”.        “Không chỉ có các nước giàu, mà nhiều nước đang phát triển đã chú trọng đưa thiên văn vào giảng dạy ở phổ thông. Còn ở Việt Nam, tôi thấy chỉ có những sinh viên theo học chuyên ngành vật lý ở một vài trường đại học mới có được may mắn tiếp cận đến ngành khoa học hết sức thú vị này”..   GS.James Cronin, giải Nobel Vật lý          Bên cạnh những giúp đỡ về con người, xây dựng cơ sở vật chất, IAU, Đài Thiên văn Paris, Đại học Paris 6, ĐH Paris 11 và tổ chức Rencontres du Vietnam…cũng tổ chức nhiều lớp học, hội thảo bồi dưỡng kiến thức về khoa học vật lý thiên văn và vũ trụ học, đồng thời tạo điều kiện để nhiều sinh viên Việt Nam sang các trường ĐH ở Mỹ, Pháp, Nhật theo học các chương trình sau đại học trong lĩnh vực nghiên cứu này. Bên cạnh đó, các chương trình hợp tác quốc tế phù hợp với thực lực nghiên cứu trong nước như Dự án HOU cũng đã được triển khai. “Hiện nay, trên thế giới có một mạng kính thiên văn hoạt động tự động để các nhà thiên văn nghiệp dư có thể sử dụng qua Internet. Các nhà thiên văn nghiệp dư trong nước có thể tham gia vào mạng kính này. Chúng tôi cũng đã soạn một số sách phổ biến và giáo khoa tiếng Việt để học sinh và sinh viên sử dụng”, GS.Riệu cho biết. Ngày nay, các trường ĐH, CĐSP đã dần đưa thiên văn vào giảng dạy, nhen nhóm lên một ngành khoa học tuy có “tuổi” vào bậc nhất của khoa học đương đại nhưng lại còn rất mới mẻ ở Việt Nam.    Một số giải pháp phát triển Thiên văn Việt Nam                        PGS.Nguyễn Đình Huân                  Thế kỷ XXI là thế kỷ của những công cuộc chinh phục vũ trụ và những ứng dụng quan trọng của Thiên văn học hiện đại cho đời sống con người. Vì vậy, những kiến thức Thiên văn-vũ trụ là những kiến thức cần có đối với mọi người, trước hết là tuổi trẻ học đường.  Trước năm 1945, Thiên văn và Vũ trụ học là một môn học bắt buộc đối với lớp cuối cấp thuộc ban tự nhiên của hệ phổ thông. Trong cải cách giáo dục 1950, do rút ngắn chương trình đào tạo nên Thiên văn không phải là môn học bắt buộc trong hệ phổ thông. Hiện tại, Thiên văn học được giảng dạy ở Khoa Vật lý và khoa Địa lý của các trường đại học sư phạm, ở các trường đại học kỹ thuật như Mỏ-Địa chất, Hàng hải…Chương trình Thiên văn cũng được đưa vào các trường cao đẳng sư phạm và một số tiết của chương trình Vật lý ở trường trung học phổ thông.  Việc chưa có Thiên văn trong chương trình giảng dạy ở phổ thông sẽ là một khiếm khuyết trong trong tri thức của tuổi trẻ đi vào thế kỷ XXI và cũng có thể nói là một hạn chế trong nền giáo dục của nước nhà để ngang bằng nền giáo dục thế giới. Vì vậy, việc đưa môn Thiên văn vào chương trình phổ thông là rất cần thiết. Cung cấp các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy như kính Thiên văn trường học, các thiết bị nghe nhìn, sách báo, tạp chí, tài liệu chuyên ngành. Sử dụng, khai thác có hiệu quả các kênh thông tin trên mạng internet…  Chúng ta cần tiếp tục tuyển chọn sinh viên giỏi, gửi đi đào tạo về Thiên văn Vật lý, và nên thành lập một cơ sở nghiên cứu Thiên văn để tập hợp số cán bộ trẻ này. Chúng ta cũng có thể sử dụng các số liệu qua mạng internet, tham gia mạng phân tích và xử lý số liệu toàn cầu. Chúng ta cũng có thể tham gia mạng lưới quan sát và nghiên cứu Thiên văn bằng các kính Thiên văn nhỏ trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.  Việc phổ biến rộng rãi các tri thức Thiên văn trong quảng đại quần chúng là một yêu cầu cấp thiết, nhằm xây dựng cho con người một vũ trụ quan duy vật biện chứng, một nền tảng tri thức để chống lại những hiện tượng mê tín dị đoan đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta. Hiện nay, nhiều câu lạc bộ trẻ về Thiên văn đã được thành lập ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.., đã thu hút nhiều bạn trẻ tham gia và hoạt động có hiệu quả. Nhiều websites về Thiên văn ở Việt Nam đã ra đời nhằm phổ biến tri thức về Thiên văn, khám phá vũ trụ…  Hội Thiên văn Quốc tế khuyến cáo Việt Nam nên gia nhập Hội Thiên văn quốc tế như là một thành viên quốc gia, khi đó Thiên văn Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.  PGS. TS. Nguyễn Đình Huân-Chủ tịch hội Thiên Văn-Vũ trụ Việt Nam  Lê Tự Do      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngày hội ở Viện Toán học      Chào mừng Ngày KH&amp;CN Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên, trong ngày 18/5, tại Viện Toán học (Hà Nội) đã diễn ra nhiều hoạt động dành  cho những người yêu thích môn toán thuộc mọi lứa tuổi, đặc biệt là các  bạn thanh thiếu niên.    Mở đầu cho “Một ngày với Toán học” là tọa đàm “Kinh nghiệm du học”, thu hút hơn 100 học sinh và sinh viên từ Viện Toán, ĐH Sư phạm và ĐH Quốc gia Hà Nội.      Tham gia chia sẻ về kinh nghiệm và cơ hội du học, cũng như giải đáp thắc mắc của các bạn học sinh, sinh viên về nhiều vấn đề liên quan như chuẩn bị hồ sơ, lựa chọn ngành học, trường học, tài chính… có GS Ngô Việt Trung – nguyên Viện trưởng Viện Toán học, PGS.TS Nguyễn Việt Dũng, TS Nguyễn Chu Gia Vượng, PGS.TS Phan Thị Hà Dương, TS Hà Huy Tài – đều là những người có nhiều năm du học ở châu Âu hoặc Mỹ. Trong ảnh: TS Nguyễn Chu Gia Vượng điều phối buổi tọa đàm.       Với một chủ đề được rất nhiều người quan tâm, buổi tọa đàm đã kéo dài hơn dự kiến nửa tiếng. Trong ảnh: Một học sinh cấp III nêu câu hỏi về hướng chuẩn bị cho Chương trình Cao học quốc tế của Viện Toán học.       Tiếp sau tọa đàm “Kinh nghiệm du học”, các bạn học sinh và sinh viên được nghe GS Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, nói chuyện về vẻ đẹp của Toán học. Bằng những bức tranh của Picasso, câu chuyện về nghề “săn rồng”, bài thơ “Ích gì” trong di cảo của Chế Lan Viên…, GS Hà Huy Khoái giải thích với cử tọa vì sao nhiều người đã nhìn thấy ở Toán học vẻ đẹp tương tự như ở thơ ca và nghệ thuật.         PGS.TS Phan Thị Hà Dương nói về vẻ đẹp của dãy số Catalan, là các dãy số nguyên xuất hiện trong những bài toán liệt kê.      Thảo luận bàn tròn “Toán học, cơ hội và thách thức” diễn ra vào buổi chiều là sự kiện dành riêng cho các nhà toán học và các giảng viên môn toán từ các trường đại học, viện nghiên cứu trong cả nước. Những nội dung chính được thảo luận bao gồm: liệu có phải nhân lực ngành toán đang bị khủng hoảng hay không, toán học còn thiếu sự gắn bó với đời sống như thế nào, và vì sao môn toán kém hấp dẫn học sinh – sinh viên…      Bên lề các hoạt động chính, các bạn trẻ còn có thể tham gia nhiều hoạt động khác diễn ra song song như:  Tìm hiểu Toán học qua hình ảnh;      Tạo các khối đa diện bằng giấy và kéo;      Chơi cá ngựa và đấu cờ vua;        …hoặc ghé gian hàng chuyên về sách khoa học.      Trong ngày hội này, Viện Toán cũng được trang hoàng khác ngày thường bằng bản sao hàng chục tác phẩm hiển thị hóa các mặt đại số kỳ dị của nhà nghiên cứu người Đức Oliver Labs.              Năm nay ngành Toán học xếp vị trí số một  trong bảng xếp hạng 200 việc làm tốt nhất hàng năm của CareerCast.com  dựa trên các tiêu chí như thu nhập, triển vọng tương lai, môi trường làm  việc, độ căng thằng trong công việc và nhu cầu vật chất. Điều này là do  nhu cầu đối với những người làm phân tích thống kê đang phát triển  trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh. Nhu cầu này được dự báo sẽ gia  tăng tới 23% vào năm 2022.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Một người phụ nữ “không biết nghỉ ngơi”      Đó là biệt danh các bạn bè, đồng nghiệp đặt cho Tiến sĩ Xã hội học Khuất Thu Hồng – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS). Quả thật, gặp được chị rất khó khăn vì lúc nào chị cũng ở trạng thái “trên từng cây số”, đi, gặp gỡ và làm việc với những người khác nhau ở mọi miền của đất nước. Nhìn cuốn sổ lịch của chị tôi thấy chẳng có mấy ngày để trống, hầu hết đều đã được đánh dấu dày đặc cho đến tận giữa năm. Chen giữa các chuyến đi là những cuộc họp, những giờ giảng bài…    Đối với TS. Khuất Thu Hồng, ngồi yên một chỗ nghĩa là… bó tay, là dừng lại, là thụt lùi, là điều mà chị không thể nào chấp nhận, không thể nào làm được. Lúc nào chị Hồng cũng phải loay hoay nghĩ ra một điều gì mới, làm một việc gì đó, chứ không chịu yên chỗ. Chị bảo “Tôi bị gọi là con người “không biết nghỉ ngơi” bởi như vậy”. Cũng vì cái tính “loay hoay” ấy, mà chị đã cùng với một số bạn bè đồng nghiệp quyết tâm từ bỏ việc “làm mà không làm” ở một cơ quan nghiên cứu hàng đầu của nhà nước để thành lập một tổ chức phi chính phủ, tự tìm kiếm các nguồn tài trợ để thực hiện các chương trình nghiên cứu về các vấn đề xã hội cấp thiết của đất nước.  Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội ra đời từ đó. Chị Hồng cho biết, mới đầu gia đình và bạn bè cũng rất lo lắng cho chị và khuyên chị không nên rời bỏ một công việc ổn định để tìm kiếm sự phiêu lưu, nhất là khi chị còn có một gánh nặng gia đình với hai đứa con đang đi học.  “Tuy nhiên”, chị nói, “tôi là người may mắn. May mắn vì được bạn bè đồng nghiệp đồng lòng hợp sức. May mắn vì được các đối tác tin tưởng nên ngay từ những ngày đầu chúng tôi đã có được một số dự án nghiên cứu tầm cỡ mà từ đó Viện không ngừng phát triển”. Tôi trộm nghĩ, có lẽ sự may mắn đó phải chăng cũng đến từ tính “loay hoay” của chị vì những quả sung đâu có rụng mãi cho một người chỉ biết chờ đợi.  Sinh năm 1960, ẩn thân con chuột, “Canh Tý là chúa vất vả, nhưng vất vả cũng là do mình cứ tham công tiếc việc quá, chứ nếu biết ngồi yên một  chỗ thì chắc cũng không đến nỗi” – chị Hồng cười và nói về cái tuổi của mình – tuổi của một người phụ nữ nhỏ bé mà can trường và bản lĩnh. Xuất thân từ chuyên ngành tâm lý học (tốt nghiệp ĐH Tổng hợp Lômônôxop năm 1984), nhưng chị lại “lấn sân” sang nghiên cứu xã hội học và vẫn còn  tiếc rẻ vì “không còn trẻ để học thêm một số ngành nữa”. Chị quả quyết lắc đầu khi tôi hỏi liệu chị có tiếc cái biên chế nhà nước gần hai mươi năm hay có nhiều băn khoăn khi rời bỏ vị trí chuyên gia về giới của UNDP, nơi có điều kiện để có thu nhập ổn định hay không. Chị nói, dù công việc hiện tại có khó khăn vất vả hơn nhiều nhưng chị rất hạnh phúc vì đang được làm những điều mình “thích”. Đó chính là những vấn đề xã hội mà chị và đồng nghiệp thực sự tâm huyết. Cái “thích” nữa là các chị có thể chủ động xác định đề tài nghiên cứu và chủ động thiết kế nghiên cứu. Chị Hồng nói “Khoa học là sáng tạo. Người làm khoa học nào cũng mơ ước mình được chủ động nghiên cứu những vấn đề mình nung nấu. Chúng tôi đang thực hiện được những ước mơ của mình”.  Khi thấy tôi có ý cho rằng dường như số phận luôn mỉm cười với chị, Khuất Thu Hồng cười “Không phải lúc nào cuộc sống cũng dễ dàng với mình đâu”. Những ngày đầu tiên cả nhóm sáng lập viên chạy long tóc gáy để hoàn tất các thủ tục thành lập. Rồi cả bọn phải vét cạn cả túi để lấy tiền thuê văn phòng, mua máy tính và trang thiết bị và góp vốn pháp định theo đúng quy định của Bộ Khoa học &Công nghệ. Tiếp theo đó là những ngày vất vả triền miên. Chỉ làm nghiên cứu thôi cũng đủ căng thẳng lắm rồi nhưng “bà” Giám đốc còn phải lo sao cho mười mấy cán bộ của mình yên tâm công tác, rồi lo đối ngoại, đối nội và trăm thứ bà rằn khác của một tập thể mà phần đông là những đồng nghiệp trẻ. Đêm đêm nằm nghĩ đến số tiền để trả lương hàng tháng cho cán bộ, tiền thuê nhà, tiền điện tiền nước và bao nhiêu khoản phát sinh khác chị Hồng đã từng “sợ đến mức mất ngủ luôn”. Sáu tháng đầu chị và ba sáng lập viên khác đã không nhận lương, đành phải cắt giảm chi tiêu gia đình.          Hướng dẫn ông Lê Truyền – PCT thường trực UB TWMTTQVN xem tranh        “Nhưng may sao”, (lại may), chị Hồng hãnh diện khi nói về cơ quan của mình, “là tất cả cán bộ trong Viện đều say mê nghiên cứu và hết lòng cho công việc. Vì vậy những nghiên cứu của chúng tôi thường được đánh giá cao. Từ đó tên tuổi của Viện cũng được nhiều người biết đến hơn và công việc lại càng nhiều hơn. Sau sáu tháng đầu, ai cũng có lương và sau mỗi sáu tháng chúng tôi lại có thể tăng lương cho cán bộ của mình”. Khi tôi hỏi đùa “Chắc lương cao lắm chị nhỉ?”, chị Hồng cười “Không cao đâu, chưa xứng đáng với công sức mọi người bỏ ra đâu. Nhưng cũng đủ để nghiên cứu khoa học”.   “Các chị nghiên cứu những vấn đề gì mà luôn ở trên từng cây số vậy?” – “Chúng tôi toàn là những người tò mò. Chúng tôi làm nhiều thứ lắm. Bạn biết đấy, cái tên của Viện cũng đã nói lên phần nào công việc của chúng tôi, những gì liên quan đến xã hội là chúng tôi quan tâm”. Trọng tâm của Viện là các vấn đề nghèo đói, bình đẳng giới, phụ nữ, sức khỏe, kể cả sức khỏe tình dục, ma túy và HIV/AIDS. Tuy nhiên Viện cũng tham gia tích cực vào các nghiên cứu về phát triển đô thị, môi trường và tham gia vào các hoạt động giáo dục truyền thông. Viện đã xây dựng được một trung tâm tư liệu về “Giới, Tính dục và Sức khỏe Tình dục” với trên 3000 đầu sách và tài liệu, sẵn sàng phục vụ cho tất cả những người quan tâm. Với mạng thư điện tử JVnet, Viện đã cung cấp thông tin về HIV/AIDS cho 1000 người họat động trong lĩnh vực phòng chống AIDS ở Việt Nam. Trong hai năm 2004-2005, nhiều khán giả xem truyền hình đã nghe chị Hồng nói về tầm quan trọng của việc xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS đối với chương trình quốc gia phòng chống đại dịch AIDS hoặc là các vấn đề giáo dục sức khỏe tình dục cho thanh thiếu niên, đó là một trong những hoạt động mà ISDS phối hợp với Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Viện đã không những có kết quả nghiên cứu chuyên sâu mà còn có nhiều sáng kiến can thiệp, tuyên truyền như in sách, in lịch, triễn lãm tranh, ảnh của những người đang sống chung với HIV, tổ chức các hội thảo nghiên cứu và tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng làm giảm đi cách nhìn tiêu cực của xã hội đối với người có HIV. Kết quả nghiên cứu cũng như các sáng kiến tuyên truyền này đến nay vẫn được nhiều tổ chức nghiên cứu trong, ngoài nước đến trao đổi, học tập. Vì những đóng góp xã hội, chị Hồng đã trở thành Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  Nhìn chị trong dáng vẻ của một bà mẹ chuẩn bị chào đón đứa trẻ sắp ra đời, đi lại khệ nệ nhưng vẫn tất bật sắp xếp các chuyến bay cho đoàn cán bộ của Viện vào Cần Thơ thực hiện nghiên cứu đúng tiến độ, vừa tiếp chuyện tôi, lo nghe điện thoại và… xem giờ để còn về chăm lo cho gia đình, tôi hình dung ra được những khó khăn của một phụ nữ vừa làm khoa học vừa làm quản lý lại vừa phải thực hiện vai trò người vợ, người mẹ. Tôi hỏi “Mong muốn lớn nhất của chị là gì?” chị Hồng sôi nổi hẳn lên “Mình mơ ước xây dựng được một cơ quan chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp phải được thể hiện trong mọi việc, từ hoạt động nghiên cứu, đào tạo cho đến các giao dịch với đối tác. Mọi cán bộ đều phải có tác phong làm việc chuyên nghiệp. Nhưng để có được điều đó không dễ chút nào. Các trường đại học và môi trường xã hội của Việt Nam không chuẩn bị cho chúng ta kiến thức và kỹ năng về tính chuyên nghiệp. Chúng mình đang phải học”. Theo chị Hồng, tính chuyên nghiệp được thể hiện cao nhất trong các kết qủa nghiên cứu của Viện, vì thế những đòi hỏi đặt ra cho mọi cán bộ nghiên cứu thường là rất khắt khe. Mỗi người, ở vị trí công việc của mình, dù là nghiên cứu viên chính hay trợ lý nghiên cứu đều phải hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Quả thật, khi nhìn các ấn phẩm khoa học của Viện tôi tin rằng mong ước của chị Hồng đã và đang trở thành hiện thực.            Khuất Thu Hồng và ISDS trong lễ khai mạc triễn lãm tranh của 2 họa sĩ có HIV (2.2004)        “Bận rộn như thế thì chị thu xếp cuộc sống gia đình như thế nào?” – “Vẫn phải sống chứ. Mình có chồng, có hai đứa con và sắp sửa có đứa thứ ba. Nhưng rất may là mọi người trong gia đình mình, kể cả bố mẹ và anh chị em hai bên đều thông cảm và hết lòng giúp đỡ mình nên cũng đỡ lắm”. “Thế không có khó khăn nào ư?”. “Tất nhiên là có chứ. Vì hai vợ chồng (chồng chị, TS. Lê Bạch Dương là một sáng lập viên của Viện) cùng làm một nơi, cùng làm một việc, đôi khi mình không biết liệu có ranh giới giữa công việc và gia đình không. Trong khi nấu cơm hoặc đang trên đường đi thăm hỏi ông bà ngoại lại bàn với nhau về công việc. Nhiều thứ Bảy, Chủ nhật cả hai vùi đầu vào công việc thay vì nghỉ ngơi dọn dẹp nhà cửa như dự định. Nhưng vẫn vui”.  “Nếu chỉ thích nghỉ ngơi, nếu không “loay hoay”, hẳn chúng tôi chẳng có được ngày hôm nay”. Khẳng định lại điều đó, gương mặt TS. Khuất Thu Hồng ánh lên niềm tự hào. Chị đã quyết tâm theo đuổi ước mơ của mình là  xây dựng tác phong làm việc chuyên nghiệp trong nghiên cứu khoa học xã hội. ISDS đang làm cho ước mơ của chị trở thành hiện thực. Giờ đây chị và đồng nghiệp còn có tham vọng để xã hội cùng chia sẻ và thực hiện mơ ước về tính chuyên nghiệp, trong mọi lĩnh vực. Theo chị, chỉ khi nào mỗi một cá nhân chúng ta ý thức được sự chuyên nghiệp trong công việc của bản thân mình, cả xã hội mới có sự chuyên nghiệp toàn diện và khi đó chúng ta mới có sự phát triển bền vững.  Lê Mỹ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một phần ba diện tích trồng trọt toàn cầu có nguy cơ ô nhiễm thuốc trừ sâu ở mức cao      Một phần ba diện tích đất nông nghiệp trên trái đất ở mức rủi ro cao về ô nhiễm thuốc trừ sâu. Bởi các thành phần hóa chất thuốc trừ sâu tồn tại trong đất, lâu ngày có thể dẫn đến việc hòa tan vào nước và đe dọa sự đa dạng sinh học, theo một nghiên cứu mới xuất bản trên Nature Geoscience.      Đó là công bố “Risk of pesticide pollution at the global scale” (Sự rủi ro ô nhiễm thuốc trừ sâu tại quy mô toàn cầu) trên Nature Geoscience của các nhà khoa học Úc.  Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu đã mở rộng khắp toàn cầu khi mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, làm gia tăng nỗi sợ hãi về sự hủy hoại môi trường và dẫn đến việc kêu gọi cắt giảm việc sử dụng hóa chất nguy hiểm.  Các nhà nghiên cứu Australia đã mô hình hóa nguy cơ rủi ro khắp 168 quốc gia với dữ liệu về việc sử dụng 92 thành phần thuốc trừ sâu hoạt hóa và tìm thấy “nguy cơ ô nhiễm thuốc trừ sâu trải rộng trên toàn cầu”.  Họ nhấn mạnh vào những hệ sinh thái dễ bị tổn thương một cách sâu sắc ở Nam Phi, Trung Quốc, Ấn Độ, Australia và Argentina, do mối liên hệ giữa nguy cơ ô nhiễm, khan hiếm nguồn nước và đa dạng sinh học cao.  Nghiên cứu này dã tìm thấy 64 % diện tích đất nông nghiệp – xấp xỉ 24,5 triệu km2 – lâm vào nguy cơ rủi ro ô nhiễm thuốc trừ sâu từ nhiều thành phần hoạt hóa, và 31% là ở nguy cơ rủi ro cao.  “Đây là điều đáng chú ý bởi nguy cơ tiềm năng đã trải rộng và một số vùng có nguy cơ cao có độ đa dạng sinh học cao và đang lâm vào cảnh khan hiếm nước”, Fiona Tang, trường Kỹ thuật dân dụng của ĐH Sydney, một trong hai tác giả liên hệ của công trình, nói.  Tang còn cho biết thêm, một số nhân tố cũng góp phần khiến cho một vùng trở thành một điểm nóng ô nhiễm tiềm năng, bao gồm việc lạm dụng thuốc trừ sâu hoặc những thứ chứa các thành phần có khả năng làm tổn hại đất.  Một số yếu tố môi trường khác có thể làm chậm quá trình phân rã thuốc trừ sâu thành các thành phần không độc như nhiệt độ thấp hoặc đất hấp thụ carbon ở mức thấp trong khi mưa nặng hạt có thể làm tăng mức độ rủi ro.  Nghiên cứu này tập trung vào những tác động với sức khỏe con người nhưng các nhà nghiên cứu cho biết  việc để thuốc trừ sâu vào nước sinh hoạt có thể dẫn đến nguy cơ rủi ro cho con người. Họ cho rằng cần phải có một phân tích lớn hơn vào thành phần ô nhiễm của nước sông, các cửa sông và hồ.  Kêu gọi nông nghiệp bền vững  Các nhà nghiên cứu nhing vào 59 loại thuốc diệt cỏ, 21 loại diệt côn trùng và 19 loại diệt trừ nấm mốc.  Họ sử dụng ước tính tốc độ ứng dụng thuốc trừ sâu qua dữ liệu của Cơ quan điều tra địa chất Mỹ và thông tin về các quốc gia của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc.  Họ đưa các số liệu đó vào một mô hình toán học và sử dụng nó để ước tính về mặt tiềm năng sự tồn tại của thuốc trừ sâu vẫn còn tồn tại trong môi trường.  Các vùng được coi là có nguy cơ rủi ro cao nếu như có sự tồn tại của ít nhất một thành phần thuốc trừ sâu với ít nhất 1000 lần so với mức độ không gây rủi ro của nó. Theo đó thì châu Á là vùng đất lớn nhất với 4,9 triệu km2 ở mức độ nguy cơ rủi ro cao, và Trung Quốc có 2,9 m triệu km2 trong đó.  Các nhà nghiên cứu cũng ước tính độ ô nhiễm gia tăng ở Nga, Ukraine và Tây Ban Nha, tương đương với gần 62% diện tích đất nông nghiệp của châu Âu (2,3 triệu km2), là mức độ rủi ro cao của ô nhiễm thuốc trừ sâu.  Họ cũng xem xét nguy cơ rủi ro theo các dạng môi trường – đất, nước bề mặt, nước ngầm và khí quyển.  Tất nhiên, Tang nói nước bề mặt là rủi ro bậc nhất bởi vì có thể chất thải gây ô nhiễm di chuyển theo dòng chảy.  Nghiên cứu kêu gọi một chiến lược toàn cầu theo hướng “nông nghiệp bền vững và sống bền vững”, bao gồm ít sử dụng thuốc trừ sâu, giảm thiểu lãng phí nước và thực phẩm.  Vào năm 2019, Chương trình Triển vọng Môi trường toàn cầu Liên hợp quốc (GEO) đã kêu gọi giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu và việc sản xuất lương thực không chỉ là yếu tố chính của việc mất đi sự đa dạng sinh học mà còn là yếu tố chính gây ô nhiễm nước, không khí, biển, cụ thể khi việc trồng trọt đang lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu hóa học.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-global-farmland-high-pesticide-pollution.html  https://www.nature.com/articles/s41561-021-00712-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một phát hiện quan trọng về số nguyên tố      Các nhà toán học đã đạt được những tiến bộ đầu tiên trong 76 năm ở câu  hỏi: Hai số nguyên tố liên tiếp có thể cách nhau khoảng cách lớn nhất là  bao nhiêu?  &#160;    Tháng 5/2013, nhà toán học Zhang Yitang (Trương Ích Đường, người Mỹ gốc Hoa) ở Đại học New Hampshire lần đầu tiên chứng minh được rằng mặc dù số nguyên tố càng lớn càng hiếm, ta sẽ luôn tìm được những cặp số nguyên tố cách nhau một khoảng cách bị chặn – anh đã chứng minh được khoảng này là trong vòng 70 triệu. Sau công bố của Zhang, nhiều nhà toán học cùng tham gia nghiên cứu để cải thiện kết quả, và đã hạ giới hạn này xuống còn 246, gần hơn đáng kể giả thiết số nguyên tố sinh đôi (twin primes) – giả thiết cho rằng có vô hạn cặp số nguyên tố cách nhau hai đơn vị.   Hiện nay các nhà toán học đã đạt được những tiến bộ quan trọng đầu tiên trong 76 năm đối với câu hỏi theo hướng ngược lại: Các số nguyên tố liên tiếp cách xa nhau thế nào? Cho tới nay chưa ai có thể trả lời vấn đề này.“  Đây là một câu hỏi rất hiển nhiên, một trong những câu hỏi đầu tiên về số nguyên tố,” Andrew Granville, một nhà lý thuyết số học ở Đại học Montreal (Canada) nói. “Nhưng chúng ta hầu như vẫn không có thêm bước tiến nào trong gần 80 năm.”  Tháng Tám vừa qua, hai nhóm nhà toán học – nhóm một gồm bốn thành viên trong đó có Terrence Tao thuộc Đại học California và nhóm hai là James Maynard của Đại học Oxford – đã công bố những nghiên cứu của họ, chứng minh một giả thuyết đã tồn tại lâu năm của nhà toán học Paul Erdos về độ lớn của khoảng cách giữa hai số nguyên tố. Sau đó, hai nhóm này đã kết hợp với nhau để cải tiến kết quả của mình. Kết quả đó mới đây đã được công bố vào tháng 12/2014 (có thể xem tại http://arxiv.org/abs/1412.5029).  Erdos, một trong những nhà toán học có nhiều công trình nhất thế kỷ XX, từng nghĩ ra hàng trăm vấn đề toán học khác nhau; ai giải được sẽ được ông thưởng, thường chỉ ở mức 25 USD. Riêng tiền thưởng cho câu hỏi về khoảng cách giữa các số nguyên tố thì Erdos nâng lên đến 10.000 USD.  Giả thuyết của Erdos dựa trên một chặn dưới (nhìn kỳ quặc), được tìm ra năm 1938 bởi Robert Alexander Rankin, nhà toán học người Scotland. Với số X đủ lớn, Rankin chứng minh rằng, khoảng cách lớn nhất giữa hai số nguyên tố liên tiếp (sau đây gọi là khoảng cách nguyên tố) nhỏ hơn X luôn lớn hơn hoặc bằng     Terence Tao từng nói: Các công thức lý thuyết số nổi tiếng vì có nhiều ‘log’ (viết tắt của logarit tự nhiên). Thậm chí giới lý thuyết số còn có câu đùa: “Nhà lý thuyết số đang chết đuối sẽ kêu như thế nào?” – “Log log log log…”   Terence Tao cho rằng kết quả của Rankin là “một công thức tức cười, bạn không nghĩ nó có thể xuất hiện một cách tự nhiên. Mọi người đều tin rằng có thể cải tiến nhanh chóng công thức này”. Nhưng ngoài một số cải tiến nhỏ, không có một tiến bộ nào được thực hiện với công thức của Rankin trong hơn bảy thập niên qua.  Nhiều nhà toán học tin rằng kích cỡ thực tế của khoảng cách nguyên tố có thể lớn hơn nhiều – lên đến (log X)2, như ý tưởng của nhà toán học Thụy Điển Harald Cramer nêu ra năm 1936. Khoảng cách này xảy ra nếu ta giả sử tập hợp các số nguyên tố giống như một tập hợp các số ngẫu nhiên, trên thực tế hai tập hợp này có nhiều điểm giống nhau. Nhưng không ai có thể chứng minh giả thuyết của Cramer. Terence Tao kết luận “Chúng ta còn chưa hiểu rõ lắm về số nguyên tố.”  Giả thiết của Erdos khiêm tốn hơn: Có thể thay 1/3 trong công thức của Rankin bằng bất cứ số nào miễn là chúng ta tăng X lên đủ lớn. Điều đó nghĩa là khoảng cách nguyên tố nhận được có thể lớn hơn trong công thức của Rankin nhiều, tuy vẫn chưa lớn như trong công thức của Cramer. Hai chứng minh cho giả thuyết của Erdos được nhắc ở trên, đều dựa trên một cách xây dựng đơn giản về khoảng cách nguyên tố lớn giống như một dãy dài các hợp số.   Ví dụ, đây là một cách xây dựng một dãy 100 hợp số liên tiếp: Lấy 100 số từ 2 đến 101 và thêm vào 101! (giai thừa của 101). Dãy này trở thành 101! + 2, 101! + 3, 101! + 4, … , 101! + 101. Vì 101! chia hết cho các số từ 2 đến 101, mỗi số trong dãy trên chắc chắn là hợp số: 101! + 2 chia hết cho 2, 101! + 3 chia hết cho 3,…   James Maynard nói: “Các chứng minh về khoảng cách nguyên tố lớn đều dùng các biến thể nhỏ của phương pháp xây dựng này.” Những hợp số trong dãy trên đều rất lớn vì 101! có 160 chữ số. Để cải tiến công thức của Rankin, các nhà toán học phải chứng minh sự tồn tại các dãy hợp số nhỏ hơn nhiều – có thể thêm một số nhỏ hơn 101! nhiều vào dãy 2, 3, …, 101 mà vẫn tạo ra một dãy hợp số. Cả hai nhóm đạt được điều này bằng cách dùng những phát hiện gần đây – mỗi nhóm dùng một phát hiện khác nhau – về cách các số nguyên tố phân bố. Thêm vào đó, công trình của Maynard dùng một số công cụ phát triển trong năm ngoái liên quan đến những khoảng cách nguyên tố nhỏ.  Giờ đây, năm nhà nghiên cứu của hai nhóm đang tập trung làm một công trình chung tốt hơn mà theo Tao sẽ đẩy phương pháp của Rankin xa hết mức có thể trong giới hạn những kỹ thuật hiện nay.  Công trình này chưa có những ứng dụng ngay lập tức mặc dù việc hiểu rõ khoảng cách nguyên tố lớn có thể ảnh hưởng đến các thuật toán mã hóa. Nếu khoảng cách nguyên tố tìm được còn lớn hơn giả thiết của Cramer thì có thể các thuật toán mã hóa dựa trên việc tìm các số nguyên tố lớn sẽ gặp vấn đề. Maynard nói: “Nếu thuật toán không may bắt đầu tìm ở đoạn đầu của một khoảng cách nguyên tố rất lớn thì chương trình sẽ tốn rất nhiều thời gian.”  Tao có động cơ cá nhân hơn khi nghiên cứu khoảng cách nguyên tố. “Sau một thời gian, những thứ này bắt đầu làm bạn khó chịu,” anh nói, “Bạn được cho là chuyên gia về số nguyên tố, nhưng bạn không thể trả lời những câu hỏi cơ bản như trên, cho dù người ta đã nghĩ về chúng hàng thế kỷ.”  Erdos mất năm 1996 nhưng Ronald Graham ở Đại học California, San Diego, người từng cộng tác nhiều với Erdos, quyết định sẽ tài trợ cho giải thưởng 10.000 USD mà Erdos đã cam kết.   Năm 1985, thần đồng 10 tuổi Tao lần đầu tiên giải được một bài toán Erdos treo thưởng và anh đã gặp Erdos ở một sự kiện toán học. “Ông ấy đối xử ngang hàng với tôi, ông ấy nói với tôi những vấn đề toán học nghiêm túc,” Tao, người được nhận Huy chương Fields năm 2006, nhớ lại.   Những tiến bộ gần đây về các khoảng cách nguyên tố nhỏ cũng như lớn đã tạo nên một thế hệ các nhà lí thuyết số nghĩ rằng không gì là không thể, Granville nói: “Khi tôi còn đang học, chúng tôi nghĩ rằng có những vấn đề sẽ không có câu trả lời cho đến một thời kì toán học mới… Nhưng tôi nghĩ rằng trong mấy năm qua, thái độ đã thay đổi. Nhiều nhà toán học trẻ có tham vọng lớn hơn nhiều vì họ thấy được rằng ta có thể tạo được những tiến bộ lớn lao trong toán học.”   Dương Quang Thành lược dịch theo wired.com  Nguyễn Duy Tân hiệu đính       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một phụ nữ khỏi HIV nhờ điều trị bằng tế bào gốc      Trước đây, đã có hai bệnh nhân nam được chữa khỏi HIV, nay thêm một nữ bệnh nhân đã 14 tháng không còn chứa virus gây bệnh. Tuy nhiên, với người phụ nữ này, người ta đã áp dụng một phương pháp điều trị khác.      Nghiên cứu tế bào gốc có nhiều triển vọng trong điều trị HIV  Một bệnh nhân ung thư máu ở Mỹ đã trở thành người phụ nữ đầu tiên và đồng thời là người thứ ba trên thế giới được chữa khỏi HIV. Các nhà khoa học đã báo cáo về vấn đề này hôm thứ ba vừa qua tại một hội nghị ở Denver.  Bệnh nhân nữ này đang ở độ tuổi trung niên, đa chủng tộc, được chẩn đoán là dương tính với HIV vào tháng 6 năm 2013. Người bệnh được điều trị bằng thuốc kháng virus, nhờ đó đã kiểm soát được virus trong cơ thể. Tháng 3 năm 2017, bà được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu dòng tủy, một loại ung thư bắt đầu từ các tế bào tạo máu trong tủy xương. Sau đó, bà được điều trị khoảng sáu tháng bằng tế bào gốc từ máu cuống rốn, chủ yếu để chống bệnh ung thư. Các bác sĩ cho biết kể từ đó bệnh nhân sạch virus và không cần dùng thuốc chống HIV nữa. Đây là bệnh nhân HIV đầu tiên được điều trị bằng tế bào gốc từ máu ở cuống rốn.  Trước đó đã có hai bệnh nhân HIV là nam giới khỏi bệnh nhờ điều trị bằng tế bào gốc. Người thứ nhất là Timothy Ray Brown, còn được mệnh danh là  “Bệnh nhân Berlin”, sau điều trị đã sạch virus được 12 năm, ông mất năm 2020 vì bệnh ung thư. Cách đây ba năm đã có ca chữa trị thứ hai thành công: Bệnh nhân Adam Castillejo cũng được điều trị bằng tế bào gốc và sạch virus HI từ đó đến nay.   Cả hai bệnh nhân nam này đều được điều trị bằng tế bào gốc từ tủy xương, còn được gọi là cấy ghép tủy xương. Những người hiến tặng có một đột biến đặc biệt được gọi là Delta 32. Điều này có nghĩa là các tế bào không sản xuất thụ thể CCR5 – thứ hầu hết các virus HI cần có để gắn vào một tế bào mà từ đó chúng có thể sinh sôi. Vì vậy, những người hiến tặng vốn đã miễn dịch với virus. Các nhà khoa học tin rằng sau khi cấy ghép, người nhận cũng sẽ có đặc điểm này và trở nên miễn nhiễm với HIV. Chỉ có khoảng 20.000 người hiến tế bào gốc trên toàn thế giới mang đột biến đặc biệt, hầu hết họ đều ở Bắc Âu.  Liệu pháp tế bào gốc có rất nhiều rủi ro  Cấy ghép tế bào gốc giúp phát triển các tế bào gốc máu mới trong cơ thể. Điều này làm thay đổi hệ thống miễn dịch. Trong trường hợp cấy ghép tế bào gốc, các đặc điểm mô ở người cho tế bào gốc và người nhận tế bào gốc phải phù hợp với nhau. Điều này là cực kỳ hiếm.  Ngoài ra, liệu pháp tế bào gốc vẫn là một phương pháp điều trị có độ rủi ro cao và thường chỉ là một lựa chọn cho bệnh nhân ung thư khi không còn có cách nào khác. Do đó, trong tương lai, các bác sĩ có thể sẽ tiếp tục dựa vào phương pháp cổ điển để kiểm soát virrus  HI bằng thuốc kháng virus hòng qua đó ngăn chặn sự bùng phát của AIDS trong thời gian dài.  Hai người bệnh nhân nam được điều trị cũng bị những tác dụng phụ nghiêm trọng sau khi cấy ghép tủy xương, chẳng hạn như bệnh Graft-versus-Host, theo đó các tế bào của người cho tấn công cơ thể người nhận. Timothy Ray Brown suýt chết sau khi điều trị.  Tế bào gốc từ máu cuống rốn, giống như những tế bào được sử dụng cho bệnh nhân ở Hoa Kỳ, có ưu điểm là  dung nạp tốt hơn và cơ thể ít có khả năng từ chối chúng hơn so với tế bào gốc từ tủy xương. Do đó,không nhất thiết phải có một sự trùng khớp hoàn toàn giữa người cho và người nhận. Điều này có thể là một lợi thế cho những người có các điều kiện khác nhau. Bởi vì trong cơ sở dữ liệu tế bào gốc toàn cầu, chủ yếu là người da trắng đã đăng ký.  Theo nhóm các thầy thuốc điều trị thì nữ bệnh nhân này chịu đựng tốt quá trình điều trị. Sau khi cấy ghép 17 ngày nữ bệnh nhân này đã ra viện. Bệnh Graft-versus-Host đã không phát triển ở người bệnh này. Người bệnh tiếp tục dùng thuốc kháng virus 37 tháng tiếp theo. Sau khi bệnh nhân ngừng dùng thuốc cả HIV và kháng thể chống lại virus đều không thể phát hiện ở  trong máu của bệnh nhân, thậm chí 14 tháng sau đó cũng không xuất hiện.   “Việc bệnh nhân là đa chủng tộc và là nữ đều rất quan trọng và có ý nghĩa về mặt khoa học đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội,” Steven Deeks, một nhà nghiên cứu về AIDS tại Đại học California đã nói với tờ New York Times. Người ta tin rằng sự lây nhiễm HIV diễn biến khác nhau ở nam và nữ. Nhưng trong khi phụ nữ chiếm khoảng một nửa số trường hợp nhiễm HIV trên toàn thế giới, chỉ có khoảng 11% số người tham gia các nghiên cứu về HIV là nữ. Deeks coi thành công trong điều trị là một bước đột phá, nhưng ông không tin liệu pháp tế bào gốc sẽ sớm được phổ biến rộng rãi đối với  bệnh nhân HIV.  Hiện nay trên thế giới có khoảng 38 triệu người bị  HIV. Khoảng ba phần tư trong số này được điều trị bằng thuốc chống virus để kiểm soát và ngăn chặn không để bệnh bùng phát về lâu dài. Người ta không thể tiêu diệt vĩnh viễn virus. Do đó từ nhiều năm nay các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu về các khả năng điều trị căn bệnh này.   Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: Erste Frau gilt nach Stammzelltherapie als von HIV geheilt       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một qui định thiếu cơ sở khoa học và nhân bản      &nbsp;Bộ Y tế vừa ra một qui định rằng những ai c&#243; chiều cao thấp hơn 145 cm hoặc c&#226;n nặng dưới 40 kg sẽ kh&#244;ng được cấp giấy ph&#233;p l&#225;i xe gắn m&#225;y tr&#234;n 50 cc; những người c&#243; chiều cao thấp hơn 150 cm kh&#244;ng được cấp bằng l&#225;i xe &#244;t&#244;. Tuy nhi&#234;n, dựa v&#224;o ti&#234;u chuẩn chiều cao v&#224; trọng lượng kh&#244;ng phải l&#224; một biện ph&#225;p th&#237;ch hợp để đạt được mục ti&#234;u giảm tai nạn hay tử vong do tai nạn giao th&#244;ng, bởi v&#236; nguy&#234;n nh&#226;n xảy ra tai nạn giao th&#244;ng kh&#244;ng phải l&#224; do chiều cao thấp hay trọng lượng nhẹ, m&#224; l&#224; sự tương t&#225;c giữa c&#225;c yếu tố như cơ sinh (biomechanics), tốc độ, điều kiện đường x&#225;, thời tiết, chất lượng an to&#224;n của phương tiện giao th&#244;ng, v&#224; một số yếu tố li&#234;n quan đến h&#224;nh vi của người điều khiển phương tiện giao th&#244;ng.     Phải nói ngay rằng đây là một qui định rất lạ lùng, vì trên thế giới chưa thấy nước nào có một qui định như thế. Ở các nước Âu châu, Úc, Canada và Mỹ, không có nước nào dựa vào chiều cao và trọng lượng cơ thể để cấp giấy phép lái xe ôtô hay xe gắn máy. Ở những nước này, những người khuyết tật vẫn có quyền lái xe, và Nhà nước có những qui định cụ thể giúp họ lái xe an toàn và dành ưu tiên chỗ đậu xe cho những người kém may mắn này.   Có lẽ qui định của Bộ Y tế xuất phát từ một ý định tốt, nhằm giảm tai nạn giao thông đường bộ, cũng như giảm nguy cơ tử vong vì tai nạn giao thông. Điều đáng nói là qui định của Bộ Y tế được ban hành giống như hiện tượng “từ trên trời rơi xuống”, vì nó không hề được bàn thảo rộng rãi trong cộng đồng. Câu hỏi đặt ra là tại sao chọn ngưỡng chiều cao 145 cm, 150 cm, hay cân nặng 40 kg? Cho đến nay, chưa ai có câu trả lời một cách thuyết phục. Nếu một người có chiều cao 144.9 cm hay cân nặng 39.5 kg (có thể do ảnh hưởng di truyền bẩm sinh hay bệnh tật) thì họ cũng không có giấy phép lái xe, cho dù con số 145 cm vcà 144.9 cm chẳng khác nhau đáng kể trong thực tế. Nói cách khác, một khi qui định dựa vào con số, Bộ Y tế đã vô tình biến con người thành những con số. Cố nhiên, con người không phải là những con số, và do đó, qui định của Bộ Y tế thiếu tính nhân bản.   Bằng chứng khoa học?  Trước những chất vấn của công chúng, một quan chức thuộc Bộ Y tế khẳng định rằng qui định trên “có cơ sở khoa học”. Nhưng rất tiếc là vị quan chức này không cho biết “cơ sở khoa học” đó là gì, đã được công bố ở đâu, và đã có ai phản biện hay chưa. Thật vậy, khi điểm qua y văn quốc tế, thì thấy bằng chứng khoa học không phù hợp với lời phát biểu của vị quan chức này.   Thật ra, khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa kích thước cơ thể và tai nạn giao thông, người ta không sử dụng chiều cao và trọng lượng như là hai yếu tố riêng lẻ, bởi vì (i) hai yếu tố này có một mối tương quan khá chặt chẽ (người cao thường có trọng lượng cao, và người thấp thường có trọng lượng thấp); và (ii) chiều cao và nhất là trọng lượng thường dao động theo thời gian. Do đó, các nhà nghiên cứu thường sử dụng một chỉ số tổng hợp hai yếu tố nhân trắc bằng một công thức có tên là body mass index (tạm dịch là tỉ trọng cơ thể hay BMI). BMI được tính bằng cách lấy trọng lượng cơ thể (tính bằng kg) chia cho chiều cao bình phương (tính bằng m2). Chẳng hạn như một người có chiều cao 1.45 m và cân nặng 40 kg, thì BMI là 19 kg/m2. Theo tiêu chuẩn ở các nước phương Tây, những người có BMI thấp hơn 18.5 được xem là “thiếu cân”, BMI trong vòng 18.5 đến 25 là “bình thường”, BMI trong khoảng 25 và 30 là “quá cân”, và BMI trên 30 là “béo phì”.   Có giả thuyết cho rằng BMI có liên quan với nguy cơ tai nạn giao thông và hệ quả của tai nạn giao thông, bởi vì người có BMI cao có nguy cơ mắc chứng hay ngủ trong khi lái xe và ngừng thở (sleep apnoea), nhưng những người có BMI thấp có nguy cơ bị gãy xương cao khi xảy ra tai nạn.   Trong một nghiên cứu công phu ở New Zealand (1), các nhà khoa học theo dõi 10,525 nam và nữ trong thời gian 1992 đến 1998, ghi nhận số lần tai nạn giao thông và phân tích nguy cơ tai nạn với BMI. Qua phân tích, họ phát hiện rằng mối liên hệ giữa nguy cơ tai nạn giao thông và BMI tuân theo một hàm số parabol. Người có BMI trong khoảng 25.9 đến 28.6 (tức trong ngưỡng “quá cân”) có nguy cơ tai nạn giao thông thấp nhất (7.7 trên 10,000 năm-người). Những người với BMI trên 28.6 (tức cân nặng khoảng 77 kg và cao 1.63 m) và những người với BMI dưới 23.5 (tức cân nặng 62 kg và chiều cao 1.63 m) có nguy cơ tai nạn giao thông cao gấp 2 lần những người quá cân (xem Bảng 1).            BMI       Số ca tai nạn      Tỉ lệ tai nạn tính trên 10,000 năm-người (person-years)      Tỉ số nguy cơ (relative risk)          <23.5      41      15.5      2.4          23.5 đến 25.8      37      13.4      2.0          25.9 đến 28.6      21      9.7      1.0          >28.6      40      14.8      2.1          Bảng 1. Nguy cơ tai nạn ôtô tính theo tỉ trọng cơ thể (BMI). Nguồn: Xem tài liệu tham khảo số 1.          Một nghiên cứu tiếp theo được thực hiện ở Mỹ theo dõi 22,107 người lái xe tuổi 16 trở lên cho thấy mối liên hệ giữa BMI và nguy cơ tử vong trong tai nạn xe ôtô cũng tuân theo hàm số parabol, nhưng mối liên hệ này chỉ thấy ở nam chứ không phải nữ (2). Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy rõ ràng rằng những người nam có BMI thấp hơn 18 hay cao hơn 40 thì nguy cơ tử vong tai nạn giao thông tăng khoảng 2 lần. Nhưng ở nữ, không có một mối liên hệ nào giữa BMI và tử vong do tai nạn giao thông. Ngoài ra, nghiên cứu này còn cho thấy tỉ lệ tử vong ở nữ chỉ bằng phân nửa tỉ lệ tử vong ở nam.                             Biểu đồ 1. Mối tương quan giữa nguy cơ tử vong trong tai nạn giao thông (trục tung) và tỉ trọng cơ thể (trục hoành). Đường biểu diễn hình cong là cho nam giới, và đường thẳng là cho nữ giới. Nguồn: xem tài liệu tham khảo số 2.  Một nghiên cứu khác ở Mỹ mới công bố năm nay (3) theo dõi trên 1615 người lái xe trên 16 tuổi dính dáng vào các vụ tai nạn ôtô đụng đầu hay tai nạn ôtô do đụng ngang sườn xe. Phân tích dữ liệu của nghiên cứu cho thấy người có BMI càng cao thì nguy cơ tử vong tai nạn giao thông càng cao. Chẳng hạn như những người có BMI trong khoảng 25-30 ( “quá cân”) hay trên 30 (“béo phì”) có nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với những người có BMI 18.5-25 (“bình thường”) (Xem bảng 2).             BMI       Tỉ lệ tử vong tai nạn trong tai nạn ôtô (%)      Tỉ số nguy cơ (relative risk)          18.5 – 25      9.4      1.0          25 – 30       16.2      1.7          >30      20.5      2.2          Bảng 2. Nguy cơ tai nạn ôtô tính theo tỉ trọng cơ thể (BMI). Nguồn: Xem tài liệu tham khảo số 3.          Nghiên cứu ở Thái Lan (một nước có nhiều đặc điểm giao thông gần ta nhất) cho thấy các yếu tố nhân trắc có liên quan đến tai nạn giao thông là trong độ tuổi 15-19, độc thân, làm nghề buôn bán, lái xe gắn máy, và đặc biệt là nam giới. Thật vậy, công trình nghiên cứu này một lần nữa cho thấy nam giới có xác suất gây tai nạn giao thông cao gấp 2 lần so với nữ giới (4).   Tất cả các nghiên cứu trên đây cho thấy không có ngưỡng BMI nào để gọi là “an toàn” cho tai nạn giao thông cả, bởi vì ở bất cứ chiều cao nào và trọng lượng nào, tai nạn giao thông đều có thể xảy ra. Tuy nhiên, những người có BMI trong khoảng 26 đến 29 có thể có nguy cơ tai nạn thấp hơn những người có BMI dưới 26 hay cao hơn 29. Nhưng khi xảy ra tai nạn thì những người có BMI trên 25 lại có nguy cơ tử vong cao hơn người có BMI “bình thường”.   Các nghiên cứu trên đây còn cho thấy một xu hướng nhất quán: nữ giới ít gây tai nạn giao thông hơn nam giới. Điều này không ngạc nhiên vì nữ giới nói chung lái xe cẩn thận hơn, kiên nhẫn hơn, và bình tĩnh hơn nam giới. Do đó, mức độ nghiêm trọng tai nạn giao thông ở nữ giới cũng thấp hơn nam giới. Thật vậy, có rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong trong tai nạn giao thông ở nữ giới thấp hơn 50% đến 70% so với nam giới.   Nữ bị thiệt thòi hơn nam   Một câu hỏi quan trọng cần được đặt ra là: có bao nhiêu người Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng bởi qui định này? Câu hỏi này được trả lời bằng việc sử dụng số liệu nghiên cứu lâm sàng dịch tễ học của tác giả và đồng nghiệp thực hiện ở Việt Nam. Theo số liệu thu thập trên 2000 người Việt Nam trên 16 tuổi, ước tính được một vài chỉ số nhân trắc cơ bản như sau:   · chiều cao trung bình của nam là 163.3 cm, với độ lệch chuẩn 6.1 cm;  · chiều cao trung bình của nữ là 153.4 cm, với độ lệch chuẩn 5.5 cm;  · trọng lượng trung bình của nam là 63.9 kg, với độ lệch chuẩn 10.4 cm;  · trọng lượng trung bình của nữ là 52.2 cm, với độ lệch chuẩn 11.7 cm;  · hệ số tương quan giữa chiều cao và trọng lượng ở nữ giới là 0.39 và nam giới là 0.45.   Dựa vào những thông số này và một số giả định căn bản, rất dễ ước tính số người Việt Nam trong độ tuổi 16 – 65 sẽ chịu ảnh hưởng bởi qui định của Bộ Y tế. Kết quả ước tính cho thấy số người sẽ bị ảnh hưởng bởi qui định mới tùy thuộc rất lớn vào giới tính. Chẳng hạn như ở nam giới, số người có chiều cao dưới 145 cm là 0.2%, nhưng ở nữ giới con số này lên đến gần 7%. Vì nữ thường có trọng lượng thấp hơn nam, nên không ngạc nhiên khi thấy ở nữ giới, số người có cân nặng dưới 40 kg chiếm gần 14% dân số, và tỉ lệ này cao hơn nam đến 14 lần (xem Bảng 3)!   Dựa vào tiêu chuẩn chiều cao thấp hơn 140 cm hoặc trọng lượng nhẹ hơn 40 kg, có khoảng 1% nam và 20% nữ sẽ không được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc. Ngoài ra, nếu dựa vào tiêu chuẩn chiều cao dưới 150 cm, thì khoảng 1.4% nam và 27.5% nữ sẽ không được cấp giấy phép lái xe ôtô.  Theo ước tính thống kê dân số năm 2007, nước ta có khoảng 24.5 triệu nam và 25.9 triệu nữ tuổi từ 16 đến 65. Như vậy, số người trong độ tuổi này sẽ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc là khoảng 270 ngàn nam và 5 triệu nữ. Ngoài ra, nếu dùng tiêu chuẩn 150 cm, thì có khoảng 319 ngàn nam và 6.61 triệu nữ sẽ không được cấp giấy lái xe ôtô. Nói cách khác, số người nữ không được phép lái xe cao gần 20 lần nam giới!             Tiêu chuẩn      Nam      Nữ          Số phần trăm người có chiều cao dưới 145 cm      0.2      6.6          Số phần trăm người có chiều cao dưới 150 cm      1.41      27.5          Số phần trăm người có trọng lượng dưới 40 kg      0.9      13.7          Số phần trăm người có chiều cao dưới 145 cm hoặc trọng lượng dưới 40 kg      1.0      19.5          Ước tính số người sẽ không được cấp bằng lái xe gắn máy (<140>       269,600      5,045,000          Ước tính số người sẽ không được cấp bằng lái xe ôtô (dựa vào tiêu chuẩn <150>       318,700      6,613,000          Bảng 3. Ước tính số người không được cấp giấy lái xe gắn máy và xe ôtô.          Những phân tích trên đây cho thấy rõ ràng rằng qui định của Bộ Y tế gây thiệt thòi cho nữ giới. Như đề cập trên, nữ giới là nhóm người có nguy cơ tai nạn giao thông thấp, có nguy cơ tử vong thấp, thế nhưng qui định này lại một cách gián tiếp “trừng phạt” nữ giới! Thật là một qui định không công bằng. Có thể nói rằng đây là một sự kì thị giới tính. Và, kì thị giới tính là một vi phạm nhân quyền.   Cần nghiên cứu cẩn thận  Cần nhấn mạnh rằng các nghiên cứu về mối tương quan giữa tỉ trọng cơ thể và nguy cơ tai nạn giao thông hay tử vong vì tai nạn giao thông được thực hiện trên các quần thể người Âu Mỹ. Như có thể thấy qua các nghiên cứu này, mối liên hệ (nếu có) giữa tỉ trọng cơ thể và nguy cơ tai nạn giao thông chẳng những không đơn giản như là một hàm số đường thẳng, mà còn rất yếu ớt, chưa đủ thuyết phục để làm cơ sở cho một qui định (chứ chưa nói đến làm cơ sở cho một chính sách y tế công cộng).   Thật ra, chiều cao và trọng lượng cơ thể không phải là những yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn giao thông. Nghiên cứu ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới chỉ ra rằng lái xe trong tình trạng say xỉn mới chính là nguyên nhân số một gây ra tai nạn giao thông. Theo thống kê ở Mỹ và Úc, rượu bia là “thủ phạm” của 40% các vụ tai nạn giao thông. Các nguyên nhân quan trọng khác là tốc độ nhanh, lái xe bất cẩn, thiếu kinh nghiệm, ảnh hưởng của thuốc, xe cũ và thiếu an toàn. Chưa có một bằng chứng khoa học nào cho thấy chiều cao thấp hay trọng lượng nhẹ là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông. Xin nhắc lại để nhấn mạnh: Chưa có bằng chứng khoa học để nói rằng người có chiều cao thấp và cân nặng nhẹ là nguyên nhân gây tai nạn giao thông.   Nhưng bất cứ một chính sách y tế công cộng nào có ảnh hưởng đến một số đông người dân cần phải dựa vào những bằng chứng khoa học vững vàng. Cần nói thêm rằng trước đây ở các nước phương Tây, trước khi qui định bắt buộc thắt dây an toàn trở thành một đạo luật, người ta đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu khoa học và dịch tễ học cho thấy khi tai nạn ôtô xảy ra, người đi xe không thắt dây an toàn có nguy cơ tử vong cao trên 15 lần so với người có thắt dây an toàn. Ngoài ra, các chuyên gia nhiều ngành khác nhau phân tích những lợi và hại của luật này trên quan điểm y tế công cộng, chính trị học, xã hội học, và tâm lí học.   Nhưng rất tiếc ở nước ta, một qui định quan trọng như thế chưa được thảo luận cho đến nơi đến chốn mà Bộ Y tế đã vội vã ban hành. Các quan chức y tế cũng chưa trình bày bất cứ một bằng chứng khoa học để công chúng có thể phản biện. Thật ra, theo một quan chức cao cấp thuộc Bộ Giao thông vận tải thì chưa có nghiên cứu khoa học nào làm cơ sở cho qui định trên. Như vậy, rất có thể qui định của Bộ Y tế không có cơ sở khoa học.  Ngoài ra, nếu qui định này ban hành (và xem ra sẽ thành luật nay mai) thì việc thực hiện cũng không dễ dàng. Nếu đo trọng lượng và chiều cao một cách “lâm thời” thì không khó gì, nhưng đo một cách nghiêm chỉnh như để phục vụ cho nghiên cứu khoa học hay như trường hợp để đánh giá theo một chuẩn mực nào đó có khi rất khó. Nhiều vấn đề đặt ra là quần áo, giầy dép, trang sức phải như thế nào, bởi vì những vật dụng này đều có thể ảnh hưởng đến kết quả đo chiều cao và trọng lượng. Ngoài ra, đo chiều cao sử dụng thước thông thường không chính xác, mà phải sử dụng những thiết bị điện tử như stadiometer thì mới chính xác và tin cậy. Nhưng ngay cả chiều cao cũng có độ dao động sinh học trong ngày, thường cao hơn vào buổi sáng hơn là buổi chiều. Tất cả những yếu tố kĩ thuật khá tế nhị này khó có thể thực hiện ở các làng hay huyện được. Trong tương lai nếu thực hiện qui định này trên toàn quốc thì chắc chắn những tiêu cực, nhũng nhiễu lại xảy ra, và người dân lại phải gánh chịu thêm một gánh nặng mới.   Những người có chiều cao thấp hay trọng lượng thấp thường là do bệnh tật, di truyền, hay thiếu dinh dưỡng trong thời kinh tế khó khăn trước đây. Đáng lẽ họ là những người cần được giúp đỡ để đi lại, nhưng qui định của Bộ Y tế lại vô hình trung gây thêm khó khăn cho họ! Đáng lẽ nữ là nhóm cần được biểu dương nhưng họ lại là nhóm chịu nhiều thiệt thòi! Nguyên tắc y đức số 1 của ngành y là “không làm hại người” (do no harm), nhưng rất tiếc qui định mới của Bộ Y tế có thể gây bất tiện, kể cả tác hại, đến một số lớn người dân. Có lẽ cách tốt nhất là rút lại qui định trên và tiến hành những nghiên cứu khoa học để thu thập thêm dữ liệu để đi đến một qui định thuyết phục hơn và đem lại lợi ích cho người dân, cũng như đảm bảo bình đẳng giới tính trong quyền được đi lại.   Chú thích và tài liệu tham khảo:   (1) Whitlock G, et al. Is body mass index a risk factor for motor vehicle driver injury? A cohort study with prospective and retrospective outcome. International Journal of Epidemiology 2003; 32:147-9.   (2) Zhu S, et al. Obesity and risk for death due to motor vehicle crashes. American Journal pf Public Health 2006; 96:734-9.   (3) Ryb GE, et al. Injury severity and outcome of overweight and obese patients after vehicular trauma: a crash injury research and engineering network (CIREN) study. Journal of Trauma 2008; 64:406-11.   (4) Bohning D, et al. A case-control study of non-fatal traffic accidents on hospital patients in Bangkok metropolis. Sozial- und Praventivmedizin 1997; 42:351-7.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một quyết định thiếu cơ sở khoa học      Ngày 7/11/2007 Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang ký thay Bộ trưởng ra Quyết định “Hướng dẫn xử lý tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm”. Trong điều 2 của QĐ ghi: “Hướng dẫn xử lý tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm” được áp dụng đối với sản phẩm mắm tôm đã được xác định ô nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh. Và trong hướng dẫn thực hiện QĐ ghi: “Nhằm cắt đứt mắt xích đường lây là mắm tôm có chứa mầm bệnh, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm như sau:1. Từ nay đến khi Bộ Y tế công bố hết dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, các địa phương có dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm tiến hành ngay việc ngừng mua, bán, sử dụng mắm tôm hiện là nguồn lây truyền dịch bệnh; thực hiện thu gom tại chỗ, cách ly để xử lý diệt mầm bệnh, không chuyên chở ra khỏi địa điểm thu gom khi chưa được xử lý diệt mầm bệnh.”    Vậy có những điều gì cần phải bàn thảo xung quanh quyết định này?  Luận cứ khoa học  Bất kỳ một chính sách, nghị định hoặc quyết định hoặc hướng dẫn về chuyên môn đều phải dựa trên một triết lý khoa học (rationale) và bằng chứng khoa học (evidence).  Quyết định ban hành trên đây của Bộ Y tế dựa vào những lập luận và chứng cứ nào?  Tính đến 7/11, hiện trên 11 tỉnh thành Bắc và Bắc trung bộ Việt Nam có 1097 bệnh nhân bị mắc tiêu chảy cấp. Tại thời điểm trước, vào những ngày đầu vụ dịch, theo thông tin báo chí, các giới chức y tế cho rằng có đến 70-80% số bệnh nhân có tiền sử ăn mắm tôm, và từ đó quy kết từ nghi phạm đến thành thủ phạm của vụ “dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm” đang diễn ra, tất cả các thông tin này đều là các phát biểu của các quan chức y tế trên phương tiện thông tin đại chúng.  Chúng tôi đã truy cập trang nhà của Bộ Y tế, mục Vệ sinh phòng dịch không có thông tin, trang nhà của Vệ sinh an toàn thực phẩm (http://vfa.gov.vn) thì không truy cập được. Và cho đến thời điểm này, không có một con số báo cáo khoa học nào được phổ biến trên các trang nhà liên đới. Do đó chúng tôi chấp nhận một giả định là cơ sở khoa học để Bộ Y tế đi đến ra quyết định “Hướng dẫn xử lý tiêu hủy mắm tôm ô nhiễm mầm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm” là dựa trên con số trên đây.  Tình huống đặt ra dựa theo suy luận trên có nghĩa rằng chấp nhận mắm tôm là thủ phạm của tiêu chảy cấp. Nhưng thực tế con số này nó chỉ vỏn vẹn nói lên một điều rằng trong số những bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy cấp, có 80% trong số họ, tức 878 người có ăn mắm tôm.  Chấp nhận giả thuyết mắm tôm là thủ phạm của tiêu chảy cấp tính thì câu hỏi cần phải trả lời là có bao nhiêu người ăn mắm tôm bị tiêu chảy cấp tính?  Để trả lời câu hỏi này cần phải biết được tỷ lệ người dân trong các vùng hiện đang có bệnh đó, bao nhiêu phần trăm dân số sử dụng mắm tôm. Chúng tôi tạm giả định là 20% – 30% số người lớn (tính từ 15 tuổi trở lên).  Theo số liệu của Tổng cục thống kê cung cấp (www.gso.gov.vn) tại 11 tỉnh thành có dịch tiêu chảy, tổng dân số là 22 535 500. Vì không có phân loại theo tuổi chúng tôi sử dụng ước tính của dân số TP HCM, có khoảng 24% dân số dưới 15 tuổi. Do vậy con số ước tính dân số 15 tuổi trở lên tại 11 tỉnh thành này là 17 126 980 người.  Vì hiện có tất cả 1097 người mắc bệnh nên con số không mắc bệnh sẽ là 17 125 883 người.  Do đó chúng ta dễ dàng suy ra có khoảng 3 424 518 người có ăn mắm tôm mà không mắc bệnh tiêu chảy, tính theo tỷ lệ 20% ăn mắm tôm và có 5 137 216 người ăn mắm tôm mà không mắc bệnh tiêu chảy cấp, tính theo tỷ lệ 30%. Hay ngắn gọn, tại thời điểm này, tính trên toàn dân số từ 15 tuổi trở lên có khoảng 3-5 triệu người có ăn mắm tôm mà không bị tiêu chảy.  Để trả lời câu hỏi tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy do ăn mắm tôm là bao nhiêu, rất đơn giản là có khoảng 17 đến 26 người trên 100 000 dân.  Nếu dựa vào cách tính toán trên thì câu phát biểu: “cả họ cả tổng ăn mắm tôm mà có bị sao đâu” của một bà nông dân sản xuất mắm tôm quả có lý!  Sáng hôm nay, 8/11/07, trong một trả lời phỏng vấn của Tuổi trẻ, ông Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn lại có một thông tin khác. Phóng viên hỏi: “Thưa ông, các xét nghiệm vừa qua cho thấy nhiều mẫu mắm tôm âm tính với vi khuẩn, việc chống dịch có đi… nhầm đường không?” Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn: “Chúng tôi đã đi đúng hướng. Thời điểm đầu tiên, 100% bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với bệnh, nhưng nay nguồn bệnh đã lây lan sang nhiều thức ăn khác.”  Một trăm phần trăm (100%) bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với bệnh!!! Không biết con số dịch tễ học này ở đâu ra??? Như vậy theo ông Thứ trưởng, tính cho đến ngày hôm nay, chỉ có 1097 người trên 11 tỉnh có dịch bệnh ăn mắm tôm mà thôi. Thế báo chí lại nói sai, là “dù dịch bệnh đã lan tràn mà các cửa hàng thịt chó vẫn đầy mắm tôm, các chợ vẫn bán đầy mắm tôm”. Có ai ăn đâu!  Thôi thì chấp nhận câu nói chính xác ông Thứ trưởng muốn bày tỏ là: “Trong số các bệnh nhân dương tính với bệnh (bệnh gì? Tả?), thì 100% họ đều ăn mắm tôm”.  Nếu chấp nhận giả định này. Ta lại có một con số thống kê khác. Câu hỏi đặt ra, có bao nhiêu người ăn mắm tôm sẽ bị mắc bệnh Tả được xác định bằng xét nghiệm?  Trong số 1097 người bị bệnh tiêu chảy cấp thì có 15% dương tính với Tả thì sẽ có 165 bệnh nhân bị bệnh Tả được xác định bằng xét nghiệm. Và dĩ nhiên là có 165 người này đều ăn mắm tôm (100%).  Lại lấy phép tính trên, dễ dàng suy ra là chỉ có 3-5 người/100 000 người dân ăn mắm tôm bị bệnh Tả khi làm xét nghiệm dương tính mà thôi (tính trên tỷ lệ của 11 tỉnh có 20 đến 30% dân số ăn mắm tôm).  Như vậy lập luận rút ra từ con số chỉ vì có 70-80% hay thậm chí 100% bệnh nhân bị tiêu chảy do ăn mắm tôm mà phải đi tiêu huỷ mắm tôm “để nhằm cắt đứt đường lây lan bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm” (VNExpress) rõ ràng là cực kỳ bất hợp lý, nếu dựa theo các tính toán này.  Nhưng kỳ thực mắm tôm cũng chỉ có thể là một yếu tố nguy cơ trong quá trình kích phát mầm bệnh mà thôi, cũng giống như nhiều yếu tố nguy cơ khác từ các loại thức ăn hoặc nguồn nước sinh hoạt ô nhiễm khác mà thôi chứ không phải là nguyên nhân. Không có mối quan hệ nhân-quả nào trong mắt xích ‘yếu tố nguy cơ và bệnh tiêu chảy do vi khuẩn Tả hay các vi khuẩn khác’, mà nguyên nhân phải là vi khuẩn Tả hay một tác nhân vi sinh học nào khác.  Vì thế, câu hỏi kế tiếp? Nguyên nhân tiêu chảy nào mà chúng ta cần phải tìm ở trong mắm tôm? Cho đến nay giới chức y tế vẫn không xác định đâu là nguyên nhân chính của dịch tiêu chảy cấp mà chỉ nêu chung chung “dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm”, và mở rộng thêm chỉ có 15% tìm thấy vi khuẩn Tả. (Nhưng đi tìm tác nhân nào trong mắm tôm? Và quyết định cũng không ghi rõ)  Đành chấp nhận giả thuyết mới đó là vi khuẩn Tả, tại sao? Vì logic là chỉ có vi khuẩn Tả là vi khuẩn gây tiêu chảy cấp tính nguy hiểm nhất ở người.  Chấp nhận 100% các bệnh nhân bị “dương tính với bệnh” theo ông Thứ trưởng (Tả?), thì trong số 165 bệnh nhân đó, các câu hỏi đặt ra là:  Đã thu thập được 165 mẫu mắm tôm mà các bệnh nhân này đã sử dụng hoặc đã mua từ một nguồn nào đó chưa?  Trong 165 mẫu đó, xét nghiệm có phân lập được vi khuẩn gây bệnh là Tả có đặc tính sinh học giống hệt như mẫu vi khuẩn Tả phân lập được ở mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân hay không?  Ngoài mắm tôm ra, bệnh nhân còn sử dụng thức ăn nào khác, có xét nghiệm được không?  Nguồn nước sinh hoạt xung quanh nơi bệnh nhân ở có tìm thấy mầm bệnh không?  Có lẽ chúng ta chưa có câu trả lời lúc này.  Thế nhưng ông Thứ trưởng khẳng định “Chúng tôi đã đi đúng hướng. Thời điểm đầu tiên, 100% bệnh nhân có ăn mắm tôm dương tính với bệnh, nhưng nay nguồn bệnh đã lây lan sang nhiều thức ăn khác.”  Lại tiếp tục tạm giả định luôn là mẫu mắm tôm của 165 bệnh nhân Tả thu được, có vi khuẩn Tả (Thực tế thì không có báo cáo nào cho thấy mẫu mắm tôm đã xác định được sự hiện diện của vi khuẩn Tả). Thế nhưng ông lại cho là nay nguồn bệnh đã lây sang nhiều thức ăn khác. Đã lây sang nhiều thức ăn khác thì trong quyết định còn để “nhằm cắt đứt mắt xích đường lây là mắm tôm có chứa mầm bệnh”, có cần thiết nữa không?  Lây sang các thức ăn khác là thức ăn nào? Làm sao biết được là từ mắm tôm lây sang nguồn khác mà không phải nguồn khác lây vào mắm tôm (nếu có)?  Nếu đã lây sang nhiều thức ăn khác thì chỉ tập trung mỗi có mắm tôm làm sao cắt được “mắt xích lây lan”?  Và nhiều nguồn thức ăn khác đó đã được kiểm tra và xét nghiệm tìm mầm bệnh chưa?  Và nếu chúng ta tiếp tục chơi trò “ú tim” với con số và các nhận định như thế này, chúng ta sẽ đi đến con đường vô định.  Câu hỏi quyết định: Liệu tiêu huỷ mắm tôm (và các thức ăn khác nhiễm khuẩn) có cắt được đường lây lan mầm bệnh “tiêu chảy nguy hiểm” hay không?  Đây lại là một câu hỏi dạng phương trình có hai ẩn số mà chúng ta chưa có một thông số cho trước nào. Cần ít nhất là phải biết mầm bệnh gây tiêu chảy nguy hiểm là gì thì mới có thể trả lời được.  Do đó câu hỏi này không thể trả lời được, và trở thành vô nghĩa. Cho nên, cần phải chấp nhận một giả định nguyên nhân đó là vi khuẩn Tả, lý do như đã nêu trên.  Và chúng ta cần phải quay về với đặc điểm dịch tễ học của bệnh lý nhiễm trùng và lây lan của bệnh Tả.  Nguồn phát bệnh và nguồn lây lan bệnh của bệnh Tả  Nguồn phát bệnh     Sơ đồ phát bệnh và lây lan dịch Tả.  – Thời gian đầu còn một số ca lẻ tẻ, điều tra dịch tễ học nhằm mục đích xác định nguyên nhân gây bệnh. Cần tìm kiếm từ các nguồn tiếp xúc đầu tiên (1). Khâu số (1) chỉ có giá trị giúp chẩn đoán nguyên nhân.  – Một khi đã xác định được nguyên nhân Tả, thì chắc chắn đường lây truyền sẽ gián tiếp qua đường số (2). Cắt khâu số (2) để ngăn nhiễm mới (là bao trùm luôn cả khâu 1).  – Đường tăng sinh, tăng phóng thích vi trùng Tả là qua phân và chất nôn của bệnh nhân và người lành vào môi trường làm ô nhiễm nguồn nước (3). Cắt khâu số (3) để ngăn lây lan.  Về nguyên tắc căn bản của nghiên cứu dịch tễ học trong mùa bệnh dịch, cụ thể đối với một dịch tiêu chảy cấp tính. Ngay từ những ca đầu tiên, việc khai thác tiền sử ăn uống và tiếp xúc là điều hết sức quan trọng để có thể phát hiện nơi xuất phát mầm bệnh. Một trong những quy định về giám sát bệnh tiêu chảy cấp tính, một khi có một bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên có biểu hiện kiệt nước nặng hoặc tử vong xảy ra sau một đợt tiêu chảy cấp tính thì trường hợp đó cần được nghi ngờ là tiêu chảy do vi khuẩn Tả. Vì vi khuẩn Tả là vi khuẩn gây tiêu chảy cấp tính nguy hiểm nhất cho bệnh nhân và cho cộng đồng (còn nguy hiểm thì tác nhân gây tiêu chảy nào cũng có thể gây nguy hiểm cả), và có thể lây lan nhanh chóng qua nguồn nước, kể cả nước biển, sống rất dai trong nguồn nước (không phải vi trùng nào cũng có đặc tính này).  Cho nên, giai đoạn đầu của vụ dịch, khi còn một số ca lẻ tẻ, việc xác định nguồn phát bệnh tại điểm phát dịch đầu tiên là quan trọng nhằm:  1- Quan trọng nhất là để tìm nguyên nhân gây bệnh có phải là Tả hay không.  2- Để ngăn chận bớt các ca mắc bệnh đầu tiên.  Việc khai thác các yếu tố dịch tễ này bao gồm phải xác định ít nhất trong vòng 1 tuần hay 10 ngày vừa qua (thời gian ủ bệnh của Tả) đã đi những đâu, ăn uống những gì, đặc biệt hỏi các loại thức ăn tươi sống, ăn ở đâu, có ăn cùng với ai.  Những yếu tố mấu chốt này sẽ giúp cho chúng ta khu trú và khoanh vùng để có thể tìm dấu vết. Tất cả những thức ăn hoặc mẫu nghi ngờ (nguồn nước sinh hoạt) quanh vùng bệnh nhân sinh hoạt phải được xét nghiệm đặc hiệu để tìm vi khuẩn Tả.  Về phía bệnh nhân cũng phải được xét nghiệm tìm vi khuẩn Tả.  Như vậy sẽ có hai tình huống có thể thấy vi khuẩn Tả hoặc là trong mẫu xét nghiệm lấy ở ngoài bệnh nhân hoặc trong phân bệnh nhân.  Trường hợp thứ nhất, nếu thấy trong môi trường có vi khuẩn Tả, cần phải xử lý khử khuẩn môi trường này để ngăn ngừa bớt trước hết là mắc mới và sau đó là lây lan. Nguồn này bao gồm cả thức ăn, thực phẩm bị nhiễm, và quan trọng hơn hết là môi trường, vì mầm bệnh phải đến từ môi trường.  Trường hợp thứ hai, bệnh nhân xét nghiệm có Tả, nhưng không tìm thấy trong môi trường.  Dù cả hai trường hợp thì việc phát lệnh cấp tốc cho dân chúng trong vùng đã tìm thấy mầm bệnh tả hoặc có bệnh nhân tả thực hiện nghiêm ngặt (nhiều khi như một pháp lệnh) về việc rửa tay sạch, ăn chín, uống sôi để tránh nhiễm thêm.  Mặt khác phải thanh tẩy nguồn nước trong vùng bị nhiễm và chất thải bệnh nhân, cách ly triệt để bệnh nhân nhằm hạn chế việc lây lan tác nhân Tả. tạo cơ hội tái nhiễm vào người khác, nơi khác.  Trong các ca bệnh đầu tiên đều tuân thủ theo nguyên tắc này, nhưng cho đến khi bệnh dịch đã lây lan ra trong cộng đồng bệnh nhân sinh sống và ngoài cộng đồng bệnh nhân sinh sống, có nghĩa là có nhiều người đều bị bệnh tiêu chảy ồ ạt như bệnh nhân đã được xác định dương tính với vi khuẩn Tả, thì tất cả các bệnh nhân này đều được coi là bị tiêu chảy do Tả và cần phải được điều trị và quản lý như bệnh Tả mà không cần phải xét nghiệm. Việc xét nghiệm lúc đó chỉ thực hiện trên một tỷ lệ nào đó để giám sát dịch.  Nguồn lây lan bệnh  Đối với Tả, việc phát bệnh có thể do ngẫu nhiên, đối với một cơ thể nào đó họ bị mẫn cảm nhanh hơn với tác nhân, họ bị nhiễm vi trùng tả, chứ không phải ai nhiễm vi trùng Tả cũng phát bệnh. Khi vào cơ thể họ, vi trùng Tả nhân lên rất nhanh, rất nhiều, đạt đến con số mắc bệnh rồi thì người đó mới mắc. Với mật độ vi trùng tả đã được nhân lên rất rất nhiều lần trong cơ thể bệnh nhân rồi phóng xuất ra ngoài môi trường trở thành nguồn phát tán mới có khả năng trở thành dịch. Nói cách khác, cơ thể của bệnh nhân mắc bệnh Tả là nhà máy sản xuất vi trùng Tả để lây lan, chứ không phải mầm bệnh ban đầu, nơi xuất phát bệnh nguyên thuỷ ban đầu.  Do đó một khi bệnh đã lây lan ra cộng đồng xung quanh, số lượng vi trùng tả đó đã được phóng thích ra từ những bệnh nhân và nghiêm trọng hơn là chất thải của những người nhiễm vi trùng Tả mà không có biểu hiện bệnh, con số này được ước tính là 75%. Nếu tính một cách ngây thơ (naïve), thì với 1097 người mắc tiêu chảy cấp tính hiện nay (bất luận xét nghiệm có dương tính với Tả hay không) thì chí ít cũng có hơn 1400 người đang mang mầm bệnh Tả này mà không biết họ là ai.  Cho nên, một khi bệnh đã lây lan việc đi tìm ổ xuất phát mầm bệnh ban đầu một khi dịch tiêu chảy do Tả đã lây lan là việc làm không cần thiết và không có ý nghĩa nữa. Mà nguồn lây lan ban đầu đó cũng có gì khác là các thức ăn sống chưa chế biến, chỉ cần thực hiện ăn chín uống sôi là có thể ngăn được nhiễm.  Nói một cách nôm na, nguồn xuất phát bệnh ban đầu là một mồi lửa, khi lửa mới cất lên, việc cắt nguồn phát lửa là quan trọng. Nếu được thì nguy cơ đám cháy lan sẽ ít hơn. Nhưng một khi đám cháy đã lan rộng rồi, thì phải tìm cách ngăn chận đám cháy, chứ nỗ lực dập nguồn phát cháy làm gì nữa. Quy trình nhiễm bệnh và lây lan trong dịch Tả cũng giống như vậy.  Khi đó việc quản lý bệnh nhân; tẩy uế môi trường, nguồn nước sinh hoạt; ban hành chế độ vệ sinh cá nhân nghiêm ngặt, đặc biệt là chỉ ăn chín uống sôi (việc rửa tay sạch là một chế độ thường quy, nhưng nhắc lại là thiết yếu) là mấu chốt quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa lây lan (mục 2 và 3 trên sơ đồ).  Việc đi tìm hiểu nguồn xuất phát bệnh chỉ thực hiện trở lại cho những điểm dịch mới, xuất hiện những ca đầu tiên, lập lại chu trình rà soát dịch tễ học như trên. Cần phải tiến hành điều tra dịch tễ học nguồn lây trở lại bao gồm tất cả các thức ăn, nguồn nước, nơi chốn mà bệnh nhân đã từng tiếp xúc (trong vòng 10 ngày), nhằm để phát hiện ổ dịch mới, như các bước trên. Chứ không thể lấy một yếu tố nguy cơ của một điểm dịch trước là mắm tôm [nhưng thực sự chưa chứng minh được], đem nhân rộng và áp dụng cho toàn quốc, đi xét nghiệm mắm tôm, để tìm thấy tiêu huỷ nhằm cắt “mắt xích lây lan” là một việc làm gần như không đem lại kết quả thiết thực.  Tóm lại, nguồn phát tán vi trùng Tả nguy hiểm nhất, sau khi đã có bệnh nhân được xác định Tả chính là từ chất thải của bệnh nhân và những người lành mang bệnh. Phương tiện để vận chuyển số lượng bội vi trùng Tả đó đến để lây lan cho người khác, cộng đồng khác, vùng địa dư khác đó chính là nước.  Dịch Tả là một bệnh lý gần như là một bệnh lý nhiễm trùng có thể gây thành dịch và đại dịch nguy hiểm kinh điển và chúng ta hiểu biết tương đối rõ. Dịch Tả tưởng chừng như đã lắng sâu trong tiềm thức nhân loại, nhưng những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nó lại bùng lên nhiều nơi. Cho dù đặc điểm sinh học của chúng có thay đổi như thế nào thì cho đến nay đường mắc bệnh, phóng thích mầm bệnh và phương thức lây lan không có gì thay đổi, khoa học chưa tìm được thêm một cơ chế nào mới.  Chỉ có thanh tẩy nguồn nước sinh hoạt trong vùng dịch, quản lý bệnh nhân và chất thải bệnh nhân là mới có thể ngăn chặn được quá trình lây lan. Điều này còn đặc biệt quan trọng khi nước ta còn đang trong cơn bão lụt, một nguy cơ gần như lớn nhất cho bệnh dịch Tả hoành hành. Cần phải giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn, ăn chín uống sôi là có thể giảm đi rất nhiều nguy cơ mắc bệnh. Một cộng đồng khác cần phải bảo vệ đó là những người đang ở trong vùng bão lụt, không có điều kiện ăn chín uống sôi, rửa tay sạch, kiểm soát chất phóng uế; họ cần gì nếu không phải là vắc-xin?  Trong khi Bộ Y tế vẫn quán triệt trong mùa dịch tiêu chảy cấp này là “Ăn chín. Uống sôi. Bàn tay sạch”. Khẩu hiệu đơn giản,  ngắn gọn này đã nói lên tất cả, với mắm tôm, chỉ cần nấu chín là có thể sử dụng được, hà cớ gì phải đi tìm và tiêu huỷ mắm tôm!  Tuy nhiên, quy trình giám sát và kiểm soát dịch tễ học trên đây là chỉ áp dụng cụ thể cho dịch tiêu chảy cấp do Tả, còn các nguyên nhân khác nữa thì chưa đề cập đến, có thể còn phải thêm bớt tuỳ nguyên nhân. Đối với chúng ta hiện nay chỉ biết “mầm bệnh gây tiêu chảy cấp nguy hiểm”, chứ chưa biết nguyên nhân là gì cả!  Như vậy quyết định phải tiêu huỷ mắm tôm là nguồn chứa mầm bệnh “tiêu chảy nguy hiểm” nhằm để cắt đứt nguồn lây lan mà ông Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn cho là “chúng tôi đã đi đúng hướng” liệu có tính thuyết phục và có thể “nghiệm thu” được không?  Nguyễn Đình Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số công trình của Đàm Thanh Sơn      Đã có nhiều bài viết xuất sắc về  Đàm Thanh Sơn – huy chương Dirac ICTP 2018 (trên Tia Sáng và các tạp chí khác), bài viết này sẽ cung cấp thêm một số thông tin về nội dung học thuật trong các công trình của Đàm Thanh Sơn.      Các lỗ đen và độ nhớt của hệ các hạt tương tác mạnh1  Khái niệm chất lỏng lý tưởng xuất hiện trong nhiều lĩnh vực vật lý. Từ này được áp dụng cho mọi hệ ở trạng thái cân bằng địa phương và có độ nhớt dọc (shear viscosity)2 không đáng kể. Trong cuộc sống thường nhật độ nhớt là một tính chất quen thuộc mô tả sự cản trở dòng chảy. Nếu xét từ quan điểm vi mô thì đó là biểu hiện của mức độ tương tác giữa các thành phần của chất lỏng.  Chất lỏng lý tưởng dễ miêu tả song rất ít chất trên Trái đất có được tính lý tưởng. Ngay như chất siêu chảy như helium-3 và helium 4 cũng chưa được gọi là chất lỏng lý tưởng.  A. Hai loại chất lỏng  Các nhà vật lý thực nghiệm tại Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven làm việc trên máy RHIC (Relativistic Heavy Ion Collider- Máy Va chạm Tương đối tính các Ion nặng) đã công bố kết quả vào năm 2005 về quá trình va chạm các hạt nhân nặng Au (vàng), họ đã tìm thấy một trạng thái lỏng của vật chất tương tác mạnh có một độ nhớt dọc rất thấp không đáng kể. Cùng lúc nhóm các nhà vật lý tại Đại học Duke đã công bố kết quả về hệ tương tác mạnh nguyên tử Lithium, hệ này cũng dẫn đến một trạng thái vật chất gần chất lỏng lý tưởng.  Hai kết quả thu được tại RHIC & Duke, một ở nhiệt độ vượt quá 2 nghìn tỷ độ kelvin, một ở nhiệt độ vài microkelvin trên nhiệt độ không tuyệt đối, đã chứng tỏ các phương pháp tính toán nhiễu loạn không thể áp dụng được.  Hiện tượng thu được ở RHIC đã đưa ra ví dụ về một trạng thái rất mới trong vật lý mà chúng ta cần nghiên cứu. Theo lý thuyết QCD, trạng thái thu được ở RHIC phải là plasma quark-gluon (QGP).  Mục tiêu chính của RHIC trong va chạm các hạt nhân nặng là tìm chứng cứ cho sự tồn tại của QGP, các nhà vật lý tại RHIC hy vọng tìm thấy một chất khí các quark và gluon tương tác yếu với nhau. Song kết quả thực nghiệm lại cho thấy một phân bố hạt hình elip của các hạt sinh ra, nếu là chất khí thì phân bố này phải là đẳng hướng và như thế trạng thái thu đuợc phải là một chất lỏng gần lý tưởng với độ nhớt dọc rất nhỏ. Như vậy cuối cùng các nhà vật lý RHIC phải phát biểu rằng trạng thái thu được trong va chạm RHIC là một hệ tương tác mạnh mà chúng ta chưa có cơ sở lý thuyết.  Một kết luận như thế cũng đúng cho các kết quả thu được ở Duke với các giọt nguyên tử 6Li siêu lạnh. Tại đây hệ nằm trong trạng thái giữa hai vùng  ngưng tụ Bose-Einstein và pha Bardeen-Cooper-Schrieffer. Các số liệu về độ nhớt của hệ thu được tương tự như các số liệu thu được tại RHIC. Đây là một điều đáng ngạc nhiên về sụ hội tụ thực nghiệm của vật lý siêu nóng (ultrahot) và siêu lạnh (ultracold).  Và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là Lý thuyết Dây (String theory) có khả năng mô tả hiện tượng đột sinh này trong vật lý tương tác mạnh thông qua các đặc trưng của lỗ đen xét trong một không thời gian nhiều chiều hơn.  Nguyên lý toàn ảnh dựa trên những kết quả thu được khi các nhà vật lý áp dụng những quy tắc của cơ học lượng tử vào lỗ đen vốn là những đối tượng trong lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein (Stephen Hawking&Jacob Bekenstein, 1970) và phát triển vào năm 1990 lý thuyết đầy đủ của hấp dẫn lượng tử thành LTD. Hawking phát hiện lỗ đen bức xạ ở một nhiệt độ nhất định còn Bekenstein chứng minh rằng lỗ đen tuân theo các định luật nhiệt động học và có  entropy. Hai tác giả trên thiết lập công thức3: S = (A/4)(kB c3/Gh), trong đó kB,G,h = hằng số Boltzmann, hấp dẫn và Planck còn A = diện tích chân trời sự kiện.  Điều chú ý quan trọng là entropy tỷ lệ với diện tích chứ không phải với thể tích, điều đó nói rằng các bậc tự do (degree of freedom) để mô tả lỗ đen là ít hơn. Nói cách khác lỗ đen là một hologram4 của vật lý nằm trong không thời gian giới hạn bởi biên là chân trời sự kiện. Như thế lý thuyết hấp dẫn lượng tử có một mô tả đối ngẫu không phải hấp dẫn – một đối ngẫu toàn ảnh (holographic dual).  Đối ngẫu mạnh-yếu (strong-weak coupling duality) có nghĩa rằng khi một lý thuyết có hằng số tương tác yếu và do đó có thể tính được bằng lý thuyết nhiễu loạn thì mô tả đối ngẫu của nó sẽ ứng với hằng số tương tác mạnh và ngược lại.  B. Ánh xạ AdS / CFT  Một ví dụ tường minh nhất là ánh xạ AdS/CFT (anti-de Sitter / conformal field theory- không gian anti-de Sitter / lý thuyết truờng conform) đưa vào vật lý năm 1990.  Anti-de Sitter là một không thời gian tựa như không – thời gian Minkowski với hằng số vũ trụ âm. Một đặc tính đặc biệt của không – thời gian anti-de Sitter (d+1) – chiều là thể tích của nó có những lát cắt theo chiều r (radial) là không – thời gian Minkowski d-chiều: các trường chuyển động trong hệ hấp dẫn có những trị số kỳ vọng (expectation values) xác định trên biên (boundary) ở tiệm cận vô cực theo chiều r. Những trị số này lại mô tả những trường và các hằng số tương tác của một lý thuyết, gọi là lý thuyết đối ngẫu. Những lý thuyết đối ngẫu này có thể là những lý thuyết chuẩn (gauge theory) của các hạt cơ bản.  Trường hợp nổi tiếng nhất là đối ngẫu giữa hấp dẫn lượng tử trong không thời gian 5 chiều và lý thuyết Yang-Mills 4 chiều với bất biến được gọi là bất biến conform5. Ngoài ra lý thuyết Yang-Mills lại có siêu đối xứng. Đối xứng chuẩn của lý thuyết là nhóm SU(Nc). Muốn cho đối ngẫu được hữu dụng trọn vẹn thì Nc = số quark phải là một số lớn. Sự tổ hợp giữa Nc với hằng số tương tác không thứ nguyên Yang-Mills gYM dẫn đến hằng số tương tác ‘t Hooft λ = g2MN Nc mô tả cường độ hiệu dụng tương tác. Các tính toán cho thấy rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa lý thuyết QCD (Nc = 3) và lý thuyết Yang-Mills với Nc lớn ở nhiệt độ cao. Như thế lý thuyết siêu đối xứng Yang-Mills là thích hợp để mô tả các kết quả tại RHIC.    Hình 1. Đối ngẫu toàn ảnh ( holographic duality) cho phép thực hiện những tính toán thủy động học trong lý thuyết chuẩn bằng cách biến đổi thành những tính toán tán xạ (scattering calculations) trong một không thời gian nhiều chiều hơn. Mặt phẳng ở bên trái biểu diễn không gian 3 chiều, một lát cắt của không thời gian 4 chỉều, trên đó cư trú lý thuyết chuẩn đối ngẫu. Sự chuyển động thẳng góc với mặt phẳng đó là chuyển động trong chiều thứ năm, hấp dẫn tác động trong không thời gian 5 chiều. Mặt phẳng bên phải là chân trời 3 chiều của lỗ đen. Các phép tính toán khó thực hiện trong lý thuyết chuẩn 4 chỉều lại tương đương với những tính toán dễ dàng  trong đó một graviton khuếch tán từ lỗ đen trong không thời gian 5 chiều.   Để sử dụng AdS/CFT người ta phải làm sáng tỏ liệu những điều gì trong hấp dẫn lượng tử có thể tính toán được bằng phương pháp nhiễu loạn. Cường độ địa phương của hấp dẫn trong không thời gian 5 chiều được mô tả bởi một độ dài ghi là lc vốn là độ cong (curvature) của không thời gian, lc càng nhỏ thì độ cong của không thời gian càng lớn. Trong LTD cũng có một độ dài đặc trưng như vậy đó là l8, độ dài này tỷ lệ ngược với sức căng của dây.  Khi l8 << lc (l8 nhiều lần nhỏ hơn lc) thì LTD là một công cụ hữu hiệu trong các tính toán hấp dẫn (phân nhiễu loạn theo hằng số không thứ nguyên l8 / lc).  Một điểm đáng lưu ý là hằng số λ lại biến thiên nghịch với tỷ số đó và tỷ lệ với (lc / l8)4. Như vậy chế độ nhiễu loạn ở phía hấp dẫn lại tương ứng với chế độ tương tác mạnh trong lý thuyết đối ngẫu Yang-Mills. Nếu hằng số tương tác dây là nhỏ trong chế độ nhiễu loạn thì hằng số tương tác ‘t Hooft là lớn nếu Nc trong nhóm chuẩn  SU(Nc) là lớn.  Ánh xạ đối ngẫu cho phép các nhà lý thuyết dây chứng minh công thức entropy của một lớp lỗ đen. Như vậy các kỹ thuật nhiễu loạn trong hấp dẫn đang phục vụ hiệu quả vật lý tương tác mạnh không có hấp dẫn.  Như đã nói ở trên độ nhớt dọc η phản ánh cường độ tương tác. Nếu chia độ nhớt này cho mật độ entropy của một hệ thì ta có một đại lượng biểu diễn tương tác giũa các thành phần. Độ nhớt tỷ lệ với thời gian trung bình tự do (mean free time) giữa các va chạm τ và mật độ năng lượng ε của hệ. Mật độ entropy lại tỷ lệ với mật độ số hạt n cho nên tỷ số η/s tỷ lệ với τEk8 trong đó E là năng lượng trên một hạt. Tích số τE theo nguyên lý bất định của Heisenberg phải cùng cỡ hoặc lớn hơn hằng số Planck h.  Năm 2005, Pavel Kovtun, Đàm Thanh Sơn và Andrei Starinets (viết tắt là nhóm KSS) đã đưa ra giả định quan trọng6 về sự tồn tại một giới hạn dưới phổ quát của tỷ số η/s dựa trên nguyên lý Heisenberg. Các tác giả Giuseppe Policastro, Đàm Thanh Sơn và Andrei Starinetstrên7 đã dùng nguyên lý đối ngẫu để tính ra trị số phổ quát nhỏ của tỷ số trên cho các lý thuyết chuẩn tương tác mạnh.    Các tác giả đã biến quá trình tính toán sự lan truyền tác động từ một điểm này sang điểm khác trong lý thuyết trường chuẩn thành quá trình chuyển động của một graviton từ một điểm trên biên vào trong toàn bộ không thời gian và sau tán xạ trên lỗ đen lại trở về một điểm khác trên biên.Tiết diện tán xạ tỷ lệ với diện tích chân trời sự cố và độ nhớt tỷ lệ tiết diện tán xạ. Theo Bekenstein thì entropy tỷ lệ với diện tích chân trời do đó mà trong tỷ số η/s diện tích ước lược cho nhau và cho ta η/s = .  Theo KSS thì đó là giới hạn dưới phổ quát. Đây là một giả định quan trọng.  Các kết quả của RHIC và Duke cho những trị số lớn hơn giới hạn phổ quát KSS.  Các công trình của Sơn khẳng định là AdS/CFT (mà nguồn gốc của nó là lý thuyết dây) có ứng dụng vào các hệ vật lý có thật trong thế giới khách quan.  Các kết quả thu được bởi nhóm KSS càng giúp hiểu rõ mối liên hệ đối ngẫu giữa các hệ tương tác mạnh (lý thuyết chuẩn) với lý thuyết dây (hấp dẫn lượng tử).  Các hạt CF (composite fermion) là những hạt Dirac  Một công trình gần đây của Đàm Thanh Sơn đã nây được sự hưởng ứng của nhiều nhà vật lý là công trình Is the composite fermion a Dirac particle?8. Đây có thể nói đây là phương hướng rất đặc thù của các công trình của Đàm Thanh Sơn: nối liền nhiều lĩnh vực vật lý từ môi trường đông đặc (hệ nhiều hạt) đến LTD (lý thuyết dây), đến vũ trụ học hay tổng quát mà nói là tìm những đối ngẫu giữa các lĩnh vực.  Hiện nay các nhà vật lý chú ý nhiều đến chất cách điện topo (topological insulator-TI) vì chứa nhiều nội dung vật lý gợi mở (generative).  Thoạt nhìn các mặt của TI và mức bán đầy (half-filled level) Landau của khí 2D electron dường như là hai hiện tượng cách xa nhau9.  TI phát sinh từ các hệ liên kết, với bất biến đảo ngược thời gian (time-reversal-invariant).  Còn mức bán đầy Landau ngược lại là nơi gặp mặt cho những pha liên kết mạnh lạ (exotic) biểu hiện  tại các từ trường mạnh.  Nhiều công trình đã nêu lên những cách nhìn sâu sắc về  mối liên quan chặt chẽ giữa hai hiện tượng trên.  Nhờ một trực giác nhạy cảm, Sơn đã đưa ra giả thuyết là các fermion đa hợp CF (composite fermion) trong mức bán đầy Landau (half-filled Landau level) là một hạt Dirac và đưa ra lý thuyết trường cho chất lỏng đa hợp Fermi (composite Fermi liquid):  Luận thuyết của Sơn đã dẫn đến những kết quả gì? Sau đây chỉ xin nêu 2 kết quả quan trọng:    1/Lý thuyết  trường chất lỏng Fermi của 3 tác giả HLR (Halperin, Lee, and Read) không có đối xứng tường minh quan trọng là đối xứng hạt-lỗ trống (particle-hole symmetry) thì lý thuyết của Sơn với hạt Dirac có đối xứng đó (đối xứng hạt–lỗ trống = PT, trong đó  P= x → x, y → -y còn T là phép phản ngược thời gian).  Trong vòng hơn 20 năm, Lý thuyết HLR được cho là lý thuyết đúng đắn cho mức bán đầy (half-filled) Landau. Lý thuyết này có nhiều tiên đoán phù hợp với thực nghiệm.  Các tiên đoán phù hợp với thực nghiệm của lý thuyết HLR đều được lý thuyết Dirac composite fermion8 của Sơn giữ lại. Ngoài ra Sơn còn có tiên đoán  tại mức bán đầy thì độ dẫn (conductivity) bằng:         (lý thuyết HLR cho giá trị khác). Một tiên đoán nữa của Sơn là sự tồn tại của trạng thái PH-Pfaffian, có thể là đã được kiểm chứng trong thực nghiệm.  2/ Và điều có lẽ quan trọng nhất là thiết lập được đối ngẫu (duality) giữa các mặt của TI và mức bán đầy (half-filled level) Landau của khí 2D electron (Wang and Senthil, Metlitski and Vishwanath).  Ta có thể học hỏi từ cách hành xử năng lượng thấp của phương trình (1) vốn là một lý thuyết trường tương tác mạnh – bằng cách khai thác đối ngẫu với lý thuyết bề mặt TI. Ở đây, ta có điều  bổ sung (complementary) giữa: Hạt-lỗ trống symmetry (lý thuyết của Sơn) ←→  Time-reversal symmetry (trên bề mặt TI).  Những kết quả trên làm cho giả thuyết của Sơn thực sự đã nối liền lý thuyết TI với lý thuyết các trường chuẩn và mở ra nhiều hướng phát triển mới.  Những công trình của Sơn có một ý nghĩa rất to lớn cho vật lý cơ bản. Huy chương Dirac ICTP (cửa ngỏ đến Nobel) mà Đàm Thanh Sơn đã được trao trong năm 2018 đã nói lên điều đó. Giới khoa học Việt Nam vinh dự vì những thành tựu của Đàm Thanh Sơn.  ——–  Tài liệu tham khảo và các chú thích  1 Clifford V.Johnson (Đại học Nam California, Los Angeles) & Peter Steinberg (Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, New-York), What black holes teach about strongly coupled particles,  Physics Today số tháng 5/ 2010  2 Độ nhớt dọc=hệ số nhớt khi có ứng lực song song hoặc tiếp tuyến với bề mặt vật liệu  3 Jacob Bekenstein, Scientific American, tháng 8, 2003.  4 Hologram= bức ảnh d- chiều của một vật d+1 chiều  5 Nhóm conform=nhóm đối xứng gồm các biến đổi kích thước không thời gian+biến đổi Lorentz  6  P.K.Kovtun,D.T.Son,A.O.Starinets, Viscosity in strongly Interacting Quantum Field Theories from Black hole Physics, PhysRevLett.94.111601  7 G.Policastro, Đ.T.Sơn, A.O.Starinets Phys.Rev.Lett.87,081601  8 Dam Thanh Son  Is the composite fermion a Dirac particle? Phys. Rev. X 5, 031027 (2015); arXiv:1502.03446                                                                   9 Jason Alicea Composite fermions meet Dirac  https://www.condmatjclub.org/uploads/2015/09/JCCM_SEP_2015_01.pdf       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Một số dạng thảm họa liên quan đến sự an toàn của công trình hồ chứa      Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt 21-7-2011, tổng  công suất thủy điện sẽ tăng khoảng 89% so với hiện tại và dự kiến lượng  thủy điện sẽ chiếm hơn 23% trên tổng số nguồn điện năng vào năm 2020.       Việc xây dựng và quản lý các hồ chứa nước đóng vai trò quyết định đảm bảo nguồn điện năng quan trọng này. Tuy nhiên bài toán giữa hai mặt: 1) các tác động xấu đến môi trường và 2) nguồn lợi kinh tế của hồ chứa luôn là bài toán khó giải. Trong đó, tính an toàn của hồ chứa là một trong những yếu tố quyết định đến lời giải của bài toán này. Các thảm họa phát sinh do hồ chứa xảy ra trong quá khứ luôn mang lại sự nghi ngại cho người dân ngày hôm nay và kèm theo đó gây khó khăn cho các nhà thiết kế và đầu tư thuyết phục tính khả thi của dự án. Có nhiều ví dụ về việc nên hay không nên xây dựng hồ chứa, vận hành hay sửa chữa thậm chí hủy bỏ các dự án đập hồ chứa liên quan đến bảo vệ môi sinh, văn hóa, kinh tế…  Bài viết giới thiệu về một số yếu tố gây ra thảm họa thiên nhiên cùng những bài học thực tế trong quá khứ với hy vọng sự nguy hiểm của thảm họa thiên nhiên sẽ được lưu ý hơn với mong rằng chúng ta có thêm nhiều con đập vừa đóng góp cho nền kinh tế mà vẫn đảm bảo cho sự bình yên cho người dân.  1. Yếu tố thiên nhiên gây ra thảm họa khi vận hành hồ chứa  Có thể tạm chia các yếu tố làm phát sinh thảm họa thiên nhiên trong quá trình xây dựng và vận hành đập làm hai loại: 1) yếu tố nguồn và 2) yếu tố hệ quả. Yếu tố nguồn là yếu tố khi phát sinh có thể trực tiếp gây ra thảm họa đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các hệ quả khác gây ra thảm họa. Hai yếu tố nguồn chính có thể kể đến là động đất và mưa bão. Yếu tố hệ quả không tự phát sinh mà chỉ có thể phát sinh dưới tác động của yếu tố khác (có thể là yếu tố nguồn hoặc là yếu tố hệ quả). Một số yếu tố hệ quả có thể kể ra như động đất do đập tích nước, sạt trượt đất do động đất hay mưa bão gây ra hay sóng thần do sạt trượt đất gây ra. Trong đó thảm họa động đất do tích nước có yếu tố khởi nguồn là công trình con người làm ra nhưng do quá trình nước thấm xuống các tầng đất gây ra mang tính tự nhiên nên cũng được đề cập trong bài viết này.  2. Tác hại do đập vỡ bởi động đất   Ngày 11 tháng 3 năm 2011 trận động đất chấn độ cấp 7, cấp cao nhất theo thang xếp hạng Nhật bản xảy ra ngoài khơi đông bắc Nhật bản đã làm vỡ đập nước Fujinuma (cao 17,8m dài 133m, hoàn thiện vào năm 1949 tại tỉnh Fukushima, huyện Sukagawa). Ngay sau loạt rung chấn đầu tiên, con đập này hoàn toàn bị phá vỡ, ước tính khoảng 1 triệu 500 nghìn m3 nước đổ ập về hạ lưu khiến 7 người có độ tuổi từ 14 đến 89 thiệt mạng và một em bé một tuổi mất tích. Người dân cách đập khoảng 1km về phía hạ lưu mô tả nỗi sợ hãi khi nhìn thấy những cơn sóng cao chừng 5 đến 10m đổ về phía họ. Những cơn sóng thần này đã cuốn thi thể của một em thiếu niên học sinh cấp II tới vị trí cách xa đập tới 40km. Mười chín ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 55 ngôi nhà bị hư hại và 56 hộ dân phải sơ tán khỏi khu vực. Đập vỡ cũng làm úng lụt 86,7ha đất nông nghiệp ở hạ lưu gây tổn thất nặng về kinh tế.   3. Tác hại dù đập không vỡ dưới tác động của động đất  Thường khi đập vỡ làm phát sinh sóng thần cột nước cao đổ ập về hạ lưu gây nhiều thảm họa kinh hoàng, tuy nhiên cũng có khi đập không vỡ và chính vì nguyên nhân đó mà phát sinh ra những dạng thảm họa đặc trưng khác.   Một ví dụ về loại thảm họa có thể phát sinh do đập không vỡ là trường hợp đập hồ chứa Aratozawa. Trong ví dụ này yếu tố nguồn là động đất làm phát sinh yếu tố hệ quả là sạt trượt đất và cuối cùng là kéo theo hiện tượng sóng thần. Tuy không gây ra thiệt hại về người và trực tiếp phá hủy các khu dân cư nhưng vì tính chất đặc trưng, tính phức hợp nên dạng thảm họa này cần đặc biệt lưu ý.   Vào ngày 14 tháng 6 năm 2008, trận động đất cấp độ lớn 5.7 xảy ra tại hai tỉnh Iwate và Miyagi miền Đông Bắc Nhật Bản đã làm cho nhiều quả núi vỡ, trượt xuống lòng hồ.   Khi sạt trượt đất diện rộng xảy ra thì lòng hồ cạn, mực nước rất thấp, tuy nhiên các khối đất trộn lẫn với nước thấp này đã tạo ra một dạng sóng thần bùn cát với chiều cao khoàng 2,4m. Hình 4 cho thấy vết tích vệt bùn do sóng thần tạo ra trên thân cây cao khoảng 2,4 m so với mức nước thông thường. Với chiều cao mực nước thấp, tuy đập không vỡ nhưng dòng bùn cát này bị đẩy chảy ngược về hướng thượng lưu, phá hủy tất cả đường xá cầu cống trên đường đi của nó. Tuy chỉ với chiều cao 2,4 m nhưng động năng của cơn sóng thần bùn đất này đủ để “xé” kết cấu hàn nối hai vai và mố trụ của một cây cầu rộng hơn 4,0m, dài khoảng 50m và “ném” cây cầu này ngược về thượng lưu cách vị trí cũ khoảng 100m.   Khối lượng dòng bùn đất sóng thần dịch chuyển khoảng 300m về phía thượng lưu cũng tạo ra một hồ chứa thiên nhiên nhỏ cục bộ với chiều sâu khoảng 5 đến 6m. Và chỉ khoảng 1 tuần sau động đất (trong khoảng thời gian từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 6 năm 2008) lượng nước tích lại từ phía thượng lưu đã làm vỡ chiếc đập thiên nhiên này.   Từ một hiện trường quy mô nhỏ này chúng ta có thể thấy sự nguy hiểm khi động đất tạo ra sạt trượt đất, sóng thần phá hủy kết cấu hạ tầng, tạo ra đập thiên nhiên rồi nước tràn vỡ đập thiên nhiên. Trong quá khứ cũng có nhiều thảm họa xảy ra do các dòng đất đá sạt trượt ngăn sông tạo các con đập thiên nhiên cao để rồi khi mực nước thượng lưu dâng tràn phá vỡ đập gây thảm họa lớn cho khu vực dân cư hạ lưu.  4. Tác hại do đập động đất dưới tác động tích nước của hồ chứa (dù đập không vỡ)    Giản đồ cơ cấu động đất phát sinh do đập tích nước:   Bằng những số liệu thống kê và sự phân tích cơ cấu phát sinh động đất, các nhà khoa học trên thế giới đã chỉ ra được khả năng mối liên hệ giữa việc tích nước hồ chứa và hiện tượng động đất xảy ra sau khi đập tích nước. Cột nước càng cao thì khả năng xảy ra động đất càng lớn. Về nguyên lý, tại các vùng đứt gãy do các tầng thạch quyển từng hoạt động mạnh, có những vùng cấu tạo địa chất hình dạng đặc biệt như các vùng chốt hãm làm tăng ma sát, chính vùng chốt hày đã làm dừng lại, chống lại hoạt động trượt gãy của các lớp thạch quyển. Khi đập tích nước, lượng nước thấm xuống nền hồ chứa vừa có tác động làm giảm cường độ gây đứt vỡ vùng chốt hãm, vừa có tác động đẩy nổi tầng thạch quyển gây chuyển vị nhỏ nhưng đủ để “mở chốt” giải phóng ứng suất bị nén tạo ra động đất. Cột nước càng cao thì áp lực thấm và chiều sâu thấm càng lớn và khả năng gây ra quy mô động đất càng lớn.  Bằng thống kê các nhà khoa học Nhật Bản đã khẳng định thảm họa gây ra trận động đất Tây Nakano làm chết 29 người vào ngày 14 tháng 9 năm 1984 là do con đập Makio cao 104,5 m gần đó. Thời báo Trung Nhật ngày 10 tháng 10 năm 1984 đã đăng lại các nghiên cứu của Otake (viện nghiên cứu phòng chống thảm họa thiên nhiên) với tiêu đề “Đập Makio, thủ phạm gây ra động đất”. Trong đó có số liệu thống kê thể hiện rõ số lần tăng nhanh của động đất sau khi đập Makio đưa vào sử dụng năm 1961 (biểu đồ 1).          Biểu đồ 1. Số lần động đất xuất hiện tại vùng quanh đập          Ví dụ về thảm họa động đất do hồ chứa tích nước  Một trong những ví dụ hay được nhắc đến là đập Koyna cao 103,2m tại Ấn Độ. Sau khi đập Koyna tích nước vào năm 1962 thì liên tục xảy ra động đất và vào ngày 10 tháng 12 năm 1967, cơn chấn động cấp 6,5 độ richter đã phát sinh làm 177 người chết, 2000 người bị thường và 50.000 người mất nhà ở (phá hủy hoàn toàn nhiều khu dân cư gần hồ chứa).           Biểu đồ 2. Quan hệ giữa mực nước và tần suất động đất xuất hiện tại đập Koyna          Trong biểu đồ 2, có thể thấy động đất trong vùng phụ cận đập Koyna bắt đầu xuất hiện và tăng từ tháng mười năm 1963. Tần suất xuất hiện động đất tăng mạnh sau khi đập Koyna tích nước đạt đỉnh khoảng 3 đến 4 tháng. Thảm họa ngày 10 tháng 12 năm 1967 xảy ra sau khi đập tích nước đạt đỉnh khoảng 3 tháng. Mặc dù các nhà nghiên cứu địa chất học chỉ ra nguyên nhân của động đất chính là ngôi đập Koyna nhưng các nhà quản lý chưa từng thừa nhận điều này.  Hai ví dụ tương tự khác là 1) đập Zipingpu cao 156m tại tỉnh Tứ xuyên cũng bị một số nhà khoa học cho là sau khi tích nước đã trở thành nguyên nhân gây ra cơn chấn động 8 độ richter vào năm 2009 làm khoảng 70,000 người bị thường và thiệt mạng và 2) đập Vajont tại Italia cao 262m, sau khi tích nước đã có nhiều cơn chấn động được ghi nhận và liên tiêp xảy ra hai vụ sạt trượt đất vào năm 1960 khi mực nước tích cao 190m, và năm 1963 khi mực nước trong hồ tương ứng đạt 190m và 250m.   Trong đó thảm họa tại đập Vajont với vụ sạt trượt đất năm 1963 đã trở thành bài học kinh điển về sự an toàn cho các nhà quản lý an toàn đập hồ chứa. Ngày 9 tháng 10 năm 1963, khi đập đang trong quá trình tích nước mức nước trong hồ đang dâng và khi đạt độ sâu cột nước 250m, khoảng 270 triệu m3 đất sạt xuống hồ chứa với tốc độ khoảng 110km/h. Nó tạo ra cơn sóng thần vọt qua con đập cao 262m dội thẳng vào hai ngôi làng ở hạ lưu làm khoảng hơn 2000 người tại hai ngôi làng bị thiệt mạng. Làng Longarone và Pirago bị phá hủy, trong đó làng Longarone bị phá hủy hoàn toàn sau thảm họa.    5. Lời bình    Vịệc xây dựng đập hồ chứa phục vụ cho nguồn điện năng, tưới tiêu…là điều cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc dân. Song chúng ta cần đặc biệt chú ý đến sự an toàn của đập hồ chứa vì hậu quả nghiêm trọng khi xảy ra các sự cố dưới các tác động của các yếu tố thiên nhiên như động đất, sạt trượt, mưa bão…. Qua những ví dụ về thảm họa trong quá khứ chúng ta có thể thấy thảm họa phát sinh khi vỡ đập và cả khi không vỡ đập đều nguy hiểm. Vì thế, khi xây dựng đập chắn ngoài các chỉ tiêu ổn định an toàn về đập chúng ta cần lưu ý khảo sát xây dựng những chỉ tiêu an toàn của toàn bộ diện tích hồ chứa bao gồm cả bờ bao quanh và phần địa chất địa tầng sâu dưới lòng hồ. Trong tình hình biến đổi khí hậu với những diễn biến bất thường về mưa lớn, các thể loại thảm họa thiên nhiên phức hợp như mưa bão, sạt trượt đất và sóng thần…có chiều hướng gia tăng, việc tính toán an toàn cho cả quần thể đập và hồ chứa càng trở nên quan trọng. Thực tế đã cho thấy những yếu tố nguồn và hệ quả trong thiên nhiên thường tạo ra các loại thảm họa kép như động đất + vỡ đập + lũ sóng thần, động đất + sạt trượt + sóng thần, mưa bão + sạt trượt + sóng thần…Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải tính đến các bài toán về an toàn cho bản thân đập hồ chứa cùng với việc tính toán mức độ thiệt hại do thảm họa kép gây ra cho toàn bộ phạm vi hồ chứa ảnh hưởng. Trong bài viết này, mức độ nguy hại của thảm họa đập hồ chứa thường được đánh giá qua thiệt hại về người và kinh tế, qua quy mô hư hại của công trình nhưng còn khía cạnh hủy diện môi sinh văn hóa…cũng cần được tính đến. Càng mong muốn có thêm nhiều đập hồ chứa mới đáp ứng cho sự phát triển nền kinh tế thì chúng ta càng cần phải tính toán cẩn thận về tính an toàn, điều tra khảo sát kỹ những yếu tố có thể phát sinh để lường trước được mức độ nguy hiểm của thảm họa. Bài toán kinh tế của đập hồ chứa chỉ khả thi khi hai mặt an toàn và mức độ thiệt hại được tính toán chính xác trung thực và chỉ khi đó những dự án đập hồ chứa mới thực sự đem lại lợi ích phát triển cho nền kinh tế quốc dân.    —  * Japan Vietnam Association of Science and Technology Development (JVAST)    Tư liệu tham khảo  * Nhật báo Yomiuringày 15 tháng 5 năm 2012(tiếng Nhật).  * Nghiêm M. Quang, báo cáo khảo sát sau động đất khu vực hồ chứa Aratozawa, Tổng hội xây dựng Nhật bản, tiểu ban điều tra thảm họa thiên nhiên, 2008(tiếng Nhật).  * Harsh. K Gupta, “A review of recent studies of triggered earthquakes by artificial water reservoirs with special emphasis on earthquakes in Koyna, India”, Earth-Science Reviews 58, pg 279–310, 2002.   * Science Magazine January 16, 2009 pg. 322  * wikipedia.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số hướng nghiên cứu truyền thông lượng tử      Truyền thông lượng tử xuất hiện trong nhiều tác phẩm của các nhà văn kinh điển thuộc lĩnh vực khoa học giả tưởng như: Rogue Moon của Algis Budry (giải cuốn sách vàng năm 1960), World of Null-A (tháng 8 năm 1945), và The Fly của George Langelaan (tạp chí Playboy tháng 6 năm 1957). Mẩu chuyện ngắn trên tờ tạp chí Playboy này đã dẫn đến một cuộc cách mạng trong các bộ phim nổi tiếng như: The Fly (1958), Return of The Fly (1959), Curse of the Fly (1965), The Fly (tái bản năm 1986) và The Fly II (1989). Những bộ phim này đã chỉ ra những điều kì lạ trong khoa học công nghệ, vượt khỏi trí tưởng tượng của con người.        Khái niệm truyền thông lượng tử cũng đã xuất hiện trong các mẩu chương trình truyền hình nổi tiếng về khoa học giả tưởng như: The Twilight Zone (trạng thái mờ ảo) và The Outer Limits (các giới hạn ngoài). Khái niệm truyền thông lượng tử  thực sự được biết đến rộng rãi thông qua bộ phim truyền hình Star Trek từ gần 40 năm trước cùng hàng loạt các bộ phim thuộc lĩnh vực sân khấu điện ảnh sau đó (mở đầu là vào năm 1964 với đoạn giới thiệu về  The Cage  trên các chương trình truyền hình). Nhờ có Star Trek, mọi người trên thế giới đều quen thuộc với thiết bị chuyển đổi được sử dụng để viễn tải con người hay vật  hữu hình nào đó từ tàu không gian này đến tàu không gian khác hoặc từ tàu vũ trụ tới một hành tinh với vận tốc ánh sáng. Người hoặc vật vô tri được đặt trên bộ chuyển đổi và được tách rời hoàn toàn nhờ chùm nguyên tử đã chuẩn bị sẵn trong máy vi tính, và sau đó biến thành một tia khác định hướng đến đích rồi được tái hợp lại thành dạng ban đầu mà không hề có lỗi.            Ý tưởng về truyền thông lượng tử trong phim Star Trek            Năm 2001, Tiến sĩ Robert L.Forward đã phát biểu rằng: các tác phẩm của nền văn học khoa học giả tưởng hiện đại, ngoại trừ Star Trek, đều từ chối sử dụng khái niệm truyền thông lượng tử vì các tác giả tin tưởng rằng nó có tính tâm linh nhiều hơn tính khoa học. Những bước tiến đầu tiên của thuyết lượng tử và thuyết tương đối chung trong những năm 1980 đã thành công khi đưa ra cái sườn cơ bản để từ đó khám phá ra bản chất của truyền thông lượng tử. Sự mạnh dần của nền văn học quần chúng và nền văn học khoa học trong những năm 1990 và gần đây năm 2003 đã nâng những hiểu biết về lĩnh vực công nghệ mới này lên để thực hiện truyền thông lượng tử.  Hiện tại việc mở rộng nghiên cứu trong truyền thông lượng tử  và phát triển các dạng truyền thông vật lí khác sẽ có ý nghĩa to lớn đối với các lĩnh vực truyền thông và thông tin trong cộng đồng nói chung và trong lĩnh vực quân sự nói riêng.    Truyền thông khoa học giả tưởng (Teleportation-SciFi)  Phương thức vận chuyển trong không gian người hoặc đồ vật đã bị tách rời bằng những phương tiện công nghệ tiên tiến (thuyết vị lai- thuyết siêu hiện đại- được đưa ra bởi Vaidman, năm 2001) được gọi là truyền thông-sf.  Truyền thông lạ (Teleportation-exotic)  Phương thức vận chuyển người hoặc đồ vật được thực hiện bằng cách vận chuyển thông qua các chiều không gian thêm hoặc qua các thế giới song song và được gọi là truyền thông-e.  Một tài liệu nghiên cứu cho việc đề xuất ra các khái niệm truyền thông e dựa trên sự chuyển đổi vật chất xuyên qua các kích cỡ không gian  hay các không gian tương đối  chỉ đem lại duy nhất một kết quả. Hướng nghiên cứu này hiện nay đang gặp phải trở ngại lớn trong việc phát triển lí thuyết trường lượng tử hợp nhất và lí thuyêt lượng tử của trường hấp dẫn. Hai thuyết này được được rút ra từ những năm 1920 khi Kaluza và Klein công bố các tài liệu đầu tiên miêu tả về một mô hình hợp nhất trường hấp dẫn với các lực đã được biết đến trong tự nhiên. Nhiều giả thuyết hiện nay  phải sử dụng đến khái niệm không gian này. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, dưới đây sẽ liệt kê  một vài mô hình không gian hiện nay đã được công nhận:  – Lí thuyết thống nhất trường trọng lực – trường điện từ Kaluza-Klein / thuyết trường trọng lực hiện đại Kaluza-Klein (Kaluza 1921, Klein 1926, Sabbata và Schmutzer 1983, Lee 1984, Kaku 1993-1994, Overduin và Wesson 1998): Theo thuyết này thì điện động lực học Maxell và thuyết tương đối rộng Einstein có thể được hợp nhất trong không gian hình học Rieman 5 chiều,  trong đó các thế hấp dẫn và thế điện từ sẽ quyết định cấu trúc của không gian. Chiều không gian thứ 5 được cuộn lại trong 1 quả bóng không gian với bán kính nhỏ không đáng kể (cỡ 10-35m) và không mang ý nghĩa vật chất vì nó là một công cụ toán học đơn giản để thực hiện việc hợp nhất. Hiện nay, thuyết K-K này được đề cập đến một cách rộng rãi khi thống nhất trường hấp dẫn với các trường lượng tử khác sử dụng kích thước không gian lớn hơn 4.            Ý tưởng vận chuyển người bằng phương thức truyền thông-e          Các lí thuyết siêu chuỗi: (Green 1985,Kaku 1988, 1993, 1994). Các lí thuyết này đề cập đến các khái niệm tương quan và chúng  là một dạng mở rộng của các thuyết K-K. Chúng dựa trên nền tảng của điện động lực học lượng tử dạng chuỗi. Các siêu chuỗi có kích cỡ xấp xỉ 10-35m. Ngoài ra còn có các dạng khác của các lí thuyết này mà phải cần đến 10, 11 hoặc thậm chí là 26 chiều không gian thêm, trong đó các chiều thêm được cuộn lại trong các quả bóng không gian với bán kính nhỏ hơn 10-35m. Các thuyết sau đó được phát triển thành các dạng mà hiện nay được gọi là thuyết F&M.  – Không gian tương đương – Các giả thuyết D-Brane và 3-Brane (Rubakov và Shaposnikov 1983, Polchinski 1995, Weiss 2000, Pease 2001…): Đây là dạng hoàn thiện của các lí thuyết chuỗi ban đầu trong đó các chuỗi mở, tương ứng với các hạt cơ bản như các hạt quark, electron, có đầu tự do rơi vào thuyết lượng tử. Dạng thuyết lượng tử này cần có trạng thái tức thời của rất nhiều thực thể, để giải thích một cách hợp lí mối quan hệ giữa vật thể được đo và người quan sát. Thuyết Many Worlds bàn luận rằng thuyết lượng tử cần phải có các trạng thái siêu chồng chập của các thực thể.   Tuy nhiên theo thuyết Brane loại hình truyền thông này không cung cấp bất kì tính hiệu quả nào cho dạng truyền thông xảy ra trong không gian ở mức vĩ mô, bởi vì lí thuyết này chỉ cho phép thực hiện trong khoảng cách khônggian ≤10-35m.  Truyền thông tâm linh (Teleportation-psychic)  Đây là cách vận chuyển người hoặc đồ vật bằng tâm linh và được gọi là truyền thông-p.             Truyền thông-p, trong đó “p” là chữ viết tắt của từ “psychic” trong tiếng Anh, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “tâm linh, siêu linh, huyền bí”. Đây là hiện tượng truyền đạt ý tưởng của con người hay di chuyển những đồ vật bằng cách sử dụng những năng lực huyền bí, siêu linh.       Truyền thông-p là một dạng của những hành động xuất thần tương tự như năng lực siêu nhiên và được sử dụng để di chuyển vật thể qua những thực thể vật lý khác hoặc qua một khoảng cách nào đó.  Siêu năng lực là một dạng của hành động xuất thần, diễn tả việc di chuyển những vật thể tĩnh mà không cần một lực vật lý đã biết nào. Thực chất, hành động xuất thần sử dụng ảnh hưởng trực tiếp của trí óc lên vật thể mà không cần đến những thiết bị hay năng lượng vật lý trung gian.  Tính khoa học của hiện tượng phi thường này và vấn đề tâm linh đã được rất nhiều nhà khoa học hiện đại trên khắp thế giới nghiên cứu và đưa ra những dẫn chứng chứng minh từ trước đây vài thập niên và hiện nay vẫn chưa kết thúc.  Sau đây sẽ nêu một số ví dụ làm sáng tỏ hơn về khái niệm mới mẻ và dường như mang tính duy tâm này. Đồng thời qua đó cũng phân tích một số ưu nhược điểm của hướng truyền thông này.  Những nghiên cứu ở Mỹ:  Một công trình nghiên cứu nổi bật nhất trong rất nhiều công trình được nghiên cứu là “Remote Viewing prorgam”.  Đây là một công trình rất nổi tiếng bao gồm cả lý thuyết, thực nghiệm và vận dụng, do các tác giả H.E.Puthoff, R.Targ, E.May và I.Swan nghiên cứu trong suốt hơn 2 thập niên gần đây. Công trình này được tổ chức quốc tế SRI và NSA tổ chức và được chính các tổ chức lớn ở Mỹ (CIA- cơ quan tình báo trung ương Mỹ, DIA, ISNCOM) tài trợ. Nó được chia thành những phần rất nhỏ và mang những tính chất đặc biệt để nghiên cứu trong suốt 22 năm, từ năm 1980 đến năm 2002.  Nổi bật trong đó là khả năng suy đoán trước tương lai, điều này làm cho người thực hiện nắm bắt được thông tin mà không cần quan tâm đến vấn đề thời gian và không gian. Chương trình này đã được chính Tổng Thống Mỹ W.J.Clinton công khai một cách trịnh trọng vào năm 1995.           Ông Uri Geller thể hiện khả năng làm cong chiếc rũa bằng “ý nghĩ”        Chương trình này cũng khảo sát tương đối tỉ mỉ về hiện tượng xuất  thần kì lạ. Trong suốt 3 thập kỉ qua nhà khoa học, giáo sư Houck đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về hiện tượng xuất  thần, nhờ đó những cảm ứng xuất  thần được truyền  tới mọi người và có nhiều hiện tượng thực tế đựơc thực nghiệm bằng cách sử dụng những mẫu thí nghiệm là những vật thể rất gần gũi như chiếc nĩa, thìa. Nhiều người có khả năng uốn cong hay làm méo hình dạng chiếc thìa mà không cần tác động bất kỳ lực vật lý nào. Rất nhiều nhà khoa học cấp quốc gia đã nêu ra những bằng chứng về vần đề này .  Những luận điểm và thực nghiệm của nhà tâm linh Uri Geller (1975) là một minh chứng hùng hồn cho luận điểm trên. Trong 1 cuộc nói chuyện tại toà nhà Capital (Mỹ), ông đã làm 1 chiếc nĩa  cong lên, cong xuống, thay đổi hình dạng liên tục mà không hề tác động một lực nào trong suốt buổi nói chuyện.  Hiện tượng này cũng được nghiên cứu ở các trường Đại học, các phòng thí nghiệm khoa học nổi tiếng.   Có rất nhiều nghiên cứu và thực nghiệm về truyền thông-p diễn ra trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỉ 20. Đáng tiếc là có nhiều trường hợp bị những kẻ gian, lừa đảo lợi dụng và đã có một số trường hợp nghiên cứu theo xu hướng đó. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều đáng tin cậy và mang tính khoa học. Trong đó có một số tài liệu của Uri và những hiện tượng hiện thực tương tự. Nhưng hầu hết các trường hợp truyền thông từ vị trí này tới vị trí khác đều chưa được chứng minh. Một lượng lớn những báo cáo chỉ mang tính giai thoại và bằng chứng có xu hướng không chắc chắn. Vì thế khi nói tới vấn đề này ta chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm và báo cáo.  Thêm 1 ví dụ rất thú vị trong những thực nghiệm của Uri, ông có thể làm cho một phần tinh thể cacbua vanadium biến mất. Với tinh thể này, ta không thể chạm vào, và nó được cố định theo 1 cách riêng nên ta không thể thay thế bằng 1 tinh thể khác dù có dùng ảo thuật khéo léo tới đâu đi nữa. Và kết quả này luôn luôn được lặp lại. Ví dụ này là minh chứng hùng hồn nhất chứng minh cho tính khoa học của loại hình truyền thông trên.  Những kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc:  Ở Trung Quốc ngay từ năm 1981 đã xuất hiện những nghiên cứu về vấn đề trên.Có rất nhiều bài báo viết về vấn đề này được đăng trên nhiều tạp chí lớn ở Trung Quốc. Những thực nghiệm luôn được ghi lại rất khoa học và kết quả luôn lặp lại. Những bài báo ở Trung Quốc rất thú vị và được viết rất công phu. Họ đưa ra nhiều bức ảnh, biểu đồ thống kê các kết quả đạt được từ thực nghiệm. Tất cả các giao thức đều được diễn giải rõ ràng trong những đề tài dài, các kết quả được đưa ra hoàn toàn từ việc phân tích dữ liệu thống kê nên những kết quả đó không hề mang tính ngẫu nhiên. Tổng hợp những kết quả đạt được, các nhà khoa học Trung Quốc đã chỉ ra những điều sau đây:   + Nhiều nhóm nghiên cứu đã đưa ra giao thức có thể chuyển những mẫu vật nhỏ xuyên qua thành của những chiếc hộp kín bằng cách sử dụng những khả năng về siêu linh.  + Thời gian truyền những mẫu vật thử qua một số chướng ngại vật từ một phần mấy giây cho tới vài phút, không phụ thuộc vào những thùng kín, những mẫu vật được dùng trong thí nghiệm.  + Những cuốn băng quay lại cho thấy, những mẫu vật “xuyên qua” thành của  những chiếc hộp kín, chỉ đơn giản là biến mất ở trong hộp và xuất hiện lại ở một vị trí khác (sau vài giây tới vài phút). Thực chất, mẫu vật không thật sự trải qua việc biến đổi kim loại trong suốt quá trình truyền thông – đây là vấn đề rất quan trọng bởi vì không hề có sự xuất hiện của tia phóng xạ hay tia điện tử trợ giúp, vì thế các giác quan của con người cũng như các phương pháp thông thường không thể xác định được trạng thái tạm thời của mẫu vật, hiện tượng này cũng giống như hiện tượng trạng thái chồng chập của q-bit.  + Thiết bị phát sóng radio siêu nhỏ cũng có thể được dùng để làm mẫu vật. Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng cường độ tín hiệu có sự dao động rất lớn, cả về tần số lẫn biên độ nên có thời điểm tín hiệu gần như biến mất nhưng cũng có thời điểm tín hiệu đủ mạnh nằm trong phạm vi có thể dò được, như vậy tín hiệu cũng nằm trong trạng thái chồng chập của 2 trạng thái.   + Trước và sau khi “ vượt qua thành “ của các hộp kín thì các mẫu vật và thành hộp phải giữ nguyên hình dạng.   + Những người có năng khiếu về vấn đề tâm linh không bao giờ được thấy hiện vật (có thể bị bịt mắt) hoặc được chạm vào những vật được dùng trong thí nghiệm.   + Những kết quả thí nghiệm luôn được lặp lại, điều này chứng minh được rằng những kết quả trên không phải là ngẫu nhiên mà hoàn toàn mang tính khoa học.   + Những bằng chứng phức tạp đảm bảo cho kết quả này mang tính trung thực và loại bỏ được những trường hợp ảo thuật.  Tuy đã đưa ra được rất nhiều bằng chứng thực nghiệm nhưng các nhà khoa học Trung Quốc vẫn chưa đưa ra được những cơ sở vật lý đầy đủ ý nghĩa để chứng minh cho những kết quả của họ. Một số nhà nghiên cứu bắt đầu  thấy cần một lý thuyết vật lý mới giải thích được sự thống nhất giữa ý thức với vật lý lượng tử và vật lý về không gian thời gian phù hợp với truyền thông-p và hiện tượng xuất  thần kì lạ. Vì vậy ở Trung Quốc cũng như trên thế giới vấn đề nầy vẫn đang trong quá trình nghiên cứu sôi nổi.  Ngoài Trung Quốc và Mĩ còn có rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu loại hình truyền thông mới mẻ và kì lạ này. Sự quan tâm của những quốc gia có nền khoa học phát triển cũng như của những tổ chức uy tín trên thế giới đến vấn đề này lại một lần nữa khẳng định tính đúng đắn và khoa học trong một vấn đề nhạy cảm và còn rất mới mẻ hiện nay, đặc biệt là ở Việt Nam.    Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu nói về các khía cạnh khác rất thú vị của truyền thông-p đặc biệt là những đầu tư nghiên cứu và cả ứng dụng của Nga nhưng tác giả chưa có điều kiện để nghiên cứu sâu hơn.Trên đây chỉ là phần sơ lược để hiểu rõ hơn về khái niệm loại hình truyền thông này, chúng tôi  đưa ra  với mong muốn rằng tất cả mọi người có một cái nhìn khác với loại hình truyền thông dường như mang tính mê tín dị đoan nhưng lại rất khoa học này.  ————  Tài liệu tham khảo  1. Dựa theo tài liệu “Teleportation Physics Study” của tác giả  Eric W. Davis   2. Http://www.dhushara.com/book/quantcos/qcompu/shor.   ————  * Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông    TS. Ngô Tứ Thành & TS. Lê Minh Thanh *        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số kết quả của Đàm Thanh Sơn và giải thưởng Dirac      Việc Đàm Thanh Sơn được giải thưởng Dirac là một tin mừng đối với Vật lý Việt Nam, đặc biệt rất khích lệ đối với các nhà vật lý trẻ tuổi.      Trạng thái quark-gluon plasma của vật chất trong máy gia tốc hạt lớn LHC được tạo ra như kết quả của các cuộc va chạm hạt nhân chì (màu trắng) tiến theo vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng.. Dòng chảy này được hình thành bằng quarks và gluons (màu đỏ, xanh lá cây và xanh lam) chuyển động dọc theo hướng chùm tia. Nguồn: phys.org     Người Việt Nam làm được Toán, là điều Ngô Bảo Châu đã chứng minh. Tuy vậy, đào tạo Toán ở Việt Nam tương đối tốt. Đào tạo Vật lý ở Việt Nam không thể nói là tốt. Sơn cũng trưởng thành từ thi Olympics Quốc tế, chọn Vật lý là còn đường khó khăn hơn nhiều. Vật lý đòi hỏi biết nhiều thứ, chuẩn bị mất công, khó thành công sớm. Có lẽ đó thực sự là do tình yêu khoa học, chứ không phải chỉ là kiếm bằng cấp hay công việc tốt. Rất hy vọng Đàm Thanh Sơn sẽ ở một vị thế có thể chấn hưng (hay dẫn đầu) cho việc đào tạo Vật lý ở Việt Nam.   Tôi không biết nhiều về Đàm Thanh Sơn. Nói là không quen biết cũng không phải. Sơn cũng đã ghé nhà tôi ở New Jersey khi qua làm việc ở Princeton quãng 1997-1998 gì đó. Trước đó cỡ năm 1992-1993, ở Syracuse, GS Trương Nguyên Trân có nhờ tôi viết email cho Sơn đề nghị giúp Sơn về kinh tế vì nghe nói đời sống ở Nga rất khó khăn. Sơn từ chối thế nào đó (bây giờ nghĩ lại cũng hợp lý) và tôi cảm thấy không thoải mái. Tuy vậy vẫn trao đổi bình thường, thân mật nhưng không thân thiết. Về chuyên môn, tôi cũng chưa đọc bài nào của Sơn, nhưng có hai đề tài chính của Sơn đều nằm trong mối quan tâm của tôi là Thuyết sắc động lực học lượng tử (Quantum chromodynamics QCD) và hệ điện tử tương tác mạnh. Tôi vẫn theo dõi hai đề tài này, dự định sẽ đọc kỹ thêm và làm gì đó khi có điều kiện. Có lẽ điểm cốt lõi là xử lý tương tác mạnh. Giữa hai lĩnh vực này có điểm chung là hiệu ứng tập thể và xử lý được tương tác mạnh bằng các công cụ của lý thuyết trường lượng tử. Các kết quả của Sơn, tôi đều nghe và đọc lại từ người khác, có thể chưa hoàn toàn chính xác. Hy vọng giúp mọi người hiểu phần nào ý nghĩa của các kết quả này.  Sơn là học trò giáo sư Rybakov, một giáo sư Nga thành danh rất sớm, nổi tiếng thế giới khi còn rất trẻ. Điều đó quan trọng vì thầy của Ngô Bảo Châu, Vũ Hà Văn đều nổi tiếng và trẻ. Một số người khác tôi đánh giá cũng rất cao nhưng thầy già, ít nổi tiếng hoặc không có thầy, đều lận đận hơn. Tôi hâm mộ Rybakov này khi ông còn chưa nổi tiếng lắm (cũng như E.Witten), tuy vậy không có duyên gặp. Cũng giới thiệu cho một số đàn em, nhưng họ tiếp cận Rybakov đều không thành công. Thầy tuy quan trọng nhưng cá nhân phải nỗ lực mới là quan trọng nhất. Có lẽ từ thời nghiên cứu sinh hoặc sinh viên, Sơn đã học được cách nghiên cứu hệ QCD ở nhiệt độ cao, một loại “cháo nóng” plasma gồm gluon và quark (là những hạt lượng tử tương tác mạnh chúng ta không trông thấy được bằng mắt thường). Về sau này Sơn nổi tiếng vì đưa các đặc trưng có tính vĩ mô như độ nhớt cho quark-gluon plasma, và chỉ ra việc đo được chúng trong thực nghiệm. Tôi có lần gọi đùa Sơn là Mr. Nhớt. Đó là một kết quả xứng đáng được Nobel, nếu phát kiến thực nghiệm nằm trong một dự án lớn kiểu như LIGO.   Quan tâm của tôi về hệ QCD lại ở phía kia, khi cháo plasma này nguội xuống, chuyển thành pha bao gồm các hạt pi meson, mô tả bằng lý thuyết trường chiral phi tuyến.   Có lẽ quan tâm của Sơn về hệ vật rắn tương tác mạnh bắt đầu khi làm việc với F.Wilczek (Nobel 2004) ở Princeton. Wilczek cũng bắt đầu với việc nghiên cứu QCD (tương tác mạnh) và được giải thưởng Nobel về hiện tượng tiệm cận tự do. Ông tự cho mình là một trong 10 nhà vật lý lý thuyết lớn nhất đang còn sống. Tôi thích Wilczek nhưng không thích thầy của ông và đồng tác giả giải Nobel với ông là David Gross.   Tôi cho rằng, giữa QCD và hệ điện tử tương tác mạnh có nhiều điểm tương đồng. Tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu hệ điện tử tương tác mạnh từ những năm 1990. Có thể thời đó các ý tưởng khoa học chưa chín, hoặc cũng có thể tôi không gặp được các cộng sự và môi trường làm việc phù hợp, cũng có thể gravity hấp dẫn tôi hơn, tôi chỉ viết được vài bài báo rồi chuyển sang đề tài khác, mặc dù vẫn định bụng phát triển tiếp.   Thành công đầu tiên của Sơn trong lĩnh vực này là từ một vấn đề rất cơ bản: đối xứng không thời gian của hệ Hall lượng tử. Sơn đã giả thiết là môi trường ở đó biến dạng tương tự như không thời gian biến dạng trong lý thuyết tương đối rộng của Einstein và sẽ có các đối tượng hình học như metric, connection, độ cong. Thay vì mô tả bằng hình học Riemann như Einstein, Sơn chọn hình học Cartan là tổng quát hóa hơn của hình học Riemann. Điều này hợp lý vì hình học Cartan có độ xoắn là các biến dạng nứt gãy trong không thời gian là điều phổ biến trong vật rắn. Điều tinh tế và khó hơn là việc Sơn sử dụng một hình thức đơn giản có phần thô sơ của hình học Cartan, nhưng phù hợp với bài toán. Trong vật lý, đơn giản hóa công cụ mới là khó và mấu chốt dẫn tới thành công, chứ không phải dùng nguyên xi ở dạng tổng quát nhất. Từ các đặc trưng hình học, Sơn chỉ được các tính các đặc trưng vĩ mô của hệ Hall lượng tử. Bài đăng ở Phys Rev X, là tạp chí chuyên đăng các ý tưởng mới liên ngành. Sau đó Sơn có khá nhiều bài trong lĩnh vực này, gần đây hơn là xét các Fermion xuất hiện trong các hệ này. Đây cũng là một vấn đề cơ bản đầu tiên của lý thuyết trường. Fermion có thể được mô tả bởi Dirac, Weyl hay Majorana spinor. Trong hệ Hall lượng tử, có thể mỗi cách mô tả sẽ đem lại những hệ quả vật lý mới.  Đây là một trong những bài toán nóng của vật lý vật liệu mới. Đầu tư sẽ rất lớn, và sẽ có nhiều giải thưởng Nobel cho việc giải quyết được các vấn đề trong lĩnh vực này. Đây là cuộc chạy đua tới cuộc cách mạng về máy tính lượng tử, quyết định các thế lực bao trùm mới trong CMCN4.0. Tôi rất vui mừng vì Sơn đã trở một thành nhà vật lý lớn theo nghĩa là giải quyết các bài toán cần giải và bản thân thấy lý thú, chứ không phải chỉ tìm cách giải các bài toán với công cụ có sẵn trong tay và không bao giờ thay đổi.  Cuối cùng, có lẽ cũng nói qua một chút về giải thưởng Dirac. Giải thưởng nào danh giá thì cũng nhờ vào những người được giải. Giải Goncourt chỉ là một bữa ăn tối nhưng danh giá nhờ những nhà văn vĩ đại đã được giải. Giải Nobel danh giá là nhờ có Marie Curie, Einstein, Pauli, Dirac, chứ không phải họ danh giá nhờ được giải Nobel. (Cố nhiên có một số trường hợp thì điều ngược lại đúng).  Có 4 giải Dirac khác nhau. Hai giải của đại học New South Wales (Úc) và giải dành cho các nhà lý thuyết hóa lượng tử trẻ dưới 40 tuổi (có lẽ bắt chước Fields) tôi nghĩ là giá trị thấp hơn. Giải của ICTP có lẽ cao hơn giải của Hội Vật Lý (IOP) một chút, mặc dù giải IOP đã trao cho Bell, Hawking, Penrose, Higgs, Thouless, Green là những người tôi rất kính trọng.   Giải của ICTP không trao cho những người đã được giải Fields, Wolf và Nobel. Nhưng nhiều người được giải Dirac rồi đã được các giải trên như Witten, Wilczek, Veltman, Haldane, Kibble,… Danh sách những người được giải Dirac ICTP là danh sách “dữ dằn”. Rất vinh dự và tự hào được thấy Sơn ở đó.   So sánh giải Dirac với giải Nobel là một việc chỉ có ở Việt Nam. Về mặt truyền thông, giải Dirac hay Fields đều không bằng giải Nobel, tiền thưởng cũng ít hơn nhiều.   Tuy vậy, những người giải Dirac đều là các nhà khoa học làm việc thực sự, không cần thiết truyền thông. Giải Dirac cũng “sửa sai” cho giải Nobel, như trường hợp của Nikolai Cabibbo, không được trao giải Nobel là một sai lầm không thể chấp nhận được của ủy ban Nobel. E. Witten cũng chưa được giải Nobel điều đó không ngăn cản việc ông là thủ lĩnh thực sự của vật lý trong nhiều thập kỷ nay.   Chắc chắn, được giải Dirac sẽ khiến cho việc được giải Nobel dễ dàng hơn, vì nó giúp gạt bỏ mọi thiên kiến che phủ các kết quả có giá trị. Một lần nữa chúc mừng và mong được nhìn thấy các thành công rực rỡ hơn, mà chúng có thể có ý nghĩa với vật lý Việt Nam lớn hơn nhiều với cá nhân Sơn. Có thể anh không cần nhiều vinh quang hơn nữa, nhưng Vật lý Việt Nam đang già cỗi đi, èo uột, thiếu tự tin và chí khí đang rất cần.       Author                Nguyễn Ái Việt        
__label__tiasang Một số tin KHCN nước ngoài tuần qua      Lần đầu tiên giải trình tự của chuỗi AND trong môi trường không trọng lượng; Không khí ô nhiễm làm tiểu đường nặng thêm; Madala Boson và bí ẩn vật chất tối; Mỹ tham gia sân chơi điện gió ngoài khơi.      Thiết bị Minion.  Lần đầu tiên giải trình tự của chuỗi AND trong môi trường không trọng lượng  Phi hành gia Kate Rubins trên tàu Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) đã sử dụng một thiết bị cầm tay có tên là Minion để thực hiện thí nghiệm giải trình tự AND đầu tiên bên ngoài Trái đất.  Thiết bị Minion được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Oxford Nanopore Technologies, và được gửi tới trạm ISS. Thử nghiệm thành công này đóng vai trò rất quan trọng giúp cho việc kiểm tra sức khỏe của các phi hành gia thậm chí có thể giúp phát hiện sự sống trên các hành tinh khác. Trong lịch sử hoạt động của trạm vũ trụ hoà bình ISS, người ta đã từng ghi nhận có sự xuất hiện của nấm, và để xác định được đó là loại nấm gì thì cần phải chuyển mẫu thí nghiệm về Trái đất. Nhưng với Minion, việc này có thể được diễn ra ngay trên trạm. Không giống với việc giải trình tự trên Trái đất, hoạt động của Minion rất đơn giản, chỉ cần kết nối với một máy tính xách tay, và việc giải trình tự sẽ được lựa chọn từ một cơ sở dữ liệu sẵn có và quá trình giải trình tự có thể chỉ diễn ra trong 10 – 15 phút.  Không khí ô nhiễm làm tiểu đường nặng thêm  Bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp 2 sẽ có nguy cơ tăng nặng hơn nếu sống trong bầu không khí ô nhiễm nghiêm trọng. Đó là kết luận trong một nghiên cứu mới do Trung tâm Nghiên cứu tiểu đường ở Đức thực hiện.  Giáo sư Annette Peters, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết, họ đã khảo sát trên gần 3.000 người, chủ yếu sinh sống tại hai khu vực là thành phố Augsburg, Đức và khu vực nông thôn gần đó. Những người tham gia thử nghiệm đều được phỏng vấn và thực hiện một số xét nghiệm máu để xác định những yếu tố tác động tới quá trình kháng viêm, kháng insulin (insulin giúp các tế bào chuyển hóa glucose, tình trạng các tế bào không đáp ứng lại insulin được gọi là “kháng insulin”).Các nhà nghiên cứu cũng xét nghiệm nồng độ leptin trong máu, một loại hormone liên quan tới quá trình kháng insulin. Những người không bị mắc chứng tiểu đường cũng được xét nghiệm để xem xét quá trình dung nạp glucose.  Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người có quá trình dung nạp glucose bị suy giảm sẽ chịu tác động của các chất gây ô nhiễm trong bầu không khí nhiều hơn những người bình thường.Và có mối quan hệ rõ ràng giữa việc gia tăng nồng độ các chất gây ô nhiễm môi trường với các yếu tố gây ra quá trình kháng insulin trong cơ thể bệnh nhân.  Madala Boson và bí ẩn vật chất tối  Các nhà khoa học tại High Energy Physics Group (HEP) của University of the Witwatersrand tại Johannesburg tin rằng họ có các dữ liệu để chỉ ra có một Boson mới gọi là Madala Boson. Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về vật chất tối và cách chúng tương tác với vũ trụ. Các kiến thức về Vật lý của con người vẫn đang tiếp tục phát triển. GS Bruce Mellado, trưởng nhóm HEP, nói, bây giờ chúng ta đang ở một thời điểm tương tự như khi Einstein xây dựng thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Việc tìm ra Madala Boson giúp con người hiểu hơn về vũ trụ của chúng ta.  Mỹ tham gia sân chơi điện gió ngoài khơi  Trang trại điện gió ngoài khơi đầu tiên của Mỹ được xây dựng gần khu vực đảo Block với 5 turbine đầu tiên, dự kiến cung cấp năng lượng cho 17.000 hộ gia đình. Ý tưởng xây dựng các turbine điện gió ngoài khơi, nơi có sức gió mạnh và ổn định từ lâu đã được xem như một bước tiến với năng lượng tái tạo. Đây là dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên của Mỹ được tiến hành và trong tương lai điện gió ngoài khơi sẽ có những bước tăng trưởng nhanh chóng.1  Bảo Như – Đức Hưng tổng hợp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số tin khoa học mới trong tuần      Phát hiện ba chủng norovirus mới, tìm thấy khu vực xây dựng ký ức trong não bộ, các gene cũng hoạt động theo một hệ thống phân cấp, tác động của cây trồng biến đổi gene tới môi trườn.      Tìm thấy khu vực xây dựng ký ức trong não.  Phát hiện ba chủng norovirus mới  Các nhà khoa học Australia đã phát hiện ba chủng mới của norovirus là nguyên nhân của một đợt dịch viêm dạ dày-ruột, trong vài tháng qua. Norovirus là một ARN virus sợi đơn gây ra nôn mửa, tiêu chảy, buồn nôn, và trong một số trường hợp gây mất một phần vị giác. Virus này lây lan qua những thứ như hạt aerosol [các hạt chất rắn hoặc các giọt chất lỏng, trong không khí hoặc chất khí khác] và phân bị nhiễm bệnh, nó có thể tồn tại trong điều kiện thường bảy ngày.  Các chủng đã được đặt tên là New Orleans 2009 / Sydney 2012, GII.P16 / Sydney năm 2012, và Kawasaki 308.  Trên thế giới, virus ảnh hưởng đến 267 triệu người, và khiến 200.000 người tử vong mỗi năm, thường là ở những bệnh nhân có hệ miễn dịch suy yếu, chẳng hạn như trẻ nhỏ hoặc người già.  Tìm thấy khu vực xây dựng ký ức trong não bộ  Nhóm nghiên cứu của Rosa Cossart tại Institut de Neurobiologie de la Méditerranée ở Marseille, Pháp, đã tìm ra được khối ghi ký ức trong não bộ từ thí nghiệm trên tế bào não của chuột. Để có được hình ảnh, Cossart và nhóm của bà đã thêm vào một loại protein huỳnh quang cho tế bào thần kinh của bốn con chuột. Nhóm nghiên cứu sử dụng huỳnh quang để lập bản đồ hoạt động tế bào thần kinh. Quan sát các hoạt động của hơn 1.000 tế bào thần kinh trên mỗi con chuột, nhóm nghiên cứu xem xét những gì đã diễn ra khi chuột đi bộ trên máy chạy bộ hoặc đứng. Các tế bào thần kinh tương ứng với mỗi phần của bộ nhớ không phải đều nằm cạnh nhau, mà hỗn hợp lên khắp vùng hồi hải mã (hippocampus).  Các gene cũng hoạt động theo một hệ thống phân cấp  Giáo sư Brenda Andrews (Đại học Toronto) cùng Charles Boone và Chad Myers (Đại học Minnesota-Twin Cities) đã tiến hành lập mạng di truyền và nhận ra rằng các gene trong tế bào làm việc trong một mạng được phân cấp rõ ràng về chức năng của các gene, các cặp gene để tổ chức các hoạt động sống của tế bào. Nghiên cứu đột phá này mất 15 năm để hoàn thành, bắt đầu với nghiên cứu các gene của tế bào nấm men. Nghiên cứu vi khuẩn cũng có lợi thế nhất định vì 6.000 gene trong tế bào vi khuẩn đều có ở tế bào của người, nghiên cứu chúng tương đối dễ hơn so với nghiên cứu 20.000 gene người.  Bản đồ di truyền của nấm men chỉ ra các gene trong tế bào tương tác thực sự với nhau, các gene chức năng hoạt động theo cặp, nếu phá hủy cặp gene đồng nghĩa việc phá hủy chức năng của cặp gene đó.  Bước tiếp theo của nghiên cứu là tìm ra bản đồ tương tác gene người, và nó sẽ giúp ích rất nhiều cho cuộc chiến chống lại bệnh tật, đặc biệt là bệnh ung thư.  Tác động của cây trồng biến đổi gene tới môi trường  Các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu trong 14 năm về tác động của cây trồng biến đổi gene tới môi trường. Cụ thể, họ xem xét mối quan hệ giữa cây trồng biến đổi gene và lượng thuốc bảo vệ thực vật cần sử dụng khi trồng các cây trồng biến đổi gene. Nhóm nghiên cứu do nhà kinh tế Federico Ciliberto (Đại học Virginia) đứng đầu, thu thập dữ liệu từ 5.000 nông dân trồng đậu tương và 5.000 nông dân trồng ngô ở Mỹ với hai loại biến đổi gene: một là diệt côn trùng, hai là kháng thuốc diệt cỏ glyphosate. Các nhà nghiên cứu phát hiện sử dụng nhiều cây biến đổi gene thực sự làm tăng việc sử dụng thuốc diệt cỏ lên 28%. Điều này là do cỏ dại kháng glyphosate phát triển trong các trang trại trồng cây biến đổi gene. Nhưng cây trồng biến đổi gene cũng giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu: nông dân trồng ngô sử dụng cây biến đổi gene cắt giảm được 11,2% lượng thuốc trừ sâu. Điều này chủ yếu là do các trang trại có cây trồng biến đổi gene làm côn trùng không phát triển khả năng kháng thuốc trừ sâu. Những phát hiện mâu thuẫn đòi hỏi nghiên cứu thêm về cây trồng biến đổi gene và tác động của chúng đối với môi trường, nông dân và người tiêu dùng.  Đức Hưng tổng hợp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số yêu cầu của Chính phủ về KHCN giai đoạn 2006-2010      Đẩy nhanh tiến độ xây dựng để sớm đưa vào vận hành Khu công nghệ cao Hòa Lạc; tăng cường thu hút đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cao, hoàn thành việc xây dựng Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010. Đó là những mục tiêu cơ bản được nêu trong Quyết định 67/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/3/2006, phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006 – 2010.    Thủ tướng cũng yêu cầu ứng dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thích hợp cho khu vực nông thôn và miền núi, chú trọng các vùng đặc biệt khó khăn nhằm phát huy thế mạnh vùng miền, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Đồng thời, cần tập trung phát triển công nghệ cơ bản và công nghệ sản phẩm phục vụ việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm chủ yếu. Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2010, một nửa (50%) các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước sẽ được ứng dụng và phục vụ trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh. Các nhiệm vụ còn lại phục vụ nâng cao năng lực lựa chọn, tiếp thu, làm chủ và cải tiến các công nghệ sẽ được ứng dụng cho giai đoạn sau năm 2010.  Đối với lĩnh vực công nghệ sinh học, Thủ tướng yêu cầu ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản, y dược và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, cần nghiên cứu phát triển công nghệ sản phẩm phục vụ xây dựng ngành công nghiệp sinh học; tập trung nghiên cứu, làm chủ và đưa vào ứng dụng một số công nghệ cao trong lĩnh vực giải mã gien, sản xuất văcxin thế hệ mới, công nghệ tế bào gốc.  Mục tiêu đặt ra là đến năm 2010 tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước đạt trình độ trung bình của khu vực, phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả các công trình trong nước đạt tiêu chuẩn quốc tế, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực và xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, có thể giải quyết những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia ở trình độ quốc tế.  Để đạt được những mục tiêu trên, Việt Nam sẽ tập trung đầu tư vào các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả cao như công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo máy-tự động hóa, công nghệ năng lượng, bảo quản và chế biến nông sản-thực phẩm và công nghệ vũ trụ.  PV  Nguồn tin: TTXVN và trang web của Chính phủ             Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tấm dư đồ bị lãng quên      Có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!    Gerardus Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan (Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham khảo về địa hình địa thế Á Đông. Tấm bản đồ này được in vào năm 1613 do Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ lại theo bản đồ ĐNA xuất bản 1606, căn cứ trên những dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ 16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.  Tấm bản đồ trình bày bằng tiếng Latinh, có tên là  “Insulae Indiae Orientalis Praecipuae“, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á từ đảo Sumatra phía Tây đến New Guinea và cả… đảo Guam phía cực Đông trong một chuỗi đảo họ mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ” (Islas de las Vellas), và từ đảo Timor gần Úc Đại Lợi phía Nam lên tới Hải Nam của Trung Quốc ở phía Bắc.  Thời ấy, thế giới Tây phương vẫn mơ hồ về đảo Java, với hướng Nam còn ghi bằng hàng dấu chấm trên bản đồ. Nhưng qua tài liệu tô màu này, các sử gia thích thú tìm thấy chứng cớ cập bến của nhà thám hiểm và Phó Đề đốc nổi tiếng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth I là Sir Francis Drake (sinh khoảng năm 1540 và mất năm 1596): tại một hải cảng ở miền Nam Java có ghi hàng chữ “Huc Franciscus Dra. Appulit“.   Họ rất vui với việc đó, nhưng người Việt chúng ta lại chú ý đến nhiều dữ kiện khác.  Góc Tây-Bắc của tấm dư đồ là đất “Cauchin, có tên khác là Cauchinchina“, là Cochinchine theo lối gọi thời Tây sau này. Đấy là địa đồ của Đàng Trong khi mở ra cục diện Trịnh-Nguyễn phân tranh: chúa Nguyễn Hoàng mất năm 1613, là khi tấm bản đồ được đưa vào cuốn Atlas Mercator Hondius.  Nhân đây, xin ghi một chi tiết tồn nghi về tên gọi.    Từ thế kỷ 13, các nước đã theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ “Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci – là cách gọi của người Bồ Đào Nha. Thế rồi, để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta mới thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên gọi chung của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin, từ chữ Đông Kinh là Hà Nội ngày nay. Còn Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như Pháp gọi sau này.  Nếu cứ theo mặt tên mà nói thì các nhà báo Tây phương ngày nay có thể kết luận rằng toàn cõi Việt Nam là… của Trung Quốc. Đất Cochin của nước China mà! Chúng ta nên giảng điều này cho con cháu, nhất là những thế hệ sinh đẻ ở bên ngoài, để chúng khỏi nhận giặc làm cha.  Trên tấm dư đồ, ta nhận ra Thuận Hoá dưới tên viết Latinh là Sinoa – chứ không phải là Chinois! – sau này mình mới gọi là Phú Xuân rồi Huế. Nhiều địa danh khác thì phải nghiên cứu thêm thì mới biết được – và đấy cũng là một mục tiêu khi chúng tôi giới thiệu tài liệu này. Như tại phía Bắc có thành phố ghi tên Bicuputri, dịch từ tiếng Latinh ra là “trụ đá” hay “Thạch trụ”, “Thạch bi”. Chẳng lẽ là núi Thạch Bi?  Xin các nhà địa dư học tìm hiểu và chỉ cho.  Tại phía Nam, quãng Phú Yên Khánh Hoà thì có địa danh Lantam. Thực tế là gì thì mình chưa rõ – hoặc nếu ai tìm ra cách lý giải thì xin góp ý – chỉ nhớ rằng tấm bản đồ được vẽ theo những tài liệu của Bồ Đào Nha cách đó trăm năm.  Đáng chú ý hơn cả, tấm bản đồ ghi rất rõ ngoài khơi Việt Nam một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây-Nam được ghi là Pracel.   Đối diện với quần đảo – và trên lãnh thổ Việt Nam được viền màu vàng –  là tên “Costa de Pracel” – Bờ Pracel. Chẳng liên hệ gì đến đảo Hải Nam của Trung Quốc được tô hồng với tên là Ainan!    Chúng ta nhớ lại thì Lê Quý Đôn viết trong “Phủ Biên Tạp Lục” (soạn thảo từ 1776) rằng: “… Trước đó, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ Tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng. Đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy.”  Bây giờ, có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!  Chúng ta không quên rằng người Bồ Đào Nha và Hoà Lan đã tiếp xúc và buôn bán với cả hai chúa Trịnh và Nguyễn, Khi thương thuyền Grootenbrook bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa, người cầm đầu thương điếm của Công ty Đông Ấn Hòa Lan tại Faifo lại không lên… đảo Hải Nam mà vào Thuận Hoá để cám ơn Chúa Thượng việc thủy thủ đoàn của họ được người Việt cứu vớt. Chúng ta cũng biết rằng dưới thời Trịnh Nguyễn, nhà Đại Thanh còn phải củng cố quyền lực sau khi diệt nhà Minh vào năm 1644, cho đến lúc lẫy lừng nhất vào đời Càn Long thì bị Quang Trung bợp tai đá đít năm 1789.  Những người Hoa duy nhất mà dân ta gặp trên cái đất được Tây phương gọi là Cauchinchina là dân tỵ nạn của triều Minh, là “thuyền nhân” hay hải tặc tìm đất dung thân ở Đàng Trong, Họ được dân ta đón nhận, đối xử tử tế và bình đẳng theo truyền thống Việt Nam mà các nhà hàng hải Hoà Lan đã sớm ghi nhận. Họ góp phần khai phá miền Nam, trở thành kiện tướng hay công thần của các Chúa rồi các Hoàng đế nhà Nguyễn.   Cùng thời đó, Hondius còn có một tấm bản đồ thứ nhì (India Orientalis), chú trọng trình bày Ấn Độ dương từ Vịnh Bengale phía Đông qua Biển Á Rập phía Tây, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết về đất Cauchinchina này… Không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tâm hồn đẹp      Khi ánh đèn sân khấu bật lên, một phụ nữ viết nhanh những phương trình phức tạp lên bảng, đưa sinh viên của bà chìm sâu vào những dãy số phức tạp. Các biểu tượng- trông giống những chữ tượng hình cổ xưa – hiện lên làm mê đắm khán giả của vở kịch “A Disappearing Number” (tạm dịch: Một con số biến mất) đang diễn tại nhà hát Barbican, London. Nhân vật chính trong vở kịch là tác giả của những biểu tượng đó: Srinivasa Ramanujan – nhà toán học thiên tài Ấn Độ. Ông mất năm 1920 ở tuổi 32, đột ngột chấm dứt một sự nghiệp toán học hứa hẹn nhất của thế kỷ 20.    Sau nhiều thập kỷ chỉ được biết đến trong các trường đại học, tên tuổi của Ramanujan đột nhiên nổi tiếng trong công chúng. Cùng với vở kịch đang diễn ở London còn có “Nhân viên người Ấn” – cuốn tiểu thuyết đầy tham vọng của David Leavitt mới xuất bản ở Mỹ kể về mối quan hệ giữa Ramanujan và người đồng nghiệp G.H Hardy. Còn diễn viên người Anh Stephen Fruy cũng đang thăm dò khả năng hợp tác với đạo diễn người Ấn Dev Benegan để làm một bộ phim về Ramanujan.  Ramanujan Trên thực tế, Ramanujan chưa hề hoàn thành một khóa trình đại học nào. Song ông có một tài năng thiên bẩm là phát hiện những công thức đằng sau vô vàn con số, bất kể đó là số nguyên tố (prime numbers), lý thuyết số (theories of numbers), tổng dãy số (sequence of numbers) hay phân số (fraction). Các con số mê hoặc Ramanujan, và ông tìm ra các công thức bằng trực giác và trí thông minh tuyệt vời. Có lúc ông tự tìm ra những công thức toán học thế giới đã biết từ lâu, song ông chưa hề được dạy.               Cảnh trong vở “Một con số biến mất”            Ramanujan mất sớm nên không để lại một định lý nào mang tên ông. Nhưng sự tao nhã, đơn giản trong các công trình, phương pháp giải toán của ông thì trường tồn. Ramanujan đã đưa ra khái niệm toán học giúp chúng ta hiểu được lý thuyết siêu dây (superstring theory) – lý thuyết tìm cách giải thích sức mạnh của vũ trụ bằng một phương trình hay một mô-đen. Lý thuyết từng phần (partition theory) của ông giúp đếm các cách có thể tách những con số ra là nền tảng logic cho máy ATM thu và xuất giấy bạc.  Sự hấp dẫn trong câu chuyện về Ramanujan là sự gian khó để vươn tới thành công. Sinh năm 1887 ở Erode, bang Tamil Nadu, Ramanujan nhận được một học bổng nhà nước để tới trường ĐH Công ở Kumbakonam, song ông lại để mất nó khi trượt một khóa học không liên quan đến toán, và phải chuyển sang trường khác. Để giúp đỡ gia đình, ông cưới vợ ở tuổi 22 và bắt đầu làm lục sự ở Madras với thu nhập 20 bảng một năm. Ramanujan tin rằng vị nữ thần Namagiri đã nói với ông, trao cho bí mật của toán học, và ông dành hết thời gian rỗi để giải toán.  Năm 1913, khi nghĩ rằng mình ở ngõ cụt tri thức, Ramanujan viết những ý tưởng của mình cho nhà toán học Anh lừng danh G.H Hardy. Hardy còn là người yêu critket, xem toán học là một môn nghệ thuật cao hơn âm nhạc và hội họa. Khi đọc công trình của Ramanujan, Hardy nhận ra đó là sự đột phá. Sau đó ông đưa Ramanujan tới Cambridge, tìm cho một học bổng và làm việc cùng Ramanujan trong 5 năm. Ở Anh, Ramanujan đau ốm luôn. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), là người ăn chay nên Ramanujan khó tìm được thức đồ thích hợp. Vì sức khỏe, Ramanujan trở lại Ấn Độ năm 1919, và một năm sau thì chết vì bệnh lao.  Câu chuyện về Ramanujan còn là về người phương Tây đã phát hiện ra một tài năng “thô” ở hải ngoại và giúp tài năng đó đơm hoa. Không thể bỏ qua bối cảnh chính trị thời đó. Đó là thời nước Anh là siêu cường toàn cầu duy nhất, có thể xem thường Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ấn Độ khi đó là thuộc địa, là viên kim cương trên vương miện của Anh. Bài diễn văn nổi tiếng “Phút dành cho giáo dục Ấn Độ” đọc trước Quốc hội của Thomas Macaulay năm 1835 đã đặt nền tảng cho nền giáo dục Anh ở Ấn Độ và tạo ra một lớp công chức như Ramanujan để làm trung gian giữa kẻ thống trị và người bị trị. Sự kiêu ngạo của người Anh lên tới cực điểm. Toán học có thể khởi nguồn từ châu Á và Ả Rập, song tất cả các lý thuyết toán và phương trình lớn đều do các nhà toán học phương Tây tìm ra. Khi Ramanujan chứng minh rằng mình không hề thua kém người phương Tây, ông đã thách thức đầu óc thực dân thượng đẳng của họ.  Với tinh thần nhân văn, tư duy của Hardy vượt qua vấn đề chủng tộc, dù tình bạn của họ cũng trải qua thử thách. Không giống như các nhà toán học phương Tây viết ra các bước giải chặt chẽ, Ramanujan thường dùng phấn viết các bước giải trên bảng đá đen, sau đó viết chỏng chơ kết quả trong cuốn sổ tay. Quan trọng là đích, bất kể bạn đến đó bằng cách nào. Đó là truyền thống toán học của các “sư phụ” Trung Hoa và Ấn Độ: Họ chỉ nói kết quả, không bận tâm tới chi tiết và để cho học trò tự giải quyết.  Ramanujan thậm chí còn đẩy truyền thống đó xa hơn. “Ramanujan chưa bao giờ hoàn thiện những bước giải trình tự… để có thể kiểm tra chéo một cách chặt chẽ” – Nhà văn Ấn Độ Hartosh Singh Bal, đồng tác giả cuốn tiểu thuyết về toán học “A Certain Ambiguity” (tạm dịch: Sự mù mờ rõ ràng) cho biết. “Trực giác dẫn Ramanujan tới kết quả mà phần lớn các nhà toán học khác không thể hiểu nổi, song nó cũng khiến ông lạc lối. Ramanujan tin rằng trực giác của mình được thần thánh ban tặng. Khi trực giác đúng, kết quả là kỳ diệu”.  Phương pháp của Ramanujan – đúng hơn là vô phương pháp – làm người coi trọng những bước giải tao nhã không kém gì kết quả như Hardy tức điên. Trong cuốn “Nhân viên người Ấn”, Leavitt cũng miêu tả sự thất vọng và không thể hiểu nổi của Hardy là tại sao một thiên tài như Ramanujan lại không thể viết ra một bước giải đơn giản.  Bên cạnh sự nghiệp toán học của Ramanujan là sự chia tách giữa trực giác và lý tính, giữa niềm tin và logic. Dễ dàng nhận ra đó là sự chia tách giữa Đông và Tây. Song, thực tế là Ramanujan đã làm toán mà không nhất thiết tuân theo những bước giải tuần tự theo trường phái Euclip – và điều đó làm nên sự thần kỳ đối với những người được đào tạo dùng logic để giải toán.  Trong cuốn tiểu thuyết của Leavitt, Hardy tin rằng Ramanujan đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp, dù chết trẻ.  Điều đó không làm giảm tài năng của Ramanujan. Cuốn “Nhân viên người Ấn” đưa một thông điệp tới người đọc: nghệ thuật là nền tảng của khoa học. Toán học là thế giới của Ramanujan và Hardy. Thế giới đó có vẻ trừu tượng và xa rời thực tế, song chính vì thế nó lại hấp dẫn hai người.  Nhà tiểu sử về Ramanujan là Robert Kanigel cho rằng Ramanujan đã nhìn được cõi vô cùng. Ramanujan gần như hiểu được ý nghĩa của vũ trụ thông qua các con số. Ông cố giải thích nó bằng các phương trình, nhưng không viết ra được mọi thứ. Cuộc đời Ramanujan quá ngắn ngủi, song ông đã thoáng nhìn ra ý nghĩa thống nhất của vũ trụ.  VIỆT ANH  Theo Washingtonpost      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tạp chí của ĐHQGHN đạt chuẩn ISI và SCOPUS      Ngày 11/4/2018, trên hệ thống đánh giá các tạp chí của SCOPUS đã thông báo, Tạp chí Các thiết bị và vật liệu tiên tiến (Journal of Science: Advanced Materials and Devices – JSAMD) do Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với Nhà xuất bản Elsevier, đã được chấp nhận vào cơ sở dữ liệu SCOPUS.    Ngày 11/4/2018, trên hệ thống đánh giá các tạp chí của SCOPUS đã thông báo, Tạp chí Các thiết bị và vật liệu tiên tiến (Journal of Science: Advanced Materials and Devices – JSAMD) do Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với Nhà xuất bản Elsevier, đã được chấp nhận vào cơ sở dữ liệu SCOPUS.    Phó Giám đốc ĐHQGHN GS.TS Nguyễn Hữu Đức – Tổng biên tập (bên phải) trong ngày ra mắt Tạp chí Các thiết bị và vật liệu tiên tiến.  GS.TS Nguyễn Hữu Đức, Tổng biên tập của JSAMD cho biết, kể từ lần xuất bản số đầu tiên hồi tháng 3/2016 đến nay, Tạp chí đã công bố được 130 công trình nghiên cứu. Tác giả chính của các công bố trên tạp chí đến từ các quốc gia: Ấn Độ (43 bài), Việt Nam (35), Hoa Kỳ (13), Nhật Bản (12), Pháp (8), Trung Quốc (6), Ba Lan (4), Iran (4), Braxil (3), Algeria (3) và tỉ lệ số bài báo bị từ chối lên đến hơn 60%.  Tháng 2/2017, sau 4 số xuất bản, theo quy định điều kiện của Web of Science (ISI), JSAMD lần đầu tiên đăng ký xét chọn và tháng 7/2017 đã được chấp nhận vào hệ thống nhóm tạp chí mới nổi của ISI (ESCI – Emerging Sources Citation Index). Theo phân tích của Web of Science, trong 130 bài được JSAMD công bố trong năm 2016 và 2017, đã có 220 lần trích dẫn, mỗi bài báo có tỉ lệ trích dẫn trung bình là 1,71.  Đến tháng 1/2018 vừa qua, theo quy định của SCOPUS, sau 2 năm xuất bản Ban biên tập JSAMD đã đăng kí gia nhập hệ thống này. Trải qua 3 tháng thực hiện qui trình phản biện, đến ngày 11/4/2018, JSAMD đã chính thức được SCOPUS chấp nhận vào hệ thống cơ sở dữ liệu chung.  Như vậy, từ tháng 4/2018, JSAMD là Tạp chí vừa đạt chuẩn ISI vừa đạt chuẩn SCOPUS.  Trong mô hình hợp tác xuất bản và phát hành (Product & Hosting) với NXB Elsevier, ĐHQGHN chịu trách nhiệm về tổ chức thu nhận, phản biện, đảm bảo chất lượng và giữ bản quyền của JSAMD, Elsevier chịu trách nhiệm xuất bản phiên bản điện tử mở trực tuyến (Open Access) và phát hành trên hệ thống ScienceDirect (http://www.sciencedirect.com), cùng với hơn 3.500 tạp chí khác của NXB Elsevier với khoảng 15 triệu lượt truy cập hàng tháng.  JSAMD có chức năng công bố các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực vật liệu và linh kiện tiên tiến, bao gồm: vật liệu sinh học, vật liệu xanh, vật liệu năng lượng, siêu vật liệu biến hóa, vật liệu nano và composite, các vật liệu thông minh (bao gồm vật liệu từ và điện môi), vật liệu bán dẫn, vật liệu siêu dẫn, linh kiện và ứng dụng… Đây là lĩnh vực thế mạnh và ưu tiên của ĐHQGHN nói riêng và của Việt Nam nói chung.  JSAMD có hội đồng biên tập quốc tế với 31 nhà khoa học xuất sắc (trong đó 23 thành viên là người nước ngoài), với sự tham gia điều hành (Managing Editor) của TS. Phan Mạnh Hưởng – Cựu sinh viên của ĐHQGHN và đang là Phó giáo sư của Đại học South Florida (Hoa Kỳ).  Nguồn tin: https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N22059/dHQGHN-co-mot-Tap-chi-khoa-hoc-vua-dat-chuan-ISI-vua-dat-chuan-SCOPUS.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thập kỷ khám phá vũ trụ qua ảnh      &#160;“Quan sát bầu trời đem lại cho chúng ta một chiều mới về nhân loại. Bởi vì ngày hôm nay chúng ta biết rằng những nguyên tử cấu thành chúng ta được hình thành trong các ngôi sao.” (Hubert Reeves, nhà thiên văn nổi tiếng người Pháp)    Vũ trụ nguyên thuỷ ở độ phân giải cực cao  Tháng 7 năm 2010, vệ tinh Planck của cơ quan vũ trụ Châu Âu đã vẽ bức tranh hoàn hảo nhất của vũ trụ nguyên thuỷ trên 9 tần số khác nhau. Một bức tranh có độ phân giải cực cao cho chúng ta xem sự tương phản cực nhỏ của những tia sáng đầu tiên do vũ trụ phát ra 300.000 năm sau vụ nổ lớn, hay còn gọi là ”bức xạ nền khuếch tán của vũ trụ” (nền màu cam nằm sau giải Ngân Hà màu tím). Độ nhạy của Planck cao hơn vệ tinh COBE của Mỹ một nghìn lần, vệ tinh đã đo đạc bức xạ nền vũ trụ đầu tiên vào năm 1992 và cao hơn 30 lần vệ tinh WMAP, cũng của Mỹ, phóng đầu năm 2000.            Hình 1: Bức xạ nền vũ trụ đo bởi vệ tinh COBE    Hình 2: Bức xạ nền vũ trụ đo bởi vệ tinh WMAP        Hình 3: Giải ngân hà và Bức xạ vũ trụ đo bởi vệ tinh Placnk               Trung tâm của lỗ đen  Mô hình lỗ đen của Alain Riazuelo cho phép ta nhìn thấy các hiệu ứng do lỗ đen gây ra nhờ các tác động trọng lực.            Hình 4: Mô phỏng trung tâm lỗ đen của Alain Riazuelo              Hành tinh bên ngoài hệ mặt trời  Bức ảnh trực tiếp chụp một hành tinh khổng lồ (Giant planet) bên ngoài hệ mặt trời năm 2003. Hành tinh khí khổng lồ này có tên là Beta pic b, quay xung quanh ngôi sao Beta Pictoris.            Hình 5: Hệ sao Beta Pictoris gồm ngôi sao trung tâm Beta Pictoris (màu đen), đĩa bụi (màu đỏ) và hành tinh khí khổng lồ Beta pic b (màu trắng)            Nơi sinh của các vì sao  Ngọn núi thần bí (Mystic Mountain): Biệt danh của tinh vân Carina, đã được các nhà thiên văn chụp hình để kỷ niệm sinh nhật hai mươi năm của kính thiên văn Hubble vào năm 2010. Đám mây khổng lồ chứa đầy bụi và khí hydro lạnh nằm cách chúng ta 7.500 năm ánh sáng, là nhà máy sản xuất sao lớn nhất của giải ngân hà.              Hình 6: Ngọn núi thần bí          Cái chết của một ngôi sao  Tháng 1 năm 2002, sao V838 Monocerotis bắt đầu bùng nổ, độ sáng bất ngờ tăng lên gấp 60.000 so với độ sáng của mặt trời. Ngôi sao trong thời gian bùng nổ là vật thể sáng nhất trong giải ngân hà. Năng lượng dần dần được giảm xuống chứng tỏ quá trình bùng nổ đang đến hồi kết thúc.            Hình 7: Ngôi sao V838 Monocerotis bùng nổ qua các thời khắc khác nhau          Vòng đai xanh của sao Thổ  Hành tinh thứ 6 trong hệ mặt trời có cấu trúc vòng đai xung quanh phức tạp do vệ tinh Casini khám phá. Vòng đai ngoài cùng (màu xanh) được tiếp nhiên liệu bởi mạch nước phun từ mặt trăng Encelade của nó.           Hình 8:Vòng đai xanh của Sao Thổ             Mặt trời hung bạo  Ngày 30 tháng 3 năm 2010, kính thiên văn không gian mới SDO (Solar Dynamics Observatory) của NASA quan sát được một vụ phun trào khổng lồ từ mặt trời. Vòng cung khí giãn ra vài trăm nghìn kilomét từ bề mặt mặt trời.            Hình 9: Vụ phun trào khổng lồ trên mặt trời            Hồ trên vệ tinh Titan (một trong những mặt trăng của sao Thổ)  Titan, mặt trăng lớn nhất của sao Thổ chứa trên 75 hồ chứa metan lỏng kích thước từ 3 đến 75 km. Các hồ này do máy dò Huygens của châu Âu khám phá vào năm 2005 và  Casini vào năm 2006.             Hình 10: Hồ trên Titan          Băng trên sao Hoả  “Mắt kính” bằng nước đông lạnh được máy dò Mars Express của châu Âu khám phá vào ngày 2 tháng 2 năm 2005 trong miệng hố núi lửa đường kính 35 km nằm trên khu vực Vastilas Borealis, không cách xa mấy cực bắc của sao Hỏa.            Hình 11: Băng trên sao Hoả          Đồi Chocolat  Đồi Chocolat (Chocolate Hill): biệt danh của một vùng núi trên sao Hỏa, trong hình là tảng đá được robot bộ hành Opportunity chụp hình trên ngọn đồi đó vào tháng 3 năm 2010. Tên này được lấy bởi vì lớp vỏ bên ngoài của tảng đá ở ngọn đồi này được cấu tạo bởi vật liệu đen (trong hình, màu đen được đổi thành màu xanh), một vài nơi bị bóc ra. Lớp vỏ này tạo nên sự tích lũy vật chất thành các mảng giống như quả việt quất chứa đầy sắt, robot Opportunity khám phá ra hiện tượng này vào năm 2004..             Hình 12: Đá trên đồi Chocolat, sao Hỏa          Rôbốt người hùng  Spirit và Opportunity, hai robot sinh đôi của NASA thăm dò các các vùng có khả năng chứa nước trên sao Hỏa vào tháng 1 năm 2004. Sau khi đi được 7.7 km qua một vùng mấp mô, Spirit bị lún xuống cát từ tháng 3 năm 2010. Trong khi đó Opportunity vẫn tiếp tục và đã hoàn thành 21 km. Chưa từng có robot nào trong lịch sử loài người có thể đi xa như vậy trên một hành tinh khác.            Hình 13: Robot bộ hành Spirit và Opportunity          Bưu thiếp từ miệng hố Gusev  Bức hình phong cảnh này là sản phẩm đầu tiên được gửi từ Spirit, ít lâu sau khi đổ bộ xuống miệng hố Gusev vào năm 2004. Với đường kính 166 km, miệng hố do va chạm thiên thạch tạo nên này đã làm chúng ta thất vọng vì rất ít dấu hiệu chứng tỏ ở đây từng có nước.          Hình 14: Bức ảnh đầu tiên từ sao Hỏa do robot bộ hành Spirit gửi về             Cánh tay vũ trụ  Ngày 18 tháng 5 năm 2005, phi hành gia John Grunsfeld được di chuyển bằng cánh tay robot trên tàu Atlantis trong nhiệm vụ nâng cấp kính thiên văn Hubble.                          Hình 15: Cánh tay của tàu vũ trụ Atlantis trong nhiệm vụ sửa chữa kính Hubble               Phòng thí nghiệm trên quỹ đạo  Ngày 26 tháng 7 năm 2010, trạm vũ trụ quốc tế (ISS) ăn mừng 10 năm hoạt động. Những bộ phận cấu thành phòng thí nghiệm được đưa lên quỹ đạo vào năm 1998, nhưng chỉ đến năm 2000 thì module dịch vụ của Nga Zvezda mới chính thức đi vào hoạt động và có thể chứa phi hành đoàn đầu tiên. Phòng thí nghiệm lớn (Zvezda) này sẽ kết thúc vào cuối năm nay.          Hình 16: Trạm vũ trụ quốc tế              Thảm kịch không gian  Ngày 1 tháng 2 năm 2003, tàu vũ trụ Columbia đã bị nổ tung trên bầu trời Texas khi chạm vào bầu khí quyển trên đường quay trở về làm 7 phi hành gia tử nạn. Năm 2004, tổng thống Bush quyết định chấm dứt dự án tàu vũ trụ Columbia. Do đó dự án này sẽ kết thúc năm nay.            Hình 17: Vụ nổ tàu Columbia nhìn từ Texas          Tàu vũ trụ từ Trung Quốc  Ngày 1 tháng 4 năm 2002, tàu vũ trụ Thần Châu thành công với 7 ngày trên quỹ đạo chuẩn bị cho việc đem người lên vũ trụ của Trung Quốc. Năm 2003, tàu Thần Châu có người lái đầu tiên được phóng lên quy đạo, mang theo phi hành gia Yeng Liwei. Tiếp đó, vào năm 2008 tàu Thần Châu 7 đem 3 phi hành gia Trung Quốc vào không gian để thực hiện chuyến đi bộ trong không gian đầu tiên của mình.            Hình 18: Tàu vũ trụ có người lái của Trung Quốc đáp xuống Nội Mông                (Theo Science et Avenir)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thế giới ngủ mê      Nghị định thư Kyoto đã đi được 2/3 quãng đường mà không đạt hiệu quả bao nhiêu, lượng khí nhà kính phóng thích vào bầu khí quyển vẫn tăng lên không ngừng. Nhiệt độ toàn cầu sẽ vượt quá 2oC ngoài mong đợi. Không một ai có thể ngăn cản sự tàn phá của các siêu bão, và cũng chẳng có bàn tay nào có thể dừng những núi băng đang tan chảy… Thế giới đang chạm đến những giới hạn cuối cùng của môi trường và nhân loại chỉ còn lại 10 năm để tránh những thảm họa khí hậu khôn lường. Sự vô cảm của chính phủ các nền công nghiệp lớn trước cảnh báo của các nhà khoa học đã đặt ra một thách thức lớn trong cuộc chiến chống lại sự thay đổi khí hậu. Liệu Hội nghị về biến đổi khí hậu ở Bali có đánh thức một thế giới đang mê ngủ?    Đối với các nhà khí hậu học, những thời khắc “eureka” thực sự trở nên hiếm hoi. Việc chắp nối những bằng chứng thu được từ các phép đo nhiệt độ mới, các quan sát vệ tinh và cả những thí nghiệm về mô hình khí hậu phải được kiểm tra lại nhiều lần. Liệu những quan sát có tương thích với các tiên đoán về hiện tại và tương lai của toàn bộ hệ thống khí hậu?  Hơn 20 năm qua, những tác động của con người là nguyên nhân chính cho sự thay đổi khí hậu toàn cầu, nếu không kiểm soát chặt chẽ sự thay đổi này sẽ ngày càng diễn ra một cách khốc liệt hơn, những thảm họa thiên nhiên sẽ không thể lường hết được. Đánh giá này được phản ánh rõ nét trong báo cáo gần đây nhất của Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC) và đã được xác nhận bởi hàng trăm nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Những đánh giá tập trung vào bốn chủ đề: tác nhân thay đổi khí hậu, những thay đổi được quan sát, mối liên hệ giữa nguyên nhân và tác động, dự báo tương lai.  Những tác nhân            Nhà máy điện chạy bằng than đá ở tỉnh Hebei, Trung Quốc        Sự tập trung những khí nhà kính trong khí quyển như carbon dioxide, methane, nitrous oxide và halocarbon đã không ngừng tăng lên do các hoạt động của con người. Những khí này giữ nhiệt năng trong khí quyển giống như quá trình xảy ra trong nhà kính, gây nên hiện tượng ấm lên toàn cầu. Sự tập trung của những khí nhà kính đã ổn định trong suốt 10.000 năm, nhưng  gần 200 năm đổ lại đây, sự ổn định này bị phá vỡ một cách đột ngột và không ngừng. Đặc biệt, tốc độ phóng thích carbon dioxide đã tăng nhanh chưa từng thấy trong suốt khoảng thời gian 10 năm qua, vượt trên 35% so với mức độ thời tiền công nghiệp (xác định từ các bong bóng khí “bắt giữ” trong những lõi băng). Ngoài ra, mức độ của khí methane cũng tăng lên khoảng 2.5 lần so với thời tiền công nghiệp, còn nitrous oxide cao hơn 20%.  Tại sao chúng ta chắc chắn rằng, sự tăng của những khí nhà kính là do con người? Thực ra, một vài khí nhà kính (chủ yếu là halocarbon) không có nguồn gốc tự nhiên. Còn đối với các khí khác, có hai quan sát quan trọng cho thấy trách nhiệm của con người có liên đới. Thứ nhất, sự khác nhau về mặt địa lý trong sự tập trung của những khí này tiết lộ rằng, những nguồn phát sinh phần lớn xảy ra trên đất liền ở bán cầu bắc, nơi có mật độ dân số dày đặc hơn. Thứ hai, các phân tích những chất đồng vị cho thấy, phần lớn sự tăng lên của dioxide carbon đến từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí thiên nhiên), còn khí mathane và nitrous oxide tăng lên do các hoạt động nông nghiệp và đốt cháy nhiên liệu hóa thạch.  Các nhà khí hậu học sử dụng một khái niệm gọi là “cưỡng bức phát xạ” để ước lượng tác động của quá trình tăng lên của khí nhà kính đối với khí hậu. Cưỡng bức phát xạ là sự thay đổi cân bằng năng lượng của Trái đất từ thời tiền công nghiệp cho tới thời điểm hiện tại. Do chúng ta hiểu rất rõ sự tập trung khí quyển, phân bố không gian và những quá trình vật lý trong tương tác của những khí nhà kính với bức xạ cho nên có thể xác định một cách chính xác mối liên hệ của cưỡng bức phát xạ đối với những khí nhà kính.           Những vết nứt nẻ dưới đáy một hồ nước khô cạn ở Chile        Tuy nhiên, sự thay đổi của khí hậu không hoàn toàn do quá trình tăng lên không ngừng của khí nhà kính mà còn gây bởi những cơ chế khác, trong đó, có sự tham gia của cả tự nhiên và con người. Những nguyên nhân tự nhiên bao gồm các hoạt động mặt trời, phun trào núi lửa. Còn một số cơ chế cưỡng bức gây bởi con người như một lượng lớn các hạt bụi nhỏ lơ lửng trong không khí, suất phản chiếu bề mặt, tầng bình lưu, tầng đối lưu. Những hạt bụi lơ lửng có nguồn gốc từ các hoạt động của con người có thể tương tác với các đám mây theo một cách thức phức tạp và làm cho các đám mây trở nên sáng hơn, phản xạ ánh sáng mặt trời ngược trở lại không gian. Và như vậy góp phần hạn chế quá trình ấm lên toàn cầu do khí nhà kính. Nhưng đối với những khối băng khổng lồ ở hai cực, sự tham gia của những hạt bụi này có thể làm tăng khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời của chúng và do vậy, “tăng tốc” quá trình tan chảy của những núi băng. Nhưng vẫn còn một câu hỏi, những hạt bụi lơ lửng này phản xạ và hấp thụ một lượng ánh sáng mặt trời theo tỷ lệ như thế nào?    Thay đổi mắt thấy  Những số liệu quan sát mới nhất được nêu ra trong bản báo cáo của ICCP 2007 mang đến một đánh giá cô đọng và chính xác nhất hơn bao giờ hết. Các số liệu này chỉ ra rằng, 11 năm qua nhiệt độ toàn cầu đạt trị số cao nhất kể từ những ghi nhận tin cậy từ 1850. Sự thay đổi này được thể hiện ở cả ba đại lượng quan trọng: nhiệt độ toàn cầu, mực nước biển và diện tích bao phủ của băng tuyết ở bán cầu Bắc. Những nghiên cứu gần đây cũng đã chứng minh nhiệt độ Trái đất đã ấm lên 0.6±0.2 độ C trong suốt khoảng thời gian từ 1901 đến 2000. Nhưng đáng lo ngại hơn cả, xu hướng tăng của nhiệt độ toàn cầu ngày càng diễn ra một cách mạnh mẽ hơn. Có thể đơn cử một ví dụ, trong khoảng thời gian từ 1956 đến 2005, nhiệt độ Trái đất đã tăng lên 0.74±0.15 độ C. Các nhà khí hậu học đã đưa ra kết luận, phần lớn quá trình ấm lên toàn cầu trong thế kỷ 20 đã xảy ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi 50 năm qua. Hệ quả, những ngày sương mù và lạnh giá đã trở nên ít phổ biến hơn, thay vào đó là những ngày nắng nóng và khô hạn.  Các tính chất của khí hậu không đơn thuần chỉ là những quan niệm quen thuộc về nhiệt độ, lượng mưa mà còn bao hàm rộng hơn thế nữa, đó là trạng thái của các đại dương, những dải băng ở Greenland và Nam Cực, những băng hà trôi nổi. Sự tương tác giữa các phần khác nhau của hệ thống khí hậu là phần cơ bản của quá trình biến đổi khí hậu.  Chúng ta cũng có thể nhận thấy các đại dương cũng đang ấm lên một cách nhanh chóng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, đại dương hấp thụ hơn 80% lượng nhiệt “bổ sung” cho toàn bộ hệ thống khí hậu, và chính lượng nhiệt này là nguyên nhân chủ yếu làm tăng mực nước biển. Các quan sát từ vệ tinh kể từ 1993 cho thấy, mực nước biển đã tăng 3.1±0.7 mm trong suốt khoảng thời gian từ 1993 đến 2003. Một vài thập kỷ trước, tốc độ tăng nhanh của mực nước biển cũng diễn ra ở mức độ tương tự, và các quan sát vệ tinh liên tục trong thời gian dài cố gắng làm sáng tỏ câu hỏi, liệu rằng tốc độ này đang tăng tốc? Mực nước biển tăng là do nước đại dương giãn nở và quá trình tan chảy của các băng hà. Diện tích băng ở Bắc Cực đã giảm một cách đáng lo ngại: 2.7±0.6% trong một thập kỷ với mức trung bình hàng năm, 7.4±2.4% trong một thập kỷ đối với mùa hè. Ngoài ra, sự tăng nhiệt độ trong những tầng đất đóng băng và quá trình co lại của các dải băng ở Greenland và Nam Cực cũng đã được quan sát trong những thập kỷ gần đây.  Quá trình thay đổi thủy học cũng đóng góp đáng kể đối với ấm lên toàn cầu. Hơi nước là yếu tố gây nên hiệu ứng nhà kính nhiều nhất. Không giống như các khí nhà kính khác, vai trò của hơi nước trong quá trình ấm lên toàn cầu lại được điều khiển bởi nhiệt độ. Lượng mưa cũng biến thiên theo từng vùng, nhưng nhìn chung, đã tăng lên ở một số vùng lớn của thế giới như Đông Bắc và Đông Nam châu Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á. Trong khi đó hiện tượng khô hạn lại được quan sát ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và nhiều vùng ở Nam Á. Khô hạn sẽ tạo điều kiện cho quá trình sa mạc hóa. Sự xâm lăng của những đụn cát sẽ thu hẹp diện tích sống và canh tác của con người.  Một nguyên nhân khác tác động đến biến đổi lượng mưa trên Trái đất là độ mặn nước biển. Nước bề mặt đại dương ở giữa khu vực vĩ độ trung bình và vĩ độ cao tương đối “ngọt”, trong khi đó, những khu vực ở vĩ độ thấp nước đại dương trở nên mặn hơn, phù hợp với sự thay đổi lượng mưa trên diện rộng.  Việc tái thiết mô hình khí hậu quá khứ từ những vòng thân cây và những căn cứ khác sẽ cung cấp một cách nhìn rõ ràng về quá trình hoạt động của hệ thống khí hậu khi không có sự can thiệp của con người. Kết quả này chỉ ra rằng, sự ấm lên đã không xảy ra thường xuyên chí ít khoảng 1300 năm trước. Và chu kỳ ấm nhất từ năm 700 sau công nguyên đến 1950 có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ 990 sau công nguyên đến năm1100, mà nhiệt độ thời kỳ này lạnh hơn khoảng một phần mười so với nhiệt độ trung bình toàn cầu kể từ 1985.    Bức tranh tương lai            Những đứa trẻ vô gia cư sống lay lắt ở Ấn Độ        Khí hậu toàn cầu thay sẽ thay đổi như thế nào xuyên suốt thể kỷ 21? Câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy trong những mô phỏng của mô hình khí hậu dựa trên việc dự đoán khí nhà kính và ô nhiễm tương lai. Thật không may mắn, những mô phỏng này tiết lộ rằng, với tốc độ phóng thích khí nhà kính bằng hoặc lớn hơn hiện tại thì sự thay đổi khí hậu trở lên nhanh hơn những thay đổi được quan sát thế kỷ 20. Thậm chí, nếu con người tiến hành ngay hàng loạt biện pháp để giảm thiểu và ổn định tập trung khí nhà kính ở mức độ hiện tại thì sự thay đổi khí hậu sẽ vẫn tiếp tục tiếp diễn trong nhiều thế kỷ tới.  Những mô hình thời tiết cũng tiên đoán rằng, 20 năm tới, nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng lên ở mức 0.2oC trong một thập kỷ, khá gần với tốc độ được quan sát hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, quá trình ấm lên lâu dài trong thế kỷ 21 cũng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc độ phát xạ khí nhà kính trong tương lai. Một ước lượng tốt nhất được đưa ra cho sự tăng lên nhiệt độ toàn cầu là 1.8-4oC, và sẽ còn cao hơn tùy thuộc vào lượng khí nhà kính giải phóng. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, quá trình ấm lên trên đất liền sẽ diễn ra nhanh hơn đại dương. Ngoài ra, những mô phỏng khí hậu cũng gợi ý rằng, khả năng “loại bỏ” lượng carbon dioxide dư thừa trong bầu khí quyển bởi các quá trình tự nhiên trên lục địa và đại đương sẽ trở nên kém hiệu nghiệm hơn khi toàn bộ hành tinh ấm lên.  Sự thay đổi khí hậu sẽ tác động đến các đặc trưng vật lý và hóa học của đại dương. Đối với những đặc trưng vật lý, các tiên đoán gợi ý, mực nước biển sẽ tăng lên 30-40 cm trong thế kỷ 20 và hơn 60% sự tăng này là do sự giãn nở của nước đại dương. Còn đối với các đặc trưng hóa học, khi sự tập trung carbon dioxide trong bầu khí quyển tăng lên sẽ làm cho nước đại dương trở nên axit hơn, làm vôi hóa các rặng san hô đe dọa đến hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.  Các vùng cực cũng sẽ phải đón nhận những thay đổi lớn. Đặc biệt, khi nhiệt độ ở những vĩ độ cao tăng lên đáng kể sẽ làm tan chảy những tầng đất đóng băng, thu hẹp diện tích các vịnh băng ở Bắc Cực. Còn ở những vĩ độ thấp sẽ đón nhận những cơn nóng, những trận mưa tầm tã và cả những siêu bão trở nên hung bạo hơn bao giờ hết.    Giàu làm nhưng… nghèo chịu  Bali những ngày đẹp trời và trong lành dường như tương phản với quang cảnh đói nghèo, ô nhiễm, dịch bệnh và sự hoành hành của những thảm họa thiên nhiên trên khắp thế giới. Liệu Hội nghị về biến đổi khí hậu lần này có đánh thức một thế giới đang mê ngủ, và là hồi chuông thức tỉnh lương tri chính phủ các nền công nghiệp lớn. Liệu quá trình thương thảo, ấn định chương trình nghị sự cho một “cơ chế” mới thay thế Nghị định thư Kyoto (sẽ hết hạn vào 2012) “thuận buồm xuôi gió”? Mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là có thể thi hành  “thỏa ước” mới này vào năm 2009. Ngoài những động thái tích cực của Úc khi vị tân Thủ tướng Kevin Rudd ký một loạt các văn bản phê chuẩn Nghị định thư Kyoto thì Mỹ vẫn nhất quyết không để “bút sa gà chết” vì chạy theo lợi ích kinh tế của riêng mình. Đến nay, siêu cường này vẫn là quốc gia thải ra lượng khí thải lớn nhất. Nhật và Trung Quốc đã cùng bắt tay ủng hộ một “cơ chế” mới. Và Liên minh Châu Âu cũng cam kết sẽ giảm lượng khí thải carbon dưới mức năm 1999. Những gì đã diễn ra ở Hội nghị lần này dường như vẫn là “kẻ vỗ tay người quay mặt”.  Thảm họa khí hậu không loại trừ riêng quốc gia nào, nhưng rõ ràng những nước nghèo sẽ phải chịu hậu quả nặng nề hơn cả. Vậy các nước giàu, những “rốn” khí thải của thế giới, sẽ có hỗ trợ gì cho các quốc gia nghèo? Trong một bối cảnh chung toàn cầu, những nền kinh tế công nghiệp đã “chung lưng” được bao nhiêu? Những đảo quốc như Fiji, Saint Lucia, Kiribatu, Tuvalu… sẽ bị “xóa sổ” trên bản đồ thế giới nếu mực nước biển tăng. Họ sẽ “trắng tay”, và những “thỉnh cầu” của họ liệu có được đáp trả? Rồi những quốc gia phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất trước tình trạng ấm lên toàn cầu như Việt Nam, Bangladesh sẽ được cộng đồng quốc tế quan tâm như thế nào để giải quyết bài toán khí hậu và hậu thiên tai? Ở đây, giàu làm nhưng… nghèo chịu. Như phát biểu của ông Yvo de Boer, Tổng thư ký Công ước Khung Liên hiệp Quốc về biến đổi khí hậu, “Không ai có thể tránh khỏi những tác động do biến đổi khí hậu gây nên. Tất cả đều chịu ảnh hưởng, và chính những người nghèo khổ nhất trong tầng lớp nghèo khó lại phải gánh chịu nhiều nhất trong các tình huống”.  Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà cả con người và thiên nhiên đều tác động đến tương lai tiến hóa của Trái đất. Thật không may, trong quả cầu pha lê, các mô hình khí hậu trở nên u ám đưa ra những tiên đoán vượt xa hàng thế kỷ. Con người, động vật và thực vật sẽ phải cùng chung sống với hậu quả do những thay đổi khí hậu gây ra, ít nhất cũng là vài nghìn năm nữa.    Đức Phường (Nature, Science, Scientific American, IPCC)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thế giới rất nhỏ…      15 bức ảnh nghệ thuật chụp dưới k&#237;nh hiển vi được giải trong cuộc thi ảnh khoa&nbsp; học 2008&nbsp; với chủ đề Một thế giới rất nhỏ… của Tạp ch&#237; Scientific American chứa đựng nhiều th&#244;ng tin khoa học bổ &#237;ch về những thế giới b&#233; nhỏ…&nbsp;                        Loài tảo cát  Michael Stringer              Westcliff-on-Sea, Essex, Anh  Những ống nano cacbon (giai đoạn hậu tăng trưởng)  Paul Marshall              Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada              Lan chuông  Albert Tousson              Đại học Alabama ở Birmingham  Những sợi giấy  Charles Kazilek              Đại học bang Arizona                             Mitomycin (một loại thuốc chống ung thư)  Margaret Oechsli  Bệnh viện Jewish, Viện Tim phổi ở Louisville, Kentucky, Mỹ                Hỗn hợp tinh thể sulphur, resorcinol và xanh metylen  John Hart  Khoa Khoa học khí quyển và đại dương, Đại học Colorado                Những chi tiết đĩa compact  David Walker              Huddersfield, West Yorkshire, Anh    Con bọ cát  Harold Taylor              Kensworth, Dunstable, Bedfordshire, Anh              Tảo cát và tảo đỏ  Wim van Egmond              Bảo tàng tiểu đô thị, Rotterdam, Hà Lan  Lông cẳng chân của một loài côn trùng nước  Charles Krebs              Issaquah, Washington, Mỹ                      Vitamin C tái kết tinh  Milan Kosanovic  Belgrade, Serbia/Montenegro    Tảo Closterium, tảo cát và tảo Spirogyra   Charles Krebs              Issaquah, Washington, Mỹ                      Vỏ hóa thạch của sinh vật trùng tia  Wim van Egmond              Bảo tàng tiểu đô thị, Rotterdam, Hà Lan              Siêu nhánh nấm Neurospora crassa hướng về Latrunculin B  Eric Kalkman              Phòng thí nghiệm thực vật học, Đại học Wageningen, Hà Lan                  Rễ cây Arabidopsis thaliana   Monica Pons              Viện Sinh học phân tử Barcelona (CSIC), Tây Ban Nha            
__label__tiasang Một thương hiệu Việt mới trong CNTT      Trong khi nhiều công ty làm phần mềm ở Việt Nam hiện nay xoay xở tồn tại bằng cách gia công phần mềm, hoặc phân phối lại sản phẩm của nước ngoài, thậm chí tệ hơn là sao chép sản phẩm của nhau, iNet Solutions Corp. là một trong số ít doanh nghiệp đi theo một con đường khác đầy thử thách.    Đó là tự lực đầu tư nghiên cứu để cung cấp  những chuỗi sản phẩm đa dạng, phục vụ nhiều đối tượng, bao gồm cả khối  cơ quan Nhà nước lẫn các doanh nghiệp.   Với năng lực của mình, những kỹ sư của iNet Solutions Corp. (Công ty CP Tin học Giải pháp tích hợp mở) hoàn toàn có thể đi làm gia công phần mềm cho nước ngoài để hưởng mức thu nhập dư dả hơn rất nhiều, cao khoảng gấp đôi mức lương mà họ hiện đang được trả, theo lời Lương Quang Tùng – Giám đốc Kinh doanh sản phẩm phục vụ khối cơ quan Nhà nước của iNet Solutions. Nhưng mức lương hiện nay đã là tương đối cao so với trước đây khi công ty gặp rất nhiều khó khăn. Đó là thời kỳ CEO Nguyễn Văn Hiền của iNet Solutions – người từng hi sinh công việc ổn định thu nhập cao ở Mỹ để về thành lập công ty ở Việt Nam năm 2006 – phải bán đi một số bất động sản là tài sản cá nhân của anh để nuôi công ty, vừa đủ trả cho nhân viên mức thu nhập hết sức tối thiểu.   Câu chuyện về những doanh nhân phải bán tài sản cá nhân để nuôi doanh nghiệp không phải là hiếm ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn kinh tế trong nước và thế giới cùng gặp khó khăn như những năm vừa qua, nhưng điều gây ấn tượng ở iNet Solutions là sự đồng lòng của toàn công ty, từ CEO tới tất cả tập thể nhân viên, cùng chấp nhận những thử thách và thiệt thòi để hướng tới một mục đích chung không thuần túy giá trị vật chất. “Điều chúng tôi mong muốn là làm ra thương hiệu sản phẩm CNTT riêng của người Việt”, anh Tùng nói.  Với mong muốn hướng tới tính độc lập và bản sắc riêng trong công nghệ như vậy, các sản phẩm của iNet Solutions đều được dựa trên nền tảng mã nguồn mở thay vì dùng những nền tảng hoàn chỉnh có sẵn của các tập đoàn lớn trên thế giới như IBM hay Oracle. Điều này khiến doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nghiên cứu và phát triển ban đầu để hoàn chỉnh công nghệ. Nhưng bù lại, sau khi vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu, họ có được một nền tảng công nghệ riêng biệt, có tính tự chủ cao. Đến nay, iNet Solutions đã đi vào quỹ đạo phát triển ổn định, với nguồn doanh thu lên tới hàng chục tỷ đồng – không phải là nhỏ so với một doanh nghiệp CNTT chỉ vẻn vẹn 25 người. Cơ cấu hoạt động và đầu tư của doanh nghiệp khá ổn định với 30% doanh thu được dành cho đầu tư R&D, và 18 người thường xuyên làm công tác nghiên cứu.   Phục vụ khối cơ quan Nhà nước từ nền tảng nguồn mở   Do làm chủ được nền tảng công nghệ nên iNet Solutions không phải e ngại việc nền tảng cho các sản phẩm của mình bị lệ thuộc và can thiệp bởi nước ngoài. Đây là một ưu điểm quan trọng, đặc biệt là đối với những sản phẩm công nghệ thông tin phục vụ khối cơ quan Nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, giá những sản phẩm của công ty cũng thấp hơn nhiều lần so với giá các sản phẩm tương đương của nước ngoài do hoàn toàn dựa trên kết quả tự lực nghiên cứu, không hề phải mua lại bản quyền sở hữu trí tuệ của nơi khác.   Hiện nay, các sản phẩm của iNet Solutions đã phục vụ cho các cơ quan Nhà nước ở các tỉnh Quảng Trị, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Tây Ninh, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai. 4 sản phẩm chủ đạo phục vụ khối cơ quan Nhà nước của công ty bao gồm iDesk (văn phòng điện tử), iOneGate (hệ thống một cửa điện tử), iMail (hệ thống thư điện tử), và iCloudPlatform (hệ thống tích hợp nhiều ứng dụng trên nền tảng ‘điện toán đám mây cục bộ’). Đây là những sản phẩm hữu ích, giúp các cơ quan Nhà nước tiết kiệm được thời gian và các nguồn lực so với cách quản lý thuần túy trên giấy tờ.   Hệ thống văn phòng điện tử iDesk giúp các nhà quản lý có thể khai thác, tra cứu dữ liệu một cách nhanh chóng và tiện dụng, ví dụ như những cán bộ xuống địa phương tiếp dân chỉ cần phải mang theo một máy laptop là có thể truy cập được toàn bộ những dữ liệu cần thiết, thay vì phải ôm theo toàn bộ hồ sơ trên giấy. Còn với iOneGate, hệ thống một cửa điện tử này cho phép các nhà quản lý cũng như người dân đều có thể liên tục theo dõi được hồ sơ các vụ việc đang nằm ở đâu, do ai đang phụ trách, qua đó giúp tăng tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý Nhà nước, và tăng khả năng giám sát của người dân.  Mở rộng sang các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp  Trong giai đoạn 2006 – 2010, iNet Solutions chỉ tập trung vào những sản phẩm phục vụ khối cơ quan Nhà nước. Đây là một lựa chọn có tính chiến lược phù hợp với điều kiện và mục tiêu của công ty, vì trong thời kỳ khởi nghiệp, họ phải dồn lực xây dựng một nền tảng công nghệ riêng, và chưa thể phát triển được nhiều dòng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu phong phú đa dạng của các doanh nghiệp. “Mỗi doanh nghiệp thường muốn được cung cấp một sản phẩm được ‘may đo’ theo đặc thù riêng của mình”, anh Hiền nhận xét.        Bắt đầu từ năm 2011, iNet Solutions đã bắt đầu triển khai những sản phẩm phục vụ các doanh nghiệp. Hiện nay tỉ trọng doanh thu của công ty giữa 2 loại đối tượng là 8/2, với 80% từ các sản phẩm phục vụ khối cơ quan Nhà nước, 20% từ các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp. Dự kiến trong năm 2013, tỷ lệ này sẽ dịch chuyển thành 7/3, anh Hiền cho biết.  Tuy phát triển sau nhưng do đã có nền tảng công nghệ vững chắc nên hiện nay những giải pháp công nghệ của iNet Solutions phục vụ cho các doanh nghiệp khá phong phú và đa dạng, bao gồm những công cụ quản lý cho các nhà phân phối và bán lẻ, quản lý từ tài chính kế toán, hàng hóa, tới nhân sự, quan hệ khách hàng (các chương trình khuyến mãi hay chiết khấu). Những công cụ này cho phép người quản lý có thể dễ dàng theo dõi tình hình kinh doanh và điều hành giá cả một cách chi tiết và tức thời ở nhiều nơi cùng một lúc, chỉ thông qua một chiếc điện thoại di động.   Nền tảng công nghệ web browser cho phép công cụ của iNet Solutions có thể được dễ dàng và nhanh chóng cài đặt bởi chính những người sử dụng, thay vì công ty phải cho người đến cài đặt từng máy của khách hàng. Ưu điểm này cũng giúp iNet Solutions tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo thành lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các đối thủ. Tính đến nay, iNet Solutions đã có hàng trăm doanh nghiệp khách hàng, như Nokia Care, Bưu chính Viettel, và nhiều chuỗi bán lẻ có tên tuổi trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam.   Mục tiêu hướng đến trong năm 2013 của công ty là tiếp tục tăng cường sự tiện dụng và giảm chi phí cho khách hàng, với phương châm “kinh doanh phần mềm như một dịch vụ”, khẳng định của Nguyễn Hữu Đồng – Giám đốc Kinh doanh sản phẩm phục vụ doanh nghiệp của iNet Solutions. Để làm được điều này, họ sẽ phải phát triển được đội ngũ những chuyên gia phát triển sản phẩm có sự am hiểu tường tận nghiệp vụ của từng loại hình đối tượng doanh nghiệp khách hàng, từ đó hoàn thiện nên những sản phẩm hoạt động “nhanh nhất, ít sai sót, và đơn giản nhất”. Đây cũng chính là thách thức khó khăn nhất đối với những người làm sản phẩm phần mềm phục vụ các doanh nghiệp, anh Đồng nhận định.   Những gian nan không đáng có  Mặc dù đa số các doanh nghiệp khách hàng đều thừa nhận chất lượng sản phẩm của iNet Solutions, nhưng họ thường trả giá thấp hơn nhiều so với sản phẩm của nước ngoài. Thậm chí có trường hợp khách hàng sau khi đã dùng thử sản phẩm nước ngoài thấy không ổn, khi dùng sang sản phẩm của iNet Solutions thì hoàn toàn ưng ý, nhưng vẫn quyết ép giá chỉ bằng một nửa so với sản phẩm của nước ngoài mà họ đã từ bỏ, anh Đồng cho biết.   Nhưng sự thiên vị trong hành xử của khách hàng càng làm thôi thúc điều mong mỏi của những người làm việc ở iNet Solutions về một thương hiệu Việt được thừa nhận rộng rãi trong ngành CNTT. Qua rất nhiều nỗ lực, đến nay họ đã phần nào gây dựng được một thương hiệu riêng, nhưng sẽ thuận lợi và công bằng cho họ hơn nếu ở Việt Nam có những cơ quan đánh giá chất lượng sản phẩm CNTT, hay những giải thưởng uy tín trong ngành công nghiệp này. Mặc dù những năm vừa qua ở Việt Nam đã có một vài giải thưởng cho các sản phẩm CNTT nhưng chúng không hoàn toàn thực chất, vì hầu như chỉ dựa vào số lượng bình chọn, ít dựa trên các đánh giá chuyên môn, theo nhận xét của Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Công nghệ của iNet Solutions.  Sự thiếu vắng những cơ quan chức năng hoặc những tổ chức trung gian uy tín chuyên đánh giá chất lượng sản phẩm khiến các cơ quan Nhà nước khi tiếp cận với sản phẩm của iNet Solutions thường không tránh khỏi sự nghi ngại, nhất là khi công cụ quản lý hành chính điện tử vẫn còn khá xa lạ với nhiều cơ quan Nhà nước. Có những cơ quan đầu tư mua phần mềm về nhưng ít sử dụng, gây lãng phí và kém hiệu quả. Vì vậy, mong muốn của Lương Quang Tùng là những cơ quan chức năng một khi đã dùng tiền của Nhà nước cho việc đầu tư mua phần mềm thì phải có ý thức khai thác, tận dụng cao hơn, đồng thời tích cực phát hiện và báo lỗi để nhà cung cấp có thể khắc phục và cải tiến sản phẩm cho tốt hơn.   Hiện nay Nhà nước vẫn chưa có một hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn đầy đủ về quản lý hành chính bằng các công cụ phần mềm quản lý điện tử, dẫn tới sự lãng phí đáng kể trong khai thác sử dụng. Nhiều khi các cơ quan nhận được văn bản điện tử rồi nhưng phải chờ tới khi nhận được văn bản bằng giấy mới chịu xử lý và giải quyết, khiến ưu điểm về tính kết nối tức thời giữa các đơn vị quản lý không được phát huy, anh Tùng cho biết. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý về CNTT cũng chưa xây dựng những quy chuẩn đầy đủ, chi tiết, khiến các địa phương, các cơ quan chức năng có thể dùng những công cụ quản lý riêng, và chúng chưa chắc đã tương thích với nhau để có thể kết nối được với nhau mà không gây sai sót. Đây sẽ là một trở ngại cho tiến trình xây dựng một nền hành chính điện tử hoạt động hiệu quả.   Tuy nhiên, sự đầu tư không đồng bộ và thiếu hoàn chỉnh của các cơ quan Nhà nước mới là vấn đề đau đầu nhất cho nhà cung cấp phần mềm, anh Tùng khẳng định. Nhiều khi có tình trạng dự án đầu tư trang thiết bị trình lên cấp trên được viết rất đầy đủ, nhưng vì thiếu vốn mà dự án bị cắt đi một số trang thiết bị cần thiết, gây ra tình trạng phần mềm được trang bị không chạy được do thiếu phần cứng. Đến khi được phép mua phần cứng thì chi phí bị đội lên mà người chịu thiệt chính là nhà thầu CNTT. Chưa kể các cơ quan Nhà nước thường quan niệm mua phần mềm về thì không cần trả phí bảo trì, hoặc cho rằng chi phí bảo trì không đáng kể. Những quan niệm sai như vậy luôn gây “thiệt thòi cho doanh nghiệp”, anh Tùng chia sẻ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một trí thức lớn vừa ra đi      Đứng trước linh cữu của Anh trong nhà tang lễ, một nỗi day dứt trào lên trong tôi “đừng bao giờ trì hoãn một việc phải làm, rồi sẽ quá muộn nếu định “để sau rồi tính”.&#160;  Trong chuyến về Hà Nội lần này, một địa chỉ tôi đinh ninh phải đến là nhà anh, chị Đào Thế Tuấn. Sau cuộc họp, đã định gọi taxi đến thẳng nhà Anh, nhưng thấy người hơi mệt nên lại tự nhủ “thôi để sau, thư thư rồi đến cũng không muộn”. Và, thế là muộn, quá muộn! Không chỉ là “quá” mà là muộn tuyệt đối. Không bao giờ có thể sửa được cái lỗi “trì hoãn” này. Thời gian đã trôi qua, một đi không trở lại. Mà mất thời gian là cái mất tuyệt đối.    Thế là tôi đã không gặp lại được Anh sau chuyến Anh ghé thăm tại TpHCM để bàn việc cùng viết tiếp chủ đề “nông dân, nông thôn, nông nghiệp” mà Anh đã dự kiến yêu cầu tôi viết cái gì. Vẫn chất giọng hiền lành ấy, song hôm đó Anh không nén được xúc động khi nói về người nông dân : “này, cái đúc kết của anh về mười cái nhất của người nông dân sẽ có người khó chịu đấy, nhưng nông dân thì chắc chắn hoan nghênh, cho nến anh phải viết kỹ về cái này, ở khía cạnh xã hội. Người ta nói nhiều về kinh tế, nhưng quên xã hội, hoặc quá sơ sài, đơn giản mà không thấy xã hội, tức là con người, mới là cái quyết định về kinh tế. Về người nông dân mà “báo cáo Thái Bình” của anh dạo nào chỉ mới là “khúc dạo đầu”, bài viết trong “Vấn đề còn bỏ ngỏ” do “Trường Viễn Đông Bác cổ” tổ chức nghiên cứu và in sách mà anh và tôi đều có tham gia chỉ mới là những phác thảo, cho dù là đã khá công phu, nhưng chưa đủ, ngay cả cuốn sách “Nông dân, Nông thôn, Nông nghiệp” do NXB Tri Thức in cũng thế, phải làm sâu hơn nữa. Còn tôi, thì tôi sẽ nói về kinh tế nông thôn và nông nghiệp với vai trò quyết định của nó trong chiến lược phát triển của nước ta. Lúc này mà không quyết liệt vấn đề này thì sẽ quá muộn để có thể cứu vãn tình hình”.    Hôm ấy, chân Anh đã sưng to và phải đi cà nhắc. Tôi ái ngại, định gọi taxi nhưng Anh gạt đi, lối vào nhà người Anh định đến thăm rất hẹp, taxi không vào được, phải đi bộ thì càng đau hơn, Anh động viên tôi “Chỉ cần ông vững tay lái, đưa thẳng tôi ghé sát bậc thềm thì tiện cho tôi hơn”. Đèo ông bạn vong niên mà tôi hết sức kính trọng và quý mến, một nhà khoa học lớn, tôi cố tập trung không nói chuyện, nhỡ xảy ra chuyện gì thì thật ân hận, nhưng Anh thì vẫn rỉ rả bên tai về những dự định về cuốn sách sắp tới. Tôi phải nói đùa để “phanh” lại : “ Ông thuộc loại quý hiếm đáng đưa vào sách đỏ từ lâu rồi đấy, ngồi cẩn thận cho tôi nhờ”. Anh cười sảng khoái : “thì cũng hiếm có dịp đi và nói chuyện với nhau như thế này”.   Tính Anh vốn thế. Xuề xòa, thoải mái trong sinh hoạt, song trong chuyện nghiên cứu viết lách thì lại cực kỳ nghiêm cẩn. Phần chú thích có khi dài hơn cả số dòng Anh viết. “Tôi muốn để người đọc tìm về tận gốc tài liệu, vừa để kiểm tra tính chính xác của thông tin, vừa để mở rộng thêm suy ngẫm. Vấn đề mình viết, dù sao cũng hạn hẹp và có phần chủ quan”, Anh giải thích. Và tôi hiểu tại sao, mỗi lần đi nước ngoài về, Anh luôn có tài liệu xã hội học để cho tôi, vì biết rằng tôi không được đào tạo có bài bản về chuyên ngành mà tôi đang phải đảm trách. Giờ đây nghĩ lại, tôi càng cảm kích về tấm lòng của anh. Được anh xử như một người bạn vong niên, nhưng thật ra, tôi chỉ là người học trò nhỏ của Anh. Trong thời kỳ cùng tham gia vào Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, sau mỗi buổi họp, Anh thường rủ tôi, khi thì về thẳng nhà Anh, khi thì tạt vào một quán cà phê để tiếp tục nói chuyện, có buổi để trả lời một câu hỏi của tôi, Anh say sưa giảng về “kinh tế học thể chế” mà Anh đang nghiên cứu quên cả trời đã tối và chị đang chờ cơm ở nhà.  Còn nhớ, cách đây hai năm, biết tôi có tổ chức những buổi sinh hoạt học thuật trong một vài anh chị em thân quen, Anh đã không ngần ngại hoãn vé máy bay về lại Hà Nội để nhận lời mời của tôi đến trình bày cảm nhận của Anh về “lực lượng cánh “tả” đang trỗi dậy ở Châu Mỹ La tinh” trong một chuyến tham gia Hội thảo về nông nghiệp tại Venezuela! Chủ đề này không phải là chuyên môn của Anh, nhưng Anh trình bày say sưa, uyên bác, cuốn hút người nghe sẵn sàng nán lại khi thời gian quy định đã hết. Chẳng những thế, theo gợi ý và yêu cầu của tôi, sau đó mấy tuần, từ Hà Nội, anh gửi vào cho tôi qua đường thư điện tử bài viết về đề tài này có đến 19 trang!  Lượm lặt một vài mảnh vụn trong hồi tưởng về người bạn lớn, một nhân cách trí thức đích thực, bỗng gợi nhớ đến “Luận về kẻ sĩ” của Nguyễn Công Trứ, trong đó có câu “Vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình. Đào Thế Tuấn là một con người như thế . Anh không dõng dạc ra tuyên ngôn “Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh mà đối với núi sông” . Cái “danh” mà Anh có từ sự nghiệp cần mẫn và dũng cảm của Anh. Theo tiếng gọi của non sông, Anh đã cầm súng đánh giặc , đã từng là học viên của trường Lục quân Việt Nam. Rồi cũng theo đòi hỏi của đất nước, một nước nông nghiệp, Anh đã hoàn thành chương trình kỹ sư nông học và tiến sĩ nông học trong chỉ 5 năm tại Liên Xô, tiết kiệm được 3 năm để có thể bắt tay ngay vào công trình nghiên cứu về cây lúa từ 1958, trở thành một trong những người khai sáng của nền khoa học nông nghiệp nông thôn Việt Nam.   Cũng là ngẫu nhiên, song là một ngẫu nhiên thú vị : trong bài thơ mừng của cụ Phan Bội Châu gửi đến mừng cụ Đào Duy Anh, thân sinh của Đào Thế Tuấn khi được tin ông bà sinh hạ được con trai đầu lòng đã nói đến “sen đầy hột, quế nở hoa”, như một “dự phóng” về sự nghiệp kỳ diệu của nhà nông học hàng đầu nước ta : “Hai mươi lăm triệu giống dòng ta, Hôm trước nghe thêm một tiếng oa. Mừng chị em mình vừa đáng mẹ, Mong thằng bé nọ khéo in cha. Gió đưa nam tới sen đầy hột. Trời khiến thu về quế nở hoa. Sinh tụ mười năm mong thế mãi. Ấy nhà là nước, nước là nhà”! *     Những cống hiến của giáo sư Đào Thế Tuấn trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã có nhiều người đề cập đến, trong điếu văn của Bộ trưởng Bộ NN & NT đọc trước linh cữu Ông cũng đã tóm lược đầy đủ. Nhưng dù có muốn nói thì làm sao nói được trong một bài báo về cống hiến lớn lao của nhà khoa học lớn Đào Thế Tuấn. Ở đây xin được gợi lên chỉ vài nét ngoài chuyên ngành của nhà khoa học lớn ấy từ những mảnh vụn của ký ức khi mà nỗi buồn đang xâm chiếm trí óc của người viết, để chỉ nhằm nói đến sứ mệnh của một trí thức đích thực.   Đào Thế Tuấn đã không hổ thẹn với sứ mệnh cao cả của người trí thức “vũ trụ chi gian giai phận sự”. Có chăng, chỉ xin thêm rằng, ý tưởng của “kẻ sĩ” Việt Nam thế kỷ XIX bắt gặp quan điểm của triết gia người Pháp thế kỷ XX J.P Sartre: “trí thức là người làm những việc chẳng ăn nhập gì đến họ”, (s’occupe de ce qui ne le regarde pas). Kỹ sư thì không lo xây cầu, thầy thuốc thì không lo khám bệnh, kinh tế gia thì không lo cộng trừ nhân chia với cái thống kê. Tại sao họ lại xớ rớ vào những chuyện không liên quan gì đến họ vậy, tại vì họ cho đó chính là chuyện của họ. Chuyện không phải là của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức! **  Thì ra, đông, tấy, kim cổ, người trí thức đích thực phải là người như vậy, là người như Đào Thế Tuấn. Anh đã về cõi vĩnh hằng. Chính xác hơn, Anh đã trở về với đất.   Tục ngữ Việt Nam nói rằng “người ta là hoa của đất”. Anh đã gieo trồng và Anh đã gặt hái từ mảnh đất thấm đẫm mồ hôi và máu của bao thế hệ Việt Nam đời này sang đời khác. Và lúa đã mọc. Và hoa đã mọc. Và Anh là một trong những đóa hoa đẹp nhất của cây đời Việt Nam. Vả chăng, trở về với đất, Anh đã về với tự nhiên, cái nôi của loài người, hoặc nói như C.Mác “con người quan hệ khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có ý nghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên”!   Đất nước bao la với nông thôn, nông nghiệp đang dang rộng tay đón chào Anh để sự nghiệp cao cả của Anh thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn khởi săc, để nông thôn không còn là nơi chẳng ai muốn trụ lại, nhiều gia đình nông thôn thất cơ lỡ vận vì mất đất, những sức lực trai trẻ đều muốn rời nông thôn mà đi, do tầm nhìn thiển cận với những giải pháp sai lầm mà Anh đã từng đấu tranh không mệt mỏi.   Anh Đào Thế Tuấn ơi, tục ngữ Ba tư có câu : “Trong cánh đồng vũ trụ, bạn sẽ hái những gì mình gieo”. Anh đã từng xứng đáng với phẩm tính của người trí thức “vũ trụ chi gian giai phận sự”. Những gì Anh đã gieo, cuộc đời sẽ được gặt hái. Vậy thì ở cuối chân trời xa xôi kia, người vừa nằm xuống sẽ thanh thản với sự hoàn thành trọn vẹn chức năng và phẩm tính trí thức của mình.  Có những vì sao đã tắt từ hàng triệu năm mà đến tận bây giờ ánh sáng của chúng mới đến được trái đất. Bình sinh con người chân chất, nhân hậu và giản dị của Anh vốn chỉ âm thầm làm việc mà không hề biết, khi mất đi sẽ để lại khoảng trống vắng mà cuộc đời sẽ xót xa, để nhìn ra được ánh sáng lấp lánh của ngôi sao vừa tắt!  ————  *Dẫn lại theo Vũ Trong Bình. Báo “NHÂN DÂN” ngày 22.1.2011  **Dẫn lại theo Cao Huy Thuần “Thế giới quanh ta” NXB Đà Nẵng, 2006, tr. 61    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một trí thức vô song bị lãng quên      Katherine Jones, tước hiệu Đức bà Ranelagh, đóng vai trò trung tâm trong những cuộc tranh biện khoa học thế kỷ XVII dưới cái bóng của em trai mình là Robert Boyle.      Chân dung Đức bà Ranelagh. Nguồn: Michael Chevis/John Boyle, Bá tước xứ Cork & Orrery  Hội hoàng gia London1 ra đời năm 1660 với mục tiêu thiết lập một tổ chức tập trung vào khoa học thực nghiệm. Phụ nữ không được kết nạp vào Hội cho đến tận năm 1945, và lướt qua lịch sử Hội thì có vẻ như triết học tự nhiên2 thế kỷ XVII là sự nghiệp chỉ có đàn ông. May thay, giới học giả chú trọng bình đẳng giới trong những thập niên vừa qua đã tìm lại được những nhân vật nữ như triết gia Anne Conway và các tác giả như Dorothy Moore và Mary Evelyn, những người đóng góp tích cực cho đời sống tri thức sôi động thời bấy giờ.    Một nhà tư tưởng nữ có tầm ảnh hưởng lớn nữa của thời kỳ này lại vừa được giới thiệu sau bao nhiêu năm chỉ được xem như một cái bóng thoáng qua trong những câu chuyện về người em trai nổi tiếng của mình là nhà hóa học Robert Boyle, người đồng sáng lập Hội hoàng gia. Nhà tư tưởng ấy là Katherine Jones, tước hiệu Đức bà Ranelagh. Tác giả Michelle DiMeo vừa xuất bản một quyển sách về vai trò trung tâm của Katherine Jones trong các cuộc hội luận về chính trị, tôn giáo, triết học, và y khoa nhưng chấp nhận số phận sẽ bị quên lãng vì tuân theo quy ước đàn bà không nên đem tư duy của mình viết thành sách. Là cán bộ thư viện của Viện Lịch sử khoa học ở Philadelphia (bang Pennsylvania, Mỹ), DiMeo đã dùng kỹ năng tra cứu tài liệu lưu trữ của mình mà tập hợp bài viết của những người cùng thời với Đức bà Ranelagh, hầu hết là đàn ông. Từ đó, DiMeo đã làm sáng tỏ vai trò của Ranelagh trong đời sống tri thức bấy giờ.      Việc câu chuyện về cuộc đời bà chỉ có thể nhặt nhạnh được qua bài viết của người thân hay bạn kết giao là nam giới cho thấy phụ nữ dễ dàng bị cái sàng lịch sử bỏ lọt như thế nào.      Người phụ nữ nhiều ảnh hưởng     Đức bà Ranelagh chào đời năm 1615 ở Ireland với tên khai sinh là Katherine Boyle. Cha của bà, Bá tước xứ Cork, có cả thảy 15 người con, tất cả đều được nuôi dưỡng trở thành những người có chính kiến và hoài bão lớn. Những đức tính tốt đẹp và vị thế xã hội của Katherine Boyle sau này giúp bà mở ra nhiều cánh cửa mà không phải đánh đổi nhiều thứ. Tuy không được đi học theo trường lớp như các anh em trai của mình nhưng Katherine Boyle vẫn trở thành một người có học thức, ăn nói lưu loát, và ham học hỏi. Khi mẹ của bà qua đời năm 1630, bà nhận lãnh trách nhiệm chăm sóc em trai Robert Boyle lúc đó mới lên ba tuổi. Robert Boyle sau này trở thành “cha đẻ của hóa học” nhờ những khám phá về bản chất của khí cũng như phương thức thực nghiệm trong triết học tự nhiên của ông.    Được gả cho Arthur Jones (sau này là Tử tước Ranelagh), Katherine đã sinh được bốn người con. Năm 1642, bà phải bỏ xứ mà đi để tránh các cuộc nổi loạn của Công giáo mà đến sinh sống ở London cùng các con. Bà ly thân với người chồng thô lỗ và mê cờ bạc của mình nhưng vẫn giữ tước hiệu theo chồng.    Ở London, Ranelagh trở thành một trong những thành viên tích cực nhất của một nhóm hội luận do học giả Samuel Hartlib khởi xướng. Nhóm này chia sẻ, sao chép, và thảo luận thư từ hay bài viết với nhau; họ cũng hội họp ở nhà của Ranelagh. Các thành viên của nhóm ngưỡng mộ những đóng góp của Ranelagh về các vấn đề chính trị, tôn giáo, và triết học tự nhiên; họ còn gọi bà là “vô song” (“the incomparable”) và thường xuyên trích dẫn ý tưởng của bà. Phạm vi quan tâm của nhóm dần biến đổi, tụ hội với những kiến thức “hữu ích” mới mà khoa học thực nghiệm đem lại, đặc biệt là hóa học. Có cả một lá thư đề cập tới việc Ranelagh đã sử dụng những thiết bị quang học như kính viễn vọng từ rất sớm.    Ranelagh giới thiệu người em trai Robert Boyle đang tuổi vị thành niên của mình vào nhóm hội luận này khi cậu trở về từ chuyến du hành châu Âu năm 1644. Bà trở thành người dẫn dắt về mặt tinh thần và tri thức của em. Khi Robert Boyle tập trung vào hóa học, bà đã trang bị một phòng thí nghiệm cho căn nhà của em trai ở Dorset. Robert Boyle đã viết thư cảm ơn chị mình rằng “nỗi hân hoan nó đem lại cho em khiến em tưởng phòng thí nghiệm của mình như Tây phương cực lạc vậy”3. Năm 1668, Robert Boyle chuyển đến hẳn trong nhà chị mình ở khu Pall Mall thời thượng của London.    Ranelagh sưu tập và trao đổi các bài thuốc chữa những bệnh phổ biến, việc không có gì xa lạ đối với phụ nữ bấy giờ. Tuy nhiên, điều khác biệt là bà cùng em trai Robert Boyle sử dụng các phương pháp thực nghiệm để thử sản phẩm và ghi chép kết quả. Boyle khẳng định chị mình đã chữa hàng chục trẻ em khỏi bệnh còi xương nhờ một hợp chất đồng. Bà cũng trực tiếp ghi chép lại một thí nghiệm mà giờ đây có thể được coi là giả kim thuật, đó là chuyển đổi kim loại. Ranelagh có ảnh hưởng lớn đến những bài viết của Robert Boyle về các vấn đề đạo đức, đồng thời khuyến khích em trai mình vận động thúc đẩy vai trò của khoa học thực nghiệm đồng thời bác bỏ tư duy Aristote.     Bị gạt sang bên lề     Hội hoàng gia thâm nhập vào sinh hoạt của nhóm Hartlib trong thập niên 1660, nhưng đây là tổ chức đặc quyền hơn và bảo thủ hơn về chính trị. Hội hoàng gia trao đổi thông tin thông qua ấn bản phẩm và thực hiện thí nghiệm trước công chúng, đây vốn là những hoạt động hầu như không cho phụ nữ tham gia. Chuyến thăm năm 1667 của Margaret Cavendish, bà Công tước xứ Newcastle và là một tác giả khá trực tính, là một sự kiện hiếm hoi có phụ nữ tham gia mà Hội không muốn lặp lại. Bà Cavendish đến muộn, ăn mặc “thiếu đoan trang” và xem thường những cuộc trình diễn thí nghiệm. Ranelagh viết thư cho một người anh em khác rằng rằng “sự táo bạo và thô lỗ của bà ấy được cho qua coi như chuyện vui”. Lời phê bình Cavendish này khiến Ranelagh được coi là đứng đắn, giúp bà thiết lập quan hệ với nhiều hội viên Hội hoàng gia cho dù bà vẫn không được kết nạp.    Tác giả DiMeo đã vô cùng cẩn thận liên kết mọi quan sát của mình với tư liệu lưu trữ. Do vậy, đôi khi DiMeo xem nhẹ bối cảnh lịch sử của những câu chuyện về người phụ nữ đáng kinh ngạc này. Ranelagh sống trong thời kỳ có những cuộc nổi loạn dữ dội, nội chiến, nhà vua bị hành hình, kỳ thị tôn giáo, chế độ bảo hộ tàn bạo rồi trung hưng quân chủ hỗn loạn, dịch hạch, đại hỏa hoạn, rồi lại một vị vua nữa bị phế. DiMeo có điểm qua những sự kiện này, song có lẽ cần thêm nhiều màu sắc hơn nữa khi mô tả thời kỳ đầy xáo trộn như thế.    Ranelagh qua đời năm 1691. Robert Boyle rất đau buồn rồi cũng chết sau chị một tuần. Hai chị em được chôn cất cùng nhau. Tại lễ tang, giám mục Salisbury tuyên bố rằng Ranelagh “là một nhân vật vĩ đại nhất … trong số bất kỳ phụ nữ nào của thời đại chúng ta”. Tuy vậy, DiMeo cho ta biết rằng cuộc đời của bà “nhanh chóng trở thành một cái bóng”. Trong khi Robert Boyle nỗ lực đảm bảo cho những bài báo và ấn phẩm của mình sẽ tồn tại đến hậu thế thì Ranelagh không để lại tài liệu lưu trữ nào mà cũng chẳng xuất bản gì. Việc câu chuyện về cuộc đời bà chỉ có thể nhặt nhạnh được qua bài viết của người thân hay bạn kết giao là nam giới cho thấy phụ nữ dễ dàng bị cái sàng lịch sử bỏ lọt như thế nào. □     Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: Nature doi: 0.1038/d41586-021-01248-9  ——-  Georgina Ferry là một tác giả chuyên viết về khoa học, đã có các tác phẩm về tiểu sử những nhà khoa học quan trọng như Dorothy C. Hodgkin và Max Perutz. Bài này viết về quyển sách “Đức bà Ranelagh: người chị với cuộc đời vô song của Robert Boyle” (“Lady Ranelagh: The imcomparable life of Robert Boyle’s sister”) do NXB Đại học Chicago ấn hành năm 2021.     Ghi chú của người dịch:  1 “Royal Society of London”: tổ chức của nước Anh tương được viện hàn lâm khoa học quốc gia ở một số nước khác.  2 “Natural philosophy”: cụm từ để chỉ các môn triết học về tự nhiên và vũ trụ, tiền thân của khoa học tự nhiên hiện đại.  3 Nguyên văn của Robert Boyle: “the delights I taste in it, make me fancy my laboratory a kind of Elysium”. Trong đó, “Elysium” (Ēlýsion) là hòn đảo cực lạc ở rìa phía Tây của thế giới theo chuyện của văn hào Hy Lạp cổ đại Hómēros.    Author                Georgina Ferry        
__label__tiasang Một vài gợi ý về công tác nghiên cứu      PGS. TS Lê Văn Cảnh chia sẻ với các sinh viên, các nhà nghiên cứu trẻ về những vấn đề mà họ cần giải quyết, nếu muốn đi theo con đường khoa học.      1. Có một vấn đề tế nhị đặt ra là khi tiến hành thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy, nghiên cứu sinh có nên chủ động đăng bài trên các tạp chí hay để thầy chỉ đạo việc nộp bài. Thông thường thầy hướng dẫn sẽ khuyến khích nghiên cứu sinh tự viết bài báo, sau đó thầy sẽ chỉnh sửa và nộp đăng ở các tạp chí thích hợp. Nếu thực hiện chủ yếu các nghiên cứu và viết phác thảo bài báo thì nghiên cứu sinh sẽ là tác giả thứ nhất và thầy hướng dẫn sẽ là tác giả liên hệ (corresponding author) chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của bài báo. Trong một số trường hợp, nghiên cứu sinh có thể vừa là tác giả đầu vừa là tác giả liên hệ của bài báo, tuy nhiên xác suất bài báo bị từ chối sẽ cao hơn.  2. Trong trường hợp công trình nghiên cứu bị các tạp chí chuyên ngành từ chối, chúng ta không được nản chí mà cần phải hiểu rằng, yêu cầu cốt lõi của một bài báo khoa học là tính mới (original), đặc biệt đối với các tạp chí ISI uy tín thì yêu cầu này càng cao. Đối với các tạp chí ISI uy tín, tỉ lệ số bài báo bị từ chối có thể lớn hơn 70% số bài báo được nộp đăng. Việc công trình bị các tạp chí từ chối nhận đăng cần được xem là điều bình thường, ngay cả với nhà khoa học hàng đầu cũng có thể có ít nhất một lần trải qua chuyện này. Vì vậy, khi bài báo bị từ chối, các tác giả cần cố gắng tập trung vào việc nhanh chóng xem xét các ý kiến phản biện, lấy đó làm cơ sở để chỉnh sửa công trình của mình thật kỹ càng và có thể tiếp tục nộp đăng ở các tạp chí khác cùng chuyên ngành. Trên thực tế, có nhiều tác giả bị một tạp chí mức trung bình từ chối lại được chấp nhận đăng công trình đó ở một tạp chí tốt hơn (dĩ nhiên đã được chỉnh sửa).  3. Với những nhà khoa học trẻ hoạt động trong ngành kỹ thuật, nên chú ý những nét đặc thù của các công bố được thực hiện từ Việt Nam do các tạp chí chuyên ngành xuất bản trong thời gian qua. Có ba loại nghiên cứu trụ cột trong khối ngành kỹ thuật là nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm và khoa học tính toán mô phỏng. Việc nghiên cứu thực nghiệm rất cần thiết nhưng với điều kiện cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu theo hướng này chưa nhiều, thậm chí phải dựa vào sự hợp tác với các phòng thí nghiệm nước ngoài thì mới có khả năng công bố. Do đó, các công bố hiện nay trong nhóm ngành kỹ thuật chủ yếu từ hai hướng nghiên cứu còn lại, đặc biệt là cơ học tính toán. Các nhà nghiên cứu trẻ cần biết lượng sức mình và những điểm riêng biệt này để có được “chiến lược công bố” phù hợp, tránh trường hợp đầu tư thời gian và công sức vào đề tài nhưng vẫn không được các tạp chí chuyên ngành chấp nhận.  4. Việc viết thuyết minh nghiên cứu xin tài trợ là hoạt động không thể thiếu của một nhà khoa học và một nhà nghiên cứu trẻ cũng nên nắm bắt cách thức để có thể chủ động tìm kinh phí thực hiện các ý tưởng khoa học của mình. Hiện nay ở trong nước có khá nhiều nguồn kinh phí đầu tư cho nghiên cứu dưới dạng các chương trình cấp nhà nước, cấp bộ, ngành… Một trong số đó là Quỹ Nafosted của Bộ KH&CN, Quỹ đã tài trợ cho rất nhiều nhà khoa học thực hiện nghiên cứu với yêu cầu nghiệm thu đề tài là tối thiểu có hai bài báo quốc tế (hoặc một bài ISI uy tín). Vì vậy, thuyết minh nghiên cứu cần nêu nổi bật mục tiêu, phương pháp nghiên cứu và tính khả thi của đề tài. Qua tiêu chí đánh giá rõ ràng và khách quan của các Hội đồng khoa học ngành Nafosted, trong thời gian gian qua đã có nhiều tiến sỹ trẻ mới tốt nghiệp ở nước ngoài về nước được nhận tài trợ nghiên cứu của Quỹ, qua đó khẳng định được vị thế trong lĩnh vực nghiên cứu của mình.    Author                Lê Văn Cảnh        
__label__tiasang Một vài ngộ nhận về nghiên cứu khoa học      Trong vở kịch &#8220;Romeo v&#224; Juliet&#8221;, văn h&#224;o Shakespeare cho Juliet n&#243;i một c&#226;u về hoa hồng như sau: &#8220;Một đ&#243;a hoa hồng, d&#249; được gọi bằng bất cứ t&#234;n g&#236;, th&#236; vẫn c&#243; hương vị ngọt ng&#224;o&#8221;. C&#226;u hỏi đặt ra l&#224; trong khoa học, ch&#250;ng ta c&#243; thể ph&#226;n biệt c&#225;c hoạt động nghi&#234;n cứu khoa học với c&#225;c hoạt động kh&#225;c trong x&#227; hội m&#224; nh&#236;n v&#224; cảm nhận cũng giống như nghi&#234;n cứu?     Theo một giáo sư khả kính thì hai hoạt động sau đây là nghiên cứu khoa học: một bà nội trợ đi thăm dò giá cả ngoài chợ để mua thực phẩm với giá rẻ nhất và chất lượng tốt nhất, hay đôi trai gái tìm hiểu nhau trước khi tiến đến hôn nhân.    Nhưng tôi ngờ rằng cách hiểu về nghiên cứu khoa học như là những hoạt động thường ngày của vị giáo sư có phần phiến diện, nếu không muốn nói là sai. Thế thì vấn đề đặt ra là: thế nào là một nghiên cứu khoa học (NCKH)?   Người viết bài này (và nhiều người khác) có thể lấy kinh nghiệm thực tế của mình để trả lời câu hỏi trên.  Nói một cách ngắn gọn: nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học. Theo cách hiểu phổ quát này, có hai điều kiện để một hoạt động có thể xem là nghiên cứu khoa học: mục tiêu và phương pháp.    Nghiên cứu khoa học phải nhằm mục tiêu phát triển tri thức mới, hay đóng góp thêm tri thức cho kho tàng tri thức của con người. Những tri thức này phải mang tính phổ quát hay có thể khái quát hóa. Một bà nội trợ có thể ra chợ khảo sát giá cả thực phẩm và có những so sánh thú vị, nhưng đó không phải là một NCKH, bởi vì tri thức đó không thể khái quát hóa. Người ta có thể tạo ra tri thức bằng cách kiểm tra nhiệt độ nước trong bồn tắm, nhưng tri thức này chỉ hợp lí tại một thời điểm và một bối cảnh cụ thể. Nhưng nếu người đó đổ nước nóng vào bồn tắm và đo lường sự thay đổi nhiệt độ nước, thì đó là một tri thức có thể khái quát hóa, và đáp ứng một điều kiện của NCKH.    Nghiên cứu khoa học là một cuộc điều tra hay khảo sát có hệ thống. Hai chữ “hệ thống” ở đây có nghĩa là công trình nghiên cứu được thực hiện theo những qui trình chuẩn. Qui trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học gồm 8 bước: đặt câu hỏi; thu thập thông tin hiện hành; đặt giả thuyết; thử nghiệm và thu thập dữ liệu; phân tích dữ liệu; diễn giải kết quả phân tích; công bố kết quả; và tái kiểm định giả thuyết.  Trong qui trình này, phương pháp đóng vai trò quan trọng, vì chính phương pháp quyết định khoa học tính của một hoạt động, và phân định hoạt động đó là khoa học hay phi khoa học. Một phương pháp thu thập dữ liệu mang tính khoa học nếu phương pháp đó có cơ sở lí thuyết, có giả định, độ tin cậy cao, và độ chính xác cao.    Vì phương pháp khoa học có độ tin cậy và chính xác cao, cho nên kết quả của NCKH có tính lặp lại (repeatability). Nói cách khác, nếu giả thử có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự. Điều này rất khác với các hoạt động phi khoa học, vì kết quả của các hoạt động phi khoa học không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Do đó, việc khảo giá của bà nội trợ hay việc đôi trai gái tìm hiểu nhau không thể xem là khoa học, bởi những kết quả đó không có khả năng lặp lại và khái quát hóa.   Bởi vì phương pháp khoa học dựa trên lí thuyết và giả định, cho nên kết quả khoa học phải được diễn giải bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào lôgích hay lập luận của toán học, không đi ra ngoài phạm vi của dữ liệu cho phép. Ngược lại, các hoạt động phi khoa học thường dựa vào niềm tin và sự trung thành. Những hoạt động phi khoa học thường mang tính tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục bằng bằng chứng thực nghiệm; nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.   Bởi vì kết quả của nghiên cứu có giá trị phổ quát, cho nên kết quả nghiên cứu không hẳn tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh địa phương. Do đó, cho rằng “Chẳng hạn, một đề tài mang lại ý nghĩa lớn đến phòng chữa bệnh ở xứ sở nhiệt đới như nước ta. Nghiên cứu về ‘Mắm tôm và bệnh tả’ dầu có thể là rất bổ ích (ít nhất là đối với Bộ Y tế) nhưng chắc không tạp chí quốc tế nào đăng” thể hiện một sự hiểu lầm và … sai. Có lẽ tác giả của câu phát biểu trên không biết rằng các tập san khoa học danh tiếng về bệnh nhiệt đới đều có trụ sở ở Mỹ và Anh, chứ không phải ở Á châu hay Phi châu. Bộ Y tế đã khẳng định rằng mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả; do đó, câu phát biểu trên chẳng những không cần thiết, mà còn không thích hợp.   Ngay cả nếu một nghiên cứu về mắm tôm và bệnh tả được thực hiện, thì kết quả của nghiên cứu vẫn có thể công bố trên các tập san khoa học có uy tín, nếu công trình nghiên cứu được tiến hành đúng theo các phương pháp khoa học. Thật là sai lầm khi suy nghĩ rằng mắm tôm là một đặc sản của Việt Nam, và do đó, kết quả nghiên cứu mắm tôm không được thế giới quan tâm. Vấn đề không phải là mắm tôm, mà mắm tôm là một trong những mô hình để nghiên cứu về nồng độ mặn và vi khuẩn tả, và đó là một vấn đề khoa học mang tính phổ quát. Tương tự, khi chúng tôi muốn phân định ảnh hưởng của đạm thực vật đến xương, chúng tôi có thể chọn nghiên cứu các tu sĩ Phật giáo đại thừa, hay chúng tôi muốn tìm hiểu vận động cơ thể và chất lượng xương, chúng tôi có thể chọn nghiên cứu ở những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não (vì một số bệnh nhân không có khả năng đi đứng). Bệnh nhân tai biến, tu sĩ Phật giáo, và mắm tôm trong những nghiên cứu này là những mô hình khoa học để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đặc thù, chứ không phải là những nghiên cứu chỉ áp dụng cho một địa phương hay cho một nhóm người.    Những người làm nghiên cứu khoa học dấn thân vì mục tiêu khám phá, truyền bá, và phổ biến sự thật. Một công trình nghiên cứu khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả được công bố trên một tập san khoa học có đồng nghiệp bình duyệt và phản biện nghiêm chỉnh. Ở đây, tính minh bạch của NCKH rất quan trọng, vì nó chẳng những là một yêu cầu của khoa học mà còn là một khía cạnh để phân biệt khoa học với phi khoa học.    Các hoạt động thường ngày mới nhìn vào thì thấy cũng chẳng khác gì nghiên cứu khoa học, nhưng thật ra thì không phải nghiên cứu khoa học, do không đáp ứng hai điều kiện cần thiết: mục tiêu và phương pháp. Vì không phân biệt được hai điều kiện này nên nhiều người không hiểu thế nào là một nghiên cứu khoa học. Thật vậy, trong một cuộc thăm dò ý kiến ở Mỹ vào năm 1999, chỉ có 21% người dân hiểu đúng về nghiên cứu khoa học. Ở một nước với trình độ khoa học tiên tiến như Mỹ mà có đến gần 80% người không hiểu về nghiên cứu khoa học, thì có lẽ chúng ta không ngạc nhiên nếu thấy ở nước ta cũng có nhiều người chưa am hiểu về nghiên cứu khoa học. Nhưng đó không phải là lỗi của người dân, mà là vấn đề của giới khoa học và giới truyền thông. Rất tiếc là một số nhà khoa học vẫn hiểu lầm thế nào là một nghiên cứu khoa học!      Khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, trí thức, v.v… không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực thì mang, mà là những việc làm thực tiễn, những ý nghĩ hay sáng kiến mới. Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài. Có thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của sự chính trực, công bằng, và hợp lí. Nhưng cái đỉnh này nó trơn và dễ bị trượt. Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên nó được, và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí đó.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vấn đề thời sự : Nguyên lý tương đối, nguyên lý cơ sở của các lý thuyết Einstein có bị vi phạm ?      Trong quá trình xây dựng một lý thuyết thống nhất, nhiều nhà vật lý cho rằng cần xét lại nguyên lý tương đối, một nguyên lý “ thiêng liêng” cơ sở của các lý thuyết Einstein và tìm những vi phạm nguyên tắc đó.  Alan Kostelecky và Don Colladay, Robertus Potting (Đại học Indiana) đã phối hợp Mô hình chuẩn SM (Standard Model) và Lý thuyết tương đối tổng quát GR (General Relativity) thành một lý thuyết có tên là Mô hình chuẩn mở rộng SME (Standard-Model Extension). Lý thuyết SME cho lại các kết quả của SM và GR, ngoài ra còn cho phép tồn tại những vi phạm nguyên lý tương đối có thể kiểm nghiệm được nếu có.  Nếu có những vi phạm nguyên lý tương đối thì vật lý lại đứng trước một tình huống phải xây dựng một lý thuyết tinh tế hơn .      Nguyên lý tương đối nằm ở tâm của tất cả lý thuyết cơ bản của vật lý. Vậy nguyên lý đó là gì?  Nguyên lý tương đối được Einstein phát biểu khi xây dựng lý thuyết tương đối hẹp vào năm 1905: mọi định luật vật lý là như nhau trong các hệ quán tính (tức các hệ chuyển động thẳng đều theo một hướng bất kỳ). Những hệ quả quan trọng của nguyên lý tương đối: tốc độ ánh sáng c là một hằng số, đồng hồ đang chuyển động chạy chậm hơn, độ dài của vật đang chuyển động bị co lại và năng lượng với khối lượng được liên hệ với nhau bởi công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2. Những hệ quả đó đã trở thành cơ sở của mọi thí nghiệm, ứng dụng thường nhật. Ví như trong hệ định vị toàn cầu (GPS-Global Positioning System) người ta cũng phải tính đến hệ quả giãn nở thời gian để chỉnh lý các đồng hồ trên vệ tinh quỹ đạo. Nói cách khác hiện nay nguyên lý tương đối gần như là một chân lý tuyệt đối.  Nhưng trong quá trình xây dựng một lý thuyết thống nhất nhiều nhà vật lý đã nghiên cứu khả năng vi phạm nguyên lý tương đối và cho rằng nguyên lý thiêng liêng này chỉ là một nguyên lý gần đúng của thiên nhiên [1, 2, 3, 4]. Họ hy vọng rằng những vi phạm nguyên lý tương đối chính là nguyên nhân gây khó khăn trong việc thống nhất hai lý thuyết lượng tử và hấp dẫn. Cho nên việc đưa vào lý thuyết các yếu tố vi phạm nguyên lý tương đối có thể mở đường cho một lý thuyết thống nhất được mong đợi từ lâu.           Sự vi phạm đối xứng Lorentz có thể gây nên bởi một trường vectơ (biểu diễn bằng mũi tên đỏ). Hạt và lực có tương tác với trường vectơ đó . Hệ quả là: các hướng và các vận tốc bây giờ không còn là tương đương với nhau nữa. Hai thanh vật chất khác nhau song có cùng một độ dài theo một hướng nào đó sẽ có thể co lại hay giãn ra theo một hướng khác. Tương tự như thế hai đồng hồ khác nhau nếu chạy đồng bộ lúc ban đầu trong một hướng nào đó có thể chạy chậm hoặc chạy nhanh hơn trong một hướng khác ban đầu. Ngoài ra hai thanh vật chất và hai đồng hồ khác nhau có thể bị co giãn và chạy chậm nhanh tùy theo vật liệu làm nên chúng và khi nâng vận tốc của chúng lên (xem các mũi tên đen bên cực phải của hình vẽ 2).          Tính bất biến của các định luật đối với các hệ quán tính là biểu hiện của một đối xứng không thời gian có tên là đối xứng Lorentz (do nhà vật lý thuyết người Đức Hendrik Antoon Lorentz đề ra năm 1890). Theo đối xứng này những định luật vật lý sẽ như nhau trong mọi hệ quán tính bất kể chiều hướng và vận tốc của nó. Khi có bất biến Lorentz thì không thời gian là đẳng hướng theo mọi hướng và mọi chuyển động thẳng đều là tương đương với nhau.  Khi kết hợp với thuyết lượng tử, đối xứng Lorentz chúng ta có lý thuyết trường lượng tử tương đối. Mô hình chuẩn SM (Standard Model) mô tả mọi hạt cơ bản và các tương tác giữa chúng với nhau (điện từ, yếu, mạnh – song chưa có hấp dẫn) là một lý thuyết trường tương đối. Mọi tương tác khả dĩ song không bất biến Lorentz đều bị loại khỏi SM.  Lý thuyết hấp dẫn của Einstein cũng tuân theo một cách định xứ (local) đối xứng Lorentz, nếu xét toàn cục (global) thì có nguyên lý tương đương. Hiện nay người ta tìm cách thống nhất mô hình chuẩn SM với lý thuyết hấp dẫn GR. Hai lý thuyết SM và GR đều có những cấu trúc tuyệt đẹp riêng song chưa tương thích về mặt toán học để có thể được thống nhất.  Nếu thống nhất thì SM và GR phải hòa hợp với nhau ở những vùng có kích thước Planck (cỡ 10-35 m). Hiện nay khả năng kiểm nghiệm của chúng ta giới hạn ở vùng kích thước 10-19 m. Tuy nhiên chúng ta có cách tiếp cận vấn đề này. Tình huống tương tự như khi nhìn vào màn hình tivi, mọi hình ảnh được tạo bởi rất nhiều pixel không phân biệt được song nếu nhìn vào một chiếc càvát có nhiều đường kẻ nhỏ trên ngực một phát thanh viên thì những đường kẻ này tạo nên một ảnh Moiré và ảnh Moiré này là biểu hiện tương tự của khả năng thấy được những vi phạm nguyên lý tương đối. Trên một khoảng cách vĩ mô thì nguyên lý tương đối bảo toàn song ở những khoảng cách Planck thì đối xứng này có thể  bị vi phạm.  Một đối xứng cơ bản khác của không thời gian là đối xứng CPT [8]. SM thỏa mãn bất biến CPT song các lý thuyết với vi phạm nguyên lý tương đối có thể phá vỡ đối xứng CPT.  Phá vỡ đối xứng tự phát  Nếu tồn tại một trường phông vectơ (hay tenxơ nói chung) thì vectơ này ấn định một hướng do đó phá vỡ đối xứng (Phá vỡ đối xứng tự phát). Nếu hiện tượng phá vỡ đối xứng tự phát nằm trong cơ chế của lý thuyết thì sự phá vỡ nguyên lý tương đối sẽ xuất hiện kèm theo.  Khi bất biến Lorentz bị phá vỡ đối xứng tự phát thì những trường phông tàn dư – chính là các trường vectơ hoặc tenxơ nói trên– sẽ chiếm đầy không gian và xác định một hướng tự phát ưu tiên nào đó.  Một hạt cơ bản chuyển động trong các trường phông đó sẽ tương tác với chúng. Sự có mặt của trường phông sẽ phá vỡ đối xứng Lorentz dẫn đến những thay đổi trong chuyển động hoặc hướng của spin của hạt so với các trường tàn dư đó.    Mô hình chuẩn mở rộng SME (Standard Model Extension)  Giả sử rằng lý thuyết có chứa vi phạm đối xứng Lorentz. Thử hỏi điều này sẽ biểu hiện trong các thí nghiệm như thế nào? Và gắn liền với những lý thuyết đã biết theo cách nào?  Để trả lời các câu hỏi này chúng ta cần có một lý thuyết mô tả bao trùm các hệ quả thực nghiệm đó. Một lý thuyết như thế phải chứa những yếu tố vi phạm đối xứng Lorentz nhỏ (vì đối xứng Lorentz được bảo toàn về tổng thể). Như thế khi thống nhất SM và GR ta phải đưa vào lý thuyết những hạng số nhỏ mô tả tất cả các tương tác khả dĩ ( possible interactions). Mỗi số hạng sẽ ứng với một trường vectơ hoặc tenxơ đặc biệt với giá trị phông khác số không. Một lý thuyết như thế là SME.  Hàm tác động trong SME có dạng                                                S SME = S SM + S LV + S GR  Trong đó S LV chứa những số hạng gây vi phạm đối xứng Lorentz (LV- Lorentz violations) với những hệ số mà chúng ta phải xác định từ thực nghiệm. Các số hạng này mô tả tương tác các trường vectơ (hoặc tenxơ) này với các trường vật chất của các loại hạt và hấp dẫn. Những hệ số phải xác định đóng vai trò các trường vectơ và tenxơ tàn dư nói trên.  Để biểu kiến các hệ quả của vi phạm đối xứng Lorentz, cần cho rằng không thời gian có một hướng nội tại nào đó (vậy phá vỡ đối xứng). Trong trường hợp tồn tại một trường vectơ ứng với một số hạng trong các phương trình của SME thì hướng nội tại nói trên trùng với hướng của trường vectơ. Trong trường hợp tổng quát hơn ta sẽ có những trường tenxơ. Vì có tương tác với các trường đó mà sự tương tác cũng như chuyển động của các hạt sẽ phụ thuộc vào hướng nói trên, giống như sự chuyển động của các hạt mang điện tích trong điện trường hay từ trường.  Một tình huống như thế cũng xảy ra đối với vi phạm CPT [5] song ở đây hệ quả vi phạm xảy ra vì hạt và phản hạt có hằng số tương tác khác nhau đối với các trường phông.  Oscar Greenberg (Đại học Maryland) chứng minh rằng nếu CPT bị vi phạm thì bất biến Lorentz sẽ bị phá vỡ. Điều đó có nghĩa là mọi lý thuyết chứa vi phạm CPT và tương thích với SM sẽ thuộc về SME.  Cần nói thêm rằng tính chất và tương tác của các hạt phụ thuộc vào hướng chuyển động (vi phạm đối xứng quay) và cả vào vận tốc của chúng (boost violations – chữ boost ở đây có nghĩa là nâng vận tốc lên). Các hệ quả vi phạm còn phụ thuộc vào spin, vào màu sắc của hạt (hệ quả đối với proton sẽ khác đối với neutron).  Sự vi phạm nguyên lý tương đối sẽ gây nên sự khác nhau trong hiện tượng phân cực đối với ánh sáng  vùng hồng ngoại, vùng thấy được và vùng cực tím khi ánh sáng đi từ những thiên hà nằm xa chúng ta (thí nghiệm đang được tiến hành tại Đại học Indiana).               Các địa điểm trên thế giới đang tiến hành thí nghiệm nhằm tìm những vi phạm nguyên lý tương đối.          Một số thí nghiệm đang được tiến hành trên thế giới nhằm phát hiện các vi phạm nguyên lý tương đối  1/Năm 2003 John Lipa và cộng sự tại Đại học Stanford lặp lại thí nghiệm Michelson-Morley trong một phương án hiện đại hơn, có độ nhạy cao hơn. Họ so sánh tần số cộng hưởng của hai hộp cộng hưởng quang học đặt thẳng góc nhau trong một thời gian nhiều tháng. Dấu hiệu vi phạm bất biến Lorentz là sự khác nhau giữa hai tần số cộng hưởng khi quả đất quay.  2/So sánh biến đổi khối lượng của hai vật theo các hướng khác nhau so với hướng phá vỡ đối xứng (xem hình 4).               Hình 4          Chuyển động quay của quả đất sẽ làm quay một phòng thí nghiệm, như phòng thí nghiệm tại Đại học Indiana (điểm màu vàng trên hình vẽ 4) đối với một trường vectơ (biểu diễn bởi các mũi tên). Trường vectơ thay đổi hướng trong vòng một ngày cho phép ghi nhận các vi phạm bất biến Lorentz. Ví dụ quá trình so sánh 2 khối lượng khác nhau trong phòng thí nghiệm có thể cho chúng ta thấy những thay đổi nhỏ có chu kỳ của chúng.     3/So sánh hai đồng hồ (xem các hình 5A, 5B, 5C)  Trên một trạm vũ trụ (hình vẽ 5 A) chúng ta có thể tiến hành thí nghiệm tìm các vi phạm bất biến Lorentz bằng cách so sánh các đồng hồ. Hình vẽ minh họa trường hợp có hai trường vectơ (hình vẽ 5A, 5B) gây nên vi phạm nguyên lý tương đối (mô tả bởi các mũi tên đỏ và xanh) với những tương tác khác nhau đối với các hạt. Ta có một đồng hồ nguyên tử (hình vẽ 5B) và một đồng hồ dựa trên vi sóng ánh sáng (hình vẽ 5C– các đường sóng). Các electron (màu đỏ) tương tác với trường vectơ màu đỏ. Các proton (màu xanh) tương tác với trường vectơ xanh. Khi trạm vũ trụ quay thì các đồng hồ sẽ chạy đồng bộ hoặc không đồng bộ, biểu hiện các vi phạm bất biến Lorentz.                 5A                               5B                                           5C                                                                                    4/So sánh phổ của vật chất và phản vật chất  Thí nghiệm về vật chất (bên trái hình vẽ 6) và phản vật chất (bên phải hình vẽ 6). Vật chất và phản vật chất sẽ có hành vi như nhau nếu có bất biến CPT [5] như vậy phổ của chúng (bên dưới hình vẽ 6) sẽ như nhau. Và mọi sự khác biệt trong phổ của chúng sẽ nói lên có vi phạm CPT, và từ đó là vi phạm bất biến Lorentz.             Hình 6             5/Sự phụ thuộc vi phạm bất biến Lorentz vào spin (xem hình 7)  Tại Đại học Washington người ta đã tiến hành thí nghiệm sau đây để tìm hiểu vi phạm bất biến Lorentz gây nên bởi các spin. Trên hình là một đồng hồ xoắn, vai trò quả lắc thông thường (lắc qua lại) ở đây được đảm nhiệm bởi một quả xoắn (xoắn trái rồi xoắn phải). Quả xoắn được làm bằng những thanh nam châm (đỏ và xanh, xem bên phải hình vẽ 7) và được cấu tạo sao cho tổng spin các electron khác số không. Đồng hồ được đặt trên một mâm quay. Nếu có vi phạm đối xứng Lorentz thì người ta sẽ ghi đo được các nhiễu loạn của dao động.             Hình 7.           Kết luận  Thibault Damour, IHES (Institut des Hautes Etudes Scientifiques) cho rằng lý thuyết dây (String theory) có cấu trúc cho phép xét đến những vi phạm bất biến Lorentz [6]. Tương tự như vậy Carlo Rovelli (Centre de physique théorique, Université de Marseille) cũng khẳng định rằng lý thuyết lượng tử vòng (Loop quantum theory) [7] không loại khả năng đưa vào những vi phạm nguyên lý tương đối. Song hai nhà lý thuyết này đều cho rằng chưa có cơ sở chắc chắn để đưa vi phạm đối xứng Lorentz vào các lý thuyết vừa nêu.  Một lý thuyết quan trọng khác là Hình học không giao hoán của Alain Connes cũng chứa tiềm năng cho phép đề cập đến vi phạm bất biến Lorentz [8].  Hiện nay mặc dù nhiều cố gắng của các nhà thực nghiệm, các kết quả thực nghiệm ban đầu cho những vi phạm quá ư là nhỏ và nằm trong phạm vi sai số do đó khó có thể kết luận một cách chắc chắn có vi phạm bất biến Lorentz, song nhiều nhà vật lý vẫn tin rằng manh nha có những dấu hiệu đầu tiên của vi phạm nguyên lý tương đối và do đó tiếp tục tiến hành các thí nghiệm.  Như vậy Einstein vẫn đúng đến thời điểm hiện nay (Graham P. Collins, [4]), song trong tương lai người ta chưa biết liệu các lý thuyết Einstein có phải chỉ là một lý thuyết gần đúng mà thôi hay không?                                                                                                                                   CC.  Tài liệu tham khảo:  [1] Q G Bailey Q G, Alan Kostelecky,   Phys. Rev. D 74 045001/ 2006  [2] Alan Kostelecky, Physical Review D, tháng 12 năm 2003  [3] Cécile Bonneau, Science & Vie, tháng 7 năm 2006  [4] Alan Kostelecky, Scientific American, tháng 7 năm 2004  [5] CPT là tích của 3 phép biến đổi: C – thay hạt bằng phản hạt và ngược lại, P – phép nghịch đảo không gian và T – phép nghịch đảo thời gian.  [6] Cao Chi, Einstein và vũ trụ lượng tử, Einstein với khoa học & công nghệ hiện đại. Hội vật lý thành phố Hồ Chí Minh, 2005. Lý thuyết dây cho rằng các hạt và hấp dẫn phát sinh từ dao động của dây và màng  [7] Lee Smolin, Atoms of space & time, Scientific American, tháng 1 năm 2004. Lý thuyết vòng lượng tử  cho rằng không thời gian không  liên tục và phải được lượng tử hóa.       [8] Cao Chi, Hình học không giao hoán: Một quan điểm cách mạng về không thời gian. Tia Sáng số 19- 05/10/2006. Hình học không giao hoán cho rằng các tọa độ không- thời gian không giao hoán với nhau.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mùa hè năm nay sẽ mát mẻ hơn      Các nhà khí tượng học cho biết nhiệt độ toàn cầu năm nay sẽ thấp hơn năm 2007 do ảnh hưởng lạnh đi của dòng La Nina mạnh mẽ trên Thái Bình Dương. Điều này đã góp phần làm tăng mưa lũ ở Australia và gây ra đợt lạnh chưa từng có ở một số vùng của Trung Quốc vừa qua.      2008 sẽ là năm mà nhiệt độ không tăng lên kể từ năm 1998. Tuy nhiên, Michel Jarraud, tổng thư ký của Hội Khí tượng thế giới, cũng dự báo về một đợt nhiệt độ cao kỷ lục trong vòng 5 năm tới, do ảnh hưởng của đợt El Nino tiếp theo.   T. An (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mùa xuân cho lá nhân tạo      Quá trình chuyển đổi các photon thành nhiên liệu đang tiến triển.      Giáo sư Daniel Nocera kết hợp lá nhân tạo với một vi khuẩn có khả năng chuyển hóa hydro. Nguồn: thespinoff.co.nz  Một buổi sớm mùa xuân ở Pasadena, California, bầu không khí tràn ngập mùi cỏ và hoa. Quá trình quang hợp của cỏ cây tại hai bên con đường nhỏ ở Viện Công nghệ California (Caltech) thật dễ dàng: chúng lặng lẽ chuyển đổi ánh nắng mặt trời thành năng lượng để lưu trữ đường, nuôi lá, rễ và thúc đẩy quá trình tăng trưởng của các tế bào.  Bên trong PTN Jorgensen của Caltech, hơn 80 nhà nghiên cứu đang nỗ lực lặp lại các công việc đó của lá cây bằng việc dùng silicon, nickel, sắt và các loại vật liệu thường thấy trong sản xuất điện thoại di động hơn là tế bào thực vật. Các phòng thí nghiệm mới của họ là trụ sở của Trung tâm Liên hợp Quang năng nhân tạo (JCAP), một chương trình nghiên cứu gồm 190 thành viên do Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) đầu tư với khoản kinh phí 116 triệu USD trong vòng 5 năm. Mục tiêu của Trung tâm này là dùng ánh sáng mặt trời để tạo ra hydro và các loại nhiên liệu khác hiệu quả hơn so với cách người ta vẫn áp dụng là xử lý thực vật để tạo ra năng lượng sinh khối.  Các quỹ, các tổ chức trên thế giới – và ít nhất là một số công ty tư nhân – đang đầu tư những khoản chưa từng thấy vào việc tìm ra nhiên liệu có khả năng tạo ra điện từ mặt trời, không chỉ không phát thải carbon mà còn có tiềm năng trữ lượng vô tận. JCAP được thành lập vào năm 2010 để tập trung vào những vấn đề cụ thể như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng và kỹ thuật để tạo ra một chiếc lá nhân tạo. Dẫu cho JCAP đã có được những bước đi quan trọng trong tiến trình này nhưng vẫn còn một con đường dài để đạt được mục tiêu này, “đây là vấn đề đầy thách thức và khó khăn”, nhà điện hóa John Turner của PTN Năng lượng tái tạo quốc gia Mỹ ở Golden, Colorado, cho biết. “Khả năng thu hồi vốn rất lớn nhưng cũng không đơn giản để có được nó, chúng tôi đã bắt đầu nghiên cứu trong lĩnh vực này 40 năm rồi mà vẫn chưa thực sự đạt được mục tiêu như mong muốn”.  Tuy nhiên, nguồn đầu tư dồi dào thể hiện sự quan tâm rất lớn từ nhiều phía và đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu hi vọng cho một thành công mang tính dài hạn. “Nếu anh có thể giữ được những nỗ lực như thế này trong vòng 10 năm nữa thì anh có thể có được một giải pháp thiết thực”, Michael Wasielewski, nhà hóa học ở trường Đại học Northwestern tại Evanston, Illinois, nhận định.  Bắt lấy tia mặt trời  Ý tưởng quang hợp nhân tạo có từ năm 1912 nhưng mãi đến năm 1972 thì mới có sự tiến triển khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản giới thiệu bài báo “Sự quang phân điện hóa của nước tại một điện cực bán dẫn” (Electrochemical Photolysis of Water at a Semiconductor Electrode) trên Nature về một công nghệ có thể tạo ra nhiên liệu lỏng từ CO2, nước và ánh nắng mặt trời như quá trình quang hợp của cây cối. Các nhà nghiên cứu gọi đó là lá nhân tạo.  Quá trình sau đó tiến triển chậm chạp. Đến năm 1998, Tuner xuất bản một công bố trên Science về một hệ thống hoàn chỉnh với một bước tiến lớn – có khả năng lưu trữ 12% nhiên liệntừ năng lượng mặt trời trong khi năng lượng sinh khối từ thực vật chỉ đạt hiệu suất 1%. Tuy nhiên, điểm yếu của hệ thống này là chi phí gấp 25 lần, không đủ sức cạnh tranh và độ bền của nó chỉ đạt 20 giờ.  Vì vậy Natthan Lewis, nhà hoá vô cơ tại Caltech và Giám đốc khoa học của JCAP cho rằng đối với một cái lá nhân tạo, có ba yếu tố cần thiết là “hiệu suất, giá thành và độ bền. Tôi có thể cung cấp cho anh ngay [một cái lá] có hai trong ba yếu tố này còn yếu tố thứ ba thì còn phải chờ”.  Nhiệm vụ của JCAP là giải quyết bế tắc này. Tuy nhiên việc làm cho bất kỳ thành phần nào của một chiếc lá nhân tạo hoạt động tốt cũng là một thách thức; kết hợp chúng lại thành một hệ thống hoàn chỉnh còn khó hơn nhiều. “Điều này giống như việc thiết kế và lắp đặt một cái máy bay. Anh không chỉ có một động cơ mà còn phải thiết kế cả cánh, thân máy bay, hệ thống điều khiển và cuối cùng phải làm sao để chiếc máy bay này bay được”, Lewis ví von.  Rất nhiều khó khăn đến ngay từ việc lựa chọn vật liệu chuẩn.Ví dụ như Silicon có thể làm ra một quang cathode – điện cực sản xuất ra khí hydro – nhưng nó chỉ bền trong một dung dịch có tính axít. Thật không may là nó lại trái ngược với điều kiện hoạt động của quang anode – điện cực sản xuất ô xi, vốn chỉ bền vững trong dung dịch không có tính a xít. Và iridi, chất xúc tác cho điện cực sản xuất ô xi này vừa hiếm lại vừa đắt, không phù hợp với thiết bị được sản xuất trên diện rộng.  Carl Koval, nhà điện hóa và giám đốc của JCAP nhấn mạnh, một trong những khó khăn bậc nhất trong việc quang hóa nhân tạo là tìm một vật liệu tốt để làm quang anode. “Những nguyên liệu đã thử luôn luôn thiếu ổn định, thường thường độ bền chỉ tính bằng phút”. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm những vật liệu đã được biết rõ là rẻ và ổn định – tất nhiên là ô xít kim loại – và cố làm cho chúng có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt hơn. Còn nhiều người khác nghĩ tốt hơn là bắt đầu với những vật liệu có khả năng hấp thụ ánh sáng và sau đó cố làm cho chúng bền và rẻ.  Một nhóm nghiên cứu của JCAP đi theo cách tiếp cận thứ hai. Bằng việc phủ một lớp “áo” bảo vệ bằng ô xít titan lên chất quang hấp thụ mạnh như silicon, các nhà nghiên cứu đã thành công khi đem lại độ bền cho nó.“Về cơ bản đó là mảnh ghép cuối cùng để tạo ra mẫu thử lá nhân tạo thế hệ mới”, Koval dự đoán.  Lewis cho rằng, “đó sẽ là một hệ thống có hiệu suất đạt hai con số và có tính bền”. Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa sản phẩm không cao, bộ phận quang hấp thụ vẫn không đủ rẻ để mang ra ngoài thị trường bởi bộ lõi được làm từ silicon đơn tinh thể đắt đỏ, ông dự đoán.  Nhiều ý tưởng  Bên cạnh JCAP, còn có nhiều cách tiếp cận khác được thử nghiệm để theo đuổi mục tiêu này. Ví dụ bên bờ biển Santa Barbara, California, HyperSolar – một startup, đang thử nghiệm một hệ thống có bộ quang hấp thụ được phủ bằng một lớp nano và chất xúc tác được đặt trong một túi nhựa đựng nước trong suốt. Túi nhựa này sẽ phồng lên khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và hydro, khí ô xi được tách trong đó.  Những hệ thống như thế này có thể sử dụng ở những vùng có nhiều ánh nắng mặt trời như sa mạc. Một báo cáo của DOE dự đoán, nếu sử dụng các vật liệu rẻ tiền thì “túi đặc biệt” này có thể làm ra được hydro với hiệu suất 10% và có độ bền tới 10 năm.  Tuy nhiên hệ thống trên tiềm ẩn nguy hiểm rất lớn, Turner nhận xét, bởi nó tạo ra ô xi bên cạnh hydro. “Nếu đặt những chiếc túi này vào diện tích khoảng chừng 100 dặm vuông trên sa mạc với hỗn hợp nguy hiểm này, chỉ một tia chớp là có thể tạo ra một thảm họa”. Các nhà nghiên cứu của HyperSolar đang tìm nhiều cách để hạn chế hiểm họa và một trong số đó là dùng một hệ thống phân tách các khí vào hai túi, Syed Mubeen – một postdoc tại trường đại học California ở Santa Barbara, và là người phụ trách bộ phận nghiên cứu tại công ty – cho biết. Một cách khác là cho vận hành một hệ thống dùng nước thải thay vì nước tinh khiết, vì vậy ô xi sẽ phản ứng với các tạp chất hữu cơ và phân rã chúng thành những hóa chất có giá trị.Cách tiếp cận này “loại bỏ được ô xi khỏi phương trình phản ứng một cách hoàn toàn”, Mubeen nói.Giống như quang anode bền vững của JCAP, bộ phận quang hấp thụ của HyperSolar cũng được bảo vệ bằng một lớp phủ bên ngoài.  Một đại diện khác trong lĩnh vực quang hợp nhân tạo là Hiệp hội nghiên cứu công nghệ về quá trình hóa học quang hợp nhân tạo (ARPChem) -một liên doanh của các trường đại học và các công ty mà ngân sách do chính phủ cấp có thể so sánh được với JCAP, kèm theo thời hạn 10 năm – để phát triển một cách tiếp cận kiểu “túi nhiên liệu” của HyperSolar. Kazunari Domen, nhà hóa học ở trường Đại học Tokyo và là người phụ trách nhóm tách nước của ARPChem, cho biết một trong những công ty của liên doanh đã nghiên cứu về lớp màng tách hydro và các sản phẩm về ôxi.  Bên cạnh đó, những dự án đang nhắm tới việc tạo các bộ quang hấp thụ bằng các phân tử hữu cơ thay vì chất bán dẫn.Một số nhà nghiên cứu đang xây dựng phân tử được lấy cảm hứng từ cơ quan quang hợp của cây trồng.Trong vài năm qua, một số nhà nghiên cứu nghĩ rằng perovskite – có hiệu ứng chuyển đổi năng lượng cao và có thể có tiềm năng trong quang hợp nhân tạo.  Daniel Nocera – nhà hóa học ở trường Đại học Harvard tại Cambridge, Massachusetts, đã thành lập công ty Sun Catalytix để phát triển một xúc tác giá thành thấp. Tuy nhiên công ty này đã thông báo là họ đang tiến hành nghiên cứu để theo đuổi một sản phẩm có triển vọng thương mại hóa sớm hơn. Điều đó cho thấy việc đưa hệ thống quang hợp nhân tạo ra thị trường gặp vô vàn khó khăn.  Các nhóm nghiên cứu trên thế giới đang nỗ lực tìm ra thứ công nghệ tốt nhất. Devens Gust, nhà hóa học ở trường đại học liên bang Arizona ở Tempe, nhận xét: “Điều cốt lõi là không ai thực sự biết rằng công nghệ nào sẽ chiến thắng, công nghệ nào sẽ hữu dụng.”  Nhưng bất cứ công nghệ nào chiếm ưu thế thì theo Lewis, logic đằng sau quang hợp nhân tạo là không thể lay chuyển: “Nguồn năng lượng lớn nhất mà chúng ta có là mặt trời và cách tốt nhất là chuyển hóa nó!”.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/news/solar-energy-springtime-for-the-artificial-leaf-1.15341#/related-links    Author                Quản trị        
__label__tiasang 36 tỷ tấn khí khiến Trái đất nóng lên      Vào năm 2021, con người đã thải ra 36 tỷ tấn khí khiến Trái đất nóng lên vào bầu khí quyển, nhiều hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước đó. Tình trạng này là do đốt dầu mỏ, khí đốt và than đá. Vào tháng 5/2022, các nhà khoa học cho biết lượng …    Vào năm 2021, con người đã thải ra 36 tỷ tấn khí khiến Trái đất nóng lên vào bầu khí quyển, nhiều hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước đó. Tình trạng này là do đốt dầu mỏ, khí đốt và than đá.  Vào tháng 5/2022, các nhà khoa học cho biết lượng khí carbon dioxide (loại khí khiến Trái đất nóng lên) trong bầu khí quyển đã phá kỷ lục, nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong ít nhất 4 triệu năm. Hiện, lượng khí này đã cao hơn 50% so với mức trung bình ở thời kỳ tiền công nghiệp, trước khi con người bắt đầu đốt dầu mỏ, khí đốt và than đá trên diện rộng vào cuối thế kỷ 19.    Nồng độ loại khí này lên tới gần 421 phần triệu vào tháng năm, mức cao nhất trong năm, khi các nhà máy điện, phương tiện đi lại, trang trại và các nguồn khác trên thế giới tiếp tục bơm một lượng lớn khí carbon dioxide vào bầu khí quyển. Năm 2021,tổng lượng phát thải đạt 36,3 tỷ tấn, đây là mức cao nhất trong lịch sử.    Khi lượng carbon dioxide tăng lên, Trái đất sẽ tiếp tục ấm lên, đi kèm những tác động như lũ lụt xảy ra nhiều hơn, nắng nóng khắc nghiệt hơn, hạn hán và cháy rừng ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng triệu người trên toàn thế giới. Nhiệt độ trung bình toàn cầu hiện cao hơn khoảng 1,10C so với thời kỳ tiền công nghiệp.    Mức carbon dioxide ngày càng tăng là bằng chứng cho thấy các quốc gia hầu như không đạt được nhiều tiến bộ đối với mục tiêu đặt ra ở Paris vào năm 2015 là hạn chế tình trạng nóng lên ở mức 1,50C. Các nhà khoa học cho rằng nếu vượt quá ngưỡng này thì biến đổi khí hậu sẽ càng gây ra thêm nhiều ảnh hưởng thảm khốc.    Pieter Tans, nhà khoa học cấp cao tại Phòng thí nghiệm Giám sát Toàn cầu của NOAA, cho biết: “Tuy mức độ carbon dioxide có hạ đôi chút vào năm 2020 trong thời kỳ kinh tế chững lại do đại dịch coronavirus, nhưng điều này không tạo được ảnh hưởng gì đến xu hướng lâu dài. Nồng độ carbon dioxide vẫn tiếp tục tăng lên, với tốc độ y hệt thập niên trước”.    Mức độ carbon dioxide thay đổi trong suốt cả năm, tăng lên khi thực vật chết và phân hủy vào mùa thu và mùa đông, giảm xuống vào mùa xuân và mùa hè khi cây cối phát triển hấp thụ khí này qua quá trình quang hợp. Mức khí này lên đến đỉnh điểm vào tháng năm hàng năm, ngay trước khi thực vật tăng tốc phát triển ở Bắc bán cầu. (Phía Bắc có ảnh hưởng lớn hơn Nam bán cầu vì nơi đây có nhiều diện tích đất và thảm thực vật hơn).    Tiến sĩ Tans cùng cộng sự tại phòng thí nghiệm đã tính toán nồng độ đỉnh điểm trong năm nay là 420,99 phần triệu, dựa trên dữ liệu từ một trạm thời tiết NOAA trên đỉnh núi lửa Mauna Loa tại Hawaii. Từ cuối những năm 1950, nhà khoa học Charles David Keeling của Viện Hải dương học Scripps đã bắt đầu các quan sát ở nơi đây, và phép đo dài hạn này được gọi là Đường cong Keeling.    Các nhà khoa học của Viện Scripps vẫn thực hiện các quan sát tại Mauna Loa theo một chương trình do con trai của tiến sĩ Keeling, Ralph Keeling điều hành. Nhờ sử dụng dữ liệu độc lập này, họ đã tính toán ra nồng độ ở mức 420,78, tương tự như số liệu của NOAA.    Cả hai con số này đều cao hơn khoảng 2 phần triệu so với kỷ lục của năm ngoái. Mức đỉnh này cao hơn 140 phần triệu so với nồng độ trung bình trong thời kì tiền công nghiệp, tức là khoảng 280 phần triệu. Kể từ thời điểm đó, con người đã thải ra khoảng 1,6 nghìn tỷ tấn khí carbon dioxide vào khí quyển.    Để đạt được mục tiêu 1,50C của Thỏa thuận Paris, lượng khí thải phải đạt mức “bằng không” vào năm 2050, tức là các quốc gia phải cắt giảm mạnh, lượng khí thải còn lại phải ngang bằng với mức độ hấp thụ khí carbon dioxide của đại dương và thảm thực vật. Nếu thế giới tiệm cận mục tiêu đó, tốc độ gia tăng mức carbon dioxide sẽ chậm lại và Đường cong Keeling sẽ phẳng.    Tiến sĩ Tans cho biết, nếu loại bỏ được hoàn toàn lượng khí thải, thì Đường cong Keeling sẽ bắt đầu giảm xuống, vì các đại dương và thảm thực vật tiếp tục hấp thụ khí carbon dioxide hiện có trong không khí. Dù diễn tiến chậm hơn, nhưng nồng độ khí này trong không khí sẽ tiếp tục suy giảm trong hàng trăm năm. Tới một thời điểm nào đó, không khí sẽ đạt được trạng thái cân bằng. Thế nhưng, nồng độ carbon dioxide trong cả khí quyển và đại dương sẽ cao hơn mức thời tiền công nghiệp, tình trạng như vậy sẽ duy trì trong hàng nghìn năm.    Qua một chu kỳ dài như vậy, mực nước biển sẽ tăng lên đáng kể do băng ở hai cực tan chảy, đồng thời những thay đổi khác có thể xảy ra, chẳng hạn như lãnh nguyên Bắc Cực biến thành rừng.     Khúc Liên    Author                .        
__label__tiasang Mực nước biển dâng cao đột ngột sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của một tỷ người      Theo báo cáo khoa học mới nhất hôm thứ năm (19/4/2007) thì cuộc sống của một tỷ người trên trái đất sẽ bị đe dọa nếu mực nước biển dâng cao đột ngột như thảm họa sống thần tại châu Á vào năm 2004 làm thiệt mạng 230.000 người.    Một nhóm khảo sát địa chất của Mỹ đã chỉ rõ lượng đất đai và nhân mạng bị thiệt hại khi mực nước biển dâng cao nhanh chóng gây ra bão lụt và động đất. Trưởng nhóm khảo sát, E.Lynn Usery cho biết 1/4 dân số thế giới hiện sống dưới 30m so với mực nước biển.  Cuộc khảo sát nêu rõ rằng mực nước biển dâng cao 30m trên phạm vi rộng lớn có thể sẽ gây ngập lụt 3.7 triệu dặm vuông đất đai trên thế giới, còn với mực nước biển dâng cao 5m đột ngột thì cuộc sống của 669 triệu người và 2 triệu dặm vuông đất đai sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  Cách đây 10.000 năm, mực nước biển đã dâng lên 20m trong vòng 500 năm.  Theo ông Usery thì kỹ thuật làm bản đồ mới sẽ cung cấp những chi tiết mà trước đây con người chưa thể làm được và điều này giúp ích cho những nhà hoạch định chính sách có những biện pháp đề phòng tốt hơn đối với những thảm họa thiên nhiên. Với chỉ một cú nhấp chuột, các nhà nghiên cứu khoa học ngày nay đã có thể tiên liệu được lượng đất đai sẽ bị “biến mất” do hậu quả của tình trạng mực nước biển dâng cao ở các cấp độ khác nhau và chúng sẽ xảy ra ở đâu trên địa cầu này.  Vĩnh Bảo (theo CNN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mực nước biển dâng cao là con dao hai lưỡi đối với lưu trữ carbon      Nghiên cứu mới cho thấy mực nước biển dâng là con dao hai lưỡi đối với quá trình thu giữ carbon ven biển. Mực nước biển dâng ở mức vừa phải sẽ giúp tăng khả năng lưu trữ carbon, nhưng nếu dâng quá nhanh sẽ làm giảm khả năng này.    Các hệ sinh thái ven biển là kho chứa carbon tự nhiên. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách coi vịnh, đầm lầy và rừng ven biển là giải pháp tự nhiên để chống lại biến đổi khí hậu. Nhưng khả năng hấp thụ carbon dioxide của các hệ sinh thái này phụ thuộc vào các nhân tố đa dạng thường xung đột với nhau, bao gồm nguồn cung cấp trầm tích, độ dốc bờ biển, phạm vi thủy triều, chế độ sóng và sự thay đổi mực nước biển.    : Các quá trình vật lý và sinh học được sử dụng để lập mô hình lưu trữ carbon. Nguồn: phys.org  Trong nghiên cứu mới trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Hàng hải Virginia (VIMS), thuộc trường ĐH William & Mary đã phát triển mô hình mới để tìm hiểu về các chế độ và thời gian lưu trữ carbon ở khu vực ven biển. Điểm mới là nghiên cứu đã mô phỏng sự di chuyển của carbon giữa các hệ sinh thái khi nước biển dâng dẫn đến sự thay đổi về ranh giới và kích thước của chúng. Các nghiên cứu về carbon ven biển hoặc carbon “xanh” (carbon được lưu trữ trong các hệ sinh thái biển và ven biển) trước đây chủ yếu tập trung vào số phận của nó trong các môi trường tĩnh, đơn lẻ.  Mô hình động lực học đầm lầy của nhóm cho thấy tốc độ nước biển dâng là chìa khóa để xác định liệu carbon xanh có đi vào hồ chứa ven biển trong dài hạn hay ngắn hạn. Chỉ có việc lưu trữ lâu dài trong hàng thế kỷ hoặc thiên niên kỷ, mới giúp nhân loại giảm thiểu tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu.  TS. Kendall Valentine, người dẫn dắt nghiên cứu khi đang làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại VIMS, cho biết: “Hệ thống ven biển có thể phục hồi và tiếp tục lưu trữ lượng carbon ngày càng tăng với tốc độ nước biển dâng vừa phải. Nhưng nếu tốc độ nước biển dâng quá nhanh, đầm lầy không thể theo kịp, hệ thống đầm lầy sẽ sụp đổ và giảm thiểu lượng carbon lưu trữ ven biển”.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mực nước biển dâng là con dao hai lưỡi đối với quá trình cô lập carbon ven biển. Khi mực nước biển dâng ở mức vừa phải sẽ giúp tăng năng suất thực vật và lưu giữ carbon trong đất. Mực nước biển dâng nhanh sẽ làm thay đổi vị trí lưu trữ carbon – từ những khu rừng tương đối ổn định thành những đầm lầy dễ bị tổn thương hơn”, TS. Matt Kirwan ở VIMS, đồng tác giả nghiên cứu cho biết thêm.  Các nhà nghiên cứu đã xây dựng mô hình hành vi của các hệ sinh thái ven biển với tốc độ mực nước biển dâng từ 1-15 mm mỗi năm. Kết quả cho thấy lượng carbon lưu trữ tăng gấp đôi khi tốc độ mực nước biển dâng rơi vào khoảng 2-5 mm/năm và tiếp tục tăng khi tốc độ nước biển dâng lên tới 10 mm/năm. Vượt qua “điểm tới hạn” này, khả năng lưu trữ carbon bắt đầu giảm khi đầm lầy thay thế rừng và vùng đầm lầy tiếp giáp biển bị xói mòn nhanh hơn.  Các mức nước biển dâng do nhóm tác giả lựa chọn trong nghiên cứu bao gồm những số liệu đã được quan sát trong thực tế và được dự đoán sẽ xảy ra trong thập kỷ tới. Chẳng hạn, tốc độ nước biển dâng dọc theo Bờ Đông Hoa Kỳ vào năm 2022 nằm trong khoảng từ 1,49 mm/năm (ở Portland, Maine) đến 5,38 mm/năm (ở Norfolk, Virginia), trong khi mức chuẩn 10 mm/năm được đo tại một vài địa điểm dọc theo Bờ biển vùng Vịnh của Hoa Kỳ – nơi có tốc độ nước biển dâng lớn hơn 8 mm/năm. Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Liên Hợp Quốc) dự báo đến năm 2100, tốc độ nước biển dâng toàn cầu sẽ lên tới 15 mm/năm.  Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với nỗ lực bù đắp lượng khí thải nhà kính thông qua việc mua tín dụng carbon. Các chính sách quản lý bù đắp carbon xanh, chẳng hạn như chính sách trồng cây, các giải pháp trên đất liền hoặc giải pháp “carbon xanh” khác chỉ tính lượng carbon được thu giữ trong một hệ sinh thái cụ thể. Mục đích là tránh việc tính toán hai lần cùng một lượng carbon ban đầu được thu giữ ở nơi khác – chẳng hạn như thông qua quá trình quang hợp trong một khu rừng nội địa hoặc thực vật phù du ngoài khơi nở hoa, sau đó di chuyển đến bờ biển. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy một phần đáng kể carbon đầm lầy (khoảng 50%) có nguồn gốc từ bên ngoài khu vực này.  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-sea-level-double-edged-sword-carbon-storage.html       Author                .        
__label__tiasang Mực nước biển đang dâng cao với tốc độ nhanh nhất trong lịch sử      Theo nghiên cứu mới công bố của Viện Nghiên cứu Tác động của Khí hậu Potsdam, Đức, mực nước biển trên toàn thế giới đang dâng cao với tốc độ nhanh nhất trong 3.000 năm qua. Theo dự đoán, nếu lượng phát thải khí nhà kính không giảm xuống, thì tới cuối thế kỷ này mực nước biển trên toàn cầu sẽ tăng lên tới 1,2m.      Các tác giả của nghiên cứu đề xuất các quốc gia phải cam kết tuân theo kế hoạch đã được vạch ra tại Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc diễn ra tại Paris hồi năm ngoái nhằm giảm thiểu các tác hại do mực nước biển dâng cao gây nên, đặc biệt là ở những vùng duyên hải. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, dự đoán tới năm 2100, mực nước biển vẫn có khả năng dâng cao từ 0,02 – 0,6m.   “Với tất cả lượng khí thải nhà kính mà chúng ta đã tạo ra, chúng ta không thể ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng nước biển dâng cao, nhưng chúng ta vẫn có thể làm giảm đáng kể tốc độ này nếu ngưng sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch,” Anders Levermann, đồng tác giả của nghiên cứu trên cho biết.  Thu Trang dịch từ Time    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mực nước biển toàn cầu có thể tăng 1,5m      Theo một phân tích khoa học mới đây, đến cuối thế kỷ này, mực nước biển toàn cầu có thể tăng lên 1,5m, cao hơn dự báo trước đây của Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu.      “Trong 2.000 năm qua, mực nước biển trung bình toàn cầu rất ổn định và thay đổi chỉ khoảng 20cm”, nhà nghiên cứu Svetlana Jevrejeva thuộc Phòng thí nghiệm hải dương học Proudman nói. “Tuy nhiên đến cuối thế kỷ này, chúng tôi dự báo mực nước biển sẽ tăng từ 0,8 đến 1,5m. Sự gia tăng này sẽ diễn ra nhanh chóng trong vài năm tới khi kết hợp với quá trình tan chảy nhanh của các khối băng”. Năm ngoái, nhà nghiên cứu Đức Stefan Rahmstorf cũng đã đưa ra dự báo tương khi cho rằng mực nước biển sẽ tăng từ 0,5 đến 1,4 m vào năm 2100.   Tường Vy (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu năng lượng tái tạo có thể làm suy yếu mục tiêu phát triển bền vững      Các mục tiêu năng lượng tái tạo (RETs) có thể là một công cụ thiếu hiệu quả cho việc đảm bảo một tương lai bền vững, theo nghiên cứu sinh Scott Spillias ở trường Các khoa học trái đất và môi trường, trường đại học Queensland, Úc, tác giả chính của công bố “Renewable energy targets may undermine their sustainability” (Các mục tiêu năng lượng tái tạo có thể làm suy yếu sự bền vững của chúng) trên tạp chí Nature Climate Change.      Việc lắp đặt các cánh đồng năng lượng mặt trời làm mất diện tích rừng. Nguồn: MyClimate  Dù RETs lại là mục tiêu hướng tới của các nhà hoạch định chính sách nhưng trên thực tế, còn có nhiều cách tiếp cận đa dạng hơn và hiệu quả hơn có thể giúp các quốc gia đạt được những kết quả bền vững và toàn hiện như mong muốn. “Nhiều cơ quan, tổ chức trên khắp thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu, Australia, Ấn Độ và nhiều bang ở Mỹ đã thiết lập những bộ mục tiêu mang tính định lượng cho sự phát triển năng lượng tái tạo”, Spillias chỉ ra.  Trong công bố của mình, anh đã nhận xét về “mặt trái của tấm huy chương”: “Dù đem lại cho chúng ta cảm giác thật đáng khích lệ về những hành động giúp chúng ta khỏi lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch – trong trường hợp có những phân tích chính xác và cam kết của các bên tham gia vào việc xây dựng chúng, nhưng chính bản thân những mục tiêu đó lại có thể ảnh hưởng đến nhiều vấn đề bền vững mà chúng ta hướng đến. Ví dụ, California hiện đang phải chịu đựng những đợt mất điện trên diện rộng, trong đó một số nguyên nhân từ việc theo đuổi quá mức các mục tiêu về năng lượng tái tạo của bang. Họ đã thực thi các mục tiêu này mà không giải quyết vấn đề liên quan như phải làm gì khi nhu cầu năng lượng gia tăng và khi không có gió hoặc mặt trời còn những bộ lưu trữ năng lượng có mức giá phải chăng vẫn chưa hiện hữu”.  Do đó, theo quan điểm của anh “Việc lập ra một mục tiêu – một mức định lượng để đạt được như 80% năng lượng gió – hơn là một mục đích – một hướng định tính để triển khai như tối đa hóa năng lượng gió – có thể làm mờ mắt chúng ta khi đánh giá các hành động chính sách khác nhau. Chúng có thể tạo ra những khuyến khích về mặt tâm lý khiến người ta có thể hành động một cách vội vã để hoàn thành chúng, nguyên nhân khiến các nhà hoạch định chính sách mất đi tầm nhìn về những mục tiêu cơ bản mà mục tiêu ban đầu thúc đẩy chúng ta. Ví dụ, Chỉ thị Năng lượng tái tạo của châu Âu (RED) thay vì giảm thiểu phát thải carbon và bảo vệ môi trường, lại có nguy cơ làm gia tăng phái thải carbon và phá rừng”. Ở đây, Spillias trích dẫn nghiên cứu xuất bản năm 2018 của tiến sĩ Timothy D. Searchinger (trường đại học Princeton, Mỹ) “Europe’s renewable energy directive poised to harm global forests” (Chỉ thị năng lượng tái tạo của châu Âu được thực thi để phá huy các cánh rừng trên toàn cầu) – một công bố  trên Nature Communication được 26 lần trích dẫn.    Các ưu điểm và nhược điểm trong phát triển năng lượng tái tạo.  Các nhà nghiên cứu tin rằng việc lập ra nhiều mục tiêu là một công cụ chính sách đơn giản và dễ dàng nhưng việc thiếu sự đa dạng của các cơ chế cho phát triển năng lượng cũng cần được xem xét và cân nhắc. “Các mục tiêu có thể hoặc không thể là những công cụ thích hợp cho việc phát triển năng lượng tái tạo”, Spillias nói.  Trong nghiên cứu của mình, Spillias và cộng sự đã chỉ ra một số nhầm lẫn cơ bản về năng lượng sạch và năng lượng tái tạo cũng như hậu quả của nó: “Chúng ta đồng ý với nhau là thay vào đó, quá trình ra quyết định thực sự nghiêm ngặt phải được thực hiện với việc dánh giá những hoán đổi giữa các mục đích bền vững khác nhau với việc tôn trọng những mục tiêu có thể đạt được và/hoặc những công cụ chính sách khác. Ví dụ, các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đề ra đều có một mục tiêu liên quan đến năng lượng nhưng đó là năng lượng sạch chứ không phải năng lượng tái tạo. Năng lượng tái tạo có thể là cách tốt nhất để tạo ra năng lượng sạch trong tương lai nhưng quan trọng là nó phải được ghi nhận một cách đơn thuần là những cách thức để đạt được mục tiêu đó hơn là điểm đến của chính nó. Các mục tiêu liên quan đến năng lượng và các mục đích mà chúng ta thiết lập cho chính chúng ta trong những năm tới sẽ định hướng sự phát triển của năng lượng tái tạo và sẽ dẫn dòng chảy năng lượng qua từng lĩnh vực của xã hội chúng ta. Nếu, vì bất kỳ nguyên nhân nào, chúng ta sai lầm trong việc thiết lập những mục tiêu đó, không quan trọng chúng có thể thân thiện hay không, những hậu quả sẽ hiện hữu và là gánh nặng vĩnh viễn với đa dạng sinh học, các cộng đồng và các nền kinh tế”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-renewable-energy-undermine-sustainable-intentions.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu phát triển khoa học không gian của Trung Quốc      Trung Quốc sẽ tập trung phát triển khoa học không gian và triển khai việc đo đạc ,quan trắc vũ trụ, ông Viên Gia Quân, Tổng chỉ huy hệ thống tàu vũ trụ có người lái “Thần Châu 5” và Giám đốc Viện nghiên cứu kỹ thuật không gian Trung Quốc (TQ) vừa trả lời People Daily.      Ngoài việc thiết lập các hệ thống vệ tinh quan trắc, hệ thống vệ tinh phát thanh và truyền hình và thông tin để đảm bảo tính tự chủ trong kinh doanh, hệ thống định vị hướng dẫn đường bay bằng vệ tinh, TQ sẽ tiến hành phóng vệ tinh thí nghiệm khoa học trong không gian, xây dựng hệ thống vệ tinh thiên văn, phóng vệ tinh đo đạc và quan trắc Mặt trăng, đưa xe đổ bộ lên Mặt trăng để thực hiện các nghiên cứu sâu về hành tinh này.  Trên cơ sở của việc phát triển tàu vũ trụ có người lái, TQ cũng sẽ tiến hành các thí nghiệm đưa các nhà du hành vũ trụ ra ngoài khoang tàu vũ trụ, xây dựng phòng thí nghiệm không gian, tiến tới phát triển một trạm không gian ngoài vũ trụ.   (Theo People Daily và China Broascast).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu phát triển khoa học Không gian của Trung Quốc      Trung Quốc sẽ tập trung phát triển khoa học không gian và triển khai việc đo đạc ,quan trắc vũ trụ, ông Viên Gia Quân, Tổng chỉ huy hệ thống tàu vũ trụ có người lái “Thần Châu 5” và Giám đốc Viện nghiên cứu kỹ thuật không gian Trung Quốc (TQ) vừa trả lời People Daily    Ngoài việc thiết lập các hệ thống vệ tinh quan trắc, hệ thống vệ tinh phát thanh và truyền hình và thông tin để đảm bảo tính tự chủ trong kinh doanh, hệ thống định  vị hướng dẫn đường bay bằng vệ tinh, TQ sẽ tiến hành phóng vệ tinh thí nghiệm khoa học trong không gian, xây dựng hệ thống vệ tinh thiên văn, phóng vệ tinh đo đạc và quan trắc Mặt trăng, đưa xe đổ bộ lên Mặt trăng để thực hiện các nghiên cứu sâu về hành tinh này.  Trên cơ sở của việc phát triển tàu vũ trụ có người lái, TQ cũng sẽ tiến hành các thí nghiệm đưa các nhà du hành vũ trụ ra ngoài khoang tàu vũ trụ, xây dựng phòng thí nghiệm không gian, tiến tới phát triển một trạm không gian ngoài vũ trụ. (Theo People Daily và China Broascast)    Tia Sáng       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2006 là 8%      Theo Nghị quyết về kinh tế-xã hội năm 2006 vừa được Quốc hội thông qua trong phiên bế mạc chiều 29/11/2005, mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2006 là 8%, thấp hơn mức ước tính 8,4% của năm nay.    Lý do của việc đưa ra mục tiêu tăng trưởng thấp này là nền kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó có dịch cúm gia cầm.  Quốc hội cũng mong muốn tiềm năng kinh tế dân doanh tiếp tục được phát huy tốt hơn, các nguồn đầu tư nước ngoài được thu hút nhiều hơn, tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước phải được xoá bỏ nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước theo các dự án được duyệt, chỉ đạo và sơ kết việc thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh. Mục tiêu gia nhập WTO cũng được Quốc hội đề cập tới nhưng không đặt cụ thể mục tiêu gia nhập năm nào. ”Kinh tế tăng trưởng nhanh, vững. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường. Coi trọng phát triển con người, mở rộng dân chủ. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, Nghị quyết viết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mùi hoa hồng kích thích trí nhớ      Người ta vẫn nói rằng người lạc quan thường nhìn thế giới qua lăng kính màu hồng. Nay cả mùi thơm của hoa hồng cũng mang lại lợi ích cho con người.    Hít một hơi hoa hồng khi đang học một nhiệm vụ nào đấy và ngủ trong mùi hương hoa hồng đó sẽ giúp ghi nhớ được lâu.  Nhà nghiên cứu Jan Born tại Đại học Lübeck và cộng sự đã cho mọi người ngửi mùi hoa hồng khi họ ghi nhớ vị trí của các bức hình khác nhau trong một hình vuông. Một nửa được ngửi cùng mùi đó khi đi ngủ, nửa còn lại thì không. Khi được kiểm tra lại vào ngày hôm sau, những ai đã có giấc ngủ màu hồng thì nhớ được 97% vị trí của các bức ảnh, còn những người không ngửi mùi hương thì đạt 86%.  Kết quả cũng ủng hộ giả thuyết rằng ký ức được củng cố trong não trong giấc ngủ. Các nhà nghiên cứu cho rằng một phần của não gọi là hippocampus ghi nhận những thứ chúng ta mới học để lưu trữ dài hạn. Trong giấc ngủ, những ký ức này được kích hoạt và chuyển sang vỏ não.  Mùi hương vẫn được biết đến là có ảnh hưởng mạnh mẽ lên hippocampus. Born và cộng sự phỏng đoán rằng một mùi nào đó có thể giúp kích hoạt quá trình khởi động trong giấc ngủ, giúp việc lưu trữ ký ức dài hạn trở nên hiệu quả hơn. Các cuộc kiểm tra của họ đã ủng hộ giả thuyết này.  Nhưng chỉ ngủ trong căn phòng hương hoa hồng thì chưa đủ để gây hiệu quả, bởi vì thời điểm tiếp xúc với mùi cũng rất quan trọng.  Những tình nguyện viên trong nghiên cứu cần phải tiếp xúc với mùi vào giấc ngủ slow-wave, khi mà vùng não hippocampus được kích hoạt để chơi lại các ký ức. Còn đưa mùi hoa hồng vào mũi trong giấc ngủ REM, khi giấc mơ thường xảy ra, thì không có tác dụng gì. Nhưng bởi mọi người sẽ quen thuộc với mùi rất nhanh chóng, nên hương hoa hồng cần phải được bật lên và tắt đi vào đúng thời điểm để tạo ra hiệu quả đối với ký ức.  Ngoài ra, kỹ thuật này cũng chỉ có tác dụng với một số kiểu học. Nó sẽ không giúp ghi nhớ các kỹ năng như chơi piano hay đạp xe đạp bởi vì các ký ức này không phụ thuộc vào vùng hippocampus.  M.T. (theo Nature)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười cột mốc công nghệ năm 2013      Máy in 3D giờ đây đã in được đủ thứ và sử  dụng vật thể bay vì mục đích dân sự đang trở thành xu hướng mới – dưới  đây là 10 phát triển quan trọng nhất về công nghệ trong năm 2013.       Bùng nổ máy in 3D  Cách đây không, lâu máy in 3D còn mới là một loại đồ chơi hay và hầu như không có giá trị sử dụng trong thực tế. Năm 2013, cảm nhận đó đã thay đổi, vì thiết bị này giờ đây có thể in hầu như mọi thứ. Từ đồ chơi trẻ em cho đến đồ dùng nhà bếp và thậm chí cả súng ống. Và đây chính là mối lo về sự rủi ro của loại công nghệ non trẻ in 3D: Defense Distributed, một tổ chức phi chính phủ của Mỹ đã công bố bản thiết kế loại súng lục in 3D, khác những mô hình cùng dạng trước đó, nó không bị vỡ ra thành nhiều mảng sau khi nổ phát súng đầu tiên. Phiên bản hiện tại sau khi bắn không bị vỡ mà giữ nguyên dạng và nguyên liệu là nhựa tổng hợp. Về lý thuyết, giờ đây mọi người, tốt cũng như xấu, đều có thể trang bị loại súng này mà không sợ bị phát hiện.   Smart Watch và iWatch  Với việc áp dụng Samsung Smart Watch, lần đầu tiên Minicomputer đã xuất hiện. Tuy báo cáo về việc thử loại đồng hồ đeo tay này về phần “Samsung Galaxy Gear” không mấy tích cực, người ta vẫn có thể khẳng định xu hướng này sẽ tiếp tục tiến triển – nội trong hai tháng đã có 800.000 sản phẩm được bán ra – con số này nói lên nhiều điều. Cả Apple cũng đang xúc tiến một loại iWatch.  Ngoài ra, thị trường chờ đợi sự ra mắt của kính Google Glass có thể quy phim, chụp ảnh trong năm 2014.     Vật thể bay vì mục đích dân sự  Khái niệm máy bay không người lái trước đây chỉ có giới quân sự biết đến. Quân đội Mỹ đã sử dụng rộng rãi và gây nhiều tai tiếng.   Hãng kinh doanh Online Amazon đưa vật thể bay vào dự án “Amazon Prime Air” và máy bay không người lái giờ đây mang một bộ mặt mới về thương mại. Doanh nghiệp của Mỹ này dự định trong tương lai sẽ giao hàng bằng vật thể bay và thời gian giao hàng trong nước không quá 30 phút. Xu hướng chung là sử dụng vật thể bay vì mục đích dân sự sẽ phát triển. Ở bên ngoài nước Mỹ cũng đã có những ý đồ phát triển nhanh vật thể bay phục vụ hoạt động thương mại.  Hãng DHL và nhiều doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác cũng đã phát hiện có thể dùng vật thể bay để phát huy hoạt động dân sự của mình.      Phục hồi các loài vật đã bị tuyệt chủng  Hồi đầu năm nay, ông Stewart Brand đã gây xôn xao dư luận vì dự án mang tên “Revive & Restore”. Mục đích của dự án là “làm sống lại” những loài động vật đã bị tuyệt chủng và đưa chúng quay trở lại với thời đại ngày nay. Loài đầu tiên trong dự án là một loại bồ câu rừng (Passenger Pigeon hay Wild Pigeon) đã bị con người tuyệt diệt trong thế kỷ 19. Người ta cũng đề cập đến một số loài động vật khác như voi ma mút có lông và voi ma mút răng hổ. Ở Australia cũng có một dự án tương tự và trước hết là làm sống lại loài hổ Tasmani.     Giải pháp về thực phẩm trong tương lai  Năm nay, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc nuôi một loại tế bào gốc của bò để làm thịt băm. Nếm thử loại thịt nuôi trong phòng thí nghiệm ở London, có ý kiến cho rằng hương vị chưa thật chuẩn so với loại thịt bò băm viên thật tuy nhiên nó cho thấy giải pháp để giải quyết vấn đề cung cấp thịt trong tương lai.   Nếu loại thịt nuôi cấy không được chấp nhận thì trong tương lai có khả năng sẽ dùng máy in 3D để sản xuất thịt. Tỷ phú Peter Thiel hỗ trợ dự án “Modern Meadow” để thực hiện mục tiêu này. Người ta sẽ cho “lá tế bào” như những tờ giấy bình thường vào máy in và từ đó sẽ xuất ra thịt băm. Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ NASA cũng quan tâm đến công nghệ này nhằm giải quyết vấn đề thức ăn cho các chuyến bay dài ngày trên vũ trụ.     Giảm vai trò của con người trong lực lượng vũ trang   Theo giới sỹ quan, các cuộc tranh chấp quân sự trong tương lai sẽ không còn cần đến con người. Một chiến lược dài hơi của quân đội Mỹ cho thấy những dấu hiệu về vấn đề này. Một mặt, quân đội phát triển cái gọi là “Atlas robots” – người lính bằng kim loại rất phù hợp để phục vụ các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong khu vực có chiến tranh (“search-and-rescue” missioner).   Loại máy bay phản lực không người lái X47B có thể tự động xuất phát và hạ cánh từ hàng không mẫu hạm đang tiếp tục được phát triển. Máy bay X47B mang theo vũ khí tấn công các mục tiêu mà không cần có sự điều khiển trực tiếp của con người.     Những khả năng vận tải mới   Elon Musk đúng là người có tầm nhìn xa. Với hãng sản xuất ô tô Tesla, ông là người đầu tiên đưa ra những mô hình thay thế về động lực trong ngành công nghiệp ô tô. Loại ô tô chạy điện chưa phải là giải pháp cuối cùng. Mới đây, ông đưa ra dự án mang tên “Hyperloop” – loại tầu nhanh chạy ngầm dưới đất, chịu được động đất và chạy bằng năng lượng mặt trời. Quãng đường tầu chạy từ Los Angeles tới San Francisco là 30 phút.  Một số doanh nghiệp khác cũng đang chạy đua để tìm ra một loại công nghệ động lực mới có hiệu quả nhất. Tập đoàn ô tô Toyota cùng với một số nhà sản xuất khác đã trưng bầy tại Motorshow năm nay ở Los Angeles loại động cơ chạy bằng khí hydro. Rất có thể mô hình này sẽ được sản xuất hàng loạt từ năm 2015.     “Quần chúng” làm nghiên cứu vũ trụ  Năm 2013 đánh dấu sự tham gia của “quần chúng” vào nghiên cứu vũ trụ. Trong khi Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ NASA, Cơ quan vũ trụ Châu Âu ESA vẫn đóng vai trò chủ lực thì bên cạnh hoạt động nghiên cứu rất chuyên nghiệp đã xuất hiện một sự phát triển mới. Dự án MarsOne đánh dấu sự ra đời của xu hướng này. Chỉ trong một thời gian ngắn, các nhà tổ chức đã huy động được sự hưởng ứng của trên 100.000 người đăng ký tham gia vào một chuyến bay One-Way lên sao hỏa.   Crowdfunding (Gây quỹ quần chúng) cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong một sự án nghiên cứu vũ trụ tư nhân. Planetary Resources, là một doanh nghiệp có ý đồ khai thác tài nguyên trên các tiểu hành tinh, cũng đã nhận được hỗ trợ tài chính khoảng 1,5 triệu đôla từ Crowdfunding. Khoản tiền này nhằm để hoàn thiện sự phát triển “ARKYD deep space telescope” để sau đó đưa vào hoạt động. Dự án này được quảng bá là “a space telescope for everyone”. Trong năm 2014, hẳn sẽ có nhiều điều thú vị, mới mẻ sẽ được công bố.  Công nghệ mới thay thế mật khẩu   Hacker ngày càng hoạt động mạnh hơn, các mật khẩu tỏ ra thiếu an toàn. Đó là lý do phải phát triển một loại công nghệ thay thế cho mật khẩu. Năm nay, Motorola đã rất thành công trong phát minh này: Digital Tattoos và Password pills sẽ cải thiện sự an toàn đối với các dữ liệu máy tính. Apple đi theo một hướng khác, loại iPhone 5S của hãng này trang bị thiết bị quét vân tay trong Home-Button.  Internet tiếp cận rộng rãi với mọi người  Tại Silicon Valley, người ta đang nỗ lực để tạo điều kiện cho đông đảo dân chúng tiếp cận Internet. Nhà sáng lập Facebook Mark Zuckerberg nói về điện thoại di động giá rẻ và Apps có hiệu quả cao để vào Internet dành cho “năm tỷ người tiếp theo”. Google thực hiện dự án “Project Loon” với một hệ thống khí cầu hellium khổng lồ tạo thành nút WLAN.   Những dự án này chủ yếu phục vụ thị trường đang phát triển và các quốc gia liên quan. Tuy nhiên ở đây cũng có vấn đề về phủ sóng Internet trên diện rộng để mọi người có thể tiếp cận: chắc rằng lợi ích về kinh tế thị trường sẽ chi phối hoạt động từ thiện và đoàn kết. Đến tháng 12/2014 chúng ta sẽ biết nhiều hơn.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười lời đồn đại về cà phê      Về cà phê có biết bao lời đồn đại: cà phê  làm ta tỉnh táo, tăng độ dẻo dai và có tác động xấu với phụ nữ khi mang  thai v.v… Những lời đồn đại này thực hư thế nào?     Tin đồn thứ nhất: Cà phê chống đái tháo đường  Chí ít người ta cho rằng uống nhiều cà phê sẽ giảm nguy cơ bị tiểu đường. Đây là kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Viện nghiên cứu về dinh dưỡng của Đức. Nếu mỗi ngày uống trên bốn tách cà phê thì nguy cơ bị tiểu đường giảm 25%.  Tin đồn thứ 2: Cà phê là loại nước giải khát được ưa chuộng nhất khi có cuộc hẹn đầu tiên  Đa số người Đức, 73,3%, thực hiện cuộc hẹn gặp gỡ đầu tiên tại tiệm cà phê. Đây là kết quả một cuộc lấy ý kiến do Online-Partnervermittlung ElitePartner cung cấp.     Tin đồn thứ 3: Cà phê gây bất lực  Nếu tin đồn này là đúng thì rõ ràng cà phê không thể là loại nước giải khát cho các cuộc hẹn hò đầu tiên. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu Brazil có thể làm an lòng các đấng mày râu nghiền cà phê: theo kết quả nghiên cứu của họ thì tinh trùng của dân nghiền cà phê thường năng động hơn so với tinh trùng ở những người không nghiền cà phê. Ngoài ra các nhà khoa học thuộc Đại học Michigan còn phát hiện, dân nghiền cà phê thường có mật độ sex cao hơn so với dân không uống cà phê.    Tin đồn thứ 4: Cà phê làm con người tỉnh táo  Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng cà phê làm co con người có khả năng tập trung cao hơn. Một cuộc điều tra về ảnh hưởng của uống cà phê đối với những người lái xe ô tô đi ban đêm. Một lượng cà phê là 125 ml làm cho những người tham gia thí nghiệm tỉnh táo như người được chợp mắt một lát khi lái xe.  Tin đồn thứ 5: Cà phê làm tăng sự dẻo dai  Cà phê không những chỉ làm cho tinh thần tỉnh táo mà còn làm cho cả cơ thể thêm phần sảng khoái, khỏe khoắn hơn. Đối với các môn thể thao cần có sự dẻo dai như chạy, đi xe đạp và bơi lội cà phê còn làm tăng thành tích của vận động viên.    Tin đồn thứ 6: Cà phê gây mất ngủ  Nếu cà phê làm con người tỉnh táo minh mẫn hơn thì cũng dễ hiểu về việc nó làm cho người ta dễ mất ngủ. Các nghiên cứu đã chứng minh điều đó, tuy nhiên mức ảnh hưởng như thế nào lại có sự giao động, tùy theo người đó có thường uống cà phê hay không. Với người thường xuyên uống cà phê thì cơ thể đã quen với coffein do đó cà phê ít làm cho những người này bị khó ngủ. Ngay cả khi uống cà phê vào chiều muộn, họ cũng không gặp khó khăn về khó ngủ.  Tin đồn thứ 7: Cà phê gây bồn chồn lo lắng  Có ý kiến nghi ngại cho rằng cà phê làm cho những người bị stress dễ bị bồn chồn, lo lắng hơn. Nghiên cứu khoa học cho thấy vấn đề này là có, tuy nhiên không kéo dài mà chỉ mang tính nhất thời. Một nghiên cứu tiến hành năm 2011 cho thấy mối tương quan tích cực giữa coffein và biểu hiện lo lắng sợ hãi. Một năm sau đó người ta đã tiến hành thử nghiệm ở chuột mà trước đó bị gây stress liên tục, bất ngờ, kết quả cho thấy, sự lo lắng sợ hãi và hành vi trầm cảm giảm sau một thời gian dài tiêu thụ cà phê.  Tin đồn thứ 8: Cà phê gây tổn hại đến phụ nữ mang thai  Theo Hội Dinh dưỡng Đức thì điều này chỉ đúng, khi người mang thai uống quá nhiều cà phê. Nếu uống mỗi ngày không quá ba tách cà phê thì hoàn toàn không có vấn đề gì đối với người mang thai, hay cho con bú và cũng vô hại với trẻ sơ sinh.  Tin đồn thứ 9: Cà phê làm tổn thương tim  Tin đồn này sai. Một nghiên cứu của Đại học Utrecht cho thấy, nếu mỗi ngày uống từ hai đến bốn tách cà phê thì nguy cơ bị nhồi máu cơ tim có thể giảm 20%.  Tin đồn thứ 10: Cà phê gây mất nước đối với cơ thể  Điều này đúng, nhưng theo Hội Chữ thập Xanh Đức lượng nước mà cà phê lấy từ cơ thể là không đáng kể. Lượng nước mà người uống cà phê thải ra chỉ hơn khoảng 3% so với người không uống cà phê.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mười ý tưởng công nghệ xanh táo bạo      Biến đổi khí hậu, bế tắc giao thông, khủng  hoảng đói nghèo: vấn đề đặt ra trong thế kỷ này có lẽ là làm thế nào để  bảo đảm sự sống còn của nhân loại. Vấn đề càng lớn bao nhiêu thì các  giải pháp càng phải có tầm nhìn lớn bấy nhiêu. Chúng tôi xin giới thiệu  mười nhà nghiên cứu đưa ra những ý tưởng công nghệ nổi bật nhằm thay đổi  thế giới.    Elon Musk: Tàu bánh sắt siêu âm  Ông là người đã đơn giản hoá việc thanh toán trên Internet bằng PayPal, đưa ô tô điện vào cuộc sống thông qua Tesla Roadster và tư nhân hoá các chuyến bay lên vũ trụ với Space X. Tới đây nhà phát minh, doanh nhân 43 tuổi này còn muốn tặng thế giới một loại phương tiện giao thông hoàn toàn mới lạ có tốc độ gấp hai lần máy bay nhưng giá lại rẻ hơn.  Ông Musk đang phát triển một loại tàu nhanh có tên Hyperloop, có sức mạnh của máy bay Concorde cộng với khẩu pháo. Ở khẩu pháo này, đầu đạn tăng tốc nhờ tác động của từ trường. Theo Musk, Hyperloop sẽ chỉ cần khoảng nửa tiếng đồng hồ để chạy quãng đường 600 km từ San Francisco tới Los Angeles.  Hơn thế nữa, tàu có thể sử dụng hoàn toàn năng lượng mặt trời do các tế bào quang điện đặt dọc tuyến đường cung cấp. Chi phí xây dựng tuyến đường này hết khoảng sáu tỷ đôla – chỉ bằng một phần mười chi phí đầu tư xây dựng tuyến đường sắt cao tốc ở California.  Heinrich Bülthoff: Đến văn phòng bằng máy bay không người lái   Ô tô có thể chạy theo ba hướng: đi thẳng, rẽ hay chạy lùi. Khi bị ùn tắc thì ô tô chết dí một chỗ. Trong khi đó còn có một hướng đi nữa dành cho chúng mà không được tận dụng, đó là thăng thiên. Một nhóm các chuyên gia quốc tế đang nghiên cứu về cái hướng đi lên này, dự án này của EU mang tên Mycopter.  Mục tiêu: tạo đường trên không để ô tô bay được điều khiển bằng máy tính có thể đưa thẳng hành khách tới tận nơi làm việc – từ đó giảm tiêu hao năng lượng không cần thiết. Ý tưởng này không hoàn toàn là không tưởng: trong thực tế đã có những “con lai” đầu tiên giữa máy bay và ô tô, thí dụ Model Transition của Terrafugia, một doanh nghiệp khởi nghiệp ở Mỹ. Doanh nghiệp e-Volo ở Karlsruhe, Đức thậm chí đang thử nghiệm một loại trực thăng chạy điện dễ dàng điều khiển.  Dưới sự điều hành của giáo sư Heinrich Bülthoff, thuộc Viện Max-Planck về điều khiển học sinh học ở Tübingen, các nhà nghiên cứu về Mycopter muốn làm rõ, phải làm gì để tiếp tục phát triển các thiết bị bay loại này thành vật thể bay không người lái để vận chuyển hành khách, cũng như chính quyền phải ứng xử như thế nào trước những đổi thay này: trong tương lai, những người tự bay cần có bằng lại loại gì, quản lý giao thông bay cá nhân sẽ diễn ra như thế nào, sự tích hợp của loại hình giao thông này ở các thành phố sẽ ra sao. Các nhà nghiên cứu muốn có những lời đáp cho những câu hỏi trên để việc đi lại bằng vật thể bay cũng đơn giản như đi lại bằng ô tô.  Eduard Heindl: Biến núi thành bình ắc quy       Theo các nhà khoa học, một tảng đá đè lên một cột nước có thể tích một lượng điện lên đến hai Terawatt/giờ năng lượng – tương đương lượng điện mà cả nước Đức tiêu thụ trong khoảng 30 giờ đồng hồ.   Để chuyển đổi hoàn toàn sang năng lượng tái tạo, nước Đức phải dịch chuyển những quả núi, đúng như nghĩa đen của từ đó. Đây là đề nghị của nhà khoa học ĐH Khoa học ứng dụng Furtwangen. Nhà vật lý này có ý định xây một công trình tích năng lượng khổng lồ bằng đá hoa cương, và đây sẽ là công trình nổi bật vì sự đồ sộ tương tự như Ayers Rock ở Australia.  Ông Heidl dự kiến dùng thiết bị khoan đường hầm và máy cưa đá để tách một khối đá hoa cương hình trụ (hoặc hình ống), có chiều cao trên 500 mét và đường kính một kilômét. Những kẽ hở và bề mặt của khối đá này sẽ được trát thật phẳng để bảo đảm độ khít. Lượng điện dư thừa từ các cột điện gió và từ tế bào quang điện bảo đảm cho hoạt động của cỗ máy bơm khổng lồ này, trụ đá nén khối nước khổng lồ ở bên dưới để từ đó đẩy trụ lên hàng trăm mét. Khi lưới điện cần năng lượng – thí dụ khi lặng gió – nước sẽ chảy bên dưới trụ đá hoa cương và làm cho turbine hoạt động.  Chi phí xây dựng cái gọi là kho lưu trữ năng lượng này có thể lên tới cả tỷ Euro và có thể tích được khoảng 2.000 Gigawatt giờ điện – nhiều gấp 40 lần lượng điện lưu trữ của tất cả các nhà máy bơm tích điện hiện nay của nước Đức và bằng lượng điện mà nước Đức tiêu thụ trong một ngày.  Matt Watson: Làm nguội trái đất       Khi con người đã biết nhân bản cừu, đã có thể dời non chuyển núi – vậy thì còn ngại ngần gì mà không tạo ra một hoạt động của núi lửa? Đây chính là điều mà nhà nghiên cứu Matt Watson muốn đạt được với dự án Projekt SPICE của mình nhằm chấm dứt sự nóng lên của trái đất.  Nhà khoa học thuộc Đại học Bristol của Anh muốn làm được cái mà núi lửa Pinatubo (Philippines) đã từng gây ra, vụ núi lửa này bùng nổ vào năm 1991 đã làm cho nhiệt độ trái đất giảm nửa độ C vì tro núi lửa bốc lên tới tầng bình lưu và che ánh nắng mặt trời. Watson cũng muốn thổi lớp tro bụi lên tới tầng bình lưu thông qua một cái ống gắn vào phần cuối một quả cầu hellium khổng lồ lên đến độ cao 20 km. Một tầu thuỷ chạy trên biển là cơ sở phục vụ cho toàn bộ quá trình này.  Thử nghiệm lắp đặt đầu tiên ở quy mô nhỏ dự định tiến hành vào năm 2012 nhưng đã phải ngưng lại. Nay Watson có ý định phát triển ý tưởng của mình trước hết ở trong phòng thí nghiệm.  Yasuyuki Fukumuro: Tạo ra điện trên không gian       Trong tương lai nhà máy điện mặt trời trên không gian có thể phóng năng lượng xuống trái đất.  Vị trí tốt nhất để làm nhà máy điện mặt trời ở đâu? Theo Yasuyuki Fukumuro, phụ trách dự án Space Solar Power Systems  thuộc Cơ quan Nghiên cứu Vũ trụ Nhật bản Jaxa, thì vị trí thích hợp nhất để đặt nhà máy điện mặt trời là trên quỹ đạo trái đất. Đây là nơi luôn chói chang ánh sáng mặt trời, không bao giờ có mây che phủ – đó là những đặc điểm nổi bật của vị trí này.  Fukumuro dự định sẽ truyền tải điện thông qua tia vi sóng tới một trạm trên mặt đất. Một nghiên cứu của International Academy of Astronautics cho hay, từ 10 đến 20 năm tới có thể xây dựng nhà máy điện đầu tiên trên quỹ đạo.  Tuy nhiên việc bắn các tế bào quang điện lên vũ trụ bằng tên lửa có hiệu quả hay không, đây còn là chuyện rất xa vời. Một điều chắc chắn phải được giải quyết là làm sao để giảm đáng kể trọng lượng của tế bào quang điện, hay sản xuất chúng thông qua máy in ngay trên vũ trụ.  Claudio Lenoardi: Máy bay gá lắp       Việc gá lắp các khoang máy bay sẽ làm cho hành khách cũng như hành lý, hàng hoá lên máy may nhanh chóng hơn. Đến một ngày nào đó người ta có thể gá lắp các container chứa khí hydro hay các thùng chứa bình ắc quy vào những chiếc máy bay dùng năng lượng điện.  Claudio Leonardi, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ Lausanne đang xúc tiến một đề án mang tên Clip-Air , theo đó hành khách đi máy bay trong tương lai khi xuất phát từ một ga xe lửa có thể lên khoang đa chức năng đi thẳng ra sân bay bằng đường sắt, từ đây lên thẳng máy bay mà không cần hoàn tất các thủ tục để lên máy bay.   Có thể lắp tới ba cabin, mỗi cabin dài 30 mét tại sân bay vào một loại máy bay chuyên dụng. Mỗi cabin có thể chứa tới 150 hành khách, tương đương một máy bay Airbus-A320. Cũng có thể gá lắp các khoang chở hàng hoá, hành lý theo nhu cầu vào chiếc máy bay này.   Ý tưởng này còn tiếp tục được Đại học Glasgow phát triển. Hệ thống Horizon của họ gồm một tàu lượn hoạt động bằng điện, luôn ở gần một đường băng chuyên dụng ở sân bay và chỉ tiếp đất khi ca bin tàu hỏa tới và gá lắp vào, sau đó lại cất cánh bay tiếp. Bên cạnh hành khách trong các ca bin này còn có các bình ắc quy mới nạp điện để máy bay có thể tiếp tục bay. Khi hạ cánh, những ca bin này tách khỏi máy bay và chạy tiếp đến các thành phố khác thông qua truyền động từ tính.  Michael Sterner: Tàu thuỷ trở thành máy phát điện  Hiện đã có một số ý tưởng về việc khai thác năng lượng từ biển cả. Tuy nhiên chưa có phương án nào tiến xa như phương án của Michael Sterner, giáo sư về tích năng lượng và hệ thống năng lượng thuộc ĐH Khoa học ứng dụng Regensburg, Đức. Ông dự định dùng những tàu thuỷ dài khoảng 100 mét điều khiển bằng computer hoạt động trên Bắc Đại tây dương để tạo ra khí hydro.  Ngay khi có gió đẩy tàu chạy, dòng nước sẽ làm cho turbine tích hợp trong con tàu tạo ra điện từ đó thông qua điện phân để sản xuất khí hydro. Sterner cho rằng, trong điều kiện thuận lợi về gió, con tàu có thể tạo ra năng lượng ổn định dưới dạng khí hydro và tích trong những thùng lớn. Sau đó, khí hydro sẽ được bơm sang những thùng lớn trên bờ và nguồn năng lượng này có thể sử dụng thí dụ với ô tô chạy bằng khí hydro.   Cánh buồm là những Flettnerrotor, đây là những turbine gió dạng thẳng đứng. Một con tàu có thể tạo ra hai Megawatt điện. Các bộ phận cấu thành hiện đã có – giờ cần có người đứng ra đóng con tàu năng lượng đầu tiên này.  Edmund Kelly: Nhà máy điện mặt trời bồng bềnh  Thông thường các nhà máy điện mặt trời có năng suất cao hơn khi được mặt trời chiếu sáng nhiều hơn. Vì vậy từ lâu các nhà khoa học đã lên kế hoạch xây dựng các nhà máy điện mặt trời trên sa mạc và thậm chí cả trên không gian. Nhà nghiên cứu Edmund Kelly ở California và doanh nghiệp khởi nghiệp Stratosolar của ông đang tính đến một phương án mới: xây dựng các nhà máy điện mặt trời và neo lơ lửng trên tầng bình lưu.   Những quả bong bóng khổng lồ chứa hàng nghìn tấn khí nhiên liệu mang theo những tế bào quang điện mỏng dính lên bầu trời ở độ cao 20 km.   Đây là nơi mặt trời chiếu sáng liên tục suốt cả ngày, không có gió và không khí rất lạnh do đó hiệu suất của điện mặt trời ở đây cao hơn nhiều so với ở trên mặt đất. Dòng điện từ quả bóng quang điện trên không khổng lồ được truyền qua giây cáp xuống trái đất, dây cáp này đồng thời cũng là giây neo bong bóng. Theo tính toán của nhà nghiên cứu Kelly, mặc dù chi phí xây dựng cực kỳ lớn nhưng giá thành điện mặt trời trên tầng bình lưu rẻ hơn gấp ba lần so với giá thành điện mặt trời trên trái đất hiện nay.   Neil Palmer: Tái tạo điện từ những tia chớp  Bầu khí quyển trái đất có điện tích cực lớn. Mỗi ngày trên thế giới có tới ba triệu tia chớp trên bầu trời. Một nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Southampton (Anh) do nhà vật lý Neil Palmer đứng đầu cùng với các nhà nghiên cứu của hãng chế tạo điện thoại di động Phần Lan Nokia đã xem xét khả năng tận dụng năng lượng này để vận hành các thiết bị điện trong cuộc sống của chúng ta.  Các nhà khoa học đã tạo được những tia chớp mạnh 200.000 Volt ở trong phòng thí nghiệm, họ dùng một thiết bị thu chuyên dụng để tiếp nhận nguồn năng lượng này và nạp dòng điện vào một Lumia-925-Smartphone, mà không làm tổn hại đến chiếc điện thoại di động. Cũng với cách tương tự, các nhà nghiên cứu khác cũng sử dụng những cột tháp khổng lồ để bắt các tia chớp và từ đó gặt hái điện từ không khí. Vấn đề là ở chỗ: việc này diễn ra như thế nào và liệu có hiệu quả hay không, đây vẫn là những câu hỏi còn để ngỏ.   Louis Michaud: Lấy điện từ những cơn lốc xoáy     Kỹ sư Louis Michaud đang nghiên cứu tại một cơ sở thí nghiệm   về nhà máy điện lốc xoáy.     Lốc xoáy là nỗi kinh hoàng với rất nhiều người. Riêng kỹ sư Louis Michaud người Canada lại thấy lốc xoáy cực kỳ hấp dẫn đến mức ông tìm cách tạo ra chúng. Viên kỹ sư này muốn cùng doanh nghiệp khởi nghiệp Avetec của mình xây dựng các nhà máy điện tạo lốc xoáy để làm ra điện. Ông sử dụng nguồn khí thải nóng từ các nhà máy luyện thép hay nhà máy nhiệt điện cho chạy qua những ống khói cao và không khí bốc lên cao theo chiều xoắn ốc.   Không khí bên ngoài lạnh hơn nên phía trên ống khói hình thành một lực hút xoáy, điều này tạo ra một lốc xoáy cao khoảng 40 mét. Nhà nghiên cứu Michaud hy vọng năng lượng hình thành ở đây đủ để vận hành một turbine ở dưới chân tháp và từ đó tạo ra điện.  Bằng cách này có thể dùng khí thải nóng của một nhà máy điện chạy than công suất 500 Megawatt tạo ra lốc xoáy trong tháp thêm một lượng điện lên tới 200 Megawat.  Kỹ sư Michaud đã nhận được một sự hỗ trợ đắc lực của Peter Thiel, nguyên CEO ở PayPal và là nhà đầu tư số một tại Facebook – ông này đóng góp 300.000 đôla để xây dựng một nguyên mẫu.   Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Muốn không được” và “được không muốn”      Trong khi phần lớn doanh nghiệp tư nhân muốn mà không đủ khả năng nghiên cứu đổi mới công nghệ thì các doanh nghiệp lớn của Nhà nước lại đầu tư rất ít vào lĩnh vực này. Đồng thời, thủ tục tài chính rườm rà đã gây trở ngại cho chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng…    Theo TS Lê Xuân Bá, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Trung ương thì tỷ lệ đầu tư cho KH&CN của khu vực doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng chi cho KH&CN cả nước, trong khi ở Nhật và ở Đức từ cách đây gần 20 năm đã là khoảng 80 và gần 70%. Sở dĩ có nhu cầu cao song lại không đầu tư nhiều cho KH&CN vì doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm một nguồn lực lớn trong nền kinh tế, đặc biệt về vốn. Một thống kê gần đây cho thấy, cả nước có khoảng 4.000 DNNN, chỉ chiếm 3% số DN cả nước nhưng lại chiếm tới 50% tổng vốn đầu tư nhà nước và 60% lượng tín dụng nhà nước, song mức độ đầu tư cho KH&CN của DNNN còn quá ít, ước tính các tổng công ty chỉ chi 0,25% doanh thu cho nghiên cứu, quá thấp so với tỷ lệ 5- 10% của doanh nghiệp tại các nước phát triển. TS Bá nhận xét: “Nhiều tổng công ty có viện nghiên cứu riêng, song phần lớn chỉ là sự lắp ghép cơ học theo chủ trương của “trên”. Sự tồn tại của viện không bắt nguồn từ nhu cầu đổi mới công nghệ của công ty, trái lại, thường bị xem là gánh nặng”.  Ngay cả khi DNNN đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ thì động lực của những khoản đầu tư như vậy cũng còn là một câu hỏi. DNNN mua thiết bị mới đắt hơn DN tư nhân, sử dụng không hiệu quả trở thành “chuyện thường”.  Mặc dù việc phê duyệt hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho doanh nghiệp của Bộ KH&CN không phân biệt loại hình kinh tế. Nếu như năm 2004, số đề tài của DN tư nhân được hỗ trợ kinh phí nghiên cứu chỉ bằng nửa  số đề tài của DNNN; thì đến năm 2006, tỷ lệ trên là gấp rưỡi. Nhưng do hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều ở quy mô vừa và nhỏ, không có viện nghiên cứu riêng, trình độ công nghệ lạc hậu, vì vậy, dù có động cơ đổi mới công nghệ mạnh hơn các DNNN, song hầu hết đều không đủ khả năng.  “Chính sách ưu đãi về thuế không có tác dụng đối với những doanh nghiệp không đủ vốn để đổi mới công nghệ” – TS Bá đánh giá.    Cần thoáng hơn   Là tác giả “máy chữa cháy thế hệ mới” từng được nhiều báo nhắc đến, ông Phan Đình Phương, công ty An Sinh, ghi nhận: “Không thể nào hoàn thành nghiên cứu nếu không có sự hỗ trợ kinh phí nghiên cứu của Nhà nước”, nhưng cho rằng thủ tục cấp kinh phí cho nghiên cứu không thể nào theo cách thông thường: “Không phải ai khác, mà chính DN phải chịu toàn bộ trách nhiệm khi nghiên cứu ứng dụng thất bại. Vì thế chỉ cần kiểm tra “khâu cuối”: sản phẩm nghiên cứu có gì ưu việt hơn sản phẩm trước đó? Chỉ tiêu nào xác định thành công? Có đáp ứng nhu cầu xã hội không… Cần gì phải kiểm tra vé taxi, hóa đơn khách sạn, chi phí giao dịch?”. Ngoài ra, cơ chế xét duyệt hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cũng cần thoáng hơn: “Không nên giới hạn mỗi DN mỗi lần chỉ một đề tài. Tác giả càng nhiều ý tưởng trên nhiều lĩnh vực càng dễ phối hợp”.  Cũng nhờ hỗ trợ kinh phí nghiên cứu mà chế phẩm SH’99 (phòng trừ virus gây đốm trắng cho tôm sú) do Công ty TNHH Ứng dụng Công nghệ sinh học được tiêu thụ mạnh ở Sóc Trăng. Bà Trịnh Hoàng Mai, Giám đốc công ty cho biết: Theo quy định, DN phải có kinh phí đối ứng là 70%. Do vốn công ty nhỏ (chủ yếu do thành viên là các nhà khoa học đóng góp) nên công ty phải huy động vốn từ các trang trại nuôi tôm. Tuy nhiên chủ các trang trại nuôi tôm lại không có thói quen lấy chứng từ, nên qua kiểm tra tài chính, vốn đối ứng của công ty mới chỉ đạt trên 20%. Vì vậy mà bà Mai đề nghị xem xét lại tỷ lệ hỗ trợ kinh phí, “có thể lên tới mức 60%”.  Chị Trần Thị Xuân, chuyên viên theo dõi, đánh giá việc hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho DN của Bộ KH&CN cũng cho biết: Kinh phí hỗ trợ nghiên cứu cho DN được cấp thông qua Kho bạc, nơi DN đóng trụ sở chính, song do khâu xét cấp kinh phí phải qua nhiều cửa khiến tiến độ nghiên cứu bị chậm rất nhiều. Ngoài ra, quy định DN phải có vốn đối ứng 70% là nguyên nhân khiến nhiều DN muốn mà không thể nhận hỗ trợ nghiên cứu.  Và một loạt đề xuất thay đổi cơ chế tài chính để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng được TS Lê Xuân Bá nêu ra: Cho phép DN được hạch toán các khoản chi cho nghiên cứu công nghệ, đầu tư để ứng dụng công nghệ cao vào giá thành sản phẩm. Để thực hiện giải pháp này, cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm tối đa doanh thu mà DN được phép hạch toán để chi cho hoạt động KH&CN của mình (như ký hợp đồng hợp tác nghiên cứu, bồi dưỡng nguồn lực, ứng dụng KH&CN…); cho phép DN được miễn thuế thu nhập DN đối với phần lợi nhuận thu được từ ứng dụng các kết quả nghiên cứu; miễn thuế VAT, thuế thu nhập cho các viện R&D đối với các hợp đồng chuyển giao công  nghệ do đơn vị tạo ra; sửa cơ chế tài trợ, đầu tư Nhà nước cho KH&CN theo hướng gián tiếp (tạo điều kiện hạ tầng, quỹ đầu tư mạo hiểm…), hạn chế đầu tư trực tiếp kiểu xin – cho.  Trần Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Murray Gell-Mann: Vua của các hạt cơ bản      Ngày 24 tháng 5, 2019, Murray Gell-Mann đã mất tại nhà riêng ở Santa Fe, New Mexico, Hoa Kỳ, hưởng thọ 89 tuổi. Ông là vị “anh hùng” có công giải mã núi hạt được quan sát vào những năm 1950-1960 đem lại cho nó một trật tự.      Murray Gell-Mann nhận giải thưởng Nobel năm 1969.  Trên hết, ông là người tìm ra định luật ba (3) hạt cơ bản được ông đặt cho cái tên bất hủ là Quark tạo thành các hạt neutron và photon trong mỗi nguyên tử. Những câu chuyện khám phá của ông, từ “Bát chánh đạo”, một loại bảng tuần hoàn, trong thế giới hạt đến hạt Quark, là đầy tính chất huyền thoại.  Gell-Mann nổi tiếng từ nhỏ là một thần đồng. Ông được sinh ra tại thành phố New York là con của một gia đình Do Thái giáo từ đế chế Áo-Hung di dân sang Mỹ năm 1911. Lúc mười tuổi, ông đã đọc Finnegans Wake của James Joyce, một tác phẩm khó đọc nhưng lại có vai trò đối với ông trong việc đặt tên “quark” cho hạt cơ bản ba mươi lăm sau. Với tuổi 15 ông bước vào Đại học Yale với học bổng của trường để học vật lý, và năm 21 tuổi ông hoàn tất tiến sĩ tại Đại học MIT dưới sự hướng dẫn của Victor Weisskopf. Ông được xem là “Vua của các hạt cơ bản”, xuất hiện từ sự hỗn độn của thế giới hạt những năm 1950 – 1960 của vô số hạt mới đến từ vũ trụ và các phòng thí nghiệm như là một Mendeleev mới của thế kỷ 20 để “làm luật” cho thế giới hạt, sắp xếp các hạt cơ bản theo mô hình “Bát chánh đạo” có tính tuần hoàn, một từ nhà Phật mà ông đã mượn từ vốn kiến thức hiểu biết uyên thâm; là người, dựa trên kiến thức lý thuyết toán nhóm, đặt ra tiên đề “ba hạt quark” (khái niệm quark lấy từ Finnegans) là cấu trúc tất yếu của các hạt vật chất proton và neutron của nhân nguyên tử (bên cạnh George Zweig độc lập), mô tả các tính chất khác thường của chúng, một phát kiến thiên tài, điều sau đó được thực nghiệm ở các máy gia tốc mạnh xác nhận tuyệt vời như một sự tiên tri.    Minh họa một proton gồm hai quark u và một quark d.  Năm 1955, với sáng kiến của Feynman, Gell-Mann được bổ nhiệm làm giáo sự tại Đại học Celtech, một năm sau trở thành giáo sư thực thụ, giáo sư trẻ nhất (27) ở Caltech và hoạt động ở đó cho đến lúc về hưu 1993. Caltech đã trả ông một số lương ưu đãi nhất thời bấy giờ để giữ ông lại trước sự cạnh tranh của các đại học danh giá khác. Feynman có lời đánh giá bất hủ về Gell-Mann: “Tri thức mà chúng ta có về vật lý cơ bản không chứa một ý tưởng nào mà lại không mang tên của Murray Gell-Mann.” Những năm của thập kỷ 1960, một đồng nghiệp đã gọi Gell-Mann và Feynman là “hai tài sản nóng nhất” trong ngành vật lý lý thuyết của Hoa Kỳ.  Tại hội nghị khoa học ở Brookhaven năm 1963, sau khi thuyết trình, ông từ chối nộp bài để đăng. Thay vào đó ông nộp một trang về âm nhạc của bản giao hưởng dang dở của Schubert, và bài đã được đăng thay cho bài tham luận khoa học. Ông không là một người đơn giản. Vật lý hạt là một ngành rất cạnh tranh. Đấu tranh với nhau là “thường tình”. Bạn hôm nay có thể là đối thủ ngày mai. Gell-Mann có thể phản ứng một cách ‘không thương tiếc”. Không riêng gì ông, Feynman, hay Pauli hoặc Oppenheimer. Lee và Yang, nhiều năm sau vinh quang, đã chia tay một cách cay đắng. Ý tưởng của người này có thể bị quên lãng, chống báng, hay cả chế nhạo bởi người khác. Thuyết trường Yang-Mills ra đời năm 1954, nhưng mười năm tới, chẳng có ai mời hai tác giả thuyết trình cả. Tương tự, các ý tưởng Bát chánh đạo, mô hình quark của Gell-Mann, ý tưởng trường Higgs tạo khối lượng của Peter Higgs, hay ý tưởng lực hợp nhất điện-yếu của Weinberg, và cứ như thế.    Gell-Mann lúc đầu gọi các quark của ông là quirk hay quork (kỳ lạ). Nhưng khi đọc lại tiểu thuyết “Finnegans Wake” của James Joyce (1882-1941) mà ông đã từng đọc ở tuổi teen, thì ông thấy một con hải âu say rượu gọi bia, thay vì “Ba chai bia (đơn vị Anh) cho ông Mark” (Three quarts for Mister Mark) thì nó lại nói chệch ra: “Ba quark cho Muster Mark” (Three quarks for Muster Mark). Quark, đọc là quạc trong tiếng Việt, cũng còn là tiếng kêu của loài chim hải âu. Trời, sao nó phù hợp với ý tưởng ba quark của các proton và neutron của ông đến thế. Ông lấy ngay cái tên quark! Quark ở Đức lại có ý nghĩa là một món phô mai tươi như cottage cheese, đa dụng.  Năm 1969, tức 5 năm sau sáng kiến mô hình quark và một năm sau khi quark được tìm thấy thật tại Trung tâm gia tốc tuyến tính Stanford (SLAC) ở California, ông được tặng giải Nobel “cho những đóng góp và khám phá liên quan đến sự xếp loại các hạt cơ bản và tương tác của chúng”. Nhưng tập sách đăng lại các bài nói chuyện của các nhà nhận giải năm đó có một trang để trống dành cho Gell-Mann! Ông đọc bài diễn văn nhưng không nộp bản thảo cho ủy ban Nobel in. Ông là một trong 20 nhân vật được giải thưởng Nobel đã ký tên vào “Stockholm Memorandum” về Sự bền vững toàn cầu tại hội nghị Stockholm lần thứ ba năm 2011 của các vị được giải thưởng.  Sau giải Nobel 1969, tuy Gell-Mann vẫn còn tích cực trong ngành vật lý hạt, còn đóng góp thêm vào sự hình thành của thuyết sắc động học lượng tử cho lực mạnh đầu những năm 1970, nhưng sự lãnh đạo khoa học đang được chuyển dần sang thế hệ mới của những nhà vật lý hạt trẻ. Vai trò của Gell-Mann làm cho người ta nhớ lại một nhân vật lịch sử khác thời cổ đại. Giống như Moses đã làm những điều tốt đẹp cho dân tộc Do Thái, Gell-Mann đã đưa các nhà vật lý hạt ra khỏi sa mạc để đến thành phố Jericho, và từ đây những nhà vật lý trẻ sẽ tiếp tục sự nghiệp dẫn dắt chúng ta vào Miền đất hứa.  Ông là người có sở thích rất đa dạng và mạnh mẽ. “Tôi thích sự đa dạng và tôi thích lịch sử tự nhiên đằng sau sự đa dạng. Tại sao có nhiều ngôn ngữ, nhiều loài chim và cả nhiều chứng loạn thần kinh chức năng? Điều thú vị là tìm ra cấu trúc đằng sau đó.” Ông nổi tiếng có niềm đam mê mãnh liệt quan sát các loài chim. Theo George Johnson, tác giả tiểu sử Strange Beauty về ông, thì Gell-Mann đã quan sát được gần bốn ngàn trong chín ngàn loài chim trên thế giới! Nhưng trong lãnh vực vật lý hạt, ông không phải chỉ “theo chim bắt bướm”, mà là kẻ sáng tạo, “thống lĩnh” thế giới hạt.  Một trong những bi kịch của đời ông là sự xa lìa hơn một thập niên khỏi đứa con gái Lisa của ông đã bỏ đi theo một nhóm Mác-Lê-Mao-ít cực tả đến mức độ cô ta không còn suy nghĩ lành mạnh nữa. Lisa là một cô gái rất thông minh từ nhỏ, giống như bố, và được mọi người kỳ vọng cũng sẽ trở thành một nhà khoa học xuất sắc. Nhóm này chỉ tan rã sau khi khối Đông Âu sụp đổ. Bản thân ông cũng có trải nghiệm không hay về chính trị, khi ông được mời có bốn buổi thuyết trình tại College de France tháng 6 năm 1972, nơi ông từng chiến đấu cho Bát chánh đạo. Vào buổi nói chuyện thứ ba ông thấy phòng chật ních cả trăm người tự nhận là Mao-ít được tổ chức. Họ không quan tâm đến các phép đối xứng trong vật lý hạt, mà chỉ quan tâm đến các bất đối xứng của quyền lực ngăn cách thế giới thứ nhất và thứ ba. Họ đã mắng chửi ông. Hôm sau, khi ông trở lại nói chuyện lần cuối, thì cũng thấy những người hôm trước có mặt ở đó, nên ông phải hủy bỏ và được đưa ra khỏi giảng đường.  Đầu năm 2010, để vinh danh và mừng sinh nhật Gell-Mann 80 tuổi, một Hội nghị về Cơ học lượng tử, Hạt cơ bản, Vũ trụ học lượng tử và Phức hợp được tổ chức trọng thể tại Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, với sự đồng tổ chức của Viện Nghiên cứu Santa Fe Institute, Hoa Kỳ. Tham dự Hội nghị có nhiều nhà vật lý giải Nobel kỳ cựu trong ngành vật lý hạt, trong đó có C.N. Yang.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/murray-gellmann-vua-cua-cac-hat-co-ban/20190530032911852p1c160.htm  “Khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi rất thích thú các môn lịch sử tự nhiên, ngôn ngữ học và khảo cổ học. Mặc dù sống ở thành phố New York, nhưng tôi cũng vẫn tìm đến những mảnh đất làng quê mà ở đó tôi có thể làm quen với các loại chim, bướm, cây và thảo mộc có hoa. Mặc dù thế tôi thấy bị thu hút mãnh liệt bởi các thành quả của sự tiến hóa sinh học và tiến hóa của nền văn hóa con người. Cho nên không phải là không tự nhiên khi tôi muốn thử hiểu chuỗi các mối quan hệ kết nối các định luật vật lý căn bản chi phối vật chất trong vũ trụ với sự vận hành của cấu trúc phức tạp và phong phú chúng ta thấy quanh ta mà chúng ta là một phần trong đó. Tầm quan trọng của các sự cố (accidents) trong lịch sử của vũ trụ không thể nói hết. Mỗi con người chúng ta là sản phẩm của một chuỗi vô cùng dài các biến cố mà mỗi mắt xích trong đó có thể đã khác đi (nếu lập lại). Hãy nghĩ đến các thăng giáng (fluctuations) đã tạo nên thiên hà chúng ta, những sự cố đã dẫn đến việc hình thành thái dương hệ, bao gồm việc ngưng tụ của bụi và khí, những thứ đã làm nên Trái đất, những sự cố đã góp phần định đoạt con đường đặc biệt cho cuộc sống bắt đầu tiến hóa trên Trái đất, và các sự cố đã góp phần vào sự tiến hóa của các loài với những đặc thù riêng, kể cả các dạng của loài người. Mỗi cá nhân chúng ta có gene là kết quả từ một chuỗi dài của các đột biến ngẫu nhiên và các cơ hội gieo giống, cũng như sự sàng lọc tự nhiên”. (Lời tự sự của Gell-Mann trong The Third Culture).          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ chế tạo máy đọc ý nghĩ      Các nhà khoa học thuộc Đại học Oregon, Mỹ, chế tạo một thiết bị cho phép đọc suy nghĩ của con người bằng cách quét các tín hiệu trong não sau đó xử lý và chuyển thông tin thành hình ảnh.                      					Khuôn mặt nguyên bản (original) và được tái tạo bằng cách đọc thông tin vùng vỏ não occipitotemporal (OTC) và hồi góc (ANG). Ảnh: The Journal of Neuroscience.           	Theo Science Alert, các nhà nghiên cứu chọn ra 23 tình nguyện viên và tiến hành kiểm chứng bằng bộ 1.000 bức ảnh màu in hình các khuôn mặt lấy ngẫu nhiên. Các bức ảnh này được tạo thành từ tổ hợp 300 đặc điểm khác nhau. Tình nguyện viên được xem hình ảnh trong khi não họ kết nối với máy cộng hưởng từ chức năng fMRI, thiết bị phát hiện những thay đổi tinh tế trong mạch máu của bộ não để theo dõi hoạt động của hệ thần kinh.  	Máy fMRI kết hợp với một chương trình trí tuệ nhân tạo chuyên phân tích và xử lý thông tin từ não của tình nguyện viên, sau đó tái tạo lại hình ảnh đang hiển thị trong não cùng lúc với bức ảnh mà các tình nguyện viên đang xem. Dựa trên sự nhận biết của não bộ đối với 300 đặc điểm ở các bức ảnh, nhóm nghiên cứu có thể giải mã và tái tạo hình ảnh trong não người.  	Giai đoạn một của thí nghiệm là dạy cho phần mềm trí tuệ nhân tạo cách đọc hoạt động thần kinh và giải mã thành các đặc điểm khuôn mặt tương ứng với hình ảnh mắt nhìn thấy. Quá trình so sánh giữa ảnh thật và ảnh tái tạo từ tín hiệu fMRI giúp phần mềm trí tuệ nhân tạo hiểu hơn về cách thức biểu đạt thông tin của não bộ từng người.  	Sau khi phần mềm trí tuệ nhân tạo quen với việc đọc thông tin từ não, giai đoạn hai của thí nghiệm được tiến hành. Lần này, phần mềm trí tuệ nhân tạo được giao nhiệm vụ phải tái tạo lại những gương mặt chỉ dựa trên hoạt động của não tình nguyện viên. Những hình ảnh tình nguyện viên xem ở giai đoạn này hoàn toàn khác với giai đoạn trước.  	Để tái tạo lại từng khuôn mặt, phần mềm trí tuệ nhân tạo dựa trên thông tin hoạt động từ hai vùng riêng biệt trong não người: hồi góc (ANG) xử lý thông tin liên quan đến ngôn ngữ, xử lý số, nhận thức không gian và sự hình thành ký ức sống động trong khi vỏ não occipitotemporal (OTC) xử lý tín hiệu thị giác.      “Chúng tôi có thể lấy ký ức của một ai đó, những thứ thuộc về nội tâm rất riêng tư, và đưa ra khỏi não của họ”, nhà thần kinh học Brice Kuhl, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết.      	Nghiên cứu được công bố hôm 1//6 trên tạp chí Journal of Neuroscience. Kết quả cho thấy khuôn mặt được tái tạo bằng thuật toán đọc suy nghĩ chưa mô tả được hình ảnh thực sự trong não, nhưng đã có thể mang đến một số thông tin cơ bản như giới tính, trạng thái vui buồn, hay màu da. Những chi tiết cơ bản khác của khuôn mặt có thể được đọc từ não.  	Nhóm nghiên cứu đang tăng độ chính xác của phần mềm trí tuệ nhân tạo và độ khó của công việc đọc thông tin bằng cách tái tạo hình ảnh trong trí nhớ. Đây là một kỹ thuật đòi hỏi nhiều thời gian nhưng hứa hẹn mang lại ứng dụng thú vị trong cuộc sống.    Có thể trong tương lai, con người sẽ gửi cho nhau những tin nhắn dưới dạng suy nghĩ và ký ức mà không cần phải viết hay nói ra. Tội phạm cũng có thể bị buộc phải khai ra hành vi phạm tội thông qua ký ức.    	Có thể trong tương lai, con người sẽ gửi cho nhau những tin nhắn dưới dạng suy nghĩ và ký ức mà không cần phải viết hay nói ra. Tội phạm cũng có thể bị buộc phải khai ra hành vi phạm tội thông qua ký ức.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Không có chuyện từ bỏ điện hạt nhân      Mỹ là nước tiêu thụ rất nhiều năng lượng, với 95 lò phản ứng đang hoạt động. Dư luận Mỹ hầu như không phản đối điện hạt nhân, nhà nước thậm chí đầu tư rất lớn cho nghiên cứu hạt nhân.      Nhà máy điện nguyên tử Oak Harbor (Ohio)  6 tỷ USD cho hoạt động dài hạn và nghiên cứu  Trong cơ cấu năng lượng của Mỹ thì điện hạt nhân chiếm 9% , đứng ở vị trí thứ 5 sau dầu mỏ (35 %) khí đốt (34 %), năng lượng tái tạo (12%) và than (10%). Với dân số là  330 triệu người nước Mỹ thải ra 13 % lượng khí thải nhà kính toàn cầu. Mỹ là nhà sản xuất dầu mỏ và khí đốt đứng hàng thứ hai thế giới. Hiện có 57 nhà máy điện hạt nhân với 95 lò phản ứng trải khắp 28 bang. Hầu hết ở phía đông Mississippi. Với 11 lò phản ứng, Illinois (13 triệu dân) có nhiều hơn bất kỳ bang nào khác. Hai lò phản ứng nữa tại một nhà máy điện hạt nhân hiện có ở Georgia hiện đang được xây dựng, dự kiến phát trực tiếp trong năm nay. Ở Mỹ hầu như không có ý kiến trái chiều về điện hạt nhân, không ai đòi đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân. Trong khi EU nay mới  tuyên bố điện hạt nhân là đòn bẩy cho quá trình khử cacbon và các mục tiêu khí hậu thì Washington đã theo đuổi chiến lược này  từ lâu.  Chương trình cơ sở hạ tầng của Tổng thống Joe Biden được thông qua vào năm ngoái sẽ cung cấp 6 tỷ USD cho hoạt động lâu dài và hơn 2,5 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân mới. Mỹ, cũng như Canada, muốn thúc đẩy sự phát triển lò phản ứng môđun nhỏ -Các “lò phản ứng hạt nhân tiên tiến” này nhỏ hơn, an toàn hơn, hiệu quả hơn và giá chỉ bằng một nửa so với công nghệ ngày nay.  Phó Tổng thống Kamala Harris đã nói rõ trong chiến dịch tranh cử rằng bà ủng hộ sử dụng “tạm thời” năng lượng hạt nhân. Đồng thời, chính phủ Biden, không giống như người tiền nhiệm Donald Trump, muốn đầu tư vào năng lượng tái tạo, sạch hơn và trợ cấp cho ô tô điện. Theo quan điểm của Washington, năng lượng hạt nhân sẽ giúp đạt được các mục tiêu khí hậu đầy tham vọng: không phát thải khí nhà kính vào năm 2050 và lĩnh vực năng lượng sạch 100% vào năm 2035. Bộ trưởng Năng lượng Jennifer Granholm  chỉ ra rằng năng lượng mặt trời và năng lượng gió đang ngày càng trở nên quan trọng hơn. Năng lượng tái tạo đã vượt qua than cách đây hai năm.    Nhà máy điện nguyên tử Diablo Canyon, đáp ứng 15 % nhu cầu về điện của California và sẽ đi vào hoạt động năm 2024  Theo một nghiên cứu của tổ chức phi chính phủ Environmental Defense Fund, để California đạt được các mục tiêu khí hậu cực kỳ tham vọng của mình, cần có năng lượng địa nhiệt và năng lượng hạt nhân cũng như khí tự nhiên bên cạnh năng lượng gió và mặt trời. Đây là cách duy nhất để đảm bảo cung cấp “điện sạch, ổn định” bất kể thời tiết như thế nào.  Không tranh cãi về lưu giữ chất thải cuối cùng  Trong cuộc trả lời phỏng vấn tờ WELT, Theo Gernot Wagner, nhà kinh tế – khí hậu tại Columbia Business School ở New York cho biết năng lượng hạt nhân được “nhìn nhận tích cực hơn” ở Mỹ so với ở châu Âu.  Nhà kinh tế học khí hậu Wagner không muốn gọi điện hạt nhân là “bền vững”. Các nhà máy điện chiếm ít không gian và hầu như không thải ra carbon dioxide nhưng có vấn đề về chất thải hạt nhân và yếu tố rủi ro. Người Mỹ nhìn nhận tích cực về năng lượng hạt nhân nhưng tránh tranh luận về việc loại bỏ chất thải cuối cùng. Mỹ không có một kho lưu trữ chất thải chung. Hầu hết chất thải vẫn ở lại  các nhà máy điện hạt nhân nơi đã sản sinh ra chúng.  Amory Lovins, giáo sư kỹ thuật môi trường tại Đại học Stanford, cho biết việc tính toán đầy đủ chi phí cho năng lượng hạt nhân là phức tạp đến mức không thể thực hiện được. Bạn sẽ phải tính đến rủi ro và chi phí khó định lượng. Chúng bao gồm rủi ro và chi phí gia hạn giấy phép, rủi ro ngừng hoạt động, lưu trữ và vận chuyển nhiên liệu đã qua sử dụng cũng như rủi ro và chi phí về tai nạn có thể xảy ra.   Hoài Nam lược dịch  https://www.welt.de/politik/ausland/plus236319231/USA-Das-Land-in-dem-der-Atomausstieg-tabu-ist.html          Author                .        
__label__tiasang Mỹ muốn giành lại vị trí dẫn đầu về siêu máy tính      Trong vòng 5 năm trở lại đây, Trung Quốc đã tung ra những siêu máy tính mạnh bậc nhất thế giới  là Thiên Hà 2 (Tianhe-2) và Thần Uy Thái Hồ Chi Quang (Sunway TaihuLight). Tuy nhiên, siêu máy tính mà Mỹ đang xây dựng đang hứa hẹn sẽ xô đổ vị trí của chúng.      Siêu máy tính Summit mà Mỹ đang xây dựng nhằm giành lại ngôi vị số 1 từ tay Trung Quốc.   Cuộc đua tới đỉnh cao  Suốt một thời gian dài cuộc cạnh tranh không ngầm giữa Mỹ và Trung Quốc đã diễn ra trên mọi lĩnh vực, từ ngành công nghiệp năng lượng mặt trời đến tái chế rác thải. Gần đây, cuộc chạy đua này đã lan sang cả nghiên cứu khoa học cơ bản và phát triển công nghệ.  Ở giai đoạn gần đây, Trung Quốc dường như đang vượt qua Mỹ. Từ nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) để xây dựng mạng lưới lượng tử (quantum network) tới các siêu máy tính mạnh nhất thế giới như hiện nay, Trung Quốc đã giành được vị trí số một. Thực tế cho thấy, hai siêu máy tính mạnh nhất của họ hiện vượt xa 21 siêu máy tính đối thủ của Mỹ do Bộ Năng lượng (DOE) đang vận hành.  Do đó, các nhà khoa học Mỹ rất mong muốn giành lại vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng, và chiếc  siêu máy tính mới đang được họ xây dựng có thể đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. Tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge ở tiểu bang Tennessee, các chuyên gia đang xây dựng Summit, siêu máy tính mạnh nhất Mỹ tính đến thời điểm này, dự kiến nó sẽ được hoàn thành vào năm 2018.  Summit không phải là dự án duy nhất về siêu máy tính. Tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne ở Lemont (bang Illinois), các nhà khoa học còn lên kế hoạch xây dựng một siêu máy tính khác, thậm chí còn mạnh hơn nhiều so với Summit. Được đặt tên là A21, cỗ máy này có thể đạt năng lực tính toán 1.000 tỉ tỉ phép tính mỗi giây hoặc 1018 phép tính, ước tính tương đương công suất tính toán của não bộ con người. Trên lý thuyết, hiệu suất tối đa của Summit là vào khoảng 200 tỉ tỉ phép tính.  Cuộc cạnh tranh nhiều ý nghĩa  Với những con số trên, cả hai siêu máy tính mới của Mỹ sẽ vượt xa Thần Uy Thái Hồ Chi Quang của Trung Quốc – hiện đang giữ danh hiệu mạnh nhất thế giới với năng lực tính toán 93 tỉ tỉ phép tính.  Dự tính, A21 sẽ được hoàn tất vào năm 2021, sớm hơn hai năm so lịch trình ban đầu nhờ sự trợ giúp của Intel và Cray. Các nhà khoa học tham gia dự án Summit đã lên kế hoạch gặp nhau trong tuần này tại Knoxville (Tennessee) để kiểm tra những thiết kế chi tiết đầu tiên.  Trước đó, Science cũng cho biết, Trung Quốc và cả Nhật Bản nhiều khả năng sẽ tung ra siêu máy tính 1.000 tỉ tỉ phép tính đầu tiên như Trung Quốc sẽ ra mắt Thiên Hà 3 vào năm 2020, theo kế hoạch 5 năm của họ.  Chí ít, Summitvà A21 sẽ giúp Mỹ không bị bỏ lại sau những thành tựu của Trung Quốc trong lĩnh vực siêu máy tính. Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã là quốc gia dẫn đầu thế giới. Trung Quốc chỉ thực sự giành được danh hiệu này vào năm 2013 và duy trì vị trí cho đến nay.  Hải Đăng dịch  Nguồn: https://futurism.com/how-united-states-plans-reclaim-supercomputer-dominance/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ muốn lập bản đồ bộ não      Bà Cori Bargmann, nhà khoa học người Mỹ gốc  Đức, vừa được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm phụ trách dự án lập bản đồ về bộ  não theo sáng kiến của ông. Đây là một dự án có tính tổng hợp cao và sẽ  diễn ra trong thời gian dài nhằm tìm hiểu rõ hơn chức năng hoạt động của  bộ não để điều trị các bệnh như Alzheimer, trầm cảm, tự kỷ… Trả lời  phỏng vấn, bà Bargmann cho rằng, dự án này có lẽ còn phức tạp hơn cả sứ  mạng Mặt Trăng của “Apollo”.     Thưa Giáo sư, tại sao bà và các đồng nghiệp có ý định vẽ bản đồ về bộ não con người?  Cori Bargmann: Ở đây có nhiều lý do. Lý do thứ nhất, cũng là điều khích lệ tôi nhất, đó là khía cạnh khoa học. Chúng ta là con người, chúng ta có những khả năng mà không loài vật nào có, tôi nghĩ không có gì hấp dẫn, thú vị hơn là sự hiểu biết về bộ não con người. Hiểu bộ não tức là hiểu thực sự chúng ta là ai. Lý do thứ hai là vấn đề sức khoẻ. Trên thế giới, cứ ba người thì có một người bị bệnh trầm trọng liên quan đến sự rối loạn của bộ não – như bệnh Parkinson, trầm cảm, tự kỷ và nhiều căn bệnh khác. Vì thế điều rất quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu về sự rối loạn bộ não để điều trị và để tránh không mắc những căn bệnh này  Với cái nhìn từ hôm nay thì việc vẽ bản đồ bộ não con người không có gì là không thể?  Bộ não con người có hàng tỷ tế bào thần kinh và hàng nghìn tỷ kết nối. Thông tin trôi nhanh qua các dòng chảy, nhờ vậy chúng ta có khả năng cảm nhận, cảm giác hoặc ra quyết định. Trong quá khứ, chúng ta chỉ có thể phân tích từng tế bào thần kinh riêng lẻ hay phân tích toàn bộ hoạt động của bộ não. Nhưng mấy năm gần đây đã có những thay đổi rất cơ bản về công nghệ, nhờ đó chúng ta có thể nghĩ đến một con đường mà ở cuối con đường đó, chúng ta hiểu thực sự về chức năng hoạt động của bộ não và sự hoạt động đó không tĩnh mà giống như Google Maps với một dòng chảy liên tục để chúng ta quan sát. Ngày nay chúng ta có thể cùng một lúc quan sát nhiều tế bào thần kinh hay kích thích từng tế bào riêng lẻ. Ngoài ra còn có những tiến bộ không thể tưởng tượng nổi về công nghệ máy tính.  Thưa bà, liệu trong tương lai sẽ có một ứng dụng (App) nào đó giúp ta theo dõi hoạt động của bộ não?  Tôi nghĩ đến một ngày nào đó sẽ có ứng dụng cho phép chúng ta hiểu hoạt động bộ não của mình. Điều này sẽ rất hữu ích, chẳng hạn, đối với người bị đột quỵ, vì nó cảm nhận được hoạt động của bộ não nên có thể cảnh báo, sau đó nhắc nhở người đó uống thuốc và tới ngay bệnh viện.  Vậy ứng dụng đó sẽ hoạt động như thế nào?  Cho đến nay mọi điều mới là suy đoán. Đã có loại như băng trán, có thể đo giao động điện áp trên bề mặt của đầu. Nhưng trong tương lai thì những người có nguy cơ bị bệnh cao có thể sẽ được cấy một cái gì đó vào não để đo hoạt động của bộ não. Tất nhiên đó sẽ là loại thiết bị cực kỳ phức tạp và chỉ được cấy ở những ca bệnh rất nặng.     “Hiểu được bộ não là một vấn đề cực kỳ to lớn”  Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ví dự án này với sứ mạng Mặt Trăng của “Apollo”. Xin bà cho ý kiến về nhận xét này.  Tôi sinh năm 1961 và vào cái tuần con người đầu tiên bước chân lên Mặt Trăng tôi vừa tám tuổi. Vì vậy sứ mạng “Apollo” đã trở thành một phần thời niên thiếu của tôi. Tôi còn nhớ tôi đã hồi hộp như thế nào khi nhìn lên Mặt Trăng, cứ như tôi có thể trông thấy một cái gì đó ở trên đấy. Tôi nghĩ rằng, sứ mạng “Apollo” đã làm cho nhiều người quan tâm, chú ý nhiều hơn tới khoa học.   Vẽ bản đồ bộ não cũng có tiềm năng cuốn hút, lôi kéo con người. Nhưng, tất nhiên chúng tôi mới ở bước đi ban đầu. Chúng tôi sẽ mất vài ba năm để cải thiện các kỹ thuật và giải pháp và sau đó áp dụng chúng. Tiếp theo, chúng tôi cần có thời gian khoảng từ 5 đến 10 năm để các thông tin đến được với các thầy thuốc cũng như các hãng dược phẩm. Bản thân tôi đã tham gia một số dự án khoa học, kết quả là dẫn đến sự ra đời của một số loại thuốc mới, nghĩa là tôi biết mình có thể hoàn thành công việc nhưng đồng thời tôi cũng biết sẽ mất nhiều thời gian. Có lẽ toàn bộ công việc này còn phức tạp hơn nhiều so với dự án “Apollo”.    Tổng thống Obama có đặt ra vấn đề thời gian với bà không?  Không. Thường thì các nhà khoa học làm việc trong khoảng thời gian từ năm đến mười năm và tôi nghĩ rằng trong khoảng thời gian đó sẽ đạt được tiến bộ thực sự và rất thú vị.  Hiện có dự án não bộ của châu Âu và nhiều dự án của tư nhân. Bà nhìn nhận vấn đề này như thế nào?  Để hiểu được bộ não là một vấn đề cực kỳ to lớn vì thế càng nhiều người tham gia càng tốt. Tôi thấy các cách tiếp cận khác nhau rất có ý nghĩa. Vấn đề đối với Sáng kiến của Obama là ở chỗ chúng tôi sẽ làm nhiều thực nghiệm để tìm hiểu về bộ não. Dự án của châu Âu xuất phát từ quan niệm, bộ não là một cái máy tính cực kỳ phức tạp mà chúng ta không nhất thiết phải hiểu đúng mọi thứ về nó, chúng ta chỉ cần nạp vào máy tính những điều mà chúng ta đã biết về bộ não sau đó, não sẽ hoạt động thông qua mô phỏng trên máy tính. Tôi là một bộ phận của dự án Mỹ và tôi nghĩ rằng, chúng ta hiểu biết chưa đầy đủ về bộ não để điều khiển máy tính làm việc như một bộ não thật sự.   Bà có cảm giác như thế nào khi được ông Obama bổ nhiệm?  Không phải ai cũng có có cơ hội được nghe Tổng thống Mỹ nói rằng việc người đó đang làm là quan trọng và cần phải hỗ trợ. Những người làm khoa học thường có thói quen không cần được chú ý, quan tâm. Thật là vinh hạnh khi được hỏi ý kiến, bởi vậy người ta buộc phải trả lời đồng ý. Cho dù đây là một công việc thứ hai, không được trả lương.  Về nhân vật: Bà Cornelia Isabella Bargmann, còn gọi là  Cori, là nhà sinh học thần kinh Mỹ đã được vinh danh nhiều lần về thành  tựu trong nghiên cứu khoa học của mình. Một trong những nghiên cứu của  bà là cảm nhận giác quan ở giun đũa. Bố mẹ bà lớn lên ở Berlin, còn bà  sinh năm 1961 ở Virginia. Bà kết hôn với nhà khoa học thần kinh người Mỹ  Richard Axel, Nobel Y học năm 2004.      Xuân Hoài dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ phóng thử thành công tên lửa mạnh nhất trong lịch sử      Ngày 11/3 vừa qua, Cơ quan Hàng không Vũ trụ  Mỹ NASA đã phóng thử thành công loại tên lửa vận tải kiểu mới có tên  Space Launch System (SLS). Đây là một trong hai vụ thử trước khi SLS bắt  đầu chở tàu vũ trụ Orion và các thiết bị thăm dò vũ trụ khác của NASA  bay vào không gian xa xôi.    Vụ phóng thử được thực hiện vào 3h30 ngày 11/3 (giờ địa phương) tại căn cứ thử tên lửa ở Promontory (bang Utah) của công ty Orbital ATK, một đối tác thương mại của NASA. Toàn bộ quá trình đốt nhiên liệu kéo dài trong 126 giây, sinh ra một lực đẩy khoảng 3,6 triệu pound, đưa tên lửa tách ra khỏi bệ phóng và bay lên trời. Tên lửa vận tải trị giá 3,6 triệu USD này khi phóng sinh ra nhiệt độ cao tới 2.500 độ C.   Sau này khi được hoàn tất, tên lửa SLS sẽ sử dụng hai bộ trợ đẩy loại năm tầng (five-segment booster) để tăng sức đẩy khi nó thực hiện sứ mệnh bay vào không gian xa xôi. SLS có thể chở một trọng lượng 130 tấn bay vào Hệ Mặt trời.  “Vụ thử này đánh dấu một bước tiến quan trọng của Hệ thống phóng vũ trụ SLS và phát triển tiếp theo của nó. Sự hợp tác giữa chúng tôi với Orbital ATK và 500 nhà cung cấp trong cả nước đã giúp chúng tôi chế tạo được loại tên lửa mạnh nhất trên thế giới,” ông Todd May, Giám đốc chương trình SLS, nói.   Orbital ATK là một công ty tư nhân chuyên về lĩnh vực chế tạo tàu vũ trụ, tên lửa quân sự, vệ tinh, dịch vụ vũ trụ v.v…, doanh thu năm 2013 đạt 1,37 tỷ USD.  Tên lửa SLS sẽ được phóng chính thức lần đầu vào năm 2017 nhằm thực hiện sứ mệnh thăm dò các tiểu hành tinh và sao Hỏa, giúp loài người sớm đặt chân lên hành tinh Đỏ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ phóng vệ tinh thời tiết thế hệ mới      Dự kiến ngày mai, 19/11, Mỹ sẽ phóng một vệ tinh thời tiết thế hệ mới nhất có khả năng chụp hình ảnh các hiện tượng thời tiết và khí quyển với tốc độ 30 giây/ảnh.    Vệ tinh GOES-R (Vệ tinh Địa tĩnh Môi trường Nghiệp vụ – thế hệ R) được phóng lên quỹ đạo ở vị trí cách Trái đất 35.800km – gần bằng một phần mười khoảng cách từ Trái đất đến Mặt Trăng. GOES-R sẽ ghi lại hình ảnh các hiện tượng thời tiết và khí quyển ở Mỹ với tốc độ 30 giây/ảnh, nhanh hơn rất nhiều so với khoảng thời gian vài phút mà các vệ tinh GOES  hiện tại thực hiện. Những hình ảnh được chụp nhanh này sẽ cho phép theo dõi tiến triển của các cơn bão, hoặc quá trình lan tỏa khói của những vụ cháy rừng hoặc tro bụi của núi lửa, để có phản ứng tốt hơn trong những trường hợp khẩn cấp.  Không chỉ chụp ảnh với tốc độ nhanh hơn, GOES-R còn chụp ảnh với độ sắc nét cao hơn và trên khoảng bước sóng rộng hơn so với vệ tinh GOES hiện tại. Theo Stephen Volz, phó quản lí tại NOAA (Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia), TP Silver Spring, bang Maryland, thì “Nó giống như tiến từ tivi đen trắng lên tivi có độ phân giải siêu cao vậy”.    Hình ảnh đồ họa của GOES-R  Có thể so sánh GOES-R với vệ tinh Himawari-8 của Cơ quan Khí tượng Nhật Bản được phóng vào năm 2014, và Himawari-9 phóng vào ngày 1/11 vừa qua. Tất cả những vệ tinh này đều mang theo thiết bị chụp ảnh tiên tiến, quan sát Trái đất trong 16 dải bước sóng, từ vùng có ánh sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường đến vùng ánh sáng cận hồng ngoại, cung cấp những góc nhìn khác nhau về các hiện tượng khí quyển. Thực tế, những hình ảnh do Himawari-8 chụp lại đã tạo điều kiện cho các nhà khí tượng học đo được chính xác sự lan rộng của các chất ô nhiễm ở Đông Á.  Chạy thử nghiệm  Các nhà khí tượng học Mỹ đang kiểm tra khả năng dự báo mới của GOES-R so với hai vệ tinh GOES hiện tại. Tại nhiều thời điểm, bao gồm cả thời điểm diễn ra cơn bão Sandy năm 2012, NOAA đã chuyển một trong hai vệ tinh GOES sang chế độ quét siêu nhanh thử nghiệm, giúp cập nhật dữ liệu từng phút.  Bằng cách phân tích những dữ liệu thử nghiệm này, các nhà dự báo đã xác định được những xáo trộn trong khí quyển – dấu hiệu báo trước các cơn bão lớn, ngay từ khi chúng mới manh nha, và theo dõi được quá trình lan rộng của những đám cháy rừng – đôi khi lính cứu hỏa được triển khai trước cả khi người dân gọi điện báo tin. Những thử nghiệm khác liên quan đến việc theo dõi sự xuất hiện và tan sương mù tại các sân bay lớn, giúp những người kiểm soát không lưu điều hành các chuyến bay hiệu quả hơn.  Ngoài ra, vệ tinh GOES-R còn có nhiệm vụ đo các hạt phóng ra từ các vụ nổ trên Mặt trời. Nó cũng mang theo một thiết bị lập bản đồ chớp tinh vi để phân loại các tia sáng mỗi 20 giây hoặc nhanh hơn trong suốt cả ngày.  GOES-R do NASA và NOAA cùng nghiên cứu phát triển trong một dự án trị giá gần 11 tỉ đô la Mĩ, bao gồm chi phí cho GOES-R và ba vệ tinh tương tự khác sẽ lần lượt được phóng lên cho đến năm 2036.  Sau khi được phóng, GOES-R sẽ đi vào quỹ đạo tạm thời trong khi những người điều khiển kiểm tra các thiết bị của nó. Sau đó, NOAA sẽ đưa nó vào vị trí cố định ở phần đông hoặc tây nước Mỹ.  Vũ Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn:  http://www.nature.com/news/us-to-launch-its-most-advanced-weather-satellite-yet-1.20970          Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Mỹ thay đổi thiết kế sợi bảo đảm an ninh của tờ 100 USD      Sau 6 thập kỷ không thay đổi các chi tiết của tờ 100 USD, mới đây giới hữu trách tiền tệ của Mỹ đã phê duyệt dự án thay đổi một chi tiết, theo đó sợi bảo đảm an ninh trên tờ 100 USD sẽ được thiết kế theo một công nghệ đặc biệt có thể chống được việc làm giả.    Ông Douglas Crane, Phó Chủ tịch Crane & Co., công ty trúng thầu dự án 46 triệu USD này, cho biết việc thay đổi sợi an ninh hình chữ C (C-note), giống ảnh Tổng thống Mỹ Benjamin Franklin trên tờ 100 USD, là một phần trong nỗ lực của Mỹ nhằm chống những kẻ làm tiền giả được trang bị các bộ máy tính, máy quét và máy photo màu cực kỳ tối tân đang hoạt động ngoài lãnh thổ nước Mỹ.  Ông Crane cho biết, bằng sự kết hợp giữa công nghệ in vi phân với các thấu kính cực nhỏ, tờ 100 USD sắp ra đời khi xê dịch từ bên này sang bên kia dưới một máy soi thì sợi an ninh mang hình chữ C đó nhìn như thể đang chuyển động theo chiều lên xuống nhưng khi dịch chuyển tờ 100 USD đó theo chiều lên xuống thì sợi chỉ an ninh lại có vẻ đang chuyển động theo chiều từ bên này sang bên kia.  Kế hoạch thay đổi chi tiết này trên tờ 100 USD cho tới nay đã hoàn tất được một phần ba tiến trình. Đồng tiền 100 USD mới dự kiến được đưa vào lưu hành cuối năm 2008.  Giám đốc Cục in đúc tiền của Mỹ (BEP), ông Larry Felix, đã xác nhận chương trình này và cho biết sẽ sử dụng thêm một số kỹ nghệ tiên tiến khác giống như đã sử dụng trong 4 năm qua đối với các tờ 10 USD, 20 USD và 50 USD vào việc thiết kế lại chi tiết của tờ 100 USD.  Hiện có khoảng hai phần ba số lượng tờ 100 USD được lưu hành ở ngoài nước Mỹ. Trong năm 2006, Mỹ phát hiện được khối lượng tiền USD giả tổng trị giá 118,1 triệu, tăng 3,8% so với năm 2005. Để tăng cường nỗ lực chống làm tiền giả, BEP có kế hoạch trung bình cứ 7-10 năm sẽ thiết kế lại các đồng USD.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ thử nghiệm máy soi nhìn xuyên trang phục      Ngày 23.2 vừa qua, phi trường Phoenix trở thành địa điểm đầu tiên ở Mỹ thử nghiệm công nghệ X-ray mới cho phép nhân viên an ninh có thể nhìn xuyên qua trang phục của hành khách.    Trước những chỉ trích cho rằng các hình ảnh với độ phân giải cao do công nghệ “soi” này tạo nên là một hình thức xâm phạm đời tư cá nhân, Cơ quan An ninh vận chuyển (TSA) Mỹ đã có những điều chỉnh để hình ảnh hiện lên màn hình có thể được làm mờ đi ở một số vùng trên cơ thể trong khi vẫn đảm bảo phát hiện vũ khí được giấu trong người.  Thật ra, TSA đã có kế hoạch thử nghiệm máy soi này từ trước Giáng sinh 2006, nhưng do cần điều chỉnh một số kỹ thuật của máy nên dự án bị hoãn lại. Hơn nữa, đó là thời điểm có rất đông hành khách đi lại, không phải là lúc thuận lợi để tiến hành thử nghiệm.  Trong giai đoạn thử nghiệm, máy soi này chỉ được dùng như biện pháp soi kiểm tra sâu. Những hành khách nào bị máy soi tiêu chuẩn phát hiện có mang theo đồ vật bằng kim loại sẽ được quyền chọn lựa giữa việc bị soi bằng máy công nghệ mới hoặc bị khám xét người bằng tay. Nico Melendez, phát ngôn viên của TSA, cho biết: “Hình thức này là 100% tình nguyện, thế nên nếu hành khách cảm thấy không thoải mái, thì họ không bị bắt buộc phải đứng trước máy soi”. Viên chức an ninh làm việc với hành khách bị máy phát hiện kim loại “giữ lại” sẽ không bao giờ được trông thấy những hình ảnh mà máy ghi nhận. Những hình ảnh này được một viên chức khác ở cách đó 15m quan sát, và viên chức này cũng sẽ không nhìn thấy hành khách. Ngoài ra, máy không thể lưu trữ hoặc chuyển phát các hình ảnh. Ông Melendez khẳng định: “Một khi chúng tôi hoàn tất việc soi hành khách, hình ảnh bị xóa vĩnh viễn”.  Những hành khách chấp nhận soi bằng thiết bị mới này sẽ được yêu cầu đứng trước máy, với lòng bàn tay quay ra ngoài. Sau đó họ phải quay 180 độ để soi từ phía sau. Toàn bộ quá trình mất khoản 1 phút.  Hành khách Kristen Rodgers, 22 tuổi, ở Little Rock, Ark., sau khi “được” soi, cho biết là giống như chụp X-quang ở bệnh viện vậy. “Nếu bạn tự nhủ rằng họ phải kiểm tra như thế suốt cả ngày, thì bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Vì vấn đề an ninh, và do chỉ mất có 45 giây, thì tôi cho rằng thiết bị này có ích trong việc phát hiện được người mang theo những vật dụng có hại”.  Thiết bị này sẽ được thử nghiệm trong vòng 90 ngày tại một điểm kiểm soát thuộc terminal lớn nhất ở Sky Harbor, điểm đến của US Airways và Southwest Airlines, hai hãng hàng không có nhiều tuyến bay nhất ở Phoenix. TSA hy vọng từ nay đến cuối năm có thể lắp đặt thêm những thiết bị tương tự ở phi trường Los Angeles và phi trường Kennedy ở New York. Thiết bị ở Sky Harbor có giá là 100.000 USD, nhưng TSA không phải mua vì được Công ty sản xuất AS&E ở Boston cho mượn.  Hạnh Ngân (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ trang bị vũ khí laser đầu tiên cho tàu chiến      Mùa hè năm nay Hải quân Mỹ sẽ trang bị công nghệ laser mới nhất cho chiến hạm USS Ponce. Loại vũ khí này chỉ cần một thủy thủ điều khiển; sau khi được nhắm vào mục tiêu, nó phóng đi một chùm tia sáng năng lượng cao, đốt cháy các thiết bị điện tử đặt bên trong mục tiêu. Hiện nay có nhiều nước đang nghiên cứu chế tạo vũ khí laser nhưng Hải quân Mỹ đi đầu trong lĩnh vực này.    FOXNews.com cho hay, mục đích chính của việc quân đội Mỹ nghiên cứu loại vũ khí khái niệm mới nói trên là để hạ giá thành vũ khí. So với các loại vũ khí thông thường thì vũ khí laser có hai ưu thế là: – giá thành hạ, – không phải lo dự trữ đạn dược mà có thể bắn liên tục không nghỉ. Loại vũ khí trường phái tương lai này sẽ thay đổi triệt để mô hình chiến tranh.   Chuyên gia quân sự Loren Thompson cho biết mỗi tên lửa hạm đối không trị giá hơn 1 triệu USD, trong lúc đó giá thành điện năng dùng cho mỗi lần phóng tia laser chỉ có vài USD. Chỉ cần được cung cấp đủ điện năng thì vũ khí laser có thể bắn sớm nhất, nhanh nhất và liên tục không nghỉ. Được biết, máy phát điện trên tàu khu trục Zumwalt của Mỹ có công suất 78 megawatt (78.000 kW), nghĩa là rất lớn, đủ dùng cho một thành phố hạng trung bình.  Thời báo Hải quân Mỹ (Navy Times) tiết lộ: có thể điều chỉnh được sức mạnh của tia laser phóng đi, laser cường độ thấp dùng để cảnh cáo các máy bay không người lái hoặc tàu thuyền tiếp cận, dùng cách chiếu xạ để các thiết bị truyền cảm của đối phương tạm thời bị “hoa mắt chóng mặt” mà không cần nổ súng cảnh cáo như hiện nay; nếu đối phương phớt lờ cảnh cáo thì sẽ tăng uy lực tia laser tới mức phá hủy mục tiêu.   Đại tá Mike Ziv, Giám đốc Chương trình Các hệ thống vũ khí điện và năng lượng trực tiếp (Directed Energy and Electric Weapon Systems, DE&EWS) thuộc Bộ Chỉ huy Hệ thống Biển của Hải quân Mỹ, nói loại vũ khí này “sẽ thay đổi cơ bản phương thức chiến đấu của chúng tôi”.   Báo cáo kết quả thử nghiệm hồi tháng 4-2013 của Hải quân Mỹ cho thấy loại vũ khí nói trên trong 12 lần bắn thử đều trúng đích 100%. Các video ghi kết quả bắn thử cho thấy khi tia laser liên tục phóng trúng máy bay không người lái thì mục tiêu lập tức bốc cháy và rơi xuống. Có điều không ai nhìn thấy tia laser mà chỉ thấy mục tiêu bị cháy và rơi.    Trang mạng CBS.com của Columbia Broadcasting System hôm 17 cho biết trong các lần bắn thử hồi năm ngoái, đối tượng chính của vũ khí laser chỉ là loại máy bay không người lái và xuồng cao tốc di chuyển tương đối chậm, tạm thời chưa thể đối phó được với tên lửa và máy bay phản lực. Nguyên lý sát thương của loại vũ khí laser này là sử dụng năng lực đốt xuyên thủng công suất lớn của chùm tia laser năng lượng cao phóng đi với tốc độ 6-7 lần tốc độ âm thanh để phá hỏng các bộ phận quan trọng của mục tiêu; hiệu quả sát thương phụ thuộc vào thời gian tia laser dừng lại trên cùng một điểm của mục tiêu. Khi phải đối phó với tên lửa hoặc máy bay chiến đấu tốc độ cao thì rất khó làm cho tia laser có thể liên tục dừng lại chính xác và lâu trên một điểm nào đó của mục tiêu. Vì thế loại vũ khí laser này tạm thời chỉ đối phó được với các mục tiêu di chuyển chậm. Hiện nay quân đội Mỹ đang nghiên cứu vấn đề tăng công suất của tia laser, điều đó đòi hỏi tăng công suất điện cung cấp.   Tướng Trương Triệu Trung (Trung Quốc) nói sương mù lẫn bụi là cách phòng ngự vũ khí laser tốt nhất; khi không có sương mù, laser có thể phóng xa 10 km, khi có sương mù thì chỉ còn 1 km, vũ khí mất tác dụng.  V. Litovkin Trưởng ban Biên tập tin quân sự của hãng Thông tấn TASS (Nga) cho rằng việc Mỹ trang bị vũ khí laser cho tàu chiến là không có triển vọng, bởi lẽ cho đến nay chưa có một thiết bị trữ năng lượng nào đủ lớn để tồn trữ được lượng điện năng cần thiết dùng cho việc phóng năng lượng đi xa và chính xác.   Một chuyên gia phân tích chiến lược Nga nói: Chắc chắn người Mỹ đã ém nhẹm giá thành cuối cùng của vũ khí laser. Phóng tia laser tác chiến không thể nào có giá thành vài USD, thậm chí không thể là vài trăm hoặc trên nghìn USD. Hiện nay vũ khí laser không thuộc loại vũ khí chiến trường mà chỉ là vũ khí ưu thế. Nước Mỹ cho thế giới thấy họ đã nắm được loại vũ khí ở giữa vũ khí hạt nhân với vũ khí thông thường. Nhưng sử dụng loại vũ khí laser này vào chiến đấu thực tế thì quá tốn kém, thiếu tính hợp lý. Chương trình nghiên cứu vũ khí laser của Mỹ chỉ có tính hình ảnh nhằm khoe khoang ưu thế công nghệ quân sự kiểu “chiến tranh giữa các vì sao” mà thôi. Phải mất 10 năm nữa giá thành của vũ khí laser mới hạ xuống tới mức hợp lý để có thể sử dụng.  Nguyễn Hải Hoành theo các báo mạng nước ngoài    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ – Việt Nam tăng cường hợp tác về năng lượng hạt nhân sạch vì mục đích dân sinh      Hai nước Mỹ và Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác hơn nữa trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân sạch vì mục đích dân sinh với trọng tâm hỗ trợ ở mức cao nhất về an toàn hạt nhân, an ninh, không phổ biến vũ khí hủy diệt cũng như tăng cường hiệu quả quản lý.    Lễ ký kết Hiệp định 123 vào năm 2014  Điện hạt nhân an toàn là một nguồn cung năng lượng ít carbon quan trọng nhằm giảm phát thải do ngành năng lượng toàn cầu tạo ra, điều này rất hữu ích cho quá trình làm giảm biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh năng lượng. Do đó, Mỹ và Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác sâu hơn nữa trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân sạch vì mục đích dân sinh. Đầu tháng 5, Mỹ và Việt Nam đã ký Thoả thuận hành chính theo Hiệp định 123 (năm 2014). Để tiếp tục thúc đẩy hợp tác hai nước trong lĩnh vực hạt nhân vì mục đích dân sự, Mỹ và Việt Nam tiến tới:Hỗ trợ phát triển thể chế  Thiết lập một Ủy ban mới chung giữa Mỹ – Việt Nam về Hợp tác hạt nhân vì mục đích dân sự để tạo điều kiện cho việc thực hiện các Hiệp định 123 cũng như hợp tác và chia sẻ thông tin, trong đó có sự tham gia của cả chính phủ và khu vực tư nhân, trong một loạt các lĩnh vực gồm an toàn hạt nhân, an ninh, bảo vệ và không phổ biến vũ khí huỷ diệt.Đồng thời, sẽ thành lập Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật an ninh hạt nhân và biện pháp tự vệ tại Việt Nam. Trung tâm sẽ góp phần tăng cường an ninh hạt nhân tại Việt Nam và trong khu vực thông qua phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợkhoa học, kỹ thuật trong an ninh hạt nhân.Mỹ sẽ hỗ trợ Việt Nam trong mọi nỗ lực nhằm phê chuẩn Công ước về bồi thường bổ sung cho thiệt hại hạt nhân (CSC) và Công ước về Ngăn chặn các hành động khủng bố hạt nhân.  Thúc đẩy giáo dục và đào tạoTăng cường các cơ hội trao đổi chuyên môn về năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự, an toàn và an ninh thông qua các chương trình mang tính giáo dục của Mỹ như chương trình Học giảFulbright, các chương trình Lãnh đạo khách mời quốc tế theo yêu cầu, và học bổng cho sinh viên cũng như chuyên gia ngành khoa học và kỹ thuật hạt nhân.  Các nhà nghiên cứu Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội học hỏi tại ĐH Bắc Carolina. Ảnh: Các nhà nghiên cứu tại lò phản ứng Đà Lạt. Nguồn: TTXVN  Tăng cường năng lực bảo vệ của Việt Nam thông qua đào tạo về hệ thống quản lý thông tin của Việt Nam về chương trình bảo vệ giám sát quốc gia và phát triển một kế hoạch chiến lược về các phòng thí nghiệman toàn.  Cung cấp thông tin về các hoạt động xây dựng năng lực tại các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne để đào tạo các nhà nghiên cứu của Việt Nam về: nhiêu liệu và vật liệu cho một lò phản ứng nghiên cứu mới, mô phỏng nhà máy điện hạt nhân và độ tin cậy của con người, phân tích tính an toàn và các tai nạn thường gặp, tai nạn nghiêm trọng tại một nhà máy điện hạt nhân. Mảng đào tạo này sẽ bắt đầu thực hiện từ quý 4 năm 2016.  Khoa Năng lượng của Đại học Bắc California hỗ trợ từ xa cho các đại học ở Việt Nam đào tạo về hạt nhân. Các trường đại học sẽ được tạo điều kiện cho sự chia sẻ thông tin và kết nối thông qua chương trình Giáo trình hạt nhân thống nhất, chương trình này bao gồm 32 trường cao đẳng cộng đồng tại Mỹ, cấp bằng công nghệ hạt nhân trong 2 năm để đáp ứng nhu cầu vận hành nhà máy hạt nhân trong tương lai.  Tăng cường quản lý hiệu quả  Thúc đẩy năng lực quản lý hạt nhân tại Việt Nam để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc trao đổi kinh nghiệm quản lý và đào tạo an toàn hạt nhân với Ủy ban quản lý hạt nhân của Mỹ. Những hoạt động này được đề ra để hỗ trợ Việt Nam trong việc phát triển cơ sở hạ tầng quản lý và duy trì các năng lực kỹ thuật thiết yếu để chuẩn bị cho quá trình cấp giấy phép và xây dựng các lò phản ứng mới của Việt Nam.  Hỗ trợ phát triển các quy định về an ninh hạt nhân và đào tạo liên kết tại Việt Nam thông qua quan hệ hợp tác giữa hai Cục An toàn và bức xạ hạt nhân (VARANS) và các ban ngành của Mỹ.  Nâng cao khả năng xử lý sự cố  Mỹ hỗ trợ tăng khả năng chuẩn bị và phản ứng của Việt Nam khi có sự cố hạt nhân thông qua các khoá đào tạo về phát hiện và ứng phó với các trường hợp khẩn cấp về phóng xạ/ hạt nhân, quản lý hậu quả, đáp ứng về mặt y tế, đào tạo nghiệp vụ cho các sự kiện công cộng lớn, Cục An ninh hạt nhân quốc gia Mỹ sẽhỗ trợ cung cấp kỹ thuật và các thiết bị kỹ thuật ứng phó khẩn cấp cho Việt Nam.  Năm 2014, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có một bước tiến quan trọng trên tiến trình hợp tác trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân khi tiến hành kí kết Hiệp định hợp tác giữa hai quốc gia về sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (Hiệp định 123). Phạm vi hợp tác của Hiệp định bao gồm: Phát triển việc sử dụng năng lượng hạt nhân; nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân dân sự, quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng; đào tạo, phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng đồng vị phóng xạ trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế và môi trường; bảo vệ bức xạ, quản lý chất thải phóng xạ, nhiên liệu đã qua sử dụng; an toàn, an ninh, thanh sát và không phổ biến hạt nhân.Hiệp định có hiệu lực 30 năm, sẽ tiếp tục có hiệu lực với mỗi giai đoạn là 5 năm và có thể được sửa đổi khi có thỏa thuận giữa hai bên thông qua đường ngoại giao. Việc ký Hiệp định mở ra những triển vọng to lớn cho cả Việt Nam và Mỹ trong việc thúc đẩy những dự án hợp tác cụ thể về ứng dụng bức xạ cũng như phát triển điện hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2007, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia sẽ chính thức hoạt động      Theo Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Lê Đình Tiến, năm 2006 là năm chuyển đổi từ cơ chế chương trình nghiên cứu sang cơ chế Quỹ phát triển KH&amp;CN và Quỹ sẽ chính thức hoạt động kể từ năm 2007.    Nguồn vốn ban đầu cho Quỹ là 200 tỷ đồng lấy từ ngân sách sự nghiệp khoa học và hàng năm được cấp bổ sung để bảo đảm vốn hoạt động ít nhất bằng mức đó. Ngoài ra, Quỹ còn được huy động các nguồn như đóng góp tự nguyện, hiến tặng của tổ chức, cá nhân; các khoản lãi cho vay đối với các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ… Quỹ sẽ tài trợ không hoàn lại toàn phần hoặc một phần cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN do tổ chức, cá nhân đề xuất.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2018: Hoàn thành giải phóng mặt bằng cho nhà máy điện hạt nhân      Đến năm 2018, kế hoạch di dân tái định cư  khỏi khu vực quy hoạch, chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh  Thuận 1 và 2 tại Ninh Thuận sẽ được hoàn thành.      Vào ngày 8/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 794/QĐ-TTg về việc phê duyệt Dự án di dân, tái định cư của các dự án nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Dự án do UBND tỉnh Ninh Thuận làm chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án di dân, tái định cư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là đại diện chủ đầu tư.   Ba điểm tái định cư cho người dân thuộc diện di dời   Mục tiêu mà dự án di dân tái định cư này hướng đến là nhằm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ di dân, tái định cư, tái định canh cho người dân khu vực bị ảnh hưởng dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, tạo điều kiện để người dân trong vùng dự án sớm ổn định chỗ ở và đời sống trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế về tài nguyên, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, dự án còn nhằm góp phần giải quyết vấn đề đảm bảo và nâng cao thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần cho người dân trong diện di dời tốt hơn khi sinh sống tại nơi ở cũ, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trong vùng dự án nói riêng, tỉnh Ninh Thuận nói chung theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.  Dự án cũng đã nghiên cứu và xác định chi tiết tổng số dân phải di chuyển và tiến độ di chuyển dân của tỉnh Ninh Thuận. Theo đó, tổng số dân phải di chuyển sẽ là 1.288 hộ/4.911 nhân khẩu, trong đó với dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 là 477 hộ/2.084 nhân khẩu và dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 là 811 hộ/2.827 nhân khẩu. Dự kiến tiến độ di chuyển dân sẽ hoàn thành trong năm 2018.  Khi xây dựng dự án, các nhà quản lý đã tính kỹ lưỡng đến địa điểm tái định cư cho người dân thuộc diện phải di dời. Với phương án chuẩn bị giải phóng mặt bằng, chuẩn bị cho dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sẽ là điểm tái định cư tại thôn Từ Thiện, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Điểm tái định cư này có tổng diện tích 43,67 ha, dự toán đủ nơi ăn ở sinh hoạt cho 477 hộ/2.084 nhân khẩu.  Với dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 sẽ có hai điểm tái định cư là khu Hòn Một, thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, diện tích 45 ha và khu quy hoạch chỉnh trang trên cơ sở khu dân cư hiện hữu tại thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, diện tích 13,4 ha. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sớm ổn định cuộc sống tại các khu tái định cư, hệ thống kết cấu hạ tầng ở cả ba điểm sẽ được chuẩn bị sẵn sàng với đầy đủ cơ sở hạ tầng đường xá, hệ thống cấp nước, khu tái định canh…   Trên cơ sở tính toán các chi phí giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh phí đầu tư của dự án ở mức 3.235,526 tỷ đồng, trong đó bao gồm: bồi thường, giải phóng mặt bằng: 1.408,764 tỷ đồng; xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng tái định cư: 1.028,378 tỷ đồng; quản lý dự án: 11,476 tỷ đồng; tư vấn: 71,922 tỷ đồng; chi phí khác: 31,342 tỷ đồng; dự phòng: 683,644 tỷ đồng. Vốn do Tập đoàn Điện lực Việt Nam cấp theo kế hoạch sử dụng sau khi thống nhất với đơn vị chủ đầu tư là UBND tỉnh Ninh Thuận. Theo kế hoạch, phân kỳ vốn đầu tư chia làm bốn mốc chính: đến hết năm 2015 là 653,919 tỷ đồng; năm 2016: 964,664 tỷ đồng; năm 2017: 1.031,264 tỷ đồng; năm 2018: 585,679 tỷ đồng.    Thời gian thực hiện dự án di dân, tái định cư sẽ kéo dài từ năm 2014 đến năm 2018.  Trách nhiệm của các Bộ, ngành và đơn vị liên quan  Nhằm thực hiện tốt vấn đề di dân tái định cư cho nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, dự án đòi hỏi trách nhiệm tham gia của nhiều Bộ, ngành Trung ương, cụ thể như: a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hướng dẫn, kiểm tra công tác giám sát và đánh giá đầu tư trong quá trình thực hiện Dự án di dân, tái định cư; b) Bộ Tài chính: Hướng dẫn việc quản lý, kiểm soát vốn thực hiện dự án theo quy định của pháp luật;  c) Các Bộ Công Thương, Nông nghiệp và PPNT, Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành khác có liên quan chủ động phối hợp thực hiện với UBND tỉnh Ninh Thuận theo chức năng, nhiệm vụ của mình.  Về Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trách nhiệm của tập đoàn là phối hợp với UBND tỉnh Ninh Thuận trong việc thực hiện dự án, bảo đảm đầy đủ, kịp thời kinh phí cho công tác bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư và triển khai thực hiện dự án (theo quy định tại Thông tư số 180/2014/TT-BTC ngày 27/11/1014 của Bộ Tài chính).   Về đại diện chủ đầu tư là UBND tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về công tác di dân, tái định cư đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1504/QĐ-TTg ngày 28/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; xây dựng kế hoạch tiến độ về di dân, tái định cư; tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại các địa điểm xây dựng khu tái định cư, khu chỉnh trang khu dân cư hiện hữu, khu tái định canh, khu nghĩa trang thuộc các Dự án điện hạt nhân trước (riêng việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tại các địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 sẽ được chuẩn xác lại kinh phí và tổ chức thực hiện sau khi điều chỉnh quy hoạch địa điểm xây dựng các nhà máy điện hạt nhân được cấp có thẩm quyền phê duyệt); tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án thành phần thuộc Dự án di dân, tái định cư theo quy định tại Điều 45 Quyết định số 1504/QĐ-TTg; tổ chức xây dựng các khu di dân, tái định cư; ổn định đời sống và phát triển sản xuất cho dân khu tái định cư và dân sở tại liên quan; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xây dựng các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; thực hiện các chính sách đoàn kết dân tộc trên địa bàn di dân, tái định cư.  CÁC HẠNG MỨC ĐẦU TƯ CHÍNH CỦA DỰ ÁN DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ CỦA CÁC  DỰ ÁN NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN  (Ban hành kèm theo Quyết định số 791/QĐ-TTg ngày 8/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ)              TT      Hạng mục/Dự án thành phần      Đơn vị      Quy mô      Vốn đầu tư (triệu đồng)                        TỔNG CỘNG                    3.235.525,432                 A      DỰ ÁN NHÀ MÁY ĐIỆN   HẠT NHÂN NINH THUẬN 1                    1,361.231,694                 I      Khu nhà máy điện   hạt nhân Ninh Thuận 1                    804.705,496                 1      Bồi thường, giải   phóng mặt bằng      Ha      544,10      669.992,084                 2      Dự phòng bồi   thường, giải phóng mặt bằng                    178.887,886                 II      Khu tái định cư   nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1                    556.526,198                 1      Bồi thường, giải   phóng mặt bằng      Ha      51,81      76.266,475                 a)      Khu tái định cư      Ha      40,65      52.856,320                 b)      Khu nghĩa trang      Ha      10,82      6.851,357                 c)      Hệ thống cấp nước      Ha      0,34      486,678                 d)      Dự phòng bồi   thường, giải phóng mặt bằng                    16.071,941                 2      Các dự án thành   phần                    480.259,723                 a)      Các công trình hạ   tầng kỹ thuật khu tái định cư                    314.497,209                 b)      Hệ thống cấp nước   sinh hoạt                    74.633,395                 c)      Các công trình hạ   tầng xã hội khu tái định cư                    49.686,134                 d)      Các công trình xây   dựng khu nghĩa trang                    41.442,985                 B      DỰ ÁN NHÀ MÁY ĐIỆN   HẠT NHÂN NINH THUẬN 2                    1.874.293,738                 I      Khu nhà máy điện   hạt nhân Ninh Thuận 2                    848.879,970                 1      Bồi thường, giải   phóng mặt bằng      Ha      453,91      669.992,084                 2      Dự phòng bồi   thường, giải phóng mặt bằng                    178.887,886                 II      Khu tái định cư   nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2                    1.025.413,768                 1      Bồi thường, giải   phóng mặt bằng      Ha      216,30      55.052,110                 a)      Khu tái định cư      Ha      45,00      25.660,167                 b)      Khu nghĩa trang      Ha      11,45      683,894                 c)      Hệ thống cấp nước      Ha      0,25      474,738                 d)      Khu tái định canh      Ha      159,60      16.631,959                 đ)      Dự phòng bồi   thường, giải phóng mặt bằng                    11.601,352                 2      Các dự án thành   phần                    970.361,658                 a)      Các công trình hạ   tầng kỹ thuật khu tái định cư                    518.757,606                 b)      Hệ thống cấp nước   sinh hoạt                    77.664,085                 c)      Các công trình hạ   tầng xã hội khu tái định cư                    120.792,056                 d)      Các công trình xây   dựng khu nghĩa trang                    44.402,495                 đ)      Khu chỉnh trang   khu dân cư hiện hữu                    80.009,819                 e)      Khu tái định canh                    128.735,598                  Thanh Nhàn- Hảo Linh         Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2025, nồng độ CO2 trong khí quyển Trái đất sẽ đạt mức cao nhất trong 3,3 triệu năm qua      Theo một nghiên cứu mới công bố của nhóm tác giả đến từ Đại học Southampton, chỉ còn 5 năm nữa, nồng độ khí carbon dioxide (CO2) có thể sẽ cao hơn so với giai đoạn ấm nhất trong 3,3 triệu năm qua. Nhóm tác giả đã xem xét thành phần hóa học của các hóa thạch nhỏ cỡ đầu đinh ghim được lấy từ trầm tích biển sâu ở vùng biển Caribe. Họ sử dụng dữ liệu này để tái tạo nồng độ CO2 trong khí quyển Trái đất trong suốt thế Pliocence – khoảng 3 triệu năm trước – khi hành tinh của chúng ta ấm hơn 3oC, lượng băng ở hai cực ít hơn và mực nước biển cao hơn bây giờ.      Quá trình xử lý các hóa chất để phân tách boron khỏi foram và đo đạc hợp chất đồng vị của nó tại Phòng thí nghiệm Địa hóa trường đại học Southampton. Nguồn: ĐH Southampton  Tiến sĩ Elwyn de la Vega, người dẫn dắt nghiên cứu, cho biết: “Những kiến thức về CO2 trong các thời kỳ địa chất quá khứ rất đáng quan tâm bởi nó giúp ta biết rằng hệ thống khí hậu, băng và mực nước biển trước đây đã phản ứng thế nào trước lượng CO2  tăng cao. Chúng tôi đã nghiên cứu giai đoạn này một cách chi tiết nhất từ trước đến nay bởi nó bổ sung thông tin hữu ích về tình trạng khí hậu hiện nay”.    Để xác định nồng độ khí CO2 trong khí quyển, nhóm nghiên cứu đã sử dụng thành phần đồng vị của nguyên tố boron (B) xuất hiện trong tự nhiên dưới dạng hợp chất trong vỏ sinh vật phù du trùng lỗ (foraminifera, viết tắt là “foram”). Những sinh vật này có kích cỡ khoảng nửa mi li mét và dần dần tích tụ số lượng lớn dưới đáy biển, tạo thành một kho tàng thông tin về khí hậu Trái đất trong quá khứ. Thành phần đồng vị boron trong vỏ của các sinh vật phù du này phụ thuộc vào độ axit (pH) của nước biển nơi chúng sinh sống. Nồng độ CO2  và độ pH trong nước biển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng nghĩa với việc có thể tính toán lượng CO2  trong quá khứ bằng những phép đo tỉ mỉ về thành phần đồng vị boron trong lớp vỏ sinh vật phù du cổ.    TS. Thomas Chalk, đồng tác giả nghiên cứu, bổ sung: “Việc tập trung vào giai đoạn khí hậu ấm trong quá khứ khi lượng ánh nắng Mặt trời tương tự ngày nay gợi ý cho chúng ta một hướng nghiên cứu về việc Trái đất phản ứng với bức xạ cưỡng bức CO2  (tức mức chênh lệch giữa lượng ánh sáng mặt trời được CO2  hấp thụ với mức tỏa trở lại không gian). Một kết quả nổi bật là giai đoạn ấm nhất của thế Pliocene có khoảng 380-420ppm CO2  trong khí quyển. Kết quả này tương đương với hiện nay – khoảng 415ppm, cho thấy chúng ta đang ở tình trạng tương tự với quá khứ, khi đó nhiệt độ và mực nước biển cao hơn đáng kể so với hiện nay. Giờ đây, lượng khí CO2  đang tăng khoảng 2,5ppm mỗi năm, có nghĩa rằng đến năm 2025, nồng độ CO2 sẽ đạt mức cao nhất trong vòng 3,3 triệu năm qua.”    Giáo sư Gavin Foster, người tham gia nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến ý nghĩa của nghiên cứu này: “Lý do khiến chúng ta không thấy nhiệt độ và mực nước biển hiện nay cao như thế Pliocene là vì phải mất một khoảng thời gian để khí hậu Trái đất cân bằng hoàn toàn với mức CO2  cao hơn. Và hoạt động phát thải của con người đang tiếp diễn nên lượng CO2  vẫn tiếp tục tăng. Kết quả nghiên cứu này giúp chúng ta hình dung về những gì có thể xảy ra khi hệ thống đạt đến trạng thái cân bằng”.    Đồng quan điểm này, TS. de la Vega kết luận, “Lượng CO2  trong khí quyển Trái đất vào năm 2025 sẽ vượt quá thế Pliocene. Trong tương lai, lượng khí CO2  có thể đạt tới một mức độ mới chưa từng xảy ra trên Trái đất trong vòng 15 triệu năm qua, kể từ thời kỳ Middle Miocene Climatic Optimum, giai đoạn ấm hơn cả thế Pliocene”.    Bài báo “Atmospheric CO2  during the Mid-Piacenzian Warm Period and the M2 glaciation,” đã được xuất bản trên tạp chí Nature Scientific Reports.□     Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-carbon-dioxide-earth-atmosphere-higher.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2040, sản lượng điện hạt nhân sẽ tăng gấp đôi      Với mức tăng trưởng hàng năm đạt 2,4%, điện hạt nhân sẽ vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng sản lượng điện năng toàn cầu, theo báo cáo “Toàn cảnh năng lượng quốc tế 2016” (International Energy Outlook 2016) của Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (U.S. Energy Information Administration).      Là một tổ chức độc lập chuyên về thu thập, phân tích và phổ biến thông tin về năng lượng trong Bộ Năng lượng Mỹ, Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ đã tiến hành phân tích và dự đoán thị trường năng lượng toàn cầu từ năm 2012 đến 2040. Theo báo cáo “Toàn cảnh năng lượng quốc tế 2016”, điện năng sẽ tiếp tục là mặt hàng “được tiêu thụ nhiều và nhanh nhất thế giới”.  Bản báo cáo đã dự đoán, tổng sản lượng điện năng toàn cầu sẽ tăng lên 69% vào năm 2040, từ 21,6 nghìn tỷ kWh trong năm 2012 đến 25,8 nghìn tỷ kWh vào năm 2020 và 36,5 nghìn tỷ kWh vào năm 2040.   Năng lượng tái tạo sẽ là lĩnh vực phát triển nhanh nhất của điện năng, với tỷ lệ trung bình tăng hàng năm là 2,9%. Đứng ở vị trí tiếp theo là khí gas với 2,7% mỗi năm, điện hạt nhân 2,4%. Đặc biệt, sản lượng điện năng sẽ tăng gấp đôi từ 2,3 nghìn tỷ kWh vào năm 2012 đến 4,5 nghìn tỷ kWh vào năm 2040.  Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ dự đoán, các quốc gia mới nổi bên ngoài Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) sẽ đóng góp nhiều vào sự gia tăng sản lượng điện hạt nhân. Chỉ có Hàn Quốc, quốc gia duy nhất trong Tổ chức OECD, đặt kế hoạch gia tăng sản lượng với mục tiêu có thêm 15 GW. Bên cạnh đó, một số quốc gia khác như Canada, OECD Europe và Nhật Bản có thể sẽ cắt giảm khả năng sản xuất điện năng trong các quốc gia OECD xuống còn 6 GW.    Tuy nhiên các quốc gia ngoài Tổ chức OECD đi ngược với xu hướng này, đặc biệt là các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và khu vực Trung Đông. Bản báo cáo cho thấy, từ năm 2012 đến năm 2040, tỷ lệ sản xuất điện hạt nhân tại Trung Quốc đạt tỷ lệ trung bình là 9,6% khi tăng 139 GW, Ấn Độ gia tăng 36 GW với tỷ lệ 7,9% . Một số quốc gia châu Á ngoài Tổ chức OECD sẽ thêm 8 GW với tỷ lệ trung bình 2,9%, thậm chí khu vực dầu mỏ Trung Đông cũng sẽ tăng khả năng sản xuất điện hạt nhân từ 1 GW vào năm 2012 đến 22GW vào năm 2030.   Việc gia tăng sản lượng sản xuất điện hạt nhân cũng sẽ đẩy giá nguyên liệu uranium lên. Đây là một nghịch lý khi Cameco Corp TSX:CCO, công ty chuyên về khai thác mỏ cho biết, công ty đã cắt giảm số lượng uranium U3O8 được khai thác tại các mỏ từ 30 triệu pound xuống còn 25,7 triệu pound trong năm 2016.  Nhưng báo cáo của Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ cũng cho thấy, trên thế giới có trên 60 lò phản ứng đang được xây dựng. Với tình hình này, chủ tịch kiêm CEO Tim Gitzel của Cameco Corp TSX:CCO cho rằng, số lượng uranium phải được tăng 3% mỗi năm, từ 170 triệu pound vào năm 2016 đến 220 triệu pound vào năm 2025 mới đủ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy điện hạt nhân.   Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ cũng thừa nhận, đây chỉ là “dự đoán về những gì sẽ xảy ra, và có thể chỉ là những giả định và phương pháp luận áp dụng cho bất kỳ kịch bản nào”.    Thanh Nhàn tổng hợp từ http://resourceclips.com/2016/05/16/nuclear-power-to-nearly-double-by-2040-u-s-energy-information-administration/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2040 sẽ phát hiện thấy tín hiệu điện từ của người ngoài hành tinh      Nhiều nhà khoa học hàng đầu cho rằng sớm muộn gì con người cũng sẽ tìm thấy các sinh vật khác trong vũ trụ.     Trong vũ trụ này chúng ta có cô đơn không – đó là câu hỏi luôn khêu gợi trí tưởng tượng của mọi người. Càng hiểu biết nhiều, chúng ta càng cảm thấy Trái Đất là hành tinh độc nhất vô nhị có sự sống trong một giải ngân hà hoang dã. Thế nhưng rất nhiều nhà khoa học hàng đầu lại lạc quan về vấn đề này. Họ cho rằng sớm muộn thì chúng ta sẽ tìm thấy các sinh vật khác trong vũ trụ. Nhưng cụ thể thì rốt cuộc chúng ta sẽ gặp gỡ những người hàng xóm ấy như thế nào, họ là các sinh vật đơn bào đơn giản hay là những người ngoài hành tinh? Có lẽ những vấn đề đó còn chưa thể khẳng định.  Trong Hội nghị Sáng tạo mới của Ủy ban châu Âu (European Commission Innovation Convention) họp vào giữa tháng 3/2014, nhà thiên văn kỳ cựu Seth Shostak ở Viện Tìm kiếm nền văn minh ngoài Trái Đất (SETI, Search for Extraterrestrial Intelligence, Mỹ) nói: “Trong thế kỷ này, chúng ta sẽ tìm thấy sự sống trong vũ trụ… Ngoài hệ Ngân hà của chúng ta ra, trong vũ trụ còn có hơn 150 tỷ hệ Ngân hà, trong đó mỗi hệ có hàng chục tỷ hành tinh tương tự Trái Đất. Nếu trong vũ trụ chỉ có Trái Đất là nơi duy nhất xuất hiện sự sống thì đó mới thực sự là kỳ tích. Lịch sử phát triển thiên văn học 500 năm qua cho thấy khi nào bạn tin vào một kỳ tích thì bạn thường là sai lầm.”  Vậy chúng ta sẽ phát hiện sự sống trong vũ trụ như thế nào?   Tiến sĩ Shostak cho rằng trong 25 năm tới sẽ có ba khả năng. Thứ nhất, trên các thiên thể gần chúng ta, như sao Hỏa hoặc một trong các vệ tinh của sao Mộc (Jupiter) sẽ phát hiện thấy một số hình thức của sự sống nguyên thủy. Thứ hai, chúng ta sẽ nhận biết được những chất khí đặc trưng sinh ra bởi hoạt động sự sống (như tác dụng quang hợp) trong bầu khí quyển trên các hành tinh quay xung quanh các định tinh khác ngoài Mặt Trời. Thứ ba, sẽ có một ngày dàn anten khổng lồ mà Shostak và các đồng nghiệp ở SETI đang sử dụng sẽ nhận được tín hiệu thông tin đến từ một nền văn minh bên ngoài Trái Đất.  Từ lâu Tiến sĩ Suzanne Aigrain, giảng viên môn Vật lý thiên thể ở Đại học Oxford (Anh Quốc), đã nghiên cứu về các hành tinh chuyển động xung quanh các định tinh khác ngoài Mặt Trời. Lĩnh vực nghiên cứu của bà thuộc vào khả năng thứ hai trong số ba khả năng mà Shostak đưa ra. Khi phát biểu tại Hội nghị trên, Aigrain cũng nói bà tin chắc rằng Trái Đất chúng ta không cô đơn. “Hiện nay chúng tôi đã tiến rất gần tới kết luận trong vũ trụ có thể phổ biến tồn tại những hành tinh thích nghi với sự sống như Trái Đất. Đó là lý do vì sao khi được hỏi có tin rằng trên các hành tinh khác có tồn tại sự sống hay không thì tôi đều giơ tay tán thành. Là một nhà khoa học, tôi nói thế vì tôi cho rằng khả năng ấy rất cao,” bà nói.  Aigrain và nhóm nghiên cứu của bà đang sử dụng biện pháp bức xạ sóng quang-điện từ để tìm kiếm các hành tinh quay xung quanh các định tinh khác. Hành tinh thích hợp sự sống (habitable planets) được định nghĩa là những hành tinh có kích thước tương đương Trái Đất và nhiệt độ bề mặt tương đối thích nghi, cho phép tồn tại nước ở thể lỏng. Nhóm của bà đang cố gắng tìm kiếm “dấu ấn của sự sống”, tức dấu vết một số chất khí nào đó trong bầu khí quyển của các hành tinh xa xôi; các chất khí này có những thành phần chỉ có thể sinh ra bởi nguồn sinh học như tác dụng quang hợp.   Đồng thời nhóm của Tiến sĩ Shostak ở SETI đang cố tìm chứng cớ của sự sống trong vũ trụ bằng cách tìm kiếm những tín hiệu nào đó của nền khoa học công nghệ trên các hành tinh khác. Nếu nhận được tín hiệu sóng vô tuyến đến từ vũ trụ thì Shostak sẽ khẳng định nền văn minh đó tiên tiến hơn chúng ta. “Vì sao tôi luôn kiên trì cho rằng nếu một ngày nào đó chúng ta phát hiện thấy người ngoài hành tinh thì họ nhất định sẽ tiên tiến hơn chúng ta? Câu trả lời là bạn không thể nhận được tín hiệu do người Neanderthals phát đi; họ (the Neanderthal Klingons) không biết làm ra thiết bị thông tin vô tuyến để bạn có thể liên lạc với họ,” ông nói.  Trong phát biểu hôm 6/2 tại Hội thảo 2014 NASA Innovative Advanced Concepts (NIAC, tổ chức ở Đại học Stanford), Shostak nói, “Đến năm 2040 chúng ta sẽ phát hiện được tín hiệu điện từ do người ngoài hành tinh gửi đi.”  Nếu chúng ta tìm thấy manh mối tồn tại sự sống trên các hành tinh khác, hoặc nếu nhận được tín hiệu đến từ các hành tinh đó, thì hậu quả sẽ ra sao?   Giả thử chúng ta chỉ tìm thấy một vi sinh vật khác nhiều với vi sinh vật trên Trái Đất thì điều đó sẽ nâng cao đáng kể sự hiểu biết của chúng ta về sinh học. Ngoài ra điều đó cũng sẽ có ý nghĩa lớn về triết học. “Nó sẽ thực sự thay đổi tất cả,” Shostak nói.     Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  Nguồn :  1 – http://cordis.europa.eu/news/rcn/36489_en.html 2014-03-19 Dr. Seth Shostak: ‘We are going to find life in space this century’  2 – http://www.dailygalaxy.com/my_weblog/2014/02/astronomers-will-have-scanned-enough-star-systems-by-2040-that-well-have-discovered-alien-produced-electromagnetic-signals-s.html  “Alien Electromagnetic Signals Will Be Discovered by 2040” — SETI’s Chief Astronomer      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam châm nano có thể tiêu diệt khối u      Theo các nhà nghiên cứu ĐH Edinburgh (Scotland), nam châm nhỏ xíu được làm bằng vi khuẩn có thể được dùng để phá hủy khối u. Các nhà khoa học đã tạo ra các nam châm nano mạnh hơn bằng cách sử dụng vi khuẩn và hy vọng trong tuơng lai nam châm này sẽ được hướng dẫn đến các vị trí có khối u.      Khi đã ở vị trí có tế bào ung thư, việc đưa vào một từ trường ngược lại có thể làm cho các nam châm li ti nóng lên, phá hủy các tế bào trong tiến trình này. Ngoài ra chúng cũng có thể được dùng để mang thuốc trực tiếp đến mô ung thư.   (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm của Ánh sáng      Trong hai ngày 19 và 20/1 vừa qua, Lễ khai mạc Năm Quốc tế Ánh sáng đã được long trọng tổ chức tại trụ sở của UNESCO ở Paris với sự có mặt của 1.300 chính trị gia, chủ nhân giải Nobel, nhà khoa học và nghệ sĩ đến từ các nước khắp thế giới.    Việc Liên Hợp Quốc lấy năm 2015 làm Năm Ánh sáng là do năm nay trùng với năm chẵn kỷ niệm một loạt mốc thời gian quan trọng trong lịch sử khoa học ánh sáng – 1.000 năm ra đời năm cuốn sách về quang học của Ibn Al-Haytham; 200 năm Augustin Frenel đưa ra khái niệm sóng ánh sáng; 150 năm James Clerk Maxwell đề xuất lý thuyết trường quang điện từ; 110 năm Albert Einstein đưa ra lý thuyết hiệu ứng quang điện và 100 năm ông sáng lập Thuyết Tương đối rộng (1915); 50 năm Arno Allan Penzias và Robert Woodrow Wilson khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ.   Ai là người đầu tiên hiểu được tính chất quan trọng của ánh sáng?  Theo Kinh Thánh của đạo Do Thái (tức Cựu Ước trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo), người đầu tiên hiểu được tính chất quan trọng sống còn của ánh sáng là… Đấng Tối Cao, tức Thượng Đế, ta quen gọi là Chúa Trời. Chương thứ nhất của Cựu Ước là chương Sáng Thế Ký (Genesis, tức ghi chép về sự ra đời của thế giới) mở đầu bằng câu chuyện nói về ánh sáng:   Thế giới ban đầu là một khối hỗn độn, tối đen kịt chẳng thấy gì hết, chẳng có gì hết, chỉ có Chúa Trời Jehovah bay trong khối hỗn độn tối đen ấy. Dĩ nhiên Ngài cũng chẳng nhìn thấy gì cả, vì có gì đâu mà nhìn! Cảm thấy tối mịt như thế này thì buồn quá, Ngài phán: “Phải có ánh sáng!” Vì Chúa Trời toàn năng nên Ngài nói xong thì ánh sáng xuất hiện, khắp thế giới sáng rực lên. Đức Chúa Trời cả mừng, bèn gọi quãng thời gian có ánh sáng là “ban ngày”, quãng thời gian không có ánh sáng (tối) là “ban đêm”; Ngài ra lệnh cho sáng và tối thay nhau luân phiên xuất hiện, và quy định một ngày và một đêm gọi là một ngày. Và thế là ban ngày và ban đêm thay nhau xuất hiện lần thứ nhất, tức ngày đầu tiên của thế giới. Trong ngày đó, Chúa Trời chỉ làm mỗi một việc là tạo ra ánh sáng cho thế giới chưa xuất hiện.          Từ cổ xưa, người Hebrew (Do Thái) tính ngày bắt đầu từ lúc Mặt trời lặn hôm nay cho tới lúc Mặt trời lặn ngày mai, với lý do vì ban đêm có trước, ban ngày có sau.           Trong sáu ngày còn lại, theo thứ tự thời gian, Chúa Trời tạo ra không khí, bầu trời, nước, biển và hồ, đất liền, các loài thực vật, Mặt trời và Mặt trăng, các vì sao, các loài vật sống dưới nước, các loài vật bay được và đi được. Ngày thứ sáu, Chúa Trời mới tạo ra con người: Ngài lấy đất nặn thành người đàn ông (Adam), rồi lấy một cái xương sườn của người này tạo ra người đàn bà (Eva). Ngày thứ bảy, thấy chẳng còn gì để làm nữa, vì toàn bộ thế giới đã được sáng tạo xong, Chúa Trời nghỉ làm việc và gọi ngày đó là “Ngày của Chúa (Chủ nhật)”.  Như vậy theo Kinh Thánh, ánh sáng là thứ vật chất xuất hiện đầu tiên, thứ quan trọng nhất, không có ánh sáng thì sẽ chẳng có thế giới, vũ trụ gì hết. Còn trong thực tế, trong số hàng trăm hạt sơ cấp – đơn vị cấu trúc cuối cùng của mọi vật chất – chỉ có ánh sáng là thứ duy nhất con người có thể cảm nhận được bằng giác quan của mình, vì thế dĩ nhiên nó được các nhà khoa học quan tâm trước hết.   Ngày nay chúng ta đã biết ánh sáng mà Trái đất được hưởng là những bức xạ sóng điện từ do Mặt trời phát ra liên tục kể từ khi xuất hiện Mặt trời cách nay hơn 4,6 tỷ năm. Ánh sáng mang năng lượng đến cho Trái đất, không có nguồn năng lượng vô tận đó thì không thể có sự sống trên Trái đất, cũng tức là không có loài người. Trong các hành tinh thuộc Hệ Mặt trời chỉ có Trái đất ở cách Mặt trời một khoảng cách vừa phải để năng lượng mà ánh sáng mặt trời mang tới không quá nhiều (quá nóng) hoặc quá ít (quá lạnh) nhờ đó sự sống có thể nảy sinh và duy trì.   Một số mốc lịch sử của khoa học ánh sáng   Giờ đây nhìn lại lịch sử, ta thấy các nghiên cứu về ánh sáng đã đặt nền tảng căn bản nhất cho sự phát triển khoa học và công nghệ. Chính là nhờ nghiên cứu bản chất của ánh sáng mà vật lý học đã tiến những bước kỳ diệu. Có thể kể ra một số mốc lịch sử như sau.  Cách đây một nghìn năm – năm 1015, nhà vật lý người Ả-rập Ibn Al-Haytham (còn gọi là Alhazen, 965-1040) công bố năm tập khảo luận về ánh sáng, có tên là Sách về Quang học (Book of Optics). Sách trình bày nhận thức của loài người thời đó về ánh sáng, vạch ra một số tính chất cơ bản của ánh sáng. Trên cơ sở nghiên cứu về hiện tượng phản xạ và khúc xạ, Alhazen cho rằng ánh sáng là một loại vật chất, nó di chuyển với vận tốc hữu hạn. Ông cũng nói Mặt trời là nguồn cung cấp ánh sáng cho Mặt trăng. Alhazen được gọi là cha đẻ của quang học.   Hai trăm năm trước – năm 1815, nhà vật lý-kỹ sư người Pháp Augustin-Jean Fresnel (1788-1827) giải thích thành công hiện tượng nhiễu xạ và giao thoa bằng lý thuyết quang học sóng (theory of wave optics), đưa ra khái niệm sóng ánh sáng, vạch rõ tính chất sóng của ánh sáng. Đây là một phát kiến rất quan trọng. Sau đó ông đưa ra định luật tính toán cường độ và sự phân cực của ánh sáng phản xạ và khúc xạ. Là một kỹ sư, ông còn phát minh ra Thấu kính Fresnel dùng cho các ngọn hải đăng. Năm 1824 ông được tặng Huy chương Rumford. Đáng tiếc là các cống hiến xuất sắc của ông chỉ được giới khoa học Pháp thừa nhận sau khi ông qua đời khá lâu. Tên ông cùng với 71 danh nhân nước Pháp được khắc trên tháp Eiffel, lưu danh muôn đời; tiểu hành tinh 10111 được đặt tên Fresnel.          Các nghiên cứu về ánh sáng đã đặt nền tảng căn bản nhất cho sự phát triển khoa học và công nghệ. Chính là nhờ nghiên cứu bản chất của ánh sáng mà vật lý học đã tiến những bước kỳ diệu.        Một trăm năm mươi năm trước – năm 1865, nhà vật lý người Scotland James Clerk Maxwell (1831-1879) đưa ra lý thuyết sóng điện từ của ánh sáng, nâng nhận thức về bản chất của ánh sáng lên một tầm cao mới. Ông đưa ra hệ phương trình Maxwell, chứng minh rằng điện trường và từ trường là thành phần của một môi trường thống nhất gọi là trường điện từ, nó có thể truyền đi trong không gian dưới dạng sóng với vận tốc không đổi là 300.000 km/s. Ông nói: “Ánh sáng và từ lực là các trạng thái khác nhau của cùng một vật chất; ánh sáng là một loại giao động truyền đi trong không gian trường điện từ tuân theo định luật điện từ học.” Tiên đề vĩ đại này đến năm 1888 được nhà vật lý người Đức Heinrich Hertz chứng minh bằng thí nghiệm. Einstein từng nói các công trình của Maxwell là “sâu sắc nhất và hiệu quả nhất mà vật lý học có được kể từ thời Isaac Newton.” Maxwell được tặng huy chương Rumford và giải thưởng Adams.  Một trăm mười năm trước – năm 1905, Albert Einstein (1879-1955), khi đó mới 26 tuổi, gửi bốn công trình “để biết Chúa Trời đã tạo ra thế giới này như thế nào” đăng trên tạp chí tiếng Đức Annalen der Physik, trong đó có một bài đưa ra khái niệm: ánh sáng bao gồm các hạt rời rạc gọi là lượng tử. Thuyết bản chất lượng tử của ánh sáng đã giải thích thành công thí nghiệm về hiệu ứng quang điện, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển lý thuyết lượng tử. Tới lúc này, các nhà vật lý mới chấp nhận ánh sáng đồng thời có tính chất sóng và tính chất hạt.   Cũng năm đó ông sáng lập Thuyết tương đối hẹp, đưa ra khái niệm vận tốc ánh sáng C là vận tốc giới hạn cao nhất của mọi chuyển động trong vũ trụ, C không thay đổi theo sự lựa chọn hệ quy chiếu. Einstein đưa ra công thức nổi tiếng E = MC², diễn tả sự tương đương khối lượng-năng lượng, trong đó E là năng lượng, M là khối lượng và C là vận tốc ánh sáng trong chân không. Công thức này về sau đã mở đường cho sự ra đời của vũ khí hạt nhân làm cho Thế chiến II sớm chấm dứt, và ngành năng lượng hạt nhân đem lại cho loài người một nguồn năng lượng sạch.   Tiếp đó, chẵn một trăm năm trước, năm 1915, Einstein đưa ra Thuyết tương đối rộng làm chấn động cả thế giới với tiên đoán ánh sáng khi truyền trong vũ trụ có thể bị bẻ cong do tác dụng của trường lực hấp dẫn. Thuyết này được Eddington kiểm chứng trong nhật thực toàn phần năm 1919. Các khám phá của Einstein đã mở ra một kỷ nguyên mới cho vật lý học. Cùng với các nghiên cứu trước đó, giờ đây loài người đã hiểu ra ánh sáng là dòng chuyển động của các hạt riêng lẻ gọi là quang lượng tử (photon). Có lẽ vì các khám phá của Einstein quá huyền diệu, mới mẻ và khó hiểu nên mãi đến năm 1921, ông mới được trao giải Nobel Vật lý, và với lý do cũng không phải bởi Thuyết Tương đối mà bởi lý thuyết giải thích hiệu ứng quang điện – một thành tựu không phải là lớn nhất của ông.   Cho dù đã có những khám phá vĩ đại kể trên, loài người vẫn tiếp tục tìm hiểu ánh sáng. Dựa trên lý thuyết Vụ nổ Lớn, các nhà khoa học suy đoán rằng sau Big Bang khoảng 380.000 năm, các tia sáng ban đầu rớt lại của vụ nổ ấy đã hình thành bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation, hay bức xạ tàn dư vũ trụ) tràn đầy không gian. Đây là bức xạ điện từ sinh ra từ thời kỳ sơ khai của vũ trụ. Năm 1965, tạp chí Astrophysical Journal Letters (Vật lý thiên thể) đăng một bài báo vẻn vẹn 940 từ của hai nhà vật lý thiên văn Robert Woodrow Wilson (người Mỹ) và Arno Allan Penzias (Mỹ gốc Đức), tuyên bố họ đã phát hiện được bức xạ nền vi sóng vũ trụ. Thành tựu nghiên cứu này đã góp phần quan trọng chứng minh lý thuyết vũ trụ giãn nở (thuyết Big Bang), và đem lại cho hai ông giải Nobel Vật lý 1978.   ***  Loài người hiện đại đang sử dụng rất nhiều phát minh, từ kính điều chỉnh thị lực, kính thiên văn quang học, chẩn đoán hình ảnh bên trong cơ thể bằng tia X-quang, cho tới truyền hình độ nét cao (HD), đầu DVD, điện thoại di động, laser, cáp quang, mạng Internet và công cụ tìm kiếm Google, hệ thống định vị toàn cầu GPS cũng như vệ tinh quan sát môi trường sinh thái của Trái đất v.v… Trong khi hưởng thụ lợi ích vô cùng to lớn của những phát minh này, có thể nhiều người chưa hiểu rằng chúng tất thảy đều có liên quan tới ánh sáng và công nghệ ứng dụng ánh sáng, hơn nữa lĩnh vực này có triển vọng phát triển vô cùng rộng lớn, ngay cả các nhà khoa học cũng chưa thể dự kiến được công nghệ quang học sẽ đưa loài người tiến đến một thế giới như thế nào.            Năm 2015 được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc nhất trí quy định là Năm Quốc tế Ánh sáng và Công nghệ ánh sáng (International Year of Light and Light-based Technologies, IYL 2015), với các lý do: ánh sáng có tác dụng vô cùng quan trọng trong đời sống của loài người; công nghiệp quang học đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển; công nghệ quang học đang giải quyết các vấn đề thách thức toàn cầu; ánh sáng đã trở thành lĩnh vực khoa học liên ngành chủ yếu trong thế kỷ XXI.            Nguồn tham khảo:  www.light2015.org  http://www.light2015.org/Home/About/Latest-News/December2014/Laun-Opening-Ceremony.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam Cực ấm hơn trong quá khứ      Hóa thạch ostracods – một loại giáp xác nhỏ, thuộc vùng Dry Valley ở dãy núi Transantarctic, Nam Cực – được thu thập tại phía Đông Nam Cực cho thấy vùng này đã từng dễ chịu hơn rất nhiều.      Hóa thạch này có niên đại từ 14 triệu năm trước. Đây là một hóa thạch hiếm, hiện rõ hình ảnh 3 chiều của các bộ phận giải phẫu mềm của ostracod. Vì ostracods không thể sống sót với điều kiện khí hậu hiện tại của Nam Cực, sự có mặt của chúng cho thấy lục địa cực Nam không phải lúc nào cũng băng giá như ngày nay. Các nhà khoa học cho rằng ostracods và môi trường sống của nó là vết tích cuối cùng của hệ sinh thái Tundra, tương tự như những quần sinh vật tìm thấy tại Patagonia, đã từng phát triển thịnh vượng tại vùng bờ biển Nam Cực, trước khi một đợt lạnh khiến khí hậu Nam Cực thay đổi như những gì như chúng ta thấy ngày nay.   Trà Mi (Theo LiveScience)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam Cực ấm lên nhanh gấp ba lần mức tăng trung bình toàn cầu      Ryan Fogt, giáo sư khí tượng học tại ĐH Ohio (Mỹ), cùng học trò của mình là Kyle Clem đã công bố phát hiện mới về châu Nam Cực trên tạp chí Nature Climate Change. Nghiên cứu cho thấy Nam Cực đã ấm lên nhanh gấp ba lần mức tăng trung bình toàn cầu trong 30 năm qua.      Trước đây, chúng ta thường nghĩ rằng Cực Nam trái đất vẫn mát mẻ ngay cả khi lục địa nóng lên; nhưng trên thực tế, đây là một trong những nơi ấm lên nhanh nhất hành tinh. Ảnh: Shutterstock  Trên thực tế, tốc độ ấm lên diễn ra nhanh đến mức Kyle Clem và các nhà nghiên cứu khí hậu khác bắt đầu lo lắng và tự hỏi rằng, phải chăng tác động của con người đến quá trình biến đổi khí hậu còn khủng khiếp hơn những gì họ đã tưởng tượng. Dữ liệu nhiệt độ thu được cho thấy, từ năm 1989 đến năm 2018, khu vực vắng vẻ này đã ấm lên nhanh gấp ba lần tốc độ tăng trung bình toàn cầu trong ba thập kỷ qua. Trong đó, 2018 được ghi nhận là năm nóng nhất ở cực Nam Trái Đất. Dữ liệu thu được từ 20 trạm khí tượng trên khắp Nam Cực cho thấy, tốc độ ấm lên ở cực Nam cao gấp 7 lần so với mức trung bình của lục địa.   “Nam Cực dường như bị cô lập với phần còn lại trên khắp thế giới”, Clem, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Đại học Victoria Wellington (New Zealand), cho biết. “Tuy nhiên, thật bất ngờ, nơi đây đang ấm lên nhanh chóng, thậm chí là một trong những nơi có tốc độ ấm lên nhanh nhất hành tinh.”   Clem cùng các đồng nghiệp bày tỏ thắc mắc về việc tại sao lục địa băng giá này lại bắt đầu ấm lên nhanh chóng sau một thời gian hạ nhiệt suốt những năm 1970 – 1980: đó có phải là sự biến thiên tự nhiên? Hay đó là một phần của xu hướng ấm lên toàn cầu mà hoạt động công nghiệp của con người chính là thủ phạm gây ra? Câu trả lời hóa ra là cả hai.   Sự nóng lên ở Nam Cực phần nào có liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ tự nhiên ở vùng biển nhiệt đới phía tây Thái Bình Dương. Xoáy nước ở vùng biển lạnh Weddell, ngoài khơi bán đảo Nam Cực đã đẩy không khí nóng xuống phía nam. Nhưng mô hình này chỉ là một phần của quá trình tăng nhiệt tự nhiên trong nhiều thập kỷ, cũng như chỉ lý giải được một số xu hướng ấm lên nhất định. Phần còn lại là do biến đổi khí hậu bởi hoạt động sống của con người gây nên.   “Kết quả cuối cùng là tình trạng ấm lên nhanh chóng”, Clem nói, mặc dù anh thừa nhận rằng rất khó để xác định chính xác mỗi yếu tố chiếm bao nhiêu phần trăm trong kết quả này. Những kỷ lục về nhiệt độ ở Nam Cực chỉ được ghi nhận trong khoảng 60 năm trở lại đây, khí hậu ở khu vực này vẫn còn là một địa hạt đầy bí ẩn.   Trước đây, các nhà khoa học đã biết rằng hệ thống thời tiết Thái Bình Dương có thể ảnh hưởng đến phía tây Nam Cực và bán đảo Nam Cực, nơi nhiệt độ không khí và nước tăng cao đã khiến băng tan chảy. Các nhà nghiên cứu trong quá trình theo dõi chặt chẽ tình hình lục địa đã bị bủa vây giữa những lo ngại rằng băng tan sẽ dẫn đến mực nước biển tiếp tục dâng cao hơn trên toàn thế giới.  Những gì xảy ra càng gần với bờ biển Nam Cực lại càng có ảnh hưởng sâu rộng đến tình trạng băng tan. Nhưng phát hiện mới về việc cực Nam có thể ấm lên nhanh chóng này lại là một bất ngờ đối với Alexandra Isern, người phụ trách chương trình nghiên cứu Nam Cực của Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. “Khu vực mà lâu nay chúng ta cảm thấy bị cô lập hóa ra lại không bị cô lập như chúng ta tưởng”, ông Isern nói.   Thế nhưng, mặc cho những gì đang diễn ra, lớp băng ở cực Nam Trái Đất vẫn chưa có nguy cơ tan chảy. “Bất chấp những yếu tố gây tăng nhiệt độ, nơi đây vẫn còn lạnh lắm”, chuyên gia khí hậu Julienne Stroeve, giáo sư ở Manitoba, Canada, thành viên của Trung tâm Dữ liệu Băng và Tuyết Quốc gia ở Boulder, Colorado, cho biết.  Lượng nhiệt tăng vẫn chưa đủ để “gây ra bất kỳ tổn thất hàng loạt nào” cho lớp băng ở nội địa Nam Cực.   Nghiên cứu mới cho thấy Nam Cực đã “bừng tỉnh” trước biến đổi khí hậu, Stroeve cảnh báo. “Với tôi, điều này thật đáng báo động”.□     Anh Thư dịch  Nguồn: https://www.reuters.com/article/us-climate-change-antarctica/south-pole-warmed-three-times-the-global-rate-in-last-30-years-study-idUSKBN240210    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nấm gây bệnh trên chuối đến châu Mỹ      Châu Mỹ là khu vực sản xuất và cung cấp hầu hết lượng chuối cho thị trường thế giới. Do đó việc bị nhiễm nấm đang ảnh hưởng đến giống chuối thương mại sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế các quốc gia này cũng như thị trường quốc tế.    Các nhà khoa học cho biết, một loại nấm gây bệnh trên chuối ở châu Á và Úc trong nhiều thập kỷ nay đã lan truyền đến châu Mỹ. Chính phủ Colombia đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia vào ngày 8/8/2019 sau khi kết quả từ phòng thí nghiệm xác nhận sự hiện diện của nấm Fusarium có khả năng gây héo các cây nhiệt đới (TR4). Đây là lần đầu tiên TR4 xuất hiện ở châu Mỹ. Viện Nông nghiệp Colombia (ICA), một cơ quan liên bang được giao nhiệm vụ giám sát tình hình phát triển các cây nông nghiệp ở nước này, thông báo: cho đến nay khoảng 175 ha đã bị ảnh hưởng  bởi TR4. “Sự lây lan của TR4 ở châu Mĩ Latin là vấn đề hết sức nghiêm trọng bởi nó là một loại bệnh dịch rất khó để kiểm soát,” giáo sư Gert Kema, một chuyên gia về chuối hàng đầu thế giới và phụ trách bộ môn bệnh học thực vật nhiệt đới tại trường đại học Wageningen ở Hà Lan và đang tham gia nhóm nghiên cứu quốc tế phân tích cây chuối ở Colombia.  Các quan chức Colombia đã cách ly bốn trang trại trên bán đảo Guajira ở phía Bắc của đất nước vào tháng 6 vừa qua khi lần đầu tiên nghi ngờ TR4 là thủ phạm dẫn đến sự héo rụi của các cây chuối trong khu vực này. Nhưng hiện tại, các nhà khoa học còn lo sợ loại nấm này đã lan rộng ra khỏi khu vực cách ly và có thể đe dọa tình hình sản xuất chuối ở châu Mỹ trong nhiều thập kỷ tới.  Nấm TR4 đã lây nhiễm trên một số giống chuối và mã đề, nhưng điều lo ngại là nó đặc biệt có hại cho chuối Cavendish, giống chính được bán trong các cửa hàng tạp hóa của Cocombia và chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của quốc gia này.  “Do tiến triển chậm nên việc lây lan dịch bệnh này sẽ mất một thời gian nhất định, Randy Ploetz, một nhà nghiên cứu bệnh học thực vật tại Đại học Florida ở Homestead cho biết. “Nhưng cuối cùng sẽ dẫn đến việc không thể sản xuất chuối Cavendish cho thương mại quốc tế”.  Chủng TR4 – bắt đầu tàn phá chuối Cavendish ở châu Á vào những năm 1990, sau đó lan sang Úc và sau đó là châu Phi – lây nhiễm cho cây chuối qua rễ và lây lan khắp hệ thống mạch, làm cây thiếu nước và dinh dưỡng. Nấm này có thể lây truyền do cây bị nhiễm bệnh di chuyển từ vùng này sang vùng khác hoặc qua nước và đất. Loại nấm này không thể kiểm soát được bằng thuốc diệt nấm, vì vậy cách đối phó chính với TR4 là cố gắng ngăn chặn không cho lây lan. ICA nói rằng họ đã loại bỏ hầu hết các cây trên các cánh đồng bị nhiễm bệnh, nhưng TR4 có thể tồn tại trong đất khoảng 30 năm.   Loại nấm này khác chủng Fusarium oxysporum f. sp.cubense (Foc-TR4), loại nấm cũng xuất hiện trong đất trồng đã tàn phá nền công nghiệp trồng chuối của khu vực châu Mỹ Latin và ảnh hưởng đến châu Phi, Trung Đông năm 2013. Khi đó, Ấn Độ là quốc gia bị thiệt hại nhất với tổng lượng 29,7 triệu tấn chuối xuất khẩu.  “Rất khó để kiểm soát đất”, Fernando García-Bastidas, nhà nghiên cứu bệnh học thực vật tại KeyGene ở Wageningen, Hà Lan nói. García-Bastidas là người phụ trách việc kiểm tra nấm TR4 trên các mẫu của Colombia. “Ai mà biết được đã có bao nhiêu xe hơi và người đã vào trang trại đó và mang [nấm] đi nơi khác?”  Các nỗ lực cách ly có thể làm chậm tốc độ lây lan của nấm, và Colombia đang làm mọi cách có thể, theo García-Bastidas, nhưng khi TR4 đã lây lan đến đâu thì nó gần như không thể bị diệt trừ. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02489-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nam giới: Đang bị chê trách thay vì hiểu rõ những áp lực      Bấy lây nay, chúng ta vẫn nghĩ cần phải nghiên cứu, hỗ trợ, thúc đẩy cho phụ nữ – những người luôn ở trong tình trạng yếu thế so với nam, chịu bó buộc bởi những khuôn mẫu cứng nhắc đòi hỏi phải “tam tòng tứ đức”, “ba đảm đang”. Còn nam, vốn là giới “bá quyền” và kiểm soát ở ngoài xã hội, mạnh mẽ cứng rắn hơn, có tiếng nói quyết định hơn ở trong gia đình và được củng cố một truyền thống gia trưởng trong lịch sử, liệu có những vấn đề của mình?    Đó là chủ đề được TS Khuất Thu Hồng Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) và PGS.TS Nguyễn Văn Chính (ĐH KHXH&NV Hà Nội) thảo luận tại Tọa đàm “Nam giới và Nam tính trong xã hội Việt Nam đương đại”.  Hầu như ít ai đặt câu hỏi rằng với tư cách là một giới, nam giới có hạnh phúc không? mặc dù có một thực tế không mấy dễ chịu rằng giới có nhiều quyền và ưu thế này lại có tỉ lệ tự sát cao hơn gần 3 lần so với nữ. Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, vào năm 2016, tỉ lệ tự sát của nam giới Việt Nam là 10,8 trên 100,000, vượt trội so với tỉ lệ tự sát ở phụ nữ là 3,7 trên 100,000 cũng như tỉ lệ trung bình của Việt Nam, 7,3 trên 100,000 (so sánh với năm 2000, tỉ lệ này tương ứng là 6,7, 10 và 3,6, nghĩa là tỉ lệ tự tử ở nam giới vẫn tăng nhanh hơn rõ rệt so với nữ).   Có lẽ vì những suy nghĩ mặc định của cả hai giới, đặc biệt là của chính nam giới rằng nam giới đang rất ổn, nên mấy chục năm qua hầu như giới nghiên cứu và những người làm quản lý không đặt câu hỏi này ra. TS Khuất Thu Hồng cho biết, các chương trình can thiệp, hỗ trợ thường chỉ nhằm vào nữ giới với một mục đích chính yếu là tăng quyền cho nữ. Còn ngược lại nam giới vẫn thường được cổ xúy theo chuẩn mực là nam tính phải luôn mạnh mẽ, phải trở thành một người “đàn ông đích thực” với rất nhiều gánh nặng trên vai, đồng thời lại luôn bị chê trách, lên án nhiều là gây ra những áp lực cho nữ thay vì tìm hiểu rõ những ngọn nguồn xem quá trình “kiến tạo nam tính” có vấn đề gì.   Chính vì vậy, trong nghiên cứu đầu tiên để tìm hiểu về nam giới và nam tính ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, nhóm nghiên cứu của TS Khuất Thu Hồng đã tìm hiểu nhằm mô tả và bước đầu tìm hiểu những vấn đề gì đang đặt ra với người đàn ông Việt. Khảo sát trên 2.500 mẫu nam ở bốn tỉnh, đã cho thấy, nam giới thường thực hành những hành vi nguy cơ như hút thuốc (55% hút thường xuyên), từng uống rượu tới mức say xỉn (58%).   Trong khi đó, một phần tư nam giới trả lời khảo sát cho biết họ đang chịu áp lực bởi nhiều vấn đề, mà đứng đầu là kinh tế và sự nghiệp. Áp lực về thu nhập đối với nam giới Việt Nam luôn tồn tại do nam giới được gắn với vai trò là người chu cấp kinh tế chính cho gia đình, trách nhiệm chăm sóc cha mẹ khi về già và thờ cúng tổ tiên. Với nam giới chưa kết hôn, thu nhập cũng chính là một tiêu chuẩn rất quan trọng của người chồng để có thể đảm bảo cho gia đình tương lai.   Đối diện với những áp lực như vậy, nên không khó hiểu khi nam giới, nhất là nam giới trẻ và sống ở đô thị thường có cảm xúc tiêu cực. Gần 3% nam giới đã có ý định tự sát (nông thôn: 2,08%, đô thị: 3,94%), trong số đó, nhóm nam giới trẻ có ý định tự sát nhiều hơn (nhóm 18-29 tuổi: 5,43%, nhóm 30-39 tuổi: 3,71%).   Bình luận về nghiên cứu rất “hay, độc, lạ” này của nhóm, PGS. Nguyễn Văn Chính cho biết cảm xúc của ông là rất sững sờ, ngạc nhiên khi nghiên cứu này chỉ ra rằng “làm đàn ông không dễ dàng”, đàn ông phải đối mặt với nhiều áp lực cuộc sống và bản thân, vì họ cứ cho mình phải làm trụ cột gia đình, “phải là đàn ông đích thực” nên họ dễ bị stress nếu không trở thành một phiên bản “đích thực”. Nhưng ông không ngạc nhiên khi thấy rằng nghiên cứu này chỉ ra đàn ông Việt Nam vẫn “bảo thủ” khi mong muốn công việc là “ra làm quan, làm việc nước” đến giờ vẫn không thay đổi (gần 41% nam giới trong khảo sát cho biết mong muốn làm cán bộ, công chức nhà nước; tiếp theo là công an, cảnh sát, quân đội (38%); còn những ngành nghề đòi hỏi tư duy như nghiên cứu khoa học thì được mong muốn thấp nhất và bằng với thợ thủ công và việc làm trong các lĩnh vực nông/lâm/ngư nghiệp).  Cả hai diễn giả đều nhấn mạnh đến việc, để thay đổi nam giới, giảm bớt những căng thẳng mà nam giới phải gánh chịu thì cần chú ý tới quá trình “kiến tạo một đứa trẻ” từ trong gia đình, nhà trường và cả truyền thông xã hội.   Trong một cấu trúc xã hội trọng nam, các gia đình thường giáo dục con trai với rất nhiều “bổn phận” với gia đình, dòng họ, với xã hội (ngược lại với nhiều nền giáo dục khác, thường giáo dục nhiều kỹ năng để trở thành con người độc lập) thường đã gây nhiều áp lực lên trẻ. Trong một xã hội hiện đại, các gia đình sẽ càng có xu hướng sinh con ít hơn, cấu trúc truyền thống trọng nam ấy có thể sẽ gây hại cho con trai hơn con gái. Bởi vì, trẻ em trai đã được kỳ vọng sẽ luôn quyết đoán, cứng cỏi, đánh nhau giỏi nếu cần nhưng cũng lại được “bảo bọc ôm ấp quá lâu, có tuổi thơ quá dài”, được ưu ái nhiều so với nữ giới để gánh vác những trách nhiệm, bổn phận đàn ông sẽ lại rất thiếu kỹ năng mềm trong ứng xử, có thể gây nhiều gánh nặng trong tương lai.   Độc giả xem toàn bộ video tọa đàm tại đường link: https://youtu.be/Ka-xiXujQtY    TS Khuất Thu Hồng và PGS.TS Nguyễn Văn Chính tại tọa đàm.  TS Khuất Thu Hồng cho biết, từ những năm 1970, các chương trình thúc đẩy phát triển cho các nước nghèo thường tập trung vào tăng quyền cho phụ nữ để tiến kịp nam giới, có nhiều dự án hàng tỉ đô đã được đổ ra để tăng quyền cho phụ nữ, giúp phụ nữ được tiếp cận các nguồn lực. Nhưng về sau, giới nghiên cứu và phát triển thấy rằng nếu chỉ chú ý vào phụ nữ thì không thay đổi được xã hội bao nhiêu, chỉ nói tới phụ nữ mà không nói tới phụ nữ trong mối quan hệ với nam giới thì vẫn là chưa đủ.  Hiểu biết tốt hơn về nam giới và nam tính để làm gì? Bà cũng cho biết, là để nhằm thay đổi theo hướng bình đẳng mang lại lợi ích cho nam giới, cho quan hệ gia đình; cho hạnh phúc cá nhân; Lợi ích tập thể – cho nam giới là một nửa thế giới, và đem lại lợi ích cho toàn xã hội.     PGS Nguyễn Văn Chính chia sẻ những ấn tượng của ông về những nghiên cứu trước đây của TS Khuất Thu Hồng. Ông là bạn, là đồng nghiệp và theo dõi các nghiên cứu giới của TS Thu Hồng từ cách đây 20 năm, “Khuất Thu Hồng đã làm bật lên được vai trò của phụ nữ Việt Nam với 3 gánh nặng trên vai, ấy là gánh nặng gia đình, gánh nặng công việc và gánh nặng yêu. Phụ nữ có quá ít cơ hội để phấn đấu giỏi giang thành đạt như đàn ông. TS. Khuất Thu Hồng đã nghiên cứu làm cả giới nghiên cứu ở Việt Nam và các nhà nghiên cứu quốc tế về Việt Nam sốc khi cho biết Việt Nam đang trải qua một cuộc cách mạng tình dục: Thanh thiếu niên có quan hệ tình dục sớm hơn trước; hành vi và quan niệm về tình dục thoáng hơn theo kiểu “thích là nhích”; và quan hệ tình dục ngoài hôn nhân trở nên phổ biến hơn”.  Ông cũng rất đồng tình với cách tiếp cận của nghiên cứu này, từ quan điểm lý thuyết “social construction” (kiến tạo xã hội), các nhà nghiên cứu ngày càng tin rằng con người là thứ mà xã hội xây dựng nên. Michael Kimmel, giáo sư xã hội học tại Đại học Stony Brook, lập luận: “Đàn ông được tạo ra chứ không phải được sinh ra; Tính đàn ông không phải được hình thành từ cấu tạo sinh học mà nó được tạo ra trong nền văn hóa của chúng ta.” Nhìn vào các phát hiện của nghiên cứu này, có thể nhận thấy đàn ông VN còn bảo lưu tư tưởng và quan niệm truyền thống về người đàn ông chuẩn mực, khả năng và xu hướng hội nhập trong trào lưu toàn cầu hóa khá khó khăn.  Tuy nhiên ông cũng lưu ý, một mặt thừa nhận tầm quan trọng của văn hóa trong việc tạo dựng ra người đàn ông theo sự mong đợi của xã hội thì cũng cần lưu ý có những yếu tố sinh học liên quan đến nam tính và nữ tính. Nghiên cứu của Chip Brown cho thấy rằng con trai có những biểu hiện hung hăng hơn bắt đầu từ khoảng 10 tuổi trở đi và đạt đỉnh ở khoảng cuối của tuổi thanh niên. Về già thì họ lại trở nên nhu mỳ hơn. Một số hành vi hung hăng ấy có thể liên quan đến nồng độ testosterone. Loại hóc môn này ở trẻ nam thường cao hơn 10 lần so với trẻ gái. Một nghiên cứu công bố vào năm 2013 trên Tạp chí Khoa học Thần kinh Nhận thức về mối tương quan giữa hành vi mạo hiểm với mức testosterone ở trẻ em trai và gái vị thành niên. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng lượng testosterone chuyển hóa qua dòng máu của nam giới vị thành niên vào khoảng 1.200 nanogram trên mỗi decilít máu. Lượng testosterone tăng lên có liên quan đến việc mạo hiểm và tính hung hăng ở cả trẻ em trai và gái.  Ông cũng góp ý với nhóm nghiên cứu, khi tiếp tục các pha sau, nên khảo sát về quan niệm của các nhóm nữ về nam giới, mở rộng nhóm tuổi người tham gia khảo sát từ lúc còn là bé trai tới khi 18 tuổi thay vì chỉ tập trung vào 18 tuổi trở lên như hiện nay vì quá trình xã hội hóa của nam giới, kiến tạo nam giới bắt đầu từ thuở ấu thơ.  TS Khuất Thu Hồng cho biết, vì kinh phí còn hạn chế và đảm bảo yêu cầu của các nhà tà trợ (trước đây các nghiên cứu khảo sát nữ giới đã được tiến hành quá nhiều) nên bước đầu mới chỉ tập trung vào nhóm nam giới. Bà cũng nêu rõ những hạn chế này của nghiên cứu ngay trong phần giới thiệu để độc giả biết quá trình thực hiện các nghiên cứu xã hội học như thế nào.     Một độc giả cho biết, xung quanh bạn có khá nhiều người đàn ông không dị tính, quan niệm về đàn ông đích thực của họ rất khác. Không rõ TS Khuất Thu Hồng có nghiên cứu những quan niệm về nam tính của họ hay không?  TS Khuất Thu Hồng cho biết: nghiên cứu này cũng đề cập đến việc đó, người trẻ cũng có nhận định về việc đàn ông có thể quan hệ đồng giới, trong các mẫu cũng có những người cho biết họ rất áp lực phải trở thành đàn ông dị tính. Tôi cũng chỉ ra rằng không có một loại nam tính duy nhất ở Việt Nam mà có nhiều loại nam tính khác nhau.     Một cử tọa hỏi: Nghiên cứu về nam giới và nam tính trong xã hội đương đại này có so sánh và xem xét tới những thay đổi theo dòng lịch sử không?  TS Khuất Thu Hồng cho biết, nghiên cứu này cho thấy nhóm nam giới trẻ, 18-29 và 30-29 có sự thay đổi so với nam giới cao tuổi. Tỉ lệ nam giới trẻ nghĩ là phụ nữ phải hi sinh, chịu đựng ít hơn nhiều so với nam giới cao tuổi, họ cho biết đỡ đần việc nhà cho vợ nhiều hơn, nam giới trẻ bị bạn gái kiểm tra, kiểm soát nhiều hơn, thậm chí bị đánh nhiều hơn. Sự thay đổi rất chậm nhưng là ánh sáng cuối đường hầm cho chúng ta hi vọng vào sự thay đổi.  Tuy nhiên PGS Nguyễn Văn Chính cũng lưu ý rằng các khuôn mẫu đòi hỏi người đàn ông phải làm tròn các bổn phận của mình, các khuôn mẫu kiến tạo nên đàn ông chưa thay đổi nhiều.    Một cử tọa cho biết, từ cảm nhận, trải nghiệm của mình, bạn thấy rằng Việt Nam không đi sau đâu mà rất chú trọng trong bình đẳng nam nữ.  TS Khuất Thu Hồng cho biết: Câu chuyện bình đẳng giới cũng chỉ là ước mơ thôi. Chúng tôi thấy đã đạt được nhiều kết quả nhưng vẫn còn phải cố gắng nhiều. Chúng tôi không đòi hỏi phụ nữ lên nắm quyền, nữ trị, mà là một xã hội mà cả hai giới có thể chia sẻ cùng nhau. Nếu lúc nào đàn ông cũng cứ luôn luôn phải làm trụ cột thì quá mệt mỏi cho đàn ông.     Một bạn trẻ cảm ơn hai diễn giả vì đã nhận được nhiều tri thức có thể áp dụng được trong cuộc sống sau này và hỏi hai diễn giả về tôn giáo tác động như thế nào tới việc kiến tạo nam giới.  PGS Nguyễn Văn Chính cho biết: tôn giáo tín ngưỡng cực kỳ quan trọng trong việc xã hội hóa trẻ con. Thứ nhất, người Việt chúng ta luôn tin rằng các thành viên đã khuất trong gia đình luôn sống cùng chúng ta, gia đình chúng ta luôn bao gồm các thành viên đã chết, hình như tổ tiên đang quy định đến hành vi của chúng ta. Các nghi lễ vòng đời tác động tới trẻ con.  Thứ hai, quá trình xã hội hóa ở trường học luôn ảnh hưởng bởi các tôn giáo: trên thế giới có hai mô hình, giáo dục thiên chúa giáo và phật giáo. Ví dụ ở Nhật Bản, nơi ông đã tiến hành nhiều khảo sát, thì có hai mô hình: mô hình giáo dục Phật giáo và Thiên chúa giáo, các nhà chùa có thể tài trợ, mang tinh thần của tôn giáo đó để giáo dục mặc dù họ không tác động đến chương tình cụ thể, họ đưa tinh thần bác ái vào trường học, hay hệ thống Thiên chúa giáo cũng mang tới tinh thần tạo ra cho người ta con người độc lập. Còn ở Việt Nam có thể nhìn thấy: quá trình Phật giáo Nam tông ảnh hưởng tới việc dạy trẻ con, trẻ thường phải vào chùa học trong một thời gian thì mới được coi là trưởng thành; thứ hai là xã hội hóa qua khổng giáo, nhắm nhiều vào vai trò rường cột của đàn ông.    Giáo sư xã hội học Tô Duy Hợp đánh giá đây là một nghiên cứu rất nghiêm túc và đầy trách nhiệm. Ông cũng lưu ý tới nếu tiếp tục, nghiên cứu nên nghiên cứu nam giới trong mối quan hệ với nữ giới, (khảo sát thêm nữ giới để hiểu quan niệm, đánh giá của nữ về nam giới).    PGS Nguyễn Hoàng Ánh chia sẻ “tôi tưởng nam tính chỉ có một, đến khi đọc nc này mới thấy hóa ra nam tính nhiều như vậy” và hỏi “sắp tới số phận người đàn ông Việt sẽ ra sao?”  PGS Nguyễn Văn Chính: Về câu hỏi của chị Ánh, tôi tin rằng vị thế của nam và nữ sẽ thay đổi theo xu hướng dần dần đi tiệm cận tới sự bình đẳng hơn, tôi không nghi ngờ gì về điều đó, nhưng tôi chắc chắn là vị thế của nam trong gia đình và xã hội sẽ chậm hơn rất nhiều. [vì] Tôi phỏng vấn 12 tỉ phú, để xem họ giàu thế thì thân phận họ có thay đổi không (unesco, undp có đặt ra giả thiết là phụ nữ phải nhiều tiền lên thì sẽ nhiều quyền hơn trong gia đình) nhưng trên thực tế, những vấn đề về văn hóa, cấu trúc mà xã hội gán cho nam và nữ rất khó thay đổi. Vì thế trong tương lai gần tôi chả lo gì về thân phận của nam giới :)))    Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, vào năm 2016, tỉ lệ tự sát của nam giới Việt Nam là 10,8 trên 100,000, vượt trội so với tỉ lệ tự sát ở phụ nữ là 3,7 trên 100,000 cũng như tỉ lệ trung bình của Việt Nam, 7,3 trên 100,000 (so sánh với năm 2000, tỉ lệ này tương ứng là 6,7, 10 và 3,6, nghĩa là tỉ lệ tự tử ở nam giới vẫn tăng nhanh hơn rõ rệt so với nữ).    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Nam giới vẫn độc chiếm các giải thưởng toán học      Tỷ lệ tiến sĩ toán là phụ nữ ngày càng được cải thiện, nhưng các giải thưởng toán học danh giá nhất hầu như vẫn độc quyền thuộc về nam giới.    Các giải như giải Fields, giải Abel, hay giải Shaw đều mới chỉ trao cho một phụ nữ trong lịch sử của mình. Trong khi đó, giải Wolf, giải Crafoord và giải Breakthrough chưa từng trao cho phụ nữ trong lĩnh vực toán học.    Năm 2022, Quỹ Wolf, tổ chức trao giải Wolf, đã trao 6/10 giải cho phụ nữ trong các lĩnh vực vật lý, hóa học, nông nghiệp và kiến ​​trúc. “Trong lời kêu gọi đề cử, chúng tôi khuyến khích đề cử cả phụ nữ và nam giới,” Reut Inon-Berman, tổng giám đốc của quỹ, nói. Nhưng đối với toán học, nỗ lực này chưa đem lại kết quả, dù số ứng viên nữ ngày càng tăng, Reut Inon-Berman cho biết.        Theo khảo sát của Hiệp hội Toán học Mỹ (AMS), phụ nữ chiếm 25% đến 30% số bằng tiến sĩ toán học ở nước này và tỷ lệ đó gần như ổn định trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2018. Dữ liệu của AMS cũng cho thấy, 1/4 số giảng viên cơ hữu về toán học tại các trường đại học Mỹ là phụ nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10% tại các trường đại học cấp bằng tiến sĩ toán và chỉ còn dưới 7% khi chỉ tính 50 khoa toán uy tín nhất trong nước – thấp hơn so với các lĩnh vực nghiên cứu khác: trung bình, phụ nữ nắm giữ 38% vị trí cơ hữu trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật tại các trường đại học Mỹ, theo dữ liệu năm 2019.    5% số giải thưởng nghiên cứu toán học do AMS trao tặng là dành cho phụ nữ – một tỷ lệ không quá cách xa so với tỷ lệ nữ giảng viên tại các khoa toán hàng đầu của Mỹ (7%). Điều này cho thấy, nếu một phụ nữ đạt được chức danh giáo sư tại các tổ chức nghiên cứu hàng đầu, họ cũng sẽ được công nhận tương đương với các đồng nghiệp nam giới.    Liên minh Toán học Quốc tế (IMU), tổ chức trao giải Fields, nói rằng họ đang tìm cách để phụ nữ được công nhận một cách công bằng hơn. “Bầu không khí bên trong IMU nói chung ủng hộ phụ nữ,” Marie-Françoise Roy, nhà toán học tại Đại học Rennes ở Pháp, cho biết. Một bước ngoặt đối với tổ chức này là việc Ingrid Daubechies trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ chức chủ tịch IMU nhiệm kỳ 2011–14. IMU hiện có Ủy ban Toán học cho Phụ nữ do Roy đứng đầu.    Nhưng ngay cả những người ủng hộ bình đẳng giới cũng thường ngần ngại lên tiếng ủng hộ phụ nữ bởi khi phụ nữ có được vị trí cao, người ta có thể bình phẩm một cách rất khó chịu rằng, ‘bạn được chọn vì áp lực phải chọn phụ nữ’. Bản thân phụ nữ cũng ít khi nghĩ đến việc yêu cầu được đề cử, vì họ cho rằng khả năng thắng giải sẽ rất thấp, dựa trên danh sách những người chiến thắng trong lịch sử.    Đối với Huy chương Fields năm nay, IMU lần đầu tiên thực hành các hướng dẫn về thành kiến ​​vô thức đối với cả các thành viên ủy ban và những người gửi đề cử.    Trong khi đó, giải Abel vẫn nhận được ít đề cử phụ nữ, Hans Munthe-Kaas, nhà toán học tại Đại học Bergen, Na Uy, người chủ trì ủy ban giải thưởng từ năm 2019 đến năm 2022, cho biết. “Một vấn đề đối với giải Abel là, mặc dù điều này không được tuyên bố rõ ràng, đây là một giải thưởng thành tựu trọn đời,” Munthe-Kaas nói. Nhiều ứng viên đã thực hiện công việc đoạt giải cách đây hàng thập kỷ, khi mới có rất ít phụ nữ trong ngành toán học.    Một thay đổi đáng kể là sự kiện ra mắt giải thưởng được đặt theo tên một phụ nữ, nhà toán học Nga Olga Ladyzhenskaya, người suýt chút nữa đã giành giải Fields vào năm 1958. Ngoài ra, theo sáng kiến của các nhà toán học nữ Iran, ngày 12/5, sinh nhật của Mirzakhani, người phụ nữ duy nhất giành giải Fields cho đến nay, đã trở thành ngày quốc tế không chính thức của phái nữ trong ngành toán học.    Đình Phong    Author                .        
__label__tiasang Năm khuynh hướng công nghệ tiêu dùng trong năm 2014      Người Mỹ yêu thích công nghệ. Mặc dù nó làm  cho chúng ta sống tốt hơn, song công nghệ lại vận động quá nhanh mà  chúng ta hầu như không có thời gian để dừng lại và suy nghĩ rằng nơi nào  chúng ta đang đi tới. Dưới đây là năm khuynh hướng công nghệ tiêu dùng  trong năm 2014.    1. CÀNG ĐƠN GIẢN CÀNG TỐT   Nếu bạn cảm thấy quá tải với hàng núi dữ liệu thì chỉ có thể là một lý do duy nhất. Khoảng hai năm, vũ trụ kỹ thuật số lại tăng gấp đôi. Có hơn 600 triệu trang web. Chỉ riêng App Store của hãng Apple đã chứa đến hơn 1 triệu ứng dụng. Vào năm 2020, mỗi công dân trên hành tinh này sẽ mang hơn 5.200 gigabyte dữ liệu để cân bằng với thông tin toàn cầu, theo tập đoàn dữ liệu thế giới (IDC). (Vào năm 1986, với năng lực thực hiện, các cư dân tại Cleveland (Mỹ) có thể tổ chức các dữ liệu trên thế giới). Với tốc độ này, người tiêu dùng không thể hy vọng giữ cân bằng với các chiến lược như hiện nay.   Kết quả là, chúng ta sẽ quan sát sự phát triển của tính đơn giản, với đà gia tăng các dịch vụ cung cấp một kinh nghiệm toàn diện hơn, và trải nghiệm mang tính tích hợp hơn. Rõ ràng, các hãng Google và Apple đang hướng đến giá trị đơn giản, và do đó họ đã xây dựng nên những phần khởi động công nghệ phát triển nhanh nhất hiện nay. Các dịch vụ như công ty Uber lên lịch sắp xếp các chuyến đặt xe; công ty Dropbox lại tưởng tượng làm thế nào người ta có thể tiếp cận và chia sẻ các tập tin; công ty Square lại tái phát minh quá trình thanh toán và công ty Theneeds lại thay đổi cách thức mà người dùng khám phá các trang web dựa trên nhu cầu cá nhân của họ. Trong mọi trường hợp, mọi thứ đều đơn giản với chỉ vài cú nhấp chuột và người sử dụng sẽ nhận thứ mà họ muốn, khi nào họ muốn nó, với chút ít nỗ lực.  2. MÀN HÌNH LÀ CUỘC SỐNG   Theo ước tính của eMarketer, người Mỹ trưởng thành thường dành gần 45% thời gian truyền thông cho các thiết bị kỹ thuật số, và hy vọng rằng con số này sẽ sớm đạt 50%. Đồng thời nhu cầu tiêu thụ gia tăng này đang diễn ra trên đa màn hình và với tốc độ nhanh hơn các công ty đã từng chuẩn bị. Theo Mashable, hiện tại, các thiết bị di động đang chiếm hơn 17% lưu lượng truy cập Internet toàn cầu, đồng thời đang có những bước nhảy vọt và một chút ràng buộc. Một số nhà phân tích dự án cho rằng sẽ vươn tới 30% trong tương lai gần. Gartner cho rằng, nếu các khuynh hướng hiện tại vẫn tiếp tục thì các thiết bị máy tính bảng sẽ bán chạy nhanh hơn máy tính cá nhân vào năm 2015. Thật vậy, ranh giới giữa các sản phẩm di động và để bàn đang bị mờ đi, bằng chứng là hãng Microsoft bị đẩy về phía trước với một chiến lược sẽ xuất hiện cùng lúc cả hai mặt trong tương lai gần. Khi mà nhiều sứ mạng di cư trực tuyến (từ các lệnh đặt phòng đến việc giữ liên lạc với bạn bè nhằm cho ra một danh sách những việc cần phải làm), sự khác biệt giữa các thế giới ảo và thực cũng sẽ trở nên ít khác biệt.   3. DỮ LIỆU KHỔNG LỒ CHO CHÀNG TÍ HON   Đây là dung lượng cao, tốc độ cao và thông tin cao chiều, đồng thời thế hệ các công nghệ kế tiếp sẽ được thiết kế, vì lẽ đó, để thu thập những hiểu biết từ những dung lượng dữ liệu khổng lồ, bằng cách thu giữ, khám phá và phân tích nó. Dữ liệu lớn đang trưởng thành và sẽ “tốt nghiệp” từ giai đoạn đầu của năm 2014 để trở thành thứ có giá trị hơn và hành động thiết thực hơn, theo báo cáo của Ovum, một công ty tư vấn đặt trụ sở ở London. Các dịch vụ và công cụ dựa trên công nghệ đám mây sẽ giúp dân chủ hoá dữ liệu lớn, giúp cho các doanh nghiệp nhỏ một khả năng để lưu trữ và phân tích dữ liệu lớn cho sự hiểu biết kinh doanh.   Công nghệ điện toán đám mây sẽ tăng trưởng 17% mỗi năm trong vòng 3 năm tới, cung cấp các cấp độ mới về quy mô kinh tế, sự nhanh nhẹn, linh hoạt, có khả năng triển khai sức mạnh tính toán không giới hạn với chi phí thấp. Cuối cùng chúng ta bước vào một kỷ nguyên dữ liệu lớn “của nhân dân, vì nhân dân”. Người tiêu dùng sẽ sử dụng các nền tảng truyền thông-xã hội hiện nay như Facebook hay Twitter, để thu thập hàng núi dữ liệu về cho chính mình. Mánh lới cho các công ty sẽ là trích xuất giá trị bằng cách bắt nguồn từ các dữ liệu nhằm điều chỉnh và bán các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn cho họ. Các nền tảng dựa trên cộng đồng sẽ là đối tượng đầu tiên tiếp nhận những núi thông tin này.  4. VẤN ĐỀ CỦA BẠN  Người ta quan tâm về các lợi ích riêng tư của họ. Một trong những thay đổi sắp tới cho Internet là “đẹp đẽ, thích đáng, mang tính cá nhân, nội dung chính xác cho người tiêu dùng”, dẫn lời của bà Mary Meeker, một đối tác của công ty đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins Caufield & Byers, phát biểu vào năm ngoái 2012. Nhưng mang tính cá nhân thì xem ra không dễ. Ông Jeremy Liew, một đối tác tại Lightspeed Venture Partners, đã chỉ ra rằng “một khối hỗn hợp phải tích hợp các giá trị cao và cầu may”. Đối với nhiều người tiêu dùng, trải nghiệm cá nhân có thể tạo nên một thế giới khác biệt và rất thú vị là họ sẵn sàng từ bỏ sự riêng tư của mình cho nó.   Một cuộc nghiên cứu vào năm 2012 do công ty tư vấn Accenture tổ chức, đã khám phá ra rằng 64% người tiêu dùng ở cả Mỹ và Anh thích các dịch vụ đáng tin cậy khi mà các công ty đã sử dụng dữ liệu cá nhân của họ nhằm trình bày các nội dung cá nhân và nội dung mục tiêu hơn là các “trải nghiệm phi cá nhân” và các doanh nghiệp không khai thác dữ liệu cá nhân. Khi được khai thác thông tin cá nhân, người tiêu dùng thường cảm thấy thích thú hơn, thích đáng hơn là việc cắt bớt mớ thông tin hỗn độn. Và đến lượt nó, các trải nghiệm cá nhân sẽ mang giá trị chuyển đổi cao, thời gian cho các trang web và doanh thu cho các công ty.  5. SỨC MẠNH CỦA CHÚNG TA   Vào năm 2002, mạng xã hội Friendster ra đời đã có 3 triệu người sử dụng. Ngày nay, trang mạng xã hội hàng đầu là Facebook với gần 1 tỷ người sử dụng. Và xã hội không còn là “bạn bè” nữa, nhưng nó cũng khiến cho người ta chia sẻ những mối quan tâm tương tự nhau. Gần 3/4 người trưởng thành Mỹ sử dụng các trang mạng xã hội (chiếm 8% vào năm 2005), theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Pew. Ngoài ra, họ cũng chia sẻ thường xuyên hơn: 54% người sử dụng Internet thường đăng các bức ảnh hoặc video ban đầu lên các trang web và 47% chia sẻ ảnh hoặc video mà họ tìm thấy đâu đó trên mạng internet. Và 6% người trưởng thành online là những người sử dụng Reddit, một trang web phổ biến mà cộng đồng sử dụng thường thích thông qua hệ thống quyền phủ quyết. Người tiêu dùng vào năm 2014 sẽ tiếp tục thu hút với các nền tảng mà liên kết họ với các đồng nghiệp.   Các ứng dụng cho phép bạn xem các chương trình bóng đá trên TV cùng với những người hâm mộ từ khắp nơi trên thế giới, mua các hợp đồng nhóm dựa trên những lời tư vấn của bạn bè bạn, và chia sẻ sự tiến bộ từ chương trình luyện tập của bạn với người mà bạn biết. Sự hợp tác cũng đang gia tăng – đó là thứ mà bà Mary Meeker (Kleiner Perkins) gọi là “chia sẻ cùng chiến thắng”. Waze, một ứng dụng chuyển hướng và truy cập cộng đồng đang dự kiến sẽ tăng gấp đôi lực lượng lao động vào năm 2014. Yelp, một trang web đánh giá về chất lượng nhà hàng và giải trí do người tiêu dùng tạo dựng nên, đã tăng doanh thu lên 63% từ cách đây 1 năm. Nói tóm lại, người tiêu dùng sẽ muốn các sản phẩm và dịch vụ có khuynh hướng tận dụng sự kết hợp của các cộng đồng, các thuật toán và các chuyên gia để giám sát các nội dung hiện có. Mặc dù năm 2014 sẽ mang đến nhiều công nghệ đột phá thú vị – và cả những thách thức – cho người tiêu dùng. 5 khuynh hướng ưu thế trong năm 2014 sẽ là: đơn giản hoá, hội tụ, dữ liệu lớn, cá nhân hoá và các cộng đồng.   Bà Gabriele Pansa là giám đốc điều hành của Theneeds, một công ty khởi động công nghệ ở San Francisco, Mỹ.     Nguyễn Thanh Hải dịch  Nguồn:   http://www.csmonitor.com/Business/2013/1226/Five-consumer-technology-trends-for-2014/Simplicity-will-rule     Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm nay có thể là năm nóng nhất      Tháng Tám năm nay là tháng Tám có nhiệt độ  bình quân trên lục địa và trên mặt biển toàn cầu nóng nhất kể từ ngày có  ghi chép (năm 1880). Nếu xu hướng này còn tiếp diễn thì năm 2014 có thể  lập kỷ lục về nhiệt độ cao toàn cầu.    Một báo cáo mới đây của Cơ quan Nhà nước Quản lý Biển và Khí quyển (NOAA, National Oceanic and Atmospheric Administration, Mỹ) cho biết: Tháng Tám năm nay là tháng Tám có nhiệt độ bình quân trên lục địa và trên mặt biển toàn cầu nóng nhất kể từ ngày có ghi chép (năm 1880).   Hãng Thông tấn Pháp cũng đưa tin: nếu xu hướng này còn tiếp diễn thì năm 2014 có thể lập kỷ lục là năm có nhiệt độ cao toàn cầu; điều này một lần nữa nhắc nhở mọi người cảnh giác với sự nóng lên toàn cầu và với việc đốt nhiên liệu hóa thạch.  Bản báo cáo khí hậu hàng tháng Phân tích toàn cầu – tháng Tám/2014 (Global Analysis – August 2014) của Trung tâm Số liệu Khí hậu Nhà nước (National Climatic Data Center, NCDC ) thuộc NOAA cho biết:   – Nhiệt độ bình quân trên bề mặt đất liền và trên mặt biển trong tháng Tám/2014 cao kỷ lục: lên tới 16,35°C (61,45°F), cao hơn 0,75 °C (1,35°F) so với mức bình quân trong thế kỷ XX (15,6°C, tức 60,1°F).   – Nhiệt độ bình quân trên bề mặt đất liền trong tháng Tám năm nay cao hơn 0,99°C (1,78°F) so với mức bình quân trong thế kỷ XX (13,8°C tức 56,9°F), mức cao nhất lần thứ hai trong tháng Tám sau năm 1998.  – Nhiệt độ bình quân trên mặt biển trong tháng Tám năm nay cao hơn 0,65°C (1,17°F) so với mức bình quân trong thế kỷ XX (16,4°C tức 61,4°F).   – Nhiệt độ bình quân toàn cầu trên bề mặt đất liền và trên mặt biển trong thời gian tháng 6-8/2014 cũng cao kỷ lục, cao hơn 0,71°C (1,28°F) so với nhiệt độ bình quân của thế kỷ XX (16,4°C, tức 61,5°F), phá kỷ lục năm 1998.  – Nhiệt độ bình quân toàn cầu trên bề mặt đất liền trong thời gian tháng 6-8/2014 cao hơn 0,91°C (1,64°F) so với nhiệt độ bình quân của thế kỷ XX và là mức cao thứ 5 đối với quãng thời gian này. Nhiệt độ mặt biển toàn cầu thời gian đó cao hơn 0,63°C (1,13°F) so với nhiệt độ bình quân thế kỷ XX, kỷ lục cao nhất đối với thời gian này.  – Nhiệt độ bình quân toàn cầu trên bề mặt đất liền và trên mặt biển trong thời gian tháng 1-8/2014 cao hơn 0,68°C (1,22°F) so với nhiệt độ bình quân cùng thời gian của thế kỷ XX (là 14,0°C, tức 57,3°F).  Trở lại với số liệu ghi chép khí hậu từ năm 1880, có thể thấy các số liệu này chứng tỏ tháng Tám/2014 trở thành tháng Tám nóng nhất toàn cầu, phá kỷ lục nóng của năm 1998. Jake Crouch, nhà khí hậu học của NOAA nói tháng Tám năm nay là tháng có mức nhiệt độ chênh lệch lớn nhất so với nhiệt độ bình quân kể từ ngày có ghi chép.  Đáng chú ý là chín trong số 10 tháng Tám nóng nhất đều xuất hiện ở thế kỷ XXI. Ngoài ra, tháng Tám/2014 là tháng liên tiếp thứ 38 có nhiệt độ cao hơn mức nhiệt độ bình quân của thế kỷ XX. Tháng Tám cuối cùng có nhiệt độ thấp dưới nhiệt độ bình quân toàn cầu của tháng Tám xuất hiện vào năm 1976.  Nhìn chung toàn cầu, nhiệt độ trung bình trên bề mặt đất liền cao nhất thứ hai trong ghi chép đối với tháng Tám, chỉ kém năm 1998, và ở mức 0,99°C (1,78°F) cao hơn so với nhiệt độ bình quân của thế kỷ XX. Tình trạng ấm hơn nhiệt độ bình quân thể hiện rõ ràng đối với hầu hết bề mặt lục địa toàn cầu, trừ những phần ở nước Mỹ và Tây Âu, Bắc Siberia, một phần Đông Á và nhiều vùng ở trung Australia kéo dài về phía bắc.   Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo  Nguồn:  http://www.ncdc.noaa.gov/sotc/global/ Global Analysis – August 2014 (18/9)  http://www.scientificamerican.com/article/2014-on-track-to-be-hottest-year-on-record/ 2014 on Track to Be Hottest Year on Record. (23/9)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm Quốc tế Đất đai      1/3 diện tích đất trên thế giới đang  bị thoái hóa ở mức độ vừa hoặc cao và gần 1/2 đất đai toàn cầu bị  đe dọa bởi quá trình sa mạc hóa. Chính vì những hiểm họa nghiêm trọng  đối với nguồn tài nguyên trực tiếp hoặc gián tiếp làm ra 95% lương thực  nuôi sống loài người này mà Liên hợp quốc quyết định lấy năm 2015 làm  “Năm quốc tế Đất đai” (International Year of Soils, IYS 2015).     Thực ra từ đất (soil) ở đây muốn nói về lớp đất dầy 30-40 cm phủ trên mặt đất, chủ yếu dùng để trồng cây lương thực thực phẩm. Đây là lớp đất có vai trò quan trọng nhất đối với sự sống còn của mọi sinh vật . Thế nhưng lớp tài nguyên không thể tái sinh này đang bị thiên nhiên và con người tàn phá nghiêm trọng tới mức báo động. Tình trạng này nếu không được ngăn chặn sẽ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bền vững của nhân loại.   FAO nhận định, hiện nay có 1/3 diện tích đất đã thoái hóa ở mức độ vừa hoặc cao do bị xâm thực, mặn hóa, kiềm hóa, a xit hóa và ô nhiễm hóa chất. Sự lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, việc trồng trọt không đúng phương pháp (như cày đất quá sâu) cũng như nạn phá rừng, khai thác đất quá mức cho chăn nuôi cũng làm đất bị thoái hóa. Đô thị hóa tràn lan không có quy hoạch đã thu hẹp diện tích đất trồng trọt, làm những vùng đất màu mỡ bị mất đi không bao giờ trở lại.   Bên cạnh đó, gần một nửa đất đai toàn cầu bị đe dọa bởi quá trình sa mạc hóamà nguyên nhân, theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, là do chăn thả bừa bãi, canh tác quá mức, hệ thống tưới tiêu lạc hậu, phá rừng, mất rừng dẫn đến biến đổi khí hậu. Khoảng 800 triệu người dân sống ở những vùng đất khô cằn đang lâm vào cảnh thiếu đói.  Việt Nam có diện tích đất đai không lớn – 33 triệu ha, trong đó chỉ 10,3 triệu ha có thể sử dụng trong nông nghiệp. Năm 2013, dân số Việt Nam đạt 90 triệu người – mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu người. Diện tích đất bình quân đầu người ở ta thuộc loại rất thấp trên thế giới, diện tích đất canh tác bình quân đầu người lại càng thấp. Hơn nữa, 70% dân ở nông thôn, tức hơn 60 triệu người sống dựa vào đất.   Đã thế đất cũng đang bị tàn phá nghiêm trọng, đặc biệt những năm gần đây khi tốc độ đô thị hóa tăng vọt trong cả nước. Một diện tích không nhỏ đất nông nghiệp đã và đang bị thu hồi để phát triển công nghiệp, giao thông và nhà ở. Ngoài các hiện tượng làm cho đất bị thoái hóa như FAO đã nói ở trên, đất nông nghiệp Việt Nam còn bị tàn phá bởi nhiều nguyên nhân khác.   GS Võ Thị Gương (GS Võ Thị Gương) mô tả một hiện tượng mới diễn ra khá phổ biến tại nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): đó là việc bán đi 30-40cm tầng đất mặt của ruộng lúa, để một mặt nhằm giảm độ cao, đưa nước vào ruộng lúa dễ dàng, mặt khác mang lại thêm thu nhập. Ngoài ra, việc khai thác tầng đất sét (ở độ sâu 30-70cm so với mặt đất tự nhiên) để bán cho người sản xuất gạch, ngói đã khiến độ màu mỡ của đất bị giảm nghiêm trọng, làm giảm thu nhập đến 40%, và cần ít nhất sáu năm để phục hồi năng suất lúa. Biến đổi khí hậu cũng tác động xấu tới đất. Thí dụ đồng bằng sông Cửu Long rộng 39.000 km¬¬2 đang bị nước mặn xâm nhập khiến cho hàng chục nghìn ha đất bị hỏng không thể trồng lúa được, nhiều nông dân phải bỏ ra thành phố kiếm kế sinh nhai. Trong khi đó Human Development Report 2013 cho biết hiện có khoảng bốn triệu nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long đang sống trong điều kiện thu nhập chưa đến 1USD/ngày.   Trong tình hình như trên, người Việt Nam chúng ta càng cần nhiệt liệt hưởng ứng Năm quốc tế Đất đai do Liên hợp quốc phát động.  Liên hợp quốc cũng chọn ngày 05/12 – ngày sinh Quốc vương Thái Lan Bhumibol – làm Ngày Đất thế giới hằng năm, nhằm vinh danh Vương quốc Thái Lan, nước có nhiều đóng góp trong hoạt động cổ vũ việc bảo vệ tài nguyên đất.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm xu hướng nhận diện an ninh toàn cầu năm 2016 *      Tính di động và sự chú trọng trải nghiệm của người dùng  sẽ là điểm đáng chú ý trong các sản phẩm nhận diện an ninh 2016. Bên  cạnh đó, nhận diện danh tính số sẽ ngày càng phát với nhiều tiện ích  hơn, giúp nâng cao năng suất và tăng sự tuân thủ đối với các chính sách  bảo mật. Ngoài ra, bảo mật cá nhân sẽ tiếp tục là một vấn đề quan trọng  của các tổ chức, khiến những người trong cuộc buộc phải hành động thiết  thực hơn để ngăn ngừa vi phạm, bảo vệ danh tính.       Dựa trên những hiểu biết chuyên sâu về khách hàng trên nhiều thị trường, cùng với việc thử nghiệm và triển khai các giải pháp mới nhất hướng tới các đối tác và tổ chức trên toàn thế giới. HID Global, công ty trong tốp dẫn đầu toàn cầu về các giải pháp nhận diện an ninh đã xác định 5 xu hướng bảo mật an ninh năm 2016. Theo HID Global, các xu hướng này sẽ có tác động lớn nhất tới hệ thống nhận diện, quản lý truy cập, nhận diện công dân và Internet Vạn Vật (IoT).  “Chúng tôi đang dõi theo nhiều xu hướng phát triển trong năm mới, bao gồm nhu cầu ngày càng tăng việc sử dụng các thiết bị di động cùng các ứng dụng, cũng như sự chú trọng các trải nghiệm của người dùng. Chúng tôi tin rằng đây sẽ là những động lực chính cho các tiến bộ công nghệ an ninh năm 2016,” ông Stefan Widing, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc HID Global cho biết. “Khách hàng sẽ ngày càng khao khát các trải nghiệm bảo mật an ninh toàn diện có thể cung cấp cho người dùng nền tảng cho các giải pháp linh hoạt và có tính thích ứng cao trong kỷ nguyên danh tính số liên kết với nhau qua hệ thống Internet Vạn Vật.”  Các xu hướng mới mà HID Global chỉ ra cho thấy sự kết nối trong các trải nghiệm, sự tiến bộ trong bảo vệ quyền riêng tư và tính phổ biến trong ứng dụng các giải pháp toàn diện.   “Di động hóa” an ninh  Xu hướng đầu tiên phải kể đến là “di động hóa” an ninh khiến cho các giải pháp an ninh trở nên phổ biến hơn và mang đậm dấu ấn cá nhân hơn. Một lối sống mới, an toàn và bảo mật hơn sẽ được tạo ra từ thiết bị di động tiện lợi luôn hiện diện khắp mọi nơi. Máy tính kết nối mạng, bằng lái xe và các ứng dụng khác sẽ kết nối liền mạch với chức năng bảo mật vật lý trên điện thoại, máy tính bảng và máy tính xách tay. Bước tiếp theo sẽ được triển khai trên các thiết bị thông minh khác như đồng hồ, kính,.. và đồng thời điện thoại cũng sẽ được gắn nhận diện tần số vô tuyến điện (RFID) để tăng mức độ an toàn và bảo mật cho các ứng dụng mạng.   Chú trọng trải nghiệm của người dùng  Việc cải thiện trải nghiệm an ninh theo hướng chú trọng trải nghiệm của người dùng sẽ đóng vai trò cốt yếu trong việc thu hẹp khoảng cách giữa lập kế hoạch an ninh và sự tuân thủ của người dùng. Các giải pháp an ninh sẽ hướng tới việc thích ứng thay vì định hình lại thói quen và phong cách sống của người sử dụng. Các phương pháp chứng thực cũ sẽ được thay thế bằng các giải pháp hiệu quả và mang lại mức độ hài lòng cao hơn.  Hệ thống an ninh nhận diện kết nối  Xu hướng này sẽ góp phần thúc đẩy tính an toàn cũng như những cải tiến trong cách thức chúng ta làm việc, mua sắm và giải trí. Chương mới tiếp theo về hệ thống nhận diện kết nối sẽ được mở ra cùng với chiến lược bảo mật đa tầng bao gồm cả sinh trắc học sẽ ràng buộc những thông tin bảo mật danh tính với chủ sở hữu hợp pháp.   Bảo mật thông tin cá nhân  Bảo mật thông tin cá nhân sẽ được chú trọng hơn nữa trong thế giới kết nối và thiết bị di động đóng vai trò chủ chốt. Nhận diện an ninh sẽ vượt qua giới hạn con người tiến tới nhận diện và xác nhận thông tin vật thể, đặt trọng tâm vào sự cần thiết phải bảo vệ thông tin cá nhân trên các thiết bị, các dịch vụ và các ứng dụng ngày càng liên kết với nhau.  Chính sách an ninh toàn diện  Các chính sách an ninh và ứng dụng thực tiễn sẽ quan trọng như những tiến bộ công nghệ. Ngành công nghiệp nhận diện an ninh sẽ chuyển hướng tập trung không chỉ vào thiết bị mà còn vào phương thức triển khai, từ giấy phép lái xe kỹ thuật số đầu tiên của Mỹ tới hệ thống quản lý thông tin thống nhất, đáng tin cậy cho phép các tổ chức giải quyết toàn diện cả vấn đề an ninh thông tin và an ninh cơ sở hạ tầng. Thay vì chỉ tập trung vào ngăn ngừa vi phạm, ngành an ninh bảo mật cũng sẽ áp dụng các ứng dụng tốt nhất để kiểm soát các hệ quả kéo theo khiến cho những thông tin bị đánh cắp không còn hữu dụng nữa.   Công nghệ Seos® của HID Global cung cấp nền tảng cho việc phát triển những xu hướng này, giúp cho các cơ quan tổ chức có thể an tâm kết hợp các giải pháp di động và mang đến cho người dùng nhiều ứng dụng hơn bao giờ hết.  HID Global là nhà cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp và phương pháp tiên tiến trong lĩnh vực tạo lập, quản lý và sử dụng nhận diện bảo mật cho hàng triệu khách hàng trên toàn thế giới. Các giải pháp của công ty bao gồm kiểm soát truy cập vật lý và logic, quản lý định danh và đăng nhập, in và cá nhân hóa thẻ an ninh, hệ thống quản lý khách thăm, chứng minh nhân dân và chính phủ có độ bảo mật cao; và các công nghệ định danh RFID áp dụng cho động vật cũng như các ứng dụng trong kho vận và các ngành công nghiệp khác. Các nhãn hiệu lớn của công ty bao gồm ActivID®, EasyLobby®, FARGO®, IdenTrust®, LaserCard®, Lumidigm®, Quantum Secure, và HID®. Trụ sở của công ty đặt tại Austin, Texas, HID Global có hơn 2.200 nhân viên trên toàn cầu và có văn phòng quốc tế đại diện cho hơn 100 quốc gia. HID Global trực thuộc Tập đoàn ASSA ABLOY. Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập website http://www.hidglobal.com.   * Thông tin do HID Global cung cấp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nan đề dân tộc, tộc người và tộc danh ở Việt Nam trong giao lưu học thuật quốc tế      Cho đến nay vẫn tồn đọng nhiều vấn đề tưởng  như vô cùng đơn giản, có thể giải quyết trong tầm tay, nhưng lại chưa  được quan tâm đúng mức nên đã dẫn đến những hệ lụy không nhỏ. Đó là các  vấn đề có liên quan đến dân tộc, tộc người và tộc danh. Vấn đề này đã  gây ra vô vàn khó khăn cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý  trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sánh, hội nhập  quốc tế,…       Trong hơn một thế kỷ tiếp thu nền khoa học hàn lâm phương tây, dân tộc học và nhân học ở Việt Nam đã có một chặng đường dài từ các nghiên cứu của các học giả nước ngoài đến một thế hệ học giả trong nước với những thành tựu to lớn mà nhiều nhà khoa học đã đề cập (Lâm Bá Nam 2011; Nguyễn Văn Chính 2007; Phan Hữu Dật 2015…). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, cho đến nay vẫn tồn đọng nhiều vấn đề tưởng như vô cùng đơn giản, có thể giải quyết trong tầm tay, nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức nên đã dẫn đến những hệ lụy không nhỏ. Đó là các vấn đề có liên quan đến dân tộc, tộc người và tộc danh. Vấn đề này đã gây ra vô vàn khó khăn cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sánh, hội nhập quốc tế,… Nghiên cứu này đề cập đến vấn đề sử dụng thiếu chính xác các thuật ngữ dân tộc, tộc người, tộc danh và những ảnh hưởng của nó đối với vai trò và vị trí của nền khoa học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu quốc tế.   Dân tộc   Thuật ngữ dân tộc là một trong những danh từ được dùng phổ biến nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam trong thế kỷ qua như “bảo vệ nền độc lập của dân tộc,” “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” (1), dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Kinh (2). Vậy dân tộc (1) và (2) ở đây khác nhau như thế nào? Dễ dàng nhận thấy, dân tộc (1) mang hàm nghĩa của đất nước, quốc gia,… tương đương với nation trong tiếng Anh. Trong khi đó, dân tộc (2) có nghĩa là một nhóm cộng đồng dân cư cùng sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa,… tương đương với ethnie, ethnic group trong tiếng Anh. Hiển nhiên, nation và  ethnic group là hai thuật ngữ mang hàm nghĩa rất khác nhau nhưng ở Việt Nam nó thường được/bị dùng một cách lẫn lộn. Có lẽ vì lý do đó mà các từ điển ở Việt Nam cũng thường có ít nhất hai nghĩa khác biệt cho một mục từ này. Dưới đây chúng tôi xin được dẫn một trong số các từ điển tiếng Việt uy tín nhất hiện nay, đó là  Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1998 và đã tái bản thêm nhiều lần sau. (Bộ từ điển được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề tựa và đã được giải thưởng nhà nước)   Theo từ điển trên thì mục từ dân tộc có các nghĩa như sau:    1-    Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách.  Dân tộc Việt Nam, dân tộc Nga.   2-    Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc. Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Đoàn kết các dân tộc để cứu nước.   3-    Dân tộc thiểu số (nói tắt). Cán bộ người dân tộc.   4-    Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung. Dân tộc Việt Nam. (tác giả bổ sung số trang trích dẫn, và đưa vào thư mục tham khảo)   Như vậy có thể thấy, nghĩa 1 và 4 tương đương với nation trong khi nghĩa 2 và 3 tương đương với ethnic group trong tiếng Anh.   Trong tiếng Hán, thuật ngữ dân tộc (phiên âm: mín zú – 民族 chẳng hạn Trung Hoa dân tộc thủy tổ – 中華民族始祖, hàm nghĩa: tổ tiên dân tộc Trung Hoa). Nghĩa này tương đương với quốc gia – 國家 và  tổ quốc – 祖国 (chẳng hạn ngã đích tổ quốc – 我的祖国, hàm nghĩa: tổ quốc của tôi). Ở đây, chúng ta thấy có sự tương đồng trong cách sử dụng thuật ngữ dân tộc giữa tiếng Hán và Hán Việt trước đây cũng như tiếng Việt hiện nay. Có thể thấy, thuật ngữ dân tộc trong tiếng Hán và tiếng Việt hoàn toàn phù hợp với vai trò của một danh từ chỉ quốc gia, đất nước như dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam hay quốc gia Việt Nam, tổ quốc Việt Nam. Mọi sự rắc rối, phức tạp, thậm chí là nhầm lẫn đều đến từ nghĩa thứ 2 và 3 kể trên, đó là từ dân tộc mang hàm nghĩa các nhóm sắc tộc (với 54 nhóm chính thức ở Việt Nam, tức ethnic group trong tiếng Anh). Vậy chúng ta có nên tiếp tục sử dụng nghĩa thứ 2 và 3 ở trên cho mục từ dân tộc nữa hay không? Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp đối với vấn đề này.   Tộc người   Trước khi đi tìm lời giải cho vấn đề nêu trên, chúng ta cần làm rõ khái niệm tộc người là gì? Với thuật ngữ ethnic group trong tiếng Anh, chúng ta có thể tìm thấy ngay một thuật ngữ tương đương trong tiếng Hán, đó là  tộc – 族), chẳng hạn Hán tộc – 漢族 là người Hán, Miêu tộc – 苗族 là người Mèo, bên cạnh các nghĩa phổ biến khác liên quan đến vấn đề tộc họ như tông tộc, đồng tộc,… mà chúng ta không bàn ở đây. 1 Khảo sát các nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đã xuất bản ở Việt Nam trong thế kỷ 20 vừa qua, có thể nhận thấy, thuật ngữ tộc người được sử dụng một cách khá phổ biến trong giới dân tộc học, nhân học ở miền Bắc (ở miền Nam trước 1975 thì gọi là  sắc tộc – và có một Bộ chuyên trách gọi là Bộ Phát triển Sắc tộc của Việt Nam Cộng hòa). Việc sử dụng thuật ngữ tộc người gần như được khẳng định trong giới dân tộc học, nhân học với công trình đồ sộ của một trong những nhà dân tộc học hàng đầu ở Việt Nam, đó là GS. Từ Chi với cuốn sách Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người xuất bản năm 1997.    Trái với cách dùng của giới khoa học (cụ thể ở đây là các nhà dân tộc học, nhân học), đa số các văn bản hành chính của nhà nước và các cơ quan quản lý lại có xu hướng dùng danh từ dân tộc thay vì tộc người để chỉ các tộc người bao gồm cả đa số và thiểu số ở Việt Nam. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu nhất quán trong việc thể chế hóa các văn bản hành chính và luật pháp. Trong nhiều chương trình giáo dục phổ thông cũng như đại học, việc nhầm lẫn các khái niệm quốc gia và  tộc người cũng xảy ra thường xuyên do học sinh, sinh viên, thậm chí là giảng viên, giáo viên, biên tập viên, phóng viên cũng sử dụng lẫn lộn dân tộc với hàm nghĩa quốc gia và  dân tộc với hàm nghĩa tộc người.    Tộc danh   Tộc danh là tên gọi của mỗi tộc người. Những tên gọi người Hoa, người Cơtu, người người Thổ, người Chứt,… liên quan đến tộc danh của các tộc người đó. Mặc dù tộc danh chỉ đơn giản là tên gọi của một tộc người nhưng chính cái nhìn quá đơn giản của chúng ta đối với thuật ngữ tộc danh khiến cho nhiều vấn đề vốn đơn giản đã trở nên phức tạp, thậm chí dẫn đến những hệ lụy trầm trọng. Một ví dụ tiêu biểu có liên quan đến tộc danh là vấn đề người Hoa ở Việt Nam. 2 Trên thực tế đây là một trong những cộng đồng tộc người có đóng góp nhiều đối với đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam, chỉ sau người Kinh. Năm 2014, khi Trung Quốc gây xung đột ở Biển Đông thì người Hoa ở Tp. Hồ Chí Minh cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc. 3   Bỏ qua các vấn đề có liên quan đến chính trị, ở đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về người Hoa theo tộc danh. Vậy người Hoa là ai? Theo các bộ từ điển chính ở Việt Nam thì tộc người Hoa (chữ Hán giản thể: 华; phồn thể: 華) là những người di cư từ các khu vực thuộc lãnh thổ Trung Quốc đến định cư ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua và đa số có quốc tịch Việt Nam. Nhưng Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn bao gồm cả lục địa (đại lục) và các vùng đảo bao quanh như Đài Loan, Hải Nam, Hồng Kông,… Về mặt hành chính, Trung Quốc có 56 tộc người trong đó người Hán chiếm đa số, trong đó có cả Kinh tộc (tức người Kinh- Việt Nam). Thuật ngữ Chinese trong tiếng Anh và Trung Hoa trong tiếng Việt thường để chỉ những gì có liên quan đến Trung Quốc như Hoa tộc, Hoa ngữ,… tộc danh người Hoa ở Việt Nam có thể xuất phát từ điểm này.    Bên cạnh một vài nhóm người Hán di cư đến Việt Nam thì tổ tiên của rất nhiều người Hoa ở Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Đài Loan, Hồng Kông,… không phải người Hán.4  Rõ ràng, tộc danh người Hoa là một tên gọi dường như quá giản tiện và thiếu khoa học dẫn đến những sự hiểu biết sai lầm về cộng đồng này. Điều này cũng được thể hiện ở tộc danh của một số tộc người khác mà nghiên cứu này sẽ chỉ ra dưới đây.  Trong các nghiên cứu của nhiều học giả nước ngoài giai đoạn đầu khi đến Việt Nam, họ thường gọi người Việt là người An Nam còn các tộc người thiểu số là người Mọi, người Thượng, người Thổ,… Cách gọi này dường như có tính miệt thị đối với sự lạc hậu của cư dân bản địa ở Việt Nam dưới con mắt thực dân. Cách gọi nói trên sau này được sử dụng chính thức ở một số tộc người như người Thổ. Một số nhóm có ngôn ngữ và văn hóa hoàn toàn khác nhau như người Giẻ và người Triêng lại được ghép với nhau để tạo thành tên của một tộc người Giẻ – Triêng, trong khi nhóm người Chứt và người Rục có thể cùng một nhóm (thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường) nhưng lại được định danh bằng những cái tên khác nhau. Việc làm rõ tên gọi và thành phần của các tộc danh như Chứt, Rục, Sách, A rem, Mày, Mã liềng,… ở Việt Nam là vô cùng cần thiết để có thể tiến hành các chính sách tộc người cụ thể.    Năm 2007, khi tiến hành một nghiên cứu về người Bru-Vân Kiều ở Đăklăc cùng GS. Gabor Vargyas (ĐH Pecs), chúng tôi có đến một làng người Bru-Vân Kiều. Tuy nhiên, khi trao đổi với người dân tại làng này, họ nói rằng họ không phải người Bru-Vân Kiều mà là người Ka-đô (Kado) nhưng nhà nước đã xếp họ vào cùng với tộc người Bru-Vân Kiều. Họ muốn được thực sự là người Ka-đô chứ không muốn mượn tộc danh của Bru-Vân Kiều. Về ngôn ngữ họ nói tiếng Bru nhưng về văn hóa lại có nhiều nét tương đồng với người Cơtu (một tộc người thuộc nhóm Cơtu- Bru-Vân Kiều và Tà Ôi). Có thể nói, việc đặt tên các tộc người và việc sử dụng tộc danh của các nhóm tộc người hiện nay vẫn còn rất nhiều bất cập. Điều này cần đến sự phân loại của các nhà dân tộc học, nhân học một cách thực sự khoa học. Có như vậy thì các chính sách dân tộc (mà gọi đúng ra là  chính sách tộc người) mới thực sự đạt hiệu quả.   Ngoài việc cần phân loại một cách cụ thể và khoa học đối với tộc danh của các tộc người thì ở Việt Nam hiện nay, hình thức chính tả các tộc danh cũng còn hết sức lộn xộn. Chẳng hạn, người Cơtu là tên chính thức trong danh mục các thành phần dân tộc (tộc người) của nhà nước nhưng lại có nhiều cách viết khác như Cơ Tu, Cà Tu, Katu,… Katu là tên chính thức của các nhà khoa học nước ngoài khi đề cập đến người Cơtu ở Việt Nam. Vì vậy, khi chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc ngược lại, chúng ta thường xuyên phải đánh máy lại từng cái tên trên văn bản. Điều đó không chỉ làm mất nhiều thời gian của nhiều người mà còn tạo nên những sự khó chịu nhất định đối với các học giả nước ngoài.    Ngoài ra, cách viết tên tộc danh của các tộc người khác nhau ở Việt Nam cũng thiếu sự thống nhất. Chẳng hạn, người Gia Rai có hai âm tiết và viết hoa cả hai trong khi các học giả nước ngoài dùng Jrai, nhiều sinh viên viết là  Giarai, J’rai, thậm chí Giá Rai. Người Chăm được các học giả nước ngoài viết là  Chams hay Campa, trong khi tiếng Việt khi chuyển sang tiếng Anh thường để không có dấu tạo thành Cham. Tương tự, người Thái ở Việt Nam khi dịch sang tiếng Anh bỏ dấu trở thành Thai, trong khi các học giả nước ngoài dùng Tai. Một số người nhầm với Tày vì khi dịch ra tiếng Anh sẽ là  Tay),… Điều này khiến cho việc tra cứu và biên mục hết sức khó khăn vì thiếu thống nhất về tộc danh và luôn tạo ra sự lộn xộn giữa chữ có dấu và không có dấu. Thậm chí, các tên riêng được sử dụng thường xuyên như Việt Nam, Hà Nội hay Hồ Chí Minh khi viết bằng tiếng Anh hiện nay cũng hỗn loạn như: Viet Nam, Vietnam, VN, Vina, Ha Noi, Hanoi, HaNoi, Ho Chi Minh, Hochiminh, HoChiMinh, HCMC, HCMcity,…   ***  Nói tóm lại, việc sử dụng lẫn lộn các thuật ngữ dân tộc, sự phân loại chưa chính xác về tộc người và sự thiếu nhất quán về tộc danh hiện nay ở Việt Nam đã khiến cho nền học thuật của Việt Nam và ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng trở nên lạc hậu trước sự phát triển vô cùng nhanh chóng của nền học thuật thế giới. Việc chuẩn hóa cũng như quốc tế hóa các thuật ngữ có liên quan đến tộc người và tộc danh như cách làm của Ấn Độ (chẳng hạn họ sử dụng Hindu là danh từ, Hindustan là người Hindu, Hindustani là tiếng Hindu) khiến cho người nước ngoài có thể dễ dàng nắm bắt cho dù đó chỉ là phiên âm Latinh. Điều đó không chỉ giúp nhận diện đặc tính dân tộc hay đặc tính tộc người mà còn khiến cho một nền văn hóa, một ngôn ngữ trở nên chính danh trên trường quốc tế. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một vị lãnh đạo viết sai tên nước mình khi giao lưu quốc tế?           Thiết nghĩ, đã đến lúc nhà nước cần ban hành một chuẩn mực/quy tắc trong việc sử dụng thuật ngữ dân tộc  với hàm nghĩa quốc gia và tộc người một cách riêng biệt trong các văn  bản hành chính và luật pháp cho đúng với tính chất và tên gọi của nó.  Vấn đề này dường như đã được các nhà khoa học khẳng định nhưng vì chưa  được “chính danh hóa” bằng văn bản của nhà nước nên tình trạng nói trên  vẫn diễn ra một cách hỗn loạn. Việc sử dụng lẫn lộn giữa dân tộc với hàm  nghĩa quốc gia và tộc người không chỉ gây nên tình trạng hỗn loạn về  mặt từ ngữ mà nó còn dẫn đến những hệ lụy xấu khi việc chuyển ngữ (trong  bối cảnh quốc tế hóa nền khoa học Việt Nam) có thể dẫn đến những sai  sót nghiêm trọng giữa khái niệm quốc gia và tộc người. Xa hơn, việc sử  dụng chung thuật ngữ dân tộc cho cả quốc gia và tộc người có thể dẫn đến những khó khăn khi xác định tộc danh cho các tộc người ở Việt Nam. (Trần Trọng Dương)            Chú thích:    [1] Trong một số ngôn ngữ khác ở châu Âu, “thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie). Trong Dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnic, ethnos, ethikum, ethnea,… Cho đến khoảng những năm 1960, thuật ngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả ở Liên Xô (Hiến pháp Liên Xô 1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…). Tuy vậy, trong thực tiễn cũng như khoa học Nation và  Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.” Theo Trần Bình , “Một số vấn đề về tộc người & dân tộc ở Việt Nam”. Trong trang: http://huc.edu.vn/vi/spct/id43/MOT-SO-VAN-DE–VE-TOC-NGUOI—DAN-TOC-O-VIET-NAM/. Truy cập ngày 15/12/2015  [2] Năm 1979, khi Việt Nam có xung đột với Trung Quốc thì người Hoa ở Việt Nam trở thành nạn nhân bất đắc dĩ bị đuổi về Trung Quốc và bị kỳ thị ở Việt Nam. Một bộ phận “trở về” quê cũ ở Quảng Đông, Phúc Kiến,… nhưng không được thừa nhận (vì tổ tiên của họ đã qua Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước và rất nhiều người không phải người Hán). Họ lại tiếp tục phải tiếp tục di cư đến Hồng Kông và các nước phương Tây (nơi có sự hoạt động mạnh mẽ của UNHCR – Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn).  [3] Trung Sơn (2014), Người Hoa ở Tp.HCM phản đối Trung Quốc. http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nguoi-hoa-o-tp-hcm-phan-doi-trung-quoc-3001104.html. Truy cập ngày 6/6/2014  [4] Nhiều người Việt Nam hiện nay vì tình cảm dân tộc (ethnic sentiment) và căm ghét chủ nghĩa đại Hán (大漢族主義) mà xúc phạm đến người Hoa nói chung (ở Việt Nam cũng như Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Đài Loan, Hồng Kông,…) là khó chấp nhận.  Tài liệu tham khảo   Trần Bình , “Một số  vấn đề về tộc người & dân tộc ở Việt Nam”. Trong trang:  http://huc.edu.vn/vi/spct/id43/MOT-SO-VAN-DE–VE-TOC-NGUOI—DAN-TOC-O-VIET-NAM/.  Truy cập ngày 15/12/2015   Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội  Nguyễn  Văn Chính (2007), “Một thế kỷ dân tộc học Việt Nam và những thách thức  trên đường hội nhập,” Tạp chí Văn hóa dân gian 5/2009   Phan Hữu Dật,(1973), Cơ sở dân tộc học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.   Bùi Xuân Đính,(2012), Các tộc người ở Việt Nam (giáo trình dùng cho sinh viên ngành Việt Nam học, văn hóa, du lịch tại các trường đại học, cao đẳng), Nxb Thời đại,   Lê Sỹ Giáo (chủ biên),(2004), Dân tộc học đại cương (tái bản lần thứ tám), Nxb Giáo dục,    Phan  Huy Lê, Vấn đề hình thành dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam (tọa  đàm: Vấn đề dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu  thế kỷ 20)   Lâm Bá Nam (2011), Nhân học với việc bảo tồn và phát huy  các giá trị văn hoá trong thời kì toàn cầu hoá. Tạp chí Dân tộc học số  1/2011   Trung Sơn (2014), Người Hoa ở Tp.HCM phản đối Trung Quốc.  http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nguoi-hoa-o-tp-hcm-phan-doi-trung-quoc-3001104.html.  Truy cập ngày 6/6/2014   Đặng Nghiêm Vạn,(2003), Cộng đồng Quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TPHCM, Tp.HCM.      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Nan đề Needham” và đạo đức khoa học      Joseph Needham (1900-1995), viện sĩ người nước ngoài của Viện Khoa học Trung Quốc (TQ), là tác giả bộ sách đồ sộ mà không nhà nghiên cứu về Trung Quốc nào không đọc: Science and Civilisation in China, thường được người TQ nhắc tới do ông từng đưa ra một câu hỏi làm đau đầu nhiều thế hệ nhà khoa học TQ hơn 50 năm qua và cho tới nay vẫn chưa tìm ra lời giải đáp hợp lý nhất.    Câu hỏi nổi tiếng ấy được gọi là Needham’s Grand Question – người TQ dịch là Nan đề Needham – như sau: “Nếu các bạn người TQ của tôi có sự phát triển trí lực hoàn toàn như tôi, thế thì xin hỏi: tại sao những nhân vật vĩ đại như Galileo, Newton đều là người châu Âu cả chứ không phải là người TQ hoặc Ấn Độ? Vì sao cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (KHKT) cận đại chỉ xảy ra ở châu Âu?… Vì sao cho tới Trung thế kỷ, TQ còn tiên tiến hơn châu Âu mà về sau lại bị châu Âu vượt lên trước?”  Ai cũng biết người TQ rất tự hào là quê hương của “tứ đại phát minh” được coi là cống hiến lớn với nền văn minh nhân loại. Họ biết dùng nam châm để làm kim chỉ nam sớm 400 năm trước người châu Âu. Năm 105 trước CN họ phát minh ra giấy viết làm từ xen-luy-lô thực vật; đến thế kỷ XII châu Âu mới bắt chước họ làm được giấy. Thế kỷ XI, TQ phát minh cách dùng con chữ làm bằng chất dẻo có khắc chữ ngược để in sách; đến thế kỷ XV người Đức mới biết dùng hợp kim đúc con chữ in. TQ cuối đời Đường (thế kỷ X) đã dùng thuốc nổ vào mục đích quân sự; Anh và Pháp mãi đến giữa thế kỷ XV mới biết làm việc đó.             Vụ bê bối chip Hanxin qua biếm họa        Đúng là trên lĩnh vực ứng dụng các tri thức khoa học tự nhiên trong thời gian từ thế kỷ II trước CN cho tới thế kỷ XIV sau CN, TQ đạt được kết quả hơn phương Tây. Tại sao họ làm được như vậy? Và tại sao sau đó, từ thời Galileo trở đi, quá trình toán học hóa các giả thuyết về giới tự nhiên cũng như các khoa học cận đại, các công nghệ tiên tiến lại đều xảy ra ở châu Âu, chứ không tại TQ? – câu hỏi này càng khó giải đáp hơn. Theo tư liệu TQ công bố, từ thế kỷ VI cho tới thế kỷ XVII, TQ luôn chiếm tỷ lệ không dưới 54% trong các thành quả KHKT lớn trên thế giới, song tới thế kỷ XIX thì tụt xuống chỉ còn 0,4%. Tại sao TQ lại tụt hậu sau phương Tây một khoảng cách lớn như vậy về mặt KHKT? Chính Needham cũng thấy khó hiểu. Còn người TQ thì tranh cãi mãi vẫn chưa nhất trí lời giải đáp. Sự lạc hậu về KHKT của TQ ngày xưa cũng là sự lạc hậu nói chung của châu Á, trong đó có Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa TQ. Vì thế tôi cho rằng vấn đề này đáng quan tâm.  Khoảng 20 năm qua, số sinh viên đại học Trung Quốc tăng 4 lần, nay đạt 16 triệu người; mỗi năm đào tạo được 352 nghìn kỹ sư (Mỹ: 137 nghìn). Tổng số người TQ du học nước ngoài trong 20 năm qua lên tới 1 triệu, khoảng 1/3 đã về nước làm việc, riêng năm 2006 có 30 nghìn tiến sĩ về nước. Đầu tư cho R&D tăng nhanh hàng năm. Tuy thế, so với các nước phát triển thì TQ vẫn còn một hố ngăn cách về KHKT không dễ vượt qua. GDP của TQ hiện xếp thứ 4 thế giới, song sức cạnh tranh KHKT lại đứng thứ 28; sức cạnh tranh xét về mặt nghiên cứu khoa học và chỉ tiêu phát minh sáng chế lần lượt xếp thứ 32 và 21. Nghĩa là sức cạnh tranh KHKT tụt hậu xa so với sức cạnh tranh kinh tế. Xem ra ngày nay, khi kinh tế đã đạt được tiến bộ lớn, TQ vẫn còn chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh của Nan đề Needham.   Gần đây dư luận nói nhiều về mặt đạo đức của các nhà khoa học TQ. Tháng 5 năm 2006, 120 giáo sư khoa học sự sống và các nhà khoa học khác làm việc ở Mỹ và TQ liên danh gửi thư cho các Bộ KHKT, Giáo dục, Viện KHTQ bày tỏ sự quan tâm đối với vấn đề thành thật trong công tác nghiên cứu khoa học của TQ, kêu gọi có biện pháp giải quyết, có cơ chế xử phạt kẻ có lỗi và bảo vệ người tố cáo.  Một vấn đề nổi bật là tình trạng gian lận trong học thuật và thi cử. Tháng 5/2006 Chủ tịch Hiệp hội Khoa học TQ Chu Quang Triệu nói Hội đang dự thảo “Chuẩn tắc hành vi của nhà khoa học”. Bộ Giáo dục TQ đã lập “Ủy ban xây dựng học phong” đưa ra biện pháp trừng trị hành vi gian lận khoa học trong các trường ĐH. Ủy ban này cảnh báo: lợi dụng việc nhà nước tăng mạnh đầu tư KHKT và ưu đãi nhà khoa học, một số người coi hoạt động khoa học là công cụ kiếm danh lợi, họ thường sao chép luận văn và thành quả của người khác, khi bị tố cáo còn làm ầm ĩ lên và đả kích người tố cáo. Chủ tịch Viện KHTQ Lộ Dũng Tường nói: “Quá nhiều quyến rũ đã làm cho một số nhà nghiên cứu nhận thức mập mờ về động cơ nghiên cứu khoa học”. Ăn cắp (“đạo”) kết quả nghiên cứu của người khác thì rất dễ bị phát hiện, nhưng xen lẫn một số liệu phịa, kết quả bịa đặt thì vừa dễ làm, chẳng tốn kém tiền của công sức gì mà vừa rất khó bị phát hiện. Do đó tuy chưa có kết quả nghiên cứu nhưng người ta đã viết được luận văn gửi đăng báo; hậu quả là các bài báo của TQ chỉ có số lượng mà không có mấy chất lượng. Năm 2004, TQ đứng thứ 9 thế giới về số bài báo được đăng, nhưng lại chỉ xếp thứ 124 về số lần được trích dẫn của các bài đó.  Quả thật, xã hội TQ đang có nhiều mảnh đất nuôi dưỡng nạn giả dối gian lận: hàng giả đầy các cửa hiệu, cầu thủ dùng đô-pinh và dàn xếp tỷ số, ca sĩ hát nhép… cho nên gian lận trong giới học thuật chẳng có gì lạ. Trong cuốn “Đông Á Tam quốc chí” gần đây xuất bản, nhà văn TQ Kim Văn Học nhận xét: nói dối của người TQ là một đại đặc sản, người Nhật nói chung không biết nói dối; người Hàn Quốc không nói dối nhưng có tài nói khoác.  Nổi tiếng nhất có vụ “Chíp Hanxin giả” bị tố giác hồi tháng 5/2006: GS Trần Tiến (Chen Jin) trường ĐH Giao thông Thượng Hải lấy con chíp của Motorola đem mài nhẵn bóng rồi bảo là mình làm ra, lừa được hơn 100 triệu NDT (12 triệu USD) kinh phí nghiên cứu. Tháng 3/2006, ĐH Thanh Hoa tuyên bố: GS Lưu Huy (Liu Hui) trợ lý Giám đốc Viện Y khoa trường này khai gian lý lịch, nhận luận văn của người khác (trùng họ, trùng tên phiên âm La-tinh) là của mình. Kết quả điều tra 180 người đạt học vị tiến sĩ năm 2006 cho thấy 60% thừa nhận đã bỏ tiền để được đăng luận văn trên báo, cũng từng ấy vị nhận có sao chép kết quả nghiên cứu của người khác… Nhưng viện sĩ Uông Phẩm Tiên nói mấy vụ bê bối lớn ấy chỉ là phần nổi của núi băng. Thực ra ngay từ thập niên 80-90, người TQ đã khốn khổ về nạn khoa học bịp bợm tràn lan tới mức kinh khủng: “phát minh vĩ đại nhất thế giới xưa nay – nước lã thay xăng”, “Hoa Đà thời nay”, hoạt động của các “khí công đại sư” và của nhà văn đại bịp Kha Vân Lộ…  Hiện TQ thường được gọi là “nhà máy của cả thế giới”. Ô tô, máy tính sản xuất tại TQ tràn ngập khắp năm châu, hệt như Nhật Bản hồi thập niên 70-80. Có điều thời đó Nhật không làm hàng giả!  —————-  BOX1:  Câu hỏi nổi tiếng ấy được gọi là Needham’s Grand Question, người TQ dịch là Nan đề Needham; câu đó như sau: “Nếu các bạn người TQ của tôi có sự phát triển trí lực hoàn toàn như tôi, thế thì xin hỏi: tại sao những nhân vật vĩ đại như Galileo, Newton đều là người châu Âu cả chứ không phải là người TQ hoặc Ấn Độ? Vì sao cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (KHKT) cận đại chỉ xảy ra ở châu Âu?… Vì sao cho tới Trung thế kỷ, TQ còn tiên tiến hơn châu Âu mà về sau lại bị châu Âu vượt lên trước?”  Ảnh trên cùng: Nhà Trung Quốc học Needham      Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nạn đói khiến các bà mẹ sinh con gái      Kết quả phân tích một trong những nạn đói  thảm khốc nhất trong lịch sử hiện đại cho thấy, khi thiếu hụt lương  thực, phụ nữ có thể sinh con gái nhiều hơn con trai.  &#160;    Shige Song, một chuyên gia xã hội học và nhân khẩu học tại ĐH New York, đã phân tích dữ liệu từ hơn 300.000 phụ nữ Trung Quốc sinh đẻ trong giai đoạn từ tháng 9.1929 đến tháng 7.1982. Giai đoạn này cũng bao gồm nạn đói thời kỳ Đại nhảy vọt, với kết quả là hàng triệu người chết do những nỗ lực của lãnh đạo Trung Quốc nhằm tăng sản lượng công nghiệp, với những giải pháp như  ra lệnh cho nông nhân rời khỏi đất đai của họ để đi làm công nhân.  Song nhận thấy chỉ một sau năm khi nạn đói bắt đầu, đã có sự sụt giảm đột ngột tỉ lệ bé trai được sinh ra, giảm từ 109 nam/100 nữ vào tháng 4.1960 xuống còn 104 nam/100 nữ vào tháng 10.1963 – khoảng 2 năm sau khi nạn đói kết thúc. Cho đến khoảng tháng 6.1965, tỉ lệ này vẫn chưa được khôi phục như thời kỳ trước nạn đói.  Phân tích của Song được xuất bản bởi Tạp chí Proceedings of the Royal Society B vào hôm 28/3, ủng hộ cho giả thuyết cân bằng giới tính – vốn cho rằng các loài tự điều chỉnh giới tính của con cái để phản ứng lại với các điều kiện của môi trường. Nam giới thiếu thốn, có sức khỏe không tốt có xu hướng có ít con hơn tình trạng thiếu đói tương tự ở nữ giới. Vì vậy các giả thuyết dự báo rằng, để giữ cho dân số tăng trưởng trong thời kỳ xảy ra nạn đói, phụ nữ nên sinh ít con trai hơn.   Các nghiên cứu trên động vật, bao gồm cả hươu, nai đỏ đã chứng minh sức thuyết phục của giả thuyết cân bằng giới tính, nhưng Song cũng nói rằng, cho tới nay các bằng chứng ở con người lại kém rõ ràng hơn nhiều. Các phát hiện từ các nghiên cứu trước đây về nạn đói, như nạn đói mùa đông năm 1944-45 ở Đức và tình trạng thiếu hụt lương thực nghiêm trọng trong cuộc bao vây Leningrad ở Liên bang Xô Viết năm 1942, cho các kết quả trái ngược nhau.   Song cho rằng ông có thể quan sát được các kết quả rõ ràng trong nạn đói ở Trung Quốc vì tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng hơn, kéo dài hơn và quan trọng là nó ảnh hưởng đến nhiều người hơn các nạn đói được nghiên cứu trước đây, tạo ra dung lượng dữ liệu lớn hơn. Các phân tích cũng giúp ông nhận thấy rằng cần tối thiểu một năm để nạn đói có thể gây ra hiệu ứng.   Các nguyên nhân  Dữ liệu mà Song phân tích được thu thập từ năm 1982 là một phần của cuộc khảo sát quốc gia về tỉ lệ sinh tính theo phần nghìn. Cuộc khảo sát này được tiến hành bởi Ủy ban nhà nước về Kế hoạch hóa gia đình của Trung Quốc bằng cách yêu cầu các phụ nữ tham gia khảo sát báo cáo về tiền sử sinh đẻ của họ. Sự chính xác của cuộc khảo sát phụ thuộc vào tính chính xác trong báo cáo của các phụ nữ này về giới tính của con cái họ, Song lưu ý, nhưng ông cho rằng ít có khả năng họ quên hoặc nói dối khi được khảo sát.   Song cũng cho rằng chính sách một con của Trung Quốc, vốn được thực hiện từ năm 1978 được cho là làm thay đổi tỉ lệ giới tính trong sinh đẻ do người dân ưu tiên con trai (những người có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn cho gia đình họ), không làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Lý do vì vào thời kỳ này, công nghệ siêu âm, vốn cho phép các phụ huynh biết giới tính của con mình trước khi sinh và cân nhắc phương án phá thai, là không phổ biến.   “Tôi tin rằng sự thay đổi tỉ lệ giới tính thể hiện trong nghiên cứu này có nguyên nhân liên quan đến nạn đói”, Cheng Huang – một nhà nhân khẩu học và kinh tế dân số tại ĐH Emory (Atlanta, Georgia) nói. Tuy nhiên, ông cho rằng suy dinh dưỡng có thể không phải là lý do duy nhất của sự sụt giảm đó. Sự căng thẳng tâm sinh lý gia tăng, vốn được thể hiện trong tư liệu của chiến dịch Đại nhảy vọt, có thể đóng một vai trò nhất định.  Lambert Lumey – một chuyên gia dịch tễ học tại ĐH Columbia ở New York cho biết, “Ở vấn đề này chúng tôi không rõ lý do của sự sụt giảm”. Ông cho rằng kết luận của Song sẽ thuyết phục hơn nếu thay vì chỉ xem xét trên số liệu của toàn bộ dân số, nghiên cứu cũng khảo sát cả tỷ lệ giới tính ở một số vùng cụ thể nơi nạn đói tràn đến vào những thời điểm khác nhau.    Song hy vọng sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu theo hướng này với các dữ liệu từ một cuộc khảo sát năm 1988. Nghiên cứu đó cũng sẽ làm sáng tỏ chính sách một con đã ảnh hưởng như thế nào đến các quy luật tự nhiên, ông nói.  Dịch theo  http://www.nature.com/news/hungry-mothers-give-birth-to-more-daughters-1.10331    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nạn phá rừng làm giảm chất lượng khẩu phần ăn      Các chính sách hiện nay hướng đến đảm bảo an ninh lương thực thường chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của đất nông nghiệp mà quên mất rằng rừng cũng đóng vai trò quan trọng. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa nạn phá rừng và tình trạng giảm tiêu thụ rau quả ở vùng nông thôn Tanzania.      Khi độ che phủ của rừng giảm, lượng tiêu thụ trái cây và rau quả cũng giảm theo. Ảnh: Shutterstoc  “Những năm gần đây, ngày càng có nhiều tài liệu cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa rừng và an ninh lương thực ở các nước có thu nhập thấp và trung bình”, Charlotte Hall, nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Đại học Copenhagen, Đan Mạch và là tác giả chính của bài báo, cho biết.   “Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa nạn phá rừng và tình trạng suy giảm chất lượng trong chế độ ăn của người dân”.  Các nhà khoa học đã nghiên cứu mức tiêu thụ thực phẩm của 1.256 hộ gia đình ở vùng nông thôn Tanzania trong khoảng thời gian 5 năm. Nhóm nghiên cứu đã tham chiếu dữ liệu do Ngân hàng Thế giới cung cấp (đã dịch chuyển ngẫu nhiên phân bố địa lý lên đến 3,11 dặm cho mục đích bảo mật), giúp các nhà nghiên cứu đo lường gần đúng khoảng cách giữa các hộ gia đình với khu vực có rừng. Nhóm đã sử dụng hình ảnh vệ tinh và bộ dữ liệu không gian địa lý để đo độ che phủ của rừng trong thời gian nghiên cứu.  Họ phát hiện ra rằng khi độ che phủ của rừng giảm, lượng tiêu thụ trái cây và rau quả cũng giảm theo. Cụ thể, độ che phủ rừng giảm trung bình khoảng 423 mẫu Anh trong khoảng thời gian 5 năm. Lượng tiêu thụ trái cây và rau quả giảm 14 gram mỗi người/ngày, tương đương giảm 11% khẩu phần ăn hằng ngày. Các nhà nghiên cứu đã công bố phát hiện của họ trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia .  Bronwen Powell, trợ lý giáo sư địa lý, chuyên nghiên cứu châu Phi học và nhân chủng học tại Penn State và là đồng tác giả nghiên cứu, cho biết rau quả dại đóng vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống của người dân nông thôn ở Tanzania. Powell đã tiến hành nghiên cứu dinh dưỡng ở Tanzania trong hơn một thập kỷ và công trình tiến sĩ của bà đã giúp đặt nền móng cho nghiên cứu hiện tại.  “Nghiên cứu mang lại kết quả đáng kinh ngạc”, Powell nhận định. “Việc tiêu thụ ít rau quả là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Nếu việc phá rừng có liên hệ chặt chẽ với lượng tiêu thụ trái cây và rau quả thì đó là điều rất đáng lo ngại”.  Nhóm nghiên cứu nhận thấy rau xanh, xoài và các loại trái cây khác có trong rừng là những thực phẩm bị giảm tiêu thụ nhiều nhất. Những thực phẩm này chứa nhiều vitamin A, một vi chất dinh dưỡng cần thiết.  “Chúng tôi tập trung vào ba vi chất dinh dưỡng quan trọng trong nghiên cứu của mình — sắt, kẽm và vitamin A — vì đây là những chất dinh dưỡng mà người dân các nước có thu nhập thấp và trung bình thường thiếu”, Hall cho biết. “Chúng tôi không tìm thấy mối liên hệ giữa mất rừng với sắt hoặc kẽm, nhưng chúng tôi đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa mất rừng và vitamin A”.  “Mức độ tác động của nông nghiệp lên chế độ ăn uống ít hơn so với những gì chúng ta thấy trong nghiên cứu này”, Powell nhận định. “Vì vậy, nghiên cứu này thực sự giúp chúng ta suy nghĩ sâu xa hơn khi cố gắng giúp các cộng đồng nông thôn cải thiện an ninh lương thực ở những nơi mà rau quả dại đóng vai trò quan trọng”.  Theo ông Hall, phần lớn các chính sách nhằm cải thiện an ninh lương thực ở các nước có thu nhập thấp đến trung bình có xu hướng thúc đẩy sản lượng nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây trồng chủ lực, vốn thường phải trả giá bằng việc thu hẹp diện tích rừng. Kết quả của nghiên cứu hiện tại hướng tới một cách tiếp cận thay thế để cải thiện an ninh lương thực ở các nước này.  “Các nhà hoạch định chính sách nên xem xét nhiều hơn đến vai trò của rừng”, Hall bình luận. “Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng phá rừng làm giảm khả năng cung cấp các loại trái cây và rau quả chứa chất dinh dưỡng quan trọng như vitamin A. Bảo vệ rừng có thể vừa giúp đáp ứng cả mục tiêu dinh dưỡng lẫn môi trường”.□  Hà Trang dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-links-deforestation-dietary-quality.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng độ cao quỹ đạo ISS thêm 7,5 km      Sáng 24-7, Trung tâm điều khiển các chuyến bay vũ trụ của Nga ở ngoại ô Mátxcơva đã điều chỉnh thành công quỹ đạo bay của Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), nâng độ cao của trạm này từ 330 km lên 337,5 km so với bề mặt Trái đất.    Việc điều chỉnh này được tiến hành để chuẩn bị cho tàu con thoi “Indevor” của Mỹ ghép nối với ISS, dự kiến vào ngày 8-8 tới.  Hãng thông tấn Nga RIA – Novosti ngày 24-7 cho biết việc điều chỉnh quỹ đạo bay của ISS được tiến hành tự động với sự trợ giúp của các động cơ của tàu vận tải “Tiến bộ M-60”. Toàn bộ quá trình này diễn ra trong khoảng 21 phút và không có sự tham gia của các nhà du hành trên ISS.  Theo kế hoạch, trong chuyến bay lên ISS của tàu con thoi “Indevor” kéo dài 11 ngày vào đầu tháng 8 tới, các nhà du hành sẽ ra ngoài khoảng không vũ trụ ba lần để thực hiện các công việc hiện đại hóa trạm ISS.  Trước đó, ngày 23-7, các nhà du hành Fedor Yurchikhil (Nga) và Kleyton Anderson (Mỹ), thuộc đội bay chính thứ 15 trên ISS đã làm việc 7 giờ rưỡi trong khoảng không vũ trụ bên ngoài trạm này để tháo bỏ thiết bị chứa chất amoniac, được lắp đặt trên ISS từ tháng 8-2001, như một hệ thống làm lạnh tạm thời của trạm. Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết thiết bị này đã không được sử dụng lần nào kể từ khi thiết bị làm lạnh chính của ISS được đưa vào hoạt động từ tháng 12-2006 đến nay.  Ngoài ra, trong lần ra khoảng không vũ trụ lần này, hai nhà du hành cũng thực hiện một số nhiệm vụ khác như thay thế bộ phận cấp điện cho hoạt động của các ănten và môđun điều khiển từ xa của hệ thống cấp điện trên trạm, lắp đặt giá đỡ cho các camera trên ISS ở phía hướng về phía Trái đất.  TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lực công nghệ AI của Trung Quốc bằng một nửa Mỹ      Với tham vọng tiến tới dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này, Chính phủ TQ đã đầu tư hơn 1 tỷ USD vào các công ty AI khởi nghiệp. Dư luận TQ xuất hiện ý kiến cho rằng “Năng lực AI của TQ đã vượt Mỹ”.      Hình minh họa. Nguồn ảnh: theverge.  Trung Quốc (TQ) mấy năm nay rộ lên cơn sốt nghiên cứu ứng dụng công nghệ Trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial intelligence). Với tham vọng tiến tới dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này, Chính phủ TQ đã đầu tư hơn 1 tỷ USD vào các công ty AI khởi nghiệp. Dư luận TQ xuất hiện ý kiến cho rằng “Năng lực AI của TQ đã vượt Mỹ”.  Cho tới tháng 3/2018 vừa qua, Đại học Oxford (Anh) công bố một báo cáo nghiên cứu đánh giá năng lực AI (AI capabilities) của TQ chỉ bằng khoảng một nửa của Mỹ.  Bản báo cáo này có tiêu đề “Deciphering China’s AI Dream” (Giải mã giấc mơ AI của TQ), tác giả là tiến sĩ Jeffry Ding. Tác giả báo cáo đưa ra khái niệm “Chỉ số tiềm lực AI (AIPI, AI Potential Index)”, gồm 4 chỉ tiêu cơ bản là : – Phần cứng (Hardware);  – Số liệu (Data); – Nghiên cứu và Thuật toán (Research and Algorithms); – Thương mại (Commercial AI Sector).  Tiến sĩ Jeffry Ding dùng chỉ số AIPI để đánh giá thực lực tổng hợp của một quốc gia trên lĩnh vực AI.  Tóm tắt kết quả so sánh:  1) Phần cứng:  Chỉ số phần cứng của TQ bằng 5,8, kém xa Mỹ (46,2).    2) Số liệu: Chỉ số số liệu của TQ bằng 20, vượt xa Mỹ (5,5). Đó là do TQ đông dân, mạng Internet di động phát triển nhanh, ngoài ra việc bảo vệ sự riêng tư cá nhân tương đối không chặt chẽ. Nhưng do Google và Facebook không được vào thị trường TQ nên mạng Internet TQ bị đóng kín, chỉ sử dụng số liệu quốc nội, trong tương lai sẽ hạn chế ảnh hưởng đối với thế giới.  3) Nghiên cứu và Thuật toán: TQ được 16,8 điểm;  Mỹ được 37,3 điểm  4) Thương mại: chỉ số thương mại của TQ bằng 25,9 điểm, Mỹ được 41,1 điểm.  Tổng hợp cả 4 chỉ tiêu, TQ được 17,1 điểm, Mỹ được 32,5 điểm, nghĩa là năng lực AI tổng hợp của TQ chỉ bằng một nửa của Mỹ.  Khi đưa tin về “Báo cáo Oxford”, Thời báo Hoàn cầu (TQ) số ra ngày 7/5 cho biết: Một số chuyên gia TQ nhận xét trên lĩnh vực AI, TQ đúng là có kém Mỹ một khoảng cách như về bán dẫn, chip điện tử… nhưng về tổng thể thua kém không lớn như báo cáo của Oxford.  Ghi chú: Nếu xét tới sự việc mới đây Mỹ trừng phạt công ty ZTE của TQ, cấm nhập khẩu chip bán dẫn từ Mỹ thì có thể dự đoán mục tiêu TQ năm 2030 sẽ dẫn đầu thế giới trên lĩnh vực AI sẽ gặp nhiều trở ngại, bởi lẽ công nghệ sản xuất chip của TQ còn kém phương Tây ít nhất 10 năm, hiện nay mới chỉ làm được chip loại trung bình trở xuống, hàng năm phải nhập khẩu khoảng 200 tỷ USD sản phẩm bán dẫn của Mỹ. Không có chip cao cấp thì không thể làm ra các sản phẩm AI cao cấp.  Hải Hoành tổng hợp  Nguồn thông tin: https://www. fhi.ox.ac.uk    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng gió có thực sự “sạch”?      Người ta thường cho rằng các thiết bị phong điện gây ồn và phá vỡ cảnh quan nhưng vấn đề thực sự hiện giờ lại là các thiết bị này có thể liên quan tới việc Trái đất nóng lên. Các nhà khoa học đã tìm được bằng chứng rằng các thiết bị này đóng vai trò trong việc gia tăng việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.      Năng lượng gió đang khởi sắc. Sản lượng phong điện thế giới đạt vào khoảng 143.000 MW vào cuối năm 2009, tức là có mức tăng trưởng khoảng 18% so với năm trước đó. Hiệu suất sản điện của các thiết bị phong điện cũng không ngừng tăng lên, ở mức trung bình khoảng 25%/năm kể từ năm 1990.  Nhưng đối mặt với sự cất cánh này vẫn thấy có nhiều lời chỉ trích. Đặc biệt tại Pháp, người ta cho rằng các “cối xay gió” đời mới làm mất cảnh quan thiên nhiên. Các con số đã được đưa ra để minh chứng: để sản xuất ra một TWh mỗi năm, người ta cần tới một diện tích tới 15 cây số vuông, so với 5 cây số vuông cho việc đặt các tấm pin Mặt trời hoặc dưới một cây số vuông đối với các trung tâm điện địa nhiệt, trung tâm điện hạt nhân, nhiệt điện… Mặc dù diện tích đất mà phong điện cần thiết không hoàn toàn bị hoang hóa nhưng chúng cũng chỉ được sử dụng ở những điều kiện đặc biệt.  Gió biển  Việc chuyển các thiết bị phong điện ra biển để tầm nhìn đỡ bị “vướng” và khai thác với hiệu suất cao hơn (gió ngoài biển thường nhiều và mạnh hơn) là một giải pháp đã được tính đến và đang được tiến hành thực nghiệm.  Nhưng ngay cả khi phương án phong điện ngoài khơi khởi sắc, người ta vẫn tiếp tục đặt câu hỏi có tính chất cơ bản: liệu việc sử dụng các thiết bị phong điện có thực sự tạo ra khí thải gây hiệu ứng nhà kính hay không? Vấn đề ngày càng lớn ở các nước Đức hay Pháp, nơi các nhà lãnh đạo dường như đã biết được câu trả lời: các thiết bị này có phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, ở một mức độ khá cao. Câu hỏi kế tiếp xuất hiện ngay lập tức: vậy thì phong điện liệu có cần thiết hay không?  Trước hết, để trả lời câu hỏi này người ta cần trở lại từ nguồn. Do là nguồn năng lượng sơ cấp, động năng do gió tạo ra không gây ra hiệu ứng nhà kính. Nhưng sẽ không là như vậy đối với điện sản sinh ra từ các thiết bị phong điện. Bởi vì người ta phải tính đến việc sản xuất ra sắt thép để làm ra thiết bị phong điện, phải tính đến xi măng để xây dựng lên các ụ nổi đặt thiết bị, rồi thì việc vận chuyển thiết bị ra ngoài khơi, việc bảo trì, bảo dưỡng và cuối cùng là việc phá bỏ các thiết bị này khi hết hạn sử dụng. Mỗi khâu trong cả quá trình này đều… phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.  Để tính chính xác lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (bằng lượng dioxyde carbone/CO2 hoặc tương đương), người ta đã tiến hành một nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích dòng đời của sản phẩm, một phương pháp quen biết đối với các nhà khoa học. Đây là phương pháp đánh giá dựa trên việc định lượng các yếu tố tác động tới môi trường của các nguyên liệu cấu thành lên sản phẩm, từ lúc nó mới được hình thành đến lúc phân hủy. Nôm na hơn là “từ lúc sinh ra tới khi xuống mồ”. Kết quả cuối cùng, thường là rất khó xác định, phụ thuộc vào nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau: phương thức sản xuất, cách thức vận chuyển từ nơi sản xuất tới nơi dựng thiết bị, rồi quá trình bảo trì, bảo dưỡng và cuối cùng là khả năng tái sử dụng lại các chi tiết cấu thành lên thiết bị…  Như vậy, từ việc phân tích chu kỳ sống của thiết bị phong điện, EDF đã có một kết luận: mỗi KWh phong điện được sản sinh ra thì cũng sẽ tạo ra một lượng CO2 cỡ từ 3 đến 22 gam. “Sự chênh lệnh này là do sự khác biệt giữa sức gió ở nơi lắp thiết bị, kích thước của thiết bị, các vật liệu cấu thành thiết bị và tần suất tiến hành bảo trì…”, Jean-Marc Jancovici, kỹ sư cố vấn trong lĩnh vực năng lượng phong điện của EDF nói. Và điều đáng nói là sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính của các thiết bị phong điện cùng với điện hạt nhân và thủy điện là các nguồn gây phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất. Hơn nữa, theo một nghiên cứu khác thực hiện trên các thiết bị phong điện có công suất 2 MW, mức nợ năng lượng được hoàn trả ở các thiết bị này vào khoảng 7,7 đến 9 tháng trong khi tuổi đời của thiết bị ít nhất là 20 năm.   Sản lượng không ổn định  Một điều cơ bản mà nhiều người nói tới là khả năng sản xuất điện của các thiết bị phong điện, cũng như năng lượng Mặt trời không ổn định. “Sản lượng phong điện vừa không ổn định, nhiều khi lại không đáp ứng được yêu cầu và lượng điện tích trữ được lại không nhiều”, Jean-Marc Jancovici nói.  Theo một tài liệu do Gilbert Ruelle, Chủ tịch Hội đồng năng lượng và biến đổi khí hậu của Viện công nghệ Pháp, việc các thiết bị phong điện không đảm bảo công suất ổn định sẽ khiến cho nhà cung cấp điện gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu điện của khách hàng. Như vậy, các thiết bị phong điện đều cần được yểm trợ bởi các phương tiện sản xuất điện phụ trợ khác nhằm cung cấp điện vào thời điểm không có gió hoặc gió yếu. Ví dụ như các thiết bị thủy điện, địa nhiệt, các tuabin khí hoặc các trạm điện hạt nhân.   Nhưng vấn đề trở lại là khi các nguồn điện hỗ trợ cho phong điện có nguồn gốc từ năng lượng hóa thạch, tính chất “sạch” của phong điện lại mất đi. “Khiếm khuyết này ngày càng gia tăng khi lượng điện do phong điện sản xuất ngày càng lớn, khiến lỗ hổng điện phải bù đắp càng cao khiến người ta bắt buộc phải đầu tư vào các thiết bị địa nhiệt hỗ trợ”, Gilbert Ruelle nói. Tất nhiên, điều này còn phụ thuộc vào các nguồn năng lượng sẵn có của mỗi nước. Thí dụ như Đan Mạch, nơi các thiết bị phong điện chiếm khoảng 15% tổng sản lượng điện thì nước này sử dụng nguồn điện hỗ trợ từ các nguồn thủy điện của Na Uy. Trong khi đó, Đức chỉ có lượng điện sản xuất từ gió chiếm có 6% thì lại dựa vào năng lượng hóa thạch và nhập khẩu điện trợ giúp khi phong điện có vấn đề.          Cho tới nay, phong điện vẫn chỉ được coi là một nguồn điện phụ trợ chứ chưa phải chính thức vì tính thiếu ổn định trong phát điện của nó           Ngược lại, khi sức gió mạnh thì phong điện lại “sạch” hơn rất nhiều và có thể thay thế điện làm từ các nguồn năng lượng hóa thạch vốn có mức phát thải CO2 lớn. Đó là trường hợp xảy ra với Đức khi 60% sản lượng điện đến từ nhiên liệu hóa thạch và Đan Mạch, nơi tỉ lệ điện làm ra từ nhiên liệu hóa thạch vẫn còn cao. Như vậy, vẫn theo Gilbert Ruelle, từ sản lượng điện 15 gigawatt trở lên, việc vận hành các thiết bị phong điện đòi hỏi lượng tiêu thụ các nhiên liệu hóa thạch nhiều hơn, dẫn tới việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính cao. Theo tính toán của ông, cứ mỗi tỉ Euro mà nước Pháp đầu tư vào năng lượng điện hạt nhân cho phép bớt phát thải 3,1 triệu tấn CO2 mỗi năm, so với mức tối đa 0,85 triệu tấn nếu đầu tư vào phong điện. Như vậy, các nước có điều kiện tốt nhất để phát triển phong điện là những nước đã cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch như Đan Mạch hoặc Đức.   Để phát huy tối đa năng lượng phong điện, người ta tính đến việc tích trữ lại lượng điện dư thừa khi sức gió mạnh để cung cấp ngược trở lại khi sức gió yếu. Hiện giờ, chỉ có các trạm phong điện có công nghệ tuabin bơm làm được điều này và lượng điện tích trữ có thể sử dụng lại với hiệu suất 80%. Tuy nhiên, giá thành các thiết bị này còn đắt, đòi hỏi sử dụng nhiều nước và chỉ lắp đặt ở các địa hình tự nhiên thích hợp. Nhiều giải pháp khác vẫn đang được nghiên cứu nhưng điều có thể nhận thấy ngay là việc tích trữ điện đối với các thiết bị phong điện vẫn còn là điều chưa khả thi.  Dù gì đi chăng nữa, phong điện vẫn là giải pháp cần thiết để gia tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo trong việc sản xuất điện. Dù sản lượng điện của chúng có không ổn định thì việc lắp đặt các thiết bị phong điện có điểm lợi là ít cần tập trung như các loại hình sản xuất điện khác mà con người vẫn đang làm, thí dụ như đập thủy điện, trung tâm nhiệt điện hay hạt nhân.   H.An  dịch   La Recherche 12/2009    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng gió của Việt Nam, tiềm năng và triển vọng      Bài viết này phân tích một cách ngắn gọn tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam, từ đó bàn đến một số lựa chọn của Việt Nam trong việc giải quyết bài toán thiếu hụt điện năng, bằng cách cùng với việc khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chúng ta phải chuyển dần sang các dạng năng lượng mới, đặc biệt chú trọng tới các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo và thân thiện với môi trường– đó là năng lượng gió.      Tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam  Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm – tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Và theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng ta cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu dự báo này của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là chúng ta phải nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất trong nước, hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình trệ, còn đời sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.    Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam  Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét phương án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc tăng giá điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt khác giúp tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại nhân dân và của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá điện cần được cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải tính đến tính công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau, trong đó cần hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là một yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tăng giá điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ ngưỡng 2 con số. Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì thấy ngay với mức giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, và Malaysia. Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong mấy năm trở lại đây.  Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng truyền thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn phát triển các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới chú trọng đến phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển nguồn năng lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ”Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tới năm 2020”. Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm 2020, nếu theo đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000 MW, bằng 7% tổng công suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%), sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt điện than (17%) và nhập khẩu (9%).  Một điều đáng lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay điện hạt nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện mà trong mấy năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường điện thế giới, hơn nữa giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện với môi trường.     Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?  Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm giá lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay, định kiến này đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan niệm giá thành không chỉ bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi phí ngoài (external cost – như chi phí về xã hội do phải tái định cư, hay về môi trường do ô nhiễm).                  Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy điện. Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí môi trường) là 70 USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW công suất cần đầu tư 1.000 USD trong 7 năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003 đầu tư cho 1 KW điện gió ở nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD. Đáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho một KWh điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 – 60 USD/MWh – tương đương với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự đoán, đến năm 2020 giá thành điện gió sẽ giảm đáng kể, chỉ khoảng 600 USD/KW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 30 USD/MWh.   Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa màu hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.  Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.  Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân.                 Giá thuê đất (khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng không nhiều.  Tiềm năng điện gió của Việt Nam  Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để  phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa.  Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài; nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.    Đề xuất một khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam  Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau. Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần phía Nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió Tây Nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.  Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này không những có vận tốc trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi khác, đó là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7m/s, tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 – 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn của Việt Nam.                   Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng chúng ta cần phải lưu ý một số điểm đặc thù của năng lượng gió để có thể phát triển nó một cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức chi tiết về chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối (có ảnh hưởng không tốt đến máy phát). Cũng vì những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng lượng gió tuy ngày càng phổ biến và quan trọng nhưng không thể là nguồn năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho Việt Nam, một mặt đa dạng hóa được nguồn năng lượng trong đó kết hợp những nguồn năng truyền thống với những nguồn lượng tái tạo sạch với chi phí hợp lý; mặt khác khai thác được thế mạnh, đồng thời hạn chế của mỗi nguồn năng lượng, và tận dụng các nguồn năng lượng này trong mối quan hệ bổ sung lẫn nhau. Một điểm cần lưu ý nữa là khả năng các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn trong khi vận hành, cũng như có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến nếu các yếu tố về kỹ thuật không được quan tâm đúng mức. Do vậy, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực.  Thay cho lời kết  Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế lớn, thể hiện ở mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng khác. Khác với điện hạt nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp điện gió không đòi hỏi quy trình khắt khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió thành công của Ấn Độ, Trung Quốc và Philippin, và với những lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể “đi tắt, đón đầu” trong phát triển nguồn năng lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào các quyết sách ngày hôm nay.  ——–  * TS. Vũ Thành Tự Anh – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Đàm Quang Minh – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.  Đàm Quang Minh – Vũ Thành Tự Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân – chiến tranh và hòa bình      Ngày 6-8 và 9-8-2011, tại Hiroshima và Nagasaki, nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày không quân Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất Nhật, thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan tuyên bố là ông sẽ vận động để nước mình ngừng sử dụng Điện hạt nhân. Phải chăng sau sự cố ở Fukushima Dai-ichi, nước Nhật sẽ theo gương Đức, Ý, Thuỵ sĩ…và “rút khỏi hạt nhân”?  &#160;      Khi đưa ra những lời tuyên bố trên, chắc hẳn Thủ tướng Kan đã đọc bức tâm thư mà nhà khoa học hạt nhân của Việt Nam, giáo sư Phạm Duy Hiển gửi đến ông nhân dịp 100 ngày sau thảm hoạ tại nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) Fukushima Dai-ichi. Bức thư có đoạn viết : “…..Bài học lớn nhất rút ra từ Fukushima là con người, chứ không phải máy móc tối tân, mới chính là nhân tố quyết định bảo đảm an toàn Điện hạt nhân….Một khi nước Nhật cam kết thúc đẩy năng lượng tái tạo thì đây sẽ là bước ngoặt đáng mừng cho cả thế giới.  Nếu Fukushima là cái mốc lịch sử đáng buồn cho việc sử dụng năng lượng hạt nhân phục vụ hoà bình thì Hiroshima và Nagasaki lại là những cái mốc thảm khốc của việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích chiến tranh. Tên của hai thành phố trên các đảo Honshu và Kyushu này của Nhật Bản đã gắn liền với việc con người lần đầu tiên tung bão lửa hạt nhân để giết hại đồng loại, đi ngược lại các mục đích mà những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới đã đề ra khi đem tài năng và trí óc của mình chế ngự năng lượng hạt nhân, nhằm mang lại hạnh phúc cho nhân loại . (Trích trong “Năng lượng hạt nhân – Chiến tranh và Hoà bình”, tác giả Nguyễn Thọ Nhân, Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2011, 336 trang)  Năng lượng hạt nhân phục vụ chiến tranh  Có lẽ kỷ nguyên hạt nhân đã bắt đầu vào mùa Giáng sinh năm 1938 tại Viện Hoá học Hoàng đế Wilhelm ở Berlin – Dahlem, khi hai nhà hoá học Otto Hahn và Fritz Strassmann lần đầu tiên tạo ra một phản ứng phân hạch có ý nghĩa.  Từ năm 1940, các nhà khoa học hạt nhân hàng đầu trên thế giới tập hợp trong dự án Manhattan đã giúp nước Mỹ chế tạo thành công hai quả bom nguyên tử Little Boy (dùng urani làm nhiên liệu) và Fat Man (nguyên liệu plutôni) để ném xuống đất Nhật. Mục tiêu ban đầu của họ là đi trước nước Đức Quốc Xã trong việc sở hữu vũ khí hạt nhân. Họ không ngờ là các sản phẩm từ trí não của họ đã được sử dụng để giết hại hàng trăm nghìn người dân vô tội ở Hiroshima và Nagasaki. Phần lớn các nhà khoa học tham gia vào dự án Manhattan, kể cả Albert Einstein là người thảo bức thư gửi tổng thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt ngày 2 tháng 8-1939 đề nghị khởi động chương trình vũ khí hạt nhân, đều chống lại việc thả bom nguyên tử trên đất Nhật, nhất là sau khi chắc chắn rằng nước Đức không có khả năng chế tạo loại vũ khí giết người hàng loạt này. Các cuộc vận động của Leo Szilard và James Franck (Nobel Vật lý năm 1925) đều vô hiệu quả. Tuy nhiên, một số ít nhà khoa học vì những tham vọng hẹp hòi hay để bảo vệ quyền lực cá nhân đã hùa theo giới chính trị và quân sự chống lại những suy nghĩ sáng suốt của các đồng nghiệp của mình. Nhà vật lý J. Robert Oppenheimer, giám đốc phòng thí nghiệm Los Alamos cũng còn ủng hộ cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trong việc phát triển bom hydrô. Theo ông thì “các nhà khoa học không có nhiệm vụ quyết định có nên sử dụng bom hydrô hay không. Quyết định này thuộc về nhân dân Mỹ và các đại biểu dân cử của họ.” Người ta cứ tưởng là nhân dân Mỹ đã có tiếng nói quan trọng trong vấn đề này.  Chứng kiến cảnh tượng thảm khốc của hai vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, các nhà khoa học, nhất là những người tham gia vào dự án Manhattan đã vô cùng công phẫn và họ cảm thấy hối hận. Chính Albert Einstein cũng đã nói : “Nếu tôi biết rằng người Đức không sản xuất được bom nguyên tử thì tôi đã không động đến một ngón tay.” Einstein là người ký tên cuối cùng vào bản Tuyên ngôn mang tên ông và tên huân tước Bertrand Russell chỉ hai ngày trước khi ông qua đời. Bản tuyên ngôn Russell-Einstein mang chữ ký của 11 nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, trong số đó có 9 người đoạt giải thưởng Nobel, kết luận với những lời lẽ sau: “Đây là vấn đề (khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân) chúng tôi trình ra trước quý vị, khắc nghiệt và đáng sợ, và không sao né tránh được, đó là chúng ta có thể tiêu diệt nhân loại hay không họăc nhân loại có từ bỏ chiến tranh hay không.” Bản tuyên ngôn Russell-Einstein về sau trở thành cương lĩnh của phong trào Pugwash, nơi hội tụ lương tâm của các nhà khoa học ở cả hai khối Đông và Tây để chống lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Ngoài phong trào Pugwash mà người phụ trách chính là Joseph Rotblat, một nhà vật lý đã tham gia vào dự án Manhattan, nhiều tổ chức khác cũng do các đồng sự của ông trong chương trình chế tạo vũ khí này sáng lập và điều khiển, tất cả đều nói lên trách nhiệm xã hội của các nhà khoa học là chống chiến tranh hạt nhân. Ta có thể kể Liên đoàn các nhà khoa học nguyên tử (FAS, Federation of Atomic Scientists) của Eugene Rabinowitch, Hội đồng cho một thế giới sống được (CLW, Council for a Livable World) của Leo Szilard, Liên đoàn thế giới những người làm công tác khoa học (WFSW, World Federation of Scientific Workers) của Eric Burhop. Nhiều người khác bị nghi ngờ là đã cung cấp các tài liệu bí mật hạt nhân cho phía Liên Xô vì họ không muốn để cho Mỹ độc quyền sở hữu loại vũ khí giết người hàng loạt này sau khi chiến tranh kết thúc. Hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki cũng có mục đích đe doạ Liên Xô khi thế giới bước vào thời kỳ hậu chiến. Trong số các nhà khoa học “điệp viên” được biết đến, ta có thể kể Klaus Fuchs, Bruno Pontecorvo, Alan Nunn May, Theodore Hall.  Năng lượng hạt nhân phục vụ cho hoà bình và điện hạt nhân  Sau năm 1945, rất nhiều nhà khoa học hạt nhân đem tài trí của mình góp sức vào việc nghiên cứu các ứng dụng hoà bình của năng lượng hạt nhân mà đặc biệt là các đề tài sinh học phóng xạ. Các nghiên cứu của họ trên các mặt lý thuyết và thực nghiệm đã dẫn đến những phát minh rất quan trọng trong việc tìm hiểu vũ trụ và vật chất. Ta có thể kể các lý thuyết tổng hợp hạt nhân trong vũ trụ của Hans Bethe và William Fowler, lý thuyết lượng tử và các hạt cơ bản của Julian Schwinger, lý thuyết từ hạt nhân của Isidor Rabi, Norman Ramsey, Felix Bloch, lý thuyết về laser và maser của Alfred Kastler hay Nicolai Basov.             Hiroshima- 1945        Ngày nay, việc sử dụng các kỹ thuật hạt nhân, các tia phóng xạ iôn hoá, các chất đồng vị phóng xạ đánh dấu đã được phát triển rộng rãi trong tất cả các ngành y học, nông nghiệp, công nghiệp, khí tượng – thuỷ văn, địa chất … và đã phục vụ đắc lực cho nền kinh tế quốc dân ở nhiều nước, kể cả ở Việt Nam ta.  Nhưng ứng dụng hoà bình quan trọng nhất của năng lượng hạt nhân là việc sử dụng phản ứng phân hạch để tạo ra điện năng trong các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN). Các bằng sáng chế phát minh của Leo Szilard (số 630726 tại Anh), của Enrico Fermi và Leo Szilard (số 2708656 ở Mỹ) hay của Frédéric Joliot-Curie ở Pháp ngày 4-5-1933 cũng như các công trình của Igor Kurchatov ở Nga đều nhắm tới mục đích chế tạo các lò phản ứng hạt nhân sinh ra năng lượng.  Sự khác biệt cơ bản của các phản ứng phân hạch sinh năng lượng trong các vũ khí và trong các nhà máy điện hạt nhân là tính điều khiển được trong các NMĐHN. Vì một lý do nào đấy do người điều khiển phạm sai lầm hay do các thiết bị điều khiển không hoạt động được với độ an toàn mong muốn thì các NMĐHN cũng nguy hiểm không kém gì các quả bom nguyên tử.  Các NMĐHN đầu tiên được thiết kế theo mô hình của “pin” thí nghiệm CP-1 (Chicago Pile No 1) của Enrico Fermi, dùng graphit làm chậm nơtron để tạo ra các phản ứng phân hạch. Khoảnh khắc pin CP-1 đạt trạng thái tới hạn ngày 2-12-1942 là một cái mốc lịch sử của ngành hạt nhân trên thế giới mặc dù công suất điện phát ra lúc ấy chỉ bằng 0,5 watt, đủ để thắp sáng một bóng đèn leo lét. Mãi đến năm 1951, khi một dòng điện phát ra từ lò phản ứng EBR-1 tại Arco (bang Idaho ở Mỹ) thắp sáng được 4 bóng đèn thì người ta mới nói đến việc sản xuất điện từ các lò phản ứng hạt nhân. Các NMĐHN bắt đầu được xây dựng ở nhiều nơi trên thế giới dựa vào những kỹ thuật và những thiết bị khác nhau tuỳ theo nhu cầu và khả năng chế tạo ở từng nước. Những nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Anh theo kỹ thuật Magnox (Magnesium- Uranium oxide) hay ở Pháp theo kỹ thuật UNGG (Uranium naturel – Graphite – Gaz) đều có mục đích sản xuất plutôni cho các chương trình vũ khí hạt nhân là chính, các NMĐHN đầu tiên ở Anh còn mang tên Pippa (Plutonium and Power Production). Ở Canada, kỹ thuật lò phản ứng Candu (Canada Deuterium Uranium) đã được chế tạo phù hợp với khả năng sản xuất công nghiệp của nước này. Còn ở Mỹ vì có đầy đủ urani giàu sản xuất từ nhà máy Oak Ridge và vì muốn có các lò phản ứng gọn nhẹ dùng cho các tàu ngầm nguyên tử, người ta đã phát triển kỹ thuật lò phản ứng nước nhẹ gồm lò phản ứng nước áp suất (PWR, Pressurized Water Reactor) và lò phản ứng nước sôi (BWR, Boiling Water Reactor). Hiện nay, phần lớn các NMĐHN trên thế giới đều sử dụng kỹ thuật lò PWR. Ở Nga, NMĐHN đầu tiên được xây dựng ở Obninsk sử dụng một kỹ thuật độc đáo về sau phát triển thành lò RBMK (lò phản ứng công suất lớn có nhiều kênh) nổi tiếng vì sự cố Chernobyl năm 1986. Nước Nga cũng có một loại lò PWR mang tên VVER (Lò phản ứng sản xuất điện nước – nước).  Hiện nay trên thế giới có 443 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động tại 30 quốc gia với tổng công suất thiết kế đạt 396 GW, điện năng sản xuất chiếm tỷ trọng 14% trong tổng điện năng toàn thế giới, với những nước như Pháp tỷ trọng này lên đến 75% hay Nhật Bản (trước sự cố Fukushima) là 30%. Theo dòng thời gian, các thế hệ lò phản ứng công suất đã có những cải tiến cả về kỹ thuật, kinh tế và nhất là độ an toàn. Các NMĐHN dùng lò phản ứng thế hệ 1 đã ngừng hoạt động, phần lớn các lò phản ứng hiện nay thuộc thế hệ 2 và thế hệ 3, một số lò thế hệ 3+ đang được xây dựng. Người ta dự tính vào khoảng năm 2035-2040 các lò phản ứng thế hệ 4 sẽ ra đời. Sau sự cố Fukushima, ngành điện hạt nhân đang bước vào một thời kỳ suy thoái mới, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA đã giảm xuống còn một nửa số các NMĐHN họ ước tính sẽ đưa vào sử dụng từ nay đến năm 2035.  Mặc dù Điện hạt nhân đã có những đóng góp đáng kể vào việc bảo đảm năng lượng cho nền kinh tế của thế giới phát triển nhưng sau các sự cố Three Mile Island ở Mỹ năm 1979 và thảm hoạ Chernobyl ở Nga năm 1986, ngành công nghiệp điện hạt nhân đã đi vào một giai đoạn thoái trào, các nước công nghiệp lớn như Mỹ, Đức, Anh đã ngừng việc xây dựng các NMĐHN mới. Mãi đến những năm cuối thế kỷ 20, ngành này bắt đầu hồi phục vì năng lượng hạt nhân tỏ ra có ưu thế trong việc giảm khí nhà kính gây ra biến đổi khí hậu và cũng vì các nhiên liệu hoá thạch bắt đầu bị cạn kiệt. Nhưng ngày 11 tháng 3-2011, thảm hoạ Fukushima xảy ra trên đất Nhật, sự chống đối năng lượng hạt nhân lại có những lý do mới để phát triển. Cho đến nay, các lý do chính để người dân các nước không tán thành việc xây dựng các NMĐHN là:  – việc xử lý các chất thải phóng xạ chưa được giải quyết thấu đáo, các chất thải này có thể gây nguy hiểm cho nhiều thế hệ con người trong nhiều thế kỷ,  – nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân có thể phá hoại nền hoà bình thế giới và trật tự trong nhiều khu vực,  – các sự cố hạt nhân, đã xảy ra do sơ suất của con người thiếu văn hoá an toàn ngay ở cả những nước tiên tiến nhất như Mỹ, Nga, Nhật có thể dẫn đến những thiệt hại hàng trăm tỷ USD kéo dài trong nhiều thập kỷ.                  Đối với những nước có thu nhập trung bình muốn có một chương trình phát triển lâu dài điện hạt nhân, có lẽ vấn đề giá đầu tư sẽ mang tính chất quyết định vì người ta không thể hy sinh nhiều phúc lợi xã hội để dấn thân vào một chương trình thiếu tính kinh tế, nhất là khi phải đi vay để các thế hệ mai sau lo việc thanh toán. Năm 2007, giá đầu tư cho một kW điện hạt nhân là 3500 USD (theo báo cáo của Viện Công nghệ Massachusetts), năm 2008 giá này đã lên 4038 USD (theo Connecticut Integrated Resource Plan) và năm 2011 con số này là 5339 USD (theo Energy Information Administration của Mỹ). Còn nếu tính thêm tiền lãi thì giá phải trả sau 12 năm có thể gấp ba lần giá ban đầu. Trong khi ấy thì năng lượng điện sản xuất từ than đá, khí đốt, dầu mỏ cũng như từ các nguồn năng lượng tái tạo có thể ngày càng thấp.  Nói tóm lại, việc sử dụng năng lượng hạt nhân để phát điện có thể tạo ra nhiều vấn đề không lường trước được mà ngay từ đầu, Einstein cũng đã phải cảnh báo khi ông nói: “Vì tôi không đoán trước được năng lượng hạt nhân sẽ trở thành một mối lợi lâu dài, nên tôi phải nói rằng hiện nay nó là một mối đe doạ.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân hỗ trợ phòng chống dịch COVID 19      Không chỉ cung cấp các bộ kit chẩn đoán và thiết bị phụ trợ, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) sẽ tổ chức khóa tập huấn kỹ thuật chẩn đoán với hỗ trợ của kỹ thuật hạt nhân Phản ứng chuỗi trùng hợp phiên mã ngược thời gian thực (RT-PCR) để hỗ trợ các quốc gia kiểm soát dịch bệnh.      Các nhà nghiên cứu Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm nhiễm và nghi nhiễm COVID – 19 bằng kỹ thuật RT-PCR. Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN.  Theo thông báo của IAEA, các nhà nghiên cứu và kỹ thuật viên, trong đó có cả chuyên gia thú y từ 14 quốc gia ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latin và Caribbean sẽ tham gia khoa học này trong vòng hai tuần, trong đó, khu vực Đông Nam Á có Việt Nam và Malaysia, Philippines, Thái Lan. “Trong quá khứ, IAEA có đủ năng lực hỗ trợ các quốc gia phản hồi nhanh trước nhiều dịch bệnh do các virus Ebola, Zika và dịch tả lợn châu Phi gây ra. Hiện tại, tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế vẫn là trách nhiệm của chúng tôi”, Tổng thư ký IAEA Mariano Grossi cho biết.   Được phát triển từ kỹ thuật hạt nhân, RT-CPR có thể giúp dò tìm và nhận diện được virus SARS-CoV-2 một cách chính xác trong vòng vài giờ trong mẫu bệnh phẩm lấy từ người, cũng như trong những loài động vật có thể là vật chủ truyền virus sang người. Việc phát hiện virus của RT-CPR  dựa trên biểu hiện gene liên quan với việc sửa chữa DNA, điểm kiểm tra chu trình tế bào, và quá trình chết rụng tế bào chương trình (apoptosis) bằng bức xạ ion hóa.  Nhờ vậy, nó có thể cho chúng ta biết rất nhiều thông tin về việc phơi nhiễm và những con đường truyền lây virus.  Các kỹ thuật phát triển từ kỹ thuật hạt nhân như RT-PCR là công cụ quan trọng để dò nhanh và xác định đặc điểm của các virus. “Những công cụ như vậy là cách duy nhất hiện nay để xác định một cách chắc chắn khả năng mắc bệnh,” nhà nghiên cứu y học hạt nhân của IAEA Enrique Estrada Lobato cho biết.  Ngoài kỹ thuật RT-CPR, khóa tập huấn sẽ bao gồm cả các quy định về an ninh sinh học và an toàn sinh học để bảo vệ sức khỏe của người tham gia trong thời gian lấy mẫu và phân tích mẫu cũng như ngăn ngừa khả năng lây nhiễm ra bên ngoài khu vực làm việc. Các học viên tham gia khóa học sẽ được nhận một số bộ công cụ chế tạo kit với các thiết vị bảo vệ cá nhân, hóa chất chẩn đoán và những vật tư trong phòng thí nghiệm khác. Một số phòng thí nghiệm quốc gia trong mạng lưới của IAEA sẽ được cung cấp một số thiết bị đi kèm như tủ an toàn sinh học và các thiết bị RT-PCR.  Có mặt trong đợt tập huấn này, các chuyên gia thú y cũng sẽ đảm trách học hỏi các kỹ thuật và phương pháp kỹ thuật về RT-PCR để tăng cường sự sẵn sàng của các quốc gia trong việc dò tìm sớm các virus là nguyên nhân gây bệnh trên động vật và có thể dẫn đến việc lây truyền cho người, như với COVID-19. Họ sẽ được tập luyện để xét nghiệm nhanh vật nuôi và động vật hoang dã được nghi ngờ là tác nhân lan truyền các virus họ corona, như chủng mới SARS-CoV-2 cũng như SARS và MERS.  Đây không phải lần đầu tiên kỹ thuật hạt nhân tham gia giải quyết các dịch bệnh. Kỹ thuật bức xạ mà một giải pháp sẵn sàng và thân thiện với môi trường trong kiểm soát các loài côn trùng, sâu gây hại cho cây trồng, vật nuôi, ví dụ như nạn ruồi tsetse ảnh hưởng đến hàng triệu vật nuôi và người mỗi năm ở châu Phi do chứng ngủ gục cũng như dự án “Quản lý ruồi hại quả (thanh long) diện rộng trên cơ sở sử dụng kỹ thuật triệt sản côn trùng (SIT) nhằm nâng cao chất lượng quả phục vụ xuất khẩu” do Viện Bảo vệ thực vật (Viện KH Nông nghiệp Việt Nam) chủ trì, IAEA tài trợ và thực hiện tại các diện tích trồng thanh long ở Bình Thuận.  Việc hỗ trợ các quốc gia kiểm soát dịch COVID-19 nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác kỹ thuật của IAEA – chương trình hỗ trợ cho các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân vì mục đích hòa bình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là sức khỏe con người và vật nuôi thông qua sáng kiến Những ứng dụng vì mục đích hòa bình IAEA (Peaceful Uses Initiative).□  Anh Vũ tổng hợp từ world-nuclear-news.org và forbes.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân trong kế hoạch Năng lượng sạch của Mỹ      Mới đây, Tổng thống Obama và Cơ quan Bảo vệ  Môi trường đã công bố phiên bản chính thức của Kế hoạch Năng lượng sạch  (Clean Power Plan – CPP), bao gồm các quy tắc và cơ chế khuyến khích  giảm lượng phát thải khí nhà kính ở các nhà máy điện của Mỹ.       Kế hoạch này yêu cầu mỗi bang phải tuân thủ một tiêu chuẩn cắt giảm lượng khí thải cụ thể, đồng thời đưa ra những hình thức khuyến khích – như tín dụng hoặc trợ cấp – cho bang nào sớm hoàn thành mục tiêu hoặc đáp ứng vượt mức so với yêu cầu.  Năng lượng hạt nhân, cùng với các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, đóng vai trò quan trọng trong CPP. Theo kế hoạch này, các bang sẽ được nhận tín dụng cho lượng khí thải cắt giảm được ở các nhà máy năng lượng hạt nhân mới, bao gồm cả nhà máy đang xây dựng và nhà máy đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm.  Hàng trăm doanh nghiệp, trong đó có cả những doanh nghiệp lớn như eBay, Nestlé, và General Mills đã bày tỏ sự ủng hộ với kế hoạch của Tổng thống Barack Obama, đánh giá đây là hành động mạnh mẽ nhất của một tổng thống Mỹ đối với vấn đề biến đổi khí hậu.   GS Joe Lassiter của Trường Kinh doanh Harvard cho rằng năng lượng hạt nhân là một thành tố thiết yếu để đối phó với mối đe dọa toàn cầu về lượng khí phát thải từ các nhà máy điện chạy bằng than. Tháng Sáu vừa qua, GS Lassiter và nhà đầu tư mạo hiểm Ray Rothrock đã có cuộc trao đổi về việc sử dụng thế hệ năng lượng hạt nhân tiếp theo để đối phó với thách thức kép là biến đổi khí hậu và tình trạng nghèo năng lượng ở các quốc gia đang phát triển. Dưới đây là một số điểm chính trong cuộc trao đổi trên:  * Các nước giàu có thể làm bất cứ điều gì mà họ muốn. Nhưng với những nước nghèo như Trung Quốc và Ấn Độ thì họ phải làm điều mà họ buộc phải làm. Và thế là họ xây dựng các nhà máy than.  * Trong vấn đề biến đổi khí hậu, Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất.  * GS Lassiter giới thiệu ba loại nhà máy điện hạt nhân, bao gồm: lò phản ứng nước nhẹ với hệ thống an toàn thụ động, lò phản ứng nhanh làm mát bằng Natri, và lò phản ứng muối nóng chảy. Xét về độ phát triển tương đối của ba loại hình này trong tiến trình tiến hóa của công nghệ, GS Lassiter ví lò phản ứng nước nhẹ với siêu máy tính, lò phản ứng nhanh làm mát bằng Natri với máy tính mini, và lò phản ứng muối nóng chảy với các hệ thống vi xử lý.  * GS Lassiter cũng nói về tiềm năng của thế hệ năng lượng hạt nhân tiếp theo, đồng thời đưa ra một số xu hướng chính trong lĩnh vực này. Ông nói: “Nếu có thể đốt cháy thorium và uranium với mức giá cạnh tranh với mức giá của than, thì mọi người dân trên trái đất đều có thể có mức tiêu thụ năng lượng tương đương người dân Mỹ trong vòng một nghìn năm.”   * Trong cuộc trao đổi, Rothrock bàn về năng lượng hạt nhân từ góc độ đầu tư mạo hiểm. Ông nói: “Bây giờ ở khu vực Bắc Mỹ, giới tư nhân đã đầu tư khoảng một tỉ đô-la vào năng lượng hạt nhân. Đã đến lúc năng lượng hạt nhân phát huy vai trò của mình rồi.”  * Cuối cuộc trao đổi, GS Lassiter nhấn mạnh một lần nữa sự cấp bách của việc đưa ra một loại nhiên liệu thay thế cho than. Ông nói: “Vì sao đây lại là nhu cầu cấp bách? Vì nếu chúng ta không đưa ra cho người Trung Quốc và người Ấn Độ một loại nhiên liệu thay thế được cho than – tức là đó phải là loại nhiên liệu vừa rẻ vừa phong phú – vào khoảng giữa thập niên 2020, thì khi đó họ đã xây xong các nhà máy điện đốt than rồi, khí carbon đã thoát lên trời rồi. Và lúc đó mọi sự đã quá muộn.” 1         Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc      Hỗ trợ kế hoạch thực hiện Các mục tiêu phát  triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs) sẽ là điểm nhấn quan trọng cho  quá trình hoạt động trong những năm tới của Cơ quan Năng lượng nguyên tử  quốc tế (IAEA), Tổng Giám đốc IAEA Yukiya Amano đã phát biểu như vậy  trong phiên họp Hội đồng Thống đốc của Cơ quan này tại Vienna, Áo vào  cuối tháng 9 vừa qua.  &#160;      Những vấn đề quan trọng khác được đề cập tới tại phiên họp là cập nhật về quá trình thanh sát hạt nhân ở Iran, CHDCND Triều Tiên và Syria; vai trò của ngành năng lượng hạt nhân qua Báo cáo An ninh hạt nhân năm 2015; các ứng dụng trong ngành công nghiệp của công nghệ hạt nhân và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của thế giới.  Trong cuộc họp kéo dài năm ngày này, Hội đồng thống đốc IAEA gồm 35 thành viên còn thảo luận về các biện pháp nhằm tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn hạt nhân, an toàn bức xạ, an toàn vận chuyển và an toàn chất thải, và các hoạt động hợp tác kỹ thuật của IAEA cùng các chủ đề khác.  Trong phát biểu của mình, ông Amano hoan nghênh việc nhận thức được tầm quan trọng của KH&CN hạt nhân đối với sự phát triển bền vững trong Chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc đến năm 2030.  “IAEA đã nhiều năm đóng góp to lớn cho sự phát triển bằng việc đẩy nhanh quá trình đưa KH&CN hạt nhân vào ứng dụng trong các lĩnh vực đời sống như sản xuất lương thực thực phẩm, quản lý nguồn nước và nông nghiệp. Những thành quả trong công việc mà chúng ta đã thực hiện trong thời gian qua xứng đáng được ghi nhận nhiều hơn”, ông nói.  Ông Amano nêu bật vai trò quan trọng của IAEA trong việc hỗ trợ các quốc gia đạt được các mục tiêu SDG, qua đó góp phần làm giảm một phần ba số ca tử vong liên quan đến bệnh ung thư trong vòng 15 năm tới. “Tôi tin rằng đây là mục tiêu có thể đạt được, miễn là tạo dựng được mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ giữa các tổ chức quốc tế có liên quan”, ông cũng nhấn mạnh thêm, trong các chương trình hợp tác kỹ thuật và y tế, IAEA “đã quá trình hỗ trợ lâu dài các quốc gia thành viên về phát triển năng lực và cơ sở hạ tầng để kiểm soát bệnh ung thư”.     IAEA đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các quốc gia về hợp tác kỹ thuật và y tế , qua đó góp phần đạt các mục tiêu SDG mà Liên Hợp Quốc đề ra.    Các đại biểu tham dự hội nghị hết sức chú ý đến báo cáo của Tổng giám đốc IAEA về tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi tại Nhật Bản vào năm 2011, vốn được chuẩn bị cho phiên họp Đại Hội đồng IAEA vào thời gian tới. Ông Amano cũng trình bày báo cáo thường niên thứ tư và cũng là báo cáo cuối cùng  việc thực hiện Kế hoạch hành động của IAEA về an toàn hạt nhân đã được chỉnh sửa, bổ sung và thông qua sau vụ tai nạn Fukushima Daiichi. Dù thời hạn thực hiện sắp kết thúc nhưng những công việc đã khởi động trong khuôn khổ Kế hoạch hành động này vẫn sẽ được tiếp tục cho tới khi hoàn tất.  Về ứng dụng then chốt khác của năng lượng hạt nhân, ông Amano nhấn mạnh,  nhiều nước vẫn còn quan tâm đến vai trỏ của năng lượng hạt nhân trong chiến dịch chống biến đổi khí hậu. “Nếu xem xét vấn đề khí thải trong suốt toàn bộ vòng đời của năng lượng hạt nhân thì nguồn năng lượng này thực sự là một trong những loại năng lượng phát thải khí carbon dioxide thấp nhất”, ông Amano cho biết.  Về công tác thanh sát hạt nhân, ông Amano đã bày tỏ sự lo ngại về chương trình hạt nhân của CHCDND Triều Tiên và thông báo rằng IAEA vẫn không thể tiến hành việc thẩm tra tại nước này và trên thực tế, thông tin của IAEA về chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên rất hạn chế. Qua hình ảnh vệ tinh, IAEA đã quan sát được hoạt động cải tạo và xây dựng tại Yongbyon và hình ảnh cho thấy những gì diễn ra tại đây đều trùng khớp với tuyên bố của chính phủ quốc gia này về phát triển năng lực hạt nhân.  “Tôi kêu gọi CHDCND Triều Tiên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, hợp tác ngay lập tức với IAEA để giải quyết tất cả các vấn đề còn tồn tại”, ông nói thêm.  Ông Amano khẳng định, IAEA tiếp tục xác minh về việc không chuyển đổi uranium có độ giàu cao của Iran, dù rằng trước đó quốc gia này đã tuyên bố tuân thủ Hiệp định thanh sát hạt nhân với IAEA. Song IAEA vẫn chưa đủ cơ sở để chứng minh về việc giải quyết triệt để các vật liệu hạt nhân này cũng như các hoạt động liên quan khác ở Iran để có thể đi đến kết luận, các hoạt động quanh vật liệu hạt nhân ở Iran đều nằm vì mục đích hòa bình.  Ông cũng lưu ý, tháng Tám vừa qua, ông đã được Hội đồng thống đốc IAEA ủy quyền thực hiện việc kiểm tra và giám sát các cam kết liên quan đến hạt nhân của Iran theo Kế hoạch hành động toàn diện (JCPOA) đã  được thỏa thuận bởi các quốc gia “E3/EU + 3”, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Đức, Nga, Anh và Hoa Kỳ – và Iran.  Ông hoan nghênh việc Iran sẽ thực hiện các Nghị định thư bổ sung cho Hiệp định thanh sát của Iran với IAEA. “Điều này sẽ tạo điều kiện cho IAEA dễ tiếp cận hơn thông tin và các địa điểm làm giàu uranium ở Iran,” ông nói.  “Thực hiện Nghị định thư bổ sung là điều kiện tiên quyết để IAEA  có được sự đảm bảo đáng tin cậy về việc không có vật liệu hạt nhân và các hoạt động không khai báo tại Iran theo đúng tiến trình đã định”.  Nguyễn Thị Thu Hà tổng hợp                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng nhiệt “nhảy” qua không gian trống nhờ cơ học lượng tử      Nếu từng dùng một bình kín cách nhiệt chân không để giữ nóng cà phê, bạn có thể biết một vật cách nhiệt tốt như thế nào bởi năng lượng nhiệt khó có thể truyền qua không gian trống. Những dao động của các nguyên tử hay các phân tử, vốn mang năng lượng nhiệt, không thể di chuyển một cách thuận lợi nếu chúng không có các nguyên tử hay phân tử xung quanh.      Nhưng một nghiên cứu mới do các nhà nghiên cứu trường đại học California ở Berkeley đã chứng tỏ, sự bí ẩn của cơ học lượng tử đã giúp thực hiện nguyên lý cơ bản này của vật lý cổ điển.  Công trình nghiên cứu này đã được xuất bản trên tạp chí Nature. Nó cho thấy năng lượng nhiệt có thể vượt qua một khoảng cách chân không khoảng vài năm nano mét nhờ hiệu ứng cơ học lượng tử mang tên tương tác Casimir, hiện tượng mang tên nhà vật lý Hà Lan Hendrik Casimir, người từng dự đoán hiện tượng vào năm 1948.  Dẫu tương tác này chỉ xuất hiện ở các mức chiều dài cực kỳ nhỏ, nó có thể có những gợi ý sâu sắc về thiết kế các chip máy tính và những hợp phần điện tử ở cấp độ nano, nơi sự tán xạ nhiệt là vấn đề trọng yếu. Nó cũng lật lại những gì mà chúng ta đã học về truyền nhiệt trong môn vật lý phổ thông.  “Nhiệt thông thường được truyền dẫn trong một chất đậm đặc thông qua nhưng dao động của các nguyên tử hoặc phân tử, hoặc cái gọi là các phonon – nhưng trong một chân không, đó không phải một môi trường vật lý. Vì vậy trong nhiều năm, các cuốn sách dạy chúng ta rằng các phonon không thể chuyển động qua một chân không”, Xiang Zhang, giáo sư kỹ thuật cơ học tại trường UC Berkeley và là người dẫn dắt nghiên cứu, nói. “Thật đáng ngạc nhiên là những gì chúng tôi khám phá ra là các phonon có thể được truyền qua một chân không bằng các dao động lượng tử ẩn”.  Trong thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu của Zhang đặt hai màng silicon nitride bọc vàng cách nhau và trăm nano mét bên trong một buồng chân không. Khi họ gia nhiệt một trong hai tấm màng, màng còn lại cũng nóng lên – ngay cả không hề kết nối hai tấm nàng và năng lượng ánh sáng vượt qua giữa chúng cũng không đáng kể.  “Khám phá cơ chế mới về truyền nhiệt mở ra những cơ hội chưa từng có cho việc quản lí nhiệt ở cấp độ nano, vốn đóng vai trò quan trọng trong máy tính tốc độ cao và lưu trữ dữ liệu”, Hao-Kun Li, một cựu nghiên cứu sinh trong nhóm của Zhang và đồng tác giả nghiên cứu, nhận xét. “Giờ đây, chúng ta có thể xây dựng chân không lượng tử để tách nhiệt trong các mạch tích hợp”.  Không có nhiều thứ như không gian trống   Các dao động phân tử chuyển động qua một chân không mà người ta tưởng là điều không thể lại có thể thực hiện được bởi theo cơ học lượng tử, không có nhiều thứ như chân không trống thực sự, King Yan Fong, một postdoct tại UC Berkeley và là một tác giả thứ nhất của công bố, nhận xét.    “Thậm chí nếu có một không gian trống rỗng – không vật chất, không ánh sáng, cơ học lượng tử vẫn coi là không thể có được sự trống rỗng thực sự. Vẫn còn một vài dao động trường lượng tử trong một chân không”, Fong nói. “Các dao động giúp tăng lên một lực kết nối hai vật chất, đó là tương tác Casimir. Vì vậy, khi một vật thể gia nhiệt và bắt đầu rung và dao động, chuyển động có thể cuối cùng được truyền sang vật thể khác qua chân không nhờ các dao động lượng tử đó”.  Dẫu các nhà lý thuyết đã suy xét trong thời gian dài rằng tương tác Casimir có thể giúp các dao động phân tử di chuyển qua không gian trống, việc chứng minh nó về mặt thực nghiệm là một thách thức lớn. Để làm việc này, nhóm nghiên cứu đã thiết kế những màng silicon nitride vô cùng mỏng, vốn được họ chế tạo trong một phòng sạch, sau đó tìm cách kiểm soát và điều khiển nhiệt độ phòng một cách thận trọng.  Bằng việc lựa chọn kích thước và thiết kế các tấm màng mỏng, họ thấy mình có thể truyền năng lượng nhiệt qua một chân không có kích thước vài nano mét. Khoảng cách này đủ xa để một số phương thức truyền nhiệt khác không đáng kể – như năng lượng do các bức xạ điện từ, vốn là cách mặt trời làm nóng trái đất.  Bởi vì các dao động phân tử cũng là vấn đề cơ bản của truyền âm thanh mà chúng ta có thể nghe, khám phá này gợi ý các âm thanh có thể truyền qua một chân không, Zhang nói.  “20 năm trước, trong kỳ thi tuyển tiến sĩ của tôi tại Berkeley, một giáo sư hỏi tôi ‘tại sao em có thể nghe thấy giọng tôi khi ở quanh bàn này?’, tôi liền trả lời ‘bởi vì âm thanh ông phát ra di chuyển bằng các phân tử dao động trong không khí’. Ông ấy còn gặng thêm ‘cái gì xảy ra nếu chúng ta hút tất cả các phân tử khí khỏi phòng này?’, tôi đáp, ‘không gì cả, bởi vì không có môi trường trung gian để dao động’,” Zhang kể lại. “Ngày nay, những gì chúng tôi khám phá là một phương thức truyền nhiệt mới qua một chân không mà không cần môi trường trung gian, nó đạt được là do các dao động chân không lượng tử đầy hấp dẫn. Vì vậy, tôi đã sai lầm trong kỳ thi năm 1994. Giờ thì thậm chí anh còn có thể  reo hò qua một chân không nữa kia”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-energy-space-quantum-weirdness.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng sinh học có nhiều hạn chế      Giới khoa học cho rằng nên suy nghĩ lại về năng lượng sinh học vì nguồn  nhiên liệu này không thể ngăn chặn tình trạng biến đổi khí hậu.    Đức là quốc gia đi đầu thế giới về chuyển đổi năng lượng với hy vọng sẽ  đẩy lùi dầu mỏ, than đá và khí đốt thông qua việc sản xuất nguyên liệu  tái sinh như trồng cây lấy gỗ, trồng ngũ cốc và sử dụng rơm rạ. Những  nguyên liệu này được coi là trung tính với khí hậu và dễ cất giữ. Đây  chính là những lý do để Chính phủ Đức quyết định đến năm 2050 sẽ tăng  lượng sinh khối lên gấp ba lần trong việc cung ứng năng lượng cho cả  nước (hiện nay là 8%).  Tuy vậy, Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Leopoldina tỏ ý nghi ngờ về tầm  nhìn tương lai này. Mới đây, công trình nghiên cứu “Năng lượng sinh học:  khả năng và giới hạn” của Viện đã đưa ra kết luận: “Năng lượng sinh học  không thể đóng vai trò quan trọng về lượng đối với quá trình chuyển đổi  năng lượng cả trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai. Không  nên tiếp tục mở rộng các cơ sở năng lượng sinh học. Chỉ nên tăng cường  sử dụng chất thải sinh học”.    Công trình nghiên cứu này đặc biệt phê phán kế hoạch của EU: đến năm  2020 có 10% các loại nhiên liệu được chế biến từ sinh khối; tất cả các  loại nhiên liệu sẽ từng bước phối trộn với 10% biodiesel hay bioethanol.  Trong khi đó, xăng E-10 đang gây rất nhiều tranh cãi. Các nhà khoa học  của Viện Leopoldina kiến nghị EU phải xem xét lại kế hoạch này.   Năng lượng sinh học là nguồn cạnh tranh tiềm tàng với ngành sản xuất  lương thực, thực phẩm, nó gia tăng sự tranh chấp căng thẳng giữa “xe bồn  chở dầu và mâm cơm” vì một phần diện tích đất đai mầu mỡ được sử dụng  để trồng các nông sản nhằm sản xuất nhiên liệu. Các nhà khoa học tại  Leopoldina cảnh báo: “Nhập khẩu sinh khối có nghĩa là xuất khẩu rủi ro  đối với một nền nông nghiệp thâm canh, nhất là khi các nước xuất khẩu  sinh khối lại không sản xuất bền vững và phá rừng trong khi người dân  vẫn còn bị thiếu đói”.   Bên cạnh đó, để tạo ra được sinh khối phải sử dụng máy móc, phân bón,  thuốc bảo vệ thực vật… những sản phẩm này đều đòi hỏi tiêu hao nhiên  liệu hóa thạch. Và quá trình sản xuất Bioethanol, Biodiesel hay Biogas  đều tiêu tốn năng lượng. Vì thế cuối cùng lượng chất thải gây hiệu ứng  nhà kính cũng không giảm được bao nhiêu.   Nhà khoa học Hartmut Michel, giải thưởng Nobel Hóa học năm 1988, nhấn  mạnh trong tạp chí chuyên đề Angewandte Chemie (Hóa học ứng dụng) về “sự  vô nghĩa của nhiên liệu sinh học”. Ông phân tích hết sức tường tận rằng  sản xuất nhiên liệu sinh học nghĩa là sử dụng không hiệu quả đất nông  nghiệp. Ngay cả những cây mọc nhanh như cây bồ đề cũng chỉ tận dụng được  khoảng 1% năng lượng ánh sáng. Quá trình chuyển hóa thành năng lượng  sinh học lại làm thất thoát tiếp một phần năng lượng. Trong biodiesel  của Đức chế biến từ hạt cải dầu “chứa không đến 0,1% Bioethanol, dưới  0,2 %, Biogas và khoảng 0,3% lượng ánh sáng mặt trời”. Trong đó, năng  lượng hóa thạch sử dụng cho quá trình sản xuất nhiên liệu sinh học phải  chiếm tới nửa giá trị này. Một tế bào quang điện bình thường có bán trên  thị trường có mức hiệu quả là 15% cùng với bình ắc quy có thể tích năng  lượng mặt trời nhiều hơn 150 lần so với nhiên liệu sinh học. Nhà khoa  học này đề xuất ý kiến: nếu để cân đối CO2 thì hãy trồng rừng trên diện  tích định trồng cây năng lượng. Mỗi mét vuông đất trồng rừng có thể hút  CO2 nhiều gấp 10 lần so với diện tích trồng cây làm nhiên liệu sinh học  dùng để thay thế cho nhiên liệu hóa thạch. Tương tự các nhà khoa học của  Viện Leopoldina, Hartmut Michel nhận định: “Chúng ta không nên trồng  cây làm nhiên liệu sinh học vì điều đó sẽ ảnh hưởng tới sản xuất nông  nghiệp. Thay vì đốt cây năng lượng đó, ta biến chúng thành những sản  phẩm hóa chất có giá trị cao hơn; rồi cuối cùng, con người mới sử dụng  năng lượng còn lại của các sản phẩm này làm chất đốt”. Các nhà khoa học  gọi nguyên tắc sử dụng tài nguyên thân thiện này là hình thức sử dụng đa  cấp.   Các nhà nghiên cứu còn đồng tình với nhau rằng so với năng lượng sinh  học, các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng mặt trời hay năng  lượng gió có hiệu suất cao hơn, có khả năng phân bổ rộng lớn hơn, hạn  chế sản sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính và ít gây ô nhiễm môi  trường.    Xuân Hoài dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng tối có phải là ảo ảnh?      Để giải thích các hiện tượng vũ trụ theo thuyết tương đối rộng của Einstein, ví dụ như sự giãn nở được gia tốc của vũ trụ, người ta thường nhắc đến năng lượng tối, một dạng năng lượng chiếm số lượng lớn và bí ẩn. Nhưng cái gì xảy ra nếu năng lượng tối chỉ là một ảo ảnh và thuyết tương đối rộng tự nó đã thay đổi?      “No Evidence of Kinetic Screening in Simulations of Merging Binary Neutron Stars beyond General Relativity” (Không bằng chứng về sàng lọc động lực học trong các mô phỏng sáp nhập của các ngôi sao neutron đôi), một nghiên cứu mới được xuất bản trên Physical Review Letters, đã đề xuất một cách tiếp cận mới để trả lời câu hỏi này.   Nhờ có sự hỗ trợ của toán học và máy tính, các nhà khoa học đã tạo ra được mô phỏng đầu tiên về sự sáp nhập của những ngôi sao neutron đôi theo những lý thuyết vượt ra ngoài thuyết tương đối rộng và tạo ra năng lượng tối như dạng hành xử trên các thang đo vũ trụ. Điều này cho phép so sánh lý thuyết của Einstein và những phiên bản thay đổi của nó và với dữ liệu chính xác thích hợp, và có thể giải quyết bí ẩn năng lượng tối.  Suốt 100 năm qua, thuyết tương đối rộng đã vô cùng thành công trong mô tả lực hấp dẫn trên nhiều chế độ khác nhau, và được các thực nghiệm trên Trái đất và trên hệ mặt trời kiểm chứng. Tuy nhiên, để giải thích được những quan sát vũ trụ như sự giãn nở gia tốc của vũ trụ, chúng ta cần đưa vào lý thuyết này những hợp phần tối như năng lượng tối và vật chất tối, vốn là những thứ hết sức bí ẩn với chúng ta.  Enrico Barausse, nhà vật lý thiên văn tại Viện Nghiên cứu tiên tiến quốc tế SISSA (Scuola Internazionale Superiore di Studi Avanzati) và là nhà nghiên cứu chính của GRAMS (GRavity from Astrophysical to Microscopic Scales), dự án do EU tài trợ, đặt câu hỏi là liệu năng lượng tối là có thật hay có thể bị diễn dịch từ cách hiểu chưa đầy đủ của chúng ta về thuyết tương đối. “Sự tồn tại của năng lượng tối có thể là một ảo ảnh”, ông nói. “Giãn nở gia tốc của vũ trụ có thể là do một số biến đổi mà chúng ta còn chưa biết của thuyết tương đối rộng, một dạng của ‘hấp dẫn tối’”.   Sự sáp nhập của các sao neutron đem lại một tình huống độc nhất vô nhị để thử nghiệm giả thuyết này bởi vì hấp dẫn quanh chúng đã tác động đến tình trạng cực đoan này. “Sao neutron là những sao có kết cấu đậm đặc nhất còn tồn tại và có khối lượng chỉ tương đương hoặc gấp đôi khối lượng mặt trời của chúng ta”, Enrico Barausse giải thích. “Điều này khiến hấp dẫn và không thời gian quanh chúng trở nên cực đoan, do đó cho phép tạo ra vô số sóng hấp dẫn khi hai sao này va chạm. Chúng tôi có thể sử dụng dữ liệu thu được trong các sự kiện này để nghiên cứu các vấn đề về hấp dẫn và thử nghiệm thuyết tương đối của Einstein theo một cách mới”.   Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học ở SISSA hợp tác với các nhà vật lý trường ĐH de les Illes Balears ở Palma de Mallorca, tạo ra một mô phỏng đầu tiên của việc sáp nhập các ngôi sao neutron đôi trong các lý thuyết được thay đổi từ thuyết tương đối liên quan đến vũ trụ: “Vô cùng thách thức với việc nghiên cứu các mô phỏng dạng này do bản chất phi tuyến cao”, Miguel Bezares, tác giả thứ nhất của bài báo, giải thích “Nó đòi hỏi một nguồn lực tính toán lớn – hàng tháng vận hành của các siêu máy tính – điều đã trở thành có thể thông qua thỏa thuận giữa SISSA và CINECA cũng như các công thức toán mới mà chúng tôi đã phát triển. Đây cũng là những rào cảm chính trong nhiều năm cho đến thời điểm có được mô phỏng đầu tiên”.   Nhờ các mô phỏng này, họ cuối cùng cũng có thể so sánh thuyết tương đối rộng và hấp dẫn sửa đổi. “Thật đáng ngạc nhiên, chúng tôi tìm thấy giả thuyết ‘hấp dẫn tối’ cũng tốt không kém thuyết tương đối rộng trong giải thích dữ liệu các cuộc va chạm sao neutron đôi từ các giao thoa kế LIGO và Virgo. Cũng không dễ phát hiện những khác biệt giữa hai lý thuyết trong các hệ thống này nhưng có thể dò được chúng trong những giao thoa kế thế hệ tiếp theo như kính viễn vọng Einstein ở châu Âu và Khám phá vũ trụ ở Mỹ. Điều này sẽ mở ra khả năng sử dụng sóng hấp dẫn để phân biệt năng lượng tối và ‘hấp dẫn tối’, Barausse kết luận.□  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-03-dark-energy-neutron-stars-illusion.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng tối có thể xóa sổ sự sống trong vũ trụ?      Nếu năng lượng tối mạnh như tính toán vật lý thì chúng ta đã bị các vụ nổ siêu tân tinh xóa sổ.      Vụ nổ siêu tân tinh đã tạo ra Tinh vân Con Cua đã không thể giết chết nhân loại, đó là lý do vì sao chúng ta ở đây để quan sát vũ trụ như nó hiện có. Nguồn: Sciencemag.com  Tomonori Totani, nhà thiên văn học tại ĐH Tokyo và là tác giả chính của nghiên cứu “Phóng xạ chết chóc từ rìa vụ nổ siêu tân tinh giúp giải thích hằng số vũ trụ nhỏ” (Lethal radiation from nearby supernovae helps to explain the small cosmological constant) cho biết: “Điều này tạo ra mối liên hệ mới giữa [năng lượng tối] và sinh vật học vũ trụ, vốn từng được coi là thuộc về những lĩnh vực khác nhau.”  Hầu hết mọi người đều không coi năng lượng tối – lực đẩy các thiên hà ra xa và gây ra sự giãn nở vũ trụ – là đặc biệt yếu. Nếu dựa trên lập luận từ cơ học lượng tử và phương trình về lực hấp dẫn của Albert Eistein, các nhà khoa học ước lượng, năng lượng tối có thể phải lớn hơn ít nhất 120 lần so với độ lớn hiện nay mà người ta vẫn “gán” cho nó.  Nếu thực sự mạnh như thế, năng lượng tối sẽ nhanh chóng đẩy lùi các vật chất trong vũ trụ sớm, ngăn chặn sự hình thành của các thiên hà, các vì sao và sự sống. Điều này đã dẫn các nhà khoa học tới nguyên lý vị nhân (anthropic principle), khái niệm đề xuất các định luật vật lý trong vũ trụ của chúng ta đã được tinh chỉnh để có thể tạo ra sự sống.  Trước đây, Totani đã cùng các đồng nghiệp mô phỏng lại sự tiến hóa của vũ trụ với các cường độ năng lượng tối khác nhau, giới hạn các mô hình có thể hình thành nên các thiên hà có khả năng duy trì sự tồn tại của sinh vật sống. Từ các mô phỏng này, họ đã tìm ra giá trị kỳ vọng của năng lượng tối vào khoảng 20 đến 50 lần so với giá trị quan sát thực tế. Kết quả này đã đem lại sự cải thiện đáng kể cho các lập luận chỉ đơn thuần dựa trên vật lý thuần túy, mặc dù họ vẫn chưa thể giải thích đầy đủ độ yếu của năng lượng tối qua quan sát.  Trong tính toán mới đây, các nhà nghiên cứu đã xem xét kỹ hơn các mô hình cho “nghiệm” năng lượng tối gấp xấp xỉ 50 lần so với năng lượng tối ở vũ trụ của chúng ta. Các thiên hà có thể được hình thành trong vũ trụ như vậy, nhưng chỉ trong kỷ nguyên rất sớm, trước khi  vật chất bí ẩn này hội tụ đủ năng lượng và đẩy mọi thứ ra xa. Bởi vũ trụ sớm khá dày đặc, các thiên hà có thể chứa các lượng vì sao dày gấp 10 lần so với thiên hà như dải Ngân hà của chúng ta.  Trong các thiên hà dày đặc này, khoảng cách giữa các ngôi sao sẽ gần hơn. Những ngôi sao siêu khối lượng – vốn có thời gian sống ngắn ngủi và có khả năng phát nổ như siêu tân tinh, có thể mang  lượng phóng xạ chết người tới rìa  các hành tinh và “trừ khử” bất kỳ sự sống nào đang tồn tại – sau đó dời đi mà không để ai quan sát được.  Các nghiên cứu đã tính toán ra hiệu ứng này – vốn từng bị bỏ qua trong những nghiên cứu cũ, cho cho rằng có thể nó khiến các vũ trụ không thuận lợi cho sự sống. Do đó, độ yếu quan sát được của năng lượng tối là lý do vì sao chúng ta có mặt ở đây – theo công trình xuất bản vào ngày 27/4/2018 trên arXiv. Theo Totani, đề xuất này sẽ được tiếp thêm sức mạnh nếu trong tương lai, các nhà sinh học vũ trụ tìm thấy sự sống ngày càng trở nên hiếm hoi ở những vùng có mật độ sao dày nhất trong dải Ngân hà.  Trước đây, Tsvi Piran – nhà vật lý thiên văn tại ĐH Hebrew, Jerusalem, từng suy đoán về hiệu ứng của nguyên lý vị nhân trên giới hạn của năng lượng tối. Ông cho rằng, một số giả thuyết của nghiên cứu này không vững. Ví dụ, năng lượng chết người của siêu tân tinh chủ yếu từ bức xạ tia gamma của chúng nhưng chỉ một phần năng lượng được chuyển thành bức xạ nên siêu tân tinh chỉ có thể trở thành “những kẻ giết người không toàn vẹn”. Đặc biệt là các vụ nổ tia gamma – một tập con đặc biệt mạnh của siêu tân tinh, nhỉnh hơn về khả năng phá hủy sự sống trong vũ trụ, dù xác suất các sự kiện kiểu này thấp hơn nhiều. Việc không tính đến yếu tố này đã làm suy yếu lập luận của Totani.  Tuy nhiên ông thừa nhận, bản thân nguyên lý vị nhân cũng gây tranh cãi. “Tôi biết những người sẽ quay đi ngay khi vấn đề này được nêu ra và biết những người khác sẽ cho rằng đây là một lập luận có nhiều ý nghĩa nhưng cần được thực hiện một cách nghiêm cẩn.”  Thanh Trúc dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/05/dark-energy-s-weakness-may-be-why-supernovae-didn-t-kill-us-all    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nắng nóng của mùa hè năm nay đến nhanh hơn và dữ dội hơn      Những đợt nắng nóng của mùa hè năm nay đến nhanh hơn và dữ dội hơn so với dự kiến của các nhà nghiên cứu, đặt ra câu hỏi về những gì có thể xảy ra trong tương lai.    Vượt qua mọi dự đoán    Những đợt nắng nóng chưa từng có đã thiêu đốt nhiều nơi trên thế giới trong những tuần gần đây, từ London đến Thượng Hải. Hồi tháng 6, Tokyo hứng chịu chín ngày liên tục trên 35ºC, đợt nắng nóng gay gắt nhất kể từ khi nước này bắt đầu có dữ liệu về nhiệt độ vào năm 1870. Giữa tháng 7, nhiệt độ ở Vương quốc Anh lần đầu tiên lên hơn 40ºC. Các đám cháy rừng đã tàn phá nhiều vùng của Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Đức. Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều đợt nắng nóng trên diện rộng, trong đó có đợt nóng xảy ra ở hơn 400 thành phố vào tuần trước.        Các nhà khoa học khí hậu từ lâu đã cảnh báo, các đợt nắng nóng sẽ xuất hiện thường xuyên hơn và với nhiệt độ cao hơn khi toàn cầu ấm lên. Nhưng tương lai đã đến nhanh hơn những gì họ lo ngại. Những đợt sóng nhiệt (hay một đợt nhiệt độ cao bất thường kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần) ngày càng mạnh hơn, có sức công phá kỷ lục và vượt xa dự tính của các mô hình khí hậu. “Cộng đồng khoa học đã nghĩ đến khả năng xảy ra những sự kiện này. Nhưng vẫn sốc khi chúng thực sự xảy ra,” nhà khoa học khí hậu Eunice Lo tại Đại học Bristol Vương quốc Anh nói.      Đợt nắng nóng vào tháng 7 vừa qua ở Vương quốc Anh không quá nghiêm trọng nhưng nó vẫn đi vào lịch sử với tư cách là sự kiện khiến một quốc gia nhận thức được sự nguy hiểm của nắng nóng bất thường. Vào ngày 18 và 19/7, nhiều vùng trên toàn nước Anh đã thiết lập các kỷ lục nhiệt độ mới, cao hơn 3 hoặc 4ºC so với kỷ lục trước đây. Ước tính hàng trăm người đã thiệt mạng.    Các nhà khoa học phần nào dự đoán trước điều này. Một nghiên cứu mô hình hóa khí hậu công bố hai năm trước cho thấy có khả năng nhiệt độ ở Vương quốc Anh sẽ vượt qua ngưỡng 40ºC trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên nhiệt độ kỷ lục 40,3ºC đã xuất hiện ngay năm nay, chỉ hai năm sau khi nghiên cứu công bố.    Nhiệt độ tăng nhanh hơn nhiều so với dự kiến ​​vì các mô hình khí hậu không nắm bắt được mọi yếu tố ảnh hưởng đến sóng nhiệt và do đó không dự báo chính xác hoàn toàn các mức nhiệt cực đoan trong tương lai. Những yếu tố mà mô hình chưa tính đến có thể bao gồm sử dụng đất và tưới tiêu ảnh hưởng thế nào đến sóng nhiệt, v.v… Có nghĩa là các dự báo mô hình đôi khi có thể đánh giá thấp tác động thực sự của biến đổi khí hậu.    Một phân tích ngày 28/7 của nhóm World Weather Attribution cho thấy biến đổi khí hậu do con người gây ra khiến nguy cơ xảy ra đợt nắng nóng năm nay ở Vương quốc Anh tăng ít nhất mười lần. Nghiên cứu cũng kết luận rằng đợt sóng nhiệt hiện nay sẽ mát hơn 2–4 ºC nếu không có hiện tượng nóng lên toàn cầu.        Các nhà nghiên cứu hiện đang mổ xẻ chi tiết các đợt nắng nóng cực đoan gần đây để hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của sóng nhiệt đối với con người trong tương lai.    Một đặc điểm nổi bật khác trong vài tháng qua là nắng nóng bất thường xảy ra đồng thời ở một số khu vực trên thế giới. Trung Quốc và Tây Bắc Mỹ đều hứng chịu nhiệt độ nóng hơn bình thường vào cuối tháng 7, cùng thời điểm với châu Âu. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 năm nay chỉ ra những đợt nắng nóng đồng thời như vậy đã trở nên phổ biến hơn gấp 6 lần ở Bắc bán cầu từ năm 1979 đến năm 2019.    Theo Deepti Singh, nhà khoa học khí hậu tại Đại học Bang Washington, khả năng xảy ra các đợt nắng nóng đồng thời, không liên quan đến các kiểu khí quyển, sẽ tăng lên khi khí hậu ấm lên.    Các đợt nắng nóng cũng đến sớm hơn trong năm ở một số nơi, chẳng hạn như Ấn Độ và Pakistan, những nơi năm nay có nhiệt độ cực cao từ tháng 3. Một số vùng ở Ấn Độ đã vượt quá 44ºC vào cuối tháng 3, trước thời điểm nóng nhất thông thường trong năm. Ít nhất 90 người chết. Nhóm World Weather Attribution phát hiện, đợt nắng nóng sớm ở Ấn Độ có khả năng xảy ra cao gấp 30 lần do biến đổi khí hậu.    Trong một nghiên cứu mô hình công bố vào năm ngoái, nhóm của nhà khoa học khí hậu Erich Fischer tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ, Zurich, dự đoán, trong những thập kỷ tới, mỗi khi các hiện tượng khí hậu cực đoan xảy ra, chúng sẽ vượt xa các kỷ lục trước đó. Vì thế, theo Fischer, cần tính toán cụ thể mức nhiệt mới vượt xa mức nhiệt cũ như thế nào để lập kế hoạch cho tương lai.      Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Nanocovax: Những chông gai trên đường về đích      “Cứ hết sức bình tĩnh chờ đó, khoa học vẫn là khoa học, số liệu vẫn là số liệu. Bọn tôi đã đi 99% đoạn đường phát triển vaccine này rồi” – TS. Hồ Nhân, CEO của Công ty Nanogen trả lời những bình luận trái chiều trong một buổi tọa đàm online do một nhóm dược sĩ, bác sĩ có tên là Hippocrates Pharma vào ngày 7/8 vừa qua.    Ông Nhân lúc đó đọc chính xác đã có “10257 tình nguyện viên trong nhóm 13 ngàn người được tiêm ít nhất một mũi…”     Theo lời TS. Đỗ Minh Sĩ, Giám đốc nghiên cứu của Nanogen, ông Hồ Nhân sẵn sàng “chơi lớn, bao nhiêu tài sản cá nhân của ông đều đổ vào dự án này”. Tính đến nay, Nanogen đã bỏ ra hơn một nghìn tỉ đồng để nghiên cứu – phát triển và mở rộng nhà máy sản xuất cho vaccine Nanocovax, mặc dù đây không phải là một sản phẩm có lợi nhuận hấp dẫn so với thuốc điều trị – thứ mà Nanogen vẫn sản xuất gần 20 năm nay.       Ảnh: Nanogen       Nanogen đã công khai toàn bộ dữ liệu tiền lâm sàng (đánh giá trên động vật) và dữ liệu lâm sàng của pha I và pha II của Nanocovax dưới dạng bản thảo trên hai cổng thông tin về y sinh lớn nhất thế giới là BioRxiv và MedRxiv vào cuối tháng bảy bằng tiếng Anh và trên website của họ bằng tiếng Việt.     Trong nghiên cứu tiền lâm sàng của họ, đáng chú ý nhất là thí nghiệm thử thách được thực hiện ở phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3 tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương trên chín con chuột hamster. Trong đó, có ba con chuột được tiêm giả dược, và sáu con chuột được tiêm vaccine Nanocovax (hai liều cách nhau bảy ngày). Bảy ngày sau khi tiêm, cả chín con chuột được tiêm giả dược được thử thách bằng cách xịt nồng độ cả cao và thấp virus Sars-CoV-2 qua mũi. Sau hai tuần quan sát, ba con chuột tiêm giả dược có dấu hiệu bị mắc bệnh (sụt cân, xù lông, toát mồ hôi…), trong khi sáu con chuột được tiêm vaccine còn lại hoàn toàn khỏe mạnh và khi xét nghiệm phổi thì không thấy dấu hiệu RNA của virus. Thí nghiệm này không phải là một phần yêu cầu của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh, tuy nhiên nó cũng góp phần khiến Nanogen tiến nhanh hơn tới giai đoạn thử nghiệm lâm sàng vào cuối năm 2020.     Cho đến cuộc họp vào đầu tháng 8/2021, Bộ Y tế và Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh vẫn đánh giá Nanocovax là “an toàn, sinh miễn dịch”. Trước đó, vào giữa tháng 6/2021, chủ tịch Hội đồng, GS.Trương Việt Dũng còn thốt lên khi trả lời báo Doanh nghiệp và Tiếp thị: “Tôi không hiểu sao [Nanocovax] lại ghi nhận ít tác dụng phụ nguy hiểm thế, thậm chí an toàn hơn các loại đang tiêm”. (thời điểm đó, ở Việt Nam mới có hai loại vaccine là Oxford/AstraZeneca và Sputnik V). Trong hơn 500 người (từ 18 tuổi trở lên, có cả người già trên 65 tuổi) tham gia thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn hai, chỉ khoảng ¼ người hơi đau ở chỗ tiêm, bảy trường hợp bị sốt nhẹ và chỉ có duy nhất một trường hợp bị sốt cao ở trên hai mũi tiêm.     Tính sinh miễn dịch được đánh giá trong giai đoạn I và II của Nanocovax được đo bằng hai chỉ số là hoạt tính trung hòa virus Sars-CoV-2 (nếu hoạt tính này >30% thì tức là trong huyết thanh của người được tiêm có xuất hiện kháng thể chống lại protein S của virus) và hiệu giá kháng thể trung hòa PRNT50 (tạm hiểu là nồng độ pha loãng huyết thanh tối đa vẫn có khả năng trung hòa được virus sống 50%). Trong đó, hai tuần sau khi tiêm liều thứ hai vaccine Nanocovax, 100% những người được tiêm liều 25mg (liều thấp nhất) xuất hiện kháng thể chống lại protein S của virus với hoạt tính trung bình là xấp xỉ 90%. Còn với hiệu giá kháng thể trung hòa, khoảng 97% huyết thanh của người được tiêm liều 25mg cho thấy khả năng trung hòa được virus Sars-CoV-2 (chủng Vũ Hán). Điều quan trọng là, nồng độ (hay hiệu giá) huyết thanh trung bình của người được tiêm Nanocovax có khả năng trung hòa virus nhỏ hơn 1:50.     “Kháng thể trung hòa liên quan trực tiếp đến tác dụng bảo vệ của vaccine” TS. Nguyễn Hữu Huân, người có 27 năm nghiên cứu về vaccine cúm, từng là nghiên cứu viên chính tại Viện Vaccine Quốc tế IVI, Hàn Quốc, hiện nay là giám đốc khoa học của công ty sản xuất kháng thể kháng virus thông qua vaccine IGY Life Sciences, cho biết. Ông cũng nói thêm rằng, “Trong cúm, khi cơ thể tạo được hiệu giá kháng thể trong huyết thanh 1:40 thì được coi là có miễn dịch bảo vệ. Kết quả của Nanocovax cho thấy hiệu giá kháng thể trong huyết thanh trung bình là 1:50, thì tôi cho là có nhiều khả năng bảo vệ được”.     Nanogen có cơ sở gì để thành công?     Mặc dù đã hoạt động được 20 năm trong lĩnh vực sản xuất thuốc sinh học, nhưng Nanogen hầu như không xuất hiện trên báo chí và cũng chưa bao giờ sản xuất vaccine. “Bỗng nhiên” công ty này tung ra dự tuyển vaccine sớm nhất cả nước chỉ sau chưa đầy nửa năm nghiên cứu phát triển, thậm chí trở thành niềm hi vọng đưa Việt Nam thoát khỏi đại dịch trong tình trạng mỗi ngày có gần 10 nghìn ca nhiễm, hệ thống y tế đang quá tải và vaccine nhập khẩu vô cùng khan hiếm. Nhiều người không khỏi nghi ngờ. Trong buổi tọa đàm online vào ngày 7/8, có người đã hỏi TS. Đỗ Minh Sĩ rằng, liên minh của hai “đại gia” trong ngành dược phẩm của Anh và Pháp là GSK và Sanofi để sản xuất vaccine COVID-19 còn thất bại (cùng công nghệ protein tái tổ hợp của Nanogen), Nanogen có cơ sở gì để thành công? Câu trả lời của Nanogen lúc chỉ là: “Chúng tôi biết chúng tôi đang làm gì”.     Nhưng ít người biết rằng, Nanogen thành công cũng không đủ. Khi nhà nước đặt hàng cho công ty này vào đầu năm 2020 thông qua Bộ Khoa học và Công nghệ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã kì vọng Nanogen có thể sản xuất vaccine vừa nhanh, vừa rẻ hơn vaccine nước ngoài nhưng cũng vừa phải hiệu quả. Theo như TS. Hồ Nhân, đó là yêu cầu khó như: “sản xuất ra một chiếc Mercedes nhưng giá thành như KIA morning và lại phải bền như Land Cruiser của Toyota”.     Vì vậy, khi nghiên cứu và phát triển vaccine COVID-19, dù có nhiều tham vọng nhưng cuối cùng, Nanogen đã đi theo hướng “ăn chắc mặc bền” nhất – từ công nghệ đến nguyên liệu đều nằm trong năng lực và kinh nghiệm của họ. Ban đầu, Nanogen đã định theo đuổi công nghệ “hot” nhất bây giờ là mRNA, nhưng rồi họ quyết định sử dụng công nghệ protein tái tổ hợp – công nghệ mà họ vẫn dùng trong sản xuất thuốc sinh học.     Về cơ bản, công nghệ protein tái tổ hợp chỉ tiêm một phần, gồm một hoặc một vài loại protein của virus vào cơ thể. Các loại protein này được tổng hợp trên tế bào vi khuẩn, nấm men, côn trùng, động vật có vú hoặc tế bào thực vật. Tuy nhiên, protein “trần” nhanh chóng bị các enzyme trong cơ thể phân hủy trước khi hệ miễn dịch kịp “phản ứng”. Vì vậy, thông thường các vaccine theo công nghệ này còn cần một thành phần khác là các chất bổ trợ để kích thích hệ miễn dịch.     Mỗi nhà phát triển sẽ có một bí quyết riêng để tạo ra một phiên bản protein, sao cho giống protein thật của virus, đồng thời cũng phải tương đối ổn định và bền vững trong quá trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển và tiêm vào cơ thể. Một phần của bí quyết này nằm ở kinh nghiệm nuôi cấy trên một hoặc một vài loại tế bào nhất định. Novavax, một trong những vaccine COVID-19 được đánh giá là “vaccine mà thế giới thực sự cần hiện nay”, cũng sử dụng protein tái tổ hợp, nuôi cấy protein S của Sars-CoV-2 trên tế bào côn trùng (bướm đêm). Sau đó là các nhà sản xuất cần lựa chọn chất bổ trợ nào, ví dụ Novavax sử dụng QS-21, được chiết xuất từ cây xà phòng ở Chile.     Ban đầu Nanogen tham vọng đi theo xu hướng “thời thượng” nhất của công nghệ protein tái tổ hợp. Đó là tạo ra vỏ virus để tiêm vào cơ thể (virus like particles – VLP). Tức là họ sẽ không chỉ tạo ra protein S của virus mà phải tổng hợp ba loại protein khác ngoài vỏ của virus bao gồm protein M (membrane), N (nucleocapsid), E (envelope) rồi “lắp ghép” lại thành một virus “như thật” (nhưng bên trong không có vật liệu di truyền). Tuy nhiên, để đảm bảo tốc độ làm vaccine đại dịch, cuối cùng, họ đã đơn giản hóa dự án của mình, chỉ tập trung tạo ra protein S – những cái gai bên ngoài virus Sars-CoV-2.     Đội ngũ nghiên cứu của Nanogen biểu hiện protein S trên tế bào động vật có vú, cụ thể là tế bào chuột túi Trung Quốc (CHO). Lí do sử dụng tế bào này, một phần vì nó có khả năng tạo ra protein gai giống thật nhất so với các loại tế bào khác (mặc dù sản lượng thấp hơn và giá thành cao hơn). Một phần khác, quan trọng hơn, đây là kĩ thuật mà TS. Đỗ Minh Sĩ đã nghiên cứu và làm chủ hơn 20 năm nay. Nanogen này đã nuôi cấy protein Erythropoietin – tác nhân kích thích hồng cầu trong cơ thể người trên tế bào CHO để sản xuất thuốc Nanokine, dùng để điều trị bệnh nhân thiếu máu do suy thận mãn tính, ung thư, HIV… đã xuất khẩu sang nhiều nước châu Á. Họ cũng có sáng chế được đăng ký tại Mỹ liên quan đến việc tăng sản lượng và chất lượng protein nuôi cấy trên tế bào CHO vào năm 2017.     Nhiều người có phần “thất vọng” vì vaccine Nanocovax sử dụng chất bổ trợ “cũ” là nhôm. Trên thực tế, họ đã thử nhiều loại chất bổ trợ mới trên thế giới, trong đó có QS-21 mà Novavax sử dụng, thậm chí họ còn nghĩ tới việc sử dụng hạt nano silica (các hạt này có đường kính tương đương như virus Sars-CoV-2, họ sẽ gắn các protein S lên hạt này). Khi thử nghiệm tại phòng thí nghiệm, họ nhận ra rằng kích thích miễn dịch của nhôm là thấp nhất, thậm chí chỉ bằng 1:20 lần so với QS-21. Nhưng cuối cùng tá dược nhôm được chọn, một phần vì rẻ (giá tiền của riêng QS-21 cho một liều vaccine là 5 USD, trong khi giá của một liều nanocovax hiện nay công bố chỉ chưa đến 6 USD) và phần lớn hơn, vì nhôm là tá dược an toàn được sử dụng gần một thế kỉ nay. Đa phần các vaccine đang lưu hành hiện nay, kể cả vaccine dành cho trẻ em mới sinh (vaccine phòng ngừa viêm gan B) đều sử dụng nhôm trong khi nanosilica chưa từng sử dụng trên thuốc cho người và QS-21 cũng mới sử dụng trên một vài loại vaccine. “Mới làm vaccine từ ban đầu, bọn tôi hoàn toàn không dám mạo hiểm, chỉ dám chọn loại nào an toàn nhất” – TS. Đỗ Minh Sĩ cho biết.     Dám quyết định bất thường     Cuộc tọa đàm online vào ngày 7/8 không phải là lần đầu tiên Nanogen “đăng đàn” chia sẻ về quá trình làm vaccine Nanocovax nhưng không dễ lay chuyển được niềm tin của công chúng. Trước đó, những chỉ trích Nanocovax nổi lên mạnh mẽ khi Nanogen gửi đơn xin cấp phép khẩn cấp vào ngày 23/6. Sau đó, ông Nguyễn Ngô Quang, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế đã nhận định rằng kiến nghị này là “nóng vội, chưa đầy đủ dữ liệu khoa học”.     Ý của ông Quang chính xác là chưa có dữ liệu về hiệu lực bảo vệ của vaccine (vaccine efficacy). Mà hiệu lực này chỉ có thể tính trong giai đoạn III. Tuy nhiên, nếu muốn tính hiệu lực như nhiều vaccine được cấp phép trước đó, trong số những người tình nguyện tham gia thử nghiệm, bắt buộc phải có ca bệnh. Hiện nay, với tỉ lệ nhiễm bệnh là 1/10 nghìn người, nếu muốn có đủ số người mắc bệnh để tính được hiệu lực vaccine, cần phải thử nghiệm trên hơn một triệu người. Kinh phí trung bình cho một tình nguyện viên tham gia thử nghiệm là khoảng 30 triệu đồng, đầu tư cho một cuộc thử nghiệm như vậy sẽ là không tưởng. Hơn nữa, để chờ “bắt” được các ca bệnh, sẽ cần nhiều tháng trời. “Để hoàn tất giai đoạn ba có thể phải mất ít nhất tám tháng đến một năm hoặc lâu hơn nữa. Đây là thời gian khá dài chứa chấp nhiều rủi ro bùng phát dịch và tổn thất kinh tế nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đa số người trong xã hội” – TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết.     Việt Nam sẽ phải đưa ra một quyết định bất thường cho một thời điểm bất thường, đứng trước ngã rẽ giữa rủi ro những tác dụng phụ chưa lường trước của vaccine và rủi ro về khủng hoảng y tế và kinh tế mà dịch bệnh đang đe dọa. Tuy nhiên, TS. Huân cho biết: “Tôi cho rằng sử dụng đại trà vaccine Nanocovax tại thời điểm hiện nay rủi ro rất nhỏ (nếu có thì theo lý thuyết thấp hơn các vaccine hiện đang được lưu hành) nhưng lợi ích thì lớn”.     Là người từng nghiên cứu về công nghệ virus vector sử dụng Adenovirus (công nghệ đằng sau AstraZeneca và J&J, Sputnik V), TS.Huân cho rằng, vaccine dựa trên công nghệ protein tái tổ hợp thậm chí còn an toàn hơn. Lí do là bởi, vaccine này chỉ cho hệ miễn dịch tiếp xúc với một thành phần duy nhất là protein S của virus Sars-CoV-2 để tạo ra kháng thể (giống vaccine mRNA của Moderna hay Pfizer). Trong khi đó, các vaccine dùng adenovirus thách thức hệ miễn dịch bởi tất cả các thành phần khác của adenovirus (khoảng 15 protein). Hơn nữa, công nghệ protein tái tổ hợp đã được dùng hàng chục năm nay, điển hình là vaccine phòng viêm gan B tiêm cho trẻ mới sinh được lưu hành từ những năm 1980.     Hơn nữa, lợi thế của Nanocovax là đã có các vaccine khác đi trước “dò đường”. TS. Huân cho rằng, kết quả của các vaccine phòng COVID-19 đang được sử dụng trên thế giới đều cho thấy kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba phù hợp với kết quả của giai đoạn I và II.     Gần đây, Nanogen còn chia sẻ kết quả so sánh hiệu giá kháng thể giữa 86 người tiêm vaccine Nanocovax sau hai tuần với con số này ở 16 người nhiễm Sars-CoV-2 và đã bình phục thì thấy rằng kết quả tốt hơn gấp hai lần. Tuy phía Nanogen thận trọng cho rằng, đây mới chỉ là kết quả bước đầu vì cỡ mẫu số người nhiễm còn nhỏ và không phải là những người bị nhiễm nặng phải hồi sức cấp cứu (ICU), nhưng đây vẫn là kết quả khả quan. Họ kì vọng sẽ cải thiện chất lượng dữ liệu này khi có thể xin được các mẫu huyết thanh của những người bị nhiễm nặng và khỏi bệnh trong giai đoạn vừa qua.     Khi Nanocovax triển khai thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn I và II, các chủng Beta và Delta chưa xuất hiện. Vì vậy, khả năng trung hòa các chủng này của vaccine cũng sẽ được công bố ở giai đoạn III, trước mắt là giai đoạn IIIa trên 1000 người.     Trên thực tế, búa đã gõ, các cơ quan chuyên môn đã có lựa chọn của mình. Việc xét duyệt khẩn cấp sẽ tiến hành khi đủ dữ liệu ở giai đoạn IIIa, đặc biệt là dữ liệu về hiệu giá kháng thể trung hòa với bốn chủng virus Sars-CoV-2. Trong cuộc họp với Thủ tướng vào ngày 12/8 vừa qua, các cơ quan tham gia thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III tuyên bố rằng vào ngày 10/9 sẽ đủ dữ liệu. PGS. Lê Văn Truyền, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc tuyên bố: “Nếu hội đồng đạo đức phê duyệt các kết quả […], trong vòng ba ngày chúng tôi sẽ xem xét hồ sơ và trong vòng hai ngày, chúng tôi sẽ họp vào bất cứ lúc nào”.     “Để hoàn tất giai đoạn ba có thể phải mất ít nhất tám tháng đến một năm hoặc lâu hơn nữa. Đây là thời gian khá dài chứa nhiều rủi ro bùng phát dịch và tổn thất kinh tế nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đa số người trong xã hội.” (TS. Nguyễn Hữu Huân)     Theo khoahocphattrien.vn      Author                Quản trị        
__label__tiasang NanoGen:Không sợ cái khó  của người đi trước      Từ tâm niệm với lời khuyên của người thầy ngoại quốc “nếu làm bác sĩ, mỗi ngày anh chỉ điều trị được cho 10 người, còn làm thuốc một lúc anh có thể điều trị cho cả triệu người”, TS Hồ Nhân đã gây dựng nên công ty sản xuất thuốc sinh học NanoGen và làm được những điều mà không phải ai cũng tin người Việt Nam có thể làm được.      Rẻ và tốt  Được gặp gỡ và trò chuyện với TS Hồ Nhân tại nơi nghiên cứu và cũng là nơi sản xuất thuốc sinh học đầu tiên ở Việt Nam trong Khu CNC TP Hồ Chí Minh quả là một dịp đặc biệt đối với chúng tôi.        TS Hồ Nhân học ngành y sinh tại Mỹ và theo đuổi đam mê nghiên cứu dược lý, dược học, và công nghệ sản xuất thuốc. Ông về Việt Nam sinh sống và làm việc từ năm 2006, với tâm niệm sẽ sản xuất thuốc “để một lúc có thể điều trị cho cả triệu người”, nhất là trong bối cảnh “thuốc trong nước đắt quá, riêng thuốc đặc trị có loại đắt gấp ba lần ở nước ngoài”.        Ông kể, sau hai năm được tung ra thị trường, thuốc Pegnano của công ty giờ đã chiếm hơn 80% thị phần trong nước về thuốc điều trị viêm gan B và C, nhưng mấy ai biết rằng ban đầu khi ông ra Hà Nội trình bày về dự án này, nhiều người đã tỏ ra hoài nghi, cho rằng đó chỉ là “thuốc đểu”.   Là người quen chứng minh bằng hành động, ông quyết định trực tiếp đi gặp và thuyết phục bệnh nhân. “Mười người tôi gặp thì chỉ một – hai người chịu nghe tôi nói, nhưng trong một – hai người đó thế nào cũng có người chịu dùng thuốc của tôi,” ông nhớ lại.  Vẻ ngoài ít bộc lộ cảm xúc nhưng ông không giấu được niềm tự hào trong giọng nói khi kể rằng, sự có mặt của Pegnano với giá 1,5 đến 1,9 triệu đồng tùy theo lọ đã khiến các công ty dược phẩm nước ngoài phải liên tục giảm giá, có loại đang định tăng lên 5 triệu đồng/lọ đã phải giảm xuống 4 triệu đồng, rồi 3 triệu đồng/lọ.  Nhưng ông lưu ý, một đặc thù của thuốc là giá thành không quyết định tất cả. “Rẻ mà không hiệu quả, không được các bác sĩ tin cậy thì cũng không bán được,” ông nói.  TS Hồ Nhân nhận định thuốc sinh học sẽ là tương lai của ngành dược bởi ưu điểm điều trị đúng đích và ít phản ứng phụ so với hóa dược. Mỗi năm, ngành công nghiệp dược thế giới có doanh thu khoảng một nghìn tỷ USD từ thuốc đặc trị, trong đó thuốc sinh học tuy chỉ có dưới 50 loại trong tổng số 10 nghìn loại đã chiếm 25% doanh số và tốc độ tăng trưởng mỗi năm là 25%  NanoGen hiện đang tập trung vào nghiên cứu thuốc điều trị các căn bệnh mạn tính hiểm nghèo phổ biến ở Việt Nam như viêm gan B và C, ung thư, tim mạch, tiểu đường. Sản phẩm của công ty được sản xuất theo quy trình khép kín một chiều đảm bảo các tiêu chuẩn GMP, và dựa trên nền tảng là công nghệ DNA/tái tổ hợp protein và công nghệ nano sinh học, tức là dùng hạt từ nano tách chiết và tạo đường dẫn cho thuốc, để thuốc có thể ở lại lâu hơn trong máu, giúp tăng hiệu quả điều trị.   Được biết, năm 2005, NanoGen mới chính thức đi vào sản xuất nhưng nền tảng công nghệ của nó đã được TS Hồ Nhân bắt đầu nghiên cứu từ hàng chục năm trước, khi ông còn đang học tập và làm việc ở Mỹ.  Đó là một quá trình lâu dài và tốn kém, phải mãi đến sau năm 2000 ông mới tích lũy đủ tiền để lập phòng thí nghiệm riêng. Về Việt Nam, biết thông tin về Khu CNC TP Hồ Chí Minh, ông quyết định đem nguyên phòng thí nghiệm ở nước ngoài về, rồi hoàn thiện quy trình sản xuất đạt chuẩn mà theo ông hồ sơ đăng ký dày cả chục nghìn trang.  Bên cạnh thị trường trong nước, NanoGen đã xuất khẩu sang các nước trong khu vực và một số nước châu Phi (Tanzania, Algeria, Morocco), châu Âu (Moldova), hay châu Mỹ (Venezuela), là những thị trường có trình độ ngang bằng hoặc thấp hơn Việt Nam. Nhưng trong giai đoạn 2, NanoGen đã có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ và châu Âu để tìm đường tiến vào những thị trường đòi hỏi cao này.  Mặc dù hiện nay NanoGen mới sản xuất thuốc sinh học tương đương (biosimilar), tức các phiên bản kế tiếp đã được cấp phép của các thuốc sinh học sau khi bản quyền ban đầu hết hạn, nhưng trong tương lai gần, NanoGen sẽ sản xuất những loại thuốc hoàn toàn mới, trong đó có thuốc điều trị viêm gan, tiểu đường, tim mạch đã xong giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng và đang lập hồ sơ xin thử nghiệm lâm sàng, khả năng 3-4 năm nữa sẽ có mặt trên thị trường, theo lời TS Đỗ Minh Sĩ, Trưởng phòng R&D. Ông Sĩ còn cho biết, sắp tới NanoGen sẽ có một nhóm chuyên nghiên cứu thuốc liên quan đến kháng thể phục vụ điều trị ung thư và công ty “cũng đang chập chững bước vào con đường nghiên cứu tế bào gốc”.  Độc lập và liên kết  Để làm ra hóa dược, chỉ cần năm – mười bước tổng hợp hóa chất, nhưng để làm ra thuốc sinh học cần từ năm đến mười nghìn bước khác nhau, theo lời TS Hồ Nhân. “Chúng tôi gọi công nghệ này là công nghệ tổ hợp. Nó là tổ hợp của công nghệ gene, công nghệ tế bào, công nghệ lên men, công nghệ protein, công nghệ bào chế… Bởi vậy, trong nghiên cứu, có những cái chúng tôi bắt buộc phải nhờ đến những người có chuyên môn sâu ở từng lĩnh vực, cả ở trong nước và nước ngoài. Chúng tôi có quan hệ với nhiều viện nghiên cứu nổi tiếng ở Mỹ, Anh, Đức, Thụy Sĩ vì phải mua bản quyền một số vector kỹ thuật di truyền hoặc các môi trường nuôi cấy tế bào của họ mà nếu tự mày mò nghiên cứu chúng tôi phải mất ba năm, trong khi bỏ ra 50 nghìn USD thì sẽ có ngay trong chớp mắt,” ông nói.        Công ty TNHH Công nghệ sinh học Dược NanoGen được thành lập từ năm 2005. Năm 2007, NanoGen chuyển vào Khu CNC TP Hồ Chí Minh. Hiện cả khu nghiên cứu và sản xuất của NanoGen rộng 15 nghìn m2, và sắp tới sẽ mở rộng thêm 10 nghìn m2 nhà xưởng. Tổng đầu tư của NanoGen cho các phòng thí nghiệm và nhà xưởng đến nay là 50 triệu USD.        Công ty còn gửi cả email xin tư vấn, mà như TS Hồ Nhân cho thí dụ để chúng tôi dễ hình dung, có email nêu ra 10 câu hỏi và để nhận về câu trả lời, công ty chấp nhận chi 5 nghìn USD. “Tuy nhiên, chỉ một vài lần đầu họ tính phí mắc, còn những lần sau họ tính rẻ hơn, thậm chí đôi khi cho thông tin miễn phí.” Vì nhờ đến nhiều tư vấn, “được học nhiều thầy, mà bây giờ chúng tôi có thể tư vấn lại cho các công ty khác.”   NanoGen có khoảng 200 nhân viên, phần lớn là những nhà khoa học trẻ bên cạnh một dàn các nhà khoa học “cựu binh” được công ty mời về. Trong số đó, 70 người chuyên làm nghiên cứu “với mức lương tính bằng USD”. Ngoài bốn chuyên gia nước ngoài đang làm việc toàn thời gian tại đây, còn có nhiều nhà khoa học khác ở nước ngoài cộng tác với công ty theo những công việc cụ thể, TS Hồ Nhân cho biết.  Mô hình NanoGen không có gì đặc biệt so với mô hình các công ty khác, cũng có Chủ tịch HĐQT, Giám đốc, và người đứng đầu các bộ phận nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh… Có khác chăng là các bộ phận này đều hết sức độc lập và tự chủ, không có họp giao ban hằng tuần mà chỉ họp giao ban hằng tháng, kết quả công việc đều được thể hiện qua các báo cáo trên email.   Công tác đào tạo tại chỗ được thực hiện thường xuyên, có kỹ thuật gì mới TS Hồ Nhân sẽ tự làm trước và đào tạo lại cho các trưởng bộ phận – những người sẽ tiếp tục đào tạo xuống dưới nữa. Công ty còn gửi nhân viên đi đào tạo sâu về chuyên ngành ở nước ngoài, hoặc mời chuyên gia nước ngoài về đào tạo tại chỗ.  Bản thân TS Hồ Nhân cũng thường xuyên tham dự các hội nghị chuyên đề về CNSH, dược, gan, ung thư để tìm hiểu những vấn đề mà thế giới đang lao vào giải quyết. “Đại biểu Việt Nam dự hội nghị hầu hết là bác sĩ lâm sàng và cận lâm sàng, không có người nghiên cứu sâu về cơ chế điệu trị. Nhờ có mặt tại đó và nắm bắt các xu hướng nghiên cứu mới mà chúng tôi có thành công như ngày hôm nay,” ông nói.  Một bộ phận đặc biệt được chú trọng ở NanoGen là bộ phận pháp lý – pháp chế. “Lúc đầu chúng tôi gặp rất nhiều vấn đề với việc hiểu và làm đúng luật,” TS Hồ Nhân chia sẻ. Nhưng kể từ khi bộ phận pháp lý – pháp chế phát triển lên 20 nhân viên, gồm những người có ngoại ngữ, lại am hiểu về sở hữu trí tuệ, quy trình lập hồ sơ đăng ký thuốc, thủ tục xuất khẩu thuốc và nguyên liệu đến nhiều nước khác nhau, công ty dường như đã vượt qua tất cả những vướng mắc về giấy tờ. “Không có đội ngũ đó lo mấy vụ hồ sơ thủ tục mà để các nhà khoa học chúng tôi tự lo thì cầm chắc là chết,” ông kết luận.  Khó khăn lớn nhất không phải là vốn  Khi được hỏi, là một doanh nghiệp KH&CN, ông có trông đợi được hỗ trợ gì từ phía cơ quan chức năng hay không, TS Hồ Nhân ngừng lại giây lát rồi mới trả lời: “Thực ra tôi không biết phải xin hỗ trợ gì. Chúng tôi là doanh nghiệp tư nhân, chẳng lẽ lại xin nhà nước hỗ trợ tiền, mặc dù những khoản hỗ trợ như của Bộ KH&CN dành cho chúng tôi thông qua một số đề tài nghiên cứu là rất đáng trân trọng.”  Khẳng định khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp của ông không phải là vấn đề vốn, TS Hồ Nhân đồng thời cho biết: “Việt Nam chưa đề ra tiêu chuẩn rõ ràng đối với thuốc sinh học. Thuốc của chúng tôi ra đời bị liệt vào dạng sinh phẩm y tế có nguồn gốc sinh học, phải thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng như đối với thuốc mới. Chúng tôi bị bắt bẻ bằng chữ nghĩa, trong khi lại thiếu các hướng dẫn cụ thể về thuốc biosimilar – thuốc sinh học tương đương. WHO, châu Âu hay Mỹ đều có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, còn mình chưa có, hay nói cách khác là quản lý chưa tới. Chúng tôi đi trước nên phải trả giá hết sức đắt đỏ.”        Các sản phẩm chính của NanoGen:              Pegnano (điều trị viêm gan B, C); Ficoyte (giúp tăng trưởng bạch cầu trung tính, điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư trong giai đang hóa trị liệu); Nanokine (điều trị thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn tính, bệnh nhân ung thư đang hóa trị liệu); Feronsure (điều trị các bênh bạch cầu tế bào tóc, sarcom Kaposi ở bệnh nhân HIV/AIDS, bạch cầu tủy mạn tính, u lympho, ung thư biểu mô tế bào thận giai đoạn tiến triển, u hắc tố ác tính…)        Hồi cuối tháng 12/2010, một vụ việc liên quan đến NanoGen đã gây xôn xao dư luận khi Pegnano, sản phẩm bán chạy nhất của NanoGen bị Roche, một hãng dược đa quốc gia, từng độc quyền về thuốc điều trị viêm gan siêu vi, kiện vi phạm bản quyền. Kết cục vụ việc cũng phải lắng lại khi Roche không đưa ra được các văn bản pháp lý để chứng minh cái mà họ gọi là vi phạm của NanoGen.   Theo TS Hồ Nhân, về mặt sở hữu trí tuệ thì quy trình sản xuất Pegnano là do NanoGen tự nghiên cứu ra. Trong công thức Peginterferon alfa-2a của Roche thì thành phần interferon alfa-2a đã hết hạn bản quyền thế nhưng Roche vẫn xin được bảo hộ đối với hai thành phần của Pegasys ở Việt Nam. “Bảo hộ một cách vô lý”, ông nói, “trong khi Roche không thể làm như thế ở các nước khác. Chính vì vậy các vụ kiện tương tự của Roche ở Ai Cập, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc đều không thành công”.   Câu chuyện của chúng tôi với TS Hồ Nhân còn lan man sang nhiều chủ đề khác, như chương trình KH&CN quốc gia hay kế hoạch phát triển 3.000 doanh nghiệp KHCN từ nay đến năm 2015… – ở chủ đề nào ông cũng đưa ra những bàn luận xác đáng và đôi khi bất ngờ.  Chẳng hạn, nói về chương trình KH&CN quốc gia, Tiến sĩ than phiền, “xứ mình ai cũng đầu tư vào bất động sản và chứng khoán, trong khi chỉ cần có 1/10 chỗ đó đổ vào KH&CN thì đất nước sẽ phát triển nhanh lắm. Ngoài ra, tôi nghĩ khoa học Việt Nam hiện thiếu đầu tàu, mỗi ngành khoa học muốn phát triển đều phải có một tổng công trình sư.”  Và trong khi nhiều người tỏ ra không mấy lạc quan với kế hoạch 3.000 doanh nghiệp KH&CN thì TS Hồ Nhân lại suy nghĩ khác “Có thể lắm chứ, nếu chúng ta tiến hành một chiến dịch vận động đầu tư cho KH&CN. Thêm một yếu tố nữa, hiện nay kinh tế đang trong giai đoạn sàng lọc, từ giờ đến cuối năm sau, những doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng sẽ trụ lại được, số còn lại sẽ bị đào thải. Từ lớp bị đào thải đó sẽ nổi lên một lớp doanh nghiệp mới chuyên tập trung vào KH&CN vì họ hiểu rằng chỉ có hướng đó mới giúp họ tồn tại bền vững và lâu dài.”  Chúng tôi hoàn toàn bị thuyết phục bởi TS Hồ Nhân, không chỉ bởi những lời chân thành ông nói, mà trên hết bởi những việc mà ông cùng NanoGen đã làm và được xã hội công nhận.         Chúng ta có thể hãnh diện rằng Việt Nam đã có công nghệ cao sản xuất sản phẩm sinh học đặc trị như interferon của NanoGene để sánh vai cùng thế giới. Theo dõi tiến trình phát triển công nghệ sinh học ở trong nước từ thời buổi phôi thai vào khoảng những năm 1995, chúng tôi nhận thấy cơ sở khoa học của hãng NanoGene là một bước đột phá quan trọng của công nghệ gene ở Việt Nam. Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các đại học hoặc trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam dùng phương pháp tái tổ hợp gene để tạo sản phẩm sinh học quan trọng như insulin cho trị liệu bệnh tiểu đường, kích thích tố tăng trưởng (growh hormone) trị bệnh ốm còi và suy dinh dưỡng, các cytokine như interferon, GM-CSF, TNF, TGF, IL-2 v.v. để trị liệu các bệnh hiểm nghèo gồm ung thư và miễn nhiễm. Hầu hết các kết quả chỉ dừng lại ở giai đoạn của phòng thí nghiệm mà không có những bước tiến cần thiết để trở thành sản phẩm ứng dụng. Lý do cũng dễ hiểu vì Việt Nam chưa phát triển vững bền về công nghệ sản xuất dược phẩm sinh học (bio-processing). Công nghệ này đòi hỏi khả năng kỹ thuật cao và một số lượng tài chính vài chục triệu USD. Về kỹ thuật sản xuất, các protein tái tổ hợp ở dung lượng cao (vài ngàn lít so với vài lít ở phòng thí nghiệm) rất khó xử lý vì nhiều yếu tố phức tạp của protein. Một khía cạnh quan trọng khác là độ tinh sạch của các protein trị liệu cần phải gần như tuyệt đối (99% và hơn nữa), và không nhiễm các độc tố (toxin) và những tạp chất như DNA/RNA thường dễ bị nhiễm từ tế bào cấy (như CHO, COS). Tiếp đó là các thử nghiệm an toàn sinh học trên súc vật và sau đó là thử hiệu ứng lâm sàng ở người cũng không kém phức tạp và tổn phí thường rất cao. Đạt được các tiêu chuẩn này là một thách thức lớn lao của công nghệ gene mà không phải mỗi nước làm khoa học đều có được. Khi trình bày về tổ chức và thành quả của hãng NanoGene với các trung tâm và hãng sinh học nước ngoài, chúng tôi nhận được sự bày tỏ ngưỡng mộ, và có phần ngạc nhiên về thành quả khoa học này ở Việt Nam. Nói một cách công bằng TS Hồ Nhân đã đặt một cột mốc tiến bộ quan trọng đối với công nghệ sinh học của Việt Nam cho ngành sản xuất thuốc đặc trị sinh học.                TS Nguyễn Đức Thái – Trưởng bộ môn Công nghệ sinh học – Khu CNC TP Hồ Chí Minh          Author                Quản trị        
__label__tiasang Não của thanh thiếu niên có dấu hiệu lão hóa nhanh hơn sau giãn cách xã hội      Nghiên cứu cũng cho thấy sức khỏe tinh thần của người tham gia cũng kém đi, nhưng các nhà khoa học không chắc rằng liệu điều này có liên quan đến sự khác biệt về tuổi não (brain age) hay không.    Thông thường, cứ khoảng 3 năm, chúng ta mới ghi nhận được sự khác biệt về tuổi não. Ảnh: Getty Images.  Một nghiên cứu mới đây đã cho thấy bộ não của những thanh thiếu niên trải qua thời kỳ phong tỏa do COVID-19 có dấu hiệu lão hóa sớm.  Các nhà nghiên cứu đã so sánh ảnh chụp MRI trước khi đại dịch diễn ra của 81 thanh thiếu niên ở Hoa Kỳ (từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 11 năm 2019), với ảnh chụp MRI của 82 thanh thiếu niên (được thu thập từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 3 năm 2022 – vẫn trong thời gian xảy ra đại dịch, lúc này lệnh phong tỏa đã được dỡ bỏ).  Sau khi so sánh các yếu tố bao gồm tuổi tác và giới tính của 64 người tham gia trong mỗi nhóm, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ở nhóm ảnh MRI trong thời kỳ hậu phong tỏa, có những thay đổi về thể chất trong não bộ – chẳng hạn như vỏ não mỏng đi và vùng hồi hải mã và hạch hạnh nhân trở nên lớn hơn – so với nhóm ảnh MRI trước đại dịch. Nói cách khác, bộ não của các thanh thiếu niên đã lão hóa nhanh hơn.  “Thông thường, cứ khoảng 3 năm, chúng ta mới ghi nhận được sự khác biệt về tuổi não. Tuy nhiên, giai đoạn phong tỏa vừa qua dù chỉ kéo dài chưa đầy một năm nhưng đã khiến não bộ của thanh thiếu niên có sự thay đổi lớn”, Ian Gotlib, giáo sư tâm lý học tại Đại học Stanford và là tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết.   Viết trên tạp chí Biological Psychiatry: Global Open Science, nhóm nghiên cứu báo cáo rằng những người tham gia – hiện sống tại Vùng Vịnh ở California – ban đầu đồng ý tham gia một nghiên cứu xem xét tác động của căng thẳng đầu đời (những sự kiện chấn động như bị lạm dụng, bị bỏ rơi, bố mẹ qua đời… vượt quá sức chịu đựng của một đứa trẻ) đối với sức khỏe tâm thần suốt giai đoạn dậy thì. Do đó, những người tham gia còn được đánh giá xem có các triệu chứng trầm cảm và lo âu hay không.  Nhóm trải qua thời kỳ phong tỏa đã tự chia sẻ về những khó khăn liên quan đến sức khỏe tâm thần, bao gồm các triệu chứng lo lắng, trầm cảm và các vấn đề nghiêm trọng hơn như trầm cảm, lo âu xã hội, ám ảnh cưỡng chế.   Gotlib cho biết kết quả này tương đồng với những phát hiện của các nhà khoa học khác cũng đang nghiên cứu về tác động của đại dịch đối với sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên. “Sức khỏe tâm thần suy giảm sẽ đi kèm với những thay đổi về thể chất trong não của thanh thiếu niên, mà ở đây sự căng thẳng trong đại dịch có thể là nguyên nhân”, ông nói.  Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu hiện vẫn chưa rõ liệu sức khỏe tâm thần kém đi có phải do não bộ lão hóa nhanh hơn hay không, và liệu đây có phải là tin xấu đối với những người trẻ tuổi?  “Chúng tôi đang bắt đầu chụp lại não bộ của tất cả những người tham gia ở độ tuổi 20, hy vọng chúng tôi sẽ hiểu rõ hơn liệu những thay đổi này có tồn tại mãi mãi, hay bắt đầu giảm dần theo thời gian hay không,” Gotlib chia sẻ.   “Ở người lớn tuổi, những thay đổi não bộ này thường liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng nhận thức. Song chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ tác động của chúng đối với thanh thiếu niên. Dẫu vậy, đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy những khó khăn trong đại dịch ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần sẽ đi kèm với những thay đổi trong cấu trúc não.”  Michael Thomas, giáo sư khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học Birkbeck ở London, người không tham gia nghiên cứu, cho biết nghiên cứu đã xác nhận những khó khăn mà thanh thiếu niên nói riêng phải trải qua trong thời gian đại dịch, họ trở nên lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, ông nói thêm, thật khó để biết sự khác biệt về kích thước của cấu trúc não có ý nghĩa gì đối với hành vi hiện tại hoặc tương lai.  Thomas cũng nhấn mạnh, các tác động tiềm ẩn trên chưa chắc đã là tác động tiêu cực hoàn toàn. Nhóm nghiên cứu báo cáo rằng những người đã trải qua giai đoạn phong toả hoàn thành các bài kiểm tra trí thông minh với kết quả cao hơn.□  Hà Trang lược dịch  https://www.theguardian.com/science/2022/dec/01/brains-of-post-pandemic-teens-show-signs-of-faster-ageing-study-finds    Author                .        
__label__tiasang Biểu đồ cho thấy cách bộ não con người tăng kích thước      Dựa trên hơn 120.000 bản quét não cộng hưởng từ, các nhà khoa học lần đầu tiên tạo ra một biểu đồ cho thấy cách bộ não con người tăng kích thước nhanh chóng trong những năm đầu đời và co lại từ từ khi có tuổi.    Chỉ riêng quy mô của nghiên cứu mới đã khiến các nhà khoa học thần kinh sửng sốt. Các nghiên cứu khoa học thần kinh thường có kích thước mẫu nhỏ, vì quét não bằng cộng hưởng từ (MRI) rất tốn kém và mỗi nghiên cứu hoặc thử nghiệm chỉ có số người tham gia rất hạn chế. “Bộ dữ liệu khổng lồ mà nghiên cứu mới thu thập được cực kỳ ấn tượng và thực sự đặt ra một tiêu chuẩn mới cho lĩnh vực này,” Angela Laird, nhà khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học Quốc tế Florida, nói.        Bởi vì cấu trúc não của mỗi người khác nhau đáng kể, nếu muốn tạo ra một biểu đồ tăng trưởng đáng tin cậy và có ý nghĩa thống kê, phải tổng hợp một số lượng lớn các bản quét. Thay vì tự chạy hàng trăm nghìn lần quét MRI, sẽ mất hàng thập kỷ và rất tốn kém, nhóm nghiên cứu đã tìm đến các nghiên cứu hình ảnh thần kinh đã hoàn thành.    Jakob Seidlitz ở Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp đã gửi e-mail cho các nhà nghiên cứu khoa học thần kinh trên khắp thế giới để hỏi liệu họ có thể chia sẻ dữ liệu hình ảnh thần kinh cho nghiên cứu lập biểu đồ hay không. Cuối cùng, nhóm Seidlitz đã tổng hợp được 123.894 kết quả quét MRI của 101.457 người, bao gồm từ bào thai 16 tuần cho đến người 100 tuổi. Các bản quét cũng bao gồm não của những người không điển hình về thần kinh hoặc mắc các tình trạng y tế khác nhau, chẳng hạn như Alzheimer hay rối loạn phổ tự kỷ. Sau đó, nhóm dùng các mô hình thống kê để trích xuất thông tin từ kết quả MRI và tinh chỉnh sao cho các kết quả quét có thể so sánh trực tiếp với nhau, bất kể là chụp từ loại máy MRI nào.    Kết quả là một bộ biểu đồ thể hiện khối lượng các bộ phận não theo từng độ tuổi. Một số bộ phận, chẳng hạn như khối lượng chất xám và độ dày trung bình của vỏ não đạt đỉnh sớm trong quá trình phát triển của một người, trong khi khối lượng chất trắng (ở sâu hơn trong não) có xu hướng đạt đỉnh vào khoảng 30 tuổi. Đặc biệt, khối lượng thể tích não thất (lượng dịch não tủy) gây bất ngờ nhất. Các nhà khoa học đã biết khối lượng này tăng lên theo độ tuổi, và thường liên quan đến chứng teo não, nhưng kết quả mới cho thấy thể tích não thất có xu hướng phát triển cực nhanh vào cuối tuổi trưởng thành.    Cho dù bộ dữ liệu này có quy mô chưa từng thấy, Seidlitz và các đồng nghiệp thừa nhận rằng nó vẫn thiếu đa dạng – một vấn đề đặc trưng trong nghiên cứu hình ảnh thần kinh. Kết quả quét não mà họ thu thập chủ yếu đến từ Bắc Mỹ và Châu Âu, và chủ yếu bao gồm các nhóm dân số da trắng, sống ở thành thị và giàu có. Kết quả MRI từ Nam Mỹ và châu Phi chỉ chiếm khoảng 1% tổng số kết quả quét não được sử dụng trong nghiên cứu, và điều này hạn chế khả năng tổng quát của các phát hiện.    Nguyên nhân là hàng tỷ người trên toàn thế giới không có khả năng tiếp cận máy MRI, do đó dữ liệu thu về chủ yếu là kết quả của một số nhóm dân số nhất định. Để cải thiện biểu đồ, nhóm Seidlitz đã khởi chạy một trang web liên tục cập nhật biểu đồ khi họ có nhiều kết quả quét não hơn.    Nghiên cứu lập biểu đồ của nhóm Seidlitz được công bố trên tạp chí Nature ngày 6/4. Trước đó không lâu, một nghiên cứu khoa học thần kinh khác, đăng trên Nature ngày 16/3, nói rằng hầu hết các nghiên cứu chụp ảnh não đến nay có kích thước mẫu quá nhỏ để có thể xác định một cách đáng tin cậy các mối liên hệ giữa chức năng não và hành vi; hay nói cách khác là các nghiên cứu trong lĩnh vực này từ trước đến giờ có thể không chính xác.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang NASA chế tạo cảm biến sinh học dò tìm vi khuẩn      Cơ quan Không gian và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) vừa chế tạo thành công một loại cảm biến sinh học dựa trên công nghệ nano hiện đại có khả năng phát hiện vi khuẩn, vi-rút và ký sinh trùng.      Thiết bị cảm biến sinh học mới này có công dụng ngăn chặn sự lan truyền những mầm bệnh nguy hiểm trong nước, thực phẩm và các nguồn khác. TS Meyya Meyyappan, khoa học gia trưởng về công nghệ nano, cho biết, “Bộ cảm biến này sử dụng các ống nano carbon siêu nhạy, có khả năng phát hiện những tác nhân sinh học nguy hiểm có nồng độ rất thấp”. Khi nhận ra sự hiện diện của tác nhân có hại, bộ cảm biến sẽ phát ra tín hiệu điện, và các chuyên gia sẽ xử lý tín hiệu đó để nhận diện vi sinh vật và hàm lượng của chúng trong mẫu xét nghiệm. Do ống nano có kích thước cực nhỏ nên một cảm biến sinh học có thể chứa đến hàng triệu ống nano.  Mối nguy hiểm sinh học xuất phát từ mầm bệnh và bệnh truyền nhiễm xảy ra hàng ngày trên khắp thế giới. Biện pháp quan trọng để ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh là nên xét nghiệm toàn diện để dò tìm từng mầm bệnh khả nghi, bởi vì đa số mầm bệnh thường không được phát hiện cho đến khi có người mắc bệnh hoặc tử vong.    Trúc Thịnh (Theo Environmental Protection)      Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA chuẩn bị trồng khoai tây trên sao Hỏa      Với đặc tính nhiều dinh dưỡng, ngon miệng, không cần nhiều nước tưới và dễ thích nghi, khoai tây đã được các nhà khoa học ở NASA lựa chọn cho thí nghiệm trồng khoai tây trong các điều kiện tương tự trên sao Hỏa nhằm tạo nguồn thực phẩm cho các chuyến bay lên Hành tinh Đỏ trong tương lai    Trong giai đoạn một của thí nghiệm, các nhà nghiên cứu sẽ chọn ra các giống khoai tây có khả năng kháng virus và có thời gian sinh trưởng nhanh (90 – 100 ngày) để trồng trên các mẫu đất lấy từ La Joya Pampas, một khu vực thuộc sa mạc Atacama, nơi có đặc tính thổ nhưỡng giống thổ nhưỡng trên sao Hỏa. Trong giai đoạn hai, các nhà nghiên cứu sẽ tìm cách cấp đông cho các củ khoai tây thu hoạch được để xem liệu họ có thể mang chúng lên sao Hỏa (hành trình từ Trái đất tới sao Hỏa có thể kéo dài chín tháng) rồi rã đông và tiếp tục trồng chúng vào đất sao Hỏa được không. Trong giai đoạn cuối của cuộc thí nghiệm, các nhà khoa học sẽ thử trồng khoai tây trong các vệ tinh CubeSat trong vũ trụ nhằm tìm hiểu cách trồng chúng trong môi trường có kiểm soát.   Trong nghiên cứu này NASA hợp tác với Trung tâm Khoai tây quốc tế Peru, một cơ quan khoa học phi lợi nhuận hoạt động vì mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm và diệt nạn đói ở Peru. Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu và sinh viên tại nhiều trường đại học trên thế giới cũng tham gia chuẩn bị xây dựng các vệ tinh CubeSat và khoai tây. Thí nghiệm này bắt đầu từ tháng 1/2016 và các nhà khoa học hy vọng sẽ có kết quả sau ba tháng nữa.   Nguyên Hải tổng hợp  -http://www.scientificamerican.com/article/scientists-try-to-grow-peruvian-potatoeson-mars/  2/2/2016  – http://www.pri.org/stories/2016-01-15/martian-was-right-nasa-studying-peruvian-potatoes-farming-mars    Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA công bố kính viễn vọng mới hậu Hubble      Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Mỹ NASA vừa công bố mẫu kính viễn vọng trong không gian mới để thay thế kính viễn vọng Hubble “già nua” đã 17 tuổi. Kính viễn vọng James Webb (JWST – đặt tên theo một cựu lãnh đạo của NASA) dự kiến được đưa lên không gian vào tháng 6-2013.    Được đặt ở vị trí xa trái đất hơn (cách 1,5 triệu km so với khoảng cách 575 km của kính Hubble), kính James Webb có chiều dài chừng 24m, cao 12m và mặt gương chính có đường kính 6,5m (gấp ba lần kích thước của kính Hubble). Tấm năng lượng mặt trời của kính thiên văn trị giá 4,5 tỉ USD này có kích thước bằng cả một sân tennis. Các nhà khoa học cho biết JWST cho phép họ nhìn xa hơn và có thể tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc của vũ trụ.  Khi hoàn thành, JWST sẽ được tên lửa Ariane V của châu Âu phóng lên và dự kiến sẽ hoạt động 10 năm ngoài không gian. Do cả tấm gương và tấm năng lượng mặt trời không thể lắp vào tên lửa đẩy nên cả hai được gấp lại và chỉ được mở ra khi đã ra ngoài không gian. Tấm gương chính có thể gấp và thay đổi hình dáng sau khi phóng lên là một trong những ứng dụng công nghệ mới của JWST cộng với việc sử dụng kính siêu nhẹ beryllium, có thiết bị dò các sóng có tần số cực yếu…  THANH TUẤN (Theo BBC, NASA)      Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA đầu tư nghiên cứu công nghệ 3D in thực phẩm      Tạp chí Time bản điện tử ngày 24/5/2013 cho biết: Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ NASA vừa tài trợ 125.000 USD cho dự án nghiên cứu một mẫu máy tổng hợp thực phẩm vũ trụ. Dự án sẽ do Anjan Contractor, một kỹ sư cơ khí của Công ty nghiên cứu hệ thống và vật liệu (Systems and Materials Research Corporation, SMRC) tại Austin bang Texas, thực hiện trong sáu tháng. Cỗ máy in thực phẩm 3D này sẽ “in ra” bánh pizza và các loại thức ăn khác.    Nếu ý tưởng này thành công, không những người ta có thể cung cấp thực phẩm cho các nhà du hành vũ trụ thám hiểm không gian xa xôi mà còn có thể vĩnh viễn giải quyết được một nan đề có tính toàn cầu là nạn thiếu lương thực do loài người sinh sôi nẩy nở quá nhanh gây ra.  NASA rất cần công nghệ in thực phẩm (food-printing technology). Hiện nay các dự án thăm dò Sao Hỏa với chi phí nhiều tỷ dollar đang được gấp rút thực thi, kể cả dự án Sao Hỏa 1 (Mars One) đã có 78 nghìn người đăng ký xung phong lên sống nốt quãng đời còn lại của mình trên Sao Hỏa. Dự tính tốp các nhà chinh phục Sao Hỏa đầu tiên sẽ đến thiên thể này vào năm 2023, tức chỉ còn một thập niên nữa thôi. Hãy tưởng tượng họ sẽ dùng thực đơn như thế nào nếu thời gian một chuyến đi kéo dài bảy tháng? Và trong thời gian hàng chục năm ở lại Sao Hỏa họ lấy gì mà ăn?   “Hành trình chuyến du ngoạn vũ trụ xa xôi cần khoảng hơn 15 năm đời người. Chúng tôi đang nghiên cứu vấn đề này, tất cả mọi thứ như carbohydrate (nguyên văn carbs), protein và các chất dinh dưỡng vĩ mô và vi mô đều ở dạng bột. Chúng tôi lấy hết thành phần nước ra khỏi chúng và dưới dạng đó loại thực phẩm này có thể tồn tại không bị hư hỏng trong 30 năm,” Anjan Contractor cho biết.  In 3D là công nghệ in từng lớp rất mỏng chồng lên nhau cho đến khi tạo thành một vật thể cần thiết. Máy in ba chiều thương mại đầu tiên dựa vào một kĩ thuật in được Charles Hull phát minh năm 1984. Mặt đế được đặt sát phía dưới bề mặt chất lỏng nguyên liệu, rồi tia laser được dùng để làm đông đặc một lớp mỏng chất liệu đó trên đế theo hình dạng mong muốn, tạo thành lớp đầu tiên của vật cần in. Sau đó cái đế được hạ xuống một chút và quá trình này được lặp lại để tạo nên các lớp tiếp theo, cứ như vậy cho đến khi toàn bộ vật thể được in ra và được tách khỏi đế để làm sạch và xử lí. Cho đến nay phương pháp này vẫn là một trong những phương pháp in ba chiều chính xác nhất với độ dày mỗi lớp có thể mỏng chỉ còn 0,06 mm.  Công nghệ in 3D có thể dùng các loại “mực” phức tạp để in ra những vật phẩm hình dạng phức tạp. Công nghệ này tuy gần đây được phát triển mạnh, nhưng cho đến nay phần lớn chủ yếu tập trung vào việc dùng plastic để in ra những vật thể rắn như đồ chơi hoặc dụng cụ y tế dùng trong kỹ thuật nội soi. Tháng Tư vừa qua có tin đã dùng công nghệ 3D in ra được cả súng lục, nhưng tin này đang được dư luận tranh cãi nhiều.  Công ty nghiên cứu hệ thống và vật liệu SMRC đưa ra ý tưởng làm ra một mẫu máy in 3D có thể sử dụng các chất dinh dưỡng cơ bản để sản xuất thực phẩm cho loài người, loại máy này sau đây sẽ trở thành thiết bị cần thiết cho phòng bếp của bạn, tương tự tủ lạnh, lò vi sóng hoặc bếp gas hiện nay. Khi muốn làm một bữa ăn, bạn chỉ việc ra cửa hàng mua những thứ cần thiết cho hộp mực của máy in, như bột thực phẩm, dầu thực vật, rồi tùy theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể mình mà pha chế và đổ mực vào hộp. Máy sẽ in ra loại thức ăn bạn cần. Các chất dinh dưỡng như carbohydrate, protein, sắc tố, gia vị và nguyên tố vi lượng đều ở dạng bột đã hút hết nước, có thời hạn bảo hành 30 năm. Với thời hạn bảo hành lâu như vậy, suy ra mọi chất dinh dưỡng trước khi hết hạn sử dụng đều đã có thể được tiêu thụ hết- đây là biện pháp lý tưởng tận diệt hiện tượng lãng phí lương thực thực phẩm, cũng là ưu điểm nổi bật nhất của công nghệ 3D in thực phẩm.  Anjan Contractor cho rằng loại thực phẩm đầu tiên mà công nghệ này sẽ sản xuất được sẽ là bánh pizza – thức ăn đơn giản nhất, có thể in ra từng lớp bánh mỏng chồng lên nhau. Loại pizza tương lai này sẽ sử dụng vật liệu là sâu bọ chứ không phải là pho mát và xúc xích Italy như pizza hiện nay có bán.  Công ty TNO Research ở Hà Lan kiến nghị máy in 3D thực phẩm nên có chức năng biến những vật liệu tương tự thực phẩm — như các loại tảo, côn trùng và cỏ — thành thức ăn ăn được. Nếu vậy thì rõ ràng bánh pizza sẽ là sản phẩm lý tưởng khi sử dụng loại máy này, vì pizza có cấu tạo tầng lớp rất độc đáo. Máy của Anjan Contractor hiện đã in được bánh sô-cô-la.           Nguyễn Hải Hoành  Nguồn: http://newsfeed.time.com/2013/05/24/nasa-funded-3d-food-printer-could-it-end-world-hunger và một số mạng khác    Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA kéo dài sứ mạng tàu Endeavour      Ngày 12-8, Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã quyết định kéo dài sứ mạng tàu con thoi Endeavour lên 14 ngày so với 11 ngày theo kế hoạch ban đầu.    Theo các quan chức NASA, họ đưa ra quyết định trên sau khi hệ thống chuyển tải điện mới từ Trạm không gian quốc tế (ISS) sang tàu con thoi vận hành tốt trong lần thử nghiệm đầu tiên. NASA nói con tàu có thể nhận thêm năng lượng mặt trời để ở lại quỹ đạo lâu hơn.  Với quyết định này, tàu Endeavour sẽ rời ISS vào ngày 20-8 (thay vì vào ngày 17-8) và trở về Trái đất vào ngày 22-8. Các phi hành gia tàu Endeavour cũng sẽ có thêm một chuyến đi bộ ra ngoài không gian để tiếp tục việc xây dựng ISS.  Ngày hôm qua 12-8, các phi hành gia đã có chuyến đi bộ ra ngoài không gian đầu tiên và lắp ghép thành công một khoang mới cho ISS. Họ cũng đã hoàn tất việc kiểm tra lớp cách nhiệt của tàu với sự hỗ trợ của một cánh tay robot dài gần 30 m. Các dữ liệu thu thập được trong cuộc kiểm tra này được chuyển về Trung tâm giám sát các chuyến bay vào vũ trụ của NASA (đặt tại Houston, bang Texas) để phân tích.  Việc kiểm tra này được thực hiện sau khi NASA phát hiện có một lỗ thủng gây lo ngại trên bụng tàu Endeavour. Theo các chuyên gia, lỗ thủng này có thể do một miếng xốp cách nhiệt phủ băng rơi ra từ thùng nhiên liệu.  TƯỜNG VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA, NOAA: Năm 2016 nóng nhất trong hơn 130 năm qua      Theo các phân tích độc lập, năm 2016  là năm nóng nhất được ghi nhận kể từ năm 1880,  với nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu ở mức 14,84 độ C.    Ngày 18/01 vừa qua, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) và Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) đã công bố dữ liệu thời tiết toàn cầu năm 2016. Theo các phân tích độc lập của hai cơ quan này thì nhiệt độ bề mặt Trái đất (tính cho cả đất liền và đại dương) đạt mức nóng nhất [ở mức 14,84 độ C] kể từ khi dữ liệu được ghi lại vào năm 1880.  Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2016 đã tăng thêm 0,99oC so với mức trung bình giữa thế kỉ 20, khiến cho năm qua là năm thứ ba liên tiếp được ghi nhận có nhiệt độ trung bình  toàn cầu cao nhất.  Theo những phân tích của các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu Không gian Goddard (GISS), New York, nhiệt độ năm 2016 tiếp tục xu hướng ấm lên về lâu dài. Các nhà khoa học của NOAA cũng đồng tình với kết luận rằng năm 2016 là năm nóng nhất được ghi nhận, dựa trên những phân tích độc lập, riêng biệt.  Do vị trí các trạm khí tượng và phương pháp đo lường thay đổi theo thời gian, nên việc diễn giải sự khác biệt của nhiệt độ trung bình toàn cầu qua từng năm cụ thể không đồng nhất. Tuy nhiên, kể cả tính đến yếu tố này thì NASA vẫn chắc chắn đến hơn 95% rằng năm 2016 là năm nóng nhất.  Nhiệt độ trung bình trên bề mặt hành tinh đã tăng khoảng 1,1oC kể từ cuối thế kỉ 19, sự thay đổi này chủ yếu do lượng carbon dioxide và các loại khí phát thải khác của con người trong khí quyển tăng lên.  Phần lớn quá trình nóng lên xảy ra trong 35 qua, với 16 trong số 17 năm nóng nhất được ghi nhận xảy ra kể từ năm 2001. Năm 2016 không chỉ là năm nóng nhất, mà tám tháng trong năm – từ tháng Một đến tháng Chín, trừ tháng Sáu – là những tháng tương ứng nóng nhất được ghi nhận trong lịch sử. Tháng Mười, Mười Một và Mười Hai năm 2016 được ghi nhận là những tháng nóng thứ nhì trong lịch sử, sau những kỉ lục được ghi nhận vào năm 2015.  Hiện tượng El Niño góp phần làm tăng bất thường nhiệt độ trung bình toàn cầu trong năm 2016 thêm 0,12oC, các nhà khoa học ước tính.  Những biến động thời tiết thường ảnh hưởng đến nhiệt độ theo khu vực, vì thế không phải tất cả các khu vực trên Trái đất đều nóng kỉ lục trong năm vừa qua. Chẳng hạn, cả NASA và NOAA đều nhận thấy nhiệt độ trung bình năm ở 48 vùng tiểu bang Hoa Kỳ tiếp giáp nhau trong năm qua nóng thứ hai theo các dữ liệu từng được ghi lại. Trái lại, Bắc Cực đã trải qua năm ấm nhất từ trước tới nay.  Các phân tích của NASA kết hợp những phương pháp đo nhiệt độ bề mặt từ 6.300 trạm khí tượng, trạm thu thập dữ liệu nhiệt độ bề mặt biển đặt trên các phao và tàu, và các hệ thống đo nhiệt độ từ các trạm nghiên cứu ở Nam Cực. Các dữ liệu được phân tích bằng một thuật toán trong đó có tính đến thực tế khoảng cách khác nhau giữa các trạm đo nhiệt độ trên toàn cầu và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị có thể làm sai lệch các kết luận. Kết quả của những tính toán này đưa ra ước tính về sự khác biệt của nhiệt độ trung bình toàn cầu so với giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1980.  Các nhà khoa học của NOAA cũng sử dụng rất nhiều dữ liệu về nhiệt độ tương tự như NASA, nhưng chọn giai đoạn khác làm đối chứng, và dùng những phương pháp khác để phân tích nhiệt độ các vùng cực và nhiệt độ toàn cầu.    Nhàn Vũ dịch  Nguồn:  https://www.nasa.gov/press-release/nasa-noaa-to-announce-2016-global-temperatures-climate-conditions    Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA thẩm định thiết kế tên lửa mạnh nhất      Mới đây, NASA cho biết họ đã hoàn tất thẩm định thiết kế tên lửa có thể tích lớn nhất, công suất mạnh nhất  trong lịch sử, dùng cho dự án đưa người lên sao Hỏa. Dự kiến tên  lửa này sẽ được chế tạo xong vào năm 2018.     Thiết bị tên lửa có tên Space Launch System, SLS, là phương tiện chuyên chở dùng để giải quyết nan đề du hành sao Hỏa. SLS cùng với tàu vũ trụ ORION sẽ đưa nước Mỹ tiến lên một kỷ nguyên mới thăm dò khai thác các điểm đến ở phía ngoài quỹ đạo của Trái Đất.    Bill Hill, phó Giám đốc Bộ phận Phát triển Hệ thống thăm dò vũ trụ của NASA, nói: “Chúng tôi đã hoàn thành thí nghiệm vòng một các động cơ và các tầng trợ đẩy của tên lửa. Tất cả mọi thiết bị quan trọng phục vụ chuyến bay đầu tiên đều đang được sản xuất.”    Bước tiếp theo của kế hoạch là duyệt thiết kế, quá trình đó sẽ tiến hành vào năm 2017, sau khi đã hoàn thành chế tạo, lắp ráp tổng thể và trắc nghiệm. Khi duyệt thiết kế, sẽ phải đối chiếu sản phẩm cuối cùng đã chế tạo với chỉ tiêu thiết kế của tên lửa.    Các phần chính của tên lửa sẽ sơn màu cam. Tầng chính tên lửa cao 60 m, đường kính 8,4 m, chứa nhiên liệu hydrogen lỏng nhiệt độ thấp và oxygen lỏng để cấp cho bốn bộ động cơ RS-25 sử dụng.    Đầu năm nay, NASA đã hoàn tất thí nghiệm chạy nóng (hot fire test) một động cơ RS-25 của tầng áp chót tên tửa. Động cơ được chạy thử trong 535 giây. Thí nghiệm tiến hành tại Trung tâm Vũ trụ Stennis của NASA tại bang Mississippi. RS-25 vốn là động cơ chính của tàu con thoi, là động cơ tên lửa tái sử dụng đầu tiên trong lịch sử.    Nguyên Hải dịch    Nguồn:  http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3285209/The-Martian-gets-step-closer-Nasa-gives-ahead-world-s-biggest-rocket-man-red-planet.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA thử nghiệm thành công thiết bị đẩy EmDrive      Trang mạng dailymail.co ngày 14/5 mới đây  đưa tin: Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã thử nghiệm thành công  một thiết bị đẩy mới mang tính cách mạng, có thể đưa tàu vũ trụ bay lên  Mặt Trăng trong bốn giờ thay cho hơn ba ngày, hoặc lên sao Hỏa trong  hai-ba tuần thay cho bảy tháng như hiện nay.    Thiết bị này được gọi là động lực điện từ (electromagnetic drive) hoặc EmDrive, nhỏ gọn tới mức có thể đặt trong một va li xách tay và có thể đẩy tàu vũ trụ bay với vận tốc 724.500.000 km/h (450 triệu dặm/h) mãi mãi.   EmDrive là phát minh của nhà khoa học người Anh Roger Shawyer. Năm 2009, ông công bố phát minh này và từ đó liên tục bị thiên hạ chê cười là không tưởng bởi nó trái với một trong những nguyên lý cơ bản của vật lý học là định luật Newton thứ ba: Nếu ta đẩy một vật về phía này thì ta bị tăng tốc về phía ngược lại.   Thật vậy, mỗi động cơ tên lửa đều phóng nhiên liệu đã đốt ra khỏi phần sau, bằng cách ấy đẩy nó tiến về phía trước.   Thế nhưng EmDrive không sử dụng nhiên liệu (tức không dùng thiết bị đẩy bằng động cơ tên lửa đốt nhiên liệu). Nó chuyển đổi năng lượng điện – lấy từ tấm pin điện mặt trời hoặc từ lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ đặt trên tàu vũ trụ – thành lực đẩy con tàu tiến về phía trước.  Sự nghi ngờ của dư luận không ngăn được công ty Boeing mua lại quyền khai thác EmDrive, cũng không ngăn được Chính phủ Anh tài trợ kinh phí triển khai thời kỳ đầu ý tưởng của Shawyer.   Hiện nay Shawyer đã nghỉ hưu nhưng vẫn làm cố vấn cho một công ty Anh tiếp tục nghiên cứu này. Ông cho biết một số nước khác cũng đang nghiên cứu theo hướng tương tự. Trên thực tế, năm năm trước, người Trung Quốc từng tuyên bố họ đã chế tạo được một động cơ EmDrive và chứng minh nó hoạt động có hiệu quả. Thế nhưng không ai tin.  Nhưng giờ đây, khi NASA đứng ra thử nghiệm loại động lực này thì người ta khó có thể nghi ngờ giá trị của EmDrive nữa.  Có người nói EmDrive đang trở thành một trong nhiều phát minh tuyệt vời của nước Anh chỉ vì thiếu đầu tư và thiếu tầm nhìn mà rốt cuộc bị ai đó đánh cắp. Lần này Shawyer cũng có chút khó chịu khi thấy người Mỹ đã thu hút tất cả sự chú ý của dư luận về phía họ.  Khái niệm động lực điện từ tương đối đơn giản. Nó dùng vi sóng phản xạ trong một hộp kín để tạo ra lực đẩy tàu vũ trụ. Năng lượng mặt trời cung cấp vi sóng điện từ, điều đó có nghĩa là trong suốt quá trình bay, con tàu không cần tới nhiên liệu đẩy.  Do không cần mang theo nhiên liệu, các vệ tinh hiện dùng có thể giảm được một nửa thể tích. Ngoài ra, loài người có thể dùng công nghệ lực điện từ để bay xa hơn vào vũ trụ.  Những người tham gia dự án lực điện từ cho biết, sở dĩ mô hình lực điện từ hiện bị phê phán là do chưa thí nghiệm nào được tiến hành trong chân không.  Cho dù trang mạng nasaspaceflight.com ngày 29/4/2015 viết: “Một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Vũ trụ Johnson thuộc NASA đã thử nghiệm thành công một EmDrive trong chân không – một đột phá chủ yếu trong những nỗ lực quốc tế nhiều năm nay giữa một số nhóm cạnh tranh” nhưng vẫn có những nhà khoa học, thí dụ Corey S. Powell, không tin vào thông báo nói trên, lý do chỉ vì EmDrive trái với các nguyên lý khoa học kinh điển.   H.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang NASA xác nhận sao Hỏa có nước      Các nhà khoa học thuộc Cơ quan hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết tàu thăm dò Phoenix đang khám phá sao Hỏa đã phát hiện có dấu vết của nước trên hành tinh này.      Phát hiện trên được công bố sau khi cánh tay robot của tàu Phoenix đã chuyển một mẫu đất lấy từ bề mặt sao Hỏa lên một thiết bị phân tích gắn trên tàu. Sau khi đốt nóng mẫu vật, các nhà khoa học Mỹ đã thu được hơi nước. Ông William Boynton, phụ trách bộ phân tích khí và nhiệt của tàu Phoenix, cho biết dù trước đây tàu thám hiểm Odyssey bay quanh quỹ đạo sao Hỏa đã nhiều lần quan sát được bằng chứng về nước đá, và tháng trước tàu Phoenix cũng phát hiện những khối nước đang tan biến, nhưng đây là lần đầu tiên các nhà khoa học Mỹ “tiếp xúc và cảm nhận” được nước của Hành tinh Đỏ.   T.Q      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền khoa học có thể mở hơn nữa: Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO      Ngày 23/11/2021, Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia thành viên UNESCO nhất trí thông qua nhân phiên họp toàn thể lần thứ 41 của UNESCO diễn ra trong các ngày 9-24/11/2021. Đây là công cụ thiết lập tiêu chuẩn cho Khoa học Mở ở mức toàn cầu và khẳng định Khoa học Mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới.       Lộ trình hướng tới việc thông qua Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO.  Bối cảnh ra đời của Khuyến nghị Khoa học Mở     Trong bối cảnh các thách thức cấp bách của hành tinh về kinh tế xã hội, các giải pháp đổi mới sáng tạo và bền vững đòi hỏi các nỗ lực khoa học hiệu quả, minh bạch và mạnh mẽ, không chỉ bắt nguồn từ cộng đồng khoa học, mà còn từ toàn bộ xã hội.    Khuyến nghị1 Khoa học mở của UNESCO ra đời dựa trên mong muốn của 193 quốc gia thành viên. Vào năm 2019, trong phiên họp toàn thể lần thứ 40 của UNESCO, họ đã giao nhiệm vụ cho tổ chức này phát triển một công cụ thiết lập tiêu chuẩn quốc tế về Khoa học mở.2    Để xây dựng khuyến nghị này, trong suốt hai năm 2020-2021, UNESCO đã tổ chức hàng loạt các cuộc tham vấn tại nhiều khu vực với nhiều chủ đề để thúc đẩy các thảo luận mở về nhận thức, hiểu biết và phát triển chính sách Khoa học Mở. Bản thân Việt Nam (do Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam) cũng tham gia góp ý đối với Dự thảo Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO và cũng cử đại diện tham gia thảo luận liên chính phủ về vấn đề này vào tháng 5/2021”3.    Khuyến nghị này đưa ra một định nghĩa chung cùng với những giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn của khoa học mở được quốc tế công nhận. Nó cũng đề xuất một loạt hành động chủ chốt đối với việc vận hành khoa học mở một cách công bằng và bình đẳng đối với tất cả các cá nhân, tổ chức, quốc gia, khu vực và quốc tế. Khuyến nghị này cũng góp phần thu hẹp khoảng cách số, khoảng cách về công nghệ và tri thức đang tồn tại giữa các quốc gia.      Định nghĩa phổ quát về Khoa học mở     Trước khi Khuyến nghị Khoa học Mở được thông qua, định nghĩa khoa học mở và các tiêu chuẩn của nó chỉ tồn tại ở mức khu vực, quốc gia hoặc cơ sở.  Với Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO4 đã được 193 quốc gia thành viên thông qua, lần đầu tiên thế giới có được định nghĩa phổ quát về Khoa học Mở, được nêu như sau:         Các trụ cột và các thành phần của từng trụ cột của Khoa học Mở6.    Khoa học mở là một cấu trúc toàn diện (an inclusive construct) kết hợp các phong trào và thực hành khác nhau nhằm làm cho kiến thức khoa học đa ngôn ngữ luôn mở, bất kì ai cũng có thể truy cập được và sử dụng lại, giúp thúc đẩy cộng tác khoa học và chia sẻ thông tin vì lợi ích của khoa học và xã hội. Nó cũng mở ra các quy trình tạo lập, đánh giá và truyền thông kiến thức khoa học vươn tới cả những đối tượng nằm ngoài cộng đồng khoa học truyền thống. Khoa học mở gồm tất cả các lĩnh vực khoa học và mọi hoạt động học thuật, bao gồm cả khoa học cơ bản và ứng dụng, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội và nhân văn, và nó xây dựng dựa vào các trụ cột chính sau: kiến thức khoa học mở, các hạ tầng khoa học mở, truyền thông khoa học, sự tham gia mở của các tác nhân xã hội và đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác.    Dưới đây là bốn trụ cột của khoa học mở:     Kiến thức khoa học mở gồm truy cập mở của các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu, siêu dữ liệu (metadata), tài nguyên giáo dục mở, phần mềm và mã nguồn và phần cứng mà chúng sẵn có trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền và được cấp phép theo một giấy phép mở. Người dùng nào cũng được phép truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối theo các điều kiện nhất định một cách miễn phí và nhanh nhất có thể. Kiến thức khoa học mở cũng gồm cả khả năng mở các phương pháp luận nghiên cứu và các quy trình đánh giá. Người sử dụng vì thế giành được sự truy cập tự do không mất tiền tới: (1) Xuất bản phẩm khoa học; (2) Dữ liệu nghiên cứu mở; (3) Tài nguyên Giáo dục Mở5; (4) Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở; (5) Phần cứng mở.     Các hạ tầng khoa học mở là các hạ tầng nghiên cứu chung vốn cần thiết để hỗ trợ cho khoa học mở và phục vụ cho các nhu cầu của các cộng đồng khác nhau.     Các phòng thí nghiệm mở, các nền tảng khoa học mở và các kho cho các xuất bản phẩm, dữ liệu và mã nguồn của nghiên cứu, các phần mềm cho phép hợp tác khoa học và các môi trường nghiên cứu ảo, và các dịch vụ nghiên cứu số, đặc biệt là các tiện ích cho phép nhận diện các đối tượng khoa học một cách rõ ràng bằng các mã nhận diện độc nhất, nằm trong số các thành phần quan trọng của các hạ tầng khoa học mở. Những thành phần này giúp nhà khoa học truy cập, phân tích, liên kết dữ liệu khoa học và kêu gọi cộng đồng tham gia nghiên cứu.         Các giá trị cốt lõi và các nguyên tắc hướng dẫn của Khoa học Mở.  Các cơ sở thử nghiệm đổi mới sáng tạo mở bao gồm vườn ươm, các tiện ích nghiên cứu, cơ quan quản lý giấy phép mở, cũng như thư viện khoa học cộng đồng, các viện bảo tàng khoa học, công viên khoa học, là những ví dụ bổ sung về các hạ tầng khoa học mở cung cấp sự truy cập chung tới các cơ sở vật chất, các khả năng và dịch vụ. Các hạ tầng khoa học mở thường là kết quả của các nỗ lực xây dựng của cộng đồng. Chính sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định đến tính bền vững dài hạn của các cơ sở này. Bởi vậy, chúng càng cần phải là không vì lợi nhuận và đảm bảo được truy cập thường xuyên và không có hạn chế cho tất cả công chúng ở mức độ lớn nhất có thể.    Sự tham gia mở của các tác nhân xã hội là sự cộng tác mở rộng giữa các nhà khoa học và các đối tượng bên ngoài cộng đồng khoa học. Điều này có thể thực hiện được bằng việc mở các thực hành, công cụ nghiên cứu và quá trình nghiên cứu được thiết kế để bao gồm nhiều đối tượng hơn trong xã hội có thể tham dự. Một số ví dụ về sự cộng tác này có thể kể đến như gọi vốn cộng đồng (crowdfunding), huy động nguồn lực cộng đồng (crowdsourcing) hay tình nguyện khoa học (scientific vonlunteering).     Dưới góc độ phát triển trí tuệ tập thể trong việc giải quyết vấn đề, khoa học mở là nền tảng cho sự tham gia của người dân và cộng đồng vào việc tạo ra tri thức và tăng cường đối thoại giữa các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và các nhà thực hành, các nhà khởi nghiệp và các thành viên khác cộng đồng. Nó cũng trao tiếng nói cho tất cả các bên liên quan trong việc phát triển nghiên cứu tương thích với mối quan tâm, nhu cầu và nguyện vọng của họ.     Tuy nhiên, ngoài việc khuyến khích sự cộng tác trong nghiên cứu, cần phải đảm bảo rằng, kết quả đầu ra của nghiên cứu cũng phải tuân theo các tiêu chuẩn, nguyên tắc nhằm bảo đảm tất cả mọi người được hưởng lợi tối đa từ đó.     Đối thoại mở với các hệ thống kiến thức khác là đối thoại giữa những người nắm giữ kiến thức khác nhau, thừa nhận sự phong phú của các hệ thống và nhận thức luận kiến thức đa dạng và sự đa dạng các nhà sản xuất kiến thức phù hợp với Tuyên ngôn Vạn năng của UNESCO năm 2001 về Đa dạng Văn hóa. Đối thoại mở là một bước tiến sâu hơn của sự tham gia mở.     Đối thoại mở nhằm thúc đẩy sự trao đổi tri thức đến từ các học giả vốn bị lề hóa và thúc đẩy sự thấu hiểu, bổ khuyết lẫn nhau giữa các nhận thức luận đa dạng. Ngoài ra, nó cũng tăng cường sự tôn trọng chủ quyền và quyền quản trị tri thức, và thừa nhận các quyền của những người nắm giữ kiến thức để trao cho họ những lợi ích phát sinh từ việc sử dụng kiến thức của họ một cách công bằng và bình đẳng.       Đặc biệt, cần chú ý khi liên kết với hệ thống kiến thức của người dân tộc thiểu số hay người bản địa. Điều này cần tuân thủ với Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc năm 2007 về Người Bản địa và các nguyên tắc Quản lý Dữ liệu Bản địa. Những nỗ lực như vậy thừa nhận các quyền của người bản địa và các cộng đồng địa phương để quản lý và đưa ra các quyết định về việc giám sát, sở hữu và quản lý dữ liệu về kiến thức truyền thống và về đất đai và tài nguyên của họ.      Các lĩnh vực hành động của Khoa học Mở.  Làm thế nào để khoa học mở thực sự mở?     Khoa học mở có bốn giá trị cốt lõi. Trong đó là chất lượng nghiên cứu cao hơn do các nghiên cứu theo hướng này phải “chịu” sự đánh giá và phân tích sâu rộng của cộng đồng. Khoa học mở cũng đem lại lợi ích cho nhiều người hơn bởi ai cũng có thể tiếp cận và sử dụng miễn phí kiến thức của nó. Tuy nhiên, điều quan trọng là khoa học mở thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng, sự đa dạng và hòa nhập (inclusiveness) trong nghiên cứu. Khoa học mở khiến cho tất cả mọi người, bất kể đến từ quốc gia giàu hay nghèo, ở nấc thang nghề nghiệp nào hay ngành nghề nào đều có thể chia sẻ và tiếp cận nguồn dữ liệu đầu vào và đầu ra của các nghiên cứu khoa học một cách miễn phí và nhanh nhất. Khoa học mở khuyến khích sự chấp nhận đa dạng trong tri thức, trong cách làm việc, trong ngôn ngữ, trong đề tài nghiên cứu, giúp ích cho nhu cầu và sự đa nguyên của nhận thức trong cộng đồng khoa học.    Tuy nhiên, các giá trị này chỉ được đảm bảo khi người ta tuân thủ đúng các nguyên tắc của khoa học mở. Đó là các nghiên cứu phải được công khai rộng rãi sẵn sàng cho quá trình bình duyệt, phân tích, đánh giá minh bạch. Nhà nghiên cứu nào cũng có quyền bình đẳng trong việc truy cập, đóng góp và hưởng lợi từ khoa học mở. Sự mở đi kèm với trách nhiệm giải trình đối với tất cả các bên liên quan của khoa học mở. Trách nhiệm giải trình ở đây là giải trình các hệ quả của nghiên cứu đến môi trường sinh thái, các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu mà nhà khoa học phải tuân thủ… Hợp tác trong khoa học mở nên là chuẩn mực (norm) và ngày càng phải mở rộng đường biên giữa các quốc gia, ngôn ngữ, lĩnh vực nghiên cứu, tuổi tác, nguồn lực. Dĩ nhiên, mỗi tổ chức, cá nhân có thể vận dụng khoa học mở khác nhau tùy điều kiện của mình nhưng về cơ bản, tổ chức vận hành và đảm bảo tài chính của các hạ tầng khoa học mở cần phải theo hướng “không vì lợi nhuận” và có một tầm nhìn dài hạn.     Các quốc gia thành viên được khuyến nghị thực hiện hành động đồng thời trong bảy lĩnh vực, phù hợp với luật quốc tế và tính tới các khuôn khổ chính trị, hành chính và pháp lý của riêng họ, như sau:    – Thúc đẩy sự hiểu biết chung về khoa học mở, các lợi ích và thách thức có liên quan, cũng như các con đường đa dạng tới khoa học mở;    – Phát triển môi trường chính sách tạo thuận lợi cho khoa học mở;    – Đầu tư vào các hạ tầng và dịch vụ khoa học mở;    – Đầu tư vào nhân lực, giáo dục, đào tạo, sáng số (digital literacy) và xây dựng năng lực cho khoa học mở;    – Thúc đẩy văn hóa khoa học mở và điều chỉnh các ưu đãi cho khoa học mở;    – Thúc đẩy các tiếp cận đổi mới sáng tạo cho khoa học mở ở các giai đoạn khác nhau của quá trình khoa học;    – Thúc đẩy hợp tác quốc tế và nhiều bên liên quan trong bối cảnh khoa học mở và với quan điểm nhằm làm giảm các phân cách số, công nghệ và kiến thức.     Việt Nam với Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO     Như ở đầu bài viết có nêu, Chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã cử đại diện tham gia trong quá trình diễn ra các cuộc tham vấn và xây dựng nội dung Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO. Bản thân Bộ và các cơ quan trực thuộc cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo và tọa đàm liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra, sau khi khuyến nghị được thông qua, lãnh đạo Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Việt Nam cũng đã có một thảo luận nội bộ để xem xét khả năng triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học trong bối cảnh khoa học mở tại các cơ sở thành viên.     Một trong những sự kiện đáng chủ ý là Hội thảo Quốc tế: ‘Khoa học Mở – Khuyến nghị của UNESCO: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam’, do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 20/10/20217. Trong hội thảo, Thứ trưởng Bùi Thế Duy nhấn mạnh, khoa học mở sẽ trở thành một cách thức tiếp cận mới để tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai các đề án quốc gia quan trọng như Đề án Hệ tri thức Việt số hóa… thông qua việc hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung trong cả nước”. Thứ trưởng cũng nói thêm, hội thảo này là “mở đầu cho các hoạt động về khoa học mở trong các lĩnh vực chuyên sâu như sở hữu trí tuệ, dữ liệu mở, truy cập mở,… tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy khoa học mở tại Việt Nam trong thời gian tới”.    Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia thành viên của nó thông qua đã khẳng định xu thế không thể đảo ngược của Khoa học Mở trên thế giới. Khuyến nghị đã lần đầu tiên đưa ra định nghĩa phổ quát về khoa học mở ở mức toàn cầu cùng với một tập hợp các giá trị cốt lõi và các nguyên tắc hướng dẫn, và một lộ trình chung nhằm đóng góp vào việc lấp đi các phân cách về kiến thức và công nghệ giữa và trong các quốc gia.    Thông cáo báo chí của UNESCO nhân sự kiện Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO được thông qua đã nêu4:    – Với Khuyến nghị này, các quốc gia thành viên đã chấp nhận văn hóa và thực hành khoa học mở và nhất trí sẽ báo cáo ngược lại mỗi bốn năm một lần về sự tiến bộ của họ.    – Khuyến nghị này kêu gọi các quốc gia thành viên thiết lập các cơ chế cấp vốn khu vực và quốc tế cho khoa học mở và đảm bảo rằng tất cả các nghiên cứu được nhà nước cấp vốn tôn trọng các nguyên tắc và các giá trị cốt lõi của khoa học mở.    – Khuyến nghị này kêu gọi các quốc gia thành viên đầu tư vào hạ tầng cho khoa học mở và phát triển khung các kỹ năng và năng lực cần thiết cho những ai mong muốn tham gia vào khoa học mở. Các bên liên quan bao gồm các nhà nghiên cứu từ các ngành khác nhau và các giai đoạn sự nghiệp khác nhau.    – Các quốc gia thành viên được khuyến khích triển khai hành động đồng thời trong bảy lĩnh vực của Khuyến nghị phù hợp với luật pháp của họ và quốc tế.  Với Việt Nam, cùng với các khuyến nghị của UNESCO nêu ở trên, để có thể bắt đầu triển khai thực hành khoa học mở, một trong các công việc cấp bách là xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia, để “kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, bao gồm các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu mở, phần mềm nguồn mở, mã nguồn và phần cứng mở, là được cấp phép mở hoặc được hiến tặng vào phạm vi công cộng”, ngoại trừ những gì cần thiết phải được bảo mật, ví dụ như các dữ liệu nghiên cứu thuộc về an ninh quốc gia hay quyền riêng tư của công dân.□  ——-  Các chú giải  1 UNESCO, Press Release, 26/11/2021: UNESCO sets ambitious international standards for open science: https://www.unesco.org/en/articles/unesco-sets-ambitious-international-standards-open-science. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/unesco-thiet-lap-cac-tieu-chuan-quoc-te-day-tham-vong-cho-khoa-hoc-mo-555.html  1 UNESCO: Towards a UNESCO Recommendation on Open Science – Building a Global Consensus on Open Science: https://en.unesco.org/sites/default/files/open_science_brochure_en.pdf, p. 4. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/yyv5vhd54m2mp0i/open_science_brochure_en_Vi-15082020.pdf?dl=0  3 Bộ Khoa học và Công nghệ: Khoa học mở – Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam: https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/20867/khoa-hoc-mo—co-hoi-va-thach-thuc-doi-voi-viet-nam.aspx  4 UNESCO: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  5 UNESCO, 2019: UNESCO Recommendation on Open Educational Resources: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0  6 Hình ảnh được tùy chỉnh từ các hình ảnh có trong tài liệu của UNESCO:  UNESCO Recommendation on Open Science:  https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949  7 Bộ Khoa học và Công nghệ: Khoa học mở – Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam: https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/20867/khoa-hoc-mo—co-hoi-va-thach-thuc-doi-voi-viet-nam.aspx     Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế      Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Nền kinh tế HYĐRÔ      Trong thế kỷ 21 chúng ta sẽ được chứng kiến một sự thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế thế giới và các sinh hoạt xã hội: sự chuyển đổi từ nền kinh tế dựa vào nhiên liệu hóa thạch sang nền kinh tế dựa vào nhiên liệu hyđrô nhờ năng lượng mặt trời. Nền kinh tế hyđrô nhờ năng lượng mặt trời không còn là ý tưởng mơ hồ hoặc chỉ là viễn tưởng khoa học, khả năng hiện thực hóa nền kinh tế hyđrô chỉ khoảng 25-35 năm nữa thôi! Như Tổng thống Mỹ G. Bush đã hy vọng, “chiếc xe ô tô đầu tiên trong đời của những trẻ mới sinh hôm nay ngồi cầm lái, sẽ là xe hyđrô dòng ZEV”.    Cuộc cách mạng về năng lượng và lộ trình hiện thực hóa  Hyđrô và pin nhiên liệu là chìa khoá giải quyết vấn đề ô nhiễm bầu khí quyển và sự biến đổi khí hậu toàn cầu – mối lo của toàn thế giới hiện nay khi sử dụng nhiên liệu hóa thạch là than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên.  Sự xuất hiện nền kinh tế hyđrô trong đời sống loài người buộc phải tạo ra sự thay đổi tận gốc những hạ tầng cơ sở của nền kinh tế hóa thạch và các hoạt động của con người. Phương thức sản xuất nguồn năng lượng mới không còn là tìm kiếm, thăm dò, khai thác như tài nguyên hóa thạch vì ở đâu có nước và ánh nắng mặt trời, ở đó đều có thể sản xuất ra hyđrô để tạo ra nguồn năng lượng cho mọi nhu cầu của đời sống và sản xuất. Phương thức tồn chứa, vận chuyển, cung ứng hyđrô cho các nhu cầu tiêu thụ, nghĩa là hạ tầng cơ sở đã tồn tại hàng thế kỷ của nền kinh tế hóa thạch sẽ không còn thích hợp, buộc phải cấu trúc xây dựng mới, phá bỏ hạ tầng cơ sở cũ. Các phương tiện giao thông, vận tải phải được thay thế bằng động cơ chế tạo theo nguyên lý mới phù hợp nguồn năng lượng hyđrô, tất nhiên sẽ khác hẳn các động cơ xăng, dầu. Các tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy định an toàn, luật lệ pháp lý khi sử dụng nguồn năng lượng mới sẽ phải xây dựng lại; việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ cho nền kinh tế hyđrô hoàn thiện và phát triển sẽ phải có những nội dung mới, cơ sở vật chất mới, hoàn toàn khác so với nền kinh tế hóa thạch hiện nay. Những vấn đề về môi trường ô nhiễm do sử dụng năng lượng hyđrô gây ra sẽ không còn là đề tài nghiên cứu tiêu hao tiền của và sức lao động của các nhà khoa học, không còn là đầu đề của các hội nghị quốc tế triền miên về biến đổi khí hậu toàn cầu như khi sử dụng năng lượng hóa thạch.  Tất cả những sự thay đổi đó cho thấy đây thực sự là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tiến trình phát triển của xã hội loài người và đã được đánh giá có ý nghĩa to lớn như cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, khi phát minh ra đầu máy hơi nước với việc sử dụng nhiên liệu than đá.   Ngày nay, nền kinh tế hyđrô đang trở thành một xu thế không thể đảo ngược trên thế giới. Ở Mỹ, năm 2003 Tổng thống G. Bush đã công bố một chương trình được gọi là “Sáng kiến nhiên liệu hyđrô” (Hydrogen Fuel Initiative) vói quyết định giành 1,2 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển nhằm mục tiêu đến năm 2020 ô tô chạy bằng pin nhiên liệu hyđrô phải triển khai thương mại hóa thành công vào thực tế.  Lộ trình chuyển đổi sang nền kinh tế hyđrô ở Mỹ được chia làm 4 pha, dự tính như sau:  * pha I (từ nay đến 2015-2020) tiếp tục tiến hành nghiên cứu R&D để hạ giá thành hyđrô sản xuất từ năng lượng mặt trời, hạ giá thành pin nhiên liệu hyđrô so với hiện nay và nghiên cứu ứng dụng tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải và cung cấp điện năng, trong pha này vai trò của nhà nước có tính chất quyết định;  * pha II (từ 2010 đến 2030) tiến hành thương mại hóa và từng bước xâm nhập vào thị trường xe không có khói xả (ZEV) song hành với xe chạy bằng xăng dầu như hiện nay, đồng thời thương mại hóa các máy phát điện bằng pin nhiên liệu, trong pha này vai trò của các ngành công nghiệp là rất quan trọng;  * pha III (từ 2015 đến 2035) tiến hành đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ cho nền kinh tế hyđrô và mở rộng thị trường hai loại hàng hóa trên;  * pha IV (từ 2035-2040 trở đi), cơ sở hạ tầng của nền kinh tế hyđrô đã hoàn chỉnh, sẵn sàng phục vụ cho thị trường phát triển mở rộng ra mọi vùng lãnh thổ, các phương tiện giao thông vận tải bằng pin nhiên liệu hyđrô và các máy phát điện bằng pin nhiên liệu hyđrô sẽ thay thế hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch, vào thời điểm này theo dự báo, nhiên liệu hóa thạch đã qua giai đoạn đỉnh điểm, cạn kiệt, giá xăng dầu tăng rất cao, bấy giờ nền kinh tế hyđrô đã sẵn sàng để hỗ trợ và thay thế cho nền kinh tế hóa thạch.    Sản xuất hyđrô nhờ năng lượng mặt trời có bị ảnh hưởng bởi thời tiết?   Sản xuất hyđrô nhờ năng lượng mặt trời sẽ gặp phải sự phụ thuộc vào ánh nắng mặt trời vì năng lượng mặt trời chỉ có thể cung cấp ánh nắng vào ban ngày, nghĩa là có thể làm gián đoạn quá trình sản xuất hyđrô và điện năng vào ban đêm hoặc những ngày mùa đông không có ánh nắng. Tuy nhiên, trở ngại này cũng đã được tính đến bằng giải pháp trên cơ sở mối liên quan giữa ánh nắng mặt trời, nước, xúc tác và các dạng sản phẩm năng lượng (hyđrô, điện).  Vào ban ngày, nhờ có ánh nắng mặt trời sẽ tiến hành quá trình quang điện hóa phân rã nước để sản xuất hyđrô đồng thời sử dụng hệ thống pin quang điện (pin mặt trời) hoặc pin quang điện hóa để sản xuất điện mặt trời (theo các quá trình thể hiện ở hai cạnh nghiêng của tam giác năng lượng). Hyđrô sản xuất ra ban ngày có thể sử dụng trực tiếp, hoặc có thể tích trữ lại nhờ các vật liệu hấp phụ như ống nano cacbon (carbon nanotube), hoặc dưới dạng hyđrua kim loại, như kim loại magiê (Mg), natri (Na), lithi (Li), canxi (Ca), nhôm (Al), bo (B), hoặc dưới dạng hyđrô nén dưới áp suất cao. Điện năng sản xuất ra ban ngày có thể sử dụng trực tiếp, hoặc có thể tích trữ lại trong các ắc quy hoặc pin tái nạp điện (rechargable battery) như pin Li-ion, pin Li-polyme.  Vào ban đêm, hoặc khi gặp thời tiết xấu, không có ánh nắng mặt trời, vẫn có thể sản xuất điện bằng hệ thống pin nhiên liệu hyđrô nhờ có hyđrô đã tích giữ lại trong vật liệu hấp thụ như ống nano cacbon (carbon nanotube), hoặc dưới dạng hyđrua kim loại, như kim loại magiê (Mg), natri (Na), lithi (Li), canxi (Ca), nhôm (Al), bo (B), hoặc dưới dạng hyđrô nén dưới áp suất cao. Mặt khác, vào ban đêm hoặc khi gặp thời tiết xấu, không có ánh nắng mặt trời cũng có thể sản xuất hyđrô bằng con đường điện phân nhờ điện mặt trời đã tích trữ được trong ắc quy hoặc pin tái nạp điện như pin Li-ion, pin Li-polyme (theo các quá trình thể hiện ở cạnh đáy tam giác năng lượng).  Kết luận  Ở các nước châu Á, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan… đều có chương trình nghiên cứu phục vụ cho nền kinh tế hyđrô tương lai.  Còn ở nước ta, nói đến nền kinh tế hyđrô có vẻ vẫn còn xa lạ và phù phiếm. Nhà nước không có chương trình quốc gia trọng điểm nào liên quan đến việc chuẩn bị cho thời kỳ “hậu hóa thạch” có lẽ nghĩ rằng nước ta đồi dào tài nguyên dầu, khí và than đá. Trong khi đó, xu hướng lựa chọn nguồn năng lượng hạt nhân để phát triển thành nguồn năng lượng chủ đạo của nước ta trong vài thập kỷ tới đang được đề cập khá nhiều. Theo TS Đinh Hữu Đức, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty American Technologies, Inc (ATI), nguyên Giám đốc điều hành nhà máy điện nguyên tử Water Ford III, bang Louisiana (Mỹ)  cho rằng, trong 20 năm tới Việt Nam phải cần ít nhất 20 nhà máy điện nguyên tử mới bảo đảm đủ điện năng cho phát triển kinh tế, và đây là thời cơ vàng cho Điện nguyên tử Việt Nam (báo Nhân Dân điện tử ngày 8-8-2007) ! Thật khó hình dung tính khả thi của chương trình điện nguyên tử như vậy, nếu biết rằng vốn đầu tư cho nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam công suất 2.000 MW khoảng trên 4 tỷ USD và phải xây dựng trong vòng 13-15 năm nếu đúng tiến độ. Không lẽ chúng ta đứng ngoài cuộc chơi của thế giới trong vấn đề này?     Nếu với mức khai thác và sử dụng hàng năm như hiện nay: dầu mỏ 5,5 GTCE/năm (Giga Tonnes Coal Equivalent), khí thiên nhiên 3,0 GTCE/năm, than đá 4,1 GTCE/năm thì lượng tài nguyên hóa thạch còn lại chỉ đủ dùng cho 42 năm đối với dầu mỏ, 65 năm đối với khí thiên nhiên và 170 năm đối với than đá. Mặt khác, nhu cầu năng lượng bao giờ năm sau cũng tăng hơn năm trước nên thời gian còn lại để khai thác và sử dụng các tài nguyên hóa thạch sẽ còn ngắn hơn các con số dự báo trên đây, và như vậy sự cạn kiệt tài nguyên hóa thạch ở thế kỷ này là một điều khẳng định.  Hyđrô được sản xuất từ nước và năng lượng mặt trời. Nước và ánh nắng mặt trời có vô tận và khắp nơi trên hành tinh, năng lượng mặt trời được thiên nhiên ban cho hào phóng và vĩnh hằng, khoảng 3×1024 J/ngày, tức khoảng 104 lần năng lượng toàn thế giới tiêu thụ hàng năm. Vì vậy, hyđrô nhờ năng lượng mặt trời là nguồn nhiên liệu vô tận, sử dụng từ thế kỷ này qua thế kỷ khác bảo đảm an toàn năng lượng cho loài người mà không sợ cạn kiệt, không thể có khủng hoảng năng lượng và bảo đảm độc lập về năng lượng cho mỗi quốc gia, không một quốc gia nào độc quyền sở hữu hoặc tranh giành nguồn năng lượng hyđrô như đã từng xảy ra với năng lượng hóa thạch.    Đặc điểm quan trọng của hyđrô là trong phân tử không chứa bất cứ nguyên tố hóa học nào khác, như cacbon (C), lưu huỳnh (S), nitơ (N) nên sản phẩm cháy của chúng chỉ là nước (H2O), được gọi là nhiên liệu sạch lý tưởng.                  Hyđrô thay xăng dầu cho các phương tiện giao thông, vận tải  Các động cơ đốt trong của các phương tiện giao thông vận tải chạy bằng nhiên liệu hyđrô sẽ không xả ra khí thải độc hại như CO2, CO, SOx, NOx, không bụi cacbon, không làm ô nhiễm bầu không khí chúng ta đang sống, không tạo ra hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu toàn cầu, nghĩa là sẽ không phải trả giá như khi sử dụng nhiên liệu xăng dầu hiện nay. Hiện đã có nhiều mẫu xe chạy bằng hyđrô (hydrogen car) và xe kết hợp giữa động cơ đốt trong bằng hydrô và động cơ điện có tên gọi xe ghép lai (hybrid car) được gọi chung là dòng xe hoàn toàn không có khói xả (Zero Emission Vehicle – ZEV)  của các hãng ô tô nổi tiếng như Honda, Ford, Mercedes-Benz,.. trưng bày giới thiệu trong các cuộc triển lãm quốc tế về ô tô. Nhật tuyên bố ngay trong năm 2008 các thế hệ xe không có khói xả ZEV sẽ ra đời và thương mại hóa.                                      Hyđrô thay xăng dầu trong sản xuất điện năng  Hyđrô còn được sử dụng để sản xuất điện, thực hiện trong các pin nhiên liệu (Fuel Cell). Pin nhiên liệu hoạt động theo nguyên lý ngược với quá trình sản xuất hyđrô, nghĩa là nếu với nguyên liệu là nước, khi được cung cấp một năng lượng cần thiết sẽ xảy ra quá trình tạo ra hyđrô và ôxy, thì ngược lại, nếu cho hyđrô và ôxy kết hợp lại trong điều kiện nhất định sẽ thu được nước và một năng lượng tương ứng, đó là điện năng. Khác với các loại pin thông thường là một hệ kín, nghĩa là chỉ sử dụng một thời gian điện năng sẽ giảm dân đi đến ngưng hẳn, pin nhiên liệu là một hệ mở, khi  hyđrô và ôxy được cấp vào liên tục thì nước và điện sẽ sinh ra liên tục với cường độ không đổi, kéo dài bao lâu cũng được tuỳ theo sự cung cấp hyđrô và ôxy vào hệ. Điều này đã làm cho pin nhiên liệu đóng vai trò như một máy sản xuất điện thực thụ với nguyên liệu đầu vào là hyđrô và ôxy không khí, chất thải ra chỉ là nước.  Sản xuất điện bằng pin nhiên liệu hyđrô sẽ không cần máy phát điện, không cần những tuốc bin đồ sộ, không có cả những cơ cấu chuyển động, không có tiếng ồn, không khói xả. Điện từ các pin nhiên liệu hyđrô có thể sản xuất mọi nơi, mọi công suất từ vài watt cho đến hàng trăm kilowatt hoặc hàng trăm megawatt cho mọi nhu cầu. Vì vậy, rất thích hợp để xây dựng các trạm phát điện cho các vùng sâu, vùng xa, hoặc trạm điện độc lập tự cung cấp cho các thành phố, các cao ốc mà không cần đến nguồn điện lưới từ trung tâm cung cấp phân phối điện quốc gia. Người tiêu thụ cũng có thể là người tự sản xuất được điện mà không cần những nhà máy điện đồ sộ, công suất lớn như các nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch. Sản xuất điện bằng pin nhiên liệu hyđrô đã phá thế độc quyền cũng như phá chế độ tập trung trong việc sản xuất và phân phối điện do nền kinh tế hóa thạch đã tạo ra.      Trần Mạnh Trí      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền toán học Pháp sẽ giữ vững vị trí tiên phong      Hoàn thành luận án tiến sĩ với kết quả xuất sắc chỉ trong hai năm, rồi&#160;trở thành giáo sư đại học Pháp năm 2005 khi mới 32 tuổi, GS Đinh Tiến Cường đã có thời gian dài gắn bó với nền toán học của quốc gia có nhiều giải thưởng Fields này. Hiện GS Đinh Tiến Cường đang nghiên cứu và giảng dạy tại Viện toán học Jussieu (Institut de Mathématiques de Jussieu)– đại học Paris 6, một trong những trung tâm toán học uy tín trên thế giới.&#160;  Khi được hỏi, “Vì sao gần đây một số nhà toán học Pháp than phiền về việc cộng đồng toán học Pháp có nguy cơ thu nhỏ lại?”, anh cho biết:    Trước hết sinh viên theo học ngành Toán có thể chia làm 3 thành phần. Một số ít sinh viên sẽ đi sâu vào chuyên ngành này. Sau khi ra trường họ sẽ làm việc tại các viện khoa học và các trường đại học. Số sinh viên này có giảm sút nhưng điều đáng lo ngại nhất là chất lượng cũng giảm sút rõ rệt. Một số lượng sinh viên lớn hơn theo học để thi trở thành giáo viên của các trường phổ thông. Chất lượng của các sinh viên này cũng giảm sút và đây là điều đáng lo ngại cho tương lai của ngành giáo dục phổ thông cũng như đại học. Một phần lớn các sinh viên khác sẽ làm việc cho ngành công nghiệp. Số lượng các sinh viên này đang giảm nhiều trong những năm gần đây.  Theo quan sát của anh, đâu là lý do của hiện tượng này?   Theo tôi có hai lý do chính. Trước hết trong xã hội Pháp ngày nay giáo viên và giảng viên đại học không được coi trọng như trước đây cả về phương diện tinh thần cũng như tài chính. Thiếu vắng các giáo viên giỏi sẽ là một thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ học sinh và sinh viên. Có nhiều sáng kiến để cải thiện tình hình song tôi nghĩ rằng điều căn bản vẫn là tăng lương đáng kể cho các giáo viên phổ thông và các phó giáo sư trẻ. Khủng khoảng kinh tế hiện nay chắc chắn sẽ là một cản trở lớn.   Lý do thứ hai là song song với hệ thống đại học còn có một hệ thống các trường lớn (Grandes Ecoles). Đây là điểm đặc biệt trong ngành giáo dục của Pháp. Khác với các đại học, các trường lớn đào tạo sinh viên gần với nhu cầu của thị trường lao động hơn. Sinh viên các trường lớn sau khi tốt nghiệp tìm việc làm để dễ dàng hơn các sinh viên tốt nghiệp đại học. Phần lớn những người thành đạt trong các ngành công nghiệp cũng xuất thân từ các trường lớn, họ có thiện cảm hơn với các trường lớn và điều này ít nhiều làm giảm đi giá trị của bằng đại học trên thị trường lao động.    Theo quan điểm của tôi, việc giảng dạy Toán học trong các trường đại học cần phải cải tổ để thích hợp với cả ba đối tượng trên. Công việc này cần có thời gian song tôi nghĩ đây không phải là công việc quá khó. Một số chương trình cao học như Toán tài chính đã gặt hái được những thành công ngoạn mục trong những năm gần đây. Nhiều đồng nghiệp của tôi tương đối lạc quan và cho rằng sinh viên theo học Toán sẽ đông trở lại vì đây là một chuyên ngành thực sự cần thiết cho các ngành công nghiệp. Những sinh viên tốt nghiệp khoa Toán, ngay cả khi không sử dụng trực tiếp được kiến thức của họ thì tư duy logic, khả năng sắp xếp tổ chức cũng như khả năng học hỏi khiến cho họ thích ứng nhanh và phát triển tốt trong nhiều ngành nghề khác nhau.    Cuối cùng, để có thể nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, ngoài việc chất lượng sinh viên giảm sút như tôi đã nêu ở trên, có một điều lo ngại khác cho nền Toán học Pháp. Trước đây, trong một thời gian dài các trường đại học đã không tuyển thêm giáo sư và phó giáo sư. Hậu quả là sắp tới sẽ có rất ít người về hưu, và như vậy sẽ có ít các xuất phó giáo sư hay giáo sư mới (các xuất này phần lớn là để thay thế những người đến tuổi về hưu). Nền Toán học Pháp sẽ có một lỗ hổng lớn. Nhưng dù sao nền Toán học Pháp sẽ vẫn giữ vững vị trí tiên phong.    Nhìn bề ngoài có vẻ con đường đến với toán học của nhiều nhà toán học Việt Nam có nhiều điểm chung: đoạt giải toán quốc tế, đi du học và chọn toán để nghiên cứu. Còn anh, anh đến với toán học như thế nào?    Đây cũng là con đường dẫn tôi đến với toán học. Có một điểm khác biệt là khi sang du học ở Odessa (Ukraina), dự định của tôi là theo học ngành tin học. Ở Đại học Tổng hợp Odessa vào đầu những năm 90, ngành tin học còn rất mới mẻ. Khi đó, trường có ít máy vi tính, chủ yếu dành cho các sinh viên năm cuối. Vì vậy mà 3 năm học ở đây tôi không học được nhiều. Khi sang Paris, tôi đã quyết định trở lại học Toán. Sau này khi nhìn lại, tôi cho rằng đây là một quyết định đúng đắn. Nghiên cứu Toán học thích hợp với tôi nhất.  Năm 2005 anh được phong giáo sư đại học Pháp ở tuổi 32. Anh đã đón nhận sự kiện này như thế nào?   Ở Pháp, khi được phong phó giáo sư hoặc giáo sư Toán, chúng tôi thường phải chuyển đi làm việc tại một trường đại học khác. Thông lệ này nhằm tránh các chuyện tiêu cực và giúp cho các khoa Toán được phát triển toàn diện. Nhưng điều này cũng gây nhiều khó khăn cho một số đồng nghiệp của tôi khi phải chuyển cả gia đình đến một thành phố khác. Được phong giáo sư sớm, ngoài chuyện đây là một vinh dự, đã giúp cho chúng tôi sớm ổn định công việc và cuộc sống gia đình. Tuy vậy, tôi không phải là trường hợp ngoại lệ, GS Phạm Huyên, GS Nguyễn Tiến Dũng, GS Ngô Bảo Châu cũng đều được phong giáo sư từ khi còn rất trẻ.  Năm 2007, anh đã  trở thành thành viên của Viện đại học Pháp (Institut Universitaire de France-IUF). Anh được bầu chọn vào IUF như thế nào? Việc trở thành thành viên của IUF mang lại cho anh những thuận lợi gì? Và sức ép?  IUF được thành lập cách đây 20 năm với mục đích tạo điều kiện phát triển các ngành khoa học cao cấp và hợp tác giữa các ngành khoa học. Hàng năm một số ít các nhà khoa học ở Pháp được tuyển chọn làm thành viên mới của IUF. Công việc tuyển  chọn này do một Hội đồng đa quốc gia đảm nhiệm, dựa chủ yếu trên các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, cũng còn có thêm một vài quy định khác, ví dụ như số lượng các thành viên làm việc tại Paris và các vùng phụ cận không được vượt quá 1/3 tổng số thành viên của IUF. Paris là nơi tập trung rất nhiều các nhà khoa học vì thế trở thành thành viên của IUF khó hơn một chút đối với những người đang làm việc tại Paris.   IUF làm nhiều việc để tạo điều kiện nghiên cứu cho các thành viên của mình trong đó có hai chính sách cụ thể là giảm đáng kể số giờ giảng dạy đồng thời cung cấp cho các thành viên một ngân sách để tham gia hay tổ chức các hội nghị, seminar, để mời các cộng tác viên đến làm việc. Song điều quan trọng nhất chính là uy tín của tổ chức này đã giúp cho công việc của chúng tôi thuận lợi hơn.   IUF cũng như tất cả các tổ chức khác ở Pháp không hề gây bất kỳ sức ép nào lên công việc nghiên cứu của các nhà Toán học. Chúng tôi tự lên kế hoạch và tự thực hiện. Đây có lẽ là thuận lợi lớn nhất dành cho các nhà Toán học ở Pháp.    Công việc hiện nay của anh?  Hiện tại tôi công tác chủ yếu tại trường Đại học Paris 6. Công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu. Là thành viên của Viện đại học Pháp, công việc giảng dạy của tôi được giảm nhiều, hiện tôi chỉ đảm nhận một khóa cho sinh viên cao học. Thời gian chủ yếu của tôi dành cho nghiên cứu. Ngoài ra tôi còn tham gia tổ chức chương trình cao học, tổ chức seminar, hội nghị, giảng dạy cho Đại học Bách khoa Paris và làm việc cho các hội động khoa học hay các tạp chí Toán học.  Học ở Ukraina một thời gian rồi qua Pháp học, hơn 10 năm tạo dựng sự nghiệp khoa học ở nước ngoài, anh thấy con đường mình đã đi qua như thế nào? Có gian nan hơn những đồng nghiệp khác?    Khi sang Paris, tôi đã phải làm việc nhiều hơn các đồng nghiệp khác để bù lại 3 năm ở Odessa mà tôi đã học hỏi được rất ít. Được học tập và làm việc tại Paris là một thuận lợi lớn trong sự nghiệp của tôi, vì Paris là nơi tập trung nhiều nhà Toán học nhất thế giới. Công việc của giới nghiên cứu thì không bao giờ hết và con đường khoa học vẫn luôn luôn là một con đường gian nan.   Những mối quan tâm khác của anh ngoài toán học?   Tôi rất quan tâm đến việc đào tạo các nhà khoa học và đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam không chỉ riêng trong chuyên ngành Toán. Đóng góp của tôi trong lĩnh vực này còn rất khiêm tốn do công việc bên Pháp đã chiếm hầu hết thời gian của tôi. Tôi hy vọng trong tương lai sẽ dành được thời gian để có thể chia sẻ nhiều hơn với các đồng nghiệp trong nước công việc quan trọng này.        GS Đinh Tiến Cường  Đoạt giải nhất Olympic toán quốc tế năm 1989              Sang Odessa, Ukraina học năm 1990              Hoàn thành chương trình cử nhân năm 1994 tại Paris              Lấy bằng thạc sĩ năm 1995              Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1997              Trở thành Giáo sư đại học năm  2005              Là thành viên của Viện đại học Pháp năm 2007              Lĩnh vực nghiên cứu:  Hệ động lực, Giải tích và Hình học phức                Author                Quản trị        
__label__tiasang Nenad Sestan: Người khởi động lại bộ não      Nenad Sestan, nhà khoa học thần kinh người Mỹ đã thách thức những định nghĩa về sự sống và cái chết khi hồi sinh não lợn bị cắt rời khỏi cơ thể.      Nenad Sestan. Ảnh: Nature  Vào một buổi chiều năm 2016, khi tiến sĩ Nenad Sestan đang làm việc trong văn phòng của mình, ông nghe thấy hai thành viên ở phòng thí nghiệm đối diện cười phấn khích khi quan sát kính hiển vi. “Tôi biết rằng điều gì đó đã xảy ra – một cái gì đó vượt ngoài sự mong đợi”, Sestan chia sẻ. Quả thực vậy, các nhà nghiên cứu tại trường Y khoa Đại học Yale (Mỹ) đã tìm thấy tín hiệu hoạt động điện vô mạch (electrical activity) trong não lợn chết.    Nhóm nghiên cứu đã cẩn thận tách bộ não lợn ngay sau khi chết, truyền oxy cùng chất bảo quản lạnh cho chúng. Bằng cách này, ít nhất bộ não đã hồi sinh một phần. Với kết quả gây sốc này, tiến sĩ Sestan nhận ra rằng dự án phụ để tìm cách bảo tồn mô não nghiên cứu tốt hơn đã trở thành một phám phá có khả năng định hình lại hiểu biết của nhân loại về sự sống và cái chết.  Sự phấn khích nhanh chóng chuyển thành lo lắng khi các nhà nhiên cứu nhìn thấy các hoạt động điện não liên kết trên diện rộng – loại tín hiệu có thể chỉ ra sự tồn tại của ý thức. Sestan đã nhanh chóng mời một nhà thần kinh học tới và xác định được rằng biểu đồ hiển thị đó chỉ là lỗi. Nhưng khả năng xuất hiện ý thức não đã khiến nhóm nghiên cứu cảm thấy hoảng sợ. Sestan giữ bình tĩnh và ngay lập tức dừng thí nghiệm, đồng thời liên lạc với đơn vị tài trợ cho nghiên cứu này là Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) và gọi đến một nhà nghiên cứu đạo đức sinh học của đại học Yale.  Trong vòng vài tháng, các chuyên gia đã miệt mài nghiên cứu về những vấn đề đạo đức tiềm tàng, chẳng hạn liệu bộ não có ý thức trở lại và liệu các bác sĩ có cần xem xét lại định nghĩa về chết não hay không. Sestan đã lường trước các câu hỏi đạo đức và áp dụng một số biện pháp bảo vệ. Trước khi bắt đầu thí nghiệm, nhóm nghiên cứu quyết định gây mê não bằng các loại thuốc ngăn chặn không cho tế bào thần kinh bắn ra tín hiệu điện đồng thời.  Nhưng nhìn chung, kỳ tích này tạo ra nhiều hứng thú hơn là lo ngại. Kết quả của Sestan cho thấy việc thiếu hụt oxy xảy ra trong cơn đột quỵ hoặc chấn thương nghiêm trọng sẽ không gây hại cho tế bào não đến mức như chúng ta nghĩ trước đây. Anna Devor, kỹ sư y sinh tại Đại học Boston (Mỹ) nhận xét: “Điều này có ý nghĩa rất quan trọng. Có những thứ chúng ta đã bỏ qua bởi không ai thực sự nghĩ rằng nó có khả năng xảy ra”.    Não có thể hồi sinh trở lại và có dấu hiệu của ý thức là điều mà các nhà khoa học chưa từng nghĩ tới trước đây. Ảnh: The Atlantic.  Khi nhóm nghiên tự tin rằng thí nghiệm này hợp lý về mặt đạo đức, họ đã quay lại tiếp tục công việc và gửi bài báo khoa học lên tạp chí Nature. Tuy nhiên, trước khi bài báo xuất bản, Sestan đã trình bày dữ liệu tại một cuộc họp công khai của NIH về đạo đức thần kinh học. Bất chấp sự phản đối của ông, câu chuyện đã xuất hiện trên báo chí. Sestan thừa nhận rằng ông thấy thích thú với một số tiêu đề giật gân, gán tên cho dự án là ‘Frankenswine’ và ‘Aporkalypse’; nhưng ông bị choáng váng vì những ngầm ý cho rằng các nhà nghiên cứu đang tạo ra một kĩ thuật bất tử hay lưu trữ một phòng toàn chai lọ chứa bộ não sống.  Bản thân ông và cộng sự đều không muốn thảo luận về kết quả cho đến khi bài báo được xuất bản. Khi hộp thư của họ chứa đầy những lời lẽ quan ngại hoặc mắng nhiếc từ các nhà hoạt động vì quyền động vật hay những người theo chủ nghĩa vị lai, Sestan đã cảm thấy chán nản buồn rầu: “Chúng tôi thực sự rất lo lắng”. Ông thấy rằng rằng tất cả những gì nhóm có thể làm là trì hoãn việc cải chính hiểu lầm của công chúng cho đến khi quá trình bình duyệt xong xuôi.  Kể từ khi bài báo được xuất bản vào tháng 4/2019 (Z. Vrselja Nature 568, 336–343; 2019), nhóm nghiên cứu phải bận rộn giải đáp thắc mắc từ giới truyền thông và các nhà khoa học đến mức họ không thể thực hiện thêm bất kỳ thí nghiệm nào. Sestan muốn tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu ban đầu để khám phá xem, ví dụ, bộ não có thể được duy trì trong bao lâu, và công nghệ này có thể bảo tồn các cơ quan khác để ghép tạng không. Từ giờ trở đi, chuỗi nghiên cứu của Sestan sẽ do ủy ban quyết định. Ông nói, “Chúng tôi muốn có ý kiến ngoài trước khi làm bất cứ điều gì. Khi ta khám phá những vùng đất chưa được khai mở, ta phải rất, rất cẩn trọng”  Ngô Hà dịch  https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nét mới trong an toàn hạt nhân ở Mỹ (Kỳ I)      Những thông tin về an toàn hạt nhân ở Mỹ chứa nhiều điều bổ ích cho công cuộc thiết lập chương trình phát triển năng lượng hạt nhân của Việt Nam.&#160;  &#160;    An toàn hạt nhân ở Mỹ được bảo đảm bởi NRC (Nuclear Regulatory Commission – Cơ quan pháp quy hạt nhân). NRC giám sát tất cả nhà máy điện hạt nhân và vật liệu hạt nhân trừ những nhà máy điện hạt nhân và vật liệu hạt nhân nằm trực tiếp dưới sự điều hành của chính phủ Mỹ cũng như những bộ phận hạt nhân trong các tàu chiến.  Tai nạn Three Mile Island (TMI) năm 1979 là một sự kiện có tính bản lề đặt ra nhiều câu hỏi về an toàn hạt nhân của bản thân nước Mỹ. Các sự cố trước đó như cháy tại nhà máy điện hạt nhân Browns Ferry năm 1975, trục trặc hệ thống bảo vệ động đất tại nhà máy điện hạt nhân Diablo Canyon năm 1981 cũng đã gây nhiều lo ngại về an toàn hạt nhân. Các sự kiện này vốn được thông tin rộng rãi ít nhiều gây xói mòn sự ủng hộ của quần chúng đối với nền kỹ nghệ hạt nhân Mỹ trong những năm 1970 và 1980.  Tai nạn hạt nhân tại Fukushima Daiichi lại càng đặt vấn đề an toàn hạt nhân lên hàng đầu các mối quan tâm của giới khoa học và của quần chúng Mỹ. Người ta chú ý nhiều đến vấn đề các bể chứa tại chỗ các nhiên liệu đã cháy và sự nâng cấp thiết kế các mối đe dọa nguy hiểm đối với nhà máy điện hạt nhân. Cần thanh sát cẩn thận hơn 60/104 nhà máy hiện vận hành.  Sự lưu trữ tại chỗ và những nơi chôn cất địa chất các nhiên liệu đã cháy được xét lại hoàn toàn dưới nhiều quan điểm mới sau tai nạn Fukushima.  Tháng 10/2011, NRC đưa ra nhiều khuyến cáo nhằm nâng cao khả năng chống đỡ của nhà máy điện hạt nhân đối với sự cố mất điện hoàn toàn, sóng thần và động đất.  Các vấn đề của an toàn hạt nhân    ·    Nghiên cứu và phân tích khả năng tiềm ẩn các sự cố tại các nhà máy điện hạt nhân,  ·    Thiết bị và quy trình chống chọi lại các sự cố,  ·    Hành động nhằm giảm thiểu các hệ quả,  ·    Tính toán xác suất các sự cố,  ·    Đánh giá thời gian và mức độ các hệ quả,  ·    Bảo vệ công chúng khi có rò rỉ phóng xạ,  ·    Tập huấn và diễn tập cán bộ sẵn sàng cho các sự cố.   Theo báo cáo của NRC hơn ¼ các nhà máy điện hạt nhân ở Mỹ ít am hiểu tường tận các khuyến cáo về bảo đảm thiết bị cho an toàn hạt nhân. Tháng 2/2011, một chuyên gia thiết kế có đưa ra một báo cáo về tính ngẫu nhiên quan trọng về an toàn (substantial safety hazard) đối với những thanh điều khiển tại hơn một chục lò phản ứng trên nước Mỹ.   Công ty GE Hitachi năng lượng hạt nhân đã tìm ra hiện tượng nứt mạnh (extensive cracking) và biến dạng xoắn vật liệu (material distortion) của các thanh điều khiển do công ty sản xuất trong các lò phản ứng nước sôi và khuyến cáo cần thay thế thường xuyên hơn các thanh đó.  Tai nạn Fukushima đã đặt mạnh vấn đề lưu trữ thanh nhiên liệu đã cháy. Tháng 3/2011 các chuyên gia hạt nhân đã cảnh báo rằng các bể lưu trữ nhiên liệu tại các nhà máy điện hạt nhân của Mỹ gần như quá đầy rồi. Một vụ cháy tại bể chứa sẽ làm thoát cesium – 137. Chính sách lưu trữ nhiên liệu đã cháy của Mỹ cần được xét lại toàn bộ sau sự kiện Fukushima.  Sau khi địa điểm chôn cất Yucca Mountain ở Nevada bị loại bỏ thì bả thãi hạt nhân được đóng trong các thùng kim loại chứa khí trơ và được chuyển đến những vùng ven biển, ven hồ. Người ta hy vọng các thùng chứa sẽ tồn tại trong vòng 100 năm song hiện tượng nứt do ăn mòn tại những vùng đó làm các thùng chứa chỉ còn đủ độ bền trong khoảng 30 năm. Theo chuyên gia Robert Alvarez, các thùng chứa này không thể bảo đảm lâu dài mà cần phải xây dựng những địa điểm chôn cất vĩnh viễn và cần tới vài thập kỷ để xử lý thấu đáo vấn đề này.  Tại các địa điểm Main Yankee, Connecticut và Rancho Seco, các lò phản ứng không còn hoạt động nữa thì các nhiên liệu đã cháy được lưu trữ trong những tháp (silo) bê tông và sắt và đòi hỏi được canh giữ bởi một lực lượng bảo vệ.   Nếu không có một chính sách an toàn lâu dài thì sự hồi sinh năng lượng hạt nhân tại Mỹ sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn. Chín bang tại Mỹ đã có khuyến cáo dừng (moratoria) năng lượng hạt nhân nếu giải pháp lưu trữ bã thải chưa được giải quyết.   Nhiều chuyên gia ủng hộ hạt nhân lại cho rằng, Mỹ có thể tái chế các nhiên liệu đã sử dụng. Song hội đồng Blue Ribbon trong năm 2012 cho rằng hiện tại chưa có một công nghệ thích hợp để tái chế khi xét đến kinh phí phải bỏ ra.  Động đất   Tại Mỹ có 1/3 lò phản ứng là lò nước sôi (cùng công nghệ như lò phản ứng ở Fukushima) và có tám nhà máy điện hạt nhân xây dựng tại những địa điểm có nguy cơ động đất ở bờ biển phía tây. 12 lò phản ứng có độ tuổi như Fukushima đang nằm trên các địa điểm có hoạt động động đất.    Diablo Canyon là một trong những nhà máy điện hạt nhân  của Mỹ có thể chịu được động đất.    Các nhà máy điện hạt nhân của Mỹ vẫn có thể chịu động đất diễn ra sau đó 50 năm là là: Diablo Canyon, Calif.; San Onofre, Calif.; Sequoyah, Tenn.; H.B. Robinson, SC.; Watts Bar, Tenn.; Virgil C. Summer, SC.; Vogtle, GA.; Indian Point, NY.; Oconee, SC.;  Seabrook, NH.  Tuổi thọ các lò phản ứng  Một vấn đề quan trọng phải chú ý đến là tuổi thọ các lò phản ứng. Phải nhờ đến các chuyên viên Đại học quốc gia Pennsylvania sử dụng sóng siêu âm để tìm những vết nứt và các hư hỏng khác trong các bộ phận kim loại chịu sức nóng. Những hư hỏng vi mô này (microscale) đều dẫn đến những vết nứt quan trọng.   Các nguy cơ từ nước sông và biển   Nhà máy điện hạt nhân Fort Calhoun Nuclear Generating Station năm 2011 bị nước sông Missouri tràn vào năm 2011. Năm 2012 các chuyên gia Larry Criscione và Richard H. Perkins công khai buộc tội NRC về thái độ xem thấp các nguy cơ gây nên bởi nước tràn từ các đập và hồ. Nhiều chuyên gia khác đã ủng hộ lời cáo buộc này.  Các quy trình   Tại Mỹ việc cấp chứng chỉ vận hành được thực hiện bởi chính phủ Mỹ và mang tính pháp lý. Bản báo cáo cuối cùng về phân tích an toàn FSAR (Final Safety Analysis Report) là một công đoạn trong việc cấp chứng chỉ. Chương về các đặc điểm kỹ thuật (TS-Technical Specifications) là một phần của FSAR.Các quy trình đều nhằm kiểm tra TS.Tại Mỹ đối với các nhà máy điện hạt nhân (không giống như đối với các kỹ nghệ khác) các quy trình trên đều mang tính pháp luật và sự vi phạm chúng đều bị buộc tội hình sự.  Các sự cố thiết kế cơ bản (DBE-Design Basis Events)  DBE được định nghĩa là các điều kiện cần phải có cho vận hành bình thường, bao gồm những sự cố vận hành có thể tiên liệu, những tai nạn thiết kế cơ bản (design basis accidents) và các hiện tượng tự nhiên nhằm:  a/  Bảo đảm sự toàn vẹn của LPƯ,  b/  Duy trì khả năng đóng lò và giữ lò an toàn trong điều kiện lò đóng ,  c/  Bảo đảm khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu các hệ quả tai nạn khi có phóng xạ thất thoát ra ngoài nhà máy.  Sự cố quan trọng DBE là tai nạn LOCA ( Loss of Coolant-tai nạn mất nước).  Tai nạn Fukushima  đã xảy ra ngoài DBE. Động đất và sóng thần đã lớn hơn mức thiết kế. Sóng thần đã vượt qua tường chắn sóng. Như vậy những khả năng không tiên liệu nổi ngoài DBE là một sự lo lắng chính cho các nhà máy điện hạt nhânN.  Sự phản biện  Tại Mỹ có rất nhiều kỹ sư hạt nhân được khuyến khích đứng ra phản biện về an toàn các nhà máy điện hạt nhânN. Năm 1976 các chuyên gia Gregory Minor, Richard Hubbard và Dale Bridenbaugh đã “thổi còi” báo động về an toàn các nhà máy điện hạt nhân. Ba kỹ sư này đã gây chú ý của giới báo chí và các phản biện công khai của họ về nguy cơ an toàn đã gây được một mối đồng tình rộng rãi.  Nhiều cán bộ tại các nhà máy điện hạt nhân đã thổi còi về tính an toàn tại các nhà máy họ làm việc mà không sợ nguy cơ mất việc làm. (còn tiếp)    Cao Chi– Hoàng Tô  Nguồn: Wikipedia       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nét mới trong an toàn hạt nhân ở Mỹ (Kỳ II)      Cơ quan NRC (Nuclear Regulatory Commission – Cơ quan pháp quy hạt nhân) đã thực hiện nhiều phân tích về các nguy cơ của năng lượng hạt nhân: một phân tích cuối cùng được gọi là “tất cả – trong – một” có tên SOARCA (State of the Art Consequence Analyses) đang hình thành.   &#160;    NRC đánh giá các mối hiểm nguy   Phân tích mới này của NRC dựa trên cơ sở các kiểm  chứng hiện tại sử dụng PRA (Probabilistic Risk Assessment – Phân tích an  toàn xác suất) và trên cơ sở đánh giá của nhiều cơ quan của chính phủ.   Các nghiên cứu phân tích hiện hữu là:    – NUREG-1150 (1991)  – CRAC-II (1982) (dựa trên WASH)  – WASH-1400 (1975)  – WASH-740 (1957) (chưa sử dụng PRA)  Tập đoàn GE (General Electric) đã tính xác suất tần số nóng chảy tâm lò trên một lò và trên một năm của các thiết kế của mình:  – BWR/4 — 1 × 10–5   – BWR/6 — 1 × 10–6   – ABWR — 2 × 10–7 (hiện hoạt động tại Nhật)  – ESBWR — 3 × 10–8 (trình duyệt thiết kế cuối cùng lên NRC)  Lò AP1000 có tần số là 5.09 × 10–7 trên lò và trên năm, còn lò EPR (European Pressurized Reactor) có tần số là 4 × 10–7 trên lò và năm.  Theo NRC, 20 bang cần có dự trữ potassium iodide (KI) đối với dân chúng sống trong vòng 16 km từ nhà máy điện hạt nhân. Chất iodine là chất phóng xạ thải ra trong các tai nạn của nhà máy điện hạt nhân. Potassium iodide là chất không phóng xạ khi uống vào làm giảm lượng iodine bị hấp thụ vào tuyến giáp. Ngoài ra khi uống KI, KI còn ngăn chặn tuyến giáp hấp thụ tiếp iodine phóng xạ.  Xếp hạng các tai nạn  NRC đã xếp hạng các tai nạn về đại cương như sau :  – Sự cố bất thường, không gây ra vấn đề gì, không có thất thoát phóng xạ,  – Báo động có thể có thất thoát phóng xạ,  – Có nguy cơ tại nhà máy, có trục trặc chức năng nhà máy và cần nghĩ đến bảo vệ dân chúng. Chưa có thất thoát phóng xạ quá mức trừ một vùng sát cạnh nhà máy,  – Nguy cơ toàn bộ, đây là tai nạn nghiêm trọng nhất dẫn đến những hệ quả trầm trọng. Có hư hỏng và nóng chảy tâm lò, phóng xạ thất thoát.  Nhà máy Rocky Flats một nhà máy sản xuất vũ khí của Mỹ ở bang Colorado đã có tai nạn làm thất thoát phóng xạ ra vùng lân cận và làm ô nhiễm khu vực Denver. Plutonium Pu-239 đã phát tán ra ngoài môi trường. FBI (Federal Bureau of Investigation) và EPA (US Environmental Protection Agency) đã ra lệnh đóng của nhà máy Rocky Flats vào năm 1989.  Căn cứ Hanford Site nay đã được tháo dỡ gần hoàn toàn là một tổ hợp sản xuất vũ khí hạt nhân trên sông Columbia bang Washington. Plutonium chế tạo ở đây được sử dụng chế tạo bom nguyên tử đầu tiên thử nghiệm tại Trinity và quả bom có mệnh danh là Fat Man ném xuống Nagasaki. Tại đây trong thời chiến tranh lạnh Mỹ sử dụng 9 LPƯvà 5 căn cứ xử lý tái chế plutonium cho hơn 60.000 vũ khí của kho tàng hạt nhân Mỹ.Sau chiến tranh lạnh tuy việc sản xuất vũ khí đã ngừng song dự án đã để lại hơn 53 triệu galông (200.000 m3) chất thải phóng xạ hoạt độ cao,710.000 m3 chất thải rắn và 520 km2 vùng ô nhiễm. Hanford là căn cứ gây nhiều ô nhiễm và chính quyền Mỹ đang tập trung vào việc làm sạch môi trường ở vùng này.   Cơ sở SL-1 (Stationary Low-Power Reactor Number One), một cơ sở của quân đội Mỹ thử nghiệm lò phản ứng trong sa mạc Idaho- đã bị tai nạn nổ hơi và nóng chảy tâm lò. Nguyên nhân do việc rút không đúng quy tắc an toàn thanh điều khiển trung tâm. Tai nạn này làm 3 nhân viên điều hành chết, làm thoát 80 curie (3,0 TBq) chất iodine-131, 1.100 curie (41 TBq) chất phân hạch.  Three Mile Island (TMI)  Ngày 28 tháng 3/1979, do trục trặc kỹ thuật và sai lầm vận hành (yếu tố con người và giao diện con người-máy tính) dẫn đến LOCA và nóng chảy một phần tâm lò tại nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island ở Pennsylvania.  Chuyên gia Benjamin K.Sovacool năm 2007 ước tính, thiệt hại do TMI gây ra lên đến 2,4 tỷ đô la.  Sự cố TMI là một ví dụ của một tai nạn được đánh giá là “không lường trước được (unexpected), không thấu hiểu được (incomprehensible), không điều khiển được (incontrollable) và không tránh được (unavoidable). Đây là một tai nạn phát sinh từ sự tương tác không tiên liệu được của nhiều hư hỏng kỹ thuật, nhiều sai lầm của con người trong một hệ phức tạp.  Chuyên gia Perrow kết luận rằng sự cố TMI là hệ quả của độ phức tạp quá lớn của một hệ như nhà máy điện hạt nhân. Và một điều phải xảy ra là hệ đó sẽ chịu những tai nạn gọi là “bình thường – normal”. Vậy vấn đề là phải tinh chỉnh và đơn giản hóa thiết kế nếu không muốn từ bỏ công nghệ này.  Những  tai nạn nhỏ và lớn của các nhà máy điện hạt nhân ở Mỹ từ năm 1952 đến 2010 đã gây thiệt hại lên đến nhiều 100 triệu USD về tài sản.  Chernobyl  Các chuyên gia cho rằng một tai nạn kiểu Chernobyl không thể xảy ra ở Mỹ, với trình độ bảo đảm an toàn của Mỹ.  Các áp lực từ Fukushima       Hình 1. A: Nhà máy điện hạt nhân Fukushima              B: sóng thần              C: móng nhà máy điện hạt nhân                D: sóng trung bình                 E: tường chắn sóng  Đến năm 2013, vùng Fukushima vẫn còn phóng xạ cao, hơn 160.000 người di tản vẫn còn sống trong các điều kiện tạm bợ, nhiều vùng đất chưa thể canh tác được. Công việc làm sạch đòi hỏi 40 năm và hàng chục tỷ đô.    Tai nạn ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima khiến Mỹ tăng cường các biện pháp an toàn lên mức cao hơn.    Sau Fukushima, Mỹ tăng cường các biện pháp an toàn đối với quản lý lưu trữ tại chỗ nhiên liệu đã cháy và nâng cao các nguy cơ trong thiết kế cơ sở (design basis). Các chứng chỉ cấp phép cho các nhà máy điện hạt nhân mới (và kéo dài cho những nhà máy điện hạt nhân đang vận hành) đối diện với những yêu cầu ngặt nghèo hơn.  NRC đưa ra nhiều tiêu chuẩn mới nhằm tăng cường khả năng hành xử khi mất điện hoàn toàn, khi có sóng thần và động đất và nói chung khả năng ứng phó với các tai nạn bất thường.  Năm 2012, lúc NRC biểu quyết cho công ty Atlanta-based Southern Co xây dựng thêm 2 lò phản ứng mới tại nhà máy Vogtle, Georgia., chuyên gia Jaczko đã bỏ phiếu chống vì những áp lực từ tai nạn Fukushima.  Kết luận  Qua các thông tin trên chúng ta có thể thấy Mỹ đặc biệt thận trọng trong an toàn hạt nhân. Sự tái hồi hạt nhân tại Mỹ đang đối diện với quá trình nâng cao các tiêu chuẩn an toàn nhất là sau Fukushima. Nhiều chuyên viên Mỹ sẵn sàng vạch rõ và phê phán những chỗ còn yếu trong công nghiệp hạt nhân. Đây là một phong trào tự do được khuyến khích. Nhà máy điện hạt nhân là một hệ vô cùng phức tạp tuy con người đã nắm bắt và điều khiển được công nghệ hạt nhân nhưng nhiều hiệu ứng mới chưa biết hết được, sự hội tụ ngẫu nhiên không tiên đoán được của nhiều hư hỏng kỹ thuật, nhiều sai lầm trong giao diện người – máy không thể tránh khỏi cho nên vấn đề an toàn hạt nhân luôn luôn là vấn đề số một cho các nước phát triển năng lượng hạt nhân. Việt Nam đang bước đầu xây dựng năng lượng hạt nhân cần học tập nhiều vấn đề an toàn của các nước khác, nhất là của Mỹ, quốc gia tiền tiến trong công nghệ hạt nhân.  (Hết)  Cao Chi-Hoàng Tô    Nguồn: Wikipedia       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu có phát tán phóng xạ: Ứng phó theo cách nào?      Việc sống gần một nhà máy điện hạt nhân có khiến người ta thấp thỏm lo âu về nguy cơ sự cố rò rỉ phóng xạ? Dù chỉ lơ lửng đâu đó nhưng băn khoăn này đã đặt ra một vấn đề mà ngành hạt nhân Việt Nam buộc phải đối diện: nếu có thì sẽ ở mức nào và khi đó sẽ ứng phó theo kịch bản nào?      Phòng Thành Cảng, nhà máy điện hạt nhân với công nghệ nội địa hóa của Trung Quốc nằm cách biên giới Việt Nam khoảng 50 km, bắt đầu vận hành từ năm 2018. Nguồn: Reuters  Dường như có một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, khi nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Hào Quang (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) chuẩn bị nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu, đánh giá khả năng phát tán và ảnh hưởng của phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Cảng Phòng Thành và Xương Giang đến Việt Nam” (KC.05/16-20) sau năm năm thực hiện thì cũng là lúc đồng loạt các tờ báo quốc tế như CNN, New York Times, BBC, Reuters, DW, AP…, và sau là Việt Nam, cùng đưa tin về một vụ rò rỉ khí từ nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn (Taishan) ở Giang Môn, Quảng Đông (Trung Quốc). Mặc dù theo đánh giá của các chuyên gia Việt Nam, sự việc này không nghiêm trọng, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh nhưng thông tin mà báo chí đăng tải với nhiều đồn đoán khiến không ít người “giật thột” về khả năng luồng phóng xạ phát tán đến Việt Nam và đặt ra một số câu hỏi trên các trang mạng xã hội “liệu các nhà máy điện hạt nhân gần Việt Nam có đủ an toàn?”, “liệu có phải sơ tán nếu có sự cố xảy ra?”, “phải chuẩn bị gì để ứng phó trước nguy cơ đó?”…    Quả thật, không dễ ngay tắp lự trả lời được các câu hỏi này.    Hãy xét một khía cạnh điển hình của vấn đề. Cũng tương tự như sự lan truyền của các chất ô nhiễm thông thường trong không khí, sự phát tán các nhân phóng xạ từ sự cố ở các nhà máy điện hạt nhân (nếu có) là một dạng bài toán phức tạp, không chỉ chịu ảnh hưởng từ nguồn phát mà còn phụ thuộc vào rất nhiều tham số khí tượng, địa hình, khí quyển… “Về bản chất, ở đây chất nhiễm bẩn trong không khí là chất phóng xạ nên nó có một thuộc tính khác với chất ô nhiễm phi phóng xạ là có sự phân rã theo thời gian trong suốt quá trình vận chuyển. Do đó, các vấn đề liên quan đến đánh giá phát tán chất phóng xạ không bao giờ là bài toán đơn giản”, TS. Nguyễn Hào Quang, chủ nhiệm đề tài, cho biết.    Khó như vậy, nhưng theo TS. Trần Chí Thành (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), một nhà nghiên cứu về an toàn hạt nhân từng có nhiều năm làm việc ở Thụy Điển: “Việc quan trắc phóng xạ, dự báo và đánh giá được phát tán phóng xạ là chuyện chắc chắn chúng ta phải làm. Có như vậy thì mình mới có thể tìm được nghiệm cho bài toán là nếu có sự cố rò rỉ phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân gần Việt Nam thì ứng xử như thế nào”.     Nhưng thôi thúc tìm nghiệm cho bài toán đó không dễ khỏa lấp đi một thực tại: từ trước đến nay dữ liệu từ nguồn phát như vậy không phải là lợi thế của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Đó thực sự là tình huống “bài toán trong bài toán” mà họ cần phải giải quyết trước khi đi tìm đáp án chính.     Không có đủ dữ liệu     Thông thường, việc đánh giá phát tán phóng xạ từ một nhà máy điện hạt nhân đòi hỏi một thông số quan trọng là số hạng nguồn (source terms) – các loại và lượng phóng xạ hoặc vật liệu có khả năng gây nguy hiểm phát tán ra môi trường sau một tai nạn1. Khi có số hạng nguồn trong tay thì về cơ bản, “nhà nghiên cứu mới có thể đánh giá được đúng mức tổng lượng phóng xạ mà một sự cố hạt nhân có thể tung ra vào môi trường khí quyển. Nhìn chung, người ta thường tính được lượng nhân phóng xạ dựa trên tổng lượng các nhân phóng xạ được tích lũy trong quá trình vận hành của nhà máy điện hạt nhân và nhân lên với hệ số rò rỉ của nó”, TS. Nguyễn Hào Quang giải thích.    Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài lại không có đủ thông tin về số hạng nguồn của Cảng Phòng Thành (Fangchenggang) và Xương Giang (Changjiang), hai nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc gần Việt Nam nhất.    Đây không phải là khó khăn riêng của nhóm nghiên cứu Việt Nam, các đồng nghiệp quốc tế của họ cũng ở tình thế tương tự. Trung Quốc không cởi mở lắm trong việc giới thiệu công nghệ của mình với thế giới. Ngoài những yếu tố thiết kế về nguyên tắc (conceptual design), người ta cũng không biết gì nhiều về công nghệ nội địa hóa của Trung Quốc, cho dù họ đã có chính sách nội địa hóa công nghệ hạt nhân từ những năm 1970. Theo thông tin từ Hiệp hội hạt nhân thế giới (WNA), nơi quy tụ đầy đủ thông tin về hoạt động R&D đến vận hành các nhà máy điện hạt nhân trên thế giới, công nghệ hạt nhân của Trung Quốc được đặt trên nền tảng học hỏi từ Canada, Pháp, Nga, Mỹ và sau đó được nội địa hóa cả về công nghệ và thiết bị. Hai lò phản ứng Cảng Phòng Thành 1 và 2 hiện đang vận hành tại Quảng Tây đều theo công nghệ CPR-1000, một phiên bản sửa đổi và cập nhật từ công nghệ M310 của Pháp với ba nhánh làm mát sơ cấp (tải nhiệt từ lò phản ứng) được nhập khẩu từ những năm 1980. Nó được coi là “lò phản ứng nước áp lực Trung Quốc cải tiến” và thiết kế theo thế hệ 2+, với trang thiết bị và kiểm soát được số hóa và vòng đời 60 năm. Trong khi đó, hai lò phản ứng Xương Giang 1 và 2 hiện đang vận hành trên đảo Hải Nam được thiết kế theo công nghệ CNP-600 với hai nhánh làm mát sơ cấp thuộc thế hệ thứ hai, cũng trên cơ sở công nghệ của Pháp2.  Vậy có thể lấy dữ liệu từ đâu để “thay thế” số hạng nguồn của hai nhà máy này? Giải pháp mà TS. Nguyễn Hào Quang đưa ra là “khi thực hiện đề tài, mình lấy số hạng nguồn của nhà máy Fukushima Nhật Bản. Tất nhiên, số hạng nguồn của từng lò phản ứng phụ thuộc vào công nghệ nhưng tổng lượng các nhân phóng xạ tích lũy trong từng thanh nguyên liệu của các công nghệ khác nhau cũng tương đương nhau nên mình mới thử nghiệm như vậy”.      Các công nhân xây dựng tại nhà máy điện hạt nhân Xương Giang trên đảo Hải Nam, Trung Quốc. Ảnh chụp năm 2015. Nguồn: AP    Song song với quá trình tìm số hạng nguồn, nhóm nghiên cứu làm quen với FLEXPART, một mô hình mã nguồn mở do các nhà nghiên cứu Áo phát triển để mô phỏng quá trình vận chuyển, khuếch tán, lắng đọng khô và ướt, phân rã phóng xạ, các phản ứng hóa học bậc 1 của các chất nhiễm bẩn phát thải từ nguồn. Xảy ra vào năm 2011, sự cố Fukushima đã dẫn tới sự nhiễm bẩn phóng xạ đối với môi trường, sau đó gió mùa và các dòng hải lưu đã vận chuyển các chất phóng xạ đến nhiều nơi của Bắc bán cầu. “Sự cố Fukushima chính là cơ hội để giới khoa học kiểm chứng năng lực của mình về đánh giá phát tán chất phóng xạ bằng nhiều mô hình khác nhau”, TS. Nguyễn Hào Quang nói và cho biết, số hạng nguồn mà anh và cộng sự sử dụng được lấy từ công bố của các nhà nghiên cứu Nhật Bản với số liệu được tinh chỉnh, xuất bản trên Journal of Environmental Radioactivity năm 20193.     Xây dựng các kịch bản sự cố     Sự quan tâm bất ngờ của nhiều người trước tin đồn rò rỉ khí ở nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn cho thấy suy nghĩ của các nhà nghiên cứu khi đề xuất đề tài vào năm 2017 là đúng đắn. Ở góc độ một chuyên gia an toàn hạt nhân, TS. Trần Chí Thành cho rằng, không thể loại trừ 100% khả năng rủi ro cũng như không thể loại trừ sự cố, hỏng hóc nhỏ có thể xảy ra đối với nhà máy điện hạt nhân, cho dù xác suất để xảy ra các sự cố nặng như Fukushima ở mức thấp hơn 10-6, khi đã áp dụng những tiêu chuẩn về an toàn của các công nghệ thế hệ sau. “Về nguyên tắc, mình cần đánh giá tình huống xấu nhất nên những kịch bản Việt Nam chọn theo ba cấp bậc nặng nhất của thang sự cố INES của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) có thể xảy ra và có thể ảnh hưởng đến Việt Nam”, TS. Nguyễn Hào Quang bổ sung.      “Từ kết quả tính toán mô phỏng lan truyền phóng xạ và đánh giá phân bố liều bức xạ đối với các sự cố tai nạn từ Cảng Phòng Thành, có thể thấy chúng ta chưa cần mức can thiệp bảo vệ khẩn cấp như sơ tán, di dời người dân nhưng chúng ta cần phải xác định vùng bị ảnh hưởng – vùng có giá trị suất liều bức xạ đo được hay mật độ rơi lắng của các nhân phóng xạ I-131 và Cs-137 lớn hơn giá trị ngưỡng – để thực hiện các biện pháp can thiệp tương ứng theo hướng dẫn của IAEA và Thông tư 25/2014/TT-BKHCN”. (TS. Nguyễn Hào Quang)      Thông thường trong một tai nạn hạt nhân, những nhân phóng xạ thoát ra đầu tiên khỏi lò phản ứng là khí trơ như Xenon, Krypton, sau đó là các mảnh phân hạch hình thành các mảnh phân hạch như nhân phóng xạ Iodine -131, Caesium – 137, Caesium -134… Nhóm nghiên cứu đã lấy dữ liệu nhân phóng xạ Caesium-137 từ sự cố Fukushima đưa vào FLEXPART để mô phỏng phát tán chất phóng xạ trong môi trường khí quyển. Theo giải thích của TS. Nguyễn Hào Quang, “chúng tôi chọn Caesium-137 bởi tính chất hóa học của Caesium -137 không phức tạp như Iodine -131 và kỹ thuật đo khá dễ dàng và tin cậy hơn. Thông qua việc mô phỏng sự phát tán của Caesium -137, chúng tôi muốn kiểm chứng kết quả có phản ánh đúng diễn tiến của sự cố Fukushima hay không, qua đó mới có thể biết được là mình có khả năng sử dụng phần mềm này tốt hay chưa”.    Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã kiểm chứng khả năng sử dụng mô hình mô phỏng của mình bằng việc so sánh kết quả mô phỏng với dữ liệu biến thiên nồng độ phóng xạ Caesium-137 ở ba trạm quan trắc Futaba, Naraha và Tokai gần Fukushima cũng như dữ liệu về mật độ rơi lắng của Caesium-137 mà Nhật Bản cùng Mỹ thực hiện khi đo đạc vùng nhiễm bẩn phóng xạ trên bề mặt. Kết quả đạt được đúng như mong đợi. “Sau khi khẳng định được năng lực ở mức tương tự như các nhóm khác trên thế giới trong việc sử dụng phần mềm này, mình có đủ tự tin là dùng đúng công cụ và có thể áp dụng nó vào các kịch bản sự cố có khả năng xảy ra ở Phòng Thành, Xương Giang cũng như đánh giá ảnh hưởng sự cố xảy ra ở gần hai nhà máy này”. TS Nguyễn Hào Quang chia sẻ niềm vui chân thành của người làm nghiên cứu.    Từng nút thắt của bài toán được gỡ một cách bài bản như vậy. Với sự hỗ trợ của ba chuyên gia của Viện Vật lý địa cầu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) trong việc xử lý và tính toán các dữ liệu khí tượng, họ sử dụng hệ thống mô hình nghiên cứu và dự báo thời tiết WRF của Mỹ, vốn là mô hình cho phép các nhà nghiên cứu tạo ra các mô phỏng phản ánh được dữ liệu quan sát thực tế hoặc nhận diện được các điều kiện khí quyển. Từ dữ liệu toàn cầu của Cơ quan nghiên cứu Khí quyển và đại dương Mỹ (NOAA) làm đầu vào, “chúng tôi đã tính toán lại dữ liệu khí tượng xung quanh khu vực Phòng Thành Cảng hay Xương Giang, qua đó cho phép chúng tôi tính đến các yếu tố địa hình ở Việt Nam có thể ảnh hưởng lên các dữ liệu về khí tượng, đặc biệt là những tham số khí tượng ảnh hưởng trực tiếp đến phát tán phóng xạ như đường đi của gió, tốc độ gió, mưa…”, TS Nguyễn Hào Quang nói.      Các kịch bản phát tán ô nhiễm được bổ sung nhiều thông số quan trọng, đặc biệt với kịch bản phát tán phóng xạ từ Phòng Thành. Anh cho biết “Chúng tôi tập trung vào Phòng Thành Cảng hơn Xương Giang bởi nếu trong trường hợp xảy ra sự cố thì đây sẽ là nơi ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn, chủ yếu là do thời tiết và địa hình. Xương Giang cách bờ biển Việt Nam tới 200 km, tức là gấp bốn lần con đường từ Phòng Thành Cảng đến biên giới Việt Nam. Khi đi đường dài, phóng xạ cũng bị phân rã, pha loãng đi. Mặt khác, con đường phát tán từ Phòng Thành Cảng sang Việt Nam có địa hình hết sức phức tạp. Chúng ta biết là khi gió vào những vùng có địa hình khác nhau thì hướng của nó cũng thay đổi, do đó đường đi của ô nhiễm cũng thay đổi”.    Để có thể có được cái nhìn toàn diện về các điều kiện khí tượng có thể ảnh hưởng đến con đường lan truyền phóng xạ, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các kịch bản theo 12 tháng trong một năm khí hậu điển hình và một năm có khí hậu cực đoan. Vậy sự cố xảy ra vào thời gian nào thì có nguy cơ ảnh hưởng nhiều nhất đến Việt Nam và ngược lại? “Khi phân tích sâu vào tình huống thời tiết có ảnh hưởng mạnh nhất đến quá trình lan truyền phóng xạ vào Việt Nam, chúng tôi thấy thời điểm ảnh hưởng nhiều nhất là vào những tháng có gió mùa đông bắc khô vào đầu mùa đông, độ ẩm và lượng mưa thấp có thể dẫn đến lượng phóng xạ vận chuyển vào Việt Nam lớn. Tuy nhiên vào mùa hè thì mọi chuyện lại khác. Lúc đầu, chúng tôi nghĩ đến những tình huống khí tượng như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn… có thể làm trầm trọng hơn vấn đề nhưng các hiện tượng như vậy cũng giúp pha loãng ô nhiễm giống như ô nhiễm không khí và thật ra cũng có những cơn bão tốc độ xoáy của nó tập trung vào địa phương, giữ phóng xạ không cho phát tán và tập trung rơi lắng gần nhà máy, do đó không ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam”, anh nói.  Một trong những câu hỏi luôn thường trực là nếu xảy ra sự cố rò rỉ phóng xạ ở hai nhà máy này thì sau bao lâu nó đến Việt Nam và ở lại Việt Nam trong bao lâu? “Qua tính toán kịch bản giả định, chúng tôi thấy là trong điều kiện thời tiết bình thường, sau ba tiếng đồng hồ thì phóng xạ từ Phòng Thành lan truyền đến biên giới Việt Nam còn từ Xương Giang là bảy tiếng. Chúng ta có thời giờ để chuẩn bị ứng phó theo các kịch bản”, TS. Nguyễn Hào Quang trả lời. “Còn việc các phóng xạ này ở lại bao lâu trên lãnh thổ Việt Nam thì nó còn phụ thuộc vào nguồn phát thải, tức là phụ thuộc vào khả năng xử lý của Trung Quốc trong thời điểm xảy ra sự cố (giả định). Ví dụ nếu như nguồn phát đó hoạt động trong vòng hai tiếng thì nguồn phóng xạ đó sẽ đi trên đất Việt Nam từ 24 đến 48 giờ”.     Có thể ứng phó theo cách nào?     Việc sẵn sàng ứng phó với các sự cố rò rỉ hạt nhân từ các nhà máy như Cảng Phòng Thành và Xương Giang hết sức cần thiết với Việt Nam, dù với những công nghệ hạt nhân thế hệ mới, khi xảy ra sự cố, các chất phóng xạ sẽ được giữ lại trong tòa nhà lò (containment), qua đó giảm thiểu được lượng phóng xạ thoát ra ngoài môi trường, TS. Trần Chí Thành nhận xét.    Từ các kịch bản giả định về trường hợp sự cố nặng theo thang sự cố/tai nạn hạt nhân quốc tế (INES), các nhà nghiên cứu đã đề xuất một số phương án ứng phó. Trong điều kiện tồi tệ nhất như sự cố tương tự Fukushima xảy ra ở Phòng Thành Cảng thì ảnh hưởng của phóng xạ có ở hầu khắp các tỉnh ở phía Bắc Việt Nam đến Bắc Trung bộ với những mức độ khác nhau. “Tùy theo những kịch bản cụ thể, thời gian và điều kiện khí tượng cụ thể thì chúng ta mới biết được vùng nào bị ảnh hưởng nhiều nhất, chứ không thể nói là vùng A, B, C là vùng luôn luôn bị ảnh hưởng được”, TS. Nguyễn Hào Quang giải thích.    Điểm may mắn lớn nhất theo anh là ở Việt Nam, hầu như sẽ không ảnh hưởng trực tiếp đến sự vật, con người bởi “từ kết quả tính toán mô phỏng lan truyền phóng xạ và đánh giá phân bố liều bức xạ đối với các sự cố tai nạn từ Cảng Phòng Thành, có thể thấy chúng ta chưa cần đến mức can thiệp bảo vệ khẩn cấp như sơ tán, di dời người dân nhưng chúng ta cần phải xác định vùng bị ảnh hưởng – vùng có giá trị suất liều bức xạ đo được hay mật độ rơi lắng của các nhân phóng xạ I-131 và Cs-137 lớn hơn giá trị ngưỡng – để thực hiện các biện pháp can thiệp tương ứng theo hướng dẫn của IAEA và Thông tư 25/2014/TT-BKHCN”, TS. Nguyễn Hào Quang giải thích. Ví dụ, khi mức suất liều của luồng khí phóng xạ đi qua Việt Nam lớn hơn 1 µSv/h cần phải lập tức dừng tiêu thụ thực phẩm và sữa trong khu vực luồng khí đi qua cho tới khi xác định được chính xác nồng độ các nhân phóng xạ, còn các nhân phóng xạ trong các hàng hóa nông nghiệp nhỏ hơn giới hạn cho phép thì vẫn được phép lưu thông.    Những quyết định ứng phó như vậy luôn luôn phải phụ thuộc vào giá trị đo đạc, quan trắc. Tuy nhiên, anh lưu ý là trong trường hợp sự cố, hiệu ứng tâm lý có thể còn mạnh hơn ảnh hưởng trực tiếp của phóng xạ: “Quan tâm đến thông tin là điều chính đáng của mọi người nhưng chúng ta cần nắm thông tin một cách chính xác để có thể hiểu rõ thông tin, từ đó tránh những thổi phồng không đáng có, dẫn đến hoảng loạn trong xã hội”.    Tình huống này không thực sự xa lạ. Vào tháng 4/2021, quyết định xả hơn một triệu tấn nước đã qua xử lý từ nhà máy Fukushima ra bờ biển phía Đông của Chính phủ Nhật Bản đã làm xôn xao dư luận và dấy lên phản đối của Trung Quốc, Hàn Quốc cũng như các nhà hoạt động môi trường quốc tế. Những phản đối này đã bỏ qua một sự thật: xả nước thải đã qua xử lý là một phần trong chuỗi các hoạt động tiêu chuẩn của mọi nhà máy điện hạt nhân và trong suốt cả một thập kỷ, nước ô nhiễm ở Fukushima đã trải qua quá trình như vậy. Theo Nature, không có bằng chứng nào cho thấy nước đã qua xử lý ở Fukushima tồn tại mức phóng xạ lớn hơn mức nền hiện có trong môi trường. Ông Jordi Vives I Batlle, nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của bức xạ đối với các hệ sinh thái biển tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân của Bỉ, và bà Deborah Oughton, Giám đốc Trung tâm Phóng xạ Môi trường tại Đại học Khoa học Sự sống Na Uy, đều cho biết, việc xử lý đã loại bỏ hầu hết các hạt nhân phóng xạ bao gồm cesium và stronti, và chỉ còn lại triti – chất phát ra liều bức xạ thấp nhất so với bất kỳ hạt nhân phóng xạ nào4.    Vậy có cách nào để mọi người hiểu đúng về thông tin phóng xạ? Cũng như quan điểm của nhà hải dương học và hóa học biển Shigeyoshi Otosaka tại ĐH Tokyo, người từng nghiên cứu các mô hình phân tán hạt nhân phóng xạ Fukushima, là việc truyền đạt thông tin khoa học phải được thực hiện cẩn thận để tránh tạo ra hiểu lầm không đáng có, TS. Nguyễn Hào Quang cho rằng, bên cạnh việc phòng ngừa sự cố và có kế hoạch ứng phó một cách cụ thể, các nhà quản lý cũng phải lên kế hoạch truyền đạt thông tin một cách rộng rãi, rõ ràng và minh bạch để mọi người hiểu đúng bản chất vấn đề, tránh hiểu sai về phóng xạ, có thể dẫn đến khủng hoảng thông tin.  ——  1. https://www.nrc.gov/reading-rm/basic-ref/glossary/source-term.html  2.https://world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-a-f/china-nuclear-power.aspx  3. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0265931X19304473#!  4. https://www.nature.com/articles/d41586-021-01225-2    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nếu Einstein chơi vĩ cầm tốt hơn      “Không có lý thuyết tương đối của Einstein, thế giới sẽ chẳng có gì khác đi cả, cũng giống như thế giới sẽ chẳng có gì khác đi nếu không có Cây sáo thần của Mozart và những bức họa của Monet”.    Đi bộ hàng ngày đến phòng cấp phát pa-tăng, mệt mỏi vì nghĩ ngợi quá nhiều, ông luôn muốn tìm những con đường khác, để tránh phải nhìn thấy tháp đồng hồ và ga tàu, những thứ ấy chỉ cuốn ông vào các suy nghĩ vụn vặt về thời gian và chuyển động. Ông đã tự nói với mình, thôi, tôi sẽ từ bỏ, cứ để cho các nhà vật lý tìm hiểu về vũ trụ, tôi sẽ làm một thư ký, một người cha, một gã bình thường. Hay ho hơn thì tôi sẽ làm một nghệ sỹ vĩ cầm…  …Một trăm năm sau đó, Brad, một nhạc công dở ẹc, một hậu duệ của Einstein, dậy muộn. Brad cố căng mắt ra để nhìn giờ trên đồng hồ, bởi vì không có diode phát quang thì những cái đồng hồ thường không có đèn chiếu sáng. Brad không xem e-mail và cũng không xem thời tiết, vì Internet vẫn còn tậm tịt lắm. Brad quyết định đến nhà chị gái ăn sáng. Giao thông tệ quá, Brad đi đường tắt nhưng lại bị lạc đường, chả biết mình đang chui vào đâu cả. Giá mà có Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) thì tốt quá. Nhưng lấy đâu ra GPS trong một thế giới mà Albert Einstein chuyển sang nghề kéo đàn vĩ cầm?  Ở nhà chị gái, cô cháu gái bất ngờ hỏi Brad: “Mặt trời làm bằng gì hả chú?”. Brad cũng chả rõ lắm, anh trả lời cho qua chuyện: “Bằng sắt, cháu ạ!”. Nhưng thực ra điều đó đã được cả thế giới công nhận là đúng, bởi vì không có công thức E = mc2, nhà thiên văn Anh Cecilia Payne đã không thể kiểm tra lại vào năm 1925 quan niệm cho rằng, mặt trời chủ yếu là sắt chứ không phải hydro.  Trong bếp, chị gái của Brad than vãn về việc để lỡ mất một khoản hời lớn trong buôn bán cổ phiếu. Trong thế giới của chúng ta, thế giới mà Einstein là một nhà vật lý, thì cô ấy có lẽ sẽ có được những quyết sách hợp lý hơn trong việc buôn cổ phiếu. Bởi vì, các phương trình mà ngân hàng sử dụng để tính toán các giải pháp đầu tư tối ưu được lấy từ công trình năm 1905 của Einstein về chuyển động Brown.    Thôi đủ rồi, những thứ đó chỉ là dựa trên một giả thiết thiếu thuyết phục rằng, nếu Einstein không làm vật lý thì sẽ chẳng có ai thay ông đem lại những tiến bộ cách mạng trong khoa học như vậy cả. Các nhà lịch sử khoa học vẫn đồng ý rằng, nếu không có Einstein, những bộ óc khác vẫn có thể làm ra các đồng hồ báo thức kỹ thuật số, Internet băng thông rộng, và GPS, DVD lẫn các cảm biến cho máy ảnh kỹ thuật số. Nhưng đừng vội gỡ chân dung Einstein xuống, cái nhìn của chúng ta về thế giới sẽ không được như bây giờ nếu Einstein chuyển sang kéo vĩ cầm. Ấy chính là chuyện về thuyết tương đối tổng quát, công bố năm 1916. Về đại để, thuyết tương đối tổng quát mô tả cách mà trường hấp dẫn làm méo mó hình dạng của không gian. Các lý thuyết về big bang, lỗ đen, sóng hấp dẫn…đều chui ra từ nó. Nó “siêu phàm” đến mức mà có nhà vật lý đã bảo là, “nó không thể được nghĩ ra bởi bất kỳ ai khác.” Khi Einstein xuất thần nhận ra sự tương đương giữa gia tốc và hấp dẫn, ông đã tìm ra đầu mối cho một chuỗi những ý tưởng để hình thành nên lý thuyết của mình. Nhưng, những bước tiếp theo không phải là dễ dàng, Einstein đã phải học cả một hệ thống toán học hoàn toàn mới – hình học Riemann. Việc phát triển lý thuyết tương đối đã “làm Einstein khổ sở suốt tám năm và tí nữa thì giết chết ông,” nhà vật lý thiên văn Clifford Will ở Đại họcWashington nói.  Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá đã từng cố gắng lần theo những ảnh hưởng của Einstein đối với các lĩnh vực thơ ca và âm nhạc, nhưng họ đã không thu được kết quả. Bản thân nghiên cứu của Einstein đã là một hình thức nghệ thuật. Khi nói về các công trình của ông, các nhà vật lý vẫn thường dùng các từ ngữ như “thanh lịch” và “tao nhã”. John Rigden ở Đại học Washington cho rằng: “Không có lý thuyết tương đối của Einstein, thế giới sẽ chẳng có gì khác đi cả, cũng giống như thế giới sẽ chẳng có gì khác đi nếu không có Cây sáo thần của Mozart và những bức họa của Monet.”  Thanh Nhàn dịch         (Câu chuyện của Gregory Mone)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu hạt Higgs không tồn tại… ?      Sau một v&#224;i trục trặc l&#250;c khởi động , m&#225;y gia tốc khổng lồ LHC đ&#227; bắt đầu t&#237;ch lũy c&#225;c dữ liệu ở những v&#249;ng năng lượng chưa từng c&#243; trước đ&#226;y. Mục ti&#234;u ch&#237;nh : t&#236;m ra hạt Higgs. Hạt boson n&#224;y được đưa v&#224;o l&#253; thuyết năm 1964 hiện đ&#243;ng vai tr&#242; trung t&#226;m trong việc tạo ra khối lượng cho c&#225;c hạt. Song nếu hạt Higgs chỉ l&#224; sản phẩm của tưởng tượng ? Như vậy một mảng lớn c&#225;c l&#253; thuyết hiện đại sẽ sụp đổ v&#224; một v&#249;ng đất mới m&#224;u mỡ cho nhiều giả thuyết hiện ra trước mặt c&#225;c nh&#224; vật l&#253;.    Thế nào là hạt Higgs ?  Hạt Higgs là một boson có spin bằng không, do nhà vật lý Scotland Peter Higgs đưa vào lý thuyết năm 1964. Hạt Higgs sẽ tạo ra khối lượng cho các hạt khác khi tương tác với chúng. Như chúng ta biết Mô hình Chuẩn (SM- Standard Model ) thống nhất  tương tác điện từ và tương tác yếu trong một sơ đồ chung song hạt photon truyền tải tương tác điện từ có khối lượng bằng không trong khi đó các boson W và Z truyền tải tương tác yếu lại có khối lượng rất lớn, như vậy đối xứng điện yếu bị phá vỡ và tác nhân phá vỡ đối xứng đó chính là hạt Higgs. Hạt Higgs được nhà vật lý Leon Lederman, giải Nobel 1988 mệnh danh là hạt của Chúa (particule de Dieu) vì sứ mệnh to lớn của nó là tạo ra khối lượng cần thiết cho các hạt, là trụ cột hạ tầng chống đỡ các lý thuyết hiện hành. Nếu hạt Higgs không tồn tại … ?  Máy gia tốc LHC   (Large Hadron Collider- Máy Va chạm Hadron Lớn)              Hình 1 . Máy gia tốc LHC có đường kính= 8, 6 km, đặt sâu 175 m dưới mặt đất, gồm 5 thiết bị:               1-  máy gia tốc chính LHC và 4 đêtectơ hạt với kích thước lớn có tên sau:              2- CMS (Compact Muon Solenoid),              3- LHCb (LHC nghiên cứu quark beauty-quark đẹp),               4- ATLAS (A Toroidal LHC Apparatus) và               5- ALICE  (A Large Ion Collider Experiment).              Ngoài ra có 2 máy gia tốc cũ cùng phối hợp hoạt động:              SPS = Super Proton Synchrotron              PS=Proton Synchroton          Một tập thể khoa học trên thế giới đã khởi động một thiết bị siêu đại chưa từng có trong lịch sử vật lý: máy LHC sau chín năm xây dựng. Trên hình 1 ta có sơ đồ và vị trí của LHC (gần biên giới Pháp-Thụy Sĩ). Đây là một máy gia tốc có cấu trúc hướng hai chùm hadron (hadron là các hạt nặng) va chạm nhau ở vùng năng lượng tera ( TeV = tera electron-volt= 10 12 eV). Máy LHC sẽ thực hiện một cuộc cách mạng trong vật lý tương lai.     Dự án máy I LC   (International Linear Collider- Máy va chạm thẳng quốc tế)  Ngay trước lúc LHC được khởi động, các nhà vật lý đã có dự án xây dựng tiếp theo một máy gia tốc tên là ILC với độ dài gần 30 km có khả năng thực hiện va chạm của electron và phản hạt positron ở tốc độ gần tốc độ ánh sáng. Mục đích của máy ILC là  giúp các nhà vật lý nghiên cứu tiếp những kết quả khám phá được nhờ LHC.   Hơn 1.600 nhà khoa học từ hơn 300 phòng thí nghiệm và trường Đại học trên thế giới đã cùng hợp tác thiết kế máy ILC. Chi phí cho ILC lên đến 6,7 tỷ USD. Ba địa điểm được chọn để xem xét là: CERN (Geneve), Phòng thí nghiệm quốc gia Fermi (Batavia) và một địa điểm ở Nhật.  Những cuộc cách mạng tiếp đến trong vật lý các hạt cơ bản               Christophe Grojean        Sau đây là những vấn đề lớn mà các nhà vật lý kỳ vọng có được câu trả lời nhờ máy gia tốc LHC (và I LC).   Sự truy tìm hạt Higgs đúng là bài toán bản lề. Nhưng sau bài toán này hàm ẩn nhiều bài toán  khác như: vì sao lực hấp dẫn lại yếu hơn các lực khác nhiều đến thế? vật chất tối là gì ? đâu là bản chất của không thời gian? phải chăng vật chất tối là một loại hạt mới? Và điều đáng chú ý là những vấn đề ấy lại liên quan với nhau và với vấn đề hạt HIGGS. Có thể liệt kê cụ thể hơn các vấn đề:  1) Kiểm tra Mô hình Chuẩn & nghiên cứu điều gì đã phá vỡ đối xứng điện yếu: vấn đề trung tâm là tìm hạt Higgs,  2) Phát hiện các hạt siêu đối xứng: theo lý thuyết siêu đối xứng (SUSY- SuperSymetry) ứng với mỗi hạt fermion có spin bán nguyên tồn tại  một hạt siêu đối xứng boson có spin nguyên và ngược lại. Lý thuyết siêu đối xứng quan trọng cho sơ đồ thống nhất 4 loại tương tác (Franck Wilczek, Nobel Vật lý 2004).   3) Vật chất tối: những hạt WIMPs (Weakly Interacting Massive Particles-những Hạt có Khối lượng Tương tác Yếu với nhau ) là những hạt suy ra từ siêu đối xứng, hạt nhẹ nhất trong các WIMPs là neutralino có thể là ứng viên của vật chất tối chăng?  4) Liệu có tồn tại các chiều dư (extra dimension) của không thời gian ngoài 4 chiều không gian và thời gian thông thường?   Vì sao  các nhà vật lý hồi hộp và lo lắng?  Trong những năm 1960 và 1970 các nhà vật lý lý thuyết đã xây dựng thành công Mô hình Chuẩn (SM) thống nhất các tương tác yếu, điện từ ( và tương tác mạnh), ngoại trừ hấp dẫn. Song nhiều kết quả tính toán trong khuôn khổ SM dẫn đến những đại lượng phân kỳ (lớn vô cùng) không có ý nghĩa vật lý. Ngoài ra muốn SM đứng vững cần sự tồn tại của hạt Higgs để tạo ra khối lượng cho các hạt.  Khoảng 20 nước đã cùng đóng góp nhiều tỷ Euro để xây dựng nên LHC. Liệu LHC có đem lại những kết quả chờ đợi hay không? Hãy xét những khả năng sau:  A / LHC không tìm ra điều gì mới cả,  B/ LHC chỉ phát hiện được hạt Higgs mà thôi, ngoài ra không phát hiện thêm điều gì khác nữa.  C/ LHC không phát hiện được hạt Higgs nhưng phát hiện được các chiều dư của không thời gian.  Một điều đáng ngạc nhiên là các nhà vật lý xem khả năng B lại là một khả năng mang tính tai biến, vì việc tìm ra hạt Higgs tuy là một thắng lợi lớn nhưng nếu ngoài hạt Higgs chúng ta không tìm ra những điều gì khác thì các nhà vật lý sẽ rơi vào một tình huống bế tắc, một điểm chết (point mort) không biết sẽ phát triển vật lý theo phương hướng nào tiếp theo. Cho nên nhiều nhà vật lý cho rằng thà có khả năng A còn hơn là có khả năng B. Nếu khả năng A được thực hiện thì các nhà vật lý sẽ xem vùng năng lượng của LHC là một vùng năng lượng sa mạc hoang vu (ý nói ở đây chưa có hiện tượng vật lý gì mới) và điều này đòi hỏi nhiều tìm tòi thú vị khác ở vùng năng lượng cao hơn. Khả năng C có thể mở đường cho việc giải quyết vấn đề khối lượng các hạt.  Nếu hạt Higgs không tồn tại song tồn tại các chiều dư (extra dimensions) của không thời gian?  Nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng người Anh Stephen Hawking, tác giả cuốn best-seller Lược sử thời gian đã đánh cược 100 USD rằng hạt boson Higgs sẽ không được tìm ra.   Theo ý tưởng chung thì hạt Higgs là một hạt cơ bản (vậy có spin), song hạt Higgs lại không có spin cho nên trước đây các nhà vật lý đã xây dựng lý thuyết đa sắc (technicolor) mô tả hạt Higgs như là một hạt phức hợp (composite) cấu tạo bởi những hạt techniquark (có spin bán nguyên), giống như cặp Cooper trong siêu dẫn cấu tạo bởi hai electron. Đây cũng là một hướng phát triển đã được chú ý.  Song nếu hạt Higgs không tồn tại nhưng tồn tại những chiều dư của không thời gian thì vấn đề khối lượng các hạt có thể giải quyết được, Christophe Grojean (CEA, Saclay & CERN – xem hình 2) đã phát biểu như vậy. Ông đã cùng cộng sự xây dựng một lý thuyết mới có nhiều triển vọng để phát triển SM mà không cần đến sự tồn tại của hạt Higgs [1]&[2].  Lý thuyết của Grojean và nhiều người khác dựa trên các ý tưởng của Theodor Kaluza & Oskar Klein: thay vì thêm một hạt thì chúng ta thêm một chiều dư (extra dimension) của không thời gian. Như vậy Grojean đã đưa thêm một chiều dư thứ năm vào không thời gian thông thường .   Trong công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2,  năng lượng, khối lượng và xung lượng đều là những đại lượng biến đổi qua lại được. Do đó không điều gì ngăn cản chúng ta đoán nhận xung lượng chuyển động của một hạt dọc theo một chiều dư thứ năm như là khối lượng biểu hiện trong không thời gian 4 chiều thông thường. Khối lượng này sẽ được xác định bởi độ dài của chiều dư và các điều kiện biên (BC-Boundary Conditions) tại các biên của chiều dư. Theo nguyên lý của cơ học lượng tử chiều dài và các BC sẽ gây nên một phổ khối lượng. Tương tự như một dây đàn rung động theo các harmonic ấn định bởi chiều dài của dây và các BC, kích thước của chiều dư thứ năm và các BC ấn định các trị số khả dĩ của phổ nói trên. Và lẽ dĩ nhiên các harmonic thấp sẽ tương ứng với các boson W & Z đã biết trong SM. Như thế trong lý thuyết mới sẽ xuất hiện nhiều hạt khác W’, W’’…,Z’, Z’’…( ứng với các harmonic cao hơn) với các đặc trưng tương tự, song khối lượng lớn hơn. Những hạt này là những trạng thái kích thích KK ( các trạng thái kích thích này còn được gọi là tháp KK – Kaluza-Klein tower). Christophe Grojean cho rằng chính nhờ việc tính đến các hạt mới có khối lượng lớn này mà chúng ta có thể giải quyết vấn đề phân kỳ trong lý thuyết điện yếu.  Như vậy chúng ta vừa giữ lại được các ưu điểm của SM vừa tạo ra khối lượng cho các hạt mà không cần đến sự tồn tại của hạt Higgs! Trong phổ khối lượng   ngoài các hạt W & Z sẽ xuất hiện thêm như trên đã nói nhiều hạt khác nặng hơn (cỡ 500 đến 1000 eV), những hạt này có khả năng làm triệt tiêu những đại lượng phân kỳ xuất hiện trong các phép tính toán của SM xét trong không thời gian 4 chiều thông thường. Mô hình của Grojean có mối tương đồng với mô hình Randall-Sundrum (RS xem chú thích[3]).  Vấn đề ở đây là làm thế nào để thu đúng được khối lượng của các hạt W & Z . Năm 2003 các nhà vật lý lý thuyết đã xây dựng mô hình hình học hyperbolic 5 chiều (xem chú thích[4]) ứng với không gian AdS (anti de-Sitter, xem chú thích[5]). Và họ đã thành công hơn trong việc giải thích vấn đề khối lượng trong SM.  Trong ngữ cảnh đó chúng ta đoán nhận khối lượng của các hạt W & Z là dấu ấn trong không gian 4 chiều để lại bởi xung lượng của chúng trong chiều dư thứ năm. Như vậy ta có không gian 5 chiều (1 chiều dư ) và không thời gian 4 chiều thông thường,  đây chính là tình huống để áp dụng ánh xạ holographic Ad /CFT (xem chú thích[6]).   Hình học mới này tạo nên tất cả các ưu điểm của hạt Higgs mà không gây nên sự bất tiện, khó khăn nào và chưa cầu cứu đến hạt của Chúa, hạt của Chúa đã tan biến trong chiều dư thứ năm.  Andreas Birkedal & Konstantin Matchev (Đại học Florida) và Maxim Perelstein ( Đại học Cornell) đã chỉ ra phương pháp thực nghiệm trên LHC để phân biệt hai phương án: giả thuyết về hạt Higgs và lý thuyết mới về hình học hyperbolic. Christophe Grojean cho rằng nếu lý thuyết mới là đúng thì hạt Higgs không xuất hiện mà bên cạnh các hạt tương tự như các hạt W & Z sẽ quan sát được nhiều hạt khác với khối lượng lớn hơn, W’, W’’,Z’, Z’’… Máy LHC có thể giúp chúng ta phân biệt hai tình huống sau đây[7]:  Tình huống I                Hình 3. Hạt Higgs xuất hiện trong va chạm của 2 electron        Hạt Higgs tồn tại (xem hình 3): lúc này khi hai electron va chạm nhau, chúng sẽ trao đổi hạt photon (tương tác điện từ), các boson W và Z (tương tác yếu) và hạt Higgs xuất hiện.          Tình huống II               Hình 4. Hạt Higgs không tồn tại thay vì vào đó xuất hiện những boson Z’ , Z” …(ngoài boson Z ) và các boson W’, W”…(ngoài boson W).        Hạt Higgs không tồn tại (xem hình 4 và so sánh với hình 3): khi 2 electron va chạm nhau chúng chỉ trao đổi photon (tương tác điện từ) và các hạt boson Z, Z’, Z’’ … & các boson W, W’, W’’(tương tác yếu)   Bruno Mansoulie nhấn mạnh rằng lý thuyết mới như vậy khẳng định sự tồn tại của một chiều dư  ngoài 4 chiều không thời gian thông thường. Và nếu lý thuyết về hình học hyperbolic là đúng thì đây sẽ là một trớ trêu của số phận: máy gia tốc khổng lồ LHC xây dựng với mục đích tìm ra hạt Higgs lại là máy gia tốc xây dựng nên để phủ nhận vĩnh viễn sự tồn tại của hạt Higgs.     Kết luận   Hiện nay các nhà vật lý đứng trước một tình huống nhiều ngả đường trong quá trình phát triển vật lý. Những vấn đề khó khăn trước mắt là tìm ra hạt Higgs, các hạt siêu đối xứng, vật chất tối , các chiều dư (extra-dimensions) của không thời gian… Mặt khác các nhà vật lý cũng đang được trang bị một thiết bị lý tưởng là máy gia tốc khổng lồ LHC. Kinh phí rất lớn để xây dựng LHC cũng gây một áp lực lên tâm trạng của các nhà vật lý. Song kinh phí khổng lồ chưa phải là yếu tố quan trọng nhất mà những kết quả khó chờ đợi từ các dữ liệu do LHC cung cấp mới thật sự gây nên tâm trạng lo lắng, hồi hộp của các nhà vật lý: họ đã đi đúng đường? hay họ sẽ bị rơi vào bế tắc vào điểm chết?… Mọi điều đang chờ đợi các nhà vật lý ở phía trước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu không có Darwin?      Vật lý sẽ thế nào nếu Einstein chưa từng xuất hiện? Hoặc sinh học sẽ ra sao nếu không có Darwin? Nếu chỉ nhìn từ một phía thì sẽ chẳng có gì thay đổi mấy: những phát hiện hay những định lý của họ sớm muộn cũng sẽ được một ai khác tìm ra. Đó chính là điều kì lạ về những “người hùng” trong khoa học: Một mặt họ được tôn vinh, tên họ được dùng để đặt cho các viện nghiên cứu, các đơn vị đo và các nguyên tố hóa học, vậy nhưng mặt khác họ cũng có thể bị xóa sổ và bị thay thế trong dòng hiểu biết khoa học không ngừng.      “Rõ ràng là, nếu Franklin còn sống, Ủy ban giải Nobel cũng phải trao giải thưởng cho cô ấy”.  Nhưng liệu điều đó có thực sự đúng? Một cách để trả lời cho câu hỏi này chính là tìm ra người sẽ đưa ra khám phá đó nếu họ không xuất hiện. Điều này còn được gọi là “Lịch sử phản sự thật” (Counterfactual history), và mặc dù bị các nhà sử học chế nhạo, nó có ý nghĩa hơn nhiều một trò tiêu khiển trong cuộc đối thoại bàn tròn giữa các nhà khoa học. Nó cho phép chúng ta xem xét kỹ lưỡng, thậm chí thách thức một số huyền thoại mà chúng ta xây dựng quanh những anh hùng khoa học. Nó cũng giúp chúng ta suy nghĩ về cách thức khoa học hoạt động: các ý tưởng được phát sinh như thế nào trong bối cảnh lịch sử, khả năng xảy ra và các sự kiện kỳ lạ trong cuộc đời của mỗi nhà khoa học.  Một mặt, ứng cử viên tốt nhất để thay thế một thiên tài là một thiên tài khác. Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên, tuy nhiên nó khiến chúng ta nghi ngờ về “quan niệm về vĩ nhân” thường thấy, coi sự dịch chuyển của quỹ đạo lịch sử nằm trong hành động và quyết định của một số ít cá nhân, liệu có hợp lý. Thực ra luôn có thiên kiến trong sự lựa chọn của lịch sử: chúng ta đã bỏ qua những ứng cử viên kém tên tuổi hơn chỉ vì họ không phải là người đã khám phá điều đó, nhưng họ hoàn toàn có thể. (Dĩ nhiên, nói đi cũng phải nói lại, những người vĩ đại thì luôn nổi trội, không phải cách này thì là cách khác)  Một điều đáng lưu ý nữa là trong những trường hợp được lựa chọn gần đây nhất (kể từ năm 1953 trở lại đây) dưới đây không có một ứng cử viên nào là nữ xứng đáng được đưa vào danh sách: đây là hậu quả của việc vắng bóng phụ nữ trong lịch sử khoa học suốt đến đầu thế kỷ 20. Ngay cả khi chúng ta muốn tìm người thay thế cho Marie Curie, nhiều khả năng đó sẽ là một người đàn ông. Những số liệu thống kê về giải Nobel cho thấy tình trạng này vẫn không có mấy thay đổi, kể cả trong thời điểm hiện tại: thật đáng tiếc vì chúng ta đã lãng phí trí thông minh và sự sáng tạo của một nửa nhân loại và “nhấn mạnh” sự thiếu sót này càng khiến cho bài tập thay thế dưới đây thêm giá trị.  Thuyết Nhật tâm – Johannes Kepler  Thực ra có rất ít khám phá vĩ đại mà người ta không thể tìm thấy tiền lệ. Thuyết Nhật tâm, hay Trái đất xoay quanh Mặt trời chứ không phải ngược lại, cũng không phải là ngoại lệ: Các nhà khoa học đã dự đoán điều này từ rất lâu trước cả khi nhà thiên văn thiên tài Nicolaus Copernicus chỉ ra thuyết Nhật Tâm trong cuốn sách kinh điển “De revolutionibus orbium coelestium” (Về sự chuyển động của các thiên thể), được xuất bản khi ông trút hơi thở cuối cùng. Chúng ta không thể phủ nhận đây là một khái niệm mang tính then chốt trong lịch sử khoa học, phá vỡ niềm tin của nhân loại rằng Trái đất ở trung tâm của vũ trụ. Tuy nhiên, nhà toán học người Hy Lạp Aristarchus đã từng đề xuất ý tưởng tương tự ở thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và vào giữa thế kỷ 15, Đức Hồng y Nicholas của Cusa đã thắc mắc liệu có hay không một trung tâm rõ ràng của vũ trụ. Điều làm cho lý thuyết Copernicus khác biệt chính là việc nó được dựa trên một đối số toán học (mathematical argument) có tính đến sự chuyển động đã biết trước đó của các hành tinh.  Copernicus thực ra đã suýt không tiết lộ các ý tưởng của ông. Một giáo sư trẻ người Áo tên là George Rheticus đã thuyết phục ông xuất bản cuốn sách, và thật may là vừa kịp lúc (Copernicus mất không lâu sau đó). Chúng ta lại thêm một lý do để thắc mắc: nếu Copernicus mất sớm hơn, ai sẽ là người thay ông đạt đến kết luận tương tự.  Các nhà thiên văn học thế kỷ 16 khác như Erasmus Reinhold và Christopher Clavius có thể có sự thay đổi trong khả năng quan sát và nhìn nhận toán học như Copernicus nhưng lại chọn gắn bó với thuyết Địa Tâm. Dane Tycho Brahe vào thập niên 1570 đã đưa ra một mô hình địa tâm táo bạo trong đó Mặt trời quay quanh Trái đất nhưng các hành tinh khác quay quanh Mặt trời.  Nhưng nhiều khả năng thuyết Nhật tâm – cú nhảy vọt trong lịch sử thiên văn – sẽ không xảy ra cho đến tận thế kỉ 17. Chúng ta biết rằng Galileo đã phải rất vất vả mới thúc đẩy được học thuyết Copernicus trong bối cảnh gặp phải sự phản đối của Giáo hội Công giáo ở Rô-ma. Rõ ràng, Galileo đủ trí tuệ và khả năng để tự mình tạo ra học thuyết đó. Nhưng tôi tin rằng nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler, người bảo hộ của Tycho và bạn tâm thư của Galileo, sẽ làm điều đó trước tiên. Ông có quyền tiếp cận dữ liệu quan sát tuyệt vời của Tycho và bản thân có một khả năng toán học xuất sắc, nhưng điều quan trọng là ông có được con mắt thẩm mỹ của Copernicus để nhìn ra được vũ trụ mà Mặt trời là trung tâm mới là hài hòa và thích hợp.  Định luật về chuyển động – Christiaan Huygens  Chúng ta dễ có ấn tượng rằng Isaac Newton có lối suy nghĩ khác hoàn toàn với những người đương thời vào cuối thế kỷ 17. Thật vậy, hay xem xét hai nhà khoa học xuất sắc cùng thời: một người là Robert Boyle – một trong những học giả lừng lẫy nhất của Royal Society – tuy là một nhà thực nghiệm bậc thầy nhưng lại quá do dự khi đưa ra giả thuyết dựa trên các quan sát của mình, và người thứ hai không ai khác chính là đối thủ gay gắt Robert Hooke của chính Newton, một thiên tài về việc sử dụng các thiết bị đo đạc nhưng lại thường nhầm lẫn một ý tưởng đầy hứa hẹn với một lời giải thích cặn kẽ. Trong khi đó, Newton có vẻ là người phù hợp nhất để tạo nên “bước nhảy vọt” mang tính trừu tượng từ những quan sát kĩ càng đến việc nhận ra nguyên lý đằng sau nó. Điều ấn tượng nhất và cũng mang đến danh tiếng nhiều nhất cho ông chính là việc ông đã biến thiên văn từ một giả thuyết về cách các thiên thể chuyển động đến việc giải thích vì sao chúng lại chuyển động như vậy. Một định luật đơn giản về lực hấp dẫn là tất cả những gì chúng ta cần để giải thích hình dạng của các quỹ đạo của các hành tinh, Mặt trăng và cả sao chổi.      Định luật đầu tiên của Newton thậm chí khó có thể nói là do ông nghĩ ra đầu tiên: được biết đến như luật quán tính (một vật chuyển động sẽ tiếp tục di chuyển khi không có lực tác động), về cơ bản nó được phát biểu bởi Galileo và Huygens cũng chấp nhận nó. Nghiên cứu về va chạm của Huygens đã rất gần với luật thứ ba, trong khi Huygens thật sự đã độc lập đưa ra một phiên bản khác của luật thứ hai. Nói cách khác, Huygens có tất cả những gì được coi là tiền đề cho cái mà chúng ta gọi là cơ học Newton.      Newton đã trở thành huyền thoại, điều đó không còn gì nghi ngờ gì nữa. Nhưng liệu có một người khác, đi theo một con đường khác, có thể đưa ra khám phá tương tự?  Các định luật về chuyển động của Newton được trình bày trong cuốn Principia xuất bản năm 1687, với mục tiêu ban đầu là để làm lu mờ tuyên bố liều lĩnh của Hooke rằng ông có thể giải thích vì sao quỹ đạo các hành tinh lại là hình elip. Newton bắt đầu bằng việc thiết lập các định luật cơ bản về chuyển động, và ba định luật đó chính là nền tảng của cơ học cổ điển. Tóm lại: một vật sẽ duy trì trạng thái chuyển động đều hoặc đứng yên trừ phi có lực tác dụng lên chúng; độ lớn của một lực tác động lên một vật bằng khối lượng của vật nhân với gia tốc; và đối với mỗi lực, đều có một phản lực có cùng giá trị, cùng độ lớn nhưng ngược chiều.  Chúng ngắn gọn, đầy đủ, và được tuyên bố một cách đơn giản và đầy thanh lịch. Liệu có ai khác trong cùng thời kỳ với Newton có thể đạt được kỳ tích tương tự?  Trong số những thiên tài của Hội Hoàng gia (Royal Society), có một người nổi lên như một ứng cử viên sáng giá: nhà khoa học người Hà Lan Christiaan Huygens là một người giỏi nhiều lĩnh vực, ông là nhà toán học, thiên văn học (ông đã thực hiện một số quan sát đầu tiên về vành đai của sao Thổ), nhà phát minh và chuyên gia về quang học và xác suất. Ông đặc biệt giỏi trong việc tạo ra đồng hồ đeo tay và treo tường, và định lý của Huygens về cơ học viết trong cuốn sách về đồng hồ xuất bản năm 1673 đã được Newton lấy làm hình mẫu cho Principia.  Định luật đầu tiên của Newton thậm chí khó có thể nói là do ông nghĩ ra đầu tiên: được biết đến như luật quán tính (một vật chuyển động sẽ tiếp tục di chuyển khi không có lực tác động), về cơ bản nó được phát biểu bởi Galileo và Huygens cũng chấp nhận nó. Nghiên cứu về va chạm của Huygens đã rất gần với luật thứ ba, trong khi Huygens thật sự đã độc lập đưa ra một phiên bản khác của luật thứ hai. Nói cách khác, Huygens có tất cả những gì được coi là tiền đề cho cái mà chúng ta gọi là cơ học Newton.  Thuyết tương đối hẹp – James Clerk Maxwell  Tưởng tượng những con đường khác nhau để cùng đi đến một phát hiện vĩ đại không chỉ để cho vui mà nó còn giúp phá bỏ những huyền thoại. Câu chuyện về việc Einstein nghĩ ra Thuyết tương đối năm 1905 bằng cách tưởng tượng mình đang cưỡi lên một chùm sáng thể hiện khả năng sáng tạo và sự tinh nghịch của ông, nhưng lại không cho chúng ta thấy động cơ của ông thực sự đằng sau nó.  Thực ra để hiểu vì sao chúng ta cần Thuyết tương đối hẹp, hãy nhìn vào các phương trình đưa ra bởi nhà khoa học người Scotland James Clerk Maxwell trong những năm 1860 để thể hiện sự thống nhất giữa hiện tượng điện và từ, và do đó dự đoán được tốc độ ánh sáng. Tốc độ thường là yếu tố phụ thuộc, ví dụ như tốc độ âm thanh phụ thuộc vào môi trường truyền đi. Tuy nhiên nếu các định luật vật lý, chẳng hạn như phương trình điện từ của Maxwell, vẫn giữ nguyên bất kể khung tham chiếu di chuyển với tốc độ như thế nào thì chứng tỏ tốc độ ánh sáng không phụ thuộc vào chuyển động tương đối. Và có lẽ ngoài Einstein, người có thể tìm ra thuyết tương đối hẹp không ai khác chính là Maxwell. Ông qua đời vào năm 1879 khi mới 48 tuổi, và hoạt động khoa học rất tích cực đến tận những ngày cuối cùng. Ông có một trực giác sâu sắc trong vật lý rất cần cho việc kết hợp giữa điện và từ và tất nhiên là việc tạo ra ánh sáng. Nếu Maxwell có thể sống thêm hai thập kỉ nữa, tôi nghĩ rất có thể chính ông sẽ là người đưa ra thuyết tương đối hẹp. Nếu bạn không tin tôi, thì hãy nghe chính những gì Einstein nói về các phát hiện của ông: “Tôi không đứng trên vai của Newton,” ông nói, “mà trên vai của Maxwell.”  Thuyết tương đối rộng – Hermann Minkowski  Năm 1916 Einstein đã công bố một quan điểm mới về lực hấp dẫn, thay cho lý thuyết đã thống trị trong suốt hơn hai thế kỷ của Isaac Newton. Ông lập luận rằng lực mà chúng ta gọi là lực hấp dẫn phát sinh từ độ cong của không gian và thời gian (hay không thời gian) do sự tồn tại của khối lượng vật chất. Độ cong này tạo nên gia tốc của các vật thể trong một trường hấp dẫn, ví dụ như sự tăng tốc dần đều của vật thể rơi từ trên cao xuống đất. Đây là lý thuyết tương đối rộng, mà đến giờ vẫn là lý thuyết hấp dẫn nhất từ trước đến giờ và giúp giải thích quỹ đạo của các hành tinh, sự sụp đổ của các ngôi sao thành các lỗ đen và sự giãn nở của vũ trụ. Đó là công trình đáng chú ý và đáng ngưỡng mộ nhất của Einstein.  Tuy nhiên hãy cho phép tôi một lần nữa bẻ cong các quy tắc của trò chơi này –  Einstein hoàn toàn có thể đã bị chậm chân nếu một nhà khoa học khác không ra đi quá sớm. Đó là Hermann Minkowski, một nhà toán học người Đức, từng dạy Einstein ở Zurich. Phần lớn nghiên cứu của Minkowski liên quan đến toán học thuần túy, nhưng ông cũng tìm hiểu các bài toán liên quan đến vật lý.  Năm 1908 Minkowski giải thích rằng cách thích hợp nhất để hiểu lý thuyết tương đối hẹp của Einstein là sử dụng không gian bốn chiều. Einstein đầu tiên hoài nghi, nhưng sau đó ông đã bị thu hút bởi khái niệm này và xây dựng thuyết tương đối rộng.  Minkowski đã nhận thấy rằng trong khi đường đi của một vật thể di chuyển với tốc độ không đổi trong không thời gian là một đường thẳng, thì đường đi của một vật thể có gia tốc lại là một đường cong. Trong không gian ba chiều, con đường của Mặt trăng quay quanh Trái đất dưới ảnh hưởng của lực hấp dẫn gần như là đường tròn. Nhưng trong không thời gian bốn chiều, quỹ đạo của nó lại gần như là xoắn: nó đi vòng tròn trong không gian, nhưng lại trở về cùng một vị trí ở những thời điểm khác nhau.  Nhưng thuyết tương đối rộng không chỉ dừng lại ở đó. Einstein cho rằng chính khối lượng khiến cho không thời gian bị cong với dạng hình học phi Euclide (không phẳng). Nhưng ý tưởng về không thời gian phi Euclide là của Minkowski, và rất có thể ông sẽ phát triển thành một lý thuyết hấp dẫn toàn diện, với sự trợ giúp từ nhà toán học kiệt xuất David Hilbert tại Đại học Göttingen, nơi Minkowski bắt đầu làm việc từ năm 1902. Chúng ta biết rằng Minkowski đã nghĩ đến lực hấp dẫn trong hoàn cảnh của một lý thuyết tương đối và không – thời gian dựa vào một bài giảng của ông ở Göttingen vào năm 1907. Nhưng chúng ta không bao giờ biết được liệu ông có phát triển thêm những ý tưởng đó hay không vì sự ra đi đột ngột của Minkowski và năm 1909, khi chỉ mới 44 tuổi.  Cấu trúc của DNA – Rosalind Franklin  Tôi rất muốn nghĩ rằng nhà tinh thể học người Anh Rosalind Franklin, người sở hữu dữ liệu đóng vai trò trung tâm cho sự khám phá ra cấu trúc xoắn kép của DNA, có thể đã tự tìm ra điều đó nếu như James Watson và Francis Crick đã không nghĩ ra trước vào năm 1953. Thật vậy, Watson đã bị thuyết phục về hình dạng xoắn kép của DNA khi ông nhìn thấy mẫu tán xạ tia X từ DNA được ghi lại bởi Franklin và sinh viên Raymond Gosling. Chính Maurice Wilkins, một người từng là cộng sự mâu thuẫn với Franklin khi ở Đại học King London là người đã cho Watson xem những dữ liệu đó mà không hề có sự cho phép của Franklin.  Đã có nhiều người ủng hộ việc công nhận “khám phá thay thế” cho Franklin, đặc biệt sau cuốn hồi ký năm 1968 “The Double Helix” của Watson nói lại về hành trình tìm ra chuỗi xoắn kép của DNA. Cuốn sách đã cho thấy sự bất công trong cách đối xử mà Franklin nhận được từ Watson, và chính bản thân Watson cũng bị ám ảnh vì thái độ phân biệt giới của mình.  Mặc dù vậy, chỉ có điều tôi lo lắng rằng, Franklin, với bản chất thận trọng, cảnh giác của mình, trái ngược với một một Crick nổi bật và sắc sảo và một Watson trẻ trung và táo bạo, sẽ khó mà dám dấn thân vào những giả thuyết mà bằng chứng quá mong manh. Cô biết rằng, một nhà khoa học nữ thời bấy giờ không được phép mắc sai lầm.  Do đó, tôi rất vui mừng khi Matthew Cobb, một nhà động vật học tại Đại học Manchester, người đã nghiên cứu sâu về câu chuyện tìm ra chuỗi xoắn kép DNA trong cuốn sách “Bí ẩn vĩ đại nhất của sự sống” xuất bản vào năm 2015, tự tin nói với tôi rằng Franklin lẽ ra đã làm điều đó. Chỉ vài tuần trước khi Watson và Crick mời Franklin và Wilkins xem mô hình DNA của họ vào tháng 3 năm 1953, trong sổ ghi chép của Franklin đã có những cấu trúc xoắn kép, với hai sợi có cấu trúc hóa học bổ sung, cho phép một sợi hoạt động như một khuôn mẫu giống như những gì mà Watson và Crick đã chỉ ra trong bài báo của họ trên tạp chí Nature vào tháng Tư.  Chính nhà sinh hóa học người Anh Aaron Klug, người đã đoạt giải Nobel cũng nhờ các nghiên cứu trên DNA, đã phân tích rất chi tiết cuốn sổ của Franklin. “Crick và tôi đã thảo luận điều này nhiều lần”, Klug viết trong Tạp chí Sinh học phân tử. “Chúng tôi đồng ý cô ấy sẽ giải quyết được cấu trúc DNA, nhưng kết quả sẽ dần dần xuất hiện, chứ không phải như một tiếng sét trong một bài báo ngắn gọn trên tờ Nature.” Dù sao, những đóng góp của cô cho khám phá này là không thể phủ nhận. “Rõ ràng là, nếu Franklin còn sống, Ủy ban giải Nobel cũng phải trao giải thưởng cho cô ấy”, Cobb viết.  Chọn lọc tự nhiên – ?  Đôi khi những cá nhân khác nhau gần như đồng thời nảy ra những phát minh hay ý tưởng đột phá. Nó đã xảy ra với giải tích (Leibniz và Newton), với nguyên tố hóa học oxy (Scheele, Priestley, và Lavoisier), và nổi tiếng nhất, với sự tiến hóa bằng cách chọn lọc tự nhiên, được công bố vào năm 1858 bởi Charles Darwin và Alfred Russel Wallace.  Chúng ta dễ nghĩ rằng đó là thời điểm chín muồi cho một khám phá như vậy, và nó chắc chắn sẽ xảy ra với một ai đó không sớm thì muộn. Nếu thật là như vậy, sẽ chẳng quá khó khăn để xác định những ứng cử viên thay thế tiềm năng. Nếu chúng ta loại cả Darwin và Wallace ra khỏi lịch sử khoa học, ai có thể lấp đầy chỗ trống của họ đây?  Darwin có rất nhiều người ủng hộ sau khi xuất bản cuốn sách “Về nguồn gốc của giống loài” nhưng tôi không nghĩ bất cứ ai trong số đó có thể tự tạo nên lý thuyết của mình. Ngay cả Wallace, lý thuyết tiến hóa của ông cũng không giống hoàn toàn với Darwin. Sau khi tham khảo nhà sử học và triết học khoa học James Lennox của Đại học Pittsburgh, một chuyên gia về lịch sử của lý thuyết Darwin, tôi nhận được một câu trả lời đầy bất ngờ: Chưa chắc chúng ta đã có thuyết tiến hóa.  “Nếu chúng ta đọc qua quyển sổ tay của Darwin và chứng kiến sự vật lộn mà ông đã trải qua, và tiếp tục so sánh những nỗ lực đầu tiên và tiếp sau của ông để trình bày nó một cách mạch lạc (năm 1842 và 1844), tôi nghĩ rằng hoàn toàn có thể một lý thuyết rất khác về tiến hóa sẽ giành được ưu thế.” Lennox cho biết: “Sau tất cả, chúng ta thấy rằng một loạt các lý thuyết khác về tiến hóa cũng phổ biến như Darwin”. Một số nhà di truyền học tiên phong, như Dutchman Hugo de Vries đã cho rằng tiến hóa giống như là một bước nhảy, chứ không phải là một quá trình từ từ theo như Darwin. Ý tưởng đó thực ra chưa bao giờ phai nhạt, chúng ta có thể gặp lại trong mô hình “cân bằng ngắt quãng” của các nhà sinh vật học hiện đại Stephen Jay Gould và Niles Eldredge.  Nhưng nếu lý thuyết chọn lọc từ nhiên của Darwin là “đúng đắn”, chẳng phải rồi cuối cùng chúng ta cũng sẽ tìm ra nó hay sao? Tuy nhiên, ngay cả khi thuyết tiến hóa của Darwin đã được chấp nhận rộng rãi, người ta vẫn tranh luận về sự đúng đắn của nó, hay sự đúng đắn của “thích nghi tốt nhất thì sẽ tồn tại”. Thực ra, quan điểm ban đầu của Darwin đã được phát triển và thay đổi để phù hợp, bao gồm cả tác động của sự biến đổi di truyền ngẫu nhiên và thống nhất quan điểm thay đổi tiến hóa với sinh học phát triển (được gọi là “evo-devo”). Liệu rằng chúng ta có thể đạt được thuyết tiến hóa như hiện tại, mà không có thuyết tiến hóa của Darwin hay không? “Tôi nghĩ điều đó là hoàn toàn có thể,” Lennox nói.  ***  Vậy chúng ta có thể rút ra được điều gì từ những ví dụ trên đây? Khoa học cung cấp cho chúng ta những lý thuyết hữu ích và khách quan trong việc giải thích và dự đoán những gì chúng ta thấy trong cuộc sống. Nhưng điều đó không phủ nhận thực tế rằng các lý thuyết cụ thể thường mang đậm phong cách của các nhà khoa học đã phát triển nên nó, điện động lực học lượng tử có thể đã được xây dựng mà hoàn toàn không sử dụng ngôn ngữ của sơ đồ Feynman nổi tiếng do Richard Feynman đưa ra. Cách chúng ta quan niệm về thế giới mang đậm dấu ấn của những người đầu tiên đưa ra các khái niệm và nguyên lý. Hay nói cách khác, các nhà khoa học, nhà khám phá vĩ đại sẽ khó có thể được thay thế hơn là chúng ta vẫn tưởng.     Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn bài và ảnh:  http://nautil.us/issue/43/heroes/if-not-darwin-who       Author                Philip Ball        
__label__tiasang Nếu ô tô Việt Nam tốt, Chính phủ có mua không?      Các nước đều có chương trình để tôn vinh, phát triển các sản phẩm của quốc gia mình. Vậy nếu ô tô của doanh nghiệp Việt Nam đạt tiêu chuẩn “sản phẩm quốc gia”, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương có mua để phục vụ các lãnh đạo không?      Bộ KH&CN báo cáo về ba chương trình quốc gia. Nguồn: VGP  Các đại biểu đặt ra vấn đề này khi thảo luận trong phiên họp về Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia, ngày 9/1.  Sau khi nghe báo cáo của Bộ KH&CN và gợi mở thảo luận của người chủ trì phiên họp –  Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng Ban chỉ đạo các Chương trình khoa học và Công nghệ quốc gia, các thành viên của Ban Chỉ đạo đã thảo luận nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác này trong thời gian tới.  Tại cuộc họp, đại biểu đại diện các Bộ: KH&CN, Y tế, NN&PTNT, Quốc phòng… đều đồng tình với báo cáo của Bộ KH&CN và thống nhất nhận định trong điều kiện ngân sách, cơ chế tài chính… còn nhiều vướng mắc nhưng 3 chương trình: Phát triển sản phẩm quốc gia, phát triển công nghệ cao và đổi mới công nghệ quốc gia đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về cơ chế, chính sách và sản phẩm.   Cụ thể là, cơ chế của chúng ta cơ bản đã phủ tất cả các khâu và thực tế cho thấy, chúng ta đã thu hút được hơn 150 đơn vị tham gia thực hiện các nhiệm vụ, các doanh nghiệp đã cam kết đầu tư hơn 4.300 tỷ đồng (tính đến hết tháng 12/2018). Đáng phấn khởi là, sau khi nhiệm vụ kết thúc, các doanh nghiệp này có mức tăng trưởng trung bình hằng năm đạt 18,8%, cá biệt có một số doanh nghiệp quy mô nhỏ tăng trưởng tới 50%; thị phần của các sản phẩm trên thị trường trong nước cũng tăng đáng kể, năm 2018 là 20%, dự kiến sẽ đạt 34,7% trong 5 năm tới…  Ví như, trong điều trị, lần đầu tiên chúng ta đã nghiên cứu và làm chủ được quy trình sản xuất trong nước thuốc Pegcyte dùng trong điều trị giảm bạch cầu, hỗ trợ bệnh nhân điều trị ung thư; nghiên cứu làm chủ công nghệ và sản xuất stent động mạnh vành đạt tiêu chuẩn CE (châu Âu) với giá thành rẻ hơn các sản phẩm hiện có trên thị trường 50%; trong sản xuất công nghiệp đã làm chủ công nghệ chế tạo robot 5 bậc tự do; trong nông nghiệp, chúng ta đã tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc trong sản xuất; định hướng theo các sản phẩm chủ lực (lúa gạo, rau, hoa quả, nấm ăn, nấm dược liệu, cà phê, cá da trơn, tôm, sâm) nhằm tạo ra sản phẩm theo chuỗi từ khâu giống, đến công nghệ bảo quản, chế biến và thương hiệu sản phẩm quốc gia…  Khẳng định cần tiếp tục triển khai các chương trình trên trong thời gian tới, Phó Thủ tướng và các đại biểu cũng nêu ra những tồn tại, khó khăn cần khắc phục và thống nhất cho rằng: Trước hết phải kiên trì tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế tài chính theo hướng đầu tư cho khoa học, công nghệ phải chấp nhận rủi ro. Nhất là, trong điều kiện ngân sách chưa đáp ứng được nhu cầu, việc triển khai các nhiệm vụ phải “liệu cơm gắp mắm”, tập trung vào những sản phẩm Việt Nam có lợi thế (sức khỏe, nông nghiệp, IT…) để phát triển, thà đặt mục tiêu vừa sức để làm còn hơn là “vẽ ra các viễn cảnh đẹp” nhưng không có khả năng vật chất để thực hiện.  Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế đồng bộ để kết nối giữa 3 chương trình phát triển sản phẩm quốc gia; phát triển công nghệ cao; đổi mới công nghệ quốc gia với các chương trình ưu đãi về vốn, tiếp cận tín dụng ngân hàng, các quỹ phát triển,… Nhất là ưu đãi về thuế, bởi hiện nay chúng ta chưa có cơ chế về thuế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ.  Đặc biệt, vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp có sản phẩm quốc gia, sản phẩm công nghệ cao thâm nhập thị trường trong nước và bảo vệ, quảng bá thương hiệu ra nước ngoài được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và các đại biểu thảo luận sôi nổi.  Nước nào cũng vậy thôi, nói đến Hàn Quốc là thế giới biết đến Samsung hay nói đến Nhật Bản là công chúng toàn cầu nghĩ đến ô tô, hàng điện tử, gần đây là robot… Các nước đều có chương trình để tôn vinh các sản phẩm quốc gia. Hiện chúng ta đã làm được ô tô, vậy nếu xe Việt Nam đạt tiêu chuẩn sản phẩm quốc gia, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương có mua để phục vụ các lãnh đạo không? Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng nêu vấn đề.  Chia sẻ quan điểm trên, ý kiến của các đại biểu thống nhất cho rằng bài toán lớn nhất của các doanh nghiệp lớn đầu tư vào khoa học công nghệ, tạo ra các sản phầm quốc gia là “làm gì để sản phẩm quốc gia thâm nhập vào thị trường?”. Theo đó Nhà nước phải có chính sách để doanh nghiệp thâm nhập thị trường trong nước và hỗ trợ quảng bá, bảo vệ thương hiệu cho họ vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Đây là vấn đề có tính quyết định.  Các đại biểu cũng nhấn mạnh cần đổi mới cách làm, Bộ KH&CN cần “định nghĩa lại”, làm rõ tiêu chí sản phẩm quốc gia, trong đó phải cụ thể được tiêu chí hàm lượng tri thức của người Việt trong sản phẩm. Đây không phải là cơ chế giải thưởng mà là tiêu chí danh giá về trí tuệ Việt, có như vậy “sản phẩm quốc gia” mới trở thành tài sản quốc gia, niềm tự hào dân tộc và cả Nhà nước, doanh nghiệp cũng như mỗi người dân Việt Nam đều phải chung tay tôn vinh, bảo vệ.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Neu-o-to-Viet-Nam-tot-Chinh-phu-co-mua-khong/356554.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nếu trái đất không “nóng ruột”      Theo các nhà nghiên cứu tại ĐH Utah (Mỹ), từ trước đến nay con người vẫn chưa nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của sức nóng bên trong quả địa cầu. Không có nó, hầu hết nước Mỹ đã bị chìm trong nước và chỉ có một số dãy núi chính tại châu Âu mới họa may còn ngoi lên trên mặt nước.    Vùng cao nguyên Denver ở Mỹ sẽ nằm ở độ sâu hàng trăm mét dưới mặt nước biển, thành phố New York ở độ sâu 400m, Los Angeles ở độ sâu 1,2 km. Nhóm khoa học gia tại Utah cho rằng giới nghiên cứu trước đây không biết được rằng sức nóng đã làm đá tại các châu lục vững chắc hơn như thế nào.  Hãng tin Tân Hoa Xã dẫn lời nhóm nghiên cứu cho biết chính sức nóng bên trong quả địa cầu đã chiếm phân nửa lý do tại sao đất liền cao hơn mặt nước biển. Theo ĐH Utah, sức nóng phát ra từ lòng trái đất và các quá trình phân hủy phóng xạ ở lớp vỏ trái đất sẽ còn tiếp tục xảy ra trong một khoảng thời gian lâu dài.  T.M (Theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Neutrino, sứ giả của hai thế giới thái cực      Neutrino là thành phần nhỏ nhất của một thực tại vật chất mà con người đã từng hình dung ra, thành phần lớn nhất là Vũ trụ. Tìm hiểu cái này qua cái kia là tìm cách trải rộng quy mô trong đó định luật thiên nhiên biểu hiện dưới muôn hình*.    1- Sơ lược hiện tình về hạt cơ bản và vũ trụ  Trong câu mở đầu của bản báo cáo về sự phát hiện lần đầu tiên ra hạt neutrino ở lò phản ứng hạt nhân Savannath River (South Carolina, Mỹ), hai nhà vật lý Cowan và Reines (giải Nobel 1995) dùng động từ hình dung ra, điều gây chút ngạc nhiên cho người viết bài này khi đọc lần đầu, nhưng suy ngẫm lại mới càng thấy thấm đượm.  Thực thế, khi con người xây dựng được một hệ thống nghiêm túc của những ý tưởng và suy luận chặt chẽ, nhất quán cũng như những ngôn từ tương xứng để diễn tả và giải thích thế giới bên ngoài, thì theo nghĩa đó họ đã hình dung ra thực tại thiên nhiên mà Hạt cơ bản và Vũ trụ là thí dụ điển hình về cái mà chúng ta hiểu biết về hai thái cực vô cùng nhỏ cũng như vô cùng lớn đó. Cái hiểu biết về thế giới tự nhiên này có phải là sự thật không? Hạt cơ bản neutrino có vai trò nào trong cuộc tìm kiếm cội nguồn của con nguời nối liền quá khứ với tương lai trong vũ trụ? chúng ta từ đâu đến, là gì, về đâu? những câu hỏi muôn thủa.   Tất nhiên hạt cơ bản (viên gạch vi mô tận cùng của vật chất, không sao chia cắt nổi) hay vũ trụ (tổng thể vĩ mô bao trùm vạn vật, kể cả không gian lẫn thời gian) – mà con người hình dung ra  – không phải là duy nhất, sự hiểu biết về chúng phát triển tùy theo thời đại và các nền văn hóa.              D’Où Venons Nous/ Que Sommes Nous/ Où Allons nous (Chúng ta từ đâu đến/Chúng ta là ai/Chúng ta đi về đâu) – Tranh: Paul Gauguin ở Bảo tàng Mỹ thuật Boston.             Hết rồi thời xa xưa khi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là 5 thành phần sơ đẳng cốt lõi của vật chất, chỉ mới cách đây trăm năm thôi phân tử hãy còn được coi là hạt sơ cấp thì đủ thấy sự biến chuyển ra sao. Ngày nay chúng ta biết phân tử là tập hợp của nhiều nguyên tử khác nhau liên kết bởi electron ngoại vi, mà mỗi nguyên tử lại là hạt nhân của nó thu hút những electron dao động chung quanh bởi lực điện từ mà photon là sứ giả truyền tin, rồi hạt nhân nguyên tử cũng lại do proton cùng neutron gắn kết với nhau mà thành, sau hết proton và neutron cũng đều là trạng thái liên kết của quark u, d  qua trao đổi gluon. Cứ thế như những con mẫu búp bê Nga liên hồi chứa đựng nhau, chuỗi dài của những hạt cơ bản đi từ phân tử đến quark là cả một quá trình sáng tạo, khám phá bền bỉ khi lên lúc xuống, lý thuyết cùng thực nghiệm chặt chẽ đan xen.  Theo sự hiểu biết hiện đại thì hạt cơ bản là quark và lepton, chúng là những viên gạch sơ đẳng tận cùng để cấu tạo nên vật chất bất động hay sinh động ít nhất là trên Trái đất, hệ Mặt trời, thâm chí cả trong giải Ngân hà.   Còn vũ trụ thì muôn hình vạn trạng, từ xa xưa đó là vũ trụ thần linh, huyền thoại, thiên đình, nhân dạng, địa tâm, nhật tâm trải dài từ các nền văn hóa Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Maya …, đến nay thì vũ trụ được hiểu là ra đời cách đây khoảng 13.7 tỷ năm từ một trạng thái sơ khai ở đó nhiệt độ và năng lượng cực kỳ lớn dồn ép trong một không gian vô cùng nhỏ đã xảy ra một vụ nổ lớn kinh hoàng mang tên gọi Big Bang làm vũ trụ tăng dần kích thước.   Nơi xảy ra vụ nổ chính là chỗ bạn đang đọc bài này cũng như ở bất cứ nơi đâu trong toàn vũ bao la vì trong thời-điểm ấy mọi chỗ ngày nay tách biệt hàng tỷ năm ánh sáng thực ra đã cùng chụm lại ở cái không-điểm kỳ dị ấy, chẳng có một trung tâm vũ trụ ban đầu nào cả. Thuyết Big Bang tiên đoán sự hiện hữu tất yếu của một hiện tượng vật lý mang tên “bức xạ nền vũ trụ”, đó là ánh sáng tàn dư của cái thuở ban đầu cực nóng mà nay lạnh chỉ còn 2°.725 độ Kelvin đang lan toả khắp nơi trong toàn vũ. Sự khám phá tình cờ ra nó năm 1965 bởi Arno Penzias và Robert Wilson (giải Nobel 1978) là bằng chứng thực nghiệm rất thuyết phục về Big Bang. Ngày nay trong vũ trụ bao la đó có chừng 96% một cái năng-khối lượng gì mà chúng ta chưa từng biết , chúng mang tên gọi Năng lượng tối (chiếm khoảng 74%) và Vật chất tối (chiếm 22%). Còn lại chừng 4% là vật chất bình thường quen thuộc mà phản ứng tổng hợp nhiệt hạch của chúng làm chói sáng bầu trời ban đêm, trong đó neutrino, chi phối duy nhất bởi lực hạt nhân yếu, đóng vai trò cực kỳ quan trọng.  Năng lượng tối liên hệ đến sự dãn nở ngày càng tăng tốc của vũ trụ từ 7 tỷ năm gần đây mà ngược lại từ 13.7 đến 7 tỷ  năm trước đó, do sức ép của trọng trường vật chất, vũ trụ đã giảm dần gia tốc tăng trưởng của thủa ban đầu Big Bang. Còn Vật chất tối là ngôn từ để diễn tả sự gắn kết mạnh mẽ giữa các chùm thiên hà xa xăm không cho chúng phân tán. Vật chất tối kỳ lạ này không bức xạ, nghĩa là không bị chi phối bởi ba tương tác cơ bản quen thuộc (điện từ, mạnh và yếu của hạt nhân nguyên tử), khối lượng của nó chỉ có vai trò duy nhất là tạo ra trọng lực hút vào để giữ cho các thiên hà góp thành chùm chứ không tung bay khắp phía. Nguồn gốc và bản chất bí ẩn của năng lượng tối (mang tính chất đẩy ra) và vật chất tối (mang tính chất ép vào), hai thành phần chế ngự hầu như toàn diện vũ trụ, là đề tài nóng bỏng của thiên văn và vật lý hạt cơ bản hiện đại.  Kỳ lạ và bí ẩn thay, 96% năng – khối lượng của vũ trụ ở ngoài tầm hiểu biết hiện nay của con người!  Trở lại hiện tình của các hạt cơ bản mà sơ đồ được tóm tắt trong Hình 1, chúng gồm có hai phần: những fermion (hạt có spin ½)(2) như  quark và lepton và những boson chuẩn (hạt có spin 1) như photon, gluon và Z, W.    Có sáu loại quark mang ký hiệu u(up), d(down), s(strange), c(charm), t(top), b(bottom), và sáu loại lepton bao gồm ba hạt e– (electron), μ– (muon), τ– (tauon) mang điện tích âm -e, và ba hạt neutrino ve, vμ, vτ trung hòa điện tích, theo thứ tự ba hạt neutrino này bao giờ cũng sánh đôi từng cặp với ba hạt electron, muon, tauon trong sự vận hành. Sự cân bằng trong thiên nhiên về số lượng: 6 loại quark và 6 loại lepton không tình cờ mà là hậu quả sâu sắc (nhưng khá kỹ thuật chuyên môn) của đối xứng chuẩn trong lý thuyết trường lượng tử.   Chỉ có bốn lực cơ bản chi phối sự tương tác của vật chất, đó là các lực hạt nhân mạnh, yếu cùng với điện từ và hấp dẫn (hay thuyết tương đối rộng). Ba tương tác “phi hấp dẫn“: mạnh, yếu, điện từ đã thành công trong việc được lượng tử hóa và tái chuẩn hóa (điều mà luật hấp dẫn của thuyết tương đối rộng không/chưa làm được), chính vì vậy mà ba lực này diễn giải nhất quán và chính xác những tác động của các hạt vi mô cơ bản.   Lực mạnh gắn kết quark trong hạt nhân nguyên tử và làm cho vật chất vững bền nói chung.   Lực điện từ diễn tả electron tương tác với proton trong hạt nhân nguyên tử để tạo nên các nguyên tử và phân tử của các hóa chất trong bảng tuần hoàn Mendeléev cũng như của các tế bào và gen sinh vật.   Lực yếu chi phối toàn diện sự vận hành của neutrino, làm cho một số hạt nhân nguyên tử phân rã và phát tán neutrino.   Quark cũng như lepton  tương tác với nhau qua trao đổi các boson chuẩn (gauge boson). Boson chuẩn của lực mạnh là gluon, của lực điện từ là photon và của lực yếu là hai boson W, Z, chúng tựa như keo hồ có vai trò làm trung gian nối kết và truyền tải thông tin cho các viên gạch cơ bản quark và lepton tương tác với nhau và tạo thành vật chất.  Abdus Salam, người Pakistan, cùng với hai người Mỹ Sheldon Glashow và Steven Weinberg đã khám phá ra là mặc dầu hai định luật cơ bản điện-từ và yếu có cường độ tương tác quá khác biệt nhưng thực ra chúng có rất nhiều đặc tính chung và hơn nữa có thể kết hợp trong một tương tác duy nhất mà Salam đặt tên là Điện-Yếu. Sự thống nhất này được thực hiện nhờ một cơ chế gọi là Phá vỡ Tự phát tính Đối xứng (Spontaneous Breaking of Symmetry, SBS) mà người tiên phong mở đường là Yoichiro Nambu, giải Nobel 2008 và Peter Higgs dùng ý niệm SBS để tìm ra một kịch bản (gọi là cơ chế và hạt Higgs) mang khối lượng cho W, Z và cả cho quark lẫn lepton(3).  Thành tựu này gọi là Mô Hình Chuẩn (Standard Model) đã mang lại khoảng hai chục giải Nobel trong vài chục năm gần đây.                      Hình 1: Sơ đồ các hạt cơ bản          Tương tác mạnh (strong interaction) của các quark trao đổi gluon giữa chúng còn được gọi là Sắc động lực học lượng tử (Quantum Chromodynamics hay QCD), thuật ngữ vay mượn của Ðiện động lực học lượng tử (Quantum Electrodynamics hay QED) diễn tả tương tác điện từ của các hạt mang điện tích trao đổi photon giữa chúng.   Hai danh từ sắc và điện để chỉ định hai tính chất lượng tử riêng biệt, sắc tích (color charge) của quark và điện tích (electric charge) của lepton e–, μ–, τ–. Thuật ngữ sắc dùng ở đây chẳng có chút liên hệ gì tới màu sắc xanh, đỏ của ngôn ngữ bình thường. Theo một định lý sâu sắc của lý thuyết trường lượng tử liên kết spin với phép thống kê, vì có spin ½ nên khi 3 quark kết hợp với nhau trong trạng thái căn bản để tạo thành proton thì quark phải mang 3 đặc tính lượng tử (mà ta gọi là 3 sắc tích) để tuân thủ phép thống kê Fermi-Dirac. Quark khác lepton ở chỗ là ngoài sắc tích ra, chúng cũng mang điện tích, nhưng điện tích của chúng không phải là con số nguyên (-1)e như electron (hay muon và tauon) mà + (⅔)e cho ba quark u, c, t  và – (⅓)e cho ba quark d, s, b. Con số 3 này đeo đuổi hoài nhà vật lý trứ danh Murray Gell-Mann (giải Nobel 1969) ở Đại học Caltech 4.  Chính vì quark có cả sắc tích và điện tích nên chúng bị chi phối bởi cả ba lực: mạnh, điện từ và yếu. Còn electron, muon, tauon vì mang điện tích nên bị tác động bởi hai lực: điện từ và yếu. Neutrino vì trung hòa điện tích nên chỉ bị chi phối duy nhất bởi lực yếu mà thôi. Thuật ngữ yếu thoạt nghe tưởng như nhỏ yếu ít tác động, nhưng thực ra nó chủ chốt chi phối các phản ứng tổng hợp nhiệt hạch trong các thiên thể, phát tán ra năng lượng cực kỳ cao mang ánh sáng cho bầu trời ban đêm cũng như phóng ra hàng muôn tỷ hạt neutrino từng giây đang xuyên qua mỗi cm2  da thịt chúng ta.   Sự tổng hợp nhiệt hạch trong tâm lõi mặt trời cũng như trong các thiên thể của vũ trụ bao la: 4 H  → He +  2 e+  + 2 ve  là thí dụ của tương tác yếu với phát xạ neutrino (Hình 2, 3). Vì khối lượng của 4 nguyên tử Hydrogen lớn hơn khối lượng của Helium nên thặng dư đó biến thành năng lượng theo E = mc2 để làm trung tâm mặt trời nóng rực tới chừng 20 triệu độ.          Hình 2: tổng hợp nhiệt hạch: 2 proton → proton + neutron + e+  + ve                     Hình 3: tổng hợp nhiệt hạch: 4 H  → He4 +  2 e+  + 2 ve             Neutrino xuất hiện khắp nơi trong hoàn vũ, không những từ tâm lõi các thiên thể  mà cũng trong lòng sâu quả đất do phóng xạ tự nhiên của vài khoáng chất, đặc biệt Uranium. Phóng xạ tự nhiên này tạo nên plasma nóng khoảng 6000° trong tâm trái đất, nhiệt lượng đó xoay vần và chuyển dần ra các lớp đất bên ngoài để đôi khi, qua những hoạt động của núi lửa, phun lên khí cùng hoá chất cực nóng (Hình 4). Mới cách đây 18 ngàn năm trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ băng thạch, tuyết phủ dầy đặc bao trùm phần lớn quả cầu, ngay cả vùng xích đạo. Biết đâu tổ tiên chúng ta người tiền sử  đã thoát khỏi nạn tuyệt chủng bởi cái lạnh kinh hoàng này, vì may thay cùng xảy ra trong thời kỳ băng lạnh đó thì núi lửa lại hoạt động cực kỳ mạnh  với khí nóng lan toả nhanh chóng xuống mặt đất qua hiện tượng nhà kính, mà nhiệt lượng sản xuất trong lòng trái đất chính là bởi phóng xạ neutrino tự nhiên này.           Hình 4: vật chất trong lòng trái đất xoay vần, chuyển nhiệt từ trong ra ngoài, tạo nên hoạt động núi lửa          2- Một thoáng lịch sử ra đời của neutrino  Henri Becquerel và vợ chồng Pierre & Marie Curie là những người đầu tiên phát hiện một số hạt nhân nguyên tử tự nhiên phóng xạ mà chẳng do một tác động nào từ bên ngoài.  Một trong những hình thức bức xạ tự nhiên là sự phân rã từ hạt nhân A (thí dụ  Carbon 14) biến đổi sang hạt nhân B (Nitrogen 14) mà điện tích lớn hơn điện tích của A một đơn vị e, kèm theo một electron, gọi là phân rã Bêta (Hình 5). Nếu chỉ có electron phát ra thôi (A → B + electron) thì luật bảo toàn năng lượng cho ta biết ngay là electron chỉ có duy nhất một năng lượng cố định, đó là hiệu số EA – EB (năng lượng của A trừ đi năng lượng của B), nghĩa là nếu không có ‘một cái gì đó’ kèm theo thì phổ năng lượng của electron phải là đường thẳng đứng màu đỏ (Hình 6) ở điểm tận cuối phổ năng lượng (endpoint spectrum).   Ngạc nhiên biết mấy, khi đo lường năng lượng của electron thì thấy nó có bất kỳ một trị số nào nằm giữa 0 và EA – EB, vậy phổ năng lượng của electron là một đường liên tục (Hình 6, đường cong màu đen). Chẳng lẽ định luật phổ quát nhất của vật lý, định luật bảo toàn năng lượng lại bị vi phạm trong trường hợp đặc biệt của phân rã Bêta sao? Ngay cả vị trưởng lão Niels Bohr của trường phái Copenhagen về cách diễn giải cơ học lượng tử, cha đẻ của lý thuyết nguyên tử, cũng đành miễn cưỡng chấp nhận sự vi phạm này.                       Hình 5: Phân rã Bêta        Hình 6: Phổ năng lượng của electron                               Nhưng Wolfgang Pauli không thể đồng ý với cách thỏa hiệp dễ dãi ấy của Bohr, bảo toàn năng lượng là định luật phổ quát mà tất cả mọi hiện tượng phải tuyệt đối tuân thủ. Để giải đáp nghịch lý này, năm 1931 Pauli giả định là phải có một cái gì đó phát ra đồng thời với electron để chia sẻ với nó tổng số năng lượng EA – EB theo như sơ đồ A → B + electron + cái gì đó (Hình 5), tựa như neutron → proton + electron + cái gì đó. Vì neutron trung hoà điện tích và cặp proton + electron triệt tiêu điện tích của nhau nên hạt giả định bởi Pauli phải trung hòa không mang điện tích, nó cũng phải mang spin ½ như electron (vì A và B đều có spin như nhau) và hầu như không có khối lượng (vì năng lượng cực đại của electron hầu như bằng EA – EB). Hơn nữa, so với phóng xạ rất nhanh của điện từ (như tia X) thì phân rã Bêta lại rất chậm chạp, nghĩa là cường độ lực phân rã hạt nhân rất nhỏ nên được gọi là lực yếu và neutrino hoàn toàn bị chi phối bởi lực này. Khác với electron mang điện tích, cái hạt giả định bởi Pauli đã nhẹ như tơ lại còn trung hoà – không bị chi phối bởi lực điện từ dễ quan sát hơn nhiều mà chỉ vận hành bởi một lực mà cường độ tương tác lại rất yếu – nên xác định bằng thực nghiệm sự hiện hữu của nó là một điều cực kỳ khó khăn, và Pauli đành tuyên bố: Tôi chót phạm vào một điều tai quái là đã giả định sự hiện hữu của một hạt nhưng lại không sao dò tìm ra nó được.           Wolfgang Pauli (giải Nobel 1945)          Từ nay mang ký hiệu ν, hạt ma rất khó nắm bắt này chính là neutrino (neutron nhỏ), tên đặt ra bởi Enrico Fermi, vị giáo hoàng của nền vật lý Ý, khi ông ghép trung hoà (neutre) với nhỏ xíu (ino), hai ngôn từ gắn bó với quê hương ông. Lần đầu tiên năm 1955 có duy nhất một hạt e được phát hiện bởi Cowan và Reines trong một thực nghiệm ở lò điện hạt nhân Savannah River. Ngày nay chùm neutrino được sản xuất dễ dàng từ các máy gia tốc hạt mà LHC (Large Hadron Collider) của Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạt nhân (CERN) đóng vai trò hàng đầu thế giới.   Nhưng neutrino không chỉ sản xuất trên trái đất, còn có hàng muôn tỷ neutrino trong vũ trụ từ các thiên thể xa xăm, kể cả mặt trời, đến với chúng ta, vấn đề là làm sao dò được ra, rồi xác định cùng đo lường tính chất của chúng. Các nhà thiên văn-vật lý dùng nhiều máy móc rất khác nhau để tìm bắt, quan sát neutrino. Ở Kamiokande (Nhật) máy dò là một bình khổng lồ chứa 50 ngàn m3 nước tinh khiết như pha lê trong đó lung linh hàng ngàn thiết bị điện tử tinh vi đặt dưới hầm mỏ thiếc (Hình 7), nhóm IMB đặt máy trong hầm mỏ muối ở Ohio (Mỹ), ở Baksan (Nga) đài quan sát neutrino đặt sâu trong rặng núi Caucasus (Hình 8). Ngày 23 tháng 2 năm 1987 ba đài ‘thiên văn-neutrino’ này đã quan sát đo lường được cả thảy 24 hạt đến từ một siêu tân tinh (supernova) SN1987A trong thiên hà Magellan (sát cạnh giải Ngân hà) cách đây 163 ngàn năm đã nổ bùng mà độ chói sáng rực rỡ tương đương với mươi tỷ mặt trời và phát tán hằng hà sa số, tổng cộng 1058   hạt neutrino              Hình 7: Máy dò neutrino ở Kamiokande               Hình 8: Đài quan sát neutrino ở Baksan                        3- Đặc tính của neutrino và viễn tượng     3a- Khối lượng: To be or not to be. Ngay từ thủa sơ khai mà Pauli hình dung ra hạt neutrino, khi đo lường năng lượng của electron phát ra bởi phân rã Bêta ở điểm tận cuối phổ năng lượng, người ta thấy ngay là neutrino ve có khối lượng quá ư nhỏ nhoi, khoảng một phần triệu khối lượng của electron. Còn khối lượng của vμ và vτ  tuy không đo được chính sác như ve  nhưng chắc chắn là chúng cũng rất nhỏ so với khối lượng của hai bạn đồng hành muon và tauon. Mô hình chuẩn bèn đưa ra tiên đề chấp nhận là cả ba loại neutrino ve, vμ, vτ đều có khối lượng bằng 0.  Trong vũ trụ chỉ có duy nhất hạt ánh sáng (photon) của lực điện từ là phải không có khối lượng 6, đó là một điều kiện tiên quyết của đối xứng chuẩn trong Ðiện động lực học lượng tử (QED). Trái lại, không có một lý thuyết nào bó buộc một fermion như neutrino phải có khối lượng bằng 0 cả, khác với photon là một boson chuẩn làm trung gian để nối kết và truyền tải lực điện từ cho các viên gạch cơ bản mang điện tích tương tác với nhau. Vậy câu hỏi neutrino có (hay không có) khối lượng, một tính chất rất quan trọng cần phải được soi sáng và định lượng. Khối lượng khác 0 của neutrino có thể đáp ứng phần nào câu hỏi về cấu trúc vận hành nói chung của vũ trụ, về vật chất tối là gì, về tại sao chỉ có vật chất mà vắng bóng phản vật chất trong toàn vũ.  Nếu có, thì khối lượng của neutrino là bao nhiêu, bằng cách nào mà có thể cân đo những khối lượng quá ư nhỏ bé đó được ? Cách thức cân đo này gọi là sự dao động chuyển hoán giữa ba loại ve, vμ, vτ neutrino7 . Sự chuyển hoán giữa ba loại neutrino này chỉ có thể xảy ra nếu chúng có khối lượng khác nhau, tức là ít nhất hai trong ba loại neutrino phải có khối lượng khác 0 và cũng khác nhau nữa.  Trải qua hơn 30 năm, với biết bao nhiêu thực nghiệm kiên trì quan sát đo lường khởi đầu từ năm 1968 ở hầm mỏ muối Homestake (Mỹ) bởi Raymond Davis và kết thúc năm 2001 bởi Masatoshi Koshiba ở hầm mỏ thiếc Super-Kamiokande (Nhật), câu hỏi mới được trả lời là neutrino có khối lượng tuy rất nhỏ nhưng khác 0 và mang lại cho hai vị giải Nobel 2002.   3b- Neutrino và Phản Neutrino. Trong 12 viên gạch cơ bản có 6 loại quark và 3 hạt electron, muon, tauon đều mang điện tích âm hoặc dương. Những hạt có điện tích này phải khác phản hạt của chúng vì điện tích của phản hạt và của hạt ngược dấu nhau, ta gọi chung là loại hạt Dirac. Trái lại neutrino vì trung hòa điện tích nên có khả năng là neutrino cũng chính là phản neutrino, tuy hai mà một. Ta gọi nó là neutrino Majorana, khác với trường hợp neutrino Dirac theo đó neutrino và phản neutrino khác nhau, thí dụ neutrino Dirac có spin xoay trái thì phản neutrino Dirac xoay phải. Còn neutrino Majorana có cả hai thành phần, xoay trái và xoay cả phải.  Bản chất neutrino thuộc vào loại nào?, Dirac hay Majorana, đang được thực nghiệm kiểm chứng qua sự phân rã rất hiếm gọi là Bêta kép:    neutron+ neutron →proton + proton + e– + e– + 2  phản neutrino  (Dirac)    neutron+ neutron → proton + proton + e– + e–  + 0 neutrino   (Majorana)  Bản chất cũng như khối lượng của neutrino là hai điều tối cần thiết cho sự hiểu biết về hạt này và để lại những hậu quả quan trọng đo lường được. Trong tất cả các hạt cơ bản, duy nhất neutrino là có tiềm năng thuộc vào loại Majorana theo đó phản hạt với hạt lồng ghép trong nhau tuy hai mà một.      3c-Thiên văn-Vật lý Neutrino. Ánh sáng khắp nơi trong vũ trụ đến với chúng ta chỉ là từ vỏ ngoài mặt của các thiên thể vì photon sinh ra trong tâm lõi các vì sao không thoát ra ngoài nổi mà bị hấp thụ cùng biến đổi bởi môi trường nóng đặc ở trong thiên thể. Chính vì photon không thể cho ta thông tin về cái gì xảy ra trong tâm các vì sao mà neutrino đã được tận dụng để tìm hiểu các phản ứng tổng hợp hạt nhân xảy ra trong đó, trước hết bằng cách đo lường thông lượng của neutrino sản xuất bởi mặt trời. Vì chỉ bị chi phối bởi lực hạt nhân yếu với cường độ tác động quá nhỏ nên neutrino xuyên suốt từ trong ra ngoài mặt trời để đến trực tiếp máy dò trên trái đất mà không hề thay đổi tính chất. Neutrino từ tâm lõi mặt trời đã cho ta thông tin đầu tiên là neutrino có khối lượng khác 0 qua quan sát đo lường bởi nhóm của Davis ở Homestake (coi đoạn 3a).  Nhưng neutrino của mặt trời chỉ có năng lượng tương đối nhỏ, trái lại từ ngoại vi của các thiên hà xa xăm, thậm chí từ biên ải tận cùng của vũ trụ, lân cận các lỗ đen, ở những nơi đó đã phát tán ra neutrino bởi những nguồn năng lượng lớn hơn hàng tỷ lần năng lượng mặt trời. Nhiều đài thiên văn-neutrino đồ sộ – nằm sâu dưới mặt băng tuyết ở Nam cực hay biển cả –  được xây dựng để khảo sát đo lường những neutrino năng lượng cực kỳ cao đó, và một ngành mới gọi là thiên văn-neutrino đang ra đời và phát triển mạnh.     3d- Lớn hơn vận tốc ánh sáng ? Vì neutrino có khối lượng tuy khác 0 nhưng cực kỳ nhỏ nên trong thực tế vận tốc của neutrino chẳng khác gì vận tốc c của ánh sáng photon. Ngoài neutrino ra, không hạt nào khác mang tiềm năng có vận tốc bằng, thậm chí lớn hơn, c  cả. Không nghi ngờ gì, neutrino là ứng viên không những độc nhất mà cũng sáng giá nhất có cái tiềm năng độc đáo này, đặc biệt đối với neutrino có năng lượng cực kỳ cao hay/và neutrino loại Majorana. Mới đây nhóm thực nghiệm OPERA ở Gran Sasso (Ý) đưa ra báo cáo neutrino có vận tốc lớn hơn c với tất cả sự thận trọng cần thiết . Phải cần nhiều thực nghiệm rất khác nhau và cũng rất khó khăn để kiểm chứng kết quả quá ngạc nhiên, thậm chí đáng nghi ngờ này, vì nếu đúng thì cả một nền tảng, một hệ hình của vật lý cận đại – từ thuyết Lượng tử đến thuyết Tương đối – đều lung lay và một mô thức hậu Einstein đầy thú vị sẽ nẩy sinh. Tuy hãy còn quá sớm để phỏng đoán điều gì nhưng đó là một thách thức tuyệt vời cho ngành thiên văn-vật lý neutrino gửi đến thế hệ trẻ.  —————-                                                                                                  (*) C. Cowan and F. Reines, Nature 178, 446 (1956)    (1)  Khám phá quan trọng khởi đầu từ năm 1998 đang trên đà phát triển mạnh, nó bất ngờ vì trái ngược với trực giác và định kiến, đó là thay vì giảm tốc do áp lực co hút, nén vào của trọng trường vật chất, vũ trụ lại tăng tốc và dãn nở mạnh hơn lên! Thực thế vụ nổ Big Bang kinh hoàng ban đầu với một lực đẩy ra cực kỳ mạnh đã tạo ra không-thời gian và làm nó dãn nở, nhưng sau đó vũ trụ nguội dần, đám mây các hạt cơ bản ban đầu đặc lại và hút lẫn nhau tạo nên những chùm thiên hà. Chúng phải gây ra một trọng trường để nén ép không gian co lại và vũ trụ vì thế có nhiều khả năng giảm dần tốc độ dãn nở. Để trả lời câu hỏi là không gian giảm gia tốc dãn nở  ra sao, hai nhóm các nhà thiên văn – dẫn đầu một bên bởi Saul Perlmutter ở Berkeley (Mỹ) và bên kia bởi Brian Schmidt ở Mount Stromlo (Úc) cùng Adam G. Riess ở Baltimore (Mỹ) –  tìm cách đo lường sự giảm tốc này bằng cách đo lường vận tốc tách rời nhau (qua sự xê dịch về phía đỏ của quang phổ) của các siêu tân tinh (supernovae) loại Ia ở nhiều khoảng cách khác nhau (qua độ sáng vô cùng rực rỡ của chúng).   Sau gần mười năm cật lực tìm tòi khoảng 50 siêu tân tinh loại Ia để đo lường khoảng cách cùng vận tốc tách rời nhau của chúng, hai nhóm Mỹ và Úc đưa ra kết luận giống nhau và rất bất ngờ: vũ trụ tuy có giảm tốc tăng trưởng nhưng chỉ trong có 7 tỷ năm đầu thôi, sau đó nó lại tăng tốc dãn nở cho đến nay. Biện minh và bổ sung thêm cho khám phá sửng sốt này đến từ những đo lường mới đây rất chính xác bởi vệ tinh WMAP về sự thăng giáng nhiệt độ của bức xạ nền, chúng cho ta một biên vũ trụ Euclid không lồi lõm mà phẳng và đang dãn nở ngày càng nhanh. Điều này đòi hỏi một lực đẩy vạn vật ra xa, chống lại lực hút vào của trọng trường vật chất, nghĩa là cần phải có một áp lực mới để sinh ra lực đẩy đó. Thành phần năng lượng diễn tả lực đẩy mới này mang tên năng lượng tối. Để có được sự tăng tốc dãn nở ở thời điểm 7 tỷ năm sau Big Bang, tính toán cho biết năng lượng tối phải chiếm đến khoảng 74% tổng năng – khối lượng của toàn vũ. Trong 26% còn lại, chỉ chừng 4% là vật chất bình thường quen thuộc mà phản ứng nhiệt hạch của chúng làm chói sáng bầu trời ban đêm. Phần 22% sau rốt là một loại vật chất tối hoàn toàn khác lạ. Vật chất tối kỳ lạ này không bức xạ, nghĩa là không bị chi phối bởi ba tương tác cơ bản quen thuộc (điện từ, mạnh và yếu của hạt nhân nguyên tử), khối lượng của nó chỉ có vai trò duy nhất là tạo ra trọng lực hút vào để giữ cho các thiên hà góp thành chùm chứ không tung bay khắp phía.  Giải Nobel vật lý 2011 vinh tặng Saul Perlmutter, Brian Schmidt và Adam G. Riess về khám phá này.  (2) Đơn vị đo lường của spin là ħ = h/2π, h là hằng số Planck. Qua phương trình Dirac, spin ћ/2 của fermion là một đặc trưng độc đáo của lượng tử. Spin miêu tả tính chất quay vòng nội tại của các hạt vi mô cơ bản (như con quay xoay chung quanh trục của nó), spin  ћ/2 = h/4π nghĩa là hạt phải quay hai vòng (4π) mới trở lại vị trí ban đầu, điều không tưởng trong cơ học cổ điển.   (3)  Coi bài “Địa trục, Thiên hà ” của Phạm Xuân Yêm trong tập1 của Kỷ Yếu 2009, 400 năm Thiên văn học & Gallieo Gallilei, nxb Tri Thức, Hanoi (2009). Chi tiết có thể tham khảo trong cuốn giáo trình Elementary Particles and their Interactions, Concepts and Phenomena của Hồ Kim Quang và Phạm Xuân Yêm, nxb Springer, Berlin, New York (1998) và bản dịch sang tiếng Trung Quốc bởi nxb Beijing World Publishing Corp. (2009), với các chương: 7 về quark và SU(3), 8 và 9 về SBS, Điện-Yếu, QCD, 12 về neutrino, 17 về hạt Higgs.  (4) Ba quark nhẹ u, d, s với nhóm SU (3)flavor  rồi lại 3 sắc tích với nhóm SU (3)color , sau hết lại điện tích phân số (⅔)e cho 3 quark u, c, t  và – (⅓)e cho 3 quark d, s, b.   Tên quark cũng như điện tích phân số + (⅔)e, – (⅓)e của chúng là do Murray Gell-Mann khám phá ra. Vì túng danh từ thông dụng, ông mượn câu bí ẩn “Ba quark cho Muster Mark” của nhà văn James Joyce trong cuốn truyện Finnegans Wake để đặt tên quark cho ba thành phần u, d, s của vật chất mà Gell-Mann tiên đoán với dụng cụ toán học là nhóm đối xứng SU(3) giữa ba thành phần cơ bản đó. Chính câu “quark” kèm theo con số 3 gợi cho ông tên lạ lùng này.   (5) Harvard Museum of Natural Science.  (6)  Gluon – không trực tiếp quan sát đo lường được, do tính chất  ‘’ nô lệ hồng ngoại ‘’ của lực hạt nhân mạnh QCD – được coi như cũng không có khối lượng.  (7)  Dao động giữa các loại neutrino ve, vμ, vτ nghĩa là một loại có thể chuyển hoán biến thành loại khác, thí dụ ve  chuyển thành vμ  hay vτ . Điều này chỉ xảy ra nếu chúng có khối lượng khác nhau.Ta có thể tính toán được sự dao động đó, dựa trên ý tưởng của B. Pontecorvo và sự hỗn hợp (mixing) giữa các loại neutrino do Z. Maki, M. Nakawara và S. Sakata đề xướng vào những năm đầu 1950. Nhóm của Davis quan sát đo lường được ve chuyển hoán thành vμ, còn nhóm của Koshiba là vμ chuyển hoán thành vτ. Chi tiết về sự dao động neutrino được diễn giải ở chương 12 trong sách Elementary Particles and their Interactions, Concepts and Phenomena giới thiệu ở phụ chú  3.  (8) Nhóm thực nghiệm  Opera ở CERN và Gran Sasso http://arxiv.org/abs/1109.4897    Author                Quản trị        
__label__tiasang Neutrino, sứ giả liên kết Vũ trụ và Hạt cơ bản      Hạt cơ bản neutrino đóng vai trò nào trong cuộc tìm kiếm cội nguồn và bản thể của con nguời trong vũ trụ, chúng ta từ đâu đến, là gì, về đâu, những câu hỏi muôn thủa mà giải Nobel vật lý 2015 vén mở đôi phần.  Vũ trụ (tổng thể vĩ mô bao trùm vạn vật, kể cả không gian lẫn thời gian) và Hạt cơ bản (những viên gạch vi mô cấu tạo nên vật chất) – mà con người từng sáng tạo, khám phá hai thái cực vô cùng lớn cũng như vô cùng nhỏ của thế giới tự nhiên – không bất biến, nhận thức về chúng thăng trầm theo các nền văn hóa và thời đại.    1. Sơ lược hiện tình về vũ trụ  Ngày nay vũ trụ được hiểu là ra đời cách đây 13.8 tỷ năm từ một nhiệt độ và năng lượng cực kỳ lớn dồn ép trong một không gian vô cùng nhỏ đã xảy ra một vụ nổ kinh hoàng mang tên gọi Big Bang làm nó dãn nở nhanh chóng, ước tính khoảng cách (giữa trái đất và chân trời của vũ trụ) là 47 tỷ năm-ánh sáng.   Thuyết Big Bang tiên đoán sự hiện hữu tất yếu của một hiện tượng vật lý mang tên “bức xạ nền vũ trụ”, đó là ánh sáng tàn dư của cái thuở hồng hoang cực nóng mà nay lạnh chỉ còn 2°,725 độ Kelvin đang lan tỏa khắp nơi trong toàn vũ. Sự khám phá tình cờ ra nó năm 1965 bởi Penzias và Wilson là bằng chứng thực nghiệm rất thuyết phục về Big Bang. Ngày nay trong vũ trụ bao la đó có chừng 95% của một cái năng-khối lượng gì đó mà chúng ta chưa từng biết, chúng mang tên gọi Năng lượng tối (chiếm khoảng 68%) và  Vật chất tối (chiếm 27%). Còn lại chừng 5% là vật chất bình thường quen thuộc mà phản ứng tổng hợp nhiệt hạch trong tâm lõi các vì sao làm chói sáng bầu trời. Hạt neutrino, chi phối duy nhất bởi lực hạt nhân yếu, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phản ứng nhiệt hạch này.  Năng lượng tối diễn tả sự dãn nở ngày càng tăng tốc của vũ trụ từ hơn 7 tỷ năm gần đây, ngược lại từ 13.8 đến 7 tỷ năm về trước đó, do sức ép của trọng trường vật chất, vũ trụ đã giảm dần gia tốc tăng trưởng của thủa ban đầu Big Bang. Còn Vật chất tối diễn tả sự gắn kết mạnh mẽ giữa các chùm thiên hà xa xăm không cho chúng phân tán. Vật chất tối này không bức xạ, không bị chi phối bởi ba tương tác cơ bản quen thuộc (lực điện-từ, hai lực mạnh và yếu của hạt nhân nguyên tử), khối lượng của vật chất tối chỉ có vai trò duy nhất là tạo ra một lực ép mới lạ để giữ cho các thiên hà góp thành chùm chứ không tung bay khắp phía. Nguồn gốc và bản chất bí ẩn của năng lượng tối (mang tính chất đẩy ra) và vật chất tối (mang tính chất hút vào), hai thành phần chế ngự hầu như toàn diện vũ trụ, là đề tài nóng bỏng của thiên văn và vật lý hạt cơ bản hiện đại.  Kỳ lạ và bí ẩn thay, 95% năng-khối lượng của vũ trụ ở ngoài tầm hiểu biết hiện nay của con người!  2. Sơ lược hiện tình về hạt cơ bản   Những viên gạch sơ cấp cấu tạo nên vật chất gồm hai phần tóm tắt trong Hình 1: fermion (hạt có spin ½) như quark với lepton và boson chuẩn (hạt có spin 1) như photon, gluon và W±, Z0.  Có sáu loại quark mang ký hiệu u (up), d (down), s (strange), c (charm), t (top), b (bottom), và sáu loại lepton bao gồm ba hạt e– (electron), μ– (muon), τ – (tauon) mang điện tích âm -e, và ba hạt neutrino ve, vμ, vτ trung hòa điện tích, ba hạt neutrino này bao giờ cũng sánh đôi từng cặp với e– , μ–, τ – vì chúng lần lượt là sản phẩm của phân rã bêta kèm theo các hạt electron, muon và tauon.  Chỉ có ba lực cơ bản chi phối những tương tác của các hạt cơ bản, đó là hai lực hạt nhân mạnh và yếu cùng với lực điện-từ. Lực mạnh gắn kết quark trong hạt nhân nguyên tử làm cho vật chất vững bền nói chung. Lực yếu làm cho hạt nhân phân rã và chi phối toàn diện sự vận hành của neutrino. Lực điện-từ diễn tả electron tương tác với hạt nhân nguyên tử, tạo nên các nguyên tử và phân tử của các hóa chất trong bảng tuần hoàn Mendeléev cũng như của các tế bào và gen sinh vật.   Quark cũng như lepton tương tác với nhau qua sự nối kết bởi các boson chuẩn để truyền tải lực. Boson chuẩn của điện-từ là photon, của lực mạnh là gluon, của lực yếu là W± và Z0.   Thành tựu tuyệt vời này gọi là Mô Hình Chuẩn, mà đỉnh cao là sự thống nhất lực yếu với lực điện-từ qua cơ chế Higgs trong đó neutrino và Z0 đóng vai trò tiền phong quyết định, đã mang lại khoảng ba chục giải Nobel trong ba chục năm gần đây.             Hình 1: Sơ đồ các hạt cơ bản  Lực yếu chi phối các phản ứng tổng hợp nhiệt hạch trong các thiên thể. Sự tổng hợp nhiệt hạch trong các vì sao: 4 H → He + 2 e+  + 2 ve là thí dụ của lực yếu với phát xạ neutrino (Hình 2). Vì khối lượng của bốn nguyên tử Hydrogen lớn hơn khối lượng của Helium nên thặng dư khối lượng đó biến thành năng lượng qua E = mc2 để làm trung tâm mặt trời nóng rực tới chừng 20 triệu độ.    Hình 2: Tổng hợp nhiệt hạch: 4 H → He + 2 e+  + 2 ve     Neutrino phát tán không những từ các thiên thể mà cũng từ phóng xạ tự nhiên của Uranium trong tâm lõi của quả đất để tạo nên plasma nóng khoảng 6000° và chuyển dần ra các lớp đất bên ngoài qua núi lửa. Mới cách đây 18 ngàn năm, trong giai đoạn cuối của thời kỳ băng thạch, tuyết phủ dầy đặc bao trùm cả vùng xích đạo. Biết đâu người tiền sử đã thoát nạn tuyệt chủng bởi cái lạnh kinh hoàng này, vì cũng trong thời kỳ đó thì núi lửa lại hoạt động cực kỳ mạnh, nhiệt lượng sản xuất trong lòng trái đất chính là do phóng xạ neutrino tự nhiên này.   3. Bản tính của neutrino và viễn tượng   3 a – Khối lượng: To be or not to be   Người ta đã biết từ lâu là neutrino  ve cũng như  vμ và  vτ có khối lượng quá ư nhỏ nhoi, thậm chí không có. Vậy câu hỏi cực kỳ quan trọng là neutrino có hay không khối lượng cần được soi sáng và định lượng. Bằng cách nào mà cân đo những khối lượng quá ư nhỏ bé đó? cách cân đo này dựa trên sự dao động  và chuyển hoán giữa ba loại neutrino ve, vμ, vτ với nhau, loại này biến thành loại khác, điều chỉ có thể xảy ra nếu chúng có khối lượng khác 0 và cũng khác nhau nữa.   Các nhà thiên văn-vật lý dò tìm neutrino vũ trụ đến từ các sao siêu mới và đặc biệt từ mặt trời rồi xác định cùng đo lường khối lượng của chúng, điều cực kỳ khó khăn ví von như tìm kim cương trong sa mạc. Mặc dầu có vô hạn neutrino trong hoàn vũ (riêng mặt trời phóng ra đã vài chục tỷ neutrino từng giây đang xuyên qua mỗi cm2 da thịt chúng ta) thế mà chỉ có thể phát hiện được vài chục hạt để đo lường tính chất vật lý của chúng. Ở Kamiokande (Nhật) máy dò chứa 50 ngàn m3 nước trong vắt đặt dưới hầm mỏ kẽm (Hình 3), ở Homestake (Mỹ) trong hầm mỏ vàng, ở Baksan (Nga) trong rặng núi Caucasus, ở Sudbury (Canada) nằm sâu trong mỏ thiếc.   Giải Nobel vật lý 2015 dành cho T. Kajita và A. McDonald đã thành công trong sự cân đo được khối lượng các neutrino này, Kajita khám phá ra vμ đến từ vũ trụ bị mất đi một phần khi tới trái đất vì nó dao động biến thành vτ và ve, còn McDonald quan sát thấy ve từ mặt trời đến trái đất cũng một phần biến thành vμ.  Khối lượng khác 0 của neutrino đáp ứng ra sao những câu hỏi về cấu trúc và vận hành nói chung của vũ trụ, tại sao chỉ có vật chất mà vắng bóng phản vật chất trong toàn vũ, bản tính của vật chất tối.               Hình 3: Máy dò neutrino ở Super-Kamiokande  3b – Thiên văn – Neutrino  Ánh sáng khắp nơi trong vũ trụ đến với chúng ta chỉ là từ vỏ ngoài mặt của các thiên thể vì photon sinh ra trong tâm lõi các tinh tú không thoát nổi ra ngoài vỏ mà bị hấp thụ cùng biến đổi bởi môi trường nóng đặc trong các vì sao. Chính vì photon không thể cho ta thông tin trong tâm lõi các thiên thể mà neutrino vũ trụ được tận dụng để tìm hiểu các hiện tượng xảy ra trong đó, trước hết bằng cách đo lường thông lượng của neutrino sản xuất trong tâm mặt trời. Vì lực yếu có cường độ tác động quá nhỏ nên ve xuyên suốt từ trong ra ngoài mặt trời để đến trực tiếp máy dò trên trái đất mà không hề biến đổi, trừ khi bị hoán chuyển thành vμ hay vτ nếu chúng có khối lượng và ngành khoa học mới lạ ‘thiên văn-neutrino’ đang trên đà phát triển mạnh.  Khởi đầu từ năm 1968 ở Homestake bởi R. Davis, tiếp nối bởi M. Koshiba ở Kamiokande, hai vị nhận giải Nobel năm 2002 vì tiên phong mở đường xây dựng ngành thiên văn-neutrino (thiên văn của lực yếu) bổ sung cho ngành thiên văn cổ điển sử dụng ánh sáng (thiên văn của lực điện-từ).  Ngày 24 tháng 2 năm 1987, mấy đài ‘thiên văn-neutrino’ ở Nhật, Mỹ, Nga đã quan sát đo lường được cả thảy 24 hạt đến từ một sao siêu mới SN1987A trong thiên hà Magellan cách đây 170 ngàn năm đã nổ bùng mà độ chói sáng rực rỡ tương đương với mươi tỷ mặt trời và phát tán tổng cộng 1058 hạt neutrino.  Những nguồn năng lượng lớn gấp tỷ lần năng lượng mặt trời từ biên ải của vũ trụ như sao siêu mới hay lân cận các lỗ đen cũng phát tán ra neutrino. Ngoài các hầm mỏ đã nói, nhiều đài thiên văn-neutrino đồ sộ – nằm sâu dưới băng tuyết ở Nam cực hay dưới biển cả – được xây dựng để khảo sát đo lường những neutrino năng lượng cực kỳ cao đó.  3c – Neutrino và Phản Neutrino  Trong 12 viên gạch cơ bản có sáu loại quark và ba hạt electron, muon, tauon, chúng đều mang điện tích. Những hạt có điện tích này phải khác phản hạt (vì điện tích của chúng ngược dấu), ta gọi chung là loại hạt Dirac. Trái lại neutrino vì trung hòa điện tích nên có khả năng là neutrino cũng chính là  phản neutrino, lồng ghép trong nhau tuy hai mà một. Ta gọi nó là neutrino Majorana, khác với trường hợp neutrino Dirac theo đó neutrino và phản neutrino khác nhau, neutrino Dirac có spin xoay trái thì phản neutrino Dirac xoay phải. Còn neutrino Majorana có cả hai thành phần, xoay trái và xoay cả phải. Neutrino thuộc vào loại nào? Bản chất Dirac hay Majorana của neutrino được xác định qua sự phân rã rất hiếm gọi là bêta-kép mà nhiều nhóm thực nghiệm đang tiến hành:  neutron + neutron → proton + proton + e– + e– + 2  phản neutrino  (Dirac)   neutron + neutron → proton + proton + e– + e– + 0 neutrino (Majorana)  Trong tất cả các hạt cơ bản, duy nhất neutrino có tiềm năng thuộc vào loại Majorana, nếu là loại này thì sự bảo toàn số lepton sẽ bị vi phạm, hai electron có thể biến thành hai boson chuẩn W–, điều không thể xảy ra với Mô Hình Chuẩn.   Ngoài ra, neutrino Majorana nếu hiện hữu có thể là ứng viên sáng giá cho ‘vật chất tối’, chiếm 27% thành phần vật chất của Vũ trụ.  Trở về trái đất, neutrino còn được sử dụng thiết thực bởi các nhà địa-vật lý để dò tìm, kiểm soát sự vận hành và an ninh (dân sự, quân sự) của máy điện hạt nhân.   12/10/15            Sự ra đời của hạt neutrino  Cuối thế kỷ 19, Henri Becquerel phát hiện  một số hạt nhân nguyên tử tự nhiên phóng xạ mà chẳng do tác động nào từ  bên ngoài, điển hình là một hạt nhân biến thành một hạt nhân khác kèm  theo electron, gọi là phân rã bêta. Nếu chỉ có electron phát ra thì phổ  năng lượng của nó phải là một điểm duy nhất nhưng khi đo lường thì phổ  lại là một đường liên tục. Để giải đáp nghịch lý, Pauli giả định là phải  có một cái gì phát ra cùng với electron để chia sẻ năng lượng còn lại  giữa hai hạt nhân biến đổi. Hạt giả định này trung hòa điện tích, hầu  như không có khối lượng, hơn nữa so với phóng xạ rất nhanh của lực  điện-từ quen thuộc thì phân rã bêta lại rất chậm, cường độ phân rã vô  cùng nhỏ nên gọi là lực yếu. Quá nhẹ, trung hòa, tương tác lại rất yếu  nên xác định bằng thực nghiệm là cực kỳ khó khăn, nó xuyên suốt trái đất  mà chẳng để dấu ấn gì khiến Pauli năm 1930 thú nhận đã phạm điều tai  quái là giả định sự hiện hữu của một hạt nhưng không sao biết cách tìm  ra.       Hạt ký hiệu ν khó nắm bắt này được Fermi  đặt tên là neutrino bằng cách ghép hai chữ trung hòa (neutre) với nhỏ  xíu (ino), ngôn từ gắn bó với quê hương Ý của ông. Lần đầu tiên năm 1955  hạt ve được phát hiện bởi Cowan và Reines trong một thực nghiệm ở lò điện hạt nhân Savannah River.          Hạt cơ bản neutrino đóng vai trò nào  trong cuộc tìm kiếm cội nguồn và bản thể của con nguời trong vũ trụ,  chúng ta từ đâu đến, là gì, về đâu, những câu hỏi muôn thuở mà giải  Nobel vật lý 2015 vén mở đôi phần.       Vũ trụ (tổng thể vĩ mô bao trùm vạn vật,  kể cả không gian lẫn thời gian) và Hạt cơ bản (những viên gạch vi mô cấu  tạo nên vật chất) – mà con người từng sáng tạo, khám phá hai thái cực  vô cùng lớn cũng như vô cùng nhỏ của thế giới tự nhiên – không bất biến,  nhận thức về chúng thăng trầm theo các nền văn hóa và thời đại.                Author                Quản trị        
__label__tiasang New York kêu gọi dùng nước máy để bảo vệ môi trường      Thành phố New York đang ra sức thuyết phục người dân từ bỏ thói quen uống nước đóng chai và chuyển sang dùng nước máy để bảo vệ môi trường.    Thành phố đã phát động một chiến dịch quảng cáo để kêu gọi người dân uống nước máy, với các nhà hàng địa phương được khuyến khích tham gia.  Các quan chức thành phố cho biết chiến dịch của họ sẽ giúp mọi người tiết kiệm tiền bạc và giảm rác thải.  Theo các tổ chức bảo vệ môi trường, cứ 5 chai nước không còn sử dụng lại có 4 chai bị vứt vào các bãi chôn lấp rác. Bên cạnh đó quá trình sản xuất sản phẩm này cũng góp phần làm toàn cầu ấm lên.  Người dân New York, hiện đang đối mặt với một đợt nóng mùa hè, đang bị chia rẽ xung quanh chiến dịch này. Một số nhà hàng ở New York đang dự định “học tập” các nhà hàng ở California phục vụ nước máy cho khách. Tuy nhiên Hiệp hội nước uống đóng chai cho rằng thật bất công khi “cô lập” một ngành công nghiệp đang đẩy mạnh việc tái chế và đưa ra sản phẩm đóng gói dễ bị phân hủy như ngành sản xuất nước uống đóng chai.  TƯỜNG VY (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Neymar đá bóng theo cơ chế tự động      Ngôi sao bóng đá người Brazil Neymar có khả  năng kiểm soát trái bóng tuyệt vời nhờ kỹ năng điêu luyện phi thường.  Điều này được chứng minh qua một kiểm tra hoạt động của não bộ ở cầu thủ  này. So sánh với các cầu thủ nhà nghề khác, ở Neymar việc thực hiện các  thủ thuật diễn ra hầu như hoàn toàn tự động.    Điều gì diễn ra trong bộ não các cầu thủ nhà nghề khi họ thực hiện các vận động khá điển hình ở môn thể thao này? Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã so sánh hoạt động bộ não của siêu sao bóng đá người Brazil Neymer với ba cầu thủ bóng đá nhà nghề khác và một cầu thủ nghiệp dư cùng hai vận động viên bơi lội chuyên nghiệp. Kết quả cho thấy: trong khi chơi bóng bộ não của Neymar được đặt ở vị trí điều khiển tự động (Autopilot).  Cầu thủ 22 tuổi người Brazil này khi chơi bóng rất ít phải huy động “nguồn lực thần kinh” ở khu vực não bộ chịu trách nhiệm về các vận động của đôi chân, Eiichi Naito thuộc ĐH Osaka và một đồng nghiệp đã đề cập vấn đề này trong tạp chí chuyên đề  “Frontiers in Human Neuroscience”.  Để thực hiện thí nghiệm do các nhà nghiên cứu tiến hành tháng 2/2014, các ứng viên phải xoay mắt cá chân với tốc độ như nhau, tức số vòng quay trong một giây. Ở tất cả các vận động viên vùng não bộ chịu trách nhiệm cho các hoạt động này đều bị kích hoạt – tuy nhiên cường độ hoạt động có sự khác biệt rất rõ. Não bộ của các cầu thủ bóng đá thì hoạt động ít hơn nhiều so với vận động viên bơi lội và cầu thủ bóng đá nghiệp dư. Nhưng trong số các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thì cầu thủ Neymar da Silva Santos Júnior có sự nổi bật hơn cả.  Thủ thuật lạnh lùng nhờ não được tôi luyện   Khi truyền bóng và qua mặt đối thủ, não của Neymer chỉ cần hoạt động 10% so với một cầu thủ không chuyên trong cùng trường hợp. Theo chuyên gia thần kinh Naito thì nguyên nhân có thể do yếu tố di truyền hoặc cách thức luyện tập.   Trên báo “Mainichi Shimbun” nhà nghiên cứu giải thích, khi hoạt động não bộ giảm cũng có nghĩa giảm áp lực với bộ não. Nhờ đó Neymar có thể trong cùng một lúc thực hiện nhiều động tác tổng hợp khác nhau. “Chúng tôi cho rằng, nhờ điều này Neymar có khả năng thực hiện các kỹ năng điêu luyện của mình.”   Có lẽ Neymar không phải là cầu thủ chuyên nghiệp duy nhất khi sử dụng đôi chân mà có khả năng để bộ não hoạt động ở chế độ tự động – các nghệ sỹ bóng đá khác như Lionel Messi và Cristiano Ronaldo cũng có khả năng tương tự, “ABC News” dẫn lời Naito.   Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga bắt đầu kiểm tra hệ thống tự động tại Leningrad II-2      Rosatom cho biết, hệ kiểm soát quá trình tự động được lắp đặt tại lò phản ứng số 2 ở nhà máy điện hạt nhân Leningrad II đã sẵn sàng cho kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành trên thiết bị của lò phản ứng. Các kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành ghi dấu giai đoạn cuối cùng của công việc tiền vận hành ở một lò phản ứng.      Nhà máy điện hạt nhân Leningrad II ở Sosnovy Bor. Nguồn: Rosatom  Tập đoàn hạt nhân nhà nước Nga sẽ sử dụng hệ thống tự động mới này để giám sát điều kiện của thiết bị tối quan trọng cho an toàn hạt nhân, bao gồm lò phản ứng, các thiết bị sinh hơi và các bơm tuần hoàn chính.  “Chúng tôi đã sẵn sàng cho các cuộc kiểm tra lò phản ứng trong những điều kiện gần với điều kiện vận hành,” Anatoly Chikov, phó ban tự động nhiệt và đo lường tại nhà máy nằm ở miền Tây nước Nga, nói.  Rosatom cho biết, các lò phản ứng VVER-1200 thế hệ thứ 3+ đặc biệt bởi sự có mặt của hệ thống tự động ở mức độ cao. Chúng đã “thông minh hơn” các thế hệ trước với mỗi tổ máy đều có gắn 10.000 cảm biến. Trong suốt các cuộc kiểm tra kiểm tra ở trạng thái nhiệt độ cao như khi vận hành, các cảm biến này sẽ cung cấp cho những nhà vận hành thông tin về nhiệt độ, áp suất, mức nước và tỉ lệ dòng chảy… trong hệ thống làm mát.  Nhà máy điện hạt nhân Leningrad được đặt tại Sosnovy Bor với bốn lò phản ứng RBMK-1000 (chì là chất làm chậm neutron), trong khi nhà máy điện hạt nhân Leningrad II sẽ có bốn lò phản ứng VVER-1200. Lò phản ứng số 1 của Leningrad đã dừng hoạt động để tháo dỡ vào ngày 21/12/2019 còn lò phản ứng số 1 của Leningrad II đã nối lưới điện vào ngày 9/3/2018 để trở thành lò phản ứng VVER-1200 thứ hai được khởi động, tiếp theo việc lắp đặt lò phản ứng số 6 vào năm 2016 ở nhà máy điện hạt nhân Novovoronezh. VVER-1200 là công nghệ từng được Việt Nam lựa chọn cho nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trước đây theo kế hoạch.   Anh Vũ dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/Russia-starts-automated-system-hot-tests-on-Lening    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga cấm hóa chất phóng xạ trong thời gian diễn ra World Cup      Theo Nature, các biện pháp an ninh và chống khủng bố do Chính phủ Nga ban hành trước World Cup khiến một số phòng thí nghiệm của Nga sẽ không có đủ thuốc thử phóng xạ mà họ cần cho nghiên cứu.    Trong một nghị định ban hành ngày 11/52018, Chính phủ Nga đã đình chỉ việc buôn bán và vận chuyển các loại hóa chất và chất sinh học độc hại trong vòng hai tháng vì lý do an ninh cho World Cup, giải đấu diễn ra từ 14/6 đến 15/7/2018. Tuy chỉ áp dụng đối với các thành phố tổ chức các trận đấu World Cup nhưng nhiều nơi trong số đó, bao gồm cả Moscow, lại tập trung các trung tâm nghiên cứu – theo lời Konstantin Severinov, nhà sinh hóa ở Viện KH&CN Skolkovo (Skoltech) gần Moscow và trưởng một nhóm nghiên cứu tại Viện KH Di truyền Phân tử và Sinh học Gene ở Nga.    Ảnh: Các biện pháp an ninh trong kỳ World Cup đã ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ở Nga. Nguồn: Nature.com  Vào tháng trước, khi đặt mua nucleotide phóng xạ để dùng đo lường biểu hiện gene và các xét nghiệm khác, các nhà nghiên cứu Nga bất ngờ nhận được tin xấu về nghị định của tổng thống từ Viện Hóa học vô cơ (Viện Hàn lâm Khoa học Nga) tại Moscow. Không có trung tâm nào ở Nga được phép cung cấp thuốc thử như vậy. “Điều này ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình trong phòng làm việc của chúng tôi. Một số dự án bao gồm thí nghiệm chỉnh sửa gene CRISPR-Cas9 và các thí nghiệm đo lường tác động của độc tố lên tế bào, cũng bị ảnh hưởng”, Severinov nói.   Duy trì nguồn cung cấp chất thử nghiên cứu và các loại vật tư tiêu hao khác là một vấn đề khó khăn ở Nga. Các nhà khoa học cần chất thử đánh dấu đồng vị phóng xạ để phục vụ nghiên cứu nhưng nguồn cung trong nước không đều do sự quan liêu của hệ thống quản lý và cả sự thiếu ăn khớp của hệ thống cung cấp. “Chúng tôi thường xuyên gặp vấn đề với việc đặt mua các chất phục vụ nghiên cứu. World Cup chỉ khiến tình hình tồi tệ thêm” – Ilya Osterman, nhà hóa sinh ở Trung tâm Y sinh của Skoltech ở Moscow, nói. Anh vẫn thường dùng các loại hóa chất để kiểm tra hình dạng của các phân tử RNA và đo biểu hiện gene.  Để tránh tình trạng chậm trễ làm gián đoạn nghiên cứu, các nhà khoa học Nga phải đặt mua các thuốc thử từ nhiều tuần trước, thông qua bộ phận thu mua của các viện. Với World Cup và kỳ nghỉ hè tiếp theo, việc giao hàng các nucleotide thử đồng vị phóng xạ có thể phải rời cho đến đầu mùa thu. Severinov nhận xét, “đây là một sự gián đoạn tồi tệ. Bốn nghiên cứu sinh tiến sĩ của tôi đã phải tạm dừng công trình của họ.”  Alexei Khokhlov, phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga và điều hành một viện nghiên cứu cung cấp các nucleotide thử đồng vị phóng xạ cho các nhà nghiên cứu, đã không trả lời e-mail từ Nature hỏi xem có bao nhiêu nhà khoa học bị ảnh hưởng và sự chậm trễ này có thể ảnh hưởng đến nghiên cứu của họ như thế nào. Trước khi tái đắc cử Tổng thống vào tháng 3/2018, Vladimir Putin đã hứa sẽ tăng cường đầu tư cho nền khoa học đang gặp khó khăn của Nga. Tuy nhiên, Fyodor Kondrashov, nhà sinh học Nga tại Viện KH&CN Áo ở Klosterneuburg cho biết, những hạn chế về nhập khẩu và nguyên vật liệu dùng cho nghiên cứu sẽ tiếp tục khiến các nhà khoa học Nga gặp khó khăn trong cạnh tranh với các nhà nghiên cứu ở những nước có nguồn cung cấp hóa chất và thiết bị khoa học dồi dào.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05423-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga cắt quan hệ hợp tác với Mỹ trong thăm dò vũ trụ      Ngày 22/5, tại Diễn đàn Kinh tế quốc tế St.  Petersburg (SPIEF), Sergei Saveliev, Phó Giám đốc Cơ quan Vũ trụ Liên  bang Nga (Roscosmos), thông báo, Roscosmos đang cùng Viện Khoa học Nga  dự thảo chiến lược mới thăm dò vũ trụ.    Tuy chưa nói chi tiết về nội dung chiến lược này, nhưng Saveliev cho biết Mặt Trăng là một trong các mục tiêu thăm dò. “Chúng tôi cần nghiên cứu chế tạo các tàu vũ trụ chở người kiểu mới để nước Nga có thể vượt qua quỹ đạo gần Trái Đất và thực hiện thăm dò không gian xa,” ông nói.   Saveliev cho biết Nga và Trung Quốc đang đàm phán vấn để cùng nghiên cứu sao Hỏa và sao Kim. Ấn Độ và Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cũng được Nga chọn làm đối tác hợp tác.   Trong 20 năm qua, Nga và Mỹ đã hợp tác chặt chẽ trên Trạm vũ trụ Hòa bình (của Nga) và Trạm vũ trụ quốc tế ISS. Ngay trong thời gian chiến tranh lạnh, hai nước vẫn hợp tác với nhau. ISS to bằng sân bóng đá, trị giá 100 tỷ USD; Mỹ muốn nó hoạt động tới năm 2024.  Nhưng hôm 13/5 vừa qua Phó Thủ tướng Nga Dmitry Rogozin tuyên bố Nga không cho phép Trạm ISS hoạt động sau năm 2020 và sẽ ngừng cung cấp động cơ cho tên lửa cực mạnh Atlas 5 Mỹ dùng để phóng các vệ tinh quân sự.  Ông nói, hiện nay tên lửa vận tải của Nga là biện pháp duy nhất đưa các nhà du hành vũ trụ lên ISS; bởi vậy việc Mỹ trừng phạt ngành thám hiểm vũ trụ của Nga thực ra là Mỹ tự chuốc lấy hậu quả.   Mới đây, sau vụ Nga sáp nhập Crimea, Mỹ đã tiến hành một số biện pháp trừng phạt đối với Nga, bao gồm cả việc NASA tạm ngừng phần lớn các cộng tác với nước này. Hàng trăm lãnh đạo các công ty của Mỹ, trong đó có cả nhà sáng lập SpaceX Elon Musk và một số quan chức của NASA đã không tham dự SPIEF. Nhà Trắng nói rằng việc tham gia vào SPIEF sẽ “gửi một thông điệp không đúng đắn” tiếp sau khủng khoảng ở Ukraina.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga: Cháy nổ tại phòng thí nghiệm lưu giữ virus đậu mùa      Một vụ nổ mới xảy ra tại Trung tâm nghiên cứu virus và công nghệ sinh học liên bang Nga (Vector), một trong hai trung tâm duy nhất của thế giới lưu trữ các mẫu đậu mùa.         Vụ tai nạn này xảy ra trong thứ hai vừa qua khi đang tiến hành sửa chữa một căn phòng kiểm tra vệ sinh tại Trung tâm nghiên cứu virus và công nghệ sinh học liên bang Nga (Vector) ở gần thành phố Novosibirsk, Siberia. Theo thông tin của TASS, hãng thông tấn nhà nước Nga thì chỉ có một công nhân bị thương trong vụ tai nạn này và được điều trị bỏng.  Ngay sau vụ việc, Vector cũng ra thông báo chính thức, trong đó nhấn mạnh là không có vật liệu sinh học nguy hiểm nào lưu giữ trong căn phòng này. Qua thông tin của TASS, thị trưởng thành phố cũng cho biết, vụ tai nạn không gây ra bất kỳ nguy hiểm nào, đặc biệt là nguy cơ về mặt sinh học, cho người dân địa phương. Người phụ trách vấn đề khoa học của thành phố Koltsovo, nơi Vector đặt trụ sở, cũng khẳng định với hãng thông tấn nhà nước RIA-Novosti điều tương tự.  TASS cho biết, lửa đã bùng cháy khi một bình cylinder khí bị nổ trên tầng 5 của toàn nhà phòng thí nghiệm 6 tầng ở thành phố Koltsovo. Dù thổi bay cả cửa số nhưng vụ nổ không làm phá hủy bất kỳ cấu trúc nào trong tòa nhà.  Được thành lập vào năm 1974, Trung tâm nghiên cứu Virus và công nghệ sinh học từng được biết tới như một nơi phát triển các nghiên cứu về vũ khí sinh học trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hiện tại, đây là một trong những trung tâm nghiên cứu lớn nhất thế giới về phát triển vaccine và các công cụ chẩn đoán, điều trị các bệnh truyền nhiễm. Các nhà khoa học tại Trung tâm đang phát triển các loại vaccine cúm lợn, HIV và Ebola. Trong tháng 2/2019, họ đã triển khai thử nghiệm các ca điều trị lâm sàng cho một loại vaccine Ebola.  Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh Mỹ (CDC) là trung tâm còn lại của thế giới được phép lưu giữ các mẫu sống loại virus đậu mùa chết chóc này.  Năm ngoái, Cục Quản lý Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) thông báo đã chấp thuận loại thuốc đầu tiên điều trị đậu mùa. Căn bệnh dễ lây lan này đã bị diệt trừ vào năm 1980 là nhờ các nỗ lực phát triển vaccine nhưng vẫn còn nhiều lo ngại là loại virus này có thể được sử dụng trong tấn công sinh học.  Các virus có thể sống sót sau một vụ nổ?  TS. Joseph Kam, Phó giáo sư lâm sàng tại Trung tâm các dịch bệnh lây nhiễm mới nổi (CEID) nói với CNN, các quy định về lưu giữ virus đều rất chặt chẽ và các dịch bệnh nguy hiểm như Ebola và đậu mùa có thể cần được bảo quản trong phòng thí nghiệm cấp 4 – độ an toàn sinh học cao nhất. Khu vực lưu trữ các mẫu này có thể là những container đặc biệt và giới hạn người vào, cơ chế lưu giữ cũng khác biệt với những phòng thí nghiệm sinh học khác.    Ông cho biết thêm, trong khi lửa không đủ sức để tiêu hủy các con virus này thì một vụ nổ có thể gây ra rủi ro phát tán virus và nó có thể dẫn đến sự lây lan trong phạm vi phòng hoặc ô nhiễm khu vực trung gian. Vùng ô nhiễm có thể là 10 đến vài trăm mét, phụ thuộc vào quy mô vụ nổ và những yếu tố khác như tốc độ gió, hướng gió.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://edition.cnn.com/2019/09/17/health/russia-lab-explosion-smallpox-intl-hnk/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga: Mất dần thị phần vận chuyển thương mại vũ trụ      Việc thử nghiệm loại tên lửa vũ trụ mới Angara, được coi là thế hệ chủ lực trong hệ thống tên lửa vận tải của Cơ quan hàng không vũ trụ Nga Roscosmos,  nhằm thay thế loại tên lửa vũ trụ Proton đã lỗi thời, tiếp tục bị hoãn lại.     Theo tin của “Nhật báo tư vấn Thương mại Nga” (Russian business consulting Daily), lần phóng thử đầu tiên “có tính lịch sử” của tên lửa vũ trụ kiểu mới Angara-1.2PP tiến hành vào ngày 27/6 đã không thực hiện được. Trung tâm vũ trụ Khrunichev giải thích: tại thời điểm cuối cùng, hệ thống tự động hóa “do nguyên nhân kỹ thuật” đã ngăn cản việc phóng tên lửa.   Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergey Shoigu đã báo cáo Tổng thống Putin về thất bại này. Như vậy việc thử nghiệm loại tên lửa vũ trụ mới Angara nhằm thay thế loại tên lửa vũ trụ Proton đã lỗi thời sẽ bị hoãn lại.  Tên lửa Angara được phóng thử lần đầu từ sân bay vũ trụ Plesetsk, theo dự kiến nó sẽ bay đến Kamchatka ở Viễn đông trong vòng 21 phút. Plesetsk vốn là bãi phóng tên lửa đạn đạo vượt đại châu thuộc Bộ Quốc phòng Nga, xây dựng từ năm 1957, ở cách Moscow chừng 800 km về phía bắc. Một sân bay vũ trụ nữa đang xây dựng là Vostochny nằm ở Viễn Đông. Như vậy sẽ có hai sân bay vũ trụ nằm trên lãnh thổ Nga. Trước đây các tên lửa vũ trụ Nga đều phải phóng từ sân bay Baikonur thuộc nước Cộng hòa Kazakhstan, có nhiều phiền phức và tốn kém.  Angara được coi là thế hệ chủ lực trong hệ thống tên lửa vận tải của Cơ quan hàng không vũ trụ Nga Roscosmos. Dự án nghiên cứu thiết kế Angara được Roscosmos thực thi từ năm 1994, thể hiện các ưu điểm và nhược điểm của cơ quan này sau ngày Liên Xô tan rã. Ưu điểm là Roscosmos vẫn còn khả năng nghiên cứu triển khai các thiết bị vũ trụ tinh vi, nhược điểm là thời gian nghiên cứu triển khai kéo dài, hiệu suất thấp, chi phí cao.    Cho tới nay thị trường thương mại vận chuyển vũ trụ vẫn là lĩnh vực kinh doanh mà Roscosmos giữ được địa vị độc nhất trên thế giới: khoảng 40% các thứ được tên lửa Nga vận chuyển lên không gian vũ trụ quanh Trái Đất đều là những thứ Roscosmos chở thuê – đó là các nhà du hành vũ trụ (DHVT) nước ngoài lên làm việc trên Trạm Vũ trụ quốc tế ISS hoặc từ ISS trở về mặt đất, và các vệ tinh của nước ngoài cần được phóng lên quỹ đạo. Ngay cả Mỹ cũng phải thuê Nga làm dịch vụ vận chuyển người hoặc hàng cho trạm ISS: sau tai nạn tàu con thoi Columbia và nhất là từ 7/2011, sau khi cho tàu con thoi cuối cùng nghỉ hưu, Cơ quan Vũ trụ Mỹ NASA buộc phải thuê Nga dùng tàu Soyuz chở các nhà DHVT và tàu Progress chở hàng tiếp tế cho ISS. Roscosmos đã tám lần tăng giá vận chuyển. Hiện nay giá một chỗ ngồi trên Soyuz là 43,4 triệu USD, tuy vậy còn rẻ nhiều so với giá đi tàu con thoi. Thế nhưng thị trường này chiếm thị phần không đáng kể trong toàn bộ lĩnh vực kinh tế vũ trụ, cụ thể chỉ chiếm 1% (khoảng 2 tỷ USD).   Soyuz có cấu tạo đơn giản, an toàn, chở được ba người đi hoặc về. Progress là tàu chở hàng không người lái và tự hủy khi trở về Trái Đất, cải tiến từ tàu Soyuz; chỉ chở hàng đi, không chở hàng về. Progress chở tối đa 2,35 tấn hàng, được phóng từ sân bay vũ trụ Baikonur. Giá thành mỗi lần phóng vào khoảng 300 triệu USD.  Làn sóng cạnh tranh mới  Vài năm gần đây, Mỹ, châu Âu và Trung Quốc ra sức nghiên cứu chế tạo các loại tên lửa và tàu vũ trụ kiểu mới, thách thức vai trò số một nói trên của Nga. Vitaly Lopota, tân CEO Tập đoàn Tên lửa và Không gian Energia Korolev (S.P.Korolev Rocket and Space Corp. Energia) của Nga cho biết, từ ngày Mỹ bắt đầu dùng tàu vận tải Dragon để chở hàng hai chiều đi về giữa mặt đất với ISS, nhu cầu sử dụng tàu vận tải Progress của Nga bị giảm 1/3. Dragon chở được tối đa 6 tấn hàng lên ISS và 3 tấn hàng từ ISS về Trái Đất. NASA đã ký với SpaceX một hợp đồng trị giá 1,6 tỷ USD thuê chở 12 chuyến hàng hai chiều tới ISS, nhờ đó có thể không cần thuê tàu Nga. Dragon được phóng bằng tên lửa cực mạnh Falcon Heavy, tải trọng tối đa 53 tấn, chi phí vận chuyển mỗi pound (0,45 kg) chỉ vào khoảng 1.500 đến 2.500 USD. Tàu vận tải Dragon cũng như tên lửa Falcon Heavy đều do công ty tư nhân Mỹ SpaceX nghiên cứu chế tạo. CEO công ty là Elon Musk từng nói mục tiêu số một của SpaceX là hạ giá thành vận tải vũ trụ.   Trung Quốc đã chế tạo được tên lửa Trường Chinh 5 và 7 chi phí không quá đắt; Bắc Kinh dự định trước năm 2020 sẽ nâng thị phần của họ trong thị trường phóng tên lửa thương mại lên 15%.  “Giờ đây cùng với làn sóng cạnh tranh mới, có lẽ chúng ta (tức Nga) sẽ đánh mất cả thị trường đó,” tờ “Russian business consulting daily” viết.  Sau đây ba năm, Nga sẽ còn để mất một nguồn thu nhập nữa là dịch vụ dùng phi thuyền Soyuz “chở thuê” các nhà DHVT Mỹ lên trạm ISS. Năm 2013, khoản dịch vụ này mang lại cho Nga 335 triệu USD. Tháng 3/2011, NASA tuyên bố đã ký với Roscosmos một hợp đồng trị giá 753 triệu USD, theo đó trong thời gian 2014 đến nửa đầu năm 2016, Nga có trách nhiệm vận chuyển 12 nhà DHVT Mỹ lên trạm ISS và trở về. Thế nhưng NASA dự định từ giữa năm 2017 trở đi sẽ đình chỉ sử dụng dịch vụ vận tải của Nga, chuyển sang dùng phi thuyền chở người do Mỹ tự chế tạo để đưa các nhà DHVT lên ISS. Ngày 30/5 vừa qua công ty SpaceX đã cho ra mắt tàu vũ trụ Dragon V2 có thể chở được bảy nhà DHVT với đơn giá vận chuyển mỗi người khoảng 20 triệu USD, chỉ bằng 1/3 đơn giá thuê tàu Soyuz của Nga hiện nay.  Viện sĩ Thông tấn Viện Khoa học vũ trụ Nga Yuri Karash cho rằng Trung Quốc không những sẽ nhanh chóng vượt Nga trong lĩnh vực số lần phóng tên lửa và vận chuyển thương mại vũ trụ mà còn sẽ soán địa vị cường quốc vũ trụ số hai của Nga. Năm 2011 và 2012, số lần phóng tên lửa của Trung Quốc chẳng những vượt châu Âu mà còn vượt cả Mỹ. Cuối năm 2013, Trung Quốc phóng xe-robot Thỏ Ngọc lên khảo sát Mặt Trăng và còn dự định năm 2020 đưa nhà DHVT lên Mặt Trăng và đã lắp ráp được Trạm Không gian Thiên Cung trên quỹ đạo Trái Đất. Hiện nay Bắc Kinh đứng đầu toàn cầu về tốc độ phát triển lĩnh vực thăm dò vũ trụ.   Các lần phóng tên lửa vận tải của Nga cũng có tần suất trục trặc khá bi quan. Trong hơn ba năm qua, tỷ lệ sự cố lên tới 7%; trong khi hồi đầu thế kỷ này chỉ có 4%. Tỷ lệ sự cố phóng tên lửa Trường Chinh của Trung Quốc trong 10 năm qua chỉ có 1,8%.  Trong ngành kinh tế vũ trụ, thị trường định vị dẫn đường toàn cầu kiếm được nhiều tiền hơn cả. Hiện nay hệ thống dẫn đường Bắc Đẩu của Trung Quốc sử dụng 16 vệ tinh, đã thực hiện phủ kín toàn bộ vùng châu Á – Thái Bình Dương; theo kế hoạch, đến năm 2020 số vệ tinh sẽ tăng lên 35, hoàn thành việc xây dựng hệ định vị toàn cầu. Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu tới năm 2015 tăng tổng giá trị dịch vụ dẫn đường và xác định vị trí bằng vệ tinh Trung Quốc lên tới 37 tỷ USD. Ước tính đến năm 2020, quy mô các thị trường liên quan của Trung Quốc sẽ đạt 65 tỷ USD. Theo một quan chức phụ trách hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GLONASS của Nga cho biết, chỉ tiêu này của Nga năm 2020 dự kiến đạt gần 10 tỷ USD.    Chi nhiều nhưng không hiệu quả  Giới truyền thông đưa tin: tuy doanh thu của ngành thăm dò vũ trụ Nga không lớn nhưng kinh phí nhà nước chi cho ngành này lại không nhỏ chút nào. Hiện nay xét về tỷ lệ khoản chi cho lĩnh vực thăm dò vũ trụ so với GDP thì Nga đứng hàng đầu thế giới: chi phí cho lĩnh vực này trong mỗi 10.000 USD GDP như sau – Mỹ chi 25 USD, Trung Quốc chi 4 USD, Nga chi 47 USD (số liệu năm 2013).  Trang thiết bị ngành công nghiệp tên lửa vũ trụ của Nga nhìn chung chậm đổi mới, 70% thiết bị đã sử dụng được hơn 20 năm. Trình độ khoa học của ngành nghiên cứu vũ trụ cũng chưa kịp nâng lên xứng tầm với những dự định hùng vĩ của Nga về thăm dò Mặt Trăng và sao Hỏa. Số liệu của Tổ chức OECD cho thấy trong thời gian năm 2000 đến 2008, trong tổng số sáng chế phát minh toàn cầu về lĩnh vực khoa học vũ trụ, tỷ lệ của Nga chỉ là 1%, của Mỹ là 50%.    Nguyễn Hải Hoành tổng hợp theo các tài liệu nước ngoài       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga phát triển nhà máy điện hạt nhân nổi để khám phá Bắc cực      Theo hãng thông tấn Nga Sputnik, Nga sẽ sớm xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên nhằm mục tiêu khám phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng Bắc Cực.    Akademik Lomonosov là nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên của Nga  Sputnik dẫn một thông tin cho rằng, trong thời gian gần đây, Nauy đã quyết định cho phép một số công ty dầu mỏ tìm kiếm mỏ dầu tại Bắc Cực, trong đó bao gồm cả vùng biển Barents, gần vùng biển thuộc Nga.  Là nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và khí gas, Bắc băng dương thu hút sự chú ý của năm cường quốc: Canada, Đan Mạch, Mỹ, Nauy và Nga. Hiện Nga cũng đang phát triển những công nghệ mới để củng cố thêm vị trí vững chắc của mình tại khu vực này.  Theo nhận định của các nhà chuyên môn, bất kỳ dự án sản xuất ở quy mô công nghiệp nào ở Bắc Băng dương cũng tiêu tốn rất nhiều điện năng, và đó là lý do giải thích vì sao, Nga đang phát triển công nghệ nhà máy điện hạt nhân nổi, một bài báo trên Le Huffington Post cho biết.  Rosenergoatom, công ty thành viên của Rosatom, đã thực hiện một dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi công suất nhỏ từ năm 2006 tại Bắc Băng dương.  Akademik Lomonosov, tên gọi của nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên của Nga, đã được đặt nền móng vào ngày 15/4/2007. Thùng lò không tự vận hành (non-self-prolled vessel) được sản xuất tại Sevmash Shipyard ở Severodvinsk, lắp đặt vào năm 2010 và được chờ đợi sẽ được chở tới vào địa điểm xây cất vào tháng 10/2016.  Thùng lò này có thể được sử dụng như một công cụ để khử muối trong nước. Vòng đời của nó vào khoảng 40 năm. Nhờ vậy, Akademik Lomonosov có thể trở thành một nhà máy điện hạt nhân lưu động.  Nga không loại bỏ khả năng xuất khẩu loại hình nhà máy điện hạt nhân kiểu này. Rất nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay tỏ rõ mối quan tâm đến nhà máy điện hạt nhân nổi, trong đó có Trung Quốc, Indonesia và Malaysia. Dĩ nhiên, việc xuất khẩu các nhà máy điện hạt nhân của Nga, không chỉ thùng lò, đều phải tuân thủ các điều ước của Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân.  Vì vậy, những nhà máy điện hạt nhân nổi theo công nghệ Nga, sẽ được dành để cho thuê theo hợp đồng được ký kết. Để thúc đẩy khả năng này, điều Nga đang quan tâm hơn cả là điều khoản quy định cũ về địa điểm dành cho các nhà máy điện hạt nhân nổi hiện không còn phù hợp với điều luật quốc tế và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Theo điều luật này, các quốc gia chỉ có thể nhập các thùng lò dùng để sản xuất điện còn Nga chỉ cung cấp các vật liệu hạt nhân.  Thùng lò của nhà máy điện hạt nhân nổi có chiều dài 1444.4m, rộng 30m, dung tích 21,500 tấn. Nhà máy điện hạt nhân nổi của Nga gồm 2 lò phản ứng KLT-40, có thể sản xuất tới 70 MW điện năng hoặc 300 MW nhiệt lượng, đủ để cung cấp điện cho một thị trấn với khoảng 200.000 dân cư.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga rút ra khỏi Trung tâm KH&CN Quốc tế      Vì các lý do chính trị,LB Nga, thành viên chủ chốt của Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc tế (International Science and Technology Center, ISTC), quyết định chính thức rút ra khỏi tổ chức này kể từ ngày 21/7/2015. Trụ sở ISTC ở Moskva sẽ chấm dứt hoạt động sau ngày 15/7 năm nay.     Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc tế  thành lập năm 1994, trụ sở đặt tại Moskva. Đây là một tổ chức liên chính phủ liên kết các nhà khoa học Nga, Kazakhstan, Armenia, Tajikistan, Kyrgyzstan và Georgia với kinh phí hoạt động do EU, Nhật, Hàn Quốc, Na Uy và Mỹ hỗ trợ nhằm ngăn chặn việc phổ biến vũ khí hạt nhân và các vũ khí sát thương hàng loạt khác. Hơn 58 nghìn nhà khoa học về vũ khí ở Nga và các nước khác thuộc Cộng đồng Các quốc gia độc lập CIS đã tham gia các dự án và hoạt động nghiên cứu của ISTC.    Gần đây, vì các lý do chính trị, LB Nga, thành viên chủ chốt của ISTC, quyết định chính thức rút ra khỏi tổ chức này kể từ ngày 21/7/2015. Trụ sở ISTC ở Moskva sẽ chấm dứt hoạt động sau ngày 15/7 năm nay.     Quyết định đó làm cho ISTC lâm vào nguy cơ tan rã. Nhờ sự nỗ lực của Mỹ và Kazakhstan, ngày 22/6 vừa qua các nước thành viên ISTC đạt được thỏa thuận sẽ tiếp tục duy trì hoạt động của ISTC và chuyển trụ sở từ Moskva tới Astana, Kazakhstan.    Mới đây, đại diện Mỹ tại ISTC, ông Simon Limage, phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các chương trình không phổ biến vũ khí, cho biết: từ ngày thành lập tới nay, ISTC đã tài trợ hơn 700 dự án nghiên cứu với tổng số tiền khoảng 1 tỷ USD. Các nghiên cứu đó có tác dụng quan trọng trong việc ngăn chặn sự phổ biến vũ khí sinh hóa và vũ khí hạt nhân, khử ô nhiễm phóng xạ, vì thế việc duy trì sự vận hành của tổ chức này là điều rất cần thiết. “Mong rằng đến tháng 12 năm nay có thể ký kết hiệp định chính thức [về hoạt động của ISTC],” ông nói.    Limage cho rằng, việc Nga rút ra khỏi ISTC có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của tổ chức này, vì trước đây, các cơ quan nghiên cứu và nhà nghiên cứu chủ yếu có liên quan tới ISTC đều ở Nga, các vấn đề nghiên cứu cũng tập trung ở khu vực các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết cũ. “Quyết định rút đi của Chính phủ Nga sẽ làm cho những nhà khoa học Nga có hiểu biết và có kinh nghiệm về các vấn đề đó bị cách ly với ISTC,” Limage nói. Ông cho biết, tuy Chính phủ Nga đã quyết định rút khỏi ISTC nhưng các cơ quan và nhà nghiên cứu của Nga đều vẫn muốn được tiếp tục tham gia các dự án nghiên cứu của ISTC. Bởi thế, “Chúng tôi hoan nghênh Nga một ngày nào đó sẽ tái gia nhập ISTC.” Ông cũng rất hoan nghênh các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, tham gia ISTC.    Limage cho biết, ISTC quan tâm tới việc nghiên cứu triển khai cơ bản giai đoạn sớm nhất của vũ khí sinh hóa và hạt nhân. Ngoài ra còn quan tâm các vấn đề sức khỏe, môi trường, an ninh, biến đổi khí hậu. Thí dụ, tại Tajikistan có vấn đề các thí nghiệm hạt nhân dưới thời Liên Xô cũ để lại mối nguy hại sức khỏe chết người, vấn đề môi trường và các chất phế thải còn lại khi luyện quặng Urani (Uranium tailings) đòi hỏi phải nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của số phế thải này tới sức khỏe và biện pháp tiêu hủy số phế thải đó,… những vấn đề này đều có liên quan đến các tri thức khoa học rất rộng rãi và chuyên nghiệp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga sẽ tự xây dựng riêng một trạm nghiên cứu vũ trụ      Oleg Ostapenko, người lãnh đạo Cơ quan Vũ trụ Nga, cho biết: Hiện nay Nga đang xem xét vấn đề xây dựng một trạm vũ trụ mới.    Trạm vũ trụ quốc tế ISS là kiến trúc lớn duy   nhất của nhân loại đặt trên quỹ đạo gần Trái Đất, nó nặng hơn 400 tấn,   trị giá trên 10 tỷ USD, do Mỹ và Nga dẫn đầu kiến tạo, là sản phẩm của   sự hợp tác quốc tế nhằm thăm dò khám phá vũ trụ. ISS có thể cung cấp  cho  các nhà du hành vũ trụ (DHVT) môi trường sống dài ngày trên quỹ  đạo, và  tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như thương  mại. Hiện  nay ISS về cơ bản đã kiến tạo xong, dự tính có thể vận hành  hơn 10 năm  nữa.  Do ISS là sản phẩm của hợp tác quốc tế, vì thế tình hình quốc tế ngày càng căng thẳng hiện nay đã dẫn đến hậu quả là thiếu sự phối hợp giữa các bên. Đây là lý do khiến Nga có ý định tự xây dựng riêng một trạm vũ trụ của mình.  Oleg Ostapenko, người lãnh đạo Cơ quan Vũ trụ Nga, cho biết: Hiện nay Nga đang xem xét vấn đề xây dựng một trạm vũ trụ mới và lập kế hoạch đưa người lên thăm dò Mặt trăng, bởi vậy đây không chỉ là nhiệm vụ lập trạm vũ trụ mà là quy hoạch của Nga trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ.   Tuy rằng Nga có đủ năng lực về mặt kỹ thuật để tiến hành những bước đột phá trong lĩnh vực thăm dò khai thác vũ trụ, nhưng hiện nay kinh tế Nga đang bị suy thoái, cho nên sẽ rất khó có đủ kinh phí để thực hiện kế hoạch nghiên cứu vũ trụ hùng vĩ của mình.  Việc kiến tạo trạm vũ trụ không những cần nguồn vốn lớn mà còn cần tới những công cụ chuyên chở có sức đẩy mạnh để vận chuyển các cấu kiện khổng lồ lên quỹ đạo. Trước đây, tàu con thoi của Mỹ đã có tác dụng lớn về mặt này, vừa chuyên chở hàng lại vừa chở được nhiều nhất tới bảy nhà DHVT – tàu vũ trụ của Nga không thể làm được việc đó.  Cho dù trạm ISS không phải do một mình Nga xây dựng nhưng Chính phủ Nga có thể sẽ ngăn cản kế hoạch kéo dài tuổi thọ của ISS. Dự tính ISS có thể “thọ” đến năm 2024, nhưng hiện nay còn chưa rõ sẽ dùng cách nào để đạt được mục tiêu đó.   NH theo science.cankaoxiaoxi.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga thử nghiệm thành công bom chân không mạnh nhất thế giới      Nga vừa thử nghiệm thành công loại bom chân không mạnh nhất thế giới và được mệnh danh là “cha của mọi loại bom’’. Loại bom này tạo ra một loại sóng sốc hủy diệt, với sức mạnh tương đương một vụ nổ hạt nhân. Theo Bộ Quốc phòng Nga, sáng chế quân sự mới này không vi phạm bất kỳ hiệp ước quốc tế nào và Nga không tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang mới.    Bom chân không thường phát nổ theo hai giai đoạn. Ban đầu, một vụ nổ nhỏ phân tán lượng chất nổ chính thành một đám mây. Đám mây này sau đó tự phát nổ. Vụ nổ tạo ra một loại sóng áp lực đi xa hơn nhiều so với chất nổ thông thường. Chưa hết, do vụ nổ tiêu thụ các loại khí trong không trung nên nó tạo ra chân không, gây thiệt hại và thương vong nghiêm trọng. Loại vũ khí này không gây ô nhiễm môi trường giống vũ khí hạt nhân.  (theo khoahoc.com.vn)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga tổng hợp vật liệu để tái chế chất thải phóng xạ      Các chuyên gia của Trường đại học nghiên cứu hạt nhân quốc gia Nga (MEPhI) đã nâng cấp một phương pháp để tổng hợp các ô xít có thành phần và cấu trúc phức tạp (complex oxides).      Các nhà khoa học Nga đã tìm ra loại vật liệu mới này có thể dùng để làm các lớp vỏ chịu nhiệt của động cơ máy bay và turbine. Ảnh: Phòng thí nghiệm Khoa Vật lý chất rắn và các hệ thống nano (MEPhI). Nguồn: laplas.mephi.ru  Phương pháp này sẽ đem lại những tính năng ưu việt cho các vật liệu để trên cơ sở đó, người ta có thể tạo ra được những chất nền dùng trong tái chế chất thải phóng xạ và các lớp vỏ gốm chịu nhiệt. Các loại vật liệu mới này có thể dùng để làm các lớp vỏ chịu nhiệt của động cơ máy bay và turbine. Nghiên cứu mới được xuất bản trên tạp chí Journal of Alloys and Compounds.   Trong vài năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu về hợp chất oxide phức hợp trong vật liệu Ln2O3-MO2, gồm các kim loại họ Lantan thuộc nhóm đất hiếm với một kim loại thuộc phân nhóm titan. Họ quan tâm đến hiệu ứng pha chuyển tiếp để dẫn đến sự biến đổi từ một hợp chất “có trật tự” thành một hợp chất “hỗn độn”. Hiệu ứng này giải quyết được vấn đề vị trí của nguyên tử bên trong các mạng tinh thể.  Theo quy tắc, công trình nghiên cứu cần cung cấp dữ liệu thu được trong suốt quá trình nghiên cứu về cấu trúc và đặc tính của hợp chất Ln2M2O7 ở dạng tinh thể, bằng việc sử dụng một phương pháp tổng hợp pha rắn nhiệt độ cao. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu quan tâm đến quá trình chuyển tiếp của một hợp chất vô định hình thành một trạng thái kết tinh.  Theo các tác giả công trình, phương pháp này đã tạo ra điều không thể đó để thu thập dữ liệu về việc hình thành các cấu trúc tinh thể nano và sự tiến hóa của chúng.  Các nhà nghiên cứu MEPhI đã dùng phương pháp tổng hợp khác trên cơ sở đốt một tiền chất vô định hình của những chất liệu tương lai thu được bằng kết tủa dung dịch muối kim loại tại nhiệt độ khác.  Giáo sư Alexei Menushenkov tại Khoa Vật lý chất rắn và các hệ thống nano (MEPhI), giải thích: “Lần đầu tiên, chúng tôi quan sát quá trình thay đổi của nguyên tử và cấu trúc điện tử của các hợp chất oxide phức hợp kể trên trong suốt quá trình tiến hóa cũng như tiến hóa của vật liệu vô định hình thành các cấu trúc tinh thể và tinh thể nano. Chúng tôi đã chứng minh quang phổ hấp thụ tia X và quang phổ phân tán kết hợp dễ ảnh hưởng đến cấu trúc nguyên tử và cấu trúc điện tử trong các hợp chất oxide phức hợp, phụ thuộc vào kiểu của các nguyên tố hiếm và các phương pháp chuẩn bị”.  Việc dùng cách nghiên cứu độc đáo và kết hợp nhiều các phương pháp đã trở thành một khía cạnh quan trọng của công trình này. Các nhà khoa học dùng phương pháp hấp thụ tia X và nhiễu xạ tia X (bao gồm cả phóng xạ synchrotron), phương pháp quang phổ phân tán kết hợp và quang phổ hồng ngoại, kính hiển vi điện tử quét tia X với chức năng phân tích tán sắc năng lượng và phân tích trọng lượng nhiệt.  Sự kết hợp của các phương pháp phức tạp và tốn kém nhiều kinh phí này đem lại cho các nhà nghiên cứu dữ liệu về chất liệu với sự thay đổi các cấu trúc các ion mang điện tích dương và âm của nó. Họ đã sử dụng các phương pháp EXAFS và XANES để nghiên cứu những thay đổi trong hạt nhân và cấu trúc electron trên thiết bị BM08 (LISA) của Trung tâm Phóng xạ Synchrotron châu Âu (ESRF) tại Grenoble, Pháp – một cơ sở nghiên cứu được vận hành trên cơ sở đóng góp của 22 quốc gia, trong đó có Nga), mỗi năm quy tụ khoảng 8.000 nhà khoa học, thực hiện 2.000 thực nghiệm, xuất bản 1.800 công bố. Tham gia dự án mang tên HC-3039 tại đây, nhóm nghiên cứu của Menushenkov đã có cơ hội sử dụng các máy phát chùm tia năng lượng cao.  Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, các kết quả của dự án này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu cơ bản và phát triển nhiều ứng dụng khác nhau trên cơ sở tối ưu hóa đặc tính của các hợp chất oxide phức hợp. Các vật liệu gốm mới có thể được sử dụng làm những lớp vỏ chịu nhiệt, các chất nền để tái chế chất thải phóng xạ và cho các nguyên tố nhiên liệu ở trạng thái rắn cũng như tạo ra các vật liệu hấp thụ neutron trong các lò phản ứng hạt nhân.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://sputniknews.com/science/201805141064431398-radioactive-waste-physicists/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngắm sao băng      Thức khuya để canh sao băng. Theo đài khí tượng thì giấc sau nửa đêm đến 5 giờ sáng ngày 18 tháng 11 là lúc thuận lợi nhất để ngắm sao băng. Mình không trông mong cảnh tượng huy hoàng của những trận mưa sao băng rạng rỡ bầu trời. Chỉ hy vọng thấy dăm ba ánh sao rơi, hoặc một cũng được, để kịp nói lên một điều ước.      Nhiều năm trước, có một đêm mình tình cờ ngước nhìn trời và gặp sao băng. Ngay lần đầu tiên nhìn tia sáng lao nhanh xuống lưng trời rồi biến mất, mình nghĩ ngay là sao băng. Tự nhiên tim đập rộn rã, lòng vui kỳ lạ. Trong lúc còn tiếc ngẩn ngơ thì một vì sao khác băng. Hồi hộp quá mình ngồi lỳ bên cửa sổ trên tầng 8 của tòa nhà Mayflower, kí túc xá ở trường Đại học Iowa, để canh đến sáng. Tuy chẳng gặp thêm ngôi sao băng nào nữa, mình đã được thưởng ngoạn bầu trời đầy sao của đêm đông phương Bắc.  Để ngắm sao, mình tắt hết đèn trong phòng, và dù phòng vẫn bật hệ thống sưởi, nhưng ngoài trời gần độ âm, gần sáng là lúc trời lạnh nhất, dán mặt vào kính cửa sổ một hồi là lạnh tê mũi. Không biết mình có thể chịu đựng được bao lâu. Phải kéo cái ghế bành sát cửa sổ, ngồi thu lu trên đó, mền dày trùm từ đầu xuống kín mít, chỉ chừa hai con mắt thô lố chong chong nhìn lên trời. Mình chỉ là người ngắm sao tài tử. Giờ này các chuyên gia trang bị đồ nghề tối tân, kính viễn vọng với máy chụp hình thứ dữ, đang trần mình trên những đỉnh gió hú. Mình không có niềm đam mê hay điều kiện để có niềm đam mê lớn như vậy.   Chỉ là một niềm vui ngắn ngủi mà vì sao băng đầu tiên đã tặng mình vào một đêm xa nhà, thao thức suy nghĩ trước những chọn lựa có thể thay đổi con đường đời của mình. Không chắc là cái tíc tắc nhìn thấy sao băng ấy có ảnh hưởng tới quyết định cuối cùng của mình. Bây giờ mình đã ngộ ra, con đường đời của mỗi người đâu phải chỉ do quyết định của người đó, như cầm viết vẽ ra, muốn cong muốn thẳng tùy ý. Có những qui luật và có vô số tác động chi phối số phận mình, át đi ý chí, át đi ước muốn chủ quan. Khi đó mình tưởng đã suy nghĩ chín chắn, con đường vạch ra rõ mồn một, và điều kiện để thực hiện đều có sẵn. Chỉ cần mình quyết định dấn bước thôi. Bây giờ nhớ lại, tự hỏi sao lúc đó mình hoang tưởng dữ vậy!  Cửa sổ này hướng về phương Đông, nhìn qua khỏi đám lá cây đỗ quyên là thấy ống khói của nhà đối diện bên kia đường. Bóng núi lam sẫm làm nền cho làn khói đang tỏa ra lan man. Nhà ở khu này đều xây cách nay gần một trăm năm, dù được nâng cấp với hệ thống sưởi bằng ga hoặc điện, một số nhà vẫn giữ lại lò sưởi đốt bằng củi. Ngọn lửa thật cháy bập bùng trong đêm đông vừa ấm áp vừa lãng mạn. Có lẽ nhà bên ấy cũng thức, cũng canh sao băng như mình.  Nghĩ là có ai đó cũng đang làm cái chuyện mình đang làm cũng vui. Buồn nhất là khi tự hỏi có ai lâm vào hoàn cảnh như mình không và không trả lời được. Bây giờ thì mình cũng đã hiểu rằng cái câu “mọi hạnh phúc đều na ná như nhau, riêng nỗi bất hạnh thì mỗi nhà mỗi khác” chỉ đúng về mặt tâm lý. Chứ hàng tỷ người trên Trái đất, dù có hàng tỷ nỗi bất hạnh, thì chung qui cũng ở trong vòng sanh lão bệnh tử. Nỗi đau tưởng chỉ có riêng mình, thực ra hàng triệu người khác ở đâu đó trên Trái đất cũng đang hoặc từng trải qua.  Chỉ có điều mình không biết nỗi đau của người ta, còn nỗi đau của mình thì tưởng như không ai chia sẻ được.   Một ngôi sao băng đúng ra là một hạt bụi vũ trụ cháy tiêu trong khí quyển Trái đất. Những hạt bụi này là tàn dư của đuôi sao chổi Tempel-Tuttle bỏ lại trên quĩ đạo khi bay quanh Mặt trời. Hằng năm khoảng giữa tháng 11 trái đất bay ngang đám bụi đó, “đốt cháy”chúng. Phần lớn những hạt li ti cháy âm thầm không ai thấy. Hạt nào cháy thành một vệt sáng trên bầu trời mà mắt thường có thể thoáng bắt được trong tíc tắc là hạt to cỡ hòn bi trở lên. Tưởng tượng vũ trụ bao la như vậy , hạt bụi tí ti như vậy, lơ lửng quay cuồng theo một quĩ đạo, cho đến một ngày “đụng” Trái đất và cháy tiêu. Linh hồn nào vụt tắt?   Chợt giật mình ngồi thẳng dậy, nhóng cổ nhìn lên. Phía sau bóng núi xa xa chân trời đang hửng lên màu hồng nhạt. Sáng rồi ư? Bầu trời vẫn còn lác đác sao, và một ngôi sao ngay phía trên ống khói sáng nhấp nháy, có lẽ là sao mai. Chẳng lẽ mình chợp mắt chút xíu mà trời sáng rồi? Và lại một lần nữa lỗi hẹn với sao băng ư? Mở máy tính vô blog của mấy tay săn sao băng chuyên nghiệp, cập nhật mới nhất miêu tả trận mưa sao băng hồi khuya không lộng lẫy lắm nhưng không đến nỗi thất vọng, có một người đếm được khoảng một chục sao băng trong một giờ. Trời! tiếc hùi hụi.  Đành hẹn với mình lần nữa, năm sau nhất định phải thức canh sao băng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngập lụt đô thị và quản trị khủng hoảng      Nếu lũ lụt ở n&#244;ng th&#244;n vốn kh&#244;ng xa lạ g&#236; với người Việt, th&#236; ngập lụt ở đ&#244; thị l&#224; hiện tượng mới, xuất hiện c&#249;ng với sự ph&#236;nh to nhanh ch&#243;ng của c&#225;c đ&#244; thị trong hai chục năm qua. Giới nghi&#234;n cứu sẽ c&#242;n mổ xẻ những sai lầm v&#224; thiếu s&#243;t trong quy hoạch đ&#244; thị, dự b&#225;o kh&#237; tượng thuỷ văn, kế hoạch trị thuỷ cho s&#244;ng Hồng. B&#224;i viết n&#224;y tập trung v&#224;o một kh&#237;a cạnh &#237;t được quan t&#226;m hơn, chỉ ra đặc th&#249; của ngập lụt đ&#244; thị từ thực tiễn trận lụt vừa qua của H&#224; Nội, nhằm r&#250;t tỉa một số nguy&#234;n tắc về ứng ph&#243; khẩn cấp.  Nh&#236;n từ g&#243;c độ chống lụt, đ&#244; thị c&#243; ba đặc điểm cơ bản: l&#224; nơi tập trung d&#226;n cư phi n&#244;ng nghiệp, c&#243; nh&#224; cửa ki&#234;n cố v&#224; mặt đất được cứng ho&#225; phần lớn. Ba đặc điểm n&#224;y dẫn đến c&#225;c đặc th&#249; của &#250;ng ngập đ&#244; thị so với lũ lụt n&#244;ng th&#244;n, đ&#242;i hỏi c&#225;c ưu ti&#234;n v&#224; giải ph&#225;p rất kh&#225;c biệt. Theo d&#245;i diễn biến ứng ph&#243; với mưa lụt ở H&#224; Nội, người ta c&#243; thể nhận thấy những l&#250;ng t&#250;ng của nh&#224; chức tr&#225;ch chủ yếu xuất ph&#225;t từ việc chưa ph&#226;n biệt r&#245; những đặc th&#249; của ngập lụt đ&#244; thị.    Khả năng thoát úng và bản đồ ngập lụt  Do mặt đất đã bị cứng hoá do xây đường sá, nhà cửa, khả năng thoát úng tự nhiên của đất trong các đô thị thấp hơn hẳn so với nông thôn. Các đô thị với bề mặt đất bị cứng hoá từ 75% đến 100% chỉ có khả năng tự thoát bằng một phần năm so với đất tự nhiên. Hơn một nửa lượng nước mưa sẽ biến thành nước chảy tràn (run-off water). Chính vì thế, đô thị có diện tích xây dựng càng dày đặc (như nội thành Hà Nội) thì nguy cơ úng ngập càng cao và khả năng tự thoát lụt càng chậm.  Đặc thù này dẫn tới bất ngờ thứ nhất cho chính quyền Hà Nội: không lường trước được quy mô úng ngập, kể cả sau khi đã nhận ra lượng mưa bất thường. Chính vì thế, Hà Nội đã phản ứng khá chậm chạp trong ba ngày ngập lụt đầu tiên. Sự bất ngờ này cũng khiến cho trạm bơm Yên Sở, chủ lực thoát lụt của thành phố, suýt phải ngừng hoạt động vì ngập trong nước.                                     Trạm bơm Yên Sở ngập trong nước. Ảnh báo Tuổi trẻ               Để tránh bị bất ngờ, các đô thị với nguy cơ lụt lội cao (có nghĩa là hầu hết các đô thị của Việt Nam) cần lập bản đồ nguy cơ ngập lụt của thành phố tương ứng với lượng mưa và mức lũ khác nhau. Các bản đồ này sẽ làm cơ sở để xác định thời điểm và khu vực cần cứu trợ, cũng như việc bố trí các kho nhu yếu phẩm phòng lũ và các tuyến đường huyết mạch cần bảo vệ.  Nhu cầu hàng đầu: nước sạch, giao thông và dịch vụ công ích  Khác với nông thôn, tính mạng của đa số người dân thành phố không bị đe doạ trực tiếp khi có lụt. Họ có nhà cửa kiên cố hơn, và vì thế có sẵn một chỗ trú cao ráo để tránh bị kiệt sức do dầm mình trong mưa bão. Chính lợi thế này của thị dân đã làm cho các nhà quản lý do dự khi đặt vấn đề có cần cứu trợ cho Hà Nội mấy ngày đầu trận lụt.  Nhưng chính sự an toàn tương đối của nhà ở và công trình đô thị lại che khuất một điểm yếu căn bản của nó, là sự phụ thuộc vào hệ thống phân phối phức tạp. Khác với nông thôn, nơi người dân vẫn thường tự giải quyết các vấn đề về nước sạch, thoát nước, rác thải, chữa cháy v.v. người dân thành phố hoàn toàn phải dựa vào các công ty dịch vụ công. Khi các công ty này tê liệt do giao thông ách tắc thì người dân cũng buộc phải bó tay nhìn cuộc sống của mình đảo lộn. Đặc thù này dẫn đến cảm nhận sai lạc là người dân “ỷ lại” vào chính quyền. Đáng lẽ ra, hoạt động của các công ty công ích này phải được ưu tiên hàng đầu trong những ngày lũ. Chẳng hạn, họ phải được dành quyền ưu tiên trong giao thông, được dùng các bãi tập kết xe tạm thời ở vị trí thuận lợi v.v.                      Rất khó tiếp cận với người bán lương thực, thực phẩm – Ảnh báo TT               Nhu cầu về nước sạch của người dân thành phố đặc biệt khẩn cấp trong ngày lũ. Họ không thể dùng tạm nước sinh hoạt bằng nước lũ, vốn bị ô nhiễm nặng nề hơn nhiều so với nông thôn. Điều này dẫn tới bất cập thứ ba trong ứng phó của Hà Nội: Khi áp dụng máy móc công thức “mỳ tôm”, vốn chỉ phù hợp với cứu trợ bão lụt nông thôn, cơ quan cứu trợ đã không chú ý đúng mức đến nước sạch cho các vùng bị ngập nặng. Nhiều người dân Hà Nội đã phải thốt lên “Chúng tôi không đói đến mức cần mì tôm, chúng tôi cần nước sạch”.                                     Nước lụt Hà Nội bị ô nhiễm nặng nề, không thể dùng cho sinh hoạt Ảnh báo Tuổi trẻ               Thị trường và chính quyền: ai làm gì trong lũ lụt  Khác với nông dân bị mất mùa màng hay vật nuôi, nguồn thu nhập của người dân thành phố không bị ảnh hưởng nặng bởi lũ lụt. Thị dân chỉ cần chợ búa mở cửa và đi lại được là có thể tự xoay xở. Vì thế, hoạt động cứu trợ không cần nhắm vào trợ cấp tiền bạc, mà phải nhanh chóng thiết lập các chợ tạm và xe bán hàng lưu động.  Mặt khác, trong tình trạng chỉ ngập lụt từng phần như ở Hà Nội vừa qua, phần lớn các công ty thương mại và siêu thị không bị ảnh hưởng. Họ hoàn toàn có khả năng cung cấp nhu yếu phẩm cho người dân, miễn là giao thông được đảm bảo, và trong trường hợp đặc biệt khó khăn, thì cần thêm sự hỗ trợ về phương tiện vận tải từ phía chính quyền.  Vì thế, đảm bảo cho người mua gặp được người bán nhu yếu phẩm trong lũ lụt là then chốt của cứu trợ đô thị. Điều này dẫn đến bất cập thứ tư là chính quyền Hà Nội, thay vì hỗ trợ các công ty thương mại bán hàng đến người dân, lại tự mình đi cấp phát lương thực. Trong đợt lụt vừa qua, chỉ đến ngày 3/11, mới có 3 điểm bán gạo lưu động của Tổng Công ty Lương thực miền Bắc. Hệ thống siêu thị mặc dù đã nỗ lực chuyển thực phẩm ra Hà Nội nhưng không có hỗ trợ từ chính quyền thành phố nên đã không thể lập ra các điểm bán thực phẩm lưu động.  Cập nhật tình hình lụt dựa vào mạng lưới thông tin đô thị  Đô thị cũng có những yếu tố đặc biệt thuận lợi để hạn chế ảnh hưởng của lụt lội. Hệ thống thông tin ở đô thị dày đặc hơn nhiều so với nông thôn. Hà Nội có các kênh truyền hình, truyền thanh, báo chí địa phương lớn nhất nhì cả nước; hệ thống loa phường dày đặc, biển điện tử trên đường phố khá nhiều. Người dân Hà Nội cũng có tỉ lệ dùng điện thoại cố định, di động và TV nhiều nhất nhì cả nước. Quan hệ xã hội chằng chịt (cả thực và qua Internet) giữa họ sẽ là kênh lan truyền thông tin rất hiệu quả và kịp thời.  Không tận dụng được lợi thế này đã dẫn đến bất cập thứ năm: Trong mấy ngày đầu của mưa lụt, trên các kênh thông tin của chính quyền thành phố, thông tin và cảnh báo về tình trạng ngập lụt ở các tuyến đường, hướng dẫn giao thông hầu như thiếu vắng và xa lạ. Trong lúc đó, các diễn đàn internet thì đầy ngập thành viên tự cập nhật tình hình lụt lội tin với nhau. Các trường học cũng hoàn toàn có thể dùng internet để thông báo quyết định nghỉ học và để thông tin tự lan truyền trong mạng lưới học sinh sinh viên. Nếu như các mạng lưới và kênh thông tin này được tận dụng thì sẽ không có hàng triệu lượt người Hà Nội dầm mình trong nước lụt và cái chết thương tâm của các em học sinh khi đang đến trường.                                     Ảnh: Học sinh Hà Nội dầm mình trong nước đến trường (Sưu tầm)               Chia cắt lũ để bảo vệ huyết mạch giao thông  Thông thường, các úng ngập đô thị được gây ra bởi lượng nước nhỏ hơn nhiều so với lũ. Vì thế, hoàn toàn có thể chia cắt và giảm thiểu các vùng ngập lụt, đảm bảo giao thông huyết mạch bằng các kè, bao tạm thời như đã được thực hiện ở nhiều thành phố trên thế giới. Các thiết bị như thế hoàn toàn vắng bóng trong trận lụt vừa qua. Kết quả là Hà Nội đã không thể chống lụt ở bất kì tuyến đường quan trọng nào, khiến các dịch vụ cho các vùng lụt bị ngưng trệ nghiêm trọng.                                     Không chia cắt lũ để bảo vệ các tuyến huyết mạch, giao thông rối loạn               (Ảnh sưu tầm từ Internet)               Chuẩn bị cho những tình huống xấu hơn  Tổn thất rất nặng nề, nhưng Hà Nội vừa qua vẫn may mắn là trận mưa lịch sử đã không đi kèm với nước lũ trên sông Hồng. Những thảm hoạ dồn dập do sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, và sự xâm phạm thô bạo của con người vào đê sông Hồng không thể khiến ta yên tâm về số phận của nó. Khai thác cát bừa bãi trên sông Hồng, các đại dự án đòi nắn dòng hay thu hẹp sông Hồng, các cầu mới vượt sông làm dâng nước vẫn được gợi ý hay tiến hành ngày đêm. Ngay trong đợt mưa vừa rồi, mặc dù không có sức ép từ lũ sông Hồng, một số kè (Liên Trì, Gia Thượng, Thụy Phương) đã bị sạt lở, sụt mạch.  Lượng mưa năm sáu mươi triệu mét khối nước đổ xuống Hà Nội tuy lớn, vẫn chỉ là con số lẻ so với lưu lượng trên sông Hồng vào những ngày lũ lớn (có thể lên tới hàng tỉ mét khối nước/ngày). Cũng xin nhắc lại rằng độ cao trung bình của Hà Nội là 7-8 mét so với mặt biển, thấp hơn 7 mét so với đỉnh lũ trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội trong cơn lũ lịch sử 1971 (theo ước tính đã giết chết hơn một trăm ngàn người). Phương tiện và lực lượng cứu hộ của Hà Nội lúc đó sẽ thế nào, trong khi các dịch vụ công của thành phố bị tê liệt bởi trận mưa to, và ngay cả lãnh đạo thành phố cũng đi thuyền tôn đến thăm trạm bơm Yên Sở? Hệ thống bệnh viện, tải thương liệu có thể hoạt động với mức ngập cao hơn nhiều so với trận lụt vừa qua?  Bài học cuối cùng  Kinh tế học hành vi đã chứng minh: con người luôn có xu hướng đánh giá quá thấp xác suất của những thảm hoạ lớn và hiếm. Trong cái hoạ mưa lụt và sự thất vọng về ứng phó của chính quyền, người dân và chính quyền Hà Nội lại có một cơ hội nhìn lại năng lực chống lũ của mình.  Câu hỏi sau đây có lẽ còn nhức nhối rất lâu sau khi nước mưa đã rút: Lúng túng trong nước mưa, Hà Nội sẽ đương đầu thế nào với lũ lớn tương đương cơn lũ 1971?                 Úng ngập đô thị      Lũ lụt nông thôn          Khả năng thoát nước tự nhiên      Thấp      Cao           Tác nhân kích thích thông thường      Mưa to ở địa phương      Vỡ đê trong mùa lũ          Ưu tiên cứu hộ      1.                  Giao thông  2.                  Nước ngọt (do ô nhiễm nguồn nước nặng hơn nông thôn)  3.                  Lương thực (không gặp được người bán do nước lụt chia cắt)      1.                  Chỗ trú ẩn cao ráo để bảo toàn sinh mạng  2.                  Lương thực (do mất năng lực kinh tế để mua nhu yếu phẩm)  3.                  Giao thông           Thiệt hại chính      1.                  Thiệt hại do đời sống và kinh doanh gián đoạn  2.                  Thiệt hại nhà xưởng, máy móc, xe cộ  3.                  Chất thải độc hại      1.                  Thiệt hại về nhân mạng  2.                  Thiệt hại trực tiếp về tư liệu sản xuất (mùa màng, thuỷ sản v.v.), nhà cửa          Khả năng tự khắc phục của người dân      Không tự khắc phục được về rác thải, nước uống và giao thông      Tự khắc phục cao do kinh nghiệm truyền thống          Biện pháp cứu trợ      Thông các mạch giao thông chính  Đảm bảo cung ứng nhu yếu phẩm      Di tản dân lên khu vực cao ráo  Phát lương thực, thực phẩm và đồ thiết yếu          Xu hướng      Ngày càng ngập lụt nặng và thường xuyên hơn      Tương đối ổn định          So sánh ngập lụt đô thị và lũ lụt nông thôn             Theo Minhbien.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày 08/10: Công bố giải thưởng Nobel 2007      Cụ thể, ngày 08/10 sẽ công bố giải Nobel về Sinh học hay Y học; ngày 9.10 sẽ là giải Vật lý, giải Hóa học được công bố vào ngày 10/10; ngày 15/10 là giải Kinh tế.      Các giải trên sẽ được công bố tại Stockholm, Thụy Điển. Giải Nobel Hòa bình sẽ do Ủy ban Nobel Na Uy công bố vào ngày 12/10. Riêng giải Nobel Văn chương, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển sẽ thông báo ngày công bố sau. Kết quả giải Nobel được công bố hằng năm vào tháng 10 và được trao vào ngày 10/12, ngày mất của Nobel. Các giải Nobel không bắt buộc phải được trao hằng năm, nhưng ít nhất phải được trao một lần cho mỗi 5 năm. Giải khi đã trao rồi không bao giờ bị tước. Mỗi giải Nobel được trao cho tối đa 3 người mỗi năm.     D.B (Theo Nobelprize.org)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày càng ít tác giả lựa chọn bình duyệt ẩn danh      Theo những khảo sát trước đây, các tác giả thường thích được bình duyệt ẩn danh vì nghĩ rằng kết quả đánh giá sẽ công bằng hơn. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của Tập đoàn xuất bản Nature (NPG) lại chỉ ra cứ 8 tác giả thì chỉ có 1 người lựa chọn phương án này, ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy những bài báo trải qua bình duyệt lần hai thường ít được chấp thuận cho đăng hơn.      Theo kỳ vọng, trong bình duyệt ẩn danh thì người đánh giá sẽ không biết tác giả là ai để tránh thiên vị – như định kiến với một số quốc gia, nhóm thiểu số, phụ nữ, hay ưu ái hơn cho những người nổi tiếng, và bình duyệt lần hai là để giúp giảm thiểu những định kiến như vậy ở mức tối đa.  Tuy nhiên, cách tiếp cận này hãy còn nhiều hạn chế vì rất khó để đảm bảo hoàn toàn ẩn danh trong quá trình bình duyệt. Thực tế cho thấy, những người xét duyệt đôi khi có thể nói chính xác ai viết bài báo, dựa trên kinh nghiệm từ những lần xét duyệt trước hoặc từ các thông tin khác. Chẳng hạn, trong một lần hoán đổi người xét duyệt lần hai của tạp chí Conversation Biology (2014), những người duyệt vẫn có thể phán đoán chính xác một nửa số tác giả.      Năm 2013, Nature bắt đầu cho các tác giả lựa chọn bình duyệt ẩn danh với 2 tạp chí Nature Geoscience và Nature Climate Change. Tuy nhiên, trong báo cáo 2 năm sau đó thì cứ 5 tác giả mới có 1 người lựa chọn phương án này, ít hơn nhiều so với kỳ vọng của ban biên tập. Dẫu vậy, những phản hồi của các tác giả được đánh giá là tích cực khiến NPG quyết định nhân rộng lựa chọn này tới các tạp chí khác trong cùng hệ thống. Trong 106.373 bài báo gửi tới 25 tập san thuộc Nature (từ tháng 3/2015 tới tháng 2/2017), chỉ 12% là lựa chọn bình duyệt ẩn danh lần 2, chủ yếu với những tập san nổi tiếng nhất như Nature (14%), so với 12% của những tập san liên kết với Nature và chỉ 9% cho những tập san truy cập mở như Nature Communications. Trong khi có tới 32% tác giả Ấn Độ và 22% Trung Quốc lựa chọn bình duyệt lần 2, thì con số đó với Pháp và Mỹ lần lượt chỉ là 8% và 7%. Lựa chọn bình duyệt ẩn danh lần thứ hai cũng phổ biến hơn với những nhà nghiên cứu tới từ các phân viện ít danh tiếng hơn – dựa trên bảng xếp hạng của Times Higher Education (năm 2016). Ngoài ra cũng không có nhiều khác biệt trong lựa chọn giữa các tác giả nam và nữ.     Nhiều tác giả lo ngại rằng việc trải qua bình duyệt lần 2 có thể sẽ đem đến kết quả ngược so với mong đợi, làm giảm cơ hội được chấp thuận đăng của bài báo. Cũng theo Nature, chỉ 8% số bài báo gửi tới là được đệ trình để trải qua thêm một lần xét duyệt vòng 2, so với 23% của lần 1 (Hội đồng biên tập của Nature có quyền quyết định bài báo nào được gửi qua xét duyệt hay chỉ đơn giản là từ chối nó, và những người biên tập cũng có thể biết danh tính của tác giả). Theo đó, chỉ 25% số bài báo trải qua bình duyệt lần 2 được chấp thuận đăng, so với 44% của lần bình duyệt đầu.  Hải Đăng dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/09/few-authors-choose-anonymous-peer-review-massive-study-nature-journals-show    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bất cập trong các phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị COVID      Việc thử nghiệm các liệu pháp mới điều trị COVID-19 ngày càng khó khăn vì tiêm phòng diện rộng ở nhiều nơi khiến cho các ca bệnh nặng ít xuất hiện và thu hẹp số người có tiềm năng tham gia thử nghiệm.    Đã có khoảng nửa tá liệu pháp điều trị COVID-19 được Tổ chức Y tế Thế giới hoặc các cơ quan quốc gia như Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ khuyến nghị – bao gồm steroid, kháng thể tổng hợp, và thuốc viên kháng virus. Một số liệu pháp làm giảm nguy cơ tử vong cho những người phải nhập viện, một số khác thì làm giảm tỷ lệ phải nhập viện.        Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia và khu vực, các liệu pháp này có nguồn cung rất hạn chế và chi phí cao. Ngoài ra, còn có nguy cơ nảy sinh mầm bệnh kháng thuốc nếu sử dụng quá thường xuyên các loại thuốc kháng virus như Paxlovid của Pfizer.    Nhờ có vaccine, tỷ lệ tử vong ở một số quốc gia từng bị ảnh hưởng nặng nề bởi COVID-19 đã giảm nhanh chóng. Nhưng cải thiện này cũng gây khó khăn cho các thử nghiệm thuốc mới.    Năm 2020, thời điểm đầu đại dịch, nhà nghiên cứu sức khỏe Edward Mills tại Đại học McMaster, Canada, và các đồng nghiệp đã tiến hành thử nghiệm TOGETHER ở Brazil để tìm hiểu liệu các loại thuốc hiện có có thể ngăn chặn COVID-19 tiến triển nặng hay không. Tỷ lệ những người tham gia thử nghiệm tử vong hoặc phải nhập viện khi đó là 16%. Nhưng sau khi có vaccine, con số này giảm xuống còn 3-5%. Vì quá ít người phát triển bệnh nặng, nhóm nghiên cứu phải tuyển thêm những người tham gia có nguy cơ cao phát triển bệnh nặng ở cả các địa điểm khác như Nam Phi, Pakistan, Cộng hòa Dân chủ Congo và Rwanda.    Và ngay cả những người đủ tiêu chuẩn cũng thường không muốn tham gia thử nghiệm thuốc nữa, vì họ muốn dùng các phương pháp điều trị đã được chứng minh là có hiệu quả.    Khi nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm Elizabeth Hohmann tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts bắt đầu giám sát thử nghiệm ACTT nhằm kiểm tra các liệu pháp điều trị COVID-19 vào đầu năm 2020, việc tuyển dụng cũng diễn ra nhanh chóng, vì những người ốm yếu không còn lựa chọn nào tốt hơn. Đến tháng 4/2020, thử nghiệm đã thu hút 1.062 người. Và vào cuối năm 2020, thử nghiệm cho thấy thuốc kháng virus remdesivir giúp tăng tốc độ phục hồi và ngăn ngừa tử vong.    Nhưng khi các phương pháp điều trị hiệu quả như remdesivir trở nên phổ biến, việc tuyển người tham gia các thử nghiệm ngày càng trở nên khó khăn hơn, Hohmann cho biết. Nhiều người cảm thấy an toàn hơn khi được chỉ định phác đồ đã được khuyến nghị. Chỉ những người cảm thấy có trách nhiệm dân sự mới đăng ký dùng thuốc thử nghiệm, Hohmann nói. Ngay cả những yếu tố khiến người ta hoài nghi vaccine cũng không khiến họ muốn dùng thuốc thử nghiệm.    Trong khi đó, vì đã có nhiều liệu pháp điều trị, sự phức tạp của các tính toán thống kê cần thiết để xác định hiệu quả thực tế của một liệu pháp mới cũng tăng lên. Giờ đây, các nhà nghiên cứu cần tuyển nhiều người tham gia thử nghiệm hơn trước.    Đó chính xác là những gì đã xảy ra đối với nhóm đang tổ chức thử nghiệm PRINCIPLE ở Anh nhằm kiểm tra liệu các loại thuốc hiện có có thể tăng tốc độ phục hồi sau COVID-19 hay không. Nhóm PRINCIPLE cho biết tác dụng của các loại thuốc liên quan đến điều trị COVID-19 hiện có đang làm mờ đi bất kỳ sự khác biệt nào có thể xuất hiện giữa nhóm dùng giả dược và nhóm dùng thuốc thử nghiệm. Có nghĩa là các nhà nghiên cứu phải thống kê trên các nhóm lớn hơn trong thời gian dài hơn để thấy được các khác biệt giữa hai nhóm.    Các thí nghiệm gần đây trên tế bào đã chỉ ra, có thể xuất hiện các chủng virus kháng Paxlovid; và đây là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng cho dù tình hình phức tạp đến đâu, chúng ta vẫn phải tìm cách để theo kịp sự tiến hóa của virus.    Trang Anh    Author                .        
__label__tiasang Ngày Cảnh báo tiểu hành tinh      Ngày Cảnh báo tiểu hành tinh (Asteroid Day) sẽ được tổ chức vào giữa năm tới để cảnh báo nguy cơ các tiểu hành tinh đâm vào và gây thiệt hại cho Trái đất.    Báo Anh Daily Mail ngày 4/12/2014 đưa tin: Hơn 100 nhà khoa học và du hành vũ trụ (DHVT) cùng các ngôi sao nhạc rock, trong đó có cây ghi ta của ban nhạc Queen là Brian May – người có học vị tiến sĩ vật lý thiên văn, nhà DHVT người Anh Martin Rees, nhà sinh học tiến hóa Richard Dawkins… vừa ký một bản tuyên bố yêu cầu tăng cường hành động để đối phó với các tiểu hành tinh. Họ sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc ngoài trời vào ngày 30/6/2015 để nói với mọi người rằng nếu không hành động thì nhân loại sẽ phải đối mặt với thảm họa nguy hiểm. Họ kêu gọi tăng 100 lần các nỗ lực phát hiện và theo dõi cái gọi là những vật thể gần Trái đất (NEO).  TS Brian May nói: “Chúng ta càng nắm được quỹ tích tiểu hành tinh đâm vào Trái đất thì càng có thể đề phòng tai họa thiên nhiên, tránh được những nguy hiểm do các tiểu hành tinh đem lại.”  Các chuyên gia khác cho biết, nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng phá hoại do tiểu hành tinh đem lại cho Trái đất, nên sử dụng kính viễn vọng hồng ngoại để theo dõi các tiểu hành tinh ở giữa Trái đất với sao Kim.  Buổi hòa nhạc nói trên nằm trong khuôn khổ Ngày Cảnh báo tiểu hành tinh (Asteroid Awareness Day), một sự kiện sẽ diễn ra cùng lúc ở nhiều nước trên thế giới, vào ngày kỷ niệm 107 năm vụ Tunguska khi một tiểu hành tinh lớn nhất trong lịch sử đâm vào Trái đất và hủy diệt cả một vùng rộng 2.000 km2.  Ước tính có khoảng một triệu tiểu hành tinh có thể gây ra thiệt hại cho Trái đất nhưng hiện nay loài người chỉ mới biết được khoảng 10.000, tức 1%. Còn vô số tiểu hành tinh chúng ta chưa biết, như vậy nghĩa là vào bất cứ lúc nào, chúng cũng có thể đâm vào bầu khí quyển và gây ra sự hủy diệt trên một diện tích rộng mà trước đó không ai biết gì. Tháng 2/2013, hơn 1.600 người đã bị thương khi một thiên thạch rộng 20 m rơi xuống Chelyabinsk ở Nga, đây là vụ rơi thiên thạch lớn nhất ghi chép được trong hơn một thế kỷ. Cách đây 68 triệu năm, một tiểu hành tinh rộng 10 km đâm vào Trái đất đã tạo ra hố thiên thạch Chicxulub rộng 200 km ở Mexico. Chính là loài khủng long trên Trái đất đã bị tiêu diệt bởi tai họa này, như lập luận của nhà vật lý Luis Walter Alvarez đưa ra vào năm 1980.   Đầu năm nay, Quỹ B612 và Cục Hàng không ở London cảnh báo một tiểu hành tinh to gấp 10 lần Trái đất có thể đang tiến tới gần hành tinh của chúng ta, nếu cứ tiếp tục di chuyển thì vào khoảng năm 2029 nó sẽ đâm vào Trái đất và hủy diệt hành tinh xanh này.  Tiến sĩ Ed Lu –nhà DHVT từng hai lần đáp tàu con thoi và một lần đáp tàu Soyuz lên trạm ISS, có tổng thời gian làm việc trên vũ trụ 206 ngày – nói chúng ta có những công nghệ để phá hủy các tiểu hành tinh có nguy cơ đe dọa Trái đất, nhưng tiền đề là phải phát hiện được chúng từ vài năm trước khi chúng đâm vào Trái đất.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày hội STEM 2017: Người tham dự đông gần gấp đôi dự kiến      Sáng 14/5, Ngày hội STEM 2017 dành cho học sinh từ 8 đến 18 tuổi ở khu vực phía Bắc đã khai mạc tại Hà Nội với số người tham dự đông gần gấp đôi dự kiến với sự tham gia đóng góp nội dung tích cực từ phía học sinh và sinh viên.    Ngày hội được tổ chức bởi tạp chí Tia Sáng, Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), Học viện Sáng tạo S3 và Học viên STEM, dưới sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, mục đích nhằm phổ biến và nâng cao nhận thức xã hội về giáo dục STEM, một mô hình giáo dục hiện đại trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng lồng ghép liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật  và toán học, giúp người học không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Mô hình này đã được triển khai tại các nước Âu-Mỹ nhưng còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam.     Ở lần thứ ba tổ chức tại Hà Nội, Ngày hội đã mở rộng đến đối tượng học sinh trung học.   Phát biểu tại lễ khai mạc, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc, người đã có hai lần tham dự Ngày hội STEM tại Hà Nội, cho rằng, từ phụ huynh học sinh đến giáo viên đều có thể tham khảo cách truyền đạt về khoa học cho đại chúng ở ngày hội “từ những gì thật cao xa đến những gì thật gần gũi”. Ông hi vọng với chủ đề “Hành tinh tương lai”, Ngày hội STEM năm nay có thể truyền cảm hứng cho các em giải quyết những vấn đề của thế giới khi lớn lên.   Trong khi đó, ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Trung học Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho biết, Giáo dục STEM đã được đưa vào nhiệm vụ năm học của các Sở Giáo dục từ hai năm nay. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng kết hợp với công ty DTT và một số công ty giáo dục khác tổ chức các CLB STEM trong các trường tiểu học, THCS và cùng Hội đồng Anh thí điểm Giáo dục STEM trong chương trình chính khoá ở 9 trường phổ thông. Cũng theo ông Vũ Đình Chuẩn, chương trình giáo dục tổng thể sắp tới cũng “quán triệt” tinh thần giáo dục STEM, đưa phương thức giáo dục này sâu hơn vào chương trình chính khoá, thay vì câu lạc bộ khoa học ở các trường phổ thông. Bên cạnh đó, gần đây, Liên minh STEM gồm những người tâm huyết với phương thức giáo dục này đã đào tạo cho gần 2000 giáo viên ở nhiều tỉnh trên cả nước.   Cũng phát biểu tại lễ khai mạc, GS. Patrick Boiron, Hiệu trưởng USTH, trường đại học đầu tiên tham dự chương trình ngày hội STEM với vai trò cung cấp địa điểm và tổ chức nội dung, khẳng định, USTH sẽ đồng hành với các trường THPT trên cả nước trong việc tổ chức những ngày hội tương tự. Ông chia sẻ rằng trong quá trình tới thăm và chiêu sinh ở 20 trường phổ thông chuyên trên cả nước, ông thấy các em học sinh có nhiều ý tưởng hay nhưng chưa có kinh nghiệm và năng lực để triển khai chúng trên thực tế. Ông hi vọng, USTH, với hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại theo chuẩn quốc tế và triết lý giáo dục gần với tinh thần STEM, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và thực tiễn, sẽ tạo điều kiện tốt nhất để các em có thể biến ý tưởng của mình thành sản phẩm hoàn chỉnh.       Ban tổ chức Ngày hội STEM 2017 trân trọng cảm ơn Vinschool, Viettel, Hanel, PhuThai Group đã tài trợ cho sự kiện này.      Một trong những điểm đặc biệt của ngày hội STEM 2017 đó là vai trò chủ động, tích cực của học sinh, sinh viên. Tại các gian hàng của THCS Tạ Quang Bửu, Trưng Vương và Olympia là các các sản phẩm khoa học và trình diễn các thí nghiệm do các em thực hiện như máy in 3D, bảng xóa tự động…và các thí nghiệm như nước đổi màu, nến bay, núi lửa phun trào… Các tiết mục Science show, Quiz show và Labtour cho học sinh THPT cũng do chính các sinh viên tổ chức, dẫn chương trình và biểu diễn cùng các giảng viên. Có hơn 70 sinh viên tình nguyện của USTH cả ngày túc trực, chỉ dẫn và trả lời hỏi đáp cho phụ huynh và trẻ em tham dự ngày hội.  Trong lễ khai mạc, các em học sinh hết sức hứng thú với Science Show dành cho khối Tiểu học và THCS gồm các thí nghiệm liên quan đến khí Nitơ lỏng: làm quả bóng bay co lại, làm bông hoa hồng đóng băng, làm kem ngay tức thì, dùng chuối đóng đinh. Bên cạnh đó, các em còn được xem robot NAO (robot do công ty SoftBank của Pháp phát triển với 25 khớp nối linh động) trình diễn điệu nhảy Haka truyền thống của New Zealand, nhảy Gangnam Style, tập thái cực quyền và chống đẩy… Dù diễn ra trong vòng 15 phút ngắn ngủi nhưng Science Show khiến các em học sinh hoàn toàn bị cuốn hút, tràn lên khu vực gần sân khấu để quan sát. Một Science Show khác dành cho học sinh THPT trình diễn các thí nghiệm “quen mà lạ”  trong đó người tham gia được thử sức kéo thanh sắt khỏi cuộn nam châm điện (dĩ nhiên là không thể kéo được!), thử dùng súng bắn điện, quan sát một cuộn dây Tesla nhỏ gọn trong lòng bàn tay làm sáng bóng đèn ở gần nó… Các em cũng được điều khiển mô hình chiếc xe tự hành trên Sao Hoả mô phỏng theo chiếc Curiousity của NASA do chính các sinh viên của USTH tự thiết kế, thử nghiệm và sản xuất trong vòng hai tuần.     Các em xem robot trình diễn thực hiện các nhiệm vụ phức tạp trên sa bàn. Đây là hoạt động được thiết kế bởi Học viện STEM.  Bên cạnh các Science Show nhằm hâm nóng bầu không khí Ngày hội là các lớp học theo ca và theo chủ đề dành cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở, bao gồm: Năng lượng điện và cách tạo ra điện từ một số thức ăn, các trò chơi với điện; Năng lượng mặt trời, lắp mô hình xe ô tô mặt trời; Mạch điện thông minh; Trải nghiệm Origami – Tìm hiểu về khối tứ diện; Trải nghiệm Kapla – Thế giới của những viên gạch gỗ; Tessellation – Ứng dụng trong thời trang; Lập trình để xây dựng một bộ phim hoạt hình.  Hoạt động Labtour của đại học USTH ban đầu được thiết kế dành riêng cho học sinh trung học phổ thông, cuối cùng mở rộng ra cho tất cả các đối tượng tham dự từ trẻ em cho đến người lớn – phụ huynh học sinh. Các thí nghiệm sử dụng thiết bị rất hiện đại trong phòng thí nghiệm để đo sóng ánh sáng, giao thoa sóng nước; dùng tia UV phân biệt tiền giả, tiền thật; lập trình thử robot NAO và quan sát, nghe giải thích về mô hình tích trữ năng lượng mặt trời thông qua việc lưu trữ Hydro tưởng chừng phức tạp nhưng thực ra lại hấp dẫn với mọi lứa tuổi. Các em cũng có thể thắc mắc về bất kì thông tin gì về các thiết bị hay công việc nghiên cứu của các anh/chị trong phòng thí nghiệm.   Trong khi các em học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm STEM thì các vị phụ huynh tới các lớp nói chuyện khoa học về chủ đề: Công nghệ Nano và cuộc sống với phần trình bày của TS. Trần Đình Phong (USTH) trình bày những công nghệ tưởng chừng “cao siêu” đang gần gũi với đời sống của chúng ta ra sao; Khoa học dinh dưỡng và vấn đề béo phì với phần trình bày của TS. Lê Đoàn Thanh Lâm (ĐH Bách Khoa); Giáo dục STEM và Cách mạng Công nghiệp 4.0 – cơ hội nào cho học sinh Việt Nam với phần trình bày của ông Nguyễn Thế Trung (Tổng giám đốc Công ty công nghệ DTT) và PGS. TS. Chu Cẩm Thơ (sáng lập PoMath) vẽ ra một viễn cảnh của 30 năm sau, cuộc sống của con người sẽ thay đổi như thế nào và mỗi công dân phải “chủ động kiến tạo thế giới chứ không phải học những kiến thức đã có sẵn”; Học STEM cùng học sinh như thế nào? với phần trình bày của TS. Đặng Văn Sơn (Học viện Sáng tạo S3) và ông Đỗ Hoàng Sơn (Giám đốc Công ty Long Minh)  Ban đầu, Ngày hội STEM 2017 dự kiến đón 1.500 học sinh cùng 500 phụ huynh, tuy nhiên, trên thực tế, chỉ trong vòng buổi sáng, Ngày hội đã đón hơn 2.000 lượt người tới dự. Anh Đặng Văn Sơn, Trưởng ban tổ chức, cho biết, form đăng ký online các hoạt động dành cho học sinh dưới 15 tuổi đã phải đóng vào tối thứ Sáu, 12/5, với số lượt đăng ký gấp gần bốn lần so với dự kiến. Ngoài ra, có hơn 400 học sinh THPT tham gia Ngày hội không chỉ đến từ Hà Nội mà còn từ trường chuyên của nhiều tỉnh ở miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Giang…                  Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Ngày này trong lịch sử khoa học và công nghệ      .              07/04  1964  IBM chạy thử hệ thống System/360 đầu tiên, một hệ thống gồm 6 máy tính chủ chạy song song với 40 máy con. Nhiều người coi đây là canh bạc kinh doanh lớn nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, System/360 sau khi ra đời thực sự giúp cải thiện hoạt động của Chính phủ, khoa học, và các doanh nghiệp. Khoản đầu tư 5 tỷ USD nhanh chóng được thu hồi, sau 2 năm số lượng đặt hàng lên tới 1000. Khách hàng khi đó đã có thể lựa chọn mô hình với quy mô hoạt động như mong muốn, tất cả đều chạy trên cùng một hệ thống điều hành. Như vậy, đây là lần đầu tiên khách có thể mua loại máy rẻ, quy mô nhỏ, và vẫn có thể tiếp tục nâng cấp sau này.     09/04  1895  Ảnh quang phổ của nhà thiên văn James Keeler chứng minh rằng vành sáng xung quanh sao Thổ được cấu thành bởi các thiên thạch, như Maxwell đã từng tiên đoán. Nếu như vành sáng này là khối rắn đồng nhất thì ảnh chụp sẽ phải thể hiện sự đồng nhất trong cường độ ánh sáng phản chiếu. Nhưng ảnh quang phổ của Keepler cho thấy có sự thay đổi trong sắc độ, thể hiện vành sáng được cấu thành bởi thiên thạch, và các mẩu gần sao Thổ bay với tốc độ khác các mẩu ở xa.    11/04  1970  Apollo 13, con tàu thứ ba mang người đi thám hiểm mặt trăng khởi hành. Ba nhà du hành trong chuyến đi định mệnh này là James Lovell, Fred Haise, và John Swigert. Hai ngày sau, đúng vào ngày 13, tai hoạ xảy đến khi tàu đang ở 200.000 dặm cách Trái đất. Một bình chứa oxy lỏng bị nổ, làm tê liệt các nguồn nguyên liệu thông thường bao gồm oxy, điện, ánh sáng, và nước. Swigert gọi về: “Houston, chúng tôi đang gặp nạn”. Chuyến hạ cánh xuống Mặt trăng bị huỷ bỏ. Sau khi buộc lòng phải quay quanh Mặt trăng để lấy đà, con tàu bắt đầu cuộc hành trình quay về trong lúc gặp vấn đề nghiêm trọng về thiếu năng lượng. Vào ngày 17 tháng 4, trong khi cả thế giới theo dõi trong hồi hộp, thảm kịch chuyển thành niềm hân hoan khi Apollo hạ an toàn xuống Thái Bình Dương.     12/04  1954                      Uỷ ban Năng lượng Nguyên tử Mỹ (AEC) bắt đầu cuộc điều trần đi tới quyết định huỷ bỏ chức năng, nhiệm vụ của Robert Oppenheimer, nhà khoa học đầu đàn của chương trình Manhattan, cha đẻ của bom nguyên tử. Oppenheimer bị ám ảnh sâu sắc bởi mức độ tàn khốc mà hậu quả bom nguyên tử mang lại. Năm 1949, khi Liên bang Soviet thử thành công bom nguyên tử, Edward Teller và Ernest Lawrence vận động nhiệt thành cho việc chế ra bom hydro. Với tư cách là Trưởng ban Cố vấn AEC, Oppenheimer phủ quyết, coi nó là vũ khí chống lại loài người. Sự việc được đông đảo giới khoa học quan tâm, trở thành biểu tượng cho sự xung đột trong một thời đại lịch sử mới, giữa một bên là các ý đồ chính trị, bên kia là lương tâm nhà khoa học. Một thập kỷ sau, chính quyền Kennedy truy tặng giải thưởng Enrico Femi để thể hiện sự nhìn lại công lao đóng góp và nhân cách lớn của Oppenheimer.  1961  Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào quỹ đạo Trái đất. Con tàu của anh, Vostok I, được trang bị radio, tivi, và các dụng cụ hỗ trợ sự sống thông báo tình hình sức khoẻ về Trái đất. Chuyến bay hoàn toàn tự động. Chức năng điều khiển của Gagarin bị khoá để ngăn anh không điều khiển con tàu, nhưng chìa khoá được giữ trong phong bì niêm phong nhằm đề phòng trường hợp khẩn cấp. Sau khi quay lại khí quyển, Gagarin hạ cánh bằng dù cá nhân. Anh mất trong một tai nạn máy bay vào 7 năm sau.    14/04  1932  Nguyên tử được phân chia bởi một tia proton khi chiếu vào một mục tiêu Lithium. Hai nhà khoa học, một là John Douglas Cockcroft, người Anh và Ernest Walton, người Ailen, đã phát kiến ra chiếc máy gia tốc hạt nhân đầu tiên. Chính thành tựu này đã giúp họ cùng được nhận giải Nobel Vật lý năm 1951. Chiếc máy gia tốc được chế tạo trong một căn phòng bỏ hoang ở Phòng thí nghiệm Cavendish. Khi một hạt proton từ tia sáng phát ra từ máy gia tốc bắn vào nguyên tử Lithium, trạng thái kết hợp thiếu cân bằng giữa chúng sẽ làm phân rã thành hai hạt alpha. Walton trở thành người đầu tiên thành công trong việc phân chia nguyên tử.      15/04  1923  Insulin bắt đầu được sử dụng phổ biến để điều trị bệnh tiểu đường. Nó được phát minh từ năm 1922. Insulin là một hormon tự nhiên và quan trọng được tiết ra từ tuyến tụy để phục vụ trong quá trình trao đổi chất. Trong sản xuất, Insulin thường được chích ra từ tuyến tụy của cừu, bò, hoặc được tổng hợp trong phòng thí nghiệm.     16/04  1813   Lần đầu tiên yêu cầu của Chính phủ Mỹ đòi chuẩn hoá các chi tiết máy được đưa vào hợp đồng kinh tế. 10.000 pit-tông được đặt hàng, sao cho các thành phần của pit-tông được khớp thật chính xác, tới mức thành phần của các pit-tông khác nhau có thể thay thế cho nhau trong hoạt động. Việc chuẩn hoá chi tiết máy là một trong những yếu tố đóng góp quan trọng vào thành công của cuộc cách mạng công nghiệp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày này trong lịch sử khoa học và công nghệ      .    17/4                                  Năm 1967, tàu vũ trụ Surveyor 3 đã được phóng thành công từ Cape Kennedy –Florida. Đây là tàu vũ trụ thứ 2 của Mỹ đã hạ cánh an toàn xuống Mặt trăng, nó có nhiệm vụ thám hiểm bề mặt của Mặt trăng và đã gửi về trái đất 6300 bức ảnh. Tổng số có 7 chiếc Surveyor đã được đưa lên Mặt trăng.   Năm 1970, con tàu Apollo 13 đã hạ cánh an toàn xuống Thái Bình Dương, nó đã phải bỏ dở nhiệm vụ khi đã hoàn thành 4/5 quãng đường (cuộc hành trình) tới Mặt trăng. Con tàu đã bị phá hỏng vì có một bình chứa oxy lỏng bị nổ. Các phi hành gia đã phải thực hiện một cuộc thoát hiểm bất thường. Với sự trở về của nhà du hành vũ trụ A.J.Lovell, anh đã là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Mỹ bay hơn 700 giờ ngoài không gian.      18/4   Năm 1925, lần đầu tiên một chiếc máy fax vô tuyến (máy fax truyền bằng sóng vô tuyến) đã thực hiện gửi đi một bức ảnh xuyên lục địa từ San Francisco, California đến thành phố New York. Bức ảnh chụp Marion Davies đang nhận một chiếc hộp trang điểm như một món quà của nhà sản xuất phim LouisB. Mayer của hãng phim Metro-Goldwyn-Mayer(MGM). Dịch vụ này đã được Công ty điện thoại và điện báo Mỹ kiểm tra vào tháng ba (ngày 4/3/1925). Bức ảnh thử nghiệm đầu tiên được gửi đi là bức ảnh chụp Lễ nhậm chức của Tổng thống Calvin Coolidge vào Washington D.C. Chín bức ảnh đã được gửi đến New York, Chicago và San Francisco, mỗi bức ảnh mất 7 phút.      20/4  Louis Pasteur  Năm 1862, thí nghiệm tiệt trùng đầu tiên của Louis Pasteur và Claude Bernard đã hoàn thành. Tại hội nghị của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, những chiếc lọ bịt kín từ ngày 3 tháng 3 đã được mở ra. Những chiếc lọ đó chứa máu và nước tiểu của chó và được giữ ở nhiệt độ cao ( 300C). Nhưng chúng đã không bị phân hủy hay lên men. Chính điều này đã gợi ý một khả năng về những thức ăn nóng đủ để diệt vi trùng mà không cần những thay đổi đáng kể trong thành phần hóa học của chúng. Các nhà sản xuất bia đã áp dụng phương pháp tiệt trùng này. Bia đã làm xong được giữ nóng ở trên 1600F để giết chết các vi khuẩn có hại. Bia vô trùng có thể được sản xuất mà không đòi hỏi sự làm lạnh ổn định cho việc cất giữ lâu dài. Phương pháp này cũng được sử dụng cho sữa và các sản phẩm khác.     21/4   John Michell – nhà thiên văn học và địa chất học người Anh, được coi như cha đẻ của ngành địa chấn học. Ông là người đầu tiên đưa ra cách đánh giá thực tế về khoảng cách giữa các vì sao và khám phá ra sao đôi tự nhiên. Sau động đất ở Lisbon năm 1755(đã làm chết 70.000 người), ông đã nhận định được rằng động đất gây nên một làn sóng trên Trái đất. Ông cũng lưu ý là tần suất xuất hiện của các trận động đất sẽ cao hơn tại những khu vực có núi lửa. Michell cũng nhận thấy bằng việc so sánh những trận động đất cảm nhận được có thể đo đạc tâm chấn của nó. Ông đã phát minh ra một chiếc cân xoắn dùng để đo những lực hấp dẫn rất nhỏ. Thật đáng tiếc là ông đã mất trước khi thực hiện ý định dùng chiếc cân đó để xác định tỷ trọng của Trái đất. Và sau này Henry Cavendish đã thực sự dùng nó thực hiện phép đo đó và đưa ra hằng số hấp dẫn. John Michell mất vào năm 1793.      22/4   Biểu tượng của vũ khí hóa học  Năm 1915, vũ khí hóa học hiện đại lần đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh. Quân đội Đức đã phóng khí Clo từ một vài bình kim loại ở gần Ypres(Bỉ) trong Chiến tranh thế giới I. Đám mây màu xanh – vàng với mùi nặng( khó ngửi) đã thổi tới khắp các đường hầm của quân đội Pháp nhờ gió, giết chết một cách đau đớn 5000 binh lính. Khí Clo làm ngạt thở, co thắt ngực, lấp kín cổ họng và gây sưng phổi. Chỉ cần một lượng 2.5mg trên một lít (nồng độ thể tích khoảng 0.085%) trong không khí sẽ dẫn đến tử vong cho người trong vài phút. Một lượng Clo nhỏ có thể được dùng để làm chất tiệt trùng nước sinh hoạt.       23/4  Năm 1962, Ranger IV- vệ tinh đầu tiên của Mỹ lên mặt trăng đã được phóng vào lúc 3:50pm từ Cape Canaveral, Florida. Như dự tính nó sẽ tương tác với Mặt trăng 3 ngày sau đó, vào lúc 7:50pm ngày 26/4, di chuyển với tốc độ 5963 dặm một giờ. Tên lửa Atlas-Agena B cao 102 feet, đường kính đáy 16feet đã được sử dụng để phóng vệ tinh này. Khoảng cách mà Ranger IV sẽ di chuyển khoảng 229.541 dặm  Năm 1981, da nhân tạo lần đầu tiên đã được cấy ghép trên cơ thể của một bệnh nhân Mỹ tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Boston. Ioannis V.Yannas đã phát triển sự kết hợp của da bò, sụn cá mập và chất dẻo cùng với một nhóm nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Massachusetts( MIT). Chất liệu này có khả năng điều trị cho các bệnh nhân bỏng.     24/4   Năm 1970, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ 5 có một vệ tinh trên quỹ đạo với việc phóng thành công vệ tinh DFH-1 (Đông Phương Hồng) từ Trung tâm phóng vệ tinh Jiuquab. Vệ tinh này có tuổi thọ thiết kế là 15 ngày và nó đã phát đi bài quốc ca của Đảng Cộng sản Trung Quốc- The East is Red cho mục đích tuyên truyền. DFH-1 có 72 mặt đa diện, đường kính 1mét, nặng 173kg. Tiếp sau đó là tàu DFH thứ hai với tên SJ-1 được phóng vào 3/3/1971. 4 quốc gia đầu tiên có vệ tinh trong không gian là Liên Xô (Sputnik vào 4/10/1957), Mỹ(Explorer-I vào 31/1/1958), Pháp (Astri-1 vào 26/11/1965)và Nhật Bản (Osumi – 11/2/1970). Sau Trung Quốc, Anh cũng phóng vệ tinh Prospero vào 28/10/1972.     25/4  Năm 1953, tạp chí Nature đã công bố  cấu trúc của DNA được đưa ra trong một bài báo của James Watson và Francis Crick. Công trình của họ đã được trao Giải thưởng Nobel Y học năm 1962. Cấu trúc này giải thích cho việc DNA đã truyền thông tin di truyền như thế nào từ tế bào này sang tế bào khác hay từ thế hệ này sang thế hệ khác. “ Cấu trúc này có hai chuỗi xoắn (chuỗi xoắn kép) quấn quanh cùng một trục…Cả hai chuỗi đều xoắn theo chiều thuận (theo chiều từ phải sang)”. Đặc tính mới lạ của cấu trúc này là cách mà hai chuỗi xoắn giữ với nhau bằng bazơ hữu cơ có chứa nitơ cấu trúc phân tử hai vòng và bazơ hữu cơ chứa nitơ cấu trúc phân tử vòng. Chúng gắn lại với nhau thành cặp, một bazơ đơn lẻ từ liên kết hidro và một bazơ đơn lẻ khác sắp xếp hai chuỗi kề sát nhau với tọa độ-Z đồng nhất.     26/4  Năm 1882, photophone (máy quang thoại – máy phát âm bằng ánh sáng) đã được Alexander Graham Bell và Charles Sumner Tainter chứng minh. Trong thiết bị của họ có một chiếc đĩa tráng bạc đã bị rung lên khi có tiếng nói từ ống nói đưa vào (hay còn gọi là gương rung động). Ánh sáng phản xạ từ đĩa được hội tụ bằng một ăngten parabol trên tế bào quang điện Selen. Những thay đổi của ánh sáng phản xạ đã làm biến đổi những tín hiệu điện mang đến tai nghe.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày này trong lịch sử khoa học và công nghệ      .    27/4   Năm 1880, bằng sáng chế đầu tiên của Mỹ về máy trợ thính điện đã được trao cho Franscis D.Clarke và M.G.Foster với tên gọi Thiết bị hỗ trợ nghe cho người khiếm thính ( Số 226,902). Thiết bị này áp dụng sự truyền dẫn âm thanh qua xương, trong đó âm thanh được truyền bằng sự rung động của xương hộp sọ. Nhưng phải đến tận năm 1901 thì Acousticon-máy trợ thính thương mại đầu tiên, phát kiến của Miller Reese Hutchinson, mới được sản xuất.  Năm 1970, Hahnum, nguyên tố phóng xạ nhân tạo với số nguyên tử là 105 đã được công bố trong hội nghị của Hội Vật lý Hoa Kỳ tại Washington. Công trình này được Albert Ghiorso nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm phóng xạ Lawrence thuộc trường Đại học California, Berkeley. Nguyên tố phóng xạ nhân tạo này có khối lượng nguyên tử là 260 và được lấy theo tên của nhà vật lý người Đức Otto Hahn.     28/4  Năm 1932, một loại vaccine đã được công bố nhằm miễn dịch bệnh sốt da vàng ở người. Đây là công bố mang tính tập thể đầu tiên tại hội nghị của các Hiệp hội Mỹ về Sinh vật học thí nghiệm ở Philadelphia, Pennyslvania. Loại vaccine này đã được Drs. Wilbur A.Sawyer, Wray D.M.Lloyd và StuartF.Kitchen nghiên cứu, họ là những người đã được Quỹ từ thiện Rockerfeller (Rockerfeller Foundation) bảo trợ.      29/4   Ngày mất của Wallace Hume Carothers (1896 – 1937). Ông là nhà hóa học người Mỹ nghiên cứu về nylon – sợi cao phân tử nhân tạo đầu tiên bằng cách kéo sợi từ sự nấu chảy. Loại polyme này được tạo ra từ sự ngưng kết (đông đặc) của axit adipic-(CH2)4(CO2H)2 và hexamethylenediamine – H2N(CH2)6NH2. Wallace Hume Carothers đã làm việc cho Công ty hóa chất DuPont với vị trí là người đứng đầu nghiên cứu về hóa học hữu cơ từ năm 1928. Qua những nghiên cứu của mình về các phân tử mạch lớn, mà ngày nay gọi là polyme (hợp chất cao phân tử), ông cũng đã phát triển cao su nhân tạo đầu tiên năm 1931- neoprene (cao su được tạo ra bằng sự trùng hợp các phân tử clorobutadien- CH2CHClCHCH2). Ông bị mắc chứng trầm cảm và đã tự tử khi mới 41 tuổi (29/4/1937)- trước khi nylon được khai thác mang tính thương mại. Công ty DuPont đưa nylon vào sản xuất thương mại từ năm 1938 và từ đó thành lập ngành công nghiệp sợi nhân tạo. Nylon đã chứng minh những đặc tính nổi bật của nó như một thứ lụa nhân tạo.     30/4  Năm 1897, sự tồn tại của electron lần đầu được công bố. Đây cũng là hạt cơ bản đầu tiên mà con người tìm ra. Tại buổi thuyết trình chiều thứ 6 thường kỳ của Học viện Hoàng gia, Joseph John Thomson (1856-1940) lần đầu đưa ra công bố về sự tồn tại của electron (tên gọi vẫn được dùng cho tới ngày nay). Thomson khẳng định với các thính giả rằng vào khoảng đầu năm đó, ông đã tìm ra một loại hạt nhỏ gấn nghìn lần so với nguyên tử, và gọi nó là corpuscle, nghĩa là “vật thể nhỏ”. Tuy Thomson lúc đó đang là Giám đốc điều hành của Phòng thí nghiệm Cavendish tại Đại học Cambridge, và là một trong những nhà khoa học uy tín nhất của Anh, các nhà khoa học có mặt trong buổi thuyết trình đều tỏ ra nghi ngờ khám phá trên. Họ vẫn nghĩ rằng nguyên tử là phần tử vật chất nhỏ nhất và không thể chia cắt được. Năm 1906, Joseph John Thomson được nhận giải thưởng Nobel cho khám phá về electron và các nghiên cứu về hiện tượng phóng điện trong khí.     1/5   Năm 1924, muối bột có chứa iốt lần đầu tiên đã được đưa vào bán tại bang Michigan-Mỹ. Muối bột đó có chứa hàm lượng 0.01% Natri ioddua (NaI), khi  thêm vào lượng iốt vừa đủ sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh bướu cổ (sưng to tuyến giáp ở cổ). Công ty muối Diamond  và 4 công ty muối bột khác ở Michigan đã đồng ý thêm một lượng nhỏ iốt vào sản phẩm của họ trước sự thúc giục của Hiệp hội Y khoa bang Michigan, mà người đề xướng và dẫn đầu là David Muray Cowie. Đầu tiên là miễn cưỡng, sau đó Công ty muối Morton cũng đã cung cấp loại muối này trên thị trường toàn quốc. Giá trị to lớn của iốt nhằm mục đích giảm tỷ lệ bướu cổ đã được David Marine xác định qua kết quả của một cuộc thử nghiệm trên một nhóm nữ sinh.     2/5  Ngày mất của Leonardo da Vinci (1452 – 1519) – họa sĩ, nhà phác họa, nhà điêu khắc đồng thời là kiến trúc sư, kĩ sư người Ý. Ông là kĩ sư và là nhà phát minh lớn, người đã thiết kế nhiều tòa nhà, nhiều cây cầu, kênh đào, pháo đài và rất nhiều máy móc phục vụ chiến tranh. Ông giữ một số lượng đồ sộ các ghi chép, phác họa về những ý tưởng của mình. Ông bị mê hoặc bởi chim và khả năng bay của chúng. Trong số những phác họa của ông có các ý tưởng thiết kế tuyệt diệu cho những cố máy bay lượn. Chúng là minh chứng về một thiên tài của những sáng chế cơ học, với những nghiên cứu khoa học đi trước thời đại của mình vài thế kỷ. Ông cũng được biết đến như một họa sĩ nổi tiếng mọi thời đại, nổi tiếng nhất với các tác phẩm như Mona Lisa và Bữa ăn tối cuối cùng.      3/5   Sinh năm 1695, Henri Piot- kĩ sư thủy lực học người Pháp đã phát minh ra ống Pitot (1732). Ống Pitot là một dụng cụ dùng để đo tốc độ dòng chảy (lưu lượng) của chất lỏng hoặc chất khí. Mô hình của ống Pitot sau đó được Henri Darcy cải tiến nhằm sử dụng để xác định tốc độ trên không của máy bay. Mặc dù  ban đầu ông được đào tạo thành nhà toán học và nhà thiên văn học, nhưng ông đã bị thu hút vào một nghiên cứu về tốc độ dòng chảy tại những độ sâu khác nhau, và để phục vụ cho nghiên cứu đó đầu tiên ông đã tạo ra ống Pitot. Ông đã bác bỏ niềm tin của đa số mọi người thời đó rằng vận tốc của dòng nước tăng lên theo độ sâu. Pitot đã trở thành một kĩ sư làm thay đổi quá trình duy tu và xây dựng các kênh đào, những cây cầu, các dự án cấp thoát nước và ông đặc biệt được nhớ đến với công trình Cống dẫn nước Sanit-Clement (1772) ở Montpellier, Pháp có hình cửa tò vò dài gần 1 km.      4/5  Năm 1933, phát hiện về sóng vô tuyến phát ra từ trung tâm của dải Ngân hà đã được nêu ra trong một báo cáo của Karl Jansky mà ông đã đọc tại Hội Vô tuyến Quốc tế ở Washington. Sóng vô tuyến này có mật độ rất thấp, bước sóng ngắn (14,6 m, tần số khoảng 20Mhz) và đòi hỏi những thiết bị đo đạc rất nhạy mới có thể phát hiện ra chúng. Mật độ sóng thay đổi một cách đều đặn theo thời gian trong ngày và theo mùa. Chúng đến từ một hướng không thay đổi trong vũ trụ và độc lập với điểm đến Trái đất. Karl Jansky đã kiểm soát các nghiên cứu của ông trên tạp âm nền ở bộ phận nghiên cứu vô tuyến tại Phòng thí nghiệm điện thoại Bell, Holmdel, New Jersey. Tờ Thời báo New York đã đưa lên trang nhất bài báo cáo đó ngay ngày hôm sau.     5/5   Năm 1834, William Whewell đã viết cho Michael Faraday một bức thư liên quan đến những tên gọi để miêu tả cho quá trình điện phân mà ông đang nghiên cứu. Whewell gợi ý các tên gọi Anode và Cathode. Những thuật ngữ này dựa trên tiếng Hy Lạp, tiền tố “ana” có nghĩa là “ở trên” và “kata” có nghĩa là “ở dưới”. Việc lựa chọn những tiền tố này dựa vào ý tưởng dòng điện là dòng chuyển dời có hướng từ cực dương sang cực âm của nguồn điện. Ông cũng đã gợi ý thuật ngữ ion- kết hợp thay cho Zetodes và Stechions. Faraday đã trả lời lại rằng “thật là vui sướng với khả năng diễn đạt của những thuật ngữ mới và tôi sẽ luôn luôn mắc nợ ông vì sự giúp đỡ tận tình mà ông đã dành cho tôi”.   THANH LOAN lược dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày này trong lịch sử khoa học và công nghệ      .    16.7    Năm 1994, hành tinh nhỏ đầu tiên trong 21 hành tinh nhỏ, đoạn chính của sao Chổi Shoemaker-Levy 9 bị vỡ vụn, đã va chạm với sao Mộc tạo ra một quả cầu lửa rộng đến 1200 dặm, cao 600 dặm đem lại niềm hân hoan cho các phi hành gia đang chờ đợi để được thấy pháo bông của bầu trời, mang đến cơ hội đầu tiên cho các nhà khoa học quan sát va chạm như nó đã xảy ra và các va chạm khác trong ngày 22 tháng 7. Sao Mộc là một khối khí khổng lồ, cấu thành từ phần lớn hidro và heli dưới dạng thể khí và thể lỏng. Khi họ quan sát sao Mộc, họ không quan sát tại bề mặt rắn của nó mà họ quan sát không khí bị phân lớp với các đám mây xoay và các trận bão lớn.     17.7   Năm 1955, một thị trấn của Arco, Idaho, Mỹ đã trở thành nơi đầu tiên trên thế giới có toàn bộ nhu cầu về điện được cung cấp bằng năng lượng hạt nhân. Trong suốt một giờ thử nghiệm, thị trấn đã cắt hết các nguồn điện khác trừ năng lượng hạt nhân. Arco, một thị trấn với khoảng 1000 hộ cư trú cách xa 20 dặm từ Trạm thử nghiệm phản ứng Quốc gia (NRTS-National Reactor Testing Station) của Viện Năng lượng Nguyên tử (AEC- Atomic Energy Commission). Nơi Thử nghiệm lò phản ứng nước sôi – một thử nghiệm lò phản ứng hạt nhân sử dụng urani được Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne vận hành. Minh chứng này đã thể hiện được sự an toàn và khả năng cung cấp điện từ năng lượng hạt nhân. ( Ngày nay, Trạm thử nghiệm phản ứng quốc gia chính là Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho).  18.7   Năm 1994, Rosanna Della Corte – một phụ nữ Italia 62 tuổi đã sinh ra một cậu con trai khỏe mạnh – Riccardo. Trứng của Rosanna Della Corte đã được thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng của chính người chồng 63 tuổi của bà – Mauro, tại Phòng khám chuyên khoa sản của bác sĩ Severino Antinori ở Roma, Italia. Rosanna Della Corte đã từng mất đi cậu con trai duy nhất 17 tuổi trong một tai nạn ô tô khủng khiếp. Bà đã luôn cố gắng để nhận nuôi một cậu con trai khác nhưng đều không có kết quả. Những điều này là lý do bà ấy thay đổi phương pháp. Phản ứng trước sự kiện này, những hạn chế đã được đưa thêm vào luật pháp Italia theo sau bộ Bách khoa Toàn thư Evangelium Vitae, lên án phương pháp Thụ tinh ngoài tử cung và nhiều phương pháp sinh sản công nghệ cao khác.  21.7      Năm 2000, một sự hợp tác quốc tế của các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc Quốc gia Fermi thuộc Bộ Năng lượng đã công bố những bằng chứng về loại hạt bên trong nguyên tử, được gọi là nơtrinô Tau, là hạt nơtrinô thứ ba được biết đến trong vật lý hạt cơ bản. Họ đã đưa ra 4 thể hiện của một hạt nơtrinô tương tác với nguyên tử hạt nhân sản sinh ra một hạt tích điện được gọi là hạt Lepton Tau, một dấu hiệu của nơtrinô Tau. Nơtrinô Tau là hạt nơtrinô thứ 3 của Mô hình chuẩn các hạt cơ bản miêu tả một cách lý thuyết về nhóm tất cả các hạt cơ bản đó trong 3 thế hệ. Những người thử nghiệm đã xác định chúng bằng những tương tác nơtrinô thu được. Những nơtrinô điện tử (electron neutrino) thế hệ đầu tiên đã được tạo ra vào năm 1956 và thế hệ thứ hai, nơtrinô Muon vào năm 1962.  23.7      Năm 1998, một nhóm các nhà khoa học quốc tế dẫn đầu bởi Ryuzo Yanagimachi của trường Đại học Hawaii đã công bố trên tạp chí Khoa học Nature số ra ngày 23/7 rằng họ đã thực hiện thành công khả năng sinh sản vô tính của động vật có vú từ trứng đã trưởng thành để tạo ra chuột vô tính thế hệ thứ 3. Phương pháp vô tính đã được nhắc đến chính xác hơn trong việc tạo ra cừu Dolly trước đó (1996). “Kĩ thuật Hololulu” cung cấp cho các nhà nghiên cứu khả năng lớn hơn để điều khiển các hạt nhân được hiến tặng đã trưởng thành. Chính khả năng này đã đem đến một ngành công nghiệp Ứng dụng – mở rộng trong việc tăng cường nghiên cứu vai trò của gene thực hiện trong quá trình lão hóa và gây bệnh.  24.7   Năm 1991, nhà khoa học Andrew G. Lyne của trường Đại học Manchester đã công bố việc tìm thấy một hành tinh bên ngoài hệ Mặt trời. Andrew G. Lyne sau đó đã rút lại lời khẳng định của mình về một hành tinh xung quanh hành tinh không nhìn thấy được bằng mắt thường PSR 1829-10 (ẩn tinh) tại buổi gặp mặt của Hội Phi hành gia Hoa Kỳ tháng 1 năm 1992 ở Atlanta. Ông nói rằng sự điều biến của sóng vô tuyến đến từ ẩn tinh đã được gây ra không chỉ bởi sự hiện diện của một hành tinh mà thực tế là giả tạo của sự chuyển động của Trái đất xung quanh Mặt trời. Khả năng đó đã được nghĩ đến nhưng sau đó nó đã không được quan tâm trong các nghiên cứu dữ liệu ban đầu.  25.7    Năm 1946, Mỹ đã làm nổ quả bom nguyên tử “Baker” trong thời gian “Operation Crossroads” tại đảo san hô Bikini, Thái Bình Dương. Vụ nổ hạt nhân dưới nước đầu tiên này là để thử nghiệm kết quả trên một hạm đội hải quân từ các con tàu thu được của quân địch và thặng dư chiến tranh. Bom được đưa vào trong các thùng thép kín, được treo lơ lửng ở độ sâu 90 foot bên dưới con tàu LSM-60 và được làm nổ bằng tín hiệu vô tuyến từ một con tàu chỉ huy vào lúc 8h45. Vụ nổ đã tạo ra cột hơi nước và cột nước lớn, một đợt sóng dữ dội. Sau lần thứ 2, ban đầu sóng đập vào con tàu mục tiêu Carrier Saratoga và cuốn nó đi 800 yard ( 1yard =0.914mét), nhấn chìm nó sau đó 8 giờ đồng hồ. Đợt sóng cao 90 foot cũng nhấn chìm Battleship Arkansas, ba chiếc tàu ngầm (Pilotfish, Apogon, Shipjack) và xà lan nhiên liệu YO-160.  29.7   Năm 1927, “phổi sắt” ( máy hô hấp nhân tạo) đầu tiên đã được lắp đặt tại bệnh viện Bellevue, New York cho dịch bại liệt sau chiến tranh. Phổi sắt đầu tiên đã được Phillip Drinker và Louis Agassiz Shaw phát triển ở Đại học Harvard bằng việc xây dựng hai máy làm sạch chân không. Phổi sắt là thiết bị áp suất thấp bao quanh cơ thể bệnh nhân trừ phần đầu và sự xen kẽ của áp suất không khí âm với áp suất không khí xung quanh dẫn đến sự co giãn nhịp nhàng của lồng ngực trong việc đáp lại áp suất thấp bên ngoài ngực (the negative extra thoracic pressure), trong suốt thời kỳ áp suất bao quanh ngoài ngực, phổi giãn ra. Và ngày nay loại máy này hiếm khi được sử dụng.  31.7    Năm 1990, thử nghiệm trong phương pháp điều trị bằng gene bằng cách chèn thêm các gene mới vào trong tế bào của cơ thể đã được chấp thuận lần đầu tiên bởi Ủy ban tư vấn tái tổ hợp DNA của Viện Y tế Quốc gia. Phương pháp điều trị bằng gene thực hiện lần đầu tiên trên người cho sự thiếu hụt Ademosine Deaminaza (một loại bệnh về gene, nó phá huỷ hệ thống miễn dịch) và cho các dạng ung thư. Bác sĩ McGarrity, Chủ tịch Ủy ban nhấn mạnh rằng những điều khoản mà họ đã bỏ phiếu tán thành là sự đồng thuận đầu tiên cho phương pháp điều trị bằng gene đúng đắn hơn là cấy gene đơn thuần. Ông cũng nói thêm rằng đây là thời điểm lịch sử trong phương pháp điều trị bằng gene hiện nay, có thể bổ xung vào danh mục của vaccine, kháng sinh, thuốc, phẫu thuật và điều trị phóng xạ để chiến đấu với bệnh tật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày tận thế của côn trùng ?      Điều đó tác động gì đối với phần còn lại của sinh vật trên Trái đất?    Khi Sun Boye Riis, một giáo viên Toán và Khoa học ở trường phổ thông đang tận hưởng một cuộc dạo chơi bằng xe đạp với con trai ở một vùng quê phía bắc Copenhagen, Đan Mạch ông để ý một hiện tượng kì lạ: Không có một con côn trùng nào bay vào người ông. Đó là một điều khác biệt hoàn toàn với thời thơ ấu khi ông còn sống trên đảo Lolland, Đan Mạch, dù có cố gắng ngậm chặt miệng băng qua những “đám mây” dày đặc côn trùng, kiểu gì ông cũng sẽ nuốt phải vài con. Xưa kia, khi được bố mẹ đèo đi đâu đó, ông thường xuyên nhìn thấy kính chắn gió của xe ô tô bị côn trùng bám dày đặc đến mức không thể nhìn thấy đường. Kí ức đó đã trở nên quá xa vời. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Tất cả lũ côn trùng đã đi đâu?   Sự hoài niệm của ông dần biến mất mà thay vào đó là sự lo lắng. Côn trùng là một phần quan trọng của hệ sinh thái: chúng là loài thụ phấn chính, chúng góp phần tái chế rác thải và là còn là nền tảng của mạng lưới thức ăn ở khắp mọi nơi. Riis không hề đơn độc khi nhận thấy sự suy giảm của côn trùng. Tại Hoa Kỳ, các nhà khoa học gần đây đã phát hiện thấy số bướm chúa giảm 90% trong 20 năm qua, mất 900 triệu cá thể; ong vò vẽ vá gỉ, từng sống ở 28 tiểu bang, đã giảm 87% so với cùng kỳ. Với các loài côn trùng ít được nghiên cứu khác, một nhà nghiên cứu về bướm nói với tôi: “tất cả những gì chúng ta có thể làm là xua tay và nói: ‹Chúng không còn ở đây nữa!” Riis và nhiều người khác cùng chia sẻ một nỗi lo lắng sâu sắc rằng cả một thế giới côn trùng có thể lặng lẽ mất tích, một sự mất mát to lớn có thể làm thay đổi hành tinh theo những cách mà chúng ta chưa lường hết được. David Wagner, một nhà côn trùng học tại Đại học Connecticut cho biết: “Chúng ta đã nhận thấy sự mất mát, nhưng sự giảm sút của nó lại khó nhận ra hơn rất nhiều.” Bởi vì côn trùng thường bay theo đoàn, không rõ ràng và khó theo dõi, sự biến mất của chúng được cảm nhận nhiều hơn là được dẫn chứng số liệu. Mọi người bắt đầu chú ý đến kênh đào, sân sau hoặc dưới bóng đèn đường vào ban đêm vắng bóng côn trùng một cách kì lạ. Cảm giác này phổ biến đến mức các nhà côn trùng học đã dùng cụm từ “hiện tượng kính chắn gió” để gọi nó [ám chỉ không còn hiện tượng côn trùng bám vào kính chắn gió xe hơi nữa – ND].      Khi được yêu cầu tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu côn trùng biến mất hoàn toàn, các nhà khoa học đã dùng những từ như hỗn loạn, sụp đổ, Armageddon (ngày tận thế) để mô tả. Wagner, nhà côn trùng học của Đại học Connecticut, đã nói đến một thế giới không có hoa với những khu rừng chết lặng, một thế giới của phân, lá già và xác chết thối rữa tích tụ trong các thành phố và lề đường, một thế giới của sự sụp đổ suy tàn và xói mòn mất mát sẽ lan truyền qua cả hệ sinh thái, không tha bất kể một loài nào từ động vật đến thực vật.      Để kiểm tra giả thuyết của mình, Riis và 200 người Đan Mạch khác đã dành cả tháng sáu đi quanh khắp vùng quê trong những chiếc xe lỗi thời của mình. Họ là một phần của một nghiên cứu được thực hiện bởi Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Đan Mạch, hợp tác với Đại học Copenhagen, Đại học Aarhus và Đại học Bang Bắc Carolina, Mỹ. Lưới sẽ thay thế cho kính chắn gió khi Riis và các tình nguyện viên khác lái xe qua nhiều môi trường khác nhau – khu vực đô thị, rừng, vùng nông nghiệp, vùng đất mở và vùng đất ngập nước – hy vọng sẽ định lượng được dự đoán (về việc côn trùng đang biến mất) của họ.  Khi các nhà điều tra bắt đầu tuyển dụng những tình nguyện viên cho kế hoạch nghiên cứu vào năm 2016, thì chẳng có mấy người tham gia. Nhưng sau khi một bài báo từ một tổ chức nghiên cứu côn trùng của Đức cho biết, sự phong phú của côn trùng bay trong khu bảo tồn thiên nhiên Đức đã giảm 75% chỉ sau 27 năm, thậm chí nếu nhìn vào giữa hè, khi số lượng côn trùng lên đến đỉnh điểm, con số sụt giảm là 82%, thì trong năm 2017 bài báo khoa học đó được thảo luận rất nhiều và đã trở thành một cảnh báo về ngày tận thế của côn trùng. Do vậy, dự án thu thập côn trùng, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Đan Mạch đã phải từ chối hàng chục tình nguyện viên háo hức.   Dường như có những người như Riis ở khắp mọi nơi, những người đã nhận thấy một sự suy giảm côn trùng, nhưng họ không biết tại sao những con bọ bay trong không trung có thể biến mất? Thế giới nào sẽ không có chúng?  Hiểu biết của con người về những gì đang xảy ra xung quanh hạn chế biết bao. Chúng ta đã đặt tên và mô tả một triệu loài côn trùng, một loạt bọ trĩ, bọ lửa và ruồi giấm…Tuy nhiên, chúng ta lại thiếu hiểu biết về chính những loài mà chúng ta tưởng là mình am hiểu nhất: có 12.000 loại kiến, gần 20.000 giống ong và gần 400.000 loài bọ cánh cứng. Một mét đất màu mỡ sâu hai inch có thể dễ dàng là nhà của 200 loài ve khác nhau. Tuy nhiên, các nhà côn trùng học ước tính những gì chúng đã đã biết về côn trùng có lẽ chỉ chiếm 20% sự đa dạng thực sự của chúng trên hành tinh của chúng ta – hay nói cách khác, có hàng triệu triệu loài mà khoa học hoàn toàn không biết.  Khi các nhà côn trùng học bắt đầu chú ý và điều tra sự suy giảm của côn trùng, họ than thở về việc không có thông tin vững chắc từ quá khứ để đưa ra những nhận định về hiện tại. Chúng ta thấy hàng trăm loại bọ và chúng ta tưởng thế là ổn, nhưng nếu trước đó hai thế hệ có đến 100.000 loài thì sao? Dù rằng các nhà côn trùng học thiếu dữ liệu, họ lại có những manh mối rất đáng lo ngại. Ở Anh, có đến 30 đến 60 phần trăm các loài côn trùng được tìm thấy có phạm vi giảm dần. Xu hướng lớn hơn khó xác định hơn, mặc dù một đánh giá năm 2014 trên Science đã cố gắng định lượng những sự suy giảm này bằng cách tổng hợp các phát hiện của các nghiên cứu hiện tại và thấy rằng phần lớn các loài được theo dõi đang giảm ở mức trung bình 45%. Các nhà côn trùng học cũng biết rằng biến đổi khí hậu và suy thoái chung của môi trường sống toàn cầu là tin xấu cho đa dạng sinh học nói chung, không những thế côn trùng đang phải đối phó với những thách thức đặc biệt do thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu, cùng với tác động của việc mất đồng cỏ, rừng và sự mở rộng không ngừng của đô thị. Trong những nghiên cứu về các loài khác cũng cho thấy các loài côn trùng liên quan đến chúng cũng có thể đang suy giảm. Những người nghiên cứu về một loại cá phát hiện ra rằng loài cá này có ít loài phù du để ăn. Các nhà nghiên cứu về loài chim tiếp tục phát hiện ra rằng những con chim sống dựa vào côn trùng để kiếm thức ăn đang gặp rắc rối lớn:  80% gà gô đã biến mất ở vùng nông thôn của Pháp, số lượng chim sơn ca và chim cu gáy lần lượt giảm 50% và 80%, và nửa số chim sẻ đất ở châu Âu biến mất chỉ sau ba thập kỷ. Lúc đầu, nhiều nhà khoa học cho rằng thủ phạm quen thuộc của hiện tượng này là sự hủy hoại môi trường sống dưới tác động của con người, nhưng sau đó họ bắt đầu tự hỏi liệu những con chim có thể đơn giản chỉ là chết đói. Các dấu hiệu chắc chắn là đáng báo động, nhưng chúng cũng chỉ là những dấu hiệu và do đó không đủ để biện minh cho những tuyên bố lớn về tình trạng của côn trùng nói chung hoặc về những gì có thể gây ra sự suy giảm đa loài. Không có dữ liệu định lượng về côn trùng, vì vậy đây chỉ là một giả thuyết, ông Hans Hans de Kroon, một nhà sinh thái học tại Đại học Radboud ở Hà Lan, giải thích.  Nhưng nghiên cứu đến từ tổ chức về côn trùng ở Đức đã thay đổi tất cả. Nó đưa ra chính xác loại dữ liệu mà chúng ta đang cần, và không phải chỉ về một loại côn trùng. Các con số rất rõ ràng: chúng cho thấy sự suy giảm đến mức báo động của toàn bộ thế giới côn trùng, ngay cả trong các khu vực được bảo vệ. Tốc độ và quy mô của sự sụt giảm đã gây sốc ngay cả đối với các nhà côn trùng học. Nhưng điều đáng nói là nghiên cứu đó không xuất hiện trên một tạp chí đặc biệt uy tín và không đến từ các nhà khoa học thuộc các trường đại học danh tiếng mà chỉ từ một tổ chức nhỏ của những người đam mê côn trùng sống khiêm tốn trong thành phố Krefeld của Đức.  Sự quan trọng của côn trùng đối với đa dạng sinh học là không thể phủ nhận: côn trùng biến cây cối thành protein thông qua quá trình tiêu hóa và rồi chính chúng lại trở thành nguồn dinh dưỡng cho một lượng khổng lồ các loài khác. Chúng ta lo lắng về việc cứu loài gấu xám khỏi nguy cơ tuyệt chủng, nhưng còn loài ong giúp thụ phấn những quả dâu mà chúng ăn, và loài ruồi là thức ăn cho những con cá hồi mà chúng bắt thì sao?   Sâu bọ rất quan trọng đối với sự phân hủy giúp chất dinh dưỡng tuần hoàn, đất khỏe, cây phát triển và hệ sinh thái hoạt động. Nhưng người ta chỉ nhận ra vai trò này khi nó đột ngột đứt đoạn. Chẳng hạn như, khi mang gia súc đến Úc vào đầu thế kỷ 19, những người định cư đã ngay lập tức nhận thấy một điều kì lạ: vì một lý do nào đó, phân bò phải mất hàng tháng hoặc thậm chí nhiều năm để phân hủy. Bò không chịu ăn gần mùi hôi thối, do đó đòi hỏi ngày càng nhiều đất để chăn thả, và rất nhiều ruồi xuất hiện. Tận cho đến năm 1951, một nhà côn trùng học đến thăm trang trại mới phát hiện ra nguyên do: loài côn trùng địa phương chỉ được tiến hóa để ăn chất thải từ thú có túi đã không thể xử lý phân bò. Trong 25 năm tiếp theo, việc nhập khẩu, kiểm dịch và thả hàng chục loài bọ hung ra môi trường đã trở thành ưu tiên quốc gia. Thậm chí như ở Hoa Kỳ, bọ hung tiết kiệm cho người chăn nuôi ước tính khoảng 380 triệu USD mỗi năm. Chúng thầm lặng cống hiến, chỉ có điều chúng ta không biết đến những gì côn trùng làm. Khi được yêu cầu tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu côn trùng biến mất hoàn toàn, các nhà khoa học đã dùng những từ như hỗn loạn, sụp đổ, Armageddon (ngày tận thế) để mô tả. Wagner, nhà côn trùng học của Đại học Connecticut, đã nói đến một thế giới không có hoa với những khu rừng chết lặng, một thế giới của phân, lá già và xác chết thối rữa tích tụ trong các thành phố và lề đường, một thế giới của sự sụp đổ suy tàn và xói mòn mất mát sẽ lan truyền qua cả hệ sinh thái, không tha bất kể một loài nào từ động vật đến thực vật.   Một trong những lý do khiến châu Âu đi đầu trong việc đối phó với sự suy giảm côn trùng là do truyền thống quan tâm đến thiên nhiên (naturalist tradition) của họ. Sự quan tâm dẫn đến sự theo dõi và nhận thức, và rồi cuối cùng là hành động. Kể từ khi dữ liệu Krefeld xuất hiện, đã có những phiên điều trần về việc bảo vệ đa dạng sinh học côn trùng ở Bundestag của Đức và Nghị viện châu Âu. Các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu đã bỏ phiếu mở rộng lệnh cấm thuốc trừ sâu neonicotinoid và đã bắt đầu bỏ tiền ra để nghiên cứu thêm về sự thay đổi của đa dạng côn trùng, điều gì gây ra những thay đổi đó và những gì có thể được thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta đang đối mặt sẽ đòi hỏi nhiều hơn thế này. Liên minh châu Âu đã có một số biện pháp đáng kể – bao gồm kiểm soát chặt chẽ thuốc trừ sâu hơn Hoa Kỳ và trả tiền cho nông dân để tạo môi trường sống cho côn trùng bằng cách bỏ hoang một số khu đất bên cạnh khu vực canh tác – nhưng dù sao thì quần thể côn trùng vẫn cứ giảm. Báo cáo mới kêu gọi các chính phủ quốc gia hợp tác và thực hiện các cách tiếp cận sáng tạo hơn như tích hợp môi trường sống côn trùng vào thiết kế đường, đường dây điện, đường sắt và cơ sở hạ tầng khác; cũng như có nhiều nghiên cứu hơn.   Các nhà khoa học hy vọng rằng côn trùng sẽ có cơ hội thể hiện khả năng phục hồi đáng kinh ngạc của chúng. Trong khi hổ có xu hướng sinh ba hoặc bốn con cùng một lúc, một con sâu bướm ma ở Úc đã từng được ghi nhận đẻ 29.100 trứng và vẫn còn đến 15.000 buồng trứng. Điều đó cho phép chúng phục hồi, nhưng chỉ khi chúng được cung cấp không gian và cơ hội để làm điều đó. Đây là một cuộc tranh luận mà chúng ta không thể tiếp tục trì hoãn. Thiên nhiên rất kiên cường, nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục đẩy chúng đến mức cực đoan thì cuối cùng điều chúng ta phải hứng chịu là sự sụp đổ của cả hệ thống.  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.nytimes.com/2018/11/27/magazine/insect-apocalypse.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày tận thế đã không xảy ra      Sao Hỏa là người anh em song sinh kém may mắn của Trái đất.      Bức ảnh đầu tiên về bề mặt Sao Hỏa được chụp bởi Vikings I, phi thuyền thứ hai hạ cánh xuống Sao Hỏa. Ảnh: NASA / JPL-CALTECH  Huyền thoại về hai hành tinh bắt đầu từ bốn tỉ năm trước. Một hành tinh là Trái đất và hành tinh còn lại là sao Hỏa, và hai bên đều quá giống nhau ở thời sơ khai. Sông hồ chạm khắc trên bề mặt chúng, những hố va chạm lỗ chỗ và núi lửa vươn lên giữa những đồng bằng. Nhưng có gì đó đã thay đổi ở nơi này chứ không phải nơi kia.   Trong dòng nước chảy róc rách ở Trái đất, số phận và cả phản ứng hóa học đã kết hợp các amino acids thành các phân tử phức tạp, và trong một quá trình mà đến giờ với chúng ta vẫn là bí ẩn, nó đưa đến sự sinh sôi của những động vật đơn bào biết tự nhân đôi. Một vài sai sót trong những bản sao đó đã biến chúng thành những sinh vật thở ra oxy mà chúng ta gọi là tảo. Vô vàn hình thái phát triển từ những tổ tiên khiêm nhường đó, và sau hàng tỉ năm, và đây: Tất cả văn hóa nhân loại với bao hi vọng, với bao khả năng khởi sinh trong một lát cắt mỏng của thời gian.        Trái đất đã có thể trở thành sao Hỏa.      Sao Hỏa không may mắn như vậy. Sao Hỏa khô cạn. Sao Hỏa nhỏ bé, đường kính chỉ bằng một nửa Trái đất nên nó nguội nhanh hơn Trái đất sau khi sinh ra từ đám mây bụi sót lại từ quá trình hình thành Mặt trời. So về tổng khối lượng, nhiều vật chất trên sao Hỏa phải tiếp xúc với khoảng không lạnh lẽo và tăm tối nhiều hơn. Khi hành tinh này nguội, lõi sắt-nickel của nó cô đặc lại. Điều này có lẽ đã khiến từ trường của sao Hỏa biến mất, tước đi tấm chắn bảo vệ của nó, thứ mà đến giờ vẫn giữ Trái đất an toàn khỏi các tia Mặt trời và tia vũ trụ. Thời gian và Mặt trời rực rỡ đã lấy đi khí quyển của sao Hỏa trước khi tảo của hành tinh này, nếu nó từng tồn tại, có cơ hội để khiến không khí dày hơn và ấm hơn. Sao Hỏa trở thành một hòn sắt gỉ trước khi có bất kì một bộ xương nào ngã xuống trên những hoang mạc của nó, trước khi bất kì một sinh vật nào có thể tìm kiếm và suy tư về vị trí của nó giữa những chấm sáng khác trên bầu trời đêm. Khi Trái đất sinh sôi và tràn ngập sự sống, sao Hỏa thì, có lẽ vẫn như nó luôn từng thế, khắc khổ.   Đối với tôi, có lẽ đó là lí do tại sao sao Hỏa lại là hành tinh tuyệt nhất. Một vài thay đổi giản đơn có thể biến lịch sử của nó thành lịch sử của chúng ta và ngược lại. Đó là vấn đề; Trái đất đã có thể trở thành sao Hỏa.   Ashwin Vasavada cũng có một góc nhìn tương tự. Ông là nhà khoa học của Phòng thí nghiệm Khoa học sao Hỏa – một chiếc xe tự hành robot với sáu bánh mà chúng ta biết và quý mến với tên gọi Curiousity. Ông có thể trích dẫn một câu trả lời đơn giản cho câu hỏi vì sao chúng ta lại đến sao Hỏa, một nhận định của hầu hết nhà khoa học và những người viết về khoa học: Sao Hỏa rất gần. Nó ở ngay kế bên [Trái đất] và người ta chỉ mất nửa năm để ném một con robot qua đó.     Sườn núi của Đỉnh Sharp. Ảnh: NASA / JPL-Caltech / MSSS  “Đó là câu trả lời của NASA. Đó là vị trí dễ tiếp cận nhất để đi tìm sự sống ngoài Trái đất. Nhưng tôi có câu trả lời của riêng mình”, ông nói. “Đó là một nơi mà mà chúng ta đặt chân đến ngày nay để quay trở lại Trái đất thuở ban sơ. Gạt dần lớp bụi bên ngoài sao Hỏa và ta có một hành tinh mang hoài niệm của Trái đất. Nó giống như tìm thấy một Trái đất bụi bặm trên gác xép. Thổi bụi một chút, và ta nhìn thấy nơi chốn diệu kì mà mình có thể nhận ra. Đó là lí do tôi thích nó”.   Ai đã từng đến các công viên quốc gia phía Tây Mỹ sẽ thấy sao Hỏa thật thân thuộc, đặc biệt là những công viên với những khối đá bị phong hóa với màu sắc đáng kinh ngạc. Địa hình ở Núi Sharp tại hố va chạm Gale, nơi robot thăm dò sao Hỏa đầu tiên Curiousity đã đi đi lại lai kể từ năm 2012, giống như Utah hay Colorado. Những viên đá đỏ nâu, được nung bởi ánh nắng Mặt trời và bị vùi một phần trong những đụn cát. Những triền đồi mấp mô, nhưng không có những dòng sông hay cơn mưa cho chúng một vẻ dịu dàng như Trái đất.   Dĩ nhiên sao Hỏa thân thuộc với chúng ta rất lâu trước khi chúng ta gửi robot tới đây. Với sao Thủy, sao Kim, sao Mộc và sao Thổ, sao Hỏa chỉ là một trong những hành tinh không nhấp nháy trên bầu trời đêm mà chúng ta có thể quan sát được bằng mắt thường. Những hành tinh đó đã đồng hành cùng với văn hóa nhân loại kể từ khi chúng ta bắt đầu viết truyện. Hành tinh ngay bên cạnh chúng ta đã có một chỗ đứng trong những huyền thoại ra đời từ thời của những người Babylon, được gọi là Nergal, tên gọi của vị thần hủy diệt. Trong thần thoại La Mã, sao Hỏa là thần chiến tranh và nổi loạn. Hình tượng này cũng xuất hiện dưới nhiều hình thức khác trong các thần thoại Hy Lạp, Bắc Âu và Hindu. Với người Trung Quốc cổ đại, nó là Huỳnh Hỏa, Hành tinh lung linh.       Cho dù nếu kết quả tìm kiếm sự sống trên sao Hỏa là số không, nó sẽ đặt ra một câu hỏi lớn hơn nữa: Tại sao lại chỉ Trái đất? Tại sao là chỉ chúng ta [mới có sự sống]?      Kể cả bây giờ, chúng ta thấy sao Hỏa (Mars) trong ngày thứ ba của mỗi tuần. Trong các ngôn ngữ Roman, cái tên Mars hay “Dies Martis” là cách gọi là cách gọi tiếng Latin của thứ ba, trong tiếng Tây Ban Nha nó là martes, tiếng Pháp là mardi. Trong thần thoại Bắc Âu, Sao Hỏa gắn liền với thần Tyr, bởi vậy nên từ Tuesday (Thứ ba trong tiếng Anh) xuất phát từ chữ Anh ngữ cổ Tiwesdæg. Chúng ta cũng đặt tên Mars cho tháng ba của năm. Bellicose Mars cũng là hộ vệ của người La Mã và là thần nông, nên tháng mang tên của vị thần này đánh dấu sự khởi đầu của một mùa vụ.   Sao Hỏa luôn nổi bật so với những hành tinh khác trên bầu trời, một phần là bởi nó có màu đỏ quá nổi bật, một chấm rực rỡ, không nhấp nháy treo cao ẩn chứa một mối đe dọa. Sắc độ của nó – đến từ oxit sắt, cũng chính là phản ứng hóa học khiến máu của ta có màu đỏ – khiến người ta liên tưởng sao Hỏa tới chiến tranh, tới cái chết, từ lâu trước khi ta biết rằng đó là một hành tinh chết theo đúng nghĩa đen. Hơn nữa, nó đi giật lùi, hay có vẻ như thế. Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây do Trái đất quay. Nhưng các hành tinh xoay quanh Mặt trời với những tốc độ khác nhau, bởi vậy nên thỉnh thoảng, Trái đất đi qua một trong số họ, như một người chạy ở đường chạy trong cùng. Từ điểm nhìn của chúng ta trên Trái đất, những hành tinh khác như chuyển động từ Tây sang Đông. Hành vi lệch chuẩn này vốn được gắn liền với những điềm báo hay dự đoán của chiêm tinh học.   Sự hiện diện thường xuyên trên bầu trời khiến sao Hỏa trở thành mục tiêu hàng đầu ngay khi loài người tìm ra cách sử dụng kính để những vật thể trên bầu trời đêm rõ hơn. Vào thế kỷ 17, các nhà thiên văn học thấy được hai cực băng của sao Hỏa qua kính thiên văn – có lẽ một trong những khám phá sớm nhất cho thấy rằng hành tinh thứ tư trong hệ Mặt trời này có điểm gì đó giống của chúng ta. Và càng nhìn, ta càng tìm thấy nhiều điểm tương đồng. Sao Hỏa là hành tinh tuyệt nhất bởi vì sao Hỏa và Trái đất giống nhau nhiều hơn bất kì thế giới nào khác trong hệ Mặt trời. Nó khiêm tốn bên sao Mộc khổng lồ nhưng khác với quả cầu khí khổng lồ này, bề mặt rắn của nó đón chào những người khách ghé thăm. Sao Hỏa thiếu bầu khí quyển mờ sương giàu oxy, nhưng nó cũng không quấn quanh mình một bầu khí quyển độc hại, đặc quánh như sao Kim. Một ngày của nó (gọi là sol) chỉ dài hơn của chúng ta 40 phút. Trục của nó chỉ hơi nghiêng một chút so với chúng ta, ở 25 độ chứ không chéo một cách kì dị như sao Thiên Vương. Và ai đó tranh luận rằng nó trông thật xấu xí, thì đơn giản là họ đã nhầm. Sao Hỏa nhìn rất dễ mến. Sao Hỏa có tuyết. Nó có núi, có lòng sông, và có một địa hình dễ nhận diện. Trái đất và sao Hỏa giống nhau ở quá nhiều điểm. Chỉ là. Điểm khác biệt lớn nhất và cũng là điểm duy nhất thực sự đáng kể. Sự sống ta nghĩ về sao Hỏa chỉ là tưởng tượng.     Mặt trời lặn trên sao Hỏa. Ảnh: NASA / JPL-Caltech / MSSS / Texas A&M Univ.   Những tưởng tượng về sao Hỏa trở nên phức tạp hơn theo những gì ta quan sát được về nó. Các nhà thiên văn học quan tâm đến hành tinh đỏ này khi sao Hỏa đối diện với Mặt trời và sát gần Trái đất, khiến nó trông lớn hơn và sáng hơn. Quan sát nổi tiếng nhất là khi nó đối diện với Mặt trời vào năm 1877 khi nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli quan sát thấy mạng lưới các đường trên sao Hỏa, cuối cùng hóa ra đó chỉ là ảo ảnh (mặc dù sao Hỏa cũng có những vệt như nước chảy trên bề mặt dốc của nó ngày nay). Ông gọi chúng là canali, dịch sang tiếng Anh nghĩa là “kênh đào”.   Khám phá chấn động này khiến sao Hỏa gần gũi với Trái đất hơn bao giờ hết. Người ta dễ dàng tưởng tượng ra sao Hỏa là nơi chốn y như Trái đất, chắc chắn là nó đầy sự sống. “Sự hiện diện của một giống loài ưu việt hơn chúng ta cư trú trên sao Hỏa là rất khả dĩ,” Nhà thiên văn học người Pháp Camille Flammarion viết vào năm 1892. Cùng khoảng thời gian đó, nhà thiên văn học Percival Lowell người Mỹ xem xét sao Hỏa chi tiết hơn. Ông tin rằng ông nhìn thấy những “công trình ‘nhân tạo,’” bao gồm cả những kênh đào mà ông tưởng tượng rằng được tạo ra để vận chuyển nước từ hai cực băng của hành tinh khô hạn này. Sao Hỏa ngay sau đó nở rộ trong khoa học viễn tưởng và văn hóa đại chúng. Vào năm 1897, tác phẩm “Chiến tranh giữa các thế giới” của H.G.Wells tưởng tượng sao Hỏa là một hành tinh đang khô kiệt với những sinh vật tuyệt vọng phóng tên lửa tới Trái đất để uống máu người.  Nếu sao Hỏa là nơi đầu tiên mà những nhà kể chuyện tưởng tượng rằng chúng ta sẽ tìm thấy người ngoài hành tinh ở đó, thì hẳn nó cũng là nơi đầu tiên chúng ta sẽ đặt chân đến để tìm họ. Dự án Ozma, trong đó nhà thiên văn học Frank Drake chiếu kính thiên văn vô tuyến lên hai ngôi sao Tau Ceti và Epsilon Eridani, chuyện vẫn được kể về nguồn gốc của Viện Đi tìm Sự sống ngoài hành tinh của NASA. Nhưng chúng ta lắng nghe sao Hỏa trước. Vào 22/8/1924, người đứng đầu hải quân Mỹ, Edward Eberle chỉ dẫn cho các trạm hải quân hướng các thiết bị thu sóng tới sao Hỏa. Hành tinh đỏ đang ở vị trí gần nhất Trái đất trong 120 năm và một vài nhà thiên văn học nghĩ rằng người sao Hỏa sẽ tận dụng cơ hội này để liên lạc với chúng ta qua sóng vô tuyến. Những trạm thu sóng trên bờ được yêu cầu phải lắng nghe nhiều tần số nhất có thể và để “báo cáo bất kì tín hiệu điện tử của kí tự bất thường nào”, như bức điện tín của Eberle viết. Nếu ai đó muốn nói, hải quân sẵn sàng lắng nghe.        Sao Hỏa là tín hiệu cho thấy chúng ta đã có thể không tồn tại. Nó khiến ta phải tự vấn về sự mong manh của Trái đất.      Không có sinh vật sao Hỏa nào liên lạc vào ngày hôm đó, vì làm gì có sinh vật nào sống trên sao Hỏa, theo những gì các vệ tinh và robot của chúng ta gửi về. Nhưng nó vẫn không dừng được trí tưởng tượng của những người kể chuyện, cũng như không ngăn cản được những nhà khoa học. Chúng ta đã có biết bao nỗ lực hạ cánh các tàu vũ trụ xuống sao Hỏa trong suốt 50 năm vừa qua và hầu hết tất cả trong số đó là kiếm tìm sự sống, theo cách này hay cách kia.   Lịch sử hạ cánh xuống sao Hỏa đã chỉ ra rằng hành tinh này chắc chắn không phải là một nơi hiếu khách. Đối với cả máy móc và vi sinh vật. Hơn một nửa robot gửi tới sao Hỏa đã bị phá hủy trên đường đi, gần đây nhất là vào mùa thu năm 2016. Phi thuyền Schiaparelli của Cơ quan Vũ trụ châu Âu đã xuyên qua khí quyển vào ngày 19/10/2016 nhưng bị tai nạn sau khi nó cắt dù quá sớm và những động cơ tên lửa không đốt đủ lâu.   Dù vậy, số rất ít trong đó đã thành công, nổi bật nhất là Curiousity đã cho chúng ta biết rằng sao Hỏa là vùng đất có thể sống được trong quá khứ. Dữ liệu của một nhóm vệ tinh bay quanh hành tinh này gửi về gợi ý rằng giờ đây vẫn còn một ít nước ở đó, hầu hết ở các cực. Nhưng chúng ta vẫn không biết chắc rằng liệu sao Hỏa có những đại dương lâu năm, hay chỉ là những hồ và dòng sông lớn, Ray Arvidson, một nhà khoa học hành tinh uy tín đã chỉ huy hoặc tham gia vào tất cả các nhiệm vụ sao Hỏa của NASA kể từ tàu Viking nói. Và chắc chắn chúng ta vẫn không biết được liệu nó đã từng có sự sống hay không.   “Chưa có đáp án. Không dễ có câu trả lời, theo cách gì đi nữa, rằng liệu sao Hỏa đã từng có sự sống phát triển, và nếu nó có thì bằng chứng vẫn còn ở đó,” Arvidson nói. “Liệu ta có thu được những phân tử sinh học mà nó tiến triển thành các hợp chất tiền vi khuẩn, và rồi phát triển thành một hệ thống tự nhân bản không? Đó là một bước nhảy vọt”.   Kể cả cho rằng bước nhảy đó xảy ra, Vasavada và các đồng nghiệp nói rằng khả năng là chúng ta sẽ tìm thấy bằng chứng của sự sống cổ đại hơn là hiện đại. Sinh vật dù đang sống hay đã tuyệt chủng ở sao Hỏa khả năng cao là vi khuẩn hoặc những tế bào giản đơn khác, chắc chắn không phải là sinh vật có chi biết giao tiếp bằng ánh sáng hay ngôn ngữ. Theo cách này, sao Hỏa chắc là một hành tinh đáng thất vọng với một số người. Nhưng chính xác nó vẫn là một hành tinh thuyệt nhất bởi vì cho dù nếu kết quả tìm kiếm sự sống trên sao Hỏa là số không, nó sẽ đặt ra một câu hỏi lớn hơn nữa: Tại sao lại chỉ Trái đất? Tại sao là chỉ chúng ta [mới có sự sống]?  “Tôi nghĩ đó thực sự là một bí ẩn khoa học nếu chúng ta không tìm ra sự sống ở đây. Nó cho chúng ta thấy rằng mình vẫn chưa hiểu gì về sự sống độc nhất vô nhị trên Trái đất,” Vasavada nói. “Nếu ta không tìm thấy sự sống, thì nó thậm chí còn thú vị hơn, và nó khiến ta càng hiện sinh hơn về cuộc đời mình trên Trái đất. Đó là điều tôi đang nghĩ”.   Với những người có một góc nhìn hiện sinh viễn kiến hơn, sao Hỏa hết sức quan trọng – thậm chí là thiết yếu. Khi Elon Musk tiết lộ kế hoạch của mình về tên lửa và tàu vũ trụ khổng lồ để đưa một nhóm người di cư tới sao Hỏa, ông không chỉ khơi gọi ước vọng thám hiểm, mà còn cả tương lai chung của chúng ta. Sao Hỏa là cơ hội để con người chia sẻ ánh sáng nhận thức, để nó sinh sôi cùng với nhân loại, và để nó sống sót sau khi chúng ta ra đi, cũng giống như những tế bào đầu tiên trên Trái đất gửi các phiên bản của chúng tới tương lai. Nếu Musk và những kẻ mộng mơ khác thành công, những dạng sống đầu tiên trên sao Hỏa có lẽ là chính chúng ta.   Nhưng đừng phạm sai lầm: Đó sẽ là một chuyến du hành khắc nghiệt và tăm tối. Khác với những vùng đất bị đô hộ trong lịch sử – quần đảo Tây Ấn, Tây Mỹ và những vùng đất khác – sao Hỏa không ve vuốt tâm trí ta với những mộng ước và sự giàu có ngoài trí tưởng tượng. Sao Hỏa không phải là vùng đất huyền thoại El Dorado đầy vàng bạc châu báu. Khí quyển của nó không giữ nhiệt. Nó không có bất kì một áp lực nào để ngăn máu của chúng ta không bốc hơi. Nếu không mặc bộ đồ phi hành gia, bạn sẽ bị luộc và đóng băng cho đến chết, cùng một lúc. Những kẻ du hành đến sao Hỏa sẽ gắn mình mãi mãi với những căn lều với áp lực nhân tạo hoặc khả năng là trong những chiếc hộp chống tia phóng xạ. Họ sẽ không bao giờ được nhìn lại những con sóng vỗ bờ. Họ sẽ không bao giờ nghe lại tiếng gió hát trên những đồi thông. Họ cũng không bao giờ được kinh ngạc trước Mặt trăng tròn bàng bạc được nữa.   Vậy, vì sao phải tới đó?   Tôi ở Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực khi Curiosity hạ cánh vào tháng 8/2012, và tôi không thể ngăn mình ăn mừng cùng với các kĩ sư và nhà khoa học ở NASA đang hò reo phấn khích tột độ trước thành công này. Gió bụi vẫn mù mịt sau khi chiếc cần cẩu không trung thả Curiosity hạ cánh xuống sao Hỏa khi chiếc xe tự hành này gửi về tấm bưu thiếp đầu tiên.   “Ôi đấy là bánh xe! Đấy là bánh xe!” ai đó trong phòng điều khiển thốt lên. Nheo mắt nhìn tấm ảnh đen trắng của một chiếc bánh xe trên mặt đất sỏi đá, tôi ngập tràn cảm xúc. Mặt dưới của chiếc xe tự hành đổ bóng dưới ánh nắng chiều. Khung cảnh quá đỗi thân thuộc nhưng cũng thật éo le. Cảnh đó đã có thể là ngọn núi ở phía Tây nơi tôi lớn lên, chỉ là nó hoang vắng, vô hồn dành cho con robot giờ đây đang bước trên cát.   Nếu sao Thổ là một gợi ý cho trí tưởng tượng khoa học, vén bức rèm cho chúng ta thấy tâm trí của ta cần vươn xa đến đâu để gặp gỡ sự kì diệu của vũ trụ, sao Hỏa lại hoàn toàn đối lập. Nó là tín hiệu cho thấy chúng ta đã có thể không tồn tại. Nó khiến ta phải tự vấn về sự mong manh của Trái đất. Nó là lời nhắc nhở rằng chúng ta cô đơn thế nào trên cái chấm xanh mờ nhạt trong vũ trụ. Chúng nhìn vào nó và nhìn lại bản thân – quá khứ, những khả năng có thể xảy ra và với một chút trí tưởng tượng, tương lai của chính mình.□        Nguyên Hạnh dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2017/01/mars-is-the-best-planet/512654/  *Bài viết là một phần của series: “Hành tinh nào là tuyệt nhất?” trên Tạp chí The Atlantic. Tít và chapo của bài viết do Tia Sáng đặt lại.              Author                Rebecca Boyle        
__label__tiasang Ngày tận thế-Một ngành nghiên cứu mới      Hàng triệu người chết, tổn thất vật chất khôn lường: Tại một cuộc Hội nghị ở Oxford các nhà nghiên cứu về rủi ro, luật sư, nhà sinh vật học, nhà vật lý học và các triết gia đã luận bàn về những thảm hoạ toàn cầu như chiến tranh nguyên tử, biến đổi khí hậu và tia vũ trụ.    THỊ TRƯỜNG SỐNG SÓT  Sẽ không có những đứa trẻ sinh ra trong ống nghiệm, đương nhiên không thể có Computer. Nền công nghiệp theo cách hiểu của chúng ta ngày nay sẽ không thể có trong vài nghìn năm. Nhưng theo Robin Hudson những điều đó sẽ chẳng có nghĩa lý gì vì: “Nếu tính theo lịch vũ trụ thì liệu nhân loại cần 1000 năm hay 100.000 năm  để đạt được trình độ phát triển như hiện nay, điều đó không quan trọng”.  Không ai trong số thính giả tham dự hội nghị lại muốn trở thành những kẻ sống bằng săn bắn và thu lượm được giáo sư kinh tế học Hudson giấu trong một “boong ke  ngày tận số”. Họ đều mong muốn làm mọi cách để ngăn chặn không để ngày tận số không diễn ra. Thí dụ họ sẽ thành lập một thị trường sống sót, tại thị trường đó người ta sẽ thi nhau mặc cả để mua tấm vé vào boong ke của Hudson như các giao dịch trên thị trường chứng khoán vậy. Nhà kinh tế này thừa nhận một cách thận trọng “có thể đây là một ý tưởng kỳ quặc”. Nhưng không sao. Những ý tưởng kỳ quặc là chuyện thường ngày ở Viện “Tương lai nhân loại” (FHI) ở Oxford. Đây là một cơ sở nghiên cứu liên ngành có một không hai trên thế giới, tại đây các nhà nghiên cứu phân tích những kịch bản đe dọa sự tồn tại của nhân loại như: chiến tranh nguyên tử, biến đổi khí hậu, va chạm với sao chổi, tai nạn ở phòng thí nghiệm – nguy cơ của những hiểm họa này như thế nào, phải làm gì để ngăn ngừa các tai hoạ đó và hậu quả của các hiểm hoạ đó sẽ như thế nào? Nội dung của ba ngày hội thảo tại FHI là “Global Catastrophic Risks”. Oxford University Press cũng vừa xuất bản một cuốn sách mang tựa đề trên. Thành phố đại học nổi tiếng trên thế giới này đã trở thành một địa chỉ hành hương của các nhà nghiên cứu về hiểm họa trên thế giới.            Nick Bostrom, giám đốc Viện “Tương lai nhân loại” (FHI) ở Oxford là người tổ chức hội nghị “Global Catastrophic Risks”. Theo ông những sự kiện lý thú có thể gây tổn thất lên đến hàng nghìn tỷ và làm hàng chục triệu người bị thiệt mạng cỡ như đại dịch cúm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất.     Eliezer Yudkowsky chuyên nghiên cứu về thông minh nhân tạo đã trình bày trước cử tọa về nghệ thuật “biết suy nghĩ một cách hợp lý về ngày tận số của thế giới”.          Ngành nghiên cứu mới này, cũng như nhiều ngành nghiên cứu mới khác đều ra đời ở bờ biển miền Tây nước Mỹ và Eliezer Yudkowsky là một người đại diện điển hình. Eliezer Yudkowsky ở Palo Alto, 28 tuổi, chấp nhận cái tên chế mà mọi người gán cho mình là  “con cú buồn cười”, thậm chí còn coi đây là một sự vinh danh. Anh nói “Tôi nhớ tôi đã mang cái tên này từ ngày còn nhỏ.” Yudkowsky không học hết lớp mười hai cũng chưa hề qua đại học, nhưng công việc chính của anh là nghiên cứu về thông minh nhân tạo.  Anh trình bày với người nghe về nghệ thuật “biết suy nghĩ một cách hợp lý về ngày tận thế trên thế giới này”. Nhà nghiên cứu người Mỹ này phát biểu ý kiến một cách hồ hởi và đầy hấp dẫn: “Tôi có một quan niệm tích cực đối với nhân loại”.   MỘT LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU ĐẦY TRIỂN VỌNG           Cháy rừng gây hỏa hoạn trên diện rộng ở California (Tháng 7. 2008)          Bài phát biểu của nhà vật lý Michelangelo Mangano ở Giơnevơ cũng mang lại cảm giác yên tâm đối với người nghe. Nhà vật lý hạt cơ bản này bảo vệ máy gia tốc LHC mới ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân CERN tại Giơnevơ, ông phản bác ý kiến cho rằng, tại đây có khả năng hình thành những lỗ đen và những lỗ đen đó có thể nuốt trái đất. Ông cho rằng, ở đây người ta có sự lẫn lộn giữa “kém hiểu biết và định kiến”, điều này như là một sự “săn lùng quỷ dữ trong thế kỷ 21”.  Mangano đưa ra hàng loạt công thức và số liệu thiên văn để chứng minh cho luận điểm của mình. Trong đó một dẫn giải phi khoa học lại gây ấn tượng hết sức lý thú: trên một bản đồ hoạ khá đẹp ông đã để cho hai chiếc xe tải đâm vào nhau và chúng biến thành chiếc xe Ferrari sang trọng. Từ bức tranh này ông bác bỏ lập luận ngớ ngẩn cho rằng các thí nghiệm gia tốc ở Giơnevơ có nguy cơ làm nảy sinh những lỗ đen.  Điều này có nghĩa là không có ngày tận thế – chí ít thì tạm thời điều đó chưa thể xảy ra.  Vậy một thảm hoạ như thế nào thì có thể gây ảnh hưởng toàn cầu? Đối với một quan chức địa phương ở Đức thì quả là thảm hoạ khi một số tuyến đường trên địa bàn bị cây  đổ làm cho hệ thống giao thông bị ách tắc. Trong khi đó hãng bảo hiểm Lloyds ở Anh chỉ coi những sự kiện có trên  50 người chết, 2000 người bị thương và 50.000 người bị mất nhà cửa  là thảm họa – vì đối với những sự kiện loại này hãng phải chi hàng triệu USD tiền đền bù thiệt hại.          Bom nguyên tử ở Nagasaki: phải chăng nhân loại đang tự huỷ diệt?        Đối với Nick Bostrom, giám đốc FHI đồng thời là nhà tổ chức hội nghị ở Oxford thì một trận động đất mạnh với 10.000 người chết hoặc gây tổn thất kinh tế lên đến mười tỷ USD cũng chưa thực sự được coi là một thảm hoạ có ý nghĩa toàn cầu. Theo quan niệm của ông thì chỉ những sự kiện gây tổn thất hàng nghìn tỷ USD và làm hàng chục triệu người bị chết tương tự như vụ đại dịch cúm sau chiến tranh thế giới thứ nhất mới là thảm hoạ mang tính toàn cầu. Vậy thì đâu là giới hạn? Nhà khoa học này thừa nhận, chưa có một ranh giới rõ ràng. Bostrom tự an ủi: “trong bối cảnh hiện nay người ta chưa cần phải có một định nghĩa thật sự rõ ràng về vấn đề này”.  Trong chuyên ngành còn mới tinh này nhiều cái chưa được định nghĩa rõ ràng, giá như  nghe được thuận tai thì có thể đề cập đến vấn đề “ngày tận thế của thế giới – nguyên nhân và tác động”. Rafaela Hillerbrand, nhà nghiên cứu nữ người Đức có hai bằng tiến sỹ về vật lý và triết học tin rằng đây là một lĩnh vực nghiên cứu đầy triển vọng trong tương lai.  Tại FHI nhà khoa học này nghiên cứu về định nghĩa thế nào là một nguy cơ toàn cầu,  nêu ra những xác suất và ước lượng những thiệt hại có thể xảy ra. Bà Hillerbrand mỉm cười và cho rằng “Đây là những điều quan trọng vì xét cho cùng đây là những rủi ro có thể đưa nhân loại đến chỗ diệt vong”.      Xuân Hoài Theo Spiegel 7.2008       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghe rồi bỏ qua      Đã là bệnh nhân mấy ai không mong tìm được nhà điều trị giỏi, không muốn kiếm được thầy thuốc tốt. Nhưng như thế nào thì gọi là giỏi? Nếu không kể đến nhận xét chủ quan, muốn tìm được đáp án chính xác cần dựa vào nhiều chỉ tiêu gắn liền ít nhiều với kiến thức chuyên môn. Bệnh nhân vì thế đương nhiên khó lòng tự xác minh về tính chất “giỏi” của nhà điều trị. Khó hơn nữa là tiêu chuẩn để đánh giá một thầy thuốc tốt!    1. Thầy thuốc không để người bệnh chờ quá lâu trong phòng đợi nhờ biết cách tổ chức phòng khám và tôn trọng giờ hẹn.  2. Thầy thuốc dành đủ thời giờ, tất nhiên trong khuôn khổ cho phép, để tư vấn sao cho  bệnh không có cảm giác “nghẹn họng” khi rời phòng khám.  3. Thầy thuốc không chỉ nói mà chịu khó lắng nghe bệnh nhân.  4. Thầy thuốc bỏ công đích thân thăm khám bệnh, dù là chỉ bắt mạch.  5. Thầy thuốc vì không tự tin cường điệu vào kiến thức nên không ngần ngại sưu tra sách vở ngay trước mặt bệnh nhân.  6. Thầy thuốc sẵn sàng chuyển bệnh đến đồng nghiệp khác nếu không đúng sở trường.  7. Thầy thuốc không phê bình phủ định bất cứ phương pháp điều trị hay thuốc men nào đó.  8. Thầy thuốc giải thích rõ ràng về lý do tại sao dùng thuốc cho mỗi trường hợp cá biệt.  9. Thầy thuốc không chỉ chú trọng đến căn bệnh mà đặt ưu tiên vào tổng trạng của người bệnh.  10. Thầy thuốc góp ý cho bệnh nhân về các phương án hỗ trợ liệu pháp để thu ngắn liệu trình.  11. Thầy thuốc cùng lúc chú trọng vào biện pháp phòng bệnh thay vì chỉ chạy theo triệu chứng.  12. Thầy thuốc bao giờ cũng lưu tâm đến yếu tố tâm lý của người bệnh.  13. Thầy thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân về các nguồn thông tin có liên quan đến bệnh chứng của người bệnh.  14. Thầy thuốc lưu tâm đến khía cạnh kinh tế của liệu pháp để tránh gây gánh nặng tài chính cho người bệnh.  15. Thầy thuốc mang đến niềm hy vọng trên cơ sở tri thức khoa học cho người bệnh.  Ý kiến của y sĩ đoàn ở Đức đúng hay sai? Nếu đúng thì đúng đến mức độ nào trong bối cảnh y tế nước ta? Nếu sai thì sai ở điểm nào trong hoàn cảnh xã hội nước ta? Điểm nào trong 15 điều trên là quan trọng nhất?  Câu trả lời xin dành cho độc giả.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghị định 115- Sau 2 năm thực hiện      Mặc dù được dư luận trong cộng đồng các nhà khoa học coi là một “khoán 10 trong khoa học”, một cuộc cách mạng trong quản lý hoạt động KH&amp;CN, nhưng sau gần 2 năm tổ chức thực hiện Nghị định 115 của Chính phủ qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&amp;CN công lập, đến nay theo thông tin của Ban chỉ đạo Liên bộ triển khai thực hiện, trong tổng số 655 tổ chức KH&amp;CN thuộc các Bộ, ngành, địa phương, mới có 127 tổ chức KH&amp;CN có đề án đã được phê duyệt (khoảng 20%), 194 tổ chức KH&amp;CN đã có đề án trình cấp thẩm quyền phê duyệt (khoảng 30%). Đáng lưu ý là trong số gần 300 tổ chức KH&amp;CN mới bắt đầu, hoặc chưa lập đề án chuyển đổi lại chủ yếu nằm ở những trung tâm nghiên cứu- triển khai lớn như Viện KH&amp;CN Việt Nam; Viện KHXH Việt Nam; Bộ GD&amp;ĐT; Bộ Y tế… Trong khi đó theo qui định của Chính phủ, đến hết ngày 30/12/2006, các tổ chức KH&amp;CN phải xây dựng và phê duyệt xong đề án chuyển đổi.  Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Quân, một trong những người tham gia soạn thảo Nghị định 115 và là Thành viên Ban chỉ đạo Liên bộ. Ông cho biết:    Nghị định 115 đã được các Bộ, ngành, địa phương coi là bước đi tất yếu và cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN nên hầu hết đã tổ chức quán triệt và hướng dẫn việc thực hiện, trong đó có những đơn vị triển khai rất tích cực. Điển hình là các tổ chức KH&CN của Bộ Công nghiệp, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tỉnh Hậu Giang đã cơ bản hoàn thành chuyển đổi và hoạt động có hiệu quả hơn theo cơ chế mới. Tuy nhiên vẫn còn một số Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm, thậm chí chưa chỉ đạo và giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện Nghị định 115 như: Bộ GD&ĐT (với 194 Viện, trung tâm KHCN) đến nay mới báo cáo chuyển đổi 7 tổ chức KH&CN nhưng lại áp dụng cơ chế tự chủ của Nghị định 43. Thậm chí với Viện KHXH&NV Việt Nam, UBND TP Hà Nội, Bộ Văn hóa-Thông tin, mặc dù Ban chỉ đạo Liên bộ đã nhiều lần có công văn đề  nghị, yêu cầu báo cáo tình hình triển khai Nghị định 115 nhưng không có ý kiến phản hồi.  Nhìn chung, tiến độ thực hiện Nghị định 115 ở hầu hết các Bộ, ngành, địa phương so với qui định của Thủ tướng Chính phủ còn rất chậm, nhất là ở những tổ chức KH&CN trọng điểm đáng ra phải là những đơn vị đi trước một bước.  PV: Phải chẳng các đơn vị không triển khai, không báo cáo việc thực hiện Nghị định 115  như vậy là họ coi thường phép Nước?  Không biết với trên có phải như vậy không, nhưng với các văn bản pháp qui, yêu cầu, đề nghị của Ban chỉ đạo Liên bộ và Bộ KH&CN thì rõ ràng là có biểu hiện coi thường. (cười)  Vì sao một số tổ chức KH&CN trong diện chuyển đổi theo Nghị định 115 lại lại muốn hoạt động theo Nghị định 43?  Trước hết phải khẳng định những tổ chức KH&CN trong diện phải chuyển đổi theo Nghị định 115 mà lại chuyển sang hoạt động theo Nghị định 43 là trái với pháp luật vì trong phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Nghị định 43 có các tổ chức hoạt động KH&CN thực hiện theo Nghị định 115. Thực chất với Nghị định 115, các tổ chức KH&CN ngoài được hưởng các quyền tự chủ như Nghị định 43 còn được nhiều ưu đãi khác. Vì vậy đã có những tổ chức KH&CN như Viện Chiến lược và Chính sách PTNN&NT dù được hưởng cơ chế bao cấp nhưng vẫn xin được phép xây dựng phương án chuyển đổi. Theo tôi, chính vì “sợ” phải xây dựng phương án chuyển đổi, sợ phải sáp nhập, giải thể nếu hoạt động không hiệu quả… và muốn tiếp tục hưởng theo cơ chế bao cấp lâu dài nên một số tổ chức KH&CN muốn hoạt động theo Nghị định 43.  Như vậy Nghị định 115 tưởng sẽ được thực hiện với một cuộc chuyển đổi ngoạn mục lại diễn ra chẳng dễ dàng gì?  Nhìn chung dư luận xã hội và cộng đồng các nhà khoa học đều cho rằng tinh thần và những qui định của Nghị định 115 về cơ bản là phù hợp yêu cầu của việc đổi mới hoạt động KH&CN trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Và để chỉ đạo và kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, đã thành lập Ban chỉ đạo Liên bộ thực hiện Nghị định 115 gồm đại diện các Bộ: KH&CN, Tài chính, KH&ĐT, Nội vụ, Thương mại, Công an. Ban chỉ đạo Liên bộ đã xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị định, tổ chức làm việc trực tiếp với 8 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 1 tổ chức chính trị-xã hội, 25 tỉnh, thành phố để hướng dẫn, nắm tình hình và giải quyết những vấn đế vướng mắc. Nhưng đúng là cuộc chuyển đổi đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân như: Lãnh đạo một số Bộ, ngành, địa phương chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và tính nghiêm túc của Nghị định 115, thậm chí có người còn không biết đến Nghị định 115 có những nội dung gì(!). Từ đó thiếu quyết tâm trong chỉ đạo tổ chức thực hiện việc xây dựng đề án chuyển đổi, chờ đợi hoặc tìm cách thuyết minh để cấp trên xếp các tổ chức KH&CN của mình vào loại nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách để tiếp tục hoạt động theo cơ chế cũ; do số lượng lớn các tổ chức KH&CN tập trung tại Viện KH&CN Việt Nam, Viện KHXH Việt Nam, Bộ NN&PTNT… có cơ cấu tổ chức phức tạp, việc tiến hành phân loại và sắp xếp lại các tổ chức KH&CN đó gặp không ít vướng mắc, chưa được giải quyết thỏa đáng. Còn ở địa phương, các tổ chức KH&CN tiềm lực yếu, thị trường công nghệ chưa phát triển do đó việc thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm là một khó khăn lớn; việc ban hành các văn bản hướng dẫn Nghị định 115 chậm và không đồng bộ (đến nay vẫn còn 3 văn bản pháp qui hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 đã xây dựng xong nhưng chưa ký ban hành được). Thêm vào đó công tác tuyên truyền ý nghĩa, nội dung Nghị định 115 của Bộ KH&CN và các Bộ, ngành chưa tốt.  Một lý do nữa mà các tổ chức KH&CN đưa ra để biện minh cho việc chậm trễ xây dựng phương án chuyển đổi là việc không rõ đơn vị mình thuộc đơn vị nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng?  Theo tôi, lý do này chỉ là sự ngụy biện vì Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ban hành “Qui định về Tiêu chí xác định tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước”; đồng thời việc xác định tổ chức KH&CN thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng đã được xác định rõ trong Quyết định thành lập hoặc điều lệ hoặc đăng ký hoạt động KH&CN.  Nhiều người cho rằng, một số cán bộ lãnh đạo tổ chức KH&CN không mặn mà với việc thực hiện Nghị định 115 vì phẩm chất và năng lực của họ không còn đáp ứng được với nhu cầu của việc chuyển đổi cơ chế hoạt động.  Trường hợp này, cũng giống với một số giám đốc doanh nghiệp quốc doanh yếu kém rất sợ cổ phần hóa vì khi cổ phần hóa họ sẽ tự bị loại. Vừa qua, một số Bộ, ngành, địa phương trong khi xây dựng đề án chuyển đổi các tổ chức KH&CN đã có những điều chỉnh sắp xếp lại những vị trí lãnh đạo không còn phù hợp với công việc theo cơ chế mới.  Ông thấy trong những hiểu sai về Nghị định 115, điều nào gây trở ngại nhiều nhất cho việc tổ chức thực hiện?  Trong những nhận thức sai về Nghị định 115 điều gy trở ngại nhất là phần lớn các nhà quản lý và khoa học băn khoăn, lo lắng cho rằng Nghị định 115 qui định tự trang trải kinh phí nghĩa là phải là bươn chải, bị nhà nước bỏ rơi, các nhà khoa học phải đi làm kinh doanh, không làm nghiên cứu, từ đó sẽ phá vỡ hệ thống tiềm lực KH&CN đ xây dựng từ nhiều năm nay. Đâu có phải như vậy! Tự trang trải kinh phí theo tinh thần của Nghị định 115 chỉ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, Nhà nước không cắt các nguồn kinh phí, kể cả kinh phí đầu tư phát triển! Thực chất Nhà nước chỉ thay đổi phương thức cấp kinh phí: không cấp theo số lượng biên chế mà cấp theo nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho tự chủ. Số lượng kinh phí cấp từ ngân sách nhà nước không phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN, có thể nhiều hơn trước.  Nhiều lãnh đạo các tổ chức KH&CN than phiền đau đầu, thậm chí bế tắc trong việc giải quyết chế độ dôi dư trong việc xây dựng phương án chuyển đổi. Hướng giải quyết khó khăn này như  thế nào?  Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định về chính sách tinh giản biên chế trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Những người đủ tuổi nghỉ hưu trước 31/12/2009: giải quyết chế độ hưu hoặc cho nghỉ chờ hưu có hưởng lương cơ bản theo qui định (vì Nhà nước vẫn cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đến hết 2009 như trước đây). Những người có nguyện vọng chuyển công tác đi cơ quan khác sẽ được tạo điều kiện cho chuyển. Những người còn lại, khi Nhà nước ban hành chính sách sẽ vận dụng để giải quyết chế độ hỗ trợ kinh phí, đồng thời sử dụng nguồn tự có để hỗ trợ thêm (nếu có).  Được biết Bộ KH&CN căn cứ vào tình hình thực hiện Nghị định 115 cho đến nay và đề nghị của một số Bộ, ngành, địa phương đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ cho phép lùi thời gian phê duyệt Đề án chuyển đổi của các tổ chức KH&CN công lập theo quy định của Nghị định 115 đến hết năm 2007. Nếu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề nghị này thì theo ông còn cần có những giải pháp gì để đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức KH&CN chuyển đổi đúng thời hạn trên?  Theo tôi Chính phủ cần sớm ban hành Chỉ thị yêu cầu Lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương quán triệt tinh thần của Nghị định 115, chỉ đạo quyết liệt hơn nữa để các tổ chức KH&CN trực thuộc thực hiện việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đúng qui định và tiến độ. Mặc dù Chính phủ đã giao Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các tổ chức KH&CN thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị định 115, nhưng thời gian qua Bộ KH&CN nhận thấy hiệu lực của các công văn cấp Bộ bị hạn chế, chưa được các Bộ, ngành và địa phương quan tâm thực hiện nghiêm túc; Xem xét ban hành Nghị định về tinh giản biên chế do Bộ Nội vụ trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức KH&CN giải quyết đế độ dôi dư tương tự như tinh thần Nghị quyết 16/2000/NĐ-CP ngày 18/10/2000 và Nghị quyết 09/2003/NQ-CP ngày 28/7/2003 của Chính phủ.  Về phía Ban chỉ đạo Liên bộ cần kiên quyết trong việc đôn đốc các tổ chức và đơn vị chưa triển khai hoặc triển khai chậm thực hiện việc chuyển đổi, trực tiếp giúp họ tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn.  Xin cảm ơn ông và chúc ông-một trong những người vài ba năm nay “lao tâm khổ tứ” với Nghị định 115 sớm thấy được những thành quả trong hoạt động KH&CN do Nghị định 115 mang lại.  P.V thực hiện    5 hiểu sai về Nghị định 115  * “Tự trang trải kinh phí” nghĩa là phải “tự bươn chải”, bị Nhà nước “bỏ rơi”  * Tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu cơ bản, chiến lược chính sách không phải làm Đề án chuyển đổi.  * Nhà nước bắt buộc các tổ chức KH&CN chuyển thành doanh nghiệp, các nhà khoa học phải làm kinh doanh, bỏ nghiên cứu?  * Đề án được phê duyệt là phải tự trang trải kinh phí ngay?  * Thủ trưởng có quá nhiều quyền, dễ độc đoán, mất dân chủ?  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghị định 119- Đòn bẩy đổi mới công nghệ      Sau 6 năm “thí điểm”, Nghị định 119 đã thực sự trở thành đòn bẩy “kích cầu” giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Đến nay, các doanh nghiệp đã thay đổi nhận thức: “làm khoa học không khó” và vươn lên nhờ “119”.        Thoát khỏi tháp ngà  “Nghiên cứu khoa học vốn chỉ là “đặc quyền” của các viện nghiên cứu, trường đại học, nhưng tại  sao doanh nghiệp không có được quyền đó?”, bà Vũ Thị Thuận-Tổng giám đốc Công ty Cổ phần TRAPHACO đặt câu hỏi. Chính vì chỉ có viện nghiên cứu mới được làm khoa học, nên từ trước tới nay, các doanh nghiệp chỉ biết, theo cách nói của ông Nguyễn Quân – Thứ trưởng Bộ KH&CN, “thụ động tiếp nhận KH&CN từ tay các nhà khoa học”. Ông Quân nhận định, “Ngồi trong tháp ngà nên các nhà khoa học của ta chưa nắm bắt nhu cầu thực tiễn “ngoài đời”, nên nhiều đề tài còn “xếp ngăn kéo” hoặc chưa tìm được địa chỉ ứng dụng”. Cũng theo ông, “Khoa học công nghệ phải thoát khỏi tháp ngà, hướng tới doanh nghiệp và phục vụ đổi mới của doanh nghiệp”.            Bảo quản tế bào gốc ở phòng thí nghiệm của Công ty cổ phần hóa dược phẩm Mekophar.         Bên cạnh tình trạng chúng ta coi khoa học là tháp ngà, các nhà khoa học thường biệt lập thì mô hình “3 nhà” vẫn “thụ thụ bất thân”, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập. Theo Thứ trưởng Nguyễn Quân, chúng ta phải “mặc thêm áo thứ hai”cho doanh nghiệp và nhà khoa học, chức năng của hai bên cần hoán chuyển nhau. Theo đó, khi làm khoa học, nhà khoa học là chính họ, khi trăn trở đưa công nghệ vào cuộc sống, biến ý tưởng thành “ngô, khoai, sắn” thì nhà khoa học trở thành doanh nhân. “Nếu không, chúng ta muôn đời không giải phóng nhà khoa học ra khỏi tháp ngà”, ông Quân nhấn mạnh.  “Khi chúng ta vào sân chơi WTO, bí quyết duy nhất để các doanh nghiệp trong nước “sống” được, không gì khác, doanh nghiệp phải “làm khoa học”, ông Nguyễn Việt Hồng, Vụ trưởng Vụ Hành chính Sự nghiệp – Bộ Tài chính, cho biết. Còn theo cách nói của ông Nguyễn Trọng Thụ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính-Bộ KH&CN, thì, doanh nghiệp phải có cho mình know-how (dịch nôm na là bí quyết công nghệ). “Khi Nhà nước không còn là “bà đỡ” tài chính cho doanh nghiệp theo cam kết WTO, thì “kênh” duy nhất để Nhà nước sát cánh cùng doanh nghiệp chính là hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm khoa học, nghiên cứu đổi mới công nghệ”, ông Hồng cho biết.  Thay vì “ngẩng mặt kêu trời”, theo ông Nguyễn Tăng Cường-Giám đốc Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung (Ninh Bình), các doanh nghiệp hãy nhanh chân “cứu mình” bằng KH&CN. Chính vì “ngồi trong tháp ngà” nên dường như các nhà khoa học “bỏ quên chuyện đời”. Ông Nguyễn Tăng Cường đơn cử một ví dụ: “Có những vị giáo sư cả đời chỉ làm được một hai việc, nhưng những người nông dân, khi tiếp xúc với công việc thực tế, họ làm việc bằng cảm hứng có thể tạo ra những phát minh, cải tiến công nghệ có giá trị thực tiễn cao như các máy nảy bắp, gieo hạt…Với những máy móc tự chế này người nông dân có thể  thay thế 6-10 lao động mà hiệu quả kinh tế lại…nhìn thấy”. Đồng tình với quan điểm “làm khoa học không khó”, ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, cho rằng, “Làm khoa học công nghệ không phải quá cao siêu, chỉ dành cho các nhà khoa học, mà khi các doanh nghiệp nếu tổ chức tốt bộ máy quản lý kỹ thuật, kết hợp chặt chẽ với các nhà khoa học, các viện nghiên cứu để tạo ra những dây chuyền thiết bị tiên tiến không phải là không làm được”.  “Đòn bẩy” cho doanh nghiệp  “Muốn giải phóng khoa học ra khỏi tháp ngà cần phải có cơ chế chính sách” – Thứ trưởng Nguyễn Quân nhấn mạnh – “Và Nghị định 119 chính là “đòn bẩy” cho doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập”. Sau 6 năm “thí điểm”, theo hầu hết ý kiến của các doanh nghiệp, “thành công của 119 là đã đưa doanh nghiệp làm khoa học”.  Là một doanh nghiệp trong lĩnh vực dược phẩm nhưng lại trực thuộc Bộ GTVT, Công ty Cổ phần TRAPHACO vốn kinh doanh loại mặt hàng “nhạy cảm” với cuộc sống, và theo như bà Vũ Thị Thuận, “con người không thể thiếu gạo, nước và…thuốc”. Đã có thời gian TRAPHACO “trị vì” thị trường dược phẩm trong nước, nhưng vài năm đổ lại đây, trước bối cảnh thuốc ngoại tràn vào khiến thuốc nội phải cạnh tranh gay gắt. Đặc biệt, trước đây, ngành dược bị phụ thuộc 60% nguyên liệu nước ngoài. Nhưng khi 119 ra đời, TRAPHACO đã tự “gồng mình” bằng việc đổi mới công nghệ, đầu tư nghiên cứu khoa học. “Với sự “tiếp sức” của 119, các đề tài khoa học của công ty đã nghiên cứu thành công áp dụng y học cổ truyền sản xuất thuốc tự nhiên, giải quyết bài toán phụ thuộc nguồn nguyên liệu, mà hơn nữa, cạnh tranh được với thuốc ngoại và tạo việc làm cho một lượng lớn người lao động vùng sâu vùng xa như Sapa”, bà Thuận cho biết.  Cùng cảnh ngộ với TRAPHACO, Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung của ông Nguyễn Tăng Cường cũng tự vươn lên bằng KH&CN. Vì đam mê khoa học, ông Cường đã bỏ hết vốn liếng đầu tư nghiên cứu tìm tòi công nghệ. Thời gian đầu, thất bại nối tiếp thất bại khiến ông…trắng tay. Chán nản, ông Cường đặt câu hỏi: làm khoa học sao khó thế? “Hơn 10 năm bươn chải, giá phải trả cho KH&CN đắt quá!”, ông Cường than thở. Ban đầu, những sản phẩm “ra lò” của ông đều bị mọi người nghi ngờ chất lượng nên không dám…xài. Cực chẳng đã, ông đành tuyên bố “Chưa công nhận sản phẩm của chúng tôi thì cứ dùng. Nếu tốt thì trả tiền, nếu không tốt thì thôi…”. Rồi vận may cũng đã tới, đến năm 2005, được tiếp cận 119, ông Cường mạnh dạn đầu tư nghiên cứu những loại cẩu trục lớn cho xây dựng và cảng biển. “Đến nay tỷ lệ nội địa hóa đã lên đến 90%” – ông Cường cho biết – “Một thời gian dài bị “bỏ rơi”, nhưng khi 119 ra đời đã tạo động lực và niềm phấn khích cho các doanh nghiệp dấn sâu vào khoa học”. Rồi ông tiếp lời, “Do cách hiểu, cách nghĩ khác nhau mà nhiều vị giáo sư đầu ngành nghĩ là việc làm cẩu bánh xích ở trong nước là điều không thể. Nhưng chúng tôi đã chứng tỏ điều đó ngược lại. Những chiếc cẩu bánh xích “made in Việt Nam” đầu tiên đã chào đời”. Quả thật không ngoa khi mọi người tôn ông là “vua thép” rồi “vua cần cẩu”.  Nhiều doanh nghiệp khác cũng đã khẳng định mình bằng “làm khoa học” theo tinh thần của 119 như: Công ty Sáng chế Công nghệ An Sinh với sản phẩm máy chữa cháy không cần cấp năng lượng, máy hút rác khí động học; Công ty Cổ phần Gạch ngói Quỳnh Lâm (Hòa Bình) nghiên cứu thiết kế chế tạo các thiết bị cơ giới hóa và tự động hóa dây chuyền sản xuất gạch nung liên tục kiểu đứng.v.v…  Sẽ nâng mức hỗ trợ lên 50%  “Trong 6 năm thí điểm, Bộ KH&CN đã nhận được đề xuất của gần 500 doanh nghiệp xin hỗ trợ kinh phí nghiên cứu đổi mới công nghệ. Trong đó có 111 doanh nghiệp được phê duyệt với tổng kinh phí hỗ trợ 105,819 tỷ đồng (chiếm 13% tổng kinh phí)”, ông Nguyễn Trọng Thụ cho biết. Cũng theo ông Thụ, ước tính kinh phí doanh nghiệp tự bỏ ra nghiên cứu khoảng 800 tỷ đồng. Với mức quy định Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra công nghệ, theo ý kiến của các doanh nghiệp, vẫn…còn thấp. Mặc dù bằng nội lực của doanh nghiệp cộng với sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng sống còn của KH&CN, nhưng nhìn chung, nghiên cứu khoa học ở những nơi này vẫn còn manh mún.  Theo báo cáo, trong 111 doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí có 13 doanh nghiệp không triển khai, trong đó, 11 doanh nghiệp không triển khai ngay từ đầu và 2 doanh nghiệp đã triển khai một phần nay không thực hiện tiếp. Lý giải tại sao, ông Thụ cho biết, “Các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến thay đổi tổ chức của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc các thủ tục thanh toán (đã thực hiện xong nhiệm vụ nghiên cứu nhưng không đủ chứng từ hợp lệ…)”.  Tuy nhiên, với con số 500 doanh nghiệp xin hỗ trợ kinh phí nghiên cứu đổi mới công nghệ vẫn còn rất khiêm tốn. Điều đó cho thấy các doanh nghiệp của ta vẫn coi nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ còn là chuyện xa vời, chỉ dành cho những “ông khoa học”. Theo Thứ trưởng Nguyễn Quân, “Con số các doanh nghiệp tham gia còn quá nhỏ là do việc thông tin tuyên truyền các cơ chế, chính sách tài chính khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ chưa được tiến hành thường xuyên và rộng rãi. Ngoài ra, các vấn đề cần được giải quyết bằng KH&CN do các doanh nghiệp đề nghị Nhà nước hỗ trợ còn phân tán”. Số các doanh nghiệp đề nghị xin hỗ trợ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn pháp định thấp nên khả năng huy động 70% vốn đối ứng từ nguồn tự có để thực hiện đề tài nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, đồng thời khả năng tiếp nhận được sự hỗ trợ lớn từ ngân sách cũng bị hạn chế. “Phần lớn các doanh nghiệp được hỗ trợ khoảng 1 tỷ đồng, cao nhất là 6,6 tỷ đồng cho một nhiệm vụ nghiên cứu”, ông Thụ cho biết.  Đồng tình với ý kiến của các doanh nghiệp, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng, “Nâng mức hỗ trợ nên 50% là chấp nhận được nhưng không vượt quá trần tối đa. Chẳng hạn, có những dự án trị giá 1000 tỷ đồng thì cần phải định mức trần hỗ trợ hợp lý trong điều kiện cho phép của Ngân sách Nhà nước”. Tuy nhiên, ông cũng cho biết, “Đây là giai đoạn mang tính thử nghiệm. Vì kinh phí Nhà nước có hạn nên nếu có vài nghìn doanh nghiệp nộp đơn thì cũng chỉ “lọc lựa” khoảng vài trăm doanh nghiệp mà thôi”. Chính bởi vậy, theo quy định của Nghị định 119, những nhiệm vụ nghiên cứu đổi mới công nghệ có quy mô lớn, có tính liên ngành, sản phẩm tạo ra có tác động đến sự phát triển của các ngành hoặc lĩnh vực thì Ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ thông qua Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia hoặc thông qua Dự án KH&CN có quy mô gắn với sản phẩm quốc gia. Còn đối với những nhiệm vụ nghiên cứu đổi mới công nghệ có quy mô nhỏ có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp sẽ hỗ trợ thông qua Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia.    Đức Phường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghi ngờ nghiên cứu ngô GM gây ung thư      Nghiên cứu kết luận ngô biến đổi gene (GM)  gây ung thư đối với chuột đã được sáu Viện hàn lâm khoa học Pháp kiểm chứng lại trong phòng thí nghiệm.      Theo tuyên bố của sáu Viện hàn lâm khoa học Pháp, gồm Viện hàn lâm Nông nghiệp, Y học, Dược, Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Thú Y hôm 19/10, thì kết luận ngô GM gây ung thư đối với chuột chỉ  là một sự kiện khoa học sai lầm.  Theo các viện khoa học này, kết luận ngô biến đổi gene NK603 gây ung thư ở chuột, không khác gì thuốc diệt cỏ, được nhà khoa học Gilles-Eric Seralini từ Đại học Caen công bố hồi tháng 9/2012 gây chấn động ở Châu Âu, là không đáng tin cậy.  Các nhà khoa học đã cáo buộc Seralini cố tình kết nối các phương tiện truyền thông để khuếch trương phát hiện của mình. Nhưng nghiên cứu của Seralini rất kém chất lượng và đầy khoảng trống, sai lệch. Ngay sau đó, chính phủ đã mở một cuộc điều tra chính thức về nghiên cứu với sự tham gia của sáu Viện hàn lâm khoa học Pháp.  Kết quả cho thấy, nghiên cứu của Seralini thiếu về phương pháp và các giải thích cũng như các dữ liệu đưa ra chưa đủ để bác bỏ lại nghiên cứu trước đó cho rằng ngô NK603 vô hại đối với cả con người và động vật. Nghiên cứu của Seralini bị cáo buộc dùng để thổi phồng danh tiếng và có thể đã phạm tội nghiêm trọng khi reo rắt sợ hãi trong công chúng khi đưa ra kết luận mà chưa hề có cơ sở chắc chắn.  Nghiên cứu đó đã sai lầm khi dựa trên cứ liệu nghiên cứu 100 con chuột chia thành 10 nhóm đực và cái trong khoảng thời gian 2 năm, trong khi tiêu chuẩn nghiên cứu tác động của cây trồng biến đổi gene trên động vật chỉ có 90 ngày. Kết quả phân tích cũng cho thấy không thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm chuột ăn thực phẩm là ngô NK603 và các thực phẩm khác.  Hiện Seralini chưa có phản ứng gì đối với bình luận trên của các Viện hàn lâm.  Theo Physorg    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ về nghề và nghiệp      Trong những số trước, hướng tới kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Tia Sáng chúng tôi đã khắc họa một số chân dung các cộng tác viên đặc biệt đã gắn bó với tạp chí trong nhiều năm qua. Kỳ này, Ban biên tập tiếp tục gửi đến các bạn chân dung một nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, TS. Trần Trọng Dương.        Cả cái chữ “nghề” lẫn chữ “nghiệp” của tôi đều gói gọn trong một danh từ khô khan: “nghiên cứu”.  Có thần kinh mới đi làm nghiên cứu! Có người sẽ cho rằng tôi đang ngoa ngôn chi đây. Nhưng đây là một phát ngôn có thật. Phát ngôn ấy là dành cho chính tôi trong một chuyến đi điền dã khi tôi đến một ngôi chùa cổ đời Trần để khảo sát mỹ thuật. Tôi gặp được một vị sư trụ trì đang “hòa quang đồng trần” giữa một đám đông đệ tử già trẻ trai gái ngồi trong một căn phòng mịt mù khói thuốc và khản đặc tiếng karaoke. Vị sư đó đã mắng tôi sa sả khi tôi nói tôi đi nghiên cứu văn hóa Phật giáo; ông mắng rằng: “Phật là để tu, chứ không phải là để nghiên cứu; chỉ có thần kinh mới đi làm nghiên cứu.” Ông mắng tôi như vậy ba lần liền trong suốt cuộc nói chuyện. Tôi thì hồi đáp vị sư bằng điệu cười toe toét, vừa hồn nhiên và vừa an nhiên. Với không ít người, có khi đó là một sự xúc phạm; nhưng đối với tôi đó là một công án Thiền! Mình đã chẳng phải Phật tử thì chớ, lại còn nho nhe đi nghiên cứu Phật, thế chẳng phải là mò trăng đáy nước hay sao? Nhà Phật thì chủ trương xóa bỏ văn tự, “ý tại ngôn ngoại”; mình thì có biết mấy cái xác chữ Nho.            Dường như trên cả cái chữ “nghề”-  một danh từ để trỏ công việc mưu sinh kia, đó còn là cái nghiệp. Cái  nghề là cái mình chọn; cái nghiệp là cái đeo đẳng mình, là cái gắn bó  với mình, là cái đày đọa mình, cũng là cái quyến rũ mình bằng sự đày đọa  của nó. Nó nằm ngoài mọi quyền lực và quyền lợi, nằm ngoài sự cưỡng  bách của cuộc sống và cơ chế. Nó là sự thôi thúc từ bên trong, nó là một  ham muốn thuần túy lý tính, nhưng được xuất phát như một nhu cầu bản  năng: tồn tại.           Nhưng xét ra, tôi cũng liều thật! Bản thân là Tiến sĩ ngữ văn, chuyên ngành Hán Nôm, tôi làm luận án về vấn đề ngôn ngữ và văn tự của các văn bản dịch thuật kinh điển Phật giáo qua trường hợp các dịch phẩm của sách Khóa hư lục thế kỷ XIV- XIX. Thế nhưng, trong thời điểm hiện tại, tôi đang mở rộng mối quan tâm của mình đến nhiều ngành khác, từ lịch sử văn hóa, lịch sử kiến trúc, lịch sử mỹ thuật cho đến văn hóa dân gian, và nhân học biểu tượng. Hôm nay viết bài về văn học Phật giáo, ngày mai lại nghiên cứu về từ nguyên; đến ngày kia lại đọc về biển đảo. Tôi đang trở thành một kiểu người mà trước đây bản thân mình rất dị ứng- kẻ hay “chúi mũi” vào chuyên môn của những người khác! Rất có thể tôi là người đa đoan lắm mối; cũng có thể là kẻ tham việc tiếc công; càng có thể hơn nữa: tôi là một kẻ liều lĩnh không có chút liêm sỉ nghề nghiệp! Thế nào cũng được, đối với tôi quan trọng là công việc; và cái công việc phải được hiển thị qua các kết quả khoa học: các cuốn sách, các bài viết công bố trên tạp chí chuyên ngành, hoặc có thể đó chỉ là những bài báo. Mặc dù vẫn biết nghiên cứu Hán Nôm vốn đã là một thực thể đa ngành- liên ngành1, nhưng không ít bạn bè đã phản đối hoặc nhắc nhở một cách rất chân tình, rằng: “đa sự thì đa đoan”; hoặc “ông không cẩn thận thì trở thành ông biết tuốt, nát chuyện mà chẳng nên cơm cháo gì đâu”. Mỗi khi nhận được những lời khuyến cáo như thế tôi chỉ biết cười, và tự nhủ sẽ cố gắng hơn! Có khi có những lời nhận xét sau lưng: “Dương nó hỏng rồi!”, “sao nó dại thế!”. Cũng có khi có những lời khen trước mặt: “làm việc gì mà khiếp thế!” Mỗi lần như vậy tôi cũng lại cười: “giời đày ý mà!”   ***  Hóa ra tôi là một kẻ bị giời đày! Phải lâu lắm sau khi vào nghề tôi mới nghiệm ra được điều này! Nhưng xét ra, sống ở trong đời, nếu mình không bị đày ải ở chỗ này thì cũng sẽ bị đày đọa ở chỗ khác. Có người thì vì tiền bạc, công danh, có người thì vì chức quan, quyền lực; thôi thì mình tự kỉ ám thị rằng vì khoa học. Khi còn là sinh viên mới ra trường, tôi mơ mộng trở thành nhà giáo đứng trên giảng đường đại học. Đến khi trở thành giảng viên thật, tôi nhận thấy nghề giáo ở nước mình cũng là cái nghề khổ sở, phải giảng đi giảng lại những điều không phải của mình, thậm chí những điều mình không cho là đúng! Làm giáo dục là anh phải đối diện với một hệ thống, với một cơ chế nghiêm ngặt dửng dưng của nó. Thế là vỡ mộng, thế là bỏ nghề! Tôi chuyển sang làm nghiên cứu; tự mình đặt ra cho mình những câu hỏi, tự mình giao cho mình đề tài, tự mình thực hiện nhiệm vụ, nghĩa là xác định tự mình giải ngân cuộc đời mình! Những đề tài nhiệm vụ của cơ quan đôi khi chỉ là sự cố gắng điều chỉnh cho phù hợp với cơ chế hoạt động xin cho có hạn định của nhà nước. Còn muốn làm công trình gì đó cho ra tấm ra món, thì phải tự xoay xở. Nghĩa là, tôi vừa phải hoàn thành nhiệm vụ cơ quan, vừa phải lo kiếm sống với những khoản thu ngoài biên chế, vừa lo chuyện khoa học của cá nhân. Tôi thường gọi đó là “đòn gánh 3 trong 1”. Muốn làm được như thế thì phải tay năm tay mười, lì đòn cho đến lúc kiệt sức. Cũng may mà, nhìn sang xung quanh, thấy có những người đi trước còn lì đòn hơn mình; có không ít anh em bạn bè cũng lì đòn như mình. Thế là lại quay sang bắn tỉa nhau: “một lũ giời đày”!  Như trên đã nói, tôi luôn coi nghiên cứu như là một cái nghề, cao hơn là một cái nghiệp, và xác định rằng nghiên cứu là công việc là nhiệm vụ mà mình sẽ thực hiện trong suốt cuộc đời. Phấn đấu học tập, nghiên cứu trong những điều kiện khó khăn của cuộc sống với những điều còn bất cập của cơ chế, tôi thấy việc nghiên cứu là một công việc nặng nề, kham khổ, song không vì thế mà thấy chán nản. Bởi tôi coi đó là thử thách để mình luôn tiến lên.    Nhiều người trong xã hội hiện nay nghĩ, nghiên cứu- nhất là nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn là một công việc xa xỉ và vô bổ. Quan niệm đó không phải là không có những lý lẽ riêng, nhưng cực đoan và phiến diện. Với tư cách là một công dân, tôi thấy mình cần có tinh thần tự nhiệm của một người trí thức để góp phần thay đổi những tri thức của bản thân và xã hội về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Tôi cũng nghĩ rằng, chỉ có con đường tri thức mới giúp con người Việt Nam, đất nước Việt Nam chúng ta tiến bộ và phát triển.   ***  Làm việc, viết lách, nghiên cứu không phải chỉ là vì lý do mưu sinh, tôi luôn cố gắng tìm thấy những niềm vui trong công việc. Mỗi một bài nghiên cứu, một cuốn sách ra đời là một niềm hạnh phúc, một đam mê, một lạc thú tư duy mà không gì có thể thay thế được. Chính vì thế, trong năm năm qua, tôi đã dành được một số thành quả, với vài ba cuốn sách nghiên cứu đã xuất bản, và hơn bảy mươi bài nghiên cứu, bài viết đã công bố. Những kết quả ấy đã bước đầu được giới nghiên cứu trong và ngoài nước biết đến, và ít nhiều được xã hội quan tâm, khích lệ. Một chặng đường tuy không dài, nhưng trong đó chứa chất nhiều suy tư nhiều trăn trở đối với lịch sử và văn hóa nước nhà.   Năm 2011, tôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch Khóa hư lục tại Học viện Khoa học Xã hội (sau được in thành sách cùng tên năm 2012, NXB Từ điển Bách khoa). Công trình này nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt và lịch sử chữ Nôm từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19. Đây là kết quả đạt được sau tám năm nghiên cứu. Luận án, dựa trên các sử liệu và ngữ liệu, đã chứng minh được rằng, Tuệ Tĩnh- thiền sư- y sư nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, là người đời Trần (khác với giả thuyết trước đây của GS. Hà Văn Tấn, GS. Đỗ Tất Lợi). Luận án cũng chứng minh được rằng, Tuệ Tĩnh với tác phẩm Thiền tông khóa hư ngữ lục là dịch giả có danh tính sớm nhất trong lịch sử. Bản dịch Khóa hư lục của ông là tác phẩm văn xuôi tiếng Việt duy nhất của thời Trần đến nay còn giữ được.   Trên cơ sở nghiên cứu đó, cuối năm 2011, tôi đã công bố bài viết “Phật thuyết có phải là dịch phẩm Nôm thế kỷ 12?” trên tạp chí Ngôn Ngữ. Từ góc độ từ vựng học lịch sử, văn tự học lịch sử, bài viết đã chứng minh rằng, sách Phật thuyết (hiện đang lưu trữ tại Pháp, vốn trước nay được coi là một tác phẩm đời Lê sơ) là dịch phẩm văn xuôi bằng tiếng Việt sớm nhất trong lịch sử. Đây đồng thời là tác phẩm duy nhất của thời Lý còn lại cho đến nay qua bao biến cố lịch sử. Nếu như giả thuyết này đúng, thì sách Phật thuyết đã lấp đầy khoảng trống về lịch sử tiếng Việt trong suốt mười thế kỷ, từ thời Lý đến nay.  Những hố khảo cổ ngôn từ đã xới lên, tôi tiếp tục nghiên cứu về tiếng Việt thế kỷ 15 với cuốn Nguyễn Trãi quốc âm từ điển (A Dictionary of 15th Century Ancient Vietnamese, NXB Từ điển Bách khoa, 495 trang) – cuốn từ điển tác gia, từ điển chuyên thư đầu tiên về Nguyễn Trãi2.   Từ việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, lịch sử tiếng Việt, tôi đã mở rộng nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Năm 2011, tôi cùng một số tác giả khác công bố bài “Đường Lâm là Đường Lâm nào (Tìm về quê hương Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu)” đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (02-2011.Tr.115-137). Bài này trên cơ sở khảo sát sử liệu từ thế kỷ 9-10-11, chúng tôi (cùng với GS. Trần Ngọc Vương và TS. Nguyễn Tô Lan) đưa ra giả thuyết rằng, Đường Lâm- quê hương của Ngô Quyền- Phùng Hưng, không phải ở Sơn Tây mà có khả năng cao là ở châu Đường Lâm thời Đường (tức Nam Thanh Hóa, Bắc Nghệ An ngày nay). Năm 2013, tôi công bố cuốn sách “Kiến trúc một cột thời Lý” (NXB Hồng Đức. 2013). Đây là các công trình rất quan trọng lý giải về kiến trúc một cột thời Lý. Chúng tôi cho rằng, chùa Một Cột không phải là chùa, mà là một dạng kiến trúc nhất trụ mô phỏng núi Tu Di trong thế giới quan nhà Phật. Chùa Một Cột chỉ là một dạng kiến trúc Liên Hoa Đài tiêu biểu thời Lý nhằm hiện thực hóa thế giới quan Phật giáo qua đồ hình Mandala.    Còn nhiều nghiên cứu khác nữa, mà chúng tôi, do khuôn khổ của bài viết này, chưa thể kê chi tiết hết ra ở đây. Có nghiên cứu về Đinh Bộ Lĩnh cho thấy ông không hẳn là người “dẹp loạn 12 sứ quân” mà chỉ là “một sứ quân nổi loạn đầu tiên và đã giành chiến thắng” trước các sứ quân khác của nhà Ngô. Có nghiên cứu về văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An Đạo tràng chi bi văn (khắc năm 618) để soi sáng khoảng 60 năm lịch sử của đất Cửu Chân- Giao Chỉ vào cuối thế kỷ 7 đầu thế kỷ 8… Những nghiên cứu lịch sử ấy đã đưa ra nhiều kết quả khác/ thậm chí trái ngược so với những hiểu biết chúng của chúng ta đối với lịch sử của mảnh đất này. Đôi khi vì những kết luận quá mới, các bài viết ấy không thể nào tránh được những phản ứng trái chiều, thậm chí phản đối, hoặc buồn hơn là quy kết.   Nhưng tôi nghĩ, một người làm nghiên cứu, chỉ có nhiệm vụ nói lên sự thật lịch sử từ những cứ liệu khách quan. Với một người làm nghiên cứu, thì nghiên cứu tốt, nghiên cứu có trách nhiệm là một biểu hiện của lòng yêu nước và của sự liêm chính. Tôi hiểu rằng, yêu nước mỗi người trong chúng ta ai cũng đều có. Chỉ có điều, không nên dùng lòng yêu nước của mình để phủ định những điều tương tự ở người khác. Tôn trọng nhau và tin tưởng ở nhau ấy là một điều kiện tối thiểu để trí thức xích gần lại với nhau hơn!  Với những kết quả bước đầu đạt được, năm 2012, TS. Trần Trọng Dương đã được Nom Preservation Foundation của Hoa Kỳ trao giải Young Nom Scholar Award, cho những nỗ lực trong nghiên cứu về Chữ Nôm của người Việt.  ———-  1Trần Trọng Dương. http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/97186/han-nom-hoc-khoa-hoc-lien-nganh-de-phat-trien-dat-nuoc.html; Thời điểm đăng tải: 16/11/2012  15:31 GMT+7.  2http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=4&News=7558\Và những nhận định khác trong http://www.vietlex.com/ngon-ngu-hoc/147-TU_DIEN_TAC_GIA_ DAU_TIEN_VE_NGUYEN_TRAI        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghịch lý toán học chứng minh giới hạn của AI      Con người thường nhanh nhạy trong việc nhận ra khi nào mình hiểu sai nhưng các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) thì không có được điều đó. Theo một nghiên cứu mới, AI thường gặp phải những hạn chế cố hữu do một nghịch lý toán học tồn tại ngót một thế kỷ.      Cũng như một vài người, các hệ thống AI thường có mức tự tin vượt xa khả năng thực tế của chúng và không biết khi nào mình phạm phải sai lầm. Đôi khi, với AI, việc nhận ra mình đang mắc lỗi đối còn khó hơn việc tạo ra kết quả chính xác. Các nhà nghiên cứu từ ĐH Cambridge (Anh) và ĐH Oslo (Na Uy) nói rằng sự bất ổn đó là gót chân Achilles của AI hiện đại và có một nghịch lý toán học cho thấy những hạn chế đó của AI.   Mô hình toán học tân tiến nhất về AI hiện nay là mạng thần kinh nhân tạo (neural network). Chúng gần như bắt chước các liên kết giữa những tế bào thần kinh trong não người. Các nhà nghiên cứu chỉ ra vấn đề là “các mạng thần kinh ổn định và chính xác có tồn tại, nhưng hiện không có một thuật toán nào có thể tạo ra được mạng lưới như vậy”. Nó chỉ được tạo ra trong những trường hợp đặc biệt.  Trong bài báo đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, họ đã đề xuất một lý thuyết phân loại để mô tả khi nào các mạng thần kinh có thể được huấn luyện để tạo ra một hệ thống AI đáng tin cậy trong một số điều kiện cụ thể nhất định. Nhiều hệ thống AI không ổn định, việc thiết lập độ tin cậy cho chúng là bài toán quan trọng, đặc biệt là khi AI ngày càng được ứng dụng trong các lĩnh vực có nguy cơ cao như chẩn đoán bệnh tật hoặc xe tự hành”, GS. Anders Hansen từ Khoa Toán ứng dụng và Vật lý lý thuyết ở ĐH Cambridge, đồng tác giả nghiên cứu nhận xét.   Nghịch lý mà các nhà nghiên cứu xác định bắt nguồn từ hai nhà toán học lớn của thế kỉ 20 – Alan Turing và Kurt Gödel. Vào đầu thế kỷ 20, các nhà toán học đã cố gắng chứng minh toán học là ngôn ngữ nhất quán tối thượng của khoa học. Tuy nhiên, Turing và Gödel đã cho thấy một nghịch lý trọng tâm của toán học: không thể chứng minh một số mệnh đề toán học cụ thể là đúng hay sai, và một số vấn đề tính toán không thể giải quyết bằng thuật toán. Và với bất cứ hệ tiên đề nào đủ mạnh để mô tả các dạng số học mà chúng ta đã biết, nó cũng không thể chứng minh được tính nhất quán của mình.   Nhóm nghiên cứu nói rằng vì nghịch lý này mà có trường hợp, tồn tại những mạng thần kinh tốt nhưng lại không thể xây dựng được một mạng thần kinh đủ tin cậy. “Cho dù dữ liệu của bạn chính xác đến đâu, bạn cũng không bao giờ có được thông tin hoàn hảo để xây dựng một mạng thần kinh như yêu cầu”, TS. Vegard Antun ở ĐH Oslo và là đồng tác giả cho biết.  “Hiện giờ, để xây các hệ thống AI đôi khi sẽ cần một chút phỏng đoán”, Hansen nhận xét. “Bạn thử một cái gì đó, và nếu không hoạt động, bạn thử thêm nhiều thứ hơn với hy vọng nó sẽ hoạt động. Đến một mức nào đó, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi vì không có được thứ mình muốn, và bạn thử một phương pháp tiếp cận khác. Điều quan trọng là phải hiểu được những hạn chế của các cách tiếp cận khác nhau. Chúng ta đang ở giai đoạn mà những thành công trên thực tiễn của AI đang vượt xa lý thuyết và sự hiểu biết của chúng ta. Do vậy, cần có một chương trình tìm hiểu về nền móng của tính toán AI nhằm thu hẹp khoảng cách này”.  Giai đoạn tiếp theo, nhóm nhà nghiên cứu sẽ kết hợp lý thuyết xấp xỉ, phân tích số và các nền tảng tính toán để xác định mạng thần kinh dạng nào có thể được tính toán bằng thuật toán và mạng thần kinh nào có thể được tạo ổn định và đáng tin cậy. Chỉ khi các nghịch lý về các giới hạn của toán học và máy tính do Gödel và Turing nhận diện dẫn đến những lý thuyết mang tính nền tảng – miêu tả được cả các giới hạn và khả năng có thể của toán học và máy tính – có lẽ một lý thuyết nền tảng tương tự của AI có thể phát triển vượt bậc. □  Trang Linh lược dịch  https://www.cam.ac.uk/research/news/mathematical-paradox-demonstrates-the-limits-of-ai    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu càng rủi ro – thành công càng lớn      Theo bản đánh giá thường niên lần thứ ba của Hội đồng Nghiên cứu châu Âu (ERC), gần 1/5 các dự án nghiên cứu do ERC tài trợ có thể đem đến những đột phá khoa học.    Được thành lập vào năm 2007, ERC là cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Liên minh châu Âu và là một phần của Horizon 2020 – chương trình tài trợ khoa học chính của EU. Với kỳ vọng sẽ cải thiện chất lượng của khoa học châu Âu, ERC đã dành các khoản tài trợ lớn, kéo dài trong nhiều năm cho các dự án nghiên cứu chỉ dựa vào chất lượng. Kể từ khi triển khai đến nay, trong số những nhà khoa học được ERC cấp kinh phí nghiên, đã có sáu người đoạt giải Nobel và bốn giải Fields.  Năm 2015, Hội đồng bắt đầu thực hiện việc đánh giá lại các nghiên cứu mà nó tài trợ trên đó căn cứ vào tác động của nó đối với sự phát triển khoa học và xã hội, thay vì dựa vào các số lần trích dẫn. ERC đã đánh giá thử nghiệm trên 199 dự án và công bố vào năm tháng 7/2016. Kết quả cho thấy, nghiên cứu tạo ra những đột phá cơ bản là 21% và tiến bộ khoa học là 25%. Đến năm 2017, ERC đã xem xét lại 223 dự án đã hoàn thành vào giữa năm 2015. Kết quả cho thấy, trong số này có 79% nghiên cứu đã tạo ra tiến bộ khoa học đáng kể và 19% nghiên cứu đã có những đột phá cơ bản. Tỷ lệ nghiên cứu có đột phá tăng lên tới mức 27% với các nghiên cứu thuộc diện ERC Advanced Grants – tài trợ của ERC cho các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm. Và chỉ 1% các nghiên cứu được khảo sát bị đánh giá là không có đóng góp khoa học đáng kể.  Hội đồng khoa học của ERC đã yêu cầu các nhà khoa học có uy tín tham gia đánh giá hiệu quả nghiên cứu tập trung đánh giá rủi ro của dự án trên quy mô rộng hơn so với lần đánh giá trước. Họ đã phát hiện ra hầu hết các dự án có tính đột phá đều chứa nguy cơ rủi ro cao, chỉ có 10% trong số này được cho là ít rủi ro. Jan Palmowski – tổng thư ký Hiệp hội các trường đại học nghiên cứu chuyên sâu châu Âu, một nhóm vận động hành lang ở Brussels, nói: “ERC đã kỳ vọng các dự án do họ tài trợ sẽ tạo ra nhiều đột phá trong nghiên cứu khoa học nên cũng chấp nhận nhiều rủi ro hơn.”  Đánh giá này đã cho thấy sự cần thiết có nguồn tài trợ chấp nhận rủi ro để giữ nhân tài ở lại châu Âu, nơi các quỹ đầu tư cho nghiên cứu thường e ngại sự rủi ro, Martin Vechev – nhà khoa học máy tính ở Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ nói. Anh cũng nhận được một khoản tài trợ dành cho các nhà nghiên cứu trẻ của ERC vào năm 2015, ngay sau khi trở về từ hãng IBM (Mỹ). Khoản tài trợ này đã khuyến khích Martin ở lại châu Âu và giúp nhóm nghiên cứu của anh tập trung vào những thiết bị viết mã máy tính một cách tự động – một nhánh phụ của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.  Trong bài phát biểu đầu năm nay, Chủ tịch ERC Jean-Pierre Bourguignon đã cho biết: các nhà khoa học trong ban đánh giá cũng chỉ ra hơn 59% dự án đã thực sự tạo ra tác động về kinh tế và xã hội và các nghiên cứu do Quỹ tài trợ đã tạo ra 29% số sáng chế có được từ nghiên cứu do châu Âu tài trợ giai đoạn 2007 – 2013 dù nhận được ít hơn 17% kinh phí.  Việc đánh giá này diễn ra vào thời điểm Hội đồng châu Âu công bố bản kế hoạch ngân sách chi tiết cho phần tiếp theo của chương trình tài trợ chính từ năm 2021 đến 2027 – Horizon Europe với ngân sách khoảng gần 100 tỷ euro. Khoản kinh phí tiếp theo của ERC cũng là một phần của chương trình này nên có thể bản đánh giá của ERC sẽ góp phần giúp tăng ngân sách cho Quỹ.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/ articles/d41586-018-05325-4       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu cơ bản: Đã qua thời hoàng kim?      Để giải đáp câu hỏi với sự đầu tư ngày càng tăng, nghiên cứu cơ bản ngày nay còn có những đột phá, tác động lớn đến sự phát triển của thế giới như những thế kỷ trước, nhà vật lý lượng tử Michael Nielsen và Patrick Collison đã đi tìm câu trả lời trong những khám phá nổi bật và trong những giải thưởng khoa học danh tiếng, qua nhiều thập kỷ.      Tia X – Phát minh vĩ đại của thế kỷ 19. Ảnh: khoahoc.tv  Hiện nay, số lượng các nhà khoa học, số lượng các bài báo khoa học được xuất bản và sự tài trợ cho khoa học ngày càng gia tăng, liệu những tiến bộ khoa học có gia tăng tương xứng? Dù rất khó để trả lời câu hỏi đó một cách chính xác. Nhưng việc đánh giá mức độ tác động đến sự phát triển của một công trình khoa học là rất cần thiết để làm cơ sở trao các giải thưởng khoa học và quyết định có nên tuyển hay trao tài trợ cho các nhà khoa học. Và theo các nhà khoa học trong mỗi trường hợp, cách tiếp cận chuẩn mực là hỏi ý kiến đánh giá các công trình của các nhà khoa học độc lập. Dù chưa hoàn hảo, nhưng đây là cách tiếp cận tốt nhất mà chúng ta có hiện nay.  Với suy nghĩ đó, Michael và Patrick – đồng sáng lập công ty cơ sở hạ tầng phần mềm Stripe – đã tiến hành một cuộc khảo sát, trong đó yêu cầu các nhà khoa học giàu kinh nghiệm so sánh các khám giá được trao giải Nobel trong lĩnh vực của họ, sau đó xếp hạng những khám phá đoạt giải Nobel đã thay đổi trong suốt các thập kỷ qua.  Đối với vật lý, Michael và Patrick đã đề nghị 93 nhà vật lý từ các cơ sở nghiên cứu vật lý hàng đầu thế giới đánh giá các cặp phát minh qua mỗi thập kỷ. Kết quả của những phát minh được giải thưởng Nobel thập kỷ đầu tiên khá khiêm tốn, do Ủy ban Nobel vẫn đang loay hoay trong việc xác định giải thưởng dành cho nghiên cứu loại nào, ví dụ có một giải thưởng cho phương pháp chiếu sáng ngọn hải đăng và phao trên biển – một phát minh mang lại nhiều ích lợi nếu bạn đang ở trên một con tàu, nhưng theo các nhà vật lý hiện đại thì không có nhiều giá trị.  Từ những năm 1910 đến thập niên 1930 là kỷ nguyên vàng của vật lý. Đây là thời điểm phát minh ra cơ học lượng tử, một trong những phát minh khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, đã làm thay đổi hoàn toàn sự hiểu biết của chúng ta về thực tại. Ngoài ra, còn có việc phát hiện ra tia X, cho phép chúng ta thăm dò thế giới nguyên tử; phát hiện ra neutron và phản vật chất; và nhiều vấn đề quan trọng về phóng xạ và năng lượng hạt nhân.  Sau giai đoạn đó, đã có một sự suy thoái đáng kể, mặc dù vào những năm 1960 đã có hai khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ và Mô hình chuẩn của vật lý hạt – lý thuyết tuyệt vời nhất của chúng ta về các hạt cơ bản và các lực tạo nên vũ trụ. Nhưng các nhà vật lý vẫn đánh giá giai đoạn 1940 – 1980 vẫn không bằng thập kỷ thuộc giai đoạn 1910 – 1930.  Cuộc khảo sát của Michael và Patrick dừng lại vào cuối những năm 1980 do trong những năm gần đây, hầu hết giải thưởng Nobel trao cho các công trình được thực hiện trước những năm 1980, chỉ có ba khám phá thực hiện từ năm 1990 được trao giải Nobel.  Nhiều ý kiến phản đối cuộc khảo sát của Michael và Patrick với nhiều lý do như các nhà vật lý được mời khảo sát đã thiên vị hoặc không hiểu biết đầy đủ về những khám phá đã được trao giải. Michael và Patricki đã lường trước điều này bởi như đã đề cập, rất khó xác định tầm quan trọng của phát minh này so với phát minh khác. Tuy nhiên, đánh giá của các nhà khoa học vẫn là cách tốt nhất để chúng tôi có thể so sánh các khám phá.  Nếu kết quả đánh giá sự tiến bộ của ngành vật lý không khả quan, có lẽ các lĩnh vực khác sẽ tốt hơn chăng? Michael và Patrick đã thực hiện các cuộc khảo sát tương tự cho giải Nobel hóa học, sinh lý học hoặc y học. Kết quả là có tín hiệu tích cực hơn so với vật lý. Nhưng cũng giống vật lý, số lượng giải thưởng được trao trong thập kỷ 1990 – 2000 ít hơn so với bất cứ thập kỷ nào trước đó.  Cuộc khảo sát đã phác họa một bức tranh u ám: trong thế kỷ vừa qua, gần như chúng ta không tạo ra được thêm những thành tựu đột phá nào, điều này cũng cho thấy khoa học đang dần trở nên kém hiệu quả hơn.  Những quan điểm trái chiều    Một người đứng trước bức tranh máy gia tốc hạt tại Bảo tàng khoa học London. Ảnh: Genk  Khi Michael và Patrick công bố kết quả này với các đồng nghiệp, có người cho rằng điều này là vô nghĩa và khẳng định rằng khoa học đang trải qua thời kỳ hoàng kim. Với những phát minh đáng kinh ngạc gần đây như tìm ra hạt Higgs và sóng hấp dẫn.  Dù đấy là những khám phá đáng kinh ngạc nhưng các thế hệ trước cũng có những khám phá tương tự, nếu không muốn nói là đáng chú ý hơn, chẳng hạn so sánh phát hiện ra sóng hấp dẫn đối với khám phá về Thuyết tương đối tổng quát của Einstein năm 1915 – lý thuyết này không chỉ đưa ra dự đoán về sóng hấp dẫn mà còn thay đổi hoàn toàn hiểu biết của chúng ta về không gian, thời gian, khối lượng, năng lượng và trọng lực trong khi phát hiện sóng hấp dẫn tuy mang lại ấn tượng rất lớn về mặt kỹ thuật nhưng ít có tác động tới sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.  Và mặc dù việc phát hiện ra hạt Higgs rất đáng chú ý nhưng nó vẫn bị lu mờ trước các khám phá về hạt cơ bản những năm 1930: neutron – một trong những thành phần chính tạo nên thế giới, và positron (phản hạt electron) đã mở ra thế giới bí ẩn về phản vật chất.  Một số khác cho rằng khoa học đang phát triển tốt hơn bao giờ hết bởi vì lĩnh vực của họ đang tiến bộ rất nhanh. Chẳng hạn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) và kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR trong sinh học. Nhưng việc AI, CRISPR, và các lĩnh vực tương tự đang có những tiến bộ nhanh chóng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi trong suốt tiến trình lịch sử của khoa học hiện đại, luôn có một số ngành phát triển nóng và nóng hơn các ngành khác.  Để so sánh, những khám phá quan trọng về AI trong vài năm qua bao gồm cải tiến khả năng nhận diện hình ảnh, giọng nói và chơi các trò chơi như cờ vây tốt hơn con người. Đây là những kết quả hết sức ý nghĩa và dù lạc quan là nghiên cứu về AI sẽ có tác động rất lớn trong những thập kỷ tới nhưng rõ ràng phải mất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức để đạt được những kết quả này, và nó cũng chưa tạo ra đột phá đáng kể so với việc thay đổi toàn bộ nhận thức về thế giới trong những năm 1920.  Làm khoa học ngày càng khó hơn?  Vậy tại sao khoa học được đầu tư nhiều hơn, nhưng lại không tạo ra kết quả tương xứng cho hệ thống tri thức của chúng ta? Công trình của các nhà kinh tế học Benjamin Jones và Bruce Weinberg đã trả lời được một phần vấn đề này. Họ đã nghiên cứu tuổi tác của các nhà khoa học khi tạo ra những phát minh vĩ đại và tìm thấy rằng trong những ngày đầu của giải Nobel, các nhà khoa học Nobel tương lai đều có độ tuổi trung bình là 37 tuổi khi bắt đầu thực hiện các nghiên cứu. Nhưng trong thời gian gần đây, độ tuổi đã tăng lên là 47 tuổi – tăng khoảng 1/4 thời gian trong sự nghiệp của một nhà khoa học. Có lẽ các nhà khoa học ngày nay cần phải tích lũy nhiều kiến thức hơn để tạo ra những khám phá quan trọng. Bởi vậy họ phải học lâu hơn, và nhiều tuổi hơn trước khi có thể tạo ra công trình quan trọng nhất trong sự nghiệp. Những phát minh vĩ đại ngày càng khó thực hiện hơn. Do vậy, số lượng phát minh sẽ ít hơn hoặc đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn.      Khi bằng chứng cho thấy khoa học đã phát triển chậm lại rất nhiều so với lượng đầu tư về thời gian và tiền bạc thì các tổ chức nghiên cứu khoa học và tài trợ cho khoa học cần phải có sự thay đổi trong chính sách đầu tư để cho khoa học phát triển nhanh hơn.      Bên cạnh đó, sự hợp tác khoa học cũng mở rộng hơn so với một thế kỷ trước. Khi Ernest Rutherford khám phá ra hạt nhân nguyên tử vào năm 1911, ông là tác giả duy nhất trong công bố này. Ngược lại, có khoảng một nghìn tác giả trong hai công bố năm 2012 về phát minh hạt Higgs. Trung bình, quy mô các nhóm nghiên cứu tăng gần gấp bốn lần so với thế kỷ 20, và sự gia tăng đó vẫn đang tiếp tục. Nhiều vấn đề nghiên cứu hiện nay yêu cầu nhiều kỹ năng hơn, thiết bị đắt tiền và một đội ngũ lớn để tạo ra những tiến bộ.  Nếu đúng là khoa học đang ngày càng trở lên khó hơn, vậy nguyên nhân là gì? Giả sử, chúng ta hãy hình dung khoa học – sự khám phá tự nhiên – giống như khám phá một lục địa mới. Trong những ngày đầu, để có những khám phá quan trọng, những người khám phá phải đi đến những vùng xa xôi hơn, dưới những điều kiện khó khăn hơn bao giờ hết. Khoa học cũng vậy, có một biên giới hạn chế, đòi hỏi phải nỗ lực hơn nữa để “vẽ kín bản đồ”. Một ngày nào đó bản đồ sẽ gần như hoàn thành, và sẽ gia tăng độ khó của những khám phá.  Nhưng quan điểm khác cho rằng khoa học là một biên giới bất tận, nơi luôn có những hiện tượng mới được khám phá và những câu hỏi mới được trả lời, ví dụ có những biên giới mới tiếp tục mở ra trong lĩnh vực sinh học, khi chúng ta có khả năng chỉnh sửa hệ gene, tổng hợp các sinh vật mới, và hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa hệ gene của một sinh vật với hình dạng và hành vi của chúng. Điều tương tự cũng có thể xảy ra trong vật lý và hóa học, với những ý tưởng như vấn đề tái lập và những giai đoạn tái cấu trúc của vật chất. Với mỗi trường hợp, hiện tượng mới đặt ra những câu hỏi mới – đây có thể là một con đường rộng mở.  Vì vậy, nếu chúng ta thấy khoa học hiện nay đang tiến bộ dường như với tốc độ chậm hơn là bởi vì khoa học vẫn còn quá tập trung vào các lĩnh vực sẵn có – ngày càng khó khăn để phát triển. Michael và Patrick hy vọng tương lai sẽ thấy sự gia tăng nhanh chóng của các lĩnh vực mới, đặt ra những câu hỏi mới quan trọng. Đây sẽ là cơ hội để khoa học tăng tốc.  Cần đầu tư như thế nào cho khoa học?  Việc khoa học đang tiến bộ chậm sẽ ảnh hưởng như thế nào với tương lai của chúng ta? Sẽ có ít kiến thức khoa học mới hơn để truyền cảm hứng cho các công nghệ mới mang tính định hình lại thế giới của chúng ta như trong quá khứ không?  Thực tế, các nhà kinh tế đã có những bằng chứng về điều đang xảy ra, mà họ gọi là sự suy giảm năng suất. Nhưng điều gì gây ra sự suy giảm năng suất?  Chủ đề này đang gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế, và đã có nhiều câu trả lời khác nhau. Nếu một số người cho rằng nguyên nhân chỉ đơn giản là các phương pháp đo lường hiện tại đã không đo chuẩn tác động của công nghệ mới, còn nhà sinh vật học nổi tiếng Bentley Glass đã viết một bài báo trên Science cho rằng những ngày vinh quang của khoa học đã kết thúc. Sự thật là, trong vài thập kỷ không có phát minh nào có ý nghĩa tương đương với thành tựu phát minh ra cơ học lượng tử, chuỗi xoắn kép hoặc thuyết tương đối.  Trong khi bằng chứng cho thấy khoa học đã phát triển chậm lại rất nhiều so với lượng đầu tư về thời gian và tiền bạc thì các tổ chức nghiên cứu khoa học và tài trợ cho khoa học cần phải có sự thay đổi trong chính sách đầu tư cho khoa học để khoa học có thể phát triển nhanh hơn.  Thanh An theo Atlantic  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/nghien-cuu-co-ban-da-qua-thoi-hoang-kim/20181220110031900p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu cơ bản trong ngành Cơ học      Sau 5 năm trao giải thưởng Tạ Quang Bửu, năm 2019 là năm đầu tiên một nhà nghiên cứu ngành Cơ học nhận được giải thưởng này. Kết quả này không chỉ là thành công của riêng một tác giả – PGS. TSKH Phạm Đức Chính, mà còn là sự ghi nhận trưởng thành trong nghiên cứu cơ bản của ngành Cơ học Việt Nam.      Cơ học không chỉ là ngành giao thoa giữa Toán học và Vật lý, mà còn là nền tảng của các ngành kỹ thuật như hàng không, cơ khí, xây dựng, giao thông, công trình thủy và đặc biệt hiện nay là kỹ thuật y sinh và điều khiển tự động hóa. Do đó, cũng có thể nói rằng cơ học đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng trong lĩnh vực tự nhiên và kỹ thuật. Cơ học đã được phát triển từ thời các nền văn minh cổ đại, tuy nhiên những đóng góp được xem là đặt nền tảng cho sự phát triển của ngành cơ học chính là ba định luật cơ bản về chuyển động của Newton ở thời cận đại. Đến nay, nhiều nhánh cơ học đã được phát triển tương đối toàn diện như cơ học vật rắn biến dạng, cơ học vật liệu, cơ học chất lỏng, cơ học đất đá, cơ học rạn nứt, cơ điện tử, cơ học điều khiển tự động, cơ học y sinh… và đặc biệt là cơ học lượng tử.     Cơ học Việt Nam được đánh dấu bằng sự thành lập Viện Cơ học Việt Nam vào ngày 10/4/1979 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở phòng Cơ học thuộc Viện Khoa học Việt Nam, và sau đó là sự thành lập của Hội Cơ học Viêt Nam năm 1982. Trong 40 năm qua, ngành Cơ học đã bắt đầu có được đóng góp vào sự phát triển chung của nền khoa học công nghệ và công nghiệp sản xuất, khi từng bước đưa những kết quả nghiên cứu cơ bản vào ứng dụng thực tiễn của đời sống xã hội. Những ứng dụng cơ học nổi bật có thể kể đến trong lĩnh vực cơ học môi trường biển (nghiên cứu và khai thác năng lượng biển, xây dựng cơ sở dữ liệu về biển, tính toán thủy triều, nước dâng do bão từ đó đề xuất các giải pháp chống xói lở và xâm nhập mặn…), cơ học thủy khí (nghiên cứu dòng chảy nhiều pha trong ống ứng dụng trong khai thác dầu khí, nghiên cứu an toàn thủy nhiệt lò phản ứng hạt nhân và nhà máy điện nguyên tử, xây dựng mô hình thủy lực số mô tả và dự báo quá trình truyền triều, xâm nhập mặn, đề xuất giải pháp tổng thể dự báo phòng tránh lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long…), Cơ học vật rắn (tính toán thiết kế, chẩn đoán máy và kết cấu công trình, nền móng, các dàn dàn khoan ngoài biển, chế tạo vật liệu composite), Cơ điện tử và Tự động hóa (thiết kế và chế tạo hệ điều khiển các sản phẩm Cơ điện tử – Robot, nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ tự động hóa trong điều khiển các dây truyền sản xuất, hệ thống thiết bị và công nghệ xử lý tín hiệu cơ, điện, vô tuyến điện…).  Đó là thành công chung của cơ học Việt Nam, tuy nhiên cũng có thực tế là nghiên cứu cơ bản trong ngành Cơ học ở giai đoạn trước khi Quỹ NAFOSTED tụt hậu nhiều so với các lĩnh vực kế cận là Toán và Vật lý. Khi đó, các nghiên cứu có công bố quốc tế chỉ là những cố gắng đơn lẻ của một số nhà khoa học tâm huyết. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các nghiên cứu ứng dụng nêu trên. Tình hình chỉ thay đổi từ khi Quỹ NAFOSTED hình thành và đi vào hoạt động với chính sách đầu tư cho nghiên cứu cơ bản mới hiệu quả, minh bạch và hướng tới chuẩn mực quốc tế. Trên nền tảng đó, ngành Cơ học đã bắt đầu có chuyển biến tích cực với trên 360 bài báo quốc tế ISI, trong đó có 57% bài thuộc top ½ trên của Q1 và bắt đầu trở thành là một trong những ngành có chất lượng công bố tốt của NAFOSTED. Thông qua 189 đề tài được Quỹ tài trợ, ngành Cơ học đã tham gia đào tạo gần 100 tiến sỹ và hơn 150 Thạc sỹ. Từ năm 2009 đến nay, trong khoảng 190 lượt chủ nhiệm đề tài được tài trợ, tuổi đời bình quân là 36,5 tuổi, trong đó lực lượng tiến sỹ trẻ tốt nghiệp từ nước ngoài về chiếm đa số.  Vì vậy, công trình đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2019, ‘Duc Chinh Pham. Consistent limited kinematic hardening plasticity theory and path-independent shakedown theorems’, là sự ghi nhận những đóng góp nổi bật và quan trọng của nghiên cứu cơ bản ngành Cơ học, đặc biệt sự nỗ lực và thành tích nghiên cứu xuất sắc của tác giả, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực phân tích giới hạn và thích nghi của kết cấu.  Trong tính toán phân tích và thiết kế công trình, việc xác định giới hạn chịu tải của kết cấu chịu tải trọng thay đổi và tận dụng tối đa độ bền của vật liệu đóng vai trò rất quan trọng, và được các kỹ sư thiết kế các công trình thực tiễn quan tâm sâu sắc. Trong hai phương pháp chính xác định tải giới hạn, phương pháp phân tích từng bước (step-by-step, incremental) đòi hỏi người kỹ sư phải cung cấp lịch sử truyền tải và nhiều thông số vật liệu phức tạp, do đó việc ứng dụng phương pháp trong thực tiễn còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, phương pháp phân tích trực tiếp (direct analysis, limit and shakedown analysis) dựa trên định lý cận trên và cận dưới có thể cung cấp nhanh và chính xác về tải giới hạn và cơ cấu phá hoại, và chỉ dựa trên các thông số vật liệu cơ bản như ứng suất dẻo của vật liệu, góc nội ma sát… Melan và Koiter, hai nhà khoa học nổi tiếng trong Cơ học, đã đề xuất định lý cận dưới và cận trên và được áp dụng rộng rãi trong phân tích giới hạn và thích nghi của kết cấu. Trên cơ sở đó, tác giả Phạm Đức Chính đã tiếp tục phát triển mới các định lý cận dưới và cận trên tách mode, giúp cho việc tính toán thuận lợi hơn đồng thời giúp cho người kỹ sư nhận diện chính xác được mode phá hoại để từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế phù hợp. Trong công trình này, tác giả đã tổng quát hóa và hoàn thiện các định lý tách mode và đặc biệt tác giả đã chứng minh rằng tải giới hạn của kết cấu không phụ thuộc vào đường tái bền động học và được xác định dựa trên hai thông số tái bền quan trọng là ứng suất dẻo ban đầu và ứng suất dẻo cực hạn. Điều này có ý nghĩa ứng dụng rất quan trọng trong phân tích và thiết kế công trình trong thực tiễn, giảm chi phí tính toán và độ phức tạp khi thực hiện mô hình phân tích và đưa thông số đầu vào của vật liệu, tải trọng cơ sở.  Trong thời gian tới, để đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, chung ta cần xây dựng nguồn lực cho các hướng nghiên cứu liên quan nhiều đến thực nghiệm và tính toán cho các bài toán có quy mô lớn như: Cơ học tính toán hiệu năng cao và các hệ máy tính hiệu năng cao (High Performance Computering); kết cấu thông minh; hệ thống thu hoạch năng lượng (Energy Harvesting System); xe không người lái, công nghệ chế tạo bồi đắp; phương pháp và trang thiết bị kiểm tra, đánh giá không phá hủy (NDT); nghiên cứu về hệ thống Haptics, thực tế ảo tăng cường và hỗn hợp, nhân bản số (digital twin)…, đồng thời cần có chính sách liên kết mạnh mẽ giữa trường viện và doanh nghiệp, tạo hành lang thông thoáng để các cơ sở nghiên cứu thực hiện ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Trong xu thế hội nhập khoa học công nghệ với thế giới, ngành Cơ học đã xây dựng lực lượng nghiên cứu đủ năng lực để thực hiện các hướng nghiên cứu dựa trên nền tảng cuộc cách mạng 4.0, đặc biệt cho 5 hướng thế mạnh: vật liệu thông minh đa chức năng; robot; chẩn đoán sức khỏe kết cấu hay cơ hệ; nghiên cứu về hệ thống điều khiển thông minh, trí tuệ nhân tạo và cơ học tính toán. Sự quan tâm và những cơ chế chính sách để phát huy hết nội lực để giải quyết các vấn đề thực tiễn và phần phát triển đất nước trong giai đoạn mới luôn là mong mỏi của lực lượng nghiên cứu ngành Cơ học  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc-thuong-thuc/nghien-cuu-co-ban-trong-nganh-co-hoc/2019053003239160p160c921.htm    Author                Lê Văn Cảnh        
__label__tiasang Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene người Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên      Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam có mối liên hệ với nhau như thế nào? Dù được các nhà dân tộc học và lịch sử bàn thảo suốt một thời gian dài nhưng vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ. Và những nghiên cứu đầu tiên về đa dạng di truyền hệ gene ở người Việt Nam của Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) có thể hé mở một phần câu trả lời.        Ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu, hay Tày Thái cổ… đều là ‘Yue’ (Bách Việt). Nghiên cứu hệ gene ty thể của nhóm GS Nông Văn Hải cũng đã cho thấy điều này. Trong ảnh: Trống đồng Ngọc Lũ và hoa văn trên trống đồng. Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam.   Ký ức tộc người và “ký ức” hệ gene người     Cuộc thảo luận về nguồn gốc người Việt dường như chưa bao giờ dứt trên nhiều diễn đàn và luôn sẵn sàng được hâm nóng lên khi được xới lại. Thực ra đây không phải là chuyện “trà dư tửu hậu”, mà trong giới học thuật, tính đa dạng tộc người và nguồn gốc tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa đã được các nhà dân tộc học và tiền sử học đào bới cả trăm năm qua, như GS Peter Bellwood1 (ĐH Quốc gia Úc), nhà nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á từng cùng các nhà nghiên cứu Việt Nam công bố các nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn nhận định. Vấn đề này không dễ dàng ngã ngũ để đi đến kết luận, rất dễ gây hiểu lầm và chia rẽ, do một tình trạng phổ biến trong nghiên cứu tiền sơ sử và nguồn gốc tộc người là thiếu dữ liệu – những gì các nhà khoa học đang có hiện nay mới chỉ là những mảnh ghép khác nhau của một “bức tranh” khổng lồ đã chìm vào quá khứ.    Theo dòng hồi ức của các dư dân thời hiện đại và giả thiết của các nhà dân tộc học thì tổ tiên của 54 dân tộc (và có thể nhiều nhóm địa phương trong đó), nay được sắp xếp thuộc 5 ngữ hệ đã có vô vàn hướng dịch chuyển, cộng cư trong quá khứ. Chẳng hạn, nhiều cư dân thuộc các tộc người ở khu vực miền núi phía Bắc hoặc Tây Nguyên vẫn kể về quá trình họ đi từ phương Bắc xuống hoặc từ vùng biển phía Nam đi lên. Các nhà khảo cổ học cũng đã giải thích về sự đa dạng các nhóm người ngay trong kỷ nguyên khởi đầu lịch sử Việt Nam, như TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cho biết: những cư dân Đông Sơn và Tiền Đông Sơn từ thời khởi đầu dựng nước Việt Nam không tương ứng với một tộc người duy nhất là Kinh hay bất kỳ một tộc người khác trong thời hiện đại ngày nay, bởi trong nhận thức của các nhà khảo cổ học thế giới, “ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu (hay Tày-Thái cổ)… đều là ‘Yue’ (Bách Việt)”. Nhưng từ trước tới nay, các nhà dân tộc học và khảo cổ đang giữ những cứ liệu và các giả thiết đó mà chưa mang ra để đặt câu hỏi cho các nhà nghiên cứu hệ gene. Hầu như không ai hay biết gì về việc những quá trình giao lưu tiếp biến ấy đã được “ghi nhớ” như thế nào trên hệ gene của mỗi cá nhân ở các tộc người.    Trong khi đó, phân tích hệ gene người cổ sẽ chứng minh được điều đó, đem lại một trong những câu trả lời gần nhất cho những gì đã xảy ra trong quá khứ. Các kỹ thuật hiện đại giúp giải trình tự hệ gene từ di cốt người cổ có thể giúp bóc tách dần thông tin về nguồn gốc, lịch sử di truyền cũng như thấy được sự đa dạng, cộng cư của di cốt khai quật được theo mỗi mốc thời gian họ sinh sống. Tuy vậy, trước nay giới khảo cổ học và nghiên cứu hệ gene trong nước chưa có nhiều cơ hội trao đổi và thực hiện các nghiên cứu chung. Mãi tới gần đây, các  nhóm nghiên cứu quốc tế,  gồm các nhà di truyền ở ĐH Harvard, Hoa Kỳ, Bảo tàng thiên nhiên Copenhagen, Đan Mạch và ĐH Cambridge, Anh… đã cùng với các nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) hợp tác phân tích được di cốt người cổ ở Đông Nam Á, trong đó có người Mán Bạc2 và người Hoà Bình3 và xu hướng di cư sớm từ thời cổ đại. Những nghiên cứu này đã đưa một số dữ liệu gene người cổ tại Việt Nam vào cơ sở dữ liệu gene của thế giới – đây là căn cứ để các nhóm nghiên cứu khác lấy làm cơ sở so sánh đối chiếu sau này.    Bên cạnh đó, phân tích hệ gene ở người hiện tại có thể giúp khẳng định tính đa dạng di truyền của các tộc người hiện nay, ví dụ có thể cho biết những đặc điểm chung giữa người Kinh, Tày, Thái… so với các tộc người cụ thể khác trong cùng một nhóm tộc người (phân loại theo ngữ hệ) của mình hoặc các dân tộc thuộc ngữ hệ khác. Nhưng chính vì thiếu chia sẻ thông tin và chưa có nghiên cứu nào chung giữa các nhà khoa học xã hội với nhà nghiên cứu hệ gene người Việt Nam nên dường như câu hỏi liệu rằng hệ gene có thể lưu lại dấu vết nào cho những lần các tộc người gặp gỡ, giao thoa trong lịch sử dường như vẫn đang còn bỏ lửng.     Cỡ mẫu đủ lớn và đa dạng     Trong bối cảnh vẫn còn nhiều tranh luận ngổn ngang đó, GS Nông Văn Hải, nguyên Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm về hệ gene người Việt Nam đã đi tìm câu trả lời trong quá trình thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước (2015-2019), do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ – “Giải trình tự và xây dựng hoàn chỉnh hệ gene người Việt Nam đầu tiên làm ‘trình tự tham chiếu’ và bước đầu phân tích nhân chủng học tiến hóa người Việt Nam”4.    Giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’    Trước khi đi sâu vào chẻ từng phát hiện của đề tài, ông giải thích về một số nguyên tắc khi nghiên cứu hệ gene để trả lời cho các câu hỏi về nhân chủng học tiến hóa ở trên. Tức là, để tìm ra tính đa dạng hệ gene, khu vực phân bố địa lý của các kiểu gene và ước lượng thời điểm chúng bắt đầu xuất hiện trong quá khứ, phải phân tích trình tự hệ gene ty thể (di truyền theo dòng mẹ), vùng đặc hiệu giới tính nam của nhiễm sắc thể Y (di truyền theo dòng bố) hoặc toàn bộ hệ gene (lai giữa dòng bố và dòng mẹ). Đây là cách làm đã thành chuẩn mực phổ biến của các nhóm trên thế giới – họ có thể sử dụng lần lượt hoặc kết hợp đồng thời cả ba trình tự hệ gene trên trong các nghiên cứu về nhân chủng học tiến hóa và lịch sử di truyền ở người hiện đại hoặc kết hợp, đối chiếu với các mẫu khảo cổ học.    Làm sao để biết đâu là đặc trưng của mỗi nhóm hoặc từng tộc người? Cũng theo thông lệ, sẽ cần phân tích trình tự và so sánh với hệ gene tham chiếu trên cơ sở dữ liệu gene quốc tế để từ đó xác định các kiểu gene đơn bội đặc trưng của người Việt Nam (haplotypes – một nhóm cụ thể của gene mà con cháu thừa hưởng từ cha mẹ. Haplotype có thể đặc trưng cho một nhóm, hay một quần thể và thậm chí là một loài).    Để thực hiện đề tài, GS Nông Văn Hải đã hợp tác với giáo sư người Mỹ Mark Stoneking, Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, CHLB Đức, người dày dạn kinh nghiệm hợp tác phân tích hệ gene của nhiều tộc người, từ Thái Lan, Philipines đến các dân tộc ở châu Phi. Nhóm nghiên cứu khảo sát lấy mẫu gene các tộc người trên quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam – hơn 600 người thuộc 22 dân tộc ở năm ngữ hệ chính ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa (gồm các ngữ hệ: Nam Á, Thái – Kadai, Hmông-Miền, Nam Đảo và Hán-Tạng), đồng thời phân tích cùng với dữ liệu hệ gene của nhóm cư dân hiện đại lân cận và các tập dữ liệu gene của người ở Đông Nam Á cổ đại đã được công bố trước đây trong cơ sở dữ liệu hệ gene quốc tế.    Nhưng trong trình tự hệ gene với hơn 3 tỉ “ký tự”  của mỗi người, làm sao để xác định được sự giống và khác nhau giữa các tộc người theo cách hợp lý nhất? Nhóm phân tích dữ liệu đa hình nucleotide đơn  – SNP (single nucleotide polymorphisms), trong đó tập trung đi sâu phân tích hệ gene sử dụng công nghệ mới gene CHIP (gồm khoảng 600.000 điểm thể hiện sự khác biệt về mặt di truyền giữa các cá thể). Đây cũng là những công nghệ  mà các nhóm nghiên cứu đa dạng di truyền các tộc người trên thế giới đang sử dụng chủ yếu, bởi vì 99,9% trình tự hệ gene là hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể, tộc người trong toàn bộ loài người, GS Nông Văn Hải cho biết.    Kết quả phân tích, được xuất bản trên tạp chí Molecular Biology and Evolution5 (Q1, IF~15, thứ 2 về sinh học  tiến hóa) cho thấy “tính đa dạng tộc người phân theo ngữ hệ đã phản ánh các nguồn gốc khác nhau về đa dạng di truyền ở Việt Nam”, nghĩa là trong 22 dân tộc được khảo sát, “dân tộc này cũng có chung các đặc điểm về gene của dân tộc khác trong cùng ngữ hệ hoặc khác ngữ hệ”, GS Nông Văn Hải giải thích. Chẳng hạn, nhìn các bảng số liệu phân tích mức độ lai hỗn hợp (Admixture) có thể thấy rõ: các dải màu sắc khác nhau quy ước cho các tộc người hay ngữ hệ khác nhau  cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là phổ biến và hiển nhiên – “giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’”.      Bảng 1: Các dải màu sắc quy ước cho các tộc người trong biểu đồ này (màu giống nhau, chạy liên tục) cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là hiển nhiên. Ảnh: Nhóm nghiên cứu cung cấp.   Tạm lấy một số ví dụ cụ thể để hiểu rõ hơn cho các phát hiện trên là: các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á có nhiều đặc điểm gần về gene so với các ngữ hệ Thái – Kadai, và cũng có những điểm chung với ngữ hệ Hmong – Miền. Đơn cử về người Kinh – tộc người phổ biến ở Việt Nam và thuộc ngữ hệ Nam Á – không chỉ có nhiều đặc điểm giống với các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái – Kadai (như Tày, Thái, Nùng…) mà cũng có cả điểm giống với dân tộc xa xôi và tương đối biệt lập khác ở miền núi phía Bắc như Lô Lô, Si La, Phù Lá (thuộc ngữ hệ Hán – Tạng) hay với các cư dân ở Nam Trung Quốc, đảo Đài Loan ngày nay và nhiều dân tộc khác nữa. Trong phần “thảo luận”, nhóm tác giả khẳng định nghiên cứu này, với dữ liệu nhiều hơn và chính xác hơn, đã đưa ra phát hiện ngược lại so với công bố về hệ gene người Kinh vào năm 2019.    Mặt khác, nghiên cứu cũng phát hiện ra, có những tộc người tuy gần gũi hơn với tộc người khác về mặt ngôn ngữ (cùng ngữ hệ), nhưng lại xa nhau hơn về mặt di truyền. Có thể trong lịch sử tổ tiên của họ là những nhóm lai, nhưng sau này do ảnh hưởng văn hóa, điều kiện sống, chiến tranh… các thế hệ sau đã chuyển sang dùng ngôn ngữ của nhóm khác, hoặc là đã có sự giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người thuộc các ngữ hệ khác nhau.    Công bố này được đánh giá là đầy đủ nhất cho đến nay, sử dụng các phương pháp hiện đại trong phân tích dữ liệu hệ gene, nhằm làm rõ sự đa dạng về mặt di truyền của người Việt Nam, theo đánh giá trên trang của Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ. Điều này thực sự có ý nghĩa bởi vì trước đây, sự đa dạng di truyền của Việt Nam vẫn là một địa hạt chưa được khai phá, đặc biệt là với dữ liệu hệ gene trên quy mô lớn, bởi vì đa phần các nghiên cứu về hệ gene trước đây đều tập trung vào nhóm người Kinh. Do đó, trong trong thông cáo báo chí của Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, GS Mark Stoneking, đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu cũng đã lưu ý rằng: “Nhìn chung, chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lấy mẫu của các nhóm dân tộc khác nhau nhằm xây dựng hoàn chỉnh dữ liệu hệ gene, từ đó cung cấp những hiểu biết mới về sự đa dạng di truyền và lịch sử của một khu vực đa sắc tộc, mà Việt Nam là ví dụ điển hình”.    Những nghiên cứu này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử.    Giờ đây, các yếu tố đa dạng ngôn ngữ và đa dạng về ngoại hình (hình thái) của các cá thể thuộc các sắc tộc người Việt Nam mà “ai cũng có thể tự nhìn thấy” đã được khẳng định là có sự đa dạng về nguồn gốc di truyền. Điều này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về  sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử.     Truy ngược đồng hồ tiến hóa     Dữ liệu hệ gene không chỉ cho thấy chuyện của ngày hôm nay, mà các kỹ thuật phân tích có thể giúp “truy” dấu vết di truyền từ hàng ngàn đến hàng chục nghìn năm quá khứ. Trong đó, thông thường, các nhà khoa học trên thế giới sẽ phân tích gene đồng hồ tiến hóa và so sánh với các hệ gene tham chiếu của cư dân hiện đại thuộc các tộc người khác và của các mẫu người cổ trong cơ sở dữ liệu gene quốc tế để tìm ra các điểm bắt đầu phát sinh, rẽ nhánh. Từ đó xác định mốc thời gian giao thoa trong lịch sử của từng tộc người.    Vì thế, trước đó, vào năm 2018, cũng từ nguồn gene dùng trong nghiên cứu của Đề tài này, GS Nông Văn Hải và các đồng nghiệp đã phân tích các biến đổi trong trình tự hệ gene ty thể của người Việt Nam nhằm tìm ra dấu ấn của các lần xuất hiện và tập trung dân cư trong thời cổ đại và công bố trên tạp chí Scientific Reports, thuộc Tập đoàn xuất bản Nature6. Để phân tích tìm ra các điểm phát sinh, nhóm của ông đã giải trình tự hệ gene ty thể người Việt Nam ở trên và đối chiếu cùng với 2133 trình tự khác từ các dân tộc khác đang sinh sống ở lục địa Đông Nam Á (bao gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Tây Malaysia, Nam Trung Quốc) và Đài Loan, từ đó phát hiện được 111 dòng nhánh mới của DNA ty thể của người Việt Nam. Theo ước tính Bayesian về thời gian kết tụ (coalescence time) với 95% mật độ hậu nghiệm cao nhất (Highest Posterior Density, HPD), nhóm đã xác định được biểu hiện gene ghi dấu sự xuất hiện của người hiện đại trong hệ gene ty thể người Việt Nam vào khoảng 50 nghìn năm trước. Kết quả này đã khẳng định các giả thiết khảo cổ học về mốc xuất hiện của con người trên lục địa Đông Nam Á vào khoảng thời gian này.      GS Nông Văn Hải (trái) và GS Mark Stoneking trong Hội thảo quốc tế do Viện Nghiên cứu hệ gene tổ chức năm 2017. Ảnh: NVCC.    Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã phát hiện được đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt.     Nhưng trên hết, GS Nông Văn Hải nhắc đi nhắc lại rằng những gì mà ông và các đồng nghiệp trong nước và quốc tế làm mới chỉ là các nghiên cứu bước đầu. Các câu trả lời cho các giả thiết về đa dạng di truyền, nguồn gốc các tộc người hay các vấn đề cụ thể về bệnh học tộc người sẽ ngày càng đầy đủ lên khi các nhà nghiên cứu bổ sung thêm các mẫu ở các tộc người khác nhau, với cỡ mẫu lớn hơn. Đây là lý do mà nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những bộ dữ liệu hệ gene người rất đồ sộ, thậm chí đã xuất hiện các “câu lạc bộ” các nước mà chính phủ đã đầu tư nghiên cứu giải trình tự hàng trăm ngàn đến cả triệu hệ gene người.□     Tài liệu tham khảo  1 The search for ancient DNA heads east, Science, 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 31-32. DOI: 10.1126/science.aat8662  2 Mark Lipson et al, Ancient genomes document multiple waves of migration in Southeast Asian prehistory, Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 92-95 DOI: 10.1126/science.aat3188 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/92  3 Hugh McColl et al, The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 88-92 DOI: 10.1126/science.aat3628 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88.full  4 Đề tài mã số ĐTĐL.CN-05/15, do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.  5 Dang Liu, Nguyen Thuy Duong, Nguyen Dang Ton, Nguyen Van Phong, Brigitte Pakendorf, Nong Van Hai, Mark Stoneking, Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity, Molecular Biology and Evolution, msaa099, https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099  (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ)  6 Duong, N.T., Macholdt, E., Ton, N.D. et al. Complete human mtDNA genome sequences from Vietnam and the phylogeography of Mainland Southeast Asia. Sci Rep 8, 11651 (2018). https://doi.org/10.1038/s41598-018-29989-0 (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ).    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của phóng xạ phát ra từ nhà máy điện hạt nhân      Bước đầu góp phần đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực an toàn bức xạ và hạt nhân&#160; là một trong những kết quả mà nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) đạt được khi thực hiện đề tài KC-05.04/11-15 “Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của phóng xạ phát ra từ nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 trong điều kiện hoạt động bình thường và khi xảy ra sự cố, tai nạn theo các cấp độ khác nhau”.       Với yêu cầu phục vụ cơ quan pháp quy Việt Nam trong đánh giá phát thải phóng xạ của NMĐHN Ninh Thuận 1 sử dụng công nghệ VVER-1000, cung cấp số liệu tính toán phân bố liều bức xạ trong điều kiện làm việc bình thường và đánh giá phát thải phóng xạ, xây dựng bản đồ phân bố liều bức xạ, kế hoạch ứng phó sự cố trong một số kịch bản tai nạn giả định xảy ra tại NMĐHN Ninh Thuận 1, Viện Khoa học & Kỹ thuật hạt nhân đã được Bộ KH&CN giao thực hiện đề tài KC-05.04/11-15 “Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của phóng xạ phát ra từ nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 trong điều kiện hoạt động bình thường và khi xảy ra sự cố, tai nạn theo các cấp độ khác nhau” thuộc chương trình KH&CN cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015: Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng (KC-05).   Nghiên cứu phát tán phóng xạ bằng bộ phần mềm của cơ quan pháp quy Mỹ  Đây là đề tài nghiên cứu với phạm vi chuyên môn rộng, đòi hỏi sự tham gia của các chuyên gia và cán bộ nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, từ vật lý hạt nhân, công nghệ NMĐHN, an toàn bức xạ và đánh giá tác động môi trường, khí tượng học. TS. Nguyễn Tuấn Khải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật hạt nhân được giao nhiệm vụ chủ nhiệm đề tài, GS.TS. Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về an toàn bức xạ và đánh giá tác động môi trường, được mời với vai trò cố vấn khoa học của đề tài. Với thời gian thực hiện 3,5 năm (từ 1/2012 đến tháng 6/2015), đề tài đã hoàn thành ba mục tiêu quan trọng: 1. Đánh giá an toàn bức xạ đối với dự án NMĐHN Ninh Thuận 1 dựa trên yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu đầu vào, vận hành và làm chủ bộ phần mềm NRCDose72 do Cơ quan Pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ cung cấp trong trường hợp NMĐHN vận hành bình thường, 2. Xây dựng các kịch bản tai nạn tại NMĐHN Ninh Thuận 1 theo thang sự cố/tai nạn hạt nhân quốc tế (INES), từ đó thu được các kết quả đánh giá số hạng nguồn phóng xạ phát thải, đánh giá các hậu quả tai nạn dựa trên các đặc trưng khí tượng và địa hình của vùng Ninh Thuận, xây dựng bản đồ phân bố liều và đề xuất kế hoạch ứng phó sự cố tùy theo cấp độ tai nạn. 3. Bước đầu góp phần đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực an toàn bức xạ và hạt nhân dựa trên yêu cầu nghiên cứu mô hình tính toán và đánh giá vận chuyển, phát tán chất phóng xạ trong môi trường. Các kết quả thu được trong khuôn khổ đề tài có thể hỗ trợ Cơ quan Pháp quy Việt Nam trong đánh giá an toàn và thẩm định báo cáo phân tích an toàn (SAR) đối với dự án ĐHN Ninh Thuận 1.  Quy trình đánh giá liều bức xạ đối với dân chúng mà nhóm nghiên cứu thực hiện đã được thực hiện theo hướng dẫn chặt chẽ của Cơ quan Pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ (USNRC), bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ điện hạt nhân sử dụng, vềkhí tượng thủy văn và địa hình, về phân bố dân cư, sản lượng trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản, chế biến sữa… Tất cả số liệu này được thu thập và xử lý để xây dựng bộ số liệu đầu vào cho các tính toán số hạng nguồn phóng xạ phát thải và phân bố liều bức xạ trong bán kính 80 km từ vị trí nhà máy trên cơ sở sử dụng bộ phần mềm tiêu chuẩn NRCDose72 do Trung tâm Ứng phó sự cố (NRA) trực thuộc USNRC cung cấp, bao gồm các phần mềm LADTAP2, GASPAR2, XOQDOQ, và hai phần mềm khác GALE86 và RASCAL4.3. Đây là bộ phần mềm mà NRA đã dùng để cấp phép cho các dự án nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới NMĐHN, gần đây nhất được sử dụng vào việc đánh giá an toàn bức xạ cho dự án NMĐHN của Hàn Quốc xây dựng ở Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). Bản quyền phần mềm do NRA trao đã cho phép nhóm nghiên cứu có thể sử dụng cho 4 copy, 4 máy tính với thời gian vĩnh viễn, thậm chí nếu phát triển tính năng mới, NRA sẽ gửi bản cập nhật để các nhà nghiên cứu Việt Nam kịp thời bổ sung, chỉnh sửa. Từ việc xử lý dữ liệu trên bộ phần mềm NRCDose72, các kết quả đánh giá cho phép kết luận: công nghệ lò phản ứng VVER được xem xét lựa chọn đối với dự án NMĐHN Ninh Thuận 1 đáp ứng các yêu cầu an toàn phóng xạ đối với con người và môi trường trong điều kiện làm việc bình thường theo quy định của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.     Sách chuyên khảo “Đánh giá phát tán phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1”, một trong những sản phẩm của đề tài nghiên cứu.  Để tìm hiểu số hạng nguồn và nghiên cứu phát tán phóng xạ trong trường hợp xảy ra tai nạn NMĐHN, nhóm đề tài đã xây dựng 4 kịch bản tai nạn giả định đối với NMĐHN Ninh Thuận 1 từ cấp độ 4 đến 7 theo thang phân loại cấp độ sự cố/tai nạn quốc tế (INES). Kịch bản được xây dựng dựa trên các hiện tượng và sự cố tiêu biểu vẫn thường xảy ra với các NMĐHN trên thế giới như mất nước tải nhiệt vùng hoạt (LOCA), nứt (vỡ) đường ống trong hệ thống tải nhiệt, sự cố mất nguồn điện lưới (SBO). Các kết quả thu được bao gồm phân bố hoạt độ và liều bức xạ, tỉ số nồng độ tương đối D/Q, xây dựng cácbản đồ phân bố hoạt độ phóng xạ và liều bức xạ, đề xuất quy hoạch vùng bảo vệ khẩn cấp (PAZ), vùng lập kế hoạch bảo vệ khẩn cấp (UPZ), vùng cấm dân cư (EBA) và kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân. Đây là các số liệu cần thiết đối với Cơ quan pháp quy tham khảo, sử dụng trong phân tích an toàn vàtrong việc hoạch định các kế hoạch ứng phó khẩn cấp khi có tai nạn hạt nhân xảy ra cũng như hỗ trợ đánh giá mức rủi ro, thiệt hại trong xem xét tính khả thi, hiệu quả kinh tế cùng mối tương quan với an toàn hạt nhân, bảo vệ bức xạ của dự án NMĐHN.  Quá trình thực hiện đề tài cho thấy vai trò hết sức quan trọng của số liệu quan trắc khí tượng trong môi trường khí và số liệu đo đạc thủy văn, dòng chảy ở môi trường biển Ninh Thuận. Đây là các số liệu có yếu tố quyết định đến độ chính xác trong đánh giá kết quả tính toán cả về giá trị và hướng quỹ đạo di chuyển. Trong giai đoạn tới khi chúng ta tích cực hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho hai dự án ĐHN Ninh Thuận thì việc bổ xung thiết bị đo cho các trạm quan trắc đã có, xây dựng thêm một số trạm quan trắc để có được cơ sởsố liệu theo yêu cầu như hướng gió, tốc độ gió, bức xạ mặt trời,độ mây, nhiệt độ tại một số độ cao tiêu chuẩn tại hai vị trí NMĐHN Ninh Thuận 1 và 2.  Những đề xuất  Song song với việc chuẩn bị cho các dự án xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1 và 2, chúng ta cũng cần xây dựng năng lực nghiên cứu đánh giá đối với tác động từ các chương trình phát triển năng lượng hạt nhân của các nước láng giềng. Theo dự kiến trong thời gian 2015-2016, Trung Quốc đưa vào vận hành 2 lò phản ứng CPR-1000 với công suất 1080 MW thuộc dự án NMĐHN tại thành phố cảng Phòng Thành, Quảng Tây. Vị trí nhà máy chỉ cách thành phố Móng Cái, Quảng Ninh khoảng 60 km. Điều này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu vấn đề phát tán phóng xạ và đánh giá tác động môi trường đối với nước ta do phát thải phóng xạ từ NMĐHN Phòng Thành trong trường hợp nhà máy hoạt động bình thường và khi xảy ra sự cố/tai nạn. Từ suy nghĩ này, nhóm đề tài đề xuất một số nội dung nghiên cứu và công việc cần triển khai trong thời gian tới:  – Nghiên cứu đánh giá và thu thập các tham số kỹ thuật đặc trưng của công nghệ lò phản ứng CPR-1000, cần thiết để xây dựng cơ sở số liệu đánh giá số hạng nguồn phóng xạ phát thải;  – Xây dựng trạm quan trắc khí tượng tại một số tỉnh giáp biên giới để có được cơ sở số liệu khí tượng cần thiết cho nghiên cứu phát tán;  – Thu thập và xử lý số liệu địa hình từ NMĐHN Phòng Thành đến các tỉnh biên giới của nước ta;  – Xây dựng trạm quan trắc phóng xạ môi trường tại một số tỉnh biên giới (đã có trong dự án mạng quan trắc và cảnh báo phóng xạ quốc gia);  –  Nghiên cứu xây dựng một số kịch bản tai nạn giả định tại NMĐHN Phòng Thành;  Để xây dựng kế hoạch tổng thể trong triển khai và thực hiện các đề xuất nói trên cần có sự phối hợp và chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo ba đơn vị trong ngành năng lượng nguyên tử của Bộ KHCN là Viện NLNTVN, Cục ATBXHN và Cục NLNT.             Khi đi vào hoạt động NMĐHN sẽ thải một lượng  phóng xạ nhất định ra môi trường, chất phóng xạ khi vận chuyển trong  môi trường, lắng đọng trên mặt đất sẽ gây ra tác động có hại đối với môi  trường và sức khỏe con người. Vì thế, nghiên cứu quá trình vận chuyển,  phát tán các chất phóng xạ phát thải từ NMĐHN, đánh giá liều bức xạ đối  với dân chúng trong điều kiện nhà máy vận hành bình thường là yêu cầu  rất cấp thiết, mang tính pháp quy đối với một dự án NMĐHN.                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu điều trị bỏng bằng công nghệ sinh học      Bên cạnh cấp cứu, điều trị phục hồi chức năng, phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ sau bỏng, việc nghiên cứu khoa học, trong đó nghiên cứu điều trị bỏng bằng công nghệ sinh học, là một trọng tâm hoạt động của Viện Bỏng Quốc gia và đã đạt được nhiều kết quả khả quan.    “Không có nghiên cứu bỏ ngăn kéo”  24 tháng Chạp vừa qua, một vụ nổ gas ở Hưng Nguyên, Nghệ An khiến 42 người bị thương, 35 người được chuyển đến Viện Bỏng Quốc gia. Những ngày Tết, đội ngũ bác sĩ, y tá vẫn tất bật, đích thân GS Lê Năm, Viện trưởng Viện Bỏng Quốc gia chỉ đạo việc chữa trị. Đến nay hơn 20 bệnh nhân trên đã được ra viện, số còn lại đang được ghép da.           Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong đến thăm và chúc Tết gia đình GS Lê Năm- Viện trưởng Viện Bỏng QG        Đó chỉ là câu chuyện “thường ngày” ở Viện Bỏng Quốc gia. Hằng năm, Viện Bỏng tiếp nhận khoảng 3.000 bệnh nhân bỏng do đủ các nguyên nhân, mức độ khác nhau. “Hơn nửa số bệnh nhân bỏng là trẻ em. Nguyên nhân chủ yếu là nước sôi, sau đó đến lửa, điện. Đặc biệt bỏng tăng mạnh vào mùa hè, nhất là bỏng điện do trẻ thả diều, câu cá dưới đường điện cao thế… Và 1/4 số bệnh nhân nhập viện bị bỏng sâu” – TS Nguyễn Viết Lượng, Trưởng phòng hành chính tổng hợp đồng thời là người điều hành các đê tài nghiên cứu của viện, cho biết –  “Trước đây những ca bỏng sâu rất dễ tử vong, do hồi đó thiếu những loại thuốc đặc hiệu. Thuốc nhập khẩu rất hiếm và đắt”.  Có lẽ hơn đâu hết nhu cầu nghiên cứu, tìm ra những loại thuốc tốt, dễ sản xuất, giá thành phù hợp lại đặt ra hằng ngày, hằng giờ như ở đây. Vì thế cùng với việc chữa trị, nghiên cứu khoa học được xem là một hoạt động trọng tâm ở Viện Bỏng Quốc gia. GS Lê Năm cho biết: “Hơn 70% số thuốc của Viện là kết quả của các đề tài nghiên cứu. Viện chúng tôi hầu như không có những nghiên cứu bỏ ngăn kéo”.  Trước kia, bệnh nhân bị bỏng 60% coi như chắc chắn tử vong. Còn hiện nay, Viện đã cứu được những ca bị bỏng tới 80%.                  Nghiên cứu thành công nguyên bào sợi và tạo được tấm nguyên bào sợi nuôi cấy và điều trị vết bỏng (Bước âầu áp dụng đeìeu trị thành công trên 80 bệnh nhân bỏng  Không chỉ giúp điều trị bệnh nhân trong Viện, sản phẩm nghiên cứu của Viện Bỏng Quốc gia còn được dùng rộng rãi ở nhiều bệnh viện trong cả nước. Phòng thí nghiệm ĐH Oxford đã kiểm nghiệm và đánh giá rất tốt loại thuốc Maduxin do Viện sản xuất. Eupoline – loại thuốc còn mạnh hơn Maduxin  do Viện chế tạo đã được Anh và Đức đặt hàng.  Từ thuốc dân gian đến công nghệ sinh học  Từ xưa, dân gian đã dùng lá sến để đắp trị vết bỏng. Trên cơ sở đó, Viện Bỏng Quốc gia đã nghiên cứu quy trình sản xuất hàng loạt thuốc Cao lá sến (Maduxin) với đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng và hiệu quả chữa trị. 10 năm liền, Maduxin là loại thuốc điều trị “chủ lực” của Viện. Tuy nhiên nguồn nguyên liệu lá sến không phải sẵn. Loại lá này chỉ thu hoạch được theo mùa và ngày một hiếm dần do diện tích rừng bị thu hẹp. Và một nguồn nguyên liệu mới, vô cùng dồi dào được phát hiện có thể thay thế được lá sến: Cỏ lào. Cỏ lào vốn mọc hoang ở một số tỉnh miền Trung, trước kia tác dụng duy nhất của nó là làm phân xanh. Qua nghiên cứu, cỏ lào đã trở thành nguyên liệu cho thuốc Eupoline điều trị rất hiệu quả. “Mặc dù đã có tác dụng rất tốt, chúng tôi vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để khử màu đen, làm thành thuốc mỡ, vì người châu Âu rất sợ bôi ‘cao’ lên vết thương” – TS Lượng nói. Bên cạnh tác dụng chữa bỏng, Eupoline còn chống viêm, phù nề.  Song nghiên cứu điều trị bỏng bằng công nghệ sinh học mới chính là hướng nghiên cứu trọng tâm để điều trị của Viện. Chính vì thế hai đề tài cấp Nhà nước mà Viện tham gia đều có nội dung nuôi cấy tế bào. Theo thống kê, khoảng 3% bệnh nhân bỏng nhập viện bị tử vong. Nếu bệnh nhân bỏng nhẹ, diện tích vết bỏng nhỏ, các tế bào xung quanh tự phát triển và dần dần phủ kín vết thương. Nhưng nếu trường hợp bỏng sâu thì buộc phải cấy ghép da. Trong đó có việc tìm kiếm các loại da thay thế da tự thân và màng sinh học thay thế da tạm thời trong điều trị. Mặc dù da tự thân là vật liệu lý tưởng, nhưng trong nhiều trường hợp, da tự thân không đủ đáp ứng hoặc thể trạng bệnh nhân không cho phép lấy… Vì vậy, việc tìm kiếm các loại da và màng sinh học thay thế da tạm thời trở thành phương pháp hiệu quả hơn cả. “Đối với diện bỏng sâu trên 50%, không thể lấy da ở những nơi khác trên cơ thể bệnh nhân ghép vào vùng vết thương. Chỉ còn cách sử dụng công nghệ mô để nuôi cấy thành những lớp tế bào, sau đó cấy ghép lên vết thương mới có cơ hội cứu chữa được” – TS Lượng cho biết. Ngoài chữa bỏng, nguyên bào sợi còn để điều trị những vết loét do chiếu xạ, các di chứng của tiểu đường… mà phương pháp điều trị truyền thống không làm được.  Nuôi cấy tế bào sợi đã khó, tìm ra được màng nền phù hợp cho tế bào sợi còn khó hơn, bởi loại màng nền “chính hiệu” rất đắt. Một tấm màng nền có diện tích bằng bàn tay (khoảng 100 cm2) có giá lên tới xấp xỉ 1.000 USD. Có lẽ chỉ rất ít số bệnh nhân của Viện (mà phần lớn ở nông thôn) có thể chi trả được. Mà không có màng nền thì rất khó có thể ghép tế bào nuôi cấy lên vết bỏng. Sau một thời gian tìm tòi, nhóm bác sĩ nghiên cứu của Viện nhận ra loại màng nền phổ thông Tegaderm cũng có tác dụng như loại màng nền “xịn”, giá thành 100cm2 chỉ khoảng 300.000 đồng. Đến nay, đã có hàng trăm bệnh nhân bỏng được cứu chữa bằng việc cấy ghép nguyên bào sợi.  Tiếp theo của nuôi cấy tế bào sợi là nuôi cấy tế bào sừng. Đây là quá trình đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật và công nghệ cao hơn. Hiện Viện đang triển khai hợp tác với Singapore trong việc chuyển giao công nghệ này. Kết quả nghiên cứu ban đầu rất khả quan. “Nếu thành công, cấy ghép tấm nguyên bào sợi và tấm nguyên bào sừng với nhau, Viện Bỏng Quốc gia sẽ tạo ra được da nhân tạo” – TS Lượng nói. Ưu điểm của việc cấy ghép da nhân tạo là khả năng làm lành vết thương nhanh, hạn chế sẹo lồi, sẹo co kéo, hạn chế được những di chứng hoạt động bệnh lý, giảm nguy cơ nhiễm trùng. Vì được nuôi cấy sẵn từ trước nên chỉ cần một hai ngày có thể đáp ứng được việc ghép da cho bệnh nhân mà không phải chờ đến vài tuần.  Sau thành công của việc nuôi cấy nguyên bào sợi và nguyên bào sừng, các bác sĩ nghiên cứu của Viện còn đang thử nghiệm nuôi cấy và cấy ghép tế bào giác mạc. GS Lê Năm cho biết, bên cạnh dự án lập ngân hàng mô, Viện sẽ còn đẩy mạnh nghiên cứu tế bào gốc. Với hai phòng thí nghiệm mới trị giá hơn 16 tỷ đồng do Bộ KH&CN đầu tư đang thử nghiệm và sẽ đi vào hoạt động vào giữa tháng 3 này, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu để điều trị ở Viện Bỏng Quốc gia sẽ còn nhanh chóng và hiệu quả hơn nữa.  Ảnh trên cùng: Kỹ thuật lọc máu liên tục điều trị êệnh nhân nhiễm khuẩn nhiễm độc bỏng nặng    Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu huyền thoại để hiểu hơn về xã hội Việt Nam      Phân tích huyền thoại được xây dựng xung quanh những không gian mới như mạng xã hội cho tới những biểu tượng, lễ hội truyền thống – đang ngày càng mở rộng quy mô đến tầm quốc gia như vua Hùng, lễ hội đền Hùng sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về bản chất của các hiện tượng xã hội, về cách bản sắc xã hội đang được kiến tạo và bồi đắp như thế nào để tham dự vào các diễn ngôn chính trị-xã hội, văn hóa của thời đại.      Hội thảo giới thiệu cuốn sách “Việt Nam: Huyền thoại và thực tế”. Ảnh: Công Minh.  Huyền thoại tạo ra ý thức tập thể  Huyền thoại không chỉ là những câu chuyện như truyền thuyết Âu Cơ – Lạc Long Quân hay Rùa thần đòi gươm của Lê Lợi. Huyền thoại theo nghĩa hẹp là các câu chuyện thiêng, hư cấu trong quá khứ để giải thích nguồn gốc của vũ trụ và cuộc sống hoặc diễn đạt những giá trị đạo đức của các nền văn hóa, còn theo nghĩa rộng, huyền thoại là những gì mà chúng ta tưởng là “hiện thực” ngay trong xã hội đương đại như “niềm tin về mạng xã hội” hay “niềm tin/ hình ảnh về Việt Nam” trong mắt người nước ngoài. Và việc phân tích các huyền thoại có tính đương đại góp phần hiểu được về thực tế, cách xã hội đang vận hành.   Cách tiếp cận theo nghĩa rộng đó là trọng tâm xuyên suốt được đặt ra trong cuốn sách “Việt Nam: Huyền thoại và thực tế” do một nhóm các nhà nghiên cứu Đức và Việt Nam xuất bản năm 2018 tại Đức (Jörg Wischermann và Gerhard Will chủ biên do Cơ quan giáo dục công dân liên bang Đức xuất bản). Nội dung cuốn sách cũng được giới thiệu và thảo luận tại trường ĐH KHXH&NV Hà Nội vào ngày 21/3, với sự tài trợ của Viện Konrad Adenauer, Đức.  Theo GS. Jörg Wischermann, Viện Nghiên cứu Toàn cầu và khu vực tại Đức, tiếp cận ‘huyền thoại’ (myths/mythos) theo nghĩa rộng sẽ nghiên cứu cả những “niềm tin phổ biến” được lưu truyền mà trong đó có thể có cả sự thật và tưởng tượng, hư cấu về một xã hội, cả ở quá khứ và đương đại. Từ góc nhìn xã hội học, huyền thoại tạo ra một ý thức tập thể và ký ức trong những nhóm xã hội lớn, trong đó có các quốc gia, qua đó họ tạo ra sự đoàn kết nội bộ vượt ra ngoài những ranh giới lãnh thổ và không gian. Chúng truyền tải những giá trị, cảm xúc, và thúc đẩy sự hòa nhập của công dân. Chúng có thể góp phần làm suy yếu hay hóa giải những hình thức cai trị chuyên chế, nhưng ngược lại cũng có thể hỗ trợ và thậm chí củng cố quyền lực của những chế độ cai trị đó. Do vậy, việc phân tích, giải mã, có cái nhìn đa chiều về những huyền thoại sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về cách những biểu tượng, những câu chuyện, những hiện tượng xã hội đã ảnh hưởng, tác động đến đời sống xã hội, đến mỗi cá nhân như thế nào.   Mục đích của cuốn sách này nhằm mô tả sự vận hành của các huyền thoại chính trị thông qua ví dụ ở Việt Nam. Các tác giả định hình một số huyền thoại và giải thích cách thức chúng tham gia vào đời sống chính trị xã hội ở Việt Nam như huyền thoại về “Tiểu Trung Hoa” hay “Đại Việt”, về Đổi Mới năm 1986, về hình ảnh của Việt Nam đối với người Đức, tinh thần đoàn kết và phản chiến của nhân dân Tây Đức chống chiến tranh Việt Nam, huyền thoại về không gian mạng và mạng xã hội… Các tác giả cũng giới thiệu và thảo luận về khái niệm huyền thoại chính trị và vai trò của những huyền thoại này ở Việt Nam trong khung cảnh chung của khu vực và thế giới.    Khó phân biệt được “thực” “ảo”  Dưới khung phân tích đó, TS Bùi Hải Thiêm, Viện Nghiên cứu lập pháp (Quốc hội) và nhà nghiên cứu Vũ Đức Liêm, Đại học Sư phạm Hà Nội, đại diện các tác giả trong cuốn sách, đã phân tích về huyền thoại, ngộ nhận và sự thật xung quanh vấn đề mạng xã hội ở Việt Nam và quá trình kiến tạo huyền thoại Vua Hùng.   Hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống hiện đại ở Việt Nam, với khoảng 50 triệu người dùng facebook, chưa kể các mạng xã hội khác, đem tới sự bùng nổ thông tin, có lượt đọc mà hầu như không một tờ báo chính thống nào đạt được, thậm chí tác động dẫn dắt cả báo chí truyền thống. Với sức mạnh đó, ở thời kỳ đầu được đưa vào sử dụng, mạng xã hội từng được coi là “không gian bình đẳng cho các cá nhân biểu đạt tư tưởng, chính kiến của mình”, theo TS. Bùi Hải Thiêm.  “Nhưng trên thực tế, nó có thể là một mảnh đất có nguy cơ thù địch, mang lại những điều xấu, tin giả, tin thất thiệt; mạng xã hội cũng có chức năng tạo sự đồng thuận xã hội, có chức năng giám sát, theo dõi và có thể bị lợi dụng bởi các phe nhóm chính trị, các thế lực kinh tế khác nhau”…, TS. Bùi Hải Thiêm nói.   Những kỳ vọng, ảo tưởng về sức mạnh, sự bình đẳng của mạng xã hội thuở ban đầu đó chỉ là một “huyền thoại mang tính đương đại”. Nhưng tính huyền thoại và tính thực tế của mạng xã hội lại đan xen nhau, khiến người dùng khó phân biệt được đâu là thật đâu là giả. Vì vậy, TS Bùi Hải Thiêm đúc rút lại một số kết luận mang tính “giải mã”: mạng xã hội tạo thông tin và vốn chính trị xã hội hoặc phá bỏ vốn chính trị xã hội của một số người đã từng có; nó cũng giúp bộc lộ và xác định, đưa ra các kẽ hở, vết nứt của những vấn đề từ lịch sử cho tới kinh tế, xã hội; nó là chiến trường cho những cuộc chiến kinh tế, chính trị, sự nổi lên của các nhóm lợi ích khác nhau. Việc hiểu được các chiều hướng thông tin, tính ảo và tính thật của mạng xã hội sẽ giúp người dùng mạng xã hội, có công cụ để hiểu được tính “ảo” và tính “thật” của mạng xã hội, từ đó tỉnh táo hơn trước các luồng thông tin khác nhau.  Kiến tạo huyền thoại để cố kết tinh thần dân tộc  Các biểu tượng văn hóa lâu bền, quen thuộc, phổ biến cũng có thể được tạo dựng, bồi đắp với các kỳ vọng, mục đích khác nhau nhằm phục vụ các diễn ngôn chính trị qua các thời kỳ lịch sử, mà biểu tượng vua Hùng là một trong những ví dụ điển hình, theo nhà nghiên cứu Vũ Đức Liêm.   Những năm gần đây, lễ hội đền Hùng – một trong những sự kiện lễ hội lớn nhất đất nước, đón hàng triệu lượt người hành hương (năm 2017 đón tới 8 triệu lượt, trong đó chỉ riêng trong ngày lễ hội 10-3 là 1 triệu người, theo báo Nhân dân1) và là một cuộc hành hương lớn nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Người dân đổ về đền Hùng trong những ngày chính hội thường xuyên được các báo lớn trong nước mô tả ở tình trạng “chen lấn kinh hoàng”, “hỗn loạn” hay “đền Hùng thất thủ”.      Huyền thoại tạo ra một ý thức tập thể và ký ức trong những nhóm xã hội lớn, trong đó có các quốc gia, qua đó họ tạo ra sự đoàn kết nội bộ vượt ra ngoài những ranh giới lãnh thổ và không gian. Chúng có thể góp phần làm suy yếu hay hóa giải những hình thức cai trị chuyên chế, nhưng ngược lại cũng có thể hỗ trợ và thậm chí củng cố quyền lực của những chế độ cai trị đó.      Sự thờ cúng, niềm tin đó của đông đảo hàng triệu người dân Việt Nam là thật, nhưng hình tượng vua Hùng không phải là một sự thật lịch sử, mà là một thành quả của quá trình kiến tạo. Từ khoảng thế kỷ 14 – 15, Lĩnh Nam chích quái – văn bản đầu tiên, sớm nhất hiện còn của người Việt về thời đại Hùng Vương với lời tựa nói rằng nó được ghi chép, nhặt nhạnh lại từ các sách vở và chuyện dân gian ã xác lập một phả hệ 18 đời vua Hùng, bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên. Văn bản này đã trở thành “nguyên liệu” đầu tiên mang tính lịch sử (cho Đại Việt sử ký toàn thư và các văn bản sau đó), để sau này huyền thoại này tiếp tục được thêu dệt và tưởng tượng.   Đến thời kỳ hiện đại, trong những năm 1960-1970, các nhà sử học Việt Nam đã liên tục sản xuất nhiều tri thức mới, có tính hệ thống về thời kỳ Vua Hùng. Trong bối cảnh mới hiện nay, với sự thay đổi về chính sách tôn giáo ở Việt Nam, trong khuynh hướng các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt được đẩy mạnh, ảnh hưởng của huyền thoại Vua Hùng ngày càng mạnh mẽ hơn.  Từ một huyền thoại được xây dựng trong lịch sử, niềm tin về Vua Hùng ngày càng được củng cố và đi sâu vào đời sống văn hóa xã hội. Với việc Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, với hàng loạt nỗ lực của chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương, lễ hội Vua Hùng đã được hành chính hóa, quốc gia hóa và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một dân tộc duy nhất (người Kinh) mà còn ảnh hưởng đến các tộc người khác nhau. Từ một địa điểm thờ cúng tại Phú Thọ, hiện nay trong khắp cả nước đã có tới 1500 địa điểm thờ cúng Vua Hùng. Các khu vực miền núi vùng sâu vùng xa, những tộc người thiểu số trước đây không có cùng chung huyền thoại lập quốc với người Kinh cũng thờ cúng vua Hùng. Hình ảnh những kiến trúc đền thờ Vua Hùng vừa có nét cong của mái đền người Việt ở vùng đồng bằng vừa có nét giống với nhà rông đang ngày càng phổ biến ở Tây Nguyên.    Ghi chép về vua Hùng trong Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Thư viện Quốc gia, bản R.6.  Có thể nói, việc củng cố biểu tượng Vua Hùng là một biểu hiện của việc “tái xác lập bản sắc (identity) mới cho văn hóa Việt Nam”, nhà nghiên cứu Vũ Đức Liêm nói.   Thảo luận vai trò, ý nghĩa của các huyền thoại, TS. Nguyễn Văn Thủy, Khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV Hà Nội cho rằng, hình tượng Vua Hùng được gắn với một bối cảnh rộng lớn hơn, đó là việc xây dựng và củng cố tính thống nhất của một quốc gia dân tộc. Không chỉ vua Hùng mà gần đây các huyền thoại khác như Trần Hưng đạo, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bà Triệu… đều được nói lên rất nhiều. Mặt khác, từ sau Đổi mới tới nay, việc nở rộ quảng bá về vua Hùng hay các huyền thoại khác còn liên quan đến sự phát triển bùng nổ về kinh tế và sự nở rộ các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.   TS. Phạm Lê Huy, khoa Đông Phương học, trường Đại học KHXH&NV Hà Nội lại lo ngại về tính khả thi việc giải mã, phủ định các huyền thoại: “Nếu trong truyền thuyết có yếu tố hư cấu như vậy, chúng ta có thể phủ định tất cả các chi tiết của truyền thuyết đó hay không?”. Anh lấy ví dụ từ các nền văn minh khác ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á cho đến các nước phương Tây cũng có các huyền thoại. Chẳng hạn trong cuốn Cổ sự ký của Nhật Bản, có nhắc tới nhiều vị thần hư cấu, nhưng vậy chúng ta có thể phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của cuốn sách đó hay không. Hay liệu có thể phủ định hết nhiều vị anh hùng, vị thần, có yếu tố hư cấu truyền thuyết về thành Troy?  Khẳng định việc xây dựng huyền thoại như huyền thoại lập quốc, huyền thoại về loài người là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử trên thế giới, nhưng GS.TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng trường Đại học KHXH&NV Hà Nội nhận định, các thảo luận được đặt ra trong cuốn sách là rất mới mẻ và cần thiết – để từ đó hiểu thêm về lịch sử cũng như nhiều hiện tượng trong xã hội hiện đại mà chúng ta chưa giải thích được. Ông lưu ý, các thảo luận này mang tính “công cụ” – đem lại cách thức diễn giải khác nhau về lịch sử nhiều hơn là khẳng định và đi tìm một chân lý, một lịch sử đúng đắn duy nhất.   Các tác giả cuốn sách cho biết, các nghiên cứu này không phải để nhằm phá hủy, phủ định hay hạ thấp các giá trị trong xã hội, chỉ đơn giản là đưa ra các góc nhìn mới về các ‘niềm tin phổ biến’. Từ đó phân tích tri thức về các huyền thoại, các giá trị đó từ đâu ra, được kiến tạo như thế nào, vận hành ra sao và ai là người đứng đằng sau thúc đẩy và các động lực của nó là gì. Việc nghiên cứu khoa học thẩm định các diễn ngôn lịch sử sẽ giúp đem lại cái nhìn tỉnh táo về truyền thống, bản sắc và quá trình nó được kiến tạo. □  ——–  Chú thích:   1 http://nhandan.com.vn/hangthang/item/32743402-gio-to-hung-vuong-nam-2017-don-gan-tam-trieu-luot-du-khach.html       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nghiên cứu mới cho thấy sự đa dạng di truyền của người Việt Nam      Sự đa dạng về ngôn ngữ và dân tộc của Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng đối với khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia, với địa hình đa dạng, và khả năng tiếp cận các dòng di cư nhờ có khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Mekong, cùng đường bờ biển dài.      Nghiên cứu cho thấy, những khảo cứu trước đây chỉ tập trung vào hệ gene của người Kinh sẽ không thấy hết được tính đa dạng di truyền. Ảnh: Người Hmông ở Bắc Hà. Nguồn: Worldbank.  Người hiện đại (về mặt giải phẫu) đã có quá trình định cư ở khu vực Đông Nam Á lục địa từ ít nhất 65 nghìn năm trước và gắn liền với sự hình thành của một nền văn hóa săn bắn hái lượm – Văn hóa Hòa Bình. Kể từ thời kỳ đồ đá mới (khoảng 4.000 – 5.000 năm trước), quá trình đa dạng hóa và tiếp biến văn hóa diễn ra liên tục, và cuối cùng kết quả là sự đa dạng văn hóa đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á lục địa ngày nay.    Theo Tổng cục Thống kê, tổng số dân của Việt Nam là hơn 96 triệu người gồm 54 dân tộc chính thức, chủ yếu thuộc năm ngữ hệ chính: Nam Á (Austro-Asiatic – AA), Nam Đảo (Austronesian – AN), Hmông-Miền (Hmong-Mien – HM), Thái – Kadai (Tai-Kadai – TK) và Hán-Tạng (Sino-Tibetan- ST).  Tuy nhiên, sự đa dạng di truyền của Việt Nam vẫn là một địa hạt chưa được khai phá, đặc biệt là với dữ liệu hệ gene trên quy mô lớn, bởi vì đa phần các nghiên cứu về gene trước đây đều tập trung vào nhóm người Kinh.  Mới đây, trong một bài báo vừa được công bố trên tạp chí Molecular Biology and Evolution1 (Q1, IF~15, xếp top 2 về sinh học phân tử và tiến hóa), GS Nông Văn Hải, Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam và GS Mark Stoneking, Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa và các đồng nghiệp đã phân tích dữ liệu mới đa hình đơn phân tử (single nucleotide polymorphisms – SNP) trên toàn bộ hệ gene của người Kinh và 21 dân tộc khác ở Việt Nam, thuộc cả năm ngữ hệ chính ở Đông Nam Á, cùng với dữ liệu đã được công bố trước đây từ nhóm cư dân lân cận và các mẫu vật cổ.  “Chúng tôi phát hiện thấy các nhóm ngôn ngữ ở Việt Nam có nguồn gốc khác nhau về sự đa dạng di truyền”, GS. Nông Văn Hải, đồng tác giả liên hệ của công bố cho biết. Dang Liu, tác giả đầu của công bố giải thích thêm: “Tuy nhiên, đa dạng về ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với đa dạng di truyền, đã có sự tương tác gần gũi giữa các nhóm người Hmông-Miền và Thái – Kadai. Ngoài ra, có thể đã có giao lưu văn hóa giữa các tộc người, bởi một số nhóm thuộc ngữ hệ Nam Á đã chuyển sang nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Nam Đảo”.   Các nhà khoa học cũng phát hiện bằng chứng cho thấy nhóm người Kinh, vốn đã được tập trung nghiên cứu trước đây, có thể không phản ánh sự đa dạng di truyền của người Việt Nam nói chung. Trong các nhóm người Việt Nam hiện nay, các tộc người trong một ngữ hệ hầu hết được xếp vào cùng một nhóm. Trong các ngữ hệ này, các nhóm Hán-Tạng, H’Mông-Miền và Thái – Kadai hầu hết đều tách riêng so với các nhóm Nam Á và Nam Đảo. Nhìn chung các dân tộc ở Việt Nam có những đặc điểm cho thấy mối quan hệ gần gũi với các nhóm ở khu vực  ngày nay là Đài Loan và miền Nam Trung Quốc.  “Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lấy mẫu của các nhóm dân tộc khác nhau nhằm xây dựng hoàn chỉnh dữ liệu hệ gene, từ đó cung cấp những hiểu biết mới về sự đa dạng di truyền và lịch sử của một khu vực đa sắc tộc, mà Việt Nam là ví dụ điển hình”, GS Mark Stoneking đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu nói. “Trái với các nghiên cứu trước đây cho thấy nguồn gốc bản địa của người Việt Nam, chúng tôi tìm thấy bằng chứng về sự giao thoa rộng rãi, trong các khoảng thời gian khác nhau, giữa người Việt Nam và các nhóm khác.” Trong phần “thảo luận”, nhóm tác giả khẳng định nghiên cứu này, với dữ liệu nhiều hơn và chính xác hơn, đã đưa ra phát hiện ngược lại so với một công bố về hệ gene người Kinh năm 2019.  Đây được xem là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến nay, sử dụng các phương pháp hiện đại trong phân tích dữ liệu hệ gene, nhằm làm rõ sự đa dạng về mặt di truyền của người Việt Nam.   Anh Thư dịch  Nguồn: Study reveals rich genetic diversity of Vietnam  —  1 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32344428/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới của các nhà kinh tế học giúp đưa ra mức án tù hiệu quả hơn      Những kẻ phạm tội có vì cái lợi trước mắt mà đổi lấy sự trừng phạt lâu dài không?       Từ lâu các nhà kinh tế học đã đặt ra giả thiết rằng những kẻ phạm tội ít coi trọng tương lai hơn so với những công dân tuân thủ pháp luật, nhưng họ vẫn chưa tìm ra được bằng chứng xác thực cho thấy tội phạm có quan tâm đến mức độ nặng nhẹ của bản án hay không.   Một nghiên cứu mới do Giovanni Mastrobuoni, trường Đại học Essex, và David Rivers, trường Đại học Tây Ontario, thực hiện và trình bày tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Kinh tế Hoàng gia Anh vào tháng hai năm 2016 đã đưa ra những kết luận đáng lưu ý: tội phạm có coi trọng tương lai, chỉ có điều là không tới mức như người bình thường; và những bản án nặng có tác dụng răn đe, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định.   Nghiên cứu này được dựa trên một cuộc cải cách về chính sách của Italy vào năm 2006, trong đó 1/3 số tù nhân ở quốc gia này được thả ra, nhưng với một lời cảnh báo: nếu họ bị bắt quả tang phạm tội lần nữa thì phần án tù cũ chưa thực hiện sẽ được tự động gộp vào bản án mới. Như vậy, việc các phạm nhân phải chịu án nhẹ hơn hay nặng hơn trong tương lai sẽ phụ thuộc vào phần án cũ chưa thực hiện. Hai nhà kinh tế học trên kết hợp thông tin này với thông tin về tỉ lệ tái phạm để xem liệu các phạm nhân chịu án tù nặng hơn có mức độ tái phạm thấp hơn không.   Kết quả là, các nhà nghiên cứu nhận thấy các phạm nhân dường như có phản ứng trước những bản án nặng hơn. Đối với những phạm nhân từng thụ án, mức độ họ quan tâm tới những sự kiện quá khứ trong khoảng một năm trước so với hiện tại là 0,74, tức bằng 3/4 sự quan tâm đến hiện tại. Tỉ lệ này ở người dân bình thường là 0,95. Nhóm nghiên cứu cũng so sánh giữa các nhóm khác nhau và họ thấy những người có học vấn cao thường nhạy cảm với án tù nặng hơn; trong khi đó những người nhập cư và những tội phạm liên quan đến ma túy là hai nhóm “vô cảm” nhất.   Tuy có những hạn chế do tập trung vào đối tượng đã từng thụ án, song các kết luận trong nghiên cứu mới trên cũng đưa ra một số gợi ý thiết thực trong quá trình hoạch định chính sách trong việc xử án. Thứ nhất, án phạt nặng hơn phát huy hiệu quả răn đe tốt với nhóm tội phạm ma túy hơn là với nhóm tội phạm “cổ cồn trắng”. Thứ hai, án phạt nặng hơn có một số tác dụng răn đe, nhưng tác dụng này chỉ tập trung trong vài năm đầu. Ở một số nhóm tội phạm, việc ra mức án bắt buộc tối thiểu cộng thêm lời cảnh cáo là có thể tăng thêm một số năm tù nữa tùy vào tính chất phạm tội có thể có tác dụng ngăn ngừa phạm tội. Tuy vậy, với một tội phạm phải chịu án phạt tối thiểu 10 năm tù cộng thêm khả năng chịu tiếp 10 năm bổ sung, thì mức độ răn đe của 10 năm bổ sung đó còn thấp hơn mức độ răn đe của năm năm bổ sung cho một án phạt năm năm tối thiểu. Theo các ước tính trong nghiên cứu, các phạm nhân lo lắng về mức án năm năm bổ sung nhiều gấp bốn lần so với mức án 10 năm bổ sung.  Các nhà kinh tế học có thể đóng góp nhiều ý kiến giá trị trong lĩnh vực này, bởi họ có thể chỉ ra những yếu tố nào có giá trị răn đe tội phạm và mức độ bao nhiêu là phù hợp. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách cũng nên thận trọng khi vận dụng những kết quả nghiên cứu của họ, bởi tuy tội phạm có thể điều chỉnh hành vi của mình dựa trên cấp độ nghiêm trọng của án phạt và khả năng bị bắt giam trở lại, song không ai chắc chắn rằng trong mọi hoàn cảnh họ đều có suy nghĩ đó. Do đó, tìm hiểu lý do tại sao tội phạm là những kẻ chỉ biết “nghĩ ngắn hạn” có thể cũng quan trọng như việc tìm hiểu cách tuyên án hiệu quả.   Thu Trang dịch  http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2016/03/criminal-justice      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới làm sáng tỏ bí ẩn về nguồn gốc thực vật hạt kín      Nguồn gốc của thực vật hạt kín (hay thực vật có hoa) là một câu hỏi hóc búa đối với Charles Darwin. Ông đã gọi sự xuất hiện đột ngột của nhóm thực vật này trong các mẫu hóa thạch ở niên đại địa chất tương đối gần đây là một “bí ẩn”. Bí ẩn ấy càng trở nên khó hiểu hơn do có mâu thuẫn không thể giải thích được giữa các dữ liệu hóa thạch mà chúng ta có gần đây và kết quả tính toán từ dữ liệu bộ gene về thời điểm khởi nguồn của thực vật hạt kín sớm hơn rất nhiều.      Hai bông hoa hóa thạch đầu tiên được các nhà nghiên cứu Đại học Cornell phát hiện tại Chubut, Patagonia, Argentina. Nguồn: cornell.edu  Mới đây, một nhóm các nhà khoa học từ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Anh và Trung Quốc có thể đã giải được bài toán ấy. Theo nghiên cứu mới được công bố của họ trên tạp chí Nature Ecology & Evolution, thực vật hạt kín thực sự bắt đầu xuất hiện từ kỷ Jura hoặc trước đó, có nghĩa là sớm hơn hàng triệu năm so với bằng chứng hóa thạch lâu đời nhất đã biết. Nghiên cứu lý giải, việc không tìm thấy các mẫu hóa thạch thực vật hạt kín lâu đời hơn có thể là do xác suất hóa thạch thấp và sự khan hiếm của nhóm thực vật này ở thời điểm ban đầu.  “Nhóm thực vật hạt kín đã có một thời gian dài bị ‘lép vế’ so với loài dương xỉ và nhóm thực vật hạt trần – những loài cây thống trị hệ sinh thái cổ đại. Điều này làm tôi nhớ đến cách các loài động vật có vú hiện đại đã sống lẩn khuất trong một thời gian dài dưới thời đại của khủng long, trước khi trở thành những loài chủ đạo của thế giới động vật hiện đại”, tiến sỹ Daniele Silvestro từ Đại học Fribourg, Thụy Sĩ và là tác giả chính của công bố, cho biết.  Cho đến nay, thực vật hạt kín, bao gồm hầu như tất cả các loài cây trồng giúp con người duy trì cuộc sống, là nhóm thực vật đa dạng và phong phú nhất trong hệ sinh thái hiện đại, vượt xa số lượng của các loài dương xỉ và thực vật hạt trần. Dữ liệu hóa thạch cho thấy, sự áp đảo này đã diễn ra từ cách đây 80 – 100 triệu năm, trong khi chúng ta vẫn cho là các loài thực vật hạt kín ban đầu ít ỏi và khan hiếm. Và những kết quả nghiên cứu mới đã cho thấy thực vật hạt kín đã tồn tại khoảng 100 triệu năm trước khi trở thành loài thực vật thống trị. Nghiên cứu của nhóm đã đưa ra các kết luận này dựa trên một mô hình phức tạp, sử dụng một cơ sở dữ liệu toàn cầu rất lớn về các mẫu vật hóa thạch. Cơ sở dữ liệu ấy, do tiến sỹ Yaowu Xing và nhóm nghiên cứu tại Vườn Bách thảo Nhiệt đới Xishuangbanna tổng hợp, bao gồm hơn 700 công bố khoa học với hơn 15,000 dữ liệu hóa thạch của các loài thuộc rất nhiều nhóm thực vật khác nhau, trong đó có đại diện của loài cọ, hoa lan, hoa hướng dương và đậu Hà Lan.  “Các cuộc tranh luận khoa học từ lâu đã bị phân thành hai cực giữa các nhà cổ sinh vật học – những người ước tính thời điểm xuất hiện của thực vật hạt kín dựa trên tuổi của hóa thạch và các nhà sinh học phân tử – những người sử dụng các thông tin này để hiệu chỉnh quá trình tiến hóa phân tử theo niên đại địa chất. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, các cách nhìn nhận như vậy là quá đơn giản, và các dữ liệu hóa thạch cần phải được diễn giải cụ thể”, đồng tác giả, tiến sỹ Christine Bacon từ Đại học Gothenburg ở Thụy Điển cho biết. “Các dữ liệu hóa thạch không thể được hiểu theo ‘nghĩa đen’ và sử dụng để ước tính thời điểm xuất hiện thực tế của một nhóm thực vật nào đó. Thay vì làm vậy, chúng tôi phải phát triển các mô hình tính toán mới và sử dụng mô phỏng máy tính thì mới có thể giải quyết được bài toán này một cách có cơ sở”.  Đồng tác giả, giáo sư Alexandre Antonelli, Giám đốc Khoa học tại Vườn Bách thảo Hoàng gia, Kew ở Anh, cho biết thêm: “Việc biết được thực vật hạt kín từ một nhóm thực vật nhỏ trở thành nền tảng của hầu hết các hệ sinh thái trên cạn cho chúng ta thấy rằng: thiên nhiên liên tục vận động. Và bởi vậy, các tác động tiêu cực của con người lên khí hậu và đa dạng sinh học cũng có thể dẫn đến viễn cảnh: các loài vật quan trọng trong tương lai sẽ rất khác với những loài thân thuộc với chúng ta hiện nay”. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-unravels-darwin-abominable-mystery.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới về tác động của mặt trời      Một nghiên cứu mới đây đã đặt ra câu hỏi về tác động của mặt trời đối với chuyện thay đổi khí hậu trái đất    Viết trong tạp chí Nature, các khoa học gia từ Mỹ và Châu Âu nói rằng những thay đổi về ánh sáng của mặt trời chỉ có tác động tối thiểu lên hiện tượng trái đất nóng lên trong 300 năm qua. Họ tuyên bố rằng các hoạt động của con người trong việc đốt các loại nhiên liệu hoá thạch mới đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng nhiệt độ trái đất.  Những người hoài nghi về vai trò của con người trong việc làm thay đổi khí hậu toàn cầu thường chỉ ra rằng mặt trời mới là nguyên nhân tại sao trái đất lại nóng lên.  Những người ủng hộ quan điểm này lý luận rằng nhiệt độ thay đổi trên trái đất là có liên hệ trực tiếp với việc gia tăng các hoạt động của mặt trời; họ cho rằng mặt trời sáng hơn thì sẽ làm trái đất nóng hơn, đặc biệt trong vòng 100 năm qua.  Giờ đây các nhà nghiên cứu từ Châu Âu và Hoa Kỳ đã đánh giá xong các dữ liệu về khí hậu và mặt trời trong vòng một thiên niên kỷ qua. Họ có khả năng đánh giá tác động của mặt trời bằng cách đo một dạng nguyên tử mà các hoạt động của mặt trời tạo ra.  Họ kết luận rằng những thay đổi về ánh sáng mặt trời nói chung ít có tác động tới việc gia tăng nhiệt độ của trái đất.  Theo BBC News  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới tạo tiền đề cho việc sản xuất robot “dẫn đường”      Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Scientific Reports đã cho thấy, con người – khi vừa đi bộ vừa nắm tay robot – đã căng cứng hoặc thả lỏng cánh tay của họ tùy vào những thời điểm khác nhau. Theo nhóm tác giả, kết quả phân tích các chuyển động này có thể giúp tạo ra các thiết kế robot dẫn đường và hỗ trợ thông minh hơn và giống với con người hơn.    “Nghiên cứu này đã trình bày phép đo và phân tích đầu tiên về độ căng cứng của cánh tay con người trong suốt quá trình tương tác với robot dẫn đường”, các nhà nghiên cứu thuộc Missouri S&T viết trong bài báo mới công bố.  Theo TS. Yun Seong Song – trưởng nhóm nghiên cứu và là Phó giáo sư ngành kỹ thuật cơ khí và hàng không vũ trụ tại Missouri S&T, những phát hiện này là “bước đầu tiên trong việc phát triển một con robot có khả năng tương tác như người thật với con người”.  TS. Yun Seong Song bên cạnh robot tương tác Ophrie. Nguồn: techxplore.com  Trong thực tế, con người thường xuyên giao tiếp với nhau mà không cần dùng đến lời nói hoặc thậm chí là tín hiệu hình ảnh khi thực hiện một số hoạt động nhất định, chẳng hạn như giúp người khác đi bộ hoặc khi cùng nhau nhảy một điệu valse. Trong bài báo mới công bố, các nhà nghiên cứu đã mô tả cụ thể các lực xuất hiện khi robot dẫn con người đi theo ba hướng đi khác nhau.  “Thoạt nhìn, tương tác vật lý là một hoạt động vận động mà trong đó sự trao đổi lực sẽ do các đặc tính thụ động của thực thể tương tác quyết định”, Song nói. “Tuy nhiên, nếu xem xét cách con người thực hiện những tương tác này, bạn sẽ nhận ra rằng con người phải liên tục xử lý thông tin và đưa ra quyết định để suy đoán ý định của đối phương. Khám phá được cơ chế ấy sẽ giúp chúng ta thiết kế ra những con robot có khả năng tương tác mượt mà với con người trong tương lai”.  “Ngay cả khi không chia sẻ mục tiêu một cách rõ ràng, con người vẫn có thể tương tác vật lý với nhau để cùng thực hiện hoạt động phối hợp”, nhóm nghiên cứu viết trong bài báo.  Sử dụng robot tương tác mới phát triển có tên Ophrie, nhóm nghiên cứu đã thực hiện thí nghiệm mô phỏng hoạt động đi bộ do robot dẫn đường. Trong thí nghiệm này, những người tham gia được yêu cầu nhắm mắt lại và nắm tay cầm trên cánh tay của robot trong suốt quá trình đi bộ. Trong khi đó, Ophrie (viết tắt của Tương tác vật lý giữa người và máy trên mặt đất) đã được lập trình để di chuyển theo đường thẳng trong 1,5 mét đầu tiên, sau đó sẽ đi chệch hướng sang bên trái hoặc bên phải hoặc tiếp tục đi thẳng. Thông qua các tín hiệu xúc giác được truyền qua tay cầm, người tham gia sẽ cảm nhận sự chuyển động của robot. Mười người tham gia vào nghiên cứu đều thuộc độ tuổi 25, trong đó có 9/10 người là nam, một người thuận tay trái và không có ai mắc các bệnh về rối loạn thần kinh.  Nhóm nghiên cứu đã đo lường độ căng cứng của cánh tay con người ở hai thời điểm trong quá trình đi bộ: khi robot đi theo một trong ba hướng khác nhau (lúc này con người chưa biết rõ về đường đi tiếp theo); và khi đi đến cuối quãng đường (lúc này con người đã biết chắc chắn hơn về đường đi của robot).  “Chúng tôi quan sát thấy rằng, cánh tay của người tham gia sẽ thả lỏng hơn vào những thời điểm mà họ không biết robot sẽ đi tiếp như thế nào so với khi có thể dự đoán trước đường đi”, nhóm nghiên cứu viết. Điều này cho thấy “bằng chứng đầu tiên về việc điều chỉnh độ căng cứng của cánh tay giúp giao tiếp vận động tốt hơn trong các tương tác vật lý trên mặt đất”.  Theo TS. Song, việc hiểu được các tương tác này giữa người và robot có thể giúp cải thiện các thiết kế robot, từ đó mở ra khả năng ứng dụng robot tương tác trong chăm sóc người cao tuổi, vật lý trị liệu và các lĩnh vực khác.  “Những con robot này sẽ có thể giúp công nhân xây dựng mang vác các vật nặng hoặc giúp người già di chuyển dễ dàng hơn từ phòng ngủ đến phòng ăn giống như con người vậy. Chúng tôi muốn tạo ra những robot hoạt động hiệu quả, an toàn, dễ sử dụng và giao tiếp cùng, trong khi vẫn duy trì được các tương tác với con người”, TS. Song chia sẻ.  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-11-human-robot-interactions-early-future-robot.html    Author                .        
__label__tiasang Nghiên cứu phòng chống COVID-19: Những chuyện chưa kể      Trong ba đề tài của Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ khẩn cấp trong tháng 2/2020 để phòng chống dịch COVID-19, trừ đề tài sản xuất bộ kit xét nghiệm của công ty Việt Á từng rầm rộ trên truyền thông, hai đề tài còn lại, dù cũng có những đóng góp quan trọng, lại ít được biết đến.    Hiểu về đặc điểm dịch tễ của virus     Vào ngày 22/1/2020, một người đàn ông phải vào cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy tại TP.Hồ Chí Minh vì bị sốt cao sau bốn ngày tới Việt Nam từ Vũ Hán, nơi đang bùng phát một dịch bệnh viêm phổi vẫn còn nhiều bí ẩn trên thế giới. Kết quả xét nghiệm cho thấy ông đã bị mắc căn bệnh đó (lúc bấy giờ còn chưa có tên chính thức, mới chỉ gọi là 2019-nCoV) dù không hề đến chợ hải sản, được cho là nguồn lây bệnh. Kì lạ hơn, con trai ông – sống ở Long An, trước đó không đến cũng như tiếp xúc với bất kì ai khác đến từ vùng có dịch ngoài cha mình, cũng bị nhiễm bệnh.     Phát hiện này được công bố bởi nhóm nghiên cứu kết hợp giữa bệnh viện Chợ Rẫy và Viện Pasteur TP.HCM trên tạp chí New England of Journal Medicine (NEJM) vào ngày 28/1/2020. Đây là công bố đầu tiên trên thế giới cho thấy virus Sars-CoV-2 lây từ người sang người. Trước đó, người ta mới chỉ đặt ra giả thuyết rằng virus này có thể lây từ động vật sang người.       Ông Ngô Quốc Nam (phải), người sáng lập PhuSa Biochem, là một Việt kiều người Pháp có 20 năm làm tại các công ty công nghệ sinh học tiên phong của Pháp và Mỹ trước khi trở về Việt Nam lập nghiệp tại Cần Thơ. Ảnh: nhipcaudautu.vn       Trong thời kì diễn ra dịch bệnh ở Việt Nam, cái tên Viện Pasteur TP.HCM ít được nhắc đến mà công chúng nghe đến cái tên Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (NIHE) là chủ yếu. Đúng, NIHE là một trong những cơ sở đầu tiên trên thế giới nuôi cấy được Sars-CoV-2 vào đầu tháng 2/2020 và cũng là nơi, theo đánh giá của World Bank, có năng lực xét nghiệm lớn nhất Việt Nam. World Bank cũng tài trợ cho NIHE cùng với POLYVAC 6.2 triệu USD để nâng cao năng lực xét nghiệm và tầm soát COVID-19 trên cả nước. Trong cuộc chiến phòng chống COVID-19, đây là một trong những cơ quan nằm ở “tuyến đầu” với vai trò đánh giá, hỗ trợ về kĩ thuật, đào tạo nâng cao năng lực và kiểm định chất lượng cho 200 phòng lab cùng hơn 600 nhà nghiên cứu và kĩ thuật viên trên khắp các tỉnh thành trong việc xét nghiệm và tầm soát COVID-19. Nói cách khác, nếu không có NIHE, các trung tâm phòng chống dịch bệnh (CDC) trên cả nước không thể chủ động lấy mẫu, gửi mẫu hoặc tự triển khai xét nghiệm (chỉ có khoảng 20 CDC đủ điều điện) trên diện rộng khi có dịch bùng phát.     Có nguồn lực khiêm tốn hơn NIHE, Viện Pasteur TP. HCM đóng góp vào việc phòng chống dịch Covid-19 ở Việt Nam theo một cách khác. Nếu như NIHE nuôi cấy được Sars-CoV-2, bước đầu tiên để nắm được cấu trúc sinh học của virus, thì Viện Pasteur là nơi triển khai bước quan trọng tiếp theo: hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học và đặc điểm dịch tễ học của virus này. Viện Pasteur TP.HCM cũng nuôi cấy, phân lập và giải trình tự toàn gene nhưng đồng thời họ cũng điều tra đặc điểm dịch tễ học ca bệnh và sự lây truyền qua người tiếp xúc gần, khả năng đáp ứng miễn dịch của người nhiễm và sự lưu hành của virus trong cộng đồng.     Sau công bố trên NEJM, đầu tháng 2/2020, Viện Pasteur TP. HCM nhận được tài trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ cho đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và virus học bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus corona mới 2019 tại Việt Nam.” Nhờ đó, mà Viện có thể thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn về Sars-CoV-2, cụ thể là họ đã phát hiện và theo dõi được sự xâm nhập của các biến thể Nam Phi và biến thể Anh vào Việt Nam ngay từ cuối năm 2020/đầu năm 2021 và xác định các chuỗi lây truyền trong các vụ dịch.     Viện Pasteur đã có công bố trên tạp chí Journal of Medical Virology về biến thể Anh, trong đó kết quả giải trình tự gene của virus cho thấy biến chủng này có 10 đột biến ở khu vực protein gai. Bệnh nhân được mô tả trong bài báo không tiếp xúc với trường hợp nào mắc Sars-CoV-2 trước đó và mặc đồ bảo hộ khi lên máy bay, cho thấy chủng này có thể rất dễ lây lan. Hơn nữa, bệnh nhân này cũng bị tổn thương ở gan, khả năng cao là do chủng này gây ra. Viện Pasteur TP.HCM cũng đang nộp một công bố khác trên cùng tạp chí về biến chủng D614G – đoạn protein gai chung có mặt ở tất cả các chủng virus mới xuất hiện ở Ấn Độ và Nam Phi, có khả năng làm giảm hiệu lực của vaccine và các biện pháp điều trị hiện thời.     Kit xét nghiệm Covid-19     Quay lại câu chuyện về hai bệnh nhân đầu tiên bị nhiễm COVID-19 ở đầu bài viết, có một “nghi vấn”: lúc đó trong nước chưa sản xuất test kit xét nghiệm COVID-19 và vì chưa từng có ca bệnh nào nên WHO cũng chưa hỗ trợ Việt Nam sinh phẩm để xét nghiệm, làm sao để biết hai người này nhiễm Sars-CoV-2?     Lúc bấy giờ, may mắn thay, Viện Pasteur TP. HCM đã “cầu cứu” một công ty sản xuất sinh phẩm xét nghiệm Sars-CoV-2 dành cho phương pháp Real-time RT- PCR theo mẫu của WHO. Công ty đó là PhuSa Biochem. Về sau, Bộ Khoa học và Công nghệ, thông qua Sở Khoa học và Công nghệ Cần Thơ đã tài trợ khoảng hai tỉ đồng cho Viện Pasteur TP. HCM và Công ty PhuSa Biochem sản xuất một hệ thống xét nghiệm nhanh COVID-19. Trong đó, PhuSa Biochem sẽ chịu trách nhiệm phát triển sản phẩm này còn Viện Pasteur TP. HCM sẽ đóng vai trò xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá nó.     Vậy, sinh phẩm mà PhuSa Biochem cung cấp cho Viện Pasteur là gì? Và hệ thống xét nghiệm nhanh của công ty này có gì đặc biệt, có gì khác so với các sản phẩm của những công ty đang tung ra thị trường hiện nay?     Để biết được câu trả lời, chúng ta tạm quay lại câu chuyện “hơi cũ” về quy trình xét nghiệm PCR – tiêu chuẩn xét nghiệm vàng với COVID-19. Nguyên lý hoạt động của PCR là khuếch đại số lượng ADN của mầm bệnh trong mẫu bệnh phẩm để dễ phát hiện. Theo đó, trước khi đưa mẫu vào máy, các nhà khoa học sẽ “lọc” mẫu bệnh phẩm, chỉ để lại RNA (bao gồm cả RNA của virus và vật liệu di truyền của người được xét nghiệm). RNA sẽ được “chuyển mã” thành DNA. (Cũng vì thao tác này mà nhiều nơi gọi phương pháp này là RT-PCR, chữ RT – reverse transcriptase nghĩa là chuyển mã ngược) Sau đó, nhà khoa học sẽ bỏ một đoạn chuyển mã DNA của virus (vì virus chỉ là RNA) – gọi là đoạn mồi (primer) hay đoạn dò (probe) vào mẫu. Đoạn mồi hay đoạn dò này sẽ bám vào DNA của virus trong mẫu bệnh phẩm và phát sáng. Primer và probe chính là sinh phẩm mà PhuSa Biochem cung cấp cho Viện Pasteur TP. HCM để phát hiện ca bệnh đầu tiên.    Phòng thí nghiệm Viện Pasteur TP.HCM. Nguồn: VOV     Mẫu bệnh phẩm sau đó sẽ được đưa vào máy Real-time PCR hoặc PCR. Máy sẽ trải qua nhiều chu kì làm nóng – nguội mẫu bệnh phẩm và mỗi chu kì khiến số lượng DNA của virus được nhân lên gấp đôi. Và máy tính sẽ đếm tổng số DNA của virus (nhờ vào việc nó phát sáng) sau khi kết thúc mỗi chu kì. Nếu số DNA vượt quá một mức nhất định thì tức là mẫu đó có virus.     Trong khi Real time PCR hiển thị kết quả theo thời gian thực thì máy PCR truyền thống sẽ chỉ biết được kết quả cuối cùng sau khi đã hoàn thành hơn 30 chu kì. Hơn nữa, để đọc kết quả của máy PCR, người làm xét nghiệp phải thực hiện thêm bước điện di (một kĩ thuật dùng điện trường để phân tích AND) và cần mở nắp ống chứa mẫu vật. Bước này tương đối phức tạp vì vừa mất thời gian (hơn 1-2 tiếng so với phương pháp real time) mà lại còn có khả năng phát tán vật liệu di truyền của virus ra ngoài không khí, gây ra hiện tượng dương tính giả cho những lô xét nghiệm sau. Chính vì lí do này mà phương pháp PCR thường chỉ dùng trong phòng thí nghiệm, phục vụ nghiên cứu một số lượng mẫu nhỏ, còn rất khó để xét nghiệm trên diện rộng. Còn hiện nay, tất cả các phòng thí nghiệm xét nghiệm COVID-19 ở Việt Nam đều sử dụng máy Real time PCR và các bộ kit chính là bộ sinh phẩm để chạy trên máy này.     Tuy nhiên, Real time RT-PCR rất đắt đỏ (mỗi máy có giá trị lớn hơn một tỉ đồng) và đòi hỏi quy trình kĩ thuật thực hiện rất khắt khe, chỉ có một số ít phòng thí nghiệm ở Việt Nam mới có thể đáp ứng, trong khi máy PCR, giá lại rẻ hơn hàng trăm lần (chưa đầy 50 triệu/máy) và phần lớn các trung tâm y tế dự phòng ở Việt Nam đều có hoặc có thể tự trang trải được, có thể nâng cao năng lực xét nghiệm lên gấp nhiều lần.     Vấn đề là làm sao để “nâng cấp” được máy PCR ngang bằng về độ chính xác và độ tiện lợi so với máy Real time PCR. Và PhuSa BioChem làm được điều đó bằng việc tạo ra một thiết bị đi kèm gọi là SPOT CHECK. Mẫu ra khi đưa ra khỏi máy PCR sẽ đặt vào máy SPOT CHECK để đọc kết quả. Thiết bị này cho phép bỏ qua bước điện di, không đòi hỏi phải mở nắp ống đựng mẫu và giảm thời gian phân tích. Hơn nữa, PhuSa BioChem chủ động cả một hệ thống: từ máy PCR cho đến thiết bị SPOT CHECK và các sinh phẩm, PhuSa BioChem tự chủ sản xuất trong nước đến hơn 80% (và đang tiến đến 95%). Hệ thống này còn được thiết kế để phù hợp với điều kiện “dã chiến” của Việt Nam, không cần bảo quản lạnh, không cần tiêu tốn nhiều năng lượng, không cần đòi hỏi các phòng thí nghiệm đạt chuẩn an toàn sinh học cấp cao.     Những đóng góp lặng lẽ     Đề tài của Viện Pasteur chưa được nghiệm thu, nhưng kể từ khi khởi động đến nay, những nghiên cứu về dịch tễ của virus Sars-CoV-2 của Viện đã có những đóng góp quan trọng trong những quyết định chính trị đối phó với COVID-19 của Việt Nam, nhất là trong những ngày đầu chống dịch.     Trong nhiều bài báo của mình, Viện Pasteur TP. HCM đều nhấn mạnh rằng, dịch bệnh sẽ lây lan dễ dàng qua biên giới các quốc gia vì thời gian ủ bệnh của virus dài hơn nhiều so với thời gian của các chuyến bay quốc tế, nên các nước cần có biện pháp phòng dịch ngay từ cửa khẩu. Chúng ta đã biết, trong 100 ngày bùng phát dịch đầu tiên, Việt Nam chỉ có chưa đến 300 ca bệnh và không có ca tử vong nào. Và những biện pháp phòng dịch cốt lõi của Việt Nam ở thời điểm này chính là ngừng các chuyến bay đến từ vùng có dịch, áp dụng xét nghiệm và cách li nghiêm ngặt những người bay về từ nước ngoài. Nghiên cứu của Viện Pasteur cũng phần nào hỗ trợ việc quản lý điều trị các ca bệnh, đặc biệt là các ca bệnh nhẹ ở Việt Nam. Các ca bệnh này dù không nguy hiểm đến tính mạng và hầu hết có thể tự khỏi nhưng virus lưu lại trong người trong một khoảng thời gian tương đối lâu và nếu không có biện pháp cách ly và xét nghiệm bệnh nhân (kể cả sau đã khỏi các triệu chứng bệnh) thì vô hình trung họ sẽ trở thành nguồn lây trong cộng đồng. Về sau, trong nghiên cứu của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trên năm bệnh nhân mắc Sars-CoV-2 ở thể nhẹ cho thấy người mắc nhẹ nhất (không hề có tổn thương ở phổi) lại “lưu giữ” virus lâu nhất, trong hơn ba tuần. Ngoài ra, việc Viện Pasteur nhanh chóng phát hiện ra các chủng mới lưu hành ở Việt Nam cũng giúp cho Việt Nam chủ động thay đổi các tình huống phòng dịch, chẳng hạn như tăng tốc truy vết đối với các chủng lây lan nhanh, ngừng các chuyến bay từ Nam Phi và Anh vào cuối năm 2021.     Còn với PhuSa BioChem, đề tài của họ đã được nghiệm thu và đánh giá loại xuất sắc từ tháng 6/2020. Tuy nhiên, gần một năm đã trôi qua, khác với bộ kit của Việt Á đã được cấp phép sử dụng khẩn cấp, hệ thống xét nghiệm của PhuSa BioChem vẫn đang…chờ đợi Bộ Y tế bật đèn xanh. Dù vậy, sau lần hỗ trợ probe cho viện Pasteur TP. HCM vào đầu năm 2020, công ty này vẫn sản xuất và cung cấp primer và probe cho những nơi nào cần gấp ở Việt Nam. Ở Việt Nam, PhuSa BioChem có lẽ là nơi duy nhất có khả năng tự chủ sản xuất các sinh phẩm này với nguồn nguyên liệu và công nghệ trong nước. Họ vốn là nhà cung cấp primer lâu năm cho các “đại gia” công nghệ sinh học trên thế giới như Sigma, Merck…Trên thực tế, hiện nay Việt Nam vẫn đang hoặc nhập khẩu hoàn toàn, hoặc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các sinh phẩm này. Cụ thể nhất là gần đây Bộ Y tế đã “cầu viện” tổ chức y tế thế giới hỗ trợ 200.000 primer và probe cùng với hơn 300,000 nguyên liệu khác cho bộ kit xét nghiệm. Việt Nam đang trong giai đoạn chống dịch căng thẳng với số lượng xét nghiệm lên đến hơn 100.000 lượt mỗi ngày và công nghệ của PhuSa BioChem có thể là giải pháp giảm bớt gánh nặng cho hệ thống y tế công cộng.     Theo khoahocphattrien.vn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt: Một số điều đáng lưu ý      Trong Lời giới thiệu bài ‘Tổ tiên người Trung Quốc (TQ) là ai’ của Hà Văn Thùy trên website ‘Nghiên cứu quốc tế’ có viết: Những khảo cứu sai lầm và xuyên tạc sự thật của học giới TQ, cho rằng người từ châu Phi tới Hoa lục làm nên cộng đồng Bách Việt mà người Hán là trung tâm, còn Việt Nam (VN) là đám ly khai khỏi đất mẹ.          Lương Đình Vọng trình bày kết quả nghiên cứu văn hóa Lạc Việt: – Lĩnh Nam thời Tiên Tần là lãnh thổ của các vương triều Trung ương nhà Thương-Chu, chứ không phải là sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Lĩnh Nam thì vùng này mới gia nhập bản đồ TQ ; – Lĩnh Nam thời Tiên Tần tồn tại Phương quốc Tây Âu và Phương quốc Lạc Việt, được thành lập vào khoảng năm 1300 TCN ;  – Phương quốc Lạc Việt do người Lạc Việt, tức tổ tiên chung của các dân tộc Tráng, Bố Y, Đồng, Mục Lão, Lê, Thái, Thủy, Mao Nam, xây dựng.  Từ ý tưởng này, báo chí TQ có lần kêu gọi người VN “lãng tử hồi đầu” (đứa con đi hoang trở về nhà). Ông Thùy cho rằng đáng buồn là người VN không hiểu chiều sâu của ý tứ này.1  Luận điệu ‘TQ kêu gọi đứa con đi hoang VN trở về nhà’ xuất hiện trong bài ‘TQ hết lòng khuyên Việt Nam Lãng tử hồi đầu’ đăng trên ‘Nhân dân Nhật báo’ TQ ngày 19/6/2014.2 Phải chăng TQ muốn nhắc nhở người VN nhớ rằng tổ tiên các người vốn ở trong đại gia đình các dân tộc TQ, sống trên đất TQ, về sau lợi dụng cơ hội TQ loạn lạc mà tách ra thành một quốc gia độc lập; nay đã đến lúc VN nên trở về với đại gia đình xưa kia, chớ nên chống lại chính sách Biển Đông của TQ? Luận điệu này đang được giới sử học TQ chứng minh bằng các nghiên cứu của họ.  Qua đây có thể thấy một số học giả TQ đang lợi dụng những tư liệu, giả thiết sử học còn chưa rõ ràng về cộng đồng Bách Việt và Lạc Việt xa xưa, nhất là sự nhập nhèm giữa khái niệm người ‘Việt’ trong Bách Việt với người VN, và sự phụ thuộc của giới sử học VN vào các thư tịch cổ Trung Hoa để dẫn dắt dư luận TQ, VN và thế giới hiểu sai về mối quan hệ TQ-VN thời cổ đại, cho rằng VN thời xưa vốn là một bộ phận của TQ, có quan hệ khăng khít phụ thuộc vào chủng tộc và văn hóa TQ, qua đó đạt mục đích phục vụ chính sách bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán.  Dưới đây giới thiệu sơ qua một công trình nghiên cứu sử học TQ đi theo hướng trên.  Năm 2016, truyền thông TQ đưa tin về một đề tài nghiên cứu khoa học có tên ‘Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt’3 do sử gia Lương Đình Vọng đứng đầu:  ‘‘Cuộc tranh chấp Nam Hải [VN gọi là Biển Đông] không vì Phán quyết của Tòa án Quốc tế La Haye [tức phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng tài PCA năm 2016] mà thay đổi hiện trạng; phía TQ vẫn không ngừng dùng các sự thực lịch sử để trình bày chủ quyền không thể tranh cãi của TQ đối với vùng lãnh thổ này. Lương Đình Vọng tiến hành nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt trong điều kiện khó khăn và dưới sức ép lớn, ví dụ sách ‘Sử cổ đại Việt Nam’ do VN xuất bản tuyên bố thủy tổ người VN là Hùng Vương từng khai phá phần lớn vùng Quảng Tây, và lên án Tần Thủy Hoàng là kẻ xâm lược. Để phản bác luận điệu của phía VN, Lương Đình Vọng dựa vào niềm tin ‘Phải giữ gìn lãnh thổ quý giá tổ tiên ta để lại cho chúng ta’ đã tiến hành dự án kể trên với phương châm ‘dốc hết sức mình bảo vệ sự nguyên vẹn lãnh thổ của TQ’. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các tài liệu điều tra điền dã và các ghi chép trong thư tịch cổ cũng như các tư liệu khảo cổ, kết hợp nghiên cứu các sách ‘Hán thư’, ‘Sử ký’, ‘Dật chu thư’…’’.  Lương Đình Vọng (Liang Tingwang) sinh 1937, dân tộc Tráng, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Dân tộc trung ương, giáo sư, sử gia nổi tiếng chuyên về văn hóa lịch sử các dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng4, tức ngữ tộc của tộc Lạc Việt.  Tuy đã lập Nhà Bảo tàng Lạc Việt ở Liễu Châu, trưng bày hàng nghìn hiện vật khảo cổ cùng các thành tựu nghiên cứu văn hóa Lạc Việt nhưng người Tráng vẫn triển khai các nghiên cứu quy mô lớn về tổ tiên họ. Lương Đình Vọng dẫn đầu công việc này.  Sau 8 năm tiến hành, năm 2016 đề tài ‘Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt’ đã hoàn thành. Kết quả nghiên cứu in thành sách cùng tên “骆越方国研究” (xuất bản 4/2018).  Nhóm nghiên cứu đã chứng minh vùng Đại Minh Sơn ở gần Nam Ninh là địa điểm sở tại của Phương quốc Lạc Việt. Vùng đất này rất rộng, gồm các phần đất phía Nam sông Tây Giang, Tây Nam Quảng Đông, các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa (VN gọi là Pratas, Hoàng Sa, Trường Sa, bãi ngầm Macclesfield), một thời từng quản lý đến các quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức toàn bộ lãnh thổ VN thời đó.  Nhóm nghiên cứu còn chứng minh người Lạc Việt từng giương buồm đi đến tận châu Mỹ và là chủ lực khai phá ‘con đường tơ lụa trên biển’ đi qua Indonesia, Myanmar, Ấn Độ, Malacca, Sri Lanka tới Tanzania ở châu Phi.  Kết luận quan trọng nhất mà công trình nghiên cứu này đưa ra là:  Ngay từ thời Thương-Chu (khoảng năm 1300 TCN), tổ tiên chung của các dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng là người Lạc Việt đã xây dựng một chính quyền địa phương gọi là ‘Phương quốc Lạc Việt’ ở vùng Lĩnh Nam5, và tuân theo lệnh của các vương triều trung ương, ‘Phương quốc’ này đã khai phá và quản lý vùng Lĩnh Nam  và Nam Hải.      Trống đồng khai quật trong quá trình nghiên cứu.  Ở đây vương triều trung ương là vương triều của người Hoa Hạ (về sau gọi là người Hán) ở vùng Trung nguyên (vùng hạ lưu Hoàng Hà, nghĩa hẹp là tỉnh Hà Nam hiện nay). Quản lý có thể hiểu là cai trị.  Theo kết luận trên, 8 dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng – Đồng (Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão, Mao Nam) là hậu duệ của người Lạc Việt và từ 3300 năm trước họ đã tổ chức một nhà nước (Phương quốc); nhà nước này tuân theo lệnh của các vương triều Hoa Hạ đã khai phá và cai trị vùng Lĩnh Nam cũng như Biển Đông.  Thiết nghĩ nhận định này ít nhất có ba điểm cần lưu ý:  1- Từ năm 1300 TCN vùng Lĩnh Nam, trong đó có VN, chịu sự cai trị của Phương quốc Lạc Việt và các vương triều Hoa Hạ. Như vậy nghĩa là thời kỳ Bắc thuộc của VN bắt đầu sớm 1100 năm và kéo dài 2300 năm. Điều này trái với quan điểm của sử học TQ và VN cho rằng chỉ sau khi bị Triệu Đà chiếm [203 TCN], nước ta mới bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm.     2- Dân tộc VN không thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng (vì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác ngữ hệ Hán-Tạng), do đó không phải là hậu duệ của người Lạc Việt. Trước hết, điều này mâu thuẫn với quan điểm của chính Lương Đình Vọng khi ông cho rằng cuối thời Chiến Quốc (khoảng 220 TCN) một bộ phận người Lạc Việt di cư về phía Nam đến VN, lập ra nước Âu Lạc, là tổ tiên của người Kinh VN và làm nên nền văn hóa Đông Sơn – tức ông cho rằng người VN là hậu duệ của người Lạc Việt. Nhưng thực tế là tiếng VN hoàn toàn khác với các thứ tiếng thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng, điều đó chứng tỏ người VN là người bản xứ có từ nhiều nghìn năm trước, không phải là người Lạc Việt di cư; bởi lẽ người Lạc Việt không thể sáng tạo được tiếng VN trong thời gian hơn 2200 năm.      Hai tập bộ sách ‘Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt’.  3- Từ 3300 năm trước, người TQ cổ đại đã khai thác và quản lý Biển Đông. Điều này mâu thuẫn với quan điểm của sử học TQ cho rằng người TQ chậm chinh phục biển, đến thế kỷ XV mới có chuyến thám hiểm hàng hải đầu tiên của Trịnh Hòa (1405-1433).  Dư luận TQ cho rằng kết luận của dự án ‘Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt’ có ý nghĩa tượng trưng cho sự giữ gìn chủ quyền lãnh thổ của TQ. Chính Lương Đình Vọng đã nói TQ muốn giải quyết vấn đề Nam Hải (tức độc chiếm Biển Đông) thì phải coi trọng nghiên cứu văn hóa Lạc Việt, điều đó có liên quan tới an ninh văn hóa quốc gia, an ninh vùng biển và lãnh thổ TQ. Để bảo vệ chủ quyền của TQ ở Nam Hải, ngoài việc xây dựng lực lượng hải quân hiện đại còn phải tăng tốc nghiên cứu văn hóa lịch sử, đặc biệt văn hóa Lạc Việt. Ý kiến này hoàn toàn ăn nhập với chủ trương TQ có chủ quyền bên trong ‘Đường 9 đoạn’ trên Biển Đông.  Theo chúng tôi, kết luận nghiên cứu nói trên chỉ là sự hưởng ứng chính sách bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán thời nay, mâu thuẫn với quan điểm trước đây của sử học TQ.  ***  Trong tình hình giới học giả TQ ráo riết tiến hành các nghiên cứu nhằm phục vụ mục đích chính trị bành trướng, thiển nghĩ giới sử học nước ta nên triển khai công tác nghiên cứu tương ứng nhằm bác bỏ các kết luận vô lý của họ. □  —–  Ghi chú:  [1]  nghiencuuquocte.org/forums/topic/to-tien-nguoi-trung-quoc-la-ai/  [2] http://news.ifeng.com/a/20140619/40798790_0.shtml  [3] Các thực thể chính trị độc lập ở TQ thời xưa chia 3 loại. Cổ quốc là quốc gia nguyên thủy kiểu Thành-bang thời kỳ đầu, cao cấp hơn bộ lạc. Sau đó tiến sang thời kỳ Bang quốc rồi đến thời kỳ Phương quốc, tương đương đời Thương-Chu, khi TQ có chữ Giáp cốt. Phương quốc đầu tiên xuất hiện trước đời nhà Hạ. Lạc Việt cổ quốc (chữ Tráng Latin là Luegvet) do người Lạc Việt xây dựng tại vùng Lĩnh Nam; phạm vi lãnh thổ: phía bắc từ lưu vực sông Hồng Thủy (Quảng Tây), phía tây từ đông nam cao nguyên Vân Nam-Quý Châu, phía đông đến Lôi Châu ở đông nam Quảng Đông, phía nam đến đảo Hải Nam và lưu vực sông Hồng VN. Nguồn gốc và trung tâm của văn hóa Lạc Việt là ở TQ, kinh đô ban đầu ở Vũ Minh (Đại Minh sơn, Nam Lộc) Quảng Tây.   [4] Ngữ tộc là nhóm các dân tộc có ngôn ngữ giống nhau. Ngữ tộc Tráng-Đồng (壮侗语族Zhuang-Dong group) gồm các dân tộc Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão, Mao Nam (壮, 侗, 布依, 黎, 傣, 水, 仫佬, 毛南). Ngôn ngữ của ngữ tộc này thuộc ngữ hệ Hán-Tạng. Thời xưa một bộ phận người Tráng di cư sang VN, làm nên dân tộc Tày-Nùng (岱侬), hiện có 2,7 triệu người, là dân tộc thiểu số đông nhất ở VN.   [5] Lĩnh Nam là vùng đất ở phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh, thời nhà Đường là khu vực hành chính có tên Lĩnh Nam Đạo, do vương triều TQ cai trị, trong đó có cả đồng bằng Bắc Bộ VN, đến thời Ngũ Đại (khoảng năm 900) thì VN độc lập tách ra.   [6] Dòng chữ Trung Quốc Nhân dân Ngân hàng (Zhongguo Renmin Yinhang) và 100 Yuan (Yi bai Yuan), chữ Tráng Latin viết là Cunghgoz Yinzminz Yinzhangz và it bak maenz.          Tôi thiển nghĩ rằng, để xem xét mối quan hệ giữa người VN với người Lạc Việt, có thể xem xét mối quan hệ giữa dân tộc ta với ngữ tộc Tráng Đồng, cũng như dân tộc Tráng tự nhận là hậu duệ của người Lạc Việt. Dân tộc Tráng hiện có 18 triệu người, là dân tộc thiểu số lớn nhất ở TQ.  Trước kia họ có tên chữ Hán là 僮, chữ này có hai âm đọc là [zhuàng] và [tóng], khi đọc [tóng] thì có nghĩa ‘đầy tớ trẻ con’, dễ gây hiểu lầm. Vì thế năm 1965 Thủ tướng TQ Chu Ân Lai đề nghị đổi 僮 thành 壯 [zhuàng] với nghĩa ‘cường tráng’. Năm 221 TCN quân nhà Tần chia 5 lộ xâm chiếm vùng Lĩnh Nam, riêng lộ quân phía Tây gặp sự chống trả của tổ tiên người Tráng, mãi đến năm 214 TCN nhà Tần mới chiếm được toàn bộ Lĩnh Nam. Trước đây giới sử học TQ cho rằng người Tráng tới đời Đường-Tống mới có một loại chữ vuông dựa trên cơ sở chữ Hán.  Nhưng loại chữ này mỗi vùng một khác nên khó sử dụng; trên thực tế người Tráng chủ yếu vẫn dùng chữ Hán. Năm 1955, Nhà nước TQ làm ra một loại chữ Tráng trên cơ sở chữ cái Latin; hiện đã được dùng rộng rãi. Qua mấy chữ Tráng in trên đồng bạc TQ6, có thể thấy tiếng Tráng khác tiếng VN. Trong 55 dân tộc thiểu số của TQ cũng có dân tộc VN, mà TQ gọi là dân tộc Kinh, hiện có khoảng 22.000 người, sống ở 3 đảo nhỏ ngoài biển Quảng Tây. Họ nói tiếng VN, viết chữ Quốc ngữ, tuy cũng phổ biến dùng Hán ngữ.  Dân tộc Tày-Nùng ở VN chính là con cháu của người Lạc Việt thời xưa di cư sang. Họ nói một thứ tiếng khác tiếng Việt và có phong tục tập quán khác người Việt.         Author                Nguyễn Hải Hoành        
__label__tiasang Nghiên cứu sản xuất bột trà xanh giàu polyphenol, caffeine, EGCG từ lá trà xanh camellia sinensis và ứng dụng trong thực phẩm, mỹ phẩm.      Tận dụng những lá trà xanh phụ phẩm (lá già), nhóm tác giả Trường ĐH Bách khoa TPHCM đã nghiên cứu và sản xuất thành công bột trà xanh hòa tan, có thể sử dụng thay thế chất bảo quản thực phẩm hóa học, ứng dụng trong ngành mỹ phẩm, dược phẩm.    Cây trà (chè) xanh là một trong những cây trồng mũi nhọn của các vùng trung du Việt Nam, với diện tích trên 130 ngàn ha. Tổng sản lượng trà khô được sản xuất hằng năm từ 140 -150 ngàn tấn. Lượng trà này được sản xuất từ nguyên liệu là đọt trà tươi thuộc phần non của cây trà. Vì vậy, một lượng lớn lá già ở thân cây trở thành phụ phẩm. Tuy nhiên, lá trà phụ phẩm vẫn giàu các hoạt chất như polyphenol, chất chống oxy hóa, Epigallocatechin gallate (EGCG), chlorophyll, caffeine,…  Trong đó, polyphenol có tác dụng khử các gốc tự do (được sinh ra và tích luỹ trong cơ thể, là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật và làm tăng tốc độ quá trình lão hoá cơ thể con người). Caffeine là một chất kích thích tự nhiên giúp cơ thể tăng cường sự tỉnh táo, chống lại sự mệt mỏi, cải thiện chức năng não. EGCG có đặc tính sinh học quan trọng như chống viêm, chống ung thư, kháng khuẩn, bảo vệ gan, chống lại bệnh Alzheimer và ức chế sự gia tăng glucose và triglycerid trong huyết tương,…  Nhằm tận dụng lượng lá trà xanh phụ phẩm, nhóm tác giả Trường ĐH Bách khoa TPHCM đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu sản xuất bột trà xanh giàupolyphenol, caffeine, EGCG từ lá trà xanh camellia sinensis và ứng dụng trong thực phẩm, mỹ phẩm”.    Nguyên liệu lá trà già từ Lâm Đồng Ảnh: NNC  Lá trà tươi (giống chè Kim Tuyên, tên khoa học là Camellisa sinensis var. Shan.) lấy từ huyện Bảo Lộc, Lâm Đồng, được bảo quản trong điều kiện thoáng khí, ở nhiệt độ 10-15ºC. Nhóm sử dụng phương pháp enzyme, với hỗ trợ bởi tác động của vi sóng, siêu âm, các hợp chất trong lá trà được trích ly bằng hệ dung môi ethanol-nước hoặc nước để tạo nên sản phẩm dạng bột bằng kỹ thuật sấy phun.  Từ 2kg lá ban đầu, nhóm thu được 76gr thành phẩm bột trà xanh hòa tan, có thể khuếch tán trong nước ở nhiệt độ khoảng 60ºC, dung dịch huyền phù có màu sắc chlorophyll đẹp tự nhiên, dịch không chứa chất xơ không tan. Bột trà xanh có hàm lượng Chlorophyll (mg/gck) là 6,03, Polyphenol (mg GAE/ gck) 348,71, Caffeine (μg/mg) 20,1.  Nhóm nghiên cứu đã dùng bột trà xanh để làm chất bảo quản chống oxy hóa và chống vi sinh vật cho thực phẩm chế biến như bánh bông lan, xúc xích; phối chế vào mỹ phẩm dạng xà bông tắm để tăng tính chống oxy hóa.  Cụ thể, bánh bông lan được bổ sung 1% bột trà xanh, thay cho hàm lượng chất bảo quản sorbat K 0,1%, thì để được 14 ngày ở mức nhiệt độ bình thường, đảm bảo tính ổn định của bánh và không có sự xuất hiện của vi sinh vật. Đối với xúc xích tươi, dùng khoảng 0,25% bột trà xanh thay cho nitrit K 0,016% hoặc sorbat K 0,1%, thì xúc xích để được 20 ngày (dùng bao bì hút chân không) hoặc 11 ngày (dùng bao bì không hút chân không) ở 0-4oC. Hàm lượng bổ sung 0,25% không ảnh hưởng đến mùi vị đặc trưng của xúc xích, có hiệu quả đối với vi sinh vật E.Coli, Samonella, tổng vi sinh vật hiếu khí.  GS.TS. Đống Thị Anh Đào, chủ nhiệm đề tài, cho biết, quy trình công nghệ sản xuất bột trà xanh hòa tan không phức tạp, sử dụng các thiết bị thông thường như rửa, tủ lạnh đông, nghiền ướt, phối trộn, sấy phun,… Ngoài ra, nhóm đã xây dựng bảng tiêu chuẩn chất lượng cơ sở của nguyên liệu cùng bảng tiêu chuẩn chất lượng cơ sở của sản phẩm. Đây là cơ sở để có thể chuyển giao công nghệ, sẵn sàng ứng dụng cho triển khai sản xuất quy mô công nghiệp. Vì vậy, bất kỳ nhà máy chế biến sản phẩm trà nào cũng đều có thể tiếp nhận quy trình công nghệ để ứng dụng vào sản xuất, tận dụng cơ sở vật chất hiện có mà không phát sinh nhiều chi phí.  Theo TS Đào, tổng chi phí sản xuất 1kg bột trà xanh ở quy mô phòng thí nghiệm vào khoảng 1 triệu đồng. Trong khi đó, bột trà xanh nhập khẩu từ Nhật có giá từ 1,1 triệu đồng/kg trở lên. Hiện thị trường có một số sản phẩm bột trà xanh có giá dưới 1 triệu đồng/kg, nhưng do được sấy nhiệt nên hàm lượng dưỡng chất bị giảm, không có màu xanh tự nhiên.  Đề tài nghiên cứu đã được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu trong năm nay.  Kiều Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu “sự tiến hóa trong ống nghiệm” giành giải Nobel hóa học      Frances Arnold, Gregory Winter và George Smith đã kiểm soát sự tiến hóa trong phòng thí nghiệm để tạo ra những công nghệ xanh và các loại thuốc mới.      Ba nhà khoa học: Gregory Winter (trái), Frances Arnold và George Smith cùng chia nhau giải Nobel Hóa học. Nguồn: Nature  Nghiên cứu các cách để tăng tốc và kiểm soát sự tiến hóa của các protein để làm ra những công nghệ xanh hơn và các loại thuốc đã đem lại giải Nobel hóa học cho ba nhà khoa học.  Kỹ sư hóa học Frances Arnold tại Viện nghiên cứu Công nghệ California ở Pasadena, là người phụ nữ thứ hai giành giải thưởng này sau 50 năm. Bà nhận một nửa phần thưởng trong số 9 triệu krona Thụy Điển (tương đương 1 triệu USD). Phần còn lại được chia giữa Gregory Winter tại Phòng thí nghiệm sinh học phân tử MRC ở Cambridge, Anh, và George Smith tại trường đại học Missouri, Columbia.  Arnold đã có nhiều nghiên cứu mang tính tiên phong trong quá trình “tiến hóa có định hướng” các enzyme vào những năm 1990. Bà đã phát minh ra một phương pháp để gây đột biến các vi khuẩn sản xuất enzyme, sau đó sàng lọc và lựa chọn vi khuẩn này để gia tăng tốc độ và định hướng tiến hóa của enzyme. Các enzyme, protein xúc tác phản ứng hóa học này đang được sử dụng trong nhiều ứng dụng sản xuất nhiên liệu sinh học để tổng hợp các loại thuốc.  “Sinh học có một quá trình là nguyên nhân dẫn đến tất cả sự phức tạp mà chúng ta thấy trong tự nhiên”, bà nói với Nature một cách ngắn gọn sau khi được thông báo nhận giải thưởng vào ngày 3/10. Nhưng dẫu cho tự nhiên vận hành điều đó một cách ngẫu nhiên thì các nhà khoa học vẫn biết những đặc tính hóa học mà họ muốn lấy nắm bắt từ một enzyme, và các kỹ thuật của bà giúp tăng tốc chọn lọc tự nhiên có định hướng. “Giống như sự nhân giống một con ngựa đua”.  Đột phá kháng thể   Vào năm 1985, Smith đã tiên phong sáng tạo phương pháp hiển thị trên thể thực khuẩn (phage display). Kỹ thuật này dùng một thể thực khuẩn vi khuẩn – một virus lây nhiễm vi khuẩn – như một vật chủ hiển thị một protein trên lớp vỏ ngoài của chúng, cho phép các nhà nghiên cứu tìm được các phân tử khác tương tác với protein này. Winter đã nâng cấp kỹ thuật này và phát minh các phương pháp để phát triển các kháng thể đáp ứng điều trị cho con người. Ngày nay, các kháng thể được phát triển bằng phương pháp này có thể sử dụng để trung hòa độc tố và chống lại các loại bệnh tự miễn dịch.  Adalimumab (Humira) – kháng thể nhân tạo đầu tiên, được Cambridge Antibody Technology (công ty do Winter đồng sáng lập năm 1989) khám ra và được chấp thuận điều trị bệnh viêm khớp mãn tính năm 2002. Nó cũng được dùng để điều trị bệnh vẩy nến và các chứng viêm ruột. Năm 2017, đây là loại thuốc bán chạy bậc nhất thế giới, đem lại 18,4 tỷ USD.  Hồi đó, nhiều hoài nghi dấy lên khi công ty này được thành lập, David Chiswell – người đồng sáng lập công ty – cho biết, do đó họ đã rất khó khăn khi tìm các nhà đầu tư. “Đây là một trong những công ty công nghệ sinh học đầu tiên ở châu Âu. Đó là những thời điểm rất hồi hộp bởi chúng tôi không biết là chúng tôi đang làm những gì. Và không ai trên thế giới tin rằng các kháng thể tốt thực sự.”  Những thụ thể lạnh   Arnold cũng phải đối mặt với một cuộc đấu tranh đầy khó khăn khi bà đưa ra ý tưởng protein tiến hóa trong phòng thí nghiệm, Dane Wittrup – một kỹ sư protein tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge cho biết. Tại thời điểm đó, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng họ có thể dùng máy tính và thiết kế các protein một cách hợp lý để tạo ra các chức năng đặc biệt của chúng. “Đấy là văn hóa phản đối trong thời gian đó”, ông nói. “Nhưng bây giờ, ở mức rộng hơn, định hướng tiến hóa là cách công việc được thực hiện.”  Nicholas Turner, một nhà hóa hữu cơ tại trường Manchester, Anh, đồng ý: “khá nhiều enzyme trong số các enzyme được dùng trong các ứng dụng trên quy mô thương mại đều được hình thành thông qua một số hình thức định hướng tiến hóa”, ông nhận xét.   Winter cũng trả lời Nature Biotechnology, ông may mắn bởi PTN sinh học phân tử mà ông làm việc đã trao cho ông cơ hội toàn quyền hành động để công việc của ông không cần phải loay hoay phân biệt giữa khoa học ứng dụng và khoa học thuần túy. “Có thể có nhiều khó khăn để tôi làm ra được phát minh với ngân sách đầu tư truyền thống (công trình nghiên cứu của ông có thể được coi như quá nhiều phần ứng dụng) hoặc với kinh phí đầu tư của ngành công nghiệp (công trình của ông được xem là ở giai đoạn quá sớm, và nhiều công ty không quan tâm đến những kháng thể ở ngay từ đầu)”, ông nói.     Winter cho biết, động lực khiến ông đưa kết quả nghiên cứu ra ngoài phạm vi phòng thí nghiệm và đưa vào thử nghiệm lâm sàng là từ một cuộc gặp gỡ sớm với một phụ nữ bị bệnh ung thư giai đoạn đầu – người đã nhận một phiên bản thử nghiệm một trong những kháng khể nhân tạo có khả năng chống lại một protein liên quan đến ung thư. Khi Winter cảnh báo bà là liệu pháp này có thể chưa hiệu quả, bà nói với ông là đừng quá lo lắng: bà chỉ cần sống thêm vài tháng nữa để có thể hỗ trợ người chồng cũng đang cận kề cái chết. “Tôi cảm thấy nghẹn thở vì điều đó,” Winter nói.  Trong cuộc họp báo giải thưởng, Claes Gustafsson – chủ tịch Ủy ban Nobel Hóa học 2018, lưu ý lợi ích vì con người từ công trình của các nhà nghiên cứu này: “Các nhà khoa học đoạt giải đã ứng dụng lý thuyết của Darwin trong ống nghiệm và sử dụng cách tiếp cận này để phát triển những loại hóa chất mới vì lợi ích to lớn nhất của loài người.”  Những nhà khoa học nữ đoạt giải Nobel.   Trước Arnold, người phụ nữ đoạt giải Nobel Hóa học là Ada Yonath – một nhà tinh thể học tại Viện nghiên cứu Khoa học Weizmann ở Rehovot, Israel, giành giải năm 2009 cho nỗ lực vạch ra bản đồ cấu trúc của ribosome, bộ máy phân tử sinh các protein từ mã di truyền trong các tế bào. Trước bà, nhà khoa học nữ giành Nobel là nhà tinh thể học Dorothy Hodgkin vào năm 1964. Arnold là người phụ nữ thứ 5 giành Nobel trong lịch sử giải Nobel hóa học. Năm 2016, bà đã được trao giải Millennium Technology.  Arnold cho biết “choáng váng” khi nhận được cuộc gọi từ Stockholm vào lúc nửa đêm. “Tôi phải mất một phút để trấn tĩnh.” Bà nói, bà đã nhận ra ngay từ sớm các phương pháp của mình rất hiệu nghiệm. “Rõ ràng với tôi đó là cách làm đúng, nhưng phần còn lại của thế giới lại chưa nghĩ thế.”  Và những ứng dụng yêu thích của bà về tiến hóa có định hướng đã thành hiện thực. Một trong những giấc mơ của bà là tạo ra một enzyme có thể tác động vào carbon dioxide từ khí quyển và chuyển hóa nó thành vật liệu và nhiên liệu.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06753-y    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu tế bào gốc ở Việt Nam      Thí nghiệm trị bệnh bằng tế bào gốc  Một lô chuột nhắt trắng bị chiếu xạ với liều 900R. Thông thường, lô chuột này sẽ chết sau 6 ngày; nhưng nếu được tiêm tế bào gốc, chuột có thể sống tới một tháng. Đó là kết quả thí nghiệm mới nhất của nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Nguyễn Mộng Hùng (ĐH KHTN Hà Nội) đứng đầu. “Trước đó chúng tôi đã phân lập, nhân nuôi và duy trì tế bào gốc phôi chuột được 4 tuần. Từ một vài chục tế bào gốc ban đầu, chúng tôi đã nhân lên được hàng vạn tế bào”- TS Hùng cho biết. Trong thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu đã phân lập và nhân nuôi đạt đến mật độ 106 tế bào /ml, sau đó họ tiêm dung dịch có tế bào gốc này vào ven đuôi chuột.    Vì sao tế bào gốc lại giúp lô chuột thí nghiệm bị chiếu xạ sống lâu hơn? “Tia R phá hủy các chức năng sinh học, đặc biệt các tế bào máu và mô tạo máu. Nhưng tế bào gốc được tiêm vào chuột đã có tác dụng phục hồi mô máu”- TS Hùng giải thích. “Khi tủy xương bị tổn thương thì lách tham gia vào quá trình tạo máu, thay thế một phần chức năng của tủy xương. Với lô chuột được tiêm tế bào gốc, chúng tôi đã thấy sự thay đổi cấu trúc hiển vi của mô lách – các tế bào gốc phôi đã thực sự biệt hóa thành các tế bào gốc tạo máu”  “Tế bào gốc là những tế bào cơ sở cho tất cả các cơ quan, mô và tế bào trong cơ thể. Chúng giống như những con chíp vi tính còn trắng, có thể được đặt chương trình để thực hiện một số nhiệm vụ chuyên hóa nào đó. Trong điều kiện thích hợp, tế bào gốc bắt đầu phát triển thành các mô và cơ quan chuyên hóa. Đặc tính này khiến tế bào gốc trở thành lĩnh vực đầy hứa hẹn trong việc cung cấp các tế bào cho điều trị bệnh suy giảm chức năng, như alzheimer, ung thư, pakinson, tiểu đường typ-1, các bệnh về tim mạch…”- TS Hùng giải thích thêm.  Nghiên cứu trên của TS Hùng nhằm chứng minh khả năng trị bệnh của tế bào gốc. Tuy nhiên từ thí nghiệm đến trị bệnh thực sự cho người là cả một chặng đường dài, có thể phải mất hàng chục năm nữa. Trên thế giới, việc nghiên cứu tế bào gốc để trị bệnh bắt đầu từ khoảng 30 năm trước và đến nay đã có những kết quả ban đầu (như ghép tủy để trị bệnh máu trắng).  Mấy năm trước, nhóm nghiên cứu do TS Hùng đứng đầu cũng đã thành công trong nghiên cứu “Tạo gà Ác tiềm khảm Lương phượng bằng vi tiêm tế bào gốc phôi”. Nhóm nghiên cứu đã lấy tế bào gốc phôi của gà Lương phượng, tiêm vào trứng chứa đĩa phôi của gà Ác tiềm. Giống gà mới chưa từng được tạo ra trước đó mang đặc điểm của cả hai dòng. “Theo thần thoại Hy Lạp, con vật khảm – Chimera – là còn vật đầu sư tử, mình dê, đuôi rồng. Trong sinh học, con vật khảm có cơ thể là hỗn hợp các tế bào từ hai hay vài cơ thể khác nhau cùng loài hay khác loài. Trong thực nghiệm, có thể tạo cơ thể khảm bằng cách ghép hai phôi vào nhau cho phát triển thành một cơ thể, ghép bộ phận của phôi này vào phôi khác, hoặc ghép tế bào cơ thể này vào cơ thể khác”- TS Hùng cho biết. “Các tế bào gốc sinh dục có ý nghĩa lớn cho công nghệ tạo động vật chuyển gene, vì khi nuôi cấy tế bào gốc, người ta có thể thao tác gene với chúng, thí dụ như khi ghép được các gene mã cho các protein quý vào sau promotor của gene albumin lòng trắng trứng, người ta có thể biến gà mái thành một nhà máy sản xuất protein dược liệu”.   Hiện trên thế giới đã có nhiều công ty lớn chuyển hóa về công nghệ sản xuất protein dược liệu từ trứng gia cầm như Avigenics, Viragen, TranXenoGen. Theo công ty Avigenics, sản xuất protein dược liệu từ trứng gà là phương pháp tốt sản xuất protein dược liệu tốt nhất hiện nay, “Ngay cả công ty PPL của Ian Wilmut (“cha đẻ” của cừu Dolly) cũng chuyển từ cloning cừu sang đối tượng gia cầm”- TS Hùng nói.  Những nghiên cứu khác  Công nghệ tế bào gốc của Việt Nam hiện còn một khoảng cách khá xa so với trình độ các nước tiên tiến. Vậy trở ngại nào khiến công nghệ này ở Việt Nam chưa thực sự phát triển? “Khó khăn nhất là phương pháp nuôi cấy tế bào gốc”- TS Hùng cho biết- “Chúng tôi có thể mua được thiết bị, hóa chất, tài liệu. Nhưng phương pháp thì nước ngoài không chuyển giao. Như tôi làm cho ban biên tập tạp chí “Asian – Australian Journal of Animal Science” mà khi hỏi các đồng nghiệp nước ngoài cũng không được.”  Ở Việt Nam, cùng nghiên cứu về tế bào gốc còn có nhóm nghiên cứu của TS Bùi Xuân Nguyên (Viện Công nghệ Sinh học). Nhóm nghiên cứu này đã thành công trong việc nhân bản phôi sao la. Năm 1998, nhóm nghiên cứu đã giữ lại một số mẫu tế bào từ con sao la được kiểm lâm Vườn quốc gia Bạch Mã cứu khỏi tay săn trộm. Không tìm được sao la cái để lấy trứng, họ đã lấy trứng bò, tách nhân và cấy tế bào sao la vào trứng rỗng. Qua quá trình sàng lọc, kích thích phát triển thành phôi, nhóm nghiên cứu đã tạo ra rất nhiều phôi sao la nhân bản và đông lạnh chúng ở -1960C. Trong tương lai, Viện Công nghệ Sinh học còn bảo tồn nhiều nguồn gene quý hiếm khác.  Ngoài ra còn những hướng nghiên cứu khác về tế bào gốc, như nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Thuận. Hiện TS Nguyễn Văn Thuận đang làm tại Phòng thí nghiệm Genomic Reprogramming thuộc trung tâm RIKEN-CBD (Nhật Bản). Genomic Reprogramming, hiểu theo tiếng Việt là “tái biệt hóa gene đã được biệt hóa”. Thông thường, tế bào gốc biệt hóa thành một loại tế bào như tế bào da, gan, tim… và chỉ tạo ra đúng lại tế bào đó. Nhưng ngày nay người ta đã biết một tế bào đã biệt hóa vẫn có thể tái biệt hóa (Reprogramming) để trở lại thành những tế bào gốc. Nếu nghiên cứu này thành công, người ta sẽ không cần phải sử dụng phôi nhân bản của người để tạo ra tế bào gốc.  “Nghiên cứu tế bào gốc ở Việt Nam đang rất được chú trọng” – TS Hùng đánh giá. “Việc tổ chức Hội nghị Sinh học Sinh sản Châu Á với sự trình diễn kỹ thuật nhân bản vô tính của các nhà sinh học hàng đầu Châu Á tại Hà Nội cũng khuấy động sự quan tâm của công chúng tới lĩnh vực này.”  ảnh trên: TS Nguyễn Mộng Hùng với sinh viên  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu thiên văn ở Việt Nam: NHỮNG BƯỚC ĐẦU TIÊN      Trong khuôn khổ hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) với Đại học Piere-Merie Curie, Đài thiên văn Paris, khóa học lần thứ 3 “Thiên văn vật lý, Vật lý môi trường và Khí hậu học” từ ngày 30 tháng 10 đến 3/11 đã thu hút được hơn 100 học viên đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu trong cả nước. Các học viên phần lớn là sinh viên năm cuối, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và học viên cao học.    Thiên văn vật lý vốn là một ngành khoa học không chỉ xa lạ với người Việt Nam mà ngay cả với sinh viên chuyên ngành vật lý. Hiện tại, ở một số trường đại học sư phạm trong nước cũng mới chỉ  dừng lại ở việc giảng dạy thiên văn đại cương thuần túy. Việc nghiên cứu thiên văn đòi hỏi những yêu cầu cao về mặt công nghệ mà chỉ có những nước phát triển mới có thể đáp ứng được.  Hiện ở nước ta vẫn phổ biến quan niệm thiên văn là ngành khoa học viển vông, không đêm lại lợi ích thiết thực. Đó là suy nghĩ sai lầm.  Có thể nêu lên một số tác dụng của thiên văn học: Thiên văn là ngành khoa học cơ bản. Một người hiện đại phải được trang bị đầy đủ các tri thức tiến bộ của nó. Hầu hết những người trẻ nước ta còn bị thiếu hụt những tri thức thiên văn. Đó là một sự thiệt thòi cho nhu cầu hiểu biết thế giới. Thiên văn cũng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế. Hiện công nghệ vũ trụ được ứng dụng rộng rãi và trở thành một bộ phận có vai trò chủ đạo đối với chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Các công nghệ như: vệ tinh viễn thám, vệ tinh địa tĩnh… đã giúp thay đổi toàn cảnh thế giới và được ứng dụng vào các lĩnh vực quân sự, thông tin, môi trường. Ngoài ra, kiến thức thiên văn được phổ biển rộng rãi cũng giúp ngăn chặn mê tín dị đoan.  Nhằm quảng bá ngành khoa học thiên văn ở Việt Nam, ĐHQGHN thông qua GS Nguyễn Quang Riệu (Giám đốc nghiên cứu CNRS, Đài thiên văn Paris), đã trao đổi hợp tác với Đại học Paris 6 và Đài thiên văn Paris từ nhiều năm trước. Sự hợp tác này bao gồm tổ chức các khóa học về vật lý thiên văn và vật lý môi trường tại ĐHQGHN, nhưng tham gia giảng dạy là các giáo sư đến từ các trường đại học và trung tâm khoa học lớn của Châu Âu. Ngoài ra, trong khuôn khổ hợp tác, các trường đại học ở Việt Nam có thể  gửi các  sinh viên sang theo học tại các trường đại học ở Pháp.  Giáo sư Mai Trọng Nhuận, phó giám đốc ĐHQGHN cho biết: “Chúng tôi liên kết với Đại học Paris 6, Đài thiên văn Paris đã tổ chức thành công nhiều khóa học tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, cái nôi của nền đại học Việt Nam”. Giáo sư Trần Nghi, phó hiệu trưởng  trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (ĐHKHTN) cho biết thêm: “Khóa học lần này cung cấp một cách nhìn mới về vũ trụ, sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Đây là một hoạt động khoa học bổ ích không chỉ cho các học viên, mà còn gợi mở cho các nhà vật lý, các nhà môi trường các đề tài khoa học và hợp tác quốc tế. Chúng tôi mong muốn xây dựng ĐHKHTN có ngành vật lý thiên văn đứng đầu khu vực”.  Theo Tham tán Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam thì “Việt Nam đang ghi danh vào nền khoa học toàn cầu thông qua các hoạt động như thế này”.  Ngay sau khi kết thúc khóa học, trường ĐHKHTN Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học quốc tế Pháp-Việt về Thiên văn vật lý, Vật lý môi trường và Khí hậu học với sự tham gia của các nhà khoa học Pháp. Ngoài việc trình bày các kết quả nghiên cứu mới, hai bên cũng đã trao đổi về hợp tác đào tạo giữa ĐHKHTN Hà Nội và Đại học Paris 6. Vấn đề được hai bên tập trung thảo luận khá sôi nổi là thành lập chuyên ngành thiên văn vật lý tại trường ĐHKHTN Hà Nội, trong đó có việc gửi các cán bộ trẻ sang Pháp đào tạo sau đó trở về làm hạt nhân phát triển sau này.  Theo GS Nguyễn Quang Riệu, chúng ta không nhất thiết phải trang bị những thiết bị đắt tiền, mà công việc cần thiết bây giờ là làm sao xây dựng một cung khoa học, một nhà chiếu hình vũ trụ phục vụ công chúng để phổ biến những tri thức khoa học. Ngoài ra, việc thành lập các câu lạc bộ thiên văn nghiệp dư cũng là một hoạt động thiết thực có tác dụng quảng bá hiệu quả. Ông cho biết Chính phủ Pháp đã đồng ý tài trợ các thiết bị xây dựng nhà chiếu hình vũ trụ, nhưng ở trong nước vẫn còn gặp “nhiêu khê” từ nhà chức trách nên chưa thể tiến hành. GS Piere Encrenaz, Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm Khoa học Pháp vẫn khẳng định: “Chúng tôi tiếp tục kiên trì theo đuổi xây dựng một nhà chiếu hình vũ trụ tại Hà Nội”.   Ảnh trên:  Sinh viên chuyên đề thiên văn thực tập quan sát      Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu tia vũ trụ để tìm dấu hiệu tồn tại vật chất tối      Website Livescience.com ngày 19/9 đưa tin:  Phổ kế từ tính Alpha (AMS) đặt trên Trạm vũ trụ quốc tế ISS đang bay  cách trái đất 400 km đã tiến hành phân tích 41 tỷ hạt tia vũ trụ, nhờ đó  giúp chúng ta hiểu biết hơn về vật chất tối – loại vật chất thần bí  không nhìn thấy chiếm 27% toàn bộ vũ trụ1.    Hồi năm ngoái AMS đã thu được chứng cớ về sự tồn tại của vật chất tối. Kết quả phân tích mới đây là sự đo lường chính xác nhất đối với hạt tia vũ trụ.   Ngày 18/9, phát biểu trong buổi truyền hình trực tuyến từ phòng thí nghiệm của Tổ chức Nghiên cứu hạt nhân châu Âu CERN đặt ở Thụy Sĩ, Giáo sư Học viện Công nghệ Massachusetts – ông Samuel Ting (tức Ding Zhaozhong hay Đinh Triệu Trung), người phát ngôn của Dự án AMS cho biết không những nhóm nghiên cứu AMS hiện có số liệu phân tích nhiều hơn trước đây khoảng 50% mà họ còn nghiên cứu sâu về nguồn gốc của các hạt tia vũ trụ.  Sự va chạm của vật chất tối  Vật chất tối – loại vật chất không nhìn thấy và cho tới nay chưa phát hiện thấy – là khái niệm được sử dụng để giải thích tại sao các thiên hà và thiên thể không bị vỡ tung và bay tan tác. Tất cả mọi vật chất đều sinh ra trọng lực, thế nhưng căn cứ theo tính toán thì trọng lực của các vật thể trông thấy được lại không đủ sức để làm cho vũ trụ giữ được trạng thái tụ hợp. Vì thế các nhà vật lý suy luận rằng vật chất tối tất phải nhiều gấp năm lần vật chất khả kiến thì mới có thể bảo đảm vũ trụ tồn tại được.  Nhưng khoa học hiện nay còn chưa rõ vật chất tối cấu tạo bởi các thành phần gì, và làm cách nào để trực tiếp dò tìm thấy vật chất tối. Căn cứ theo một lý thuyết đang phổ biến thì vật chất tối là do những hạt tương tác yếu có khối lượng lớn (còn gọi là hạt nặng tương tác yếu -WIMPs) hợp thành. Các nhà vật lý suy đoán là khi hai hạt WIMPs va chạm nhau thì chúng sẽ hủy diệt nhau, qua đó tạo ra một điện tử (electron) và một điện tử dương (positron) – đối tác phản vật chất của điện tử. Positron có khối lượng bằng electron nhưng mang điện tích dương, còn electron mang điện tích âm.   Vì thế ở đây chúng ta cần tới AMS và số liệu tia vũ trụ. Phần lớn tia vũ trụ được hình thành bởi các thành phần làm nên nguyên tử, gồm proton và hạt nhân nguyên tử đã bị lấy mất các electron, cũng như các positron và electron năng lượng cao. Song thực ra positron thừa quá nhiều so với electron, bởi vậy các nhà vật lý cho rằng tia vũ trụ không phải là nguồn duy nhất của positron. Họ nghĩ rằng sự va chạm giữa các hạt khó tìm thấy của vật chất tối có thể là một nguồn khác sinh ra positron.  Hiểu biết mới về vật chất tối  AMS có thể đo được mức năng lượng của từng hạt với đơn vị là GeV (gigaelectron volt), tức 1 tỷ vôn-điện tử. Căn cứ theo mô hình vật lý học thiên thể về sự va chạm của các hạt không gian, số lượng positron tương ứng với electron phải giảm đi theo sự nâng cao mức năng lượng của tia vũ trụ. Thế nhưng các số liệu mới do AMS thu lượm được lại cho thấy trên thực tế, trước khi mức năng lượng của tia vũ trụ đạt tới 275 GeV thì số lượng positron lại tăng theo sự nâng mức năng lượng đó. Chỉ khi mức năng lượng cao hơn 275 GeV thì số lượng positron mới bắt đầu giảm.  Sam Ting nói: rõ ràng là tốc độ giảm positron chậm hơn rất nhiều so với electron. Khác biệt này được giải thích là sự va chạm của vật chất tối sẽ bổ sung thêm positron. Theo ông, hiện nay khoa học chưa chứng minh được sự tồn tại của vật chất tối. Để chứng minh được điều đó, các nhà vật lý phải trực tiếp tóm bắt được loại hạt này.  Phải chờ kết quả cuối cùng   Hiện nay dựa vào kết quả quan trắc thiên văn, giới khoa học suy ra rằng có thể tồn tại vật chất tối, nhưng trong các nghiên cứu thí nghiệm về tia vũ trụ suốt nửa thế kỷ qua họ vẫn chưa phát hiện thấy chứng cớ trực tiếp về sự tồn tại của nó. Căn cứ theo các lý thuyết hiện có, khi vật chất tối va chạm nhau sẽ sinh ra một lượng positron dư thừa, vì thế việc đo lường chính xác các đặc điểm của positron sẽ có ý nghĩa rất quan trọng giúp tìm hiểu vật chất tối.  Theo kết quả nghiên cứu công bố trên tạp chí Physical Review Letters (Mỹ), các nhà khoa học đã phát hiện thấy các positron dư thừa trong tia vũ trụ có năm đặc điểm là: – sự tăng lên của tỷ lệ positron bắt đầu từ mức năng lượng 8 GeV; – về tốc độ tăng, tỷ lệ của positron trong tổng số electron và positron tăng nhanh; – ở mức 275 GeV thì positron ngừng tăng; – quá trình tăng tỷ lệ positron tương đối đều, không có các cực điểm; – nguồn positron dường như đến từ các hướng trong không gian vũ trụ chứ không cố định từ một hướng nào.   GS Ting, người từng nhận giải Nobel Vật lý năm 1976 do phát hiện hạt J, nói phát hiện mới về dấu hiệu vật chất tối là kết quả nghiên cứu quan trọng nhất của ông kể từ năm 1963 tới nay. “Căn cứ vào kết quả hiện nay, cái mà chúng tôi tìm kiếm nhất định phải là cái mới, cái chưa từng thấy; nhưng nó có phải là vật chất tối hay không, điều đó phải chờ xem kết quả cuối cùng,” ông nhấn mạnh.  Nhóm nghiên cứu AMS cho rằng muốn chứng minh positron dư thừa là do vật chất tối va chạm sinh ra thì phải khám phá đủ sáu đặc trưng của positron dư thừa. Đặc trưng cuối cùng là tỷ lệ tăng của positron sau khi tới điểm cao nhất có sụt gấp hay không, nếu quan sát thấy có sụt gấp, đó tức là positron dư thừa đến từ sự va chạm của vật chất tối; nếu sụt giảm từ từ thì có thể là positron dư thừa đến từ các thiên thể như pulsar.   Do vật chất tối không tác dụng với sóng điện từ nên các nhà khoa học chỉ có thể thông qua tương tác của nó với các vật chất khác để gián tiếp “quan sát” vật chất tối. GS Ting giải thích, chủ yếu có ba phương pháp tìm kiếm vật chất tối: – Thí nghiệm sử dụng sự va chạm hạt sinh ra vật chất tối để quan sát sự suy biến của vật chất tối; – Thí nghiệm tán xạ đo sự tán xạ vật chất tối đến thể lỏng hoặc thể rắn; – Thí nghiệm hủy diệt tiến hành trong không gian vũ trụ, dựa trên nguyên lý vật chất tối va chạm nhau sinh ra positron và phản proton.    AMS là đại diện của phương pháp Thí nghiệm hủy diệt, nó có thể tiến hành nhiều đo lường độc lập đối với electron, positron và tổng hòa electron-positron. Tháng 5/2011, AMS được đưa lên ISS, sau đó nó đã đo và phân tích 41 tỷ hạt tia vũ trụ, trong đó có 10,9 triệu electron và positron.   Trả lời câu hỏi liệu phương pháp AMS có giành vị trí đầu trong cuộc cạnh tranh với các thí nghiệm khác về phát hiện sự tồn tại của vật chất tối hay không, GS Ting nói, việc phân tích số liệu vô cùng khó khăn, chưa thể dự kiến sẽ mất bao lâu, nhưng ông “hy vọng không ở vị trí thứ hai”.    Vật chất tối là một trong những bí ẩn khoa học lớn nhất cho tới nay chưa có giải đáp. Vật chất tối không phát sáng, tức không phát sóng điện từ, cho nên ta không nhìn thấy. Nhưng cũng như mọi vật chất thông thường khác, chúng có tác dụng lực hấp dẫn. Nhờ đó mà các nhà khoa học có căn cứ để cho rằng vật chất tối chiếm tới 23% vũ trụ, năng lượng tối chiếm 73%, nghĩa là toàn bộ vật chất thông thường loài người đã quan sát thấy chỉ chiếm 4% vũ trụ.      Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  1 Theo nhà vật lý Stephen Hawking thì vật chất khả kiến chỉ chiếm 5% vũ trụ , còn lại 27% là vật chất tối và 68% là năng lượng tối.                                                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu tiết lộ bản chất lượng tử của tương tác giữa các photon và các electron tự do      Trong nhiều thập kỷ, các nhà vật lý đã biết là có thể miêu tả ánh sáng một cách đồng thời như sóng và hạt. Tính “đối ngẫu” hấp dẫn này của ánh sáng tùy thuộc vào bản chất cổ điển và lượng tử của các kích thích điện từ, các quá trình diễn ra trong các điện từ trường.      Ido Kaminer và các thành viên trong nhóm nghiên cứu. Nguồn: Technion   Tuy nhiên, trong tất cả các thực nghiệm mà ánh sáng tương tác với các electron tự do, đều được miêu tả như sóng. Các nhà nghiên cứu tại Technion – Viện nghiên cứu công nghệ Israel, gần đây đã thu thập được bằng chứng thực nghiệm đầu tiên cho thấy bản chất lượng tử của tương tác giữa các photon và các electron tự do. Phát hiện của họ, xuất bản trên Science, có thể có những chỉ dấu quan trọng cho các nghiên cứu trong tương lai về các photon và tương tác của chúng với các electron tự do 1.  “Ý tưởng cho nghiên cứu của chúng tôi đầu tiên đến từ hai năm trước, sau khi khám phá thực nghiệm của chúng tôi về sự tương tác giữa một electron và ánh sáng có thể lưu giữ được sự nhất quán của chúng qua các khoảng cách gấp 100 lần chu kỳ quang học”, Raphael Dahan, Alexey Gorlach và Ido Kaminer, ba nhz\à nghiên cứu chính của nghiên cứu này, trao đổi với Phys.org qua email 2. “Trong khoảng thời gian này, hai công trình lý thuyết quan trọng đã được thực hiện, cả hai đều khám phá cách các đặc tính lượng tử của ánh sáng làm thay đổi tương tác với các electron”.  Cả hai nghiên cứu về lý thuyết đó, một do Ofer Kfir tại trường đại học Göttingen và một do Javier García de Abajo và đồng nghiệp tại Viện nghiên cứu de Ciències Fotòniques (ICFO), dự đoán một dạng tương tác cơ bản mới xuất hiện giữa ánh sáng và các electron tự do, tiết lộ các đặc tính lượng tử của ánh sáng 3. Bị những dự đoán quan trọng đó thu hút, Kaminer, Dahan, Gorlach và các đồng nghiệp của họ đã bắt đầu tìm kiếm một hệ trong đó họ có thể điều tra về tương tác này bằng thực nghiệm. Cụ thể hơn, các nhà nghiên cứu muốn thực hiện thực nghiệm về các thống kê lượng tử của ánh sáng có thể làm thay đổi tương tác electron – ánh sáng.  “Điều này dẫn chúng tôi việc tìm kiếm hai hợp phần quan trọng”, Kaminer, Dahan và Gorlach cùng giải thích. “Đầu tiên là một thiết bị sẽ kết cặp tốt hơn giữa electron và ánh sáng, thứ hai là một nguồn photon sẽ tạo ra một ánh sáng lượng tử với mật độ cao nhất có thể”.  Để đạt được hiệu quả kết cặp lớn hơn, các nhà nghiên cứu tham khảo ý kiến của các thành viên thuộc cộng đồng nghiên cứu máy gia tốc trên chip (ACHIP), vốn nhằm mục tiêu đạt được sự gia tốc compact bằng việc sử dụng các chùm tia laser và tích hợp nó trên chip. Sau một loạt các tính toán, nhóm nghiên cứu tìm ra hiệu suất kết cặp có thể được tăng cường tới hàng trăm lần so với những kết quả của những thí nghiệm trước đây.  “Đầu tiên chúng tôi hợp tác với một nhóm nghiên cứu ở Stanford (Solgaard, England, Leedle, Byer, và các học viên của họ) – họ thiết kế và cung cấp cho chúng tôi một cấu trúc ACHIP cho thử nghiệm đầu tiên”, Kaminer, Dahan và Gorlach cho biết. “Tại thực nghiệm đầu tiên sử ụng một chip silicon-photonic bên trong một kính hiển vi điện tử truyền qua, và lập tức có những gợi ý rất thu hút, dẫn đến kết quả trong một bài báo khác sẽ xuất hiện nhanh chóng trên PRX của Yuval Adiv và cộng sự”.  Sau đó, Kaminer và đồng nghiệp bắt đầu hợp tác với một nhóm khác trong cộng đồng ACHIP, một nhóm do Peter Hommelhoff tại Erlangen, Đức, dẫn dắt. Nhóm nghiên cứu này cung cấp những cấu trúc ACHIP tốt nhất thế giới cho Kaminer để thực hiện thực nghiệm phức tạp của họ.  Để tạo ra ánh sáng lượng tử mạnh, các nhà nghiên cứu đã làm việc cùng với nhóm Eisenstein tại Technion. Nhóm này cho phép họ sử dụng một khuếch đại quang học đặc biệt: một thiết bị có thể thay đổi thống kê photon lượng tử của ánh sáng từ một phân phối Poisson thành một phân phối siêu Poisson.  “Nghiên cứu của chúng tôi giống như một cuộc hành trình”, Dahan nói. “Với việc kết hợp tất cả những yếu tố khác biệt đó và thông qua một thực nghiệm nhiều thích thức bằng việc sử dụng một kính hiển vi điện tử truyền qua siêu nhanh, chúng tôi đã đạt được mục tiêu ban đầu của mình: thể hiện tương tác đầu tiên giữa một electron tự do và ánh sáng với những đặc tính lượng tử khác nhau”.  Kaminer và đồng nghiệp của mình cuối cùng đã có thể tiết lộ được bản chất lượng tử của tương tác giữa các photon và các electron tự do bằng việc thay đổi một cách liên tục thống kê photon trong thực nghiệm của mình và chứng tỏ cách phổ năng lượng của electron thay đổi để phản hồi hành động đó. Sự thay đổi trong thống kê photon mà họ quan sát biến thiên phụ thuộc vào cường độ của việc chiếu laser từ thiết bị khuếch đại quang học.  Tương tác ban đầu mà các nhà khoa học khám phá là một trong những tương tác, bao gồm ánh sáng đầu vào và các electron tự do. Trong thí nghiệm này, các electron hành xử như các máy dò trạng thái ánh sáng. Do đó, bằng việc đo đạc mức năng lượng của nó, các nhà nghiên cứu có thể tách ra được thông tin lượng tử về ánh sáng.  Các đo đạc electron có thể chỉ được giải thích bằng lượng tử hóa của cả electron và ánh sáng, như các bài báo lý thuyết dự đoán. “Chỉ khi áp dụng lý thuyết mới này thì các đo đạc của chúng tôi mới được giải thích tốt”, Kaminer nói. “Từ một tầm nhìn cơ bản, phát hiện chính trong nghiên cứu của chúng tôi là; tương tác giữa ánh sáng lượng  tử và một electron tự do, sự đột sinh của rối [lượng t] trong tương tác này và trong nguyên lý  phản hồi lượng tử – cổ điển. Nguyên lý này chứng tỏ hiệu ứng của một bước đi lượng tử gây ra bởi electron và sự chuyển đổi của nó thành một bước đi ngẫu nhiên”.  Bằng chứng thực nghiệm này có thể gợi ý về việc phát triển rất nhiều công nghệ mới, bao gồm các công cụ hình ảnh không phá hủy và không xâm lấn để đạt được những hình ảnh có độ phân giải cao.  “Đầu tiên, chúng tôi chứng tỏ có thể sử dụng các electron tự do để đo đạc thống kê photon lượng tử của ánh sáng”, Kaminer, Dahan và Gorlach cho biết. “Có những bước tiến như các phép đo đạc có thể đạt được trong tương lai, ví dụ, hình thành công cụ hình ảnh không phá hủy, có độ phân giải cao về thời gian và đạt được trong trường gần với độ phân giải không gian cao”.  Công trình của Kaminer và đồng nghiệp chứng tỏ là có thể định hình tạm thời các electron bằng việc sử dụng ánh sáng sóng liên tục (CW). Kết quả này có thể tăng cường tự tích hợp các chip silicon-photonic vào kính hiển vi điện tử để nâng cao các năng lực của kính hiển vi điện tử, ví dụ, để đưa độ phân giải thời gian ở mức atto giây vào kính hiển vi ở dạng tiên tiến bậc nhất mà không làm ảnh hưởng đến độ phân giải trong không gian của chúng.  “Hiện tại chúng tôi đang lên kế hoạch tiếp tục công việc của mình theo hai hướng nghiên cứu chính”, Kaminer, Dahan và Gorlach nói. “Thứ nhất là tìm hiểu theo hướng chụp cắt lớp trạng thái lượng tử đầy đủ của các trường gần photon, như nén ánh sáng trên chip mà không cần phải loại bỏ sự kết cặp của ánh sáng. Một hướng khác là chúng tôi đang tìm hiểu việc tạo ra ánh sáng lượng tử bằng các electron định hình gắn kết với sự dẫn dắt của một công trình lý thuyết chúng tôi mới xuất bản gần đây”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-unveils-quantum-nature-interaction-photons.html  ————————————–  1. Công bố ‘Imprinting the quantum statistics of photons on free electrons”. http://dx.doi.org/10.1126/science.abj7128  2. https://phys.org/news/2020-11-phase-matching-electron.html  3. Công bố “Entanglements of Electrons and Cavity Photons in the Strong-Coupling Regime”. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.123.103602  và công bố “Probing quantum optical excitations with fast electrons”, Optica (2019) https://www.osapublishing.org/optica/fulltext.cfm?uri=optica-6-12-1524&id=424579    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu tinh thể học trong lịch sử nhân loại      Để tôn vinh và quảng bá cho những đóng góp của ngành tinh thể học, Liên đoàn Tinh thể học Quốc tế và tổ chức UNESCO đã thống nhất chọn năm 2014 là Năm quốc tế về Tinh thể học. Nhân dịp này, tác giả gửi tới bạn đọc Tia Sáng bài viết giới thiệu lược sử các nghiên cứu về tinh thể học và những phát minh về phân tích tinh thể học.    Tinh thể, là hình thái kết tinh của các vật chất ở dạng rắn (và sau này người ta còn tạo ra ở dạng lỏng) và con người đã bắt đầu nhận biết đến sự kết tinh này từ rất lâu (một ví dụ rất dễ thấy ở đời thường là các hạt muối ăn kết tinh thành các hình khối sắc nét), nhưng phải tới tận đầu thế kỷ 17, các nhà khoa học ở châu Âu mới bắt đầu để ý tới chúng.           Tinh thể muối ăn (NaCl), một dạng kết tinh vật liệu thường gặp nhất trong cuộc sống hằng ngày. NaCl là một tinh thể ion với cấu trúc lập phương.        Người mở đầu là nhà thiên văn học người Đức, Johannes Kepler (1571 – 1630), người rất nổi tiếng với 3 định luật Kepler về chuyển động của các hành tinh quanh mặt trời) với giả thuyết về hình dạng của các tinh thể hoa tuyết trong tác phẩm Strena seu de Nive Sexangula (A New Year’s Gift of Hexagonal Snow) xuất bản vào năm 1611 trong đó dự đoán rằng hình dạng lục giác rất đẹp của các hoa tuyết là do sự sắp xếp trật tự của các hạt nước hình cầu. Phải mất tới hơn 50 năm sau mới có một công trình tiếp theo về tinh thể của nhà khoa học người Đan Mạch Nicolas Steno chỉ ra những mặt và góc cố định trong các tinh thể vào năm 1669. Và phải hơn 100 năm sau (1784) mới có những thành tựu tiếp theo, với công trình của nhà khoáng học người Pháp, René Just Haüy chỉ ra rằng những mặt tinh thể được tạo thành nhờ các lớp xếp có cùng hình dạng và kích thước. Sau đó vào năm 1839, nhà khoáng học người Anh, William Hallowes Miller đã xây dựng nên cấu trúc hình học của tinh thể và sử dụng các tọa độ hình học để mô tả các hướng, các mặt tinh thể và tọa độ các vị trí nguyên tử [1]. Đây có thể coi là một trong những nghiên cứu chi tiết nhất đầu tiên về tinh thể và ngày nay người ta vẫn dùng khái niệm “chỉ số Miller” trong nghiên cứu tinh thể học để ghi nhận những đóng góp lớn của Miller. Sau Miller, Auguste Bravais (một nhà vật lý người Pháp) là người tiếp tục có đóng góp đáng kể nhất với việc phân loại và tổng kết các loại hình dạng của tinh thể với 7 nhóm cấu trúc tinh thể (lập phương, đơn tà, tam tà, trực thoi, lục giác, tam giác, và tứ giác)[2] và sau này người ta gọi các mạng này là ”mạng Bravais”. Cho đến thời kỳ này, nhân loại mới chỉ hoàn toàn mô tả, dự đoán về cấu trúc tinh thể mà chưa thể kiểm chứng chính xác cấu trúc thật của nó do sự thiếu thốn về phương tiện phân tích.          Những nghiên cứu quan trọng về cấu trúc tinh thể: (a) giả thiết về sự sắp xếp của các quả cầu của J. Kepler năm 1611, (b) tọa độ không gian các mặt và hướng tinh thể của W. Miller với ”chỉ số Miller” năm 1839 và được dùng tới ngày nay, (c) phân loại các kiểu tinh thể của A. Bravais vào năm 1848.          Những đột phá với tia X  Đột phá cho các nghiên cứu về tinh thể học đến từ một khám phá vào năm 1895 của nhà vật lý học người Đức, Wilhelm Conrad Röntgen, khi ông phát hiện ra một bức xạ mang tên ông, tia Röntgen (tia X), và các nghiên cứu của Charles Glover Barkla (người Anh) và Arnold Sommerfeld (người Đức) với tia X đã khẳng định tia này là một bức xạ điện từ có bước sóng khoảng 1 Angstrom (tức là 0,1 nm, hay 1 phần 10 tỉ mét)[3]. Năm 1912, hai nhà vật lý người Đức là Max von Laue (1879-1960) và Paul Peter Ewald (1888 – 1985) khi cùng làm việc ở Munich (Đức) đã có những trao đổi để đi đến ý tưởng coi tinh thể như một cách tử nhiễu xạ để tiến hành các thí nghiệm nhiễu xạ tia X trên tinh thể. Ewald là người đầu tiên đề ra ý tưởng này nhưng định dùng cho ánh sáng khả kiến, và ông thất bại vì ánh sáng khả kiến có bước sóng quá lớn so với các ô mạng tinh thể và hiện tượng nhiễu xạ không thể xảy ra. Von Laue đã ước tính bước sóng tia X có cùng cỡ với kích thước ô mạng tinh thể và đã bắt tay tiến hành thí nghiệm. Ông tiến hành thí nghiệm với sự giúp đỡ của hai kỹ thuật viên Walter Friedrich và Paul Knipping, dùng một chùm tia X chiếu xuyên qua tinh thể đồng sulfate (CuSO4) và quan sát thấy trên tấm phim phía sau các chấm nhiễu xạ nằm trên các đường tròn đồng tâm với một chấm sáng trung tâm[4]. Thí nghiệm đã khẳng định sự nhiễu xạ của tia X – một sóng điện từ trên các tinh thể và đã đem lại cho Max von Laue giải Nobel Vật lý năm 1914. Cũng từ nghiên cứu này, Laue đã phát triển một phương pháp phân tích rất hữu ích cho các mẫu đơn tinh thể, gọi là kỹ thuật nhiễu xạ Laue sử dụng chùm tia X không đơn sắc. Phương pháp của Laue cho phép không chỉ tính toán cấu trúc, các hằng số mạng tinh thể, mà còn các thông số về đối xứng không gian của tinh thể, đồng thời cũng làm sống lại khái niệm “mạng đảo” (reciprocal lattice) trong phép tính toán tinh thể học (khái niệm từng được đề ra trước đây để tính toán về mạng tinh thể của Josiah Willard Gibbs vào năm 1881).          Max von Laue, mô hình thí nghiệm nhiễu xạ tia X theo chế độ truyền qua và ảnh nhiễu xạ tia X lần đầu tiên trên phim quang học của mẫu khoáng Zincblende [(Zn,Fe)S].        Hai cha con William Henry Bragg và William Lawrence Bragg và định luật nhiễu xạ (định luật Bragg) tổng quát cho mọi nhiễu xạ trên các mặt tinh thể.          Hiện tượng nhiễu xạ của tia X trên tinh thể đã lôi cuốn các nhà vật lý, và hai người tiếp theo đã thành công trong việc xây dựng định luật nhiễu xạ tia X trên tinh thể, đó là hai cha con William Henry Bragg (1862 – 1942) và William Lawrence Bragg (1890 – 1971), hai nhà vật lý của phòng thí nghiệm (PTN) Cavendish, Đại học Cambridge (Anh). Hai cha con đã xây dựng mô hình 2 chiều cho hiện tượng nhiễu xạ tia X trên các mặt tinh thể, và phát biểu một định luật vô cùng đơn giản (ngày nay chúng ta biết là “Định luật Bragg”): nλ = 2dsinθ với n là số nguyên, chỉ bậc nhiễu xạ, d là khoảng cách giữa các mặt tinh thể, θ là góc giữa chùm tia X tới mặt tinh thể.   Định luật này cũng trở thành định luật tổng quát cho hiện tượng nhiễu xạ trên tinh thể của tất cả các loại bức xạ, kể cả điện tử hay neutron được phát hiện sau này. Định luật của cha con Bragg đã đem lại cho họ giải Nobel Vật lý vào năm 1915, và cũng giúp cho hàng loạt các tinh thể được tính toán cấu trúc chính xác từ phép nhiễu xạ tia X. Đáng chú ý nhất, Peter Debye (1884-1966), người Hà Lan, cùng với Paul Scherrer (1890 – 1969), người Thụy Sĩ đã phát triển các phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X dựa trên các mẫu bột để xây dựng cấu trúc tinh thể của graphite vào năm 1917, ngày nay gọi là kỹ thuật nhiễu xạ bột tia X (powder X-ray diffraction) dựa trên chùm tia X đơn sắc. Vào những năm của thập kỷ 1960, Hugo M. Rietveld (1932), một nhà tinh thể học người Hà Lan, đã xây dựng một phương pháp tính toán cấu trúc tinh thể từ việc phân tích phổ nhiễu xạ tia X theo phương pháp nhiễu xạ bột, gọi là phương pháp tinh tế hóa Rietveld (Rietveld refinement)[5], có thể coi là một trong những phương pháp tính toán cấu trúc mạnh nhất cho tới nay, có thể áp dụng cho cả các phổ nhiễu xạ khác, như phổ nhiễu xạ neutron hay nhiễu xạ điện tử. Kết quả này đã đưa Rietveld trở thành một trong những nhà tinh thể học nổi tiếng nhất ở cuối thế kỷ 20.   Có thể nói rằng, các phép phân tích tia X đã trở thành một công cụ mạnh cho phép tính toán chính xác cấu trúc tinh thể của các vật liệu. Và theo thời gian phát triển, người ta còn có thể tính toán các cấu trúc điện tử, các liên kết hóa học từ phép nhiễu xạ tia X. Nhiễu xạ tia X thường được dùng cho việc phân tích khối lượng mẫu lớn và ở thang diện tích rộng (do rất khó thao tác với tia X để chọn chính xác vị trí nhiễu xạ). Chính phép phân tích nhiễu xạ tia X đã giúp cho các nhà khoa học tìm ra cấu trúc xoắn kép của ADN, mà đóng góp lớn từ ba nhà khoa học James D. Watson, Francis Crick (hai nhà vật lý làm việc ở PTN Cavendish), và Maurice H. F. Wilkins (nhà vật lý làm việc ở King College, London) với ghi nhận là giải Nobel Sinh lý học năm 1962 cho nghiên cứu về ADN.          Cấu trúc xoắn kép của DNA được tìm thấy nhờ ứng dụng phương pháp tinh thể học tia X với những đóng góp lớn của ba nhà vật lý James Watson, Francis Crick và Maurice Wilkins.          Bên cạnh nhiễu xạ tia X, các nhà khoa học còn sử dụng sóng điện tử làm công cụ phân tích cấu trúc dựa trên hiện tượng nhiễu xạ. Năm 1926, George Paget Thomson (1892-1975), một nhà khoa học người Anh đang làm việc ở Đại học Aberdeen (Scotland, Vương quốc Anh) đã phát hiện ra sự giao thoa của sóng điện tử khi xuyên qua các màng mỏng kim loại, và cùng lúc đó, hai nhà khoa học khác ở PTN Bell (Mỹ) là Clinton Josseph Davisson và Lester Halbert Germer cũng phát hiện ra hiệu ứng tương tự khi cho điện tử nhiễu xạ trên tinh thể Ni[6]. Khám phá này khẳng định lưỡng tính sóng hạt của điện tử, đồng thời cũng mở ra một khả năng sử dụng điện tử làm công cụ phân tích cấu trúc. Giải Nobel Vật lý năm 1937 đã được trao cho Davisson và Thomson cho khám phá này (thú vị là chính cha của G. P. Thomson là nhà vật lý học Joseph John Thomson cũng từng được trao giải Nobel cho khám phá về điện tử như một hạt mang điện trước đó).   Sau khi kính hiển vi điện tử truyền qua (transmission electron microscopy – TEM) được phát minh vào năm 1931 bởi Ernst A. F. Ruska (1906-1988), một nhà vật lý học người Đức làm việc ở Đại học Kỹ thuật Berlin, và được thương mại hóa gần 10 năm sau đó, các nhà khoa học nhanh chóng nhận ra khả năng sử dụng chùm điện tử thay sóng ánh sáng như một nguồn bức xạ để tạo ra một thiết bị chụp ảnh với độ phóng đại rất lớn và cho độ phân giải rất cao, vượt xa khỏi giới hạn nhiễu xạ khi sử dụng sóng ánh sáng. Nhiễu xạ điện tử nhanh chóng được kết hợp trong TEM để tính toán cấu trúc các mẫu vật liệu mỏng song song với việc chụp ảnh. Điểm mạnh của nhiễu xạ điện tử trong TEM là người ta có thể lựa chọn được chính xác cùng các vật liệu muốn ghi phổ nhiễu xạ để tính toán (cách thức này gọi là nhiễu xạ lựa chọn vùng – selected area diffraction, SAD), hoặc hội tụ các chùm điện tử thành các điểm rất nhỏ để thực hiện phép nhiễu xạ với độ chính xác rất cao trên từng điểm hoặc vị trí mong muốn (cách thức này gọi là nhiễu xạ chùm tia hội tụ – convergent beam electron diffraction – CBED, hoặc nhiễu xạ nano – nanodiffraction). Nhiễu xạ điện tử trên các thiết bị TEM ngày nay cực kỳ phổ biến và là công cụ được “ưa chuộng” trong các nghiên cứu về vật liệu nano, và có thể thực hiện ở bất kỳ một thiết bị TEM nào[7]. Người ta thậm chí còn gắn thiết bị nhiễu xạ điện tử trực tiếp trong các hệ lắng đọng màng mỏng cho phép phân tích trực tiếp cấu trúc bề mặt và chất lượng màng mỏng ngay trong quá trình hình thành màng mỏng – đây chính là phép nhiễu xạ điện tử phản xạ được phát hiện bởi Davisson và Germer vào năm 1926.          Ernst Ruska và phát minh kính hiển vi điện tử truyền qua TEM, nguyên lý nhiễu xạ điện tử ở TEM, và một ảnh nhiễu xạ điện tử của một hạt nano đơn tinh thể gốm BaGdFeO3.          Năm 1932, James Chadwick (1891-1974), một nhà vật lý người Anh làm việc tại PTN Cavendish đã thực hiện một loạt thí nghiệm để tìm ra hạt neutron, một hạt không mang điện trong hạt nhân nguyên tử, và tiến hành nhiều thí nghiệm mô tả sự tán xạ của neutron. J. Chadwick được trao giải Nobel Vật lý năm 1935 cho khám phá này, nhưng hiện tượng tán xạ neutron không được để ý nhiều do chưa có các lò phản ứng. Phải hơn 10 năm sau, Ernest Omar Wollan (1902-1984), một nhà vật lý người Mỹ làm việc ở Lò phản ứng Graphite, Oak Ridge, cùng với cộng sự của mình là Clifford Shull (1915-2001)  mới xây dựng thành công phương pháp nhiễu xạ neutron để nghiên cứu cấu trúc vật liệu rắn vào năm 1945. Mặc dù kỹ thuật này sau đó nhanh chóng được ứng dụng, nhưng phải mãi tới năm 1994, thành tựu này mới được vinh danh thông qua giải Nobel Vật lý năm 1994, khi đó E. O. Wollan đã qua đời, và C. Shull nhận giải Nobel Vật lý cùng với Bertram Brockhouse (1918-2003), một nhà vật lý người Canada, cũng là một người tiên phong nghiên cứu về sự nhiễu xạ neutron. Neutron là một hạt không mang điện và có khối lượng lớn hơn điện tử rất nhiều, nên khác với tia X và điện tử, sóng neutron tương tác chủ yếu với hạt nhân nguyên tử, nên bên cạnh thông tin về cấu trúc tinh thể, nhiễu xạ neutron có thể giúp tìm hiểu về tính chất các đồng vị, các dao động nguyên tử. Bên cạnh đó, mặc dù không mang điện nhưng neutron lại có mômen từ, do đó nó sẽ bị tán xạ trên các mômen từ nguyên tử, và nhiễu xạ neutron còn giúp tìm hiểu về cấu trúc từ của vật liệu (từ tính)[8]. Điểm hạn chế của nhiễu xạ neutron so với nhiễu xạ điện tử và nhiễu xạ tia X là nó chỉ có thể thực hiện ở các lò phản ứng hoặc các máy gia tốc có các nguồn neutron, và quy trình thí nghiệm được kiểm soát rất chặt chẽ.  Kết luận  Hơn 400 năm kể từ những nghiên cứu đầu tiên về tinh thể, đến nay nhân loại đã có những hiểu biết rất rõ ràng về cấu trúc tinh thể và phát triển nhiều công cụ phân tích cho phép tính toán chính xác cấu trúc tinh thể của vật liệu từ thang kích thước lớn tới thang kích thước rất nhỏ (cấp nanomet). Những hiểu biết về cấu trúc tinh thể giúp các nhà khoa học hiểu về cơ chế tạo thành tính chất của vật liệu từ mối tương quan cấu trúc – tính chất vật liệu, do đó có thể tạo ra nhiều vật liệu với nhiều tính chất như mong muốn. Thực chất thì những đột phá về nghiên cứu tinh thể học chỉ đến trong thời gian khoảng 175 năm trở lại đây, với những mô hình hình học không gian tinh thể của Miller, những thống kê, phân nhóm tinh thể của Bravais. Đặc biệt là trong vòng 100 năm từ đầu thế kỷ 20, những phép phân tích về tinh thể học, mà điển hình là những nghiên cứu tiên phong của Laue, Ewald, cha con Bragg,… đã tạo nên những đột phá trong việc tìm hiểu cấu trúc tinh thể, tạo nên những phép phân tích vật liệu chính xác và đặc biệt hữu ích, và đã có ít nhất 7 giải Nobel Vật lý, Hóa học, Sinh lý học được trao cho các nhà nghiên cứu liên quan đến chủ đề phân tích cấu trúc. Điều này cho thấy nghiên cứu tinh thể học, cấu trúc vật chất quan trọng và hấp dẫn như thế nào trong vật lý, hóa học và vật liệu.   ———————–  Tham khảo  1William Hallowes Miller, A Treatise on Crystallography (1839).  2A. Bravais, Mémoire sur les systèmes formés par des points distribués regulièrement sur un plan ou dans l’espace, Journal de l’Ecole Polytechnique 19, 1-128 (1848).  3H.S. Allen, “Charles Glover Barkla. 1877-1944”, Obituary Notices of Fellows of the Royal Society 5 (15), 341 (1947).  4Max von Laue, “Kritische Bemerkungen zu den Deutungen der Photoframme von Friedich und Knipping”, Physikalische Zeitschrift 14 (10), 421–423 (1913).  5H. M. Rietveld, “A profile refinement method for nuclear and magnetic structures”, Journal of Applied Crystallography 2 (2), 65–71 (1969).  6P.B. Moon, “George Paget Thomson 3 May 1892 — 10 September 1975”, Biographical Memoirs of Fellows of the Royal Society 23, 529 (1977).  7Kính hiển vi điện tử truyền qua, Wikipedia (tiếng Việt): http://vi.wikipedia. org/wiki/K%C3%ADnh_ hi%E1%BB%83n_vi_%C4%91i%E1%BB%87n_t%E1%BB%AD_truy%E1%BB%81n_qua   8Clifford Shull, “Early development of neutron scattering”, Rev. Mod. Phys. 67, 753–757 (1995).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu ứng dụng vật liệu từ- Cái nghiệp của TS Nguyễn Hồng Quyền      Có thể nói không ngoa, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vật liệu từ để có được những sản phẩm công nghệ có giá trị thiết thực với cuộc sống thực sự là cái nghiệp của TS.Nguyễn Hồng Quyền, Viện Khoa học Vật liệu-Viện KH&amp;CN Việt Nam.    DẤN THÂN VÀO THỰC NGHIỆM  Mái tóc điểm bạc, khuôn mặt xám đen lột tả nét khắc khổ, bao phen thăng trầm không ít sóng gió trong cuộc đời làm khoa học của ông-TS.Nguyễn Hồng Quyền. Thoạt nhìn người ta dễ tưởng ông là một nông dân đích thực vì không có được “phong độ” của một người làm nghiên cứu. “Thời gian tôi lang thang trong nhà xưởng nhiều hơn là ở phòng thí nghiệm”, TS.Quyền nở nụ cười hóm hỉnh rồi bông đùa.  Sinh ra ở một làng quê nghèo xứ Thanh, làng ông thậm chí không có đất cấy. Người dân nơi đây chỉ biết trồng dừa rồi đem đổi lấy thóc để sinh sống. “Nhà đông anh em nên nghèo lắm, gạo không có, đến bữa ăn bố mẹ tôi thường độn một bát cơm với ba bát gốc rau muống. Túng thiếu là vậy nhưng anh em tôi vẫn được học hành đầy đủ”, TS.Quyền tâm sự. Không phụ lòng tin của bố mẹ, anh em ông đều học giỏi. Người anh cả học ĐHSP có nhiệm vụ dìu dắt các em.  Đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn miền Bắc, chàng trai trẻ Nguyễn Hồng Quyền được Nhà nước cử sang Cộng hòa liên bang Đức học đại học. Bỡ ngỡ trước một nơi hoàn toàn khác biệt trong khi đó tiếng Đức lại “zê-rô” nhưng ông đã cố gắng bằng mọi cách để sớm thích nghi bắt nhịp với môi trường học thuật mới. “Tôi đã chọn vật lý kim loại, chỉ có theo đuổi khoa học thực nghiệm khi về nước mới mong triển khai được ứng dụng”, TS. Quyền nói. Kết thúc 5 năm học, khăn gói về nước trong bối cảnh B52 đánh phá Hà Nội dữ dội và theo lời mời của GS.Nguyễn Văn Hiệu, ông về công tác tại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện KH&CN Việt Nam).  Đến 1977, Nguyễn Hồng Quyền trở lại nước Đức làm tiến sỹ về siêu dẫn. “Tất cả chỉ là sự chuẩn bị ban đầu. Nếu làm siêu dẫn khi trở vể nước rất khó triển khai vì phải đòi hỏi trang bị cơ sở vật chất tối tân như những phòng sạch”, ông nói. Không dấn thân vào những lĩnh vực nghiên cứu cao siêu, sau khi nắm bắt  yêu cầu thực tiến của đất nước ông quyết định bước chân vào nghiên cứu triển khai. “Năm cuối tôi liền chuyển hướng quan tâm sang lĩnh vực vật liệu từ. Làm vật liệu từ ở trong nước thời kỳ đó tuy không tốt lắm nhưng cố gắng sẽ đưa vào ứng dụng được”, TS.Quyền tự tin.  Khác với nhiều người chạy theo hướng hàn lâm để có bài báo công bố quốc tế, đối với TS.Nguyễn Hồng Quyền, ông chỉ mong những sản phẩm của mình được triển khai trực tiếp vào cuộc sống trở thành “ngô, khoai, sắn”.  CHÁN NGHIÊN CỨU VỀ… LÀM VƯỜN            Thiết bị tuyển nổi        Sau 5 năm “mài đũng quần” nơi xứ người với tấm bằng tiến sỹ, TS.Nguyễn Hồng Quyền về nước trong hoàn cảnh ngành vật liệu từ còn vắng bóng. “Thời đó Đại học Tổng hợp cũng đang phát triển hướng nghiên cứu này nhưng chỉ mang tính hàn lâm, sản phẩm là các bài báo quốc tế chưa thể đem ứng dụng ngay”, ông cho biết. Mạo hiểm một thân một mình đi theo hướng nghiên cứu hoàn toàn còn “lạ nước lạ cái”, ông tự bỏ tiền túi gây dựng nhà xưởng, bắt tay sản xuất vật liệu từ. Ban đầu ông sản xuất vật liệu từ dùng cho loa với công suất 5 tấn/tháng. “Loại vật liệu này thế giới làm được mười phần không cho chất mới nên tôi nảy ra ý tưởng pha thêm tạp chất để nâng lên 12%, bù vào phần kém công nghệ trong nước. Làm như vậy, xét chung thì chất lượng sản phẩm vật liệu từ “made in Việt Nam” tương đương với thế giới”, TS.Quyền cho biết.  Để biến sản phẩm của mình thành hàng hóa, làm ra loa thiết kế bán ra thị trường, ông đã liên kết với Nhà máy Thiết bị bưu điện sản xuất các loại loa. Nhưng do cạnh tranh gay gắt trong khi ông lại đơn thân độc mã nên chỉ còn cách “đấu đầu” để tồn tại. Không thể cộng sinh với đối tác trước, TS.Quyền thành lập công ty, bỏ tiền túi sản xuất 5000 chiếc loa mang vào Nam bán. “Sôi hỏng bỏng không”, những chiếc loa ế ẩm nhưng ẩn trong đó là bao mồ hôi công sức nghiên cứu tìm tòi khiến ông không khỏi chùn lòng. Một mình lẽo đẽo lang thang hết nơi này nơi khác dò la, ông tìm đến những “trùm” bán loa để rồi cuối cùng nhận được lời khuyên “không nên làm theo mẫu cũ”. Thời đó, dân chợ trời khắp trong Nam ngoài Bắc đều biết đến ông với biệt hiệu “Quyền loa”.  “Tuy mọi việc gian nan là vậy nhưng thành công của tôi là đã làm ra sản phẩm từ cấp thấp. Và cũng nhờ bài học về làm loa đã dấn đến những thành công sau này khi bắt tay sản xuất vật liệu từ cấp cao-chế tạo các nam châm cao cấp”, TS. Quyền cho biết.  Dường như số phận không chiều lòng ông khi Viện Khoa học Việt Nam tiến hành cải tổ biên chế đưa một số biên chế dư thừa của Viện về công ty. Đang làm “tướng” bống nhiên giáng xuống làm lính. Do người tiếp quản không hiểu sâu và có kinh nghiệm nên công ty…phá sản. Chán nản, ông “về vườn” trồng cây cảnh…bán.  “LÀM ỨNG DỤNG PHẢI MẠO HIỂM…”     Có lẽ TS. Quyền không thoát khỏi nghiệp nghiên cứu khi cái duyên khoa học lại…bén. Đến năm 1997, đoàn cán bộ khoa học của Việt Nam sang thăm các viện nghiên cứu Trung Quốc, GS.Nguyễn Văn Hiệu ưu ái dành cho ông một suất. Vốn đam mê vật liệu từ, khi đoàn dừng chân ở viện nghiên cứu từ làm nam chân của nước bạn ông đã bị…hút hồn ngay tắp lự. Tình yêu khoa học như được sống lại trong con người ông. Không chần chừ, ông xin trưởng đoàn được ở “lì” lại viện nghiên cứu này mặc cho đoàn tiếp tục đi thăm các viện nghiên cứu khác. Mê mẩn bên những thỏi nam châm, bao tiền bạc mang theo ông bỏ ra mua hết rồi đem về nước tìm cách ứng dụng.  Không theo vết xe đổ, bỏ lại vườn cây cảnh với bao công sức cắt tỉa uốn nắn để trở về với…nghiệp khoa học, ông bắt tay chuyển hướng ứng dụng loại vật liệu mới với chất lượng gấp 10 lần vật liệu cũ. “Ứng dụng triển khai đầu tiên là làm máy phát điện cho vùng sâu vùng xa. Tôi cũng thất bại vì không thuyết phục được người ta mua. Nhưng may có một công ty của Canada nghe đến sản phẩm của chúng tôi liền mua hết để họ lại đem bán lại cho các nước trong khu vực với giá gấp…6 lần”, TS.Quyền cho biết.  Từ đây, ông và các đồng nghiệp tiếp tục phát triển các sản phẩm ứng dụng cao cấp, đó là làm ra các thiết bị tuyển từ trong chế biến khoáng sản. “Những vật liệu nam châm đất hiếm ẩn chứa những ứng dụng tiềm năng lớn. Ngoài việc khai thác khả năng biến cơ năng thành điện năng, tôi nhận thấy khả năng chuyển từ dạng cơ năng này sang dạng cơ năng khác vẫn chưa được chúng ta khai thác triệt để. Chính vì vậy tôi liền nảy sinh ý tưởng chế tạo ra máy tuyển từ. Những chiếc máy này có thể giúp tiết kiệm 100 triệu đồng tiền điện mỗi năm trong khi đó giá thành lại giảm 25% so với nhập nội” – TS. Quyền nói – “Lần đầu tiên trong nước một loại vật liệu nam châm đất hiếm NdFeB với tính chất siêu mạnh được khai thác trên khía cạnh ứng dụng”.  Ngày hôm nay, những chiếc máy tuyển từ của ông đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đa dạng như chế biến Ilmenit, Crômit; chế biến nguyên liệu cho ngành gốm sứ, thủy tinh cao cấp và vật liệu chịu lửa.           Máy tuyển từ tang trống kép        Không chỉ dừng ở đây, trước bối cảnh tồn chứa và sử dụng than xỉ thải ra môi trường trong các ngành năng lượng như thủy điện đang trở thành vấn đề bức xúc. Bài toán đặt ra cho các nhà quản lý, kinh tế và nhà khoa học trong nước là làm sao biến loại chất thải này thành vật liệu có giá trị cho ngành công nghiệp đồng thời giải quyết vấn đề môi trường. “Hiện nay mỗi ngày Nhà máy nhiệt điện Phả Lại sử dụng 10.000 tấn than và thải ra 3000 tấn tro xỉ, và như vậy, hàm lượng tro xỉ chưa cháy hết chiếm khoảng 24%. Quá cao không đảm bảo yêu cầu”, TS.Quyền cho biết. Trước đó, Nhà máy này cũng đã tốn không ít tiền bạc nhập công nghệ và thuê chuyên gia nước ngoài nhưng rồi cũng thất bại vì công nghệ không phù hợp nên đành mất cả chì lẫn chài. Ngay lập tức, TS.Quyền bắt tay vào nghiên cứu thiết bị chế biến tro bay. Do lựa chọn đúng công nghệ phù hợp với nguồn nguyên liệu nơi sản xuất nên thiết bị do ông chế tạo đạt tiêu chuẩn ngoài mong đợi. “Với công nghệ chế biến tro bay do chúng tôi làm lần đầu tiên trong nước chất thải của ngành nhiệt điện được chế biến triệt để thành sản phẩm tro bay có hàm lượng MKN thấp hơn 6%, tạo ra một loại phụ gia bê tông rất có giá trị không thể thiếu trong các công trình thủy điện lớn như Sơn La, và sản phẩm phụ gia là than chưa cháy hết có hàm lượng MKN nhỏ hơn 60% làm nguyên liệu cho công nghệ nung gạch và xuất khẩu”, TS. Quyền hồi hởi. Sau thành công này, nhiều nơi biết đến ông và cũng từ đó nhiều hợp đồng được ký kết.  Nhưng có lẽ thành công lớn nhất mà ông không nói ra chính là nhà khoa học đã chủ động tiếp cận thành công, bắt tay chặt chẽ giữa doanh nghiệp. “Mô hình liên kết giữa chúng tôi-doanh nghiệp theo tỷ lệ góp vốn nhà khoa học 30%, doanh nghiệp 70%, điều này cho phé pnhững nghiên cứu ứng dụng có được môi trường để…sống”, TS.Quyền cho biết. Theo ông, muốn thành công phải chấp nhận mạo hiểm. Chỉ khi nhà khoa học chủ động bắt tay với doanh nghiệp thì kết quả nghiên cứu mới nhanh đi vào sản sản xuất.   Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu ung thư tiền liệt tuyến giành giải của AAAS      Website của Hội Xúc tiến khoa học Mỹ  (AAAS) mới đây cho  biết Giải thưởng nghiên cứu ung thư Martin và Rose Wachtel năm nay được  trao cho Scott Tomlins, người đã khám phá ra hai gene đặc biệt dung hợp  với nhau trong gần một nửa các ca ung thư tuyến tiền liệt, từ đó nhanh chóng dẫn đến sự triển khai biện pháp thử nước tiểu  để phát hiện căn bệnh này một cách tin cậy.     Giải thưởng nghiên cứu ung thư Martin và Rose Wachtel được thành lập sau khi ông bà Wachtel tặng hơn 1 triệu USD cho AAAS nhằm tri ân những thành viên trẻ của Hội đã có thành tựu đột phá trong nghiên cứu ung thư. Giải thưởng được trao hằng năm trị giá 25.000 USD, ứng viên được xét trao giải phải là người nhận được học vị tiến sĩ (Ph.D.) hoặc bác sĩ y khoa (M.D.) trong 10 năm gần đây.   Tiến sĩ Scott Tomlins, 34 tuổi, là phó giáo sư môn Bệnh lý học và Niệu học tại University of Michigan Medical School.   “Khám phá của Scott Tomlins về sự dung hợp gene (gene fusion) trong ung thư tuyến tiền liệt dẫn đến sự thay đổi quan điểm về căn nguyên gene của các khối u thực thể thường thấy, không những ở ung thư tiền liệt tuyến mà còn ở ung thư phổi, vú và kết tràng (colon),” Katrina Lelner thành viên của Ủy ban xét thưởng và là Tổng Biên tập tạp chí Science Translational Medicine nhận xét.  Tạp chí Science Translational Medicine cũng đã đăng luận văn được giải thưởng của Scott Tomlins, trình bày nghiên cứu của ông.   Ung thư tiền liệt tuyến là một trong các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới, nhưng nhiều người không bao giờ có các triệu chứng, không trải qua điều trị, và cuối cùng chết vì các nguyên nhân khác. Trung bình mỗi năm số lượng đàn ông chết bởi ung thư tiền liệt tuyến ở Mỹ là 30 nghìn, Anh- 10 nghìn, Australia – 3 nghìn người. Vì vậy việc xét nghiệm để chẩn đoán sớm khả năng mắc ung thư tiền liệt tuyến là vô cùng cần thiết. Xét nghiệm sinh thiết là phương pháp chính xác, nhưng phức tạp và có thể gây biến chứng rắc rối.   Trước đây y học thường dùng biện pháp xét nghiệm máu PSA, tức xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến; nhưng độ tin cậy thấp, người có PSA thấp vẫn có thể bị ung thư và người có PSA cao lại không. Năm 2010, các nhà khoa học Anh phát hiện một loại protein gọi là microseminoprotein-beta (MSMB) trong nước tiểu nam giới có liên quan đến ung thư tiền liệt tuyến, qua đó họ đề xuất dùng phương pháp xét nghiệm nước tiểu để xác định nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới một cách nhanh, tiện và rẻ hơn (không quá 9 USD một lần xét nghiệm).  TS Tomlins và nhóm nghiên cứu do ông chủ trì đã đề xuất một phương pháp mới về xét nghiệm nước tiểu nhằm tìm kiếm hai chỉ số về gene đi liền với ung thư là TMPRSS2:ERG và PCA3.   Scott Tomlins đã điều tra theo dõi 1.312 nam giới, qua nghiên cứu kết quả thử nước tiểu của họ, ông tiến hành phân cấp mức độ rủi ro mắc ung thư tiền liệt tuyến. Tác giả nói, các nghiên cứu trước đây cho thấy trong kiểm định sự dung hợp gene có liên quan trực tiếp tới ung thư tiền liệt tuyến, độ chính xác của thử nước tiểu là 100%. Nhưng việc dùng cách thử nước tiểu để kiểm định sự kết hợp của hai gene (TMPRSS2 và ERG) có khiếm khuyết, chỉ có 50% ca viêm tiền liệt tuyến có loại dung hợp gene rõ ràng đó. Vì vậy trong các nghiên cứu có tính nhìn xa, thử nước tiểu phải kết hợp với một tiêu chí khác là kháng nguyên 3 của ung thư tiền liệt tuyến (prostate cancer antigen 3, tức PCA3). Phương pháp này cho kết quả tin cậy hơn vì TMPRSS2:ERG chỉ được tìm thấy trong các trường hợp rõ ràng đã bị ung thư.   Nguyễn Hải Hoành lược thuật    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu và phát triển của châu Âu: MỘT BỨC TRANH TƯƠNG PHẢN      L&#224;m thế n&#224;o để ch&#226;u &#194;u vẫn giữ được vị tr&#237; của m&#236;nh trong cuộc chạy đua tiếp cận tri thức, cải tiến v&#224; s&#225;ng tạo c&#244;ng nghệ so với Hoa Kỳ v&#224; ch&#226;u &#193;? Li&#234;n minh ch&#226;u &#194;u đ&#227; đặt ra mục ti&#234;u Lisbon m&#224; cả cộng đồng n&#224;y kh&#243; c&#243; thể đạt được. Tuy nhi&#234;n, nếu nh&#236;n ri&#234;ng lẻ, một số quốc gia th&#224;nh vi&#234;n lại rất c&#243; tiềm năng. Thực trạng hiện nay.    Tháng 12 năm 2007 tại Lisbon, sau khi người Pháp và người Hà Lan “khai tử” Hiến pháp, Liên minh châu Âu (EU) chuyển hướng ưu tiên sang lĩnh vực tri thức, khoa học, công nghệ. Mục tiêu được nêu bật ngay từ những dòng đầu tiên của Hiệp ước thay thế Hiếp pháp châu Âu: “từ nay đến năm 2010, xây dựng Liên minh châu Âu thành một nền kinh tế tri thức có sức cạnh tranh và năng động nhất thế giới”. Nói một cách chính xác hơn, EU phải dành 3% GDP của mình để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).   Vậy, hiện nay, Liên minh này đã thực hiện mục tiêu đề ra đến đâu rồi? Những số liệu mới nhất của Cơ quan Thống kê Liên minh châu Âu (Eurostat) chỉ rõ: kinh phí dành cho công tác R&D của EU chẳng những không tăng mà còn có xu hướng chững lại. Chẳng hạn, vào năm 2006, EU đã chi 1,84% GDP của mình cho công tác R&D. Tuy nhiên, các số liệu cũng cho thấy tình hình ở mỗi quốc gia thành viên EU một khác.      BẮC ÂU DẪN ĐẦU CUỘC CHƠI  Bắc Âu đứng đầu châu Âu về cải tiến và sáng tạo công nghệ, sau đó đến Thụy Sĩ, Đức và Vương quốc Anh. Đó là những gì mà Bản theo dõi Công tác cải tiến và sáng tạo công nghệ của Liên minh châu Âu vừa mới công bố (đây là năm thứ sáu liên tiếp Ủy ban châu Âu lập báo cáo này). Thụy Điển và Phần Lan là hai quốc gia đầu tư nhiều nhất cho hoạt động R&D: 3,82% và 3,45% GDP vào năm 2006. Xin nói thêm là tại hai nước này, công nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng và các trung tâm nghiên cứu tư nhân đóng góp tới 70% cho công tác R&D. Thành công này có thể được lý giải như thế nào? Sở dĩ khu vực Bắc Âu đạt nhiều tiến bộ như vậy là nhờ các nước này đã thiết lập được một hệ thống nghiên cứu khoa học rất hiệu quả, trong đó các nhân tố gắn kết và hỗ trợ nhau chặt chẽ: hệ thống giáo dục tiên tiến, chính sách phát triển công nghệ đồng bộ, các biện pháp kêu gọi doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ mới được triển khai.                   ĐƠN XIN CẤP BẰNG SÁNG CHẾ TÍNH THEO QUỐC GIA NĂM 2007  Theo bản xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), vào năm 2007, Hàn Quốc (xếp thứ 4) và Trung Quốc (thứ 7) tiếp tục nằm trong nhóm mười quốc gia đệ đơn xin cấp bằng sáng chế nhiều nhất thế giới. Các vị trí khác thuộc về Hoa Kỳ (thứ 1), Nhật Bản (thứ 2), Đức (thứ 3), Pháp (thứ 5), Anh (thứ 6), Hà Lan (thứ 7), Thụy Sĩ (thứ 9) và Thụy Điển (thứ 10). Tổng cộng, đã có 156.100 đơn xin cấp bằng sáng chế được nộp vào năm 2007, tăng 4,7% so với năm 2006.           Phần Lan là một ví dụ điển hình. Từ giữa những năm 1990, công tác nghiên cứu khoa học của nước này được tiến hành theo mô hình liên kết Chính phủ, các doanh nghiệp và các trường đại học vào trong một ủy ban đặc biệt làm nhiệm vụ định hướng nghiên cứu. Một trong những cơ quan tài trợ kinh phí nghiên cứu chính tại quốc gia này là Quỹ cải tiến và sáng tạo công nghệ Phần Lan (Tekes). Một nửa ngân sách hằng năm của quỹ dùng để tài trợ công tác nghiên cứu của các doanh nghiệp và một nửa còn lại dành cho các trường đại học. Tekes hỗ trợ ít nhất 70% tổng kinh phí nghiên cứu cho dự án R&D của các công ty lớn. Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức hỗ trợ tối đa là 50%. Ngoài ra, Phần Lan còn triển khai các chiến dịch truyền thông rầm rộ để quảng bá hình ảnh các trung tâm công nghệ cao của mình ra toàn thế giới.     Một trong những biểu tượng cho thành công của Phần Lan chính là Nokia. Từ một xí nghiệp sản xuất bột giấy nhỏ, chỉ sau vài năm, Nokia đã trở thành nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới. Công ty này hợp tác với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và các trường đại học không chỉ ở trong nước mà cả ngoài nước. Chẳng hạn, mới đây, Nokia vừa liên kết với trường Đại học Cambridge để tìm kiếm tiềm năng phát triển mới trong lĩnh vực công nghệ nano.      CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG CỦA CÁC TẤM BẰNG SÁNG CHẾ  Về phần Đức, nước này dành hơn 2,5% GDP, tức khoảng 60 tỷ Euro mỗi năm, cho công tác R&D. Do đó, xét về mặt ngân sách đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, Đức hiện đang đứng đầu châu Âu. Cũng như Phần Lan, các trung tâm nghiên cứu tư nhân Đức đóng vai trò rất quan trọng. Hai phần ba số kinh phí đầu tư cho việc cải tiến và nâng cao công nghệ đến từ các doanh nghiệp, nhất là các công ty đa quốc gia như Bosch, Siemens, v.v. Ngoài ra, Đức là quốc gia đệ đơn xin cấp bằng sáng chế nhiều nhất châu Âu. Thậm chí, với 18.134 sáng chế xin cấp bằng, nước này còn chiếm luôn vị trí thứ ba thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Thế mạnh của Đức là khả năng cải tiến các công nghệ căn bản để chúng có thể được sử dụng một cách rộng rãi trong các ngành sản xuất truyền thống như xe hơi, hóa học, máy móc và dụng cụ… Hoạt động nghiên cứu của nước này chủ yếu dựa trên hai hệ thống cơ quan hỗn hợp làm nhiệm vụ chuyển giao công nghệ và nghiên cứu ứng dụng là các viện nghiên cứu Fraunhofer và hiệp hội Leibniz. Các trường đại học, về phần mình, nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu những lĩnh vực sẽ phát triển mạnh trong tương lai như công nghệ nano chẳng hạn. Mục tiêu đề ra: xây dựng các cơ sở đào tạo này thành những trung tâm nghiên cứu chất lượng cao với sự hỗ trợ của Mittelstand, mạng lưới các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó có rất nhiều doanh nghiệp tân tiến.  Nằm bên kia biên giới Đức là Thụy Sĩ, một đất nước tự do, phân quyền, nổi tiếng với những công trình nghiên cứu khoa học và kĩ thuật chất lượng cao. Quốc gia này cũng nằm trong nhóm nước đứng đầu châu Âu về cải tiến và sáng tạo công nghệ. Vị trí của Thụy Sĩ được biểu hiện qua nhiều phương diện. Chẳng hạn, về tỉ lệ kinh phí đầu tư cho cải tiến và sáng tạo công nghệ tính theo doanh thu, các doanh nghiệp Thụy Sĩ chiếm vị trí thứ nhất với 3,5%. Ngoài ra, xét về chi phí thô mà khu vực kinh tế tư nhân bỏ ra để đầu tư cho hoạt động R&D, nước này đứng thứ ba châu Âu. Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học ở quốc gia này. Từ năm 2001 đến năm 2005, Cơ quan khuyến khích phát triển công nghệ mới Thụy Sĩ (CTI) đã hỗ trợ kinh phí cho khoảng 1.500 dự án nghiên cứu do các doanh nghiệp và các trường đại học phối hợp tiến hành. Tuy nhiên, Thụy Sĩ không nên vì thế mà xem nhẹ cái nền tảng, tức công tác đào tạo, tài trợ công cho các dự án nghiên cứu mà trình độ vẫn còn chưa theo kịp một số quốc gia thuộc Liên minh châu Âu.                VĂN PHÒNG CẤP BẰNG SÁNG CHẾ CHÂU ÂU: Đức là nước đệ đơn xin cấp bằng sáng chế nhiều nhất Châu Âu.        Bên kia bờ biển Manche, Anh là người học trò xuất sắc nhất trong công tác nghiên cứu cơ bản của châu Âu. Dù ngân sách chi cho nghiên cứu và số người làm công tác này ở Anh ít hơn so với các quốc gia khác, các nhóm nghiên cứu nước này vẫn xếp trên các nhóm nghiên cứu của Đức, Pháp và sáng tạo ra hơn 8% tri thức khoa học cho nhân loại. Ngoài ra, nước Anh có tới 11 trường đại học nằm trong số 100 trường đại học hàng đầu thế giới (Cambridge xếp vị trí thứ 3) theo như bản xếp hạng của Đại học Giao thông (Jiao Tong) Thượng Hải. Anh đạt được thành công này nhờ đã áp dụng cách quản lý rất khác lạ: kinh phí được tài trợ kép cho hoạt động nghiên cứu khoa học (tài trợ cơ bản và tài trợ theo dự án), các trường đại học được trao quyền tự chủ, công việc giảng dạy và nghiên cứu của các giảng viên và nhà nghiên cứu rất bấp bênh nhưng thu nhập lại khá cao nên họ phải phấn đấu, nỗ lực không ngừng. Giảng viên, nhà nghiên cứu không phải là công chức Nhà nước mà chỉ là nhân viên hưởng lương của các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu. Vài năm lại đây, Vương quốc Anh còn khuyến khích chuyển giao công nghệ, kêu gọi khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào hoạt động R&D bằng cách giảm thuế và thành lập một hội đồng độc lập phụ trách chiến lược nghiên cứu khoa học kỹ thuật (Technology Stratery Board). Tuy nhiên, số hợp đồng kí kết với các doanh nghiệp chỉ mới cung cấp được 6% kinh phí cho công tác nghiên cứu cơ bản của nước này.        NƯỚC PHÁP TỤT HẬU  Theo sau các “nhà vô địch” là những “kẻ tụt hậu” bao gồm Áo, Bỉ, Pháp, Ai-len, Ai-xơ-len, Luxembourg và Hà Lan. Đa phần các quốc gia này chịu chung cảnh ngộ mang tên “nghịch lý châu Âu”: hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển nhưng các sản phẩm của nó lại thiếu tính kinh doanh.  Trong lĩnh vực cải tiến và sáng tạo công nghệ, Pháp chỉ giữ vị trí trung bình so với 26 thành viên khác của Liên minh châu Âu. Nguyên nhân: ngành công nghiệp nước này giống như cái bóng mờ của công tác nghiên cứu khoa học; các cơ chế hỗ trợ cải tiến và sáng tạo công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, dù có ý định rất tốt, nhưng lại thường không cho phép các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu bắt tay làm việc với nhau. Chẳng hạn, Pháp ưu tiên các nhân tố tư nhân và nhất là công lập làm trung gian. Cho nên, các công trình nghiên cứu tư nhân rốt cuộc chỉ chiếm hơn 50% tổng sản phẩm nghiên cứu của nước Pháp trong khi theo mục tiêu Lisbon, tỉ lệ này phải đạt hai phần ba.                 MỨC KINH PHÍ CHI CHO HOẠT ĐỘNG R&D (tính theo % GDP)  Năm 2006, Liên minh châu Âu đầu tư 1,84% GDP cho hoạt động R&D. Tuy nhiên, mức kinh phí mỗi quốc gia thành viên chi ra cũng rất khác nhau. Dẫn đầu là Thụy Điển (3,82%) và Phần Lan (3,45%), sau đó đến Đức (2,51%), Áo (2,45%) và Đan Mạch (2,43%). Các quốc gia đầu tư ít nhất là Síp (0,42%), Ru-ma-ni (0,46%), Bulgaria (0,48%) và Slovakia (0,49%).         Tuy nhiên, nền khoa học Pháp không hoàn toàn chỉ là một bức tranh đầy màu u ám. Pháp có thể dựa vào những điểm mạnh của mình (hệ thống giáo dục tiên tiến chẳng hạn) để đưa nền khoa học nước này bắt kịp trình độ phát triển của các quốc gia khác. Quả thật, Pháp xếp thứ hai châu Âu (sau Ai-xơ-len) về số lượng nhà khoa học và kỹ sư được đào tạo mỗi năm. Dưới góc độ sở hữu công nghiệp, vị trí của Pháp không tồi tệ như những lời đồn thổi mà ngược lại, rất đáng để nể trọng: Pháp là quốc gia đệ đơn xin cấp bằng sáng chế nhiều thứ thứ hai châu Âu, sau Đức.    Nước Bỉ, láng giềng của Pháp, cũng có một nền khoa học khá phát triển, nhưng khả năng biến những tiến bộ khoa học kỹ thuật thành sản phẩm thương mại của quốc gia này vẫn còn hạn chế. Một trong những điểm mạnh của Bỉ là đội ngũ các nhà khoa học. Thống kê về tỉ lệ nhà khoa học và kỹ sư so với dân số cho thấy Bỉ là quốc gia có nhiều nhà khoa học và kỹ sư nhất châu Âu (7,9%), sau đó đến Ai-xơ-len (6,8%) và các nước Bắc Âu (từ 6 đến 6,7%). Các quốc gia có tỉ lệ nhà khoa học so với dân số thấp nhất là Bồ Đào Nha (2,7%), Bulgaria (3%), Áo (3%) và Slo-vakia (3%). Tỉ lệ trung bình của EU là 4,8%.      CÁC THÀNH VIÊN MỚI NỖ LỰC ĐỂ BẮT KỊP TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CHUNG  Áo không phải một trong những quốc gia châu Âu hoạt động tích cực nhất trên “mặt trận” R&D. Bằng chứng: chỉ 3 công ty nước này được trao giải thưởng Booz Allen Hamilton dành cho 1.000 doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất cho hoạt động R&D trong khi có tới 120 công ty Đức, 60 công ty Pháp và 50 công ty Anh nhận giải thưởng này. Tuy nhiên, truyền thống nghiên cứu y khoa tuyệt vời của đất nước Áo đã giúp các ngành công nghệ sinh học phát triển nhanh. Ngoài ra, các trường đại học, vốn đã quen hợp tác với các doanh nghiệp dược, cũng nghiên cứu rất tốt trong lĩnh vực y học. Áo hiện có 150 công ty công nghệ sinh học, 170 viện nghiên cứu và trung tâm phát triển các nhãn hiệu dược lớn (Baxtex, Boehringer Ingelheim, Lilly và Roche). Đây cũng là những công ty thuộc nhóm doanh nghiệp đứng đầu thế giới về phát triển vaccine và những loại thuốc mới dùng để điều trị các căn bệnh nặng.  Đứng sau Áo là nhóm các quốc gia “cải tiến và sáng tạo công nghệ vừa phải” gồm Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Tây Ban Nha, Na Uy, Slovakia và Italia. Nền khoa học Italia chiếm vị trí đáng kể trong một số lĩnh vực nghiên cứu then chốt như vi điện tử, quang điện tử, cơ học và chế tạo robot. Đất nước hình chiếc ủng đạt thành quả như vậy nhờ có một nền giáo dục tiên tiến, các trung tâm nghiên cứu chất lượng cao, hợp tác chặt chẽ với các ngành nghiên cứu trên thế giới. Chính sự trao đổi ấy đã giúp các nhà khoa học Italia tận dụng phương tiện nghiên cứu của các quốc gia khác. Thêm một yếu tố nữa tạo nên thành công của nền khoa học Italia là nước này có rất nhiều nhà nghiên cứu ra nước ngoài làm việc.                 ROBOT THĂM DÒ ỐNG DẪN do các viện Fraunhofer (Đức) phát triển.        Các thành viên mới của Liên minh châu Âu là Slovenia, Estonia, Cộng hòa Séc đang dần bắt kịp trình độ phát triển công nghệ chung. Thậm chí, những quốc gia này còn tiến nhanh hơn Hy Lạp và Bồ Đào Nha. Với chỉ số cải tiến và sáng tạo công nghệ đạt 0,36, Slovenia đứng trên cả Italia và Tây Ban Nha. Nỗ lực đào tạo đội ngũ các nhà khoa học trẻ tuổi, chất lượng cao mà Slovenia đeo đuổi từ hai mươi năm nay qua chương trình “2.000 nhà nghiên cứu trẻ” cùng với tiềm năng khoa học mạnh đã giúp quốc gia này ít phải đương đầu với nạn chảy máu chất xám như các nước thuộc Liên Xô cũ. Ngoài ra, Slovenia còn nằm trong số những thành viên EU đạt thành quả tốt nhất trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, xã hội thông tin theo như bản báo cáo về công tác triển khai Chiến lược Lisbon do Trung tâm cải cách kinh tế Luân Đôn thực hiện.    Cuối cùng, nhóm các quốc gia “đang bắt kịp trình độ phát triển chung” gồm Bulgaria, Croatia, Hy Lạp, Hungari, Latvia, Lítva, Man-ta, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Rumani và Slovakia. Phần lớn các nước này có chung điểm yếu là: kinh phí chi cho nghiên cứu khoa học thấp, không đưa công tác R&D và dự báo khoa học vào mục tiêu quốc gia, thiếu những doanh nghiệp lớn mang tầm quốc gia, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, vốn là những công ty đầu tư nhiều nhất cho nghiên cứu khoa học và công tác R&D. Thêm nữa, mức lương, đôi khi rất bèo bọt, của các trung tâm nghiên cứu nhà nước không thể giữ chân và thu hút nổi các nhà khoa học trẻ. Do vậy, các nước này cần phải phấn đấu rất nhiều, nhất là để tạo nên mối gắn kết bền chặt hơn giữa các doanh nghiệp và công tác nghiên cứu khoa học.   Hồ Thủy An dịch (La Recherche số 419, tháng 5 năm 2008)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu và sáng tạo theo kế hoạch      Trung Quốc đang phấn đấu để trở thành một cường quốc khoa học, Chính phủ nước này đầu tư rất nhiều tiền của cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Trung Quốc lại đang thiếu cái mà họ thực sự cần có.      Sáng tạo độc lập  Kexue Dao mệnh danh là hòn đảo khoa học. Nói chính xác thì đây là một bán đảo, và bán đảo này ở nằm hồ Shushan, thuộc Hợp Phì (An Huy, Trung Quốc). Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) bố trí riêng tại bán đảo tương đối xa xôi và tĩnh lặng này với 5 Viện Vật lý và trên một nghìn nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật làm việc. Hợp Phì là một thành phố hạng hai điển hình ở Trung Quốc (TQ) nhưng xét về khía cạnh nghiên cứu khoa học thì thành phố với 5 triệu dân này lại thuộc nhóm đầu bảng ở nước này. Tại đây có tới nửa tá trường đại học, trong đó có ba trường được chọn để phục vụ chương trình đặc biệt của Chính phủ. Ngoài ra còn có ba phòng nghiên cứu cấp quốc gia, tóm lại, về nghiên cứu và đào tạo thì có lẽ Hợp Phì chỉ thua mỗi thủ đô Bắc Kinh.  Theo cách nhìn của phương Tây thì nghiên cứu khoa học ở TQ dường như có vẻ mơ hồ, viển vông, kiểu như họ đang làm ở Kexue Dao. Điều này sẽ phải thay đổi vì TQ phấn đấu đến năm  2050 trở thành  “Cường quốc khoa học hàng đầu thế giới”. Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào nêu khẩu hiệu: zizhu chuangxin – “Sáng tạo độc lập”. Từ năm 1999 đến nay, đầu tư của TQ vào lĩnh vực nghiên cứu tăng hằng năm 20%. Năm 2008, mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học của TQ đã đứng thứ ba thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tuy nhiên nếu so với GDP thì khoản ngân sách này của TQ vẫn thuộc diện nhỏ: năm 2007, tỉ lệ này chỉ có 1,5% trong khi ở Hoa Kỳ tỷ lệ này là 2,6% và ở Đức là 2,5%. Nhưng TQ dự kiến sẽ vượt lên hàng đầu vào năm 2020.  Niềm tự hào của Kexue Dao là Viện Vật lý Plasma. Cán bộ kỹ thuật TQ miệt mài, cặm cụi làm việc trên một quả trứng bằng thép cao 11 mét, trên cùng là lá Quốc kỳ Trung Hoa. Khi quả trứng khổng lồ này đi vào hoạt động thì nhiệt độ ở quả trứng thép này, thực chất đây là lò phản ứng tổng hợp nhiệt hạch, sẽ lên đến trên 100 triệu độ C. Các nhà vật lý TQ muốn khai thác năng lượng sạch, như nguồn năng lượng vô tận sản sinh trên Mặt trời. Người TQ đặt tên cho lò phản ứng này là “Experimental Advanced Superconducting Tokamak” – viết tắt là East.                  Luo Guang-Nan, Phó Trưởng ban nghiên cứu Tokamak nói: “Chúng tôi rất tự hào về công nghệ của mình”. Luo từng bảo vệ luận án tiến sỹ ở Nhật Bản và cộng tác nghiên cứu khoa học ở Đức. Ông nói: “Chúng tôi sử dụng cuộn siêu dẫn, nhờ đó lò phản ứng sẽ hoạt động lâu hơn”. Ngay cả lò phản ứng thí nghiệm quốc tế Iter, trong năm nay sẽ được lắp đặt ở Pháp, cũng sử dụng cuộn dây tiết kiệm năng lượng này. Ông Lou cho rằng: “Chúng tôi là địa bàn thử nghiệm quan trọng nhất phục vụ dự án Iter”. Nói như vậy có phần hơi cường điệu, nhưng Luo và các đồng nghiệp của ông đang phấn đấu tiếp tục mở rộng lò phản ứng. “Sẽ đến lúc East thực sự đứng đầu bảng trên thế giới” đó là đánh giá của nhà nghiên cứu Joachim Roth làm việc tại Viện Vật lý Plasma ở Garching, thuộc Viện Max-Planck (Đức).  Roth, một nhà vật lý Plasma, từ lâu đã hợp tác với các nhà nghiên cứu ở Hợp Phì. Ông nói “Những gì đang diễn ra ở đấy quả thật khó tưởng tượng nổi”. Năm 2002, lần đầu tiên ông đến thăm hòn đảo khoa học này, hồi đó ở đây còn có một lò phản ứng cũ, thuộc diện bỏ đi của Nga, nhưng vẫn còn có thể hoạt động và đủ tốt để người ta có thể tìm hiểu, làm quen và tập dượt. Từ đó đến nay ngân sách dành cho các phòng nghiên cứu của TQ đã tăng gấp đôi, nhà nghiên cứu người Đức nở nụ cười vẻ thèm thuồng: “Đây là tốc độ tăng trưởng mà chúng tôi chỉ dám nghĩ đến trong mơ”.  Tự do cho nghiên cứu  Hiện nay, các nhà nghiên cứu TQ đã có lượng bài đăng trên các tạp chí chuyên đề nhiều hơn tổng số bài báo đồng nghiệp của họ công bố ở tất cả các nước khác, trừ Hoa Kỳ. Năm 2005, ông Rao Zihe, Phó Giám đốc Viện Vật lý Sinh học thuộc CAS đã nói: “Khoa học cũng có thể như Thế vận hội. Cách đây vài chục năm, chúng tôi đoạt được rất ít huy chương. Tại Athen, chúng tôi  có được 32 huy chương vàng trong khi Hoa Kỳ đạt 35. Lúc đó, ai mà biết được năm 2008 chúng tôi sẽ được bao nhiêu? Nhưng thực tế đã xảy ra thế nào? “Các vận động viên TQ đã gặt hái  được 52 huy chương vàng ở Olympic Bắc Kinh trong khi Mỹ chỉ đoạt được 36 cái”.  Nhưng liệu người ta có thể lên kế hoạch lập thành tích trong khoa học như đối với thể thao? Liệu với việc tìm mọi cách để phát hiện tài năng, tập luyện không nề hà gian khổ, cực nhọc và với nghị lực phi thường, người ta có thể giành thắng lợi trong khoa học? Đối với các vận động viên thể thao thì tấm huy chương vàng Olympic cũng tương tự như giải thưởng Nobel với nhà nghiên cứu. Người TQ vô cùng khát khao chờ đợi ngày một đồng bào của họ được tặng giải thưởng đầy danh giá này. “Thi thoảng, khi một người TQ ở hải ngoại được giải thưởng này, thì sự khát khao mong đợi lại càng day dứt hơn”, nhà báo Raymond Zhou đã từng viết như vậy trên China Daily online. Năm ngoái, ông Charles Kao, người đã sinh ra tại Thượng Hải, hiện mang hộ chiếu Hoa Kỳ và Anh Quốc được giải thưởng về Vật lý. Người ta có thể thấy người TQ thực ra có khả năng để đạt được thành tích cao nhất trong khoa học, nhưng “vì một lý do nào đó, vì một cái gì đấy nên chúng ta luôn bị thua thiệt. Tôi nghĩ đó là do lỗi hệ thống của chúng tôi”.  Để nghiên cứu thì người ta cần có tự do đến mức độ nào? Ở TQ, tự do trong nghiên cứu được thỏa mãn đến đâu? Và tài năng thực sự của các nhà khoa học TQ như thế nào? Trước khi có thể trả lời được những câu hỏi này, cần phải làm rõ về sự đa dạng và phong phú của TQ. Bất kể người ta nói gì về đất nước này, thì ở một nơi nào đó trên đất TQ lại cho thấy điều ngược lại. Điều này cũng thể hiện rõ trong nghiên cứu. “Chất lượng nghiên cứu không những chỉ khác biệt rất lớn giữa vùng này với vùng kia. Ngay giữa các viện thuộc một trường đại học cũng có thể có sự khác biệt rất lớn”, đánh giá của ông Armin Krawisch, Giám đốc Trung tâm Trung – Đức về hỗ trợ khoa học thuộc Cộng đồng Nghiên cứu Đức (DFG) ở Bắc Kinh.  Nghiên cứu khoa học hàng đầu ở TQ thường chỉ diễn ra ở Bắc Kinh, Thượng Hải và một vài thành phố khác như Thâm Quyến hoặc Hợp Phì. Các nhà nghiên cứu TQ có thành tựu xuất sắc trong một số lĩnh vực như khoa học vật liệu, công nghệ nano, hóa phân tích, vật lý và ở một số bộ môn về sinh học như nghiên cứu về bộ gene. Cho đến nay, TQ khá mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, mãi đến gần đây nghiên cứu cơ bản mới bắt đầu vươn lên.  Những điều tương tự cũng đang diễn ra ở Kexue Dao. Tại đây có ba viện nghiên cứu phục vụ ứng dụng (quang học, cơ khí chính xác, máy thông minh và công nghiệp tái sinh) cạnh đó có hai viện làm nghiên cứu cơ bản (vật lý plasma và vật lý chất rắn). Phòng thí nghiệm từ trường cao là một cơ sở nghiên cứu còn rất mới mẻ, nơi các nhà nghiên cứu ứng dụng và cơ bản cùng nhau làm việc. Viện này mới được thành lập trên đảo khoa học cách đây hai năm. Có thể trong tương lai, bộ mặt nghiên cứu khoa học của TQ cũng sẽ tương tự như tại nơi đây.  Lượng và chất  Tuy nhiên, trước sau thì đường hướng phát triển nền khoa học TQ vẫn do Chính phủ quyết định. Cụ thể, Chính phủ quyết định sẽ tập trung nghiên cứu ở những lĩnh vực nào. Kế hoạch phát triển khoa học trong vòng 15 năm tới đề cập đến 20 “siêu dự án”. “Các cán bộ quản lý khoa học TQ cho rằng họ đã nhận thức được rằng “Sáng tạo là thứ không thể do cấp trên áp đặt, chỉ đạo” Tuy nhiên, trên thực tế họ lại vẫn đang phải làm việc theo kiểu đó, bà Linda Jakobson, một chuyên gia về TQ đã viết như vậy trong công trình nghiên cứu Innovation with Chinese Characteristics của bà. Chính phủ trước hết vẫn ưu tiên hỗ trợ cho các lĩnh vực mà Chính phủ hy vọng sẽ mang lại nhiều lợi ích nhất: tức là để giải quyết một vấn đề gì đó hay để gây thanh thế theo quan niệm: “Các nhà khoa học TQ làm khoa học không phải vì khoa học. Mà các nhà khoa học cần làm những việc có ích”.  Và vì các quan chức làm khoa học muốn kiểm tra kế hoạch do họ vạch ra được thực hiện đến đâu, nhưng thường thì họ lại không thể đánh giá được chất lượng nghiên cứu nên họ đánh giá nghiên cứu khoa học theo số lượng. Gần như là số lượng các bài báo về các công trình nghiên cứu có ý nghĩa quyết định  đối với việc phong học hàm, học vị, cấp phát ngân sách và đề bạt. Nhưng thường thì chất lượng nghiên cứu  không đi đôi với số lượng các công trình. Điều này thể hiện ở chỗ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học TQ ít được trích dẫn hơn so với các đồng nghiệp ở những nước khác. Trong lĩnh vực vật lý, TQ đứng hàng thứ tư thế giới về số lượng các công trình được công bố, tuy nhiên về số lượng trích dẫn đối với từng bài báo thì chỉ đạt vị trí 65”.  Một khi quá chú trọng đến số lượng thì dễ nảy sinh tệ nạn như như sao chép, làm giả hay tự tạo  số liệu. Để tìm hiểu về vấn đề này, Bộ Khoa học TQ đã tiến hành lấy  ý kiến của trên 6.000 nhà nghiên cứu. Kết quả tuy không được công bố, nhưng khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tạp chí chuyên đề Nature tiết lộ khoảng một phần ba số người được hỏi ý kiến thú nhận họ đã trí trá, gian lận trong nghiên cứu khoa học. Một công trình điều tra cho thấy, theo ước đoán thì thị trường viết thuê các bài báo khoa học ở TQ trong năm 2009 lên tới 100 triệu Euro – nhiều gấp năm lần so với năm 2007. “Chính phủ đã ý thức được vấn đề này”, Armin Krawisch thuộc DFG nói. Hồi tháng 2, Chính phủ đã công bố dự thảo về cải cách giáo dục và đề nghị các nhà khoa học góp ý kiến. Các vị chủ nhiệm khoa sinh học trường Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đã gửi tới Thủ tướng nước này một bức thư, trong đó họ yêu cầu Nhà nước dành cho họ quyền tự chủ như Nhà nước đã từng dành những quyền đó cho giới doanh nhân trong những năm 80”.  Lỗi do giáo dục?    Nhưng những khó khăn lại bộc lộ sớm hơn nhiều, ngay từ ở trường phổ thông. Cho đến nay học sinh TQ vẫn phải học thuộc lòng rất nhiều. “Chúng tôi sản xuất các thí sinh theo kiểu dây chuyền thuộc tầm cỡ thế giới, nhưng lại bóp nghẹt mọi sự sáng tạo của họ”. Raymond Zhou thuộc China Daily đã nhận định như vậy. “Phương pháp học tập máy móc đã khiến chúng tôi hầu như không thể trở thành những người đi tiên phong và những người lãnh đạo trong khoa học. Muốn làm được việc đó, người ta phải dám có chủ kiến riêng của mình. “Những phương pháp này ít nhiều là tàn dư của hệ thống thi cử thời phong kiến, nó đòi hỏi thí sinh phải nai lưng học gạo, cạnh đó theo truyền thống Khổng giáo, học sinh phải làm theo những gì mà ông thầy bảo ban, dạy dỗ”.  Ngày nay học sinh chịu một áp lực rất lớn. Một cuộc thi có ý nghĩa quyết định đến số phận cả cuộc đời của họ. Các bậc phụ huynh thì đặt hết hy vọng vào đứa con duy nhất của mình, luôn cầu mong con của họ sẽ có một cuộc sống khấm khá hơn.  Nhiều học sinh đau ốm vì căng thẳng. Trường University College London đã tiến hành một cuộc khảo cứu đối với 2.000 học sinh TQ, một phần ba trong số này cho hay ít nhất trong một tuần các em bị đau đầu hoặc đau bụng một lần. 81% trong số các em được hỏi rất lo sợ về chuyện thi cử. Nói như vậy không có nghĩa là mọi sinh viên TQ chỉ biết học gạo mà không có đầu óc sáng tạo.                  Thời gian qua, nền khoa học của TQ đã có sự nối mạng khá tốt ra bên ngoài. Nhiều giáo sư nước ngoài được mời giảng dạy ở các trường đại học TQ, các nhà nghiên cứu TQ hợp tác với các đồng nghiệp ở nước ngoài và nhiều cơ quan của TQ cùng với đối tác nước ngoài thành lập các trung tâm nghiên cứu. Ngay từ những năm 80, trong khuôn khổ chính sách mở cửa, sinh viên TQ đã được học tập đào tạo ở nước ngoài: năm 1985 mới có  5.000 học sinh TQ rời quê hương đi học ở nước ngoài, đến năm 2007, con số này lên tới 144.000.  Những sinh viên được đào tạo ở Hoa Kỳ, Anh Quốc và Đức có trọng trách đưa TQ trở thành một cường quốc khoa học. Chính phủ TQ dành cho họ thu nhập cao, nhà ở, các danh hiệu khoa học cao quý và một khoản ngân sách nghiên cứu rất hào phóng để lôi kéo họ về nước.   Nhà vật lý Pan Jianwei hồi hương năm 2008 và làm việc tại Hợp Phì sau 12 năm đèn sách và làm việc ở Áo và Đức. Ông đã đưa nhóm nghiên cứu của mình ở Đại học Khoa học và Công nghệ TQ lên đỉnh cao thế giới về vật lý lượng tử. Rõ ràng, những nhà khoa học hồi hương này đang làm thay đổi văn hóa trong phòng thí nghiệm. Một đồng nghiệp trước đây của ông là Časlav Brukner thuộc Đại học Wien, trong một cuộc hội nghị ở Bắc Kinh đã tỏ ra ngạc nhiên khi thấy học trò của ông Pan mạnh dạn nêu câu hỏi và tham gia thảo luận hết sức sôi nổi, đây là điều mà người ta thường ít thấy ở sinh viên TQ.  Thời gian gần đây, các học viên trẻ có bằng cử nhân và cao học về nước ngày càng nhiều hơn. Thường các nhà nghiên cứu bậc cao vẫn giữ vị trí của mình ở nước ngoài, nhiều người hồi hương làm việc trong ngành kinh tế. Tuy nhiên theo ước đoán thì hiện có tới 80% số người TQ học tập và đào tạo ở nước ngoài vẫn chưa về nước. Ông Jakobson cho rằng: ở hầu hết các lĩnh vực, những chuyên gia tài năng nhất vẫn chưa hồi hương.  Những người hồi hương thường có cảm giác xa lạ với kiểu làm việc ở trong nước và họ rất khó chấp nhận việc chính giới can thiệp vào lĩnh vực nghiên cứu. Đôi khi, họ còn tỏ ra thiếu kiên nhẫn. Nhưng chính những đặc điểm này của họ có thể đã góp phần thúc đẩy sự thay đổi. Ông Gong Li, chuyên gia  máy tính và đồng thời là người phụ trách của công ty Mozilla ở TQ đã thành lập một diễn đàn của những người làm khoa học hồi hương nhằm tạo ảnh hưởng đến Chính phủ.  Để thu hút được các nhà nghiên cứu xuất sắc nhất, TQ cần phải tiếp tục thực hiện đổi mới. Trong khi thời gian vẫn trôi đi và Chính phủ TQ tiến hành thay đổi thế giới khoa học của mình thì sẽ đến lúc nền khoa học toàn cầu khiến Trung Quốc thay đổi. Nền nghiên cứu của TQ không còn là một hòn đảo, thậm chí cũng không phải là một bán đảo nữa.   Xuân Hoài  theo Zeit    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu và ứng dụng vật lý hạt nhân nửa thế kỷ trước ở Việt Nam      Thiết bị hạt nhân đáng giá đầu tiên ở nước ta là máy phát neutron 14 MeV do Viện Dubna tặng Viện Vật lý. Món quà cũng thể hiện mối tình thân hữu giữa Viện sỹ G. N. Flerov và giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, người sáng lập và lãnh đạo Viện Vật lý từ đầu thập kỷ 1970.    Kèm theo máy gia tốc còn có máy phân tích biên độ 1024 kênh, detector nhấp nháy và hệ thống chuyển mẫu tự động bằng khí nén để phân tích kích hoạt dựa trên các đồng vị sống ngắn. Thời ấy, các thiết bị điện tử còn sử dụng bóng bán dẫn, cồng kềnh và bất tiện hơn ngày nay nhiều. Luồng neutron 14 MeV với thông lượng 1010 n/s có thể xem như mạnh nhất thời bấy giờ. Sau này ta có lò phản ứng Đà Lạt với luồng neutron mạnh hơn gấp bội, có rất nhiều kênh chiếu và kênh dẫn neutron, nhưng neutron ở lò Đà Lạt có năng lượng dưới MeV.  Thế hệ hạt nhân đầu tiên đã sử dụng máy phát neutron để phân tích kích hoạt, xác định hàm lượng các nguyên tố trong quặng bô xit, quặng đồng v.v… Kết quả được công bố trên một số tạp chí Liên Xô, như Atomnaya Energia rất có uy tín về năng lượng nguyên tử trên thế giới thời bấy giờ.  Tuy thua kém các thiết bị cùng loại trên thế giới về nhiều tính năng vật lý, hệ thống ghi đo bức xạ gamma bằng detecto nhấp nháy lại có năng suất phân giải rất thấp, song hệ thiết bị của Viện Vật lý vẫn có khả năng tạo ra các đồng vị sống ngắn, trong đó có các trạng thái isome. Xác định tỷ số tiết diện tạo thành trạng thái isome và trạng thái cơ bản (tỷ số isome) là đề tài vật lý hạt nhân thực nghiệm khá sôi nổi lúc bấy giờ trên các máy gia tốc phát neutron nhanh.  Không ít khó khăn về kỹ thuật thực nghiệm phải vượt qua để tìm được chỗ đứng cho công trình nghiên cứu tỷ số isome của Việt Nam trên mặt tiền khoa học hạt nhân lúc bấy giờ. Công trình được đăng trên Yadernaya Physica, sau đó được đăng lại trên ấn phẩm của IAEA, đánh dấu cọc mốc đầu tiên trên bước đường nghiên cứu tỷ số isome xuyên suốt nhiều thế hệ lãnh đạo Phòng Vật lý Hạt nhân, Viện Vật lý. Máy phát neutron đã lỗi thời, Viện Vật lý được tặng thêm máy gia tốc electron (microtron). Các thế hệ tiếp theo nghiên cứu tỷ số isome đã sử dụng những công cụ hiện đại hơn, cả các máy gia tốc rất mạnh ở nước ngoài.  Thời ấy, Viện Vật lý còn có máy phát neutron xung 14 MeV do Liên Xô chế tạo, có thể đưa xuống giếng khoan để thăm dò dầu khí. Toàn bộ thiết bị thả xuống giếng khoan, gọi là “củ cà rốt”, được đặt bên trong ống thép hình trụ dài 2,5 m, đường kính 10 cm, bề dày 1 cm, bao gồm nguồn cao áp xung 40 kV, chiều dài xung 100 ms, đèn phát neutron, và detector ghi nhận neutron khuyếch tán ngược từ các vỉa chứa dầu và nước bao quanh giếng khoan.  Hôm ấy, cả công trường khoan dầu ở Thái Bình đã nghỉ hẳn một đêm, nhường giếng khoan cho các nhà hạt nhân thả củ cà rốt xuống tận độ sâu 2000 m, nơi đây nhiệt độ nước giếng cao hơn 100oC. Vỉa chứa dầu khuyếch tán neutron mạnh hơn vỉa chứa nước, nhờ đó có thể phát hiện ra lớp tiếp giáp dầu – nước bằng cách ghi neutron khuyếch tán ngược trong thời gian giữa các xung.  Chúng tôi làm việc trong xe chuyên dụng ca rô ta. Tiếng tích tắc khe khẽ từ máy đếm neutron bỗng trở nên rộn ràng. Củ cà rốt đứng ngay ở lớp tiếp giáp giữa hai vỉa chứa dầu và nước.  Thấy dầu rồi, mọi người reo lên! Lớp tiếp giáp sau cách lớp trước khoảng 6 m, đây chính là bề dày vỉa dầu. Hình như trước đó bên dầu khí đã phát hiện ra vỉa dầu này. Nếu đúng thế, phương pháp neutron xung giúp khẳng định phát hiện của họ và xác định rất chính xác vị trí các lớp tiếp giáp giữa dầu và nước.  Nửa đêm hôm ấy, hai bạn trẻ nhất đoàn lội xuống sông bắt ngao. Thế là chúng tôi có bữa cháo ngao tự biên tự diễn mừng thành công trước lúc rạng đông.  Nửa thế kỷ trôi qua vẫn không sao quên được cái đêm không ngủ ấy bên con sông nước lợ ở Thái Bình. Kỷ niệm một thời thanh niên làm hạt nhân đầy lãng mạn!  Kỹ thuật phân tích phóng xạ tự nhiên dùng detector Ge siêu tinh khiết được ứng dung rất rộng rãi ở nước ta trong nhiều năm gần đây. Có lẽ ít người ngồi bên detector để khai thác cái “mỏ vàng lộ thiên” này thắc mắc: Ai đã tìm ra kỹ thuật mầu nhiệm này và từ bao giờ?  Sau thống nhất đất nước, một đơn vị quân đội đã mang đến phòng thí nghiệm Vật lý hạt nhân một mẫu đất lấy từ Nông Sơn, Quảng Nam nhờ phân tích urani. Họ không hiểu vì sao nơi đó phóng xạ rất cao nhưng urani phân tích bằng phương pháp hóa học lại rất thấp. Phương pháp hạt nhân dùng detecto bán dẫn độc nhất ở Việt Nam lúc này đã giúp họ phân tích U, Ra, Th, K trong mẫu, đồng thời cho thấy U và Ra nơi đây bị mất cân bằng phóng xạ. Urani bị nước lôi đi để radi ở lại, độ phóng xạ cao dị thường là vì radi chứ không phải urani.    Và một công trình đầu tiên về phương pháp phân tích U, Th, Ra, K dùng detector bán dẫn đã được công bố ra quốc tế. Có điều kỹ thuật thực nghiệm thời ấy kém xa bây giờ.  Kể lại vài câu chuyện trên để nhớ đến những người đã từng dắt tay nhau đi những bước đầu tiên trên hành trình hạt nhân ở Việt Nam.  Nguyễn Tất Tố, Phạm Quang Điện, Hoàng Đắc Lực, Võ Đắc Bằng, Dương Quang Tân, Nguyễn Trọng My, Lê Khắc Mạnh đã đi vào cõi vĩnh hằng.  Huỳnh Thượng Hiệp và Trần Đại Nghiệp ở tuổi lúc nhớ lúc quên, nhớ ít quên nhiều.  Nguyễn Phúc, Nguyễn Khắc Thi, và Nguyễn Văn Đỗ đang tiến đến ngưỡng cửa bát tuần.  Họ là thế hệ hạt nhân đầu tiên. Trong số này, có những chuyên gia vật lý hạt nhân thực nghiệm thuộc loại hiếm. Một thế hệ vàng!  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/nghien-cuu-va-ung-dung-vat-ly-hat-nhan-nua-the-ky-truoc-o-viet-nam/    Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Nghiên cứu về khoa học hành vi ở mức độ phân tử: Công bố sau 9 lần bị từ chối      Từ một câu hỏi “Não của hai con cá chọi phản ứng như thế nào khi chúng giương vây kịch chiến?”, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Y Dược Kitasato (Nhật Bản) đã mở ra hướng nghiên cứu mới về mức độ hoạt động của gene trên bộ não của hai cá thể riêng biệt khi chúng tương tác với nhau. Đây là một hướng nghiên cứu được dự đoán sẽ góp phần vào việc lý giải các cơ chế tương tự ở người.          NSC Vũ Triệu Đức  Vũ Triệu Đức, nghiên cứu sinh tại Học viện Công nghệ Tokyo (Tokyo Institute of Technology) và là tác giả thứ nhất của bài báo “Behavioral and brain- transcriptomic synchronization between the two opponents of a fighting pair of the fish Betta splendens” trên tạp chí uy tín PLOS Genetics vào ngày 17/6 vừa qua, đã trao đổi với KH&PT về công trình nghiên cứu này.  Mở ra hướng nghiên cứu ở mức độ gene trong khoa học hành vi  Từ một nghiên cứu rất nhỏ về hành vi của cá chọi, phát hiện của các anh sẽ góp phần giải quyết những vấn đề gì trong tương lai?  Năm 1973, giải Nobel về Y học được trao cho ba nhà nghiên cứu vì cống hiến của họ cho một ngành khoa học rất mới mẻ – khoa học hành vi. Một ví dụ điển hình cho thành công của họ là việc tìm ra được phương cách ong mật truyền đạt thông tin về khoảng cách và phương hướng của nguồn thức ăn tới những thành viên của nó như thế nào. Sau này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng với mỗi một dạng hành vi như bay ve vẩy hay bay vòng tròn của ong mật trong việc truyền đạt thông tin trên là có hoạt động tương thích của những nhóm gene trên não của chúng. Bằng việc xem xét tỉ mỉ hành vi của sâu bọ hay côn trùng nhưng nguyên tắc cơ bản của nó đã được chứng minh có thể áp dụng cho cả động vật và người.  Nghiên cứu về cá chọi của chúng tôi cũng là một nghiên cứu cơ bản như thế. Cụ thể, từ nghiên cứu sự tương tác giữa gene và hành vi của hai con cá chọi, chúng tôi sẽ mở ra hướng nghiên cứu về hoạt động đồng bộ của gene trên bộ não của hai cá thể riêng biệt ở động vật bậc cao, thậm chí là ở người. Chẳng hạn, một nghiên cứu từ những năm 1980 cho thấy các đặc điểm trên khuôn mặt của những cặp vợ chồng đã sống với nhau trong một thời gian dài có xu hướng trông ngày càng giống nhau. Điều này có thể báo hiệu sự hội tụ của hoạt động gene, và nghiên cứu của chúng tôi được dự đoán sẽ góp phần lý giải nó. Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là để tiệm cận đến việc hiểu về con người hơn, chứ không chỉ dừng lại ở cá chọi hay bất kể là loài cá gì khác.  Vì sao anh và đồng nghiệp lại quan tâm đến mối quan hệ giữa gene và hành vi tương tác của cá chọi? Nó có gì khác so với các sinh vật khác?  Hành vi gây hấn (aggressive behavior), mà cụ thể là giao đấu giữa hai con cá chọi, là một trong số hành vi được bảo tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cùng một loài hoặc chúng song song tồn tại ở nhiều loài khác nhau. Hành vi này được sinh vật sử dụng khi chúng tìm kiếm thức ăn, tìm kiếm bạn đời hay bảo vệ con cái, do đó nó đóng vai trò quan trọng trong sự tồn vong của chúng. Trung bình thời gian giao đấu ở các loài cá khác như cá ngựa vằn hay cá rô phi, hai đối tượng nghiên cứu phổ biến hiện nay, khá là ngắn thường là dưới 30 phút. Vì vậy thông tin về hoạt động của những nhóm gene tương thích với hành vi gây hấn trong khoảng thời gian dài hơn (chẳn hạn như 1 giờ) vẫn còn hạn chế.  Riêng cá chọi, thời gian giao đấu giữa hai con cá đực ở loài cá này là rất dài (trung bình là 82 phút) mà ở các loài cá khác không có. Với thời gian này chúng tôi có thể quan sát và theo dõi chúng liên tục trong thời gian dài, cũng như chủ động hơn trong việc đặt ra các mốc thời gian để đánh giá hoạt động của các gene.  Công việc nghiên cứu hành vi đặc biệt này có gì… đặc biệt?  Nghiên cứu này bắt đầu từ năm 2013, thoạt tiên chúng tôi chỉ tập trung cụ thể vào hai cái gene (tph1 và tph2), đây là hai enzyme tham gia vào việc tổng hợp serotonin, một chất dẫn truyền xung thần kinh có nhiệm vụ điều hòa vấn đề trầm cảm, stress, đặc biệt là sự giận dữ (aggression) ở người và động vật. Một thời gian sau đó, vì những hạn chế trong hướng tiếp cận ban đầu của mình rằng hành vi là cực kỳ phức tạp và chúng có thể có liên quan tới sự hoạt động của rất nhiều gene, chúng tôi đã quyết định xem xét sự biểu hiện của nhiều gene cùng một lúc trong cả quá trình hai con cá chọi giao đấu, từ lúc chưa đánh, trong lúc đánh nhau thời gian ngắn (20 phút) hoặc dài (60 phút), và ngay khi cuộc chiến kết thúc.    Thời gian giao đấu giữa hai con cá chọi đực thường kéo dài trung bình 82 phút.  Trong thời gian tiến hành nghiên cứu, chúng tôi nhận ra rằng ở mức độ hành vi những con cá chọi có lãnh thổ riêng, và có thể chiến đấu liên tục bằng việc sử dụng những ‘chiêu thức’ như đâm vào nhau, cắn, và rượt đuổi. Thậm chí chúng có thể khóa hàm đối thủ như thể đang trong một trận đấu vật tay phiên bản cá.  Chúng tôi đã quay video hơn 10 giờ chiến đấu giữa 17 cặp cá và sau đó phân tích những hành vi gì đã diễn ra – lẫn thời điểm – trong mỗi trận chiến. Cuộc chiến càng kéo dài, cá càng đồng bộ hóa hành vi của chúng, canh thời gian bơi quanh, đâm vào và cắn. Nhóm nghiên cứu cũng xác định rằng các trận đánh trông có vẻ được điều khiển bằng những quy ước nào đó giữa hai đối thủ. Chẳng hạn, trong những cuộc chiến kéo dài khoảng 80 phút, dường như có một ‘quy ước ngầm’ về việc nghỉ giải lao giữa các lần di chuyển. Cuộc chiến sẽ lên tới cao trào cứ sau 5 đến 10 phút, đó là lúc chúng khóa hàm nhau, một chiêu thức nhằm khiến đối thủ nghẹt thở – đây là lúc xem con nào có thể giữ được lâu nhất. Những con cá chọi sau đó sẽ tách nhau ra, và một chu kỳ mới lại bắt đầu.  Sau 20 phút chiến đấu, chúng tôi sẽ mổ cá để xem xét não của năm cặp cá nhằm so sánh gene nào được bật trong não cá trước và sau cuộc chiến. Chúng tôi tiếp tục thực hiện tương tự với năm cặp cá khác với thời gian đánh nhau dài hơn là sau 60 phút. Với những cặp chiến đấu trong 20 phút, chúng tôi đã tìm ra được một số gene – “các gene trung gian đầu tiên” có thể bật những gene khác – hoạt động tương đồng trong mỗi con cá. Với những cặp 60 phút, hàng trăm gene khác đã biểu hiện phối hợp với nhau. Thời điểm bật của mỗi gene cụ thể tùy thuộc vào mỗi cặp cá, cho thấy các tương tác của cặp cá và sự điều phối những bước biến động trong hành vi của chúng. Tính đồng bộ trong hoạt động của các gene này càng tăng cao khi hoạt động đánh nhau giữa hai con cá diễn ra càng lâu.  Kết quả của nghiên cứu đã gợi mở vấn đề gì thú vị?  Nhìn chung, những bài báo hiện tại nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này mới chỉ dừng ở việc xem xét mức độ hoạt động của nơ-ron thần kinh. Để nghiên cứu hoạt động của não giữa hai cá thể riêng biệt trong lúc chúng tương tác với nhau thì các nhà nghiên cứu thường dùng các kỹ thuật kính hiển vi tiên tiến để quan sát hoạt động của nơ-ron thần kinh thông qua hoạt động của các kênh vận chuyển ion, và chủ yếu do các nhà khoa học thần kinh thực hiện. Tuy nhiên, hoạt động này diễn ra trong vòng vài giây đến vài phút nên rất có thể phải có sự hỗ trợ của các cỗ máy phân tử (RNA, protein, chất dẫn truyền xung thần kinh) sau khi các ion này ngừng hoạt động.  Trên thực tế, hoạt động này liệu có phải vậy không và nếu có thì cụ thể là gene nào liên quan và chúng tham gia vào quá trình gì thì vẫn còn là câu hỏi chưa được trả lời. Do vậy, nghiên cứu này giúp giải quyết vấn đề đó, cụ thể là hiểu được những gene nào hoạt động tiếp theo để tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động của các nhóm tế bào thần kinh vận hành tương thích với các hành vi liên quan khi các ion không còn hoạt động nữa. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động đánh nhau được hỗ trợ bởi sự hoạt động của rất nhiều gene liên quan đến vận chuyển ion, sự kết nối nơ-ron thần kinh, và trí nhớ.  Tóm lại, theo hiểu biết hạn chế của tôi thì nghiên cứu của nhóm là nghiên cứu tiên phong trong việc chỉ ra hoạt động đồng bộ của gen trên bộ não của hai cá thể riêng biệt khi chúng tương tác với nhau. Vì nghiên cứu này của nhóm chỉ giới hạn về hành vi gây hấn (aggressive behavior), nên nếu có thể nói một cách suy đoán thì tôi cho rằng hầu như tất cả các hành vi đã được chứng minh ở mức độ hoạt động của nơ-ron thần kinh thì đều có thể chứng minh ở mức độ hoạt động của gene.  Chẳng hạn, đã có một nghiên cứu trước đó chứng minh sự đồng cảm (empathy) giữa người mẹ và đứa con chưa biết nói. Người ta đã xem xét mô hình não giữa đứa con và mẹ để khám phá cách thức hai mẹ con có thể tương tác và hiểu được nhau thông qua sự đồng bộ trong nơ-ron thần kinh của cả hai. Nhưng nó mới chỉ dừng lại ở đó, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tiếp tục chứng minh sâu hơn thông qua mức độ gene.  Đi đến cùng với nghiên cứu của mình  Với một nghiên cứu phức tạp và có tính tiên phong, các anh đã làm thế nào để thuyết phục ban biên tập chấp nhận xuất bản công bố của mình?  Bài báo đã trải qua quá trình bình duyệt kéo dài 3 năm, bắt đầu từ năm 2017 tới tháng 5 năm 2020 và bị 9 tạp chí từ chối. Mãi đến lần thứ 10, khi cầm trên tay bài báo do chúng tôi gửi đến, giáo sư Gregory S. Barsh, tổng biên tập PLOS Genetics, ban đầu cũng có vẻ ngần ngại, nhưng cuối cùng ông đã liên hệ trao đổi thêm với nhóm nghiên cứu bởi với ông, dữ liệu và kết quả của công trình quá khó tin. Dù đã yêu cầu nhóm nghiên cứu giải đáp những thắc mắc của mình nhưng cuối cùng ông vẫn quyết định mời thêm GS Alison Bell – một trong những chuyên gia hàng đầu về khoa học hành vi, bình duyệt bài báo.    Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa xác định được chắc chắn là do hành vi thay đổi dẫn đến hoạt động của gene thay đổi hay ngược lại. Mặc dù nhóm nghiên cứu tìm được khoảng 1500 gen có hoạt động tương đồng với hành vi. Để hiểu được mối quan hệ nguyên nhân-kết quả, một hướng tiếp cận đó là tiến hành đột biến các gene này rồi sau đó xem xét hành vì ở các cá thể đột biến. Tuy nhiên, để đột biến hết được từng đó gene thì chúng tôi chưa thể làm được. Nhìn chung, không chỉ nghiên cứu này, các nghiên cứu khác về hành vi và biểu hiện của gene hiện tại cũng đang gặp khó khăn trong vấn đề này.  NCS Vũ Triệu Đức    Tôi nghĩ, một phần khiến bài báo bị từ chối nhiều lần là vì chúng tôi gặp khó khăn về việc lý giải một cách rõ ràng về mối liên hệ giữa gene và hành vi và chúng tôi cũng không rõ đó là mối quan hệ nguyên nhân – kết quả hay một mối quan hệ nào khác. Khó khăn tiếp theo là nghiên cứu bao quát quá nhiều hướng tiếp cận khác nhau từ sinh học sinh thái tới sinh học hành vi, sinh học thần kinh, sinh học di truyền rồi tới sinh học phân tử. Bản thân tôi nhờ theo chuyên ngành sinh học phân tử và đã có nghiên cứu về hành vi từ lúc còn làm thạc sĩ nên có thể đảm nhiệm những phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, công trình này còn sử dụng một số lượng lớn mô hình kiểm định thống kê phức tạp dẫn tới khó khăn trong việc tìm được một tổng biên tập đủ kiên nhẫn và kiến thức bao quát để mà xem xét bài báo một cách thấu đáo.  Rất may ở lần gửi bài thứ 10 này, ông tổng biên tập là một người vô cùng kiên nhẫn. Sau 8 tháng và 3 vòng phản biện đầy gian nan để củng cố nghiên cứu cũng như bảo vệ quan điểm của mình, cuối cùng nhóm nghiên cứu đã công bố bài báo của mình trên tạp chí PLOS Genetics.  Việc tham gia thực hiện nghiên cứu này giúp anh rút ra được điều gì?  Một trong những may mắn của tôi là được làm việc ở một phòng thí nghiệm lớn, nhân lực quốc tế với trình độ chuyên môn cao. Tôi được tiếp xúc với công nghệ RNA-Seq khá là mới mẻ và tốn kém, từ đó rút ra được một số kỹ năng quan trọng.  Tôi học hỏi được rất nhiều điều từ giáo sư phụ trách lab Norihiro Okada. Ông là một người có tình yêu lớn lao đối với khoa học, dù đã cao tuổi (73 tuổi) nhưng mỗi sáng không kể nắng-mưa-bão-tuyết, khi tôi bước chân vào phòng thí nghiệm thì đã thấy ông cặm cụi làm việc từ lúc nào. Khi ba hậu tiến sỹ trước bỏ cuộc, ông vẫn kiên trì theo đuổi dự án và động viên tôi tiếp tục nghiên cứu. Sự định hướng của ông đến từ nhiều khía cạnh về cả chuyên môn lẫn tinh thần.  Tôi học hỏi được rất nhiều từ các cộng sự trong phòng lab, nhất là từ bạn đồng tác giả thứ nhất của bài báo. Bạn ấy luôn biết cách đơn giản hóa vấn đề từ phức tạp để làm sao cho dễ hiểu nhất. Nhờ việc này mà tôi đã nghĩ đến việc sử dụng các công thức toán học cơ bản để chuyển thể hàng trăm hay hàng nghìn chữ phức tạp trở thành một trang A4 vỏn vẹn ở phần phương pháp. Điều này được đánh giá rất cao từ các phản biện.  Tôi nghĩ bản chất của việc làm khoa học đã đòi hỏi tính tỉ mỉ nhưng người Nhật họ còn nâng tầm tính tỉ mỉ đó lên thành một thứ văn hóa. Nó giúp tôi rất nhiều trong việc nâng cao hiệu quả của việc bố trí thí nghiệm, phân tích-quản lý dữ liệu và thiết kế hình ảnh.  Cảm ơn những chia sẻ của anh!        GS Alison Bell, nhà sinh thái học hành vi tại Đại học Illinois, Urbana-Champaign, đồng thời là người bình duyệt của bài báo, nhận xét công trình này là “một ví dụ tuyệt vời về cách các tương tác xã hội có thể gây phản ứng bên trong cơ thể.”    Nhà khoa học thần kinh Weizhe Hong thuộc Đại học California, Los Angeles cho biết, nghiên cứu mới nhất này đã “bổ sung một khía cạnh mới trong khoa học hành vi, và chắc chắn sẽ mở ra nhiều câu hỏi thú vị cho các nghiên cứu trong tương lai.”        ______________  Anh Thư thực hiện  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/nghien-cuu-ve-khoa-hoc-hanh-vi-o-muc-do-phan-tu-cong-bo-sau-9-lan-bi-tu-choi/2020070902360252p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu về nguồn gốc COVID dẫn đến lửng chó ở chợ Vũ Hán: Các nhà khoa học nghĩ gì?      Một số nhà khoa học cho biết phân tích này đem lại bằng chứng mới ủng hộ giả thuyết về nguồn gốc đại dịch là virus lây lan từ động vật – nhưng vẫn chưa chứng minh một cách thuyết phục.      Một góc chợ hải sản Hoa Nam, Vũ Hán. Nguồn: NYT  Lửng chó, dúi mốc nhỏ, cầy vòi hương: chúng chỉ là một vài trong số rất nhiều động vật có DNA được tìm thấy trong mẫu lấy từ chợ hải sản Hoa Nam ở Vũ Hán, Trung Quốc, có liên quan đến nguồn gốc của đại dịch COVID-19. Những mẫu gạc đã cho kết quả dương tính với SARS-CoV-2. Phân tích này – công bố vào ngày 20/3 trên trang Zenodo – đem lại bằng chứng ủng hộ giả thuyết SARS-CoV-2 nhảy ra từ động vật lên người tại khu chợ này, một số nhà nghiên cứu nói.    “Tất nhiên, đó không phải bằng chứng trực tiếp”, Leo Poon, một nhà vi trùng học tại ĐH Hong Kong, “nhưng đó là cái tốt nhất mà chúng ta có lúc này bởi vì tất cả các con vật đã biến mất khỏi chợ và chúng tôi không có mọi mẫu được lấy từ động vật”.  Vào ngày 16/3/2023, The Atlantic đã có bài về phân tích này. Trang Zenodo là nơi đầu tiên đăng công khai đầy đủ công trình, nhưng chưa qua công đoạn bình duyệt, có thể tiến thêm một bước cho những nghiên cứu tiếp theo, như một cuộc điều tra về nơi xuất phát của các con vật được bán ở chợ.  Các mẫu đã được thu thập vào đầu năm 2020, sau khi chợ hải sản đã bị đóng cửa và vắng sạch các sản phẩm từ động vật 1.  Các nhà nghiên cứu chú ý vào việc tìm kiếm bằng chứng về các loài động vật có vú, vốn có thể là các vật chủ trung gian của virus gây đại dịch. Họ nhận diện được các chuỗi DNA ti thể gần như đầy đủ – có độ dài khoảng 16.000 cặp base – của năm loài động vật hoang dã, bao gồm lửng chó (Nyctereutes procyonoides), nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura), nhím Amur (Erinaceus amurensis), cầy vòi hương (Paguma larvata) và dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus). “Đó là một danh sách đáng chú ý”, theo Alex Crits-Christoph, một nhà sinh học tính toán tại một NGO ở Baltimore, Maryland và là một đồng tác giả.  Đáng chú ý trong đó là DNA ti thể lửng chó trong sáu mẫu được lấy từ hai cái chuồng. Nghiên cứu đã chứng tỏ là các con lửng chó – những con vật trông giống cáo – dễ bị lây SARS-CoV-2, và có thể làm lây nhiễm đến những con lửng chó khác mà không hề biểu thị dấu hiệu rõ ràng nào của bệnh tật. Người ta đã phát hiện lửng chó và cầy vòi hương bị lây nhiễm nhiều loại virus mà hầu như đã được nhận diện là một nguyên nhân dẫn đến bệnh SARS, vốn cũng liên quan đến SARS-CoV-2, và làm bùng phát bệnh trên người vào năm 2003. Và nghiên cứu trên tế bào cầy vòi hương chỉ dấu là chúng có thể dễ bị lây nhiễm SARS-CoV-2.  Các nghiên cứu đề xuất là một tổ tiên của SARS-CoV-2 có thể là nguồn gốc từ dơi nhưng nó chuyển từ dơi sang người như thế nào vẫn không rõ ràng. Các nhà khoa học nghi ngờ một vật chủ trung gian đã tham gia vào quá trình này nhưng lại không tìm thấy bằng chứng thuyết phục, nên dẫn đến suy đoán là virus có thể nhảy ra từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán 2– có thể là chủ ý hoặc tình cờ.  Nghiên cứu mới không xác nhận là liệu bản thân các con vật này đã bị nhiễm virus SARS-CoV-2 hay không nhưng việc chúng có mặt tại chợ đã ủng hộ giả thuyết đại dịch có nguồn gốc từ động vật, một số nhà nghiên cứu cho biết.  Thông tin này có thể hữu dụng trong việc dò tìm nơi các con vật trong chợ đến từ đâu, có thể giúp làm hiểu thêm về sự khởi phát của đại dịch.  Những người khác thì cẩn trọng hơn trong việc rút ra kết luận về nguồn gốc đại dịch từ phân tích này. Công trình này xác nhận các loài động vật tại chợ nhưng bởi vì nó chỉ là một trong số vài mẫu cho kết quả dương tính, “không có dữ liệu trong công trình này liên quan đến SARS-CoV-2 ở mọi loài động vật”, Justin Kinney, một nhà sinh học định lượng tại Phòng thí nghiệm Cold Spring Habor ở New York, nói.    “Những dữ liệu đó không đem đến một câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi về việc đại dịch bắt đầu như thế nào”, Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, nói trong một buổi họp báo vào ngày 17/3/2023 sau khi trình bày vắn tắt những thông tin mới từ báo cáo. “Nhưng mọi phần của dữ liệu đều quan trọng để đưa chúng ta tiến gần hơn đến câu trả lời”.  Viện Vi trùng Vũ Hán, nơi bị nghi ngờ là làm rò rỉ virus ra ngoài. Nguồn: NYT    Sự xuất hiện và biến mất  Mẫu gạc ban đầu liên quan đến một bài báo dạng tiền ấn phẩm của George Gao, cựu giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Trung Quốc (CDC Trung Quốc) và cộng sự, được đưa lên Research Square vào tháng 2/2022. Các nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi về dữ liệu này nhưng không có câu trả lời.  Tuy nhiên Florence Débarre, một nhà sinh học tiến hóa tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học quốc gia Pháp, một đồng tác giả của nghiên cứu trên Zenodo, phát hiện ra là dữ liệu hầu như đã xuất hiện trên trang GISAID vào ngày 4/3. “Về cơ bản, chúng là thứ duy nhất mà chúng tôi mong chờ cả năm”, bà nói.  Về tổng thể, Débarre và cộng sự đã tải xuống một nửa terabyte dữ liệu hệ gene từ khoảng 50 mẫu. Dữ liệu này bao gồm hầu như toàn bộ mẫu được lấy từ ống dẫn nước, các ô bán hàng và nền đất vào khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng hai năm 2020 và đều dương tinh với SARS-CoV-2. “Chúng tôi đã thảo luận về hàng triệu và hàng triệu chuỗi đọc”, Crits-Christoph nói.  Nhưng ngay sau đó, dữ liệu đã biến mất khỏi GISAID.  Một người phát ngôn của GISAID nói với Nature qua e-mail là không hề xóa dữ liệu mà những người đóng góp thường cập nhật hồ sơ mình tải lên và trong thời gian đó, “không thể thấy” các hồ sơ. Dữ liệu về mẫu lấy ở chợ “hiện đang được cập nhật với những dữ liệu mới và bổ sung như một phần của một bản thảo hiện đang được bình duyệt”. (Bài báo của Gao được dán nhãn là ‘đang được bình duyệt’ tại Nature Portfolio).  Débarre và cộng sự cho biết họ đã liên hệ với các tác giả của bài báo này đến đề nghị hợp tác nhưng CDC Trung Quốc từ chối. Vào ngày 14/3, cộng sự của bà cũng như các thành viên của CDC Trung Quốc, đều trình bày về công việc của họ tại cuộc họp của Nhóm Tư vấn khoa học về nguồn gốc của các mầm bệnh mới của WHO, một nhóm đảm trách việc điều tra về các bệnh dịch, bao gồm cả nguồn gốc SARS-CoV-2.  Tại cuộc họp báo của WHO vào ngày 17/3, ông Tedros đã kêu gọi các nhà nghiên cứu CDC Trung Quốc minh bạch trong chia sẻ dữ liệu.  Gao không phản hồi về lời đề nghị bình luận từ Nature.    Những con lửng chó. Nguồn: Nature  Khớp nối với tự nhiên    Những nghiên cứu trước đã tìm thấy dúi mốc nhỏ (Rhizomys sinensis) và lửng chó bán ở chợ Hoa Nam giữa tháng 5/2017 và tháng 11/2019, và rất nhiều ô bán hàng có thể bán động vật có vú đã bị giết mổ hoặc sống hoặc các dạng sản phẩm thịt chế biến khác. Dữ liệu xác nhận “chính xác những gì chúng tôi nghĩ về chợ đã hiện diện trong khu chợ này”, Joel Wertheim, một nhà miễn dịch học phân tử tại ĐH California, San Diego, và đồng tác giả của phân tích.  Khu vực có nhiều mẫu dương tính với SARS-CoV-2 đưa ra manh mối về nơi phần lớn các mẫu chứa DNA của động vật hoang dã đã được tìm thấy, Poon nói “ủng hộ giả thuyết có thể là virus từ động vật”. Mẫu dương tính từ mặt cắt phía nam của chợ ban đầu chứa DNA của người – đề xuất là có một số lan truyền người sang người tại chợ ngay vào đầu năm 2020, Poon nói.  Trong một mẫu từ xe kéo vận chuyển lồng chứa động vật, các nhà nghiên cứu tìm thấy RNA và DNA khớp với hệ gene lửng chó, và có chút khớp với hệ gene con người. “Giả thuyết logic nhất là lửng chó đã bị nhiễm SARS-CoV-2 và lan truyền virus”, Poon nói3.  Nhưng có thể là vị trí này đã bị nhiễm RNA của SARS-CoV-2 từ những nguồn khác. “Không có bằng chứng là virus đến từ một con lửng chó; nó có thể chỉ dễ đến từ một người bị lây nhiễm”, Kinney nói.  Nhiều dữ liệu hơn  Sẽ có nhiều thông tin hơn có thể trích xuất từ dữ liệu này nếu nó được công khai một lần nữa, Crits-Christoph nhận xét. Ví dụ, bằng việc nhìn vào tỉ lệ của RNA với DNA cho những loài động vật khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể xác định là những loài động vật gần đây có ở chợ Hoa Nam, bởi vì DNA tồn tại dai dẳng trong môi trường lâu hơn RNA. Nhưng cần nhiều chi tiết hơn về các mẫu được thu thập, xử lý, giải trình tự như thế nào, Wertheim lưu ý.  Một nghiên cứu gần hơn về dữ liệu RNA có thể xác định được liệu động vật nào tại chợ bị ốm, Crits-Christoph cho biết thêm. Dường như các tạo vật này ở trong “một trạng thái bệnh tật hay khỏe mạnh?”, ông thử nêu câu hỏi. “Có rất nhiều dạng câu hỏi phức tạp và thú vị trong dữ liệu”.  Có nhiều dữ liệu hơn đã không được chia sẻ – bao gồm cả các mẫu môi trường đều âm tính với SARS-CoV-2, và dữ liệu chi tiết hơn về virus. Các dữ liệu đó đều quan trọng để phân tích, để có được bức tranh phong phú và rộng lớn hơn về những gì đã diễn ra tại chợ Hoa Nam, Wertheim nói.    Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://doi.org/10.1038/d41586-023-00827-2  ———————–  1. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/phai-tiep-tuc-tim-hieu-ve-nguon-goc-covid-sau-bao-cao-cua-who-26866/  2..https://tiasang.com.vn/tin-noi-bat/tieu-diem/thach-chinh-le-va-nguon-goc-covid-19-ky-1  3. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/tranh-cai-nguon-goc-dai-dich-vai-tro-cua-cho-hoa-nam/    Author                .        
__label__tiasang Nghiên cứu y sinh học– thực trạng và giải pháp      Y sinh học là một trong những lĩnh vực khoa học “nóng” trên thế giới hiện nay, vì sự tiến triển cực nhanh của các bộ môn như di truyền học và công nghệ sinh học. Có thể nói không ngoa rằng đa số các hoạt động khoa học về đời sống (life science) ngày nay đều có định hướng phục vụ cho y khoa. Nhưng trong phân tích của giáo sư Phạm Duy Hiển, trong thời gian từ 1995 đến 2004, Việt Nam chỉ công bố được 36 bài báo y học và 10 bài báo sinh học từ nguồn nội lực trên các tập san khoa học quốc tế. Như vậy, sự hiện diện của ngành y học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn, và có thể nói chỉ “đếm đầu ngón tay”.  Đó là tình trạng trong thời gian qua. Còn trong thời gian gần đây, với sự phát triển kinh tế và gia tăng đầu tư cho nghiên cứu y học, tình hình có cải tiến thêm hay không?    Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành một phân tích ấn phẩm trong ngành y sinh học trên các tập san khoa học quốc tế và so sánh với các nước trong vùng. Chúng tôi giới hạn phân tích trong thời gian tính từ 2002 đến 2006 (5 năm). Số liệu được thu thập từ các tập san trong danh sách của Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information, hay ISI) theo phương pháp được mô tả trong phần Chú thích [1]. Viện này được thành lập từ năm 1961 và có nhiệm vụ hệ thống hóa tất cả các bài báo trên các tập san có hệ thống bình duyệt và được giới khoa học chuyên ngành chấp nhận; do đó việc thống kê các bài báo tương đối chính xác.   Tình hình ấn phẩm y sinh học Việt Nam              TS Nguyễn Đình Nguyên         GS Nguyễn Văn Tuấn        Trong thời gian từ 2002 đến 2006, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 2.469 bài báo khoa học trong hệ thống tập san ISI, hay tính trung bình là 494 bài/năm. Như vậy so với thời gian trước đó 2004, năng suất khoa học Việt Nam có phần tăng đáng kể (ước tính khoảng 45%) trong vài năm sau này. Đó là một con số đáng mừng.   Tuy nhiên, khi so sánh tổng số bài báo khoa học với các nước trong vùng như Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia, và Philippines, thì số lượng ấn phẩm của ta chỉ cao hơn Philippines, nhưng thấp hơn so với các nước khác (Xem chi tiết Bảng 1). Chẳng hạn như trong cùng thời gian, Singapore công bố được 27.956 bài (cao hơn Việt Nam 11 lần) và Thái Lan 11.429 bài (cao hơn Việt Nam 4,6 lần). Ấn phẩm khoa học của Malaysia cũng cao hơn Việt Nam gấp 2,8 lần (6.909 so với 2.469 bài).  Khoảng 1/3 (n = 830 bài) trong tổng số 2.469 bài báo khoa học của các tác giả từ Việt Nam liên quan đến ngành y sinh học. Tỉ lệ bài báo y sinh học của Việt Nam cao hơn Singapore (23%), Malaysia (22%), Philippines (29%) và Indonesia (31%), nhưng thấp hơn Thái Lan (44%). Qua con số này, có thể nói rằng Việt Nam và Thái Lan khá “mạnh” về lĩnh vực y sinh học so với tất cả các nước trong vùng.  Phân tích chi tiết về thực lực cho thấy trong tổng số 830 bài báo y sinh học của Việt Nam đăng tải trong thời gian 2002-2006, có phân nửa (395 bài) do tác giả người Việt Nam đứng tên tác giả đầu (first author) và các tác giả khác hoặc là người Việt Nam hoặc là người nước ngoài.                 Trong tổng số 830 bài, chỉ có 19 bài (tức 2%) là hoàn toàn các tác giả Việt Nam đứng tên. Nói cách khác, chỉ có 2% các ấn phẩm y sinh học trên trường quốc tế từ Việt Nam là do “nội lực”; phần 98% còn lại là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, hoặc thực hiện ở nước ngoài.  Nước nào có nhiều hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực y sinh học?  Phân tích địa chỉ của tác giả cho thấy hai nước có tỉ lệ cộng tác lớn nhất là Mĩ (22%) và Nhật (19%).  Các nước khác cũng có mức độ hợp tác đáng kể là Anh, Úc, Pháp và Thuỵ Điển, với mỗi nước chiểm một tỉ lệ xấp xỉ 10%.  Tình trạng này gần như giống nhau ở tất cả các nước khác trong khu vực, trong đó Mĩ và Nhật vẫn là hai đối tác khoa học hàng đầu ở các nước như Thái Lan và Malaysia.  Về chất lượng tập san khoa học, phân tích chi tiết thêm cho thấy các bài báo y sinh học Việt Nam thường xuất hiện trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor hay IF) tương đối thấp. Năm 5 tập san công bố các bài báo nghiên cứu thuộc lĩnh vực y sinh học của Việt Nam nhiều nhất là American Journal of Tropical Medicine and Hygiene (IF= 2,5) đăng 29 bài (3.5%); Journal of Clinical Microbiology (IF=3,5), 25 bài (3%); Tropical Medicine & International Health (IF=2,6), 24 bài (3%); International Journal of Tubeculosis and Lung Disease (IF=2), 19 bài (2.3%); và Chemical and Pharmaceutical Bulletin (IF=1.3), 17 bài (2%). Đây cũng chính là những tập san hàng đầu mà Thái Lan công bố các công trình nghiên cứu y sinh học của họ. Tuy nhiên, các bài báo của Singapore thường được công bố trên tập san địa phương của Singapore (nhưng có trong hệ thống ISI): đó là tập san Annals Academy of Medicine Singapore (IF=0.7), 496 bài (7.8%).    Nhận xét  Hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số tác giả thuộc nước đó đứng tên đầu (hay tác giả chính) của bài báo. Dựa vào hai chỉ tiêu này, có thể nói ngành y sinh học ở nước ta còn quá kém so với các nước trong vùng. Chẳng những số lượng còn quá ít và chất lượng còn thấp, mà chỉ có 2% là do nội lực và phần còn lại là do giúp đỡ hay hợp tác hay học tập ở nước ngoài.  Tại sao sự có mặt của ngành y sinh học nước ta trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn như thế, trong khi nước ta có rất nhiều vấn đề y tế xứng đáng với những công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế? Qua kinh nghiệm thực tế và tiếp xúc với đồng nghiệp, trong nước, chúng tôi thấy các nguyên nhân chính là vấn đề kinh phí cho nghiên cứu còn hạn hẹp, thiếu thiết bị nghiên cứu, vấn đề phương pháp nghiên cứu, thiếu chuyên gia lành nghề, và vấn đề tiếng Anh.  Kinh phí nghiên cứu y sinh học ở Việt Nam phần lớn xuất phát từ Bộ Y tế và Bộ khoa học & Công nghệ, nhưng kinh phí còn quá thấp, nên chưa thể thực hiện những nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Có công trình nghiên cứu dịch tễ học qui mô trên hàng ngàn đối tượng mà kinh phí cũng chỉ 50 ngàn USD! Với một kinh phí như thế, không ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp trong nước phải hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài để tìm thêm nguồn kinh phí.   Ngoài ra, cách phân phối kinh phí là một vấn đề cần được xem xét lại. Có thể nhìn cách phân phối kinh phí hiện nay ở nước ta như là một cuộc đấu thầu xây dựng. Cơ quan chủ quản (Bộ Y tế và Bộ Khoa học & Công nghệ) ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu đệ đơn, và các cơ quan chủ quản xét duyệt. Nhưng nhu cầu nghiên cứu y sinh học phải xuất phát từ thực tế lâm sàng và cộng đồng, chứ không thể xuất phát từ cơ quan quản lí hành chính, và do đó nhiều đề tài nghiên cứu mà các bộ đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu y tế thực tế trong nước. Thật vậy, nhìn qua các đề tài nghiên cứu mà Bộ Y tế ra thông báo trong năm nay, chúng tôi thấy có hơn ba phần tư đề tài hoặc là không đem lại lợi ích lâm sàng cho người bệnh, hoặc là không thể thực hiện được trong điều kiện hiện nay.  Nghiên cứu y sinh học ở tầm quốc tế đòi hỏi các phương tiện khoa học tương đối đắt tiền. Vì hoàn cảnh kinh tế, nước ta còn thiếu những phương tiện như thế, và có lẽ đó cũng chính là lời giải thích tại sao các nhà khoa học trong nước phải hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài. Thật ra, hợp tác trong nghiên cứu là một điều tốt trong hoạt động khoa học hiện đại, nhưng hợp tác như thế nào để thành quả và tri thức khoa học dựa trên chất liệu của Việt Nam vẫn là của người Việt Nam thì mới là vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra gần đây [2].  Nhưng thiếu kinh phí và thiếu phương tiện hiện đại chỉ là vấn đề mang tính “ngoại tại”, còn một nguyên nhân “nội tại” đáng quan tâm hơn là vấn đề nhân lực. Nước ta vẫn còn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các nhà khoa học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Cho nên dù có phương tiện hiện đại và kinh phí, chưa chắc Việt Nam đã có chuyên gia sử dụng thiết bị và có khả năng thực hiện những nghiên cứu chuyên sâu. Vấn đề này dẫn đến một hệ quả khác là các nghiên cứu y học từ Việt Nam thiếu “cái mới” (phần lớn chỉ lặp lại những nghiên cứu từ nửa thế kỉ trước) và thiếu phương pháp khoa học (do thiết kế không thích hợp, hay thậm chí sai).  Đây chính là lí do tại sao các nghiên cứu y học từ Việt Nam ít có khả năng xuất hiện trên các tập san y học quốc tế.   Ngày nay, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ khoa học quốc tế. Vào thập niên 1980, trên 60% các tập san khoa học trên thế giới sử dụng tiếng Anh; 20 năm sau, con số này là trên 80%. Trong lĩnh vực y sinh học, hiện nay hơn 90% các tập san sử dụng tiếng Anh.  Trong khi đó, tiếng Anh lại là một điểm yếu của các nhà khoa học nước ta, do một phần lớn được đào tạo từ các nước Đông Âu trong thời gian trước 1975. Vì khả năng tiếng Anh còn quá nhiều hạn chế, cho nên dù một công trình nghiên cứu có ý nghĩa cũng khó mà xuất hiện trên các tập san y sinh học quốc tế. Chúng tôi biết khá nhiều nghiên cứu từ Việt Nam rất thú vị, nhưng vì tác giả viết tiếng Anh quá nhiều sai sót nên ban biên tập đành phải “đau lòng” từ chối! Vấn đề tiếng Anh, mới đầu thoạt nghe qua tưởng như rất nhỏ, nhưng trong thực tế lại là một hàng rào cản trở rất lớn cho các đồng nghiệp trong nước.    Giải pháp khắc phục  Để có mặt trên trường quốc tế, chúng ta cần phải tự mình khắc phục những vấn đề mà tôi vừa nêu bằng một số giải pháp thực tế sau đây:   Huấn luyện về nghiên cứu khoa học. Phần lớn những vấn đề tôi nêu trong phần trên là do các sinh viên y khoa sau đại học chưa được huấn luyện về nghiên cứu khoa học, cho nên khi bắt tay vào nghiên cứu, họ không ý thức được những sai lầm, những cạm bẫy trong nghiên cứu khoa học, và dẫn đến những nghiên cứu làm hao tổn ngân sách Nhà nước. Do đó, đối với các nghiên cứu sinh, trước khi tiến hành nghiên cứu cần phải trải qua một khóa huấn luyện để nắm vững các nguyên lí, triết lí và phương pháp khoa học. Ngoài ra, cần phải tổ chức các khóa học bồi dưỡng (continuing education) về phương pháp khoa học cho các chuyên gia lâm sàng tham gia vào nghiên cứu khoa học.   Huấn luyện về thống kê sinh học. Người viết bài này biết rất nhiều trường hợp nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chỉ vì không được thiết kế đúng phương pháp, hay việc phân tích dữ liệu chưa đúng tiêu chuẩn khoa học nên bị các tập san khoa học từ chối công bố. Trong khi bất cứ đại học nào ở các nước tiên tiến đều có một bộ môn thống kê học, một bộ môn chuyên cung cấp tư vấn về thống kê học cho các nhà khoa học thực nghiệm, thì ở nước ta, các bộ môn khoa học vẫn còn giới hạn ở khoa toán, và chỉ xoay quanh một vài vấn đề căn bản thống kê. Do đó, một chiến lược quan trọng cần đặt ra là phát triển khoa học thống kê trong các trường đại học, nhất là thống kê sinh học.  Tiếng Anh – huy động Việt kiều và đồng nghiệp ở nước ngoài. Cần phải xem tiếng Anh là một ngoại ngữ chính cho các hoạt động khoa học ở nước ta. Vì thế, các nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu cần phải được huấn luyện về tiếng Anh, cách soạn thảo một bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Ngoài ra, hiện nay có một đội ngũ nhà khoa học gốc Việt Nam khá hùng hậu đang làm việc tại các nước nói tiếng Anh hay sử dụng tiếng Anh trong khoa học như Mĩ, Anh, Úc, Canada… Có thể huy động các đồng nghiệp này trong việc giúp đỡ vấn đề tiếng Anh cho các bài báo khoa học ở trong nước.   Mở rộng và đầu tư vào công nghệ thông tin và Internet. Đa số các tập san y học quốc tế hiện đang nhanh chóng chuyển sang xuất bản trực tuyến, và trong vòng 10 năm tới, tất cả các tập san y học ở các nước phát triển sẽ chuyển sang hình thức trực tuyến. Vì thế, một trong những nhu cầu cơ sở vật chất cho nghiên cứu y học là phải tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu truy nhập Internet để có thể truy cập các tài liệu nghiên cứu y học mới nhất, giúp cho việc phát triển ý tưởng và học hỏi phương pháp trong nghiên cứu.  Để nâng cao hiệu quả nghiên cứu y sinh học, một yếu tố có tính quyết định là chúng ta cần phải cải cách hệ thống hoạt động khoa học, kể cả hệ thống cung cấp kinh phí nghiên cứu và đánh giá thành quả khoa học.   ——-  (*) Viện nghiên cứu y khoa Garvan -Sydney, Australia  Chú thích:   [1] Chúng tôi sử dụng công cụ tìm kiếm dữ liệu Web of Science thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khóa mã nước là Vietnam OR Viet Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand. Sau khi thu thập được tổng số các bài báo thuộc các ngành, chúng tôi tuyển chọn vào ngành y sinh học (biomedical sciences) bằng các sử dụng công cụ “refining” để chọn lọc các bài báo theo chủ đề có liên quan đến ngành y sinh học (loại trừ ngành độc tố học). Toàn bộ các số liệu thu thập được truy xuất ra tập dữ liệu gốc để tính toán.  [2] Xem bài “Làm khoa học kiểu nhảy dù” của Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên Tia Sáng, số 12 tháng 6 năm 2007.  Nguyễn Văn Tuấn – Nguyễn Đình Nguyên (*)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu y sinh ngày càng minh bạch về tài trợ và dữ liệu      Ngày càng nhiều công bố về y sinh trên các tạp chí khoa học có kèm theo cáo bạch về các vấn đề xung đột lợi ích và chia sẻ dữ liệu.      Hình minh họa: Nature.  Theo một công bố trên tạp chí PLoS Biology vào ngày 20 tháng 11, nghiên cứu y sinh ngày càng trở nên cởi mở và minh bạch nhờ vào việc cung cấp các thông tin về tài trợ, xung đột lợi ích và chia sẻ dữ liệu nhiều hơn.  John Ioannidis ở Đại học Stanford California và các đồng nghiệp đã kiểm tra 149 công bố về nghiên cứu y sinh từ năm 2015 đến 2017 để xem có bao nhiêu thông tin về các chỉ số cơ bản về tính minh bạch, chẳng hạn như ai tài trợ cho công trình nghiên cứu, xung đột lợi ích tiềm ẩn giữa các tác giả, tính khả dụng của dữ liệu thô và mô tả quy trình nghiên cứu.  Họ nhận thấy rằng phần lớn các công trình nghiên cứu có các báo cáo về tài trợ và xung đột lợi ích (lần lượt ở mức 69% và 65%), và gần một phần năm dữ liệu được công khai – mặc dù chỉ một bài báo có đường dẫn tới bản mô tả quy trình nghiên cứu đầy đủ.    Đây là sự tiến bộ lớn so với kết quả nghiên cứu tương tự trước đây: các nhà nghiên cứu đã xem xét 441 bài báo được xuất bản từ năm 2000 đến 2014, và nhận thấy phần lớn có rất ít thông tin về tài trợ, xung đột lợi ích hoặc chia sẻ dữ liệu.  “Đây là điều đáng lạc quan”, Joshua Wallach, đồng tác giả và là nghiên cứu về thực trạng nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng Yale ở New Haven, Connecticut cho biết.   Cần coi trọng tái lập nghiên cứu  Cáo bạch về tài trợ và xung đột lợi ích rất quan trọng bởi chúng là nguyên nhân dẫn tới thiên kiến, có thể ảnh hưởng đến cách thiết kế và thực hiện nghiên cứu, Joshua Wallach cho biết.  Khả năng tiếp cận dữ liệu và quá trình thực nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc tái lập các kết quả khoa học. “Thực tế về chia sẻ dữ liệu hiện nay cho thấy văn hóa đang thay đổi,” Wallach cho biết. Khoảng 5% các bài báo được sử dụng trong nghiên cứu là các nghiên cứu đã được tái lập đầy đủ hoặc một phần  – một dấu hiệu đáng khích lệ, nhưng vẫn thấp hơn tỷ lệ mong đợi của Wallach. “Chúng tôi cần sự áp dụng rộng rãi hơn việc tái lập nghiên cứu”, ông nói. “Không nên coi đó là khoa học hạng hai.”   Bên cạnh kết quả cho thấy cộng đồng y sinh đang mở rộng sự công nhận về tầm quan trọng của khoa học mở, Wallach cũng ghi nhận một số tiến bộ của các tạp chí: nhiều tạp chí đặt ra yêu cầu công bố thông tin về nguồn tài trợ, xung đột lợi ích và có chính sách chia sẻ dữ liệu.   Nhưng Wallach cho rằng các tạp chí có thể làm được nhiều hơn để thúc đẩy việc chia sẻ biên bản quy trình thực nghiệm nghiên cứu. Và các kho lưu trữ công cộng như PubMed sẽ hỗ trợ để dễ dàng tìm kiếm thông tin về tài trợ, xung đột và dữ liệu cho những người không có quyền truy cập toàn bộ bài báo, ông cho biết.   Jim Woodgett, giám đốc nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Lunenfeld-Tanenbaum (Toronto, Canada), nhận xét rằng các bài báo này đang thay đổi chuẩn mực công việc của các nhà khoa học bằng cách cho thấy trong quá khứ mức độ minh bạch bị hạn chế như thế nào. Nhưng kiểu thay đổi văn hóa này tốn rất nhiều công sức, và các trường đại học và tạp chí cần phải đi đầu. Theo ông: “Không ai có thể từ chối yêu cầu của một tạp chí”. ¨  Thanh An dịch  Nguồn tin và ảnh: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07550-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiện thuốc lá tại…gene      Các biến thể gene giải thích tại sao một số người nghiện hút thuốc lá hơn nếu bắt đầu hút thuốc ở tuổi 17. Đó là kết quả công trình nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học người Mỹ của trường Đại học Utah và Wisconsin, vừa được công bố trên Tạp chí Plos Genetics.      Chúng ta có hệ thống gene không giống nhau và vì thế sự phụ thuộc vào thuốc lá của từng người cũng khác. Thông tin này không đáng ngạc nhiên. Nhưng phát hiện về một số biến thể gene trong gần một nửa dân số và chỉ thể hiện ra ở các thiếu niên dưới 17 tuổi thì thực sự đáng ngạc nhiên. Và càng quan trọng hơn khi những biến thể này gây ra nguy cơ lớn hơn gấp 1,6-5 lần bị phụ thuộc vào thuốc lá trong suốt cuộc đời của những người hút thuốc quá sớm. Hiện các nhà khoa học vẫn chưa hiểu được các cơ chế gây ra sự khác biệt giữa những người bắt đầu hút thuốc trước và sau tuổi 17. Nhưng phát hiện trên đã củng cố thêm các chương trình sức khỏe cộng đồng nhằm hạn chế các thanh niên hút thuốc lá. Phát hiện này cũng bổ sung cho các nghiên cứu đã chỉ ra cách đây khoảng 10 năm, rằng người hút thuốc từ rất sớm có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cao hơn.   Đức Đan (Theo Sciences et Avenir)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngô Kiện Hùng, ‘quý bà số một’ ngành vật lý      Trong số tất cả những bất công trong lịch sử giải Nobel, vụ hắt hủi bà Ngô Kiện Hùng (Chien-Shiung Wu) trong việc xét giải Nobel Vật lý vào năm 1957 là nghiêm trọng nhất.      Hình 1: Bà Ngô Kiện Hùng (Chien-Shiung Wu) trên con tem mới do bưu điện Mỹ phát hành trong tháng 2/2021  Một trong những cuộc cách mạng khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 là sự phát minh ra vật lý lượng tử. Ở quy mô nhỏ nhất của vật chất, các hiện tượng vật lý xảy ra trong tự nhiên không tuân theo các định luật cổ điển về trọng lực và lý thuyết điện từ, mà bắt đầu thể hiển các hiệu ứng kỳ lạ, tuân theo một bộ quy tắc mới. Đi sâu hơn vào cấu trúc của vật chất, chúng ta phát hiện ra rằng hạt nhân nguyên tử được tạo thành từ proton và neutron. Proton, neutron và rất nhiều hạt khác nữa – ngày nay được gọi là các baryon và meson – đều được cấu thành từ cùng một loại hạt hạ nguyên tử, đó là các hạt quark và gluon.  Nhưng đó không chỉ là về cấu trúc của vật chất và các quy tắc khác nhau giữa thế giới lượng tử và thế giới cổ điển, mà còn là về bản chất của các đối xứng. Về mặt cổ điển, chúng ta thấy rằng vật chất và ánh sáng tuân theo các định luật vật lý như nhau cho dù bạn lật hướng không gian giống như khi soi gương, hoặc bạn thay thế các hạt bằng các phản hạt (và ngược lại), hoặc bạn chạy theo hay ngược chiều kim đồng hồ (ý nói thời gian trôi xuôi hay ngược). Nhưng trong thế giới lượng tử, trong những điều kiện thích hợp, tất cả những điều vừa nói đều có thể bị vi phạm. Vào ngày 11 tháng 2 năm 2021 vừa qua, Bưu chính Mỹ đã vinh danh nhà vật lý đầu tiên đã làm thực nghiệm và chứng minh được rằng một trong những đối xứng kể trên bị vi phạm, đó là bà Ngô Kiện Hùng, bằng việc phát hành một con tem mới mang hình ảnh của bà. Tuy nhiên, có thể nói rằng giải Nobel Vật lý năm 1957 là trớ trêu nhất trong lịch sử các giải Nobel, đối với trường hợp của bà Chien-Shiung Wu. Sau đây là câu chuyện khoa học về những gì bà Wu đã làm và tại sao những điều ấy lại quan trọng đến vậy.    Hình 2: Xem hình ảnh nảy lên nẩy xuống của một quả bóng như trên hình này, bạn không thể biết chắc chắn quả bóng đang di chuyển về phía bên phải và mất năng lượng với mỗi lần nẩy trở lại hay liệu nó đang di chuyển về phía bên trái và tăng năng lượng với mỗi lần nẩy trở lại. Các định luật vật lý là đối xứng theo sự biến đổi ngược thời gian, và phương trình chuyển động sẽ cho bạn hai nghiệm (dương và âm) cho bất kỳ quỹ đạo nào bạn có thể suy ra. Chỉ bằng cách áp đặt các ràng buộc vật lý, chúng ta mới có thể biết nghiệm nào trong hai nghiệm là đúng.   Trong thế giới cổ điển – thế giới vĩ mô nơi mà chúng ta đang trải nghiệm hàng ngày – các quy luật của tự nhiên dường như không bị ảnh hưởng bởi nhiều loại thuộc tính. Các định luật vật lý ở một nơi nào đó cũng giống như các định luật vật lý ở bất kỳ một nơi nào khác; có nghĩa là chúng bất biến (không thay đổi) theo dịch chuyển không gian. Các định luật vật lý xảy ra vào một thời điểm nào đó cũng giống như các định luật vật lý xẩy ra ở bất kỳ một thời điểm nào khác; có nghĩa là chúng bất biến theo dịch chuyển thời gian. Các định luật vật lý cũng không thay đổi khi bạn di chuyển với bất kỳ tốc độ nào bạn muốn, đó là một thành phần then chốt của thuyết tương đối.  Nhưng ba phép đối xứng vừa được nói đến ở trên đều có tên của chúng, và ngày nay mọi người đều biết là cả ba phép đối xứng đó đều bị vi phạm bởi một và chỉ một lực trong tự nhiên, lực tương tác yếu. Cụ thể, ba phép đối xứng này là:    Đối xứng chẵn lẻ (P): bạn chiếu hệ thống của bạn vào một chiếc gương và xem xem nó có tuân theo đúng các quy tắc như hệ thống ngoài gương của bạn hay không.  Đối xứng liên hợp điện tích (C): bạn thay thế mọi hạt thuộc hệ thống của bạn bằng các phản hạt của chúng và mọi phản hạt thuộc hệ thống của bạn bằng các hạt tương ứng của nó.  Đối xứng nghịch đảo thời gian (T): thay vì cho đồng hồ chạy bình thường, bạn cho nó chạy theo chiều ngược lại và kiểm tra xem các quy tắc có giống nhau không.    Xem Hình 2, bạn không thể biết được quả bóng đang di chuyển từ trái sang phải và mất năng lượng sau mỗi lần nẩy hay nó đang bị “hất” lên mức năng lượng cao hơn sau mỗi lần nẩy từ phải sang trái. Các định luật vật lý là như nhau dù thời gian tiến hay lùi.    Hình 3: Trong bảng chữ cái có nhiều chữ cái thể hiện các đối xứng cụ thể khác nhau. Lưu ý rằng các chữ cái in hoa trên hình này đều có một và chỉ một trục đối xứng, theo hướng dọc với các chữ cái A, M, T, U, V, W và Y hoặc theo hướng nằm ngang với các chữ cái B, C, D, E và K; trong khi đó các chữ cái khác như “I” hoặc “O” có nhiều hơn một trục đối xứng. Đối xứng ‘gương’ như này, được gọi là đối xứng chẵn lẻ hay đối xứng P (ngụ ý chữ Parity), đã được xác minh là tồn tại trong mọi thử nghiệm đối với ba loại tương tác là tương tác mạnh, tương tác điện từ và tương tác hấp dẫn. Tuy nhiên, đối xứng P lại có thể bị vi phạm trong tương tác yếu. Khám phá khẳng định sự vi phạm đối xứng này xứng đáng giải Nobel Vật lý năm 1957.   Nhưng, cũng giống như một số chữ cái trong số 26 chữ cái in hoa trong bảng chữ cái tiếng Anh (xem Hình 3) thể hiện đối xứng P còn một số chữ cái khác như G, J, R, F, v.v. thì không, nên một số định luật vật lý cũng có thể không tuân theo đối xứng này. Tuy nhiên, từ những năm 20 của thế kỷ trước, mọi thí nghiệm vật lý từng được thực hiện đều cho thấy sự bảo toàn của tính chẵn lẻ. Khi bất kỳ vật thể nào rơi vào trường hấp dẫn, trên mặt đất hoặc trên các thiên thể, tính chẵn lẻ đều được bảo toàn. Khi một điện tử hấp thụ hoặc phát ra một photon, tính chẵn lẻ cũng được bảo toàn. Và khi các hạt, bất luận là loại hạt nào, va chạm với nhau, tán xạ lên nhau, kết hợp với nhau hoặc phân chia hay phát nổ, thì tính chẵn lẻ vẫn được bảo toàn.  Tuy nhiên, đôi khi, một hạt không bền sẽ trải qua một quá trình phân rã phóng xạ. Quá trình rã hạt này không phải do lực hấp dẫn hay tương tác điện từ, mà là do một loại lực hoàn toàn mới: lực hạt nhân. Thực tế là có hai loại lực hạt nhân:    Lực hạt nhân mạnh “cầm tù” các hạt quark trong các nucleon (tức proton và neutron). Nó cũng liên kết các proton và các neutron với nhau để tạo thành hạt nhân nguyên tử. (Lực hạt nhân mạnh ở đây được hiểu là lực tương tác giữa các hạt quark bên trong các nucleon, là lực tương tác mạnh thực sự, và lực tương tác giữa các nucleon, là lực tương tác hiệu dụng chỉ là tàn dư của lực tương tác mạnh thực sự.)  Lực hạt nhân yếu cho phép một loại hạt quark này biến đổi thành một loại hạt quark khác, là cơ sở cho một số dạng phóng xạ, chi phối sự phân rã của các hạt hạ nguyên tử không bền.    Nếu hiểu được cơ chế tác dụng của các lực này thì chúng ta có thể hình dung ra được những gì sẽ có thể xẩy ra.    Hình 4: Phân rã alpha là một quá trình mà một hạt nhân nguyên tử nặng phát ra một hạt alpha (hạt nhân heli), dẫn đến một cấu hình bền vững hơn và giải phóng một lượng năng lượng. Hiện tượng này là kết quả của tác dụng đồng thời của lực hạt nhân mạnh và lực điện từ nhưng không làm thay đổi thành phần quark của các nucleon. Phân rã alpha là phân rã phóng xạ phổ biến nhất trong tự nhiên.  Phân rã phóng xạ có ba loại cơ bản (về mặt kỹ thuật thì có hơn ba loại, nhưng trong bài này chỉ cần xét ba loại là đủ để phản ánh nội dung cần thiết), và chúng dựa vào sự tác động lẫn nhau của các lực khác nhau để thúc đẩy các quá  trình phân rã. Ba loại phân rã phóng xạ cơ bản mà chúng ta quan tâm ở đây là:  1. Phân rã alpha: là loại phân rã phóng xạ phổ biến nhất, xảy ra khi một hạt nhân nặng, không bền tách ra một hạt alpha (thực chất là hạt nhân heli-4 gồm hai proton và hai neutron). Sự phân rã này là do lực hạt nhân mạnh (làm cho proton và neutron hút nhau ở những khoảng cách rất ngắn) kết hợp với lực điện từ (như khi các hạt có điện tích cùng dấu đẩy nhau và khác dấu hút nhau) và tạo ra hạt nhân bền vững hơn về năng lượng so với hạt nhân ban đầu (Hình 4).  2. Phân rã beta: là loại phân rã phóng xạ phổ biến thứ hai sau phân ra alpha. Phân rã beta thường xảy ra khi một quark dưới (down quark) – quark nhẹ thứ hai trong Mô hình Chuẩn (Standard Model) – rã thành một quark trên (up quark) nhẹ hơn, kèm theo một điện tử (electron) và một phản neutrino điện tử (anti-electron neutrino). Loại phân rã này xẩy ra hoàn toàn do tương tác yếu, và trước khi các quark được phát hiện, được hiểu là một neutron biến đổi thành một proton kèm theo một electron với một sự “thiếu hụt năng lượng” cho tới khi neutrino được tìm thấy vào năm 1956.  3. Phân rã gamma: là một phân rã thuần túy điện từ, xảy ra khi một hạt nhân nặng, không bền, sắp xếp lại các hạt bên trong, phát ra một photon năng lượng cao và chuyển xuống một trạng thái kích thích thấp hơn với mức năng lượng thấp hơn.  Phân rã alpha và phân rã gamma luôn bảo toàn tính chẵn lẻ, nhưng phân rã beta thì không.    Hình 5: Sơ đồ minh họa sự phân rã beta xẩy ra thông qua tương tác yếu: một neutron chuyển thành một proton, một electron và một phản neutrino electron (anti-electron neutrino). Trước khi neutrino được biết đến hoặc phát hiện, dường như cả năng lượng và moment động lượng đều không bảo toàn trong phân rã beta.   Phân rã beta trong vật lý hạt nhân là lĩnh vực chuyên môn của Ngô Kiện Hùng. Dự định ban đầu của bà là di cư từ Trung Quốc sang Mỹ để học tại Đại học Michigan, nơi bà đã được nhận nhập học, nhưng năm 1936 trên đường đi bà đã ghé thăm Đại học Berkeley ở San Francisco nơi con tàu của bà cập bến. Sau khi tham quan phòng thí nghiệm bức xạ ở đó – và sau khi nghe tin rằng phụ nữ không được đi vào Đại học Michigan bằng cổng chính – Ngô Kiện Hùngđã quyết định học tại Đại học Berkeley thay cho Đại học Michigan. Làm việc với Ernest Lawrence và Emilio Segrè, bà đã tốt nghiệp đại học năm 1940 và nghiên cứu về nhiều khía cạnh khác nhau của lĩnh vực vật lý hạt nhân và của lĩnh vực mà ngày nay chúng ta gọi là vật lý hạt cơ bản.  Chán nản do không thể tìm được vị trí giảng viên tại một trường đại học,  bà vẫn ở lại Berkeley với tư cách là nghiên cứu viên sau tiến sĩ trong vài năm. Cuối cùng bà cũng đã nhận được một vị trí giảng viên tại Đại học Smith chỉ dành cho nữ. Nhưng ở đó, lại một lần nữa thất vọng vì không có cơ hội nghiên cứu, bà đã tham gia Dự án Manhattan tại Đại học Columbia vào năm 1944. Mặc dù nhiệm vụ của bà là phát triển các thiết bị phát hiện bức xạ, nhưng bà đã được liên hệ để nghiên cứu sự cố một lò phản ứng hạt nhân thường xuyên bị ngừng hoạt động ngoài mong muốn. Những nghiên cứu của bà dưới sự hướng dẫn của Segrè liên quan đến tính chất phóng xạ của xenon-135 thông qua quá trình phân rã beta. Những nghiên cứu này là chìa khóa để hiểu tại sao lò phản ứng hạt nhân lại ngừng hoạt động: đồng vị được tạo ra bởi sự phân hạch hạt nhân là một chất hấp thụ neutron tuyệt vời, điều làm cho lò phản ứng hạt nhân ngừng hoạt động.  Bản thảo bài báo của Ngô Kiện Hùng ngay khi còn chưa được công bố đã mở ra giải pháp cho vấn đề và giúp bà giành được một vị trí cơ hữu với tư cách là giáo sư nghiên cứu tại Columbia sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.    Hình 6: Ảnh TS. Chien-Shiung Wu được treo trong phòng thí nghiệm của bà tại Đại học Columbia ở New York cùng với các thiết bị đã được sử dụng để chứng minh ý tưởng lý thuyết về dòng véctơ bảo toàn. Công trình đột phá đó góp phần vào việc hình thành Mô hình Chuẩn và được cho là kết quả có ảnh hưởng lớn thứ ba trong sự nghiệp của Wu.   Vào những năm 1950, hai nhà vật lý lý thuyết, Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee, bạn của Wu) và Dương Chấn Ninh (Chen Ning Yang), đang nghiên cứu hai loại hạt, hạt Theta (Θ) và hạt Tau (τ), và thấy khó hiểu về chúng. Đây là hai loại hạt (mới đầu được cho là khác nhau) nhưng dường như giống hệt nhau về mọi mặt trừ một mặt. Chúng có cùng khối lượng, cùng điện tích, cùng spin và cùng thời gian sống. Chúng còn có chung một thuộc tính, hồi đó gọi là “tính lạ” (“strangeness”), mà ngày nay được hiểu là mỗi hạt này chứa một quark lạ (strange quark). Nhưng, điều quan trọng nằm ở sự khác biệt như sau:    Hạt Θ luôn rã thành hai pion, một tích điện dương và một trung hòa.  Hạt τ lại luôn rã thành ba pion, hai tích điện dương và một tích điện âm.    Điều này dẫn tới một câu hỏi lớn: liệu chúng có phải là cùng một hạt hay không?  Vấn đề là ở chỗ tính chẵn lẻ được đặc trưng bởi một số lượng tử nhân tính (multiplicative quantum number), gọi là số lượng tử chẵn lẻ, có thể nhận các giá trị +1 hoặc -1. Số lượng tử chẵn lẻ của một pion là -1. Nếu “bạn” bị rã ra thành hai pion thì số lượng tử chẵn lẻ của bạn phải là (-1) ×(-1) = +1. Nhưng nếu “bạn” bị rã ra thành ba pion thì số lượng tử chẵn lẻ của bạn phải là (-1)×(-1)×(-1) = -1. Điều này khiến Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh nảy ra ý tưởng rằng có thể tính chẵn lẻ không được bảo toàn đối với các tương tác yếu. Song để chứng minh điều đó cần phải tiến hành một thí nghiệm chuyên dụng tinh vi, dù nói cho cùng, khi đó không ai biết liệu hạt Θ và hạt τ có phải là cùng một hạt hay không. Và đó là lúc Ngô Kiện Hùng “bước vào cuộc chơi”.    Hình 7: Bà Ngô Kiện Hùng là một nhà vật lý thực nghiệm có một sự nghiệp nổi bật. Bà đã có nhiều khám phá thực nghiệm quan trọng xác nhận (hoặc bác bỏ) một loạt các tiên đoán lý thuyết quan trọng. Vậy mà bà vẫn chưa (Bây giờ, khi bà đã qua đời, thì “chưa” đã thành “không”) bao giờ được trao giải Nobel, trong khi đó có những người làm ít hơn nhưng lại được đề cử và nhận giải Nobel.  Ngô Kiện Hùng quyết định chuẩn bị một mẫu coban-60, một đồng vị phóng xạ của coban có thể phân rã beta thành niken. Ý tưởng này của Ngô Kiện Hùng thật tuyệt vời bởi vì bà nhận ra rằng các hạt nhân coban có spin và bằng cách tận dụng hai kỹ thuật riêng biệt với nhau có thể làm cho tất cả các spin thẳng hàng (cùng hướng về một phương). Đầu tiên, bà làm lạnh coban xuống nhiệt độ rất thấp, nhiệt độ đông lạnh. Ở nhiệt độ thấp như thế các dao động nhiệt của coban trở nên không đáng kể. Sau đó, khi vẫn ở nhiệt độ cực thấp đó, bà tác dụng lên chúng một từ trường mạnh, đều và không đổi.  Thông thường, các va chạm, dao động và các hiệu ứng nhiệt khác làm cho các spin của các hạt nhân nguyên tử hướng theo các phương khác nhau một cách ngẫu nhiên. Vì vậy, nhiệt độ thấp có tác dụng ngăn điều đó xảy ra, trong khi từ trường lớn khiến các spin của tất cả các hạt nhân đều hướng theo một phương.  Tại sao điều đó lại quan trọng?  Bạn có thể minh họa điều này bằng bàn tay trái. Hướng ngón tay cái lên và cuộn bốn ngón còn lại. Nếu nhìn từ trên xuống ngón tay cái, bạn sẽ thấy bốn ngón tay dường như cuộn theo chiều kim đồng hồ. Nếu sau đó hạt bị phân hủy, thì “trục quay” (ngón tay cái của bàn tay trái của bạn) vẫn hướng lên, và điều đó sẽ được in dấu trên các hạt mới xuất hiện từ sự phân rã. Điều này về cơ bản khác với việc bạn sử dụng bàn tay phải, là hình ảnh phản chiếu qua gương của bàn tay trái.       Hình 8: Tính chẵn lẻ (P), hay đối xứng gương, là một trong ba đối xứng cơ bản trong vũ trụ, cùng với đối xứng liên hợp điện tích (C) và đối xứng nghịch đảo thời gian (T). Nếu các hạt quay theo một hướng và rã dọc theo một trục cụ thể thì đối xứng gương có nghĩa là chúng có thể quay theo hướng ngược lại và vẫn rã dọc theo trục cũ. Các thí nghiệm đã xác nhận đối xứng gương như thế không xẩy ra trong các phân rã yếu, dấu hiệu đầu tiên cho thấy các hạt có thể có “tính thuận tay” nội tại (intrinsic ‘handedness’) và điều này được phát hiện bởi Ngô Kiện Hùng.  Nếu tính chẵn lẻ được bảo toàn, thì các hạt sẽ cư xử theo cách “thuận tay trái” và “thuận tay phải” như nhau, không ưu tiên cách này hay cách kia. Xét cho cùng, đối xứng chẵn lẻ có nghĩa là đối xứng gương, và bất cứ điều gì mà một hạt “thuận tay trái” có thể làm thì phiên bản “thuận tay phải” cũng sẽ làm như thế trong gương.  Điều mà Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh dự đoán, nếu tính chẵn lẻ bị vi phạm, là sự phân rã sẽ bất đối xứng: các sản phẩm phân rã của coban-60 sẽ ưu tiên xảy ra theo một hướng phụ thuộc vào hướng của các spin của chúng, và điều đó thể hiện một sự bất đối xứng cơ bản. Mặt khác, nếu dự đoán sai và tính chẵn lẻ được bảo toàn thì các phân rã sẽ là đối xứng và sẽ xẩy ra giống hệt nhau khi các spin hướng theo hai phương ngược nhau.   Cần nhấn mạnh rằng trong vật lý cách duy nhất có thể biết tự nhiên thực sự hoạt động như thế nào là thực hiện một thí nghiệm quyết định hoặc một loạt các quan sát mang tính quyết định. Chúng ta chỉ mở được những bí mật của tự nhiên bằng cách đặt câu hỏi cho vũ trụ về chính nó. Bất kể những dự đoán từ những tính toán lý thuyết của bạn cụ thể và chính xác đến đâu, bạn phải đối chiếu những ý tưởng và giả thuyết của bạn với dữ liệu thu được từ thế giới thực.  Thí nghiệm của Ngô Kiện Hùng đã thành công. Từ các kết quả thí nghiệm của bà có thể khẳng định là các hạt được phát ra một cách không đối xứng (tức tính chẵn lẻ bị vi phạm) hay một cách đối xứng (tức tính chẵn lẻ được bảo toàn). Điều ngạc nhiên đối với nhiều người là Ngô Kiện Hùng không chỉ đã xác định rằng tính chẵn lẻ bị vi phạm mà sự vi phạm còn ở mức tối đa: gần như 100% các hạt đều được phát ra dọc theo hướng của spin của các hạt nhân coban-60 ban đầu. Quay trở lại câu hỏi về hạt Θ và hạt τ:  trên thực tế chúng được xác định là cùng một hạt, ngày nay được gọi là hạt kaon (khi kaon rã theo 2 kênh, kênh rã thành 2 pion và kênh rã thành 3 pion, có tính chẵn lẻ khác nhau là khi đối xứng P bị vi phạm).  Theo nhiều góc độ khác nhau, khám phá này đánh dấu sự khởi đầu cho cái mà sau đó đã phát triển thành Mô hình chuẩn của vật lý hạt cơ bản hiện đại. Thí nghiệm của Ngô Kiện Hùng quan trọng đến mức giải Nobel Vật lý năm 1957 đã được trao cho công trinh nghiên cứu về các định luật chẵn lẻ dẫn đến những khám phá quan trọng về các hạt cơ bản. Giải thưởng Nobel (có thể trao cùng một lúc cho ba người) đã được trao chung cho hai người là Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo, nhưng Ngô Kiện Hùng thì hoàn toàn không được nhắc tới. Trên thực tế, Ngô Kiện Hùng thực sự là người đã thực hiện thí nghiệm xác định sự vi phạm đối xứng chẵn lẻ nhưng vai trò của Ngô Kiện Hùng trong việc này không được bất kỳ tổ chức chuyên nghiệp lớn nào công khai tôn vinh cho đến năm 1978 khi bà được nhận Giải thưởng Wolf là giải được lập ra cùng năm dành riêng cho những nhà khoa học và nghệ sỹ còn sống xứng đáng được nhận giải Nobel nhưng đã không được nhận.    Hình 9: TS. Ngô Kiện Hùng (ở hàng phía trước) cùng với 5 người khác nhận bằng danh dự từ Harvard năm 1974. Bà là một trong những nhà vật lý thực nghiệm vĩ đại nhất trong lịch sử, có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực vật lý. Việc bà bị bỏ sót không được nhận giải Nobel Vật lý 1957 vẫn là một trong những bất công lớn nhất trong lịch sử của giải thưởng này.  Sau công trình lịch sử về vi phạm đối xứng chẵn lẻ, Ngô Kiện Hùng tiếp tục sự nghiệp của mình một cách rất ấn tượng. Bà đã xác nhận bằng thực nghiệm giả thuyết bảo toàn dòng véctơ (Conserved Vector Current hypothesis) và đã chứng minh rằng phép đối xứng liên hợp điện tích cũng bị vi phạm trong tương tác yếu. Bà cũng là người đầu tiên thu được các kết quả thực nghiệm từ các thí nghiệm liên quan đến các photon rối (entangled photons) trong nghịch lý Einstein-Podolsky-Rosen.   Ngô Kiện Hùng còn là một nhà hoạt động chống phân biệt giới tính trong vật lý. Bản thân bà chỉ được trả lương ngang bằng với các đồng nghiệp nam vào năm 1975 và thường bị gọi sai thành “Giáo sư Yuan”, tên của chồng bà, mà bà luôn sửa lại bằng cách thông báo với những người/tổ chưc đã gọi sai tên bà rằng bà là Giáo sư Ngô Kiện Hùng, không phải Giáo sư Yuan. Trong một hội nghị chuyên đề tại MIT bà đã đặt ra cho khán giả một câu hỏi như sau: “Liệu các nguyên tử và hạt nhân bé xíu, hoặc các ký hiệu toán học, hoặc các phân tử DNA, có bất kỳ sự ưu tiên nào đối với cách đối xử nam tính hay nữ tính không?”   Nếu Ngô Kiện Hùng được nhận giải Nobel Vật lý năm 1957 cùng với Lee và Yang, thì bà sẽ là người phụ nữ thứ hai vào thời điểm đó giành được giải thưởng này, sau Marie Curie. Mặc dù đã quá muộn để sửa sai nhưng giờ đây chúng ta có thể kỷ niệm cuộc đời, công việc và di sản của bà mỗi khi gửi thư qua bưu điện Mỹ vì vào ngày 11 tháng 2 năm 2021 đã ra đời một con tem mới vĩnh viễn mang hình ảnh của bà. Tất cả chúng ta hãy cùng gửi lời chúc mừng muộn màng đến TS. Ngô Kiện Hùng: Đệ nhất Quý bà của ngành vật lý.  Nguyễn Bá Ân dịch.  Nguyễn Anh Kỳ hiệu đính.  Nguồn: New USPS Stamp Celebrates Physicist Chien-Shiung Wu, The ‘First Lady’ Of Physics | by Ethan Siegel | Starts With A Bang! | Feb, 2021 | Medium             Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngoại giao khoa học là một kênh quan trọng để phát triển quan hệ Việt – Nga’      Trong khuôn khổ diễn đàn EEF, Viện Công nghệ Nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam ký biên bản hợp tác với Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kuzbass. Qua đó, cả hai bên sẽ tham gia đào tạo chung cho các chương trình đại học, thạc sỹ và tiến sĩ về ngành kỹ thuật.      Cán bộ, kỹ thuật viên làm việc bên trong xe labo xét nghiệm di động do Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga cử vào hỗ trợ TPHCM. Nguồn: QĐND  Tại Vladivostosk (Nga), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF) 2021 đã diễn ra phiên thảo luận “Một thập kỷ Hội nghị Quốc tế về Giáo dục APEC: Thành tựu và Triển vọng” với sự tham gia của nhiều học giả, nhà giáo dục có uy tín, quan chức giáo dục đại học.  Tại buổi làm việc, Viện Công nghệ Nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã ký Biên bản hợp tác với Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kuzbass. Thỏa thuận này sẽ xem xét việc tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học chung, đào tạo cán bộ khoa học và sư phạm có trình độ cao, trao đổi tài liệu giáo dục và phương pháp luận, tài liệu khoa học và sách giáo khoa. Dự kiến thiết lập các liên kết trực tiếp giữa các khoa, bộ môn của Đại học Kỹ thuật Quốc gia Kuzbass và Viện Kỹ thuật nhiệt đới (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), đồng thời, cả hai bên sẽ tham gia đào tạo chung cho các chương trình đại học, thạc sỹ và tiến sĩ về ngành kỹ thuật. Evgeni Vlasov, Phó Hiệu trưởng Phụ trách Quan hệ Quốc tế của Đại học tổng hợp Liên bang Viễn Đông (FEFU) cho biết: “FEFU là một trong những đại học hàng đầu của Nga đào tạo các nhà Việt Nam học. Các lĩnh vực công nghệ thông tin, sinh dược và y học nói chung, bảo vệ con người, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống sẽ là tương lai hợp tác giữa Việt Nam và Nga”.  Phát biểu tại diễn đàn, TS Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác Nga-Việt “Truyền thống và hữu nghị” cho biết, cuộc gặp diễn ra vào thời điểm quan trọng khi năm nay Việt Nam và Liên bang Nga kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược. “Hợp tác Việt – Nga có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, do hai nước có thể chế, cơ chế khác nhau, tình hình quốc tế đang có nhiều biến động phức tạp, mức độ hợp tác song phương chưa hoàn toàn như mong muốn của lãnh đạo và nhân dân hai nước”, ông nói và cho biết thêm về phương hướng hợp tác giữa các địa phương, khu vực của hai nước. Qua đó, cần tăng cường các kênh hợp tác khác nhau để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác truyền thống, “ngoại giao nhân dân, trong đó có ngoại giao khoa học, là một kênh quan trọng để phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước”.  Nguồn: https://vn.sputniknews.com/vietnam_russia/2021091011059267-ngoai-giao-khoa-hoc-la-mot-kenh-quan-trong-de-phat-trien-quan-he-viet—nga/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngoại giao khoa học và sự phát triển của quốc gia      LTS: Là một hoạt động nâng cao vị thế của một quốc gia cũng như giải quyết những mâu thuẫn phức tạp giữa các nước, nhưng khái niệm ngoại giao khoa học, cho đến một thập kỉ vừa qua mới trở thành một lĩnh vực chuyên môn và nhận được sự chú ý.      Cuộc họp kỉ niệm 50 năm hiệp định Nam Cực. Nguồn: Antaretica.gov.au  Khái niệm ngoại giao khoa học trở nên phổ biến từ một hội nghị được tổ chức dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Hoàng gia Anh (Royal Society) và Hiệp hội vì Sự tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ (AAAS) năm 2009 tại Lâu đài Wilton, Vương Quốc Anh. Kết quả có tác động lớn nhất từ sự kiện này là cách phân loại những hình thức ngoại giao khoa học mà đến bây giờ vẫn được sử dụng rộng rãi:     • Khoa học trong ngoại giao: Khoa học cung cấp lời khuyên và hỗ trợ các mục tiêu chính sách đối ngoại  • Ngoại giao vì khoa học: Ngoại giao tạo điều kiện cho hợp tác khoa học quốc tế  • Khoa học vì ngoại giao: Hợp tác khoa học cải thiện quan hệ quốc tế  Mặc dù cách phân loại này tỏ ra hữu ích trong các cuộc thảo luận học thuật, trên thực tế, hợp tác quốc tế về khoa học thường phục vụ nhiều mục đích khác nhau và có thể bao gồm cả ba hình thức ngoại giao nói trên. Giờ đây, khi lý giải khái niệm ngoại giao khoa học, theo chúng tôi, cần tập trung vào khía cạnh tại sao một quốc gia phải cố gắng và đầu tư nhiều nguồn lực cho hợp tác quốc tế trong khoa học. Đây mới là cách nhìn thực tế và có ý nghĩa hơn đối với các cơ quan của chính phủ. Theo đó, ba hình thức ngoại giao khoa học sẽ là:  • Những hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu của một quốc gia  • Những hoạt động giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp khu vực  • Những hoạt động đáp ứng nhu cầu và thách thức toàn cầu  Để một quốc gia đầu tư vào ngoại giao khoa học, thì mọi hành động đều phải trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho lợi ích quốc gia của họ. Cách phân loại mới này giúp cho việc xác định các hoạt động hợp tác được cụ thể và chính xác hơn vì nó dựa trên các ưu tiên chính sách và chính trị chung của các quốc gia, đồng thời cho thấy những hoạt động nào sẽ cần sự hợp tác của nhiều cơ quan chuyên môn khác nhau trong chính phủ.  Cách phân loại này cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc các cơ quan chính phủ phải được trang bị và được tiếp cận với chuyên môn khoa học. Trên thực tế có rất ít những cơ quan phụ trách ngoại giao quan tâm đúng mức tới cơ chế cố vấn khoa học. Gần đây, ngày càng có nhiều nỗ lực thúc đẩy một cơ chế cố vấn khoa học trong nhiều chính phủ. Chẳng hạn, vào năm 2016, Mỹ, New Zealand, Anh và Nhật Bản cùng nhau thiết lập Mạng lưới cố vấn Khoa học và Công nghệ cho Bộ Ngoại giao nhằm mục đích cung cấp những chứng cứ khoa học tốt hơn cho những hoạt động ngoại giao.  Những hoạt động đáp ứng nhu cầu trong nước  Ảnh hưởng mềm  Khái niệm “ngoại giao khoa học” vốn được dùng để chỉ khát vọng gây ảnh hưởng quốc tế của một quốc gia. Mục đích đằng sau cuộc hội nghị năm 2009 của Hiệp hội Hoàng gia và AAAS về ngoại giao khoa học là tìm ra khả năng sử dụng khoa học để giảm căng thẳng giữa các nước phương Tây và các nước Hồi giáo, đặc biệt sau vụ tấn công ngày 11/9 và cuộc chiến chống khủng bố. Bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Cairo ngày 4/6/2009 nhằm định hình lại mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và cộng đồng Hồi giáo quốc tế, đã tập trung vào hợp tác về khoa học và công nghệ và nhấn mạnh những nỗ lực ngoại giao khoa học của Mỹ một cách chính thức.  Gần đây, các quốc gia nhỏ hơn đã phát hiện ra giá trị của khoa học trong việc khẳng định vị thế của mình trên diễn đàn toàn cầu và tăng cường tiếng nói trong các cuộc thảo luận chính sách quốc tế. Israel là một ví dụ – quốc gia này đã sử dụng các thế mạnh khoa học và công nghệ để xây dựng nền kinh tế khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, và nhờ đó tạo dựng được mối quan hệ với các nước láng giềng Trung Đông, vượt lên trên những mâu thuẫn lâu dài trong lịch sử.  Các quốc gia đang hành động ngày một chiến lược hơn trong những hợp tác về khoa học, để thúc đẩy các hoạt động thương mại cũng như đạt được những mục tiêu ngoại giao to lớn hơn. Họ bắt đầu nhận ra khía cạnh khoa học trong các hoạt động hỗ trợ phát triển. Trọng tâm trong sự phát triển của các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (LMIC) là nâng cao kiến ​​thức và năng lực khoa học của người dân thông qua việc thúc đẩy giáo dục STEM. Thật vậy, thúc đẩy chuyên môn khoa học trong khuyến nghị chính sách, giải quyết khủng hoảng và phát triển kinh tế là cần thiết kể cả đối với các nước thu nhập thấp nhất. Với nhận thức này, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế của Canada gần đây đã hợp tác với Mạng lưới quốc tế về cố vấn khoa học cho Chính phủ (INSAGA) để xây dựng cơ chế cố vấn khoa học tại các LMIC ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh.  Quốc phòng an ninh và ứng phó với tình huống khẩn cấp  Phần lớn nhu cầu về an ninh quốc gia đều ít nhiều liên quan đến khoa học. Ví dụ, sau một thảm họa nào đó, việc cứu hộ thường đến dưới hình thức tư vấn khoa học giữa hai nước. Để đối phó với một trường hợp nghi nhiễm Ebola năm 2014, New Zealand đã nhờ sự giúp đỡ chuyên môn và năng lực xét nghiệm của Úc. Quan hệ hợp tác khoa học giữa Anh và Nhật Bản đóng vai trò trung tâm giải quyết các rủi ro an ninh và sức khỏe sau trận động đất ở Nhật Bản và sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2011.  Việc thiết lập và duy trì lòng tin cho nhiều hiệp ước kiểm soát vũ khí phụ thuộc vào các bằng chứng khoa học. Và vì vậy, những quyết định về quốc phòng an ninh của một nước cũng dựa trên năng lực khoa học trong việc xác minh những tuyên bố của đối phương. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp an ninh mạng vừa là mối lo toàn cầu, nhưng cũng vừa là sự nghi ngại giữa các quốc gia với nhau trong việc sử dụng gián điệp và tổ chức các cuộc tấn công mạng. Cũng tương tự như vậy, sự phát triển nhanh chóng các công nghệ như chỉnh sửa gene, trí tuệ nhân tạo và học máy mang lại thách thức cho chính sách đối ngoại và hệ thống an ninh trên phạm vi quốc gia và toàn cầu.  Khía cạnh kinh tế  Trong thế kỷ 21, thương mại và ngoại giao có mối quan hệ mật thiết với nhau và ở nhiều quốc gia, hai hoạt động này được thực hiện bởi cùng một bộ. Hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) – đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp và thực phẩm – phụ thuộc rất lớn vào khoa học. Ví dụ, quan hệ thương mại quốc tế được điều chỉnh bởi một loạt các thỏa thuận về kiểm dịch thực vật và các vấn đề tương tự. Nhiều tranh chấp được xử lý thông qua WTO có liên quan đến các tranh luận khoa học, tập trung vào việc liệu khoa học có được áp dụng đúng đắn hay đang bị lạm dụng để tạo ra các hàng rào phi thuế quan.  Hoạt động thương mại trong lĩnh vực sản phẩm công nghệ hiện đại và dịch vụ công nghệ ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Chuỗi giá trị toàn cầu trong việc đăng ký sở hữu trí tuệ, tạo ra và sử dụng dữ liệu, sản xuất hàng hóa cho thấy, nhiều quốc gia thường tham gia cùng phát triển một sản phẩm. Trong đó, các quốc gia đổi mới sáng tạo vừa muốn hợp tác với nước khác để tối ưu hóa các sản phẩm như vậy nhưng cũng vừa muốn tăng cường doanh số và sở hữu trí tuệ cho những linh kiện của mình sản xuất trong các sản phẩm đó. Do vậy, các cuộc đàm phán thương mại gần đây tập trung rất nhiều vào sở hữu trí tuệ, bản quyền, phần mềm và sinh phẩm tiên tiến. Các bằng chứng khoa học làm đầu vào cho các cuộc đàm phán như vậy đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ vị thế quốc gia.  Khi một loạt công nghệ phát triển cùng lúc trên toàn thế giới, việc xuất nhập khẩu diễn ra thuận lợi phụ thuộc vào các tiêu chuẩn và định nghĩa kỹ thuật chung. Trong một số trường hợp, các tiêu chuẩn được xác lập bởi những công ty đang thống lĩnh thị trường nhưng với các trường hợp còn lại, vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước là cần thiết. Nếu không, việc tồn tại những cách hiểu khác nhau về một định nghĩa sẽ tạo ra những hàng rào phi thuế quan. Chẳng hạn, khái niệm “biến đổi gene” lúc thì không tính những sản phẩm chỉnh sửa gene nhưng lúc khác thì lại tính là điều rất dễ xảy ra khi kỹ thuật này đang ngày càng được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp và y dược. Ví dụ này cho thấy tại sao những lập luận khoa học không thể thiếu trong rất nhiều thảo luận thương mại.    Nền khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia  Trong nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiều quốc gia sử dụng kênh ngoại giao để tiếp cận chuyên môn ở các nước khác, để thúc đẩy các thỏa thuận hợp tác ở cấp quốc gia, trường đại học hoặc doanh nghiệp, hoặc để tiếp cận cộng đồng khoa học ở hải ngoại. Ireland, New Zealand và ngày càng nhiều quốc gia châu Phi đang đầu tư mạnh mẽ vào việc tiếp cận cộng đồng hải ngoại thông qua các cơ quan chuyên biệt. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Viện Hàn lâm Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Hoa Kỳ và AAAS đã khởi động Mạng lưới hải ngoại về Kỹ thuật và Khoa học (NODES), với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại nhiều nước, bao gồm các quốc gia bản xứ và quốc gia lưu trú của một cộng đồng hải ngoại nhất định.      Cơ chế cố vấn khoa học có thể hiểu là cần có người cố vấn khoa học chuyên trách về những hoạt động đối ngoại của chính phủ liên quan đến khoa học – kỹ thuật. Về cơ bản, người này sẽ tạo dựng mối quan hệ với tất cả các cơ quan phụ trách về chính sách khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chính phủ, cộng đồng khoa học trong nước để có thể tham vấn cho những lãnh đạo ngoại giao cấp cao về các vấn đề ngoại giao nào có thể giải quyết bằng khoa học và đồng thời cũng thiết lập quan hệ hợp tác nghiên cứu với các nước đối tác.      Đối với nhiều nước, việc tham gia các siêu dự án khoa học xuyên quốc gia có mục tiêu chính là hỗ trợ phát triển quốc gia. Ví dụ, một số quốc gia đầu tư vào dự án Kính thiên văn (Square Kilometer Array) chủ yếu vì tiềm năng của nó đối với sự phát triển đất nước (như Nam Phi), trong khi những quốc gia khác (như New Zealand) tham gia phần lớn vì tác động của nó vào ngành công nghệ thông tin và truyền thông.  Ngoại giao khoa học và ranh giới quốc gia  Một quốc gia còn có thể theo đuổi lợi ích của mình bằng cách sử dụng khoa học để giải quyết các vấn đề song phương hoặc xuyên biên giới cụ thể. Việc quản lý các hệ sinh thái và tài nguyên trải dài xuyên biên giới là một ví dụ điển hình. Trong trường hợp thung lũng Great Rift với các đoạn chạy qua Jordan và Israel, hai nước đã vượt qua những căng thẳng nhất định để tạo điều kiện cho những nghiên cứu khoa học cần thiết nhằm duy trì tiềm năng nông nghiệp của khu vực.  Rõ ràng, các vấn đề liên quan đến việc dùng chung tài nguyên giữa các quốc gia như các mỏ khí, thủy sản và lưu vực sông đều có các nội hàm khoa học lớn, nghĩa là, nếu không những có căn cứ khoa học đầy đủ hỗ trợ, những nỗ lực ngoại giao sẽ trở nên lạc hướng. Trong nhiều trường hợp khác, bản thân khoa học cũng khởi sinh những hoạt động ngoại giao để giải quyết vấn đề mở rộng biên giới, vốn thường xảy ra với các hệ thống sông. Trên sông Danube đoạn giữa Tiệp Khắc cũ và Hungary, căng thẳng qua nhiều năm liên quan đến tác động môi trường của đập Gabcikovo-Nagymaros được giải quyết bởi những nỗ lực khoa học song phương: thực tế đây là vụ kiện đầu tiên về môi trường được giải quyết từ trước khi đưa ra Tòa án Quốc tế.  Các quốc gia cũng có thể chia sẻ với nhau nhiều dịch vụ kĩ thuật, như đánh giá an toàn thực phẩm, quy định dược phẩm hoặc tiêu chuẩn công nghiệp. Điều này được chứng minh ở châu Âu, với các trung tâm hợp tác nghiên cứu và rất nhiều tổ chức khác như Cơ quan An ninh Lương thực châu Âu, cho thấy những dịch vụ khoa học hợp tác song phương hay đa phương có thể diễn ra như thế nào dưới lớp áo “ngoại giao chính thức”. Liên kết khu vực cũng đóng vai trò trong thúc đẩy thương mại và các thỏa thuận về tiêu chuẩn hay định nghĩa, khái niệm chung, cùng lên kế hoạch quản lý khủng hoảng và đối phó với các tình huống nguy cấp. Và đó cũng chính là các nhiệm vụ trọng tâm của nhóm cố vấn khoa học APEC.  Thúc đẩy lợi ích toàn cầu  Khi mở rộng mối quan tâm xa hơn, mỗi nước đều đối mặt với các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, đa dạng sinh học và ô nhiễm biển. Tuy nhiên, với những chủ đề này, các nước lại thường chỉ tập trung thỏa mãn những lợi ích ngắn hạn hơn là triển khai những hoạt động dài hạn mà rất có thể những ảnh hưởng tích cực của nó chỉ có thể thấy được sau nhiều nhiệm kì chính trị. Ví dụ, rất khó khăn để thuyết phục các nước cam kết giảm thiểu khí thải nhà kính bởi các chính trị gia lo sợ nếu đẩy mạnh những chính sách “xanh” sẽ gây ra căng thẳng với những đối tượng đang làm việc trong lĩnh vực nhiên liệu hóa thạch và vì thế sẽ mất đi sự ủng hộ của nhiều cử tri.    Thách thức chung xuyên biên giới  Những vấn đề được đề cập ở trên là trọng tâm của các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), và chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc (LHQ) đến năm 2030, một bộ tiêu chuẩn để đạt được những kết quả đầy tham vọng về phát triển bền vững. Tất cả điều này đều đòi hỏi những dữ liệu khoa học phức tạp và nhiều vấn đề trong đó còn cần sự trợ giúp của khoa học và những công nghệ mới.  Trong những trường hợp liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia, những quyết định sẽ được thông qua các bộ, ngành dưới sự hỗ trợ của hệ thống cố vấn khoa học. Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định ở tầm quốc tế cùng với những chứng cứ khoa học hỗ trợ cho nó mơ hồ hơn. Bản thân LHQ không có tính tự chủ mà phải phụ thuộc vào lá phiếu của các nước thành viên để ban hành các quyết định. Việc bỏ phiếu này thường được thực hiện thông qua các Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, các chứng cứ khoa học hỗ trợ cho các cơ quan LHQ thường đến từ các nhân viên hoặc các ủy ban cố vấn của LHQ và phần lớn không có sự kết nối với các cố vấn khoa học đại diện mỗi quốc gia. Về vấn đề này, cần có mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các hệ thống tư vấn khoa học trong nước và các tổ chức quốc tế, cũng như gắn kết các hệ thống tư vấn khoa học trong nước và các Bộ Ngoại giao.  Những không gian phi lãnh thổ  Khoảng 70% bề mặt của hành tinh không thuộc về một nhà nước nào, bao gồm các đại dương bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế và các vùng cực. Nam Cực có thể xem là đại diện đỉnh cao của ngoại giao khoa học sau Thế chiến thứ hai. Năm 1959, các bên tham gia Hiệp ước Nam Cực đã đồng ý đình chỉ các yêu sách lãnh thổ, bác bỏ việc khai thác tài nguyên và nhất trí sử dụng Nam Cực cho mục đích nghiên cứu khoa học. Hiệp ước hiện nay có 53 đối tác, và Nam Cực thực sự bị chi phối bởi một loạt các ủy ban khoa học làm việc chặt chẽ với các đối tác ngoại giao. Khoa học ngày càng quan trọng trong việc quản lý các không gian phi lãnh thổ khác, bao gồm cả đại dương và không gian vũ trụ. Mặc dù khoa học đã đóng một vai trò quan trọng trong quản trị không gian vũ trụ, nó vẫn cần được thúc đẩy trong việc giải quyết các nguy cơ đang ngày một dâng cao đối với vấn đề nước trên toàn cầu.  Tương lai của ngoại giao khoa học  Để ngoại giao khoa học phát triển, tất cả các cơ quan có liên quan đến ngoại giao, thương mại, hỗ trợ phát triển và an ninh phải coi đó là một công cụ chính. Thông qua hệ thống phân loại được đề xuất ở đây, các cơ quan có thể tự đánh giá liệu họ có chuyên môn nội bộ để giải quyết một vấn đề cụ thể hay phải tìm kiếm sự trợ giúp từ cộng đồng khoa học rộng hơn.  Ngoại giao khoa học nên là một phần nghiêm túc trong bộ công cụ của mọi quốc gia, cho dù đất nước đó lớn hay nhỏ, đang phát triển hay đã giàu có. Nhưng nó không thể được thiết lập một cách vội vã và thiếu cẩn trọng. Ngoại giao khoa học đòi hỏi một cái nhìn mang tính cấu trúc không chỉ hướng đến thúc đẩy nền khoa học toàn cầu, vốn đã là nhiệm vụ của rất nhiều tổ chức khoa học mà còn chú trọng đến việc giải quyết những vấn đề xã hội trải dài từ cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Các bộ chuyên ngành và Bộ Ngoại giao có lý do để hợp tác với nhau chặt chẽ hơn để từ đó nhận ra nhu cầu cần có một lĩnh vực riêng biệt – ngoại giao khoa học – vì lợi ích của hành tinh và giảm xung đột xuyên quốc gia.  Phan Liên Hương lược dịch  http://www.sciencediplomacy.org/article/2018/pragmatic-perspective  —–  Các tác giả:  Peter D. Gluckman: Cố vấn khoa học của Thủ tướng New Zealand và Chủ tịch Mạng lưới quốc tế về cố vấn khoa học cho Chính phủ.  Vaughan Turekian: Nguyên cố vấn khoa học Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, trưởng nhóm Ngoại giao khoa học, Mạng lưới quốc tế về cố vấn khoa học cho Chính phủ.  Teruo Kishi: cố vấn khoa học Bộ Ngoại giao Nhật Bản.  Robin W. Grimes: Nguyên cố vấn khoa học Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôi sao nhanh nhất Dải ngân hà là kẻ xâm lược      Ken Shen là nhà vật lý thiên văn làm việc tại trường đại học California (Berkeley) – đơn vị hỗ trợ cho vệ tinh Gaia của Cơ quan Vũ trụ châu Âu công bố bộ dữ liệu chuyển động của hơn 1,3 tỷ ngôi sao. Shen lên ý tưởng sàng lọc bộ dữ liệu cho các ngôi sao nhanh nhất trên bầu trời và tua lại quỹ đạo quay về sự kiện “bạo động” đã khởi động nó.      Một ngôi sao lùn trắng di chuyển nhanh có thể là “kẻ sống sót” sau vụ nổ siêu tân tinh. Nguồn: Sciencemag.com  Vào cuối tuần trước, nhóm của anh đã công bố phát hiện về ba sao lùn trắng – tàn dư sau cái chết của một ngôi sao cỡ Mặt trời – băng qua thiên hà với vận tốc hàng nghìn km/s, có lẽ được bắt đầu từ các vụ nổ siêu tân tinh. Một nhóm khác nghiên cứu cùng đề tài cũng nhanh chóng công bố báo cáo với hơn hai mươi ngôi sao di chuyển nhanh, một số gần như tăng tốc nhờ “cú đá” của lỗ đen ở trung tâm thiên hà. Và thêm một nhóm xác nhận rằng một ngôi sao rực rỡ ở vùng rìa Dải Ngân hà thực sự đến từ một thiên hà khác – Đám mây Magellanic Lớn (LMC). Những phát hiện ồ ạt này đã đưa các nhà thiên văn vào cuộc chạy đua kiểm tra kính thiên văn và xác nhận các vật thể bay, như lời nhà thiên văn học James Guillochon ở ĐH Harvard: “Thật khó để biết ngôi sao nào cần quan sát trước.”  Các nhà thiên văn học có thể dễ dàng theo dõi vận tốc của một ngôi sao tới gần hay ra xa Trái Đất bằng cách quan sát sự dịch chuyển Doppler của ánh sáng từ nó. Nhưng việc đo đạc những chuyển động ngang trên bầu trời để hiểu vận tốc thực sự và nơi sao đang đứng  lại tiến triển rất chậm chạp – cho tới khi dự ám Gaia được khởi động vào năm 2013 và bắt đầu đo được những thay đổi rất nhỏ trong vị trí của các ngôi sao. Công bố vừa qua cung cấp các đo đạc về chuyển động ngang của 1,3 tỷ ngôi sao và vận tốc xuyên tâm của 7 triệu ngôi sao sáng nhất.  Shen hy vọng rằng các ngôi sao nhanh nhất có thể giúp kiểm tra lý thuyết đặc biệt về loại siêu tân tinh Ia, vốn được hình thành từ vụ nổ của các sao lùn trắng. Các vụ nổ nhiệt hạch được kích hoạt khi một ngôi sao lùn trắng hút vật chất từ một ngôi sao đồng hành tới khi đủ nặng để nung chảy hạt nhân carbon trong lõi nó. Nhưng đặc tính của những người ban đồng hành khá mơ hồ. Trong một kịch bản, sao lùn trắng “ắn cắp” vật chất từ một ngôi sao thường còn trong kịch bản ưa thích của Shen, một cặp sao lùn trắng cùng quay, tích lũy tốc độ và chỉ ngay trước sáp nhập, một trong hai đã thu thập đủ vật chất để phát nổ, sao còn lại được phóng vào vũ trụ như cái búa trong cuộc thi ném búa Olympic.  Để tìm kiếm những kẻ sống sót, nhóm của Shen đã chọn dữ liệu từ khảo sát Gaia với những chuyển động ngang nhanh nhất. Sau đó họ kiểm tra các ứng viên với kính thiên văn mặt đất ở California, quần đảo Canary và Nam Phi để phân loại các dạng sao và thu thập các vận tốc xuyên tâm của nó còn bị thiếu. Trong vòng 24 giờ, nhóm của Shen đã thấy 3 sao lùn trắng phù hợp, một trong số đó di chuyển với tốc độ 2.400 km/giây, biến nó thành một trong những vật thể nhanh nhất thiên hà này. Họ đã nêu kết quả trong một công bố vào ngày 30/4 trên arXiv.  Nhóm cũng tua lại đường đi của những ngôi sao trong thời gian 100.000 năm. Một trong  những cuộc truy tìm đó là tìm lại tàn dư của một vụ nổ siêu tân tinh gần đó, đám mây tàn tích từ vụ nổ trước đó, càng khẳng định hơn mối liên hệ. Nhà vật lý thiên văn Kris Stanek tại ĐH Bang Ohio (Columbus) nhận xét: “Đây là một quan sát và kết quả tuyệt vời”. Các nhà lý thuyết tiếp tục cần thêm thời gian để cân nhắc kịch bản của Shen, nhưng sao lùn trắng đó “có lẽ là một phần của vụ nổ siêu tân tinh.”  Một nhóm khác do Tommaso Marchetti tại ĐH Leiden (Hà Lan) dẫn dắt đã tìm kiếm dữ liệu Gaia về các sao nhanh nhất để chứng thực loại “bạo động” thiên hà khác. Trên arXiv vào ngày 27/4/2018, họ báo cáo đã tìm thấy 28 ngôi sao như vậy, một trong số đó tăng tốc từ điểm xuất phát là trung tâm thiên hà, nơi có một lỗ đen khổng lồ đang ẩn náu. Theo lý thuyết, lực hấp dẫn cực mạnh từ lỗ đen này có thể phá vỡ các hệ sao đôi tới quá gần nó và ném một ngôi sao đi với vận tốc 1000km/s, đủ để thoát khỏi lực hấp dẫn của thiên hà.  Tuy nhiên, hai trong số các ngôi sao của Marchetti có dấu hiệu trở lại ngoài thiên hà, có lẽ là tới Đám mây Magellan lớn (LMC) – thiên hà vệ tinh của Dải Ngân hà. HVS3, một ngôi sao khác là một trường hợp rõ ràng hơn. Nó được phát hiện vào năm 2005, gần LMC và trong quầng Dải Ngân hà. Dữ liệu Gaia cho thấy, HVS3 đến từ trung tâm của LMC, giống như công bố vào ngày 26/4/2018 trên arXiv của nhóm nghiên cứu do nhà thiên văn học Denis Erkal từ ĐH Surrey (Anh) làm trưởng nhóm. Nó di chuyển quá nhanh đến nỗi nó có thể đã nhận được “cú đá” từ lỗ đen trung tâm – chưa từng được phát hiện trước đó trong LMC.  “Nó khá lớn” – Douglas Boubert – nghiên cứu sinh TS tại ĐH Cambridge nói. Anh là người đã giúp săn lùng các ngôi sao tốc độ cao cho Erkal, Shen và Guillochon. Các nhà thiên văn biết rằng tất cả các thiên hà lớn đều có những lỗ đen lớn, nhưng họ không chắc rằng các thiên hà nhỏ như LMC có như vậy không. Việc tìm kiếm nhiều hơn các vật thể bị đẩy ra khỏi LMC có thể giúp đo được lỗ đen và có thể khẳng định nghi ngờ của Boubert: một phần đáng kể những vật thể chuyển động với tốc độ lớn của Dải Ngân hà đến từ “một thiên hà hoàn toàn khác. Ai mà biết được là tôi đúng hay không”.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/05/one-milky-way-s-fastest-stars-invader-another-galaxy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngón đòn đánh lén      Ổn định cho bằng được lượng đường trong máu của người bệnh đúng là công việc hàng đầu của thầy thuốc trị bệnh tiểu đường. Nhưng với nhà điều trị có kinh nghiệm thì mục tiêu quan trọng hơn nhiều chính là làm sao ngăn chặn biến chứng đa dạng và nghiêm trọng của bệnh tiểu đường.    Không chỉ thầy thuốc, ngay cả bệnh nhân cũng có khuynh hướng tập trung vào cơ quan dễ gây chú ý như tim, thận, mắt… Biết rõ mạch máu, nói chính xác hơn, mạch máu nhỏ (vi mạch) là yếu điểm trong bệnh tiểu đường, nhưng ít ai dù vậy chịu khó lưu tâm đến một cơ quan vốn có ít mạch máu, nơi thuốc không dễ vào đến nơi: bàn chân- tụ điểm chịu đựng toàn bộ trọng lượng của cơ thể.  Do hậu quả của rối loạn biến dưỡng trong chiều hướng gia tăng chất mỡ trong máu, mạch máu của người bệnh tiểu đường dễ bị xơ vữa, chai cứng với dòng máu có khuynh hướng càng lúc càng đậm đặc. Một phần lớn diện tích lớp da của người tiểu đường, đặc biệt là phần ở xa trái tim, như bàn chân, vì thế rất dễ lâm vào tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ. Khi đó, bàn chân không những dễ bị bội nhiểm vì vi sinh, nấm mốc, hay dễ bị dị ứng khi tiếp xúc với hóa chất, hay dễ sinh đau nhức khi thay đổi nhiệt độ, mà vết thương ngoài da, dù chỉ trầy xước sơ sài, cũng rất khó lành. Đó chính là lý do tại sao người bị bệnh tiểu đường dễ bị viêm loét ở bàn chân. Đó cũng chính là nguyên nhân tại sao số người bệnh tiểu đường phải chịu cảnh giải phẫu đoạn chi vẫn còn chiếm tỷ lệ rất cao, cho dù thầy thuốc đang hãnh diện về phương tiện chẩn đoán, về nhiều loại thuốc mới trong bệnh tiểu đường. Tình trạng này càng dễ bộc phát hơn nữa nếu bệnh nhân thuộc loại béo phì, hay có thói quen mang giày cao gót, mang giày quá chật. Thêm vào đó, bệnh lý trên bàn chân của người tiểu đường dễ trở thành trầm trọng cũng vì không mấy người bỏ công săn sóc bàn chân cho đúng cách. Người ta rất dễ dàng ghi nhận một nếp nhăn trên mặt, nhưng không mấy ai chịu khó tốn thêm ít phút để nhìn xuống dưới, nhìn xuống đôi bàn chân thân thương của chính mình!  Biến chứng trên bàn chân của người tiểu đường đúng là dễ đến khó đi. Nhưng đó là điều thật đáng tiếc vì trên thực tế lại không đến độ quá phức tạp nếu muốn phòng tránh biến chứng của bệnh tiểu đường trên bàn chân. Chỉ cần biết cách chăm sóc bàn chân, tối thiểu qua các biện pháp dưới đây:  1. Quan sát bàn chân mỗi ngày một lần, đặc biệt là lòng bàn chân, vì phần này khó thấy, bằng cách đặt tấm gương dưới bàn chân. Nhìn cho kỹ để phát hiện chỗ nào vừa chớm sưng đỏ hay phù nề, nhất là sau khi đi bộ lâu, hay vừa thay giày mới. Đừng đợi đến đau mới lo vì cảm giác đau không hoàn toàn trung thực ở nhiều người bệnh tiểu đường.  2. Rửa chân mỗi ngày bằng xà phòng có độ pH trung tính. Nếu được nước ấm thì tốt, nhưng nên dùng nước lạnh cho an toàn, vì một số người bệnh tiểu đường nếu bị viêm thần kinh ngoại biên lâu ngày có thể mất cảm giác nóng lạnh nên dễ bị bỏng mà không biết. Không nên ngâm chân lâu hơn 5 phút. Cũng đừng ngâm chân nếu đang có vết loét để tránh nguy cơ bội nhiểm.  3. Lau khô chân bằng khăn mềm, lau thật kỹ kẻ ngón chân và nếp gấp dưới ngón chân bằng que bông để tránh xước da.  4. Thoa kem dưỡng da chân mỗi ngày hai lần, buổi sáng và buổi tối. Đừng thoa quá nhiều giữa hai kẽ chân để tránh đọng chất nhờn. Tránh dùng kem có hóa chất bảo quản, cũng đừng dùng các loại kem làm khô da.  5. Thay vì cắt móng chân bằng kềm, kéo, nên dũa cho đều cạnh móng chân để tránh thương tích ở góc móng chân. Đừng làm sạch kẻ móng chân bằng vật quá nhọn.  6. Không nên chườm nóng hay hơ nóng nếu gặp lúc lạnh chân vì dễ làm thương tổn thần kinh. Nên mang vớ len, nhưng đừng quá chật để tránh phồng da vì nếp gấp của vớ. Nếu chọn loại vớ may theo kiểu liền và với thành phần bông vải càng cao càng tốt.  7. Tránh đi chân không vì vật cứng dù rất nhỏ vẫn đủ làm da chân bị thương. Ngược lại, đừng mang các loại dép có quai bén để tránh quai dép làm lở kẽ ngón chân. Cũng đừng chọn dép có đế quá cứng vì dễ làm thương tổn thần kinh dưới lòng bàn chân.  8. Khi mua giày nên chọn số lớn hơn bàn chân một chút. Không nên mang giày mới quá lâu. Đổi giày ngay nếu phát hiện có chỗ cộm ở mặt trong.  9. Giày thích hợp cho người bị tiểu đường nên rộng bề ngang, nhưng không nên có gót cao, đế dầy, và mũi may phía trong thân giày. Phải dùng giầy chỉnh hình với kích thước theo đúng y lệnh của thầy thuốc cho người có bàn chân bị biến dạng.  10. Đừng tự điều trị mắt cá bằng các loại băng dán có thuốc. Cũng đừng tự bào mòn mắt cá bằng dao bén hay dũa sắt. Đó là công việc của nhân viên y tế.  11. Khi chân bị thương, đừng tự điều trị bằng thuốc dùng ngoài, hay ngâm chân trong nước thuốc. Chỉ nên sát trùng vết thương bằng nước oxy già, băng sạch và tìm đến thầy thuốc. Với bệnh nấm móng chân và kẽ chân cũng thế.  12. Đừng chọn các môn thể thao gây áp lực trực tiếp trên bàn chân như bóng đá, quần vợt… nếu đã có thương tổn trên bàn chân. Giảm bớt áp lực trên bàn chân nếu có vết loét bằng cách tránh đứng quá lâu, hay đi bộ quá nhiều. Nếu đã có thương tổn trên xương bàn chân cần tránh các động tác đòi hỏi sức lực của ngón chân, như đạp phanh xe, sang số…  13. Băng hay chêm phần cổ chân và gót chân nếu phải nằm lâu trên giường bệnh.  14. Đến thầy thuốc chuyên khoa tiểu đường để thăm khám bàn chân một lần mỗi 6 tháng.  Trong bệnh tiểu đường, bàn chân không hẳn chỉ là nhược điểm. Ngược lại là khác, bàn chân chính là phương tiện đơn giản và cụ thể để đánh giá tiến độ của bệnh tiểu đường.  Thầy thuốc có thể sơ sót. Người bệnh có thể đánh lừa chính mình. Nhưng bàn chân bao giờ cũng thành thật. Đôi khi chỉ cần biết cách nhìn xuống cho thật đúng lúc đã đủ để phòng tránh lắm điều nhiêu khê.  Anh Thy      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôn ngữ khoa học?      Liệu có nhất thiết ngôn ngữ khoa học phải là tiếng Anh? Liệu có thể “kể một câu chuyện khoa học”bằng tiếng mẹ đẻ? Nhà Sinh vật vật lý (biophysicist) nổi tiếng người Đức Stefan Klein đã dấy lên cuộc tranh luận khi đặt vấn đề như vậy.    Mới đây, một hội thảo có tên gọi hấp dẫn – “Nghiên cứu tư duy” diễn ra ở Berlin với sự tham gia của các nhà khoa học, đại diện các tổ chức và Hội đồng Đạo đức quốc gia của Đức – thậm chí cả Phòng Cảnh sát tội phạm Liên bang cũng cử đại diện. Diễn giả gồm sáu người Đức, ba người Mỹ và một người Anh – đều là các nhà khoa học danh tiếng. Và tất đều trình bày tham luận bằng tiếng Anh, như từ xưa đến nay vẫn như vậy. Trong khi đó, bốn diễn giả được mời đều có thể dễ dàng hiểu được nội dung thuyết trình bằng tiếng Đức nhờ phiên dịch.  Hiện nay không chỉ ở Đức hầu hết các nước trên thế giới, các nhà khoa học chỉ coi trọng chất lượng của những hội thảo mà ở đó tiếng Anh được dùng như ngôn ngữ chính. Điều này trái ngược với “phong trào” từ bỏ tiếng Latin – vốn là ngôn ngữ của các nhà khoa học cách đây 500 năm. Những tác phẩm của Galileo Galilei viết bằng tiếng Ý cũng đã tạo ra những thuật ngữ mới bằng tiếng mẹ đẻ, nhờ đó ai cũng có thể tiếp cận tri thức.  Vậy ngày nay, các nhà khoa học làm sao có thể hy vọng giành được sự đồng cảm từ công chúng – những người không còn cùng chung tiếng nói với họ nữa? Xã hội có nguy cơ chia làm hai nửa: Một bên là những người sử dụng thứ ngôn ngữ tinh hoa, bên kia là tất cả những người không theo kịp những phát triển mới nhất. Vậy câu hỏi liệu tiếng mẹ đẻ có còn là ngôn ngữ khoa học không đơn thuần là câu hỏi về lòng tự hào dân tộc.  Bất kỳ ai, dù là người thạo tiếng đi nữa, đều rất vất vả khi phải làm nghiên cứu khoa học bằng tiếng nước ngoài. “Chúng ta đều ngọng tiếng Anh (We are dumber in English)” – đó là kết luận của các nhà nghiên cứu ở Thuỵ Điển và Hà Lan, nơi trẻ em được học tiếng Anh từ ngày đầu đến trường. Các bài giảng bằng tiếng Anh có mặt trong tất cả các môn học, thế nhưng, kết quả bài kiểm tra ở những phần này trung bình đều thấp hơn khoảng 10% so với phần được dạy bằng tiếng mẹ đẻ. Tại các hội thảo bằng tiếng Anh, sinh viên ít đặt câu hỏi hơn và trả lời cũng ít hơn – họ tạo ra ấn tượng về sự bất lực. Nhưng cả giảng viên lẫn sinh viên đều không nhận thức được về thực trạng này bởi vì họ đều đánh giá sai về mức độ thành thạo tiếng Anh của mình.  Hiện nay, tiếng Anh được dùng trong 250 trên tổng số 1.976 lĩnh vực đào tạo cao học ở Đức (các chương trình “đào tạo thạc sĩ”). Nếu xu hướng này tiếp tục phát triển thì hiển nhiên là tiếng Đức sẽ bị khai tử với tư cách là một ngôn ngữ khoa học. Ở trường đại học danh tiếng nhất của Thuỵ Điển – ĐH Uppsala – người ta đã tính đến chuyện phải tăng thêm số chương trình đào tạo thạc sĩ bằng tiếng Thuỵ Điển hoặc chuyển toàn bộ nội dung đào tạo cơ bản sang tiếng mẹ đẻ.  Sinh viên và những người hướng dẫn không chỉ đối mặt với các vấn đề về lĩnh hội kiến thức. Ngôn ngữ còn là sự kết nối về mặt cảm xúc với môn học. Lĩnh vực nghiên cứu càng trừu tượng thì mối quan hệ này càng quan trọng.  Ở những lĩnh vực trừu tượng cao siêu như vật lý lượng tử, những khái niệm rành mạch do người Đức tạo ra vĩnh viễn bị mất đi khi chúng chỉ được biết đến thông qua những cụm từ tiếng Anh dịch gần sát nghĩa.  Vậy chúng ta phải làm gì? Tiếng mẹ đẻ cần phải được duy trì như một ngôn ngữ của các hội thảo và các bài giảng mặc dù được công bố bằng tiếng Anh.  Hai biện pháp chính có thể thực hiện ngay. Trước hết các bài thi tốt nghiệp ở tất cả các khoa cần phải kèm theo một tóm tắt nhiều trang bằng thứ tiếng mẹ đẻ dễ hiểu. Tóm tắt này phải được tính vào điểm thi. Bên cạnh đó, các đơn xin tài trợ nghiên cứu phải bao gồm một bản toát yếu mà bất kỳ người “ngoại đạo” nào cũng hiểu được.  Thứ hai là, trong tương lai cần có một giải thưởng “hào phóng” cho những những bài báo khoa học, bài nói chuyện, giáo trình và sách chuyên ngành hay nhất – cả về khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn – được viết bằng tiếng mẹ đẻ của các nhà khoa học. Lập một ban giám khảo để chọn những bài viết khoa học bằng tiếng mẹ đẻ xuất sắc nhất và tập hợp nó trong một cuốn sách hằng năm – Mỹ đã làm điều này từ lâu.  Cuối cùng, vấn đề là việc nuôi dưỡng một ngôn ngữ khoa học phụ thuộc vào việc chúng ta quan niệm như thế nào về lợi ích của khoa học. Người ta thường quên rằng, ý nghĩa của nghiên cứu lớn hơn nhiều so với việc đưa ra các giả thuyết, thu thập số liệu hoặc phản chứng các giả thuyết. Khoa học là câu chuyện được xây dựng bởi những người khao khát hiểu biết nhiều hơn và khao khát hoàn thiện thế giới. Đó là lý do tại sao những công trình nghiên cứu của Darwin, Galileo và Einstein vẫn còn hấp dẫn chúng ta đến tận hôm nay.  THÁI THANH lược dịch từ Signansight.com  Hiện nay, tiếng Anh được dùng trong 250 trên tổng số 1.976 lĩnh vực đào tạo cao học ở Đức (các chương trình “đào tạo thạc sĩ”). Nếu xu hướng này tiếp tục phát triển thì hiển nhiên là tiếng Đức sẽ bị khai tử với tư cách là một ngôn ngữ khoa học.  Bản thảo của Galilei bằng tiếng Ý    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngôn ngữ xuất hiện như thế nào?      Việc các ngôn ngữ trên thế giới xuất hiện như thế nào phần lớn đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Người ta mới dự đoán là quá trình này có thể mất đến hàng ngàn năm. Nhưng một điều thú vị là người điếc cũng có thể dễ dàng tạo ra những ngôn ngữ kí hiệu mới. Quan sát cho thấy khi đưa những người điếc không quen biết nhau vào cùng một cộng đồng, họ nhanh chóng tạo ra ngôn ngữ kí hiệu riêng trong một khoảng thời gian khá ngắn, nổi tiếng nhất là Ngôn ngữ kí hiệu Nicaragua xuất hiện vào những năm 1980.      Một điều thú vị là những đứa trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngôn ngữ mới. Tuy nhiên, không có tài liệu nào ghi lại chính xác điều này đã xảy ra như thế nào. Các nhà nghiên cứu Manuel Bohn, Gregor Kachel và Michael Tomasello ở Trung tâm nghiên cứu phát triển tuổi thơ Leipzig và Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck của Đức đã tiến hành một loạt nghiên cứu nhằm cố gắng tái tạo chính xác quá trình tương tác xã hội biến đổi thành ngôn ngữ.  Họ đưa những đứa trẻ vào hai căn phòng khác nhau và giao tiếp qua Skype. Sau một một thời gian làm quen, họ bí mật tắt âm thanh và quan sát bọn trẻ tìm các cách giao tiếp mới không cần sử dụng ngôn ngữ nói. Nhiệm vụ của những đứa trẻ là mô tả hình ảnh với những nội dung khác nhau trong trò chơi phối hợp. Với những thứ cụ thể, chẳng hạn như cái búa hoặc cái nĩa, những đứa trẻ nhanh chóng tìm ra giải pháp bắt chước hành động tương ứng như ăn uống. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu liên tục đưa ra những thử thách mới với nhiều hình ảnh trừu tượng hơn, ví dụ họ đưa ra một tờ giấy trắng coi như một bức tranh để mô tả khái niệm rất khó mô phỏng là “hư không” (nothing).  Kachel kể về việc hai đứa trẻ hoàn thành nhiệm vụ: “Ban đầu, cô bé gửi tin đã thử mọi động tác khác nhau nhưng người nhận tin không hiểu gì cả. Bỗng dưng cô bé kéo chiếc áo phông sang một bên và chỉ vào một chấm trắng trong chiếc áo nhiều màu. Cả hai đã thực sự có một bước đột phá: dĩ nhiên! Màu trắng! Sau đó, cả hai đổi vai cho nhau, cô bé nhận thông tin không có đốm trắng nào trên áo, tuy nhiên vẫn dùng cách tương tự: kéo áo phông sang một bên và chỉ vào nó. Phía bên kia ngay lập tức hiểu ra”. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, cả hai đã thiết lập được một dấu hiệu tương ứng với một khái niệm trừu tượng. Theo tiến trình nghiên cứu, hình ảnh được miêu tả dần trở nên phức tạp hơn, chẳng hạn để truyền đạt về một tương tác giữa hai con vật, những đứa trẻ đã tạo ra những cử chỉ riêng cho con vật và hành động của chúng, sau đó kết hợp lại với nhau – tạo ra một loại ngữ pháp riêng ở cấp độ thấp.  Vậy ngôn ngữ xuất hiện như thế nào? Dựa trên nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra các bước sau: đầu tiên, chúng ta tạo ra các kí hiệu để chỉ từng hành động và sự vật giống với những thứ đó, điều kiện tiên quyết ở đây là những người tương tác phải có chung nền tảng trải nghiệm. Các bên cũng phối hợp bằng cách bắt chước lẫn nhau sao cho họ sử dụng cùng các dấu hiệu cho cùng một sự vật. Do đó những dấu hiệu này sẽ có cùng ý nghĩa giữa các cá nhân và cuối cùng là ý nghĩa chung. Theo thời gian, mối quan hệ giữa các dấu hiệu và sự vật trở nên trừu tượng hơn và ý nghĩa của các dấu hiệu cá nhân dần trở nên cụ thể hơn. Những cấu trúc ngữ pháp dần xuất hiện khi nhu cầu giao tiếp trở nên phức tạp hơn. Điều đáng chú ý nhất của nghiên cứu là các nhà khoa học có thể quan sát quá trình này diễn ra chỉ trong vòng 30 phút dưới điều kiện có kiểm soát.  Nghiên cứu cho thấy việc giao tiếp không nhất thiết chỉ dùng từ ngữ, khi không có cách nào sử dụng ngôn ngữ nói thông thường, con người sẽ tìm những cách khác để truyền tải thông điệp của mình. Hiện tượng này là cơ sở để phát triển những ngôn ngữ mới. Tuy nhiên, theo Bohn, có rất nhiều câu hỏi mới đặt ra: “Việc tìm hiểu hệ thống giao tiếp mới xuất hiện được thay đổi như thế nào theo thời gian cũng rất thú vị, chẳng hạn khi chúng truyền lại cho những “thế hệ” người dùng mới. Đã có những bằng chứng cho thấy ngôn ngữ trở nên có hệ thống hơn khi được truyền thụ lại”.  Thanh An dịch      Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-language-emerge.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngủ trưa có thể làm giảm tuổi thọ      Trang mạng Daily Mail (Anh) ngày  11/4/2014 đưa tin các nhà nghiên cứu nói ngủ trưa trên một tiếng có thể làm giảm một số năm tuổi thọ của bạn.  &#160;    Rủi  ro lớn nhất do ngủ trưa hầu như liên quan tới các bệnh về phổi, như  viêm phế quản, sưng phổi và viêm phổi (bronchitis, emphysema and  pneumonia).   Xác suất chết do các bệnh về đường hô hấp ở người lớn ngày nào cũng ngủ trưa cao gấp 2,5 lần những người không ngủ trưa. Các nhà nghiên cứu nói điều đó có thể do ngủ trưa sẽ dẫn đến chứng viêm.  Nhưng Tạp chí Bệnh học truyền nhiễm (Journal of Epidemiology, Mỹ) – tờ báo đăng khám phá trên, còn gợi ý: ngủ trưa có thể là tín hiệu chứng tỏ người đó đã mắc bệnh về phổi.  Các chuyên gia ở Đại học Cambridge đã theo dõi tình hình sức khỏe của hơn 16 nghìn đàn ông và đàn bà Anh trong 13 năm nay, những người này cuối thập niên 1990 đã tình nguyện đăng ký tham gia chương trình điều tra hiệu quả của ăn kiêng và lối sống (trong đó có thói quen ngủ của họ) đối với bệnh ung thư.  Nhóm nghiên cứu đã theo dõi và ghi chép các ca chết trong số người đó – khoảng hơn 3.000 ca, và phân tích nguyên nhân chết. Họ phát hiện thấy rủi ro chết của những người ngủ trưa dưới một tiếng đồng hồ đã tăng lên khoảng 14%, nhưng ở những người ngủ trưa hơn một tiếng đồng hồ thì rủi ro chết tăng 32%.  Khi xem xét nguyên nhân chết, họ phát hiện nếu ngủ trưa quá một tiếng đồng hồ thì các ca chết do mắc bệnh đường hô hấp nhiều hơn gấp đôi.  Báo cáo viết: “Điều này có lẽ đúng: ngủ trưa có thể là dấu hiệu sớm về sự mất điều chỉnh của hệ thống cơ thể và báo trước trong tương lai sức khỏe bạn sẽ có vấn đề.”   Giáo sư Jim Horne ở Trung tâm Nghiên cứu giấc ngủ thuộc Đại học Loughborough (Anh) cho rằng ngủ trưa ngắn vẫn có lợi cho sức khỏe. Ông nói: “Các khám phá cho thấy hầu hết (khoảng 85%) những người ngủ trưa dưới một tiếng đồng hồ thì rủi ro chết không cao hơn người không ngủ trưa.”  Năm ngoái, một nghiên cứu ở Trung Quốc — nơi có nhiều người ngủ trưa, — cho thấy ngủ trưa hơn 30 phút làm tăng khả năng mắc bệnh tiểu đường loại II.   Nguyễn Hải Hoành dịch theo nguồn:  – http://www.dailymail.co.uk/news/article-2602913/Why-taking-afternoon-nap-raises-risk-EARLY-DEATH-third.html  Why taking an afternoon nap ‘raises risk of an EARLY DEATH by a third’  – http://science.cankaoxiaoxi.com/2014/0414/374877.shtml      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Ấn Độ đã đi trước Newton?      Theo một nghiên cứu mới đầy tranh cãi, tiến sỹ George Gheverghese Joseph ở Đại học Manchester cho rằng, “Trường phái Kerala” – một trường phái toán ở miền nam Ấn Độ đã nhận diện được “chuỗi vô hạn”- một trong những yếu tố cơ bản của phép tính toán học vào khoảng năm 1350, tức là trước các công trình của Isaac Newton và Gottfried Leibnitz ba thế kỷ.    Nhóm nghiên cứu ở Đại học Manchester và Exeter còn cho rằng, Trường phái Kerala cũng đã định hình được chuỗi số Pi và tính được số Pi chính xác đến các vị trí thập phân thứ 9, 10 và sau này là 17.  Một tình huống được đưa ra là, chính những người Ấn Độ đã truyền bá khám phá của họ cho những thầy tu dòng Tên am hiểu toán khi họ đến Ấn Độ để truyền giáo vào thế kỷ 15.  Tiến sỹ Joseph cho rằng, ông đã tìm được những bằng chứng cho công bố này khi nghiên cứu về các tài liệu cổ khó hiểu của Ấn Độ. Sắp tới, công bố này sẽ được bổ sung cho lần tái bản thứ ba cuốn sách “best seller” của ông mang tên “The Crest of the Peacock: the Non-European Roots of Mathematics”, do nhà xuất bản Đại học Princeton phát hành.  “Sự ra đời của toán học hiện đại thường được xem là một thành tựu chỉ của châu Âu. Nhưng người ta đã không để ý đến các khám phá ở Ấn Độ vào giai đoạn giữa thế kỷ 14 và 16. Chúng đã bị lãng quên,” Joseph nói.  Nguồn: University of Manchester       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Babylon phát minh ra lượng giác đầu tiên?      Các nhà khoa học thuộc Đại học New South Wales (UNSW) ở Sydney đã tìm ra bí ẩn của tấm bảng đất sét nổi tiếng Plimpton 322 có niên đại 3.700 năm của người Babylon cổ. Phát hiện cho thấy đây chính là một bảng lượng giác chính xác và lâu đời nhất thế giới, có thể đã được sử dụng bởi những nhà toán học thời cổ đại để tính toán cách xây dựng các cung điện, đền thờ hay kênh rạch.      Tấm bảng đất sét Plimpton 322 có niên đại 3.700 năm của người Babylon cổ hiện được lưu trữ tại Thư viện Sách và Bản thảo hiếm, Đại học Columbia, New York. Nguồn: UNSW.  Tấm bảng được tìm thấy vào đầu thế kỷ 19 ở khu vực phía Nam Iraq, bởi nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu, nhà ngoại giao và chuyên gia buôn đồ cổ Edgar Banks – người tạo cảm hứng cho việc xây dựng nhân vật hư cấu Indiana Jones.  Trên tấm bảng có 4 cột và 15 hàng số được khắc bằng một loại chữ hình nêm, vào thời kỳ mà người ta sử dụng hệ số thập lục phân (cơ số 60). Theo TS Daniel Mansfield, Khoa Toán và Thống kê, UNSW, Plimpton 322 đã khiến các nhà toán học bối rối suốt hơn 70 năm qua vì nhận ra trên nó có chứa một mô hình số đặc biệt, giống với bộ ba số Pythagore.  Phát hiện của UNSW cho thấy, Plimpton 322 mô tả các hình dạng của tam giác vuông, bằng cách sử dụng một hệ thống lượng giác dựa trên tỷ lệ, chứ không phải góc và đường tròn. 15 hàng trên tấm bảng mô tả một dãy gồm 15 hình tam giác vuông, giảm dần độ nghiêng. Bảng lượng giác của Plimpton 322 cho phép chúng ta sử dụng một tỷ lệ đã biết giữa các cạnh của một tam giác vuông để xác định hai tỉ số khác chưa biết.  Theo TS Mansfield, một trong hai tác giả của nghiên cứu được công bố trên Historia Mathematica, Plimpton 322 “không chỉ là bảng lượng giác cổ xưa nhất của nhân loại, mà còn là bảng lượng giác hoàn toàn chính xác duy nhất, nhờ cách tiếp cận số học và hình học hết sức khác biệt của người Babylon” và “nó vẫn có thể có những ứng dụng thiết thực cho chúng ta trong các hoạt động như khảo sát, đồ họa máy tính và giáo dục”.  Do mép trái của tấm bảng bị hỏng nặng, các nhà nghiên cứu đã tìm cách dựng lại nó dựa trên những nghiên cứu trước đây và đưa ra bằng chứng toán học, rằng tấm bảng được hoàn thành ban đầu với tất cả 6 cột cùng 38 hàng. Những nhà chép sách Babylon cổ đã sử dụng hệ số thập lục phân, tương tự như cách chia trên đồng hồ, tạo nên những con số khắc trên tấm bảng bằng phương pháp tính toán của họ. Những nhà nghiên cứu của UNSW cũng bác bỏ quan điểm vẫn được tin tưởng bấy lâu, rằng Plimpton 322 đơn giản chỉ là một công cụ hỗ trợ những người thầy khi kiểm tra lời giải của học sinh đối với những bài toán bậc hai.  “Tấm bảng mở ra những khả năng mới không chỉ cho nghiên cứu toán học hiện đại, mà cả cho việc dạy toán,” TS Wildberger, đồng tác giả của nghiên cứu, nhận định. Bộ ba số Pythagore gồm ba số nguyên dương a, b và c sao cho a2 + b2 = c2, trong đó bộ ba 3, 4 và 5 là một ví dụ nổi tiếng, tuy nhiên các giá trị được ghi trên Plimpton 322 lại lớn hơn nhiều, chẳng hạn, nó được bắt đầu bằng bộ ba 119, 120 và 169.  Hipparchus, nhà thiên văn Hy Lạp, sống vào khoảng năm 120 TCN, được xem như cha đẻ của phép đo lượng giác, với bảng dây cung chia độ trên đường tròn – bảng lượng giác lâu đời nhất thế giới. Phát hiện mới cho thấy người Babylon đã đi trước Hy Lạp hơn 1.000 năm trong việc phát minh ra lượng giác.  Hải Đăng lược dịch  Nguồn:  https://phys.org/news/2017-08-mathematical-mystery-ancient-babylonian-clay.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người bạn của Việt Nam      James Watson Cronin, người được trao giải Nobel Vật lý năm 1980, đã từ trần ngày 25/8/2016. Vô cùng thông tuệ và nghiêm cẩn nhưng cũng đầy tinh tế; một tâm hồn rộng lượng, nhân ái, và thanh nhã, Jim sẽ luôn được tất cả chúng ta nhớ đến như một minh chứng tuyệt vời về nhân phẩm con người.      James Cronin, nhà khoa học đã giải thích được vì sao vũ trụ còn tồn tại sau vụ nổ Big Bang, qua đời ở tuổi 84 tại nhà riêng ở Saint Paul, Minnesota, Mỹ.  Tôi thân thiết với Jim từ hơn 50 năm nay. Lần đầu tiên tôi gặp ông là ở Đại học Princeton một vài năm sau khi ông và Val Fitch, cùng với René Turlay và James Christenson phát hiện ra vi phạm đối xứng CP ở các phân rã kaon. Thí nghiệm của họ đã đo được độ lớn của biên độ phân rã vi phạm đối xứng CP. Sau đó, một số nhóm thí nghiệm tìm cách đo lường pha của nó. Khi ấy, tôi chỉ vừa mới chuyển hướng nghiên cứu từ vật lý hạt nhân sang vật lý lượng tử và được tham gia vào một trong những thí nghiệm như vậy, dưới sự dẫn dắt của Carlo Rubbia và Jack Steinberger. Sau này, tôi lại may mắn có dịp làm việc trong cùng lĩnh vực với Jim, đó là tạo ra các boson xung lượng ngang lớn trong các va chạm hadron, để thăm dò về cấu trúc quark và gluon của các nucleon. Nhờ đó chúng tôi có vài cơ hội gặp gỡ, ví dụ như trong lần Jim tập hợp một nhóm nghiên cứu về khả năng xây dựng một máy gia tốc proton-antiproton ở Mỹ. Đến cuối thế kỷ 20, Jim cùng Alan Watson thiết kế một đài thiên văn lớn nằm gần dãy núi Andes ở Argentina, Đài thiên văn Pierre Auger, nhằm khám phá các tia vũ trụ năng lượng cao nhất đến được Trái đất. Chính trong bối cảnh đó mà Jim trở nên gần gũi với Việt Nam, đất nước mà ông từ lâu đã yêu mến, đồng thời cũng nhân đó mà ông gần gũi với nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi ở Hà Nội. Đây cũng là giai đoạn mà tôi sẽ chú trọng viết nhiều trong bài viết này – dựa trên những hồi tưởng cá nhân [1] – thay vì nhắc lại về cuộc đời cùng những thành tựu khoa học của Jim mà báo chí quốc tế đã phản ánh khá đầy đủ trong những bài viết gần đây [2].  Từ đầu những năm 1990, Jim và Alan đã tin rằng sự phát triển của ngành vật lý tia vũ trụ đòi hỏi xây dựng một đài thiên văn rất lớn, đủ nhạy để phát hiện các tia vũ trụ năng lượng cao nhất đến từ ngoài dải Ngân hà và có độ phân dải góc đủ để xác định hướng của chúng. Hồi tưởng lại thời gian xây dựng đề xuất cho một dự án như vậy, Jim nói: “Khi ấy tôi tràn đầy lý tưởng và thực sự vô cùng thất vọng về những điều chính phủ nước tôi gây ra trong Chiến tranh Việt Nam; do đó khi đề xuất triển khai một thí nghiệm rất lớn nhằm đo đạc các tia vũ trụ năng lượng siêu cao, tôi quyết tâm bằng cách nào đó sẽ khiến dự án này mang lại ảnh hưởng tích cực đến Việt Nam và các nước đang phát triển khác. Quy mô [của đài thiên văn] phải lớn do khả năng xảy ra các sự kiện năng lượng cao như vậy chỉ vào khoảng một trên một kilometre vuông trong mỗi thế kỷ, như vậy để đón bắt được chúng phải cần đến một diện tích rất rộng. Vậy là Alan Watson đã cùng tôi thực hiện một chuyến đi đến Việt Nam năm 1994 nhằm tìm những người Việt muốn tham gia làm việc trong thí nghiệm này; chúng tôi đề nghị phía Việt Nam chọn giúp ai đó có khả năng tham gia thiết kế thí nghiệm như đã đề ra trong kế hoạch.”  Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, Jim vẫn thường dị ứng với những thí nghiệm lớn đòi hỏi hàng trăm nhà vật lý, thứ mà “khoa học lớn” những năm gần đây ngày càng đòi hỏi. Tuy nhiên, trong trường hợp này đó là lựa chọn duy nhất: “Khi đã nhiệt tâm theo đuổi điều gì đó, ta phải làm mọi điều cần thiết để đạt mục tiêu mong muốn”, ông nói.  Chuyến đi của ông tới Việt Nam đã dẫn đến việc có một nhà vật lý trẻ của Viện Hạt nhân Đà Lạt, Huỳnh Đông Phương, tham gia cùng nhóm của ông trong sáu tháng để thực hiện các nghiên cứu thiết kế đài quan sát. Nó cũng là bước khởi xướng dẫn đến một thỏa thuận chung về hợp tác với Việt Nam, trong đó phải nói đến vai trò quan trọng của Võ Văn Thuận và sự giúp đỡ của Trần Thanh Vân và Nguyễn Văn Hiếu.  Vào khoảng thời gian đó, Trần Thanh Vân, trong khuôn khổ tổ chức chuỗi sự kiện Gặp gỡ Việt Nam, đã tổ chức một khóa học ở Hà Nội nhằm giới thiệu cho các sinh viên trẻ Việt Nam về ngành vật lý tia vũ trụ. Tuy nhiên, như Jim nói, “mặc dù các sinh viên Việt Nam rất hứng thú với thí nghiệm nhưng họ không có ai có đủ kinh nghiệm cũng như không được dẫn dắt để có thể lôi kéo, tổ chức mọi người tham gia. Vì vậy tôi đã hết sức thất vọng”.  Tôi nhớ rằng khi ấy mình có dịp đi cùng Jim từ Orsay tới Paris, lúc đó tôi đang làm việc trong lĩnh vực siêu dẫn, và chỉ vừa mới kết thúc nhiệm kỳ làm giám đốc nghiên cứu tại CERN. Jim kể với tôi về nỗ lực tìm sự hỗ trợ từ UNESCO nhằm giúp cho sự tiến bộ khoa học ở các nước đang phát triển, trong đó cụ thể là Việt Nam, đất nước mà cả hai chúng tôi đều coi là một biểu tượng đấu tranh chống lại sự tàn nhẫn bất công của lịch sử. Ông cũng nói với tôi về mối liên hệ của ông với con gái của Pierre Auger cũng như sự ngưỡng mộ mà ông dành cho cha cô, người mới qua đời đúng vào Giáng sinh năm 1993. Tôi từng có dịp gặp Pierre Auger vài lần – khi mà ông hầu như đã bị mù – trong chương trình truyền thanh Les Grandes Avenues de la Science Moderne mà ông điều hành và bản thân tôi cũng có đóng góp. Tôi kể với Jim về trải nghiệm này.  Khi nhóm nghiên cứu tôi xây dựng ở Việt Nam ra đời, ở thời điểm bước sang thế kỷ mới, Jim hân hoan và có phần quá lời gọi đó là một “phép lạ”. Nhóm nghiên cứu lúc đó nằm trong Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân ở đường Hoàng Quốc Việt (Hà Nội), tên nhóm được đặt là VATLY, vừa có nghĩa là vật lý trong tiếng Việt, vừa là viết tắt của Vietnam Auger Training LaboratorY (Phòng thí nghiệm Đào tạo Auger Việt Nam). Tôi xin lại trích lời nhận xét của Jim [về các cấu phần trong tên gọi này]: “Việt Nam, nghĩa là mong muốn tham gia đóng góp cho nghiên cứu khoa học cơ bản ở Việt Nam; Auger, nhằm phản ánh định hướng ưu tiên trong đào tạo, đó là phát huy lợi thế là tia vũ trụ có mặt ở mọi nơi – [chúng ta có thể nghiên cứu chúng mà] chẳng cần phải tìm đến một máy gia tốc nào đó – điều ấy là tuyệt nhất; Đào tạo, đây chính là mục đích chủ đạo, đó là vun trồng cho thế hệ trẻ ở một đất nước chịu nhiều đau thương của chiến tranh trong nhiều năm, nơi mà đi đâu ta cũng gặp những thanh niên thông minh đầy nhiệt huyết”. Jim hết sức trân trọng, tôi phải nói là có phần quá mức, về những kết quả đạt được của nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở Hà Nội khi ấy, cụ thể như kết quả đo đạc chi tiết thông lượng muon vũ trụ, được các nhà khoa học quan tâm một cách bất ngờ bởi Hà Nội tình cờ nằm trong khu vực có ngưỡng cắt địa từ (rigidity cut-off) lớn nhất trên thế giới.  Ông cũng đánh giá cao cách thức làm việc của chúng tôi, không chỉ phân tích dữ liệu từ Auger, mà còn thực hiện các đo đạc sử dụng thiết bị tự lắp đặt trên nóc phòng thí nghiệm [3], chẳng hạn ông đã nói “đường biểu diễn kết quả thí nghiệm tuyệt đẹp trong luận văn thạc sỹ của Nhung [4] cho thấy sự tỷ lệ thuận cao giữa bức xạ Cherenkov và chiều dài đường đi của hạt.” Qua đó, ông nhận xét: “Những gì họ đang làm là không chỉ ngồi ỳ trước màn hình máy tính – đây chính là điều quan trọng nhất, chúng ta phải kéo người làm nghiên cứu ra khỏi những chiếc máy tính – nhóm đã thành công trong việc áp dụng triết lý, rằng người ta có thể tiến hành đủ các các loại tính toán, chạy đủ các loại phần mềm, nhưng tất cả những thứ ấy là vô dụng nếu người ta không chế tạo một thiết bị tốt để có thể thu thập những dữ liệu cần thiết.”  Những kết quả quan trọng đầu tiên từ Đài thiên văn Pierre Auger được đưa lên trang nhất tạp chí Science, một tạp chí khoa học danh tiếng của Mỹ, và trong cùng ngày, 9/11/2007, tờ báo Tiền Phong cũng đăng trên trang nhất ảnh nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi với những nhận xét về sự tham gia của nhóm trong các nghiên cứu của Đài thiên văn. Jim rất tự hào về điều này, tôi còn được nghe ông nhắc lại chuyện ấy tới vài lần.  Mùa hè 2006, Trần Thanh Vân trong khuôn khổ chuỗi sự kiện Gặp gỡ Việt Nam đã tổ chức ở Hà Nội một hội nghị có sự tham gia của các nhà vật lý đến từ nhiều nơi trên thế giới, bàn về những tiến bộ mới nhất trong các lĩnh vực vật lý lượng tử, vật lý thiên văn hạt, và vật lý thiên văn. Tại đó, Điệp [5] báo cáo về kết quả công việc của nhóm nghiên cứu trẻ của chúng tôi. Cũng trong dịp ấy, Jim cùng một nhà khoa học khác từng đoạt giải Nobel, Klaus von Kitzing, đã gặp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Họ nói với ngài Chủ tịch nước rằng thời cơ đã đến để Việt Nam có thể đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển khoa học và công nghệ của thế giới. Jim có một bài nói chuyện tại Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó ông nhấn mạnh rằng Việt Nam cần cung cấp một nền giáo dục khoa học sâu sắc hơn và tạo nhiều cơ hội thuận lợi hơn cho các nhà khoa học thông qua xây dựng các chính sách phù hợp về điều kiện làm việc và chế độ lương nhằm thu hút nhân tài và tránh chảy máu chất xám với tình trạng các nhà khoa học giỏi trong nước phải tìm cách ra nước ngoài làm việc.  Chuyến thăm Việt Nam năm 2006 lần ấy của Jim là cơ hội để chúng tôi đưa ông đi tham quan Hà Nội, Hạ Long, và cùng ông trải qua những kỷ niệm khó quên. Jim vẫn thường nói về niềm hứng khởi của ông khi thấy chúng tôi phát triển và hiện thực hóa điều ông mong ước, đó là góp một phần nhỏ giúp Việt Nam tham gia [cùng thế giới] nghiên cứu khoa học ở mức chất lượng cao. Chúng tôi sẽ luôn nhớ đến ông với sự trân trọng, chân thành sâu sắc, và ý thức tri ân về những gì ông cũng như chương trình hợp tác Piere Auger đã mang lại, mà nếu không nhờ đó thì nhóm nghiên cứu trẻ của chúng tôi sẽ không thể trưởng thành được tới như ngày hôm nay.  —  [1] Đa số các trích dẫn là từ lời của Jim phát biểu tại Orsay (Pháp), có thể xem video tại http://webcast.in2p3.fr/videos-lagarrigue_2008_auger_jim  _cronin?cmb_video_liste=5746  [2] Một số báo và tạp chí quốc tế viết Jim:  http://www.nature.com/nature/journal/v537/n7621/full/537489a.html  https://news.uchicago.edu/article/2016/08/27/james-w-cronin-nobel-laureate-and-pioneering-physicist-1931-2016  http://www.nytimes.com/2016/08/31/science/james-cronin-who-explained-why-matter-survived-the-big-bang-dies-at-84.html?  http://physicsworld.com/cws/article/news/2016/aug/26/nobel-laureate-james-cronin-dies-at-84  https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/1980/cronin-bio.html  Bài diễn văn nhận giải Nobel của Jim:  https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/1980/cronin-lecture.html  [3] Khi đó là Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân  [4] TS. Phạm Thị Tuyết Nhung, thành viên nhóm nghiên cứu VATLY  [5] TS. Phạm Ngọc Điệp, thành viên nhóm nghiên cứu VATLY  Thanh Xuân dịch  Tuyết Nhung hiệu đính    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Người chế tạo ống nano carbon      Những chiếc bình đen đựng vật liệu ống nano carbon với ứng dụng lớn, nhìn bằng mắt thường, người ta dễ tưởng trong đó là bột than. Thực ra đó là sản phẩm công nghệ cao được PGS. TS. Phan Ngọc Minh cùng các đồng nghiệp của Viện Khoa học Vật liệu, Viện KHCN Việt Nam tạo ra bằng những thiết bị tự chế tạo “công nghệ thấp”.    “Tùy gia phong kiệm”  Trước khi gặp PGS.TS Phan Ngọc Minh, tôi đinh ninh vị Phó viện trưởng một Viện Nghiên cứu lớn về Khoa học Vật liệu này phải ngoài “ngũ tuần”. Những gì mà tôi hình dung đã…“chệch”: Anh mới 39 tuổi.  Tốt nghiệp ĐH Tổng hợp Hà Nội, Phan Ngọc Minh tiếp tục được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh ở Viện Vật lý. Dưới sự hướng dẫn của GS Phan Hồng Khôi, anh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về vật liệu bán dẫn. Năm 1997, TS Minh được cử sang nghiên cứu tại ĐH Tohoku (Nhật Bản), rồi anh chuyển hướng nghiên cứu tới lĩnh vực Công nghệ vi cơ điện tử (MEMS) và ứng dụng vật liệu kích thước micro/nano. Được làm việc tại một trong những phòng thí nghiệm tiên tiến và dưới sự hướng dẫn của những giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực công nghệ micro/nanô, anh tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sĩ thứ hai của mình về công nghệ micro/nanô.   Tiếp tục hai năm làm postdoc và một năm làm trợ lý giáo sư, đang làm việc trong môi trường nghiên cứu thuộc “loại top” nhưng TS Phan Ngọc Minh vẫn quyết định trở về nước, bởi theo anh, “Cần phải có nhiều nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài trở về”. Nhưng vượt trên tất cả, anh nói, “Mình là người Việt”.  Nghiên cứu cấu trúc của vật chất ở kích thước nano đòi hỏi phải được trang bị công nghệ cao. Bởi ở cấu trúc đó, độ dài của vật chất chỉ được đo bằng vài hoặc vài chục nguyên tử. Chẳng hạn, những bức tường carbon có bề rộng chỉ cỡ một nguyên tử. Chính vì vậy, để “tận mục sở thị” từng nguyên tử các nhà khoa học cần phải được trang bị những kính hiển vi tối tân như SEM hay STEM. Nhưng quan trọng hơn cả, là phải làm chủ được công nghệ chế tạo vật liệu và tìm những ứng dụng phù hợp.  “Có nhiều cách tiệm cận. Có những cách cần phải có những thiết bị hiện đại, nhưng cũng có những cách với khả năng của chúng ta hoàn toàn có thể tự thiết kế xây dựng công nghệ”, TS Minh nhận định. Với những kinh nghiệm có được ở Nhật, anh  khẳng định: “công nghệ chế tạo và ứng dụng vật liệu ống nano carbon hoàn toàn có thể thực hiện được ở Việt Nam. Tùy gia phong kiệm mà”.  Vật liệu tiềm năng            Cấu trúc ống CNT           “Nghiên cứu vật liệu ống nano carbon (CNTs) có nhiều triển vọng cả trong nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Lĩnh vực này tiềm ẩn những ứng dụng quan trọng đối với xã hội”, TS Minh cho biết. Chính vì vậy, khi mới “chân ướt chân ráo” về nước, anh cùng  GS Phan Hồng Khôi và các đồng nghiệp liền bắt tay ngay vào nghiên cứu vật liệu nano carbon. Thật may mắn, PTN trọng điểm về Vật liệu Điện tử ra đời đã trợ giúp rất nhiều thiết bị quan trọng, chẳng hạn thiết bị hiển vi quét phân giải cao FESEM…dùng để quan sát và khảo sát các tính chất của vật liệu. Ngoài ra nhóm nghiên cứu đã tự xây dựng thiết kế những thiết bị cần thiết để hình thành một quy trình thực nghiệm đồng bộ. “Phòng thí nghiệm của chúng tôi đã tiếp cận đối tượng vật liệu mới này từ việc xây dựng thiết bị thí nghiệm tổng hợp, chế tạo trên cơ sở phương pháp hóa học lắng đọng pha hơi, nghiên cứu các điều kiện công nghệ chế tạo, áp dụng và xây dựng một số phép đo đạc”, TS Phan Ngọc Minh cho biết.  Với số thành viên chưa đến 10 người bao gồm cả sinh viên và nghiên cứu sinh, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thiết bị tạo vật liệu và nghiên cứu thành công quy trình công nghệ hoàn chỉnh, giá thành hạ thích hợp với điều kiện Việt Nam. “Một trong những nhiệm vụ của các nghiên cứu về CNTs hiện nay là tổng hợp vật liệu với số lượng lớn, độ sạch cao và giá thành thật rẻ. Chúng tôi đã phát triển phương pháp CVD và đã có kết quả tạo được những vật liệu ban đầu đáp ứng được mục tiêu trên”, TS Minh cho biết. Cùng với việc tổng hợp vật liệu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm các công nghệ làm sạch vật liệu CNTs nhằm nâng cao độ sạch vật liệu lên trên 95%”. Hiện tại “năng suất” tạo vật liệu CNTs trong quy mô phòng thí nghiệm đạt 100-300g/ngày với độ sạch 95% và tiến tới có thể nâng “công suất” lên gấp nhiều lần. Giá vật liệu CNTs do Viện chế tạo sẽ tương đương với sản phẩm của Trung Quốc (khoảng 0,5 USD/g) trong khi chất lượng có ưu thế vượt trội.    Đi tìm “những cái bắt tay”                  Dưới kính hiển vi điện tử quét SEM cấu trúc hình thù CNTs dạng sợi hiện ra thật “đẹp” mắt. “Với cấu trúc hình học độc đáo (đường kính ống từ vài nanomét đến vài chục nanomét), CNTs có nhiều tính chất siêu việt như tính chất điện tử đặc biệt, phát xạ điện tử ở thế cực thấp, độ cứng siêu việt, tính mềm dẻo khi bị uốn cong, độ dẫn nhiệt cực tốt và tính chịu nhiệt cao trong chân không…”, TS Minh giải thích. Sau khi chế tạo được sản phẩm có tính năng “độc nhất vô nhị” như vậy, nhóm nghiên cứu lại bắt đầu một cuộc “chinh phục” mới: triển khai ứng dụng sản phẩm “của nhà trồng được”.  “Hiện tại các nhà khoa học của Viện Khoa học Vật liệu đang tiến hành nghiên cứu ứng dụng nhiều loại vật liệu kích thước nanô, chẳng hạn vật liệu chấm lượng tử để làm chất đánh dấu sinh học, vật liệu từ kích thước nanô ứng dụng trong y sinh, vật liệu nanô cho chiếu sáng hiệu năng cao, vật liệu xúc tác kích thước nanô, chế tạo sensor đo độ ẩm, độ cồn, chế tạo các đầu dò cho các kính hiển vi quét đầu dò phân giải cao, tạo nguồn phát xạ điện tử công suất thấp…, hướng nghiên cứu về vật liệu CNTs sẽ được tập trung mạnh”, TS Minh cho biết.   Ngoài các nghiên cứu định hướng ứng dụng “xa” liên quan đến tính chất phát xạ trường, phát xạ trường-nhiệt điện tử của vật liệu CNTs, một số ứng dụng “gần” liên quan đến chế tạo vật liệu tổ hợp ống carbon nanô trong cao su chịu mài mòn cao, chế tạo các lớp mạ tổ hợp có độ cứng cao, vật liệu tổ hợp epoxy hấp thụ sóng rađa, chế tạo điện cực cho các siêu tụ điện hay chế tạo vật liệu tản nhiệt cho các linh kiện điện tử công suất lớn cũng đang được các nhà khoa học của Viện Khoa học Vật liệu tiến hành thự hiện.  “Nghiên cứu về CNTs thuộc hướng nghiên cứu công nghệ cao nhưng không phải chờ hàng chục năm nữa chúng ta mới có đủ khả năng ứng dụng trong công nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, nhiều doanh nghiệp hoàn toàn có thể khai thác các tính chất siêu việt của loại vật liệu này hay các vật liệu nanô khác để biến thành các sản phẩm cụ thể cho thị trường” – TS Minh nói – “Công nghệ ứng dụng CNTs đơn giản nhưng hiệu quả lại nhìn thấy”.  Mặc dù vật liệu nano có tiềm năng ứng dụng lớn là vậy nhưng bài toán hóc búa đặt ra cho các nhà khoa học là làm thế nào để khai thác ứng dụng và thương mại hóa. “Hiện tại, tiềm năng ứng dụng CNTs để biến thành “củ khoai củ sắn” rất khó khăn”, TS Minh bộc bạch. Theo anh, các doanh nghiệp, và khu công nghiệp chưa có thói quen và nhu cầu bắt tay với các phòng thí nghiệm nên có nhiều nghiên cứu với khả năng ứng dụng cao vẫn…“đắp chiếu” và, những vật liệu CNTs sản xuất trong quy mô phòng thí nghiệm vẫn chỉ là tiềm năng. Anh nhận định nguyên nhân chính là các doanh nghiệp công nghệ trong nước chưa phát triển, vẫn chủ yếu là lắp ráp và làm thương mại là nhiều nên thường mua những cái có sẵn, rẻ mà chưa đầu tư vào nghiên cứu hay bắt tay với các nhà khoa học.      “Hiện thực hóa những nghiên cứu hiện tại rất khó khăn, với luật công nghệ cao sắp sửa ban hành, hy vọng sẽ có cơ chế thông thoáng để các doanh nghiệp cùng đầu tư vốn và nhân lực của mình ngay từ đầu cùng các nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu ứng dụng theo mô hình mà các phòng thí nghiệm ở Nhật đang làm”. TS Minh cùng các đồng nghiệp đã chủ động đi tìm doanh nghiệp: tới Hải Phòng để làm việc với Nhà máy Sơn, hay đến Hải Dương để phối hợp với Nhà máy Bơm nước sản xuất thử nghiệm các bạt tự bôi trơn có tuổi thọ gấp 2 lần khi chưa ứng dụng CNTs. Nhóm nghiên cứu của anh cũng đã tìm đến các xưởng mạ kỹ thuật cao tư nhân để thuyết phục họ phối hợp nghiên cứu ứng dụng vật liệu CNTs vào chất liệu mạ. Tất cả mới chỉ là bước đầu, nhưng rõ ràng để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cũng không phải dễ dàng.     Đức Phường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người cổ Neanderthal đã từng… tranh luận?      Người Neanderthal thường được hình dung như những gã cục súc luôn vác rìu và chỉ biết gầm gừ.      Nhưng trong một nghiên cứu, các nhà khoa học thuộc Học viện Max Planck (Đức) đã tiến hành phân tích ADN từ một số di cốt người Neanderthal mới được khai quật. Kết quả phân tích cho thấy trong bộ gen FOXP2, được cho là có liên quan tới khả năng nói, của người Neanderthal cũng có hai sự biến đổi quan trọng giống con người hiện đại. “Với phát hiện trên, người Neanderthal có thể ít nhất cũng có ngôn ngữ giống như chúng ta”, Johannes Krause, trưởng nhóm nghiên cứu trên, cho biết. Người Neanderthal là nhánh cuối cùng trong phả hệ giống người từng định cư tại châu Âu và nhiều nơi ở Tây và Trung Á. Họ được cho là chuyên gia chế tác công cụ, biết sử dụng da thú để giữ ấm và chăm sóc lẫn nhau.   N.H (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người dân ở các nước tham nhũng có tỉ lệ nói dối cao hơn      Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature cho thấy rằng con người có xu hướng nói dối nhiều hơn nếu họ sống tại một quốc gia có mức độ tham nhũng và lừa dối mang tính hệ thống cao. Như vậy, những thể chế được quản lý kém có thể gây hại cho xã hội nhiều hơn chúng ta vẫn tưởng.       Các nghiên cứu trước đây cho thấy con người thường có xu hướng phá vỡ luật lệ hơn nếu những người xung quanh họ cũng làm như vậy. Chẳng hạn, những người sống gần những người có sở thích vẽ lên tường và hay xả rác thường cũng có xu hướng xả rác bừa bãi. Tuy nhiên, điều chúng ta chưa biết là những thông lệ xã hội như những sai phạm về chính trị, tham nhũng, và gian lận thuế có ảnh hưởng ra sao tới các cá nhân trong xã hội đó.  Để tìm ra câu trả lời, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới và tổ chức phi chính phủ Freedom House về tình trạng tham nhũng trong chính phủ, gian lận thuế, và gian lận trong bầu cử trên 159 quốc gia. Sau đó, họ kết hợp những tỉ lệ này với một chỉ số đo lường mức độ phá vỡ luật lệ của các thể chế trên.  Tiếp đó, họ dành ra gần 5 năm để tới 23 trong số các quốc gia trên đo lường mức độ trung thực ở cấp độ cá nhân của người dân. Họ yêu cầu các tình nguyện viên sở tại (độ tuổi đại học) ném xúc xắc rồi thông báo kết quả – nếu con số họ ném được càng cao thì các nhà khoa học càng thưởng cho họ nhiều tiền (những người tham gia biết rằng các nhà khoa học không biết được kết quả ném xúc xắc của họ mà chỉ dựa vào lời thông báo từ họ). Khi con số ném xúc xắc trung bình của tất cả những tình nguyện viên trong một nước lớn hơn dự tính một cách ngẫu nhiên, các nhà khoa học biết rằng có người nói dối để được nhận thêm tiền. Khi so sánh kết quả của những thí nghiệm này với tỉ lệ phá vỡ luật lệ mang tính hệ thống, họ nhận thấy rằng người dân ở những nước có tỉ lệ phá vỡ luật lệ cao hơn thường có tỉ lệ nói dối cao hơn trong thí nghiệm trên.  Tuy vậy, khi nói dối, họ lại không nói dối ở mức độ cao nhất có thể. Khi ném xúc xắc được số 5, họ sẽ nhận được khoản tiền thưởng cao nhất, nhưng phần đông lại chỉ phóng đại lên một chút xíu, chẳng hạn như 3 hoặc 4. “Ngay cả khi đứng trước những sự cám dỗ về số tiền thưởng, người ta vẫn để ý tới cảm giác trung thực. Đó là lý do vì sao mà họ chỉ nói dối ở mức độ có thể lý giải cho lời nói dối của mình,” Jonathan Schulz, thành viên trong nghiên cứu trên lý giải. Ông đặt tên hiện tượng này là “lừa dối khả giải” – tức một cách làm lợi cho cá nhân trong khi vẫn giữ được cảm giác rằng mình là người trung thực. Theo Schulz, định nghĩa của mọi người về sự trung thực cũng rất đa dạng và phụ thuộc vào môi trường sống của họ. “Dường như con người đặt ra ngưỡng chuẩn cho sự không trung thực của mình bằng những gì tồn tại xung quanh đời sống thường nhật của họ,” Schulz nói.  Các quốc gia có tỉ lệ lừa dối thấp nhất thường là những quốc gia Tây Âu giàu có như Áo, Hà Lan (Anh có điểm số rất thấp). Ngược lại, Morocco, Tanzania, và Kenya có tỉ lệ lừa dối cao nhất.  Schulz cho rằng từ nghiên cứu này có thể dễ dàng đưa ra kết luận rằng người dân ở một số nước nghèo kém trung thực hơn so với các nước giàu, song theo ông, chỉ nên coi đây là một hiện tượng văn hóa đan xen trong các nền văn hóa: “Ngay cả trong những quốc gia tham nhũng nhất, người dân cũng không hoàn toàn là thiếu trung thực. Họ vẫn quan tâm tới hình ảnh cá nhân, tới việc làm người trung thực.”  Thu Trang dịch  http://www.sciencemag.org/news/2016/03/corrupt-societies-encourage-lying      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người đi bộ Nano      Các nhà khoa học Mỹ vừa tuyên bố thành công trong việc thiết kế được một phân tử nano (cỡ 1 phần tỉ mét) bắt chước các chuyển động của người đi bộ và có thể đi thẳng trên một mặt phẳng.      Với hai chiếc “chân” được điều khiển bằng năng lượng nhiệt, từng chiếc chân một sẽ bước đi mô phỏng theo bước đi của con người. Nhờ chuyển động đều của hai bước chân, phân tử nano có tên DTA này sẽ có khả năng đi trên đường thẳng mà không cần nhờ tới đường dẫn. Theo các nhà khoa học, phân tử “nano-walker” này sẽ mở ra một hướng mới cho việc khai thác lưu trữ thông tin trong các chip tí hon ở mức độ phân tử và diễn tả được cuộc sống vĩ mô của con người dưới những hình ảnh vi mô cực nhỏ, cỡ nguyên tử và phân tử.   (Tân hoa xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người đưa cây cỏ Việt Nam lên bản đồ thế giới      Năm 2005, khi Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) chính thức cho phép thuốc Crila được bào chế từ các alcaloid có hoạt tính sinh học chiết suất từ lá trinh nữ hoàng cung lưu hành toàn quốc cũng là khi những bệnh nhân bị phì đại tuyến tiền liệt và u xơ tử cung có thêm niềm tin được chữa khỏi bệnh. Đây là kết quả sau nhiều năm trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu của TS.DS.Nguyễn Thị Ngọc Trâm (Công ty cổ phần Dược liệu Trung ương 2) cùng cộng sự trong và ngoài nước.      Mặc dù đến nay, thành quả đã nhìn thấy rõ nhưng TS. Nguyễn Thị Ngọc Trâm vẫn chưa thôi trăn trở. Bà vẫn khát khao đưa những viên thuốc sản xuất từ thảo dược Việt Nam đến với thị trường dược phẩm thế giới.  “Hữu duyên” với… trinh nữ hoàng cung  Ước mơ đi tìm một cây thuốc trong dân gian từ họ hoa hồng để giúp chị em phụ nữ tránh thai tuy không thành hiện thực, nhưng chính khát vọng nghiên cứu khoa học cháy bỏng từ những năm mới ra trường ấy đã dẫn dắt cô con gái của GS.TS khoa học Nguyễn Văn Trương, nguyên Tổng biên tập Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam đến với cây trinh nữ hoàng cung.  Năm 1990, tình cờ bà có dịp nghe và tiếp xúc với một loại cây mang tên trinh nữ hoàng cung cùng nhiều giai thoại về loài cây này. Với những tài liệu được ghi trong sách vở còn quá ít, chưa đủ để có thể khẳng định công dụng của trinh nữ hoàng cung nhưng bà vẫn có niềm tin mãnh liệt vào sự thành công của loại cây này trong việc điều trị bệnh u xơ tử cung thông qua kết quả nghiên cứu sàng lọc tác dụng sinh học ức chế sự phát triển của tế bào u lành tính và ác tính. Do đó, bà đã quyết tâm nghiên cứu cây thuốc này với niềm tin và đam mê hiếm có.   Khó khăn đầu tiên trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đó là việc tìm kiếm chọn đúng giống cây trinh nữ hoàng cung có hoạt tính sinh học điều trị bệnh ung bướu. Bởi đây là cây hoang dại có hình thái thực vật giống với 7 cây náng ở Việt Nam và trong số đó có những cây gây độc với gan, thận ảnh hưởng đến sức khoẻ người bệnh. Để chọn đúng giống cây trinh nữ hoàng cung Việt Nam có tên khoa học Crinum latifolium.L bà đã nghiên cứu đặc tính di truyền riêng biệt ADN(gene) và dựa vào sự khác biệt của hệ số tương đồng.  Cùng với đó, bà đã nghiên cứu về thổ nhưỡng, khí hậu và chọn vùng trồng thích hợp cho sự phát triển của cây, xác định được thời điểm thu hoạch lá trinh nữ hoàng cung cho năng suất cao và đạt hàm lượng hoạt chất sinh học để có nguyên liệu phục vụ nghiên cứu. Bà đã trồng thử loại cây này ở những điều kiện thổ nhưỡng khác nhau như Hà Bắc, Đà Lạt, Tây Ninh, Tp. HCM, Đà Nẵng, Nha Trang, Đồng Nai và đã chọn huyện Long Thành – Đồng Nai để phát triển dược liệu và vùng trồng ổn định, xây dựng quy trình trồng, chăm sóc, thu hái theo tiêu chí GAP – WHO. Đến nay, diện tích trồng cây trinh nữ hoàng cung đã được mở rộng ra 30ha.   Để tạo được viên thuốc Crila điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung, từ năm 1990 đến nay TS Trâm cùng các cộng sự của Viện hàn lâm khoa học Bungari, Trường tổng hợp Innsbruck Áo, các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước đã nghiên cứu về thực vật học, thành phần hoá học, tác dụng sinh học của các alcaloid và flavonoid được chiết suất từ lá cây trinh nữ hoàng cung, nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ chiết suất alcaloid, bào chế, đánh giá tác dụng lâm sàng theo quy chế 371 của Bộ Y tế tại các bệnh viện trên hàng ngàn bệnh nhân đã được thử nghiệm. Có  những bệnh nhân kích thước khối u là 63mm có chỉ định mổ, sau thời gian điều trị, kích thước khối u giảm xuống còn 25mm. Hay bệnh nhân u xơ tử cung có khối u với 5 đa nhân xơ, uống thuốc một thời gian chỉ còn l -2 nhân hoặc hết…  Niềm tin đã được đền đáp  Sau 15 năm miệt mài, âm thầm nghiên cứu trên đất Bungaria và cả tại Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã chiết xuất, bào chế thành công viên nang  Crila 100% chiết xuất từ lá cây trinh nữ hoàng cung, điều trị u xơ tử cung và u xơ tuyến tiền liệt.   Viên nang Crila đã được Cục Quản Lý Dược – Bộ Y tế cho phép lưu hành toàn quốc từ tháng 7/2005 và đã được Cục sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Đây là viên thuốc đầu tiên trên thế giới điều trị u xơ tử cung từ dược thảo. Hiệu quả điều trị đạt 89,18%  đối với u xơ tuyến tiền liệt, 79,5% đối với u xơ tử cung. Kết quả này được đánh giá thông qua Hội đồng Khoa học – Bộ Y tế và đã được thử nghiệm lâm sàng tại nhiều bệnh viện trong nước.  Viên nang Crila ra đời đã góp phần vào kho tàng thuốc điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt với giá thành rẻ hơn và hiệu quả điều trị bệnh tương đương với sản phẩm thuốc nhập ngoại. So với viên Tadenan của Pháp sản xuất được chiết xuất từ cây mận gai Châu Phi để điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt, trong một  năm, người bệnh sử dụng Crila từ 8-12 tuần với tổng chi phí gần 1.080.000 đồng. Trong khi đó, chi phí điều trị bằng viên Tadenan cho một năm điều trị là 3.960.000 đồng. Vậy, một người bệnh sẽ tiết kiệm được 2.880.000 đồng cho một năm điều trị. Theo ước tính, nếu có khoảng 10.000 người sử dụng viên nang Crila thay cho Tadenan để điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt thì chi phí tiết kiệm được cho năm điều trị là gần 29 tỷ đồng.   Khát khao xuất khẩu dược liệu                 Công trình nghiên cứu về cây trinh nữ hoàng cung với những sản phẩm cụ thể như viên nang Crila, Crilin và trà túi lọc được đánh giá có giá trị khoa học rất lớn. Bởi công trình đã đưa ra một hướng mới trong nghiên cứu khoa học, đó là từ thiên nhiên, con người sẽ thu được những hoạt chất có hoạt tính sinh học mạnh không thua kém các sản phẩm thuốc từ tổng hợp hóa học, ít tác dụng phụ, hiệu quả điều trị cao.  Thành công ấy đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước thẩm định, đánh giá cao và được xem như là một trong những thành tựu lớn của nền y học. “Cụm các công trình nghiên cứu về cây trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) Việt Nam” của TS. Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cộng sự đã được Chủ tịch nước kí quyết định trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ năm 2010.  Chia sẻ  nguyện  vọng  khi nhận  đuợc  Giải thưởng, TS Trâm bày tỏ mong sản phẩm nhanh chóng được tham gia thị trường dược phẩm thế giới và mong Nhà nước có chính sách ưu tiên cho phát triển dược liệu trong nước, hình thành các vùng trồng dược liệu để có thể tự chủ được phần lớn thuốc trong nước, giảm nhập khẩu nguyên liệu cũng như sản phẩm thuốc từ nước ngoài. Có thể ví dụ, từ năm 1952, Ấn Độ đã có chính sách ưu tiên phát triển dược liệu trong nước, bảo vệ quyền tác giả cho các sáng chế và thành lập viện nghiên cứu cây thuốc, viện sản xuất thuốc. Đến nay, Ấn Độ đã xuất khẩu nhiều loại thuốc từ dược thảo trên thị trường quốc tế. “Việt Nam với rất nhiều cây thuốc, điều kiện tự nhiên, khí hậu và con người đều thuận lợi, tại sao vẫn phải nhập khẩu rất nhiều thuốc”, TS Trâm chia sẻ.  Tuy nhiên, theo TS Trâm, những năm gần đây chúng ta đã có nhiều bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực này. Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế đã có những đổi mới rất lớn trong vấn đề quản lý khoa học trong y – dược, tập trung vào vấn đề bảo tồn nguồn gien thuốc quý, có những chính sách về nghiên cứu khoa học để phát triển ngành y – dược. TS Trâm và các cộng sự cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất kịp thời từ Bộ Khoa học và Công nghệ khi gặp khó khăn về tài chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị dành cho nghiên cứu. Một số nhiệm vụ, dự án Bộ đã giao thực hiện như nhiệm vụ quốc tế về khoa học công nghệ theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Bungaria; dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước KC.10.DA17 “Hoàn thiện quy trình công nghệ chiết xuất hoạt chất từ cây trinh nữ hoàng cung để sản xuất viên nang điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt”; dự án “Phát triển nguồn gen cây trinh nữ hoàng cung để có nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung”.   Các nhiệm vụ, dự án nói trên đã giúp bà và cộng sự hoàn thiện và đưa ra một tài liệu khoa học về cây thuốc mới – trinh nữ hoàng cung khá đầy đủ, hoàn thiện quy trình công nghệ chiết xuất loại thuốc hỗ trợ điều trị ung thư. Theo bà, đó là sự hỗ trợ rất kịp thời và được bà ví von bằng hình ảnh “bơi từ biển vào bờ, chỉ còn một khoảng cách ngắn nữa nhưng nếu không có Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế thì chắc chỉ ở ngoài biển, không vào bờ được”.   Hiện các dự án bà chủ trì, tham gia đã và đang phát triển rộng hơn. Một số nước trên thế giới cũng đã có đơn đặt hàng và một doanh nghiệp của Mỹ đã đặt vấn đề hợp tác lâu dài. Điều đó đã minh chứng cho năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật y dược Việt Nam và khẳng định niềm tin sắt đá của bà về tác dụng của cây trinh nữ hoàng cung trong điều trị bệnh. Hy vọng, TS. Nguyễn Thị Ngọc Trâm nói riêng và đội ngũ các nhà khoa học trong lĩnh vực y dược nói chung sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn nữa để tiếp tục nghiên cứu về loài cây trinh nữ hoàng cung cũng như các cây thuốc quý khác, để người Việt có cơ hội được sử dụng chính sản phẩm làm từ dược liệu trên đất nước mình.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người đưa Rwanda thành một trung tâm vật lý quốc tế      Là giám đốc thành lập của một viện nghiên cứu mới cho nghiên cứu cơ bản ở Rwanda, nhà vật lý Omololu Akin-Ojo hy vọng sẽ ngăn chặn cuộc chảy máu chất xám của châu Phi.      Omololu Akin-Ojo lên lớp tại EAIFR ở Kigali, Rwanda.  Khi là sinh viên đại học tại quê nhà Nigeria vào cuối những năm 1990, Akin-Ojo đã học viết mã máy tính bằng tay mà không có lấy bất kỳ cơ hội nào để đặt mã đó vào trong một máy tính. Nhận thức được những giới hạn này, cha anh, một nhà vật lý đã khuyến khích anh nộp hồ sơ xin học bổng tiến sĩ ở nước ngoài. Câu chuyện đã diễn ra như mong muốn đó cho đến một ngày, trong khi nghiên cứu về vật lý các chất đậm đặc tại trường Đại học Delaware (Mỹ), Akin-Ojo nhận thấy khoảng cách trong giảng dạy và nghiên cứu giữa Nigeria và Mỹ. Anh nhận thấy rằng mình cần ngăn chặn cuộc chảy máu chất xám của những bộ óc thông minh bậc nhất châu lục đen nhưng từ mong muốn đến hiện thực cần phải mất tới nhiều năm sau, khi đã ở Mỹ và châu Âu tới 14 năm. “Tôi luôn nhận thức được rằng mình sẽ trở lại châu Phi”, anh nói. Anh đã hướng đến vật lý lý thuyết vì biết tình trạng thiếu những thiết bị thực nghiệm ở Nigeria và không muốn làm đứt mạch nghiên cứu khi trở về nhà.    Vào năm 2012, Akin-Ojo trở thành trợ lý giáo sư tại trường Đại học KH&CN châu Phi ở Nigeria. Và nay anh là người thành lập Viện nghiên cứu Khoa học cơ bản Đông Phi (EAIFR) tại Kigali, Rwanda, nơi anh đang tạo dựng một danh tiếng về một trung tâm quốc tế về khoa học tiên tiến, bắt đầu với vật lý lý thuyết.    Được khai trương vào năm 2018, EAIFR được đặt trong khuôn viên trường KH&CN thuộc trường Đại học Rwanda tại Kigali. Từng là một học viện quân đội, nơi này đã trở thành viện nghiên cứu chuyên sâu về KH&CN, điều hết sức có ý nghĩa với đất nước Rwanda bị tàn phá sau cuộc diệt chủng năm 1994. Paul Kagame, một cựu tướng lĩnh quân đội nắm quyền điều hành đất nước theo cách thức độc đoán, đã đặt STEM vào trung tâm phát triển của đất nước. Chính phủ đã lập kế hoạch trao 90% suất học bổng cho các chủ đề STEM vào cuối thập kỷ này, đầu tư cho EAIFR như một phần cho mục tiêu về việc trở thành một quốc gia khoa học.    Nhiều hành lang và phòng họp sáng sủa của viện nghiên cứu này vẫn còn im lìm bởi viện vẫn còn đang được gây dựng, với một phần ba sinh viên được tuyển chọn và một nửa số giảng viên được mời. Nhưng EAIFR vẫn tổ chức thường xuyên những cuộc họp, hội thảo và đang trên đường trở thành trung tâm đầu não khoa học của châu lục đen, nơi thu hút các nhà khoa học từ khắp thế giới.    Trong vòng ba giờ trò chuyện, các nhà vật lý từ Tanzania, Argentina, Australia và Iran tập trung trong căn phòng làm việc của Akin-Ojo, nơi chiếc bàn làm việc đầy ắp tài liệu của anh được kê sát một chiếc bản đồ châu Phi cỡ lớn như muốn nhấn mạnh cho mọi người thấy rõ giá trị của châu lục này. Trong một bộ com lê kẻ vừa vặn, Akin-Ojo nói với chúng tôi về nhiều chủ đề, từ tình hình địa chính trị của châu Phi đến hướng nghiên cứu riêng của mình, vốn tập trung vào mô phỏng các đặc tính vật lý của các cấu trúc nguyên tử phức hợp. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi do đó “di chuyển” từ những tính toán và sơ đồ phác thảo của Akin-Ojo về các chấm lượng tử – những tinh thể ở cấp độ nano có thể hữu dụng với pin Mặt trời và trong thiết kế ra các loại thuốc mới.     EAIFR đã tuyển được nhiều nhà vật lý lý thuyết và tổ chức nhiều hội thảo chuyên môn như lý thuyết về những sai hỏng tinh thể và vật chất tối. Tại sao anh lại tổ chức những hội thảo về những chủ đề này?    Chúng tôi đã từng lập mô hình EAIFR rất nhiều lần sau khi tham khảo mô hình Viện nghiên cứu Vật lý lý thuyết quốc tế ở Italy, viện đối tác của chúng tôi. Tôi có thể nói một điều khác từ những trải nghiệm của tôi trong quá trình làm việc tại Nigeria là vật lý lý thuyết là nghiên cứu tiên tiến nhưng lại thuộc hàng rẻ nhất, tốn ít tiền đầu tư nhất mà anh có thể làm bởi vì anh không cần đến những trang thiết bị ở bước khởi đầu. Những điều anh cần là bài báo, bút, bộ não và có thể là phần cứng máy tính. Rồi sau đó, nếu có thêm ít tiền thì anh có thể mua lấy một ít công cụ thực nghiệm và bổ sung một chuỗi máy tính nữa.    Anh có thể nghiên cứu vật lý lý thuyết chỉ vì cái đẹp và sự đối xứng của nó. Nhưng mặt khác, vật lý lý thuyết cũng có thể được ứng dụng cho nhiều bài toán khác. Nhiều người trong số chúng tôi nghiên cứu khía cạnh này của vật lý nhưng khi chúng tôi có một vấn đề quan trọng về công nghệ, hoặc một vấn đề cần giải quyết của thế giới thực, chúng tôi cố nghĩ theo cách của vật lý lý thuyết để tìm hiểu nó. Trong nghiên cứu của mình, tôi thường áp dụng cả hai, lý thuyết lẫn thực nghiệm.     Anh có thể nêu một ví dụ cụ thể?    Nếu nhìn vào một bức ảnh vệ tinh thế giới trong đêm, anh có thể thấy châu Mỹ và châu Âu đều sáng nhưng phần châu Phi thì phần lớn là tối om. Tôi muốn thay đổi bức tranh này và muốn châu Phi cũng bừng sáng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong một số nghiên cứu mà tôi đã thực hiện cũng có liên quan đến việc cung cấp nguồn năng lượng sạch và rẻ. Tới một nửa dân số thế giới vẫn sử dụng sinh khối như gỗ hay phân bò để nấu nướng. Khi được đốt lên, nguồn năng lượng này sẽ ảnh hưởng đến môi trường và con người sẽ thực sự hít phải không khí ô nhiễm. Nhưng khi đốt khí hydro, nó sẽ không tạo ra những sản phẩm phụ gây ô nhiễm nữa.     Vậy điều này có liên quan gì đến vật lý lý thuyết?    Để tạo ra khí hydro, anh phải phân tách nước nguyên chất thành hydro và oxy với sự tham gia của một chất xúc tác. Platinum là chất xúc tác hiệu quả nhất để làm điều này nhưng nó lại vô cùng đắt đỏ. Vì vậy anh phải ứng dụng phương pháp của vật lý lý thuyết, cụ thể của vật lý chất đậm đặc và hóa học tính toán để có thể thiết kế ra một chất xúc tác mới rẻ hơn nhưng vẫn có khả năng phân tách nước.    Nước vẫn liên kết với chất xúc tác này nhưng khi phản ứng xuất hiện, những chất được tạo ra phải đủ khả năng tách rời chất xúc tác. Vì vậy anh phải nghĩ một cách cẩn thận về các nguyên tử và cấu trúc của chất xúc tác. Thiết kế chất xúc tác này là vấn đề thuần túy cơ học lượng tử: anh ngồi xuống bên máy và làm các mô phỏng.     Vậy những vấn đề nghiên cứu được làm tại EAIFR về cơ bản có nhiều ứng dụng so với các viện nghiên cứu cơ bản khác?    Tại EAIFR, chúng tôi dẫn dắt các nhà khoa học nghiên cứu về những điều khác biệt mà họ muốn làm. Họ có trọn vẹn tự do để làm những điều đó. Hiện giờ chúng tôi có một vài người muốn tập trung vào vũ trụ học, một vài người khác muốn làm về hiện tượng học của vật lý năng lượng cao, có hai người làm việc về vật lý các chất đậm đặc và một vài người khác được hướng dẫn về địa vật lý.    Nhiều sinh viên châu Phi đang quan tâm đến giải quyết những vấn đề mà họ thấy hằng ngày: thiếu năng lượng, thiếu nước sạch, biến đổi khí hậu. Tôi vẫn thường nói với họ là ‘anh có thể giải quyết điều mình muốn theo cách sử dụng một vài công cụ của vật lý lý thuyết’.     Các sinh viên của anh ngoài việc quan tâm đến các vấn đề khoa học trừu tượng cũng chia sẻ những mối quan tâm chung về con người?    Dĩ nhiên, và rất háo hức tìm các giải pháp. Nhưng việc tìm hiểu những câu hỏi đó – trong vật lý năng lượng cao hay lý thuyết dây – thực sự quan trọng với sự phát triển văn hóa làm khoa học. Chúng ta có thể hỏi ‘tại sao bầu trời lại màu xanh’ và có thể nói ‘ồ, bởi vì nó đã xanh như vậy hàng triệu năm nay rồi’. Thật tốt khi nghĩ về những điều như thế một cách nghiêm túc. Những kỹ năng anh học được từ việc suy nghĩ như vậy có thể được áp dụng để trả lời những câu hỏi thậm chí không có kết nối trực tiếp với khoa học – khi anh bắt đầu một công việc kinh doanh hoặc ghi nhận những gì là tin giả.     Anh và viện nghiên cứu của mình đã phát triển văn hóa tư duy này như thế nào?    Anh biết đấy, có thời điểm ở Nigeria, tôi tìm kiếm một người ở Hạ – Sahara châu Phi có thể dạy lý thuyết trường lượng tử. Tôi chỉ tìm thấy duy nhất một người nhưng ông ấy không thể đến đây. Hãy hình dung, trong toàn bộ khu vực Hạ – Sahara, anh chỉ có thể phụ thuộc vào duy nhất một người có thể dạy được lý thuyết trường lượng tử.    Do đó, tôi thấy mình cần phải trở lại để hỗ trợ sự phát triển của nghiên cứu dạng này, để góp phần nâng cao năng lượng nghiên cứu tại châu Phi. Và với EAIFR, chính xác là tôi đang cố gắng làm được điều đó. Với sinh viên của mình, trong năm đầu tiên, chúng tôi đưa họ lên tới một trình độ rất cao, dạy họ những thứ tương tự vẫn được dạy ở Mỹ. Tôi thích cách mình có thể tác động lên thế hệ các nhà khoa học tiếp theo, truyền thụ cho họ cách suy nghĩ vấn đề một cách sâu sắc.    Tại EAIFR, sinh viên sau khi tốt nghiệp của chúng tôi cùng các giảng viên đến từ khắp châu Phi có thể tương tác với những nhà nghiên cứu quốc tế. Tại các hội thảo, chúng tôi quy tụ những người từ Uganda, Kenya, Tanzania, Morocco, Sudan, Cameroon, Benin, Ghana, Congo, Burundi, Ethiopia… Và sau đó là những người từ Mỹ, Bỉ, Pháp, Anh… Trong nhóm vật lý năng lượng cao của chúng tôi, kế hoạch này được kết nối với Kính viễn vọng Square Kilometer Array tại Nam Phi và Úc.     Tại sao Rwanda lại phù hợp với một trung tâm nghiên cứu như thế này?    Tôi phải đề xuất với chính phủ Rwanda rằng trung tâm này sẽ là cơ hội tốt để quảng bá đất nước, nhiều người muốn đến Rwanda, ngay cả khi trước đây họ chưa từng tới châu Phi. Thật dễ dàng để người ta tới và làm việc với chúng tôi bởi vào năm 2018, Rwanda đã đề xuất một thị thực cho mọi công dân của mọi quốc gia. Và như vậy anh chỉ xách túi và lên đường.    Một điều khác là Rwanda thực sự rất an toàn. Khi tôi ở Nigeria vào năm 2014 và muốn tổ chức một hội thảo. Tất cả đều đã được xếp đặt nhưng sau đó có bom. Hai tuần sau lại một vụ ném bom khác, vì vậy chúng tôi phải chuyển hội thảo tới Nam Phi.     Vậy các nhà khoa học châu Phi có dễ dàng tới dự các hội nghị ở Mý và châu Âu không?    Điều này là may rủi bởi họ phải chứng minh là họ không đến để ở lại đó. Tôi biết nhiều người bị từ chối thị thực. Một trong những điều tôi hi vọng làm được ở viện này là cung cấp một chỗ tốt cho mọi người tổ chức hội thảo. Vì vậy nếu không được cấp visa tới Mỹ hay châu Âu thì đừng lo, chúng tôi sẽ mời các nhà khoa học tới đây, mọi người đều có thể tới đây.    Thông thường có thể hợp tác với nhau qua internet nhưng anh cần gặp gỡ, trao đổi mặt đối mặt với một người cụ thể và sau đó thiết lập mối quan hệ mang tính cá nhân. Nếu chỉ ngẫu nhiên viết thư cho một nhà khoa học nào đó ở Mỹ và nói thực sự thích làm việc cùng người đó thì có thể chỉ có 10% người nhận sẽ phản hồi.     Những thách thức riêng có của việc làm nghiên cứu cơ bản ở vùng Hạ-Sahara?    Thật không dễ dàng truy cập các tạp chí, đó thực sự là một gánh nặng chi phí lớn. Có thể chúng tôi sẽ làm được nhiều hơn nếu chúng tôi có đường truyền internet tốc độ cao hơn, máy tính có khả năng xử lý thông tin tốt hơn. Tuy nhiên tôi cho rằng, những nhà khoa học châu Phi cần nghĩ đến việc làm nghiên cứu theo cách có thể vẫn làm được ngay cả với những chiếc máy tính hiện có.    Vào năm 1929, Paul Dirac từng viết, chúng ta đã biết với tất cả các phương trình cơ bản của ngành Hóa học, và phần lớn các phương trình cơ bản của Vật lý, vấn đề duy nhất là các phương trình đó quá phức tạp để có thể giải thích một cách rõ ràng. Vì vậy chúng ta phải nghĩ đến những cách gần đúng để giải chúng, để có được những hiểu biết mà chúng ta cần trích rút từ chúng mà không cần tính toán quá nhiều. Đó cũng là điều tôi đang cố gắng làm theo.    Trong thời đại của Dirac, họ có thể nghiên cứu các hệ gồm ba hoặc bốn nguyên tử. Hiện tại mọi người muốn có khả năng làm các phép tính toán cho DNA, và cho các hệ có thể có hàng triệu nguyên tử. Anh không thể sử dụng các phương pháp đòi hỏi độ chính xác cao nhất bởi thời gian thực hiện những phép tính đó có thể còn dài hơn đời anh. Vì vậy anh phải tìm kiếm những cách đơn giản hơn, thông minh hơn để giải các bài toán nhanh hơn. Tất cả các nhà vật lý đều phải đối mặt với cùng bài toán tăng quy mô nhưng với những người ở châu Phi như chúng tôi, vấn đề còn thách thức hơn nhiều. Khi máy tính ít hơn thì các phương pháp đã được đơn giản hóa này có tầm quan trọng gấp đôi.     Là một giáo sư rất cần sinh viên, anh có thấy khó khăn trong việc giữ những sinh viên xuất sắc nhất tại đây cùng mình?     Tôi đã phải vật lộn với điều đó. Tôi muốn những sinh viên xuất sắc nhất ở đây làm việc cùng mình nhưng tôi cũng muốn họ có một cuộc sống tốt hơn và làm nghiên cứu tốt hơn với người khác. Vậy tôi phải làm gì đây? Tôi không thể nói ‘đừng đi’. Tôi vẫn sẽ viết thư giới thiệu vì tôi muốn họ nhận được điều tốt nhất. Bây giờ tôi chỉ hi vọng là một vài người sẽ trở về, cũng như tôi.     Theo anh cần làm gì để EAIFR có thêm nhà khoa học trở về hoặc thêm nhiều sinh viên ở lại châu Phi?    Nạn chảy máu chất xám vẫn tồn tại ở châu Phi. Bước đầu tiên – những gì chúng tôi đang làm, là có một mô hình tuần hoàn chất xám. Chúng tôi muốn những người xuất sắc trở về từ các quốc gia phát triển và truyền thụ kiến thức cho những người ở đây. Trong vòng 10 năm, tôi nghĩ chúng tôi sẽ thành công như ICTP ở Italy. Theo thời gian, chất lượng công việc nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện sẽ ở mức ngang bằng với bất cứ nơi nào trên thế giới. □     Anh Vũ dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.quantamagazine.org/omololu-akin-ojo-is-making-rwanda-into-a-hub-for-physics-20200303/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người già hỏng khứu giác: Điềm báo trước cái chết sớm      Báo New York Times mố đây đưa tin: một  nghiên cứu cho biết sự xuất hiện tình trạng mất khứu giác ở người già là  dấu hiệu báo trước chính xác người đó sẽ chết trong vòng năm năm tới.       Kết quả nghiên cứu nói trên được công bố ngày 1/10/2014 trên trang web PLOS One [1] trong một báo cáo có đầu đề “Cơ quan khứu giác trục trặc báo trước cái chết không tránh được trong vòng năm năm ở người lớn tuổi”. Báo cáo cho biết, nghiên cứu này được tiến hành trong khuôn khổ Dự án Đời sống xã hội, sức khỏe và tuổi tác toàn dân (National Social Life, Health and Aging Project, NSHAP).  Các nhà nghiên cứu đã làm xét nghiệm đối với 3.005 người Mỹ nam và nữ có tính chất tiêu biểu cho cả nước ở độ tuổi từ 57 đến 85, tiến hành đo thử năng lực phân biệt mùi của họ đối với năm loại mùi: hoa hồng, da, cam, cá và bạc hà.  Các nhà khoa học đã xem xét rất nhiều nhân tố như tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội và kinh tế, có hút thuốc lá không, lượng rượu cồn uống hàng ngày, trình độ học vấn, các chỉ tiêu thể chất, chủng tộc, thói quen ăn uống, có mắc các bệnh về huyết áp, tim mạch, tiểu đường, phù nề phổi, đột quỵ hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người không thể ngửi thấy mùi của năm loại mùi nói trên có xác suất chết trong vòng năm năm tới cao gấp hơn ba lần những người có thể ngửi thấy được năm loại mùi này; người nào có năng lực phân biệt mùi càng kém (điểm số thấp) thì khả năng chết sớm càng cao. Chỉ có trường hợp gan bị hỏng nặng mới là triệu chứng tốt hơn dự đoán khả năng chết.   Các nhà nghiên cứu tin rằng khứu giác suy giảm chứng tỏ các cơ quan khác trong cơ thể đã bị thoái hóa do tuổi tác, nhưng bản thân hiện tượng khứu giác sút kém không phải là nguyên nhân gây ra cái chết.  Bác sĩ Jayant M. Pinto, phó giáo sư khoa Giải phẫu tại Đại học Chicago, tác giả chính của báo cáo nghiên cứu nói bạn chớ nên coi nhẹ chuyện mất khứu giác. “Có những nguyên nhân mất khứu giác có thể điều trị khỏi,” ông nói, “vì vậy nếu ai có vấn đề thì nên có sự đánh giá lại. Đây là một chỉ tiêu tổng hợp về sức khỏe của bạn, vì thế nếu bạn gặp rắc rối gì thì bạn nên đi khám bác sĩ.”   [1] Một tạp chí mở do Thư viện Khoa học công cộng (Public Library of Science) xuất bản từ năm 2006, tiếng Anh. Là tạp chí khoa học lớn nhất (về số trang) và phát triển nhanh nhất thế giới hiện nay, năm 2006 đăng 138 bài, năm 2007 đăng 1.200 bài, năm 2010 – 6.749 bài, năm 2013 – 31.500 bài. Để được đăng 1 bài, tác giả phải trả cho Tòa báo 1350 USD (7/2010).  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp   Nguồn:  http://well.blogs.nytimes.com/2014/10/01/failing-sense-of-smell-may-predict-sooner-death/  Failing Sense of Smell May Predict Sooner Death  http://www.plosone.org/article/info%3Adoi%2F10.1371%2Fjournal.pone.0107541 Published: October 01, 2014 Olfactory Dysfunction Predicts 5-Year Mortality in Older Adults     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người giải mã loài ong      Bất chấp những thách thức lớn lao mà ông phải đối mặt trong suốt sự nghiệp của mình do tình trạng phân biệt chủng tộc, Charles Henry Turner là một trong những nhà khoa học đầu tiên làm sáng tỏ đời sống bí mật của loài ong.    Vào một buổi sáng mùa thu đẹp trời năm 1908, một người đàn ông Mỹ gốc Phi ăn mặc lịch sự sải bước qua những cây sồi ghim, cây mộc lan và cây phong lá bạc của Công viên O’Fallon ở St. Louis, Missouri. Sau khi đặt cả chục đĩa mứt dâu tây lên một số bàn ăn ngoài trời, nhà sinh vật học Charles Henry Turner tới ngồi trên một băng ghế dài gần đó, sẵn sàng mở cuốn sổ và cầm bút chì.    Sau giờ nghỉ giữa sáng để uống trà ăn bánh mì nướng, Turner quay trở lại thí nghiệm ngoài trời. Vào buổi trưa và một lần nữa vào lúc chạng vạng, ông đặt những món ăn đầy mứt trên bàn công viên. Theo ông phát hiện, ong mật (Apis mellifera) là những vị khách thường xuyên ghé vào bữa sáng, bữa trưa và bữa tối để tham gia bữa tiệc tự chọn toàn đường này. Sau một vài ngày, Turner ngừng cung cấp mứt vào giữa trưa và hoàng hôn, và chỉ bày ra món ăn vào lúc bình minh. Ban đầu, đàn ong tiếp tục xuất hiện ở cả ba lần. Tuy nhiên, ngay sau đó, chúng thay đổi mô hình đến, chỉ ghé thăm bàn ăn ngoài trời vào buổi sáng.    Thí nghiệm đơn giản nhưng được thiết kế tinh tế này đã khiến Turner kết luận rằng ong có thể nhận thức được thời gian và sẽ nhanh chóng phát triển thói quen kiếm ăn mới để đáp ứng với các điều kiện thay đổi. Đây là một trong những kết quả đầu tiên trong chuỗi khám phá đột phá mà Turner đã thực hiện về hành vi của côn trùng.    Trong suốt 33 năm sự nghiệp nổi bật của mình, Turner là tác giả của 71 bài báo và là người Mỹ gốc Phi đầu tiên công bố nghiên cứu của mình trên tạp chí Science uy tín. Tuy ngày nay hầu như không nhiều người biết đến tên tuổi của ông, nhưng Charles Henry Turner là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu loài ong, người đàn ông này phải được nhìn nhận là một trong những nhà côn trùng học vĩ đại của thế kỷ 19 và 20. Công trình tiên phong của Turner về nhận thức côn trùng đã tạo nên phần lớn nghiên cứu đột phá của ông về hành vi của động vật.    Turner sinh ra ở Cincinnati vào năm 1867, chỉ hai năm sau khi cuộc Nội chiến kết thúc. Là con trai của một người coi sóc nhà thờ và một y tá trước đây từng bị bắt làm nô lệ, ông lớn lên dưới bóng ma của Jim Crow – một tập hợp các luật chính thức và thực hành không chính thức đẩy người Mỹ gốc Phi rơi vào tình cảnh là tầng lớp hạng hai.    Thời thơ ấu, Turner trải qua tình cảnh phân biệt nhà ở và trường học , thường xuyên diễn ra cảnh hành quyết lin-sơ và từ chối các quyền dân chủ cơ bản đối với người dân không da trắng của thành phố. Dẫu gặp nhiều trở ngại to lớn ngăn mình hướng tới các mục tiêu giáo dục và khát vọng nghề nghiệp, tinh thần ngoan cường của Turner đã giúp ông vượt qua.    Khi còn là một cậu bé, ông đã nuôi dưỡng niềm đam mê mãnh liệt với những sinh vật bé nhỏ, bắt và lập danh mục hàng nghìn con kiến, bọ cánh cứng và bướm. Năng khiếu về khoa học chỉ là một trong nhiều tài năng của Turner. Tại trường trung học Gaines, ông có học lực đứng đầu lớp toàn học sinh Da đen, chiếm giữ vị trí thủ khoa.    Turner tiếp tục lấy bằng Cử nhân Khoa học tại Đại học Cincinnati, và ông trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên nhận bằng tiến sĩ về động vật học tại Đại học Chicago. Luận án tiến sĩ độc đáo của Turner, “Bản năng tìm đường về tổ của kiến: Nghiên cứu thực nghiệm về hành vi của kiến,” sau này nó được trích đăng trong số tháng 9/1907 của tạp chí Thần kinh học So sánh và Tâm lý học.    Có tài năng lỗi lạc là thế, Turner lại không thể giữ được vị trí nhân viên dài hạn trong nền giáo dục đại học. Đại học Chicago đã từ chối mời ông làm việc, và Booker T. Washington quá thiếu ngân sách để thuê ông làm việc tại Học viện Công nghiệp và Thông thường Tuskegee toàn người Da đen ở Alabama.    Sau một thời gian ngắn làm việc tại Đại học Cincinnati và một vị trí tạm thời tại Cao đẳng Clark (nay là Đại học Clark Atlanta), Turner dành phần còn lại của sự nghiệp giảng dạy tại Trường Trung học Sumner ở St. Louis. Vào năm 1908, ông được trả khoản lương còm cõi là 1.080 USD một năm – khoảng 34.300 USD ngày nay. Tại Sumner, tuy ông không có quyền tiếp cận các phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ, thư viện nghiên cứu hay các nghiên cứu sinh, thế nhưng Turner đã có những khám phá tiên phong về hành vi của côn trùng.    Vào đầu những năm 1900, các nhà sinh vật học đã biết rằng hoa thu hút ong thụ phấn bằng cách tạo ra một số mùi hương nhất định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu này không biết gì về các khía cạnh trực quan của những mùi hương thu hút đó, khi những con ong ở quá xa những bông hoa để ngửi thấy được.    Để điều tra, Turner đã đóng nhiều hàng chốt gỗ trên bãi cỏ của Công viên O’Fallon. Trên mỗi chốt, ông gắn một chiếc đĩa màu đỏ nhúng trong mật ong. Chẳng bao lâu, những con ong bắt đầu di chuyển từ xa đến “những bông hoa” tạm thời này.    Sau đó, Turner đã thêm một loạt các thanh “kiểm soát” gắn các đĩa màu xanh lam không nhúng mật ong. Những con ong ít chú ý đến “những bông hoa” mới, chứng tỏ các tín hiệu hình ảnh cung cấp hướng dẫn khi những con ong ở quá xa để ngửi thấy mục tiêu của chúng. Tuy khả năng phát hiện màu đỏ của con ong mật vẫn còn gây tranh cãi, nhưng các nhà khoa học đã xác định rằng những con ong của Turner có khả năng phản ứng với một thứ gọi là kích thích achromatic, thứ cho phép chúng phân biệt giữa các sắc thái và sắc màu khác nhau.  Một loạt các phát hiện đáng kinh ngạc của Turner từ ba thập niên thử nghiệm đã khẳng định danh tiếng của ông, một chuyên gia có quyền lên tiếng về các kiểu hành vi của ong, gián, nhện và kiến.    Là một nhà nghiên cứu khoa học không có vị trí trong trường đại học, ông lại tìm được chỗ đứng cho mình trong một ngách hẹp lạ kỳ. Đa phần hoàn cảnh của Turner là sản phẩm của sự phân biệt chủng tộc có hệ thống. Đó cũng là kết quả từ lòng tận tụy của ông khi hết mình đào tạo các sinh viên Da đen trẻ về khoa học.    Cùng với các ấn phẩm khoa học của mình, Turner đã viết nhiều về nền giáo dục của người Mỹ gốc Phi. Trong bài luận năm 1902, “Liệu Giáo dục của người Da đen có giải quyết được vấn đề chủng tộc không?” Turner cho rằng các trường thương mại không phải là con đường dẫn đến việc trao quyền cho người Da đen. Thay vào đó, ông kêu gọi giáo dục công khai rộng rãi cho người Mỹ gốc Phi ở mọi đối tượng: “nếu chúng ta gạt bỏ những định kiến của mình sang một bên và cố gắng áp dụng nền giáo dục cao nhất cho cả người da trắng và Da đen, trong một vài thập kỷ nữa sẽ không có vấn đề người Da đen”.    Turner qua đời sớm ở tuổi 56 tuổi vì bệnh viêm cơ tim cấp, một chứng viêm tim truyền nhiễm, bỏ lại hai người con và người vợ thứ hai, Lillian Porter.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Người giải thích ưu thế của vật chất trong vũ trụ      Trong nhiều thập kỷ, các nhà Vật lý vẫn trăn trở với câu hỏi “tại sao vũ trụ chứa nhiều vật chất hơn phản vật chất?”. Trên con đường tìm kiếm lời giải đáp, khoa học đã tiến gần thêm một bước nhờ vào một thí nghiệm tiến hành bởi James (Jim) Cronin, Val Fitch cùng hai đồng nghiệp khác.        GS. Cronin trong thời kỳ giảng dạy tại ĐH Chicago  Họ cho thấy sự phân rã khác thường của một loại hạt cơ bản, gọi là Kaon trung hòa. Với phát hiện này, Cronin và Fitch được trao giải Nobel Vật lý năm 1980.  Cronin sinh ngày 29 tháng 9 năm 1931 tại Chicago, lớn lên ở Dallas, Texas và tốt nghiệp Đại học Southern Methodist, nơi cha ông là một Giáo sư ngôn ngữ có tiếng. Năm 1951, ông làm nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Đại học Chicago–Illinois về chủ đề Spin và tính chẵn lẻ của trạng thái hạt nhân nguyên tử carbon, trước khi chuyển tới phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven ở Upton, New York, rồi trở thành giảng viên tại Đại học Princeton ở New Jersey. Năm 1971, ông trở lại Chicago nhằm thuận tiện cho công việc nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Gia tốc Quốc gia Fermi (Fermilab).  Năm 1964, nhóm nghiên cứu bốn người của Jim tại Brookhaven đã quan sát thấy hiện tượng phân rã một cách bất ngờ của các kaon sống lâu, mỗi kaon phân rã thành hai pion. Quan sát này đã dẫn tới kết luận về sự vi phạm đối xứng CP và điều đó làm chúng ta dần hiểu hơn tại sao vật chất nhiều hơn phản vật chất. Thử nghiệm tìm ra vi phạm đối xứng CP đã trở thành một kỹ thuật cho phép nghiên cứu một cách chi tiết về quá trình phân rã mà trước đây chưa từng có.  Đóng góp của Cronin trong kỹ thuật này cũng chính là mấu chốt để thiết kế một thử nghiệm khác tại Brookhaven, qua đó người ta thấy rằng các neutrino khi kết hợp với phân rã muon sẽ có khác biệt so với khi kết hợp với phân rã beta. Phát hiện này đem về cho nhóm nghiên cứu giải Nobel năm 1988. Nhưng với sự khiêm tốn, Cronin không bao giờ nhận công lao của mình trong thành quả này.  Năm 1977, Cronin được giám đốc của Fermilab bổ nhiệm làm người đứng đầu Colliding Beams Division nhưng chỉ sau vài tháng đảm trách, ông đã xin từ chức vì nhận ra mình không phù hợp với vai trò quản lý. Ông quay về với các nghiên cứu về vật lý lượng tử, tiếp tục đưa ra những phát kiến có tính nền tảng, đơn cử như năm 1982, ông thực hiện việc đo thời gian sống của hạt subatomic (hạ nguyên tử) tại CERN (trung tâm vật lý hạt gần Geneva, Thụy Sĩ).  Những năm 1980, ngành vật lý lượng tử đã qua thời kỳ hoàng kim, đa phần trở thành sân chơi của những nhóm nghiên cứu đông đảo, không còn phù hợp với cá tính của Cronin, vốn ưa thích thao tác một cách trực tiếp trong các nghiên cứu hơn là làm lãnh đạo các nhóm nghiên cứu lớn. Vì vậy, ông chuyển sự quan tâm đến những lĩnh vực nghiên cứu khác.  Năm 1985, với một nhóm nghiên cứu nhỏ, ông đã thiết kế và xây dựng một thí nghiệm để nghiên cứu các tia vũ trụ, với các tia γ cao năng lượng phát ra từ các hệ sao. Với quy mô của dự án thì số lượng các detector tham gia là rất lớn (hơn 1.000). Để tìm kiếm sự giúp đỡ, Cronin đã tới thăm một số viện nghiên cứu tia vũ trụ và trao đổi về kế hoạch của mình. Nỗ lực kiên trì của ông đã thúc đẩy sự ra đời của Đài thiên văn Pierre Auger tại Argentina có diện tích 3.000km2, với hệ thống detector lớn nhất từng được xây dựng nhằm phát hiện các tia vũ trụ. Dự án này có sự tham gia làm việc của 430 nhà khoa học đến từ 16 quốc gia.  Một dự án lớn với quy mô nhân lực như vậy đòi hỏi nguồn đóng góp từ nhiều quốc gia, và hẳn sẽ bất khả thi nếu không có sự thúc đẩy từ một nhà khoa học có vị thế đáng kính nể như Cronin. Vào thời điểm đó, mặc dù Mỹ còn chưa phải là thành viên của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc) nhưng Cronin vẫn vận động từ quốc gia này được 100.000 USD để tài trợ các nhà khoa học từ các nước đang phát triển như Việt Nam hay Bolivia tới làm việc tại Fermilab. Tổng số tiền tài trợ mà Cronin kêu gọi được lên tới 50 triệu USD, sau khi dự án được đánh giá kỹ lưỡng bởi các chuyên gia do chính Cronin mời. Đây là số tiền lớn chưa từng có cho một dự án trong lĩnh vực nghiên cứu tia vũ trụ.  Đài thiên văn Pierre Auger đã có đóng góp đáng kể cho tiến trình tăng cường sự hiện hữu quốc tế của ngành vật lý cơ bản các nước Argentina, Brazil, Mexico và Việt Nam. Có lẽ bản thân Cronin ban đầu cũng không hình dung dự án của mình sẽ phát triển tới quy mô rộng lớn như trong thực tế. Thông qua dự án, ông đã thúc đẩy tham vọng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trẻ.  Có thể nói Cronin như là một vector, vừa có lực, vừa có hướng. Năng lực mạnh mẽ của Cronin trong vai trò một nhà khoa học là điều không thể chối cãi, nhưng nếu ông không có tầm nhìn định hướng sáng suốt, cùng với kỹ năng vận động, thuyết phục mạnh mẽ, thì dự án Đài thiên văn Pierre Auger cùng rất nhiều dự án khoa học khác đã không thể thành công đến như vậy.  Đức Hưng lược dịch từ bài viết của Alan Watson đăng online trên tạp chí Nature ngày 21/9/2016.  Alan Watson là giáo sư danh dự của Đại học Leeds và là người cùng hợp tác với James Cronin trong việc hình thành Đài thiên văn Pierre Auger.  Nguồn: http://www.nature.com/nature/journal/v537/n7621/full/537489a.html         Author                Đức Hưng        
__label__tiasang Người Hàn Quốc sẽ sống thọ nhất thế giới      Người Hàn Quốc được dự đoán sẽ sống thọ nhất thế giới vào năm 2030, theo một nghiên cứu mới xuất bản trên The Lancet.      Tuổi thọ của người dân tất cả những nước công nghiệp đều có khả năng tăng lên vào năm 2030.  Nghiên cứu “Tuổi thọ trung bình trong tương lai của người dân 35 nước công nghiệp: Những phóng chiếu theo tập hợp mô hình Bayes” (Future life expectancy in 35 industrialised countries: projections with a Bayesian model ensemble) do V.Kontis và các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Hoàng gia London (Imperial College London) cộng tác với các đồng nghiệp tại Tổ chức Y tế thế giới WHO thực hiện. Họ phân tích dữ liệu về các xu hướng tuổi thọ và tử vong trong thời gian dài để dự đoán liệu tuổi thọ trung bình của con người thay đổi như thế nào tại 35 quốc gia công nghiệp vào năm 2030. Hội đồng nghiên cứu Y học Anh tài trợ cho nghiên cứu này.  Những nước được đề cập trong nghiên cứu bao gồm cả những nước có thu nhập cao như Mỹ, Canada, Anh, Đức, Australia… và những nước mới nổi như Ba Lan, Mexico, CH Czech…  Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ của người dân tất cả những nước này đều có khả năng tăng lên vào năm 2030, trong đó người Hàn Quốc sẽ đạt tuổi thọ cao nhất.  Qua ước lượng tuổi thọ khi sinh, nhóm nghiên cứu dự đoán một bé gái sinh tại Hàn Quốc vào năm 2030 sẽ có khả năng sống đến 90 tuổi, trong khi tuổi thọ trung bình khi sinh của đàn ông Hàn Quốc ước tính sẽ là 84,1.  Các nhà nghiên cứu cũng tính toán một người ở tuổi 65 vào năm 2030 có thể sống thêm bao nhiêu năm nữa. Kết quả cho thấy, phụ nữ Hàn Quốc ở tuổi 65 vào năm 2030 có thể sống thêm 27,5 tuổi.  Giáo sư Majid Ezzati (Trường Sức khỏe cộng đồng, Đại học Hoàng gia London) giải thích, trước đây, các nhà nghiên cứu từng nghĩ rằng, tuổi thọ trung bình trên 90 là điều không thể, “Chúng ta vẫn thường nghe nói là tuổi thọ trung bình của con người đã gần tới kịch trần và mức trần là 90 tuổi, nhưng nghiên cứu này chỉ ra con người có thể phá vỡ giới hạn đó. Tôi không cho rằng chúng ta đã tới điểm giới hạn của tuổi thọ trung bình”.  Giáo sư Majid Ezzati cho biết, tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc ở mức cao có thể là do những nguyên nhân như chế độ dinh dưỡng lúc còn nhỏ tốt, huyết áp thấp, sống trong môi trường ít khói thuốc, dễ dàng tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe và ngành y tế luôn cập nhật những kiến thức và công nghệ mới.  Phụ nữ Pháp và đàn ông Thụy Sỹ có ước lượng tuổi thọ khi sinh cao nhất tại châu Âu vào năm 2030, lần lượt là 88,6 và gần 84.  Tuy nhiên, vào năm 2030, trong số các quốc gia thu nhập cao thì người Mỹ lại có ước lượng tuổi thọ khi sinh thấp nhất: phụ nữ 83,3 tuổi và nam giới 79,5 tuổi, tương đương với tuổi thọ trung bình của người dân các quốc gia thu nhập trung bình như Croatia và Mexico. Giải thích về hiện tượng này, nhóm nghiên cứu cho biết, nguyên nhân có thể do Mỹ thiếu chế độ chăm sóc sức khỏe phổ quát cũng như tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em, tỷ lệ tử vong do bạo lực và số người bệnh béo phì cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập cao.  Năm 2030, với ước lượng tuổi thọ trung bình khi sinh là 85,3 tuổi, phụ nữ Anh sẽ xếp vị trí 21 trong bảng danh sách 35 quốc gia; còn với 82,5 tuổi, đàn ông Anh xếp vị trí thứ 14.  Thế giới tăng số người già  Nhóm nghiên cứu dự đoán, người ở độ tuổi 65 ở Anh vào năm 2030 sẽ có khả năng sống thêm 20,9 năm nữa, trong khi phụ nữ Anh cùng thời điểm sống thêm được 22,7 năm.  Nghiên cứu cũng chỉ ra khoảng cách tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ đang được thu hẹp lại. Giáo sư Ezzati giải thích: “So với nữ giới, đàn ông có lối sống kém lành mạnh hơn, vì vậy tuổi thọ trung bình của họ thấp hơn. Họ hút thuốc, uống rượu nhiều hơn, gặp nhiều tai nạn giao thông hơn và cũng bị giết hại nhiều hơn. Tuy nhiên, do lối sống của hai giới ngày càng giống nhau nên tuổi thọ của họ cũng vậy”.  Một số quốc gia khác như Nhật Bản, Thụy Điển, Hy Lạp cũng chỉ đạt mức tăng tuổi thọ trung bình ở mức khiêm tốn vào năm 2030, trong khi Macedonia và Serbia được dự đoán là có tuổi thọ khi sinh đối với nam và nữ thấp nhất.  Tuổi thọ được tính toán dựa vào việc đánh giá tuổi tử vong của người dân bởi mọi nguyên nhân, ví dụ nếu một nước có tỷ lệ trẻ em tử vong cao thì tuổi thọ trung bình của nước đó sẽ bị thấp đi nhiều, tương tự như với trường hợp một nước có nhiều người trẻ chết vì thương tích và bạo lực.   Đồng tác giả nghiên cứu, giáo sư Colin Mathers (WHO) giải thích: “Tuổi thọ trung bình ở các nước có thu nhập cao tăng lên do những người trên 65 tuổi sống thọ hơn bao giờ hết. Với các quốc gia thu nhập trung bình, số ca tử vong sớm – tức là những người chết trong độ tuổi 40 và 50, sẽ giảm vào năm 2030.”  Nhóm nghiên cứu đã phát triển một phương pháp mới để dự đoán tuổi thọ, tương tự như các phương pháp được dùng để dự đoán thời tiết, trong đó bao gồm nhiều mô hình dự báo tử vong và tuổi thọ. Tất cả những dự đoán trong nghiên cứu này được đưa ra với một mức độ chắc chắn nhất định, chẳng hạn đến năm 2030, khả năng phụ nữ Hàn Quốc có tuổi thọ trung bình cao hơn 86,7 tuổi được dự báo với mức độ chắc chắn đến 90%, còn khả năng tuổi thọ cao hơn 90 chỉ được dự báo với mức độ chắc chắn 57%.  Lựa chọn 35 nước công nghiệp vào nghiên cứu này vì đây là những nước có dữ liệu đáng tin cậy về số người tử vong, ít nhất là từ năm 1985. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu này kèm với phương pháp mới của họ để dự đoán tuổi thọ đến  năm 2030.  Giáo sư Ezzati cho biết thêm, các kết quả nghiên cứu cho thấy, chúng ra cần suy nghĩ một cách cẩn trọng về việc tăng cường hệ thống chăm sóc sức khỏe và xã hội để hỗ trợ dân số già với những nhu cầu đa dạng về y tế. “Điều đó trái ngược với những gì đã được thực hiện trong thời kỳ thắt lưng buộc bụng. Chúng ta cần nghĩ xem liệu các hệ thống lương hưu hiện tại có hỗ trợ nổi chúng ta, hay chúng ta cần cân nhắc khả năng tiếp tục làm phải việc về cuối đời,” ông nói.  Nguồn: http://www3.imperial.ac.uk/newsandeventspggrp/imperialcollege/newssummary/news_21-2-2017-15-33-52    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Người hay tức giận tranh cãi thì chóng chết      Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học  Đan Mạch cho rằng những người hay tranh cãi với bạn đời, người thân hoặc  hàng xóm thì khả năng chết ở độ tuổi trung niên cao ít nhất gấp đôi  người bình thường. Rủi ro này càng cao đối với đàn ông, đặc biệt là đàn  ông thất nghiệp.    Bản báo cáo nghiên cứu nói trên được đăng trong Tạp chí bệnh truyền nhiễm và vệ sinh công cộng (Journal of Epidemiology & Community Health, Anh Quốc) số ra ngày 8/5/2014.  Báo cáo cho biết, năm 2000, một nhóm nhà khoa học Đan Mạch đã tập hợp được khoảng gần 10.000 người đàn ông và đàn bà ở độ tuổi từ 36 đến 52 tự nguyện để nhóm này theo dõi, nghiên cứu về công việc, tình trạng thất nghiệp và sức khỏe của họ trong một dự án nghiên cứu khoa học kéo dài tới 11 năm.   Khi dự án kết thúc, các nhà nghiên cứu được biết 4% phụ nữ (196 người) và 6% nam giới (226 người) mà họ theo dõi đã qua đời; một nửa số đó chết vì ung thư và một nửa chết vì các bệnh tim mạch, gan và tự tử. Ở đây họ thấy tỷ lệ người chết có liên quan rõ ràng tới thói quen tranh cãi.  Báo cáo cho biết, so với những người nói mình rất ít khi tranh cãi với bạn bè, người thân hoặc hàng xóm thì những người nói họ “luôn luôn hoặc thường hay” tranh cãi với bất cứ ai trong cộng đồng người mình giao tiếp có tỷ lệ chết (vì bất cứ nguyên nhân nào) cao gấp đôi cho đến gấp ba.  Trong điều tra, người ta đã xét tới mọi nhân tố có thể ảnh hưởng đến kết quả thống kê, thí dụ chứng trầm cảm, nhưng không xét tới cá tính của con người.  Còn một kết luận khác khiến các nhà nghiên cứu suy nghĩ nhiều, đó là sự chết sớm có liên quan đến nỗi lo lắng về bạn đời hoặc con cái, hoặc các đòi hỏi đến từ số người thân cận nhất này, nhưng mối liên quan ấy không thể hiện rõ như mối liên quan tới sự tranh cãi.  Tiến sĩ Rikke Lund ở Đại học Copenhagen và các đồng nghiệp viết trong báo cáo là việc học tập cách xử lý sức ép trong mối quan hệ giữa con người với nhau sẽ có tác dụng “cứu mạng”.  “Kỹ năng xử lý nỗi lo nghĩ về những người thân nhất của mình và các biện pháp quản lý mâu thuẫn, va chạm với bạn đời, người thân trong gia đình và hàng xóm láng giềng có lẽ là sách lược quan trọng giảm thiểu rủi ro chết sớm,” – Tiến sĩ Rikke Lund viết.  Bản báo cáo còn cho biết, trước đây đã có những nghiên cứu chứng minh tình bạn vững chắc và mối quan hệ ổn định với bạn đời của mình bao giờ cũng có ích cho sức khỏe, nhưng chưa có mấy ai nghiên cứu vấn đề này từ phía phản diện.   Nguyễn Hải Hoành theo  Nguồn:  http://www.newvision.co.ug/news/655439-arguing-may-lead-to-early-death-says-study.html. Arguing may lead to early death, says study May 12, 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người khám phá vật lý với cái nhìn toàn thể      Đàm Thanh Sơn là người có khả năng hiếm hoi  trong việc khám phá vật lý với cái nhìn toàn thể, vượt qua ranh giới  chuyên ngành hẹp, theo đánh giá của Giáo sư Pauk Wiegmann, Khoa Vật lý và là Giám đốc Viện James Franck.    Trong kế hoạch đầy tham vọng nhằm chiêu mộ những nhà vật lý lý thuyết xuất chúng trên thế giới, Đại học Chicago đã phong Đàm Thanh Sơn làm Giáo sư Đại học khoa Vật lý học, kể từ ngày 01 tháng 9 năm nay. (Tại Đại học Chicago, còn có nhà toán học Ngô Bảo Châu được phong là Giáo sư Ưu tú (chính xác là Francis and Rose Yuen Distinguished Service Professor) – danh hiệu cao nhất ở khoa Toán), và được coi là một động thái nhằm thúc đẩy nghiên cứu liên ngành trong vật lý của Đại học Chicago.  Chiều sâu và sự tinh tế trong nghiên cứu của giáo sư Đàm Thanh Sơn đã cho thấy mối quan hệ giữa những lĩnh vực vật lý tưởng chừng không liên quan với nhau, như vật lý hạt nhân và hố đen. Anh có mối quan tâm rộng, từ nguyên tử, vật chất ngưng tụ, tới vật lý hạt. Sinh ra ở Việt Nam, trước khi tới Đại học Chicago, giáo sư Đàm Thanh Sơn đã từng làm giáo sư ở khoa Vật lý và là nghiên cứu viên chính ở Viện Lý thuyết hạt nhân của Đại học Washington.   Giáo sư Đại học có thể coi là vị trí học giả cao nhất ở trường Đại học Chicago. Họ được chọn từ các viện nghiên cứu bên ngoài khi đã có tiếng tăm trên toàn thế giới và có khả năng ảnh hưởng rộng rãi. Đàm Thanh Sơn là người thứ 19 giữ chức Giáo sư Đại học trong lịch sử của trường và là thành viên thứ bảy trong số những người còn đang hoạt động tại trường.  Chủ nhiệm khoa Vật lý học của Đại học Chicago, Robert Fefferman tuyên bố: “Ngày hôm nay chúng tôi tự hào tuyên bố rằng giáo sư Sơn sẽ trở thành Giáo sư Đại học ở Đại học Chicago, giáo sư được bổ nhiệm ở khoa Vật lý của chúng ta cũng như ở hai viện nghiên cứu liên ngành có bề dày thành tích – Viện Enrico Fermi và Viện Jamse Franck. Ảnh hưởng dẫn dắt từ tri thức sâu rộng của anh sẽ đánh dấu bước khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong truyền thống vẻ vang của trường ta về nghiên cứu vật lý”.  Ngoài việc bổ nhiệm giáo sư Sơn và tạo một khởi đầu mới cho khoa Vật lý, Đại học Chicago cũng mở ra Trung tâm Tìm hiểu Vật lý (Center for Physical Inquiry). Trung tâm này được thiết kế để trở thành một nơi hoạt động cho các nhà vật lý lý thuyết, mang lại nguồn hỗ trợ đáng kể cho các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, sinh viên và các học giả. Hiệu trưởng Thomas F. Rosenbaum cho biết trung tâm có vai trò như một tổ chức có tính tự nhiên, nơi tập trung các nhà nghiên cứu lý thuyết về chung dưới cùng một tổ chức, lấy nền tảng là bề dày truyền thống hợp tác liên ngành trong khoa học mà Viện James Franck và Viện Enrico là đại diện tiêu biểu.   Anh Sơn cho biết những hợp tác kiểu như vậy là lý do tại sao anh chọn để đến với Đại học Chicago. “Đại học Chicago là một học viện với bề dày lịch sử về vật lý học. Tôi cảm thấy rất hãnh diện khi được làm việc ở nơi mà trước kia Enrico Fermi và Subrahmanyan Chandrasekhar từng làm việc. Về cá nhân tôi, hành trình sự nghiệp từ Ấn Độ tới châu Âu của giáo sư Chandrasekhar đã truyền cảm hứng cho tôi khi còn là một đứa trẻ ở Việt Nam, và những bài giảng sâu sắc của giáo sư Fermi đã ảnh hưởng lớn đến tôi từ trước khi tốt nghiệp ở Moscow. Tôi đã có 10 năm làm việc đầy hăng say ở Viện Lý thuyết hạt nhân của Đại học Washington, và giờ đây tôi đã sẵn sàng cho thử thách mới”.   Theo giáo sư Emil Martinec, giám đốc của Viện Enrico Fermi: “Giáo sư Sơn là một trong số ít những nhà vật lý học lý thuyết hàng đầu của thế hệ anh ấy, và trong số ít những nhân vật tinh hoa, có lẽ anh là người có ảnh hưởng rộng nhất trong nghiên cứu”.  Khả năng làm việc liên ngành   Giáo sư Đàm Thanh Sơn tạo được uy tín quốc tế do ứng dụng của anh trên những ý tưởng lý thuyết dây (string theory) đã giúp con người thấu hiểu vật chất hạt nhân dưới điều kiện nhiệt độ và mật độ cao – những điều kiện được tạo ra trong Máy gia tốc các ion nặng tương đối tính tại Trung tâm thí nghiệm quốc gia Brookhaven.  “Sơn đã mượn những ý tưởng được phát triển trong lý thuyết dây nhằm cố gắng lý giải lý thuyết về lỗ đen, và anh đã nhận ra rằng những ý tưởng đó có thể được dùng để giải thích một số hiện tượng được thấy ở máy gia tốc Brookhaven, và điều đó đã mang lại một số tiến bộ quan trọng trong những lĩnh vực này”, giáo sư Martinec nói.  Đàm Thanh Sơn là người có khả năng hiếm hoi trong việc khám phá vật lý với cái nhìn toàn thể, vượt qua ranh giới chuyên ngành hẹp, theo đánh giá của giáo sư Pauk Wiegmann, Giáo sư Ưu tú Robert W. Reneker (tên một danh hiệu phong tặng của Đại học Chicago) khoa Vật lý và là giám đốc của Viện James Franck.  “Nhà vật lý học thường bị chuyên môn hóa sau khi được đào tạo,” Wiegmann nói. “Một số được đào tạo trở thành nhà vật lý học về vật chất ngưng tụ, một số chuyên về vật lý học năng lượng cao, nhưng một số nhà khoa học xuất chúng có thể nhận ra những điểm tương đồng giữa các ngành học thuật khác nhau.”   Những nhà khoa học như vậy có thể chuyển từ chuyên ngành này sang chuyên ngành khác trong những giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp của họ, hoặc thậm chí có thể cùng một lúc làm việc ở các nhóm nghiên cứu khác nhau, giải quyết những vấn đề khác biệt bằng cùng một phương pháp. Có rất nhiều nhà vật lý học đã nhận ra tính hiệu quả của phương pháp này, nhưng rất ít người thực sự có khả năng dịch chuyển giữa các chuyên ngành, và Sơn là một trong số ít đó.   Đàm Thanh Sơn có sự am tường một cách khác thường về những vấn đề đa dạng khác nhau trong vật lý học cũng như mối liên hệ giữa chúng với nhau, theo nhận định của giáo sư Edward Blucher, giáo sư và là chủ nhiệm khoa Vật lý học.   “Những công trình của Sơn đã tạo niềm hứng khởi tới nhiều người trong khoa”, Blucher nói. “Chúng tôi đã có một định hướng rõ ràng về mục tiêu mới đặt ra phía trước cho khoa Vật lý và anh ấy là người xuất sắc nhất để có thể giúp đem lại một sự khởi đầu mạnh mẽ. Anh ấy đã có những công trình tuyệt vời, nhưng chúng ta thực sự hào hứng vì có anh ấy ở đây với kỳ vọng rằng những công trình xuất sắc nhất của anh vẫn đang ở tương lai”.   Đàm Thanh Sơn nhận bằng Thạc sĩ Vật lý tại Đại học Tổng hợp Moscow va vào năm 1991, nhận bằng Tiến sĩ Vật lý tại Viện Nghiên cứu hạt nhân của Moscow vào năm 1995. Sau đó, anh làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Đại học Washington và Viện Công nghệ Massachusetts.  Anh trở thành nghiên cứu viên của Trung tâm thí nghiệm quốc gia Brookhaven vào năm 1999, đây cũng là năm anh bắt đầu giảng dạy tại Đại học Columbia – cho tới tận năm 2002.  Là thành viên Quỹ Nghiên cứu Alfred P. Sloan và là học giả của Hội Vật lý Mỹ, Đàm Thanh Sơn cũng từng nhận giải thưởng cho Nghiên cứu viên trẻ xuất sắc của Cơ quan Năng lượng Mỹ.  Đàm Thanh Sơn là Giáo sư Đại học thứ hai được bổ nhiệm trong năm nay, và là người thứ tư trong vòng 2 năm gần đây. Ba người mới được phong Giáo sư Đại học gồm: Kenneth Pomeranz – Giáo sư Đại học môn Lịch sử được bổ nhiệm ngày 1/7 năm nay. Haun Saussy, Giáo sư Đại học môn Văn học so sánh và Augusta Read Thomas, Giáo sư Đại học về Lập trình, được phong năm 2011.  Thu Quỳnh dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người không lặp lại của Lịch sử      Khó có thể nói hết trong một bài viết ngắn tất cả những gì mà Giáo sư Lê Văn Thiêm đã làm vì sự phát triển một nền Khoa học Việt Nam.  Ông thuộc vào số những con người không lặp lại của Lịch sử.    Lê Văn Thiêm sinh ngày 29/3/1918 tại làng Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh, một làng cổ, thành lập cách đây khoảng 600 năm trên vùng đất trũng, quanh năm bị đe dọa vì nạn hạn hán, lụt lội. Dân Trung Lễ thuần nông, nghèo và  hiếu học. Từ thế kỷ 15 đã có ông Trần Tước đỗ Tiến sĩ (Khoa Bính Thìn, 1496). Cụ thân sinh ra Lê Văn Thiêm là ông Lê Văn Nhiễu (1869-1929), nhiều nơi viết là Nhiệu (theo cách phát âm của người Hà Tĩnh), đậu cử nhân Khoa Canh Tý (1900). Tuy đỗ đạt nhưng cụ không ra làm quan, mà ở lại quê nhà dạy học, bốc thuốc, phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái. Cụ sinh được 13 người con, 8 người con trai, 5 người con gái. Người anh cả của Lê Văn Thiêm là Lê Văn Kỷ đậu Tiến sĩ năm Kỷ Mùi (1919) trong khoa thi cuối cùng của Triều Nguyễn. Vậy là cụ Cử Nhiễu có một người con đậu Tiến sĩ cuối cùng của nền Hán học, và một người con đậu Tiến sĩ đầu tiên của nền Tây học nước nhà! Anh thứ hai của Lê Văn Thiêm, ông Lê Văn Luân, là Bí thư Huyện ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Huyện Đức Thọ, bị giặc Pháp xử tử hình năm 1931. Trong số 5 người chị gái của Lê Văn Thiêm có hai người tham gia phong trào cách mạng 1930-1931, và được công nhận là Lão thành cách mạng.  Lê Văn Thiêm là con út trong nhà, nên khi còn bé, được đặt tên là “Thêm”, tức là đứa con “Trời cho thêm”. Khi còn nhỏ, cậu bé Thêm học ở quê nhà với chú ruột, Giải nguyên Lê Văn Huân. Cậu nổi tiếng học giỏi, nhưng cũng nổi tiếng là “khờ”. Lớn lên, Lê Văn Thiêm theo anh cả – ông Nghè Kỷ, đi học ở Huế, rồi ở Quy Nhơn.  Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, anh thanh niên Lê Văn Thiêm sớm nuôi trong mình hoài bão học tập để phụng sự Tổ quốc. Năm 1941, Lê Văn Thiêm thi đỗ vào trường Ecole Normale Supérieure ở Phố d’Ulm của Paris. Đó là trường đại học danh giá nhất nước Pháp, nơi đào tạo những nhà khoa học nổi tiếng nhất. Tốt nghiệp Ecole Normale, Lê Văn Thiêm tiếp tục làm luận án Tiến sĩ tại Thụy Sĩ, rồi luận án Tiến sĩ quốc gia tại Pháp. Ông đã từng học với những người thầy giỏi nhất thời đó, như Nevanlinna, Teichmuler, Valiron, và nghiên cứu một lĩnh vực thời sự nhất thời bấy giờ: lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình. Ông bảo vệ luận án Tiến sĩ quốc gia năm 1949 với những kết quả mà ngày nay đã trở thành kinh điển.  Nhờ những kết quả xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, năm 1949, Lê Văn Thiêm nhận được một ghế giáo sư tại trường Đại học Zurich, Thụy Sĩ. Ông là người Việt Nam đầu tiên nhận chức giáo sư ở một đại học danh tiếng của Châu Âu.  Một chỗ làm việc tuyệt vời, một hướng nghiên cứu thời sự, những kết quả đầu tay đã trở thành nổi tiếng, tất cả đều mở ra trước mắt nhà toán học trẻ Lê Văn Thiêm một con đường thênh thang để đi đến những đỉnh cao của khoa học.   Nhưng mục đích của đời ông trước hết là đóng góp sức mình cho cuộc đấu tranh giành tự do của Tổ quốc. Vì thế, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuối năm 1949, ông đã rời bỏ con đường công danh ở Châu Âu để bí mật trở về nước tham gia kháng chiến. Từ Châu Âu, ông về Băng Cốc, rồi từ đó qua Campuchia để về Nam Bộ.  Ở Nam Bộ, Giáo sư Lê Văn Thiêm gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và công tác tại Sở Giáo dục. Ông đã góp phần đào tạo nhiều giáo viên cho vùng kháng chiến. Ít lâu sau, ông lên đường ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới: lãnh đạo trung tâm đại học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây thật là một nhiệm vụ quan trọng và phù hợp với khả năng, ý nguyện của ông. Sau 6 tháng gian nan đi bộ từ Nam Bộ lên chiến khu Việt Bắc, Giáo sư Lê Văn Thiêm được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường Sư phạm cao cấp và Trường Khoa học Cơ bản. Ông đã làm hết sức mình trên cương vị đó, và trở thành người đặt nền móng cho giáo dục đại học của nước Việt Nam mới, người thầy của hầu hết những nhà khoa học Việt Nam được đào tạo trong hơn mươi, mười lăm năm đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám.  Từ sau khi hòa bình lập lại, Giáo sư Lê Văn Thiêm được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách: Giám đốc Trường Đại học Sư phạm Khoa học Hà Nội (1954-1956), Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1957-1970), Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học (1970-1980). Ông là Đại biểu quốc hội các Khóa II và III. Ông cũng là Đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đupna, Liên Xô (từ 1956 đến 1980), Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam, Tổng biên tập đầu tiên của hai tờ báo toán học của Việt Nam là Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics.  Đảng và Nhà nước đánh giá cao công lao của Giáo sư Lê Văn Thiêm: ông được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Độc lập Hạng Nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.  Xây dựng nền Toán học Việt Nam  Với những công trình khoa học xuất sắc, Lê Văn Thiêm là người viết trang đầu tiên của lịch sử toán học Việt Nam hiện đại . Ông cũng là một trong những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng toán học Việt Nam. Uy tín của ông đã từng là nguyên nhân khiến nhiều thanh niên tài năng lên Chiến khu Việt Bắc để nghiên cứu và giảng dạy toán học: Hoàng Tụy, Nguyễn Cảnh Toàn…Và không chỉ lôi cuốn, khuyến khích họ bằng tiếng tăm của mình, Giáo sư Lê Văn Thiêm đã dồn tâm sức để đào tạo lớp thanh niên đầy nhiệt huyết của những ngày đầu cách mạng. “Vốn liếng” của ông khi đó thật ít ỏi, đó chỉ là một ít sách mà ông và một số giáo sư khác đã cố gắng mang theo mình suốt chặng đường từ châu Âu đến chiến khu. Ông luôn khuyến khích những tài năng trẻ đi sâu vào nghiên cứu khoa học, và cố gắng tạo cho họ những điều kiện tốt nhất có thể.  Ngay cả sau khi hoà bình lập lại, các trường đại học ở Việt Nam hầu như chưa có giáo trình đại học về toán bằng tiếng Việt. Vậy mà một trong những quyết tâm lớn của Nhà nước Việt Nam mới là giảng dạy tiếng Việt ở bậc đại học. Lê Văn Thiêm đã dịch và viết các giáo trình, từ Hàm biến phức cho đến Xác suất thống kê. Đến tận năm 1964, chúng tôi vẫn được Thư viện cho mượn các giáo trình do ông dịch, đánh máy bằng tiếng Việt không dấu: có lẽ do thói quen khi còn ở Pháp, hoặc là để tiết kiệm thời gian khi viết, tiếng Việt của Giáo sư Lê Văn Thiêm thường không có dấu!  Nhận thức rõ tầm quan trọng của Toán học trong việc xây dựng nền khoa học nước nhà, Giáo sư Lê Văn Thiêm cùng với các Giáo sư Tạ Quang Bửu, Hoàng Tụy đã vạch một chiến lược lâu dài phát triển Toán học Việt Nam. Sự ra đời của Phòng Nghiên cứu Toán năm 1962 (trực thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước) là một cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng nền toán học Việt Nam.  Năm 1969, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định thành lập Viện Toán học thuộc Ủy ban khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Năm 1970, Giáo sư Lê Văn Thiêm, lúc đó đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được chuyển về giữ chức vụ Phó Viện trưởng, Phụ trách Viện Toán học. Từ lúc đó, Viện Toán học chính thức đi vào hoạt động.  Với sự lãnh đạo của Giáo sư Lê Văn Thiêm, ngay từ khi thành lập, Phòng Nghiên cứu Toán, và sau này là Viện Toán học đã chú trọng phát triển toàn diện: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và đào tạo. Những sinh viên giỏi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội và các đại học nước ngoài được chính Giáo sư Lê Văn Thiêm tuyển chọn về Viện Toán học, và được cử đi tiếp tục nghiên cứu, học tập ở nước ngoài.. Chính nhờ chiến lược đào tạo cơ bản đó của Giáo sư Lê Văn Thiêm mà Viện toán học, từ chỗ chỉ có hơn 20 cán bộ năm 1970, đến nay đã trở thành một Viện nghiên cứu hàng đầu cả nước với 100 cán bộ, trong đó có 19 Giáo sư và 22 Phó giáo sư, 28 Tiến sĩ khoa học, 38 Tiến sĩ,  đã có 7 Tiến sĩ khoa học, 119 Tiến sĩ  và 200 Thạc sĩ được đào tạo tại Viện.  Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Giáo sư Lê Văn Thiêm vào công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giáo sư đã lập nên Phòng Toán học ứng dụng, với nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề gần với các ứng dụng thực tiễn, đặc biệt là các vấn đề đặt ra tại Miền Nam như thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long, dầu khí.  Giáo sư Lê Văn Thiêm, cùng với Giáo sư Hoàng Tụy, là những người  đầu tiên gây dựng Khoa Toán của Trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Ông luôn kiên trì phương châm giữ vững chất lượng đào tạo, ngay cả trong những năm chiến tranh, khi nhà trường phải sơ tán vào vùng núi Việt Bắc. Ông cũng đã phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh gay go trong nội bộ Khoa Toán và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trong những năm 60 để giữ vững chiến lược đúng đắn đó. Nhờ thế, Khoa Toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) đã đào tạo nên nhiều nhà toán học hàng đầu trong cả nước.  Giáo sư Lê Văn Thiêm cũng là Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam. Với uy tín, tài năng và đức độ của mình, Giáo sư là người lãnh đạo, cũng đồng thời là hạt nhân gắn kết cộng đồng toán học Việt Nam.  Suốt đời hết lòng vì thế hệ trẻ, Giáo sư Lê Văn Thiêm là một trong những người sáng lập tờ báo Toán học và Tuổi trẻ, và trực tiếp viết bài cho báo ngay từ những số đầu tiên. Ông cũng trực tiếp ra đề thi chọn học sinh giỏi toàn miền Bắc những năm 1963-1964. Ông không nề hà việc gì, dù to dù nhỏ, miễn là có lợi cho việc dìu dắt thế hệ trẻ. Nhiều học sinh giỏi gặp khó khăn khi xét tuyển vào đại học do gia đình, họ hàng bị một số định kiến về “lý lịch” đã tìm đến ông, và được giúp đỡ tận tình. Nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà toán học giỏi, có nhiều đóng góp cho đất nước.  Ngay khi cả nước đang trong chiến tranh, máy bay Mỹ bắn phá dữ dội miền Bắc, Giáo sư Lê Văn Thiêm là người đã đứng ra sáng lập tờ báo Toán học và Vật lý bằng tiếng nước ngoài đầu tiên của Việt Nam: tờ Acta Scientiarum Vietnamicarum (Sectio Mathematicarum et Physicarum). Phần toán học của tờ báo đó ngày nay đã trở thành tờ Acta Mathematica Vietnamica,  tờ báo có uy tín nhất về toán của Việt Nam, có mặt ở thư viện của nhiều trường đại học lớn trên thế giới. Việc cho ra đời một tờ báo nghiên cứu toán học (bằng tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức) trong chiến tranh là điều hiếm có trên thế giới. Nhiều nhà khoa học nước ngoài đã tỏ ý ngạc nhiên và khâm phục khi thấy Việt Nam, một đất nước đang phải đương đầu với cuộc chiến tranh tàn khốc nhất ở cả hai miền, lại nghĩ đến việc ra một tờ tạp chí nghiên cứu khoa học bằng tiếng nước ngoài. Việc làm đó chứng tỏ tầm nhìn xa của các nhà lãnh đạo khoa học của Việt Nam, và cả sự tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng.  Sự phát triển của Toán học Việt Nam, và của khoa học cơ bản Việt Nam nói chung từ sau Cách mạng Tháng Tám mang đậm dấu ấn của Giáo sư Lê Văn Thiêm.        ————-  Chú thích ảnh:  Anh4: Giáo sư Lê Văn Thiêm, Thuỵ Sĩ, 1943  Anh5:Giáo sư Lê Văn Thiêm (người đứng giữa) ở Nam Bộ, 1949  Anh6: Giáo sư Lê Văn Thiêm, 1950     Những đóng góp chính về khoa học của GS Lê Văn Thiêm  *Các công trình về lý thuyết Phân phối giá trị các hàm phân hình.  Lý thuyết Phân phối giá trị các hàm phân hình được xem là một trong những lý thuyết đẹp nhất của Giải tích toán học Thế kỷ 20. (…) Công trình về bài toán ngược của lý thuyết Nevanlinna đã đặt Lê Văn Thiêm vào hàng ngũ những tác gia kinh điển của lý thuyết này. Ngay khi công trình ra đời, người giới thiệu nó trên tờ American Mathematical Reviews chính là Ahlfors, người nhận Giải thưởng Fields năm 1936. Ahlfors cũng giới thiệu một số công trình tiếp theo của Lê Văn Thiêm trên tạp chí này. Cho đến tận ngày hôm nay, hầu như cuốn sách nào về Lý thuyết hàm phân hình, khi nói đến lý thuyết Nevanlinna đều nhắc đến các công trình đầu tiên của Lê Văn Thiêm. Không phải nhà khoa học nào cũng có cái vinh dự được nhắc đến kết quả của mình 60 năm sau! Có thể tin rằng, các công trình đó của Lê Văn Thiêm sẽ còn được nhớ đến nhiều năm, như là một trong những cột mốc của lý thuyết các hàm phân hình.  Bài báo Beitrag zum Typenproblem der Riemannschen Flachen (Về vấn đề phân loại diện Riemann) của Lê Văn Thiêm đăng trên tờ Commentarii mathematici Helvertici năm 1947 chính là công trình toán học đầu tiên của người Việt Nam công bố trên tạp chí quốc tế. Có thể xem năm 1947 là năm mở đầu cho Lịch sử toán học Việt Nam hiện đại, và thật đáng tự hào khi Toán học Việt Nam tham gia với toán học thế giới bằng một “công trình đầu tay” có ý nghĩa lịch sử!  * Các công trình về toán học ứng dụng  Không chỉ là một chuyên gia nổi tiếng về lý thuyết hàm phân hình và diện Riemann, những vấn đề của toán học lý thuyết, Giáo sư Lê Văn Thiêm còn quan tâm chuyển sang nghiên cứu và lãnh đạo các nhóm nghiên cứu về toán học ứng dụng phục vụ thực tiễn sản xuất và chiến đấu. Điều đáng ngạc nhiên là trong số những công trình đầu tiên của ông về toán ứng dụng, có công trình trở thành kinh điển trong lĩnh vực này: lời giải tường minh  của bài toán thấm qua hai lớp đất.  Bài toán thấm là vấn đề có ý nghiã thực tiễn quan trọng, xuất hiện khi tính toán sự bền vững của các đê, đập nước, trữ lượng dầu trong các túi dầu, vấn đề rửa mặn các ruộng vùng ven biển…  Trong nhiều bài toán thấm, chẳng hạn khi xét nước thấm qua một con đê dài, ta đi đến mô hình bài toán thấm phẳng (tức là không  phụ thuộc một chiều nào đó). Với một số giả thiết chấp nhận được, việc mô hình hoá toán học đưa bài toán thấm qua một môi trường đồng chất về việc xây dựng một hàm chỉnh hình thực hiện ánh xạ bảo giác miền thấm lên nửa mặt phẳng. Đó là việc rất khó khăn về mặt toán học, vì miền thấm thường hết sức phức tạp. Tuy vậy, ngay trong trường hợp đó, ta đã phải xét một mô hình khá xa với thực tiễn: môi trường mà nứơc thấm qua là “đồng chất”, tức là chỉ có một lớp đất với cùng một hệ số thấm. Trong thực tiễn, thường có nhiều lớp với hệ số thấm khác nhau nằm dưới một công trình thuỷ lợi: lớp đất sét, lớp đất cát… Đối với trường hợp miền thấm không đồng chất, cho đến trước công trình của Lê Văn Thiêm, người ta chỉ mới có các phương pháp giải gần đúng. Trong công trình Sur un problème d’infiltratione à  travers un sol à  deux couches. (Về bài toán thấm qua hai lớp đất) đăng trên tạp chí  Acta Sci.Vietnam. 1, 1964, pp. 3-9, Lê Văn Thiêm đã dùng Nguyên lý đối xứng trong giải tích phức để xây dựng được nghiệm tường minh cho bài toán thấm qua hai lớp đất với hệ số thấm  khác nhau. Đây là công trình đầu tiên trong lĩnh vực lý thuyết nước thấm cho phép xây dựng nghiệm giải tích của bài toán thấm không đồng chất. Điều đó đã được khẳng định trong cuốn sách  Lý thuyết chuyển động của nước ngầm của Palubarinova-Kochina xuất bản ở Matxcơva năm 1977.      Hà Huy Khoái      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người khổng lồ của khoa học Xô viết      Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô-Mstislav Keldysh không chỉ là nhà lí thuyết chính của ngành vũ trụ Xô viết, mà còn là nhà toán học và cơ học lỗi lạc, người đảm bảo toán học cho chế tạo bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô, tác giả một trong hai dòng tên lửa xuyên lục địa-tên lửa có cánh, nhà&#160; tổ chức khoa học lỗi lạc.     Nhà toán học và cơ học lỗi lạc  Mstislav Keldysh sinh ngày 10 tháng 2 năm 1911 tại Riga, tỉnh Liflianskaja, nước Nga trong một gia đình dòng dõi tướng lĩnh và giàu truyền thống khoa học. Ông nội, ông ngoại đều làm đến cấp tướng thời Sa hoàng. Bố ông –Mikhain , giáo sư, thiếu tướng, chuyên gia hàng đầu của ngành xây dựng Nga. Chị gái -viện sĩ Ludmila Keldysh và chồng -viện sĩ Pyotr Novikov là những nhà toán học Xô viết nổi tiếng, con trai họ- Sergei Novikov- giải thưởng Field năm 1970.  Hai mươi tuổi, tốt nghiệp đại học tổng hợp Lomonosov chuyên ngành giải tích hàm và lí thuyết tập hợp, nhưng Keldysh đã không gia nhập trường phái toán lí thuyết rất nổi tiếng của Luzin mà tình nguyện về làm việc tại Viện khí-thủy động lực học Trung ương thuộc Bộ Công nghiệp hàng không (SAGI), nơi đang có một đội ngũ các nhà toán học và cơ học tài năng làm việc để giải quyết các bài toán được đặt ra bởi sự phát triển vũ bão của ngành hàng không khi đó. Quyết định này đã mở đầu cho sự nghiệp khoa học đồ sộ sau này của ông.   Tại SAGI, chỉ sau một thời gian ngắn Keldysh đã lần lượt công bố các công trình xuất sắc về lí thuyết va chạm vật thể với chất lỏng, khái quát công thức Dzukovski, chuyển động của vật thể dưới bề mặt chất lỏng, sự dao động của các thiết bị bay v.v. Từ những công trình đó không chỉ cho phép giải quyết thành công các vấn đề kỹ thuật cấp bách mà còn từ đó xây dựng nên các hướng toán học mới, chẳng hạn từ việc giải quyết hiện tượng rung của máy bay ông đã xây dựng nên lí thuyết các toán tử không tự liên hợp.   Keldysh đã có những đóng góp hết sức cơ bản vào ba lĩnh vực toán học: lí thuyết hàm biến số phức [xây dựng lí thuyết ánh xạ bảo giác, lí thuyết xấp xỉ hàm biến phức-ở đây đã có những định lí kinh điển mang tên ông], giải tích hàm [xây dựng lí thuyết phổ các toán từ không tự liên hợp], phương trình vi tích phân [lí thuyết các phương trình elliptic và vi tích phân]. Keldysh còn đạt nhiều  thành tựu đặc sắc trong các hướng toán học riêng lẻ như phát triển lí thuyết ổn định nghiệm của bài toán Dirichlet, phát triển các định lí Taubert, một loại định lí có rất nhiều ứng dụng mang tên nhà toán học Đức.  Keldysh còn là tác giả của phương pháp tính toán cho dự án bom nguyên tử và nhiều dự án nghiên cứu vũ trụ sau này, đồng thời là người đặt hàng lớn nhất của ngành chế tạo máy tính của Liên Xô nên ông được coi là một trong những người sáng lập hướng toán học mới của Liên Xô-toán học tính toán.  Cống hiến của Keldysh trong cơ học và toán học đã nhanh chóng được thừa nhận: Với loạt công trình giải quyết hiện tượng rung của máy bay ông đã được trao giải thưởng Stalin; năm 1946 ở tuổi 35  ông đã được bầu là viện sĩ chính thức của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.    Chương trình  phòng  thủ  “Lá chắn hạt nhân-tên lửa”  Cục diện đối đầu Xô-Mỹ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, sự kiện Mỹ sở hữu vũ khí hạt nhân và ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản năm 1945 buộc các nhà lãnh đạo Liên Xô coi  nhiệm vụ xây dựng hệ thống phòng thủ “Lá chắn hạt nhân-tên lửa” là nhiệm vụ quốc gia có tầm quan trọng hàng đầu.           Vào thời kì trước chiến tranh các nước có công nghiệp sản  xuất máy bay đều gặp phải hai hiện tượng đặc biệt nguy hiểm: hiện tượng  rung cánh và hiện tượng dao động bánh trượt máy bay. Hai hiện tượng này  không chỉ là nguyên nhân máy bay rơi thường xuyên và mà còn là cản trở  chính của ngành công nghiệp máy bay tốc độ cao. Lúc đó trên thế giới  người ta đã tiến hành các  thí nghiệm trong các hầm khí động học và  trong điều kiện tự nhiên nhưng chỉ có mô hình toán học do Keldysh xây  dựng, các phương pháp toán học và lí thuyết của ông mới cho phép phát  hiện căn nguyên của các hiện tượng đó và tìm ra các giải pháp kĩ thuật  để khắc phục chúng. Công trình này của Keldysh đã đóng góp cực kì quan  trọng vào công nghiệp hàng không và quốc phòng của Liên Xô bởi vì nhờ  đó, khác với Đức, công nghiệp máy bay của Liên Xô trong Chiến tranh Thế  giới  thứ hai đã tránh được các mối nguy hiểm này.        Tháng 3/1946 Chính phủ Liên Xô thông qua dự án sản xuất bom nguyên tử, bổ nhiệm viện sĩ Kurchatov làm nhà lãnh đạo dự án đó và tháng sáu năm đó -chương trình “Vũ khí tên lửa”, bổ nhiệm Sergei Korolov làm chủ tịch Hội đồng các tổng công trình sư kiêm tổng công trình sư tên lửa đạn đạo. Kurchatov và nhiều nhà khoa học, kĩ sư xuất sắc và các tổ chức nghiên cứu được huy động vào thực hiện các nhiệm vụ này.   Viện sĩ Vinogradov –nguyên Viện trưởng Viện toán học Steklov nhớ lại “Vào một ngày năm 1946, Hariton, nhà vật lí lỗi lạc, một trong những nhà lãnh đạo dự án bom nguyên tử đến gặp tôi đề nghị giới thiệu một nhà toán học có khả năng giải quyết những vấn đề toán học cho dự án này. Tôi nói với Hariton “Keldysh, người giỏi hơn bất kì ai trong mọi vấn đề ứng dụng toán học”.   Trong việc chế tạo bom nguyên tử, nhiệm vụ phức tạp nhất mà toán học Xô viết phải đối mặt lúc đó là xây dựng mô hình toán học để phát hiện các hiện tượng xảy ra trong các phản ứng hạt nhân và thực hiện các tính toán. Nhờ làm chủ các công cụ toán học và khả năng xâm nhập nhanh chóng vào các vấn đề của vật lí hạt nhân  Keldysh đã cùng các nhà vật lí trong dự án đã xây dựng thành công mô hình, vấn đề còn lại là từ mô hình tiến hành các tính toán. Nhưng khối lượng tính toán khổng lồ tới mức các phương tiện tính toán khi đó không đủ khả năng đáp ứng. Keldysh đã thành lập ban tính toán phục vụ mục tiêu này với thành phần gồm các nhà toán học thuộc phòng Toán học ứng dụng của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (phòng này do Keldysh phụ trách, được thành lập theo chỉ thị của chính Stalin, có nhiệm vụ đảm bảo tính toán cho các vấn đề năng lương nguyên tử và kĩ thuật tên lửa- nó được giữ bí mật trong suốt thời kì chiến tranh lạnh. Năm 1953 trên cơ sở  của  phòng  này đã  thành  lập  Viện  toán  ứng  dụng). Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu sáng tạo ra các phương pháp tính toán mới trong điều kiện phương tiện hạn chế. Vai trò của Keldysh  không chỉ ở tổ chức, ông còn là tác giả chính của  phương pháp tính toán được sử dụng để giải quyết thành công nhiệm vụ đặt ra. Về thực chất phương pháp tính toán được ông sáng tạo chính là phương  pháp tính toán phân bố được sử dụng rộng rãi ngày nay.   Năm 1949 Liên Xô thử thành công bom nguyên tử và năm 1953 thử thành công bom nhiệt hạch (trước cả Mỹ). Trong cả hai thành tựu này có cống hiến to lớn của Keldysh và vì những cống hiến to lớn đó năm 1956 ông được phong danh hiệu Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa lần thứ nhất.           Trong những nguyên nhân của kì tích  khoa  học Xô viết  trước hết phải nói đến tài năng và niềm say mê khoa học của các nhà khoa  học Xô viết, cộng hưởng với lòng yêu nước và sự dấn thân được nuôi  dưỡng trong  một thời kì lịch sử đặc biệt.        Cũng trong năm 1946, trong khuôn khổ triển khai chương trình “vũ khí tên lửa” Keldysh được bổ nhiệm làm giám đốc Viện hàng không phản lực Trung ương- chuyên nghiên cứu chế tạo các loại động cơ phản lực. Sau khi tiếp nhận nhiệm vụ mới  Keldysh đã cùng các chuyên gia về kĩ thuật tên lửa tiến hành phân tích và đi đến kết luận:  kĩ thuật tên lửa cho đến năm 1945 (không chỉ ở Nga, kể cả ở Đức và Mỹ) đã lạc hậu, mục tiêu chế tạo tên lửa xuyên lục địa đòi hỏi những nghiên cứu hoàn toàn mới về nguyên tắc trên tất cả các phương diện: cấu trúc, động cơ, nhiên liệu, hệ thống điều khiển, bệ phóng. Trong triển khai những nội dung mới này Keldysh là tác giả của nhiều ý tưởng mới như kết hợp động cơ phản lực sử dụng nhiên liệu lỏng với động cơ phản lực lên thẳng ứng dụng vào kĩ thuật tên lửa, buồng đốt, hệ thống tiếp nhiên liệu hình cầu, bãi thử nghiệm kiểu mới. Năm 1953 trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, nhận thấy những điều kiện cơ bản cho chế tạo loại tên lửa có cánh đã hình thành, Keldysh đã đề xuất dự án chế tạo tên lửa này và năm 1954 đã được Chính phủ Liên Xô phê duyệt. Đầu năm 1957 đã tiến hành hàng loạt cuộc phóng thử và sau các thử nghiệm điều chỉnh đến năm 1960 hai cuộc phóng với tầm xa 6500km đã thành công. Cùng thời gian này Mỹ cũng đã thử nghiệm tên lửa có cánh song thất bại.  Nhà lí thuyết chính của ngành  vũ trụ Xô viết  Với việc phóng vệ tinh nhân tạo Trái đất đầu tiên, thực hiện chuyến bay sớm nhất của con người vào vũ trụ, đưa máy tự hành “Lunokhod” lên khảo sát  bề mặt Mặt trăng, các chuyến bay tới sao Hỏa và sao Kim, thực hiện đi bộ và lắp ghép các trạm vũ trụ trong không trung, đã đưa Liên Xô lên vị trí hàng đầu và đặt nền móng cho công cuộc chinh phục vũ trụ, một trong những thành tựu vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX. Những thành tựu này trước hết là công lao của các nhà khoa học, các công trình sư, kĩ sư Xô viết dưới sự lãnh đạo của hai con người lỗi lạc: Sergei Korolov-tổng công trình sư chính và Mstislav  Keldysh –nhà lí thuyết chính.   Keldysh với vai trò là nhà tư tưởng và nhà lí thuyết chính ngay từ đầu đã đảm đương nhiệm vụ tổ chức xây dựng luận cứ cho các chương trình chinh phục vũ trụ ngắn hạn và dài hạn, bắt đầu từ chương trình phóng vệ tinh nhân tạo quanh Trái đất cho đến các chương trình đưa con người đầu tiên vào vũ trụ, thám hiểm Mặt trăng và các hành tinh của hệ Mặt trời. Đặc biệt báo cáo của ông và Corolov gửi Chính phủ Liên Xô năm 1959 “ Về triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và thiết kế -thử nghiệm trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ” đã trở thành tài liệu lịch sử, trong đó đã xác định mục tiêu, những khả năng phát triển, các nhiệm vụ khoa học kĩ thuật và khả năng ứng dụng  những thành tựu chinh phục vũ trụ vào nền kinh tế quốc dân.            Nhà khoa học kiệt xuất, giải Nobel vật lí  Piotr Kapitsa  cho rằng đã không công bằng khi không trao giải Nobel cho các nhà lãnh  đạo chủ chốt của chương trình thực hiện chuyến bay đầu tiên của con  người vào vũ trụ.         Kiến thức khoa học rộng lớn và sâu sắc cùng trực giác thiên tài đã giúp ông lựa chọn phương án đúng trong nhiều phương án, đề xuất nhiều ý tưởng và phương pháp, trong đó có các vấn đề toán học phức tạp liên quan đến việc xây dựng và hoàn thiện lí thuyết, tính toán: thiết kế và chế tạo các con tàu vũ trụ, chế tạo các loại tên nhiều tầng để đưa các con tàu vũ trụ lên quĩ đạo, các vệ tinh nhân tạo làm trạm trung chuyển cho những chuyến bay tới các hành tinh xa, các phương pháp đổ bộ tàu vũ trụ xuống các hành tinh cũng như hạ cánh xuống Trái đất an toàn, các tổ hợp phóng, các tổ hợp vô tuyến mặt đất đảm bảo việc xác định quĩ đạo, hệ thống liên lạc tin cậy và điều khiển các chuyến bay, cơ sở sản xuất-thử nghiệm thiết bị, giải quyết vấn đề không trọng lượng và nhiều vấn đề khác.   Năm 1961, sau chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ (12/4/1961) thành công,  Keldysh đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa lần thứ hai. Trước đó, năm 1960, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban liên ngành về nghiên cứu vũ trụ và ông đã lãnh đạo ngành vũ trụ Liên Xô cho đến khi qua đời.   Nhà tổ chức khoa học lỗi lạc  Keldysh đã đóng vai trò vô cùng to lớn trong công cuộc chinh phục vũ trụ không chỉ với tư cách nhà khoa học, nhà lí thuyết chính mà còn là một nhà tổ chức lỗi lạc. Ông đã biết huy động mọi tiềm lực, tổ chức hợp tác hiệu quả giữa các cơ sở nghiên cứu và các tập thể khoa học, thành lập và lãnh đạo các nhóm khoa học. Theo viện sĩ Okhomski, người đã có nhiều năm làm việc cùng Keldysh, phần lớn các tập thể và nhân lực phục vụ cho nghiên cứu vũ trụ đều do Keldysh thành lập và lựa chọn, và sự lựa chọn này tỏ ra rất chính xác. Điều đó là nhờ khả năng hiểu biêt sâu sắc  các vấn đề khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực vũ trụ, khả năng đánh giá con người, uy tín cá nhân to lớn của ông và khả năng biết tổ chức công việc. Năm 1961 Keldysh trở thành chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.  Và trong giai đoạn 1961-1975, khi ông là chủ tịch, Viện hàn lâm khoa học đã thực sự trở thành bộ tham mưu của khoa học Xô viết; khoa học đã đạt nhiều thành tựu xuất sắc ở nhiều lĩnh vực, công cuộc chinh phục vũ trụ tiếp tục đạt được những thành tựu vĩ đại. Ông còn có công lớn trong việc chống lại hiện tượng ngụy khoa học và khôi phục lại vị trí xứng đáng cho các lĩnh vực sinh học, di truyền và điều khiển học. Năm 1971 ông lại được Chính phủ Liên Xô tặng danh hiệu Anh hùng Lao động XHCN lần thứ ba vì những  cống hiến to lớn trong phát triển nền  khoa  học kĩ thuật Xô viết.     Từ cuộc đời của Keldysh  Mstislav Keldysh đã đi vào lịch sử như một người khổng lồ của khoa học Xô viết và thế giới. Theo Nikita Moiseev-nhà toán học Xô viết lỗi lạc, chỉ riêng trong toán học, một loạt công trình xuất sắc về lí thuyết hàm biến phức và toán tử không tự liên hợp vào những năm ba mươi của thế kỷ trước, khi Keldysh chưa vượt quá tuổi ba mươi, đã đưa ông vào hàng ngũ “những nhà toán học “xuất sắc nhất” trong “đội tuyển thế giới” về toán. Tài năng của ông cũng hết sức đặc biệt, đó là khả năng giải quyết nhanh chóng các vấn đề khoa học kĩ thuật cụ thể đồng thời lại có tầm nhìn xa trông rộng, khả năng thấu hiểu và sáng tạo ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau,  ông là “cái máy chính hiệu sản xuất các ý tưởng” như lời đánh giá của các đồng nghiệp.  Cống hiến thực tiễn của  Keldysh đối với Nhà nước Xô viết và nhân loại là rất lớn. Ông đã cùng Kurchatov và Korolov [được mệnh danh là huyền thoại ba K của khoa học Xô viết] xây dựng và lãnh đạo thực hiện thành công hệ thống phòng thủ “Lá chắn  hạt nhân-tên lửa”, góp phần quyết định vào hình thành thế cân bằng chiến lược Xô-Mỹ và giữ gìn hòa bình thế giới. Ông là một trong những cá nhân chủ chốt mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ, biến ước mơ lâu đời của con người thành hiện thực.  M. Keldysh là hiện thân của lòng yêu nước và tinh thần dấn thân. Năm 1936 anh trai- Mikhail Keldysh-bị bắt và bị xử bắn. Bản thân Keldysh không ít lần bị những kẻ “mượn gió bẻ măng” tìm cách đuổi ra khỏi Đại học Lomonosov [ông đồng thời là GS đại học này]. Nếu là người bình thường hẳn đã suy sụp hoặc mang hận thù với chế độ và đất nước. Nhưng lòng yêu nước, yêu khoa học và sự thấu hiểu nguy cơ của đất nước trước họa phát xít đang đến gần đã giúp ông vượt qua tình riêng để cống hiến tài năng, sức lực to lớn cho Tổ quốc. Cả đời ông đã làm việc theo nhu cầu của đất nước, hi sinh cả nhu cầu sáng tạo cá nhân và cả tăm tiếng trong xã hội, ông đã sống một cuộc đời hết sức giản dị và gần như không có nghỉ ngơi (từ năm 1946, khi ông bắt đầu vào chương trình lá chắn hạt nhân tên lửa, tên tuổi ông đã biến mất khỏi các phương tiện truyền thông, từ năm 1961 xã hội chỉ biết đến ông với tư cách là vị chủ tịch Viện hàn lâm khoa học, thường được hiểu như một vị trí hành chính đơn thuần. Có thể vì thế người ta đã không đánh giá đúng cống hiến vô cùng to lớn của ông cho khoa học, đất nước và nhân loại). Keldysh được lãnh đạo Liên Xô hết sức tin tưởng và nể trọng. Khi ông bị bệnh tim nặng, Tổng bí thư ĐCS Liên Xô đã chỉ thị “không tiếc bất kì điều gì cho Keldysh” và Chính phủ Liên Xô đã mời DeBakey – chuyên gia phẫu thuật hàng đầu thế giới người Mỹ sang mổ cho ông [Năm 1996 DeBakey lại được mời làm cố vấn cho cuộc phẫu thuật tim cho Tổng thống Nga Elsin]. Vị bác sĩ huyền thoại này rất khâm phục tài năng và nhân cách của Keldysh, đã coi Keldysh là “bệnh nhân chính” trong số hơn 50.000 người ông đã phẫu thuật trong suốt 75 năm hành nghề của mình.  M. Keldysh mất năm 1978 thọ 67 tuổi. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn còn là một bí ẩn. Sau khi mất thi hài ông được an táng bên chân tường Điện Kremli, nơi an nghỉ các lãnh tụ và anh hùng của Nhà nước Xô viết. Tên ông được đặt cho một quảng trường ở Moscow, đường phố ở thành phố Dzukovski và Riga, Viện toán ứng dụng thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, trung tâm nghiên cứu tên lửa – vũ trụ, huy hiệu trên Mặt trăng, một hành tinh nhỏ (hành tinh 2188 Keldysh), nhiều giải thưởng và huân chương khoa học.        VỀ CÁI CHẾT CỦA KELDYSH   (Trích phỏng vấn V. N. Hodakov- chuyên gia tên lửa vũ trụ, nguyên thành viên Ủy ban quốc gia về tàu vũ trụ có người lái và các trạm quĩ đạo, nhân dịp 25 năm ngày mất của Keldysh).   Vladimir Nicolaevich, mọi người đều biết “động cơ” chính thúc đẩy sự phát triển ngành vũ trụ của đất nước là huyền thoại Korolov. Thế còn vai trò của Keldysh, có phải chỉ đơn thuần ở sự lãnh đạo hình thức, như ta thường nói, “phê chuẩn các tài liệu” do các nhà thiết kế tên lửa chuẩn bị?              Hoàn toàn không phải vậy. Mstislav Keldysh là một trong những nhân vật chủ chốt của ngành vũ trụ của đất nước, ông là cái máy chính hiệu sản xuất các ý tưởng. Ông sở hữu không chỉ tri thức bách khoa rộng lớn mà còn một trực giác khổng lồ. Chẳng hạn theo sáng kiến của Keldysh, trên thực tế đã thảo luận và triển khai nhiều hướng mới về nguyên tắc. Còn về ý kiến “phê chuẩn các tài liệu một cách hình thức”, đối với Keldysh không bao giờ được chấp nhận. Ông không bao giờ làm cái gì một cách “máy móc” cả, không dễ có được chữ kí của ông.   Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học có khi nào phải hành động trái với những nguyên tắc độc đoán của Đảng?              Keldysh có uy tín rất to lớn trong ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Liên Xô. Ông có thể cho phép mình không tán thành, nêu chính kiến của mình, bảo vệ lập trường quan trọng có tính nguyên tắc đối với công việc    Keldysh là người như thế nào trong công việc, trong đời sống? Ông có hay “mắng mỏ” cấp dưới không?              Ông là người rất giản dị, có thể nói hoàn toàn thờ ơ với những gì mà chúng ta gọi là đời sống sinh hoạt. Ông thật sự ăn rất ít, ngủ rất ít. Ông làm việc ở công sở đến tận 10-11 giờ đêm, gần 9 giờ sáng đã có mặt ở phòng làm việc. Những lần chúng tôi đi Baiconur để phóng tàu vũ, thư kí riêng luôn dặn chúng tôi nhớ chăm sóc ông vì thậm chí ông sẽ quên cả ăn. Tại nhà ăn công vụ ở đây người ta cung cấp nhiều thức ăn ngon nhưng ông chỉ ăn vài món đơn giản và mấy mẩu chocolate. Tôi nhớ khi ông đi công tác ở Ucraine, ban ngày ông làm việc với viện sĩ Paton, buổi tối đến Trung tâm liên lạc vũ trụ, tại đây có cuộc họp đến tận nửa đêm, sớm hôm sau ông trở lại Kiev tiếp tục làm việc tại Viện Hàn lâm khoa học Ucraine. Tôi thường thấy ông nhắm mắt lơ mơ tại các cuộc họp và sinh hoạt khoa học nhưng bất thình lình vào phút cuối đưa ra những câu hỏi cực kì chính xác về thực chất nội dung vấn đề. Ông luôn biết bắt nắm ngay tức thì bản chất và nhìn thấy các khía cạnh sâu xa mà các chuyên gia không nhìn thấy. Keldysh không bao giờ cao giọng nhưng các Bộ trưởng, các Bí thư Trung ương Đảng đều chăm chú lắng nghe ông nói. Còn “mắng mỏ cấp dưới” là điều không bao giờ  có vì đơn giản là ông rất dễ gần. Mang theo vấn đề đến gặp ông dễ hơn bất kì vị chủ tịch Viện Hàn lâm nào khác.                      Cái chết của Keldysh như thế nào? Về điều này có rất nhiều lời đồn, có phải ông tự vẫn?              Ở đây quả thật có rất nhiều điều chưa rõ. Đầu những năm 70 sức khỏe của Keldysh xấu đi rất nhanh, xuất hiện những cơn đau hành hạ ông ở chân và thậm chí ông đã không đi bộ được quá 80 m. Ông bị xơ vữa động mạch. Chính phủ Liên Xô đã cho mời nhà phẫu thuật nổi tiếng người Mỹ. Cuộc phẫu thuật đã thành công mĩ mãn, sức khỏe bình phục nhưng tinh thần của ông thì xấu đi. Ở ông xuất hiện chứng tự buộc tội mình và ông đã xin từ chức chủ tịch Viện Hàn lâm. Tổng bí thư Brezhnev, Thủ tướng  Kosygin đã kiên quyết không đồng ý, ra sức thuyết phục ông rất cần cho đất nước, nhưng không thành. Tháng 5/1975 ông được nghỉ hưu theo nguyện vọng. Sau đó tâm trạng của ông có vẻ xấu đi nhiều. Tôi đã gặp ông nhiều lần, trông ông rất bình thản và cân bằng. Nhưng rõ rằng cái gì đó được giấu kĩ đã phá vỡ sự cân bằng bên trong con người ông. Và thảm kịch đã xảy ra vào ngày chủ nhật 24/6/1978. Ông vào gara ôtô, đóng cửa lại và bật động cơ. Sau đó Keldysh tắt thở do ngộ độc khí. Thông báo của ban chấp hành Trung ương về cái chết của Keldysh chỉ nói khi vào gara ôtô, ông đột ngột cảm thấy khó ở, sau đó ngã xuống bất tỉnh. Tuy nhiên nhiều người biết ông đều cho rằng Keldysh đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống.                               Nếu vậy tại sao ông ấy lại từ bỏ cuộc sống ở tuổi 67?              Điều này chỉ có thể phỏng đoán mà thôi. Keldysh là một trí thức chân chính. Là người trung thực đến mẫu mực, có thể ông quá nhạy cảm với giả dối, với sự áp đặt về tư tưởng và do đó ngày càng khó khăn trong việc chấp nhận hiện thực xung quanh. Keldysh đã quá khắt khe một cách thiếu cơ sở với bản thân, luôn cho rằng mình đã không biết cách tránh những sai lầm. Mà cũng có thể do nhiều năm làm việc quá sức, căng thẳng thần kinh và mất ngủ kinh niên. Dù thế nào thì sự ra đi của ông thật sự là mất mát to lớn  cho đất nước.                      TRẦN ĐỨC LỊCH lược dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang Người khổng lồ về gene      Monsanto c&#243; lẽ l&#224; một trong c&#225;c tập đo&#224;n bị coi l&#224; tượng trưng cho c&#225;i &#225;c, c&#225;i v&#244; c&#249;ng xấu xa tồi tệ v&#236; những nh&#224; khoa học Mỹ l&#224;m việc tại tập đo&#224;n n&#224;y l&#224; những kẻ muốn chế ngự cả tạo h&#243;a!&nbsp;&nbsp;  Khi tới tham quan Monsanto người ta c&#243; cảm gi&#225;c như đang c&#243; mặt tại một khu&#244;n vi&#234;n một trường đại học n&#224;o đ&#243; ở Mỹ: sau khi qua khu vực kiểm tra an ninh, kh&#225;ch bước v&#224;o một t&#242;a nh&#224; rộng r&#227;i, bề thế cao ba tầng ph&#237;a sau l&#224; b&#227;i cỏ xanh rờn được chăm s&#243;c rất chu đ&#225;o v&#224; cạnh đ&#243; l&#224; những b&#227;i đỗ xe rộng r&#227;i, trật tự. Trụ sở của Monsanto đặt tại St. Louis thuộc bang Missouri, người ta đ&#227; chọn lựa rất kỹ lưỡng vị tr&#237; n&#224;y v&#236; th&#224;nh phố n&#224;y ở ngay trung t&#226;m v&#224;nh đai ngũ cốc Bắc Mỹ.     Đối với giới chỉ trích, trong đó ở Đức cũng có nhiều người kịch liệt công kích, lên án Monsanto, người ta coi người khổng lồ về công nghệ gene này là một sự công nghiệp hóa đáng ghê sợ. Nhiều người tiêu dùng có cảm giác rờn rợn, ghê ghê khi nghĩ đến việc phải ăn những sản phẩm biến đổi gene do Monsanto tạo ra. Vấn đề này bám dai dẳng và làm tổn hại thanh danh của tập đoàn này.  Theo ông Hugh Grant, người đứng đầu tập đoàn Monsanto: “Những điều thiên hạ đàm tiếu về chúng tôi nhất là trên mạng Internet thực ra không thể so sánh với sự hài lòng của những người nông dân  khi họ thụ hưởng những thành quả của chúng tôi”. Ông tin chắc rằng chỉ có thể thông qua cây trồng biến đổi gene mới có thể cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho loài người đang có xu hướng tăng nhanh như hiện nay.   Hằng năm, Monsanto đầu tư khoảng 800 triệu USD cho nghiên cứu để có thể sớm đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp. Trong khi đó, năm ngoái, khi giá lương thực, thực phẩm tăng đột biến làm cho dư luận thế giới hoang mang, lo lắng, Chính phủ Đức đã quyết định tăng chi phí cho nghiên cứu nông nghiệp lên 40 triệu Euro.  Khi đi dọc các phòng thí nghiệm khách tham quan có cảm giác được tiếp cận trực tiếp với tương lai: những người làm thí nghiệm đeo kính bảo hộ quan sát các chuỗi DNA trên màn hình, đằng sau các tấm kính cánh tay robot tự động nhón từng hạt giống đặt vào máy phân tích. “Xin mời các vị tạt qua nơi này”, cô Kathy Sehnert nói và mở cánh cửa vào một cái hành lang dài dường như vô tận thuộc  Chesterfield Research Facility của tập đoàn. Trong một căn phòng rộng chừng hai chục mét vuông có một loạt kệ để song song nhau và trên các kệ này là vô vàn chậu cây nhỏ xíu.   Tất cả các chậu cây này đều nối với hệ thống cấp nước. Ánh sáng nhân tạo tràn ngập căn phòng và ở trong phòng người ta cảm thấy ấm áp dễ chịu. “Chúng tôi có thể mô phỏng bất kể vùng khí hậu nào trên thế giới trong căn phòng này. Chúng tôi quyết định lúc nào là ngày, khi nào là đêm, cho mưa hay để hạn. Nhờ vậy chúng tôi có thể phát triển từng loại cây thích hợp cho từng vùng”. Cô Kathy Sehnert tỏ ra hài lòng và tự tin.  Trên danh thiếp của cô có hàng chữ “Biotechnology Educator”, đó là nghề của cô, cô giới thiệu với khách hàng tiềm năng hoặc những người quan tâm sơ bộ về những thí nghiệm đang được thực hiện tại đây. Cô có dáng vẻ thân thiện, cởi mở như bà hiệu trưởng một trường đại học nhưng ở cô cũng toát ra niềm tin mạnh mẽ vào những ý tưởng của vị lãnh đạo tập đoàn Hugh Grant. Cô tin tưởng không lâu nữa có thể giới thiệu với khách tham qua về những giống cây trồng quý giá hơn để phục vụ cho cuộc đấu tranh chống đói nghèo trên thế giới này.    Tất nhiên cô Sehnert không mở cửa tất cả các phòng thí nghiệm. Nhưng những nơi mà chúng tôi được phép bước vào, chúng tôi đều chứng kiến những nhà khoa học đang say sưa, miệt mài làm việc và họ sẵn sàng trả lời khách tham quan về những công việc mà họ đang làm như chọn những giống cây chịu hạn cao hoặc những giống cây có sức đề kháng với sâu bệnh vv…     Trên mái nhà là những nhà kính rộng rãi. Khi vào những ngôi nhà kính này người ta phải đeo kính bảo hộ. Tại đây có các giống ngô khác nhau, ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau và từng cây, từng cây đều được đeo biển, đánh số. Đây là các giống ngô biến đổi gene.  Theo lời ông Hugh Grant  thì: “Tại Hoa Kỳ trên 90% diện tích đậu tương và trên 70% diện tích trồng ngô đều sử dụng các giống biến đổi gene. Người nông dân Mỹ tín nhiệm các sản phẩm của Monsanto vì chúng đem lại năng suất cao”.   Trả lời câu hỏi tại sao tâp đoàn lại có hợp đồng buộc người nông dân hằng năm phải mua giống của Monsanto? Ông khẳng định: “Điều này không bất lợi mà có lợi cho người nông dân. Với bản cam kết này họ thường xuyên nhận được những giống mới có năng suất cao hơn của chúng tôi”.  Dường như thời gian đang ủng hộ các doanh nghiệp như Monsanto. Hiện nay hằng năm xuất hiện những diện tích rộng lớn chuyên trồng các giống biến đổi gene. Có thể nói cây trồng biến đổi gene đang ở thế thượng phong.   Tương lai sẽ ra sao? Bạn có thể nhận được câu trả lời tại hội chợ nông nghiệp tổ chức hằng năm mang tên “Farm Progress Show”. Đây là một hội chợ  có tầm vóc to lớn diễn ra tại miền Trung Tây nước Mỹ.  Các đại gia ngành nông nghiệp giới thiệu những công trình sáng tạo mới của mình. Chuyên gia ngành nông nghiệp từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây để tìm hiểu, học hỏi. Các tập đoàn nông nghiệp lớn có hướng dẫn viên nắm vững chuyên môn sẵn sàng giới thiệu với khách bằng ngôn ngữ của đất nước họ về các loại cây trồng mang tên công nghệ cao.   “Mời các vị  xem các cây đậu tương này” Robb Fraley đon đả nói với khách tham quan. Ông là  “Chief Technology Officer” của Monsanto. “Chúng tôi đã lồng ghép một gene vào giống đỗ tương này. Gene này sản sinh axit béo Omega-3. Các vị đều biết chất béo có lợi cho hoạt động của quả tim như thế nào? Trong thiên nhiên chỉ có ở cá, có nghĩa là phải ăn cá mới có  axit béo Omega-3. Trong tương lai chúng tôi sẽ có khả năng sản xuất dầu đậu tương có chứa axit béo  Omega-3. Chúng tôi đã trao đổi với giới công nghiệp và người ta đã nghĩ đến việc tung ra thị trường loại sữa chua cũng như  các loại thực phẩm khác có axit béo Omega-3 trong vài năm tới”.   Fraley còn giới thiệu loại ngô mới mang tên “Smartstax”, cây ngô này cao tới 2,50 mét. Loại ngô này chứa tám loại gene khác nhau. Trong đó có ba loại gene chuyên kiểm soát các loại côn trùng hoạt động trên mặt đất, ba loại gene khác kiểm soát các loại tuyến trùng hại bộ rễ. Ngoài ra còn có một vài gene trừ cỏ “Round up” và “Liberty Link”. Điều rất tuyệt là loại ngô này có năng suất cực cao.   Đôi mắt của ông Fraley bừng sáng khi ông say sưa nói: “Các vị hãy nhớ lại, giống ngô công nghệ sinh học đầu tiên được áp dụng  năm 1997, khi đó giống ngô này chỉ có thêm một gene. Còn cây ngô này có tới tám gene. Trong tương lai chúng tôi sẽ lồng ghép loại gene chịu hạn và thêm một số gene khác nhằm tạo ra năng suất cao hơn nữa”. Cuối cùng ông nói: “Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng, chỉ ít năm nữa người nông dân sẽ sử dụng các giống ngô mới chứa thêm 15, thậm chí 20 loại gene khác nhau”.     XUÂN HOÀI (Spiegel 19.4.09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người làm khoa học không mệt mỏi      Không giống như hình dung ban đầu của tôi,  GS.TSKH.NGƯT Nguyễn Văn Khang vẫn còn phong độ và đặc “chất” khoa học ở  cái tuổi thất thập cổ lai hy. Khi  tôi ngỏ ý muốn hỏi một vài thành tích nổi bật của ông để viết bài, ông  từ chối rồi bảo tôi ngồi nghe ông trải lòng về thế hệ kế cận và làm  sao đưa khoa học lại gần với cuộc sống.    Làm khoa học không kể tuổi tác  Những ngày nghỉ hè, khuôn viên Trường ĐH Bách khoa Hà Nội vắng như “chùa Bà Đanh”. Đi hết các bộ môn, phòng thí nghiệm cũng chỉ thấy cửa chốt then cài, lác đác vài phòng thí nghiệm có người làm việc. Rồi tôi cũng tìm được GS. Nguyễn Văn Khang, Bộ môn Cơ học ứng dụng – một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Cơ học ứng dụng. Đồng nghiệp thường gọi ông là “người làm khoa học không mệt mỏi”.  Loay hoay bên chồng sách vở, GS. Nguyễn Văn Khang thổ lộ, “cái nghiệp khoa học nó vận vào mình rồi. Không bỏ được”. Rồi ông chỉ cho xem một loạt các công trình nghiên cứu lớn, nhỏ mà ông cùng đồng nghiệp đang dở dang. Quả không ngoa khi những đồng nghiệp trẻ của ông bật mí, tuy tuổi đã cao nhưng thầy Khang vẫn cứ thường xuyên đi trao đổi khoa học ở nước ngoài, đều đều có công trình công bố quốc tế. Đối với ông, làm khoa học không kể tuổi tác. Ở tuổi 70, ông vẫn đang là chủ nhiệm đề tài NAFOSTED về Động lực học và điều khiển hệ nhiều vật, đồng chủ nhiệm đề tài của Tổ chức nghiên cứu Đức về Dao động của cầu dây văng, đồng thời ông cũng đang xây dựng đề tài Dao động của máy công cụ cùng các đồng nghiệp ở Hàn Quốc và Canada. Hằng năm, GS. Nguyễn Văn Khang vẫn cặm cụi giảng đường dạy học và hướng dẫn nghiên cứu sinh.  Cái duyên đến với khoa học của ông cũng thật tình cờ. Năm 1965, tốt nghiệp Khoa Toán Cơ, Trường ĐH Tổng hợp, ông được phân công về Trường ĐH Bách khoa Hà Nội. Dưới sự dìu dắt của cố GS.VS Nguyễn Văn Đạo, một chuyên gia hàng đầu Việt Nam trong ngành Cơ học, ông đã được đào tạo chuyên sâu về Dao động và được cử đi nghiên cứu sinh ở CHDC Đức. Đến năm 1973, ông trở lại công tác ở Bộ môn Cơ học lý thuyết Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.   “May mắn lớn nhất trong đời làm khoa học của tôi là được học những người thầy lớn như GS.VS Nguyễn Văn Đạo, GS. W. Schiehlen – Chủ tịch Hội Cơ học lý thuyết và ứng dụng quốc tế”, GS. Nguyễn Văn Khang chia sẻ.  Là Chủ nhiệm Bộ môn Cơ học lý thuyết (nay là Bộ môn Cơ học ứng dụng), ông và các đồng nghiệp đã xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh về Động lực học và Dao động. Nhóm của ông đã nghiên cứu ứng dụng tin học và phát triển các phương pháp tính toán trong lĩnh vực Động lực học ứng dụng. Ông cho biết, Cơ học là cầu nối giữa Vật lý, Toán học và Kỹ thuật. Mặt khác có thể xem Cơ học, nhất là Cơ học ứng dụng, là một lĩnh vực khoa học liên ngành của Vật Lý – Toán học – Tin học –Điện tử và Kỹ thuật. GS. Nguyễn Văn Khang cũng là người tích cực áp dụng những nghiên cứu cơ bản của cơ học vào việc giải quyết các bài toán dao động trong cơ khí, xây dựng, giao thông vận tải…  Trăn trở với thế hệ trẻ          GS.TSKH.NGƯT. Nguyễn Văn Khang được bầu làm  Chủ tịch Hội chuyên ngành Động lực học và Điều khiển Việt Nam, Chủ tịch  Phân ban Việt Nam của Hiệp hội Lý thuyết Máy và Cơ cấu quốc tế. Ông được  mời tham gia vào Ban khoa học của nhiều Hội nghị quốc tế về Cơ học.        Từ khi còn trẻ, ông luôn quan tâm đến chất lượng của việc đào tạo đại học. Từ năm 1982 đến nay, hàng năm ông đều đi trao đổi khoa học và giảng dạy ở CHLB Đức, CH Áo, Nhật, Đài Loan,… Mỗi lần đi trao đổi khoa học ở nước ngoài về, ông lại trình bày các kiến thức mới cho các đồng nghiệp trẻ trong nước. Đến nay, tuy tuổi đã bước qua ngưỡng thất tuần nhưng ông vẫn thường xuyên có những chuyến đi xa, như ông nói là để học thêm kiến thức.   Có lẽ, tâm nguyện và cũng là mối quan tâm lớn nhất đối với ông từ trẻ đến bây giờ là truyền thụ những kinh nghiệm mình cho thế hệ trẻ kế cận. Trầm ngâm một lúc, ông chia sẻ, trong thời kinh tế thị trường, nhiều bạn trẻ đã không chọn khoa học làm cái nghiệp khiến ông luôn canh cánh trong lòng.  Không thích nói về những thành tích khoa học của mình, nhưng điều khiến nhà khoa học này trăn trở chính là đào tạo những thế hệ trẻ kế cận. Khi được hỏi, giáo sư có thành tích, khen thưởng đặc biệt không? Ông nói, “Tôi là người không có duyên với các khen thưởng. Mỗi kết quả khoa học được hoàn tất, mỗi lứa học trò trưởng thành là những khen thưởng vô giá đối với tôi”.   Trong cuộc đời làm khoa học của mình, GS. Nguyễn Văn Khang có may mắn quen biết nhiều nhà cơ học nổi tiếng trên thế giới. Chính vì vậy, bằng mối quan hệ và uy tín của mình, cứ hai năm một lần, GS. Nguyễn Văn Khang “vận động” các nhà khoa học uy tín trên thế giới đến Việt Nam tổ chức những hội nghị khoa học quốc tế về chuyên ngành Động lực học và Cơ điện tử. “Những hội nghị như thế này sẽ giúp không chỉ các nhà khoa học mà cả những nghiên cứu trẻ có điều kiện cọ xát, học hỏi. Đã có không ít những nghiên cứu sinh trẻ được gửi ra nước ngoài đào tạo thông qua những hội nghị này”, GS. Nguyễn Văn Khang cho biết.   Ông cũng mời nhiều nhà khoa học nổi tiếng sang Việt Nam giảng bài. Bằng mối quan hệ, ông đã gửi nhiều học trò của mình sang học tập nghiên cứu tại những nước có nền cơ học phát triển như Đức, Mỹ, Nhật Bản, Anh, Hàn Quốc, Singapore,… Đã có hàng chục nghiên cứu sinh, hàng trăm thạc sĩ trưởng thành dưới sự dìu dắt của ông. Khi được hỏi, bí quyết nào đã giúp ông có được những thành quả ngày hôm nay, ông bảo đó là do luôn làm việc nghiêm túc và hết mình.  “Đại học phải coi trọng nghiên cứu khoa học”  Làm thế nào gắn kết chặt chẽ giữa môi trường học thuật và phát triển công nghệ ứng dụng là những trăn trở bấy lâu của nhà khoa học gạo cội này. Đây là vấn đề còn bất cập trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.  “Đã là một trường đại học phải coi trọng nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu cơ bản, phải lấy nghiên cứu làm tiêu chí để nâng cao chất lượng đào tạo”, GS. Nguyễn Văn Khang chia sẻ. Ông cho rằng, phần lớn các trường đại học ở ta dành quá nhiều thời gian cho việc giảng dạy mà quên đi rằng nghiên cứu khoa học phải là kim chỉ nam, là bệ đỡ bền vững cho sự phát triển của nhà trường. Không thể có cán bộ giảng dạy đại học mà lại không nghiên cứu khoa học. Ông cũng than phiền ở nước ta còn nhiều người nhầm lẫn giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu khoa học cơ bản.  Thu nhập và cơ chế chính là những nguyên nhân cơ bản trong giáo dục đại học để dẫn tới việc suy giảm chất lượng và số lượng các công trình khoa học tại các trường đại học. Đây là một thực trạng đáng báo động.“Dẫu biết rằng, thu nhập đối với người làm khoa học còn bất cập, nhiều giảng viên bỏ bê nghiên cứu để tập trung đi dạy. Đó thực sự là một nguy cơ”, ông nói. Trong khi chúng ta còn thiếu những đề tài mang tính ứng dụng thì lại có những đề tài có tính ứng dụng cao đang phải nằm… chờ. Theo GS. Nguyễn Văn Khang, trường đại học không thể là một tháp ngà mà cần phải tăng cường chuyển giao những kết quả nghiên cứu vào cuộc sống. Ở nước ngoài, sự gắn kết giữa trường đại học và những hãng sản xuất rất chặt chẽ. Hầu hết những kết quả nghiên cứu từ các nhà khoa học trong trường đại học được các công ty… “đỡ đầu”, nhanh chóng được chuyển giao thương mại hóa. Hơn nữa, nhiều công ty còn chủ động “đặt hàng” các nhà khoa học trong các trường đại học. Chúng ta cần có những sự đầu tư cần thiết đối với việc nghiên cứu khoa học hiện nay.  Xét cho cùng, ông bảo, muốn có một nền khoa học mạnh, muốn những kết quả nghiên cứu được chuyển giao vào cuộc sống thì con người là nhân tố cốt lõi. Cần thiết phải thay đổi cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học được coi là giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học. Đồng thời, lực lượng đào tạo phải được coi là nguồn lực có giá trị cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Phải có cơ chế để sử dụng sinh viên các năm cuối, sinh viên giỏi tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học. Việc đào tạo đội ngũ không chỉ thu hút người có năng lực vào học những ngành khoa học mà đất nước cần, mà cần có chính sách để bồi dưỡng họ trở thành những nhà khoa học đầu ngành trong tương lai.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị cấy ghép đầu tiên được thiết kế đặc biệt để kiểm soát chuyển động của cơ thể      Ba người bị liệt do chấn thương tủy sống hoàn toàn hiện có thể đi bộ, bơi lội, đạp xe và thậm chí chèo xuồng nhờ một thiết bị cấy ghép kích thích tế bào thần kinh trong tủy sống.    Trong một bài báo xuất bản ngày 7/2 trên tạp chí Nature Medicine, nhà khoa học thần kinh Grégoire Courtine tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Lausanne (EPFL) và các đồng nghiệp mô tả thiết bị cấy ghép đầu tiên được thiết kế đặc biệt để kiểm soát chuyển động của cơ thể, bằng cách bắt chước các tín hiệu từ não và tủy sống.        Tổn thương tủy sống hoàn toàn – tình trạng đứt hoặc tách rời các dây thần kinh tủy – chặn đứng mọi xung thần kinh di chuyển trong tủy sống điều khiển chuyển động của các bộ phận của cơ thể, dẫn đến liệt và không thể phục hồi. Nhưng chuỗi nơ-ron vận động ngoài khu vực bị đứt thường vẫn còn nguyên vẹn. Nhóm Courtine đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính để lập bản đồ kích thước và vị trí các tế bào thần kinh trong tủy sống của 27 người, tạo ra một mô hình dự đoán tủy sống. Kết quả dự đoán này giúp xác định vị trí cần đặt các điện cực cấy ghép trên cơ thể người nhận. Sau đó, họ tinh chỉnh dòng điện và tín hiệu phù hợp với từng cá nhân. Một nhóm bao gồm bác sĩ giải phẫu thần kinh EPFL Jocelyne Bloch đã cấy các điện cực vào 3 người có tủy sống bị cắt đứt hoàn toàn, gây liệt phần thân dưới.    Khi thiết bị cấy ghép được kích hoạt để truyền đi các tín hiệu đã được lập trình trước, cả ba người tham gia đều có thể thực hiện một số vận động nhất định, bao gồm cả việc đi bộ trên máy chạy bộ với sự hỗ trợ của một bộ khung đỡ bớt trọng lượng cơ thể.    “Những bước đi đầu tiên thật khó tin – đúng là giấc mơ thành hiện thực!” bệnh nhân tham gia thử nghiệm Michel Roccati cho biết. Khi kích hoạt, thiết bị cấy ghép truyền đi tín hiệu xung thần kinh hướng dẫn cơ bắp thực hiện các chuyển động được lập trình trước, và họ cũng có thể đạp xe và thực hiện động tác ngồi xổm hoặc giữ cơ thể ổn định khi chèo xuồng.    Điểm đặc biệt của phương pháp này là tính tích hợp: Kết hợp các yếu tố “vi mô” của vận động có định hướng nhờ các tế bào thần kinh cụ thể với các yếu tố “vĩ mô” để đảm bảo rằng toàn bộ cơ thể chuyển động nhịp nhàng, theo Reggie Edgerton, nhà sinh lý học tại Đại học California, Los Angeles, người cũng đang nghiên cứu về kích thích điện cho những người bị chấn thương tủy sống. Hành động đi bộ không chỉ cần mỗi đôi chân, mà cần chuyển động của cả cơ thể, Edgerton lưu ý.    Nhóm của Edgerton đang phát triển một phương pháp ít xâm lấn hơn để hỗ trợ người tổn thương tủy sống: các điện cực được áp lên da để kích hoạt các tế bào thần kinh tủy sống bên ngoài. Phương pháp này đóng vai trò bước đệm cho đến khi bệnh nhân được cấy ghép một thiết bị vĩnh viễn. Câu hỏi tiếp theo là liệu liên tục kích thích trong thời gian dài có giúp các tế bào thần kinh vận động hồi phục các kết nối để cơ thể tự thực hiện chuyển động mà không cần kích thích hay không.    Courtine cho biết nhóm hy vọng sẽ đơn giản hóa công nghệ để người dùng có thể tự điều khiển việc phát tín hiệu của thiết bị cấy ghép thông qua điện thoại thông minh. Nhóm đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận thử nghiệm lâm sàng hệ thống này tại Mỹ với nhiều người tham gia hơn. Courtine cho biết nhóm dự kiến tập trung vào những người mới bị chấn thương, bởi vì các thử nghiệm ở loài gặm nhấm đã chỉ ra động vật phục hồi chuyển động hiệu quả hơn nếu được kích thích ngay sau khi bị chấn thương. Họ cũng đang thử nghiệm một thiết bị cấy ghép não giúp khôi phục các chức năng bị mất do chấn thương tủy sống, chẳng hạn như kiểm soát bàng quang và chức năng tình dục.    Công Phạm    Author                .        
__label__tiasang Người máy biết tương tác tình cảm với người      Sáu nước châu Âu đã khởi động một dự án đầy tham vọng: phát triển loại robot có thể tương tác tình cảm với con người.    Ngày 23-2, tại Vương quốc Anh, dự án chế tạo robot có thể giao tiếp tình cảm với con người đã chính thức được khởi động. Dự án có sự tham gia của 25 nhà robot học, tâm lý học và chuyên gia thần kinh từ 6 nước châu Âu.  Dự án, có tên “Feelix Growing” được đầu tư khoảng 2,3 triệu euro và kéo dài trong 3 năm.  Theo Tiến sĩ Lola Canamero thuộc Trường ĐH Hertfordshire (Anh), mục đích của dự án là nhằm tạo ra các robot có thể “học hỏi từ con người và phản ứng một cách phù hợp về góc độ tình cảm và xã hội”.  Dự án cũng sẽ tạo nên một loạt robot có thể nhận các thiết bị cảm ứng đặt trong cơ thể người mà chúng sẽ giao tiếp và qua đó bắt chước hành vi của họ.  Điều khác biệt trong dự án này là phần mềm cài đặt trong các robot sẽ giúp robot có thể bắt chước các phản hồi chúng nhận được từ con người, như những lời lẽ hay, cử chỉ đẹp hay giúp robot xử lý hành động khi gặp trở ngại.  Các nhà khoa học sẽ tạo nên một mạng thần kinh nhân tạo để phát hiện các biểu cảm trên khuôn mặt và các kiểu vận động. Một trong các lĩnh vực mà robot sẽ học là cử động của con người, vì nó thể hiện trạng thái tình cảm.  Theo các nhà khoa học, những robot có thể bắt chước hành vi của con người là rất cần thiết, khi mà máy móc cũng đóng một phần vai trò trong cuộc sống con người.  Các đối tác châu Âu cũng đang nghiên cứu để chế tạo ra các robot khác nhau cho các tương tác tình cảm khác nhau.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người mở đường cho ngành ngọc học ở Việt Nam      “Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lệ Vương. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: Đá, không phải ngọc. Vua cho người họ Hòa là nói dối, sai chặt chân…” Câu chuyện “Viên ngọc họ Hòa” được chép trong “Cổ học tinh hoa” cùng lời bàn: “…Người họ Hòa không đau vì nỗi hai chân bị chặt, chỉ đau vì nỗi ngọc mà cho là đá”.    Thuật lại câu chuyện trên để thấy việc phân biệt đồ quý thật giả khó khăn là thế. Thời xưa, việc giám định ngọc vẫn được trân trọng gọi là “biện ngọc”, ngày nay thì gọi là “kiểm ngọc”. Còn giám định kim cương, đá quý theo phương pháp khoa học và bằng các thiết bị hiện đại được gọi là “ngọc học” (gemology). Ở Việt Nam “nhà ngọc học” đầu tiên là GS Địa chất Phan Trường Thị.                     Sinh ra ở một làng nghèo thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, có lẽ chính ông cũng không ngờ sau này mình sẽ đặt dấu chân khắp đất nước. Hai năm sau tập kết, năm 1956, ông theo học ngành Địa chất thăm dò ĐH Bách Khoa; năm 1981, nhận học vị tiến sĩ ĐH Tổng hợp Lomonosov. Ông thuộc “lứa” thứ ba được nhận học hàm giáo sư ngành Địa chất chỉ sau GS Nguyễn Văn Chiển – người mà cả ngành Địa chất Việt Nam gọi là thầy.  Phóng khoáng, quảng giao, mới tiếp xúc người ta dễ tưởng vị giáo sư gốc nam Trung Bộ này gốc gác “anh Hai Nam Bộ”. Thế nhưng trong khoa học, ông lại là người kín tiếng. Ít người biết, bằng kiến thức thạch học uyên thâm, ông còn có nhiều đóng góp “nền tảng” nhiều đại công trình như thủy điện Hòa Bình, Trị An, và gần đây là Sơn La.                     Đang từ những nghiên cứu vĩ mô về thạch quyển với những đề tài chỉ “nghe đã thấy to” như “Xác lập những cơ sở khoa học cho việc đánh giá tiềm năng các nguồn nguyên liệu hạt nhân”, “Sự tiến hóa thành phần vật chất và chế độ địa động phần rìa địa khối Indonesia trong mối tương tác với mảng Thái Bình Dương” (đề tài cấp nhà nước 1992 – 1995), khoảng 15 năm trở lại đây, ông đột ngột chuyển hướng nghiên cứu sang những đối tượng nhỏ bé: đá quý. Đó chính là thời điểm người ta phát hiện ra những mỏ đá quý ở Bắc Cạn, Nghệ An…”. Hồi đó ta chảy máu hồng ngọc sang Thái Lan rất dữ. Nhiều viên ngọc trị giá hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn “đô” rơi vào tay các tiệm kim hoàn nhỏ ở Thái Lan với giá có khi chỉ bằng một phần mười”. Những tay kiểm ngọc thời đó hầu hết chỉ phán theo kinh nghiệm, có thể sẵn sàng nâng hay hạ giá trị ngọc nếu gặp khách hàng lớ ngớ.  “Đánh giá đá quý thực ra cũng phải có kiến thức căn bản về địa chất. Ở Việt Nam, đã có những người bỏ hơn chục nghìn “đô” để học một cua kiểm ngọc ba tháng, sáu tháng ở Mỹ. Nhưng không có kiến thức cơ bản thì không thể nắm được hết những tinh tế của ngành này” – GS Thị nói.  Lai lịch một viện nghiên cứu tư nhân                     Một ngôi nhà nhỏ nằm trên con phố vắng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Người ra người vào đều lặng lẽ, một số trong họ là “đại gia”. Đó là Viện Đá quý – Trang sức do GS Thị sáng lập. Thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam và được Bộ KH&CN cấp giấy phép hoạt động từ năm 2000, song thiết bị thí nghiệm của Viện đều do GS Thị bỏ tiền mua: từ kính hiển vi ngọc học có lắp cáp quang, đèn chiếu tia cực tím sóng dài và sóng ngắn, quang phổ kế đến máy đo chiết suất… đều là những loại mới nhất, tổng trị giá gần 200.000 USD. “Đây là phòng thí nghiệm tư nhân hiếm hoi ở Việt Nam” – GS Thị tự hào – “…và doanh thu mỗi tháng cũng tới 20- 30 triệu đồng”.  Lĩnh vực hoạt động của Viện tập trung vào nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong điều tra địa chất, thăm dò khai thác đá quý, chế tác đá quý và trang sức; chuyển giao công nghệ kiểm định đá quý và trang sức; đào tạo chuyên môn. Viện đã hợp tác với một số viện ngọc học uy tín trên thế giới như Viện Ngọc học Hoa Kỳ, các phòng kiểm định đá quý ở Pháp, Thuỵ Sỹ, Đức…  Viên kim cương/ đá quý sau khi qua các khâu kiểm định được bọc vào một lớp giấy bóng cứng có in mã vạch và kèm theo đó là một chứng thư kiểm định ghi các thông số xác minh của viên kim cương hay viên đá quý đó cùng với những chứng nhận pháp lý. Viện Đá quý – Trang sức hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông số đã kiểm định. “Nếu chứng nhận đá giả là thật, chúng tôi sẽ phải bồi thường bằng đúng bằng giá trị đá thật!”  Liệu có mâu thuẫn giữa một cơ sở kinh doanh phải giấu “bí quyết nhà nghề” với một viện nghiên cứu có mục đích phổ biến kiến thức?  “Không hề! Điều chúng tôi muốn là phổ biến ngành ngọc học để thị trường đá quý ở Việt Nam đi vào quy củ. Tôi đã đi dạy phương pháp kiểm định đá quý ở rất nhiều nơi. Không ít học trò của tôi trở thành người đứng đầu các phòng kiểm định của những công ty lớn như Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận, SJC…”.  Một mong muốn nữa của GS Thị là làm sao ngăn nạn chảy máu đá quý. Ông trầm ngâm: “Rất tiếc là chúng ta còn chưa tiến hành khảo sát nghiêm túc để có đánh giá rõ ràng về nguồn tài nguyên này.”  Sự thật trị giá nghìn vàng  “Hễ hoàn hảo, không tì vết, thì là… giả”. Gần 15 năm, tận tay tận mắt giám định không biết bao nhiêu kim cương, hồng ngọc… GS Thị rút cho mình một “bài học nhân sinh” như vậy. Cũng nhờ công việc này mà ông đã biết thêm bao nhiêu nhân tình thế thái. Đã có bao lời đề nghị ông nâng mức kim cương lên 1-2 bậc. Chỉ như vậy, giá trị viên kim cương sẽ tăng lên cả nghìn USD, và họ sẵn sàng “lại quả”. “Việc các trung tâm kiểm định đánh giá chênh lệch nhau 1-2 bậc là thường. Nhưng tất nhiên không đời nào tôi làm vậy”.  Một đại gia đến nhờ ông kiểm nghiệm viên “dạ minh châu” mua mất 500.000 USD, tính năng như trong truyền thuyết: “đông ấm, hè mát, đêm phát sáng”. GS Thị xác định ngay: “Giả”. Vị “đại gia” kia thản nhiên về. Có người lại mang đến cho ông giám định cả “lô” kim cương 200 viên. Kết luận: hai phần ba là kim cương giả trộn kim cương thật! Vị khách đứng như trời trồng, mặt cắt không còn một hột máu.  Nhằm “tâng” giá trị của kim cương, người ta có thể tạo màu sắc giả cho kim cương bằng cách áp dụng công nghệ phóng xạ. Trong tình huống đó, để có kết quả thẩm định chính xác màu sắc thực của kim cương, người thẩm định phải phối hợp với thiết bị hiện đại của các viện nghiên cứu, trường đại học. Cũng có trường hợp ông và đồng sự phải bó tay vì chưa đủ phương tiện hiện đại để phân tích.  “Bây giờ kim cương giả từ Trung Quốc rất nhiều” – GS Thị nói -“Nhưng buồn nhất khi xác định đồ gia bảo là giả. Lúc đấy chỉ còn biết lựa lời an ủi người ta”.  Tuy nhiên cũng có trường hợp ngược lại: Một người nông dân tìm được một viên “ngọc ốc”, định bán với giá vài trăm nghìn; nhưng khi được GS Thị tư vấn, người nông dân nọ đã bán được viên ngọc cho một nhà sưu tập người nước ngoài với giá lên tới 30.000 USD!  Một đồng nghiệp của GS Thị kể: Khi phát hiện viên hồng ngọc 2.1 kg, lớn nhất nước từ trước tới nay, người ta đã định “xẻ” đem bán. Biết tin đó, GS Thị đã thuyết phục bảy bộ trưởng đặt khối hồng ngọc này trong bảo tàng Kho bạc Nhà nước, là vật báu của quốc gia.   Việt Anh -Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người mở đường ngành xác suất hiện đại      Nếu hai nhà thống kê lạc mất nhau trong một khu rừng vô hạn, trước tiên họ sẽ uống cho say. Khi đó, có thể nói là họ sẽ đi một cách ngẫu nhiên và việc này sẽ mang lại cơ hội tốt nhất để họ gặp lại nhau. Tuy nhiên, các nhà thống kê nên tỉnh táo nếu họ muốn đi hái nấm. Say rượu đi lung tung không mục đích sẽ thu hẹp phạm vi khám phá, và khả năng cao là họ sẽ quay trở lại vị trí cũ, nơi nấm đã bị hái hết rồi.      Kolmogorov (bìa phải) và hai người bạn, các nhà toán học nổi tiếng thời bấy giờ, Lev Pontryagin (bìa trái) và Pavel Alexandrov (ngồi giữa)  Những cách tư duy như vậy thuộc về các lý thuyết thống kê về “bước đi ngẫu nhiên” hay “bước đi của người say”, trong đó tương lai chỉ phụ thuộc vào hiện tại chứ không phải quá khứ. Ngày nay, bước đi ngẫu nhiên được sử dụng để mô hình hóa các hiện tượng như xu hướng giá cổ phiếu, khuếch tán phân tử, hoạt động thần kinh, biến động dân số, v.v. Người ta cho rằng cũng có thể sử dụng nó để mô tả “xu hướng di truyền” của một gene cụ thể – ví dụ như màu mắt xanh – trở nên phổ biến trong một nhóm dân cư. Một cách trớ trêu, lý thuyết với đặc trưng bỏ qua quá khứ này lại có một bề dày lịch sử khá phong phú. Nó là một trong nhiều đột phá tri thức được xây dựng bởi Andrei Kolmogorov, một nhà toán học với hiểu biết sâu rộng và khả năng đáng kinh ngạc, người đã cách mạng hóa vai trò của tính không dự đoán được trong toán học, trong khi bản thân ông vẫn cẩn trọng ứng đối với những biến động của đời sống chính trị và hàn lâm ở nước Nga Xô viết.  Khi còn trẻ, Kolmogorov đã được nuôi dưỡng bởi không khí tri thức sôi động của Moskva hậu cách mạng, tràn ngập các thử nghiệm văn chương, những xu hướng tiên phong trong nghệ thuật, và các ý tưởng khoa học mới mẻ. Ở những năm đầu thập niên 1920, khi là một sinh viên lịch sử ở tuổi 17, ông đã trình bày một bài báo trước các bạn học tại Đại học Moskva, đưa ra một phân tích thống kê khác thường về đời sống của người Nga thời Trung cổ, trong đó cho thấy thuế khóa đánh trên cả làng thường là số nguyên, trong khi thuế trên từng hộ dân lại được biểu diễn bởi một phân số. Bài báo kết luận – đầy tranh cãi vào thời điểm đó – rằng thuế trước đây được thu theo làng và phân bổ đến từng hộ, thay vì thu theo từng hộ rồi gộp tổng lại cho cả làng. Thầy của ông đã nhận xét gay gắt rằng “cậu chỉ mới tìm thấy một bằng chứng mà thôi, như vậy là không đủ với một nhà sử học. Cậu cần ít nhất năm bằng chứng.” Lúc đó, Kolmogorov đã quyết định chuyển sang nghiên cứu toán học, nơi chỉ một chứng minh là đủ.  Điều hợp lý một cách kỳ lạ là một sự kiện ngẫu nhiên như vậy đã dẫn dắt Kolmogorov vào lãnh địa của lý thuyết xác suất, khi đó chỉ là một nhánh nhỏ bị xem thường của toán học. Các xã hội tiền hiện đại thường nhìn nhận các sự kiện ngẫu nhiên như một biểu thị cho ý chí của thần thánh; ở Ai Cập và Hy Lạp Cổ đại, việc tung súc sắc được nhìn nhận là một công cụ cho việc tiên tri hay bói toán. Cho đến đầu thế kỷ 19, các nhà toán học châu Âu đã phát triển các kỹ thuật để tính toán các tỉ lệ cược, và định nghĩa xác suất như là tỉ lệ của số những trường hợp muốn có trên số tất cả các trường hợp đồng xác suất. Nhưng cách tiếp cận này lại vướng vào lập luận vòng quanh – xác suất được định nghĩa theo số các khả năng đồng xác suất – và chỉ có hiệu lực với những hệ có hữu hạn khả năng. Nó không thích hợp với những đại lượng vô hạn đếm được (như trò chơi với súc sắc có vô hạn mặt) hay không đếm được (như trò chơi với súc sắc hình cầu mà mỗi điểm trên mặt cầu là một khả năng). Những nỗ lực xử lý các tình huống như vậy chỉ mang lại những kết quả mâu thuẫn và tạo ra một hình ảnh xấu về lý thuyết xác suất.  Uy tín và thanh danh là những phẩm chất được Kolmogorov coi trọng. Sau khi chuyển ngành học, ban đầu Kolmogorov gia nhập nhóm toán của Nikolai Luzin, một giảng viên nổi tiếng đầy sức cuốn hút ở Đại học Moskva. Những học trò của Luzin đặt tên cho nhóm là “Luzitania,” một cách chơi chữ theo tên giáo sư của họ và con tàu của Anh bị chìm trong Thế chiến thứ nhất. Họ được thống nhất bởi một “nhịp đập của các con tim”, như Kolmogorov từng mô tả, tập hợp nhau lại sau giờ học để bàn luận chuyên sâu về những phát kiến mới trong toán học. Họ nhại partial differential equation (các phương trình đạo hàm riêng) thành partial irreverential equations (các phương trình bất kính riêng) và finite difference (sai phân hữu hạn) thành fine night differences (những khác biệt trong đêm vui vẻ). Lý thuyết xác suất, thiếu cơ sở lý thuyết chắc chắn và bị vướng vào các nghịch lý, đã bị đùa cợt thành “lý thuyết của sự không may”.  Cũng bởi Luzitania mà cách nhìn nhận của Kolmogorov về lý thuyết xác suất có thêm một bước chuyển mang tính cá nhân. Cho tới thập niên 30 thế kỷ trước dưới thời Stalin, bất kỳ ai cũng có thể bị công an mật gõ cửa ban đêm và sự may rủi quyết định cuộc sống của mọi người. Bị tê liệt bởi sợ hãi, rất nhiều người Nga cảm thấy bắt buộc phải tham gia vào việc tố giác, với hi vọng có thể tăng thêm cơ hội sống sót của mình. Một số người Bolshevik trong cộng đồng toán học, bao gồm cả những học trò cũ của Luzin, đã gán cho Luzin tội phản bội và phê phán ông gay gắt vì đã công bố công trình ở các tạp chí của nước ngoài. Bản thân Kolmogorov lúc ấy cũng có công bố ở nước ngoài nên có thể đã nhận thấy khả năng mình bị tố giác. Ông đã biểu lộ sự sẵn sàng thỏa hiệp về mặt chính trị vì lợi ích sự nghiệp của mình, chấp nhận một vị trí giám đốc viện nghiên cứu khi người tiền nhiệm của ông vì ủng hộ tự do tôn giáo mà bị chế độ Stalin bỏ tù. Bấy giờ, Kolmogorov tham gia phê bình và quay lưng lại với Luzin. Luzin đã trở thành đối tượng một buổi xét xử bởi Viện Hàn lâm Khoa học và mất tất cả các vị trí chính thức, nhưng đã thoát khỏi sự bắt giam và xử bắn bởi chính quyền Nga một cách ngạc nhiên. Luzitania cũng tan rã, bị đánh chìm bởi chính thủy thủ đoàn của nó.  Không bàn đến khía cạnh đạo đức trong quyết định của ông, Kolmogorov đã đặt cược thành công và nhận lại sự tự do để tiếp tục nghiên cứu. Trái ngược với sự phục tùng của mình trong chính trị, trong lý thuyết xác suất, Kolmogorov đã đưa ra một sửa đổi cấp tiến căn bản và thực sự là nền tảng của lĩnh vực này. Ông dựa vào lý thuyết độ đo, một lý thuyết thời thượng, mới được du nhập vào Nga từ Pháp. Lý thuyết độ đo là sự tổng quát hóa của các khái niệm “độ dài”, “diện tích” hay “thể tích”, cho phép đo đạc nhiều đối tượng toán học rắc rối nằm ngoài khả năng của các phương pháp thông thường. Chẳng hạn, nó có thể giúp tính diện tích của một hình vuông với vô hạn các lỗ ở bên trong, chia nó thành vô hạn các mảnh nhỏ, phân tán trên một mặt phẳng vô hạn. Trong lý thuyết độ đo, người ta vẫn có thể nói về “diện tích” (độ đo) của vật thể bị phân tán như thế.  Kolmogorov mô tả những tương tự giữa lý thuyết xác suất và lý thuyết độ đo, thể hiện trong năm tiên đề, ngày nay thường được phát biểu thành sáu mệnh đề, đưa xác suất trở thành một lĩnh vực được tôn trọng của giải tích toán học. Khái niệm căn bản nhất trong lý thuyết của Kolmogorov là “biến cố cơ bản,” kết quả của một phép thử đơn lẻ, như tung một đồng xu. Tất cả các biến cố cơ bản lập thành “không gian mẫu”, tập hợp của tất cả các kết quả khả dĩ. Chẳng hạn như với các cú sét đánh ở Massachusetts, không gian mẫu sẽ bao gồm tất cả các điểm trong bang mà sét có thể đánh vào. Một biến cố ngẫu nhiên sẽ được định nghĩa là một “tập đo được” trong một không gian mẫu, và xác suất của một biến cố ngẫu nhiên là “độ đo” của tập đó. Ví dụ xác suất sét đánh trúng Boston sẽ phụ thuộc vào diện tích (“độ đo”) của thành phố này. Hai biến cố xảy ra đồng thời có thể được biểu diễn bởi giao của các độ đo của chúng; xác suất có điều kiện được biểu diễn bởi thương các độ đo; và xác suất mà một trong hai biến cố không phụ thuộc vào nhau xảy ra được tính bằng cách cộng các độ đo (ví dụ như, xác suất hoặc Boston hoặc Cambridge sẽ bị sét đánh được tính bằng tổng diện tích của chúng).  Nghịch lý Đường tròn lớn là một câu đố toán học quan trọng mà khái niệm xác suất của Kolmogorov cuối cùng đã giải được. Giả sử rằng người ngoài hành tinh hạ cánh ngẫu nhiên trên một hành tinh hình cầu hoàn hảo và xác suất điểm hạ cánh được phân bố đều. Như vậy có phải họ sẽ hạ cánh với xác suất như nhau ở bất kỳ nơi nào dọc theo bất kỳ đường tròn nào chia mặt cầu thành hai bán cầu bằng nhau, hay còn gọi là “đường tròn lớn”? Hóa ra xác suất hạ cánh được phân bố đều dọc theo đường xích đạo, nhưng phân bố không đều trên các đường kinh tuyến, với xác suất tăng dần khi tới gần đường xích đạo và giảm ở các cực. Nói cách khác, người ngoài hành tinh có xu hướng hạ cánh ở những vùng có khí hậu nóng hơn. Có thể giải thích kết quả lạ lùng này bằng hình ảnh các đường tròn vĩ tuyến lớn dần khi chúng tiến dần tới xích đạo – nhưng kết quả này nghe có vẻ thật vô lý, bởi vì chúng ta có thể quay đường tròn và biến đường xích đạo thành một đường kinh tuyến. Kolmogorov đã chỉ ra rằng đường tròn lớn có độ đo bằng không, bởi vì nó là một đoạn thẳng và có diện tích bằng không. Điều này lý giải sự mâu thuẫn hiển nhiên trong các xác suất có điều kiện của việc hạ cánh tồn tại bởi không thể tính toán một cách nghiêm túc những xác suất như vậy.  Tưởng có thể gác qua một bên thế giới thực với những thanh trừng theo kiểu Stalin để bước vào thế giới phù du của những xác suất có điều kiện với độ đo-không, nhưng Kolmogorov đã sớm phải quay về với hiện thực. Trong Thế chiến thứ hai, Chính phủ Nga yêu cầu Kolmogorov phát triển các phương pháp giúp tăng tính hiệu quả của pháo binh. Ông đã chỉ ra rằng thay vì cố gắng tối đa xác suất mỗi phát bắn trúng đích, trong một số trường hợp cụ thể sẽ tốt hơn nếu bắn một loạt đạn có độ lệch nhỏ so một phát ngắm chuẩn xác, một chiến thuật được biết đến dưới tên gọi “phân tán nhân tạo”. Bộ môn Lý thuyết xác suất của Đại học Moskva mà Kolmogorov là tổ trưởng, cũng đã tính toán các bảng đạn đạo cho những pha ném bom tầm thấp, vận tốc nhỏ. Vào năm 1944 và 1945, chính phủ đã trao thưởng cho Kolmogorov hai Huân chương Lenin cho những đóng góp của ông trong thời chiến và sau cuộc chiến ông làm việc với tư cách cố vấn toán học cho chương trình vũ khí nhiệt hạch.  Nhưng những mối quan tâm của Kolmogorov vẫn hướng ông tới những hướng nghiên cứu có tính triết lý hơn. Toán học đã dẫn ông tới niềm tin rằng thế giới được dẫn dắt bởi tính ngẫu nhiên và cơ bản được sắp đặt dựa trên các định luật xác suất. Ông thường chỉ ra vai trò của tính không dự đoán được trong những mối quan hệ của con người. Cuộc gặp gỡ tình cờ của Kolmogorov với nhà toán học cùng thời Pavel Alexandrov trong một buổi chèo thuyền năm 1929 đã khởi đầu cho một tình bạn thân thiết suốt đời. Trong một lá thư dài mà họ thẳng thắn trao đổi, Alexandrov đã phê phán Kolmogorov vì ý thích nói chuyện với người lạ trên tàu, ngụ ý rằng những gặp gỡ như vậy quá hời hợt, không giúp nhận diện tính cách thực của một con người. Kolmogorov phản đối, ông đưa ra quan điểm xác suất rất cấp tiến về những tương tác xã hội trong đó mỗi người hành động như những mẫu thống kê đại diện cho các nhóm lớn hơn. Ông viết hồi âm cho Alexandrov rằng “một cá nhân sẽ có xu hướng hấp thu tinh thần xung quanh, và thể hiện với bất kỳ ai quanh mình, không chỉ với một người bạn nhất định, về phong cách sống và thế giới quan mà họ hấp thu được”.  Kolmogorov quan tâm sâu sắc tới âm nhạc, văn chương và ông tin rằng mình có thể phân tích chúng dưới khía cạnh xác suất để thu được những hiểu biết sâu sắc về cách tư duy bên trong trí óc con người. Ông là người tin vào tính thứ bậc trong văn học nghệ thuật. Ở đỉnh tháp là các tác phẩm của Goethe, Pushkin, và Thomas Mann cùng với những sáng tác của Bach, Vivaldi, Mozart và Beethoven, những công trình có giá trị trường tồn tương tự như những chân lý toán học vĩnh cửu. Kolmogorov nhấn mạnh rằng mỗi công trình nghệ thuật đích thực là một sáng tạo độc nhất, thứ gì đó không dự đoán được, nằm ngoài địa hạt của những chuẩn mực thống kê đơn giản. “Liệu có thể xếp một cách hợp lý tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoy vào chung trong một tập hợp của ‘tất cả những tiểu thuyết có thể sinh ra trên đời’, và hơn nữa là thiết lập một phân bố xác suất nào đó cho các phần tử trong tập hợp này hay không?”, ông hỏi đùa trong một bài báo in năm 1965.  Dù vậy, ông vẫn khao khát hiểu bản chất của sáng tạo nghệ thuật. Năm 1960, Kolmogorov tổ chức một nhóm các nhà nghiên cứu với những máy tính cơ điện và giao cho họ nhiệm vụ tính toán cấu trúc nhịp điệu của thơ ca Nga. Kolmogorov đặc biệt quan tâm tới độ lệch của nhịp điệu các bài thơ trong thực tế so với những vần luật cổ điển. Trong thơ ca truyền thống, vần luật kiểu iamb là một nhịp điệu bao gồm một âm tiết không nhấn theo sau một âm tiết nhấn. Nhưng trong thực tế, người ta hiếm khi tuân thủ quy tắc này. Trong tác phẩm Evegnhi Onhegin của Pushkin, bài thơ iamb cổ điển nổi tiếng nhất bằng tiếng Nga, gần như ba phần tư trong 5300 dòng của nó vi phạm quy tắc vần luật iamb, và hơn một phần năm của tất cả những âm tiết chẵn là không nhấn. Kolmogorov tin rằng tần suất sai lệch này cho thấy một “chân dung thống kê” khách quan về mỗi nhà thơ. Ông cho rằng, một mẫu hình nhấn trọng âm bất thường là chỉ dấu cho tính sáng tạo và biểu đạt nghệ thuật. Nghiên cứu Pushkin, Pasternak và những nhà thơ Nga khác, Kolmogorov lập luận rằng họ đã biến tấu các vần luật để tạo ra “sắc thái tổng thể” cho bài thơ hay đoạn văn của mình.  Để đo giá trị nghệ thuật của văn bản, Kolmogorov còn sử dụng một phương pháp đoán chữ để đánh giá entropy của một ngôn ngữ tự nhiên. Trong lý thuyết thông tin, entropy là một thước đo tính bất định hoặc tính không dự đoán được, tương ứng với nội dung thông tin của một thông điệp: thông điệp càng không thể dự đoán được thì thông tin mà nó hàm chứa càng nhiều. Kolmogorov đưa entropy thành một thước đo của tính độc đáo trong nghệ thuật. Nhóm của ông đã sắp đặt một chuỗi các phép thử, trong đó các tình nguyện viên được xem một trích đoạn văn xuôi hoặc thơ ca Nga, rồi yêu cầu họ đoán chữ cái tiếp theo, tiếp theo nữa, rồi cứ tiếp tục như vậy. Kolmogorov ngầm nhận xét rằng, từ góc nhìn của lý thuyết thông tin, các tờ báo Xô viết thường ít thông tin hơn thơ ca, bởi vì các bài diễn thuyết chính trị thường sử dụng nhiều những cụm từ có tính khuôn sáo và nội dung của chúng rất dễ đoán trước. Trái lại, các bài thơ của những nhà thơ vĩ đại lại khó đoán hơn rất nhiều, mặc dù chúng phải tuân thủ những quy phạm rất chặt chẽ theo thể thơ. Theo Kolmogorov, đây là một biểu hiện của tính độc đáo. Nghệ thuật đích thực thì không đoán trước được, nhưng phẩm chất đó lại có thể được đo lường bởi một lý thuyết xác suất có chất lượng cao.  Kolmogorov không thể chấp nhận việc coi Chiến tranh và Hòa bình như một phần tử nằm chung trong một tập hợp của tất cả mọi tiểu thuyết – nhưng ông có thể biểu đạt tính không thể dự đoán của nó bằng cách tính toán độ phức tạp của nó. Kolmogorov coi độ phức tạp của một đối tượng chính là độ dài của mô tả ngắn nhất về nó, hoặc là độ dài của thuật toán tạo ra đối tượng. Những đối tượng tất định đều đơn giản theo nghĩa rằng chúng có thể được sinh ra từ những thuật toán ngắn như một chuỗi tuần hoàn các số 0 và 1. Những đối tượng thực sự ngẫu nhiên, không thể dự đoán được thì đều phức tạp, bởi bất kỳ thuật toán nào sinh ra chúng cũng phải dài như chính bản thân chúng vậy. Ví dụ, những số vô tỷ – những con số không thể viết dưới dạng phân số – dãy chữ số đằng sau dấu thập phân xuất hiện ngẫu nhiên và hầu như không hề có một quy luật nào. Bởi vậy, hầu hết các số vô tỷ đều là các đối tượng phức tạp bởi vì chúng chỉ có thể được ghi lại bằng cách viết ra toàn bộ dãy các chữ số. Cách hiểu về độ phức tạp này phù hợp với ý niệm trực quan rằng không có phương pháp hay thuật toán nào có thể dự đoán các đối tượng ngẫu nhiên. Khái niệm này ngày nay rất quan trọng trong vai trò thước đo các tài nguyên tính toán cần có để biểu đạt một đối tượng, đồng thời có nhiều ứng dụng trong định tuyến mạng hiện đại, các thuật toán sắp xếp và nén dữ liệu.  Có thể nói Kolmogorov có một cuộc đời phức tạp, nếu ta căn cứ theo phương thức đo mà bản thân ông tạo ra. Cho tới lúc mất năm 1987 ở tuổi 84, ông đã không chỉ trải qua một cuộc cách mạng, hai lần Thế chiến và Chiến tranh lạnh, mà sự sáng tạo của ông đã chạm tới hầu hết các địa hạt trong toán học, vươn xa khỏi biên giới của khoa học hàn lâm. Dù chúng ta coi những bước đi ngẫu nhiên của ông trong cuộc đời là của người say hay của người nhặt nấm, thì những khúc rẽ và bước ngoặt của chặng đường ấy đều không dự đoán được và cũng không thể dễ dàng mô tả. Thành công của ông trong việc nắm bắt và áp dụng tính không dự đoán được đã làm hồi sinh lý thuyết xác suất, và đã tạo ra một miền đất cho vô hạn các dự án khoa học và kỹ thuật. Nhưng lý thuyết của ông cũng khuếch đại sự căng thẳng, giữa một bên là trực giác của con người về tính không thể dự đoán được, và bên kia là sức mạnh hiển nhiên của công cụ toán học để mô tả nó.  Với Kolmogorov, những ý tưởng của ông không loại bỏ tính ngẫu nhiên mà cũng không khẳng định một bản tính bất định căn bản về thế giới của chúng ta; chúng chỉ cung cấp một ngôn ngữ đủ chặt chẽ để nói về những gì không thể biết chắc chắn. Ông từng nói, khái niệm “ngẫu nhiên tuyệt đối” cũng chẳng hợp lý hơn khái niệm “tất định tuyệt đối”, và kết luận: “chúng ta không thể có những hiểu biết xác thực về sự tồn tại của những gì không thể biết.” Nhưng, dẫu sao thì nhờ có Kolmogorov, chúng ta có thể giải thích khi nào và tại sao lại có sự không thể đó.  Hoàng Mai dịch từ bài viết The Man Who Invented Modern Probability của Slava Gerovitch đăng trên trang Nautilus,   Phùng Hồ Hải hiệu đính  Nguồn: http://nautil.us/issue/4/the-unlikely/the-man-who-invented-modern-probability  * Trên phiên bản báo in số 20.8.2016, có hình minh họa một cuốn sách của Kolmogorow xuất bản năm 1970 có dịch là “Nhập môn về phương pháp phân tích”. Tia Sáng xin đính chính lại tên sách là “Nhập môn về giải tích thực”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Mỹ trải nghiệm kỷ nguyên Soyuz      Sau khi Mỹ cất tàu con thoi vào kho thì có vô số tàu vũ trụ Soyuz của Nga để lấp  chỗ trống. Nếu tàu con thoi là ghế hạng thương nhân, tàu Apollo kiểu cũ  là ghế hạng tiết kiệm thì Soyuz hơi giống như ngồi trong khoang bánh máy  bay và bay một mạch từ bờ Đông sang bờ Tây nước Mỹ, mặc dù cái khoang  bánh đó có một hồ sơ về độ an toàn tương đối tốt – ít nhất là gần đây.    Khi tàu con thoi Atlantis chạy đến điểm dừng ở Trung tâm Vũ trụ Kennedy  lúc 5 giờ 56 phút sáng ngày 21 tháng 7, chương trình tàu con thoi kéo  dài 30 năm của Mỹ đã chính thức chấm dứt. Vậy là không còn những công  tác công phu mỗi khi chuẩn bị cho việc phóng tàu, không còn những khoảnh  khắc đếm ngược kịch tính khi phi thuyền sắp bay vào khí quyển, và không  còn những diễn từ hoành tráng về năm con tàu đã thực hiện 135 nhiệm vụ.  Phải chăng như vậy là chúng ta có thể kết thúc mọi chuyện ở đây, gác chúng lại, chuyển sang những công việc mới? Chưa chắc: dù tạm chưa đặt ra câu hỏi có hay không hoặc bao giờ thì tàu con thoi của Mỹ mới lại đưa người vào không gian, thì vẫn còn một vấn đề nhỏ với Trạm Không gian Quốc tế (ISS) mà chúng ta vẫn đang để lại trên quỹ đạo. Đây là một công trình khổng lồ dài tới 109 m – bằng một sân bóng bầu dục cộng với khu cấm địa, cộng thêm 12 thước Anh nữa (mỗi thước Anh bằng 0,91 m). Nó có thể tích 360m3 và được dự kiến sẽ còn hoạt động thêm một thập kỷ nữa. Và lại còn cả phi hành đoàn sáu người đang ở trên đó và có lẽ sẽ tới ngày nào đó họ muốn về nhà.  Cất tàu con thoi vào kho thì cũng được thôi, nhưng chuyện đó gần giống như nước Mỹ mở một lữ quán trên quỹ đạo rồi tống hết xe đò vào bãi rác trong khi người ta cần xe để đưa lữ khách đến và đi. Và với ít nhất 10 phi hành đoàn, mỗi đoàn ba người, đang chờ đến lượt lên ISS trong vài năm tới, người ta sẽ rất nhớ những chiếc xe buýt không gian đó. Điều may mắn (hay không may?!) là: có vô số tàu vũ trụ Soyuz(1) của Nga để lấp chỗ trống. Nếu tàu con thoi là ghế hạng thương nhân, tàu Apollo kiểu cũ là ghế hạng tiết kiệm thì Soyuz hơi giống như ngồi trong khoang bánh máy bay và bay một mạch từ bờ Đông sang bờ Tây nước Mỹ, mặc dù cái khoang bánh đó có một hồ sơ về độ an toàn tương đối tốt – ít nhất là gần đây.  Tàu Soyuz đầu tiên được phóng vào ngày 23 tháng 4 năm 1967, đưa nhà du hành Vladimir Komarov vào không gian. Nhiệm vụ cũng kết thúc vào ngày 23 tháng 4 năm 1967 và, đáng buồn thay, cả mạng sống của Komarov cũng thế, sau khi gặp phải hàng loạt sự cố trong quỹ đạo và phải trở lại khí quyển khẩn cấp. Cuộc hạ cánh tương đối bình thường nhưng dù không mở khiến cho chiếc Soyuz gây ra cái mà các kỹ sư gọi là “hạ cánh kiểu oanh tạc”, một chuyến trở về Trái đất nguy hiểm hệt như tên của nó.   Mọi chuyện sai đó được cải thiện, và tám thế hệ tàu Soyuz, trong hơn bốn thập kỷ qua, đã phục vụ tận tụy các chương trình đưa người lên không gian của Liên Xô và nay là của Liên bang Nga. Nhưng an toàn không nhất thiết phải đồng nghĩa với tiện nghi, và Soyuz không lãng phí tiền bạc vào những thứ rườm rà.   Tàu con thoi (của Mỹ) có thể chứa sáu phi hành gia và có không gian rộng rãi, thoải mái lên tới 71,5m3. Soyuz chứa ba người trong 4m3. Đành rằng sẽ không công bằng khi đem một phi thuyền không gian có thể tái sử dụng nhiều lần, so sánh với một cái khoang hình tròn nhỏ chỉ dùng một lần (xem ảnh), nhưng ngay cả khoang tàu Apollo cũng còn đạt tới 6m3. Các phi hành gia bay trên Soyuz phải ngồi trong tư thế đầu gối gần như sát ngực và phải giữ như vậy hầu như suốt chuyến bay.        Khoang đổ bộ của tàu vũ trụ Soyuz, tiếng Nga gọi tắt là “SA”, là thành phần duy nhất của con tàu trở lại mặt đất sau chuyến bay vào không gian. Nó có từ hai tới ba ghế mềm để các nhà du hành ngồi tựa vào trong suốt thời gian khi nâng độ cao, hạ độ cao, và hạ cánh. Các ghế được đặt đối điện bảng điều khiển dùng cho mọi hoạt động thiết yếu. Khoang đổ bộ có chứa hệ thống hỗ trợ sự sống, ắc quy dùng khi hạ độ cao, dù chính, dù thứ cấp, và động cơ phục vụ hạ cánh. Khoang đổ bộ cũng được trang bị tám động cơ đẩy nhỏ nhằm duy trì trạng thái cân bằng, chỉ dùng khi hạ độ cao. Chúng được chạy bằng hydro peroxyt. Những động cơ đẩy này thường thoái hóa qua thời gian, vì vậy tàu Soyuz không thể nào duy trì lâu dài trên quỹ đạo. Khoang đổ bộ cũng được trang bị một hệ thống hướng dẫn, định vị, và điều khiển độc lập với tàu mẹ.            “Tôi không to cao nên tôi ngồi rất vừa,” phi hành gia Nhật Bản Koichi Wakata, người vừa mới bay lên ISS bằng Soyuz và sẽ trở về vào năm 2014, nói. “Có lần chúng tôi đã chui vào Soyuz và bay một vòng quanh trạm để đỗ vào một cổng khác. Rất thú vị. Ngồi rất ấm cúng.”   Những cải tiến gần đây đã giúp Soyuz thoải mái hơn một chút với những người to lớn hơn Wakata. Cái giới hạn bạn phải nhỏ con hơn mức này thì mới được bay trước đây là 183 cm và 85 kg. Thiết kế sửa đổi đã giúp nâng các con số này lên 190 cm và 95 kg.   Nhưng dù kích cỡ của những người trên tàu ra sao thì bay vào bầu khí quyển, chứ không phải bay ra, mới là điều mà các phi hành gia đã quen với tiện nghi tàu con thoi phải bận tâm nhất. Một chiếc tàu con thoi khi vào bầu khí quyển sẽ bật động cơ, giảm tốc và nghiêng phần bụng xuống trước, rồi hạ cánh trên đường băng như máy bay. Chuyến bay có thể không êm ả nhưng dù sao phi hành đoàn còn được ngồi thẳng lưng trong suốt hành trình.   Với Soyuz, mọi thứ có vẻ hơi… thể thao hơn. Sau khi tàu vũ trụ tách khỏi ISS, chỉ huy phi đoàn sẽ khởi động máy, và tháo bỏ module lắp ghép ở sau khoang phi hành đoàn cùng với module động cơ nối liền sau đó. Chiếc khoang hình tròn nhỏ sẽ bắn vào khí quyển, chạm vào lớp khí đầu tiên ở độ cao 122 km. Nó sẽ rơi với tốc độ 792 km/h và khi đến độ cao thông thường của máy bay vận tải thì dù nhỏ sẽ bật ra. Dù chính cũng sẽ bung sau đó không lâu, và khi chỉ cách mặt đất khoảng 1 m  thì ba động cơ nhỏ sẽ bật để “phanh” khoang đổ bộ lại một chút. Hơn nữa, màn hạ cánh này lại là một pha… cắm đầu xuống đất chứ không phải rơi xuống biển. Ngoài ra, cũng đừng quên rằng trong phần lớn thời gian của chuyến bay trở về, khoang đổ bộ sẽ phải xoay tròn để giữ cân bằng.   Vậy, bạn có còn muốn trở thành phi hành gia khi lớn lên không?   Trên thực tế thì vẫn còn rất nhiều người muốn, tất nhiên rồi – đấy là chưa kể đến tất cả những người từng bay, dù là trên tàu con thoi hay trên Soyuz, đang nóng lòng muốn trở lại không gian. Ngày nay, ai cũng biết rằng chương trình đưa người lên không gian của NASA đang là một mớ bòng bong – không có một định hướng rõ ràng nào cho việc thám hiểm sâu trong không gian và thậm chí cũng chẳng có thỏa thuận nào cho những con tàu đưa người lên quỹ đạo thấp. NASA hiện đang xây dựng tàu Orion – một kiểu tàu Apollo ngoại cỡ, chủ yếu là để phục vụ việc thám hiểm vũ trụ. Trong khi đó, các công ty tư nhân như SpaceX, do người phát minh ra PayPal Elon Musk sáng lập, đang quyết liệt đầu tư cho việc kinh doanh chế tạo tàu con thoi đưa người lên quỹ đạo thấp. Nếu những con tàu này được đưa vào sản xuất rồi sử dụng thì những cuộc phóng tàu ở Mỹ có thể sẽ lại xuất hiện thường xuyên – và thậm chí tiện nghi nữa.  Nhưng từ nay tới lúc đó, hãy thắt chặt dây an toàn: sẽ xóc đấy!     Một số thông số kỹ thuật về khoang đổ bộ của Soyuz:            Khối   lượng      2900   kilogram          Chiều   dài      2,1   m          Đường   kính      2,2   m           Đường   kính cửa ra vào      700   millimet          Thể   tích sinh hoạt      4   met khối           Tải   trọng       50 kilogram cùng ba phi hành   gia, hoặc:  150 kilogram cùng hai phi   hành gia           (http://www.russianspaceweb.com/soyuz_sa.html)  ——-  (1) Có nghĩa là “Liên Hiệp” trong tiếng Nga.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Neanderthal, Denisovan và có thể cả Homo Sapien đã cùng sống chung?      Người Neanderthal và Denisovan đã từng cùng sống trong một hang động ở Siberia cách đây 300.000 năm. Và có thể cả Homo Sapien cũng cùng ở đây.      Các nhà khoa học nghiên cứu tại hang Denisova. Ảnh: Nature.  Các nhà khảo cổ học Liên xô cũ đã bắt đầu vén màn câu chuyện về hang Denisova dưới chân dãy Altai của Siberia vào những năm 1980. Kể từ đó, các nhà khoa học đã tìm thấy di cốt của nhiều người cổ tại đây và hang Denisova trở nên nổi tiếng toàn thế giới khi các nhà khoa học chứng minh được rằng, các di cốt đó thuộc về một dân cư cổ đại không phải người Neanderthal hay Homo sapien, mà sau đó đã được đặt tên là người Denisovan. Kết quả giải trình tự gene cho thấy, người Denisovan là một nhánh có họ hàng với người Neanderthal và có thể đã từng di chuyển, sinh sống ở khắp châu Á và có thể để lại yếu tố di truyền cho con người hiện đại ngày nay ở các khu vực đó.   Tuy nhiên, trước đây, các nhà khoa học chưa có nhiều dữ liệu để khẳng định mức độ tương tác giữa người Denisova và Neanderthal trong quá khứ. Chỉ cho đến gần đây, những công bố mới trên Nature cho thấy, hai chủng người này đã sống bên nhau trong khoảng thời gian lên tới hàng chục nghìn năm. Các nghiên cứu này phân tích phân tích di vật còn sót lại cũng như trầm tích ở trong hang Denisova, từ đó cung cấp được bức tranh lịch sử chi tiết đầu tiên về mối quan hệ giữa các chủng người cổ đại ở đây. “Giờ đây chúng tôi có thể kể với các bạn toàn bộ câu chuyện rồi”, Zenobia Jacobs, nhà địa lý học tại Đại học Wollongong, Australia, người đứng đầu một trong hai công bố nói.   Những phát hiện đầu tiên cho thấy, có người cổ đại đã làm chủ hang này – với các công cụ đá có niên đại lên tới 300.000 năm cách ngày nay, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn không trả lời được câu hỏi chính xác “liệu người Denisovan hay Neanderthal đã tạo ra chúng?”. Một phát hiện đáng chú ý là đã xác định được di cốt là con lai đầu tiên giữa người Denisovan và người Neanderthal – được đặt tên là Deny – trong hang này vào năm ngoái. Việc tìm ra và xác định di cốt của Denny là con lai giữa người Denisovan và người Neanderthal rất quan trọng, ít nhất, nó khẳng định chắc chắn tại một thời điểm, hai nhóm người này phải sống gần nhau. Tuy nhiên, ngoài việc xác định được niên đại của Denny, các nhà nghiên cứu cũng không rõ, khi họ đã có mối tương tác với nhau, thì chính xác họ sống cạnh nhau ở những thời điểm nào hoặc thậm chí họ có cùng sống trong hang Denisova không.     Các lớp thời gian phát hiện hiện vật, công cụ tại hang Denisova. Biểu đồ: Nature  Mặt khác, các nhà nghiên cứu đặt giả thiết là Homo Sapien cũng có thể sống trong hang này. Trong hang cũng còn sót lại trang sức bằng xương, công cụ lao động – những hiện vật tương tự như của những người Homo sapien đầu tiên có mặt ở châu Âu – ở trong những lớp đất đá có niên đại khoảng 49.000 năm đến 43.000 năm cách ngày nay trong hang. Đây là những kết quả trong bài báo đã xuất bản trên Nature của nhà khảo cổ học Katerina Douka ở Viện Max Planck về Lịch sử loài người ở Đức và Tom Higham ở Đại học Oxford, Anh.  Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy xương của một hominin (tông người) trong hang có niên đại vào khoảng 46.000 đến 50.000 năm cách ngày nay nhưng chưa thể xác định ADN của nó thuộc về loài nào.   Chưa có một di cốt nào khác của người Homo sapien còn lại của thời kỳ này – giai đoạn sơ kỳ của thời đại đồ đá cũ, được phát hiện trong hang Denisova hoặc khu vực rộng hơn là dãy Altai. Vì lý do này, các nhà khoa học Nga đã khai quật tại khu vực này cho rằng chính người Denisova là tác giả của những công cụ tinh vi hơn những công cụ của thời đồ đá cũ trong cùng khu vực. Nhưng Tom Higham muốn nghiên cứu thêm các bằng chứng khác trước khi kết luận bất kỳ nhóm nào là chủ nhân của những công cụ đó.   Bảo Như lược dịch  https://www.nature.com/articles/d41586-019-00353-0       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Nga đấu với máy Đức      Sẽ có 6 trận đấu giữa đại kiện tướng cờ vua Nga Vladimir Kramnik và Deep Fritz – chiếc máy tính chơi cờ của Đức. Nếu thắng, Kramnik sẽ được nhận giải thưởng 1 triệu đôla.    “Cỗ máy này rất thú vị, nhưng đừng có bớt của tôi đồng tiền thưởng nào nhé”, Kramnik nói, “Tôi biết là một số nhà vô địch thế giới cũng rất ngại chơi với máy tính – có lẽ họ sẽ tránh những trận đấu kiểu như thế này.  Điều đó là có thể hiểu được, bởi vì việc thua máy tính sẽ không phải là hay cho lắm, nó sẽ ảnh hưởng đến các trận đấu sau này. Tất nhiên là con quái vật biết đánh cờ này sẽ càng ngày càng mạnh: đối thủ của tôi là cực kỳ khó xơi. Nhưng tôi nghĩ là tôi vẫn có thể đánh bại nó. Trong bất cứ trận nào, tôi cũng đều vô cùng khát khao chiến thắng. Có lẽ tôi sẽ là người cuối cùng được chiến đấu và chiến thắng cỗ máy này. Đội của tôi và tôi sẽ nỗ lực hết sức để cho cái gọi là trí tuệ nhân tạo này biết thế nào là lễ độ”.     “Trận đấu cờ giữa người và máy không chỉ là một thí nghiệm khoa học thuần túy, nó còn là một sự kiện văn hóa thể thao vô cùng đặc biệt, không giống bất cứ loại hình nào khác”, trưởng ban tổ chức giải vô địch cờ vua thế giới 2006 Josef Resch nói.   Giải vô địch cờ thế giới năm nay sẽ thêm vào một chương mới trong lịch sử đấu cờ giữa con người và trí tuệ nhân tạo. Hai đấu thủ Vladimir Kramnik và Deep Fritz đã từng chạm trán nhau một lần: năm 2002 ở Bahrain, nhà vô địch thế giới Kramnik đã kết thúc trận đấu với cỗ máy này với tỷ số hòa 4:4.  (Theo http://www.rag.de)  Thanh Nhàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người nói hai ngôn ngữ hồi phục tốt hơn khi bị đột quỵ      Theo công bố của nhóm nghiên cứu ở Viện Khoa  học Y khoa Nizam, Ấn Độ, do Tiến sĩ thần kinh học&#160; Suvarna Alladi đứng  đầu, sau khi bị đột quỵ, những người nói hai thứ tiếng có khả năng hồi  phục chức năng nhận thức cao gấp đôi so với những người chỉ nói một thứ  tiếng.        Theo lý giải của nhóm nghiên cứu, việc sử dụng đa ngữ là một thách thức đối với não bộ, bởi việc tìm ra những từ ngữ tương đương giữa các ngôn ngữ cũng là một nhiệm vụ khó khăn. Thách thức này thúc đẩy cơ chế thần kinh mềm dẻo (neuroplasticity) hay “dự trữ về nhận thức”, từ đó giúp não bộ có sự chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thách thức mới, chẳng hạn như bệnh tật.    Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu hồ sơ y học của 608 bệnh nhân đột quỵ được điều trị tại Viện Khoa học Y khoa Nizam từ năm 2006 đến năm 2013. Hơn một nửa trong số các bệnh nhân trên biết nói ít nhất hai thứ tiếng. Sau khi tính đến các yếu tố khác về lối sống như thói quen hút thuốc, huyết áp, tiểu đường, tuổi tác, giáo dục,… nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng sau cơn đột quỵ, khoảng 40% những người nói hai thứ tiếng phục hồi chức năng nhận thức bình thường, trong khi tỉ lệ này ở những người chỉ nói một thứ tiếng là 20%.    TS Alladi cho hay, việc sử dụng ngoại ngữ hoặc biết phát âm trôi chảy một ngoại ngữ dù không sử dụng nó thường xuyên cũng giúp ích cho não bộ. “Yếu tố quan trọng nhất ở đây là việc sử dụng ngoại ngữ lâu dài. Nếu bạn học ngoại ngữ ở trường nhưng sau đó lại không sử dụng đến thì cũng không có tác dụng gì. Thông điệp mà chúng tôi muốn đưa ra là: để tự bảo vệ mình, chúng ta có thể thực hành các hoạt động kích thích nhận thức như sử dụng tiếng nước ngoài, chơi một nhạc cụ nào đó, hoặc các hoạt động khác,” bà nói.    Trang Bùi dịch  Nguồn:  http://www.reuters.com/article/2015/11/25/us-health-stroke-language-cognitive-idUSKBN0TE2NL20151125         Author                Quản trị        
__label__tiasang Người ôm giấc mơ điện tử Việt      Ông từng là Phó tổng Giám đốc một liên doanh sản xuất hàng điện tử mà thương hiệu của nó nổi tiếng khắp toàn cầu. Năm 2000, ông từ chức để về làm Giám đốc Công ty Cổ phần sản xuất hàng điện tử, với ước mong gây dựng những viên gạch cho hàng điện tử Việt Nam. 5 năm sau, khi thương hiệu Vitek đã được người tiêu dùng biết đến, với tivi phẳng của người Việt Favi, đến đầu karaoke Hát hay, hay hát mà phần mềm tự chọn hình ảnh phù hợp với lời bài hát do nhóm kỹ sư Việt Nam tự thiết kế chíp, thì ông lại quyết định làm lại từ đầu, ở một công ty mới    Người đi ngược  Khi ông rời liên doanh, hầu hết bạn bè quen biết đều không tán thành, duy chỉ có hai người bạn thân là ủng hộ quyết định. Khi ông sang làm Soncamedia, có tới 75% số người quen được hỏi đều cho rằng ông sẽ thất bại, bởi họ đánh giá rằng lối ra cho hàng điện tử Việt Nam đã khép lại.  Trên thực tế, từ 1.1.2006, hàng rào bảo hộ hàng điện tử trong nước đã được dỡ bỏ, với thuế suất áp dụng cho hàng có xuất xứ trong khối ASEAN ở mức 0-5%. Đó là lúc hạ màn của một kịch bản được báo trước, rằng sau thời gian dài được ưu đãi để phát triển, giấc mơ về ngành điện tử Việt Nam đã không thành sự thật. Tại sân nhà, cái gọi là hàng điện tử của Việt Nam chỉ là các nhà máy sản xuất, nặng về lắp ráp dây chuyền, với hàm lượng giá trị gia tăng thấp thì làm sao cạnh tranh lại với hàng của hãng Nhật Bản, Hàn Quốc vốn đã biết tận dụng AFTA để chuyển nhà máy sang các nước khu vực này. Cơ hội để có một ngành điện tử thực thụ đi từ sản xuất bán dẫn, chíp, rồi đến các nhà máy lắp ráp theo công nghệ dán bề mặt (SMT) đã trôi tuột… vì không ai chịu đầu tư. Các công ty có tên chứa âm tronics… đã sống no đủ bằng lắp ráp được ưu ái về thuế suất. “Bây giờ đầu tư một nhà máy sản xuất chíp phải mất vài tỷ USD, mà làm đủ ba ca, mới mong hoàn vốn trong 3 năm” – một nhà doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử nhận định.  Bao nhiêu lần trò chuyện với ông, giấc mơ về ngành điện tử Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn. Có lúc giọng ông chùng xuống khi nhắc về các toan tính đầu tư bất động sản của các doanh nghiệp cùng ngành, chợt sôi nổi hẳn khi nói về sự trưởng thành của những kỹ sư trẻ sau những chuyến du học nước ngoài. Với ông, vẫn còn lối đi hẹp cho ngành điện tử, cho các công ty nhỏ như Soncamedia. Ông là…  Lối đi hẹp  Chen chân qua khe hẹp thiết kế, tuy khó đi, nhưng theo ông Lê Văn Chính (Công ty Sơn Ca), là khả dĩ nhất. Bởi đầu tư bằng chất xám thiết kế mạch, thiết kế chíp thích hợp với tư chất người Việt. Giá trị hàm lượng chất  xám trong các sản phẩm số hóa ngày càng chiếm tỉ trọng cao. Ông cho rằng, việc số hóa các sản phẩm điện tử dân dụng là cơ hội cho các thương hiệu nhỏ, cho các nước đến sau. Ông nói: “Với kỹ thuật số, hàm lượng tri thức trong sản phẩm trở nên giá trị, kỹ thuật số là con đường để các công ty nhỏ có thể rút ngắn khoảng cách, đua kịp các công ty lớn”.  Khi ngành điện tử dừng ở mức công nghệ tương tự, thì khó có thể so sánh được sản phẩm của các thương hiệu. Chẳng hạn, so sánh hai tivi, người ta  phải đặt cạnh nhau, xem màu sắc, độ tương phản, hãng điện tử nào cũng cho rằng mình có “hình ảnh sống động, âm thanh tuyệt hảo”. Với sản phẩm kỹ thuật số thì khác, độ phân giải từ 720 dòng trở lên là được xếp vào dòng HDTV. Tivi nào hiện nay có độ nét 1080i hay 1080p là có thể bán được giá cao. Ở Mỹ, tivi đạt độ nét như vậy có giá bán tối thiểu ở mức từ 2.200-2.500USD.  Cuối tháng 12, Soncamedia cho ra đời đầu DVD hai lớp hiệu ACNOS, có dung lượng 8,5GB. Đầu DVD này có khả năng đọc đĩa và phát hình phù hợp với TV có độ phân giải cao. Ông Lê Văn Chính (Công ty Soncamedia) cho biết, sau đầu DVD, công ty sẽ tiếp tục đưa ra thị trường các sản phẩm kỹ thuật số do Việt Nam thiết kế một số công đoạn như chip, phần mềm. Trong các sản phẩm sắp tới, công ty tích hợp phần mềm Windows Media Player có bản quyền vào sản phẩm.  Tôi yêu tiếng nước tôi  Tôi yêu tiếng nước tôi…, một câu nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy đã được chọn là nhạc hiệu khi mở sản phẩm của Sơn Ca. 100 triệu cho câu nhạc này để Sơn Ca dùng trong 20 năm. Dù câu nhạc này được giới trẻ ít biết đến, nhưng những người ở độ tuổi 40 trở lên khá thân thuộc. Đó cũng là cách thể hiện không lời suy nghĩ của ông về kinh tế thị trường kiểu Việt Nam.  Trước khi rời công ty cũ, ông dành một quãng thời gian để nhìn lại, suy ngẫm và xây dựng lại phương châm sống của mình. Từ: “Dù trong quằn quại đau đớn tôi cũng yêu tha thiết trần gian điên dại này” của Hermann Hess được ông sửa thành: “Nhờ vào sự hiểu biết và sự thực tập, tôi bắt đầu thương yêu tha thiết trần gian mầu nhiệm này. 2005”. Ông cho biết: “Phương châm sống của Hess lý tưởng quá, lý tưởng đến mức tôi học theo đến 20 năm trời mà không học được. Muốn yêu thương cuộc đời này, phải hiểu thật nhiều và phải thực tập nữa, phải thực tập yêu thương và tôi lại bắt đầu”.  Sự bắt đầu của ông bằng suy nghĩ khác về thương hiệu. Thẳng thắn nhận định đã sai lầm khi quá khuyếch trương thương hiệu Việt mà chưa chú trọng đào tạo nhân lực để phát triển kinh tế tri thức, ông suy nghĩ rằng: “Có một sản phẩm của Việt Nam thật sự, có một nền công nghiệp điện tử thật sự, vươn cao hơn nữa là một nền công nghiệp dựa trên tri thức”.  Bên cạnh đó, chìa khóa để mở cửa thị trường là sử dụng nguồn năng lượng yêu nước, dựa trên lập luận về nền kinh tế thị trường tương trợ hoàn toàn khác với nền kinh tế thị trường duy lợi, mà theo ông “không phù hợp với các nước chậm phát triển như Việt Nam”. Thay vì chỉ chăm chăm vào lợi nhuận, mỗi doanh nghiệp nên chịu khó hy sinh một chút, thay vì mua nguyên vật liệu và dịch vụ nước ngoài với giá rẻ, có thể chấp nhận lãi ít đi để dùng nguyên vật liệu và dịch vụ trong nước. Bên cạnh lợi ích doanh nghiệp, còn xét đến tương quan lợi ích cộng đồng, cùng nhau phát triển. Lợi nhuận cá nhân không phải là tiêu chí số một mà lợi ích cộng đồng sẽ được cân nhắc. Song hành với doanh nghiệp, người tiêu dùng cũng bớt thực dụng đi, khi quyết định mua hàng cũng sẽ cân nhắc yếu tố hàng nội hóa. Ông nói: “Nếu mỗi người Việt chịu khó chi tiêu thêm mỗi tháng 1.000 đồng cho hàng nội hóa thôi thì chúng ta đã có thêm 80 tỉ doanh số hàng nội hóa. Sức mạnh của lòng hy sinh này của người tiêu dùng Việt lớn hơn sức mạnh của hàng rào thuế quan rất nhiều”.  Để công bằng cho sự hi sinh đó, theo ông, thay vì cổ động hàng hóa thương hiệu Việt, nên xây dựng một chỉ số hàm lượng Việt Nam trong sản phẩm. Chỉ số này, như ông tạm gọi là Vxx, trong đó xx sẽ là số chỉ phần trăm Việt Nam tính trên giá bán. Doanh nghiệp nếu muốn phô trương thanh thế là sản phẩm có hàm lượng Việt Nam để sử dụng năng lượng hy sinh của người tiêu dùng Việt sẽ phải nộp đơn xin xác nhận chỉ số Vxx.      Vĩ thanh  Tôi thuộc thiểu số nghĩ rằng ông sẽ làm được cái gì đó cho sự phát triển của ngành điện tử. Còn thành công hay không thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Với tốc độ phát triển công nghệ như hiện nay, trên quãng đường AB, khi bạn nghĩ sẽ đạt được tới đích thì công nghệ thay đổi, cái đích đó có thể không bao giờ đạt được. Nhưng tôi tin dù là đích nào đi nữa, ông cũng sẽ vượt qua các thách thức. Mơ ước và dám sống với mơ ước đã đáng trân trọng. Con người ngày nào cũng soi mình trong câu nói ăm ắp tình yêu cuộc sống của Hess như ông, thì chắc hẳn có đủ nghị lực và niềm tin để biến ước mơ thành sự thật.  Quốc Khánh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người phát hiện pulsar nhận giải Breakthrough 2018      Jocelyn Bell Burnell đã được tôn vinh xứng đáng cho phát hiện cách đây 50 năm của mình.      Jocelyn Bell Burnell ở tuổi 31 trong ngôi nhà tại Horsham. Ảnh: PA Archive/PA Images.  50 năm sau khi phát hiện ra sao xung (pulsar) – các sao neutron xoay rất nhanh và phát ra chùm tia phóng xạ, nhà vật lý Jocelyn Bell Burnell đã được trao Giải Breakthrough trị giá 3 triệu USD. Với phát hiện mà nhiều người đánh giá là xứng đáng được nhận Giải Nobel, Bell Burnell, hiện ở tuổi 75, đã được Ủy ban Breakthrough ghi nhận bằng một giải thưởng đặc biệt trong vật lý cơ bản cho những thành tựu khoa học và vai trò “tiên phong truyền cảm hứng” trong suốt hơn năm thập kỷ qua.  Chiara Mingarelli , một nhà vật lý thiên văn tại Viện Flatiron ở New York nhận xét: “Tôi không thể nghĩ có nhà khoa học nào xứng đáng nhận giải thưởng này hơn bà. Không chỉ là người tiên phong và cây đại thụ, Bell Burnell còn là mẫu hình xuất sắc nhất trong lĩnh vực này – đại diện xứng đáng cho phụ nữ làm khoa học, dũng cảm đấu tranh chống bất bình đẳng với phụ nữ trong lĩnh vực STEM.”  Ra đời năm 2012 và nhóm doanh nhân gồm nhà đồng sáng lập Google – Sergey Brin và nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg tài trợ, Giải thưởng Breakthrough gồm ba giải thưởng trị giá 3 triệu USD ở ba lĩnh vực: vật lý cơ bản, khoa học sự sống và toán học. Dù được lựa chọn từ một quá trình đề cử mở, nhưng hội đồng lựa chọn vẫn có thể bỏ qua thủ tục đề cử tiêu chuẩn và đưa ra những giải thưởng đặc biệt để trao cho những người mà họ cho là xứng đáng. Những giải thưởng đặc biệt từng được trao cho Stephen Hawking, Đài quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser (LIGO) và 7 nhà khoa học của CERN cùng săn tìm hạt Higgs boson.  Những vệt mờ bí ẩn  Là những sao nhỏ, đặc, chủ yếu được cấu tạo từ các neutron, pulsar quay với một tốc độ chính xác, đồng thời phát ra bức xạ. Năm 1967, Bell Burnell, khi đó là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại ĐH Cambridge (Anh), dưới sự hướng dẫn của nhà thiên văn học Antony Hewish, phân tích hàng trăm mét biểu đồ in trên giấy của dữ liệu thu được từ kính viễn vọng vô tuyến ở Cambridge.  Khi phát hiện một số vết mờ bí ẩn xuất hiện định kỳ, Bell Burnell đã phân tích những đặc điểm này là dấu hiệu của các xung vô tuyến phát ra từ một ngôi sao quay: pulsar. Mingarelli nhận xét: “Khám phá này là minh chứng cho óc tò mò, sự quyết tâm và tính sáng tạo của bà.”  Năm 1974, cùng với nhà thiên văn vô tuyến Martin Ryle, Hewish đã được trao giải Nobel Vật lý cho nghiên cứu tiên phong trong vật lý thiên văn. Hewish được ghi nhận do “vai trò quyết định trong việc khám phá ra các pulsar” – trong khi Bell Burnell bị bỏ qua. Bản thân Bell Burnell từng phát biểu, bà không quan tâm đến việc ghi nhận này bởi biết rằng giải Nobel thường không trao cho nghiên cứu sinh.  Hiện nghiên cứu tại ĐH Oxford và ĐH Dundee Bell Burnell “hết sức ngạc nhiên” và “lần đầu trong cuộc đời, tôi không thể nói lên lời” khi biết mình được trao giải Breakthrough. Ngay lập tức, bà đã thảo luận với Hội Vật lý Anh và Ireland về việc chuyển tiền thưởng thành các học bổng tiến sĩ cho những người thuộc các nhóm chưa được đánh giá đúng mức trong khoa học. Bell Burnell nói: “Sự đa dạng là rất quan trọng. Tôi đã nhận thấy mình đã thực hiện phần việc quan trọng nhất trong sự nghiệp nghiên cứu ngay khi còn là sinh viên.”  Điều hướng sao xung  Đến nay, phát hiện của Bell Burnell vẫn còn sức ảnh hưởng. Ví dụ, đầu năm 2018, các nhà khoa học ở NASA đã chứng minh tính khả thi của việc sử dụng pulsar để điều hướng trong thí nghiệm SEXTANT được thực hiện trên trạm Vũ trụ quốc tế với ý tưởng tàu vũ trụ robot trong tương lai có thể dùng những tia X đến đều đặn như kim đồng hồ của pulsar để lập lưới tam giác đo đạc vị trí của các pulsar.  Trong khi đó, Mingarelli và các nhà thiên văn học khác đang theo dõi các vụ nổ từ một loạt các pulsar nằm rải rác quanh thiên hà này, tìm kiếm những thay đổi nhỏ trong những lần thời gian đến Trái đất của những xung tia X đó. Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng sẽ chỉ ra rằng pulsar bị đẩy bởi một một sóng hấp dẫn vừa đi ngang qua – một gợn sóng trong không – thời gian được tạo ra bởi những sự kiện chấn động như vụ sáp nhập của các lỗ đen khổng lồ – các vật thể nằm ở trung tâm các thiên hà, với khối lượng gấp hàng triệu đến hàng tỷ lần khối lượng Mặt trời (trái ngược, Đài quan sát LIGO dò các sóng hấp dẫn phát ra từ các vật thể nhỏ hơn như lỗ đen sao, các vụ va chạm). Các nhà vật lý thiên văn chờ đợi có thể phát hiện được sóng hấp dẫn được hình thành từ quá trình như vậy trong vài năm tới đây. Mingarelli nói: “Các xung có thể được sử dụng để biến một thiên hà thành một máy dò sóng hấp dẫn khổng lồ. Như vậy, bạn có thể nhận thấy những kết quả sâu rộng từ công trình của Bell Burnell.”  Brian Keating, một nhà vật lý thiên văn tại ĐH California, San Diego ở La Jolla, người vừa xuất bản một cuốn sách chỉ trích quá trình lựa chọn của Hội đồng Nobel, nhận xét giải Breakthrough đã “sửa đúng những bất công trong quá khứ và vinh danh xứng đáng những đóng góp tiên phong và quan trọng của một nhà khoa học đã mở ra cửa sổ mới trong vũ trụ.”  Keating cũng lưu ý, Bell Burnell vẫn có thể được trao giải Nobel mà không vi phạm bất kỳ quy tắc nào của giải Noel – “Khi làm điều này ngay lập tức cũng sẽ gửi đến một thông điệp đầy cảm hứng cho các nhà khoa học – nam và nữ, trẻ hay già – rằng chỉ có bản thân khám phá mới có giá trị, chứ không phải tuổi tác, giới tính hay uy tín của người khám phá ra nó.”  Thanh Trúc dịch  TS. Ngô Đức Thế (Đại học Manchester, Anh) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06210-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người phụ nữ đưa các phi hành gia Mercury vào vũ trụ      Katherine Goble có một tài năng đặc biệt: luôn có mặt đúng chỗ, vào đúng thời điểm. Thời điểm đó là tháng 8 năm 1952, tại Marion, Virginia, Katherine cùng chồng Jimm      Katherine Johnson, giờ 99 tuổi.  Chị gái của Jimmy là Margaret cũng đến dự lễ cưới cùng chồng Eric Epps từ Newport News. “Tại sao hai em không đến sống cùng anh chị nhỉ?” Eric nói với Katherine, “anh có thể tìm cho Jimmy công việc tại xưởng đóng tàu, và anh có thể tìm việc cho cả hai.” Qua Eric, Katherine biết một cơ quan chính phủ ở Hampton (gần Newport News) nhận phụ nữ da đen vào làm, và họ đang tìm các nhà toán học. Đó là một công việc dân sự, nhưng gắn liền với Phòng thí nghiệm Hàng không Memorial Langley – tiền đồn lâu đời nhất của Ủy ban Cố vấn Quốc gia về Hàng không (NACA).  Katherine chăm chú lắng nghe Eric mô tả công việc. Cô và Jimmy kiếm sống bằng nghề giáo, nhưng phải thường xuyên làm thêm các công việc phụ khác vì tiền lương rất ít ỏi so với nhu cầu của ba cô con gái đang tuổi ăn học. Vào hè, gia đình Gobles làm giúp việc cho một gia đình New York đến nghỉ hè tại Blue Ridge, Virginia.  Katherine rất thích giảng dạy. Cô cảm thấy một trách nhiệm “giúp phát triển chủng tộc”, không đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà còn là kỷ luật và lòng tự tôn trong học sinh, những phẩm chất cần thiết sau này để các em có thể thành công trong một xã hội mà các em thua thiệt về mọi mặt. Tuy nhiên khi Eric đề cập đến công việc liên quan đến toán học, kí ức về một tham vọng tưởng như đã ngủ yên từ lâu lại dấy lên trong Katherine, khiến chính cô cũng ngạc nhiên.  Đêm đó, Katherine và Jimmy bàn đến chủ đề đã chiếm trọn tâm trí họ. Nếu định đến Newport News, họ phải quyết định sớm: ngôi trường họ đang dạy cần thời gian để tìm giáo viên khác, và họ sẽ cần tìm nơi ở tại chỗ mới. Nhưng sự hứa hẹn của công việc đủ sức thuyết phục Katherine.  Cô thì thầm “Chúng ta hãy làm như vậy đi”.  Sinh ra và lớn lên ở White Sulphur Springs, West Virginia, Katherine là con út trong bốn người con của Joshua và Joylette Coleman. “Con không hơn bất cứ ai, và không ai hơn con,” Joshua nói với con cái của mình. Cha cô là một người đã giành được sự kính trọng của cả người da đen lẫn da trắng trong vùng.  Dù chỉ học đến lớp sáu, cha của Katherine có năng khiếu bẩm sinh về toán học. Ông có thể chỉ nhìn vào một cây và nhẩm tính sẽ thu được bao nhiêu mét khối gỗ.  Ngay khi Katherine bắt đầu biết nói, Joshua và Joylette nhận ra rằng cô bé thừa hưởng năng khiếu toán học của cha mình. Katherine đếm bất cứ thứ gì cô bé thấy được: các chiếc đĩa, bậc thang và các ngôi sao trên trời. Với trí tò mò vô hạn, cô bé đặt ra vô số câu hỏi cho các giáo viên và nhảy cóc từ lớp hai lên lớp năm. Ngôi trường duy nhất trong vùng dành cho người da đen chỉ dạy đến lớp sáu. Khi chị gái của Katherine tốt nghiệp, Joshua thuê nhà cách đó hơn 200 km để bốn người con tiếp tục đi học tại trường thực nghiệm của Viện Tiểu Bang Tây Virginia (laboratory school là trường nhằm nghiên cứu và thí nghiệm các phương pháp giảng dạy).      Đối mặt với sự phân biệt và kỳ thị, Katherine và những người như cô ngày nào cũng luôn phải khéo léo với cách ăn mặc gần như hoàn hảo, cách ăn nói đúng mực, luôn thể hiện lòng yêu nước và luôn ý thức rằng sự tương tác hằng ngày của họ với người da trắng có thể có ảnh hưởng đến cách mọi người nhìn cả cộng đồng da đen.         Năm 1933, Katherine trở thành sinh viên năm thứ nhất Cao đẳng bang West Virginia khi mới 15 tuổi. Nhờ thành tích học tập từ trung học, cô được học bổng toàn phần. Một giáo sư toán học ở đó là William Waldron Schieffelin Claytor. Sự nghiêm khắc của ông khiến hầu hết các sinh viên sợ hãi, họ không thể theo kịp khi giáo sư điên cuồng viết các công thức lên bảng bằng một tay và nhanh chóng xóa đi bằng tay kia. Ông chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, không để tâm đến những phản ứng hoang mang của sinh viên. Nhưng Katherine, với thái độ học tập cực kì nghiêm túc, đã nghiên cứu hết cả chương trình và Claytor đã phải mở những lớp cao cấp dành riêng cho cô.  “Em sẽ làm một nhà toán học, một nhà nghiên cứu tốt”, Claytor nói với cô sinh viên 17 tuổi nhưng đã học đến năm 2. “Và thầy sẽ chuẩn bị cho em để thành công với sự nghiệp đó.”  Từng là một sinh viên sáng giá và đầy hoài bão, tốt nghiệp Đại học Howard và Đại học Pennsylvania, và là một trong ba Tiến sĩ toán học da đen duy nhất, Claytor đã chờ đợi trong vô vọng để được tuyển vào các khoa Toán hàng đầu nhưng chỉ có Trường Cao đẳng Bang West Virginia là nhận ông. Tuy nhiên, như để bù đắp lại nỗi thất vọng về sự nghiệp của bản thân, Claytor gửi gắm niềm tin vững chắc rằng Katherine có thể có một tương lai thành công trong nghiên cứu toán học, mặc cho điều kiện thực tế khắc nghiệt lúc đó. Vào những năm 1930, chỉ có hơn 100 phụ nữ ở Hoa Kỳ làm việc như các nhà toán học chuyên nghiệp. Các nhà tuyển dụng công khai phân biệt đối xử với phụ nữ Ailen và Do Thái có bằng toán;  còn với phụ nữ da đen, tỷ lệ được nhận trong lĩnh vực này gần như không.  “Nhưng em sẽ tìm việc ở đâu?” Katherine hỏi.  “Đó sẽ là vấn đề của em,” đáp lại giáo sư Claytor, người thầy, người cố vấn của cô.  Tháng 6 năm 1953, Katherine bắt đầu công việc của mình như một “người tính toán” (human computer) trong nhóm tính toán West Area của Langley, nơi “những cô gái da màu” giỏi toán làm việc. Người trực tiếp quản lý cô là Dorothy Vaughan, một nhà toán học xuất sắc khác, người đã gia nhập West Computing (bộ phận tính toán của Langley) 10 năm trước và đã trở thành người đứng đầu bộ phận. Katherine không mất nhiều thời gian để nhận ra và ngưỡng mộ tài năng của Dorothy cả với tư cách là nhà toán học lẫn người quản lý.  Trong vài ngày đầu, Katherine bắt đầu với việc điền vào các bảng dữ liệu theo các phương trình đưa ra bởi Vaughan hoặc các kĩ sư. Hai tuần sau, một người da trắng tìm đến văn phòng của Vaughan. Sau khi nói chuyện với người này, Vaughan gọi Katherine và một phụ nữ khác là Erma Tynes đến. “Phòng nghiên cứu về hành trình bay đang yêu cầu hai người tính toán mới,” Vaughan nói. “Tôi sẽ gửi hai người đến tòa nhà 1244. ”     Tổng thống John F Kenedy tham quan Trạm Hàng không Cape Canaveral, nơi diễn ra quá trình tiền cất cánh của dự án Mecury. Dự án này đỏi hỏi rất nhiều tính toán siêu chính xác mà Katherine Johnson tham dự, đảm bảo các phi hành gia trở về Trái đất an toàn.  Đối với Katherine, được chọn để làm việc tại tòa nhà 1244 là một may mắn bất ngờ. Cô đã thấy phấn khởi khi ngồi tính toán các bản dữ liệu do Vaughan giao, nhưng được gửi đến ngồi chung với những bộ não siêu việt tại tòa nhà 1244 có nghĩa là được gần hơn với một trong những nhóm nghiên cứu quan trọng và mạnh nhất của Langley.  Bên trong tòa nhà đầy mùi cà phê và thuốc lá. Hầu hết người làm việc đều là nam giới, nhưng xen kẽ có một vài phụ nữ thao tác trên máy cộng hay nhìn chăm chú vào các trang tài liệu.  Bên ngoài viện nghiên cứu, các quy tắc đẳng cấp rất rõ ràng. Người da đen và người da trắng sống riêng rẽ, ăn riêng, học riêng, giao tiếp xã hội riêng, và với hầu hết trường hợp, làm việc ở những nơi riêng biệt. Tại Langley, ranh giới mờ hơn: dù người da đen vẫn phải dùng phòng vệ sinh riêng, nhưng họ cũng được trao cơ hội làm việc trong một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Một số đồng nghiệp của Goble là người Mỹ da trắng hoặc những người nước ngoài chưa bao giờ gặp một người da đen trước khi đến Langley. Những người khác đến từ miền Nam với thái độ phân biệt chủng tộc rõ ràng. Có thể nói, Langley chính là phòng thí nghiệm về quan hệ chủng tộc, nơi cả người da đen và da trắng cùng làm việc.  Katherine hiểu rằng thái độ của những người phân biệt chủng tộc nằm ngoài tầm kiểm soát của mình.  Đối mặt với sự phân biệt và kỳ thị, Katherine và những người như cô ngày nào cũng luôn phải khéo léo với cách ăn mặc gần như hoàn hảo, cách ăn nói đúng mực, luôn thể hiện lòng yêu nước và luôn ý thức rằng sự tương tác hằng ngày của họ với người da trắng có thể có ảnh hưởng đến cách mọi người nhìn cả cộng đồng da đen. Katherine hiểu rằng tự mình phải vượt qua những bất an và sự sợ hãi, không để chúng xâm chiếm khiến mất lòng tin ở bản thân, dẫn tới thiếu tự tin, cộng thêm với sự phân biệt đối xử và chế nhạo, chính những điều đó có thể khiến cô rút lui khỏi cơ hội mà tiến sĩ Claytor đã chuẩn bị kỹ càng cho cô.  Sau hơn sáu tháng, có vẻ nhiệm vụ tạm thời của Katherine tại Phòng Nghiên cứu hành trình bay chuyển dần thành lâu dài. Đầu năm 1954, Dorothy nói với Henry Pearson rằng hoặc ông phải tăng lương cho Katherine, hoặc trả cô về bộ phận của Dorothy. Pearson đề nghị Katherine một vị trí chính thức với mức tăng lương tương ứng. Thực tế là ngay sau khi Katherine tới, các kĩ sư của Pearson đã nhận ra cô là người họ cần giữ lại.  Sau này khi đã qua độ tuổi 90, Katherine vẫn nhớ như thể mới ngày hôm qua: khi cô nhìn thấy cái đốm sáng lấp lóe trên bầu trời vào tháng 10 năm 1957. Khắp nước Mỹ, người dân nhìn lên bầu trời, đầy háo hức xen lẫn sợ hãi, băn khoăn không biết liệu quả cầu kim loại 83 kg mà người Nga phóng lên quỹ đạo quanh Trái đất có quan sát thấy họ không.  Đó có thể coi là một thất bại của Mỹ. Người Mỹ vẫn không thể hiểu sao điều đó lại xảy ra sau khi họ đã chiến thắng áp đảo ở cuộc thế chiến trước đó. “Đi đầu trong không gian có nghĩa là dẫn đầu,” tuyên bố của Thượng nghị sĩ Major Lyndon Johnson. “Thứ nhì trong không gian có nghĩa là thứ nhì trong tất cả mọi thứ.”  Tuy nhiên tại Langley, động thái của Liên Xô giống như một khởi đầu mới. Bầu trời đã chứng kiến những thành công trong suốt bốn thập kỷ nghiên cứu của Langley: từ máy bay phản lực chở khách đến máy bay ném bom, máy bay vận tải tới máy bay chiến đấu, và giờ là máy bay quân sự siêu thanh. Khi Katherine và các cộng sự tự hỏi đâu là thử thách tiếp theo, vệ tinh đầu tiên của Liên Xô – Sputnik – đã cho câu trả lời.  Mặc dù có nhiều tổ chức trong Chính phủ Mỹ cạnh tranh để dẫn đầu cuộc chinh phục không gian, NACA được chọn làm nơi tập hợp tất cả các hoạt động vũ trụ khác nhau. Tháng 10 năm 1958, với Langley là nhân tố chính, Chính phủ Hoa Kỳ hợp nhất tất cả các hoạt động vào NACA và đặt tên mới: Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA).  Khi bộ phận của Katherine chuyển các ưu tiên từ hàng không sang vũ trụ, công việc của cô đã có một bước rẽ đặc biệt. Dù việc điền vào các bảng dữ liệu vẫn là một phần trong nhiệm vụ, các kĩ sư giao thêm một nhiệm vụ nữa là chuẩn bị các đồ thị và phương trình cho một loạt bài giảng về công nghệ không gian – nơi các kĩ sư trình bày nghiên cứu. Đó chính là cuốn sách giáo khoa về không gian – được viết trong thời gian thực.  Katherine lắng nghe cẩn thận mọi thứ, và nghiền ngẫm tờ “Aviation week” (Tuần lễ Hàng không). Nhưng cô hiểu rằng những gì thật sự quan trọng diễn ra trong các cuộc họp kín nơi các kĩ sư báo cáo nghiên cứu. Sự quan tâm của cô với các cuộc họp kín càng tăng lên khi Katherine biết rằng cô đã ở rất gần: so với phần còn lại của đất nước, cô đang ngồi ở hàng ghế đầu của buổi trình diễn mà công chúng chỉ có thể biết đến qua báo chí và truyền hình. Nhưng chừng nào cô không tham gia các buổi họp kín thì cô cũng chỉ là một “khán giả” mà thôi.  Katherine đặt rất nhiều câu hỏi cho các kĩ sư dù phạm vi công việc chỉ xoay quanh loại máy bay cỡ nhỏ Cessna 405. Càng ngày càng có nhiều điều hơn để hỏi, nhiều hơn nữa để hiểu, và bởi vì tất cả đều mới, cô cảm thấy như đang cùng khám phá với các kĩ sư. Công việc càng ngày càng nhiều lên, và Katherine bắt đầu cân nhắc nghiêm túc câu hỏi đã luôn hiện hữu trong tâm trí.  “Tại sao tôi không thể đến các cuộc họp?” Cô hỏi các kĩ sư. Tại sao cô lại không muốn trở thành một phần của cuộc thảo luận cơ chứ, dù sao nó cũng sử dụng những kết quả tính toán của cô mà.    “Phụ nữ không đến dự các cuộc họp,” các đồng nghiệp nam nói với cô.  “Có luật nào cấm điều đó không?” Katherine đáp lại. Thực ra không hề có. Đó không phải là luật, mà chỉ là thông lệ đã luôn được tuân theo.  Dù Katherine có cảm thấy kém thế ra sao khi làm việc với các cộng sự nam, hay khi là một trong số ít người da đen làm việc trong một nơi toàn người da trắng, thì cô cũng vượt qua cảm giác đó khi cô đến làm việc vào mỗi sáng. Cô cố gắng không để sự phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng giới làm hỏng sự tự tin của mình: một khi họ đã vào văn phòng, thì tất cả đều như nhau.  “Tại sao tôi không thể tham dự các cuộc họp?” Katherine hỏi một lần nữa, không nao núng. Cô quyết định sẽ hỏi cho đến khi nhận được câu trả lời thỏa đáng. Cô đưa ra yêu cầu nhẹ nhàng nhưng dai dẳng, giống như những giọt nước muốn len lỏi để vượt qua tảng đá lớn trước mặt.  “Để cô ấy vào,” các kĩ sư mệt mỏi với việc liên tục phải từ chối, và quyết định để cô tham gia. Năm 1958, Katherine cuối cùng đã tham gia vào các cuộc họp của Phòng Nghiên cứu Hành trình bay, sau này là Phòng Cơ học Không gian vũ trụ. Từ giờ, cô sẽ là một phần của tiến trình.  NASA quyết định lần đầu tiên đưa người vào không gian là một chuyến bay “đạn đạo” đơn giản, giống như viên đạn bắn vào không gian từ một khẩu súng. Phi thuyền phóng lên rồi rơi xuống theo quỹ đạo parabol lớn, hạ cánh tại Đại Tây Dương. Phi hành gia cần hạ cánh đủ gần để chờ tàu hải quân nhanh chóng kéo lên khỏi mặt biển. Thách thức là làm thế nào để thiết lập đường bay sao cho phi thuyền sẽ đáp gần nơi tàu hải quân chờ, vì nếu tính toán không chính xác, phi thuyền vượt ra khỏi giới hạn và đe dọa tính mạng của phi hành gia.  Chuyến bay vào quỹ đạo không gian – mục tiêu của dự án Mercury – là vô cùng phức tạp. Phi thuyền cần phải được phóng lên với một góc chính xác và lực đủ mạnh để nó đi vào quỹ đạo quanh Trái đất một cách chính xác, và sau đó rơi trở lại đúng như đã dự định, đáp xuống gần chỗ tàu hải quân đợi.  “Hãy để tôi làm điều đó,” Katherine nói với Ted Skopinski. Trong thời gian làm việc với Skopinski, cô đã chứng tỏ khả năng toán học đáng tin cậy và làm việc với tinh thần đầy trách nhiệm. Các đồng nghiệp đang cố gắng với tất cả những gì họ có, và cô không thể đứng ngoài cuộc. “Cho tôi biết chỗ anh muốn phi hành gia đáp xuống, và tôi sẽ cho anh biết cần phải phóng anh ta thế nào.”  Việc đưa người vào vũ trụ là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng chính phần đưa họ trở lại Trái đất an toàn khiến Katherine trằn trọc hàng đêm. Mỗi nhiệm vụ có vô số kết cục thảm họa đang đón chờ, bắt đầu với tên lửa Atlas nổi tiếng, tên lửa đạn đạo liên lục địa cao 29 mét, được sửa đổi để đẩy phi thuyền Mercury vào quỹ đạo. Hai trong năm lần phóng của Atlas gần đây đã thất bại. Bản thân phi thuyền là một thiết bị tinh vi nhất hành tinh với hệ thống ô xy, điều áp, mọi công tắc, mọi đèn hiệu, mọi máy đo đều phải được kiểm tra xem có nguy cơ tiềm tàng nào không.  Nhiệm vụ Atlas là cực kì khổng lồ và phức tạp, nhưng thêm vào đó nó còn đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Mỗi một sai lầm, một sai số nhỏ trong việc tính toán tốc độ và gia tốc của tên lửa, hay độ chính xác thấp của khối lượng toàn bộ của phi thuyền… sẽ để lại hậu quả thảm khốc. Không ai hiểu điều này hơn phi hành gia John Glenn. Là một phi công bay thử nghiệm dày dặn kinh nghiệm, ông hiểu rằng cách duy nhất để loại bỏ tất cả các mối nguy hiểm là không bao giờ rời khỏi Trái đất.  Chuyến bay vào quỹ đạo đầu tiên của dự án Mercury được dời đến ngày 20/2 năm 1962. Ba ngày trước thời điểm quan trọng nhất của cuộc đời, Glenn kiểm tra lần cuối các số liệu mô phỏng. Trước khi chấp nhận vận mệnh của mình, anh yêu cầu kiểm tra lại việc đánh giá quỹ đạo bởi máy tính IBM 7090.  Thông điệp được gửi đến John Mayer hoặc Ted Skopinski rồi được truyền đạt xuống dưới: “Hãy để cô gái ấy kiểm tra các con số,” John nói. “Nếu cô ấy đồng ý với tính toán đó, tôi sẵn sàng xuất phát.”  Chính thời điểm đó Katherine đã làm nên lịch sử: cô là nhà toán học, một công dân Mỹ có tài năng lớn đã được công nhận, người sắp mang tài năng đó phục vụ đất nước. Katherine luôn là một người có niềm tin vững chắc vào sự tiến bộ, và vào tháng 2 năm 1962, một lần nữa, cô trở thành biểu tượng của sự tiến bộ.  Khi tiếng chuông điện thoại reo, Katherine đang ngồi tại tòa nhà 1244. Cô nghe loáng thoáng cuộc điện thoại và hiểu ra rằng cô chính là “cô gái” đang được nhắc đến. Việc Glenn không biết tên cô không thành vấn đề, quan trọng là anh ấy hiểu rằng cô là người phù hợp.  Nhiều năm sau, Katherine nói rằng bà đã rất may mắn khi bà là người tính toán được gửi đến làm việc cùng kĩ sư phòng Nghiên cứu Hành trình bay và chính tại đó, trở thành một phần của cuộc phiêu lưu vĩ đại này. Nhưng đó còn là sự kết hợp của tình cờ, sự ưu ái, trí tuệ, và dĩ nhiên là may mắn nữa. Điều kì diệu chỉ có thể xảy xa khi một bộ não được đào tạo và chuẩn bị cẩn thận gặp điều mà nó chưa từng nghĩ tới, để nắm bắt cơ hội được tạo ra từ một cuộc nói chuyện trong đám cưới của cô em gái chồng năm nào.  3 năm trước, trong báo cáo Azimuth Angle, Katherine đã tính toán hai quỹ đạo mẫu khác nhau. Sau khi cô đưa ra phương trình cho các kịch bản và thay các con số giả thuyết cho các biến, Phòng Kế hoạch và Phân tích đã lập trình nó trên máy tính IBM 704. Sử dụng cùng các con số giả thuyết, họ chạy chương trình và cho thấy một sự chính xác cao giữa kết quả của IBM 704 và của Katherine. Cô không hề nghĩ rằng một ngày nào đó điều này sẽ lặp lại, và đó sẽ là một bước ngoặt không chỉ cho sự nghiệp của cô mà còn cho cả ngành vũ trụ Hoa Kỳ.  Ngay khi nhận được nhiệm vụ, Katherine lập tức xếp lại bàn làm việc, dẹp đi mọi thứ trừ các phương trình quỹ đạo. Thay vì gửi số liệu để máy tính kiểm tra, cô kiểm tra lại số liệu mà máy tính cung cấp, hi vọng có thể tính ra kết quả tương tự. Cô tính toán cho mọi phút trong quỹ đạo, tính kết quả cho 11 biến đầu ra, với độ chính xác đến tám chữ số. Phải mất một ngày rưỡi cô mới thực hiện xong. Và như một điều kì diệu: tính toán cô đưa ra phù hợp với kết quả của máy tính – hay nói cách khác, năng lực tính toán của máy tính cũng ngang với cô.  Vào ngày 20 tháng 2 năm 1962, bầu trời trong xanh, 135 triệu người chứng kiến qua màn hình TV, trong khi nhiều người ở Langley đến tận Mũi Canaveral để xem trực tiếp chuyến bay. Katherine ngồi trong văn phòng, quan sát cả quá trình trên TV.  Vào 9h47 sáng, tên lửa Atlas phóng tàu Friendship 7 lên quỹ đạo chính xác như một nhà vô địch bắn mũi tên trúng hồng tâm. Trong vòng quỹ đạo đầu tiên, hệ thống điều khiển tự động trục trặc, khiến cho phi thuyền lắc qua lắc lại. Glenn khắc phục bằng cách chuyển sang điều khiển thủ công, giữ phi thuyền đúng hướng như cách lái máy bay. Đến cuối vòng quỹ đạo thứ hai, đèn hiệu thông báo lớp chống nhiệt quan trọng bị lỏng. Mất lớp chống nhiệt này thì không còn gì ngăn giữa phi hành gia và nhiệt độ 1650 độ C khi phi thuyền xuyên qua bầu khí quyển. Một quyết định được đưa ra bởi ban Điều khiển: vào cuối vòng quỹ đạo thứ ba, sau khi các tên lửa hãm cháy hết, Glenn sẽ phải giữ các tên lửa này lại thay vì tách bỏ như thường lệ, với hi vọng là nó sẽ giúp giữ lớp chống nhiệt không bị tuột đi.  4 giờ 33 phút sau khi phóng, tên lửa hãm kích hoạt. Glenn điều chỉnh phi thuyền cho bước trở lại khí quyển và sẵn sàng cho điều xấu nhất. Khi con tàu giảm tốc, thoát khỏi quỹ đạo và rơi xuống, các kĩ sư mất liên lạc với tàu và họ chỉ có thể chờ đợi. Phải mười bốn phút sau, giọng nói của Glenn mới trở lại, bĩnh tĩnh đến mức đáng kinh ngạc với một người chỉ vài phút trước còn đối mặt với khả năng chết trong một phi thuyền bốc cháy. Thành công đã đến gần, và phi thuyền hạ cánh chỉ cách 40 dặm so với máy tính dự đoán, do khối lượng ước tính của phi thuyền khi quay trở lại chưa chính xác. Cả máy tính và người tính đã đóng góp vào sự thành công, và mọi chuyện kết thúc như trong giấc mơ: 21 phút sau khi hạ cánh, phi hành gia được đưa lên khỏi mặt biển.  John Glenn trở thành người hùng, nhưng ông không phải là người duy nhất. Vai trò của Katherine trong nhiệm vụ thành công của Glenn lan truyền trong cộng đồng người da đen, trước là ở địa phương rồi sau đó lan ra các vùng khác. Ngày 10 tháng 3 năm 1962, một Katherine quyến rũ và trang nhã mỉm cười trên trang đầu tờ báo Pittsburgh Courier. “Tên cô ấy … trong trường hợp bạn chưa đoán ra … là Katherine Johnson: người mẹ, người vợ, người phụ nữ với một sự nghiệp đáng nể!” (Bên dưới là một một tiêu đề khác: “Tại sao không có phi hành gia người da đen?”) Tờ báo kể lại xuất thân và thành tựu của nhà nữ toán học với niềm kiêu hãnh, nêu chi tiết việc bà đã đóng góp ra sao trong tính toán của chuyến du hành lịch sử.     Hạnh Duyên dịch  Nguồn bài và ảnh: http://nautil.us/issue/43/heroes/the-woman-the-mercury-astronauts-couldnt-do-without    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người rất “nhàn” nên rất “sâu”      Gặp PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ, tác giả của công  trình “Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XVII – XVIII – XIX” vừa được tặng  giải thưởng Nhà nước, ai cũng thấy vui, thấy yêu đời. Ông làm việc hết  mình, nghiêm túc, trách nhiệm, hiệu quả. Ông gần như không bận tâm vào  sự thiệt hơn mất được đời người. Vì thế mà ông rất “nhàn”. Và có lẽ bởi  “nhàn”, nên ông rất “sâu”.    PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thừa Hỷ sinh năm 1937, giữa “không gian lõi” của “Hà Nội nghìn xưa” (phố Hàng Cót, quận Ba Đình), quê gốc làng Hạ Đình (nay thuộc quận Thanh Xuân), mẹ người làng La Phù (Hà Tây cũ). Tốt nghiệp phổ thông ở một trong ba trường cấp ba danh giá nhất Hà Nội bấy giờ (trường Nguyễn Trãi, cùng với trường Chu Văn An, Trương Vương), ông trở thành sinh viên Khoá I của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng lớp với những tên tuổi nổi danh của ngành sử sau này, như GS.NGND Phan Đại Doãn, GS.NGND Vũ Dương Ninh, PGS.NGND Lê Mậu Hãn, PGS.NGƯT Phạm Thị Tâm… Truyền rằng, ở khoá đầu tiên này của Khoa Lịch sử, ông là một trong những người học giỏi nhất. Nhưng khác với nhiều bạn bè, tốt nghiệp xong ông được điều động đi dạy sử phổ thông. Ba mươi năm dạy học, công tác ở các Ty/Sở giáo dục Hà Nam, rồi Hà Nội, mãi tới năm 1990, khi đã 53 tuổi, ông mới về làm cán bộ giảng dạy tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử, theo lời mời của GS Phan Huy Lê, bấy giờ là Chủ nhiệm Bộ môn.  Tưởng như làm thầy giáo phổ thông, dạy thôi chứ không cần phải nghiên cứu. Nhưng ông đã không “an phận”. Với niềm đam mê khoa học, những kiến thức tích luỹ được – nhất là từ sách vở viết bằng chữ Anh, chữ Pháp – và năng lực thâu nhận trời phú, ông âm thầm viết, không nhiều, nhưng sâu sắc. Rồi từ đầu những năm tám mươi, ông quyết định làm nghiên cứu sinh (trong nước). Bấy giờ nghiên cứu sinh, nói chung và riêng ngành sử, còn hiếm. Ông chọn Hà Nội – mảnh đất ông sinh ra và lớn lên, chứng kiến nhiều đổi thay – làm đối tượng nghiên cứu. Đầu năm 1984, luận án “Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XVII – XVIII – XIX: kết cấu kinh tế – xã hội của một đô thị trung đại” của ông được đưa ra bảo vệ, thuộc số những luận án Tiến sĩ (bấy giờ gọi là Phó Tiến sĩ) đầu tiên của Khoa Lịch sử. Tôi nhớ, hôm bảo vệ luận án (tại 19 Lê Thánh Tông) có rất đông người dự, có mặt rất nhiều gương mặt lớn của ngành sử. Sau, đến năm 1993, công trình này được xuất bản thành sách và lập tức giành được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Đến nay, gần 20 năm trôi qua, nó trở thành cuốn sách không thể không đọc, không nhắc đến, không trích dẫn trong những nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội, nhất là trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX.  Trong công trình này, bằng việc khai thác đa dạng các nguồn tư liệu, nhất là nguồn tư liệu viết bằng chữ phương Tây (Anh, Pháp), được xử lí cẩn trọng, có phương pháp và hiệu quả cao, công trình đã phác hoạ được diện mạo của Thăng Long – Hà Nội qua các thời kì, nhất là các thế kỉ XVII – XVIII – XIX, làm nổi bật được kết cấu kinh tế – xã hội, các hoạt động kinh tế của Thăng Long – Hà Nội các thế kỉ XVII – XVIII – XIX, chính sách của các nhà nước phong kiến Việt Nam đối với vấn đề này qua trường hợp Thăng Long – Hà Nội. Những phân tích sắc sảo về kết cấu kinh tế, cấu trúc xã hội, cơ chế đẳng cấp và sự giao lưu đẳng cấp; những khái quát về các nhân tố phát triển và hưng khởi của thành thị, về mối quan hệ thành thị – nông thôn, về thế lưỡng hợp nhà nước – dân gian trong thành thị, về dạng thức phát triển và chuyển biến của thành thị trở thành những luận đề quan trọng, có ảnh hưởng rộng rãi trong giới nghiên cứu trong nước, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khi tiếp cận lịch sử xã hội Việt Nam thời kì trung đại.  Công trình đã có đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của ngành Hà Nội học. Là một nghiên cứu xuất sắc về Thăng Long – Hà Nội, công trình có thể coi là một chuyên khảo mẫu mực về lịch sử Thăng Long – Hà Nội với tư cách một đô thị đóng vai trò trung tâm chính trị – hành chính của đất nước. Tuy công trình tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, nhưng ở hầu hết các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế – xã hội của Thăng Long – Hà Nội đều được khái quát trong toàn bộ tiến trình lịch sử, tạo nên một bức tranh tương đối toàn cảnh về kết cấu kinh tế -xã hội của đô thị này. Trong số hàng trăm chuyên khảo về Thăng Long – Hà Nội đến nay, công trình này có thể coi là một trong các nghiên cứu xuất sắc nhất, đánh dấu một bước tiến lớn của ngành Hà Nội học.  Công trình đã được dịch sang tiếng Anh (Nhà xuất bản Thế giới ấn hành, 2002), được nhiều học giả và bạn đọc của nhiều nước biết đến, góp phần quảng bá lịch sử và văn hoá Việt Nam nói chung, lịch sử và văn hoá Thăng Long – Hà Nội nói riêng với bạn bè quốc tế. Gần đây, công trình được bổ sung và xuất bản trong “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” nhân đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tiếp tục được giới nghiên cứu và bạn đọc đánh giá cao.  Ở tuổi 75, tay yếu chân yếu, nhưng ông Nguyễn Thừa Hỷ vẫn minh mẫn lạ thường. Chỉ ngồi nhà nhưng ông lướt web đều đặn, dùng cả điện thoại bàn lẫn di động, chuyện thế giới, chuyện quốc gia, chuyện trường, chuyện khoa, chuyện nhân sự lớn bé… ông đều biết cả (mà có khi còn biết trước). Và đặc biệt, ông vẫn viết, từ bài nghiên cứu đến sách. Hồi nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, ông chủ biên cuốn sách “Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: tuyển tập tư liệu phương Tây” dầy cả nghìn trang, được đánh giá rất cao, và mới mấy hôm trước thôi, ông in “Văn hoá Việt Nam truyền thống – một góc nhìn”, hơn nửa nghìn trang. Ngoài ra ông còn dịch, hiệu đính các tác phẩm nổi tiếng của các học giả nước ngoài về Việt Nam.  Đọc Nguyễn Thừa Hỷ, người ta thấy rất rõ sự uyên bác của tri thức và sự lịch lãm trong văn chương, nhất là những công trình về lịch sử và văn hoá Thăng Long – Hà Nội. Có lẽ đó là sự kết hợp và thẩm thấu của một văn hoá Thăng Long nghìn xưa với một văn hoá thị dân Hà Nội khá thuần thục thời cận đại.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Tarahumara      Người Tarahumara ở Mexico đã thoát khỏi tay của những kẻ chinh phục Tây Ban Nha vào thế kỷ XVI. Nhưng liệu họ có thể tiếp tục tồn tại trước sự tấn công của sự hiện đại?      Mỗi ngôi sao trên trời chính là linh hồn của người da đỏ Tarahumara, người đàn ông thường có 3 linh hồn và phụ nữ thì có 4, và vì chúng có thể tạo ra cuộc sống mới, nên tất cả các linh hồn cũng sẽ bị mất đi. Đây sẽ là những điều mà các nhà nhân chủng học và các tu sĩ bản địa nói với bạn về tín ngưỡng của người Tarahumara, những người tự nhận mình là các Rarámuri và sống tại các hẻm núi ở Tây Sierra Madre, thuộc miền Bắc Mexico. Nơi đây, họ đã từng đẩy lùi các cuộc chiến xâm lăng của người Tây Ban Nha cách đây 5 thế kỷ. Người Tây Ban Nha, dưới con mắt của các Rarámuri, không chỉ có súng và ngựa, mà họ còn có những bộ râu ria xồm xoàm. Và kể từ khi họ đến đây, người Rarámuri có thêm từ chabochi, nghĩa được hiểu theo cách của ngày nay là “bất cứ ai không phải là người Tarahumara”. Theo đúng nghĩa thì chabochi không phải là một từ thông tục mà chỉ là một từ chia cắt hai thế giới. Dịch nguyên văn của từ này, thường chỉ mối quan hệ giữa người Tarahumara và phần còn lại của thế kỷ 21 ở Mexico, thì nó là “người có mạng nhện trên mặt”.   Tập tục truyền thống  Người Tarahumara vốn là những người rụt rè và kín đáo, sống cách xa nhau trong những ngôi nhà làm bằng gạch sống hoặc bằng gỗ, họ cũng sống cả trong hang hoặc những ngôi nhà lẻ loi nằm dưới các vách đá trồi ra, lấy chính những vách đá đó làm mái. Họ thường nấu một loại rượu từ ngô do chính họ trồng tại các mảnh ruộng nhỏ. Trong các dịp lễ hội, họ tụ tập nhau lại, chuyền tay nhau thứ rượu ngô này. Mỗi người làm vài tợp rượu từ chiếc bình làm từ nửa quả bầu khô cho tới khi giọng nói của họ liến thoắng, đầu óc mơ màng, tinh thần kích động hoặc gục người xuống đất để ngủ.           Đôi dép da truyền thống huarache    Phụ nữ Tarahumara truyền thống người mặc váy và đội khăn trên đầu           Họ thực sự là những người có khả năng đi bộ rất dẻo dai, bởi từ nhiều đời nay, họ chỉ dùng đôi chân làm phương tiện đi lại, qua các con đường mòn nhỏ hẹp nối liền các hẻm núi với nhau. Rarámuri có nghĩa là “người chạy bộ” hoặc “người giỏi đi bộ” và họ được biết đến nhiều với biệt tài hay trêu chọc những người Mỹ “siêu đi bộ”. Thú vị là Rarámuri luôn là người chiến thắng với những đôi dép truyền thống có tên huarache, kể cả đôi khi họ dừng lại giữa đường để hút thuốc, chờ đợi và cũng để trêu ngươi người Mỹ.  Các Rarámuri coi công việc của họ là cần thiết để tồn tại nhưng không coi trọng những giá trị đạo đức bên trong của nó, và họ đặt công việc xuống hàng nghĩa vụ tinh thần thứ yếu, như các vấn đề khác của tâm hồn. Nền kinh tế truyền thống của người Rarámuri được thực hiện qua phương thức trao đổi, không dùng tiền mặt. Họ có một từ để chỉ điều này mà không thể dịch trực tiếp sang tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Anh: “kórima”. Theo một người phụ nữ Tarahumara, mở lòng bàn tay của mình ra có thể hiểu theo cách của một chabochi là cầu xin sự thương hại. Người ta sẽ không cảm ơn bạn vì đồng xu mà bạn đã cho, mặc dù, kórima ngụ ý là trách nhiệm phân phối sự giàu có vì lợi ích của tất cả mọi người.  Các Rarámuri cũng ăn nhiều Maruchan, một thứ mì ăn liền Nhật Bản đóng gói trong các hộp nhựa xốp. Rồi bạn cũng thấy trên đường đi các giấy bạc bọc khoai tây rán, vỏ chai nhựa Coca-Cola 1 lít và vỏ bia lon Tecate. Nếu dành sáu giờ, với một chiếc xe hai cầu bán tải lặn lội đi về phía xa xôi nhất của một hẻm núi của người Tarahumara, lòng vòng quanh con đường đất đổ nát bẩn thỉu ẩn mình bên dưới các vách đá thẳng đứng, bạn sẽ đến được điểm cao và xa nhất, bạn sẽ nhìn thấy Mặt trời và những làn khói uốn lượn, bay lên từ những ống khói phía xa xa, tai bạn sẽ nghe vang vang âm thanh của tiếng trống nghi lễ đến từ một nơi nào đó ở phía dưới. Tiếp tục con đường đi bộ, bạn có thể nhìn thấy hai chai soda rỗng và chiếc bồn rửa bỏ đi của một Maruchan nào đó. Đây quả là những thứ có ích đối với một chabochi lãng mạn trong quá trình lang thang tìm hiểu nơi này… Theo các con số thống kê mới nhất của Chính phủ, hiện có 106.000 người Tarahumara sống ở Mexico và con số này khiến họ trở thành một trong số các nhóm thổ dân có dân cư lớn nhất ở khu vực Bắc Mỹ. Phần lớn trong số họ vẫn còn sống tách biệt trong các khu vực hẻo lánh ở Mexico như Copper Canyon, nhưng khu vực này cũng như hình ảnh của người thổ dân da đỏ Tarahumara thường được ký họa nguệch ngoạc trong túi đồ của khách du lịch (“Họ sống một cuộc sống đơn giản và không bị các công nghệ hiện đại quấy rầy”, một người đã viết như vậy trên mạng), những miêu tả chưa chắc đúng với hiện thực và dễ khiến người khác hiểu nhầm.    Thí dụ bản thân Copper Canyon, hoặc Barranca del Cobre, cũng chỉ là hai trong số cả tá các hẻm núi lớn nằm ở một phía của Sierra Madre. Một vài hẻm núi còn sâu hơn cả Grand Canyon. Và các hoạt động của chabochi như buôn bán, hợp pháp cũng như bất hợp pháp, đang có tác động lớn tới những hẻm núi này. Ngành công nghiệp gây nghiện phát triển bằng việc người ta sử dụng các hẻm núi để trồng cần sa và thuốc phiện, khiến các gia đình Tarahumara từ bỏ các cánh đồng ngô, đậu và bí. Chính phủ nỗ lực để làm đường và cung cấp sách giáo khoa cho cộng đồng người Tarahumara, nhưng cũng mang tới các loại rượu tequila rẻ tiền, những kẻ côn đồ có súng trong người, và chatarra, thứ mà người Mexico gọi là đồ ăn nhanh, và hàng hóa chất đầy trên giá của các cửa hàng tạp hóa không có điện. Những người đàn ông Tarahumara truyền thống đeo những dải băng đầu rộng, cuộn khăn ngang hông và đi chân trần ngay cả khi thời tiết đóng băng, nhưng nhiều người giờ mặc quần jean, đội mũ cao bồi, và áo da nhuộm, những thứ dường như hợp hơn với thắt lưng của họ. Hầu hết phụ nữ Tarahumara vẫn còn đội các khăn choàng đầu, mặc váy dài vải in hoa, vải gấp nếp màu sặc sỡ hay váy kiểu sò điệp lượn sóng màu lam trông như tấm rèm cửa. Nhưng một số người giờ cũng đã bắt đầu mặc quần jean xanh.  Dấu ấn hiện đại  Sân bay thương mại đầu tiên của khu vực dự kiến sẽ được xây dựng tại Creel, trung tâm khai thác gỗ trước đây. Đây chính là nơi tạo nguồn kinh tế của vùng và có tuyến đường sắt hoành tráng chạy ngang qua thị trấn. Các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ tiên lượng sẽ có một sự bùng nổ trong xây cất khách sạn để đáp ứng dòng du khách đến đây ngày càng đông. Các quan chức tại Chihuahua, bang Mexico, nơi bao trùm hầu hết các lãnh thổ Tarahumara, được các nhà đầu tư tư nhân gạ gẫm xây dựng các khu phức hợp ở các hẻm núi bao gồm các nhà nhảy bungee (trò chơi mạo hiểm, nhảy từ trên độ cao lớn, chân buộc vào dây gắn với nhà nhảy), một cây cầu cạn duyên dáng, các khách sạn và một “ngôi làng Ấn Độ” ở khu vực xa xa phía Tây, cạnh đường sắt để phục vụ các loại hình du lịch “tôn giáo, lễ hội và trang phục truyền thống”, nơi hiện giờ đã tràn ngập khách du lịch với những người bán hàng Tarahumara. Những người này chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, bán các giỏ đan và đồ vải dệt, những đồ mà họ nghĩ rằng du khách thích. Đó là những đứa bé chưa đến tuổi đi học, hoặc thậm chí đủ tuổi đi học nhưng cả ngày vẫn lượn lờ ngoài đường để bán đồ lưu niệm, tay cầm vài cái vòng bện, mồm luôn lặp đi lặp lại câu nói đầu tiên tiếng Tây Ban Nha mà chúng chưa bao giờ được học một cách nghiêm chỉnh: “Compra?-Có muốn mua không?”.           Chạy đua với người Tarahumara là trò chơi ưa thích của nhiều du khách khi tới Sierra Madre          Kế hoạch phát triển Copper Canyon chứa đầy những điều không chắc chắn và gây tranh cãi. Việc xây dựng sân bay đã bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần, và người ta đưa ra các lý do về môi trường, đặc biệt là khi toàn bộ khu vực Sierra phải hứng chịu các chu kỳ hạn hán. Nhưng còn có một lý do khác lớn hơn, gần hơn với những thảm kịch có thể sẽ xảy ra ở khắp khu vực này của người Tarahumara, như chính cái tên gọi của nó. Có hay không có sân bay thì cái hiện đại của người Mexico cũng đang ập đến nơi này, tác động đến nền văn hóa bản địa vốn từ lâu nay hoàn toàn không bị ảnh hưởng của bên ngoài. Một dân tộc bản tính hiền hòa đã bị người ngoài, những người tự cho mình khái niệm rằng phải đem văn minh tới nơi này, tràn đến làm vấy bẩn. Nhưng tất cả những cái đó đều nhanh chóng bị những người dân sống ở những hẻm núi này bác bỏ.   Lorena Olivas Reyes, người y tá hơn 35 tuổi tại phòng khám San Rafael thuộc thị trấn Sierra Madre nói các bệnh nhân người Tarahumara của cô thường mắc chứng bệnh chabochiado, theo tiếng bản địa có nghĩa là “huyết áp cao”. Cô có thể sử dụng tiếng Tây Ban Nha để giải thích các thuật ngữ y học cho bệnh nhân của mình rằng họ, những người chabochi đang phải chịu căn bệnh alta presión. Lorena có dáng người cao lớn, xương gò má cao và dày, tóc đen dài tới eo được vấn gọn gàng khi làm việc. Lúc nào nhìn thấy cô tại phòng khám, tôi cũng thấy cô nổi bật, di chuyển nhanh nhẹn giữa các bệnh nhân nữ người Tarahumara mặc váy dài truyền thống.   Lorena di cư lần đầu tiên từ nơi cô lớn lên, một hẻm núi dựng đứng của người Tarahumara, khu định cư có tên Guagueyvo khi cô mới 13 tuổi. Cô đã phải bò, theo đúng nghĩa của nó vì lúc đó vẫn chưa có đường nhựa và lối thoát duy nhất ra khỏi hẻm núi đó chính là con đường độc đạo chạy dọc theo hẻm núi. Bởi cô thích học và lớp học kế tiếp của cô lại nằm trong một ngôi trường cách nơi cô ở vài giờ đi bộ.   Các tu sĩ Dòng Tên đầu tiên đã mang Thiên chúa giáo đến Sierra Tarahumara vào những năm 1600, nhưng khoảng một thế kỷ sau đó, họ đã bị trục xuất hết ra ngoài. Những căng thẳng chính trị khiến người Tây Ban Nha đuổi tất cả các thành viên Thiên chúa giáo đến từ Tân Tây Ban Nha. Nhưng rồi qua thời gian, các giáo sĩ Dòng Tên đã trở lại vào năm 1900. Các hoạt động tôn giáo của người Tarahumara đã diễn ra chồng lấn nhau quyết liệt, Công giáo đã hòa trộn với đức tin cổ, và giờ đã chiếm ưu thế tại nhiều nơi ở Sierra Madre.   Đời thường    Đó là ngày thứ năm của Semana Santa, hay còn được gọi là Tuần Thánh, những ngày trước lễ Phục Sinh đánh dấu thời gian thiêng liêng nhất trong năm đối với người Tarahumara. Những thứ diễn ra ở các hẻm núi trong Semana Santa chắc hẳn sẽ làm những người ngoại đạo Thiên chúa giáo giật mình, nhất là khi lần đầu họ tới đây. Thí dụ như hình nộm Judas sẽ khiến một người mới đến băn khoăn liệu có cho phép trẻ nhỏ được xem hay không, hay người Pharisee – những người Do Thái đạo đức của thời kỳ kinh thánh, đóng vai những người chạy thi, gõ trống, nhảy múa, uống rượu và đánh nhau. Đó là những cảnh tượng hùng tráng và những người đàn ông đôi khi vẽ mặt và điểm các chấm trắng lên khắp cả thân trên, màu trắng tương phản rất mạnh với màu da đỏ của thổ dân nơi đây. Những lễ hội kéo dài trong suốt Tuần Thánh hằng năm thu hút hàng nghìn du khách tới Sierra.   Trong nhà bếp của Lorena, chúng tôi ngồi quanh một chiếc bàn dài, ăn loại bánh ngô nhỏ, nóng mà mẹ cô, Fidencia nướng trên bếp và thả xuống một chiếc đĩa nhựa.   “Thế vũ hội ra sao rồi?”, Lorena hỏi.  “À, người Pharisee dẫn đầu bị ngã và gẫy chân”, Fidencia trả lời.  Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha, thứ tiếng mà Fidencia đã học tại trường tiểu học của Rarámuri, cách cái hang nơi cô sinh sống vài giờ đi bộ. Chồng của bà Catarino Olivas Mancinas. Ông ta xuất thân là một người thợ mỏ, từ một gia đình không phải là người Tarahumara, đến Sierra Madre từ một nơi rất xa. Ngôi nhà mà ông sở hữu là một trong những ngôi nhà đẹp nhất ở Guagüeyvo: với những phòng ngủ rộng, trải thảm bởi những đứa cháu của ông cũng sống ở đây, sàn nhà bê tông, hành lang với chiếc ghế dài di động. Ngôi nhà cũng có một tấm pin Mặt trời nhỏ, đủ để chiếu sáng vài chiếc đèn vàng khi bóng tối phủ xuống. Một con đường nối tới Guagüeyvo cuối cùng cũng đã được xây dựng cách đây 3 năm, nhưng mặt đường bẩn thỉu của nó cũng chỉ đủ để đặt các cột điện, và những cột điện này giờ vẫn chưa hoạt động. Fidencia nói là điện sẽ sớm tới nơi đây và khi đó, Lorena sẽ mang tới cho bà một chiếc tủ lạnh.   Chiếc tủ lạnh cũng là thứ đáng nói. Nó màu đen và nhẵn bóng, là sở hữu của Lorena và hiện đang được đặt trong nhà bếp của cô ở San Rafael, nơi đã có vài con đường trải nhựa và phần lớn ngôi nhà đã có điện và hố xí hiện đại. Đã một năm rồi Lorena và Fidencia mới gặp lại nhau và dù vậy, sự đoàn tụ vẫn có điều gì đó dè dặt. Fidencia nghiêng người về phía Lorena, gật đầu và chìa má nhận nụ hôn nhẹ từ cô con gái. Giờ thì Fidencia đã ngồi ngay cạnh Lorena và cả hai đều làm bánh, rồi đưa lên bếp. Bột làm bánh ngô là từ ngô thu hoạch từ vụ trước đó.   Những chiếc bánh ngô khá dày và có vị rất ngon. Fidencia sáng nay đã bắt gà từ chuồng ra, làm thịt và chặt nhỏ gà ra bỏ vào xoong. Quanh bếp ngào ngạt mùi thơm của gia vị, thịt và súp rau. “Ông có biết tôi làm cách nào để thoát khỏi mệt mỏi khi làm việc hay không”, Lorena hỏi tôi. “Đó là bởi tôi luôn tự nhủ: mẹ tôi vẫn còn khổ hơn tôi rất nhiều”, cô nói.  Một linh mục Dòng Tên đã nói với tôi: việc mở rộng mạng lưới đường giao thông đã khiến những người Tarahurama không còn phải đi bộ nữa và họ đã mất dần khả năng đi bộ rất bền của mình trên những đoạn đường rất dài. Và trong khi mồm còn ngậm đầy bánh ngô dưới ánh sáng lập lòe của chiếc bếp lò, tôi bỗng mường tượng đến cảnh khi điện được đưa tới Guagüeyvo, kế tiếp đến sẽ là các nút đèn điện, những đồng hồ điện tử, máy sấy tóc, chiếc tủ lạnh mới màu đen, các chương trình TV với những quảng cáo đồ mỹ phẩm, xà bông xen lẫn ở giữa… Tôi hỏi Fidencia xem phản ứng của bà thế nào, khi có người đột nhiên đem tất cả những thứ đó tới nhà của bà. Bà ngừng nhìn cô con gái, quay sang phía tôi một chút rồi trả lời với cái giọng trầm, nhưng nhẹ nhàng như thể bà đang xem thử tôi có phải là một thằng ngố hay không: “Cái đó tốt đấy chứ”, bà nói.          Trường học, đường xá đã được mở tại các vùng hẻo lánh ở Sierra Madre    Phong cảnh tuyệt vời đã thu hút nhiều du khách và nhà đầu tư tới Sierra Madre          Liếc sang phía Lorena, tôi thấy cô đang cố giữ vẻ lịch sự của người Tarahuhmara, để nhịn cười. Sự kiện Sierra Madre là địa điểm chiến lược đẩy lùi được sự tấn công của người Tây Ban Nha cách đây nhiều thế kỷ giờ có thể coi là một thành quả, nhưng đồng thời cũng là một gánh nặng đối với người Tarahurama. Tổ tiên của họ không phải là những kẻ nhát gan hay những người ưa chuộng hòa bình. Lịch sử đã nhiều lần cho thấy có những cuộc bạo loạn giữa những người Tarahumara ở các vùng phía ngoài và các trung tâm mỏ, nơi những kẻ thực dân sử dụng họ như các nô lệ và bắt họ phải sống theo lối của người Âu châu. Nhưng như một dân tộc có sức sống mãnh liệt, người Tarahumara vẫn tồn tại ở khắp nơi nhờ cái mà một thầy tu miêu tả là “động cơ trốn thoát”, và để diễn tả điều này, ông chụm hai tay vào nhau, nhẹ nhàng lách người từ bên dưới lên như thể một con cá trượt trên khe đá.   Sức hút nguyên sinh  Địa hình địa vật đã khiến vùng đất Tarahumara rất khó tiếp cận đối với những kẻ chinh phục, và chính nhờ điều này, người Tarahumara đã thành công trong việc đẩy lùi sự tấn công của những kẻ muốn cưỡng đoạt. Trên đỉnh và ở các hẻm núi nơi đây chứa nhiều bạc và khoáng sản khác và đã thu hút các thợ mỏ đến từ đầu thế kỷ 17. Rừng nguyên sinh thì hấp dẫn những kẻ khai thác gỗ, những kẻ đã triệt hạ biết bao cây cối và vào cuối những năm 1800, dưới sự chỉ huy của một kỹ sư người Mỹ, một đường sắt đã được xây dựng để chuyên chở các chiến lợi phẩm đi nơi khác. Các nỗ lực xây dựng cũng đã được đền đáp sau 80 năm làm việc, con đường sắt đã hoàn thành trải dài khắp Sierra Madre, vượt qua các cây cầu cao chót vót, xuyên qua nhiều đường hầm và thực sự đây là một kỳ tích của các kỹ sư đường sắt.   Ngày nay, các khối gỗ được chuyên chở bởi các xe tải (theo các nhà chỉ trích là với một số lượng không thể kiểm soát nổi, mặc dầu việc khai thác gỗ sẽ dẫn tới suy thoái rừng). Con tàu đường sắt chính hiện nay có tên là Chihuahua Pacifico, hoặc thân mật hơn là Chepe, chủ yếu để chuyên chở khách du lịch. Người Tarahumara và người dân địa phương khác thì hay sử dụng con tàu Chepe hạng 2, để đi ra thị trấn tìm việc hoặc làm hái quả thuê vào mùa vụ ở phía bên kia ngọn núi. Nhưng thu nhập chính của Chepe đến từ bên ngoài, từ người Mexico và những người ngoại quốc, những kẻ thường thò cổ ra ngoài cửa sổ các con tàu để ngắm nhìn những cảnh tượng hùng vĩ của các ngọn núi. Biểu tượng của Copper có lẽ không chỉ ở các mỏ khoáng sản, mà còn ở ánh sáng tuyệt đẹp của thiên nhiên chiếu lên những ngọn núi đá. Và cái nguồn tài nguyên có thể khai thác được này làm nhiều kẻ thèm muốn. Rất nhiều kẻ có tiền đang muốn sở hữu một phần cảnh tượng đẹp đẽ này, trong đó có cả kế hoạch phát triển thoát đói nghèo của Mexico. Đây quả là một cuộc chiến không công bằng.           Những đứa trẻ bán đồ thủ công tại Creel    Sau 80 năm xây dựng, con đường sắt xuyên Sierra Madre đã hoàn thành, giúp đưa khoáng sản và gỗ của người Tarahumara đi nơi khác và đem du khách tới nơi đây          Các học giả của Tarahumara nói văn hóa của họ có sức đề kháng đáng kể, chính vì điều đó mà trong nhiều thế kỷ họ đã tránh được ảnh hưởng của hết dòng xoáy chabochi này đến dòng xoáy chabochi khác. Cũng chính vì thế mà ngôn ngữ của họ có sức sống mạnh mẽ, niềm tin tôn giáo của họ rất mãnh liệt, và nhiều phụ nữ bản địa vẫn còn đeo khăn quàng cổ và mặc váy dài. Một lần tôi đã chứng kiến một cuộc đua của những người phụ nữ bên ngoài một khu đất Rarámuri lọt thỏm giữa thành phố Chihuahua, nơi hàng ngàn người Tarahumara di cư đến sinh sống tại các khu nhà ổ chuột san sát nhau. Người Tarahumara rất thích các cuộc chạy đua theo truyền thống dân gian Rarámuri, nơi người ta tụ tập nhau lại và dùng súc vật hoặc tài sản khác làm đồ cá cược. Cuộc đua của những người đàn ông trên các con đường dài đến kinh ngạc, họ đi dép huarache truyền thống hoặc để chân trần, chân liên tục đá một quả bóng hình cầu bằng gỗ cỡ quả bóng chày. Còn khi những người phụ nữ chạy, họ vừa quăng những chiếc vòng và bắt chúng bằng những chiếc gậy dài. Những cô gái và phụ nữ trẻ chạy băng băng trên đường phố Chihuahua, với các đôi dép huarache loẹt quẹt trên vỉa hè, váy lòe xòe dưới bắp chân của họ. Đằng sau là những khán giả cổ vũ, đó là những bà cô, dì hay bà ngoại của họ, rồi các đồ cá cược chất đống cao đến tận mái nhà như một gò đất với các đồ may thủ công Rarámuri lấp lánh.   Phía bên kia con đường là cả đống các ngôi nhà chen chúc nhau. Đó là nơi sinh sống của những giáo viên, những người thợ mộc, những người đứng đầu cộng đồng đáng kính trọng, những sinh viên chủ yếu thuộc ngành nhân chủng học và cơ khí công nghiệp… Nhưng người ta cũng thấy ở đó những người làm thuốc phiện, những đứa trẻ choai choai, đầu đội mũ lưỡi trai ngược, mồm luôn hét váng đường, những người thợ dán hồ và ăn mày, những cô gái có con từ khi mới 13 tuổi và những kẻ béo phì vì ăn uống quá độ và thường mắc phải bệnh alta presión.   Tại Guagüeyvo, tôi đã gặp một bác sĩ chabochi đang xem đồ thị về các trường hợp trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi. “60 ca như vậy đã được phát hiện hồi mùa xuân vừa rồi”, người bác sĩ nói. Sự kết hợp giữa sự nghèo khó, các mùa vụ thất bát, rồi việc cha mẹ sử dụng ngô để nấu rượu đã khiến trẻ con ở đây thường bị thiếu ăn.  “Cuộc sống của người Tarahumara đã thay đổi rất nhiều trong vòng 20 năm nay so với 300 năm về trước”, một tu sĩ Creel có tên Pedro Juan de Velascp Rivero cho biết. Ông là một tu sĩ thuộc Dòng Tên ở Sierra và nằm trong số những người đứng giữa người Tarahumara và chabochi. Một số người trong số này nói tiếng Rarámuri rất tốt và họ nằm trong số những người Mexico chỉ trích rất nhiều ảnh hưởng của văn hóa chabochi lên người Tarahumara. Bên ngoài văn phòng du lịch, khó có thể tìm một ai đó ở Chihuahua thực lòng tin về kế hoạch phát triển tổng thể của Copper Canyon, với việc xây dựng những tòa nhà hiện đại bằng thép và kính trong các hẻm núi hay với kích cỡ thị trường du lịch đầy triển vọng, như trên tiêu đề của một tờ rơi quảng cáo: 7,2 triệu du khách đến từ Mỹ và 5,5 triệu du khách đến từ Mexico. Nhưng tôi đã nghe các chabochi và một số ít người Tarahumara nói rằng khu vực này sẽ sử dụng gói kích thích kinh tế, bằng việc xây dựng các cơ sở du lịch và một sân bay thương mại. “Nghèo khó không phải là điều tốt, nhất là khi người ta sống trên những hẻm núi tuyệt đẹp, với những phong cảnh mê hồn”, chủ một khách sạn ở Creel nhiệt thành nói.  Nhưng những người tu sĩ đáp trả: các công việc như dọn dẹp khách sạn, nơi thường treo các bức tranh Tarahumara ở sảnh chính, rõ ràng chẳng phải là cái gì tiến bộ. “Đừng nhầm tưởng là những dự án này giúp đỡ người Tarahumara”, de Valasco nhăn mặt nói. “Họ thu hút du khách chỉ để cho cái hầu bao của họ ngày càng to lên thôi”. Và “một ngôi làng Tarahumara” thực sự là một lời nói dối trắng trợn. Một giỏ khí cầu lơ lửng trên hẻm núi quả thật là một hình ảnh gì đó mạo phạm. Và cần nhớ đây là một khu vực không có nước. Như vậy, một khách sạn mới sẽ sử dụng lượng nước nhiều hơn số lượng của cả một gia đình Tarahumara dùng trong một năm. Thứ mà Chính phủ cần làm, thay vì đầu tư xây dựng các khách sạn, có lẽ nên là xây phương tiện mang nước sạch cho toàn bộ người Tarahumara. Chắc chắn điều này sẽ có nhiều lợi ích hơn là tạo ra một ngôi làng nhân tạo trong đó người ta có thể mua và bán nhiều thứ không cần thiết lắm.  Lễ hội  Trong màn đêm ở Guagüeyvo, vào đêm trước ngày Thứ sáu Tốt lành, người ta tụ tập phía bên ngoài nhà thờ, cách nhà mẹ của Lorena khoảng nửa dặm (800m), qua một ruộng lúa và một dòng suối chảy qua khe đá. Tiếng trống lễ hội sẽ không dừng lại, nó sẽ tiếp tục suốt đêm, thỉnh thoảng ngơi nghỉ một chút nhưng sẽ kéo dài liên tục trong suốt 51 giờ đồng hồ.   Các nhà nhân chủng học, những người Tarahumara ở các cộng đồng khác và những người thân trong nhà bếp của Fidencia đã giải thích nghi lễ Semana Santa cho tôi, mà những lời giải thích này chẳng hề trùng lắp. Thí dụ những tiếng trống chẳng hạn, nó bắt đầu nổi lên vào thời điểm ba tuần trước lễ Semana Santa, ở mọi nơi tại Sierra Madre. Và một giọng nói mềm mại của phụ nữ trong buổi ăn trưa tại một ngôi trường Rarámuri nói với tôi rằng những âm thanh của trống giúp Thiên Chúa khỏi ngủ gà ngủ gật, vì ma quỷ hay đến gần nơi đây vào thời điểm này của năm.  Khi tôi cố hỏi Fidencia điều này, cô trả lời bằng một giọng châm chọc kiểu người chabochi và nhún vai: “Điều đó có thú vị không nhỉ”. “Chúng tôi đánh trống bởi vì đến lúc đó phải đánh trống”, cô nói sẵng. Người Pharisee thì vẽ lên thân thể của họ, những chiến binh truyền thống thường đeo lên mình các thanh gươm gỗ, trên trái nhà họ ở thường vẽ hình Chúa và Đức mẹ, hình nộm rơm của Judas – có hình thù rất kỳ lạ mà bạn có thể không nhận ra…, đây là những yếu tố biểu hiện của Semana Santa xuất hiện ở khắp nơi tại Sierra Madre, trước khi Dòng Tên tới với những câu chuyện đóng đinh trên thánh giá trong những lễ cầu mùa màng thuận lợi, tinh thần vượt lên quỷ dữ và lòng sùng đạo, người dân ở đây đã thờ thần mưa, thần Mặt trời và Mặt trăng.  Có lúc chờ đến khi không có đàn ông, tôi đã thử lén hỏi tại sao hình dạng của Judas lại kỳ lạ đến vậy, và kết quả là tất cả phụ nữ trong phòng đều ré lên cười. Nhưng có vẻ không ai chắc chắn về câu trả lời. Một nữ tu đang đến thăm nơi đây cho biết bà đang tập hợp các ý tưởng để làm sao cho Judas trông có dáng càng lố bịch càng tốt. “Hãy nhớ rằng, ông ta là một kẻ phản bội”, nữ tu nói. “Và ông ta sắp bị đốt cháy”.  Giờ thì Mặt trăng đã tròn vành vạnh và tôi bắt đầu đi ngang qua ruộng lúa. Tôi mặc một chiếc váy và quấn một chiếc khăn rằn sặc sỡ lên đầu để che tóc, với ý định xuất hiện ở đó với dáng vẻ cẩn trọng. Còn Lorena, người vẫn mặc bộ đồ jean của ban ngày nhìn tôi đến gần và nói: “Ông ăn mặc cẩn thận quá nhỉ, tốt đấy”.          Du khách ngày một tăng khiến người ta đề ra kế hoạch phát triển toàn diện Sierra Madre, chủ yếu là xây dựng khách sạn, khu vui chơi giải trí. Nhưng điều này lại ảnh hưởng tới bản sắc văn hóa của người Tarahumara    Cho đến nay, tàu hỏa vẫn là phương tiện chủ yếu để du khách tới nơi ở của người  Tarahumara          Cô lại trở vào nhà, bước ra với chiếc váy và chiếc khăn trên người, nhưng chiếc khăn chỉ buộc như một dải băng quấn đầu, chứ không phủ dưới cằm của cô. Vì chúng tôi đi bộ dưới ánh trăng hướng về phía nhà thờ, nơi những người anh em họ của Lorena đang đánh trống da dê và nhảy múa giữa dòng người uốn lượn rồng rắn, chân của cô đạp trên sỏi đá với đôi giày thể thao. “Tôi không đi dép huarache bởi sỏi đá chọc vào chân tôi”, cô nói.   Hấp thụ những thứ mới lạ theo một cách nào đó là điều rất dễ, người phụ nữ có di sản văn hóa lai căng này đang phải đấu tranh với bản sắc riêng của mình. Cha của Lorena đã có mặt ở sân nhà thờ, đang nhắm mắt mơ màng thổi cây sáo gỗ của người Tarahumara, mặt vẽ hình các nhành hoa nho. Ông là một người đàn ông gày gò, da đen, bắt tay tôi khi tôi đến nhưng không nói. Sau một lúc nhìn chằm chằm vào mặt tôi, ông bỗng nhiên cất lời: “Ông đã ở đâu khi Tòa tháp đôi sụp đổ?”. Sau khi nghe trả lời của tôi (lúc đó tôi ở nhà, tại California), ông nghiêng đầu chào và hỏi liệu tôi đã biết Osama bin Laden hiện ở nơi nào không, rồi tiếp tục thổi sáo. Ông và người em song sinh của ông là những người phụ giúp trực tiếp cho các lễ hội Samana Santa. Họ là những người vẫn còn thuộc về Guagüeyvo, còn Lorena thì không còn nữa bởi cô và 3 đứa con của cô muốn những thứ mà mảnh đất xa xôi cách biệt giữa những hẻm núi này, với các trường tiểu học sơ sài không thể đáp ứng được. Sau khi cô trở thành y tá, cô trở lại quê nhà trong vòng 5 năm, làm việc tại cơ sở y tế bé nhỏ mà Nhà nước xây dựng ngay cạnh trường học Guagüeyvo. Những người dân ở đây muốn cô ở lại, nhưng cô thì không. Giờ thì cô không còn có những chiếc váy Rarámuri vừa với mình nữa rồi.  “Tôi là một phụ nữ bản xứ”, Lorena nói với tôi vào lúc khuya của đêm đó, khi chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Chúng tôi vẫn trăn trở với cái ý niệm của bản sắc, thứ mà người ta có để phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác và tại sao mọi thứ lại dễ dàng mất đi đến thế. Khi nào thì các nỗ lực bảo tồn một văn hóa bản địa được bắt đầu để thu hút những cá nhân, theo một định nghĩa lãng mạn nào đó, về đúng cái văn hóa mà họ đáng được hưởng?  Lorena hoàn toàn không có hứng khởi trước kế hoạch phát triển Copper Canyon. Công việc dọn phòng theo cô không phải là thứ mà người dân ở đây trông đợi, cô nói. Và cô cảm thấy chút buồn tủi khi nhìn thấy những người bán các món đồ thủ công Rarámuri mong chờ du khách mua hàng của họ, và những người da trắng thi nhau chụp ảnh họ. Tuy nhiên, những lý lẽ của cô hoàn toàn chỉ là cảm tính: họ không kiếm đủ tiền từ những công việc đó. Lẽ ra, họ phải bán những thứ đó với giá đắt hơn. Và con cái của họ phải được đến trường, họ cũng nên ngăn chặn thói quen dạy những đứa trẻ uống rượu.          Những chiếc bánh ngô truyền thống của người Tarahumara    Trong một ngôi nhà của người Tarahumara          Một cây nến lẻ loi đang cháy chập chờn trong phòng của Lorena, nơi tôi và hai đứa con trai của cô đang ngồi. Lúc đó vào khoảg nửa đêm. Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng trống nữa. “Tôi cảm thấy thật thanh bình khi tôi đến đây”, Lorena thì thầm. Rồi bỗng nhiên cô nói: “Tôi sắp làm lễ mừng sinh nhật con trai tôi 6 tuổi. Tôi sẽ nói với các em gái của tôi rằng tôi muốn họ tới buổi lễ đó. Tôi muốn họ rời khỏi đây, có thể chỉ trong vài ngày và muốn họ nhìn thấy đời sống đô thị ngoài kia nhộn nhịp như thế nào”. Hai người mà cô nhắc tới là hai cô em gái, họ trẻ hơn cô và cũng đã từng đi học. Giờ thì họ đang sống ở quê nhà cùng bố mẹ. Cô lớn đã có 3 con, nhưng cha của những đứa trẻ lại có một gia đình khác ở Guagüeyvo.  Họ cũng có thể là các y tá nói được hai thứ tiếng và làm việc tại các phòng khám, Lorena lại thì thầm. “Ở đây, họ chẳng có gì cả”.   Hình nhân Judas bị đốt vào sáng Thứ bảy. Các thùng rượu ngô được lôi ra ngoài, sẵn sàng chờ mở để uống vào rạng sáng, rồi món xúp hầm ngô với thịt dê và thỏ được bẫy trước đó vài ngày. Thức ăn được đựng trong các thùng chứa lớn, đặt bên ngoài một ngôi nhà, ở một vị trí cao hơn nhiều so với nhà của Lorena. “Tôi có thể đi cùng anh về nhà vào chiều nay nếu như anh uống quá nhiều rượu và không tìm thấy đường về nữa”, một trong số người em họ của Lorena vừa chìa cho tôi đĩa xúp thịt hầm với một bầu rượu ngô, vừa lịch sự nói. “Nhưng cả tôi chắc cũng sẽ say khướt cho mà xem”. Rồi tất cả mọi người đều đi bộ hướng tới phía nhà thờ. Hình nộm được đưa ra bãi đất trống, với một chiếc mũ bóng chày đen đặt trên đầu và khoảng nửa tá đàn ông say rượu ngã dúi dụi vào nó, đấm đá vào nó, cấu xé chân tay nó ra. Cuối cùng, ai đó ném một que diêm vào Judas và cả hình nộm bốc cháy, chả còn gì cả, trừ tro tàn và các mảnh rơm cháy đen. Những người đàn ông say rượu loạng choạng lùi lại, thở hổn hển.  Ai đó kêu lên: “Ahora qué hacemos?”.  Lorena phá lên cười. Cô nhìn sang tôi, nhún vai và lặp lại câu hỏi này: “Ahora qué hacemos?-Chúng ta làm gì tiếp nhỉ?”.  Hoàng An dịch National Geographic    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người thuận tay trái tư duy nhanh hơn người thuận tay phải      Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Quốc gia Úc, những người thuận tay trái thường tư duy nhanh hơn người thuận tay phải và đặc biệt là có khả năng truyền thông tin nhanh trong hoàn cảnh phức tạp.    Theo các nhà khoa học, việc thuận tay phải hay tay trái là một đặc tính di truyền như màu mắt hoặc giới tính…, chứ hoàn toàn không phải là dị tật bẩm sinh. Hai bán cầu não được nối với nhau bằng một vòm não gồm nhiều dây thần kinh. Mỗi nửa bán cầu não có nhiệm vụ chỉ huy mọi hoạt động của nửa cơ thể ở vị trí đối diện. Ở người thuận tay phải, mọi hoạt động của tay do bán cầu não trái chỉ huy và ngược lại.  Trong trường hợp người thuận tay trái bị buộc dùng tay phải một cách thường xuyên, điều này sẽ hạn chế khả năng chỉ huy của phần bán cầu não mạnh hơn (ở đây là bán cầu não phải) và phần bán cầu não yếu hơn (bán cầu não trái) sẽ bị “làm việc” quá tải.  Do đó, các nhà khoa học khuyến cáo không nên thay đổi bản năng sử dụng tay trái của người thuận cánh tay này, vì như vậy có nghĩa là can thiêp thô bạo vào khả năng hoạt động của não và có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho cuộc sống của họ, như trong việc tư duy, tập trung suy nghĩ hay khả năng điều khiển cá nhân…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người thức khuya sáng tạo hơn      Bạn làm việc tốt nhất vào ban đêm? Hãy yên tâm bởi một nghiên cứu mới cho rằng những “con cú đêm” lại là những người có óc sáng tạo.    Các nhà khoa học vẫn chưa lý giải đầy đủ vì sao người của đêm lại sáng tạo hơn, nhưng nó có thể là do thích nghi với lối sống khác thường.  “Ở trong một tình cảnh khác biệt với thói quen thông thường, những người hoạt động ban đêm này sẽ phát triển một tâm hồn phóng khoáng và khả năng tìm kiếm giải pháp thay thế độc đáo”, giáo sư Marina Giampietro, tác giả nghiên cứu, nói.  Các nhà nghiên cứu Italy tại khoa Tâm lý học thuộc Đại học Sacred Heart ở Milan đã tìm hiểu 120 đàn ông và phụ nữ ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Sau khi những người tham gia được chia thành 3 dạng làm việc buổi tối, buổi sáng, hoặc trung gian, họ thực hiện 3 bài kiểm tra đo độ sáng tạo. Những người hoạt động ban đêm đạt điểm cao hơn hẳn trong các yếu tố như sự linh hoạt, khả năng phát sinh, sự lưu động, độc đáo, còn những người hoạt động ban sáng hay trung gian vất vả lắm mới đạt quá điểm 50.  Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện thấy tuổi tác không ảnh hưởng tới sự sáng tạo. Những người già vẫn duy trì được khả năng sáng tạo của mình.  Hans Van Dongen, thuộc Trung tâm nghiên cứu hoạt động và giấc ngủ của Đại học bang Washington, cho biết việc một người thuộc type hoạt động ban sáng hay ban đêm là do não quy định. Họ đã tìm thấy một nhóm tế bào não gọi là suprachiasmatic nuclei gửi tín hiệu tới cơ thể đồng bộ với thời gian trong ngày. Chiếc đồng hồ sinh học này chạy sớm 2 giờ ở những người hoạt động ban sáng và 2 giờ muộn hơn ở người hoạt động ban đêm.  M.T. (theo ABC Online)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người tiếp sức cho cây lúa đồng bằng      Nhà khoa học ấy có một tình yêu mãnh liệt với cây lúa. Bà lặn lội khắp trời Tây nhằm tìm câu trả lời làm sao để tiếp sức cho cây lúa đồng bằng. Rồi khi về nước, không chỉ là người “làm lúa” chuyên nghiệp với 3 – 5 giống lúa/năm, bà còn đảm nhận trọng trách chủ trì chương trình chọn giống cho biến đổi khí hậu. Bà là GS.TS Nguyễn Thị Lang, trưởng bộ môn di truyền và chọn giống, viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long.    Chức vụ và thách thức  Quệt những giọt mồ hôi vương trên trán sau chuyến thăm ruộng, GS Lang hồn hậu: “Làm khoa học khi đã dấn thân thì khó dừng lại lắm. Cũng giống như cuộc đua mà mỗi lần cán đích lại phải đặt ra mục tiêu mới để vượt qua, để không lặp lại chính mình. Trọng trách trong khoa học càng cao thì càng nhiều đích đến, càng nhiều thách thức để vượt qua”. Nhìn vào bản báo cáo đề tài “Phát triển giống lúa chịu hạn bằng phương pháp dấu chuẩn phân tử”, “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa xuất khẩu cho đồng bằng sông Cửu Long”, “Nghiên cứu biến động di truyền giống lúa chịu ngập tại Việt Nam”… dễ hình dung khối lượng công việc đồ sộ của GS Lang cùng cộng sự. Nhà khoa học mô tả: “Mất 5 – 10 năm mới làm được một giống lúa. Trước đó phải có chương trình lai cụ thể, chọn giống nào làm bố – mẹ có khả năng phối hợp chung cao mới ra con lai khả thi. Cứ 200 – 300 cặp lai mới tìm được một cặp lai tốt”.  Đó là cách nói tóm tắt nhất về công việc làm giống, một quá trình “thai nghén” dài đằng đẵng. Ngoài việc giải những bài toán di truyền, ước đoán hệ số di truyền, tìm chỉ thị phân tử, đo gen lặn gen trội… tại phòng thí nghiệm thì thời gian còn lại nhà khoa học phải nhập vai nông dân. Cũng lội sình, thăm ruộng nhưng mỗi chuyến thị sát lại phải nghe thật kỹ kinh nghiệm canh tác của người dân, đo thật chính xác các chỉ số nông học trên đồng ruộng, ghi chép thật cụ thể tình hình giống, vụ hay sâu bệnh tại địa phương đó. Trả lời câu hỏi làm thế nào để ra 3 – 5 giống lúa/năm, GS Lang lý giải: “Phải chọn giống gối đầu. Muốn ra giống cho năm năm tới thì năm nay phải bắt tay làm chương trình lai rồi. Từ thế hệ F0 đến F1, F2, F3… cứ mỗi thế hệ tương đương một vụ, khi chọn tới F8 mới so sánh sơ khởi giống lúa đó”. Chưa hết, khi hạt lúa đã thành hình, công việc lại tiếp diễn với giai đoạn mới là khảo nghiệm. Kết thúc ba vụ khảo nghiệm, nếu tốt, giống lúa mới được đề xuất sản xuất thử, nếu không sẽ bị loại bỏ. Thời ăn ngon, mặc đẹp, nhu cầu của thị trường liên tục “đặt hàng” nhà khoa học về những giống hạt dài, hạt tròn, hạt màu, dẻo, thơm… “Điều đó thúc giục chúng tôi phải liên tục nhón gót, với tay. Tạo giống lúa có phẩm chất tốt liên quan tới hạt dài, ít bạc bụng là ưu tiên số một, kế đến là mùi thơm, hàm lượng dinh dưỡng cũng là mục tiêu cần quan tâm”, GS Lang cho biết.  Cho lúa đơm bông  Đến nay, có thể xem GS Lang là người làm ra nhiều giống lúa nhất nước với hơn 50 giống được đưa vào sản xuất. Công việc ấy vẫn tiếp tục, thế nhưng nhà khoa học đang chọn một hướng đi mới là đương đầu với thiên nhiên khi đảm nhận vai trò chủ trì chương trình chọn giống cho biến đổi khí hậu. GS Lang lý giải: “Trong kinh tế người ta hay nói đi trước đón đầu thị trường, với nghề di truyền và chọn giống, ngoài nắm bắt nhu cầu thị trường thì trong bối cảnh hiện nay cũng cần tiên lượng tác động của thiên nhiên đến hoạt động sản xuất”. Công việc ấy bắt đầu từ thực tế, dù có lợi thế về đất đai và thuỷ lợi nhưng vùng đất này đang chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu. Đó là nếu nồng độ mặn tăng cao thì sự tăng trưởng của cây lúa gần như chựng lại, nếu kéo dài lúa sẽ chết. Đặc biệt vùng bị nhiễm mặn sẽ không canh tác cây rau, cây màu được và đất bị nhiễm mặn kéo dài sẽ bị suy thoái và bạc màu, hệ sinh thái nước ngọt sẽ bị thay thế bằng hệ sinh thái nước lợ và nước mặn. “Cần lường trước tình huống xâm mặn, hạn hán để tạo ra những giống lúa chịu mặn, chịu ngập và chịu hạn”, GS Lang khẳng định.  Trên thế giới, mặc dù giống lúa chống chịu ngập sâu đã được phát triển nhưng chúng vẫn chưa được chấp nhận một cách rộng rãi do nghèo năng suất và chất lượng gạo thấp. Trong khi đó, khai thác tính chống chịu ngập của giống lúa địa phương, tiếp sức bởi phẩm chất trội của giống lúa cải tiến sẽ lai tạo ra những giống mới thích nghi với biến đổi khí hậu. Từ chương trình hợp tác với viện Lúa quốc tế, với Úc, Hàn Quốc và chương trình quốc gia, nhiều giống lúa như vậy đã được tạo ra như: OM 4900, 9922, 8927. Đặc biệt, giống lúa ngắn ngày, chống khô hạn OM 7347 trồng tại Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang) đạt năng suất 9 tấn/ha.  Giống lúa mới cho thời biến đổi khí hậu diễn ra suôn sẻ, tuy nhiên điều mà GS Lang lo lắng là nhân lực cho lĩnh vực này rất mỏng. Tạm bỏ qua chuyện tiền bạc thì việc đầu tư thời gian, khổ công học hỏi, sự dấn thân là thách thức quá lớn với nhiều người trẻ. Và GS Lang cũng từng là một người trẻ như thế. Đó là quãng thời gian chân ướt chân ráo tới Viện lúa quốc tế ở Philippines và trụ ở đấy năm năm. Về nước không lâu, bà lại sang Nhật một năm nhằm xây dựng bản đồ di truyền. Sau đó lại mất thêm ba năm ở Philippines học kỹ thuật phân lập gen… rồi những chuyến công tác dài ngày để tự hoàn thiện vốn liếng ngành di truyền và chọn giống mình đeo đuổi. Trong đầu cả một rừng kiến thức, vậy mà không ít lần bà thất thần nhìn lúa giống chết khi mới thành phôi. Rồi cũng có những nghịch lý khoa học như sự thăng trầm của giống lúa OM 4900. Không được đánh giá cao ở Việt Nam lúc khảo nghiệm, tuy nhiên khi gửi sang viện lúa Quốc tế, OM 4900 lại nổi đình nổi đám với dân làm lúa, được đón nhận ở châu Phi và sau đó mới “bay” về nước sản xuất. Đó còn là nghịch lý những đứa con do mình tạo ra bị thay tên, đổi họ thành những cái tên thật kêu nhưng “hộ khẩu” là ở một công ty X nào đó…  Cũng may những lúc như vậy nhà khoa học tìm ra cách giải toả nỗi buồn là viết ra giấy: “Hôm nay mình rất buồn…”, “Thư gửi con…” với những dòng chân chất như hạt lúa đồng bằng, để rồi ngày mai lại bắt tay vào công việc làm giống.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người vẽ bản đồ bộ não      Những tập bản đồ bộ não gồm nhiều bức ảnh quét não không gian ba chiều với độ phân giải cao do Wieslaw Nowinski phát triển đã làm thay đổi cơ bản sự hiểu biết của chúng ta về cơ quan tư duy của con người. Ngày nay những tập bản đồ này giúp các thầy thuốc trong việc điều trị các bệnh nặng như liệt rung (Parkinson) hay đột quỵ.       Đôi khi những cảm giác tiêu cực có thể đánh thức niềm đam mê to lớn. Hơn 20 năm trước, ông đã giở những trang bản đồ về giải phẫu bộ não, ông cảm thấy buồn phiền về những gì mà ông chứng kiến: quá thô, xám xịt, rối rắm, khó hiểu.  “Tôi nguyện sẽ làm bằng được một tập bản đồ về bộ não con người tiến bộ nhất, chính xác nhất, đẹp nhất và bổ ích nhất.”  Cho đến nay ông đã phát triển 34 bộ ảnh não con người khác nhau trong đó gồm nhiều ảnh quét bộ não không gian ba chiều có độ phân giải cao.   Từ cậu học trò mê nhạc  Nowinski học phổ thông ở thị trấn Tomaszow Mazowiecki thuộc miền trung Ba Lan, quê hương ông. Đây là một trường trung học thiên về lĩnh vực nghệ thuật. Chàng thiếu niên Wieslaw rất mê âm nhạc.  Nhưng sau đó, giáo sư Lenarczyk lại giao cho ông chịu trách nhiệm về thư viện toán của nhà trường. “Tôi hồi hộp với những cuốn sách đó, chúng thú vị hơn nhiều so với những tài liệu giảng dạy chính thức. Tôi thấy có nhiều vấn đề đầy hấp dẫn và cố gắng tìm cách giải chúng.” Niềm say mê mới của Nowinski mạnh mẽ đến mức ông tham gia Olympia về toán và vật lý. “Đó là thắng lợi của khoa học đối với nghệ thuật. Nếu không thì tôi có lẽ đã trở thành một nhạc sỹ.”  Sau đó, say mê với máy tính, Nowinski quyết định theo học tại Viện điện tử thuộc đại học kỹ thuật Warsaw. Ông trở thành người thiết kế phần cứng và chương trình máy tính trong ngành công nghiệp. Ông làm luận án tiến sỹ tại Viện Hàn lâm khoa học Ba lan ở Warsaw.  Không có giáo sư Lenarczyk, một trong những người thầy của ông, thì có lẽ cuộc đời của nhà khoa học 60 tuổi này đã đi theo một hướng hoàn toàn khác.  Trong thiên đường của kẻ nghiện lao động    Năm 1991, gia đình ông chuyển đến Singapore.   Lúc đầu, theo kế hoạch, Singapore chỉ là điểm dừng chân tạm thời. Nhưng cuối cùng, nơi này đã trở thành quê hương của ông. “Singapore là một nơi tuyệt vời cho những kẻ nghiện lao động như tôi.”  Mỗi khi hết giờ làm việc về đến nhà ông liền bắt tay vào ca hai. “Tập bản đồ về bộ não và việc ứng dụng chúng đòi hỏi phải có kiến thức cơ bản về giải phẫu học thần kinh, phẫu thuật thần kinh, thần kinh học, chụp não và công nghệ máy tính”, theo lời nhà nghiên cứu.   Những kiến thức mà ông thu lượm được giúp ông tạo dựng những cầu nối giữa các bộ môn khác nhau với nhau và ông có thể làm việc độc lập.   “Cerefy” và “The Human Brain in 1492/1969 pieces” là hai tập bản đồ bộ não của ông được đánh giá là tiến bộ nhất và đẹp nhất trên thị trường. Wieslaw Nowinski muốn tập hợp những bức ảnh quét bộ não hiện có để làm bộ atlas nhưng chất lượng các bức ảnh này quá kém. Cái mà ông cần là những ảnh không gian ba chiều có độ phân giải cao về bộ não. Ông đành tự chui đầu mình vào máy MRI (máy chụp cộng hưởng từ) – và để có một bức ảnh phải giữ yên tư thế trong cái ống chật chội, ngột ngạt bốn tiếng đồng hồ.    Hai cô con gái giúp ông trong khâu thiết kế giao diện còn bà vợ thì đảm nhận khâu trang trí màu sắc. “Đó thực sự là một dự án của cả gia đình tôi.”  Thành công trong việc tạo dựng doanh nghiệp  Tập bản đồ điện tử bộ não của ông hiện được lắp đặt tại 1.500 trạm máy tính về phẫu thuật thần kinh trên toàn thế giới. Tại đây chúng hỗ trợ các bác sỹ trong việc đặt điện cực ở vị trí tối ưu để kích thích vùng não sâu – một trong những phương pháp điều trị quan trọng đối với bệnh nhân Parkinson.  Một ứng dụng khác của tập bản đồ này là việc xác định vị trí, mức độ và hệ quả di chứng sẽ xảy ra khi có đột quỵ, để từ đó, dựa trên những thông tin này, quyết định chọn giải pháp điều trị tốt nhất đối với từng người bệnh.  Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển này, Wieslaw Nowinski đã thành lập ba doanh nghiệp công nghệ y học. Hai doanh nghiệp tiếp theo đang trong quá trình hình thành. Ông có tổng cộng 32 bằng sáng chế, trong đó 18 ở Mỹ và tám ở châu Âu, và là tác giả của trên 500 ấn phẩm khoa học.  Ông đã được trao danh hiệu nhân vật xuất sắc nhất của Ba Lan năm 2012 và nhiều giải thưởng khác.   Hiện tại ông và tập thể của mình hoàn thiện “Bộ Atlas-3D những bệnh thần kinh”, một sản phẩm tiếp theo được dự tính là mở rộng tập Atlas-bộ não ra cả đầu và cổ. “Tôi có kế hoạch cho vài ba cuộc đời nữa”, nhà sáng chế đầy lọc lõi tiết lộ.   Mới đây ông được đề cử giải thưởng Nhà sáng chế châu Âu năm 2014 cho hạng mục “Thành tựu trọn đời”, tuy nhiên ông đã dừng lại ở vòng chung kết.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Người vợ đầu bị lãng quên của Einstein      Mặc dù chưa từng có ai chứng minh được trong thành tựu của Einstein có phần đóng góp cụ thể nào của Mileva Marić, người vợ đầu tiên của ông nhưng những là thư và nhiều lời kể của nhân chứng trong cuốn sách về cuộc đời bà cung cấp những bằng chứng không thể chối cãi về việc họ đã cộng tác từ những ngày đầu gặp nhau năm 1896 và tận khi họ ly hôn năm 1914. Bà cũng là một nhà vật lý và nếu không có bà, chưa chắc chúng ta đã có Thuyết tương đối.      Albert Einstein và Mileva Marić kết hôn vào năm 1903.  Mileva Marić được sinh ra tại Titel ở Serbia vào năm 1875. Cha mẹ bà, Marija Ruzić và Miloš Marić, là những người giàu có và đáng kính trong cộng đồng. Năm 1892, cha bà đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục ủy quyền cho phép bà tham gia các bài giảng vật lý dành riêng cho con trai. Bà hoàn thành chương trình trung học ở Zurich năm 1894 và gia đình sau đó chuyển đến Novi Sad. Các bạn cùng lớp Mileva nhiệt tình mô tả bà là người xuất sắc nhưng không khoa trương. Bà thích khám phá tới tận cùng của mọi thứ, kiên trì và làm việc có mục đích. Vào năm 1896, bà và Albert được nhận vào khoa vật lý-toán học của Học viện Bách khoa tại Zurich (nay là ETH) cùng với ba sinh viên khác: Marcel Grossmann, Louis Kollros và Jakob Ehrat. Albert và Mileva trở nên không thể tách rời, hai người dành vô số giờ học cùng nhau. Albert chỉ tham dự một vài bài giảng, ông thích học ở nhà hơn. Mileva học một cách có phương pháp và tổ chức. Bà đã giúp truyền năng lượng cho Einstein và định hướng việc học cho ông. Trong số những lá thư được trao đổi từ năm 1899-1903, có 43 lá thư từ Albert đến Mileva vẫn được giữ nguyên nhưng chỉ còn 10 trong số đó là do bà viết. Những lá thư này chính là nguồn tư liệu quan trọng để hiểu thêm về bà.   Vào tháng 8 năm 1899, Albert viết cho Mileva: Lần đầu tiên khi tôi đọc Helmholtz, tôi cảm thấy thật khó chịu khi không có em ở đây, và cho đến hôm nay điều đó cũng chẳng khá hơn. Tôi cảm thấy việc chúng ta làm việc chung rất tốt, rất thư giãn và dễ dàng hơn rất nhiều. Sau đó, vào ngày 2 tháng 10 năm 1899, Albert đã viết từ Milan cho bà: “… Khí hậu ở đây không phù hợp với tôi, và trong khi tôi nhớ công việc của mình, tôi cũng thấy tràn ngập những suy nghĩ tăm tối – nói cách khác, tôi rất cần có em ở gần để kiểm tra và ngăn tôi khỏi xao lãng…”. Mileva vào sống ở một trường nội trú cho nữ, nơi bà gặp Helene Kaufler-Savić và Milana Bota, hai người bạn thân đến cuối đời của bà. Cả hai đều nói về sự hiện diện liên tục của Albert tại nơi ở của Mileva, việc ông có thể thoái mái đến mượn sách kể cả khi không có Mileva ở đó. Vào cuối năm 1900, Mileva và Albert có điểm số tương tự (lần lượt là 4,7 và 4,6) ở trường, ngoại trừ môn vật lý ứng dụng với việc Mileva đạt điểm cao nhất là 5 nhưng Albert chỉ được 1 điểm. Nếu Mileva xuất sắc trong việc thử nghiệm và áp dụng thì Albert lại không mấy tỏa sáng. Nhưng tại  kỳ thi vấn đáp, giáo sư Minkowski đã chấm 11/12 cho cả bốn sinh viên nam trừ Mileva (bà chỉ được 5 điểm). Chỉ có Albert là được cấp bằng.      “…Vì quá nổi tiếng, anh ấy có ít thời gian dành cho vợ mình…. bạn biết đấy, cùng với danh tiếng, một người sẽ được viên ngọc trai, và người chỉ được cái vỏ” (Mileva Marić).      Trong khi đó, gia đình Albert  phản đối mạnh mẽ mối quan hệ của họ. Mẹ ông kiên quyết không cho con trai kết hôn với Mileva: Khi con 30 tuổi, cô ta đã trở thành một bà già (Mileva hơn Einstein bốn tuổi). Mileva không phải là người Do Thái, cũng không phải người Đức. Bà có một đôi chân khập khiễng và quá thông minh theo như quan điểm của mẹ Albert, đấy chưa kể định kiến đối với người nước ngoài. Hơn nữa, cha Albert khăng khăng đòi con trai tìm việc trước khi kết hôn. Vào tháng 9 năm 1900, Albert đã viết cho Mileva: “Tôi mong muốn được tiếp tục công việc chung mới của chúng ta. Bây giờ em phải tiếp tục theo đuổi nghiên cứu của mình – và tôi sẽ rất tự hào khi có thể thuê được bác sĩ riêng cho em dù tôi chỉ là một người bình thường”. Cả hai đã quay trở lại Zurich vào tháng 10 năm 1900 để bắt đầu công việc luận án của họ. Ba sinh viên khác đều nhận được vị trí trợ lý tại Viện, nhưng Albert thì không. Ông nghi ngờ rằng giáo sư Weber chơi khăm ông. Albert không chịu kết hôn khi không có việc làm, và họ kiếm sống bằng cách dạy gia sư, tiếp tục sống và làm việc như trước. Vào ngày 13 tháng 12 năm 1900, họ đã gửi bài báo đầu tiên về mao dẫn, nhưng chỉ có Albert đứng tên. Tuy nhiên, cả hai đều gọi bài báo này là bài chung của họ trong các bức thư gửi cho nhau. Mileva trong bức thư gửi Helene Savić vào ngày 20 tháng 12 năm 1900 có đoạn: “Hiện tại chúng tôi sẽ gửi một bản sao riêng cho Boltzmann để xem anh ấy nghĩ gì và tôi hy vọng anh ấy sẽ trả lời chúng tôi. Giáo sư Jung đã đến thăm chú của tôi, giáo sư Jung, một trong những nhà vật lý có ảnh hưởng nhất ở Ý và tôi cũng đưa cho ông một bản sao bài báo của chúng tôi.”    Einsteinhaus – căn nhà ở giữa tầng 2 tại Bern, Thụy Sĩ từng là nơi hai người chung sống từ năm 1903-1905 cùng với con trai Hans-Einstein. Nguồn: Travel notes.  Có vẻ như cả hai người đã cùng thống nhất để đi đến quyết định chỉ công bố các công trình dưới tên của Einstein. Nhưng tại sao? Radmila Milentijević, cựu giáo sư lịch sử tại City College ở New York, xuất bản năm 2015 cuốn tiểu sử toàn diện nhất về Mileva. Bà cho rằng Mileva có lẽ muốn giúp Albert tạo dựng tên tuổi cho mình, để ông có thể tìm được một công việc và cưới bà. Dord Krstić, cựu giáo sư vật lý tại Đại học Ljubljana, đã dành 50 năm để nghiên cứu về cuộc sống của Mileva. Trong cuốn sách của mình, ông cho rằng với sự thành kiến phổ biến đối với phụ nữ vào thời điểm đó, một báo cáo được đồng kí tên bởi một người phụ nữ sẽ bị giảm tầm quan trọng của nó. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được lý do vì sao. Nhưng chính Albert Einstein là người thể hiện rõ nhất sự cộng tác của họ khi ông viết cho Mileva vào ngày 27 tháng 3 năm 1901 về thuyết tương đối hẹp: “Tôi sẽ hạnh phúc và tự hào biết bao nếu cả hai chúng ta cùng hợp sức để đưa công trình về chuyển động tương đối đến một kết quả thắng lợi”.   Tuy nhiên vận mệnh của Mileva đã thay đổi đột ngột sau đó. Bà có thai sau khi hai người đi chơi hồ Como. Thất nghiệp, Albert vẫn không thể lấy bà. Với việc tương lai phía trước không hề ổn định, Mileva quyết định thi lại vấn đáp lần hai, và cũng là lần cuối cùng vào tháng 7 năm 1901. Lần này, giáo sư Weber, người mà Albert nghi ngờ đã khiến ông không được nhận vào làm trợ lý ở viện, đã đánh trượt bà. Buộc phải từ bỏ việc học, bà về Serbia, nhưng sau đó lại quay lại Zurich một thời gian ngắn để cố gắng thuyết phục Albert kết hôn. Bà sinh một bé gái tên Liserl vào tháng 1 năm 1902. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với Liserl, có lẽ bé đã được một gia đình khác nhận nuôi. Không hề có giấy khai sinh hoặc khai tử được tìm thấy.   Trước đó vào tháng 12 năm 1901, cha một người bạn cùng lớp của họ, Marcel Grossman, đã can thiệp để Albert có được một công việc tại Văn phòng Bằng sáng chế ở Bern. Albert bắt đầu làm việc vào tháng 6 năm 1902 và vào tháng 10, cha của Albert đã cho phép ông kết hôn ngay trước khi qua đời. Albert và Mileva kết hôn vào ngày 6 tháng 1 năm 1903. Albert làm việc 8 giờ một ngày, 6 ngày một tuần tại Văn phòng Bằng sáng chế trong khi Mileva đảm nhận việc nội trợ. Vào buổi tối, họ làm việc cùng nhau, đôi khi đến tận đêm khuya. Cả hai đều từng nhắc đến điều này với bạn bè: Albert trong khi nói chuyện với Hans Wohlwend, và Mileva trong bức thư gửi Helene Savić vào ngày 20 tháng 3 năm 1903 cũng nhắc đến việc bà cảm thấy đau lòng khi Albert phải làm việc quá vất vả tại văn phòng. Vào ngày 14 tháng 5 năm 1904, con trai của họ, Hans-Albert chào đời. Mặc dù vậy, năm 1905 được biết đến như một năm kỳ diệu của Albert: chỉ trong vòng một năm ông đã xuất bản 5 bài báo: một về hiệu ứng quang điện (sau này dẫn đến giải thưởng Nobel năm 1921), hai bài về chuyển động Brown, một bài về thuyết tương đối hẹp và cuối cùng là phương trình “E = mc2” nổi tiếng. Ông cũng bình luận cho 21 bài báo khoa học để nhận được một khoản phí, và nộp luận án về kích thước của các phân tử. Rất lâu sau, Albert nói với R. S. Shankland rằng thuyết tương đối là tất cả cuộc sống của ông trong bảy năm và hiệu ứng quang điện trong năm năm. Peter Michelmore, một trong những người viết tiểu sử cho Einstein, cho biết sau khi dành năm tuần để hoàn thành bài báo có chứa cơ sở của thuyết tương đối hẹp, Albert đã đi ngủ trong hai tuần. Mileva kiểm tra bài báo hết lần này đến lần khác, và sau đó đi nộp nó. Kiệt sức, cặp đôi đã thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới Serbia, nơi họ gặp gỡ nhiều người thân và bạn bè, và những gì họ kể lại cung cấp nhiều thông tin về cách Albert và Mileva hợp tác. Miloš, anh trai của Mileva, một người nổi tiếng về sự chính trực, đã ở lại nhiều lần với gia đình Einstein khi học y khoa ở Paris. Miloš kể lại hàng đêm, khi sự im lặng rơi xuống thị trấn, cặp vợ chồng trẻ sẽ ngồi cùng nhau tại bàn và dưới ánh sáng của đèn lồng dầu hỏa, họ sẽ làm việc cùng nhau về các vấn đề vật lý. Miloš Jr. cũng nói về cách họ tính toán, viết, đọc và tranh luận. Cặp đôi thường ngồi trong vườn để thảo luận về vật lý, và nổi bật lên sự hài hòa và tôn trọng lẫn nhau của họ.     Bia tưởng niệm Mileva Marić tại nghĩa trang Zurich Nordheim, Thụy Sĩ, nằm cách mộ của bà 150 m. Bia trên mộ của bà đã bị quản trang gỡ bỏ vì không ai trả phí nghĩa trang cho Mileva. Nguồn: teslasociety.ch  Gajin và Zarko Marić cũng nhớ lại Mileva đã từng nói với cha mình khi gia đình Einstein đến thăm ông vào năm 1905: “Trước khi chúng con khởi hành, chúng con đã hoàn thành một công trình khoa học quan trọng, mà sẽ giúp chồng con được biết đến trên toàn cầu”.   Desanka Trbuhović – Gjurić đã xuất bản tiểu sử đầu tiên của Mileva ở Serbia vào năm 1969. Cô mô tả cách anh trai Mileva thường tổ chức các cuộc tụ tập của những trí thức trẻ tại nhà, và có một lần Albert từng tuyên bố: “Tôi cần vợ tôi, cô ấy giải quyết cho tôi tất cả các vấn đề về toán học”. Mileva cũng từng xác nhận điều này. Năm 1908, cặp vợ chồng chế tạo với Conrad Habicht một vôn kế siêu nhạy. Theo Trbuhović-Gjurić, công việc thử nghiệm này được thực hiện bởi Mileva và Conrad, và sau khi hoàn thành, họ giao cho Albert nhiệm vụ mô tả bộ máy vì ông là chuyên gia về bằng sáng chế. Nó được đăng ký theo bằng sáng chế của Einstein-Habicht. Khi Habicht đặt câu hỏi về việc Mileva lựa chọn không đưa ra tên của mình trong đó, cô đã trả lời bằng cách chơi chữ: “Vì sao chứ? Chúng tôi chỉ là một viên đá (ein Stein) mà.” (ở đây «viên đá» có thể được hiểu chỉ là một thực thể, không thể tách rời).   Sự công nhận đầu tiên dành cho bà đã đến vào năm 1908. Albert đã giảng bài không công tại Bern, rồi được mời vào vị trí giảng dạy ở Zurich vào năm 1909. Mileva vẫn đang hỗ trợ ông. Tám trang ghi chú bài giảng đầu tiên của Albert được bà viết tay, và bà cũng là người viết bức thư trả lời Max Planck khi ông muốn tham khảo ý kiến của Einstein. Cả hai tài liệu được lưu giữ trong Kho lưu trữ Albert Einstein (AEA) ở Jerusalem. Vào ngày 3 tháng 9 năm 1909, Mileva tâm sự với Helene Savić: “Hiện tại anh ấy được coi là người giỏi nhất trong số các nhà vật lý nói tiếng Đức, và họ dành cho anh rất nhiều danh dự. Tôi rất vui vì thành công của anh ấy vì nó hoàn toàn xứng đáng. Tôi chỉ hy vọng và mong ước rằng sự nổi tiếng không có ảnh hưởng có hại đến con người của anh ấy”. Sau đó, bà nói thêm: “…Vì quá nổi tiếng, anh ấy có ít thời gian dành cho vợ mình…. bạn biết đấy, cùng với danh tiếng, một người sẽ được viên ngọc trai, và người chỉ được cái vỏ”. Con trai thứ hai của họ, Eduard, chào đời ngày 28 tháng 7 năm 1910. Cho đến năm 1911, Albert vẫn gửi những tấm bưu thiếp trìu mến cho Mileva. Nhưng vào năm 1912, ông bắt đầu ngoại tình với em họ của mình, Elsa Löwenthal. Họ viết thư bí mật cho nhau trong hai năm, và Elsa đã giữ được 21 lá thư từ ông. Trong thời gian này, Albert giữ các vị trí giảng viên khác nhau đầu tiên ở Prague, rồi đến Zurich và cuối cùng ở Berlin vào năm 1914 để được gần hơn với Elsa. Điều này khiến cuộc hôn nhân của ông và Mileva sụp đổ. Mileva chuyển về Zurich cùng hai con trai vào ngày 29 tháng 7 năm 1914. Năm 1919, bà đồng ý ly hôn, với một điều khoản tuyên bố rằng nếu Albert nhận được giải thưởng Nobel, bà sẽ nhận được tiền. Khi điều đó thực sự xảy ra, bà đã mua hai tòa chung cư nhỏ và sống một cách nghèo khó dù có thu nhập từ nó. Con trai bà, Eduard, phải thường xuyên ở trong nhà điều dưỡng, cuối cùng bị tâm phần phân liệt. Do những chi phí y tế để lo cho con trai, Mileva phải vật lộn cả đời về tài chính và cuối cùng mất cả hai tòa nhà. Bà kiếm sống bằng việc gia sư và bằng những khoản tiền mà Albert gửi, dù không thường xuyên. Năm 1925, Albert viết trong di chúc rằng tiền thưởng Nobel là tiền thừa kế của con trai ông, nhưng Mileva phản đối mạnh mẽ, tuyên bố số tiền là của cô và xem xét tiết lộ những đóng góp của cô cho công việc của ông. Albert gửi cho bà một bức thư vào ngày 24 tháng 10 năm 1925: “Bà đã làm tôi cười khi đe dọa tôi bằng những hồi ức của bà. Bà có từng cân nhắc, dù chỉ một giây thôi, rằng sẽ không ai chú ý đến những gì bà nói nếu bà không đạt được những thành tựu quan trọng? Khi một người nào đó hoàn toàn không đáng kể, họ không nên làm gì ngoài việc giữ khiêm tốn và im lặng, và đây là những gì tôi khuyên bà nên làm”.   Mileva vẫn im lặng nhưng người bạn Milana Bota của bà đã nói với một tờ báo của Serbia vào năm 1929 rằng họ nên nói chuyện với Mileva để tìm hiểu về nguồn gốc của thuyết tương đối hẹp vì bà có liên quan trực tiếp đến quá trình tìm ra nó. Vào ngày 13 tháng 6 năm 1929, Mileva đã viết cho Helene Savić: “Những ấn phẩm như vậy trên báo hoàn toàn không phù hợp với bản chất của tôi, nhưng tôi tin rằng Milana cảm thấy vui vì điều này và nghĩ rằng tôi cũng sẽ cảm thấy như vậy. Có lẽ cô ấy muốn giúp tôi nhận được sự chú ý vì những công trình liên quan đến Einstein. Cô ấy đã viết cho tôi theo cách ấy hay để nó được chấp nhận theo cách ấy, vì nếu không, toàn bộ chuyện này sẽ trở thành vô nghĩa”. Theo Krstić, Mileva đã nói về những đóng góp của mình cho mẹ và chị gái. Bà cũng viết thư cho cha mẹ đỡ đầu giải thích về việc cô luôn hợp tác với Albert và ông đã hủy hoại cuộc đời bà như thế nào, nhưng sau đó yêu cầu họ hủy bức thư. Hans-Albert, con trai bà, nói với Krstić về cách cha mẹ họ hợp tác trong khoa học, mỗi tối ngồi làm việc cùng nhau. Người vợ đầu của Hans-Albert, Frieda, đã cố gắng xuất bản những bức thư mà Mileva và Albert đã gửi cho con trai của họ nhưng nỗ lực này bị ngăn cản bởi các nhà quản lý di sản của Einstein, Helen Dukas và Otto Nathan nhằm mục đích bảo tồn “huyền thoại” về Einstein. Vào tháng 7 năm 1947, Albert đã viết cho Tiến sĩ Karl Zürcher, luật sư ly hôn của ông: “Sau khi Mileva không còn ở đó nữa, tôi sẽ có thể chết trong hòa bình”.     Tượng Mileva Marić tại Viện Serbian, ở Serbia, quê hương của bà. Nguồn: nedeljnik.rs  Những lá thư của họ và rất nhiều nhân chứng cho thấy Mileva Marić và Albert Einstein đã hợp tác chặt chẽ từ thời đi học cho đến năm 1914. Albert cũng nhắc đến nó nhiều lần trong các lá thư của mình, giống như khi ông viết: “công việc của chúng ta về chuyển động tương đối”. Sự kết hợp của Mileva và Albert là dựa trên tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau, cho phép họ cùng nhau tạo ra những công trình đặc biệt đến vậy. Bà là người đầu tiên nhận ra tài năng của ông, không có bà, ông khó có thể đạt được thành tựu đến vậy. Bà từ bỏ khát vọng của chính mình, hạnh phúc khi làm việc với ông và đóng góp vào thành công của ông, bà luôn cảm thấy họ là một thực thể duy nhất. Một khi đã bắt đầu, việc các công trình chung được một mình Einstein ký tên là không thể thay đổi. Bà có lẽ đã đồng ý vì hạnh phúc của bà phụ thuộc vào thành công của Einstein. Nhưng cuối cùng tại sao Mileva vẫn im lặng? Là một người kín đáo và độc lập, bà không tìm kiếm danh dự hay sự chú ý của công chúng. Khi hai người đã cộng tác chặt chẽ trong cùng một công trình, rất khó để có thể phân biệt rạch ròi sự đóng góp của từng người. ¨  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn: https://blogs.scientificamerican.com/guest-blog/the-forgotten-life-of-einsteins-first-wife/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn gốc của phương pháp truyền dịch      Làm thế nào mà một biện pháp xâm phạm đến da và mạch máu, vi phạm vào sự thiêng liêng của cơ thể con người khi tiêm vào một lít chất ngoại lai trong y tế lại được cho phép? Nguồn gốc của nó là câu trả lời nằm trong quá trình tìm kiếm của loài người nhằm đối phó với một loại vi khuẩn tai tiếng đã gây ra chứng tiêu chảy liên tục và những cơn sốc chết người: vi khuẩn dịch tả.    Biểu hiện của bệnh nhân dịch tả.  Truyền vào tĩnh mạch với một lít dung dịch nước muối hoặc các chất cần thiết là một phương pháp điều trị chuẩn trong các phòng khám và bệnh viện. Đây là một phương pháp điều trị rất phổ biến ngày nay, một công cụ thông thường có thể giúp giảm bớt những điều kiện chữa trị phức tạp.  Hồi sức bằng cách truyền dịch vào tĩnh mạch dựa trên nguyên tắc bổ sung thêm những chất dịch quý giá của cơ thể thông qua dẫn truyền trực tiếp qua thành mạch máu, nhưng những quan điểm này đến từ đâu? Làm thế nào mà một biện pháp xâm phạm đến da và mạch máu, vi phạm vào sự thiêng liêng của cơ thể con người khi tiêm vào một lít chất ngoại lai trong y tế lại được cho phép? Nguồn gốc của nó là câu trả lời nằm trong quá trình tìm kiếm của loài người nhằm đối phó với một loại vi khuẩn tai tiếng đã gây ra chứng tiêu chảy liên tục và những cơn sốc chết người: vi khuẩn dịch tả.  Dịch tả là “là dịch bệnh bắt đầu tại những nơi mà có dịch bệnh khác vừa kết thúc, và thường gây tử vong.” Nó đã quét qua thế giới tất cả 7 lần trong những đại dịch lớn và gây tử vong cho hàng triệu sinh mạng. Khi bị nhiễm khuẩn tả Vibrio, nó không đơn giản chỉ tấn công vào thành ruột và gây ra chứng tiêu chảy. Nhiễm độc tố tả khiến cả vùng ruột sẽ giải phóng chất dịch, và các bệnh nhân sẽ bị tiêu chảy nặng và mất 1 lít nước mỗi giờ, sau đó chết trong vài giờ do mất nước và chứng sốc giảm thể tích.  Vào năm 1831, dịch tả tàn phá dữ dội và lan truyền dọc theo các đồng bằng ven sông Hằng của Ấn Độ và nhanh chóng lan sang Trung Quốc, Iran, và Nga trước khi theo đường thương mại vượt qua dãy núi Ural tràn vào Châu Âu. Ở nước Anh, các tàu trở hàng quay trở về từ các điểm nóng như biển Baltic và Đông Nam Á, nơi hơn 23,000 người đã thiệt mạng do dịch bệnh mới. Các con tàu Châu Âu mang theo dịch bệnh vượt biển Đại Tây Dương, từ những nơi đang bị đốt cháy bởi dịch bệnh là Canada và Mỹ, cập vào bờ Đại Tây Dương; và đến tận 2 năm sau thì mới có những tài liệu đầu tiên ở Ấn Độ về loại bệnh này được dịch. Đó là một bệnh dịch chưa từng được ghi nhận kể từ sau nạn dịch hạch, cũng là một dịch bệnh gây ra cái chết nhanh chóng và khiến dân cư tử vong với số lượng cực lớn.  Một bác sĩ trẻ người Ai-len vừa tốt nghiệp trường y vào năm 1831, William Brooke O’Shaughenessy đang có cuộc sống an toàn ở Edinburgh, cách xa tâm chấn của dịch tả. Chàng trai trẻ 22 tuổi bị lôi cuốn bởi những báo cáo về cơn ác mộng này và ông tự tin cho rằng: “Những phương pháp hóa học thực nghiệm mà tôi từng theo đuổi… có thể áp dụng để chữa bệnh.” Dấn thân vào cuộc phiêu lưu và thay một cái tên giả, ông đã đến Sunderland nước Anh để thử sức trong cuộc chiến với dịch tả.  Ở đó ông nhận thấy những cảnh tượng kinh hoàng mà về sau được mô tả bởi những từ: “đột ngột, chết người, ngập tràn, và những cái xác sống.” Vượt qua được nỗi kinh hoàng ban đầu và quay trở lại phân tích cơn đại dịch, ông nhận thấy rằng những nạn nhân của dịch tả thường tỏ ra không có tiến triển trước những điều trị thời bấy giờ ví dụ như: áp dụng trích máu, liệu pháp đỉa (lợi dụng đặc tính hút máu của đỉa để chữa bệnh), sử dụng các chất tẩy mạnh, thuốc gây nôn từ thủy ngân hydrua và thầu dầu đến chất tẩy Drano để làm sạch đường ruột. Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các liệu pháp điều trị này thực ra chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn, khiến cơ thể mất dịch nhiều hơn và thậm chí nhanh chóng tử vong hơn, chúng góp phần vào tỷ lệ tử vong đáng kinh ngạc của dịch tả, khoảng 10 đến 70% người nhiễm bệnh đã chết, sánh ngang với vi khuẩn pestis Yersinia trong đại dịch Black Death.  Sử dụng những hiểu biết của mình về hóa học, O’Shaughnessy kiểm tra máu và phân của bệnh nhân dịch tả, tiến hành đo thô những chất điện giải trong cả hai. Chìa khóa của công việc này là anh quan sát thấy một lượng lớn nước, natri, clorua, và bicacbonat đã bị rút từ máu và mất qua đường phân. Mặc dù những suy luận của anh không nghi ngờ gì sẽ bị coi là thô sơ vào thời đại ngày nay, những kết luận đơn giản và chính xác này sau được minh họa như một đặc điểm của bệnh lý dịch tả. Anh công bố những phát hiện của mình trên tạp chí The Lancet và đề xuất một liệu pháp hoàn toàn đơn giản – bổ sung chính xác những gì đã mất đi ở ruột trực tiếp qua đường tĩnh mạch.  Tiến sĩ Thomas Latta, một bác sĩ đồng nghiệp người Anh, được truyền cảm hứng bởi suy luận của O’Shaughnessy. Chưa đầy hai tháng sau những công bố trên The Lancet, Latta thực hiện liệu pháp hồi sức tĩnh mạch đầu tiên vào tháng 5 năm 1832 với các thiết bị tự chế, dung dịch sử dụng là một chất lỏng nhược trương (nhược trương là tính chất của một môi trường mà nồng độ chất tan nhỏ hơn so với môi trường nội bào) trộn giữa natri, clorua và bicacbonat. Bằng cách tiêm những gì mà ông mô tả như là “một chất phong phú” từ một kim tiêm và một ống bằng bạc, ông đã có thể hồi sinh 8 trong số 25 bệnh nhân mà ông truyền. Latta đã mô tả trường hợp đầu tiên của liệu pháp truyền tĩnh mạch như sau:  Sau khi kim tiêm xuyên vào thành mạch “thiêng liêng”, đầy thận trọng và lo lắng, tôi quan sát mọi tác động, từng chút từng chút dịch được truyền vào, nhưng không có sự thay đổi rõ rệt nào được tạo ra. Tiếp tục kiên trì, tôi nghĩ hơi thở của cô ấy bắt đầu bớt nặng nhọc hơn; trước đó các chức năng của cô kiệt quệ và mắt trũng sâu, hàm chảy, xanh và lạnh, mang theo những biểu hiện của dấu vết tử thần. Sau đó, thần sắc cô bắt đầu tươi sáng và sống động hơn, các mạch đập từ lâu biến mất, đã quay lại nơi cổ tay, ban đầu đập nhanh và yếu ớt, sau đó dần dần trở nên rõ rệt, đầy đặn, chậm và vững chãi, và sau khoảng nửa giờ nữa, khi đã truyền được 6 ống, cô khẳng định qua giọng nói chắc nịch rằng cô thoát khỏi mọi lo lắng. Cứ như một câu nói đùa, cô vui vẻ bảo giờ tất cả những gì cô cần chỉ là một giấc ngủ ngắn; tứ chi của cô ấm áp, và mọi biểu hiện đều lộ rõ sự thoải mái và sức khỏe.  Liệu pháp truyền tĩnh mạch là một phương pháp tiến bộ đi trước quá xa thời đại. Trong khi một số nhà lâm sàng đón nhận nó như một phương thuốc mới – một số còn tuyên bố dịch lỏng này giống như một “chất kì diệu và siêu nhiên” có thể hồi sinh cả người chết – nhưng nó bị phản đối rộng rãi bởi các chuyên gia y tế, những người kịch liệt lên án mọi ý định xâm phạm vào sự thiêng liêng của cơ thể con người. Thực tế, với không ít sự mỉa mai, họ tiếp tục chữa trị với đỉa, nuốt muối thủy ngân và làm sạch đường ruột cho những bệnh nhân có đôi mắt trũng sâu của họ. Và kết quả là, có thêm 6 trận dịch tả nội trong thế kỷ 19. Nguyên tắc của O’Shaughnessy dường như bị lãng quên.  Theo tiêu chuẩn của chúng ta ngày nay, đó là một phương pháp hầu như hoàn hảo. Mặc dù phương pháp truyền tĩnh mạch của ông bị phải đối mạnh mẽ trong thời đại đó, ông sẽ được minh oan bởi công đồng y học phát triển say này, những người hiểu rằng dịch tả có thể được điều trị mà không cần sử dụng thuốc kháng sinh mà đơn giản chỉ cần bù nước. Ngày nay chúng ta điều trị cho bệnh nhân dịch tả bằng các liệu pháp bù nước tương tự kết hợp với bổ sung chất điện giải, thậm chí có thể không thông qua truyền tĩnh mạch mà chỉ cần uống dung dịch. Một bác sĩ đã viết trong hồi ký về điều trị dịch tả như sau: “Sự tương đồng giữa những khuyến cáo về truyền tĩnh mạch của O’Shaughnessy vào năm 1832 và những khuyến cáo của WHO về điều trị dịch tả ngày nay là rất rõ rệt.”  Với những nghiên cứu đột phá của mình trong việc điều trị bệnh tả, O’Shaughnessy là người đã có công thiết lập những nguyên tắc trong điều trị bằng truyền dịch thông qua những quan sát và phân tích cẩn thận về chất dịch cơ thể của bệnh nhân và đề nghị hợp lý về “tính chính xác của sinh lý học.” William Brooke O’Shaughnessy, một nhà hóa học và nghiên cứu chất độc, bằng sự bài bản, từ tốn tiếp cận cơn khủng hoảng y tế với thái độ cân bằng và lý trí của một nhà khoa học thực sự, từ đó đã mở ra một chương mới trong lịch sử và để lại những dấu ấn sâu sắc trong y học giúp giữ lại nhiều mạng sống của những thế hệ sau này.  Phương Thảo dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn gốc luận thuyết của “sứ mệnh khai hóa”      Khái niệm «sứ mệnh khai hóa» được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật trước và sau cuộc Cách mạng Pháp 1789. Nhưng khái niệm này thực sự phát triển vào thế kỷ 19 cùng lúc với công cuộc khai thác thuộc địa để biện minh cho chính hành động thực dân. «Sứ mệnh khai hóa» được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học, chính trị gia, các thương nhân Pháp. Hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng «thực chứng» khoa học, họ đã khẳng định và thực thi «sứ mệnh» cao cả này như một bổn phận của những dân tộc văn minh thượng đẳng đưa những tộc người hèn kém hạ đẳng thoát ra khỏi man rợ. «Sứ mệnh khai hóa» là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa thực dân Pháp mà các nhà lý luận thực dân Pháp đề cao để phân biệt với kiểu thực dân «con buôn» của Anh hay Hà Lan.    Thuyết cứu thế Pháp  Khái niệm sứ mệnh khai hóa phát triển vào thế kỷ 19 để biện minh cho hành động thực dân. Nó dựa trên thuyết cứu thế của Pháp với niềm xác tín rằng Pháp quốc có sứ mệnh truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và có nghĩa vụ giải thoát các tộc người khỏi những bạo ngược của thiên tai, bệnh tật, dốt nát và khỏi sự chuyên chế bằng cách đem lại cho họ kỹ thuật và y tế, giáo dục và một nền quản trị trong sạch. Như vậy, Pháp quốc sẽ biến đổi các tộc người cả về thể chất lẫn tinh thần. Thuyết cứu thế này có thể được định nghĩa là một loạt các huyền thuyết và ý tưởng chủ đạo, nó bao hàm và chi phối mạnh mẽ hoạt động văn hóa của Pháp trên thế giới. Đó là một thứ :  Thuyết thế giới đại đồng, ăn sâu vào ý thức quốc gia, như một thứ nhu cầu kiến tạo, chấp thuận và tiếp nhận các hình thức song hành và tiếp nối những kỳ vọng của toàn nhân loại và đem lại lời đáp cho những kỳ vọng đó. [Thuyết cứu thế này] vừa là lý luận vừa là hành động, là suy ngẫm về tính phổ quát của thông điệp và là tuyên ngôn thường trực về giá trị của thuyết cho toàn thể nhân loại. (Salon 1983: 32)  Thuyết cứu thế của Pháp gắn liền của thuyết cứu thế của Thiên chúa giáo. Từ thế kỷ 17, trở thành « con cả của Giáo hội », nước Pháp đã tiến hành một cuộc bành trướng văn hóa và kinh tế. Sự sắp đặt của lịch sử này tạo nên mối giao hòa giữa cái phổ quát của văn minh Pháp và cái phổ độ của Thiên chúa giáo. Nước Pháp trở thành « cường quốc cứu thế quan trọng bảo trợ trí tuệ và tinh thần bên ngoài biên giới Pháp và bên trong các đế chế và cường quốc khác » (Salon 1983: 32). Tiếng Pháp không chỉ hạ bệ tiếng La tinh mà cả tiếng Ý và Tây Ban Nha. Tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ ngoại giao (Hiệp ước Rastatt được soạn thảo bằng tiếng Pháp năm 1714) và ngôn ngữ khoa học quốc tế (Các kỷ yếu của Viện Hàn lâm khoa học Berlin được in bằng tiếng Pháp năm 1743), và tiếng Pháp còn trở thành ngôn ngữ của giới tinh hoa châu Âu trong suốt thế kỷ 18 (Lafon 2001: 161). Lúc đó, nước Pháp xuất khẩu những mẫu hình văn hóa và ngôn ngữ của mình dưới bức bình phong là thuyết thế giới đại đồng. Những kiểu mẫu này là công cụ hữu hiệu để « mua chuộc » hay « lấy lòng » giới tinh hoa này. Cuộc chinh phục văn hóa này thể hiện thứ logic của quyền lực, tiến bộ kỹ nghệ, khoa học và khái niệm hơn là mục đích thống trị của đế quốc (Milza 1980: 361‑379). Phong trào này đạt tới đỉnh điểm là cuộc Cách mạng Pháp. Nhờ việc quy thuận những độc giả Pháp ngữ Âu châu thành người đồng thuận những nguyên tắc cách mạng mà tiếng Pháp trở thành nơi truyền tải các giá trị phổ quát của nhân loại. Theo Jacques Lafon, nhà sử học và ngoại giao:  Trong cuộc Cách mạng, người ta dựng nên một sự hư cấu nước đôi, đó là quân lính quốc gia không xâm chiếm đất đai bằng vũ lực mà giải phóng các dân tộc với những tư tưởng được diễn giải bằng các từ tiếng Pháp. (2001: 162)  Tiếng Pháp, ngoài biên giới Pháp, trở thành nơi hội tụ và hợp tác của thuyết cứu thế Cơ đốc và thuyết cứu thế thế tục (Lafon 2001: 173‑180), trong khi tại nước Pháp, chúng lại chống đối nhau. Hai thứ thuyết cứu thế này đồng thuận bên ngoài lãnh thổ để truyền tải những giá trị quốc gia thông qua việc giảng dạy kiến thức cổ học nhân văn. Mặc cho cuộc bại trận của Pháp năm 1870 trong cuộc chiến Pháp – Phổ, thuyết cứu thế của Pháp tiếp tục phát huy ảnh hưởng và chỉ đạo hoạt động văn hóa đối ngoại của nước Pháp. Hoạt động đối ngoại văn hóa này vẫn liên tục phát triển bất kể dưới nhiều thể chế chính trị khác nhau của nước Pháp về sau này (Salon 1978: 12).    Một bức tranh về thuộc địa Đông Dương của Pháp. Nguồn: Pinterest.   Văn minh chống lại man rợ  Năm 1727, Jonathan Swift mỉa mai khái niệm « văn minh » trong cuốn Gulliver du ký :  Nếu một ông hoàng gửi đội quân của mình đến một đất nước mà người dân còn nghèo và dốt nát, ông ta có thể giết nửa số dân một cách hợp pháp và biến nửa còn lại thành nô lệ, với mục đích khai hóa họ và tiệt trừ lối sống man rợ của họ.  Hai thế kỷ sau, Nguyễn Ái Quốc cũng giễu cợt:  Trò khai hóa mới nực cười làm sao: để dạy cho người ta sống tốt hơn thì phải bắt đầu bằng việc giết họ ! (Nguyễn Ái Quốc 1925)  Sự mâu thuẫn giữa tính nhân văn của khai hóa và bạo lực thực dân đã được dấy lên từ trước, vào thế kỷ 16, bởi Bartolomé de Las Casas, người bênh vực cho các sắc tộc của vùng Caraïbes và Nam Mỹ. Nhưng vấn đề này trở nên nóng bỏng vào thế kỷ 18 với phong trào chống nô lệ (Dorigny 2008: 68‑89)[i]. Những nhà tư tưởng tự do chỉ trích cách hành xử của đế chế và chất vấn về sự thượng đẳng của châu Âu với các dân tộc khác.  Tại Pháp, một bước ngoặt đã xảy ra trong cuộc Cách mạng 1789: khái niệm tiến bộ xã hội được chính thức nhìn nhận như một tiến trình tự nhiên (Pitts 2005: 165‑173). Khái niệm « văn minh » được hiểu là những « tiến bộ tập thể và độc đáo đưa nhân loại thoát ra khỏi tình trạng man rợ » (Lafon 2001: 163). Trong cuốn Sơ thảo phác đồ lịch sử các tiến bộ nhân loại, Condorcet, triết gia và chính trị gia, đại diện tiêu biểu của tư tưởng Khai sáng, đã miêu tả chín nấc thang của quá trình tiến hóa của nhân loại: cấp thấp nhất là bộ tộc và cấp cao nhất là chính thể Cộng hòa Pháp. Những giá trị tinh thần mới của châu Âu được coi là những giá trị phổ quát cho toàn nhân loại. Sau khi tố cáo « sự kỳ thị tàn bạo của chúng ta đối với những người mang màu da và tín ngưỡng khác », Condorcet hình dung ra một tương lai mà ở đó:  Thương điếm của những kẻ bất lương sẽ trở thành thuộc địa của những công dân, họ sẽ truyền bá sang tận châu Phi và châu Á những nguyên tắc và mẫu mực của tự do, tư tưởng ánh sáng và lý trí của châu Âu.  Ông tiếp, người châu Âu sẽ tìm thấy ở những xứ sở này  vô khối những tộc người đang ngồi chờ đợi từ chúng ta những phương tiện để được khai hóa, để tìm thấy ở những người anh em Âu châu những người bạn và môn đồ.  Condorcet còn dự kiến tiêu diệt những tộc người quá xa cách hay quá hung bạo bằng hình thức diệt chủng hay đồng hóa.  Tiêu trừ tối đa, đến mức chúng bị đẩy lùi bởi những dân tộc văn minh, chúng sẽ biến mất dần dần hoặc chính chúng tự lụi tàn trong cộng đồng của chúng. (Condorcet 1794: 261‑269)  Để biện minh cho công cuộc thuộc địa bằng lập luận là những dân tộc khai sáng có nghĩa vụ khai hóa những tộc người bị rớt lại phía sau, Condorcet nêu ra những lý lẽ và luận chứng căn bản và làm nên định nghĩa của « sứ mạng khai hóa ».  Đầu thế kỷ 19, khi mà phương diện tinh thần của công cuộc thuộc địa đang được đề cao thì cũng là lúc bắt đầu xuất hiện những chất vấn liên quan đến hiệu quả kinh tế của công cuộc này (Say 1826: 350‑377), đến thứ phiêu lưu quân sự, những nguy hiểm của việc lai giống[ii] hay những nguy cơ nhập khẩu sang chính quốc sự chuyên chế thuộc địa. Tương đối luận văn hóa được thay thế bởi « một sự phân đôi cứng nhắc giữa một bên là những xã hội văn minh và cấp tiến với bên kia là những xã hội u muội, lạc hậu và tù hãm » (Verdo 2010). Đầu thập niên 1830, giáo sư triết học Jean-Philibert Damiron[iii] giải thích cho học sinh ở Trung học Louis-Le-Grand và sinh viên Trường Sư phạm Paris (phố Ulm), hai cái nôi đào tạo nên giới tinh hoa trí tuệ Pháp, rằng « mọi thứ luôn được phân ra thành thượng đẳng và hạ đẳng ». Ông thầy phân biệt « những tộc người đã được khai hóa và những tộc người không được khai hóa ». Bản thân bên trong những tộc người văn minh thì « những người văn minh và đi khai hóa còn được xếp ở thứ hạng cao hơn những người chỉ được khai hóa » (Damiron 1834: 168-170). Cụ thể hơn, chúng ta hãy tưởng tượng chỉ có hai tộc người, « tộc người mạnh và văn minh hơn » và « tộc người kém và chưa được khai hóa ». Damiron nói với những tú sinh và sinh viên tốt nghiệp tương lai rằng tộc người thứ hai phải xếp dưới sự giám hộ của tộc người thứ nhất. Giống như hình ảnh « một vài bộ lạc Phi châu », tộc người kém này  thay vì tiến lên, họ lại coi khinh và cự tuyệt văn minh mà người ta đem đến cho họ, họ suy thoái dần và ngày càng chết chìm trong tàn bạo và man rợ. […] Trong khi tộc người mạnh biết sử dụng sức mạnh của mình, tự nhận thấy mình là những người văn minh và đi khai hóa. Họ mang trong mình một sứ mạng kép. Tộc người này chỉ có thể lớn lao khi mang đến niềm xác tín này trong mối liên hệ với tộc người kia. Khi đó, tộc người mạnh không chỉ bảo vệ và giải thoát cho tộc người kém, đem lại giàu có và sung túc, mà còn cố gắng khai sáng, gọt giũa, hoàn thiện và tu dưỡng tộc người kia. (Damiron 1834:170-172)  « Sứ mệnh kép » này thể hiện một thứ đạo lý Cơ đốc giáo, như vậy, thuyết cứu thế của Pháp hãy còn giữ trong mình một thành tố tôn giáo.  Là tộc người được Thượng đế lựa chọn để phục sự cho sự hoàn thiện của nhân loại, có ân nghĩa, sống trong đức tin và hy vọng, liệu đó có phải là cứu cánh cao cả nhất mà một dân tộc có thể làm được ? (Damiron 1834: 173)  Damiron so sánh sứ mạng của tộc người văn minh với tộc người chậm tiến giống như sứ mệnh của con người với thiên nhiên, như thế này:  So với thiên nhiên, văn minh quả thực lan tỏa ra từ chúng ta, chúng ta phải có nghĩa vụ đem lại văn minh cho nó, sao cho nó xứng là con người và giống con người. [Chúng ta] chiếm lĩnh nó, kìm hãm nó, kìm nén cơn giận dữ của nó, thuần phục nó và khiến nó phải khuất phục dưới bàn tay của chúng ta. Đấy mới đúng là sứ mệnh của chúng ta, sứ mệnh hòa bình và lao động, nó bắt đầu bằng những trận đấu tranh thảm khốc và kết thúc bằng những cuộc chinh phục bao la và tuyệt diệu. (Damiron 1834: 127)  Như vậy, khái niệm về một sứ mệnh khai hóa chế ngự và thuần hóa thiên nhiên của người văn minh ăn sâu vào triết lý đạo đức ở nửa đầu thế kỷ 19. Năm 1841, Victor Hugo đã hào hứng biết bao trước cuộc chinh phục Algérie của tướng Bugeaud, với biệt danh (mỉa mai) sau này là « người hùng hun khói »[iv] :  Văn minh đang đẩy lùi mông muội. Một dân tộc khai sáng sẽ tìm đến một dân tộc khác đang chìm trong bóng đêm. Chúng ta là những người Hy Lạp của thế giới; chính chúng ta sẽ thắp sáng thế giới. Sứ mệnh của chúng ta đang hoàn thành, ta chỉ còn biết mừng ca. (Hugo, 1841: 113)  Triết thuyết văn minh chống lại mông muội được tung hô như vậy, đến cả việc bãi bỏ chế độ nô lệ năm 1848 cũng bị lợi dụng vì mục đích khai hóa. Bởi lẽ những nhà tư tưởng thời đó tìm thấy trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ lời biện minh cho hành động thực dân. Rằng, chúng tôi, dân tộc khai sáng đến với dân tộc thấp kém để giúp họ từ bỏ khai thác nô lệ. Điều không thể tránh khỏi là chúng tôi sẽ phải dùng đến bạo lực với những dân tộc đó. Và thế là, bãi bỏ chế độ nô lệ và tiến hành công cuộc thực dân xem ra là những minh chứng cho sự vĩ đại của nền văn minh Âu châu (Costantini 2008: 58-5  Những học giả « lãnh sứ mệnh »  Vào nửa sau thế kỷ 19, lập luận đạo đức càng được củng cố bởi chủ nghĩa duy lý. Địa lý, sinh học, sinh lý học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và xã hội học đều được đem ra phụng sự cho sứ mệnh khai hóa.  Đầu thế kỷ 19, sự phân loại chủng tộc được dựa vào ngành ngôn ngữ học thì đến những năm 1850, các học giả Pháp chuyển hướng: sự phân loại này bây giờ dựa vào sinh học (Blanckaert 2007: 137-171). Trường Nhân loại học Paris, dưới sự dẫn dắt của Paul Broca, đã định nghĩa ra « hệ hình chủng tộc », chia loài người thành các cấp bậc giống nòi. Khái niệm này là sự kết nối giữa thuyết tiến hóa của những nhà triết học Khai sáng – sự tiến bộ sẽ đưa người mông muội trở thành người văn minh, với thuyết biến hình của Lamarck và Darwin – phân loại các sinh vật theo trục tiến hóa (Reynaud-Paligot 2006: 103-110). Khái niệm giống nòi thượng đẳng và hạ đẳng được cổ súy qua vô vàn các công trình pha trộn giữa giai thoại sử học, quan sát dân tộc học và đo lường nhân trắc học. Thử đơn cử nhận xét về loài người của Gustave Le Bon, bác sỹ, nhà nhân chủng học, tâm lý học và xã hội học, đại diện tinh túy của trí tuệ Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Một bài báo khoa học của ông nghiên cứu mối liên hệ giữa kích thước của não và trí thông minh thế này: ở trên cao là những giống nòi thượng đẳng như các nhà bác học hay dân tư sản Paris, và dưới thấp là giống nòi hạ đẳng như người giúp việc, nông dân, và phụ nữ cũng nằm trong số này! Nhóm hạ đẳng này « đại diện cho những hình thái thấp kém nhất trong sự tiến hóa của nhân loại, nó gần với trẻ con và người hoang dã hơn là với người văn minh » ! (Le Bon 1879: 27). Các kiểu nghiên cứu này dẫn đến « sự súc vật hóa những giống nòi hạ đẳng » và « một điểm nhìn bi quan về khả năng tiến hóa đến văn minh của họ » (Reynaud-Paligot 2006: 103-110).  Từ những năm 1870, thứ cố định luận về nòi giống loài người này được tiết chế bớt bởi thuyết Tân Lamarck. Thuyết này dựa trên ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống đến những biến phân tiến hóa và dựa vào sự di truyền đến thế hệ sau các đặc tính đã được định hình ở mỗi cá nhân dưới áp lực của môi trường (Loison 2008: 3-8). Một trong những nhà Tân Lamarck đầu tiên là Jean-Louis de Lanessan, có uy tín trong giới học thuật (bác sỹ và nhà vạn vật học) và chính trường Pháp (Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) và Bộ trưởng bộ Hải quân (1899-1902). Ông viết rằng « một người cha bị giang mai có thể di truyền bệnh lý này ở một cường độ mà chính đứa con cũng dễ mắc phải hoặc di chứng từ đó » (Lanessan 1883: 224). Thuyết Tân Lamarck ảnh hưởng một cách quyết định đến tư tưởng của chế độ cộng hòa và còn kéo dài đến tận những năm 1950 (Grimoult 2000: 40). Người ta cho rằng nhờ cải thiện điều kiện sống (vệ sinh, y tế, sức khỏe sinh sản…), nhờ giáo dục và nhờ việc định hình các thói quen cần thiết để thụ đắc các đặc tính lành mạnh thì chúng ta có thể cải thiện được các giống người.  Văn minh dường như tác động đến con người như một tác nhân cải biến, nó tương đồng với sự thuần dưỡng tác động lên động vật. (Lanessan 1883: 250)  Những nhà Tân Lamarck như Alfred Giard[v], Lanessan và Paul Bert[vi] đều dấn thân vào con đường chính trị để chuyên tâm vào sự nghiệp cải cách xã hội. Thuyết Tân Lamarck đã tìm thấy tính ứng dụng cũng như tác dụng của mình trong sứ mệnh khai hóa, vì sứ mệnh này kết hợp giữa tiến bộ vật chất và tinh thần và mang mục đích « cải thiện » giống nòi hạ đẳng. Paul Bert, Thống sứ Trung kỳ và Bắc kỳ (1886) và Lanessan, Toàn quyền Đông Dương (1891-1894), tiến hành thực hiện sứ mạng khai hóa với mục đích cải tổ xã hội.  Ngược lại, một vài nhà khoa học như Gustave Le Bon, Jules Harmand[vii] hay Léopold de Saussure[viii] vẫn giữ quan điểm cố định luận về giống nòi. Léopold de Saussure mỉa mai :  Những ảo tưởng của những kẻ tuy chấp nhận quy luật tiến hóa nhưng lại tự phụ cho rằng có thể làm biến chuyển từ từ dân bản xứ trong một tương lai gần. (Saussure 1899: 68-69)  Những quan điểm đối lập nhau này được đem ra tranh luận tại các kỳ Đại hội Thuộc địa từ 1889 đến 1900 (Léon 1991: 45-48). Khái niệm « sứ mệnh khai hóa » tìm được đất phát triển thông qua các hiệp hội học giả từ những năm 1870 trở đi (Conklin 1997: 11-13). Những hiệp hội này « xây dựng và phổ biến một điểm nhìn nhất định nào đó của Chính quốc và Đế chế » thông qua hoạt động ấn bản mạnh mẽ và mạng lưới giao thoa giữa khoa học, chính trị và kinh tế (Singaravelou 2006: 69). Thành viên các hiệp hội là những nhà khoa học, giảng viên, nhà báo, nhà chính trị, quan chức cao cấp, quân nhân, nhà ngoại giao, nhà thám hiểm, thương nhân. Bản thân một người có thể kiêm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Chẳng hạn, Paul Bert là bác sỹ, nhà sinh lý học và chính trị gia. Với tư cách là thành viên của Hội Dân tộc học Paris, ông truyền bá các luận thuyết về giống nòi trong sách giáo khoa (Reynaud-Paligot 2006: 140). Là chính trị gia, ông được điều phái đến Đông Dương làm quan chức thuộc địa. Rất nhiều các hiệp hội như vậy, được thành lập ngay tại các xứ thuộc địa, trở thành « nơi tiếp vận và mắt xích trong bộ máy hành chính thuộc địa hơn là những tổ chức học giả uyên bác độc lập » (Singaravelou 2006: 67). Các hội địa dư tham gia rất tích cực vào công cuộc bành trướng thuộc địa. Bành trướng thuộc địa lúc này được coi là cần thiết cho những lợi ích kinh tế và nhân khẩu của nước Pháp và đem lại những lãnh thổ mới cho việc hiện thực hóa sứ mệnh khai hóa. Hội Địa dư Thương mại Paris, « được thành lập để phục vụ cho sự phát triển của các công ty thương mại của Pháp quốc ở mọi góc của Địa cầu ». Hội xuất bản tạp chí L’Exploration, mang phụ đề « Tờ báo của những cuộc chinh phục văn minh trên mọi chốn của Địa cầu ». Năm 1880, nhà địa dư Onésime Reclus phát minh ra khái niệm « cộng đồng Pháp ngữ » (francophonie). Việc coi tiếng Pháp như là « vũ khí tuyệt vời nhất của nền Cộng hòa »[ix] đã dẫn đến việc thành lập Alliance Française vào năm 1883. Đây là một tổ chức phi chính trị và phi tôn giáo được lập ra sau cuộc bại trận 1870 nhằm gây dựng lại danh thế văn hóa Pháp thông qua việc giảng dạy tiếng Pháp và truyền bá văn hóa Pháp tại các thuộc địa và ở nước ngoài[x]. Ngay từ buổi ra đời, chương trình học ở đây nhận định rằng làm cho « biết và yêu » tiếng Pháp có thể là  phương cách tốt nhất để chinh phục người bản xứ, để làm cho các mối quan hệ xã hội và giao thương thuận tiện hơn với họ, để mở rộng giống nòi Pháp vươn xa ra ngoài biển cả bằng cách sát nhập trong hòa bình, vì nó tăng trưởng quá chậm chạp tại lục địa. (Alliance française 1884: 7)  Một tổ chức khác, Mission Laïque française (Lương hội Pháp), được thành lập năm 1902, có nhiệm vụ mở và quản lý trường học thế tục, mô hình của nền Cộng hòa Pháp tại nước ngoài. Những nhà lãnh đạo hay những người ủng hộ Alliance Française và Mission Laïque française  được tuyển từ trong nguồn « đảng thuộc địa »[xi], trong ngạch công chức cao cấp thuộc địa và trong bộ máy chính trị (Singaravelou 2006: 70).    Bìa một cuốn sách tư liệu về hành trình khai hóa thuộc địa của Pháp được xuất bản bởi Palgrave Macmillan năm 1996.  Bổn phận khai hóa  Sứ mệnh khai hóa ở cuối thế kỷ 19 được coi như là một trong những nền tảng trụ cột của công cuộc thực dân Pháp. Đối với người Pháp thời đó, thực dân « khai hóa » của Pháp khác hẳn với thực dân « con buôn » của Anh hay Hà Lan. Lập luận khai hóa này cũng giúp cho người Pháp phản bác lại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc bình đẳng, tự do bắt nguồn từ Cách mạng Pháp với sự phục tùng của các dân tộc bị trị. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện về nền móng của chính sách thuộc địa, Jules Ferry[xii] khẳng định rằng công cuộc thực dân không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ:  Tôi nhắc lại rằng đối với những giống nòi thượng đẳng, họ có một cái quyền, bởi họ có một nghĩa vụ. Đó là nghĩa vụ khai hóa những giống nòi hạ đẳng. (Ferry 1893: 210-211)  Cũng tại Nghị viện, Léon Blum, chính khách cánh tả theo xã hội chủ nghĩa, cũng làm một bài diễn văn tương tự đúng 40 năm sau, vào năm 1925:  Chúng ta quá yêu đất nước mình để không thừa nhận sự bành trướng tư tưởng và văn minh Pháp… Chúng ta chấp nhận quyền và nghĩa vụ của giống nòi thượng đẳng để kéo về phía chúng ta những giống nòi không cùng một đẳng cấp văn hóa và kêu gọi họ thực hiện những tiến bộ thông qua khoa học và công nghiệp. (Blum 1984: 370)  Như vậy, tư tưởng của nền Cộng hòa đã đồng nhất với thuyết biến hình. Nếu như chúng ta thấy là bình thường khi định nghĩa các giống người với những phẩm chất hay khuyết thiếu thì chúng ta cũng thừa nhận khả năng tiến hóa của chúng (Rosenberg 2002: 97). Albert Sarraut[xiii], người đề xướng công cuộc thực dân « khai hóa », viết năm 1931 rằng đối lập với « giáo lý khắt khe mặc định sự hạ đẳng vĩnh viễn của một vài giống nòi », sứ mạng khai hóa của Pháp « nặn đắp nên, một cách kiên trì, diện mạo của một giống người mới » trong « thứ đất sét vô dạng của vô vàn những nhân tố nguyên thủy » (Sarraut 1931: 155). Sứ mạng này giúp nền Cộng hòa Pháp thoát khỏi cuộc tranh luận cũ kỹ về cuộc xâm chiếm thuộc địa và sự hung bạo của nó. Nếu sự nghiệp thuộc địa được thai nghén trong « sự đau đớn của kẻ bị trị và kẻ thống trị » thì đó là vì nó nhắm đến « lợi ích chung của toàn nhân loại cùng được hưởng lợi thành quả » (Sarraut 1931: 237). Ngoài những lợi ích cho kẻ bị trị, công cuộc thuộc địa « đã chuẩn bị sự thống nhất của thế giới, nền tảng của sự đại đoàn kết của gia đình nhân loại » (Sarraut 1931: 235).  Trong khi giáo dục đại diện khía cạnh tinh thần của sứ mệnh khai hóa thì y tế (vệ sinh, tiêm chủng…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, đường sắt, thủy lợi…) và an ninh (chống trộm cắp, sự bành trướng của những nước láng giềng) là khía cạnh vật chất. Thực ra, mối liên hệ giữa giáo dục và thuộc địa, hai công trình trọng điểm của nền Đệ Tam Cộng hòa, không hề là ngẫu nhiên. Jules Ferry cùng lúc thực hiện các cải cách giáo dục nhân danh bình đẳng về quyền và công cuộc thuộc địa nhân danh « nghĩa vụ cao cả khai hóa » (Ferry 1893: 287).  Khi đảng cộng hòa nắm trong tay chính phủ và trách nhiệm trước quốc sự […], thông qua việc xây dựng trường học và chính sách khuếch trương thuộc địa, đảng đã chứng tỏ ý thức về sự cao thượng của nước Pháp. (Ferry 1885: 229)  Nước Pháp đại đồng tự lãnh trách nhiệm giáo dục bề tôi và dân bị trị bản xứ (Besançon 2002: 14). Năm 1874, nhà kinh tế học Paul Leroy-Beaulieu[xiv] khẳng định:  Chính nhà trường sẽ tạo nên ảnh hưởng lớn đến việc đồng hóa những nhân tố ngoại quốc vào nhân tố Pháp, chính nhà trường sẽ phải truyền bá ngôn ngữ và tư tưởng của chúng ta. (1882: 367)  Ông than phiền việc « nước Pháp đã không thực hiện nghĩa vụ của mình với các tộc người Ả rập » vì « nước Pháp chẳng làm gì cho sự nghiệp giáo dục họ » (Leroy-Beaulieu 1882: 373). Thầy dòng Pierre Auguste Raboisson đánh giá rằng:  Thuộc địa đích thực phải có một thứ giáo dục trí tuệ và tinh thần để truyền bá cho dân bản địa tinh thần và linh hồn của chính quốc. Nó phải nắm giữ một hành động thực tiễn, hiệu quả và lâu dài để thể hiện sự cao cả của đế quốc. (Raboisson 1877: 18)  Khi đến Bắc kỳ vào năm 1886 nhậm chức Thống sứ Bắc và Trung kỳ, Paul Bert tuyên bố đến dân bị trị:  Giống như người Trung Hoa trước kia đã cải thiện hiện trạng xã hội của các người bằng cách đem văn minh đến, khai tâm các người qua vị trí nước lập pháp, thì người Pháp cũng vậy, người Pháp hôm nay đến nhà các người để cải thiện nền nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế, và còn để nâng cao dân trí thông qua giáo dưỡng. (1946: 121)  Chúng ta có thể dẫn chứng ra vô khối những ví dụ của thể loại diễn văn này, chúng mô tả làm thế nào mà « hình ảnh truyền thống của nước Pháp nhân nghĩa » đang nỗ lực thực hiện để đem lại « sự hài hòa giữa mục tiêu tinh thần và sự kiếm tìm phồn thịnh vật chất » (Pasquier 1931: 7). Số lượng trường lớp và học sinh tăng lên được đưa lên hàng đầu như khẩu hiệu tuyên truyền. Chương « Giáo dục » cho cuốn vựng tập giới thiệu Đông Dương trong cuộc Triển lãm thuộc địa 1931 bắt đầu bằng những dòng này:  Khi đi thăm thú một trong những thành phố lớn của Đông Dương, chúng ta không thể không bất ngờ vì số lượng và tầm quan trọng của các trường học nơi đây. (Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris 1931 : 136)  Tuy nhiên, giáo dục chỉ là công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị và kinh tế của công cuộc thuộc địa. Đối với những quan chức thuộc địa, từ Éliacin Luro[xv] đến Paul Bert đều cho rằng « Trường học là công cụ hữu hiệu nhất, chắc chắn nhất nằm trong tay kẻ đi chinh phục » (Dumoutier 1887: 1). Sau công cuộc chinh phục lãnh thổ là đến cuộc « chinh phục tinh thần » mà Georges Hardy[xvi] đã định nghĩa như thế này vào năm 1917 :  Chúng ta cũng muốn nắm giữ đến tận con tim của người bản xứ và xóa bỏ mọi hiểu nhầm giữa họ và ta […] Đề cao xứ sở của họ, giúp họ gắn bó với sự nghiệp của chúng ta, đó là mục đích của cuộc chinh phục tinh thần. Cuộc chinh phục này lâu hơn và sáng láng hơn cuộc trước, nhưng cũng phong phú và đáng ngợi ca. Công cụ để thực hiện không thể là gì khác ngoài trường học. (Hardy 1917:12)  Ngoài chinh phục trái tim, sự nghiệp thuộc địa cũng có những nhu cầu thiết thân khác, như : khai thác đất đai thì cần đến nhân công bản địa, phải đào tạo họ những kỹ thuật của Tây phương. Những nhu cầu này cấp thiết ở Đông Dương vì số lượng kiều dân Pháp đi khai thác thuộc địa rất ít. Khai thác thuộc địa dẫu gì cũng là công cuộc tốn kém, cần phải biện minh trong mắt công luận, nhất là ở chính quốc, cái giá phải trả. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện, Jules Ferry nêu lên ba cơ sở nền tảng chính sách thuộc địa của ông : mục tiêu thứ nhất là kinh tế (tìm ra thị trường tiêu thụ), tiếp đến là mục tiêu khai hóa, sau cùng là mục tiêu chính trị (tranh đua với Anh quốc để duy trì sự hiện diện của hải quân Pháp…). Sứ mệnh khai hóa thực chất chỉ chiếm 4 trên tổng số 60 trang trong cuộc tranh luận này (Ferry 1885: 199-220). Năm năm sau, 1890, ông khẳng định lần nữa « chính sách thuộc địa là con đẻ của chính sách công nghiệp » (Ferry 1890: 40).  Bình định đã xong, « giáo dục được đặt làm trọng tâm trong những toan tính chính trị ở Đông Dương » (Besançon 2002: 14) và nó trở thành chủ đề cho rất nhiều cuộc tranh luận nảy lửa giữa các bên : chính quyền tại chính quốc, chính quyền thuộc địa tại trung ương và địa phương, những nhà lý luận thực dân, những xí nghiệp khai thác, kiều dân Pháp, và cùng với thời gian, là cả chính với người Đông Dương.  Thay lời kết : hợp tác hay đồng hóa ?  « Sứ mệnh khai hóa » được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật, được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học và chính trị gia. Và họ, hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng « thực chứng » khoa học, thành tâm và nhiệt thành tin tưởng ở « sứ mệnh » cao cả này.  Tuy nhiên, có những nhân vật, như Jules Harmand không tin vào sứ mệnh khai hóa, bằng những lý lẽ thẳng thừng :  Tốt hơn hết là hãy cố mà điều chỉnh các hành động của chúng ta sao cho phù hợp với hoàn cảnh thống trị, sự thống trị bằng chinh phục này bản thân nó đã không dân chủ, và đừng có lạm dụng những trò đạo đức giả nhỏ mọn và cả những trò « bịp bợm về văn minh » vì nó chẳng đánh lừa được ai sất. Hãy cố mà tìm cách biện minh cho sự thống trị vì lợi ích chung của cả kẻ thống trị và bị trị. (Harmand 1910: 12)  Những thực tế trên địa hạt Đông Dương khiến cho nhà cầm quyền thuộc địa phải hiện thực hóa và cụ thể hóa sứ mạng này trên phương diện giáo dục bằng hai mô hình đồng hóa và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ. Đồng hóa nhằm Pháp hóa con dân bị trị để đưa họ đến gần với văn minh. Ví dụ, dân Nam kỳ « hiền lành, ôn hòa và dễ dàng cai trị » thì dễ đồng hóa và sớm trở thành những người Pháp thứ thiệt ! (Dubois de Jancigny 1850: 579) Nhưng một hiểm họa và ám ảnh rình rập người Pháp, đó là đến thời điểm nào đó, dân bản xứ, sau một quá trình « tiến hóa » sẽ đỏi hỏi bình đẳng với kẻ đi chinh phục. Hợp tác thực chất là một « khế ước », theo Jules Harmand, giữa kẻ thống trị và bị trị. Thay vì san phẳng truyền thống, văn hóa hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời « độc đáo và khá phát triển » của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng « trì trệ » (1910: 159). Kẻ bị trị phải chấp nhận sự thống trị thực dân, bù vào họ được hưởng những lợi ích (trật tự xã hội, tiến bộ kỹ nghệ, an ninh, giáo dục, y tế…). Vì thế, vẫn nên hiểu sự hợp tác phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đô hộ.  Hiển nhiên là sứ mệnh khai hóa này mâu thuẫn trực tiếp với lợi ích thống trị, vì lẽ, về bản chất nó mâu thuẫn với chính Tuyên ngôn Nhân quyền và nó cũng phản ánh tính hai mặt của tư tưởng Khai sáng. Các nhà Khai sáng tin tưởng rằng con người sẽ tự tìm ra cho mình sự giải thoát và đấng cứu tinh thay vì ngồi chờ đợi Chúa và Thiên hựu. Họ đề cao lẽ phải và tuyên ngôn các lý tưởng cao đẹp như bình đẳng, bác ái nhưng hành động thực hiện không hẳn tương ứng với tuyên ngôn. Quân đội của Napoléon Đệ Nhất xâm chiếm Tây Ban Nha, Ai Cập, Ý hay Áo bằng chiến tranh, bạo lực, trấn áp nhưng vẫn giương cao ngọn cờ phần phật những lý tưởng Khai sáng và tuyên ngôn Cách mạng Pháp 1789. Nhưng công luận và trí thức Pháp chỉ thất vọng về mặt trái của Khai sáng khoảng 30 đến 40 năm sau khi những sự kiện này diễn ra, như những gì Stendhal mô tả trong các tác phẩm của ông.  Để giết người thì nhân danh nhân quyền cũng như nhân danh Chúa đều dễ như nhau ! (Todorov 2011)  Jules Harmand đã cảnh báo giáo dục chính là « con dao hai lưỡi cầm vào rất nguy hiểm, thậm chí mũi dao đã bị tẩm độc » (1910: 258). Thực tế chứng minh, nhiều thập niên sau, giáo dục thuộc địa đã giúp hình thành nên giới trí thức tinh hoa bản xứ. Tiếp thu trực tiếp tư tưởng văn minh và khai sáng đích thực của Âu châu, giới tinh hoa này đối thoại và chất vấn với chính quyền thuộc địa tại chính quốc hay ở các xứ thuộc địa. Cùng với quần chúng, họ lật đổ và xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, nhưng bằng những phương cách rất khác nhau.  Thời đại chúng ta sống, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, đang chứng kiến một thứ thuyết cứu thế kiểu mới, như triết gia và nhà phê bình văn học Tzvetan Todorov phát biểu chống lại cuộc chiến ở Libye: « Từ 20 năm trở lại đây, chúng ta bị cuốn vào một đòn bẩy cứu thế với niềm tin rằng chúng ta có thể mang lại dân chủ và nhân quyền bằng vũ lực! » (Todorov 2011).  Không lẽ lịch sử là một vòng xoáy chôn ốc kiểu này?  Tài liệu trích dẫn  Alliance française.1884. « Programme de l’Alliance Française. » Bulletin de l’Alliance Française 1: 7.  Bert Paul. 1946. « Discours du 2 avril 1886 » Trang 121 trong sách L’Indochine française, chủ biên Henry Marc et Pierre Cony. Paris: Editions France-Empire.  Bezancon Pascale. 2002. Une colonisation éducatrice ? L’expérience indochinoise (1860-1945). Paris : L’Harmattan.  Blanckaert Claude. 2007. « Un fil d’Ariane dans le labyrinthe des origines? » Revue d’Histoire des Sciences Humaines Vol. 17-2: 137‑171.  Blum Léon. 1984. « Discours à la Chambre des députés, le 9 juillet 1925. » Trang  370 trong sách Empire colonial et capitalisme français, Jacques Marseille (ed.). Paris: Albin Michel.  Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris. 1931. Indochine, Documents officiels. Paris: Société d’Editions Géographiques, Maritimes et Coloniales.  Condorcet Nicolas de. 1794. Esquisse d’un tableau historique des progrès de l’esprit humain, suivie de réflexions sur l’esclavage des nègres. Paris: Masson et Fils (1822).  Conklin Alice L. 1997. A Mission to Civilize: the Republican Idea of Empire in France and West Africa, 1895-1930. Palo Alto: Stanford University Press.  Costantini Dino.  2008. Mission civilisatrice. Le rôle de l’histoire coloniale dans la construction de l’identité politique française. Paris: Editions La Découverte.  Damiron Jean-Philibert.  1834. Cours de philosophie, par M. Ph. Damiron. Deuxième partie. Morale. Paris: Librairie Hachette.  Daumalin Xavier. 2008. « La doctrine coloniale africaine de Paul Leroy-Beaulieu (1870-1916) : essai d’analyse thématique » Trang 103‑120 trong sách L’esprit économique impérial, chủ biên Hubert Bonin, Catherine Hodeir et Jean-François Klein, Saint-Denis: SFHOM.  Dorigny Marcel. 2008. « Anti-esclavagisme, abolitionisme et abolitions en France de la fin du XVIIIe siècle aux années 1840. » Trang 68-69 trong sách Culture coloniale française, chủ biên Pascal BLANCHARD, Sandrine LEMAIRE et Nicolas BANCEL. Paris : CNRS Editions.  Dubois de Jancigny Adolphe. 1850. L’Univers. Japon, Indo-Chine, Empire birman (ou Ava), Siam, Annam (ou Cochinchine), Péninsule malaise, etc., Ceylan. Paris: Firmin-Didot frères.  Dumoutier Gustave. 1887. Les débuts de l’enseignement français au Tonkin. Hanoi: Imprimerie Schneider.  Ferry Jules. 1893. « Les fondements de la politique coloniale, Discours prononcé à la Chambre des députés le 28 juillet 1885. » Trang 210‑211 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.  Ferry Jules, 1890. Le Tonkin et la mère-patrie : témoignages et documents. Paris : Victor-Havard Éditeur.  Ferry Jules. 1893. « Discours sur l’égalité d’éducation, prononcé à Paris, à la salle Molière, le 10 avril 1870. » Trang 287 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.  Grimoult Cédric.  2000. Histoire de l’évolutionnisme contemporain en France, 1945-1995. Genève: Librairie Droz.  Hardy Georges. 1917. La conquête morale : l’enseignement en A.O.F., Paris: L’Harmattan (2005).  Harmand Jules. 1910. Domination et colonisation. Paris: Ernest Flammarion.  Hugo Victor. 1841. Choses vues: souvenirs, journaux, cahiers, 1830-1885. Paris: Gallimard (2002).  Lanessan Jean-Louis de. 1883. Le transformisme : évolution de la matière et des êtres vivants. Paris: O. Doin.  Le Bon Gustave. 1879. « Recherches anatomiques et mathématiques sur les lois de variations du volume du cerveau et du crâne. » Revue d’Anthropologie 2: 27‑104.  Leon Antoine. 1991. Colonisation, enseignement et éducation. Paris: L’Harmattan.  Leroy-Beaulieu Paul. 1882. De la colonisation chez les peuples modernes, 2e éd. Paris: Guillaumin et Cie.  Loison Laurent. 2008. Les notions de plasticité et d’hérédité chez les néolamarckiens français (1879 – 1946), Eléments pour une histoire du transformisme en France, Thèse d’histoire, Université de Nantes.  Milza Pierre. 1980. « Culture et relations internationales. » Relations internationales 24: 361‑379.  Nguyễn Ái Quốc. 1925. Procès de la Colonisation française. Paris: Librairie du Travail.  Nguyễn Thế Anh. 2004. « Mission civilisatrice (civilizing mission). » Trang 899-900 trong sách Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, From Angkor Wat to East Timor, Ooi Keat Gin (ed.). ABC-CLIO.  Pasquier Pierre. 1931. Discours prononcé par Monsieur Pierre Pasquier, Gouverneur Général de l’Indochine à l’ouverture de la Session du Conseil de Gouvernement du 8 Décembre 1931. Saigon: Imprimerie de la Dépêche, Conseil de Gouvernement de l’Indochine.  Pitts Jennifer.  2005. A turn to empire: the rise of imperial liberalism in Britain and France. Princeton : Princeton University Press.  Raboisson Pierre Auguste. 1877. Etude sur les colonies et la colonisation au regard de la France. Paris: Challamel Aîné.  Reynaud-Paligot Carole. 2006. « Usages coloniaux des représentations raciales (1880-1930) » Cahiers d’histoire. Revue d’histoire critique 99: 103‑110.  Reynaud-Paligot Carole. 2006. La république raciale: paradigme racial et idéologie républicaine (1860-1930). Paris: Presses universitaires de France.  Rosenberg Clifford. 2002. « Albert Sarraut and Republican racial thought. » French Politics, Culture and Society 20: 97.  Salon Albert. 1978. Vocabulaire critique des relations internationales dans les domaines culturel, scientifique et de la coopération technique. Paris: Maison du Dictionnaire.Lafon Jacques. 2001. Itinéraires de l’histoire du droit à la diplomatie culturelle et à l’histoire coloniale. Paris: Publications de la Sorbonne.  Salon Albert. 1983. L’Action culturelle de la France dans le monde. Paris : F. Nathan.  Sarraut Albert. 1931. Grandeur et servitude coloniale. Paris: Editions du Sagittaire.  Saussure Léopold de. 1899. Psychologie de la colonisation française: dans ses rapports avec les sociétés indigènes. Paris: Félix Alcan.  Say Jean-Baptiste. 1826. Traité d’économie politique, 5e éd. Paris: Rabilly Libraire.  Singaravelou Pierre. 2006. « Aux origines coloniales de la francophonie : le rôle pionnier des associations et des sociétés savantes. » Trang 69 trong sách Les associations dans la francophonie, Sylvie Guillaume (ed.). Pessac: Maison des Sciences de l’Homme d’Aquitaine.  Société de géographie commerciale. 1876. « Statuts », L’Exploration 1: 1.  Tzvetan Todorov. 2011. « Il est tout aussi facile de tuer au nom des droits de l’homme qu’au nom de Dieu ! » (http://www.lepoint.fr/grands-entretiens/tzvetan-todorov-il-est-tout-aussi-facile-de-tuer-au-nom-des-droits-de-l-homme-qu-au-nom-de-dieu-15-04-2011-1319970_326.php). Truy cập tháng 2/2017.  Verdo Geneviève. 2010. “Un empire libéral.“ La vie des idées  (http://www.laviedesidees.fr). Truy cập tháng 9 năm 2010.        [i] Chủ nghĩa phế nô ở thế kỷ 18 không bao hàm chống thực dân chủ nghĩa. Một vài người ủng hộ còn đặt lên hàng đầu những lợi ích kinh tế cho Pháp và các thuộc địa của Pháp từ việc bãi bỏ chế độ nô lệ.      [ii] Arthur de Gobineau, Essai sur l’inégalité des races humaines, publié en 1855. Gobineau thuộc số những người cho rằng thuộc địa là nguy hiểm cho chính dân đi khai thác thuộc địa, vì đó là nguồn gốc của lai giống, là đồng nghĩa với thoái hóa.      [iii] Jean-Philibert Damiron (1794-1862) dạy học ở Trường Sư phạm trong những năm 1830 – 1840, cùng thời điểm với triết gia và chính trị gia Victor Cousin và sử gia Jules Michelet.      [iv] Phương pháp bình định của Bugeaud là làm chết ngạt kẻ thù trốn trong hang bằng cách hun khói. Phương pháp này được áp dụng trong hai năm 1844 và 1845, và gây ra sự phẫn nộ tại Paris.      [v] Alfred Giard (1846-1906), nhà động vật học và đại biểu đảng Cộng hòa. Là người đầu tiên đưa môn thuyết tiến hóa vào giảng dạy ở Sorbonne từ năm 1888, ông góp phần truyền bá tại Pháp tư tưởng Tân Lamarck và Darwin.      [vi] Paul Bert (1833-1886), bác sỹ, nhà sinh lý học, chính trị gia (Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1881-1882), Thống sử Trung-Bắc kỳ (1886).      [vii] Bác sỹ, nhà thám hiểu, nhà ngoại giao, nhà lý luận về thuộc địa, một trong những người phát minh ra lý thuyết cai trị, gọi là « mẫu hình hợp tác », một trong những quan chức cao cấp thuộc địa đầu tiên học tiếng Việt (ngay từ 1866) và rất am hiểu văn hóa Việt Nam.       [viii] Léopold de Saussure (1866-1925), nhà Hán học, nhà thiên văn học, sỹ quan hải quân và là môn đệ của Gustave Le Bon. Ông xuất thân trong một gia đình tài trí danh giá Thụy Sỹ gốc đạo Tin lành Pháp. Cha là Henri de Saussure, nhà côn trùng học và khoáng học. Léopold là em trai của Ferdinand de Saussure, nhà ngôn ngữ học và khai phá thuyết cấu trúc học và tín hiệu học và là anh trai của René de Saussure, nhà ngôn ngữ học và phát minh quốc tế ngữ espéranto.      [ix] Onésime Reclus, cité par Pierre Singaravélou, « Aux origines coloniales de la francophonie : le rôle pionnier des associations et des sociétés savantes », op. cit., p. 65.      [x] Ngày nay, nó trở thành một « tập đoàn đa quốc gia » trên lĩnh vực văn hóa lớn nhất thế giới với 1050 trung tâm nằm rải rác khắp địa cầu. Những thành viên sáng lập và các nhân vật trọng yếu của tổ chức này đã góp phần rất quan trọng vào việc định hình và phát triển chính sách đối ngoại văn hóa hiện đại của Pháp từ cuối thế kỷ 19 đến tận ngày nay. Cf. Chaubet François, « L’Alliance française ou la diplomatie de la langue (1883-1914) », Revue historique, 4/2004 (n° 632), p. 763-785.      [xi] Đảng thuộc địa là một tập hợp manh nha các hội đoàn, ủy ban và các nhóm nghị viên tác động đến chính quyền và công luận để thuyết phục tính chính đáng của hành động thuộc địa. Cf. Charles Robert Ageron, France coloniale ou parti colonial?, Presses universitaires de France, 1978, 308 p.      [xii] Chính trị gia, là cha đẻ của trường học « miễn phí, thế tục và bắt buộc » dưới nền Đệ Tam Cộng hòa vẫn tồn tại đến ngày nay tại Pháp. Ông cũng là người ủng hộ hết mình cho công cuộc bành trướng thuộc địa.      [xiii] Chính trị gia, Toàn quyền Đông Dương (1911 – 1914 và 1917 – 1919).      [xiv] Tác phẩm của ông De la colonisation chez les peuples modernes, xuất bản năm 1874 và được tái bản 6 lần. Ông được coi là một trong những nhà lý luận thuộc địa. Xavier Daumalin, « La doctrine coloniale africaine de Paul Leroy-Beaulieu (1870-1916) : essai d’analyse thématique », in Hubert Bonin, Catherine Hodeir et Jean-François Klein (eds.), L’esprit économique impérial, Saint-Denis, SFHOM, 2008, pp. 103‑120.      [xv] Sỹ quan và quan chức cao cấp, sáng lập ra trường Tham biện Hậu bổ Sài Gòn (1873) nơi đào tạo nhân viên hành chính thuộc địa am hiểu các ngôn ngữ và văn hóa của ba nước Đông Dương. Bản thân ông được coi là một trong những nhà Việt Nam học người Pháp đầu tiên với hai cuốn sách Cours d’administration annamite (1875) và Le Pays d’Annam, étude sur l’organisation politique et sociale des Annamites (1878.      [xvi] Nhà lý luận về giáo dục thuộc địa, hiệu trưởng Trường Thuộc địa (1926-1937). Hardy là tác giả của khái niệm « cuộc chinh phục tinh thần ».        Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Nguồn gốc người Việt: Một lược sử tư tưởng      Nguồn gốc người Việt là một vấn đề nóng hổi ở mọi thời điểm lịch sử. Người Việt đến từ đâu luôn là câu hỏi mang tính triết học, xuất phát từ một câu hỏi lớn hơn: ta là ai, ta từ đâu tới, và ta sẽ đi về đâu? Bài viết này sẽ không thảo luận về các câu trả lời nào là đúng hay sai, chính xác hay không chính xác, khoa học hay không khoa học mà trình bày các kiến giải khác nhau về nguồn gốc người Việt như là một tham số khả biến trong hoạt động tri nhận của con người, cố gắng lý giải vì sao người ta lại đặt ra câu hỏi ấy, những bối cảnh lịch sử –  văn hóa của các câu hỏi – và cả câu trả lời, cũng như bối cảnh tri thức, động lực chính trị và nền tảng khoa học của các phương thức được sử dụng để giải quyết.          Truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ được khởi từ ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái. Ảnh: Internet.    “Người Việt” là gì?     “Người Việt” (Việt nhân) là một khái niệm được sử dụng trong vài trăm năm trở lại đây, nhưng ngày nay đôi khi được dịch là “Việt tộc” hay “Kinh tộc” hay “dân tộc Kinh”. Tất cả những thuật ngữ này cần được phân biệt với khái niệm “dân tộc Việt Nam”, “người Việt Nam”. Hai thuật ngữ sau thể hiện diễn ngôn chính trị với mong muốn nhất thể hóa các tộc người khác nhau vào một kiến tạo lịch sử đồng nhất, nhằm che lấp sự khác biệt đa chiều kích (hàm ẩn bên trong những mâu thuẫn mà người ta đang muốn khỏa lấp từ văn hóa – lịch sử, cho đến quyền lực chính trị). Trong khi đó “người Việt” ở thời điểm hiện tại là một thuật ngữ của dân tộc học, cũng đã mang trong mình những diễn ngôn chính trị cùng chiều với khái niệm “dân tộc Việt Nam”. Ta có thể tìm thấy vô số các cách diễn đạt mờ nhòe giữa các khái niệm này, từ các bài báo phổ thông, cho đến các nghiên cứu của giới học giả. Một sự mờ nhòe được tạo nên từ cả hữu thức và vô thức. Nó cho thấy, cái cộng đồng người nói tiếng Việt đã luôn sử dụng khái niệm “người Việt” trong những bối cảnh tri thức khác nhau, dù trên thực tế “người Việt” có nhiều nguồn gốc khác nhau, như nhóm Hoa kiều đã Việt hóa, nhóm các dân tộc ít người đã bị Kinh hóa đến mức nhận đồng nguồn gốc, để lãnh thêm những đặc quyền mới từ phía dân tộc chiếm ưu thế. Cái cộng đồng người Việt chiếm hơn 80% dân số đã đồng thanh để tạo nên một giọng nói đồng nhất về nguồn gốc của mình dưới sự điều phối của hệ tư tưởng thời đại, bằng cả khoa học và niềm tin thuần thực.    Chỉ khi nào ta hệ thống hóa được các nguồn sử liệu nguyên ngữ với những niên đại tuyệt đối, thì khi ấy ta mới có thể tiến hành nghiên cứu một cách cẩn thận về một lịch sử tư tưởng về những cộng đồng người mà nay gọi là “người Việt”.    Nhưng khi nghiên cứu về lịch sử, các nhà nghiên cứu thường chỉ để ý đến các sự kiện mà mình mong muốn tìm thấy, và thường bỏ sót những “khái niệm mang tính lịch sử” cho biết người đương thời đang nghĩ gì, bằng những công cụ tư duy như thế nào. Một thao tác cơ bản của sử liệu học và khảo cổ học tri thức là phải lần tìm theo các dấu vết ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ và chữ viết là sử liệu hiển ngôn cho biết người xưa đã nghĩ gì. Cụ thể như ở đây, các dòng sử chí Nho giáo- dòng sử chí thực dân và dòng sử chí Marxist đã dùng những khái niệm nào để chỉ về cộng đồng người mà ngày nay ta gọi là “người Việt”? Ví dụ thứ nhất, Đào Duy Anh trong cuốn “Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam” (1957) chỉ dùng khái niệm “dân tộc Việt Nam” với tư cách đây là một thuật ngữ của các nhà lý luận của chủ nghĩa Marx về dân tộc. Ví dụ thứ hai, học giả Nguyễn Văn Tố (1889-1947) trong công trình (Đại Nam dật sự) (đăng tải vào các năm 1943-1945) chỉ dùng khái niệm “người Nam” trong tương quan với “nước Nam”, đối lập với “người Tàu”, “nước Tàu”. Ví dụ thứ ba, Phan Bội Châu trong “Việt Nam quốc sử khảo” (1906) gọi là “người nước ta” trong sự đối lập với “người châu Âu”, “người Nhật Bản”. Ví dụ thứ tư, các dòng sử chí từ triều Nguyễn thường tự nhận mình (những người nói tiếng Việt và viết văn ngôn chữ Hán) là Hán nhân, và những người dân (phần lớn chỉ biết nói tiếng Việt) là Hán dân. Còn người Hán khi đó thì được gọi là Thanh nhân, và lưu dân của nhà Minh phiêu dạt, ngụ cư ở mảnh đất này thì được gọi là Minh nhân.1 Ví dụ thứ năm, Ngô Sĩ Liên (1479) đã sử dụng khái niệm “Việt nhân” trong sự đối lập với “Hán nhân”. Vậy khái niệm “Việt nhân” trong quan niệm của Ngô Sĩ Liên có khác gì với khái niệm “người Việt” trong não bộ của người Việt hiện tại? Chỉ khi nào ta hệ thống hóa được các nguồn sử liệu nguyên ngữ với những niên đại tuyệt đối, thì khi ấy ta mới có thể tiến hành nghiên cứu một cách cẩn thận về một lịch sử tư tưởng về những cộng đồng người mà nay gọi là “người Việt”. Mỗi một lớp từ vựng đổi thay là một lần người Việt được “thay não đổi tiếng”, có khi nó là sản phẩm của quá trình “tự chuyển hóa trong quá trình tiếp xúc văn hóa”, cũng có khi là hệ quả của một sự va đập cưỡng bức từ chính trị.  Về một phả hệ Hán trong dòng sử chí Nho giáo       Kỷ về Hồng Bàng thị là một sáng tạo truyền thống (invented traditon), là một sáng tạo lịch sử của Ngô Sĩ Liên, trong đó tập hợp các huyền thoại về quốc tổ của các thể chế chính trị Nho giáo Hoa Hạ, với các truyền thuyết dân gian.    “Đại Việt sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên soạn (1479) là cuốn chính sử đầu tiên giải quyết về vấn đề nguồn gốc của “Việt” 督 (trong đó có khái niệm “người Việt ta” (我越人), “nước Việt ta”- ngã Việt quốc, đối lập với Hán nhân 漢人). Tức, Ngô Sĩ Liên và các sử thần sau ông không chỉ tư duy về vấn đề con người, mà còn quan tâm đến vấn đề “quốc”- thể chế chính trị. Lần đần tiên trong lịch sử chép sử, một phả hệ chính trị tại Đại Việt được xác lập nhằm củng cố cho chính quyền Nho giáo đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Người ra lệnh viết sử là hoàng đế Lê Thánh Tông, còn Ngô Sĩ Liên là một sử thần lãnh nhiệm vụ viết về lịch sử chính trị- lịch sử chính thống của nhóm người đang cầm quyền. Nếu như trước đó không lâu, Nguyễn Trãi coi Triệu Đà như là vị hoàng đế mở đầu cho truyền thống chính trị ở nước Việt (Bình Ngô đại cáo), thì Ngô Sĩ Liên đã kiến tạo nên một phả hệ Hán trong dòng sử chí Nho giáo. Quan niệm Nho gia cho rằng, lịch sử chính trị là lịch sử của các dòng họ cầm quyền, và dòng họ đầu tiên nắm quyền cai trị vùng đất Việt là họ Hồng Bàng. Kỷ về Hồng Bàng thị là một sáng tạo truyền thống (invented traditon), là một sáng tạo lịch sử của Ngô Sĩ Liên,2 trong đó tập hợp các huyền thoại về quốc tổ của các thể chế chính trị Nho giáo Hoa Hạ, với các truyền thuyết dân gian (trong Lĩnh Nam chích quái) và truyện truyền kỳ thời Đường3.  Nhiều người hiện nay cho rằng, đây là một phả hệ không thể chấp nhận, vì phả hệ này cho rằng “người Việt” có nguồn gốc là “người Hán”. Song, ta cần phân tích đây là một quan niệm lịch sử mang tính thời điểm. Ta biết rằng, cuốn sử của Ngô Sĩ Liên là một sản phẩm sử chí trong dự án chính trị của Lê Thánh Tông: dùng lịch sử và việc chép sử để củng cố cho tính chính thống của quyền lực chính trị đương thời. Thủ pháp của Ngô Sĩ Liên là “dĩ sử chứng kinh” (dùng sử để chứng minh cho kinh điển), và ngược lại, những gì trong kinh điển Nho giáo (như kinh Thư) đã được tái dụng để chắp nối, kéo dài cho những trang sử chính thống của Đại Việt. Ngô Sĩ Liên cho rằng, nguồn gốc của thế chế chính trị Đại Việt thời ông là bắt nguồn từ mô hình chính trị trong kinh điển Nho giáo. Cho nên, ta thấy hàng loạt các vị Hoàng đế viễn cổ huyền thoại của Hoa Hạ đã được lắp ghép vào bảng phả hệ chính trị Đại Việt. Dường như hiểu được sự mong manh của cách thức kiến tạo truyền thống này, nên Ngô Sĩ Liên đã đưa toàn bộ Kỷ Hồng Bàng và các triều đại sau đó (cho đến Kỷ nhà Ngô) vào phần Ngoại kỷ. Như vậy, điều khiến cho Ngô Sĩ Liên tạo nên một bảng “phả hệ Hán” cho Đại Việt chính là tư tưởng Nho giáo. Lịch sử chính trị Hoa Hạ dài đến đâu, lịch sử Đại Việt dài đến đó. Đây là một truyền thống chính trị Nho giáo được kiến tạo nhằm củng cố cho quyền lực chính trị Đại Việt đương thời.      Vào triều Nguyễn, các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân, là những người tiếp nối chính đáng nhất của nền chính trị Nho giáo. Tranh Vua trong lễ phục tế Nam Giao của Nguyễn Văn Nhân. Nguồn: laodong.vn.  Hệ quả của nhận đồng chính trị dẫn đến nhận đồng lịch sử và nhận đồng nguồn gốc dân tộc: người Việt là một nhánh di cư của người Hán, tổ tiên của người Việt là người Hán, lịch sử Hoa Hạ dài bao nhiêu, lịch sử Đại Việt dài bấy nhiêu. Hạt nhân của bảng phả hệ chính trị (có mang tính huyết thống- gia tộc này) là khái niệm “chính thống”. Xung quanh hạt nhân này, nhiều thế hệ nhà Nho đã sử dụng một tập hợp các khái niệm hữu quan như “Hán văn minh” –  “Hán lễ nhạc” – “Đường chế độ”- “văn hiến chi bang”4. Sự nhận đồng chính trị, nhận đồng mô hình nhà nước của các triều đình phong kiến tại Việt Nam trong lịch sử kéo theo sự nhận đồng về huyết thống và dân tộc. Những sử liệu Hán văn từ thế kỷ 12 về sau đều cho thấy, với quan điểm văn hiến- lễ giáo ở đâu thì nơi ấy là trung tâm của chính trị, các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc. Như giáo sư A. B. Woodside đã nhận định, trên nền tảng kinh điển Nho giáo, những từ này có khả năng dùng cho bất kỳ nước nào nếu nước đó sử dụng tiếng Hán, chữ Hán và kinh điển Nho giáo.5  Sự nhận đồng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào triều Nguyễn, khi các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân, là những người tiếp nối chính đáng nhất của nền chính trị Nho giáo. Cặp khái niệm “Việt nhân”- “Hán nhân” không còn hữu dụng nữa, thay vào đó các sử gia đã thực hiện thủ pháp “hoán thai đoạt cốt” các vỏ ngôn từ. Các văn bản triều đình nhà Nguyễn (như Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục,…) đều tự xưng mình là “Hán nhân”, còn những nhóm người đến từ Trung Quốc được gọi bằng tên của các triều đình đương nhiệm, như Thanh nhân (người nhà Thanh), Minh nhân (người nhà Minh).  Điều gì đã xảy ra trong tư tưởng của các nhà Nho thời này?  Trên quan điểm Hoa-Di, triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Hán. Nhà Thanh đã thực thi nhiều chế độ khác với truyền thống Nho giáo ở Trung Quốc, như chế độ lễ nhạc, chế độ mũ áo. Việc người Thanh bắt quan dân (gốc Hán) phải gọt tóc thay áo theo phong tục của người Mãn đã khiến nhà Nguyễn cho rằng nhà Thanh (và dân Hán khi ấy) không còn bảo lưu được nội hàm căn cốt của “Hoa- Hán” nữa. Vua Minh Mạng từng phát biểu hiển ngôn rằng: “Đại Thanh vốn xưa là người Mãn,… mà Mãn thì là Di” (大清、其先滿人、…夫滿、夷也, Đại Nam thực lục)6. Tiêu chí kép đã được sử dụng để phân biệt Hoa- Di. Nhà Thanh là một chế độ do người Di cai trị. Nên Trung Quốc khi ấy không còn được coi như là “Trung Quốc” nữa, mà chỉ là một loại người Di/ hoặc đã “Di hóa”. Trong khi đó, với bảng phả hệ do Ngô Sĩ Liên sắp đặt, với chế độ lễ giáo, chế độ mũ áo và kinh điển Nho gia nằm lòng, triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán tộc (cả về mặt huyết thống lẫn văn hóa- chính trị). Đây chính là lý do khiến các Nho sĩ triều Nguyễn (từ vua đến quan) đều tự nhận rằng mình là Hán nhân. Trung tâm của thế giới văn minh-văn hiến đã chuyển sang Việt Nam. Việt Nam là nơi duy nhất khi ấy, vừa bảo lưu dòng máu Hán truyền, là hậu duệ của Thánh đế Thần Nông, vừa học theo Khổng- Mạnh- Trình- Chu, vừa có chế độ tuân theo Chu-Hán- Đường-Tống.7 Trang phục của phái đoàn sứ Việt Nam năm 1841 và bài Di biện của Lý Văn Phức ngay trên đất Mân đã khiến cho nhiều kẻ sĩ nhà Thanh phải than khóc vì lâu lắm mới thấy được văn hóa Hán, và có vị Huấn đạo đã ném áo mũ của mình xuống đất, vì nhận ra rằng mình đã trở thành Di. Vương tử Hương Tuyết bình rằng: “Di, Nhung, Man, Địch, Hoa – từ xưa chỉ là nói về đất đai 5 phương, không phải là có ý gì. Cho nên cũng xem lại ở đạo học rạng rỡ hay tăm tối, phong tục tốt đẹp hay xấu ác như thế nào vậy. Bài biện này thẳng thắn mà thấu đạt.”8 Điểm thú vị là ở chỗ, Lý Văn Phức là người gốc Mân, di cư đến Việt Nam, làm quan cho triều Nguyễn. Ông đi sứ về Mân với tư cách về cố hương, bài biện di của ông thể hiện một quyền lực chính trị mạnh mẽ thông qua các diễn ngôn về đạo học. Đối thoại Hoa-Di của họ Lý là một chứng cứ xác nhận về một tư tưởng về nguồn gốc người Việt và nội hàm “hoán cốt” của khái niệm Hán nhân.  Những phát biểu trên của Minh Mệnh và Lý Văn Phức là hiện trường hiển minh cho tư tưởng về nguồn gốc người Việt (là Hán nhân) đã được sử dụng như thế nào trên trường chính trị Đông Á. Diễn ngôn về Hoa- Di trở thành công cụ ứng xử cốt lõi để Việt Nam thực thi cách chính sách chính trị đối với các tộc người (trong cương giới lãnh thổ), cũng như đối với các nước láng giềng (Champa, Xiêm La, Lào, Java,…). Hán nhân được cho là nằm ở trung tâm chính trị của khu vực, còn những nhóm người khác đều được coi là Di-rợ-Nhung-Địch. Thậm chí, người phương Tây (như người Pháp, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha…), trong con mắt của nhà Nguyễn khi đó, cũng chỉ là một đám Dương di (man di đến từ biển), hoặc được định danh một cách kỳ thị về mặt nhân dạng như là một “đám lông tóc màu đỏ” (hồng mao) chưa biết đến giáo hóa (cultivation) mà thôi. Tư tưởng về nguồn gốc Hán nhân đã phải trả giá, khi Việt Nam đối mặt với một nền văn minh khác Hán: văn minh phương Tây. Và những kỳ thị chủng loài sẽ một lần nữa được “thay máu tẩy não” trong cuộc va chạm Đông- Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.□     Đón đọc kỳ 2: Giống nòi- tiến hóa- và sự dung hội Đông-Tây  ———–  Chú thích  1Choi Byong Wook, Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng (1820-1841): Central Policies and Local Response, Cornell, SEAP Publications, 2004, p.136-8.  2 Kelley, L.C. “The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition,” Journal of Vietnamese Studies 7.2 (2012): 87-130. Kelley, L.C. “Inventing Traditions in Fifteenth-Century Vietnam,” trong Imperial China and Its Southern Neighbours, Victor Mair and Liam C. Kelley biên tập (Singapore: ISEAS, 2015), 161-193.  3 Trần Trọng Dương, 2013, Kinh Dương Vương- ông là ai? Tia Sáng, 3-2013.  4 Liam C. Kelley, Vietnam as a ‘Domain of Manifest Civility’ (Văn Hiến Chi Bang), Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 34, No. 1 (Feb., 2003), pp. 63-76.  5 Woodside, Alexander, 1970, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Cambridge: Cambridge University Press. P.18-19.  6 Trần Quang Đức, 2013, Ngàn năm áo mũ: lịch sử trang phục Việt Nam giai đoạn 1009-1945, NXB Thế giới.  7 Lý Văn Phức, 1841, Di biện, trong “Chu nguyên tạp vịnh thảo” 周原雜詠草,  Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.2258, p.18b.  8 Phan Thu Hiền, 2018, Nghiên cứu Lý  Văn Phức và Mân hành thi thoại tập, LATS, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.231.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Nguồn tài nguyên vũ trụ nhiều hơn khả năng sử dụng của con người      Nhà nghiên cứu hành tinh người Hoa Kỳ John Lewis cho rằng, không lâu nữa các nhà doanh nghiệp không gian&#160; có thể khai thác tài nguyên từ các tiểu hành tinh (Asteroid). Sau đây là cuộc trò chuyện về khai thác khoáng sản trên vũ trụ, các trạm tiếp nhiên liệu cho tàu vũ trụ và nguồn tài nguyên vô tận của hệ Mặt trời.     Tạp chí Tuần kinh tế (WirtschafsWoche): Thưa ông Lewis, cách đây 16 năm ông đã viết  trong cuốn sách mang tên “Mining the Sky” tương lai nhân loại có thể khai thác tài nguyên từ các tiểu hành tinh như thế nào. Nay Startup Planetary Resources, nơi ông hiện là một trong những nhà tư vấn, đang có ý định biến ý tưởng này thành hiện thực. Theo ông tại sao ngày nay điều này không còn là khoa học viễn tưởng nữa?  Lewis: Một mặt do công nghệ đã có sự phát triển nhất định để có thể tóm bắt và khai thác được tiểu hành tinh. Mặt khác  Planetary Resources trước hết đã tập hợp được một nhóm các nhà tỷ phú sẵn sàng ủng hộ dự án này. Trong những thập niên gần đây không hề thiếu những ý tưởng tuyệt vời – nhưng lại không có tiền!  Tuy vậy việc  tóm bắt và dẫn dắt một tảng đá khổng lồ trong vũ trụ là một việc làm cực kỳ khó khăn.  Công nghệ cần thiết để phóng tàu vũ trụ hiện đã có. Ngoài ra có 12 nhóm nghiên cứu về các vật thể nhỏ trong vũ trụ – hiện tại tàu thăm dò Dawn của Nasa đang bay quanh  Vesta. Tuy cho đến nay chúng ta hoàn toàn chưa tóm được một tiểu hành tinh nào, nhưng hiện người ta đang thảo luận về những cách tiếp cận hoàn chỉnh khác nhau và tôi nghĩ các giải pháp này đều khả thi.  Mới đây ông tham gia vào một công trình nghiên cứu, kết quả cuộc nghiên cứu này cho thấy để dẫn dắt và khai thác một tiểu hành tinh có độ lớn khoảng 8 m vào quỹ đạo của Mặt trăng cần một khoản tiền lên tới 2,6 tỷ USD. Thực tình khoản chi phí này là quá lớn.            “Người khai thác tiểu hành tinh không tranh giành của bất kỳ ai.”         Những công việc trong vũ trụ đều cỡ bạc tỷ. Nhiệm vụ với  tiểu hành tinh nói trên vì vậy cũng không có gì là quá tốn kém. Việc làm này là cơ hội có một không hai giúp chúng ta thử nghiệm các công nghệ khai khoáng khác nhau trong điều kiện không trọng lượng.  Xin ông nêu vài ví dụ?  Robot có thể bóc tách các tảng đá và đưa chúng vào các nhà máy nghiền trong vũ trụ. Trước mắt cũng chỉ có thể khai thác nguyên liệu ở trên bề mặt, rồi các thiết bị thăm dò có thể tiến hành nung nóng hoặc từ hóa những sản phẩm thu được.  Tại các phòng thí nghiệm ở Đại học  Arizona chúng tôi đã tiến hành hàng trăm thí nghiệm tương tự với nhiều loại nham thạch khác nhau ở bên ngoài Trái đất.      Theo ước đoán của ông thì hiện có khoảng bao nhiêu tài nguyên đang bay lượn quanh ta?  Nhà báo hãy xem tiểu hành tinh 1986 DA: nó to chừng 2,3 km, có khối lượng khoảng 40 tỷ tấn. Tiểu hành tinh này có nhiều loại kim loại khác nhau như sắt, đồng, nhôm, platin và vàng – tất cả các kim loại này đều có số lượng lớn hơn con số mà nhân loại đã từng khai thác cho đến nay. Ai muốn mua 1986 DA thì riêng số kim loại platin mà tiểu hành tinh này chứa trị giá trên 60.000 tỷ USD. Riêng những tiểu hành tinh gần Trái đất có trị giá  khoảng  40.000 tỷ USD. Và khối lượng trong vành đai của các tiểu hành tinh có thể còn lớn hơn gấp hàng trăm lần. Nguồn tài nguyên trong vũ trụ nhiều gấp bội khả năng tiêu thụ của nhân loại.    Vậy chúng ta đưa những thứ thu được về Trái đất như thế nào?  Đưa bằng tàu vũ trụ. Tàu vũ trụ Space Shuttles có thể vận chuyển 20 tấn vật tư lên trạm vũ trụ ISS, nhưng thường bay không tải trở về Trái đất. Vì vậy các doanh nghiệp khai khoáng có thể chế biến nguyên liệu lấy được từ các tiểu hành tinh ở gần trạm vũ trụ và đóng thành bao để chuyển về.    Nhưng việc phóng tàu lên vũ trụ luôn là điều rất tốn kém.          John Lewis là người đi tiên phong sáng giá  nhất về khai khoáng-tiểu hành tinh. Ông nguyên là  giáo sư về hành tinh  học thuộc Đại học Arizona và được dư luận rộng rãi  biết đến qua cuốn  sách của ông mang tên “Mining the Sky” phát hành năm  1996.  Nhà khoa  học tuổi thất tuần này hiện là cố vấn của Startup Planetary Resources  với tham vọng khai thác tiểu hành tinh trong vũ trụ.        Về lý thuyết thì chi phí tiền điện để đưa 1 kg khối lượng lên vũ trụ chỉ hết 1 USD.  Hiện tại khoản chi này lên tới 10.000 USD – vì các tầng tên lửa chỉ sử dụng một lần rồi rơi xuống biển và nhân lực làm việc trên trạm vũ trụ cũng là một khối lượng lớn. Từ lâu đã xuất hiện những giải pháp tiếp cận vũ trụ khôn ngoan hơn nhiều – như phóng bằng điện từ hay tên lửa phóng từ mặt đất nhờ sức đẩy của tia laser. Chúng ta cần tăng tính cạnh tranh và cần có nhiều doanh nghiệp vũ trụ tư nhân với những giải pháp ít tốn kém hơn. Vả lại việc khai thác tài nguyên trên vũ trụ sẽ góp phần thúc đẩy sự nghiệp này.   Thưa ông, thúc đẩy như thế nào?  Các tiểu hành tinh chứa một lượng nước khổng lồ. Ngành du hành vũ trụ không chỉ cần nước để cung cấp cho các nhà du hành vũ trụ mà còn cần có nước để tạo ra nhiên liệu cho tên lửa. Dựa vào lượng nước trong các tiểu hành tinh trong tương lai người ta có thể xây dựng các “cây xăng” trong vũ trụ. Hơn nữa người ta có thể chế tác kim loại tại chỗ, thí dụ làm dầm thép, làm bu lông và  các giá đỡ phục vụ các nhà máy điện Mặt trời trong vũ trụ. Các nhà máy này có thể dùng tia vi sóng để phóng năng lượng về Trái đất.  Ông định xây cất các nhà máy trong vũ trụ?  Để sản xuất các bộ phận bằng kim loại không đòi hỏi phải có những công nghệ phức tạp. Thậm chí một ngày nào đó con người có thể sản xuất tế bào quang điện trong vũ trụ. Khi người ta muốn sản xuất tế bào quang điện trên Trái đất thì việc đầu tiên phải làm là mô phỏng các điều kiện trong vũ trụ: người ta phải xây dựng các phòng siêu sạch và các khoang chân không. Những điều kiện này nhất định đều có trong vũ trụ.    Thưa ông những lợi thế của nhà máy điện trên vũ trụ là gì?  Vệ tinh Mặt trời (Solar-Satelliten) được Mặt trời chiếu sáng liên tục và có thể phóng năng lượng xuống bất kỳ một điểm nào trên Trái đất với giá rất rẻ nếu ở đó có thiết bị thu. Công nghệ này có tiềm năng cải thiện mức sống con người một cách rõ rệt.    Lịch sử cho thấy trong quá trình chiếm đoạt những nguồn tài nguyên mới bao giờ cũng có kẻ thắng người thua.   Khai khoáng trên Trái đất thường có nghĩa nước giàu bóc lột nước nghèo và người thợ mỏ phải làm việc cực kỳ nặng nhọc với khoản tiền công ít ỏi. Trong vũ trụ thì khác: tiểu hành tinh không thuộc về bất kỳ ai, người khai thác chúng không chiếm đoạt, giành giật của ai. Ở đây cũng không có thiên nhiên để mà tàn phá, không có không khí để gây ô nhiễm. Khi triển khai sử dụng tài nguyên trong vũ trụ ngay từ đầu chúng ta phải tính đến lợi ích của càng nhiều người càng tốt.   Chúng ta đang đề cập đến khoảng thời gian nào, thưa ông?  Có nhiều điều mà trước đây tôi chưa dám nghĩ tới thì có thể mươi năm nữa sẽ trở thành hiện thực trong giao dịch thương mại và mang lại tiền bạc. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng: Khai thác các tiểu hành tinh sẽ là sự thay đổi lớn nhất trong hoạt động kinh tế của con người kể từ cuộc cách mạng công nghiệp và hiện nay chúng ta đang chứng kiến những bước đi đầu tiên.        Xuân Hoài dịch           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ sa mạc hóa biển      Một trong những loại hình thiên tai khốc liệt trong xu hướng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường toàn cầu đáng lo ngại hiện nay là sa mạc hóa biển, một vấn đề tương đối ít được đề cập nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sự phát triển bền vững ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam    Phân bố không gian các vùng sa mạc biển (Nguồn: Diaz, Rosenberg, 2008).  Theo định nghĩa của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thì “sa mạc hóa là quá trình tự nhiên và xã hội phá vỡ cân bằng sinh thái của đất, thảm thực vật, không khí và nước. Quá trình này xảy ra liên tục, qua nhiều giai đoạn, dẫn đến giảm sút hoặc hủy hoại hoàn toàn khả năng dinh dưỡng của một khu vực, giảm thiểu các điều kiện sinh sống và làm gia tăng cảnh hoang tàn”.  Nguyên nhân của “sa mạc hóa biển”?  “Sa mạc hóa biển” xảy ra bởi các yếu tố bao gồm cả tự nhiên và xã hội.  Đầu tiên là các yếu tố nhiệt độ không khí và nước biển, các chất dinh dưỡng nitơ và phốtpho, nồng độ oxy hoà tan, cửa sông ven biển, dòng hải lưu, thủy triều tác động qua lại và không thể tách rời, tạo nên những vùng có ô xy hoà tan rất thấp trên tầng mặt biển, trong các khối nước và đáy biển, tạo nên tiền đề cho sự hình thành khu vực biển chết hay là sa mạc hóa biển.   Biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng nồng độ a xít trong đại dương và trong biển, làm ngắt đi nguồn bổ sung dinh dưỡng, làm giảm đa dạng sinh học và làm gián đoạn chu kỳ của oxy, nitơ và phốtpho. Kết quả của hiện tượng a xít hoá đại dương gây hiện tượng san hô bị tẩy trắng và khiến môi trường cư ngụ và sinh trưởng của các sinh vật biển bị biến đổi, chất lượng nước suy giảm, dễ bị tổn thương, cùng với lượng chất dinh dưỡng thấp đi đã gây ra hiện tượng sa mạc hóa tại một số nơi.  Các khu sa mạc biển được hình thành ở độ sâu nằm ngay dưới lớp phân cách khối nước sâu và bên dưới của các dòng hải lưu có hình xoáy nước thuận và xoáy nghịch trên mặt biển. Cả hai loại xoáy nước được tìm thấy có lượng oxy hoà tan cao hơn 3-5 lần so với các vùng nước xung quanh, tuy nhiên lượng oxy hoà tan thấp nhất ở tại khu nước sâu trung tâm của xoáy nước nơi mà xoáy nước chuyển tiếp giữa dòng xoáy và môi trường xung quanh. Điều này được hỗ trợ bởi một cấu trúc thủy văn ổn định đáng kể của lõi xoáy nước trong thời gian tới vài tháng. Sự trao đổi chậm chạp ranh giới xoáy với môi trường nước bên ngoài tạo ra các “sa mạc biển” vùng khơi chết. Sa mạc biển khơi gây tác động trực tiếp tới hệ sinh thái biển đó là động vật phù du bị ức chế bên trong xoáy nước cùng với sự di chuyển dọc theo ngày đêm.  Bên cạnh đó, sự huỷ diệt của con người đối với các hệ sinh biển thái quan trọng như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển bằng các biện pháp thuốc nổ, hóa chất độc hại,.. dẫn đến mất nơi cư trú và sinh trưởng của các loài thuỷ hải sản. Đặc biệt gây hại là những hoạt động lấn biển gây mất rừng ngập mặn, bồi lấp huỷ diệt rạn san hô để xây dựng đảo và các công trình. Để phục hồi được hệ sinh thái san hô thuộc loại dễ bị tổn thương nhất của biển phải mất hàng chục năm tái tạo, với công sức và kinh phí rất tốn kém.  Sự phát triển đô thị và các khu công nghiệp ven biển gây ra lượng chất thải rắn, nước thải và khí thải rất lớn, phá vỡ chất lượng không khí, nước mặt và nước biển, đặc biệt là sự gia tăng các chất dinh dưỡng, thường hay dẫn tới hiện tượng phù dưỡng hay tảo nở hoa gây hại (thuỷ triều đỏ), cũng thường xuyên dẫn đến các hiện tượng cá chết hàng loạt. Hoạt động vận tải biển bằng tàu thuyền tập trung quá nhiều tại một khu vực nhỏ, như khu vực gần cảng biển, cửa sông, hay gần khu bảo tồn biển, hay rạn san hô gây bùn hoá, đục hoá, hoặc phá vỡ san hô.  Ngoài ra, không thể không kể đến hoạt động đánh bắt, khai thác biển trực tiếp của con người, như việc thợ lặn đánh bắt cá sống trong và xung quanh các rạn san hô bằng chất nổ, hoặc chất độc, gây phá hủy hoàn toàn các rạn san hô, huỷ diệt nơi cư trú và sinh nở của nhiều loài sinh vật.  Sa mạc hoá biển là khiến cá, động vật biển và thực vật biển hoặc chết hoặc phải di rời sang vùng cư trú khác và trở nên dễ bị tổn thương hơn bởi con người và các động vật săn mồi. Đặc biệt đối với các rạn san hô, sa mạc hóa biển khiến mười phần trăm của rạn san hô trên thế giới đã hoàn toàn bị phá hủy, gây suy giảm mạnh môi trường sống của rất nhiều hải sản quý giá. Tại khu vực Đông Nam Á, nơi có sự đa dạng san hô nhất trên thế giới, sự phá hủy rạn san hô là hơn 70% và chỉ có 5% có thể được cho là trong tình trạng tốt.   Nguy cơ sa mạc hóa tại vùng biển Việt Nam  Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều chịu sự tác động của các hoạt động như biến đổi khí hậu toàn cầu, chất thải nhiều dinh dưỡng khu vực đô thị và công nghiệp, hiện tượng huỷ diệt san hô, hiện tượng hải dương nước trồi, nước chìm và nguy cơ có nhiều vùng sa mạc biển.   Các khu vực có nguy cơ bị sa mạc hóa biển tại vùng ven biển Việt Nam do nước thải từ hoạt động dân sinh và công nghiệp có thể kể đến như các vùng ven biển cửa sông lớn (hệ thống sông Hồng-sông Thái Bình, hệ thống sông Mekong) tại các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, và từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang. Bên cạnh đó là các vùng ven biển liền kề với 18 khu công nghiệp ven biển, kéo dài từ Vân Đồn (Quảng Ninh), Đình Vũ (Hải Phòng) cho tới Năm Căn (Cà Mau), Phú Quốc (Kiên Giang). Trong đó, nguy cơ càng cao ở những khu vực gần cảng quốc tế nơi tập trung nhiều tàu biển lớn qua lại như Quảng Ninh, Hải Phòng, Vũng Tàu.  Cũng cần cảnh giác với nguy cơ các khu sa mạc ngoài khơi do hiện tượng nước trồi xảy ra vào các tháng gió mùa Tây Nam, như các vùng biển cách bờ 100 km khu vực Nam Trung Bộ thuộc các tỉnh từ Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu.  Trên thế giới, các nhà khoa học đang tích cực triển khai ứng dụng vệ tinh để giám sát tình trạng sa mạc hóa biển bằng cách quan sát màu nước (ocean floor) biển, đặc biệt chất diệp lục thông qua các vệ tinh chuyên dụng để phát hiện sớm các khu vực có nguy cơ sa mạc biển để có những giải pháp cảnh báo và ứng phó. Ví dụ, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã công bố kết quả cho thấy mức độ diệp lục trong thời gian từ 1998 đến 2012 ở một số biển, đại dương thuộc Bắc bán cầu đã giảm xuống do nhiệt độ biển ngày càng cao hơn, trong lúc lại tăng lên tại một số lòng chảo đại dương Nam bán cầu.  Hoạt động đánh bắt bằng thuốc nổ và hóa chất cũng gây nguy cơ hủy diệt đối với các khu vực có hệ sinh thái rạn san hô tại 16 khu bảo tồn, từ Đảo Trần, Cô Tô (Quảng Ninh) tới Phú Quốc (Kiên Giang), và các khu vực khác có san hô như Vịnh Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long, ven biển Trung Bộ từ Quảng Bình đến Vũng Tàu và vùng biển Trường Sa-Hoàng Sa.Để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, an toàn sinh thái, an ninh môi trường và an ninh chủ quyền biển đảo, Việt Nam rất cần hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phòng ngừa, cảnh báo và thích ứng với hiện tượng sa mạc biển. Về phía Nhà nước cần sớm ban hành văn bản, cơ chế, chính sách, pháp luật quản lý và giải pháp thích ứng-giảm nhẹ với các khu vực có nguy cơ sa mạc biển. Cần tài trợ cho các nghiên cứu xác định danh mục, bản đồ phân bố sa mạc biển tại vùng biển ven bờ và ngoài khơi Việt Nam, và tăng cường phổ biến thông tin sa mạc biển và tác động kinh tế – xã hội – môi trường của chúng tới các cộng đồng dân cư ven biển, hải đảo và các tổ chức cá nhân liên quan.  Chính quyền các cấp cần chủ động có các giải pháp phòng ngừa sớm như thiết lập khoanh vùng các khu bảo vệ môi trường chuẩn mực quốc tế như khu biển đặc biệt nhạy cảm, khu vực biển đặc biệt, khu ramsar, khu di sản biển, khu dự trữ sinh quyển biển, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn san hô, v.v. Đặc biệt, cần đẩy mạnh kiểm soát, quan trắc tự động chất lượng nước thải, đa dạng sinh học và có sự tham gia của cộng đồng ngư dân.   ——–Tài liệu tham khảo1. Altieri, A.H. and K.B. Gedan (2015) Climate change and dead zones. Global Change Biology 21: 1395-1406.2.  J. Karstensen , B. Fiedler , F. Schütte , P. Brandt , A. Körtzinger , G. Fischer , R. Zantopp , J. Hahn , M. Visbeck1, and D. Wallace, 2015.  Open ocean dead zones in the tropical North Atlantic Ocean.  Biogeosciences, EU. 12, 2597–2605.3. Diaz R, Rosenberg R. 2008. Spreading Dead Zones and Consequences for Marine Ecosystems. Science. 321(5891): 926-929.4. Dybas, 2005. Ocean Dead Zones Spreading in World Oceans. BioScience, Vol. 55, No. 7 (July 2005), pp. 552-557.5. Dư Văn Toán, 2013.  Hệ thống vùng biển nhạy cảm thế giới và Việt Nam. Tạp chí Môi trường, 9/2013.6. Nic Fleming, 2016. Nước xanh, thuỷ triều đỏ và sa mạc biển. http://www.bbc.com/earth/world    Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Nguy cơ tái diễn thảm họa hồ Nyos      Cách đây 25 năm một đám mây carbon dioxide (CO2) lan tỏa từ hồ Nyos ở Cameroon bất ngờ ập xuống những ngôi làng quanh hồ, làm chết hơn 1.700 người. Đến hôm nay, các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được tại sao khí độc lại thoát ra từ hồ.     Những đám mây chết người   Đối với người dân làng Nyos, thì ngày thứ năm là một ngày quan trọng vì có phiên chợ. Hàng nghìn người đổ về đây để mua bán và gặp gỡ bà con, bạn bè.   Ngày 21/8/1986 cũng là ngày thứ năm. Không khí ở làng Nyos hết sức rộn ràng vì năm nay cả làng được mùa ngô. Không một ai trong làng nhận thấy chỉ cách làng độ 3 km, một sự gì đó lạ thường đang diễn ra. Cho đến 8 giờ 30 phút hôm đó họ bỗng nghe thấy tiếng sùng sục. Sau này các nhân chứng kể lại, tiếng gầm réo kéo dài độ vài chục giây đồng hồ, mọi người chạy vội ra khỏi những túp lều tranh và nhìn trừng trừng về phía hồ. Trước mặt họ là một cột nước khổng lồ, những đám khói trông tựa mây trắng ùn ùn đùn lên từ mặt hồ. Hàng nghìn con bò bị chết. Sự kiện thiên nhiên xảy ra quá đột ngột tại hồ Nyos chỉ ít phút nhưng hậu quả khôn lường.   Vào thời khắc đó gió thổi khá mạnh, khoảng 70 km/giờ, đám mây từ hồ lan tỏa ra rất nhanh và bao phủ nhiều làng quê thanh bình. Những đám mây này chính là khí CO2 đậm đặc, nặng hơn không khí vì thế người dân sống ở ven hồ hoàn toàn không có cơ hội thoát thân. Những người đàn ông vừa mới đây còn trò chuyện vui vẻ với nhau giờ ngã gục xuống, nhiều người cảm thấy như không còn có chân tay, trẻ em bị ngưng thở, chim từ trên trời rơi xuống đất.   Chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ đã có tới trên 1.700 người bị chết ngạt. Mười ngày sau người ta vẫn tìm thấy xác chết trong trong vòng 10 km quanh hồ. Hàng nghìn đại gia súc bị chết. Một số người bị hôn mê kéo dài, có người sau mãi 36 tiếng đồng hồ mới hồi tỉnh.   Thảm họa hồ Nyos làm cho cả thế giới bàng hoàng và nhớ đến một sự kiện tương tự xảy ra trước đó hai năm ở hồ Monoun, cũng ở Cameroon, làm 37 người bị thiệt mạng. Trường hợp hồ Nyos có tầm cỡ lớn hơn nhiều – nhiều làng như Nyos, Cha và Subum hầu như bị xóa sổ không còn một ai.   Phần lớn những người sống sót đều kể về một triệu chứng rất giống nhau như bị xa sẩm mặt mày, chóng mặt ngay sau vụ nổ. Nhiều người cảm thấy bối rối và choáng váng sau đó bị ngất xỉu. Mọi người đều ngửi thấy một mùi thum thủm như mùi trứng thối hoặc thuốc súng, chứng tỏ đây là triệu chứng bị ngộ độc CO2.   Cái nút đã bật ra  Ngay sau khi xảy ra thảm họa, một nhà địa chất Cameroon phát hiện mực nước trong hồ Nyos giảm khoảng 1 mét và đi đến nhận định lượng nước giảm sút ở hồ Nyos tương đương trọng lượng của khoảng 1,7 triệu tấn CO2.   Hồ Nyos vốn nằm trên miệng núi lửa, được hình thành trong quá trình nguội đi của núi lửa và do tích tụ nước mưa. Lượng CO2 thoát ra từ núi lửa tích tụ hàng trăm năm trong đáy hồ nước không thoát đi. Nhiệt độ ấm áp quanh năm ở vùng hồ Nyos và phụ cận là nguyên nhân làm cho khí CO2 không thoát ra ngoài được. Nhiệt độ ấm này làm cho lớp nước ở mặt hồ có nhiệt độ cao hơn so với khí CO2 lớp đáy hồ và lớp nước mặt hồ tạo thành một “cái nút’’giữ cho CO2 không thể thoát ra. Và vì lý do nào đó, cái nút bị hỏng, khiến lớp khí độc chết người bùng nổ và bắn tung lên trời.   Vậy “cái nút” đó là cái gì?   Đây chính là câu hỏi mà các nhà khoa học đã bận tâm nghiên cứu từ mùa hè năm 1986. Ban đầu người ta nghi ngờ khí CO2 bị đẩy lên do phun trào núi lửa dưới lòng hồ. Tuy nhiên các chuyên gia địa chất đã kết luận, do lở đất nên lớp mặt nước ấm áp bị lộn xuống dưới, đồng thời nước từ dưới đáy bị đẩy lên trên. Khí CO2 từ trạng thái hòa tan sẽ thoát ra ngoài giống như các bọt khí nổi lên từ một chai nước bị mở nắp. Những bong bóng khí đó lôi cuốn nước lên cao và khi lên khỏi mặt nước chúng bùng lên thành một cột nước khổng lồ và nổ tung, từ đó CO2 thoát ra tựa như những đám mây.   Kịch bản cho thảm họa tiếp theo   Từ đó hồ Nyos mệnh danh là “Killersee” (hồ giết người), chính phủ buộc người dân trong các làng ở quanh hồ phải di rời đi nơi khác. Nhà cửa của người dân ở đây thậm chí bị tháo dỡ để không ai dám nghĩ đến chuyện quay trở về. Nhưng vùng đất nở phía nam hồ Nyos lại rất mầu mỡ hấp dẫn nên người dân bất chấp thảm họa và sự cấm đoán của chính quyền: Những đàn bò đông đúc ung dung gặm cỏ, vùng ven hồ ngô mọc xanh rờn thẳng cánh cò bay. Từ những năm 90 người ta đã thả cá ở hồ và chúng phát triển rất tốt, trước đó hồ này hầu như không có cá.    Nhưng từ năm 2001, lượng khí độc CO2 ở vùng đáy hồ đã tăng gấp đôi so với năm 1986, khi xảy ra thảm họa. Để tránh thảm họa, từ năm 2001, người ta đã tiến hành khử khí trong vòng kiểm soát. Tuy nhiên để thực hiện điều này phải xây dựng một hệ thống gồm 5 đường thoát khí độc, nhưng nay mới có một đường ống đi vào hoạt động. Tình hình khá khẩn trương. Theo ủy nhiệm của Liên hiệp quốc, một nhóm chuyên gia Hà Lan đã tiến hành nghiên cứu tại đây. Và có nguy cơ sẽ xảy ra một tai họa còn lớn hơn cả vụ nổ khí CO2 trước kia. Một con đê tự nhiên bằng đá núi lửa ở phía bắc hồ Nyos có nguy cơ bị vỡ. Nếu xảy ra vỡ đê thì nước ở hồ Nyos trên vùng cao sẽ đổ xuống vùng hạ lưu dài trên 60 km kéo dài đến biên giới Nigeria và có thể nhấn chìm hàng nghìn nhân mạng.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ tuyệt chủng loài tê giác đen      Hiệp hội Bảo tồn Thế giới (IUCN) đang tỏ ra rất lo ngại về nguy cơ tuyệt chủng của loài tê giác đen Tây Phi. Theo lần điều tra gần đây nhất ở bắc Cameroon, người ta đã không tìm thấy bất kỳ một con tê giác đen nào kể cả dấu hiệu tồn tại của chúng. Chủ yếu do nạn săn bắn trái phép mà trong những thập kỷ gần đây ngay cả loài tê giác trắng miền bắc cũng bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng.    “Họ đã thực hiện tới 48 cuộc khảo sát thực địa trong phạm vi 2500km, làm việc kỹ lưỡng với từng khu vực,” Richard Emslie, cán bộ khoa học ở IUCN nói, “họ thậm chí đã tìm kiếm cả mùi hơi và dấu vết thức ăn của tê giác, nhưng cuối cùng cũng chẳng tìm thấy bất cứ dấu hiệu gì về sự tồn tại của chúng trong khu vực.”  Theo điều tra năm 2002, số cá thể tê giác đen là dưới 10, chúng lại phân bố rất rải rác trên phạm vi rộng nên cực kỳ khó sinh sản. Trong suốt 150 năm gần đây, số lượng tất cả các loài tê giác ở châu Phi đã giảm xuống với tốc độ chóng mặt.   Các chiến lược bảo tồn chỉ hầu như tương đối thành công ở vùng Nam Phi và một số nước Đông Phi. Nhưng ở Tây Phi, nạn săn bắn thường bị làm trầm trọng thêm bởi nạn nghèo đói, xung đột và nội chiến.     Mặc dù đã gần như hoàn toàn tuyệt chủng, nhưng các nhánh loài ở Tây Phi có lẽ vẫn đủ thức ăn và điều kiện môi trường để có thể phục hồi. Nhưng điều đó sẽ đòi hỏi những yêu cầu về sự ổn định kinh tế và chính trị, cũng như những nguồn lực để chống nạn săn trộm và thiết lập những hệ thống bảo tồn có đủ sức mạnh.    Theo Richard Black, BBC News    P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ xóa sổ loài chim cánh cụt chúa      Cuộc điều tra của các nhà khoa học Pháp về khu vực sinh sản chính của loài chim cánh cụt cho thấy có hiện tượng nóng lên tại vùng biển phía nam do tác động của El Nino khiến khả năng sinh tồn của loài chim này sụt giảm nghiêm trọng.      Nếu dự đoán nhiệt độ sẽ còn tăng lên trong những thập kỉ tới thì loài chim cánh cụt sẽ phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Theo tính toán, nếu nhiệt độ mặt nước biển tăng lên chỉ khoảng 0,25o C thì khả năng tồn tại của chim cánh cụt trưởng thành sẽ giảm 9%. Trong thời gian El Nino, những con sinh muộn bị ảnh hưởng nặng nề do những vùng biển nóng lên khiến nguồn thức ăn khan hiếm. Thức ăn chính của chúng là cá nhỏ và mực ống sống nhờ vào sinh vật nhuyễn thể cực kì nhạy cảm với nhiệt độ tăng.   Theo Physorg      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyễn Công Trứ trong trật tự quyền lực của Minh Mệnh: ‘Chơi với vua như đùa với hổ’      Có nhiều cách thức khác nhau để đánh giá vai trò của Nguyễn Công Trứ trong lịch sử Việt Nam. Dù là cách nào đi nữa thì dấu ấn và đóng góp của ông cho diễn trình lịch sử sơ kỳ hiện đại là không thể phủ nhận. Bài này gợi ra một góc nhìn khác về vai trò của ông trong cuộc chơi quyền lực và định hình chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX: Nguyễn Công Trứ trên bàn cờ quyền lực của Minh Mệnh.      Nguyễn Công Trứ là nhân vật được nghiên cứu phân tích rất nhiều. Trong ảnh: Hội thảo Nguyễn Công Trứ với lịch sử, văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, do ĐHQG HN và tỉnh Hà Tĩnh tổ chức ngày 24/11/2018. Ảnh: VNU.  Đây là câu chuyện về quyền lực và thực hành chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Câu chuyện phản ánh cách thức sự thay đổi vương triều dẫn đến việc tái cấu trúc quyền lực ở tầng bậc cao nhất của nhà nước, làm thay máu hệ thống quan liêu trung ương và thay đổi cách thức điều hành nền hành chính. Nhà vua Minh Mệnh lên ngôi năm 1820 với tham vọng tập trung hóa quyền lực, ổn định xã hội, thống nhất lãnh thổ và hệ thống cai trị vùng miền. Nỗ lực này thách thức giới quan liêu địa phương và các tướng lĩnh quân sự đầy quyền lực từng phụng sự Gia Long, vì thế Minh Mệnh cần những gương mặt mới cho trật tự quyền lực mà ông đang xác lập. Trong khung cảnh đó, ông tìm thấy Nguyễn Công Trứ.  Nguyễn Công Trứ và trật tự quyền lực của Minh Mệnh  Nguyễn Công Trứ gia nhập vào thế giới chính trị trong khung cảnh đặc biệt của cá nhân, thời đại và triều đại. 41 tuổi ông mới tham gia quan trường. “Hài lòng” với việc đứng hạng nhất ở trường thi Hương Nghệ An (1819), ông tuyên bố trong chính bài thi rằng mình “may mắn sinh vào thời của thánh nhân, nguyện làm nhà Nho quân tử” (Bài Văn sách của ông tại trường thi Hương Nghệ An). Dù đến “muộn” trong thời đại của Gia Long, Nguyễn Công Trứ xuất hiện một cách hoàn hảo trong thế giới của Minh Mệnh.  Sự thay đổi triều đại từ Gia Long đến Minh Mệnh chính là bước ngoặt quan trọng làm nên vận mệnh chính trị của Nguyễn Công Trứ, biến ông thành một mắt xích quan trọng trên bàn cờ quyền lực đầu thế kỷ XIX giữa một bên là Minh Mệnh và những trí thức thân tín mới được đào tạo với một bên là thể chế vùng miền cùng các tướng lĩnh quân sự và khai quốc công thần quyền uy. Thành công của ông là khả năng can dự vào trật tự của Minh Mệnh, đặc biệt là trong thập kỷ cầm quyền đầu tiên của nhà vua (1820-1831). Ông thể hiện mình là một trong những quan chức năng nổ nhất của thập kỷ này. Tuy nhiên Công Trứ nhanh chóng mất đi ảnh hưởng ở thập kỷ sau đó khi mà chính trường ở Huế trở nên chật chội, khi mà lớp tiến sĩ mới do chính tay Minh Mệnh chọn lựa và đào tạo bắt đầu kiểm soát hệ thống quan liêu thì một người với những ý tưởng táo bạo như Nguyễn Công Trứ đã không thể thâm nhập sâu hơn vào hệ thống ngày càng quan liêu hóa (dù phẩm hàm của ông lên đến nhị phẩm).  Điều này được lí giải vì Nguyễn Công Trứ là một quan chức cấp chiến thuật chứ không phải chiến lược. Dù phẩm hàm cao, ông chưa bao giờ tham dự Nội các hay Cơ Mật Viện, và được Minh Mệnh sử dụng chủ yếu trong các nhiệm vụ chiến thuật và thử nghiệm chính trị, quân sự. Vì điều này, trong nhiều năm, Minh Mệnh tìm cách giữ Nguyễn Công Trứ ở bên ngoài triều đình, phái ông vào các sứ mệnh hành chính và quân sự địa phương, đồng thời sử dụng công cụ thăng, giáng liên tục để “kiềm chế” cái “ngông” của ông và gắn ông với những điểm nóng và sự vụ đương thời.  Người điều phối các quân cờ này: Nguyễn Phúc Đảm sinh năm 1791, là hoàng tử thứ 4 của Gia Long, là con thứ phi tuy nhiên đến năm 1802, ông là người con trai lớn tuổi nhất còn sống. Đây là diễn biến không ngờ của trật tự kế vị (ĐNLT, 2: 17b-19b; ĐNTL, I, 48: 6a). Từ vị thế số 4 (thậm chí là số 5, sau con trai của hoàng tử Cảnh), Minh Mệnh trở thành một trong hai lựa chọn hàng đầu cho ngai vàng. Cuộc chiến năm 1816 cho ngôi vị thái tử phủ bóng đen lên triều đình Huế với cái chết của Nguyễn Văn Thành và sự tan rã của phe trí thức Bắc Hà. Tuy nhiên, với vị vua này, cuộc chiến mới chỉ bắt đầu.      Trong nhiều năm, Minh Mệnh tìm cách giữ Nguyễn Công Trứ ở bên ngoài triều đình, phái ông vào các sứ mệnh hành chính và quân sự địa phương, đồng thời sử dụng công cụ thăng, giáng liên tục để “kiềm chế” cái “ngông” của ông và gắn ông với những điểm nóng và sự vụ đương thời.      Khi bước vào điện Thái Hòa ngày 14/2/1802, Minh Mệnh ở tuổi 30 và là một trong những ông vua được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất của vương triều này, được những trí thức lớn như Đặng Đức Siêu, Ngô Đình Giới đào tạo, và am hiểu lịch sử chính trị, hành chính Trung Hoa. Tuy nhiên, đối thủ và thử thách đang chờ đón ông cũng không tầm thường. Lịch sử đã không diễn ra một cách dễ dàng như Minh Mệnh hình dung. Sẽ phải mất 16 năm (tức ¾ toàn bộ thời kỳ trị vì) để ông thực hiện dự án nhà nước và dự án đế chế của mình nhằm xác lập tập trung quyền lực, thống nhất lãnh thổ, hành chính.  Nhà vua với những ý tưởng chính trị lớn, vì thế bị cô lập trên chính vương quốc của mình và buộc phải đào tạo một thế hệ nho sĩ mới, những người trung thành với ông và hiểu được những ý tưởng chính trị lớn mà ông sắp triển khai. Ông cũng cần “gài người” vào các trung tâm quyền lực ở vùng châu thổ sông Hồng và sông Mekong để từng bước kiểm soát hai hệ thống hành chính tự trị này. Nhà vua tìm thấy Nguyễn Công Trứ một ứng viên sáng giá cho việc cử tới Bắc Hà. Lịch sử gia đình, tuổi thơ, sự nghiệp học hành, các mối quan hệ cá nhân của Trứ là một lí lịch hoàn hảo cho sứ mệnh này.  Tại sao là Nguyễn Công Trứ?  Ông có liên hệ mật thiết với hai nhóm trí thức ở Quỳnh Côi và Nghi Xuân. Cha ông, Nguyễn Công Tuấn (1716–1800) từng làm tri huyện Quỳnh Côi (Thái Bình) và tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình) (Lê Xuân Giáo, 1973: 3–4). Nguyễn Công Tuấn và Nguyễn Nghiễm (1708–1775) đều từ Nghi Xuân, giữa hai gia đình vì thế có thể tồn tại các mối liên hệ khi cùng làm quan ở châu thổ sông Hồng. Tuy vậy, khoảng năm 1790, Nguyễn Công Tuấn đưa Nguyễn Công Trứ về Nghệ An và bắt đầu một cuộc sống nghèo khó. Những năm tháng này giúp Công Trứ có được góc nhìn, tầm vóc tri thức, và kinh nghiệm xã hội từ giới tinh hoa cũng như cuộc sống gắn chặt với các làng quê của người nông dân, đặc biệt là gắn liền với những biến động của vùng đất Nghệ An thời Tây Sơn và Gia Long.  Trong vòng 11 năm (1821-1832), Nguyễn Công Trứ được thăng từ Hàn lâm viện Biên tu (7A) lên Tham Tri (2B) và Thự Tổng đốc Hải Yên (2A, 54 tuổi) (MMCB, 3: 122). Chánh nhị phẩm (2A) cũng là phẩm cấp cao nhất trong sự nghiệp của ông. Quá trình này không hề thua kém những “ngôi sao” chính trị hàng đầu thời Minh Mệnh. Hà Tông Quyền đỗ Tiến sĩ 1822 (24 tuổi). Được cử đi làm Tri phủ Tân Bình, Tham hiệp Quảng Trị trước khi rút về làm việc tại các bộ và sau đó là Nội các. Sau sáu năm, đến 1828, Hà Quyền lên Hữu Thị lang Lễ bộ kiêm lĩnh Thái thường tự; năm 32 tuổi làm thự Hữu tham tri Công bộ (hàm 2B). Phan Bá Đạt đỗ Tiến sĩ năm 1822 (29 tuổi), lên hàm 2B (tòng nhị phẩm) với chức Tham tri Hình bộ (38 tuổi) và Tả phó đô ngự sử (39 tuổi).  Thành công của Nguyễn Công Trứ là dù “xuất phát chậm” nhưng có khả năng tiếp cận nhanh vào hệ thống quyền lực ở Huế, đặc biệt là quá trình thăng tiến nhanh và suôn sẻ trong thập kỷ đầu tiên phục vụ Minh Mệnh. Đó là khi vị Hoàng đế đang cần một nhóm văn thần mạnh làm chỗ dựa cho cuộc cải cách chính trị, thay thế dần quyền lực của giới quân sự. Sự chuyển giao thế hệ này là một cơ hội cho Nguyễn Công Trứ bởi Minh Mệnh ưa thích những văn quan sẵn sàng xả thân. Chính trong nỗ lực tìm kiếm các văn quan “dấn thân” này, Nguyễn Công Trứ xuất hiện. Minh Mệnh gọi ông là “nho tướng” (儒將), tên gọi cho thấy kỳ vọng của Minh Mệnh vào Trứ và vị trí mà nhà vua dành cho ông trên bàn cờ chiến lược, hành chính của mình (ĐNTL, II, 219: 21b).  Nguyễn Công Trứ như một cánh tay nối dài của Minh Mệnh  Trên ngai vàng, chính sử mô tả vị hoàng đế là một ông vua tự tin, quyết đoán. Tuy nhiên, trong hơn một nửa thời gian cầm quyền đầu tiên, nhà vua cho thấy một gương mặt khác: bất an, thận trọng, thường xuyên bị ám ảnh bởi các thách thức an ninh và quản trị quốc gia (ĐNTL, II, 104: 31a). Xuất thân của ông, cuộc chiến ngai vàng, và cai trị giữa một thế giới các quyền thần để lại dấu ấn lên sự lo lắng của nhà vua, đặc biệt là nỗ lực của ông nhằm tái cấu trúc hệ thống hành chính, tập trung hóa nhà nước, lãnh thổ. Những gì diễn ra sau đó là ngày tháng “mất ăn mất ngủ”, như chính nhà vua tuyên bố vào mùa đông 1833 với bạo loạn, xâm lược của Siam và bùng bổ xung đột xã hội.  Nhà vua cần các quan chức có thể chia sẻ những ý tưởng này, không chỉ ở hoàng cung, mà còn nơi chiến trường, những viên chức có thể đưa vào thử nghiệm các dự án chính trị táo bạo, đặc biệt là những người có thể tạo ra sự thay đổi ở các địa phương.  Đó là mùa thu năm 1825, vị hoàng đế đang tức giận với các viên chức phủ Thừa Thiên, những người để trộm cắp lan tràn ngay tại kinh thành. Nguyễn Công Trứ được chuyển từ Hình bộ về làm Phủ Thừa (hàm 4A) (ĐNTL, II, 34: 11a-b). Chúng ta không biết gì nhiều về điều gì đã diễn ra, tuy nhiên, ba tháng sau, có vẻ như ông đã tạo ra sự khác biệt, và làm hài lòng vị hoàng đế, vì thế được chuyển làm Tham hiệp Thanh Hóa – một điểm nóng an ninh khác với sự nổi dậy của những người ủng hộ nhà Lê và các nhóm dân miền núi dọc theo Thanh Hóa-Ninh Bình. Sau khi Nguyễn Công Trứ nghỉ tang mẹ và quay lại nhậm chức, chính nhà vua tuyên bố: “Trước kia hai trấn Thanh Nghệ trộm cướp nổi nhiều, vì trấn thần vỗ về chống giữ có phương pháp, dân nhiều người ra sức, bắt được 8, 9 phần 10 kẻ phạm, như thế thì dân ta có phụ gì triều đình đâu. Nay ngươi đến bảo rõ đức ý của triều đình, chiêu tập những dân xiêu tán, tiễu trừ những đảng giặc sót để cho biên phương yên lặng lâu dài, ấy là điều trẫm mong đợi” (ĐNTL, II, 41: 17b).      Trải nghiệm của Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ với tư cách là các chính trị gia và người làm chính sách chắc chắn đã không chỉ dừng lại ở thế kỷ XIX. Việc nhận diện thời cuộc, xây dựng dự án chính trị, quản trị lãnh thổ, nhà nước, tương tác trung ương với địa phương, và sự giám sát của chính quyền nhà nước đối với chính quyền vùng luôn là điều không dễ dàng trên mảnh đất hình chữ S.      Đảm nhận hai chức vụ trong vòng 9 tháng, Ngyễn Công Trứ đã chứng minh là một quan chức có năng lực dẹp loạn, bình định an ninh. Ông cho thấy năng lực giải quyết được vấn đề ám ảnh hàng đầu của Minh Mệnh, và là lí do của quá trình thăng tiến nhanh chóng. Mùa đông năm 1826, khi biết tin ông bị ốm ở Quảng Trị, trên đường đi công cán, Minh Mệnh đã cử thái y đến chữa bệnh (MMCB, 20: 112). Ông cũng được tặng bạc vào hai lần khác (1826, 1832) mà không có lí do cụ thể (ĐNLT, 20: 8b-9a).  Tuy nhiên, điểm đến tiếp theo của ông là không hề dễ dàng: Bắc Thành.  Lập lại trật tự ở Bắc Thành  Sau cái chết của Lê Chất (1826), vùng đất này đang chìm trong bạo lực. Sau nhiều lần vỡ đê từ năm 1824, các cuộc bạo loạn quy mô xuất hiện, đặc biệt là nổi dậy của Phan Bá Vành. Trong sứ mệnh này, Nguyễn Công Trứ được phái ra Bắc, phụ trách Hình tào, tâm điểm của nền hành chính tha hóa. Gần một thập kỷ sau đó, Nguyễn Công Trứ sẽ phục vụ như một cánh tay nối dài của Minh Mệnh trong một dự án chính trị, quân sự lớn làm thay đổi toàn bộ cấu trúc hành chính vùng châu thổ.  Những năm 1826 đến 1831 là cuộc chiến của Minh Mệnh ở Bắc Thành, nơi mà tính khốc liệt không hề thua kém những gì ông đã trải qua ở Gia Định. Cướp biển ở miền duyên hải, các nhóm dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Tây, trong khi các nhóm ủng hộ nhà Lê chiếm giữ dải đất miền núi và trung du từ Thanh Hóa ra Ninh Bình, âm mưu thâm nhập vào vùng châu thổ. Hệ thống quản trị hành chính yếu kém của chính quyền cấp thành ở Hà Nội làm cho tình hình trở nên tồi tệ với thiên tai, nạn cường hào và lũng đoạn thuế khóa. Điều này đẩy hàng vạn dân đói, mất đất và nạn nhân của các trận lụt ở “rốn lũ” Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình chạy xuống duyên hải phía nam (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình), gây ra những sức ép kinh tế lớn và gia tăng bạo lực xã hội.  Đáp lại, Minh Mệnh tự mình xem xét hàng trăm vụ án ở Bắc Thành với số phạm nhân lên tới 800-900 người. Năm 1826 chẳng hạn, có 490 án, 930 người bị giam (ĐNTL, II, 40: 18b-19a). Tình trạng quan chức tha hóa là nỗi ám ảnh của nhà vua. Ông phàn nàn trong một đạo dụ rằng “Gần đây nghe nói viên ty và thư lại các tào bắt chước nhau, liên kết bè đảng, nhiều người ăn của lót mưu lợi riêng, công việc tự ý mình làm nặng mà nhẹ, mà Hình tào càng tệ hơn” (ĐNTL, II, 43: 3b).  Không như kỳ vọng của nhà vua, các viên chức ông cử tới gặp vấn đề lớn trong việc xâm nhập vào hệ thống hành chính địa phương, từ cấp tào cho đến dinh trấn, phủ huyện. Thất bại của các nỗ lực này ở Nam Định là một ví dụ rõ ràng (ĐNTL, II, 45: 2b). Ít nhất có ba lần năm 1827, nhà vua yêu cầu các quan chức Bắc Thành gửi báo cáo mật trực tiếp về hoàng cung về tình hình quân sự, quan lại, và dân chúng (ĐNTL, II, 43: 16b, 25a-b). Minh Mệnh đang cần những nhân vật có khả năng kiểm soát vấn nạn chính trị quan liêu này và xác lập lại trật tự tại địa phương. Nguyễn Công Trứ là một trong số ít có đủ khả năng chia sẻ được những ý tưởng của nhà vua, đặc biệt là giúp ông giải quyết các điểm nóng trên vùng châu thổ, như ông đã làm ở Thừa Thiên và Thanh Hóa.  Nhiệm vụ của Nguyễn Công Trứ tập trung vào việc xử lí tệ nạn ở Hình tào, dẹp loạn Phan Bá Vành, giải quyết dân lưu tán ở Thái Bình, Nam Định, tổ chức khai hoang, sắp đặt lại vùng ngập Hải Dương, và cuối cùng là quản lí hệ thống an ninh vùng duyên hải. Lời dụ của Minh Mệnh cho Nguyễn Công Trứ đầu năm 1827 viết, “sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng” (ĐNTL, II, 43: 24b).  Được nhà vua ‘bật đèn xanh’, Nguyễn Công Trứ đã thực hiện một cuộc thí điểm chính trị quan trọng ở vùng đông nam châu thổ sông Hồng, trong đó tập trung vào ba khía cạnh chính:  Thứ nhất, thúc đẩy một chính quyền mạnh tay với những kẻ nổi loạn, như chính ông đã thực hiện ở Thừa Thiên, Thanh Hóa, Nam Định, và Hải Dương.  Thứ hai, ông coi “lại dịch tham ô” là căn nguyên của nền hành chính yếu kém. Giải pháp của ông có thể làm những người làm chính sách ở Việt Nam hiện tại ngỡ ngàng: “thải bỏ những người hèn kém bớt đi một nửa, và cho thêm lương, để giữ thanh liêm” (ĐNTL, II, 51: 8a-b). Cùng với cường hào lũng đoạn làng xã, ông coi đây là nguyên nhân căn bản của bạo lực xã hội Bắc Kỳ.    Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ từ 12 đến 14/11 âm lịch tại huyện Kim Sơn, Ninh Bình. Nguồn ảnh: Đài phát thanh truyền hình Ninh Bình.  Thứ ba là một dấu ấn lớn của Nguyễn Công Trứ trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX: khai hoang, xác lập làng cho dân lưu tán. Ông nhận thức lưu dân là vấn nạn lớn ở châu thổ trong nhiều thập kỷ, đặc biệt như ông chứng kiến ở Nam Định, Hải Dương, Thái Bình. Ông đã nhìn thấy tình trạng dân lưu tán là căn nguyên của nhiều vấn nạn xã hội và tìm cách xác lập họ trong những vùng mới khai hoang. Trong địa hạt này, ông đã tìm thấy tiếng nói chung với Minh Mệnh, nhờ đó hàng nghìn gia đình được xác lập dọc theo duyên hải đông nam châu thổ sông Hồng (ĐNTL, II, 51: 11a-b).  Trớ trêu là sự năng nổ và các ý tưởng táo bạo của Nguyễn Công Trứ đã tạo ra chướng ngại cho chính ông trong việc gia nhập vào trung tâm của hệ thống quan liêu ở Huế.  Minh Mệnh và các quan chức tán đồng với phân tích tình hình của Nguyễn Công Trứ, bao gồm vấn đề dẹp loạn, cường hào, khai hoang. Mặc dù vậy việc can thiệp sâu rộng vào các làng xã dường như quá mạo hiểm đối với Huế. Hệ thống quan liêu ở Huế rất cảnh giác với các làng xã Bắc Hà, nơi có những cư dân “không thân thiện” với triều đình. Theo họ, những vấn đề ông nêu chỉ là cá biệt, do người thực thi chứ không phải tại hệ thống, vì thế không cần thiết xác lập thêm các thiết chế mới.  Minh Mệnh tỏ ra tỉnh táo hơn. Ông chia sẻ với Nguyễn Công Trứ nỗi ám ảnh về tình hình an ninh, và vì thế bảo trợ cho vị quan này trong nhiều sáng kiến hành chính. Tuy nhiên nhà vua là một người cẩn trọng, không muốn có bất cứ sự xáo trộn lớn nào về mặt chính sách, vì thế đồng ý cho tiến hành những thử nghiệm quy mô nhỏ, mức độ vừa phải.  Cuối cùng, ý nghĩa lớn nhất của câu chuyện về Nguyễn Công Trứ không nằm ở chỗ vinh danh hay tán dương quá khứ mà là điều chúng ta có thể học được từ tiền nhân trong cách thức quản trị nhà nước và xã hội trong những năm tháng mà một lãnh thổ Việt Nam thống nhất mới được định hình. Trải nghiệm của Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ với tư cách là các chính trị gia và người làm chính sách chắc chắn đã không chỉ dừng lại ở thế kỷ XIX. Việc nhận diện thời cuộc, xây dựng dự án chính trị, quản trị lãnh thổ, nhà nước, tương tác trung ương với địa phương, và sự giám sát của chính quyền nhà nước đối với chính quyền vùng luôn là điều không dễ dàng trên mảnh đất hình chữ S. ¨  Tham khảo  [ĐNLT]. (n.d.). Đại Nam Liệt Truyện, chính biên. Tokyo: Keio Institute of Linguistic Studies, reprint, 1963, Bản Dịch (Huế: Thuận Hóa, 1995).  [ĐNTL]. (n.d.). Đại Nam Thực Lục. Tokyo: Institute of Cultural and Linguistic Studies, Keio University, 1961-1977, Bản dịch (Hà Nội: Giáo dục, 2004).  [MMCB]. (n.d.). Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mệnh, 1820-1841. Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội.  Vũ Đức Liêm. Nguyễn Công Trứ và việc nhận thức các vấn đề thời đại. Hội thảo Nguyễn Công Trứ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 24/12/2018.  Vũ Đức Liêm. ‘Chơi với vua như đùa với hổ’: Nguyễn Công Trứ trong trật tự quyền lực của Minh Mệnh, trong Nguyễn Công Trứ và Sự nghiệp lập thân kiến quốc, biên tập: Nguyễn Công Lý, Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường, Nguyễn Ái Học (Hà Nội: KHXH, 2018): 157-187.  Vũ Đức Liêm và Dương Duy Bằng, “Phe phái, lợi ích nhóm, và quyền lực ở Việt Nam Đầu Thế Kỷ XIX” Nghiên cứu Lịch sử, Số 9 (2018).    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang “Nguyên khí” cho ngành hạt nhân      Đào tạo nhân lực của ngành hạt nhân là nhiệm vụ rất lớn trước mắt. Nếu trong tay chúng ta có chừng 300-400 chuyên gia giỏi với trình độ cao thì sự thành công của chương trình hạt nhân sẽ được bảo đảm trong giai đoạn đầu. Vấn đề đào tạo nhân lực cho ngành hạt nhân phải là một vấn đề ở mức Chính phủ (government level) cũng có thể ở mức liên Bộ. Đây cũng là một khuyến cáo quan trọng của IAEA. Không ý thức được điều này khó lòng có được một đội ngũ cán bộ tối cần thiết cho ngành điện hạt nhân. Trong bài này chúng tôi xin chỉ bàn về đào tạo nhân lực nằm dưới Ban chỉ đạo quốc gia (hay Liên Bộ Chương trình hạt nhân).    Ba công đoạn đào tạo  Ngày 3/1/2006, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký quyết định số 01/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt  “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020”. Để thực hiện chiến lược đó vấn đề đào tạo nhân lực khoa học – công nghệ hạt nhân là vấn đề quan trọng số một. Nhân lực này sẽ quyết định thành công của chương trình hạt nhân, quyết định mặt an toàn và tính kinh tế của các dự án.  Đào tạo nhân lực phải đi trước một bước bằng 10-15 năm. Với nhân lực non yếu chưa đủ sức nghiên cứu khoa học (NCKH) như hiện nay trong chương trình điện hạt nhân thì vấn đề đào tạo phải đặt trước vấn đề nghiên cứu khoa học. Thất bại trong công việc đào tạo có thể dẫn đến nguy cơ thất bại của điện hạt nhân!  Việc đào tạo nhân lực cho chương trình hạt nhân phải gồm ba công đoạn lớn:  -Công đoạn củng cố, đào tạo lại, nâng cấp đối với nhân lực hiện có (existing manpower).  -Công đoạn hướng dự án (project-oriented) nhằm đào tạo trước mắt nhân lực cho nhà máy điện nguyên tử đầu tiên (và trong tương lai cho những nhà máy điện nguyên tử tiếp theo).  -Công đoạn hướng chương trình (programme-oriented) nhằm đào tạo nhân lực lâu dài cho cả chương trình hạt nhân.  Có thể biểu diễn ba công đoạn trên bằng đồ thị dưới đây.              I: Nhân lực hiện có   IIa,b,c: Nhân lực hướng dự án   IIIa,b,c: Nhân lực hướng chương trình (đầu đàn +R&D+pháp quy)   (Lộ trình IIIb có thể xem là lộ trình kéo dài bổ sung cán bộ R&D của lộ trình I)             Trong trường hợp dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên có chậm lại một vài năm thì các lộ trình đào tạo hướng nhân lực dự án (IIa, IIb và IIc) cũng sẽ được lùi lại tương ứng theo số năm như vậy. Tuy nhiên các lộ trình đào tạo nhân lực hiện có (I) và đào tạo nhân lực hướng chương trình (IIIa, IIIb và IIIc) vẫn phải giữ nguyên như cũ vì các lộ trình này liên quan đến chương trình điện hạt nhân nên cần tranh thủ thời gian – vốn còn rất ít – cho chương trình. Có nhiều quan điểm cho rằng trước tiên hãy tập trung vào đào tạo nhân lực cho dự án. Song điều này không đúng vì trong giai đoạn đầu của chương trình hạt nhân các công đoạn đào tạo nhân lực theo 2 công đoạn trên “gối đầu” nhau. Ngay từ đầu chúng, ta đã phải có những cán bộ chuyên gia công nghệ giỏi để am hiểu “thẩm kế”, có trình độ làm việc với tư vấn ngoại quốc trong mọi ký kết, chúng ta cần phải có cán bộ pháp quy để giải quyết những vấn đề về an toàn, luật pháp. Cho nên nhiều cán bộ thuộc phạm trù hướng chương trình cũng thuộc phạm trù hướng dự án .               Phòng chuẩn cấp II – X-ray 2 của Viện Năng lượng Nguyên tử            Nguồn nhân lực hiện có (existing man power) là một lực lượng quan trọng. Chính nguồn nhân lực này đang giúp Chính phủ vạch kế hoạch cho chương trình hạt nhân. Trong số họ, nhiều chuyên gia giỏi về kỹ thuật, công nghệ hạt nhân, tính toán lò phản ứng, nhiều người đã học tập, thực tập trên các lò phản ứng  ở nước ngoài, nhiều người là chuyên gia của IAEA. Bộ phận nhân lực này đã có nhiều công trình khoa học công nghệ quan trọng đăng trong nước và nước ngoài, nhiều công trình rất có giá trị. Nhân lực hiện có này đã được đào tạo trong nhiều chục năm trong thời gian trước đây, và trong những kế hoạch ngắn hạn sau này. Biết củng cố, đào tạo thêm, nâng cấp thì đây là một vốn nhân lực rất mạnh, rất hữu ích cho công đoạn hướng dự án và cả cho công đoạn hướng chương trình trong giai đoạn đầu. Trong vòng 10 năm nữa lực lượng này đang và sẽ đóng vai trò quan trọng.  Song phải nói rằng số nhân lực này không đủ và không thể đáp ứng được các nhiệm vụ nặng nề trước mắt.  Với việc đào tạo những cán bộ đầu đàn, nhiều nước đã lo nghĩ đến cán bộ đầu đàn từ rất sớm, họ gửi ra nước ngoài hàng trăm cán bộ học tập trong 5 năm trong 10 năm. Nếu ngay bây giờ (2007) chúng ta gửi đi khoảng 10-30 người xuất sắc thì đến năm 2011-2012 chúng ta sẽ có khoảng 10-20 cán bộ thật giỏi, xứng đáng ở cương vị đầu đàn.Ngay trong thời bao cấp, Việt Nam đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong đào tạo cán bộ đầu đàn, có thể đơn cử những nhà khoa học được Đảng và Chính phủ gửi đến Viện nghiên cứu hạt nhân Đúp-na, hiện nay họ vẫn tiếp tục là những cán bộ đầu đàn trong lĩnh vực được đào tạo. GS Tạ Quang Bửu, lúc sinh thời có một cách nhìn rất sáng suốt trong việc đào tạo những cán bộ đầu đàn. Ông chọn người, mời đến nhà riêng giao nhiệm vụ và tìm mọi cách gửi họ ra nước ngoài trong vòng 5 đến 10 năm theo những thủ tục đặc biệt thoát khỏi thông lệ thời bao cấp. Nhờ phương thức này mà Việt Nam có được một số cán bộ đầu đàn hiện nay đang phát huy tác dụng, mặc dầu nhiều người đã lớn tuổi.  Mô hình đào tạo trong nước               Nguồn nhân lực hiện có (existing man power) là một lực lượng quan trọng          Ngay ở trong nước, chúng ta cũng có thể đào tạo các cấp sau, từ trình độ đại học, (BS – Bachelor of Sciences), sau đại học, (MS – Master of Sciences) đến trên đại học (PhD – Doctor of Philosophy). Chúng ta có thể có 4 lộ trình đào tạo chuyên gia như sau :  lộ trình xuất phát từ các trường Đại học Bách khoa; từ các trường Đại học KHTN (cũng dành cho cán bộ pháp quy); từ các trường đại học, sau đó tiếp tục tại các cơ sở đào tạo của các Viện nghiên cứu; từ Đại học điện lực (Bộ Công nghiệp).  Cần chú ý, các lộ trình trên đào tạo từ cơ sở đến cấp học PhD, song ở một cấp nào (BS, MS hay PhD) ta đều có thể lấy tắt ngang các cán bộ hoặc từ các nhà máy, công ty hoặc từ các Viện đã có một trình độ tương đương (trong một chuyên môn có thể khác hạt nhân) với cấp đang xét để học tiếp những giáo trình nâng cao và chuyên sâu hơn về hạt nhân.  Các cơ sở đào tạo của các Viện nghiên cứu sẽ cấu tạo thành một TRUNG TÂM đào tạo. Có thể nói đây là tiền thân của Trung tâm đào tạo quốc gia cho ngành hạt nhân. Trung tâm này được mô phỏng theo mô hình INSTN của Pháp và sẽ nằm dưới sự chỉ đạo của 3 Bộ gồm: Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Công Thương.  Ngoài các hình thức trên còn có những lớp ngắn hạn, tổ chức cùng với các cơ quan bên các nước khác: ví dụ những lớp học cho EVN và các cơ quan khác (phối hợp với Nhật/Toshiba năm 2005, 2006) hay lớp học về an toàn (phối hợp với IAEA/Argonne laboratory năm 2005).    Đào tạo ở nước ngoài  Chú ý trong hoàn cảnh giáo dục ở nước ta gặp nhiều khó khăn, cơ sở thiết bị hạn chế nên phải xác định rằng công đoạn đào tạo ở nước ngoài và ưu đãi, mời về nước làm việc các chuyên gia lớn đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Nhiều nước đi trước chúng ta như Hàn Quốc, Trung Quốc đã gửi đào tạo trong nhiều năm (10– 15 năm) nhiều cán bộ đến các nước như Mỹ, Anh, Pháp… và sẵn sàng mời những chuyên gia lớn về nước làm việc với những chế độ đặc biệt .Nhiều người trong số đó đã đóng vai trò cán bộ đầu đàn, vai trò chỉ đạo. Chú ý, chỉ nên gửi đi nước ngoài những cán bộ có trình độ BS (tốt nghiệp Đại học).  Ngoài ra, cần lưu ý những quan điểm cần tránh như tách rời đào tạo nhân lực hướng dự án và nhân lực hướng chương trình;  Phương thức vừa học vừa làm chỉ có thể áp dụng cho một số công việc còn đối với chương trình hạt nhân cần đào tạo trước một bước (10 đến 15 năm) vì những kiến thức hạt nhân không thể học được ngay một sớm một chiều; Đào tạo tự phát trong từng cơ sở không theo một quy hoạch tổng thể ở mức quốc gia.    Kết luận  Đào tạo nhân lực cho hạt nhân  là một vấn đề phức hợp và có tầm quan trọng vào bậc nhất đối với chương trình hạt nhân. Muốn có một nhân lực hạt nhân hùng hậu, và gìn giữ được nhân lực này cần có một chính sách thích hợp. Nhiều nước như Trung Quốc có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với nhân lực hạt nhân. Đào tạo nhân lực hạt nhân phải đặt ở tầm quốc gia, với một mức độ cấp thiết cao và phải được tiến hành ngay từ bây giờ (2007) để đi được trước một bước so với các tiến độ khác của chương trình hạt nhân.Sự thành công của chương trình hạt nhân do yếu tố nhân lực quyết định một phần lớn.                                                                                            ———————–  Tài liệu tham khảo:  1.Đề án đào tạo nhân lực (VNLNT VN-Bộ Khoa học & Công nghệ)  2.Đề án đào tạo nhân lực cho NMĐHN đầu tiên (VNL- Bộ Công Thương)  3.Hợp tác đào tạo nhân lực Hàn-Việt. Hàn Quốc đã góp ý kiến cho Việt Nam bằng cách đưa ra  một khẩu hiệu quan trọng trong việc đào tạo nhân lực hạt nhân: (Giáo dục – Bách niên chi đại kế =  Giáo dục– kế lớn 100 năm)  4.Technical Reports Series No 200, IAEA  ———————  Một số khả năng chính trong vấn đề đào tạo nhân lực Việt Nam ở nước ngoài  1. IAEA  2. Pháp .Địa chỉ gửi đến có thể là INSTN và CNRS. Thời hạn đào tạo : 1-2 năm .  3. Nga. Những địa chỉ quan trọng và đáng tin cậy là:MIFI, MPEI & Joint Institute for Nuclear Research (Viện nghiên cứu hạt nhân Đúp Na, đã từng đào tạo nhiều chuyên gia đầu ngành cho Việt Nam). Với Nga, chúng ta đã có hiệp định ở cấp Chính phủ.  4. Nhật Bản. Địa chỉ gửi đến: IOT (Institute of technologies), văn bản khung đã ký kết năm 2003. RIKEN, chương trình hợp tác đã ký kết và thực hiện từ năm 2001.JAERI.  5. Hàn Quốc. Địa chỉ gửi đến :KAERI, KAIST (Korea Advanced Institute of Science & Technology)  Đã có hiệp định cấp Chính phủ về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử .  6. Ấn Độ. Đã có Hiệp định cấp Chính phủ về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử . Có thể gửi cán bộ đi đào tạo trên một năm theo các chuyên môn: Công nghệ, Chu trình nhiên liệu, …Các địa chỉ: BARC, Bhabha Atomic Research Centre, Bombay ,HYDROBAT (tổ hợp chu trình nhiên liệu)  7. Canada.Đã có thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân.Địa chỉ: AECL  8. Mỹ. Đã có hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ.  ———————-  ảnh trên cùng: Tác giả tại Hội nghị khoa học thanh niên, Viện Năng lượng Nguyên tử      Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên lý đột sinh với vật lý hiện đại      &#160;Theo một trong ba tác giả, Robert Laughlin, giải Nobel vật lý năm 1998: đột sinh (emergence) là nguyên lý cấu trúc vật lý theo đó xuất hiện những định luật mà ta không thể suy diễn từ những nguyên lý vật lý cơ bản hơn. Quan điểm đột sinh của Robert Laughlin được nhiều nhà khoa học chia sẻ, tạo nên một nguyên lý khoa học mới có khả năng làm lung lay cơ sở vật lý hiện đại.    1.  Nguyên lý đột sinh  Các nhà khoa học theo quan điểm đột sinh (tiêu biểu là Robert Betts Laughlin-hình 1)  muốn phủ nhận  quy giản luận (reductionism) là luận thuyết quy mọi hành xử của thế giới về một số định luật cơ bản. Danh từ đột sinh do George Henry Lewes đưa ra năm 1875. Theo quan điểm đột sinh thì vật lý giống như một con búp bê Nga nhiều lớp (xem hình 2), ứng với mỗi lớp tổ chức chúng ta có những định luật riêng.                 Hình 2 . Hình ảnh cấu trúc của vũ trụ theo nguyên lý đột sinh là con búp bê nhiều lớp của Nga, mỗi lớp  là một con búp bê rỗng để có thể bỏ lồng con búp bê này vào con búp bê lớn hơn tiếp theo.          Một khoa học dựa trên nguyên lý đột sinh sẽ đặt trọng tâm vào những hiện tượng  thuộc phạm vi  khả năng lý thuyết và thực nghiệm của chúng ta.  2. Quy giản luận (reductionism)  Quy giản luận (reductionism-nhiểu tác giả còn dùng từ reductivism) là luận thuyết nhằm giải thích mọi hiện tượng trong thiên nhiên bằng những quy luật cơ bản nằm ở lớp cơ sở. Ý tưởng quy giản luận xuất phát từ  Descartes (phần V tác phẩm Discourses – 1637). Quy giản luận  chứa những luận thuyết tương tự như  vật lý luận (physicalism) là luận thuyết quy mọi khoa học về vật lý. Hình 3 mô tả một rôbốt thực hiện tinh thần quy giản luận.  Có thể nêu một ví dụ về lối tiếp cận trong quy giản luận: mọi hiện tượng tâm lý sẽ được quy về một quá trình  hoạt động của thần kinh hệ (neurophysiology), hoạt động này lại được quy về một quá trình sinh hóa (biochemistry) rồi về một quá trình hóa học và sau cùng quy quá trình hóa học này về một quá trình vật lý.  Các luận thuyết đối ngược với quy giản luận là các luận thuyết như đột sinh (emergence) và tổng thể luận (holism-luận thuyết cho rằng tổng thể lớn hơn tổng cộng các thành phần – Aristote).    3.  Thiên nhiên là một cái giếng không đáy?  Theo nguyên lý đột sinh thì không có một lý thuyết vật lý nào là cơ bản cả.  Cấu trúc của thiên nhiên  không có  lớp đầu tiên và cũng  không có những thực thể cơ bản ban đầu.  Năm 2005 , Robert Laughlin, giải Nobel 1998, công bố  cuốn sách “Một vũ trụ khác-Un Univers different ” gây nên một một làn sóng tranh luận sôi nổi trong giới khoa học. Trong cuốn sách nói trên, tác giả đưa ra quan điểm mọi định luật về thiên nhiên đều là “đột sinh”. Các định luật ở một lớp trên là hệ quả của một hành xử tập thể ở  lớp ấy và thực chất không phụ thuộc vào các định luật điều khiển thiên nhiên ở lớp dưới. Nếu không quan niệm rằng số lớp là vô cùng thì phải mặc nhận tồn tại một lớp đầu tiên mà các định luật của nó không thể đột sinh từ một lớp dưới nữa! Như thế theo nguyên lý đột sinh ta có thể hình dung thiên nhiên như một cái giếng không đáy.  Lý thuyết của Robert Laughlin có thể xem là đối cực của  quy giản luận. Như đã nói trên theo quy giản luận, mọi đa dạng của thế giới có thể giải thích nhờ một số những định luật cơ sở và một số nhỏ hữu hạn  những thực thể cơ bản. Nhà vật lý người Pháp Jean Perrin đã tóm tắt mục tiêu của quy giản luận như sau: giải thích cái phức tạp hữu hình bằng cái đơn giản vô hình” và xem sự đơn giản đầu tiên là dấu hiệu của sự thật.               Con vịt  rôbốt  thiết kế bởi Jacques de Vaucanson, thế kỷ XVIII  để thể hiện quan điểm “cơ túy-mécaniste” cho rằng sự sử dụng nhiều linh kiện cơ học có thể thực hiện được mọi vật quan sát được trong thiên nhiên.           Quy giản luận bắt đầu từ lý thuyết nguyên tử Hy lạp cổ và cũng thành công trong việc giải thích các chất khí , chất lỏng nhờ luận điểm cho rằng các chất đó được cấu thành bởi những hạt đứng cách xa nhau ít nhiều trong chân không. Song quy giản luận cũng chỉ dừng đến đó và không phát triển xa hơn được nữa.  Mãi đến thế kỷ XIX người ta mới quan niệm được nhiệt độ và áp suất là hệ quả hành xử thống kê của một tập lớn các phân tử dẫu rằng mỗi phân tử tuân theo các định luật cơ học cổ điển.  Hơn nữa tồn tại một khoảng cách lớn giữa quy giản luận dựa trên lý thuyết nguyên tử và sự hình thành thế giới của sự sống. Sự sống có những định luật riêng của nó không suy được từ lý thuyết nguyên tử (một trong những luận thuyết theo quan điểm đó là luận thuyết về sức sống-vitalism- cho rằng sự sống tuân theo những quy luật riêng không thể chỉ quy về các quá trình hóa học và vật lý được – Paul Joseph Barthez,1806).  Người ta chỉ giữ lại được từ  quy giản luận quan điểm cho rằng trong thế giới tồn tại những vật thể vi mô tuân theo những định luật nhất định.  Theo quan điểm đột sinh, khi  nói rằng thiên nhiên là một cái giếng không đáy sâu đến vô cùng, người ta cũng muốn hàm ẩn thêm hai ý tưởng sau:  a  .  Những nghiên cứu vật lý  không có điểm dừng xác định trước được,  b  .  Mọi nghiên cứu ở một lớp không thể tách rời với trình độ, khả năng tính toán và thực nghiệm của chúng ta.    4.  Các định luật đột sinh.  Hai khả năng có thể xảy ra:  a  /  Các định luật đột sinh không thể suy từ các định luật của lớp cơ bản. Như thế các định luật đột sinh ở một lớp trên là độc lập với các định luật ở lớp dưới và có một tính tự trị (autonomie) nào đó.  b  /  Nếu chỉ vì sự hạn chế của  toán học  mà chúng ta không thể suy các định luật đột sinh từ những định luật cơ bản (kể cả sử dụng máy tính) thì các định luật mà chúng ta gọi là đột sinh chẳng qua chỉ thuộc một tập con của các định luật cơ bản.  Sau đây chúng ta sẽ thấy dường như khả năng thứ nhất là gần với sự thật của vật lý học.    5  .  Vật lý thống kê  Vật lý thống kê chứng tỏ rằng các định luật nhiệt động học mô tả  cách hành xử không trật tự của tập lớn các phân tử. Các phân tử riêng lẻ có tuân theo hay không các định luật tất định, điều đó không quan trọng: điều quan trọng để suy ra các định luật nhiệt động học vĩ mô là các phân bố thống kê (như phân bố Gibbs, Maxwell, Boltzmann, Fermi, Bose) tương ứng với những quá trình  vi mô không trật tự.              Claude Monet : Khu vườn của Monet ở Giverny (ấn tượng chủ nghĩa)          Cuối  năm 1920,  thuyết lượng tử cho phép người ta tin rằng không những các định luật nhiệt động học mà cả cơ học cổ điển cũng đột sinh từ cơ sở các định luật lượng tử vốn là một lý thuyết không tất định (indéterminisme) vi mô. Từ đó một kết luận: các định luật đột sinh cũng dựa trên cơ sở của một số định luật cơ bản, song thể hiện ra dưới nhiều hình thức rất khác nhau. Điều này làm thành một hố ngăn cách giữa các lớp vì sự hiểu biết các định luật đột sinh không cho phép tái lập các định luật cơ bản. Một ví dụ là Stephen Wolfram đã chứng minh rằng các định luật vĩ mô về nhiệt hoặc thủy động học mà người ta nghĩ rằng có nguồn gốc từ các định luật vi mô của cơ học cổ điển hoặc lượng tử đều  có thể suy ra từ một mô hình rất đơn giản của mạng lưới các tế bào autômát [2].    6.  Nguyên lý “bảo vệ ( protection)”  Qua những điều vừa trình bày chúng ta thấy các định luật đột sinh bị tách rời  khỏi các định luật cơ sở mà chúng ta có thể hình dung đến. Các định luật đột sinh ổn định đối với  các giả định khác nhau về phương án các định luật cơ sở. Người ta nói rằng chúng được bảo vệ đối với tính đa dạng  của các phương án cơ sở giả định. Đối với nhiều nhà khoa học theo lý thuyết đột sinh thì thậm chí các định luật mà chúng ta xem là cơ bản như các định luật hấp dẫn, điện từ cũng là những định luật đột sinh.  Song các định luật ở lớp đột sinh và ở lớp dưới có thể có sự tương tự hình thức (analogie formelle). Một số định luật của môi trường  đông đặc (mà chúng ta xem là đột sinh) tương tự với các định luật của vật chất cơ bản (mà chúng ta xem là cơ sở). Ví dụ phonon (trong môi trường  đông đặc) tương tự như photon (trong chân không, môi trường cơ bản), các lỗ trống trong các giải phổ bán dẫn tương tự với các positron trong lý thuyết Dirac. Vậy có chăng một sự “đồng dạng” các định luật ở các lớp? hay nói cách khác có chăng một nguyên tắc thống nhất để thiết lập các định luật ở các lớp khác nhau?    7.  Lý thuyết trường lượng tử  Lý thuyết trường lượng tử (LTTLT) là lý thuyết kết hợp lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối (hẹp). LTTLT xây dựng trên tương tác vi mô của các hạt cơ bản và cho những kết quả quan sát được với độ chính xác cao đáng ngạc nhiên (ví dụ dịch chuyển Lamb [2] quan sát được năm 1947-48).  Vậy đây có phải là một lý thuyết thuộc quy giản luận và là một ví dụ chống lại quan điểm đột sinh?  Song đi sâu vào LTTLT người ta thấy một lỗ hổng lớn: đó là sự tồn tại những đại lượng lớn vô cùng phát sinh trong quá trình tính toán. Muốn thu được những kết quả so sánh được với thực nghiệm người ta phải tìm cách loại bỏ những đại lượng vô cùng đó. Thuật toán này được gọi là “tái chuẩn hóa”.  Nội dung thực chất  là cần phải cắt ngưỡng năng lượng tại một trị số nào đó. Như vậy dưới ngưỡng năng lượng đó thì LTTLT đúng còn trên ngưỡng năng lượng đó thì chưa có lý thuyết để mô tả hiện tượng.  Vậy vùng năng lượng thấp dưới ngưỡng thuộc về một lớp cấu trúc đột sinh. Dưới lớp này là vùng năng lượng cao hơn ngưỡng nói trên.               Robert Betts Laughlin (sinh: 1/tháng 11/1950), Đại học Stanford, giải Nobel vật lý năm 1998 (cùng với Horst L.Stormer & Daniel C.Tsui) về hiệu ứng Hall phân số lượng tử.          Như vậy LTTLT với thuật tái chuẩn hóa phải xem là một lý thuyết đột sinh. Trong những năm gần đây có một sự thay đổi trong thái độ của các nhà vật lý đối với vật lý các hạt cơ bản, dẫn đến việc hiểu các lý thuyết trường lượng tử như là những lý thuyết trường hiệu dụng (EFT-Effective Field Theories).Trong LTTLT tái chuẩn hóa người ta thực chất đã làm việc với những trường hiệu dụng.  Hiện tại lý thuyết siêu dây có tham vọng tìm một lý thuyết cho tất cả xuất phát từ một thực thể cơ bản là một dây vi mô theo tinh thần quy giản luận. Cần chứng minh rằng lý thuyết không cần tái chuẩn hóa, hay nói cách khác lý thuyết tự động loại bỏ mọi phân kỳ ngoài ra cần tìm ra những cơ sở thực nghiệm chứng minh sự đúng đắn của lý thuyết (hiện nay chưa có cơ sở thực nghiệm nào như thế).  Nhiều tác giả khác ngã theo lý thuyết đột sinh: không có định luật nào là cơ bản có chỉ có những định luật đột sinh. Lý thuyết này là một thách thức quan trọng đối với vật lý học hiện đại và đối với triết học.    8.  Lý thuyết đột sinh trong  những lĩnh vực khác  Robert Laughlin, nhà vật lý giải Nobel, là một trong những nhà khoa học ủng hộ mạnh mẽ thuyết đột sinh. Robert Laughlin quan niệm rằng thiên nhiên chứa đầy những vật thể có thể so sánh với những bức tranh phái ấn tượng chủ nghĩa (impressionisme). Robert Laughlin nêu một ví dụ: bức tranh Khu vườn của Monet ở Giverny (hình 4). Trong tranh này không có nét vẽ chỉ có những vết màu chấm phá, các vết màu này không thể hiểu là hoàn chỉnh theo một ý nghĩa nào đó được, song khu vườn đã xuất hiện hoàn chỉnh, đã đột sinh từ những vết màu chấm phá đó. Đây là một đặc trưng của đột sinh: sự hoàn chỉnh đột sinh  từ sự không hoàn chỉnh ( la perfection émerges  de l’ imperfection) tương tự như  trật tự đột sinh từ bất trật tự.  Có thể chứng minh rằng các nguyên tử kết thành tinh thể vì chúng tương tác với nhau ở mức vi mô. Song không thể chứng minh vì sao sự kết thành đó lại hoàn chỉnh mà sự sắp xếp hoàn chỉnh các nguyên tử lại rất quan trọng, vì không hoàn chỉnh  thì tinh thể không bền cứng được. Điều này chứng tỏ quy giản luận không hoạt động ngoài một phạm vi nhất định.  Ngay cả trong vật lý các hạt cơ bản vốn là một lĩnh vực mang tính quy giản luận cao thì cách tiếp cận suy cho cùng cũng mang tính hiện tượng luận. Trong hóa học nếu ta sử dụng thuần túy cơ học lượng tử thì ta không tính được mọi kết quả các phản ứng (ngoại trừ một số trường hợp rất đơn giản).  Robert Laughlin đoạt giải Nobel năm 1998 về hiệu ứng Hall phân số lượng tử (các electron trong vật liệu có thể có điện tích phân số, không nguyên) đã phát biểu rằng chính nguyên lý đột sinh đã giúp ông  đi đúng hướng khi sử dụng ý tưởng về chất lỏng lượng tử, một ý tưởng có tính đột sinh và nhờ đó tìm ra hiệu ứng Hall nói trên.  Đặc biệt trong sinh học người ta sử dụng rộng rãi tiếp cận đột sinh. Nhiều nhà vật lý lầm tưởng rằng họ có thể suy diễn sinh học bằng những phương pháp quy giản luận, cho nên các nhà vật lý thường là những nhà sinh học tồi (pietre biologiste).  Lý thuyết Bigbang thực chất là một ý tưởng mang tính đột sinh. Người ta không thể suy Bigbang từ  những phương trình. Bigbang có thể đã tạo ra nhiều vũ trụ song song, ở đấy các hằng số vật lý có thể khác nhau dẫn đến những định luật khác nhau, cho nên vũ trụ   không phải là hệ quả của một quy trình tất định  mà là hệ quả của nhiều yếu tố mang tính ngẫu hợp (contingent) liên quan đến quá trình tự tổ chức (auto-organisation) của vật chất.  Nhiều hiện tượng có bản chất xa nhau có thể có cùng một cơ chế. Hãy lấy hiện tượng từ hóa (aimantation) và hiện tượng dịch bệnh. Trong hiện tượng từ hóa các nguyên tử gần nhau tương tác với nhau và dẫn đến một trật tự từ hóa trong một khoảng cách nào đó. Song đến một lúc quá trình chuyển pha (loại hai) phát sinh hay nói cách khác đột sinh, tại đó hàm liên kết trở nên rất lớn và hệ “mất ký ức “ về cấu trúc vi mô của mình để biểu hiện một liên kết vĩ mô ở khoảng cách lớn (the system near the second order phase transition “loses memory” of  its microscopic structure and begins to display new long-range macroscopic correlations) [4]. Trong dịch bệnh một số người tiếp xúc gần với con bệnh sẽ bị lây nhiễm sau đó truyền bệnh cho một số ngưòi khác trong một phạm vi nhất định và đến một lúc thật sự dịch bệnh mới bùng phát tương ứng với quá trình chuyển pha (loại  hai) trong từ hóa của vật lý.  Như vậy có những tính chất phổ quát trong sự phát sinh những định luật đột sinh ở nhiều hiện tượng khác nhau không cùng một bản chất.    9.  Kết luận  Nguyên lý đột sinh tỏ ra có nhiều ưu thế trong vật lý khi người ta bắt đầu nhận thức được  cấu trúc nhiều lớp của vật lý. Song liệu có phải vì  toán học không bao giờ  đủ mạnh [5] mà chúng ta không thể suy các định luật đột sinh từ những định luật cơ bản (kể cả sử dụng máy tính)? hay chính đây là bản chất sâu xa của nguyên lý đột sinh?      CC. biên dịch     Tài liệu gốc, tham khảo và chú thích  [1]      Michel Bitbol, Robert Laughlin, Cécile Michaut, La Recherche số 405, tháng hai/2007  [2]     Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS  ON LINE, 2007           CC., Một loại hình khoa học mới: 256 quy tắc để hiểu toàn bộ thế giới thực tại?           Tia Sáng số 8- 20/4/2007  [3]     Dịch chuyển Lamb là sự khác nhau giữa hai mức năng lượng đặc biệt do electron            tương tác với chân không  chỉ  tính được nhờ LTTLT.  [4]     Rajesh R. Parwani, usprrp@nus.edu.sg            CC., Khoa học phức hợp-khoa học của thế kỷ 21,Tia Sáng số 16- 20/8 /2007  [5]     CC., Có thể hiểu vũ trụ? Tia Sáng số 17 – 05/09/2006  Michel Bitbol, Robert Laughlin, Cécile Michaut [1]     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên lý toàn ảnh: Nguyên lý mới trong vật lý lượng tử      Như chúng ta biết trong quang học có phương pháp ghi một vật thể 3 chiều bằng một ảnh 2 chiều (hologram). Kỹ thuật này gọi là holography (phương pháp toàn ảnh). Chữ holography có gốc từ tiếng Hy Lạp ¼êì holos – whole, toàn thể + íôÞ graphe – writing, ghi ảnh. Đây là một phương pháp chụp ảnh hiện đại. Holography được sáng chế năm 1948 bởi nhà vật lý người Hung Dennis Gabor (1900-1079), nhờ thành tích này ông được nhận giải Nobel năm 1971. Vì sao mà nguyên lý toàn ảnh trở nên quan trọng cho vật lý lượng tử? Vì bài toán lớn nhất hiện nay của vật lý lượng tử là thống nhất được hai lý thuyết lớn nhất của thời đại: lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối rộng. Mà nguyên lý toàn ảnh nói trong bài này có hy vọng là một phương án để làm được điều đó!    Nguyên lý này trước tiên do Gerard ‘t Hooft đưa ra vào năm 1993, sau đó được thiết lập trong một trường hợp cụ thể bởi Maldacena (đại học Harvard) vào năm 1997. Công trình của Maldacena gây một tiếng vang lớn trong giới vật lý lý thuyết, trong vòng 5 năm công trình của Maldacena được trích dẫn trên 5000 lần và được xem như một bước đột phá về quan niệm, tạo nên một cách nhìn mới đối với hấp dẫn và lý thuyết trường lượng tử.  Trước hết chúng ta hãy nhớ lại phương pháp chụp toàn ảnh (holography).  Hologram là một ảnh 2 chiểu (2-D), song khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh 3 chiều (3-D) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3-D đều được mã hoá trong mặt biên 2-D. Như vậy chúng ta có hai thực tại 2 chiều và 3 chiều tương đương với nhau về mặt thông tin (xem hình 1).            Hình 1 . Holography trong quang học        Nguyên lý tương đối của Einstein dẫn đến công thức E = mc 2 và không-thời gian 4 chiều, nguyên lý bất định Heisenberg chi phối hành vi của thế giới vi mô, nguyên lý tương đương quán tính và trọng lượng dẫn đến lý thuyết tương đối rộng.  Nguyên lý toàn ảnh có thể sẽ đi một  lộ trình tương tự như lộ trình của các  nguyên lý trên. Nguyên lý holographic mà chúng ta sẽ đề cập trong bài này sẽ góp phần mở đường cho việc xây dựng một lý thuyết hấp dẫn lượng tử.  Vậy ý tưởng chính của nguyên lý này là gì? Có thể tóm tắt như sau: thông tin của một vùng không gian có hấp dẫn có thể mã hoá  không có hấp dẫn trên mặt biên của vùng không gian đó, nói cách khác có thể thiết lập một mối tương quan giữa các đại lương trên mặt biên với các đại lượng trong vùng.  Yếu tố quan trọng  ở đây là thông tin.  Từ kỹ thuật đến sinh học, vật lý, thông tin đóng vai trò quan trọng. Các protein không thể nào tổng hợp được nếu không có thông tin từ DNA. John A.Wheeler, đại học Princeton cho rằng thế giới vật lý được làm bằng thông tin, với năng lượng và vật chất là những yếu tố dẫn!  Và đối tượng xuất phát ở đây là các lỗ đen.  Hai loại entropy (thống kê & thông tin) [1] &[2]  Khi nghiên cứu những tính chất kỳ lạ của lỗ đen [5&6], các nhà vật lý đã suy ra giới hạn giam giữ thông tin của một vùng không gian hoặc của một lượng vật chất và nănglượng. Những kết quả thu được chứng tỏ rằng các mô tả không gian 3 chiều có thể thực hiện trên một mặt 2 chiều , giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram) trong không gian 2 chiều có thể chứa tất cả thông tin của một vật thể 3 chiều. Nhận thức của chúng ta về thế giới 3 chiều có thể chỉ là một ảo ảnh sâu đậm, hoặc đấy chỉ là một trong hai cách nhận thức thế giới khách quan.                   Entropy của một lỗ đen tỷ lệ với diện tích bề mặt của chân trời sự cố (tức ranh giới có vào mà không có ra đối với mọi vật, kể cả ánh sáng khi rơi vào lỗ đen). Một lỗ đen với diện tích chân trời là A (trong đơn vị diện tích  Planck = 10 – 66 cm 2) sẽ có A /4 đơn vị entropy. Xét từ quan điểm thông tin  diện tích chân trời được phủ bởi các bit 1 và 0, mỗi bit chiếm 4 đơn vị diện tích Planck.          Năm 1948 nhà toán học người Mỹ Claude E. Shannon đã đưa vào thông tin khái niệm entropy. Entropy thông tin trong một thông điệp là số bit cần thiết để mã hoá thông điệp đó.Khái niệm entropy của Shannon làm xích gần vật lý thống kê với thông tin.  Một đối tượng quan trọng trong việc nghiên cứu entropy là lỗ đen. Như chúng ta biết entropy không giảm (định luật 2 nhiệt động học).  Jacob Bekenstein chứng minh rằng khi một lượng vật chất rơi vào lỗ đen thì entropy của lỗ đen tănglên để bù trừ vào  entropy do lượng vật chất mất đi. Nói cách khác entropy của lỗ đen và vật chất chung quanh không giảm, đó là định luật 2 nhiệt động học tổng quát   (GSL- generalized second law).  Năm 1970 Hawking & Demetrious Christodoulou (đại học Princeton) độc lập với nhau chứng minh rằng A – diện tích lỗ đen (ở chân trời [4]) không giảm theo thời gian: t2 > t1  A(t2)  A(t1), từ đó Jacob Bekenstein có cơ sở để đồng nhất entropy với A (với một hệ số là1/4), xem hình 2.  Song lỗ đen có bức xạ Hawking, vậy khối lượng giảm do đó A giảm, vậy entropy giảm? Thực tế entropy của bức xạ sẽ bù trừ sự giảm của entropy của lỗ đen, vây GSL vẫn đúng!  Susskind xét một hệ không phải là lỗ đen và có diện tích mặt ngoài là A’, nếu hệ này co thành lỗ đen thì sẽ có A’  A < A’, song theo GSL thì entropy không giảm vậy entropy của hệ (nếu khônglà lỗ đen) với mặt biên A’ nhất thiết phải nhỏ hơn  A’/4.  Ta thu được một kết quả đáng kinh ngạc: thông tin của hệ chỉ phụ thuộc vào diện tích mặt biên (mà không phụ thuộc vào thể tích của hệ)!  Năm1993 Gerard ‘t Hooft đề ra nguyên lý holographic: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý n-D trên mặt biên (không gian n chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1)-D của hệ nằm trong mặt biên (không gian n+1 chiều).  Theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn!  Năm 1997, tác giả Maldacena (đại học Harvard) đã thực hiện nguyên lý holography nhờ thiết lập mối quan hệ sau:  Một vũ trụ mô tả bởi lý thuyết siêu dây  (như vậy có hấp dẫn) trong một không-thời gian anti-de Sitter 5 chiều  tương đương với một lý thuyết trường lượng tử (không chứa hấp dẫn) trên mặt biên 4 chiều của không-thời gian đó (xem hình 3).                Không gian hyperbolic mô tả bởi hoạ sĩ M.C. .Escher. Các con cá đều có kích thước bằng nhau song những con ở xa bị nén  lại . Vòng tròn biên mô tả biên ở vô cực.    Nếu các con cá không bị nén lại  thì  không gian không bị biến dạng và ta có hình một yên ngựa với nhiều nếp gấp như  bức tranh ở phía dưới đây.           Một bài toán khó giải trong 5 chiều lại có thể trở nên dễ giải trong 4 chiều và ngược lại.  Không gian anti-de Sitter là gì?  Đó  là lời giải có đối xứng cao của phương trình Einstein  và với hằng số vũ trụ âm. Không gian anti-de Sitter là một không gian hyperbolic và có độ cong âm. Mặt cầu là một không gian có độ cong dương, mặt có hình yên ngựa là ví dụ của một không gian có độ cong âm.  Giả thuyết về nguyên lý holographic bây giờ được phát biểu như sau: lý thuyết lượng tử hấp dẫn ở vùng trong của không gian anti-de Sitter là hoàn toàn tương đương với lý thuyết lượng tử của các hạt nằm trên vùng mặt biên. Như vậy từ mặt biên đi vào vùng trong của không gian anti-de Sitter ta thấy số chiều tăng lên ứng với sự xuất hiện của những tuơng tác khác như hấp dẫn,…  Không gian anti-de Sitter dưới con mắt của hoạ sĩ M.C. Escher [2]  Không gian anti-de Sitter mặc dầu là vô hạn song lại có một “biên” tại vô cực. Hoạ sĩ Escher [4] đã nén khoảng cách vô cực đó thành một biên hữu hạn đó là vòng tròn biên ( vòng tròn này sẽ là một mặt nểu ta xét không-thời gian 4 chiều). Sau đây là bức tranh của M.C.Escher mô tả một không gian với độ cong âm bị ép dẹt xuống một mặt phẳng (xem hình 4.1 và 4.2).  Không gian đơn giản với độ cong âm là không gian anti-de Sitter. Khác với vũ trụ của chúng ta vốn đang giãn nở, không gian anti-de Sitter ứng  với một vũ trụ không co không nở. Song không gian anti-de Sitter lại rất hữu ích cho việc xây dựng một lý thuyết luợng tử cho hấp dẫn.  Vật lý trong không gian anti-de Sitter có những tính chất đặc biệt. Nếu chúng ta đang lơ lửng đâu đó trong không gian anti-de Sitter thì chúng ta cảm thấy như đang nằm dưới một đáy hấp dẫn. Một vật ném đi sẽ quay lại như một chiếc boomerang. Nếu chúng ta gửi một đi một chùm photon (chuyển động với tốc độ ánh sáng) thì chùm photon sẽ đến vô cực rồi quay trở lại trong một thời khoảng hữu hạn.  Bây giờ chúng ta hãy xét thêm thời gian. Hình 5 mô tả một không -thời  gian anti-de Sitter duới dạng một chồng đĩa, mỗi đĩa là hình tròn của Escher biểu diễn vũ trụ tại một thời điểm, chiều cao biểu diễn thời gian.  Như chúng ta biết lỗ đen có bức xạ gọi là bức xạ Hawking xảy ra ở một nhiệt độ nào đó. Vậy nhiệt độ của lỗ đen là gì? Theo nhiệt động học ta phải biết các yếu tố  vi mô của lỗ đen để có thể tính được nhiệt độ. Đối với một lỗ đen trong không gian anti-de Sitter, nhờ nguyên lý holographic thì  lỗ đen sẽ ứng với cấu hình các hạt nằm trên biên.  Do đó các nhà vật lý lý thuyết có thể áp dụng lý thuyết  thống kê lượng tử để tính nhiệt độ và điều kỳ diệu là kết quả trùng với các kết quả tính toán của Hawking bằng những phương pháp khác.     Trong không gian 4 chiều thì đường biên sẽ là một mặt cầu thay vì một đường tròn như trong hình vẽ.              Hãy hình dung  một chồng đĩa, mỗi đĩa là một không gian hyperbolic  mô tả vũ trụ ở một thời điểm và là một vòng tròn theo tranh vẽ của Escher. Chiều cao của chồng đĩa mô tả thời gian.Trong không gian này một vật (như quả bóng màu xanh) ném đi sẽ rơi xuống trong một thời hạn nhất định. Song nếu một tia laser (màu đỏ) được phát đi thì nó sẽ đến đường biên ở vô cực và quay lại trong một thời hạn bằng thời hạn lúc đi đến biên.          Đàm Sơn, đại học Washington nghiên cứu độ nhớt trong lỗ đen và kết quả cho thấy độ nhớt này là nhỏ! Có thể kiểm tra điều này chăng? Theo lý thuyết holographic thì trên biên ta sẽ có sự va chạm của các hạt, sự va chạm này tạo nên một loại chất lỏng với độ nhớt cũng rất nhỏ, phải chăng kết quả này (có thể kiểm nghiệm trên máy RHIC -Relativistic Heavy Ion Collider – Máy va chạm ion nặng tương đối tính  ở Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven) đã chứng tỏ sự tồn tại chiều thứ năm thuộc vùng trong của không gian anti-de Sitter?  Kết luận  “Nguyên lý toàn ảnh là một hệ mẫu (paradigm) mới, một con đường tư duy mới”, nhà vật lý Willy Fischler (đại học Texas) đã phát biểu như vậy.  Leonard Susskind (đại học Stanford) cho rằng nguyên lý toàn ảnh  có liên quan mật thiết đến lý thuyết siêu dây, một lý thuyết ứng viên cho TOE (Theory Of Everything-lý thuyết của tất cả).  Như chúng ta biết bài toán nghịch lý về thông tin trong lỗ đen có thể xem như được sáng tỏ phần nào.Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng mọi thông tin trong lỗ đen giờ đây được mã hoá trên diện tích chân trời.  Một vũ trụ đang nở như vũ trụ của chúng ta không có được một đa tạp biên xác định như trong không gian anti-de Sitter, nhưng nhiều tác giả đã đưa ra các giả thuyết để có thể áp dụng được nguyên lý toàn ảnh (Bousso, Susskind, Fischler cho rằng có thể hiểu nguyên lý toàn ảnh như điều kiện hạn chế thông tin chứa trong một vùng không gian không lớn hơn thông tin mã hoá trên mặt biên)[3].   Nguyên lý  holographic đã vén mở một góc khác của bức màn để lộ một con đường xây dựng  lý thuyết hấp dẫn lượng tử nhằm  thống nhất lý thuyết lượng tử và lý thuyết hấp dẫn.Nguyên lý toàn ảnh đã giúp chúng ta hiểu thêm các tính chất của không-thời gian, của bản chất hấp dẫn trong vật lý hiện đại (chúng có thể liên quan đến vấn đề triết học).  Cao Chi lược thuật  Tài liệu tham khảo  [1] Jacob Bekenstein, Scientific American, tháng 8, 2003.  [2] Juan Maldacena,  Scientific American, tháng 11, 2005.  [3] Andrei Linde (Stanford) cho rằng nguyên lý toàn ảnh không phải là phổ cập.  [4] Cao Chi, Suy nghĩ về đối xứng, Einstein-Dấu ấn trăm năm, Tia Sáng, 2005.  [5] Cao Chi, Tổng quan về lỗ đen trong vũ trụ, Vật lý ngày nay, tháng 10, 2004.  [6] Cao Chi, Tia Sáng, số 2+3,  2006.  Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải mã nguyên nhân hậu COVID      Từ khắp nơi trên thế giới, nhiều nhóm nghiên cứu đang tập trung giải mã nguyên nhân của chứng bệnh nguy hiểm và bí ẩn mà đại dịch đang để lại, cũng như các hướng điều trị tiềm năng nhất.    Gần 2 năm trước ở Ý, bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm Danilo Buonsenso tại Bệnh viện Đại học Gemelli, bắt đầu khám phá những đứa trẻ từng nhiễm SARS-CoV-2 vài tháng trước đó, nhưng vẫn còn khó thở, mệt mỏi và khác chứng chỉ. Ngày nay, tất cả các chứng chỉ này được xác định là COVID hậu và các nhà nghiên cứu đồng ý rằng COVID hậu không có một đơn lẻ nhân nguyên.    The small stone    Ở Rome, Buonsenso đang sử dụng một kỹ thuật hình ảnh y tế phức tạp, SPECT-CT, để hiểu rõ hơn về vai trò của cục máu đông. SPECT-CT kết hợp hai loại hình ảnh khác nhau: chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon – sử dụng cảm biến bức xạ được tiêm vào tĩnh mạch của một người để cung cấp hình ảnh về lưu lượng máu, và chụp CT tiêu chuẩn để biết thông tin về cấu trúc phổi. Kết hợp hai hình ảnh này, các bác sĩ có thể quan sát phần nào của phổi không nhận được lưu lượng máu bình thường.        Đến nay, Buonsenso đã quét phổi của 11 thanh niên mắc chứng hậu COVID nghiêm trọng, bao gồm nhịp tim không đều và khó thở khi tập thể dục. Ở 6 người, phổi có vẻ bình thường. Trong 5 người còn lại, những hình ảnh rất nổi bật: Những vị trí trên phổi đáng lẽ phải có màu cam và vàng tươi, biểu thị máu đang chảy, thì gần như hoàn toàn màu xanh lam, cho thấy có rất ít máu. Buonsenso tin rằng các cục máu đông nhỏ hoặc tổn thương mãn tính ở niêm mạc mạch máu có thể làm suy giảm lưu lượng máu lưu thông. Nhóm đã công bố bằng chứng đầu tiên của họ về những tổn thương như vậy, ở một bé gái 14 tuổi, vào tháng 7/2021 trên tạp chí The Lancet Child & Adolescent Health.    Câu hỏi là phải làm gì tiếp theo. Bệnh nhân của Buonsenso không đáp ứng các tiêu chí để dùng thuốc ngăn ngừa cục máu đông hoặc ngăn không cho cục máu đông tích tụ lớn hơn, vì phim chụp cắt lớp của họ không cho thấy máu đông.    Đối mặt với những đứa trẻ bị bệnh nặng và cha mẹ tuyệt vọng của chúng, Buonsenso lựa chọn không chờ đợi thử nghiệm lâm sàng. “Bạn có thể nói ‘Xin lỗi tôi không thể làm gì ngoài nghiên cứu’ hoặc cùng với bệnh nhân và gia đình đưa ra quyết định,” Buonsenso nói. Ông và các gia đình đã quyết định làm những gì họ có thể. Tất cả 5 bệnh nhân hiện đang dùng thuốc chống đông máu – do đó có nguy cơ chảy máu nghiêm trọng – dưới sự theo dõi chặt chẽ, và sức khỏe đang dần tiến bộ.    Chưa thể chắc chắn sức khỏe của nhóm này được cải thiện do phương pháp điều trị chống đông máu, vì vậy Buonsenso đang hy vọng có các nguồn lực để tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng với giả dược.    Virus sót lại    Giả thuyết virus tồn tại dai dẳng trong cơ thể là thủ phạm của hậu COVID bắt nguồn từ nghiên cứu của Viện Y tế Quốc gia Mỹ. Nghiên cứu này mô tả 44 người đã bị nhiễm bệnh, hầu hết đã chết vì COVID-19. Trong đó đặc biệt có 5 trường hợp tử vong chỉ bị bệnh nhẹ hoặc thậm chí không có triệu chứng, rất có thể đã chết vì một nguyên nhân khác. Tất cả 44 người đều có RNA virus trong não, cơ, ruột và phổi. Nhiều cơ quan khác trong cơ thể cũng có bằng chứng về quá trình tái tạo virus.    Nghiên cứu chỉ ra rằng virus có thể tồn tại dai dẳng, nhưng không tập trung vào những người bị hậu COVID, gây khó khăn cho việc liên hệ giữa hai vấn đề. Các nghiên cứu khác hiện đang cố gắng giải đáp điều này bằng cách so sánh những người bị hậu COVID và các nhóm thuần tập khác, bao gồm cả những người đã khỏi bệnh và không bị hậu COVID.    Nhà tiêu hóa học Herbert Tilg tại Đại học Y khoa Innsbruck tìm kiếm các dấu vết phân tử của virus trong ruột, cơ quan dễ tiếp cận hơn so với nhiều cơ quan khác như phổi hoặc não và được cho là dễ chứa virus hơn máu. Tilg tuyển 46 người đã bị COVID-19 tháng trước đó, 21 người trong số họ có ít nhất một triệu chứng hậu COVID. Kết quả, ruột của tất cả những người có triệu chứng hậu COVID đều chứa RNA hoặc protein của virus; ở nhóm không bị hậu COVID, hầu hết không có virus trong ruột. Ông và các đồng nghiệp đã công bố nghiên cứu vào tháng 5 trên tạp chí Gastroenterology, nhưng lưu ý đây là một quan sát lâm sàng và không chứng minh virus đang gây hại.    Câu hỏi bây giờ là cơ chế gây bệnh của virus sót lại, nếu đó đúng là nguyên nhân của hậu COVID. Nhà vi sinh vật học Mỹ Amy Proal và các đồng nghiệp đang lên kế hoạch soi ruột già của 1.000 người để tìm kiếm virus trong các tế bào ruột, đồng thời xem xét hoạt động của các tế bào miễn dịch cư trú trong khu vực ruột. Chẳng hạn, những tế bào này có đang ở trạng thái cảnh giác cao độ hay không, điều này cho thấy có các phần tử virus đang hoạt động và kích hoạt miễn dịch. Những người tham gia có thể được nghiên cứu trước và sau một đợt dùng thuốc kháng virus, để xem virus trong đường ruột có bị loại bỏ hay không, và các triệu chứng hậu COVID có thuyên giảm hay không.    Rối loạn hệ thống miễn dịch    Một số nhà nghiên cứu tin rằng đây có thể là yếu tố gắn kết tất cả các nguyên nhân của hậu COVID. Nhà miễn dịch học Chansavath Phetsouphanh tại Đại học New South Wales, cho biết ý tưởng là ở bệnh nhân COVID-19, hệ thống miễn dịch bị mất ổn định bởi cuộc tấn công của virus và không ngừng hoạt động.    Để kiểm tra giả thuyết này, ông và các đồng nghiệp thu thập máu từ 31 bệnh nhân hậu COVID, những người đều có biểu hiện mệt mỏi hoặc các triệu chứng đặc trưng khác ít nhất 3 tháng sau khi khỏi bệnh, và phân tích hàng chục dấu hiệu miễn dịch. Kết quả, bệnh nhân hậu COVID có hệ thống miễn dịch luôn ở trạng thái cảnh giác cao, nhóm nghiên cứu đã báo cáo vào đầu năm nay trên tạp chí Nature Immunology.    Các tế bào bạch cầu, có nhiệm vụ gửi các tế bào khác đến các vị trí nhiễm trùng. Điều này có thể giải thích tại sao mức độ interferon của bệnh nhân, loại protein mà cơ thể tạo ra để chống lại mầm bệnh, lại cao ngất ngưởng 8 tháng sau khi nhiễm bệnh. Nhóm bệnh nhân này cũng gặp phải tình trạng khan hiếm tế bào T bất hoạt và tế bào B, một quần thể tế bào thường chờ đợi hướng dẫn để chống lại mầm bệnh. Nói chung, tất cả báo hiệu tình trạng viêm mãn tính do hệ thống miễn dịch hoạt động sai có thể gây ra một loạt các vấn đề sức khỏe.    Phetsouphanh và các đồng nghiệp của ông cũng nhận thấy những dấu hiệu miễn dịch này là độc nhất trong nhóm hậu COVID, và không xuất hiện ở những người đã hoàn toàn hồi phục hoặc nhiễm các virus corona khác.    Các nhóm khác cũng phát hiện ra vô số bất thường về hệ thống miễn dịch sau khi nhiễm SARS-CoV-2. Nhà miễn dịch học Akiko Iwasaki tại Trường Y Yale, nhà thần kinh học Michelle Monje tại Stanford Medicine, và các đồng nghiệp của họ phát hiện: những con chuột được tiêm virus vào mũi, để bắt chước một ca bệnh nhẹ, phát triển chứng viêm trong não và bị mất myelin – lớp bảo vệ các dây thần kinh và giúp chúng truyền tín hiệu. Ở chuột, phản ứng viêm tấn công não mặc dù các nhà nghiên cứu không thể tìm thấy virus ở đó. Hơn nữa, khi nhóm so sánh các mẫu máu của 48 bệnh nhân hậu COVID bị suy giảm nhận thức và 15 bệnh nhân hậu COVID không bị suy giảm nhận thức, họ nhận thấy mức độ viêm cao hơn ở nhóm đầu tiên, cho thấy tình trạng viêm mãn tính có thể dẫn đến các triệu chứng thần kinh này.    Tháng này, Vương quốc Anh sẽ bắt đầu tuyển sinh 4.500 bệnh nhân hậu COVID cho STIMULATE-ICP – thử nghiệm lâm sàng lớn nhất thế giới về chức năng COVID hậu viện pháp. Mỗi người bệnh được ngẫu nhiên chỉ một trong các chức năng pháp lý: một loại thuốc chống đông máu được gọi là rivaroxaban; một chất chống viêm được gọi là colchicine; hoặc một cặp histamine cảm kháng, famotidine và loratadine.    Minh Ngọc    Author                .        
__label__tiasang Nguyên nhân khiến hồ cạn nước      Ngày 27-5 vừa qua, các nhân viên kiểm lâm (Conaf) của Chile đã tình cờ phát hiện hồ Tempanos rộng khoảng 1km2 nằm cách Thủ đô Santiago khoảng 2.000km về phía nam, đã cạn hết nước, để lại một hố sâu 30m, với các tảng băng nằm trơ dưới đáy.    Ông Juan José Romero, giám đốc khu vực của lực lượng Conaf, lúc đó đánh động với mọi người về hiện tượng này vì, theo họ, chỉ mới hai tháng trước băng vẫn nổi lềnh bềnh trên mặt hồ. Cũng như vậy, con sông dài 8km, rộng 40m lấy nước từ hồ đã biến thành một con suối nhỏ có thể lội qua.  Các hãng thông tấn hô hoán ầm lên về chuyện “hồ nước bốc hơi”. Thế nhưng câu trả lời đã có rất nhanh chóng. Ông Carlos Palacios, nhà địa chất của Đại học Chile, cho rằng hiện tượng hồ cạn trơ đáy nhanh chóng rất thường xảy ra trong khu vực này. Giải thích kỹ hơn, ông Palacios cho rằng áp lực của khối nước trong hồ lên đáy hồ (hình dung như một bức tường hình thành từ băng tuyết và đá) khiến đáy hồ có thể nứt ra thành hố sâu rút sạch nước đi. Có thể có tác động không nhỏ từ vụ động đất xảy ra tại vùng Aisén tháng tư vừa qua khiến địa tầng khu vực bị biến đổi.  TÚ ANH (Theo AFP, Romandie)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyễn Sum: Nhà nghiên cứu ở môi trường “tỉnh lẻ”      Khác với ba lần đều trao cho những nhà nghiên cứu làm việc tại các trường đại học và viện nghiên cứu lớn ở Hà Nội, giải thưởng năm 2017 lần đầu tiên thuộc về nhà nghiên cứu của một trường đại học ở một “tỉnh lẻ”, PGS. TS Nguyễn Sum (Khoa Toán, Đại học Quy Nhơn) với công trình “Về bài toán hit của Peterson” (On the Peterson hit problem), một trong những vấn đề trọng tâm của tôpô đại số được xuất bản toàn văn trên tạp chí Advances in Mathematics và các chứng minh chi tiết cho trường hợp k = 4 được xuất bản online trên website arXiv của Đại học Cornell, Mỹ [1]. PGS. TS Nguyễn Sum đã có cuộc trao đổi với tạp chí Tia Sáng về con đường đi đến công trình của mình.      PGS. TS Nguyễn Sum (Khoa Toán, Đại học Quy Nhơn). Ảnh: NVCC.  Bài toán hit Peterson là một trong những vấn đề trung tâm của Tô pô đại số. Vậy đây có phải là lý do chính để ông theo đuổi nó?  Tôi là người nghiên cứu Tôpô Đại số và bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực này từ lúc làm nghiên cứu sinh tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) dưới sự hướng dẫn của GS. TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng và GS. TS Huỳnh Mùi về lý thuyết bất biến modular và ứng dụng của nó trong lý thuyết đồng luân. Tôi đã biết bài toán hit của Peterson là bài toán tìm tập sinh cực tiểu của đại số đa thức xét như module trên đại số Steenrod được Frank Peterson đặt ra vào năm 1986 (công bố chính thức vào năm 1987). Bài toán hit của Peterson được cộng đồng nghiên cứu về Tôpô Đại số hết sức quan tâm như Wood (năm 1989), Singer (năm 1989), Priddy (năm 1990), những tác giả này và Frank Peterson đã chỉ ra các ứng dụng của nó trong những bài toán cổ điển của lý thuyết đồng luân như lý thuyết đồng biên của các đa tạp đóng có cấu trúc, lý thuyết biểu diễn modular của các nhóm tuyến tính, dãy phổ Adams của đồng luân ổn định của mặt cầu thông qua đồng cấu chuyển đại số của Singer, bài toán phân tích ổn định của những không gian phân loại của các nhóm hữu hạn…  Tuy nhiên, tôi chỉ quan tâm đến bài toán này một cách thực sự vào năm 2005 với mục tiêu tìm hướng nghiên cứu mới theo yêu cầu đào tạo sau đại học (trình độ thạc sĩ và sau đó là tiến sĩ) tại trường Đại học Quy Nhơn. Khi đó, đọc luận án tiến sĩ về bài toán hit trường hợp 3 biến của Kameko (thực hiện tại trường Đại học Johns Hopkins, Mỹ vào năm 1990), tôi nghĩ là mình có thể chuyển sang hướng nghiên cứu này và kể từ đó, tôi dành thời gian cho việc nghiên cứu bài toán hit.  Vì sao việc giải bài toán này lại kéo dài hơn 10 năm, vì nó quá phức tạp hay vì nguyên nhân nào khác?  Như trên đã nói, từ năm 2005, tôi mới bắt đầu nghiên cứu bài toán hit của Peterson với nội dung tính toán đối với đại số đa thức 4 biến bằng cách dùng phương pháp và các kết quả trong luận án của Kameko. Tôi đã báo cáo những kết quả đầu tiên trong quá trình nghiên cứu sơ khởi của mình tại hội nghị ĐAHITO tổ chức tại Tp. HCM vào tháng 11/2005 và hội nghị kỷ niệm 50 năm thành lập Khoa Toán – Cơ – Tin học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN vào tháng 10/2006. Khi việc tính toán đã hoàn thành đầy đủ, tôi tiếp tục báo cáo tại hội nghị Đông Á về Tôpô Đại số, tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc vào tháng 11/2007. Kết quả này được trình bày chi tiết trong một bản thảo dài 240 trang nhưng không công bố chính thức mà chỉ được thông báo cho một số đồng nghiệp trong nước và quốc tế.  Một điều đáng tiếc là quãng thời gian dành cho việc nghiên cứu về bài toán hit của tôi không được liền mạch do vừa phải giảng dạy, vừa phải kiêm nhiệm công tác quản lý. Mãi đến năm 2010, tôi mới có thể có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu kỹ về bài toán hit với số biến tùy ý. Qua việc nghiên cứu này, tôi đã thu được một kết quả lý thuyết đối với bài toán hit tại bậc tổng quát và áp dụng kết quả này để rút ngắn các tính toán đối với trường hợp 4 biến từ một bản thảo dài 240 trang chỉ còn không quá 20 trang như đã trình bày trong bài công bố chính thức. Công trình này được hoàn thành sơ bộ và báo cáo tại Hội nghị Đông Á về Tôpô Đại số lần thứ tư ở trường đại học Tokyo, Nhật Bản vào tháng 12/2011 và tại Đại hội Toán học phối hợp Việt – Pháp tại Huế tháng 8/2012.      “Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về mục đích quan trọng của nhà nghiên cứu và cuối cùng đi đến quyết định xin nghỉ làm quản lý để trở lại với vị trí một giảng viên bình thường của Khoa Toán. Chỉ có giải quyết theo cách này, tôi mới có nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu” (PGS. TS Nguyễn Sum).        Kết quả lý thuyết tại bậc tổng quát được ứng dụng một cách hữu hiệu vào việc rút ngắn các tính toán đối với trường hợp đại số đa thức 4 biến, nhất là về cấu trúc của các tập hợp sinh cực tiểu. Đến tháng 7/2013, thời gian tôi làm việc tại Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, công trình đã được hoàn thiện và gửi đăng. Trong quá trình phản biện, bài báo đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều theo các góp ý của chuyên gia phản biện. Bản thảo sau cùng được hoàn thành vào tháng 12/2014 và chính thức được công bố trên tạp chí Advances in Mathematics vào tháng 4/2015.  Tại sao công trình phải công bố trên cả tạp chí Advances in Mathematics và website arXiv?  Công trình này rất dài với các kỹ thuật và tính toán rất phức tạp, nên tạp chí công bố phần thứ nhất về bài toán hit tại bậc tổng quát với đầy đủ chi tiết; phần thứ hai, là ứng dụng của kết quả trong phần thứ nhất để giải tường minh bài toán hit trường hợp 4 biến, được công bố tóm tắt cấu trúc của các tập hợp sinh cực tiểu với phép chứng minh chi tiết của một số trường hợp đơn giản nhất, do đó nó không thể thay thế được bản gốc được tính toán chi tiết. Vì vậy phép chứng minh chi tiết của tất cả các trường còn lại được tạp chí yêu cầu công bố online trên arXiv với tư cách là tài liệu trích dẫn và là một phần gắn liền với công trình công bố chính thức.  Ông có nói đến sự ảnh hưởng của công tác quản lý tới công việc nghiên cứu của mình. Vậy ông đã giải quyết vấn đề này bằng cách nào?  Sau khi bảo vệ thành công luận án vào năm 1994, tôi về công tác tại trường ĐHSP Quy Nhơn. Do công tác tại một trường đại học ở tỉnh lẻ còn thiếu giảng viên, mỗi năm tôi phải giảng dạy rất nhiều giờ so với số giờ chuẩn, đồng thời phải kiêm nhiệm thêm công tác quản lý ở khoa và trường… Vì thế, thời gian dành cho nghiên cứu của tôi không nhiều và không liên tục, dẫn đến hậu quả là số lượng công bố của tôi còn rất thấp, trong đó chủ yếu là một số công bố theo hướng nghiên cứu cũ từ hồi làm luận án tiến sĩ. Điển hình là từ 2005 đến 2009, giai đoạn là Phó hiệu trưởng trường đại học Quy Nhơn, tôi chỉ có báo cáo kết quả nghiên cứu tại các hội nghị vì gần như không có thời gian để viết bài công bố chính thức.  Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về mục đích quan trọng của nhà nghiên cứu và cuối cùng đi đến quyết định xin nghỉ làm quản lý để trở lại với vị trí một giảng viên bình thường của Khoa Toán. Chỉ có giải quyết theo cách này tôi mới có nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu. Phải đến cuối năm 2009, nguyện vọng của tôi mới được Bộ GD&ĐT chính thức chấp thuận. Kết quả là tôi đã giải quyết được một vấn đề quan trọng tại bậc “tổng quát” về bài toán hit của Peterson. Nếu tính từ năm 2010 đến nay, tôi đã công bố 9 bài (6 bài SCI) trong tổng số bài công bố quốc tế của tôi được tạp chí Math. Review của Hội Toán học Mỹ điểm tin là 15 bài.   Giáo sư Đinh Dũng, Phó chủ tịch Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã nhận xét, “PGS. TS Nguyễn Sum không chạy theo số lượng công bố công trình khoa học”. Vậy đây có phải là bí quyết để ông có được công trình nghiên cứu có chất lượng?  Tôi có thói quen rất điềm tĩnh trong việc công bố, thường tôi không vội công bố những bài mà mình cho là có chất lượng tốt để có điều kiện hoàn thiện nó hơn. Để có được một bài công bố chất lượng cao thì phải hy sinh số lượng, chẳng hạn, để công bố bài báo có chất lượng tốt như bài “Về bài toán hit của Peterson”, tôi chấp nhận công bố online bài báo trường hợp 4 biến trong khi có thể công bố thành nhiều bài trên các tạp chí ISI có chất lượng thấp hơn rồi sau đó mới chính thức xuất bản trên tạp chí Advances in Mathematics. Do đó, số lượng công bố của tôi không nhiều nhưng bù lại, đồng nghiệp luôn đánh giá tốt các công bố của tôi về chất lượng và các công trình của tôi hoàn toàn “made in Viet Nam”.  Trong thuyết minh đề tài “Về bài toán hit của Peterson”, ông cho biết mình là tác giả duy nhất của công trình. Vậy làm việc độc lập có phải là cách làm của ông hay là do ông chưa tập hợp được đội ngũ và xây dựng được nhóm nghiên cứu?  Không riêng công trình “Về bài toán hit của Peterson” mà phần lớn các công bố của tôi đều là bài một tác giả bởi từ trước đến nay, tôi vẫn độc lập nghiên cứu chứ không phụ thuộc vào việc trao đổi với các chuyên gia ở trong và ngoài nước như những nhà nghiên cứu khác. Đây cũng là thói quen của tôi từ khi còn làm nghiên cứu sinh ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên, tuy nhiên trong thời gian gần đây, tôi cũng có một số bài viết chung với nghiên cứu sinh do tôi hướng dẫn.  Cảm ơn ông!   Thanh Nhàn thực hiện  ———  1. Có thể tham khảo công trình trên:  http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S000187081500026và http://arxiv.org/abs/1412.1709  PGS.TS Nguyễn Sum đã đề tặng người thầy, GS, TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng công trình này nhân dịp GS tròn 60 tuổi.  Góp phần tạo môi trường học thuật lành mạnh ở trường “tỉnh lẻ”: Vào những năm 2000, Khoa Toán, ĐH Quy Nhơn gặp phải hai khó khăn lớn: số lượng giảng viên thấp và việc nghiên cứu còn rất hạn chế. Do điều kiện về kinh phí đầu tư không lớn, lại trực thuộc địa phương nên một trường “tỉnh lẻ” nên dù có chính sách thu hút cán bộ thì cũng không thể thu hút cán bộ từ nơi khác đến như với các trường đại học ở Hà Nội hay Tp. Hồ Chí Minh, thậm chí, số người đến ứng tuyển cũng không thể đáp ứng được như yêu cầu. PGS. TS Nguyễn Sum và các lãnh đạo của Khoa đã tìm giải pháp, ví dụ như khó thu hút cán bộ từ nơi khác thì bổ sung chủ yếu từ số sinh viên giỏi được giữ lại, sau đó tạo điều kiện đào tạo liên tục, chủ động đưa họ đi học ở nước ngoài và các cơ sở đào tạo uy tín ở trong nước cho đến khi có học vị tiến sĩ. Dù là trường “tỉnh lẻ” nhưng tới 90% người cử đi đào tạo ở nước ngoài trở về Khoa với lý do là ở đây có sự thống nhất đoàn kết và môi trường làm việc thân thiện, cởi mở, tôn trọng nhau trong nghiên cứu. Đối với những người sau khi được đào tạo trở về mà muốn chuyển công tác thì Khoa sẵn sàng tạo điều kiện để họ đi chứ không giữ ở lại bằng các ràng buộc mang tính chất hành chính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyễn Thừa Hỷ và công trình “Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XVII, XVIII, XIX”      Trong số 12 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 20 giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt này, Khoa Lịch sử có hai giải thưởng: một Giải thưởng Hồ Chí Minh trao cho cụm công trình về văn hoá Việt Nam của cố GS.NGƯT Trần Quốc Vượng, một Giải thưởng Nhà nước trao cho công trình “Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XVII – XVIII – XIX” của PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thừa Hỷ. Đây là Giải thưởng Hồ Chí Minh thứ 5 và Giải thưởng Nhà nước 4 mà cán bộ Khoa Lịch sử vinh dự được Nhà nước trao tặng.      PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thừa Hỷ sinh năm 1937, giữa “không gian lõi” của “Hà Nội nghìn xưa” (phố Hàng Cót, quận Ba Đình), quê gốc làng Hạ Đình (nay thuộc quận Thanh Xuân), mẹ người làng La Phù (Hà Tây cũ). Tốt nghiệp phổ thông ở một trong ba trường cấp ba danh giá nhất Hà Nội bấy giờ (trường Nguyễn Trãi, cùng với trường Chu Văn An, Trương Vương), ông trở thành sinh viên Khoá I của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng lớp với những tên tuổi nổi danh của ngành sử sau này, như GS.NGND Phan Đại Doãn, GS.NGND Vũ Dương Ninh, PGS.NGND Lê Mậu Hãn, PGS.NGƯT Phạm Thị Tâm… Truyền rằng, ở khoá đầu tiên này của Khoa Lịch sử, ông là một trong những người học giỏi nhất. Nhưng khác với nhiều bạn bè, tốt nghiệp xong ông được điều động đi dạy sử phổ thông. Ba mươi năm dạy học, công tác ở các Ty/Sở giáo dục Hà Nam, rồi Hà Nội, mãi tới năm 1990, khi đã 53 tuổi, ông mới về làm cán bộ giảng dạy tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử, theo lời mời của GS Phan Huy Lê, bấy giờ là Chủ nhiệm Bộ môn.  Tưởng như làm thầy giáo phổ thông, dạy thôi chứ không cần phải nghiên cứu. Nhưng ông đã không “an phận”. Với niềm đam mê khoa học, những kiến thức tích luỹ được – nhất là từ sách vở viết bằng chữ Anh, chữ Pháp – và năng lực thâu nhận trời phú, ông âm thầm viết, không nhiều, nhưng sâu sắc.  Rồi từ đầu những năm tám mươi, ông quyết định làm nghiên cứu sinh (trong nước). Bấy giờ nghiên cứu sinh, nói chung và riêng ngành sử, còn hiếm. Ông chọn Hà Nội – mảnh đất ông sinh ra và lớn lên, chứng kiến nhiều đổi thay – làm đối tượng nghiên cứu. Đầu năm 1984, luận án “Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XVII – XVIII – XIX: kết cấu kinh tế – xã hội của một đô thị trung đại” của ông được đưa ra bảo vệ, thuộc số những luận án Tiến sĩ (bấy giờ gọi là Phó Tiến sĩ) đầu tiên của Khoa Lịch sử. Tôi nhớ, hôm bảo vệ luận án (tại 19 Lê Thánh Tông) có rất đông người dự, có mặt rất nhiều gương mặt lớn của ngành sử. Sau, đến năm 1993, công trình này được xuất bản thành sách và lập tức giành được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Đến nay, gần 20 năm trôi qua, nó trở thành cuốn sách không thể không đọc, không nhắc đến, không trích dẫn trong những nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội, nhất là trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX.  Trong công trình này này, bằng việc khai thác đa dạng các nguồn tư liệu, nhất là nguồn tư liệu viết bằng chữ phương Tây (Anh, Pháp), được xử lí cẩn trọng, có phương pháp và hiệu quả cao, công trình đã phác hoạ được diện mạo của Thăng Long – Hà Nội qua các thời kì, nhất là các thế kỉ XVII – XVIII – XIX, làm nổi bật được kết cấu kinh tế – xã hội, các hoạt động kinh tế của Thăng Long – Hà Nội các thế kỉ XVII – XVIII – XIX, chính sách của các nhà nước phong kiến Việt Nam đối với vấn đề này qua trường hợp Thăng Long – Hà Nội. Những phân tích sắc sảo về kết cấu kinh tế, cấu trúc xã hội, cơ chế đẳng cấp và sự giao lưu đẳng cấp; nhecng khái quát về các nhân tố phát triển và hưng khởi của thành thị, về mối quan hệ thành thị – nông thôn, về thế lưỡng hợp nhà nước – dân gian trong thành thị, về dạng thức phát triển và chuyển biến của thành thị trở thành những luận đề quan trọng, có ảnh hưởng rộng rãi trong giới nghiên cứu trong và nước, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khi tiếp cận lịch sử xã hội Việt Nam thời kì trung đại.  Chỉ ngồi nhà nhưng ông lướt web đều đặn, dùng cả điện thoại bàn lẫn di động, chuyện thế giới, chuyện quốc gia, chuyện trường, chuyện khoa, chuyện nhân sự lớn bé… ông đều biết cả.  Công trình trở thành nghiên cứu tiêu biểu về Thăng Long – Hà Nội được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trích dẫn nhiều khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung và đặc biệt về lịch sử Thăng Long – Hà Nội nói riêng. Công trình này cũng là một chuyên khảo có giá trị, phục vụ hiệu quả công tác đào tạo của Khoa Lịch sử – Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, chuyên ngành Lịch sử văn hoá Việt Nam và các chuyên ngành liên quan khác).  Công trình đã được dịch sang tiếng Anh (Nhà xuất bản Thế giới ấn hành, 2002), được nhiều học giả và bạn đọc của nhiều nước biết đến, góp phần quảng bá lịch sử và văn hoá Việt Nam nói chung, lịch sử và văn hoá Thăng Long – Hà Nội nói riêng với bạn bè quốc tế. Gần đây, công trình được bổ sung và xuất bản trong “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” nhân đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tiếp tục được giới nghiên cứu và bạn đọc đánh giá cao.  Công trình đã có đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của ngành Hà Nội học. Là một nghiên cứu xuất sắc về Thăng Long – Hà Nội, công trình có thể coi là một chuyên khảo mẫu mực về lịch sử Thăng Long – Hà Nội với tư cách một đô thị đóng vai trò trung tâm chính trị – hành chính của đất nước. Tuy công trình tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, nhưng ở hầu hết các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế – xã hội của Thăng Long – Hà Nội đều được khái quát trong toàn bộ tiến trình lịch sử, tạo nên một bức tranh tương đối toàn cảnh về kết cấu kinh tế -xã hội của đô thị này. Trong số hàng trăm chuyên khảo về Thăng Long – Hà Nội đến nay, công trình này có thể coi là một trong các nghiên cứu xuất sắc nhất, đánh dấu một bước tiến lớn của ngành Hà Nội học.  Đọc Nguyễn Thừa Hỷ, người ta thấy rất rõ sự uyên bác của tri thức và sự lịch lãm trong văn chương, nhất là những công trình về lịch sử và văn hoá Thăng Long – Hà Nội. Có lẽ đó là sự kết hợp và thẩm thấu của một văn hoá Thăng Long nghìn xưa với một văn hoá thị dân Hà Nội khá thuần thục thời cận đại. Ở tuổi 75, tay yếu chân yếu, nhưng ông vẫn minh mẫn lạ thường. Chỉ ngồi nhà nhưng ông lướt web đều đặn, dùng cả điện thoại bàn lẫn di động, chuyện thế giới, chuyện quốc gia, chuyện trường, chuyện khoa, chuyện nhân sự lớn bé… ông đều biết cả (mà có khi còn biết trước). Và đặc biệt, ông vẫn viết, từ bài nghiên cứu đến sách. Hồi nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, ông chủ biên cuốn sách “Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: tuyển tập tư liệu phương Tây” dầy cả nghìn trang, được đánh giá rất cao, và mới mấy hôm trước thôi, ông in “Văn hoá Việt Nam truyền thống – một góc nhìn”, hơn nửa nghìn trang. Ông dịch, ông hiệu đính các tác phẩm nổi tiếng của các học giả nước ngoài về Việt Nam.  Gặp ông, ai cũng thấy vui, thấy yêu đời. Ông làm việc hết mình, nghiêm túc, trách nhiệm, hiệu quả. Ông gần như không bận tâm vào sự thiệt hơn mất được đời người. Vì thế mà ông rất “nhàn”. Và có lẽ bởi “nhàn”, nên ông rất “sâu”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà dân tộc học đầu ngành      Đường đời, đường khoa học Đặng Nghiêm Vạn nhiều lần bị những thiên thạch ngẫu nhiên va chạm phải làm thay đổi quỹ đạo. Đang học trường Bưởi thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông hăng hái tham gia hoạt động. Rồi toàn quốc kháng chiến, 16 tuổi đầu, ông xếp bút nghiên đánh giặc tại khu phố, rồi rút ra khỏi Thủ đô lên Việt Bắc, để lại một “kinh thành nghi ngút cháy sau lưng”. Những tưởng được thỏa chí trai “Ta tráng sĩ hề một thời loạn lạc/ Như cá gặp nước hề ta vẫy vùng”. Nhưng tháng 4 năm 1947, tổ chức lại cử ông đi học trường Trung học Kháng chiến để tạo nguồn. Năm 1950, tốt nghiệp xuất sắc ban sinh hóa, ông được cử làm giáo viên trường Sư phạm Trung ương. Thế là, một lần nữa, ông chuyển từ cây súng sang cây bút, làm nghề dạy học.    Năm 1958, khi đang làm Hiệu trưởng trường Sư phạm Miền núi Trung ương, Đặng Nghiêm Vạn được cử sang Liên Xô học về giáo dục học các dân tộc thiểu số, hẳn để ông phát huy hơn nữa sự nghiệp giáo dục dân tộc miền núi. Nhưng Sứ quán ta nghe/đọc nhầm hoặc cố tình nhầm (ai mà biết được!) lại cho ông học Dân tộc học tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Lômônôxốp. Thế là một sự tình cờ nữa lại đưa ông đến một nghề mới: nghiên cứu dân tộc học. Về điều này, ông vẫn thường đùa rằng cái nghề mà ông suốt đời lao tâm khổ tứ cũng lại chỉ là một sự tình cờ.  Năm 1963, Đặng Nghiêm Vạn về nước giảng dạy tại Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội bộ môn dân tộc học. Ông vừa giảng dạy vừa nghiên cứu. Địa bàn thực địa của ông là miền núi phía Bắc, Tây Bắc và Tây Khu Bốn. Trong những chuyến đi điền dã dân tộc học như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã phát hiện ra sự có mặt ở người Khơ Mú một hình thức của tô tem giáo. Rồi nhân một chuyến đi viết lịch sử Đảng cho một xã ở Đại Từ, Thái Nguyên, ông phát hiện ra gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú có những tư liệu khẳng định Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rất sớm.  Năm 1967, Đặng Nghiêm Vạn chuyển sang Viện Dân tộc họcCác tộc người Môn-Khơme và Thái được ông đặc biệt quan tâm. Bởi thế ông lại tiếp tục lăn lộn ở Tây Bắc và miền Tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Sau 1975, ông mở rộng địa bàn của mình xuống các tộc người Trường Sơn- Tây Nguyên. Cũng trong giai đoạn này, Đặng Nghiêm Vạn cho xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của ông. Vì thế, năm 1991 ông được Nhà nước phong hàm Giáo sư. Và cũng trong năm này, do nhu cầu thành lập ngành mới, ông lại rời ghế Viện phó Viện Dân tộc học đã ấm chỗ và những công việc quen thuộc để sang làm Trưởng ban Khoa học về Tôn giáo vừa thành lập. Từ Ban, rồi Trung tâm, rồi đến Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cả ba giai đoạn này Đặng Nghiêm Vạn đều là người đứng đầu. Đến năm 1999, khi Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo ra mắt, lại ông làm Tổng biên tập.  Là người đứng mũi chịu sào trong việc xây dựng một viện mới và, quan trọng hơn, ngành khoa học mới, nhạy cảm, Đặng Nghiêm Vạn, có lẽ là một người biết chèo chống, nên chỉ trong một thời gian ngắn, 1991-2000, ông và Viện ông đã thực hiện được nhiều công trình về nghiên cứu tôn giáo.  Sự tình cờ còn chi phối Đặng Nghiêm Vạn ngay cả khi ông đã là nhà dân tộc học. Vấn đề là chọn tộc người nào để nghiên cứu. Là một người Việt, dẫu sinh ra ở biển (Cát Bà, Quảng Ninh), lớn lên ở thành phố (Hà Nội), hoạt động ở miền núi, Đặng Nghiêm Vạn một cách tự nhiên cảm tính muốn nghiên cứu tộc người Việt thân thuộc của mình. Nhưng S.A Tôcarép, người thầy kính mến của ông bảo, nếu nghiên cứu người Việt thì ông dễ chỉ thấy mặt tốt của nó, bởi người mới vào nghề thì chưa đủ kinh nghiệm và bản lĩnh để nhìn mình bằng con mắt của kẻ khác. Bởi thế, nên chọn một tộc người thiểu số nào đó mà mình thân thuộc nhất. Thế là, để tránh nhìn vào một chiếc gương nịnh mặt, Đặng Nghiêm Vạn lại trở về với vùng Tây Bắc và Việt Bắc quen biết của ông.  Theo lời khuyên của thầy học, Đặng Nghiêm Vạn chọn người Thái làm đối tượng nghiên cứu, bởi lẽ trong thời gian quản lý ở trường Sư phạm Miền núi, ông quen thân với nhiều học sinh Thái hơn. Nhưng muốn nghiên cứu sâu Thái phải lấn sang Tày Nùng để có tư liệu đối chiếu. Bởi thế, sau tập sách nghiên cứu diện Sơ lược giới thiệu các dân tộc Tày-Nùng-Thái ở Việt Nam cùng viết với Lã Văn Lô (phần chung và phần Thái, 1968) là cuốn sách điểm Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái (1977). Đây là những công trình mở đường vào xã hội Thái. Những cuốn sách đẻ ra sách. Đúng thế, những cuốn sách trên của Đặng Nghiêm Vạn đã nuôi ý tưởng cho những cuốn sách khác, cũng về Thái, của Cầm Trọng Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978), Văn hóa Thái Việt Nam (1985)…  Như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã trở thành một nhà Thái học, bởi ông là người đầu tiên phát hiện và giới thiệu bộ luật Thái, và khẳng định phương thức sản xuất Châu Á ở xã hội Thái.  Sang năm 1975, mảnh đất mới của Đặng Nghiêm Vạn là Trường Sơn- Tây Nguyên. Đây là một mảnh đất màu mỡ của tộc người học. Các tộc người ở đây thuộc đủ các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo… thuộc đủ các trình độ phát triển. Bởi thế, bức thổ cẩm nhiều màu sắc, lắm hoa văn này gợi lên ở nhà dân tộc học biết bao suy nghĩ, tham vọng. Nhưng do nhu cầu điều tra tổng thể vùng Trường Sơn- Tây Nguyên, nên Đặng Nghiêm Vạn chỉ có thể đưa ra một cái nhìn khái quát trong Các dân tộc ở Gia Lai- Kom Tum (1981) những bài tổng luận về kinh tế xã hội Tây Nguyên trong 2 cuốn Những vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên và Tây Nguyên trên đường phát triển (1986 và 1987) hoặc Những ai lên Tây Nguyên cần biết (1988)… Còn điều mà ông tha thiết nhất là nghiên cứu tôn giáo sơ khai được ấp ủ từ hồi còn dưới cánh S.A. Tôcarép và tận mắt thấy hiện hữu ở Tây Nguyên thì cứ lùi xa, lùi xa kể cả khi ông đã chuyển sang nghiên cứu tôn giáo, dẫu ông lại sớm thành công với tư cách nhà dân tộc học khi sớm phát hiện ra vẫn đề sở hữu đất đai ở Trường Sơn- Tây Nguyên (1988).  Là người ủng hộ việc nghiên cứu Việt Nam như một dân tộc đa tộc người, Đặng Nghiêm Vạn buộc phải giải quyết một số vấn đề có tính lý luận sau: 1) Phải phân biệt dân tộc (Nation) và tộc người (Ethnie); 2) Phải thừa nhận tính chất không phổ quát của định nghĩa dân tộc của Stalin và 3) Phải chứng minh được sự tồn tại các dân tộc tiền công nghiệp hay tiền tư  bản ở các xã hội phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đây là cơ sở để coi dân tộc Việt Nam như một thể hợp thành từ xa xưa của 54 tộc người sống trên mảnh đất này. Đặng Nghiêm Vạn, tôi nghĩ, đã làm được điều đó trong tác phẩm Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc (1993) được Giải thưởng Nhà nước. Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn phát triển cuốn sách đó sâu rộng hơn, nâng số trang đến gấp 2 lần thành: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người (2003). Nhưng có lẽ, điều quan trọng hơn, là tìm được một cách tiếp cận tổng thể trong nghiên cứu dân tộc Việt Nam, tránh được con đường tổng hợp, thậm chí tổng cộng, 54 tộc người.  Con đường thứ hai mà Đặng Nghiêm Vạn muốn tìm kiếm là xây dựng và chứng minh có một tôn giáo Việt Nam của Việt Nam. Đó là Đạo Tổ. Sở dĩ ông dùng chữ đạo vì, theo ông, Việt Nam không có khái niệm tôn giáo theo đúng nghĩa của phương Tây: thờ một đấng tối cao duy nhất. Đạo ở phương Đông và ở Việt Nam còn vắng các tôn giáo độc thần, vẫn còn là những tôn giáo đa thần. Đạo Tổ có ba cấp độ: 1)Gia đình: thờ cúng tổ tiên của gia đình và của dòng họ (gia đình mở rộng); 2)Làng bản: thờ cúng thành hoàng, người bảo trợ cho làng bản và 3)Quốc gia: thờ cúng người có công dựng nước và giữ nước. Ở cả ba cấp độ này, đều có ở tất cả những tộc người sinh sống trên đất Việt Nam. Ông còn nêu ra một nhận xét đáng lưu ý: ở phương Tây chỉ tôn thờ Đứa Chúa Trời, còn ở phương Đông thì tất cả đều là đối tượng thờ cúng. Công với gia đình thì con cháu thờ; công với làng, làng thờ; công với nước, nước thờ. Vậy nên, xưa nay ở Châu Âu trọng ngày sinh, ở châu Á, ngày giỗ… tính nhân văn còn biểu lộ rõ rệt ở việc thờ những người chết bất đắc kỳ tử, những người không được xã hội thừa nhận, không được con cháu thờ cúng.  Cuối cùng, con đường thứ ba mà Đặng Nghiêm Vạn muốn xây đắp là tìm hiểu những huyền thoại, truyền thuyết của các tộc người về nguồn gốc tộc người mình. Ông đã tìm thấy ở hầu như tộc người nào cũng cặp đôi ban đầu, trong đó có huyền thoại về quả bầu như là nơi sản sinh ra không chỉ tộc người đó mà còn các tộc người anh em khác. Sự thống nhất này một mặt cho thấy các tộc người trên mảnh đất Việt Nam hầu hết đã qua nền “văn minh bầu bí” trước văn minh trồng lúa và, quan trọng hơn, có chung một nguồn gốc. Tâm thức này làm cho các tộc người dễ hợp lưu để trở thành đồng bào của một dân tộc. Ông cũng đồng thời tổng kết vốn văn học dân tộc thiểu số đến năm 2000, in trong Tổng tập văn học Việt Nam và trong Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đều là khổ to. Ở đây ông không chấp nhận văn học khuyết danh là thuộc phạm trù dân gian, mà phải dựa vào chân giá trị của tác phẩm vì nếu cho là dân gian thì chỉ duy ở Việt Nam có văn học bác học, còn về mỹ thuật (theo Thái Bá Vân), hội họa (Lưu Công Nhân) đều là dân gian ư? Nên ông đồng tình với Từ Chi là có nên gọi là dân gian hay không dân gian?  Thành công học thuật của Đặng Nghiêm Vạn phụ thuộc vào cá nhân ông một phần và phần khác, quan trọng hơn, vào những đặc điểm của lứa con đầu của cách mạng trong lĩnh vực khoa học, mà ông là một người tiêu biểu. Đó là một người cán bộ khoa học có một tinh thần trách nhiệm rất cao. Được phân công việc gì cũng làm kể cả việc làm khoa học vốn đòi hỏi những khả năng trời cho và luôn luôn vươn lên đáp ứng các nhu cầu của các mạng, của xã hội, của thời cuộc.    Đỗ Lai Thúy       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà dân tộc học đầu ngành Đặng Nghiêm Vạn qua đời      Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, nhà dân tộc học đầu ngành của Việt Nam, vừa qua đời ngày 19/10/2016 tại TP Hồ Chí Minh, ở tuổi 86.      GS. Đặng Nghiêm Vạn  GS. Đặng Nghiêm Vạn được xem là một trong những người đặt nền móng cho việc xây dựng ngành dân tộc học ở Việt Nam. Ông và các đồng nghiệp đã nghiên cứu, đặt tiêu chí (về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người), khảo sát và xác minh thành phần tộc người ở Việt Nam. Cho đến nay, các nhà dân tộc học Việt Nam cũng như giới làm chính sách vẫn đang sử dụng phân loại tộc người này. Ngoài ra, ông cũng thực hiện các chuyên khảo về các nhóm tộc người như Tày – Nùng – Thái ở Việt Nam. Những chuyên khảo này trở thành sách gối đầu giường của rất nhiều thế hệ người làm dân tộc học. TS. Mai Thanh Sơn, nhà nghiên cứu dân tộc học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhận định: “Nếu tôi không nhầm, có đến 70-80% số nhà dân tộc học hiện đang làm nghề ở nước ta đều từng thụ giáo ông trong một bối cảnh nào đó. Còn đọc một cái gì đó của ông, chắc chắn tỷ lệ phải là 100%. Nói như thế để thấy rằng, ông là người có ảnh hưởng rất lớn đến ngành dân tộc học đương đại”.  Không chỉ là người có ảnh hưởng đến nền dân tộc học, GS. Đặng Nghiêm Vạn cũng có vai trò rất lớn với ngành tôn giáo học ở Việt Nam khi đưa ra nhiều quan điểm khoa học, tạo ra nhiều cuộc tranh luận thú vị trên diễn đàn khoa học. “Trong khi nhiều nhà nghiên cứu phân loại tôn giáo/ tín ngưỡng và cho rằng người Việt Nam không có tôn giáo, thì GS Đặng Nghiêm Vạn đã dành công sức chứng minh ngược lại  rằng người Việt có tôn giáo riêng – thờ cúng tổ tiên, thờ thần. Quan điểm này thể hiện rất rõ trong cuốn sách Lí luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo hiện nay” của ông”, theo TS Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  Với các nhà khoa học xã hội, nhớ về GS. Đặng Nghiêm Vạn là những ấn tượng về lòng say mê công việc, tâm huyết với xây dựng các ngành dân tộc học, tôn giáo học ở Việt Nam cho đến những phút cuối đời. “Không biết các đồng nghiệp có nhiều cơ hội gần gũi ông ra sao, còn tôi, tôi chưa từng được nghe câu nào của ông nói ngoài chuyện khoa học và công việc!”, PGS.TS Vương Xuân Tình, nguyên Viện trưởng viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chia sẻ.     GS. Đặng Nghiêm Vạn (1930 – 2016), từng giảng dạy tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và đảm nhiệm các cương vị phó Viện trưởng Viện Dân tộc học, Viện trưởng đầu tiên của Viện Tôn giáo học, thuộc viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt nam. Cụm công trình: “Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc”, “Những vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam” của GS. Đặng Nghiêm Vạn đã được tặng giải thưởng Nhà nước vào năm 2010.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nhà khoa học chất nông dân      Thoạt nhìn, với chiếc áo bay sờn vải, chiếc quần kaki bạc màu ống thấp ống cao, vóc người vạm vỡ hẳn ai cũng nghĩ, đây đích thực là một “trai làng” mà không phải là một “nhà nghiên cứu nông nghiệp”. Nhưng người ta phải đáng nể, vì ở độ tuổi đó, Vũ Hồng Quảng, Viện nghiên cứu lúa-ĐH Nông nghiệp I Hà Nội, đã “lọt” vào lớp người đầu đàn tạo ra những cây lúa lai hai dòng đầu tiên “made in Việt Nam”.    Duyên nợ với… cây lúa  Sinh ra trên mảnh đất thuần nông Phú Xuyên, nhìn đâu cũng chỉ là lúa, Vũ Hồng Quảng đã kịp “bén duyên” với cây lúa từ khi nào không hay. Để rồi từ cái duyên hướng anh vào nghiệp…lúa.  Nhà nghèo, “bát cơm” nuôi sống cả gia đình chỉ còn biết trông chờ vào những gánh lúa thu hoạch ngoài ruộng. Như bao đứa trẻ nghèo khác, là con cả trong gia đình, sau mỗi buổi học, cậu bé Quảng lại hăng hái giúp bố mẹ việc đồng áng. Tuy vất vả là vậy, nhưng Quảng luôn đạt kết quả xuất sắc trong học tập. “Người nông dân vất vả lắm. Làm lụng tối ngày, nếu được mùa thì cũng chỉ đủ ăn còn nếu mất mùa do thiên tai, sâu bệnh phá hoại thì… Mình là người nông dân nên thấm thía rất rõ điều đó”, anh thổ lộ. Tốt nghiệp PTTH Phú Xuyên A, anh đã chọn ĐH Nông nghiệp I như là nơi gửi gắm uớc mơ hằng ấp ủ trở thành một nhà khoa học nông nghiệp, để mong sau này có thể tạo ra những giống cây trồng thời gian thu hoạch ngắn, năng suất cao và kháng bệnh tốt cho những con người hằng ngày phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời.  Bước chân vào giảng đường ĐH Nông nghiệp I, Vũ Hồng Quảng đã chọn chuyên ngành giống cây trồng. “Lang thang” khắp các vườn cây, “nếm” nhiều loại trái lai tạo chàng sinh viên “thuần nông” này thầm khâm phục những người thầy đi trước đang lao động lặng lẽ để làm phong phú thêm những loại cây trồng mới cho đất nước. Nhưng vì nhà nghèo, bố mẹ lại yếu hay đau ốm, ngoài thời gian học trên giảng đường, thực nghiệm trên những thửa ruộng, vườn cây, Quảng lại tranh thủ đi làm thêm đủ mọi việc từ gia sư đến làm và buôn bán cây giống. Có những lúc nghịch cảnh cuộc đời dồn anh vào bế tắc. Khi là sinh viên năm thứ 3, nhà đã nghèo, mẹ và em gái lại nằm viện càng làm cho cuộc sống của mọi người trong gia đình trở nên khốn đốn. “Thời gian đó tâm lý thật nặng nề, làm sao học tốt nhưng vẫn lo chữa bệnh cho mẹ và em”, anh bộc bạch. Vừa học vừa làm như vậy nhưng năm học nào Quảng cũng dành được học bổng, số tiền không lớn nhưng cũng tạm đủ giúp anh trang trải chi phí học tập và gửi tiền phụ giúp bố mẹ và các em.                     Tình yêu với cây lúa không giữ chân “chàng trai Cầu Rẽ” ở lại với ngành cây trồng. Dưới sự dìu dắt của người thầy, PGS.Nguyễn Văn Hoan, Vũ Hồng Quảng quyết tâm dấn thân vào nghiệp… lúa. Anh tâm sự, “Khó khăn mình gặp phải không thấm thía gì so với những gian khổ mà thế hệ người thầy đi trước trải qua. Bởi vậy, không có lý do gì mà mình không vượt qua được”. Và niềm tin như được cộng hưởng khi người bố nhắn nhủ lúc cậu con trai được quyết định giữ lại trường, “Làm gì thì làm, người nông dân đã vất vả nhiều rồi, hãy toàn tâm toàn sức góp phần nhỏ giảm bớt khó khăn cho người nông dân”. Còn như người thầy hướng dẫn anh thường khuyên, muốn trở thành một nhà khoa học nông nghiệp thì trước hết phải là một người nông dân. Với bản thân Quảng, anh tự thấy mình may mắn vì từ nhỏ đã có được cái khí chất đặc sệt nông dân vốn giản dị, cần cù và chất phát. Những ai lần đầu tiên gặp anh chắc khó mà phân biệt được đâu là một cán bộ nghiên cứu trẻ, đâu đích thực là một “trai làng” chân chất. Chính vì vậy nên mới xảy ra những tình huống “cười ra nước mắt”.  Có lần “thăm” ruộng về, với chiếc áo bay sờn vải, chiếc quần kaki bạc màu ống thấp ống cao, chân lấm đầy bùn đất, bước vào cổng trường bị bác bảo vệ “mời” ra ngoài. Phân bua mãi, cuối cùng người bảo vệ mới lưỡng lự nhận ra anh là cán bộ của trường nên… cho qua cổng. Rồi một lần khác, Quảng hý hoáy chở mạ giống từ ĐH Nông nghiệp I lên Ba Vì, nhiều người nông dân cứ ngỡ anh kia chở mạ cho… vợ cấy.  Với khuôn mặt “đặc sệt”nông dân, anh phấn khởi “khoe”: “Mình đang đạt được ước mơ. Có được cơ hội “chung lưng” với bà con rồi”.  Chắp cánh “Cây lúa Việt”  Trong căn phòng làm việc ngổn ngang là bì thóc giống, những chồng tài liệu và cả…những đoạn tre, gỗ thừa giữa khuôn viên mới của Viện Nghiên cứu lúa đang trong giai đoạn xây dựng. Không gian làm việc của những nhà khoa học nông nghiệp thật đơn sơ như chính con người họ, nhưng cũng đầy đủ những “nông cụ” như bao nhà nông sau lũy tre làng. Với mái tóc “điểm bạc”, làn da rám nắng nhìn anh già hơn nhiều so với tuổi đời và tuổi nghề. Vũ Hồng Quảng nở nụ cười hiền hậu và bông đùa, “Vì phải nghĩ làm thế nào trị bệnh bạc lá cho cây lúa nên tóc cũng bị “bạc lá” như thế đấy”.  Vũ Hồng Quảng đã tập trung vào nghiên cứu về gen tương hợp rộng phục vụ chọn tạo lúa lai hai dòng. Anh cho biết, “Muốn nâng cao năng suất phải sử dụng gen này để có thể lai xa”. Hiện tại, anh đã đạt được kết quả trong việc chuyển gen tương hợp rộng vào dòng bố mẹ. Rồi hướng tới chuyển gen kháng bệnh bạc lá vào dòng mẹ và dòng bố để tạo ra lúa lai kháng bệnh bạc lá. “Bệnh bạc lá đang trở thành một bức xúc lớn trong ngành nông nghiệp vì nó hạn chế việc gieo cấy các giống lúa lai trong vụ mùa”, Vũ Hồng Quảng cho biết. Đặc biệt, gần đây anh có được kết quả nghiên cứu ban đầu trong việc sử dụng một nhóm gen cho năng suất lúa siêu cao. Nghiên cứu này sẽ mở ra một hướng mới: sản suất giống lúa năng suất siêu cao, tạo giống lúa có thể sản xuất trong vụ mùa ở Đồng bằng Bắc bộ và miền Trung kháng được bệnh bạc lá. Anh phấn khởi, “Trên cơ sở nguồn gen cho năng suất  cao, chất luợng lúa tốt thì đến 2009 có thể đưa ra sản xuất diện rộng”.  Trong quá trình nghiên cứu và triển khai các tổ hợp lúa lai, anh đã phải lặn lội nhiều nơi, trèo đèo lội suối khắp các tỉnh từ vùng núi, trung du phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, xuống các tỉnh  Đồng Bằng Sông Hồng rồi ngược vào các “miệt ruộng” Nam Bộ. Anh cho biết, “Cũng giống như người đi khai hoang vậy. Phải đi thì mới biết được giống lúa phù hợp với từng vùng đặc trưng của đất nước”. Nhiều khi, chỉ cần một cú điện thoại báo có “sự cố kỹ thuật” cần xử lý gấp là phải khăn gói lên đường ngay tắp lự. Có lần, khi nhận được tin vùng núi Bắc Hà việc nhân dòng mẹ không đậu hạt, Vũ Hồng Quảng vội bắt xe lên đường. Đến nơi đã là 8 giờ tối, vùng núi vắng tanh, màn đêm đặc quánh mà vẫn còn xa địa chỉ cần đến hơn 30 kilômét, lại cộng thêm cảnh đường xá heo hút nên chỉ còn biết thuê xe ôm “trèo” lên “vùng xử lý” nằm ở độ cao đến 900 mét so với mực nước biển.  Trước bài toán sản xuất lúa lai diện rộng, Trung Quốc đã có vùng sản xuất hạt lai F1 là đảo Hải Nam cho nên yêu cầu cấp bách đặt ra là Việt Nam cũng phải hình thành một vùng như thế để cung cấp giống cho toàn bộ hệ thống sản xuất lúa lai cả nước. Và thế là anh lại khăn gói lên đường, lặn lội vào tận Sóc Trăng. Vũ Hồng Quảng cho biết, “Sóc Trăng có thể trở thành “đảo Hải Nam” của Việt Nam bởi vì: Khí hậu và nhiệt độ ở đây phù hợp (luôn luôn trên 25oC) nên sẽ là vùng sản xuất lúa lai an toàn; diện tích đất canh tác rộng có thể tổ chức sản xuất lớn; người dân nơi đây bản chất là tổ chức hàng hóa nên dễ dàng tiếp nhận khi chuyển giao công nghệ sản xuất hạt lai F1”.  Cùng với  PGS.Nguyễn Văn Hoan, “sản phẩm” đầu tay của Vũ Hồng Quảng  là giống Việt lai 20 (VL20), giống lúa lai quốc gia đầu tiên ở Việt Nam được công nhận. “Vạn sự khởi đầu nan”, những tổ hợp lúa lai khác liên tục được tạo ra trong sự tìm tòi, sáng tạo và đam mê cây lúa của nhà khoa học nông nghiệp trẻ này như Việt lai 24, Việt lai 45, Việt lai 50. Những giống lúa lai này đã dần tháo gỡ những khó khăn cho người nông dân, tạo nên một “phong trào” sản xuất lúa lai cả nước.  Chặng đường phía trước đang rộng mở cho nhà khoa học trẻ Vũ Hồng Quảng trên hành trình xây dựng thương hiệu cho cây lúa Việt Nam.      Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học chỉnh sửa gene Trung Quốc bị sa thải      Cuộc điều tra do Sở Y tế Quảng Đông thực hiện đã phát hiện ra He Jiankui đã phá vỡ các quy định quốc gia trong quá trình thực hiện công trình gây tranh cãi về các em bé chỉnh sửa gene.    He Jiankui, nhà khoa học thông báo vào cuối năm 2018 về việc tạo ra những em bé chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới đã bị trường đại học nơi ông làm việc sa thải.  Quyết định này mới được trường đại học KH&CN Nam Trung Quốc thông báo vào ngày 21/12/2019, sau khi có một bản báo cáo nêu kết quả cuộc điều tra về công việc của He do các nhà chức trách y tế của tỉnh thực hiện.  Sở Y tế Quảng Đông đã phát hiện ra He đã xâm phạm các quy định quốc gia về việc không được phép chỉnh sửa gene cho các mục đích sinh sản, Xinhua – hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc, đã nêu trong bản tin ngày 21/1/2019.  Cuộc điều tra này cũng đã tìm ra: thí nghiệm của He đã đi ngược lại các quy định quốc gia về việc cấm đưa người nhiễm HIV tham gia vào quá trình sinh sản. Để “lách luật”, He đã lấy máu từ những tình nguyện viên nhiễm HIV.  He đã gây sốc tại một diễn đàn quốc tế vào tháng 11/2018 khi tiết lộ mình đã dùng kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR–﻿Cas9 để sửa đổi phôi thai với nỗ lực khiến các phôi này kháng HIV; các phôi sau đó đã được cấy vào một phụ nữ và cho ra đời một cặp sơ sinh, Nana và Lulu.  Theo kết quả cuộc điều tra này, He là người phụ trách dự án chỉnh sửa gene, coi thường các quy định và cố ý lờ đi sự giám sát của chính quyền để theo đuổi “danh vọng và tiền bạc”. He không hồi đáp những câu hỏi của Nature về bình luận này.  Cuộc điều tra của Sở Y tế   Bài báo trên Xinhua được viết trên cơ sở cuộc phỏng vấn với một thành viên thuộc nhóm điều tra từ Sở Y tế Quảng Đông, vốn do Bộ Y tế chỉ đạo để kiểm tra về vụ việc của He. Dù không đề cập đến bất kỳ hình phạt nào nhưng thành viên này nói cảnh sát có thể tham gia vào quá trình điều tra.  Bài báo này cũng nêu nhiều chi tiết lần đầu được tiết lộ: bắt đầu từ tháng 6/2016, He đã tập hợp một nhóm nghiên cứu và từ tháng 3/2017, tuyển 8 cặp, bao gồm một người cha dương tính với HIV và một người mẹ âm tính với HIV. Nhóm nghiên cứu của He đã chỉnh sửa các gene của phôi được lấy từ ít nhất hai cặp đôi (bài báo của Xinhua không nêu đặc biệt kiểu gene nào được chỉnh sửa, dẫu He tuyên bố là các phôi được chỉnh sửa để loại bỏ gene cho phép HIV xâm nhập các tế bào). Khi người phụ nữ sinh Nana và Lulu thì một người khác đang mang thai với phôi chỉnh sửa gene. Năm cặp không có kết quả và 1 cặp bị loại khỏi thí nghiệm.  Dù nói các hành động chỉnh sửa gene của He “đã bị chính quyền ngăn cấm một cách rõ ràng” nhưng bài báo không nêu những điều luật hay quy định cụ thể mà He đã xâm phạm.  Theo bài báo này thì He và những người tham gia thí nghiệm sẽ bị xử lý một cách thích đáng và các cá nhân bị nghi ngờ phạm tội sẽ được giao cho cảnh sát.  Bộ Giáo dục Trung Quốc loan báo sẽ hợp tác với các bộ ban ngành khác để xây dựng hệ thống quy chế giám sát khoa học và sẽ hoàn thiện những quy định đạo đức cho các dự án khoa học.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00246-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà lưỡng cư!      Một trận mưa như trút nước mãi không ngớt, và Nha khí tượng dự&#160; báo thời tiết còn tiếp tục xấu. Anna Van der Molen đáng lẽ sẽ phải rất lo lắng vì cô đang sống trong vùng ngập lụt. Nhưng cô vẫn bình thản nhấm nháp tách café.    Nếu nước sông dâng cao, cô cũng chẳng sợ gì: ngôi nhà cô có thể cao thêm 5m và nổi trên mặt nước. Hai tầng, một mái tròn, mặt tiền màu vàng-xanh: nhìn từ ngoài, 37 ngôi nhà nằm thẳng hàng bên bờ  sông trông không có gì đặc biệt. Tuy nhiên đó lại là những ngôi nhà vừa nổi vừa cạn đầu tiên của Xứ Thấp (Hà Lan), có đặc tính như những loài lưỡng cư: tiện nghi khi ở trên cạn, nhưng cũng rất chắc chắn khi nổi trên nước. Trong trường hợp cần thiết, chúng có thể nổi lên cùng với nước bằng cách trượt trên hai cọc thép. Dick Van Gooswilligen, của Công ty  Dura Vermeer, người thiết kế loại nhà “lưỡng cư” này giải thích: “Hai cột này được chôn sâu dưới đất. Chúng thậm chí còn có thể chịu được động đất 7 độ richter”. Hiện nay, loại nhà này vẫn đắt hơn nhà truyền thống. Một ngôi nhà “lưỡng cư” rộng 120m2 xây dựng trên sông Meuse giá từ 250.000-300.000 euro. Đó là chưa kể chi phí lắp đặt điện, khí và nước sinh hoạt và nước thải, rất tốn kém vì hệ thống phải thích ứng với chuyển động của ngôi nhà. Tuy nhiên, giá sẽ giảm xuống nếu xây dựng hàng loạt. Hơn nữa, nếu so với giá nhà xây trên nền ao, hồ thì giá thành cũng không cao hơn là mấy vì chi phí gia công móng cũng khiến giá thành ngôi nhà truyền thống rất cao.  P.V    Nguồn tin: Gerald Trauffetern, Der Spiegel, Hambourg      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy điện hạt nhân nổi bắt đầu nối lưới điện      Vào ngày 19/12/2019, nhà máy điện hạt nhân nổi Akademik Lomonosov đã bắt đầu nối lưới điện để cung cấp điện năng cho Chaun-Bilibino hẻo lánh ở Pevek, thuộc vùng Viễn Đông của Nga. Như vậy sau nhà máy điện hạt nhân Obsnink nối lưới điện đầu tiên trên thế giới vào năm 1954, ROSATOM lại tiên phong trong việc phát triển và xây dựng một hình mẫu nhà máy điện mới.      Trước khi Akademik Lomonosov nối lưới điện, Rostekhnadzor – cơ quan an toàn hạt nhân Nga, đã cấp phép giấy phép điều hành cho nhà máy cũng như công ty điện lực Chukotenergo JSC cho phép hòa lưới. Nhiệm vụ cung cấp nhiệt cho mạng lưới của Pevek sẽ được bắt đầu vào năm tới.  Akademik Lomonosov là một dự án thử nghiệm và là một “mẫu thử vận hành” cho những nhà máy điện hạt nhân nổi trong tương lai của Nga dựa trên công nghệ lò phản ứng công suất nhỏ (SMRs). Những lò phản ứng này sẽ sẵn sàng phục vụ những khu vực khó kết nối lưới điện như vùng Cực Bắc hay Viễn Đông của Nga, cũng như xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài.  Trong thông cáo báo chí của ROSATOM, ông Alexey Likhachov, tổng giám đốc tập đoàn cho rằng Akademik Lomonosov là nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên trên thế giới sử dụng công nghệ SMR để phát điện. “Đây là cột mốc lịch sử cho cả ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân thế giới và Nga. Đây là bước lớn trong việc thiết lập Pevek như một thủ đô năng lượng mới của vùng này,” ông chia sẻ.  Dự kiến, ROSATOM muốn xây dựng ít nhất 7 nhà máy điện hạt nhân nổi như Akademik Lomonosov. Hiện nay họ đang thiết kế và chế tạo các thùng lò của nhà máy điện hạt nhân nổi thế hệ thứ hai với mục tiêu để chúng nhỏ hơn và chắc chắn hơn.   Nhiều nhà phân tích về điện hạt nhân đã dẫn lại các công bố của Nga về chủ đề này cho rằng, các lò phản ứng mới sẽ có thể là lò nước áp lực RITM-200M do OKBM Afrikantov, một công ty con chuyên về kỹ thuật hạt nhân của ROSATOM thiết kế với vòng đời 400 năm và công suất 100MW. Theo Financial Times, ROSATOM muốn xuất khẩu công nghệ này sang Mỹ Latin, châu Phi và châu Á, những nơi rất cần công nghệ để cung cấp điện năng cho các vùng hẻo lánh, xa trung tâm. Hiện ROSATOM là nơi nắm giữ nhiều know-how hạt nhân của Nga và tiến tới xây dựng nhiều giải pháp để thay thế nguyên liệu hóa thạch, không chỉ cho Nga mà còn khắp thế giới.    Akademik Lomonosov vào thời điểm bắt đầu khởi hành.  Tổng giám đốc Hiệp hội hạt nhân thế giới (WNA) Agneta Rising đánh giá “Thật thú vị khi chứng kiến nhà máy điện hạt nhân mang nhiều nét đổi mới sáng tạo này bắt đầu vận hành trong chính thời điểm lạnh giá của mùa đông. Nó sẽ cung cấp nhiều năng lượng sạch và nhiệt cho cộng đồng sống ở vùng Bắc cực băng giá”. Bên cạnh đó, bà còn nhấn mạnh: “Hiện có khoảng 50 công nghệ hạt nhân tiên tiến đang được phát triển với nhiều nỗ lực của nhiều quốc gia. Họ đang theo đuổi những thiết kế mới và chờ đón nhiều công nghệ hạt nhân cho những ứng dụng mới và thú vị. Từ lò phản ứng SMR đầu tiên của thế giới này, chúng ta sẽ tiếp tục chào đón nhiều loại như vậy nữa. Các lò phản ứng nhỏ có thể phù hợp với việc cung cấp điện năng cho các vùng sâu vùng xa cũng như phục vụ các trung tâm công nghiệp. Chúng ta đang đứng trước sự khởi đầu của một kỷ nguyên công nghệ hạt nhân mới.”  Kirsty Gogan, người phụ trách Energy for Humanity, một NGO có trụ sở tại London, nói: “Với những vùng khó kết nối, thật khó để ủng hộ và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo trong khi không muốn phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch. Vì vậy các lò phản ứng công suất nhỏ, trong đó có nhà máy điện hạt nhân nổi, là đáp án duy nhất. Akademik Lomonosov là bước đầu tiên hướng đến tiềm năng giảm phát thải carbon ở vùng cực bắc và hơn thế nữa”.  Một khi bắt đầu vận hành phát điện thương mại, Akademik Lomonosov sẽ trở thành nhà máy điện hạt nhân thứ 11 của Nga. Nó cũng ghi dấu lần đầu tiên trong lịch sử đất nước này, hai nhà máy điện hạt nhân Akademik Lomonosov FNPP và Bilibino NPP được vận hành tại cùng một vùng.  Mang tên nhà bác học Nga thế kỷ 18, nhà máy này có hai lò phản ứng KLT-40C, mỗi chiếc có công suất 35 MW, tương tự công nghệ sử dụng trên các con tàu phá băng. Nó được đặt trên một con thuyền dài 144 mét và rộng 30 mét, có trọng lượng nước rẽ 21.000 tấn.  Các nhà máy điện hạt nhân có lò SMR (với đặc điểm các lò phản ứng công suất thấp hơn 300 MW), nhà máy điện hạt nhân trên bờ và nổi, được thiết kế để có khả năng cung cấp điện năng cho các vùng đặc biệt, theo thông cáo báo chí của ROSATOM. Các lò phản ứng này có thể vận hành liên tục và chỉ thay đảo nhiên liệu trong vòng ba đến năm năm, do đó sẽ giảm chi phí điện năng.  Các cư dân Pevek ghi dấu ngày biểu tượng này bằng việc thắp sáng cây thông Noel  của thành phố.  Thanh Phương tổng hợp   Nguồn: https://www.forbes.com/sites/kenrapoza/2019/12/19/russia-first-floating-nuclear-power-plant-turns-on-set-to-replace-coal/#2cdd4ae61e3d                http://world-nuclear-news.org/Articles/Russia-connects-floating-plant-to-grid       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy điện hạt nhân nổi đã tới Cực Bắc      Nhà máy điện hạt nhân nổi đầu tiên trên thế giới Akademik Lomonosov – niềm tự hào của nền công nghiệp năng lượng hạt nhân Nga, đã di chuyển tới Cực Bắc với mục tiêu cung cấp điện năng và nước ngọt cho thành phố Pevek, Nga.      Nhà máy điện hạt nhân nổi Akademik Lomonosov rời Saint Petersburg. Nguồn: ROSATOM  Vào ngày 28/4/2018, Akademik Lomonosov của Liên bang Nga đã rời xưởng đóng tàu Baltiysky Zavod ở Saint Petersburg, nơi nó bắt đầu được thiết kế và xây dựng từ năm 2009. Với 2 lò phản ứng hạt nhân KLT-40S 35 MW, Akademik Lomonosovsẽ tới thành phố Pevek ở Cực Bắc của Liên bang Nga.  Khi đi vào hoạt động năm 2019, Akademik Lomonosovsẽ thay thế nhà máy điện hạt nhân Bilibino và nhà máy nhiệt điện Chaunskaya để “trở thành nhà máy điện hạt nhân đặt xa nhất vùng Cực Bắc trên thế giới”, đại diện ROSATOM cho biết.  Những chuẩn bị hoàn hảo trong “hậu trường”  Đằng sau những hoạt động mang tính “bề nổi” trong hành trình tới Cực Bắc của Akademik Lomonosov là cả một quá trình chuẩn bị lâu dài và được các chuyên gia ROSATOM tính toán một cách chính xác và tỉ mỉ. Dịch vụ cứu hộ hàng hải Rosmorrechflot của Cơ quan vận tải đường biển và đường sông liên bang chịu trách nhiệm cho quá trình lai dắt và điều chỉnh hướng di chuyển của nhà máy theo lộ trình Saint Petersburg-Murmansk-Pevek. Tốc độ lai dắt trung bình trong các điều kiện thuận lợi sẽ vào khoảng 3,5 và 4,5 hải lý trên giờ. Khi được lai dắt qua biển Cực Bắc tới bến tàu Atomflot ở Murmansk, Akademik Lomonosov sẽ trải qua quá trình tháo bớt tải trọng tại cảng neo đậu và được kết nối với cơ sở hạ tầng trên bờ ở Pevek.  Để có được Akademik Lomonosov, ROSATOM đã quy tụ 136 công ty tham gia dự án với tư cách nhà thầu phụ và chính trong suốt giai đoạn chế tạo và gia công kỹ thuật nhà máy, trong đó OKBM Afrikantov – công ty thiết bị điện, chịu trách nhiệm thiết kế các lò phản ứng trên Akademik Lomonosov, sản xuất và cung cấp các máy bơm, thiết bị xử lý nhiên liệu và thiết bị phụ trợ; viện nghiên cứu và phát triển Nizhniy Novgorod chịu trách nhiệm lắp ráp các lò phản ứng vào nhà máy; Izhorskiye Zavody – công ty chế tạo máy, đảm trách việc sản xuất các lò phản ứng; công ty Kaluga Turbine Works cung cấp các turbine, máy phát điện; TVEL – công ty chế tạo nhiên liệu hạt nhân, cung cấp nhiên liệu hạt nhân.  Công nghệ của nhà máy điện hạt nhân nổi  Akademik Lomonosov là một thiết bị phát điện độc lập, được sản xuất như một chiếc tàu không tự hành có chiều dài 140m, chiều rộng 30m, cao 10m, tầm nước 5,56m với một đoàn thủy thủ 70 người.  Akademik Lomonosov được trang bị một tổ máy phát điện gồm 2 lò phản ứng hạt nhân KLT-40C 35MW hoặc 300MW và 2 turbine hơi, cùng với các khu vực dự trữ để chứa các bó nhiên liệu hạt nhân sạch cũng như các chất thải phóng xạ dạng rắn và lỏng. Nó cũng có thể được sử dụng như một nhà máy khử muối với công suất 240.000 m3 nước ngọt mỗi ngày.      Tất cả các yêu cầu chặt chẽ nhất về an toàn và môi trường của quốc tế (IAEA) và của Nga đều được đáp ứng đầy đủ khi thiết kế, chế tạo, xây dựng, vận chuyển và vận hành nhà máy điện hạt nhân nổi mang tên Viện sỹ Lomonosov      Công nghệ lò phản ứng KLT-40C là một lò phản ứng nước nhẹ dạng mô-đun, hoạt động như một nhà máy điện hạt nhân nhỏ có thiết bị sinh hơi. Công nghệ lò này bao gồm lò phản ứng hạt nhân, các bình sinh hơi, các bơm tuần hoàn chất tải nhiệt, các bộ trao đổi nhiệt, các bình điều áp, các van và các đường ống được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Dự kiến, lò phản ứng đầu tiên sẽ được bàn giao vào tháng 5/2019, chiếc thứ hai vào tháng 8/2019. Mỗi một lò phản ứng được bao bọc trong một vỏ chứa kín chịu áp lực làm bằng thép.  Cứ ba năm, lò phản ứng sẽ được thay đảo nhiên liệu một lần. Rác thải hạt nhân sẽ được loại bỏ cẩn thận để tránh các phóng xạ trong suốt quá trình hoạt động của lò phản ứng.  Rosatom sẽ xây dựng thêm một số cơ sở trên bờ và ngoài khơi để truyền năng lượng và điện năng sinh ra từ nhà máy vào đất liền. Khi hoạt động hết công suất, Akademik Lomonosov sẽ đảm bảo cung cấp đủ điện năng cho khoảng 200 nghìn người trong khoảng 40 năm, góp phần tiết kiệm mỗi năm 200 nghìn tấn than và 100 nghìn tấn nhiên liệu dầu.  Dự kiến, nhà máy này sẽ trải qua quá trình bảo dưỡng và bảo trì tại xưởng đóng tàu Baltic 12 năm một lần.  Lo ngại về tác động đến môi trường  Rất nhiều câu hỏi liên quan đến các rủi ro về môi trường đã được đặt ra trong quá trình triển khai nhà máy, trong đó điều chính yếu là Akademik Lomonosov có thể tạo ra một lượng lớn hơi nhiễm phóng xạ mà các thể ảnh hưởng xấu tới trung tâm dân cư xung quanh hay không?  Người ta còn lo ngại về sự an toàn bởi khu vực Kamchatka, nơi đặt nhà máy Akademik Lomonosov, thường xảy ra nhiều hoạt động địa chấn. Một trận động đất gây ra sóng thần có thể phá hủy nhà máy điện hạt nhân nổi gần bờ, dẫn đến khả năng rò rỉ vật liệu phóng xạ và nhiên liệu từ rác thải hạt nhân.  Tuy nhiên, Liên bang Nga đã có 50 năm kinh nghiệm vận hành an toàn các tàu phá băng sử dụng năng lượng hạt nhân – được xây dựng đặc biệt cho khu vực Bắc Cực, và tất cả đều được áp dụng cho nhà máy nổi này. ROSATOM đã thực hiện đầy đủ các tính toán, phân tích đầy đủ và toàn diện, kết quả cho thấy xác suất xảy ra sự cố rò rỉ chất phóng xạ ra môi trường, ảnh hưởng đến con người hầu như không có. Tất cả các yêu cầu chặt chẽ nhất về an toàn và môi trường của quốc tế (IAEA) và của Nga đều được đáp ứng đầy đủ khi thiết kế, chế tạo, xây dựng, vận chuyển và vận hành nhà máy điện hạt nhân nổi mang tên Viện sỹ Lomonosov.  Đoàn Mạnh Long (Trung tâm Đào tạo hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam)  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy điện hạt nhân nổi: Hướng phát triển công nghệ mới của Rosatom      Trong thời gian gần đây, một số cường quốc về điện hạt nhân, trong đó có Nga, có tham vọng xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi (Floating Nuclear Power Plant – FNPP), một hướng phát triển về công nghệ để cung cấp điện năng và nước ngọt, đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt và sản xuất của con người trên những vùng đất xa xôi. GS. TS Cao Chi đã cung cấp cho độc giả Tia Sáng những thông tin cần thiết về loại công nghệ mới này.      GS. TS Cao Chi  Thưa ông, từ khi nào người ta bắt đầu nghĩ đến việc nghiên cứu và phát triển FNPP?  Có thể nói, lịch sử phát triển FNPP bắt nguồn từ sự phát triển của các lò phản ứng công suất nhỏ được sử dụng trên các tàu phá băng hạt nhân và các tàu ngầm hạt nhân. Dựa trên những kinh nghiệm này, Tập đoàn năng lượng hạt nhân Rosatom (Nga) nhận thấy, các lò phản ứng công suất nhỏ trên được vận hành rất an toàn trong nhiều năm (tuy nhiên cũng phải kể đến tai nạn tàu ngầm hạt nhân Kursk của Hải quân Nga ngày12/8/2000).  Rosatom quyết định phát triển FNPP bằng việc nghiên cứu quá trình sử dụng các lò phản ứng công suất nhỏ trên các tàu phá băng và tàu ngầm hạt nhân và tiếp tục tối ưu nó. Họ nhận thấy, trong tương lai, FNPP sẽ là những đơn vị năng lượng di động có khả năng  cung cấp năng lượng cho những cơ sở ở xa và những cơ sở công nghiệp lớn, những hải cảng, những cơ sở sản xuất dầu khí những giàn khoan và các tổ hợp lọc dầu.Vì vậy FNPP (tiếng Nga là плавучая атомная теплоэлектростанция малой мощности, ПАТЭС ММ: những nhà máy điện hạt nhân công suất nhỏ đặt nổi trên biển) là một hướng phát triển điện hạt nhân mới của Rosatom và đưa tập đoàn này trở thành nước đi đầu trên thế giới trong việc phát triển FNPP. Nếu xét về mặt thương mại, Rosatom có hợp tác với Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Trung Quốc (China National Nuclear Corporation) để phát triển FNPP.  Vậy Rosatom đã đạt được những dấu mốc quan trọng nào trong quá trình phát triển FNPP, thưa ông?  Rosatom mới thông báo, kế hoạch về việc xây dựng một FNPP thương mại sẽ bắt đầu trở thành hiện thực vào tháng 10/2917. Hiện Rosatom đã bắt đầu tiến hành khảo sát và xây dựng các hạ tầng cơ sở bờ biển và các cấu trúc thủy động (coastal infrastructure and hydraulic structures) cho FNPP này tại thành phố Pevek, phía đông nước Nga. Rosatom có kế hoạch xây dựng đơn vị đầu tiên hoàn chỉnh vào tháng 9/2019 và dự định phát điện vào tháng 11/2019.  Trên thực tế, công việc của Rosatom chuẩn bị cho kế hoạch này bắt đầu vào năm 1950.    Hình 1. Trên hình 1, ta thấy ở phía sau là những đơn vị sản xuất điện năng còn ở phía trước là một đơn vị khử mặn sản xuất nước ngọt.  Vậy giữa FNPP và các nhà máy điện hạt nhân truyền thống (trên đất liền) thì có sự khác biệt nào về mặt công nghệ không?  Về mặt nguyên lý thì FNPP không khác gì các nhà máy điện hạt nhân khác, chỗ khác nhau duy nhất là FNPP được đặt trên một hệ thống nổi trên biển. Để hình dung rõ vấn đề, ta xét trường hợp Akademik Lomonossov, FNPP đầu tiên của Nga. Akademik Lomonosso được thiết kế tại nhà máy đóng tàu ngầm hạt nhân ở Severodnik rồi sau đó chuyển đến Baltic Shipyard ở Saint Peterburg.    Hình 2. FNPP mang tên Akademik Lomonosov  Điều đặc trưng nhất của FNPP là các lò phản ứng công suất nhỏ.   Công nghệ cơ bản của FNPP nguyên là công nghệ các lò phản ứng dân sự và quân sự với  những lò có ký hiệu KLT-40 và OK-150. Nhiều tàu phá băng sử dụng OK-150 và KLT-40 (xem hình 3).      Hình 3: Tàu phá băng mang tên Lenin được thiết kế và xây dựng trong các năm 1957 đến 1959, có 3 lò PWR công suất 90 MWt, ký hiệu OK-150.  Đó là những lò phản ứng PWR (Pressurized Water Reactor-Lò phản ứng nước áp lực), nhiên liệu là U235 làm giàu đến 30 – 40% hoặc 90%. Công suất từ 135 đến 171 MW nhiệt (~52 MWe). FNPP Akademik Lomonosov sử dụng loại lò ký hiệu KLT-40.  Một FNPP cần thay nhiên liệu ba năm một lần, tương tự các nhà máy điện hạt nhân khác nhưng vòng đời của nó chỉ khoảng 40 năm, thấp hơn nhiều so với các “anh em” nó trên đất liền (hiện tại vòng đời của nhà máy điện hạt nhân theo công nghệ mới có thể trên 60 năm).  So với những công nghệ lò phản ứng vẫn được sử dụng ở các nhà máy điện hạt nhân truyền thống, FNPP có thêm những tính năng ưu việt nào không?  Ngoài mục đích sản xuất ra điện năng phục vụ nhu cầu của con người, Rosatom còn hướng tới việc sử dụng FNPP như một công cụ hữu hiệu để sản xuất nước ngọt tinh khiết. Vì vậy, một FNPP bao gồm ngoài các đơn vị sản xuất điện năng một đơn vị khử mặn để sản xuất nước ngọt bằng phương pháp hồi thẩm thấu (remorse osmosis) hoặc phương pháp chưng cất nhiều lần (multi-stage evaporating). Một nhà máy như thế rất cần cho nhiều nước ở châu Âu, Trung đông và Bắc Phi là những vùng có nhiều nơi thiếu nước ngọt (xem mô hình ở hình 1). Đơn vị sản xuất nước ngọt có công suất vào khoảng 240.000 m3/ngày.   Về mặt nguyên tắc, FNPP cần những nhà máy tái xử lý nhiên liệu trên bờ (hạ tầng cấu trúc trên bờ-infrastructure along coast).  Chi phí đầu tư cho việc xây dựng FNPP có cao hơn so với các nhà máy điện hạt nhân khác không?  Chúng ta có thể thấy được yếu tố giá cả của một FNPP thông qua những chi phí mà Rosatom dành để xây dựng Akademik Lomonossov, FNPP đầu tiên trên thế giới bắt đầu đi vào vận hành từ ngày 1/7/2010. Vào năm 2006, giá thành nhà máy dự trù ban đầu là 140.000.000 đô la nhưng sau đó, đã tăng vọt lên 5 lần, nghĩa là vào cỡ 740.000.000 đô la.  Công suất của Akademik Lomonossov là khoảng 70-80 MWe.  Trên thực tế thì tính an toàn của FNPP như thế nào?  Xét về mặt công nghệ thì FNPP sẽ khó so sánh về độ an toàn với nhà máy điện hạt nhân trên đất liền bởi nó sẽ phải đối mặt rất nhiều với nguy cơ khủng bố hay tai nạn như trường hợp tàu ngầm Kursk. Đó là những quan điểm về an toàn điện hạt nhân trước năm 2011.   Tuy nhiên khi liên hệ đến vụ động đất và sóng thần xảy ra vào năm 2011 tại Nhật (Tohoku) thì xét ra, FNPP cũng có vài ưu điểm đáng kể so với nhà máy điện hạt nhân trên đất liền. Ví dụ việc lựa chọn địa điểm xây dưng nhà máy điện hạt nhân trên đất bằng đòi hỏi nhiều tiêu chí quan trọng về khả năng xảy ra động đất, sóng thần. Nguyên nhân là do người ta buộc phải xây dựng nhà máy ở khu vực ven biển để lấy nước làm mát lò phản ứng, nơi tồn tại nguy cơ tiềm ẩn về động đất, sóng thần như trường hợp nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi đã gặp phải. Trong khi đó, nếu FNPP được xây dựng trên biển và ở vùng nước sâu và tương đối xa bờ thì sẽ có khả năng tránh được động đất và sóng thần do ở những vùng nước tương đối sâu, sóng thần sẽ không gây tác hại nhiều như vùng ven bờ. Ngoài ra, trong trường hợp xảy ra sự cố (khủng bố, tai nạn hạt nhân…) và cần làm mát lò phản ứng thì ta có sẵn nước biển, thậm chí có thể đánh chìm nhà máy, tuy nhiên đây là trường hợp cùng cực vì có thể gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho biển.  Khi nhà máy ngừng hoạt động, có thể kéo FNPP đến những vùng rất xa bờ rồi thực hiện dần dần các công đoạn tháo dỡ, như vậy cũng đòi hỏi ít tốn kém về kinh phí hơn hơn việc tháo dỡ trong đất liền.  Theo một cuốn sách xuất bản năm 2004 của nhóm tác giả Vladimir Kuznetsov, Alexey Yablokov, Yevgeney Simonov và Alexander Nikitin, những chuyên gia hạt nhân cho rằng FNPP không an toàn về nhiều mặt, ngoài ra các tác giả này đánh giá là FNPP không kinh tế.  Vậy tương lai phát triển của FNPP trên thế giới như thế nào thưa ông?  Ở Nga, FNPP được cho là có thể xây dựng ở vùng Bắc cực Nga. Theo thông tin của Nga thì các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Algerie, Nambia, Cape Verde, Argentina cũng quan tâm đến việc thuê FNPP để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình.  Với Việt Nam hiện nay chưa cần nghĩ đến vấn đề xây dựng hoặc thuê FNPP song ở tương lai xa, Việt Nam cũng có thể cần những tàu ngầm hạt nhân, việc tiếp cận và nghiên cứu công nghệ FNPP là việc cần chú ý đến trong một mức độ nhất định.  Cám ơn ông.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nhà máy điện hạt nhân trên tàu biển ?      &#160;Hội thảo Quốc tế Những vấn đề cấp bách của Hành tinh (Planetary Emergencies) lần thứ 46 mà tôi có dịp tham dự gần đây có một số tham luận rất cuốn hút, trong đó tham luận của các tác giả Robert Petroski và Lowell Wood theo tôi là đáng quan tâm hơn cả, dù thoạt nghe chủ đề có vẻ hơi kỳ quặc: “Các hệ thống lò năng lượng hạt nhân trên tàu biển cho mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở những nước đang phát triển” (“Ship-based Nuclear Energy Systems for Accelerating Developing World Socio-economic Advances”.)      Những hệ thống sản xuất năng lượng như vậy vốn đã có từ vài thập kỷ trở lại đây, trong các tàu ngầm, tàu sân bay, tàu phá băng, v.v. Tuy nhiên, chúng chỉ mới cho nguồn năng lượng giới hạn dưới 100 MW, đồng thời phải cần đến nguồn nhiên liệu hạt nhân đã được làm giàu có chi phí đắt đỏ. Hiện nay cũng đã có một số dự án mới như Các hệ thống năng lượng Westinghouse1 được triển khai ngoài khơi bang New Jersey ở Mỹ, dự án Rosatom Akademic Lomonosov2 của Nga ở Bắc Băng Dương, dự án tàu ngầm Flexblue3 của Pháp, v.v. nhưng hệ thống phát năng lượng mà chúng ta đang nói đến hoàn toàn khác, với quy mô lên tới khoảng 1 GW, với khả năng mang đến những giải pháp có tính khả thi cao về mặt kinh tế.   Ưu điểm hấp dẫn nhất của những hệ thống này là khả năng tản nhiệt vô hạn, khả năng cho phép nước chảy quanh lõi lò và được đánh chìm đơn giản nhờ trọng lực trong trường hợp lò mất kiểm soát. Cách thiết kế như vậy không chỉ giúp tránh những vụ tai nạn kiểu như Three Mile Island, Chernobyl và Fukushima, mà còn tránh việc phải di tản một số lượng lớn dân cư. Bên cạnh đó, ưu điểm hấp dẫn thứ hai là tiết kiệm chi phí chế tạo do người ta có thể sản xuất lò hàng loạt theo cùng một kích cỡ tiêu chuẩn và đưa ra ngoài biển ở bất kỳ vị trí nào thích hợp.  Tác giả của nghiên cứu cho rằng để chứa các lò phản ứng như vậy, chỉ cần các con tàu vận tải loại Valemax – tải trọng 400 nghìn tấn, dài 360 m, độ nhúng nước sâu 23 m – hiện đang được đóng với số lượng lớn tại các nhà máy đóng tàu của Trung Quốc và Hàn Quốc. Có nghĩa là những con tàu vận tải hiện phổ biến trên thế giới hoàn toàn có thể được dùng để chứa các lò phản ứng quy mô hàng GW. Những con tàu này sẽ được neo ở các vùng nước sâu từ 50 tới 100 m, và điện năng được tải vào bờ qua đường dây dưới lòng biển.  Các tác giả của nghiên cứu khẳng định rằng cách bố trí lò hạt nhân trên tàu như vậy sẽ giúp tránh hiểm nguy từ động đất và sóng thần. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng ở các vùng nước sâu4,5, còn với những vùng ven biển nông như ở miền Bắc và Nam Việt Nam6 người ta sẽ phải neo tàu ở ngoài khơi xa, đòi hỏi đường dây tải điện rất dài. Chỉ có một nơi có mực nước sâu và không nằm quá xa bờ là vùng biển miền Trung ở các tỉnh giữa Bình Định và Ninh Thuận. Nhưng nếu đặt tàu ở đây, nó sẽ phải chống chịu những cơn bão lớn thường xuyên xảy ra ở Biển Đông, và đôi khi cả những con sóng rất lớn7.  Trong khi các con tàu năng lượng hạt nhân trên thế giới hiện sử dụng công nghệ Lò Nước Áp lực (PWR) thông dụng từ 60 năm nay, các tác giả nghiên cứu lại đề xuất sử dụng những lò áp lực thấp, chẳng hạn như các phiên bản nâng cấp của Lò Nước nhẹ (LWR) hay các hệ thống làm mát bằng kim loại lỏng hoặc muối lỏng (sử dụng chì, bismuth chì, hay FLiBe). Những lò hạt nhân như vậy không cần xây dựng khoang chứa lớn, sử dụng hệ thống tản nhiệt phân rã thụ động, tận dụng tối đa khả năng tản nhiệt vô tận của nước biển, và miễn nhiễm với các sự cố mất điện. Hơn nữa, thiết kế ít phức tạp còn giúp giảm nhu cầu bảo dưỡng và chỉ cần lượng tối thiểu nhân công vận hành.    Có thể cân nhắc vài phương án làm mát khác nhau. Phương án trực tiếp là truyền nhiệt thẳng từ lò xuống biển qua một thiết bị trao đổi nhiệt, còn phương án gián tiếp là không để cấu phần nào của lò tiếp xúc trực tiếp với nước, thay vào đó truyền nhiệt xuống một bể nước trung gian nằm dưới biển.  Báo cáo của hai nhà nghiên cứu dành nhiều nội dung cho các vấn đề an toàn, sử dụng dữ liệu hiện có từ các nhà máy trên đất liền và cả những tàu biển năng lượng hạt nhân. Mức độ rủi ro, được xác định bằng tích của xác suất xảy ra sự cố và hậu quả đã được lượng hóa, được tính toán trên các kịch bản khác nhau, qua đó cho thấy mức độ nguy hiểm thấp hơn nhiều so với những nhà máy năng lượng hạt nhân trên đất liền. Lý do chính là yếu tố dung lượng nước biển khổng lồ và vị trí ở xa các khu dân cư.  Ngoài vấn đề phải chống chịu bão và sóng lớn đã đề cập trên đây, vấn đề đáng ngại nhất của mô hình này là thảm họa với môi trường nếu để thoát ra một lượng lớn phóng xạ xuống biển. Nếu nước nhiễm phóng xạ tràn ra biển như ở Fukushima thì sự phản đối từ ngư dân và các tổ chức môi trường như Hòa bình Xanh, cho dù có thể phần lớn là cảm tính, nhưng sẽ đủ mạnh để buộc dự án bị hủy bỏ. Đây là điều đã xảy ra ở Nhật Bản trong quá khứ8. Vấn đề an ninh và nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân cũng cần được tính đến, nhưng có lẽ nguy cơ của chúng không cao hơn so với các nhà máy trên đất liền.  Giá trị kinh tế là động lực cơ bản trong cân nhắc các nhà máy điện hạt nhân trên tàu biển. Các tác giả nói: “Lợi thế đặc thù có tầm quan trọng đáng kể – có lẽ mang tính quyết định – của các hệ thống sản xuất năng lượng hạt nhân do chúng tôi đang nghiên cứu và sản phẩm tiềm năng mà chúng mang lại là ở tính chất ‘mua đến đâu trả tiền đến đấy’ (‘pay as you go’), cho phép các nước đang phát triển đặt hàng các hệ thống sản xuất năng lượng hạt nhân quy mô lớn của các nước phát triển theo chủng loại và chất lượng đúng với nhu cầu và khả năng chi trả của họ theo nguyên tắc ‘trả tiền và giao hàng ngay’(‘cash & carry’) mà không cần đầu tư lượng vốn quá lớn cũng như dành thời gian quá lâu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, và cũng không còn tình trạng ‘phải mua nhiều hơn nhu cầu như khi nhà cung cấp các hệ thống sản xuất điện hạt nhân chỉ cho khách hàng lựa chọn vài mức công suất nhất định (quantization issues), v.v”. Các hệ thống sản xuất điện hạt nhân trên tàu biển có thể được chia nhỏ thành các cấu phần được chuẩn hóa, cho phép hạ giá thành thiết bị xuống dưới mức tối thiểu ở những hệ thống được xây dựng trên đất liền. Điều này mang lại lợi thế rất thuyết phục, như các tác giả nghiên cứu đã chỉ ra.   Rõ ràng cách tiếp cận mới này cần được xem xét trên tầm quy mô khu vực. Đây là cơ hội để nhiều quốc gia có thể cùng nghiên cứu tìm cách đóng góp và chia sẻ, một số nước có kinh nghiệm về thiết kế lò, những nước khác có lợi thế về đóng tàu, khai mỏ, chế biến nhiên liệu, v.v. Khía cạnh địa chính trị được bổ sung bên cạnh các yếu tố kỹ thuật, kinh tế, và xã hội. Nó thúc đẩy tư duy đổi mới sáng tạo trên nhiều lĩnh vực cho những vấn đề quan trọng nhất đối với tương lai dài hạn của khu vực. Ví dụ, trong trường hợp Biển Đông, các nước có thể nhìn xa hơn những khúc mắc căng thẳng tạm thời, hướng tới một tương lai nơi các quốc gia châu Á có thể cùng nỗ lực hợp tác vì một chính sách năng lượng bền vững.   Thanh Xuân dịch, Phạm Ngọc Điệp hiệu đính  ————-  1. Rod Adams, Offshore Power Systems : Big Plants for a Big Customer, http://atomicinsights.com/offshore-power-systems-big-plants-for-big-customer/  2. Akademic Lomonosov, http://en.wikipedia.org/wiki/Russian_floating_nuclear_power_station  3. Flexblue, http://en.dcnsgroup.com/energy/civil-nuclear-engineering/flexblue/  4. Tim Bunting et al., The Science of Tsunamis, http://www.slb.com/~/media/ Files/resources/oilfield_review/ors07/aut07/science_of_tsunamis.pdf  5. Vu Thanh Ca, Earthquake and Tsunami Scenarios in the South China Sea,   http://www.ims.nus.edu.sg/Programs/ocean07/files/vu1.ppt#261  http://www.firstpost.com/fwire/un-okays-south-china-sea-tsunami-warning-centre-105461.html  6. Pham Van Ninh et al., Geostrophic and Drift Currents in the South China Sea,AreaIV: Vietnamese Waters,  http://map.seafdec.org/downloads/pdf/collaborative%20research/ AreaIV_Vietnam/SCS_FRS4_19.pdf   7. Cheung. H. Kim, Offshore Non Linear Waves and Impact Loads, http://www.eagle.org /eagleExternalPortalWEB/ShowProperty/BEA%20Repository/EnergyNews/pdfs/2010/October/wavepresentation  Steve Pennell and Wendell Brown, Rogue Waves Challenge Ocean Theorists, http://faculty.uml.edu/robert_gamache/UMassMarine/UmassMarine_Sept_04.pdf  Roger Grimshaw et al., Rogue Internal Waves in the Ocean : Long Wave Model, http://www.lboro.ac.uk/microsites/maths/research/preprints/papers10/10-05.pdf  Tim Lovet, Waves, http://www.worldwideflood.com/flood/waves/waves.htm  Jerry Dennis and Glenn Wolff, Freak Waves and Rogues, http://robinstorm.blogspot.com/2007/ 10/freak-waves-and-rogues.html  Bill Baldwin, http://www.mowwnj.com/www.MOWWNJ.com/Member_Articles_files/Destroyer %20Duty%20in%20Vietnam.pdf  8. Tatsuo Masuda, private communication.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy điện kép gió và mặt trời      Sản xuất điện sinh thái thông qua điện mặt trời đặt trên mái nhà giờ đây đã khá phổ biến ở nhiều nơi. Nhưng khi trời đầy mây thì làm sao để có điện? Câu trả lời dường như thật đơn giản: thì dùng gió.    Đây chính là điều mà hãng Anerdgy của Thụy Sĩ đang theo đuổi – công nghệ này mang tên WindRail, cho phép chỉ cần một module nhưng có thể gặt hái cả năng lượng mặt trời lẫn năng lượng gió.      Ông Sven Köhler, người sáng lập Anerdgy, đang có kế hoạch phát triển công nghệ WindRail trong năm nay để đến năm 2015 có thể đưa sản phẩm ra thị trường. Ông cam kết: Trong trường hợp thuận lợi nhất, mỗi năm chủ nhân toà nhà có thể khái thác điện 330 ngày; còn trong trường hợp xấu nhất, vẫn có thể khai thác điện ít nhất 220 ngày.      Điều kiện tiên quyết để lắp đặt WindRail là mái nhà phải bằng và tương đối lớn.      Cơ sở cho ý tưởng của Sven Köhler là: Ở rìa mái nhà, gió thổi mạnh nhất vì ngôi nhà cản gió sang hai bên, vì thế cánh quạt đặt tại vị trí này có hiệu quả tạo ra điện cao nhất. Các kỹ sư thuộc Đại học Basel đang tính toán kỹ về vị trí lắp đặt quạt gió lý tưởng ở hệ thống thử nghiệm, để từ đó tăng hiệu quả và độ an toàn cho WindRail khi gió thổi không đều.                Nguyên tắc hoạt động của WindRail (Nguồn: Anerdgy)          Một module WindRail có diện tích 4 m2. Phần trên của module có tế bào quang điện, turbine gió được lắp đặt bên trong.     Ở những vùng ít gió như Thuỵ Sĩ thì sử dụng tấm quang điện là chính trong khi đó, đối với vùng phía bắc nước Đức thì quạt gió sẽ đóng góp chủ yếu trong việc sản xuất điện.     Một module chuẩn của Anerdgy có giá 2.000 Euro. Để tăng độ thẩm mĩ, phía trước, nơi có thể nhìn thấy thì sẽ được sơn mầu cho phù hợp với khung cảnh kiến trúc.      Tuỳ theo số lượng module và điều kiện thời tiết mỗi vùng, WindRail có thể tạo ra từ 1.500 đến 3.500 kWh/năm. Trong điều kiện lý tưởng, thời gian khấu hao cho module là hai năm. Ngoài ra còn có chi phí về lắp đặt và đấu nối vào các thiết bị.     Tính toán cho thấy Anerdgy có thị trường tiềm năng trị giá khoảng 2 tỷ Euro ở 10 nước châu Âu. Cứ 100 nhà ở Thuỵ Sĩ thì có một nhà có thể lắp đặt WindRails. Ở các nước có nhiều gió như Đức hay Anh, tiềm năng lắp đặt thiết bị này còn lớn hơn. Các nhà kho, các trung tâm buôn bán là vị trí lý tưởng để lắp đặt các module điện kép này.                Mô hình ngôi nhà có nhà máy điện trên mái của Kurt Spiegelmacher          Bên cạnh hệ thống Anerdgy của Thuỵ Sĩ còn có hệ thống sản xuất điện trên mái nhà của Kurt Spiegelmacher thuộc trường Cao đẳng Kaiserslautern (Đức). Phương án của ông này là xây dựng những cấu trúc rất nhỏ trên mái nhà có thể tạo điện gió. Gió sẽ được thu gom trên một khoảng diện tích lớn và dẫn vào những turbine gió cực nhỏ để tạo ra điện. Nơi nào có nhiều gió thì với công nghệ này, cứ 100 m2 diện tích mái nhà mỗi ngày có thể tạo ra 50 kWh, có nghĩa là, sau ba ngày tạo ra đủ điện cho một tủ lạnh hoạt động trong một năm.      Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học lớn nhất thế giới đi vào hoạt động      Hãng sản Abengoa của Tây Ban Nha mới đây đã lắp đặt  nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học từ rơm rạ, gỗ vụn, cành, lá cây,  thay vì từ các loại cây lương thực hay cây làm thức ăn cho gia súc, lớn  nhất thế giới ở Hugoton, bang Texas (Mỹ).     Mỗi năm nhà máy dự kiến sản xuất khoảng 100 triệu lít nhiên liệu sinh học, nhiều gấp đôi so với nhà máy sản xuất nhiên liệu Cellulose-Ethanol ở Crescentino thuộc Italia, từng được coi là lớn nhất thế giới. Brazil cũng mới đưa một nhà máy vào hoạt động với sản lượng 80 triệu lít.   Abengoa trong những năm qua đã đầu tư nhiều triệu Euro phục vụ nghiên cứu và phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học.   Trong khi Bioethanol thế hệ thứ nhất được sản xuất từ ngũ cốc hoặc củ cải đường, điều này gây nhiều tranh cãi vì cạnh tranh với sản xuất lương thực, thực phẩm thì Bioethanol thế hệ thứ hai được sản xuất từ chất thải như rơm rạ, gỗ vụn, cành, lá cây khi cắt tỉa trên các tuyến đường và bìa rừng.   Khác với ngũ cốc và củ cải đường, cellulose trong các loại chất thải hầu như không có đường glucose, từ hàng nghìn năm nay con người đã biết dùng men để biến đường thành cồn, tức ethanol. Chủ yếu là các loại đường xylose và arabinose. Để sản xuất Ethanol từ Cellulose người ta cũng buộc phải ứng dụng các phương cách này. Thường người ta tuyển chọn và nhân những loại vi sinh vật nhất định, đôi khi dùng vi sinh vật biến đổi gien. Các nhà sản xuất thiết bị tuyển chọn, nhân giống những loại vi sinh vật nhất định và coi đây là bí quyết công nghệ cần giũ kín. Hơn nữa những loại chất thải nông nghiệp này trước khi đưa vào chế biến phải xử lý khá tốn kém. Đối với nhiên liệu sinh học thông thường người ta không phải thực hiện công đoạn làm sạch này.      Cơ sở sản xuất Ethanol của Abengoa  Cơ sở ở Hugoton thuộc bang Texas mỗi năm tiêu thụ khoảng 350.000 tấn sinh khối từ chất thải nông nghiệp được thu gom ở bán kính khoảng 50 dặm quanh nhà máy. Mỗi ngày tồn đọng khoảng 300 tấn chất thải mà các loại men không thể chế biến hết. Lượng chất thải này được dùng làm chất đốt cho một nhà máy nhiệt điện công suất 18-Megawatt. Một phần sản lượng điện của nó được dùng để phục vụ nhà máy sản xuất Ethanol, phần còn lại đưa vào mạng lưới điện công cộng.  Tập đoàn Abengoa đã đầu tư 271 triệu đôla để xây dựng nhà máy và trực tiếp vận hành nhà máy. Ngoài ra, Bộ Năng lượng Mỹ cũng đầu tư hỗ trợ cho công trình 229 triệu đôla. Theo ước tính của Abengoa thì nhà máy có thể sản xuất một lít ethanol với giá 47 Eurocent.  Cho đến nay Abengoa chủ yếu vận hành các nhà máy sản xuất Ethanol thế hệ thứ nhất, tức nhiên liệu chế biến từ ngũ cốc và các loại cây có đường và tinh bột, ở Tây Ban Nha, Hà Lan, Mỹ và Brazil. Tại Mỹ còn có trên một chục cơ sở thực nghiệm sản xuất Cellulose-Ethanol. Tất cả các cơ sở này cộng lại không bằng 10% sản lượng của nhà máy ở Hugoton. Đến cuối năm nay nhà máy này sẽ đạt hết công suất.   Tuy nhiên, chưa thể nói chắc chắn công trình của Abengoa là một sự thành công. Đành rằng không phải chỉ có Mỹ mà cả Liên minh châu Âu tán thành nhiên liệu sinh học thế hệ thứ hai do đó đã có quy định về việc phải sử dụng loại nhiên liệu sinh học này.   Vấn đề đặt ra là, loại nhiên liệu mới này có trụ nổi trên thị trường khi không có sự hỗ trợ của nhà nước. Hiện loại Ethanol thế hệ thứ nhất ở Mỹ có mức giá tương đương như xăng thông thường. Trong khi đó loại nhiên liệu sinh học mới cho đến nay có giá cao gấp đôi mặc dù chi phí sản xuất trong những năm qua đã giảm tới 80%. Tuy nhiên loại nhiên liệu Cellulose-Ethanol có một ưu điểm lớn, thân thiện với môi trường hơn so với các loại nhiên liệu sinh học thông thường và dầu mỏ.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu có cần  phẩm chất lãnh đạo?      Xuyên suốt sự nghiệp của mình, từ lúc ban đầu khi cần đưa ra các quyết định quan trọng trong các buổi họp nhóm, phát triển những cơ hội hợp tác nghiên cứu, tổ chức các hội thảo sinh viên, hay tới sau này khi trở thành người đứng đầu các phòng thí nghiệm, phụ trách các khóa học ở trường đại học, điều hành ủy ban trong các viện khoa học và tổ chức nghiên cứu, v.v., những phẩm chất của người lãnh đạo luôn hữu ích cho các nhà khoa học.&#160;     Các chuyên gia cho rằng không nên chần chừ lâu trước khi bắt đầu phát triển các kỹ năng lãnh đạo. “Trong suốt sự nghiệp nghiên cứu, bạn phải chú tâm vào nghiên cứu của mình, nhất là ở thời điểm bắt đầu, bởi vì khó để trở thành lãnh đạo nếu bạn không làm nghiên cứu tốt. Nhưng ngay từ giai đoạn khởi đầu, việc xây dựng kỹ năng lãnh đạo cũng là điều cần thiết. Chúng sẽ giúp bạn tạo thêm các cơ hội, phát triển các mối quan hệ hợp tác, và mở rộng mạng lưới”, theo nhận xét từ Hugh Kearns, chuyên gia về kỹ năng lãnh đạo trong học thuật, viết trong email cho tạp chí Science Careers. Còn theo lời Jeremy Mead, một chuyên gia về kỹ năng lãnh đạo, thì “ở bất kể vai trò gì trong công việc của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nào, họ đều có thể vận dụng kỹ năng lãnh đạo”.  Các chuyên gia cho rằng học để trở thành nhà lãnh đạo thành công chỉ cần sử dụng những kỹ thuật đã được dạy như khi học lái một chiếc ô tô. Bạn phải tự tìm ra phương pháp lãnh đạo của riêng mình nhờ vào những phẩm chất căn bản: tính chính trực, tinh thần trách nhiệm với công việc, hiểu rõ và tin vào chính mình, giao tiếp nhiệt tình và có khả năng phát triển tốt mối quan hệ công việc với những người khác.   Phát triển tầm nhìn            Nhà khoa học trẻ cần xây dựng một quan điểm  cá nhân về các giá trị trong cuộc sống, và phát triển một tầm nhìn rõ  ràng từ khá lâu trước khi nhận một nhiệm vụ lớn đòi hỏi những phẩm chất  của người lãnh đạo.         Điểm chung của các nhà lãnh đạo  – khi họ trong vai trò quản lý hay khi thực hiện phần việc của mình trong vai trò là thành viên của một nhóm – là có một cảm quan rõ ràng về định hướng, một phương pháp tiếp cận với ý tưởng hay dự án mà họ cảm nhận sâu sắc. “Phẩm chất lãnh đạo trong cá nhân” này sẽ được thể hiện ra “khi người ta xác định được điều gì là quan trọng với mình và từ đó hành động dựa trên những giá trị và niềm tin đó”, theo phân tích của Kearns, người đồng sáng lập Công ty đào tạo phát triển kỹ năng chuyên nghiệp “Suy nghĩ giỏi” và một trung tâm tư vấn trong Khoa Phát triển chuyên nghiệp tại đại học Flinder ở Adelaide, Australia.   Vì vậy, bạn nên xây dựng một quan điểm cá nhân về các giá trị trong cuộc sống, và phát triển một tầm nhìn rõ ràng từ khá lâu trước khi nhận một nhiệm vụ lớn đòi hỏi những phẩm chất của người lãnh đạo. Mead, người phụ trách bộ phận phát triển lãnh đạo ở công ty Unilever và đang điều hành công ty riêng Norfolk Light, gần Ipswich về phát triển kỹ năng lãnh đạo ở Anh đưa ra gợi ý: Nên bắt đầu bằng cách viết ra một danh sách các giá trị mà bạn cho là có thể quan trọng. Bao gồm tất cả mọi thứ bạn có thể nghĩ ra, cho dù chúng có phù hợp với hoàn cảnh thực tế của bạn hay không. Có thể bắt đầu từ một danh sách có sẵn mà bạn có thể tìm thấy trong cuốn sách nhỏ về sơ yếu lý lịch “Nhà nghiên cứu hàng đầu” mà Mead và Fiona Denney là đồng tác giả1, cụ thể như: danh sách của bạn có thể bao gồm: tính sáng tạo, quyết đoán, trung thực, công việc có ý nghĩa, có lợi ích tài chính, và nhiều điều khác. “Sau đó, hãy xem và xác định 10 điều ứng với bạn”, Mead khuyên.  Khi bạn có một danh sách 10 điều, hãy chọn ra hai hoặc ba giá trị cốt lõi. Mead cho biết: một cách tốt để quyết định giá trị quan trọng nhất với mình là nghĩ về những giá trị ấy trong hoàn cảnh thực sự hệ trọng với bạn, chẳng hạn như phải vượt qua tình cảnh lúc một người thân bị ốm đau hoặc một trở lực trong nghiên cứu của mình. Nếu bạn có thể chữa khỏi bệnh cho người đó bằng cách hi sinh một giá trị trong danh sách đó thì giá trị đó sẽ là gì?”, Mead đặt câu hỏi.  Một cách tiếp cận khác để tìm ra các giá trị cốt lõi của bạn, theo lời khuyên của Kearns, là xác định những hoàn cảnh nào trong quá khứ là “khi bạn hài lòng với các phương pháp tiếp cận và quyết định của mình, và khi nào thì bạn không hài lòng“, từ đó xác định giá trị nào là yếu tố cơ bản trong từng trường hợp. Bên cạnh đó, nên suy ngẫm về người mà bạn ngưỡng mộ để xem họ có được những giá trị gì.  “Bây giờ, bạn có thể coi những giá trị đó là phẩm chất cần thiết để bạn trở thành một nhà lãnh đạo“, Mead nói. “Tất cả các quyết định của bạn đều được thực hiện trên cơ sở cân nhắc các giá trị này. Nếu bạn là người nhất quán thì mọi người sẽ biết có thể trông đợi điều gì ở bạn, nắm bắt sớm được quan điểm của bạn, và bạn có thể lãnh đạo ngay cả khi không có mặt trong phòng làm việc”.  Tiếp theo là xây dựng tầm nhìn và các mục tiêu. Một lần nữa, Mead khuyên nên xem xét tất cả những điều bạn có thể phấn đấu và đánh giá mức độ phù hợp với những giá trị mà bạn đã xác lập trên đây. Và có thể thêm vào bất cứ điều gì bạn đang tìm kiếm, như sự giàu có, tạo đột phá trong khoa học, hoặc sự nổi tiếng. Bạn cũng cần xem xét liệu mục tiêu của mình trong môi trường hiện tại có khả thi không, Mead nói. Bạn cần phải thực tế. Kearns cũng đồng tình: “Điều đầu tiên mà bất kỳ nhà khoa học nào đều cần là một ý tưởng hay một dự án hợp lý”.  Thu hút người khác          “Bản thân những người lãnh đạo cần tin tưởng vào dự án hoặc ý tưởng của  mình. Nếu họ lãnh đạm hoặc không hoàn toàn quyết tâm thì sẽ rất khó để  gắn kết mọi người với nhau. Những người khác sẽ cho rằng dự án sẽ sụp đổ  ngay khi gặp trở ngại đầu tiên hoặc sẽ bị trì trệ”.        Khi bắt đầu lãnh đạo người khác, theo Kearns, “bản thân những người lãnh đạo cần tin tưởng vào dự án hoặc ý tưởng của mình. Nếu họ lãnh đạm hoặc không hoàn toàn quyết tâm thì sẽ rất khó để gắn kết mọi người với nhau. Những người khác sẽ cho rằng dự án sẽ sụp đổ ngay khi gặp trở ngại đầu tiên hoặc sẽ bị trì trệ” –  viết.    Nhưng tất nhiên tin tưởng và cam kết là chưa đủ. Sẽ là vô ích khi “ngồi trong phòng thí nghiệm cả ngày và hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Bạn phải bước ra khỏi phòng thí nghiệm hoặc văn phòng và kết nối với mọi người”, Kearns nói. Để làm tốt điều này, bạn cần trình bày các ý tưởng và kế hoạch của mình với lòng nhiệt thành. Fiona Denney, trưởng nhóm Phát triển sau tốt nghiệp trong chương trình phát triển đội ngũ các nhà nghiên cứu tại Đại học King’s College London’s Graduate School ở Anh cho rằng nên sử dụng công cụ chỉ số nhân cách Myers-Briggs, hoặc các chương trình hướng dẫn làm lãnh đạo để tìm ra cách thức giao tiếp phù hợp với bạn.  Trung thành với những giá trị của mình và có một tầm nhìn rõ ràng không có nghĩa là phải cứng nhắc. Bạn cần phải sẵn sàng điều chỉnh kế hoạch và ý tưởng của mình để tìm ra những điểm chung giữa tầm nhìn của bạn và của mọi người, và “Quan trọng là làm sao để người đồng hành với mình thấy tầm nhìn đó cũng là của họ. Điều này bạn đạt được khi thực sự lắng nghe người khác và sẵn lòng chân thành thay đổi tầm nhìn của mình trong quá trình tương tác với những người khác”. Mead nói; đồng thời “Bạn phải suy nghĩ rằng điều gì là quan trọng đối với người khác? Đó là: cơ hội tham gia vào một dự án thú vị, làm việc với những người giỏi, có được công trình xuất bản, hay để nâng cao nghề nghiệp của họ? Sau đó, bạn cần phải cho thấy rằng dự án của mình sẽ giúp họ đạt được những mục tiêu gì này cho riêng mình” (Kearns).    Thể hiện khả năng lãnh đạo trong các cuộc họp          “Sự tôn trọng xuất phát từ việc người khác cảm thấy được năng lực giỏi  của bạn”, nhưng “như vậy vẫn chưa đủ để xây dựng niềm tin. Nó đòi hỏi  một nhà lãnh đạo cởi mở về những gì họ đang làm – như thế nào, tại sao  họ lại làm, và đồng thời tìm kiếm sự cởi mở từ những người khác“.        Các cuộc họp là một trong những nơi quan trọng nhất để bạn có thể thể hiện ý tưởng và tầm nhìn của mình, do đó hãy chắc chắn để không bỏ lỡ cơ hội.   Hãy chuẩn bị cho cuộc họp, điều đó sẽ giúp bạn thể hiện tốt hơn và cũng tránh được căng thẳng. “Trước khi bước vào bất kỳ cuộc họp nào, hãy viết ra những gì bạn muốn đạt được từ cuộc họp, và phải tìm hiểu xem những người khác trong cuộc họp có thể làm gì để đóng góp cho mục đích đó”, Mead khuyến nghị. Nếu có thể, nên có một bản sao của chương trình họp để bạn có thể xác định các mục quan trọng và suy nghĩ nên phát biểu điều gì. “Nếu bạn đã nắm được các vấn đề từ trước, bạn có thể đề xuất giải pháp hoặc lựa chọn thay thế”, Kearns khuyên.  Kearns cho rằng nên lên tiếng sớm. “Những người đóng góp đầu tiên, thậm chí chỉ cần thể hiện sự tán đồng với một quan điểm nào đó, dường như sẽ được nhìn nhận là tham gia tích cực và sẽ được yêu cầu đóng góp nhiều hơn. Nếu bạn không nói gì thì sẽ bị mặc định là không có gì để nói”. Mead thì khuyên nên lắng nghe người khác và chắc chắn rằng bất kỳ đóng góp nào của bạn cũng tích cực đối với mục tiêu của cuộc họp.  Tạo sự tôn trọng  Để trở thành một nhà lãnh đạo, bạn cũng cần phải truyền cho người khác lòng tin và sự tôn trọng. Phần lớn điều này thông qua việc chứng minh được khả năng chuyên môn. “Là một nhà lãnh đạo, bạn sẽ phải thuyết phục mọi người ủng hộ ý tưởng của bạn, tài trợ cho các dự án của bạn, và ủng hộ quan điểm đánh giá của bạn. Nếu bạn không được nhìn nhận là nhà nghiên cứu giỏi, bạn sẽ không nhận được sự hỗ trợ và tin tưởng” – Kearns viết. Tuy nhiên, Mead cho rằng dù “sự tôn trọng xuất phát từ việc người khác cảm thấy được năng lực giỏi của bạn”, nhưng “như vậy vẫn chưa đủ để xây dựng niềm tin. Nó đòi hỏi một nhà lãnh đạo cởi mở về những gì họ đang làm – như thế nào, tại sao họ lại làm, và đồng thời tìm kiếm sự cởi mở từ những người khác“. Sự cởi mở này, Mead nói thêm, có nghĩa là trong thảo luận của bạn có cả cảm xúc lẫn logic, và biểu hiện cả điểm yếu cũng như điểm mạnh của bạn.  Việc tạo được sức hút cũng sẽ rất hữu ích. Đây là phẩm chất rất khó để xác định và cũng khó có thể học được. Nhưng để lãnh đạo, bạn cũng không nhất thiết luôn phải tạo cảm hứng mạnh mẽ ở người khác, và cũng không cần lúc nào cũng gây ồn ào. “Một nhà lãnh đạo im lặng cũng có thể có sức mạnh như một người ăn to nói lớn,” theo lời ông Denney, người phát triển các chương trình lãnh đạo cho các nhà nghiên cứu.  Còn theo Kearns, “hầu hết mọi người có những ý tưởng không thực tế về năng lực lãnh đạo. Họ có xu hướng nghĩ rằng họ phải là Nelson Mandela hoặc một nhân vật tầm cỡ đại loại như vậy. Trong thực tế, việc lãnh đạo cần đến những điều bình thường hơn nhiều: ví dụ, chuẩn bị cho cuộc họp của bạn, giao tiếp với mọi người, và lắng nghe. Mặc dù không phải tất cả chúng ta đều có thể trở thành Nelson Madenla, nhưng chúng ta đều có thể cải thiện các kỹ năng cơ bản của mình”.         Nhà khoa học trẻ cần được học kỹ năng quản lý   Jessica C. Seelinger*              Khi mới khởi nghiệp, các nhà nghiên cứu trẻ  thường hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm làm việc với các thầy hướng  dẫn. Vì vậy, khi được giao tổ chức một cuộc hội thảo sao cho hiệu quả,  họ rất dễ để cho chương trình bị lạc đề lan man, không đạt được các mục  tiêu đặt ra, hoặc khi phụ trách một phòng thí nghiệm, họ sẽ rất dễ bị  động, khi không còn được sự giúp đỡ từ những nghiên cứu sinh đàn anh  cùng đội ngũ kỹ thuật viên hỗ trợ.               Như vậy, có thể thấy các nhà nghiên cứu trẻ rất cần được giúp đỡ. Nhưng  các cơ quan, tổ chức nghiên cứu hiếm khi tổ chức những lớp đào tạo kỹ  năng quản lý cho các nhà nghiên cứu như những lớp học ngắn hạn hiếm hoi  trên thế giới được mở bởi một tổ chức nghiên cứu ít ai nghĩ tới – Quỹ  American Express, một quỹ nghiên cứu tư nhân – với tên gọi “Khả năng  lãnh đạo trong ngành Sinh học”, được tổ chức từ năm ngoái ở Cold Spring  Harbor Laboratory, New York. Tháng 2 năm nay, khóa học này được tổ chức  với sự tham gia của 25 nhà khoa học trẻ trong giai đoạn khởi nghiệp, đến  từ khắp nơi trên thế giới. Trong 3 ngày họ được nghe giảng, thực hành  bài tập đóng vai, và tìm hiểu các kịch bản ví dụ.              Tại đây, các học viên được thực hành những vấn đề cơ bản nhất: làm sao  có thể điều hành một cuộc hội thảo, ví dụ: từ việc phân phát nội dung  chương trình trước khi hội thảo diễn ra, giữ cho các thành viên đi đúng  trọng tâm nhiệm vụ hội thảo, và làm sao để hội thảo kết thúc trong tinh  thần đồng thuận. Qua bài tập nhập vai, họ học cách làm sao để tổ chức  một cuộc đàm phán trên tinh thần giải quyết vấn đề hơn là đụng độ nhau  một cách cảm tính. Còn đối với môi trường giảng dạy, các học viên được  học rằng những lời phê phán không nên mang tính công kích cá nhân, và  luôn phải ưu tiên việc khích lệ tinh thần sinh viên: trung thực không có  nghĩa là phải cộc cằn hay vô cảm; chúng ta có thể giữ tính trung thực  khoa học mà vẫn khuyến khích được thực tập sinh.               Những khóa đào tạo đơn giản như vậy là rất cần thiết, không chỉ hữu ích  cho nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với  những nhà khoa học trẻ.              ———              * Giảng viên Trường Y của ĐH Stony Brook tại New York   Theo Nature   Thu Quỳnh lược dịch           Theo Science  Thu Quỳnh dịch   1 Nếu bạn muốn một danh sách dài các giá trị, có thể tham khảo tại:  http://www.stevepavlina.com/articles/list-of-values.htm     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu nghiệp dư có bảy bằng sáng chế      Bánh cà phê nén; thiết bị xới đất xung động địa chất; máy nối màng ngoại kích; cơ cấu cấp nước cây trồng; máy phun phân, nước tự động… là những sáng chế của anh Nguyễn Quang Ngọc ở TP Hồ Chí Minh đã được Bộ KH&amp;CN cấp bằng sáng chế độc quyền…    Những sáng chế của anh đều có tính ứng dụng cao như phin cà phê sử dụng một lần thiết kế giống phin uống cà phê truyền thống nhưng có sẵn phê, đường, sữa nén; thiết bị giữ ẩm cây trồng, dưới một rễ cây sẽ có bộ phận giữ ẩm trong thời gian tính toán hợp lý để cây đủ lớn… Anh Ngọc hiện đã đăng ký bản quyền ba sáng chế ở cục sở hữu trí tuệ thế giới và đang chờ kết quả.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu Thổ Nhĩ Kỳ lãnh 15 tháng tù vì công bố nghiên cứu về môi trường      Một nhà nghiên cứu người Thổ Nhĩ Kỳ đã bị kết án 15 tháng tù sau khi công bố kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình trạng ô nhiễm với tỉ lệ mắc ung thư cao ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ mà ông và các nhà khoa học khác đã thực hiện.         Bülent Şık đã nghiên cứu thu thập mẫu ở lưu vực sông Ergene, tỉnh Edirne của Thổ Nhĩ Kỳ.   Bülent Şık, nguyên phó giám đốc của Trung tâm nghiên cứu Nông Nghiệp và An toàn Thực phẩm ở Đại học Akdeniz đã bị kết án về hành vi tiết lộ thông tin mật sau khi ông công bố các kết quả nghiên cứu trong một loạt bài bốn kỳ trên một tờ báo Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 4/2018. “Bülent Şık đã thực hiện nghĩa vụ của một công dân, một nhà khoa học và ông ấy đã sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình”, ông Can Atalay, luật sư của Bülent Şık nói trong phần phát biểu kết thúc sau khi phán quyết được tòa án ở Istanbul đưa ra.  Nghiên cứu này được Bộ Y tế Thổ Nhĩ Kỹ cho phép thực hiện nhằm tìm hiểu về có mối quan hệ giữa độc tố trong đất, nước, thực phẩm với tỉ lệ mắc ung thư cao ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ hay không. Trong 5 năm, Şık và một nhóm các nhà khoa học đã tìm hiểu các mức độ ô nhiễm thuốc trừ sâu, kim loại nặng trong nhiều mẫu nước và thực phẩm khác nhau được thu thập từ các tỉnh thuộc miền tây Thổ Nhĩ Kỳ. Nước ở các khu dân cư được phát hiện là không đủ an toàn để uống do đã bị ô nhiễm chì, nhôm, crôm và asen.  Năm 2015, sau khi nghiên cứu được hoàn thành, Şık cho biết ông đã thúc giục các quan chức chính phủ phải đưa ra hành động cụ thể trong một cuộc họp để thảo luận về kết quả nghiên cứu. Và sau 3 năm không có hành động nào được thực hiện, Şık đã quyết định công bố nghiên cứu của mình trên Cumhuriyet – một tờ báo có chất lượng, lâu đời, vốn đăng nhiều thông tin phản biện ở Thổ Nhỹ Kỳ.  “Điều đáng chú ý ở vụ việc này là Bộ Y tế không hề nói rằng công bố của Bülent Şık là sai sự thật”, Milena Buyum, một nhà vận động cấp cao tại Tổ chức Ân xá Quốc tế London nói. Thay vào đó, Buyum cho rằng, việc chính phủ cho rằng đây là thông tin mật cho thấy nó thực sự có mối nguy hiểm đối với sức khỏe.  Theo luật của Thổ Nhĩ Kỳ, Şık đáng lẽ đã có thể tránh được án tù và được hưởng án treo nếu ông bày tỏ sự hối lỗi của mình. Tuy nhiên, ông đã từ chối thực hiện điều này khi được quan tòa yêu cầu.  “Việc che giấu thông tin của nghiên cứu sẽ ngăn cản chúng ta có những cuộc thảo luận đúng đắn về giải pháp”, Şık nói tại phiên tòa. “Trong các bài viết của tôi, tôi hướng đến việc thông báo cho công chúng về nghiên cứu sức khỏe cộng đồng đã bị giữ bí mật này, và thúc giục chính quyền phải đưa ra hành động”. Şık hiện vẫn đang được tự do trong khi chờ kháng cáo.   Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/09/turkish-scientist-gets-15-month-sentence-publishing-environmental-study?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà phát minh ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất      John Backus, mất ngày 17 tháng 3 năm 2007, là nhà tiên phong trong phát triển những ngôn ngữ lập trình máy tính, đồng thời cũng là nhà nghiên cứu hàng đầu về lập trình chức năng.    Backus chào đời ngày 3 tháng 12 năm 1924 tại Philadelphia và lớn lên ở Wilmington, Delaware. Bố ông được đào tạo để trở thành một nhà hóa học nhưng lại quyết định chuyển sang nghề môi giới nhà. Chính bởi vậy mà gia đình ông đã sớm trở nên giàu có và nổi lên nhanh chóng trong xã hội thời đó. Khi còn là một đứa trẻ, cậu bé Backus thích thú với công việc hàn cơ khí và rất yêu hóa học. Backus đã tỏ ra là một đứa trẻ có năng khiếu và ham học hỏi. Ông được cha mẹ gửi tới trường trung học Hill School, một trường tư thục dành riêng cho con cái nhà giàu ở Pottstown, Pennsylvania. Nhưng quả thực thành tích học tập không lấy gì làm tự hào và thường xuyên phải tham gia những khóa học hè để có thể giúp ông theo kịp chương trình học so với chúng bạn cùng trang lứa. Tình hình cũng không lấy gì sáng sủa hơn khi ông bước chân vào cánh cửa Đại học Virginia. Tại đây Backus theo học chuyên ngành về kỹ sư cơ khí vào năm 1942.  Năm 1943, Backus gia nhập quân đội theo nghĩa vụ quân sự và được phân công vào chương trình chống máy bay. Những cuộc kiểm tra năng khiếu đã tiết lộ khả năng thông minh nổi bật của ông, và ngay lập tức, chàng trai này được gửi đi đào tạo tại một khóa học kỹ sư chuyên gia đặc biệt ở Đại học Pittsburgh, Pennsylvania. Trong khoảng thời gian đó, Backus cũng đã tham gia một khóa học đào tạo chuẩn bị y học. Do không hứng thú và chán nản nên đã bỏ dở giữa chừng. Rời quân ngũ năm 1946, chàng trai trẻ Backus tiếp tục theo học tại Đại học Columbia ở New York, ban đầu như một sinh viên dự bị do kết quả học tập quá kém cỏi. Nhưng ít nhất chàng trai này đã chứng tỏ được thành công trong lĩnh vực toán học để tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân vào năm 1949, để rồi năm tiếp sau ông nhận tiếp tấm bằng thạc sỹ.  Năm 1948, IBM hoàn thành xong chiếc máy tính điện tử thử nghiệm đầu tiên được biết với tên gọi SSEC. Đó là một cỗ máy đồ sộ với 13,000 đèn điện tử cùng với 23,000 rơ-le. IBM nhanh chóng đem giới thiệu cho công chúng sáng chế này tại phòng trưng bày ở quảng trường New York với mong muốn thu hút thật nhiều sự chú ý và tò mò của người dân và giới truyền thông. Backus đến xem, nhìn thấy “cỗ máy” SSEC với niềm phấn khích. Ngay lập tức ông quyết định thuyết phục IBM thuê mình trong vị trí của một lập trình viên. Kể từ đó, chàng trai Backus đã dành nhiều năm để tính toán vị trí của Mặt trăng, một công việc ông rất mực yêu thích.  Đến năm 1952, IBM giới thiệu sản phẩm máy tính thương mại đầu tiên, model 701. Chiếc máy tính đã được lập trình ở một cấp độ rất gần với ngôn ngữ máy tính nhị phân cơ bản, mà thực chất không khó nhưng tốn thời gian và dễ gặp phải lỗi. Bài toán này đã thôi thúc Backus phát minh ra một hệ thống lập trình tự động được gọi là Speedcoding cho model 701 giúp thực hiện được nhiệm vụ dễ dàng hơn nhiều. Cũng giống như những hệ thống lập trình tương tự đang được phát triển ở một vài nơi khác cùng thời gian đó, tuy nhiên, Speedcoding lại tạo ra những chương trình chậm không kinh tế. Chính vì vậy, mùa thu 1953, Backus đã đề nghị với người quản lý phát triển một hệ thống có tên Fomula Translator-sau này gọi là Fortran- cho máy tính model 704. Sau đó không lâu chương trình này nhanh chóng được công bố. Đặc điểm độc đáo nhất của Fortran là khả năng tạo ra những chương trình tốt bằng 90% những chương trình được viết bởi một nhà lập trình. Backus đã hăng hái tích cực và chỉ định lập một nhóm gồm mười lập trình viên trong khoảng thời gian sáu tháng. Mục tiêu thiết kế một hệ thống chuyển đổi để tạo ra những chương trình hiệu quả thực sự đã trở thành một thách thức lớn. Lúc mà hệ thống được công bố vào tháng 4 năm 1957, sáu tháng đã trở thành ba năm.  Fortran Translation bao gồm 18,000 lệnh và chứa đựng những thuật toán cực kỳ phức tạp cho việc tối ưu hóa mã. Fortran được người sử dụng IBM 704 nồng nhiệt đón nhận và các nhà chế tạo máy tính khác cũng nỗ lực chạy đua để tạo ra những hệ thống Fortran, bởi vậy phần mềm máy tính của họ có thể tương tích với hệ thống phần mềm IBM. Ngày nay, nó đã trở thành ngôn ngữ chung cho tính toán khoa học. Tuy nhiên Fortran cũng đã thường bị chỉ trích vì cái “không trang nhã” của nó. Nhưng sau đó, Backus đã giải thích rằng, khi hệ thống này được thiết kế thì hiệu suất là vấn đề tối quan trọng đặt lên hàng đầu. Và tất nhiên, không một ai có thể mơ rằng, một ngôn ngữ sẽ tiếp tục mạnh mẽ trong nửa thế kỷ sau đó. Nhưng thực tế, Fortran đã làm được nhiều hơn điều đó.  Cuối năm 1950, Backus đã trở thành một thành viên của Ủy ban Algol. Ở đây, các kỹ sư đang thiết kế một ngôn ngữ lập trình khoa học quốc tế với tên gọi Algol 60. Về nguyên tắc, ngôn ngữ này đã được định rõ trong BNF (Backus-Naur Form). Algol 60 là một ngôn ngữ lập trình phổ biến ở châu Âu trong những năm 1960 và 1970. Tuy nhiên, ngôn ngữ này không bao giờ thay thế được Fortran, nguyên do căn bản là bởi vì phát minh này đã được hoàn thiện trên mã Fortran. Nhưng dù sao Algol đã có những ảnh hưởng lớn trong thiết kế ngôn ngữ lập trình, và BNF đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của khoa học máy tính.  Sau những năm bị lôi cuốn bởi Fortran, Backus lặng lẽ trong công việc của một nhà khoa học. Và cho đến năm 1960, ông trở thành một nhân viên của IBM Research đặt tại New York. Ở IBM Research, Backus đã dẫn đầu một nhóm nghiên cứu về lập trình chức năng, một kiểu mẫu lập trình mới nhắm vào việc tính toán thông qua ước lượng những hàm toán. Ý tưởng này nhằm “tránh” cái mà Backus gọi là “cổ chai von Neumann” (John von Neumann, một trong những nhà phát minh máy tính). Và như Backus đã từng giải thích, một máy tính bao gồm một bộ xử lý và một bộ nhớ; mục đích của chương trình là thay đổi trạng thái của bộ nhớ, sử dụng bộ xử lý, một lệnh ở một thời điểm. Dù thế nào đi nữa, lập trình chức năng đã và sẽ tiếp tục trở thành một khoa học máy tính lớn.  Nghỉ hưu vào năm 1991, sống hết quãng đời còn lại và ra đi trong vinh quang, John Backus đã tiên phong mở đường cho thế hệ ngôn ngữ lập trình khoa học phổ biến rộng rãi nhất, đồng thời cũng là nguời có nhiều đóng góp to lớn cho lĩnh vực khoa học máy tính.  ĐP (Theo Nature)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà sáng chế tạo nên sự phồn thịnh      Thời cận đại, châu Âu vươn được lên đỉnh cao một phần là nhờ công lao của những nhà sáng chế, phát minh, những người nhiều khi bị coi là lập dị nhưng lại dám nghĩ, dám làm, tạo ra cái mới thay vì bắt chước, dập khuôn, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.      Chiến tranh là cha đẻ của mọi vật và là mẹ đẻ của phần lớn sáng chế phát minh. Trong những trận đánh lớn của lịch sử thế giới, đội quân được trang bị công nghệ chiến tranh theo kiểu dập khuôn, bắt chước đơn thuần không thể giành thắng lợi trước kẻ thù cũng có trang bị tương tự. Muốn chiếm được các thành phố hay thôn tính các quốc gia, những người chỉ huy tối cao của quân đội luôn đòi phải có các loại vũ khí có độ chính xác cao hơn, xe cộ có tốc độ lớn hơn và thiết bị chiến tranh phải tối tân hơn. Vì vậy các sáng chế phát minh thường trước hết nhằm phục vụ mục đích quân sự sau đó mới áp dụng vào lĩnh vực dân sự. Điều này có thể chứng minh qua máy hơi nước, công nghệ computer cho tới Internet ngày nay.  Sự tiến bộ của nền kinh tế là do các nhà sáng chế phát minh tạo dựng chứ không phải nhờ những kẻ dập khuôn, bắt chước. Điều này có thể gây ngạc nhiên. Vì đáng ra bắt chước, dập khuôn thường rẻ hơn, đơn giản hơn so với việc suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo ra cái mới. Kẻ bắt chước tiết kiệm được chi phí, tránh được các sai phạm và rủi ro, đây là những yếu tố luôn gắn liền với sự đổi mới. Kẻ bắt chước, tức những kẻ đi theo bầy đàn, đáng ra có nhiều cơ may tồn tại hơn so với những người đi tiên phong, những người dám mày mò tìm kiếm trên những lĩnh vực còn mới mẻ và lạ lẫm, luôn phải đối mặt với nhiều điều bất an và nguy hại.  Bỏ lối mòn để theo đường mới   Tuy nhiên kẻ nào không dám đương đầu với thử thách, kẻ đó sẽ không thể đạt được thành công mỹ mãn, mãi mãi là kẻ chạy theo và không bao giờ có thể vươn lên vị trí hàng đầu. Kẻ đó không bao giờ giành được chiến công trong chiến trận hay gặt hái thành công trong lĩnh vực kinh tế. Niềm hy vọng giành chiến công quân sự, quyền lực chính trị, lợi nhuận kinh tế hoặc sự tôn trọng của xã hội trong lịch sử thế giới luôn là động cơ mạnh mẽ đối với những kẻ đi chinh phục và với các nhà thám hiểm, sáng chế, phát minh. Họ bị thôi thúc trong cuộc đấu tranh để tồn tại, vì sự say mê mạo hiểm, sẵn sàng chịu rủi ro và luôn phấn đấu để có thành tựu. Họ không chịu đi theo lối mòn thông thường và luôn vươn tới những con đường mới mẻ.  Vô vàn cải tiến và đổi mới đã đưa nhân loại từng bước đi lên về kinh tế – từ một nền kinh tế nông nghiệp đơn giản kéo dài hàng nghìn năm tiến lên thời đại công nghiệp – và cuối cùng trong những thập niên gần đây bước vào xã hội dịch vụ vô cùng phức tạp, xã hội tri thức hay còn gọi là xã hội công nghệ. Song song với đổi mới kỹ thuật là sự đổi mới về thể chế. Ở đây có vấn đề vẫn chưa rõ ràng, đó là: “con gà có trước hay quả trứng có trước”, tiến bộ kỹ thuật đã thúc đẩy tiến bộ về thể chế hay ngược lại.  Máy hơi nước, động cơ, năng lượng điện, hệ thống vận tải và hệ thống truyền thông có độ bao phủ ngày càng rộng lớn giúp tiến hành mạnh mẽ hơn sự phân công lao động và chuyên môn hóa ở thời kỳ đầu thời đại công nghiệp. Từ một xã hội với nền kinh tế hàng đổi hàng trở thành một nền kinh tế tiền tệ. Nền kinh tế tiền tệ đòi hỏi phải có những giải pháp mới, sự sáng tạo của ngành tài chính và tín dụng. Từ đó ra đời các ngân hàng, các hãng bảo hiểm. Kéo theo nó là sự ra đời của những điều luật mới nhằm bảo đảm quyền lợi của người mua hàng và kẻ bán hàng. Các hệ thống chính trị về phân chia quyền lực phải làm sao để luật pháp phát huy được chức năng của nó. Qua đó có thể thấy tác động mang tính dây chuyền của các sự kiện và những đổi mới về kỹ thuật và thể chế đã dẫn đến sự phát triển vượt bậc về kinh tế có một không hai trong lịch sử trong vòng hai trăm năm qua.  Vì sao Trung Quốc mất vị trí số 1?  Quá trình công nghiệp hóa vô cùng mạnh mẽ đã diễn ra ở châu Âu chứ không phải ở Trung Quốc (TQ), phải chăng đây là một ngẫu nhiên lịch sử hay điều tất yếu về chính trị, kinh tế? Cách đây khoảng 200 năm TQ còn là một đế chế, tự xưng là trung tâm thế giới và châu Âu chẳng qua chỉ là vệ tinh của TQ. TQ vượt xa châu Âu hàng trăm năm về công nghệ. Danh sách sáng chế, phát minh của TQ thật vô cùng ấn tượng: giấy viết, nghề in ấn, thuốc súng, các thiết bị quang học và hàng hải như la bàn, thiết bị đo địa chấn và các biện pháp kỹ thuật hiện đại về thủy lợi, hệ thống kênh mương, hệ thống đê điều, xây dựng cầu cống, đường giao thông vv… Nhưng sau đó TQ đã đánh mất khả năng sáng tạo tuyệt vời của mình và châu Âu bước lên vị trí hàng đầu. Tại sao?  Nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng David S. Landes đưa ra ba câu trả lời: thứ nhất, vì khác với châu Âu, TQ không có thị trường tự do và không thể chế hóa sở hữu tư nhân; thứ hai, nền kinh tế TQ là một nền kinh tế tập trung chứ không tổ chức theo hình thức phi tập trung; và thứ ba, khi bước vào giai đoạn đầu thời kỳ hiện đại, TQ thiếu những con người kiên quyết, dám dấn thân giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp, dường như người TQ hồi đó quan niệm khư khư bám lấy cái cũ còn hơn là canh tân, đổi mới.          James Watt (1736 – 1819), nhà phát minh người Scotland, người có công cải tiến các động cơ hơi nước.    Thomas Savery (1650–1715), nhà phát minh người Anh, tác giả của động cơ hơi nước đầu tiên.          Không phải đế chế đồ sộ bậc nhất thế giới, tổ chức theo kiểu tập trung hóa cao độ, hưởng những lợi ích do những phát minh về kỹ thuật hay những kiến thức mới mang lại mà là châu Âu bị xé lẻ bởi rất nhiều vương quốc, tiểu vương quốc, nơi các nhà cầm quyền đã sớm nhận ra rằng, hãy để cho thần dân của mình hưởng ít nhiều quyền tự do và ban tặng cho họ tài sản, nhưng thu thuế từ những gì mà nguồn tài sản đó đem lại. Điều này chắc chắn hay hơn việc gây áp lực về chính trị và buộc độc quyền về sở hữu, điều này sẽ dẫn đến triệt tiêu khả năng sáng tạo của thần dân.  Sự thần kỳ của châu Âu thời cận đại  “Sự thần kỳ của châu Âu” ra đời một phần nhờ bạo lực diễn ra trên đường phố, từ đó mang lại sự thay đổi cơ bản về cách nhìn. Thời kỳ khai sáng và cuộc cách mạng Pháp đã làm mất các nhà nước thống nhất với những nhà chuyên chế độc tài và tôn giáo thống nhất. Thay vào đó là sự phân quyền và quyền con người, quyền công dân và quyền tự do. Các nhà doanh nghiệp có không gian tự do để hoạt động. Châu Âu trở nên hoàn tục, thực hiện dân chủ hóa và hiện đại hóa. Với tinh thần trọng thương, các thị trường vốn bị khép kín nay được bung ra.  Tinh thần khai sáng đã giải phóng châu Âu thoát khỏi thời kỳ nông nghiệp trung cổ tiến lên thời kỳ công nghiệp cận đại, và tinh thần khai sáng này chính là bà đỡ đưa nền kinh tế đi lên, giảm tình trạng đói nghèo tràn lan và làm tăng tuổi thọ bình quân của dân chúng, tóm lại tạo nên sự phồn vinh của châu Âu.  Hệ thống tư bản chủ nghĩa phát triển theo phong trào khai sáng đã tạo nên bầu không khí hăng say sáng tạo, đổi mới ở châu Âu và Bắc Mỹ, điều mà các doanh nghiệp rất cần để có thể bơi ngược dòng. Khi mà sở hữu tư nhân không còn lo sợ vì bị đánh thuế vô tội vạ hoặc bị nhà nước tịch thu một cách tùy tiện thì việc dám bỏ bầy đàn để tìm một lối đi riêng, mới lạ, đầy bất trắc nhưng có thể mang lại nhiều lợi ích lớn lao sẽ diễn ra.  Kẻ nào dám bước tới vùng đất mới có thể phải đối mặt với nhiều nguy cơ thất bại nhưng lại có nhiều cơ hội giành phần thắng. Những kẻ khai phá và những người dám bỏ quê cha đất tổ di chuyển đến vùng đất xa lạ đều hy vọng chiếm đoạt đất đai và tài nguyên. Các dòng họ Rothschild, Rockefeller, Krupp, Thyssen hay Haniel đều nỗ lực làm những điều độc nhất vô nhị để từ đó vượt các đối thủ cạnh tranh, vươn lên hàng đầu. Các dòng họ đó tìm kiếm khách hàng có nhiều tiềm lực ở những thị trường công nghiệp non trẻ, hòng kiếm lợi nhuận cao nhờ những ý tưởng kinh doanh mới mẻ, táo bạo. Đó là điều mà những Steve Jobs, Bill Gates và Mark Zuckerberg ngày nay đang thực hiện trên thế giới ảo.  Lịch sử kinh tế cho thấy: thời kỳ nào, ở đâu cũng có những con người có đầu óc sáng tạo và đổi mới. Nhưng không phải xã hội nào cũng có khả năng khai thác những tiềm năng sáng tạo đó. Đôi lúc những cái đầu thông minh sáng láng đó lại có khuynh hướng dập khuôn, bắt chước. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi các xã hội với tư duy đó lâm vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, thí dụ như ở nước Trung Hoa xưa kia. Tại những nơi khác, như ở châu Âu và Bắc Mỹ – người ta đã tạo ra điều kiện khung, biết kích thích và có phần thưởng thỏa đáng, từ đó vun đắp, phát huy văn hóa sáng tạo. Xã hội tư bản thấm nhuần tư tưởng khai sáng do đó gặt hái được nhiều thành công nhất.   Xuân Hoài dịch Theo F.A.S  —–  * Giám đốc Viện Kinh tế thế giới Hamburg    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà sưu tầm những bất ngờ toán lý      Tadashi Tokieda khám phá những hiện tượng vật lý mới nhờ quan sát thế giới thường nhật với đôi mắt trẻ thơ.      Nhà toán học Tadashi Tokieda, ảnh chụp tại Đại học Stanford. Ông say mê với những “đồ chơi” ông tìm thấy trong tự nhiên. Ông nói “Một đứa trẻ và một nhà khoa học có thể có chung một điều bất ngờ thú vị.” Ảnh chụp bởi Constanza Hevia H. cho Tạp chí Quanta.  Trong thế giới của Tadashi Tokieda, những đồ vật bình thường làm được những điều phi thường. Những hũ gạo không chịu lăn xuống dốc. Những mảnh giấy đi xuyên qua vật cản. Những viên bi chạy trong một chiếc bát đảo chiều khi số bi tăng thêm.  Nhưng thế giới của Tokieda chẳng khác gì thế giới của chúng ta. Những bài giảng đại chúng về toán học của ông dễ bị tưởng nhầm là những màn ảo thuật, có điều không cần nhanh tay, không cần những ngăn bí mật, không cần những bộ bài đặc biệt. “Tất cả những gì tôi làm là đưa tự nhiên đến với khán giả và đưa khán giả đến với tự nhiên. Các bạn có thể coi nó như một màn ảo thuật thú vị, kỳ vỹ,” – ông nói.  Tokieda, một nhà toán học tại Đại học Stanford, đã sưu tầm hơn 100 thứ mà ông gọi là “đồ chơi” – đó là những đồ vật thường ngày, dễ kiếm, nhưng lại có những cách thức hoạt động gây sửng sốt, khiến ngay cả những nhà vật lý học cũng phải bối rối. Trong các bài giảng đại chúng cũng như các video trên YouTube, Tokieda giới thiệu những đồ chơi của mình với những lời bình lôi cuốn và dí dỏm, dù tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ thứ bảy của ông. Nhưng giải trí chỉ là một phần mục đích của ông – những bài giảng và video còn để cho mọi người thấy rằng khám phá khoa học không phải là lĩnh vực độc quyền của các nhà khoa học chuyên nghiệp.  “Cái phần vũ trụ mà chúng ta có thể trải nghiệm bằng các giác quan của mình là hữu hạn,” ông nói. “Mặc dù vậy, ngay trong giới hạn đó, chúng ta cũng có thể tự trải nghiệm mọi thứ. Chúng ta có thể ngạc nhiên, không phải vì ai đó bảo chúng ta phải ngạc nhiên, mà bởi chúng ta thực sự chứng kiến và thấy ngạc nhiên.”  Tokieda đến với toán học theo đường vòng. Lớn lên ở Nhật, đầu tiên ông làm nghệ sỹ, rồi trở thành một nhà nghiên cứu cổ ngữ [Nguyên văn: classical philologist]. Tạp chí Quanta (Quanta Magazine) trò chuyện với Tokieda về hành trình của ông đến với toán học và việc sưu tầm đồ chơi. Cuộc phỏng vấn đã được viết lại cho cô đọng và dễ theo dõi.  Ông thích nhấn mạnh rằng thứ đồ chơi bán trong cửa hàng không phải là đồ chơi theo nghĩa của ông?  Nếu một thứ mua được từ một cửa hàng đồ chơi, thì đối với tôi nó không phải một món đồ chơi, vì ai đó đã định sẵn cho nó một cách sử dụng, và bạn phải dùng nó như thế. Nếu bạn mua một thứ đồ chơi điện tử phức tạp, đứa trẻ sẽ như một nô lệ của sản phẩm đó. Nhưng thường đứa trẻ không thèm đoái hoài đến món đồ chơi lại vui thích chơi không ngừng nghỉ với cái hộp và giấy gói, vì nó, với đầu óc và trí tưởng tượng của chính mình, làm cho những thứ đó trở nên thú vị.  Người ta thường nhầm tưởng những đồ chơi của tôi với những trò chơi như các bộ trò chơi trí tuệ [nguyên văn: puzzles], khối rubik, v.v. Nhưng những trò chơi đó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi quan tâm và năng lực của tôi. Tôi không quan tâm đến những trò chơi mà luật chơi do con người quy định. Tôi chỉ hứng thú với những trò chơi do tự nhiên đặt ra.  Bạn thấy đấy, những trò chơi trí tuệ là những tình huống hóc búa do người nào đó tạo ra để cho những người khác giải. Điều đó ngược với mong muốn của tôi. Tôi muốn tất cả loài người hợp tác với nhau và tìm ra cái gì đó thực sự tốt đẹp và bất ngờ trong tự nhiên, và hiểu nó. Không ai phải làm nó khó hơn. Không ai phải đặt thêm luật mới. Một đứa trẻ và một nhà khoa học có thể có chung một điều bất ngờ thú vị.  Ông trở thành nhà sưu tập đồ chơi như thế nào?  Trước đây tôi làm thứ toán học thuần túy lý thuyết – tô-pô sympletic. Hồi đó, tôi chẳng thể nào chia sẻ những việc mình làm với những bạn bè và người thân không làm khoa học.    Tadashi Tokieda thường vẽ những hình rất dễ thương. Trong ảnh là những gì ông vẽ trên website sắp ra mắt về những trò chơi của ông. Ảnh: Kuroshio Magazine      Một bài toán của ông: Cây nến ở hình bên phải liệu có khó tắt hơn? Ảnh: dpmms.  Rồi khi làm nghiên cứu sinh sau tiến sỹ, tôi tự học vật lý và trở thành một nhà vật lý học, và trong vật lý có những thứ hữu hình, nhất là vì tôi thường quan tâm tới những hiện tượng vĩ mô. Và tôi quyết định là mỗi khi viết một bài báo, hoặc hiểu ra điều gì đó, dù rất khiêm tốn, tôi sẽ thiết kế một thí nghiệm đơn giản [nguyên văn: tabletop experiment, “tabletop” có thể hiểu là có thể thực hiện với những thứ sẵn có, không đòi hỏi thiết bị cầu kỳ, ai cũng có thể làm được], hay đồ chơi nếu bạn muốn, mà tôi có thể làm trước mặt mọi người, ở trong bếp, ở trong vườn, v.v. – tức là cái gì đó đơn giản mà vững chắc, có thể chia sẻ một phần nào đó niềm vui tôi có được trong công việc [nghiên cứu]. Tất nhiên, bạn chắc cũng đoán được, việc đó đã rất thành công với bạn bè và người thân.  Và rồi nó dần trở nên quan trọng, và bây giờ thì ngược lại, tôi quan sát cuộc sống thường ngày và cố tìm ra những hiện tượng thú vị. Và tôi bắt đầu việc nghiên cứu khoa học từ đó.  Nhưng ông tìm ra “hiện tượng đồ chơi” đầu tiên của mình từ rất trẻ, đúng không? Là hai dải băng Möbius được gắn với nhau rồi cắt đôi theo chiều dọc để thu được một kết quả bất ngờ ấy.  Tôi bắt gặp nó [hiện tượng đó] hồi bảy tuổi. Ai thích toán mà hồi bé chẳng từng chơi với các dải băng Möbius, và có rất nhiều sách báo nói rằng cắt một dải băng Möbius theo chiều dọc sẽ thu được điều thú vị. Tôi là một cậu bé Nhật Bản thích origami [trò chơi gấp các hình bằng giấy], nên điều đó cũng rất tự nhiên.  Nhưng giữa việc cắt dọc một dải băng Möbius và việc dán hai dải băng Möbius với nhau rồi mới cắt, tôi không cho rằng nó là tất yếu, nhưng có một bước tìm tòi ở đây. Nó không quá cao siêu đâu. Và một khi bước qua bước đó, bạn khám phá ra một hiện tượng kỳ diệu, nó thật đẹp và lãng mạn. Nó ở sẵn đó chờ bạn đến.  Ông từng muốn trở thành một nghệ sỹ đúng không?  Đó là thứ tôi giỏi nhất. Tôi là một đứa trẻ “thần đồng” [precocious – phát triển sớm trước tuổi, dịch thoát]. Hồi năm tuổi, tôi đã có triển lãm tại một phòng trưng bày lớn ở Tokyo. Mọi người trong gia đình kể rằng có hai vợ chồng người Hawaii đến phòng tranh và thấy một bức tranh tĩnh vật của tôi. Họ muốn mua nó với giá cao, nhưng mẹ tôi từ chối.  Mọi người xung quanh đều nghĩ tôi sẽ trở thành một họa sỹ, vì thế tôi cũng nghĩ như vậy. Theo một nghĩa nào đó, tranh ảnh đến giờ vẫn là những thứ tôi quan tâm nhất. Tôi nghĩ rằng trong tính cách sâu thẳm của mình, tôi thích tranh ảnh hơn là ngôn ngữ, tức là giai đoạn tiếp theo của cuộc đời mình.  Ông bước vào giai đoạn đó khi một mình chuyển sang Pháp để học trung học khi mười bốn tuổi.  Đó hóa ra là một sự thức tỉnh [nguyên văn: epiphany] trong cuộc đời tôi. Ở Nhật, chúng tôi biết một cách gián tiếp về những ngôn ngữ và những nền văn hóa khác, nhưng chúng tôi là một hòn đảo, chúng tôi không tiếp xúc với chúng hàng ngày. Chúng tôi được học một thứ được gọi là tiếng Anh, nhưng đó là một môn học ở trường. Bạn có thể sống trong ngôn ngữ đó không? Bạn có thể yêu, có thể chia tay, có thể sinh con, có thể mất đi ai đó [nguyên văn: see death – chứng kiến cái chết, ND dịch thoát] trong ngôn ngữ đó không? Chắc chắn không – nó không đủ cụ thể, không đủ phong phú.  Nhưng khi tôi sang Pháp, ở đó người ta, những người tuyệt vời, sống trong tiếng Pháp. Tôi bị choáng ngợp bởi sức nặng của sự thức tỉnh. Tôi tự nhủ “Mình phải bắt đầu học ngôn ngữ.”  Và ông trở thành một nhà ngôn ngữ học. Và mãi về sau, khi đã là một giảng viên ngữ văn ở Tokyo, ông mới trở nên hứng thú với toán học, đúng không? Chuyện xảy ra như thế nào?  Lúc đó tôi đang hoàn thiện luận văn tốt nghiệp và cần có tiểu sử của ai đó, và tôi đến thư viện. Không may, cuốn tiểu sử đó không nằm ở chỗ của nó, nhưng ngay cạnh chỗ đó có cuốn tiểu sử của Lev Davidovich Landau [nhà vật lý học nổi tiếng của Liên Xô]. Đó là một nhà vật lý học người Nga, người đã một mình tạo nên một trường phái vật lý lý thuyết rất mạnh ở Moscow.  Tôi bắt đầu đọc cuốn sách đó, vì tôi sắp phải đi tàu và cần cái gì đó để đọc. Trước đó tôi chưa từng nghe tới Landau. Thực ra, khi ấy, cũng như tất cả mọi người khác, tôi không biết rằng khoa học là một nghề. Thế nào là nhà toán học? Thế nào là nhà vật lý học? Tôi từng nghe tới những từ đó, nhưng hẳn là họ không tồn tại trong đời thực.  Tôi đọc đến đoạn Landau gặp tai nạn xe hơi nghiêm trọng ở tuổi 54. Ông hôn mê mất một tháng rưỡi. Rồi con trai Igor của ông đến bệnh viện xem tình hình của cha, và ông tỉnh lại. Một cảnh rơi nước mắt. Thế nhưng Landau không nói “Cha sống rồi, mừng quá,” hay “Igor, con của ta,” hay những câu đại loại như vậy. Thay vào đó, ông nói “Igor, con đây rồi. Tích phân bất định của dx trên sin x là gì?”  Igor lấy một tờ giấy nháp và bắt đầu tính, nhưng không tính ra. Landau liền bảo “Igor, con tự cho rằng mình là một người được học hành, thế mà con không làm nổi một việc đơn giản đến thế.”    Poster về bài giảng đại chúng của ông ở Bảo tàng Toán học Quốc gia do chính nhà vật lý nổi tiếng Freeman Dyson giới thiệu.  Đọc đến đây, tôi thấy bị xúc phạm [nguyên văn: personal criticism – chỉ trích cá nhân]. Tôi, một cách khá kiêu ngạo, vốn tự cho mình là rất có học, nhưng cả đời chưa từng nghe đến môn giải tích. Tôi chẳng có tí ý niệm gì về ý nghĩa của dãy ký hiệu đó.  Để trả đũa Landau, tôi quyết định học giải tích đến khi nào làm được bài tập đó. Cuốn tiểu sử dẫn lời Landau: “Đừng tốn thời gian cho các nhà toán học hay các bài giảng và những thứ tương tự – thay vào đó, tìm lấy quyển sách nào có nhiều bài tập có lời giải nhất và làm hết chúng. Đấy mới là cách học toán.” Tôi quay lại thư viện và tìm được quyển sách toán có nhiều bài nhất. Đấy là một quyển sách tiếng Nga, và tôi chẳng biết tiếng Nga, nhưng một nhà ngữ văn trẻ tuổi nào có ngán việc học thêm một thứ tiếng.  Vậy là tôi dành cả một mùa đông cho việc này, và sau có lẽ một tháng rưỡi, tôi tính được cái tích phân đó. Nhưng đang sẵn đà, tôi học tiếp. Tôi không thể ngừng. Và sau chừng ba tháng, tôi nhận ra hai điều. Điều thứ nhất là tôi cũng khá giỏi với những bài tập vận dụng đơn giản kiểu này. Điều thứ hai là có lẽ đây không phải là cách duy nhất để học toán. Và tôi tìm hiểu và biết được rằng mình có thể nghỉ phép hai năm [ở công việc giảng viên ngữ văn].  Và ông tới Oxford học toán.  Theo những gì tôi biết, Oxford là nơi duy nhất cho phép bạn hoàn thành một chương trình cử nhân trong hai năm. Lúc đó tôi không biết tiếng Anh, nhưng một nhà ngữ văn nào có ngán việc học thêm một thứ tiếng.  Sau một thời gian, tôi tự nhủ “Đây là thứ mình muốn làm.” Tôi xin nghỉ việc và đi làm tiến sỹ ở [đại học] Princeton.  Đó là một hành trình [nguyên văn: path – con đường] khác thường để đến với toán học.  Tôi không nghĩ mình có một cuộc sống khác thường, nhưng nó có thể được coi là khác thường nếu bạn cố đặt tôi vào một thứ cuộc sống được coi là chuẩn mực trong một xã hội nào đó. Vấn đề chỉ là phép chiếu, nếu bạn hiểu ý tôi muốn nói. Nếu chọn nhầm trục để chiếu, mọi thứ trông sẽ rất phức tạp. Có thể theo một phép chiếu nào đó, tôi có một quá khứ khác thường. Nhưng tôi không nghĩ thế, bởi vì tôi chỉ sống cuộc sống hàng ngày theo cách riêng của mình. Tôi không cố làm điều gì kỳ cục cả – nó cứ thế xảy ra thôi.  Và giờ thì ông vừa là nhà toán học, vừa là nhà sưu tầm đồ chơi. Ông có cho rằng những đồ chơi của mình là một cách lôi mọi người ra khỏi sự tự mãn về hiểu biết của mình về thế giới xung quanh không?  Ngược lại – tôi đang cố gắng thoát khỏi sự tự mãn của chính mình. Khi tôi chia sẻ, đó là vì tôi muốn chia sẻ với mọi người. Tôi hy vọng họ sẽ thích, nhưng tôi không cố dạy dỗ ai, và tôi không nghĩ rằng mọi người tự mãn. Ai cũng đấu tranh theo cách của mình và nỗ lực và cố gắng tiến bộ. Tôi là ai mà lôi họ ra khỏi sự tự mãn?    Bài giảng của ông về vòng xoắn Mobius.  Nhưng tôi thích được ngạc nhiên, và thích bị chứng minh là mình sai. Không phải trước công chúng, vì như thế rất bẽ mặt. Nhưng một cách kín đáo, tôi thích bị chỉ ra rằng mình sai, bởi nó có nghĩa là sau đó, nếu tôi chấp nhận điều đó, tôi trở nên thông minh hơn một chút, và như thế tôi sẽ thấy dễ chịu hơn.  Ông tìm ra những đồ chơi của mình như thế nào? Ông từng nói rằng phải nhìn thế giới xung quanh qua đôi mắt trẻ thơ.  Đôi khi người lớn có một xu hướng đáng tiếc là chỉ quan tâm đến những thứ mà những người lớn khác đã dán nhãn là thú vị. Trong khi đó, nếu bạn tươi mới hơn một chút, ngây thơ hơn một chút, bạn nhìn được khắp nơi, không cần biết có nhãn dán hay không, và tìm thấy những bất ngờ cho riêng mình.  Như thế, lúc rửa tay với con, tôi có thể để ý rằng nếu mở vòi nước rất bé – đừng bé quá đến mức nhỏ giọt, mà vẫn có một dòng nước mảnh và đều – và từ từ đưa ngón tay lại gần vòi nước, ta có thể làm nhăn dòng nước. Thật kỳ diệu. Bạn có thể thấy những vết nhăn lớn thành hạt.  Hiện tượng này có thể được lý giải một cách đẹp đẽ bởi sức căng bề mặt. Và nó đã được biết đến, nhưng 99.9% dân số thế giới chưa từng chứng kiến sự nhăn này của nước. Thế nên nó rất thú vị. Bạn không muốn buông mất cái cảm giác ngạc nhiên đó.  Và đấy là cách bạn làm. Bạn quan sát xung quanh. Và đôi khi bạn thấy mệt, hay bạn thấy chóng mặt, hay bạn thấy bận rộn với những việc khác, và bạn không thể quan sát. Nhưng không phải lúc nào bạn cũng mệt hay bận. Những khi đó, bạn có thể tìm ra vô khối những điều kỳ diệu.  Ông có cho rằng nếu một hiện tượng vật lý làm ông ngạc nhiên, đấy là một dấu hiệu đáng tin cậy rằng nó cũng sẽ làm những người khác ngạc nhiên?  Không phải một dấu hiệu đáng tin cậy, không một chút nào. Có lúc tôi nghĩ một điều gì đó là thực sự kinh ngạc, và mọi người sẽ bảo “Ừ, thế rồi sao?”  Có một điều khá khó hiểu là ngày nay, ngày càng nhiều người sống trong thế giới thực tế ảo [virtual reality], nơi điều gì cũng có thể xảy ra, nhiều đến nỗi chẳng ai còn thấy bất ngờ bởi điều gì trong thế giới thực. Có thể đó là điểm chia cách sự ngạc nhiên của họ với sự ngạc nhiên của tôi.  Một câu hỏi rất hay gặp ở cuối mỗi bài giảng là “Tất cả những thứ này có ứng dụng thực tiễn không?” Nó thực sự rất thú vị, vì đi đâu tôi cũng gặp câu hỏi này, gần như chính xác đến từng từ. Cứ như thể được nghe một đoạn băng được ghi âm sẵn.  Tôi hỏi lại họ, các bạn nghĩ cái gì làm nên một ứng dụng thực tiễn? Câu trả lời thật đáng kinh ngạc. Đại khái, sau khoảng năm đến mười phút, tất cả mọi người cùng đi đến hai loại ứng dụng thực tiễn. Một loại là, nó có giúp kiếm được một lúc vài triệu đô-la không. Loại kia là, nó có thể giết một lúc hàng triệu người không. Nhiều người thực sự choáng vì chính câu trả lời của mình.  Sau đó tôi bảo họ rằng, tôi không rõ người khác thì thế nào, còn tôi có ứng dụng thực tiễn cho những món đồ chơi của mình. Khi tôi cho bọn trẻ con xem các đồ chơi đó, chúng có vẻ vui thích. Nếu đấy không phải là ứng dụng thực tiễn thì cái gì mới phải?   TS. Nguyễn Hoàng Thạch  (Viện Toán học) dịch  Nguồn: Erica Klarreich, Tạp chí Quanta, 27 tháng 11, 2018, https://www.quantamagazine.org/tadashi-tokieda-collects-math-and-physics-surprises-20181127/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà toán học Mỹ gốc Hungary giành giải thưởng Abel      Nhà toán học người Mỹ gốc Hungary Endre Szemerédi đã được trao giải Abel năm 2012, dành cho “những đóng góp cơ bản cho ngành toán rời rạc và khoa học lý thuyết máy tính”, theo công bố của hội đồng giải thưởng hôm 21/3 vừa rồi.      Giải thưởng trị giá 6 triệu kronor (tương đương 1 triệu USD) này được trao hằng năm bởi Viện Hàn lâm Khoa học Na Uy kể từ năm 2003. Tên giải thưởng lấy theo tên nhà toán học Na Uy sống hồi đầu thế kỷ 19 Niels Henrik Abel, người có công xây nền móng cho đại số và giải tích, dù mất sớm vì bệnh lao khi mới 27 tuổi.  Nghiên cứu của Szemerédi, chủ yếu về số học tổ hợp và lý thuyết số, đã cho thấy khi một hệ thống các yếu tố rời rạc trở nên lớn – ví dụ như những trang web có nhiều link trên internet – thì vẫn có một cấu trúc cho dù hệ thống hoàn toàn ngẫu nhiên. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của ông cũng cho thấy có những khía cạnh hữu ích của tính ngẫu nhiên ngay cả bên trong những hệ thống có tính cấu trúc cao.          Endre Szemerédi (1940) là giáo sư ngành khoa học máy tính của Đại học Rutgers ở New Brunswick, bang New Jersey, Mỹ, từ năm 1986. Trước đó, ông từng làm việc tại Viện Toán học Alfréd Rényi thuộc Viện Hàn lâm khoa học Hungary.          Kết quả nghiên cứu nổi tiếng nhất của nhà toán học này là một định lý nền tảng xác lập sự hiện hữu của những cấp số cộng dài một cách tùy ý, biểu trưng cho trật tự, trong bất cứ chuỗi số nguyên nào không thưa thớt một cách vô tận. Ví dụ, nếu một nguyên nhân nào đó làm mất đi 99,99% các số nguyên một cách ngẫu nhiên, thì trong số 0,01% còn lại vẫn tồn tại một cấp số cộng. Định lý của Szemerédi, được ông chứng minh vào năm 1975, trước đó không có lời giải trong vài thập kỷ sau khi được đề xuất bởi Paul Turán, một nhà toán học người Hungary, và Paul Erdös, chính là thày của Szemerédi. (Erdös chết năm 1996, là người từng treo thưởng bằng tiền cho người đầu tiên giải được vấn đề ông đưa ra. Và Szemerédi là người nhận được khoản tiền thưởng này sau khi tìm được lời giải).    Bài báo công bố lời giải của Szemerédi có thể coi là “một tuyệt tác”, theo lời Terence Tao, nhà toán học từ Đại học California tại Los Angeles, người tham gia hội đồng giải thưởng năm nay. “Khi tôi đọc nó, tôi có cảm giác như chứng kiến một chuyên gia tung hứng tung lên không trung hàng tá quả bóng và tóm chúng lại một cách hoàn hảo”.    Trong một cuộc khảo sát về công trình của Szemerédi liên quan tới công bố Giải thưởng Abel, nhà toán học Timothy Gower từ Đại học Cambridge của Anh nhận xét rằng đóng góp của Szemerédi lớn hơn nhiều so với tầm vóc một định lý hay một bổ đề đơn lẻ. “Ông đã công bố hơn 200 bài báo” theo suốt một sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, Gower nói. “Và ở tuổi 71, không có dấu hiệu nào cho thấy ông bị chững lại”.  Lược dịch theo     http://news.sciencemag.org/sciencenow/2012/03/endre-szemeredi-wins-maths-biggest.html?ref=hp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhạc cổ điển giúp bà bầu giải stress      Một nghiên cứu vừa xác thực nghe nhạc cổ điển giúp các bà mẹ thoát khỏi sự căng thẳng khi mang thai. Điều này đáng chú ý bởi nếu mẹ lo lắng khi mang bầu, con rất dễ bị hen suyễn.     Nghiên cứu tìm thấy những loại nhạc có nhịp độ 60-80 nhịp mỗi phút, tương đồng như nhịp tim của người, thì dễ dàng loại bỏ được sự lo lắng và chán nản của thai phụ. Giáo sư Chung-Hey Chen, trưởng nhóm nghiên cứu từ Đại học Y khoa Kaohsiung ở Đài Loan, cho biết: “Mang bầu là thời kỳ độc nhất và rất căng thẳng với nhiều bà mẹ trẻ, và họ còn lo lắng và chán nản vì thời gian đó kéo dài nữa. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nghe loại nhạc thích hợp là một giải pháp đơn giản, rẻ tiền và chẳng gây thiệt hại gì để giảm stress, lo lắng và buồn rầu trong thời kỳ có bầu”. TheoDailyMail    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân bản tế bào miễn dịch điều trị ung thư      Các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson (Mỹ) tập trung nghiên cứu một dạng tế bào bạch cầu có tên gọi là CD4+ T.      Loại tế bào này có đặc tính là chuyên tấn công một loại hóa chất có trên bề mặt của các tế bào hắc tố. Từ một mẫu tế bào bạch huyết của bệnh nhân, họ chọn lấy các tế bào CD4+ T, sau đó nhân bản chúng lên hàng tỷ lần trong phòng thí nghiệm và đưa trở lại cơ thể bệnh nhân để chúng tấn công các khối u. Hai tháng tiếp sau, các khối u đã biến mất; sau hai năm thì bệnh nhân hoàn toàn khỏi bệnh. Đáng chú ý là các nhà khoa học nhận thấy, những tế bào nhân bản được đưa vào vẫn tồn tại trong cơ thể bệnh nhân nhiều tháng sau khi điều trị. Trong khi tuyên bố đây là lần đầu tiên phương pháp chữa ung thư này được thực hiện trên thế giới, các tác giả cũng chỉ ra rằng, công nghệ của họ chỉ có thể áp dụng được với các mẫu bệnh nhân có dạng hệ miễn dịch cũng như dạng khối u nhất định. Mặc dù công nghệ này quá phức tạp đã có tác dụng to lớn cổ vũ các nhà khoa học trên toàn thế giới.   Ngọc Trác   (Theo BBC)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân chuyện Aslem: Nghiên cứu, phê chuẩn và quản lí thuốc      Trong vài tuần qua, dư luận xôn xao về thuốc Aslem, được mô tả như là một loại “thần dược” có thể kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân ung thư. Trước tin tức về hiệu quả của thuốc được xem là “niềm tự hào thuốc Việt” như thế, không ngạc nhiên khi thấy bệnh nhân chen chân nhau mua thuốc, và như là một qui luật cung – cầu của thị trường, thuốc trở thành đắt giá. Tuy nhiên, qua kiểm tra y văn và theo dõi các nguồn tin, người viết bài này e rằng đây là một trường hợp hiểu lầm, bởi vì thuốc chưa được nghiên cứu có hệ thống, nên chưa thể đánh giá hiệu quả lâm sàng và quan trọng hơn là an toàn của thuốc. Một loại thuốc như thế không nên có mặt trên thị trường chứ chưa nói đến có thể dùng trong điều trị hay bổ trợ điều trị. Cần phải có nhiều nghiên cứu khoa học và kết quả nên được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế để các chuyên gia và đồng nghiệp thẩm định khách quan hơn.    Ung thư là một căn bệnh đáng sợ và gây ra nhiều phản ứng cảm tính nhất so với các bệnh nguy hiểm khác như tim mạch hay thấp khớp. Do đó, không ngạc nhiên khi nhiều nơi trên thế giới, người ta chi tiêu ra hàng tỉ USD để đi tìm thuật điều trị nhằm cứu sống hay ít ra là kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Ở nước ta, ung thư đang là một trong những bệnh nguy hiểm cướp đi hàng chục ngàn mạng sống hàng năm. Việc nghiên cứu và phát triển một thuốc rẻ tiền nhưng có hiệu quả để cứu sống bệnh nhân, dù với vai trò bổ trợ hay điều trị, là một nỗ lực rất đáng hoan nghênh.                  Thuốc Aslem được phát triển trong bối cảnh đó. Nhưng trong vài tuần qua, đã có hiện tượng “nhiễu thông tin” về chức năng và hiệu quả của thuốc. Trong khi có phóng viên gọi thuốc là “thần dược”, hay các nhà sản xuất tự tin rằng thuốc của họ nghiên cứu và sản xuất có hiệu quả kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân, thì các chuyên gia cho rằng thuốc không có hiệu quả lâm sàng. Đối với những ai làm trong ngành y và có quan tâm đến câu chuyện, vấn đề trở nên khó khăn hơn vì hầu như không có một thông tin khoa học đáng tin cậy nào về thuốc Aslem được công bố trên các tập san khoa học quốc tế, và do đó, không thể đánh giá hiệu quả của thuốc ra sao. Qua câu chuyện này, tôi thấy nổi cộm 2 vấn đề liên quan đến nghiên cứu khoa học, và phê chuẩn và quản lí dược phẩm.  Vấn đề nghiên cứu khoa học  Tìm trong thư viện y khoa quốc tế (PubMed), người viết bài này không thấy một kết quả nghiên cứu nào liên quan đến thuốc Aslem. Như vậy, có thể nói rằng tất cả kết quả liên quan đến thuốc chưa bao giờ được bình duyện (hay “phản biện”) bởi giới chuyên môn quốc tế.  Tìm trên mạng, tôi thấy một thông tin khoa học liên quan đến thuốc dưới hình thức một báo cáo tóm lược (abstract) của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia. Theo báo cáo này, Aslem là một loại thuốc kích thích hệ thống miễn dịch được nghiên cứu và phát triển tại Đại học Dược Hà Nội [1]. Như vậy, thuốc không có chức năng điều trị, mà chỉ hỗ trợ điều trị ung thư.  Vẫn theo báo cáo trên, Aslem đã được thử nghiệm ở 23 bệnh nhân ung thư ruột tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 5/2005 đến 5/2006, và kết quả cho thấy sau khi điều trị số tế bào CD3+ và CD8+ ở bệnh nhân được khôi phục mức độ lúc ban đầu (trước khi giải phẫu) và tăng cao sau khi giải phẫu. Tuy nhiên, rất tiếc báo cáo không cung cấp dữ liệu cụ thể tăng bao nhiêu, nên rất khó đánh giá hiệu quả của thuốc. Ngoài ra, vì đây là một nghiên cứu không có nhóm chứng (control, tức nhóm không được điều trị bằng Aslem), nên chúng ta cũng không thể kết luận rằng thuốc có hiệu quả khả quan hơn các thuốc hiện hành hay khả quan hơn so với người không dùng thuốc nào.  Qua báo chí, tôi biết rằng thuốc còn được thử nghiệm ở 88 bệnh nhân ung thư phế quản tại Viện Lao và Bệnh phổi trung ương, ở 74 bệnh nhân ung thư vú ở Bệnh viện K. Nhưng kết quả lại được mô tả rất khác nhau: trong khi có tin cho rằng “Những bệnh nhân này đều có cải thiện về thời gian sống thêm 4 năm so với nhóm bệnh nhân không được điều trị” [2], lại có ý kiến của chuyên gia rằng “Kết quả điều trị giữa nhóm nghiên cứu (được dùng Aslem kèm theo các biện pháp điều trị thông thường) và nhóm đối chứng (không dùng Aslem) không khác nhau.” [3] Lại có ý kiến của một chuyên gia về một số trường hợp cụ thể mà theo đó bệnh nhân ung thư từng được uống thuốc Aslem từ 10-15 năm trước và cho đến nay vẫn “sống khỏe mạnh” [2].        Nhìn qua y văn quốc tế, dễ dàng thấy rằng phần lớn nghiên cứu về thuốc điều trị (hay hỗ trợ điều trị) ung thư đều được tiến hành trên hàng ngàn bệnh nhân với thời gian theo dõi tối thiểu là 1 năm, nhưng đại đa số là 3 năm. Bất cứ nghiên cứu nào được tiến hành trên một số lượng nhỏ bệnh nhân mà kết quả có thể biết trước được là không có giá trị cao thì câu hỏi về y đức có thể đặt ra.        Tất cả các thông tin trên đây cho thấy thuốc Aslem chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống hay theo đúng những qui trình nghiên cứu khoa học. Theo kinh nghiệm của người viết bài này, trong lĩnh vực ung thư học, nghiên cứu về hiệu quả của thuốc trên một số nhỏ bệnh nhân (dưới 100 người) trong vòng 6 tháng hay 1 năm thì không thể nào cho ra kết quả đáng tin cậy được. Với những dữ liệu ban đầu, rất dễ dàng ước tính số lượng bệnh nhân cần thiết cho một công trình nghiên cứu về ung thư. Chẳng hạn như nếu giả thiết rằng tỉ lệ sống sót trong nhóm sử dụng thuốc bổ trợ Aslem là 70% sau 2 năm, và trong nhóm không sử dụng thuốc Aslem là 50%, thì số lượng bệnh nhân cần thiết cho nghiên cứu phải 300 người. Nếu mức độ ảnh hưởng của thuốc thấp hơn (như tỉ lệ sống sót 70% so với 60%) thì số lượng bệnh nhân có thể lên đến 1.700 người để có thể kết luận về hiệu quả của thuốc một cách đáng tin cậy.  Thật vậy, nhìn qua y văn quốc tế, dễ dàng thấy rằng phần lớn nghiên cứu về thuốc điều trị (hay hỗ trợ điều trị) ung thư đều được tiến hành trên hàng ngàn bệnh nhân với thời gian theo dõi tối thiểu là 1 năm, nhưng đại đa số là 3 năm. Bất cứ nghiên cứu nào được tiến hành trên một số lượng nhỏ bệnh nhân mà kết quả có thể biết trước được là không có giá trị cao thì câu hỏi về y đức có thể đặt ra.  Cố nhiên, đứng trên quan điểm khoa học, không thể dựa vào một số trường hợp đơn lẻ để thẩm định hiệu quả của thuốc. Trong thực tế, không ai biết có bao nhiêu trường hợp sử dụng thuốc mà không có hiệu quả. Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng có một số trường hợp bệnh nhân hết bệnh do sự dao động sinh học của tế bào, chứ chẳng phải do thuốc nào. Chỉ khi nào có nhiều nghiên cứu có phương pháp và hệ thống thì bằng chứng về hiệu quả của thuốc mới có thể đánh giá khách quan được.           Cho đến nay, không một thông tin nào về nghiên cứu cơ bản liên quan đến thuốc Aslem được công bố. Ngay cả những kết quả mà báo chí đề cập đến cũng chưa thấy xuất hiện trên một tập san khoa học đáng tin cậy nào. Trong bối cảnh như thế, thật là đáng tiếc khi các nhà nghiên cứu đã vội vã công bố trên báo chí về hiệu quả của thuốc. Việc làm này không nhất quán với qui ước Ingelfinger (tức nhà khoa học chỉ phát biểu về kết quả khi nào một tập san đã công bố kết quả đó) mà các nhà khoa học quốc tế vẫn xem là kim chỉ nam cho hoạt động khoa học và tương tác với truyền thông.        Tưởng cần nói thêm rằng trong hoạt động phát triển thuốc, thông thường một thuốc đến tay người tiêu dùng hay bệnh nhân phải trải qua một thời gian khá dài với nhiều giai đoạn nghiên cứu. Những bước đầu tiên trong việc phát triển thuốc đương nhiên diễn ra ở phòng thí nghiệm, nơi mà các nghiên cứu cơ bản về ảnh hưởng của thuốc có thể theo dõi trên tế bào. Nếu một hợp chất hay thuốc có tác dụng trên tế bào, bước kế tiếp là thử nghiệm trên động vật như chuột. Nếu kết quả thử nghiệm trên động vật có triển vọng và không có phản ứng phụ đáng kể, thuốc có thể được thử nghiệm ở con người. Thử nghiệm thuốc ở con người là giai đoạn cuối trong qui trình phát triển thuốc (xem box). Một thuốc chỉ có thể tiến đến giai đoạn này nếu nó được chứng minh là có hiệu quả tích cực hay triển vọng qua thử nghiệm trên động vật, và không có những phản ứng xấu đến sức khỏe con người.  Cho đến nay, không một thông tin nào về nghiên cứu cơ bản liên quan đến thuốc Aslem được công bố. Ngay cả những kết quả mà báo chí đề cập đến cũng chưa thấy xuất hiện trên một tập san khoa học đáng tin cậy nào. Trong bối cảnh như thế, thật là đáng tiếc khi các nhà nghiên cứu đã vội vã công bố trên báo chí về hiệu quả của thuốc. Việc làm này không nhất quán với qui ước Ingelfinger (tức nhà khoa học chỉ phát biểu về kết quả khi nào một tập san đã công bố kết quả đó) mà các nhà khoa học quốc tế vẫn xem là kim chỉ nam cho hoạt động khoa học và tương tác với truyền thông.  Vấn đề phê chuẩn và quản lí thuốc  Dược phẩm là loại hàng hóa đặc biệt, vì sự ảnh hưởng trực tiếp của thuốc đến sức khỏe con người. Chính vì thế mà ở các nước phát triển, chính phủ thường có một hệ thống quản lí thuốc rất chặt chẽ, ngay từ khâu nghiên cứu, phê chuẩn, đến tiêu thụ. Có thể nói qui trình phê chuẩn của FDA (Food and Drug Admininistration – Cục quản lí thực phẩm và thuốc) của Mĩ là một mô hình chuẩn được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nói một cách ngắn gọn, các nhà sản xuất (công ti dược) phải chứng minh rằng thuốc của họ có hiệu quả và an toàn trước khi được phê chuẩn cho xuất hiện trên thị trường và điều trị bệnh nhân. Để chứng minh hai khía cạnh này (hiệu quả và an toàn), công ti phải tiến hành một loạt nghiên cứu qua 3 khâu: khâu 1 gồm các nghiên cứu tiền lâm sàng (pre-clinical study), tức nghiên cứu trên tế bào và chuột hay động vật; khâu 2 bao gồm các nghiên cứu lâm sàng giai đoạn I, II và III trên người; và khâu 3 là kiểm tra dữ liệu và phê chuẩn.                  Không phải thuốc nào cũng đều suôn sẻ qua ba “cổng” như vừa mô tả. Thật ra, ngay từ khâu đầu, chỉ 1 trong số 5000 hợp chất là thành công để có thể tiến đến nghiên cứu lâm sàng ở khâu 2. Một số thuốc sau khi thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I cũng có thể thất bại vì lí do không an toàn hay vì không có hiệu quả, và sẽ không bao giờ đến khâu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II hay III. Thông thường, thời gian trung bình từ khi khám phá cho đến khi thuốc được bày bán trên thị trường là 12 năm, và tốn khoảng 359 triệu USD cho nghiên cứu khoa học.  Sau khi hoàn tất các nghiên cứu tiền lâm sàng và nghiên cứu lâm sàng giai đoạn I, II và III, nhà sản xuất phải nộp tất cả số liệu, dữ liệu, kết quả nghiên cứu cho FDA để được duyệt xét và phê chuẩn cho sử dụng. Thông thường mỗi đơn như thế dài đến 100.000 trang giấy và nhiều đĩa CD gồm các dữ liệu ở dạng mà các chuyên gia FDA có thể kiểm tra bằng phân tích thống kê. FDA có hàng trăm chuyên gia về y khoa lâm sàng, dịch tễ, thống kê, sinh hóa học độc tố, v.v… phân tích và bình duyệt đơn của nhà sản xuất. Phần lớn các hội đồng này là các giáo sư và nhà khoa học từ các đại học. Nhân sự của FDA hiện nay là khoảng 9.000 người, trong số này có gần 500 chuyên gia thống kê sinh học chuyên phân tích và … soi mói các dữ liệu nghiên cứu! Đây là một đội chuyên gia được xem là đáng sợ nhất của các công ti dược, vì chỉ một bình duyệt tiêu cực của họ là toàn bộ hồ sơ phải làm lại! Chỉ khi nào hội đồng này phê chuẩn thì thuốc mới được sử dụng theo chỉ định.        Quản lí dược Việt Nam (thuộc Bộ Y tế) đã phê chuẩn cho lưu hành từ tháng 7/2007, trong khi kết quả nghiên cứu vẫn còn trong vòng tranh cãi! Đã có người đặt vấn đề việc phê chuẩn như thế là hơi vội vã.          Sau khi thuốc được sử dụng, nhà sản xuất còn có trách nhiệm phải thu thập dữ liệu và báo cáo tất cả những trường hợp phản ứng bất thường hay tai biến liên quan đến thuốc cho FDA biết. Không ít trường hợp thuốc đã qua phê chuẩn và sử dụng cho điều trị, nhưng sau khi phát hiện phản ứng tiêu cực và tai biến lại phải rút khỏi thị trường. Trường hợp thuốc Vioxx là một ví dụ tiêu biểu.  Mô tả qui trình phê chuẩn thuốc của FDA tôi không có ý nói nước ta phải làm như thế, vì điều kiện địa phương chưa cho phép chúng ta có một hệ thống cồng kềnh như thế. Tuy nhiên, qua qui trình phát triển, nghiên cứu và phê chuẩn thuốc như mô tả trên, chúng ta thấy cách làm ở nước ta có phần khác biệt lớn. Thật vậy, trong trường hợp Aslem, Cục Quản lí dược Việt Nam (thuộc Bộ Y tế) đã phê chuẩn cho lưu hành từ tháng 7/2007, trong khi kết quả nghiên cứu vẫn còn trong vòng tranh cãi! Đã có người đặt vấn đề việc phê chuẩn như thế là hơi vội vã.    Một câu chuyện cũ nhưng có ý nghĩa cho ngày nay  Y học trong những năm cuối thế kỉ 20 cho đến nay (và có thể trong thế kỉ 21) dựa vào triết lí của y học thực chứng (evidence-based medicine). Theo triết lí này, thực hành lâm sàng phải dựa vào bằng chứng khoa học. Bằng chứng khoa học được đúc kết từ nhiều nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng. Trong y học thực chứng, tất cả những ý kiến cá nhân dù là của các chuyên gia hay giáo sư đầu ngành không thể xem là bằng chứng, hay là loại “bằng chứng” có giá trị khoa học thấp nhất.                  Thực hành lâm sàng không dựa vào bằng chứng khoa học có thể dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng. Một trong những hệ quả đó có liên quan đến thuốc HRT. Đầu thập niên 1980s và 1990s, liệu pháp trị liệu thay thế hormone (HRT — hormone replacement therapy) được xem là một loại “thần dược” dùng để điều trị các triệu chứng sau thời kì mãn kinh và loãng xương. Thời đó, giới y khoa tin rằng HRT sẽ làm cho phụ nữ trẻ trung hơn, sẽ ngăn ngừa bệnh tim mạch và loãng xương trong những phụ nữ có tuổi. Trong các trường y, một số giáo sư còn đi xa hơn, răn đe sinh viên rằng tình trạng HRT chưa được sử dụng rộng rãi ở các phụ nữ sau thời mãn kinh là một tội phạm trong ngành y! Nhưng đó chỉ làm niềm tin, vì lúc đó chưa có những nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled clinical trial) để đánh giá một cách khách quan hiệu quả của thuốc ra sao.        Cho đến nay, khách quan mà nói, vẫn chưa có đủ bằng chứng khoa học để bác bỏ tác dụng của Aslem. Do đó, có lẽ ưu tiên hàng đầu hiện nay là tiến hành một số nghiên cứu độc lập để đánh giá hiệu quả và an toàn của thuốc. Ngoài ra, cần phải phân tích lại các dữ liệu nghiên cứu trong quá khứ để đi đến một mô hình nghiên cứu mới và sáng tạo hơn.        Đến năm 1998, kết quả của một nghiên cứu lâm sàng có tên là “Heart and Estrogen/Progestin Replacement Study” (HERS) công bố cho thấy HRT chẳng những không ngăn ngừa bệnh tim, mà còn làm tăng nguy cơ ung thư vú, và một số bệnh khác. Có người ước tính rằng có hàng vạn ca ung thư vú ở Mĩ chỉ do sử dụng HRT. Kết quả nghiên cứu này làm cho giới y khoa Tây phương ngẩn ngơ! Ai cũng ngạc nhiên đến nỗi không tin kết quả nghiên cứu! Mới đây, một nghiên cứu qui mô khác cũng cho thấy HRT có hại nhiều hơn là lợi cho bệnh nhân. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, và y khoa phải hành động dựa vào bằng chứng khoa học. Vì thế, thuốc HRT không còn xem là thần dược nữa mà phải được sử dụng có kiểm soát chặt chẽ.            GS.Nguyễn Văn Tuấn là nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan. Anh đã công bố nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học hàng đầu như Nature, New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA…và là cố vấn khoa học của nhiều trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới.          Trường hợp HRT trên đây cho thấy nhiều phương pháp trị liệu hiện hành không có hiệu nghiệm như chúng ta mong tưởng. Thậm chí, trong quá trình điều trị, thuốc còn có thể gây nên tổn hại cho bệnh nhân. Phần lớn các phương pháp điều trị trong y học chưa bao giờ được kiểm tra, đánh giá bằng các phương pháp khoa học khách quan. Có thể nói rằng thuốc Aslem cũng nằm trong trường hợp này. Nhưng cho đến nay, khách quan mà nói, vẫn chưa có đủ bằng chứng khoa học để bác bỏ tác dụng của Aslem. Do đó, có lẽ ưu tiên hàng đầu hiện nay là tiến hành một số nghiên cứu độc lập để đánh giá hiệu quả và an toàn của thuốc. Ngoài ra, cần phải phân tích lại các dữ liệu nghiên cứu trong quá khứ để đi đến một mô hình nghiên cứu mới và sáng tạo hơn [4]. Câu chuyện chung quanh thuốc Aslem cho thấy đã đến lúc các giới chức y tế cần áp dụng các nguyên tắc và nguyên lí của y học thực chứng trong việc đánh giá hiệu quả và an toàn, và phê chuẩn thuốc trong tương lai.                  Chú thích:  [1] Tài liệu của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (National Center for Scientific and Technological Information) viết: “Initial evaluation of the effect of Fufol-Aslem combination therapy on the immune parameters of peripheral blood in adjuvant treatment of post-surgery colorectal cancers [Bước đầu đánh giá tác dụng của phác đồ Fufol-Aslem trên các thông số miễn dịch máu ngoại vi trong điều trị bổ trợ sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng] / Đỗ Tuấn Minh,Nguyễn Hoàng Anh, Đào Kim Chi,… // TC Dược học . -2006. -No 9. -p. 19-22. -(vie). -ISSN 0866-7225.  Aslem, a nonspecific immunostimulant sythesized at Hanoi college of pharmacy has long been used as an adjuvant therapy in treatment of cancer. The primary investigation of the effects of Fufol-Aslem on the peripheral blood immune parameters of 23 colorectal cancer patients treated at the department of gastrointestinal surgery, Viet Duc hospital (from 05/2005 to 05/2006) showed that: At the end of the treatment, the number of CD3+ and CD8+ in the Aslem group restored the level before surgery and increased remarkably in comparison with the level after surgery. The PHA-induced transformation rate of the treated group also grew significantly in comparison with both levels before and after surgery. By group tended to decrease after the surgery.”  [2] Người lao động, số ra ngày 2/3/2008. “Thuốc Aslem: điều trị hỗ trợ ung thư”  [3] Tuổi Trẻ, 3/3/2008. “Aslem có kéo dài cuộc sống của bệnh nhân ung thư?”  [4] Chúng tôi có kinh nghiệm về các phương pháp mới trong việc thiết kế nghiên cứu thích hợp cho ngành ung thư, và có thể cố vấn trong vấn đề này.  GS.Nguyễn Văn Tuấn-Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận dạng tiếng nói thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau từ chuyển động môi      Trong những năm gần gây, các kỹ thuật học sâu đã đạt được những tiến bộ đáng chú ý trong nhiều tác vụ xử lý ngôn ngữ và hình ảnh. Những tiến bộ này bao gồm việc nhận dạng tiếng nói bằng hình ảnh (VSR) – một tác vụ đòi hỏi phải xác định được nội dung của lời nói chỉ bằng cách phân tích chuyển động môi.    Ảnh: analyticsindiamag.com  Mặc dù một số thuật toán học sâu để thực hiện tác vụ VSR này đã đạt được những kết quá rất hứa hẹn, tuy nhiên, chúng hầu như chỉ được huấn luyện để nhận dạng tiếng nói tiếng Anh, do hầu hết các bộ dữ liệu huấn luyện hiện nay không có các tiếng nói của các ngôn ngữ khác. Điều này khiến cho lượng người dùng tiềm năng của thuật toán bị giới hạn ở nhóm người sống hoặc làm việc ở môi trường nói tiếng Anh.  Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Hoàng gia Luân Đôn đã phát triển một mô hình có thể thực hiện nhiệm vụ VSR với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong bài báo mới được công bố trên tạp chí Nature Machine Intelligence, các tác giả đã cho thấy mô hình mới vượt trội hơn so với một số mô hình trước đây (dù các mô hình trước được huấn luyện trên những bộ dữ liệu lớn hơn nhiều).  “Trong quá trình làm luận án tiến sĩ, tôi đã nghiên cứu một số chủ đề, chẳng hạn như cách kết hợp thông tin hình ảnh với âm thanh để nhận dạng tiếng nói, cũng như cách nhận dạng tiếng nói bằng hình ảnh một cách độc lập với tư thế đầu của người tham gia. Và tôi nhận ra rằng phần lớn các tài liệu đã có chỉ xử lý tiếng nói tiếng Anh mà thôi”, Pingchuan Ma – người nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Hoàng gia và là tác giả chính của bài báo – cho biết.  Do đó, nghiên cứu của Ma và đồng nghiệp đặt mục tiêu huấn luyện một mô hình học sâu có khả năng nhận dạng tiếng nói trong nhiều ngôn ngữ khác nhau từ chuyển động môi của người nói, sau đó so sánh hiệu quả của mô hình mới này với các mô hình vốn được huấn luyện để nhận dạng tiếng nói tiếng Anh. Theo các tác giả, mô hình mới cũng giống như mô hình do các nhóm nghiên cứu khác giới thiệu trước đây, tuy nhiên điểm khác biệt nằm ở chỗ mô hình mới đã tối ưu hóa một số siêu tham số, đồng thời tăng cường bộ dữ liệu (bằng cách thêm các phiên bản dữ liệu tổng hợp, được sửa đổi một chút) và sử dụng thêm hàm mất mát (loss functions).  “Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy có thể sử dụng các mô hình tương tự để huấn luyện các mô hình VSR với các ngôn ngữ khác”, Ma giải thích. “Mô hình của chúng tôi lấy hình ảnh thô làm dữ liệu đầu vào mà không trích xuất bất kỳ đặc điểm nào, sau đó mới tự động tìm hiểu những đặc điểm hữu ích cần trích xuất từ ​​những hình ảnh này để hoàn thành các tác vụ VSR”.  Trong các đánh giá ban đầu, mô hình mới của nhóm hoạt động rất tốt, vượt trội so với các mô hình VSR khác vốn được huấn luyện trên những tập dữ liệu lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, đúng như dự đoán, mô hình này hoạt động kém hiệu quả hơn so với các mô hình nhận dạng tiếng nói tiếng Anh, chủ yếu là do các tập dữ liệu sẵn có để huấn luyện ít hơn so với dữ liệu tiếng Anh.  Ma và các đồng nghiệp của ông đã chỉ ra rằng, việc thiết kế cẩn trọng các mô hình học sâu có thể giúp cho mô hình này đạt được hiệu quả cao nhất trong các tác vụ VSR, thay vì chỉ đơn giản là sử dụng các phiên bản mô hình lớn hơn hoặc thu thập nhiều dữ liệu huấn luyện hơn. Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong hướng nghiên cứu để cải thiện các mô hình VSR tương lai.  “Một trong những lĩnh vực nghiên cứu chính mà tôi quan tâm là cách kết hợp các mô hình VSR với tính năng nhận dạng giọng nói (chỉ dựa trên âm thanh) hiện nay”, Ma nói thêm. “Tôi đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để mô hình có thể hiểu chúng nên dựa vào mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện tiếng ồn. Nói cách khác, trong môi trường ồn ào, mô hình nghe – nhìn nên dựa nhiều hơn vào thông tin hình ảnh. Ngược lại, khi vùng miệng của người nói bị che khuất thì mô hình này cần phụ thuộc nhiều hơn vào âm thanh. Tuy nhiên, các mô hình hiện nay về cơ bản là bị ‘đóng băng’ sau khi được huấn luyện và không thể thích ứng với những thay đổi trong môi trường như vậy”.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-11-speech-languages-speaker-lip-movements.html    Author                .        
__label__tiasang Nhận diện những cường quốc vật lý      Mới đây, Hội Vật lý Anh quốc (Institute of Physics, IOP) 1kết hợp với Thomson Reuters đã làm một báo cáo chi tiết phân tích sản phẩm đầu ra của các nhà nghiên cứu vật lý ở nhiều quốc gia trên thế giới , qua đó cho thấy xếp hạng các cường quốc vật lý trên thế giới đã thay đổi.      “Thị phần” các cường quốc truyền thống đang giảm về số lượng  IOP và Thomson Reuters đã tiến hành thu thập dữ liệu từ các công trình vật lý của các quốc gia từ năm 2001 đến 2010. Các công trình được đưa vào phân tích là các bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có bình duyệt (peer-reviewed journals) được xếp hạng (SCI, ISI…), hoặc các hội nghị có phản biện uy tín với các trọng số khác nhau. Trong các tạp chí có bình duyệt, các ấn phẩm trong danh mục ISI được tính trọng số cao nhất. Chỉ số NCI cuối cùng được tính dựa trên tổng số trích dẫn của các bài và chuẩn hóa trên đầu bài báo. Từ đây, một báo cáo khá chi tiết đã được phân tích cho thấy diện mạo thực sự của nền vật lý Anh quốc và các quốc gia khác.        Sự suy giảm “thị phần” ở các “ông lớn” khoa học là do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia khác, mà đứng đầu là Trung Quốc (với việc tỉ lệ bài báo từ 8,2% năm 2001 đã tăng lên tới 18,6% năm 2010), cùng với Hàn Quốc, Canada, và Ấn Độ.         Nếu như năm 2001, toàn Vương quốc Anh công bố 5484 công trình trong lĩnh vực vật lý, thì con số này năm 2010 chỉ lên tới 6240, tức là chỉ tăng 13,8%, và chỉ chiếm có 6,4% tổng số công trình của toàn thế giới (năm 2001 số bài báo của Anh chiếm 7,1% thế giới). Trong khi đó, Hoa Kỳ luôn ở vị trí dẫn đầu về tổng số công trình khoa học, nhưng cũng giảm “thị phần” bài báo từ 25,0% toàn thế giới (năm 2001) xuống 22,0% năm 2010. Các cường quốc khoa học khác là Đức, Nhật, Pháp cũng theo xu thế này, với việc suy giảm “thị phần” ấn phẩm khoa học từ năm 2001 cho đến 2010. Sự suy giảm “thị phần” ở các “ông lớn” khoa học là do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia khác, mà đứng đầu là Trung Quốc (với việc tỉ lệ bài báo từ 8,2% năm 2001 đã tăng lên tới 18,6% năm 2010), cùng với Hàn Quốc, Canada, và Ấn Độ. Một cường quốc vật lý trong quá khứ là Nga cũng trong tình trạng tương tự như các ông lớn Anh, Mỹ với việc tỉ lệ bài báo suy giảm liên tục từ năm 2001 (9,5%) đến 2010 (7,3%).  Theo xu thế này, Trung Quốc được dự đoán là có khả năng vượt Hoa Kỳ về tổng số bài báo công bố trong tương lai gần. Tuy nhiên, con số này chỉ mang tính chất số lượng, không nói lên chất lượng bài báo và thực lực của nền vật lý. Bởi một lẽ số lượng bài báo xuất bản của một quốc gia cũng phụ thuộc vào số lượng các nhà nghiên cứu (con số này của Trung Quốc chắc chắn hơn đứt nhiều quốc gia khác như Anh, Pháp, Hàn Quốc…). Ngoài ra, trong các nghiên cứu thống kê gần đây [2], có một tỉ lệ bài báo rất lớn từ Trung Quốc không hề được trích dẫn, và được xuất bản trên các tạp chí phát hành bởi chính Trung Quốc (xuất bản tại các nhà xuất bản lớn, nhưng do TQ phát hành, và được đánh giá chỉ số ảnh hưởng) nhưng chất lượng và uy tín của các tạp chí này không được đánh giá cao. Có nghĩa là chất lượng các công bố khoa học đến từ Trung Quốc được xem là thấp.    Diện mạo thật của các nền vật lý  Để có một đánh giá chính xác hơn, chỉ số ảnh hưởng trung bình của các bài báo được đưa ra dựa trên tổng số trích dẫn và chuẩn hóa trên đầu bài báo. Chỉ số này dược gọi là normallised citation impact (NCI)[3]. Đến đây, diện mạo thật sự của các nền vật lý đã được lộ diện và quốc gia nào thực sự là “ông hoàng vật lý” đã được điểm mặt.          Hệ số ảnh hưởng trích dẫn chuẩn hóa (normallised citation impact) của  một số quốc gia 2001-2010 (Nguồn: IOP & Evidence, Thomson Reuters).                Hoa Kỳ là nước đang giữ số lượng công bố khoa học nhiều nhất với 22% các công trình khoa học toàn thế giới, tiếp theo là Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ với 18,6%, xếp tiếp theo là Đức (10,5%), Nhật Bản (9,6%), Pháp (7,6%), Nga (7,3%), Vương quốc Anh (6,4%), Hàn Quốc (4,8%)… Nhưng đó chỉ là những con số mang tính chất “số lượng”, còn về chất lượng và sự ảnh hưởng của các công trình thì Canada và Anh quốc đã soán ngôi của Hoa Kỳ và Trung Quốc để trở thành những quốc gia đứng đầu theo chỉ số NCI.        Với chỉ số này, quốc gia rộng lớn thứ hai thế giới nhưng chỉ có gần 35 triệu dân là Canada cùng với Anh quốc ở vị trí đứng đầu bảng về chỉ số NCI (Canada là 1,75 còn Anh quốc là 1,72). Thống kê trong mười năm cũng cho thấy chỉ số này của Canada và Anh quốc liên tục vươn lên một cách mạnh mẽ, từ chỗ đứng dưới Hoa Kỳ, đã vượt lên trên Hoa Kỳ từ năm 2008. Thậm chí đến năm 2010, Đức cũng vượt trên Hoa Kỳ về chỉ số này để đứng thứ 3 sau Canada và Anh quốc.  Xếp tiếp theo là các quốc gia Italia, Pháp, Brazil và Nhật Bản. Một bất ngờ lớn là Brazil đã cải thiện mạnh mẽ chất lượng các công trình nghiên cứu để đạt hệ số NCI vượt trên Nhật, lọt vào hàng ngũ các quốc gia có chỉ số NCI tốt nhất. Trong các quốc gia có chất lượng công trình vật lý tốt nhất, còn có Hàn Quốc, và một cường quốc trong quá khứ là Nga đứng cuối cùng sau họ. Tuy nhiên, chỉ số này của Nga hầu như không được cải thiện đáng kể trong suốt 10 năm, thậm chí đang có xu hướng bị suy giảm mạnh do sự chảy máu chất xám và bỏ rơi khoa học. Thời đại của các nhà vật lý vĩ đại như Landau, Kapisa… đã lùi xa và nền vật lý Nga giờ đây đang đối mặt với sự tụt hậu.        Chỉ số NCI của Trung Quốc thấp nhất trong số 12 quốc gia được thống kê (trong 10 năm chỉ dao động quanh 0,66), thấp hơn cả quốc gia láng giềng Ấn Độ (0,75) và một cường quốc nhỏ bên cạnh là Hàn Quốc (0,79). Điều đó chứng tỏ Trung Quốc đã bị tụt xa khỏi nhóm các nước có nền vật lý tốt nhất trên thế giới.        Và chỉ số này cũng cho thấy một bộ mặt thật của nền vật lý Trung Quốc. Chỉ số NCI của Trung Quốc thấp nhất trong số 12 quốc gia được thống kê (trong 10 năm chỉ dao động quanh 0,66), thấp hơn cả quốc gia láng giềng Ấn Độ (0,75) và một cường quốc nhỏ bên cạnh là Hàn Quốc (0,79), và cũng tương tự. Trong báo cáo này không thống kê chi tiết của nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển khác ở Châu Âu (ví dụ như Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Phần Lan…) hoặc một cường quốc kinh tế khác là Australia nhưng các thống kê gần đây của nhiều tổ chức khoa học độc lập đều cho thấy các quốc gia này có chất lượng nghiên cứu đều tốt hơn nhiều so với Trung Quốc và Nga. Có nghĩa là cả Nga và Trung Quốc đều đã bị tụt xa khỏi nhóm các nước có nền vật lý tốt nhất trên thế giới.  Anh huy động được nguồn đầu tư dồi dào ngoài chính phủ cho nghiên cứu  Sự vươn lên mạnh mẽ của Anh cho thấy các chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ của quốc gia này đang đi đúng hướng. Trong nhiều năm gần đây, Anh bị cho là “bỏ rơi” công nghiệp để phát triển các ngành tài chính và dịch vụ. Nhưng trên thực tế, Anh quốc chưa bao giờ rơi khỏi tốp những nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến nhất. Ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ trực tiếp từ chính phủ Anh thuộc hàng thấp so với nhóm các nước phát triển (1,82% GDP năm 2010), nhưng nước Anh đã huy động được một lượng đầu tư khổng lồ từ khối ngoài chính phủ dành cho nghiên cứu. Theo báo cáo gần đây[4] từ Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Hạ viện Anh (Science and Technology Committee, House of Commons), kinh phí dành cho nghiên cứu và phát triển ở Anh bao gồm 29,5% từ nguồn đầu tư trực tiếp của chính phủ (so với Mỹ là 2,77% ngân sách cho khoa học và 27% từ chính phủ), và phần còn lại (70,5%) đến từ các công ty và tập đoàn lớn Trên thực tế thì con số 29,5% ngân sách chính phủ thường không được sử dụng hết cho thấy các nhà khoa học Anh có vẻ “chuộng” nguồn tài trợ từ ngoài chính phủ hơn. Với số lượng kinh phí không phải là quá lớn, nhưng khoa học nước Anh lại đạt được hiệu suất cao nhất thế giới, với số lượng đầu ra tính trên bình quân một nhà nghiên cứu vượt trên các nước phát triển khác là Mỹ, Đức, Nhật (và tất nhiên là vượt xa Trung Quốc).  Cũng trong báo cáo này của Hội Vật lý, một ngành công nghệ mũi nhọn khác của Anh quốc là kỹ thuật không gian (space engineering) cũng đang vươn lên một cách mạnh mẽ với việc chia 18,9% tổng số công bố khoa học toàn thế giới, và đang đà tăng mạnh mẽ trong 10 năm qua. Nhìn sang quốc gia láng giềng Trung Quốc, dù bị thế giới đánh giá thấp về chất lượng khoa học, nhưng có thể thấy họ cũng đang chuyển mình mạnh mẽ trong “lượng” để chạy đua với các quốc gia phát triển. Với vị thế một nền khoa học còn rất thấp so với thế giới, nhưng lại có một lực lượng các nhà nghiên cứu đông đảo không kém gì các nước phát triển, có lẽ các nhà vật lý Việt Nam cũng nên có đôi chút “chạnh lòng” vì trước sự “giẫm chân tại chỗ” của nền vật lý nước nhà và chưa thể để lại chút dấu ấn nào với thế giới.  —————–    [1] Bibliometric evaluation and international benchmarking of the UK’s physics research, có thể tìm thấy tại địa chỉ: http://www.iop.org/publications/iop/2012/page_53959.html     [2] A. K. Gupta and H. Wang, Chinese Innovation Is a Paper Tiger, The Wall Street Journal, July 28th 2011. Hoặc một bài viết của GS Nguyễn Văn Tuấn bình luận vấn đề này: http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1323-trung-quoc-la-cop-giay-khoa-hoc      [3] http://incites-help.isiknowledge.com/incites_19_live/5460-TRS.html?branch=9      [4] International Comparative Performance of the UK Research Base – 2011, A report prepared for the Department of Business, Innovation and Skills. http://www.bis.gov.uk/assets/biscore/science/docs/i/11-p123-international-comparative-performance-uk-research-base-2011        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân giống thành công cây Huê quý hiếm      Huê là loại cây quý hiếm chỉ có ở núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng từng bị tận diệt ở Việt Nam do nạn khai thác trái phép, nay được Trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nhân giống thành công bằng kỹ thuật giâm hom và gieo hạt với số lượng 1.800 cây con.    Huê chỉ đứng sau trầm hương, 1m3 gỗ Huê thành phẩm có giá khoảng 500-600 triệu đồng trước khi xuất qua Đài Loan và Hong Kong nên bị săn lùng ráo riết. Hiện một dự án bảo tồn loài Huê quý hiếm nhằm bảo vệ đa dạng sinh học vùng Phong Nha – Kẻ Bàng đang được xem xét.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang NHÂN LỰC ANH BỊ CHẢY MÁU CHẤT XÁM      Báo cáo cũng cho thấy cứ sáu người ở Anh khi tốt nghiệp thì có một người đi ra nước ngoài làm việc trong khi tỉ lệ này ở Pháp là 1/30 và ở Mỹ là 1/2000.      Không ít sinh viên tốt nghiệp ở Anh sau khi tốt nghiệp tới Bắc Mỹ làm việc vì họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn và chi phí sinh hoạt ở nơi này cũng rẻ hơn. Chảy máu chất xám ở Anh, theo các nhà kinh tế có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng của nền kinh tế.   (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân lực cho điện hạt nhân ở nước ngoài      Kinh nghiệm buổi đầu xây dựng ngành hạt nhân của những nước có điều kiện gần giống Việt Nam và cả những nước tiên tiến đều cho thấy, không thể thành công nếu bỏ qua khâu đào tạo nguồn nhân lực trong nước.    Tây Ban Nha: Nước này đã bắt đầu chương trình đào tạo nhân lực hạt nhân của mình 15 năm trước lúc lò phản ứng đầu tiên hoạt động. Nhân tố chính thành công là hành động quyết tâm của Chính phủ kết hợp chặt chẽ với ngành công nghiệp, bảo đảm việc cung cấp thiết bị và các dịch vụ quan trọng, trong đó có đào tạo nhân lực. Tây Ban Nha có một chương trình hạt nhân dài hạn với quy mô lớn và một quá trình nội địa hóa nhất quán. Những kinh nghiệm trên làm cho Tây Ban Nha trở thành một nước có ngành hạt nhân mạnh mẽ.  Hàn Quốc: Một chiến lược đào tạo nhân lực lâu dài, có hệ thống, một chủ trương R&D các công nghệ tiên tiến và một nghệ thuật quản lý tài tình đã giúp Hàn Quốc trở thành một trong những nước hùng cường về hạt nhân.                Nhà máy điện hạt nhân nằm cạnh bãi biển đẹp ở Tây Ban Nha          Pháp: Một mô hình đào tạo rất nên được chú ý ở Pháp là Viện INSTN (Institut National des Sciences et Techniques Nucléaires). Viện INSTN đóng một vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nhân lực của Pháp. INSTN được thành lập vào năm 1956 nằm dưới quyền của các Bộ Giáo dục quốc gia và Bộ Công nghiệp. Viện này có khả năng đào tạo kỹ sư và cấp học 3 ème – cycle.  Đây là một đặc thù rất đáng nghiên cứu của INSTN: vừa chịu sự điều khiển của Bộ Giáo dục vừa chịu sự điều khiển của Bộ Công nghiệp, như vậy INSTN vừa mang tính đào tạo cơ bản vừa mang tính đào tạo công nghiệp. Chương trình đào tạo gồm:  – Kỹ sư công nghệ nguyên tử (Ingénieur en Génie Atomique). Phần chuẩn bị: Kỹ thuật, Công nghệ kỹ sư, địa điểm TOULOUSE; phần chuyên sâu: Công nghệ nguyên tử (génie atomique), địa điểm SACLAY, CADARACHE, CHERBOURG.  -3ème cycle. Các phần đào tạo 3ème cycle được kết hợp với các trường đại học:DEA (diplôme d’études approfondies). Sau DEA sinh viên thực hiện một luận án doctorat; DESS (diplôme d’études supérieures spécialisées). Ngoài ra có thể có phần DES (diplôme d’études spécialisées: ví dụ y học hạt nhân) và DESC (diplôme d’études spécialisées complémentaires, ví dụ radiopharmacie, radiobiologie).  Mỹ: Một phương thức mạnh của Mỹ là phối hợp trong công tác đào tạo giữa các cơ sở với các tập đoàn đại học, các phòng thí nghiệm lớn quốc gia, với những tổ chức, công ty sở hữu nhiều thiết bị hiện đại với công nghệ cao. Có thể nói đây là quan điểm tổng lực trong đào tạo.  Kinh nghiệm của các nước khác: Nhiều cán bộ được chuyển từ nhiệt điện truyền thống để sang làm việc trong lĩnh vực hạt nhân. Ngoài ra có thể lấy cán bộ từ các ngành khác như cơ, điện, xây dựng,… và đào tạo bổ túc kiến thức hạt nhân, biến họ thành những chuyên gia phục vụ cho chương trình hạt nhân. Việc huy động được nhân lực (ngoại kiều) đang công tác học tập ở nước ngoài (không được Nhà nước chính thức cử đi đào tạo), cũng là yếu tố quan trọng trong vấn đề tạo nguồn nhân lực. Nhiều người quan tâm đến cán bộ vận hành trực tiếp lò phản ứng. Kinh nghiệm của nhiều nước cho biết rằng những càn bộ này có thể đào tạo từ những cán bộ đại học trong vòng 2 năm. Song những cán bộ đứng sau các cán bộ vận hành đó (supervisors) mới là những cán bộ cần đào tạo lâu năm.  Những “ông tổ” ngành hạt nhân của một số nước  -Ông Homi Jehangir Bhabha (1909-1966) sinh tại Bombay, học tại Elphinstone College vàViện Khoa học Hoàng gia (Royal Institute of Science). Ông nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Cambridge năm 1934. Cùng với J.R.D. Tata ông thành lập Viện nghiên cứu cơ bản Tata (Tata Institute of Fundamental Research) tại Mumbai. Được Nehru giao nhiệm vụ, ông đứng ra lãnh đạo ngành hạt nhân và thành lập ủy ban năng lượng nguyên tử Ấn Độ năm 1948. Hiện nay Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Bhabha được mang tên ông.  -J. Robert Oppenheimer (1904-1967) là một nhà vật lý lý thuyết, giám đốc khoa học Dự án Manhattan, cố vấn chính của ủy ban năng lượng nguyên tử Mỹ.  -Igor Vasilyevich Kurchatov (1908-1960) là nhà vật lý được Stalin giao nhiệm vụ xây dựng ngành công nghệ hạt nhân Xô viết cũ.               TS. Hess và GS. Zhou Guangzhao (phải) trong lễ kỷ niệm 25 năm hợp tác PRC/U.S về vật lý năng lượng cao.            -Jean Frederic Joliot-Curie (1900-1958). Sau thế chiến thứ II ông phụ trách Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Khoa học quốc gia (Centre National de la Recherche Scientifique)  và trở thành Cao ủy Năng lượng nguyên tử Pháp (High Commissioner for Atomic Energy). Năm 1948 ông chỉ đạo xây dựng Lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Pháp. Miệng núi Joliot trên mặt trăng mang tên ông  -Zhou Guangzhao (Chu Quang Triệu): sinh năm 1929. Năm 1957 ông được cử đến Viện liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đúp-na. Năm 1960 ông trở về Trung Quốc làm việc trong ngành hạt nhân Năm 1979 ông sang Mỹ làm việc tại Viện Bách khoa Virginia rồi sang Thụy Sĩ làm việc tại Tổ chức nghiên cứu hạt nhân Châu Âu. Ông được bầu làm Phó chủ tịch (1984-1987) rồi Chủ tịch (1987-1997) Viện Hàn lâm TQ (Sinica) và Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Mỹ năm 1987.  Ảnh trên cùng: Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Quốc gia Cộng hòa Pháp  C.C      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân thành công hai giống dừa quý hiếm      Đó là hai giống dừa quý hiếm là dừa sáp (Makapuno) và dừa dứa (Aromatic). Dừa sáp có ruột đặc sánh như sữa chua, có giá trị kinh tế rất cao cho ngành công nghệ chế biến thực phẩm.    Dừa dứa có mùi thơm như nếp Bắc pha với mùi dứa, là loại thức uống được nhiều du khách nước ngoài ưa thích. Kỹ sư Vũ Thị Mỹ Liên ở Viện Dầu – Thực vật, nơi đã nhân giống thành công cho biết, trong tự nhiên, dừa sáp hầu như không nảy mầm, còn dừa dứa thì tỉ lệ nảy mầm rất thấp.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân văn số thức: Một lát cắt của xã hội toàn cầu      Nhân văn số thức là một lĩnh vực giao thoa giữa ngành khoa học máy tính và các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Mới được hình thành cách đây hơn một thập kỉ và là một trong những lĩnh vực khoa học gây tranh cãi nhất nhưng cũng phát triển năng động nhất thế giới hiện nay. Tia Sáng đã có buổi trò chuyện với GS. Paul Arthur, GS đầu tiên của Úc trong lĩnh vực này, một trong những diễn giả chính trong buổi hội thảo về nhân văn số thức được tổ chức lần đầu tiên ở Việt Nam vào đầu năm 2017 về những cơ hội và tiềm năng của lĩnh vực này và những rủi ro nếu Việt Nam không đầu tư vào nó.      Dự án “Cỗ máy thời gian Venice” thu thập và kết nối tất cả các thông tin, tư liệu, di sản văn hóa về thành phố này trong một kho dữ liệu mở trên mạng. Dự án này về sau đã được mở rộng cho toàn bộ châu Âu.    Góc nhìn mới, phương thức nghiên cứu mới  Công nghệ đã tạo ra một lĩnh vực nghiên cứu mới trong khoa học xã hội và nhân văn, gọi là nhân văn số thức như thế nào, thưa ông?  Tôi nghĩ rằng có một lý do khiến công nghệ chuyển từ vai trò hỗ trợ sang trở nên thiết yếu trong nghiên cứu ngày nay bởi vì nó nằm trong tầm tay của tất cả mọi người. Tất cả chúng ta đều sử dụng công nghệ thông qua một loạt các thiết bị điện tử xung quanh mình. Trong một thế giới đề cao dữ liệu, rất khó để có thể lẩn tránh tác động của công nghệ lên xã hội. Và trong các ngành nhân văn, những công nghệ này cũng đồng thời là công cụ nghiên cứu. Ví dụ, điện thoại thông minh đã kiến tạo ra những phương thức truyền thông mới, hình thành những cộng đồng kiểu mới, lối sống mới. Và chúng tôi cũng dùng nó để nghiên cứu, hay nói đúng hơn, để thực hiện các cách thức nghiên cứu mới. Chẳng hạn như, chúng tôi thu thập tất cả những bức ảnh về thế giới được chụp bằng điện thoại thông minh (điều này thật tuyệt vời và không lâu trước đây chắc chẳng ai nghĩ đến) và cả các metadata (dữ liệu thêm): nơi các bức ảnh được chụp, góc chụp, ở nước nào, vị trí địa lý để hiểu thế giới qua ống kính của chiếc điện thoại. Vậy là, chỉ với công cụ giao tiếp đơn giản mà chúng ta sử dụng hằng ngày đã thay đổi toàn bộ cách thực hiện nghiên cứu của những nhà khoa học trong lĩnh vực KHXH&NV.  Ông có thể cho tôi vài ví dụ công nghệ đã biến đổi ngành KHXH&NV như thế nào không?  Một điều rất quan trọng về nhân văn số thức đó là chúng tôi không cho rằng máy tính có thể đưa ra những hiểu biết mới về các chủ đề nghiên cứu của mình. Nó cũng không cho chúng tôi câu trả lời, mà chỉ mở ra những cơ hội mới để nhìn thế giới theo một cách khác. Một ví dụ kinh điển về điều này đó là ý tưởng “đọc từ xa” chỉ có thể thực hiện được nhờ sự trợ giúp của máy tính trước một dữ liệu vô cùng lớn và đa dạng. Nếu bạn có thể nghiên cứu mà không cần sự trợ giúp của máy tính, rất có thể nó không phải là nhân văn số thức, mà nó là các ngành khoa học xã hội và nhân văn truyền thống.  Một ví dụ cho thấy công nghệ đã làm biến đổi ngành KHXH&NV là các nghiên cứu về thành phố thông minh, đã giúp cho việc đưa ra các quyết định tốt hơn về việc quy hoạch và vận hành của một thành phố. Chẳng hạn như dự án “Cỗ máy thời gian Venice”, một dự án số hóa ghi lại lịch sử thành phố Venice đã được xây dựng, phát triển như thế nào và cho thấy điều gì diễn ra với nó trong những thời điểm nhất định. Trước đây, toàn bộ thông tin về thành phố này, bao gồm từ những di sản về văn hóa, nghệ thuật, khoa học cho đến những dữ liệu thống kê cơ bản như nhân khẩu học, thông tin về quy hoạch qua các năm, các dữ liệu về nhiệt độ, đất đai… bị phân mảnh trong các kho dữ liệu khác nhau nhưng giờ đây được sáp nhập, tìm kiếm và phân tích ở quy mô lớn nhờ vào sự phát triển của các công nghệ số, di động và tính toán.  Tôi vẫn không hiểu tại sao cho đến tận bây giờ, công nghệ mới được ứng dụng trong ngành KHXH&NV?  Một trong những nguyên nhân là dữ liệu của ngành KHXH&NV phức tạp hơn, ít đồng nhất hơn các dữ liệu của khoa học tự nhiên, vốn thường được thu thập qua một dạng thiết bị, phương pháp và thí nghiệm chung và được chuẩn hóa, nếu không thì không thể phân tích được. Chẳng hạn, những bức ảnh về vũ trụ phải được ghi lại dưới một độ phân giải, màu sắc và những yêu cầu kỹ thuật nhất định để bạn có thể giải mã và phân tích nó trên máy tính. Mặt khác, trong khoa học XH&NV, không dễ định nghĩa đâu là dữ liệu. Ngay cả khi đã định nghĩa được thì các dữ liệu cũng không có một cấu trúc nhất định nên để có thể phân tích được bằng máy tính, cần phải mất rất nhiều công sức xử lý.    GS. Paul Arthur là giám đốc Trung tâm các vấn đề toàn cầu, Trưởng khoa Nhân văn số và KHXH&NV ở Đại học Edith Cowan.  Bên cạnh đó, các công cụ và phương pháp để phân tích những dữ liệu của KHXH&NV chưa hề được phát triển cho đến những năm gần đây. Chẳng hạn như với trường hợp của lịch sử truyền miệng (oral history), nghiên cứu các băng ghi âm phát biểu của các yếu nhân trong lịch sử ở các kho dữ liệu quốc gia. Đó là dữ liệu và đều ở dạng số nhưng không có một cấu trúc chung nào cả. Không thể cứ thế mà phân tích ngay được. Hiện nay, người ta đã phát triển một công cụ chú giải tinh vi cho phép bạn đánh dấu những file thu âm hoặc video và thêm thông tin vào đó, nhờ vậy, chúng ta có thể phân tích các dữ liệu này bằng máy tính. Những phần mềm chú giải nói trên thậm chí còn chưa được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên trước đó.  Vậy tại sao những công nghệ đó lại không được tạo ra sớm hơn? Tại sao những đột phá trong khoa học và công nghệ từ trước đến nay dường như đều không được ứng dụng để phục vụ trong KHXH&NV? Đó là do văn hóa làm việc trong lĩnh vực KHXH&NV thường mang tính cá nhân thay vì tập thể. Trong khi những nhà khoa học tự nhiên thường làm việc theo nhóm và công nghệ là một phần không thể thiếu trong nghiên cứu của họ thì những nhà KHXH&NV theo truyền thống thường chỉ là những cá nhân làm việc một mình và sản phẩm nghiên cứu chính của họ là sách. Bạn có thể viết sách mà không cần phải thực hiện bất kì thí nghiệm nào. Thử nghĩ về những nhà triết học vĩ đại, họ đâu cần công nghệ? Vì vậy, trong KHXH&NV, rất nhiều người không cảm thấy cần tìm hiểu công nghệ tính toán hay việc hợp tác với người khác có thể mang lại ích gì cho họ.  “Chúng ta thu lại được nhưng cũng đánh mất quá nhiều thứ”  Là một trong những lĩnh vực nghiên cứu năng động nhất, hiện nay nhân văn số thức có gặp phải những thách thức nào không?  Việc có thể thu thập liên tục các thông tin trực tuyến của con người là một cơ hội nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn. Mặc dù có một lượng dữ liệu vô cùng lớn và đa dạng nhưng chúng ta lại chưa kịp hiểu liệu việc thu thập này có ý nghĩa gì đối với nhiệm vụ chính của ngành KHXH&NV, đó là hiểu chúng ta đang sống và hành xử như thế nào trong thế giới này hay không. Đồng thời, chúng ta chưa lường hết các rủi ro vì có quá nhiều thông tin bị công khai trong khi chúng đáng ra phải được giữ bí mật, riêng tư. Có những quan ngại đạo đức đối với những nghiên cứu KHXH&NV về việc chúng ta nên sử dụng những dữ liệu sẵn có ở mức độ nào với sự đồng ý và cho phép của những người tạo ra chúng.  Một thách thức khác đó là duy trì và bảo tồn những nguồn lực và dự án số sau khi đã đầu tư rất nhiều công sức và tiền bạc vào đó hàng chục năm. Nhận được càng nhiều đầu tư, quy mô càng lớn thì dự án càng có nhiều giá trị nhưng đồng thời lại càng khó khăn để tồn tại và phát triển trong tương lai. Chẳng hạn, Austlit, một cơ sở dữ liệu về văn học Úc, một dự án khổng lồ ra đời cách đây 20 năm nhưng liên tục phải đối diện với khó khăn tài chính, những người vận hành nó vẫn phải gọi tài trợ hằng năm. Nếu dự án này đột nhiên đóng cửa, đó là sự lãng phí của 20 năm đầu tư và nghiên cứu. Nếu đem chúng cất vào trong thư viện, lợi ích của một dự án mở cho phép mọi người liên tục đóng góp và sử dụng sẽ biến mất. Đó là một tình huống có thể nhìn thấy trước nhưng không ai chuẩn bị cho nó cả. Một dự án càng thành công thì càng đối mặt với nhiều nguy cơ thất bại và mất mát.  Nhưng sự bền vững của một dự án không chỉ phụ thuộc vào tài trợ mà còn là nguồn lực con người và các cơ quan điều phối để biến đổi những dữ liệu ở định dạng cũ thành các định dạng mới (theo sự biến đổi của công nghệ) để quá trình sử dụng và đóng góp của cộng đồng không bị dừng lại và mất đi. Tôi không rõ liệu trước đây chúng ta đã được cảnh báo về sự mong manh của các dữ liệu số hay chưa, đó là một lượng dữ liệu lớn sẽ mất đi sau một quá trình chuyển đổi định dạng và mặc dù với biết bao nhiêu đổi mới sáng tạo, bao nhiêu thay đổi, với sự phát triển của nhân văn số thức, với sự hỗ trợ của rất nhiều ngành khoa học khác, thật ngạc nhiên là chúng ta không thể ngăn chặn được quá trình đó. Bạn biết đấy, trong cuộc chuyển đổi số, chúng ta thu lại được nhưng cũng đánh mất quá nhiều thứ.  Từ kinh nghiệm và quan sát của ông, lĩnh vực nhân văn số thức đã hình thành từ con số không như thế nào ở các quốc gia?  Đài Loan đã đầu tư rất lớn vào quá trình số hóa các tư liệu di sản văn hóa trong suốt 30-40 năm nay bằng nhiều dự án lớn nhỏ khác nhau và họ dẫn đầu thế giới về công việc này ở nhiều khía cạnh. Điều này tạo ra động lực chính để phát triển ngành nhân văn số thức trong những cơ sở nghiên cứu như Viện Sinica và Đại học Quốc gia Đài Loan, nơi có các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới về nhân văn số thức. Đây là một ví dụ cho thấy ngành này có thể được khởi nguồn từ sự đầu tư của chính phủ cho một chương trình lớn vì lợi ích cộng đồng.  Ở Nam Phi hơi khác một chút, từng đến dự nhiều sự kiện phát triển các hiệp hội nhân văn số thức, tôi chứng kiến các dự án số hóa ở nước này từ những ngày đầu tiên. Trong vòng 3 năm, họ có khoảng 20 dự án nhỏ, chủ yếu là do các trường đại học tự bỏ tiền tài trợ và hiện nay đều đã hoàn thiện. Đó là cơ sở để họ nộp đơn xin tài trợ của chính phủ cho một trung tâm liên quan đến số hóa các dữ liệu ngôn ngữ. Từ đó, họ đã có đủ tiền để chạy một dự án lớn trong vòng 10 năm. Đó là kết quả của sự hợp tác giữa nhiều trường đại học và họ chuẩn bị bổ nhiệm giáo sư Nam Phi đầu tiên trong lĩnh vực nhân văn số thức sẽ tham gia vào dự án này.  Ngành nhân văn số thức thường ra đời sau sự thành công của một loạt các dự án số hóa lớn nhỏ. Tôi nghĩ với một quốc gia bắt đầu bước vào lĩnh vực nhân văn số thức, cần đầu tư để có những dự án tiên phong, cần những người truyền bá về tầm quan trọng của nó, cần tài trợ cho các trường đại học, viện nghiên cứu những dự án liên quan đến giảng dạy, chiêu mộ thực tập sinh, chương trình học qua hành của sinh viên, những hoạt động liên quan đến nhân văn số thức có thể trở nên phổ biến trong môi trường học thuật.  Theo ông, chính phủ có vai trò quan trọng như thế nào trong việc phát triển nhân văn số thức ở một quốc gia?  Tôi nghĩ vai trò của chính phủ trong việc phát triển nhân văn số thức ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia khác đó là tạo ra một khung chính sách cho phép các dự án KHXH&NV có thể tham dự và nhận tài trợ. Có trường hợp, chính phủ thiết lập các chương trình tài trợ nghiên cứu số, nhưng những tiêu chí chung chung, cuối cùng, chỉ có các nhà khoa học tự nhiên được nhận tài trợ còn những nhà KHXH&VN không thể chen chân vào nữa. Chẳng hạn, 10 năm sau khi thành lập, chương trình E-Research của Úc mới thay đổi tiêu chí tài trợ, tạo điều kiện cấp vốn thêm cho cả các dự án KHXH&NV. Nhờ đó mà nhân văn số thức mới có thể ra đời và phát triển.  Từ những gì ông nói, tôi hiểu rằng chiến lược tài trợ cho những dự án số rất khác so với những dự án nghiên cứu truyền thống, nó cần đầu tư dài hạn và cần sự đánh giá khác bởi vì chúng ta không có một đầu ra cố định nữa, đúng không?  Tôi nghĩ rằng một vài dự án nghiên cứu liên quan đến số hóa vẫn có đầu ra là các bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế. Người ta cũng có thể tiếp tục đo lường mức độ thành công của một dự án dựa trên các công bố. Bên cạnh đó, nhiều người cảm thấy họ có thể làm các dự án nhân văn số thức với số vốn nhỏ, thậm chí với những gì sẵn có trên điện thoại của họ và tự làm một mình.  Nhưng tôi nghĩ tiềm năng của nhân văn số thức nằm ở việc triển khai các dự án trên một quy mô lớn, đặc biệt là quy mô quốc gia. Và khi chúng ta bắt đầu mở các dữ liệu công khai cho cộng đồng và cho các nhà khoa học, cũng là lúc nó thay đổi cách họ nghĩ về đối tượng nghiên cứu, bất kể đối tượng đó là gì. Lúc đó, mới hình thành cách thức nghiên cứu mới, tạo ra tri thức và thông tin mới cho xã hội.  Ông có muốn chia sẻ thêm điều gì không?  Ở một khía cạnh nào đó, tôi cho rằng, nhân văn số thức là một lát cắt của xã hội toàn cầu và là kết quả của truyền thông số, của sự kết nối tức thì. Nó là một lĩnh vực nghiên cứu nhưng đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu những khuôn mẫu về tương tác xuyên ngôn ngữ và sự xóa bỏ ranh giới giữa các lĩnh vực và các dạng kiến thức khác nhau.  Cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện này!   Hảo Linh thực hiện  Không mở cánh cửa cho nhân văn số thức là mất đi cơ hội bảo tồn những di sản văn hóa vô giá đang có nguy cơ biến mất. Các quốc gia đều đang đầu tư mạnh vào việc số hóa di sản để bảo tồn bản sắc văn hóa của họ vì trong tương lai mọi thứ đều tồn tại dưới dạng số hóa, từ danh tính của các cá nhân đến bản sắc văn hóa của một dân tộc. Bản sắc Việt Nam có thể sẽ vĩnh viễn mất đi nếu không tồn tại trong môi trường số. Đó không chỉ là sự mất mát của hiện tại mà là mất mát cho những thế hệ tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhân vật chủ chốt ít được biết tới trong Việt Nam Quốc Dân Đảng      LTS: Micheline Lessard là giáo sư duy nhất giảng dạy về lịch sử Việt Nam ở ĐH Ottawa, Canada, chủ yếu nghiên cứu những khía cạnh khuất lấp của lịch sử Việt Nam thời kì thuộc địa, đặc biệt là về những lớp người yếu thế, không có tiếng nói. Quá trình viết sử vẫn được thống trị bởi nam giới và quan điểm của họ, chính vì vậy, phụ nữ thường bị lãng quên, kể cả khi họ rất tài năng và đem lại những đóng góp quan trọng trong lịch sử. Tia Sáng xin giới thiệu bài viết của bà dưới đây, về một nhân vật có vai trò quan trọng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, thậm chí còn được đánh giá là “hoạt động cách mạng vượt xa cả Nguyễn Thái Học” mà rất ít người biết tới.      Khu tưởng niệm VNQDĐ tại thành phố Yên Bái  Ở Quận 1, TP HCM, có hai con đường giao nhau mang tên Cô Giang và Nguyễn Thái Học, như là biểu tượng của sự gặp gỡ giữa hai nhà yêu nước đã chung sức và chung cả cuộc đời để đưa Việt Nam thoát khỏi chế độ thuộc địa. Hai người đều là những thành viên hoạt động sôi nổi và ảnh hưởng lớn trong Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) và đều chết một cách bi kịch, dưới hai hoàn cảnh khác nhau vào tháng 6 năm 1930, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Di sản của họ được lưu giữ trong không gian công cộng của hầu hết các thành phố lớn, tên họ được đặt cho đường phố và trường học, như sự tri ân cho những gì họ hi sinh vì dân tộc. Dẫu vậy, vẫn có quá ít những gì viết về Nguyễn Thị Giang từ trước đến nay mặc dù những đóng góp và vai trò của bà trong VNQDĐ vô cùng quan trọng và to lớn. Thông thường, những câu chuyện về Nguyễn Thị Giang chỉ tập trung vào tình yêu giữa bà với Nguyễn Thái Học và sự hiên ngang của họ trước cái chết. Trong nhiều tài liệu để lại, bà luôn được khắc họa là người đi theo để được ở gần người mình yêu. Thường xuyên, những quan chức chính quyền thời thuộc địa thường giễu cợt về bà Giang là “người tình” của ông Học, bởi vậy mà hạ thấp vai trò của bà trong VNQDĐ và bôi nhọ “đạo đức” của bà. Việc xem xét một cách cẩn trọng những nguồn thông tin này là rất cần thiết để có thể hiểu một cách đầy đủ mức độ đóng góp của bà vào VNQDĐ cũng như vào phong trào chống thuộc địa nói chung.  Nguyễn Thị Giang sinh ra ở làng quê Bắc Giang vào năm 1906, trong một gia đình có ba người con gái và theo một vài nguồn tư liệu, cả ba người đều tham gia vào các phong trào dân tộc [1]. Nguyễn Thị Giang gặp Nguyễn Thái Học khi mới 22 tuổi khi ông mời bà gia nhập VNQDĐ. Người chị của bà, Nguyễn Thị Bắc cũng gia nhập [2]. Ban đầu, hai người phụ nữ trẻ chỉ chịu trách nhiệm “đối ngoại và tuyên truyền” [3]. Nhưng ngay sau đó, đảng nhận ra trí tuệ và năng lực của bà Giang và giao cho bà những trọng trách quan trọng hơn. Bên cạnh đó, Nguyễn Thái Học đủ tin tưởng Nguyễn Thị Giang để cho bà làm việc với những thông tin tuyệt mật [4]. Mặc dù các nhà sử học không tập trung vào công việc của bà Giang trong VNQDĐ, những tài liệu lưu trữ thể hiện rõ ràng rằng các quan chức thời thuộc địa Pháp hoàn toàn nhận thức được sự can thiệp sâu rộng của bà trong Đảng. Louis Marty, người sau đó làm chỉ huy trưởng của Sûreté Pháp (mật thám) tuyên bố với chính quyền thuộc địa rằng VNQDĐ đã xây dựng hẳn một “bộ phận” do nữ đảm nhiệm mà các thành viên trong đó đóng vai trò to lớn vào các hoạt động chống thuộc địa [5]. Marty thậm chí còn cho rằng “Hoạt động cách mạng của Giang còn vượt xa cả của Nguyễn Thái Học” [6].  Một trong những vai trò quan trọng của Nguyễn Thị Giang là làm người tuyên truyền cho đảng. VNQDĐ có một ban tuyên giáo với mục đích viết, xuất bản, lưu hành sách, tờ rơi và báo phục vụ cho mục đích chiêu mộ những người lính Việt Nam vào phong trào của mình [7]. Trong vai trò này, bà di chuyển khắp miền Bắc Việt Nam, thông báo với những ứng cử viên tiềm năng về sứ mệnh và công việc của VNQDĐ. Bà cũng phát biểu về chiến lược chính trị, về đấu tranh vũ trang với các cá nhân, nhóm và đôi khi cho toàn bộ người dân trong một làng. Nhiều áp phích, tờ rơi xuất bản bởi bộ phận tuyên truyền của Đảng là do bà tự viết.  Với việc tham gia vào những hoạt động tuyên truyền và binh vận, Nguyễn Thị Giang phải đối mặt với nhiều nguy hiểm. Bởi vì, trong thời thuộc Pháp, những nhóm người dám nói về các vấn đề chính trị, về việc giành độc lập dân tộc phải đối mặt với tù tội, lao động khổ sai hoặc lưu đày. Hơn nữa, người Việt Nam di chuyển khắp Đông Dương đều bị yêu cầu thẻ căn cước. Nguyễn Thị Giang vốn bị cảnh sát thuộc địa biết rõ mặt, những chuyến đi của bà đòi hỏi bà phải cải trang và dùng nhiều giấy CMND giả. Bất chấp hiểm nguy, Nguyễn Thị Giang tiếp tục công việc truyền thông và tuyên truyền, cũng như chị của bà là Nguyễn Thị Bắc, người hay đi cùng bà.  Thông qua các mật vụ của mình, mật thám Pháp, giữa năm 1929 và 1930, biết rõ hoạt động của Nguyễn Thị Giang trong VNQDĐ. Khi họ tìm thấy một kíp nổ trong một ngôi làng ở tỉnh Bắc Ninh, các nhân viên mật thám nhanh chóng tìm ra mối liên hệ của sự kiện này với Nguyễn Thị Giang. Họ báo cáo cho Thống sứ Bắc Kỳ rằng hẳn không phải là tình cờ khi những kíp nổ được tìm thấy trong một ngôi làng mà bà thường xuyên ghé thăm, tham gia và tổ chức những “hội nghị cách mạng” ở đó [8]. Sở Mật thám cũng nhận ra thành công trong chiến dịch tuyên truyền của VNQDĐ, họ viết một báo cáo nhận định rằng thông điệp của nó “được đón nhận nồng nhiệt bởi giới trí thức trẻ, đặc biệt là giáo chức và sinh viên” và cũng được “ủng hộ to lớn trong giới quân đội” và “rất nhiều những sĩ quan dự bị người dân tộc trong pháo binh, bộ binh, quản lý tài chính và không quân đều gia nhập Đảng” [9]. Học giả Oscar Chapuishas cũng lưu ý rằng Khởi nghĩa Yên Bái, đã có “một số lượng lớn những người lính Đông Dương đã tham gia VNQDĐ nhờ vào mạng lưới tuyên truyền được dẫn dắt bởi hai người phụ nữ, Cô Giang (Nguyễn Thị Giang) và Cô Bắc (Nguyễn Thị Bắc)” [10].      Louis Marty, chỉ huy trưởng của Sở mật thám Pháp tuyên bố với chính quyền thuộc địa rằng VNQDĐ đã xây dựng hẳn một “bộ phận” do nữ đảm nhiệm mà các thành viên trong đó đóng vai trò to lớn vào các hoạt động chống thuộc địa. Marty thậm chí còn cho rằng “Hoạt động cách mạng của Giang còn vượt xa cả của Nguyễn Thái Học”.      Ngay khi có được niềm tin của Nguyễn Thái Học với việc giao cho mình những thông tin mật của Đảng, Nguyễn Thị Giang chuyển sang làm nhiệm vụ của một cán bộ liên lạc. Vai trò của bà là đảm bảo thông tin liên lạc trong mạng lưới giữa các thành viên và các đơn vị của đảng được an toàn. Công việc của bà với cương vị là một liên lạc viên giúp cho Đảng có thể truyền đi những thông tin quan trọng liên quan đến việc hành động của các căn cứ, và cảnh giác với các gián điệp trong hàng ngũ VNQDĐ. Để tránh bị lộ, các liên lạc viên không thể sử dụng những cách thức giao tiếp thông thường và chính thống như gửi thư qua đường bưu điện hoặc điện tín, bởi vậy các liên lạc viên luôn mang bên mình các chỉ thị viết tay cũng như các giấy ghi chú, thư trao đổi giữa các đảng viên. Khi yêu cầu về an toàn buộc những đảng viên VNQDĐ không được rời nơi ẩn nấp vì họ đang bị truy lùng bởi mật thám, liên lạc viên là những người đến tận nơi trốn của các đảng viên để cung cấp cho họ những thông tin nhạy cảm. Trong sách viết về VNQDĐ, Hoàng Văn Đào viết về công việc liên lạc của Nguyễn Thị Giang: “Khi Nguyễn Thái Học cải trang và giấu mình ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Phú Thọ, rừng núi hiểm trở càng khiến cho việc lên đó thêm khó khăn và hiểm nguy, bà vẫn luôn mang đến cho ông những tin tức, thông tin và truyền đi những chỉ thị của ông cho các cơ sở đảng địa phương” [11].  Báo cáo của Louis Marty về các hoạt động dự kiến của VNQDĐ vào năm 1934 và sau đó là về Khởi nghĩa Yên Bái tiết lộ rằng khi Nguyễn Thái Học bị bắt và giam ở nhà tù Hỏa Lò tại Hà Nội vào tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thị Giang vẫn đóng vai trò là liên lạc viên giữa ông và Lê Hữu Cảnh, người thay Nguyễn Thái Học lãnh đạo Đảng [12]. Hoàng Văn Đào cho rằng lúc đó, Nguyễn Thị Giang là cố vấn chính của VNQDĐ [13]. Sự cống hiến và tầm quan trọng của Nguyễn Thị Giang với đảng được Louis Marty khẳng định khi ông nhận xét bà là một liên lạc viên “kiên gan” [14]. Bằng chứng rõ ràng cho công việc liên lạc của Nguyễn Thị Giang là khẳng định đóng góp to lớn cho đảng bởi vì nó giúp cho tổ chức này tiếp tục hoạt động mặc dù bị đàn áp dữ dội bởi chính quyền thuộc địa và mặc dù những thủ lĩnh chủ chốt của VNQDĐ bị bắt giam.  Công việc liên lạc vô cùng khó khăn và nguy hiểm đối với Nguyễn Thị Giang. Bà di chuyển liên lục, thường hóa trang để cảnh sát không thể nhận ra. Sở mật thám ý thức được công việc của bà và thậm chí còn phổ biến về mô tả bề ngoài của bà cho tất cả các mật vụ của họ [15]. Một nguồn tin giấu tên cho biết có lần, khi bà đang ở nhà một đảng viên khác thì cảnh sát xông vào và bắt giữ người đồng đội của bà. Nhưng Nguyễn Thị Giang thì đã kịp trốn thoát [16]. Khả năng qua mặt chính quyền của bà thực sự xuất sắc, nếu kể đến việc bà có một đặc điểm nhận dạng rất đặc trưng và dễ lộ: mắt bà bị lác. Khả năng này của bà còn giúp cho cả những đảng viên khác nữa, khi cảnh sát đàn áp và săn tìm những người theo Khởi nghĩa Yên Bái, bà đã giúp những người đồng đội của mình trốn thoát và ẩn nấp ở nơi an toàn. Chẳng hạn như, bà đã đưa người đồng đội Nguyễn Văn Viên (người chỉ huy vụ ám sát cai mộ phu Alfred François Bazin năm 1929 – ND) tới nơi an toàn ở Hải Phòng và từ đó ông có thể vượt biên sang Trung Quốc [17].  Một thành tựu khác, ít được biết đến hơn của bà Nguyễn Thị Giang đó là lên kế hoạch và tổ chức khởi nghĩa vũ trang chống lại chế độ thuộc địa và những kẻ phản bội VNQDĐ. Theo những tài liệu tìm được trong kho lưu trữ, vào năm 1929, Sở Mật thám phát hiện ra ít nhất 150 quả bom ở tỉnh Bắc Ninh. Một trong số sáu người bị bắt và bị buộc tội đặt bom khai với cảnh sát rằng chính Nguyễn Thị Giang là người hướng dẫn chế tạo và đặt những quả bom này [18]. Có bằng chứng cho thấy rằng VNQDĐ cũng bày kế hoạch để ám sát người sau đó là Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier cũng như rất nhiều quan chức Pháp cao cấp khác. Khi bị thẩm vấn, Lê Văn Cảnh, một thành viên VNQDĐ bị bắt, tiết lộ rằng ông đã viết một chỉ thị bằng mực vô hình thừa lệnh Nguyễn Thị Giang, tuyên bố rằng đã đến lúc chấm dứt thời kì thuộc địa của Việt Nam và việc ám sát Pasquier sẽ đóng vai trò như một sự khởi đầu và là lời cảnh báo nghiêm khắc [19]. Chỉ thị của bà Giang cũng kêu gọi nỗ lực tiếp tục chiêu mộ thêm thành viên và ám sát càng nhiều “kẻ thù của đảng càng tốt” [20]. Lời kêu gọi cho những cuộc ám sát cụ thể được đưa ra bởi Nguyễn Thị Giang đều nhất quán với chiến lược chung của VNQDĐ.    Tượng đài Nguyễn Thái Học và các nhân vật chủ chốt trong VNQDĐ trong Khu tưởng niệm VNQDĐ tại thành phố Yên Bái, gồm bốn nhân vật: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính và Nguyễn Thị Giang.  Sử dụng những vụ ám sát như một phương thức để loại bỏ những nguy cơ xảy đến với VNQDĐ không chỉ giới hạn trong những đối tượng người Pháp. Báo cáo của Sở Mật thám chỉ ra rằng Nguyễn Thị Giang còn chịu trách nhiệm trong việc ra lệnh ám sát một người đàn ông tên là Nguyễn Văn Ngọc, kẻ bị tình nghi là mật vụ của Sở Mật thám. Mặc dù kẻ này về sau bị bắt và tống giam, Ngọc bị siết cổ trong tù, khả năng là do lệnh của bà Giang [21]. Một đảng viên khác, Phạm Thành Dương, người đã tiết lộ thông tin khiến Sở Mật thám dò ra được vị trí đặt kíp nổ, cũng bị giết bởi chỉ thị của bà Giang [22]. Báo cáo của cảnh sát Pháp cũng chỉ ra Nguyễn Thị Giang có liên đới tới vụ ám sát của một người đàn ông tên là Nguyễn Bình. Khi đưa ra tấm ảnh của Nguyễn Thị Giang, một trong những kẻ đồng phạm thực hiện vụ ám sát xác nhận bà có mặt trong cuộc họp bàn kế hoạch giết Bình [23].  Trong quá trình diễn ra cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào đầu những năm 1930, bà cùng với người chị của mình, Nguyễn Thị Bắc và một người phụ nữ khác gọi là Đỗ Thị Tâm, cùng nằm trong một tiểu đội [24]. Vào ngày khởi nghĩa, Nguyễn Thị Giang đã có mặt ở Yên Bái để tiến hành nhiệm vụ của mình, mang theo toán quân đến một nơi an toàn trong núi. Trong khi đó, Nguyễn Thị Bắc, cùng những người khác, cải trang và hành động như những tiểu thương, thực ra là vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ đến Yên Bái [25]. Mặc dù cuộc nổi dậy của Yên Bái bị đánh bại bởi quân đội Pháp, nhưng nó vẫn giáng một đòn mạnh mẽ vào danh dự và an ninh của chính quyền thuộc địa. Tuy nhiên, sự đáp trả của chính quyền thuộc địa Pháp rất tàn nhẫn. Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông bị bắt, tống giam và tử hình vì đứng sau điều phối cuộc nổi dậy. Nguyễn Thị Giang xoay sở và trốn thoát nhưng bà hiểu rằng bà có thể sẽ phải đối mặt với số phận tương tự khi Sở Mật thám tìm ra bà. Chị của bà, Nguyễn Thị Bắc, cũng đã bị bắt và dẫn đến nhà tù Hỏa Lò. Bà Bắc bị buộc tội hành động phá hoại an ninh của Đông Dương. Bà bị tuyên án tù 20 năm trong phiên tòa và sau đó bị đem đến nhà tù Côn Đảo [26]. Dẫu vậy, mặc dù nguy hiểm, vào 17/6/1930, Nguyễn Thị Giang vẫn tìm đường đến được Yên Bái, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa và nơi sẽ diễn ra cuộc hành quyết của Nguyễn Thái Học. Trong trang phục của người tiểu thương, bà trà trộn vào đám đông ở pháp trường, chờ để chứng kiến cuộc hành hình. Nguyễn Thị Giang không gây ra bất kì sự chú ý nào khi bà quan sát lưỡi dao của chiếc máy chém tiến dần đến người đàn ông mà bà gọi là chồng. Mô tả lại cuộc hành quyết, Sở Mật thám báo cáo rằng có khoảng 60 người đến xem “hầu hết là phụ nữ và thanh niên” [27]. Một lần nữa, Nguyễn Thị Giang vẫn không hề bị phát hiện trước sự hiện diện của rất nhiều nhân viên cảnh sát.  Hai ngày sau khi Nguyễn Thái Học bị hành hình, tại quê hương của ông, những người tiểu thương bắt gặp thi thể của một người phụ nữ trẻ trong trang phục tang, nằm trên đồng ruộng, chết vì vết thương do súng bắn. Họ biết được đó là Nguyễn Thị Giang bởi họ tìm thấy hai lá thư được ký tên gài trong quần áo của bà. Cuối cùng, người em gái bà Giang, Nguyễn Thị Tỉnh, nhận ra đấy là chị của mình. Trong những bức thư của mình, bà Giang giải thích lý do bà quyên sinh. Một lá thư nói về nỗi đau của bà sau cuộc hành quyết Nguyễn Thái Học, diễn tả mong muốn của bà “được theo chồng lên thiên đàng”.  Để theo chồng, bà dùng khẩu súng lục của Nguyễn Thái Học. Bà đã từng yêu cầu ông đưa cho bà để khi ông bị giết, bà có thể dùng nó để kết liễu đời mình [28]. Bức thư thứ hai được gửi đến cha mẹ của Nguyễn Thái Học:  “Thưa Thầy, Mẹ,  Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng. Giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!  Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.  Nguyễn Thị Giang” [29],  Có quá ít các tài liệu lưu trữ liên quan đến việc bà Giang tự vẫn, chúng ta chỉ còn lại hai bức thư, được giữ trong hồ sơ của Trung tâm lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp tại tỉnh Aix-en-Provence, Pháp. Từ những ghi chú viết tay này, chúng ta chỉ biết được rằng cuộc sống nằm ngoài sức chịu đựng của bà vì cái chết của Nguyễn Thái Học và bởi hoạt động chính trị của họ làm tổn hại tới gia đình. Bà Giang cũng lo lắng cho những hiểm nguy mà các đồng đội làm cách mạng của mình sẽ phải đối mặt.  Điều chúng ta cần nhớ về Nguyễn Thị Giang, tuy nhiên, không chỉ nằm ở sự cống hiến cho Nguyễn Thái Học hay sự quyên sinh của bà. Nguyễn Thị Giang nên được ghi nhận như một người yêu nước, một người làm cách mạng với một ý chí độc lập, người tham gia, thậm chí là còn tích cực hơn những đảng viên khác trong cuộc vật lộn giành độc lập cho Việt Nam từ tay chính quyền thực dân Pháp. Những hoạt động của bà đã kêu gọi vô kể thành viên tham gia vào đảng. Nguyễn Thị Giang đã dành gần ba năm di chuyển khắp miền Bắc Việt Nam, đánh cược mạng sống của mình, để truyền tải những thông tin quan trọng và đảm bảo rằng VNQDĐ hoạt động được thông suốt và an toàn. Hơn nữa, bà tổ chức, lên kế hoạch và tham gia cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại quân đội và sĩ quan Pháp. Đóng góp của bà vào VNQDĐ và để đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam từ năm 1927 đến 1930 đầy xuất sắc. Bản thân chính quyền thực dân và cảnh sát Pháp đều biết và ghi nhận điều đó.   Hảo Linh dịch  —  Chú thích:     1 Phuong Bui Tranh, “Femmes vietnamiennes pendant et après la colonisation française et la guerre américaine : réflexion sur les orientations bibliographiques,” in Histoire des femmes en situation coloniale, edited by Anne Hugon, paris : Karthala, 2004, p. 78  2 Cô Giang : Follow him to Heaven, Virtual Vietnam Archive, Douglas Pike Collection: Unit 08 Biography, Item #48929, p. 33.  3 Phut Tan Nguyen, A Modern History of Vietnam, 1802-1954, Hanoi: Nha San Khai Tri, 1964, p. 380.  4 Lang Nhan, Nhung Tran Danh Phap. Tu Ham Nghi Den Nguyen Thai Hoc, 1885-1931, Houston, TX: Zieleks, 1987, p. 205.  5 Louis Marty, Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’indochine française, Hanoi :1933.  6 Ibid.  7 Archives nationales d’Outre-mer (ANOM), Gouvernement général de l’indochine (GGI), Dossier 65517, Rapport du président de la commission criminelle, p. 32.  8 ANOM, Service de liaison avec les originaires des territoires français d’Outre-mer (SLOTFOM), Série 3, Carton 131.  9 Louis Marty, Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’indochine française, Hanoi :1933.  10 Oscar Chapuis, The Last Emperors of Vietnam. From Tu Duc to Bao Dai, Westport CT: Greenwood Press, 2000, p. 109.  11 Hoang Van Dao, Viet Nam Quoc Dan Dang. A Contemporary History of a National Struggle, 1927-1954, translated by Huynh Khue, Pittsburgh: Rose Dog Books, 2009, p. 488.  12 Louis Marty, Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’indochine française, Hanoi :1933.  13 Hoang Van Dao, Viet Nam Quoc Dan Dang. A Contemporary History of a National Struggle, 1927-1954, translated by Huynh Khue, Pittsburgh: Rose Dog Books, 2009, p. 127.  14 Louis Marty, Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’indochine française, Hanoi :1933.  15 Cô Giang : Follow him to Heaven, Virtual Vietnam Archive, Douglas Pike Collection: Unit 08 Biography, Item #48929, p. 34.  16 Ibid.  17 Ibid.  18 ANOM, SLOTFOM, Série 3, carton 131.  19 ANOM, Résidence supérieure du Tonkin (RST) Police de Sûreté, Commissaire spécial, Procès verbal, 1930  20 Ibid.  21 Louis Marty, Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’indochine française, Hanoi :1933.  22 Ibid.  23 ANOM, RST, Commisariat special de la Sûreté, 21 Août 1930.  24 ANOM, SLOTFOM, Série 3, carton 131.  25 Ibid.  26 She was released six years later, in 1936, when the French metropolitan Front Populaire government ordered the release of a number of political prisoners ANOM, RST, Dossier 2244.  27 ANOM, Fonds ministériels (FM), Nouveaux Fonds (FM), Dossier 2626 Service de la Sûreté du Tonkin, Note confidentielle 7880.  28 Hoang Van Dao, Viet Nam Quoc Dan Dang. A Contemporary History of a National Struggle, 1927-1954, translated by Huynh Khue, Pittsburgh: Rose Dog Books, 2009, p. 490.  29 Ibid.  30 ANOM, GGI, Dossier 65537, Police de l’Indochine, Service de la Sûreté du Tonkin, Suicide de Nguyen Thi Giang.       Author                Micheline Lessard        
__label__tiasang Nhập cư tốt cho nền kinh tế của các nước tiếp nhận      Những phân tích dữ liệu được thu thập trong vòng 30 năm của 15 quốc gia Tây Âu đã bác bỏ quan điểm: người nhập cư là gánh nặng kinh tế.    Đây là kết luận của một công bố mới được đăng tải trên tạp chí Science Advances ngày 20/6. Được tiến hành trên dữ liệu thu được từ năm 1985 đến 2015 tại các quốc gia Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Iceland, Ý, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bồ Đào Nha và Vương quốc Anh, nghiên cứu đã chỉ ra, việc tiếp nhận người nhập cư góp phần gia tăng lợi ích kinh tế của các quốc gia sau 5 năm tiếp nhận. Không chỉ cải thiện độ bền vững của nền kinh tế, quốc gia tiếp nhận người nhập cư còn giảm được tỷ lệ thất nghiệp. Những kết luận của công trình này đã phản bác lại nhận định những người nhập cư đem đến gánh nặng tài chính vào quốc gia họ đến bằng cách gây thâm hụt nguồn tài nguyên công.  Hippolyte d’Albis, nhà kinh tế học tại trường kinh tế Paris (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp CNRS), tác giả chính của nghiên cứu trên, đã nhận định, “Một số người nói rằng họ không có đủ khả năng để tiếp nhận người tị nạn [mặc dù họ rất muốn]. Nhưng [bằng nghiên cứu của mình], chúng tôi đã chỉ ra rằng họ không  chịu thiệt thòi [khi thực hiện điều đó], thậm chí nếu không đón nhận người nhập cư, nền kinh tế nước họ có thể rơi vào tình trạng tồi tệ hơn.”  Dựa vào một mô hình toán học, D’Albis và nhóm nghiên cứu do ông dẫn dắt đã phân tích các chỉ số kinh tế hàng năm để đưa ra những dự báo về tương lai nền kinh tế sau những cú sốc lớn – chẳng hạn như các thiên tai, trong trường hợp này là những dòng chảy người nhập cư. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá riêng rẽ những tác động của người di cư (những người được phép cư trú hợp pháp tại một quốc gia) và những người tị nạn (những người cư trú tạm thời tại một quốc gia khi đơn xin tị nạn của họ đang được xử lý). Những người tị nạn trong nghiên cứu này bao gồm những người chạy trốn khỏi chiến tranh ở Nam Tư cũ trong những năm 1990, và những người đến từ Syria.   Các nhà nghiên cứu đã sử dụng chỉ số tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người để đo lường “sức khỏe” của nền kinh tế, trong đó GDP phụ thuộc vào biến cán cân ngân sách (được tính toán bằng chênh lệch giữa tiền thuế thu được với tiền chi cho các dự án công cộng, chẳng hạn như phúc lợi xã hội).  Kết quả mô hình cho thấy trong vòng 2 năm kể từ khi đón nhận một dòng người di cư, tỷ lệ thất nghiệp của một quốc gia đã giảm đáng kể và nền kinh tế có chuyển biến tích cực.    Những tác động này có thể được giải thích là do bởi những người nhập cư đã làm tăng lượng cầu thị trường, cung cấp các dịch vụ, tăng việc làm và chi trả thuế. Nghiên cứu cũng chỉ ra, [hiệu quả kinh tế từ] những hoạt động kinh tế này đã vượt xa các chi phí mà chính phủ dành cho những người tị nạn và nhập cư – có thể giải thích một phần điều này là những người nhập cư có xu hướng là những người trẻ và người trung niên ít phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hơn là những người lớn tuổi, D’ Albis cho biết.  Những người tị nạn cũng có lợi cho nền kinh tế, nhưng họ cần nhiều thời gian hơn (từ ba đến bảy năm) để đem lại ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng này kém rõ ràng hơn. Không giống như người di cư, những người tị nạn thường phải đối mặt với những hạn chế về việc làm và thậm chí phải chuyển sang một quốc gia khác nếu đơn xin thường trú của họ bị từ chối.  Tác động tổng thể  Michael Clemens, nhà kinh tế học tại Trung tâm phát triển toàn cầu – một thinktank tại Washington DC, cho biết, các phân tích này là một phần của một số công trình trước đây bởi vì nó tập trung vào những tác động lớn chứ không phải là những yếu tố cụ thể của nền kinh tế – chẳng hạn như ảnh hưởng của người nhập cư vào vấn đề tiền lương của người bản địa. Ông nói, “giống như quán cà phê của Peet [một chuỗi cửa hàng Mỹ] có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến Starbucks, nhưng về tổng thể thì sự cạnh tranh này có thể là tốt hơn cho nền kinh tế.”  Bình luận việc sử dụng mô hình toán học trong nghiên cứu của nhóm D’Albis đã làm giảm đáng kể sự tác động đến nền kinh tế của yếu tố khác ngoài người di cư, ông nói, “Phương pháp này đã làm giới hạn đáng kể các yếu tố trùng hợp bằng việc loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng dài hạn [đến nền kinh tế]”. Hơn nữa, số lượng các quốc gia được đánh giá trên 30 năm cũng gây ra các trùng hợp khác.   Vào thời điểm các chính sách nhập cư đang là vấn đề nóng ở Hoa Kỳ và châu Âu, những nghiên cứu như thế này có thể giúp các chính trị gia đánh giá được hiệu quả từ chính sách của họ. “Nếu cắt giảm lượng nhập cư vì lý do văn hóa hoặc an ninh, họ sẽ phải trả giá về mặt kinh tế”, Clemens nhận định.  Thanh Mai dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05507-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản: Chờ Hayabusa 2 lấy mẫu từ Ryugu      Nhóm thực hiện nhiệm vụ Hayabusa 2 của Nhật Bản hiện đang chờ xem tàu thăm dò Hayabusa 2 có thu được mẫu từ thiên thạch hay không.      Tàu Hayabusa 2 hạ cánh trên bề mặt của tiểu hành tinh Ryugu lúc 7:49 sáng giờ Nhật Bản ngày 22/2. Lần hạ cánh này tuy ngắn nhưng mang tính lịch sử. Tàu thám hiểm đã chạm xuống tiểu hành tinh và sau đó quay trở lại quỹ đạo của nó, Cơ quan thám hiểm hàng không vũ trụ Nhật Bản thông báo trên trang tweet của mình. Nhóm thực hiện nhiệm vụ hiện vẫn đang chờ xem Hayabusa 2 có thu được mẫu từ thiên thạch Ryugu hay không.  Nếu thành công, đây sẽ là lần thứ hai trong lịch sử một tàu thăm dò đã thu thập được mẫu từ một tiểu hành tinh, sau nhiệm vụ Hayabusa thực hiện năm 2005. Việc vận hành tàu được coi là một trong những điểm có nguy cơ rủi ro cao đặc biệt của nhiệm vụ này – bề mặt của thiên thạch Ryugu có đầy những tảng đá có thể làm hỏng tàu. Nhật Bản thực hiện nhiệm vụ Hayabusa 2 để nhằm mục đích đưa các mẫu vật liệu thiên thạch trở về Trái đất vào cuối năm 2020 để nghiên cứu.  “Việc hạ cánh này của tàu đã diễn ra rất suôn sẻ”, Satoshi Hosoda, từ cơ quan vũ trụ Nhật Bản JAXA, nói. “Những người tham gia nhiệm vụ đều rất căng thẳng nhưng sau đó thì ai cũng cười và tất cả mọi người ôm chầm lấy nhau vì vui sướng,” ông Hosoda nói.  Theo dự kiến, khi tàu thám hiểm hạ cánh sẽ bắn vào bề mặt thiên thạch một viên đạn. Viên đạn này sẽ làm bắn cát, đá cuội và các mảnh đá vào buồng thu gom. Nếu kế hoạch sử dụng đạn thất bại, tàu cũng có các răng xúc có thể nâng vật liệu trên bề mặt thiên thạch lên tàu thám hiểm.  Nhóm nghiên cứu cho biết lệnh cho đạn bắn đã được thực hiện theo kế hoạch.  Hayabusa2 bắt đầu rơi chậm về phía Ryugu khoảng 26 giờ trước giờ hạ cánh, bắt đầu từ độ cao 20 km, nơi nó đã lượn vòng quanh. (Lực hấp dẫn yếu của Ryugu khiến các vật thể rất khó giữ được quỹ đạo bay quanh nó.)  Tàu Hayabusa 2 tự điều khiển trong hành trình hạ cánh xuống Ryugu. Tàu cũng được cài đặt để sẵn sàng hủy lệnh hạ cánh bằng cách tự đẩy mình lên trở lại, nếu có sự cố bất thường xảy ra. Trong khi bề mặt của tiểu hành tinh quay chậm bên dưới nó, Hayabusa2 khóa mục tiêu điểm hạ cánh vào một “thiết bị đánh dấu”- về cơ bản là một dạng túi nệm nhỏ phản quang mà nó đã phóng lên trên bề mặt từ trước.  Các nhà khoa học của nhiệm vụ đã đặt tên cho vị trí mục tiêu là L08-E1. Điểm này là một trong những lựa chọn tốt nhất có thể trên tiểu hành tinh Ryugu, với bề mặt gần như được bao phủ hoàn toàn bằng những tảng đá có kích cỡ khác nhau. Va phải một tảng đá trong quá trình điều khiển hạ cánh có thể gây ra hậu quả tai hại cho nhiệm vụ.  Hayabusa 2 ra mắt vào cuối năm 2014 và đến được Ryugu – một vật thể chỉ rộng 1 km trên một quỹ đạo cách Trái đất không xa – vào tháng 6/2018. JAXA sau đó đã lập bản đồ bề mặt chi tiết của Ryugu và chọn các địa điểm cho một cuộc đô bộ đa hướng lên thiên thạch này. Tàu mẹ đã gửi đi ba tàu thăm dò nhỏ lên bề mặt Ryugu, các tàu này đã gửi ảnh về vào tháng Chín và tháng Mười.  Giai đoạn tiếp theo, thậm chí táo bạo hơn của nhiệm vụ sẽ liên quan đến Hayabusa2 là bắn một chất nổ vào bề mặt để tạo ra một miệng hố nhỏ. Sau đó, tàu sẽ cố gắng hạ cánh một lần nữa để thu thập một số vật liệu dưới bề mặt được xới lên từ tác động.  Tàu thăm dò sẽ quay trở lại Trái đất vào cuối năm 2019 và viên nang mang mẫu của nó dự kiến sẽ trở về bầu khí quyển trái đất vào cuối năm 2020.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00671-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản chuẩn bị cho dự án giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu      Trong năm 2019, Nhật Bản sẽ khởi động một dự án đầy tham vọng (moonshot) nhằm giải quyết những vấn đề vô cùng thách thức, không chỉ của đất nước mà còn cả thế giới. Để đạt mục tiêu này, Chính phủ Nhật Bản cho biết sẽ chi 100 tỷ Yên (897 triệu USD) cho dự án nghiên cứu.       Một xã hội không có nhựa là một trong những mục tiêu chương trình nghiên cứu của Nhật Bản.  Đây là dự án tiếp theo Chương trình Thúc đẩy thay đổi mô hình bằng các công nghệ đột phá (ImPACT) trị giá 55 tỷ Yên, kéo dài trong 5 năm và mới kết thúc vào tháng trước. ImPACT đã tạo cơ hội cho các trường đại học và công ty theo đuổi các đổi mới mang tính đột phá, có khả năng gây tác động lớn và cũng chứa đầy rủi ro, Yoshiaki Tamura, người tham gia hỗ trợ Cục Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo ở Tokyo quản lý dự án này, cho biết. Ông nhận xét, dự án mới còn có nhiều tham vọng hơn cả ImPACT.  Một ủy ban tư vấn cho chính phủ bao gồm các nhà khoa học, doanh nhân và nghệ sĩ đã họp lần đầu tiên vào ngày 29/3/2019 tại Tokyo để xác định chính xác các mục tiêu cần giải quyết, đó là giải quyết vấn đề phát thải carbon ngày càng tăng và góp phần tạo ra một xã hội không có nhựa. Chính phủ đã phê duyệt dự án này vào tháng 2 và cũng đã yêu cầu công chúng cũng tham gia đề xuất thêm mục tiêu. Chính phủ dự kiến sẽ quyết định các mục tiêu chính thức vào tháng 6 tới, theo Akira Tsugita, giám đốc hoạch định và quản lý chiến lược tại Bộ KH&CN Nhật Bản (JST) ở Tokyo.  Trong những năm gần đây, ‘moonshot’ đã trở thành từ để chỉ các dự án lớn, được tài trợ nhiều tiền, có mục tiêu cao cả và có khả năng truyền cảm hứng. Chẳng hạn như chương trình Apollo của NASA, đã đưa được người lên Mặt trăng từ năm 1969 đến năm 1972. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã đưa ra một ‘moonshot’ về ung thư vào năm 2016, tài trợ cho các nghiên cứu táo bạo về các phương pháp điều trị ung thư, cam kết 1,8 tỷ USD trong 7 năm.  Chương trình của Nhật Bản được mô phỏng theo các dự án quốc tế quy mô lớn khác, chẳng hạn như chương trình sắp tới của Ủy ban châu Âu, Horizon Europe và chương trình NSF 2026 Idea Machine của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF). Các chương trình này đều đầu tư kinh phí cho các ý tưởng nghiên cứu táo bạo, Tsugita nói.  Theo nhà cố vấn chính sách George Dibb tại Đại học College London, các cách tiếp cận theo định hướng nhiệm vụ là con đường duy nhất giải quyết được các vấn đề thách thức, chẳng hạn như biến đổi khí hậu. Giải quyết các vấn đề này sẽ đòi hỏi nhiều cách tiếp cận, “một số cách sẽ thất bại, một số khác có thể thành công và có tác động rất lớn”, ông nhận xét. Từng tham gia tư vấn cho Ủy ban châu Âu, Chính phủ Anh và các tổ chức toàn cầu khác về các chính sách và các nhiệm vụ nghiên cứu tương tự, ông cho rằng, đổi mới sáng tạo không thể tránh khỏi nguy cơ rủi ro nên Nhật Bản cần phải sẵn sàng cho thất bại.  Một báo cáo năm 2018 tư vấn cho Ủy ban châu Âu về chương trình Horizon Europe đã đề xuất biện pháp giảm thiểu rủi ro: các nhiệm vụ phải phù hợp với xã hội, có mục tiêu tham vọng, có tính liên ngành, có thể đo lường và có thể được giải quyết theo nhiều cách khác nhau.  Hiện tại, Chính phủ Nhật Bản vẫn đang quyết định làm thế nào để có thể đo lường sự thành công của chương trình moonshot, Tsugita nói. Ngay cả khi không đạt được mục tiêu cụ thể đã định, các dự án vẫn có thể được coi là thành công nếu chúng góp phần tạo ra các cộng đồng các nhà nghiên cứu tập trung vào những vấn đề xã hội cụ thể, ông nói.   Dự án của Nhật Bản sẽ được thực hiện trong ít nhất 5 năm và có khả năng được mở rộng lên 10 năm. Sau khi các mục tiêu của chương trình đã được chọn, các nhà nghiên cứu sẽ được mời nộp đơn xin tài trợ tới JST hoặc Tổ chức Phát triển công nghệ công nghiệp và năng lượng mới, một cơ quan chính phủ khác.□  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01094-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản gom đũa thành nhiên liệu sinh học      Hàng triệu đôi đũa đang bị vứt vào các thùng rác trên khắp nước Nhật mỗi năm sẽ được tái chế để trở thành nhiên liệu sinh học, nhằm làm giảm áp lực về năng lượng ở nước này.    Nhiên liệu sinh học được xem là một nguồn năng lượng sạch thay thế, có thể giúp Nhật giảm phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ từ Trung Đông và giảm ảnh hưởng đến môi trường. Nhật hầu như không có tài nguyên tự nhiên của chính mình.  Các nhà hàng, quán ăn thường đưa ra cho khách những đôi đũa gỗ dùng một lần nếu không có yêu cầu khác. Trung bình, mỗi người dân Nhật sử dụng 200 đôi mỗi năm. Điều này nghĩa là với dân số 127 triệu người, khoảng 90.000 tấn gỗ sẽ bị đi vào sọt rác.  Bộ Nông, Lâm và Ngư nghiệp Nhật Bản đang lên kế hoạch đặt các hộp để thu gom đũa. Bộ này cũng sẽ tìm kiếm ngân sách để nghiên cứu dự án tái chế.  Hiện 90% đũa ở Nhật được nhập từ Trung Quốc, chủ yếu làm từ tre và gỗ dương.  Đầu năm nay, một hiệp hội thực phẩm Trung Quốc cũng kêu gọi chấm dứt việc sử dụng đũa dùng một lần để tạo ra một Olympic xanh cho năm tới. Mỗi năm có tới 45 tỷ đôi đũa này bị vứt đi tại Trung Quốc.  T. An (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản khoan thăm dò khu vực động đất      Tháng tư tới, Nhật Bản sẽ tiến hành một cuộc khoan thăm dò quy mô ở khu vực đứt gãy ngoài khơi gần tâm chấn vụ động đất gây ra thảm họa sóng thần hồi tháng ba năm nay.  &#160;     Sau khi trận sóng thần ngày 11/3 tàn phá khu vực Đông Bắc nước Nhật, tàu thăm dò Chikyu của Nhật được giao nhiệm vụ đặc biệt: khoan vào khu vực đứt gãy và đo nhiệt độ gần khu vực tâm chấn của trận động đất Tohoku mạnh 9.0 độ richte dẫn đến sóng thần. Đây sẽ là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu khoan vào một đứt gãy địa chất dưới lòng đại dương sau khi xảy ra động đất. Mục tiêu của đợt thăm dò nhằm giải đáp một câu hỏi vẫn tồn tại hàng thập kỷ qua là hiện tượng ma sát giữa các tầng địa chất đóng vai trò như thế nào trong việc tạo ra sóng thần. Điều này sẽ giúp các nhà khoa học hiểu được tại sao một số đứt gãy có nhiều khả năng gây ra sóng thần hơn các đứt gãy khác – trong trường hợp này.  Cơ sở khoa học của cuộc thăm dò, có tên gọi chính thức là Japan Trench Fast Drilling Project, được nêu chi tiết trong một báo cáo năm 2009, khuyến khích khoan thăm dò các đường đứt gãy càng sớm càng tốt ngay sau các trận động đất có bề mặt đứt gẫy bị trượt đi hơn một mét. Trận động đất  Tohoku, lập kỷ lục mới về mức độ trượt bề mặt từng được ghi nhận – đến 50m – quả là một mục tiêu thăm dò lý tưởng.  “Sẽ rất nguy hại cho xã hội nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ lưỡng hết sức có thể khu vực đứt gãy bị tác động bởi trận động đất khủng khiếp này”, ông Kiyoshi Suyehiro, Chủ tịch và Giám đốc điều hành Ban quản lý Integrated Ocean Drilling Program (IODP) nói. Sau khi thông qua đề xuất hồi tháng 9, giờ đây IODP khẳng định đã có nguồn tài chính cho tàu Chikyu lên đường vào tháng tư và khoan thăm dò tại địa điểm phía Nam tâm chấn cơn động đất (xem bản đồ).     “Đây là vấn đề cơ bản trong địa chấn học ở thời điểm này: làm thế nào mà đá có thể trượt đi hàng chục mét?”, James Mori, nhà địa chấn học tại Viện Nghiên cứu phòng chống thảm họa thuộc Đại học Kyoto, một đồng tác giả của bản báo cáo năm 2009 nói trên, cũng là đồng trưởng nhóm của cuộc khoan thăm dò tới, nói. Các nhà nghiên cứu cho rằng một phần quan trọng của câu trả lời là ở chỗ sự ổn định giữa các lớp đá, đất, và nước ở đường đứt gãy bị giảm mạnh trong quá trình xảy ra động đất  – bởi đá bị tan rã hoặc áp lực nước gia tăng, chẳng hạn –  nhưng chưa ai đo được tác động của hiện tượng này một cách chính xác.  Do ma sát tỏa  nhiệt, các dữ liệu chính xác về nhiệt độ sẽ giúp bổ sung cho những thiếu hụt trầm trọng về hiểu biết của chúng ta.  Các nhà nghiên cứu đã thử đo nhiệt độ dưới lòng đất sau ba trận động đất trên đất liền trước đây: trận động đất Kobe năm 1995, trận động đất Chi Chi ở Đài Loan năm 1999, và trận động đất Văn Xuyên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc năm 2008. Nhưng những dự án đó mới chỉ đưa ra được một ít ghi nhận về nhiệt độ, và chỉ phát hiện sự tăng nhiệt ít ỏi hoặc không có kết quả gì – có thể là do nhiệt độ tăng quá ít để đo được, hoặc do kỹ thuật đo chưa chuẩn. “Một chủ đề trở đi trở lại là các đứt gãy thường có nhiệt độ thấp hơn lẽ ra chúng phải có”, bà Emily Brodsky thuộc Đại học California, Santa Cruz, thành viên của đoàn nghiên cứu, nói. Một cú trượt lớn sẽ  cho ta cơ hội tốt hơn để theo dõi sự tăng nhiệt có lên tới 0,5oC như mong đợi, bà cho biết. “Chúng ta cần nghiên cứu hiện tượng này ngay, và phải thật nhanh và chính xác”, bà nói.   Tàu Chikyu sẽ khoan 1km xuyên qua đứt gãy và thả một dây cảm ứng nhiệt vào dưới hố sâu. Bằng việc theo dõi nhiệt độ từ 1 tới 3 năm – dài hơn tất cả các cuộc nghiên cứu trước đây – các nhà khoa học sẽ có thể tính toán toàn bộ nhiệt lượng đã sinh ra trong cơn địa chấn. Nó cũng sẽ cho biết các lực giúp nào giữ ổn định giữa các tầng địa chất đã bị giảm trong qua trình dịch trượt, bổ sung thêm các mô hình còn thiếu về nguyên nhân gây động đất.   Việc khoan thăm dò sẽ không hề dễ dàng. Ở địa điểm dự kiến, đứt gãy Tohoku nằm cách mặt biển 7km và dưới vỏ trái đất khoảng 700 mét, vì thế cần phải khoan liên tiếp những mũi khoan lớn. Trước đây, mới chỉ có một mẫu vật nhỏ lõi trái đất được lấy lên từ độ sâu như vậy, còn hầu hết các mẫu vật lõi trái đất được lấy lên ở độ sâu cách mặt biển khoảng 6km hoặc ít hơn.    Thu Quỳnh dịch theo http://www.nature.com/news/2011/111031/full/479016a.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản kỳ vọng là nơi đặt máy gia tốc hạt      Các nhà vật lý đang tìm địa điểm cho Máy Gia tốc Tuyến tính Quốc tế (International Linear Collider)&#160; trị giá nhiều tỷ USD.    Trong khi châu Âu và Mỹ vẫn đang vật lộn với khủng hoảng kinh tế, Nhật Bản nổi lên như niềm hi vọng mới cho tương lai của ngành vật lý hạt. Cộng đồng quốc tế đang nhanh chóng đi đến đồng thuận rằng quốc đảo này là nơi duy nhất có thể đặt Máy Gia tốc Tuyến tính Quốc tế (ILC), cỗ máy sẽ trị giá nhiều tỷ USD dự kiến sẽ đáp ứng nhu cầu thế hệ các nhà nghiên cứu vật lý hạt của tương lai.  “Sẽ là Nhật Bản”, khẳng định từ nhà vật lý Barry Barish, trưởng nhóm thiết kế toàn cầu của ILC.  Tại một buổi lễ tổ chức hôm 14/12 vừa qua, Barish sẽ chuyển giao bản thiết kế cuối cùng của ILC cho một ủy ban các nhà nghiên cứu độc lập. Đây là bản thiết kế cho một khoang siêu dẫn dài 31 km có chức năng tăng tốc các hạt đạt mức năng lượng 500 gigaelectronvolt trước khi cho chúng đập vào nhau. Năng lượng từ những vụ va đập này sẽ đem lại những khoảnh khắc tồn tại các hạt nặng trước khi chúng bị phân hủy tại một trong hai thiết bị cảm ứng.  Cách tiếp cận này tương tự như công nghệ đang được sử dụng tại Máy Gia tốc Hạt lớn (LHC) tại CERN ở Geneva, Thụy Sĩ. Hồi mùa hè năm nay, các nhà nghiên cứu tại LHC đã phát hiện ra dấu hiệu về hạt Higgs, căn cứ cho một cơ chế lý thuyết về trọng lượng của các hạt. Nhưng hình ảnh về Higgs không được rõ rệt, do LHC sử dụng proton – những hạt tổng hợp từ quark – và chúng tạo ra những chùm mảnh vụn rối rắm. Khác với LHC, ILC sẽ dùng các hạt electron và phản – electron, là những hạt cơ bản sẽ cho ra các dấu hiệu sạch hơn về Higgs.  Vất vả tìm tài trợ  Nhưng ILC sẽ vô cùng tốn kém. Với chi phí dự kiến lên tới 7 – 8 tỷ USD, dự án này rất vất vả trong việc tìm tài trợ từ các chính phủ. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến nguồn tiền cần thiết cho nghiên cứu và phát triển thiết kế của cỗ máy này rất eo hẹp. “Nếu không có sự cam kết quốc tế, dự án này sẽ không thể tiến triển”, Barish cảnh báo.   Trong khi đó, Nhật Bản đang vô cùng mong muốn được đăng cai một dự án quốc tế đẳng cấp thế giới, đặc biệt là sau khi bị thua vào tay Pháp trong cuộc đấu thầu đăng cai dự án trị giá 13 tỷ Euro (17 tỷ USD) lò phản ứng nhiệt hạch (fusion) thử nghiệm ITER năm 2005. Trận động đất và sóng thần năm ngoái đã gây được nguồn quỹ tái thiết khá dồi dào, và một phần nguồn lực này có thể được dùng các dự án khoa học như ILC. Ngoài ra, dự án này cũng dễ tạo được sự đồng thuận sau những tiến triển đầy hứa hẹn gần đây trong cuộc tìm kiếm hạt Higgs tại LHC.    Các nhà khoa học và kỹ sư Nhật Bản đang tiến hành khảo sát kỹ lưỡng hai địa điểm: một địa điểm ở vùng Tohoku (nơi từng bị sóng thần) và một địa điểm khác ở Kyushu, nằm ở phía Nam đất nước. Thay vì đặt cỗ máy gia tốc ngầm dưới đất, Nhật Bản dự định sẽ khoan sâu vào trong sườn núi. “Kế hoạch này về kỹ thuật có khác biệt với những gì chúng tôi dự định”, Barish nói. Một số chi tiết thiết kế sẽ phải thay đổi cho phù hợp với kế hoạch mới, nhưng ông cho rằng sẽ khả thi. “Cả hai địa điểm đều rất tốt cho kích đẩy gia tốc”, ông nói.   Các đảng phái chính trị ở Nhật đều bày tỏ sự ủng hộ cho dự án. Điều này phản ánh khát vọng của Nhật Bản được tham gia tích cực hơn vào cộng đồng khoa học toàn cầu, nhận xét từ Satoru Yamashita, nhà vật lý của Đại học Tokyo, người tham gia vào nỗ lực đăng cai của Nhật Bản. “Mong muốn hàng đầu của Nhật Bản là trở thành địa điểm cho một dự án toàn cầu”, ông nói, “ILC sẽ là một trường hợp lý tưởng”.    Chưa có tiền lệ ở Nhật Bản  Nhưng Yamashita cũng bổ sung rằng nỗ lực tài trợ của Nhật Bản chưa hoàn toàn chắc chắn. Nhật Bản chưa bao giờ thực hiện một dự án quốc tế ở quy mô lớn như vậy và quốc gia này chưa có một quy trình chính tắc tiền lệ cho việc chấp thuận tài trợ số liền lớn đến thế cho dự án. “Chúng tôi cần được các cộng đồng khoa học trên thế giới lên tiếng bày tỏ sự quan tâm ủng hộ để có thể thuyết phục Chính phủ Nhật cho triển khai dự án”, nhận định từ Yasuhiro Okada, một ủy viên quản trị KEK, phòng thí nghiệm vật lý hạt của Nhật ở Tsukuba.  Barish cho biết rằng Nhật Bản hiện không có đối thủ nào trong vấn đề đăng cai. Châu Âu sẽ bận rộn trong suốt cả thập kỷ tới trong việc thu thập dữ liệu từ LHC. Lyn Evans, nhà vật lý gia tốc đứng đầu dự án xây dựng LHC và sẽ chủ trị dự án hợp tác ILC trong tháng tới, bổ sung rằng “nếu máy gia tốc tuyến tính được Nhật Bản chấp thuận triển khai, tôi chắc chắn rằng châu Âu sẽ đóng góp một phần”. Dù sao thì “Nhật Bản đã từng đóng góp đáng kể cho LHC”.  Mỹ có thể sẽ dè dặt hơn trong tham gia, nhận định từ nhà vật lý lý thuyết Jonathan Bagger, chủ tịch ủy ban độc lập giám sát quy trình thiết kế ILC. Nguồn lực khiêm tốn của nước này dành cho vật lý hạt hiện đang được dồn cho một chương trình nghiên cứu neutrino tại phòng thí nghiệm Fermilab ở Batavia, Illinois, và ngân sách hiện tại không đủ để đóng góp đáng kể cho ILC.  Nếu một sự đồng thuận quốc tế có thể đạt được trong vòng 3 năm tới thì công việc xây dựng có thể bắt đầu ở Nhật Bản vào cuối thập kỷ này. Điều đó sẽ giúp các nhà vật lý hạt thế giới có một chương trình hành động rõ ràng cho dự án này trong những năm tới. Nhưng nếu không được triển khai ở Nhật Bản thì triển vọng dự án sẽ rất mờ mịt, Barish cảnh báo. “Hoặc là Nhật Bản, hoặc là phải xếp ngăn kéo một thời gian”, ông dự đoán. 1            http://www.nature.com/news/japan-in-pole-position-to-host-particle-smasher-1.12047    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản: Máy dò săn tìm sóng hấp dẫn      Người họ hàng châu Á của LIGO sẽ được triển khai lắp đặt trong năm nay để tăng cường độ nhạy trong tìm kiếm những gợn sóng vũ trụ mờ nhạt, tuy nhiên đối thủ lớn nhất của nó có thể sẽ là tuyết tan.      Máy dò KAGRA được đặt dưới chân núi Ikenoyama, gần bờ biển phía bắc đảo Honshu, Nhật Bản. Nguồn: Asahi Shimbun via Getty  Bên trong đống dàn giáo có kích thước to bằng ngôi nhà được quấn trong các lớp nhựa dầy, Takayuki Tomaru trong bộ trang phục phòng sạch. Nhà vật lý này đang phụ trách một trong những nhiệm vụ quan trọng và có độ khó bậc nhất của việc xây dựng một đài quan sát sóng hấp dẫn: lắp đặt một trong bốn gương phản xạ của máy, mỗi chiếc là một khối hình trụ làm bằng sapphire rắn nặng 23kg vẫn được biết đến như một khối lượng chuẩn trong đo đạc.   Khi được vận hành vào cuối năm nay, công việc của họ sẽ là chiếu những chùm tia laser hồng ngoại vào dọc hai ống chân không dài 3km, sẵn sàng nhận biết sự truyền dẫn của sóng hấp dẫn.  KAGRA, đài quan sát sóng hấp dẫn Kamioka với tổng kinh phí đầu tư 26,4 tỷ yên (tương đương 148 triệu USD) sẽ hoạt động trên cùng nguyên lý như hai máy dò ở đài quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế (LIGO) ở Mỹ và Virgo ở Ý. Trong vài năm gần đây, các cỗ máy này bắt đầu dò được sóng hấp dẫn – những gợn sóng đã tồn tại từ lâu trong bề mặt không – thời gian được các sự kiện lớn của vũ trụ như sự sáp nhập của hai lỗ đen hoặc sự va chạm của hai ngôi sao neutron tạo ra.  Với việc gia nhập của KAGRA, mạng lưới các máy dò toàn cầu đang được mở rộng này sẽ có khả năng cho phép các nhà vật lý thiên văn định vị được vị trí của những tín hiệu vũ trụ mờ nhạt này trên bầu trời với độ chính xác ngày càng tăng lên. Họ sẽ có khả năng phân tích các tính năng của sóng hấp dẫn đó, như chúng được định hướng như thế nào trong vũ trụ, tốt hơn nhiều so với trước đây, cho phép họ nghiên cứu nhiều hơn về các vật thể vũ trụ vẫn được coi là khó nắm bắt đã tạo ra chúng.  Nhưng KAGRE không chỉ giống như các máy dò hiện này mà còn hứa hẹn sẽ tạo ra một nền tảng mới theo nhiều cách và có thể chứng minh là một thiết bị thử nghiệm quan trọng cho những máy dò tương lai. “KAGRA đang thực hiện các thử nghiệm xuất phát từ hai ý tưởng có thể đóng vai trò  quan trọng với tương lai của các nhà thiên văn sóng hấp dẫn”, Rainer Weiss – nhà vật lý tại MIT tại Cambridge và là người đồng sáng lập LIGO, nói.  Ý tưởng đầu tiên là chiếc giao thoa kế chính đầu tiên được xây dựng dưới lòng đất. Hai cánh tay của nó kéo dài bên trong các đường hầm dưới núi Ikenoyama, gần bờ biển phía bắc Nhật Bản. “Chúng tôi tin rằng đây là một lợi thế bởi vì nhiễu địa chấn ở dưới lòng đất có độ lớn thường nhỏ hơn hai bậc, Takaaki Kajita, một nhà vật lý tại trường đại học Tokyo và là thành viên chính của KAGRA, nói.  Và trong khi các gương phản xạ của LIGO và Virgo được vận hành tại nhiệt độ phòng thì các gương phản xạ của KAGRA sẽ được giữ trong điều kiện nhiệt độ rất lạnh cỡ 20 kevin để cắt giảm tiếng ồn từ các dao động nhiệt.  Nếu KAGRA hoạt động như kế hoạch đã định, nó có thể cung cấp những know-how cốt yếu về lĩnh vực này. Việc sử dụng kỹ thuật làm lạnh cryo có thể là thiết yếu để các máy dò tương lai cải thiện độ nhạy, David Shoemaker, một nhà vật lý tại MIT ở Cambridge và là người phát ngôn của LIGO, nhận xét.  Cuộc chạy đua dò sóng hấp dẫn  Nhật Bản mới bắt đầu bước vào cuộc chạy đua dò sóng hấp dẫn, vốn được Albert Einstein dự đoán hơn một thế kỷ trước. Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Tokyo đã xây dựng một mẫu thử máy giao thoa kế vào đầu những năm 1990, theo sát công việc các nhà vật lý Mỹ, Anh và Đức đã thực hiện. Khi TAMA, một thiết bị có cánh tay dài 300 m bắt đầu được vận hành ở Tokyo vào năm 1998, nó là chiếc máy dò dài nhất và nhạy nhất thế giới, nhà vật lý Raffaele Flaminio – người từng nhiều năm làm việc tại Đài quan sát thiên văn quốc gia Nhật Bản về dự án KAGRA, kể.  Nhưng TAMA không được mong đợi sẽ tạo ra một khám phá bởi sóng hấp dẫn kéo dài các chiều không gian, các hiệu ứng của nó thể hiện rõ hơn ở các khoảng cách xa, điều đó khiến các cỗ máy dò nhỏ lâm vào thế bất lợi. Dẫu sao những rung động do con người gây ra khiến TAMA, vốn được đặt ở Tokyo- một đô thị lớn và đông dân cư, thất bại ngay khi mới nhập cuộc, Kajita giải thích.  Vào những năm 1990, các nhà nghiên cứu châu Âu và Mỹ đã tham gia đầu tư vào xây dựng một giao thoa kế có cánh tay dài 4km ở Washington và Louisiana (LIGO), và một cỗ máy có cánh tay dài 3 km tại Italy (Virgo) trong khi các nhà vật lý Nhật Bản phải đối mặt với một cuộc phản đối quyết liệt về việc đầu tư cho dự án. Thêm vào nữa là năm 2001, một tai nạn nghiêm trọng và tốn kém xảy ra ở Super – Kamiokande, một đài quan sát neutrino lớn dưới núi Ikenoyama khiến chính phủ Nhật Bản lo ngại về việc dầu tư cho các dự án khoa học lớn.  Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu Nhật Bản vẫn tiếp tục theo đuổi việc phát triển giao thoa kế, theo đuổi việc tìm hiểu gương phản xạ lạnh. Năm 2006, Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế laser Cryo (CLIO) bắt đầu hoạt động trong một đường hầm tại Kamioka. Mẫu thử có cánh tay dài 100m này là chiếc máy dò đầu tiên có các gương phản xạ được làm lạnh bằng áp kỹ thuật cryo và phải mất hai thập kỷ để hoàn thiện, Kajita nói. Nguyên nhân chủ yếu là việc làm lạnh bằng cryo vẫn còn là một câu hỏi bóc búa cho khoa học sóng hấp dẫn. “Máy làm lạnh là những thứ hoàn toàn cơ học”, Kajita cho biết, vì chúng tạo ra nhiều rung động. Các nhà nghiên cứu đã phải mất nhiều công sức để tìm ra cách giữ các thiết bị làm lạnh tiếp xúc vật lý với hệ thống treo gương phản xạ để chúng có thể giữ  lạnh cho các tấm gương này – trong khi không để cho các dao động của thiết bị làm mát xuất hiện theo hướng ngược lại.  Vào cuối thập kỷ, triển vọng cho một dự án máy dò sóng hấp dẫn của Nhật Bản đột nhiên tiến triển khi Kajita tham gia. Ông đã đảm trách nhiệm vụ tái thiết Super-Kamiokande để dự án này có thể tạo ra những đột phá lớn trong khoa học neutrino, và rút cục ông đã dốc sức vào công việc ở KAGRA với hiểu biết của một người có thể quản lý một dự án khoa học lớn. Vai trò của ông tương tự như Barry Barish, một nhà vật lý ở Viện công nghệ California (Caltech) ở Pasadena, với LIGO, nhà vật lý Shinji Miyoki tại trường đại học Tokyo, so sánh. (Barish đã cùng với Weiss và Kip Thorne (Caltech) giành giải Nobel 2017 cho những đóng góp vào việc phát hiện ra sóng hấp dẫn; Kajita cũng giành giải Nobel năm 2015 cho những khám phá của ông tại Super-Kamiokande.)  Vào năm 2010, nghị viện Nhật Bản đã chấp thuận đầu tư cho dự án này, với sự đóng góp của Hàn Quốc, Đài Loan. Tên của KAGRA — được chọn từ 600 đề xuất công khai — liên quan đến kagura, một điệu nhảy linh thiêng và là một phần của truyền thống Shinto cổ xưa, Miyoki người đã là việc ở TAMA và CLIO, hiện dẫn dắt phòng thí nghiệm KAGRA, cho biết.  Một vấn đề của địa điểm  Được xây dựng từ năm 2012, các cánh tay dài 6km của KAGRA cũng được đào khoảng hai năm. Nhưng địa điểm cũng là một vấn đề: đá của ngọn núi này xốp và dễ ngấm nước. Nhà vật lý của KAGRA là Keiko Kokeyama đã được mời trở lại địa điểm này vào năm 2014, khi cô đang làm việc cho LIGO tại Caltech. “Bên trong đường hầm, nước thấm rất nhiều”, cô nói và nền hầm đầy bùn. Để giữ cho các đường hầm khô ráo cần thêm một lớp lót. Cô là người đã giám sát tỉ mỉ nguồn laser của giao thoa kế này.  Vào mỗi mùa xuân, khi tuyết tan trên mặt đất, hệ thống thoát nước của đường hầm phải có khả năng vận chuyển được 1.000 tấn nước mỗi giờ. Điều đó có nghĩa là KAGRA sẽ phải có lịch tắt máy hàng năm trong những tháng ẩm ướt, Kajita nói: “Với những điều kiện như vậy, tôi nghĩ nó có khó thể được vận hành”.  Khi KAGRA khởi động, cộng đồng nghiên cứu về sóng hấp dẫn của thế giới sẽ dõi mắt trông theo. LIGO đang lập kế hoạch nâng cấp mang tên LIGO Voyager để làm lạnh các gương phản xạ — dẫu hông thể lạnh như gương của KAGRA. Và cộng đồng Mỹ đang thiết kế Cosmic Explorer, một cỗ máy làm lạnh dài 40 km. Các nhà nghiên cứu châu Âu hi vọng xây dựng một đài quan sát mang tên Kính viễn vọng Einstein Telescope hình dáng tam giác có cạnh dài 10 km với đủ hai yếu tố được làm lạnh và đặt dưới mặt đất. “Tôi tin là người ta sẽ học hỏi được nhiều từ KAGRA,” Kajita nói.  “Dù có khó khăn nhưng KAGRA đã làm được nhiều điều dũng cảm để theo đuổi rất nhiều thứ mà chúng tôi nghĩ là chúng tôi cần làm vì những máy dò tương lai. Điều đó giúp chúng tôi có được nhiều kinh nghiệm”, Shoemaker nhận xét.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07867-z    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản phóng vệ tinh nghiên cứu Mặt trời      Hôm 23/9, Nhật Bản đã phóng lên quỹ đạo vệ tinh Solar-B để đo từ trường của Mặt trời, giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về tác động của Mặt trời với Trái đất. Đây là một phần trong chương trình hợp tác giữa Nhật với Mỹ và Anh.    Với 3 kính viễn vọng, vệ tinh nặng 900 kg này sẽ giúp các nhà khoa học quan sát Mặt trời từ khoảng cách gần nhất từ trước đến nay. Solar-B sẽ quay quanh quỹ đạo Trái đất trong 3 năm và mỗi năm nó tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng Mặt trời trong 9 tháng. Cơ quan Không gian châu Âu ở quần đảo Svalbard của Na Uy là nơi duy nhất trên Trái đất có thể liên lạc mọi lúc với Solar-B. Đây cũng là nơi phân tích những dữ liệu nhận được từ vệ tinh này. Solar-B là vệ tinh thứ 3 được Nhật Bản phóng lên quỹ đạo. Hai vệ tinh trước được phóng vào năm 1981 và 1991.  (Theo Reuters)  H.Y        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản sẽ phóng vệ tinh nhân tạo lên Mặt Trăng      Vệ tinh SILENE của Nhật chuẩn bị phóng vào tháng 8 tới để thực hiện chiến dịch thám hiểm mặt trăng và nghiên cứu nguồn gốc cũng như sự tiến hóa của thiên thể này.    Nhưng thám hiểm mặt trăng chỉ là một phần chiến dịch. Mục tiêu tiếp theo của Nhật Bản là đuổi kịp Trung Quốc, một cường quốc mới trong cuộc đua chinh phục không gian ở châu Á.  Cơ quan vũ trụ Nhật Bản (JAXA) tuyên bố dự án SILENE là chiến dịch thám hiểm mặt trăng lớn nhất kể từ sau chương trình Apollo của Mỹ, với nhiệm vụ đặt một vệ tinh nhân tạo mẹ trên quỹ đạo mặt trăng ở độ cao 90 km và triển khai hai vệ tinh con đối nhau trên quỹ đạo. Các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng dữ liệu thu được từ các vệ tinh để nghiên cứu nguồn gốc và sự tiến hóa của mặt trăng.  “Chiến dịch này bao gồm việc quan sát toàn bộ mặt trăng, chứ không phải một phần của nó. Đó là một kế hoạch đầy hoài bão”, Satoki Kurokawa, người phát ngôn của JAXA, phát biểu.  Đây là một bước đi quan trọng trong kế hoạch chinh phục không gian của Nhật, bao gồm việc đổ bộ robot lên mặt trăng, và tiến xa hơn nữa là mang theo phi hành gia. Để thu hút sự chú ý của công chúng, JAXA còn thực hiện chương trình “ước mơ trên mặt trăng” cho phép mọi người gửi những thông điệp ngắn lên mặt trăng thông qua vệ tinh này.  Nhật Bản đã trở thành nước đứng đầu ở châu Á sau khi phóng một vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào năm 1972. Hiện nay, Nhật đang phải cạnh tranh để duy trì vị trí của mình với những đối thủ chính là Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ.  Trong khi Trung Quốc đạt nhiều thành công vang dội trong lĩnh vực này gần đây, thì Nhật Bản lại gặp nhiều thất bại. Tháng trước, một trong bốn vệ tinh gián điệp của Nhật bị trục trặc do lỗi kỹ thuật, gây tổn thất nhiều triệu đôla. Một chiến dịch tới sao Hỏa của Nhật Bản cũng đã bị đổ vỡ hai năm trước sau khi vệ tinh của họ bị lệch khỏi quỹ đạo.  Bùi Thắng (theo CNN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản tái khởi động nhà máy điện hạt nhân      Ngày 11/8 vừa qua, Nhật Bản đã khởi động trở  lại lò phản ứng hạt nhân đầu tiên tại nhà máy ĐHN Sendai ở TP  Satsumasendai, tỉnh Kagoshima, sau thảm họa Fukushima năm 2011. Lò phản  ứng này đã vượt qua vòng kiểm tra hồi tháng 9/2014 và trở thành lò đầu  tiên được Ủy ban Điều tiết Hạt nhân Nhật Bản công nhận đạt chuẩn an  toàn, đồng thời cũng là lò phản ứng đầu tiên được kích hoạt kể từ khi  các tiêu chuẩn an toàn mới được đưa ra vào năm 2013.      Việc tái khởi động lò phản ứng hạt nhân 30 tuổi đời này là một chiến thắng cho Thủ tướng Shinzo Abe trước sự phản đối của phần đông cử tri, những người vẫn mang tâm lý phản đối hạt nhân mạnh mẽ, dù rằng giá điện không ngừng tăng cao. Theo ông, nếu không có năng lượng hạt nhân, nền kinh tế Nhật Bản sẽ sụp đổ dưới sức nặng của áp lực nhập khẩu nguồn dầu và khí gas đắt đỏ.  Những người phản đối cho rằng đơn vị điều hành nhà máy hạt nhân Sendai, Công ty Kyushu Electric, và chính quyền địa phương vẫn chưa đưa ra được cách thức di tản hàng chục nghìn cư dân ở đây nếu lại xảy ra sự cố giống như Fukushima. Một đại diện của nhóm phản đối nói: “Ở gần nhà máy có nhiều trường học và bệnh viện, nhưng không ai nói cho chúng tôi biết làm thế nào để di tản người già và trẻ em cả. Mà khi sự cố xảy ra thì dĩ nhiên các ngả đường giao thông sẽ tắc nghẽn vì xe cộ, vì lở đất, vì đường xá và cầu cống bị hư hại.” Ngoài ra cũng còn nhiều ý kiến nghi ngại về độ tin cậy của một lò phản ứng hạt nhân già cỗi, đã phải ngưng hoạt động để kiểm tra độ an toàn từ năm 2011. Vị đại diện trên nói: “Tại sao chúng tôi phải đặt lòng tin của mình vào cái lò phản ứng đã hoạt động ròng rã hơn 30 năm?”  Do các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy phần lớn người dân Nhật Bản đều phản đối việc tái khởi động nhà máy ĐHN, nên chính quyền TP Satsumasendai quyết định không tổ chức thăm dò ý kiến người dân. Một người phản đối cho biết: “Họ không chịu tổ chức trưng cầu dân ý vì họ sợ kết quả thu về sẽ ra sao. Họ biết thừa rằng nước Nhật vẫn sống tốt mà không cần đến ĐHN trong gần hai năm qua.”   Tuy nhiên, với những người ủng hộ, việc đóng cửa nhà máy trong thời gian dài như vậy đã gây ra những thiệt hại cho người dân TP Satsumasendai. Khi còn hoạt động, nhà máy này đã đóng góp ba tỉ yên (khoảng 25 triệu USD) vào nền kinh tế thành phố, chủ yếu thông qua hoạt động của ba nghìn lượt nhân viên thường lui tới thành phố hai lần mỗi năm để kiểm tra độ an toàn của nhà máy. Satsumasendai còn được nhận được khoản trợ cấp hằng năm trị giá hơn một tỉ yên vì là nơi đặt các lò phản ứng hạt nhân.  Một số cư dân ở đây cho rằng việc đóng cửa nhà máy quá lâu đã làm hoạt động thương mại ở thành phố bị tê liệt; doanh thu của các khách sạn, nhà hàng, và các ngành dịch vụ khác đều giảm đi đáng kể. Một người làm nghề xây dựng nói: “Đây là thành phố quê hương tôi, và tôi không muốn thấy kinh tế của nó bị đình đốn. Nhà máy ĐHN đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, nhất là trong ngành xây dựng. Tôi tin chắc rằng người làm xây dựng nào ở đây cũng mong nhà máy sớm mở cửa trở lại.”     Trang Bùi tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật Bản tăng cường kinh phí cho khoa học      Việc Đảng Dân chủ Tự do (LDP) của Nhật giành  được quyền lực vào tháng 12 vừa qua đã chính thức hiện thực hóa đề xuất  gói ngân sách bổ sung trị giá 10,3 nghìn tỷ Yên (115 tỷ USD), và làm đảo  ngược xu hướng “thắt lưng buộc bụng” mà chính quyền tiền nhiệm đã triển  khai. Xu hướng đó đã khiến kinh phí nhiều dự án nghiên cứu và lương của nhiều nhà khoa học bị giảm.     Dự kiến được thông qua vào giữa tháng 2, gói ngân sách bổ sung đề xuất của chính quyền mới có mục tiêu nhằm giảm tiêu thụ năng lượng, khuyến khích các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường, và hỗ trợ đáng kể cho một số lĩnh vực nghiên cứu khoa học.  Bộ Công nghiệp hi vọng sẽ kích thích được nền kinh tế và giảm mức khí thải CO2. Để tăng số lượng ô tô chạy điện (EV), bộ này dự kiến sẽ dùng 100 tỷ Yên để tăng số lượng trạm sạc điện nhanh cho các xe EV trên khắp cả nước, từ con số 1400 hiện nay lên thành 35000. 200 tỷ Yên khác sẽ được dùng hỗ trợ cho các công ty giảm được tiêu thụ năng lượng thông qua đồng sản xuất điện hoặc các giải pháp khác. Cơ quan môi trường dự kiến sẽ dùng 1 tỷ Yên để lắp đặt đèn LED trên các tuyến đường.  Các nghiên cứu phát triển vật liệu thay thế đất hiếm cũng sẽ được tăng kinh phí, trong bối cảnh Nhật Bản và Trung Quốc đang căng thẳng về tranh chấp chủ quyền biển đảo và Trung Quốc đã hạn chế xuất khẩu nguồn tài nguyên mà họ chiếm ưu thế độc quyền này.  Trong số 750 tỷ Yên được đề xuất từ Bộ Khoa học và Giáo dục, 180 tỷ Yên sẽ được dùng để khuyến khích các trường đại học thương mại hóa kết quả nghiên cứu cơ bản, và 20 tỷ Yên khác sẽ được dùng hỗ trợ việc nghiên cứu tế bào gốc pluripotent (iPS). Như vậy số tiền dự kiến cấp cho lĩnh vực nghiên cứu iPS trong vòng 10 năm tới sẽ tăng thành 110 tỷ Yên.  Theo  http://blogs.nature.com/news/2013/01/japans-new-old-leadership-to-boost-science.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật đẩy mạnh công nghệ phẫu thuật viên-robot      Thời gian qua, 14 công ty điện tử lớn như  Hitachi, Panasonic và Toshiba đã kết hợp với năm trường đại học và Chính  phủ Nhật thực thi dự án “Phòng mổ có robot hỗ trợ” (Robot-assisted  operating theater).&#160;       Ngay từ giữa những năm 1980, các thiết bị  phẫu thuật có sử dụng robot (robotic surgical system) đã được vận hành  tại một số bệnh viện ở Mỹ. Năm 1990, Computer Motion’s AESOP system là  robot đầu tiên được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA)  duyệt cho phép dùng trong các phẫu thuật nội soi.     Thiết bị phẫu thuật Da Vinci (Da Vinci Surgical System) do Intuitive Surgical nghiên cứu chế tạo là hệ thiết bị phẫu thuật có sử dụng robot đầu tiên được FDA duyệt cho phép dùng trong các phẫu thuật ổ bụng, năm 2004 được trang bị và sử dụng lần đầu tại Bệnh viện đa khoa Rochester ở New York và từ đó trở đi thiết bị này thống trị thế giới phẫu thuật viên robot. Tính đến tháng 1/2013, hơn 3.000 thiết bị phẫu thuật Da Vinci đã được bán và xuất khẩu, trong đó Nhật Bản nhập khoảng 180 bộ. Năm 2012, thiết bị này đã được dùng để thực hiện khoảng 200.000 ca mổ trên toàn thế giới.   Tuy công nghệ robot Nhật Bản phát triển ở trình độ cao nhưng việc nghiên cứu triển khai phẫu thuật viên robot lại tụt hậu so với Mỹ, vì các đơn vị nghiên cứu không phối hợp với nhau.   Thời gian qua, 14 công ty điện tử lớn như Hitachi, Panasonic và Toshiba đã kết hợp với năm trường đại học và Chính phủ Nhật thực thi dự án “Phòng mổ có robot hỗ trợ” (Robot-assisted operating theater).    Loại phòng mổ này không những thực hiện được các phẫu thuật cực kỳ tinh vi mà còn có thể dùng thiết bị chụp cộng hưởng từ (MRI) để vừa xác nhận tình trạng tức thời cơ thể bệnh nhân vừa tiến hành phẫu thuật. Khi dự án hoàn thành, dự kiến trong vòng 10 năm sẽ đưa loại phòng mổ hiện đại này vào sử dụng trong lâm sàng. Như vậy Nhật Bản sẽ có thể tiến vào hàng ngũ các quốc gia dẫn đầu cuộc cạnh tranh toàn cầu về phát triển thiết bị y tế với Mỹ – nước đã bắt đầu phổ cập công nghệ robot dùng trong phẫu thuật.  Loại phòng mổ sử dụng phẫu thuật viên robot của Nhật Bản thực hiện liên kết cánh tay máy “cầm” dao mổ với máy cộng hưởng từ, nhờ đó cánh tay máy có khả năng vừa thao tác vừa liên tục tham khảo các số liệu khảo sát tình trạng tức thời cơ thể bệnh nhân (do máy cộng hưởng từ cung cấp), kết quả là cánh tay máy thao tác ổn định và chính xác hơn tay người. Phòng mổ này còn đặt thiết bị để xác nhận vị trí khối u đã được cắt bỏ đầy đủ chưa hoặc xác nhận bộ phận cơ thể nào đã bị tế bào ung thư xâm nhập. Toàn bộ các dữ liệu đó đều được thiết bị tổng hợp trong thời gian cực ngắn ngay tại chỗ.   Trong năm tài chính này, Chính phủ Nhật Bản sẽ dành 3,5 tỷ yen (khoảng 34,27 triệu USD) cho dự án “Phòng mổ có robot hỗ trợ”.            Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật ghép phổi thành công từ người hiến tạng sống      Bệnh viện Đại học Okayama, Nhật Bản ngày 1/7  thông báo đã tiến hành ca ghép tạng thành công từ thùy phổi của một bà  mẹ cho con trai 3 tuổi. Đây là ca ghép thùy phổi giữa đầu tiên trên thế giới được thực hiện từ người hiến tạng còn sống.    Bệnh viện này cũng cho biết bé trai mắc chứng suy giảm chức năng phổi là bệnh nhi nhỏ tuổi nhất được ghép phổi ở Nhật Bản.  Bé trai đã có thể tự thở được sau khi tiếp nhận thùy phổi giữa của lá phổi bên phải từ mẹ và bệnh viện khẳng định ca phẫu thuật đã “thành công tốt đẹp.”  Phát biểu trước báo giới sau ca phẫu thuật, Phó Giáo sư chuyên khoa hô hấp Takahiro Oto thuộc bệnh viện nhà nước này cho biết: “Phổi được cấy ghép đang hoạt động tốt. Ca phẫu thuật rất khó khăn nhưng tôi đảm bảo rằng các ca cấy ghép thùy phổi giữa trong tương lai cũng sẽ thành công.”  Cấy ghép phổi trên người hiến tặng còn sống thường được tiến hành với thùy phổi dưới có dung tích thở lớn hơn. Tuy nhiên, bé trai đã nhận được thuỳ phổi giữa nhỏ hơn thùy phổi dưới và có kích cỡ vừa.  Theo nguồn tin của bệnh viện này, mẹ của bé đã quyết định hiến một thùy phổi vì ít có khả năng tìm được đối tượng hiến phổi nhỏ tuổi cho con bà. Trước đây, bé trai đã từng được cấy ghép tủy xương do mắc bệnh máu trắng khoảng 2 năm trước nhưng sau đó cơ thể bé có dấu hiệu đào thải sau cấy ghép.  Phó Giáo sư Oto cho biết việc cấy ghép thùy phổi giữa sẽ mở đường cho việc cứu sống nhiều em nhỏ không có khả năng tiến hành cấy ghép phổi trong tương lai.    Nguồn tin:   http://www.vietnamplus.vn/Home/Nhat-ghep-phoi-thanh-cong-tu-nguoi-hien-tang-song/20137/204852.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật nghiên cứu thuốc tránh thai dùng cho nam giới      Một nhóm nhà khoa học Nhật tại ĐH Osaka viết  bài đăng trên tạp chí Science ngày 1/10/2015 cho biết họ đã tìm ra biện  pháp làm cho chuột đực trở nên vô sinh tạm thời bằng cách ngăn chặn một  loại protein cụ thể trong tinh trùng của động vật – loại protein này  cũng được tìm thấy trong tinh trùng của con người.    Chất protein nói ở đây là chất calcineurin, có tác dụng quan trọng đối với khả năng sinh dục của giống đực. Nhóm nghiên cứu đã phân tích sự thể hiện của gene PPP3CC và PPP3R2 trong chuột đực. Hai loại gene này chỉ tồn tại trong các tế bào hình thành tinh trùng. Nhóm nghiên cứu đã dùng hai dược phẩm ức chế hệ thống miễn dịch ở bệnh nhân ghép tạng là cyclosporine A (CsA) và FK506 (tacrolimus) để ức chế gene PPP3CC, gây ra sự đột biến chất calcineurin, khiến cho chuột đực xuất hiện tình trạng vô sinh ngắn hạn, vì những tinh trùng đó không thể nào kết hợp được với trứng của chuột cái. Nghĩa là chuột đực có chất calcineurin đã bị ức chế vẫn giao cấu bình thường với chuột cái, nhưng chuột cái không thể nào có thai. Thời hạn vô sinh của chuột đực kéo dài trong 4-5 ngày.     Một tuần sau khi ngừng sử dụng thuốc ức chế, năng lực sinh sản của chuột đực thí nghiệm lại được phục hồi. Sự biến đổi đặc biệt này của chất calcineurin cũng xảy ra ở cơ thể con người, bởi vậy có thể dùng biện pháp nói trên để chế tạo thuốc tránh thai dùng cho nam giới.    Bản báo cáo viết: “Từ kết quả thí nghiệm trên chuột, có thể thấy chất calcineurin tinh trùng có thể là một mục tiêu tránh thai nhanh chóng cho nam giới và có thể đảo ngược được [tức có thể phục hồi khả năng có thai]”.    Cho tới nay, biện pháp tránh thai dùng cho đàn ông chỉ là thắt ống dẫn tinh – biện pháp này là triệt sản vĩnh viễn không thể phục hồi, và dùng bao cao su – biện pháp này không hoàn toàn hữu hiệu.  Hải Hoành tổng hợp    Nguồn:  – http://www.sciencealert.com/scientists-discover-protein-blockers-could-double-as-the-pill-for-men Scientists discover protein blockers that may function as ‘the pill’ for men  – http://medicalxpress.com/news/2015-10-scientists-potential-birth-pill-men.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật phóng tàu thám hiểm Mặt trăng      Nhật đã chi 484 triệu USD cho dự án đưa tàu Kaguya, còn gọi là SELENE, lên Mặt trăng. “Đây là bước đi quan trọng đầu tiên tiến tới mục tiêu đưa người lên Mặt trăng vào năm 2025 của chúng tôi”, ông Shinichi Sobue, một chuyên gia tại Cơ quan thám hiểm hàng không vũ trụ Nhật (JAXA) nói.    Kaguya sẽ gồm một tàu vũ trụ chính và hai vệ tinh nhỏ được gắn 14 thiết bị quan sát để nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Mặt trăng. Tên lửa H-2A của Nhật chở Kaguya được phóng từ đảo Tanegashima, cách thủ đô Tokyo khoảng 1.000 km, vào ngày 14.9. Tàu thăm dò Kaguya sẽ bay quanh quỹ đạo mặt trăng trong khoảng một năm cho đến khi hết nhiên liệu.  Các nhà khoa học Nhật hy vọng dự án này sẽ giúp Nhật trở thành nước đầu tiên tại châu Á đưa tàu thám hiểm không người lái lên “cung Hằng”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhật xây thành phố dưới đáy biển      Trong khi các nhà khoa học châu Âu cho tàu  vũ trụ đổ bộ lên sao chổi ở cách Trái đất hàng triệu km thì một công ty  kiến trúc Nhật lại tuyên bố họ tiến theo một hướng khác.    Báo Washington Post ngày 21/11 cho biết, Tập đoàn Shimizu vừa công bố một bản thiết kế làm mọi người sửng sốt: họ chuẩn bị xây dựng một đô thị đi từ mặt biển xuống đáy biển, gồm các cơ sở nghiên cứu, khu mua sắm và nhà ở. Dự án có tên “Ocean Spiral”, cần vốn 26 tỷ USD, thời gian thi công là 5 năm, đã nhận được sự ủng hộ của nhiều đơn vị nghiên cứu và cơ quan chính quyền Nhật. Một cấu trúc hình xoắn ốc dài 15 km sẽ đi từ đáy lên mặt biển, thông tới một hình cầu khổng lồ có đường kính 460 m, bên trong hình cầu này bố trí khách sạn, chung cư và khu thương mại, có thể chứa 5.000 người. Còn trạm nghiên cứu nằm ở đáy kiến trúc này sẽ nghiên cứu cách khai quật năng lượng ở đáy biển.   Người phát ngôn của Tập đoàn Shimizu nói với phóng viên tờ Wall Street Journal: “Đây chỉ là bản thiết kế của công ty chúng tôi, hiện giờ chúng tôi đang nghiên cứu triển khai các công nghệ cho phép xây dựng không gian sống dưới nước.” Chênh lệch nhiệt độ giữa các tầng của tòa kiến trúc này có thể được dùng để phát điện.  Các công ty kiến trúc Nhật nổi tiếng thế giới về những ý tưởng kiến trúc kỳ dị. Tập đoàn Obayashi, đối thủ cạnh tranh của Tập đoàn Shimizu, đã tuyên bố kế hoạch xây dựng chiếc “Thang điện” dài 97.000 km lên vũ trụ, dự định hoàn thành vào năm 2050. Shimizu cũng công bố dự án xây dựng đô thị nổi (floating metropolis) và vành đai năng lượng mặt trời vòng quanh Mặt trăng.  Bản thiết kế Ocean Spiral của Tập đoàn Shimizu đưa ra đúng vào lúc ngày càng có nhiều chính phủ, công ty xuyên quốc gia và tổ chức quốc tế đau đầu vì vấn đề làm thế nào đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng cao và khí hậu biến đổi.   Christian Dimmer, Phó giáo sư nghiên cứu đô thị ở Đại học Tokyo, cho rằng những dự án loại này không nên để các tập đoàn tư nhân một mình thực thi. Ông nói với báo The Guardian: Vào thập niên 1980, nước Nhật đã có những dự án như vậy, khi một số tập đoàn từng đề nghị xây dựng thành phố ngầm dưới đất và tòa tháp cao 1.000 m.   Nhiều cái đầu giàu sức sáng tạo vắt óc suy nghĩ cách đối phó tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao và xây dựng các khu nhà ở có tính thích ứng mạnh hơn, đây là điều tốt. Nhưng tôi mong rằng chúng ta chớ nên quên xét tới việc trong tương lai, các đô thị càng cần cởi mở và dân chủ; trong các đô thị đó, người dân không chỉ là vị khách trong đầu óc không tưởng của một tập đoàn mà họ cần phát huy tác dụng tích cực trong quá trình xây dựng đô thị.”   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhện và ớt cũng có điểm chung      Nhìn bề ngoài, loài nhện đen nhiệt đới và quả ớt chả có gì giống nhau. Nhưng việc tiếp xúc cả với 2 loài sinh vật này đều gây ra một cảm giác đau đớn tương tự.    Các nhà khoa học tại Đại học California, Mỹ, đã phát hiện ra rằng cả 2 loài đều sử dụng chung một chiến thuật để xua đuổi kẻ thù bằng cách gây đau.  Nọc độc của nhện đen Psalmopoeus cambridgei, sống ở Trinidad và Tobago, chứa chất độc kích hoạt cảm thụ quan gây đau trên tế bào thần kinh khắp ở cơ thể, cũng giống như ớt. Ở cây ớt, tác nhân chính gây cay là capsaicin.  “Chúng tôi đã xác định được một cơ chế mới mà nọc độc của nhện tạo ra cơn đau, và nó cũng tương tự như cơ chế mà cây ớt sử dụng để tạo ra cảm giác tương tự”, nhà sinh vật học phân tử David Julius nói.  Điều này cho thấy cả hai loài nhện và ớt đã phát triển một cơ chế tương tự để chống đỡ kẻ thù.  Khi Julius và cộng sự đã thử nghiệm nọc độc nhện trên tế bào chứa cảm thụ quan gây đau. Nó tạo ra phản ứng, còn trên tế bào không có cảm thụ quan thì không phản ứng gì.  Các nhà nghiên cứu cũng phân lập 3 hợp chất từ nọc độc của nhện. Khi các chất này được đắp lên móng chuột, những con chuột có cảm thụ quan bị đau và sưng. Nhưng chuột không có cảm thụ quan đó thì không phản ứng gì.  Các nhà nghiên cứu tin rằng các loài nhện khác cũng có cơ chế tự vệ tương tự.  M.T. (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiên liệu xanh: Lựa chọn của tương lai      Cùng với nguồn tài nguyên đang từng giờ bị cạn kiệt dưới bàn tay khai thác của con người, trên thế giới, mỗi giây, khoảng 900 tấn nhiên liệu cacbon liên tục được giải phóng. Để ngăn ngừa được thảm họa khí hậu, thì sự phát xạ khí nhà kính phải được giảm 60% trong vòng 50 năm tới. Và ngay cả khi khoa học cảnh báo rằng, chúng ta đang chạm đến rất nhanh điểm không thể đảo ngược của việc nóng lên toàn cầu mà hệ quả sẽ dẫn đến sự tăng lên của mực nước biển, tuyệt chủng của các loài, dịch bệnh, lũ lụt và cả những sự kiện thời tiết khác đang đe dọa tới nền văn minh.  Đã đến lúc con người phải bắt tay vào tìm kiếm những nguồn nhiên liệu mới cho phát triển bền vững.    Vấn đề môi trường đối với nhiên liệu hóa thạch  Tất cả những nhiên liệu hóa thạch đều chứa cacbon và oxy như than đá, dầu và khí thiên nhiên. Khi được đốt cháy, các nguyên tử cacbon kết hợp với oxy để tạo ra carbon dioxide. Nhiên liệu hóa thạch là nguồn năng lượng không thể tái sinh, được tạo nên từ những xác động thực vật sống cách đây 300 triệu năm. Ngày nay, nguồn nhiên liệu này được tìm thấy trong lòng đất, sau đó được con người khai thác và đốt cháy để tạo ra nguồn năng lượng. Năng lượng vô cùng cần thiết cho một xã hội hiện đại. Hơn 66% điện năng trên toàn thế giới và 95% nguồn năng lượng chúng ta sử dụng được khai thác từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch.                     Rất nhiều vấn đề về môi trường mà chúng ta phải đối mặt ngày hôm nay phát sinh từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch: nóng lên toàn cầu, xuống cấp chất lượng của bầu không khí, mưa axit và tràn dầu… Có thể điểm ra ở đây một vài những tác động của việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch đối với môi trường.  Nóng lên toàn cầu: Các nhà khí hậu học tiên đoán rằng, mức độ carbon dioxide tiếp tục tăng nhanh do việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, hành tinh của chúng ta sẽ trở nên nóng hơn trong thế kỷ tới. Một loạt những tác động xảy ra: mực nước biển tăng do sự ấm lên của những đại dương và tan chảy của những dòng sông băng sẽ gây nên các thiên tai như lũ lụt, đồng thời nhiều vùng nông nghiệp sẽ thường xuyên phải chịu hạn hán.  Ô nhiễm không khí: Không khí trong lành rất cần thiết cho sức khỏe và cuộc sống. Một số chất gây ô nhiễm được tạo ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch: carbon monoxide, nitrogen oxide, sulfur oxide, và hydrocarbon. Thêm vào đó, những hạt lơ lửng cũng tham gia vào sự ô nhiễm của bầu không khí. Nitrogen oxide và hydrocarbon có thể kết hợp với nhau trong khí quyển để tạo ra ozone ở tầng đối lưu, thành phần của sương mù. Cacbon monoxide là một khí được tạo ra trong suốt quá trình đốt cháy không hoàn toàn của tất cả những nhiên liệu hóa thạch. Tác nhân này có thể gây nên bệnh đau đầu, căng thẳng đối với những người bị bệnh tim mạch. Xe hơi và xe tải là những nguồn chủ yếu thải ra carbon monoxide…  Ô nhiễm nhiệt: Trong suốt quá trình phát điện, việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ giải phóng ra nhiệt năng. Một phần lượng nhiệt này được dùng sẽ sản sinh ra điện năng, một lượng lớn nhiệt còn lại giải phóng ra bầu không khí hoặc các nguồn nước đóng vai trò như những tác nhân làm nguội. Không khí bị hâm nóng không phải là vấn đề, nhưng sự nóng lên của những nguồn nước, một khi đổ ra những con sông hoặc hồ, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến những hệ sinh thái dưới nước.                     Ô nhiễm đất và nước: những sản phẩm thải ra của nhiên liệu hóa thạch có thể làm cho nguồn nước và đất đai bị ô nhiễm trầm trọng: việc khai thác bừa bãi, sự quản lý lỏng lẻo, tràn dầu…sẽ là những nguyên nhân chủ yếu. Chẳng hạn, than đá có chứa pyrit, một hợp chất của lưu huỳnh. Hợp chất này có thể hòa với nước trong các mỏ khai thác để tạo ra một loại axit loãng rồi sau đó chảy ra những dòng sông, suối ở gần.  Nhiên liệu hóa thạch không phải là nguồn tài nguyên vô tận. Việc khai thác của con người đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên tự nhiên này. Hơn nữa, đây không phải là nguồn tài nguyên an toàn cho môi trường và phát triển bền vững. Vì vậy việc tìm ra những công nghệ và nguồn tài nguyên mới đang được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu.  Tương lai của nhiên liệu  Công nghiệp ô tô, công nghiệp dầu và Tổ chức Hòa bình xanh đã cùng thống nhất hai điểm cơ bản: Thứ nhất, việc sử dụng nhiên liệu xăng, dầu không phải là lựa chọn lâu dài. Thứ hai, lời giải cuối cùng cho vấn đề nhiên liệu là nhiên liệu xanh.  Việc lựa chọn nhiên liệu xanh có thể tách biệt theo hai phân loại: “nhiên liệu chuyển tiếp” và “nhiên liệu hỗn hợp”.  Nhiên liệu chuyển tiếp: Nhiên liệu chuyển tiếp có thể được sử dụng cho những động cơ đốt trong truyền thống. Nhiên liệu này có thể là giải pháp môi trường hữu ích tác động một cách trực tiếp và hiệu quả trước khi công nghệ hydrogen trở nên khả thi và được chấp nhận rộng rãi. Hơn nữa, loại nhiên liệu này có thể thích hợp cho nhiều đối tượng sử dụng và phương tiện vận tải khác nhau. Dưới đây là một số loại nhiên liệu chuyển tiếp được lựa chọn.  -Khí dầu hóa lỏng (LPG) là một sản phẩm trong quá trình tinh chế dầu và cũng được tìm thấy trong các mỏ khí tự nhiên. Sản phẩm này góp phần cải thiện môi trường: giải phóng rất ít hạt bụi lơ lửng và không thải ra lưu huỳnh. Tuy nhiên, LPG lại không mạng lại những lợi ích đáng kể đối với sự thay đổi khí hậu.  -Khí thiên nhiên nén (CNG) và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Những khí thiên nhiên được khai thác từ những mỏ dưới lòng đất. Các phương tiện vận tải sử dụng khí thiên nhiên có thể mang lại những lợi ích thiết thực cho cả sự thay đổi khí hậu và chất lượng không khí. Tổ chức Hòa bình xanh đã công bố, những phương tiện vận tải sử dụng khí tự nhiên sẽ thải ra ít hơn 24% CO2 và 61% NOx so với các phương tiện vận tải sử dụng xăng (lợi ích về khí hậu), và không thải ra những hạt bụi lơ lửng (lợi ích về chất lượng không khí). Các phương tiện vận chuyển sử dụng khí thiên nhiên cũng tạo ra ít tiếng ồn hơn.  -Dầu diezel sinh học có thể được sản xuất từ những loại dầu thực vật mới hoặc đã được sử dụng như dầu hướng dương, dầu đậu nành… Theo Tổ chức Hòa bình xanh, khi sử dụng  dầu diezel sinh học có thể giảm 60% việc phát xạ khí nhà kính so với nhiên liệu truyền thống. Một sự giảm thiểu đáng kể việc thải ra những hạt bụi lơ lửng góp phần cải thiện chất lượng không khí. Nhưng việc thải ra NOx làm cho dầu diezel sinh học ít phù hợp đối với những vùng đô thị.  -Điện: những phương tiện vận tải điện không sử dụng động cơ đốt trong, không gây ô nhiễm khói bụi, và sự phát xạ khí nhà kính phụ thuộc vào phương pháp sử dụng để phát ra điện năng. Khi sử dụng máy phát điện dùng khí, Tổ chức Hòa bình xanh xác định rằng, sẽ thải ra ít hơn 37% đối với CO2 và 79% đối với NOx nếu so sánh với động cơ diezel truyền thống. Việc không gây ô nhiễm khói bụi sẽ mang một ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng không khí đô thị. Công ty Honda và Toyota đã cùng đưa ra những phiên bản xe điện giống nhau, trong đó thiết kế một động cơ sử dụng xăng cùng với một động cơ điện. Bộ nguồn được nạp điện khi xe hơi dừng lại hoặc xuống dốc, và sau đó được sử dụng như một nguồn phụ khi tăng tốc. Kết quả, Honda Insight đã đạt được 83 dặm/galông, trong khi Toyota Prius giảm được lượng khí CO2 thải ra xuống khoảng một nửa.  Nhiên liệu hỗn hợp  -Pin nhiên liệu Hydrogen: Công nghiệp ô tô đang hướng tới một tương lai pin nhiên liệu. Tất cả nhà sản xuất đều có một chương trình phát triển pin nhiên liệu. Pin nhiên liệu hoạt động bằng việc liên kết hydrogen và oxy để sinh ra năng lượng. Hiện nay, chúng ta đang tập trung phát triển pin nhiên liệu hydrogen tinh khiết cho phát triển năng lượng bền vững. Những phương tiện vận tải sử dụng pin nhiên liệu hydrogen sẽ mang lại những lợi ích lớn nhất đối với môi trường so với tất cả các lựa chọn nhiên liệu khác. Những tác động tích cực đối với môi trường phụ thuộc vào việc hydrogen được giải phóng như thế nào. Nếu bắt nguồn từ khí thiên nhiên, có thể hạn chế đến 60% khả năng giải phóng CO2. Nhưng ý nghĩa hơn, thế hệ năng lượng tái sinh sẽ mở ra một triển vọng lớn cho vận tải thân thiện môi trường. Ngoài ra, việc hạn chế giải phóng hơi nước không độc hại và những hạt bụi lơ lửng sẽ góp phần cải thiện chất lượng không khí.  -Hydrogen: Hãng ô tô BMV đang phát triển việc sử dụng nhiên liệu hydrogen cho những động cơ đốt trong truyền thống. Với pin nhiên liệu hydrogen, sự lựa chọn này sẽ đem lại những lợi ích lớn lao cho chất lượng không khí và cải thiện đáng kể đối với môi trường cũng như những vấn đề về khí hậu. Những nhà sản xuất đang phát triển công nghệ pin nhiên liệu để có thể chuyển trực tiếp 8% ánh sáng Mặt trời thành điện năng.  Hydrogen vẫn được xem là ứng cử viên số một cho giải pháp năng lượng tương lai và thường được các nhà nghiên cứu gán cho cái tên “người mang năng lượng của tương lai”. Phần lớn những kế hoạch cho việc sản xuất hydrogen từ nước bằng việc sử dụng trực tiếp năng lượng Mặt trời hoặc gián tiếp thông qua điện năng. Hydrogen có thể được dùng để thay thế khí thiên nhiên. Mặc dù, những chương trình khả thi của việc tách hydrogen từ nước ở quy mô lớn đã được thiết lập, nhưng khái niệm về một “nền kinh tế hydrogen” vẫn còn ở một tương lai xa.  ĐP (Tổng hợp)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiếp ảnh 3D      Những bức ảnh nổi là sự kết hợp của vật lý quang học chính xác với công nghệ số hóa do nhóm nghiên cứu của phòng thí nghiệm CoopLab3D (Viện Khoa học Vật liệu) phát triển. Việc nghiên cứu bắt đầu từ 1996, sau hơn 10 năm “mày mò”, đến đầu năm 2006, nhóm nghiên cứu đã có thể triển khai công nghệ và bắt đầu thương mại hóa sản phẩm.    TS Phạm Hồng Dương, người đứng đầu nhóm nhiên cứu cho biết, một bức ảnh nổi tích hợp 3D phải tích hợp từ 20-30 bức ảnh chụp đồng thời ở các góc chụp liên tiếp nhau để có được thông tin 3 chiều không gian của sự vật. Các bức ảnh được xử lý trên máy tính cấu hình cao thông qua một phần mềm chuyên dụng để cuối cùng cho ra một bức ảnh tích hợp đầu ra. Bức ảnh tích hợp này, sau đó, được dán lên một lớp mạng vi thấu kính mỏng dày 1-3mm. Lớp vi thấu kính có tác dụng gửi đến người quan sát những hình ảnh của sự vật ứng với những góc nhìn khác nhau. Ở bất cứ góc nhìn nào, mắt phải và mắt trái đều nhận được hai hình ảnh độc lập trong số 20 -30 bức ảnh. Nhờ hiệu ứng chập ảnh của mắt nên chúng ta quan sát được hình ảnh lập thể.  Kích thước bức ảnh 3D do nhóm nghiên cứu thực hiện có thể đạt 60x90cm, trong trường hợp đặc biệt, có thể lên tới khổ A0 (80x120cm). Nếu như sản phẩm ảnh 3D thương mại của Trung Quốc mới chỉ dừng ở ảnh cắt lớp với chiều sâu rời rạc, thì ảnh 3D do nhóm nghiên cứu phát triển đã có độ nét tương đương với sản phẩm của Nhật.                     Một Studio chụp ảnh 3D được mở tại 523 Kim Mã, Hà Nội. Sản phẩm của studio dành cho quảng cáo; đồ họa cho kiến trúc sư thể hiện mô hình kiến trúc trong không gian nổi; bưu thiếp 3D. Tuy nhiên giá thành của một bức ảnh nổi tích hợp 3D tương đối cao so với mức thu nhập của người Việt Nam. Chẳng hạn, một bức ảnh nổi tích hợp khổ A1 (60x90cm) có giá khoảng 3.000.000 đồng, khổ A5 (12x13cm) khoảng 200.000đồng. Công nghệ Studio chụp 3D cũng có thể chuyển giao cho các họa sĩ, kiến trúc sư có công việc cần tới công nghệ này. “Các họa sỹ có thể phát triển một trường phái tranh 3D để diễn tả một cách sống động với hàm lượng nội dung truyền tải cao và tăng cường tính sáng tạo. Đó cũng là một hướng mới đầy thú vị cho giới hội họa và nhiếp ảnh” – TS Dương cho biết.  Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ảnh nổi tích hợp 3D, nhóm nghiên cứu của CoopLab3D bắt đầu đi vào nghiên cứu và triển khai phim nổi 3D và mô phỏng 3D Stereo. Một hướng khác mà nhóm đang tập trung thực hiện là xây dựng cabin 3D thực tại ảo phục vụ cho việc học lái xe ô tô, tàu thuỷ… Viện phim Việt Nam và công ty CadPro đã mời phòng thí nghiệm CoopLab3D hợp tác chính trong lĩnh vực hình ảnh động 3D. Ngoài ra, nhóm đã triển khai nghiên cứu chế tạo máy tính 3D bao gồm phần mềm 3D, phần cứng 3D và màn hiển thị 3D. Nhưng điều khác biệt ở đây là các nhà khoa học đã sử dụng hai màn hình tinh thể lỏng LCD để tạo ra một màn hình 3D cho phép hiển thị những hình ảnh và phim nổi 3D đối với người xem. Những nguyên vật liệu này đều có sẵn ở Việt Nam với giá cả hợp lý.  Không giống với điện ảnh 3D dùng kính phân cực để quan sát, ảnh nổi tích hợp 3D không phải dùng kính. Một bức ảnh 3D chứa lượng thông tin nhiều gấp 10-20 lần một bức ảnh thông thường. Vì chụp đồng thời ở nhiều góc độ khác nhau và được mã hoá nên ảnh nổi 3D có khả năng biểu cảm tốt, thể hiện được chiều sâu, độ chìm nổi của sự vật và có thể quan sát được cả những hình ảnh ở góc khuất trong bức tranh. Một điều đặc biệt nữa, ngoài thể hiện không gian 3D, ảnh tích hợp 3D còn thể hiện được cả chiều thời gian của sự vật. Hơn nữa, độ nét, độ mịn, bố cục tương đương với ảnh kỹ thuật số thông thường và sự nhoè hình được triệt tiêu.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiệt động học lượng tử      Nhiệt động học là lĩnh vực cơ bản của vật lý nghiên cứu nhiệt năng, nhiệt độ và mối liên quan của chúng với năng lượng và công năng. Khi các nhà vật lý mở rộng các định luật nhiệt động học đến vùng lượng tử thì họ thiết lập được mối liên quan giữa NĂNG LƯỢNG, ENTROPY và LÝ THUYẾT THÔNG TIN. Đây thực chất là một cuộc cách mạng của nhiệt động học1.      Hình 1. Một bức tranh cổ điển về máy sử dụng hơi.  Lý thuyết thông tin2  Mục tiêu của khoa học thông tin là lượng hóa thông tin và biến thông tin thành một khái niệm khoa học chính xác. Khoa học thông tin được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học (nhất là trong sinh học vốn đặt ra nhiều thách thức) và kinh tế học. Khoa học thông tin nhờ tính khái quát lớn của nó là một khoa học đầy hấp dẫn đối với các nhà khoa học.  Cần phải lượng hóa (quantifier) khái niệm thông tin. Nhiều nhà khoa học còn cho rằng thông tin là một trong những đại lượng vật lý cơ bản nhất, ngang hàng với năng lượng và thời gian.  Trong quá trình phát triển của khoa học thông tin đã xuất hiện hai bài báo quan trọng năm 1948: Một lý thuyết toán học của truyền thông (communication), của Claude Shannon, một kỹ sư Mỹ; và Điều khiển học (cybernetics) – điều khiển và truyền thông trong máy móc và sinh vật của Norbert Wiener, một nhà toán học Mỹ.  Lịch sử nhiệt động học: máy sử dụng hơi  Năm 1824, kỹ sư người Pháp Sadi Carnot, 28 tuổi, viết cuốn: Reflections on the Motive Power of Fire. Trong cuốn sách này, ông đã tìm ra công thức mô tả hệ số hữu dụng trong một máy sử dụng hơi khi chuyển nhiệt và nhiệt năng. Nhiệt (một đại lượng hỗn độn – một dạng năng lượng khuếch tán) đã có thể trở thành công năng cơ học (một loại năng lượng có trật tự có khả năng đẩy một piston làm chuyển động một bánh xe). Carnot tìm thấy rằng hệ số hữu dụng của máy chỉ phụ thuộc vào hiệu nhiệt độ giữa nguồn nóng và bộ phận tiêu thụ nhiệt. Từ đó công sản ra là hệ quả của việc chuyển nhiệt từ một vật nóng sang vật lạnh hơn.  Carnot chết vì dịch tả 8 năm sau, không kịp nhìn thấy công thức hệ số hữu dụng của ông đã được phát triển thành nhiệt động học (NĐH) trong thế kỷ 19. Người ta thiết lập mối quan hệ giữa một loạt định luật nối liền nhiệt độ, nhiệt năng, công, năng lượng và entropy (một đại lượng mô tả sự truyền lan năng lượng từ một vật thể có năng lượng lớn đến một vật thể ít năng lượng hơn).  Các định luật NĐH không chỉ áp dụng cho các máy hơi mà được áp dụng cho mọi đối tượng: mặt trời, lỗ đen, các sinh vật và cho toàn thể vũ trụ. Theo Einstein, NĐH là một lý thuyết đơn giản và phổ quát của thế giới.  Một khối khí nằm ở một nhiệt độ cố định – như vậy không sản công được – song cũng có những hiệu nhiệt độ vi mô mà người ta có thể khai thác được.  Nhà vật lý thế kỷ 19 James Clerk Maxwell chỉ ra rằng ý niệm về sự khuếch tán nhiệt phụ thuộc vào trình độ tri thức của chúng ta.  Trong thời gian gần đây, một cách hiểu cách mạng về NĐH đã xuất hiện sử dụng lý thuyết thông tin lượng tử (quantum information theory) mô tả sự lan truyền thông tin trong các hệ lượng tử.  Tương tự như NĐH đã phát triển nhằm hoàn thiện máy sử dụng hơi thì giờ đây các nhà NĐH nghĩ đến các máy lượng tử. Họ muốn nới rộng NĐH vào thực tế lượng tử, và ở đây các khái niệm như nhiệt độ và công mang màu sắc mới và mất đi ý nghĩa thông thường.  Họ đã vén bức màn để lộ mối liên quan giữa năng lượng và thông tin.  NĐH lượng tử là một lĩnh vực mới3.  Với NĐH lượng tử, chúng ta đã đi vào một thế giới mới của NĐH – Sandu Popescu (Đại học Bristol) đã phát biểu như vậy.  Entropy – số đo của bất định  Năm 1867, trong bức thư gửi bạn là Scotsman Peter Wait, Maxwell đã mô tả mối liên quan giữa NĐH và thông tin, liên quan đến định luật 2 của NĐH – định luật entropy tăng mãi (Arthur Eddington cho rằng định luật này là một định luật tối thượng của thiên nhiên). Theo định luật này, năng lượng càng ngày càng trở nên hỗn độn và càng ngày càng trở nên kém hiệu dụng khi lan truyền từ một vật nóng đến một vật lạnh và hiệu nhiệt độ giữa chúng càng giảm đi. (Hãy nhớ lại phát hiện của Carnot về vấn đề muốn có công sản ra cần một vật nóng và một vật lạnh).  Ludwig Boltzmann đã chỉ rằng năng lượng khuếch tán, entropy tăng lên đó chỉ là một hệ quả của thống kê: quả vậy có nhiều cách để năng lượng khuếch tán hơn là tập trung lại một chỗ như thế các hạt tiến đến nhiều trạng thái ở đấy năng lượng bị chia sẻ liên hồi.  Maxwell đưa ra khái niệm con quỷ Maxwell có khả năng vi phạm định luật 2 của NĐH: vật này biết được tọa độ và vận tốc của từng phân tử trong một cái hộp, nó phân hộp thành hai phần và tìm cách chuyển các phân tử nhanh về một phần và các phân tử chậm vào phần kia. Như vậy con quỷ phân chất khí thành hai phần nóng và lạnh và như vậy làm giảm entropy và chất khí trước kia không sản được công bây giờ đã có khả năng sản công nếu xét đến lượng tử.  Con quỷ Maxwell  Con quỷ này là một sinh vật nhỏ tưởng tượng có khả năng tách những phân tử nhanh ra khỏi những phân tử chậm, như vậy từ một chất khí đồng nhất nó có thể tạo ra hai miền với nhiệt độ khác nhau (Hình 2).    Hình 2. Trên hình ta có một chất khí nóng ở A và một chất khí lạnh ở B. Nhớ rằng nhiệt độ tương ứng với vận tốc trung bình của các phân tử (chính xác hơn nhiệt độ tuyệt đối tỷ lệ trung bình với bình phương của vận tốc các phân tử). Năm 1867 Maxwell viết cho một người bạn: “thử tưởng tượng có một sinh vật rất nhỏ có khả năng biết được thông tin về vị trí và vận tốc của tất cả phân tử sinh vật này nhờ đóng và mở một các cửa để lọt các phân tử nhanh từ B sang A và các phân tử chậm từ A sang B. Như vậy A trở nên nóng hơn và B trở nên lạnh hơn mà không có công nào sản ra ở đây”. William Thomson gọi sinh vật này là “con quỷ Maxwell”. Thí nghiệm tưởng tượng này đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ giữa thông tin và entropy.   Con quỷ Maxwell là hình ảnh của một vấn đề lớn: đó là việc thu nhận thông tin liên quan đến sự giảm entropy.  Con quỷ Maxwell trong sinh học4&5  Theo A.Dauchin cần cầu cứu đến con quỷ Maxwell để hiểu vấn đề: nhờ đâu một tế bào thu nhận thông tin có khả năng phản kháng lại (contrer) những hiệu ứng già hóa và sau đó tự tái tạo? Vì rằng một tế bào có thể chứa những con quỷ phân tử có khả năng phân biệt các protein bình thường với những protein không còn hoạt động nữa và loại những tế bào sau (Hình 3).    Hình 3. Sự hoạt động của một sinh thể trông giống như sự hoạt động của con quỷ Maxwell. Một tế bào tạo sinh ra protein nhờ ADN, trong đó một số protein là sai hỏng và cần phải loại bỏ. Một con quỷ Maxwell phân tử vốn cũng được sinh ra bởi ADN tế bào đã thực hiện việc chọn lựa đó. Những thực thể phân tử đóng vai trò quỷ Maxwell cần được phát hiện.  Mối liên quan này giữa thông tin và entropy được nghiên cứu tiếp bởi nhà vật lý người Hung Leo Szilard năm 1929 và ông đã thử tính xem entropy tăng lên bao nhiêu khi con quỷ Maxwell thu được thông tin về các phân tử. Ông đã thu được biểu thức kBln2 (kB là hằng số Boltzmann).  Muốn xác định lượng thông tin chứa trong một thông điệp có một độ dài nào đó chứa nhiều chữ hay ký tự, Claude Shannon tìm cách lượng hóa tính bất định (tức sự thiếu thông tin so với bản gốc) của những thông điệp khả dĩ khác có cùng độ dài và cùng sử dụng các chữ hay ký tự như trong bản gốc. Giả sử số thông điệp khả dĩ như vậy bằng N và xác suất chọn thông điệp thứ i là pi với p1 + p2 + … + pN = 1. Shannon tìm ra hàm số H (p1,…, pN) mô tả sự bất định gắn với các khả năng. Shannon chứng minh rằng hàm H (gọi là entropy thông tin) bằng -K (p1logp1 + p2logp2 +… pN logpN), trong đó K là một hằng số. Nếu tất cả pi = 0 ngoại trừ một p nào đó thì sự bất định (incertitude) = 0, vì ta chỉ còn một bản gốc. Nếu tất cả p bằng nhau thì H = Klog(1/p) và ta có biểu thức của entropy. Khi thông điệp chỉ chứa hai số 0 hoặc 1 (bit) thì p1 = p2 = 1/2 và lúc này H = Klog2.  Công thức – K(p1logp1 + p2logp2 + … pN logpN) rất giống công thức entropy trong cơ học thống kê của Ludwig Boltzmann và Josiah Gibbs, chỉ cần lấy log và cho K là hằng số Boltzmann. Đại lượng pi chính là xác suất của trạng thái vi mô i của hệ. Sự đồng nhất entropy – thông tin của Shannon với entropy của Boltzmann – Gibbs được kiểm nghiệm bởi nhiều nhà khoa học.  Maxwell và nhiều người khác đã cho chúng ta thấy rằng một định luật của thiên nhiên có thể phụ thuộc và tri thức (sâu hay cạn) của chúng ta về tọa độ và vận tốc của các phân tử.  Như vậy định luật 2 của NĐH phụ thuộc vào thông tin chủ quan của chúng ta.  Một thế kỷ sau, nhà vật lý Mỹ Charles Bennett (cùng với Leo Szilard và Rolf Landauer) giải quyết nghịch lý trên bằng cách hình thức nối liền NĐH với ngành khoa học non trẻ lý thuyết thông tin. Theo Bennett, tri thức của con quỷ nằm trong bộ nhớ của nó và bộ nhớ cần phải xóa đi và như vậy đòi hỏi công. (Năm 1961, Landauer tính ra rằng cần 2,9 zeptojoules năng lượng để xóa một bit thông tin trên máy tính). Nói cách khác, nếu con quỷ bố trí lại cho chất khí có vùng lạnh và nóng và như thể làm giảm entropy thì nó lại phải tạo nhiều hơn entropy để bù trừ. Và tổng entropy vẫn tăng đúng theo định luật 2 của NĐH.  Các phát hiện đó chứng tỏ như Landauer chỉ ra rằng “thông tin là vật lý”, nếu chúng ta có càng nhiều thông tin thì chúng ta có thể lấy ra được nhiều công. Con quỷ Maxwell có thể sản công từ một chất khí có một nhiệt độ nhất định nhờ nó có nhiều thông tin hơn là một người sử dụng thông thường.  Trong những thập kỷ qua, Popescu cùng các đồng nghiệp chứng tỏ rằng năng lượng truyền từ một vật nóng bởi vì có những lộ trình thông tin giữa các hạt. Theo thuyết lượng tử, tính chất vật lý các hạt mang tính xác suất; thay vì có thể miêu tả bằng số 1 hay số không thì chúng phải được mô tả bằng xác suất là 1 hay xác suất là 0 cùng thời. Khi hạt tương tác, chúng liên đới lượng tử với nhau (entangled). Trạng thái hiện nay của vũ trụ là lưu lại mọi thông tin của quá khứ.  ***  Qua thời gian khi số hạt tăng lên và tương tác với nhau thông tin về các trạng thái của chúng lan truyền và được chia sẻ với ngày càng nhiều hạt. Popescu cho rằng mũi tên của sự tăng liên đới lượng tử là cơ sở của sự tăng entropy – mũi tên NĐH của thời gian. Một cốc cà phê nguội đi vì các phân tử cà phê va chạm với những phân tử của không khí, thông tin giam giữ trong năng lượng của chúng sẽ bị chia sẻ với không khí bên ngoài.  Việc hiểu entropy như là một số đo chủ quan cho phép vũ trụ toàn bộ tiến triển mà không mất thông tin.  Mười lăm năm sau, chúng ta nghĩ đến entropy như là một tính chất của một hệ NĐH (Renato Renner, Đại học ETH Zurich, Thụy Sĩ), chúng ta không nói rằng entropy là một tính chất của hệ mà phải là một tính chất xuất phát từ người quan sát hệ.  Renner nói rằng năng lượng có hai dạng nhiệt năng vô dụng và công hữu dụng, đó là ý niệm về các máy sử dụng hơi.  Các nhà công nghệ máy lượng tử sẽ nói gì?  Janet Anders, một nhà vật lý nghiên cứu thông tin lượng tử (Đại học Exter), đề cập đến vấn đề công nghệ đối với NĐH lượng tử. Anders và đồng nghiệp nghiên cứu các định luật chế ngự các dịch chuyển lượng tử (quantum transitions) trong các máy lượng tử và các tủ lạnh lượng tử.  Kết luận  Việc lượng tử hóa nhiệt động học là một vấn đề mới mẻ đầy hấp dẫn. NĐH lượng tử đã cho ta thấy thông tin là một đại lượng vật lý cơ bản quan trọng như năng lượng và entropy và liên quan đến hai đại lượng đó.  NĐH lượng tử sẽ mở nhiều triển vọng cho công nghệ chế tạo những máy lượng tử.  ——————-  Tài liệu tham khảo  1 Natalie Wolchover,The Quantum Thermodynamics Revolution  https://www.quantamagazine.org/quantum-thermodynamics-revolution/  2 Jérome Segal,La théorie de l’information existe-t-elle? Pour la Science số tháng 2/2013.  3 V. Vedral, Decoding reality – The Universe as quantum Information, Oxford University Press, 2010.  4 P. M. Binder et A. danchin, Life’s demons: information and orderin biology, EMBO Reports, vol. 12 (6), pp. 495-499, 2011.  5 H. Yockey, Information Theory and Molecular biology, Cambridge University Press, 1992.       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Nhiều câu hỏi về Sáng kiến AI của Mỹ      Ngày 11/2, Tổng thống Donald Trump đã ký sắc lệnh điều hành khởi động Sáng kiến AI của Mỹ và chỉ đạo các cơ quan liên bang tập trung vào lĩnh vực công nghệ.      Tuy chưa đưa ra nhiều chi tiết về Sáng kiến, nhưng chính quyền Mỹ cho rằng sẽ chỉ định những mốc thời gian cụ thể để buộc các cơ quan liên bang phải tạo ra các “sản phẩm” có thể chuyển giao được và các chuyên gia sẽ tiết lộ thêm thông tin trong vòng 6 tháng tới.  Tính đến nay đã có ít nhất 18 quốc gia công bố chiến lược AI quốc gia. Theo lời một quan chức cấp cao của Nhà Trắng qua điện đàm với các phóng viên, sáng kiến của Mỹ sẽ có năm “trụ cột” quan trọng, bao gồm:  1) R&D. Chính quyền sẽ yêu cầu các cơ quan “ưu tiên đầu tư vào AI” trong việc chi tiêu ngân sách, nhưng chưa đưa ra chi tiết số tiền Nhà Trắng yêu cầu cho sáng kiến này (sau cuối Quốc hội sẽ xác định mức chi tiêu.) Sáng kiến cũng kêu gọi các cơ quan báo cáo về cách thức sử dụng tiền cho R&D về AI để có được một cái nhìn tổng quan về đầu tư của chính phủ vào AI.  2) Cơ sở hạ tầng. Các cơ quan được kỳ vọng sẽ giúp các nhà nghiên cứu truy cập các dữ liệu liên bang, các thuật toán và quá trình xử lý máy tính.  3) Quản trị. Văn phòng chính sách KH&CN của Nhà Trắng và một số nhóm khác sẽ cùng nhau soạn thảo các hướng dẫn chung về quản lý AI để đảm bảo việc sử dụng AI an toàn và có đạo đức.  Tuy không cho biết những vấn đề cụ thể nào sẽ được nhắc đến trong dự thảo, nhưng vị quan chức cấp cao của Nhà Trắng lưu ý, chúng sẽ liên quan đến các chuyên gia từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, Bộ Quốc phòng và một số cơ quan khác. Và một trong những mối quan tâm là bảo vệ sự riêng tư dữ liệu.  4) Nguồn nhân lực. Ủy ban cố vấn về AI của Nhà Trắng và hội đồng về đào tạo việc làm sẽ tìm cách để duy trì các chương trình giáo dục cho người lao động. Ngoài ra, chính phủ yêu cầu các cơ quan thiết lập những chương trình học bổng, lương bổng và đào tạo về khoa học máy tính.  5) Tham gia hợp tác quốc tế. Chính quyền hy vọng sẽ thể hiện được sự cân bằng trong hợp tác với các quốc gia khác về AI nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ hoặc nhượng lại bất kỳ lợi thế công nghệ tiên tiến nào. Vị phát ngôn viên này lảng tránh những câu hỏi về việc liệu những nỗ lực tham gia quốc tế có giải quyết những thách thức của Trung Quốc đối với lợi ích của Mỹ, và cũng không đề cập đến việc liệu sáng kiến AI của Mỹ có đề cập đến vấn đề nhập cư và thị thực cho các nhà khoa học, kỹ sư và sinh viên hay không.  Sáng kiến này tiếp nối một số bước đi chính quyền Trump đã thực hiện đối với AI. Trong tháng 5/2018, Mỹ đã tổ chức một hội nghị cấp cao về vai trò của AI trong công nghiệp. Tháng 9/2018, Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) tuyên bố cam kết tài trợ 2 tỷ USD cho nghiên cứu về AI (con số này đã bao gồm cả kinh phí đầu tư cho một số dự án đang tiến hành). Cũng trong tháng đó, Nhà Trắng kêu gọi công chúng đóng góp ý kiến để hoàn thiện kế hoạch chiến lược quốc gia về R&D trong ngành AI đã có.  Các phản ứng bước đầu về sáng kiến này của mọi người khá đa chiều. Kate Crawford, đồng giám đốc của Viện nghiên cứu AI Now thuộc Đại học New York cho biết: “Sắc lệnh mới nhất này của Mỹ là một bước đi đúng hướng nhấn mạnh AI sẽ là ưu tiên chính cho hoạch định chính sách của quốc gia”. Tuy nhiên, Crawford lo ngại về việc nó tập trung vào ngành công nghiệp và rõ ràng thiếu ý kiến đầu vào từ các đại diện dân sự và giới học thuật.  Bà cũng nói rằng việc lảnh tránh khi đề cập đến quyền riêng tư và tự do dân sự lần này không làm xua tan nỗi lo về động thái rắc rối trước đây của chính truyền Trump về vấn đề này.  Ngô Hà dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2019/02/trump-launch-artificial-intelligence-initiative-many-details-lacking       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều cây hơn không phải lúc nào cũng làm Trái đất mát hơn      Nghiên cứu mới của GS. Christopher A.Williams, nhà khoa học môi trường ở trường sau đại học về địa lý, ĐH Clark (Hoa Kỳ) phát hiện ra nạn phá rừng ở Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu như mọi người thường nghĩ; trái lại, ở một số nơi, nó còn giúp Trái đất mát hơn. GS. Williams và cộng sự đã xuất bản bài báo “Climate Impacts of U.S. Forest Loss Span Net Warming to Net Cooling” trên tạp chí Science Advances vào ngày 12/2 vừa qua. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với các nỗ lực về quản lý và chính sách liên quan đến rừng để giảm thiểu biến đổi khí hậu.      Sự chuyển đổi diện tích rừng từ năm 1986 đến năm 2000. Nguồn: Christopher A. Williams  Rừng hấp thụ CO2 trong không khí, lưu trữ trong gỗ và đất, làm chậm sự tích tụ khí nhà kính trong khí quyển. Tuy nhiên, đây không phải là tác động duy nhất của rừng với khí hậu. GS. Williams cho biết, một số khu vực rừng tối hơn khác phần khác, khiến chúng hấp thụ nhiều ánh sáng Mặt trời hơn và giữ nhiệt, một quá trình được gọi là “hiệu ứng albedo”. “Chúng tôi nhận thấy ở một số vùng ở Hoa Kỳ như vùng núi phía Tây, nhiều rừng hơn thực sự khiến Trái đất ấm hơn khi xem xét toàn bộ tác động khí hậu, bao gồm cả hiệu ứng carbon và albedo”, GS. Williams cho biết.    Nghiên cứu do chương trình Hệ thống Giám sát Carbon của NASA tài trợ với hai khoản tài trợ. Nhóm nghiên cứu của Williams, gồm TS. Huan Gu, nhà khoa học dữ liệu ở Công ty The Climate Corporation và TS. Tong Jiao, đã phát hiện ra trên diện tích bằng ¼ diện tích Hoa Kỳ, mất rừng gây ra tình trạng giảm nhiệt liên tục vì hiệu ứng albedo lớn hơn hiệu ứng carbon. Họ cũng phát hiện ra, mất rừng ở phía Đông sông Mississippi và ở các bang ven biển Thái Bình Dương gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu, trong khi mất rừng ở vùng núi phía Tây giáp Canada và phía Tây dãy núi Rocky có xu hướng dẫn đến giảm nhiệt.    Trước đây các nhà khoa học đã biết, việc tăng cường độ che phủ rừng không thể coi là giải pháp để làm mát hành tinh hoặc giảm thiểu hiện tượng ấm lên toàn cầu. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng được đánh giá đúng một cách rộng rãi. “Nếu chúng ta không xem xét cả hiệu ứng carbon và albedo, các sáng kiến ​​trồng cây quy mô lớn, chẳng hạn như Sáng kiến ​​2 tỷ cây của Canada và chiến dịch Trồng một tỷ cây của The Nature Conservancy, có thể dẫn đến kết cục đặt cây ở những vị trí phản tác dụng đối với việc làm mát hệ thống khí hậu”, GS. Williams cho biết.    “Vấn đề cốt yếu là đặt đúng cây vào đúng vị trí”, GS. Williams nhận xét. “và các nghiên cứu như của chúng tôi có thể giúp xác định nơi có khả năng làm mát tốt nhất”.    Hằng năm, trên 48 tiểu bang vùng hạ của Hoa Kỳ, khoảng một triệu mẫu Anh rừng đang bị chuyển đổi thành các khu vực không có rừng; nguyên nhân chủ yếu là do sự mở rộng và phát triển của vùng ngoại ô. Nhóm nghiên cứu của GS. Williams phát hiện ra tác động khí hậu thực của 15 năm mất rừng tương đương với khoảng 17% lượng phát thải từ nhiên liệu hóa thạch trong một năm của Hoa Kỳ.    Họ đã dùng vệ tinh viễn thám tiên tiến để mang lại góc nhìn chi tiết và xem xét vấn đề, vốn trước đây chủ yếu bằng các mô hình máy tính. Họ đã xác định chính xác các vị trí mất rừng và nhận dạng nơi đó sẽ trở thành gì trong tương lai – đô thị, nơi canh tác nông nghiệp, đồng cỏ, cây bụi, hoặc một cái gì đó khác. Sau đó, họ định lượng lượng carbon sinh khối rừng thải ra khí quyển và lượng ánh sáng Mặt trời bổ sung được phản xạ ra ngoài không gian. Bằng cách so sánh hai tác động này, họ đo lường tác động thực của việc phá rừng đối với hệ thống khí hậu.    Các bộ dữ liệu và phương pháp mới được sử dụng trong nghiên cứu của GS. Williams cho thấy các công cụ có sẵn để tính đến hiệu ứng albedo. Nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ tạo ra các bộ dữ liệu có thể ứng dụng thực tế để chia sẻ với các nhà quản lý đất đai và các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới trong vòng một hoặc hai năm tới, góp phần đảm bảo những nỗ lực trồng cây của họ tập trung vào đúng nơi và mang lại hiệu quả như dự kiến.□     Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-02-trees-cooler-planet-geographer.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều loại chuột là của quý      Nói đến chuột ta đều thấy sợ hãi. Chuột gây hại lớn cho mùa màng, phá hủy quần áo, sách vở, làm ô nhiễm thức ăn và nhất là làm truyền lan những mầm bệnh nguy hiểm như bọ chét mang vi khuẩn gây bệnh dịch hạch. Nhưng lại có những loài chuột giúp ích rất lớn cho y học. Đó là các động vật thực nghiệm lý tưởng để tiến hành các thực nghiệm có liên quan đến mạng sống của con người.    Các loài chuột thí nghiệm  Phổ biến la loài chuột trắng dùng phổ biến trong các phòng thí nghiệm y học và sinh học được tạo ra từ loài chuột nâu có tên khoa học là Rattus norvegicus (Berkenhout, 1769) thuộc phân họ Murinae, họ Muridae.. Loài chuột này được tạo ra tại Viện Wistar vào năm 1906 bởi nhóm các nhà khoa học Henry Donaldson, Milton J. Greenman và Helen Dean King. Vì thế trong tiếng Anh loài này còn được gọi bằng cái tên Wistar rat. Cơ thể trưởng thành của loài này nặng 250-300g (con cái) và 450-520g (con đực). Trong điều kiện nuôi dưỡngloài này có thể sống 2,5-3,5 năm. Loài chuột thí nghiệm phổ biến thứ hai là Chuột lang (Guinea pig), tên khoa học là Cavia porcellus (Erxleben, 1777) thuộc phân họ Caviinae, họ Caviidae. Loài chuột thí nghiệm thứ ba chính là C nhà – Mus musculus Linnaeus, 1758.  Thành phần máu chuột gần giống như máu người, trung bình chuột cống trắng có trên 1 triệu hồng cầu và 9.700 bạch cầu, do đặc tính này, một số loài chuột  được dùng làm đối tượng thực nghiệm trong y học. Đó là các loài chuột lang, chuột cống trắng và chuột nhắt trắng, chuột nâu. Năm 1895, tại Đại học Clark (Hoa Kỳ) người ta sử dụng chuột làm mô hình nghiên cứu sinh lý học. Qua nhiều năm sau chuột thực nghiệm đã được chọn lọc và nuôi dưỡng theo những quy trình nghiêm ngặt . Mục tiêu chính là qua chuột thực nghiệm để hiểu rõ hơn về bản chất của di truyền, của bệnh tật  cũng như về hiệu quả hoặc các tác động xấu của dược phẩm đối với cơ thể sinh vật.Chuột thực nghiệm giúp ích rất nhiều cho các nghiên cứu tâm lý học và các quá trình tư duy  Trí nhớ của chuột thật đáng ngạc nhiên. Chúng biết rút kinh nghiệm và hết sức khôn khéo. Tôi đã có dịp đến thăm phòng thí nghiệm sinh lý học của GS. Nguyễn Văn Chuyển ở Tokyo (Nhật Bản). Ông đã cho tôi xem các thí nghiệm thử dùng các thức ăn đặc biệt hoặc dược phẩm để làm tăng trí nhớ của chuột.                     Loài Chuột nâu (brown rat, common rat, Norway rat, Norwaegian, wharf) có tên khoa học là Rattus norvegicus là loài phổ biến rất rộng rãi trên thế giới. Năm 1769 John Berkenhout đăt ra cái tên khoa học này vì tưởng rằng chúng được xâm nhập vào Anh từ Na Uy (thật ra khi đó loài chuột này không có ở Na Uy mà nhập vào Anh từ Đan Mạch). Người ta cho rằng nguồn gốc của chúng từ miền Bắc Trung Quốc . Từ loài này người ta chọn ra các chủng Chuột trắng thích hợp để nuôi làm động vật thực nghiệm mô hình phục vụ nghiên cứu y học và sinh học. Khi nghiên cứu về di truyền thì chuột Rattus (rats) tốt hơn là Mus (mouse, số nhiều là mice).  Chuột nhắt (Mice) cũng rất phổ biến trong các phòng thí nghiệm y học và sinh lý học, tâm lý học vì chúng là loài thú có tính đồng đẳng cao với người. Genome của mice cũng đã được giải trình tự đầy đủ và trên nhiều mức độ rất giống với người. Chúng cũng là động vật thực nghiệm mô hình phổ biến như Rats. Chuột nhắt nhỏ bé, nuôi ít tốn kém lại sinh sản nhanh. Nhièu thế hệ chuột nhắt có thể theo dõi trong một thời gian ngắn. Đáng tiếc là nhiều loài chuột nhắt hay bị biến đổi  Các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Pháp đã nhân bản (cloning) thành công phiên bản của một số chuột cống trắng (rat),  cả đực và cái. Đây là loài động vật máu nóng được sinh sản vô tính sau cừu, chuột nhắt (mouse), gia súc, dê, lợn, mèo, la và ngựa.Thành công này sẽ giúp ích cho việc nghiên cứu bệnh tật ở người, bằng cách tạo ra các con vật mang bệnh giống người. Chuột được sử dụng để nghiên cứu bệnh tăng huyết áp, tiểu đường và một số loại rối loạn thần kinh. Thành công này mở đường choi việc thay thế các gen cần thiết để tạo ra các mô hình tương ứng về bệnh tật ở người và sau đó tìm cách điều trị các bệnh này.  Chuột nhắt thuần chủng Swiss cũng thường được dùng để gây viêm rồi thử tác dụng chống viêm của một số loại enzim. Việc thử nghiệm các dược phẩm khác trên chuột thực nghiệm cùng dựa trên các phương pháp tương tự. Ví dụ việc thử nghiệm thuốc chống sốt rét sản xuất trong nước là Dihydroartemisinin-piperaquin trên chuột được nhiễm ký sinh trùng sốt rét đã cho hiệu quả rất tốt.Thực nghiệm trên chuột cống trắng và chuột nhắt đã chứng minh được Đan Sâm có tác dụng làm giãn động mạch vành, khiến lưu lượng máu của động mạch vành tăng rõ, cải thiện chức năng tim, hạn chế nhồi máu cơ tim, chứng minh được thuốc  có tác dụng tăng hoặc kéo dài tỷ lệ sống trong điều kiện thiếu oxy.Việc thiết lập mẫu nghiên cứu sinh lý tim dưới tác dụng của Estrogen cũng đã được thực hiện thành công trên chuột nhắt (mice). Việc thử nghiệm hiệu lực và tính an toàn các loại vắc xin không thể thiếu được quá trình tiến hành trên chuột thực nghiệm và các động vật thực nghiệm khác…    Tiên phong trong trị bệnh  Một nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: một lô chuột nhắt trắng bị chiếu xạ với liều 900R. Thông thường, lô chuột này sẽ chết sau 6 ngày; nhưng nếu được tiêm tế bào gốc, chuột có thể sống tới một tháng. Đó là kết quả thí nghiệm mới nhất của nhóm nghiên cứu do GS.TS Nguyễn Mộng Hùng  đứng đầu. “Trước đó chúng tôi đã phân lập, nhân nuôi và duy trì tế bào gốc phôi chuột được 4 tuần. Từ một vài chục tế bào gốc ban đầu, chúng tôi đã nhân lên được hàng vạn tế bào”- GS Hùng cho biết. Trong thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu đã phân lập và nhân nuôi đạt đến mật độ 106 tế bào /ml, sau đó họ tiêm dung dịch có tế bào gốc này vào ven đuôi chuột. Tia R phá hủy các chức năng sinh học, đặc biệt các tế bào máu và mô tạo máu. Nhưng tế bào gốc được tiêm vào chuột đã có tác dụng phục hồi mô máu”- GS Hùng giải thích. “Khi tủy xương bị tổn thương thì lách tham gia vào quá trình tạo máu, thay thế một phần chức năng của tủy xương. Với lô chuột được tiêm tế bào gốc, chúng tôi đã thấy sự thay đổi cấu trúc hiển vi của mô lách – các tế bào gốc phôi đã thực sự biệt hóa thành các tế bào gốc tạo máu. Tế bào gốc là những tế bào cơ sở cho tất cả các cơ quan, mô và tế bào trong cơ thể. Chúng giống như những con chíp vi tính còn trắng, có thể được đặt chương trình để thực hiện một số nhiệm vụ chuyên hóa nào đó. Trong điều kiện thích hợp, tế bào gốc bắt đầu phát triển thành các mô và cơ quan chuyên hóa. Đặc tính này khiến tế bào gốc trở thành lĩnh vực đầy hứa hẹn trong việc cung cấp các tế bào cho điều trị bệnh suy giảm chức năng, như alzheimer, ung thư, parkinson, tiểu đường typ I, các bệnh về tim mạch…”  Chuột nhắt thuần chủng Swiss cũng thường được dùng để gây viêm rồi thử tác dụng chống viêm của một số loại enzim. Việc thử nghiệm các dược phẩm khác trên chuột thực nghiệm cùng dựa trên các phương pháp tương tự. Ví dụ việc thử nghiệm thuốc chống sốt rét sản xuất trong nước là Dihydroartemisinin-piperaquin trên chuột được nhiễm ký sinh trùng sốt rét đã cho hiệu quả rất tốt. Thực nghiệm trên chuột cống trắng và chuột nhắt đã chứng minh được Đan Sâm có tác dụng làm giãn động mạch vành, khiến lưu lượng máu của động mạch vành tăng rõ, cải thiện chức năng tim, hạn chế nhồi máu cơ tim, chứng minh được thuốc  có tác dụng tăng hoặc kéo dài tỷ lệ sống trong điều kiện thiếu oxy. Chuột được biến đổi gen nhờ kỹ thuật di truyền được gọi là Knockout mouse. Vì chuột thực nghiệm có nhiều đặc điểm sinh lý học gần gũi với cơ thể người cho nên đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu phục vụ y học.  Con chuột knockout đầu tiên đã đươc tạo ra bởi Mario R. Capecchi, Martin Evans và Oliver Smithies trong khoảng thời gian 1987-1989. Công trình này vừa được nhận giải thưởng Nobel  năm 2007. Thành tựu về công nghệ này được đăng ký  trong Lexicon Pharmacenticalds và cũng được nhận bằng phát minh tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác.Rất nhiều chuột knockout đã được sử dụng có hiệu quả  để làm mô hình nghiên cứu các bệnh ung thư, tiểu đường, liệt rung (Parkinson), béo phì, viêm khớp, u uất,…. Các con chuột mang gen tái tổ hợp này còn là hết sức cần thiết để đánh giá các dược phẩm và các liệu pháp điều trị . Nhiều chủng chuột knockout rất nổi tiếng, chẳng hạn như chuột p53 dùng để nghiên cứu ức chế ung thư, chuột Methuselah dùng để nghiên cứu việc kéo dài tuổi thọ, chuột Frantic dùng để nghiên cứu một số bệnh tâm thần…  Nguyễn Lân Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều thách thức cho tương lai điện hạt nhân      Trong một báo cáo mới đây của Tổ chức Năng lượng nguyên tử thế giới (WNA), với những biến chuyển mạnh mẽ về công nghệ, ngành công nghiệp nguyên tử hiện đang phá vỡ những kỷ lục đã tồn tại một phần tư thế kỷ qua. Tuy nhiên, tương lai phát triển của điện nguyên tử cũng gặp nhiều thách thức.    Mục tiêu của ngành sản xuất điện hạt nhân là cung cấp 25% tổng lượng điện năng thế giới vào năm 2050  Kể từ năm 1990 đến nay, chưa bao giờ thế giới lại chứng kiến cảnh nhiều lò phản ứng được xây dựng như thời gian gần đây, riêng năm 2015 đã có 10 lò phản ứng hạt nhân mới đã được vận hành. Theo báo cáo của WNA, trên thế giới, hiện có 66 lò phản ứng đang được xây dựng, trong đó 24 lò của Trung Quốc, và lên kế hoạch chuẩn bị cho sự ra đời của 158 lò khác.  Báo cáo của WNA đã đưa ra một triển vọng tươi sáng cho ngành công nghiệp này, góp phần làm dấy lên hy vọng về khả năng đáp ứng nhu cầu điện năng toàn cầu.  Hiện nay, ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân mới chỉ cung cấp 10% điện năng thế giới và đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ tăng lên 25% – điều đó đòi hỏi việc xây dựng một chương trình sản xuất điện nguyên tử hết sức lớn. Kế hoạch này sẽ hướng đến việc từ nay đến năm 2020 cần vận hành 10 lò phản ứng mới mỗi năm, đến năm 2030 là 25 lò phản ứng mỗi năm và đến năm 2050 là hơn 30 lò phản ứng.  Nhiều cơ hội phát triển  Ngành công nghiệp điện hạt nhân đặt nhiều hy vọng vào việc các chính phủ thực hiện đúng cam kết cắt giảm 2 độ C khí thải nhà kính bởi để đạt được điều đó, cần giải pháp quan trọng từ điện hạt nhân và năng lượng tái tạo.  Trong báo cáo của WNA có viết, WNA hy vọng hệ thống điện năng toàn cầu trong tương lai sẽ phát  triển nhờ vào bước tiến của công nghệ trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, điện hạt nhân, qua đó hạn chế việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.  Mặc dù tràn trề hy vọng vào khả năng đáp ứng nhu cầu điện năng của điện hạt nhân nhưng WNA cũng thừa nhận, nền công nghiệp sản xuất điện hạt nhân “đang gặp thách thức”, đặc biệt ở Mỹ và châu Âu, do điện hạt nhân không thể cạnh tranh về giá cả với điện năng từ các nguồn khác.  Tình hình có vẻ sáng sủa hơn ở Trung Quốc khi có 8 lò phản ứng mới đã vận hành và kết nối lưới điện từ năm 2015, nhiều lò phản ứng khác cũng đang trong giai đoạn lên kế hoạch chuẩn bị xây dựng. Đây là một phần trong kế hoạch từng bước giảm lệ thuộc vào than đá và cải thiện chất lượng không khí của Trung Quốc.  Nga, nhà xuất khẩu điện hạt nhân hàng đầu thế giới, đang nỗ lực phổ biến công nghệ, trong đó bao gồm cả việc cung cấp nhiên liệu cho các lò phản ứng và thu hồi chất thải hạt nhân về Nga. Kế hoạch này không chỉ góp phần thắt chặt mối quan hệ hợp tác về năng lượng giữa các quốc gia đối tác với Nga về  mà còn có thể tác động đến những khía cạnh hợp tác khác. Vì vậy ngành công nghiệp sản xuất điện hạt nhân của Nga có những hợp đồng xây lò phản ứng mới ở Trung Quốc, Hungary, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ và có những khách hàng tiềm năng khác ở Jordan, Kazakhstan, Nigeria, Nam Phi… và nhiều quốc gia khác.  Trong báo cáo của WNA, Hàn Quốc và Ấn Độ được nhắc đến với những cam kết về phát triển điện hạt nhân trong năm 2015.   Các lò phản ứng khí cải tiến (AGR) của Anh đã được nâng cấp để tăng thời gian vận hành.   Tại châu Âu và Nam Mỹ, việc phát triển điện hạt nhân đang gặp nhiều thách thức. Ở châu Âu, dù đi đầu về thiết kế lò phản ứng kiểu mới nhưng hiện tại Pháp đang phải tạm dừng quá trình xây dựng lò phản ứng kiểu mới này vì nguyên nhân tăng vọt chi phí đầu tư. Còn Đức, một trong những quốc gia có nhiều lò phản ứng đang hoạt động nhất, thì gặp sự phản đối của phe đối lập chính phủ.  Những khó khăn  Cuộc bỏ phiếu rời EU của Anh được tiến hành sau khi WNA thực hiện nghiên cứu về tình hình phát triển điện hạt nhân thế giới, sẽ làm cho tình hình trở nên xấu hơn. Kế hoạch xây dựng 10 lò phản ứng mới của Anh, bao gồm 4 lò theo thiết kế của Pháp, giờ đây dường như ít có khả năng thực hiện.   Ở Bắc Mỹ, thành công của công nghệ tách dầu mỏ từ đá phiến cũng khiến cho điện hạt nhân khó cạnh tranh về giá cả với loại nhiên liệu này.  Tuy nhiên, báo cáo của WNA cũng nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực hơn của lĩnh vực điện hạt nhân là bên cạnh việc xây mới, việc gia tăng thời gian vận hành so với thiết kế ban đầu nhiều lò phản ứng cũng được tính đến. Trong nhiều trường hợp, kinh phí để nâng cấp lò phản ứng đang vận hành sẽ rẻ hơn nhiều so với xây mới nhưng trong một số trường hợp khác, dù được nâng cấp nhưng thời gian vận hành của nhiều lò phản ứng cũng không thể kéo dài quá lâu.  Báo cáo của WNA chỉ ra vòng đời của các lò phản ứng theo các thiết kế thông thường vào khoảng 60 năm, tuy nhiên có một biệt lệ với các lò phản ứng khí cải tiến (AGR, khí là chất tải nhiệt) ở Anh. EDF Energy, nhà cung cấp công nghệ AGR, vào tháng 1 vừa qua đã tuyên bố các lò phản ứng Heysham 1, Hartlepool đã được nâng cấp để kéo dài vòng đời thêm 5 năm còn với lò phản ứng Heysham 2 và Torness là 7 năm.  Thanh Nhàn tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều trở ngại cho các nhà khoa học nữ khi bắt đầu sự nghiệp      Một cuộc khảo sát ở Anh cho thấy, so với nam giới, phụ nữ đối mặt với nhiều trở ngại hơn khi bắt đầu xây dựng các nhóm nghiên cứu và phòng thí nghiệm như có xu hướng được trả lương thấp hơn, ít nhân viên hơn và không gian phòng thí nghiệm nhỏ hơn.      Được thực hiện trên 365 nhà nghiên cứu độc lập ở giai đoạn đầu sự nghiệp (Principal Investigators – PIs), những người bắt đầu xây dựng các phòng thí nghiệm ở Anh trong giai đoạn 2012-2018, cuộc khảo sát cho thấy nhiều người không được hỗ trợ cần thiết để tiến lên giai đoạn tiếp theo trong sự nghiệp nghiên cứu của mình. Hơn nữa, họ phải đối mặt với nhiều trở ngại hơn so với các nhà nghiên cứu nam ở vị trí tương tự, khiến họ lâm vào thế bất lợi ở các giai đoạn sau. Báo cáo này đã xuất bản tại BioRxiv vào ngày 10/3/2019.  Qua khảo sát, các nhà nghiên cứu độc lập được khảo sát thường nhận được kinh phí đầu tư phát triển sự nghiệp trong vòng ba đến năm năm hoặc một vị trí giảng dạy tại đại học để có thể nộp hồ sơ đề xuất tài trợ nghiên cứu. Hơn 80% người làm việc trong các ngành khoa học sự sống. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu độc lập nam thường dễ dàng nhận được kinh phí nghiên cứu hơn. Điều đó cho phép họ có điều kiện mở rộng nhân lực cho phòng thí nghiệm của mình, Sophie Acton, một nhà miễn dịch học ung thư tại trường đại học hoàng Hoàng gia London và đồng nghiệp cho biết như vậy trong báo cáo.  Trong khi đó, nhà nghiên cứu nữ thường có không gian phòng thí nghiệm chật hơn và giám sát ít nghiên cứu sinh, ít postdocs hơn so với nhà nghiên cứu nam. Phụ nữ cũng có xu hướng giành được ít tài trợ hơn khi bắt đầu xây dựng phòng thí nghiệm. Theo các tác giả, những yếu tố này làm cho họ “có nhiều khả năng trì trệ hơn” so với nam giới. Sau 5 năm, phụ nữ nói chung vẫn nhận được ít tiền tài trợ hơn và có ít nhân viên phòng thí nghiệm hơn.  Mức lương hàng năm của nhà nghiên cứu nữ là từ 3.000 bảng Anh (4.000 USD) và thấp hơn 5.000 bảng so với nam giới cùng cấp, trong nhiều trường hợp vì họ bắt đầu sự nghiệp ở mức lương thấp hơn.  Việc thiếu điều kiện trong giai đoạn đầu và mất đà tài trợ sẽ làm cho phòng thí nghiệm càng trì trệ hơn khi cần gọi tài trợ về sau, do không cạnh tranh được với các phòng phí nghiệm đã phát triển mạnh do có điều kiện từ đầu. Acton nói rằng việc có đà trong giành tài trợ là rất quan trọng bởi vì khi các khoản tài trợ ban đầu đã hết, các phòng thí nghiệm phải cạnh tranh với nhau cho vòng tài trợ tiếp theo. “Nếu phòng thí nghiệm của bạn chỉ có 2 người làm việc trong 5 năm, bạn không thể cạnh tranh tài trợ với một phòng thí nghiệm đã có 8 đến 10 người và đã xuất bản ba bài báo trong cùng 5 năm đó. Chỉ có vài phần trăm các phòng thí nghiệm hàng đầu có thể đi được đến cuối”, Acton nói thêm.  Các tác giả đề xuất một số biện pháp để tạo ra sân chơi cân bằng. Chẳng hạn như các khoa chỉ định cố vấn cho tất cả các nhà nghiên cứu độc lập, và các tổ chức và nhà tài trợ có thể áp dụng mức lương khởi đầu như nhau với các nhà nghiên cứu có các khoản tài trợ nghiên cứu bằng nhau.  Các nhà tài trợ cũng có thể đề xuất các nghiên cứu sinh cho các nhà nghiên cứu độc lập dưới dạng học bổng cho nghiên cứu sinh, thay vì tài trợ cho nghiên cứu sinh thông qua các chương trình đào tạo đại học, cách làm có xu hướng mang lại lợi ích cho các nhóm đã có chỗ đứng vững chắc. Và nếu các viện nghiên cứu không thực hiện cam kết ban đầu với nhà nghiên cứu độc lập về cơ sở vật chất và không gian phòng thí nghiệm, các nhà tài trợ có thể hoãn tài trợ.”Các nhà nghiên cứu độc lập mới vào nghề cần thời gian và sự hỗ trợ để họ cũng như các nhân viên và sinh viên của họ có thể phát triển”, Katie Wheat, người đứng đầu bộ phận tổ chức giáo dục đại học tại Vitae, một công ty giúp phát triển sự nghiệp nghiên cứu ở Cambridge, Vương quốc Anh.  Một số cơ quan tài trợ như các tổ chức từ thiện nghiên cứu y sinh Wellcome Trust, Cancer Research UK và cơ quan phụ trách khoa học Anh đã lưu ý các phát hiện từ điều tra này và mời các tác giả đến thảo luận về báo cáo.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00933-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều tỷ năm sau…      Cách đây chừng 13,7 tỷ năm đã xảy ra vụ nổ lớn (Bigbang) và từ đó vũ trụ hình thành, tiến hóa và có hiện trạng như bây giờ.  Loài người sẽ đi đến đâu?  Số phận của trái đất, mặt trời, thái dương hệ sẽ ra sao?  Vũ trụ sẽ tiến hóa như thế nào trong tương lai?    Các lục địa sẽ trôi dạt và va chạm nhau. Các dãy núi mới sẽ hình thành, một số khác trên quá trình phong hóa. Các đại dương sẽ mở rộng, ở những nơi khác các biển lại khép lại dần. Nhiều núi lửa bừng giấc, nhiều núi lửa mới đột sinh. Những loài động vật và thực vật trên quá trình tiến hóa, một số có nguy cơ tuyệt chủng, một số tiếp tục tồn tại. Khí hậu thay đổi. Bề mặt trái đất biến hình đổi dạng. Đó là những điều sẽ xảy ra cho trái đất chúng ta… trong nhiều chục triệu năm tới.  Thế còn loài người?  Những điều kể trên có thể con người không màng nghĩ đến. Vì trên kích cỡ thời gian hàng nhiều triệu năm loài người có nhiều cơ hội để biến mất khỏi cuộc đời. Những tai biến khí hậu, những cuộc chiến tranh hủy diệt bằng hạt nhân, tình trạng ô nhiễm trầm trọng môi trường, sự xuất hiện những virus sát thủ, những vụ va chạm kinh hoàng với các tiểu hành tinh, thậm chí sự xâm chiếm trái đất bởi những người ngoài hành tinh, hoặc những cuộc nổi loạn của robot [1](xem hình 1).          Hình 1 . Bốn kỵ sĩ mang đến ngày tận thế (1887). Tranh của họa sĩ người Nga Mikhailovich Vasnetsov, Bảo tàng tôn giáo & vô thần giáo , Saint Peterburg.          Theo sách Khải thị (Thánh kinh) bốn kỵ sĩ đem đến tai họa cho ngày tận thế, kỵ sĩ đỏ mang đến chiến tranh, kỵ sĩ trắng – dịch bệnh, kỵ sĩ đen –  đói khát, kỵ sĩ xanh – chết chóc.  Con người khó lòng đoán trước được nguyên nhân nào sẽ là nguyên nhân chủ đạo gây nên sự biến mất của mình. Những nguyên nhân kể trên đều là giả định song đều có thể dẫn đến kịch bản tận thế.   Homo sapiens (loài người thông tuệ) đã xuất hiện cách đây khoảng 100.000 năm, nghĩa là 3 tỷ rưỡi năm sau sự xuất hiện của dạng sống nguyên sơ, 1 tỷ năm sau các sinh vật đa bào, 220 triệu năm sau các loài khủng long và 65 triệu năm sau nạn tuyệt chủng của chúng. Chưa ai biết được loài người sẽ biến mất lúc nào và vì sao.  Không loại trừ loài người sẽ kịp di trú đến một hành tinh khác trước khi những nguyên nhân giả định trên có thể hủy diệt họ.  Tuy chúng ta không biết được tương lai cụ thể của con người, song chúng ta có thể biết chắc chắn rằng sự sống sẽ tắt hẳn trên trái đất. Nguyên nhân chính dẫn đến chung cuộc của quá trình sinh học đó là mặt trời vốn hiện nay đang cung cấp mọi năng lượng cho cuộc sống trên trái đất [2].    Tìm mối đe dọa trong vũ trụ và trong một tương lai xa  Hãy nhìn xa đến một tương lai không phải khoảng nhiều nghìn năm mà vài triệu năm, thậm chí vài tỷ năm. Trong tương lai đó nhiều điều sẽ xảy với trái đất. Trong khi trái đất chưa tìm được một thiên thể giống mình thì mặt trời, vốn là nguồn cung cấp năng lượng cho sự sống trên trái đất đã có hàng nghìn sao tương tự. Sự tiến hóa của những sao này đã được các nhà thiên văn nghiên cứu trong nhiều năm, do đó tiên đoán số phận của mặt trời không phải là chuyện không làm được. Mặt trời sẽ tắt trong vòng 7 tỷ năm. Và trước đó bức xạ của nó càng ngày càng trở nên mạnh và sẽ gây nên cái chết dần dần của mọi sinh vật trên trái đất. Mặt trời đã gây nên sự sống cũng sẽ tiêu diệt sự sống.  James Kasting (Đại học Michigan) và Ken Caldeira (Phòng thí nghiệm Lawrence Livermore) đã xây dựng một mô hình tiến hóa dài hạn của trái đất.  Một câu hỏi mà trước đây chừng 20 năm người ta ít nghĩ đến : có thật sự các định luật khoa học mang tính quyết định luận (deterministic)? Nhiều nhà thiên văn đã phát hiện hệ thái dương tưởng chừng như là một hệ thống tuân theo những chuyển động chính xác, thật ra cũng chịu những quy luật của hỗn độn (chaos). Như thế vị trí và quỹ đạo của các hành tinh cũng không thể tiên đoán cho một thời gian dài [3].  Sự suy giảm kịch tính của CO2 trong khí quyển  Theo ước tính của các nhà thiên văn, tính hỗn độn sẽ biểu hiện sau 1,5 tỷ năm, vậy là sau khi sự sống trên trái đất đã biến mất. Trong vòng thời gian trước 1,5 tỷ năm chúng ta có thể xem như có thể tính trước được quỹ đạo của trái đất .  Mô hình của James Kasting và Ken Caldeira chỉ dựa trên những thông số đã biết: sự tiến hóa của mặt trời, chu trình dài hạn của cacbon và những điều kiện lý-hóa cần thiết cho sự sống như hiện tại.  Sự tiến hóa của mặt trời sẽ quyết định sự tiến hóa của trái đất. Lúc hydrogen chuyển hóa dần thành helium trong tâm mặt trời, phản ứng nhiệt hạch càng xảy ra dồn dập, tâm mặt trời sẽ có mật độ và nhiệt độ ngày càng lớn, độ sáng tăng 1%/ triệu năm. Chính sự tăng độ sáng này (đã xảy ra nhiều tỷ năm nay) sẽ quyết định sự sống. Trong vòng 400 triệu năm với gia tăng 5% của độ sáng mặt trời, nhiệt độ trên trái đất sẽ đạt mức trung bình 20o so với 15o hiện nay. Sở dĩ nhiệt độ trái đất tăng chậm là vì sự tăng độ sáng của mặt trời đã làm giảm CO2 do đó làm suy yếu hiệu ứng lồng kính. Như vậy có một hiện tượng liên hệ ngược: bức xạ của mặt trời tăng nhưng phần nhiệt dội ngược lại trái đất giảm đi vì CO2 giảm cho nên nhiệt độ chỉ tăng nhẹ. Sự giảm CO2 có ý nghĩa sống còn đối với các hoạt động sinh học bởi vì cácbon là nguyên liệu chính cho thực vật trong quá trình quang hợp. Như thế sự thiếu CO2 sẽ giết dần các loài thực vật – và do đó mọi loài động vật.  Vì sao sự tăng độ sáng của mặt trời lại làm giảm CO2?  Chu trình CO2 là một chu trình phức tạp giữa đại dương, khí quyển, thực vật, các trầm tích biển, nhưng ở kích cỡ thời gian lớn người ta có thể cho rằng nguồn chính sinh thải CO2 liên quan đến các hiện tượng núi lửa (volcanisme). Khi CO2 trong khí quyển rơi lắng xuống, ta có acid bicarbonate, acid này hòa tan các khoáng chất trong đá và tạo nên những ion bicarbonate, các ion này bị nước cuốn trôi và lắng đọng dưới dạng carbonate calcium ở đáy các đại dương. Trong một thời gian dài thế cân bằng giữa sinh thải CO2 từ các núi lửa và sự lắng đọng CO2 dưới các đại dương trong quá trình phong hóa sẽ được thiết lập. Khí hậu học và địa chất học chứng tỏ rằng sự tăng nhiệt độ sẽ gia tốc quá trình phong hóa và do đó làm giảm lượng CO2 trong khí quyển.                  Mô hình của James Kasting và Ken Caldeira tiên đoán một sự giảm thiểu CO2 quan trọng trong vòng vài trăm triệu năm, điều này dẫn đến sự suy thoái các hoạt động sinh học trên trái đất. Trong vòng 500 triệu năm, lượng CO2 trong khí quyển chỉ còn 150 ppm (phần trên triệu) so với 370 ppm hiện nay. Và quan trọng là chỉ số 150 ppm được xem là ngưỡng tại đấy thực vật không thể bảo đảm quá trình quang hợp.  Đây quả là một sự trớ trêu của lịch sử: hiện nay người ta lo lắng vì sự tăng CO2 đang làm trái đất nóng lên vì hiệu ứng nhà kính trong nhiều thập kỷ tới thì trong tương lai xa lượng CO2 lại càng ngày càng giảm đi, đặt các hoạt động sinh học vào tình trạng không đủ nguyên liệu để quang hợp.  Nhiệt độ trái đất lúc ban đầu tăng chậm (vì CO2 giảm làm giảm hiệu ứng nhà kính) song càng ngày càng tăng nhanh. Đến khoảng 1 tỷ năm quá trình bốc hơi càng tăng tốc, hiệu ứng nhà kính do hơi nước gây nên sẽ tiêu diệt nốt những dạng sống còn lại. Sau 1,4 tỷ năm nhiệt độ trái đất lên đến 50 o rồi sau đó khoảng 200 triệu năm thì nhiệt độ đạt 100 o   Các đại dương bốc hơi hết, trái đất hoàn toàn vô sinh. Trong 2,5 tỷ năm không còn dấu vết hơi nước trong khí quyển. Khí CO2 tiếp tục được sinh thải bởi núi lửa song không còn đại dương để CO2 lắng đọng nữa. Bị giam kín trong lồng kính CO2 nóng bỏng, trái đất chết hẳn và trở thành một dạng Sao Kim.  Nếu mô hình James Kasting  và Ken Caldeira đúng thì sự sống vốn phát sinh từ 3,5 tỷ năm về trước sẽ biến mất trong vòng 1 tỷ năm về sau.    Chung cuộc của Thái dương hệ [4]  Như mọi sao, mặt trời sẽ chết vào một ngày nào đó. Cuộc hấp hối của mặt trời sẽ nhấn chìm thái dương hệ trong một địa ngục lửa, các hành tinh gần mặt trời sẽ bị nó nuốt mất.  Mặt trời đã chiếu sáng chừng 4,5 tỷ năm nhờ nhiên liệu hydrogen, nhiên liệu này ngày càng hao cạn. Để bù trừ sự hao hụt nhiên liệu hydrogen tâm mặt trời phải co lại và gây nên một phản hiệu ứng là các lớp ngoài lại phình ra, điều này làm cho nhiệt độ bề mặt giảm xuống, trong lúc đó tâm co lại, nhiệt độ tâm tăng lên mở màn cho những phản ứng hạt nhân mới: sự tổng hợp của helium và sự chuyển hóa thành cacbon và oxygen. Đến 7,5 tỷ năm mặt trời sẽ biến thành (theo thuật ngữ của các nhà thiên văn học) một sao đỏ khổng lồ với bán kính gần 7 triệu km.  Mặt trời đã đi đến cuối cuộc đời, nó còn sống chừng 200 triệu năm nữa.  Cái chết của mặt trời là một tai biến. Hydrogen chỉ cháy trong một lớp mỏng quanh tâm mặt trời. Mặt trời sẽ phình lớn lên đạt đến những kích thước khổng lồ, biến thành một cầu lửa nuốt hết mọi thiên thể trong vòng ôm. Trong vòng 60 tỷ năm, bán kính mặt trời vượt qua quỹ đạo Sao Thủy (58 triệu km) và  Sao Thủy bị chìm trong cầu lửa. Đến lượt sao Sao Kim (cách tâm mặt trời 108 km) cũng sẽ biến mất trong mặt trời. Tiếp đến sẽ là Trái đất của chúng ta.  Vào lúc này nhiên liệu hydrogen đã hoàn toàn cạn kiệt, tất cả đều biến thành helium, rồi thành cacbon và oxygen. Sự thay đổi chế độ cháy này lại làm cho mặt trời co lại đến kích thước chừng vài chục triệu km. Trái đất may ra thoát nạn… trong một thời gian. Sau thời gian đó quá trình cháy lại bùng lên, mặt trời lại phình lớn lên và lần này lại nhanh hơn lần trước.  Bây giờ thì số phận của hành tinh chúng ta sẽ bị định đoạt. Chúng ta đã không còn tồn tại mà cũng có thể con cháu chúng ta sẽ quan sát số phận bi thảm này của trái đất tồn tại từ một hành tinh khác mà chúng đã kip di trú đến…  Theo tính toán của các nhà thiên văn trái đất không có chút hy vọng nào thoát khỏi bị nuốt bởi mặt trời: mặt trời trong cơn phát triển vô độ này sẽ vượt giới hạn 350 triệu km nuốt chửng trái đất (150 km), cả sao Hỏa (ở khoảng cách 230 triệu km). Chỉ còn lại những hành tinh xa lắc trong thái dương hệ, các hành tinh bắt đầu từ Sao Mộc (789 triệu km), rồi Sao Thổ, Sao Uranus, Sao Hải vương và Sao Diêm vương có thể thoát khỏi thảm cảnh.  Năm 1993 ba nhà thiên văn học Juliana Sackmann (Viện Công nghệ California), Arnold Boothroyd (Đại học Toronto) và Kathleen Kraemer (Đại học Boston) đã lưu ý đồng nghiệp đến hiện tượng mất khối lượng của mặt trời. Khi mặt trời nở phình ra, nó bắn vào vũ trụ những lớp vật chất nằm ở phía ngoài vì những lớp này chịu lực hấp dẫn nhỏ hơn. Càng phình lớn thì sự tổn hao khối lượng vì hiện tượng này càng cao. Nếu sự chảy khối lượng này là quan trọng thì có thể mặt trời không phình lớn như đã tính toán ở trên. Song song với điều này trái đất sẽ chịu một lực hấp dẫn nhỏ hơn do đó sẽ rời xa dần dần và có hy vọng thoát khỏi nanh vuốt của mặt trời. Sự mất khối lượng này đang còn là một vấn đề bỏ ngỏ, theo Jean-Paul Zahn (đài thiên văn Paris-Meudon).              Hình 2: +7,60 tỷ năm. Mặt trời bắt đầu thiếu nhiên liệu hydrogen: nó bắt đầu phình lớn ra và đe dọa các hành tinh gần nó (Sao Thủy, Sao Kim, trái đất và sao Hỏa)       Hình 3: +7,67 tỷ năm. Mặt trời đã trở thành một khổng lồ đỏ, đã nuốt các  Sao Thủy và Sao Kim. Trái đất và sao Hỏa lúc này đã rời xa và tránh được số phận của hai sao trước.             Hình 4: +7,68 tỷ năm. Mặt trời đã đốt hết nhiên liệu hydrogen và bắt đầu đốt tiếp nhiên liệu helium. Sự thay đổi chế độ đột ngột này làm cho mặt trời co lại.     Hình 5: +7,79 tỷ năm. Bắt đầu cái chết của thiên nga: mặt trời lại phình lớn lại, một lần nữa đẩy lùi xa quỹ đạo trái đất và sao Hỏa.         Hình 6: + 7,80 tỷ năm. Sau khi đốt hết nhiên liệu helium mặt trời co sụp lại biến thành một sao lùn trắng, chiếu sáng yếu ớt dần rồi tắt hẳn.                 Song tháng chạp năm ngoái Peter Schroder, Robert Smith, Kevin Apps (cả ba ở Đại học Sussex, Brighton) đã tính toán lại, và nếu kết quả tính toán của họ đúng thì mặt trời chỉ mất khoảng 20% khối lượng trong quá trình phình nở và bán kính của nó sẽ đạt 168 triệu km, vì sự mất khối lượng đó mà lực hấp dẫn giảm và trái đất sẽ rời xa từ khoảng cách 150 đến khoảng cách 185 triệu km và như thế thoát khỏi số phận biến mất vào mặt trời. Trái đất sẽ cách bề mặt mặt trời chừng 17 triệu km, nhiệt độ trên trái đất sẽ lên đến 1800o. Và bề mặt trái đất phủ đầy dung nham. Trong lần phình nở thứ hai bán kính mặt trời đạt 172 triệu km song cũng đã mất đi 30% khối lượng cho nên trái đất lại rời xa đến khoảng cách 220 triệu km và nhờ đó lại thoát khỏi bị tiêu diệt. Peter Schroder đã tiết lộ rằng các tính toán của họ dựa trên dữ liệu quan trắc của các sao và các khổng lồ đỏ. Lee Anne Willson (đại học Iowa) cho rằng các kết quả tính toán của nhóm Peter Schroder là chưa có cơ sở vì dữ liệu quan trắc chỉ cho chúng ta biết có hiện tượng mất khối lượng nhưng không cho chúng ta biết sự mất khối lượng đó đã xảy ra như thế nào!  Nhiều nhà thiên văn cho rằng cuối cùng trái đất sẽ rơi vào mặt trời theo một quỹ đạo xoắn.  Một quá trình còn nhiều tranh cãi là quá trình co đột ngột của mặt trời khi helium biến thành cacbon và oxygen, và điều này có thể có ảnh hưởng đến số phận của trái đất.  Riêng đối với mặt trời thì tương lai của nó đã rõ: khi nhiên liệu helium cạn dần mặt trời sẽ co lại thành một thiên thể nhỏ hơn mặt trời hiện nay 100 lần và mỗi cm3 cân nặng 1 tấn. Mặt trời sẽ đốt cháy tiếp các nhiên liệu cacbon và oxygen trong vòng 100.000 năm, sau đó biến thành một sao lùn trắng và hấp hối trong vòng nhiều tỷ năm rồi tắt hẳn (xem các hình 2, 3, 4, 5,6).   Còn vũ trụ?  Hiện nay vũ trụ đang giãn nở với gia tốc, nhiệt độ phông càng xuống thấp, vật chất và năng lượng đang tan loãng dần trong không gian. Khó vẽ được bức tranh tương lai của vũ trụ.  Fred Adams (Đại học Michigan) và Nicolas Prantzos (Viện Vật lý thiên văn Paris) đã sử dụng những kiến thức hiện đại để thử phác họa các giai đoạn tiến triển tiếp theo của vũ trụ xuyên qua thời gian.  Theo Fred Adams vũ trụ hiện nay đang ở trong “thời kỳ thành niên”. Các thiên hà đang xa nhau dần. Rồi mọi sao đều tắt. Các sao trong giải Ngân hà sẽ ngừng sáng trong vòng một trăm nghìn tỷ năm. Còn lại những xác chết của các sao: các sao lùn đen (tàn dư của những sao tương tự như mặt trời sau khi đã biến thành những sao lùn trắng), những sao neutron (tàn dư của những sao có khối lượng lớn) và những lỗ đen (tàn dư của những sao có khối lượng rất lớn). Và những thiên thể không thành sao là các sao lùn nâu (đó là những sao không đủ khối lượng để tỏa sáng), các hành tinh, tiểu hành tinh, các sao chổi và bụi giữa các sao. Cũng phải kể đến vật chất tối (chiếm đến 90 % khối lượng của vũ trụ) tồn tại song đôi với vật chất thông thường và dường như cũng tiến triển theo kịch bản của vật chất thông thường.   Một lỗ đen với khối lượng bằng 1 tỷ lần khối lượng của mặt trời.  Nhiều xác sao lạnh rơi vào tâm các thiên hà và nuôi sống những lỗ đen có khối lượng bằng 1 tỷ lần khối lượng của mặt trời, một số khác tránh được số phận rơi vào lỗ đen sẽ đi xa nhau dần và chìm trong bóng tối. Trong một trăm tỷ năm các lỗ đen cũng dần bốc hơi theo lý thuyết bức xạ của lỗ đen do Stephen đưa ra năm 1974. Và trong vòng 10100 năm các lỗ đen cũng tan biến và vào thời điểm bốc hơi của toàn bộ các lỗ đen vũ trụ sẽ bừng sáng lên với một cường độ vô cùng và đấy cũng là ánh sáng cuối cùng của vũ trụ.  Thế là lịch sử đi đến hồi chung cuộc? Không!  Cần xét đến một hạt là proton, hạt này theo lý thuyết “thống nhất lớn” là một hạt rất bền nhưng cũng phân rã. Nếu proton phân rã nhanh hơn các lỗ đen thì vũ trụ chỉ còn lại là một hỗn tạp các hạt cơ bản và một bức xạ với bước sóng dài.  Còn nếu proton sống bền hơn các lỗ đen thì nhiều thiên thể như hành tinh, tiểu hành tinh sẽ còn lại. Nhiệt độ của vũ trụ ngày càng xuống thấp, các nguyên tử  sẽ chuyển hóa thành các nguyên tử sắt (theo cơ học lượng tử) rồi hợp thành những mạng tinh thể neutron là những trạng thái bền hơn tất cả. Theo các tính toán của Freeman Dyson các mạng này cũng sẽ biến thành những lỗ đen và cuối cùng cũng bốc hơi.  Nicolas Prantzos cho rằng vĩnh cửu sẽ thuộc về electron, positron, neutrino và photon. Đấy là những thực thể sống mãi trong đêm đen vô tận vủa vũ trụ tiếp tục giãn nở. Một đêm không sao.  Tuy nhiên… nếu năng lượng tối (có mối liên quan đến năng lượng chân không) càng ngày càng trở nên nhỏ dần và thậm chí có thể tiến đến số không (các nhà vật lý không loại trừ khả năng này) thì vũ trụ không giãn nở nữa mà co lại và kết thúc trong một vụ Big Crunch (Vụ co lớn) [5] để rơi vào trạng thái với mật độ và nhiệt độ vô cùng như trong trạng thái của vũ trụ trước lúc Big Bang (Vụ nổ lớn).   CC.            Ngày tận thế (một minh họa cho Kinh Thánh)          Tài liệu tham khảo  [1] Laurent Clause, Sciences et Avenir, tháng 8 năm 2003  Con người đang tiến đến việc cấy những bộ phận điện tử vào cơ thể trước là để chữa các khuyết tật rồi tiến đến mở rộng các khả năng vật lý, sinh học và trí tuệ của mình (bionic-công nghệ sinh học). Theo Marvin Minsky đến năm 2035 một bộ óc tương đương điện tử chỉ chiếm một thể tích bằng đầu ngón tay. Con người sẽ đối diện với các địch thủ là robot.  [2] Hélène Guillemot, Science & Vie, tháng 3 năm 2002  [3]  Năm 1989 nhà thiên văn học Jacques Laskar phát hiện rằng quỹ đạo của trái đất, sao Hỏa, Sao Thủy, Sao Kim chứa yếu tố hỗn độn vì vậy không thể tính được chúng một cách chính xác cho một  thời gian có kích cỡ lớn. Một sai lệch chừng 15m trong điều kiện ban đầu sẽ dẫn đến một sai số 150 triệu km trong vòng 100 triệu năm.  [4]  Valérie Greffoz, Science & Vie, tháng 3 năm 2002  [5]  Big Crunch = Vụ co lớn quá trình đối ngược với Big Bang.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều vấn đề sức khỏe phụ nữ bị lãng quên do định kiến giới?      Nhiều triệu chứng của phụ nữ đang bị chính giới chuyên môn y tế bỏ qua, vì các vấn đề sức khỏe của nữ giới đã không được nghiên cứu kỹ lưỡng.    Lynn Enright phải đi nội soi tử cung để kiểm tra nhưng các chuyên gia y tế đã không để ý đến những cơn đau mạnh của Lynn. Cuối cùng Lynn chỉ có thể lý giải về việc này khi bắt đầu viết cuốn sách về giải phẫu phụ nữ “Vagina: A Re-education”. Cô sốc khi nhận ra có rất ít dữ liệu khi tìm kiếm các nghiên cứu về cơn đau và sức khỏe phụ nữ.     Đây vẫn là lĩnh vực còn khoảng trống lớn trong nghiên cứu: chưa đến 2,5% nghiên cứu được tài trợ công là dành cho cho sức khỏe sinh sản, mặc dù thực tế là cứ ba phụ nữ ở Anh thì sẽ có một người gặp vấn đề về sức khỏe sinh sản hoặc phụ khoa. Trong khi đó số lượng nghiên cứu về rối loạn cương dương (ảnh hưởng đến 19% nam giới) nhiều gấp 5 lần, so với hội chứng tiền kinh nguyệt (ảnh hưởng đến 90% phụ nữ).  “Các cơn đau của phụ nữ thường không được chú ý nghiên cứu. Hầu hết hiểu biết của chúng ta về bệnh tật đều dựa trên quan điểm của đàn ông; nó dựa trên đa số các nghiên cứu về đàn ông, do đàn ông thực hiện”, Enright nói.  Cuốn sách của cô là một trong số cuốn sách nóivề cơ thể phụ nữ và ảnh hưởng của việc thiếu kiến thức đối với việc chẩn đoán và điều trị.  Chỉ xét tại Mỹ, nơi có rất nhiều nghiên cứu y học, thì các thử nghiệm nghiên cứu của Viện Sức khỏe Quốc gia đều không yêu cầu bao gồm  cả phụ nữ cho đến tận năm 1993, nên việc thiếu kiến thức này có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên. Vấn đề này vẫn thường được biện minh với lý do rằng cơ thể phụ nữ quá phức tạp do nội tiết tố dao động, vì vậy các thử nghiệm lâm sàng thường phải loại trừ.   Tại sao khoảng cách sức khỏe giới vẫn tồn tại?   Andrew Horne, giáo sư về phụ khoa và khoa học sinh sản tại Đại học Edinburgh cho rằng chênh lệch trong tài trợ tài trợ nghiên cứu là một nguyên do.  “Về mặt lịch sử, mặc dù tình hình đang được cải thiện, các cơ quan tài trợ chính như Hội đồng nghiên cứu y tế, Viện Sức khỏe quốc gia và Wellcome Trust không ủng hộ nghiên cứu về sức khỏe sinh sản”, ông nói. “Tôi nghĩ rằng mọi thứ đang thay đổi, nhưng trong một khoảng thời gian dài, các hội đồng xét duyệt do nam giới chủ trì đã không có nhận thức đúng về sức khỏe sinh sản. Rất nhiều tài trợ đã được đổ vào nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến cả nam và nữ, hoặc chỉ nam giới.”   Một lý do khác là việc thiếu các tổ chức từ thiện chỉ tập trung vào sức khỏe của phụ nữ. Chẳng hạn, để so sánh, bệnh tim mạch là một lĩnh vực nghiên cứu y tế được tài trợ hoạt động tốt một phần nhờ vào các tổ chức từ thiện lớn như Quỹ Tim mạch Anh, đầu tư trung bình 100 triệu bảng mỗi năm.  Còn một trong những tổ chức hiếm hoi hỗ trợ chăm sóc  sức khỏe phụ nữ là Wellbeing For Women, tập trung vào các lĩnh vực: mang thai và sinh nở, ung thư phụ khoa và các vấn đề về sức khỏe như lạc nội mạc tử cung và mãn kinh. Tổ chức này đang tài trợ cho 30 dự án trong các trường đại học. Andrew Horne cũng đang nhận hỗ trợ từ tổ chức này, với một dự án đang được xem xét là khả năng tái sử dụng thuốc chống ung thư để điều trị lạc nội mạc tử cung.    Ảnh minh họa: Geo.tv  Trong khi đó, tổ chức này lại nhận được rất nhiều đề nghị hỗ trợ. Hiện nay Wellbeing For Women đã nhận được 127 đơn xin tài trợ, học bổng và hỗ trợ học giả năm 2019 nhưng chỉ có thể trao tặng 14 suất (tổng giá trị hơn 975.000 bảng Anh). Chỉ 11% tổng số đơn được ủy ban cố vấn nghiên cứu xét duyệt tài trợ.  Sarah Francis, người phát ngôn của Wellbeing For Women, nói rằng mặc dù gần đây đã có nhiều cải thiện, nhưng [các nghiên cứu, khảo sát] về sức khỏe của phụ nữ vẫn tiếp tục bị bỏ qua và thiếu tài trợ. Francis cho rằng, nguyên nhân chính là do vấn đề định kiến.   “Mặc dù mọi thứ đang thay đổi, nhưng có rất nhiều điều cấm kị xung quanh vấn đề sức khỏe của phụ nữ. Bản thân phụ nữ thường không muốn nói về rối loạn kinh nguyệt hoặc són tiểu”, cô nói.  “Chúng tôi nhận thấy rằng sau khi mãn kinh, nhiều phụ nữ nói về điều đó hơn và các công ty hiện muốn hỗ trợ nhân viên tốt hơn, vì vậy chúng tôi đã tài trợ cho nghiên cứu các công cụ tại nơi làm việc dành cho phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, đây lại là điều không được thảo luận một cách cởi mở trong một thời gian dài. Thiếu đi sự hỗ trợ của công chúng, thì sẽ có ít tiền  để tài trợ cho nghiên cứu hơn.”  Tuy nhiên, có người cho rằng vấn đề không nằm ở kinh phí. Lucilla Poston, trưởng Khoa Sức khỏe phụ nữ và trẻ em tại Đại học Kings, London cho biết Hội đồng nghiên cứu y tế (MRC) và các cơ quan khác sẽ lập luận rằng các khoản tài trợ có tính cạnh tranh mà bất kỳ ai cũng có thể đăng ký. “MRC không đặt giới hạn cho bất kỳ khu vực cụ thể nào. Nếu một dự án có tính cạnh tranh, nó sẽ có cơ hội để được nhận tài trợ”, Lucilla Poston nói.  Số liệu thống kê mới nhất cho thấy tài trợ MRC cho các dự án liên quan đến sức khỏe của phụ nữ có tổng trị giá 20 triệu bảng trong năm 2015-16. Số tiền này tài trợ cho nghiên cứu vào các ca mổ và các biến chứng liên quan, tiền sản giật, sử dụng biện pháp tránh thai và lạc nội mạc tử cung, cùng các dự án khác.  Poston không tin rằng có bất kỳ định kiến nào; mà cô nghĩ rằng vấn đề thực sự là có rất ít các nhà nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe phụ nữ.  Các lĩnh vực nhận được nhiều tài trợ nghiên cứu như ung thư, di truyền và tim mạch có rất nhiều nhà nghiên cứu làm việc và nộp đơn xin tài trợ.  “Cho đến khi có nhiều nghiên cứu hơn về sức khỏe của phụ nữ, phụ nữ sẽ tiếp tục bị bỏ qua khi trao đổi với các chuyên gia y tế về các triệu chứng của mình”, Enright cảnh báo. Điều này cần được giải quyết khẩn cấp, đặc biệt là khoảng cách giới có thể sẽ còn cộng gộp thêm với vấn nạn bất bình đẳng sắc  tộc: bằng chứng là phụ nữ da đen có nguy cơ tử vong cao gấp năm lần khi mang thai và sinh ở Anh.  “Những con số này cho thấy tình trạng bất bình đẳng đáng lo ngại, càng củng cố rằngnhiều phát hiện của tôi về việc phụ nữ không được lắng nghe”, cô nói. “Nhất là phụ nữ da màu, những vấn đề đáng ngại của họ không hề được giải quyết ngay. Hệ quả là những con số thống kê tàn nhẫn đó”.   Minh Anh dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/education/2019/dec/18/women-have-been-woefully-neglected-does-medical-science-have-a-gender-problem    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại Cái chết đen và Đại dịch cúm: Nhân loại vượt qua như thế nào?      Nghiên cứu khảo cổ và sử học đã phát lộ sự bất bình đẳng kinh tế-xã hội thực sự định hình quá trình của Cái chết đen và các bệnh dịch khác.      Minh họa năm 1625, người dân London đang tháo chạy khỏi dịch hạch bị những nông dân chặn lại. Nguồn: Thư viện Công cộng New York / Tư liệu Khoa học.  Khi Cái chết đen tràn vào London tháng 1/1349, thành phố chìm trong sợ hãi suốt nhiều tháng trời. Người dân London đã được cảnh báo về mức độ tàn phá ở các thành phố khác như Florence, nơi 60% người dân chết vì dịch hạch một năm trước. Mùa hè năm 1348, căn bệnh cập bến châu Âu và bắt đầu xâm lấn vào trung tâm lục địa. Dịch hạch gây ra các triệu chứng đau đớn và đáng sợ, gồm sốt, nôn mửa, ho ra máu, mụn mủ đen trên da, sưng hạch lympho và thường gây tử vong trong vòng 3 ngày.  London đã chuẩn bị theo cách tốt nhất có thể: Chính quyền cho xây nghĩa trang khổng lồ East Smithfield, để chôn càng nhiều càng tốt trong vùng đất đã được làm phép, giúp Chúa xác định người chết là Kito hữu trong ngày phán xét. Không thể cứu được sự sống, thành phố cố gắng cứu rỗi các linh hồn.  Mức độ khủng khiếp của bệnh dịch đúng như lời đồn: Năm 1349, nó giết nửa dân số London và trong khoảng 1347-1351, nó cướp đi sinh mạng của nửa dân số Pháp cũng như 30-60% người châu Âu. Dường như không ai được an toàn. Theo ghi chép của Gilles Li Muisis, “người giàu, trung lưu lẫn ăn xin, không một ai được bảo vệ, họ đều phải chấp thuận ý nguyện của Chúa”.  Cấu trúc bất bình đẳng định hình tác động của dịch bệnh  Tuy vậy, nghiên cứu khảo cổ và sử học tại East Smithfield và các nơi khác đã lật lại vấn đề, làm phát lộ sự bất bình đẳng kinh tế-xã hội thực sự định hình quá trình của Cái chết đen và các bệnh dịch khác. Nhà khảo cổ sinh học Gwen Robbins Schug từ Đại học Appalachia State, chuyên gia về sức khỏe và bất bình đẳng trong xã hội cổ đại, cho biết, các đại dịch thường nương theo khiếm khuyết sẵn có của mỗi xã hội. Đối mặt với nguy cơ cao nhất vẫn là người yếu thế, người nghèo, hoặc nhóm thiểu số do chịu sự phân biệt đối xử về sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Theo chiều ngược lại, chính đại dịch cũng góp phần thay đổi cán cân xã hội, bằng cách làm suy yếu hoặc củng cố cấu trúc quyền lực hiện có.  Thực tế đó cũng bị phô bày rõ nét trong đại dịch Covid-19. Mặc dù làm lây nhiễm cho nhiều người giàu có và quyền thế, như Thủ tướng Anh Boris Johnson hay diễn viên nổi tiếng Tom Hanks, nhưng SARS-CoV-2 không phải là “sát thủ công bằng”. Tại New York, người gốc Mỹ Latin và da đen bị ảnh hưởng gấp đôi so với người da trắng. Các ca bệnh thường tập trung ở vùng dân cư nghèo hơn, nơi người dân sống trong các căn hộ đông đúc, không thể làm việc tại nhà hay đi nghỉ trốn dịch.  Cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14 là giai đoạn có khí hậu lạnh hơn và thời tiết thất thường, mùa màng thất bát, nạn đói triền miên từ trước đại dịch rất lâu. Nạn đói kinh hoàng những năm 1315-1317 khiến 15% dân số Anh chết đói. Tiền công giảm, trong khi giá ngũ cốc tăng vọt, đẩy nhiều người vào cảnh bần cùng. Sổ kế toán và lương công nhân của một điền trang ở Anh cho thấy 70% gia đình sống ở mức hoặc dưới mức nghèo khổ, tức là không thể mua đủ thực phẩm và nhu yếu phẩm để không bị đói rét. Trong khi đó, 3% gia đình giàu nhất nắm 15% tổng thu nhập quốc dân.  Nhà nhân chủng học Sharon DeWitte, ở Đại học South Carolina đã điều tra nạn đói nghèo ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe người dân bằng cách khai quật các di cốt từ các nghĩa trang ở London thời Trung Cổ. Ông nhận thấy, những nạn nhân của Cái chết đen dường như thấp hơn và chết trẻ hơn so với những người chết trong giai đoạn hai thế kỷ trước đó. Răng họ cũng có nhiều rãnh cho thấy tình trạng phát triển men răng bị gián đoạn, là một dấu hiệu suy dinh dưỡng, bệnh tật hoặc các phát triển sinh lý bất thường thời thơ ấu.   Để xem liệu sức khỏe kém có khiến người ta dễ mắc dịch hạch hơn không, DeWitte khai quật hàng trăm bộ di cốt ở East Smithfield. Bà thống kê phân bố tuổi người chết, cũng như của người có xương kém phát triển. Nghiên cứu cho thấy người lớn tuổi và sức khỏe kém nhiều khả năng chết do dịch hạch hơn. Các bộ di cốt không trực tiếp thể hiện tầng lớp xã hội của người chết, nhưng hiển nhiên cho thấy tình trạng suy dinh dưỡng và bệnh tật phổ biến hơn trong những người ngoài lề xã hội. Và tư liệu lịch sử cũng cho thấy người giàu nhất ở Anh ít bị bệnh hơn so với người nghèo. Có lẽ chỉ 27% địa chủ giàu có ở Anh mắc dịch hạch qua đời, so với tỷ lệ tử vong 40-70% của tá điền.   Góp phần xóa sổ các cộng đồng bản địa  100 năm sau, ở bên kia địa cầu, bệnh đậu mùa tấn công cộng đồng Cherokee bản địa vùng Đông Nam Hoa Kỳ. Ở những nơi khác trên thế giới, căn bệnh điển hình với sốt và mụn mủ đã giết chết khoảng 30% người mắc. Nhưng đối với người Cherokee, mầm bệnh đáng sợ còn trở nên tàn khốc hơn nữa. Nhà sử học Paul Kelton ở Đại học Stony Brook cho biết mặc dù người ta vẫn đổ lỗi tỷ lệ tử vong cao do cộng đồng bản địa thiếu miễn dịch, nhưng thật ra chính sách thời kỳ thuộc địa đã khuếch đại mức độ nguy hiểm của dịch bệnh. Chẳng hạn, dịch đậu mùa giữa thế kỷ 18 ở vùng Đông Nam diễn ra đồng thời với cuộc xâm lăng của thực dân Anh (chiến tranh Anglo-Cherokee). Quân Anh thực hiện chiến lược tiêu thổ, đốt phá ruộng vườn và buộc cư dân Cherokee bỏ xứ ra đi. Các nhà sử học cho rằng ở thời điểm cuối đại dịch và chiến tranh, dân số Cherokee đã giảm xuống mức thấp chưa từng thấy. “Chính chiến tranh đã mở rộng cửa cho dịch bệnh đậu mùa vào tàn phá”, Kelton nói.  Những thảm kịch tương tự lặp lại nhiều lần suốt hàng trăm năm tại các cộng đồng bản địa khắp châu Mỹ. Michael Wilcox, nhà khảo cổ chuyên về người Mỹ bản địa ở Đại học Stanford cho biết người bản địa bị buộc rời khỏi vùng đất của mình đến nơi thiếu nước sạch hoặc đầy đủ nguồn thực phẩm. Những người sống trong các khu vực thuộc thẩm quyền Giáo hội bị cưỡng bức lao động quá sức trong các điều kiện chen chúc mà Wilcox ví như đĩa petri cho mầm bệnh. Những bộ xương bị chôn trong thời kỳ khai phá thuộc địa Tây Ban Nha dưới vỏ bọc khai minh Thiên Chúa vào thế kỷ 16 cũng có các dấu hiệu mà DeWitte tìm thấy ở London trong Cái chết đen.    Đầu thế kỷ 20, nhiều cộng đồng bản địa bị buộc dời đến các khu “bảo tồn”, khó tiếp cận nguồn thực phẩm truyền thống và chăm sóc y tế cơ bản. Đến khi một bệnh dịch khác quét qua – đại dịch cúm 1918 – người bản địa chết với tỷ lệ gấp bốn lần phần còn lại của Mỹ. Nhà sử học y tế Mikaëla Adams của Đại học Mississippi cho biết “một phần lý do là họ phải trải qua tình trạng suy dinh dưỡng, đói nghèo, sức khỏe kém nghiêm trọng.” Một số trường hợp chịu hậu quả thê thảm hơn các vùng khác rất nhiều. Chẳng hạn, xứ tự trị Navajo có tỷ lệ tử vong do dịch cúm 1918 lên tới 12%, trong khi tỷ lệ chung toàn cầu chỉ khoảng 2.5%-5%. Một vài cộng đồng bản địa ở những vùng xa xôi như Canada hay Alaska mất đến 90% dân số.   Còn ngày hôm nay, xứ tự trị Navajo cũng là nơi ghi nhận tỷ lệ mắc Covid-19 nhiều nhất ở Mỹ chỉ sau New York và New Jersey, mặc dù tỷ lệ xét nghiệm tầm soát cao. Đái tháo đường hay một số bệnh nền là yếu tố nguy cơ dẫn đến làm Covid-19 biến chứng nặng cũng phổ biến trong vùng này, thậm chí nhiều người dân nơi đây còn không có nước máy. Đại dịch đã làm lộ rõ lịch sử hàng thế kỷ bị phân biệt đối xử và bị bỏ rơi của xứ Navajo.     Đậu mùa xảy ra ở thành phố Mexico, thế kỷ 16 qua nét vẽ của nghệ sĩ bản địa. Đàn áp thực dân khiến sự hồi phục sau đại dịch càng thêm khó khăn. Nguồn: Thư viện Medicean Laurentian, Florence, MS. MAD. PALAT. 220, F. 461V, dưới sự cho phép của MiBACT.  Không chỉ riêng người Mỹ bản địa, nhiều nhóm có địa vị kinh tế-xã hội thấp cũng trải qua sự mất cân đối về dân số trong đại dịch năm 1918. Nhà nhân khẩu học Svenn-Erik Mamelund từ Đại học Oslo Metropolitan xuất bản một nghiên cứu năm 2006 cho thấy giấy chứng tử ở khu vực nghèo nhất trong thành phố Oslo cao hơn 50% so với một giáo xứ giàu có. Tại Mỹ, những công nhân khai mỏ và làm trong nhà máy chết với tỷ lệ cao hơn dân số chung, theo Nancy Bristow, nhà sử học tại Đại học Puget Sound.  Những người da đen cũng phải đối mặt với tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm cao đáng kinh ngạc. Năm 1906, không có đại dịch, tỷ lệ này là 1123/100,000 ở người không phải da trắng (chủ yếu là người da đen vào thời điểm này). Trong khi đó, năm 1918, năm đại dịch cúm, tỷ lệ này ở người da trắng là 928/100,000.   Những hệ quả lâu dài  Lịch sử Hoa Kỳ trải qua một thời kỳ phân biệt chủng tộc cực độ (nadir) trong giai đoạn từ năm 1877 đến đầu thế kỷ 20. Bác sĩ Vanessa Northington Gamble, người chuyên nghiên cứu về lịch sử y học từ Đại học George Washington nói đạo luật Jim Crow hợp pháp hóa kỳ thị dân da đen ở miền Nam cũng như tình hình kỳ thị ngấm ngầm hiển nhiên ở miền Bắc đẩy bệnh nhân da đen vào các bệnh viện tách biệt và quá tải.  Hiện nay ở thủ đô Washington, người da đen chiếm 45% tổng số ca Covid-19 nhưng đến 79% số ca tử vong. Cuối tháng 4, người da đen vượt quá 80% số bệnh nhân nhập viên ở bang Georgia, và hầu hết các ca tử vong tập trung ở St. Louis.   Nhà sử học kinh tế Guido Alfani từ Đại học Bocconi cho biết, tuy Cái chết đen năm 1350 đã đi qua nhưng nó để lại hậu quả kinh tế lâu dài. Qua nghiên cứu hồ sơ thuế tài sản trong 500 năm, ông thấy rằng bất bình đẳng kinh tế đã giảm mạnh ở hầu khắp châu Âu trong và sau Cái chết đen.  Ở bang Sabaudian miền Bắc Ý, tỷ lệ sở hữu tài sản của 10% người giàu nhất từ 61% vào năm 1300 đã trượt dài trong Cái chết đen và giảm sau đó về mốc 47% vào năm 1450. Alfani cũng thấy xu hướng tương tự ở miền Nam Pháp, Đông Bắc Tây Ban Nha và Đức. Các phân tích về tài sản hộ gia đình và hồ sơ điền trang cho thấy tình hình tương tự ở Anh, nơi lương thực tế tăng gấp ba trong khoảng đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 15 và mức sống chung được cải thiện.  Alfani cho rằng tình trạng thiếu hụt nhân công do dịch hạch đẩy mức tiền lương lên cao. Những người giàu qua đời do dịch bệnh khiến những khối tài sản lớn bị chia nhỏ cho nhiều người thừa kế và đem bán ra thị trường, giúp những người nông dân sở hữu được một mảnh đất mà họ hằng mong ước.  Dịch hạch không biến mất sau Cái chết đen. Nhiều nước như Anh và Ý phải trải qua nhiều đợt bùng phát liên tiếp. Tuy nhiên, những đợt dịch hạch sau dường như lại củng cố sự bất bình đẳng. Bởi sau Cái chết đen, dịch hạch trở thành mối lo thường trực của xã hội phương Tây, khiến giới thượng lưu tìm mọi cách để bảo vệ sức khỏe và tài sản của họ.   Khắp châu Âu, nhà giàu viết di chúc chuyển giao những khu đất lớn cho người thừa kế duy nhất, cách ly trong tư gia ngay khi dịch bùng phát. Theo hồ sơ mai táng và rửa tội, từ năm 1563 đến 1665, tỷ lệ tử vong trong các đợt dịch hạch đã giảm đáng kể ở các giáo xứ giàu có của London, bất chấp bệnh dịch nghiêm trọng ở những khu vực nghèo, đông đúc. Trong thế kỷ 15-16, các bác sĩ Ý mô tả dịch hạch là bệnh của người nghèo.  Định kiến giai cấp đã lặp đi lặp lại trong lịch sử. Kelton nêu ví dụ trong dịch tả ở Mỹ vào thế kỷ 19, giới tinh hoa đã vẽ nên ý tưởng về những người mang khuynh hướng bị bệnh. Họ là ai? Là người nghèo, dơ bẩn, bê tha. Nhưng thực ra họ dễ bị tổn thương không xuất phát từ hành vi của họ dễ nhiễm khuẩn, mà do người nghèo nhiễm phẩy khuẩn tả trong nguồn nước sinh hoạt không đạt chuẩn.  Thomas Ecletty từ Trường Kinh tế Paris cho biết hệ quả kinh tế do đại dịch cúm 1918 không rõ ràng. Bất bình đẳng kinh tế ở châu Âu giảm đáng kể từ năm 1918, kéo dài đến thập niên 1970. Nhưng Alfani cho rằng không thể tách bạch tác động của đại dịch và cuộc thế chiến thứ nhất. Chiến tranh đã tàn phá châu Âu, khiến người giàu mất các tài sản và vốn đầu tư ở nước ngoài, từ đó giảm bất bình đẳng.  Tại Hoa Kỳ, đại dịch không hề làm suy yếu nạn phân biệt chủng tộc về mặt cấu trúc, nó chỉ phát lộ sự bất công và điểm yếu của hệ thống chăm sóc y tế, Gamble nói. Dù các bác sĩ và y tá da đen rất trông đợi, nhưng không có nỗ lực lớn nào cải thiện vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người Mỹ gốc Phi.  Liệu Covid-19, làm phát lộ những hạn chế tương tự ở các nước trên thế giới, có dẫn đến một kiểu biến đổi xã hội tương tự đại dịch cúm 1918? Bristow khẳng định: “Tất cả những gì xảy ra tiếp theo tùy thuộc vào quyết định của chính chúng ta.” □  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn: doi:10.1126/science.abc7832    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại sự kiện va chạm và sáp nhập hai ngôi sao neutron      Sự kiện quan sát được sự va chạm và sát nhập thành một của hai ngôi sao neutron đã được tạp chí khoa học nổi tiếng Science bình chọn là đột phá khoa học của năm 2017. Nhân sự kiện này PGS. TS Nguyễn Hồng Quang (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã phỏng vấn nhà vật lý lý thuyết, PGS.TS Nguyễn Ái Việt – nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội).      Khám phá ra sóng hấp dẫn được công bố năm 2016 đã được Science chọn là đột phá khoa học của năm 2016 và ngay năm sau đã được trao giải Nobel. Vậy tại sao sự kiện phát hiện ra sóng hấp dẫn trong năm 2017, mặc dù đi sau khám phá sóng hấp dẫn đã được trao giải Nobel lại vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học khi được Science bình chọn là đột phá khoa học của năm 2017 ?  Để hiểu được tại sao phát hiện ra sóng hấp dẫn lần này, mặc dù khám phá ra sóng hấp dẫn trước đó đã được trao giải Nobel lại vẫn hấp dẫn đến thế thì cần phải trả lời câu hỏi về sự khác biệt giữa lần phát hiện ra sóng hấp dẫn lần này so với lần trước và cái mới ở đây là gì? Câu trả lời là: lần này, thay vì va chạm của 2 hố đen thì là va chạm của 2 sao neutron gây ra sóng hấp dẫn. Chúng ta đã biết, để đo được sóng hấp dẫn ở Trái đất bằng các thiết bị và công nghệ hiện nay thì chỉ có 2 đối tượng có thể sinh ra sóng hấp dẫn cảm nhận được là hố đen và sao neutron là những thiên thể khổng lồ với 3 loại sự kiện có thể xảy ra. Đó là hố đen va chạm với hố đen, hố đen va chạm với sao neutron và 2 sao neutron va chạm với nhau. Sự kiện năm 2016 đo được sóng hấp dẫn là do 2 hố đen va chạm với nhau, còn trong sự kiện năm 2017 sóng hấp dẫn đo được là xuất phát từ 2 sao neutron va chạm với nhau.  Vậy ông có thể giải thích sự khác nhau giữa 2 đối tượng này với các thiên thể khác như các ngôi sao, như Mặt trời chẳng hạn, và các hành tinh khác như trái đất của chúng ta ?  Sao neutron là trạng thái vật chất đặc nhất mà chúng ta có thể biết được. Thành phần chủ yếu của vật chất đó là neutron. Các neutron được sắp xếp sát nhau, đặc đến mức các điện tử và proton bị nén vào nhau thành neutron, không còn khoảng cách giữa điện tử và hạt nhân. Thường thì khối lượng của sao neutron cỡ xấp xỉ hoặc hơn khối lượng của Mặt trời một chút, nhưng kích thước thì nhỏ hơn kích thước của Mặt trời hàng chục nghìn lần, chỉ khoảng cỡ chục kilomet. Do đó mật độ vật chất của sao neutron rất lớn. Hố đen và sao neutron là 2 trạng thái cuối của sự phát triển của một ngôi sao sau khi nó bị sụp đổ do hấp dẫn.  Ông có thể nói rõ hơn về sự sụp đổ của một ngôi sao thành sao neutron hoặc hố đen ?  Có thể hiểu một cách đơn giản quá trình tiến triển một ngôi sao như sau: một ngôi sao hình thành khi khối vật chất chủ yếu là khí hydro bị co lại do lực hút hấp dẫn của chính nó. Càng co lại thì khối khí càng nóng do các nguyên tử hydro va chạm với nhau và tạo thành heli. Năng lượng nhiệt phát ra do phản ứng tổng hợp hạt nhân hydro thành hêli làm cho ngôi sao phát sáng và tạo ra áp suất đẩy. Khi năng lượng đẩy ra do nhiệt cân bằng với hấp dẫn thì sao phát sáng ở trạng thái cân bằng và ổn định, giống như Mặt trời của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên đến khi hết nhiên liệu thì lực hút hấp dẫn thắng lực đẩy ra do nhiệt và sẽ làm cho ngôi sao bị suy sụp hấp dẫn biến thành sao neutron lạnh, không phát sáng hoặc co lại thành hố đen với mật độ vô hạn.  Cụ thể khi nào thì một ngôi sao suy sụp hấp dẫn thành hố đen ?  Có giới hạn về khối lượng của ngôi sao để chi phối quá trình suy sụp hấp dẫn, đó là giới hạn Chandrasekhar, đặt theo tên của nhà vật lý thiên văn người Mỹ, gốc Ấn Độ, người được trao giải Nobel năm 1983 về nghiên cứu phát triển của các ngôi sao. Khối lượng phải trên giới hạn Chandrasekhar, khoảng 1,5 lần khối lượng Mặt trời,  thì sao mới có khả năng sập thành hố đen.  Hai đối tượng là hố đen và sao neutron này có điểm gì giống và khác nhau khi gây ra sóng hấp dẫn?  Điểm giống nhau là chúng đều là những thiên thể có mật độ vật chất rất lớn và do đó ở đâu có mật độ vật chất cao thì ở đó có khả năng gây ra những xung động không thời gian tạo thành sóng hấp dẫn nếu có biến động. Còn điểm khác nhau là lời giải phương trình Einstein cho sao neutron thì rất đẹp, trơn tru, còn lời giải cho hố đen là kỳ dị, tức là có những điểm kỳ dị ví dụ như ở tâm và ở đường chân trời, ở những điểm này không thể mô phỏng lời giải trên máy tính được.  Phương trình Newton thì có lẽ ai cũng biết, phương trình Einstein thì không. Vậy giáo sư có thể giải thích sơ qua cho bạn đọc phương trình Einstein cho ta cái gì liên quan đến hấp dẫn?  Trong Thuyết tương đối rộng, Einstein đã đưa ra phương trình mô tả tương tác hấp dẫn như là hệ quả của không-thời gian bị cong đi do khối lượng và năng lượng. Người ta thường lấy hình ảnh một tấm vải căng ngang để mô tả lưới không-thời gian phẳng. Khi ta đặt một vật nặng lên mặt tấm vải đó, thì khối lượng của vật đó sẽ làm cho tấm vải đó bị cong lõm xuống và dường có lực hấp dẫn xuất hiện, kéo vật xuống hố lõm đó. Như vậy vật chất sẽ bóp méo không-thời gian và gây ra hấp dẫn. Nói một cách tóm tắt thì phương trình Eistein thiết lập mối quan hệ giữa vật chất và độ cong của không-thời gian. Vế bên phải của phương trình là vật chất, còn vế bên trái là độ cong của hình học không-thời gian. Khi hình học không-thời gian bị thay đổi theo thời gian do biến động của vật chất thì ta có sóng hấp dẫn. Giống như sự lan truyền của sóng trong môi trường, thì sóng hấp dẫn mô tả sự lan truyền của độ cong không-thời gian. Tiên đoán này của Einstein đã được LIGO kiểm chứng bằng việc đo trực tiếp các tín hiệu do sóng hấp dẫn gây ra, không chỉ một lần. Lần đầu là do sự sát nhập của 2 hố  đen, và lần cuối là năm 2017 do sự sát nhập của 2 sao neutron.  Đối với sự kiện phát hiện ra sóng hấp dẫn vào tháng 8 năm 2017, điều gì khác biệt khiến các nhà vật lý cho rằng đó chính là sóng hấp dẫn gây bởi sự va chạm và sát nhập của 2 sao neutron chứ không phải là 2 hố đen như trong lần phát hiện đầu tiên trong năm 2016 ?  So với phát hiện ra sóng hấp dẫn lần đầu tiên bởi sự va chạm của 2 hố đen khi LIGO không thấy gì ngoài sóng hấp dẫn tần số thấp với xung kéo dài chỉ khoảng vài giây, thì sự va chạm của 2 sao neutron lần này tạo ra âm thanh tần số cao hơn với cường độ kéo dài trên 100 giây. Ngoài việc tất cả các máy dò sóng hấp dẫn LIGO-Virgo đã ghi được tín hiệu sóng hấp dẫn thì trong sự kiện lần này các kính thiên văn vũ trụ-Fermi và kính thiên văn vũ trụ INTEGRAL cũng đã phát hiện thấy các tín hiệu khác, như tia gamma, tia X, dải nhìn được và dải hồng ngoại của phổ sóng điện từ trong nhiều ngày sau đó. Sự ghi nhận được đám mưa tia gamma, xung ngắn năng lượng cao ngay sau tín hiệu sóng hấp dẫn chứng tỏ chắc chắn đó là sản phẩm có nguồn gốc từ va chạm của 2 sao neutron. Đối với va chạm 2 hố đen không thể có những sản phẩm như thế.  Ông có thể cho biết ý nghĩa của việc phát hiện ra sóng hấp dẫn lần này ?  Điều ý nghĩa nhất trong việc phát hiện được sóng hấp dẫn trong năm 2017 là đã khẳng định lại một cách thuyết phục, một cách rất chặt chẽ là sóng hấp dẫn quả thực là có và quả thực là đã đo được thực sự. Ngoài ra nó còn cho chúng ta thấy ý nghĩa và tác dụng lớn lao của sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, nhất là hướng vào để giải quyết những vấn đề cần rất nhiều nỗ lực chung của cộng đồng khoa học.  Xin cảm ơn ông đã dành thời gian cho buổi nói chuyện và xin chúc giáo sư một năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và cuộc sống.  —————  * Bài viết đã được đăng tải trên Bản tin của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật Bản      Trận động đất mạnh 9 độ richter ngày đã tạo ra một bức tường nước đổ ập vào bờ biển phía Đông của Nhật Bản, cuốn trôi đi sinh mạng của nhiều nghìn người. Trận động đất này còn gây ra hơn 150 dư chấn với cường độ trên 5 độ richter, trong đó có vài chục dư chấn có cường độ 6 độ richter hoặc cao hơn, và đặc biệt có một dư chấn với cường độ lên tới 7,1 độ richter.        Động đất đến từ đâu?  Nhật Bản nằm trên vành đai thường xảy ra động đất nhất của thế giới, vành đai Lửa Thái Bình Dương, nơi những vỉa đá cứng của vỏ trái đất dịch chuyển dọc theo mép của Thái Bình Dương. Trận động đất này khởi phát từ địa điểm ngoài khơi Thái Bình Dương cách đông bắc Tokyo 373km và cách thành phố Sendai, Honshu 130km. Động đất xuất hiện ở độ sâu khoảng 24,4km.  Trong khu vực địa tầng Thái Bình Dương, các vỉa đá thường dịch chuyển về phía Tây và bị đẩy xuống vào trong lòng trái đất dọc theo một đường rãnh ngoài khơi bờ biển phía Đông của Nhật Bản. Theo Keith Sverdrup, giáo sư địa vật lý trường ĐH Wisconsin – Madison, bình quân mỗi năm địa tầng Thái Bình Dương dịch chuyển khoảng 8,9 cm, nhưng quá trình này không liên tục. Sự di chuyển có thể dừng lại khi các vỉa đá tỳ vào nhau một thời gian, tạo ra năng lượng tích tụ tăng dần. Khi các vỉa đá này không thể tiếp tục tỳ vào nhau nữa, chuyển động sẽ bùng phát mạnh, Svenrdrup nói.  Quá trình một vỉa đá bị đẩy xuống dưới 1 vỉa khác được gọi là sự hút chìm và tất cả đều xảy ra dọc theo vành đai Lửa, tạo ra những trận động đất khác, bao gồm trận động đất mạnh 7,7 độ richter, chặt đứt bờ biển Indonesia vào tháng 10 năm 2010.  Trận động đất này được xếp hạng như thế nào trong thống kê toàn cầu?  Theo Cơ quan Khảo sát Địa lý Hoa Kỳ (USGS), trận động đất 9 độ richter này có thể được đánh giá là trận động đất mạnh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử Nhật Bản và là trận động đất lớn thứ 5 trên thế giới kể từ năm 1900.  Trận động đất tạo nên sóng thần như thế nào?  Trận động đất tạo ra sự đứt gãy ở đáy biển và đất bất thình lình nhô lên theo chiều thẳng đứng. Chuyển động đột ngột này làm dựng lên những cột nước trên mặt biển, sinh ra hàng loạt những con sóng khổng lồ được biết đến như là một trận sóng thần (Tsunami).  “Nó không khác nhiều việc thả một hòn cuội vào trong vũng nước và thấy gợn lên những làn sóng lan ra”, Sverdrup phát biểu trên LiveScience.com. Các đợt sóng tràn về bờ biển phía đông của Nhật Bản và đồng thời lan rộng về phía Tây trên con đường dài hơn nhiều lần, hướng đến bờ biển phía Tây của Bắc Mỹ.  “Sóng thần lần này tràn vào Nhật Bản ở một địa điểm đã từng có sóng thần khổng lồ trong quá khứ, Hang Yeh chuyên gia về động lực học của sóng đại dương và bờ biển, bao gồm cả sóng thần, ĐH Oregon Hoa Kỳ nói. Trong các năm 1896 và 1933, sóng thần đã đánh vào chính khu vực này.  Yeh cho biết gia đình anh ở Tokyo vẫn ổn. ”Cha tôi 91 tuổi khi đó đi dạo quanh nhà cùng mẹ tôi 92 tuổi, họ cảm thấy mặt đất rung động. Cha tôi cứ ngỡ ông bị một cơn choáng đột qụy”. Theo nhà khoa học này, “Sóng thần thật sự là một hiện tượng bí ẩn, gợi tò mò vì nó hiếm khi xảy ra”. Đây là hiện tượng rất đặc biệt, không giống và cũng không mô phỏng sóng biển trong bão hoặc sóng thuỷ triều lớn. Nó có khả năng làm biến đổi cả hệ sinh thái lẫn địa hình địa vật của vùng đất nó chạm tới. Khi xem đoạn phim về trận sóng thần này trên truyền hình, Yeh nói ông bị bất ngờ, sửng sốt bởi tốc độ khủng khiếp của nước chồm lên quét trên cánh đồng và nhà cửa, tương tự như một trận lũ lụt của dòng sông.  Theo những báo cáo ban đầu thì đỉnh sóng thần cao nhất đạt đến 9,1m. Tuy nhiên, những dấu vết tại Nhà máy hạt nhân Fukushima cho thấy sóng thần đã ập vào nơi này với đỉnh sóng cao tới 14 m.  Chúng ta có thể dự báo những sự kiện như thế này chính xác đến mức nào?  Dự báo động đất là điều chúng ta chưa thực sự có khả năng làm chủ được, Sverdrup nói, “Với các trận động đất, điều tốt nhất chúng ta có thể nói là những vùng, khu vực nào là dễ xảy ra động đất và khả năng ước tính gần chính xác nhất theo xác suất thống kê của chúng ta là một trận động đất ở một cấp độ nào sẽ xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định nào đó”.  Khi một trận động đất như thế này xảy ra, có thể ước đoán liệu nó tạo nên một đợt sóng thần hay không bằng cách xác định có sự trồi lên của đất theo chiều thẳng đứng ở điểm đứt gãy hay không và bằng cách xem xét các số đo độ cao của nước xung quanh lòng chảo Thái Bình Dương do Mạng cảnh báo Sóng thần ghi lại được.  Mạng cảnh báo sẽ báo động cho người dân sống ở khu vực có khả năng bị tác động bởi sóng thần. “Không may là, khi bạn càng gần nơi xảy ra động đất, bạn càng ít có thời gian. Rõ ràng trong trường hợp này của nước Nhật, họ đã không có nhiều thời gian để phản ứng”, Sverdrup nói.  Với tốc độ các làn sóng đi về phía Tây vào khoảng 804,7km/giờ, gần bằng tốc độ một máy bay chở hàng, đảo Hawaii và bờ biển phía tây của Bắc Mỹ đã may mắn là điểm tâm chấn ở cách họ còn khá xa.  Tại Nhật Bản, cảnh báo sóng thần phát đi khoảng 5 phút sau khi động đất xảy ra và đã bao gồm cả dự tính độ cao của các con sóng, Yeh nói. Quốc đảo này đã được chuẩn bị tốt nhất trong phạm vi khả năng có thể để đối phó với thảm họa lần này. “Thiên tai kiểu này thực sự là một vấn đề không còn xa lạ với Nhật Bản, vì vậy họ luôn lo lắng phòng ngừa sóng thần, họ đã có tập dượt kinh nghiệm về phản ứng với sóng thần và họ có hệ thống cảnh báo sóng thần”, ông Yeh nói thêm.  Tại sao có lúc động đất gây sóng thần, có lúc thì không?  Điều này phục thuộc vào các yếu tố: cường độ trận động đất, hướng chuyển động của địa chấn, và bản đồ địa chất của đáy biển ở khu vực đó.  Trước hết, cường độ trận động đất được tính theo độ lớn của sóng địa chấn mạnh nhất ghi được trong trận động đất đó phải vượt quá một điểm ngưỡng nhất định. Trận động đất 9 độ richter của Nhật Bản đủ để gây ra một trận sóng thần, trong khi trận động đất mạnh 7,7 độ richter tại Indonexia tháng 10/2010 chỉ vừa vượt quá ngưỡng gây ra sóng thần một chút. “Các trận động đất dưới 7,5 độ hoặc 7,0 độ richter thường không tạo ra sóng thần”, Don Blakeman chuyên gia Địa vật lý của Trung tâm thông tin Động đất Quốc gia thuộc USGS, nói.  Các trận động đất tạo ra sóng thần khi các hoạt động địa chấn gây ra sự chuyển động lên hoặc xuống của vùng đất dọc theo các đường đứt gãy. Khi các phần của đáy biển dịch chuyển theo chiều thẳng đứng, hoặc nhô lên hoặc tụt xuống, toàn bộ  cột nước trên phần đáy biển này sẽ bị thế chỗ. Điều này tạo thành một đợt ‘sóng’ năng lượng đẩy nước về phía trước, Blakeman giải thích.  Theo chuyên gia Địa vật lý John Bellini của USGS thì các trận động đất khi đẩy các vỉa đất đá theo hướng nằm ngang thì thường ít gây ra các đợt sóng tàn phá nặng nề. Khi nguồn năng lượng đẩy các kiến tạo địa tầng theo chiều ngang, các khối đất đó không tạo đủ lực vào nước biển để tạo ra đợt sóng thần.  Độ cao của đợt sóng thần chịu ảnh hưởng của sự dịch chuyển thẳng đứng của vùng đất đó, vì vậy những sự thay đổi trong địa hình của đáy biển trên đường di chuyển của sóng sẽ làm khuyếch đại hoặc làm yếu đi cường độ của đợt sóng.  Vì sao (vòng) xoáy nước hình thành trong cảng của Nhật Bản sau khi sóng thần rút đi?  Khi sóng thần đánh vào bờ biển, sức mạnh của nước tương tác với hình dạng của bờ biển và đáy biển. Kết quả của sự hỗn độn này có thể gây ra hàng loạt các xoáy ngầm dưới mặt nước và thường làm lõm, tạo thành các vết sẹo trên đáy đại dương, như Edward Bryant, ĐH Wollongong, Úc đề cập tới trong bài viết “Sóng thần: Mối hiểm hoạ còn bị xem nhẹ”.  Xoáy nước không được ghi nhận nhiều trong các hồ sơ địa lý, nhưng theo lời kể của nhân chứng thì chúng thường xuất hiện tương đối phổ biến sau những đợt sóng thần lớn.  Hoàng Ánh Mai dịch, ( Wynne Parny, www.livescience.com)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn từ sự việc chữ Việt Nam song song 4.0: Nếu không cải tiến chữ Việt thì ưu tiên nghiên cứu gì?      Về mặt ngôn ngữ học, chữ Việt Nam song song 4.0 (CVNSS4.0) không tuân thủ cấu trúc của tiếng Việt và không thể sử dụng như là hệ thống ký âm, mà chỉ đơn thuần là hệ thống ký hiệu hay quy tắc gõ tắt. Nhưng tác giả cũng cho biết CVNSS4.0 sẽ hữu ích trên môi trường internet. Do đó, trong bài viết này chúng tôi xin chỉ ra tính không khả thi về phương diện công nghệ thông tin nếu cải tiến và sử dụng CVNSS4.0 để thay thế cho chữ Quốc ngữ. Và hơn cả, một câu hỏi tôi muốn đặt ra thảo luận là, hiện nay cần ưu tiên nghiên cứu những gì?    1. Tính đơn trị: Một trong những nguyên tắc khi xây dựng hệ thống ký mã, hay một bộ tiêu chuẩn là phải bảo đảm tối đa tính đơn trị, và hàm số phải là song ánh giữa 2 tập, có nghĩa là hệ thống ký mã phải có tính một-một, ví dụ âm /a/ thì chỉ có mã duy nhất là 97, và 97 là mã duy nhất cho chữ /a/. Như vậy chữ /a/ không thể lúc này là mã 97, lúc khác lại là mã 64, hay mã 97 không thể lúc này là chữ /a/ lúc khác lại là chữ /m/.      Trong khi đó CVNSS4.0 không tuân thủ tính đơn trị. Cụ thể, riêng về dấu thì có đến 3 ký hiệu cho dấu sắc – tùy theo nó đi với nguyên âm nào, lúc thì nó là /B/, lúc khác lại là /J/ lúc khác nữa lại là /X/. Tương tự các dấu huyền, hỏi, ngã, nặng cũng có 3 ký hiệu khác nhau tùy thuộc vào lúc nó kết hợp với chữ nào. Về ký hiệu, ký hiệu /B/ lúc này là phụ âm, lúc lại là dấu huyền. Và còn nhiều trường hợp khác cũng tương tự.     2. Quá rắc rối, nhiều quy tắc cho những điều bất quy tắc: Vì không có tính đơn trị nên CVNSS4.0 rắc rối và nhập nhằng trong ký hiệu, buộc người dùng phải nhớ nhiều quy tắc và phải phân tích trong đầu trong khi gõ. Trong khi kiểu gõ Telex hay VNI chỉ cần 8 quy tắc đơn giản (5 cho dấu thanh, 3 cho các dấu mũ trong các chữ /ô, ê, â /, dấu trăng trong /ă/ dấu móc trong /ơ, ư/ và chữ /đ/) thì CVNSS4.0 cần đến 52 quy tắc, trong đó có nhiều quy tắc khá khó nhớ, gây phiền phức cho người dùng do buộc họ phải xử lý một thuật toán if-then (nếu-thì) khá lớn.     3. Tiết kiệm không gian lưu trữ? CVNSS4.0 dùng quy tắc gõ tắt để giảm bớt 1 ký tự và trong 1 số ít trường hợp có thể giảm được 2 ký tự. Ngoài ra CVNSS4.0 chỉ dùng 26 ký tự nên có thể dùng bộ mã 7-bit để mã hóa, không cần dùng đến bộ mã 16-Bit như tiếng Việt Unicode đang sử dụng. Tuy nhiên, để tiết kiệm không gian lưu trữ ký tự cho chữ Quốc ngữ, nếu không tuân thủ các ký hiệu ký âm quốc tế thì có thể dùng mã Huffman thì sẽ tiết kiệm không gian triệt để hơn nhiều. Trong thực tế, người ta sẵn sàng trả giá về không gian lưu trữ để có tính dễ dàng cho người đọc hơn, vì thế người ta dùng ký hiệu chữ chứ không dùng các con số.     Có nhiều cách gõ dấu thanh khác nhau trên máy tính, trong đó ba kiểu phổ biến nhất là VIQR, VNI và Telex. Ảnh: Wikipedia.      4. CVNSS4.0 gõ năng suất và nhanh hơn? Nếu không dùng các kỹ thuật nâng cao thì đúng là CVNSS4.0 gõ nhanh hơn vì sử dụng nhiều quy tắc gõ tắt (tăng 25-20% như tác giả cho biết thì chưa có minh chứng). Nhưng đổi lại người dùng phải trả giá: buộc phải nhớ nhiều quy tắc và phải liên tục phân tích các tình huống vị trí ký tự, kết hợp với ký tự trong từ… Trong thực tế, có nhiều cách để nâng cao tốc độ gõ hơn rất nhiều, ví dụ ứng dụng Laban Key và các bộ gõ khác trên điện thoại di động có thể dùng AI hay thống kê xác suất để dự đoán và gợi ý từ thậm chí cả cụm từ mà CVNSS4.0 không thể nào so sánh được về tốc độ. Mặt khác, nếu không dùng các kỹ thuật thống kê và AI để dự đoán cả từ thì với một bộ luật gõ đơn giản người sử dụng cũng có thể gõ với tốc độ rất nhanh (do não không phải xử lý thuật toán gõ tắt, if-then).      5. CVNSS4.0 chính xác hơn? Không đúng, vì chữ khi gõ đầy đủ dấu thì Quốc ngữ hiện hành vẫn chính xác như thế, thậm chí có thể biểu đạt được nhiều phương ngữ vùng miền hơn.      Việc làm cần thiết ngay trong việc bảo tồn ngôn ngữ của các đồng bào dân tộc thiểu số là quy hoạch tổng thể về chữ viết, xây dựng chữ mới cho các ngôn ngữ chưa có chữ viết và đăng ký bộ mã ký tự của các ngôn ngữ vào trong bảng mã Unicode.      Về tính khả thi     Có thể khẳng định ngay CVNSS4.0 cũng như các cải tiến khác cho chữ Việt trong vòng hơn 100 năm trở lại đây đều không khả thi vì lợi ít-cập hại.     Đành rằng chữ Việt hiện tại có thể còn một số điểm chưa được tối ưu (còn một số rất ít điểm nhập nhằng, ví dụ /c-k/, /d-gi/), một số chữ chưa phù hợp với ngữ âm quốc tế, nhưng suy cho cùng ngôn ngữ không phải là hệ thống định lý toán học mà là hệ thống quy ước xã hội. Kể cả có vài điểm sai nhưng nhiều người dùng và nhiều người hiểu thì đều chấp nhận được, và điều này cũng rất phổ biến trong hầu hết các ngôn ngữ khác trên thế giới.     Đề xuất cải tiến nhằm tăng năng suất như CVNSS4.0 đưa ra sẽ mang lại lợi ích rất ít mà phá vỡ rất nhiều. Giả sử nếu CVNSS4.0 được triển khai thì không chỉ làm đứt gãy các nét văn hóa của chữ Việt đã tồn tại hơn 100 năm mà cũng cực kỳ tốn kém về mặt tài chính và bất khả thi về CNTT. Tiết kiệm được một chút thời gian, một chút bộ nhớ lưu trữ thì lại tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc không thể kể xiết để chuyển đổi hệ thống cũ sang hệ thống chữ viết mới.       Chỉ cần lấy ví dụ mỗi lần đổi tên tỉnh, tách nhập tỉnh hay chỉ đơn thuần thêm chữ số hoặc thay đổi chữ số ở số điện thoại thôi cũng gây nên đảo lộn. Chúng ta còn nhớ, khi tiêu chuẩn về bộ mã ký tự tiếng Việt mới là TCVN 6909:2001 được ban hành thì tự nó vẫn chưa thể đi vào cuộc sống được, và kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 72/2002/QĐ-TTg yêu cầu tất cả các cơ quan Nhà nước chuyển sang dùng font chữ Unicode từ ngày 1-1-2003 mà đến tận gần 10 năm chúng ta mới cơ bản chuyển xong. Chưa kể đó chỉ là chuyển đổi mã, tất cả cách gõ và hình chữ đều như cũ, còn với CVNSS4.0 không chỉ thay đổi cách gõ, thay đổi dáng chữ mà còn thay đổi một thói quen nhiều chục năm. Tóm lại việc chuyển đổi và thay thế chữ Quốc ngữ bằng CVNSS4.0 sẽ gây lãng phí rất lớn và bất khả thi.      Còn nếu nó chỉ là một phương pháp gõ tắt thì không cần phải dành quá nhiều tâm huyết đến như vậy, bởi sau khi gõ xong bắt buộc nó phải hiển thị về chữ Quốc ngữ và như vậy mọi lập luận về tính ưu việt của CVNSS4.0 không còn đúng nữa, và nếu đã là một cách gõ thì hãy để người dùng lựa chọn như cách họ lựa chọn giữa Telex và VNI vậy.         Giả sử nếu CVNSS4.0 được triển khai thì không chỉ làm đứt gãy các nét văn hóa của chữ Việt đã tồn tại hơn 100 năm mà cũng cực kỳ tốn kém về mặt tài chính và bất khả thi về CNTT.      Cần ưu tiên nghiên cứu những gì?     Nếu như các nhà ngôn ngữ học đã khẳng định không nên cải cách chữ Quốc ngữ nữa, thì ngành công nghệ thông tin cũng có chung câu trả lời như vậy. Cho đến nay chữ Việt đã ổn định, các công cụ hỗ trợ tiếng Việt như font chữ, bộ gõ tiếng Việt đã được hầu hết các hãng sản xuất phần mềm và phần cứng tích hợp vào sản phẩm của mình. Windows, MacOS, Android, IOS cũng đều có sẵn bộ gõ tiếng Việt mà không cần phải cài đặt thêm phần mềm bộ gõ riêng (tuy nhiên nếu cài các bộ gõ riêng như Unikey, Vietkey thì sẽ có nhiều tính năng hơn: kiểm tra chính tả, chuyển mã, gõ tắt…).       Nếu không nghiên cứu, quy hoạch tổng thể về chữ viết, đăng ký bộ mã ký tự các ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam vào trong bảng mã Unicode thì sẽ hết chỗ hoặc rơi vào các dải số bất lợi. Ảnh: Người dân tộc Thái học chữ Thái. Nguồn: Báo Nghệ An.       Những bài toán đang đặt ra cho nghiên cứu tiếng Việt và xử lý ngôn ngữ tiếng Việt (mà nhiều viện, trường, doanh nghiệp đang nghiên cứu) là những chủ đề khác, gồm: tách từ, phân loại tên thực thể từ, phân loại văn bản, tóm tắt văn bản, sinh văn bản, nhận dạng/tổng hợp tiếng Việt, nhận dạng chữ Việt, trích rút thông tin, chính tả tiếng Việt, dịch máy văn bản tiếng Việt sang các ngôn ngữ khác… Trong đó, một số bài toán trong lĩnh vực tiếng Việt đã được giải quyết khá tốt, bên cạnh đó vẫn còn nhiều bài toán mới ở bước sơ khởi và còn nhiều thách thức như trích rút thông tin, tóm tắt văn bản, dịch máy… Đây mới chính là những vấn đề quan trọng cần phải tiếp tục nghiên cứu.     Mặt khác, một vấn đề rất cấp thiết hiện nay là tạo văn bản trên máy tính nhằm giữ gìn và bảo tồn ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong số 54 dân tộc thiểu số, có 24 dân tộc có chữ viết riêng của mình, còn lại nhiều dân tộc chưa có chữ viết. Trong số những dân tộc có chữ viết thì cũng còn nhiều chữ viết chưa được mã hóa, chưa có font chữ và bộ gõ trên máy tính. Không có chữ viết và font chữ thì rất khó để bảo tồn và duy trì ngôn ngữ đó, không quảng bá được trên Internet… Có một số đề tài khoa học trong nước đã tiến hành xây dựng cách viết cho một số ngôn ngữ chưa có chữ viết bằng việc sử dụng các ký tự Latin và sử dụng các tổ hợp ký tự tiếng Việt để tạo các ký tự chữ viết cho ngôn ngữ đó, nhằm hạn chế phải xây dựng font chữ và bộ gõ mới cho ngôn ngữ, tuy nhiên phương pháp này không tuân thủ theo ký mã ngữ âm quốc tế, rườm rà, và không bảo đảm tính đơn trị và tính nghệ thuật của chữ viết, cần phải có những nghiên cứu triệt để hơn nữa.     Trong khi đó, các giải pháp xây dựng cách viết cho ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện nay đang thực hiện thiếu quy hoạch và đồng bộ, dẫn đến việc chồng lấn mã ký tự và chưa tương thích với nhau cũng như chưa tương thích với tiêu chuẩn Unicode của thế giới. Thêm nữa, các ký tự chữ viết dân tộc thiểu số dù đã được mã hóa hay chưa thì đa phần đều chưa được quy hoạch và chưa được đăng ký trong bản đồ ký tự Unicode thế giới. Nếu không đăng ký, đề xuất sớm, kho ký tự Unicode càng ngày càng giảm và nếu có cũng sẽ rơi vào các khu vực phải sử dụng dải số bất lợi trong kho ký tự này. Vì vậy việc làm cần thiết ngay trong việc bảo tồn ngôn ngữ của các đồng bào dân tộc thiểu số là quy hoạch tổng thể về chữ viết, xây dựng chữ mới cho các ngôn ngữ chưa có chữ viết và đăng ký bộ mã ký tự của các ngôn ngữ vào trong bảng mã Unicode.     Để phát huy tính sáng tạo trong lĩnh vực ngôn ngữ thì còn rất nhiều những vấn đề và thách thức đang chờ đợi những người có tâm huyết để giải quyết mà không nhất thiết phải đi cải tiến con chữ đã ổn định đã được cả dân tộc chấp nhận và yêu mến từ bao đời nay.     Sơ lược về Chữ Việt Nam song song 4.0 (CVNSS4.0)   CVNSS4.0 do hai tác giả Trần Tư Bình và Kiều Trường Lâm đề xuất gồm 3 thành phần: Chữ Quốc ngữ hiện hành, Chữ viết nhanh và Ký hiệu dấu.  Chữ viết nhanh (của tác giả Trần Tư Bình) gồm 5 nhóm quy tắc:  1. Bỏ dấu sắc ở các từ có các phụ âm cuối c,p,t,ch.  2. Thay Y ->I và thay UY ->Y;  3. Đổi một số phụ âm đầu 2 ký tự bằng 1 ký tự như PH->F; KH->K; GH->G; NGH,NG->W…  4. Đổi một số phụ âm cuối 2 ký tự bằng 1 ký tự: NG->G; CH->K.  5. Rút gọn 52 nguyên âm có 3-4 ký tự thành nhóm 2 ký tự: uyết->yd, uyên->yl…  Ký hiệu dấu (của tác giả Kiều Trường Lâm)  1. Quy ước ký hiệu dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng->J,L,Z,S,R; khi có dấu mũ thì ký hiệu dấu đổi thành B,D,Q,G,H; khi có dấu trăng thì ký hiệu dấu đổi thành X,K,V,W,H.  2. Ký hiệu cho dấu mũ trong /â, ê, ô/, là Y, dấu trăng và móc trong /ă, ơ, ư/ là O và không dấu là P.  Khẳng định của các tác giả: CVNSS4.0 ngắn gọn hơn chữ Việt hiện hành; CVNSS4.0 chỉ dùng 26 ký tự tiếng Anh để viết nên không cần bộ gõ chuyên dụng như Vietkey, Unikey mà dùng luôn bộ gõ tiếng Anh có sẵn; CVNSS4.0 gõ nhanh hơn 25-30% so với bộ gõ Telex hay VNI; CVNSS4.0 có độ chính xác cao.    Author                Đặng Minh Tuấn        
__label__tiasang Nhíp quang học: “Con ngựa thồ” của nhiều lĩnh vực thực nghiệm      Kể từ lần phát hiện đầu tiên về lực tán xạ và gradient quang học vào năm 1970, nhíp quang học đã giúp tiết lộ nhiều bí ẩn và đưa ra những hiểu biết sâu sắc hơn trong nhiều lĩnh vực khoa học. Arthur Ashkin, cha đẻ của nhíp quang học, nhớ lại một số khoảnh khắc “eureka” khi phát hiện ra nhíp quang học và chia sẻ quan điểm về lĩnh vực này với Nature Photonics.      Arthur Ashkin – nhà vật lý đoạt giải Nobel 2018. Nguồn: Washingtonpost.  Nhíp quang học là gì?  Nhíp quang học, hoặc “nhíp laser”, là những thiết bị dùng laser để bắt, bẫy và thao tác một cách ổn định các hạt nhỏ có kích thước khác nhau từ hàng chục micromet đến một phần của nanomet. Chúng được dựa trên áp lực bức xạ, phát sinh từ động lượng ánh sáng, và khai thác các chùm laser thông thường để tập trung vào các vùng nhỏ tại chỗ phù hợp với ứng dụng cụ thể. Nhíp quang học có những đặc tính độc đáo đã tạo ra các “cuộc cách mạng” trong những nghiên cứu thực nghiệm của các hạt nhỏ trong nhiều lĩnh vực. Chúng có thể bắt các hạt đơn lẻ, bao gồm các hạt điện môi, kim loại hoặc chất lỏng, và thậm chí là các nguyên tử hoặc phân tử đơn lẻ trong môi trường chân không, không khí hoặc chất lỏng. Chúng có khả năng phân giải vị trí của hạt xuống khoảng cách dưới nanomet và đo các lực dưới piconewton được áp dụng cho các hạt cố định hoặc di chuyển. Chúng có thể được sử dụng trong không gian tự do hoặc kết hợp với các loại kính hiển vi quang học, điện tử, đường hầm hoặc lực nguyên tử.  Nhíp quang học được sử dụng như thế nào?  Ngày nay, nhíp quang học được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học vật lý, hóa học và sinh học. Ví dụ, nhiều kỹ thuật đã được phát triển trong sinh lý học để áp dụng nhíp quang học cho các phân tử sinh học đơn lẻ như động cơ phân tử. Kỹ thuật “xử lý” thường được sử dụng để gắn một hạt vĩ mô vào một phân tử nhỏ để đo các lực rất nhỏ. Nhíp quang học đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc hơn vào các quá trình động lực chịu trách nhiệm cho chuyển động tế bào trong sinh học. Các kỹ thuật phản hồi cũng đã được phát triển để đo và kiểm soát các lực quang học được áp dụng cho các hạt một cách tinh nhạy. Đáng ngạc nhiên, lực nhíp cũng có thể được áp dụng bên trong các tế bào sống để điều khiển các bào quan và các hạt tế bào khác, như một kiểu phẫu thuật nội bào.      Nhíp quang học có những đặc tính độc đáo đã tạo ra các “cuộc cách mạng” trong những nghiên cứu thực nghiệm của các hạt nhỏ trong nhiều lĩnh vực… Ví dụ trong sinh học, nó đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc hơn vào các quá trình động lực chịu trách nhiệm cho chuyển động tế bào.      Việc bẫy và thao tác thành công đòi hỏi các nguyên tử hoặc phân tử phải được làm mát bằng các lực quang học và sau đó được đặt bên trong một cái bẫy quang học sâu. Điều đáng chú ý là nhíp quang học cho phép chúng ta làm mát các nguyên tử quang học từ nhiệt độ khoảng 500 đến 1.000 K – nhiệt độ điển hình của một chùm nguyên tử từ một lò nướng – tới hàng trăm mK. Điều này làm chậm một cách hiệu quả các nguyên tử xuống đến tốc độ của một vài cm mỗi giây, tương ứng với vận tốc đạt được của nguyên tử sau một tán xạ đơn photon – khoảng 3 mm s-1 cho nguyên tử natri. Kỳ tích này và lần trình diễn đầu tiên sau đó của nhíp quang học được hoàn thành tại Bell Labs vào năm 1985 và 1986.  Ông phát hiện ra nhíp quang học như thế nào?  Lần đầu tiên tôi bắt đầu quan tâm đến các lực bức xạ là trong Thế chiến thứ hai khi tôi đang ở Phòng thí nghiệm bức xạ Columbia. Là sinh viên năm thứ hai, tôi đã là kỹ thuật viên đầu tiên của họ. Chúng tôi đã làm việc với các magnetron vi sóng. Để giải trí, tôi đã thử một thí nghiệm để phát hiện áp suất bức xạ của bước sóng 3 cm của một nam châm megawatt, và nó đã chạy. Sau đó, tôi ở Bell Labs, tôi quan tâm tới áp suất ánh sáng vốn được cập nhật bằng các báo cáo về chuyển động kỳ lạ của các hạt nhỏ bên trong các hộp cộng hưởng của các laser khả kiến. Có người giải thích hiện tượng này là do áp suất nhẹ. Tôi nghĩ lý thuyết này là sai, vì vậy tôi đã làm một thí nghiệm đơn giản với các quả cầu trong suốt có kích thước micromet và chùm tia laser tập trung. Thí nghiệm này đã minh chứng các lực đẩy rất lớn và, đáng ngạc nhiên, một gradient lực ngang mạnh do tán xạ cơ bản và gradient lực này kéo các hạt vào vùng cường độ cao của ánh sáng. Những quan sát này cho thấy ánh sáng laser có thể bẫy các hạt trên một tấm thủy tinh như thế nào và cho tôi ý tưởng thay thế tấm kính bằng chùm tia đối nhau để tạo ra một cái bẫy ánh sáng hai chùm toàn quang. Công việc đó đã dẫn đến bẫy nâng đơn chùm vào năm 1971 và sau đó là những chiếc bẫy toàn quang đơn chùm – nhíp quang học – vào năm 1986. Đó là thời điểm nhiều khám phá thú vị, nhưng tôi không nhớ là đã nhảy ra khỏi bồn tắm và la lên “eureka” không!  Một điểm nổi bật của phát hiện này là việc nhận ra rằng nó cũng có thể bẫy các nguyên tử và phân tử – vì sau khi tất cả, các nguyên tử cũng chỉ là các hạt điện môi nhỏ. Tôi cũng suy đoán về việc sử dụng nhíp quang học để bẫy các hạt sinh học, nhưng vào thời điểm đó, tôi đã lo lắng về những thiệt hại tiềm ẩn mà các chùm tia laser mạnh có thể gây ra cho mô sống. Vấn đề này sau đó được giải quyết bằng cách sử dụng laser hồng ngoại.    Nhíp quang học có thể điều khiển các chùm laser thông thường để tập trung vào các vùng nhỏ tại chỗ phù hợp với ứng dụng. Nguồn: Quantamagazine  Có bất kỳ khó khăn nào cản trở bước tiến của ông không?  Tôi nhớ lại những khó khăn mà tôi có trong việc nộp bài đầu tiên của tôi cho Physical Review Letters. Tại Bell Labs, nếu muốn xuất bản nghiên cứu thì các nhà nghiên cứu được một người đánh giá nội bộ ẩn danh chấp thuận trước. Nhân vật này đã từ chối công trình của tôi vì nhiều lý do, một là vì “không có tính mới về vật lý”. Họ nói rằng thực ra công trình đó không hẳn tồi và có thể được xuất bản ở đâu đó, nhưng không phải trên Physical Review Letters. Rudi Kompfner – giám đốc Bell Labs, dù thất vọng về điều này nhưng lại khích lệ tôi gửi bài báo đi, và rồi nó đã được chấp nhận. Sau đó, tôi nhận được một lá thư động viên từ một người lạ, trong đó nói rằng: “Đây là công trình cho những người cháu của anh” – hàm ý nói về tương lai ứng dụng của nó. Năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Hội Vật lý Hoa Kỳ, bài báo đó được coi là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong vật lý nguyên tử trong thế kỷ qua, và được đưa vào trong tập “The Physical Review: Trăm năm đầu tiên”.  Nhìn lại, những vị sếp đầu tiên rất ủng hộ tôi nhưng người kế vị hoàn toàn ngược lại. Họ nghĩ rằng không ai quan tâm đến việc bẫy các hạt vĩ mô. Sau đó, khi tôi cho ông ta thấy bẫy vi khuẩn, virus sống và gợi ý nó có thể rất quan trọng, ông ta nói với tôi: “Nghệ thuật quá, đừng cố phóng đại.” Người khác nghĩ rằng sẽ khó để bẫy nguyên tử hoạt động. Tuy nhiên, tôi vẫn kiên trì theo đuổi nó và tiếp cận Jim Gordon, người chế tạo chiếc maser đầu tiên, nhờ ông kiểm tra xem kết luận của tôi, dựa trên phương pháp bán cổ điển để bẫy và làm mát các nguyên tử. Jim đã quan tâm và về cơ bản đã đồng ý với tôi. Ông đã dùng một phương pháp cơ bản dựa trên điện động lực học lượng tử. Ông thậm chí còn phát hiện thêm hiệu ứng làm nóng lượng tử.  Sau đó chúng tôi đã chứng minh Định lý Earnshaw quang học, cho thấy cả lực tán xạ và lực gradient đều cần thiết để tạo ra các bẫy nguyên tử. Năm 1984, Steven Chu đến Holmdel từ Bell Labs ở Murray Hill và hợp tác với John Bjorkholm, Leo Holberg và tôi trong dự án, bất chấp một cảnh báo cụ thể từ ban quản trị. Sau một số khó khăn ban đầu, thí nghiệm diễn ra như dự đoán, như cho các lời khen ngợi của một số người và cho sự ngạc nhiên của một số khác.  Lần đầu tiên ông áp dụng nhíp quang học như thế nào?  Nhíp bẫy thường dùng để chỉ các bẫy gradient đơn chùm. Ngoài ra còn có các bẫy gradient hai chùm để dùng với các nguyên tử hoặc các hạt vĩ mô. Đối với các nguyên tử, ánh sáng bẫy được điều chỉnh thấp hơn nhiều so với sự cộng hưởng để giảm sự biến động gia nhiệt. Tôi phát minh ra các nhíp bẫy vào năm 1978. Độ sâu bẫy của nhíp lớn hơn hàng nhiều bậc độ lớn so với những bẫy nguyên tử được Letokhov và những người khác đề xuất trước đó. Nhíp là bẫy đơn chùm và do đó dễ dàng thao tác trong không gian. Điều thú vị là, nhíp quang học lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1986, tại thời điểm khó khăn trong thí nghiệm bẫy nguyên tử đầu tiên của chúng tôi. Việc trình diễn bẫy các hạt Rayleigh có kích thước nhỏ micromet tại thời điểm đó là bằng chứng về tính đúng đắn của nhíp bẫy.  Thật vậy, nhip bẫy nguyên tử hoạt động không lâu sau đó và chúng tôi đã đạt được một-thời-khắc-nổi-tiếng khi thành tựu của chúng tôi được công bố trên trang đầu tiên của Sunday New York Times. Điều này và công việc phát triển tiếp theo đã dẫn đến việc Steven Chu, Claude Cohen-Tannoudji và William Phillips nhận giải Nobel Vật lý năm 1997 “cho sự phát triển của phương pháp làm mát và bẫy nguyên tử bằng ánh sáng laser”. Steven Chu rời đến Stanford ngay sau đó và tôi bắt đầu làm việc với Joseph Dziedzic – trợ lý của tôi, về việc bẫy virus khảm thuốc lá, vi khuẩn và các hạt sinh vật khác và sinh vật sống. Điều đó dẫn đến một lĩnh vực hoàn toàn mới của ứng dụng cho bẫy quang học và thao tác quang học trong sinh học và khoa học sự sống. Nhíp và các bẫy gradient khác cuối cùng đã trở thành “con ngựa thồ” thực sự của bẫy và thao tác quang học.    Arthur Ashkin vào thời điểm phát triển nhíp quang học tại Bell Labs. Nguồn: Bell Labs  Có khó để làm nhíp và các bẫy quang khác không?  Rất dễ dàng để làm bẫy quang học và nhíp cho các hạt điện môi cỡ micromet. Tất cả cần là một chùm tia laser vài mW, tốt nhất là ở vùng bước sóng khả kiến, tập trung vào một điểm nhỏ có thể thay đổi từ mức tối thiểu lý thuyết của một nửa bước sóng ánh sáng lên đến vài micromet. Việc bẫy các nguyên tử hoặc phân tử trở nên khó khăn hơn; điều này đòi hỏi một laser ổn định tần số có khả năng điều chỉnh một cách nhạy cảm trong chiều rộng nguyên tử, cũng như các chùm laser bổ sung để làm mát các nguyên tử đến nhiệt độ dưới độ sâu bẫy.      Nhíp và các bẫy gradient khác cuối cùng đã trở thành “con ngựa thồ” thực sự của bẫy và thao tác quang học.      Việc làm mát như vậy đã được thực hiện tại Bell Labs vào năm 1985 và sau đó tại Phòng Tiêu chuẩn Quốc gia, nay là Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia. Điều này đến lượt dẫn đến giải Nobel Vật lý năm 2001 cho việc trình diễn một ngưng tụ Bose – Einstein quang (BEC). BEC là quá trình chuyển pha lượng tử đáng kể có thể xảy ra ở các hạt bosonic ở nhiệt độ rất thấp. Khi mật độ hạt của một hệ đủ cao sao cho các bước sóng de Broglie của các hạt liền kề chồng chập lên nhau, tất cả các hạt sẽ suy sụp thành trạng thái đồng pha có năng lượng thấp nhất. Các BEC đầu tiên đạt được bằng cách làm mát bay hơi các nguyên tử từ mK (một phần triệu độ tuyệt đối) đến nhiệt độ nK (một phần tỉ độ tuyệt đối) trong bẫy từ. Nhiệt độ như vậy có lẽ là nhiệt độ lạnh nhất trong vũ trụ và tương ứng với vận tốc vài chục mm trên giây – dưới rất nhiều vận tốc từ hấp thụ đơn photon cộng hưởng.  Tuy nhiên, bẫy từ rất hạn chế vì chúng chỉ có thể bẫy các nguyên tử trong một mức hạ cơ bản. Nhíp quang học đặc biệt không được sử dụng trong công việc đầu với BEC. Những chiếc nhíp bẫy nguyên tử được xem xét, vào thời điểm đó, quá yếu và quá nhỏ để giữ nguyên tử được làm mát bay hơi. Điều này này làm tôi băn khoăn. Cuối cùng, nó đã được nhận ra rằng lưỡng cực quang học hay nhíp bẫy là vượt trội hơn so với bẫy quang-từ cho BEC. Nhíp có thể chứa tới 108 nguyên tử với mật độ cực cao khoảng 1015 nguyên tử trên mỗi cm khối và có khả năng bẫy tất cả các hạ từ tính.  Quan trọng hơn, nhíp quang học cho phép hiệu ứng cộng hưởng Feshbach từ tính tán sắc được điều chỉnh bằng cách sử dụng từ trường bên ngoài. Điều này quan trọng bởi vì tất cả các thuộc tính cơ bản của BEC phụ thuộc vào độ lớn và dấu của một thông số đơn lẻ: chiều dài tán xạ. Gần một cộng hưởng Feshbach, người ta có thể điều chỉnh chiều dài tán xạ và thay đổi tương tác. Hầu như mọi thí nghiệm BEC gần đây đều dựa vào việc điều chỉnh cộng hưởng Feshbach từ tính hoặc quang học.    Một cuốn sách của Arthur Ashkin về bẫy và điều khiển laser. Nguồn: Amazon  Việc ứng dụng nhíp quang học đã đem lại những thành tựu đáng chú ý nào?  Gần đây, BEC đã được sử dụng để nghiên cứu tính siêu chảy, siêu dẫn, hiệu ứng Josephson, các hiệu ứng spintronic và tạo xoáy trong hơi nguyên tử. Ngay cả các hạt Fermionic không tương tác, với spin nguyên, đã được ngưng tụ với sự trợ giúp của nhíp quang học. Bắt đầu với phát hiện riêng của chúng tôi về việc bẫy vi sinh vật dựa vào nhíp vào năm 1987, lĩnh vực thao tác bẫy bằng laser trong sinh học đã trở thành một trong những ứng dụng quan trọng nhất của kỹ thuật này. Steven Block từ Đại học Stanford ở Mỹ và các cộng tác viên của ông đi tiên phong trong việc bẫy nhíp quang học của các phân tử sinh học đơn lẻ, đặc biệt là các động cơ phân tử như kinesin, myosin, dynein và RNA polymerase. Ông đã hoàn thiện các kỹ thuật phản hồi thông minh để nghiên cứu phát sinh lực và chuyển động bước của động cơ phân tử. Nhóm của ông đã nghiên cứu các tính chất cơ học của DNA và thậm chí phân tích mã di truyền của nó với độ chính xác hạ ångström.  Ngoài ra còn có những thành tựu minh họa các hướng chính khác được thực hiện bởi nhíp quang học; ví dụ, công việc trên các ống nano plasmon và các ứng dụng của mô men động lượng của quỹ đạo của ánh sáng laser.  Triển vọng của lĩnh vực này là gì?  Nhiều ứng dụng vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, vì vậy người ta hy vọng chúng sẽ phát triển tốt trong tương lai. Ví dụ, điện toán lượng tử và các ứng dụng y tế sử dụng nhíp quang học để chẩn đoán bệnh một cách nhanh chóng. Bệnh sốt rét và một số tế bào ung thư có thể được phát hiện dựa trên độ đàn hồi của các tế bào dị thường. Tương lai có thể sẽ thấy việc ứng dụng nhíp nhiều hơn để nghiên cứu định lượng liều thuốc phân phối tới các tế bào đơn lẻ bằng cách phân tách quang học. Tôi mong đợi nhiều công việc hơn về tế bào và vận động amip và vi khuẩn flagella.  Trong vật lý, BEC có thể giúp giải quyết các vấn đề về siêu dẫn nhiệt độ cao. Các BEC được tạo ra một cách quang học được gọi là “món quà từ thiên đường” của nhà khoa học đoạt giải Nobel Frank Wilczek, người làm việc trên các siêu chảy quark. Việc làm mát quang học của các hạt vĩ mô để giảm xuống nhiệt độ cực thấp, tới vùng lượng tử mở ra các ứng dụng mới hấp dẫn. Việc sử dụng nhíp phát hiện lực siêu nhạy nên được theo đuổi cho các thiết bị phát hiện lực hấp dẫn và đo lường chính xác điện tích và các hằng số cơ bản khác. Đề án cho các laser nguyên tử sóng liên tục thực sự cũng cần được theo đuổi.  Nhíp bẫy là một kỹ thuật – không chỉ là một chủ đề duy nhất – có những khả năng độc nhất để nghiên cứu nhiều loại hạt. Như vậy, nó sẽ có thể tiếp tục hữu ích lớn trong tương lai.  Cám ơn ông!  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và năng lượng, Đại học KHTN, ĐHQGHN) dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/nphoton.2011.101    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhớ anh Lê Văn Thành      Anh Thành quê ở Đô Lương, Nghệ An, học ĐHTH Hà Nội trước tôi hai năm, và là một trong những thành viên đầu tiên của Phòng Nghiên cứu Toán thuộc UBKHNN (tiền thân của Viện Toán học). Anh Thành học đại học trong nước, làm tiến sĩ cũng trong nước. Sau khi đã nhận học vị tiến sĩ, anh xuất ngoại vài lần, sang Viện Max-Planck fur Mathematik Bonn, Ecole Polytechinique Paris và RIMS, Nhật Bản.      Phòng Tô pô – Hình học những năm 1980. Từ phải: Hàng trước: Hà Huy Khoái, Lê Văn Thành; Hàng sau: Ngô Việt Trung, Hồ Hữu Việt, Hà Huy Vui, Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Sỹ Minh  Là học sinh vào loại giỏi nhất lớp của K6 Khoa Toán ĐHTH Hà Nội, anh Thành được GS Lê Văn Thiêm giới thiệu về UBKHNN. Anh cùng các GS Lê Văn Thiêm, Ngô Văn Lược tham gia việc áp dụng lý thuyết nước thấm để thiết kế đào mương rửa mặn vùng ven biển. Mục đích chính là biến một số diện tích nhiễm mặn thành đất có thể trồng lúa, thay cho cách trồng cói phải kéo dài trong nhiều năm. Các kết quả về lý thuyết của công việc này đã được viết thành một cuốn sách (in roneo) và một số bài báo đăng trong Tạp chí Toán học.  Khi về Phòng Nghiên cứu Toán, tôi cùng tham gia với anh Thành trong một số nghiên cứu về lý thuyết nước thấm. Mấy lâu sau, anh Ngô Văn Lược gửi từ Liên Xô về một cuốn Proceedings của một Hội nghị về Hàm phức. Tôi và anh Lê Văn Thành rất bực mình, vì mang tiếng là làm về Hàm phức mà đến cái tên của nhiều báo cáo còn không hiểu. Anh Trần Gia Lịch xem qua rồi nói: “Đó là Hàm phức nhiều biến, khó lắm đấy”. Thế là tôi cùng anh Thành quyết định học Hàm phức nhiều biến. Vào thư viện Khoa học Trung ương cũng thấy khá nhiều sách về Hàm phức nhiều biến. Không biết chọn cuốn nào, đành chọn cuốn…mỏng nhất! Đó là cuốn “Các tập Giải tích” của Hervé. Bây giờ thì ai cũng biết, đó không thể là cuốn nhập môn Hàm nhiều biến! Thế nhưng nhờ học những kiến thức về hàm nhiều biến phức mà anh Thành đã rất thành công khi làm việc với GS Frédéric Phạm. Anh viết không nhiều, nhưng có bài đăng trong những tạp chí rất tốt như Math. Ann., Trans. Amer. Soc., C. R. Acad. Sci. Paris,… Đọc qua vài dòng trong tóm tắt Luận án của anh (ảnh kèm theo) cũng có thể thấy anh đã có những kết quả rất có giá trị.  Anh Thành là người sống có nguyên tắc. Xin kể một chuyện nhỏ sau đây. Anh chia lương hằng tháng của mình thành hai khoản: phần lớn gửi về quê giúp bố mẹ, phần còn lại để chi tiêu.Trong khoản dành cho mình, anh cũng chia rất rõ ràng: phần mua phiếu ăn của nhà ăn tập thể Giảng Võ, phần tiêu vặt, phần mua thuốc lá. Anh nghiện nặng, nên phần cho thuốc lá chiếm tỷ trọng khá lớn! Một lần, thấy giá thuốc lá tăng vọt, tôi lo cho anh. Anh cười, “may cho mình cậu ạ! Tiền cho thuốc lá cố định rồi, nên lượng nicotine vào mình sẽ bớt đi”! Khi đi Max-Placnk-Institut, anh mang theo thuốc lá đủ dùng cho cả đợt, vì thuốc bên Đức đắt quá. Không ngờ được gia hạn ba tháng, anh đành sang Paris mua Gauloises, là loại thuốc rất nặng và rẻ, đủ dùng cho ba tháng ở Bonn.  Khi anh có thêm đứa con thứ ba, tôi lại lo cho anh. Anh lại cười:” Có gì đâu cậu, trước đây quả trứng luộc chia đôi, bây giờ chia ba. Rau thì trồng ở cái bờ mương sau nhà, hôm nhiều thì luộc, hôm ít nấu canh”. Vậy mà ba đứa con của anh đều trưởng thành, giỏi giang. Cậu con cả được huy chương đồng Olympic Tin học quốc tế. Những năm khó khăn, anh làm thêm việc đóng mũ đinh cho mậu dịch. Tiền tính theo sản phẩm, mỗi ngày cũng có thể đủ mua một bát phở.  Nhìn anh Thành, ít ai nghĩ anh lại có chuyện tình như tiểu thuyết! Tôi còn nhớ vào một dịp Tết, anh đi Mộc Châu thăm bà con. Khi về có vẻ rất bồn chồn. Tôi hỏi thì anh kể: đi Mộc Châu rất ít người, hằng ngày phải ra bến xe xem đã đủ chuyến chưa. Khi đến phải trình giấy tờ, anh để ý một cô gái xinh xắn có tên là Lê Thị Chuyên, và định đến nơi sẽ làm quen. Ai ngờ cách Mộc Châu 5 km thì cô gái xuống giữa đường. Hốt hoảng vì lo mất dấu vĩnh viễn, anh viết vội mẩu giấy “Lên ăn tết Tây Bắc, người cùng họ bao giờ về xuôi”. Rôi ghi tên và địa chỉ, ném vào nón cô gái khi cô ấy vẫy chào mọi người. Mấy ngày Tết, anh mượn xe đạp ngẩn ngơ về lại nơi cô gái xuống xe, hòng tìm “tăm cá, bóng chim”. Vài hôm sau khi kể chuyện đó, anh hớn hở chìa cho tôi xem mẩu giấy: “Người cùng họ đã về”. Kết thúc cũng là một địa chỉ. Chuyện tình của anh với cô họa sĩ Lê Thị Chuyên, giảng viên trường Sư phạm Nhạc họa bắt đầu như thế đó. Chị Chuyên đã cùng anh trải qua bao năm tháng khó khăn để nuôi ba đứa con nên người.  Anh Thành sống lạc quan, thích triết lý. Tôi vẫn đùa anh là một “nông dân thông thái”. Các triết lý của anh đều bắt nguồn từ việc am hiểu đời sống nông thôn. Có thể vì cái bệnh nghiện thuốc, lại thường phải hút thuốc rẻ tiền, phần lớn là thuốc sợi tự cuốn bằng giấy báo, nên anh mất vì ung thư phổi khi mới 65 tuổi.□       Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Nhớ giáo sư Nguyễn Đình Tứ      LTS: Nhân sinh nhật lần thứ 89 của giáo sư Nguyễn Đình Tứ, viện trưởng sáng lập Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và là người đảm trách một số chức vụ Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tia Sáng giới thiệu bài viết của giáo sư Cao Chi, một đồng nghiệp của ông tại Viện NLNTVN.      Giáo sư Nguyễn Đình Tứ (giữa) gặp lại Viện sĩ N.N. Bogoljubov tại Dubna, năm 1981. Ảnh tư liệu  Tôi không thể nào quên được người bạn có thân hình nhỏ nhắn với đôi mắt sáng biểu thị thật sự một trí thông minh hiếm có.  Tôi quen anh Nguyễn Đình Tứ từ năm 1944, lúc còn học với anh ở trường Collège Võ Tánh, Qui Nhơn. Vào lúc ấy thi đậu Collège Võ Tánh là một điều khó khăn, còn được vào nội trú (internat) của trường lại là điều khó khăn gấp bội. Anh Nguyễn Đình Tứ và tôi may mắn được lọt vào trong một số ít học sinh nội trú của trường.  Năm ấy, chúng tôi học lớp đệ nhất niên. Nhiều bạn trong nội trú, kể cả các anh học các năm trên đều có cảm tình đặc biệt với anh Tứ vì tinh thần học tập cần cù và vì anh Tứ học rất giỏi, đạt nhiều thành tích, được bạn bè và các thầy chú ý.  Có những buổi chiều, chúng tôi ngồi bên nhau trên sân trường cùng hát bài ca mà học sinh nội trú rất yêu thích:  NGOÀI TRỜI ĐÊM  Trên cảnh vật lặng tờ màn đêm xuống buông dần,  Màn đêm che khuất là hoa núi sông…  …  Ta mau hát vang lên cho vầng đêm tối chóng tan,  Cho ngày mai đến tưng bừng…  Và ngày mai đã đến: chúng tôi học được một năm thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ.  Chúng tôi xa nhau. Tôi ở phía Nam, còn anh Tứ ở phía Bắc, học trường Huỳnh Thúc Kháng, lớp Toán học đại cương. Sau đó anh học lớp Khoa học cơ bản ở Nam Ninh, Trung Quốc. Tiếng đồn học giỏi của anh Tứ vang tận miền Nam: anh Tứ là người giải được tất cả các bài toán trong các quyển Brachet, vốn là những quyển sách toán có những bài tập rất khó.  Sau đó anh Tứ được cử đi học ở Trung Quốc, Đại học Thủy lợi Vũ Hán.    Thủ tướng Phạm Văn Đồng và giáo sư Nguyễn Đình Tứ tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ĐH Tổng hợp HN (nay là ĐHQGHN). Nguồn: ĐHQGHN  Và đến năm 1957 anh được Nhà nước Việt Nam cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân tại Dubna. Có lẽ quyết định này đúng với nguyện vọng thầm kín của anh Tứ. Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân là Viện Nghiên cứu hạt nhân và các hạt cơ bản của phe xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.  Tại đây sang làm việc có nhiều nhà khoa học Việt Nam nổi tiếng, như Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu.  Trong thời gian này tôi đang học tại trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonossov, Moscow. Tôi vội vàng đến Dubna tìm gặp anh Tứ. Thật vui mừng được gặp nhau sau bao nhiêu năm xa cách. Và khó quên được những buổi đi dạo cùng nhau trong những cánh rừng bạch dương quanh thành phố Dubna nổi tiếng.  Trong thời gian ở Dubna, anh Tứ đã trở thành một nhà khoa học xuất sắc ngành hạt nhân, thu được một kết quả khoa học quan trọng (cùng với các đồng nghiệp quốc tế): tìm ra hạt antisigma-minus hyperon. Thành tích này không dễ mấy nhà khoa học Việt Nam (hay quốc tế) có được.  Anh đã thay mặt nhóm nghiên cứu gồm nhiều nhà khoa học các nước đọc nhiều báo cáo tại các cuộc hội thảo quốc tế. Anh Tứ sau đó bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Trong những buổi trò chuyện tôi càm nhận ở anh sớm bộc lộ tư cách của một người lãnh đạo tương lai ngành hạt nhân của Việt Nam.  Sau khi được Giáo sư Tạ Quang Bửu chọn cử đến Dubna làm việc, tôi lại có vinh dự được làm việc cùng với các nhà khoa học Việt Nam, trong đó có anh Tứ.  Chúng tôi nhớ lại, lúc bấy giờ trong anh em chúng tôi nhiều người cố gắng làm việc và đồng thời chuẩn bị luận án thì anh Tứ dường như xem việc bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học của anh là một việc nhẹ như lông hồng, mặc dầu kết quả nghiên cứu của anh có lẽ thừa đủ cho một luận án tiến sĩ khoa học.  Với cương vị bí thư chi bộ, anh Tứ đặt nhiệm vụ cho anh em Việt Nam tại Dubna là phải nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công nghệ hạt nhân.  Hồi tưởng lại, tôi càng hiểu được rằng anh Tứ quả thật là một người có tầm nhìn rộng, có tinh thần yêu nước, luôn lo nghĩ đến việc làm sao cho nước Việt Nam chúng ta có được một ngành hạt nhân vững mạnh. Nhờ chủ trương đó mà các cộng tác viên Việt Nam tại Dubna đã để tâm nghiên cứu và tìm tòi nhiều tài liệu dính dáng đến công nghệ hạt nhân. Nhiều kiến thức và tài liệu tích lũy trong thời gian này đã giúp ích tôi rất nhiều khi làm chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước KC-09-17 (1990-1995) về việc đưa điện hạt nhân vào Việt Nam.  Khi công tác ở nước ngoài, anh Tứ đã toàn tâm toàn ý lo lắng đến tương lại ngành hạt nhân của Việt Nam. Về điểm này, có thể liên tưởng đến tấm gương sáng ngời của anh Trần Đại Nghĩa. Sau này khi về nước, anh Tứ là người trước sau như một, chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Như là một người trong ngành hạt nhân, tôi xin phép được nói rằng, người đầu tiên nghĩ về điện hạt nhân một cách toàn diện và khoa học chính là anh Nguyễn Đình Tứ. Ngày nay, ý nguyện đó của anh chưa thành sự thật (nhiều ý kiến phản bác điện hạt nhân).  Bản thân anh tự mình tìm tòi chạy những chương trình máy tính liên quan đến các tính toán trong nhà máy điện hạt nhân. Anh Tứ đã đem hết tâm huyết của mình cho ngành điện hạt nhân, từ khâu tổ chức đến khâu đào tạo cán bộ, xây dựng các đề tài cấp Nhà nước phục vụ điện hạt nhân. Như chúng ta biết trong thời gian qua chúng ta đã có những phác thảo các quá trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Có thể nói, đây là một tiến bộ quan trọng trong chương trình điện hạt nhân, tiếc rằng vì điều kiện khách quan nên dự án bị dừng lại, tuy nhiên trong các thành công ngành hạt nhân, phải công nhận công đầu thuộc về anh Nguyễn Đình Tứ.  Nhân ngày sinh lần thứ 89 của anh Nguyễn Đình Tứ (01/10/1932-01/10/2021), tôi xin viết mấy dòng cảm nghĩ tưởng nhớ đến anh, một nhà khoa học có phẩm cách đầy tài năng, khiêm nhường, không khoa trường, không màng danh vị, có Đảng tính cao và lòng yêu nước nồng nàn.  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/tuong-nho-giao-su-nguyen-dinh-tu/    Author                Cao Chi        
__label__tiasang “Nhỏ” là “Lớn”      Việt Nam hiện có 53 thư viện công cộng, chưa kể đến hàng trăm thư viện chuyên ngành và đa ngành cũng như thư viện của các tổ chức phi chính phủ. Đây là mảnh đất khá “màu mỡ” để các công ty tin học đưa ra các phần mềm và giải pháp thư viện:    – CDS/ISIS: Phần mềm tư liệu do UNESCO phát triển từ năm 1985. CDS/ISIS quản lý các cơ sở dữ liệu dạng văn bản có cấu trúc. Phần mềm này được UNESCO cung cấp miễn phí cho các thư viện Việt Nam. Đây là phần mềm đầu tiên được sử dụng phổ biến tại Việt Nam để quản lý thư viện truyền thống.  – Thư viện kĩ thuật số VeBrary:  Phần mềm do công ty Lạc Việt phát triển. VeBrary theo chuẩn nghiệp vụ quốc tế và quốc gia về công nghệ thông tin và thư viện; giải quyết triệt để vấn đề tiếng Việt. Hỗ trợ tiếng Việt và đa ngôn ngữ.  – Giải pháp thư viện điện tử công ty CMC: công ty có 4 dòng sản phẩm cho ngành thư viện là Hệ quản trị thư viện điện tử tích hợp iLib; Phần mềm thư viện số Dlib; Hệ quản trị thư viện điện tử SmiLib; Phần mềm CD-Pub.  – Quản lý thư viện điện tử eLib: Phần mềm của Công ty VNnetsoft được tích hợp trên mạng Intranet/Internet có thể điều tra và thống kê được những lĩnh vực mà độc giả quan tâm cũng như nhận được các ý kiến phản hồi của độc giả. Người đọc có thể sử dụng toán tử logic để tổ hợp các điều kiện tìm kiếm đó hay tìm kiếm bằng cách sử dụng các ký tự đại diện (willcard character) cho phép có thể đưa ra các yêu cầu tìm kiếm mở, tìm kiếm gần đúng.  – Thư viện kĩ thuật số Greenstone: Sản phẩm của dự án New Zealand Digital Library của Đại học Waikato (http://witchbaby.info-science.uiowa.edu/cgi-bin/library) được UNESCO và Human Info NGO phổ biến. Đây là phần mềm nguồn mở được cung cấp theo thỏa thuận của GNU General Public License. Greenstone hiện đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt trong các cơ quan của UNESCO và thư viện trong các trường đại học.  – Libol (LIBrary OnLine): Bộ phần mềm giải pháp thư viện điện tử – thư viện số của Công ty  Tinh Vân. Libol giúp các thư viện: Tin học hóa tiến trình công việc; Số hóa tài nguyên; Cá nhân hóa hoạt động khai thác; Toàn cầu hóa kết nối liên thư viện; Đa dạng hóa dịch vụ; Chuẩn hóa nghiệp vụ…  Tuy nhiên việc số hóa ở các thư viện phần lớn cũng mới chỉ ở mức quản lý dữ liệu mà chưa số hóa được nội dung.  Theo ông Phạm Hồng Giang, trưởng phòng phát triển Libol Công ty Tinh Vân, “khách hàng lớn” của những công ty phát triển phần mềm thư viện lại là những thư viện nhỏ. Còn “khách hàng nhỏ” lại là những thư viện lớn. “Họ cũng thích mua phần mềm của nước ngoài.”- Ông Giang nhận xét.  ———-            Quét chụp sách tự động với sản phẩm BookDrive          Dù lượng dữ liệu số đang không ngừng tăng lên thì lượng dữ liệu phi số vẫn còn vô cùng lớn. Chúng là hàng triệu cuốn sách được viết và in trước kỷ nguyên số hiện đang nằm phủ bụi trên giá trách tại hàng trăm ngàn thư viện trên khắp thế giới. Số hóa hết những ấn phẩm này đòi hỏi chi phí và nhân công không hề nhỏ. Sản phẩm BookDrive của hãng Atiz được phát minh nhằm giảm thiểu cả hai yếu tố trên. Hoạt động hoàn toàn tự động, BookDrive có công xuất quét chụp lên tới 248 trang màu trên giờ hoặc 500 trang đen trắng trên giờ cho độ phân giải 100 dpi.  PC Magazine    VA      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhỏ tuổi cũng làm khoa học      Đó là điều mà những quán quân của Cuộc thi Nhà khoa học Trẻ EU 2008 (EU Contest for Young Scientists 2008) đã chứng minh. Năm nay, cuộc thi tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch từ ngày 19 đến ngày 26 tháng Chín đã vinh danh các thí sinh trong độ tuổi từ 14 đến 19.      Tổng giá trị giải thưởng lên đến 46500 EUR. Thí sinh từ 39 quốc gia khắp Châu Âu tham dự cuộc thi với 87 dự án khoa học đã từng đạt giải thưởng trong nước ở nhiều ngành khoa học như sinh học, toán học, hóa học, vật lý, khoa học máy tính…Ủy viên hội đồng Nghiên cứu và Khoa học Châu Âu – Janez Potocnik cho biết “Giải thưởng nhằm hỗ trợ cho các ngôi sao mới nổi của khoa học Châu Âu ngày mai.” Cuộc thi cho thấy Châu Âu thực sự là một cái nôi nuôi dưỡng nhân tài trong thời đại cạnh tranh tri thức toàn cầu. Cuộc thi cũng giúp các nhà khoa học trẻ xích lại gần nhau, hợp tác nghiên cứu khoa học không phân biệt ranh giới quốc gia với tinh thần cùng xây dựng khu vực nghiên cứu Châu Âu.  Giải nhất năm nay được trao cho ba đề tài, mỗi giải trị giá 7000 EUR, đó là “Chu trình Hamilton trong đồ thị Halin tổng quát” của Magdalena Bojarska (Ba Lan), “Vận chuyển vật liệu rời theo nguyên lí lực hấp dẫn trong vận tải hàng hóa đường sắt” của Martin Tkác (Slovakia), “Từ thế giới vi mô tới những đại dương mắc-ma: Một hình ảnh thiên thạch mặt trăng” của Elisabeth Muller (Anh). Đặc biệt, Ủy ban Châu Âu còn quyết định trao Giải Hợp tác Quốc tế cho đề tài xuất sắc nhất của đoàn các nước thứ ba gồm Brazil, Canada, Trung Quốc, Mexico, New-Zealand, Nigeria, Hoa Kỳ; qua đó khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Đại diện New Zealand – Pippa Grierson đã giành giải thưởng trị giá 5000 EUR này với đề tài “Chống lại bệnh eczema ở gia súc”.   Hoài Thu (tổng hợp từ ec.europa.eu)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhớ về Thầy Trần Đại Nghĩa      Sau khi tốt nghiệp TSKH&#160; ở Nga, về nước tôi  đã có dịp được đi cùng với thầy Trần Đại Nghĩa và Tạ Quang Bửu trong  đoàn cán bộ khoa học tham quan cố đô Huế. Mấy cán bộ ít tuổi chúng tôi  luôn luôn bám theo hai Thầy để lắng&#160; nghe và chiêm ngưỡng hai thần  tượng!     “Người  dũng mãnh!”  Sau khi được nghe bài phân tích rất hay của người hướng dẫn viên về các áng thơ của Tự Đức, chúng tôi được dẫn ra nhà bia đá, đó là địa điểm  tham quan cuối cùng trong Lăng Tự Đức. Người hướng dẫn viên nhấn mạnh rằng, mọi thứ trong Lăng đều làm bằng gỗ, duy chỉ có tấm bia này là bằng đá và nhà bọc bia  lại cũng bằng đá, như thế Tự Đức có ý muốn để lại cho hậu thế cái bia này là chính. Rồi ông đọc và phân tích từng câu trong bản di chúc khắc chìm, nạm vàng trên tấm bia trong đó có câu cuối nói rằng Tự Đức là người có công hay có tội, cái đó hãy dành cho ngòi bút của các sử gia. Kết thúc buổi tham quan, đi được chừng mươi bước, Thầy Bửu bỗng nói với chúng tôi: “Bác Nghĩa là người  dũng mãnh!”. Chúng tôi đề nghị Thầy cho một dẫn chứng, Thầy nói, hôm họp Chính phủ để quyết định dời Thủ đô lên Xuân Hòa, bác Nghĩa không những không giơ tay tán thành mà sau đó còn đứng dậy phát biểu rằng, quyết định đâu là Thủ đô không hoàn toàn do chúng ta, mà do lịch sử của dân tộc và địa lý của đất nước. Nhưng rồi quyết định đã được thông qua.  Bài học từ chuyện chiếc màn tuyn  Trong quãng thời gian làm công tác quản lý khoa học và  Phó hiệu trưởng ở Đại học Bách khoa Hà Nội, tôi cũng có đôi lần thay mặt nhà trường, trong những dịp các ngày lễ tết, đến thăm và tặng quà các cán bộ lão thành của trường. Nhớ nhất là lần tôi cùng với cán bộ phòng khoa học đến nhà Thầy Nghĩa, ở phố Hàng Chuối, tặng Thầy một món quà rất nhỏ, đó là chiếc màn tuyn, nhưng đó là sản phẩm do anh em cán bộ giảng dạy của trường cải tiến máy dệt  màn vải xô, mắt vuông, thành máy dệt được màn tuyn, mắt lục giác. Thời đó, màn xô cũng phân phối, còn màn tuyn thì rất hiếm vì trong nước chưa nhập được loại máy này. Thầy rất cảm ơn và khen ngợi về việc làm thiết thực đó, nhưng cương quyết không nhận quà, vì muốn dành cho nhiều giáo viên còn chưa có. Một điều bất ngờ nữa là sau nhiều năm, vào một dịp đi công tác khác, lúc rỗi Thầy còn nhớ đến chuyện chiếc màn tuyn ấy và hỏi rằng việc cải tiến máy dệt ấy khó đến mức nào mà cần đến các thầy Bách khoa. Tôi giải trình với Thầy, việc cải tiến từ máy dệt vải màn mắt vuông thành máy dệt vải màn mắt lục giác cũng không quá khó, nhưng để cho dàn máy cồng kềnh chạy thật êm, không gầm rú, thì tính toán và thử nghiệm mãi mới được. Tôi nói đến đó thì Thầy tiếp lời: “Không dễ đâu, đó là vấn đề dynamique des mécanismes!”. Thầy dùng thuật ngữ tiếng Pháp để nói về động lực học cơ cấu. Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện đó để nhắc nhở sinh viên của mình phải nắm rất chắc những kiến thức cơ bản để có thể nhìn ra ngay các nội dung khoa học khi giải quyết những nhiệm vụ kỹ thuât tưởng chừng đơn giản.  Những ngày đầu công tác hội  Giai đoạn mà tôi được gần gũi với Thầy Nghĩa nhiều nhất là trong công tác Hội. Với trách nhiệm là chủ tịch Hội Liên hiệp khoa học và kỹ thuật Hà Nội nhiệm kỳ đầu tiên, tôi tham gia một số việc chuẩn bị cho đại hội thành lập LHH Trung ương, tiến hành sau đó khoảng một năm. GS. Trương Tùng, phó chủ tịch thành phố Hà Nội đồng thời là phó chủ tịch Hội Hà Nội, đã rất nhiệt tình tìm cách cấp trụ sở làm việc cho LHH -VN, tại số nhà 30B Bà Triệu, rất gần với hồ Hoàn Kiếm.  Ngay sau khi thành lập, Hội Hà Nội đã nhanh chóng kết nghĩa với Hội Kiến thức của thành phố Moskva. Nhờ sự hợp tác đó, Hội Hà Nội đã nhanh chóng tổ chức được các câu lạc bộ khoa học, khai trương một triển lãm ở nhà thuyền trên hồ Thiền Quang và bắt đầu có các trang bị như ô tô, máy ghi băng các bài giảng  phổ biến khoa học v.v. Đồng thời qua đấy chúng tôi còn làm được một việc là cầu nối để LHH-VN hợp tác với Hội Kiến thức toàn Liên bang Xô viết. Trong quá trình hợp tác đó, tôi được chứng kiến, với các ấn  tượng  đẹp, trong nhiều cuộc tọa đàm giữa Thầy Nghĩa và các nhà khoa học và các nhà hoạt động hội khoa học kỹ thuật của Liên bang Xô viết. Thầy Nghĩa thường nhắc chúng tôi phải học tập kinh nghiệm của bạn trong hoạt động phổ biến nâng cao kiến thức khoa học cho quần chúng và cần nhận thức về vai trò cực kỳ quan trọng của quần chúng lao động, những người trực tiếp biến các thành tựu khoa học thành của cải vật chất cho xã hội.   Trong hoạt động hội, tôi cũng không ít lần được đi công tác đến các tỉnh thành với Thầy Nghĩa. Lần đi dự hội nghị ở LHH- Hải Phòng tôi thấy Thầy rất trăn trở về vấn đề quản lý kinh tế ở các địa phương. Thầy thường đem theo bộ sách quản lý kinh tế của  Tây Âu và giới thiệu với họ. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất là những ngày cùng đi với Thầy vào dự đại hội thành lập  LHH- TP. Hồ Chí Minh. Tôi vẫn còn giữ được tấm ảnh chụp kỷ niệm ngày hôm đó.  Người thầy phải có trách nhiệm với quốc gia  Đêm hôm trước ngày đại hội, ban tổ chức đã đến báo cáo tình hình chuẩn bị với  GS.Trần Đại Nghĩa, tôi cũng ngồi tham dự. Sau buổi làm việc đó Thầy có vẻ ưu tư lắm và dường như không ngủ được. Thầy gọi tôi sang, pha một ấm chè và hai thầy trò nói chuyên với nhau đến khuya. Câu chuyện bắt đầu từ viêc sửa sang, chỉnh lý lại hai bài phát biểu để Thầy và tôi sẽ đọc vào sáng mai. Sau đó, Thầy hỏi thăm về tình hình hoạt động khoa học ở trường Bách khoa, rồi cả về cách thức triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học ở các trường của Nga và Thầy rất tâm tư về vấn đề đầu tư cho khoa học! Tôi cũng rất muốn được tiếp tục câu chuyện về mối quan hệ giữa sức mạnh của tính du kích linh hoạt và xu thế tự động hóa trong công nghiệp quốc phòng, nhưng cứ ngại để Thầy thức quá khuya, nên lại phải nhắc Thầy đi nghỉ. “Không sao! tôi ngủ ít nhưng sáng mai vẫn sẽ tỉnh táo”, thấy Thầy nói vậy, tôi không dám nhắc nữa. Từ đêm hôm đó, hai điều Thầy căn dặn, tôi vẫn nhớ mãi! Thầy bảo, khi giảng dạy người ta phải chia nhỏ kiến thức thành các môn học để cho sinh viên tiếp thu được, nhưng để làm được việc, phải làm sao cho họ biết vận dụng kiến thức tổng hợp. Ngạc nhiên hơn, Thầy còn  nhắc: “Trường  Bách khoa các anh tự gọi là ĐHBK Hà Nội đấy chứ, chắc là để dễ phân biệt với các trường bách khoa mới mở sau này, còn theo quyết định lúc thành lập năm 1956 thì chỉ ghi là Đại học Bách khoa thôi! Nói như thế, không phải là cốt giành lấy cái danh hiệu quốc gia để xin được thêm kinh phí đầu tư, mà ở chỗ cần phải tự xác định vị trí của mình để ý thức được phải dạy với trách nhiệm quốc gia và phải học vơi ý thức tự tôn của một dân tộc!”.Tôi nhớ mãi lời dạy đó và đã truyền đạt lại đến lãnh đạo Trường.   ——  * GS.TSKH.NGND.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhồi máu cơ tim là sát thủ số một của loài người      Hiện nay số người chết vì nhồi máu cơ tim  (Myocardial Infarction) đã vượt số người chết vì ung thư, và gấp 65 lần  số người chết vì tai nạn giao thông.     Tổ chức Y tế thế giới WHO cảnh báo: Các bệnh tim mạch (Cardiovascular disease) hiện đã trở thành sát thủ số một toàn cầu. Triệu chứng thường thấy nhất là tức ngực, đau ở tim rồi lan ra khắp cơ thể, đến cổ họng, lưng hoặc hai vai, người mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, đổ mồ hôi và nôn ọe. Có khi không thấy triệu chứng gì, nhưng làm điện tâm đồ sẽ chẩn đoán ra ngay bệnh tim mạch. Bệnh nhân tiểu đường dễ bị nhồi máu cơ tim, khi ấy họ thường nôn ọe, tuy không thấy đau nặng ở tim, cho nên càng cần cẩn thận.    Có thể đề phòng nhồi máu cơ tim. Nếu cha mẹ có bệnh tim mạch thì bạn thuộc nhóm người dễ mắc bệnh này, và rủi ro sẽ tăng theo tuổi tác. Người huyết áp cao, mỡ máu cao và béo phì càng cần cảnh giác.     Bảy yếu tố quyết định khả năng mắc bệnh tim mạch là: tuổi tác, mức độ béo, huyết áp cao, mỡ máu cao, có bệnh tiểu đường, hút thuốc lá và ít tập thể dục. Ai có ít nhất hai trong số bảy yếu tố trên thì sau 50 tuổi sẽ có thể bị nhồi máu cơ tim; 60 tuổi khả năng mắc nhồi máu cơ tim là 25%; 80 tuổi là 75%.    Trời lạnh, rủi ro nhồi máu cơ tim càng cao. Nhiệt độ khí trời giảm 1 độ C thì rủi ro tăng 2%. Mùa rét người ta thường ít vận động và ăn thêm chất béo. Sáng sớm rất dễ phát bệnh nhưng ít thấy có triệu chứng báo trước. Thời gian 6-10 giờ sáng, rủi ro phát bệnh tăng 40%.     Mỗi ngày trái tim cung cấp cho cơ thể 7.000 lít máu, đập ít nhất 100.000 lần, do làm việc nhiều như vậy, nó cần được chăm sóc. Nếu không giữ gìn, để cho cholesterol và các tạp chất lắng đọng dần, tạo ra cục máu, làm nghẽn mạch máu, tức xơ vữa động mạch. Khi trái tim không được cung cấp đủ ô-xy và dưỡng chất thì sẽ xảy ra nhồi máu cơ tim.   Nguyên Hải tổng hợp theo   http://www.cankaoxiaoxi.com/science/20151001/956096.shtml  心肌梗塞病患死亡数量超过癌症 成头号健康杀手 ngày 1/10/2015    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm 1946: Những kết quả nghiên cứu về một vòng đời      65 năm sau khi các nhà khoa học theo dõi hàng nghìn trẻ em Anh được sinh ra trong một tuần vào tháng 3/1946, giá trị khoa học mà nghiên cứu đạt được vô cùng ý nghĩa.    Nghiên cứu đoàn hệ được Anh thực hiện trong vòng 65 năm. Nguồn: The Conversation.  Nghiên cứu một thế hệ  Ngày 5/3/1946, Patricia Malvern được sinh ra trong một căn hộ nhỏ ở Cheltenham, Vương quốc Anh. Cô bé nặng khoảng 4 kg. Ngày tiếp theo, David Ward là một trong số vài đứa trẻ Công giáo sinh ra trong bệnh viện Do Thái ở gần London. Ward không biết rõ cân nặng của mình nhưng cha anh nói anh giống như một con thỏ con.  Chỉ vài tháng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, 16.695 trẻ sơ sinh đã được sinh ra ở Anh, Scotland và xứ Wales. Các nhân viên chăm sóc sức khỏe đã cẩn thận ghi lại trọng lượng của hầu hết các đứa trẻ này cùng với một bảng câu hỏi dài bốn trang, cùng với vô số chi tiết khác bao gồm nghề nghiệp của người cha, số lượng phòng và người ở (bao gồm cả người làm thuê) trong nhà của các em bé và liệu đứa bé có hợp pháp hay không (con của một cuộc hôn nhân hợp pháp hay con ngoài giá thú). Theo thời gian, dữ liệu về hơn 5.000 trẻ ngày càng lớn. Các nhà nghiên cứu đã cân, đo, phân tích, quét, kiểm tra cơ thể và trí não của những đứa trẻ này theo mọi cách có thể tiến hành.  Vào năm 2011, họ đã bước sang tuổi 65, một cột mốc quan trọng trong cuộc đời người Anh – độ tuổi mà nhiều người ở đây đã nghỉ hưu. Họ ăn mừng vì là một phần của cuộc nghiên cứu đoàn hệ người dài nhất trên thế giới. Điều này làm cho cuộc nghiên cứu trở thành một trong những thứ có giá trị khoa học nhất, bởi vì nó cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi sức khỏe và sự giàu có của họ trong suốt cuộc đời, đồng thời tìm kiếm các yếu tố có thể giải thích quy luật của chúng.  Những đứa trẻ nặng nhất có nguy cơ mắc ung thư vú cao nhất theo thời gian; trẻ em sinh ra trong các tầng lớp xã hội thấp hơn có nhiều khả năng tăng cân hơn khi trưởng thành; những phụ nữ có chỉ số IQ cao hơn sẽ chậm mãn kinh hơn; và trẻ nhỏ nằm viện hơn một tuần có nhiều khả năng bị các vấn đề về hành vi và giáo dục sau này.  Kết quả của nghiên cứu (mà sau này gọi là Khảo sát Sức khỏe và Phát triển quốc gia) thật bất ngờ: Những đứa trẻ nặng nhất có nguy cơ mắc ung thư vú cao nhất theo thời gian; trẻ em sinh ra trong các tầng lớp xã hội thấp hơn có nhiều khả năng tăng cân hơn khi trưởng thành; những phụ nữ có chỉ số IQ cao hơn sẽ chậm mãn kinh hơn; và trẻ nhỏ nằm viện hơn một tuần có nhiều khả năng bị các vấn đề về hành vi và giáo dục sau này.  Tiêu tốn khoản kinh phí 2,7 triệu bảng Anh, kết quả từ nghiên cứu đoàn hệ do Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC) điều hành đã được xuất bản trong 8 cuốn sách và khoảng 600 bài báo. Cuộc khảo sát chỉ ra, khoảng thời gian đầu đời là rất quan trọng. Michael Wadsworth, người dẫn dắt cuộc nghiên cứu trong gần 30 năm cho biết vào năm 2007: “Cuối cùng, điều bạn đạt được sau này chịu ảnh hưởng lớn bởi nơi bạn sinh ra và lớn lên”.  Họ rút ra kết luận, trẻ em được sinh ra trong hoàn cảnh kinh tế xã hội tốt hơn có khả năng sẽ học tốt, không bị bệnh tim, giữ được vóc dáng mảnh mai, cân đối, tinh thần nhạy bén và ít nhất, là sống sót. Đơn cử là Ward, có cha làm việc trong một doanh nghiệp giặt có trụ sở tại Walthamstow, tiếp tục học đại học và xây dựng sự nghiệp báo chí trong khi Malvern, cha bỏ nhà đi khi cô mới 5 tuổi và phải mặc quần áo cũ, đã phải nghỉ học lúc 16 tuổi, từ bỏ giấc mơ trở thành giáo viên vì mẹ cô không đủ tiền trả học phí.  Diana Kuh, người tham gia dẫn dắt nghiên cứu giai đoạn sau. Nguồn: Nature.  Ezra Susser, một nhà dịch tễ học nghiên cứu đoàn hệ tại Đại học Columbia ở New York cho biết: “Đây là nghiên cứu độc đáo và mang tính đột phá trong lịch sử dịch tễ học. Thứ duy nhất đã theo đuổi toàn bộ một nhóm đoàn hệ trong suốt cuộc đời, và nó vẫn chưa kết thúc”. Ông nói rằng nghiên cứu đoàn hệ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng học thuyết rằng bệnh tật tiến triển do các sự kiện trong suốt cuộc đời. “Bạn sẽ hiểu về cách căn bệnh đó hình thành khi theo dõi một người nào đó trong suốt cuộc đời của họ”.  Năm 2011, khi các thành viên của nhóm đoàn hệ bước vào tuổi già, nghiên cứu này mang đến cơ hội quý giá để hiểu cách trải nghiệm cả đời có liên quan đến sự đẩy nhanh hoặc làm chậm quá trình lão hóa của họ hay không. Đây là một câu hỏi cấp bách đối với Anh hay Mỹ, nơi có dân số đang già đi nhanh chóng và bệnh tật. Theo dữ liệu được lấy từ năm 2006 đến năm 2010, những đứa trẻ ngày xưa đã trải qua hầu hết các xét nghiệm y sinh hiện đại, bao gồm siêu âm tim, kiểm tra mạch máu, xương toàn thân, quét cơ và mỡ, các xét nghiệm máu, trí nhớ,… Một số cũng đang kiểm tra mối liên quan của cách các gene tương tác với các trải nghiệm trong đời đối với béo phì hoặc bệnh tật; một số khác thì kiểm tra gene để tìm các dấu vết biểu sinh. Greg Duncan, một nhà kinh tế học tại Đại học California, Irvine, người nghiên cứu tác động của tình trạng nghèo đói ở trẻ em, hy vọng các nghiên cứu tiếp theo có thể giúp trả lời một câu hỏi phát sinh từ những phát hiện trước đó về tình trạng kinh tế xã hội và sức khỏe: “Điều gì kích hoạt phân tầng xã hội?”.  Các nhà khoa học cho biết, nghiên cứu này có khả năng rút ra được mối liên hệ giữa các dữ liệu sinh học, từ huyết áp cho đến gene. “Những người này đang hiện hữu, họ chính là câu trả lời cho các vấn đề như vậy”, Kuh nói.  Các bước tiếp theo   Những thập kỉ đầu của thế kỉ XX, nước Anh lo ngại sâu sắc về tỷ lệ sinh giảm và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao. Một Ủy ban Điều tra Dân số đã đề xuất một cuộc khảo sát thai sản để tìm hiểu xem: liệu chi phí của việc sinh con có làm nản lòng các bậc cha mẹ hay không. James Douglas được chỉ định phụ trách và hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch này. Ông khởi động một cuộc điều tra mà theo tiêu chuẩn ngày nay thì sẽ gặp nhiều trở ngại về mặt đạo đức, hậu cần và vấn đề tài chính nghiêm trọng. Cách làm ngày đó của ông là cử những người chăm sóc sức khỏe đến phỏng vấn các bà mẹ của mọi đứa trẻ sinh ra trong tuần tháng ba đó, và có được 13.687 ghi nhận. Wadsworth, người kế thừa nghiên cứu từ Douglas hơn ba thập kỷ sau cho biết: “Đó là một tham vọng điên rồ. Vậy mà ông ấy đã làm được”.  Khi cuốn sách của Douglas về kết quả nghiên cứu xuất bản năm 1948, sự bùng nổ trẻ sơ sinh đang diễn ra và những lo ngại về tỷ lệ sinh đã gần như tan biến. Nhưng cuốn Maternity in Great Britain đã gây xôn xao khi tiết lộ sự chênh lệch về sự sống của mẹ và bé đáng kinh ngạc giữa người giàu và người nghèo. Dữ liệu chỉ 20% phụ nữ sinh con tại nhà được hỗ trợ giảm đau và người nghèo chịu nhiều đau đớn nhất đã thúc đẩy một dự luật quốc hội cho phép đào tạo nhiều nữ y tá sản khoa hơn.  Patricia Malvern ở tuổi 16; và tuổi 51, bế một trong những đứa cháu của mình. Nguồn: P. Malvern.  Douglas quyết định biến nghiên cứu thành một công cụ để ghi nhận sự bất bình đẳng xã hội và đánh giá tác động của các cải cách phúc lợi. Đặc biệt, ông nhận ra rằng mình có thể kiểm tra mức độ thành công của Đạo luật Giáo dục năm 1944 – đạo luật đưa ra kỳ thi dành cho học sinh 11 tuổi trên toàn quốc nhằm phát hiện những đứa trẻ tài năng, bất kể xuất thân để vào các trường ưu tú. Ông đã chọn trong số 13.687 trẻ em ban theo các vùng địa lý và tầng lớp xã hội, kết quả là 5.362 trẻ đạt yêu cầu cho các nghiên cứu tiếp theo.  Tài năng bị lãng phí  Kết quả nghiên cứu thật sự đáng buồn. Những đứa trẻ tiềm năng từ tầng lớp trung lưu có nhiều khả năng vượt qua lớp 11+ và học tốt ở trường hơn là những đứa trẻ sáng dạ thuộc tầng lớp lao động. Điều này được gọi là lãng phí tài năng, đã biến hai cuốn sách tiếp theo của Douglas – Ngôi nhà và trường học (1964) và Tất cả tương lai của chúng ta (1968) –  trở thành kinh chỉ nam cho giáo dục trong những năm 1960.  Trong khi Douglas đang nghiên cứu sự phân kỳ này thì những đứa trẻ vẫn phải sống và lớn lên. Malvern, vô cùng xấu hổ vì nhận bữa ăn miễn phí ở trường, thi trượt 11+, sau khi rời trường đã đi học đánh máy tại Trụ sở Truyền thông Chính phủ ở Cheltenham. Trong khi đó, cha Ward dự định mua một ngôi nhà và anh được mẹ kiểm tra về vốn từ vựng tiếng Latinh qua việc ủi quần áo. Anh là một trong bốn đứa trẻ trong số 66 người ở hai lớp hàng đầu của trường, đã vượt qua kỳ thi 11+. Anh và chị gái của mình là những người đầu tiên trong gia đình học đại học.  Khi những năm 1970 trôi qua và những đứa trẻ tham gia nghiên cứu bước vào tuổi ba mươi, Douglas chuẩn bị cho nghỉ hưu. Hầu hết các câu hỏi của ông về trình độ học vấn, nghề nghiệp và khả năng di chuyển xã hội của các thành viên đoàn hệ đã được giải đáp. Các nhà dịch tễ học cho rằng dự án nên treo cho đến khi nhóm trẻ em này bắt đầu bệnh và chết (do tuổi già). MRC, bên tài trợ cho dự án từ năm 1962, đã giải thích rõ những việc phải làm; thậm chí Douglas nghĩ rằng dự án đã kết thúc.  Cuộc sống đã được quyết định từ lúc 7 tuổi  “Tôi nghĩ sự thay đổi về sức khỏe của những người này sẽ rất thú vị trong suốt cả cuộc đời”, Wadsworth, một nhà dịch tễ học xã hội đã gia nhập nhóm của Douglas vào năm 1968, nói. Sau khi dẫn dắt vào năm 1979, Wadsworth đã thuyết phục MRC tài trợ cho một đợt thu thập dữ liệu mới khi nhóm đoàn hệ này đạt tuổi 36, sau đó ở tuổi 43 và 53. Ông bắt đầu đánh giá khả năng thể chất và sức khỏe của nhóm, bao gồm huyết áp, chức năng tim và phổi, chế độ ăn uống và tập thể dục. Ông muốn xem những chỉ số này đã bị ảnh hưởng như thế nào trong cuộc sống trước đó – và sau đó lập biểu đồ cho chúng theo thời gian.  Năm 1985, Wadsworth và nhóm của ông báo cáo: các thành viên đoàn hệ có trọng lượng sơ sinh thấp thì có huyết áp cao hơn khi trưởng thành. Đó là gợi ý về khả năng sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người trưởng thành – giả thuyết Barker do David Barker, một nhà dịch tễ học tại Đại học Southampton, Vương quốc Anh đề xuất. Ông đã công bố một phân tích năm 1989 về cân nặng và sức khỏe của trẻ sơ sinh theo một cách khác khảo sát đoàn hệ. Ông nhận thấy những đứa trẻ có trọng lượng sơ sinh thấp nhất có nguy cơ mắc bệnh tim cao nhất khi trưởng thành.  Các nghiên cứu về đoàn hệ nối tiếp sau 1946 đã hỗ trợ mối liên hệ, cho thấy nhiều mối liên hệ giữa sự tăng trưởng hoặc phát triển của trẻ sơ sinh và các đặc điểm của người trưởng thành. Các mối liên hệ này bao gồm khả năng nhận thức đến thể chất, tiểu đường, béo phì, ung thư và nguy cơ tâm thần phân liệt. Kuh nói: “Dữ liệu không phải lần nào cũng giống nhau, nhưng chúng tôi tìm thấy vô số mối liên hệ. Trẻ nặng hơn dễ bị ung thư vú hơn. Trẻ nhỏ hơn có khả năng cầm nắm kém hơn. Những trẻ lớn nhanh sau sinh có nhiều nguy cơ tim mạch hơn.  David Ward năm 1947 với mẹ và chị gái; và năm 1976 với con trai và con gái. Nguồn: D. Ward.  Một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà khoa học ngày nay là làm thế nào để giải thích những mối liên hệ này: hệ thống sinh học nào ở trẻ sơ sinh là quan trọng? Một câu trả lời có thể nằm ở di truyền học biểu sinh: các dấu vết hóa học, chẳng hạn như nhóm metyl, gắn trên DNA bởi các sự kiện đầu đời đã làm thay đổi biểu hiện gene và có thể góp phần gây ra bệnh tật sau này. Ví dụ, Martin Widschwendter, một nhà ung thư học tại Đại học College London (UCL), đang lên kế hoạch phân tích hàng chục nghìn vị trí methyl hóa có thể có trong DNA của nhóm đoàn hệ. Mục đích để tìm kiếm những thay đổi có thể giải thích cho mối liên hệ giữa cân nặng khi sinh và nguy cơ ung thư vú.  Xuất thân  Kuh và những người khác nhấn mạnh, số phận mỗi người lúc ban đầu đã không giống nhau. “Tôi không bao giờ muốn những phát hiện này được hiểu là hoàn toàn mang tính xác định”. Kuh lạc quan hơn, rằng rủi ro bệnh tật là kết quả của việc tích lũy trải nghiệm trong suốt cuộc đời. Sự thay đổi của giáo dục, chế độ ăn uống hoặc các yếu tố khác có thể chuyển trạng thái kém sang tốt hơn. Marcus Richards, một nhà dịch tễ học phụ trách các nghiên cứu về nhận thức, chỉ ra việc tập thể dục thường xuyên ở độ tuổi 30 và 40 có thể làm chậm sự suy giảm nhận thức theo tuổi tác. “Đây là bằng chứng rất rõ ràng về điều bạn có thể làm để bảo vệ sức khỏe nhận thức của mình khi bạn già đi, và đây là cách bạn nên làm”, Richards nói.  Những năm 1980 đã cho thấy sự ảnh hưởng của môi trường sống. Những đứa trẻ của Douglas được nuôi dưỡng theo khẩu phần thời hậu chiến, không có ai bị béo phì và họ đã duy trì cân nặng hợp lý trong suốt tuổi trưởng thành. Nhưng do thu nhập đang tăng cao, máy móc phát triển làm con người ít vận động hơn và giá cả các cửa hiệu cũng phải chăng hơn nên đường biểu thị tỷ lệ người béo phì tăng dần lên và tăng vọt vào cuối những năm ba mươi tuổi. Mặc dù những người ở vùng kinh tế xã hội kém hơn sẽ béo nhanh hơn nhưng không có tầng lớp xã hội nào là ngoại lệ.  Malvern nằm trong số đó. Cô đã nhận thấy cân nặng của mình tăng dần khi chuyển đến Luxembourg vào năm 1992 và nghỉ việc ở một trường học. Khi bắt đầu làm việc tại đây, cô nặng 73 kg nhưng “khi trở lại vào năm 2000, tôi đã rất kinh hoàng: tôi đã hơn 95 kg. Chắc vì thực đơn nhiều pate, bánh mì và phô mai”, Malvern kể từ đó đã giảm cân. Trong khi đó, Ward đã giữ cho mình vẻ ngoài cân đối, anh giải thích, “khi sống ở vùng cao như Peak District, anh không thể đến bất cứ đâu nếu không lên và xuống đồi”.  Mối liên quan giữa thông minh và mãn kinh  Khi những phụ nữ tham gia nghiên cứu bước sang tuổi ngũ tuần, một mô hình bí ẩn hơn xuất hiện: những người thực hiện tốt các bài kiểm tra trí thông minh thời thơ ấu có xu hướng mãn kinh muộn hơn vài năm so với những người có thành tích kém. Giả thuyết của họ rằng sự nhận thức thời thơ ấu đem lại khả năng phát triển của não, bao gồm cả một số khu vực phản ứng với hormone hoặc chịu trách nhiệm sản xuất hormone. Tóm lại, điểm IQ cao có thể cho thấy một bộ não được phát triển toàn diện và do đó có thể duy trì sự sinh sản lâu hơn. Kuh nói rằng cô đã thử nghiệm xem liệu gene có phải là nguyên nhân hay không, và “cho đến nay vẫn chưa thành công”.  Vào năm 2005, khi những đứa trẻ nay gần 60 tuổi và Wadsworth gần kết thúc sự nghiệp khoa học của mình, tương lai của dự án một lần nữa lâm nguy. MRC đang cân nhắc xem có nên tiếp tục trả tiền cho nó hay không và nếu có thì ai sẽ là người dẫn dắt. Kuh nói: “Chúng tôi không biết liệu nghiên cứu có bị đóng hay không. Đó là một thời kỳ rất bất ổn”.  Kuh muốn xây dựng dữ liệu y sinh mà Wadsworth đã thu thập. Cho đến thời điểm đó, tất cả các cuộc khảo sát đã được thực hiện tại nhà của nhóm sinh năm 1946 này, nhưng đến giai đoạn này, các y tá cần đưa họ đến một phòng khám. Bà lập luận: “Mọi người đánh giá cao việc kiểm tra xương miễn phí” để thực sự hiểu về tâm sinh lý của những người tham gia. Đến năm 2008, bà đã thuyết phục MRC tài trợ cho mọi thành viên tham gia nghiên cứu sẵn sàng đến khám và thành lập một đơn vị nghiên cứu chuyên dụng, hiện được đặt tại một sân thượng của Georgia ở trung tâm London.  Ward đã đến một phòng khám ở Manchester và biết là mình đã có dấu hiệu của bệnh loãng xương ở cột sống và không thể đứng bằng một chân lâu khi nhắm mắt.  Cuốn sách của Douglas – Ngôi nhà và trường học (1964) và Tất cả tương lai của chúng ta (1968) –  trở thành kinh chỉ nam cho giáo dục trong những năm 1960. Nguồn: Nature.  Kuh và các đồng nghiệp của bà – khoảng 25 nhà nghiên cứu và nhân viên hỗ trợ toàn thời gian cùng với 100 cộng tác viên – vẫn đang biên soạn và thống kê những dữ liệu như vậy về hàng nghìn người tham gia nghiên cứu của họ. Khi bài báo tóm tắt dữ liệu của bà được đăng tải, Kuh mong đợi sự cộng tác với các nhà dịch tễ học, nhà di truyền học và các nhà khoa học khác. Khi nhóm già đi và bệnh, nghiên cứu sẽ tiếp tục theo dõi sức khỏe của những người tham gia và cố gắng tìm ra mối liên hệ với những trải nghiệm. “Một câu hỏi lớn mà chúng ta có thể đặt ra là, liệu những ảnh hưởng đó lên cuộc sống sẽ biến mất? Hay như một số nhà dịch tễ học mong đợi, chúng sẽ trở nên mạnh hơn hơn theo tuổi tác?”, Kuh nói.  Kuh cũng đang suy nghĩ về cách tốt nhất để khai thác các phân tích gene và y sinh học khác. Năm 2010, Rebecca Hardy, một nhà thống kê đã công bố một nghiên cứu về hai gene FTO và MC4R, các biến thể của chúng được xác định là yếu tố nguy cơ gây béo phì. Khi phân tích DNA thu thập được từ nhóm vào năm 1999, bà nhận thấy mối liên hệ của những biến thể đó với chỉ số khối cơ thể tăng lên trong giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, sau đó yếu đi theo thời gian. Có lẽ, Hardy suy đoán, bất kỳ tác động nào của gene đối với sự thèm ăn hoặc tích trữ chất béo đều bị lấn át các ảnh hưởng môi trường những năm 1980.  Luôn bảo vệ các thành viên nghiên cứu của mình và các mẫu DNA, Kuh cho biết đang xem xét các kỹ thuật sinh học phân tử mới nhất một cách thận trọng. “Tôi cảm thấy có trách nhiệm lớn.” Mặc dù vậy, khi Kuh soạn kế hoạch cho cuộc khảo sát 5 năm của MRC đánh giá vào năm 2012, bà biết rằng việc tìm ra cách kết hợp các công nghệ này “sẽ là chìa khóa” và thừa nhận chi phí giải trình tự DNA giảm xuống đồng nghĩa với việc “cày nát” toàn bộ bộ gene của những người tham gia là một bước gần như không thể tránh khỏi. “Câu hỏi sẽ là: đâu là thời điểm tốt nhất và chúng ta sẽ học được gì từ đó?”  Khảo sát một vòng đời  Ward và Malvern rất vui được tham gia cuộc nghiên cứu. Ward nói: “nó mang lại cho tôi một chút tự hào. Tôi đã đóng góp vào kho kiến ​​thức của quốc gia. Các nhà nghiên cứu cũng không lo lắng khi quan sát chúng tôi cho đến khi chúng tôi vỡ vụn và chết. Tôi cho rằng, nó giúp bạn chấp nhận rằng bạn là người phàm, bạn sẽ không tồn tại mãi mãi”.  Đến năm 2011, khoảng 13% đối tượng đã qua đời – và nghiên cứu đã thu nhận những kết quả quý báu về số phận của những người còn lại. Kuh tiết lộ một số biểu đồ về tỷ lệ sống sót mà bà đã tính toán. Kuh chỉ ra một đường màu xanh lam đại diện cho một nhóm phụ nữ có hoàn cảnh khá giả, có tỷ lệ tử vong chỉ bằng một nửa so với những người khác. Kuh không thể kết luận ảnh hưởng của việc ít hút thuốc hơn hoặc các yếu tố khác, và bà cho là những phụ nữ này đã tận dụng được các cơ hội giáo dục và y tế mà nước Anh thời hậu chiến dành cho để cải thiện bản thân. “Họ thực sự đã thay đổi cuộc đời mình nhờ học vấn”.  Những người này sẽ “bất tử”. DNA của họ được bảo quản, các dòng tế bào được đông lạnh trong nitơ lỏng, và hồ sơ của họ được lưu trên máy tính. “Kí ức của bạn đang tiếp diễn. Nhưng kho lưu trữ này cũng chính là một phiên bản của bạn”, Ward nói. □  Đức Phát dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/471020a    Author                .        
__label__tiasang Nhóm E10: Nhóm lớn nhất  vô hạn chiều ?      Với hy vọng thống nhất hạt cơ bản với hấp dẫn, trong công trình mới trên Physical Review Letters ((2018), DOI: 10.1103/PhysRevLett.121.091601), hai giáo sư Krzysztof Meissner và Hermann Nicolai  đã đưa ra một sơ đồ mới tổng quát tích hợp Mô hình chuẩn (Standard Model SM) vào Siêu hấp dẫn (Supergravity SUGRA). Nỗ lực này đã đem lại sự ra đời của nhóm E10 vô hạn chiều và hyperbolic – một nhóm đối xứng mới trong vật lý các hạt cơ bản [1a,b &2].             Thí nghiệm KATRIN ở Đức – một trong ba thí nghiệm đang được tiến hành với mục tiêu sửa chữa lại Mô hình chuẩn. Nguồn: Sciencenew.com     Ở đây ta có 2 lý thuyết là SM và SUGRA cần xét đến.     1. SM (Mô hình chuẩn)     Trong mô hình chuẩn các hạt cơ bản được xếp như trong hình 1.        Nếu chỉ chú ý đến các fermion và phản fermion ta có số bậc tự do là 12x2x2 = (12 hạt+12 phản hạt)x 2 hình chiếu spin = 48.    Hình 1. Các hạt sơ cấp trong Mô hình chuẩn (SM).    2. Siêu hấp dẫn là gì?     Trong vật lý lý thuyết, siêu hấp dẫn là lý thuyết kết hợp siêu đối xứng và tương đối tổng quát (General Relativity-GR).     Đưa siêu đối xứng vào GR là một hướng phát triển tự nhiên của hấp dẫn.     Ta biết nếu nhóm chuẩn là nhóm Poincaré thì ta sẽ có trường chuẩn là trường graviton. Muốn có siêu đối xứng ta phải đưa thêm vào các toán tử Qα có khả năng biến boson thành fermion.Liên thông của không gian (phân thớ) bây giờ chứa cả thành phần boson ứng với hạt graviton có spin 2 lẫn thành phần fermion ứng với hạt gravitino có spin 3/2.     Các tác giả Salam & Strathdee (1974) đưa vào toán tử Q1α (i = chỉ số internal = 1,2,3,…N, α = chỉ số spin = 1,2,3,4). Lúc N>1 ngoài graviton và gravitino lý thuyết chứa thêm những hạt khác.  Dưới đây là bảng nội dung các hạt trong trường hợp N =1,2,…8 (và d = 4).    Chú ý số gravitino = N (như vậy ta có N siêu đối xứng – supersymmetry).  Với N>8 sẽ có nhiều hạt với spin cao như 5/2.  Ta thấy ở cột spin ½ với N = 8 có số 56 = 48 +8. Chúng ta tập trung vào sector fermion của N = 8 SUGRA gồm 8 gravitinos Ψiμvà trispinor χijk biến đổi trong biểu diễn 56 của SU(8), trispinor hoàn toàn phản đối xứng theo các chỉ số i, j, k SU(8) =1,2,3,…8. Hãy tính số thành phần của trispinor, ở đây ta có chập 8 chỉ số theo cặp 3, vì phản đối xứng nên cặp 3 phải khác số nhau. Vậy ta có:    Ngoài ra trispinor χijk, SUGRA lại cho 48 spin ½ của SM + 8 Goldstino.     3. Thống nhất SM và SUGRA     Ý tưởng chung của sơ đồ thống nhất là đưa SM vào trong SUGRA N = 8. Nếu ta làm được điều đó thì ta đã đưa được SM vào với hấp dẫn vì SUGRA chứa hấp dẫn.     Vậy vấn đề là làm sao ứng các hàm Ψiμvà với các hạt χijk trong SM. Điều này đã được các tác giả thực hiện trong các công trình [1] & [2].     Trước đây có bài viết của K. A. Meissner and H. Nicolai, Phys. Rev. D 91, 065029 (2015), các tác giả trên đã hoàn chỉnh ý tưởng của M.Gell-Mann khi muốn đồng nhất 48 spin ½ fermion của N = 8 SUGRA với 48 quark và lepton của SM. Các tác giả đã thêm vào sơ đồ SU(3)c× SU(2)w× U(1)Y  nhóm SU(3)f  (f = family).     Bảng sau đây nêu lên sự trùng hợp kỳ lạ giữa SUGRA và SM: (SO(8) → SU(3)×U(1) và nhóm family).    Trong quá trình này xảy ra điện tích các hạt không khớp và bị vênh một đại lượng là q = 1/6. Vậy cần một toán tử để điều chỉnh, toán tử này lại không nằm lọt trong SUGRA mà nằm trong K(E10).     Để giải quyết vấn đề sai lệch điện tích các tác giả phải nhúng SUGRA vào nhóm con cực đại K(E10) của nhóm E10. Nhóm E10 có khả năng trong tương lai là nhóm cần thiết cho sự tiến triển thống nhất hấp dẫn và lượng tử.     Sự đưa vào đối xứng vô hạn chiều Kac-Moody loại hyperbolic là cần thiết để đưa SM vào SUGRA ở thang Plank.     Đại số Lie & đại số Kac-Moody     Ta đã biết các đại số Lie với số chiều hữu hạn đã được Cartan & Killing xếp hạng. Trong bảng xếp hạng đó, các đại số e6, e7, e8 (cùng với f4 & g2) được xem là các đại số đặc biệt (exceptional algebra). Hiện nay người ta muốn mở rộng các đại số trên để chứa các đại số vô hạn chiều Kac-Moody).     Các đại số Lie hữu hạn cũng như đại số Kac-Moody đều được xây dựng trên cơ sở ma trận Cartan. Nếu loại bớt một điều kiện đối với ma trận Cartan, ta có thể thu được  một đại số mở rộng là đại số Kac-Moody. Như chúng ta biết trong các điều kiện cho đại số Lie là đơn giản và hữu hạn chiều, có nhiều điều kiện cho ma trận A trong đó có điều kiện: ma trận A là có thể đối xứng hóa và ma trận đối xứng hóa là xác định dương (the Cartan matrix is symmetrizable, and the symmetrized matrix is positive-de finite).     Nếu loại bỏ điều kiện đó ta sẽ có đại số Kac-Moody.     Đại số Kac-Moody (theo tên hai nhà toán học Victor Kac và Robert Moody đã tạo ra) là một đại số Lie mở rộng, thường là vô hạn chiều có thể định nghĩa qua các vi tử và các mối quan hệ nhờ một ma trận Cartan mở rộng. Đại số này là một tổng quát hóa đại số Lie hữu hạn chiều và có nhiều đặc trưng như hệ thống căn (root) của đại số Lie.     Ma trận Cartan     Như ta biết từ lý thuyết nhóm ma trận Cartan A  có Aii=2, Aij ≤ 0, i ≠ j.     Người ta phân biệt các trường hợp sau của ma trận Cartan: det A > 0 (finite); det A 0 (affine); det A < 0 (indefinite); trường hợp det A 0 thì đại số Kac-Moody có thể có số chiều vô hạn.     Giản đồ Dynkin      Song song với ma trận Cartan, người ta dùng giản đồ Dynkin nhờ mối tương ứng sau đây:       A là hyperbolic nếu detA < 0 và nếu việc loại một nút của giản đồ Dynkin sẽ cho ta những giản đồ affine hay finite.     Nhóm E10     Nhắc lại SUGRA N=8. Như ta biết SUGRA N = 8 có nội dung như sau (xem phần siêu hấp dẫn):          Chúng ta cũng đã biết đến một sự phù hợp kỳ diệu giữa SUGRA N = 8 và SM (với đối xứng family), điều này là rất quan trọng. Tuy nhiên có một sự vênh về điện tích là 1/6. Để cứu chữa sự vênh này cần một toán tử, toán tử này lại nằm ngoài SUGRA mà lại nằm trong nhóm K(E10), nhóm con của E10. Điều này được chứng minh trong tài liệu [3].     Vậy ta phải kéo dài dãy nhóm sau đây:          Chú ý rằng các nhóm E6, 7, 8 là hữu hạn chiều còn E9, E10 là vô hạn chiều.     E10 là nhóm Kac – Moody hyperbolic.      E10 có giản đồ Dynkin và ma trận Cartan như sau:       Hãy so sánh giản đồ căn số của E8 (số chiều hữu hạn) và E10 (số chiều vô hạn) theo hình 2.       Hình 2. Giản đồ căn số E8 (bên trái) và E10 (bên phải) khi chiếu thẳng góc xuống một không gian 2 chiều.    E10 là cần thiết trong quá trình thống nhất SUGRA và SM.     Theo tài liệu [3] ta có giản đồ sau đây mô tả tính tổng quát của nhóm E10 để sử dụng vào một sơ đồ thống nhất (hình 3).       Hình 3. Tính tổng quát của E10.     Như ta thấy trên hình 3 nhóm E10 chứa nhiều nội dung mô tả bởi các nhóm khác nhau (ví dụ ở giản đồ cuối cùng nếu lấy đi nút đỏ vào thì ta có tổng trực tiếp E10 là nhóm tổng quát hơn cả (hơn E9) để mô tả lý thuyết thống nhất SUGRA và SM.     Kết luận      Lý thuyết E10 đang hình thành. Nhóm con tối đa côm-pắc là cần thiết (cho các fermions) để chỉnh sửa điện tích giữa SUGRA và SM. Có thể E10 là nhóm lớn nhất vô hạn chiều mà vật lý các hạt cơ bản cần đến. Quy mô của E10 đủ lớn để kết nạp mọi chiều hướng phát triển.   ——–  TÀI LIỆU THAM KHẢO   [1a] Krzysztof A. Meissner et al, Standard Model Fermions and Infinite-Dimensional R Symmetries, Physical Review Letters (2018). DOI: 10.1103/PhysRevLett.121.091601   [1b] M¨unchen Hermann Nicolai MPI f¨ur Gravitationsphysik, Potsdam (Albert Einstein Institut)  Quantum Gravity, Unification and E10 100 Jahre Max-Planck-Institut 12 October 2017, https://indico.mpp.mpg.de/event/4708/session/2/contribution/15/material/slides/0.pdf  [2] Infinite-dimensional symmetry opens up possibility of a new physics—and new particles  https://phys.org/news/2018-11-infinite-dimensional-symmetry-possibility-physicsand-particles.html?fbclid=IwAR3FB8YLIEhROJnT_EebbbIqdoE71BEq_v0nYX2mfuSov8K100bUEMXCD7c  November 16, 2018, University of Warsaw  [3] Hermann Nicolai Albert-SchlottererWerner,Lie and Kac-Moody algebras  [4] Ella Jamsin and Jakob Palmkvist  http://www.ulb.ac.be/sciences/ptm/pmif/Rencontres/ModaveV/ModavelecturesFinalElla.pdf  [5] Hermann Nicolai Albert-SchlottererWerner,Infinite Dimensional Symmetries  https://pdfs.semanticscholar.org/d4ad/4718ffaf29ea303d34b0040c6e2fea8915f0.pdf  [6] Jakob Palmkvist,Exceptional Lie algebras and M-theory  arXiv:0912.1612v1  [hep-th]  8 Dec 2009  [7] Cao Chi, Vật lý hiện đại (tập 2), NXB Tri Thức, 2015  https://indico.mpp.mpg.de/event/4708/session/2/contribution/15/material/slides/0.pdf    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Nhóm khủng long hoàn toàn mới      Các nhà khoa học đã khai quật được hóa thạch của một nhóm khủng long có sừng sống ở miền tây Canada 68 triệu năm trước.      Những con dã thú có sừng này là thành viên cổ nhất được biết tới nay, và có thể là tổ tiên của nhóm khủng long ba sừng nổi tiếng. Nó có những cái sừng lớn trên hốc mắt và một diềm xếp nếp cứng ở quanh cổ. Các nhà khoa học tin rằng phát hiện sẽ giúp lấp đầy khoảng trống gia phả của khủng long, sống từ 69 đến 67 triệu năm trước.    T.An (theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhóm nghiên cứu Vật lý năng lượng cao và vũ trụ học (ĐH Phenikaa): Tìm câu trả lời về bí ẩn vũ trụ      Với mong muốn giải đáp những vấn đề cơ bản của lịch sử vũ trụ cũng như câu hỏi muôn thuở “vì sao chúng ta tồn tại”, PGS. TS Phùng Văn Đồng và nhóm nghiên cứu mới thành lập của anh tại trường Đại học Phenikaa đã gia nhập cộng đồng vật lý năng lượng cao và vũ trụ học thế giới trong tâm thế “không chỉ nắm bắt những chủ đề nóng mà còn có thể hợp tác nghiên cứu”.      Nhóm HEPC trong ngày ra mắt nhóm nghiên cứu mạnh của trường Đại học Phenikaa: nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Duy, PGS. TS Phùng Văn Đồng, TS. Shingo Takeuchi, TS. Ngô Hải Tân, TS. Dương Văn Lợi với TS. Hồ Xuân Năng, tổng giám đốc tập đoàn Phenikaa và GS. TS Phạm Thành Huy, hiệu trưởng ĐH Phenikaa.  Ý tưởng thành lập một nhóm nghiên cứu, thậm chí là nhóm nghiên cứu mạnh, trong trường đại học hay đơn vị nghiên cứu của Việt Nam không còn là điều gì quá mới mẻ. “Vấn đề quan trọng là nhóm nghiên cứu ấy sẽ phát triển ra sao và kết quả nghiên cứu có xứng đáng với tiêu chí mạnh hay không”, GS. TS Nguyễn Văn Chiến, chủ tịch Hội đồng ngành Vật lý (Quỹ NAFOSTED) từng cho biết như vậy trong một cuộc trao đổi vào năm 2017.   Đây chính là vấn đề khiến PGS. TS Phùng Văn Đồng suy nghĩ từ khá lâu, dù anh đã gây dựng cho mình một nền tảng nghiên cứu tốt và có một nhóm nghiên cứu riêng từ khi còn làm việc tại Trung tâm Vật lý lý thuyết (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), nơi anh được bổ nhiệm vị trí phó giám đốc. Khi đó, nhóm nghiên cứu của anh đã xác định được hướng nghiên cứu về vật chất tối, nguồn gốc khối lượng hạt neutrino, bất đối xứng vật chất và phản vật chất, lạm phát vũ trụ; hằng năm nhóm có khoảng 5 bài báo trên các tạp chí top của Q1, còn bản thân anh đã được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu trẻ năm 2016 với công trình “3-3-1-1 model for dark matter” (Mô hình 3-3-1-1 cho vật chất tối) đăng trên tạp chí Physical Review D. Vậy điều gì khiến anh quyết định rời nơi chốn quen thuộc và phải mất công tiếp tục gây dựng nhóm nghiên cứu? “Ngồi ở đâu cũng nghiên cứu cơ bản được nhưng tôi quyết định chuyển sang đây để có điều kiện mở rộng nhóm và nâng cao chất lượng nghiên cứu bởi sau một thời gian, nhóm nghiên cứu của tôi đã đạt đến điểm cực đại, muốn phát triển thêm thì cần có sự đầu tư mới. Rất khó làm được điều đó ở các viện nghiên cứu nhà nước”, PGS. TS Phùng Văn Đồng chia sẻ lý do vì sao anh đến với trường Đại học Phenikaa sau 15 năm làm việc ở Viện Vật lý.  Mở rộng phạm vi thảo luận  Lập nhóm nghiên cứu khoa học cơ bản trong một trường đại học tư – điều từ trước đến nay vẫn chỉ thuộc phạm vi hoạt động của những cơ sở nghiên cứu của nhà nước, có phải PGS. TS Phùng Văn Đồng “chơi ngông”, chưa tính toán đến những yếu tố rủi ro có thể xảy ra? Với tầm nhìn bao quát và chín chắn của người trưởng thành hơn độ tuổi mình, PGS. TS Phùng Văn Đồng cho biết, “nhìn bên ngoài thì ít ai thấy mối liên hệ giữa nghiên cứu của nhóm tôi với nghiên cứu của các nhóm khác cũng như với các nhiệm vụ đào tạo trong trường đại học, nhưng thực ra điều đó nằm ngay trong bản chất của KH&CN: một người nào đó, một quốc gia nào đó muốn làm chủ công nghệ thì họ phải bắt đầu từ những kiến thức khoa học cơ bản nhất, khi đó họ mới hiểu và phát triển cũng như ứng dụng được công nghệ”.  Đó là một phần lý do vì sao hồ sơ lập nhóm nghiên cứu mạnh của PGS. TS Phùng Văn Đồng đã được ban giám hiệu trường Đại học Phenikaa và ban cố vấn đồng ý tức thì. Kinh nghiệm của người nhiều năm nghiên cứu và công bố tốt đã giúp anh xác định được “đường đi, nước bước” của nhóm nghiên cứu Vật lý năng lượng cao và vũ trụ học (High Energy Physics and Cosmology — HEPC) trong nhiều năm tới, với một phạm vi nghiên cứu trải rộng từ thang Planck, nơi hấp dẫn lượng tử bắt đầu chi phối BigBang, mở tới các kích thước hạt cơ bản được thiết lập bởi Mô hình chuẩn, đến các cấu trúc thang lớn được xác định bởi Lý thuyết vũ trụ chuẩn. “Xuất phát điểm của tôi là vật lý hạt cơ bản nhưng theo thời gian thì vấn đề của nó lại liên quan đến vũ trụ sớm, vì vũ trụ sớm là hệ lượng tử có chứa mọi hạt cơ bản. Bản thân vũ trụ học cũng là một phòng thí nghiệm vật lý năng lượng cao và những nghiên cứu về hạt cơ bản đều có liên quan trực tiếp đến lịch sử vũ trụ”, anh giải thích những nguyên cớ dẫn mình tới việc lập hướng nghiên cứu lâu dài cũng như hình thành bộ khung của nhóm, nhằm tìm quy luật liên hệ vật lý hạt cơ bản và vũ trụ học.  Mặc dù tuổi đời của nhóm HEPC mới vỏn vẹn chưa đầy năm nhưng những vấn đề mà các thành viên của nó đang quan tâm và thảo luận với các đồng nghiệp quốc tế thông qua các nghiên cứu cũng như công bố về các vấn đề như cơ chế khối lượng hạt neutrino và các hệ quả vũ trụ học (bất đối xứng vật chất phản vật chất, vật chất tối, năng lượng tối, lạm phát và hâm nóng vũ trụ, v.v.), các dị thường trong va chạm, rã, dao động và tính chất hạt, bảo toàn CP mạnh, số lepton và baryon, siêu đối xứng, chiều thêm, đối xứng chuẩn mở rộng. Thoạt nhìn, những vấn đề này không có gì mới so với nội dung mà nhóm nghiên cứu của PGS. TS Phùng Văn Đồng đã thực hiện khi còn ở Viện Vật lý, tuy nhiên điều cốt yếu là “khi sang đây, chúng tôi có thể mở rộng nghiên cứu theo các hướng khác nhau, nhằm tìm các quy luật và giải mã lịch sử tiến hóa của vũ trụ kể từ Big Bang, sau đó vũ trụ lạm phát và hâm nóng, sinh khối lượng neutrino, vật chất tối, vật chất thông thường, động lực hình thành các thiên hà và sao, suy sụp sao, sao lùn trắng, sao neutron, lỗ đen và các kỳ dị khác trong vũ trụ, tương lai vũ trụ ra sao”, anh nói.<      “Việc có những công bố đó mới chỉ chứng minh được là mình đã lập được một nhóm nghiên cứu có tiềm năng và thảo luận được một số vấn đề quốc tế quan tâm thôi, còn theo tiêu chuẩn nhóm nghiên cứu mạnh của quốc tế thì nhóm mình còn cách họ xa lắm. Theo quan sát của tôi, với khoảng 5 thành viên thì những nhóm nghiên cứu mạnh của thế giới trong lĩnh vực có từ 15 đến 20 bài tốt mỗi năm là bình thường. Khi nào HEPC đạt được mức hiệu suất công bố tốt như thế thì mới thực sự là mạnh”. PGS. TS Phùng Văn Đồng      Hiện tại, bên cạnh việc duy trì và mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế của mình, PGS. TS Phùng Văn Đồng đã tập hợp được một lực lượng nòng cốt đủ mạnh để có thể triển khai những dự định của mình, ví dụ nghiên cứu sâu về BigBang và lỗ đen với sự đóng góp chủ lực của TS. Shingo Takeuchi, chuyên nghiên cứu về lượng tử hóa trường hấp dẫn từng có nhiều bài đăng trên Physical Review Letters, hoặc tiến hóa của các sao và sao neutron với sự tham gia của TS. Ngô Hải Tân, nghiên cứu về vật lý hạt nhân thiên văn, hoặc sự cộng tác của TS Đỗ Quốc Tuấn, chuyên gia về hấp dẫn nhiều chiều, năng lượng tối, lỗ đen, giành giải trẻ Tạ Quang Bửu 2018 với công trình “Higher dimensional nonlinear massive gravity” (Lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng) trên tạp chí Physical Review D, TS Dương Văn Lợi hỗ trợ nghiên cứu về vật lý hạt cơ bản. Do đó ngay khi trong giai đoạn xây dựng nền tảng thì HEPC đã có được 8 công trình, trong đó 5 công trình đã xuất bản và 3 công trình đang phản biện trên các tạp chí top Q1.   Sau những nỗ lực tuyển người và gây dựng nhóm, những tưởng kết quả bước đầu này sẽ khiến PGS. TS Phùng Văn Đồng hài lòng phần nào nhưng thật bất ngờ là anh vẫn suy tư về khoảng cách tồn tại giữa HEPC với các nhóm nghiên cứu mạnh quốc tế, “công việc nhóm làm mới chỉ là phần nhỏ vì thật ra, cường độ lao động của nhóm vẫn chưa được như họ”. Anh lý giải, “việc có những công bố đó mới chỉ chứng minh được là mình đã lập được một nhóm nghiên cứu có tiềm năng và thảo luận được một số vấn đề quốc tế quan tâm thôi, còn theo tiêu chuẩn nhóm nghiên cứu mạnh của quốc tế thì nhóm mình còn cách họ xa lắm. Theo quan sát của tôi, với khoảng 5 thành viên thì những nhóm nghiên cứu mạnh của thế giới trong lĩnh vực có từ 15 đến 20 bài tốt mỗi năm là bình thường. Khi nào HEPC đạt được mức hiệu suất công bố tốt như thế thì mới thực sự là mạnh”.   Lộ trình trở thành nhóm nghiên cứu mạnh thực thụ  Mơ ước tạo dựng được một nhóm nghiên cứu tương đương với các nhóm nghiên cứu mạnh quốc tế đã thôi thúc PGS. TS Phùng Văn Đồng lập một kế hoạch phát triển dài hạn: xây dựng Phòng Vật lý năng lượng cao và vũ trụ học, gồm các nhóm nghiên cứu lý thuyết, hiện tượng luận và thực nghiệm, nơi anh có thể tuyển các postdoc, nghiên cứu sinh, học viên cao học theo từng nhóm nghiên cứu. Anh tính toán, để có được nhân sự đủ cho ba nhóm này, cần phải mất ít nhất ba năm, từ 2019 đến 2021.    Mô hình lịch sử vũ trụ.     Trên chặng đường ba năm đầu mà anh vạch ra đã có đủ những nội dung cần giải quyết một cách lần lượt: xây dựng/phát triển các mô hình mở rộng (năm 2019); liên hệ vật lý hạt với hấp dẫn và các hệ quả vũ trụ học (năm 2020); kiểm chứng các mô hình mở rộng ở máy gia tốc và các thực nghiệm khác (2021). “Chúng tôi không đặt ra những nội dung cho ‘đẹp’ về hình thức mà để nó đi kèm với những yêu cầu sản phẩm nghiên cứu cụ thể về số lượng, chất lượng công bố và số lượng nghiên cứu sinh, học viên cao học được đào tạo, trong đó, yêu cầu ngày một nâng lên từ 6 bài lên 10 bài top Q1, thuộc hệ thống Nature index”, PGS. TS Phùng Văn Đồng đề cập đến những công việc nghiên cứu nhằm đào tạo ra những nhà nghiên cứu có năng lực chuyên môn tốt. Hiện tại, anh đã có 3 nghiên cứu sinh, những người mạnh dạn nộp hồ sơ vào Phenikaa hoặc theo thầy sang Phenikaa không chỉ vì nguồn học bổng (Phenikaa là một trong số hiếm hoi những cơ sở đào tạo ở Việt Nam có học bổng cho nghiên cứu sinh) mà còn vì uy tín của người hướng dẫn. Trong một cuộc trao đổi mới đây, GS. TS Phạm Thành Huy, hiệu trưởng trường Đại học Phenikaa và trưởng nhóm nghiên cứu Quang điện tử – Quang tử, cho biết, PGS. TS Phùng Văn Đồng là một trong số không nhiều thầy tuyển được cả postdoc lẫn nghiên cứu sinh nhờ công bố đều và chất lượng tốt.    Trong kế hoạch của mình, để bổ sung nguồn lực cho nhóm, PGS. TS Phùng Văn Đồng còn dự định liên hệ với một số học trò đã được gửi ra nước ngoài đào tạo, “trong tương lai có thể tiếp đón họ về đây cùng làm việc”. Do đó, bài toán nhân sự cho một nhóm nghiên cứu mạnh tưởng như khó giải quyết cũng sớm thấy “đầu ra”. Vậy cái khó nhất trong kế hoạch tiếp theo là gì? Dè dặt hơn khi đề cập đến mục tiêu lớn, những điều không chỉ gói gọn trong sự phát triển của nhóm HEPC, PGS. TS Phùng Văn Đồng trầm ngâm trả lời: “Tôi mong muốn hình thành một mạng lưới nghiên cứu về vật lí năng lượng cao và vũ trụ học trong nước, trên cơ sở đó cùng mọi người mở rộng hoạt động và gia nhập các mạng lưới quốc tế”. Trên thực tế, lĩnh vực này của vật lý Việt Nam đã có những nhà nghiên cứu, chủ yếu ở một số cơ sở nghiên cứu ở Hà Nội như Viện Vật lý, trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), trường ĐH Sư phạm, Viện KH&KT Hạt nhân (Viện NLNTVN), trường ĐH Bách khoa Hà Nội, trường ĐH Thủ đô và một số ít ở miền Trung, phía Nam. “Các nhà nghiên cứu vẫn hoạt động một cách đơn độc, dĩ nhiên bản chất của nghiên cứu vật lý lý thuyết là cô độc hơn các lĩnh vực khác, nhưng nếu hình thành được một mạng lưới—một cộng đồng gắn kết, chúng ta có điều kiện giải quyết được những vấn đề đủ sâu và đủ lớn”, anh nói.   Có thể đây là một mục tiêu dài hạn nhưng trên con đường đến với mục tiêu đó, PGS. TS Phùng Văn Đồng cũng ước lượng được những gì mình phải làm, “chúng tôi sẽ tổ chức seminar và hội thảo hằng năm, mời các chuyên gia trong nước và quốc tế, những người làm các hướng mà anh em trong nhóm đang làm, đến cùng thảo luận vấn đề. Mình có thể trao đổi và học hỏi rất nhiều qua các hoạt động học thuật đó”. Ngoài ra, nhóm HEPC sẽ mở các lớp học chuyên ngành vật lý năng lượng cao hoặc vũ trụ học trong thời gian một đến hai tuần với các giảng viên trong nhóm và mời các chuyên gia bên ngoài, những bài giảng sẽ “rất có ích cho các nghiên cứu sinh, cao học, sinh viên chuyên ngành và tiến sĩ trẻ”. “Qua các lớp học này, họ có thể hiểu được các kiến thức chuyên môn, tự tìm và nghiên cứu tài liệu, thậm chí gợi mở cho các nghiên cứu sinh và tiến sĩ trẻ về các hướng/vấn đề nghiên cứu mới”, anh đề cập đến những dự định của mình.     PGS. TS Phùng Văn Đồng. Ảnh: Đỗ Quốc Tuấn.  Thông thường, việc tổ chức những hội thảo và lớp học định kỳ như vậy sẽ đòi hỏi một lượng kinh phí đi kèm. Thật khó tiếp cận kinh phí với nhóm nghiên cứu ở các cơ sở nhà nước khi tổ chức các sự kiện này. Anh thừa nhận: “Chúng tôi biết điều đó. Nếu tổ chức hội thảo thì thật ra không quá tốn kém vì các báo cáo viên có đề tài hỗ trợ, nhưng gay nhất là tổ chức lớp học vì nhà tổ chức phải lo tiền ăn ở hỗ trợ học viên và kinh phí mời giảng viên. Do đó, khi về đây, tôi mới có điều kiện áp dụng một trong những điều mà thế giới đã làm thành công”.   Câu chuyện tổ chức các hoạt động nghiên cứu và đào tạo như vậy là một phần trong kế hoạch tổng thể mà nhóm HEPC được phê duyệt với “kinh phí khá nhiều, đặc biệt với dân lý thuyết, đủ đảm bảo cho cả nhóm có thể yên tâm làm việc”. Dĩ nhiên, anh lưu ý, điều này cũng tạo ra sức ép cho các thành viên phải đạt được chỉ tiêu cả về lượng và chất, “một khối lượng công việc không nhỏ và cũng không dễ thực hiện, nếu như luôn buộc mình đạt được những mốc mới trong nghiên cứu, luôn phải có công bố trên các tạp chí hàng đầu chuyên ngành”.  Sức ép lên mỗi thành viên là vậy nhưng với trưởng nhóm Phùng Văn Đồng, anh còn đề ra mục tiêu ở mức cao hơn, hầu như luôn gánh đến một nửa công bố của nhóm. Đây có là thách thức lớn? Quan sát quá trình xây dựng và điều hành nhóm của anh, GS. TS Phạm Thành Huy nhận xét: “Phùng Văn Đồng không chỉ là một nhà khoa học tài năng trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn là người nghiêm túc trong công việc và nghiêm khắc với chính mình, dù nhiệt tình tham gia các hoạt động chung nhưng khi đã ‘đóng cửa’ làm việc là tập trung cao độ. Do đó, trong một thời gian ngắn, anh đã có thể xây dựng được nhóm nghiên cứu tốt, kết nối với mọi người và hơn nữa, có cái nhìn nhân văn và thấu đáo trong đánh giá con người. Tôi luôn có niềm tin vào những người như vậy”. □    Nhóm HEPC mới đề xuất một đề tài nghiên cứu với Quỹ NAFOSTED “Cơ chế khối lượng neutrino và hệ quả vũ trụ học”, dự kiến thực hiện từ năm 2020 đến 2022, một đề tài mà theo PGS. TS Phùng Văn Đồng, “đề xuất các cơ chế sinh khối lượng neutrino dựa trên đối xứng baryon-lepton giao hoán hoặc không giao hoán, nhằm giải thích tích hợp các vấn đề thực nghiệm chính của vật lý hạt cơ bản và vũ trụ học hiện nay như dao động neutrino, bất đối xứng vật chất – phản vật chất, vật chất tối và lạm phát vũ trụ do hai lý thuyết trụ cột là mô hình chuẩn và thuyết tương đối rộng không thể giải thích được”. Anh cho biết thêm, những vấn đề mà nhóm muốn giải quyết và hình thành như mô hình với đối xứng chuẩn baryon-lepton Abel; mô hình với đối xứng chuẩn baryon-lepton không Abel; mô hình với đối xứng baryon-lepton toàn cục; lạm phát mô hình 3-3-1, đối ngẫu gauge/gravity, và flip tối thiểu đều sẽ mang tính thời sự cho nhiều năm tới bởi không chỉ đang được cộng đồng nghiên cứu quan tâm mà còn vì lý giải được một số vấn đề đã tồn tại trong nhiều thập kỷ qua và một số dị thường vật lý mới. Vì thế, “chúng sẽ giúp cộng đồng vật lý có cái nhìn sâu, rộng hơn về một thế giới vi mô và vũ trụ sớm”, anh nói.       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Nhộng kiến có thể tạo ra sữa      Một luồng dưỡng chất do các nhộng kiến bài tiết đã giúp nuôi cả bầy kiến và có thể đóng vai trò nhất định trong quá trình tiến hóa của các cấu trúc xã hội.    Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã quan sát được bí mật của những con kiến: một dòng chất lỏng dạng sữa có thể nuôi dưỡng bầy kiến.  Nghiên cứu này, được xuất bản trên Nature vào ngày 30/11/2022, phát hiện ra là nhộng kiến – một giai đoạn phát triển thụ động trong vòng đời của loài sinh vật chăm chỉ này – đã tạo ra một dòng chất lỏng giàu dưỡng chất có thể nuôi sống kiến trưởng thành và ấu trùng kiến.  Những con ấu trùng kiến đang được ấp phụ thuộc vào dòng dưỡng chất này để sinh trưởng và sống sót, giống như cách các con non của những loài động vật có vú cần sữa. Nếu các con kiến trưởng thành và ấu trùng kiến không ăn dòng sữa này, nó có thể dễ bị nhiễm nấm. “Chúng tôi nhận ra một cơ chế liên kết bầy kiến, kết nối các con kiến qua các giai đoạn phát triển – trưởng thành, ấu trùng và nhộng – thành một khối thống nhất vững chắc, xã hội hữu cơ”, Orli Snir, một nhà sinh học ở trường đại học Rockefeller ở thành phố và là đồng tác giả công trình, cho biết.  “Thực sự ngạc nhiên khi biết rằng chưa có ai từng phát hiện ra điều này trước đây”, Patrizia d’Ettorre, một nhà côn trùng học tại ĐH Sorbonne Paris North, Pháp, nói. “Nhộng vẫn được coi là vô dụng bởi chúng bất động, ở một số loài chúng được bọc trong một cái kén, chúng không ăn, chúng chỉ chuyển động quanh bởi những con kiến thợ, vì vậy chúng được cho là không đóng góp bất cứ điều gì vào xã hội kiến. Nhưng công trình này cho thấy đây không phải là sự thật”.  Snir và cộng sự đã có một khám phá thông qua quan sát những con kiến vô tính Ooceraea biroi – một loại kiến ​​vô tính không có con chúa trong chi Ooceraea khi cô lập chúng trong những giai đoạn khác nhau trong vòng đời của chúng, để tìm hiểu cái gì khiến các bầy kiến tích hợp được với nhau.  Trong khi quan sát những con nhộng kiến được cô lập, các nhà nghiên cứu ngạc nhiên khi thấy những giọt của một dòng chất lỏng xuất hiện trên những điểm trên bụng chúng. Khi dòng chất lỏng này được gia tăng, những nhộng bơi trong đó nhưng chúng vẫn sống sót khi loại bỏ chất lỏng này đi.  Bằng việc tiêm chất nhuộm thực phẩm màu xanh vào nhộng và truy dấu điểm đến của chất lỏng, các nhà nghiên cứu thấy những con kiến trưởng thành uống chất lỏng khi chúng được tiết ra và giúp những ấu trùng uống bằng cách mang chúng đến với các con nhộng. Điều này khiến chất lỏng không được tích tụ lại nữa. “Các con kiến trưởng thành đang đóng vai trò bố mẹ khi chúng giúp làm sạch nhộng, mang các ấu trùng và đặt chúng vào chỗ các con nhộng để có cái ăn”, Snir nói.  Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra thành phần phân tử chất lỏng và nhận ra 185 loại protein trong đó cũng như hơn 100 chất chuyển hóa như các amino acids, đường và vitamin… Các hợp phần được nhận diện cho thấy là chất lỏng này có nguồn gốc từ dòng chất lỏng của lớp vỏ được tạo ra khi các ấu trùng nuôi lớp biểu bì bao quanh khi chúng phát triển thành nhộng. “Đó là một sự tái chế mang tính cơ hội mà các con kiến đang thực hiện trong một bầy đàn… và là một sự phân lớp chuyển hóa trong lao động,” Adria LeBoeuf, một nhà sinh học tại trường đại học Fribourg, Thụy Sĩ, nhận xét.  Vai trò tiến hóa  Các nhà nghiên cứu cũng dò được ‘sữa nhộng’ trong các loài từ năm phân họ kiến lớn nhất, và đề xuất là nó có thể đóng một vai trò nhất định trong sự tiến hóa của các cấu trúc xã hội kiến. “Nó có thể là sự tiến hóa nhanh chóng sau khi những con kiến trở thành loài mang tính xã hội cao hơn hoặc thậm chí có thể trước khi chúng có tính xã hội”, đồng tác giả Daniel Kronauer, một nhà sinh học tại đại học Rockefeller, nhận xét.  Nhóm nghiên cứu giờ mong muốn nghiên cứu những hiệu ứng như các bài tiết của nhộng kiến có thể có trên những con trưởng thành và ấu trùng theo nghĩa hành xử và chức năng sinh lý của cơ thể. “Liệu ấu trùng phát triển thành kiến chúa hay kiến thợ có thể do uống nhiều hơn dòng chất lỏng này?”, Kronauer nêu ý tưởng.  Karsten Schönrogge, một nhà sinh thái học tại Trung tâm Sinh thái và thủy văn Anh ở Wallingford, cũng muốn thấy nghiên cứu về việc “liệu sự bài tiết của các con nhộng cũng hữu dụng trong việc truyền tải các cộng đồng vi sinh vật trong ruột có giúp kiến tiêu hóa thức ăn hay không?”.  Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-04186-2  https://www.telegraph.co.uk/news/2022/11/30/ants-breastfeed-young-boost-survival-across-colony/    Author                .        
__label__tiasang Nhu cầu Uran của thế giới sẽ ngày càng tăng      Theo Dennis Higgs, Chủ tịch Công ty Uran Bắc  Mỹ (Uranerz Energy Corporation) thì thế giới không thể không sử dụng  năng lượng nguyên tử.     Thưa ông Higgs, Uran là nhiên liệu quan trọng nhất đối với các nhà máy điện nguyên tử. Kể từ thảm họa Fukushima năng lượng nguyên tử bị nguyền rủa. Nước Đức muốn đoạn tuyệt hoàn toàn với điện hạt nhân. Ngay cả nước Pháp, vốn được coi là quốc gia của điện hạt nhân cũng đang có biểu hiện “suy nghĩ lại”. Vậy về lâu dài nguyên liệu Uran sẽ bị dư thừa?  Hoàn toàn không phải như vậy. Lượng Uran mà nước Đức tiêu thụ chỉ tương đương 5% nhu cầu về Uran của cả thế giới. Thế giới hiện có 435 nhà máy điện hạt nhân đang hòa mạng, trong đó riêng Mỹ có 104 nhà máy. Những nhà máy này không dễ gì ngừng hoạt động. Mỹ là thị trường Uran lớn nhất thế giới. Khi mỏ đầu tiên của chúng tôi ở Wyoming đi vào hoạt động chúng tôi sẽ cung cấp cho thị trường này. Nhu cầu hàng năm về Uran của Mỹ khoảng 50 triệu pound Uranoxid U3O8. Nhưng bản thân Mỹ mỗi năm chỉ khai thác được khoảng 5 triệu pound.  Tổng thống Mỹ Barack Obama đã cam kết sẽ triển khai mạnh mẽ hơn nữa năng lượng nguyên tử. Liệu giới công ngiệp có thể tin tưởng vào cam kết đó không?  Tôi tin là như vậy. Tổng thống đã nói khá rõ về việc mở rộng điện hạt nhân và coi đây là một dạng năng lượng sạch.    Liệu một vị thuộc đảng Cộng hòa trong Nhà Trắng có làm như vậy không?  Những người thuộc đảng Cộng hòa còn tán dương năng lượng nguyên tử mạnh mẽ hơn các vị thuộc đảng Dân chủ.  Hiện tại ở Nhật Bản không có nhà máy điện nguyên tử nào còn hòa mạng. Thế nhưng không hề bị mất ánh sáng điện. Phải chăng thay thế điện nguyên tử dễ dàng hơn người ta tưởng?    Các lò phản ứng của Nhật đang trải qua thời kỳ thử thách căng thẳng. Vào mùa hè này, khi tiêu dùng điện tăng lên, thí dụ các máy điều hòa nhiệt độ hoạt động mạnh hơn, khi đó mới thấy rõ Nhật giải quyết vấn đề điện hạt nhân như thế nào. Tôi cho rằng sẽ có vấn đề. Nước Nhật mỗi ngày phải chi 100 triệu đôla cho việc thay thế điện hạt nhân bằng việc nhập năng lượng bổ sung. Các nhà kinh tế cho rằng không có điện hạt nhân năm 2012 tăng trưởng kinh tế của Nhật chỉ đạt 1%, nếu dùng điện hạt nhân thì mức tăng trưởng kinh tế 2% là có thể.   Điều đó có nghĩa lý gì so với những thảm cảnh mà con người đã trải qua?   Rất lấy làm tiếc, nhưng đó là sự thật. Ngược lại, xin hỏi: Nước Đức được gì khi ngừng không cho các nhà máy điện hạt nhân của mình hòa vào mạng lưới điện quốc gia, nhưng lại nhập khẩu điện hạt nhân của nước ngoài để bù vào sự thiếu hụt năng lượng ? Về lâu dài nước Đức sẽ cho ngừng hoạt động 17 nhà máy điện hạt nhân của mình trong khi Trung Quốc lại đang cho xây dựng mới 26 nhà máy điện nguyên tử. Hiện tại trên thế giới có 60 lò phản ứng mới đang trong quá trình xây dựng, 163 đang trong thời kỳ lập kế hoạch. Các nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga là những thành phần quan trọng nhất thúc đẩy thị trường Uran thế giới.   Ngay cả ở đó, ngay sau vụ Fukushima cũng nghe nói, người ta muốn xem xét lại kế hoạch điện hạt nhân của mình. Hay đó chỉ là những lời nói thoảng qua?  Nếu xét từ tấn thảm kịch ở Nhật Bản thì ở đây ít nhiều có sự nghiêm túc về mặt chính trị. Nhưng cốt lõi của vấn đề là ở chỗ, cần phải coi trọng hơn nữa vấn đề an toàn khi xây dựng kế hoạch. Mà quan niệm đó là đúng đắn.  Phải chăng vì thế việc triển khai xây dựng sẽ bị trì hoãn và chi phí xây dựng sẽ tăng lên?  Có thể như vậy, nhưng không phải vì thế mà người ta hủy bỏ chương trình năng lượng hạt nhân. Hơn nữa Trung Quốc còn cam kết giảm rõ rệt chất thải gây hiệu ứng nhà kính. Không có sự đóng góp của năng lượng nguyên tử thì điều này không khả thi. Một điều nhãn tiền là, nhu cầu đối với Uran của thế giới sẽ tăng lên. Các nhà phân tích cho rằng đến năm 2020 so với 2011 nhu cầu sẽ tăng trên 50%, tức mỗi năm cần có 280 triệu pound Uranoxid. Sẽ bị thiếu hụt Uran và giá Uran sẽ tăng lên. Điều đó chắc chắn.  Theo Wiwo 14.5.2012       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhựa tan thành CO2 và nước      Loại nhựa này sẽ tan ra thành các chất không độc hại khi ở trong nước biển. Nó sẽ được dùng để chế tạo các dụng cụ dùng một lần như thìa, dĩa, bao gói…, và là một giải pháp thân thiện với môi trường.    “Có nhiều nhóm nghiên cứu đang chế tạo các loại chất dẻo dễ phân huỷ sinh học, nhưng chúng tôi là một trong số ít nhóm tìm hiểu các chất dẻo phân hủy trong nước biển”, Robson Storey, một nhà khoa học polymer tại Đại học Southern Mississippi, Mỹ, cho biết.  Các tàu viễn dương, tàu hải quân và những phương tiện khác trên biển thường sản sinh một lượng lớn rác thải nhựa, như vỏ bọc hàng hóa, hộp đồ ăn hay đồ dùng hằng ngày. Đống rác này sẽ phải giữ nguyên trên tàu cho đến khi tàu cập cảng. Việc vứt chúng xuống biển sẽ gây nguy hiểm cho môi trường vì các loại nhựa truyền thống phải mất vài năm mới phân hủy và tạo ra các sản phẩm phụ độc hại.  Loại nhựa mới khắc phục được các nhược điểm đó. Khi tiếp xúc với nước biển, nó sẽ hòa tan chỉ trong 20 ngày. Sản phẩm được làm từ polyurethane biến tính, kết hợp với một hóa chất có khả năng phân hủy sinh học có tên gọi PLGA vốn được dùng trong chỉ khâu y học.  Bằng việc thay đổi kết cấu hóa học của nhựa, các nhà khoa học đã tạo ra các loại vật liệu đa dạng từ mềm và dẻo dai đến cứng và rắn, có tiềm năng ứng dụng rộng rãi. Sau khi hòa tan, chúng sẽ biến thành CO2 và nước, cũng như các hóa chất hữu cơ tự nhiên khác như axit lactic.  Loại nhựa mới nặng hơn nước biển, nên nó sẽ chìm xuống chứ không nổi lềnh bềnh như các loại rác nylon hiện nay. Điều này sẽ khiến chúng không trôi giạt vào đất liền và gây ô nhiễm bờ biển.  Sản phẩm đang được kiểm tra tại các phòng thí nghiệm đại học và quân sự, và kết quả ban đầu là hứa hẹn. Tuy nhiên, nó chưa được kiểm tra trong nước ngọt.  T. An (theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bài học sâu sắc từ một con người phi thường      Alexander Grothendieck, người mới qua đời ngày 13/11 vừa qua ở tuổi 86, là một nhà toán học có tầm nhìn xa, một người đã thu phục được tâm trí đồng nghiệp của mình hơn bất cứ ai khác.     Nói rằng ông là nhà toán học số một trong  nửa sau của thế kỷ 20 quả thực vẫn chưa xứng với tầm vóc và những công  trình của ông. Chúng ta cần cưỡng lại thói quen gán một con số cho con  người của những con số. Có những bài học sâu sắc hơn mà chúng ta có thể  học được từ con người phi thường này cũng như cuộc đời phi thường của  ông.   Trong toán học, Grothendieck đã cách mạng lĩnh vực hình học đại số. Nhờ Descartes, ta đã biết rằng các hình hình học có thể được mô tả bằng những phương trình. Khi viết “x2 + y2 = 1” tức là ta mô tả một đường tròn. Mỗi nghiệm của phương trình này không gì khác chính là một cặp tọa độ x và y của một điểm thuộc đường tròn đơn vị trên mặt phẳng.   Đây là ví dụ về một phương trình đại số, loại phương trình chỉ chứa tích các lũy thừa của các tọa độ, ví dụ như x2 hay x3y5. Vì số lượng các tọa độ có thể lớn tùy ý, giải những phương trình dạng này có thể rất khó. Nhưng chúng là nền tảng và rất nhiều trong chúng tồn tại trong tự nhiên. Hình học đại số nghiên cứu các phương trình này và những hình hình học hoặc không gian hình học mà chúng mô tả.   Ta thấy ngay một vấn đề: phương trình x2 + y2 = 1 cho ta một đường tròn chỉ khi ta xét các nghiệm trong miền số thực. Còn có rất nhiều các miền khác, chẳng hạn như các số phức (được xây dựng từ số ảo, là căn bậc hai của âm một).  Có thể thấy rằng các nghiệm của phương trình trên trong miền số phức là các điểm của một không gian hoàn toàn khác, cụ thể là một mặt phẳng bỏ đi một điểm. Đối với một miền khác, không gian của các nghiệm có thể là một tập hợp các đường tròn với những kích thước khác nhau: Hình dung một đường tròn dãn nở theo thời gian.  Như vậy, chỉ với một phương trình, ta có thể có được một họ các không gian. Chúng liên quan tới nhau và tới bản thân phương trình như thế nào? Cái nào có trước, phương trình hay không gian? Những câu hỏi này đã làm rối trí các nhà toán học hàng thế kỷ. Thiên tài của Grothendieck là ở chỗ phát hiện một “đối tượng” ẩn náu đằng sau mỗi phương trình (hay một hệ các phương trình) đại số, được đặt tên là “lược đồ” (scheme). Những không gian nghiệm chỉ là những hình chiếu hay cái bóng của lược đồ này mà thôi. Hơn nữa, ông nhận ra rằng những lược đồ này tạo nên một thế giới phong phú. Chúng “tương tác” nhau, có thể “dán” được với nhau, v.v. Khái niệm lược đồ là một trong những hòn đá tảng trong nỗ lực phi thường của Grothendieck nhằm xây dựng lại lĩnh vực rộng lớn này. Hàng ngàn trang nghiên cứu tỉ mỉ trong vòng hơn một thập kỷ, bắt đầu từ cuối những năm 1950, được biết đến với tên viết tắt của tựa đề tiếng Pháp là EGA (Cơ sở hình học đại số) và SGA (Chuyên đề hình học đại số). Bất hủ như bộ “Cơ sở” (Elements) của Euclid, cho tới nay vẫn chưa có công trình nào vượt qua được hai bộ sách này về sự rõ ràng, tổng quát, sự nhuần nhuyễn về kỹ thuật và sự hoàn chỉnh trong khái niệm.   Hai bộ sách là kết quả của những cuộc thảo luận bất tận, của những buổi seminar 12 tiếng, của cả sự tư duy đơn độc, hay nói gọn trong một từ, đó là kết quả của lao động – sự tìm kiếm kiên trì đến ám ảnh, không thỏa hiệp, để đến được với sự thật ở dạng phổ quát và trừu tượng nhất. Như Pierre Deligne, một cựu sinh viên của Grothendieck và cũng là một nhà toán học đại tài, đã từng nói trên tờ Le Monde, Grothendieck “đã phải hiểu được mọi điều từ cách nhìn tổng quát nhất”, và khi ông đạt được điều đó thì mọi thứ “trở nên rõ ràng đến mức các chứng minh dường như tầm thường”. Có lẽ đó là lý do vì sao những ý tưởng của Grothendieck đã “thâm nhập vào tiềm thức của các nhà toán học”.   Dù ta có thể hỏi liệu những nghiên cứu của ông có thể ứng dụng được gì trong thực tế hay không, thì câu hỏi quan trọng hơn phải là, trong trường hợp tìm được ứng dụng, liệu con người có đủ sáng suốt để bảo vệ thế giới khỏi những nguy hiểm mà chính chúng ta tạo ra từ những ứng dụng đó. Việc sử dụng toán học sai mục đích gần đây khiến chúng ta không thể yên tâm được.  Ví dụ, theo các báo cáo được công bố, Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) đã gắn một cổng sau (back door) vào một thuật toán mật mã hóa được sử dụng rộng rãi dựa trên những “đường cong ê-lip-tic” – khái niệm toán học được sáng tỏ từ những nghiên cứu của Grothendieck. Dù rằng thuật toán cụ thể đó được phát triển rất lâu sau này, Grothendieck đã nhận ra mối nguy hiểm tiềm tàng của việc sử dụng toán học vào sai mục đích và đã lên tiếng cảnh báo. Ông đã nổi giận khi biết IHES – viện toán học gần Paris nơi ông làm việc – nhận được sự tài trợ của Bộ Quốc phòng Pháp. Để phản đối, ông từ chức vào năm 1970 khi đang ở đỉnh cao của quyền lực. Ông đã hy vọng rằng các đồng nghiệp của mình sẽ nối gót, nhưng cuối cùng không có ai làm như vậy.  Từ đó, Grothendieck bắt đầu xa lánh cộng đồng học thuật, chỉ trích sự thiếu đạo đức và thiếu liêm chính của nó. Năm 1966, ông từ chối đến Moscow nhận Huy chương Fields, giải thưởng cao quý nhất của ngành toán học, để phản đối việc truy tố những người bất đồng chính kiến ở Liên Xô. Năm 1988, ông từ chối nhận giải Crawford danh giá, và nhận xét thế giới khoa học “về cơ bản là không lành mạnh”. Ông cống hiến cho các vấn đề sinh thái từ lâu trước khi chủ đề này trở thành trào lưu, và giúp thành lập nhóm Survivre et Vivre, “một phong trào quốc tế vì sự sinh tồn của nhân loại”, vào năm 1970.   Đọc những bản tin của nhóm này, ta có thể thấy Grothendieck đối đầu với những cái xấu trong xã hội với một sự khắt khe và giận dữ rất đặc trưng của mình. Ông đã đấu tranh chống lại những bất công mà mình nhìn thấy, không chấp nhận bất cứ thỏa hiệp nào.   Đơn thương độc mã, Grothendieck không sợ là chính mình và luôn bảo vệ những gì mình tin là đúng. Người đã phát triển toán học theo những cách sâu sắc nhất này, không tin toán học là câu trả lời cho mọi thứ. Ông dạy chúng ta rằng cuộc sống có giá trị hơn bất cứ phương trình nào.  Mỹ Anh dịch theo nytimes.com  Phùng Hồ Hải hiệu đính  —  * Edward Frenkel là giáo sư toán học tại Đại học California, Berkeley, và là tác giả của cuốn “Love and Math: The Heart of Hidden Reality.”       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bài học về chính sách với trí thức      Tôi không có hạnh phúc được là học trò của GS Lê Văn Thiêm, nhưng ngay từ khi tôi còn học cao đẳng tiẻu học ở tuổi 15-16 và mãi sau đó nhiều năm anh đã là thần tượng để chúng tôi hướng tới và noi theo. Năm 1946 khi từ Huế ra Hà Nội đăng ký vào trường Cao đẳng Khoa học, chúng tôi vô cùng phấn khởi nghe tin anh sẽ về làm Giám đốc.    Thế rồi tháng 12 năm 1946 kháng chiến bùng nổ, đại học đóng cửa, tôi về Khu 5, dạy trung học ở Quảng Ngãi, lại tiếp tục được nghe nhiều giai thoại về người thanh niên xuất chúng đang làm rạng rỡ đất nước. Giới học sinh, sinh viên, trí thức rất đổi tự hào, và riêng với tôi, hình ảnh anh đã làm sống dậy nhiều niềm mơ ước ấp ủ từ lâu. Đặc biệt năm 1948  tin anh bảo vệ xuất sắc luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Toán học ở Paris gieo vào tâm trí giới trẻ hiếu học  thời đó một niềm phấn khởi vô biên. Niềm vui và tự hào của chúng tôi càng được nhân lên gấp bội khi được nghe anh Tạ Quang Bửu ca ngợi chàng tiến sĩ 30 tuổi ấy đã nghiễm nhiên trở thành bậc thầy của tất cả các anh – những người hồi đó được coi là có trình độ toán học cao siêu trong cả nước. Cho nên, năm 1951, khi nghe tin anh Thiêm đã về VN, và sắp mở trường Cao đẳng Khoa học thực hành ở Việt Bắc tôi liền xin nghỉ dạy lên đường ra Việt Bắc tìm thầy để thọ giáo. Hồi ấy, đường từ Khu 5 ra Việt Bắc phải đi trên rừng, dọc theo Trường Sơn, khó khăn, hiểm trở và cũng đầy hiểm nguy, rất dễ bỏ mạng giữa rừng sâu vì sốt rét, cọp hay địch phục kích. Tôi lại mới ngoài hai mươi, đang ở tuổi yêu, thế mà vẫn dứt áo từ biệt người yêu vừa mới hứa hôn, ra đi tìm thầy học đạo, đủ thấy tấm lòng ngưỡng mộ của tôi đối với anh Thiêm như thế nào. Có thể nói đó là quyết định khó khăn đầu tiên đã ảnh hưởng lớn đến toàn bộ cuộc sống và sự nghiệp sau này của tôi.  GS Ngô Việt Trung và GS Hà Huy Khoái đã kể tiểu sử, công lao và cống hiến to lớn của GS Lê Văn Thiêm đối với khoa học toán học và đối với nền toán học cũng như sự nghiệp đại học của nước nhà.  Tôi muốn nhân đây nói thêm vài kỷ niệm về môt trí thức lỗi lạc đã sống một cuộc đời rất đặc biệt, với bao nỗi thăng trầm, khi lặng lẽ ra đi đã để lại cho tất cả chúng ta, cho mỗi người tri thức, cho những ai làm công tác lãnh đạo, quản lý trí thức rât nhiều bài học lớn. Vào thời điểm hiện nay, khi vấn đề trí thức đang nổi lên là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội, những bài học ấy càng quý giá biết bao. Xin hãy suy ngẫm trên những bài học ấy để thay đổi tận gốc cách nhìn đối với nhân tài và trí thức, đổi mới quan niệm và cách xử lý các vấn đề liên quan, đó chính là bí quyết để vượt qua các thách thức của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế thành công. Sau hai mươi năm đổi mới đất nước, chúng ta đã có nhiều thành tựu kinh tế nhưng đã tụt hậu xa về giáo dục và khoa học và giờ đây đang phải trả giá. Tuy cách nhìn của xã hội đối với doanh nhân đã có thay đổi nhưng quan niệm và từ đó chính sách đối với trí thức không theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, thậm chí có nhiều mặt còn thụt lùi so với thời bao cấp.  Dù không được là học trò của anh Thiêm nhưng bù lại, tôi đã có may mắn sống, làm việc, gần gũi anh trong nhiều năm. Xin thuật lại đôi điều tôi được biết về cuộc đời anh qua các thời kỳ khác nhau.  Thời kỳ ở Khu Học Xá TƯ (1951-53).  Anh Thiêm tuy đã là đảng viên, nhưng theo Chỉ thị của TƯ chỉ sinh  hoạt với Đảng Uỷ, không sinh hoạt ở Chi Bộ. Các vị lãnh đạo cao ở Bộ Giáo Dục khi nói về anh Thiêm đều coi anh là “sommité” (đỉnh cao) về khoa học trên thế giới, cho nên chế độ đối với anh rất đặc biệt. Nhờ đó công việc của anh rất thuận lợi và phát huy hiệu quả tối đa như anh mong muốn.  Sau này, khi GS Laurent Schwartz (một trong những nhà toán học uy tín nhất của Pháp)  hỏi tôi về tiểu sử anh Thiêm để thông báo với bạn bè, tôi có nói rõ với ông là hai trường Khoa Học Cơ Bản và Sư Phạm Cao Cấp do anh Thiêm sáng lập và lãnh đạo đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong một thời gian dài đối với việc xây dựng nền đại học của Việt Nam.  Điều may mắn đối với tôi là năm 1953 được ở chung cùng phòng với anh Thiêm trong hai tháng và nhờ vậy biết được nhiều  suy tư của anh sau chỉnh huấn 1952 về một số chuyện chung và riêng, kể cả mối tình đơn phương không được sẻ chia. Đồng thời được sống  gần anh tôi thấy rõ anh là con người hết mực trung thực, vô cùng thiết tha với đất nước, nhân hậu, tử tế với mọi người, nhưng có một nhược điểm sau này đã gây không ít khó khăn cho anh là ngây thơ tin rằng ai cũng trung thực, nhân hậu như mình. Qua một số thư từ của các đồng nghiệp Ba Lan như Kuratowski trao đổi với anh, tôi cũng thấy cụ thể sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp quốc tế đối với anh trong mấy năm sau khi các công trình của anh được công bố.  Thời kỳ ở Đại Học Tổng Hợp Hà Nội (1954-1969). Năm 1954, về tiếp quản Thủ Đô, anh Thiêm được cử ngay làm Giám Đôc Đại học Khoa học  (cùng với các ông Đăng Thái Mai và Trần Đức Thảo làm giám đốc và phó giám đốc Đại học Văn khoa).  Hồi đó người  người đứng đầu một đại học được gọi là giám đốc, và có phân biệt giáo sư, giảng viên, phụ giảng; chỉ sau này, trong khoảng 1960-1980, mới có chỉ thị gọi sinh viên là học sinh, giám đốc là hiệu trưởng, không phong giáo sư, phó giáo sư,  mà tất cả chỉ là cán bộ giảng dạy – để cho có vẻ “dân chủ”, thực chất là nhằm tầm thường hóa, xóa bỏ mọi chuẩn mực, một tư tưởng quản lý sẽ còn  ảnh hưởng lâu dài cho đến tận ngày nay.  Đến năm 1957, hai đại học được cải tổ thành Đại học Tổng hợp (ĐHTH) do GS Ngụy Như Kontum làm Hiệu trưởng và Đại học Sư phạm (ĐHSP) do GS Phạm Huy Thông làm Hiệu trưởng. Anh Thiêm bây giờ chỉ làm chủ nhiệm khoa toán chung cho cả hai đại học, với lý do giải thoát cho anh khỏi các nhiệm vụ hành chính để anh chuyên tâm làm khoa học. Ý tưởng rất tốt, nhưng không thực tế vì sau nhiều năm bị cách ly với thế giới và không có điều kiện làm khoa học (có thời gian anh về nông thôn ba cùng với nông dân, được báo chí ca ngợi là vị tiến sĩ toán học chăn bò rất vui vẻ và có trách nhiệm !), thêm vào đó thư viện không hề có tạp chí khoa học quốc tế nào (mãi sau 1959 mới bắt đầu nhận được bản sao chụp của một số tạp chí quốc tế do Trung Quốc gửi tặng), và việc liên hệ với giới khoa học quốc tế bị cắt đứt (thời kỳ này cũng chưa có mấy quan hệ khoa học với các nước xã hội chủ nghĩa), việc trở lại với nghiên cứu khoa học theo trình độ quốc tế là cực kỳ khó. Đến 1959 Uỷ ban Khoa học Nhà nước (UBKHNN) được thành lập, anh Tạ Quang Bửu làm Tổng Thư ký, anh Thiêm được bổ nhiệm là Uỷ viên UBKHNN,  điều kiện làm khoa học nghiêm túc có thuận lợi hơn. Nhưng chẳng bao lâu, từ 1960 trở đi,  do chi viện kháng chiến ở Miền Nam, kinh tế bắt đầu khó khăn, phải thực hiện chế độ tem phiếu. Để sửa chữa sai lầm cũ, anh Thiêm lại được “đề bạt” trở lại làm Hiệu phó ĐHTH. Dù có muộn màng , điều đó cũng thể hiện sự quan tâm của cấp trên đối với anh.  Nhưng bi kịch là đến 1963 (không rõ có mối liên hệ gì với Nghị quyết 9 đấu tranh chống xét lại hay không), giữa lúc anh Thiêm và tôi đang ra sức cố gắng làm những ứng dụng toán học thiết thực, đồng thời xây dựng nền nếp nghiên cứu khoa học, thì một loạt thư từ gửi lên cấp trên tố giác anh Thiêm và tôi (khi ấy tôi là chủ nhiệm khoa Toán, kiêm ủy viên ban Toán ở UBKHNN).  Dưới danh nghĩa “chính trị là thống soái”, “đường lối công nông của Đảng”, với cách hiểu lệch lạc về “hồng, chuyên”, chúng tôi bị buộc đủ thứ tội. Đây thật sự là những ngày tháng cực hình. Ban ngày dạy học và chạy máy bay, ban đêm chong đèn ngồi viết kiểm điểm: nào là chèn ép công nông, chuyên môn thuần túy, thiên tài chủ nghĩa, nghiên cứu khoa học lý thuyết suông, …, không có cái mũ to nào mà chúng tôi không bị chụp lên đầu. Hậu quả là hàng trăm buổi kiểm điểm nặng nề dưới sự chủ trì của quan chức cấp trên, trong 5-6 năm liền,  đã làm chúng tôi kiệt sức. Đến mức năm 1968, không chịu đựng nổi, tôi phải xin với Thủ tướng Phạm Văn Đồng chuyển qua UBKHNN, và năm sau anh Thiêm cũng rời ĐHTH  để về UBKHNN.  Theo lời kể của chị Hồng (vợ anh Thiêm), trước đó, một vị cấp trên đến nhà dỗ ngon dỗ ngọt  anh Thiêm: “dù anh không làm gì sai, nhưng thôi, anh là cấp trên của họ, nên khoan dung, anh cứ nhận hết lỗi là yên chuyện”.  Anh Thiêm nhẹ dạ nghe theo, hôm sau ra buổi họp nhận hết lỗi về mình. Ngờ đâu, cái biên bản buổi họp đó trở thành công cụ buộc tội anh. Vì thế khi anh Thiêm chuyển sang UBKHNN, đáng lẽ được cử làm viện trưởng Viện Toán thì chỉ được bổ nhiệm làm phó viện trưởng.  Trước sự phi lý đó, anh Thiêm không hề có một phản ứng tiêu cực nào. Trái lại, càng bị vùi dập anh càng bộc lộ rõ bản chất một công dân yêu nước hết mực,  dẫu bị thiệt thòi và đối xử bất công, vẫn một lòng một dạ phục vụ. Nhân hậu, bao dung, cao thượng, nhưng anh cũng là con người nguyên tắc, luôn bảo vệ lẽ phải và chân lý, cho dù phải trả giá đắt.  Thời kỳ ở Viện Toán (1970-1980)  Chuyện anh Thiêm làm viện phó ai nghe cũng ngạc nhiên, riêng tôi mỗi khi có dịp đều tìm cách phản ảnh trực tiếp sự phi lý đó lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Theo lời kể của ông Lê Khắc (Phó Chủ nhiệm UBKHKTNN), chính Thủ tướng cũng đã nhiều lần nhắc nhở UBKHKTNN sửa sai.  Nhưng vì mọi việc phụ thuộc một qui trình bí hiểm nên rốt cục trong 5 năm liền sai vẫn không được sửa, cho mãi đến 1975, nhờ tình hinh mới, anh Thiêm mới được bổ nhiệm làm Viện trưởng. Nhưng anh chỉ làm viện trưởng đến 1980. Do trước đó chị và các cháu đã chuyển hết vào TP HCM  cho gần gia đình bên chị, nên vài năm sau khi hết trách nhiệm lãnh đạo ở Viện Toán anh cũng chuyển luôn công tác vào đó. Năm 1988,  đột nhiên lại có quyết định cho anh nghỉ hưu, nhưng may nhờ có ý kiến phản đối lên tới Tổng Bí Thư mà quyết định ấy được hủy bỏ. Với một người khác, bấy nhiêu thăng trầm, bầm giập dễ làm nản lòng.  Nhưng vào TP HCM anh Thiêm vẫn hết lòng giúp đỡ phòng Toán ứng dụng trong đó, và tham gia tich cực mọi việc, cho đến ngày sức khỏe kiệt quệ khiến anh phải từ biệt cuộc đời.  Nghe tin anh mất, tôi vội bay vào TP HCM dự tang lễ. Điều khiến tôi hết sức day dứt trong nhiều năm là tang lễ quá ư đơn giản, chẳng có nghi thức gì để ghi nhận xứng đáng công lao người quá cố. Dẫu biết rằng sinh thời anh rất khiêm tốn, không thich phô trương, nhưng nhiều người không khỏi chạnh lòng khi so sánh với đám tang trọng thể chỉ sau đó mấy ngày của một quan chức thành phố. Khó hiểu nhất là hôm sau, khi tôi đến thăm chị Hồng ở nhà thì được chứng kiến người phụ trách tổ chức của cơ quan (Phân Viện Khoa học VN ở TP HCM)  đến báo chị biết là  cơ quan sẽ chia sẻ với gia đình … một nửa chi phí tang lễ.  Đau buồn và phẫn nộ tôi vội báo cáo ngay việc này cho lãnh đạo Viện Khoa học VN ở Hà Nội để chỉ thị cho Phân Viện ở TP HCM phải thực hiện nghiêm chỉnh toàn bộ nghĩa vụ của cơ quan đối với tang lễ GS Lê Văn Thiêm.  Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (hồi đó là Cố vấn), khi biết được chuyện này cũng rất buồn phiền. Gặn hỏi thêm ông mới hay rằng, ngoài các huân chương kháng chiến và chống Mỹ cứu nước theo chế độ chung, ngay cả một tấm huân chương Lao động hay danh hiệu Nhà Giáo Nhân Dân anh Thiêm cũng không có. Cho nên  ông có ý kiến phải truy tặng huân chương độc lập hạng nhất cho GS Lê Văn Thiêm. Âý vậy mà cũng phải đợi thêm 5 năm nữa, mãi đến 1996, ý kiến đó của Cố vấn mới được thực hiện.  Đó là tóm lược đôi điều tôi biết cùng những cảm nhận của tôi về cuộc đời đặc biệt của nhà trí thức đặc biệt Lê Văn Thiêm. Mặc dù, như chúng ta biết, toán học là niềm say mê lớn nhất của anh, nhưng năm 1949, giữa lúc tài năng đang nở rộ và tương lai khoa học đang rộng mở, lòng yêu  nước nóng bỏng đã thúc giục  GS Lê Văn Thiêm từ bỏ địa vị khoa học không ít người mơ tưởng ở Châu Âu để về nước tham gia cuộc chiến đấu giành độc lập cho dân tộc.  Thế mà rồi số phận đã dành cho anh biết bao cay đắng, nhọc nhằn, khi nằm xuống cũng chỉ có bạn bè thân thích tiễn đưa, vào một buổi chiều u ám còn đọng lại trong  tâm trí tôi nhiều câu hỏi đến nay vẫn chưa rõ lời giải đáp.  Nhân đây tưởng cũng nên đề cập một vấn đề đang có ý nghĩa thời sự hiện nay. Nhiều người nghĩ rằng giá như TS Lê Văn Thiêm hồi ấy cứ tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu ở Châu Âu hay ở Mỹ thì chắc chắn, với tài năng xuất sắc của mình, anh đã có thể có nhiều cống hiến to lớn hơn cho toán học và tên tuổi quốc tế của anh lẫy lừng hơn, đó chẳng phải có lợi cho đât nước lắm sao ?    Cuộc đời của anh với nhiều thăng trầm như trên  cũng nêu ra thắc mắc: với phẩm chất đặc biệt như anh mà còn như thế thì liệu có mấy người còn dám yên tâm trở về quê hương. Nhưng đó là câu hỏi dành cho các vị đang gánh trọng trách với đất nước giải đáp, vì là cái nút phải được giải tỏa để thu hút chất xám người Việt ở nước ngoài về xây dựng đất nước. Còn đối với cộng đồng toán học chúng tôi, việc anh Thiêm đã lựa chọn trở về quê nhà, cùng chia sẻ khó khăn gian khổ với đồng bào trong công cuộc giành độc lập, tự do cho xứ sở, và tất cả những gì anh đã cống hiến cho Tổ Quốc và cộng đồng toán học Việt Nam, chỉ có thể khiến chúng tôi vô cùng biết ơn anh và tự hào về anh. Không ai trong chúng tôi nghi ngờ điều này.  Số công trình của anh Thiêm thật ra không nhiều. Nhưng nên biết rằng chỉ cần mấy kết quả của anh về bài toán ngược trong lý thuyêt Nevanlinna cũng đủ để đời, vượt xa hàng chục công trình nghiêm túc của nhiều người khác. Trong khi chúng ta đã bắt đầu nhận thức rõ sự cần thiết và tầm quan trọng của công bố quốc tế, tưởng cũng nên đề phòng xu hướng chạy theo số lượng và coi nhẹ chất lượng. Hai là, thời giữa thế kỷ XX về trước, làm được một công trình toán học có thể công bố trên các tạp chi quốc tế khó khăn hơn sau này rất nhiều. Và nữa, để có thể đánh giá đúng mức ý nghĩa của những thành tựu khoa học của anh Thiêm giai đoạn về sau, không thể không nhắc tới hoàn cảnh khó khăn và những điều kiện vật chất và tinh thần vô cùng thiếu thốn mà trong đó anh đã phải vật lộn để hoạt động suốt bốn mươi năm trời, từ lúc ở Châu Âu về nước cho đến những ngày cuối cùng trước khi từ biệt chúng ta.  Đó là những vấn đề, những suy nghĩ mà cuộc đời và sự nghiệp của GS Lê Văn Thiêm nêu ra cho chúng ta sau gần hai mươi năm anh qua đời. Vừa khâm phục vừa xót xa, tôi kể những kỷ niệm trên để nêu lên một sô bài học và bày tỏ tình cảm sâu nặng của một người đi sau đối với người con ưu tú của Tổ Quốc, một nhân cách tuyệt vời mà hình ảnh sẽ mãi mãi ở trong tim những người học trò, những người bạn, và cả nhiều người chỉ nghe nói đến chứ thật sự chưa từng quen biết anh. Mong sao những tài năng Lê Văn Thiêm sau này sẽ có điều kiện thuận lợi hơn anh để cống hiến cho Tổ Quốc vào một giai đoạn mà chất xám, chứ không phải của cải vật chất, mới là yếu tố quyết định sự phồn vinh của đất nước.    Hoàng Tụy       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bộ não thần kỳ      Vẽ một bức tranh to&#224;n cảnh chỉ sau v&#224;i gi&#226;y quan s&#225;t, t&#237;nh nhẩm trong đầu những ph&#233;p t&#237;nh c&#243; nhiều chữ số… C&#243; bao nhi&#234;u điều thần kỳ m&#224; người ta quan s&#225;t được ở những người tự kỷ. Phải chăng, khả năng đặc biệt của những người tự kỷ l&#224; nhờ v&#224;o những kh&#225;c biệt trong ch&#237;nh hệ thần kinh của họ?    Ngày 14 tháng 3 năm 2004, Hiệp hội nghiên cứu thần kinh của Anh đã tổ chức một buổi nói chuyện đặc biệt tại Bảo tàng Lịch sử khoa học tại Oxford. Diễn giả chính của buổi nói chuyện là Daniel Tammet, người được mời tới để kể ra những số thập phân lớn nhất có thể của con số pi nổi tiếng. Anh ta đã mất tới 5 giờ, 9 phút để nói liên tục ra tới 22.514 số thập phân mà chẳng hề nhầm bất cứ một số nào cả.Người ta có thể ghen tị với trí nhớ của anh ấy, nhất là khi biết anh có thể nhân nhẩm các con số có nhiều chữ số, hoặc làm các phép tính căn bậc 3 mà chẳng cần dùng tới máy tính. Và thế vẫn chưa hết: Anh chàng có khả năng tính toán thần kỳ này lại là một người biết rất nhiều thứ tiếng. Anh biết tới 10 thứ tiếng, trong đó có tiếng Iceland anh ta chỉ mất có 1 tuần để nắm vững các kiến thức cơ bản. Tuy nhiên, Daniel Tammet lại là người mắc chứng Asperger, một loại bệnh tự kỷ.   Tài năng của người tự kỷĐây cũng chẳng phải là trường hợp hiếm hoi. Một anh chàng người Mỹ khác có tên Donny, cũng là người tự kỷ lại có thể nói ra một cách chính xác, chỉ trong vòng chưa tới một giây bất cứ ngày thứ mấy trong tuần nếu bạn cho anh ta biết một ngày tháng bất kỳ trong các năm từ 400 đến 3500. Marc Thioux, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Groningue (Hà Lan) đã chứng minh được rằng khả năng đặc biệt của Donny không chỉ ở việc tính ra rất nhanh ngày tháng bất kỳ. Mà thực ra chính ở việc anh này có một trí nhớ cực kỳ đặc biệt, nhớ nằm lòng được tới 14 cuốn lịch (trong đó có 7 năm bình thường và 7 năm nhuận)[1]. Họa sĩ tự kỷ tài năng người Anh Steven Wilshire lại có khả năng lưu trữ một cách nhanh chóng một số lượng kỳ lạ các dữ kiện thông tin 3 chiều. Anh ta đã vẽ bức tranh toàn cảnh của Tokyo sau khi chỉ ngắm nhìn thành phố này từ trên trực thăng có nửa giờ. QC, một nhạc sĩ tự kỷ thần đồng mà chúng tôi đã thực hiện các nghiên cứu lại có khả năng nhớ các giai điệu hợp âm piano kéo dài 20 giây, trong đó mỗi hợp âm có 10 nốt khác nhau, sau chỉ… 1 lần nghe [2].Cụ thể hơn, theo Patricia Howlin thuộc Đại học King (London), 39 trong số 137 (tức khoảng 28,5%) người tự kỷ mà cô tiến hành nghiên cứu, là những người tự kỷ “bác học”, tức là những người có một trí nhớ đặc biệt[3].Những người này thường làm việc trong những lĩnh vực mà họ cực kỳ đam mê, thường được xác định ngay từ nhỏ và không chịu lùi bước trước bất cứ áp lực xã hội nào. Dù người tự kỷ mang bất kỳ quốc tịch nào, các nghiên cứu đều dẫn tới một mẫu số chung: Họ có trí nhớ đặc biệt đối với tên của các đường phố, đối với các số điện thoại hoặc mã vùng bưu điện, với các con số thống kê thể thao hoặc các thông số địa lý hoặc giờ tàu chạy…        Daniel Tammet là một người tự kỷ “bác học”. Quốc tịch Anh nhưng lại sống ở Pháp, nhà tự kỷ này thuộc lòng hơn 22.500 số thập phân của con số pi nổi tiếng. Anh còn là người có thể làm các phép tính căn bậc 3 không cần dùng máy tính và tự học được tới 10 ngoại ngữ khác nhau        Nhưng điều ngạc nhiên hơn là những người tự kỷ này lại hoàn toàn chẳng có trí nhớ gì đặc biệt ngoài lĩnh vực mà họ yêu thích. Một số nhà tự kỷ có khả năng tính toán thần kỳ cũng đồng thời là người khá lệch lạc, trong đó khả năng đối với các môn học không phải là thế mạnh của họ thường ở dưới mức trung bình, do thiếu hụt một mức độ thông minh nào đó[4]. Một người tự kỷ có thể thực hiện được phép tính số học phức tạp, nhưng lại chẳng thể làm được các phép tính nhẩm đơn giản nhất. Và điều đáng chú ý là thường những người tự kỷ rất khó có khả năng sống hòa đồng trong xã hội. Từ 20 năm nay, nhiều nhóm nghiên cứu đã cố thử giải thích các hiện tượng này và cố hiểu xem liệu có tồn tại các mối quan hệ giữa những trí nhớ kỳ diệu và các thương tổn gây ra bệnh tự kỷ khá đa dạng ở con người hay không.Giả thiết đầu tiên được nhà tâm thần học Darold Treffert đưa ra. Năm 1989, ông đã cho rằng những người tự kỷ kia là bác học bởi một thiếu hụt ở bán cầu não trái đã khiến cho họ có một trí nhớ về hình ảnh rất tuyệt vời[5]. Nhưng ý tưởng này nhanh chóng bị bác bỏ. Trí nhớ tuyệt vời của họ không thể được coi là đồng nghĩa với một sự ghi nhận thông tin bằng âm thanh hay hình ảnh. Đó là một trí nhớ thông minh, gần với chức năng của một cơ sở dữ liệu nhiều hơn là một máy chụp ảnh. Trên thực tế, những người tự kỷ bác học không thể ghi nhớ hết mọi thông tin mà họ nhận được.Năm 1993, tại Đại học Montreal, cùng với Sylvie Belleville, chúng tôi đã chứng minh được rằng người họa sĩ tài năng mà chúng tôi nghiên cứu chỉ có thể ghi nhớ được các đường viền hoặc tính chất 3 chiều của các đồ vật chứ không phải màu sắc của đồ vật đó[6]. Các nhà bác học khác cũng chỉ có khả năng ghi nhớ được tính chất định lượng mà thôi.  Thông tin biến đổiVả lại, cách ghi nhận thông tin của những người tự kỷ bác học lại không phải là cố định, ngược hoàn toàn với sự chụp ảnh. Beat Hermelin và nhóm cộng sự thuộc Đại học London cũng đã chứng minh vào năm 1999 rằng người họa sĩ kỳ tài của họ có thể thay đổi bằng kinh nghiệm của mình thông tin đầu dù thông tin này có bị sửa vài lần đi chăng nữa[7].Từ những nghiên cứu được thực hiện trong những năm 1990 của Beat Hermelin và Neil O’Connor thuộc Hội đồng nghiên cứu y khoa của Anh, phần lớn các chuyên gia đều đồng ý với nhau rằng những khả năng đặc biệt kia có được là nhờ vào sự kết hợp giữa một khía cạnh của trí nhớ và các hoạt động nhận thức khác. Đó cũng chính là điều mà nghiên cứu trên Donny đã chỉ ra. Anh chàng tự kỷ này có thể tính ra ngày tháng trong quá khứ một cách nhanh chóng, dù nó có cách xa chúng ta bao lâu đi nữa. Nhưng đối với một thời điểm nào đó trong tương lai thì câu trả lời của anh sẽ ngày càng lâu nếu thời điểm được yêu câu nói ra ngày, tháng càng xa. Như vậy, dường như đối với thời điểm trong tương lai, Donny có một trí nhớ liên quan tới ngày tháng trong năm nhưng anh vẫn phải dùng các phép tính số học đơn giản để nối câu hỏi với cấu trúc trí nhớ có sẵn của mình. Riêng đối với các ngày tháng trong quá khứ, anh ta chỉ cần sử dụng tới trí nhớ mà thôi.  Các chuyên gia cảm nhậnNăm 2006, để nghiên cứu sâu hơn về giả thiết này, nhóm nghiên cứu của Đại học Montreal chúng tôi đã đưa ra ý tưởng rằng những người tự kỷ bác học đều có những điểm giống những người “bình thường”: Những chuyên gia, thí dụ như những kỳ thủ cờ vua được đào tạo kỹ càng[8]. Những người này, trong lúc được đào tạo, thường phải tiếp xúc với một số loại con số cụ thể nào đó. Để dễ đào tạo, người ta thường cho các kỳ thủ tiếp xúc và chơi những ván cờ mẫu, đã được phân tích chi tiết để họ có thể ghi nhớ các vị trí với một mức độ mà khó có người ngoại đạo nào đạt được. Chúng tôi gọi điều này là chuyên gia (kiểu) tiếp nhận. Các chuyên gia này không có khả năng phân tích năng lực của chính họ, cũng không có khả năng chuyển sang làm việc ở một lĩnh vực khác.         Hình chụp não của Ethan, một đứa trẻ tự kỷ 9 tuổi có khả năng đọc rất thần kỳ. Trong hình người ta thấy khu vực não phía thái dương trái (nơi có các dấu chấm) hoạt động rất mạnh khi đọc so với những đứa trẻ bình thường khác. Khu vực này trong não được các nhà khoa học cho là nơi nhận dạng các hình thức.        Người ta còn có thể nói nhiều điều tương tự ở những người tự kỷ bác học: Họ cũng chính là những chuyên gia tiếp nhận. Trong lĩnh vực của mình, việc tiếp xúc và thao tác liên tục với các con số khiến họ dễ nhớ chúng hơn. Với chính khả năng này, những người tự kỷ bác học có khả năng kỳ lạ trong lĩnh vực toán học, và nhất là khả năng nhớ hàng loạt những con số mà giữa chúng có mối quan hệ với nhau hoặc quan hệ với con số đầu tiên trong loạt các con số đó. Khả năng tiếp nhận của những người tự kỷ bác học xuất hiện chắc chắn là nhờ bởi kỹ năng tiếp nhận của họ có những yếu tố cực kỳ đặc biệt.Sebastian Gaigg và Dermot Bowler thuộc Đại học London đã chứng minh được rằng những người tự kỷ có thể ghi nhớ những điều mà họ nhận được mà không hề thay đổi chúng[9]. Thí dụ ở những người mắc chứng nói lắp, những người tự kỷ luôn nhắc đi nhắc lại một cách dễ dàng các đoạn câu được nói ra. Biểu hiện bề mặt của các hình thức này diễn tả được ý nghĩa sâu xa của chúng. Ý nghĩa của chúng hoặc các tình cảm của những đoạn câu nói này hoàn toàn chẳng có tác động gì cả.Nhóm nghiên cứu của chúng tôi như vậy cũng đã chứng tỏ, ngược lại với kết quả các nghiên cứu khác, rằng một người tự kỷ chỉ nắm được ý của từng từ trong đoạn hội thoại chứ hoàn toàn không hiểu nghĩa của toàn bộ đoạn hội thoại đó[10], trong khi bạn hoặc tôi hoàn toàn có thể ghi nhớ ý nghĩa của đoạn hội thoại đó một cách dễ dàng hơn. Thí dụ, một từ thô tục được buột miệng nói ra khi người nói có bức xúc gì đó về tình cảm.Cũng như vậy, các thí nghiệm về trí nhớ chứng tỏ rằng chúng ta thường nhóm các yếu tố trong cùng một phạm trù với nhau và chúng ta có thể nhớ một cách dễ dàng hơn tất cả những gì đã được mã hóa một cách tự nhiên về mặt ngữ nghĩa. Trong khi đó, điều này là một việc khó khăn hơn nhiều đối với những người tự kỷ.Ở những người tự kỷ bác học, khả năng tiếp nhận chuyên biệt được thể hiện ở chính những tính cách này. Điều này dẫn chúng tôi tới việc nghĩ rằng các lĩnh vực trong đó những người tự kỷ có các khả năng nhớ một cách kỳ lạ có một tính chất bề ngoài khá đặc biệt. Và nhóm nghiên cứu của chúng tôi gọi chúng là khả năng “bản đồ hóa chính xác”[11]. Nhờ đặc tính này, lĩnh vực đặc biệt có thể có liên quan tới một tập hợp các biểu hiện khác giống nó, cho phép một sự tương thích theo đúng nghĩa giữa các yếu tố trong nhóm. Daniel Tammet giải thích rằng sở dĩ ông có khả năng học tiếng Iceland một cách nhanh đến như vậy là bởi ông tìm ra những liên hệ giữa các từ vựng và màu sắc của chúng trong thứ tiếng này.Thí dụ, ông giải thích, từ “thứ tư” chính là ngày sinh của ông và có màu xanh lơ. Theo mô hình của việc bản đồ hóa chính xác, những người tự kỷ bác học có thể tái tạo lại một phần bị thiếu trong một tổng thể cấu trúc nào đó, hoặc đưa ra một chi tiết của một mật mã chỉ nhờ yếu tố tương đồng trong một mật mã có cấu trúc tương tự.Khả năng đặc biệt này có khả năng phụ thuộc vào một chức năng nhận thức đặc thù, đó là sự tái hòa nhập, hoặc nghệ thuật che giấu một chi tiết so với toàn bộ tổng thể. Mô hình này cho phép liên tưởng tới những “cái tai tuyệt vời” (khả năng đưa ra tên của các nốt nhạc tương ứng khi xem các bảng màu được sắp xếp sẵn), hoặc tới khả năng đoán từ (đoán trước được một đoạn văn bản bằng cách đọc to mà không cần đọc hết văn bản đó), hai khả năng nhớ đặc biệt (nhưng không phải là độc quyền) của những người tự kỷ.Mô hình này cũng giải thích hiệu năng của những người tự kỷ có khả năng nhớ chi tiết hàng quyển lịch nhiều khi đạt được theo cách không chắc chắn và không hề có chiến lược gì cả, và những lỗi mà họ mắc phải cũng hình thành theo kiểu các điểm chấm (pixel) hỏng trong một bức hình kỹ thuật số, tức là phân chia rải rác và không đều nhau.Ngược lại, những thuật toán do những người không mắc bệnh tự kỷ để tìm thấy ngày tương ứng thời điểm nào đó trong lịch bao gồm khoảng một tá những lớp suy nghĩ được thực hiện một cách có ý thức và theo thứ tự sắp xếp sẵn.  Trò chơi tương thíchKhả năng đưa ra một miêu tả rất gần với cái được trình diễn theo hình thức thị giác hoặc âm thanh, có thể sẽ là một trường hợp đặc biệt có xu hướng khá phổ biến ở những người tự kỷ để tìm ra những nét giống nhau giữa những tập hợp cụ thể nào đó. Điều này giải thích tại sao những người tự kỷ lại thích các trò chơi liên quan tới việc nhóm các đồ vật theo hình dáng giống nhau bên ngoài. Đó cũng là khả năng đặc biệt của những người tự kỷ bác học, giúp họ thao tác các hệ thống biểu hiện có quan hệ không gian giữa các đồ vật, thí dụ nhưng người họa sĩ vẽ các bức tranh không gian 3 chiều.Theo mô hình này, những khả năng đặc biệt của những người tự kỷ có thể liên quan tới việc tập dượt rất nhiều một cảm nhận vốn rất nhạy cảm. Việc tập dượt liên tục này không chỉ làm tăng khả năng nhớ, mà cả chức năng nhận thức của những người tự kỷ.Cái cảm nhận đột ngột của những người tự kỷ không chỉ được chứng minh tại phòng thí nghiệm của chúng tôi ở Montreal[12], mà còn ở các thí nghiệm khác của Uta Frith (ĐH London), của Kate Plaisted (ĐH Cambridge). Ngoài các thực nghiệm đã tiến hành, những người tự kỷ biết cách tái tạo lại một cách thần kỳ một số hình ảnh, hình học, cũng có một bộ nhớ tiếp nhận rất tuyệt vời và họ có khả năng phát hiện rất nhanh chóng những hình ảnh bị che khuất một phần bởi các hình khác, và có khả năng nhận biết tốt hơn người khác sự khác biệt giữa các chi tiết.Các khả năng nhận thức đặc biệt này không chỉ trong phạm vi tâm lý. Chúng còn liên quan tới một mức độ thần kinh nào đó. Sau khi nghiên cứu tất cả các công bố khoa học liên quan tới hình ảnh thần kinh, trong năm 2006 chúng tôi đã chứng tỏ rằng phân nửa các công bố khoa học liên qua tới việc làm sáng tỏ sự hoạt động một cách thái quá của một phần này hay phần khác trên vỏ não trong phần nhận thức hình ảnh của não ở những người tự kỷ. Nhưng những khu vực vỏ não này lại đảm bảo việc xử lý thông tin bằng hình ảnh khá phức tạp và khả năng nhận biết hình thức biểu đạt thu được (từ, chữ, đồ vật). Chỉ một trong số cảm nhận về hình ảnh chức năng trên một người tự kỷ bác học cho thấy chúng thường có hoạt động mạnh ở cũng những vùng vỏ não[13].Tất cả những nghiên cứu đều chứng tỏ rằng có một hoạt động mạnh của hệ thống nhận biết (của vỏ não). Liệu người ta có thể hình dung được cách sử dụng những hiểu biết về chức năng của những người tự kỷ để gia tăng hiệu năng hoạt động của mỗi người chúng ta? Đáng tiếc là không: Những khả năng của người tự kỷ bác học thường dựa trên một tổ chức thần kinh khá đặc thù. Ở khía cạnh ngược lại, sự khởi đầu của những hiểu biết về chức năng của những người tự kỷ bác học không phải chỉ để chống lại xu hướng chuyên biệt hóa của họ. Chúng ta không thể làm mất đi những thương tổn của những người tự kỷ nhưng chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm từ hai lợi thế của chính họ: Sự thông minh và niềm say mê một lĩnh vực nào đó.                                  Hoàng An  dịch(Xem tiếp kỳ sau: Thói quen của chúng ta được hình thành như thế nào? )————* M. Thiuox là người chủ trì nghiên cứu của Marcel và Rolende Rosselin trong lĩnh vực khoa học thần kinh nhận thức nền tảng và những áp dụng trong lĩnh vực nghe nhìn của Đại học Montreal. mottronl@istar.ca1. M. Thioux et al., Exp. Psychol. Hum. Percept Perform., 32, 1155, 2006.2. L. Mottron et al., Neurocase, 5, 485, 1999.3. P. Howlin et al, Phil. Trans. R. Soc. B, 364, 1359, 2009.4. W. Horwitz et al., American Journal of Psychiatry, 121, 1075, 1965.5. D. Treffert, Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome, ed. Barn & Noble,  19896. L. Motton et S. Belleville, Brain Cogn., 23, 279, 1993.7. B. Hermelin et al., J. Child Psychol. Psychiatry, 40, 1129, 1999.8. L. Mottron et al., J. Ausism Dev. Disord., 36, 27, 2006.9. S. B. Gaigg et D. M. Bowler, Neuropsychologia, 46, 2336, 2008.10. L. Mottron et al., Journal of Child Psychology and Psychiatry, 42, 253, 2001.11. L. Mottron et al., Phil. Trans. R. Soc. B, 364, 1385, 2009.12. M. –J. Caron et al., Brain, 129, 1789, 2006.13. P. E. Turkeltaub et al. Neuron, 41, 11, 2004.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bức ảnh ấn tượng về khoa học năm 2014      Núi lửa phun trào, sao chổi và con chuột trong suốt đã thu hút trí tưởng tượng trong năm 2014.  Việc tìm kiếm không ngừng nghỉ các câu trả lời về thế giới của các nhà nghiên cứu đã đem lại những khám phá đáng kinh ngạc. Từ khoảng không xa xăm của vũ trụ đến vực sâu đại dương, Nature đã lựa chọn ra bộ ảnh ấn tượng nhất trong năm, trên hai lĩnh vực thảm họa thiên nhiên và kỳ quan công nghệ.     Khe nứt khủng khiếp  Vào đầu năm nay, bầu trời lúc bình minh và hoàng hôn ở Iceland đều nhuốm màu máu do nham thạch phun trào gây ô nhiễm. Khe nứt Holuhraun, ở gần núi lửa Bárðarbunga đang hoạt động, tuôn ra hàng ngàn tấn khí sulphur dioxide mỗi ngày, khiến các nhà khoa học bất ngờ bởi họ chờ đợi hiện tượng phát tán tro tương tự như hồi năm 2010, khi núi lửa Eyjafjallajökull cũng ở Iceland phun lên toàn tro bụi.   Ghép mảnh mặt trăng     Europa, vệ tinh thứ sáu, tính theo quỹ đạo từ trong ra ngoài, của Sao Mộc, có thể sẽ được nhìn thấy bằng mắt thường. Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ NASA đã xử lý loạt ảnh do tàu thăm dò không gian Galileo chụp vào cuối những năm 1990, điều chỉnh màu sắc để đem lại cái nhìn chân thực và phân giải cao về địa hình băng giá của Europa.  Thảm kịch núi lửa    Ontake, một ngọn núi lửa đang hoạt động cách Tokyo khoảng 200km về phía tây, đã trở thành địa danh du lịch nổi tiếng ở Nhật Bản. Dù có sự theo dõi sát sao của các nhà khoa học nhưng vụ phun trào vào ngày 27-9 bất ngờ xảy ra, phun nhiều tro bụi, mảnh vụn lên cả vùng và gây ra cái chết của hơn 50 người vì mất cảnh giác. Các đội cứu hộ đã phải vượt qua lượng tro bụi dày đặc để tìm kiếm những người sống sót trong khu nhà nghỉ hẻo lánh nằm gần đỉnh núi.   Bạch tuộc Dumbo dưới đáy biển sâu    Hình ảnh con bạch tuộc dumbo thuộc chi Grimpoteuthis với những xúc tu quấn trong tư thế chưa từng thấy trước đây đã được camera chộp lấy vào tháng tư ở vịnh Mexico. Các nhà nghiên cứu trên con tàu Okeanos Explorer của Mỹ đã bất ngờ bắt gặp sinh vật kỳ lạ này khi thử nghiệm một con tàu lặn điều khiển từ xa ở độ sâu hơn 2.000m.   Chuyến bay thám hiểm của Philae    Vào tháng 11, cả thế giới đã hồi hộp theo dõi tàu vũ trụ Rosetta của Cơ quan Vũ trụ châu Âu nỗ lực đưa thiết bị thăm dò Philae đáp xuồng bề mặt sao chổi 67P/Churyumov–Gerasimenko. Trước khi hoàn tất thành công chiến dịch khó khăn này, Philae đã gửi về bức ảnh của chính mình tại mục tiêu đã định khi cả Philae và sao chổi cùng di chuyển trong không gian với vận tốc hơn 50.000 km/h.  Thách thức khảo cổ học    Hộp sọ của một thiếu niên có niên đại 12.000 năm từ Mexico đã được đặt lên một bàn xoay dưới nước, tạo điều kiện cho các thợ lặn có thể kiểm tra ba chiều của hộp sọ. Được tìm thấy trong đáy sâu các hang động chìm dưới nước của vịnh Yucatán, Mexico, hộp sọ này là một phần của bộ sưu tập xương cổ khác thường, có thể giúp làm sáng tỏ lý do vì sao con người có thể băng qua châu Mỹ. Khó khăn nhất trong việc nghiên cứu thợ lặn phải phân tích những phần còn lại của hộp sọ ngay tại chỗ.  Mắt đối mắt    Bức ảnh ghi lại đôi mắt nhìn chăm chú của con nhện nhảy Phidippus audax đã đem về giải ba cuộc thi Thế giới tí hon do Nikon tổ chức về cho Noah Fram-Schwartz ở Greenwich, Connecticut, Mỹ.  Chuột trong suốt    Nếu như có thể khiến cho các mô trở nên trong suốt thì cần gì phải dùng máy quét kiểm tra nữa. Một nhóm các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã sử dụng một dung dịch hỗn hợp và kỹ thuật xử lí hình ảnh bằng điện toán để có những hình ảnh trong suốt của con chuột. Một trong những phương pháp đó có thể được phát triển để khám phá các cơ quan nội tạng mà không cần phải phải phẫu thuật.   Trên những tầng mây    Hiện vẫn chưa lý giải nổi tại sao nghệ sỹ Nhật Bản Azuma Makoto lại gắn một cây bonsai lên quả khinh khí cầu rồi tung nó vào các tầng trên của khí quyển. Nhưng dự án “Exobiotanica” của ông, vốn đã mang vào vũ trụ rất nhiều cây lá, đã đem lại một loạt những bức ảnh tuyệt đẹp, độc đáo.  Thả giọt dầu siêu nhỏ    Các nhà nghiên cứu ĐH Twente ở Hà Lan đã chụp được bức ảnh những giọt dầu silicone siêu nhỏ, kích thước picolitre (10-12 lít). Chiếu sáng những giọt dầu bằng những xung laser kéo dài 8 nano giây, nhóm nghiên cứu đã chụp những bức ảnh 600 nano giây, thu được cảnh các giọt dầu siêu nhỏ này rơi xuống như thế nào.  Tỏa sáng     Ánh sáng màu xanh lá cây kỳ lạ trong bức ảnh từ Công viên quốc gia Emas ở Brazil tỏa ra từ sự phát quang sinh học ở những con bọ cánh cứng trưởng thành. Cuộc khám phá kiên trì của Ary Bassous đã đem lại cho ông chiến thắng trong chủ đề về động vật không xương sống của cuộc thi Nhiếp ảnh gia thiên nhiên hoang dã của năm do Bảo tàng Lịch sử tự nhiên và BBC toàn cầu tại London đồng tổ chức.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/365-days-images-of-the-year-1.16574       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bức ảnh ấn tượng về khoa học năm 2019      Một thoáng ẩn hiện dưới nước của cá hồi trong mùa sinh sản. Một mặt trăng đang bay qua vành đai Sao Thổ. Một lá phổi nhân tạo được in 3D trong phòng thí nghiệm. Hãy cùng nhìn lại năm 2019 bằng những bức ảnh ấn tượng nhất do nhóm tin tức của tạp chí Science lựa chọn từ hàng ngàn bức ảnh khoa học đăng tải trên website và tạp chí trong năm nay, ẩn trong mỗi bức ảnh là câu chuyện về hành trình bền bỉ tìm kiếm lời giải đáp về thế giới của các nhà khoa học.    Thời tiết trên không    (SANTIAGO BORJA)  Nhiếp ảnh gia kiêm phi công Santiago Borja đã chụp cơn bão này trên Thái Bình Dương, đây là một ví dụ tiêu biểu cho những cơn giông khổng lồ có thể xâm nhập vào tầng bình lưu với khoảng cách hơn 18 km. Các nhà khoa học đang nghiên cứu xem những cơn bão “dữ dội” như vậy có phải đang phun chất hóa học tổng hợp vào tầng bình lưu nhằm gây hại cho tầng ozone bảo vệ Trái đất hay không.  Không khí loãng    (TOM BOUYER)  Một người thợ mỏ đi dọc theo vách đá với một bao tải đá trên lưng, những tảng đá này sau đó sẽ được họ nghiền nát ra để tìm vàng. Nằm ở độ cao 5.000 mét so với mực nước biển, ngôi làng chuyên khai thác mỏ vàng La Rinconada ở Peru là khu định cư ở vị trí cao nhất trên thế giới. Các nhà khoa học cư dân ở đó để hiểu tác động lâu dài của nồng độ oxy trong không khí quá thấp lên cơ thể con người.  Hồ xanh    (CAVAN IMAGES)  Một chiếc thuyền đang băng qua hồ Erie, nơi diễn ra hiện tượng tảo nở hoa. Tại đây, nồng độ nitơ quá mức từ các hoạt động của con người làm mất cân bằng môi trường sống dưới nước và ảnh hưởng đến sức khỏe của chính loài người. Có những thay đổi quy mô lớn đang xảy ra trong chu trình nitơ và các nhà khoa học hiện đang xem xét cách quản lý lượng nitơ vượt quá mức quy định đối với từng cộng đồng người khác nhau.  Băng trôi    (ADAM LEWINTER)  Greg Hanlon, thuộc Quân đoàn Kỹ sư Quân đội Hoa Kỳ, ngước lên nhìn mái vòm ở khu vực sông băng Helheim Glacier ở Greenland. Nhóm nghiên cứu của ông đã quay trở lại sông băng trong năm khác để nghiên cứu thực địa và thu thập dữ liệu nhằm theo dõi sự hòa lẫn giữa nước sông băng và nước biển có thể gia tăng tốc độ nước biển dâng như thế nào.  Trận chiến của cá hồi    (JASON CHING)  Gần một trạm nghiên cứu của Đại học Washington ở hồ Iliamna thuộc Alaska, cá hồi đỏ (Sockeye salmon) đã sẵn sàng cho mùa sinh sản của mình. Hồ Iliamna là nơi sản xuất 20% cá hồi ở Vịnh Bristol. Các nhà nghiên cứu theo dõi đời sống và mô hình di cư của chúng trong khu vực đang tranh chấp với mỏ vàng lớn nhất thế giới, Pebble Mine, dự định sẽ được đặt ở thượng nguồn của hồ.  Trồng trọt bằng công nghệ CRISPR    (STEFEN CHOW)  Gao Caixia, nhà khoa học hàng đầu về công nghệ CRISPR, đứng giữa những cây lúa mì được sửa đổi gene bằng công nghệ CRISPR của bà trong một phòng trồng trọt ở Bắc Kinh. Gao hy vọng các nhà máy của bà sẽ có thể cung cấp thêm lương thực trong bối cảnh dân số đang tăng lên ở Trung Quốc.  Giữa những vành đai    (NASA)  Mặt trăng Daphni tạo sóng giữa vành đai Sao Thổ. Hình ảnh cận cảnh này chỉ là một trong những bức ảnh được chụp trong ‘phi vụ lớn cuối cùng’ của tàu vũ trụ Cassini trước khi lao vào Sao Thổ để ‘tự hủy’. Trong số những quỹ đạo bay quanh Sao Thổ này, các nhà khoa học đã xem xét kỹ hơn về cấu trúc vành đai và năm mặt trăng quay xung quanh Sao Thổ.  Năm của nguyên tố    (MIKE WALKER)  Năm 2019, chúng ta đã kỷ niệm 150 năm bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Theodore Grey, nhà đồng sáng lập Wolfram Research ở Champaign, Illinois, đã thu thập để tạo nên một bộ sưu tập các nguyên tố có sẵn đứng đầu bảng tuần hoàn của riêng mình. Trong bộ sưu tập đầy sáng tạo của ông, chúng ta có thể thấy các ống phát sáng của khí trong cột ngoài cùng bên phải, những mẫu vật này được đặt trong các ngăn bên dưới để có thể lưu trữ một cách an toàn.  Các vụ đụng độ ở trường Đại học    (KYODO)  Người biểu tình đòi dân chủ ném bom xăng bên ngoài Đại học Bách khoa Hong Kong trong bối cảnh người dân nước này đang căng thẳng chính trị với Trung Quốc. Những người đứng đầu tại một số trường đại học lo ngại các cuộc đụng độ sẽ khiến việc chiêu mộ sinh viên và giảng viên trở nên khó khăn hơn.  Gã khổng lồ trong lòng đại dương    (KARIM ILIYA)  Một con cá voi lưng gù đực khổng lồ đang chiến đấu giành bạn đời ở ngoài khơi Tonga, Thái Bình Dương. Các nhà khoa học đang nghiên cứu tại sao những con vật này có kích cỡ rất lớn, nhưng lại không thể lớn hơn.  Triển khai Vaccine    (JOHN BAZEMORE)  Y tá K. J. Moore phát biểu trong phần bình luận công khai của hội đồng vaccine thuộc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh ở Atlanta. Moore không tán thành với yêu cầu rằng nhân viên y tế phải được tiêm vaccibe cúm.  Cánh đồng cọ    (ARROWHEAD FILMS)  Một ngọn đồi chưa được khai khẩn nằm giữa đồn điền dầu cọ ở Tây Kalimantan ở Indonesia. Các nhà bảo tồn đã bắt đầu làm việc với các công ty dầu cọ để bảo vệ động vật hoang dã sống ở đó.  Móng vuốt trên cánh    (AMAZON-IMAGES)  Một chú gà móng (hoatzin) một ngày tuổi có móng vuốt trên cánh, móng vuốt này sẽ biến mất khi nó trưởng thành. Năm nay, các nhà khoa học đã mô tả chi tiết cách gà móng con sử dụng móng vuốt của chúng để leo trèo và di chuyển xung quanh, từ đó đặt ra câu hỏi về việc tại sao móng vuốt lại mất đi khi chúng trưởng thành.  Dồi dào khoai tây    (GUSTAVO RAMIREZ)  Những củ khoai tây đầy màu sắc này đã được ‘thuần hóa’ để có thể trồng trên các cánh đồng của miền trung Andes ở Peru. Những củ khoai này xuất hiện từ thời các nền văn hóa tiền Inca, tồn tại ở độ cao 3000 đến 4500 mét so với mực nước biển. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng việc đa dạng hóa khoai tây hiện đại có thể tăng khả năng chống chịu bệnh tật và biến đổi khí hậu của chúng.  Bảo vệ tê tê    (JEN GUYTON)  Một con tê tê đất nhút nhát sống trong vườn quốc gia ở Mozambique. Loài động vật có vú này là động vật bị săn trộm nhiều nhất thế giới. Chúng trử thành con mồi hấp dẫn của các tay săn trộm bởi vảy và thịt của mình. Từng bước, chúng đang tiến dần đến tình cảnh bị tuyệt chủng.  Điều trị chăm sóc sức khỏe    (RIJASOLO)  Một cô bé ngồi trong phòng chăm sóc trẻ em của Bệnh viện Ifanadiana ở Madagascar, để điều trị suy dinh dưỡng nặng. Các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm một hệ thống chăm sóc sức khỏe mới có thể được áp dụng trên toàn quốc.  Bản đồ não    (MATTHEW BENDER)  Nhà vật lý học Danielle Bassett của Đại học Pennsylvania đứng bên phần trình bày về các kết nối cấu trúc não, được tạo ra từ dữ liệu MRI, do phòng thí nghiệm của bà nghiên cứu. Bassett là người tiên phong trong việc đưa vật lý và toán học vào việc nghiên cứu về các mạng lưới trong não người.  Thiết kế luồng hơi thở      (DAN SAZER)  Hình ảnh xếp chồng lên nhau, bản 3D của một phế nang nhỏ, hoặc có thể gọi là phổi nhân tạo. Các nhà khoa học đã thiết kế bộ máy hô hấp này để nâng cao khả năng nghiên cứu các mô tế bào sinh học.  Xung vô tuyến phát sáng    (CSIRO)  Dải Ngân hà đang tỏa sáng phía trên Australian Square Kilometre Array Pathfinder (ASKAP). Ở đó, các nhà khoa học đã sử dụng 36 kính viễn vọng để theo dõi một xung vô tuyến – có thể hiểu là theo dõi sóng vô tuyến nhanh đến nguồn phát của nó trong một thiên hà xa xôi.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://vis.sciencemag.org/photosof2019/?fbclid=IwAR30gSThhIH4iXBPvdCWUI0xvBFDD273U6bN5bqgzWmmw3dGm8y8bFZfEUA       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những cái nhìn mới vào vật chất của sao neutron      Một nhóm nghiên cứu quốc tế đã kết hợp lần đầu tiên dữ liệu của các thực nghiệm ion nặng, các đo đạ sóng hấp dẫn và những quan sát thiên văn sử dụng mô hình lý thuyết tiên tiến  khác để ràng buộc một cách chính xác các đặc tính của vật chất hạt nhân có thể có bên trong các sao neutron      Kết quả đã được công bố trên tạp chí Nature 1.  Khắp vũ trụ, các ngôi sao neutron được sinh ra từ các vụ nổ siêu tân tinh đánh dấu điểm kết thúc vòng đời của các ngôi sao siêu nặng. Thi thoảng các ngôi sao neutron ở ranh giới của các hệ đôi và cuối cùng sẽ va chạm với nhau. Các hiện tượng vật lý thiên văn năng lượng cao có đặc điểm là xảy ra trong những điều kiện cực đoan có thể tạo ra phần lớn các nguyên tố nặng như vàng hay bạc. Do đó, các ngôi sao neutron và những cuộc va chạm của nó là những phòng thí nghiệm độc đáo để nghiên cứu về các đặc tính của vật chất ở những mật độ vượt xa cả mật độ nén bên trong các hạt nhân nguyên tử. Các thí nghiệm về va chạm ion nặng được thực hiện trên các máy gia tốc hạt là cách làm bổ sung vào việc tạo ra và chứng minh vật chất ở mật độ cao và dưới các điều kiện cực đoan.  Cái nhìn mới vào các tương tác cơ bản trong vật chất hạt nhân  “Kết hợp hiểu biết từ lý thuyết hạt nhân, thực nghiệm hạt nhân và các quan sát vật lý thiên văn là điều cốt yếu để rọi ánh sáng vào các đặc tính của vật chất giàu neutron trong toàn bộ phạm vi mật độ được chứng minh trong các ngôi sao neutron”, Sabrina Huth, Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân tại trường đại học Kỹ thuật Darmstadt và là một trong số tác giả của công bố, nói. Peter T. H. Pang, một tac giả khác từ Viện nghiên cứu Vật lý sóng hấp dẫn và hạ nguyên tử, trường đại học Utrecht, bổ sung, “Chúng tôi đã thấy rằng, những ràng buộc từ các va chạm của ion vàng với các máy gia tốc hạt chứng tỏ sự nhất quán khác thường với những quan sát vật lý thiên văn ngay cả khi chúng ta dùng nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra chúng”.  Những tiến trình gần gây trong lĩnh vực thiên văn đa tín hiệu cho phép các nhóm nghiên cứu quốc tế, bao gồm cả các nhà nghiên cứu từ Đức, Hà Lan, Mỹ, Thụy Điển có được những cái nhìn mới vào những tương tác cơ bản của vật chất hại nhân. Trong một nỗ lực liên ngành, các nhà nghiên cứu đã tính đến những thông tin thu được trong các va chạm ion nặng vào một khung kết hợp các quan sát vật lý thiên văn của các tín hiệu điện từ, các đo đạc sóng hấp dẫn và những tính toán vật lý thiên văn hiệu năng cao với những tính toán vật lý hạt nhân lý thuyết. Lần đầu tiên kết hợp tất cả những quy tắc chuyên ngành khác nhau, nghiên cứu mang tính hệ thống của họ đã chỉ ra mức áp suất cao hơn tại những mật độ trung gian trong sao neutron.  Dữ liệu của các va chạm ion nặng   Các tác giả tích hợp thông tin từ các thực nghiệm va chạm ion vàng tại GSI Helmholtzzentrum für Schwerionenforschung ở Darmstadt cũng như Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven và Lawrence Berkeley tại Mỹ trong quá trình thí nghiệm nhiều bước của họ để phân tích các ràng buộc từ lý thuyết hạt nhân và các quan sát vật lý thiên văn, bao gồm những đo đạc khối lượng sao neutron thông qua những quan sát radio, thông tin từ nhiệm vụ Khám phá Cấu tạo bên trong sao neutron (NICER) trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), và những quan sát thiên văn đa tín hiệu của các sáp nhập sao neutron đôi.  Các nhà lý thuyết hạt nhân Sabrina Huth và Achim Schwenk từ trường đại học Kỹ thuật Darmstadt và Ingo Tews từ Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos đóng vai trò chủ đạo trong việc trích xuất thông tin chứa trong các va chạm ion nặng với vật chất sao neutron, vốn cần thiết để tích hợp với những ràng buộc của vật lý thiên văn.  Đưa dữ liệu của các va chạm ion nặng trong những phân tích đã cho phép tăng thêm những ràng buộc trong vùng mật độ nơi lý thuyết hạt nhân và các quan sát vật lý thiên văn ít chính xác hơn. Điều này giúp đem lại cách hiểu hoàn chỉnh hơn về mật độ vật chất. Trong tương lai, những ràng buộc được cải thiên từ các va chạm ion nặng có thể đóng vai trò quan trọng để bắc cầu cho lý thuyết hạt nhân và các quan sát vật lý thiên văn bằng việc cung cấp những thông tin được bổ sung. Đây là sự thật về những thực nghiệm chứng tỏ các mật độ cao hơn và giảm thiểu những bất định trong thực nghiệm có nhiều tiềm năng đem lại những ràng buộc mới cho các đặc tính của sao neutron. Thông tin mới về khía cạnh khác có thể dễ dàng đưa vào khung này để cải thiện hiểu biết về mật độ vật chất trong những năm đến.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-insights-neutron-star.html  https://www.tu-darmstadt.de/universitaet/aktuelles_meldungen/einzelansicht_371328.en.jsp  ————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-04750-w    Author                .        
__label__tiasang Đợt bùng phát bệnh đậu khỉ ngoài châu Phi lớn chưa từng có      Nguồn gốc virus, các đột biến liên quan và cách phòng dịch là các câu hỏi mà giói nghiên cứu đang tìm cách trả lời.    Đã ba tuần kể từ khi trường hợp mắc bệnh đậu khỉ đầu tiên được ghi nhận ở Vương quốc Anh. Kể từ đó, hơn 400 trường hợp được xác nhận hoặc nghi nhiễm đã xuất hiện ở ít nhất 20 quốc gia không phải châu Phi. Đây là đợt bùng phát bệnh đậu khỉ ngoài châu Phi lớn chưa từng có.        Dưới đây là các câu hỏi quan trọng nhất về đợt bùng phát dịch bệnh này, theo tổng hợp của trang tin Nature.    Dịch bắt đầu bùng phát như thế nào?    Các nhà nghiên cứu đã giải trình tự bộ gen virus thu được từ bệnh nhân ở Bỉ, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha và Mỹ. Kết quả đáng lưu ý nhất cho đến nay là các trình tự thu được gần giống với một chủng virus đậu khỉ ở Tây Phi. Chủng này ít gây chết người hơn so với chủng virus đậu khỉ ở Trung Phi, có tỷ lệ tử vong dưới 1% ở những người nghèo vùng nông thôn. (Chủng virus đậu khỉ ở Trung Phi có tỷ lệ tử vong có thể lên đến 10%.)    Đã có một số manh mối về cách dịch bùng phát. Các trình tự virus thu được cho đến nay gần như giống hệt nhau, cho thấy rằng các đợt bùng phát bên ngoài châu Phi đều có thể đã bắt nguồn từ một trường hợp duy nhất.    Ngoài việc giống nhau, các trình tự thu được đều giống với trình tự virus từ một loạt các ca bệnh đậu khỉ vào năm 2018 và 2019 do du lịch đến Tây Phi. Như vậy, có thể bệnh nhân đầu tiên trong đợt bùng phát lần này cũng đã nhiễm bệnh khi đến Tây Phi và tiếp xúc với động vật hoặc người mang virus ở đó.    Ngoài ra, cũng có thể virus đã lưu hành ở người hoặc động vật bên ngoài châu Phi, nhưng không bị phát hiện, từ sau các đợt bùng phát trước đây. Tuy nhiên, giả thuyết này ít có khả năng xảy ra hơn vì virus đậu khỉ thường gây ra các tổn thương dễ thấy trên cơ thể người.    Virus đậu khỉ đã đột biến để gây ra đợt bùng phát mới?    Rất khó để biết liệu có một biến đổi di truyền nào đã làm nền tảng cho đợt lây lan ngoài châu Phi này hay không. Ngay cả với hai chủng virus đậu khỉ đã biết, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể xác định chính xác gen nào chịu trách nhiệm cho độc lực cao hơn và khả năng lây truyền của chủng trung Phi so với chủng Tây Phi, mặc dù đã biết hai chủng này có sự khác biệt từ 17 năm nay.    Nguyên nhân là bộ gen virus đậu khỉ rất lớn so với bộ gen của nhiều loại virus khác – lớn gấp 6 lần bộ gen của SARS-CoV-2. Có nghĩa là virus này khó phân tích hơn ít nhất sáu lần. Trong khi đó, có rất ít nguồn lực dành cho việc giám sát bộ gen virus đậu khỉ ở châu Phi. Vì vậy, các nhà nghiên cứu có rất ít trình tự gen virus đậu khỉ để đem ra so sánh với trình tự của virus đậu khỉ đang bùng phát và tìm ra các điểm khác biệt.    Đại diện Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Nigeria cho biết nhiều nhà khoa học châu Phi tỏ ra bức xúc vì rất khó kêu gọi tài trợ và xuất bản các nghiên cứu về bệnh đậu khỉ trong nhiều năm trở lại đây. Chỉ đến bây giờ, khi virus lan ra ngoài châu Phi, các cơ quan chức năng trên toàn thế giới mới có vẻ quan tâm hơn.    Để hiểu cách thức tiến hóa của virus, việc giải mã trình tự virus ở động vật cũng rất hữu ích. Virus này đã được biết là lây nhiễm sang động vật – chủ yếu là các loài gặm nhấm như sóc và chuột – nhưng các nhà khoa học vẫn chưa phát hiện ra ổ chứa virus trong quần thể động vật ở các khu vực bị ảnh hưởng của châu Phi.    Có thể kiềm chế các đợt bùng phát không?    Một số quốc gia đã bắt đầu mua sắm vaccine đậu mùa bởi nó có thể bảo vệ con người khỏi bệnh đậu khỉ nếu tiêm trong vòng bốn ngày kể từ khi tiếp xúc. Một số quốc gia đang chuẩn bị sẵn sàng thực hiện “chủng ngừa khoanh vùng” cho những người tiếp xúc gần với các ca bệnh đậu khỉ.    Mỹ có kế hoạch tiêm vaccine đậu mùa cho một số nhân viên y tế đang điều trị cho những người nhiễm bệnh. Một số nhà nghiên cứu cho biết cũng có thể cân nhắc tiêm chủng cho các nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao, ngoài nhóm tiếp xúc gần với ca bệnh.    Nếu có thể kiềm chế được bệnh đậu mùa ở người trong đợt bùng phát này, còn một nguy cơ khác là virus lây lan ở động vật. Nếu virus hình thành ổ chứa trong quần thể động vật, có nguy cơ lây nhiễm trở lại sang người. Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu đã chỉ ra khả năng này, nhưng cho rằng xác suất xảy ra là “rất thấp”.    Mặc dù rủi ro là thấp, vẫn cần có các biện pháp phòng ngừa. Nếu xuất hiện ổ chứa virus ở động vật thì sẽ khó nhận biết cho đến khi quá muộn, bởi vì động vật bị nhiễm đậu khỉ thường không biểu hiện các triệu chứng dễ thấy như ở người. Do đó, các quan chức y tế châu Âu đặc biệt khuyến cáo nên cách ly và theo dõi trong cơ sở y tế các vật nuôi thuộc loài gặm nhấm như chuột đồng và chuột lang do những người đã được xác nhận mắc bệnh đậu khỉ nuôi.    Nhật Công    Author                .        
__label__tiasang Những câu trả lời giá trị từ những hạt nhỏ      Một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học ở trường đại học Kanazawa đề xuất một khung toán học mới để hiểu được các đặc tính của neutrino, một dạng hạt cơ bản. Công trình này có thể giúp các nhà vũ trụ học tạo ra một tiến trình về nghịch lý hiển nhiên về sự tồn tại của vật chất trong vũ trụ.      Mô hình Chuẩn của vật lý hạt đã phác thảo ra các thành phần cơ bản của vật chất và các lực tương tác giữa chúng, vốn đã được chứng minh bằng thực nghiệm, nhất là trong cuộc khám phá ra hạt Higgs boson, hạt từng được dự báo, vào năm 2012. Tuy vậy Mô hình chuẩn vẫn chưa giải quyết được một số vấn đề tồn tại đã lâu trong vũ trụ như việc nhận diện “vật chất tối” mà chúng ta biết là có thể nó ở đó nhưng chúng ta vẫn chưa từng phát hiện ra nó một cách trực tiếp và chưa biết tại sao có nhiều vật chất trong vũ trụ hơn là phản vật chất. Nhiều nhà khoa học tin là các hạt “ma” như neutrino có thể đóng một vai trò quan trọng trong câu trả lời của những vấn đề này.  Neutrino, vốn rất khó tương tác với những vật chất khác, được tạo ra bằng các phản ứng hạt nhân như những phản ứng do mặt trời tạo ra, và hàng tỉ tỉ hạt xuyên qua cơ thể chúng ta từng giây. Các thí nghiệm đã chứng tỏ là trong khi không có khối lượng, các hạt neutrino nhẹ hơn rất nhiều so với những hạt khác. Điều này khiến cho các nhà vật lý đưa ra giả thuyết là các hạt neutrino nhận được khối lượng của chúng từ một quá trình khác so với những hạt cơ bản khác, gọi là cơ chế bập bênh (seesaw mechanism).  Hiện tại một nhóm nghiên cúu do các nhà khoa học trường đại học Kanazawa dẫn dắt dã phát triển một lý thuyết để giải thích các đặc tính bất thường của các hạt neutrino.  “Chúng tôi đã dùng cơ chế bập bênh với các toán tử 5 chiều hoặc 7 chiều để miêu tả những tương tác của một hạt neutrino với hai hạt lepton và hai hạt W boson mang lực”, Mayumi Aoki giải thích.  Các hạt lepton là một lớp các hạt cơ bản bao gồm nhiều loạt hạt, trong đó có neutrino, electron… Giải các phương trình chứng tỏ những vi phạm của dự đoán số lượng lepton luôn luôn được bảo toàn của Mô hình Chuẩn.  “Để vượt ra ngoài Mô hình Chuẩn, chúng tôi phải giải thích tại sao sự bảo toàn lepton thi thoảng lại bị vi phạm, mặc dù chỉ ở mức rất nhỏ”, Aoki nói. “Một sự mất cân bằng nhỏ ở mức phần tỉ có thể giải thích tại sao tất cả vật chất không bị phản vật chất triệt tiêu sau Big Bang”.  “Công trinh nghiên cứu của chúng tôi giả thích nguồn gốc của khối lượng hạt neutrino và cung cấp những dự đoán có thể kiểm chứng trực tiếp tại Large Hadron Collider”, Aoki giải thích. Các khối lượng cực nhẹ của các hạt neutrino có thể nắm trong tay điều chính yếu để giải quyết những câu hỏi lớn vẫn thách thức con người cả thiên niên kỷ.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-big-tiny-particles.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chân trời mới trong khoa học      L&#242; phản ứng c&#243; sẵn trong thi&#234;n nhi&#234;n.  Năm 1974 c&#225;c nh&#224; khoa học Ph&#225;p ph&#225;t hiện ra rằng th&#224;nh phần đồng vị Uranium 235 trong Urani thi&#234;n nhi&#234;n tại mỏ Oklo xứ Gabon (T&#226;y Ch&#226;u Phi) nhỏ hơn rất nhiều so với b&#236;nh thường. Điều n&#224;y vi phạm qui luật đồng vị, một qui luật đ&#227; được kiểm nghiệm v&#224; lu&#244;n đ&#250;ng cho bất kỳ nguy&#234;n tố n&#224;o trong tự nhi&#234;n. Việc vi phạm qui luật đồng vị ở mỏ Urani xứ Gabon&nbsp; về sau được gọi l&#224; Hiện tượng Oklo. Sau đ&#243; &#237;t l&#226;u , để giải th&#237;ch hiện tượng Oklo người ta đ&#227; đưa ra một giả thuyết&nbsp; cho rằng thi&#234;n nhi&#234;n đ&#227; &#8220;tự tạo ra&#8221; một l&#242; phản ứng&nbsp; hạt nh&#226;n từ c&#225;ch đ&#226;y nhiều&nbsp; tỷ năm v&#224; l&#242;&nbsp; phản ứng c&#243; sẵn&nbsp; trong tự nhi&#234;n n&#224;y đ&#227; hoạt động&nbsp; kh&#244;ng ngừng trong v&#224;i triệu năm.    Đây là một hiện tượng vừa kỳ lạ vừa rất lý thú về mặt khoa học.  Kỳ lạ vì mãi đến năm 1941 con người mới lần đầu tiên xây dựng thành công lò phản ứng hạt nhân và đến tận ngày nay không phải quốc gia nào cũng có thể làm ra được thiết bị hạt nhân tinh vi này, ấy thế mà chính thiên nhiên đã làm ra nó cách đây nhiều tỷ năm về trước!  Hiện tượng Oklo vì thế đã trở thành đề tài hấp dẫn cho hàng  loạt các nghiên cứu nhất là khi giả thuyết về thiên nhiên tạo ra lò phản ứng hạt nhân Oklo mà ta vừa nói ở trên lại không thể giải thích được sự thiếu vắng các mảnh vỡ rác thải phóng xạ đã sinh ra khi lò hoạt động.   Một số người còn đưa ra giả thuyết cho rằng không phải sự vận hành của thiên nhiên đã tạo ra lò  phản ứng hạt nhân Oklo kể trên mà có lẽ những người từ các nền văn minh khác đã tạo ra nó để có năng lượng dùng khi du hành đến Trái đất của chúng ta. Vì công nghệ của họ rất cao nên chẳng cần bao che, chẳng cần xây cất, họ lấy ngay đất sét làm vỏ bọc, cát và nước làm chất làm chậm, nước mưa trong tự nhiên vừa làm chất tải nhiệt vừa làm chất làm chậm neutron , vừa làm vật liệu điều khiển lò…. Và hơn thế nữa do công nghệ quá cao, tính toán quá chính xác và hợp lý  lò phản ứng Oklo chẳng để lại dấu vết của các rác thải phóng xạ mà một lò thông thường phải có .    Từ những câu hỏi đến các vũ trụ song hành.  Trong thiên nhiên có những đại lượng không đổi như vận tốc ánh sáng (c), hằng số hấp dẫn G, khối lượng electron (m­­e),  v..v. Cho đến nay các nhà khoa học cho rằng các đại lượng này là không đổi trong phạm vi toàn vũ trụ. Các lý thuyết Vật lý được xây dựng trên những đại lượng này và tính chất của vũ  trụ cũng được giải thích trên cơ sở những hằng số vừa nhắc ở trên. Tiến bộ của Vật lý và công nghệ cho phép đo các hằng số ngày càng chính xác hơn,Nhưng ngay cho đến tận ngày nay khoa học vẫn  không thể giải thích được vì sao giá trị của các hằng số trên lại là như vậy. Ví dụ vì sao giá trị của tốc độ ánh sáng lại bằng 300.000Km/s (chính xác là 299.729.458m/s) và khối lượng của electron thì bằng 9.10938188. 10-31 kg. Mơ ước giải thích được tất cả các hằng số chính là mơ ước “xây dựng được lý thuyết thống nhất lớn”, tức là một lý thuyết mà giải thích được tất cả mọi thứ trong tự nhiên. Lý thuyết đó sẽ như là một “đại số của tự nhiên”, tức là với nó mọi thứ đều có thể hiểu ít nhất là về “bản chất”. Nhưng mơ ước đó còn xa vời lắm với Vật lý hiện đại, nếu không muốn nói là khi hiểu biết nhiều hơn thì vấn đề càng trở nên phức tạp hơn. Gần đây người ta hy voïng vaøo một lý thuyết được gọi là lý thuyết siêu dây dạng M với việc cho rằng không gian thực của vũ trụ không phải là một không gian bốn chiều, mà là một không gian ít nhất phải có nhiều chiều hơn nữa . Tuy trong thực tế con người chỉ sống và cảm nhận được không thời gian bốn chiều mà thôi (ba chiều không gian và một chiều thời gian). Lý thuyết này bước đầu cho phép chúng ta hiểu được mối quan hệ giữa các hằng số Vật lý. Và cũng từ lý thuyết này người ta suy  ra rằng có thể còn tồn tại các vũ trụ khác tại đó các hằng số Vật lý không giống như vũ trụ của chúng ta. Có nghĩa là vũ trụ của chúng ta đang sống và chúng ta không có cách nào thoát ra ngoài vũ trụ này lại là chỉ một trong vô vàn vũ trụ đang tồn tại mà thôi. Hàng loạt các công trình nghiên cứu nghiêm túc của các nhà Vật lý đã được công bố trong những năm vừa qua về vũ trụ song hành (Parallel space) hoặc siêu vũ trụ (Hyper space) đã khẵng định rằng các suy luận này hoàn toàn nghiêm túc. Người ta cũng chứng minh rằng sự sống nếu có ở các Vũ trụ khác, chắc chắn sẽ hoàn toàn không giống sự sống trong vũ trụ của chúng ta. Bởi ở đó các hằng số Vật lý không giống trong vũ trụ của chúng ta nên mọi qui luật cũng khác. Chẳng hạn cấu trúc của nguyên tử sẽ hoàn toàn khác các nguyên tử trong vũ trụ chúng ta, do đó cấu trúc DNA của cơ thể sống cũng hoàn toàn khác. Nghĩa là nếu có cuộc sống trong những vũ trụ khác, thì quá trình tiến hoá và hình thức sống cũng có thể  khác với những gì diễn ra và đang tồn tại trong vũ trụ của chúng ta. Bây giờ thì chúng ta hiểu được một điều là chỉ cần thay đổi giái trị các hằng số Vật lý, bức tranh của tự nhiên và của cả vũ trụ hoàn toàn khác. Và cái gọi là hằng số Vật lý thật sự chỉ có ý nghĩa trong phạm vi vũ trụcủa chúng ta mà thôi. Những hằng số có thể sẽ khác nhau trong những không gian và thời gian khác nhau. Nếu như số chiều dư ra (Extra dimention) thay đổi, “các hằng số”  trong thế giới bốn chiều của chúng ta cũng thay đổi theo.  Thật ra ngay từ những năm 30 của thế kỷ 20, nhiều nhà Vật lý trong đó có Dirac đã cho rằng các “hằng số Vật lý” có thể không phải là hằng số. Thách thức của thời đó là các thiết bị đo không đủ độ chính xác để kiểm tra các dự đoán lý thuyết và câu chuyện về các hằng số đã bị quên lãng trong vô vàn các bài toán Vật lý có vẻ dễ ăn hơn.  Khâu đột phá trong nghiên cứu về các hằng số hiện nay là nghiên cứu hằng số tương tác  điện từ   Alpha (α)  còn được gọi  là hằng số đẹp  (fine constant ).Các tính toán lý thuyết đã chứng tỏ rằng nếu giá trị của hằng số Alpha thay đổi sẽ dẫn đến những hệ lụy rất lớn , chẳng hạn nếu  Alpha  nhỏ đi thì các phân tử sẽ bị phân hủy ở nhiệt độ thấp hơn rất nhiều (vì nó tỷ lệ với α2) mật độ của vật chất trong vũ trụ cũng giảm đi rất nhiều (tỷ lệ với α3) và bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học sẽ có nhiều nguyên tố hơn rất nhiều (tỷ lệ với 1/α). Còn nếu α tăng lên thì các hạt nhân nguyên tử nhẹ lại không tồn tại được . Ví dụ nếu Alpha tăng lên 0,1 thì nguyên tố đầu tiên tồn tại được phải là Cacbon, chứ không phải là Hydrogen. Nếu giá trị α giảm khoảng 4% thì không có phản ứng nhiệt hạch (Hydrogen + Hydrogen = Heli) và không tồn tại năng lượng  của những ngôi sao như thể Mặt trời của chúng ta.  Để đo xem  hằng số  Alpha có thay đổi theo thời gian không  phải có các công cụ (equipment) vô cùng tinh vi và đo đạc trong thời gian dài. Các nhà Vật lý năng lượng cao (J.D.Barrow, J.K.Webb) quan sát thấy cùng một nguyên tố nhưng trước đây (vài tỷ năm trước) và bây giờ khả năng hấp thụ khác nhau. Điều này là không thể hiểu nổi với các lý thuyết Vật lý thông thường nhưng lại là điều đơn giản nếu như ta xem  cách đây vài tỷ năm và bây giờ là khác nhau dù chỉ vài phần triệu.  Không cần người từ các hành tinh khác.  Năm 1976 Alxander Shlyakher, nhà Vật lý  Nga đang làm việc tại Viện khoa học hạt nhân ST Peterburg đã giải thích hiện tượng Oklo bằng cách khác. Ông cho  rằng nhiều tỷ năm về trước hằng số đẹp α  khác bây giờ chút ít vì thế tỷ lệ đồng vị  cũng khác. Mỏ Oklo đã được tạo ra ở thời kỳ mà hằng số đẹp Alpha nhỏ hơn hiện nay. Với giả thuyết này hiện tượng Oklo được giải thích một cách đơn giản và chính xác. Nhưng lại làm nảy sinh một câu hỏi lớn là : Các hằng số Vật lý của chính vũ trụ chúng ta có thay đổi theo thời gian không ? khi mới hình thành vũ trụ  giá trị của các hằng số có bằng bây giờ hay không ? và điều mà các nhà Vật lý vẫn xem là mặc nhiên đúng xưa nay: các hằng số Vật lý đều giống nhau  trong phạm vi toàn vũ trụ có  là đúng nữa không ?  Nếu thật sự các hằng số Vật lý đã thay đổi theo thời gian thì chúng ta có thể giải thích được nhiều hiện tượng vẫn làm đau đầu các nhà Vật lý xưa nay ví dụ như là sự  dịch chuyển về phía đỏ, sự hình thành các lỗ đen và đặc biệt là có thể dễ dàng trả lời  câu hỏi khó nhất của khoa học hiên đại về vật chất đen như : vật chất đen là gì ? vì sao chúng ta chỉ cảm nhận được sự tồn tại của vật đen và năng lượng đen mà chưa đo được chúng một cách chính xác?  Dịch chuyển về phía đỏ là hiện tượng các vạch phổ thu được từ các Quasars  lớn hơn các vạch phổ tương ứng trên Trái đất. Hiện tượng này được coi là bằng chứng của sự dãn nở của vũ trụ. Vũ trụ đang dãn nở là một vấn đề đã gây tranh cãi và phiền toái cho cả các nhà Vật lý và triết học trong suốt mấy chục năm qua. Nhưng dịch chuyển về phía đỏ- bằng cớ của sự dãn nở vũ trụ hoàn toàn có thể giải thích một cách đơn giản nếu cho rằng hằng số Alpha vài tỷ năm về trước nhỏ hơn bây giờ. Khi ấy phổ của nguyên tử phát ra sẽ có bước sóng dài hơn phổ tương ứng hiên tại .Chúng ta đo các phổ này phát ra từ các Quasars  trên Trái đất nghĩa là đo các phổ nguyên tử đã phát ra cách đây nhiều tỷ năm. Do đó chúng ta ghi nhận dược các phổ có bước sóng dài hơn. Như vậy dịch chuyển về phía đỏ có thể không phải là bằng chứng về sự dãn nở của vũ trụ mà là bằng chứng về sự thay đổi của hằng số Alpha. Điều rất lý thú là chính Einstein đã xây dựng lý thuyết hấp dẫn trên cơ sở một vũ trụ tĩnh, khi phát hiện sự dịch chuyển về phía đỏ ông mới phải thêm vào phương trình của mình một số hạng để khử sự dãn nở vũ trụ.Về sau chính Einstein lại cho rằng đó là sai lầm lớn nhất của ông….   Các vũ trụ có các hằng số Vật lý không giống vũ trụ của chúng ta thì cho đến nay chúng ta chẳng có cách nào để nhận biết chúng bởi tính không liên thông .Tương tự như vậy,  có lẽ trong vật chất đen và năng lượng đen các hằng số Vật lý có thể khác với vật chất thông thường nên ta chỉ cảm nhận mà chưa đo đạc được.Và biết đâu chẳng có những vũ trụ đang trộn lẫn ( Mixing) song hành với chúng ta mà ta không nhận biết được do tính không liên thông vì các hằng số Vật lý như ta vừa nhắc.Cũng  như vậy ,có thể tồn tại những dạng sống không có các hằng số tương thích với chúng ta nên chúng ta chưa nhận biết được.   Nhiều  điều nói trong bài này còn đang là đề tài tranh cãi trong khoa học. Nhưng có thành tựu khoa học nào mà không sinh ra từ các cuộc tranh luận khoa học ?  Tài liệu tham khảo:      [1]  Dirac P. A. M. Nature 139 323(1973): Proc. R. Soc. London Ser. A 165 198(1938).     [2]  Dyson F. J., Phys. Rev. Lett. 19 (1967) 1291.  [3]  Dzuba V. A.,  Flambaum V.V. webb JK Phys. Rev A59 230 (1999).     [4]  Dzuba V.A. and Flambaum V. V., Phys. Rev. Lett. A 61034502 (2007).  [5]  Fujii Y et al, Nucl. Phys. Rev. Lett. 87 091301 (2001) .  [6]  Gell-Mann M. and  Low  F. E., Phys. Rev. 95(1954) 1300.  [7]  Godone  A. et al. Phys. Rev. Lett 712364 (1993).  [8]  Murphy M. J., Webb J.K., Flam Baum V.V., Submitted to Mon. Not. R. Astron. Soc., (2000) Astr-phy/o 012419.  [9] Murphy M. J., Webb J. K., Flambaum V.V., Mon. Not. R. Astron. Soc.,accept(2003), Astr-phy/0 012421.  [10]  Niering  M. et al. Phys. Rev. Lett 84 5496 (2007).  [11]  Shlyakhter A. I., Nature 264340 (1976).   [12]   Stenger J. et al. Opt. Lett 26 1589 (2006).  [13]  Udem Th. et el. Phys. Rev. Lett. 79 2646 (1997)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chân trời  thời gian      Trong hơn một thập niên qua, mỗi năm một câu hỏi đã được đặt ra cho những trí thức dẫn đường trên thế giới thảo luận. Tổ chức đặt ra câu hỏi đó là Edge Foundation, những ý kiến tranh luận sau đó được tập hợp biên soạn thành sách.      Câu hỏi của năm 2011 được đưa ra vào tháng giêng, đến nay đã có 164 ý kiến đóng góp của 164 học giả thuộc nhiều ngành học thuật khác nhau. Câu hỏi là Khái niệm khoa học nào sẽ phát triển bộ công cụ nhận thức của mọi người? (What scientific concept would improve everybody’s cognitive toolkit?). Có thể đọc tất cả những ý kiến đó trên website của Edge (edge.org). Nhiều ý kiến khác nhau, không phải tất cả đều mới mẻ độc đáo hay xuất chúng, nhưng có thể từng người đọc sẽ bắt gặp những ý tưởng gợi nên cảm hứng mạnh mẽ đối với riêng mình. Chẳng hạn với tôi là khái niệm “Thời gian sâu” của Martin Rees.  “Chúng ta cần mở rộng những chân trời thời gian của chúng ta”, Martin Rees bắt đầu sau cái tựa “Thời gian sâu” và tương lai xa.   Martin Rees là giáo sư môn Vũ trụ học và Vật lý học thiên thể, hiệu trưởng Trinity College thuộc Đại học Cambridge, một người Anh quí tộc, được phong Nam tước Rees xứ Ludlow, chủ tịch danh dự Hội Hoàng gia, nhà thiên văn của triều đình Anh, được trao rất nhiều danh vị cùng giải thưởng sáng giá, và được mượn tên đặt cho một hành tinh: ngôi sao 4587Rees. Một trong những quyển sách nổi tiếng của ông, xuất bản năm 2003, có tựa Giờ cuối cùng của chúng ta: Một cảnh cáo của nhà khoa học: Tai họa môi trường, sai lầm và khủng bố đe dọa tương lai nhân loại như thế nào trong thế kỷ này – trên và ngoài mặt đất. Câu hỏi lớn Rees đặt ra vào thời điểm đó là liệu nhân loại có tồn tại đến hết thế kỷ 21?  Quyển sách mới nhất của ông hiện đang được quảng bá nhưng chưa phát hành có tựa Điều chúng ta còn chưa biết, dựa trên một bộ phim ba phần mà ông đã thực hiện từ năm 2004, đặt ra những câu hỏi: Chúng ta có thực không? Tại sao chúng ta hiện hữu nơi đây? Và ngoài chúng ta còn ai khác nữa?   Với máy tính cầm tay, thậm chí cái điện thoại di động thông minh, chúng ta tưởng như mình có thể biết tất cả nếu sục vào lượng thông tin khổng lồ mà nhân loại đã tạo ra. Chúng ta cũng dễ tự hào và tin tưởng thành tựu khoa học kỹ thuật căn cứ vào những gì chúng ta đang thụ hưởng với một cái giá tương đối phải chăng. Quả thực khoa học ở thế kỷ 21 đã đạt những thành tựu diệu kỳ. Thế nhưng theo Martin Rees thì 95% của vũ trụ là những “vật chất tối” không thể nhận ra. Có phải đó chính là “cái” đang vận hành vũ trụ, cái đó vĩnh cửu hay hữu hạn? Mà vũ trụ của chúng ta là vũ trụ duy nhất, hay còn vô số vũ trụ khác nữa? Chúng vận hành cùng qui luật vật lý như chúng ta biết hay khác hẳn. Và trong vũ trụ hay những hệ thống tinh tú khác có sự sống phức tạp không, nếu có thì họ khôn dại hơn ta cỡ nào? Có hình thái sống nào đủ tiên tiến để sáng tạo ra những vũ trụ mới theo thiết kế của mình?           Một trong những quyển sách nổi tiếng của Martin Rees, xuất bản năm 2003, có tựa Giờ cuối cùng của chúng ta: Một cảnh cáo của nhà khoa học: Tai họa môi trường, sai lầm và khủng bố đe dọa tương lai nhân loại như thế nào trong thế kỷ này – trên và ngoài mặt đất. Câu hỏi lớn Rees đặt ra vào thời điểm đó là liệu nhân loại có tồn tại đến hết thế kỷ 21?          “Chúng ta cần mở rộng những chân trời thời gian của chúng ta. Đặc biệt, chúng ta cần ý thức rộng hơn và sâu hơn rằng còn rất nhiều thời gian ở phía trước so với thời gian đã trôi qua từ trước đến giờ.” Martin Rees giải thích: “Sinh quyển hiện nay của chúng ta là kết quả của hơn bốn tỷ năm tiến hóa; và chúng ta có thể lần theo dấu lịch sử vũ trụ đến “vụ nổ lớn” xảy ra khoảng 13,7 tỷ năm trước. Những khoảng thời gian dằng dặc của quá khứ tiến hóa giờ đây là bộ phận của tri thức và văn hóa chung.” Chúng ta nói “xưa như trái đất”, “sầu vạn cổ”, “từ thuở khai thiên lập địa”, “ngày xửa ngày xưa ấy”… và có thể hình dung quá khứ mười mấy tỷ năm.   Còn tương lai? Chúng ta tính đời người đến trăm năm, vận nước đến muôn năm, tham vọng quyền lực đến “vạn vạn tuế” là cùng. Martin Rees viết “những chân trời thời gian mênh mông trải ra phía trước chúng ta chưa ngấm vào văn hóa chúng ta ở mức độ tương đương ý thức về thời gian quá khứ. Mặt trời của chúng ta còn chưa trải hết một nửa đời nó. Mặt trời được hình thành cách đây 4 tỷ rưỡi năm, và nó còn đủ năng lượng để tự đốt mình trong hơn 6 tỷ năm nữa.” Khoảng vài ngàn năm nay chúng ta đã hình dung về ngày “tận thế”, và tiên đoán bằng những khoảng thời gian ngắn hơn tuổi thọ của Mặt trời. Nhưng có “tận thế” không sau khi Mặt trời không còn nữa? Theo Martin Rees thì vũ trụ vẫn tiếp tục phồng ra, lạnh hơn và trống trải hơn, nhưng cứ phồng ra mãi, có thể mãi mãi. Ít nhất thì đó cũng là khả năng nhìn xa nhất về tương lai của những nhà vũ trụ học hiện nay, mặc dù một số chỉ ước đoán vũ trụ tồn tại thêm vài chục tỷ năm nữa thôi.   Rees cho là ý thức về “thời gian sâu” ở phía trước vẫn còn chưa sâu trong văn hóa con người. Chúng ta tưởng con người đã là đỉnh cao của tiến hóa. Nhưng các nhà vũ trụ học nghĩ hoàn toàn ngược lại. Họ tin là con người vẫn chưa đạt tới bậc giữa của thang tiến hóa. Theo Rees, “Còn rất nhiều thời gian cho tiến hóa sau-người, ở đây trên mặt đất, hay ở ngoài Trái đất, có hệ thống hay phi hệ thống, để tăng sự đa dạng hơn nữa, thậm chí có những thay đổi về chất lượng lớn lao hơn, so với những thay đổi từ những sinh vật đơn bào đến nhân loại.” Những nhà thiên văn như Martin Rees biết là trong vũ trụ, nơi sự sống lan tỏa, rất rộng lớn và đa dạng, “loài người chắc chắn không phải là nhánh tận cùng của cái cây tiến hoá, mà chỉ là một loài xuất hiện sớm trong lịch sử vũ trụ, với triển vọng đặc biệt đối với sự tiến hóa phong phú đa dạng.”  Thử vô sở thú quan sát con khỉ dã nhân với ý thức đó là loài ở dưới loài người một bậc thang tiến hóa. Rồi tưởng tượng sẽ có (hay đã, đang có?) một loài gì đó tiến hóa hơn loài người một bậc. Có lẽ loài ấy nhìn loài người như cách chúng ta đang nhìn loài khỉ. Nhưng Martin Rees an ủi: “điều này không làm sút giảm thân phận loài người. Con người chúng ta có quyền cảm thấy vô cùng quan trọng với tư cách là loài đầu tiên được ghi nhận với năng lực tạo hình di sản tiến hóa của mình.”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chiêc mũi máy phỏng theo khứu giác côn trùng      Một chương trình hợp tác được đầu tư 4 triệu USD của các nhà khoa học đang đem lại khả năng chế tạo một thế hệ mới của mũi điện tử, gọi là các “cybernose”.    Các nhà khoa học sẽ tập chung vào loài giun tròn bởi hệ thống nhận diện phân tử rất nhạy của chúng. Để tạo ra cybernose, người ta sẽ dùng các protein cảm biến cực kỳ nhạy của côn trùng và giun tròn để thay thế cho các cảm biến điện tử hiện có.  Trong tương lai, các cybernose có thể được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm và đồ uống, ngoài ra công nghệ cybernose cũng có thể được ứng dụng trong lĩnh vực an ninh sinh học- phát hiện các mầm bệnh.     Nguồn : CSIRO Australia  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chiến trường trong tương lai      Bắc Băng Dương, vũ trụ và không gian mạng – những khu vực mà trước đây con người chưa với tay tới hay đơn giản là không tồn tại, nhưng hiện nay đã có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn. Do vậy chúng ta phải chuẩn bị cho những cuộc xung đột ở những khu vực mà mới gần đây vẫn chưa có người đặt chân đến nơi này.      Từ những cuộc chiến tranh tranh giành nơi săn bắn trong thời tiền sử đến những cuộc chiến tranh giành địa điểm khai thác vàng ở Tân thế giới (có thể kể thêm những cuộc xung đột vì mỏ dầu ở Cận Đông trong thời gian gần đây): hễ tìm ra khu vực giàu có là y như rằng ở đó sẽ có xung đột. Trong hơn 5 ngàn năm, loài người chỉ đánh nhau nhằm tranh giành mặt đất và mặt nước. Sau đó, trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thế kỉ XIX và thế kỉ XX đã xuất hiện những ngành công nghệ mà trước đó không lâu chỉ có trong những câu chuyện của Jules Verne, tức là những ngành công nghệ cho phép các bên đối địch trong Thế chiến thứ I đánh nhau cả trên trời và dưới nước đòi hỏi những đơn vị quân sự mới, những qui định mới.   1. Bắc Băng Dương  Giới chính trị đã chẳng hề quan tâm đến khu vực này trong một thời gian dài. Nhưng do những thay đổi khí hậu mà công nghệ của chúng ta gây ra, nước đã ấm hơn. Do đó đã xuất hiện khả năng sử dụng những con đường giao thương mới cũng như khai thác những mỏ mới trong khu vực này, một khu vực có thời từng là điểm trắng trên bản đồ địa lí. Ở đây cũng có thể có trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên tương tự như ở Saudi Arabia.   Khi một khu vực mới được phát hiện thì đồng thời cũng xuất hiện những vấn đề an ninh mới. Trên thực tế, một khu vực rộng lớn như thế với những vấn đề lãnh thổ còn bỏ ngỏ như thế chưa từng xuất hiện, kể từ khi Giáo hoàng Alexander VI tìm cách chia Tân thế giới cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và là nguyên nhân của những hành động quân sự của tất cả các nước không có phần trong cuộc chia chác này. Hôm nay các diễn viên mới cũng đang chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh ở khu vực Bắc Cực, mặc dù xung đột không phải là không tránh khỏi. Một cố vấn của Thủ tướng Putin của Nga từng tuyên bố: “Bắc Băng Dương là của chúng tôi”. Canada, Na Uy, Mỹ cũng như các nước không tiếp giáp với Bắc Băng Dương, thí dụ như Trung Quốc – theo tất cả những gì đã biết – có quan điểm khác và họ đang tăng cường tiềm lực để có thể đưa ra đòi hỏi của mình.   2. Trong vũ trụ  Trước đây cũng là khu vực không ai có thể với tới, nhưng nay ý nghĩa kinh tế và quân sự của nó đang gia tăng một cách cực kì nhanh chóng. Cái không gian mà những thước phim của Fritz Lang và Geoge Lucas từng nói tới hiện có 947 vệ tinh do 60 nước phóng lên. Đấy là điểm nối của những động mạch quan trọng nhất của ngành thương mại, giao dịch cũng như hoạt động quân sự trên thế giới. 80% giao dịch của Mỹ được thực hiện thông qua các vệ tinh nhân tạo. Khôi hài là một viên tướng không quân Mỹ tên là Lance Lord đã bắt chước Clausewitz và gọi vũ trụ là “trung tâm hấp lực mới”. Theo đơn đặt hàng của Lầu năm góc, người ta đã tiến hành hơn 20 cuộc nghiên cứu về cách thức tiến hành chiến tranh trong vũ trụ.   Thiếu tướng Ya Yunzhu thuộc Viện Hàn lâm quân sự quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cảnh báo rằng “nếu Mỹ nghĩ đến việc trở thành siêu cường trong vũ trụ thì đương nhiên là họ sẽ không phải là người đơn độc”. Năm ngoái Trung Quốc đã phóng nhiều hỏa tiễn hơn Mỹ và dự định trong mười năm tới sẽ đưa vào quĩ đạo gần Trái đất 100 vệ tinh dân sự và quân sự nữa. Quan trọng hơn là trong những năm qua cả hai nước đều đã nhiều lần chứng tỏ khả năng tiêu diệt vệ tinh bằng những phương tiện tự động. Nga, Ấn Độ, Iran, thậm chí các tay chơi không mang tầm vóc quốc gia như Những con hổ giải phóng ở Sri Lanka cũng tìm cách tiêu diệt vệ tinh hay tiến hành những công việc nhằm chống lại những mục tiêu trong vũ trụ.   3. Không gian mạng  Khác với không gian dưới mặt nước, trong không khí, trong những khu vực lạnh lẽo của Bắc cực hay trên vũ trụ không chỉ ở chỗ chỉ mới tồn tại trong thời gian gần đây. Tuy nhiên ta khó mà tưởng tưởng nổi chức năng của nó đối với cách sống của chúng ta. Những con số nhằm mô tả lĩnh vực này lớn đến nỗi có cảm giác như đấy là những điều bịa đặt. Mạng Internet toàn cầu bao gồm khoảng 250 triệu website, mỗi năm luân chuyển khoảng 90 ngàn tỉ tin tức. Trong lĩnh vực quân sự, Internet cũng được sử dụng rất rộng rãi. Chỉ riêng Lầu năm góc đã có tới 15.000 mạng máy tính đặt trên 4000 cơ sở và căn cứ ở 88 nước.   Nhưng do giá trị thực tế của không gian ảo mà nó cũng đã trở thành lĩnh vực hoạt động của bọn tội phạm, trở thành đấu trường xung đột cũng như đối đầu về chính trị và kinh tế. Công ty Symatec, chuyên hoạt động trong lĩnh vực an ninh công nghệ thông tin, phát hiện ra rằng năm ngoái có 240 triệu chương trình độc hại và hơn 100 tổ chức tham gia thực hiện những chiến dịch quân sự, tình báo và khủng bố lớn. Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) cho rằng những cuộc tấn công trên không gian ảo là nguy cơ đứng hàng thứ ba, cần phải nói thêm rằng cách đây mười năm trên bàn làm việc của giám đốc tổ chức này vẫn chưa có một chiếc máy tính nào. Từ ý tưởng trong đầu, trong vòng có mấy năm bộ chỉ huy không gian điều khiển của Mỹ đã biến thành một tổ chức với 90 000 nhân viên và ngân sách lên tới 3 tỉ USD.   Cho mãi đến tận thời gian gần đây phần lớn các cuộc thảo luận vẫn xoay quanh những kịch bản bị thổi phồng như “Trân Châu Cảng-số”, hay “cuộc chiến trên không gian điều khiển” giữa Nga và Gruzia hay tin tức ngoại giao bị tiết lộ. Phần lớn những vụ tấn công như thế đều gây rắc rối nhưng chỉ có thể coi đấy là những vụ rò rỉ chứ không thể là chiến tranh được. Mối nguy thật sự nằm ở chỗ do bị tác động thường xuyên mà khả năng sáng tạo của chúng ta cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta có thể bị yếu đi, mặc dù đấy chính là tác nhân quan trọng nhất đối với sự thịnh vượng và an ninh trong các nước phương Tây. Theo những đánh giá hiện có, mỗi năm các công ty Mỹ và châu Âu bị mất hàng tỉ USD vì những thương vụ không thành, những khoản nghiên cứu và thử nghiệm vô ích, mà tất cả đều là những cuộc tấn công do các tổ chức chính trị và quân sự cũng như các cơ quan tình báo tiến hành. Các hacker hoạt động trên lãnh thổ của một nước Đông Nam Á đã ăn cắp thông tin liên quan đến chương trình xây dựng máy bay tiêm kích F-35, với dung lượng là mấy terabyte (1 terabyte = 1000000000000 byte, gần bằng dung lượng của toàn bộ mạng Internet mười năm trước). Hàng tỉ đồng bị đánh cắp ở đây không chỉ là hàng tỉ đồng đã chi cho công tác nghiên cứu và thử nghiệm, mà còn là mất ưu thế về công nghệ trên thị trường thế giới cũng như trên bãi chiến trường tương lai từ 10 đến 20 năm.  Từ đó có thể rút ra một bài học. Đấy là dù mối lo về Afghanistan hay sự trỗi dậy của Trung Quốc có quan trọng đến đâu thì các chính khác tham gia quyết định những vấn đề trong lĩnh vực an ninh cũng phải nhận thức được rằng trên thế giới đang diễn ra những thay đổi cực kì to lớn. Trong thế kỉ XXI con người sẽ tạo ra những giá trị lớn trong những lĩnh vực mà trước đây chưa ai với tới, thậm chí chưa hề tồn tại. Điều đó cũng có nghĩa là một lần nữa chúng ta phải sẵn sàng chiến đấu ở những khu vực mà trước đây ta chưa bao giờ làm. Và những người yêu chuộng hòa bình cần phải ngăn chặn xung đột và khủng hoảng bằng việc tạo ra những định chế và tiêu chuẩn để có thể xử lí và điều chỉnh những không gian mới, những không gian quyết định bộ mặt của thế giới chúng ta.                                 Phạm Nguyên Trường dịch  ———  * Peter Singer là giám đốc cơ sở Century Initiative trong thế kỉ XXI tại trung tâm nghiên cứu Brookings (Mỹ),ông cũng là tác giả cuốn “Wired for War”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chiều kích trong nghiên cứu biển Đông      Trước nay, nghiên cứu biển Đông, trong phạm vi của khối khoa học xã hội và nhân văn đã được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau. Bài này, muốn đi đến một cái nhìn tổng quan về các phân môn của chuyên ngành này. Theo chúng tôi, nghiên cứu biển Đông gồm có 16 khu vực như sau.          Trục với hiện vật khảo cổ học dưới biển (Hình minh họa từ nguồn internet).  Luật biển (Marine Law)  Đây là giá trị nổi bật được chú ý đến nhất trong vòng nhiều năm trở lại đây. Đầu tiên từ nghiên cứu của nhóm Nguyễn Nhã (1973), Trong khi nhóm Nguyễn Nhã được coi như là những người đặt gạch cho cuộc đấu tranh giành chủ quyền của thế hệ học giả Sài Gòn, thì các công bố của Bộ Ngoại giao (2013) như là phát ngôn học thuật chính thức của nhà nước cho lĩnh vực này với những văn bản hành chính quan phương trong hệ thống châu bản triều Nguyễn. Đầu năm 2014, sự kiện giàn khoan HY981 là cú huých để hàng loạt ấn phẩm khoa học liên quan đến biển Đông ra đời. Cuốn sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông” của Viện NC Hán Nôm (một phần của đề tài) là bước ngoặt đáng kể khi lần đầu tiên công bố một cách tương đối toàn diện và có hệ thống những nguyên bản sử liệu (chữ viết bản đồ) xác định lịch sử chiếm hữu và thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam (chúa Nguyễn và nhà Nguyễn) đối với Hoàng Sa- Trường Sa.  Theo tiêu chuẩn án lệ quốc tế được sử dụng cho các tòa án quốc tế về tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh được sự sở hữu lãnh thổ/ của một quốc gia thì cần chứng minh bốn điểm sau đây bằng các sử liệu: (1) Lịch sử khám phá (từng được áp dụng thành quyền khám phá); (2) Sự chiếm hữu tượng trưng thông qua các biểu vật tượng trưng như cờ, bia đá, cọc mốc, hoặc các công trình kiến trúc; (3&4) Sự chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (thực thi quyền chủ quyền) một cách liên tục đối với lãnh thổ đó (occupation và effectivité)[1]. (5) Chủ thể chiếm hữu phải là một quốc gia. [Từ Đặng Minh Thu 1998/ tb.2014].  Những sử liệu công bố trong Hồng Đức bản đồ (cùng với các sử liệu khảo cổ học lịch sử/ khảo cổ học biển đảo) cho thấy, người Việt các triều đại Việt Nam trong lịch sử đã khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV [Từ Đặng Minh Thu 1998].  Người Việt đã đến đó sinh sống hàng thế kỷ, và đến thế kỷ XVII, chính quyền nhà Nguyễn ở Đàng Trong đã thành lập các đội Hoàng Sa- Bắc Hải để khai thác đảo một cách liên tục hai quần đảo này. Tính liên tục của sự chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong quãng 3 thế kỷ đã tạo nên CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ cho Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.      Hải dương học lịch sử (historical Marine Geography)  Hải dương học lịch sử là phân ngành nhỏ của Địa lý học lịch sử (historical Geography). Địa lý học lịch sử trước nay chỉ chú trọng đến lịch sử địa lý hành chính, mà hầu như chưa để ý đến biển đảo, hoặc đề cập đến nó như một đối tượng ngoại vi. Nếu phân mảng chi tiết, ngành này sẽ bao gồm (1) lục địa học lịch sử (mainland historical Geography); (2) hải dương học lịch sử; (3) thủy giang học lịch sử (river historical Geography): một ngành khoa học chuyên biệt nghiên cứu về các dòng sông ở mọi phương diện của lịch sử địa lý đến lịch sử văn hóa, được khởi đầu rất sớm từ cuốn Thủy kinh chú. Trong đó, hải dương học lịch sử sẽ có một giao giới chung với thủy giang học lịch sử, đó là các cửa biển/ cửa sông thông ra biển. Cả hai ngành này lại đồng thời có giao giới chia cắt với ngành thủy văn học (hydrology).  Hải dương học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử, phạm vi địa lý các vùng duyên hải, hải khẩu, các vùng biển và các hải đảo trong tiến trình lịch sử. Hải dương học lịch sử cần được phân biệt với Hải dương học là ngành khoa học nghiên cứu mọi hiện tượng hải dương như tương tác biển- khí quyển và các quá trình biến đổi ở vùng cửa biển- cửa sông. Để triển khai nghiên cứu chuyên ngành này, nhà nghiên cứu, ngoài việc khảo sát thám đạc địa chất, địa mạo, thủy triều học, thiên văn học, khảo cổ học…, còn phải nghiên cứu các sử liệu văn hiến hữu quan. Trong đó, các sử liệu văn hiến Hán- Nôm được coi như là nguồn sử liệu có trường độ lớn nhất quãng trên dưới 2000 năm (so với các sử liệu văn hiến của tiếng Pháp, Bồ Đào Nha, La Tinh và Quốc ngữ chỉ khoảng 500 năm trở lại đây).      Hải danh học lịch sử (historical Marine Toponymy)  Hải danh học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học lịch sử, hoặc từ nguyên học, và nằm trong mảng giao cắt trực tiếp với hải dương học lịch sử, văn hóa học. Xét về mặt đối tượng nghiên cứu, hải danh học lịch sử với hải dương học lịch sử là cặp đôi không thể tách rời. Trong khi hải dương học lịch sử chú ý nghiên cứu các vấn đề lịch sử- văn hóa- trính trị liên quan đến biển, thì hải danh học lịch sử nghiên cứu về vỏ vật chất ngữ ngôn của các đối tượng trên. Chuyên ngành này lấy việc nghiên cứu các tên gọi của các vùng biển, các vịnh biển, các đảo hòn và các hải khẩu ở khía cạnh lịch sử, từ nguyên. Ngành này chú ý phân tích những biến động và ổn định về tên gọi, mã hóa chúng trở thành như một chuỗi các từ khóa để giúp nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát tư liệu và cung cấp các hệ vấn đề hữu quan cho các chuyên ngành khác.  Vẫn quay trở lại với ví dụ núi Non Nước tại thành phố Ninh Bình. Các sử liệu Hán Nôm sẽ cung cấp hàng loạt các tên gọi với các niên đại tương đối chính xác. Thời Đinh Bộ Lĩnh được đặt tên là là Ngự Trấn Phòng sơn 禦 鎮 防 山, thời Lê Đại Hành lại được đặt tên là Hộ Thành sơn 護 城 山. Theo Trương Hán Siêu, núi này từ năm 1091 đã được vua Lý cho xây chùa tháp, tên là Thủy Sơn (núi nước). Sau Hán Siêu đổi tên núi thành Dục Thúy Sơn (浴翠山) vào năm 1343. Và cả hai tên này đến nay vẫn được dùng. Riêng tên Nôm thì mở rộng hơn thành “núi Non Nước”. Núi Non Nước thời Đinh nằm ngoài cửa biển. Thời Trần, sóng còn dữ dội nên gọi là cửa Đại Ác. Sau biển đã lui, trở nên hiền hòa hơn nên đổi tên là cửa Đại An. Nay cửa biển là ngã ba sông Vân Sàng và sông đáy.      Hải thương học lịch sử (Historical Marine Commerce Studies)  Hải thương học trước nay còn được gọi là thương mại biển. Hải thương học nghiên cứu về quá trình giao thương qua đường biển từ phạm vi hẹp nhất là giữa các hải cảng trong một quốc gia cho đến mạng lưới hải thương liên vùng, liên quốc gia, liên khu vực, và ở khía cạnh rộng nhất là mạng lưới hải thương trên toàn cầu. Như mọi ngành khoa học khác, Hải thương học không chỉ nghiên cứu các hoạt động hải thương trong thời điểm hiện tại thuộc phạm trù đương đại, mà như một lẽ tất yếu, hải thương học còn quan tâm đến các vấn đề lịch sử của ngành này (tức lịch sử hải thương học, nằm trong phạm vi lịch sử khoa học) cũng như hải thương học lịch sử (tức nghiên cứu về hải thương trong lịch sử xa xưa, từ thời cổ đại đến trung- cận đại).  Hải thương học đã và đang trở thành ngành khoa học được quan tâm nhiều nhất, được đầu tư nhiều nhất và đương nhiên là ngành khoa học có nhiều thành tựu nhất cả ở Việt Nam lẫn Quốc tế. Ở Việt Nam, hải thương học được bắt đầu từ Trần Quốc Vượng (1988),  K. Hall (1985), Li Tana (1993), Momoki Shiro (1995), Anthony Reid (2001),… cho đến nay, nghiên cứu hải thương học đã trở thành một nghiên cứu trọng điểm và có kết quả được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu thương mại biển của Đại học Quốc gia Hà Nội.  Hải thương học lịch sử là ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử của ngành hải thương ở Việt Nam trong mối quan hệ với mạng lưới thương mại Châu Á và thế giới trong giai đoạn Cổ- Trung- Cận đại để xác lập quá trình hình thành, phương thức hoạt động, vai trò kinh tế và vai trò văn hóa của các hải thị, cảng đảo, các đế chế biển… và các mối giao thương trên biển trong lịch sử Việt Nam. Ngành khoa học này muốn hướng đến một cái nhìn khác về lịch sử văn hóa Việt Nam.      Hải quân học lịch sử (Historical Naval Studies)  Hải quân nói riêng và thủy quân nói chung là một lực lượng giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, nhìn từ một góc độ phổ biến hiện nay, là lịch sử chiến tranh với những trang sử rực rỡ của việc dựng nước và giữ nước, thì hải quân và các cuộc hải chiến được coi như là những mốc son chói đỏ. Vì thế, nghiên cứu hải quân học lịch sử là một lĩnh vực thú vị, trước nay đã được quan tâm nghiên cứu với cuốn chuyên luận “Quân thủy Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm” của nhóm tác giả Nguyễn Việt, (1983). Những ghi chép sớm trong Việt sử lược hay Đại Việt sử ký toàn thư về những trận thủy chiến lịch sử như trận Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, 981 của Lê Hoàn, năm 1288 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là những nguồn sử liệu nổi tiếng để nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về thủy quân học lịch sử. Ngoài ra còn phải kể đến những cuộc hành quân nổi tiếng của nhiều vị vua Đại Việt trong quá trình tiến về Phương Nam như Trần Anh Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Gia Long… Ngoài những nguồn sử liệu phong phú, với những kết quả mới trong khảo cổ học hải dương, ngành hải quân học lịch sử và nghiên cứu lịch sử ngành đóng thuyền ngày càng trở nên hấp dẫn. (xem thêm Li Tana 2002, Trần Đức Anh Sơn 2014).  Tuy nhiên, một khía cạnh còn bỏ ngỏ là việc mô tả, phục dựng các trận hải chiến lịch sử hầu như chưa được nghiên cứu từ góc độ binh pháp cổ Đông Á. Ví dụ bài thơ “Quan duyệt thủy trận” Nguyễn Trãi có câu: “Muôn giáp khoe oai tỳ- hổ dữ, Nghìn thuyền bày trận quán- nga nhanh.” (萬甲耀霜貔虎肅， 千艘布陣鸛鵝行。), chúng ta phải biết hai thế trận quán và nga là gì, cách thức bày trận ra sao, nó ảnh hưởng từ loại hình binh pháp nào của Đông Á. Và trong một trận chiến cụ thể nào đó, cần phải giải đọc các trận chiến đó từ bối cảnh văn hóa và lịch sử của nó.      Cung cấp sử liệu cho văn hóa học hải dương (Marine Culturology)  Văn hóa học hải dương (cg. nghiên cứu văn hóa biển đảo) là chuyên ngành nghiên cứu  các yếu tố văn hóa liên quan đến biển đảo và các vùng duyên hải. Các yếu tố văn hóa biển dĩ nhiên được coi như là một bộ phận của văn hóa của một cộng đồng cư dân hoặc một dân tộc cận duyên hải. Văn hóa học hải dương hiện đã và đang trở thành một chuyên ngành được các nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm. Văn hóa biển là tổng thể các yếu tố vật chất và phi vật thể được tạo nên trong quá trình tương tác giữa con người và biển đảo. Trong đó tính lịch sử của văn hóa biển được coi như là một mảnh đất đầy hứa hẹn cho khai thác sử liệu văn hiến Hán Nôm. Tính lịch sử của văn hóa biển sẽ làm nên truyền  truyền thống văn hóa biển.  Nếu theo định nghĩa khái quát nhất về văn hóa, thì mọi yếu tố mang tính biển đều có thể coi là văn hóa biển. Song ở đây cần phân định ranh giới giữa các ngành khoa học thông qua các hệ tiêu chí phân loại. Ví dụ, nếu nghiên cứu về văn hóa hải thuyền thì chúng ta cần đưa ra các yếu tố gì để phân biệt với nghiên cứu hải thuyền? Ở ngành thứ nhất, chúng ta quan tâm đến các hiện tượng kiêng kỵ, lối sống, phong tục, văn hóa của các ngư dân và thủy thủ cùng những hình vẽ biểu tượng trên tầu thuyền (ví dụ chim ích); Còn nghiên cứu hải thuyền thì quan tâm đến phương thức tạo tác, các xưởng chế tầu, số lượng, loại hình và chức năng của chúng,…  Về mặt cơ cấu, văn hóa học hải dương sẽ bao quát nhiều phạm vi khác nhau từ ẩm thực (cách chế biến hải sản), đến tín ngưỡng biển (qua các vị thần biển), văn học biển, nghệ thuật diễn xướng, các phong tục tập quán và nghi lễ liên quan đến biển… Ngoài ra, có khá nhiều ghi chép tản mạn khác về các loại mắm, yến sào, các loại hải sản… Cho đến nay, văn hóa học hải dương được coi như là một ngành khoa học được quan tâm nhiều nhất và ít nhiều đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhưng nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa, thì hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề thú vị này.      Tín ngưỡng hải dương (Marine Religious Belief Studies)  Nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến biển là một chuyên ngành khoa học thuộc văn hóa học hải dương. Song do vị trí đặc thù và rất quan trọng của nó, nên chúng tôi xếp thành một mục riêng. Chuyên ngành này ở Việt Nam đã được quan tâm từ nhiều chục năm nay với hàng trăm bài viết và hơn chục chuyên luận. Khởi phát ban đầu, tín ngưỡng hải dương được nghiên cứu qua các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian duyên hải, hay các công trình nghiên cứu về di dân và các ảnh hưởng của văn hóa Hoa kiều tại Việt Nam.  Tín ngưỡng hải dương đặt tổng hòa các yếu tố văn hóa tín ngưỡng (từ biểu tượng hải thần, đến nghi lễ, văn học lễ nghi, văn hóa diễn xướng,…) làm đối tượng nghiên cứu. Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng hải thần và các lễ hội tương ứng, song có thể chia làm nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu chí phân loại. Tiêu biểu như: Ngư Ông (ngư thần), Thiên Hậu (nhân thần), bà Lường (kết hợp tín ngưỡng biển với tín ngưỡng phồn thực thờ Lỗ Lường), Tứ vị Thánh Nương (nhân thần), Thiên Yana (kết hợp thần biển và thần của Champa), lính Hoàng Sa (chiến sĩ tử trận),…  Tín ngưỡng hải dương ở thời Trung Đại. Nó không chỉ như là một thực thể văn hóa dân gian, mà những ghi chép trên còn cho thấy tự tác động và ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đối với triều đình. Trong đó, các nguồn sử liệu Hán Nôm, được coi như là những tư liệu nguyên cấp, có tính đa trị để nghiên cứu về các loại hình tín ngưỡng hải dương nói riêng và văn hóa tín ngưỡng nói chung.      Nghiên cứu văn học biển (Marine Literature)  Văn học biển hay văn học hướng biển là một mảng nghiên cứu trước nay ít được đề cập đến ở Việt Nam do những điều kiện khách quan hoặc do quan niệm lục địa quá sâu đậm trong định hướng nghiên cứu lịch sử văn học. Văn học hướng biển, với số lượng tác phẩm mới sưu tầm, đây hẳn là một đề tài không thể không nhắc đến khi nghiên cứu văn học Trung đại Việt Nam, và nó đã trở thành một mảng quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu lịch sử văn học và lịch sử văn hóa. Chúng tôi cho rằng: văn học hướng biển cùng với tư duy hướng biển là một xu hướng quan trọng trong lịch sử văn hóa Việt Nam, vốn được xây dựng từ cơ tầng văn hóa biển. Văn học hướng biển thể hiện nhiều diễn ngôn khác nhau, đó là diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn chính trị- đạo đức…  Nghiên cứu văn học biển không chỉ lấy các tư liệu, văn liệu Hán Nôm làm bản vị mà còn lấy các tư liệu văn học dân gian (ca dao, hò, vè,…) làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu. Nếu tiến hành khảo sát rộng hơn và sâu hơn, chắc chắn đây sẽ là một mảng đề tài quan trọng và thú vị.      Kinh tế học hải dương (Marine Economics)  Kinh tế học hải dương (nghiên cứu kinh tế biển) là một ngành khoa học hết sức phát triển hiện nay. Đây là chuyên ngành có phạm vi rất rộng từ hải thương, ngư nghiệp, thuế biển cho đến du lịch, vận tải biển, khai thác hải sản khoáng sản, công nghiệp đóng tàu, dịch vụ hàng hải, công nghiệp năng lượng biển … “Kinh tế biển là một loại hình vùng kinh tế mang tính tổng thể đa ngành nghề, đa lĩnh vực, hoạt động kinh tế diễn ra ở trên biển, ven biển và hải đảo, … gắn liền với khai thác các tiềm năng, tài nguyên biển, (trong đó có tiềm năng vị thế: địa- kinh tế, địa- chiến lược) và gắn với chủ quyền lãnh thổ quốc gia.” [Nguyễn Bá Ninh 2012: 4]. Với phạm vi sử liệu Hán Nôm đề cập, kinh tế học hải dương sẽ bao gồm các chuyên ngành nhỏ hơn như chính sách thuế biển, hải thương học lịch sử, hải sản học lịch sử, hải thị học lịch sử… Vì tầm quan trọng và thành tựu đã đạt được, hải thương học lịch sử, và hải thị học lịch sử được tách riêng thành một mục riêng trong bài viết này.        Khảo cổ học hải dương (Marine Archeology)  Khảo cổ học hải dương là một ngành khoa học tưởng như độc lập với sử liệu văn hiến. Khảo cổ học hải dương, xét về không gian môi trường, có thể phân làm hai chuyên ngành chính: khảo cổ học dưới nước và khảo cổ học trên bờ (duyên hải và châu đảo). Nhưng trên thực tế, sử liệu văn hiến và sử liệu văn vật (hiện vật khảo cổ học) được coi như là hai chân kiềng quan trọng của nghiên cứu lịch sử. Sử liệu hiện vật tuy là các loại sử liệu câm, song bản thân nó vẫn chứa đựng những diễn ngôn lịch sử mà không phải sử liệu văn hiến nào cũng có được. Ngược lại, sử liệu văn hiến lại được coi như là nguồn tư liệu chỉ dẫn định hướng để nghiên cứu khảo cổ học hải dương.  Từ những năm 1990 đến nay, khảo cổ học hải dương đã đạt được một số kết quả bước đầu, tuy khiêm tốn, nhưng đã góp phần làm phát lộ nhiều vấn đề thú vị. Quá trình/ kết quả trục vớt tàu đắm tại Sa huỳnh, Cù Lam Chàm, Vũng Tàu,… và việc tìm thấy nhiều hiện vật của người Việt (ví dụ như tiền đồng thời Minh Mạng, Tự Đức) tại một số đảo như Nam Yết, Song Tử Tây, thuộc Hoàng Sa- Trường Sa cho thấy những ghi chép trong Đại Nam thực lục là hoàn toàn chính xác, góp phần đưa ra một hệ thống cứ liệu khả tín, xác đáng về quá trình chiếm hữu, thực thi chủ quyền và chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo này.      Nhân học hải dương (Maritime Anthropology)  Nhân học hải dương là ngành khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đồng đồng dân cư, cộng đồng dân tộc với môi trường hải dương. Các khảo sát được thực hiện trên nhiều bình diện khác nhau từ lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội, các ngành nghề liên quan đến biển,… Ở nội hàm như vậy, đối tượng của nhân học hải dương sẽ bao quát gần như tất cả các chuyên ngành khác liên quan đến hải dương, nhưng điểm khác biệt là chuyên ngành này lấy con người, lấy các cộng đồng làm đối tượng trung tâm, còn những cạnh khía khác chỉ nằm ở phạm vi hữu quan, hoặc ngoại biên. Phương pháp luận của nhân học hải dương được hình thành từ mối quan tâm đến khả năng thích nghi, ứng phó, khả năng tương tác, tận dụng, khai thác với môi trường duyên hải, môi trường hải dương. Nó quan tâm đến cả các chính sách quản lý hải thương, chính sách thuế, chính sách quân sự, chính sách khai thác và quản lý tài nguyên biển, và các loại hình hoạt động liên quan đến đời sống của con người trong môi trường hải dương.  Các sử liệu trên đã gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về nhân học hải dương, quá trình khai hoang lấn biển không chỉ có từ thời Nguyễn Công Trứ mà đã xuất hiện (ít nhất) là từ thời Lê. Nghiên cứu hệ thống đê biển,  các chính sách khai hoang của các triều đại là một vấn đề lý thú. Và không nghi ngờ gì rằng, ngoài việc bồi đắp tự nhiên của lưu lượng phù sa sông, thì quá trình quai đê lấn biển của con người cũng chính là một nhân tố quan trọng để thay đổi địa hình, địa mạo của đông bằng sông Hồng và các vùng cửa biển ở Bắc Bộ trong quãng ít nhất 500 năm trở lại đây[2]. Ngoài ra, các thương cảng, hải thị cắm chốt ở các cửa biển và hải đảo như Domea (Hải Phòng), Vân Đồn (Quảng Ninh), Lạch Trường (Nam Định), Thi Nại (Bình Định) đã trở thành một hệ thống “tiền đồn thương mại” để người Việt, người Chăm hòa vào mạng lưới hải thương quốc tế rộng lớn trong lịch sử.      Hải trình học lịch sử (Sea Route Studies)  Hải trình học lịch sử là một phân môn của khoa nghiên cứu về lịch sử giao thông đường thủy, cùng với lịch sử giao thông đường sông. Nếu nghiên cứu lịch sử giao thông đường bộ (ví dụ như nghiên cứu về hệ thống đường thượng đạo) là một góc nhìn giao thông từ núi về lịch sử Việt Nam [Nguyễn Mạnh Tiến 2014; Phạm Lê Huy ],  thì nghiên cứu lịch sử giao thông đường biển (tức hải trình học lịch sử) là góc nhìn giao thông từ biển góp phần soi sáng một mảng miếng vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Với những nghiên cứu gần đây, tiêu biểu như Li Tanna (1996), nhóm Nghiên cứu Thương mại Châu Á (2006-2014), hải trình học hẳn nhiên đã đóng một vị trí tối quan trọng để tạo nên hai xu hướng lịch sử then chốt trong tiến trình lịch sử Việt Nam: thứ nhất hải trình duyên hải là con đường Nam tiến của người Việt trong suốt ngàn năm lịch sử để tạo nên một dải bờ biển 3200 km như ngày nay; thứ hai là hải trình khu vực (với mạng lưới bản đồ được thiết lập) để Việt Nam trong lịch sử hòa vào dòng chảy hải thương thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa. Tuy nhiên, trong khi, mạng lưới bản đồ hải trình quốc tế đã được xác lập bởi nhiều học giả quốc tế, thì mạng lưới hải trình nội địa lại chưa được quan tâm một cách đúng mức theo góc nhìn đoạn đại và lịch đại.      Chính sách an ninh biển (Maritime Security policy Studies)  An ninh biển luôn là một vấn đề liên quan đến sự tồn tại/ sống còn của một thể chế biển, dù thể chế đó là một quốc gia duyên hải, hay một quốc gia biển, và cả đế chế biển. Để giữ được tình hình an ninh duyên hải cũng như ngoài biển, các triều đại Việt Nam trong lịch sử luôn thực thi các chính sách an ninh để củng cố sự cai trị của mình không chỉ trên lục địa mà cả phía hải dương. Các chính sách đó có thể liên quan đến lực lượng hải quân, và các chính sách kinh tế- văn hóa hữu quan. An ninh biển là vấn đề được đặt ra ở mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi thể chế. Nghiên cứu chính sách an ninh biển cũng như hệ thống phòng thủ biển, lực lượng hải quân, lực lượng đồn bốt cửa biển (tấn bảo)… nói chung sẽ góp phần dựng nên một bức tranh tương đối bao quát về lịch sử an ninh.      Bản đồ học lịch sử  Bản đồ học lịch sử là một chuyên ngành nghiên cứu lịch sử bản đồ và các phương thức quan trắc, trắc đạc, trắc địa, đồ họa các tác phẩm bản đồ cổ trong lịch sử. Bản đồ học lịch sử thuộc phạm vi phân môn của khoa học đo đạc và bản đồ.  Những nguồn sử liệu Hán Nôm cho thấy, ít nhất từ thế kỷ XI- XII, nhà Lý đã tiến hành cho vẽ bản đồ núi sông. Thực tế, đó là điều hoàn toàn có thể xảy ra, bởi bản đồ học và khoa vẽ bản đồ có ý nghĩa và chức năng rất quan trọng đối với mọi thể chế nhà nước. bản đồ được dùng để quản lý hành chính đất nước, để xác lập hệ thống phòng thủ cả ở biên giới đất liền và các cửa ngõ ngoài biển (hải khẩu và hải đảo). Bản đồ được dùng để phục vụ cho chế độ quản lý các nước phụ thuộc, với chính sách ki mi truyền thống. Trong đó, “cống bản đồ” được coi như là một định chế bắt buộc đối với tất cả các nước phiên dậu. Như vậy, khoa bản đồ học là một khoa học cơ bản và then chốt, đối với việc quản lý, phòng thủ, thậm chí đối với cả việc bành trướng/ mở rộng lãnh thổ. Bản đồ không chỉ được dùng trong phạm vi chính trị- quân sự mà còn trở thành một tri thức nền tảng đối với mọi cộng đồng dân cư trong quá trình giao lưu văn hóa, tiếp xúc văn hóa.  Thường thì ngành bản đồ học lịch sử hay bị nhập vào phạm vi của địa lý học lịch sử. Nhưng cần thiết phải phân biệt ranh giới giữa hai ngành này. Nếu như địa lý học lịch sử nghiên cứu về diên cách (thay đổi, và sự bất biến) về địa danh hành chính theo chiều lịch đại, thì bản đồ học lịch sử nghiên cứu về các cơ sở khoa học, các phương pháp quan trắc đo đạc, các tiêu chuẩn, các kỹ thuật và quy trình đồ họa bản đồ (vẽ và in) cũng như lịch sử của ngành này. Như thế, xét ở khía cạnh vật chất, bản đồ học lịch sử có mối quan hệ mật thiết với văn bản học, thư tịch học, mộc bản học,… Còn nếu xét ở phương diện khoa học, thì ngành bản đồ học lịch sử (ở Việt Nam) lại liên quan mật thiết đến một số ngành khoa học như: chiêm tinh học, thiên văn học, thủy văn học,…  Kể từ sau Trần Nghĩa và Whitmore, cũng có một số nghiên cứu khác về bản đồ song những thành quả của những ngành này còn khá hạn chế so với nhu cầu hiện nay.         Hải thị học (đô thị biển)  Hải thị học lịch sử là chuyên ngành thuộc phân môn của đô thị học lịch sử. Chuyên ngành này lấy các đô thị ven biển trong lịch sử làm đối tượng nghiên cứu. Trong đó, các yếu tố của kinh tế biển- văn hóa biển với những vấn đề địa chính trị- địa kinh tế- địa sinh thái được coi là trọng tâm nghiên cứu. Hải thị/ hải cảng/ cảng thị đương niên có mối quan hệ mật thiết với các loại hình đô thị khác trong một khu vực địa lý nhất định như đô thị ven sông, đô thị đất liền. Với tư cách là một vị trí tiền tuyến của một hệ thống cảng thị/ hệ thống thương mại, các đơn nguyên hải thị luôn có mối quan hệ hữu cơ với các hải thị khác và các cảng thị ven sông khác trong một khu vực địa- sinh thái, địa nhân văn của một quốc gia, hoặc nếu ở tầm mức lơn hơn, các hải thị đó còn có mối quan hệ với các hải thị ở các quốc gia khác trong khu vực và thế giới.      Sinh thái học hải dương (Marine Ecology)  Sinh thái học hải dương là một phân môn khoa học nghiên cứu về các hệ vấn đề thuộc sinh thái biển như các loại hình môi trường biển (rừng ngập mặn, đáy biển, đầm phá, ), hệ thực vật, hệ động vật, quần xã sinh vật và những tác động của con người đối với hệ sinh thái nói chung. Từ góc nhìn lịch sử, sinh thái học hải dương sẽ có những đóng góp nhất định về sự biến đổi môi trường đối với các hệ sinh thái biển. Chuyên ngành này thuộc phạm vi lịch sử sinh thái, và đồng thời là một phân môn của khoa học lịch sử.  Từ góc độ diễn ngôn, một nguồn sử liệu sẽ chứa đựng nhiều thông tin lịch sử khác nhau, ví dụ như đoạn dưới đây trong sách Xiêm La quốc lộ trình tập lục: “Ngã ba Long Xuyên: (1) một nhánh theo hướng Nam, sông dài uốn lượn, hai bên là rừng cây và dừa nước, ăn thông đến cửa biển Gành Hàu; (2) một nhánh theo hướng Đông Bắc, sông dài uốn lượn, hai bên là dừa nước, thủy trình 1 ngày đến Trại Cá寨 𩵜, hai bên bờ cư dân làm nghề cá.” [Tống Phước Ngoạn 1810/ tb2013: 56, 71]. Những ghi chép như trên là rất thú vị , cho biết các nguồn thông tin về sinh vật, môi trường cũng như sự tương tác giữa con người với các sinh vật sinh thái biển.  Như trên đã phân tích, nghiên cứu Biển Đông, với tư cách là một khoa học đa ngành, và là một bộ phận quan trọng của Việt Nam học. Với 16 chuyên ngành như đã trình bày, việc nghiên cứu biển đông cần phải có những chiến lược dài hơi và có hệ thống, từ việc đào tạo cán bộ khoa học (từ các cấp thạc sĩ, tiến sĩ,…) cho đến triển khai các hệ đề tài cụ thể để phục vụ cho công tác bảo vệ chủ quyền biền đảo nói riêng và chiến lược biển nói chung. Sự hoạch định chính sách vĩ mô về phương diện khoa học cần những chủ trương nhất quán và lộ trình hợp lý để Việt Nam trong tương lai trở thành một quốc gia biển, hoặc cao hơn xa hơn, trở thành một cường quốc biển.    Tài liệu tham khảo  Đào Duy Anh 1964/ tb1997. Đất nước Việt Nam qua các đời: Nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa – Huế,.  Kenneth R. Hall. 1985. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, University of Hawaii Press, Honolulu, pp.169-193.  Nguyễn Bá Ninh. 2012. Kinh tế biển ở các tỉnh Nam Trung Bộ Việt Nam trong hội nhập quốc tế. LATS Kinh tế. Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 179 trang. Mã kho: LA12.0739.3 (Thư viện Quốc gia Việt Nam)  Trần Đức Anh Sơn. 2014. Ngành đóng thuyền và tàu thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn. Nxb Văn hóa – Văn nghệ. Tp. HCM.  Phan Thị Yến Tuyết. 2008. Nghiên cứu văn hóa biển Nam Bộ: tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian. Trong “Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ”. Nxb Từ điển Bách khoa. Hà Nội. Tr.451-467.  Lê Đức Tố. 2010. Hải dương học biển Đông. Nxb Đại học Quốc gia. H.  Nhiều tác giả. Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỉ XVI-XVII, (Viết chung). Nxb. Thế Giới, H., 2007.  John K. Whitmore: The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Đại Việt, Journal of Southeast Asian Studies, 37 (1), February 2006, pp.103  ——–  Chú thích:  [1] Robert Jennings: The acquisition of territory in international law (New York, 1963), chuyển dẫn Charles de Visscher chú thích 2. [theo Từ Đặng Minh Thu 1997/ tb.2014].  [2] Xem Nguyễn Hải Kế. 1984. Đê Hồng Đức và công cuộc khẩn hoang vùng ven biển Nam sông Hồng thời Lê Sơ.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Những chuyến đi của “Gandhi công nghệ”      Mỗi năm GS kinh tế người Ấn Độ Anil Gupta lại có một chuyến hành hương về những vùng nông thôn nghèo khổ nhất để truyền bá tri thức của người nghèo và phát hiện những phát minh sáng chế của họ. Người dân Ấn Độ tôn vinh ông là một “Gandhi công nghệ”. Những chuyến đi khám phá hằng năm của ông đang có xu hướng trở thành một phong trào trên toàn thế giới.     Shod Yatra – Những chuyến đi khám phá    Chiếc máy tuốt lúa của anh nông dân Dharnidhar Mahato hoàn toàn không có vẻ gì là một đột phá về công nghệ: nó là sự chắp vá từ khung một chiếc xe đạp gỉ chỉ còn một bàn đạp và cái trống làm bằng những mẩu gỗ và mảnh sắt tây lấy từ vỏ đồ hộp.    Tuy vậy GS Anil Gupta tỏ ra rất phấn khởi. Ông nói to để những người nông dân và các em học sinh ở làng Balakdih tụ tập xung quanh ông đều nghe rõ:” Quả thật, đây là một phát minh tuyệt vời”.  Làng Balakdih cách thành phố Kalkutta khoảng 7 giờ ô tô. Ở đây không có điện lưới, đường xá đầy ổ gà. đi lại hết sức khó khăn. Những mảnh ruộng trồng lúa manh mún, thửa to, thửa nhỏ đan xen nhau. Đồng đất ở đây xấu đến mức sau vụ gặt, nếu không bị đói là người nông dân đã vui mừng lắm rồi. Có lẽ không một ai nghĩ đến chuyện đưa tiến bộ kỹ thuật tới vùng “chó ăn đá gà ăn sỏi” này. Thế mà vị GS của một cơ quan nghiên cứu danh tiếng Indian Institute of Management lại cất công đến đây để tìm ý tưởng và những sáng chế phát minh.  Ông tìm những sáng chế tương tự chiếc máy tuốt lúa của anh nông dân Dharnidhar Mahato. Người nông dân này nói “Ở các cửa hàng người ta có bày bán máy tuốt lúa đạp bằng chân. Nhưng giá một cái máy lên tới 3000 rupie.” Trong khi đó chi phí làm ra chiếc máy của anh chỉ hết có 500 Rupi (khoảng 230.000 đồng VN) nhưng năng suất tuốt lúa lại cao gấp đôi so với cái máy đắt tiền bán trên thị trường. Giáo sư Gupta nói “Rõ ràng cái máy này là một sự đột phá, vì còn có nhiều người nông dân vẫn đập lúa bằng tay như tổ tiên họ từng làm từ trên 3.000 năm nay.” Những người nông dân vỗ tay rào rào trong khi “nhà sáng chế” Mahato ngượng ngùng, đỏ mặt khi được khen ngợi và nhận bằng khen từ vị GS danh tiếng.    Anil Gupta (giữa) giới thiệu chiếc xe đạp lội nước với ông Deepak Shourie (trái), giám đốc Discovery Networks và Raghunath Anant Mashelkar (phải), Ủy viên Hội đồng Khoa học và Nghiên cứu.  Làm sao có thể tiếp cận với sự hiểu biết, kinh nghiệm của những người không biết đọc báo, không có điện thoại và chẳng bao giờ rời khỏi làng quê mình ? Câu trả lời của Gupta là: “Shod Yatra” – những chuyến đi khám phá. Từ mười năm nay, ông và các cộng sự mỗi năm có hai chuyến đi từ 200 đến 300 km, mỗi đợt kéo dài mười ngày qua các làng quê ở Ấn Độ để phát hiện sáng chế phát minh của người nghèo và ghi chép về những kinh nghiệm vô cùng phong phú của họ. Thí dụ họ gieo loại hạt gì? Cách thức chữa bệnh của họ cho người cũng như gia súc như thế nào? Gupta lưu những thông tin này vào on-line database (dữ liệu trực tuyến) của Honey Bee Network (Mạng Ong mật) – dự án phi lợi nhuận thu thập và quảng bá kinh nghiệm của nông dân do ông sáng lập.  Vì ở nông thôn hầu như rất ít người có máy tính và nối mạng Internet nên Gupta luôn mang theo máy tính xách tay chứa ngân hàng dữ liệu. Khi thấy người dân ở địa phương nào đó đang vật lộn với những khó khăn mà nơi khác đã tìm được phương án giải quyết, ông mời mọi người xem trong máy tính của mình. Bằng cách này ông đã giới thiệu cho người nông dân cách lắp đặt máy bơm nước hoặc cách dùng phân trâu bò để sản xuất ra điện vv…  Chuyện về cái máy bơm nước hoặc cái máy tuốt lúa mà Gupta vừa phát hiện gần đây là điển hình về sáng chế được phát hiện qua những chuyến đi khám phá. Người ta thường làm ra cái họ cần. Một cô gái ở miền nam Ấn Độ đã lắp một cái máy giặt đạp chân. Một người đàn ông ở vùng núi Assam đã dùng lò so, bánh răng và các thanh truyền lực để truyền lực từ yên xe, mỗi khi xe bị xóc, tạo thêm lực đẩy cho xe đạp – Gupta coi đây là một sáng tạo vì người ta biết biến trở lực thành lợi thế cho mình.  Hiểu thấu nông dân  Ngày nay, khi nền kinh tế Ấn Độ đang có sự tăng trưởng mạnh mẽ, liệu Shod Yatra có còn cần thiết nữa hay không?  Trước câu hỏi đó, GS Gupta cười buồn bã: “Các bạn hãy xem người dân ở làng Balakdih có những gì? – Họ chẳng có gì cả. Chúng tôi đã đi ba ngày qua biết bao làng quê. Các bạn có biết chúng tôi thấy bao nhiêu trạm y tế trong những ngày qua? Không có một trạm xá nào, bất chấp ở nông thôn có biết bao thứ dịch bệnh, từ bệnh sốt rét cho đến bệnh phong, bệnh lao và bao bệnh khác”  Vị GS 55 tuổi, sau khi đi một chặng đường 8 tiếng đồng hồ, có ba cuộc tiếp xúc với dân làng vẫn hăng hái phăm phăm đi đầu. Ông phàn nàn “Nhiều nhà sáng chế còn rất e dè, họ chỉ đăng ký các sáng chế phát minh khi họ biết chúng tôi thực sự hiểu thấu cuộc đời họ.” Đoàn của GS Gupta thường qua đêm ngay trên nền nhà các trường học ở rải rác các địa phương mà họ đi qua.  Shri Prem Singh ở miền bắc bang Haryana là một nhân chứng về việc cho dù không được học hành người dân nghèo vẫn có thể sáng chế những máy móc tuyệt vời. Người đàn ông này đã có tới 150 sáng chế, trong đó có việc điều khiển hệ thống máy bơm nước từ xa bằng điện thoại di động (ở Ấn Độ điện thoại di động rất rẻ). Ban đêm khi thình lình có điện, người nông dân có thể nằm nhà mà vẫn điều khiển được trạm bơm. Ông Gupta nói “Không có nhà sản xuất điện thoại di động nào lại nghĩ đến chuyện dùng “handy” để điều khiển từ xa như thế!”.  Mỗi nhà sáng chế được Gupta phát hiện đều có quyền tự quyết định cho phép tự do sử dụng sở hữu trí tuệ của mình hay nhờ ông giúp để đăng ký bản quyền. Gần đây tổ chức Sristi của GS Gupta tung ra thị trường một số loại thuốc thú y và thuốc trừ cỏ dại chiết xuất từ thực vật- đây là kết quả các chuyến di thực tế của đoàn. Khoản lợi nhuận được chia cho người phát minh, cho địa phương và một phần nộp vào quỹ sáng tạo của Sristi.  Giáo sư Gupta lo lắng rằng người dân nông thôn rồi đây sẽ lãng quên những kiến thức, kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay nhiều người nông dân chỉ còn biết dựa hoàn toàn vào những loại hạt giống do các công ty giống cây trồng cung cấp. Đây là những loại giống cao cấp, nhưng nhiều khi các giống đó không chịu được hạn hán trong khi bản thân người nông dân cũng không còn nhớ đến các loại giống chịu hạn của địa phương có từ nghìn xưa, nay bị mai một và chỉ còn ít người biết đến. Để chống lại tình trạng lãng quên này, đoàn của GS Gupta thường tổ chức các cuộc thi với sự tham gia của đông đảo dân làng, như yêu cầu nêu tên các loại giống của địa phương. Đoàn của ông cũng dùng máy phóng giới thiệu những phim ngắn về các phương pháp khôn ngoan ở các vùng khác, như về người dân ở huyện Ri-Bhoi dùng bã cua thối đặt ngoài cánh đồng để nhử côn trùng hại lúa. Những kinh nghiệm quý báu đó nhiều khi chỉ được sử dụng trên một địa bàn hẹp và ngay cả người dân ở xã kế bên cũng không biết.  Các chuyến đi khám phá Shod Yatra được thực hiện ở Ấn Độ đang được các nước khác hưởng ứng. Liyan Zhang, một nhà kinh tế người Trung Quốc thuộc trường đại học tổng hợp Tianjin tham gia chuyến đi khám phá ở Purulia. Bà nói “Tôi muốn học hỏi và thu thập kinh nghiệm tiến hành Shod Yatra để mùa hè tới sẽ tổ chức một chuyến đi khám phá đầu tiên ở Trung Quốc”. Một số cộng sự tham gia Shod Yatra đều mặc áo phông với lô-gô “ggg” có nghĩa là “grassroots go global”. Giáo sư Gupta mơ ước về một mạng lưới tri thức của người nghèo trải rộng trên khắp thế giới và mạng lưới đó cũng có ích đối với giới giàu có. Ông nói “Lối sống của phương Tây với khối lượng chất thải khổng lồ rõ ràng không thể bền vững. Các nước giàu có thể học nhiều ở người nghèo về các phương pháp tái chế chất thải để tái sử dụng.”  Đoàn khảo sát có mặt tại nhà ông lang Govind Chand Mahto. Trên sân nhà ông phơi nhiều loại rễ, củ và lá cây. Vị thầy lang này còn giữ một cuốn sách nhàu nát từ đời ông nội ghi chép các bài thuốc gia truyền. Các cộng sự của Gupta ghi chép những bài thuốc mà ông lang cao tuổi này sử dụng để chữa các bệnh như thương hàn, sốt vàng da và các bệnh đau nhức trong cơ thể. Sau đó tại văn phòng của tổ chức Sristi người ta sẽ xem các loại cây dược liệu này đã được phân loại, mô tả khoa học chưa. Từ nhiều tháng nay doanh nghiệp Matrix Biosciences ở Hyderabad bán ra thị trường 9 loại thuốc diệt cỏ và sâu bệnh hại cây trồng chiết xuất từ thực vật có sự xác thực của Sristi. Trên nhãn các chai thuốc này đều có ảnh và tên tuổi người sáng chế loại thuốc đó nhằm làm cho khách mua hàng thấy được thành quả của sự sáng tạo. Một trong những sản phẩm của hãng Matrix bán ra thị trường dựa vào sáng kiến của một cụ bà 70 tuổi ở miền tây bắc Ấn Độ. Cho đến nay thu nhập bình quân của cụ mỗi năm chỉ khoảng 4 triệu đồng VN. Giờ đây nhờ sản phẩm của cụ bán được ra thị trường nên thu nhập của cụ ít ra cũng có thể đạt năm mươi triệu một năm.  Chiếc máy giặt đạp chân  Thường sau 21 giờ chuyến đi khám phá trong ngày mới kết thúc. Nhiều thành viên trong đoàn lăn ra ngủ nhưng GS Gupta vẫn tranh thủ trao đổi với dân làng. Các cuộc gặp gỡ đó thường được tiến hành ngay trên sân trường. Kết thúc các cuộc trao đổi ông dùng đèn chiếu giới thiệu với bà con nông dân những sáng kiến cải tiến mà ông thu thập được với hy vọng kích thích sự sáng tạo của họ. Khi mọi người đã về hết Gupta ngồi lặng lẽ một mình ở trường học và ngắm nghía đôi chân của mình. Liệu đôi chân này còn có thể rong ruổi bao lâu nữa? Ông tự nhủ: “Hy vọng đôi chân mình còn dẻo dai vì còn biết bao việc phải làm.”      XUÂN HOÀI (Theo Spiegel)                   Từ lâu, qua những công trình nghiên cứu của mình, GS Anil Gupta tin rằng sự hiểu biết và tiềm năng của người dân ở nông thôn lớn hơn nhiều so với sự đánh giá của phần lớn các chuyên gia tư vấn về phát triển cũng như của các quan chức nhà nước.  Từ đó GS Gupta bắt đầu sưu tầm những phát minh, sáng chế của người nghèo và kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng làng xã để giới thiệu rộng rãi làm cho mọi người đều có thể thụ hưởng những thành quả đó. Như con ong mật cần mẫn thu thập phấn hoa Gupta tìm mọi cách thu thập, tích cóp sự hiểu biết và kinh nghiệm của quần chúng để truyền bá rộng rãi và hoàn toàn không vụ lợi. Ông đặt tên cho dự án này là “Honey Bee Network”, hiện đã lưu giữ được 75.000 thông tin vào Honey Bee Database, khoảng 100 ý tưởng đã trở thành sản phẩm có giá trị thương mại.  Cũng có thể nói GS Gupta đã tìm ra một Wikipedia sống cho người nông dân Ấn Độ. Do những ý tưởng đó, tạp chí Business Week Asia đã bình chọn ông là một trong số 50 nhân vật có ảnh hưởng rộng lớn nhất ở Châu Á                              Author                Quản trị        
__label__tiasang Những con cá vây tay cổ      Một ngư dân Indonesia vừa bắt được con cá vây tay (coelacanth), một loài cá cổ xưa mà trước kia được xem là đã tuyệt chủng cùng thời với khủng long.    Con cá vây tay này có chiều dài 131cm, cân nặng 51kg được ngư dân Yustinus Lahama và con trai của mình bắt được vào hôm thứ bảy tuần trước (19/5) tại vùng biển phía bắc tỉnh Sulawesi và giữ lại nuôi trong nhà. Sau đó người hàng xóm của Lahama cho biết đó là một con cá hiếm phải nuôi trong môi trường nước biển. Yustinus Lahama đã đem con cá trở ra biển và nuôi trong một cái lồng nhỏ, tuy nhiên con cá chỉ sống được có 17 giờ.  “Nếu như chúng ta đưa loài cá này ra khỏi môi trường sống của chúng (nằm sâu 60m dưới mực nước biển) thì chúng chỉ có thể sống cao lắm là 2 giờ đồng hồ. Tuy nhiên con cá này sống được tới 17 giờ. Chúng tôi đang tìm hiểu xem tại sao nó có thể sống lâu được như thế”, Grevo Gerung – Giáo sư khoa Thủy sản, trường ĐH Sam Ratulangi cho biết.  Năm 1998, một ngư dân Indonesia khác cũng đã bắt được 1 con cá vây tay ở vùng biển nước sâu phía bắc tỉnh Sulawesi.  Người ta đã phát hiện cá vây tay lần đầu tiên vào năm 1938 tại vùng biển Nam Phi. Trước đó, loài cá này được cho là đã tuyệt chủng cách đây khoảng 65 triệu năm. Cá vây tay là loài cá ăn thịt, chỉ sống ở môi trường nước biển lạnh và ở độ sâu ít nhất 60m so với mực nước biển.  H.Hải (Theo Reuters, Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những con đập Lan Thương trên vùng động đất Vân Nam      Những năm gần đ&#226;y, những trận động đất lớn li&#234;n tiếp xảy ra ở v&#249;ng T&#226;y Nam Trung Quốc với sức t&#224;n ph&#225; rộng lớn l&#224;m nhiều con đập thủy điện trong v&#249;ng bị hư hại; sự kiện n&#224;y đ&#227; khiến ch&#237;nh những học giả v&#224; c&#225;c nh&#224; hoạt động m&#244;i sinh ngay tại Trung Quốc đ&#227; phải gửi một kiến nghị ng&#224;y 12/06/2008 l&#234;n Ch&#237;nh phủ k&#234;u gọi phải duyệt x&#233;t lại sự an to&#224;n của những con đập thủy điện tr&#234;n v&#249;ng địa chấn kh&#244;ng ổn định l&#224; v&#249;ng T&#226;y Nam Trung Quốc, trong đ&#243; c&#243; đề nghị cụ thể l&#224; phải ngưng việc x&#226;y dựng những dự &#225;n đập thủy điện lớn trong v&#249;ng cho đến khi ho&#224;n tất những bước nghi&#234;n cứu về t&#237;nh khả thi v&#224; an to&#224;n của những dự &#225;n đập.    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHUỖI ĐẬP  VÂN NAM  Tuy đã có kế hoạch rất hấp dẫn khai thác sông Mekong rất sớm từ những năm 1970 nhưng vì “thiếu ngân sách” nên mãi tới năm 1980 con đập Mạn Loan/ Manwan đầu tiên cao 99 mét với bức tường thành cao 35 tầng mới được khởi công và 13 năm sau thì xây xong  (1993). Theo tài liệu chính thức của Tỉnh ủy Vân Nam, cho đến năm 2009 thì chuỗi đập trên sông Lan Thương không phải chỉ có 8  mà con số đã lên tới 14 con đập trên dòng chính khúc thượng nguồn sông Mekong, chưa kể vô số những con đập phụ lưu.[1]Tên 14 con đập theo thứ tự từ bắc xuống nam đó là 1/ Liutongsiang; 2/ Jiabi; 3/ Wunenglong; 4/ Tuoba; 5/ Huangdeng; 6/ Tiemenkan; 7/Guongguoqio; 8/ Xiaowan/ Tiểu Loan: hoàn tất 2009; 9/ Manwan/ Mạn Loan: hoàn tất 1993; 10/ Daichaosan/ Đại Chiếu Sơn: hoàn tất; 11/ Nuozhado; 12/ Jinghong / Cảnh Hồng: hoàn tất; 13/ Gunlanba; 14/ Mengsong.  [Sơ Đồ 1]    ĐÂU LÀ TIÊU CHUẨN AN TOÀN CỦA CHUỖI ĐẬP VÂN NAM?– 14 con đập và dự án đập Vân Nam nằm trong lưu vực trên sông Mekong được coi là vùng động đất. –  Theo tiêu chuẩn của tiến sĩ T. Vladut thì động đất có nhiều khả năng xảy ra nơi các con “đập cao hơn 100m” hoặc “hồ chứa có dung lượng lớn hơn 1 x 109 m3“: ít nhất 6 trong 14 con đập Vân Nam có chiều cao hoặc dung lượng hồ chứa lớn hơn giới hạn an toàn của Vladut. [1]– Liệu đã có những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh nào của Trung Quốc về tình trạng địa chất dọc theo con sông Lan Thương chiếm hơn nửa chiều dài sông Mekong, là nơi đang mọc lên một chuỗi 14 con đập khổng lồ Vân Nam? Có rất nhiều lý do để tin là không, bởi vì “mỗi con đập có những đặc tính địa chất duy nhất của nó, mà để hiểu biết cho tới nơi những đặc tính ấy thì tốn rất nhiều thời gian và tổn phí lên tới nhiều triệu USD cho những cuộc khảo sát ấy – McCulley, P.”[2] trong khi Trung Quốc không chỉ thiếu tiền mà còn vội vã đạt chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy điện chiến lược của họ. Hoặc giả nếu có cái gọi là công trình nghiên cứu địa chất trên giấy tờ thì chúng ta cũng có thể biết trước rằng có “những dữ kiện địa chất dù biết trước là bất lợi cũng sẽ bị làm ngơ hay bỏ qua”.     TÊN ĐẬP/ Công Suất         CHIỀU CAO/ Mét      DUNG LƯỢNG HỒ/ MCM*  (1) Gongguoqiao                130 m                                    510                                            750  MW  (2) Xiaowan                   292 m                               15,130                                   4,200  MW  (3) Manwan                     132 m                                    920                               1,500    MW  (4) Dachaosan                   118 m                                    890                                1,350  MW  (5) Nuozhadu                  260 m                               22,740                                5,500  MW  (6) Jinghong                    107 m                                 1,230                                1,350  MW     *MCM: Million Cubic Metre  [Tài Liệu của Wang Shui, Giám Đốc Kế Hoạch Lan Thương Giang Vân Nam] [5]                    Theo một nghiên cứu năm 1990 của Ngân hàng Thế giới/ World Bank thì trong số 49 dự án xây đập thủy điện, có hơn 3/4  số đập gặp phải những “vấn đề về địa chất không tiên liệu được – unexpected geological problems”. Và cuộc khảo sát ấy đã đưa tới kết luận khá bi quan rằng đối với các con đập thủy điện “nếu không gặp các vấn đề trở ngại về địa chất thì phải được coi đó như một ngoại lệ chứ không phải là sự kiện bình thường”. [2]Trước những khiếm khuyết và bất trắc ấy, liệu trên đồ án mỗi con đập Vân Nam Trung Quốc có bao gồm “thiết kế mạng lưới các trạm theo dõi động đất” [network of seismological stations] để liên tục ghi nhận các dao động địa chấn trong suốt quá trình xây đập hay ít ra cũng phải được thiết kế đưa vào hoạt động trước khi bắt đầu lấy nước vào trong mỗi hồ chứa hay không?    An toàn của các con đập với chính cư dân của họ và hàng trăm triệu cư dân của các quốc gia hạ nguồn, liệu có bao giờ  là mối ưu tư của các Công trình sư Trung Quốc khi hình thành dự án chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam? Không hoàn toàn là hư cấu khi nghĩ tới tình huống trận động đất do các hồ chứa khổng lồ Vân Nam trong lưu vực trên sông Mekong, với sức tàn phá khủng khiếp của cơn hồng thủy. Vỡ đập sẽ cuốn đi bao nhiêu thành phố và bao nhiêu vạn sinh linh của Vân Nam và các quốc gia vùng hạ lưu? Sắp qua đi thập niên đầu của của thế kỷ 21, chuỗi 14 con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam sẽ là “lưỡi gươm Damoclès” buộc trên sợi chỉ mành thường trực treo trên đầu trên cổ cư dân của năm quốc gia hạ nguồn là Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.Dù con đường còn lắm chông gai, nhưng việc phấn đấu để tiến tới một “Ủy hội sông Mekong mở rộng” bao gồm cả Trung Quốc và Myanmar là bước tiên quyết để có một cơ quan điều hợp hữu hiệu cho toàn vùng trong kế hoạch vĩ mô “Phát triển bền vững” nguồn tài nguyên phong phú của sông Mekong.   TỪ CON ĐẬP ASWAN TỚI ĐẬP TIỂU LOANVới chấn động thì hơn 160 tỉ m3 nước từ con đập Aswan, bất chợt bung qua khúc vỡ của hồ chứa cao hơn 100m. Trong khoảnh khắc lượng nước khổng lồ trong hồ chứa dài 500 cây số đã đồng loạt trút xuống. Thị trấn đầu tiên cách đó chưa đầy ba dặm bị ngay sức đập khủng khiếp như sức tàn phá của một ngọn sóng thần. Thế rồi bức tường thành nước cao hơn 30m ấy cứ lừng lững đi tới dìm ngập phố xá ngập cả những tòa nhà cao mười tầng, băng qua và cuốn đi các vùng dân cư. Ngày thứ sáu con nước cuồng nộ ấy tới được thủ đô Le Caire bên đông ngạn con sông Nile, vẫn với nguyên sức mạnh của 15m nước cao… Đó là scenario từ cuốn tiểu thuyết Aswan của nhà văn Đức Michael Heim, không phải chỉ là hư cấu mà dựa trên những khảo sát cơ học vững chắc. Mô  tả chi tiết về khả năng một thảm họa vỡ đập Aswan bị cấm phổ biến vì giới quân sự Ai Cập lo sợ đó như gợi ý cho một âm mưu khủng bố; Thứ trưởng Bộ Thủy lợi Ai Cập đã mô tả thảm họa ấy “Giống như trận Hồng thủy kéo dài suốt 40 ngày đêm đã được ghi lại trong Kinh thánh”…  Gần gũi với chúng ta hơn là bài học Trung Quốc, với một thảm họa có thật tại Hà Nam năm 1975. Nơi có hai con đập Bản Kiều/ Banquiao và Thạch Mãn Đàm/ Shimantan trên sông Hoài/ sông Huai, một phụ lưu của sông Dương Tử. Đập Bản Kiều do Liên Xô xây dựng, được coi như một con đập sắt thép kiên cố có khả năng đứng vững với trận lụt ngàn năm. Nhưng chỉ với cơn mưa lũ lớn suốt hai ngày, mực nước trong đập đã ngập tới mức tối đa cho dù các ống thoát được mở ra nhưng lại bị nghẽn bởi các chất lắng và hậu quả là đập Bản Kiều bị vỡ với 5 triệu m3 nước từ hồ chứa đổ ập xuống các thung lũng cuốn phăng đi các làng mạc và thị trấn phía dưới, con đập sắt thép thứ hai cũng bị vỡ ngay sau đó… Tổng cộng có 62 đập bị vỡ trong trận bão lụt năm đó làm thiệt mạng 230 ngàn người. Không có gì bảo đảm rằng một thảm họa vỡ đập do động đất sẽ không thể xảy ra trên khúc thượng nguồn sông Mekong, khi mà ai cũng biết Vân Nam là vùng nhiều động đất. Nếu sông Mekong là mạch sống của hàng trăm triệu cư dân, nước sông Mekong là máu của đất, thì mỗi con đập Vân Nam là một “gót chân Achilles” cho toàn vùng, và mối thảm họa do chính con người gây ra sẽ lớn hơn gấp bội so với tai ương từ thiên nhiên…————* BS. California, MỹTham Khảo:1/ Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000. 2/ Patrick McCully. Silenced Rivers: The Ecology and Politics of Large Dams. Zed Books, Ltd. London 1996.3/ Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. The mekong Choke Point. Far Eastern Economic Review, Oct 12, 2000.4/ E.C Chapman, He Daming. Downstream Implications of China’s Dams on the Lancang Jiang and their Potential Significance for Greater Regional Cooperation, Basin-Wide. Workshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996. 5/ Wang Shui. The Lancang Jiang basin: Steps Towards the Realisation of Sustainable Development. Worshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996.6/ Chinese environmentalists and scholars appeal for dam safety assessments in geologically unstable south-west China. Diyi Caijing Bao,  June 12, 2008. [Probe International]      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những con đường La Mã đặt nền tảng cho sự thịnh vượng thời hiện đại      Ngay cả khi đã tồn tại hơn 2.000 năm kể từ khi những mạng lưới đường La Mã cổ đại được xây dựng, vẫn có những kết nối rõ ràng giữa các tuyến đường này và sự thịnh vượng ngày nay. Trong một nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về tầm quan trọng của mạng lưới đường xá La Mã trong việc duy trì hoặc làm giảm sự thịnh vượng qua nhiều thế kỷ.    Các mạng lưới đường xá La Mã là những công trình gây ấn tượng, trong thời kỳ đỉnh cao, hệ thống này dài tới 80.000 ki lô mét. Chúng được xây dựng không phải vì những lý do kinh tế mà là để những cánh quân di chuyển tới rất nhiều khu vực khác nhau của đế chế 1. Người ta không mấy quan tâm đến hệ thống đường cũ hơn hoặc nối đến các làng xã ở dọc bên đường. Dẫu vậy thì những con đường La Mã cuối cùng cũng được sử dụng cho thương mại, vận tải và dần trở thành mối kết nối giữa các thị trường buôn bán mới nổi và đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế.  Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học tìm hiểu tầm quan trọng của các con đường La Mã cổ đại như những kênh chuyển giao sự thịnh vượng, để hiểu sâu hơn tại sao những nơi từng phát đạt 2000 năm trước lại có xu hướng đem lại thịnh vượng kinh tế lớn hơn cho đến tận ngày nay.  Đóng góp vào sự tập trung của các đô thị  Để thực hiện nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã thêm các bản đồ mạng lưới đường xá của đế chế La Mã vào các bức ảnh vệ tinh chứng tỏ cường độ ánh sáng vào đêm – một cách chứng tỏ hoạt động kinh tế ở các vùng địa lý. Sau đó họ phân chia bản đồ vào một lưới, mỗi ô đo đạc các con đường La Mã và so sánh nó với cơ sở hạ tầng, mật độ dân số và hoạt động kinh tế ngày nay.  “Kể từ đó đã có nhiều thứ xảy ra, rất nhiều thứ đã phải thích ứng với các hoàn cảnh hiện đại. Nhưng ngạc nhiên là kết quả chính của chúng tôi là các con đường La Mã đã có đóng góp với sự tập trung của các thành phố và hoạt động kinh tế dọc theo chúng, ngay cả khi chúng đã không còn hữu dụng và được các con đường mới bao phủ”, Ola Olsson, giáo sư kinh tế trường Kinh doanh, kinh tế và luật tại trường đại học Gothenburg, và là một trong số các tác giả nghiên cứu, cho biết.  Một câu hỏi quan trọng về nguyên nhân và kết quả trong nghiên cứu này là liệu việc người La Mã xây dựng những con đường ở các khu vực có các hoạt động kinh tế nhộn nhịp hay liệu những con đường đó đem lại sự tăng trưởng kinh tế cho nó.  “Đó là thách thức lớn trong toàn bộ phạm vi nghiên cứu. Điều khiến nghiên cứu này trở nên thú vị là bản thân những con đường đó đã biến mất và sự hỗn độn ở Tây Âu sau sự sụp đô của đế chế La Mã có thể là một cơ hội để tái định hướng các cấu trúc kinh tế. Bất chấp điều đó, mẫu hình đô thị vẫn được giữ lại”, Ola Olsson nói.  Sự phát triển tệ hơn ở phía Đông  Một sự thật khác đã ủng hộ cho những phát hiện của nghiên cứu là những gì diễn ra trong những phần phía Đông của đế chế La Mã, Bắc Phi và Trung Đông, nơi những bánh xe vận chuyển về cơ bản bị cấm trong thế kỷ thứ 4 đến thứ 6 để thay thế bằng các đoàn lữ hành lạc đà. Các con đường La Mã trong vùng này ngày một ít được sự dụng và trở nên hư hỏng. Do đó, tương phản với các phấn phía Tây của vương quốc, những con đường mới không được xây dựng trên những con đường cũ nữa.  “Các con đường trở nên không còn thích hợp và do đó chúng tôi không thấy sự nối tiếp thịnh vượng tương tự ở các nơi. Có thể nói, khu vực này đã bị ảnh hưởng bởi cái gọi là “sự đảo ngược vận may” – nhiều thế kỷ trước khi nền văn minh phát triển, như Iraq, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển kinh tế tệ hơn đáng kể so với nhiều quốc gia ở phạm vi ngoài”, Ola Olsson giải thích.  Những đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể đem đến những hệ quả kinh tế lớn trong nhiều thập kỷ và nhiều thế kỷ sau khi chúng được xây dựng như thế nào đóng vai trò quan trọng để hiểu sâu về việc tại sao một số vùng lại phát triển hơn so với vùng khác, Ola Olsson nói. Tuy nhiên những kết quả này cũng có vai trò quan trọng như một nền tảng cho những quyết sách về cơ sở hạ tầng ngày nay.  “Ví dụ ở Thụy Điển, chúng tôi thảo luận về việc xây dựng những tuyến đường sắt mới. Tuyến đường cũ từ thế kỷ 19 đã góp phần quan trọng vào hoạt động kinh tế ở Thụy Điển. Việc xây dựng các tuyến đường sắt mới đang được trao đổi và nếu được thực thi thì người ta có thể chờ đợi đến khả năng đem lại một cú thúc đẩy kinh tế cho một số cộng đồng dân cư”.  Nghiên cứu được xuất bản tại tạp chí Journal of Comparative Economics, “Roman roads to prosperity: Persistence and non-persistence of public infrastructure” 2.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-11-roman-roads-laid-foundation-modern-day.html  https://www.gu.se/en/news/roman-roads-laid-the-foundation-for-modern-day-prosperity  ———————————–  1. https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/phat-hien-con-duong-quan-su-la-ma-co-dai-643/  2. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0147596722000269?via%3Dihub    Author                .        
__label__tiasang Những con khủng long nhỏ nhất      Tại sa mạc Gobi, Clarke-nhà cổ sinh vật học tại Đại học bang North Carolina, Mỹ-và cộng sự đã phát hiện một con khủng long dài 60 cm, Mahakala omnogovae.      Tương tự, một con khủng long đầu to tên là Micropachycephalosaurus cũng chỉ dài 60 cm. Với chiều dài 38 cm và nặng chưa tới 170 gram, sinh vật mảnh khảnh Parvicursor được coi là khủng long không thuộc họ chim nhỏ nhất thế giới. “Chim chính là một nhánh của khủng long còn tồn tại đến ngày nay”, Julia Clarke giải thích.   M.T. (Theo Livescience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những con tê tê làm lây lan 2019-nCoV cho con người?      Các kết quả giải trình tự gene của những con virus bị phân lập từ các con vật có lớp vẩy xếp này tương đồng tới 99% so với virus được lưu hành này, tuy nhiên công trình nghiên cứu về sự tương đồng này vẫn còn chưa được xuất bản một cách chính thức.      Các nhà nghiên cứu tại Quảng Châu, Trung Quốc, đã đề xuất là con tê tê (hay còn gọi là con trút) – một loài động vật có vú mũi dài, chuyên ăn kiến và thường đường dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc – có lẽ là nguồn động vật gây phát dịch bệnh coronavirus đang làm lây nhiễm cho hơn 30.000 người trên toàn thế giới.  Các nhà khoa học cho biết, đề xuất này, trên cơ sở một phân tích di truyền, dường như có vẻ hợp lý – nhưng cảnh báo công trình của các nhà khoa học đó vẫn còn chưa được xuất bản một cách đầy đủ. “Đây là một quan sát vô cùng thú vị. dẫu chúng ta cần đọc thêm nhiều chi tiết thì nó cũng có ý nghĩa vì hiện có một số dữ liệu mới xuất hiện cho thấy tê tê mang các virus có mối liên quan gần gũi với 2019-nCoV,” Edward Holmes, một nhà vi trùng học tiến hóa tại trường đại học Sydney, Australia, nhận xét.  Việc nhận diện được nguồn động vật của 2019-nCoV, là một trong những câu hỏi cốt yếu mà các nhà khoa học đang chạy đua để tìm câu trả lời. Các coronavirus mà chúng ta đã biết thường lưu hành giữa các loài động vật có vú và chim, và các nhà khoa học ban đầu đề xuất nCoV-2019 khởi đầu từ dơi, do dựa trên sự tương đồng về trình tự di truyền của nó với những con coronavirus đã được biết khác, vốn là nguyên nhân gây dịch SARS, lan truyền từ dơi sang cầy và cuối cùng đến người.  Hiện tại, trường đại học Nông nghiệp Nam Trung Quốc tại Quảng Châu cho biết, hai nhà khoa học đang làm việc tại đây là Shen Yongyi và Xiao Lihua đã nhận diện được các con tê tê là nguồn tiềm năng của nCoV-2019 dựa trên cơ sở một so sánh di truyền các coronavirus được lấy từ động vật và từ người đã bị lây nhiễm bệnh dịch và những phát hiện khác. Các trình tự gene này tương đồng nhau tới 99%, các nhà nghiên cứu công bố trong một buổi họp báo vào ngày 7/2/2020.  Một ứng viên tốt  Trước đây, các nhà nghiên cứu đã lưu ý rằng những con coronavirus có thể là nguyên nhân gây tử vong ở tê tê, và nCoV-2019 cùng các coronavirus từ tê tê sử dụng các thụ thể với sự tương đồng về các cấu trúc phân tử để lây nhiễm các tế bào.  Ngay cả trước thời điểm ngày 7/2 thì tê tê đã được coi là một ứng cử viên tiềm năng cho vị trí loài trung gian của virus, vì vậy thật thú vị khi các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một trình tự gene gần gũi, David Robertson, một nhà vi trùng học tính toán tại trường đại học Glasgow, Anh, nói  Các con tê tê là loài động vật đang được bảo vệ nhưng do các hoạt động buôn bán bất hợp pháp vẫn lan rộng nó cũng  như một số loài khác ở trong tình trạng nguy hiểm. Chúng bị bán bởi thịt và các lớp vẩy hữu dụng với y học cổ truyền Trung Quốc, ví dụ như để điều trị các bệnh ngoài da, chứng rối loạn kinh nguyệt và viêm khớp. Luật pháp Trung Quốc tuyên bố ai buôn bán tê tê có thể bị chịu mức án phạt thấp nhất là 10 năm tù.  Chủng coronavirus này xuất hiện tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12/2019 và được nghĩ là nhảy sang người tại một chợ bán hải sản và động vạt hoang dã, nơi nhiều người trong nhóm những người đầu tiên bị lây nhiễm. Tê tê không được thống kê trong bản kiểm kê các hạng mục được bán tại chợ – việc buôn bán bất hợp pháp tê tê  có thể giải thích cho sự vắng mặt này.  Tháng trước, các nhà khoa học tại Bắc Kinh tuyên bố rắn là nguồn xuất phát của nCoV-2019 nhưng giả thuyết đó bị nhiều nhà khoa học khác bác bỏ.  Shen và Xiao chưa phản hồi câu hỏi của Nature, nhưng Liu Yahong, hiệu trưởng trường Nông nghiệp Nam Trung Quốc, nói trong buổi họp báo là kết quả nghiên cứu có thể được công bố sớm để hỗ trợ các nỗ lực kiểm soát dịch bệnh.  Các nhà khoa học hi vọng bài báo này sẽ đề xuất những chi tiết, bao gồm nơi họ tìm ra các con tê tê với virus tương đồng virus gây bệnh dịch. Arinjay Banerjee, một nhà nghiên cứu về coronavirus tại trường đại học McMaster ở Hamilton, Canada, nói chi tiết cốt lõi khác là nơi trên những con tê tê mà các nhà nghiên cứu tìm thấy mang virus – ví dụ, liệu được phân lập từ các mẫu máu hay các miếng gạc quét trực tràng. Thông tin này sẽ giúp xác định nó có thể truyền sang người như thế nào và cách các lan truyền có thể được ngăn chặn trong tương lai.  “Tôi có thể tin tưởng một cách dứt khoát nó có thể là sự thật”, Kristian Andersen, một nhà miễn dịch học và sinh học tính toán tại Scripps Research ở La Jolla, California, nói. Andersen cho biết anh đã so sánh các trình tự gene của virus trên tê tê đã được công khai và thấy là chúng tương đồng với nCoV-2019. “Tôi háo hức chờ bài báo được xuất bản và cả dữ liệu nữa”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00364-2       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những công nghệ nào cần chuyển giao, theo chính sách nào?      Trong Hội nghị đại biểu QH chuyên trách, các ý kiến thảo luận về dự án Luật Chuyển giao công nghệ đã cho rằng không nên cụ thể hoá việc chuyển giao công nghệ từ nước ta ra nước ngoài hay ngược lại, vì sắp tới theo tiến trình hội nhập kinh tế thế giới sẽ không còn ranh giới đó nữa. Một số ý kiến lại đề nghị quy định rõ những chính sách cụ thể của Nhà nước để thúc đẩy chuyển giao và phát triển thị trường công nghệ.    Có hai loại ý kiến khác nhau về quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ quốc gia. Một số cho rằng Quỹ có chức năng chủ yếu hỗ trợ kinh phí nghiên cứu KHCN cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo. Nhưng một số khác lại đề nghị, không cần lập Quỹ hỗ trợ này mà chỉ cần bổ sung chức năng, nhiệm vụ và vốn cho Quỹ phát triển KH&CN quốc gia.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những cừu chị em của cừu Dolly vẫn khỏe dù đã cao tuổi      Mặc dù những chị em của cừu Dolly gồm: Debbie, Denise, Dianna và Daisy đều đã 7 đến 9 tuổi, tương đương với 60 đến 70 tuổi ở người, và là những động vật có vú đầu tiên được nhân bản vô tính, nhưng đến nay chúng vẫn trong tình trạng sức khỏe khá tốt, ngoại trừ bệnh viêm khớp nhẹ.      Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Nature Communications sau vài tuần sau khi các nhà nghiên cứu về phôi trên thế giới nâng cốc chúc mừng lễ kỷ niệm 20 năm ngày Dolly ra đời vào ngày 05 tháng 07 năm 1996 và đã mất vào năm 2003.  Phương Thảo lược dịch theo CNN    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều giả định trước và những giới hạn của khoa học      LTS. Khoa học có những giới hạn và những giới hạn đó là từ bản chất bên trong của nó. Sinh thời, nhà vật lý Đặng Mộng Lân giành nhiều thời gian quan tâm nghiên cứu vấn đề này và ông đã có nhiều bài viết, bài dịch thuật giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát để theo dõi sâu hơn về bản thân khoa học cũng như về những gì không phải là khoa học.  Nhân ngày giỗ đầu của ông, xin giới thiệu với độc giả một trong những bài dịch thuật của ông về vấn đề trên.      Các giới hạn của khoa học được đặt ra bởi bản chất bên trong của nó, bản chất này làm cho nó là nó, và bởi các điều giả định trước (hay tiền giả định – presuppositions) của các hội con người, các điều giả định trước này tác động đến sức sống của nó và ngay cả chính sự tồn tại của nó. Hoạt động của khoa học cũng bị giới hạn bởi chính chủ đề của nó, quan điểm của nó, các kỹ thuật của nó và các tiêu chí về ý nghĩa của nó. Ta còn có thể xác định hơn nữa các giới hạn của khoa học bằng cách xem xét một số lĩnh vực hoạt động vượt ra ngoài khoa học.  Bản chất của khoa học      Không thể định nghĩa khoa học bằng một công thức rành mạch và đơn giản; nó là một cuộc phiêu du rộng lớn nhiều hình nhiều vẻ của trí tuệ con người, liên tục bùng lên qua các định nghĩa của các nhà triết học. Trong đó có một định nghĩa cho rằng khoa học là một khối kiến thức tích hợp về chủ yếu là định lượng, khối kiến thức này đã được gom góp lại từ những nỗ lực năng động của con người để hiểu được các  vật xung quanh (surroundings) nó và bản thân nó một cách có hệ thống và có thể giao lưu được. Định nghĩa này xứng đáng được xem xét kỹ lưỡng và tìm hiểu sâu hơn bằng cách xét chi tiết hơn về ý nghĩa của các từ đã sử dụng.   Khi nói một khối tích hợp của kiến thức, ta không chỉ hàm ý là các khái niệm của nó được liên hệ với nhau theo một cách xác định và liên kết, là nó là một cấu trúc, là theo một nghĩa nào đó ta không thể biết cái toàn thể trước khi ta biết tất cả các bộ phận và các quan hệ giữa chúng, và ta không thể biết một bộ phận bất kỳ nào trước khi ta biết ít nhất nó liên hệ với các bộ phận lân cận như thế nào. Ta cũng hàm ý là trong những lĩnh vực phát triển hơn của khoa học, các quan hệ đó luôn luôn là định lượng và có thể biểu thị được theo các thuật ngữ toán học chính xác.  Khoa học là kiến thức theo nghĩa nó là khách quan và bền lâu, vì một cách chính xác, nó là sự nắm được về trí tuệ một thực tại tồn tại độc lập với việc thực hiện kiến thức và hành động của người có kiến thức. Do đó kiến thức khoa học một khi được xác lập sẽ luôn luôn có giá trị, dù rằng các tiến bộ sau đó có thể sẽ làm cho nó tinh tế hơn và sâu sắc hơn rất nhiều, đặc biệt là theo nghĩa định lượng. Điều này không có nghĩa là có thể dễ dàng biết được khi nào thì một mảnh kiến thức cụ thể đã thực sự được xác lập theo nghĩa khoa học. Nghiên cứu khoa học là một việc khó, các nhà khoa học là những con người có thể sai, và bất kỳ cái gì có thể tưởng tượng được mà có thể sai thì rất có nhiều khả năng trở thành sai ở một giai đoạn nào đó. Nhưng sức mạnh to lớn của nghiên cứu khoa học là nó tự sửa chữa, chủ yếu vì nó là đối tượng của những cuộc thử nghiệm định lượng. Một quá trình kiểm tra đi kiểm tra lại rộng lớn đang diễn ra ở mọi thời gian, được trợ giúp bởi một cấu trúc kiến thức khoa học tích hợp, và sớm hay muộn thì một kết quả sai hay một kết luận không có lý do xác đáng sẽ được nhận ra nó là cái gì. Mặc dầu thiên về sai lầm, nỗ lực khoa học cuối cùng là ổn định xung quanh trục chân lý, đặc biệt là ở chừng mực mà nó quan tâm đến các quan hệ định lượng. Nhà khoa học lo sợ phạm sai lầm sẽ khó có thể bắt đầu công việc của mình, và sẽ mất lòng tin vào bản chất cuối cùng là tự điều chỉnh của khoa học.  Khoa học quan tâm đến “các vật xung quanh” của con người, và ta hiểu cái này là các vật thể vật chất, các chất rắn, chất lỏng và chất khí. Mà chúng ta thấy được qua các giác quan của chúng ta. Mặc dầu bắt đầu với các giác quan không có trang bị gì, sự tò mò chẳng lúc nào ngơi của nhà khoa học đã đưa họ tới chỗ mở rộng các giác quan của mình bằng rất nhiều loại dụng cụ, thường là có cường độ lớn và độ chính xác cao. Dùng các dụng cụ này, nhà khoa học có thể “nhìn thấy” một dải rộng các hiện tượng, từ các thiên hà ở xa cho tới thế giới nguyên tử và dưới nguyên tử. Các vật xung quanh này bao gồm những người khác cũng như chính nhà khoa học. Nhưng còn các trạng thái tinh thần của ông ta, các giấc mơ của ông ta, các ý tưởng của ông ta, các  hy vọng của ông ta và các nỗi lo âu của ông ta thì thế nào? Đây là một vấn đề khó hơn vì chúng không mở ra trước sự quan sát trực tiếp theo cách giống như các vật thể tự nhiên và khó có thể tuân theo sự đo lường và lượng hóa.  Khoa học phải là “có hệ thống” vì nếu khác đi, nó sẽ không thể tạo ra một khối kiến thức có liên kết. Các quan sát và các phép đo ngẫu nhiên không bao giờ có thể tạo nên hay dẫn đến kiến thức khoa học. Nghiên cứu khoa học phải là có mục đích và được cân nhắc, quan tâm trả lời một câu hỏi cụ thể hoặc xem xét một khía cạnh xác định của thế giới. Khoa học là một cấu trúc cần phải được xây dựng theo một cách có trật tự, mỗi mảnh khớp với cái đã được xác lập.  Khoa học phải là “có thể giao lưu được”. Nó quả thực được xây dựng bởi hàng nghìn con người qua các thế kỷ, mỗi người tiếp tục công việc của những người đi trước họ. Để việc này có thể xảy ra thì bất kể cái gì đã được xác lập phải được công bố dưới dạng mà các nhà khoa học khác có thể hiểu được. Mỗi phần của khoa học đều có nguồn gốc từ một hiểu biết sâu sắc của một người, nhưng hiểu biết này chỉ được đưa vào trong khối khoa học khi nào nó được giao lưu với các nhà khoa học khác và được những người này đồng hóa và thử nghiệm. Như vậy khoa học tồn tại về cơ bản trong trí óc chung của cộng đồng khoa học, và mặc dầu phần lớn điều đó đã được ghi lại trong các cuốn sách và các bài báo, chính trí óc chung mới là cái gìn giữ ý nghĩa của nó và bảo đảm giá trị của nó.  Khoa học là một nỗ lực năng động theo nghĩa nó liên tục trải ra để mở rộng các biên giới của nó và làm sâu sắc thêm kiến thức của nó. Nhà khoa học chắc chắn không thỏa mãn với công việc đơn giản tìm một sự giải thích về các hiện tượng mà ông ta gặp phải hàng ngày, không có một nỗ lực đặc biệt nào, vì nếu không, ông ta đã không phải bận tâm nhiều đến thiết kết những thí nghiệm tinh vi, đặt vấn đề trong những hoàn cảnh và điều kiện rất đặc biệt không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trong tự nhiên. Bản chất năng động của nghiên cứu khoa học thể hiện rõ rệt ở nhu cầu của các nhà khoa học tiến hành các thí nghiệm. Đối với ông ta, sẽ không đủ nếu chỉ đơn giản là quan sát các hiện tượng đã thấy có trong tự nhiên và cố công xây dựng nên khoa học của mình chỉ từ các quan sát đó.  Khoa học đang liên tục phát triển, cả về chiều sâu cũng như về bề rộng, vì các khoa học đã có không ngừng được làm cho sâu hơn, và vì phạm vi của khoa học được mở rộng sang những lĩnh vực mới. Với một danh mục gồm các chủ đề đi từ không thể nghi ngờ được đến rất đáng hoài nghi về khoa học.  Ở đầu danh mục đó là các khoa học vật lý, là lĩnh vực phát triển nhất trong tất cả các lĩnh vực của khoa học. Nó tạo thành một khối kiến thức có hệ thống, tích hợp, chi tiết, chính xác và liên kết về cấu trúc và diễn biến của các vật thể vật chất. Nó là dạng lý tưởng của khoa học không thể nghi ngờ được khiến các ngành khoa học khác ít được tin tưởng hơn thường cố gắng làm cho mình trở nên có giá trị bằng cách chấp nhận các phương pháp và các cách thức của vật lý học ở những chỗ mà chúng thích hợp một cách đáng nghi ngờ.  Sau các khoa học vật lý là các khoa học sinh học, rồi xã hội học, và chính là ở các khoa học sau này mà ta khó có thể nhận ra đâu là biên giới rõ rệt của cái có thể gọi một cách thích đáng là khoa học; chắc chắn nó sẽ không được xem xét ở đây.    Những điều giả định trước của khoa học  Những điều giả định trước của khoa học có thể được đặt ra dưới dạng sắc bén nhất bằng cách hỏi vì sao khoa học lại phát triển ở châu Âu thế kỷ 17 chứ không phải ở bất kỳ nền văn minh lớn nào thời Cổ đại. Babylon và Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã. Tất cả đều đã đạt tới những trình độ văn minh và năng lực công nghệ cao, và đã tồn tại trong hàng trăm năm. Thế nhưng không có một nền văn minh nào trong số đó mà ở đó khoa học đã phát triển được dưới dạng có thể được thừa nhận ngoại trừ có lẽ chỉ ở một ít cá nhân thiên tài, đặc biệt là ở Cổ Hy Lạp.    Vấn đề này có thể được tiếp cận bằng cách tóm tắt các điều giả định trước cần có cho khoa học, và việc này sẽ cho thấy rằng khoa học thậm chí không thể bắt đầu tồn tại nếu như nhà khoa học trong tương lai không nắm được một cách chắc chắn và ngầm hiểu một tập hợp khá đặc biệt và xen lẫn vào nhau những niềm tin về thế giới và về thái độ riêng của ông ta đối với nó. Ông ta cần phải tin rằng thế giới là có trật tự và duy lý (rational),và rằng tính trật tự và tính duy lý (ratyonality) đó là bỏ ngỏ trước trí óc của con người, vì nếu khác, công việc của ông ta sẽ bị kết tội trước là thất bại. Ông ta cần phải tin rằng nghiên cứu thế giới là một việc tốt, và rằng kiến thức mà ông ta thu được là quý báu và còn phải được chia sẻ tự do giữa mọi người. Cuối cùng ông ta cần phải tin rằng trật tự của thế giới là bất ngờ, rằng thế giới có thể đã được tạo dựng một cách khác khiến ông ta không thể hy vọng tìm ra các bí mật của nó chỉ thuần túy bằng ngắm nhìn, mà cần phải ngâm mình trong cuộc quan sát và thí nghiệm đầy khó khăn gian khổ. Vì khoa học là việc làm của nhiều trí óc, những niềm tin này cần phải là của toàn thể cộng đồng, và cộng đồng này phải đủ đông đảo và được phát triển tốt về công nghệ để cung cấp cả các dụng cụ cơ sở của khoa học cũng như các điều kiện thiết yếu về cuộc sống cho các nhà khoa học, để họ có thể cống hiến toàn bộ công việc của họ.  Thật là thú vị nếu hỏi rằng hậu quả sẽ là như thế nào nếu bỏ đi một điều giả định trước nào đó hay tất cả. Có thể nào nghĩ ra một khoa học dựa trên niềm tin là thế giới thì hỗn loạn và không thể tiên đoán được một phần trong vật lý thống kê và cơ học lượng tử- một vấn đề hoàn toàn khác). Trong thế kỷ 20, Eddington đã thử phát triển vật lý học trên cơ sở thuần túy tiên nghiệm (a priori), nhưng cuối cùng đã không thành công. Nếu chúng ta tin rằng khoa học là xấu và cần phải được giữ bí mật thì những ngày của nó chắc chắn là có thể đếm được. Như vậy những điều giả định trước đây của khoa học là cốt yếu và không thể thay đổi được.  Có thể tìm thấy nguyên nhân không phát triển được của khoa học trong các nền văn minh Cổ đại là ở những niềm tin về bản chất của thực tại không nhất quán với các điều giả định trước trên đây. Điều này được minh họa rõ ràng nhất vào thời Hy Lạp Cổ đại.  Tuy có những khởi đầu rực rỡ, khoa học ở đây đã không sinh ra với một sức sống. Trong khi một số người Hy Lạp như Democritus và Anaxagoras tin rằng mọi vật đều có cùng một bản chất vật chất, thì đa số các nhà tư tưởng Hy Lạp, từ Plato đến Ptolemay, lại tin vào tính thần thánh của bầu trời và rằng chuyển động của các thiên thể xác định mọi quá trình trên Trái Đất. Trong bối cảnh của tất định luận tuần hoàn đó, người ta không thể hình dung ra những hạt chuyển động do tác động của một xung hay do chính quán tính của nó. Về phương diện quyết định đó, các thiên tài Hy Lạp không phá vỡ được một điều giả định trước đã ngăn cản sự xuất hiện của khoa học trong tất cả các nền văn minh Cổ đại.  Người Hy Lạp cũng không phá vỡ được song đề giữa cơ chế và mục đích. Democritus đề xuất một vật lý học cơ giới về các nguyên tử trong khoảng trống, nhưng lại không ưa Socrates là người muốn gìn giữ thế giới của tự ý và mục đích. Do đó ông đã đưa ra lập luận về một vật lý học mới trong các nguyên cứu về tương tác giữa các hạt được thay bằng những nghiên cứu về những vị trí tốt nhất mà các vật thể chiếm cứ. Vật lý học có tính sinh vật (organismic) này đã được phát triển bởi Aristotle và nó gán cho các vật thể vật chất một sự cố gắng đạt tới các vị trí hợp lý của chúng. Quan niệm này đã ngăn cản sự phát triển của vật lý học trong gần hai nghìn năm.  Có thể chiếu thêm ánh sáng vào những điều giả định trước của khoa học bằng cách xem xét những lực có xu hướng chống lại khoa học.   Các lực này thuộc hai loại hoàn toàn khác nhau, trước hết là các hệ tư tưởng phủ định điều này hay điều kia trong các điều giả định trước cần thiết, hoặc cố thay thế bằng một cơ sở trái ngược nào đó cho khoa học và thứ hai là sự chống lại các kết quả của khoa học. Lực thứ nhất đánh vào những gốc rễ của khoa học, lực thứ hai đánh vào các công việc thực hành của nó.  Chẳng hạn như vào những ngày đầu của cách mạng Liên Xô, người ta khẳng định rằng khoa học phải dựa vào học thuyết Marx-Lenine, và ở Trung Quốc thì vào tư tưởng của Chủ tịch Mao (1979). Chừng nào mà kết quả của việc này chỉ đơn giản là một câu thần chú ban đầu trước khi nhà khoa học bước vào công việc theo cách thông thường thì nó tương đối là vô hại. Song nó sẽ trở thành một sự đe dọa nghiêm trọng đối với khoa học nếu như toàn bộ các lĩnh vực hoạt động khoa học đều bị phá hủy bởi lý do các hệ tư tưởng, như lý thuyết liên kết phân tử và di truyền học ở Liên Xô.  Ở những thời gian khác nhau khoa học đã bị chống đối vì các kết luận của nó được nghĩ là không thể chấp nhận được về mặt thần học, hoặc là vì nó nguy hiểm đối với hòa bình do đặt những vũ khí mới vào tay giới quân sự, hoặc là vì nó có hại cho môi trường hoặc là vì cách suy nghĩ của nó làm đảo lộn những hình mẫu ứng xử theo truyền thống.   Những thí dụ về những chống đối này và những loại chống đối khác đối với khoa học có thể thấy rất thường xuyên trong lịch sử mấy trăm năm gần đây, và trong đa số trường hợp chúng là kết quả của sự hiểu sai về bản chất của khoa học và các kết luận của nó, do không phân biệt được kiến tứhc khoa học, vốn luôn luôn tốt, với các ứng dụng của nó mà không phải lúc nào cũng có thể phù hợp với các giá trị cao hơn của con người.  Xem tiếp kỳ sau: Cái giới hạn của khoa học  Đặng Mộng Lân dịch                     Cách đây vài tháng, nhà thơ Lê Đạt có gửi cho Tia Sáng bài viết về nhà vật lý Đặng Mộng Lân. Ông bảo, để đăng vào ngày giỗ đầu người bạn thân thiết của ông:  Lời giỗ đầu của Lê Đạt  Nhà vật lý lý thuyết Đặng Mộng Lân suốt đời bận tự học- Anh không có thời giờ lo bất cứ học hàm, học vị nào ngoài bằng tốt nghiệp đại học cần thiết để hành nghề.  Đặng Mộng Lân là một nhà khoa học tư nhân.      Peter Hodgson      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều thú vị quanh LPU muối nấu chảy mới      Lò phản ứng (LPU) muối nấu chảy mới của Leslie Dewan và Mark Massie, hai tác giả tốt nghiệp MIT (Massachusetts Institute of Technology), được đánh giá là có nhiều ưu điểm nổi bật như có thể tái sử dụng nhiên liệu, sử dụng uranium dưới dạng chất lỏng nên tránh tình trạng vùng hoạt nóng chảy, nguyên nhân dẫn đến tai nạn Fukushima sau thảm họa sóng thần. Nhân đây, tạp chí Tia Sáng đã trao đổi GS. TS Cao Chi  về loại LPU mới này.      LPU nhiên liệu muối nấu chảy mới do hai kỹ sư Leslie Dewan và Mark Massie thiết kế đang được đặt hy vọng sẽ tác động đến quá trình phục hồi ngành điện hạt nhân thế giới. Vậy ông có thể giới thiệu rõ hơn cho độc giả Tia Sáng về loại lò này?  Trước hết xin cám ơn tác giả Ng.H đã lược dịch thông tin lý thú về LPU nhiên liệu muối nấu chảy mới trên tạp chí Tia Sáng (bài Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?). Đây là loại lò dựa trên mô hình lò MSR (Molten Salt reactor – LPU muối nấu chảy). MSR sử dụng một loại dung dịch muối nấu chảy (UF trong muối) vừa làm nhiên liệu vừa làm chất làm nguội.   Loại lò MSR do Leslie Dewan và Mark Massie – sau đây sẽ ghi là MSR (LM) – thiết kế có bổ sung nhiều cải tiến công nghệ quan trọng, giúp tái sử dụng chất thải phóng xạ một cách có hiệu quả. Với những cải tiến này, hai tác giả đặt hy vọng làm sống lại giấc mơ hạt nhân.  Họ cho rằng, MSR (LM) là an toàn hơn các LPU hiện hành. MSR đốt nhiên liệu uranium lỏng thay vì nhiên liệu rắn. Điều này làm giảm nguy cơ nóng chảy tâm lò. Muốn cạnh tranh với điện than và khí, MSR (LM) cần phải đảm bảo được tiêu chí an toàn hơn và hiệu quả hơn. Công ty khởi nghiệp Transatomic Power hiện đã sẵn sàng xây dựng một MSR (LM). MSR này sẽ đốt cháy đến 96 % nhiên liệu (so với 40 % của các LPU hiện hành) và sản xuất điện năng nhiều hơn 75 lần trên một tấn uranium. Một điểm quan trọng nữa là MSR (LM) chú trọng sử dụng lại nhiên liệu đã cháy từ các LPƯ khác.  Với lượng chất thải phóng xạ gần 80.000 tấn ở Mỹ (cộng với 2.000 tấn phát sinh từ mỗi năm), MSR (LM) sẽ biến những lượng phóng xạ thành điện năng hữu ích.  Ưu điểm thiết kế này là nhằm vào chất thải phóng xạ. Tuy nhiên con đường của Leslie Dewan và Mark Massie từ công bố nghiên cứu đến ứng dụng vào thực tế vẫn còn dài.  Vậy theo ông, ưu điểm về an toàn của lò MSR (LM) so với những loại lò thế hệ cũ là gì?    Chúng ta có thể thấy hiện nay tại Mỹ, phần lớn lò phản ứng là LWR (lò nước nhẹ). Những tai nạn tại Three Mile Island, Chernobyl, Fukushima Daachi đã làm đẩy lùi sự phát triển của năng lượng hạt nhân.  Các lò cũ có hai khuyết điểm: thứ nhất quá trình phân hạch làm phát sinh các độc tố như krypton và xenon làm hại đến dòng neutron. Vì vậy các thanh nhiên liệu đã cháy phải được thay bằng những thanh nhiên liệu mới. Việc lưu giữ các thanh nhiên liệu đã cháy là một vấn đề phức tạp. Thứ hai lò luôn cần điện để bơm nước lạnh giữ tâm lò khỏi bị nóng chảy. Với trường hợp nhà máy Fukushima, việc mất nguồn điện dẫn đến việc tâm lò bị nóng chảy.   Trong MSR (LM), muối uranium được sử dụng làm nhiên liệu. Khi nhiệt độ lên trên 500 độ C, muối nhiên liệu trở thành chất lỏng. Chất lỏng này chảy một chất này làm chậm neutron và gây nên phản ứng phân hạch, qua đó tạo ra nhiệt. Khi mất điện, một cơ chế (freeze valve – van đông lạnh, khi bị nóng thì van mở) cho phép nhiên liệu chảy xuống một bể mà tại đó, nhiên liệu bị làm lạnh và đông đặc lại, vì thế sẽ không thể xảy ra tình trạng lò bị nóng chảy.  Hai tác giả đang thiết kế một lò 20 MW, lò này sẽ hoạt động vào năm 2020. Mục đích họ muốn tiến đến là lò 520 MW với chi phí 1,7 tỷ đô la (bằng 1/2 chi phí LWR).   Ông có thể cho độc giả thấy nguyên tắc hoạt động của MSR(LM)   Sau đây là sơ đồ trong bằng sáng chế của Leslie Dewan và Mark Masie đánh dấu số US 20130083878 A1.                 Chú thích: 100 – lò phản ứng, 101 – hệ LPU, 102 – vòng sơ cấp, 103 – hỗn hợp nhiên liệu – muối, 104 – vòng thứ cấp, 106 – tâm lò, 108 – bơm, 112 – bộ trao đổi nhiệt, 117 – bể chứa, 118 – van từ đầu ra tâm lò, 120 – hệ chứa phụ, 131 – hệ xử lý xỉ, 139 – nhiên liệu đã cháy, 143 – các LPU hiện hành, 145 – muối nóng chảy, 147 – viên nhiên liệu từ các hệ LPU khác, 149 – muối halide như LiF, 151 – lò đốt, 152 – vũ khí giải trừ, 155 – uranium thiên nhiê, 157 – nhiên liệu mới (U 235, U 233, U 235, Pu 239 hay Pu 241), 159 – uranium nghèo từ quá trình làm giàu, Halide: hợp chất gồm halogen (fluorine F, chlorine Cl, bromine Br, hay astatine At) và một nguyên tố hoặc gốc khác).  Trên sơ đồ này, chúng ta hãy đặc biệt chú trọng đến sự phong phú về thành phần nhiên liệu (xem các số 152, 155, 157, 159, 139 trên sơ đồ và chú thích). Có thể thấy, MSR (LM) đặc biệt chú ý đến các nhiên liệu đã cháy.  Triển vọng của MSR(LM) trong tương lai là gì, thưa ông?    Thông tin về MSR(LM) gây ra nhiều ấn tượng. Ấn tượng thứ nhất gây nên bởi slide sau đây trong bài nói chuyện của Leslie Dewan.       Trên slide có dòng chữ: Hiện nay chúng ta có thể biến 270.000 tấn chất thải thành 72 năm năng lượng cho toàn hành tinh của chúng ta.   Ấn tượng thứ hai là về sự trẻ trung đặc biệt của hai tác giả Leslie Dewan và Mark Massie.      Leslie Dewan (sinh 27/11/1984), kỹ sư hạt nhân, đồng sáng lập công ty Transatomic Power. Leslie Dewan được tạp chí Time bầu (tháng 12/2013) là một trong 30 nhân vật thay đổi thế giới.   Mark Massie (sinh năm 1985), chuyên gia hạt  nhân, đồng sáng lập công ty Transatomic Power.  Dự án MSR (LM) có thể có nhiều triển vọng cho ngành năng lượng hạt nhân. Công ty TerraPower Bill Gate sẵn sàng cung ứng tài trợ song hiện nay, Ủy ban Pháp quy hạt nhân Mỹ (US Nuclear Regulatory Commission) vẫn chưa cấp phép (licence). Nếu MSR (LM) thành công thì trong vòng một hoăc hai thập kỷ tới chắc chúng ta vẫn chưa có được MSR (LM) trên thị trường. Tuy nhiên trong tương lai, chúng ta có thể đặt nhiều hy vọng vào MSR (LM).  Xin cám ơn ông  Trang Thúy  thực hiện  Đọc thêm:  Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?     http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8951   Các phương hướng công nghệ điện hạt nhân trong tương lai  đến    http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8710   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8742      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những định xứ của các không điểm Riemann được đo đạc một cách chính xác      Được nhà toán học người Đức Bernhard Riemann nêu vào năm 1859, giả thuyết Riemann là một trong sáu bài toán Thiên niên kỷ chưa được giải. Việc giải nó sẽ tạo điều kiện cho các nhà toán học hiểu sâu sắc hơn về luật phân bố của các số nguyên tố.      Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã tập trung vào các không điểm phi tầm thường của hàm zeta Riemann. Điều này giúp các nhà vật lý tái tạo các số nguyên tố và truyền cảm hứng cho họ khám phá bản chất của giả thuyết Riemann với một cách tiếp cận lượng tử khả thi.  Để đạt được phép đo có độ chính xác cao những định xứ của các không điểm Riemann, nhóm nghiên cứu của giáo sư Guo Guangcan ở trường đại học KH&CN Trung Quốc (USTC) của Viện Hàn lâm KH&Cn Trung Quốc đã sử dụng một hệ bẫy ion.  Nhóm nghiên cứu này cùng với giáo sư vật lý lý thuyết Tây Ban Nha Charles Creffield và giáo sư German Sierra, đo đạc về mặt thực nghiệm các không điểm 80 Riemann lần đầu tiên bằng một bit lượng tử bẫy ion được định hướng bằng trường vi sóng định kỳ. Kết quả được xuất bản trên NPJ Quantum Information “Riemann zeros from Floquet engineering a trapped-ion qubit” 1.  Giữa những giải pháp có thể, phỏng đoán Hilbert–Pólya kết hợp hàm zeta Riemann với lý thuyết lượng tử. Phỏng đoán này giả định sự tồn tại của một hệ lượng tử với những giá trị riêng của các toán tử Hamilton phù hợp với các không điểm Riemann. Các nhà nghiên cứu đều bị phỏng đoán này thu hút và nhờ đó đã khám phá ra nhiều toán tử Hamilton tĩnh tiềm năng. Nhưng các toán tử Hamilton đó lại vô cùng khó để đo đạc.  Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã chọn không chứng minh giả thuyết Riemann mà cung cấp một biểu hiện vật lý của các đối tượng toán học bằng việc sử dụng công nghệ lượng tử tiên tiến. Trong hệ bẫy ion này, ion được định hướng bằng một trường theo thời gian và hành xử của nó được miêu tả bằng lý thuyết Floquet. Khi một hiệu ứng được dán nhãn “sự phá hủy đường hầm nhất quán” (coherent destruction of tunneling) xuất hiện, họ có thể quan sát sự ‘kết đông’ của động lực của các bit lượng tử khi các tham số định hướng khác nhau.  Nhờ vào việc vận hành lượng tử có độ chính xác cao và một quãng thời gian nhất quán, các nhà nghiên cứu đã đạt được 30 chu kỳ định hướng và đo đạc được 80 không điểm Riemann, một cải thiện tới gần hai bậc từ so với những đo đạc trước đây.  Công trình này đóng vai trò quan trọng về mặt thực nghiệm cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu về phỏng thuyết Hilbert–Pólya và làm hiểu sâu sắc hơn sự kết nối giữa giả thuyết Riemann và các hệ lượng tử.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/s41534-021-00446-7  https://floridanewstimes.com/accurately-measured-lehman-zero-position/322185/  —-  1. https://www.nature.com/articles/s41534-021-00446-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những đột phá khoa học & công nghệ năm 2008      Một tương lai tươi s&#225;ng cho việc chẩn đo&#225;n v&#224; điều trị ung thư, những &#225;nh s&#225;ng mới trong việc chế tạo vật liệu si&#234;u dẫn nhiệt độ cao, những hy vọng về c&#225;c h&#224;nh tinh dung dưỡng sự sống&#8230;đ&#227; trở th&#224;nh những cột mốc đ&#225;ng nhớ trong cộng đồng khoa học thế giới năm 2008. Những th&#224;nh tựu nổi bật n&#224;y được Science b&#236;nh chọn l&#224; những đột ph&#225; khoa học của năm.    Tái lập trình tế bào   Bằng việc đưa các genee có thể làm quay ngược sự phát triển của tế bào, các nhà khoa học giờ đây đã bước thêm một bước gần hơn để thấu hiểu hơn bệnh tật và cách thức mà một tế bào quyết định định mệnh của chính nó.  Năm vừa rồi, giới nhà khoa học đã lập nên “chiến công” khi họ lấy các tế bào da từ những bệnh nhân và tái lập trình chúng vào trong những tế bào gốc. Những tế bào biến đổi này trưởng thành và phân chia trong phòng thí nghiệm. Điều này đã mang lại cho các nhà nghiên cứu những công cụ mới giúp nghiên cứu các quá trình của tế bào liên quan đến bệnh tật của con người. Thành tựu này cũng được xem là bước tiến quan trọng trên chặng đường dài tìm kiếm các phương pháp điều trị bệnh với chính những tế bào của bệnh nhân.  Đột phá khoa học này đã giúp xóa tan những tai tiếng xảy ra 3 năm trước khi các nhà khoa học Hàn Quốc gian lận khẳng định rằng, họ đã dùng sự thay thế nhân tế bào người – kỹ thuật đã được dùng cho việc sinh sản vô tính cừu Dolly – để tạo ra tế bào gốc từ các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 1, chấn thương dây thần kinh cột sống.  Ghi nhận các hành tinh ngoài Hệ Mặt trời    Năm 2008 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong giới thiên văn học toàn cầu khi các nhà thiên văn lần đầu tiên quan sát trực tiếp các hành tinh quay quanh những ngôi sao trong vũ trụ. Trước đó, khoảng 130 hành tinh ngoài Thái dương hệ được phát hiện nhưng thông qua những bằng chứng quan sát gián tiếp. Nhưng mới đây, bằng việc sử dụng những kính viễn vọng tối tân trên mặt đất và trong không gian, sau hơn 5 năm tìm kiếm, các nhà thiên văn đã ghi nhận trực tiếp 3 hành tinh quay xung quanh ngôi sao HR 8799, cách Trái đất 128 năm ánh sáng. Những hành tinh này có khối lượng gấp từ 5 đến 10 lần khối lượng sao Mộc và cách sao mẹ từ 24 đến 68 lần khoảng cách từ Trái đất tới Mặt trời. Và chỉ vài tháng trước, với kính không gian Hubble, giới khoa học lại vỗ tay vui mừng  khi chụp ảnh trực tiếp hành tinh xung quanh sao Fomalhaut. Theo tính toán, hành tinh này có khối lượng gấp 3 lần sao Mộc   Các genee ung thư    Năm nay, các nhà khoa học đã gặt hái được những thành công ban đầu trong việc nghiên cứu những DNA khiếm khuyết đã làm cho các tế bào ung thư phát triển bất thường. Những nghiên cứu này đang hé lộ cho chúng ta bức tranh toàn cảnh về genee đối với những căn bệnh ung thư đặc biệt ở con người, mở ra những hướng mới trong chẩn đoán và điều trị.  Nhờ những sắp xếp rẻ hơn, các nhà nghiên cứu có thể quan sát một cách hệ thống sự thay đổi rất nhiều genee trong các tế bào ung thư mà các phương pháp trước trước đây không thực hiện được. Bởi vậy, những kết quả đầu tiên của các dự án về gene ung thư bắt đầu cách đây hai năm đã được công bố trong năm 2008.  Bằng việc sắp xếp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn genee, các nhà khoa học đã xác định hàng chục sự biến đổi, trong đó có những biến đổi hoàn toàn mới. Chẳng hạn như một genee ung thư có tên IDH1 xuất hiện trong những khối u thần kinh đệm. Một nghiên cứu thần kinh đệm riêng biệt đã tiết lộ nguyên nhân tại sao các khối u của một số bệnh nhân phát triển ngừa thuốc. Những nghiên cứu khác cũng đã sàng lọc những DNA bất thường trong những khối u ung thư tuyến ở phổi và ung thư bạch cầu dạng tủy ác tính.  Việc mở rộng danh sách các genee gây ung thư sẽ mang lại những hy vọng mới trong chẩn đoán và phát triển các loại thuốc điều trị căn bệnh quái ác này.  Siêu dẫn nhiệt độ cao         Các nhà vật lý đã khám phá ra một “gia đình thứ hai” của siêu dẫn nhiệt độ cao. Những vật liệu dẫn điện mà không có trở kháng ở nhiệt độ cao trên không độ tuyệt đối. Thành tựu này càng khắc sâu thêm bí mật lớn nhất trong địa hạt của vật lý chất rắn.  Vào tháng hai, nhóm các nhà khoa học Nhật Bản công bố vật liệu đầu tiên LaFeAsO(1-x)Fx siêu dẫn ở nhiệt độ 26K. Trong 3 tháng, bốn nhóm nghiên cứu Trung Quốc đã thay La (lanthanum) bằng những nguyên tố khác như praseodymium và samarium, tạo nên chất siêu dẫn ở nhiệt độ 55 K. Và đến giờ các nhà khoa học đã phát triển thành công vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ lên đến 56K.   Mỡ nâu      Các nhà giải phẫu lần đầu tiên chú ý đến sự khác biệt giữa hai loại mỡ từ hơn 400 năm trước. Mỡ trắng thường được xem là nguồn năng lượng. Nếu mỡ trắng là chiếc chăn đệm thì mỡ nâu thường được ví như cái chăn điện. Nhờ vào quá trình mitochondria “đốt” các phân tử mỡ giải phóng nhiệt, làm ấm cơ thể.  Năm 2008, các nhà khoa học đã khám phá ra gốc rễ bí mật của mỡ nâu. Các nhà khoa học đã giả thiết rằng cả hai loại mỡ đều phát triển từ cùng một loại tế bào tiền thân. Tiếp sau đó, nhóm các nhà khoa học, dẫn đầu là các nhà khoa học Mỹ, đã tái tạo thành công mỡ nâu thành các cơ và ngược lại. Họ đã hiểu rằng genee PRDM16 sinh ra nhánh của mỡ nâu. Bởi vậy khi loại đi các tế bào tiền mỡ nâu, các nhà khoa học hy vọng sẽ thu được mỡ trắng.  Bằng việc sử dụng kỹ thuật gọi là “lần theo dòng dõi” các nhà nghiên cứu đã xác định được thế hệ hậu duệ của họ genee cơ ở chuột. Họ đã thu được các tế bào mỡ nâu và cơ mà không phải là mỡ trắng. Khám phá này đánh dấu một buớc tiến mới trong việc điều trị béo phì.  Khối lượng proton được tiên đoán     Bằng lý thuyết các nhà vật lý đã tính toán chính xác khối lượng của proton và nhiều hạt cơ bản khác cấu tạo bởi quark và gluon. Gần một thế kỷ, các nhà khoa học đã có thể “cân” được proton – một loại hạt cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử. Những kết quả công bố mới đây cho thấy những kết quả tính toán chính xác về lực tương tác mạnh vô cùng phức tạp liên kết các quark.  Hình dung một cách đơn giản, các proton cấu tạo bởi ba hạt quark gắn kết bởi các hạt truyền tương tác gọi là gluon. Do tính bất định của cơ học lượng tử, các cặp hạt quark-phản quark và vô số các gluon sinh ra và hủy nhau điên cuồng trong tích tắc bên trong proton. Điều này khiến các nhà khoa học gần như không có khả năng phân tích. Nhưng chính chúng lại tạo nên 95% khối lượng của hạt.  Các nhà vật lý lý thuyết Pháp, Đức và Hungary đã sử dụng cách tiếp cận gọi là “sắc động học lượng tử mắt lưới”. Theo đó, họ đã mô hình hóa không gian và thời gian liên tục như là một dãy điểm bốn chiều – mắt lưới, giam giữ các hạt quark vào từng điểm rồi cho các gluon liên kết giữa chúng. Sử dụng các siêu máy tính, họ đã tính được khối lượng của proton và các hạt cơ bản khác, đạt độ chính xác cao nhất từ trước tới nay.  Đốt cháy…nước     Những nguồn năng lượng tái sinh như gió, năng lượng Mặt trời đã mở ra kỷ nguyên năng lượng sạch. Nguồn năng lượng này có ở khắp nơi, không chứa cacbon và giá thành lại rất…rẻ. Nhưng đây vẫn không được xem là nguồn năng lượng cốt yếu bởi vì ngay cả khi Mặt trời chiếu sáng, gió thổi chúng ta vẫn chưa tìm ra phương pháp hiệu quả để tích trữ nguồn điện năng này cho công nghiệp.   Nhưng mọi việc đã thay đổi khi các nhà khoa học Mỹ phát triển một loại chất xúc tác mới. Chất xúc tác này thực chất là hỗn hợp cobalt và phosphorrus. Với loại tạp chất này các nhà khoa học sẽ dùng điện để tách nước thành oxygene và hydrogene. Hydrogene có thể dùng để đốt cháy và chế tạo pin nhiên liệu bằng việc tổng hợp chính hydrrogene và oxygene để sản sinh điện năng.   Nhiều thập kỷ trước, các nhà khoa học đã nhận thấy những kim loại quý như platium có khả năng sử dụng để “tách” nước. Nhưng kim loại này rất hiếm và đắt đỏ không thích hợp sử dụng ở quy mô lớn. Nhưng cobalt lại là kim loại rẻ và rất phổ biến. Chính bởi vậy, việc phát triển loại chất xúc tác này sẽ hứa hẹn tạo ra một nguồn năng lượng sạch khổng lồ bằng việc “đốt cháy” nước.  Những thước phim về phôi     “Điệu nhảy” của những tế bào đã trở thành vấn đề trung tâm của sinh học phát triển. Nhưng hầu hết các kính hiển vi chỉ cung cấp một cách nhìn phiến diện về những quá trình này. Nhưng năm nay, các nhà khoa học đã quan sát được “những vũ điệu” trên các chi tiết chưa từng được quan sát, ghi nhận và phân tích những đoạn phim về chuyển động của 1600 tế bào trong phôi của cá ngựa vằn.  Các nhà nghiên cứu Đức đã hoàn thành đoạn phim thông qua một loại kính hiển vi mới tự thiết kế. Sử dụng những chùm laser quét qua những mẫu vật sống, chụp thành các bức ảnh trong thời gian thực; tránh được việc tẩy xóa và tác động nguy hại của ánh sáng vốn thường giới hạn độ dài của các đoạn phim trong vài giờ đồng hồ. Sau đó, họ tiếp tục sử dụng những công cụ tính toán siêu mạnh để phân tích và tái hiện những chuyển động ghi nhận được. Bằng việc chạy ngược đoạn phim, các nhà khoa học đã truy tìm ra nguồn gốc của các tế bào đã tạo ra các mô đặc biệt như võng mạc. Một đoạn phim về một biến thể phổ biến của loài cá đã lần đầu tiên hé lộ một cách chính xác những sai sót trong quá trình phát triển của phôi.  Quan sát các protein làm việc     Sau hơn một thế kỷ nghiên cứu protein, giờ đây các nhà hóa sinh đã quan sát được cách thức mà các phân tử “hành động”.  Các nhà khoa học đã có một cuộc tranh cãi dài về cách mà những protein gắn với các mục tiêu của chúng. Hầu hết cho rằng, hình dạng của một phân tử mục tiêu làm cho một protein biến đổi thành hình dạng tương thích. Nhưng cũng có khả năng, các protein trong dung dịch biến đổi qua những cấu hình hơi khác biệt cho đến khi tìm được mục tiêu. Các nhà sinh học tính toán Đức và Mỹ đã mạnh dạn củng cố cho những ý tưởng mới lạ này khi họ phân tích một lượng lớn số liệu thực nghiệm mở rộng, và chỉ ra cách mà một protein “nhảy múa” giữa hàng chục cấu hình. Trong một sự ngạc nhiên khác, nhóm các nhà khoa học Mỹ đã “theo dõi” những protein riêng lẻ và tìm thấy rằng, một phân tử ngẫu nhiên đơn lẻ có thể quay một tế bào vi khuẩn từ trạng thái chuyển hóa này sang một trạng thái chuyển hóa khác.  Ở một thang lớn hơn, các nhà nghiên cứu protein học ở Đức đã quan sát đồng thời số lượng lớn 6000 protein trong những tế bào nấm men, và xác định được cách mà những protein riêng lẻ khác biệt với hai nhóm tế bào khác nhau. Công nghệ này có thể giúp họ  có được những hiểu biết sâu sắc hơn về bệnh tật. Cuối cùng, các nhà protein học Thụy Điển đã tiết lộ những mô khác nhau trong cơ thể có xu hướng mang những đặc trưng duy nhất không phải bằng cách kiểm soát các protein được biểu hiện mà bằng cách kiểm soát lượng mỗi phôi được tạo thành.  Sắp xếp chuỗi Bonanza      Những công nghệ sắp xếp genee đã trở nên rẻ và nhanh hơn nhiều so với các phương pháp được sử dụng để giải mã gene người. Năm nay, sử dụng công nghệ “sắp xếp tổng hợp” từ 454 trình tự, các nhà khoa học đã tạo ra những bộ gene ti thể của những con gấu sống trong hang động đã tuyệt chủng và của một người Neandertal cũng như 70% bộ gene của loài voi mamút lông rậm. Bản thảo sơ bộ về bộ gene đầy đủ của người Neandertal đang tiếp tục được hoàn thiện. Một công nghệ mới khác được phát triển bởi Solexa (nay trở thành một phần của Illumina) lần đầu tiên xuất hiện trong các tài liệu khoa học với sự mô tả bộ gene đầu tiên của một người châu Á, một người châu Phi và một bệnh nhân ung thư. Sự kiện này sẽ mang cho chúng ta một ánh sáng mới để hiểu biết việc di cư đầu tiên của con người đồng thời làm nền tảng cho việc điều trị những khối u ác tính.   Công nghệ của Illumina sắp xếp DNA trong những phản ứng song song trên các bản thủy tinh. Công ty Pacific Biosciences đã sắp xếp những phân tử DNA riêng lẻ để mang lại một cái nhìn thoáng qua về sự sắp xếp nhanh hơn. Và mục tiêu mà các nhà nghiên cứu đang hướng tới là làm cho nó trở nên chính xác hơn. Và giá thành cũng tiếp tục giảm. Thậm chí một công ty đã tuyên bố rằng sẽ có những bộ genee với giá 5000 USD.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những đột phá khoa học năm 2007      Những khám phá liên quan đến gen người, các tính chất vật liệu mới và cả những cảnh báo về quá trình ấm lên ngày càng nhanh của Trái đất đã được tạp chí Science bình chọn là những sự kiện khoa học đột phá của năm 2007.    Biến đổi gen người                  Được trang bị với những kỹ thuật rẻ hơn và nhanh hơn trong phân tích DNA và đánh giá biến đổi gen, các nhà khoa học đã khám phá ra nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt của con người. Các công nghệ mới có thể giảm chi phí phân tích gien, và giúp cho việc truy tìm các gien có liên hệ đến bệnh tật dễ dàng hơn. Cách đây vài năm, việc phân tích các mảng DNA ngắn (còn gọi là single nucleotide polymorphism hay SNP) chỉ được tiến hành ở qui mô nhỏ (vài SNP) và chi phí rất đắt, nhưng nay với các công nghệ mới có thể phân tích hàng triệu SNP một lượt và chi phí rất thấp (chỉ 0,2 đến 0,5 USD mỗi SNP).  Các công nghệ mới đã cho ra đời một loạt nghiên cứu truy tìm gien gây bệnh mà trước đây không thể nào thực hiện được. Trong tương lai gần, các nhà khoa học có thể phân tích nhiều triệu SNP cho mỗi cá nhân, và có thể xác định “căn cước” gien cho mỗi cá nhân một cách dễ dàng.  Những tia vũ trụ ngoài Ngân Hà                     Không chỉ nằm trong top 10 sự kiện vật lý nổi bật 2007 của Viện vật lý Mỹ, khám phá những tia vũ trụ năng lượng cao đến từ các thiên hà hoạt động cũng đã được Science bình chọn là sự kiện khoa học đột phá của năm. Khám phá này được thực hiện bởi tập thể các nhà khoa học làm việc tại Đài thiên văn Pierre-Auger ở Argentina. Các tia vũ trụ được gia tốc bởi từ trường mạnh xung quanh những lỗ đen khổng lồ ở trung tâm các thiên hà lớn trong vũ trụ. Tuy nhiên, phát hiện về mối đồng liên hệ giữa những tia vũ trụ năng lượng đặc biệt cao với các thiên hà hoạt động vẫn còn nhiều tranh cãi, trong đó, nhóm nghiên cứu Hi-Res lại không tìm thấy bất cứ mối liên hệ nào giữa hai sự kiện.     Spin mới của điện tử                  Các nhà vật lý lý thuyết ở California đã tiên đoán rằng, những lớp mỏng HgTe giữa các lớp bán dẫn có thể tiết lộ những hành xử bất thường của các điện tử, được gọi là hiệu ứng spin-Hall lượng tử (QSHE). Đây là hiệu ứng cuối cùng trong một loạt những hành xử dị thường của điện tử khi đặt chúng trong từ trường và điện trường ngoài. Trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhà vật lý thực nghiệm Đức, họ đã chứng minh được tiên đoán trên. Ngoài ra, các nhà lý thuyết cũng đã tiên đoán rằng vật liệu với cấu trúc điện tử hợp lí sẽ tương tác với điện trường để tạo nên hiệu ứng QSHE và hiện tượng gần siêu dẫn do tác động của spin. Những vật liệu đó không đòi hỏi từ trường lớn hoặc nhiệt độ siêu thấp để đạt được hiệu ứng gần siêu dẫn. Năm nay, các nhà khoa học đã phát hiện được ở các lớp xen kẽ HgTe biểu hiện của hiệu ứng đó ở nhiệt độ gần 10K. Nếu điều này được thực hiện ở nhiệt độ phòng, nó sẽ mở ra hướng đi mới cho các linh kiện “spintronic” công suất thấp dựa trên sự điều khiển cả spin lẫn điện tích của điện tử.  Chia để trị                      Một thế hệ vắcxin mới có thể sẽ được phát triển từ thành quả của các nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào T (T cells) có khả năng chống trả lại siêu vi khuẩn, và các u bướu có khả năng phòng chống bệnh tật. Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng khi họ tách một tế bào T ngay sau khi nó được phân chia, có hai loại protein được phát sinh ở hai cực của tế bào T. Ở một cực có một “phân tử lính”, và ở một cực khác là các tế bào trí nhớ có khả năng chờ trong vài năm để chống trả lại những siêu vi khuẩn.    Biến tế bào da thành tế bào gốc  Năm 2007 đánh dấu bước ngoặt trong lĩnh vực y sinh khi các nhà khoa học Mỹ và Nhật đã thành công trong việc biến các tế bào da người thành tế bào gốc mà không cần sử dụng phôi hay trứng, thay vào đó chỉ cấy ghép các tế bào chức năng đặc biệt vào các tế bào da để thay đổi cấu trúc nhiễm sắc thể. Các nhà khoa học gọi                     những tế bào này là iPS (induced pluripotent stem cells-tạm dịch là tế bào gốc nhân tạo đa năng). Sự kiện khoa học này đã chấm dứt cuộc tranh cãi đạo đức và chính trị xung quanh những nghiên cứu về tế bào gốc. Tế bào gốc là một loại tế bào quan trọng nhất vì có thể biến thành 220 dạng tế bào khác của cơ thể. Trước đây, để tạo ra những tế bào gốc, các nhà khoa học phải sử dụng phôi hay trứng. Thành tựu này sẽ mở ra một hướng mới trong nghiên cứu và điều trị những căn bệnh ung thư mà từ trước tới nay y học còn bó tay, tạo ra những bộ phận thay thế của cơ thể.    Tầm nhìn về thụ thể                     Các nhà nghiên cứu xác định cấu trúc của thụ thể gien beta2 được xem là có liên quan đến bệnh béo phì (Beta2-adrenergic receptor). Đây là một thụ thể quan trọng trong nhóm thụ thể song protein (G protein-coupled receptor). Thụ thể beta2 có chức năng vụ kiểm soát hệ thống nội tiết trong cơ thể con người bằng cách phát tín hiệu từ các kích thích tố (hormones), serotonin và các phân tử khác. Các loại thuốc như kháng histamines và beta-blockers (thuốc điều trị cao huyết áp) thường được bào chế nhằm can thiệp vào các thụ thể này. Do đó, biết được cấu trúc của thụ thể có thể cải tiến hiệu quả của thuốc.     Bước tiến mới trong khoa học bán dẫn                     Những nghiên cứu trong lĩnh vực bán dẫn đã tạo nên ngành công nghiệp bán dẫn với việc phát triển các linh kiện transistor, diode, vi xử lý, và mở ra một kỷ nguyên của điện tử. Khám phá gây sửng sốt năm 2007 trong nghiên cứu về lớp tiếp xúc của các oxit kim loại chuyển tiếp dự báo có thể tạo ra một cuộc cách mạng tiếp theo đối với lĩnh vực khoa học vật liệu. Khi các tinh thể oxit được tạo thành từng lớp mỏng với mặt phân cách lí tưởng , ảnh hưởng của một tinh thể lên các lớp tinh thể khác có thể dịch chuyển vị trí của nguyên tử ở lớp phân cách, đảo lộn mật độ điện tử, thậm chí thay đổi cả sự phân bố điện tích xung quanh nguyên tử. Nhiều nhóm đã tiến hành tạo 2 màng oxit để tạo lớp phân cách có thể dẫn điện giống kim loại, hoặc thậm chí siêu dẫn. Nhiều cặp oxit khác lại thể hiện tính chất từ giống kim loại, ví dụ như thể hiện hiệu ứng Hall lượng tử, với sự lượng tử hóa của độ dẫn điện dưới tác dụng của từ trường. Các nhà khoa học rất lạc quan về khả năng tổng hợp các lớp oxit có tính chất mạnh hơn hẳn các chất bán dẫn thông thường. Với những biến đổi không giới hạn trong các oxit hỗn hợp, các nhà khoa học có thể nhận được nhiều tính chất mới ngoài mong đợi.  Ngược về tương lai                     Các nghiên cứu ở con người và chuột cho thấy trí nhớ và trí tưởng tượng xuất phát từ vùng não có hình dạng giống chân hải mã (hippocampus), đây là một trung tâm quan trọng kiểm soát trí nhớ trong não. Các nhà nghiên cứu Anh suy luận rằng, trí nhớ của não có thể sắp xếp các kinh nghiệm trong quá khứ để tạo nên những tình huống cho tương lai. Ý tưởng này sẽ cần một khoảng thời gian dài thêm nữa để chứng thực. Nhưng nếu các thí nghiệm tương lai xác thực điều này đúng thì trí nhớ sẽ trở thành “người mẹ” của trí tưởng tượng.  Trái đất nóng hơn bao giờ hết  Năm 2007, cuộc tranh cãi xung quanh sự thật của quá trình ấm lên toàn cầu đã kết thúc, chí ít cũng đạt được tiến bộ trong giới chính trị và cộng đồng Mỹ. Sau 6 năm im lặng, Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC) đã đưa ra một cảnh báo: Trái đất đang ấm lên, quá trình này                     diễn ra ngày một nhanh và các hoạt động của con người đứng đằng sau sự thay đổi đó. Nhưng IPCC cũng cho rằng, loài người có thể tránh được phần lớn thảm họa nếu nhân loại có những biện pháp kiên quyết và hiệu quả. Tại Hội nghị về biến đổi khí hậu diễn ra ở Bali, những đàm phán viên châu Âu và các  nước đang phát triển đã cố gắng thuyết phục Mỹ xem xét những cắt giảm bắt buộc cho 2012. Và các chuyên gia khí hậu đang kêu gọi tiến hành những nghiên cứu để có thể đảo ngược quá trình ấm lên này. Nhờ những nỗ lực trong việc giáo dục cộng đồng trước thảm họa Trái đất đang nóng lên, cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore đã được trao giải Nobel hòa bình 2007.    Trò chơi đã kết thúc                       Trong một chương trình ngoạn mục về trí tuệ nhân tạo, trò chơi checkers trở thành một trò chơi phức tạp nhất mà máy tính phải giải. Sau 18 năm cố gắng, cuối cùng các nhà nghiên cứu Canada đã chỉ ra rằng, trò chơi sẽ kết thúc với kết quả hòa nếu cả hai người chơi đều không phạm một sai lầm nào. Những suy nghĩ của con người dựa trên một “lượng” trí nhớ vừa phải và khả năng xử lý thông tin lớn hơn. Ngược lại, các chương trình của trò chơi checkers lại chiếm lượng bước xử lý ít hơn và một cơ sở dữ liệu gồm 39 tỷ lệnh. Các thuật toán mà nhóm nghiên cứu phát triển sẽ mang lại một tiềm năng ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là giải mã các thông tin được mã hóa trong DNA.    Công nghiệp gen                      Cùng với những khám phá về gen người, năm 2007 được xem là điểm mốc của một ngành công nghiệp mới: công nghiệp gen người. Tùy thuộc vào “ngân sách”, bạn có thể mua một bản phác thảo về bộ gen của chính bạn. Các công ty cho rằng, những thông tin này sẽ giúp khách hàng hiểu rõ hơn về chính bản thân họ và dự liệu sức khỏe của chính mình. Việc xác định căn cước gien của một cá nhân có ý nghĩa cực kì quan trọng, vì nó không chỉ tiết lộ đặc điểm sinh học độc đáo của một cá nhân, giúp cho các bác sĩ xác định thuốc và liều lượng thuốc thích hợp cho từng cá nhân, mà còn giúp cho chúng ta tiên đoán nguy cơ bệnh chính xác hơn. Tuy nhiên, việc xác định căn cước gien cũng đặt ra nhiều vấn đề y đức và đạo đức xã hội. Chẳng hạn như các công ty bảo hiểm có thể sử dụng các thông tin này để điều chỉnh giá cả bảo hiểm, hay quyết định nên bán bảo hiểm cho ai.  Đó là một vấn đề đang xảy ra ở Mỹ khi các công ty bảo hiểm đòi các thông tin về gien của một cá nhân trước khi bán hay không bán bảo hiểm.  Đức Phường (Theo Science)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những giải pháp cho coronavirus: Kịch bản nào đủ tốt?      Hiện tại, thế giới như đang trải qua một cơn địa chấn: hàng trăm sự kiện bị hủy bỏ, trường học, cửa hiệu, quán bar… bị đóng cửa, các hệ thống vận tải đang trong bế tắc.      Các quốc gia còn rất ít lựa chọn. Con số ca mắc bệnh và số người chết gia tăng. Các bệnh viện ở Ý, quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất châu Âu, đã rơi vào trạng thái quá tải khiến các bác sĩ phải đau đớn quyết định ai sẽ được điều trị và ai sẽ phải bỏ qua. “Điều này thật tồi tệ”, Tổng thống Mỹ Donald Trump cuối cùng cũng thừa nhận về tình trạng mà COVID-19 gây ra vào ngày 16/3/2020 còn tổng thống Pháp Emmanuel Macron thì nói với người Pháp “Đây chính là chiến tranh”.  Cách hành xử của mỗi quốc gia phản ánh sự khác biệt giữa các pha bệnh dịch cũng như sự khác biệt về nguồn lực, văn hóa, quan điểm của chính phủ và luật pháp. Nhưng cũng có cả sự nhầm lẫn về những gì là cách triển khai tốt nhất và cách giữ cân bằng cần thiết với những gì là hợp lý, đặc biệt trong một thời gian kéo dài. Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore dường như đang có những bài học quan trọng trong đối phó với bệnh dịch xung quanh mà không cần đến chiến thuật có phần cứng rắn của Trung Quốc. Một số chiến lược ứng phó ở những quốc gia đó chưa được áp dụng ở nhiều quốc gia khác: xét nghiệm trên diện rộng để tìm ca mắc bệnh, duy dấu những tiếp xúc của họ để kiểm tra hoặc cách ly họ, và khuyến khích – hoặc bắt buộc –  những người lây nhiễm cô lập chính mình.  Một bước sẽ không đủ, tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus nhấn mạnh trong một cuộc họp báo gần đây. “Không chỉ riêng xét nghiệm. Không chỉ duy dấu tiếp xúc. Không chỉ tự cách ly. Không chỉ giữ khoảng cách xã hội. Hãy làm tất cả những điều đó”.  Giữ khoảng cách xã hội  Có ít nghi ngờ là việc giữ khoảng cách xã hội – tức là giữ cho mọi người khỏi tiếp xúc gần – có thể giảm bớt sự lây truyền của virus: đó là điều cần thiết được rút ra từ việc Trung Quốc kiểm soát dịch bệnh trong vòng nhiều tuần, theo một báo cáo của nhóm chuyên gia WHO và chính phủ Trung Quốc vào ngày 28/2/2020. Nhiều quốc gia khác hiện đang quyết định khoảng cách tiếp cận này ở mức bao nhiêu là đủ.  Nhiều quốc gia đã cấm tụ tập hoảng 1000 người và đã thành công trong việc giảm bớt số lượng tụ tập. Một số đã đóng cửa các nhà hát, rạp chiếu phim, hàng ăn, phòng tập cũng như nhiều địa điểm tôn giáo. Đức đã đóng cửa nhiều cửa hàng bán đồ không thiết yếu nhưng lại nới rộng giờ bán hàng ở siêu thị để giảm số lượng ngươi mua trong cùng một thời điểm. Ở một số quốc gia, các cửa hàng  đã dành nhiều giờ bán đầu tiên trong ngày cho những người mua hàng lớn tuổi để tránh nguy cơ rủi ro bị nhiễm bệnh cho họ.  Trường học đóng cửa khiến nửa tỉ trẻ em ở nhà, theo UNESCO. Liệu điều đó có ý nghĩa vẫn còn gây tranh cãi. COVID-19 hiếm khi gây bệnh ở trẻ em, và vẫn còn chưa rõ là chúng phát triển những lây nhiễm không triệu chứng và làm lan truyền virus hay không. Việc đóng cửa trường học có thể khiến gia tăng thêm lợi ích của việc buộc cha mẹ phải ở nhà nhiều hơn. Mặt khác, một số trẻ em có thể được ông bà chăm nom. Dẫu vậy thì trẻ em có thể mất thêm nhiều tháng học tập nữa và việc nghỉ học đôi khi cũng có cái giá của nó: nhiều em phụ thuộc vào chương trình ăn trưa miễn phí ở trường. Đól à nguyên nhân giải thích tại sao một số chuyên gia y tế công cộng nói các biệp pháp đảm bảo tình hình cần được áp dụng một cách linh hoạt. Áo và Hà Lan đã gửi phần lớn sinh viên về nhà nhưng các trường phổ thông vẫn mở cho con cái của những người làm việc tại các khu vực quan trọng tới.  Nhiều quốc gia đã có những biện pháp cực đoan nhất: buộc toàn bộ dân số ở nhà. Trung Quốc áp dụng cách này vào cuối tháng 1/2020, khibuộc  hơn 50 triệu người ở Hồ Bắc ở nhà. Một số chuyên gia lập luận là các quốc gia phương Tây có thể không bao giờ có thể áp dụng các biện pháp hà khắc như vậy – với việc ảnh hưởng đến quyền con người và làm tê liệt nền kinh tế – nhưng ở Italy, người ta đã sốc bởi sự quá tải của hệ thống y tế tại miền Bắc. Tại Pháp, 100.000 cảnh sát bắt đầu tuần tra trên đường phố từ ngày 17/3/2020 để đảm bảo người dân ở nguyên bên trong, không đi ra ngoài ngoại trừ các lý do thiết yếu.  Xét nghiệm và cô lập    Một số quốc gia đã đánh bại được virus mà không cần đến các biện pháp hà khắc. Một ví dụ là Hàn Quốc, nơi đã xác nhận lây nhiễm từ 909 ca vào ngày 29/2 xuống còn 74 vào trung tuần tháng ba. Thay vào đó, yếu tố chính dẫn đến thành công là việc triển khai một chương trình xét nghiệm trên quy mô lớn và được tổ chức tốt, kết hợp với các nỗ lực mở rộng để cô lập người lây nhiễm, truy cấp và cách ly những người họ tiếp xúc. Vào ngày 16/3/2020, Hàn Quốc đã xét nghiệm hơn 270.000 người, nhiều người được xét nghiệm tại một mạng lưới hàng trăm bến xe, bến tàu, nhà ga…, một chiến dịch diễn ra ở khắp nơi có thể dễ dàng xét nghiệm và ngăn người bị nhiễm virus khỏi phơi nhiễm cho những người khác trong phòng chờ.  Nhưng ở Mỹ, sự tồn tại của một hệ thống quan liêu và những vấn đề với các bộ kit xét nghiệm nhanh đã khiến cho công việc như vậy khởi đầu chậm chạp. Vào ngày 16/3/2020 mới chỉ có 74 xét nghiệm trên một triệu dân, trong khi Hàn Quốc là 5200 xét nghiệm trên một triệu dân.  Ở châu Âu, Đức đang là người dẫn đầu với hơn 100.000 ca xét nghiệm trong một tuần, Christian Drosten, nhà vi trùng học tại Bệnh viện Charité ở Berlin, người phát triển xét nghiệm này nói. Nhưng các quốc gia khác cũng mới tăng quy mô xét nghiệm. Sự chậm chạm này khiến cho tổng giám đốc WHO Tedros luôn nhắc đi nhắc lại “xét nghiệm, xét nghiệm, xét nghiệm’ mỗi ngày. Các quốc gia không thể chống lại bệnh dịch này một cách mò mẫm được,” ông nói trong cuộc họp báo ngày 16/3/2020. “Họ phải biết nơi nào có ca mắc bệnh.” Marcel Salathé, một nhà miễn dịch học tính toán tại Viện Bách khoa liên bang Lausanne, đồng ý. “tại điểm này, 100% quốc gia đã kiểm sóa dịch bệnh bằng xét nghiệm, cô lập, cách ly”. Bây giờ việc cần làm là “tìm từng trường hợp lây nhiễm và tiếp theo từng phơi nhiễm tiềm năng và phá vỡ mọi chuỗi lây truyền có thể.”  Chưa tới điểm kết thúc    Với nhiều người, câu hỏi lớn nhất là: khi nào, và như thế nào, sẽ kết thúc bệnh dịch này? Bây giờ rõ ràng là con người khó có thể rũ bỏ COVID-19 như đã làm với SARS vào năm 2003, Mark Woolhouse, một nhà miễn dịch học tại trường đại học Edinburgh nói: “Chúng ta sẽ phải sống chung với chính virus này vô thời hạn.”  Như vậy có thể chúng ta phải đóng cửa xã hội trong nhiều tháng với một chi phí lớn cho nền kinh tế, đời sống xã hội, sức khỏe tâm thần, ít nhất cho đến khi một vaccine sẵn sàng được cấp phép. Đâ là điều không thể tưởng tượng nổi với Woolhouse và nhiều người khác.  Một vài quốc gia đang nghĩ về việc để cho người dân tự xây dựng miễn dịch bằng việc từ bỏ lệnh đóng cửa hoàn toàn và cho phép một số lây nhiễm tại chỗ, với nhóm ít có nguy cơ rủi ro như trẻ em và thanh niên. Đó là chiến lược mà thủ tướng Hà Lan Mark Rutte loan báo vào ngày 16/3/2020. “Với việc thực hiện cách tiếp cận này, một số người sẽ trải nghiệm một số triệu chứng nhẹ, chúng ta có thể hình thành sự miễn dịch và đảm bảo hệ thống y tế của chúng ta có khả năng ứng phó,” Rutte nói. Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình, nhà miễn dịch học Jaap van Dissel của Viện nghiên cứu Sức khỏe công cộng và môi trường quốc gia Hà Lan giải thích mục tiêu là “chuẩn độ” các biện pháp kiểm soát để các bệnh viện khỏi quá tải. (Anh cũng đã đề xuất mong muốn xây dựng miễn dịch cộng đồng nhưng lại bỏ cuộc trước những phản hồi gay gắt.)  Một nghiên cứu mô hình của các nhà nghiên cứu ở Imperial College London, đưa lên mạng vào ngày 16/3/2020, kết luận là ngay cả một dịch bệnh giảm nhẹ thì vẫn làm quá tải các hệ thống y tế và là nguyên nhân dẫn đến ít nhất 250.000 người chết ở Anh và hơn 1,1 triệu người ở Mỹ. Kiểm soát virus bằng việc kết hợp tất cả những phương pháp hiện hành, bao gồm đóng cửa trường học và giữ khoảng cách tiếp xúc trong toàn bộ dân số, là “chiến lược khả thi duy nhất tại thời điểm hiện tại”, nhóm nghiên cứu viết.  Điều này gợi ý về một kế hoạch giãn cách, một dạng “nghỉ dùng thuốc” đan xen với những thời gian dùng thuốc, ở đây có nghĩa là có thể áp dụng những biện pháp hà khắc xen kẽ với giai đoạn nới lỏng. Theo kịch ban đó, dân số có thể sẽ hình thành được sự miễn dịch với virus, nhưng vẫn còn những cơn bùng phát dịch nhỏ thay vì một cơn  đại dịch. Đây không phải là kịch bản hấp dẫn nhưng có thể là không còn lựa chọn nào khác. Như nhà miễn dịch học Seth Berkley, người phụ trách Liên minh Vaccine GAVI, nói “Anh không thể nói trái đất phải dừng cho một hoặc hai năm được.”  Thanh Nhàn  lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/03/mass-testing-school-closings-lockdowns-countries-pick-tactics-war-against-coronavirus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những Giải thưởng KH của Thủ tướng Úc      Kể từ năm 2000, Giải thưởng Khoa học của Thủ tướng Úc đã ghi nhận thành tựu của các nhà khoa học hàng đầu. Bài viết dưới đây giới thiệu các công trình đoạt giải của năm 2012.    Năm qua, Thủ  tướng Úc đã  trao giải cho hai nhà hóa học, những người đã công bố các phát  kiến  giúp thay đổi cách thức sản xuất nhựa và polymer; một nhà khoa học  được  trao giải cho phát minh về dạng thức mới của chlorophyll; một nhà  vật  lý trẻ có công giúp làm sáng tỏ quá khứ của Vũ trụ; và hai nhà giáo  dục  khoa học có công lao đặc biệt.  Thay đổi thế giới bằng công nghệ polymer  Nhiều chất nhựa và polymer – như sơn, keo dán, hay dầu nhờn – mà con người lâu nay vẫn sử dụng sẽ thay đổi hoàn toàn do những phát kiến của hai nhà hóa học Úc, David Solomon và Ezio Rizzardo. Nghiên cứu của họ liên quan tới hơn 500 patent và những kỹ thuật mà họ đưa ra đang được áp dụng tại các phòng thí nghiệm và nhà máy của các hãng DuPont, L’Oréal, IBM, Dulux, và hơn 60 công ty. Polymer là những cấu trúc hóa học được dựa trên những đơn vị phân tử lặp đi lặp lại, được kết nối với nhau như những chuỗi hạt. David và Ezio đã tìm ra cách cho phép con người làm chủ ở mức độ chưa từng có đối với các đặc tính về cấu trúc, thành phần, và những đặc tính khác ở những polymer này, và ngày nay kỹ thuật đó được ứng dụng trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống.   “Chúng ta không cần phải thay đổi vật liệu thô, điều quan trọng là cách sắp xếp chúng với nhau”, David khẳng định. Công đầu cho cuộc cách mạng về polymerr này được ghi nhận cho cặp bài trùng: David, người tự học về polymer khi mới chỉ là một thiếu niên làm việc cho hãng Dulux; và Ezio, người từng nhập cư vào Úc khi còn là một thanh niên Ý chưa hề biết tiếng Anh.   Với những thành quả trong khoa học, David và Ezio cùng được trao Giải thưởng Khoa học. Trong khi các công ty hóa chất hàng đầu trên thế giới ngày nay đang áp dụng phát kiến của họ để tạo ra những sản phẩm polymer ngày càng tinh xảo hơn, David và Ezio lại đang phát triển ra những ứng dụng polymer mới. David tạo ra một lớp phim polymer mỏng, có chiều dày đúng bằng một phân tử, với chức năng ngăn bay hơi từ các bể trữ nước; Ezio tạo ra những vật liệu sinh học “thông minh” giúp đưa các dược phẩm đến những mục tiêu chính xác là những mô cơ cụ thể.  Chlorophyll, chìa khóa cho những mùa vụ tốt hơn  Một khám phá tình cờ đã dẫn tới phát kiến mới đầu tiên về chlorophyll trong vòng 67 năm qua đã mở ra khả năng dùng ánh mặt trời để nuôi trồng các loại cây cho nhiên liệu sinh học và thực phẩm một cách hiệu quả hơn. Chlorophyll là phân tử thiết yếu trong quá trình quang hợp của cây cối, giúp đem lại thực phẩm, nhiên liệu, và oxy mà chúng ta hít thở.  Biến thể chlorophyll f này được tìm thấy trong một nghiên cứu về các vi khuẩn lam (cyanobacteria) đơn bào, hay còn được gọi là tảo lục-lam, sống trong những dạng trầm tích cổ ở Vịnh Shark, Tây Úc.  Nhằm ghi nhận đóng góp tri thức về chlorophyll và vi khuẩn lam, PGS. Min Chen của Đại học Sydney đã được trao Giải thưởng Khoa học của Thủ tướng. Khám phá của bà đặc biệt quan trọng cho tương lai bền vững của chúng ta, vì chlorophyll f hấp thu ánh sáng đỏ xa (far-red), vốn nằm thấp hơn trên phổ năng lượng của ánh sáng nhìn thấy được. Điều này có thể giúp mở rộng phổ ánh sáng được dùng cho quan hợp. Đưa chlorophyll f vào cây trồng là cách giúp tận dụng ánh sáng mặt trời một cách hiệu quả hơn. Nó cũng cho phép cây trồng lấy nhiên liệu sinh học và cây lương thực được trồng sát nhau hơn, gia tăng tổng lượng thu hoạch.  “Việc tìm thấy chlorophyll là hoàn toàn ngoài dự kiến – một trong những khoảnh khắc ăn may của khoa học. Thực ra khi đó tôi đang tìm kiếm chlorophyll mà chúng ta biết là có thể tìm thấy ở vi khuẩn tảo lam sống trong điều kiện thiếu ánh sáng. Tôi nghĩ rằng các trầm tích là nơi dễ tìm thấy chúng, do những vi khuẩn sống ở phần giữa của trầm tích không nhận được nhiều ánh sáng như ở phần rìa”, Min nói.    Nhóm nghiên cứu của Min hiện đang nuôi trồng vi khuẩn tảo lam trong phòng thí nghiệm, với hi vọng sẽ lập được chuỗi gene của chúng và tách biệt được các loại gene liên quan tới sự hình thành chlorophyll f – nhằm giúp đem lại lợi ích cho cây trồng trong tương lai.  Khởi thủy cho Vũ trụ nóng bỏng của chúng ta  Một nhà vật lý Úc đã giúp lý giải điều bí ẩn đằng sau sự hình thành những ngôi sao nóng phát sáng của thời kỳ cổ đại mà ngày nay chúng ta còn được thấy. Nhà vật lý lý thuyết Stuart Wyithe, giáo sư của Đại học Melbourne, là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới am hiểu về Vũ trụ của thời kỳ 13 tỷ năm trước, khi chưa xuất hiện các ngôi sao và các thiên hà, chỉ có các loại khí lạnh. Trong ít năm tới, nhờ vào những kính thiên văn hiện đại sắp được chế tạo hoàn tất, các nhà khoa học sẽ càng am hiểu hơn về vấn đề này.  “Các kính thiên văn mới sẽ nhìn thấy bức xạ do các nguyên tử hydro phát ra từ 13 tỷ năm trước – tức là chỉ 800 nghìn năm trước vụ nổ Big Bang”, Stuart cho biết. Kính thiên văn Square Kilometre Array (một dự án hợp tác giữa Nam Phi và Úc) sẽ giúp con người hình dung về thời kỳ khi những thiên hà đầu tiên hình thành và kích thước của chúng.  “Thật hứng khởi khi chỉ ít năm nữa chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về thời kỳ cổ xưa này của Vũ trụ. Sự bắt đầu của thời kỳ reionization (thời kỳ chuyển hóa của Vũ trụ từ lạnh sang nóng) là phần chưa biết đáng kể nhất trong lịch sử Vũ trụ” Stuart nói.  Nhờ đóng góp mới trong lĩnh vực vật lý giúp thấu hiểu sự hình thành của Vũ trụ, Stuart từng được trao Giải Malcom McIntosh – Nhà Vật lý của năm 2011.  Cắm trại và múa rối giúp đoạt giải thưởng giáo dục khoa học   Học sinh của cô giáo Brooke Topelberg yêu thích môn khoa học tới mức câu lạc bộ Khoa học giữa giờ ăn trưa của cô trở nên quá đông, những ai muốn tham gia phải được đăng ký chờ xếp chỗ. Còn về phần cô giáo Jane Wright, các nữ học sinh đã theo chân cô đi khám phá khoa học trong những bụi cây từ suốt 25 năm nay.   Cả hai nhà giáo nhiệt thành này đều được Thủ tướng trao giải thưởng Xuất sắc trong Giáo dục Khoa học. Brooke chỉ mới tốt nghiệp sự phạm 3 năm trước đây, khi cô được bổ nhiệm làm người điều phối lớp khoa học tại trường tiểu học Westminster ở ngoại ô thành phố Perth, Tây Úc, nơi có nhiều gia đình nhập cư.  Trước đó, khi chuẩn bị chọn chuyên khoa về khoa học ở trường sư phạm, cô được giới thiệu về kỹ thuật dùng các con rối làm phương tiện giảng dạy một cách an toàn trong lĩnh vực khoa học và nhiều bộ môn khó khăn khác.  “Ngay lập tức tôi nhận ra rằng đây là phương pháp giảng dạy tuyệt vời trong lớp học”. Trong vòng 5 năm, những nỗ lực và tài tổ chức của Brooke không chỉ giúp câu lạc bộ Khoa học giữa giờ ăn trưa thu hút đông đảo học sinh và trở nên chật cứng, mà còn giúp trường tiểu học Westminster được vinh danh là Trường học Khoa học của Năm ở Tây Úc.   Về phần TS. Jane Wright, bà bước vào sự nghiệp sư phạm sau khi hoàn thành chương trình postdoc của mình. Kể từ đó, bà là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ thanh nữ của Đại học Adelaide’s Loreto.  Năm 2011, Jane điều phối chương trình cắm trại hằng năm dành cho nữ sinh, kéo dài 1 tuần, được tổ chức lần thứ 26 tại Flinders Ranges. Các nữ sinh đều để điện thoại di động ở nhà, để tập trung vào công việc thu thập mẫu nước, đánh giá cấu trúc và sự hình thành các loại đá, tiếp thu kiến thức về đa dạng sinh học.  Năm 2012, Jane mở lớp hướng dẫn các giáo viên khác đăng ký các giải thưởng, đặc biệt là giải thưởng khoa học của Thủ tướng. “Các giáo viên cần có sự tự tin để đăng ký những giải thưởng ghi nhận thành tựu của họ”, Jane nói.     Hai gương mặt tiêu biểu gần đây:  Chim, ong, và công nghệ bay  Dù chẳng phải là phi công nhưng hiếm có người nào am hiểu về lĩnh vực hoa tiêu hàng không như GS. Mandyam Srinivasan (Srini) ở Viện Queensland Brain. Và ông vẫn không ngừng tích lũy thêm những tri thức mới.   Người ta biết đến Srini đầu tiên qua nghiên cứu về loài ong, từng giúp ông đoạt Giải thưởng Khoa học của Thủ tướng năm 2006, qua đó Srini chứng minh rằng các loài chim và côn trùng sử dụng cùng một hệ thống hướng dẫn bằng hình ảnh để tránh lao vào cây cối khi bay trong những khu rừng rậm. Năng lực cốt lõi trong hệ thống này là khả năng cảm nhận tốc độ di chuyển của hình ảnh qua mắt. Với những vật thể càng gần, tốc độ di chuyển hình ảnh của chúng càng nhanh.  Tuy khái niệm này nghe thì đơn giản, nhưng cách đo lường khoảng cách và tốc độ có thể giúp tạo ra một phương thức định vị tinh vi nhằm né tránh các va chạm, hạ cánh, và theo dõi những mục tiêu di chuyển. Nó cũng giúp lý giải bằng cách nào các loài động vật với não bộ bé nhỏ có thể thực hiện những màn nhào lộn kỳ công trên không trung mà con người với các thiết bị hiện đại nhất cũng khó lòng đạt được.  Nghiên cứu của Srini là một sự pha trộn hiếm có giữa khoa học lý thuyết và ứng dụng. Phát kiến của ông hiện đã được đưa vào áp dụng trong các hệ thống định vị bằng hình ảnh được thiết kế dành cho robot và các loại phương tiện bay tự động, hay các máy bay không người lái (UAV).   “Chúng tôi đã tiến xa trong vòng 5 năm qua”, Srini nói. Không có gì phải ngạc nhiên khi nghiên cứu của ông được tài trợ từ rất nhiều nguồn, kể cả các công ty tư nhân như Fujitsu, hay chính quyền bang Queensland, Chính phủ Úc, và Không quân Mỹ.  Không dừng lại sau vinh quang  Brian Schmidt là người đầu tiên được trao Giải McIntosh cho Nhà Vật lý của Năm (năm 2000), rồi Giải Shaw trong Thiên văn học (năm 2006), giải Gruber Cosmology (năm 2007), giải Nobel Vật lý (2011). Đây quả là một hành trình đầy vinh quang không chỉ cho cá nhân Brian Schmidt, giáo sư thiên văn tại Đại học Quốc gia Úc, mà cho cả nền khoa học Úc nói chung.          Sau khi sửa xong vấn đề vướng mắc do những rung chấn, chiếc kính thiên văn hoàn toàn tự động Sky Mapper tại Đài Thiên văn Sliding Spring ở phía Bắc New South Wales sẽ bắt đầu khảo sát vùng trời phía Nam, đo lường diện mạo, độ sáng, và loại quang phổ của hơn một tỷ ngôi sao và thiên hà có độ sáng mờ hơn một triệu lần so với phạm vi nhìn thấy của mắt người. Đây sẽ là lợi thế cho các nhà thiên văn Úc so với các đồng nghiệp khác khi quan sát trên các đài thiên văn quan trọng nhất của thế giới.           Schmidt là người dẫn dắt một trong hai nhóm nghiên cứu trên thế giới có công khẳng định việc Vũ trụ đang giãn nở ngày càng nhanh. Việc giành được các giải thưởng không làm cho ông ngừng lại. Ngoài thời gian đi thỉnh giảng trong vô số những dịp được mời, Brian dành phần lớn tâm sức cho công việc nghiên cứu tại SkyMapper, kính thiên văn quang học mới của Úc, được trang bị máy ảnh kỹ thuật số với độ phân giải lớn nhất mà Úc hiện có, 268 megapixel. Ông tham gia vào hai dự án dùng những công nghệ tiên phong tại kính thiên văn Square Kilometre Array (SKA), kính thiên văn radio lớn nhất thế giới: dự án Murchison Widefield Array và dự án Australian SKA Pathfinder. Ngoài ra, khi rảnh rỗi, ông làm việc tại một trong những kính thiên văn của thế hệ tương lai: Giant Magellan Telescope.  Brian tri ân những ghi nhận mà nước Úc dành cho công việc của mình. “Giải Malcom McIntosh là giải thưởng đầu tiên tôi được nhận cho phát hiện về sự gia tăng giãn nở của Vũ trụ. Nó là dấu hiệu về sự tự tin của quốc gia mình. Tổ quốc là nơi đầu tiên ghi nhận công lao của tôi trong phát hiện này, và đây là điều có ý nghĩa quan trọng đối với tôi”, Brian nói.        THANH XUÂN  lược dịch        Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hạt cát dưới nước giúp hiểu về sự hình thành của những vùng đất và sao Hỏa      Nhà thơ Anh William Blake từng có câu thơ nổi tiếng “Để thấy vũ trụ trong một hạt cát” liên quan đến khái niệm vũ trụ toàn ảnh. Mới đây trong tạp chí Physics of Fluids, các nhà khoa học từ trường đại học Campinas ở Brazil và trường đại học California, Los Angeles, đã thử nghiệm điều này bằng việc nghiên cứu về động lực “chi tiết” (cấp độ hạt) giúp hình thành các đụn cát hình trăng khuyết như thế nào.    Được biết đến như những đụn cát được gió thổi thành hình trăng khuyết, những sự hình thành như vậy được tìm thấy phổ biến trong các môi trường như những đụn cát dài hình ngón tay trên thềm đại dương, các đụn cát kích thước tương đương sân vận động trên các sa mạc trên trái đất và các đụn cát trải rộng cả ki lô mét khắp bề mặt sao Hỏa.  Cho đến giờ, vẫn còn một khoảng trống về tính toán ở quy mô chi tiết cỡ hạt cát liên quan đến sự tăng trưởng và tiến hóa của các đụn cát hình trăng khuyết.  “Trong tự nhiên, có thể mất nhiều năm để những đụn cát đó hình thành trên trái đất hoặc hàng ngàn năm để tiến hóa trên sao Hỏa theo cách tương tự như vậy. Ở vài thập kỷ qua, các mô phỏng số đã được triển khai để tìm hiểu vấn đề này nhưng ở quy mô lớn”, đồng tác giả Erick Franklin nói. “Các tính toán dò theo từng hạt cát là điều hoàn toàn không thể. Kết quả của chúng tôi đã chứng tỏ cách các tính toán có thể dùng để giải quyết vấn đề như thế nào, ở cùng thời điểm, hình thái của các đụn cát hình liềm, chuyển động của cát và chi tiết của dòng chảy như dạng chất lỏng này ảnh hưởng đến các lực tác động trên mỗi hạt cát”.  Sử dụng cách tiếp cận CDF-DEM (phương pháp tính toán động lực học dòng chảy/phần tử rời rạc, Franklin và đồng nghiệp của mình đã tạo ra được các mô phỏng bằng việc áp dụng các phương trình chuyển động từng hạt cát trong một đống cát bị biến dạng bởi một dòng chất lỏng.  “Chúng tôi khám phá những tham số khác nhau tham gia vào các tính toán số bằng việc thực hiện các mô phỏng toàn diện các đụn cát nhỏ trong môi trường nước và so sánh chúng với kết quả thực nghiệm. Chúng tôi chứng tỏ các phạm vi giá trị để tính toán chính xác các đụn cát hình liềm xuống quy mô của hạt cát”, Franklin nói.  “Nghiên cứu này giúp tiến thêm một bước trên con đường tìm hiểu xa hơn sự trao đổi lực trong các đụn cát và chuyển động của hạt cát – và để tăng quy mô nghiên cứu chủ đề này ở các đụn cát lớn hơn, giờ có thể làm được điều này bằng các hệ thống tính toán hiệu năng cao”.  Thậm chí, khi so sánh các đụn cát trên sao Hỏa và đất liền bị ảnh hưởng khi xuất hiện gió ở quy mô thời gian lớn hơn và diện rộng hơn với các trường hợp cát dưới đáy đại dương, vốn khác biệt khi diễn ra ở thời gian được tính bằng phút và diện tích vài xăng ti mét vuông, kết quả cho thấy chúng có nhiều sự tương đồng nhau về động lực học.  “Với những kết quả của chúng tôi, các nhóm nghiên cứu khác có thể áp dụng các nguồn lực tính toán lớn hơn để mô phỏng các đụn cát hình liềm ở khắp mọi nơi, có thể ở quy mô thời gian hàng thập kỷ hoặc thiên niên kỷ”, Franklin nói. “Đây là vấn đề có liên quan đến các nhà địa vật lý, thủy văn, khoa học khí hậu… vì sẽ giúp dự đoán hcinhs xác tương lai của những trường cát trên mặt đất và sao Hỏa đồng thời đem đến một hồ sơ về lịch sử hình thành của chúng”.  Bài báo “Grain-scale computations of barchan dunes” của Nicolao C. Lima, Willian R. Assis, Carlos A. Alvarez, and Erick M. Franklin đã được xuất bản trên tạp chí Physics of Fluids 1.    Lê Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-12-tiny-underwater-sand-dunes-larger.html  https://www.sciencedaily.com/releases/2022/12/221206115710.htm  ——————————————–  1. https://aip.scitation.org/doi/10.1063/5.0121810    Author                .        
__label__tiasang Những hạt giống vũ trụ của Trung Quốc      Trung Quốc dự định phóng một vệ tinh để xúc tiến việc nghiên cứu về kế hoạch xử lý giống rau quả và lương thực ngoài không gian, nhằm đẩy mạnh sản lượng nông nghiệp quốc gia. Shijian-8, một vệ tinh có khả năng tái tạo sẽ được phóng lên không gian vào đầu tháng 9. Theo Nhật báo Trung Quốc, 2000 hạt giống sẽ được đặt trong môi trường bức xạ vũ trụ và trọng lực rất yếu trong vòng hai tuần.    “Vệ tinh gieo hạt” này sẽ cho phép các nhà khoa học thử nghiệm việc canh tác các cây trồng cho sản lượng và chất lượng cao. Theo nhật báo thì “Việc phơi ra một môi trường đặc biệt chứa đầy tia vũ trụ và có trọng lực rất yếu sẽ làm các hạt giống bị đột biến và từ đó có thể làm tăng sản lượng cũng như chất lượng”.       Có 9 danh mục hạt giống sẽ được thử nghiệm lần này, bao gồm ngũ cốc, hoa màu, cỏ cho gia súc… Trung Quốc đã cho hạt giống lúa gạo và lúa mì ra ngoài vũ trụ và cũng đã dẫn đến sự tăng sản lượng. Các hạt giống cà chua và ớt xanh được đưa ra ngoài không gian có khả năng làm tăng hiệu quả canh tác tới 10-20%, các loại rau thì có thể có nhiều vitamin hơn.      Theo AFP      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hiểu lầm về  năng lượng nguyên tử      Dù đóng vai trò quan trọng trong giải quyết những vấn đề toàn cầu như cung cấp năng lượng sạch, giảm phát thải, hướng tới phát triển xanh và bền vững nhưng trong thực tế, năng lượng nguyên tử lại phải hứng chịu nhiều hiểu nhầm với thông tin bị thổi phồng hoặc bóp méo. Đây chính là thông điệp mà nhà vận động môi trường Mỹ Michael Shellenberger chia sẻ trong phần diễn thuyết kết thúc Diễn đàn ATOMEXPO tại Sochi, Nga, từ ngày 15-16/04/2019.      Nhà vận động môi trường Michael Shellenberger diễn thuyết tại ATOMEXPO 2019 – diễn đàn thường niên để thảo luận về các chính sách, công nghệ cho năng lượng nguyên tử. Tại ATOMEXO 2019, các nhà khoa học và nhà quản lý từ 74 quốc gia cùng thảo luận làm rõ vai trò của công nghệ hạt nhân trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu, góp phần thúc đẩy phát triển xanh và bền vững. Ảnh: Bảo Như    Vấn đề Michael Shellenberger trình bày cũng phản ánh quá trình chuyển đổi cái nhìn về năng lượng nguyên tử của anh, từ một người dành tâm huyết để vận động giảm các nguồn nhiên liệu hóa thạch, ủng hộ năng lượng tái tạo, và phản đối năng lượng hạt nhân vì tin vào những ảnh hưởng nghiêm trọng với đời sống con người và môi trường trở thành người ủng hộ hạt nhân. Mấu chốt dẫn đến thay đổi là sau khi gặt hái được nhiều thành công với việc tổ chức các cuộc vận động, nhận được sự ủng hộ của Tổng thống Mỹ Barack Obama – trong suốt nhiệm kỳ của mình đã đầu tư cho năng lượng tái tạo tới 150 tỉ USD, Shellenberger và đồng sự vấp phải những vấn đề không dễ giải đáp như tính không liên tục của điện mặt trời, điện gió do phụ thuộc vào thời tiết và chưa có đột phá về công nghệ lưu trữ. Anh “hoàn toàn lúng túng” và bất ngờ khi đọc được khuyến cáo từ Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu vào năm 2014 về thúc đẩy kết hợp nguồn cung năng lượng từ năng lượng tái tạo lẫn năng lượng hạt nhân, và thực chất, năng lượng hạt nhân tạo ra lượng khí thải carbon ít hơn bốn lần so với năng lượng mặt trời.  Năng lượng tái tạo không hoàn toàn rẻ và sạch  Bước đầu trong tìm hiểu về năng lượng hạt nhân của Shellenberger bắt nguồn từ việc “tìm hiểu về đầu tư cho năng lượng tái tạo ở Pháp và Đức cũng như chất thải từ sản xuất năng lượng tái tạo”, Shellenberger nói. Nếu Pháp đang phụ thuộc lớn vào năng lượng hạt nhân với tổng lượng điện hạt nhân chiếm hơn 72% cơ cấu điện năng, khoảng 18% năng lượng tái tạo và hơn 8% là năng lượng hóa thạch thì Đức tuyên bố sẽ thay đổi cơ cấu điện năng, chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo là chính (với mục tiêu rất gần là đạt 50% vào 2030). Cho đến năm 2017, cơ cấu điện năng của Đức gồm 40% là điện than, 13% là điện hạt nhân, 12% từ khí đốt tự nhiên và chỉ có 12% từ điện gió, 6% từ điện mặt trời. Mặc dù năm 2016, nước này đầu tư lắp đặt thêm 4% lượng pin năng lượng mặt trời nhưng sản lượng điện thu được một năm sau lại giảm khoảng 3% vì không đủ nắng; tương tự, 11% turbine gió được lắp đặt nhưng sản lượng điện gió lại giảm khoảng 2% vì ít gió.   Mặc dù kinh phí đầu tư cho năng lượng tái tạo đang rẻ đi nhưng việc đầu tư và duy trì nó vẫn còn khá đắt đỏ. Đức đang tăng cường đầu tư vào điện tái tạo nhưng giá điện của cường quốc năng lượng tái tạo này thậm chí đã tăng lên tới gần 50% trong vòng 10 năm, kể từ năm 2006 và hiện nay đắt gấp đôi so với Pháp. Ở bang California (Mỹ), người ta đặt mục tiêu đưa năng lượng tái tạo chiếm hơn 30% cơ cấu điện năng vào năm 2020 nhưng nay cũng có giá điện cao hơn tới 1,6 lần so với giá điện trung bình của các bang còn lại ở Mỹ. Những thông tin trên được Shellenberger dẫn ra từ các báo cáo của Cơ quan thống kê châu Âu – Eurostat và Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (U.S. Energy Information Administration – EIA).      Để đạt được mục tiêu cắt giảm phát thải, sẽ đòi hỏi tăng cường sử dụng các công nghệ ít phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính gồm năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân, công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon – CCS. (Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu).      Mặt khác, sản xuất điện mặt trời đòi hỏi nhiều diện tích hơn điện hạt nhân. “Để cùng tạo ra một đơn vị điện năng thì năng lượng mặt trời cần diện tích lớn 450 lần so với năng lượng hạt nhân”, Shellenberger nói và chỉ tay vào bức hình được cắt ra từ phim viễn tưởng đình đám Blade Runner 2049 – một khung cảnh từ trên cao nhìn xuống cánh đồng rộng mênh mông chứa đầy các tấm pin năng lượng mặt trời ở California.   Một trong những điểm được nhiều người đặt niềm tin vào năng lượng tái tạo là một công nghệ sạch và ưu việt so với năng lượng hạt nhân, vốn mang tai tiếng là “bẩn” và ẩn chứa nhiều nguy cơ phát thải phóng xạ. Nhưng trên thực tế, đây chính là một vấn đề nội tại của năng lượng tái tạo. Shellenberger dẫn chứng, những trang trại điện mặt trời như ở California sẽ tạo ra “lượng rác thải gấp khoảng 300 lần so với điện hạt nhân khi sản xuất ra một lượng điện năng tương đương”. Để dễ hình dung hơn, giả sử như đem toàn bộ lượng chất thải hạt nhân ở Mỹ đã được xử lý và chôn cất theo đúng quy định của Cơ quan Pháp quy hạt nhân Mỹ (NRC) và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) xếp chồng lên nhau trên diện tích tương đương một sân bóng đá thì nó sẽ có độ cao khoảng 50 mét (tương đương với tháp nghiêng Pisa ở Ý); còn với lượng chất thải từ điện mặt trời thì chiều cao sẽ là 16km (tương đương với hai lần chiều cao của đỉnh Everest). Đáng kể hơn, nguồn chất thải năng lượng mặt trời sẽ còn chứa cả các kim loại nặng như crom, cadmium và chì – vốn cũng tiềm ẩn nguy cơ làm ô nhiễm đất, nước và cây trồng. Vậy chúng sẽ đi đâu, nếu không thải vào môi trường? Shellenberger cho biết thêm, đến nay, chưa có nước nào ngoài châu Âu có quy trình và kế hoạch tái chế các tấm pin năng lượng mặt trời đã qua sử dụng.   Năng lượng hạt nhân “có hại” đến mức nào?  Năng lượng hạt nhân, mặc dù đã được Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu khuyến nghị là một trong những loại năng lượng có thể thúc đẩy phát triển nhằm giảm phát thải toàn cầu nhưng ở nhiều nơi, người ta vẫn còn sợ hãi và nghi ngại về nó. Ở thế kỷ 21, đại đa số người dân và nhà quản lý ở các nước đều rất lo ngại ba thảm họa hạt nhân tồi tệ như Three Mile Island (Mỹ) năm 1979, Chernobyl (Liên Xô cũ) năm 1986 và mới đây là sự cố nhà máy điện Fukushima (Nhật Bản) do sóng thần năm 2011. Cũng như mọi người, Shellenberger cũng bị ám ảnh bởi những tai nạn nhà máy điện hạt nhân này và việc anh gia nhập hàng ngũ những người phản đối điện hạt nhân chính vì những thông tin thường thấy về thảm họa Chernobyl. Điều đó thôi thúc anh tìm hiểu về các công bố của nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau và trên cơ sở các dữ liệu này, so sánh ảnh hưởng đối với sức khỏe con người của nó với những hiểm họa khác từng xảy ra trong lịch sử.   Quá trình tìm hiểu thông tin về Chernobyl đã làm thay đổi cái nhìn của Shellenberger. Dù đây là một tai nạn khủng khiếp với quy trình xử lý chủ quan và sơ tán muộn nhưng những con số mà Ủy ban Khoa học của Liên Hợp Quốc về Tác động của Bức xạ nguyên tử (UNSCEAR) cho thấy, chỉ có 28 người chết tại chỗ vì nhiễm phóng xạ cấp tính và trong vòng 25 năm sau đó thì 15 người chết vì ung thư tuyến giáp. Các nhà khoa học ước tính, có khoảng 16.000 người bị ung thư tuyến giáp do Chernobyl và khoảng 160 người trong số đó sẽ chết vì căn bệnh này. Mặc dù theo dõi tích cực sau ba thập kỷ, nhưng UNSCEAR cho biết không có bằng chứng khoa học nào về sự gia tăng tỷ lệ mắc hoặc tỷ lệ tử vong do ung thư khác ngoài ung thư tuyến giáp liên quan đến phơi nhiễm phóng xạ do thảm họa này gây ra. Hẳn nhiều người sẽ nghi ngờ về con số có vẻ đã được “làm đẹp” nhưng với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học uy tín ở các trường đại học lớn trên trên thế giới, kết quả mà đoàn giám sát của UNSCEAR là đáng tin cậy.    Cơ cấu điện năng ở Pháp và Đức, nguồn điện sạch ở Pháp là 93% trong khi ở Đức chỉ là 54%. Nguồn: Báo cáo 2016 về tình hình năng lượng toàn cầu của BP.   Shellenberger lưu ý, đối với tai nạn gần nhất là Fukushima, các trường hợp tử vong là do tác động của sóng thần chứ không phải do phơi nhiễm phóng xạ. Không chỉ Shellenberger nói về điều này tại diễn đàn ATOMEXPO 2019, năm năm sau trận sóng thần ở Nhật Bản, TS. David Robert Grimes, nhà nghiên cứu về vật lý y khoa và ung thư tại Đại học Oxford đã nhìn lại tai nạn này và đưa ra khẳng định trong bài viết “Tại sao đã đến lúc phải xua tan những thêu dệt xung quanh năng lượng hạt nhân” trên tờ TheGuardian, rằng “khối lượng phóng xạ bị rò rỉ tại đây nhỏ đến mức không có gì đáng lo ngại về sức khỏe; không có bức xạ nào có thể phát hiện được từ vụ tai nạn trong thực phẩm được trồng ở Fukushima cũng như ở cá được đánh bắt ngoài khơi”. Nếu so sánh những “thảm họa” này với những tai nạn thảm khốc của các loại hình năng lượng thì không đáng kể. TS. David Robert Grimes dẫn ra số liệu thiệt hại về người khi đập thủy điện Banqiao tại Trung Quốc bị vỡ là hơn 170.000 người và có 11 triệu người phải di cư.   Nhìn rộng hơn, các nguy cơ về phơi nhiễm phóng xạ đối với sức khỏe con người thấp hơn so với những mối đe dọa khác như ô nhiễm không khí hay do khói thuốc lá… Tình trạng ô nhiễm đáng báo động ở một số thành phố lớn khiến nguy cơ tử vong tăng cao lên 2,8%, còn những ai chung sống với người hút thuốc có nguy cơ tử vong tăng 1,7%. Trong khi đó, tỉ lệ những người làm công việc dọn dẹp ở Chernobyl tử vong do phơi nhiễm phóng xạ chỉ ở mức 1%.   Vậy còn đối với nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng từ các nhà máy điện hạt nhân đang được vận hành? Trước khi được các nhà vận động môi trường quan tâm, thì vấn đề chất thải hạt nhân đã được IAEA và cơ quan pháp quy của các quốc gia phát triển điện hạt nhân giám sát với một chu trình chặt chẽ và minh bạch. Xử lý chất thải hạt nhân hiện vẫn là một trong những vấn đề quan trọng của công nghệ hạt nhân và được các quốc gia hàng đầu về phát triển điện hạt nhân như Nga, Mỹ đầu tư nhiều kinh phí vào R&D nhằm tối ưu hơn quy trình này.    Tuy nhiên, công chúng vẫn bị ám ảnh bởi những thông tin đã cũ. “Vấn đề là công chúng đã được tiếp cận với quá nhiều thông tin không chính xác và sự thêu dệt xung quanh năng lượng hạt nhân”, Shellenberger chỉ ra nguyên nhân, “thậm chí là bị ám ảnh bởi tin giả và phim ảnh”. Vì vậy, theo quan điểm của anh, nhiệm vụ của các nhà khoa học và nhà môi trường là phải cung cấp thông tin chính xác về bức tranh công nghệ, năng lượng và môi trường để thay đổi nhận thức chung.   Dưới góc nhìn của Shellenberger và nhiều nhà nghiên cứu chính sách năng lượng khác, bên cạnh ưu điểm, mỗi loại hình năng lượng đều có điểm hạn chế, kể cả năng lượng tái tạo. Do đó, theo Shellenberger, một cơ cấu điện năng với sự chấp nhận các loại hình năng lượng khác nhau, tiến tới sử dụng năng lượng sạch nhưng không loại trừ điện hạt nhân mới là một chính sách điện năng hợp lý. Điều này có thể nhìn thấy khá rõ ràng qua trường hợp của Pháp, Đức và Nhật Bản. Trong khi Đức và Nhật đã dần đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân nhưng lại phải nhập khẩu năng lượng từ nguồn hóa thạch, và phát thải vẫn gia tăng (tới nay Nhật Bản đã quyết định tái khởi động nhà máy điện hạt nhân). Còn Pháp, đảm bảo được nguồn cung điện và giữ được môi trường trong sạch. Nếu “bạn thực sự quan tâm đến biến đổi khí hậu, thì sẽ phải hiểu sự thật về các nguồn năng lượng như trên”, Shellenberger nói.  Đó cũng là quan điểm của TS. David Robert Grimes: Năng lượng hạt nhân cũng có nhược điểm và rủi ro và giống như bất kỳ hình thức sản xuất năng lượng nào khác. Nhưng nó là loại hình năng lượng sạch, an toàn và đem lại hiệu quả to lớn. Nếu chúng ta thực sự muốn có một cuộc thảo luận hợp lý về cách cung cấp năng lượng tốt nhất, thì cần tìm hiểu về sự thật hơn là tin vào những hư cấu xung quanh nó.□    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Những hiểu nhầm về ung thư: Từ ‘hóa chất’ trong thực phẩm đến wifi      Có những điều chỉ là cường điệu về nguy cơ dẫn tới ung thư trong cuộc sống – nhưng lại ngày càng trở nên phổ biến. Đâu là sự thật và sự hư cấu?    Điện thoại di động và wifi  Ở Mỹ, hầu như không ai sử dụng điện thoại di động vào năm 1992. Đến năm 2008, việc sử dụng điện thoại di động đã lan rộng, nhưng số người bị u não hầu như không thay đổi. Nghiên cứu Interphone của Tổ chức Y tế Thế giới, khảo sát hàng ngàn người trên khắp 13 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2006, cũng nhận thấy rằng điện thoại di động không làm tăng nguy cơ bị u não.  Về cơ bản, ung thư là do DNA của chúng ta bị hỏng mà vẫn nhưng quá trình phân chia và tái tạo tế bào lại vẫn diễn ra giống như cơ thể vẫn đang khỏe mạnh bình thường. Bức xạ ion hóa, chẳng hạn như trong tia X hoặc xạ trị, mang một lượng năng lượng khổng lồ, còn điện thoại di động chỉ mang một lượng năng lượng nhỏ. Phá vỡ hoặc gây tác động lên DNA đòi hỏi rất nhiều năng lượng, vượt xa khả năng của điện thoại di động. Wifi còn truyền năng lượng ít hơn so với điện thoại di động.   “Nhìn chung, bằng chứng hiện tại về mối quan hệ nhân quả giữa bức xạ RF (tần số vô tuyến) từ điện thoại di động và ung thư được tìm thấy là rất yếu hay không tồn tại”. Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế liệt kê điện thoại di động vào nhóm “có thể  gây ung thư”, nhưng phân loại này chỉ có nghĩa là có thể có một liên kết giả định không thể loại trừ, hơn là khả năng gây ung thư thực sự.  Thực phẩm hữu cơ  Có một niềm tin phổ biến, được tuyên truyền bởi nhiều blogger không có chuyên môn, rằng thực phẩm hữu cơ có đặc tính “chống ung thư”. Tuy nhiên, Michelle McCully, người đứng đầu nhóm Giải thích nghiên cứu tại Quỹ nghiên cứu Ung thư thế giới, một trong những cơ quan hàng đầu thế giới về chế độ ăn uống và ung thư, nói: “Hiện tại chưa có bằng chứng rõ ràng nào để ủng hộ ý tưởng các sản phẩm hữu cơ tăng khả năng chống ung thư so với thực phẩm trồng thông thường”.  Hóa chất và ô nhiễm  “Hóa chất” là một từ bị hiểu lầm nhiều – tất cả mọi thứ, kể cả không khí chúng ta hít thở, là một “hóa chất”. Các quy định của EU bảo vệ chúng ta khỏi sự tiếp xúc với các mức hóa chất công nghiệp có thể gây hại cho sức khỏe. Có một phần nhỏ nguy cơ ung thư phổi liên quan đến ô nhiễm không khí, nhưng xem xét toàn diện trong bối cảnh sinh sống của mỗi cá nhân thì thấy rằng nguy cơ [dẫn tới ung thư phổi] này cho mỗi cá nhân là rất nhỏ.  Katie Edmunds từ Cơ quan nghiên cứu ung thư Anh nói: “Trong thời đại của tin giả, có rất nhiều ‘lời đồn đại’ liên quan đến ung thư mà mọi người không cần phải lo lắng, chẳng hạn như sử dụng chai nhựa hoặc chất khử mùi”.  Nguy cơ do béo phì  Thực tế, có một số khía cạnh của lối sống hiện đại của chúng ta cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư nhưng cần lưu ý dựa vào các  khuyến nghị phòng chống ung thư của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới – vốn dựa trên những bằng chứng nghiên cứu chặt chẽ qua nhiều thập kỷ.  Theo Emma Shields, ở Cơ quan Nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh, nói: “Béo phì là nguyên nhân gây ung thư lớn thứ hai có thể ngăn chặn được ở Anh. Mỗi năm, khoảng 22.800 trường hợp ung thư là do thừa cân hoặc béo phì. Mặc dù vậy, chỉ có 15% số người nhận thức được mối liên kết này”.  Ít vận động và uống nhiều rượu là những yếu tố nguy cơ khác. Ngoài ra bất cứ ai muốn cải thiện sức khỏe của mình thông qua chế độ ăn uống nên đặc biệt thận trọng về trình độ của người tư vấn cho mình. Chuyên gia dinh dưỡng, những người dành nhiều năm đào tạo y khoa, là những người tốt nhất để tham vấn.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn:  https://www.theguardian.com/science/2018/aug/20/modern-myths-about-cancer-from-chemicals-in-food-to-wifi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hình dạng của không gian      Các đa tạp (manifold) là những cấu trúc toán học. Các nhà toán học biết nhiều về các 3-đa tạp (đa tạp ba chiều), nhưng những vấn đề cơ bản nhất của chúng lại luôn là những vấn đề khó nhất. Có một lĩnh vực nghiên cứu các đa tạp được gọi là topology (topo học). Đối với những 3-đa tạp, các nhà topo có thể đặt ra ba câu hỏi căn bản: Dạng nào là dạng đơn giản nhất của 3-đa tạp?,Dạng đơn giản đó có duy nhất hay không? Có những dạng 3-đa tạp nào?  Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên đã được biết từ lâu: hình cầu ba chiều là 3-đa tạp đóng đơn giản nhất. Hai câu hỏi còn lại đã được để ngỏ trong cả một thế kỷ. Mãi đến năm 2002 chúng mới được giải đáp bởi Grigori (“Grisha”) Perelman. Nhà toán học người Nga này hiện được coi là đã thành công trong việc chứng minh một định lý mang tầm thế kỷ.    Được phỏng đoán bởi Henri Poincaré 100 năm về trước, định lý này phát biểu rằng, hình cầu ba chiều là duy nhất, không hề có 3-đa tạp nào khác có cùng tính chất đơn giản như nó. Những 3-đa tạp mà phức tạp hơn hình cầu ba chiều thì sẽ có các biên hoặc những liên thông tổ hợp từ vùng này sang vùng khác. Tiên đoán của Poincaré cho rằng, hình cầu ba chiều là 3-đa tạp đóng duy nhất mà không hề có những tính chất phức tạp đó. Bất cứ vật thể ba chiều nào mà có cùng tính chất với hình cầu thì đều có thể đưa về cùng hình dạng với hình cầu. Và theo các nhà topo, vật thể đó chẳng qua chỉ là một bản sao khác của hình cầu ba chiều. Chứng minh của Perelman cũng đã trả lời cho câu hỏi thứ ba: nó đã phân loại toàn bộ các loại 3-đa tạp có thể tồn tại.    Chứng minh phỏng đoán  Sau khi Poincaré đưa ra phỏng đoán về hình cầu ba chiều, cả một nửa thế kỷ đã trôi qua trước khi có những nỗ lực thực sự nhằm chứng minh nó. Trong  những năm 1960, các nhà toán học đã chứng minh được những bài toán tương tự cho các hình cầu có 5 chiều hoặc nhiều hơn 5 chiều. Trong mỗi trường hợp, hình cầu n chiều là duy nhất và nó là đa tạp đơn giản nhất trong các đa tạp n chiều. Nghịch lý là ở chỗ, việc chứng minh cho những hình cầu có số chiều nhiều hơn 3 hoặc 4 thì lại dễ hơn. Trường hợp hình cầu 4 chiều từng được coi là đặc biệt khó thì đã được chứng minh vào năm 1982. Chỉ còn lại trường hợp ba chiều gắn liền với phỏng đoán của Poincaré là còn nan giải.  Cho đến tháng 11/2002, người mới có thể nghĩ đến việc khép lại bài toán ba chiều hóc búa khi Perelman, một nhà toán học ở Viện Toán học Steklov, St. Petersburg đăng một bài báo trên www.arxiv.com (một trang web được sử dụng rộng rãi bởi các nhà vật lý và toán học trên toàn thế giới). Bài báo không hề nhắc đến cái tên Poincaré nhưng các chuyên gia topo đã ngay lập tức nhận ra được sự liên quan của nó đến bài toán này. Perelman đăng tiếp một bài báo thứ hai vào tháng 3/2003. Và từ tháng 4 đến tháng 5 năm đó, ông đến Mỹ để thực hiện một loạt các bài seminar về kết quả của mình ở Viện Công nghệ Massachusetts và Đai học Stony Brook. Các nhóm toán học ở hàng chục viện nghiên cứu bắt đầu chú ý đặc biệt đến kết quả của ông, xăm soi đến từng chi tiết nhằm tìm ra các lỗi.  Ở Stony Brook, Perelman dành hai tuần để thực hiện các bài giảng chính thức và không chính thức, nói từ 3 đến 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày. “Ông đã trả lời mọi câu hỏi một cách cực kỳ rõ ràng và tường minh”, nhà toán học Michael Anderson ở Stony Brook nói”, chưa ai có thể đưa ra bất cứ sự nghi ngờ đáng kể nào”. Có thêm một bổ đề nhỏ được chứng minh để hoàn tất kết quả, Anderson nói, “nhưng không có nghi ngờ nào về giá trị của công trình này”. Bài báo thứ nhất của Perelman là những ý tưởng cơ bản, và đã được chấp nhận vì tính thuyết phục. Bài báo thứ hai là những áp dụng và những lập luận mang tính kỹ thuật hơn.  Có một giải thưởng 1 triệu đôla cho ai chứng minh được phỏng đoán của Poincaré. Đây là một trong bảy “Bài toán Thiên niên kỷ”, được chọn ra vào năm 2000 bởi Viện Toán học Clay ở Cambridge. Chứng minh của Perelman cần phải trụ vững được trong hai năm trước sự xem xét kiểm tra của toàn bộ giới toán học để có thể xứng đáng được nhận giải.  Công trình của Perelman đã mở rộng và hoàn tât một chương trình nghiên cứu mà Richard S. Hamilton ở Đại học Columbia đã bắt đầu khai phá từ những năm 1990. Viện Clay đã ghi nhận thành quả của Hamilton với một giải thưởng nghiên cứu vào cuối năm 2003. Những tính toán và phân tích của Perelman đã vượt qua được những chướng ngại mà trước đây Hamilton không thể vượt qua.             Grigori Perelman mô tả chứng minh của ông ở Đại học Princeton (tháng 4/2003)        Những chiếc bánh rán bằng cao su  Để hiểu hơn phỏng đoán Poincaré và chứng minh Perelman, bạn cần phải biết một chút gì đó về topology. Trong lĩnh vực toán học này, hình dạng chính xác của một vật thể là không có giá trị, bởi vì bạn có thể nhào nặn, kéo căng hoặc nén nó lại như một cục bột làm bánh dẻo. Nhưng tại sao chúng ta lại quan tâm đến không gian được làm từ cục bột tưởng tượng này? Lý do liên quan đến một thực tế là, hình dạng chính xác của một vật thể – khoảng cách giữa hai điểm của nó – là một mức của cấu trúc. Và cái đó được gọi là hình học của vật thể. Bằng việc xem xét một cục bột làm báng dẻo, các nhà topo đã khám phá ra rằng, những tính chất của vật thể là cơ bản đến mức chúng tồn tại độc lập với cấu trúc hình học của nó. Nghiên cứu topo cũng giống như sự tìm hiểu các đặc điểm chung của loài người qua việc xem xét “một mẫu người bằng đất nặn”, và cái mẫu người ấy có thể được biến hóa theo nhiều cách khác nhau để trở thành những cá nhân cụ thể.  Nếu bạn đã đọc bất cứ một tài liệu liệu phổ biến nào về topology, bạn có lẽ sẽ biết đến một ví dụ kinh điển là, đối với một nhà topo, một cái chén và một cục đất nặn là không thể phân biệt được. Vấn đề là bạn có thể dễ dàng biến một cái chén bằng đất nặn thành một cái bánh rán (mỗi tội là không ăn được). Nói theo kiểu tinh thần của Tết Trung Thu thì đối với một nhà topo, cái bánh dẻo hình con cá và cái bánh dẻo hình hộp chẳng có gì khác nhau cả.  Điều mà các nhà topo quan tâm chủ yếu chính là bề mặt của những quả bóng và những cái bánh rán. Thực ra, topology vẫn cho thấy một sự khác biệt, vật thể hình cầu không thể biến dạng thành hình vòng xuyến được, tức là quả bóng không thể biến thành cái bánh vừng vòng được. Tức là, một quả cầu và một vòng xuyến là những thực thể riêng biệt. Các nhà topo trước đây đã quyết định tìm xem các bao nhiêu thực thể khác biệt về mặt topo như vậy có thể tồn tại, và chúng được đặc trưng hóa như thế nào. Đối với các bề mặt hai chiều, câu hỏi sẽ được rút về một cách gọn gẽ là: bề mặt đó có bao nhiêu cái “tay cầm”.  Đến cuối thế kỷ 19, các nhà toán học đã biết cách để phân loại các bề mặt. Và một cách tự nhiên, học đã bắt đầu quan tâm đến những đa tạp ba chiều. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là, những hình cầu ba chiều có tương tự như hình cầu hai chiều, tức là sẽ duy nhất về tính đơn giản hay không? Một lịch sử  dài cả thế kỷ trong toán học đã theo đuổi câu hỏi cơ bản đó với đầy rẫy những nỗ lực chỉ đem lại thất bại.  Chính Henri Poincaré đã trả lời câu hỏi này bằng trực cảm. Ông là một trong hai nhà toán học xuất chúng nhất đầu thế kỷ 20 (người kia là David Hilbert). Poincaré đã thể hiện tài năng của mình trong tất cả các lĩnh vực toán học, cả thuần túy lẫn ứng dụng. Ngoài việc phát triển một số lớn các lĩnh vực toán học, ông còn đóng góp cho các lý thuyết về cơ học thiên thể, điện từ học, và cả triết học về khoa học.  Poincaré đã phát triển trên phạm vi rộng một lĩnh vực toán học được gọi là topo đại số. Vào khoảng năm 1900, ông đã xây dựng được một phép đo topo cho vật thể, gọi là homotopy. Để xác định homotopy của một đa tạp, hãy tưởng tượng bạn có một vòng kín trong đa tạp đó. Vòng kín có thể được uốn vòng quanh đa tạp theo bất cứ kiểu khả dĩ nào. Khi ấy, chúng ta sẽ hỏi, liệu cái vòng kín có thể luôn luôn co lại thành một điểm chỉ bằng việc di chuyển vòng quanh mà luôn luôn tiếp xúc với đa tạp hay không? Đối với trường hợp hình xuyến, câu trả lời là không. Nếu vòng kín chạy xung quanh chu vi của hình xuyến, nó sẽ co lại theo đường tròn trong của cái bánh vừng vòng, và không thể trở thành một điểm.  Trong một hình cầu n chiều, bất kể bị xoắn lại thế nào thì vòng kín luôn luôn có thể được gỡ rối và co lại thành một điểm. Poincaré đã nhận định rằng, 3-đa tạp duy nhất mà trên đó mọi vòng kín khả dĩ đều có thể co về một điểm chính là một hình cầu ba chiều. Tuy nhiên, ông đã không thể chứng minh được điều này. Đây chính là phỏng đoán Poincaré mà qua nhiều thập kỷ, nhiều người đã cố gắng chứng minh là nó sai bởi vì đơn giản là họ đã không thể chứng minh là nó đúng.  Hình học hóa  Chứng minh của Perelman là thành công đầu tiên có tính thuyết phục cao. Phương pháp của ông là phân tích các đa tạp ba chiều được liên hệ với một thủ tục gọi là sự hình học hóa. Hình học liên hệ với hình dạng thực tế của một vật thể hay đa tạp: đối với hình học, một vật thể là “được làm bằng gốm” chứ không phải “bột bánh dẻo”.  Để biết được Perelman đã sử dụng sự hình học hóa như thế nào, hãy xét cách mà hình học được sử dụng để phân loại các 2-đa tạp, hay các bề mặt  Mỗi bề mặt topo được gắn với một hình học đặc biệt duy nhất: theo đó, đường cong của bề mặt được trải ra một cách đồng đẳng trên đa tạp, tức là chỗ nào nó cũng có độ cong như nhau. Đối với hình cầu, hình học duy nhất đó là một mặt cầu hoàn hảo. Dạng quả trứng là một hình học khả dĩ khác, tuy nhiên nó không thỏa mãn điều kiện trên, bởi vì đầu nhỏ của quả trứng sẽ cong hơn đầu to.  Các 2-đa tạp tạo nên ba kiểu hình học. Hình cầu được coi là có độ cong dương, hình xuyến được hình học hóa là phẳng, có độ cong bằng không, giống như mặt phẳng. Tât cả các 2-đa tạp khác mà có từ hai “tay cầm” trở lên thì đều có độ cong âm, ví dụ như cái yên ngựa. Poincaré cùng với Paul Koebe và Felix Klein đã đóng góp cho sự hình học hóa này. Đó là sự hình học hóa của các 2-đa tạp.  Sẽ là tự nhiên nếu ta thử áp dụng những phương pháp như vậy cho các 3-đa tạp. Liệu có thể tìm ra những hình học duy nhất cho các 3-đa tạp topo mà trên chúng, đường cong cũng trải ra một cách đồng đẳng hay không?  Hóa ra là, các 3-đa tạp rắc rối hơn các 2-đa tạp rất nhiều. Hầu hết các 3-đa tạp đều không thể được gắn với một hình học đồng nhất. Thay vào đó, chúng phải bị cắt thành những mẩu nhỏ, mỗi mẩu có một hình học chính tắc riêng biệt. Hơn nữa, thay vì chỉ có ba hình học cơ bản như trường hợp các 2-đa tạp, các 3-đa tạp có thể có tới tám hình học chính tắc.  Kiểu phân loại này lần đầu tiên được phỏng đoán bởi Thurston vào cuối những năm 1970. Ông và các cộng sự đã chứng minh được một số khía cạnh của nó, nhưng điểm mấu chốt, là toàn bộ hệ phụ thuộc vào phần còn lại vẫn chưa thể nắm bắt được, bao gồm cả phần chứa đựng phỏng đoán Poincaré. Các hình cầu ba chiều có duy nhất hay không? Các công trình của Perelman đã trả lời cho câu hỏi đó, đồng thời đã hoàn thành chương trình Thurston.  Hamilton đã bắt đầu một chương trình phân tích các 3-đa tạp vào đầu những năm 1990, sử dụng một phương trình gọi là dòng Ricci (lấy theo tên nhà toán học Gregorio Ricci-Curbastro), tương tự như phương trình của dòng nhiệt. Trong một vật có sự chênh lệch nhiệt độ, nhiệt lương sẽ truyền một cách tự nhiên từ nơi nóng hơn sang nơi lạnh hơn cho đến khi nhiệt độ tại moi nơi là như nhau. Phương trình dòng Ricci có một hiệu ứng tương tự như vậy xảy ra với độ cong, nó sẽ làm mất dần đi những lồi lõm, tức là làm mất dần đi sự chênh lệch độ cong. Nếu bạn bắt đầu với một hình quả trứng, nó sẽ dần dần trở thành một hình cầu hoàn hảo.  Phép phân tích của Hamilton đã gặp phải một chướng ngại: trong một số trường hợp nhất định, dòng Ricci sẽ khiến một đa tạp bị co thành một điểm. Một ví dụ là khi đa tạp có hình quả tạ tay, tức là hai hình cầu được nối với nhau bằng một trục. Các quả cầu sẽ thu hút vật chất từ cái trục và khiến cho phần giữa trục trở thành một điểm. Một ví dụ khác là khi một que nhỏ được gắn vào một đa tạp, dòng Ricci có thể gây ra một rắc rối được gọi là kỳ dị hình điếu xì-gà. Khi các đa tạp bị biến dạng như thế này, nó sẽ được gọi là kỳ dị và không còn là một đa tạp ba chiều thực sự nữa. Để vượt qua được trở ngại này, người ta đã phải trông cậy vào tài năng của Perelman.  Perelman đã đến Mỹ vào năm 1992 để làm tiến sỹ. Ông học một thời gian ở Đại học New York và Stony Brook, sau đó dành 2 năm ở Đại học California, Berkeley. Perelman nhanh chóng trở thành một tài năng trẻ sáng giá khi chứng minh được những kết quả quan trọng và sâu sắc trong một lĩnh vực hình học. Ông được trao tặng một giải thưởng của Hội Toán học châu Âu (ông đã từ chối nhận) và nhận một lời mời danh dự đọc diễn văn trước Hội đồng Toán Quốc tế. Mùa xuân năm 1995, từ chối những lời mời hấp dẫn của các trung tâm toán học nổi tiếng, Perelman đã trở về nhà mình ở St. Petersburg. “Về mặt văn hóa, ông là một con người rất Nga,” một đồng nghiệp người Mỹ nhận xét, “Ông theo chủ nghĩa coi khinh vật chất.”  Sau khi về St. Petersburg, Perelman gần như biến mất trong làng toán học quốc tế. Sau nhiều năm, ông đã chỉ xuất hiện khi gửi e-mail cho các đồng nghiệp cũ để chỉ ra những sai sót trong  các công trình mà họ đã đăng trên internet. Những e-mail gửi lại cho ông để hỏi về tình hình công việc thì đều không nhận được trả lời.  Cuối cùng, vào cuối năm 2002, một vài người đã nhận được e-mail của Perelman rằng, ông đã đăng công trình của mình trên mạng, và họ có lẽ sẽ tìm thấy điều gì đó đáng quan tâm trong công trình này. Đó là cuộc tấn công đầu tiên của Perelman đối với phỏng đoán Poincaré. Trong bài báo của mình, ngoài việc nhắc đến Viện Steklov của mình, Perelman tỏ ra biết ơn về số tiền hỗ trợ mà ông đã dành dụm được khi còn làm tiến sỹ ở Mỹ.  Trong công trình của mình, Perelman đã đưa vào một số hạng mới cho phương trình dòng Ricci. Phương trình thu được tuy không loại bỏ những rắc rối về kỳ dị nhưng nó đã cho phép Perelman thực hiện sự phân tích sâu sắc hơn. Với những kỳ dị cho trường hợp đa tạp quả tạ, ông đã chỉ ra rằng, cách “điều trị” có thể được tiến hành như sau: cắt đi sự biến dạng của mỗi bên và hàn lại chỗ hở trên mỗi quả tạ bằng một chỏm cầu. Khi ấy dòng Ricci có thể tiếp tục làm biến đổi đa tạp song song với thủ tục “phẫu thuật” như vậy. Ông cũng chỉ ra rằng, các kỳ dị xì-gà là không thể xảy ra. Theo cách này, một 3-đa tạp bất kỳ có thể được đưa về một tập hợp các mẩu nhỏ, mỗi mẩu có một hình học đồng nhất.  Khi dòng Ricci và phép phẫu thuật được áp dụng cho tất cả các 3-đa tạp khả dĩ, bất cứ đa tạp nào mà cũng “đơn giản” như hình cầu ba chiều thì cuối cùng nhất thiết phải có cùng hình học đồng nhất như hình cầu ba chiều. Điều đó có nghĩa là về mặt topo, đa tạp cần tìm chính là hình cầu ba chiều và nó là duy nhất.            Poincaré đang nói chuyện với Marie Curie tại Hội nghị Vật lý Solvay lần thứ nhất (Brussels tháng 10/1911). Những người đứng đằng sau (từ trái sang phải) là Ernest Rutherford, Heike Kamerlingh Onnes và Albert Einstein. Đây là lần duy nhất Einstein và Poincaré gặp nhau. Poincaré đã mất sau đó 9 tháng.        Ngoài việc chứng minh phỏng đoán Poincaré, nghiên cứu của Perelman còn rất quan trọng cho những kỹ thuật phân tích mới, các nhà toán học cũng đang áp dụng công trình của ông để đi tìm lời giải cho những bài toán khác. Thêm vào đó, toán học cũng có những mối liên hệ kỳ lạ với vật lý. Dòng Ricci thực ra là có liên quan đến cái gọi là nhóm tái chuẩn hóa, xác định sự thay đổi cường độ của các tương tác phụ thuộc vào năng lượng lượng va chạm. Chẳng hạn, ở những năng lượng thấp, tương tác điện từ có cường độ được đặc trưng bởi con số 0,0073 (khoảng 1/137). Nếu hai electron va vào nhau ở tốc độ gần với ánh sáng, cường độ khi ấy sẽ là xấp xỉ 0,0078.  Tăng năng lượng va chạm là tương đương với nghiên cứu lực ở khoảng cách gần hơn. Do dó, nhóm tái chuẩn hóa giống như một chiếc kính hiển vi với độ phóng đại có thể thay đổi để khảo sát một quá trình ở những mức độ tinh tế khác nhau. Tương tự như vậy, dòng Ricci là chiếc kính hiển vi dùng để quan sát các đa tạp ở một độ phóng đại được chọn. Những lồi lõm nhìn thấy được ở  một độ phóng đại này có thể biến mất ở một độ phóng đại khác. Các nhà vật lý mong đợi rằng, ở thang chiều dài Planck (khoảng 10-35m), không gian mà chúng ta đang sống sẽ trông hoàn toàn khác, nó sẽ lổn nhổn với những vòng kín, “tay cầm” và các cấu trúc topo khác. Toán học mô tả sự thay đổi các lực vật lý là rất giống với toán học mô tả sự hình học hóa của một đa tạp.     Một mối liên hệ khác với vật lý là ở chỗ các phương trình thuyết tương đối tổng quát. Chúng mô tả lực hấp dẫn và cấu trúc trên phạm vi lớn của vũ trụ, được liên hệ gần gũi với phương trình dòng Ricci. Hơn nữa, số hạng mà Perelman đã thêm vào thực ra là nảy sinh trong lý thuyết dây, một lý thuyết lượng tử về hấp dẫn. Chúng ta hãy chờ xem những khám phá của Perelman có đem lại điều gì mới cho lý thuyết tương đối tổng quát và lý thuyết dây hay không.     Trần Trung lược dịch.    Trong thời gian ở Trung Quốc, Khâu Thành Đồng – nhà toán học gốc Hoa duy nhất đến nay đoạt Huy chương Fields – đến tìm học trò cũ Chu Hi Bình, trưởng khoa toán ĐH Tôn Dật Tiên; trước đó, Khâu đã tuyển Chu và một đệ tử khác của mình, Tào Hoài Đông, giáo sư ĐH Lehigh, vào công việc kiểm chứng lời giải của Perelman. “Chúng ta phải tìm hiểu xem bài báo của Perelman có toàn vẹn không” –  Khâu Thành Đồng nói với họ.  Tháng 4/2006,  tạp chí Toán học Châu Á (A.J.M) do Khâu Thành Đồng đồng chủ biên đã đăng bài báo của Chu và Tào “Bài chứng minh hoàn thiện các giả thuyết Poincaré và hình học hóa: Ứng dụng của Lý thuyết Hamilton-Perelman về dòng Ricci” với lời bình luận: “bài chứng minh này nên được coi là một thành tựu to lớn của Lý thuyết Hamilton-Perelman về dòng Ricci”.  Tháng 6/2006, Khâu bắt đầu quảng bá công lao của hai học trò trong việc nghiên cứu giải quyết giả thuyết Poincaré: “Hamilton đóng góp hơn 50%, người Nga, Perelman đóng góp khoảng 25%, và người Trung Quốc: Khâu, Chu và Tào, đóng góp khoảng 30%”. (Một nhà toán học hàng đầu đôi khi cũng có phép cộng kì cục như vậy!)  Những động thái trên khiến giới toán học có cảm giác Khâu đang tước đoạt những công lao của Perelman trong việc giải quyết hoàn toàn giả thuyết Poincaré. Perelman thì cho rằng: “Có vẻ như Chu không hiểu lắm bài báo của tôi và chỉ cố gắng xây dựng lại lời giải”. Còn về Khâu Thành Đồng, ông nói: “Tôi không thể nói rằng tôi bị xúc phạm. Có những người khác còn làm những điều xấu xa hơn…”      Trong khi Khâu Thành Đồng đang nỗ lực quảng bá cho công lao của học trò mình thì 9 nhà toán học lỗi lạc của Hiệp hội Toán học thế giới (International Mathematical Union, I.M.U) đã nhất trí chọn Perelman là người được nhận huy chương Fields với công trình của anh về Giả thuyết Poincare; và Chủ tịch John M. Ball đã đến St. Petersburg thuyết phục Pérelman đến nhận giải thưởng trong lễ trao giải công khai tại Đại hội của Hiệp hội Toán học thế giới (4 năm tổ chức 1 lần) vào ngày 22/8 tại Madrid. Thế nhưng những gì mà Ball nhận được chỉ là một câu nói đơn giản: “Tôi từ chối”.  Mikhail Gromov, nhà hình học người Nga, nói rằng ông hiểu được lô-gích của Perelman: “Để làm được những công việc vĩ đại, bạn phải có một tinh thần thanh khiết. Bạn chỉ có thể suy nghĩ về Toán học mà thôi. Bất cứ điều gì khác đều là điểm yếu của con người. Đồng ý nhận giải thưởng cũng là một điểm yếu. Những nhà khoa học lý tưởng chỉ làm khoa học và không quan tâm đến gì khác”.  Graham P. Collins          Author                Quản trị        
__label__tiasang Những hộ tiểu nông trước “cơn sóng thần” toàn cầu hóa      Một nghiên cứu mới đây vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về những hộ tiểu nông trên toàn thế giới trước sự tác động của toàn cầu hóa. Việc những người nông dân này sẽ bị “cuốn trôi” hay nhận được một “làn sóng” cơ hội mới từ toàn cầu hóa sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc họ có thể nắm được những quyền kiểm soát nào.      Nông dân trồng vanilla ở Madagascar. Nguồn: BBC.  Dù trồng đậu nành ở Trung Quốc, trồng vanilla ở Madagascar, acai ở Amazon cho đến trồng cao su ở Myanmar, vị trí của các nông hộ nhỏ trong một thị trường khu vực và toàn cầu mới và có nhịp độ nhanh sẽ không được hiểu một cách đầy đủ nếu chưa được xem xét và đặt vào trong bối cảnh cùng với các đối tác, đối thủ cạnh tranh khác. Do đó, các nhà khoa học ở ĐH bang Michigan (MSU) cùng các nhà khoa học khác trên thế giới đã có một nghiên cứu mới “Understanding How Smallholders Integrated into Pericoupled and Telecoupled Systems” (Tìm hiểu về cách thức các nông hộ hòa nhập vào hệ thống Pericoupling và Telecoupling) trên Sustainability.   Nhóm nghiên cứu đã xem xét 12 trường hợp nông hộ nhỏ: nông dân ở Kenya phải vật lộn để có thể trồng được nhiều ngô hơn trong điều kiện thiếu nước, nông dân trồng đậu nành ở Trung Quốc thì lại lệ thuộc vào các thị trường khổng lồ do Brazil và Mỹ thống trị, người trồng vanilla ở Madagascar phải chịu tác động mạnh bởi sự không ổn định của giá cả, còn những người trồng quả acai berry ở Brazil lại tìm cơ hội để bán các loại cây trồng mới phổ biến của mình ra các thành phố lớn.  Các nông hộ đều bị coi là thụ động trước những áp lực từ bên ngoài – bị cuốn theo làn sóng khốc liệt của toàn cầu hóa. Tuy nhiên, Yue Dou, một cựu cộng tác viên nghiên cứu CSIS hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu Môi trường ở Amsterdam, lại cho rằng dòng chảy này đã khắc họa một bức tranh nhiều sắc thái hơn thế. “Toàn cầu hóa không phải là cách duy nhất mà các nông hộ này có thể hội nhập với thế giới”, Dou nói. “Ngoài gửi và nhận các mặt hàng nông sản, những người sản xuất nhỏ cũng tham gia vào các hoạt động khác, ví dụ như di cư lao động hay trao đổi công nghệ. Trong số những sự liên kết đa dạng đó, có một số thì kết nối với các thị trường ở xa, trong khi một số lại kết nối với các thị trấn và ngôi làng lân cận, và cả hai trường hợp này đều tồn tại đồng thời. Khung telecoupling cho phép chúng tôi tìm hiểu được các cách thức khác nhau mà những người nông dân này giao lưu với thế giới, từ đó làm sáng tỏ khả năng của họ cũng như những hướng đi tiềm năng giúp cải thiện môi trường và kinh tế trong hệ thống”.  Bài báo đã nghiên cứu cách mà một số người trồng acai benycó được cuộc sống mới với những cơ hội việc làm và giáo dục tốt đẹp hơn ở ngôi nhà thứ hai gần các thành phố, nhờ vào việc sử dụng loại cây trồng tên acai mới được ưa chuộng này. Những người nông dân Kenya cũng nhận thấy nhiều lợi ích trong mối quan hệ hợp tác mới với người Trung Quốc – những người đã chia sẻ hệ thống che phủ bảo vệ cây mới trồng, giúp người nông dân Kenya tiết kiệm được nguồn nước quý giá đồng thời nâng cao năng suất ngô.  Bên cạnh đó, một số người khác thì lại rất vất vả để có thể nắm được quyền tự chủ. Những người nông dân trồng đậu ở miền Bắc tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc gần như không thể kiểm soát được giá đậu tương nành toàn cầu và bị ép buộc phải quyết định trồng các loại cây không theo ý muốn. Những quyết định này có thể sẽ đem lại nhiều hậu quả cho môi trường vì các giống phải trồng là các loại cây cần nhiều phân bón.  “Từ nghiên cứu tổng hợp 12 trường hợp này, các tác giả đã nhận ra rằng nếu như những người nông dân chủ yếu giao lưu và kết nối với các vùng lân cận thay vì các vùng xa xôi thì họ có thể có nhiều lựa chọn sinh kế hơn và đạt được những kết quả tổng thể tốt hơn cả vể mặt kinh tế, môi trường và phúc lợi xã hội”, Dou nhận định. “Còn khi các nông hộ nhỏ này tham gia vào các hệ thống ở xa thì điều quan trọng nhất là họ được trao quyền tiếp cận với nhiều cơ hội sinh kế hơn. Và đôi khi điều này có thể được cải thiện bằng cách tạo ra những kết nối với những hệ thống lân cận”. □  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-02-small-farmers-globalization-tsunami.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những kết quả cuối cùng từ thí nghiệm STEREO loại trừ giả thuyết hạt neutrino trơ      Sau nhiều năm vận hành, nhóm hợp tác STEREO xuất bản những kết quả cuối cùng của nghiên cứu phản hạt neutrino của họ. Với dữ liệu thu được, các nhà nghiên cứu loại trừ những gợi ý về sự tồn tại của các hạt neutrino trơ, một trạng thái được nhiều lý thuyết đưa thêm vào hạt neutrino.     Kết quả này, được công bố vào trên Nature 1, có những gợi ý quan trọng với nhiều lĩnh vực của vật lý hạt cơ bản.  Trong vật lý hạt hiện đại, tất cả những hạt cơ bản và các tương tác của chúng đều được miêu tả trong Mô hình chuẩn của vật lý hạt. Mô hình này gồm các hạt neutrino, loại hạt được Wolfgang Pauli phát hiện vào năm 1930, tuân theo luật bảo toàn năng lượng phổ quát. Các hạt neutrino rất nhẹ, trung hòa về điện tích và tương tác chủ yếu qua lực điện yếu. Do đó vô cùng khó để dò chúng. Một cuộc thực nghiệm dò tìm trực tiếp chỉ có thể thực hiện kể từ năm 1956.  Ngày nay có ba dạng neutrino được biết đến. Các neutrino có thể thay đổi hương (vị) giữa ba trạng thái khác nhau của chúng. Người ta có thể nhận biết điều này dựa vào khối lượng của chúng, dù cực nhỏ nhưng khác không. Đó là dao động neutrino và nó chỉ được biết đến ở hai thập kỷ trước.  Vào năm 2011, độ chính xác của các thiết bị tham gia thí nghiệm gia tăng cho phép các nhà khoa học phát hiện ra một dị thường giữa thông lượng phản hạt neutrino phát ra từ các lò phản ứng hạt nhân được quan sát và dự đoán. Điều này kích hoạt giả thuyết về sự tồn tại của một trạng thai neutrino bổ sung có thể là trơ, không tương tác qua tương tác yếu. Hạt này có thể giải thích các hiện tượng vật lý vẫn còn chưa được hiểu một cách đầy đủ, ví dụ như vật chất tối.  Để kiểm tra giả thuyết hạt neutrino trơ và xác định các đặc tính nhập nhằng của nó, thí nghiệm STEREO được thiết kế và bắt đầu vào năm 2017 tại lò phản ứng nghiên cứu thông lượng cao ở ILL Grenoble. Một máy dò bao gồm sau nguyên tố đã được nhận biết được đặt chỉ cách lõi lò phản ứng 10 mét.  Dự án đã học hỏi được kinh nghiệm từ các thí nghiệm về hạt neutrino từ lò phản ứng nhiều năm. Việc che chắn khỏi môi trường bên ngoài, các bộ phận của máy dò được đặt ở vị trí lý tưởng để có thể tăng tính chính xác trong tìm kiếm được tín hiệu các hạt neutrino trơ: vị trí phụ thuộc vào những biến dạng trong phân bố năng lượng của chúng, vốn có thể xuất hiện ở khoảng cách ngắn với lò phản ứng.  Hiện tại, nhóm hợp tác STEREO, bao gồm các nhà nghiên cứu từ Viện Max-Planck-Institut für Kernphysik (MPIK) ở Heidelberg, Đức và Viện nghiên cứu CEA Saclay, CNRS, Pháp, ĐH Grenoble Alpes, Savoie Mont Blanc cũng như Viện Laue-Langevin (ILL) đã xuất bản những kết quả mới của họ, bao gồm toàn bộ dữ liệu: các nhà vật lý xác nhận một dị thường trong thông lượng neutrino phát ra từ các lò phản ứng hạt nhân nhưng hạt neutrino trơ không phải là nguyên nhân gây ra điều này.  “Chúng tôi đã có thể quan sát toàn bộ hơn 100.000 hạt neutrino từ năm 2017 đến 2020 nhưng không thể xác định được bất cứ hạt neutrino trơ tiềm năng nào trong các đo đạc ấy”, Christian Buck, một trong số những nhà nghiên cứu dẫn dắt thực nghiệm từ MPIK, nói. “Dường như phần lớn những dị thường quan sát được từ những bất định chưa được đánh giá đúng mức trong dữ liệu hạt nhân từ các phân rã phóng xạ thường dùng để dự đoán thông lượng hơn là thí nghiệm về các hạt neutrino”.  Trong khi kết quả này loại trừ giả thuyết hạt neutrino trơ thuyết phục, nó còn hỗ trợ cho Mô hình chuẩn và sự bao hàm hạt neutrino của nó.  Bên cạnh việc tìm kiếm các hạt neutrino trơ, thí nghiệm STEREO cũng đem lại phép đo chính xác nhất hiện nay về phổ phản hạt neutrinotừ phân hạch của uranium-235. Nó có thể sẽ hữu dụng như một phổ tham chiếu cho những thực nghiệm trên lò phản ứng với độ chính xác cao trong tương lai, như xác định sự phân cấp khối lượng hạt neutrino hoặc các kiểm tra năng lượng thấp cho Mô hình chuẩn. Thêm vào đó, các phép đo chính xác loại này có thể giúp hiểu sâu sắc hơn hiện tượng đang diễn ra trong khi một lò phản ứng hạt nhân dừng hoạt động.  Các nhà nghiên cứu tại MPIK có những đóng góp quan trọng, cả về cấu trúc của máy dò STEREO và trong phân tích dữ liệu. Ví dụ những chất lỏng vô cùng đặc biệt trong máy dò đã được phát triển, chế tạo và đặc tính hóa tại MPIK. Trong đó, chất nhấp nháy dạng lỏng chứa gadolinium là tâm điểm của máy dò là của MPIK.  Một đóng góp cốt lõi khác là các hệ làm đầy vô cùng đặc biệt và các cảm biến ánh sáng cho đo đạc tín hiệu ánh sáng sau khi phản ứng neutrino trong máy dò. Trong phân tích, nhóm MPIK cũng rất chủ động trong tái cấu trúc năng lượng, xác định tính hiệu quả và điều phối phân tích.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-01-results-stereo-sterile-neutrino-hypothesis.html  https://idw-online.de/de/news807472  —————————  1. https://www.nature.com/articles/s41586-022-05568-2    Author                .        
__label__tiasang Những kết quả “trêu ngươi” của hai thí nghiệm thách thức Mô hình chuẩn      Chúng ta có thể tìm thấy gợi ý về các hạt mới hay lực mới của tự nhiên qua hai thí nghiệm ở Mỹ và châu Âu – và tại sao nó có thể thay đổi vật lý.      Bức ảnh này chụp năm 2018 tại CERN, Nikolai Bondar làm việc trên hệ LHCb Muon. Những kết quả ban đầu được xuất bản năm 2021 là kết quả thực nghiệm tại đây và từ Fermilab ở Mỹ đang thách thức cách các nhà vật lý nghĩ việc vũ trụ hoạt động, một viễn cảnh về vật lý hạt ở cả hai khía cạnh kích thích và bế tắc. (Maximilien Brice, Julien Marius Ordan/CERN via AP)  Những kết quả sơ bộ từ hai thực nghiệm, một ở châu Âu và một ở Mỹ, đã đề xuất hiểu biết mới có thể trái ngược với cách cơ bản mà các nhà vật lý vẫn nghĩ về vũ trụ hoạt động, một viễn cảnh có thể bao hàm cả sự bế tắc lẫn mở ra tầm nhìn mới trong lĩnh vực vật lý hạt.  Các hạt nhỏ bé mà chúng ta gọi là muon không hoàn toàn hoạt động như những gì chúng được chờ đợi trong khuôn khổ hai thực nghiệm được thực hiện trong quãng thời gian dài. Các kết quả trùng hợp – nếu nó được chứng minh là đúng – tiết lộ những vấn đề lớn với Mô hình chuẩn mà các nhà vật lý vẫn dùng để miêu tả và hiểu cách vũ trụ hoạt động tại cấp độ hạ nguyên tử.  “Chúng tôi đã nghĩ là chúng tôi có thể bơi mãi trong biển các hạt mà không thể khám phá trực tiếp ra cái gì”, Chris Polly – nhà khoa học đồng dẫn dắt thực nghiệm tại Fermilab nói trong một cuộc họp báo. “Đó có thể là những con quỷ mà chúng tôi vẫn còn chưa hình dung ra, chúng đang dần xuất hiện từ tương tác chân không với các hạt muon của chúng tôi và trao cho chúng tôi một cánh cửa để có thể ngó vào quan sát chúng”.  Mô hình Chuẩn đã được phát triển trong 50 năm qua. Các thí nghiệm được thực hiện trong vòng nhiều thập kỷ đã xác nhận đi xác nhận lại những miêu tả của nó về các hạt và các lực tạo thành vũ trụ cũng như vận hành vũ trụ theo một cách rất đẹp. Cho đến tận bây giờ.  “Các hạt mới, vật lý mới có thể vượt khỏi nghiên cứu của chúng tôi’, nhà vật lý hạt Alexey Petrov của trường đại học Wayne, nói. “Nó trêu ngươi chúng ta”.  Fermilab của Bộ Năng lượng Mỹ loan báo những kết quả của 8,2 tỉ vòng lưu chuyển của những tia hạt vòng quanh một đường hầm bên ngoài Chicago có thể buồn chán với phần lớn mọi người nhưng lại hấp dẫn với các nhà vật lý: từ trường của hạt muon dường như không giống những gì mà Mô hình chuẩn đã nói chúng phải thế. Điều này dẫn đến những kết quả mới của LHC tại CERN là đã tìm ra một sự cân xứng đáng ngạc nhiên của các hạt trong kết quả của những cuộc va chạm tốc độ cao.    Bức ảnh chụp tháng 8/2017 cho thấy vòng Muon g-2 ring ở Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Fermi ở ngoại ô Chicago. Nó được vận hành tại -450 độ F (-267 độ C) để dò các hạt muon khó nắm bắt khi chúng di chuyển qua một từ trường. Những kết quả ban đầu từ thực nghiệm xuất bản năm 2021 của Fermilab và CERN thách thức cách các nhà vật lý vẫn nghĩ về vũ trụ. (Reidar Hahn/Fermilab via AP)  Nếu được xác nhận, những kết quả thu được ở Mỹ có thể là phát hiện lớn nhất trong thế giới kỳ lạ của các hạt hạ nguyên tử trong vòng 10 năm, kể từ khi khám phá ra hạt Higgs boson mà người ta thường gọi là “hạt của Chúa”, theo Aida El-Khadra của trường đại học Illinois, nghiên cứu về vật lý lý thuyết tại thực nghiệm của Fermilab.  Điểm quan trọng của thực nghiệm, theo giải thích của nhà vật lý lý thuyết David Kaplan của trường đại học Johns Hopkins, là đẩy các hạt ra xa và tìm kiếm việc liệu “có điều gì thú vị đang diễn ra” với cả các hạt và không gian rỗng giữa chúng hay không.  “Các bí mật không chỉ tồn tại trong vật chất. Chúng tồn tại cả trong những thứ dường như để lấp đầy mọi không gian và thời gian. Đó là trường lượng tử”. Kaplan nói. “Chúng tôi đang đặt năng lượng vào chân không đó và xem có cái gì xảy ra”.  Cả các bộ kết quả bao gồm hạt lạ nhanh lẹ như phù du mà người ta gọi là muon. Hạt muon là họ hàng có khối lượng lớn hơn electron mà quỹ đạo quay quanh trung tâm của một nguyên tử. Nhưng muon không là một phần của nguyên tử, nó không bền và thông thường tồn tại chỉ trong hai micro giây. Sau khi được khám phá trong các tia vũ trụ vào năm 1936, nó khiến các nhà khoa học bối rối đến mức có một nhà vật lý nổi tiếng đặt câu hỏi “Ai ‘ra lệnh’ được cho nó?”.  “Kể từ khi bắt đầu xuất hiện muon đến nay, các nhà vật lý đều căng cả óc ra vì nó”, Graziano Venanzoni, một nhà vật lý thực nghiệm tại một phòng thí nghiệm quốc gia Ý và là một trong những nhà khoa học hàng đầu tham gia thí nghiệm ở Fermilab, nói về Muon g-2.  Thí nghiệm này đưa các hạt muon chạy quanh một đường từ giữ các hạt tồn tại trong thời gian đủ để các nhà nghiên cứu có được cái nhìn gần hơn về nó. Những kết quả ban đầu đề xuất là “spin” từ tính của muon khác 0,1% so với những gì mà Mô hình chuẩn dự báo. Dù có vẻ như sự sai khác đó không lớn nhưng với các nhà vật lý hạt thì đó thực sự lớn – quá đủ để nâng cao hơn nữa hiểu biết hiện nay.  Các nhà nghiên cứu vẫn cần một hoặc hai năm nữa để kết thúc việc phân tích kết quả của tất cả các vòng quanh đường từ dài 14 mét. Nếu kết quả đó không đổi, nó sẽ đáng giá như một phát hiện lớn, Venanzoni nói.  Trong khi đó, tại chiếc máy va chạm nguyên tử lớn nhất thế giới ở CERN, các nhà vật lý đã để va chạm các proton với nhau để xem có gì xảy ra sau đó. Một trong những thực nghiệm riêng biệt của máy gia tốc hạt là đo đạc những gì xảy ra khi các hạt được gọi là quark đẹp hoặc quark đáy va chạm.  Mô hình chuẩn dự đoán là các va chạm hạt quark đẹp đó phải đem đến kết qủa trong những số lượng electron và muon cân bằng. Đó là một dạng giống như tung đồng xu lên 1.000 lần và nhận được số lượng tương đương của đầu và đuôi, người phụ trách Thí nghiệm quark đẹp tại LHC, Chris Parkes nói.    Bức ảnh này chụp năm 2018 tại CERN cho thấy hệ thực nghiệm LHCb Muon. (Maximilien Brice, Julien Marius Ordan/CERN via AP)  Nhưng đó không phải là những gì đã xảy ra.  Các nhà nghiên cứu đã miệt mài “lục lọi” dữ liệu từ nhiều năm và hàng trăm sự cố va chạm, cuối cùng tìm thấy 15% khác biệt, với số lượng electron nhiều hơn các muon một cách đáng kể, nhà nghiên cứu thực nghiệm Sheldon Stone của trường đại học Syracuse nói.  Thí nghiệm này vẫn chưa được gọi là khám phá chính thức bởi vì nó vẫn còn là một cơ hội nhỏ và kết quả vẫn có thể bị coi là những sự kỳ quặc trong thống kê. Việc thực hiện các thực nghiệm nhiều lần – với cả hai trường hợp – có thể mất một hoặc hai năm, đạt được các yêu cầu thống kê nghiêm ngặt trong vật lý mới đủ được coi là một khám phá, các nhà vật lý cùng cho biết.  Nếu kết quả đó vẫn được giữ vững, họ có thể sử dụng “mọi phép tính toán có trong thế giới của vật lý hạt”, Kaplan nói.  “Đây không phải là một điều giả mạo, thực sự là có cái gì đó sai ở đây”, Kaplan nói. Cái gì đó có thể được giải thích là một hạt mới hoặc một lực mới.  Hoặc những kết quả đó là sai lầm. Năm 2011, một phát hiện kỳ  lạ về một hạt gọi là neutrino dường như di chuyển nhanh hơn ánh sáng đe dọa Mô hình chuẩn nhưng cuối cùng đó là kết quả của một sự cố kết nối điện không tốt trong thực nghiệm.  “Chúng tôi kiểm tra mọi kết nối cáp của mình và chúng tôi đã làm những điều có thể để kiểm tra dữ liệu”, Stone nói. “Chúng tôi tự tin đấy nhưng có thể bạn không bao giờ biết được điều đó đâu”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-tantalizing-results-defy-physics-rulebook.html  https://home.cern/news/news/physics/intriguing-new-result-lhcb-experiment-cern       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những khám phá thiên văn nổi bật      Một trong kết quả nổi bật nhất của các nhà thiên văn trong năm 2006 là kiểm chứng lý thuyết lạm phát của vũ trụ, phát hiện thêm những vệ tinh của Dải Ngân hà.    Sứ mệnh thu thập bụi sao chổi của Stardust                   Trạm thám hiểm không gian Stardust của NASA đã hoàn thành sứ mệnh. Khi bay qua Trái đất, nó giải phóng một thiết bị khoa học nặng 46 kg, lao vào bầu khí quyển với vận tốc 46440 km/h chứa các mẫu bụi thu thập được trong suốt quá trình bay qua sao chổi 81P/Wild 2.  Hơn 200 nhà khoa học trên thế giới bắt đầu phân tích. Các nhà khoa học chờ đợi tìm kiếm được những bụi đá có kích thước khoảng 10 micromet được cho là hình thành từ vùng bên trong của hệ Mặt trời. Nhà khoa học Brownlee nói “chúng tôi cơ bản đã tìm thấy những chất rắn ở những vùng lạnh nhất trong hệ Mặt trời đã được tạo ra trong những vùng nóng nhất của tinh vân tiền Mặt trời”.  WMAP nhìn lướt qua giai đoạn lạm phát của vũ trụ                     Mô hình lạm phát đã được kiểm tra một cách ngoạn mục khi vệ tinh WMAP của NASA cung cấp các dữ liệu về sự phân cực và bản đồ toàn cảnh nền viba của toàn bộ bầu trời, trong đó, những photon được giải phóng từ 380.000 năm sau Big Bang (tuổi của vũ trụ là 13,7 tỷ năm). Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã xác định được ngôi sao đầu tiên bắt đầu chiếu sáng khoảng 400 triệu năm sau Big Bang. Lạm phát làm cho vũ trụ giãn nở với tốc độ cực kỳ nhanh trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn. Các kết quả chỉ ra rằng, mô hình lạm phát đơn giản nhất rất tương thích với nền viba. Điều này có vẻ như chúng ta có thể nhận biết được những hành xử vật lý ở thời điểm 10-35 giây sau Big Bang.  Phát hiện thêm nhiều vệ tinh mới của Dải Ngân Hà                     Các nhà thiên văn ở đại học Cambridge, Anh, đã khám phá ra 7 thiên hà vệ tinh quay quanh Dải Ngân Hà và những vệt sao đan chéo nhau gần cực bắc của nó.  Những vệt sao được tạo thành khi lực triều của Dải Ngân Hà xé nát các thiên hà vệ tinh và các đám sao cầu một cách chậm chạp. Những ngôi sao bị dứt ra khỏi hệ thống phân bố dọc theo quỹ đạo của các thiên hà vệ tinh hoặc các đám sao cầu. Vào tháng 5, các nhà thiên văn đã thông báo hai thiên hà lùn mới là Booter và Canes Venatici lần lượt cách chúng ta 196 000 và 720 000 năm ánh sáng. Cả hai đối tượng này nằm trong những quầng vật chất tối khối lượng lớn của Dải Ngân Hà.  Một đuôi hình cung nổi bật tạo bởi thiên hà lùn Sagitttarius và một vệt mới quét 70o dọc theo bầu trời đặt tên là Orphan cùng với một vệt sao phân nhánh cũng được phát hiện. Nhà khoa học Belokulov cho rằng, nó được tạo bởi một thiên hà lùn Ursa Major II.  Sự va chạm giữa các sao Nơtron tạo ra những vụ nổ tia gamma ngắn                     Các nhà khoa học đã củng cố mối liên hệ chặt chẽ giữa các vụ nổ kéo dài hơn 2 giây và những vụ nổ siêu sao mới. Tuy nhiên, những vụ nổ ngắn hơn vẫn còn là một bí ẩn. Gần đây, hai vệ tinh của NASA là Swift và HETE-2 đã ghi nhận chính xác 3 vụ nổ ngắn.  Swift quan sát một vụ nổ kéo dài 0,25 giây xảy ra ở một thiên hà ellip cách xa 3,5 tỷ năm ánh sáng, trong đó, năng lượng được giải phóng tương đương với năng lượng của Mặt trời phát ra trong 100 triệu năm. Các nhà lý thuyết gợi ý rằng, nguồn năng lượng này có thể là một sao nơtron bị một lỗ đen ở gần xé nát. Vượt ra ngoài 200 triệu năm ánh sáng, một vụ bùng nổ lớn từ những sao nơtron có từ trường siêu mạnh. Các quan sát gợi ý rằng, một sao nơtron đang quay quanh một ngôi sao bình thường và cách sao đó khoảng 1 phút ánh sáng, hút vật chất của sao đồng hành và biến thành một lỗ đen, từ đó tạo ra vụ nổ tia gamma ngắn.  Trở lại sao Kim                     Sau 12 năm thám hiểm sao Kim bị ngắt quãng, trạm thăm dò không gian Venus Express của Cơ quan Vũ trụ châu Âu đi vào quỹ đạo quanh hành tinh này vào ngày 11 tháng 4.  Mục tiêu nghiên cứu chính của Venus Express là bầu khí quyển. Những đám mây có thể quan sát rõ ràng trong vùng sóng tử ngoại xảy ra ở độ cao 50 km, và di chuyển vòng quanh xích đạo chỉ hết có 4 ngày-nhanh hơn 50 lần chuyển động tự quay của bề mặt hành tinh này. Sức mạnh nào đã thúc đẩy chuyển động nhanh như thế vẫn còn là một điều bí ẩn. Trạm thăm dò này đã bắt đầu cung cấp hình ảnh chi tiết đầu tiên về những cơn lốc ở cực nam của sao Kim. Phổ kế chụp ảnh nhiệt hồng ngoại và khả kiến (VIRTIS) có thể hoạt động ở nhiều bước sóng hồng ngoại khác nhau. VIRTIS cũng có thể quan sát nhiều lớp khí quyển để giúp các nhà khoa học mô hình hóa cấu trúc bầu khí quyển.  Hơn 200 hành tinh ngoài Mặt trời được khám phá                     Vào cuối tháng 7 năm vừa rồi, các nhà thiên văn thông báo tổng số hành tinh quay quanh những sao khác lên đến hơn 200. Vào tháng 5, các nhà thiên văn Thuỵ Điển thông báo ba hành tinh cách chúng ta 42 năm ánh sáng có khối lượng bằng sao Hải Vương quay xung quanh sao HD 69830 lần lượt hết 8.67, 31.6 và 197 ngày. Các nhà thiên văn tin rằng, hành tinh ở gần nhất cấu tạo bằng đá, trong khi hành tinh ở ngoài cùng có khối lượng nhỏ nhất nằm trong vùng thích hợp cho sự sống, nơi nước ở thể lỏng có thể tồn tại trên bề của nhân rắn. Kính thiên văn không gian Spitzer của NASA đã ghi nhận một lượng lớn bụi nóng xung quanh một ngôi sao ám chỉ sự có mặt của một vành đai tiểu hành tinh lớn.  Kính thiên văn Hubble cũng đã xác định được 16 ngôi sao mờ trong chòm sao Sagittarius có những hành tinh đi qua trước. Các phép đo quang phổ đã khẳng định, hai trong số những ngôi sao này có mặt những thiên thể có khối lượng cỡ hành tinh.  Cuộc phiêu lưu tới tiểu hành tinh 25143 Itokawa của tàu thăm dò Hayabusa                     Được phóng vào ngày 9 tháng 5 năm 2003, Hayabusa du hành trong không gian bằng việc sử dụng nhiên liệu xenon tới tiểu hành tinh 25143 Itokawa. Ngày 12 tháng 9 năm 2005, nó đã tiếp cận đến tiểu hành tinh này và gửi về Trái đất một kho dữ liệu thông tin phong phú. Sứ mệnh đầy hứa hẹn của trạm thăm dò không gian này là đổ bộ xuống bề mặt của tiểu hành tinh, thu thập mẫu vật và trở về Trái đất. Các hình ảnh cận cảnh cho thấy, Itokawa không có những miệng hố va chạm rõ ràng, những tảng đá có kích thước bằng một căn nhà nhô lên, những vùng bằng phẳng phủ đầy bụi.  Mặc dù Hayabusa đã hai lần chạm tới tiểu hành tinh này với ý định thu thập mẫu vật, nhưng các nhà khoa học ở Cơ quan Vũ trụ Nhật bản JAXA không thể khẳng định được nó có đạt được mục đích hay không? Các kỹ sư của JAXA vẫn liên lạc thường xuyên với trạm thăm dò này và họ đang cố gắng mang Hayabusa trở về Trái đất vào tháng 6 năm 2010.  Cuộc thám hiểm sao Hoả mang đến một bước nhảy lượng tử                     Vào tháng 11, sau những điều chỉnh quỹ đạo, trạm thăm dò không gian MRO của NASA đã chính thức bắt đầu tiến hành các nghiên cứu của mình. Các thiết bị của MRO sẽ nghiên cứu sao Hoả từ tầng khí quyển trên cao xuống bề mặt. Một camera thời tiết sẽ quan sát toàn bộ hành tinh hàng ngày, trong khi một máy dò hồng ngoại sẽ ghi nhận nhiệt độ khí quyển và hơi nước. Thiết bị lập bản đồ khoáng chất có thể xác định những lớp trầm tích có liên hệ với nước, chẳng hạn như cacbonat, sulfate. Thiết bị chụp ảnh phân giải cao có thể chụp được những tảng đá có thích thước của một cái bàn. Một thiết bị rada khác cũng giúp pháp hiện ra nước và băng đá.  Bức tranh toàn cầu kết hợp từ những trạm thăm dò trước đó và những hình ảnh bề mặt chi tiết cung cấp bởi những xe tự hành sẽ cho thấy một bức chân dung khoa học về sao Hoả thay đổi như thế nào trong vài năm trước.  Hệ Mặt trời chỉ còn 8 hành tinh                Tháng 8 năm 2006, tại đại hội của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế tổ chức ở Prague, Cộng hòa Czech, các nhà thiên văn đã tiến hành bỏ phiếu không công nhận sao Diêm Vương là  một hành tinh trong hệ Mặt trời sau khi khám phá ra thiên thể 2003 UB313, hay còn gọi là Xena, lớn hơn sao Diêm Vương 5%. Kết thúc cuộc tranh luận sôi nổi, các nhà thiên văn đã đưa ra một phân loại mới gọi là “hành tinh lùn”, dành cho những thiên thể đủ lớn để lực hấp dẫn làm cho chúng có hình dạng tròn và đủ nhỏ để lực hấp dẫn không làm lệch hướng những thiên thể ở gần trên những quỹ đạo tương tự. Cùng với Diêm Vương tinh và Xena là tiểu hành tinh Ceres. Cả Diêm Vương tinh và Xena đều lần lượt nhận được một tên mới trong danh sách các tinh nhỏ là 134340 và 136199. Ngoài ra, Xena cũng nhận được một tên khác là Eris theo cách đặt tên truyền thống dựa theo thần thoại Hy Lạp. Như vậy, kể từ nay trong hệ Mặt trời chỉ còn 8 hành tinh.  Sự trở lại của tàu Discovery                   Sau thảm kịch của tàu con thoi Columbia xảy ra vào tháng 2 năm 2003, chuyến bay của tàu con thoi Discovery vào tháng 7 là một thành công mỹ mãn. Chuyến bay đã dọn đường cho việc xây dựng mới Trạm không gian quốc tế ISS và sửa chữa kính không gian Hubble.  Các kỹ sư của NASA đã di chuyển mảnh cấu trúc xốp nặng 15 kg từ thùng bên ngoài của STS-121. Giám đốc chương trình tàu con thoi Wayne Hale gọi việc sửa chữa này là “sự thay đổi khí động học lớn nhất đối với tàu vận chuyển”. Một mảnh xốp tương tự đã từng gây nguy hiểm cho tàu con thoi Columbia.  Discovery sẽ nối kết với trạm quốc tế ISS. Một đội ngũ phi hành gia bao gồm những chuyên gia và các phi công, trong đó có những nhà du hành sẽ ở lại trên trạm ISS thực hiện những cuộc đi bộ ra ngoài không gian để kiểm tra và sửa chữa thiết bị.  Ngày 31 tháng 11, người quản trị của NASA Michael Griffin đã bật đèn xanh cho sứ mệnh thứ năm sửa chữa kính không gian Hubble sẽ thực hiện trước tháng 5 năm 2008.  Đức Phường ( theo Astronomy, 1/2007)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những kim loại mang quốc tịch Thụy Điển.      Bengt Qvist, Carl Wilhelm Scheele, Peter Jacob Hjelm và câu chuyện về kim loại Molybdenum. Từ thời kỳ La Mã, Molybdena là tên gọi chung cho tất cả các khoáng vật màu xám đen, có thể dùng như chì để viết, vẽ trên giấy. Molybdena được tách ra từ một loại quặng mà theo tiếng HyLạp có tên là “quặng chì”. Cái tên này cũng được sử dụng để chỉ graphite.    Vào giữa thế kỷ 18, nhà hóa học trẻ Thụy Điển tên là Bengt Qvist sau khi khảo sát một mẫu quặng molybdena đặc biệt đã phát hiện ra rằng, thành phần của loại quặng này không đơn giản như người ta vẫn tưởng. “Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng đây là quặng chì”, Qvist quả quyết, “Nó cũng không phải là graphite. Tôi cho rằng quặng này còn chứa một kim loại chưa từng được biết tới”.  Nhưng Qvist vì không có đủ phương tiện để tách ra kim loại bí mật đó nên đã phải nhờ đến nhà dược học nổi tiếng Carl Wilhelm Scheele. “Quặng molybdena này chắc chắn là chứa một kim loại chưa biết”, Scheele khẳng định, “Tôi đã phân lập được oxide của nó, nhưng không có thiết bị để tách kim loại này ra”. Vì vậy, Scheele lại gửi mẫu oxide của ông tới Viện Nghiên cứu Khoáng vật Bergskollegium ở Stockholm và nhờ người bạn Peter Jakob Hjelm tách ra kim loại này bằng lò luyện kim. Hjelm đã trộn oxide này với dầu lanh rồi cho nó vào lò luyện. Và vào năm 1781, Hjelm đã hãnh diện tuyên bố rằng ông đã tìm ra một kim loại mới có tên là Molybdenum.  Ngày nay, molybdenum được sử dụng trong các hợp kim làm tua vít, cờ lê, các công cụ và thiết bị cơ học.  Ytterby – ngôi làng của 4 nguyên tố hóa học.                 Câu chuyện về những nguyên tố đất hiếm này đã được bắt đầu từ cuối thế kỷ 18.  Một sỹ quan pháo binh đồng thời là một nhà khoáng vật học có tên là Carl Axel khi khảo sát quặng pegmatite ở Ytterby đã phát hiện ra một loại khoáng vật nặng màu đen nằm trong các tinh thể thạch anh, đây là một thứ rất lạ mà ông chưa từng được nhìn thấy. Năm 1794, ông gửi một số mẫu khoáng vật này cho nhà hóa học Johan Gadolin ở đại học Uppsala. Gadolin đã phân tích và phát hiện ra một nguyên tố mới, ông đặt tên nó là Yttrium. Khoáng vật mà Gadolin phân tích được gọi là Gadolinit. Về sau, người ta còn phát hiện ra trong khoáng vật này 3 nguyên tố đất hiếm khác. Ngày nay, có ít nhất 4 nguyên tố trong bảng Tuần hoàn được lấy tên theo ngôi làng Ytterby của Thụy Điển: Yttrium, Ytterbium, Erbium và Terbium.  Nickel – thần giữ mỏ.  Nếu bạn đến Los, một khu mỏ cũ ở vùng rừng tối miền bắc Thụy Điển, bạn sẽ được chiêm ngưỡng  một tượng đài hình chiếc ghế bành rất ấn tượng được dựng lên từ một khối đá granite khổng lồ, trên đó đứng sừng sững một cột kim loại cao 10m, lấp lánh màu ánh bạc. Cái cột này  được làm bằng Nickel, một kim loại mà sự ra đời của nó gắn liền với hình ảnh ông già tuyết Sankt Nikolaus. Ở Thụy Điển, người ta còn gọi các ông già tuyết là “tomte”, các “tomte” ở mỏ được coi là “thần giữ mỏ”. Vào thời Trung Cổ, những người khai mỏ Đức đã thấy rằng, có một số loại quặng đồng màu vàng đỏ mà không tài nào nấu chảy được. Người ta đổ lỗi cho “thần giữ mỏ” đã ăn cắp “linh hồn” của quặng. Thứ quặng “vô dụng” này được gọi là “kupfernickel”, có nghĩa là ông già lùn. Khi quặng kupfernickel được tìm thấy trong mỏ Cobalt ở Los, nhà hóa học Thụy Điển Axel Fredrik Cronstedt đã sớm phát hiện ra trong quặng này một kim loại mới. Ông gọi nó là Nickel, lấy theo tên của thần giữ mỏ. Tượng đài Nickel được dựng nên năm 1871 để kỷ niệm phát minh này.  Nữ thần Bắc Âu và câu chuyện về Vanadium.                   Truyền thuyết kể rằng, đỉnh núi Smaland Taberg miền Nam Thụy Điển là nơi ở của Nữ thần Bắc Âu Vanadis. Vào một ngày đẹp trời năm 1830, một nhà hóa học Đức tên là Friedrich WÔhler đã leo lên tận đỉnh núi và gõ cửa lâu đài của Vanadis. Nhưng vì nhút nhát nên WÔhler đã gõ cửa quá nhẹ và chẳng ai nghe thấy ông cả. WÔhler đành nhún vai thở dài rồi quay trở về Đức.  Ít lâu sau, một người khác cũng trèo lên đỉnh núi, người này gõ cửa mạnh hơn và nhất quyết muốn vào bên trong lâu đài. Cánh cửa mở ra, người đàn ông bước vào. Khi đứng trước Nữ thần, ông cao giọng: “Ta là Nils Gabriel SefstrÔm, nhà hóa học, khoáng vật học đến từ Falun. Ta đã phân tích quặng sắt trên ngọn núi này và đã tìm ra kim loại bí mật của nàng, ta đặt tên nó là Vanadin!”.  Như vậy, người tìm ra kim loại vanadium (tiếng Thụy Điển gọi là vanadin) chính là SefstrÔm chứ không phải WÔhler. Và như người ta vẫn nói, những cậu bé hay e thẹn sẽ chẳng bao giờ hôn được những thiếu nữ xinh đẹp, và ít nhất điều đó cũng đúng đối với trường hợp của WÔhler và Nữ thần Vanadis.      Tungsten và Wolfram của Scheele –  Nam tước Münchhausen của Raspe                     “Tôi đã tìm thấy ở Cornwall mẫu quặng tungsten (tungsten có nghĩa là hòn đá nặng) và cả wolfram (wolfram có nghĩa là nước bọt của chó sói) của Scheele, các thí nghiệm của tôi đã chỉ ra rằng, cả  hai thứ quặng này đều chứa cùng một kim loại mới”. Người đang trình bày tên là Rudolf Erich Raspe, một nhà văn đồng thời là nhà khoa học. “Có một chút hiểu lầm ở đây. Số là khi tôi làm chức quản lý ở bảo tàng Kassel, người ta đã buộc tôi cái tội tham ô và ăn trộm. Thế là tôi bị bắt. Tôi đã cố gắng thoát khỏi nhà tù và bắt đầu sống phiêu bạt, đầu tiên ở Hà Lan, sau đó là ở Anh. Ở Anh, tôi đang làm tư vấn về công nghiệp khai thác mỏ, nghiên cứu và viết truyện khoa học. Tôi cũng là thành viên của Hội Hoàng gia”.  Đột nhiên, một toán cảnh sát ập vào hội trường. Họ hét lên: “Bắt lấy ông ta, một tên lừa đảo, kẻ đã gây ra các vụ lừa ở các vùng mỏ Scotland. Ông ta đã bị đuổi khỏi Hội Hoàng gia từ lâu rồi”. Nhưng lần này, Raspe lại thoát. Phải chăng ông đã cưỡi lên quả đạn đại bác được bắn sang Ireland? Dù sao đi nữa thì đó cũng là nơi mà Raspe đã hạ cánh. Năm 1794, Raspe qua đời, ông được chôn cất ở một nghĩa trang nhỏ gần Kilarney. Ngày nay, ông được nhớ đến không phải như một nhà khoa học, cũng không phải như một tên trộm, mà như một tác giả của truyện kể nổi tiếng “Những cuộc phiêu lưu của nam tước Münchhausen”.                   Trung Dũng    Nguồn tin: sưu tầm và biên dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những kỷ niệm về GS. Hoàng Tụy      Sau 45 năm được biết GS. Hoàng Tụy, với tư cách là một học trò từ thời phổ thông chuyên toán, tôi muốn nói khái quát về Ông như sau: GS. Hoàng Tụy là một nhà toán học xuất sắc, nổi tiếng thế giới, nhà sư phạm mẫu mực, người có nhiều ý tưởng ở tầm chiến lược trên quan điểm hệ thống về sáng tạo toán học, về chấn hưng khoa giáo và trên cả là xây dựng và phát triển đất nước.      GS. Hoàng Tụy lúc sinh thời. Nguồn: Vietnamnet.  Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế đã viết, đã vinh danh GS. Hoàng Tụy một cách xứng đáng. Giáo sư là cháu nội của Cụ Hoàng Văn Bảng, em trai của Tổng đốc thành Hà Nội Hoàng Diệu. Để nói về một con người, một nhà khoa học, nhất là khi người đó đã được tôn vinh về nhiều mặt, trong một vài trang giấy, trong một câu chuyện ngắn, về nguyên tắc là một việc không thể làm được, ít nhất là đối với tôi. Tuy nhiên sau 45 năm được biết GS. Hoàng Tụy, với tư cách là một học trò từ thời phổ thông chuyên toán, tôi muốn nói khái quát về Ông như sau: GS. Hoàng Tụy là một nhà toán học xuất sắc, nổi tiếng thế giới, nhà sư phạm mẫu mực, người có nhiều ý tưởng ở tầm chiến lược trên quan điểm hệ thống về sáng tạo toán học, về chấn hưng khoa giáo và trên cả là xây dựng và phát triển đất nước.  Mặc dù đã có nhiều bài viết về GS. Hoàng Tụy, nhưng chúng tôi thấy vẫn còn ít bài viết về Ông trước khi Ông nổi tiếng, tức là khi Ông còn làm Chủ nhiệm Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trước khi cái tên Tuy’s Cut (Lát cắt Tụy) trở thành quen thuộc trong giới toán học trên thế giới và trước khi Ông chủ trì một nhóm nghiên cứu tư vấn  gồm những nhà khoa học, giáo dục và văn hóa nổi tiếng và giàu tâm huyết với đất nước, để đưa ra những kiến nghị phát triển giáo dục nước nhà. Vì thế, trong bài viết này, chúng tôi muốn bổ sung thêm vào phần “còn ít bài viết” đó, muốn ôn lại những kỷ niệm sâu đậm không thể nào quên về GS. Hoàng Tụy, người thầy mẫu mực của mình từ những năm học phổ thông chuyên toán Ao (1965-1967)  trên khu sơ tán Thái Nguyên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. (Ao là tên viết tắt bí mật của Lớp chuyên toán khóa I chúng tôi trong những năm chiến tranh chống Mỹ, khi đi sơ tán. A1,  A2, … chỉ các lớp toán năm thứ nhất, thứ hai, …B là vật lý, C là hóa học, …)  Nhà toán học xuất sắc, nhà sư phạm mẫu mực  GS. Hoàng Tụy đã được tôn vinh ở trong nước và ngoài nước, đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu (năm 1996) về khoa học công nghệ, cùng với GS. Tạ Quang Bửu, GS. Lê Văn Thiêm, GS. Nguyễn Văn Hiệu, …, Giải thưởng Phan Chu Trinh (năm 2010) và là người đầu tiên trên thế giới vừa được Hiệp hội Quốc tế về Tối ưu toàn cục trao Giải thưởng cao quý mang tên nhà toán học xuất sắc người Hy Lạp Constantin Caratheodory (1873-1950), do những đóng góp tiên phong và nền tảng của Ông trong lĩnh vực này. Là tác giả của 170 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí toán học nổi tiếng trên thế giới, GS. Hoàng Tụy được thừa nhận là “cha đẻ” của Lý thuyết Tối ưu toàn cục (Global Optimization), trong đó có khái niệm quan trọng “Tuy’s Cut” (Lát cắt Tụy) mang tên Ông. Có nhiều nhà toán học Việt Nam thành đạt ở trong và ngoài nước. Gần đây người ta thường nhắc đến hai nhà toán học Việt Nam tiêu biểu, nổi tiếng thế giới, một già một trẻ, đó là GS. Hoàng Tụy và GS. Ngô Bảo Châu, người đầu tiên của thế giới thứ ba được trao Giải thưởng Fields cao quý nhất về Toán học trên thế giới.  Ngay từ những năm 1963-1964, khi còn đang học lớp 8 lớp 9 ở quê, tôi đã được biết đến tên thầy Hoàng Tụy và thầy Lê Hải Châu qua các sách giáo khoa toán phổ thông, tên các nhà toán học Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Đình Diệu, Hoàng Xuân Sính, Hoàng Chúng (em trai thầy Hoàng Tụy), …, qua Báo Toán học và Tuổi trẻ. Tôi còn nhớ những cuốn sách giáo khoa phổ thông môn toán ngày ấy rất mỏng, rất cơ bản, súc tích và chắt lọc, nhưng vẫn cung cấp cho chúng tôi đủ những kiến thức cần thiết. Vì sao không cần nhiều nhưng vẫn đủ? Vì các tác giả là những nhà toán học và sư phạm uyên thâm, là những thầy giáo đã trực tiếp dậy toán ở bậc phổ thông và đại học, đã thực sự nghiên cứu toán học và sư phạm, đã tham khảo những sách giáo khoa chuẩn mực của các nước có nền sư phạm chuẩn mực và tiên tiến trên thế giới như Nga, Pháp, … Có thể nói thế này được không: Để viết sách giáo khoa chuẩn mực cần phải có những bậc thầy chuẩn mực? Chuẩn mực ở đây được hiểu theo nghĩa có sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết với thực hành, giữa sơ cấp với cao cấp, giữa truyền thống với hiện đại, giữa quốc gia với quốc tế. Chúng tôi rất mừng khi thấy rằng hiện nay khi đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam và các tác giả đã dày công nghiên cứu và tham khảo có chọn lọc các chương trình, sách giáo khoa phổ thông của nước ta từ trước đến nay và của các nước tiên tiến trên thế giới, theo đúng phương châm giáo dục của Đảng ta là ”cơ bản, hiện đại và Việt Nam”.  Năm 1965, thầy Hoàng Tụy đã dạy cho lớp 9 chuyên toán Ao khóa I của chúng tôi những khái niệm đầu tiên về lôgic toán, toán học hữu hạn và lý thuyết đồ thị. Mặc dù Thầy dậy cho chúng tôi không nhiều, vì với cương vị Chủ nhiệm khoa Thầy rất bận, nhưng ấn tượng về những bài giảng của Thầy trong tôi vẫn còn rất sâu đậm cho đến tận ngày nay, sau gần nửa thế kỷ. Trong phòng học sơ sài thời sơ tán, cái bảng đen rất nhỏ, nhưng vẫn đủ để cả buổi học Thầy viết trên đó mà không cần xóa bảng. Đúng là Thầy có nghệ thuật sử dụng và trình bày trên bảng một cách tối ưu! Đôi mắt sáng của Thầy luôn hướng về phía học trò khi nêu vấn đề, khi đặt câu hỏi, khi gợi ý và khi khuyến khích, động viên chúng tôi. Thầy chú ý dậy học trò hiểu được xuất xứ, bản chất và các mối liên quan của vấn đề. Cách dậy của Thầy độc đáo và cuốn hút, không sa vào các công thức và kỹ thuật, để tránh cho học trò “thấy cây mà không thấy rừng”. Mỗi khi cần viết lên bảng thì Thầy lại viết rất nắn nót, cẩn thận, rõ ràng, ví dụ chữ cái c, t, …, còn có cả đuôi bên trái. Nhiều đồng nghiệp cũng nhất trí với tôi rằng GS. Hoàng Tụy là một trong những nhà toán học và nhà sư phạm xuất sắc, thể hiện qua nghiên cứu khoa học, giảng dậy, diễn thuyết, viết sách và trong các đề xuất, chủ trương cải cách và phát triển nền toán học, khoa học và giáo dục nước nhà.  Là một học sinh nhà quê mới ra tỉnh, lần đầu tiên khi được nghe những bài giảng toán của các thầy Hoàng Tụy, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Nguyễn Thừa Hợp, Lê Minh Khanh, Nguyễn Duy Tiến, Đặng Hữu Đạo, vừa trẻ vừa giỏi vừa tràn đầy nhiệt huyết, tôi có cảm giác như mình đang được bố mẹ cho ra phố xem “trò ảo thuật” vậy. Đã thế trong môi trường mới của Lớp chuyên Toán đầu tiên có nhiều bạn giỏi cả Toán và tiếng Nga đến từ nhiều tỉnh thành trên miền Bắc càng khiến tôi bị “ngợp” trong thời gian đầu. Đến nay mặc dù những kiến thức cụ thể thu được từ bài giảng của các thầy có thể đã bị quên mất nhiều, nhưng ấn tượng, ký ức về trình độ, tài năng, tâm huyết và lòng yêu nghề của các bậc thầy vẫn còn đọng lại mãi trong suốt cuộc đời chúng tôi như một chất men say. Đúng như William A. Warrd đã nói: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng.”  Vào một ngày cuối thu đầu đông năm 1967, khi bắt đầu vào học lớp toán năm thứ nhất của Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ở khu sơ tán tại tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi được đón GS. Chủ nhiệm khoa Hoàng Tụy đến thăm và nói chuyện để khai giảng khóa học. Tất cả chúng tôi đã bị cuốn hút bởi câu chuyện hấp dẫn Ông kể hôm đó. Có lúc Ông nói vui: “Khi tôi nói tiếng Anh ở nước ngoài người ta lại khen tôi giỏi tiếng Pháp.” Ông đã cho chúng tôi biết nền toán học Nga đồ sộ sau này cũng được bắt đầu, phát triển và rẽ nhánh từ trường phái ban đầu về lý thuyết hàm biến thực của N.N. Luzin (1883-1950). Càng ngày khi ngẫm lại câu chuyện của thầy Tụy tôi càng thấy trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, nền Toán học Xô Viết đã có ảnh hưởng to lớn, tích cực đến nền Toán học Việt Nam và hình như quá trình xây dựng, phát triển và phân nhánh của Toán học nước nhà cũng theo một lộ trình gần tương tự như ở nước Nga. Nhiều chuyên ngành toán học và các giáo sư hàng đầu cũng đã được sinh ra từ giải tích, từ việc ứng dụng trực tiếp hoặc gián tiếp giải tích, nhất là giải tích hiện đại, vào các lĩnh vực khác, như tối ưu hóa, giải tích số, toán ứng dụng, xác suất-thống kê, tôpô, lý thuyết số, mật mã, đại số trừu tượng, hóa học, sinh học, vật lý, thiên văn, …  Năm 1984, khi tôi đang học tập và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Tổng hợp Bremen (CHLB Đức) theo Học bổng Nghiên cứu Humboldt, thì GS. Hoàng Tụy được GS. D. Hinrichsen mời đến làm việc và báo cáo trong seminar về kết quả nghiên cứu bài toán tối ưu của Ông. Mặc dù đã nhiều lần được nghe GS. Hoàng Tụy giảng bài hoặc báo cáo seminar, hội nghị, nhưng đó là lần đầu tiên tôi được nghe Ông giảng bài ở nước ngoài. Tôi đã được chứng kiến các bạn quốc tế tham dự hôm đó rất thán phục nội dung toán học và tính sư phạm cao trong bài giảng của Ông.  Nhà khoa học có tư duy chiến lược và hệ thống  Về lịch sử hình thành của Khối chuyên Toán Ao, sau này tôi được nghe một số thầy kể lại rằng: Ý tưởng đầu tiên về việc mở Lớp chuyên toán Ao ở Việt Nam thuộc về GS. Hoàng Tụy, nguyên là Chủ nhiệm khoa Toán, Trường ĐHTH HN, có tham khảo cách làm của các nhà toán học Xô Viết vĩ đại như A. N. Kolmogorov, P. S. Alexandrov, I. M. Gelfand, … Tôi cho rằng GS. Hoàng Tụy còn tham khảo cả kinh nghiệm của Hungary, một nước nhỏ nhưng rất mạnh về toán, khi lập ra lớp toán năng khiếu đầu tiên. Đề xuất của GS. Hoàng Tụy được sự ủng hộ mạnh mẽ của GS. Lê Văn Thiêm, Phó Hiệu trưởng, người anh cả của nền Toán học Việt Nam hiện đại; của GS. Ngụy Như Kon Tum, Hiệu trưởng; của GS. Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ ĐH và THCN và của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người mà khi còn sống luôn luôn quan tâm đến giáo dục, nói riêng là việc đào tạo học sinh giỏi.Lúc đầu, Lớp được gọi là “Lớp Toán đặc biệt”, sau được đổi thành tên khiêm tốn hơn là “Lớp Toán dự bị” rồi “Lớp Chuyên toán”.  Tác giả Hàm Châu kể lại rằng chính GS. Hoàng Tụy cũng là một trong những nhà toán học đầu tiên của ta đã tham khảo kinh nghiệm và nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, CHDC Đức và một số nước XHCN anh em, để phân tích, cân nhắc, đề xuất và cuối cùng năm 1974 Việt Nam đã cử đoàn gồm 5 học sinh giỏi đầu tiên đi dự thi Olympic Toán quốc tế (IMO 1974) tại CHDC Đức và ngay lần đầu tiên đó Hoàng Lê Minh đã giành Huy chương vàng, Vũ Đình Hòa  – Huy chương bạc, Đặng Hoàng Trung và Tạ Hồng Quảng – Huy chương đồng, và Nguyễn Quốc Thắng thiếu 1 điểm thì được Huy chương đồng. GS. Lê Tuấn Hoa kể lại rằng: GS. Bộ trưởng Tạ Quang Bửu cũng rất quan tâm, ủng hộ và hàng tuần Ông đều đến thăm thầy và trò ở cở sở số 9 phố Hai Bà Trưng xem việc chuẩn bị đội tuyển đầu tiên ra sao.  Có lẽ GS. Hoàng Tụy và GS. Phan Đình Diệu là hai trong số các nhà toán học Việt Nam đầu tiên nhận thấy tầm quan trọng của Lý thuyết hệ thống và muốn ứng dụng lý thuyết đó vào khoa học, giáo dục, quản lý, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Có phải vì thế chăng, khi nghiên cứu và bàn bạc về bất cứ lĩnh vực nào, nhất là giáo dục, GS. Hoàng Tụy cũng luôn khuyến cáo phải xem trọng tính hệ thống của nó. Bản thân lĩnh vực mà cả đời Ông quan tâm, nghiên cứu là lý thuyết tối ưu toàn cục cũng mang tính hệ thống sâu sắc. Như chúng ta đều biết, những vấn đề toàn cục và hệ thống, không chỉ trong toán học, khoa học mà trong mọi lĩnh vực như kinh tế, xã hội, …, bao giờ cũng khó khăn, phức tạp và quan trọng hơn nhiều so với những vấn đề địa phương, cục bộ. Vì thấy lý thuyết hệ thống quan trọng như vậy cho nên tôi đã cố tìm hiểu xem ai là người đầu tiên đưa ra khái niệm này, lý thuyết này. GS. Nguyễn Khoa Sơn và GS. Phạm Kỳ Anh cho tôi biết người đầu tiên vào năm 1961 đã đặt nền móng cho lý thuyết hệ thống toán học là M. D. Mesarovic, dựa trên ý tưởng từ năm 1950 của von Bertalanffy, Norbert Wiener, John von Neumann về lý thuyết hệ thống tổng quát. R. E. Kálmán, người Mỹ gốc Hungary, năm 1963 đã đưa ra các khái niệm ban đầu và nêu một số bài toán đặt nền móng cho lý thuyết hệ thống hiện đại. Ở Việt Nam, năm 1983 GS. Hoàng Tụy đã cùng GS. Nguyễn Khoa Sơn xây dựng và điều hành Trung tâm phân tích hệ thống tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.  Tiếp tục tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết có lẽ nhà bác học người Scotland tên là Patrick Geddes (1854-1932) là người đầu tiên trên thế giới đã nêu ra ý tưởng về “hệ thống”. Như vậy, phải mất hơn nửa thế kỷ sau đó lý thuyết hệ thống toán học và điều khiển học mới ra đời. Geddes không phải là nhà toán học mà là nhà nghiên cứu về sinh học, môi trường, quy hoạch đô thị, xã hội học, giáo dục học, … và nổi tiếng nhất về những ý tưởng cấp tiến trong quy hoạch đô thị và giáo dục. Ngay từ đầu thế kỷ trước, Geddes đã khuyến cáo loài người khi công nghiệp hóa, khi đô thị hóa, phải luôn chú ý giữ gìn môi sinh, môi trường, phải luôn có cái nhìn hệ thống để quy hoạch tổng thể. Lời khuyến cáo đơn giản nhất, ngắn gọn nhất, nhưng cũng tổng hợp nhất của Ông là: “Suy nghĩ phải toàn diện, hành động phải cụ thể” (“Think globally, act locally.”) Gần đây, Liên hiệp quốc cũng đã dùng câu này làm khẩu hiệu hành động cho cả loài người khi bước sang thế kỷ XXI, không chỉ trong việc bảo vệ môi trường, khắc phục hậu quả của biến đổi khí hậu, mà trong cả việc giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo, quyền lợi, chính trị, chống khủng bố, … Tóm lại, đây không chỉ là khẩu hiệu mà còn là nguyên tắc suy nghĩ và hành động của cả loài người khi bước sang thế kỷ mới này.  Việc trăn trở để có được một chiến lược và kế hoạch phát triển Toán học Việt Nam đã được bắt đầu khá sớm. Từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, GS. Hoàng Tụy đã cùng các nhà toán học tiền bối khác như GS. Tạ Quang Bửu, GS. Lê Văn Thiêm, GS. Nguyễn Cảnh Toàn, GS. Phan Đình Diệu, …, xây dựng chiến lược phát triển toán học Việt Nam cho giai đoạn 1970-1990. Nhờ đó, chỉ trong vòng 10 đến 20 năm, toán học Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể. Để tiếp nối và hiện đại hóa, sau hơn hai năm chuẩn bị, gần đây Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010 đến 2020 và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán đã được Chính phủ phê duyệt. Trong suốt quá trình đó, ban soạn thảo đã nhận được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của những lãnh đạo hàng đầu như GS. Nguyễn Thiện Nhân – Phó Thủ tướng Chính phủ, GS. Phạm Vũ Luận – Bộ trưởng Bộ GD-ĐT.  (Viết nhân dịp GS. Hoàng Tụy nhận Giải thưởng Caratheodory)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lịch sử “nhỏ”, “ngắn”, “hẹp” hay khủng hoảng của sử học ?      Khoa học lịch sử tại nhiều quốc gia đang đối mặt với câu hỏi liệu nó có đang trong cuộc “khủng hoảng” (?). Không phải vì các nghiên cứu không có thành tựu, mà ngược lại, nguyên nhân nằm ở chính sự phát triển ngày càng chuyên sâu của ngành. Kết quả là những công trình nghiên cứu có chất lượng chuyên môn cao, nhưng chỉ bao quát các vấn đề và khung thời gian “nhỏ, ngắn, hẹp”.      Tiếp cận lịch sử dài hạn với tư cách là một trường phái, bắt đầu từ giới sử học Pháp, với sử gia Fernand Braudel. Một trong những thành tựu của trường phái này là việc nghiên cứu “long eighteenth century” hay “Thế kỷ XVIII mở rộng”. Ảnh: Một số công trình về “Thế kỷ XVIII mở rộng”.  Những lịch sử nhỏ và ngắn này bắt đầu thịnh hành từ những năm 70 của thế kỷ XX. Không phải ngẫu nhiên, vì bắt đầu thời điểm mở cửa của các trung tâm lưu trữ, tư liệu số hóa bắt đầu gia tăng, vai trò của máy tính trong việc truyền tải dữ liệu… khiến cho hệ thống tư liệu lịch sử trở nên đa dạng, và việc nghiên cứu lịch sử “lớn và dài” trở nên khó khăn hơn. Khi tiếp cận tư liệu dễ dàng hơn thì phạm vi nghiên cứu của sử gia sẽ bị thu hẹp lại trong khoảng vài thập kỷ. Một khảo sát vào  năm 2013 với 8,000 luận án tiến sĩ lịch sử được viết tại Mỹ từ những năm 1880 cho thấy: Vào năm 1900, bình quân các luận án tiến sĩ ngành lịch sử ở Mỹ khảo sát khoảng niên đại 75 năm. Đến năm 1975, con số này còn 30 năm (Schmidt 2013). Không chỉ giới hạn phạm vi thời gian, các nghiên cứu còn thu hẹp trong phạm vi không gian địa lý và đối tượng tiếp cận. Xét từ góc độ khoa học, điều này là xu thế tất yếu và bình thường của sự phát triển chuyên sâu, phân ngành, chuyên ngành… như diễn ra ở nhiều ngành khoa học khác. Thành tựu của nó là không thể phủ nhận. Tuy nhiên càng đi sâu vào các vấn đề chi tiết, các lí thuyết phức tạp, các khái niệm trừu tượng, khoa học lịch sử càng mất đi vai trò xã hội và thu hẹp khả năng kết nối với công chúng. Trước kia, các sử gia là một phần của hệ thống chính trị. Tiếng nói của họ, dù không can thiệp trực tiếp về mặt chính sách, nhưng góp phần định hình nên nền văn hóa chính trị chốn cung đình, đặc biệt là tầm ảnh hưởng của họ đối với người cầm quyền, và những người làm chính sách. Một khi các sử gia quá quan tâm vào các chi tiết mà quên mất những câu hỏi lớn của thời đại, họ đánh mất cơ hội góp phần “làm nên lịch sử” trong chính thời đại của mình. Bởi vì nghiên cứu lịch sử càng chuyên sâu và đối tượng khảo sát càng nhỏ hẹp thì công trình lịch sử càng ít “khách hàng” và sự quan tâm của công chúng càng giảm đi. Không phải vì chất lượng nghiên cứu không cao hay xã hội thờ ơ với quá khứ, mà bởi bản thân các tri thức “sâu” và “chuyên” đó gặp khó khăn trong kết nối với công chúng, các mối quan tâm xã hội, và người cầm quyền. Phần lớn trong số họ không có đủ thời gian, “nhiệt huyết” (và cũng không có nhu cầu) để đọc những chuyên khảo chuyên sâu. Không riêng Việt Nam, đó là thách thức của giới học thuật toàn cầu. Điều thứ hai, quan trọng hơn là việc tập trung vào các lịch sử nhỏ và chi tiết làm sử gia “lạc lối” trong tư duy ngắn hạn và các vấn đề rời rạc mà thiếu sự kết nối với những câu hỏi lớn, tầm nhìn dài hạn, và bức tranh toàn cảnh. Các sử gia vì thế đã đánh mất thế mạnh của mình trong việc đưa ra cái nhìn có tính lịch sử xuyên suốt cho các vấn đề của xã hội đương đại. Như đã đề cập, nhiều vấn đề về tương tác giữa con người với tự nhiên, thiên tai, quản trị xã hội, xung đột xã hội… là sản phẩm của các quá trình lịch sử lâu dài. Mỗi lát cắt ngắn hạn chỉ là một phần của diễn trình đó, và chúng cần được kết nối với nhau trong một tổng thể. Sự kết nối này không chỉ cung cấp mô hình bao quát phổ rộng với nhịp điệu thăng trầm của tiến hóa xã hội, mà còn, như Winston Churchill nói, “chúng ta càng nhìn sâu vào quá khứ bao nhiêu thì càng nhìn xa về tương lai bấy nhiêu”.  Những lịch sử “dài” trả lời những câu hỏi “lớn”  Trong khi các câu hỏi lớn như quản trị nhà nước, tương tác giữa con người với môi trường, phân hóa xã hội và xung đột giàu-nghèo, phân chia nguồn tài nguyên, quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, quản lí các vùng dân tộc thiểu số, duy trì ảnh hưởng tại các nước láng giềng… dường như đang nằm trong tay các nhà kinh tế và chính trị học hơn là sử học, nghiên cứu lịch sử vì thế cần các sử gia tạo ra các lịch sử “dài” nhằm trả lời những câu hỏi “lớn”.  Tiếp cận lịch sử dài hạn với tư cách là một trường phái, bắt đầu từ giới sử học Pháp, nơi mà sử gia  Fernand Braudel ứng dụng để khảo sát các mối tương tác quanh vùng Địa Trung Hải trong hai thiên niên kỷ qua. Ông gọi đó là “la longue durée” hay tiếp cận lịch sử dài hạn. Một trong những thành tựu của trường phái này là việc nghiên cứu “long eighteenth century” hay “Thế kỷ XVIII mở rộng” ở châu Âu, bắt đầu từ 1688 và kết thúc 1815/1832. Thậm chí ở Pháp, các sử gia của chủ đề này được gọi là dixhuitièmistes (Các nhà “thế kỷ XVIII” học).  Một số học giả về Việt Nam trong những năm gần đây đã tìm cách đưa ra những phổ rộng trong tiếp cận lịch sử Việt Nam. Philippe Papin (1999) với “Việt Nam: hành trình một dân tộc” (Việt-Nam, parcours d’une nation) tìm cách xác lập lại các mối ràng buộc văn hóa, chính trị của Việt Nam với Đông Nam Á và Trung Hoa. Liam C. Kelley (2007) khảo sát ba thế kỷ bang giao Việt-Trung, John D. Phan (2012) về lịch sử tiếng Việt, Kathlene Baldanza (2016) về vấn đề biên giới Minh-Đại Việt, Keith Taylor (2013) về một lịch sử mới của người Việt Nam, và Christopher Goscha (2016) tìm cách định hình khái niệm “Việt Nam hiện đại”.      Việc tập trung vào các lịch sử nhỏ và chi tiết làm sử gia “lạc lối” trong tư duy ngắn hạn và các vấn đề rời rạc mà thiếu sự kết nối với những câu hỏi lớn, tầm nhìn dài hạn, và bức tranh toàn cảnh.      Các học giả trong nước cũng tìm cách đặt Việt Nam trong những khung cảnh lịch sử rộng lớn hơn. Có thể kể đến: GS. Nguyễn Văn Kim trong việc định vị Việt Nam trong khung cảnh các mạng lưới giao thương Đông Á và Đông Nam Á. PGS. Hoàng Anh Tuấn tìm kiếm vai trò của Việt Nam trong khung cảnh toàn cầu hóa của lịch sử thế giới sơ kỳ hiện đại, trong nỗ lực mà ông gọi là “khu vực hóa” và “quốc tế hóa” lịch sử dân tộc của Việt Nam (Regionalising National History, Internationalizing national history); hay nghiên cứu của TS. Đỗ Thùy Lan (2016) về các cảng thị Đàng Ngoài sơ kỳ hiện đại như một phần của Việt Nam trong giao thương quốc tế; TS. Phạm Lê Huy (2017) về tương tác tộc người và quyền lực vùng ở miền Bắc Việt Nam trong các thế kỷ mà vùng đất này nằm dưới cai trị của các đế chế Trung Hoa. … Đây chắc chắn là những thành tựu bước đầu cho một hướng nghiên cứu rộng mở với nhiều hứa hẹn. Thực tế, các sử gia hiện tại có đủ công cụ cho việc phát triển các lịch sử “dài” và trả lời các câu hỏi “lớn” bằng cách sử dụng công nghệ và các phương tiện hỗ trợ hiện đại. Ví dụ việc sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các kho dữ liệu liên quan giúp rút ngắn thời gian phân tích hệ thống số liệu, tối đa hóa việc sử dụng dữ liệu bằng cách đưa chúng lên bản đồ. Dữ liệu lớn (Big Data) và các phần mềm hỗ trợ có thể tạo ra cuộc cách mạng trong nghiên cứu lịch sử nhờ vào ưu thế khai thác và xử lí hệ thống dữ liệu lớn hơn rất nhiều so với các cách thức thủ công. Trong khi facebook, youtube, blogs, và các công cụ truyền thông khác đa dạng hóa phương tiện đưa tri thức lịch sử đến công chúng.    Cuộc khủng hoảng của khoa học lịch sử?    Tranh vẽ người Đàng Trong*, in trong cuốn A Voyage to Cochinchina, John Barrow (trang 308). Nguồn: https://archive.org/details/voyagetocochinch00barr  Tầm quan trọng của sử học thời kỳ số hóa là nó cho phép sử gia tiếp cận các hệ thống tư liệu, số liệu, các kho lưu trữ hàng trăm triệu trang văn bản, phương tiện phân tích, xử lí mới nhằm đa dạng hóa các chủ đề nghiên cứu, bao gồm những vấn đề được công chúng và giới cầm quyền quan tâm, từ lịch sử năng lượng, lịch sử đồ ăn, lịch sử hệ thống nhà tù và hình phạt, lịch sử bệnh dịch… giúp con người cải tiến cách thức tổ chức xã hội, vận hành các hệ thống kinh tế, thiết chế chính trị… Nói cách khác, để kết nối tốt hơn với thực tiễn, công chúng và giới cầm quyền, khoa học lịch sử cần có tầm nhìn dài hạn, trả lời những câu hỏi lớn, phân tích các mô hình xã hội trong dài hạn, và tìm cách chuyển hóa các tri thức đó trong một xã ­­­hội số hóa.    Một giải pháp cho sự kết nối này đang được thực hiện tại Đức và các nước phương Tây là đề tài nghiên cứu từ tiền thuế (và các quỹ phi lợi nhuận) thì không chỉ kết quả nghiên cứu mà toàn bộ hệ thống dữ liệu thu thập liên quan đến quá trình nghiên cứu sẽ được cung cấp công khai, miễn phí trên website của dự án. Đây rõ ràng là cách tiếp cận mới nhằm đưa tri thức khoa học, trong đó có nghiên cứu lịch sử đến gần hơn với công chúng và các mối quan tâm xã hội.  Nghiên cứu lịch sử không đơn thuần là để vinh danh quá khứ, quan trọng hơn là vai trò tri thức lịch sử trong việc giúp hiểu các vấn đề của hiện tại và tìm kiếm cách thức giúp con người tổ chức xã hội tương lai hiệu quả hơn. Nỗ lực của tiền nhân, không phải tất cả đều thành công. Sai lầm và thất bại của họ trước những thử thách của thời đại là bài học quý giá giúp con người hiện tại đưa ra những quyết định đúng đắn. Vì thế nếu cách hiểu về quá khứ bị giới hạn bởi những khuôn khổ lí thuyết hay tư tưởng có sẵn, tầm nhìn của sử gia sẽ bị giới hạn, và hậu thế sẽ bỏ lỡ những bài học quan trọng của người đi trước. Xã hội tương lai vì thế sẽ phải trả giá.  Mark Twain nói rằng “lịch sử không lặp lại nhưng chúng thường diễn ra một cách đồng điệu”. Chính vì thế, nhiều bài học từ quá khứ có thể thực sự hữu dụng cho xã hội đương đại. Năm 2016, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc loay hoay với việc cắt giảm hơn 7,000 các loại giấy phép hành chính (thống kê của Vnexpress), và người ta cho đó là vấn đề của nền hành chính hiện đại. 183 năm trước, dưới triều Minh Mệnh (1833), vị vua nhà Nguyễn khi đi thăm kho lưu trữ văn bản hoàng cung đã phải thốt lên rằng: văn bản quá nhiều, quá phức tạp, chất đống lên thì cao đến cột nhà, trâu vận chuyển văn bản cũng phải toát mồ hôi (Đại Nam thực lục, II, q. 148). Chúng ta không rõ liệu trâu có toát mồ hôi? Tuy nhiên sự kết nối lịch sử và vấn đề hành chính liên quan đến văn bản là có thật. 450 năm trước tại triều Lê Thánh Tông (1466), vị hoàng đế và quần thần đã phải đau đầu vì văn bản hành chính quá nhiều, ùn ứ không kịp xử lí. Những gì diễn ra trong gần 500 năm (1466, 1833, 2016) chắc chắn không phải là sự tình cờ ngẫu nhiên của lịch sử mà là kết quả của một truyền thống thực hành chính trị, nơi mà sự hiểu biết lịch sử có thể là chìa khóa cho những vấn đề đau đầu ở hiện tại.  Khoa học lịch sử không khủng hoảng. Nó cho thấy ví dụ của một ngành khoa học xã hội chưa sẵn sàng vận hành và truyền tải tri thức trong một xã hội số hóa. Sử gia cần tìm những cách tiếp cận mới đa dạng, thực tiễn, và cập nhật hơn với các kênh truyền thông để đưa kết quả của mình tới công chúng – những người chưa bao giờ quay lưng lại với lịch sử. Vấn đề là cần đưa môn khoa học này gắn với thực tiễn, gần với những cách tiếp cận của công chúng và giới làm chính sách và gắn những khảo sát lịch sử với các câu hỏi của hiện tại. Để làm điều đó, cần hướng tới những cách tiếp cận đa dạng về quá khứ và chấp nhận những góc nhìn khác biệt.  Tham khảo  Benjamin Schmidt, ‘What Years Do Historians Write About?’, Sapping Attention (9 May 2013).  David Armitage and Jo Guldi. 2014. The History Manifesto. Cambridge University Press.  Fernand Braudel, ‘History and the Social Sciences: The Longue Durée’ (1958), in Braudel, On History (trans.) Sarah Matthews (Chicago, 1982).  Philippe Papin. 1999. Viêt-Nam, parcours d’une nation. Paris, La Documentation Française, Asie Plurielle.  Nguyễn Sử. 2017. Lịch sử thư pháp Việt Nam. Hà Nội: Nhã Nam-Thế Giới.  Trần Quang Đức. 2013. Ngàn năm áo mũ. Hà Nội: Nhã Nam-Thế Giới.  http://www.historyandpolicy.org  Đính chính:   BTV đã nhầm lẫn khi chú thích bức ảnh * là: Tranh vẽ người Đàng Trong thế kỷ 17 của Cristoforo Borri (1585 – 1632), một cố đạo người Ý sang Trung kỳ vào khoảng 1618. Khi về Roma, năm 1631, ông cho xuất bản quyển sách in đầu tiên của châu Âu nói về Trung kỳ của Việt Nam.  Chú thích đúng là: Tranh vẽ người Đàng Trong, in trong cuốn A Voyage to Cochinchina (trang 308), John Barrow.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Những lỗ đen nguyên thủy có thể là vật chất tối      Trong thời gian gần đây, các nhà vật lý đưa ra ý tưởng là vật chất tối có thể được hình thành một phần hay tất cả bằng những lỗ đen nguyên thủy (primordial black holes). Và các sóng hấp dẫn đã được đài quan sát LIGO ghi nhận lại là kết quả kết hợp của những lỗ đen nguyên thủy đó. Thêm vào đó các nhà vật lý lại đưa ra ý tưởng rằng những hạt axion chuyển động quanh lỗ đen cũng tạo nên các sóng hấp dẫn khác.    Lỗ đen nguyên thủy và sóng hấp dẫn  Như chúng ta biết năm 2015, đài quan sát LIGO đã phát hiện sóng hấp dẫn (gravitational waves) – tín hiệu GW 150914 (14/09/2015) từ sự kết hợp của hai lỗ đen.  Sau đó, người ta còn tìm được hai sóng hấp dẫn khác: GW151226 (ngày 26/12/2015) và GW170104 (ngày 4/1/2017) (xem hình 1). Các hiện tượng đó đều sinh ra từ sự kết hợp của các lỗ đen có khối lượng bằng khoảng từ 10 đến 30 lần khối lượng mặt trời.    Hình 1. Ba tín hiệu sóng hấp dẫn đã ghi nhận được bởi LIGO.  Lỗ đen là kết quả co lại (collapse) của các sao vì lực hấp dẫn. Song các lỗ đen trong LIGO có khối lượng lớn hơn các lỗ đen do các sao co lại cho nên các nhà vật lý nghĩ rằng các tín hiệu thu được ở trên là do sự kết hợp của những lỗ đen nguyên thủy.  Các nhà vật lý lý thuyết cho rằng những lỗ đen nguyên thủy có thể hình thành trước các sao trong quá trình co lại của những điểm có mật độ vật chất cao của vũ trụ nguyên thủy ngay sau vụ nổ Big Bang.  Các lỗ đen đó được gọi là lỗ đen nguyên thủy, nó có những tính chất tương tự như những lỗ đen ghi nhận được bởi LIGO.  Những lỗ đen nguyên thủy hình thành từ sự co hấp dẫn của những thăng giáng mật độ cao trong vũ trụ ở thời đoạn nhỏ hơn một giây.  Sự hình thành các lỗ đen nguyên thủy được Zeldovich và Novikov đưa ra vào năm 1966.  Một mô hình thông dụng là cho vật chất tối (dark matter) được cấu thành bởi các hạt có khối lượng tương tác yếu (weakly interacting massive particles). Song các hạt có khối lượng tương tác yếu vẫn chưa tìm thấy được, các nhà vật lý đưa ra giả thuyết vật chất tối được cấu thành (một phần hoặc tất cả) bởi các lỗ đen nguyên thủy trong quá trình lạm phát vũ trụ.  Vật chất tối có thể gồm bằng (một phần hay tất cả) các lỗ đen nguyên thủy. Tương tự như các hạt có khối lượng tương tác yếu, các lỗ đen nguyên thủy không va chạm với các đối tượng khác nên quả là những ứng viên hoàn hảo của vật chất tối.  Lạm phát gây nên bởi trường inflaton (lạm phát). Các nhà vật lý đưa ra mô hình các lỗ đen nguyên thủy có khối lượng (bằng vài chục lần khối lượng mặt trời) có thể gây nên bởi lạm phát lai – hybrid inflation (tức lạm phát với trường inflaton có thế năng điều khiển bởi hai hàm Ψ và Ф) (xem hình 2).    Hình 2. Thế năng trường inflaton trong lạm phát lai.  Những lỗ đen nguyên thủy có thể kết hợp với nhau + hiện tượng bồi đắp khí (accreation gas) để trở thành những lỗ đen với khối lượng trung bình (intermediate mass black holes) tại những tâm các cụm hình cầu nguồn gốc của các tia X siêu sáng (ultra-luminous X-ray sources) và những lỗ đen siêu khối lượng (super-massive black holes) tại tâm các thiên hà (xem hình 3).    Hình 3. Mô hình hình thành lỗ đen nguyên thủy, lỗ đen khối lượng trung bình và Lỗ đen siêu khối lượng.  Axion, lỗ đen và sóng hấp dẫn  Axion là một hạt giả định trong lý thuyết Peccei-Quinn năm 1977 để giải thích hiện tượng phá vỡ đối xứng CP – đối xứng giữa vật chất và phản vật chất – trong Sắc động học lượng tử (Quantum chromodynamics).  Đây là một hạt pseudoscalar, không điện tích và có khối lượng rất nhỏ từ 10-5 đến 10-3eV/c2 có tương tác hấp dẫn và điện từ. Nếu axion tồn tại thì thì đây cũng là một ứng viên cho vật chất tối.  Nếu axion chuyển động quanh một lỗ đen thì chúng ta sẽ có một hệ được gọi là “nguyên tử hấp dẫn – gravitational atom”, lấy tương tự với nguyên tử trong cơ học lượng tử.  Axion chuyển động quanh lỗ đen quay thu và mất năng lượng như các electron trong nguyên tử. Song electron tương tác qua điện từ và phát ra sóng điện từ còn axion tương tác qua hấp dẫn vậy hệ bức xạ sóng hấp dẫn.  Sự chuyển dời của axion giữa các mức của “nguyên tử hấp dẫn” và quá trình hủy của axion thành graviton sẽ tạo nên sóng hấp dẫn, đó là những tín hiệu đơn sắc có thể phân biệt được với những tín hiệu thiên văn vật lý khác.  Điều lý thú là chúng ta có thể ghi nhận được một loại sóng hấp dẫn từ sự chuyển động của axion quanh lỗ đen quay (superradiance) giống như chúng ta ghi nhận các vạch phổ từ electron chuyển động trong nguyên tử.  Các đài quan sát LIGO, VIRGO đã thu được sóng hấp dẫn với các hoàn thiện mới có thể thu được các sóng hấp dẫn từ chuyển động của axion.  Kết luận  Vấn đề vật chất tối là một vấn đề lớn của vật lý hiện đại. Người ta đang truy tìm bản chất của vật chất tối song đến nay vẫn chưa có một kết luận chắc chắn.  Vật chất tối gồm bằng những hạt có khối lượng tương tác yếu? hay axion? hay những hạt nào khác? Có thể đó là một chất siêu chảy?  Đến nay, các nhà vật lý nghĩ vật chất tối chính là những lỗ đen nguyên thủy.  Dường như vấn đề vật chất tối vẫn còn đang bỏ ngỏ.  ———-  TÀI LIỆU THAM KHẢO:  [1]  Juan Garcia-Bellido & Sebastien Clesse, A hidden population of black holes born less than one second after the Big Bang could solve the mystery of dark matter, Scientific American, tháng 7/2017 (xin cám ơn GS Đàm Thanh Sơn đã mách bảo tài liệu này).  [2] KASHLINSKI  arXiv:1605.04023v1 [astro-ph.CO] 13 May 2016.  [3] REDDY  https://phys.org/news/2016-05-scientist-link-primordial-black-holes.html  [4] Ryan F. Mandelbaum, Mind-Blowing New Theory Connects Black Holes, Dark Matter, and Gravitational Waves  http://gizmodo.com/mind-blowing-new-theory-connects-black-holes-dark-matt-1793710627.  [5] Asimina Arvanitaki, Masha Baryakhtar and Xinlu Huang,  Discovering the QCD Axion with Black Holes and Gravitational Waves  arXiv:1411.2263v3 [hep-ph] 23 Mar 2015.       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Những lỗ đen xóa quá khứ      Các phương trình của Einstein cho phép một tương lai bất định có thể xảy ra trong một số lỗ đen.      Trước khi tới được chân trời Cauchy – nơi tất định luật bị xóa bỏ, nhà thám hiểm gần như sẽ bị kéo giãn tới khi chỉ còn là những chuỗi nguyên tử bởi các lực thủ triều gần chân trời sự kiện. Nguồn: npr.org  Trong thế giới thực, quá khứ sẽ xác định một tương lai duy nhất. Nếu hiểu được cách thức vũ trụ bắt đầu như thế nào, nhà vật lý sẽ có thể tính toán được tương lai vũ trụ cho mọi không – thời gian.Đây là tất định luận (determinism) – chìa khóa của mọi lý thuyết vật lý.  Để đảm bảo tính bất khả xâm phạm của ý tưởng trên, nhà vật lý Roger Penrose, đã đưa ra giả thuyết “kiểm định vũ trụ” – cho rằng sẽ có điều thảm khốc xảy ra – có thể là sự chết chóc – không cho người quan sát bước vào vùng không thời gian tương lai chưa được xác định – nơi quá khứ của họ sẽ bị xóa sổ, bù lại họ có thể có vô số tương lai.  Tuy nhiên, theo Peter Hintz – nhà nghiên cứu đang làm postdoc tại UC Berkeley, những phép tính Toán học đã chứng tỏ một số dạng đặc biệt của lỗ đen trong một vũ trụ giống như vũ trụ của chúng ta – đang giãn nở ngày càng nhanh, có thể cho con người khả năng sống sót khi di chuyển từ một thế giới tất định vào lỗ đen bất định.  Sự sống sẽ như thế nào trong một không gian mà tương lai không được đoán trước? Theo công bố của Hintz và cộng sự trên Physical Review Letters, phát hiện này không có nghĩa là phương trình trong Thuyết tương đối rộng của Einstein – gần như đã mô tả một cách hoàn hảo sự tiến hóa của vũ trụ, là sai lầm. Ông nói: “Không nhà vật lý nào có ý định du hành vào một lỗ đen và đo lường nó. Đây là một vấn đề toán học.Nhưng từ cách nhìn này, nó khiến cho các phương trình của Einstein càng hấp dẫn hơn về mặt toán học. Đây là một vấn đề không chỉ giải đáp bằng việc nghiên cứu toán học mà nó cần phải có có sự tham gia của cả các lĩnh vực vật lý, triết học, điều đó khiến nó trở nên hay ho.”  Gary Horowitz từ UC Santa Barbara – người không tham gia vào nghiên cứu, nói với Physics World: nghiên cứu này đã cung cấp “một bằng chứng tốt nhất mà tôi biết về sự vi phạm giả thuyết “kiểm duyệt vũ trụ” trong lý thuyết về lực hấp dẫn và điện từ học.”  Ngoài chân trời sự kiện  Các lỗ đen là những vật thể kỳ dị lấy tên từ tính chất của nó là không có gì có thể thoát khỏi lực hấp dẫn của chúng, kể cả ánh sáng.Nếu mạo hiểm tới quá gần và vượt qua chân trời sự kiện, bạn gần như không bao giờ thoát ra khỏi lỗ đen, đặc biệt là các lỗ đen nhỏ. Các lực thủy triều gần chân trời sự kiện đủ lớn để kéo dài bất cứ thứ gì cho đến khi chỉ trở thành chuỗi nguyên tử.  Nhưng với những lỗ đen lớn, như các vật thể siêu khối lượng tại vùng lõi các thiên hà như Dải Ngân hà, có khối lượng gấp chục triệu đến hàng tỷ lần khối lượng một ngôi sao, thì có thể an toàn vượt qua chân trời sự kiện.  Nếu có thể sống sót khi chuyển tiếp từ thế giới của chúng ta tới thế giới của lỗ đen, các nhà vật lý và toán học từ lâu đã tự hỏi thế giới đó trông như thế nào, họ đã chuyển sang các phương trình trong thuyết tương đối rộng của Einstein để dự đoán thế giới trong một lỗ đen. Những phương trình này đã được dùng để xác định độ cong của không thời gian cho tới khi người quan sát đạt tới trung tâm hoặc điểm kì dị, nơi các tính toán lý thuyết về độ cong của không thời gian này trở nên vô hạn.  Ngay cả khi đến được trung tâm, một nhà thám hiểm lỗ đen – người có thể sẽ không bao giờ truyền đạt được những gì mình tìm thấy với thế giới bên ngoài – cũng có thể gặp một số cột mốc kỳ dị và chết chóc. Hintz nghiên cứu lỗ đen tiêu chuẩn, không quay, mang điện tích và những vật thể như chân trời Cauchy nằm trong chân trời sự kiện.  Chân trời Cauchy là điểm phá bỏ tất định luận, nơi quá khứ không còn khả năng xác định được tương lai. Nhiều nhà vật lý, trong đó có Penrose, đã tranh luận rằng không người quan sát nào có thể vượt qua được chân trời Cauchy bởi họ sẽ bị xóa sổ ngay lập tức.  Khi một người quan sát tiếp cận chân trời, thời gian chậm lại khi đồng hồ quay chậm hơn trong trường hấp dẫn mạnh. Giống như ánh sáng, sóng hấp dẫn và bất kỳ thứ gì khi chạm trán lỗ đen sẽ chắc chắn rơi vào chân trời Cauchy, người đó sẽ rơi vào bên trong lỗ đen và nhìn thấy tất cả các nguồn năng lượng quay trong cùng một lúc. Trong hiệu ứng mà nó tạo ra này, tất cả năng lượng lỗ đen có trong suốt thời gian tồn tại của vũ trụ sẽ chạm đến chân trời Cauchy cùng lúc, dẫn đến việc làm nổ tung tất cả những ai quan sát nó.  Không thể nhìn thấy mãi mãi trong một vũ trụ giãn nở  Tuy nhiên, Hintz thừa nhận rằng điều này không thể áp dụng cho một vũ trụ đang giãn nở gia tốc như của chúng ta. Bởi vì không thời gian đang ngày càng kéo ra, hầu hết phần ngoại biên của vũ trụ sẽ không ảnh hưởng đến lỗ đen và năng lượng không thể dịch chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng.  Trên thực tế, năng lượng khả dĩ rơi vào lỗ đen chỉ được chứa trong chân trời sự kiện quan sát được: thể tích của vũ trụ mà lỗ đen có thể được quan sát thấy trong suốt quá trình tồn tại. Ví dụ, với chúng ta, chân trời sự kiện là lớn hơn 13,8 tỷ năm ánh sáng mà chúng ta có thể nhìn vào quá khứ, bởi nó bao gồm mọi thứ mà chúng ta sẽ thấy mãi mãi trong tương lai. Sự giãn nở gia tốc của vũ trụ sẽ cản trở chúng ta nhìn xa hơn chân trời của khoảng 46,5 tỷ năm ánh sáng.  Trong kịch bản đó, sự giãn nở của vũ trụ sẽ chống lại sự khuếch tán do thời gian giãn nở bên trong lỗ đen, và với một số trường hợp nhất định, có thể hủy bỏ toàn bộ nó. Ở những trường hợp như vậy, với lỗ đen Reissner – Nordström – de Sitter – những lỗ đen đặc biệt, trơn, không quay, mang điện tích lớn, người quan sát có thể sống sót vượt qua chân trời Cauchy và bước vào thế giới bất định, tới vùng vũ trụ nơi biết được trạng thái ban đầu hoàn chỉnh của ngôi sao.  Ông nói: “Có một số lời giải chính xác cho các phương trình của Einstein mà không có nút thắt, không có lực thủy triều tiến tới vô tận, nơi mọi thứ vận hành bình thường tới chân trời Cauchy và xa hơn.” Vị du khách vượt qua chân trời có thể bị đau đớn nhưng trong thời gian rất ngắn. “Sau đó, tất cả mọi thứ không còn giá trị nữa, trong một số trường hợp, như một lỗ đen Reissner – Nordström – de Sitte, một người có thể tránh khỏi điểm kì dị và vĩnh viễn ở trong một vũ trụ vô danh.”  Hintz thừa nhận rằng những lỗ đen mang điện tích như vậy gần như không tồn tại, bởi chúng sẽ thu hút các vật thể mang điện tích trái dấu cho đến khi trung hòa. Tuy vậy, các lời giải toán học cho lỗ đen mang điện tích được dùng để đại diện cho những gì xảy ra bên trong lỗ đen đang quay – những thứ gần như là chuẩn mực.Hintz lập luận rằng Kerr-Newman-de Sitter – những lỗ đen trơn đang quay, có thể sẽ vận hành giống vậy.  Ông cũng khám phá ra các loại lỗ đen thông qua hợp tác với Cardoso và cộng sự, những người đã tính toán cách một lỗ đen va chạm với sóng hấp dẫn, và những âm và bội âm kéo dài lâu nhất. Trong một số trường hợp, thậm chí những tần số tồn tại lâu nhất cũng phân rã đủ nhanh để ngăn sự khuếch tán từ chân trời Cauchy vào vùng đất chết.  Công bố của Hintz đã kéo theo những công bố khác, một trong số đó nhằm mục đích chỉ ra những lỗ đen hoạt động tốt nhất sẽ không vi phạm tất định luận. Nhưng Hintz khẳng định chỉ một trường hợp vi phạm là quá nhiều.  Ông nói: “Trong khoảng 20 năm, kể từ giữa thập niên 1990, mọi người tự mãn [về những hiểu biết đã có] khiến giả thuyết kiểm duyệt vũ trụ luôn được kiểm chứng. Giờ đây chúng tôi thách thức quan điểm đó.”  Thanh Trúc dịch  TS. Ngô Đức Thế (Trung tâm Kính hiển vi điện tử, Đại học Manchester, Anh) hiệu đính  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/02/180221091334.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những loài chim gây ô nhiễm      Khu vực băng tuyết dày đặc Bắc Cực có lẽ là nơi duy nhất trên trái đất bị ô nhiễm với tác nhân gây ra không phải do con người mà là bởi… các loài chim biển, đặc biệt là loài hải âu Bắc Cực.    Loài chim di cư này thường hấp thụ trong cơ thể (qua đường thức ăn) các chất gây ô nhiễm như DDT hay thủy ngân và gieo rắc chúng (qua đường chất thải) ở bất cứ nơi đâu chúng đi qua. Để chứng minh điều này, một nhóm các nhà sinh học thuộc đại học Ottawa tiến hành gắn các thiết bị đo đạc vào 10.000 cặp hải âu sống ở các khu vực đảo Devon và vùng Bắc Cực thuộc Canada. Kết quả thu được: mức ô nhiễm ở các khu vực nói trên cao hơn rất nhiều các vùng phụ cận. Cụ thể: tỉ lệ DDT cao gấp 60 lần, thủy ngân cao gấp 25 lần và HCB (hexachlorobenzene) cao gấp 10 lần. Các chất gây ô nhiễm nói trên thường có lẫn trong thức ăn (cá, mực, chất thải…) tìm thấy ở dạ dày của loài chim biển    P.V    Nguồn tin: J.M Blais et al., Science, 309, 445, 2005    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những loại thuốc nào có khả năng chữa trị Ebola?      Ủy ban Y đức của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hôm 12/8 tuyên bố việc sử dụng các loại thuốc hoặc vắc xin mang tính chất thử nghiệm và chưa được cấp phép, là điều phù hợp– trong một số điều kiện nhất định. Tuy nhiên, nảy sinh một vấn đề lớn: các phương pháp điều trị và lượng vắc xin thử nghiệm hiện có đều không đủ để đáp ứng nhu cầu của hàng ngàn người đang chờ đợi được điều trị.    Vì vậy, một trong những vấn đề cần đưa ra thảo luận là làm thế nào để phân phối lượng vắc xin ít ỏi một cách công bằng, ủy ban này khẳng định trong thông cáo. Đó là lý do giải thích tại sao có cuộc tranh luận khác giữa nhà khoa học và nhà quản lý về y tế công cộng: Liệu có thể thử dùng những loại thuốc đã được phép sử dụng cho những loại bệnh dịch khác đồng thời có khả năng giúp ích cho bệnh nhân Ebola?   Một số nhà nghiên cứu từng đề xuất thử nghiệm những loại thuốc như vậy, ý tưởng đó là thử dùng statins và những loại thuốc giá rẻ được sử dụng phổ biến – đang gây nhiều bàn luận sôi nổi, sau khi dự thảo một bài báo bàn việc triển khai một kế hoạch như vậy được gửi tới tờ New York Times và được chuyển đến hơn 80 nhà nghiên cứu trên toàn thế giới, theo lời Thomas Geisbert, một nhà nghiên cứu về Ebola thuộc Khoa Y của Đại học Texas đặt tại Galveston.   Geisbert không giấu giếm thái độ đối lập hoàn toàn với ý tưởng này, bởi vì ông cho rằng không có đủ bằng chứng để chứng tỏ rằng các loại thuốc đó đủ hiệu quả. “Tôi hết sức quan ngại điều này”.   Nhưng David Fedson, một nhà quản lý dược hưu trí hiện đang sống ở Pháp, và Steven Opal của Đại học Brown, hai đồng tác giả bài báo, lại cho rằng có đủ lý do để tin tưởng rằng statins và một số loại thuốc khác có chứa nhiều chất gây ức chế ACE và angiotensin gây tắc nghẽn thụ thể có thể cứu sống được nhiều người và cần được đưa vào dùng thử. Fedson nói rằng khoảng 30 nhà khoa học, trong đó có nhiều nhân vật nổi tiếng, đã đồng ý ký tên vào bài báo nói trên.  Theo quan điểm của Fedson, vấn đề chính của Ebola không phải là về vấn đề lây nhiễm virus, mà là  làm mất đi phản ứng miễn dịch, vốn cũng xảy ra trong trường hợp nhiễm khuẩn như nhiễm trùng máu. Statins và các loại thuốc khác có thể làm giảm phản ứng miễn dịch đó; một thử nghiệm vào năm 2012 trên các ca bệnh nhân bị nhiễm trùng máu đã chứng tỏ rằng atorvastatin làm giảm nguy cơ biến chứng thành căn bệnh nhiễm trùng máu tới 83%. Ông cho biết, ông đã viết thư gửi trợ lý Tổng giám đốc WHO Marie-Paule Kieny về ý tưởng này; bà đã hồi đáp lại bằng một bức thư chi tiết thể hiện thái độ thận trọng. Bài báo của Fedson chính là một nỗ lực để tiếp tục đưa vấn đề ra trao đổi giữa cộng đồng khoa học quốc tế.  Nhưng Geisbert lại nghĩ rằng đây là một ý tưởng điên rồ. Các nhà nghiên cứu cần phải cho thấy rằng bất kỳ phương pháp điều trị nào được mang tới châu Phi ít nhất phải ngăn chặn được tử vong ở khỉ, ông nói – trong khi các loại thuốc mà Fedson và Opal đang quảng bá vẫn chưa từng được thử nghiệm điều trị Ebola ở khỉ. “Tôi hiểu rằng mọi người đều có ý tốt và chúng ta chỉ muốn làm được điều gì đó”, Geisbert chia sẻ. “Nhưng tôi đã từng thấy nhiều phương thuốc thoạt trông đầy hứa hẹn nhưng không qua được vòng thử nghiệm với loài gặm nhấm, hoặc phù hợp với loài gặm nhấm nhưng lại không qua được vòng thử nghiệm với khỉ… Chúng ta không nên chộp lấy bất kỳ thứ gì mình có”…  Những hợp chất làm thay đổi phản ứng miễn dịch có thể khiến cho việc lây nhiễm Ebola trở nên tồi tệ hơn, Geisbert cảnh báo. Và nếu như các loại thuốc được sử dụng ngày nay ở châu Phi chứng tỏ không hiệu quả thì có thể sẽ gây trở ngại cho viễn cảnh về thuốc đặc trị Ebola nói chung,  Stephan Becker, một nhà khoa học về Ebola ở Đại học Marburg, Đức cho biết. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu Ebola hàng đầu khác tại Marburg, Hans-Dieter Klenk thì lại cho biết đã ký vào bức thư nói trên.   Fedson cho rằng nhiều nhà khoa học nghiên cứu filovirus như Ebola vẫn chưa nắm bắt được ý tưởng về điều trị phản ứng miễn dịch. “Mọi thứ họ nghĩ vẫn là loại trừ virus”, ông nói (Fedson đã từng vận động hành lang trong nhiều năm liền để đưa statins và các tác nhân điều hòa miễn dịch khác được chấp thuận như một cách điều trị dịch cúm).  Những nhà khoa học khác đang cố gắng kêu gọi sự chú ý vào những loại thuốc được cho là công hiệu. Eleanor Fish, nhà nghiên cứu tại Đại học Toronto, Canada, đang hy vọng thuyết phục được WHO và Tổ chức Bác sỹ không biên giới về những lợi ích của việc sử dụng Infergen, một loại interferon α tổng hợp mà bà đã nghiên cứu và được sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh viêm gan C và các loại bệnh khác. Pharmunion BSV Development, công ty dược Ukraine sản xuất ra loại thuốc này, đã đề xuất chuyên chở 60.000 lọ tới châu Phi phát miễn phí, bà cho biết.  Fish từ lâu đã nghiên cứu những đặc tính kháng virus của interferon α và trong năm 2003, bà đã sử dụng trên bệnh nhân bị lây nhiễm loại virus khác, SARS; bài báo của bà trên The Journal of the American Medical Association công bố rằng những đặc tính kháng virus có vẻ như đã phát huy tác dụng với bệnh nhân. Trong một e-mail gửi các nhà quản lý của Tổ chức Bác sỹ không biên giới và WHO ngày 11-8, Fish trích dẫn hai bài báo của các nhà nghiên cứu thuộc Tổ chức Y tế công cộng của Canada, đề xuất có thể giúp khỉ sống sót sau khi bị nhiễm một liều Ebola đủ mạnh để gây tử vong.  Nhưng trong những nghiên cứu đó, interferon – do một adenovirus cung cấp – được sử dụng kết hợp với một hỗn hợp các kháng thể đơn dòng. Geisbert cho biết hiệu lực của hỗn hợp đó có thể xuất phát từ các kháng thể; những nghiên cứu trước đây mà ông và những người khác đã tiến hành cho thấy bản thân interferon không gây ảnh hưởng gì tới Ebola. Fish cũng đồng ý rằng không hề có bằng chứng đã được công bố nào chứng tỏ rằng interferon khi được sử dụng riêng biệt có thể cứu chữa khỉ.   Daniel Getts, chuyên viên nghiên cứu chính của Cour Pharma ở Chicago, Illinois, cho biết ông đã viết thư tới WHO đề xuất sử dụng Hạt nano biến đổi miễn dịch (Immune Modifying Nanoparticles), được sản xuất để làm giảm bớt tổn thương mô bằng liên kết những tế bào miễn dịch gọi là bạch cầu đơn nhân. Tổ chức WHO đã bác bỏ ý tưởng này; “họ chỉ quan tâm đến những phương pháp đã có dữ liệu điều trị với loài linh trưởng”, ông nhận xét.   Một vài nhà nghiên cứu khác lại nhìn thấy tiềm năng từ hai bộ điều biến thụ thể  estrogen chọn lọc được Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ FDA chấp thuận -một trong số đó được dùng để điều trị bệnh ung thư vú – đã cho thấy khả năng hạn chế sự lây nhiễm Ebola trên chuột thí nghiệm trong một bài báo do tạp chí Science Translational Medicine xuất bản năm 2013.   Fish cho biết bà nhận thức được rằng mình không đơn độc trong việc cố gắng giành sự quan tâm từ WHO. “Tôi mường tượng ra cảnh khắp nơi người ta đề xuất đủ các ý tưởng điều trị thượng vàng hạ cám và ai biết được điều gì sẽ xảy ra”, bà lo lắng. Trên thực tế, chưa rõ liệu WHO có đủ thời gian và nhân lực để xem xét tất cả những ý tưởng đó hay không; trong cuộc họp báo vào ngày 8-8 vừa qua, Tổng giám đốc WHO Margaret Chan thông báo rằng tổ chức của bà đang “vô cùng quá tải”, cũng như tình trạng xảy ra với Tổ chức Bác sỹ không biên giới.       T.N  lược dịch   theo bài của Martin Enserink trên Science  http://news.sciencemag.org/africa/2014/08/other-ebola-debate-what-about-existing-drugs?rss=1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lúng túng của chính quyền thuộc địa.      Trong lịch sử Việt Nam, người Pháp và những chính sách cai trị thuộc địa của họ liệu có phải là một khối thống nhất? Hay là trong đó có những chia rẽ và dao động, những cái mà, nói theo từ của Engels, là một thứ “công cụ không tự giác của lịch sử” khiến cho những phong trào yêu nước Việt Nam có cơ hội phát triển. Bài nghiên cứu của Gilles de Gantes cho ta thấy tác động của đường lối Cộng hòa ở Pháp đến sự ra đời và tồn tại của cao trào Duy tân. Giúp chúng ta có được một đánh giá khách quan hơn về những nhân vật lịch sử trong mối quan hệ với người Pháp.    Vì lý do nào phong trào Duy tân rõ ràng mang mầm mống hiểm họa cho chế độ thực dân, lại được chấp nhận trong một thời gian, và thậm chí đôi khi còn được người Pháp khuyến khích? Ba yếu tố có thể được đưa ra lý giải vấn đề này. Trước hết, phần lớn người Pháp không biết tiếng Việt cũng như chữ Hán, do đó đại đa số chỉ có một ý tưởng rất sơ sài về văn minh và triết học châu Á. Mặt khác, nếu một vài viên chức trong bộ máy thuộc địa có ý thức về mong muốn dân trí của người Việt và báo cáo lên phủ Toàn quyền thì kinh phí dành cho Học chính cũng rất thiếu thốn do phần lớn nguồn thu được từ thuế đã được dùng để xây dựng hệ thống đường sắt và trả lương cho công chức Pháp. Chính vì vậy nên những trường tư đã được chấp nhận, trước hết là vì nó góp phần giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho nhà nước. Tuy vậy, lý do căn bản của điều này là do trong thế giới quan của các nhân viên chính quyền cao cấp ở Đông Dương trong những năm 1902-1908, một quan niệm cộng hòa được hình thành ở châu Âu và hoàn toàn xa rời thực tế Việt Nam, nhưng chính nó đã đưa đến chính sách được gọi là “hợp tác” (“association”) mà theo đó các hoạt động Duy tân có thể được chấp nhận.  Phái Cộng hòa và vấn đề thuộc địa Đông Dương  Trong những năm 1880, Pháp chiếm được thêm nhiều thuộc địa, và đồng thời phái Cộng hòa lên nắm quyền. Người Pháp bắt đầu phải đối diện với việc phải cai trị thuộc địa đồng thời họ cũng đặt lại vấn đề về mô hình cơ bản của việc cai trị thuộc địa. Paul Bert và Jean-Marie de Lanessan là hai toàn quyền thuộc phái Cộng hòa đầu tiên phải xử lý vấn đề lý thuyết nan giải này.  Trong trường hợp Việt Nam, chính quyền thuộc địa phải đối mặt với một truyền thống dân tộc lâu đời có văn tự, có lịch sử và có hệ thống nhà nước tổ chức cao, cũng như tinh thần kháng chiến quyết liệt. De Lanessan không rời bỏ ý tưởng cho rằng mọi cá nhân có thể đạt tới Ánh Sáng, nhưng ông ta đã hình thành một lý thuyết cho rằng họ cần phải được đưa đến đó bằng con đường hòa bình, có nghĩa là trong thời gian đầu phải tôn trọng văn hóa của người bản xứ. Trên thực tế, De Lanessan đã áp dụng chính sách gọi là “Bảo hộ” tôn trọng các quyền lợi của triều đình Huế, cũng như quan lại và Nho sĩ. Tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng ông ta không hề nghĩ đến chuyện xóa bỏ thuộc địa (hoặc điều đó là chuyện của tương lai rất xa) và chủ yếu là tìm cách tranh thủ sự hợp tác của một số thành phần cao trong xã hội để đối phó với Cần Vương. Như Pouvourville viết nhiều năm sau đó, “tất cả chúng tôi đều biết rõ rằng xứ Đông Dương chỉ có thể được cai trị với sự thoả thuận, chịu đựng nhiều hay ít, của người bản xứ”.  Tư tưởng này thường được phe ủng hộ gắn liền với sự cần thiết phải phát triển thuộc địa và Đông Dương. Maurice Viollette, một trong những dân biểu có thái độ cấp tiến nhất về vấn đề thuộc địa, cho rằng “ở các thuộc địa, sự quan tâm đến số phận của dân bản xứ có tầm quan trọng trung tâm, để phục vụ cho lợi ích của người Pháp. Thật vậy, để đồng bào chúng ta có thể đem tư bản và công nghệ sang đầu tư một cách có hiệu quả ở xứ thuộc địa, phải chăng họ cần phải có được sức lao động đầy đủ và có sức khoẻ tốt, những trí óc nhanh nhậy có khả năng thích ứng với những đòi hỏi của nông và công nghiệp hiện đại”.  Paul Beau, toàn quyền Đông Dương từ 1902, là người được giao áp dụng chính sách “hợp tác”  vào năm 1905.  Sinh năm 1857, Paul Beau, được đào tạo về ngoại giao, là thành viên Hội Tam điểm và thuộc về phái thế tục và chống Giáo hội, thân với các lãnh tụ đảng Cộng hòa như Leon Bourgeois, Emile Combes, Leon Blum, Henri Brisson và tướng Andre… Ông chủ trương thành lập nền giáo dục Pháp Việt với mục đích mang ánh sáng học thức đến với người Việt, đồng thời cắt đứt Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng Trung Hoa vì ông cho rằng văn minh Trung Hoa chẳng hơn gì văn minh Pháp. Và cũng chính đó là lý do giải thích cho việc khuyến khích phát triển báo chí quốc ngữ: phủ Thống sứ Bắc kỳ đặt mua 1300 tờ của Đại Việt tân báo của Babut, trong khi đó thì số người đặt mua tự do chỉ không quá 200. Paul Beau cũng quan tâm đến vấn đề giáo dục: nhận thấy số thí sinh tham gia kỳ thi hương năm 1903 rất nhiều, ông kết luận rằng các nhà Nho rất coi trọng vấn đề văn hóa nói chung. Tháng 10.1903, ông thành lập một ủy ban chịu trách nhiệm thảo một chương trình hành động toàn thể (báo cáo tháng 2.1904). Ủy ban này đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục Pháp- Việt và có nhiều tranh luận căng thẳng giữa các thành viên. Một số cho rằng giáo dục cần phải hoàn toàn theo kiểu Pháp, giống như xu hướng ở Nam Kỳ. Nhưng phần lớn cho rằng cần phải tiếp tục dạy chữ Hán và chỉ bắt đầu dạy tiếng Pháp từ năm thứ 2. Trong lĩnh vực chính trị, Paul Beau đã thành lập những Hội đồng tư vấn (assemblées consultatives) được bầu, chứ không phải được bổ nhiệm như trước. Sắc lệnh ngày 1.5.1907 thành lập các ủy ban tỉnh (người Pháp không có quyền dự) có nhiệm vụ giúp đỡ các quan chức Pháp. Có một sự phân chia giữa người Pháp (cai quản thành thị) và người Việt (phụ trách nông thôn). Sắc lệnh tiếp theo đó ngày 4.5.1907 thành lập Phòng tư vấn (Chambre consultative) bản xứ trong toàn bộ Bắc Kỳ và được chia làm 3: các tỉnh bầu dân biểu (1 dân biểu đại diện cho 35000 người), các thương gia bầu mỗi tỉnh 2 đại biểu, và đại diện các sắc dân thiểu số được bổ nhiệm chứ không được bầu. Lần bầu cử đầu tiên diễn ra vào tháng 11.1907 và kỳ họp đầu tiên được tổ chức trong toà nhà của Tổng hợp Đông Dương.  Như vậy là xu hướng chính trị này cộng hưởng với phong trào Duy tân.  Hậu quả của 1908  Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và vụ đầu độc quân Pháp ở Hà Nội dường như đặt dấu chấm cho chính sách này. Về mặt chính trị, phái Duy tân mà toàn quyền Beau theo đảng Cộng hòa muốn chọn làm chỗ dựa đã tỏ ra không đáng tin cậy so với phái truyền thống (những quan lại trung thành với triều đình Huế). Anthony Klobukowski người kế tục Paul Beau đã đựơc chọn vì chủ trương dựa vào quan lại để cai trị Đông Dương.  Tuy nhiên, bước ngoặt bảo thủ đã được thực hiện từ trước khi Klobukowski được bổ nhiệm. Các báo cáo của Paul Beau thường bị phê bình ở Bộ thuộc địa, hoặc bởi chính bộ trưởng Millies-Lacroix hoặc bởi giám đốc phụ trách chính trị Robert Vasselle. Có thể lấy làm ví dụ báo cáo ngày 1.2.1907 trong đó Beau nói đến những hội nông hội thương của người Việt như là một hiện tượng có ích, ít nhất là bởi lý do kinh tế. Báo cáo này được nhận xét như sau: báo cáo hời hợt và nhất là các hiệp hội như vậy có mầm mống nguy hiểm và cần phải kiềm chế hoạt động. Dân biểu Albert Metin là người báo cáo kinh phí thuộc địa và nghiên cứu các hồ sơ tại Bộ Thuộc địa đã phát biểu mấy năm sau đó rằng bộ máy hành chính thuộc địa “cần phải tính đến truyền thống và các bộ phận bảo thủ trong triều đình và tránh những cải cách quá đột ngột làm mất lòng phần lớn các quan lại vẫn còn có ảnh hưởng tới giới nho sĩ và trí thức”. Chính trong nội bộ các quan chức ở Đông Dương cũng có những người phản đối. Thống sứ (tạm thời) ở Bắc Kỳ là Joseph de Miribel ngay từ 17.1.1908 đã viết rằng “khi mà tốc độ phát triển trí tuệ của người Annamite được tăng tốc, thì càng cần phải theo dõi sát sao và liên tục những tiến bộ của cải cách giáo dục bản xứ và những tư tưởng trong nội bộ các giáo viên các trường tư hoặc trường công”.  Như vậy Klobukowski sẽ cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của giới quan lại; ông ta cho rằng nếu trong những sự kiện 1908 quan lại người Việt không ủng hộ chính quyền thuộc địa là do quá bị hạ thấp những năm trước đó. Tháng 11.1908 trong chuyến công du các tỉnh Bắc Kỳ, Klobukowski đặt câu hỏi về 3 điểm sau: có cần phải hạn chế các đồn điền của người Âu hay không? hệ thống thuỷ lợi thế nào? tiểu sử của các quan ở các tỉnh? Đồng thời quan niệm về giáo dục của ông ta hoàn toàn khác Paul Beau. J. Simonin, giám đốc trường Paul Bert ở Hà Nội và là người thân cận với Klobukowski, viết năm 1911 rằng “Người ta đã cố tình quên rằng trước khi chúng ta đến đây đã có một nền giáo dục bản xứ trên toàn bộ lãnh thổ ở các cấp tiểu học và trung học có cơ sở một triết lý giáo dục mà chúng ta cần phải tính đến”.  Kết luận  Nếu như Paul Beau đã chấp nhận phong trào Duy tân, thì đó là bởi các nguyên tắc Duy tân phù hợp với thế giới quan của ông ta. Ngược lại, ông ta rõ ràng đã đánh giá thấp khía cạnh dân tộc của phong trào này. Trong khi đó thì có thể nói rằng các nhà Duy tân Việt Nam đã đánh giá quá cao chính sách tự do của Paul Beau. Sự hiểu lầm đó đã đưa tới những sự kiện năm 1908 và chính sách thuộc địa bảo thủ hơn. Vậy điều này đã hoàn toàn chặn đứng các tư tưởng Duy tân ? Theo tôi thì không phải thế: các bản án xử tử và đi đày đã che mất thực tế là báo chí Việt Nam phát triển sau năm 1908 và phần lớn các trường tư thục vẫn tiếp tục hoạt động. Klobukowski là người bảo thủ đứng trên quan điểm người Pháp (ông ta đã hạn chế giáo dục Pháp-Việt là cơ sở của triết lý Cộng hòa) hơn là đứng trên quan điểm Việt Nam.  Gilles de Gantes      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những Mặt trời của Koyama Hisako      Bà là người âm thầm phác họa các vết đen Mặt trời (sunspot), để rồi cuối cùng xuất bản một trong các bộ sưu tập quan sát Mặt trời có sức ảnh hưởng nhất trong vòng 400 năm qua.    Koyama Hisako chụp năm 1951, cạnh chiếc kính viễn vọng có đường kính 20cm. Ảnh: Asahi Graph.  Trong Thế chiến Thứ hai, Tokyo thường tổ chức các buổi diễn tập để cư dân chuẩn bị tinh thần trước các trận không kích. Song mỗi khi còi báo vang lên và cả thành phố mất điện, Koyama Hisako trẻ tuổi lại lẻn ra ngoài, tay này cầm tấm nệm, tay kia cầm bản đồ sao. Những đêm tối om như vậy là điều kiện lý tưởng để ngắm sao trời.  Các khoảnh khắc như thế đã khởi đầu cho niềm đam mê suốt cuộc đời của Koyama dành cho bầu trời lấp lánh ánh sao. Về sau, Koyama cống hiến cả sự nghiệp cho việc giám sát các đốm nhơ trên bề mặt ngôi sao của chính loài người. Tại đài quan sát của mình, bà âm thầm phác họa các vết đen Mặt trời (sunspot), để rồi cuối cùng xuất bản một trong các bộ sưu tập quan sát Mặt trời có sức ảnh hưởng nhất trong vòng 400 năm qua. Thiếu công trình này, các nhà thiên văn sẽ vừa không thể vẽ được một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của Mặt trời ngày nay, lại vừa không được trang bị đủ để dự đoán các hiện tượng thời tiết vũ trụ có khả năng “hạ nốc ao” Hệ thống Định vị Toàn cầu và ảnh hưởng đến nhiều loại công nghệ khác.   Các quan sát và các bức vẽ vết đen Mặt trời tỉ mỉ của Koyama đã định hình khoa học Mặt Trời và ngành thời tiết vũ trụ hiện đại, theo đánh giá về công trình của Koyama xuất bản trên tập san Space Weather. Với một kho tàng hơn 10.000 quan sát vết đen Mặt trời được vẽ bằng tay, Koyama đã gia nhập hàng ngũ các nhà thiên văn học xuất chúng như Galileo Galilei, Johann Caspar Staudacher và Heinrich Schwabe.  “Koyama là kết hợp của sự thông thường và sự phi thường,” trích lời Delores Knipp, một nhà khoa học về thời tiết vũ trụ tại Đại học Colorado-Boulder và cũng là tác giả đứng tên đầu trong bài đánh giá nêu trên. “Mỗi ngày, bà sinh hoạt và làm thứ mà bà tin là một công việc bình thường, lặp lại từ ngày này sang ngày khác. Koyama không hề có ý định trở thành nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Bà chỉ có ý định làm việc thật tốt. Chính cách tư duy như thế đã giúp bà thực hiện điều phi thường”.  Từ nghiệp dư thành chuyên nghiệp  Chào đời ở Tokyo năm 1916, Koyama lớn lên trong một xã hội không khuyến khích phụ nữ trẻ theo đuổi công việc chuyên môn. Koyama tốt nghiệp từ một trường nữ trung học vào thập niên 1930 – điều hiếm gặp ở đại đa phần phụ nữ vào thời điểm đó.   Koyama rất chú tâm đến bầu trời, và cha bà đã nuôi dưỡng niềm đam mê đang trỗi dậy ở con mình ngay từ những năm mới lớn. Người cha đã mua cho bà một chiếc kính viễn vọng khúc xạ, và đến năm 1944, Koyama đã chĩa món quà cha tặng về phía Mặt trời. Để có thể quan sát bề mặt Mặt trời một cách an toàn, bà thường đặt chiếc kính viễn vọng nho nhỏ của mình trước cửa sổ, rồi dùng kính viễn vọng để chiếu ảnh của Mặt trời từ sau thị kính lên một tờ giấy. (Ngày nay, một ý tưởng tương tự cũng được áp dụng để quan sát Mặt trời bằng ống nhòm khi có nhật thực).   Trong vòng một tháng, bà giám sát quả cầu chói lóa theo phương pháp này. Cuối cùng, bà ghi nhận được vết đen Mặt trời đầu tiên của mình với độ chi tiết đáng kinh ngạc.   “Đối với một người phụ nữ ở thời điểm đó, được giáo dục như vậy cũng đáng chú ý rồi,” Knipp giải thích. “Nhưng Koyama còn tự học ngay trong lúc làm, và bà đã vô cùng kiên trì khi từ người nghiệp dư trở thành nhà thiên văn chuyên nghiệp”.   Vết đen Mặt Trời lớn nhất thế kỷ XX, được Koyama vẽ ngày 5/4/1947. Ảnh: Hisako Koyama/National Museum of Nature and Science.  Sau khi hoàn thành bức phác họa đầu tiên ở độ tuổi gần ba mươi, Koyama đã gửi bức này tới Yamamoto Issei, chủ tịch Hội liên hiệp Thiên văn học Đông phương của Nhật Bản. Yamamoto khuyến khích bà tiếp tục quan sát Mặt trời, rồi đến 1945 thì nhận bảo trợ cho bà. Mùa xuân năm 1946, Koyama gia nhập Bảo tàng Khoa học Tokyo (nay là Viện bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Quốc gia) và bắt đầu làm việc lâu dài tại đây.  “Koyama rất bền bỉ, nhất là dù sống trong chế độ do đàn ông thống trị ở Nhật Bản vào thời điểm đó”, Lưu Huệ Tâm (Liu Huixin) cho biết. Lưu là nhà khoa học vũ trụ tại Phòng thí nghiệm Khí tượng học và Vật lý Mặt trời-Trái đất thuộc Đại học Kyushu, cũng là đồng tác giả của bài đánh giá nêu trên. “Bà đã tự tìm đường giữa thế giới lạ lẫm này và chứng tỏ được bản thân. Nhờ đó, bà đã được chấp nhận bởi các đồng nghiệp trong cả giới nghiệp dư lẫn giới chuyên môn”.  Một năm sau đó, Koyama đã vẽ lại vết đen Mặt Trời lớn nhất từng được phát hiện vào thế kỷ XX, khiến bà càng nổi tiếng hơn.  Koyama đã làm nên tên tuổi chính mình thế nào?   Koyama quan sát các chấm đen trên khắp bề mặt Mặt trời một cách đều đặn mỗi ngày. Bà ngồi trong đài quan sát của mình, nhòm qua một cái kính thiên văn phản xạ có đường kính 20cm – công cụ duy nhất trong suốt sự nghiệp của bà – và nhanh chóng hiểu được tại sao các nhà thiên văn lại phụ thuộc vào hiện tượng này ở Mặt trời.   Các vết đen Mặt trời thường xuất hiện nhất thời khi có hoạt động từ tính cao tập trung ở một diện tích trên bề mặt Mặt trời. Nhiệt độ ở các khu vực như vậy thường thấp hơn, và các vết đen phát ra ít ánh sáng hơn phần bề mặt còn lại. Mặt trời hoạt động theo chu kỳ 11 năm, và số lượng các vết đen thường dao động ở cuối chu kỳ. Các nhà khoa học theo dõi các vết đen bởi chúng báo hiệu cho các hoạt động như ngọn lửa Mặt trời (solar flare) – một hiện tượng có thể làm xáo trộn quá trình truyền thông tin bằng vệ tinh quanh Trái đất.   Canh chừng các vết đen Mặt trời là một nỗ lực không ngừng nghỉ, và vẽ lại từng vết đen bằng tay thì cũng rất dễ mệt. Tuy nhiên, trong suốt 40 năm, ngày nào Koyama cũng trở lại làm việc mà không hề chậm trễ.  “Bà tiếp tục quan sát trong cả những ngày hè nóng nực và những ngày đông lạnh giá,” Horaguchi Toshihiro trả lời qua thư điện tử. Horaguchi là giám tuyển có thâm niên, phụ trách thiên văn tại Viện bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Quốc gia. “Trước tiên, bà xác lập phương pháp quan sát, rồi cố gắng duy trì điều đó lâu hết mức có thể”.  Horaguchi đã đọc về Koyama hồi còn đi học, song chưa một lần gặp mặt cho đến khi ông bắt đầu làm việc ở bảo tàng năm 1991. Koyama đã nghỉ hưu từ 1981, song vẫn tiếp tục ghé thăm bảo tàng trên danh nghĩa hội viên suốt mười năm sau đó. Tại đây, bà gặp gỡ và thường xuyên làm cố vấn cho các nhà thiên văn mới vào nghề.   “Bà rất dịu hiền, cứ như là bà ruột của mọi người vậy. Nhưng bà tỉ mỉ lắm: mỗi quan sát có thể rất đơn giản, nhưng tổng hợp lại thì không có gì sánh bằng”, Horaguchi nói.    Với một kho tàng hơn 10,000 quan sát vết đen Mặt trời được vẽ bằng tay, Koyama đã gia nhập hàng ngũ các nhà thiên văn học xuất chúng như Galileo Galilei, Johann Caspar Staudacher và Heinrich Schwabe.    Từ hồi còn làm việc cho đến sau khi đã nghỉ hưu, ngày thường của Koyama luôn bao gồm việc chia sẻ bộ sưu tập các bức vẽ ngày càng nhiều lên, cùng với việc giáo dục về vũ trụ cho khách đến thăm bảo tàng. Bà tổ chức các sự kiện thiên văn học nghiệp dư, giảng dạy vào ngày nghỉ lễ và viết bài trên các tập san thiên văn học để chia sẻ công trình của mình.  “Bà là một cầu nối xuất sắc giữa các nhà thiên văn chuyên nghiệp và nghiệp dư”, Hayakawa Hisashi nhận xét. Hayakawa là một nghiên cứu viên về lịch sử khoa học tại Đại học Osaka, cũng là đồng tác giả của bài đánh giá về Koyama. “Kỹ năng giáo dục của bà rất cao. Nhờ bà ấy có kinh nghiệm của một người nghiệp dư mà các nhà thiên văn nghiệp dư cũng dễ đồng cảm với bà hơn”.   Năm 1985, Koyama gom lại hơn 10,000 bức vẽ của bà trong khoảng từ 1947 đến 1984, rồi xuất bản thành cuốn sách có tên “Quan sát vết đen Mặt trời”. Đến nay, các nhà khoa học Mặt trời đã lưu trữ và dựng lại công trình của bà, cung cấp cho chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về cách mà hoạt động của Mặt trời ảnh hưởng đến Trái đất.  “Bà đã quan sát liên tục gần 50 năm, tạo nên ‘xương sống’ của ngành nghiên cứu vết đen Mặt trời ngày nay,” Hayakawa giải thích. “Koyama biết cách thể hiện các chi tiết mới nhất cho cả nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp, và cuốn sách của bà là một ví dụ tiêu biểu”.  Bảo tàng Khoa học Tokyo, chụp năm 1930. Ảnh: National Diet Library.  Truyền cảm hứng cho những Koyama sau này   Koyama mất năm 1997 và để lại ảnh hưởng lâu dài. Bà đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu thiên văn học nghiệp dư và truyền cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của khoa học công dân (citizen science) tại Nhật Bản. Lưu Huệ Tâm nói: “Phụ nữ trẻ ở Nhật Bản đôi khi vẫn cảm thấy mình không thể đi làm chuyên môn được. Koyama khích lệ tinh thần những người phụ nữ muốn đạt điều gì đó hoặc muốn đóng góp cho khoa học, ngay cả khi họ vẫn còn đang tự học hay mới chỉ bắt đầu tự chủ”.  Gần đây, các nhà thiên văn học bắt đầu truyền tay nhau các quan sát vết đen Mặt trời từ những năm 1700 vừa mới được dựng lại. Nhờ đó, câu chuyện của Koyama và bộ sưu tập quan sát của bà cũng được nhiều người biết đến hơn. Delores Knipp mong rằng việc hồi sinh kho tàng dữ liệu và thuật lại chuyện của Koyama sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý dành cho công trình của bà từ phía các nhà thiên văn nghiệp dư và chuyên nghiệp trên khắp thế giới.  “Koyama xứng đáng có một sự công nhận (dù) muộn màng,” Knipp nói. “Câu chuyện của bà vượt xa các giới hạn thông thường. Mọi cô gái trẻ đều có tiềm năng trở thành những Koyama của tương lai và đạt được giấc mơ của mình”.□  —  Nguyễn Bình dịch   Nguồn: “This Japanese ‘hidden figure’ enlightened the world with her sunspot sketches”, PBS NewsHour. www.pbs.org/newshour/science/japanese-hidden-figure-enlightened-world-sunspot-sketches    Author                .        
__label__tiasang Những miền đất và những cây cầu      Thế giới khoa học có thể được hình dung bao gồm những miền đất rất đa dạng, có những miền đất rất gần gũi nhau, cũng có những miền đất xa nhau vời vợi. Những nghiên cứu khoa học lúc mở rộng hay sáng tạo ra những vùng đất mới, lúc tạo nên những cây cầu nối liền các miền đất, cũng có khi chứng minh những miền đất rời nhau không cầu nào nối nổi… Bài này sẽ giới thiệu sơ qua ý nghĩa một số chiếc cầu nối liền những nghiên cứu lý thuyết thuần túy với những miền đất ứng dụng của thực tế, đặc biệt là trong lý thuyết Tin học và Mật mã.    Những cây cầu nối miền đất lý thuyết và miền đất ứng dụng  Một ví dụ đặc trưng là ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong lý thuyết số vào mật mã hiện đại. Mật mã đã tồn tại từ hàng nghìn năm nhưng nó đã thường được coi là một môn nghệ thuật hơn là một ngành khoa học. Bước ngoặt mới chỉ đến từ hơn 30 năm nay, từ khi khái niệm ban đầu về mã hóa khóa công khai được Diffie-Helmann đề xuất năm 1976. Liên tiếp sau đó, những công cụ ngày càng mạnh của lý thuyết số đã dần thâm nhập vào mật mã và góp phần đưa mật mã trở thành một ngành khoa học:  – Năm 1978, ba nhà khoa học ở đại học MIT la Rivest, Shamir và Adleman đề xuất hệ mã mà nay được gọi là RSA. Độ an toàn của hệ mã này được dựa trên độ khó của việc phân tích một số nguyên lớn  ra thừa số nguyên tố. Liên tiếp sau đó, các bài toán của lý thuyết số như bài toán lo-ga-rít rời rạc và tìm thặng dư cấp 2 cũng đã được sử dụng để xây dựng các hệ mã Elgamal và Rabin. Ngược lại, với sự sử dụng rộng rãi hệ mã RSA, Elgamal trong thực tế, việc nghiên cứu các lới giải hiệu quả cho các bài toán phân tích thành thừa số nguyên tố và lo-ga-rít rời rạc trở nên rất được quan tâm trong lý thuyết số.  – Năm 1985, lý thuyết đường cong elliptic được Miller và Koblitz đồng thời đề nghị sử dụng cho các hệ mã với những lập luận thuyết phục rằng bài toán tìm lo-ga-rít rời rạc trên đường cong elliptic là rất khó  – Năm 2000-2001, các ghép cặp Weil và Tate (Weil pairings, Tate pairings) trên đường cong elliptic đồng thời được Sakai-Ohgishi-Kasahara và Boneh-Franklin sử dụng để xây dựng một cách hiệu quả những hệ mã dựa trên danh tính (nói một cách giản lược, đó là một bước tiến  của mật mã khi khi danh tính người nhận được sử dụng như khóa công khai, từ đó có thể bỏ qua vấn đề chứng thực rất cồng kềnh trong mật mã khóa công khai).  Lý thuyết số như vậy đã đi vào miền đất thực tế một cách ngoạn mục, nó hiện hữu trong các hoạt động thực tiễn: trao đổi trực tuyến giữa các ngân hàng, thanh toán qua thẻ, truyền phát tín hiệu vệ tinh, xem phim tự chọn trên truyền hình…  Bên cạnh đó, với cây cầu bắc tới lý thuyết số, từ những phát kiến ban đầu, mật mã trở thành một ngành khoa học mới. Ngành khoa học mật mã không chỉ nghiên cứu sự bảo mật của các sơ đồ mã hóa, mà còn mở rộng đến những ứng dụng thực tiễn như chữ ký điện tử, sơ đồ định danh… rồi dần dần đưa đến những khái niệm quan trọng của ngành khoa học máy tính và rộng hơn là của Toán học như khái niệm về các chứng minh tương tác (interactives proofs), chứng minh không để lộ tri thức (zero-knowledge proofs) và gần đây là các chứng minh kiểm tra được một cách xác suất bằng cách chỉ kiểm thử một hằng số các bít thông tin trên bản chứng minh (probabilistic checkable proofs).             Máy tính lượng tử- cây cầu có thể được các kỹ sư tài năng xây thành công trong tương lai.          Chiếc cầu nối giữa lý thuyết số và mật mã phần nào cho ta thấy những nghiên cứu trong toán học lý thuyết hoàn toàn có thể được ứng dụng trong thực tế, đồng thời nó cũng chứng tỏ sự phát triển tương hỗ giữa những ngành khoa học thuần túy lý thuyết và những ngành khoa học thiên về ứng dụng.  Những cây cầu tới những miền đất lý thuyết xa xôi có thể được tạo nên không chỉ bởi những nhà khoa học lý thuyết. Không nhất thiết là phải là nhà nghiên cứu lý thuyết để có thể tạo nên những cây cầu. Một ví dụ là việc xây dựng các máy tính lượng tử. Cây cầu cần được xây là những chiếc máy tính lượng tử có thể sử dụng trong thực tế, trên dữ liệu lớn. Nguyên tắc hoạt động của những chiếc máy này đã khá rõ ràng, tuân theo các nguyên tắc lý thuyết đã được nghiên cứu sâu sắc trong cơ học lượng tử. Điều chúng ta cần chờ để hiện thực hóa những chiếc máy này là những thực nghiệm vật lý, những kỹ thuật thao tác hiệu quả trên các bít lượng tử (qubit) bởi các kỹ sư. Ý nghĩa của việc cụ thể hóa cây cầu đó là rất lớn lao: những nghiên cứu sâu từ nhiều năm qua về lý thuyết tính toán trong thế giới máy tính lượng tử (chẳng hạn các bài toán phân tích thành thừa số nguyên tố, lo-ga-rít rời rạc đã được chứng mình là dễ giải đối với máy tính lượng tử) đang chờ chiếc cầu thực tế để làm chao đảo thế giới (chẳng hạn sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hầu hết các hệ mật mã hiện hành).  Những lý thuyết được xây dựng trên giả thuyết không có cầu. Cũng đôi khi các lý thuyết được xây dựng trên giả thuyết không tồn tại những cây cầu. Một trong những giả thuyết nổi tiếng nhất là về sự khác biệt của P và NP. Một cách ngắn gọn, P là lớp các bài toán mà lời giải của nó có thể tìm được trong thời gian đa thức (theo độ dài thông tin biểu diễn các bài toán đó) và NP là lớp các bài toán mà lời giải của chúng kiểm tra được là đúng hay sai trong thời gian đa thức. Bằng trực quan ta có thể hình dung rằng việc tìm ra lời giải rõ ràng là phải khó hơn việc kiểm tra một lời giải cho trước là đúng hay sai. Thế nhưng, suốt nhiều thập niên qua, chưa ai chứng minh được điều này. Các kết quả lớn trong lý thuyết độ phức tạp tính toán và trong lý thuyết mật mã đều hầu hết dựa trên giả thuyết về sự khác nhau giữa P và NP. Với tầm quan trọng đó, bài toán «P versus NP» đã được Viện Toán học Clay chọn là 1 trong 7 bài toán của thiên niên kỷ.  Cách tiếp cận bài toán này có lẽ phải thông qua lớp NP-đầy đủ bao gồm các bài toán «khó nhất» trong NP: ta chỉ cần chỉ ra 1 trong các bài toán trong NP-đầy đủ thuộc P thì sẽ dẫn tới NP = P. Một cây cầu nối liền P và NP như vậy đơn giản sẽ chỉ là một lời giải trong thời gian đa thức cho một bài toán trong lớp NP-đầy đủ. Nhưng cây cầu đó, nếu có, sẽ làm ảnh hưởng nặng nề đến lý thuyết độ phức tạp tính toán và làm suy sụp lý thuyết mật mã (tuy vậy cần chú ý rằng một cây cầu như thế không làm sụp đổ các hệ mã trong thực tế, bởi lẽ dù hệ mã bị phá trong thời gian đa thức nhưng nếu bậc của đa thức rất lớn thì có thể hệ mã vẫn an toàn trong thực tế).  Càng chu du nhiều, càng thấy nhiều miền đất đẹp và thấy vẻ đẹp chung của nhiều miền đất. Terence Tao và Timothy Gowers – hai người từng đoạt giải Fields – quan tâm đến rất nhiều lĩnh vực, thậm chí họ quan tâm rất nhiều đến các vấn đề của Tin học, đặc biệt là bài toán «P versus NP». Bài toán này thực sự nằm trong ranh giới của nhiều ngành khoa học: rất nhiều bài toán của toán học, kinh tế… đã được chứng minh là NP đầy đủ và những nhà khoa học thuộc các nhánh khoa học khác nhau hoàn toàn có thể tiếp cận bài toán thiên niên kỷ này  theo cách riêng của mình.  Lời kết   Thế giới những miền đất khoa học và sự liên quan giữa chúng rất đa dạng. Mỗi khi chúng ta có một người lên đến đỉnh cao của một miền đất, đó sẽ là một cơ hội tuyệt vời thu hút lực lượng trẻ quyết định tham gia vào thế giới khoa học. Hy vọng ta có thể hướng những bạn sinh viên nhìn thấy vẻ đẹp của nhiều miền đất khác nhau, và tạo điều kiện thuận lợi để các bạn tự do lựa chọn miền đất ưa thích. Việc ta tham gia vào nhiều miền đất khác nhau không nhất thiết đồng nghĩa với việc chia nhỏ lực lượng của mình và làm suy yếu nó. Ngược lại, khi không gian trước mặt càng rộng mở và ít bị giới hạn, chúng ta càng có nhiều lựa chọn và số người quyết định đi tới các miền đất khoa học sẽ càng tăng lên. Và với sự ủng hộ mạnh mẽ cho những người có khả năng đi xa trong miền đất của họ, số những người đi tới đỉnh cao cũng sẽ nhiều hơn lên. Để có được điều đó, hy vọng những nhà khoa học giàu kinh nghiệm ở khắp các miền đất khác nhau sẽ tới và mở rộng tầm nhìn của chúng ta, và để chúng ta có thêm nhiều lựa chọn phù hợp với năng khiếu của mình.    Author                Phan Dương Hiệu        
__label__tiasang Những nạn nhân đầu tiên của biến đổi khí hậu      Hằng năm có khoảng 3,5 triệu trẻ em trên thế giới dưới 5 tuổi chết vì nghèo đói. Đói nghèo, lạnh giá, hạn hán và lụt lội đang xóa tan cơ hội của người nghèo quyền được học con chữ, được bang giao trong thế giới xa lộ thông tin. Những người nghèo là nạn nhân đầu tiên của biến đổi khí hậu, và không ai khác, phụ nữ và trẻ em phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn cả.    Dường như tất cả những tiên đoán về một hậu tương lai cho sự phát triển của con người không chỉ còn là những nét phác thảo của một trang kịch bản. Những hậu quả khởi động mới chỉ là sự đáp trả ban đầu của một chuỗi những thiên tai nghiệt ngã hơn đang đón chờ. Cơ hội phát triển của con người bị tước đoạt và những người nghèo là nạn nhân đầu tiên của biến đổi khí hậu.    Đói nghèo và… cái chết  Trong bài toán về biến đổi khí hậu thì người giàu làm nhưng người nghèo lại phải gánh chịu. Những công dân nghèo của thế giới phát thải lượng CO2 ít hơn cả, nhưng họ lại không được trang bị các phương tiện tối thiểu để đối phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu. Hình thức phát thải CO2 của những công dân này lại chủ yếu là đốt củi. Ngoài ra họ tham gia cản trở quá trình hấp thụ CO2 thông qua các hoạt động phá rừng, đốt rẫy. Đối với những mùa đông lạnh bất thường, những người giàu ở những cường quốc với lối sống xa hoa năng lượng còn được trang bị những máy sưởi nhiệt, trong khi hàng tỷ người nghèo trên khắp hành tinh cơm không đủ ăn áo không đủ mặc sẽ phải chống chịu với cái lạnh giá trong nỗi vô vọng.  Chưa bao giờ những đợt nóng và hạn hán kéo dài gây mất mùa cho người nông dân nhiều như bây giờ, lượng mưa giảm ở nhiều nơi cần nước, tốc độ sa mạc hóa và cả những quá trình xâm thực của những đụm cát làm giảm diện tích đất canh tác của con người, và như vậy, đang cướp đi miếng cơm của hàng trăm triệu người, an ninh lương thực bị đe dọa, phân hóa giàu nghèo ngày một tăng. Trong báo cáo của UNDP dự báo, những vùng đất khô hạn chịu hạn hán ở châu Phi, vùng cận Sahara, có thể mở rộng thêm 60-90 triệu hecta vào 2060, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ USD. Cũng theo UNDP, tại các nước chịu hạn hán nhiều nhất là Ethopia, Kenia và Nigie thì khả năng trẻ em dưới 5 tuổi sinh ra trong thời gian hạn hán tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng thêm lần lượt là  36%, 50% và 72%. Tính trung bình, hằng năm trên thế giới có khoảng 3,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì nghèo đói. Và hiện tại, có khoảng 70% người nghèo trên thế giới là phụ nữ. Các chuyên gia của Liên hợp quốc dự đoán, sẽ có khoảng 600 triệu người trên thế giới bị suy dinh dưỡng vào 2080.                     “Biến đổi khí hậu đã trở thành kẻ hủy diệt thứ năm đối với sức khỏe con người sau chiến tranh, đói nghèo, dịch hạch và cái chết”, Tổng giám đốc WHO Margaret Chan, nhấn mạnh. Phát biểu của ông Chan phần nào khẳng định cho nhận định rằng, số người chết do biến đổi khí hậu ngày một tăng. Thiên tai và nghèo đói đang cướp đi tư liệu sản xuất của người nghèo khiến cuộc sống của phần dân số này ngày càng trở nên cùng cực, và những người nghèo chỉ là sự thế thân của một thế giới đang…mê ngủ.  Bức tường ngăn vào thế giới văn minh  Các chuyên gia của Liên hợp quốc đánh giá, hai lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu là nông nghiệp và y tế. Hiện tại, khoảng hơn hai phần ba dân số thế giới sinh sống ở nông thôn và phần lớn thuộc về các nước đang phát triển. Theo Báo cáo phát triển con người, trong khoảng thời gian 2000-2004, có khoảng 262 triệu người bị ảnh hưởng bởi thiên tai hằng năm, trong đó 98% là cư dân của các nước đang phát triển.  Đói nghèo, lạnh giá, hạn hán và lụt lội đang xóa tan cơ hội cho những công dân nghèo quyền được học con chữ, được bang giao trong thế giới xa lộ thông tin, mà đáng ra, họ cũng có quyền được thừa hưởng tất cả những tiến bộ của nhân loại mang lại. Và không ai khác, nạn nhân trong thế giới nghèo phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn cả chính là phụ nữ và trẻ em. Một thống kê được thực hiện cho thấy, khả năng phụ nữ Ấn Độ sinh ra trong thời gian lũ lụt ở những năm 1970 được học tiểu học giảm đi 19%. Và trong số khoảng gần 900 triệu người mù chữ trên thế giới thì khoảng hai phần ba là phụ nữ. Việc tự đọc được quốc ngữ của mình ở nhiều quốc gia nghèo vẫn còn là điều xa vời.  Trong Báo cáo phát triển con người có chỉ rõ, “Các chấn động khí hậu làm tiêu tan cơ hội phát triển của con người về lâu dài, làm tiêu tan năng suất và xói mòn năng lực của con người”. Liệu chủ đề “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết trong một thế giới phân cách”, và lời nhắc nhở của Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon, “Chúng ta cần phải có bước đột phá về biến đổi khí hậu” có thức tỉnh lương tri của một thế giới đang ngủ quên? Và trong một thế giới phân cách, trách nhiệm không thể phân bổ như nhau, không thể nào nước giàu làm nhưng nước nghèo phải chịu. Những nước phát triển phải gánh vác trách nhiệm tiên phong và đảm nhiệm sứ mệnh của mình khi nhân loại bắt tay vào cuộc chiến chống lại sự thay đổi của khí hậu.  Tự do      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ngả đường của ánh sáng      Chúng ta được cấu thành từ những đám tinh vân và là hậu duệ của những vì sao. Những loài dã thú và những đóa hoa đồng nội đều là anh em họ hàng của chúng ta vì tất cả đều sẻ chia chung cùng một phả hệ vũ trụ. Nhận thức này giúp chúng ta hiểu một điều rằng, hạnh phúc của chính mình nương tựa vào hạnh phúc của tha nhân và mang đến cho ta lòng từ bi đối với mọi loài.    Giải mã ánh sáng     Trải dọc theo các cung bậc lịch sử và xuyên suốt các nền văn hóa, các nhà tư tưởng đã cố gắng bước vào vương quốc của ánh sáng để giải mã những bí mật của nó.  Thời cổ đại, ánh sáng luôn được con người sử dụng như một công cụ quyền uy. Sức mạnh của ánh sáng hiện diện trong tất cả các truyền thống tâm linh lớn và những tông đồ tôn giáo đón nhận ánh sáng với một quyền lực siêu hình bất tận. Người Hy Lạp (Empedocles) ví ánh sáng như linh hồn của các vị thần và phát khởi từ ngọn lửa nội tại bên trong mỗi chúng ta. Đối với Cơ đốc giáo, ánh sáng là hiện thân sức mạnh tinh thần của Chúa. Những thánh đường thời Trung Cổ mang đậm kiến trúc gothic, biến thành cung điện ngập tràn những tia sáng để tưởng nhớ vinh quang đấng tối cao.  Những nhà nghệ thuật thì cảm nhận ánh sáng như một sự phô diễn thẩm mỹ của con người về vũ trụ. Cezanne, bên bờ sông thơ mộng, đã vẽ những cảnh giống nhau dưới những tông màu khác biệt. Còn Monet chìm đắm trong suy ngẫm suốt hàng giờ đồng hồ về những hành xử của ánh sáng và các bóng đổ trên tác phẩm điêu khắc trước mặt tiền của thánh đường Rouen. Dù trên phương diện nào đi nữa, ánh sáng cho phép chúng ta thưởng ngoạn và tương tác với thế giới, đóng một vai trò quan trọng khi người họa sỹ muốn trải nghiệm vũ trụ thông qua những bức tranh. Mỗi khi chúng ta nhìn ngắm các bức họa của Rembrandt, Hokusa#, van Gogh hay Monet đều cảm nhận rõ điều này. Tuy nhiên, luật phối cảnh dựa trên nguyên lý truyền thẳng của tia sáng giữa trường phái hội họa phương Đông và phương Tây vẫn thấp thoáng đâu đó một vài điểm khác biệt.  Trong khoa học, ánh sáng đóng một vai trò quan trọng, là sứ giả mang thông tin giữa con người và vũ trụ, cho phép loài người vươn tới các vì sao. Bằng việc giải mã những mật mã vũ trụ mà nó mang theo, nhà khoa học có thể nhận biết được thành phần hóa học của các thiên hà cũng như sự giãn nở không-thời gian, đồng thời hé lộ cho chúng ta về một quá khứ xa xăm, một hiện tại và cả tương lai tối hậu của vũ trụ.  Ban đầu, con người quan niệm rằng, sở dĩ chúng ta nhìn thấy vạn vật trong thế giới là do đôi mắt chiếu các tia sáng lên chúng. Nhưng 1500 năm sau đó, nhà khoa học Ả-Rập Alhazen đã thay đổi suy nghĩ về sự truyền của tia sáng và cho rằng, tia sáng phản chiếu từ vật đến đôi mắt thay vì ngược lại. Xuyên suốt các thế kỷ tiếp sau, những cuộc luận bàn sôi nổi xung quanh bản chất của ánh sáng vẫn không dứt. Trong khi Newton cho rằng ánh sáng có bản chất hạt thì Young, Faraday và Maxwell lại nghĩ, ánh sáng là các sóng truyền trong một môi trường đặc biệt, một chất bí mật gọi là “ether”, choán đầy không gian. Thật may mắn, đầu thế kỷ 20, Planck và Einstein đưa ra ý tưởng về các lượng tử ánh sáng và cơ học lượng tử đã dung hòa hai quan điểm đối cực này. Bên cạnh đó, “nguyên lý bổ sung” của Borh cũng đã chỉ ra rằng, hai mặt của ánh sáng không hề loại trừ nhau, mà trái lại, tương hỗ cho nhau. Thực tại mất dần tính khách quan và trở nên chủ quan. Bởi vì ánh sáng, cũng giống như Janus, sẽ là sóng hay hạt hoàn toàn phụ thuộc vào cách thế mà ta quan sát cho nên không thể nói nó hiện hữu như một thực thể tự thân. Một lần nữa chính Einstein đã tống khứ quan niệm về “ether” và tiên đoán đường truyền của tia sáng sẽ vẽ lên bức tranh về sự cong của không-thời gian gây bởi lực hấp dẫn của vạn vật.  Suối nguồn của cuộc sống  Vũ trụ tràn ngập và được trang hoàng bởi ánh sáng. Những tia sáng khởi thủy được sinh ra trong thời khắc đầu tiên của Big Bang, từ một điểm không gian vô cùng nhỏ choán đầy năng lượng và sau đó giãn nở theo một hàm số mũ (gọi là sự lạm phát). Ở đó là cội nguồn của không gian và là bắt đầu của thời gian. Pha lạm phát kết thúc ở thời điểm 10-32 giây sau Vụ nổ. Sau đó, vũ trụ giãn nở chậm dần và ngày nay chúng ta vẫn có thể quan sát được sự giãn nở này. Trải qua những pha tiến hóa bi hùng, chính ánh sáng là nguồn cội hình thành nên những viên gạch vật chất. Từ một chân không choán đầy bởi năng lượng, xuất hiện một thứ súp nguyên thuỷ của vật chất tạo bởi các hạt quark, electron, photon, neutrino và tất cả các phản hạt của chúng. Bởi vì có sự ưu tiên tinh tế cho vật chất hơn là phản vật chất, khoảng một phần tỷ, nên chúng ta sống trong một vũ trụ được cấu thành bởi vật chất với một tỷ lệ khoảng 1 tỷ photon cho mỗi hạt vật chất.            Thiên hà I Zwicky 18 là một trong những thiên hà trẻ nhất trong vũ trụ ở gần chúng ta. Ảnh chụp với kính viễn vọng không gian Hubble bởi Trịnh Xuân Thuận và Izotov. (NASA)            Thời gian trôi đi, những viên gạch vật chất gắn kết với nhau để hình thành nên những ngôi sao, những quả cầu khí khổng lồ phát ra ánh sáng từ trung tâm bằng việc đốt cháy các nguyên tử thông qua những phản ứng hạt nhân. Người thợ hấp dẫn tiếp theo lại cặm cụi nhào nặn nên các thiên hà, đám thiên hà từ vô vàn vì sao lấp lánh. Sau quá trình tiến hóa kéo dài 13,6 tỷ năm, vũ trụ chúng ta quan sát được chứa hàng trăm tỷ thiên hà, mỗi thiên hà lại cấu thành bởi hàng trăm tỷ ngôi sao. Câu chuyện về vũ trụ cũng là câu chuyện về sự tiến hoá và tổ chức của vật chất. Con đường từ một vũ trụ đồng đều gần như hoàn hảo (đã được đo bởi sự thăng giáng nhiệt độ trong phông bức xạ nền với giá trị 10-5), sau đó, đã tự tổ chức nên một tấm thảm phì nhiêu với những bức tường thiên hà trải dài hàng trăm triệu năm ánh sáng bao quanh những khoảng trống khổng lồ. Tất cả đã dệt nên một bức tranh vũ trụ tuyệt mỹ. Trong bức tranh đó có một thiên hà gọi là Dải Ngân Hà, gần vùng ngoại ô của nó có một ngôi sao mang tên Mặt trời, trong đó tồn tại một hành tinh đặt tên là Trái đất.  Không có người mẹ Mặt trời, chúng ta không có mặt ở đây. Sự sống được nuôi dưỡng bởi các quá trình quang hợp. Ánh sáng mặt trời được hấp thụ bởi các phân tử diệp lục, mang màu xanh cho cây cối, chuyển nước trong thân cây và CO2 trong khí quyển thành oxy và đường. Chặng đường tiến hóa dài dằng dặc của Hệ mặt trời cùng với các quá trình địa chất, hóa học, sinh học… có sự tham gia của ánh sáng đã mang tới sự sống ngập tràn Trái đất sau 4,6 tỷ năm. Rồi trên hành tinh bé bỏng đó con người xuất hiện, những sinh vật có khả năng đặt những câu hỏi về vũ trụ, gán cho nó một nguồn gốc và đánh giá vẻ đẹp thánh thiện cùng sự hòa điệu tuyệt vời của nó. Ánh sáng mang lại cho chúng ta cảm xúc. Một ngày u ám đè nặng tâm hồn trong khi những tia nắng Mặt trời làm cho trái tim chúng ta ngập tràn niềm hạnh phúc. Ánh sáng là suối nguồn của sự sống trên quả đất.            Đối với tôi, vũ trụ chẳng có ý nghĩa gì cả nếu như không có một loài có trí khôn để có thể thưởng ngoạn được vẻ đẹp cùng sự hòa điệu tuyệt vời của nó. Và tôi cũng không tin rằng khoa học sẽ giải quyết tất cả những câu hỏi. Chúng ta sẽ không bao giờ tháo gỡ được hết những bí mật của tự nhiên. Chúng ta có thể tiếp cận đến gần sự thật chứ không bao giờ đặt chân đến cuối con đường để hiểu được tất cả. Khi một câu hỏi được sáng tỏ, sẽ có rất nhiều câu hỏi khác xuất hiện. Trong vũ trụ luôn có những điều huyền diệu và bí ẩn, những điều nằm ngoài trí tưởng tượng và suy luận thuần tuý của loài người, vượt xa những gì chúng ta có thể cảm nhận được          Mặc dù ánh sáng và năng lượng vô cùng cần thiết cho sự tồn tại của chúng ta, nhưng vật chất sáng nhìn thấy chỉ cấu thành 0,5% tổng khối lượng và năng lượng của toàn vũ trụ, 99,5% còn lại là vật chất tối và chỉ nhận biết được thông qua ảnh hưởng hấp dẫn trực tiếp của nó. Bên cạnh đó, tồn tại thế hệ các hạt vật chất ngoại lai cũng được sinh ra cùng với ánh sáng trong phần tỷ tỷ giây đầu tiên khi vũ trụ chào đời. Rồi đâu đó trong khắp cõi vũ trụ mênh mông, ẩn chứa những nhà tù ánh sáng, những lỗ đen với sức hút ma quái không hề ban phát cho ánh sáng một ân huệ để trốn thoát. Tất cả đã tạo nên những khối lượng tàng hình còn lại của vũ trụ.  Tất yếu hay ngẫu nhiên  Tuy nhiên, sự sống không đơn thuần chỉ là một trò cá cược. Ngành vũ trụ học đương đại đồng thời cũng đem đến cho ta nhận thức rằng, vũ trụ này được hòa điệu trong một mức độ chính xác tuyệt vời đảm bảo cho sự xuất hiện của sự sống và ý thức. Nếu vũ trụ này bao la là bởi vì sự mênh mông này cần thiết cho sự xuất hiện một người quan sát có khả năng thưởng thức vẻ đẹp, sự hài hòa đó, và đem đến cho nó một ý nghĩa. Như nhà vật lý học Freeman Dyson đã phát biểu:              Tinh vân Carina (NGC 3372) với những ngôi sao trẻ được hình thành          “Vũ Trụ này đã biết là chúng ta sẽ có mặt”. Tất cả những gì trong vũ trụ này đều được xác định bởi một loạt khoảng 15 hằng số vật lý (như vận tốc ánh sáng, hằng số hấp dẫn, hằng số Planck, khối lượng của electron…) và những điều kiện sơ khởi (như độ giãn nở ban đầu), tỷ trọng ban đầu của vũ trụ phải được điều hòa ở một con số rất chính xác là 10-60. Điều này có thể được đem so sánh với một cung thủ thiện nghệ nhắm trúng mục tiêu 1centimet vuông được đặt cách xa 14 tỷ năm ánh sáng, ngay tận đầu biên của vũ trụ!  Đi tìm sự hòa điệu  Những sinh vật có tri giác như chúng ta có thể đặt câu hỏi: Cái gì đã tạo nên sự hòa điệu tuyệt vời này? Chúng ta có thể cho đó là một ngẫu nhiên tình cờ. Trong trường hợp này ta cần phải đi đến một giả định rằng đã có sự hiện hữu của vô số vũ trụ (mà các nhà vật lý gọi đó là đa-vũ-trụ). Đã có không ít những lối giải thích về lý thuyết Big Bang làm cơ sở cho thuyết đa-vũ-trụ. Ví dụ như nhà vật lý Nga, Andrei Linde, đã khai triển lý thuyết cho rằng, vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong vô số những vũ trụ phát khởi từ vô số lượng những đám bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong vũ trụ meta.            Ánh sáng là khởi nguồn của sự sống và sự hòa điệu của vũ trụ gói gém cả trong từng cánh hoa          Đại bộ phận những vũ trụ này vì bao gồm một tổng hợp không chuẩn xác về những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi nên khô chết, ngoại trừ vũ trụ của chúng ta, do một tình cờ may mắn đã có được một tổng hợp hoàn chỉnh, chẳng khác gì một người trúng số độc đắc. Ngược lại, nếu cho rằng chỉ có một vũ trụ duy nhất, thì như thế ta cần giả định là có một nguyên lý sáng tạo chi phối những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi này. Khoa học cũng không thể phân biệt giữa hai khả năng này, thế nên cũng giống như Pascal, chúng ta đành phải chấp nhận một sự đánh cuộc. Riêng phần tôi, tôi bác bỏ chuyện may rủi, bởi nhiều lý do: thứ nhất, mặc nhận một số lượng vô số những vũ trụ song hành với chúng ta mà không thể kiểm chứng được bằng quan sát, điều này không phù hợp với cảm quan của tôi như là một nhà quan sát. Đồng thời sự giả định này vi phạm qui luật Occam cho rằng, ta nên lý giải sự việc bằng giả thiết đơn giản nhất có thể được: tại sao lại phải giả định có vô số lượng những vũ trụ khô chết để chỉ có được một vũ trụ duy nhất nuôi dưỡng sự sống và ý thức? Ngoài ra còn có những lý lẽ khác để bác bỏ chuyện may rủi ngẫu nhiên: Đối với tôi thật khó mà tin rằng cái vũ trụ mà tôi nhìn ngắm qua viễn vọng kính, xinh đẹp, đơn thuần, hài hòa như thế kia lại chỉ là sản phẩm của một sự rủi may.        Con người đã thu nhỏ lại không chỉ trong không gian mà còn cả về mặt thời gian. Nếu ví 14 tỷ năm của vũ trụ như 1 năm, thì con người đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất chỉ vào thời điểm 10giờ 30 phút ngày 31 tháng 12 (khoảng 2 triệu năm trước, ở một nơi nào đó của châu Phi). Có nên tuyệt vọng hay không một khi chúng ta cảm thấy mình hình như rất vô nghĩa trước vũ trụ? Và như thế, có nên chấp nhận quan điểm của nhà sinh học người Pháp đoạt giải Nobel, Jacques Monod, cho rằng “con người xuất hiện một cách tình cờ trong vũ trụ vốn dĩ cũng rất lạnh lùng và dửng dưng”, hay như nhà Vật lý đoạt giải Nobel người Mỹ, “Chúng ta càng hiểu biết về vũ trụ chừng nào, hình như càng thấy vô nghĩa thêm chừng nấy”? Tôi thì không nghĩ như thế. Cho đến khi chúng ta tiếp xúc được với một nền văn minh nào đó ngoài địa cầu, Con người vẫn còn đóng một vai trò quan trọng, đó là mang cho vũ trụ một ý nghĩa.        Tôi có thể nói rằng sự hòa điệu của vũ trụ mà tôi đã mô tả trước đây được biết như “nguyên lý vị nhân” (vốn phát xuất từ danh từ “anthropos” có nghĩa là “con người” của Hy Lạp) và tôi đã mô tả trong phiên bản “nguyên lý vị nhân mạnh” của nó. Đồng thời cũng còn có một giải thích trong một phiên bản khác gọi là “nguyên lý vị nhân yếu”, đối với tôi đó là sự lặp thừa: “Vũ trụ có đủ phẩm tánh để cho con người xuất hiện”. Điều này không có nghĩa rằng sự tiến hóa của vũ trụ chỉ nhắm đến con người mà có thể áp dụng chung cho bất cứ loài tri giác ngoài địa cầu nào ở trong vũ trụ này có khả năng nhận thức được vẽ đẹp và sự hài hòa của nó.  ———————  * GS Trịnh Xuân Thuận (Đại học Virginia) vừa nhận được giải thưởng Gran Prix Moron của Viện Hàn lâm Pháp cho tác phẩm gần đây của ông “Những Con Đường Của Ánh Sáng”. Đây được đánh giá là một tác phẩm khoa học và triết học sâu sắc đối với công chúng yêu khoa học. Cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và sẽ được NXB Trẻ phát hành vào đầu năm nay.      Trịnh Xuân Thuận      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ngày khoa học và công nghệ Việt Nam – Thái Lan      Đã được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 26 đến 2/7 với sự tham dự của Bộ trưởng KH&amp;CN cùng nhiều nhà khoa học của hai nước. “Những ngày khoa học và công nghệ Việt Nam – Thái Lan” gồm một loạt các họat động như Triển lãm hợp tác Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Thái Lan, ba hội thảo về các vấn đề thời sự được các nhà khoa học hai nước quan tâm là “Ứng dụng viễn thám để giám sát ngập lụt”, “Cúm A/H5N1 ở Việt Nam và Thái Lan”, “Chính sách KH&amp;CN: Kinh nghiệm của Việt Nam và Thái Lan”.    Đặc biệt một hội thảo trực tuyến về “Chuẩn mở, mã nguồn mở và các Mạng Nghiên cứu và Đào tạo quốc gia” được tổ chức trên cơ sở sử dụng Mạng thông tin xuyên Á- Âu (TEIN- 2) và Mạng nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VINAREN) mới được khai trương vào tháng 6 vừa qua. Các hội thảo tập trung nêu rõ trình độ khoa học và công nghệ hiện nay cũng như xu thế và định hướng phát triển trong lĩnh vực khoa học và công nghệ hai nước Việt Nam và Thái Lan. Các đại biểu cũng cho rằng hai nước cần hợp tác hơn nữa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tạo điều kiện cùng hội nhập khu vực và thế giới.   Một cuộc triển lãm được tổ chức với sự góp mặt của 19 đơn vị tham gia (trong đó có 10 đơn vị của Việt Nam và 9 đơn vị của Thái Lan) để giới thiệu thành tựu hợp tác về KH& CN giữa hai nước trong những năm qua. Trong khoảng thời gian gần 10 năm (chính thức từ ngày 12/3/1997) hai nước mở quan hệ hợp tác KH&CN, đã có nhiều nghiên cứu chung được tiến hành. Các dự án hợp tác song phương đã huy động sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học hai nước tham gia giải quyết những vấn đề thiết thực thuộc nhiều lĩnh vực từ quản lý khoa học và công nghệ đến hợp tác, chuyển giao các công nghệ tiên tiến được hai nước quan tâm, trong đó có một số lĩnh vực quan trọng như: Đo lường, vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, viễn thám. Nhiều dự án cụ thể đã được triển khai và mang lại kết quả đáng khích lệ, đó là các dự án: “Nghiên cứu nâng cao năng lực đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về môi trường ở Việt Nam và ASEAN”, “Nghiên cứu ứng dụng nấm Chaetomium trong sản xuất các chế phẩm vi sinhbảo vệ thực vật phòng chống các bệnh nấm hại”, “Nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất thực phẩm chức năng cho trẻ em”, “Hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cao kết hợp với du lịch sinh thái cho vùng nông thôn”… Hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước không chỉ hạn chế trong phạm vi các viện nghiên cứu, các trường ĐH ở Trung ương mà còn lan tỏa tới các địa phương với nhiều đề tài hết sức thiết thực và hiệu quả, được nhân dân các địa phương đánh giá cao. Có thể kể đến các hoạt động hợp tác của tỉnh Hà Tĩnh với các đối tác Thái Lan trong các dự án: Nuôi ếch Thái Lan, Chăn nuôi lợn siêu nạc quy mô công nghiệp, dây chuyền sản xuất ống cống cỡ lớn, Dây chuyền sản xuất gạch Block tự chèn, xây dựng gạch Block bê tông…  P.V          Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ngộ nhận đáng tiếc      Tạp chí Tia Sáng số 17 ngày 5 tháng 9 năm 2008 có bài “Di truyền học và cuộc tranh luận về nguồn gốc loài người” của ông Đỗ Kiên Cường. Đó là một khảo cứu công phu. Tuy nhiên, có thực tế là, cùng nghiên cứu chủ đề này ngoài trường phái Mỹ mà tác giả sử dụng làm tư liệu chủ yếu cho bài viết của mình, còn trường phái Anh, Úc, châu Âu (Ý, Tây Ban Nha)… đã công bố nhiều thông tin quan trọng. Vì vậy cần có cái nhìn bao quát từ nhiều nguồn tư liệu của các trường phái khác nhau để rồi chọn lọc đưa ra chủ kiến của mình.  Bài viết này, tôi chỉ xin trao đổi lại với tác giả về điều ông cho rằng trong bài viết của tôi “Rời khỏi địa đàng hay hành trình chiếm lĩnh Trái đất” (Văn nghệ ngày 19.4.2008) đã có những lập luận sai lầm do tôi dựa trên cuốn sách phổ biến khoa học không được đánh giá cao của Oppenheimer, chuyên gia nhi khoa nhiệt đới người Anh và diễn giải sai công trình về bộ gene người Trung Quốc của Chu và 16 đồng tác giả đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Science, ngày 29-9-1998”     1. Việc đánh giá cuốn Địa đàng ở phương Đông  Đáng ngạc nhiên khi ông Đỗ Kiên Cường cho rằng cuốn Địa đàng phương Đông: Lục địa Đông Nam Á bị chìm là cuốn sách phổ biến khoa học không được đánh giá cao? Đấy phải chăng là tiêu chí chất lượng? Hơn nữa, ai đứng ra đánh giá? Vấn đề ở đây là cuốn sách sai hay đúng, đưa lại những gì mới?  Hơn 30 năm trước, Stephen Oppenheimer là bác sĩ nhi khoa vô danh tới làm việc tại các đảo Nam Thái Bình Dương. Khi đi khám, chữa bệnh sốt rét cho một số bộ lạc thiểu số, ông bỗng nhận ra mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và sắc tộc. Từ đó ông vận dụng kiến thức di truyền, vẽ bản đồ phân bố bệnh sốt rét. Những bài viết đầu tiên của ông thông báo về gene miễn nhiễm sốt rét liên quan tới sắc tộc đã làm xôn xao y giới. Là nhà nhân bản lớn, từ phát hiện này, ông đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ, phong tục tập quán, truyền thuyết, folklor của nhiều tộc người sống “ngoài rìa thế giới”. Hàng trăm bài báo được đăng trên những tạp chí uy tín. Và công trình 20 năm của ông là cuốn sách trên. Những đóng góp trong đó có Địa đàng phương Đông giúp ông trở thành Giáo sư của Oxford, Trường Đại học danh tiếng hàng đầu thế giới.  Từ giữa thế kỷ trước đã có một số ý tưởng cho rằng văn hóa Đông Nam Á lâu đời, ảnh hưởng tới văn hóa Cận Đông… Nhưng chính S. Oppenheimer là người dũng cảm gạt bỏ mặc cảm tự hào da trắng để viết Địa đàng phương Đông, tập sách lớn đầu tiên mang ý nghĩa phát hiện về Đông Nam Á với tư cách là cái nôi văn hóa của nhân loại.   Đánh giá một công trình khoa học tùy thuộc vào nhận thức của từng người. Riêng với tôi, đấy là công trình quan trọng nhất, mang tính cách mạng về vận mệnh Đông Nam Á. Chẳng những đưa lại công bằng cho những tộc người từng có công khơi mở văn minh nhân loại, nó còn giúp cho các dân tộc Đông Nam Á giác ngộ, ngẩng đầu tự nhận thức về mình sau hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân đầy đọa. Tôi cho rằng, sẽ tới lúc, đại gia đình ASEAN phải đúc tượng vàng vinh danh ông với tư cách người tìm lại văn hóa và nhà giải phóng tư tưởng lớn nhất đối với Đông Nam Á.  Tuy quan trọng như vậy nhưng không thể lập thuyết dựa trên cuốn Địa đàng phương Đông. Cái chính yếu mà tôi nhận được từ cuốn sách là sự cổ vũ về tinh thần cùng với một định hướng công tác: đi tìm cội nguồn các dân tộc Đông Nam Á, từ đó tìm ra lịch sử, văn hóa đích thực của họ.     2. Về tài liệu của nhóm Y. Chu  Thực tế cho thấy, dù có trong tay Địa đàng ở phương Đông, Geneographics của nhóm Spencer Wells hay Out of  Eden của S. Oppenheimer thì ta cũng chẳng có thể nói được gì về cội rễ người Đông Á. Thông tin về di truyền trong Địa đàng phương Đông không dành cho mục đích này. Còn hai công trình sau là những tài liệu di truyền học đại cương (general genetics), mô tả hành trình của con người nói chung rời châu Phi chiếm lĩnh Trái đất. Không thể dùng chúng để nghiên cứu riêng từng sắc tộc. Đó là nhiệm vụ của di truyền học sắc tộc (ethnic genetics).  Rất may là từ giữa năm 2004 tôi tiếp cận công trình của Giáo sư Y. Chu: Đa dạng di truyền người Trung Hoa (Chinese Human Geneome Diversity Project). Phải nói rằng, ở thời điểm ấy, khi Bản đồ gene người chưa được công bố, đó là tài liệu duy nhất tôi có trong tay. Buồn ngủ gặp chiếu manh hay chết đuối vớ được cọc chính là tâm trạng tôi lúc đó.  Tài liệu Y. Chu có mấy điểm chính:  – Người tiền sử từ châu Phi theo đường phương Nam đến Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước.  – Dừng lại ở đây trong 10.000 năm, họ lai giống, tăng nhân số, lan tỏa khắp Đông Nam Á lục địa rồi 50.000 năm trước di cư tới châu Úc và 40.000 năm trước chiếm lĩnh các đảo ngoài khơi Đông Nam Á.  – Cũng khoảng 40.000 năm trước, do thời tiết ấm lên, người từ Đông Dương đi lên lục địa Trung Hoa và khoảng 30.000 năm trước đi lên Siberia, rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ.  – Đặc điểm di truyền của người Trung Quốc phương Bắc khác người Trung Quốc phương Nam.Di truyền người Việt Nam gần gũi với dân Nhật Bản, Hàn Quốc và Nam Trung Hoa.  – Người Mông Cổ, người Altai cũng từ Đông Nam Á đi lên mà không phải từ Trung Á sang.  – Người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong các sắc dân Đông Á.  Trong các khảo luận của mình, tôi đã khai thác trung thành và triệt để tài liệu đó. Chính nhờ vào phát hiện mang tính đột phá của công trình này, tôi hoàn thành cuốn sách Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học – 2007). Sau đó, bổ sung tư liệu, cho in cuốn Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học – 2008)   Gán cho tôi diễn giải sai công trình về bộ gene người Trung Quốc của Chu mà không hề chứng minh, là thái độ chủ quan khinh suất không nên có trong sinh hoạt học thuật.  Ở trên tôi có nói: vấn đề chúng ta đang bàn là đề tài nghiên cứu của nhiều trường phái, đưa ra những kết quả có khi mâu thuẫn nhau. Nếu không biết chọn lọc mà chỉ nghiêng hẳn về một trường phái có thể dẫn tới những ngộ nhận đáng tiếc.   Trong bài viết của ông Đỗ Kiên Cường, có những điểm đáng bàn sau:  –  Theo Wells, tác giả khẳng định 60.000 năm trước mới có đợt di cư quyết định cuối cùng và phủ định công bố của S. Oppenheimer cho rằng di cư chủ yếu từ 80-90.000 năm trước. Nhưng khảo cổ học đã phát hiện bộ xương Mongoloid ở LiuJiang, Quảng Tây có tuổi 68.000 năm trước. Cố nhiên nếu 60.000 năm mới rời khỏi châu Phi thì trước đó 8.000 năm không thể hiện diện ở Quảng Tây!1   – Ông nói: “Theo Wells và nhiều người khác, từ Trung Đông lên Trung Á (Bắc Afghanistan) mới là hành trình chủ yếu. Khoảng 90% cư dân ngoài châu Phi là hậu duệ của những nhà thám hiểm con đường này từ 50-40 ngàn năm trước.”   Nhưng tôi cũng có tài liệu của các nhà khoa học Tây Ban Nha, Ý và Georgia. Khi phân tích AND của 5000 chiếc răng hóa thạch tìm được ở châu Âu, đã phát hiện rằng, khoảng 40.000 năm trước, khí hậu cải thiện, những người từ Trung Đông đi lên châu Âu. Ở đây họ hòa huyết với những người từ châu Á tràn sang, sinh ra tổ tiên người châu Âu. Do số lượng người châu Á quá đông nên trong bộ gene người châu Âu, dòng máu châu Á là chủ thể!2  – Ông Đỗ Kiên Cường viết: “Vậy người Hán có nguồn gene chủ yếu từ đâu? Chủ yếu từ người Mongoloid phương Bắc (có nguồn gốc Altai thuộc Siberia; Trung Á và Đông Nam Á, mà ban đầu cũng từ Trung Á), và từ người Mongoloid phương Nam (hậu duệ của người Mongoloid phương Bắc di cư xuống Tây Nam Trung Quốc,  Tây Bắc Đông Nam Á. Người Việt có thể có nguồn gốc Mongoloid là vì vậy.”  Có thể nói rằng, đó là cách hiểu sống sít đầy tính sách vở, thiếu thực tế. Xin hỏi: Có đúng người Hán có nguồn gene chủ yếu từ Mongoloid phương Bắc? Nếu vậy thì mã di truyền (geneome) đại đa số người Hán phải là Mongoloid phương Bắc! Nhưng trên thực tế, chủng Mông Cổ chỉ là một trong 53 tộc thiểu số bao gồm 200 triệu, trong khi 1.100 triệu là Mongoloid phương Nam!  Điều này tôi đã trình bày rõ trong bài Cội nguồn người Hán và sự hình thành nước Tàu.3  Những dòng ông Đỗ Kiên Cường dẫn trên có thể không sai. Nhưng lỗi chính là do ông không nắm được thời điểm hình thành rồi di chuyển của từng chủng người cho nên đưa ra một mớ bòng bong khiến người đọc bối rối.  Phải mất nhiều tâm trí, tôi mới gỡ được từ mớ bòng bong đó những sợi như sau:  – 84.000 năm trước đang thời Băng hà. Rời khỏi châu Phi, những người trụ lại Trung Đông, do thời tiết khắc nghiệt, không thể đi lên phía Bắc, chịu đựng trạng thái tiềm sinh: mấy chục ngàn năm nhân khẩu tăng chậm và hầu như giậm chân tại chỗ về văn hóa. Trong khi đó những người đi về phía mặt trời mọc, tới được địa đàng. Khí hậu ấm áp, thức ăn dồi dào, họ hòa huyết, tăng nhanh nhân số, sáng tạo đồ Đá mới, lan khắp Đông Dương và các đảo Nam Thái Bình Dương. Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu phía Bắc tốt hơn, người từ Đông Dương đi lên Trung Hoa, rẽ về phía Tây, vượt cao nguyên Tibet, vào Trung Á. Cũng lúc này, cái nhóm người nhỏ nhoi sống èo ọt ở Trung Đông mới có thể đi lên châu Âu qua eo Bosporus. Nhưng chính ở đây họ đã gặp rất đông đảo người mạnh mẽ, giỏi giang hơn từ châu Á sang. Hai dòng hòa huyết tạo ra tổ tiên người châu Âu hiện đại. Chuyện người từ châu Âu quay lại Trung Á, vào Tây Tạng rồi đi lên Đông Bắc châu Á, sang châu Mỹ là có thực, nhưng muộn hơn, vào khoảng 20.000 năm trước. Những người Altai trong số đó chỉ tạo thành nhóm thiểu số ở Đông bắc Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản4. Họ không có vai trò đáng kể trong bộ gene dân cư Trung Quốc. Nhưng truy nguyên, chính họ cũng từ gốc Đông Nam Á đi lên theo con đường ngoắt ngoéo. Trên đường di cư, họ tiếp nhận ít nhiều yếu tố Europid (da trắng, rậm lông).  Một thực tế là, nếu chỉ có dữ liệu di truyền học, thì ngay cả di truyền sắc tộc như của nhóm Y. Chu, cũng không giải quyết được những vấn đề phức tạp của dân cư Đông Á. Cùng lắm, chúng chỉ là cái la bàn cho ta phương hướng.   Tổng hợp tài liệu nước ngoài, dịch rồi công bố là công việc mà Khổng Tử gọi là “thuật nhi bất tác.” Nhưng khi chưng cất tinh túy của dữ liệu di truyền đem luyện với hồn vía những tri thức khảo cổ học, cổ nhân học, ngôn ngữ học, folklor, truyền thuyết… đề xuất ý tưởng chưa từng có thì đích thị là “tác”rồi. Mọi sự “tác” khi mới ra đời đều mong manh, dễ bị tổn thương, nếu vùi dập sẽ gây ra oan nghiệt. Trong bài Thưa chuyện với sử gia Tạ Chí Đại Trường5, tôi phải cân nhắc nhiều mới dám hạ bút: “Dù với sự thận trọng của người dám chịu trách nhiệm, chúng tôi cũng buộc phải thưa rằng, sử gia Tạ Chí Đại Trường không thể chối bỏ tội lỗi với văn hóa dân tộc!” Nếu muốn trung thực, không thể viết khác. Vị sử gia này đã phủ định sạch trơn triết gia thiên tài Kim Định, góp phần đẩy lui học thuật và tư tưởng dân tộc nhiều thập kỷ!  Khi làm việc, tôi gắng sức tách mình ra, đứng cao hơn những tư liệu trước mặt để nắm bắt cái “hồn vía” của chúng. Điều mấu chốt với tôi là người tiền sử đã theo con đường phương Nam tới Việt Nam. Người Việt cổ đã từ Việt Nam đi lên khai phá đất Trung Hoa. Tổ tiên chúng ta mang theo rìu đá rồi giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó xây dựng nông nghiệp lúa nước từ sông Hồng, sông Mã tới Trường Giang, Hoàng Hà, đưa Đông Nam Á thành trung tâm nông nghiệp tiên tiến và rực rỡ nhất thế giới cổ đại.                                      ————————————    1. Karen Rosenberg. University of Delaware, Deparment of Anthropology. New York. De 19716. USA  A late pleistocene human skeleton from Liujiang, China suggests regional population variation in sexual dimorphism in the human pelvis.  Variability and Evolution 2002.vol.10:5-7  2. Proceedings of the National Academy of Sciences   (http://www.radio-canada.ca/nouvelles/Science-Sante/2007/08/07/004-europe-colonisation-asie.shtml?ref=rss)  3. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học. Hà Nội, 2008.  4. Hà Văn Thùy. Góp một cách nhìn về lịch sử Nhật Bản. havanthuy.ourprofile.net; vannghesongcuulong.org  5. Hà Văn Thùy. Sách đã dẫn.  Hà Văn Thùy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người nông dân “chậm đổi mới”      Bước từ những thửa ruộng nhỏ lẻ ra thị trường, người nông dân bị coi là “chậm đổi mới”, bảo thủ, khư khư giữ lấy miếng đất, không biết nhìn xa trông rộng và do đó khó lòng đạt được những mục tiêu kinh tế lớn lao. Tôi muốn chúng ta cùng nhìn lại nguồn cơn…          Ảnh: NAG Nguyễn Đình Thành.  Lịch sử mang khuôn mặt nông dân     Trải bao bể dâu thăng trầm, dường như mọi thứ thuộc về văn minh của xứ sở này đều do nông dân và tầng lớp trí thức của họ (nông dân ưu tú) sáng tạo ra; hình hài vóc dáng đất nước này cũng do chính họ tạc nên rộng dài qua hàng ngàn năm lịch sử, với biết bao mồ hôi và xương máu của những người nông dân mặc áo lính. Nền kinh tế tiểu nông với lối canh tác thủ công đã coi hạnh phúc đơn giản là “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, dung dị và sâu lắng trong các làng quê hiền hòa với mái đình cây đa bến nước, đẹp, đầy hoài niệm và rất đáng trân quí.    Nhưng nền kinh tế tiểu nông vẻ vang một thời không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập, nên lề thói canh tác cần thay đổi. Trong giai đoạn trước Đổi mới, chúng ta đã chủ trương lấy công nghiệp nặng làm then chốt, đầu tàu kéo cả nước đi lên. Còn ở nông thôn, chúng ta đã tập thể hóa ruộng dất và công cụ sản xuất của những người “nông dân cá thể” vào các HTX, với mục đích không chỉ giúp người nông dân quản lý kinh tế, phát triển sản xuất mà còn nhằm quản lý tư tưởng nông dân và quản lý xã hội nông thôn.    Tinh thần làm chủ tập thể chưa được xây dựng thì chúng ta vấp phải thiếu đói và phải nhờ quyết định mang tính lịch sử – quay về kinh tế tiểu nông, lấy kinh tế hộ gia đình làm hạt nhân, được hiểu là Khoán 10 mới thoát khỏi vòng kim cô của tư duy kế hoạch hóa. Nhờ cởi trói mà ngày nay Việt Nam đã trở thành một trong 15 quốc gia đứng đầu về xuất khẩu nông sản trên thế giới, nông sản Việt Nam đã có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm (2008 – 2017) đạt 261,28 tỉ USD, tăng bình quân 9,24%/năm… Những con số ấn tượng luôn rổn rảng trên các phương tiện truyền thông và trên các trang báo cáo đã làm nức lòng bao người!      Phải hiểu vấn đề dân cày với đất đai thì mới hiểu vì sao họ bỏ ruộng, họ ly nông ly hương, nhưng không bán ruộng, đói nghèo mà vẫn khư khư giữ lấy ruộng vườn; đó không phải là mâu thuẫn, đó là thực tế biện chứng, ở đó có lý do kinh tế, có lý do xã hội, có lý do thuộc về quan niệm sống, lý do về cách sống của từng giai tầng trong xã hội.      Nhưng hình như chúng ta say sưa với những thứ hạng nhất nhì thế giới ấy hơi lâu; đến một ngày, chúng ta chợt giật mình: thành tích của ngành nông nghiệp ngoạn mục thế, sao nông dân của chúng ta đa số vẫn nghèo khổ, dù tính theo chuẩn nghèo thu nhập hay nghèo đa chiều thì họ vẫn cứ là tầng lớp nghèo khổ và thiệt thòi nhất trong xã hội. Những người nông dân hiền lành lam lũ vẫn cứ lẳng lặng bỏ ruộng đồng, bỏ làng mạc mà đi. Nông dân trên khắp các vùng miền lũ lượt ly nông ly hương, dắt díu nhau đi làm thuê nơi phố thị và rời Tổ quốc làm thuê nơi xứ người, cả chính thức và phi chính thức; ước đoán, có khoảng 20% cư dân các tỉnh Duyên hải Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, 18,4% cư dân ĐBSCL đã phải tha phương cầu thực1. Tốc độ tăng dân số của nhiều vùng nông thôn bị chững lại, có những khu vực như ĐBSCL, tỉ lệ tăng trưởng dân số hiện nay là -0,13%!    Có người cho rằng, đây là xu thế tất yếu và đáng mừng vì người nông dân đã tìm thấy các nguồn sinh kế mới thu nhập cao hơn và ổn định hơn. Đây là cơ hội tốt để dồn điền đổi thửa và tích tụ hay tập trung đất đai vào tay những người “biết làm ruộng”. Tích tụ hay tập trung đất đai cho sản xuất lớn là nhu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nhưng có lẽ còn vướng ở đâu đó mà hàng ngàn hecta đất bờ xôi ruộng mật bị bỏ hoang, hàng triệu lao động trẻ bỏ đồng ruộng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, nhưng nguyên nhân chủ đạo là: ruộng không nuôi nổi người, miền quê không còn là nơi đáng sống nữa. Các báo cáo về sản xuất nông nghiệp thường thiên về “số lượng” chứ rất ít khi đưa ra các con số cụ thể về năng suất trên một đơn vị ngày công, năng suất trên một đơn vị đầu tư và lãi thuần trên một đơn vị diện tích canh tác, cũng như phân tích lợi ích/chi phí của nghề làm nông, giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản, phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị2 v.v…    Phải tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp theo hướng nông hộ có liên kết, có liên doanh, có kết quả gắn trong chuỗi giá trị và gắn với thị trường. Muốn tích tụ được đất đai để có các đại nông thì buộc phải công nhận đất đai là tài sản của nông dân và khi cần mua bán, trao đổi, chuyển nhượng đều cần phải thương lượng trên cơ sở thỏa thuận theo giá thị trường.    Chúng ta cần tạo ra một động lực mới, một nguồn cảm hứng mới cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, để vượt qua các vật cản đang hiện hữu: nông hộ nhỏ lẻ, ruộng đất manh mún, phân tán, lao động gia công là chủ yếu, năng suất thấp, chất lượng thấp, liên kết ngang (nông dân với nông dân) và liên hết dọc (nông dân với doanh nghiệp) đều yếu, khả năng cạnh tranh rất thấp. Nhưng những bứt phá để vượt qua các vật cản ấy vẫn phải đáp ứng được khát vọng đất đai của người nông dân, vì đất đai là động lực, là văn hóa, là sức mạnh, là quê hương, là mồ mả tổ tiên, là cội nguồn, là những gì thiêng liêng và quý giá nhất của kiếp người, của thân phận nông dân.     Dân cày với đất đai     Phải hiểu vấn đề dân cày với đất đai thì mới hiểu vì sao họ bỏ ruộng, họ ly nông ly hương, nhưng không bán ruộng, đói nghèo mà vẫn khư khư giữ lấy ruộng vườn; đó không phải là mâu thuẫn, đó là thực tế biện chứng, ở đó có lý do kinh tế, có lý do xã hội, có lý do thuộc về quan niệm sống, lý do về cách sống của từng giai tầng trong xã hội. Mà không phải chỉ nông dân ta, hình như đã là nông dân ở Tây ở Tàu cũng đều như thế cả; hãy đọc “Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ” của Pierre Gourou, “Totem sói” của Khương Nhung, “Nông dân’ của W.S. Reymont, hay “Sông Đông êm đềm” của M.A. Solokhov, v.v… thì sẽ thấm điều đó. Đó là chưa kể đến, đất nước mình (nghĩa là nông dân mình) đã từng trải nghiệm qua nhiều cuộc bể dâu, thiên tai, giặc dã và cả những sự cố do nhận thức và tầm nhìn (nhân tai) như cải cách ruộng đất, HTX kiểu cũ, … nên dù có đi đâu về đâu, làm gì, thì vẫn cố giữ lấy mấy miếng  “đất cắm dùi” phòng khi thất cơ lỡ vận thì còn có chỗ dung thân, đất là vật đảm bảo để họ đi xa, để họ tìm kiếm các nguồn sinh kế mới.     Có lẽ vì sốt ruột với tốc độ tăng trưởng GDP và năng suất lao động nông nghiệp thấp, người ta đã đổ lỗi cho nông dân mà không cần minh chứng thuyết phục, giống như người ta quy kết rằng sự chậm trễ của đất nước trong quá trình hội nhập,sự kém cỏi của nền kinh tế, sự trì trệ của quản trị xã hội đều có nguyên nhân sâu xa là từ người nông dân, từ nền kinh tế tiểu nông, từ nếp nghĩ thủ cựu, lạc hậu, từ tư tưởng ko biết nhìn xa trong rộng của tầng lớp nông dân, v.v…         Mô hình hội quán ra đời ở Đồng Tháp, do chính những người nông dân tự xây dựng nhằm liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống và sản xuất. Ảnh: Lễ ra mắt Thuận Tân hội quán, xã Tân Thuận Tây, Cao Lãnh, Đồng Tháp. Ảnh: Bảo Như.     Người ta đòi hỏi nông dân phải “đổi mới tư duy” cùng với Đảng và Nhà nước, người  ta kiến nghị, phát triển nông nghiệp bền vững theo chuỗi giá trị bảo đảm nâng cao lợi tức của nông dân cần một tầng lớp nông dân đổi mới, tầng lớp nông dân “cũ” cổ hủ, lạc hậu và thiển cận quá rồi! Họ tin là, tất cả những cố gắng của nhà nước trung ương và địa phương cùng các doanh nghiệp đều như công dã tràng nếu không có sự đổi mới thứ hai: đó là sự đổi mới của người nông dân. Theo họ, sở dĩ phải ‘thay’ nông dân, vì nông dân luôn là người chỉ suy nghĩ nhỏ lẻ, thiển cận, khư khư giữ lấy miếng đất nhỏ bé của mình, không chịu cùng nhau dồn điền đổi thửa để có trang trại lớn với những kênh tưới, kênh tiêu theo đúng kỹ thuật hiện đại. Người ta cũng cho rằng, vấn đề làm sao cho người nông dân nhỏ lẻ chịu “nhìn xa hiểu rộng”, và đối với xã hội nông thôn nước ta hiện nay đây là thách thức lớn nhất, chứ ko phải các thứ khác,. À thì ra, lỗi là tại chúng ta chưa có một tầng lớp nông dân mới, quả cảm và trách nhiệm như cha ông họ hơn 30 năm về trước đã cả gan dám vuốt râu cọp khi liều lĩnh khoán “chui”?    Theo họ, “người nông dân đổi mới” mà đất nước ta cần trong thời đại này là những người nông dân “biết tự giác” thỏa thuận đứng chung nhau trong những hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới để tạo thành một cánh đồng lớn sẵn sàng liên kết với các nhà đầu tư lớn xây dựng vùng công nghiệp chế biến cung cấp cho thị trường trong nước và quốc tế.    Lại có người cho rằng, nông dân phải tự cứu mình, đừng chờ nhà nước cứu! Thấy lo và tủi cho nông dân mình. Làm sao những người nông dân thân cô thế cô, lại có thể ngăn được nông sản Trung Quốc giá rẻ ào ạt tràn vào thị trường? Làm sao họ vay được vốn ưu đãi của nhà nước một cách dễ dàng và thuận tiện, không phải dính líu đến tín dụng đen đang làm bần cũng hóa bao nhiêu gia đình? Làm sao nông dân có thể tự làm giảm chi phí vận tải để tăng được lãi ròng cho hàng hóa của họ? Làm sao nông dân có thể tự nghiên cứu – tạo ra giống mới để thích nghi với biến đổi khí hậu? Làm sao họ có thể liên kết với nhau để chống những trận dịch như cơn bão lớn tràn qua khắp các tỉnh thành làm cho ngành chăn nuôi điêu đứng? Làm sao nông dân có thể bảo các “ông lớn” đang thao túng thị trường thức ăn chăn nuôi không được cho kháng sinh và chất tăng trọng vào thức ăn gia súc, gia cầm? Làm sao nông dân có thể tự ngăn chặn được giống giá, phân bón giả, thuốc bảo vệ thực vật giả tràn lan?    Những điểm then chốt để phát triển nông nghiệp     Người ta rất tâm đắc với ý kiến của một vị nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, một con người cả đời gắn bó với ruộng đồng, luôn buồn vui và thao thức với công cuộc phát triển nông nghiệp. Làm nông nghiệp tức là kinh doanh nông nghiệp, trong đó trực canh là phương thức canh tác đã được chắt lọc ra từ ngàn đời, phù hợp với đồng đất và con người Việt Nam. Trực canh nghĩa là trực tiếp quản lý, trực tiếp lao động trên đồng ruộng, điều đó trở thành một phương sách về quản trị đất đai qui mô nông hộ rất hiệu quả kéo dài trong suốt quá trình lịch sử nhưng thường “bị” hiểu là “lạc hậu”. Đã có không ít các tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp áp dụng phương thức quản trị kiểu phương Tây, “sản xuất lớn”, nhưng cuối cùng họ cũng phải khôn ngoan chấp nhận trực canh, vẫn là của hộ quản lý nhưng bằng phương tiện khoa học kỹ thuật mới, lề thối quản lý mới, tư duy quản trị theo lối công nghiệp, hướng tới thị trường trong nước và thị trường toàn cầu. Như thế, trực canh vẫn là hiệu quả nhất, bền chặt nhất gắn với kinh tế hộ, kinh doanh tiểu nông nhưng trên một tầm cao mới của các đại gia đầu tư vào nông nghiệp. Trực canh cho phép sử dụng tối đa các nguồn lực gia đình và cộng đồng, trẻ có việc trẻ, già có việc già, rất hiệu quả. Ngày hôm qua có kinh tế hộ nông dân, ngày hôm nay vẫn còn nông nghiệp hộ, ngày mai vẫn còn tồn tại nông nghiệp hộ gia đình, ngày kia vẫn thế, chắc chắn là như vậy, tất nhiên là quy mô và phương thức quản trị có khác, ngày một cao hơn, hướng tới thị trường trong nước và nước ngoài. Suy cho cùng, làm trang trại hiện đại kiểu TH True milk vẫn dựa trên nền tảng hộ gia đình nhưng được quản trị theo phương pháp sản xuất hàng hóa lớn theo kiểu công nghiệp, theo tư duy công nghiệp. Sở hữu đất đai gắn với trực canh là lợi thế của kinh doanh nông nghiệp, của kinh tế hộ gia đình. Do đó, khuyến khích tích tụ ruộng đất, tập trung đất đai nhưng phải tôn trọng quyền tài sản, quyền sở hữu ruộng đất, động lực lớn nhất của sản xuất nông nghiệp và phải tạo điều kiện để luôn đồng tồn tại các loại hình nông hộ quy mô nhỏ, quy mô trung bình, được quản trị theo hướng kinh doanh và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với thị trường toàn cầu, vẫn phải gắn với quyền về đất đai của nông dân.      Gạo Cỏ May là một trong những doanh nghiệp có mối liên kết tốt với người nông dân. Ảnh: Cỏ May.  Trong thời kỳ công nghiệp hóa, thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì nông nghiệp tất nhiên cũng phải được công nghiệp hóa, phải là nông nghiệp thông minh. Nhưng chúng ta muốn có một nền nông nghiệp hiện đại thì phải gắn với một nền công nghiệp hiện đại tương xứng để phục vụ phát triển nông nghiệp chứ không phải là một nền công nghiệp phải đi nhập hay vay mượn quá nhiều. Để phát triển nông nghiệp, chúng ta cần có chính sách và thể chế phù hợp như sự hỗ trợ về đất đai, vốn, khoa học công nghệ và thúc đẩy thị trường cho từng loại hình nông hộ. Dồn điền đổi thửa, chuyển nhượng, cho thuê hay góp cổ phần bằng đất thì cũng cần tuân thủ cho đúng quy luật và nguyên tắc của trực canh. Phải tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp theo hướng nông hộ có liên kết, có liên doanh, có kết quả gắn trong chuỗi giá trị và gắn với thị trường. Muốn tích tụ được đất đai để có các đại nông thì buộc phải công nhận đất đai là tài sản của nông dân và khi cần mua bán, trao đổi, chuyển nhượng đều cần phải thương lượng trên cơ sở thỏa thuận theo giá thị trường. □  Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới không ngừng suy tính một cách rất có trách nhiệm tìm ra các phương cách để bảo trợ hợp pháp nông sản của nông dân, phát triển nông nghiệp trên tư duy công nghiệp một cách hợp lý, hỗ trợ nông dân làm giàu, phát triển các nông thị, đồng hành cùng nông dân, vui buồn cùng nhà nông. Những ai có hiểu biết tối thiểu về lịch sử phát triển nông nghiệp của Việt Nam và của một vài cường quốc nông nghiệp như Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đều có thể rút ra các bài học thiết thực cho nông nghiệp nước mình. Nền nông nghiệp Nhật Bản vẫn dựa trên các nông hộ sản xuất nhỏ, trên các thửa ruộng nhỏ bé, miếng cao miếng thấp, miếng rộng miếng hẹp, ở đó cũng không có dồn điền đổi thửa, không có cánh đồng mẫu lớn, chỉ có các nông hộ tự nguyện và tự giác hợp tác làm ăn với nhau trong các Nougyou kyoudou kumiai hay Noukyou (農業共同組合 hay 農協, Nông hiệp, tiếng Anh là Japan Agricultural Cooperative hay JA), một hình thức liên kết các hộ liền bờ liền thửa, đó chính là các hợp tác xã, từ cấp nhỏ đến cấp lớn, tổ chức cấp cao nhất quản lý nông hiệp hay hợp tác xã của toàn quốc là 全国農業協同組合中央会 (JA 全中, tiếng Anh là Central Union of Agricultural Co-operatives, gọi tắt là JA zen-chuu). Nông hiệp lo tổ chức sản xuất, kết nối với doanh nghiệp, lo đầu vào, đầu ra để người nông dân có thu nhập cao nhất, chính quyền lo chính sách để người nông dân được hưởng lợi nhiều nhất, nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh của các Nông hiệp hay của hộ nông dân. Có lẽ nhờ cách tổ chức sản xuất ấy mà Nhật bản đã trở thành một cường quốc nông nghiệp ở phân khúc giá cao. Qua đó có thể thấy, hình như mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ khác, chứ không phải tại nông dân ta bảo thủ, lạc hậu, khư khư giữ lấy miếng đất, không biết nhìn xa trông rộng như ai đó đã nhắc nhở.  —-  1Theo Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra di cư nội địa năm 2015.  2 Ví dụ, kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu ở ĐH Cần Thơ đăng trên Tạp chí của ĐH này năm 2014 cho thấy, thu nhập bình quân của nông dân trồng lúa trung bình là 6,4 triệu đồng, chi tiêu cho sản xuất trung bình là 3,7 triệu. Mỗi hộ gia đình có thể thu lợi nhuận từ việc trồng lúa với diện tích trung bình là 7,17 nghìn m2 chỉ có 2,7 triệu đồng/vụ. Nguồn: https://sj.ctu.edu.vn/ql/docgia/tacgia-14858/baibao-7358/doi-ctu.jvn.2014.107.html        Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang Những người tị nạn khí hậu      Trái Đất nóng lên khiến hình thành một nhóm người di cư mới – những người tị nạn khí hậu. Đến nay, số người tị nạn khí hậu đã vượt qua cả số tị nạn chính trị.    Họ là ai?  “Người tị nạn khí hậu” – đằng sau thuật ngữ mới này là hiện tượng không mới: Đó là những người phải rời bỏ nhà cửa khi đập Tam Hiệp được xây dựng; hàng nghìn người bỗng trở thành những kẻ vô gia cư sau những trận động đất hay sau sóng thần tàn phá Nam Á năm 2004; những cộng đồng đau buồn sau cơn bão Katrina. Đó cũng là những bộ tộc du mục buộc phải di chuyển về các ốc đảo phía Nam vì vùng phía Nam sa mạc Sahara quá khô cằn; những ngư dân ở hồ Sát (diện tích mặt nước của hồ trữ nước ngọt lớn thứ tư Châu Phi này đã giảm đi 90% chỉ trong vòng 40 năm). Đó còn là những người dân phải rời bỏ những đảo thấp nằm ở Thái Bình Dương do bị biển xâm thực hay nước biển dâng lên nhấn chìm cả hòn đảo. Điều mới duy nhất là từ nay về sau, những người tị nạn do Trái Đất nóng lên. Nói tóm lại, tổng số người phải di cư vì những lí do môi trường hiện nay là 25 triệu người theo những số liệu vốn rất thận trọng của Ngân hàng Thế giới và con số đó lên tới 500 triệu theo Hội Chữ thập đỏ. Như vậy, con số này còn cao hơn nhiều 12 triệu người tị nạn chính trị.    Tương lai bất định  Tổ chức phi chính phủ Christian Aid của Anh dự báo đến năm 2050 cả thế giới sẽ có khoảng 1 tỉ người tị nạn các loại nhưng phần lớn là tị nạn khí hậu. Christian Aid cũng ước tính, do mực nước biển dâng lên nên hằng năm sẽ có khoảng từ 2 đến 7 triệu người phải rời bỏ quê hương. Không chỉ có những hòn đảo ở Thái Bình Dương mới bị nhấn chìm. Trong tương lai, những sườn núi trên Trái Đất có thể sẽ phải ngâm mình trong nước. Ước tính từ nay đến năm 2030, 14 triệu người dân Bangladesh do nước biển dâng lên sẽ phải rời bỏ đất nước. Theo một nghiên cứu do Peter Frumhoff – thành viên của Ủy ban hợp tác liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) – chủ trì, những thành phố như Boston, Atlantic hay New York sẽ phải đương đầu với những trận lụt kinh hoàng. Những người thổ dân Inuits sống ở đảo Shishmaref, bang Alaska cũng sẽ phải trốn chạy vì hòn đảo bị xói mòn do lớp băng ở cực tan đi. Nói một cách khái quát, nếu như băng ở hai cực tiếp tục tan ra thì người Inuits sẽ phải đi về phía nam, những khu trượt tuyết ở bang New York sẽ phải đóng cửa. Tuyết vĩnh cửu ở đỉnh Kilimandjaro sẽ tan chảy vĩnh viễn (quá trình tan chảy đã bắt đầu khởi động). Băng ở trên dãy Himalaya cũng sẽ tan ra làm cho các đường biên giới tự nhiên của các hồ băng biến mất và các thung lũng có người ở hiện nay sẽ chìm trong nước.  Những dự báo về nông nghiệp không kém đau đớn. Đến năm 2100, nhiệt độ trung bình có thể sẽ tăng thêm từ 2 – 60C. Người dân Châu Phi – chiếm 13% dân số thế giới và chỉ thải 3% lượng khí CO2 – sẽ phải gánh những hậu quả nặng nề nhất. Ngay từ thế kỉ trước, nhiệt độ ở châu lục này đã tăng hơn mức trung bình 0,7%, tăng thêm 2oC nữa thì sản lượng nông nghiệp sẽ rơi tự do: giảm 1/3 ở ven bờ Địa Trung Hải, phía nam sa mạc Sahara, sản lượng lúa nước bị thiệt hại, lúa mì sẽ bị xóa sổ hoàn toàn khỏi Châu Phi. Ở một vài vùng, hạn hán phổ biến đến nỗi không thể tưới tiêu gì cho cây trồng, nhưng ở một số vùng khác, mực nước biển dâng lên làm cho nước mặn xâm nhập vào các cửa sông và thu hẹp diện tích đất màu mỡ như ở vùng đồng bằng sông Nile. Đất đai không trồng trọt được đồng nghĩa với nạn đói lan tràn (có thể 200 triệu người phải chịu cảnh này năm 2100). Hậu quả là người dân đổ xô về các khu dân nghèo ở các thành phố lớn.  Trước khi quá muộn  Làn sóng người di cư tăng lên có nguy cơ làm cho những cuộc xung đột hiện nay thêm căng thẳng và làm nảy sinh những xung đột mới, nhất là ở những vùng có ít tài nguyên. Nói cách khác, mối đe dọa về môi trường cũng là chính mối đe dọa nền hòa bình. Do vậy, trong lời kêu gọi một hội nghị khoa học ngày 23/6/2005 tại ĐH Limoges (Pháp), ngoài yêu cầu cộng đồng quốc tế công nhận địa vị cho những người tị nạn môi trường còn đề nghị thành lập một cơ quan quốc tế- tổ chức “lính mũ nồi xanh lục” – để giúp đỡ những người tị nạn này.  Những lời tiên đoán trên liệu có chắc chắn? Những đường biểu đồ của Nasa đã chỉ rõ: từ vài năm nay, đường biểu kiến nhiệt độ của Trái Đất không ngừng đi lên. Nếu chúng ta không làm gì, mọi thứ có nguy cơ diễn tiến rất nhanh. Do vậy, cần phải hành động. “Chúng ta không còn có thể phòng tránh những biến đổi của khí hậu trong hai hay ba thập kỷ tới nhưng vẫn còn kịp để giảm thiểu những tác hại của nó lên các nền kinh tế và xã hội”, Nicholas Stern, nguyên kinh tế trưởng (chief economist) của Ngân hàng Thế giới đã đi đến kết luận như vậy.  Thuật ngữ tị nạn môi trường đã được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1985 trong một bản báo cáo của Chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), nhưng còn lâu nó mới được thừa nhận. Luật pháp quốc tế mà đầu tiên là công ước Geneve về Quy chế Tị nạn không được áp dụng cho những người tị nạn môi trường. Thêm nữa, thảm họa sinh thái vẫn chưa được định nghĩa. Hervé Domenach, giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Pháp (IRD), chia thảm họa thành ba loại: “những tai ương do thiên nhiên gây ra trong một thời gian ngắn như sóng thần, những tai ương do thiên nhiên gây ra trong một thời gian dài như hạn hán, Trái Đất nóng lên và cuối cùng là những tai ương do chính con người gây nên như chiến tranh, tai nạn công nghiệp.” Ông đề nghị những người tị nạn môi trường là những người phải chịu hai thảm họa đầu tiên theo như cách phân loại của ông. Còn với những tai nạn công nghiệp do hiện tượng Trái Đất nóng lên gián tiếp gây ra thì phải tính sao? Trận động đất ngày 16/7/2007 đã làm hư hỏng nhà máy nguyên tử Kashiwazaki-Kariwa của Nhật Bản đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo: những thảm họa công nghiệp có thể gia tăng do những trận động đất và bão, vốn là hệ quả của hiện tượng biến đổi khí hậu, tăng vọt. Tóm lại, vấn đề nguyên nhân nào đã buộc nhiều cộng đồng phải di cư vì lí do môi trường sẽ còn được các chuyên gia đem ra bàn thảo dài dài trong các hội thảo quốc tế. Cuối cùng, nếu như địa vị “người tị nạn khí hậu” được công nhận thì các quốc gia đã ký công ước về những người tị nạn sinh thái buộc phải tiếp nhận thêm nhiều người tị nạn trên lãnh thổ của nước mình. Vào thời điểm mà vấn đề nhập cư đang làm đau đầu nhiều nước thì khó có thể tin rằng các quốc gia sẽ dễ dàng chấp nhận viễn cảnh trên… Úc vừa từ chối tiếp nhận 11. 000 người dân quần đảo Tuvalu, thường được xem là những người đầu tiên đã phải trả giá cho hiện tượng Trái Đất nóng lên. Quần đảo này đã bị Thái Bình Dương nhấn chìm và cuối cùng người dân sinh sống trên những hòn đảo đó đã được New Zeland cho phép định cư.    Hồ Thủy An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những người xuất chúng      Người tài chắc phải là những người xuất chúng. Mỗi phát kiến lớn nhỏ của họ góp phần làm cho cuộc đời này thêm hạnh phúc. Tìm ở đâu ra những người quý hiếm ấy?    Hằng năm, thế giới 7 tỷ người này góp thêm 1,75 triệu đơn xin cấp sáng chế, tức là những phát kiến kỹ thuật có tính mới so với toàn cầu. Như vậy, trung bình cứ một phút trôi qua trên thế giới này đã có thêm hơn 3 đơn xin cấp sáng chế. Trong khi đó, ở nước ta cả một ngày trôi qua chưa có tới 1 đơn, năm 2010 chỉ có 306 đơn xin cấp sáng chế của người Việt Nam được yêu cầu bảo hộ.  Từ số lượng các sáng chế, các công trình khoa học, tới các giải thưởng danh giá trên thế giới này, người Việt Nam vốn tự hào là một dân tộc thông minh chẳng thiếu anh tài, song đóng góp của dân tộc chúng ta vào kho tàng các phát minh trên thế giới quả là còn rất nhỏ nhoi.           Để những mầm non sáng tạo ấy không thui chột, cần chất vấn các thể chế xã hội hiện thời của đất nước chúng ta có giúp dung dưỡng tài năng hay không.        Có nhiều lý do để giải thích hiện tượng ấy, thuyết nào cũng có đầy lý lẽ. Rằng ở xứ ta “khôn chết, dại chết, biết thì sống”, một xã hội trọng tinh thần cộng đồng thì xấu đều hơn tốt lỏi, người nước ta không ưa kẻ chơi trội. Rằng một thời đề cao chủ nghĩa quân bình, mọi cố gắng tìm kiếm phá cách để thỏa chí tang bồng đôi khi bị quy kết là cá nhân chủ nghĩa. So với những người khác, người tài cũng thường dễ bị soi xét hơn, bị quy là “lắm tài, nhiều tật”. Trong một xã hội đề cao tôn ti trật tự và lối sống cộng thể, người nước ta có thể nể cái tài của người xuất chúng, song chưa đủ khoan dung để chấp nhận những tật riêng của họ. “Chữ tài liền với chữ tai một vần” đôi khi vẫn vang lên như một lời nguyền khó vượt qua.  Người ta thường bảo con người là sáng tạo kỳ diệu nhất của tạo hóa, hiểu biết của chúng ta về chính con người vẫn còn rất sơ khai. Đã xa rồi thời của những lý thuyết sặc mùi phân biệt chủng tộc, đã xa rồi thời của lý thuyết phân biệt con người xứ ôn đới và nhiệt đới, màu da và xứ sở không là điều kiện để một dân tộc trở nên thông minh. Những con người xuất chúng phần nhiều chỉ có thể được sinh ra từ chính sách giáo dục và cách thức tổ chức xã hội của mỗi dân tộc. Như vậy, muốn tìm những người xuất chúng ấy, phải chất vấn thái độ của dân tộc chúng ta đối với nền giáo dục, phải đánh giá những thể chế xã hội có góp phần khuyến khích sự tự do, sáng tạo của con người.   Lục tung vốn cổ, ngoài khắc kỷ phục lễ, học tiết độ bản thân để làm người, nền Nho học truyền thống cũng tạo ra vô số xiềng xích, ngăn cản dân tộc chúng ta dám thách thức các giá trị được xem là tinh hoa kinh điển để tạo ra những giá trị mới. Cái bóng cũ đã tàn, song dư âm của hàng nghìn năm ấy không dễ tan biến.   Đằng sau ước mơ cũ “tiên học lễ”, ngày nay con em chúng ta đang được nhồi nhét bao nhiêu thứ được gọi là “hậu học văn”. Năng lực sống, năng lực giao tiếp, năng lực cạnh tranh và chung sống với những biến động thay đổi ngày càng mau lẹ ngoài đời, tiếc rằng chưa được nhà trường chú trọng. Muốn ươm mầm tài năng, ngoài giỏi làm toán, giỏi làm văn, trẻ nhỏ cần được khuyến khích phát hiện vấn đề mới và ráng sức giải quyết chúng. Chung quy lại, chưa có nhiều người xuất chúng, nguyên nhân đầu tiên thuộc về chính sách giáo dục, đặc biệt là ở bậc phổ thông của đất nước chúng ta.  Cũng như thế, để những mầm non sáng tạo ấy không thui chột, cần chất vấn các thể chế xã hội hiện thời của đất nước chúng ta có giúp dung dưỡng tài năng hay không. Trong sinh hoạt kinh tế, chính trị cũng như văn hóa-xã hội, phải khơi thông được cuộc ganh đua giữa các ý tưởng. Cạnh tranh công khai sẽ ban thưởng cho sáng tạo và loại trừ trì trệ. Mọi chính sách của Nhà nước, tốt nhất là cần khơi thông cho cuộc cạnh tranh ấy được diễn ra.   Tống cựu, nghinh tân, nói thì dễ mà làm theo cái mới quả thật khó. Đất nước được canh tân trước hết bởi các chính sách đúng đắn. Ươm mầm và dung dưỡng người tài trước hết nhờ vào việc thiết kế chính sách giáo dục và quản trị quốc gia. Suy nghĩ và hành xử theo lối cũ là lẽ thường tình, tự làm mới chính mình mới là điều xuất chúng. Tân xuân, những mong ngày càng có nhiều người làm chính sách ở đất nước chúng ta dám vươn tới những điều phi thường ấy.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nguy cơ đến từ vũ trụ      Ngày 24 tháng 9-2011, thế giới hồi hộp chờ các mảnh vụn của vệ tinh UARS (Upper Atmosphere Research Satellite) của Mỹ rơi xuống mặt đất. Có những lo âu về việc chúng có thể đáp xuống những vùng đông dân cư. Nhưng nguy cơ từ “thiên thạch nhân tạo” này thật không thấm gì so với những nguy cơ đến từ các hành tinh nhỏ, sao chổi hay thiên thạch đầy rẫy trong vũ trụ.      Người ta thường hay nhắc đến các vụ va chạm của những thiên thể như thiên thạch, sao chổi, hay các hành tinh nhỏ với Trái đất mà có lẽ sự kiện nổi tiếng nhất là vụ va chạm “tiêu diệt khủng long” xảy ra cách đây 65 triệu năm.  Vụ va chạm “tiêu diệt khủng long”  Cách đây 65 triệu năm, khi các loài khủng long còn ngự trị trên Trái đất, một hành tinh nhỏ có đường kính 10 km đã đến va chạm vào hành tinh của chúng ta và rơi xuống một vùng bờ biển trong vịnh Mexico trên bán đảo Yucatan gần một ngôi làng nhỏ có tên là Chicxulub. Với những phương pháp điều tra khoa học, tỉ mỉ không kém gì các điều tra hình sự, các nhà khoa học đã có thể tìm lại nguồn gốc của kẻ “sát nhân” này và lập lại hiện trạng của thảm họa. Theo Bottke và cộng sự (Nature 449, 2007) thì thiên thể đến va chạm này là một mảnh vụn của một vật thể có kích thước 170 km bị tan vỡ trước đây 160 triệu năm trong Vành đai chính của các hành tinh nhỏ, MAB (Main Asteroid Belt), và có lẽ là một bộ phận tách rời từ một hành tinh nhỏ 40 km có tên là Baptistina. Kích thước của hành tinh nhỏ đến va chạm được suy ra từ lớp vật liệu có chứa iriđi phủ trên toàn bộ mặt đất cách đây 65 triệu năm. Iriđi là một nguyên tố do các thiên thể từ vũ trụ mang đến, khi có va chạm, nhiệt độ lên đến vài nghìn độ, áp suất tăng gấp hàng triệu lần nên các vật liệu chứa iriđi trong hành tinh nhỏ bị bốc hơi rồi rơi thành mưa xuống mặt địa cầu. Miệng hố va chạm ở Chicxulub có đường kính 180 km (Hình 1) chỉ mới được phát hiện năm 1991 bởi một công ty thăm dò dầu khí Mexico và tương đương với một va chạm của một thiên thể có kích thước 10 km.          Hình 1.  Miệng hố va chạm Chicxulub (dài 180 km, sâu 35 km) và khủng long bị nạn  Nguồn : VL Sharpton. Lunar and Planetary Insttute,               1996  và BBC, Science, 2003              Một kịch bản đã được đưa ra để mô tả lại thảm họa khủng khiếp này:  Những con khủng long ở gần điểm va chạm có thể nghe được tiếng vang rùng rợn của sóng xung kích khi vật thể va chạm bay đến vùng xích đạo với tốc độ trên 70.000 km/giờ . Va chạm này tạo ra một đợt sóng thần cao từ 100 đến 300m tăng tốc vượt qua các đại dương đến những nơi cách xa hàng nghìn km, nhấn chìm mọi sinh vật sống trên bờ biển và đảo lộn các lớp trầm tích dưới đáy biển đến độ sâu 500m. Các mô hình máy tính cho thấy va chạm ban đầu tạo ra một trận động đất M13 trên thang Richter, 3000 lần mạnh hơn các trận động đất lớn nhất lớn nhất được biết đến nay và lan tỏa ra khắp Trái đất. Hàng triệu mảnh vụn tràn ngập khắp khí quyển. Trong vòng vài trăm km chung quanh điểm va chạm, các mảnh vụn rơi xuống đóng thành một lớp dày vài trăm mét đủ để chôn vùi và tiêu diệt mọi sự sống còn hiện diện trên địa bàn. Sự xáo trộn đáng kể nhất có lẽ đến từ một cột hơi nước và mảnh vụn vọt lên không trung với những tốc độ cao đến mức có thể phóng chúng lên quỹ đạo vòng quanh Trái đất. Một số vật liệu này về sau rơi vào khí quyển và trở nên rất nóng do ma sát. Khi rơi xuống đất, chúng tạo ra những đám cháy rất lớn tiêu diệt gần hết các động vật đang sống trên mặt đất đã thoát khỏi ảnh hưởng của lần va chạm đầu tiên. Hậu quả trên toàn cầu rất quan trọng, vì ánh sáng Mặt trời bị các mảnh vụn ngăn không cho đến được mặt đất nên trời tối sầm trên khắp hành tinh, một mùa đông bất thường kéo dài nhiều tháng hay nhiều năm xuất hiện khắp nơi. Hiện tượng quang hợp bị ngừng trong khoảng một năm và kết quả là chuỗi thực phẩm bị gián đoạn, các sinh vật không có gì nuôi sống đã chết hết. Nhiều khí nhà kính được tung lên khí quyển, khối lượng của chúng đủ phá huỷ nhiều lần tầng ôzon và lượng carbon trong khí quyển lên đến một giá trị cao gấp 300 lần khối lượng tạo ra hiện nay do đốt các nhiện liệu hóa thạch. Nhiệt độ Trái đất tăng lên nhanh chóng, nhiều loài động vật trong đó có toàn bộ loài khủng long đều bị tiêu diệt, chỉ còn sống sót khoảng 30% các sinh vật có sức chống đỡ lớn. Phải đợi khoảng 3 triệu năm sau, lượng các chất hữu cơ chảy ra biển sâu mới được phục hồi lại. Cuộc hủy diệt các sinh vật này sẽ tạo ra không gian sinh thái để các loài khác như các động vật có vú và con người về sau có cơ hội phát triển. Thảm họa này tương đương với một vụ nổ hạt nhân có cường độ hàng trăm Megaton TNT và có đến 200.000 km3 đất đá bị bóc khỏi mặt đất, nóng chảy, bốc hơi và bắn ra ngoài.  Các nguy cơ đến từ vũ trụ  Theo các tính toán, một vụ va chạm như trên chỉ xảy ra một lần trong 100 triệu năm, nhưng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và nguy cơ của một người trên Trái đất bị chết do một hành tinh nhỏ gây ra cũng có xác suất như nguy cơ chết do tai nạn máy bay, với tần suất bay một lần mỗi năm.  Ngoài các hành tinh nhỏ, các thiên thể có khả năng va chạm vào Trái đất còn có những sao chổi hay những thiên thạch nhỏ. Một va chạm trong hệ Mặt Trời được quan sát rõ trên khắp mặt đất là sự kiện sao chổi Shoemaker-Levy 9 chạm vào sao Mộc tháng 7/1994, sau khi vỡ thành 21 mảnh (Hình 2). Kính viễn vọng trong không gian Hubble đã chụp được sự kiện này với các vết va chạm để lại trên sao Mộc. Trong số 21 mảnh vỡ, mảnh G có năng lượng va chạm tỏa ra là 6 triệu Megaton TNT và cột lửa bốc lên trên mặt sao Mộc cao đến 3300 km. Năm 1908, một sao chổi có đường kính 50m đã nổ ở độ cao từ 6 đến 8 km trên bầu trời Tunguska ở Nga làm cho khoảng 60 triệu cây cối bị trốc rễ và đổ rạp xuống trong một vùng có đường kính 2000 km. Sự kiện này tương đương với vụ nổ của 1000 quả bom Hiroshima, nếu nó xảy ra ở một vùng đông dân cư thuộc châu Âu thì có thể gây tử vong cho hàng triệu người. (Hình 2)            Hình 2   Vết va chạm trên sao Mộc (NASA/Hubble 1994) và cây cối đổ rạp ở Tunguska (1908)          Tại các nước tiên tiến, người ta quan tâm nhiều đến các vật thể gần Trái đất (NEO, Near Earth Objects) mà chủ yếu là các hành tinh nhỏ có thể đến va chạm. Trong một trăm năm sắp đến, khoảng 10.000 NEO nguy hiểm đối với hành tinh của chúng ta có thể đến va chạm và gây tử vong của hàng trăm triệu người và hàng trăm tỷ USD thiệt hại về kinh tế, theo Hill (Science 268, 1995). Quốc hội Mỹ đã giao cho Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) nhiệm vụ phát hiện và xác nhận 90% trên tổng số 20.000 NEO nguy hiểm có kích thước trên 140 m trước năm 2020.  Các cơ quan vũ trụ của Mỹ, Nhật và châu Âu đã bắt đầu tung ra những chuyến bay thăm dò để nghiên cứu quỹ đạo, cấu trúc của một số hành tinh nhỏ và sao chổi, đồng thời có một số hoạt động để nghiên cứu các biện pháp chống va chạm. Trên hình 3, ta có ảnh một số hành tinh nhỏ đã được các tàu không gian quan sát. Các hành tinh nhỏ Eros và Mathilde được tàu không gian NEAR (Gặp gỡ các Hành tinh nhỏ gần Trái đất, NASA) quan sát, Gaspra và Ida được tàu Galileo (NASA) chụp ảnh. Tháng 10-2005, tàu thăm dò Nhật Bản mang tên Hayabusa (Chim Ưng) đã hai lần hạ cánh xuống hành tinh nhỏ Itokawa có kích thước 500 m. Tháng 6-2010, Hayabusa đã trở về Trái đất mang theo 1500 hạt bụi của Itokawa và chúng đang được phân tích trong các phòng thí nghiệm của Cơ quan Thám hiểm Vũ trụ Nhật Bản (JAXA).   Các sao chổi cũng rất nguy hiểm nếu quỹ đạo của chúng cắt quỹ đạo Trái đất. Sao chổi nổi tiếng Halley đã được tàu thăm dò Giotto của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) quan sát vào tháng 3/1986 khi bay ở một khoảng cách 1500 km, nhờ vậy mà người ta biết rõ cấu trúc của các sao chổi. Chuyến bay Stardust của NASA vào tháng Giêng năm 2004 đã thu thập và mang về Trái đất các hạt của sao chổi Wild-2 và vào tháng 7/2005, chuyến bay Deep Impact của NASA đã dùng một đầu đạn chứa 370 kg thuốc nổ bắn vào sao chổi Tempel-1 có kích thước 14 km.             Hình 3   Các hành tinh nhỏ đã được quan sát: Eros và Mathilde (NEAR-NASA), Gaspra và Ida (Galileo-NASA), Itokawa (Hayabusa-JAXA). Nguồn: NASA, JAXA          Hiện nay, trên khắp thế giới, các nhà khoa học đang nghiên cứu một hành tinh nhỏ phát hiện năm 2004 mang tên khoa học 2004MN4 nhưng được biết đến nhiều hơn dưới tên Apophis, tên của một vị ác thần trong thần thoại Ai Cập. Apophis có kích thước 270m, nhưng có khả năng đến gần Trái đất ở một vị trí 32.000 km vào năm 2029, vị trí này còn thấp hơn độ cao của các vệ tinh địa tĩnh đã được phóng lên (36.000 km). Nếu lúc ấy, Apophis đi qua một “lỗ khóa” chỉ rộng 600m thì trọng trường Trái đất sẽ làm nhiễu loạn quỹ đạo của nó và nó sẽ đến va chạm vào Trái đất ngày 13/4/2036. Apophis sẽ xuất hiện trở lại năm 2012-2013 và lúc ấy, người ta sẽ có thêm số liệu chính xác để lấy quyết định xử lý đối với hành tinh nhỏ này. Một hành tinh nhỏ khác được phát hiện năm 2004 có tên khoa học là 2004VD17 có kích thước 580 m cũng có thể va chạm vào Trái đất ngày 4/5/2102 giải phóng một năng lượng tương đương với 10.000 Megaton TNT. Hành tinh nhỏ mang ký hiệu 2005YU5 có kích thước 400 m sẽ đến gần Trái đất 325.000 km ngày 8/11/2011. Mặc dù nguy cơ va chạm của hành tinh nhỏ này không đáng kể nhưng với phương pháp chụp ảnh vi sóng từ Trái đất, người ta sẽ có một hình ảnh sắc nét của thiên thể này ở độ phân giải 4 m/pixel.  Các biện pháp giảm thiểu tác hại và tránh va chạm với các hành tinh nhỏ  Các nhà khoa học không gian đã đưa ra nhiều biện pháp tránh va chạm với các hành tinh nhỏ có khả năng cắt quỹ đạo Trái đất. Phương pháp mang tính trực giác nhất có lẽ là phá hủy vật thể trên đường bay đến hành tinh của chúng ta. Thành công của chuyến bay Deep Impact cho thấy người ta có khả năng dùng một đầu đạn phá vỡ một sao chổi nguy hiểm. Tuy nhiên, thí dụ của sao chổi Shoemaker-Levy 9 cho thấy dù đã vỡ thành 21 mảnh nhưng thiên thể vẫn đến va chạm vào sao Mộc, gây nên nhiều vụ nổ khủng khiếp mà người ta có thể quan sát được từ Trái đất.  Phương pháp “mềm” hơn làm trệch hướng bay của các thiên thể, bằng cách tiếp cận hay đổ bộ lên chúng, được người ta chú ý đến nhiều hơn. Các cuộc đổ bộ được chuẩn bị ngày càng chính xác, thí dụ như cuộc đổ bộ của tàu thăm dò Hayakusa lên Itokawa năm 2005 hay cuộc đổ bộ năm 2013 sắp đến của tàu không gian Rosetta do ESA phóng lên hướng về sao chổi Churyomov – Gerasimenko. Để làm nhiễu loạn quỹ đạo của các NEO, người ta có các phương pháp sau:  – Phương pháp “nhiễu loạn động học” như trường hợp chuyến bay Deep Impact thực hiện trên sao chổi Tempel-1. Theo các tính toán, một đầu đạn mang 200 kg chất nổ bắn vào một hành tinh nhỏ có kích thước 100 m ở tốc độ 12 km/s sẽ làm nhiễu loạn tốc độ của nó ở mức 0,6 cm/s. Nhiều biện pháp còn mang tính khoa học viễn tưởng cũng được nghiên cứu như gắn vào NEO các ống phụt tên lửa để tăng tốc cho nó, kéo NEO bằng trọng khối, khoan vào hành tinh nhỏ để cho bắn ra vật chất ở tốc độ cao, dùng tia laser hay bức xạ Mặt trời làm nóng một điểm của thiên thể, tạo ra một động cơ tên lửa. Người ta còn thậm chí đề nghị giải pháp sơn một mặt của hành tinh nhỏ để làm thay đổi lượng bức xạ Mặt trời phản chiếu trên thiên thể này. Cho đến nay, người ta vẫn chưa tính được lượng sơn (khổng lồ) cần thiết!  – Phương pháp tải mòn dùng những vụ nổ hạt nhân làm xói mòn một phần bề mặt hành tinh nhỏ. Muốn làm thay đổi tốc độ 0,1 cm/s của một hành tinh nhỏ 100 m thì cần một trái bom hạt nhân 0,1 kilôton. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế nghiêm cấm việc sử dụng năng lượng hạt nhân trong vũ trụ.          Hình 4  Máy kéo trọng lực (hình vẽ minh hoạ).  Nguồn: Dan Durda, B612 Foundation          – Phương pháp dẫn dắt bằng trọng lực, dùng những tàu kéo robot gắn vào NEO hay “máy kéo” bay song song với thiên thể. (Hình 4) Trong trường hợp của Apophis, một máy kéo 1 tấn tạo ra một lực đẩy 0,1 newton hoạt động trong một tháng trước năm 2009 có thể làm thay đổi tốc độ của nó khoảng 10-6 m/s. Nếu không có tác động nào thì ngày 13/4/2036, Apophis sẽ bay trên một quỹ đạo như trên hình 5 mà cựu phi hành gia vũ trụ của Mỹ là Russell Schweickart trình ra trước một hội nghị của Liên Hiệp Quốc năm 2007. Apophis có thể va chạm vào Trái đất ở bất kỳ điểm nào trên quỹ đạo này với xác suất là 1 trên 45.000.              Hình 5  Quỹ đạo của Apophis ngày 13 tháng Tư -2036. Nguồn: R.I Schweickart, B612 Foundation                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nguyên tố nhỏ bé tạo nên cả thế giới      Nhìn qua lăng kính hiển vi, chúng ta không  chỉ học được cách những tòa cao ốc sự sống hòa hợp và tác động với nhau  như thế nào, mà còn có được cái nhìn toàn cảnh về vẻ đẹp kỳ vĩ và tráng  lệ của thế giới nhỏ bé này.       The Incredible Inner Space (tạm dịch: Không gian vi mô kỳ vĩ) là một cuộc triển lãm các hình ảnh tuyệt đẹp thông qua lăng kính hiển vi, được tổ chức tại Questacon – trung tâm Khoa học và Công nghệ Australia, thủ đô Canberra, nhằm mục đích phô bày vẻ đẹp kỳ diệu của thế giới vi mô xung quanh chúng ta.   28 hình ảnh trong buổi triển lãm mô phỏng thế giới siêu vi này sẽ là chìa khóa để phát triển các loại dược phẩm và thuốc trừ sâu, và thậm chí có thể giải mã những bí ẩn từ thời tiền sử.   Bức ảnh bên như thể hình vẽ ở góc tường phản ánh cái nhìn của nhà khoa học về một sự vật nào đó. Tuy nhiên, thật ra đây là một hợp chất mới có thể thay thế cho độc tố Bt – một chất trừ sâu tự nhiên mà côn trùng đang phát triển kháng thuốc. Michael Landsberg tại Đại học Queensland, Úc đã sử dụng kính hiển vi điện tử cắt lát các đốm màu xanh lá cây vào 10.000 hình ảnh và cẩn thận ráp chúng lại với nhau để tạo thành hình ảnh trực quan 3D.  Hợp chất này cao khoảng 30 nanomet và có khả năng tiêu diệt một loạt các côn trùng gây hại, bao gồm cả các loài sâu bướm phá hoại cải bắp, bông cải xanh và cải Brussels.   “Hình nền” màu hồng là các lát cắt tạo thành hình ảnh 3D và các khoang màu trắng trên “tấm thảm” là bốn loại protein tạo nên các độc tố. Đây chẳng phải là kiệt tác tầm cỡ tranh Picasso nhưng nó chỉ ra cách các nhà khoa học tìm hiểu cấu trúc của các hợp chất mới như thế nào. Đây là lần đầu tiên cấu trúc của độc tố tạo thành từ một loài vi khuẩn, được chụp ảnh lại. Kết quả vẫn chưa được công bố, đây là lý do tại sao Landsberg khá ngại ngùng trong việc nói với tạp chí New Scientist tên của độc tố hay loại vi khuẩn này. Anh cho chúng tôi biết, rằng loại độc tố này “nhìn chẳng khác gì các loại thuốc diệt côn trùng khác” nhưng nó sử dụng một cơ chế hoàn toàn khác mà sâu bọ khó có thể kháng lại được.      Ảnh: Gerald Grellet-Tinner, Bảo tàng Field   tại Chicago và Pat Trimby tại Đại học Sydney  Ai có thể nghĩ rằng các nguyên tử của vỏ trứng có thể trông giống như cửa sổ kính màu thời Trung cổ cơ chứ? Hình ảnh này được mô phỏng lại bằng cách sử dụng nhiễu xạ electron, sáng tạo ra bởi Gerald Grellet-Tinner tại Bảo tàng Field ở Chicago và Pat Trimby tại Đại học Sydney, Australia. Nhóm nghiên cứu đã chiếu một chùm tia các hạt điện tử vào một vỏ trứng có niên đại từ kỷ Miocene (khoảng tầm 23.3 tới 5.33 triệu năm trước) và ghi chép lại các mô hình mà tia điện tử va đập vào vỏ trứng.   Đây là mặt cắt ngang của vỏ, dày khoảng 0.6mm. Phía bên dưới là  phần bên trong của vỏ trứng. Trimby cho biết “hình ảnh mang nhiều ý nghĩa hơn một bức tranh nhiều sắc màu. Nó nói cho chúng ta biết về cấu trúc của vỏ trứng như thế nào!”  Mỗi màu sắc đại diện cho một cách sắp xếp vị trí các nguyên tử trong vỏ. Ví dụ, các tấm màu đỏ là các nguyên tử sắp xếp nhìn hệt như cây cột trụ ở Hy Lạp, và đó cũng là “phần cứng nhất của vỏ trứng”, Trimby cho hay.  Mục đích cuối cùng của Trimby là xây dựng một cơ sở dữ liệu cho phép các nhà khoa học xác định nhanh chóng loài vật đẻ trứng và thời gian chúng đẻ, dựa trên sơ đồ màu sắc của các nguyên tử.   Dưới đây chính là tương lai của kỹ thuật chữa lành xương. Với chiều rộng khoảng 23 micromet, tế bào hình thành xương này có tên gọi osteoblast, đang bám vào một giàn giáo tổng hợp.     Ảnh: Guocheng Wang và Zufu Lu, Đại học Sydney  Được phát triển bởi Đại học Sydney ở Australia, giàn giáo này được làm từ canxi oxit và silicon dioxit, trộn với strontium và kẽm. Năm ngoái, nhóm nghiên cứu đã cấy ghép vật liệu này vào các lỗ trong xương của chuột. Khoảng sáu tuần sau, xương phát triển nhanh chóng trên chính vật liệu đó.  Hình ảnh này được Guocheng Wang và Zufu Lu thuộc Đại học Sydney chụp bằng kính hiển vi điện tử.   Sáu mươi triệu nguyên tử đã được phát hiện trong một cây kim làm từ hợp kim nhôm bằng cách sử dụng kính hiển vi điện tử chụp cắt lớp. Mỗi dấu chấm trong hình ảnh biểu thị cho một nguyên tử: màu xanh dương cho nhôm, magiê màu hồng, màu đỏ đồng và màu xanh lá cây cho kẽm. Các khối màu sắc hiển thị các tinh thể khác nhau hình thành bên trong vật liệu này.  Chỉ trong vòng 8 năm qua, kính hiển vi điện tử chụp cắt lớp APT đã trở nên phổ biến và cho phép các nhà khoa học đo lường các vật liệu với độ chính xác chưa từng có. Sự thấu hiểu ở mức độ chi tiết, tỉ mỉ như vậy về cấu trúc của vật chất có thể giúp các nhà khoa học có cái nhìn mới về nguyên nhân khiến một số loại vật liệu có độ rắn hơn, cứng hơn, dễ uốn hoặc ít giòn hơn, thậm chí nó còn chỉ ra cả từ tính hoặc hoạt động quang học của vật chất đó. Trong khi đó, các công nghệ hình ảnh khác như kính hiển vi quét chui hầm (Scanning Tunnel Microscopy) chỉ có thể giải mã được vài trăm nguyên tử trên bề mặt vật liệu.    Hoàng Nhu lược dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học bị quên trong giải Nobel      Edouard Branly  Nghiên cứu của Heinrich Rudolf Hertz (1847-1894) và Edouard Branly (1844- 1940) là nguồn gốc của công trình điện báo vô tuyến của Guglielmo Marchese Marconi (1874-1937). Ủy ban xét duyệt giải Nobel vật lý năm 1909 đã quên Edouard Branly mặc dù lần đầu tiên đường dây điện báo Morse được nối qua biển Manche giữa Wimereux và Douvres ngày 28 tháng 3 năm 1899 đã được ông Marconi xác nhận là có gửi lời trân trọng tới ông Branly bằng điện báo xuyên qua biển Manche. Kết quả tốt đẹp đó đáng lẽ một phần là công trình của ông Branly.  Chú thích: E. Branly (người ngồi)    Charles Best  Năm 1923, Sir Frederick Grant Banting (1891-1941), người khám phá ra insuline, đã chia giải Nobel Y khoa với John McLeod. Trong khi đáng lẽ Charles Best mới là người xứng đáng chung giải với Frederic Banting. John McLeod chỉ là người đã chia cho ông một góc phòng thí nghiệm, một người phụ tá và các con vật thí nghiệm trong hai tháng hè, khi ông Banting ghé qua Scotland.                Tức giận vì người cộng sự gần nhất của ông là Charles Herbert Best  không được cùng chia giải Nobel. Thật bất công. Ông đã chia phần của ông cho Charles Best. Sau đó Ủy ban xét duyệt Nobel nhận là có sai lầm nhưng họ không có cách nào sửa lại, vì những quyết định đã ra rồi không thể quay trở lại được.      Paul Portier  Những khó chịu hệt như trên là giải Nobel Y học cho Charles Richet, John Michael và Harold E. Varmus. Charles Richet được giải Nobel năm 1913 vì những công trình của ông về anaphylaxie (tính quá mẫn, phản vệ, allergie), và Paul Portier cũng nghiên cứu vấn đề này. Cả hai đều đưa ra công trình nghiên cứu của mình trước hội đồng Sinh vật học (1902): “Chúng tôi gọi “anaphylactique” (trái nghĩa với phylaxie) là đặc tính  mà nọc độc có tư chất làm giảm đi thay vì làm tăng tính miễn nhiễm khi chất này được tiêm vô với liều lượng không nguy hiểm. Đó là (…) ngược lại sự bảo vệ”.  Richet tiếp tục nghiên cứu một mình hiện tượng anaphylaxie vừa tìm cách xác nhận sự khám phá chung của họ. Nhưng tiếc thay, Portier không những  không được giải mà cũng chẳng được nêu tên trong bài diễn văn. Richet cũng chẳng chiếu cố đến người cộng tác của ông để sửa sai sự quên bất ngờ này.  Dominique Stehelin  Sự  khám phá ra nguồn gốc tế bào tạo ra khối u hậu siêu vi trùng (origine cellulaire des  oncogènes rétrovivaux) do John Bishop và Harold Varmus đã được giải Nobel về Y học năm 1989. Nhưng Dominique Stehelin mới chính là người khám phá đầu tiên khi ông chỉ mới làm thực tập hậu tiến sĩ năm 1976 tại phòng  thí nghiệm của Bishop và Varmus tại Đại học California, San Francisco.                Không vừa ý vì bị loại, Dominique Stehelin viết một bức thư ngỏ cho Folke Sjoqvist, Chủ tịch hội đồng giải thưởng Nobel để yêu cầu xét lại quyết định. Để chấm dứt vụ này, Bishop vội vã xác nhận nhân cuộc hội thảo với báo chí: “Thời gian mà ông Stehelin làm việc trong phòng thí nghiệm của chúng tôi là có lợi cho ông ấy về sau, cũng  như chính chúng tôi cũng đã hưởng được những đóng góp của ông ta cho công trình của chúng tôi. Chúng tôi vô cùng kính trọng ông trên tư cách một nhà khoa học và chúng tôi biết ơn những thí nghiệm của ông đã làm, đã thiết lập lần đầu tiên rằng những tế bào của khối u hậu siêu vi trùng là xuất phát từ những gene tế bào. Nhưng phải cần rất nhiều thí nghiệm khác để thiết lập một cách vững vàng mà chúng tôi đã chứng minh trong bài báo của chúng tôi” (báo Le Monde, 9/12/1989).  Theo giáo sư Alain Riou (Viện Gustave Roussy, Villejuif): Từ lúc Nobel cho giải cho công trình từ năm 1976 thì Stehelin phải là người đứng chung giải Nobel. Để chấm dứt cuộc luận chiến, giáo sư Jean Lindstein, thư ký hội đồng giải Nobel Y học, nhắc lại với báo chí là những người được giải Nobel được chọn lựa trong số các thí sinh được đề nghị bởi hội khoa học thế giới, chiếu đúng theo điều lệ của hội đồng Nobel. Vậy không  thể quy trách nhiệm cho ông chủ tịch.   Lise Meitner                Lise Meitner hướng dẫn dự án về uranium và sự phân rã các hạt nhân nặng ở Berlin trong 4 năm. Chiến tranh thế giới thứ 2, sự ngược đãi tàn nhẫn đối với các cộng đồng Do Thái khiến bà phải tị nạn ở Stockholm, nơi đây bà vẫn tiếp tục công trình nghiên cứu của bạn bà là Otto Hahn.  Để tránh nguy hiểm, bà không ký tên lên bài tiểu luận báo tin đã khám phá chất baryum, chất căn bản cho phản ứng hạch tâm dây chuyền. Mọi người tiếc vì công của bà đã không được công nhận chính thức từ khi hết chiến tranh.  Theo Vietsciences      Võ Thị Diệu Hằng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học nổi bật của năm (Kỳ 1)      Các nhà báo của Nature bình chọn chín nhà khoa học nổi bật của năm 2014, trong đó có đến bốn nhà khoa học nữ.    Andrea Accomazzo: Người đuổi bắt sao chổi       Accomazzo từng bỏ ra 18 năm theo dõi sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko và ông được giao phụ trách nhóm điều khiển chuyến bay của tàu vũ trụ Rosetta – con tàu được phóng lên ngày 2/3/2004 với sứ mệnh đuổi theo sao chổi 67P và cho một robot hạ cánh xuống sao chổi này để thu thập số liệu địa chất của nó và phát về Trái đất.     Accomazzo và nhóm của ông đã “lái” con tàu Rosetta bay một quãng đường 6,4 tỷ km và tháng 8/2014, nó đuổi kịp sao chổi 67P. Sự kiện đỉnh cao của dự án diễn ra vào tháng 11/2014 khi Rosetta chuẩn bị cho robot Philae hạ cánh xuống sao chổi. Ngày 12/11, Philae hạ cánh xuống địa điểm chỉ cách trung tâm khu vực chỉ định có 120 m, trong khi sai số cho phép là 500 m. Philae đã thu thập các số liệu khảo sát sao chổi và truyền về Trái đất liên tục trong 64 giờ. Những số liệu này rất quan trọng, sẽ giúp các nhà khoa học hiểu biết hơn về nguồn gốc của Trái đất.     Tuy Philae hạ cánh thành công, làm cả thế giới nức lòng nhưng khi biết tin Philae đang chết vì nguồn điện của nó bị cạn kiệt, Accomazzo đã khóc. Ông hy vọng nó sẽ hồi sinh khi sao chổi bay tới gần Mặt trời. Hiện nay Accomazzo đang bận rộn với các dự án của Cơ quan Vũ trụ châu Âu ESA, chuẩn bị tổ chức những chuyến bay tới sao Thủy, sao Hỏa và sao Mộc. Nhưng ông không lúc nào không nghĩ tới Rosetta.      Suzan Topalian: Người chiến đấu chống ung thư        Topalian là bác sĩ điều trị bệnh ung thư ở Bệnh viện Johns Hopkins. Với niềm tin rằng có thể dùng liệu pháp miễn dịch để điều trị ung thư, bà đã tham gia nghiên cứu triển khai một loại thuốc chữa ung thư được gọi là thuốc ức chế (inhibitors) PD-1 có khả năng kích hoạt tế bào T trong hệ thống miễn dịch tấn công vào khối u. Tháng 7/2014, căn cứ theo kết quả thí nghiệm lâm sàng do Topalian chỉ đạo, Chính phủ Nhật đã cho phép sử dụng loại thuốc ức chế PD-1 đầu tiên có tên Nivolumab do Bristol-Myers Squibb tại New York sản xuất. Hai tháng sau, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ FDA duyệt y một loại thuốc ức chế PD-1 khác, có tên Pembrolizumab. Một số chuyên gia cho rằng hai loại thuốc này sẽ trở thành dược phẩm chủ yếu trong điều trị ung thư, với thị trường trị giá hơn 10 tỷ USD vào năm 2020.     Khi còn là sinh viên y khoa, Topalian đã tin rằng có thể sử dụng khả năng phòng ngự tự thân của cơ thể để phòng chống ung thư. Ngay cả khi liệu pháp miễn dịch ung thư bị nhiều người nghi ngờ, bà vẫn tin như vậy.     Năm 2006, Topalian bắt đầu thí nghiệm lâm sàng sử dụng thuốc Nivolumab. Năm 2012, bà công bố một bài báo quan trọng cho biết các bệnh nhân ung thư sắc tố đen thời kỳ cuối và ung thư phổi có đáp ứng mạnh với thuốc Nivolumab. Hiện nay các cơ quan hữu quan đang xem xét việc cho phép sử dụng các loại thuốc này vào điều trị ung thư phổi. Thành công của việc sử dụng thuốc ức chế PD-1 và các liệu pháp miễn dịch ung thư khác đã thu hút nhiều chuyên gia tham gia nghiên cứu lĩnh vực này.  (Còn tiếp)       Hải Hoành dịch theo nature.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học nổi bật của năm (Kỳ 2)      Radhika Nagpal: Nhà chế tạo robot  Hồi  học phổ thông ở Ấn Độ, cô nữ sinh Nagpal không thích môn sinh vật.  Chẳng ngờ bây giờ, khi là người lãnh đạo một nhóm nghiên cứu công nghệ  cơ khí tại Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, chị lại thấy cần  cảm ơn môn học đó.     Năm nay, nhóm nghiên cứu của chị nhận được sự tán thưởng cao vì đã đạt thành tích lớn trong lĩnh vực robot phỏng sinh học (biology-inspired robotics). Được gợi ý từ hiện tượng tự tổ chức của các bầy đàn sinh vật trong thiên nhiên như ong, kiến v.v…, nhóm của Nagpal đã sáng chế được một bầy đàn gồm 1.024 robot tí hon có cấu tạo rất đơn giản, gọi là “Kilobot”. Mỗi con Kilobot chỉ rộng và cao vài centimeter, chúng di chuyển trên ba cái chân cao và dùng tia hồng ngoại để liên lạc với con robot sát cạnh nó. Nhóm nghiên cứu cho thấy khi đội ngũ Kilobot này cùng làm việc với nhau, chúng có thể tự tổ chức thành những hình sao (star) và các hình ảnh hai chiều khác. Đạt được mức độ hợp tác như vậy trong một bầy đàn nhiều robot là một kỳ công – một nhà robot học ca ngợi.  Nhóm của Nagpal hy vọng, sau rốt việc nghiên cứu môn robot học bầy đàn này sẽ dẫn tới sự hình thành những đội robot biết tự tổ chức hoạt động, chúng có thể nhanh chóng đối phó với các tai họa hoặc hỗ trợ cho việc dọn sạch môi trường. Nhưng trên thực tế, để có được ý tưởng đầu tiên về Kilobot, nhóm của Nagpal đã phải bỏ ra bốn năm. Mới đầu, nhóm vẫn làm các mô phỏng trên máy tính và thí nghiệm nhỏ, về sau Nagpal được một đồng nghiệp thuyết phục nên làm các thí nghiệm lớn, vì những tiến bộ về điện tử học, vật liệu và công nghệ in 3D đã làm cho việc thí nghiệm trở nên dễ hơn, chi phí ít hơn.  Nhóm của Nagpal đã phấn đấu từ chỗ làm 20 con robot tự chủ – số lượng lớn nhất hồi đó – tiến tới làm ra cả một bầy đàn có quy mô lớn hết cỡ gồm 1.024 Kilobot. Hiện nay Nagpal đang cố gắng phát triển những bầy đàn robot lớn hơn có thể tự tập hợp thành những kết cấu ba chiều. Chị sẽ tiếp tục lấy cảm hứng từ thiên nhiên. “Việc quan sát sinh vật làm cho tôi nghĩ khác đi về khoa học máy tính,” Nagpal nói.  Sheik Humarr Khan: Vị bác sĩ chống Ebola     Virus Ebola tàn phá ba nước Guinea, Sierra Leone và Liberia ở miền Tây châu Phi khi nó phát triển thành nạn dịch trong năm 2014. Sheik Humarr Khan đóng vai trò độc đáo trong chiến dịch chống nạn dịch này. Nhưng do tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm Ebola mà Khan trở thành một trong nhiều nạn nhân của loại virus đó và ông đã qua đời ngày 29/7/2014.   Là bác sĩ chuyên ngành bệnh truyền nhiễm, Khan đã từ chối lời mời ra nước ngoài làm việc để ở lại Sierra Leone điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Ebola. Ông từng làm việc trong nhóm nghiên cứu đầu tiên tiến hành xác định trình tự gene của các loại virus ở nước mình.   Khan là bác sĩ trưởng Bệnh viện công Kenema, nơi ông điều trị và nghiên cứu Lassa, một loại bệnh nguy hiểm tiềm tàng do virus gây ra, cho đến ngày bệnh viện trở nên quá tải bởi số bệnh nhân nhiễm Ebola.  Khan cho rằng nghiên cứu khoa học và y tế nên phục vụ tất cả mọi người chứ không chỉ những người có tiền, vì thế ông từ chối làm công việc được trả lương cao tại thủ đô Freetown, mà ở lại Kenema. Ông trở thành nhân vật trung tâm của cộng đồng Kenema khi Ebola lan tới đây, và ông cũng hủy chuyến ra nước ngoài giảng dạy.   Sau khi chính Khan bị nhiễm Ebola, các bác sĩ quyết định không áp dụng liệu pháp thử nghiệm chưa rõ hiệu quả như dùng thuốc Zmapp vì họ sợ cái chết của Khan sẽ gây ra bạo loạn – dân chúng ở đây từng dọa sẽ phá tan bệnh viện nếu bác sĩ Khan chết. Hiện nay dịch Ebola dường như đã tạm lắng và người ta đang thử dùng các loại thuốc và vaccine mới.   Công trình nghiên cứu mà Khan tham gia cho thấy virus đột biến nhanh như thế nào. Hiện nay nhóm nghiên cứu của ông đang lập bản đồ gene cho khắp miền Tây châu Phi, nhờ đó họ có thể tiếp tục theo dõi diễn biến của Ebola. (Còn tiếp)  Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo Nature    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học nổi bật của năm (Kỳ 3)      David Spergel: Người nghi ngờ vũ trụ  Tháng 3/2014, nhóm nghiên cứu dự án  BICEP2 do John Kovac lãnh đạo tuyên bố tại cuộc họp báo là có thể họ đã  khám phá thấy tín hiệu của sóng hấp dẫn từ không gian xa thẳm trong vũ  trụ. Từ lâu, các nhà khoa học đã tìm kiếm tín hiệu này mà chưa thấy, nó  đem lại chứng cớ chứng tỏ vũ trụ thuở sơ khai từng trải qua một vụ giãn  nở ngắn nhưng đủ lớn, gọi là sự giãn nở vũ trụ. Sự kiện khám phá sóng  hấp dẫn đã gây ra dư luận về khả năng trao giải Nobel cho nhóm nghiên  cứu BICEP2.     Mười ngày sau, Spergel phát hiện ra sai lầm của nhóm BICEP2. Spergel băn khoăn về thời gian bắt đầu của chứng cớ mà nhóm Kovac đã thu thập được từ kính viễn vọng BICEP2 đặt tại Nam Cực. Là nhà thiên văn nghiên cứu vũ trụ thuở sơ khai, ông cảm thấy áy náy, cho rằng tín hiệu đó có thể là tín hiệu giả. Spergel hiểu được nhóm BICEP2 đã mắc sai lầm khi tính toán khả năng bụi vũ trụ ở gần bao nhiêu thì có thể làm biến đổi tín hiệu truyền trên một khoảng cách cực xa. Tháng Năm, Spergel viết một bài báo vạch ra sai lầm nói trên (viết chung với một nhà khoa học khác).  Ông nói: “Tôi muốn để cộng đồng các nhà vật lý biết rằng ở đây có những lý do để nghi ngờ.” Giới báo chí làm rùm beng sự phê phán của Spergel. Dư luận về giải Nobel cho nhóm BICEP2 nhanh chóng lắng xuống bởi cuộc thảo luận về sai lầm của họ. Tháng Sáu, khi nhóm này đăng bài viết về khám phá của mình, họ tỏ ra bớt khẳng định hơn so với tuyên bố ở cuộc họp báo hồi tháng Ba, nhưng điều đó chưa đủ để làm Spergel hài lòng. Cuối cùng, kết quả phân tích các số liệu do vệ tinh Planck của Cơ quan Vũ trụ châu Âu ESA quan trắc được đã chứng tỏ nhận xét của Spergel là đúng, nhờ thế cuộc tranh cãi đã sớm được giải quyết.    Maryam Mirzakhani: Nhà thám hiểm các mặt cong     Khi còn là nghiên cứu sinh toán học ở Đại học Harvard năm 2003, cô gái người Iran Maryam Mirzakhani đã tìm đến Curtis McMullen, thầy hướng dẫn của mình, với một câu hỏi. McMullen vừa mới giải quyết được một bài toán tồn tại từ lâu liên quan tới hành vi của viên bi trên bàn billiard dưới dạng một chiếc bàn trừu tượng có thể gấp lại thành mặt cong hình vành khuyên (doughnut surface) có hai lỗ. Đây là một khám phá quan trọng nhưng Mirzakhani thắc mắc vì sao ông chỉ chứng minh điều đó với các mặt cong hai lỗ mà không phải là với mặt cong nhiều lỗ. Chị đã bị thu hút tới một vấn đề lớn – cho dù lúc đó chị chưa biết rằng vấn đề này rất khó giải quyết.   Mirzakhani hiện làm việc ở Đại học Stanford. Hầu như suốt cả thập niên vừa qua, chị nghiên cứu vấn đề nói trên cho tới khi tìm được lời giải. Trong bài báo dài 172 trang viết chung với Alex Eskin ở Đại học Chicago năm 2012, chị đã mở rộng kết quả nghiên cứu của McMullen tới tất cả các mặt cong hai lỗ vành khuyên hoặc nhiều hơn, ràng buộc với các lĩnh vực toán học như hình học, hình học topo, và các hệ thống động lực. “Đây là một kết quả hoành tráng,” nhà toán học Howard Masur nhận xét.   Tháng 8/2014, Mirzakhani trở thành phụ nữ đầu tiên trong lịch sử được tặng Huy chương Fields, thường được ví như giải Nobel Toán học. (Còn tiếp)  Nguyễn Hải Hoành lược dịch từ Nature.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà khoa học nổi bật của năm (Kỳ cuối)      Koppillil Radhakrishnan: Chuyên gia phóng tên lửa  Là Giám đốc Tổ chức Nghiên cứu Vũ trụ Ấn  Độ ISRO, Koppillil Radhakrishnan biết mọi cơ hội đều bất lợi cho ông khi  tàu vũ trụ Mangalyaan được phóng lên sao Hỏa vào năm 2013.     Ông cũng  biết rằng một nửa số lần phóng phi  thuyền lên sao Hỏa của các nước khác  đều thất bại. Nhưng ISRO biết rút  ra bài học từ sai lầm của họ và xác  định những mục tiêu khiêm tốn cho  chuyến bay liên hành tinh đầu tiên của  Ấn Độ, một sứ mạng trình diễn  công nghệ. Khi Mangalyaan lên tới quỹ đạo  sao Hỏa vào ngày 24/9/2014,  Ấn Độ đã đứng vào hàng ngũ các quốc gia ưu  tú có tham vọng và có năng  lực kỹ thuật thám hiểm hệ Mặt trời.  Trong 43 năm làm việc tại ISRO với tư cách kỹ sư rồi Giám đốc, Radhakrishnan đã lãnh đạo một loạt dự án đa dạng từ phát triển các vệ tinh điều khiển xa đến thiết lập hệ thống cảnh báo sóng thần của Ấn Độ. Sứ mệnh sao Hỏa là một cuộc chơi lớn, song nó cũng chưa làm ISRO đau đầu như công trình thiết kế chế tạo động cơ tên lửa nhiệt độ thấp (cryogenic rocket) từng phóng thất bại một lần vào năm 2010 và cuối cùng thành công vào năm 2014. Ấn Độ dự định trong ba năm tới sẽ phóng tàu thứ hai lên sao Hỏa.  Thành công năm nay của Ấn Độ đã được thế giới tán thưởng rộng rãi. “Đây là một điều tốt cho Ấn Độ và nền kinh tế của họ, thể hiện khả năng phát triển và thực hiện các doanh nghiệp công nghệ cao,” Raymond Arvidson, nhà khoa học hành tinh ở Đại học Washington nhận xét. Còn Radhakrishnan thì nói: “Ấn Độ không ganh đua với bất cứ ai. Chúng tôi chỉ ganh đua với chính mình.”  Masayo Takashi: Chuyên gia thí nghiệm tế bào gốc     Là bác sĩ nhãn khoa làm việc tại Trung tâm Phát triển sinh học CDB thuộc Viện Nghiên cứu Lý Hóa Nhật (RIKEN) ở Kobe, Masayo Takahashi đã tạo ra được những tế bào từ các tế bào gốc đa năng cảm ứng [induced pluripotent stem cells – iPS] mà nhiều người cho là có khả năng tiềm tàng tạo ra các mô phối hợp gene dùng để điều trị một loạt bệnh. Ghép mô là thử nghiệm đầu tiên đánh dấu bước tiến quan trọng trong lĩnh vực tế bào gốc.   Takahashi đã thử dùng tế bào gốc để chữa tổn thương ở võng mạc trong 10 năm. Công việc được đẩy mạnh khi năm 2006, Shinya Yamanaka ở Đại học Kyoto phát hiện cách tạo ra tế bào iPS. Takahashi hợp tác với Yamanaka tìm được cách đưa iPS vào trong màng của tế bào biểu mô. Sau đó, bà thử tế bào thu được lên chuột và khỉ, thực hành nuôi tế bào từ các bệnh nhân được chọn. Cuối cùng bà cấy tế bào vào mắt những người bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác.   Takahashi đã cấy tế bào võng mạc làm từ iPS cho một nữ bệnh nhân 70 tuổi hoàn toàn mù. Ca phẫu thuật thành công nhưng Takahashi vẫn lo lắng theo dõi bệnh nhân để xem kết quả cấy có an toàn không. Bà còn dự định làm phẫu thuật cấy như vậy cho sáu bệnh nhân khác. Thành công nói trên là một điểm sáng trong nghiên cứu tế bào gốc sau khi việc nghiên cứu này bị trầm lắng bởi cuộc tranh cãi về hai bài báo do người của CDB viết về tế bào gốc đăng trên tạp chí Nature đầu năm nay khiến CDB bị dư luận nghi ngờ. Tuy hai bài báo đó không liên quan tới Takahashi nhưng bà cảm thấy công việc của mình bị săm soi và cản trở.   Giờ đây, Takahashi lạc quan tiến tới mục tiêu cấy các lớp của cơ quan cảm nhận ánh sáng cùng với màng biểu mô để phục hồi chút ít thị lực cho những người bị thoái hóa điểm vàng.  Sjors Scheres: Người tìm cách giải quyết vấn đề cấu trúc     Là một nhà sinh vật học cấu trúc, Sjors Scheres chuyên nghiên cứu về ribosome [bộ máy phân tử có mặt trong tất cả các tế bào sống, nơi xảy ra quá trình sinh tổng hợp protein], nhưng toán học mới là lĩnh vực ông có cống hiến chủ yếu. Toán học xúc tiến cuộc cách mạng trong sinh học cấu trúc, cụ thể là Sjors Scheres đã làm ra phần mềm RELION có thể chuyển đổi hình ảnh dạng hạt của kính hiển vi điện tử ở nhiệt độ thấp (grainy cryo-EM) thành hình ảnh chi tiết tuyệt mỹ, giúp các nhà sinh học nhìn thấy cấu trúc phân tử khả kiến một cách dễ dàng và chính xác hơn hết. Công nghệ này đã thay cho công nghệ tinh thể học tia X trước đây từng chiếm địa vị chủ yếu trong sinh học cấu trúc. Năm 2014 Scheres đã tạo được những hình ảnh ribosome rõ nét nhất chưa từng thấy.  Năm 2010, Scheres vào làm tại Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử LMB (Anh Quốc). Hồi đó công nghệ kính hiển vi điện tử đã có bước tiến lớn, nhưng ông hiểu rằng cần phải có các chương trình máy tính tốt hơn để đọc lượng số liệu cực lớn thu được từ kết quả quan sát của kính hiển vi. Và thế là ông say mê nghiên cứu lập chương trình máy tính, cuối cùng lập được phần mềm RELION. Venki Ramakrishnan, nhà sinh học phân tử người Mỹ gốc Ấn Độ ở LMB, nói: “Chúng tôi để ông ấy một mình làm việc đó trong mấy năm, cuối cùng ông làm được phần mềm tuyệt diệu này.” Ramakrishnan từng dùng công nghệ tinh thể học tia X để tìm ra kết cấu ribosome vi khuẩn và nhờ đó ông giành giải Nobel Hóa học năm 2009. Nhưng nếu dùng Cryo-EM thì có thể hoàn thành công việc đó nhanh hơn, tốt hơn. Hiện nay phòng thí nghiệm của Ramakrishnan đã sử dụng kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp. Ông đang hợp tác với Scheres để làm ra kết cấu chi tiết của nấm men và ribosome con người.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo nature.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nhà sáng chế đã chết vì phát minh của chính mình      Trong lịch sử khoa học công nghệ thế giới, để đưa ra được những phát minh mang tính đột phá, có rất nhiều nhà sáng chế đã thiệt mạng vì chính công trình của mình.      Otto Lilienthal. Nguồn ảnh: Wikipedia  Otto Lilienthal  Kỹ sư Otto Lilienthal (1848-1896) là người đầu tiên viết về nguyên tắc vật lý của sự bay lượn trong không trung nhờ sao chép đặc tính bay lượn của chim và những điều ông viết vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Ông kiểm chứng lý thuyết của mình qua rất nhiều chuyến bay thử nghiệm. Trong cả cuộc đời của mình ông đã chế tạo khoảng 20 thiết bị bay. Một trong số thiết bị bay đó là tiền thân cho chiếc tầu lượn ngày nay và đã được sản xuất hàng loạt tại một nhà máy cơ khí của ông ở Berlin. Ông mất ngày 9. 8. 1896 vì gặp tai nạn trong khi thử nghiệm một chuyến bay và bị rơi ở độ cao 15 m.  Franz Reichelt  Franz Reichelt, một thợ may đã sáng chế ra bộ trang phục nhảy dù. Tuy nhiên, vào năm 1912, khi Reichelt giới thiệu phát minh của mình trước công chúng, ông khoác bộ trang phục nhảy dù và nhảy từ tháp Eiffel xuống nhưng dù không hoạt động.  Marie Curie  Nhà vật lý học Marie Skłodowska Curie nghiên cứu về phóng xạ và đạt nhiều giải thưởng trong sự nghiệp của mình, năm 1903 bà được giải thưởng Nobel vật lý, năm 1911 bà được giải thưởng Nobel hoá học. Nhưng bà cũng phải trả một cái giá đắt cho công cuộc nghiên cứu của mình. Bà mất năm 1934 do bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia) – có lẽ đây là hệ quả của nhiều năm bà làm việc với các nguyên tố phóng xạ.  Valerian Abakovsky  Năm 1917 Valerian Abakovsky, nhà sáng chế người Nga đã phát triển một loại xe bánh sắt có động lực là cánh quạt nhằm phục vụ cho các cán bộ nhà nước khi đi công tác xa. Nhưng trong chuyến đi thử đầu tiên từ Moscow đến Tula, xe bị trật bánh và tất cả hành khách trên xe bị tử thương, trong đó có cả Abakovsky.  Horace Hunley  Horace Hunley là người đã thiết kế chiếc tầu ngầm đầu tiên và đánh đắm một chiến thuyền của đối phương trong cuộc nội chiến ở Mỹ (1861-1865). Tuy nhiên đến năm 1863 Hunley bị chết chìm trong khi thử nghiệm với chiếc tầu của ông.  Alexander Bogdanov  Alexander Bogdanov, một học giả người Nga, cho rằng hiến máu là chìa khoá để con người ta trẻ mãi không già. Vì thế năm 1925 ông thành lập ngân hàng máu đầu tiên ở Moscow và thường xuyên tiếp máu dự trữ. Năm 1928 ông đã tiếp máu từ một mẫu máu bị nhiễm mầm bệnh sốt rét và vi trùng lao.  Henry Smolinski  Năm 1968 kỹ sư Henry Smolinski thiết kế chiếc ô tô có lắp cánh máy bay và đã có một số chuyến bay thử nghiệm. Năm 1973 Henry Smolinski thử nghiệm xe ô tô bay này, thoạt đầu mọi việc đều suôn sẻ nhưng sau đó bộ phận bay tuột khỏi chiếc xe và chiếc ô tô bay đó đã bị rơi xuống đất.  Francis Edgar Stanley und Freelan Oscar Stanley  Hai anh em sinh đôi Francis Edgar Stanley và Freelan Oscar Stanley đã phát minh chiếc xe ô tô “Stanley Steamer” vào năm 1896. Vào năm 1906 hai ông cho chạy chiếc xe này với vận tốc kỷ lục – 205 km/giờ. Nhưng sau đó, Francis Edgar Stanley bị chết vì tai nạn ô tô: ông tìm cách tránh một chướng ngại vật và đâm thẳng vào một đống củi làm xe bị lộn nhiều vòng.  Thomas Andrews  Ông là người đã thiết kế con tầu Titanic nổi tiếng và cũng bị chìm cùng với con tầu này. Điều bi thảm là Andrews muốn tầu Titanic phải được trang bị ít nhất 46 xuồng cứu nạn nhưng không ai nghe theo đề nghị của ông, cuối cùng tầu ra khơi và chỉ có 20 xuồng cứu nạn. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Thomas Andrews đứng đưa áo phao cho những hành khách khác trên tàu và giúp họ xuống xuồng cứu nạn. Sau khi đã làm xong những việc cần làm, ông ngồi trong phòng hút thuốc và nhìn chằm chằm bức tranh “Approach to the New World” (Con đường đến thế giới mới) và chìm cùng Titanic. Thi hài ông vĩnh viễn không được tìm thấy, và những nạn nhân của vụ chìm tàu đó mãi ghi nhớ về ông như một vị anh hùng.  Xuân Hoài lược dịch theo “Tuần kinh tế Đức”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ranh giới của tri giác      Trái ngược với nhận định trước đây cho rằng tri giác là kết quả của từng giác quan hoạt động riêng biệt, ngày nay các nhà thần kinh học khám phá ra rằng các hệ thống giác quan của con người có mối liên kết với nhau và sự liên kết này trải rộng ra khắp não bộ.     Thị giác không chỉ là nhìn. Thính giác không  chỉ là nghe. Ngay cả trong những trường hợp bình thường, các giác quan  của con người có sự ảnh hưởng lẫn nhau và bù đắp cho nhau theo những  cách có thể coi là dị thường, thậm chí siêu việt.  Con mắt không chỉ dùng để nhìn  Từ giữa thập niên 1800, các nhà giải phẫu học đã biết về những tế bào hình que và nón của mắt, và trong gần hai thế kỉ, các nhà khoa học tin rằng đây là những tế bào duy nhất trong cơ thể người có thể nhận biết ánh sáng. Tuy vậy, vào đầu thập niên 1990, một nhà nghiên cứu trẻ tên là Russel Foster, hiện đang làm việc tại trường University of Oxford, đã bắt đầu bày tỏ sự hoài nghi, rằng có một loại tế bào vô danh tính nào đó cũng có thể tiếp nhận ánh sáng và phát ra những tín hiệu rất riêng biệt truyền tới não bộ, phục vụ những chức năng không liên quan gì đến thị giác.          Thị giác không chỉ là nhìn. Thính giác không  chỉ là nghe. Ngay cả trong những trường hợp bình thường, các giác quan  của con người có sự ảnh hưởng lẫn nhau và bù đắp cho nhau theo những  cách có thể coi là dị thường, thậm chí siêu việt.        Trong khi Foster chưa tìm ra tế bào tiếp nhận ánh sáng bí ẩn kia, thì một học trò của ông là Ignacio Provencio, hiện đang làm việc ở Đại học Virginia, đã tình cờ khám phá ra melanopsin – protein khiến những tế bào da ở con ếch trở nên tối sẫm lại dưới ánh sáng – trong võng mạc của ếch. Điều đáng nói là những tế bào melanopsin không phải tế bào hình que hay nón. Điều này khiến Provenco cho rằng đây chính là “những tế bào tiếp nhận ánh sáng huyền bí” mà Foster và giới khoa học đã tìm kiếm suốt một thập kỉ qua”. Thực tế đúng là như vậy, Provencio đã tìm thấy trong võng mạc của chuột và người có một lượng nhỏ các tế bào hạch – thường có chức năng vận chuyển tín hiệu từ các tế bào hình que và nón dọc theo dây thần kinh thị giác đi vào não bộ- trong đó có chứa melanopsin.   Tới năm 2007, Foster gặp được một người phụ nữ mắc một chứng rối loạn gene thuộc dạng hiếm gây phá hủy các tế bào hình que và nón nhưng không làm ảnh hưởng tới các tế bào hạch, ông phát hiện thấy cô ta có thể điều chỉnh sinh hoạt ăn ngủ của mình và thậm chí có thể cảm giác được căn phòng đang sáng hay tối, mặc dù cô ta nói rằng không thấy bất kì nguồn sáng nào. Điều này dẫn tới một kết luận khá rõ ràng: có những bộ phận cảm nhận ẩn trong mắt làm nhiệm vụ chỉ dẫn cho đồng hồ sinh học trong chúng ta – và có lẽ chúng còn nhiều chức năng khác nữa.   Thấy mà không biết  Thị lực có thể nằm ngoài ý thức theo một cách vô cùng kì lạ. Vào mùa xuân năm 2002, một cô thư kí trẻ đến thăm bác sĩ nhãn khoa Gordon Dutton. Cô này đã hoàn toàn bị mù sau khi mất toàn bộ vùng vỏ não thị giác chính. Nhưng khi Dutton đưa cô ta đến văn phòng mình, ông để ý thấy rằng cô có thể đột ngột chuyển hướng để né hàng ghế ở hành lang.  Khi được hỏi về điều này, cô ta lúng túng hỏi lại “ghế nào?”. Khi được đề nghị đi lại, cô thư ký vẫn tránh được hàng ghế, và bối rối thừa nhận là “không biết làm thế nào mà tôi đi kiểu đó được”. Dutton tin  rằng người thư kí đó sở hữu một thứ mà các nhà tâm lí học gọi là “thị lực mù” (blindsight), ông nói, “Đó là vì phần não bộ thị giác trong vô thức của cô đã làm điều đó cho cô”. Ngày nay các nhà nghiên cứu giải thích rằng thị lực mù là một dạng lối đi phụ của một số thông tin hình ảnh trong những vùng não bộ bị tổn hại vỏ não.   Thị lực mù dường như cũng đóng vai trò nhận diện và kích thích cảm xúc. Trong một chuỗi các nghiên cứu bắt đầu từ năm 1999, nhà nghiên cứu Beatrice de Gelder của Đại học Tilburg ở Hà Lan đã cho thấy rằng một số bệnh nhân mất thị lực có thể đoán chính xác một gương mặt đang vui hay đang giận dữ. Họ cũng có thể cảm giác được khi người khác có cử động mang tính đe dọa, thậm chí các cơ mặt còn co lại và đồng tử giãn ra để phản ứng lại.   Việc tổn hại não bộ sẽ làm mất đi một số chức năng nhưng lại giúp kích thích những chức năng trước đây vốn bị các vùng não bộ nào đó ngăn trở. “Bộ não người giống như một vùng châu thổ rất rộng lớn: nếu có đập nước nằm trên con đường chính, thì dòng nước sẽ chảy theo những con đường phụ, và những con đường phụ đó sẽ càng phình rộng ra và gia tăng chức năng”.  Nhìn bằng tai  Daniel Kish là một người Mỹ, từng bị mất đôi mắt của mìnhh vì căn bệnh ung thư lúc một tuổi. Nhưng từ khi còn rất nhỏ, ông ta đã nhận ra rằng bằng cách đánh lưỡi thật nhanh tạo ra những tiếng đanh sắc và lắng nghe tiếng vang dội lại, ông có thể đi vòng quanh khu xóm của mình mà không có vấn đề gì. Ngày nay ông ta đi khiêu vũ, đi bách bộ trong màn đêm và thường xuyên cưỡi xe đạp tham gia vào giao thông đô thị.  Các nhà khoa học đề cập đến những gì Kish làm chính là khả năng định vị bằng tiếng vang (echolocation), mặc dù Kish mô tả đó là “một thứ gì đó giống như việc nhìn thế giới này bằng những tia sáng yếu”. Những khung cảnh mà ông ta nhận biết được có những hình dạng, chất liệu, độ sâu và tính liên tục, nhưng chúng không có màu sắc và độ phân giải giới hạn ở “khoảng bằng kích cỡ của một quả bóng nhỏ”.          Người ta quan sát thấy rằng con người khi  sinh ra có nhiều liên kết neuron hơn là khi đã trở thành người lớn. Có  lý thuyết cho rằng khi bộ não ta phát triển, những mối liên kết nào được  chúng ta sử dụng sẽ phát triển mạnh hơn và hoạt động nhiều hơn, trong  khi đó phần còn lại sẽ yếu đi và có thể tiêu biến hoàn toàn.        Năm 2011 Lore Thaler, nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm của trường Western Ontario đã cho chụp cắt lớp não bộ của Kish và một người mù khác có khả năng định vị bằng tiếng vang. So sánh các hình ảnh chụp cắt lớp, bà phát hiện rằng vùng vỏ não thị giác chỉ hoạt động ở những người có khả năng định vị bằng tiếng vang và chỉ khi họ lắng nghe tiếng vang, chứ không phải những âm thanh khác ở xung quanh. Trong khi đó, vùng vỏ não thính giác dường như không có vai trò gì đặc biệt trong việc chuyển đổi tiếng vang thành hình ảnh.   Những nghiên cứu của Thaler đã cho thấy rằng não bộ có thể làm rất tốt việc thay thế một giác quan nào đó bằng một giác quan khác, thậm chí dùng tai để tạo dựng một cách đáng ngạc nhiên những hình ảnh về thế giới giống như khi dùng bằng mắt.  “Chúng ta sẽ phải xem lại về khả năng thật sự của hệ thần kinh thị giác”- nhận xét của Alvaro Pascual-Leone trường Harvard Medical School. Ông cho biết, thậm chí đối với những người sáng mắt, thì vùng não bộ thị giác cũng có thể kết nối để tiếp nhận sử dụng những tín hiệu từ tai và da. Trong một nghiên cứu, ông bịt mắt những người tình nguyện trong năm ngày và cho chụp cắt lớp đều đặn bộ não của họ khi họ giải quyết các vấn đề bằng cách dùng thính giác và xúc giác. Đến trước ngày thứ 5 thì ông có thể quan sát thấy một số vùng trung tâm thị giác nhất định đã hoạt động tích cực hơn, và khả năng thực hiện các tác vụ của những người tình nguyện cũng được cải thiện hơn. Đây là điều đáng ngạc nhiên vì năm ngày là chưa đủ để bộ não phát triển các mạch thần kinh mới, nhưng não bộ đã có thể củng cố những mối liên kết giữa các giác quan để đưa chúng vào sử dụng.   Mối liên hệ giữa các giác quan  Thực tế thì hệ thống tri giác của ta hoạt động cùng nhau thường xuyên hơn là ta có thể nhận ra, theo những cách không rõ ràng. “Bộ não lúc nào cũng truyền thông tin bằng nhiều kênh”, theo nhà thần kinh học Edward M. Hubbard của Đại học Vanderbilt.   Đối với một số người thì các giác quan có mối liên hệ khắng khít nhau đến mức trải nghiệm cái này có thể làm gợi ra cái kia, ví dụ như trường hợp một người có khả năng kết hợp cảm giác (synesthesia). Với người có khả năng đó, một ngụm trà bạc hà có thể tạo ra ấn tượng về một cây cột bằng thủy tinh, hay nốt fa thăng (F-sharp) có thể dễ dàng nghe thành màu xanh lục. Trường hợp phổ biến nhất – dạng của Bryan Alvarez – được nhiều người biết đến là sự kết hợp cảm giác giữa chữ cái và màu sắc, khi người ta có ấn tượng về từng màu riêng biệt cho từng mẫu tự hay chữ số. Hầu hết các trường hợp này là do các vùng não bộ kết nối chéo với nhau. Ở người bình thường những phần não này vẫn ở gần nhau, nhưng thường ít có sự tương tác.   Người ta quan sát thấy rằng con người khi sinh ra có nhiều liên kết neuron hơn là khi đã trở thành người lớn. Có lý thuyết cho rằng khi bộ não ta phát triển, những mối liên kết nào được chúng ta sử dụng sẽ phát triển mạnh hơn và hoạt động nhiều hơn, trong khi đó phần còn lại sẽ yếu đi và có thể tiêu biến hoàn toàn. Do đó mà trẻ sơ sinh có thể nhận biết về thế giới xung quanh giống như những người có khả năng kết hợp cảm giác. Một nghiên cứu năm 2011, các nhà tâm lí học Katie Wagner và Karen R. Dobins của Đại học California, San Diego, cho thấy rằng những em bé hai đến bốn tháng tuổi có ấn tượng về mối liên hệ giữa các màu sắc và hình dạng nhất định. Tuy vậy, bé tám tháng tuổi lại không làm được, điều này cho biết chúng đã loại bỏ những kết nối giữa hai vùng trung tâm xử lí dành cho màu sắc và hình dạng.   Cũng có bằng chứng cho thấy đa số mọi người vẫn có thể tạo ra những mối liên hệ tương tự như những người có khả năng kết hợp cảm giác. Ví dụ, đa số đều liên hệ những âm thanh cao vút với với sắc màu nhạt, vị ngọt ngào hay những thứ gai góc, và liên hệ âm thanh thấp trầm với sắc màu tối, vị chua, và những món đồ tròn trịa.  “Chúng ta nghĩ là chúng ta trải nghiệm các cảm giác một cách riêng biệt”, theo lời của Lawrence Rosenblum, nhà tâm lí học thuộc trường Đại học California, Riverside. Thực tế thì não bộ liên kết và đồng bộ hóa các thông tin cảm giác từ nhiều nguồn theo những cách mà ta không thể quan sát được bằng ý thức, và chúng ta không hề biết là mình đã được tạo hóa ban cho những khả năng phi thường để nhận biết thế giới.  Đoàn Khương Duy lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những rào cản đối với nhà nghiên cứu trẻ      Khi từ chối những lời mời hấp dẫn từ nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế để về nước làm việc, các nhà nghiên cứu trẻ cần có nhiều nhiệt huyết và quyết tâm để có thể vượt qua không ít rào cản, nếu muốn tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học. Đó là ý kiến của PGS. TS Lê Thị Lý, từng nghiên cứu ở Mỹ nhiều năm và nay giảng dạy tại Đại học Quốc tế, ĐHQG TP.HCM.       GS. TS Phan Thanh Sơn Nam (Đại học Bách khoa TPHCM)  Rào cản trong môi trường làm việc  Khó khăn đầu tiên mà các nhà nghiên cứu trẻ gặp phải khi làm việc ở các trường, viện nghiên cứu trong nước là sự khác biệt về môi trường làm việc. Tôi đã từng thấy nhiều tiến sỹ trẻ vấp phải vấn đề này trong thời gian đầu về nước. Được đào tạo bài bản, tiếp cận với những hướng nghiên cứu mới của thế giới và quan trọng hơn là làm việc trong môi trường dân chủ, tôn trọng tự do học thuật, họ có thể thoải mái phát biểu ý kiến hoặc phản bác quan điểm của các giáo sư mà không phải e ngại “rào trước đón sau”. Trong khi đó, văn hóa làm việc ở Việt Nam rất khác so với các nước phát triển, nếu đưa ra những phát biểu [dù đúng đắn về học thuật], các tiến sỹ trẻ thường dễ bị hiểu lầm là “háo thắng”, “chơi nổi”…    Có một vấn đề nảy sinh nữa trong quá trình làm việc là các tiến sĩ trẻ thường không quan tâm đến việc xây dựng các mối quan hệ xung quanh công việc mà chỉ tập trung vào nghiên cứu. “Đi một mình thì chúng ta sẽ đi nhanh nhưng không thể đi xa”, câu nói này rất đúng trong hoàn cảnh Việt Nam, nơi kỹ năng giao tiếp còn có tầm ảnh hưởng lớn hơn cả năng lực chuyên môn.  Tại Việt Nam, các nhà khoa học đều phải làm quen với những thủ tục hành chính và những vấn đề đôi khi chẳng liên quan đến chuyên môn nhưng lại ảnh hưởng khá nhiều đến tiến trình nghiên cứu như cách quản lý kinh phí đề tài, quy định trong việc tổ chức hội nghị quốc tế, các tiêu chuẩn của hội đồng chức danh ngành. Có nhiều bài học cho các tiến sỹ trẻ chưa quen với quy định trong nước như mạnh tay ứng tiền đề tài nghiên cứu mua hóa chất và gửi sinh viên đi nước ngoài đào tạo, sau đó mới phát hiện ra các khoản chi này sẽ không được thanh toán nên cuối cùng phải lấy lương bù vào.  Rào cản trong công tác nghiên cứu  Hệ thống quản lý khoa học Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập trong việc đánh giá, khen thưởng nên vẫn thường “ưu ái” số lượng công bố quốc tế hơn chính giá trị của những công bố ấy. Tôi biết có một nhà nghiên cứu đăng mỗi năm khoảng 10 bài báo quốc tế nhưng phần lớn đều thuộc các tạp chí chưa vào ISI hoặc có hệ số ảnh hưởng IF gần bằng 0. Mặc dù vậy, chị vẫn thường xuyên đươc khen thưởng vì có số lượng công bố vượt trội. Cũng có trường hợp chọn cách “lách luật”, gia tăng số lượng công bố có chất lượng bằng việc “núp bóng” thầy hướng dẫn ở nước ngoài. Trong danh sách các bài báo của nhà nghiên cứu trẻ này, ông thầy cũ vẫn đứng tên ở vị trí tác giả chính của bài báo (corresponding author) còn nhà nghiên cứu trẻ là tác giả thứ nhất (first author) mặc dù cô đã về nước nhiều năm… Rõ ràng về thực chất, nhà nghiên cứu trẻ này chưa chứng minh được sự độc lập của mình trong nghiên cứu khoa học nhưng vẫn được đánh giá cao bởi ở Việt Nam, người đứng đầu bài báo thường được coi là quan trọng nhất.      Tại Việt Nam, các nhà khoa học đều phải làm quen với những thủ tục hành chính và những vấn đề đôi khi chẳng liên quan đến chuyên môn nhưng lại ảnh hưởng khá nhiều đến tiến trình nghiên cứu như cách quản lý kinh phí đề tài, quy định trong việc tổ chức hội nghị quốc tế, các tiêu chuẩn của hội đồng chức danh ngành.      Bất cập trong quản lý của khoa học Việt Nam còn thể hiện ở công tác xét duyệt đề tài nghiên cứu do thiếu chuyên gia phù hợp. Tôi biết nhiều nhà nghiên cứu trẻ có năng lực lập hồ sơ đề tài để đệ trình lên các hội đồng xét duyệt nhưng thất bại vài lần liên tiếp vì vấp phải ý kiến phản biện nặng nề của một số nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm từ nước ngoài về. Xét về tiêu chí khoa học thì họ không sai nhưng thực ra họ đang ở một vị trí hoàn toàn khác với các đồng nghiệp trẻ, những người phải dạy mỗi năm vài trăm tiết, làm việc trong điều kiện rất khó khăn về cơ sở vật chất. Vì vậy nếu chỉ dựa vào một ý kiến phản biện mà đánh trượt một đề tài nghiên cứu là vô cùng phiến diện.  Xét duyệt đề tài là công việc mang tính khoa học nhưng cũng không nên cứng nhắc và thiếu tính nhân văn, nhất là đối với các tiến sỹ trẻ. Có người sau nhiều lần xin tài trợ của Quỹ NAFOSTED không thành, đem chính đề tài đó đi nộp ở một quỹ nghiên cứu nước ngoài thì lại nhận được tài trợ. Nữ tiến sỹ trẻ này sau khi quay lại Mỹ đã lên Facebook than vãn rằng tại sao những người nói cùng tiếng mẹ đẻ lại không hiểu và ủng hộ những ý tưởng khoa học của mình. Một trường hợp khác còn buồn hơn là sau khi đề tài bị đánh trượt thì lại có tin một nhóm nghiên cứu khác đang bắt tay làm vấn đề hoàn toàn giống như những gì mình đã đề xuất. Một tiến sĩ trẻ khác tâm sự với tôi là đang làm hồ sơ đăng ký một đề tài nhỏ cấp cơ sở với mức kinh phí 5 triệu đồng chỉ để thỏa mãn quy định của ĐHQG TP.HCM là không được phép đăng ký đề tài cấp ĐHQG nếu chưa làm đề tài cấp cơ sở (cấp trường thành viên), mặc dù đã có kinh nghiệm và thành công khi tham gia nhiều dự án lớn trong quá trình làm sau tiến sỹ ở Anh.  Tuy nhiên không ít nhà nghiên cứu trẻ đã vượt qua những rào cản đó mà nổi bật là trường hợp của giáo sư trẻ Phan Thanh Sơn Nam (Đại học Bách khoa, ĐHQG TP.HCM). Về nước năm 2006, Sơn Nam đã gây dựng được một nhóm nghiên cứu mạnh, có nhiều công bố trên các tạp chí uy tín, đào tạo nhiều sinh viên tài năng và mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều nhóm nghiên cứu ở Anh, Pháp, Bỉ… Ngoài nỗ lực của bản thân, trong sự thành công của GS Sơn Nam phải kể đến những đầu tư kịp thời, đúng người, đúng chỗ về cơ sở vật chất của ĐHQG và Sở KH&CN TP.HCM cho nhóm nghiên cứu của anh. Hội đồng chức danh ngành Hóa và Công nghệ thực phẩm cũng đã rất cởi mở và khách quan khi đánh giá công việc nên anh mới được công nhận chức danh giáo sư khi tuổi đời và tuổi nghề còn quá ít.  Từ trường hợp của GS Sơn Nam, tôi hy vọng khoa học Việt Nam sẽ có những chính sách, biện pháp phù hợp, xóa đi những rào cản, bấp cập còn giăng mắc trên đường nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ.       Author                Lê Thị Lý        
__label__tiasang Những sát thủ ẩn sau Covid-19      Các bệnh ung thư, sởi, lao, và sốt rét vẫn đang gây ra cuộc chiến chết người từ nhiều năm nay, giờ đây càng gây hậu quả nặng nề hơn trong bối cảnh khủng hoảng Covid-19 gây ra trên toàn cầu. Các nhà nghiên cứu y tế và các Tổ chức phi chính phủ NGO lo ngại rằng sẽ số người bị thiệt mạng do các bệnh dịch này gây ra có thể tăng lên gấp đôi ở một số vùng khó khăn.      Người dân trong một khu ổ chuột ở Mumbai, Ấn Độ chờ được phân phối thực phẩm hồi giữa tháng tư vừa qua trong thời gian bị cách ly. Họ không những bị đe doạ vì virus corona, và vì đói, mà còn có nhiều nguy cơ tử vong vì các căn bệnh khác. Ảnh: Rajanish Kakade/ AP.  Cả thế giới đang phải đấu tranh nhằm hạn chế những hậu quả về kinh tế do virus corona gây ra. Đội ngũ chuyên gia y tế đang hết sức nỗ lực để phát triển loại vacxin nhằm kết thúc cuộc khủng hoảng Covid-19. Những nỗ lực này là cần thiết. Tuy nhiên sự tập trung toàn cầu vào bệnh truyền nhiễm mới này đang làm giảm đi sự chú ý đến những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng con người – và cả nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc chiến đó.  Điều này sẽ gây hậu quả nặng nề. Các chuyên gia e rằng trong thời gian tới sẽ có hàng triệu người chết – không phải vì virus corona – mà vì hậu quả của nó, chết vì những căn bệnh khác mà đáng ra có thể chữa chạy được. Nhiều biện pháp thành công của các chính phủ và các tổ chức NGO có nguy cơ bị vô hiệu hoá.  Điều này cũng xẩy ra ở các nước châu Âu, thí dụ ở nước Anh, theo Cancer Research UK, hiện tại hàng tuần có khoảng 2300 người ung thư nhưng không thể đi khám. Kiểm tra sàng lọc ung thư vú và ung thư dạ con cho trên 200.000 phụ nữ mỗi tuần hiện cũng tạm dừng. Bệnh ung thư nếu phát hiện sớm tương đối thì có thể điều trị nay trở thành nguy cơ rủi ro cao về sức khoẻ. Các ca bệnh cấp tính cũng trong tình trạng tương tự.  Theo Quỹ Tim mạch Anh (The British Heart Foundation) số bệnh nhân nghi đau tim đi khám bệnh nội trú và ngoại trú trong tháng ba đã giảm 50 %. Hậu quả thật khó lường. Các thầy thuốc lo ngại về việc các ca tử vong sẽ tăng do hậu quả của các loại bệnh nặng, điều này có thể xẩy ra rộng khắp ở châu Âu.  Tuy nhiên nhiều nước khác gặp khó khăn lớn hơn nhiều. Trong số đó có nhiều nước nghèo, đã phải nỗ lực nhiều năm liền trong cuộc chiến chống lại các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng như bệnh lao, HIV hay hay sởi. Ở nhiều nơi người ta thậm chí đã khống chế thành công những căn bệnh này. Đối với bệnh nhiệt đới sốt rét cũng tương tự. Tuỳ từng nước, đều xuất hiện nguy cơ mới với các bệnh cũ, nay do virus corona lại bùng phát khá mạnh mẽ.  Bệnh lao là nguyên nhân tử vong số một trong các bệnh truyền nhiễm  Theo ước đoán mỗi năm có khoảng 10 triệu người bị lây nhiễm bệnh lao phổi. Khoảng 1,5 triệu người bị chết vì căn bệnh này, riêng ở Ấn Độ mỗi ngày có tới hàng nghìn người chết vì lao. Trong các bệnh truyền nhiễm thì lao là nguyên nhân gây tử vong số 1.     Một bà mẹ ở Ấn Độ đưa con ốm đến bệnh viện, phương tiện giao thông công cộng không hoạt động. Virus corona thường được cho là “cào bằng tất cả”, nhưng thực ra nó đang làm tăng thêm sự bất bình đẳng xã hội trên toàn thế giới. Ảnh: Manish Swarup/ AP.  Một nghiên cứu mới của chiến dịch quốc tế  “Stop TB Partnership” cho rằng, trong thời gian từ 2020 đến 2025 trên toàn thế giới sẽ có thêm 6,3 triệu ca nhiễm bệnh lao và 1,4 triệu ca tử vong vì lao.  “Cuộc chiến chống bệnh lao là cực kỳ gay go, khốc liệt. Khi người ta tưởng như đã hạ gục được nó, thì căn bệnh kinh khủng này lại ngóc đầu dậy như muốn trả thù”, nữ bác sỹ người Rumani Lucica Ditiu thuộc “Stop TB Partnership” nói. Tổ chức này dự định đến năm 2030 sẽ diệt trừ hoàn toàn căn bệnh này.  Tuy nhiên mục tiêu này giờ đây trở thành xa vời. “Chúng tôi sẽ không đạt được mục tiêu đề ra, nếu như khoản tài trợ không tăng gấp ba lần so với hiện nay.” Hiện tại mỗi năm chiến dịch này được cấp khoảng 5 tỷ Euro.  Số ca tử vong bổ sung vì bệnh lao lên đến hàng triệu người trong khi hiện nay trên toàn thế giới có khoảng trên 300.000 người bị chết vì Covid-19. Madhukar Pai, phụ trách chương trình “McGill Global Health Program”, tỏ ra ngạc nhiên về việc người ta quan tâm nhiều hơn đến bệnh do virus mới so với bệnh lao.   Kể từ khi bùng phát đại dịch corona các bệnh nhân lao ở Ấn Độ gặp nhiều khó khăn trong điều trị bệnh. Nhiều phòng khám tư nhân bị đóng cửa trong thời gian bị cách ly nghiêm ngặt. Ở nhiều nơi các phương tiện giao thông công cộng ngừng hoạt động do đó nhiều người bệnh ở nông thôn không thể tới gặp bác sỹ. Nhiều bệnh viện vì muốn bảo vệ nhân viên và bệnh nhân nội trú từ chối không chữa chạy cho bệnh nhân lao.  Ấn Độ có chương trình tiêm chủng của nhà nước nhờ đó trẻ em được tiêm chủng phòng chống hàng chục bệnh trong có các bệnh như bại liệt, sởi, bạch hầu và tiêm chủng BCG chống lao. Ít nhất trong tháng ba có khoảng 100.000 trẻ em không được tiêm chủng BCG, báo “Livemint” dựa vào các dữ liệu của Bộ Y tế Ấn Độ cho thấy điều đó.Điều này thật nguy hiểm vì những người bị bệnh lao có nguy cơ cao bị lây nhiễm Covid-19. Tuy nhiên tiêm phòng lao không phải là tiêm chủng duy nhất bị bỏ bê thời gian qua.   Liên minh tiêm chủng Gavi, là một tổ chức quan trọng trong việc cung cấp nguồn tài chính để mua sắm các loại vacxin ở các nước nghèo, tổ chức này luôn phải đấu tranh để có đủ nguồn tài chính và cho rằng tác động của cuộc khủng hoảng corona lúc này thật là “khủng khiếp”. Gavi cho rằng hiện có khoảng 13,5 triệu người không được tiêm chủng phòng các bệnh quan trọng. “Chống Covid-19 nhưng không thể bỏ sót và làm sống lại những sát thủ khác như bại liệt hay sởi”, Seth Berkley, CEO của Liên minh tiêm chủng nói.  Trong tháng tư Tổ chức Y tế thế giới WHO đã cảnh báo trên thế giới đã có 117 triệu trẻ em không được tiêm chủng phòng chống bệnh sởi. Hàng chục nước đã tạm dừng hoạt động tiêm chủng để tránh lây lan virus corona mới qua nhân viên y tế. Bên cạnh đó, nguồn cung cấp vacxin bị trục trặc. Hiện tại đã có một số vụ bùng phát dịch bệnh lẻ tẻ ở Bangladesch, Nepal và Pakistan và cái kết có thể gây tử vong. “Nếu chúng ta không chú ý  thì có thể sẽ phải chứng kiến sự trở lại của những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hơn cả  Covid-19”, nhà kinh tế Mushfiq Mobarak, đại học Yale đã nói với tờ SPIEGEL của Đức.    Tiêm chủng phòng bệnh sởi ở Cộng hoà Dân chủ Congo. Ảnh: AFP  Số ca tử vong vì sốt rét ở châu Phi có thể tăng gấp đôi  Số liệu về bệnh sốt rét cũng thật đáng sợ. Cuối tháng tư WHO công bố mô hình tính toán theo đó số ca tử vong vì sốt rét ở châu Phi có thể tăng gấp đôi trong năm nay. Con số tử vong dự báo từ 386.000 ca lên 769.000. Bệnh sốt rét xuất hiện trước hết ở các nước nghèo ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại nhiều quốc gia bị ảnh hưởng thì sốt rét là một trong những những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong.  Bệnh sốt rét không chỉ gây đau khổ cho cá nhân người bệnh mà còn gây phí tổn to lớn cho gia đình, cho chính phủ và cả các nước xung quanh. Phí tổn trực tiếp theo ước tính có thể lên đến ít nhất 12 tỷ đôla Mỹ một năm, theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh tại Hoa kỳ. Tác động tiêu cực của bệnh đối với tăng trưởng kinh tế còn lớn hơn nhiều.   Theo ước tính của WHO, số người bị lây nhiễm bệnh sốt rét do muỗi truyền năm 2018 trên thế giới là 228 triệu người. 93% trong số này ở Châu Phi, trong đó nhiều trẻ em là nạn nhân.  Cho năm 2020 có lẽ con số này sẽ tăng gấp bội.  Trong những tuần qua đã xẩy ra sự gián đoạn chuỗi cung ứng ở nhiều quốc gia. Do những hạn chế về xuất, nhập khẩu và số lượng các chuyến bay giảm mạnh nên việc đưa vật tư, thiết bị phòng chống sốt rét quan trọng như màn chống muỗi, thiết bị thử nhanh và thuốc không đến được những nơi cần đến. “Chúng tôi có nguy cơ bị đánh bật trở lại tình trạng như cách đây 20 năm”, theo Pedro Alonso, giám đốc chương trình sốt rét của WHO.  Kinh nghiệm từ các cuộc chiến chống dịch bệnh khác ở Châu Phi cũng gây nhiều lo ngại. Vụ bùng phát dịch Ebola từ năm 2014 đến 2016 ở Guinea, Liberia và Sierra Leone đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc phòng chống dịch bệnh sốt rét làm cho số người bị lây nhiễm và chết vì sốt rét tăng vọt. Theo tính toán sơ bộ của Đại học Hoàng gia London thì riêng ở Guinea, điều này đã làm cho số ca tử vong vì sốt rét tăng thêm 5600 ca. So với 2543 ca tử vong vì Ebola thì con số này thật đáng sợ.  Tác động của đại dịch Corona trên toàn thế giới có thể còn bi thảm hơn nhiều.  Xuân Trang dịch theo SPIEGEL    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những sợi dây điện sống      Cán bộ khoa học ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (Mỹ) Yuri Gorby đã khám phá ra rằng khi một con vi khuẩn biến đổi những kim loại độc hại, nó có thể vươn ra những dây dẫn điện nhỏ xíu từ màng tế bào.  Một đồng nghiệp sau khi nghe bài báo cáo của Gorby tại một hội nghị khoa học đã đề xuất việc sử dụng khám phá này để phát triển những thiết bị cơ điện sinh học.    Trong một loạt thí nghiệm, Gorby và các cộng sự đã tạo ra các dây dẫn nano trong nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Các dây nano vi khuẩn có đường kính cỡ 10 nanomét và tạo thành các bó dây kích cỡ 150 nanomét, chúng có thể dài đến hàng chục thậm chí hàng trăm micromét.        “Những sợi dây điện nano có thể nối kết các tế bào với nhau và tạo nên một hệ giao tiếp bằng tín hiệu điện giữa chúng”, Gorby nói, “những dấu hiệu sinh lý và sinh thái của những tương tác này hiện vẫn chưa được biết, nhưng hiện tượng này là rất kỳ thú đối với một hình thức phân bố năng lượng được tổ chức ở cấp cao của những dạng sống già nhất và có khả năng thích nghi cao nhất trên hành tinh”.    Để đo các dòng điện một cách thật chính xác, Gorby và các cộng sự đến từ Đại học Nam California đã xây dựng một phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu các tế bào nhiên liệu sinh học. Đó là những bộ pin điện nhỏ xíu làm bằng các vi khuẩn, được nuôi cấy trong môi trường oxy hóa có kiểm soát với nguồn cung cấp là lactate hoặc ánh sáng. Chúng có thể tạo ra một công suất nhỏ và được đo bởi một vôn kế nối với một máy tính xách tay.        Nguồn: Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương của Mỹ  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những tế bào đầu tiên có thể phải dựa vào nhiệt độ để phân chia      Một cơ chế đơn giản có thể nằm dưới sự tăng trưởng và tự sao chép của các tế bào sơ khai (protocells)- các tổ tiên giả định của các tế bào sự sống hiện đại – được một công bố mới đề xuất.      Công trình này được xuất bản trên tạp chí Biophysical Journal 1.  Các tế bào sơ khai là các túi được liên kết bằng một lớp màng bilayer và có tiềm năng tương tự như tổ tiên chung đơn bào đầu tiên (FUCA). Trên cơ sở các nguyên tắc toán học đơn giản liên quan, mô hình đề xuất cho thấy động lực chính định hướng sự tăng trưởng và sinh sản của tế bào sơ khai là sự khác biệt về nhiệt độ xuất hiện giữa phần bên ngoài và bên trong của tế bào sơ khai hình trụ như một kết quả của hoạt động hóa học bên trong.  “Động cơ ban đầu của nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện là nhận diện các động lực chính tác động đến sự phân chia tế bào”, Romain Attal của Universcience, một trong những tác giả của nghiên cứu nói. “Điều này rất quan trọng bởi ung thư có đặc điểm là không kiểm soát được sự phân chia tế bào. Do đó, chúng ta cần phải hiểu về nguồn gốc sự sống để lý giải nó”.  Sự phân tách của một tế bào để định dạng hai tế bào con đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều quá trình cơ học và hóa sinh bao gồm cấu trúc xương bên trong tế bào đó. Nhưng trong lịch sử của sự sống, rất nhiều cấu trúc phức hợp được thiết kế ở mức cao hơn và phải xuất hiện chậm hơn thì mới có năng lực tạo ra sự phân chia. Các tiền tế bào phải sử dụng một cơ chế phân chia đơn giản để đảm bảo sự sinh sản của chúng, trước khi xuất hiện các gene, RNA, các enzyme, và tất cả những vi cơ quan phức tạp như chúng ta thấy ngày nay, thậm chí trong những hình thức thô sơ nhất của sự sống độc lập.  Trong nghiên cứu mới, Attal đề xuất một mô hình dựa trên ý tưởng những dạng tồn tại sớm của sự sống là những dạng túi đơn giản chứa một mạng lưới cụ thể của các phản ứng hóa học – một tiền thân của dạng trao đổi chất trong tế bào hiện đại. Giả thuyết chính là các phân tử tạo ra lớp màng kép được tổng hợp bên trong tiền tế bào thông qua tỏa nhiệt, hay còn gọi là phát thải năng lượng, của các phản ứng hóa học.  Sự gia tăng chậm chạp của nhiệt độ bên trong buộc các phân tử nóng nhất di chuyển từ trong chuyển ra ngoài khỏi lớp kép. Việc di chuyển bất đối xứng này khiến cho lớp bên ngoài tăng trưởng nhanh hơn lớp bên trong. Sự tăng trưởng chênh lệch này tăng lên làm độ cong và khuếch đại bất kỳ độ co ngót cục bộ nào trong tiền tế bào cho đến khi nó phân tách làm hai. Đường cắt xuất hiện ở gần vùng nóng nhất, xung quanh khoảng giữa.  “Kịch bản này có thể được xem như tổ tiên của sự phân bào có tơ”, Attal nói. “Không có các kho lưu trữ sinh học nào có tuổi đời bốn tỉ năm nên chúng tôi không rõ đích xác là tổ tiên chung đơn bào đầu tiên chứa những gì nhưng đó có thể là một dạng túi được bọc bằng lớp lipid kép có đóng gói một vài phản ứng hóa học tỏa nhiệt”.  Dẫu vẫn thuần túy lý thuyết, mô hình này có thể được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Ví dụ, một thí nghiệm có thể dùng các phân tử nhuộm huỳnh quang để đo đạng các biến thiên nhiệt độ bên trong các tế bào sinh vật nhân chuẩn, trong đó các ty thể là nguồn nhiệt chính. Những dao động đó có thể tương quan với sự khởi đầu của nguyên phân và với hình dạng của mạng lưới các ty thể.  Nếu các nghiên cứu trong tương lai được thực hiện, mô hình này có thể có nhiều gợi ý quan trọng, Attal nói. “Một thông điệp quan trọng là các lực điều hướng sự phát triển của sự sống về cơ bản rất đơn giản”, anh giải thích. “Bài học thứ hai là vấn đề các gradient nhiệt độ trong các quá trình sinh hóa và tế bào có thể mang chức năng như những cỗ máy tạo nhiệt”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-09-cells-temperature.html  https://scitechdaily.com/origin-of-life-the-first-cells-might-have-used-temperature-to-divide/  ————————————–  1. https://www.cell.com/biophysical-journal/fulltext/S0006-3495(21)00686-X    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thập kỷ khó quên của vật lý lý thuyết Nhật Bản      Giai đoạn 1935 – 1955, một số nhà khoa học Nhật Bản đã dành tâm sức cho những câu hỏi hóc búa của vật lý lý thuyết. Họ dạy nhau về cơ học lượng tử, xây dựng lý thuyết điện từ lượng tử, công nhận sự tồn tại của hạt mới. Mặc dù phần lớn thời gian phải sống trong cảnh tạm bợ và đói khát do chiến tranh nhưng đó lại là giai đoạn viên mãn nhất của các nhà vật lý lý thuyết non trẻ. Sau chiến tranh, họ mang về cho đất nước hai giải Nobel.    Bối cảnh  Năm 1854, tàu chiến của Commodore Matthew Perry buộc Nhật Bản phải mở cửa giao thương, kết thúc hàng thế kỷ khép kín. Nhật Bản nhận ra, thiếu kỹ thuật hiện đại sẽ dẫn tới sự yếu kém về quân sự. Một nhóm các samurai có học thức đã buộc nhóm shogun đương quyền thoái vị vào năm 1868 và khôi phục ngai vàng cho Nhật hoàng. Chính quyền mới gửi các thanh niên trẻ sang Đức, Pháp, Anh và Mỹ để học ngoại ngữ, khoa học, kỹ thuật, y học và thành lập các trường đại học theo phong cách Tây Âu tại Tokyo, Kyoto và một vài nơi khác.  Hantaro Nagaoka (1865 –1950) là một trong những nhà vật lý đầu tiên của Nhật Bản. Bố ông, một cựu samurai, đã dạy con trai tiếng Trung Quốc và viết chữ nho. Nhưng sau chuyến công du ra nước ngoài, người cha rất lấy làm tiếc vì đã dạy cho con trai những môn học không hợp thời. Tại đại học, Nagaoka ngần ngại không dám chọn khoa học, ông không dám chắc người Châu Á có thể làm chủ được nó. Nhưng sau một năm nghiên cứu lịch sử khoa học Trung Quốc, ông quyết định người Nhật Bản phải tìm cơ hội cho riêng mình.  Năm 1903, Nagaoka đưa ra mô hình nguyên tử chứa một hạt nhân nhỏ bao quanh bởi một vòng các electron. Mô hình chứa hạt nhân được Enerst Rutherford tìm ra tại phòng thí nghiệm Cavendish, Cambridge, Anh.  So với những nước đến với khoa học muộn như Trung Quốc (1895) hay Nga (1905) và trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ nhất, việc phát triển khoa học tại Nhật Bản đã là một thành công. Những công ty lớn thành lập phòng thí nghiệm riêng, và vào năm 1917 Viện nghiên cứu Riken của chính phủ (The Institute of Physical and Chemical Research) ra đời tại Tokyo. Được thiết kế để trợ giúp kỹ thuật cho ngành công nghiệp, Riken đồng thời tiến hành nghiên cứu cơ bản.  Những năm cuối thập niên 20, một số tài năng vật lý của phương Tây như K. Heisenberg, Paul A. M. Dirac bắt đầu tới Nhật Bản giảng dạy trong các trường đại học.  Thời kỳ này, các nhà vật lý lý thuyết Nhật Bản tập trung nghiên cứu tương tác giữa photon và electron – tương tác cơ bản cho lý thuyết lượng tử mới về điện từ, cũng như tương tác giữa proton và neutron.  Năm 1941, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai nổ ra, đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của vật lý lượng tử. Các nhà vật lý trẻ tuổi sống gần Tokyo tiếp tục học tập khi có thể, trong khi các giáo sư ĐH Tokyo tổ chức những buổi học đặc biệt vào chủ nhật. Năm 1944, một số sinh viên được ngừng nghiên cứu cho quân đội để quay lại trường đại học. Tuy nhiên, đây vẫn là giai đoạn khó khăn. Địa điểm cho một buổi hội thảo có khi chuyển tới vài lần. Nhiều nhà khoa học phải sống trong phòng thí nghiệm, ngủ trên nệm rơm trải trên bàn làm việc, phải mặc quân phục do thiếu quần áo. Thực phẩm luôn là nỗi lo và vào dịp cuối tuần, các nhà khoa học phải về các vùng lân cận hỏi mua thực phẩm của nông dân.  Giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu về hạt nhẹ và năng lượng riêng vô hạn, các nhà vật lý lý thuyết còn tham gia một số nghiên cứu phục vụ quân đội như phát triển lý thuyết magnetrons – thiết bị sử dụng trong hệ trống radar để làm phát sinh các sóng điện từ dùng cho tàu lớn hay tính toán khả năng chế tạo bom nguyên tử.  Sau khi đầu hàng vào tháng 8/1945, Nhật Bản bị Mỹ chiếm đóng trong vòng 7 năm. Chính quyền của tướng Douglas MacArthur cải cách, mở rộng và trao quyền tự do cho hệ thống trường học. Nhưng các thí nghiệm về hạt nhân và các lĩnh vực liên quan vẫn bị cấm. Tất cả các máy gia tốc ở Nhật Bản đều bị tháo dỡ và ném xuống biển do lo sợ chúng sẽ được dùng để nghiên cứu bom nguyên tử. Thêm vào đó, điều kiện kinh tế kiệt quệ cũng không cho phép tiến hành những nghiên cứu thực nghiệm đắt tiền.  Giới vật lý Nhật Bản bắt đầu nối lại quan hệ với những người chế tạo bom nguyên tử tại Mỹ. Tình cảm của họ dành cho những người Mỹ có gì đó thật khó hiểu. Những vụ ném bom xuống Tokyo, thảm kịch tại Hiroshima và Nagasaki làm kinh hoàng tất cả người dân Nhật Bản. Nhưng mặt khác, những chính sách tự do hóa của Mỹ đã tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học (lớp trẻ thường xuyên ghé thăm các thư viện do MacArthur lập nên để đọc các bài báo mới). Nhưng có lẽ yếu tố then chốt ở đây là họ cùng chia sẻ niềm say mê khoa học.            Yukawa đi dạo với Einstein và đồng nghiệp trong khuôn viên Viện nghiên cứu tiên tiến Princeton          Nghiên cứu nổi bật của thời kỳ này là quy luật đằng sau những đặc tính của hạt lạ. Năm 1947, những hạt mới bắt xuất hiện và rất khó giải thích nên nhiều nhà vật lý gọi là “hạt lạ”. Mặc dù xuất hiện ít và thường đi theo cặp, những hạt này có thời gian sống rất lâu. Các nhà nghiên cứu của Nhật Bản đã độc lập phát hiện ra quy luật đằng sau những đặc tính của chúng, được miêu tả bằng một số lượng tử gọi là “số lạ”.  Những năm đầu 1950, nhiều nhà vật lý trẻ của Nhật Bản bắt đầu đi sang Mỹ nhưng vẫn duy trì mối liên hệ với đồng nghiệp trong nước bằng cách gửi về các bản thông tin, thường được đọc to trong các buổi gặp gỡ của các nhóm nghiên cứu.  Một số chân dung nổi bật  Người ta đã thử lý giải thành công của các nhà vật lý lý thuyết Nhật Bản thời chiến bằng nhiều cách. Có thể vì các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu để lánh mình khỏi những tai ương chiến tranh. Có thể chiến tranh đã làm tăng tình trạng biệt lập và do vậy làm nổi rõ thêm sự độc đáo. Có thể các nhà vật lý đã được tự do để theo đuổi ý tưởng của mình. Dưới đây là một số chân dung nhà vật lý lý thuyết nổi bật của giai đoạn quá đặc biệt để lý giải này.  Yoshio Nishina (1890 – 1951)  Là nhà khoa học trẻ của Viện nghiên cứu Riken, được gửi đi du học năm 1919. Ông đã tới Anh, Đức và lưu lại 6 năm tại Viện nghiên cứu của Niels Bohr ở Copenhagen. Cùng với Oskar Klein, Nishina đã tính toán xác suất của photon, lượng tử ánh sáng, bật ra sau va chạm với electron. Sự tương tác này rất cơ bản cho lý thuyết lượng tử mới về điện từ, mà nay được gọi là điện động lực học lượng tử.  Trở lại Nhật Bản năm 1928, Nishina mang theo tinh thần Copenhagen – phong cách dân chủ trong nghiên cứu. Theo đó, không ai có thể phán xét tư duy của các nhà nghiên cứu cũng như tri thức về các vấn đề mới và phương pháp mới – điều này đối lập hoàn toàn với quy chuẩn trước đây trong các trường đại học Nhật Bản.  Trong thời gian chiến tranh, Nishina được quân đội đào tạo để tính toán khả năng chế tạo bom nguyên tử. Năm 1943, ông kết luận có khả năng chế tạo nếu đủ tiền và thời gian. Ông giao cho nhà vật lý tia vũ trụ trẻ tuổi là Masa Takeuchi xây dựng một thiết bị để tách đồng vị uranium nhẹ cần thiết cho chế tạo bom. Nishina nghĩ rằng dự án sẽ giúp cho các nghiên cứu vật lý tiếp tục tồn tại sau khi chiến tranh kết thúc. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, những dự án của Nhật chỉ sản xuất được một mẩu uranium kích thước bằng con tem và vẫn chưa được làm giàu.  Shinichiro Tomonaga (1906 –1979)  Trong thời gian K. Heisenberg giảng dạy cho sinh viên Nhật Bản những năm cuối thập niên 20, Shinichiro Tomonaga là một trong số ít người hiểu được bài giảng của nhà vật lý tài năng này. Ông chỉ mất một năm rưỡi ở bậc đại học và tự dạy cho mình về cơ học lượng tử từ những bài báo khoa học trên các tạp chí tiếng Anh.            Yukawa và Tomonaga luôn sát cánh cùng nhau trên con đường nghiên cứu          Tomonaga luôn sát cánh với người bạn học thân thiết Hideki Yukawa, sau này cả hai đều đem giải Nobel về cho Nhật Bản. Bố của hai ông đều là học giả và từng xuất ngoại: bố của Tomonaga là giáo sư triết học phương Tây, còn bố của Yukama là giáo sư địa lý. Cả hai ông đều dòng dõi samurai.  Hai ông nhận bằng cử nhân của ĐH Kyoto năm 1929, thời kỳ bắt đầu cuộc đại suy thoái. Do không có việc, họ tạm thời đảm nhận công việc phụ tá tại đại học và không được trả lương. Họ đã dạy cho nhau về lý thuyết vật lý mới và độc lập tiến hành những dự án nghiên cứu. “Cuộc suy thoái đã biến chúng tôi trở thành học giả”, Yukawa sau này thường hài hước nói.  Năm 1932, Tomonaga tham gia nhóm của Nishina tại Riken và làm việc với Nishina về điện động lực học lượng tử. Năm 1937, ông thăm Heisenberg tại ĐH Leipzig, hợp tác với Heisenberg trong hai năm về các lý thuyết lực của hạt nhân.  Chiến tranh nổ ra, ông trở về Nhật Bản, làm giáo sư tại ĐH Tokyo Bunkira. Ông cùng với Masao Kotani phát triển lý thuyết magnetrons – thiết bị sử dụng trong hệ trống radar để làm phát sinh các sóng điện từ dùng cho tàu lớn. Qua thuyền trưởng của một tàu ngầm, Heisenberg gửi cho Tomonaga bài báo về kỹ thuật miêu tả tương tác giữa các hạt lượng tử. Tomonaga nhanh chóng áp dụng để phát triển các sóng dẫn đường cho radar.  Cùng thời gian này, Tomonaga nghiên cứu bài toán năng lượng riêng vô hạn mà Yukawa đã dừng quan tâm. Ông phát triển các phương pháp để miêu tả tương tác của một số hạt lượng tử như electron, chuyển động gần với tốc độ ánh sáng.  Trong thời gian chiến tranh, giống như nhiều nhà khoa học khác, Tomonaga sống với gia đình trong phòng thí nghiệm. Là người luôn ốm yếu về thể chất, ông đã nhiều lần giảng bài cho sinh viên của mình trong khi vẫn nằm trên giường.  “Giữa đổ nát và bạo loạn của chiến tranh, Tomonaga vẫn duy trì được trường phái nghiên cứu vật lý lý thuyết có nhiều điểm đi trước so với thời đại của ông”, nhà vật lý Mỹ Freeman Dyson viết về Tomonaga.  Tháng 7/1947, Tomonaga đọc trong Newsweek kết quả thí nghiệm do Willis E. Lamb và Robert C. Rutherford thuộc ĐH Columbia thực hiện. Electron trong nguyên tử hydrogen có thể chiếm một trong vài trạng thái lượng tử; hai trong số các trạng thái này được cho là có cùng mức năng lượng nhưng trên thực tế chúng có năng lượng khác nhau. Sau khi phát hiện được công bố, Hans Beth thuộc ĐH Cornell (Mỹ) đã đưa ra phương pháp tính nhanh, phi tương đối độ dịch chuyển Lamb khi sự khác biệt về năng lượng đã được công nhận. Hiệu ứng này chỉ có tác động nhỏ tới năng lượng riêng của electron khi nó chuyển động bên trong nguyên tử. Cùng với các sinh viên của mình, Tomonaga đã tính lại kết quả tương đối khi kể đến các đại lượng phân kỳ.  Công trình nghiên cứu rất giống nhau của họ gần như được thực hiện cùng một thời gian với công trình của Julian S. Schwinger, ĐH Harvard. Sau này, Tomonaga và Schwinger nhận thấy những nét tương đồng trong sự nghiệp của họ: cùng nghiên cứu về radar, sóng lan truyền, magnetrons và cả hai đều dùng lý thuyết của Heisenberg để giải quyết một vấn đề. Và cả hai cùng chia giải Nobel với Richard Feynman năm 1965 cho các nghiên cứu phát triển điện động lực học lượng tử.  Năm 1949, Tomonaga được mời tới thăm Viện nghiên cứu tiên tiến Princeton và thấy rất thích thú. Nhưng ông nhớ nhà, “tôi cảm thấy như bị đày ở thiên đường”, ông viết cho sinh viên của mình. Năm sau, ông trở về Nhật Bản, nghiên cứu lý thuyết các hạt cơ bản chuyển động trong không gian một chiều, nghiên cứu này hiện rất hữu ích cho các nhà lý thuyết dây.  Hideki Yukawa (1907 –1981)            Yukawa (Nobel Vật lý năm 1949) và Richard Feynman (Nobel Vật lý năm 1965) tại  Kyoto năm 1954          Trong thời gian chiến tranh, Yukawa là giáo sư ĐH Kyoto, đồng thời phục vụ cho quân đội mỗi tuần một ngày. Nhưng trước đó, những năm đầu thập kỷ 30, Yukawa tập trung vào nghiên cứu những vấn đề hóc búa nhất thời ấy, mà một trong số đó là bài toán về tính vô hạn của năng lượng riêng. Kết quả của nhiều tính toán đều cho kết quả vô hạn: electron tương tác với các photon trong trường điện từ của chính nó làm cho năng lượng trở thành vô hạn. Yukawa không tiến thêm được nhiều trong vấn đề vốn làm đau đầu những bộ óc ưu tú của ngành vật lý thế giới trong hơn hai thập kỷ. “Ngày hôm nay tôi lại phải loại bỏ ý tưởng mới phôi thai ngày hôm qua. Và một hôm, trên đường về nhà, đi qua sông Kamo, tôi thấy mình tuyệt vọng”, Yukawa nhớ lại.  Tuy nhiên, Yukawa giải quyết được vấn đề đơn giản hơn: lực tương tác giữa proton và neutron. Heisenberg đã cho rằng lực này được tạo ra khi có sự trao đổi electron. Vì electron có mô-men góc nội tại tức là có spin, ý tưởng của ông đã vi phạm quy luật bảo toàn mô-men góc, nguyên tắc cơ bản của cơ học lượng tử. Heisenberg, Bohr và một số người khác thay thế quy luật cổ điển bằng quy luật lượng tử về tương tác của các electron và photon, song họ lại sẵn sàng loại bỏ vật lý lượng tử và cho rằng các proton và neutron tuân theo quy luật mới. Mô hình của Heisenberg phỏng đoán phạm vi tương tác của lực hạt nhân lớn hơn gấp 200 lần.  Yukawa phát hiện ra rằng phạm vi tương tác của một lực phụ thuộc tỷ lệ nghịch vào khối lượng của hạt chuyển tải lực đó. Lực điện từ có phạm vi tương tác là vô hạn vì nó được chuyển tải bởi photon là hạt không có khối lượng. Mặt khác, lực hạt nhân, có phạm vi tương tác trong vòng kích thước của hạt nhân phải được chuyển tải bởi một hạt có khối lượng gấp 200 lần khối lượng của electron. Ông cũng cho rằng hạt đó cần phải có spin bằng không hoặc bằng một để mô-men góc được bảo toàn.  Yukawa công bố những phát hiện của mình trên tạp chí Proceedings of the PMSJ (Hội Toán Lý Nhật Bản) năm 1935. Mặc dù được viết bằng tiếng Anh, bài báo bị quên lãng trong suốt hai năm. Yukawa mạnh dạn phỏng đoán hạt mới.  Năm 1937, Carl D. Anderson và Seth H. Neddermeyer thuộc Viện đại học công nghệ California đã phát hiện trong các vết để lại bởi tia vũ trụ những hạt có khối lượng chuẩn phù hợp với các yêu cầu của lý thuyết của Yukawa. Những hạt của tia vũ trụ xuất hiện ở mực nước biển thay vì bị hấp thu ở trong khí quyển, vậy chúng tồn tại 100 lần dài hơn hạt mà Yukawa dự đoán.  Năm 1942, Shoichi Sakata và Takeshi Inoue cho rằng Anderson và Neddermeyer chưa từng nhìn thấy hạt pion do Yukawa phát hiện ra mà nhìn thấy hạt nhẹ hơn gọi là “muon” sinh ra từ quá trình phân rã của hạt pion, hạt mà Yukawa tiên đoán.  Vào thời gian phát hiện ra hiện tượng dịch chuyển Lamb, một nhóm nghiên cứu tại Anh phát hiện ra sự phân rã của hạt pion trên các tấm kính ảnh đặt dưới các tia vũ trụ ở độ cao. Phát hiện này đã chứng tỏ Inoue, Sakata và Yukawa đã đúng. Yukawa đã khám phá ra quy luật sâu sắc về các lực: chúng được chuyển tải bởi các hạt và spin của các hạt này phải là một số nguyên, khối lượng của chúng xác định phạm vi tương tác của lực. Phương pháp xác định một hạt mới của ông rất thành công.  Năm 1948, J. Robert Oppenheimer, Giám đốc Viện nghiên cứu tiến tiến Princeton, mời Yukawa sang Viện của ông. Ông nghiên cứu ở đây một năm và một năm ở ĐH Columbia và nhận giải Nobel năm 1949.  Năm 1953, Yukawa trở thành Giám đốc Viện nghiên cứu mới tại Kyoto, nay đổi thành Viện nghiên cứu vật lý lý thuyết Yukawa. Cũng trong năm đó, ông và Tomonaga tổ chức hội thảo quốc tế về vật lý lý thuyết tại Tokyo và Kyoto.  Ngọc Tú lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những thực vật không hữu ích cho con người đang dần tuyệt chủng      Các nhà nghiên cứu đã phân loại hơn 80.000 loài thực vật trên toàn cầu và nhận thấy hầu hết chúng sẽ rơi vào cảnh tuyệt chủng vì con người không cần chúng.      Một ví dụ tiêu biểu về loài thực vật “thua cuộc” không hữu ích với con người là Araucaria muelleri, một loài thực vật hạt trần đặc hữu ở New Caledonian. Ảnh: The Guardian  Điều này có nghĩa là các quần thể thực vật trong tương lai sẽ đồng nhất hơn nhiều so với hiện nay, theo bài báo mới công bố trên tạp chí Plants, People, Planet.   “Chúng tôi đang xác định số lượng các loài vượt qua được nút thắt cổ chai của kỷ Nhân sinh (Anthropocene)”, John Kress, nhà thực vật học, Phó chủ tịch khoa học ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Smithsonian (Hoa Kỳ) và là tác giả đứng đầu bài báo cho biết. “Đó không phải là tương lai, sự tắc nghẽn này đang xảy ra ngay bây giờ”.   Các nhà nghiên cứu tại Viện Smithsonian đã tiến hành phân loại chính xác những loài thực vật chịu nhiều ảnh hưởng của con người nhất kể từ khi bắt đầu kỷ Nhân sinh – kỷ nguyên địa chất đánh dấu tác động sâu sắc của con người lên Trái đất, góp phần gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu, phá rừng và các hệ quả tiêu cực khác do quá trình công nghiệp hóa.   Họ đã phân tích dữ liệu về 86.592 loài thực vật có mạch, thu thập thông tin từ các cơ sở dữ liệu quốc tế về việc sử dụng các loài thực vật này: có loài là cây trồng quan trọng về kinh tế đối với con người, hoặc là cỏ dại xâm lấn, có loài nguy cấp cần bảo vệ và loài quý hiếm bị buôn bán bất hợp pháp.   Sau đó, họ đã phân loại các loài thực vật thành tám nhóm dựa trên sự phát triển của chúng trong hiện tại và trong tương lai. Các nhà khoa học kết luận rằng thay vì được hỗ trợ, nhiều loài thực vật sẽ bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng do hoạt động của con người.   Cụ thể, có 6749 loài thực vật hữu ích với con người nằm trong số kẻ “chiến thắng”, gồm ngô, lúa, lúa mì và các loại cây trồng khác – bao phủ 40% bề mặt hành tinh. Ngoài ra còn có một số loài thực vật khác đã tuyệt chủng trong tự nhiên nhưng vẫn tồn tại ở các thành phố, chẳng hạn như cây bạch quả được trồng trên mọi dãy phố ở New York. Có 164 loài “chiến thắng” nhưng không hữu ích với con người, chủ yếu là các loài xâm lấn như sắn dây (kudzu), còn được gọi là “cây nho ăn thịt miền Nam”.  Khoảng 20.290 loài thực vật bị xếp vào hàng “thua cuộc”, chủ yếu do chúng không hữu ích với con người, và đã được công nhận là loài có nguy cơ tuyệt chủng – chẳng hạn như cây mộc lan ở Haiti, đã bị chặt để làm củi và không mọc ở bất kì nơi nào khác. Các loài thực vật nhỏ hơn – chẳng hạn như vạn tuế, họ bách như cây hồng sam, cây bách xù, và một họ cây lá kim cổ xưa gọi là araucariales – rất có thể sẽ biến mất hoàn toàn.   Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng xếp loại 26.002 loài có nguy cơ “thua cuộc”, 18.664 loài có tiềm năng “chiến thắng”. Hai loại cuối cùng là các loài thực vật ở vị trí trung lập và 571 loài đã tuyệt  chủng.   Như vậy, sự đa dạng sinh học của thực vật trong tương lai sẽ giảm đi rất nhiều, cũng sẽ dẫn đến mất mát đa dạng sinh học ở động vật. Điều này khiến hệ sinh thái dễ bị tổn thương hơn khi đối mặt với thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu và tác động của con người.    “Các tác giả đã sử dụng tập dữ liệu gồm 86.592 loài thực vật đại diện cho 25% thực vật có mạch trên toàn cầu”, Barnabas Daru, trợ lý giáo sư sinh học tại ĐH Texas A&M (Hoa Kỳ), người không tham gia vào nghiên cứu này, cho biết. “Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta vẫn có những khoảng trống kiến thức lớn, đặc biệt là ở một số khu vực đa dạng về thực vật nhất thế giới nhưng lại được lấy mẫu kém nhất như Nam Mỹ, châu Phi và Đông Nam Á”.   Nếu chúng ta đủ nỗ lực, bất kì loài thực vật nào cũng có thể thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng, bằng cách lưu mẫu sống, ngân hàng hạt giống hoặc bảo quản mô đông lạnh – theo Richard Corlett, giáo sư tại Vườn thực vật nhiệt đới Xishuangbanna (Trung Quốc), người không tham gia nghiên cứu.□   Thanh An dịch  https://www.theguardian.com/environment/2022/mar/10/plants-humans-dont-need-extinction-biodiversity-study    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những “Thung lũng Silicon” trên thế giới      Khái niệm “Thung lũng Silicon” có thể được hiểu là nơi nuôi dưỡng khả năng đổi mới công nghệ, ươm tạo phát minh, tạo ra những sản phẩm công nghệ và có khả năng liên kết dễ dàng với những “Thung lũng Silicon” khác để trở thành một hệ thống thực sự cho những ý tưởng được hưng thịnh, hình thành môi trường kinh doanh năng động và nhạy bén. Những yếu tố cơ bản để hình thành nên một “Thung lũng Silicon” là: phải có một nguồn nhân lực chất xám cao; xây dựng trên một địa điểm lý tưởng; có các trường đại học hoặc trung tâm nghiên cứu tạo nguồn nhân lực và phát minh công nghệ mới; và một yếu tố không thể thiếu là tiền bạc.  Ngày nay, mô hình “Thung lũng Silicon” đang được nhân rộng trên phạm vi toàn cầu. Rất nhiều quốc gia đều mong muốn có được một “Thung lũng Silicon” cho riêng mình.    Bangalore-Thung lũng Silicon thứ hai thế giới  Bangalore được coi là trung tâm công nghệ của Ấn Độ và được ghi nhận là thành phố dẫn đầu thế giới về đổi mới công nghệ, vượt trên cả nhiều thành phố của Mỹ, Nhật và Đông Nam Á. Nơi đây đã trở thành ngôi nhà của nhiều công ty đa quốc gia và công ty Ấn Độ. Vậy điều gì đã làm cho Bangalore được coi là “Thung lũng Silicon” thứ hai thế giới? Đó chính là công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm. Theo đánh giá, thành phố công nghệ này đóng góp khoảng 36% trong tổng xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ.                     Với nguồn tài nguyên nhân lực khổng lồ, nhiều công ty đa quốc gia đổ xô về đây xây dựng đại bản doanh của mình, tiến hành hàng loạt các hoạt động R&D. Không chỉ có những “ông lớn” như IBM, Microsoft, Intel, HP, EMC, Google, Trilogy, Cisco, Dell, Yahoo, NetApp, Covansys, Sun, Adobe…mà cả những công ty của Ấn Độ như TCS, Infosys, Wipro cũng xúc tiến xây dựng những trung tâm R&D.  Khoảng 250 công ty đa quốc gia công nghệ cao và 1500 công ty phần mềm đóng đô ở Bangalore đã thu hút một lượng lớn tài năng Ấn Độ với điều kiện làm việc và mức lương hấp dẫn. Ngày càng nhiều những tài năng công nghệ thông tin của Ấn Độ ở khắp nơi trên thế giới trở về Bangalore làm việc. Ước đoán, có khoảng 40% tài năng công nghệ thông tin Ấn Độ tập trung ở trung tâm công nghệ này.  Công nghệ thông tin luôn là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất Ấn Độ và đã góp phần tăng tốc nền kinh tế quốc gia. Nguyên Thủ tướng Ấn Độ A.B.Vajpayee từng tuyên bố “Ấn Độ sẽ trở thành siêu cường về công nghệ thông tin và đi đầu trong kỷ nguyên công nghệ thông tin”. Chính vì vậy, ngay từ ban đầu, chính phủ Ấn Độ đã đầu tư xây dựng những trung tâm đào tạo và nghiên cứu về công nghệ thông tin để cung cấp nguồn nhân lực, đồng thời thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đến đóng đô ở đây. Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) đã xếp Bangalore vào một trong bốn trung tâm công nghệ tốt nhất thế giới.  Z-Park-Trung tâm kinh tế tri thức của Trung Quốc  Z-Park (Zhongguancun Science Park) được mệnh danh là Công viên khoa học Stanford của Trung Quốc. Cũng giống như Thung lũng Silicon của Mỹ, Z-Park là sản phẩm của sự phát triển nền kinh tế thị trường. Chính phủ Trung Quốc coi đây như là một nơi thử nghiệm sự tự do hóa nền kinh tế quốc gia, và tạo môi trường thuận lợi cho triển khai những dự án mạo hiểm công nghệ cao. Z-Park là khu công nghệ cao lớn và lâu đời nhất trong tổng số 53 khu công nghệ cao quốc gia của Trung Quốc. Thực tế, đây là một khu liên hợp gồm 7 công viên và bao phủ hơn 100 km2. Ngày nay, Z-Park là đại bản doanh của hơn 18,000 công ty, trong đó có hơn 15,000 công ty nước ngoài. Có thể thấy những công ty máy tính hàng đầu của Trung Quốc như Founder, Legent cũng như nhiều tập đoàn nước ngoài như Microsoft, Siemens, NEC, Goolge, Adobe…đang hiện diện ở đây.  Ngay kề Z-Park là những viện nghiên cứu và trường đại học danh tiếng như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh và Viện Khoa học Quốc gia Trung Quốc. Trong khuôn viên của khu công nghệ cao này, những tòa nhà mới được xây dựng với phương tiện nghiên cứu hiện đại sẽ hình thành nên vườn ươm công nghệ hàng đầu thế giới.  Những tập đoàn đa quốc gia và những công ty đại lục đã tiến hành xây dựng hàng loạt trung tâm R&D biến Z-Park trở thành trung tâm kinh tế tri thức số một của Trung Quốc. Các hoạt động R&D trong nhiều lĩnh vực đã và đang tạo ra những công nghệ mới và sản phẩm cung cấp cho thị trường toàn cầu. Năm 2006, tổng thu nhập của Z-Park đạt 85.75 tỷ USD và xuất khẩu đạt 12.6 tỷ USD. Tính từ tháng 1 đến tháng 11 năm trước, chỉ tính riêng lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin đạt tổng thu nhập 45 tỷ USD.  Trong tương lai, khu công nghệ cao này đang hướng tới trở thành công viên khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới.  Dublin-Công viên công nghệ của châu Âu  Dublin được coi là trái tim kinh tế của Ireland và viên ngọc của châu Âu. Ngày nay, thành phố này không chỉ là trung tâm tài chính, thương mại mà còn là đại bản doanh của công nghiệp công nghệ cao. Chính điều này đã làm cho Ireland vươn lên trở thành nước xuất khẩu phần mềm lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Thế giới đã biết đến quốc gia này như là “Thung lũng silicon” của châu Âu.  Trong khi rất nhiều công ty đang chuyển ra ngoài lãnh thổ châu Âu, thì ngược lại, cũng có nhiều “ông lớn” chuyển đến đóng đô ở Dublin như Intel, Google, Yahoo, eBay, Amazon…và tạo cho Ireland nhiều dấu ấn đặc sắc của công nghệ cao. Đây là một nơi vừa mới mẻ nhưng đầy hấp dẫn đối với những công ty đa quốc gia, 7 trong số 10 công ty công nghệ lớn nhất thế giới đã hiện diện ở đây. Có hơn 1000 công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Ireland, trong đó khoảng một nửa là các công ty Mỹ, và khoảng một phần ba số công ty tiến hành R&D. Hiện tại cũng có khoảng 210 công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực IC ở Ireland thu hút khoảng 100,000 lao động.  Phần lớn các công ty đa quốc gia sử dụng Ireland như là cơ sở ở châu Âu của họ. Chính điều này đã giúp ngành công nghiệp công nghệ thông tin ở đây tăng trưởng nhanh chóng. Hiện tại, Intel là nhà sử dụng lao động tư nhân lớn nhất ở Ireland với 5500 nhân viên. Google cũng chọn Dublin là cơ quan đầu não của họ ở châu Âu và đây cũng là hoạt động lớn nhất của tập đoàn này bên ngoài nước Mỹ với đội ngũ nhân viên đến từ hơn 40 nước.  Dublin đang hưng thịnh và đầy kiêu hãnh về tốc độ tăng trưởng trong xuất khẩu và GDP lớn hơn bất cứ một quốc gia châu Âu nào khác. Lượng vốn đầu tư mạo hiểm lên đến 0.04% GDP của nước này. Dublin tiếp tục tỏa sáng và tự tin để biến Ireland trở thành “Thung lũng Silicon” của châu Âu.  Công viên khoa học Hsinchu-“Thung lũng Silicon” của Đài Loan  Thường được ví von là “thành phố của gió” và nổi tiếng với những đặc sản như thịt băm viên và mì gạo, Hsinchu nổi nên mạnh mẽ với Công viên Khoa học Hsinchu (HSP)-“Thung lũng Silicon” của Đài Loan. Công viên khoa học này được xây dựng vào năm 1980, bao phủ 1100 ha và ngày nay trở thành ngôi nhà lớn của gần 400 công ty công nghệ cao. Những lĩnh vực tập trung chủ yếu ở HSP bao gồm bán dẫn, máy tính, viễn thông và công nghiệp quang điện tử. Ngoài ra, nơi đây còn là trụ sở của nhiều công ty công nghệ sinh học và y dược. Lân cận công viên này bao gồm những viện nghiên cứu và trường đại học thanh thế như Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI), Đại học Quốc gia Thanh Hoa, Đại học Quốc gia Chiao Tung là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho công viên khoa học.  Ngày nay, HSP được coi là một trong những địa điểm quan trọng nhất thế giới trong lĩnh vực chế tạo các linh kiện bán dẫn, và là ngôi nhà của hai nhà sáng lập ngành bán dẫn đứng đầu thế giới là TSMC và UMC. Những công ty như PS và ASE đang tạo ra những tiến triển lớn lao trong việc sản xuất ra những chip điện tử dùng trong máy tính, điện thoại di động và tự tin chiếm lĩnh thị trường bán dẫn thế giới trị giá 227 tỷ USD. Nhiều tập đoàn lớn như IBM, Dell, Compad, Texas Instrument đang là những khách hàng đặt mua những sản phẩm công nghệ thông tin của Đài Loan.  Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của HSP đạt 6.49%. Xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm nay đã lên đến 8.85 tỷ USD. Với những thành quả đạt được, HSP đã đóng một vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế của Đài Loan hơn 20 năm qua và trở thành mô hình công viên khoa học kiểu mẫu toàn cầu.  Tham khảo: http://www.businessweek.com                http://www.digitaljournal.com  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những tia năng lượng từ lỗ đen      Một cách nghịch lý, các lỗ đen – những vật thể kì bí của vũ trụ, thường nuốt ánh sáng và vật chất nhưng lại phun ra ánh sáng và vật chất với sức mạnh vô song. Lần đầu tiên các nhà vật lý giải thích được hiện tượng này.      Hiện tượng lỗ đen phóng các chùm tia được ghi đo tại trung tâm thiên hà M87, ánh sáng phun ra bị phân cực mạnh (polarized) (xem hình 1).    Những lỗ đen siêu nặng phun ra những tia năng lượng (plasma nóng), truyền năng lượng vào những chùm tia mỏng này khiến chúng kéo dài hàng ngàn năm ánh sáng xuyên qua vũ trụ. Điều này có vẻ kì lạ, khác xa với những hành xử thông thường của lỗ đen: do lực hấp dẫn của chúng rất lớn nên chúng “bẫy” được cả ánh sáng, như thể bao trùm lên đó tấm áo tàng hình. Việc tại sao các tia vẫn có thể thoát ra khỏi rìa của nhiều lỗ đen là điều rất khó hiểu. Một trong những bí ấn lớn nhất của vũ trụ là các lỗ đen phóng các chùm tia như thế nào, Sara Issaoun (Đại học Radboud) đã phát biểu như vậy.     Hai mô hình cho tia lỗ đen (jet)     Từ trước đến nay, người ta thường dùng hai mô hình để miêu tả hiện tượng này. Đó là MAD (magnetically arrested disks – đĩa từ dừng) và SANE (stable and normal evolution-tiến triển ổn định và bình thường).     Các dữ liệu hiện tại nghiêng về mô hình MAD. Alexander Chen, nhà thiên văn lý thuyết Đại học Colorado, M, đã phát biểu như vậy.    Chúng ta biết rằng, tại trung tâm mỗi thiên hà đều có một lỗ đen siêu nặng. Khối lượng của những siêu lỗ đen này gấp cả triệu đến tỷ lần khối lượng mặt trời, do đó những tia chúng phun ra đêu mang năng lượng cực lớn. Đây là một quá trình với năng lượng lớn nhất trong vũ trụ mà các nhà vật lý biết được.  Theo quy luật, với hấp dẫn cực lớn, các lỗ đen tại tâm các thiên hà thường cuốn hút nhiều vật chất. Các dòng khí cũng bị cuốn hút vào lỗ đen, chúng quay quanh lỗ đen và tạo nên một đĩa bồi (accreation disk). Các lực hấp dẫn và ma sát khiến cái đĩa khí này bị nóng lên đến mức nguyên tử mất electron và trở thành một plasma mang từ trường.     Từ trường trong chuyển động tạo nên một voltage và làm cho một dòng chảy các electron và positron sẽ bắt đầu bị phun thành hai tia ra khỏi lỗ đen theo hai hướng. Đó chính là các tia năng lượng mà chúng ta đang nói đến (Blandford &Znajek).    Có một cách thứ hai là dùng mô hình SANE, với từ trường yếu hơn và xoáy trong đĩa bồi, để mô tả các chùm tia lỗ đen.       Trên hình 2 ta có nội vùng lỗ đen. Một lỗ đen quay, hút vật chất và tạo nên đĩa bồi gồm các hạt mang điện tích. Điều này tạo nên những từ trường xoắn (twisted) làm gia tốc các hạt thành hai tia (jet).     Mô hình nào phù hợp để mô tả tia lỗ đen?     Ở đây, chúng ta có thể nhắc đến nhóm hợp tác Kính thiên văn chân trời sự kiện (EHT), những người đã chụp được ảnh lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm thiên hà M87 vào ngày 10/4/2019 – một cấu trúc hình tròn sáng với một vùng đen ở trung tâm, hay bóng của lỗ đen (lỗ đen này có kích thước tương đương với cả hệ mặt trời của chúng ta). Kể từ đó, nhóm EHT đã tìm kiếm sâu hơn vào dữ liệu về vật thể siêu khối lượng được thu thập kể từ năm 2017. Và họ đã khám phá ra, đường tròn ánh sáng bao quanh lỗ đen ở thiên hà M87 trong bức ảnh mới có những đường sọc – hiển thị ánh sáng bị phân cực rất mạnh bị phân cực. Mẫu hình xoắn ốc của các đường xoắn là kết quả của một từ trường rất mạnh quanh lỗ đen ở trung tâm thiên hà M87. Điểm mấu chốt nằm ở chỗ này.     Đây là lần đầu tiên các nhà vật lý có thể đo đạc được sự phân cực, một dấu hiệu của từ trường, ở  gần với rìa của một lỗ đen. Nó là miếng ghép tiếp theo của bằng chứng để hiểu cách từ trường hành xử quanh các lỗ đen, và cách hoạt động trong vùng vô cùng đậm đặc của vũ trụ có thể truyền các chùm tia năng lượng kéo dài khắp thiên hà này, Monika Mościbrodzka, người điều phối Nhóm làm việc Đo phân cực EHT, đánh giá.    Các chùm tia của năng lượng và vật chất xuất hiện ở lõi thiên hà M87 và trải rộng ít nhất 5.000 năm ánh sáng. Các quan sát cho thấy từ trường tại rìa lỗ đen đủ mạnh để đẩy ngược vào khí nóng và khiến nó chống lại được lực hấp dẫn. Chỉ có khí thoát qua trường này mới có thể làm xoắn vào chân trời sự kiện, theo Jason Dexter, người điều phối Nhóm làm việc về lý thuyết EHT. Vì vậy, các mô hình lý thuyết mô tả khí từ hóa mới có thể giải thích những gì xuất hiện ở chân trời sự kiện.     Do đó, việc dùng mô hình SANE (từ trường yếu hơn và xoáy trong đĩa bồi) để mô tả các chùm tia lỗ đen chưa thực sự thích hợp. Các chùm tia thú vị này sẽ phù hợp hơn với mô hình MAD (từ trường mạnh và kết hợp-coherent). Alexander Chen (Đại học Colorado) đã phát biểu như vậy (xem hình 2).     Kết luận      Như vậy, một trong hiện tượng bí ẩn nhất của vũ trụ: các tia (jet) năng lượng lớn có kích thước nhiều ngàn năm ánh sáng xuyên qua vũ trụ từ những lỗ đen siêu nặng đã được giải thích.□     TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] Natalie Wolchover  Physicists Identify the Engine Powering Black Hole Energy Beams  https://www.quantamagazine.org/physicists-identify-the-engine-powering-black-hole-energy-beams-20210520/  https://d2r55xnwy6nx47.cloudfront.net/uploads/2021/05/Blackhole_jets_MOBILE_v1.svg  [2] Cao Chi, Vật lý hiện đại, Những vấn đề thời sự từ Big Bounce đến vũ trụ toàn ảnh, NXB Tri Thức 2011.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Những tinh thể băng sắt điện và sự tiến hoá hành tinh      Nhiều loại vật chất dạng băng đã được tìm thấy trong những vùng lạnh giá của dải Ngân Hà, từ những đám mây sao đến các sao chổi, các mặt trăng và các hành tinh. Nhưng có một loại vật chất đặc biệt hiếm, đó là các tinh thể “sắt điện”, chúng được tinh thể hoá hoàn hảo đến mức có thể duy trì được một điện trường khổng lồ – chưa từng được phát hiện.    Tuy nhiên, theo những bằng chứng từ một nghiên cứu gần đây, loại tinh thể sắt điện này (còn được gọi là loại băng XI) thực sự tồn tại. Nghiên cứu do các nhà khoa học Mỹ và Nhật thực hiện nay đã tìm ra một khoảng nhỏ nhiệt độ để loại băng “thông thường” có thể chuyển thành loại băng XI trong tự nhiên. Nghiên cứu này do Hiroshi Fukazawa, một nhà khoa học ở Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản dẫn đầu.  Loại băng thông thường, tạo nên tất cả các loại băng tuyết trên Trái Đất, được gọi là “băng lh”. Trong đó chữ “h” là chỉ “hexagonal” (lục giác), hình dạng của tinh thể phân tử. Trong loại lh, các liên kết giữa những nguyên tử hydro và oxy được định hướng tùy ý khiến tinh thể trở nên khá hỗn độn. Tuy nhiên, ở nhiệt độ thấp, các liên kết bắt đầu xếp theo cùng một hướng và áp suất cao có thể tăng cường sự trật tự hoá này. Kết quả là những điện trường rất nhỏ của các phân tử nước được kết hợp lại để tạo ra một trường lớn.  “Liệu loại băng điện có thể tồn tại ở một dạng bền tại nhiệt độ thấp hay không vẫn là một câu hỏi làm băn khoăn các nhà nghiên cứu,” Jaime Fernandez-Baca (một thành viên của nhóm nghiên cứu) nói. “Người ta đã đề xuất rằng, những điện trường tự phát khổng lồ được tạo ra bởi loại băng này có thể đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành hành tinh”  Fukazawa nói thêm: “Loại băng sắt điện có thể đóng một vai trò quan trọng trong tiến hoá hoá học, bao gồm cả sự hình thành các vật liệu hữu cơ tiền sinh học trong vũ trụ.”  Cấu trúc của chúng là bền trong khoảng nhiệt độ hẹp: 57-66 K. “Đây là khoảng nhiệt độ ở bề mặt các thiên thể nằm xa Mặt trời: Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương, các vệ tinh và vành đai của chúng và kể cả các vành đai và một số mặt trăng của Thổ Tinh,” Fernandez-Baca nói.  “Nếu không thêm vào tạp chất, sẽ mất 10.000 năm để băng thường chuyển thành băng XI”, ông bổ sung. “Mặc dù khoảng thời gian này là lâu hơn nhiều so với khoảng thời gian trong phòng thí nghiệm, nhưng nó không quá lâu trong thang thời gian thiên văn”.  Theo H. Fukazawa, A. Hoshikawa, Y. Ishii, B.C. Chakoumakos, and J.A. Fernandez-Baca, “Existence of Ferroelectric Ice in the Universe.” The Astrophysical Journal, Vol. 652, L57-L60 (2006)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những triển vọng mới cho công nghiệp robot của Nhật Bản.      Công nghiệp robot của Nhật Bản được dự đoán là sẽ vượt quá 6 nghìn tỷ Yên vào năm 2025. Trước nhu cầu ngày càng tăng về robot, các nhà sản xuất Nhật Bản đang củng cố sức cạnh tranh của họ trong nền công nghiệp này. Và họ đã tạo nên những bước tiến quan trọng trong ứng dụng thực tiễn. Cũng giống như công nghiệp ôtô hay công nghiệp điện tử truyền thống, công nghiệp robot của người Nhật đã bắt đầu phát triển hình thức liên doanh hoá và mở rộng hợp tác quốc tế.    Bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 1960, sang những năm 1970, công nghiệp robot của Nhật đã phát triển được một số lớn các ứng dụng thực tiễn. Năm 1980 được xem là xuất phát điểm thương mại của các robot công nghệ cao. Đến cuối 2004, đã có 356.500 robot công nghiệp được vận hành ở Nhật, đó là con số lớn nhất thế giới. Mỹ đứng thứ hai ở khoảng cách xa: 122.000. Chính phủ Nhật đã coi robot là một công nghiệp then chốt cho sự phát triển, theo một báo cáo tháng 4/2004, họ đã đặt mục tiêu tăng giá trị ngành công nghiệp này lên 1,8 nghìn tỷ Yên vào năm 2010 và 6,2 nghìn tỷ Yên vào năm 2020.  Chìa khóa là những phần mềm vượt trội (killer-application)  Nền công nghiệp robot cũng bao gồm cả các robot dịch vụ phi công nghiệp, đó là một lĩnh vực mà Nhật Bản đã đi sau Châu Âu và Bắc Mỹ. Theo những phân tích tổng hợp của các chuyên gia robot công nghiệp, được ghi nhận bởi Hiệp hội Robot Nhật Bản (JRA), Nhật Bản có sức cạnh tranh trong ba lĩnh vực chính sau: các robot công nghiệp, các robot xây dựng/cơ khí kỹ thuật và các robot phục vụ giải trí. Các robot phương Tây mạnh trong các lĩnh vực: không gian vũ trụ, năng lượng hạt nhân, giải trí, ứng dụng hải dương, khám phá, chăm sóc sức khỏe và nông nghiệp.  Giám đốc JRA, Shigeaki Yanai giải thích: “Đối với điều trị y học, năng lượng hạt nhân và một số thị trường khác, sự thay thế hàng năm là không cần thiết. Những sản phẩm này có tính cá biệt cao và nằm trong những mô hình đặt-làm dành cho những thị trường nhỏ. Nhật Bản không mạnh trong lĩnh vực này. Chúng tôi có công nghệ tốt, nhưng chúng tôi thua về phần mềm và mạng lưới chuyển giao bí quyết sản xuất”.  Loại robot dịch vụ rõ ràng là khác với loại dùng trong công nghiệp ở nhiều chỗ. Chúng có độ linh động cao, hiếm khi được dùng trong các công việc lặp đi lặp lại và đang trở nên ngày càng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. An toàn là một yêu cầu thiết yếu đối với các robot có tương tác với con người. Thêm vào đó, với trình độ như hiện nay, sự khác biệt giữa con người và robot vẫn còn lớn. Chẳng hạn như, lên xuống cầu thang là chuyện đơn giản đối với con người nhưng lại là vấn đề cực kỳ khó đối với robot. Tương tự như vậy, trong khi các robot có khả năng lặp đi lặp lại một cách chính xác thì chúng cũng chỉ có những năng lực xử lý bị giới hạn.  Ở điểm này, Dai Akimoto, giám đốc một công ty phát triển robot của Nhật tin rằng, việc gia tăng sức mạnh của những ứng dụng sẽ là chìa khóa cho thành công. “Ở Nhật Bản, người ta tập trung vào thiết kế phần cứng với xu hướng để các công ty tạo ra các robot với những cấu hình khác nhau. Tuy nhiên, nếu phần mềm ứng dụng mà không đạt được độ chính xác mong muốn thì khi đó bạn sẽ có một robot được chế tạo với một cấu hình đặc trưng chứ không phải một phần mềm đặc trưng. Đối với những thế hệ robot tiếp theo, chúng ta cần suy nghĩ nhiều hơn là chỉ theo những phần đặc trưng.”  Một minh họa cho điều này, Nhật Bản đang là nước dẫn đầu thế giới trong việc phát triển những robot dạng người, robot “Asimo” của công ty Honda chẳng hạn. Tuy nhiên, các robot đầy lôi cuốn này vẫn còn là mơ hồ, ít nhất là theo những gì mà thực tế chúng làm được. Yanai ủng hộ quan điểm là, để mở rộng thị trường các robot dịch vụ thì những ứng dụng phần mềm vượt trội là cần thiết để kích thích nhu cầu.  Những robot phẫu thuật được phát triển cùng với Mỹ  Một số công ty đang rất hăm hở thương mại hóa các robot. Một ví dụ là nhà sản xuất thiết bị quang học Olympus. Cùng với Liên hiệp Phẫu thuật Trực giác (IS) của Mỹ, Olympus đã từng phát triển những thiết bị siêu âm đầu tiên trên thế giới dùng trong phẫu thuật nội soi.  “Khoảng sáu năm trước, chúng tôi đã phát triển một loại robot phẫu thuật và đã mô tả nó trong một hội nghị hàn lâm. Mặc dù loại robot đó đã không được thương mại hoá nhưng chương trình với IS đã được tiếp tục ngay sau khi họ muốn đem công nghệ của chúng tôi ra sử dụng”. Shuichi Takayama, trưởng nhóm hoạch định chính sách Nghiên cứu và Phát triển (R&D) của Olympus nói.  Olympus cũng tham gia phát triển các thiết bị y tế mới để làm tăng tính cạnh tranh quốc tế của nền công nghiệp thiết bị y tế Nhật Bản. Mục tiêu của họ là phát triển những dụng cụ phẫu ngày càng nhỏ, kết hợp với những robot tinh xảo và công nghệ hình ảnh. Việc áp dụng robot trong phẫu thuật nội soi đang là xu hướng rất được quan tâm. Sự chính xác của các robot có thể làm giảm những nguy hiểm đối với cơ thể và cũng giảm gánh nặng đối với các bác sỹ phẫu thuật.  Akira Suzuki, giám đốc tập đoàn Y tế Olympus nói: “Trong thực tiễn, đôi khi nhà phẫu thuật muốn chuyển nhanh từ chế độ robot sang phẫu thuật khoang bụng truyền thống, nhưng điều này có thể dẫn đến các vấn đề. Chẳng hạn như, vì các robot hiện nay có kích thước lớn nên khó có thể chuyển sang làm bằng tay nhanh chóng được, đây là vấn đề lớn cần được giải quyết. Hy vọng rằng, trong tương lai, các robot có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong phòng phẫu thuật”.  Một nhược điểm khác của các robot là, chúng không có khả năng truyền những tín hiệu xúc giác  khi chúng chạm vào vùng bị ảnh hưởng. Thêm vào đó, những tiêu chuẩn cho thiết bị y tế của chính phủ Nhật Bản là khá khắt khe, đây là một vấn đề khác cần phải vượt qua trong việc thương mại hóa các robot phẫu thuật.          Những robot hình nộm độc nhất vô nhị        Nguyên mẫu của robot hình nộm Palette  Công ty SGI Nhật Bản cũng đang phát triển những ứng dụng mới với các robot, chẳng hạn như loại robot hình nộm được gọi là Palette. Được phát triển với sự tham gia của nhà thiết kế robot Tatsuya Matsui, Palette sử dụng công nghệ tóm bắt chuyển động, ghi nhớ hàng chục động thái của con người, những động thái này có thể được lấy theo các siêu mẫu thời trang. Loại robot này cũng có những cảm biến để phát hiện và phản ứng đối với con người. Palette cũng được trang bị khả năng phát hiện số người đi vào một cửa hàng và thậm chí cả chuyển động của họ. Như vậy, nó sẽ có ích cho các mục đích an ninh và bán hàng.  “…Vì chế tạo các sản phẩm theo nhu cầu thị trường nên chúng tôi tin tưởng vào những gì chúng tôi có thể làm. Chúng tôi đã có một vài kế hoạch đầu tư, sản xuất hàng loạt, tiếp thị, bán hàng và những hoạt động khác. Những sản phẩm của chúng tôi đang tìm kiếm những đánh giá cao hơn ở châu Âu…”, Akimoto, giám đốc SGI Nhật Bản nói.  SGI Nhật Bản cũng đã triển một dạng cơ sở phần cứng có tên là “BlackShip” để hỗ trợ cho sự phát triển robot. Với dạng cơ sở phần cứng sẵn có này, SGI hy vọng các nhà nghiên cứu robot sẽ có thể tập trung vào việc phát triển ứng dụng và những chủ đề nghiên cứu thiết yếu khác mà không mát thời gian vào những phần cứng và phần mềm cơ bản.  Công nghiệp đa thành phần  Trong lĩnh vực robot dịch vụ, Nhật Bản cũng có những điểm mạnh để cạnh tranh với phương Tây. Một báo cáo của Nhật đã coi nền công nghiệp robot là một hệ thống liên kết chặt chẽ các công nghệ như: cơ khí chế tạo máy, điện tử, thông tin, vật liệu và các công nghệ khác. Trong quá trình liên kết các công nghệ như vậy, Nhật Bản đã phát triển một dạng công nghiệp đa thành phần, nhằm tận dụng những lợi thế của nhiều lĩnh vực khác nhau.  Các bộ Kinh tế, Thương mại, Công nghiệp của Nhật Bản đang cùng nhau xúc tiến Chương trình Robot thế kỷ 21. Họ có chiến lược phát triển tự động hoá như một công nghiệp đi đầu bằng việc hỗ trợ R&D cho các hệ robot hiện có. Những hoạt động hiện nay có thể kể đến là việc phát triển một hệ phần cứng và phần mềm cơ sở cũng như những ứng dụng thực tiễn cho các thế hệ robot tiếp theo. Theo một nghiên cứu của JRA, hiện nay có khoảng 130 nhà sản xuất robot Nhật Bản với trình độ cao và uy tín lớn.  Rõ ràng là nền công nghiệp robot của Nhật Bản đang có xu hướng phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên, để tiếp tục có được những thành công lớn hơn, nền công nghiệp này cần tận dụng mạnh hơn những lợi thế hiện có cũng như xúc tiến mạnh hơn nữa sự liên kết quốc tế để tương thích với hệ thống sản phẩm công nghệ của thế giới.           T.D.T.N (theo JETRO Japan Economic Monthly)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những ước mơ của nhà khoa học trẻ      Được nhiều trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm lớn về công nghệ sinh học của Mỹ đón nhận sau khi hoàn thành chương trình sau tiến sỹ tại Viện KH&amp;CN tiên tiến Beckman, ĐH Illinois, nhưng PGS. TS Lê Thị Lý vẫn chọn con đường trở về “để có thể làm được điều gì đó ngay tại đất nước mình”.  &#160;      Ở thời điểm đó, không ít bạn bè, đồng nghiệp nghi ngờ quyết tâm “làm được điều gì đó” của chị, bởi việc duy trì được hướng nghiên cứu về thiết kế dược phẩm, một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ trong điều kiện nghiên cứu không có nhiều thuận lợi như Việt Nam không phải là chuyện dễ. Kinh phí thực hiện đề tài, trang thiết bị phòng thí nghiệm, nhân lực thực hiện, cơ chế quản lý…, những yếu tố mà một nhà nghiên cứu ở Mỹ ít phải bận tâm tới, sẽ là vấn đề nan giải mà Lý phải đối mặt hàng ngày khi về Việt Nam.   Vượt qua những điều đó, dù không ít chật vật, chỉ chừng năm năm sau khi về nước, Lê Thị Lý đã và gây dựng được một nhóm nghiên cứu khá mạnh về tin sinh học tại Khoa Công nghệ sinh học, ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM) và cùng các cộng sự của mình thực hiện được những đề tài nghiên cứu về tiến hóa của virus cúm A và các họ protein liên quan đến bệnh đái tháo đường loại II cho định hướng phát triển thuốc. Đến nay, chị đã có trong tay hơn 30 công bố quốc tế trên các tạp chí Plos Computational Biology, PloSONE, Biology Direct, Medicinal Chemistry Research, Molecules…, đồng thời được một số tạp chí có uy tín như Nature mời phản biện và  Current Pharmaceutical Design mời làm biên tập viên cho những công trình cùng lĩnh vực nghiên cứu.   Khi đề cập những hoạt động nghiên cứu khoa học của mình, PGS. TS Lý cho biết, một trong những đề tài mà chị dành nhiều công sức và tâm huyết nhất là hai đề tài liên quan đến “Nghiên cứu và phát triển thuốc trị bệnh cúm A” do Quỹ NAFOSTED tài trợ. Thực hiện nghiên cứu vào thời điểm dịch cúm A đang bùng phát, Lê Thị Lý đã phát hiện được những đặc trưng về cấu trúc và tiến hóa của các biến chứng H1N1, H5N1, H7N9 và H3N2 cho định hướng phát triển thuốc và vaccine. Kết quả nghiên cứu này đã được nhiều tác giả nghiên cứu về cúm A trích dẫn.   Đạt được thành công bước đầu trong nghiên cứu nhưng điều mong mỏi của Lê Thị Lý là đưa các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tế. “Nhưng đáng tiếc là tất cả mới chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu cơ bản thôi. Muốn thương mại hóa sản phẩm, phải có rất rất nhiều kinh phí đầu tư để mở rộng nghiên cứu tiền lâm sàng, sản xuất thử nghiệm …”, PGS Lý chia sẻ.  Chị cũng cho rằng, Việt Nam có nguồn dược liệu phong phú, có đội ngũ nghiên cứu có hiểu biết về dược liệu nhưng việc nối kết giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp vẫn chưa được thông suốt nên ở thời điểm hiện nay, thế mạnh của dược liệu Việt Nam còn chưa được khai thác để có nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ người dân trong nước. “Vì lẽ đó mà trong những đề tài nghiên cứu hiện nay và trong tương lai mình và nhóm thực hiện sẽ gắn kết với doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn nữa”, Lý chia sẻ.  Qua những hoạt động nghiên cứu, PGS. TS Lê Thị Lý đã được nhiều tổ chức trong và ngoài nước biết đến. Nhờ vậy nhiều hội thảo khoa học do chị phối hợp tổ chức đã nhận được tài trợ của Quỹ nghiên cứu Hải quân Mỹ toàn cầu, Nanogen Pharmaceutical (Khu Công nghệ cao TP.HCM)… Chị quan niệm, dù chưa nhiều nhưng những hoạt động trao đổi kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu một cách nghiêm túc cũng ít nhiều thay đổi những cách nhìn nhận của giới khoa học nước ngoài về khoa học Việt Nam, nhất là các nhà khoa học trẻ.   Không chỉ tập trung vào nghiên cứu khoa học, PGS. TS Lê Thị Lý còn quan tâm đến vấn đề giáo dục đại học. Chị cho biết, trong những năm học tập ở Mỹ, chị đã suy nghĩ về cách dạy và học ở đất nước này, về tính cởi mở, thẳng thắn, bình đẳng và khuyến khích quyền cá nhân trong học tập và nghiên cứu. Chính vì vậy, chị đã vận dụng những giá trị đó vào môi trường giáo dục đại học cũng như nhóm nghiên cứu mà chị phụ trách. “Đã dạy đại học, giảng viên phải chuẩn bị tinh thần học hỏi những điều hay ở sinh viên hoặc các cộng sự của mình hơn là khư khư lối dạy áp đặt”, Lý bày tỏ quan điểm cá nhân về quan hệ giữa giảng viên và sinh viên ở môi trường đại học hiện nay.   Chính với tinh thần cởi mở và khuyến khích những quan điểm cá nhân trong quá trình làm quen với nghiên cứu khoa học, PGS. TS Lê Thị Lý đã gợi mở nhiều hướng nghiên cứu và đề tài mới mẻ để các thành viên của nhóm theo đuổi. Dưới sự hướng dẫn của chị, năm thành viên đã có những công bố trên các tạp chí ISI với tư cách là tác giả thứ nhất và được trao cơ hội nhận học bổng tiến sĩ tại các trường đại học danh tiếng thế giới như ĐH Cornell (Mỹ), ĐH Paris XI (Pháp), ĐH Melbourne (Úc), SISSAI (Ý)…, trong đó có bạn được đặc cách học tiến sỹ khi mới là cử nhân vì sở hữu nhiều bài báo ISI. Chị cho biết, niềm vui lớn của người thầy là được chứng kiến bước trưởng thành của sinh viên từng ngày. “Có nhiều trường hợp khiến tôi cũng cảm thấy xúc động như với sinh viên Nguyễn Văn Hùng. So với những bạn khác trong nhóm, em có xuất phát điểm không cao. Tôi cũng cân nhắc rất nhiều khi đồng ý cho Hùng gia nhập nhóm bởi chuyên ngành của em là vật lý, em sẽ phải nỗ lực học hỏi rất nhiều để theo kịp các thành viên của nhóm, vốn có thuận lợi vì đúng chuyên ngành tin sinh. Năm đầu tiên, tôi thấy có lúc em chới với nhưng chính sự kiên trì, niềm say mê thực sự với khoa học và ham muốn khám phá những điều mới mẻ đã giữ em ở lại với nhóm. Chỉ trong năm 2015, em đã có tới ba công bố trên các tạp chí ISI uy tín với tư cách tác giả thứ nhất, một thành tích không hề kém so với nhiều nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm”.   Qua thực tế nghiên cứu và giảng dạy, Lý mong rằng, lĩnh vực giáo dục đại học sẽ được đầu tư nhiều hơn để hướng đến một môi trường đào tạo nguồn nhân lực hiện đại cho hôm nay và tương lai. Lý và các bạn bè cùng trang lứa và những người trẻ hơn đã sẵn sàng cho sự thay đổi nếu được sự ủng hộ của các nhà quản lý. “Nếu nhà quản lý cởi mở hơn, văn hóa học tập và những kết quả tại môi trường đại học sẽ thay đổi rất nhiều. Cần có sự cân bằng giữa khối lượng giảng dạy và nghiên cứu, hãy cho giảng viên thời gian để đọc và nghiên cứu thì họ mới dạy tốt được”, Lý mơ ước.   Là một nhà khoa học trẻ, Lý còn mong muốn các cơ quan có trách nhiệm đầu tư nhiều hơn vào phòng thí nghiệm và thư viện hoạt động theo mô hình 24/7. “Chắc nhiều người sẽ cười vào ước mơ này, nhưng nếu không mở ra, làm sao biết được nhu cầu của xã hội? Muốn có một xã hội học tập, hãy biết mở rộng cửa các trung tâm thí nghiệm và thư viện suốt ngày, suốt đêm”, Lý nói.   Ngoài các hoạt động  học thuật, chị tham gia rất nhiều hoạt động tình nguyện khác liên quan điến giáo dục. Chị là điều phối viên của chương trình học bổng gLINK của châu Âu (Eramus Mundus Action II) tại khu vực châu Á (http://glink-edu.eu/), thành viên của nhóm Vietnam Book Drive… Lý mong ước nhìn thấy nhiều thư viện cộng đồng xuất hiện ở Việt Nam và tin rằng văn hóa đọc sẽ nhanh chóng nâng cao dân trí và chất lượng cuộc sống của người dân.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề của xã hội đương đại cần được trả lời      Trước đây, những nhà nghiên cứu thời kỳ đầu của KHXH&NV đã tạo dựng một nền tảng tốt nhưng trong những năm gần đây, có được bao nhiêu người ở tầm vóc đó? Họ nổi bật với những gì? Tôi sợ rằng nhìn lại thì hầu như không có nhiều dấu ấn so với các thế hệ đi trước và cũng còn đang “nợ” nhiều câu hỏi.      Trong quá trình phát triển, phải tính đến các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, vùng dân tộc thiểu số… Ảnh minh họa của UNICEF sử dụng trong bài viết cảnh báo Việt Nam là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất trên thế giới đối với biến đổi khí hậu, trẻ em và phụ nữ là nhóm đặc biệt có nguy cơ rất cao.  Điều này dường như là một nghịch lý bởi chưa bao giờ chúng ta lại đứng trước nhiều vấn đề xã hội đến vậy như vấn đề nghèo đói, bất bình đẳng xã hội, di cư lao động xen lẫn với buôn bán người, tội phạm… Hiện thực đó đòi hỏi ngành KHXH&NV không thể đứng ngoài cuộc mà cần có trách nhiệm tìm hiểu để khảo sát, lý giải vấn đề.   Lẽ ra KHXH&NV phải trả lời được hoặc chí ít là cho thấy nó đang trăn trở, dằn vặt. Nhưng gần như không thấy những công trình nghiên cứu giúp chúng ta hình dung mức độ phổ biến của những vấn đề đó, mức độ nghiêm trọng và hậu quả kinh tế – văn hoá xã hội của chúng cho hiện tại và tương lai đất nước. Còn phân tích một cách thấu đáo và lý giải nguyên nhân ư? Những nghiên cứu như vậy càng hiếm. Công bằng mà nói thì cũng có nhiều vấn đề đã được xới lên nhưng mới chỉ dừng lại ở mô tả, tìm ra được một vài mối  tương quan mà chưa chỉ ra được căn nguyên. Đó là lý do khiến KHXH&NV của Việt Nam chưa làm tròn vai trò của mình trong việc xay dựng các lý thuyết xã hội có thể được ứng dụng trong quản lý xã hội và làm nền móng cho giáo dục. Đó là lý do tại sao tôi thường nghĩ KHXH&NV đang “nợ” đất nước này.  Trong những năm gần đây có thể nhận lấy sự “khởi sắc” của một số ngành KHXH&NV của Việt Nam, khi số lượng xuất bản quốc tế tăng vọt, một số tác giả có bài được đăng trên các tạp chí danh tiếng. Đó là kết quả của việc gia tăng đầu tư cho khoa học nói chung và KHXH&NV nói riêng và “gặt hái” hoa trái từ thế hệ được đào tạo bài bản ở nước ngoài. Tuy nhiên, số lượng xuất bản quốc tế không thể là chỉ dấu quan trọng nhất cho sự trưởng thành của KHXH&NV Việt Nam, và tôi vẫn cứ muốn quay về với câu hỏi KHXH&NV Việt Nam, kể cả với số lượng xuất bản quốc tế lớn ấy sẽ đóng góp như thế nào cho việc giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay? Một câu hỏi tiếp theo, liệu các công trình KHXH&NV bấy lâu nay đã đủ sức làm nên được những mô hình lý thuyết mà từ đó Đảng và nhà nước có thể áp dụng vào việc xây dựng đường hướng phát triển, quản lý xã hội, điều chỉnh hành vi con người hay đưa ra triết lý cho giáo dục cho Việt Nam?  Nhưng việc chưa làm “tròn vai” của mình đối với xã hội hôm nay có phải là lỗi hoàn toàn ở các nhà KHXH&NV? Tôi không nghĩ là như vậy. Đã có một hai thế hệ các nhà KHXH&NV được học tập ở nước ngoài, được trang bị phương pháp luận, tiếp cận với những hệ thống lý thuyết khác nhau, nhưng tôi có cảm giác là ở Việt Nam, họ chưa phát huy được năng lực của mình. Môi trường học thuật ở Việt Nam khá nghèo nàn, không chỉ ít thảo luận về lý thuyết mà vẫn còn chưa có sự tranh luận học thuật và còn né tránh nhiều vấn đề. Ví dụ làm sao mà nghiên cứu tội phạm nếu không động chạm tới bất bình đẳng xã hội, lề hóa, tới hệ tư tưởng, tới những vấn đề thuộc cả về văn hóa truyền thống? Hoặc nghiên cứu những nhóm dễ tổn thương thì có ai dám chỉ ra tất cả những nguyên nhân thật sự là tại sao họ bị gạt ra bên lề? ai gạt họ ra? Chúng ta có chấp nhận những cách giải thích xã hội bằng các nền tảng lý thuyết khác với hệ tư tưởng, lý thuyết mà ta đang có hay không? Khoa học sẽ là gì nếu người ta cứ phải nói vòng vèo mà không chỉ trực diện vào những nguyên nhân mang tính hệ thống?  Vì đời sống xã hội vô cùng phong phú, đa dạng và uyển chuyển, nếu chỉ dùng một hệ lý thuyết để giải thích xã hội, thì lý thuyết đó có thể bất lực, không giải thích được. Khoa học xã hội muốn phát triển thì luôn phải được tranh luận, bị thách thức, nghi ngờ, cân nhắc… tránh việc luôn chỉ minh họa một chiều cho các quan điểm đã có sẵn từ trước và chỉ đi theo một lý thuyết nhất định. Nhưng thực sự là ta chưa thể làm điều ấy được.   Muốn làm được điều ấy, việc quản lý KHXH&NV cũng phải thay đổi thực trạng hiện nay là cần tạo điều kiện cởi mở hơn để các nhà nghiên cứu có thể thẳng thắn tranh luận vấn đề, để đào sâu trăn trở những căn nguyên cốt lõi. Và quan trọng không kém là các ý kiến phải được lắng nghe, phải được chấp nhận dù nó khác biệt, nếu không KHXH&NV sẽ không thể giải quyết được điều gì. Do đó, dù có những nhà nghiên cứu công bố giỏi thì chúng ta sẽ chỉ có những “kỹ sư” trong KHXH&NV, áp dụng “kỹ thuật” vào để tìm ra những tương quan này tương quan kia, nhưng không thể phân tích đến cùng được, và từ các phát hiện của mình họ cũng không xây dựng được các lý thuyết xã hội hoặc cũng không đưa ra được cách lý giải cho thật thấu đáo và sâu sắc.□    Author                Khuất Thu Hồng        
__label__tiasang Những vấn đề lớn của khoa học Trung Quốc      Nhìn vào những khó khăn, thách thức mà nền khoa học Trung Quốc đang phải đối diện như được nêu trong bài báo gần đây của Adam Minter đăng trên Bloomberg1, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam.      Bài báo của Minter mở đầu với việc chỉ ra một thực tế về khoa học Trung Quốc, đó là giống như trong rất nhiều lĩnh vực khác, quốc gia này đang tìm cách đóng vai trò hàng đầu trong khoa học thế kỷ 21 bằng vũ khí quen thuộc: tiền. Ví dụ điển hình là những sáng kiến “khoa học lớn” nhằm tăng cường uy tín quốc gia và tạo ra các công nghệ spinoff giàu tiềm năng, mà gần đây nhất là dự án máy va chạm hạt năng lượng cao lớn, dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào khoảng năm 2025, với chi phí có thể lên tới ba tỷ USD, nằm trong một khuôn viên dài tới hơn 90 km.   Những khoản đầu tư khổng lồ trên của Trung Quốc cho thấy, họ nhìn ra cơ hội nắm bắt vị trí tiên phong khoa học toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh khi tiền cho nghiên cứu cơ bản ở Mỹ và châu Âu ngày càng khó khăn. Tuy nhiên, theo Minter, nếu Trung Quốc thực sự muốn gặt hái lợi nhuận từ đầu tư choáng ngợp của mình, chính phủ cần phải làm điều gì đó căn bản hơn việc xây dựng một máy va chạm hạt cơ bản khổng lồ: Họ cần phải suy nghĩ lại về vai trò trung tâm của họ trong nghiên cứu tại Trung Quốc.  Lệch lạc trong quản lý và sự thiếu tôn trọng nhà khoa học  Minter chỉ ra mặt hạn chế của việc dùng tiền từ ngân sách nhà nước cho khoa học ở Trung Quốc, đó là các chi phí thường vượt quá lợi ích mang lại, do sự quan liêu của nền hành chính, khiến các cơ sở khoa học Trung Quốc từ lâu phải chịu đựng tình trạng lợi dụng quen biết, tham nhũng và gian lận tràn lan. Chúng không chỉ làm hỏng uy tín học thuật của đất nước, quan trọng hơn, còn góp phần thúc đẩy tình trạng chảy máu chất xám đang diễn ra mà không có sự hào phóng tài chính nào của chính phủ có thể ngăn chặn. Mặc dù mối quan hệ giữa khoa học và nhà nước được chính trị hóa và trở nên phức tạp ở mọi quốc gia, Mỹ cũng không phải ngoại lệ, nhưng hệ thống quản lý kiểu từ trên xuống của Trung Quốc càng làm trầm trọng thêm vấn đề này, đơn cử như để thăng tiến nhanh trong sự nghiệp, nhiều nhà khoa học Trung Quốc cần biểu lộ thái độ trung thành với chính phủ hơn là đóng góp những phát kiến khoa học. Minter nhận xét văn hóa “ít trọng dụng nhân tài’’ đã trở thành thâm căn cố đế trong Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc – một cơ quan khổng lồ với 60.000 nhân viên, quản lý 104 đơn vị nghiên cứu hàng đầu và chiếm hầu hết các chi tiêu nghiên cứu phi quân sự của Trung Quốc.        Viện Hàn lâm Khoa học và các tổ  chức tài trợ khác cần phải loại bỏ các quan chức trong quá trình xét tài  trợ và triển khai một hệ thống đánh giá dựa trên năng lực, thông qua  quá trình phản biện bởi đồng nghiệp (peer-review).        Lệch lạc trong phân bổ kinh phí nghiên cứu là một vấn đề phổ biến ở Trung Quốc. Bài báo lấy ví dụ từ ý kiến của Yi Rao, một học giả Trung Quốc được mời từ Đại học Northwestern (Mỹ) về để quản lý Khoa Khoa học Sự sống tại Đại học Bắc Kinh, trình bày trong một bài báo năm 2010 trên tờ Science: “Để có được khoản tài trợ lớn ở Trung Quốc, có một bí mật công khai là làm tốt nghiên cứu không quan trọng bằng bôi trơn quan chức và các phụ tá gần gũi của họ.” Đồng thời, những nhà nghiên cứu may mắn nhận được tài trợ thường chịu sự can thiệp hành chính và những đòi hỏi phi thực tế về kết quả trong thời gian ngắn.  Bài báo cho biết tình trạng “quen biết’’ xâm nhập cả vào việc bổ nhiệm tại các đơn vị học thuật. Chức danh khoa học cao nhất của Trung Quốc – viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học – trong những năm gần đây cũng vướng nhiều bê bối do được trao cho các cá nhân ít thành tựu học thuật. Trong khi đó, người ta lại từ chối trao chức danh này cho những nhà nghiên cứu lừng lẫy như Yi Rao (tin rộng rãi là để trả đũa cho bài báo trên Science của ông) và, đáng chú ý nhất là Tu Youyou, người đoạt giải Nobel Y học 2015. Khi được hỏi tại sao bà không được công nhận Viện sĩ sau nhiều lần đăng ký, Tu trả lời: “Đây là chuyện phức tạp.” Các hành xử thiên vị như vậy được cho là được mở rộng xuống tận việc bổ nhiệm các vị trí giáo sư và giảng viên, bước khởi đầu của sự nghiệp nghiên cứu.  Theo Minter, những mặt trái trên đây chính là nguyên nhân khiến các cộng đồng khoa học Trung Quốc phải chấp nhận những nghiên cứu chắp vá và xoàng xĩnh. Bài báo cho biết trong tháng 10 năm 2013, Văn phòng Kiểm toán Quốc gia Trung Quốc ước tính rằng một nửa của tất cả các quỹ nghiên cứu đã bị “sử dụng sai”, nghiêm trọng tới mức cơ quan chống tham nhũng của Trung Quốc phải vào cuộc, bắt giữ hơn 50 cán bộ (trong đó có Giám đốc Sở khoa học tỉnh Quảng Đông) vào tháng Hai năm 2014, và đến mùa thu cùng năm, bắt giữ bảy nhà nghiên cứu hàng đầu của năm trường đại học. Tờ South China Morning Post tường thuật về các vụ bắt giữ ở Quảng Đông với nhận xét ráo hoảnh: “Các nhà phân tích cho rằng những vụ tham nhũng có thể cho cái nhìn sâu sắc về lý do tại sao việc đầu tư cao của nhà nước vào khoa học và nghiên cứu ít mang lại kết quả.”  Ít nhất từ năm 2006, Chính phủ Trung Quốc đã hứa hẹn giải quyết những vấn đề này, nhưng theo Minter, cũng như những cam kết cải cách các doanh nghiệp nhà nước yếu kém và không hiệu quả, đây chỉ là những lời hứa suông, bởi tình trạng trì trệ hiện tại gắn với rất nhiều những lợi ích riêng tư, gây cản trở khả năng thực hiện một cơ chế năng động dài hạn và rộng rãi hơn.  Giải pháp: thanh lọc hội đồng và tăng cường hợp tác quốc tế  Minter cho rằng Trung Quốc nên bắt đầu thay đổi từ các trường đại học: Chính phủ nên xây dựng một cơ chế tuyển dụng dựa thực sự trên năng lực thay vì đảm bảo việc làm cho hầu hết những người vừa tốt nghiệp tiến sĩ tại các cơ sở đào tạo các cấp. Đồng thời, Viện Hàn lâm Khoa học và các tổ chức tài trợ khác cần phải loại bỏ các quan chức trong quá trình xét tài trợ và triển khai một hệ thống đánh giá dựa trên năng lực, thông qua quá trình phản biện bởi đồng nghiệp (peer-review) do những chuyên gia thực hiện, trong đó xung đột lợi ích – bao gồm cả các mối quan hệ cá nhân – là căn cứ để loại bỏ những người không phù hợp tham gia hội đồng. Trên hết, Trung Quốc nên tăng cường hợp tác quốc tế trong các dự án khoa học lớn nhất của họ, để các nhà nghiên cứu quốc tế hàng đầu có thể cung cấp những kinh nghiệm của họ và chia sẻ những thông lệ hoạt động tốt nhất. Nếu không, thử nghiệm khoa học lớn của Trung Quốc sẽ nhiều khả năng thất bại.     Phùng Hồ Hải lược thuật bài báo của Adam Minter đăng trên Bloomberg:  1http://www.bloombergview.com/articles/2015-11-03/china-s-ambitions-for-big-science-face-big-problems      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề phải giải quyết khi một nhà máy điện hạt nhân kết thúc hoạt động      Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA, ông Yukiya Amano, cho biết, việc kết thúc hoạt động và tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân đang trở thành một vấn đề nổi cộm, đòi hỏi tốn nhiều kinh phí cũng như nhân lực kỹ thuật cấp cao và nhiều biện pháp công nghệ, các nước đều hết sức quan tâm vấn đề này.    Hoạt động tháo dỡ tại nhà máy điện hạt nhân Dounreay, Scotland.  Điện hạt nhân đang phát triển mạnh trên toàn thế giới. Báo cáo của ông Yukiya Amano, Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA tại Hội nghị Ban Giám đốc IAEA ngày 6/6/2016 cho biết:  Trong năm 2015 đã có 10 lò phản ứng hạt nhân (LPƯHN) phát điện lên lưới. Hiện nay toàn thế giới có 444 LPƯHN đang vận hành tại 30 nước và 65 lò đang được xây dựng, trong đó 2/3 ở châu Á. Có 157 lò đã tắt vĩnh viễn, hầu hết số lò này đang kết thúc hoạt động và tháo dỡ (KTHĐ&TD)  Ông Amano nhấn mạnh: KTHĐ&TD nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) đang trở thành một vấn đề nổi cộm, đòi hỏi tốn nhiều kinh phí cũng như nhân lực kỹ thuật cấp cao và nhiều biện pháp công nghệ, các nước đều hết sức quan tâm vấn đề này. Tháng 9/1973, IAEA lần đầu tiên nêu ra vấn đề KTHĐ&TD các NMĐHN. Tháng 5/2016 tại Madrit, IAEA đã tổ chức cuộc Hội thảo quốc tế đẩy mạnh thực thi trên toàn cầu các chương trình KTHĐ&TD và xử lý môi trường đối với NMĐHN. Hơn 500 đại biểu từ 54 nước và 4 tổ chức quốc tế đã tới dự Hội thảo này. Tây Ban Nha là một trong vài nước có kinh nghiệm kết thúc hoạt động và tháo dỡ NMĐHN.  Niên giám 2012 của Cơ quan Môi trường LHQ công bố hồi tháng 2/2012 cho biết: Trong 10 năm tới, các LPƯHN thế hệ 1 sẽ hết thời hạn tuổi đời theo thiết kế, vì thế sẽ có 80 LPƯHN dân dụng phải tắt lò (shutdown) và chuyển sang giai đoạn KTHĐ&TD. Số lượng LPƯHN đến hạn vận hành đang tăng lên không ngừng đã trở thành nỗi lo của toàn thế giới.  Nếu coi nhà máy điện Obninsk ra đời năm 1954 ở Liên Xô cũ là NMĐHN đầu tiên trên thế giới thì tới nay điện hạt nhân đã có lịch sử tồn tại hơn 60 năm, nghĩa là đến nay có không ít NMĐHN hết thời hạn vận hành, cần phải ngừng hoạt động và chuyển sang giai đoạn KTHĐ&TD. Trong giai đoạn này, NMĐHN vẫn có thể gây nguy hiểm đối với con người.  Sơ đồ dưới đây của IAEA cho thấy tổng thời gian cuộc đời của NMĐHN vào khoảng 75 đến 155 năm, trong đó tổng thời gian từ lúc tắt LPƯHN cho tới lúc mặt bằng nhà máy có thể an toàn sử dụng vào mục đích khác – tức thời gian KTHĐ&TD (decommissioning) – là vào khoảng 35 đến 80 năm, tương đương một nửa toàn bộ vòng đời nhà máy. Thời gian KTHĐ&TD bao lâu còn tùy thuộc vào loại công nghệ LPƯHN và các yếu tố khác.    Thí dụ NMĐHN Dodewaard (dùng lò nước sôi BWR) ở Hà Lan năm 1997 ngừng hoạt động, theo kế hoạch phải đến năm 2047 (50 năm!) mới hoàn tất KTHĐ&TD. Quá trình KTHĐ&TD LPƯHN loại PHWR 600 MW ở Canada kéo dài ít nhất 32 năm và chi phí 238 triệu USD. Lò AGR 2×660 MW ở Anh cần 99 năm (ngót một thế kỷ!) và 993 triệu USD…   KTHĐ&TD các NMĐHN là công việc cực kỳ phức tạp, rất tốn kém kinh phí và nhân lực, giải pháp công nghệ, lại kéo dài hàng chục năm và rất ít quốc gia tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Khó khăn chính là ở chỗ hoạt động này đòi hỏi nhiều khoản chi lớn chưa thể lường trước và cả khâu xử lý chất thải hạt nhân  Không chỉ riêng NMĐHN mà bất cứ nhà máy  sản xuất trong lĩnh vực nào cũng sẽ đến ngày phải ngừng hoạt động vì hết thời hạn sử dụng theo thiết kế, hoặc vì những nguyên nhân khác như không còn đảm bảo an toàn do công nghệ lạc hậu, do xảy ra sự cố, thiên tai. Các nhà máy điện phi hạt nhân sau khi ngừng hoạt động là có thể “khai tử” và tháo dỡ ngay các công trình và thiết bị, phục hồi mặt bằng nhà máy trở về tình trạng trước khi xây dựng nhà máy để có thể sử dụng mặt bằng vào mục đích khác.  Tuy nhiên với NMĐHN thì không thể làm như vậy. Sau khi tắt LPƯHN, phải chuyển nhà máy sang giai đoạn tiến hành xử lý các chất phóng xạ còn tồn tại (như ngâm thanh nhiên liệu vào trong bể nước chờ nhiều năm cho hết phóng xạ, chở đi nơi khác để xử lý, xây dựng hệ thống bao che LPƯHN v.v…) nhằm đảm bảo người của nhà máy và dân chúng xung quanh tránh được các nguy hiểm gây ra bởi tác dụng phóng xạ dư rớt và bởi các rủi ro tiềm ẩn khác.  Quá trình KTHĐ&TD là cần thiết và phải được lên kế hoạch, lên dự toán ngay từ khâu thiết kế nhà máy và khâu tính toán giá thành điện của NMĐHN. Đây là vấn đề rất khó, vì không thể lường trước trong thời gian dài như thế, nhà máy có thể xảy ra những rắc rối gì.   Trong quá trình KTHĐ&TD, NMĐHN tuy không làm ra sản phẩm nhưng lại tiêu tốn rất nhiều nhân lực, vật lực và có thể còn gây nguy hiểm. Trong thời gian nhà máy ngừng hoạt động phải cấp kinh phí để “nuôi” nhà máy tiếp tục tồn tại tuy nó không còn hữu ích, nếu “nuôi” không tốt thì nó còn có thể gây tai họa.  Niên giám 2012 của Cơ quan Môi trường LHQ cho biết: Năm 2001, dự toán kinh phí KTHĐ&TD NMĐHN Brennilis ở Pháp ước tính chiếm 26% đầu tư ban đầu của nhà máy, nhưng đến năm 2008 tỷ lệ này tăng lên tới 59%, con số tuyệt đối gấp 20 lần con số ban đầu. Chính phủ Anh năm 1970 dự tính chi 2 triệu bảng Anh cho việc KTHĐ&TD NMĐHN, năm 1990 tăng lên 9,5 tỷ Bảng, năm 2011 lên tới 53,7 tỷ Bảng.  Với công nghệ điện hạt nhân hiện nay, nói chung chi phí KTHĐ&TD các NMĐHN cỡ 1 triệu kW chiếm 10 đến 15% đầu tư ban đầu, tức là vào khoảng 300 đến 500 triệu USD.  Sau thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật (3/2011), CHLB Đức quyết định đến năm 2022 sẽ đóng cửa toàn bộ 17 NMĐHN của họ (hiện nay đã đóng cửa 7 nhà máy). Lý do là nhằm tránh rủi ro tai họa hạt nhân do NMĐHN gây ra. Nhưng những người phản đối quyết định trên nói việc đóng cửa sớm NMĐHN như vậy sẽ làm mất đi một nguồn cung cấp điện rẻ tiền mà vẫn không đạt mục đích bảo đảm an toàn, vì trong hàng chục năm nữa các NMĐHN đã “nghỉ hưu” ấy vẫn có thể gây ra tai họa hạt nhân, nhà nước vẫn phải tốn kém cực nhiều vào việc KTHĐ&TD chúng.  Tóm lại, KTHĐ&TD các NMĐHN là một vấn đề cực kỳ phức tạp và chưa có nhiều kinh nghiệm xử lý. Vì thế khi nghiên cứu lập kế hoạch tiến hành các dự án điện hạt nhân, nhà chức trách cần đặc biệt quan tâm xem xét, tính toán hết sức chi tiết vấn đề này, nếu không, dự án sẽ không đem lại lợi ích kinh tế xã hội mong muốn, thậm chí gây thiệt hại lớn, để lại gánh nặng cho các thế hệ sau.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợpCao Chi hiệu đính  Nguồn tham khảo:  – https://www.iaea.org/newscenter/statements/introductory-statement-to-the-board-of-governors-june-2016  Introductory Statement to the Board of Governors.  – Decommissioning and remediation: enhancing safety of the public and the environment. By Yukiya Amano.    https://www.iaea.org/sites/default/files/5710101-foreword.pdf  – IAEA Bulletin, April 2016:  Decommissioning and environmental remediation: an overview. By Irena Chatzis  – https://www.iaea.org/sites/default/files/5712627-trends.pdf  Current trends in decommissioning and environmental remediation of nuclear facilities. By Juan José Zaballa Gómez  – 核电站退役难题：资金不足及核废料处理困难   http://www.sina.com.cn     2012年08月06日     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề vật lý tương lai      Đấy là những vấn đề mang tính cách mạng đi vào miền đất lạ (exotic) mà các nhà vật lý hy vọng có thể làm sáng tỏ nhờ:  – máy gia tốc LHC tạo va chạm hadron ở vùng năng lượng rất lớn (TeV),  – máy gia tốc ILC tạo va chạm electron và positron ở tốc độ gần tốc độ ánh sáng,  – kính viễn vọng GLAST: cửa sổ vào vũ trụ vùng năng lượng cao.  Sau đó là một số vấn đề vũ trụ học liên quan.      Máy LHC (Large Hadron Collider-Máy Va chạm Hadron Lớn)  Một tập thể khoa học trên thế giới đang chuẩn bị khởi động một thiết bị siêu đại chưa từng có trong lịch sử vật lý: máy LHC [1].  Chiếc máy khổng lồ này sau chín năm xây dựng có hy vọng sẽ bắt đầu hoạt động vào cuối năm nay (2008). Trên hình 1 ta có sơ đồ của LHC và trên hình 2 là vị trí của LHC  (gần biên giới Pháp-Thụy sĩ). Đây là một máy gia tốc có cấu trúc hướng hai chùm hadron (hadron là các hạt nặng) va chạm nhau ở vùng năng lượng tera ( TeV = tera electron-volt= 10 12 eV). Máy LHC thật sự sẽ thực hiện một cuộc cách mạng trong vật lý tương lai.            Hình 1 . Máy gia tốc LHC có đường kính=8, 6 km, đặt sâu 175 m dưới mặt đất, gồm 5 thiết bị:  1- máy gia tốc chính LHC và 4 đêtectơ hạt với kích thước lớn có tên sau:  2- CMS (Compact Muon Solenoid),  3- LHCb (LHC nghiên cứu quark beauty-quark đẹp),  4- ATLAS (A Toroidal LHC Apparatus) và  5- ALICE (A Large Ion Collider Experiment).  Ngoài ra có 2 máy gia tốc cũ cùng phối hợp hoạt động:  SPS = Super Proton Synchrotron  PS=Proton Synchroton                          Hình 2 . Vị trí của LHC: gần biên giới Pháp-Thụy sĩ                        Hình 3 . Một đoạn trong lòng máy gia tốc LHC          Dự án máy I LC (International Linear Collider- Máy va chạm thẳng quốc tế)  Ngay trước lúc LHC được khởi động, các nhà vật lý đã có dự án xây dựng tiếp theo một máy gia tốc tên là ILC với độ dài gần 30 km có khả năng thực hiện va chạm của electron và phản hạt positron ở tốc độ gần tốc độ ánh sáng. Mục đích của máy ILC là giúp các nhà vật lý nghiên cứu tiếp những kết quả khám phá được nhờ LHC.  Hơn 1.600 nhà khoa học từ hơn 300 phòng thí nghiệm và trường Đại học trên thế giới đã cùng hợp tác thiết kế máy ILC. Chi phí cho ILC lên đến 6,7 tỷ USD. Ba địa điểm được chọn để xem xét là: CERN (Geneve), Phòng thí nghiệm quốc gia Fermi (Batavia) và một địa điểm ở Nhật.  Những cuộc cách mạng tiếp đến trong vật lý các hạt cơ bản.  Sau đây là những vấn đề lớn mà các nhà vật lý kỳ vọng có được câu trả lời nhờ máy gia tốc LHC (và I L C).  Kiểm tra mẫu chuẩn & nghiên cứu điều gì đã phá vỡ đối xứng điện yếu  Như chúng ta biết mẫu chuẩn (Standard Model) là mẫu hợp nhất các tương tác điện từ, yếu (và mạnh). Mẫu chuẩn sẽ càng được làm sáng tỏ nếu được thử nghiệm ở những vùng năng lượng cao hơn vùng năng lượng hiện có.  Tương tác yếu trong phân rã bêta chỉ tác động lên các hạt trái (left-handed) [2]. Đối xứng giữa các hạt trái xác định lý thuyết điện yếu (electroweak).Một yếu tố quan trọng trong lý thuyết điện yếu là sự phá vỡ đối xứng và cần thiết phải có hạt Higgs (đặt theo tên của nhà vật lý Peter Higgs [3], người đã đưa hạt này vào vật lý năm 1960 ) để tạo ra khối lượng cho các hạt. Như vậy một số hạt thu được khối lượng thông qua tương tác với hạt Higgs thay vì sở hữu khối lượng một cách nội tại, người ta xem hạt Higgs như chiếm đầy không gian và tương tác với các hạt khác.  Khi người ta hỏi xây dựng LHC để làm gì các nhà vật lý thường đưa ra câu trả lời: tìm hạt Higgs, song thực tế ở đây vấn đề rộng hơn nhiều. Những khám phá do LHC đem lại sẽ thay đổi bộ mặt của vật lý đương đại và có tác động đến những khoa học khác (như vũ trụ học) trong tương lai đến.  Vật chất tối  Vào những năm 30 của thế kỷ trước Fritz Zwicky, một nhà thiên văn trẻ tuổi người Thụy Sĩ lập nghiệp ở Mỹ, khi nghiên cứu chuyển động 7 thiên hà trong chòm Coma, nhận thấy rằng 7 thiên hà này chuyển động quá nhanh so với tính toán thực hiện trên cơ sở các khối lượng quan sát được xung quanh. Muốn giải thích được chuyển động nhanh đó, xung quanh 7 thiên hà nói trên cần phải có một khối lượng vật chất 400 lần lớn hơn khối lượng quan sát được, nhưng khối lượng thiếu này không tìm thấy ở đâu cả. Bài toán vật chất tối (dark matter) ra đời (1933). Hơn 70 năm đã trôi qua mà bài toán vật chất tối – một trong những bài toán cơ bản của vật lý – vẫn chưa có lời giải!  Sự truy tìm hạt Higgs đúng là bài toán bản lề. Nhưng sau bài toán này hàm ẩn nhiều bài toán khác như: vì sao lực hấp dẫn lại yếu hơn các lực khác nhiều đến thế? vật chất tối là gì [4]? đâu là bản chất của không thời gian? Phải chăng vật chất tối là một loại hạt mới? Và điều đáng chú ý là những vấn đề ấy lại liên quan với nhau và với vấn đề hạt Higgs. Máy LHC sẽ giúp các nhà vật lý tìm hiểu những vấn đề này.  Liệu có tồn tại những lực mới  Theo tính toán của Benjamin W. Lee , Harry B.Thacker và Chris Quigg tồn tại một ngưỡng trị số cho khối lượng của hạt Higgs: nếu khối lượng đó nhỏ hơn một TeV thì tương tác yếu vẫn yếu ở vùng năng lượng cao nếu ngược lại thì tương tác yếu sẽ mạnh lên. Ngưỡng năng lượng này chứng tỏ rằng ngoài khả năng về sự tồn tại hạt Higgs còn một khả năng khác về một hiện tượng vật lý mới, đây là điều mà LHC sẽ giúp trả lời.  Hệ thứ bậc (hierarchy) về khối lượng  Chú ý rằng ở vùng năng lượng cao (1015 GeV) khi mà tương tác mạnh và điện yếu hợp nhất thì các hạt ngược lại có thể làm tăng khối lượng của hạt Higgs. Vậy vì sao hạt Higgs có khối lượng nhỏ hơn 1 TeV? Đây là bài toán hierarchy (hệ thứ bậc) khối lượng. Có thể siêu đối xứng cho ta câu trả lời vì theo siêu đối xứng mỗi hạt đi đôi với hạt siêu đối xứng tương ứng và chính hạt siêu đối xứng này triệt tiêu hệ quả tăng khối lượng của hạt Higgs. Người ta cũng hy vọng LHC sẽ làm sáng tỏ vấn đề này. Trên hình 4 chúng ta thấy khối lượng hạt Higgs được dự đoán cùng cỡ với khối lượng hạt quark đỉnh [5] và nằm dưới giới hạn năng lượng tạo ra bởi máy LHC.            Hình 4: Trên hình vẽ là khối lượng của một số hạt được xếp lớn dần từ trái sang phải (neutrino, electron, các quark up, down, hạt muon, quark lạ,neutron,proton, quark duyên, quark đáy, boson W,Z, quark đỉnh, hạt HIGGS), các vùng năng lượng hợp nhất điện yếu, hợp nhất mạnh & điện yếu, siêu dây, hấp dẫn lượng tử và giới hạn của máy LHC. Tại sao có hệ thứ bậc như vậy? Đây là bài tóan hệ thứ bậc (hierarchy problem) khối lượng.              Một vấn đề khác là liệu hạt Higgs có phải là cơ bản hay không hay hạt Higgs cũng được cấu tạo bởi những hạt khác cơ bản hơn (lý thuyết technicolor-đa sắc).Người ta hy vọng LHC cũng sẽ tìm ra những hạt cơ bản mới này.  Các chiều dư (extra dimension) của không thời gian  Một vấn đề lý thú khác: sự tồn tại những chiều dư (extra dimension) của không thời gian. Theo lý thuyết siêu dây thì ngoài không thời gian 4 chiều còn tồn tại 6 đến 7 chiều nữa gọi là chiều dư. Không gian các chiều dư có thể có nhiều dạng (nhiều tôpô): hình cầu, hình xuyến, hai hình xuyến giao nhau tạo nên những tay quai (handles), và v.v… (xem hình 5 ).            Hình 5 . Mỗi điểm của không gian vĩ mô ẩn chứa một đa tạp các chiều dư . Các quy luật vật lý quan sát được trong không gian vĩ mô phụ thuộc vào kích thước và cấu trúc của đa tạp các chiều dư.                Hình 6 . Trạm GLASTgồm 2 thiết bị quan trọng: LAT(Large Area Telescope – Kính viễn vọng có thị trường rộng) và GBM (GLAST Burst Monitor – Máy ghi đo các bùng nổ tia gamma).  Về mặt phổ năng lượng, nếu so sánh GLAST với một cây đàn piano thì GLAST có âm vực gồm 8 octave.                Hình 7 . Phổ điện từ.                            Những chiều dư này sẽ làm thay đổi cường độ các lực và cũng có thể tích hợp chúng với nhau. Nếu có các chiều dư thì sự tích hợp này có thể xảy ra ở năng lượng vài TeV (thay vì 1012 TeV nếu các chiều dư không thời gian không tồn tại).  Kính viễn vọng GLAST: cửa sổ vào vũ trụ vùng năng lượng cao  Gần như cùng lúc với việc khởi động LHC, NASA [7] chuẩn bị phóng trạm thăm dò GLAST (Gamma-ray Large Area Space Telescope- Kính Viễn vọng tia Gamma Vũ trụ Thị trường rộng – xem hình 5)[8] để phối hợp nghiên cứu cùng LHC. Nếu LHC là một thiết bị xây dựng trên mặt đất thì GLAST là một vệ tinh chuyển động trong vũ trụ. Hai thiết bị này cùng nhằm nghiên cứu những vấn đề lớn của vật lý tương lai.  Mục tiêu của Vệ tinh GLAST cũng nhằm nghiên cứu những vùng lạ (exotic) như các lỗ đen siêu nặng, vật chất tối, sao neutron là nguồn các tia gamma với năng lượng lớn. GLAST sẽ cung cấp những kết quả đồng dạng để có thể tích hợp với các kết quả do LHC thu được. Đây quả là một sự phối hợp hiếm hoi trong khoa học.  Tia (gamma) là những tia bức xạ điện từ ở vùng năng lượng cao, có bước sóng ngắn ở cuối phổ điện từ. Những photon gamma có năng lượng lớn có thể tạo nên những hạt cơ bản theo công thức cơ bản của Einstein E=mc2. Những tia gamma cũng có thể sinh ra từ quá trình hủy các hạt lạ (exotic) thuộc vật chất tối. Máy LHC cũng đeo đuổi mục tiêu tạo ra những hạt này trong phòng thí nghiệm.   Trạm GLAST sẽ ghi đo một giải phổ rộng bao gồm cả những vùng chưa quan sát được từ 10 đến 100 giga eV(vùng gạch chéo). Trong vùng này người ta hy vọng tìm ra những bí ẩn của vật chất tối.  Nhà vật lý Philip Morrison đã phát biểu trước đây về khả năng của một ngành vật lý là thiên văn học tia gamma (gamma-ray astronomy). Các tia gamma quan sát được thật ra chỉ là những bức xạ thứ cấp từ những bức xạ gamma nguyên thủy có năng lượng cao hơn phát ra từ các sao. Các tia gamma đã tạo nên những mưa rào các hạt có năng lượng thấp hơn. Các tia gamma ban đầu có năng lượng khoảng 100 tỷ eV (GeV) khó ghi đo dược bằng những đêtéctơ đặt trên mặt đất. Các nhà vật lý phải đưa những kính viễn vọng vào vũ trụ để ghi đo và các quan trắc thu nhận được sẽ chắc chắn thuộc về các tia gamma nguyên thủy. Do đó có dự án phóng trạm thăm dò GLAST vào không gian.  Những vấn đề lớn mà GLAST sẽ giúp làm sáng tỏ  Những hạt siêu đối xứng thuộc vật chất tối có thể không là tối hoàn toàn. Mặc dầu chúng không tương tác với vật chất thông thường và với ánh sáng, nhưng chúng có phản hạt và khi gặp phản hạt thì có thể hủy nhau và biến khối lượng lớn của chúng thành những hạt nặng và tia gamma. Vấn đề ở chỗ là phải ghi đo được những phản ứng đặc biệt này và phân biệt được với các va chạm khác. Một dấu hiệu có thể sử dụng để phân biệt là hai tia photon tạo thành sẽ có năng lượng tương đương với khối lượng của hai hạt tối, khoảng vài trăm GeV trong khi nếu positron và electron hủy nhau thì năng lượng các tia gamma sinh ra chỉ nằm trong khoảng 511 keV. Ngoài ra các tia gamma từ vật chất tối thường phải xảy ra ở gần các thiên hà và điều này cho phép chúng ta phân biệt được với trường hợp ghi đo các tia gamma khác.  Máy LHC cũng được thiết kế để có thể tạo những hạt tối, song các hạt này sẽ nhanh chóng biến khỏi máy gia tốc cho nên GLAST sẽ là một công cụ bổ sung hữu hiệu để nghiên cứu các hạt tối trong một không gian lớn hơn khi chúng chuyển động về hành tinh chúng ta.          Hình 8. Phần hình bên trái: Thiên hà có khối lượng lớn hơn kết quả tính toán của các nhà vật lý. Khối lượng thiếu đó là vật chất tối. Nếu GLAST ghi đo được những tia gamma tương ứng thì có thể kết luận về sự tồn tại của vật chất tối.  Phần hình bên phải: Lý thuyết cho biết rằng các hạt tối không phải là tối hẳn. Hai hạt tối có thể hủy nhau và sinh ra các tia gamma hoặc các hạt khác, các hạt này lại phân rã để cho những tia gamma.          Các chiều dư từ GLAST (bổ sung cho LHC)  Như chúng ta biết theo các lý thuyết hiện đại như lý thuyết dây thì không thời gian có đến 10 hoặc 11 chiều. Chúng ta không dễ cảm nhận được các chiều dư đó vì vật chất và các lực không phải là hấp dẫn đều cư trú trong không thời gian 4 chiều thông thường. Riêng hấp dẫn là không chịu điều hạn chế đó. Hấp dẫn có thể lan truyền trong các chiều dư.  Những siêu sao khi bùng nổ có thể chuyển một phần năng lượng cho các graviton Kaluza-Klein tức những lượng tử của hấp dẫn lan truyền trong các chiều dư. Các graviton này lại có thể phân rã thành những hạt khác trong đó có các tia gamma, như vậy tạo điều kiện cho GLAST ghi đo được để làm bằng chứng cho sự tồn tại các chiều dư.  Các bùng nổ tia gamma (Gamma-ray Burst)  Như chúng ta biết ở tâm các thiên hà thường có một lỗ đen cực lớn, điều này gắn liền với sự hình thành và phát triển của thiên hà. Khi lỗ đen lớn dần bằng cách hút vật chất chung quanh nó thì tâm thiên hà nóng lên và trở thành những tâm thiên hà tích cực (AGN – Active Galactic Nucleus).  Những siêu lỗ đen với khối lượng khổng lồ là những nguồn gamma mạnh. Trong quá trình hình thành lỗ đen vật chất của sao bị hút vào tâm lỗ đen làm bắn ra hai chùm plasma, chúng tương tác với vật chất gặp phải và tạo nên nhiều tia gamma (xem hình 9) dọc theo trục quay. Trạm GLAST có thể ghi đo được những tia gamma này và giúp các nhà vật lý tìm hiểu thêm bản chất của những bùng nổ tia gamma này (Gamma Ray Bursts- GRB) [8]            Hình 9 . Những lỗ đen siêu nặng sẽ phát ra những bùng nổ tia gamma (GRB)              Hình 10 Trong lý thuyết của Einstein không thời gian là một continium. Song nếu quan sát ở những kích thước nhỏ thì không thời gian có thể có nhiều thăng giáng có dạng bọt. Các tia gamma năng lượng cao (bước sóng ngắn) dễ nhạy cảm với cấu trúc đó, điều này sẽ ảnh hưởng đến trường đoạn thời gian mà các tia gamma này đi xuyên trong vũ trụ.                Những vi phạm lý thuyết tương đối  Một hệ quả của lý thuyết tương đối là vận tốc ánh sáng trong chân không không phụ thuộc vào độ dài bước sóng: những photon năng lượng cao (bước sóng ngắn) cũng như các photon năng lượng thấp (bước sóng dài ) đều chuyển động với một vận tốc như nhau. Đó là hệ quả của nguyên lý bất biến Lorentz.  Song có phải đây là nguyên lý bất di bất dịch? Cấu trúc không thời gian ở vùng vi mô có thể chịu nhiều thăng giáng lượng tử, các photon năng lượng cao sẽ nhạy cảm hơn với những thăng giáng đó. Điều này tương tự như một xe đẩy trẻ con thì dễ nhạy cảm với những chỗ gồ ghề trên đường hơn là một xe tải siêu trường siêu trọng. Những photon năng lượng cao khi du hành qua những thăng giáng đó có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời gian bay trong vũ trụ (nhiều tỷ năm ánh sáng khi đến với chúng ta). GLAST có thể đo được sự khác nhau thời gian hành trình của photon năng lượng cao và photon năng lượng thấp. Sự khác nhau này sẽ càng lớn nếu hành trình từ các sao bùng nổ càng xa.  Các nhà vật lý hy vọng vào sự phối hợp nghiên cứu giữa LHC và GLAST để làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng của vật lý học tương lai: lỗ đen, vật chất tối, các chiều dư của không thời gian, các bùng nổ tia gamma…  Các vấn đề trên, một khi được làm sáng tỏ, sẽ đưa vật lý lên một tầm cao mới.    Một mô hình vũ trụ (Lambda-CDM) mô tả chung cuộc của vũ trụ   Mãi đến năm 1908 các nhà khoa học vẫn còn tin rằng thiên hà của chúng ta là thiên hà duy nhất trong một vũ trụ tĩnh và vĩnh cửu. Bây giờ chúng ta đã biết rằng thiên hà của chúng ta chỉ là một trong 400 tỷ thiên hà trong vũ trụ. Trong các ngành khoa học có thể nói rằng vũ trụ học là lĩnh vực mà trí tuệ con người thay đổi nhanh chóng một cách kỳ diệu.  Hiện nay người ta phát hiện rằng vũ trụ đang giãn nở và nguồn gốc của sự giãn nở đó là năng lượng tối – dark energy-. Để giải thích hiện tượng vũ trụ giãn nở có gia tốc mà thiên văn quan trắc được trong thời gian gần đây, các nhà vật lý lý thuyết phải đưa lại hằng số vũ trụ  (chữ Hy lạp-Lambda) vào phương trình của Einstein.Năng lượng tối sẽ gây nên nhiều hệ quả quan trọng. Các nhà vũ trụ học Glenn Starkman, Lawrence M.Krauss & Robert J.Scherrer (đại học Case Western Reserve và Vanderbilt) đã sử dụng mô hình Lambda – CDM (viết tắt của Lambda-Cold Dark Matter- Mô hình Vật chất Tối Lạnh Lambda – xem chú thích [9]&[10]) và chứng minh rằng năng lượng tối sẽ làm phát sinh một “chân trời sự cố – (event horizon). Đây là một bề mặt tưởng tượng mà từ ngoài đó bức xạ và vật chất không vào đến được với chúng ta. Như vậy vũ trụ trông giống như một lỗ đen [11] lộn ngược trong ra ngoài với vật chất và bức xạ bị hút mất ở ngoại vùng chân trời sự cố thay vì ở nội vùng chân trời sự cố như trong trường hợp lỗ đen (hình 16). Điều này cũng có nghĩa rằng vũ trụ mà chúng ta quan sát được chỉ chứa một lượng thông tin hữu hạn, do đó việc xử lý thông tin không thể thực hiện được cho tất cả thời gian.            Hình 11. Bên trái là lỗ đen., bên phải là vũ trụ trong tương lai. Phần trắng bên phải chứa siêu quần thể của nhiều sao, siêu quần thể này cũng sẽ co lại thành lỗ đen trong một nghìn tỷ năm.          Trong quá trình giãn nở một lượng vật chất sẽ biến mất sau đường chân trời sự cố. Hiện tượng này được các nhà thiên văn Abraham Loeb & Kentaro Nagamine (Đại học Harvard) nghiên cứu, họ đi đến kết luận rằng một nhóm thiên hà gọi là Nhóm thiên hà địa phương (Local Group of Galaxies), gồm thiên hà chúng ta, tinh vân Tiên nữ và một số thiên hà lùn ( dwarf galaxies – xem chú thích [12]) sẽ co cụm lại thành một siêu quần thể – (supercluster) của nhiều sao. Các thiên hà khác sẽ biến mất trong bóng tối sau chân trời sự cố. Quá trình này sẽ xảy ra trong vòng 100 tỷ năm, thời gian tưởng chừng rất dài nhưng không so sánh được với sự bất tận thời gian của vũ trụ.  Bốn cơ sở quan trọng của vũ trụ học hiện đại  Thứ nhất theo lý thuyết tương đối của Einstein vũ trụ phải giãn nở hoặc co lại. Thuyết Bigbang đã ra đời từ quan điểm đó.  Thứ hai nhà thiên văn Mỹ Edwin Hubble đã phát hiện chuyển động xa rời của các thiên hà (giãn nở Hubble), ông tìm ra công thức nối liền vận tốc chuyển động xa dần của chúng với khoảng cách đến chúng: vận tốc tỷ lệ với khoảng cách, như vậy một thiên hà xa chúng ta hai lần sẽ chuyển động giãn nở với vận tốc hai lần lớn hơn.  Thứ ba năm 1965 do tình cờ hai nhà vật lý Arno Penzias & Robert Wilson ( phòng thí nghiệm Bell ) đã tìm thấy bức xạ phông vi ba của vũ trụ ( CMB- Cosmic Microwave Background). Bức xạ do họ tìm thấy lập tức được đoán nhận ngay là bức xạ tàn dư của vũ trụ sau vụ Bigbang.  Và cuối cùng khi nhiệt độ vũ trụ vào khoảng 1 tỷ đến 10 tỷ độ Kelvin các hạt nhân nhẹ có thể tổng hợp thành những hạt nhân nặng (quá trình tổng hợp hạt nhân bigbang – bigbang nucleosynthesis). Quá trình này chỉ xảy ra trong vài phút vì vũ trụ giãn nở và nguội dần nhanh. Helium và deuterium được hình thành như thế.  Vũ trụ dưới mắt các nhà thiên văn tương lai  Các nhà vũ trụ học tương lai sống trên siêu quàn thể các sao hình thành sau 100 tỷ năm sẽ hình dung vũ trụ như thế nào? Họ sẽ nhìn thấy gì khi quan sát bầu trời lúc bấy giờ? Không dùng kính viễn vọng họ vẫn sẽ thấy các sao của thiên hà trong siêu quần thể. Song nếu dùng kính viễn vọng để mong tìm thấy các thiên hà khác thì họ không phát hiện được một thiên hà nào nữa. Những thiên hà lân cận thì đã sát nhập với thiên hà chúng ta còn những thiên hà nằm xa hơn thì đã biến mất sau chân trời sự cố. Như thế phát hiện của Hubble không còn đúng nữa và không lặp lại được. Đối với các nhà thiên văn này thì vũ trụ là một ốc đảo chung quanh là khoảng trống, nghĩa là vũ trụ lúc bấy giờ sẽ phù hợp với hình ảnh vũ trụ của những năm 1908.  Liệu lúc đó các nhà vật lý có thể chứng minh được có bigbang không? Họ có thể sử dụng CMB chăng? Tiếc là không. Vì lúc vũ trụ giãn nở thì các bước sóng trải dài ra và bức xạ trở nên mơ hồ. Khi vũ trụ có chừng 100 tỷ năm tuổi thì đỉnh các bước sóng rơi vào vùng cỡ mét và ứng với sóng radio chứ không còn là vi ba. Cường độ bức xạ loãng đến một phần tỷ tỷ nên không đo được, vậy họ không tìm thấy dấu vết của CMB.  Liệu lúc đó các nhà vật lý có thể sử dụng độ hiện hữu (abundance) của các chất hóa học để truy tìm bigbang chăng? Tiếc là không. Nếu dựa ví dụ vào độ hiện hữa của deuterium (sinh ra trong quá trình tổng hợp hạt nhân bigbang) thì không chính xác vì những phản ứng hạt nhân trong tia vũ trụ năng lượng cao cũng là nguồn sinh ra deuterium, hơn nữa nguồn deuterium này cũng đáng kể và tin cậy.  Liệu có thể sử dụng lý thuyết Einstein để khôi phục lịch sử bigbang? Tiếc rằng lý thuyết Einstein được áp dụng cho vũ trụ kích cỡ lớn có độ đồng nhất mà vũ trụ trong tương lai xa có dạng một ốc đảo bao quanh bởi khoảng trống nên không có các điều kiện cho việc áp dụng lý thuyết Einstein.  Vũ trụ tương lai sẽ co lại thành lỗ đen  Tương tự như chân trời của lỗ đen có thể phát ra bức xạ, chân trời sự cố vũ trụ cũng có thể phát ra bức xạ, song nhiệt độ ứng với bức xạ này rất bé khoảng 10-30 độ Kelvin, một nhiệt độ quá bé để cho các nhà thiên văn tương lai có thể ghi đo được mà nếu ghi đo được chắc họ cũng gán bức xạ đó với một tiếng ồn xa xăm nào đó. Họ có thể phóng đi một trạm thăm dò khỏi siêu quần thể trong đó họ đang sống để làm điểm quy chiếu nghiên cứu sự giãn nở của vũ trụ lúc bấy giờ. Song điều này cũng đòi hỏi nhiều tỷ năm để trạm thăm dò mới đến được điểm ở đấy sự giãn nở của vũ trụ có tác động đáng kể đến vận tốc trạm thăm dò, hơn nữa điều này đòi hỏi một năng lượng quá lớn để phóng trạm thăm dò và để trạm thăm dò chuyển được thông tin về siêu quần thể.  Vậy một điều có nhiều xác suất xảy ra nhất là các nhà vật lý tương lai sẽ tiên đoán là vũ trụ lúc bấy giờ sẽ co lại một cách bi thảm thành một lỗ đen. Và nếu bài viết này không còn được lưu trữ đến lúc bấy giờ thì những cơ sở của vũ trụ học hiện đại nói trên như bigbang là những điều gì thoát khỏi trí tuệ của các nhà khoa học trong tương lai.  Từ đó một bài học: liệu quá trình giãn nở lạm phát (xem chú thích [13]) đã xảy ra lúc sơ sinh của vũ trụ hiện nay (xem bảng Các mốc thời gian trong vũ trụ) có phát tán ra ngoài phạm vi quan sát và hiểu biết của chúng ta những thông tin cơ bản và quan trọng về vũ trụ trước đây chăng? Đây quả là một vấn đề lý thú cho những mô hình và lý thuyết đương đại của chúng ta về vũ trụ.  Các mốc thời gian vũ trụ tính từ Bigbang  10 – 30giây Giãn nở lạm phát xảy ra (cosmic inflation)   100 giây Deuterium & Helium được hình thành   400.000 năm CMB (bức xạ phông vi ba vũ trụ) xuất hiện   8 tỷ năm Quá trình giãn nở bắt đầu gia tốc   13,7 tỷ năm Hiện nay   20 tỷ năm Ngân hà và Tiên nữ sẽ va chạm   100 tỷ năm Các thiên hà khác không còn được thấy nữa   1 tỷ tỷ năm Các đồng vị nguyên thủy biến mất dần   100 tỷ tỷ năm Ngôi sao cuối cùng bùng nổ  Các tác giả [9] đã minh họa quá trình tiến triển vũ trụ từ 4,5 tỷ năm trong quá khứ đến 100 tỷ tỷ năm trong tương lai bằng những hình ảnh nghệ thuật (xem hình 12, 13, 14, 15, 16, 17) đưa tưởng tượng của người đọc đến với vẻ đẹp kỳ ảo và bí ẩn sâu kín của vũ trụ.  Những vấn đề vật lý tương lai (hạt cơ bản và vũ trụ học) một khi được làm sáng tỏ  sẽ đưa vật lý học lên một tầm cao mới trong vùng đất lạ của hạt Higgs, vật chất tối, tia gamma năng lượng cao, các chiều dư không thời gian, các lỗ đen…            Hình 12. Quả đất nguyên thủy: 4,5 tỷ năm trước Bầu trời trên quả đất chứa đầy bụi, đá và hơi là  những thành phần sẽ cấu tạo nên thái dương hệ.  Một mặt trời vừa định dạng đang chiếu sáng các  thành phần đó. Những sao chổi đầu tiên xuất hiện trên bầu trời.               Hình 13. Quả đất: 3,5 đến 4 tỷ năm về trước   Những sao chổi rơi xuống mặt đất tiếp thêm thành phần   nứớc cho hành tinh. Mặt trăng tiếp tục lùi xa trên bầu trời. Bụi, đá và hơi cũng đang khuếch tán dần trong không gian.           Hình 14. Quả đất hiện nay: năm 2008   Trên bờ biển một đêm không trăng, chúng ta có thể  thấy giải ngân hà vắt qua bầu trời. Thiên hà Tiên nữ và Mây Magellanic cũng có thể thấy được bằng mắt thường.      Hình 15. Thiên hà Tiên nữ đang lớn dần: 5 tỷ năm sau   Có còn ai trong chúng ta để nhìn thấy cảmh tượng thiên hà Tiên nữ tiến dần về quả đất và chiếm hầu hết bầu trời đêm? Sự va chạm giữa thiên hà Tiên nữ và giải Ngân hà sẽ bắn quả đất ra ngoài rìa thiên hà.              Hình 16. Nhóm siêu quần thể địa phương: 100 tỷ năm sau Giải Ngân hà sẽ biến thành một siêu thiên hà dạng quả cầu. Quả đất trôi dạt cô đơn ngoài rìa xa xôi. Nhiều thiên hà khác  đã chuyển động ra xa nhanh hơn cả ánh sáng và biến mất.          Hình 17. Lịm dần ánh sáng: 100 tỷ tỷ năm sau   Những sao cuối cùng đã cháy mất. Ngoại trừ các lỗ đen và có thể những ánh sáng nhân tạo của các nền văn minh tương lai, toàn vũ trụ trở nên tối đen. Thiên hà sẽ co dần thành một lỗ đen.                Tham khảo và chú thích  [1] Graham P.Collins, Chris Quigg, Barry Barish,Nicholas Walker & Hitoshi Yamamoto, The future of Physics, Scientific American số tháng 2/2008  [2] Hạt trái là những hạt có spin luôn hướng ngược với chiều chuyển động  [3] Đã 40 năm trôi qua kể từ ngày bài báo của Peter HIGGS được công bố , hạt boson HIGGS -một hạt giả tưởng tối cần thiết không thể thiếu được cho vật lý hiện đại- vẫn còn là một hạt bí hiểm !  [4] Vũ trụ có 4 thành phần: năng lượng tối (dark energy) gây lực đẩy,vật chất tối (dark matter) gây lực hút , các sao , các thiên hà và cuối cùng là các bức xạ . Vật chất tối có thể là một loại vật chất mà chúng ta chưa hề biết đến.  [5] Có 6 loại quark: trên, dưới, lạ, duyên, đáy/đẹp và đỉnh. Những hạt quark này cấu tạo nên các hadron (hạt nặng). Người ta hiện nay đang chú ý nhiều đến hạt quark đỉnh.. Khối lượng của hạt HIGGS liên quan nhiều đến khối lượng các hạt boson “ W” , “ Z “ và quark đỉnh ( top quark).  [6] William B.Atwood, Peter F.Michelson & Steven Ritz,Window on the Extreme Universe, Scientific American, số tháng 12 /2007  [7] NASA (National Aeronautics and Space Administration – Cơ quan hàng không và vũ trụ Mỹ).  [8] Bùng nổ tia gamma (Gamma Ray Bursts- GRB) trong vũ trụ là sự xuất hiện trong một thời gian rất ngắn những tia gamma với năng lượng rất lớn.  [9] Lawrence M.Krauss & Robert J.Scherrer, The end of cosmology, Scientific American tháng 3/ 2008  [10] Lawrence M. Krauss & and Robert J. Scherrer, The Return of a Static Universe and the End of Cosmology, Journal of General Relativity and Gravitation, Vol.39,No 10, October 2007.  Trtong công trình này các tác giả sử dụng mô hình Lambda-CDM là mô hình cho nhiều kết quả phù hợp với các quan sát thiên văn. Lambda là hằng số vũ trụ mô tả năng lượng tối, CDM (Cold Dark Matter) là Vật chất Tối và Lạnh.  [11] Lỗ đen: vùng không thời gian từ đó không gì thoát ra khỏi được, kể cả ánh sáng vì hấp dẫn quá mạnh.  [12] Thiên hà lùn là thiên hà nhỏ gồm nhiều tỷ sao. Những thiên hà lùn thường chuyển động quanh những thiên hà lớn hơn . Thiên hà chúng ta có chừng 14 thiên hà lùn quay quanh.  [13] Giãn nở lạm phát ( cosmic inflation): vũ trụ đã trải qua một quá trình giãn nở rất nhanh theo quy luật hàm mũ.  Cao Chi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vấn đề về an toàn, thanh sát và an ninh      Sau thảm họa Fukushima, hiện nay điện hạt nhân đang có dấu hiệu hồi sinh với trọng tâm chuyển từ châu Âu sang châu Á. Vì vậy các chuyên gia khuyến cáo, để quá trình này phát triển bền vững, cần ghi nhớ ba chữ S – an toàn, thanh sát và an ninh (safety, safeguards and security).    IAEA là tổ chức quốc tế duy nhất giữ trách nhiệm thực thi 3 S  Những dự đoán mới nhất cho thấy, việc sản xuất điện hạt nhân toàn cầu được kỳ vọng sẽ tăng gấp đôi vào năm 2040. Từ năm 2012 đến năm 2040, năng lượng hạt nhân sẽ phát triển nhanh thứ ba sau nguồn năng lượng từ khí tự nhiên.  Tổng năng lượng cơ bản (primary energy – năng lượng các nguồn tự nhiên chưa qua chuyển đổi) sẽ tăng từ 4% đến 6% trong giai đoạn này. Theo Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, một trong những nguyên nhân góp phần dẫn đến sự gia tăng của điện hạt nhân là do những lo ngại về an ninh năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính.  Sự chuyển dịch từ Âu sang Á  Hiện nay, châu Á được coi là điểm tăng trưởng “nóng” của lĩnh vực điện hạt nhân thế giới, trong đó có sự góp phần đáng kể từ các dự án điện hạt nhân của Trung Quốc. Trong bối cảnh này, những quy định 3S về hạt nhân càng trở nên quan trọng hơn với châu Á, nhất là vẫn có những lo ngại về an toàn và an ninh hạt nhân ở khu vực này, liên quan đến yêu cầu về đào tạo các chuyên gia trẻ về an toàn và an ninh hạt nhân.  Yêu cầu cơ bản đối với các quốc gia phát triển điện hạt nhân là triệt để tôn trọng các công cụ pháp lý mới nhất về an toàn hạt nhân, an ninh, và thanh sát hạt nhân cũng như tuân thủ đầy đủ những yêu cầu của nó. Cũng cần nói, tinh thần cảnh giác hạt nhân và việc duy trì phẩm cấp hạt nhân (nuclear order) của các quốc gia này phải là nhận thức tự thân, thậm chí nó phải vượt qua yêu cầu của các công ước quốc tế. Thảm họa hạt nhân tại Fukushima vào tháng 3 năm 2011 đã chứng minh những hạn chế tồn tại của cơ chế giám sát an toàn quốc tế và bài học là Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế  (IAEA) hiện đang phải nỗ lực tăng cường các tiêu chuẩn về an toàn và an ninh đối với các quốc gia phát triển năng lượng hạt nhân.  An toàn hạt nhân hậu FukushimaKế hoạch hành động về an toàn hạt nhân do IAEA soạn thảo vào năm 2011 sau thảm họa Fukushima là một dấu ấn quan trọng, tuy nhiên còn nhiều việc cần được thực hiện tại cơ sở hạt nhân và đảm bảo cho các cơ quan pháp quy hạt nhân hoạt động tốt. Trong lĩnh vực an ninh hạt nhân, cần phát triển một cơ chế giám sát quốc tế minh bạch hơn, thậm chí khi đang có hiệu lực thì việc sửa đổi Công ước về bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân (CPPNM) là một bước tiến được hoan nghênh. Trong lĩnh vực chống khủng bố hạt nhân, Công ước quốc tế về chống hành động khủng bố hạt nhân (ICSANT) và CPPNM cần được phê chuẩn và thực thi một cách rộng rãi.  Công tác giám sát 3 S cần được thực thi một cách chặt chẽ và minh bạch  Ngoài các công ước quốc tế và những nỗ lực để đưa chúng thành những tiêu chuẩn cơ bản cần tuân thủ, trách nhiệm trực tiếp đối với an toàn và an ninh hạt nhân tiếp tục vẫn thuộc về từng quốc gia. Những vấn đề trong an toàn và an ninh hạt nhân đang vẽ nên bức tranh nhiều mảng màu. Trong khi những tiến bộ và  chú ý  được dành để giải quyết các lỗ hổng dễ tổn thương và các mối đe dọa, thì Bảng đánh giá so sánh an ninh hạt nhân (Nuclear Security Index) của Tổ chức Sáng kiến về Đe dọa Hạt nhân (NTI) cho thấy hệ thống an ninh hạt nhân toàn cầu hiện nay vẫn còn thiếu một bộ các tiêu chuẩn quốc tế chung và những cách làm tốt nhất. Hơn nữa, vẫn không có cơ chế để có thể kiểm kê vật liệu hạt nhân tại các quốc gia chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc kiểm soát  an ninh hạt nhân.  Sử dụng hạt nhân cũng có nghĩa là tôn trọng những biện pháp thanh sát để đảm bảo việc ứng dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. IAEA, tổ chức đang nắm giữ trách nhiệm quốc tế duy nhất thực thi thanh sát, đã nâng cấp cách tiếp cận cũng như phương pháp thẩm định trong những năm qua. IAEA  cũng xuất bản hàng năm Báo cáo thi hành thanh sát (SIR) trong đó đánh giá việc làm của các quốc gia thành viên và đưa ra các khuyến nghị để cải thiện. SIR mới nhất đã yêu cầu củng cố tăng cường các cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia nơi thường thấy thiếu các nguồn lực hoặc thẩm quyền thích hợp trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh sát của mình.  Sự hỗ trợ của 3 S  An toàn hạt nhân, an ninh và thanh sát  là ‘bộ ba’ gần gũi có những tác động  hiệp lực cho nhau, và góp phần đem lại hiệu quả và hiệu lực phẩm cấp hạt nhân nói chung. Ví dụ, việc kiểm kê gần thời gian thực vật liệu hạt nhân, cùng với hệ thống giám sát, cung cấp thông tin có giá trị về vị trí và tình trạng của vật liệu hạt nhân. Điều này sẽ rất hữu ích đối với các biện pháp an ninh hạt nhân. Tương tự, các thông tin như vậy lại được dùng để đem lại lợi ích cho an toàn hạt nhân bằng cách đóng góp như là thông tin đầu vào để kiểm soát tính tới hạn và địa điểm của vật liệu hạt nhân.  Hiện nay, thông tin về cam kết của các quốc gia đối với an toàn , thanh sát và an ninh hạt nhân phân tán trong nhiều văn bản khác nhau của  IAEA và của Liên Hợp Quốc (LHQ), kể  cả hồ sơ của  các cuộc họp đánh giá và  nghị quyết của  ủy ban  1540 thuộc Hội đồng bảo an LHQ. Những thông tin này không chỉ không rời rạc, do đó càng khó hơn để trình bày một bức tranh hoàn chỉnh, mà dữ liệu được cung cấp cũng thường thiếu trong các đánh giá của công chúng về hiệu quả của các biện pháp này.  Cần có Báo cáo thực thi 3SCác quốc gia có thể lựa chọn thêm phương cách để công bố một cách  công khai những quy định an toàn, thanh sát và an ninh  hạt nhân cũng như các thông tin khác có liên quan nhằm tạo thêm sự tin cậy rằng hệ thống pháp lý và pháp quy cơ bản về an toàn hạt nhân, bảo vệ và an ninh được đặt ra. Điều này đặc biệt hữu ích cho các quốc gia và khu vực mới bắt đầu tham gia vào chương trình phát triển điện hạt nhân.  IAEA đã hỗ trợ các nước thành viên của mình thông qua việc tiến hành đánh giá phản biện (peer reviews) một cách tự nguyện các khía cạnh khác nhau về an toàn, thanh sát và an ninh. Những chuyến đánh giá như vậy là công cụ hữu ích vừa cải thiện năng lực của các quốc gia vừa tạo sự tin cậy trong cam kết quốc gia liên tục đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các công ước và hiệp ước khác nhau  Đẩy mạnh nền tảng này bằng việc công bố kết quả đánh giá quốc tế đó một cách thường xuyên sẽ giúp nâng cao tính minh bạch (transparency needle).  Tăng cường 3S hạt nhân nên được theo đuổi như là một công tác đang đem lại lợi ích cho ngành công nghiệp, người sử dụng cũng như người không sử dụng hạt nhân. Những sự cố hạt nhân có thể trải rộng từ  những tai nạn với ảnh hưởng phóng xạ địa phương  cho đến các cuộc tấn công khủng bố hạt nhân quy mô lớn với sự lan tỏa xuyên quốc gia, gây chấn động mạnh tới nền kinh tế quốc gia và khu vực, an ninh và tâm lý vượt xa tác động của bụi phóng xạ đơn thuần.  Để cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh đầy đủ về tình trạng an toàn, thanh sát và an ninh hạt nhân, toàn cầu, IAEA nên cung cấp một báo cáo thực hiện hai năm một lần. Một báo cáo như vậy  sẽ đánh giá hiệu lực của các cam kết quốc gia với lập trường đảm bảo năng lượng hạt nhân được sử dụng một cách an toàn, tin cậy và hòa bình. Báo cáo phải chỉ ra những chỗ cần được tăng cường đồng thời đề xuất những cải tiến cần được các quốc gia hoặc cộng đồng quốc tế thực hiện .  Nguyễn Thị Thu Hà tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những vị khách đáng nhớ của Obninsk      Không lâu sau khi đi vào vận hành, nhà máy điện hạt nhân Obninsk đã trở thành “thánh địa Mecca” của những người quan tâm đến ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.      Obninsk là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới nối lưới điện quốc gia. Nguồn: Rosatom  Đó là những phái đoàn cấp cao của nhiều quốc gia do các nhà lãnh đạo, các chính trị gia nổi tiếng, những người mong muốn và sẵn sàng tìm hiểu một cách trực tiếp về nhà máy điện hạt nhân, những tiềm năng của nó cũng như những triển vọng mà nó có thể mang lại; và các đoàn gồm các nhà khoa học và kỹ thuật mong muốn biết tới từng chi tiết về nhà máy cũng như các phái đoàn từ nhiều tổ chức quốc tế với mục đích học hỏi. Trong hàng nghìn phái đoàn đến Obninsk có một số vị khách để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc.  Phái đoàn của các chuyên gia kỹ thuật điện của Anh do B. F. J Showland, một cố vấn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Anh (UKAEA) dẫn đầu. Họ là những người quan tâm đến từng chi tiết của nhà máy điện hạt nhân và các phương thức vận hành chúng. Đó là kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng với kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên đất nước mình của họ sau này (Anh là một trong những quốc gia nghiên cứu và phát triển công nghệ nguồn trên thế giới). Các vị khách đã viết những dòng sau trong sổ lưu niệm của nhà máy: “Phái đoàn của UKAEA bày tỏ sự ngưỡng mộ công trình do giáo sư Blokhintsev và các cộng sự thực hiện cùng lòng biết ơn với sự hiếu khách của họ. Chúng tôi mong ước được tăng cường hợp tác trong lĩnh vực sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình với Liên Xô trong tương lai” (ngày 18/11/1955).  Đoàn gồm các nhà khoa học CHDC Đức do R. Rompe dẫn đầu cũng tới Obninsk vào năm 1955. Họ chia tay nhà máy với những lời ghi lại cảm nghĩ: “Phái đoàn của chúng tôi tới nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới này, gửi những lời chúc mừng nhiệt thành nhất tới các nhà khoa học, các kỹ sư và các công nhân về việc hoàn tất một công trình lớn lao cho hòa bình. Kể từ thời điểm đó, G. Hertz, một nhà vật lý Đức nổi tiếng, đã duy trì mối hợp tác với chúng tôi trong nhiều năm. Tôi luôn cho rằng các phương thức quản lý nghiên cứu của chúng tôi (và nhiều nơi khác) vẫn còn nhiều khiếm khuyết, ông cũng nghĩ chúng còn xa mới đạt tới sự hoàn hảo. G. Hertz đã viết trong sổ lưu niệm: “Tôi đã nghe và đọc nhiều về các nhà máy điện hạt nhân; những gì tôi chứng kiến ở đây đã vượt quá mọi sự mong chờ của tôi…”. Sau đó, lò phản ứng thực nghiệm đầu tiên cho nghiên cứu vật lý hạt nhân đã được xây dựng ở Đức với sự hỗ trợ của các nhà khoa học và các tổ chức của Liên Xô.      Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành thời gian viết vào cuốn sổ lưu niệm của nhà máy những dòng chữ đầy ý nghĩa: “Chủ nghĩa đế quốc dùng sức mạnh của nguyên tử để tiêu diệt con người. Chính quyền Xô viết dùng điện nguyên tử vì hạnh phúc của con người trên toàn thế giới. Lẽ tất yếu, nền hòa bình chung này sẽ chiến thắng”…      Tháng 6/1955, Jawaharlal Nehru và con gái ông là Indira Gandhi đã tới Obninsk; hộ tống họ còn có đại sứ Ấn Độ tại Liên Xô K. Menon và đại diện của Chính phủ Xô viết A. I. Mikoyan. Đây là trải nghiệm nghi thức ngoại giao đầu tiên của tôi. Nehru trông có vẻ mệt mỏi nhưng chúng tôi ấn tượng sự sáng suốt của ông, có thể cảm nhận được chiều sâu của tâm hồn và trí tuệ của con người này. I. Gandhi được khắc sâu trong ký ức tôi với vẻ duyên dáng, nhu mì và giản dị. J. Nehru hỏi lý do vì sao chúng tôi lại sử dụng nước nhẹ cho lò phản ứng trong khi Homi Bhabha lại sử dụng nước nặng (vốn rất đắt đỏ) trong dự án hạt nhân ở Ấn Độ1. Vì vậy, tôi phải vận dụng cả các chi tiết kỹ thuật để giải thích. Sau đó, hứng thú với vấn đề ứng dụng hạt nhân, J. Nehru đã tới thăm viện của chúng tôi, khi ấy, tất cả các nhà nghiên cứu trong viện đều rời khỏi phòng thí nghiệm để đón chào ông. Ông Nehru rất ấn tượng về sự trẻ trung của tập thể nhà nghiên cứu và nhận xét tất cả các thành viên này đều còn rất trẻ, ông còn hỏi liệu viện là nơi chuyên về đào tạo hay nghiên cứu. Tôi trả lời viện của chúng tôi thuần túy là nghiên cứu. Trong cuộc trò chuyện với Nehru, tôi nói chúng tôi biết rất rõ về các nhà vật lý Ấn Độ, những người đã có nhiều đóng góp cho nền khoa học hiện đại thế giới, biết về các nhà văn Ấn Độ, trước hết là R. Tagore, người vốn được nhiều độc giả Xô viết ngưỡng mộ. Tôi cho rằng việc kết hợp giữa sự phát triển ở mức độ cao từ thời cổ đại của văn hóa Ấn Độ với khoa học và kỹ thuật tiên tiến sẽ đưa quốc gia này tới sự phát triển rực rỡ. Nghe vậy, Nehru hồi đáp: “Chúng tôi đang phát triển theo đúng cách thức này; dẫu sao, nhiệm vụ cấp bách hiện nay của chúng tôi là vượt qua nghèo đói, nạn mù chữ và bệnh dịch”. Trước khi ra về, Nehru còn để lại bút tích: “Tôi vui mừng khi có cơ hội tìm hiểu lò phản ứng của các bạn, và tôi hoàn toàn bị cuốn hút: nó trao cho tôi một cơ hội để nhìn thấy tương lai, vừa mới được mở ra trước chúng tôi”.  Một nhân vật cũng để lại ấn tượng với tôi là chủ tịch Hồ Chí Minh (ông đến đây vào tháng 7/1955). Phẩm chất kỳ diệu nhất ở nhà lãnh đạo này là ở chỗ, ông không chỉ là người có lòng nhân từ mà còn là người tử tế bậc nhất mà tôi biết. Thật khó mà hình dung ra con người trong trang phục giản dị đang đứng trước chúng tôi lại là một người đấu tranh không khoan nhượng trước quân xâm lược, vị lãnh đạo của một đất nước. Khi đi thị sát nhà máy, ông nói: “Đây là thực sự là tương lai của nhân dân tôi, chúng tôi phải làm bằng được!”. Sau đó, tôi nói với ông rằng V. I. Lenin cũng đã hết sức quan tâm đến điện khí hóa ngay trong những năm gian khó bậc nhất của đất nước Xô viết, dẫu nhiều ý kiến lúc đó cho rằng đây có thể chỉ là sự tưởng tượng. Giờ đây, chúng ta đều biết rằng sau nhiều khó khăn thì đất nước Xô viết cuối cùng đã bắt đầu công trình hòa bình này. Các công nhân của nhà máy điện hạt nhân Obninsk sau đó đã kể lại với chúng tôi, họ cảm thấy vinh dự khi chứng kiến sự ân cần và lịch thiệp của Hồ Chí Minh với tất cả mọi người, người mà tôi cũng nhận ra ngay lập tức điều đó ở ông. Thật vậy, ông mỉm cười với mọi người và luôn nhắc “anh cứ làm việc đi…”    Phòng điều hành của nhà máy điện hạt nhân Obninsk. Nguồn: Rosatom.  Trước khi ra về, Hồ Chí Minh còn dành thời gian viết vào cuốn sổ lưu niệm của nhà máy những dòng chữ đầy ý nghĩa: “Chủ nghĩa đế quốc dùng sức mạnh của nguyên tử để tiêu diệt con người. Chính quyền Xô viết dùng điện nguyên tử vì hạnh phúc của con người trên toàn thế giới. Lẽ tất yếu, nền hòa bình chung này sẽ chiến thắng”…  Sau khám phá chuỗi phản ứng phân hạch uranium, ý tưởng ứng dụng năng lượng nguyên tử đã trở nên rõ ràng hơn về nguyên tắc là có thể tạo ra điện bằng việc sử dụng nhiệt dư trong lò phản ứng hạt nhân. Chỉ có một điều mà chúng ta cần nhớ: chúng ta phải hình dung cách chúng ta có thể tạo ra một nhà máy được vận hành với độ an toàn phóng xạ, tin cậy và hiệu quả kinh tế. Nhiệm vụ của nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới của Liên xô là đã tạo ra một đột phá và làm khả thi ý tưởng của việc sử dụng năng lượng nguyên tử theo mục đích hòa bình thành một nguồn lực xã hội. □  Anh Vũ lược dịch   Nguồn: http://elib.biblioatom.ru/text/pervaya-atomnaya-elektrostantsiya_2014/go,116/  * Bài viết được trích đoạn từ “Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế  giới” do D. I Blokhintsev xuất bản trên The issues of History Journal năm 1974, sau đó được Rosatom đưa vào tập ấn phẩm đặc biệt cùng tên, ra mắt vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nhà máy Obninsk năm 2014, đúng hai năm sau khi nhà máy chính thức ngừng hoạt động và chuyển sang phục vụ nghiên cứu, sản xuất đồng vị phóng xạ.  —  1. Lò phản ứng ở Obninsk dùng nước nhẹ để làm chất tải nhiệt còn graphit làm chậm neutron. Cũng vào thời điểm đó, lò phản ứng thực nghiệm của Ấn Độ đặt tại Trombay, Mumbai dùng nước nặng làm chất làm chậm neutron. Áp dụng công nghệ này, Ấn Độ có thể dùng uranium tự nhiên làm nhiên liệu mà không phải làm giàu.    Author                D. I. Blokhintsev        
__label__tiasang Những yếu tố chi phối quan điểm của người dân về các vấn đề khoa học      Kết quả của cuộc thăm dò ý kiến công chúng  do Trung tâm Nghiên cứu Pew vừa thực hiện cho thấy, không chỉ quan điểm  chính trị mà cả các yếu tố như giới tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng  tộc, hay học vấn cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ của người dân đối  với các vấn đề khoa học.      Cuộc khảo sát với 2.002 người dân Mỹ về 22 vấn đề khác nhau cho thấy, sự khác biệt trong quan điểm về chính trị được thể hiện rõ nét nhất trong vấn đề thay đổi khí hậu. Gần 80% người theo Đảng Dân chủ trong cuộc khảo sát tin rằng nhiệt độ toàn cầu tăng lên là “do các hoạt động của con người”, trong khi đó tỉ lệ này ở những người theo Đảng Cộng hòa chỉ là 10%. Tương tự, 57% người theo Đảng Cộng hòa cho rằng “không có bằng chứng thuyết phục về việc Trái đất đang ấm lên”, trong khi chỉ có 10% người theo Đảng Dân chủ nghĩ như vậy. 86% người theo Đảng Dân chủ cũng ủng hộ việc áp giới hạn nghiêm ngặt hơn về lượng khí phát thải của các nhà máy điện, trong khi con số này ở những người theo Đảng Cộng hòa chỉ là 33%.  Quan điểm của công chúng đối với việc chính phủ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu cơ bản, một vấn đề trọng tâm đối với nhiều nhà khoa học, dường như cũng phụ thuộc vào quan điểm chính trị. Khoảng 82% người theo Đảng Dân chủ cho rằng sự hỗ trợ của chính phủ “là thiết yếu, giúp bảo đảm sự tiến bộ của khoa học”, trong khi chỉ có 43% người theo Đảng Cộng hòa đồng ý với quan điểm trên. Mặt khác, khoảng 55% người theo Đảng Cộng hòa cho rằng “hoạt động đầu tư tư nhân sẽ là đủ” để hỗ trợ nghiên cứu, trong khi chỉ có 16% người theo Đảng Dân chủ có suy nghĩ này.  Nhưng lý tưởng chính trị lại đóng vai trò phụ ở nhiều vấn đề khác. Về vấn đề thực hiện tiêm phòng bắt buộc cho trẻ nhỏ, yếu tố tuổi tác lại có tác động nhiều hơn. 41% người dưới 30 tuổi cho rằng nên để phụ huynh quyết định, trong khi chỉ có 20% người trên 65 tuổi nghĩ như vậy.   Còn đối với vấn đề sử dụng động vật trong nghiên cứu, giới tính lại có tác động nhiều hơn. 62% phụ nữ phản đối hoạt động này, trong khi chỉ có 37% nam giới phản đối. Tương tự, trong số 60% người tham gia nghiên cứu ủng hộ hoạt động thám hiểm không gian thì chỉ có 42% nữ giới so với 66% nam giới.  Tuổi tác và giới tính là những yếu tố quan trọng trong vấn đề năng lượng hạt nhân. 56% những người dưới 30 tuổi phản đối việc xây dựng thêm nhà máy điện hạt nhân, trong khi đó con số này ở những người trên 65 tuổi là 39%. Tương tự, 59% phụ nữ phản đối việc mở rộng năng lượng hạt nhân nhưng chỉ có 43% nam giới nghĩ như vậy.  Khảo sát này cũng đặt ra nghi vấn đối với quan điểm của nhiều nhà khoa học rằng người dân sẽ ủng hộ giới khoa học trong những vấn đề gây tranh cãi nếu họ có thêm thông tin về vấn đề đó. Trong số 22 vấn đề được hỏi, chỉ có ba vấn đề chịu ảnh hưởng của trình độ học vấn hay kiến thức khoa học nói chung, bao gồm vấn đề sử dụng động vật trong nghiên cứu, điện hạt nhân, và thực phẩm biến đổi gene.  Song có lẽ nhiều nhà khoa học sẽ thất vọng khi biết rằng chỉ có 28% người dân Mỹ cho rằng giới nghiên cứu có “hiểu biết rõ hơn về tác động của thực phẩm biến đổi gene đối với sức khỏe”. Tỉ lệ không đồng ý ở những người có bằng cử nhân và những người không có bằng cử nhân là như nhau. Ở một vấn đề khác, mỗi nhóm học vấn trên đều có tỉ lệ 69% ủng hộ việc sử dụng công nghệ sinh học để tạo ra nhiên liệu lỏng thay thế cho dầu. Ngoài ra, cả hai nhóm cũng lo lắng như nhau về khả năng Trái đất có thể cung cấp đủ lương thực cho dân số toàn cầu đang phát triển nhanh chóng hay không.  Trang Bùi dịch theo Science      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những yếu tố nào góp phần dẫn đến cháy rừng?      Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ rủi ro cháy rừng trong điều kiện biến đổi khí hậu và dân số tăng? Nhà nghiên cứu Phạm Thị Thu Trang (Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp) và cộng sự Đại học Murdoch (Australia) đã tìm hiểu hiện trạng cháy rừng ở ba tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả được họ xuất bản trên International Journal of Wildland Fire, “Forest fire and its key drivers in the tropical forests of northern Vietnam”.     Một vụ cháy rừng xảy ra ở Điện Biên. Nguồn: TTXVN  Hiểu về các mẫu hình xuất hiện của cháy rừng có thể quản lý rừng hiệu quả hơn và giảm thiểu rủi ro cháy rừng. Do đó, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu các mẫu hình biến thiên theo thời gian và không gian và những yếu tố tác động đến cháy rừng tự nhiên khắp ba tỉnh phía Bắc là Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, nơi sở hữu các diện tích rừng nguyên sinh, thứ sinh (41%), rừng trồng (4%), rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới (6%) và rừng tre (1%). Đây là khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc điểm lạnh khô về mùa đông và nóng ẩm về mùa hè, nhiệt độ trung bình hằng năm dao động từ 20 đến 23°C, cao nhất từ 37 đến 41°C và thấp nhất từ −4 đến −2°C. Đặc biệt, khu vực này có 12 ngày sương giá và 40 ngày chịu gió Lào mỗi năm. Ở nơi có độ cao trên 1400 m so với mực nước biển thường có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, với lượng mưa rơi đạt mức cao nhất và ít khi rơi vào khô hạn mùa khô. Trên thực tế, Điện Biên và Sơn La thường phải hứng chịu nhiều đợt cháy rừng hơn Lào Cai nhưng tựu trung lại, số lượng cháy rừng ở ba tỉnh này chiếm hơn 50% tổng số các trận cháy rừng ở cả vùng Tây Bắc (5753 vụ).  Để tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng, họ đã sử dụng hệ thống xếp hạng nguy hiểm cháy rừng Chỉ số Nesteror điều chỉnh (MNI), dữ liệu Atlas Cháy rừng toàn cầu giai đoạn 2003–2016, dữ liệu cháy rừng bên ngoài khu vực nghiên cứu hoặc khu vực không có rừng của Bộ NN&PTNT… và tính đến các yếu tố liên quan như thời tiết, địa hình, điều kiện dẫn đến cháy rừng, hành động của con người… Qua đó, họ khám hiểu sự xuất hiện của cháy rừng, quy mô cháy rừng trong năm, giữa các năm bằng việc phân tích miêu tả và phát triển các mô hình Maximum Entropy theo không gian và thời gian liên kết với các yếu tố trên.  Kết quả, họ phát hiện ra trong giai đoạn 2003–2016, sự xuất hiện của cháy rừng rất đa dạng, cao nhất vào năm 2007 (826 vụ) và thấp nhất vào năm 2008, 2011 (57 và 67 vụ). Hầu hết các vụ cháy đều rơi vào mùa khô, cụ thể là tháng hai đến tháng tư khi hệ thống xếp hạng nguy hiểm cháy rừng MNI cao hơn đi kèm với độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa thấp hơn. Phần lớn các vụ cháy rừng xuất hiện trong cuối mùa khô, 85% các vụ cháy rừng đều xuất hiện trên rừng tự nhiên, sau là rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới nhưng hiếm khi xảy ra trong rừng trồng và rừng tre với 100 vụ mỗi năm. Phần lớn các vụ cháy rừng đều ở quy mô diện tích nhỏ, trung bình hơn 100 ha, lớn nhất trên rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới, nhỏ nhất trên rừng tre.  Về tổng thể, các yếu tố thúc đẩy cháy rừng là nhiệt độ, hệ thống xếp hạng nguy hiểm cháy rừng MNI, độ cao và độ dốc địa hình, và suy giảm theo độ ẩm, mật độ dân số cao. Các mô hình Maxent mà các nhà nghiên cứu sử dụng đều thành công trong dự đoán sự xuất hiện của cháy rừng. Việc kết hợp các dữ liệu ở ba tỉnh cho thấy xác suất cháy rừng có thể lớn hơn trong một số điều kiện nhất định: nhiệt độ cao, chỉ báo từ hệ thống xếp hạng nguy hiểm cháy rừng MNI, khu vực thưa dân, xa đường giao thông, khu vực núi cao và nhiều diện tích rừng tự nhiên.  Do đó, nghiên cứu này cho thấy, cần một đánh giá tích hợp nhiều yếu tố liên quan đến cháy rừng có thể dự đoán nguy cơ cháy rừng tốt hơn so với hệ thống vẫn được áp dụng là chỉ dựa vào thời tiết. Bên cạnh đó, việc sử dụng đánh giá tích hợp này có thể giúp cải thiện công tác quản lý và giáo dục phòng cháy chữa cháy ở miền Bắc Việt Nam. □      Author                T. Nhàn        
__label__tiasang Niềm tin và lựa chọn      Khi niềm tin được xác lập trên cơ sở chân lý và được thẩm định bởi sự hoài nghi lành mạnh, con người sẽ làm chủ được lựa chọn của mình, do đó làm chủ được bản thân mình. Khi đó, xã hội sẽ tự động chuyển từ xã hội vị thành niên – xã hội cam chịu áp đặt, sang xã hội trưởng thành – xã hội dân chủ, văn minh, bình đẳng.      Niềm tin  Niềm tin là kết quả tác động của chân lý, hoặc những giá trị phổ quát có ý nghĩa tương tự chân lý, lên nhận thức của con người. Người ta có niềm tin khi cho rằng đó là điều đúng, điều tốt, điều đẹp đẽ – những biểu hiện của chân lý.          Niềm tin thông minh cũng phải luôn được xem  xét lại bởi hoài nghi và bổ sung thêm bởi chân lý trong một tiến trình  biện chứng. Nếu không, niềm tin sẽ thoái hóa trở thành niềm tin mù  quáng.        Niềm tin khác với Đức tin. Đức tin có thể là kết quả của một màu nhiệm, một bản năng, một quán tính, một giáo điều, hoặc tệ hơn là một sự lười biếng. Đức tin có được thông qua sự tin tưởng tuyệt đối không cần nghi vấn. Nhưng niềm tin thì khác, niềm tin bao giờ cũng đặt trên cơ sở chân lý, và mang trong mình những vết sẹo của hoài nghi, xác lập được thông qua một quá trình hoài nghi lành mạnh và đầy đủ. Niềm tin như thế là niềm tin thông minh.  Niềm tin thông minh, vì thế, cũng mang trong mình tính tương đối về bản chất. Niềm tin thông minh cũng phải luôn được xem xét lại bởi hoài nghi và bổ sung thêm bởi chân lý trong một tiến trình biện chứng. Nếu không, niềm tin sẽ thoái hóa trở thành niềm tin mù quáng.   Cần nhấn mạnh rằng, dù xuất phát từ nguồn gốc nào đi chăng nữa, thì đức tin cũng mang tính thiêng liêng nhất định. Còn niềm tin mù quáng, dù được biện hộ bởi mỹ từ nào đi chăng nữa, cũng chỉ là biểu hiện cụ thể của sự dốt nát u mê.  Vì thế, để thoát khỏi niềm tin mù quáng, không còn cách nào khác là phải nhờ cậy đến ngọn đuốc soi đường của lý trí, như đã từng thấy trong phong trào Khai sáng trước đây, nhưng với một tinh thần mới: Hãy dám biết và hãy dám hoài nghi!  Lựa chọn  Hoài nghi, chân lý và niềm tin là những bước tiến của quá trình nhận thức. Nhưng quá trình này chỉ diễn ra trong đầu óc của mỗi cá nhân. Nếu chúng không được biểu hiện ra ngoài dưới dạng khả kiến và khả dụng là lựa chọn thì sẽ trở nên nửa vời, không có tác dụng gì nhiều đối với sự tiến bộ của xã hội như một tập thể liên đới.  Đi từ hoài nghi sang chân lý, niềm tin và lựa chọn, vì thế là một sự phát triển tự nhiên và lành mạnh của nhận thức, là một sự tất yếu cần-phải-thế.  Trên thực tế, lựa chọn là một trong những năng lực quan trọng nhất của mỗi cá nhân và cộng đồng. Cơ sở của lựa chọn là niềm tin. Nhưng niềm tin lại có niềm tin thông minh và niềm tin mù quáng, nên lựa chọn cũng tất yếu có lựa chọn thông minh và lựa chọn mù quáng, hay có thể định danh bằng tên gọi khác là lựa chọn tích cực và lựa chọn tiêu cực với việc xem xét sự phát triển như một quá trình liên tục và lâu dài.          Nếu lựa chọn là tích cực – tức lựa chọn trên  cơ sở niềm tin thông minh, được xác lập trong quá trình tìm kiếm chân  lý và hoài nghi lành mạnh – thì hoạt động của cá nhân và tổ chức xã hội  sẽ mạch lạc, phản ứng sẽ hiệu quả. Nếu lựa chọn là tiêu cực – tức lựa  chọn trên cơ sở niềm tin mù quáng, thì hoạt động sẽ rối rắm, phản ứng sẽ  tình thế. Điều này biểu hiện rõ nhất trong hoạt động của một chính phủ,  hoặc một tổ chức lớn trong xã hội.        Lựa chọn tiêu cực – có cơ sở là niềm tin mù quáng, thiết lập bởi sự kết hợp giữa lười biếng và những giá trị đã lạc hậu, nhưng được tôn vinh như chân lý bất biến bởi một nhóm người hoặc một truyền thống – thường hay xảy ra vì nó dễ và an toàn. Người lựa chọn hoàn toàn thụ động như một cỗ máy, không tự ý thức được việc ý nghĩa của mình làm. Kết quả của sự lựa chọn này là thói a-dua theo đám đông hoặc sự cam chịu áp đặt một cách vô thức.  Lựa chọn tích cực – có cơ sở là niềm tin thông minh, xác lập được thông qua quá trình kiếm tìm chân lý và hoài nghi lành mạnh – thường ít xảy ra hơn vì nó khó, và đôi khi nguy hiểm cho chủ thể của lựa chọn do đi ngược với nhận thức của đám đông lười biếng. Nhưng bù lại, người lựa chọn thông minh được sống như một con người được khai sáng: chủ động phán đoán và đón nhận những hậu quả có thể xảy đến với lựa chọn của mình một cách có ý thức. Lúc đó, chủ thể của lựa chọn đã chuyển cách hoạt động từ “máy” sang “người”.  Nếu xét đến cùng bản chất của các hoạt động trong đời sống, dù là của một hệ thống vô sinh, một cá nhân hay một tổ chức xã hội, thì đó sẽ là một chuỗi các lựa chọn liên tiếp, ý thức hoặc vô thức. Lựa chọn trước là tiền đề cho những lựa chọn tiếp theo.   Bản chất hoạt động của một hệ thống vô sinh, như một cỗ máy tính chẳng hạn, nếu quy giản đến mức tối đa, sẽ là một chuỗi những lựa chọn liên tiếp trên cơ sở của một bộ qui tắc đã được thiết lập trước, bởi tự nhiên – gọi là quy luật – hoặc bởi con người.  Bản chất hoạt động của một cá nhân, nếu quy giản đến mức tối đa, sẽ là chuỗi các lựa chọn – cả thông minh lần mù quáng, được tiến hành một cách vô thức hoặc có ý thức – và chuỗi phản ứng với những hệ quả của những lựa chọn đó, tác động lên chính bản thân cá nhân đó hoặc cộng đồng liên đới.   Bản chất hoạt động của một tổ chức xã hội, ví dụ chính phủ của một nước chẳng hạn, nếu quy giản đến mức tối đa, cũng là chuỗi các lựa chọn – cả thông minh lần mù quáng, một cách vô thức tập thể hoặc có ý thức bởi một cơ chế phản ánh ý chí tập thể – những cách thức và giải pháp vận hành tổ chức đó nhằm đạt được một mục đích định trước, và ứng xử với những hệ quả cả tốt và xấu do những cách thức và giải pháp đó gây nên cho chính bản thân tổ chức đó và cũng như cho xã hội.  Vì thế, nếu lựa chọn là tích cực – tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin thông minh, được xác lập trong quá trình tìm kiếm chân lý và hoài nghi lành mạnh – thì hoạt động của cá nhân và tổ chức xã hội sẽ mạch lạc, phản ứng sẽ hiệu quả. Nếu lựa chọn là tiêu cực – tức lựa chọn trên cơ sở niềm tin mù quáng, thì hoạt động sẽ rối rắm, phản ứng sẽ tình thế. Điều này biểu hiện rõ nhất trong hoạt động của một chính phủ, hoặc một tổ chức lớn trong xã hội.  Một cá nhân không có khả năng lựa chọn tích cực là một cá nhân chưa trưởng thành. Một xã hội không có khả năng lựa chọn tích cực cũng là một xã hội chưa trưởng thành. Tước đoạt khả năng lựa chọn tích cực của cá nhân và xã hội là một tội ác cần lên án.  Vì thế, muốn có một xã hội lành mạnh, tiến bộ, không còn cách nào khác là phải giải phóng khả năng hoài nghi, kiếm tìm chân lý, xác lập niềm tin và lựa chọn tích cực của mỗi người.   Khi những khả năng này được giải phóng, và đặc biệt, được đảm bảo bằng pháp luật, thì những phương án tốt nhất, những con đường nhanh nhất để đạt được sự tiến bộ, sẽ hình thành một cách tự nhiên, không chỉ với sự phát triển của mỗi cá nhân, mà còn cho toàn xã hội.  Con người khi đó là con người được giải phóng, được làm chủ bản thân mình. Xã hội – tập hợp của những cá nhân và tương tác giữa họ – khi đó sẽ tự động chuyển sang một mức phát triển mới, từ xã hội vị thành niên – xã hội cam chịu áp đặt, sang xã hội trưởng thành – xã hội dân chủ, văn minh, bình đẳng.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nikolas Bourbaki, câu chuyện bí ẩn      Đầu những năm 1930, trong làng Toán xuất hiện cái tên Nikolas Bourbaki, khiến cả làng Toán ngỡ ngàng. Một cái tên viết lại hầu hết lý thuyết Toán học đương đại, và vào các kí hiệu tập rỗng Ø, ký hiệu =>, các khái niệm song ánh, toàn ánh, đơn ánh…      Cuốn sách đầu tiên trong bộ ”Éléments de mathématique”a  1. Câu chuyện bí ẩn?  Năm 1939, tập đầu tiên trong bộ sách đồ sộ “Éléments de mathématique” (Cơ sở toán học) gồm hơn 40 quyển được xuất bản. Tập đầu do nhà xuất bản Hermann & Cie, số 6 phố Sorbonne- Paris ấn hành. Sách bìa màu vàng, in từng tập mỏng.Tác giả là một nhà toán học có cái tên lạ hoắc Nikolas Bourbaki. Nội dung của bộ sách trình bày một cách hệ thống gần như toàn bộ các lĩnh vực của toán học hiện đại.  Tại thời điểm đó, tất cả mọi người đều không biết Nikolas Bourbaki là ai. Chỉ tựa đề “Éléments” gợi các nhà Toán  học nhớ về 2000 năm trước, khoảng năm 306 trước Công Nguyên, ở thành phố Alexandria phía Bắc Ai Cập. Dưới sự cai quản của Hy Lạp, một học viện danh tiếng được thiết lập để truyền bá văn minh. Vị danh sư lỗi lạc nhất của học viện được những thế hệ sau biết tới dưới tên là Euclid. Công trình của ông thật vĩ đại, nhưng ngoài cái tên ngắn gọn, không ai biết gì thêm về đời sống riêng tư của ông, từ ngày tháng và năm sinh cho tới ngày mất. Người đương thời chỉ truyền lại rằng ông được mời từ Hy Lạp sang để giảng dạy về toán học. Căn cứ vào sách vở ông để lại, thì người ta dự đoán Euclid trước kia được học tập tại Akademeia do Plato sáng lập vào thế kỷ trước. Vậy Euclid là môn sinh đời thứ ba của trường phái Plato. Công trình của Euclid đã hệ thống lại toàn bộ kiến thức về hình học của thời đó và soạn thành tập sách nay được biết đến với cái tên “Eléments” (được gọi là bộ cơ sở của toán học).  Và rồi 2000 năm sau, người ta lại thấy xuất hiện một bộ “Eléments”, có người cho rằng Bourbaki muốn làm công việc của Euclid trong Thế kỷ XX. Khi một số tập sách mỏng được in ra cũng là lúc các cuộc tranh luận về nội dung của các cuốn sách bắt đầu. Rồi sau đó suốt thập niên 40 Bourbaki không xuất hiện, nhưng ông tiếp tục sắp xếp lại những kiến thức toán học thành một hệ thống tổng quát và đơn giản hơn xưa. Không chỉ giới toán học ở Pháp, mà cả thế giới bắt đầu chú ý đến công trình của Bourbaki và lưu tâm tìm cho ra con người bí ẩn này.  Một điều lạ khác là trong bộ sách sử dụng chữ “mathématique” mà không sử dụng chữ “mathématiques” (có lẽ với ý là Toán học được thống nhất chứ không phải là sự phối hợp đơn lẻ từ các cấu phần).  Các cuốn sách của Bourbaki:  1. Set theory (Théorie des Tạm dịch “Gia đình Cantor, Hilbert, Noether;  2. Algebra (Algèbre) Đại số  3. Topology (Topologie générale) TôPô đại cương  4. Functions of one real variable (Fonctions d’une variable réelle)  Hàm một biến thực  5. Topological vector spaces (Espaces vectoriels topologiques)  Không gian vector tôpô  6. Integration (Intégration) Tích phân  7. Commutative algebra (Algèbre commutative) Đại số giao hoán  8. Lie theory (Groupes et algèbres de Lie) Lý thuyết Lie  9. Spectral theory (Théories spectrales) Lý thuyết phổ  10. Algebraic topology (Topologie Algébrique) Tôpô Đại số  Cuốn sách Variétés différentielles et analytiques là một tập sách nhỏ, tóm tắt các kết quả trong lý thuyết đa tạp. Cuốn sách Spectral theory ra đời năm 1983 và khi ấy gần như được mặc định là dự án xuất bản sẽ dừng lại nhưng sau đó vẫn còn tiếp tục. Năm 1998 với một tập sách nhỏ về đại số giao hoán và 2012 ra đời phần mở rộng của đại số Lie.  Cộng đồng toán học rất tò mò về nhân vật Bourbaki này, thế nhưng họ vẫn mãi tò mò vì nhân vật này không xuất hiện tại các hội thảo hay các buổi sinh hoạt dù đã được mời chính thức qua các kênh truyền thông. Một sự kiện đặc biệt – Đại hội Toán học thế giới năm 1966 ở Nga, ban tổ chức đã gửi giấy mời Bourbaki tham dự và Bourbaki được cho là sẽ đến. Tin đã nhanh chóng lan truyền và rất nhiều nhà toán học không ngại đường sá xa xôi đến Moscow bằng được chỉ để gặp con người này! Rốt cuộc, họ đã thất vọng vì Bourbaki không đến. Sau đó hai năm, có một thông báo về “cái chết” của Bourbaki được đưa ra, mà nội dung rất hài hước.  Gia đình Cartan, Chevailey, Dieudonné, Weil;  Gia đình Bruhat, Dixmier, Godement, Samuel, Schwartz;  Gia đình Cartier, Grothendiek; Malgrange, Serre;  Gia đình Demazure; Douady; Giraud và Verdier;  Gia đình “Lọc” và “Đẳng cấu”;  Bà Adèle và Idèle (Tên hai đối tượng cơ bản trong Hình học đại số)  Vô cùng thương tiếc báo tin chồng, cha, ông chúng tôi…   Nicolas Bourbaki       Đã từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1968 (ngày chiến thắng vĩ đại) tại nhà riêng ở Nancago  Việc an táng được diễn ra tại nghĩa trang Hàm Ngẫu Nhiên (ga tàu Markov và Godel) vào hồi 3h chiều ngày thứ Bảy 23 tháng 01 năm 1968.”  Lễ viếng tại quầy “tích trực tiếp” khu giao lộ “Giải xạ ảnh”…ensembles)  Lý thuyết tập hợp.  Ngoài thông cáo về cái chết ra còn thông cáo từ Bourbaki đó là thông cáo về lễ cưới của con gái Betti Bourbaki với Herto Pétard năm 1937.  Bourbaki là một nhân vật bí ẩn, với những chi tiết và những câu chuyện mà người đọc tưởng chừng đó chỉ có thể xuất hiện trong mơ! Và mọi người luôn đặt câu hỏi ông là ai.  2. Khai sinh Bourbaki  Thực chất, Buorbaki chỉ là một bút danh của một nhóm các nhà toán học trẻ tài năng của Pháp, với mục tiêu viết lại các giáo trình toán cơ bản đang được sử dụng trong các trường học ở Pháp và lấy lại vị thế của Pháp trong làng toán tại thời điểm đó khi tỏ ra yếu thế so với Đức.  Năm 1934, hai nhà Toán học trẻ người Pháp, Henri Cartan và André Weil, trao đổi về việc giảng dạy Tích phân và cả hai cùng thấy không thoải mái với cuốn giáo trình đang có, họ cùng thống nhất phải có một cuốn giáo trình mới. Từ đó họ thường xuyên tới Paris, thứ Hai hàng tuần tham gia seminar toán tại viện Henri-Poincaré. Việc này mang tới cho họ cơ hội ghé thăm các nhà sách, các thư viện và gặp gỡ các học viên và những người thầy tại École Normale Supérieur. Họ thường xuyên gặp và ăn trưa cùng bạn bè tại Café Capoulade ở đại lộ Saint-Michel gần Vườn Luxembourg. Tại đây, Weil đã rất hào hứng chia sẻ về câu chuyện một cuốn sách mới về tích phân với các nhà toán học Claude Chevalley, Jean Delsarte, Jean Dieudonné, René de Possel… Họ nói về cách viết một bộ sách 1000 trang sẽ được công bố trong vòng sáu tháng, và họ nhất trí thường xuyên gặp gỡ tại Capoulade để thảo luận về chủ đề của các cuốn sách sẽ ra đời. Ban chuyên khảo về Tích phân ra đời đầu tiên. Sau đó các nhóm được liên tục thành lập để phủ hết các chủ điểm trong Toán: Đại số, giải tích hàm, lý thuyết tích phân, chuỗi Fourier, lý thuyết biểu diễn và sau cùng là Topo.  Mùa hè năm 1935, nhóm đã quyết định rằng họ sẽ viết dưới cái tên Nicolas Bourbaki. Điều kì lạ là không một thành viên nào biết chính xác cái tên đó đến từ đâu? Có thể nó được gợi ý từ Charles Soter Bourbaki một vị tướng người Pháp, trong chiến tranh Pháp – Phổ (1870-1871).  Bắt đầu năm học 1935, Weil được trao nhiệm vụ nổ phát súng đầu tiên dưới cái tên Bourbaki trong một bài giảng khuyến khích mọi sinh viên đều nên tham gia. Tại đó ông đeo một bộ râu giả, nói một giọng nước ngoài nặng như búa tạ trình bày một loạt các định lý sai và vô lý, cuối ông kết thúc bằng “định lý Bourbaki”.  Tháng 7 năm 1935, đại hội Bourbaki đầu tiên được tổ chức tại Besse-en-Chandesse. Từ đó thông thường mỗi năm đại hội diễn ra ba lần, mỗi lần kéo dài trong vòng một tuần, có một số lần diễn ra hai tuần. Dieudonné nói về kỳ đại hội đầu tiên:  “Bất kỳ ai tham gia kỳ đại hội này”, đều nghĩ đây là cuộc tụ họp của một nhóm người điên, thi thoảng lại có một hoặc vài người hét lên khi phát hiện ra một điều gì đó. Nhưng sau cùng nó lại lắng xuống”. Còn Weil cho biết: “Trong khi thảo luận, bất kỳ ai muốn nói cũng có quyền cắt lời phát biểu của người khác và tạo nên các cuộc thảo luận toán loạn. Thế nhưng cuối cùng các ý tưởng vẫn được triển khai”.  Tuy nhiên có những quy tắc đã được thống nhất, tất cả các lý thuyết đều được trình bày bằng phương pháp tiên đề. Henri Cartan nói: “Bourbaki quyết định sử dụng phương pháp tiên đề xuyên suốt quá trình thực hiện. Nó chứng minh không thể giữ lại các bộ phận cổ điển trong lý thuyết tích phân, giải tích vi phân, hình học, đại số, lý thuyết số… Tại đây, các khái niệm cấu trúc được sử dụng, việc định nghĩa khái niệm đẳng cấu và phân loại các phân môn cơ bản trong Toán học”. Các thành viên của Bourbaki coi trách nhiệm của họ là xây dựng nên một công cụ đặt vào tay các nhà Toán học thế hệ sau để họ dễ dàng sử dụng và có thể tiến xa hơn.”  3. Thế hệ thứ 3 của Bourbaki và con đường đi mới  Chiến tranh Thế giới thứ II làm gián đoạn hoạt động của Bourbaki đôi chút, nhưng ngay khi chiến tranh kết thúc dự án được khởi động lại với sự gia nhập các nhà toán học trẻ Roger Godement, Pierre Samuel, Jacques Dixmier và Jean-Pierre Serre tham gia Bourbaki (vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950 là Samuel Eilenberg, Jean-Louis Koszul, và Laurent Schwartz. Tiếp đến là Armand Borel, François Bruhat, Pierre Cartier, Alexander Grothendieck, Serge Lang, và John Tate những người thuộc thế hệ thứ ba có những cách nhìn rất khác với thế hệ trước. “Các thế hệ trước nghĩ rằng nên dạy học theo những cuốn sách đã có, nhưng các cuốn sách đó lại là bách khoa toàn thư Toán học chứ không phải là một cuốn sách giáo khoa”. Và họ tiếp tục đề xuất viết tiếp các phần chuyên sâu hơn của Toán học. Năm 1957, Grothendiek đề xuất xây dựng Đại số đồng điều, cơ sở Topo, Đa tạp. Một vấn đề khác liên tục làm ảnh hưởng tới Bourbaki đó là việc tạo ra các tài liệu giúp sinh viên cập nhật các kiến thức mới mà Toán học lại là một môn phát triển rất nhanh.  Bourbaki cơ cấu lại mục tiêu xuất bản và họ có dự kiến viết lại sáu cuốn sách đã ra mắt và viết các phần mở rộng. Mặc dù có những thành tựu sau năm 1960, dự án đã bắt đầu chững lại trong những năm 1970. Cartier cho biết: “Bourbaki đấu tranh trong những năm bảy mươi và thập niên tám mươi để xây dựng phương hướng mới. Tuy thất bại trong hàm biến phức, nhưng đổi lại là những bước tiến trong lý thuyết đồng luân, lý thuyết phổ… nhưng không ai trong số họ làm cho chúng vượt qua mức sơ khởi. Bourbaki không thể tìm thấy một lối thoát mới, bởi vì họ đã có một quan điểm giáo điều của toán học: tất cả mọi thứ nên được đặt bên trong một khuôn khổ an toàn.”  Bourbaki hoàn toàn xứng đáng ở trên đỉnh cao nhất của Toán học đương đại, nhưng điều đặc biệt là không hề có một giải thưởng nào dành cho ngài. Nhưng điều đặc biệt là các cá nhân trong đó đều là các cá nhân kiệt xuất cả làng toán. Một số người đạt giải Fields:  Laurent Schwartz giải thưởng Fields năm 1950.  Jean-Pierre Serre giải thưởng Fields năm 1966.  Alexander Grothendieck giải Fields năm 1966.  Phần còn lại của nhóm đều góp công sức đặt nền móng cho hầu hết các chuyên ngành hẹp của toán học đương đại.    Author                Nguyễn Đức Hưng        
__label__tiasang Nitơ trong tự nhiên đang giảm dần      Từ giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu đã tập trung thảo luận về những tác động tiêu cực của việc dư thừa nitơ đối với hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Tuy nhiên, bằng chứng mới cho thấy, thế giới đang trải qua một quỹ đạo kép về nitơ sẵn có – nguồn nitơ ở nhiều khu vực đang bị suy giảm đột ngột và rất nhanh.       Trong công bố mới trên tạp chí Science, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm ra nguyên nhân và hậu quả của tình trạng này đối với hệ sinh thái. Rachel Mason, tác giả chính của bài báo và là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Tổng hợp môi trường – xã hội quốc gia Mỹ (SESYNC) cho biết, hiện lượng nitơ trên Trái đất phân bố không đồng đều. Trong thế kỷ qua, hoạt động công nghiệp và nông nghiệp của con người đã khiến tổng nguồn cung nitơ hoạt tính trên toàn cầu tăng gấp đôi. Chúng tập trung ở sông suối, ao hồ và ven biển, đôi khi dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, vùng chết thiếu oxy và tảo nở hoa. Những tác động tiêu cực của nitơ dư thừa khiến các nhà khoa học xem xét nitơ như một chất ô nhiễm. Tuy nhiên, CO2 gia tăng và nhiều biến đổi khác trên toàn cầu khiến nhu cầu nitơ của thực vật và vi sinh vật tăng lên. Ở những nơi không dư thừa nitơ đầu vào do con người tạo ra, các ghi chép dài hạn cho thấy lượng nitơ sẵn có trong tự nhiên đang suy giảm, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển của động thực vật.  Là nguyên tố thiết yếu trong protein, nitơ sẵn có đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các loài động thực vật hấp thụ chúng. Nếu thiếu nitơ, thực vật sẽ phát triển chậm hơn, lá cây ít dinh dưỡng hơn, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của các loài côn trùng ăn lá cây, cũng như các loài chim và dơi ăn côn trùng. “Khi lượng nitơ sẵn có trong tự nhiên bị suy giảm, mọi sinh vật sẽ lưu giữ nguyên tố này lâu hơn, làm chậm dòng chảy nitơ từ sinh vật này sang sinh vật khác trong chuỗi thức ăn. Đây là lí do tại sao chúng ta có thể kết luận rằng chu trình nitơ đang bị chậm lại”, Andrew Elmore, tác giả chính của bài báo và là giáo sư sinh thái cảnh quan tại Đại học Maryland và SESYNC, cho biết.  Các nhà nghiên cứu đã xem xét những nghiên cứu dài hạn trên toàn cầu và cấp độ khu vực để tìm ra bằng chứng về sự suy giảm nguồn cung nitơ. Chẳng hạn, nguồn nitơ ở các đồng cỏ trung tâm Bắc Mỹ đã bị suy giảm trong một trăm năm qua nên protein trong khẩu phần ăn của gia súc chăn thả ở đây cũng suy giảm theo thời gian. Trong khi đó, nhiều cánh rừng ở Bắc Mỹ và châu Âu đã bị giảm dinh dưỡng ít nhất vài thập kỷ. Sự suy giảm này có thể do nhiều thay đổi về môi trường, một trong số đó là nồng độ CO2 trong khí quyển tăng cao, thậm chí đạt mức lớn nhất trong vòng hàng triệu năm qua. CO2 tăng cao giúp thực vật phát triển màu mỡ hơn, nhưng cũng làm giảm nitơ thực vật, dẫn đến một loạt tác động làm sụt giảm lượng nitơ có sẵn trong tự nhiên. Bên cạnh đó, sự nóng lên toàn cầu và những biến động như cháy rừng cũng có thể làm giảm nguồn cung nitơ theo thời gian.   Việc suy giảm nguồn cung nitơ sẵn có cũng hạn chế khả năng loại bỏ CO2 khỏi khí quyển của thực vật. Hiện nay, sinh khối thực vật toàn cầu lưu trữ lượng carbon gần như bằng lượng carbon trong khí quyển, và trữ lượng carbon sinh khối tăng lên hằng năm theo mức CO2 tăng lên. Tuy nhiên, sự suy giảm nitơ sẽ hạn chế việc phát triển của thực vật, ảnh hưởng đến sự gia tăng lưu trữ carbon trong thực vật mỗi năm. Do vậy, các mô hình biến đổi khí hậu ước tính lượng carbon lưu trữ trong sinh khối và xu hướng của chúng theo thời gian phải tính đến lượng nitơ sẵn có.   “Những dấu hiệu rõ ràng về suy giảm nguồn cung nitơ có sẵn ở nhiều nơi là lí do quan trọng để chúng ta nhanh chóng giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch”, Elmore cho biết. “Những giải pháp quản lý giúp tăng lượng nitơ sẵn có trên diện rộng có thể vẫn còn gây tranh cãi, nhưng rõ ràng là lĩnh vực quan trọng cần được nghiên cứu”. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-04-declining-nitrogen-availability-rich-world.html    Author                .        
__label__tiasang Nỗ lực khoa học để nghiên cứu tro tàn nhà thờ Đức Bà      Trận cháy Nhà thờ Đức Bà ở Paris vào năm ngoái gây sốc toàn thế giới. Hiện giờ, các nhà nghiên cứu đang có một cơ hội chưa từng có để nghiên cứu về những thành phần bên trong của nhà thờ.      Trận cháy phá hủy những bộ phận lớn của nhà thờ mang tính biểu tượng Notre-Dame de Paris vào tháng 4/2019 thực sự là một thảm họa quốc gia. Nhiều tháng sau, các nhà khoa học với Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp (CNRS) đang thực hiện một dự án trị giá hàng triệu euro để nghiên cứu về toàn nhà 850 năm tuổi và các vật liệu của nó với mục tiêu tìm hiểu cách nó được xây dựng như thế nào. Với cơ hội chưa từng có trước đây trong nghiên cứu bộ khung nhà thờ – bao gồm các thành phần từ gỗ, kim loại và những nền móng của tòa nhà, các nhà khoa học hi vọng công việc của họ sẽ giúp sửa chữa, khôi phục nhà thờ.  Nghiên cứu này có thể “viết một công trình mới về lịch sử Nhà thờ bởi hiện nay vẫn còn nhiều khu vực chưa được nhiều người biết đến”, Yves Gallet, một nhà sử học về kiến trúc Gothic tại trường đại học Bordeaux-Montaigne, hiện đang được giao phụ trách một nhóm nghiên cứu mạnh gồm 30 người về công trình nề này, nói.  Việc xây dựng nhà thờ, công trình được coi là một trong những ví dụ xuất sắc của phong cách Gothic Pháp, bắt đầu vào thế kỷ 12. Cấu trúc đã được biến đổi trong thời kỳ Trung Cổ và sửa chữa trên diện rộng trong thế kỷ 19 dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư Eugène Viollet-Le-Duc. Nó cũng là một chủ đề của một nghiên cứu nhỏ gây ngạc nhiên cho mọi người, khi so sánh với những công trình mang tính biểu tượng của kiến trúc Gothic khác ở Pháp và những nơi khác, theo Martine Regert, một nhà sinh học phân tử tại Trung tâm CEPAM chuyên nghiên cứu về các nền văn hóa trong lịch sử và môi trường của CNRS ở Nice và là một trong những người giữ trọng trách quản lý dự án Nhà thờ Đức Bà. Vẫn còn tồn tại nhiều câu hỏi về cấu trúc của nhà thờ cũng như những phần kiến trúc thời kỳ Trung Cổ và liệu là Viollet-Le-Duc có sử dụng một số vật liệu cũ hơn trong phục chế hay không, Regert nêu.  Trận cháy vào ngày 15/4, có thể nguyên nhân là do chập điện, đã phá hủy toàn bộ mái và chóp nhà thờ, và do các phần vòm trần đổ sụp. Các bức tường vẫn còn trụ vững và cuối cùng tòa nhà sẽ được phục hồi – dẫu cho điều này có nghĩa là sẽ mất một khoảng thời gian lâu hơn năm năm so với dự kiến ban đầu và mất hàng trăm triệu euro kinh phí. Các mảnh gỗ cháy dở và các đồ tạo tác bằng kim loại bị phá hủy, tất cả đang sẵn sàng để cho nghiên cứu. Sự vắng mặt của các du khách có thể khiến dễ dành sử dụng hình ảnh radar để dò nền móng, vốn còn ít được khảo sát. Thậm chí một số phần của cấu trúc lớn này còn chưa bị phá hủy hết đang được tạo điều kiện để khảo sát nhiều hơn, Philippe Dillmann, một chuyên gia về các đồ tạo tác bằng kim loại trong lịch sử tại Phòng thí nghiệm về các vật liệu cổ và dự báo thay thế của CNRS tại Gif-sur-Yvette và đang điều hành dự án cùng Regert, cho biết.  Các khảo sát kiến trúc    Tập trung vào bảy chủ đề là nề, gỗ, đồ kim loại, kính, âm học, sưu tập dữ liệu số và nhân học, dự án của CNRS sẽ gồm hơn 100 nhà nghiên cứu trong 25 phòng thí nghiệm và sẽ kết thúc trong 6 năm nữa.  Nhóm nghiên cứu của Gallet sẽ nghiên cứu về các tảng đá xây dựng Nhà thờ để nhận diện các mỏ đá cung cấp nguyên liệu mà “tái dựng các mạng lưới cung cấp và nền kinh tế tại địa điểm cung cấp”. Nghiên cứu về loại vữa được sử dụng để gắn kết các tảng đá lại với nhau có thể tiết lộ cách các thành phần khác nhau được sử dụng để tạo ra các phần cấu trúc khác nhau – xây vòm, tường và những trụ chống mang mái vòm. Vữa xây nhà thờ còn dùng cả vôi từ những tảng đá vôi trầm tích, vốn có thể chứa cả tàn dư hóa thạch có thể tiết lộ nơi nguyên gốc của nó. Một hiểu biết sâu hơn về các loại vật liệu đã được sử dụng trong lịch sử có thể cung cấp thông tin cho việc lựa chọn những vật liệu sẽ được dùng để phục chế, Gallet nói.  Nhóm nghiên cứu sẽ phân tích những điểm yếu trong cấu trúc còn sót lại do ảnh hưởng từ các mức nhiệt độ cao của lửa, sự rơi rụng của khối xây nề và nước được dùng để dập lửa. Sự hủy hoại những tảng đá xây nhà thờ còn bị những cơn sóng nhiệt cực đoan vào tháng 7 vừa qua ở Paris, vốn “sấy khô một cách tàn bạo” và làm yếu khối xây nề, Gallet cho biết. Một nghiên cứu bằng radar sẽ xác định cách các nền móng vững  chắc như thế nào trước khi các nhà phục chế dựng dàn giáo giữa phần gian giữa của giáo đường và cửa cổ để cho phép họ tháo dỡ phần hình chóp thế kỷ 19 mà ngọn lửa liếm qua.  Và với sự hỗ trợ của các nhà sử học, nhóm của Gallet hi vọng sẽ có thêm nhiều hiểu biết về kỹ thuật cấu trúc của kiến trúc Gothic nói chung cũng như Nhà thờ Đức bà nói riêng.  Vượt khỏi tro bụi  Trong khi đó, một nhóm  nghiên cứu gồm 50 người sẽ tập trung vào nghiên cứu phần kiến trúc gỗ nổi tiếng của Nhà thờ- đặc biệt là “rừng gỗ” trong không gian mái phía trên phần vòm. Những phần còn sót lại bị ám đen có thể có rất nhiều giá trị cho các nhà nghiên cứu.  “Phần cấu trúc bị cháy này là một phòng thí nghiệm vô cùng lớn cho khảo cổ học,” Alexa Dufraisse, một nhà khảo cổ học tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Paris, người sẽ dẫn dắt nhóm nghiên cứu liên ngành về gỗ, nói. Nhóm nghiên cứu này bao gồm các nhà khảo cổ học, sử học, các nhà nghiên cứu về tuổi cây, sinh hóa, khí hậu học, thợ mộc, cán bộ lâm nghiệp và các ký sư chuyên về những tính chất cơ học của gỗ.  “Gỗ ẩn chứa một nguồn thông tin khác thường,” Regert nói. Các quan sát ban đầu đã xác nhận phần “rừng” được  làm từ gỗ sồi nhưng việc nghiên cứu sẽ điểm chính xác loài được sử dụng và trao cho các nhà nghiên cứu những manh mối về kỹ thuật và công cụ giúp hình thành cấu trúc gỗ thời Trung cổ.  Việc xác định tuổi cây bằng các vân gỗ tiết lộ năm và địa điểm mà cây bị đốn hạ sẽ giúp có thêm hiểu biết về quá trình xây dựng. “Mỗi cây đêu ghi lại trong từng mô của chúng thông tin về môi trường mà chúng phát triển,” Dufraisse giải thích. Nghiên cứu loại này “có thể chưa bao giờ được thực hiện mà thiếu cấu trúc bị lửa phá hủy”.  Đặc biệt, Regert cho biết, gỗ cũng là một kho tàng về khí hậu. “Các phân tích đồng vị oxy và carbon trong các vòng gỗ có thể giúp xác định được các mức nhiệt độ và lượng mưa theo thời gian,” bà cho biết. Các cây được dùng trong nhà thờ Đức bà thường sống vào khoảng giữa thế kỷ 11 và 13, trong suốt một thời kỳ ấm mà người ta vẫn gọi là điều kiện thời tiết tối ưu thời Trung cổ, có thể đưa ra một liên hệ về thời kỳ khí hậu ấm lên tự nhiên với thời kỳ ấm lên dưới tác động của con người hiện nay. “Chúng ta còn hiểu biết rất ít về thời kỳ này bởi những loại gỗ còn tồn tại đến ngày nay còn rất hiếm,” Dufraisse cho biết thêm.  Kim loại và nề    Một nhóm nghiên cứu khác sẽ nghiên cứu về các vật liệu kim loại của nhà thờ – đặc biệt là được sử dụng để chống các tảng đá và công trình gỗ. “Chúng tôi muốn hiểu về việc sử dụng các lõi sắt trong các pha xây dựng và sửa chữa khác nhau,” nhà khảo cổ học Maxime L’Héritier của trường đại học Paris 8 và dẫn dắt nhóm nghiên cứu này cho biết. Ví dụ, các thanh kim loại, được sử dụng để chống các phần xây nề khỏi áp lực và các nhà xây dựng thời Trung cổ đôi khi còn dùng cả dây xích sắt vào các phần xây bằng đá để gia lực cho nó.  L’Héritier nói, trước đây chưa bao giờ có một nghiên cứu về việc sử dụng sắt trong nhà thờ Đức bà giai đoạn dài từ thời kỳ Trung cổ đến thế kỷ 19.  Nhóm nghiên cứu của ông sẽ nghiên cứu về chì trên mái – rất nhiều chì bị tan chảy do lửa. Các nhà nghiên cứu hướng đến mục tiêu phát triển một bộ dữ liệu liên quan đến hóa học ghi lại các tỉ lệ đồng vị chì và sự hiện diện của các nguyên tố trong vật liệu, “để hiểu sự tiến hóa của nguồn cung cấp và chất lượng chì” – ví dụ, để nhận diện các mỏ khai thác kim loại. Nhóm nghiên cứu cũng muốn khảo sát cách chì được tái sử dụng khi phần mái được khôi phục trong thế kỷ 19. Các kết quả này có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu cách chì bị chảy và phát tán vào môi trường như thế nào – một nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cho vùng trung gian.  Có quyền vào mọi chỗ?  Việc thu thập và đào xới các vật liệu cho các phân tích là một vấn đề đầy thách thức. Có ba đống đổ nát – trong gian chính giáo đường, phần giao cắt và gian ngang phía bắc – cũng như vật liệu vẫn còn dồn đống trên những mái vòm. Hiện nay những chỗ này đều cấm người qua lại vì nguyên nhân an toàn, Dillmann nói – vì vậy các loại robot và thiết bị bay không người lái sẽ được huy động thu dọn. Một số vật liệu có thể được thu thập để tái sử dụng vào công việc phục chế.  “Thách thức đầu tiên là thu thập tất cả các vật liệu gỗ, bất chấp mức độ carbon hóa của nó”, Dillmann cho biết. Vì thế, gần 1.000 mảnh gỗ sẽ được thu thập và đánh dấu – nhưng công việc này bây giờ mới bắt đầu. Dufraisse nói, các nhà khoa học có thể phải mất ba tháng nữa mới có thể tiếp cận được chỗ gỗ này bởi bây giờ nó vẫn đang trong tình trạng nhiễm độc chì. Các nhà nghiên cứu sẽ cần kiểm tra cách các dấu hiệu hóa học trong gỗ đã bị biến đổi do nhiệt độ quá cao của lửa. “Tôi biết là chúng tôi đang đối mặt với nhiều vấn đề kỹ thuật nhưng tôi vẫn cảm thấy tự tin là có thể giải quyết được vấn đề”, Dufraisse nói.  Việc thu thập và phân tích sẽ cần được thực hiện một cách cẩn thận. Livio de Luca, một chuyên gia về vẽ bản đồ số trong kiến trúc, tại Bộ phận nghiên cứu hỗn hợp của CNRS tại Marseille, sẽ dẫn dắt nhóm nghiên cứu chuyên để tạo ra “hệ sinh thái số” kết hợp cả nghiên cứu khoa học và các tình trạng hiện tại và quá khứ của nhà thờ, thu hút công việc của các nhà sử học, khảo cổ, kỹ sư và nhà sưu tầm – và có lẽ thậm chí cả những bức ảnh của các du khách trước đây về cấu trúc nhà thờ.  “Nó sẽ như một ‘dạng sinh đôi số’ của nhà thờ Đức Bà, có khả năng ‘tiến hóa’ như như tiến trình nghiên cứu”, de Luca nói. Nó sẽ bao gồm các mô hình hiển thị 3D online cho công trình và những thuộc tính của nó – một loại Google Earth cho riêng Nhà thờ Đức Bà, được tạo ra từ hàng tỉ điểm dữ liệu, với lịch sử và sự tiến hóa của cấu trúc được xếp chồng lên bản đồ không gian.  Không chỉ tăng cường thêm hiểu biết của chúng ta về công trình mang tính biểu tượng này, Regert hi vọng các nghiên cứu khoa học này sẽ đóng vai trò hữu dụng khi phần mái vòm hoàn tất. Các kết quả có thể “chiếu rọi những lựa chọn mà xã hội sẽ phải làm để khôi phục nhà thờ”. Bà cũng hi vọng là chúng có thể giúp ngăn ngừa một thảm họa như vậy không xảy ra thêm một lần nữa.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00008-5    Author                Quản trị        
__label__tiasang Noam Chomsky: Một trí thức dấn thân      Dù đã ở tuổi 89, nhưng Noam Chomsky vẫn miệt mài làm việc và cống hiến. Ông thường được đánh giá là “cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại”, “người đã làm cuộc chuyển đổi hệ hình”1 (paradigm shifter) nghiên cứu trong khoa học, một đại diện của triết học phân tích, và là một trong những người sáng lập khoa học nhận thức.      Bức họa về Noam Chomsky trên một tòa nhà ở Philadenphia, Mỹ với dòng chữ “Người trí thức đang sống quan trọng nhất”.  Đóng góp, tên tuổi của Chomsky nổi lên và dường như được chia đều ở hai lĩnh vực chính là ngôn ngữ học và hoạt động phản biện chính trị – xã hội. Quan điểm của ông về cả hai lĩnh vực này hiện vẫn là những thách thức để cho người ta chứng minh, phát triển, thậm chí là bác bỏ để phát triển, phát triển để bác bỏ. Có vẻ các nghiên cứu khoa học hàn lâm của ông về ngôn ngữ học thường mới chỉ dừng lại ở bậc lí thuyết, giả thuyết. Nhưng dù vậy, không ai phủ nhận được một thực tế rằng các công trình và hoạt động của Chomsky lại đầy chất “gợi mở”, “khiêu khích” và “gây chiến” đối với tư duy khoa học một cách lạ lùng.  Cuộc đời  Avram Noam Chomsky sinh ngày 7 tháng 12 năm 1928 tại Philadelphia trong một gia đình trí thức gốc Do Thái. Năm 1945, ông theo học tại Đại học Pennsylvania. Ở đó, ông đã được tiếp xúc với một người bạn của cha ông là Zellig Harris, một nhà ngôn ngữ học cấu trúc luận xuất chúng và là người sáng lập bộ môn ngôn ngữ học đầu tiên tại Mỹ. Chính sự tiếp xúc này đã để lại nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm học thuật của Chomsky về ngôn ngữ học và chính trị. Năm 1947, Chomsky đăng kí học ngôn ngữ học, và rồi lần lượt tốt nghiệp Cử nhân và Thạc sĩ ngành này vào năm 1949, 1951. Từ 1951 đến 1955, Chomsky là hội viên Hội Nghiên cứu sinh Đại học Harvard và hoàn thành luận án tiến sĩ về ngôn ngữ học tại đây. Sau khi tốt nghiệp Harvard, ông vào làm việc tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), một môi trường học thuật mà theo ông là hết sức tự do, cởi mở, dễ nuôi dưỡng và thúc đẩy những tư tưởng mới mẻ, tiến bộ, không bị câu thúc bởi những định kiến hàn lâm cũ mòn. Năm 1961, ông được bổ nhiệm là giáo sư chính thức của Bộ môn Ngôn ngữ học và các Ngôn ngữ hiện đại (sau này là của Bộ môn Ngôn ngữ học và Triết học) của MIT. Ông làm việc tại bộ môn này từ đó cho đến khi nghỉ hưu.  Noam Chomsky là tác giả của hơn 150 cuốn sách và hàng nghìn bài báo, bài nói chuyện, phỏng vấn, tranh luận về các chủ đề khác nhau như ngôn ngữ học, triết học, tâm lí học, giáo dục, lịch sử trí tuệ, chính trị, chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố, truyền thông đại chúng, tự do ngôn luận,…  Ngay từ năm 1970, ông đã được London Times bình chọn là một trong những người làm nên thế kỉ XX. Năm 1992, khi xem xét ba loại chỉ số trích dẫn khác nhau từ những năm 1970 đến 1992, ông là một trong những người được trích dẫn cao nhất: tính riêng từ năm 1980 đến 1992, trong khoa học xã hội và nhân văn, ông là nhà khoa học đang sống được trích dẫn nhiều nhất, và đứng ở vị trí thứ tám (sau Sigmund Freud và trước Georg Hegel) trong tốp những người được trích dẫn nhiều nhất mọi thời đại. Năm 2005, trong cuộc bình chọn của tạp chí Foreign Policy và Prospects, ông đứng đầu danh sách 100 trí thức (dành cho/ vì) đại chúng nhất thế giới. Năm 2006, ông được tạp chí New Statesman bình chọn là người đứng thứ bảy trong danh sách tốp 50 “Anh hùng của thời đại chúng ta”.  Vị cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại  Chomsky là người có công thúc đẩy chủ nghĩa cấu trúc trong ngôn ngữ học sang một trang mới bằng việc hình thức hoá triệt để trong nghiên cứu ngôn ngữ. Ông phát triển ngữ pháp tạo sinh – cải biến (transformational – generative grammar), một trường phái ngữ pháp (rộng hơn là trường phái ngôn ngữ học) mà hiện nay đang được xem là sôi động nhất, có sức “tạo sinh” lớn nhất và đang được tranh biện, ủng hộ, phủ định nhiều nhất.  Chomsky coi ngôn ngữ loài người là một thực thể tâm lí học và một thực thể sinh học, trong đó cái bẩm sinh là phần cốt lõi, tồn tại sẵn trong trí não/ ý thức của mọi thành viên cộng đồng và cái trưởng thành là cái có được nhờ kinh nghiệm sống của từng cá thể. Nghiên cứu ngôn ngữ chính là nghiên cứu ngữ thi, nghiên cứu ngữ pháp có giá trị phổ quát, có tính di truyền của con người, nghiên cứu cách thức tổ chức và hoạt động của cái thực thể vật chất là não/thần kinh trong quá trình sản sinh phát ngôn,…qua phương pháp của các khoa học tự nhiên, có tính hình thức. Chính quan điểm khoa học này của Chomsky đã thúc đẩy hàng loạt những nghiên cứu mới mẻ về sau này trong ngôn ngữ học, bao gồm cả những nghiên cứu ủng hộ ông lẫn những nghiên cứu chống lại ông. Quan điểm này đã gây nên cuộc chiến tranh ngôn ngữ hết sức sôi động và có nhiều giá trị giữa một bên là ông và một bên là các đồng nghiệp và những học trò đã thoát li khỏi ông vào những năm 60 – 70 của thế kỉ trước.  Người tiên phong trong khoa học nhận thức  Chomsky tạo ra cuộc Cách mạng nhận thức (cognitive revolution) qua việc phê phán và góp phần đánh đổ chủ nghĩa hành vi trong tâm lí học nói riêng và chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học nói chung để rồi đề xuất một cách lí giải, tiếp cận mới về trí não, ngôn ngữ, năng lực nhận thức. Ông đã bác bỏ quan điểm nhị nguyên luận trong sự phân biệt giữa trí não và thể xác của truyền thống khi cho rằng: trí não của con người chính là cái có giá trị bẩm sinh, là sản phẩm của quá trình nhận thức, chứa đựng tất cả các trạng thái, năng lực tinh thần vô thức khác nhau; trí não hình thành từ các hợp phần hay các mô đun, các năng lực nhận thức khác nhau và ngôn ngữ cũng chỉ là một bộ phận cấu thành nên trí não. Quan điểm này đối lập với truyền thống và tạo nên sự cách tân trong các nghiên cứu khoa học về năng lực nhận thức của con người.  Khoa học nhận thức/ tri nhận (cognitive science/ cognitivism) là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên ngành về trí não/ ý thức (mind) và sự hoạt động của trí não, có nhiệm vụ khảo sát bản chất, nhiệm vụ và chức năng của sự nhận thức của con người, cách thức mà hệ thống thần kinh của con người lưu trữ, biểu diễn, xử lí, chuyển tải và truy xuất thông tin. Để làm được việc này, các nhà khoa học phải nghiên cứu về ngôn ngữ, tri giác, trí nhớ, chú ý, lập luận, xúc cảm…, phải sử dụng kết quả và phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học, tâm lí học, trí tuệ nhân tạo, triết học, khoa học thần kinh và nhân học. Thật tuyệt vời là những nghiên cứu, đề xuất lí thuyết của Chomsky lại liên quan mật thiết, hay được dẫn xuất, được thực chứng và hỗ trợ từ tất cả những nhánh nghiên cứu này.  Người trí thức dấn thân  Noam Chomsky là một trí thức cánh tả, một người bất đồng chính kiến điển hình và không khoan nhượng đối với chính quyền Mỹ, “một trong những thách thức có ý nghĩa và quan trọng nhất đối với cường quyền, sự bất công và dối trá” (Edward Said), “một trong những vị anh hùng đáng chú ý nhất của nhân dân” (Wolfgang B. Sperlich), “một nguồn cổ vũ lớn lao cho những nước thuộc Thế giới thứ ba” (John Pilger). Ông thường tự nhận mình là người theo chủ nghĩa vô chính phủ hay chủ nghĩa công đoàn – vô chính phủ. Có lẽ chính vì thế mà ông đã trở thành bạn thân của nhiều nguyên thủ quốc gia cánh tả ở Mỹ La tinh (như Fidel Castro, Hugo Chavez,…). Ông ảnh hưởng lớn đến chính sách ngoại giao của Mỹ, thậm chí đôi khi người ta còn xem ông như là một đối trọng của chính sách ngoại giao Mỹ. Ông chủ trương chống lại chủ nghĩa bá quyền Mỹ, chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chống lại chủ nghĩa tự do mới và chủ nghĩa tư bản nhà nước hiện tại của Mỹ, chống lại sự dung dưỡng và bao che cho chủ nghĩa khủng bố của Mỹ, chống lại sự can dự thô bạo có tính hai mặt của Chính phủ Mỹ đối với những quốc gia độc lập, có chủ quyền,… Fred Halliday từng xem Chomsky chính là “người đỡ đầu” chống lại chủ nghĩa tư bản, chống lại chủ nghĩa đế quốc, chống lại sự bất công trên toàn thế giới. Ông cũng chính là người ủng hộ và tham gia một cách bền bỉ và mạnh mẽ phong trào Chiếm lấy phố Wall trong những năm qua. Chomsky, một mặt, phản đối gay gắt sự bao che của Mỹ đối với những chính phủ độc tài, vi phạm nhân quyền vốn là đồng minh của Mỹ (như các nước Ả Rập, Israel, Indonesia,…), nhưng mặt khác, cũng lên án mạnh mẽ sự can thiệp của Mỹ hay đồng minh của Mỹ đối với những quốc gia không theo Mỹ (như sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, Nam Tư, Iraq, Iran,…, sự can thiệp của Indonesia, của Australia vào Đông Timor,…). Ông được đánh giá là một trong hai người (cùng nhà báo John Pilger) có công đầu đưa đến sự độc lập của Đông Timor vào năm 2002 (Wolfgang B. Sperlich). Ông cũng là người ra sức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của con người. Ông cho rằng quyền tự do ngôn luận “phải được mở rộng tới tất cả các loại quan điểm khác nhau”, dù là đối lập, ngược chiều với quan điểm chủ lưu của đa số. Cũng chính vì sự nhiệt tình này mà đôi khi danh tiếng của ông đã bị tổn hại. Chẳng hạn, để bảo vệ cho quyền tự do ngôn luận của nhà sử học Pháp R. Faurisson trong việc đưa ra quan điểm chính danh của mình, Chomsky đã viết lời giới thiệu cho cuốn sách gây nhiều tranh cãi, có nội dung phủ nhận tội ác tàn sát người Do Thái của Đức Quốc xã Mémoire en défense contre ceux qui m’accusent de falsifier l’histoire (1980). Cũng chính vì thế mà dù rằng ông và một số đồng nghiệp lúc đương nhiệm từng đảm nhận việc giảng dạy một số môn về chính trị học, độc lập với bộ môn khoa học chính trị học vốn đậm chất bảo thủ tại MIT, song các sách báo mà ông viết hiếm khi được kể vào trong các chương trình đào tạo chính trị học chính thức. Ông cũng là người đi đầu trong việc vạch trần sự thiên lệch hay lừa bịp của truyền thông. Cũng chính vì điều này mà dòng truyền thông chính thống thường tảng lờ, không tham chiếu hay trích dẫn quan điểm học thuật của ông, thậm chí là xuyên tạc quan điểm và bôi nhọ ông. Ví dụ, cũng vì vạch rõ tính hai mặt trong chính sách đối ngoại bá quyền của Mỹ mà truyền thông đã bao che và tiếp tay mà ông đã từng bị quy kết là bỏ lơ chính sách diệt chủng của Pol Pot tại Camphuchia. Ông cho rằng vì Indonesia là đồng minh của Mỹ nên Mỹ và truyền thông đã chẳng đếm xỉa gì đến hành động xâm lược Đông Timor của Indonesia lúc bấy giờ mà lại quá chú trọng đến tội ác diệt chủng tại Camphuchia, một đất nước vốn dĩ được xem là kẻ thù của Mỹ.  Với tư cách là một người trí thức, thường định vị và ví mình như là một người lao động bình thường như bao nhiêu người khác, Chomsky cho rằng người trí thức phải là người có trách nhiệm, nghĩa vụ nói lên sự thật, vạch trần sự dối trá một cách kiên quyết, không khoan nhượng, thúc đẩy một xã hội tự do, dân chủ, bình đẳng và công bằng. Cường quyền, đàn áp, sự bóp méo và bưng bít thông tin không thể là thứ làm rối trí hay nhụt chí người trí thức. Trí thức chính là những người mà tất thảy vật liệu, chất liệu, nguyên liệu lao động, công cụ lao động, công xưởng lao động, sản phẩm lao động đều diễn ra và nằm trong trí não. Trí thức không thể là người run sợ trước cường quyền, mờ mắt trước sự cám dỗ của những nguồn lực tài trợ cho những đề tài nghiên cứu… để mà chối bỏ trách nhiệm định hình, dẫn dẵt xã hội của mình. Do sự quyết liệt, thẳng thắn và độc lập của mình mà Chomsky cũng là đối tượng bị những người bảo thủ, truyền thông xuyên tạc và bóp méo. Là một người gốc Do Thái nhưng do lên tiếng ủng hộ và bảo vệ lẽ phải và quyền con người trong cuộc xung đột Palestine – Israel mà ông đã bị nhiều người kết tội là phản bội lại người Do Thái. Do phản biện và bác bỏ lại chính sách của Chính phủ Mỹ mà ông đã từng bị quy gán là người độc tưởng (monomaniac), người phản bội lại nước Mỹ, người phủ định và chối bỏ mọi điều mà lãnh đạo Mỹ nói và làm, là người không có năng lực phân biệt giữa dân chủ và phản dân chủ,… Những chỉ trích, cáo buộc và gán ghép tiêu cực như vậy dành cho ông, theo McGilvray, là do người ta cố tình bóp méo, xuyên tạc ông bằng cách trích rút những phát biểu của ông khỏi những ngữ cảnh cần thiết. Dĩ nhiên, mọi điều thánh thiện, tử tế và trung thực đều có thể bị bóp méo để biến thành những “phản đề” khi người ta cố tình cô lập chúng khỏi ngữ cảnh mà chúng tồn tại với tư cách là một bộ phận không thể tách rời.  Chomsky với Việt Nam  Quan tâm tới chính trị từ nhỏ, thậm chí khi học đại học từng có ý định bỏ sang Trung Đông để có cơ hội trải nghiệm chính trị, nhưng các hoạt động chính trị của Chomsky chỉ thực sự bắt đầu để lại dấu ấn khi ông tham gia các cuộc tuần hành phản đối sự can thiệp, xâm lược của Mỹ đến Việt Nam. Ban đầu, ông thể hiện sự phản đối của mình đối với Chính phủ Mỹ bằng những cuộc nói chuyện, diễn thuyết nhỏ tại nhà thờ, đường phố, khuôn viên trường đại học, nhưng dần dà về sau ông đã thể hiện điều này bằng các bài báo và các cuốn sách, những bài thuyết trình tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Bài viết The Responsibility of Intellectuals (1967) (Vai trò của người trí thức) thường được xem như là sự khởi đầu một cách chính thức của ông đối với các hoạt động chính trị – xã hội, đối với nghiệp dấn thân của một người trí thức. Cũng vì tham gia biểu tình và viết bài chỉ trích Chính phủ Mỹ mà ông đã nhiều lần bị bắt và cũng đã từng nếm trải “một đêm” trong nhà tù của chính quyền Mỹ. Ông từng bị Tổng thống R. Nixon liệt vào Danh sách kẻ thù (Enemy List) của mình. Thậm chí, vợ ông, nhà ngôn ngữ học Carol Schatz, do hiểu được sự nguy hiểm tiềm ẩn trong các hoạt động của chồng và cũng là để chia sẻ và ủng hộ chồng đã phải tính đến việc tiếp tục học tiến sĩ về ngôn ngữ học để có thể đảm bảo tài chính cho gia đình trong trường hợp Chomsky bị bỏ tù hoặc bị MIT đuổi việc; nhưng rất may, MIT đã không đuổi việc ông vì những đóng góp to lớn của ông cho MIT và cho khoa học (thậm chí MIT còn cử riêng người để bảo vệ ngầm ông, mặc dù ông phản đối sự bảo vệ này).  Năm 1970, ông đã cùng một số trí thức Mỹ sang thăm Việt Nam nhằm bày tỏ sự phản đối sự xâm lược của Mỹ đến Việt Nam, bày tỏ sự ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Ông cũng từng tiếp kiến cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Có điều đặc biệt là, dù thời điểm Chomsky đến Việt Nam là thời điểm mà cái lối tư duy “trăng Liên Xô đẹp hơn trăng nước Mỹ” vẫn còn ngự trị, là thời điểm mà trong các bài giảng ở giảng đường đại học hay trên các bài viết khoa học ngôn ngữ học, người ta vẫn thường e ngại và dè dặt khi nhắc đến cấu trúc luận (structuralism), kết cấu luận (constructionism), phân bố luận (distributionism) – những đặc sản của ngôn ngữ học học tư bản mà đại diện là của tư bản Mỹ, một kẻ thù của Việt Nam, nhưng ông cũng vẫn đến và được nói chuyện, trình bày lí thuyết ngôn ngữ học của mình tại Hà Nội, mà giáo sư Tạ Quang Bửu chính là người dịch buổi nói chuyện này. Năm 1972, Chomsky cũng đã trình bày quan điểm của mình về nguồn gốc của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trước Uỷ ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện Mỹ.  Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có vài cuốn sách của Chomsky về ngôn ngữ học và về chính trị – xã hội đã được dịch và giới thiệu. Đó là các cuốn Tham vọng bá quyền (2006) do Trịnh Lữ dịch, Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức (2007) và Nhận diện quyền lực (2012) do Hoàng Văn Vân dịch. Lí thuyết ngôn ngữ học của Chomsky đã được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam, và cũng đã được ứng dụng phần nào vào trong việc miêu tả tiếng Việt. Đặc biệt là, sau cuộc viếng thăm của Chomsky đến Việt Nam vào năm 1970, đến năm 1977, lí thuyết ngôn ngữ học của Chomsky cũng đã chính thức được Nguyễn Đức Dân giới thiệu tại Đại học Tổng hợp Hà Nội qua tập bài giảng Những mô hình ngôn ngữ. (Năm 2012, bản thảo Những mô hình ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân đã được Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh ấn hành dưới tiêu đề Ngữ pháp tạo sinh).  Thay lời kết  Nói không quá lời, nhiều người đã từng ví von rằng nước Mỹ hùng mạnh và vĩ đại đã rất may mắn khi có được một nhà khoa học, một trí thức phản biện tầm cỡ như Noam Chomsky. Trong một ngành khoa học, mỗi một cá nhân dường như chỉ là một mảnh vụn, còn ông dường như ông là một tảng đá khổng lồ vượt qua khỏi khung khổ của một khoa học chuyên ngành. J. Lyons, một nhà ngôn ngữ lí thuyết đại chúng nổi tiếng trong thế kỉ XX, ngay từ năm 1978 đã từng định vị ông trong khoa học ngôn ngữ học giống như Freud trong tâm lí học, Einstein trong vật lí học.  Viết về Chomsky là một việc thực khó, đánh giá về ông lại càng khó. Khó bởi hai lẽ. Thứ nhất, ông là một tượng đài đang sống, những gì ông viết đều thực sự đồ sộ và đều vượt qua ranh giới, kích thước của một khoa học chuyên ngành đơn lẻ, ông và những sản phẩm trí tuệ của ông đã thực sự là những cột mốc lừng lững, lừng danh trong lịch sử khoa học nhân loại thế kỉ XX. Thứ hai, chính vì sự đồ sộ ấy cho nên đã có rất nhiều học giả viết về ông qua những cuốn chuyên khảo tầm cỡ (ví như  J. Lyons, R. Barsky, Neil Smith, Wolfgang B. Sperlich), cho nên viết được “một cái gì đó cho ra hồn” trong khuôn khổ một bài báo về ông là chuyện không dễ. Dầu vậy, ông thực sự rất xứng đáng để chúng ta viết và giới thiệu nhiều và cập nhật liên tục về ông. Hơn nữa, những sản phẩm tinh hoa tinh thần của ông cũng nên phải được chuyển ngữ sang tiếng Việt càng nhiều, càng nhanh và càng sớm càng tốt.  ———–  1 Khái niệm này được định nghĩa bởi nhà vật lý Thomas Kuhn, nghĩa là người thay đổi những ý tưởng và thực nghiệm cơ bản, người tạo ra cách mạng trong một ngành khoa học.       Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Nobel Hóa học cho khám phá cơ chế sửa chữa DNA của tế bào      Mỗi người trong số ba nhà khoa học được vinh  danh tại giải Nobel Hóa học năm nay đã khám phá được một cơ chế sửa  chữa các tổn thương của DNA, qua đó đặt nền tảng cho các nghiên cứu  trong lĩnh vực sửa chữa DNA của các tế bào, một trong những vấn đề căn  bản nhất của khoa học sự sống.     Ngày 7/10, Ủy ban Nobel đã công bố quyết định trao giải Nobel Hóa học 2015 cho ba nhà khoa học Tomas Lindahl, Paul Modrich và Aziz Sancar với các nghiên cứu của họ về cơ chế sửa chữa DNA trong tế bào. Giải thưởng trị giá 960.000 USD sẽ chia đều cho ba ông.    Tại lễ công bố giải thưởng nói trên, Thư ký thường trực Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển nói: “Công trình của họ đã cung cấp những kiến thức căn bản về cách thức hoạt động của tế bào sống, và có thể được sử dụng để phát triển các phương pháp chữa trị ung thư mới.”    Thông cáo báo chí của Ủy ban Nobel Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cũng nêu rõ:     “Mỗi ngày, bộ gene di truyền của chúng ta lại bị hư hại vì tia cực tím, các gốc tự do và những tác nhân khác. Nhưng ngay cả khi không chịu sự tác động từ bên ngoài như thế, một phân tử DNA đã rất không ổn định”… “Hoạt động phân chia tế bào diễn ra mỗi ngày có thể gây ra các khiếm khuyết và tạo nên thay đổi trong bộ gene của một tế bào”. “Lý do để vật chất di truyền của chúng ta không biến thành một đống hỗn độn là bởi sự tồn tại của nhiều hệ thống cấp phân tử, thường xuyên giám sát và sửa chữa gene di truyền.”    Việc đi sâu nghiên cứu các tổn thương của DNA và cơ chế tự sửa chữa của nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của bệnh tật, hạ thấp tỷ lệ phát bệnh của một số bệnh di truyền, giảm mức độ tổn thương và đột biến của DNA. Thậm chí trong tương lai, chúng ta có thể sẽ tiến hành điều trị gene định hướng cho bệnh nhân mắc bệnh di truyền. Cơ chế sửa chữa DNA có thể giúp cho việc kiểm tra gene và giải quyết các khó khăn trong chẩn đoán sớm và ngăn ngừa ung thư.     Giới khoa học cho rằng việc nghiên cứu cơ chế sửa DNA của tế bào có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự sống và lẽ ra các nghiên cứu của Tomas Lindahl, Paul Modrich và Aziz Sancar đã phải được trao giải Nobel từ lâu. Sự muộn màng đó được giải thích là do có quá nhiều người cùng nghiên cứu đề tài này.     Tiến sĩ Tomas Lindahl sinh năm 1938 tại Thụy Điển, hiện đang làm việc tại Viện Francis Crick và Phòng Thí nghiệm Clare Hall (Anh Quốc). Sau khi James Watson và Francis Crick khám phá ra cấu trúc xoắn kép của DNA, tức Deoxyribo Nucleic Acid, vào năm 1953, giới khoa học đều cho rằng DNA là một kết cấu cố định không đổi. Mãi đến đầu thập niên 1970, Lindahl đã phát hiện ra thực tế không phải như vậy, DNA có thể bị tổn thương khi chịu tác động của tia cực tím, gốc tự do và các tác động bên ngoài khác. Lindahl là người đầu tiên khám phá ra hiện tượng DNA bị tổn thương và chứng minh rằng sự suy thoái, tan rã của DNA với một tốc độ nào đó sẽ khiến cho sự sống trên Trái đất không thể phát triển được. Quan điểm ấy đã dẫn ông tới khám phá cơ chế tu sửa cắt bỏ gốc kiềm (base excision repair mechanism) của tế bào. DNA là phân tử duy nhất trong tế bào có thể tự chữa lành sau khi bị tổn thương. Chính vì thế mà các vật chất di truyền trong cơ thể chúng ta mới tránh khỏi bị tan rã và duy trì được trạng thái ổn định của sự sống. Các nghiên cứu tiếp sau cho thấy sự già hóa cơ thể, bệnh ung thư và nhiều bệnh quan trọng khác đều có liên quan với sự mất ổn định của bộ gene.     Tiến sĩ Paul Modrich sinh năm 1946 tại Mỹ, là giáo sư sinh hóa Trường Y khoa thuộc ĐH Duke, hiện nghiên cứu ở Viện Y học Howard Hughes, Mỹ. Ông được trao giải nhờ đã khám phá cơ chế sửa sai gốc kiềm (base mispairing repair mechanism). Cơ chế này có thể giảm tần số lỗi tới 1.000 lần khi DNA tự sao chép trong quá trình phân bào. Nếu cơ chế quan trọng này trục trặc thì sẽ dẫn đến sự xuất hiện các u bướu – cơ chế phát bệnh thường thấy nhất của bệnh ung thư trực tràng có tính di truyền (HNPCC).    Tiến sĩ y khoa Aziz Sancar sinh năm 1946 ở Thổ Nhĩ Kỳ, có hai quốc tịch Mỹ và Thổ, hiện làm việc tại ĐH North Carolina (UNC, Mỹ). Sancar đã lập bản đồ cơ chế cắt sửa nucleotide (nucleotide excision repair mechanism) mà các tế bào dùng để chữa lành các tổn thương do tia cực tím gây ra với DNA. Những người có khuyết tật bẩm sinh trong cơ chế sửa chữa này khi phơi nắng sẽ có thể bị ung thư da. Tế bào cũng dùng cơ chế đó để chữa lành tổn thương gây ra bởi hóa chất. Các nghiên cứu của ông từng nhận nhiều giải thưởng quan trọng như NIH MERIT Award 1995, NSF Presidential Young Investigator Award 1984.    Sancar nói: nghiên cứu cơ chế tu sửa DNA rất quan trọng đối với việc phòng ngừa và điều trị các bệnh ung thư và ngay từ đầu ông đã hy vọng nghiên cứu của mình sẽ được ứng dụng trong y học. Nhóm nghiên cứu của ông hiện vẫn tiếp tục đi theo hướng này. Mới đây, họ đã phát triển một công nghệ có thể nâng cao trình độ nghiên cứu lên tới bộ gene của toàn nhân loại. Sancar dự kiến phải sau 5-10 năm nữa các kết quả nghiên cứu hiện nay mới có thể áp dụng vào lĩnh vực y dược. Lâu nay ông vẫn tin rằng nếu nghiên cứu của mình được tặng giải Nobel thì đó sẽ là Nobel Y học, bởi thế sau khi biết tin Nobel Y học 2015 đã được trao cho bà Đồ U U, ông nghĩ rằng thế là mình đã hết hy vọng. Sancar nói, hóa học là nền tảng của các nghiên cứu sinh hóa, có lẽ vì các nghiên cứu của ông bao quát cả hai lĩnh vực hóa học và y dược sinh học nên Ủy ban Nobel đã quyết định tặng ông giải Nobel Hóa học.    Sancar nghiên cứu sinh hóa đã 35 năm nay và theo ông, các thí nghiệm sinh hóa có tỷ lệ thất bại rất cao, thường là 80-90%. Từ năm 1982, ông bắt đầu nghiên cứu cơ chế tu sửa DNA tại UNC. Phòng Thí nghiệm của ông có 12 người, trong đó có bốn người châu Á. Sancar cho biết ông sẽ trao số tiền thưởng của giải Nobel này cho quỹ từ thiện của ông, một quỹ chuyên giúp các học sinh Thổ Nhĩ Kỳ sang Mỹ học tập và nghiên cứu.  Nguồn:  – http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/chemistry/laureates/2015/ The Nobel Prize in Chemistry 2015  – http://www.biodiscover.com/news/politics/122333.html#jtss-tsina  诺贝尔化学奖花落DNA修复，三名科学奖荣获殊荣  – http://news.sciencenet.cn/htmlnews/2015/10/328257.shtm  诺贝尔化学奖得主桑卡：我以为自己会得医学奖     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Hóa học cho phát minh kính hiển vi có độ phân giải cực cao      Giải Nobel Hóa học 2014 đã thuộc về bộ ba nhà nghiên cứu cải thiện độ phân giải của kính hiển vi quang học.    Ngày 8/10, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã công bố quyết định trao giải Nobel hóa học 2014 cho Eric Betzig, William E. Moerner (đều là người Mỹ) và Stefan W. Hell (người Đức) “vì sự phát triển kính hiển vi huỳnh quang có độ phân giải cực cao”.  Bản tuyên bố nói, trong một thời gian dài trước đây, sự phát triển kính hiển vi quang học bị ngăn cản bởi một giới hạn theo suy đoán: đó là kính hiển vi quang học không bao giờ có được độ phân giải tốt hơn một nửa chiều dài bước sóng ánh sáng. Với sự trợ giúp của các phân tử huỳnh quang, ba chủ nhân giải Nobel hóa học 2014 đã khéo léo vượt qua được giới hạn này. Công trình nghiên cứu đầy tính sáng tạo của họ đã đưa kính hiển vi quang học đi vào kích thước nano [tức một phần tỷ mét].   Sử dụng kính hiển vi kiểu mới, nay được gọi là kính hiển vi nano (nanoscopy), các nhà khoa học có thể nhìn thấy quá trình hoạt động của các phân tử đơn lẻ bên trong các tế bào sống. Họ có thể thấy được quá trình các phân tử dùng cách nào tạo ra những synapse [cấu trúc liên kết giữa hai neuron hoặc giữa neuron với tế bào cơ] giữa các tế bào thần kinh bên trong não. Họ có thể theo dõi được các protein có liên quan đến những bệnh như Parkinson, Alzheimer và Huntington khi chúng kết hợp lại; họ có thể lần theo các protein đơn lẻ trong trứng thụ tinh khi protein phân chia thành phôi thai.  Có một điều rõ ràng là [do độ phân giải của kính hiển vi còn thấp, nên] trước đây chưa bao giờ các nhà khoa học có thể nghiên cứu được tế bào sống trong những chi tiết phân tử nhỏ nhất. Năm 1873, chuyên gia công nghệ hiển vi Ernst Abbe từng ấn định một giới hạn vật lý về độ phân giải tối đa của kính hiển vi quang học truyền thống: đó là nó không bao giờ có thể tốt hơn 0,2 micromet.   Eric Betzig, Stefan W. Hell và William E. Moerner được trao giải Nobel hóa học 2014 vì họ đã vượt qua được giới hạn này. Nhờ phát minh của họ, giờ đây kính hiển vi quang học có thể nhìn thấy các vật thể ở thế giới nano.  Giải thưởng nói trên được trao cho hai thành tựu riêng biệt: một là thành tựu thể hiện công nghệ hiển vi theo phương pháp tổn hao phát xạ bị kích thích [stimulated emission depletion (STED) microscopy] do Stefan Hell nghiên cứu phát triển vào năm 2000. Một là thành tựu nghiên cứu độc lập với nhau của Eric Betzig và William Moerner, đặt nền móng cho phương pháp thứ hai – kính hiển vi đơn phân tử [single-molecule microscopy].   Giới khoa học đánh giá cao thành tựu phát minh công nghệ hiển vi huỳnh quang có độ phân giải siêu cao của Betzig, Hell và Moerner. Thực ra công nghệ kính hiển vi chủ yếu bắt nguồn từ các thành tựu vật lý học. Ba vị tân chủ nhân giải Nobel sử dụng biện pháp huỳnh quang hóa học để nâng cao độ phân giải của công nghệ hiển vi và đã thu được thành công to lớn. Một số nhà khoa học nói thành tựu của giải Nobel Hóa học năm nay trên thực tế cũng là một bước tiến lớn của vật lý học.  Eric Betzig sinh năm 1960 tại bang Michigan, hiện là nhà khoa học thần kinh phụ trách nhóm nghiên cứu khoa học tại Viện Nghiên cứu Y học Howard Hughes ở Ashburn, bang Virginia.  William E. Moerner sinh năm 1953 tại bang California, từ 1998 tới nay là giáo sư ĐH Stanford. Ông từng được trao giải Wolf về Hóa học năm 2008.  Stefan W. Hell sinh năm 1962 tại Romania hiện là một trong các Giám đốc Viện Sinh vật Vật lý Hóa học Max Planck (tại Göttingen) và là Chủ nhiệm Bộ môn công nghệ hiển vi phân giải cao ở Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Đức (tại Heidelberg).  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp và dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Hóa học: Ứng dụng kính hiển vi nhiệt độ thấp cho quan sát các phân tử sinh học      Ba nhà khoa học Jacques Dubochet – Đại học Lausanne (Thụy Sĩ), Joachim Frank – Đại học Columbia (Mỹ), và Richard Henderson – Phòng Thí nhiệm Sinh học phân tử thuộcTrung tâm Nghiên cứu Y Khoa Cambridge (Anh) cùng đoạt giải Nobel Hóahọc 2017 cho những đóng góp tiên phong trong việc phát minh ra kỹ thuật “electron các phân tử sinh học” giúp kính hiển vi điện tử (cryo-electron microscopehay – cryo-EM) có thể quan sát được hình ảnh ở độ phân giải cao (bao gồm cả hình ảnh 3D) của những phân tử sinh học – từ đầu nhọn mà những vi khuẩn sử dụng để tấn công các tế bào cho tới cấu tạo của virus Zika.      Sự phát triển của kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp: rào cản kỹ thuật cuối cùng đã được giải quyết vào năm 2013, khi một đầu dò điện tử kiểu mới được đưa vào thiết bị.  “Thành tựu trên giúp mở ra một thế giới hoàn toàn mới khi giờ đây chúng ta đã có thể quan sát các phân tử và cách thức chúng tương tác dễ dàng hơn”, Peter Brzezinski – nhà sinh vật học tại Đại học Stockholm (Thụy Điển) nhận định. Hơn thế nữa, so với phương pháp tinh thể học tia X, công nghệ này còn giúp cryo-EM giải quyết những vấn đề ở cấp độ nguyên tử. “Chúng ta đang đứng trước một cuộc cách mạng hóa sinh”, Sara Snogerup Linse – nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Protein Phân tử thuộc Đại học Lund (Thụy Điển), thành viên trong Ủy ban trao giải Nobel phát biểu.  Kính hiển vi điện tử ra đời từ khá sớm, với nguyên mẫu đầu tiên là vào năm 1931, nhưng tồn tại nhiều hạn chế lớn đối với những nhà sinh vật học khi họ phải đựng các tiêu bản trong chân không siêu cao khiến phân tử bị khô và méo mó cấu trúc, sau đó họ phải chiếu một chùm tia điện tử có năng lượng cao vào chúng và có thể phá hủy những phần tử nhạy cảm. Phương pháp tinh thể học tia X ra đời từ những năm 1950 đã giúp tái tạo hình ảnh tĩnh của cấu trúc protein – trong trường hợp các nhà khoa học có thể tinh thể hóa chúng. Tới những năm 1980, phương pháp cộng hưởng từ trường hạt nhân đem đến giải pháp cho hình ảnh của cấu trúc protein, tuy nhiên hầu hết chỉ ở những protein nhỏ.  Thành tựu hôm nay của các học giả đạt giải Nobel sẽ giúp kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp (cryo-EM – cryo là dẫn ra từ thuật ngữ “cryogenics” – kỹ thuật nhiệt độ thấp) đem tới cách thức dễ dàng hơn trong việc quan sát nhiều loại phân tử sinh vật, ngoài ra còn hướng tới những mục tiêu quan trọng khác như nghiên cứu các loại dược phẩm mới. “Đây là một phương pháp trực tiếp, dễ hiểu và nói chung là rất mạnh”, Henderson chia sẻ với Nobel.se trong một bài phỏng vấn. Khi đang dự một cuộc gặp gỡ khoa học về chủ đề cryo-EM thì ông nhận được điện thoại thông báo nhận giải Nobel cùng với Frank và Debochet. “Tôi nghĩ điều này thật sự rất thú vị”, Henderson nói.      Bước tiến quan trọng của Henderson đạt được khi ông thất vọng với phương pháp tinh thể học tia X do không thể tách các protein bị gắn với màng tế bào. Vì vậy, ông đã đưa màng tế bào của một loại vi khuẩn tên là bacteriorhodopsin vào kính hiển vi điện tử truyền qua và phủ glucose lên để giữ ẩm. Tiếp đó, Henderson giảm năng lượng của chùm điện tử để giảm khả năng phá hủy mẫu và tạo nên một hình ảnh có độ tương phản thấp. Vì các phân tử gắn kết với màng theo một trật tự, ông đã sử dụng một mô hình nhiễu xạ để biến những hình ảnh sang độ phân giải cao hơn. Năm 1975, Henderson đã tạo được hình ảnh 3D của protein mô tả rẽ nét nhất cấu trúc protein, lần đầu tiên bằng kính hiển vi điện tử. “Thành tựu đột phá này đã chứng minh những tiềm năng mà công nghệ có thể mang lại” – tuyên bố của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trong thông cáo báo chí. Phương pháp này được thiết kế đặc biệt giành cho việc quan sát những protein trong màng tế bào, nhưng về nguyên tắc thì nó có thể được áp dụng cho bất cứ phân tử nào.   Tuy nhiên, làm sao để sử dụng chùm điện tử năng lượng thấp trong việc quan sát những phân tử ít được tổ chức hơn. Bởi vì những phân tử như vậy thường được định hướng ngẫu nhiên cho nên cách sắp xếp của chúng sẽ gây nên sự lẫn lộn khi phân loại hình ảnh. Từ năm 1975 – 1986, Frank đi tìm hướng giải quyết vấn đề này bằng việc đọc dữ liệu, phân loại các hình ảnh thành những nhóm liên quan rồi tính giá trị trung bình cho từng nhóm. Công việc này giúp phân loại rõ hơn những hình ảnh 2D và còn cho phép việc kết hợp chúng để tạo ra những cấu trúc 3D. Giải thưởng Nobel khiến Frank thật sự choáng ngợp và ông nói với báo chí qua điện thoại: “Tôi không thể nói nên lời”   Những đóng góp quan trọng khác do Dubochet thực hiện vào đầu những năm 1980. Thách thức khi đó là những tiêu bản bị đóng băng sẽ làm tán xạ chùm điện tử và gây ra những tương phản không cần thiết trong ảnh hiển vi điện tử. Dubochet phát hiện ra rằng nếu làm đông cứng nước đủ nhanh, như những tinh thể thủy tinh thì băng sẽ không hình thành. Bằng cách nhúng tiêu bản vào trong Etan được làm lạnh qua ni-tơ hóa lỏng (ở nhiệt độ -196 độ C), Dubochet đã tạo ra những hình ảnh sắc nét đến ngoạn mục. “Mọi người từ khắp nơi trên thế giới tìm tới lab của ông ấy để học hỏi kỹ thuật này”, Brzezinski cho biết. Khi các phân tử bị làm đông lạnh nhanh, chúng vẫn tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau, điều này cho phép những nhà nghiên cứu ráp nối các hình ảnh thành những bộ phim và tái tạo lại hoạt động của chúng.  Kết hợp những sáng tạo của cả ba nhà khoa học đã đẩy độ phân giải của hình ảnh từ cryo-EM lên mức 0.5 nm. Dù chưa thể bằng được phương pháp tinh thể học tia X – hiện ở mức 0.2 nm hay tốt hơn thế, nhưng sáng kiến của Henderson khi thay thế máy chụp sử dụng phim bằng máy kỹ thuật số đã đưa độ phân giải lên 0.25 nm. “Điều này đã giúp chúng tôi tiến vào địa hạt của tinh thể học tia X” – Henderson nói.  Cryo-EM đang hứa hẹn sẽ làm sáng tỏ cấu trúc của những phân tử phức tạp hơn nhiều, bao gồm ribosome – nơi sản sinh ra protein, và spliceosome – cấu trúc phức hợp giữ cho các vật liệu di truyền không được mã hóa nằm bên ngoài RNA. Henderson nói rằng thế giới của những protein và các phức hợp protein không liên kết với màng tế bào – vốn rất rộng lớn và không thể sử dụng phương pháp tinh thể hóa – giờ đây đã có thể tiếp cận được. Ông cho biết: “Trong một vài năm tới, có thể là 5 năm, chúng ta sẽ hiểu biết hầu hết các cấu trúc, ít nhất là ở người và các vi khuẩn gây bệnh – Lúc đó sẽ rất thú vị”.  Cuộc cách mạng vẫn chưa dừng lại ở đó. Viện Y tế Quốc gia và các quỹ tài trợ cho những nghiên cứu trong lĩnh vực y sinh đang chi hàng chục triệu USD để xây dựng các trung tâm cryo-EM mới nhằm mở rộng khả năng tiếp cận với kỹ thuật này. Một điểm nổi bật, như Ramakrishnan nói, là những nhà sinh học cấu trúc giống như ông sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc vào phương pháp tinh thể học tia X.  Sự chuyển dịch này có thể còn tác động lên những máy gia tốc synchrotron – có kích thước lớn như các sân vận động, trị giá hàng tỷ USD – để tạo ra tia X cho những thí nghiệm với phương pháp tinh thể học. Tại châu Âu, một số máy synchrotron đã bổ sung thêm các thiết bị cryo-EM. Hiện nay, phương pháp tinh thể học tia X vẫn là chuẩn mực để tạo hình ảnh của những protein có thể kết tinh được. Tuy nhiên, giải Nobel năm nay báo hiệu sự ra đời của những tiêu chuẩn mới.  Minh Thuận dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/10/cold-clear-view-life-wins-chemistry-nobel       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel kinh tế 2021: Thí nghiệm tự nhiên giúp trả lời những câu hỏi quan trọng của xã hội      Một nửa giải Nobel kinh tế năm nay được trao cho David Card vì những đóng góp thực nghiệm cho kinh tế lao động, một nửa giải còn lại được trao cho Joshua Angrist và Guido Imbens vì đóng góp của họ vào việc phát triển phương pháp luận phân tích các mối quan hệ nhân quả dựa vào “thí nghiệm tự nhiên”.    Cách tiếp cận của ba nhà khoa học đã trở thành nền tảng, tạo ảnh hưởng rộng rãi sang các lĩnh vực khác và cách mạng hóa nghiên cứu thực nghiệm.    Từ trái sang: David Card, Joshua D. Angrist, Guido W. Imbens.  Nhiều câu hỏi lớn trong khoa học xã hội cần phải trả lời bằng việc chỉ ra mối quan hệ nhân – quả. Di cư ảnh hưởng đến mức lương và việc làm ở nơi đến như thế nào? Học vấn ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập trong tương lai của một người? Những câu hỏi này rất quan trọng đối với việc đưa ra các khuyến nghị chính sách cho các nhà quản lý nhưng rất khó trả lời chính xác vì chúng ta không có được nhóm đối chứng hoàn hảo như trong nghiên cứu thí nghiệm. Chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra nếu có ít người nhập cư hơn hoặc một người không tiếp tục học.  Từ những năm 1980, David Card chỉ ra rằng có thể trả lời những câu hỏi đó và những câu hỏi tương tự bằng thí nghiệm tự nhiên (natural experiments) là một đóng góp nền tảng trong nghiên cứu kinh tế học để giải quyết các vấn đề xã hội: giáo dục, lao động nhập cư, bất bình đẳng. David Card sử dụng phương pháp thực nghiệm để phân tích các tác động của mức lương tối thiểu, người nhập cư và giáo dục đến thị trường lao động để đưa ra các phân tích mới. Ví dụ ông chứng minh bằng thực nghiệm cho các tranh cãi về việc tăng lương tối thiểu có dẫn tới hệ quả là giảm việc làm hay không, cũng như vai trò của lao động nhập cư. Hoặc là nhờ các chứng minh quan hệ nhân quả đó bằng thực nghiệm mà chúng ta nhận thấy rằng các nguồn lực cho giáo dục quan trọng với việc tham gia thị trường lao động sau này lớn hơn so với những gì chúng ta nghĩ trước đây.  Thực ra để đánh giá tác động với các dữ liệu thực nghiệm là rất khó. Ví dụ, việc kéo dài thời gian giáo dục bắt buộc thêm một năm đối với một nhóm học sinh này (chứ không phải nhóm học sinh khác) sẽ không ảnh hưởng đến tất cả mọi học sinh theo cùng một cách. Dù sao đi nữa, một số học sinh vẫn tiếp tục học tập và đối với họ, giá trị của giáo dục thường không mang tính đại diện cho toàn bộ nhóm. Vậy có thể rút ra kết luận nào về tác dụng của một năm học thêm ở trường? Vào giữa những năm 1990, Joshua Angrist và Guido Imbens đã phát triển thêm các phương pháp ước lượng trong kinh tế lượng, nhấn mạnh tính nhân quả của nó, làm sáng tỏ về ước lượng biến công cụ (instrumental variable) trong đánh giá tác động của các nhân tố và chính sách trong kinh tế.   “Các nghiên cứu của Card về các câu hỏi cốt lõi đối với xã hội, còn những đóng góp về phương pháp luận của Angrist và Imbens đã chỉ ra rằng các thí nghiệm tự nhiên là một nguồn kiến thức phong phú. Nghiên cứu của họ đã cải thiện đáng kể khả năng của chúng ta trong việc trả lời các câu hỏi quan trọng về nhân quả, mang lại lợi ích to lớn cho xã hội”, Peter Fredriksson, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kinh tế cho biết.    David Card sinh năm 1956 tại Guelph, Canada. Ông lấy bằng tiến sĩ năm 1983 tại đại học Princeton Đại học và hiện nay là giáo sư kinh tế học tại Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ.  Joshua D. Angrist sinh năm 1960 tại Columbus, Ohio, Hoa Kỳ. Ông lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Princeton và hiện nay là giáo sư kinh tế học tại Viện Công nghệ Massachusetts, Cambridge, Hoa Kỳ.  Guido W. Imbens sinh năm 1963 tại Hà Lan. Ông lấy bằng tiến sĩ năm 1991 tại Đại học Brown, Providence và là giáo sư kinh tế lượng tại Đại học Stanford, Hoa Kỳ.  Bảo Như dịch  TS Nguyễn Việt Cường hiệu đính  Nguồn bài và ảnh: https://www.nobelprize.org/prizes/economic-sciences/2021/press-release/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel ngoại truyện      Ngày 10/12/2013, tức ngày giỗ của Alfred Nobel, tại Stockholm (Thụy Điển) và Oslo (Na Uy), giải Nobel năm 2013 đã được trao cho các chủ nhân của nó. Ngoài một buổi tiệc long trọng theo phong cách hoàng gia với sự có mặt của Đức Vua và Hoàng hậu Thụy Điển, khoảng 1,5 triệu USD tưởng thưởng cho chủ nhân của mỗi giải, thì cái mà người ta trông đợi là các bài diễn văn của những tinh hoa trí tuệ này.  Đây là một sự kiện lớn của giới khoa học và truyền thông, trong nhiều trường hợp còn cả giới chính trị nữa. Xung quanh nó luôn có những câu chuyện thú vị để tìm hiểu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta cùng điểm lại một số tình tiết thú vị xung quanh hai giải Hòa bình và Vật lý năm nay.    Phẩm hay lượng?  Giải Nobel Vật lý năm nay được trao cho François Engler Peter Higgs cho công trình giải thích vì sao các hạt cơ bản lại có khối lượng.  Trên đường đến Stockholm để nhận giải, GS Peter Higgs đã cho biết: Ông gần như chắc chắn sẽ bị đuổi việc với hệ thống học thuật hiện thời. Lý do: Làm việc không năng suất!  Sau khi công bố bài báo quan trọng năm 1964, ông công bố được dưới 10 bài báo trong mấy chục năm làm việc tiếp theo. Peter Higgs vì thế trở thành nỗi khó chịu với Đại học nơi ông làm việc khi có kỳ đánh giá kết quả nghiên cứu. Mỗi khi nhận được tin nhắc nhở cập nhật danh mục các công bố khoa học mới, ổng chỉ đơn giản trả lời: Không có!  Trong môi trường học thuật ngày nay, ông cho rằng không đủ sự yên tĩnh để và bình an để làm những nghiên cứu mà ông đã làm năm 1964. Thực tế, ông đã suýt bị đuổi việc trước đó, nếu không được giới thiệu thành ứng cử viên cho giải Nobel Vật lý năm 1980: có thể ông ta sẽ được giải Nobel – nếu không chúng ta có thể cho ông ấy nghỉ việc bất cứ lúc nào, các quan chức của Đại học Edinburgh nhận định.   Sở dĩ ông được đề cử giải Nobel năm 1980 vì trước đó một năm, Glashow, Salam, Weinberg được trao giải cho thành tích xây dựng Mô hình Chuẩn. Nhưng mô hình này lại dựa chủ yếu vào cơ chế Higgs do ông đề xuất năm 1964, nên nếu ba người đã được giải Nobel thì hiển nhiên ông cũng được cân nhắc.  Sở dĩ ông không được giải năm đó vì thực nghiệm chưa tìm ra hạt Higgs. Theo truyền thống, giải Nobel chỉ trao cho những công trình nào đã được thực nghiệm xác nhận. Tất nhiên việc nào cũng có ngoại lệ, trong Vật lý thì đó là ngoại lệ năm 1979, vì lúc đó hai boson W và Z do Mô hình Chuẩn tiên đoán tồn tại vẫn chưa được tìm ra.   GS Higgs chưa từng gửi một email nào, chưa từng sử dụng internet cho việc nghiên cứu, chưa gọi bất cứ một cuộc điện thoại di động nào. Ông giống như người của trăm năm về trước, khi tất cả sức mạnh trí tuệ đều dựa phần lớn trên sự tưởng tượng, và triển khai ra trên mặt giấy.  Ngay cả tivi ông cũng không có. Khi được thuyết phục xem chương trình Big Bang trên ti vi, ông nói không thấy ấn tượng.   Năm 1999, ông cũng từ chối việc phong tước hiệp sĩ, một vinh dự lớn với mọi công dân Vương quốc Anh, khi cho rằng hệ thống vinh danh ở đây đã được sử dụng cho mục đích chính trị.  Ông cũng nổi tiếng là người nhút nhát, luôn nép sát mép hành lang để tránh đường cho người khác khi gặp nhau, bất kể đó là ai, đồng nghiệp hay sinh viên.    Ai xứng đáng?  Đầu tiên là bài báo của Peter Higgs, khi gửi cho tạp chí Physics Letter ở CERN vào cuối tháng 7/1964 đã bị từ chối. Sau đó ông gửi đăng ở Physics Review Letter, cùng đăng ở số 13 với hai nhóm độc lập khác. Thế mới biết, tìm được người biết mình không bao giờ dễ.  Giải Nobel năm nay được thông báo trễ hơn một giờ so với dự kiến, nên François Engler đã không nghĩ là mình sẽ được giải, khi quá giờ rồi mà vẫn chưa thấy tên mình được xướng lên.  Còn GS Higgs thì tránh truyền thông bằng cách đi nghỉ và không mang theo điện thoại. Điều đó chứng tỏ ông đã tiên đoán mình sẽ được giải Nobel năm nay. Điều này càng rõ hơn khi ông cũng đã chuẩn bị sẵn một thông báo cho trường Đại học Edinburgh, nơi ông làm việc. Trong đó ông cảm ơn Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển, và không quên nhấn mạnh rằng, giải thưởng cho nghiên cứu cơ bản này hy vọng sẽ giúp nhận thức rõ hơn về các nghiên cứu ở “trên trời”, tức nghiên cứu không có ứng dụng trực tiếp.   Ngay cả việc trao giải cho ai cũng đau đầu. Trên thực tế, có ba nhóm độc lập, gồm sáu nhà vật lý: Francois Englert, Peter Higgs, Gerald Guralnik, Tom Kibble, Robert Brout và Carl Hagen, đóng góp chính cho việc phát triển lý thuyết được giải Nobel Vật lý năm nay. GS Brout đã tạ thế, còn lại năm người, trong khi giải Nobel chỉ được trao cho tối đa là ba người. Việc này hẳn cũng tạo áp lực cho Ủy ban xét giải, khi phải cân đo công trạng của từng người.   Thậm chí, một trong số năm người còn lại, GS Hagen còn đề nghị đổi tên hạt boson Higgs, vì ông cho rằng để như vậy là bất công.  Chính vì vậy, sau khi hạt Higgs được tìm ra, ngoài hai người được tiên đoán là được giải năm nay, giới khoa học còn bàn tán xem liệu còn ai hay tổ chức nào khác có thể chia giải, vì theo luật, số người nhận giải tối đa là ba người.  Nếu việc trao giải Nobel vật lý được xét đến cả các tổ chức, thay vì chỉ cá nhân, thì rất có thể các nhóm thực nghiệm ATLAS và CMS, hoặc rộng hơn là CERN cũng sẽ được giải, vì chính họ mới là người chứng minh được sự tồn tại của hạt Higgs bằng thực nghiệm.  Nhưng giải Vật lý lại không trao cho tổ chức như giải Hòa bình. Nên người thứ ba có thể là một trong số ba người còn lại, ngoài Englert và Higgs. Nhưng cuối cùng Ủy ban xét giải đã chọn giải pháp chỉ trao cho hai người.  Một cách vắn tắt và nôm na thì giải Vật lý năm nay trao cho công trình về hạt boson Higgs, truyền thông hay gọi là “hạt của Chúa”, vì nó là hòn đá tảng của Mô hình Chuẩn (SM), lý thuyết đã mang lại hơn hai chục giải Nobel cho các nhà vật lý. Nhưng bản thân Higgs cũng không thấy thoải mái với tên gọi này, nên ông cũng đề xuất gọi hạt Higgs bằng một tên mới: boson vô hướng SM (SM scalar boson), vì trường Higgs là trường vô hướng.  Ông cũng cảm thấy hối tiếc vì hạt Higgs đã được gọi là “hạt của Chúa”, vì nhiều người vin vào đó để làm lẫn lộn khoa học và thần học. Họ cho rằng, với “hạt của Chúa” tìm ra ở CERN, khoa học đã chứng minh Chúa tồn tại!  Thức tỉnh cuối đời   Alfred Nobel (1833-1896) là một kỹ sư, nhà hóa học, nhà sáng chế và doanh nhân sản xuất vũ khí người Thụy Điển. Ổng sở hữu 355 bằng sáng chế, đồng thời là người đã chế tạo ta thuốc nổ dynamite và ballistite, hai loại chất nổ rất mạnh và được sử dụng phổ biến cả trong quân sự lẫn công nghiệp. Các phát minh này làm ông trở nên giàu có. Nhưng cũng chính chúng đã góp phần làm cho các cuộc chiến trở nên đẫm máu hơn.  Rất nhiều người đã phê phán ông về các phát minh này, trong đó có người bạn thân thiết của ông, Bertha von Suttner, văn sĩ và nhà hoạt động vì hòa bình người Áo. Tuy nhiên, khi đương đầu với các phê phán này, ông lại cho rằng các phát minh của ông sẽ giúp chấm dứt các cuộc chiến tranh sớm hơn, vì “khi hai quân đội có khả năng hủy diệt nhau chỉ trong vòng vài giây, thì tất cả các quốc gia văn minh sẽ đều quay lưng lại với chiến tranh”.   Năm 1988, anh trai của ông là Ludvig Nobel qua đời khi đến thăm Cannes, một thành phố của Pháp. Một tờ báo Pháp đã nhầm lẫn tưởng là ông qua đời, nên đăng một bài báo có tiêu đề: Thương lái của tử thần đã tử vong(Le marchand de la mort est mort), trong đó có câu: “Tiến sĩ Nobel, người trở nên giàu có bằng cách phát minh ra cách giết người nhiều hơn và nhanh hơn bao giờ hết, đã chết ngày hôm qua”. Alfred Nobel đọc được bài báo này và lấy làm phiền lòng. Ông bắt đầu suy nghĩ về việc người đời sẽ nghĩ và nhớ về mình như thế nào.  Ngày 27/11/1895, tại câu lạc bộ Thụy Điển – Na Uy ở Paris, Alfred Nobel đã ký bản di chúc của mình, theo đó 94% tài sản của ông, sau khi đã trừ thuế và chia cho những người khác, sẽ được dùng để lập Quỹ Giải thưởng Nobel, dể trao cho các cá nhân “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại” trong các lĩnh vực: Vật lý, Hóa học, Hòa bình, Y Sinh và Văn chương. Năm 1968, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển có bổ sung thêm một giải về kinh tế nhân sự kiện 300 năm thành lập ngân hàng này, gọi là giải thưởng về khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel, nên có thể tạm coi như có thêm một giải Nobel về kinh tế, ngoài các giải đã được Alfred Nobel đặt ra.  Như vậy, từ một sự nhầm lẫn của tòa báo mà Alfred Nobel đã giật mình hình dung cách mình được người đời nhớ đến sau khi mất. Có lẽ ông đã hoảng hốt nhận ra rằng, nếu không thay đổi, thì dù thành công tột bậc về tài chính, ông cũng sẽ bị xú danh muôn thuở như một ‘thương lái của tử thần’ trong lịch sử. Đây là điều ông không muốn, và cũng không ai muốn.  Từ sự giật mình này, Alfred Nobel đã có một sự thức tỉnh cuối đời đáng giá. Nếu không, khối tài sản của ông có lẽ đã bay hơi hết sau những cuộc khủng hoảng kinh tế và bể dâu thời cuộc, như bao ‘đại gia’ đã đến và đi khác.   Nếu không có sự thức tỉnh này, chắc hẳn ông sẽ như hàng chục tỉ người đã đến và đi khỏi thế giới này mà không để lại dấu vết, hoặc tệ hơn khi bị gắn mác‘thương lái của tử thần’.  Nhờ sự thức tỉnh này, không chỉ tên tuổi ông đi vào lịch sử, đất nước Thụy Điển được vinh danh và hưởng lợi hằng năm từ việc trao giải Nobel, mà thế giới cũng được hưởng những lợi ích to lớn từ những khuyến khích mà giải Nobel mang lại.   Sự thức tỉnh cuối đời của ông đã để lại một di sản vô giá cho nhân loại.  Giờ đây, khi nói đến Nobel, người ta nghĩ đến những giải thưởng danh giá bậc nhất của khoa học, văn chương và hòa bình, đến những cá nhân xuất chúng được tôn vinh, những bước tiến lớn của nhân loại trong hành trình mở mang hiểu biết và xiển dương nhân văn vì một thế giới tốt đẹp hơn.  Người đời ngưỡng mộ ông, đất nước Thụy Điển tự hào về ông, chứ ít ai còn nhớ ông đã từng được gọi là ‘thương lái của tử thần’.  Tất cả những điều này có được đều nhờ vào sự thức tỉnh cuối đời, khi ông hình dung mình sẽ được người đời nhớ đến như thế nào sao khi mất.  Vậy nên, bản thân sự thức tỉnh cuối đời này của ông cũng là một di sản quý giá, và để lại bài học suy ngẫm cho bao người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel vật lý 2012 cho nghiên cứu vật lý lượng tử      Giải Nobel vật lý 2012 đã được trao cho hai nhà vật lý học người Mỹ David Wineland và nhà vật lý người Pháp Serge Haroche về công trình nghiên cứu vật lý lượng tử.    Vật lý lượng tử là chuyên ngành vật lý giải thích các hiện tượng ở quy mô nguyên tử hay nhỏ hơn nguyên tử (còn gọi là hạ nguyên tử).  Hai nhà khoa học này thực hiện hai công trình nghiên cứu độc lập và cho ra các kết quả tương đối giống nhau. Điểm tương đồng trong phương pháp của họ là tạo ra một cái bẫy để kiểm soát và tách các hạt riêng lẻ nhưng không phá hủy cấu trúc hạt.  “Các nhà khoa học đoạt giải Nobel vật lý năm nay đã mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên mới trong việc thử nghiệm vật lý học lượng tử bằng cách nghiên cứu và quan sát trực tiếp các hạt lượng tử riêng lẻ mà không phá hủy chúng”, Ủy ban Nobel cho biết. Nghiên cứu của hai nhà khoa học trên có thể mở đường một cuộc cách mạng máy tính trong tương lai. “Phương pháp đột phá của họ cho phép thực hiện các bước đầu tiên hướng tới xây dựng một loại máy tính mới siêu nhanh dựa trên vật lý lượng tử”. Ngoài ra, các nghiên cứu của hai nhà khoa học trên cũng giúp ích cho việc xây dựng một đồng hồ với độ chính xác lớn hơn gấp trăm lần hơn so với đồng hồ caesium ngày nay.  Giáo sư Serge Haroche sinh ngày 11-9-1944 tại Casablanca (Morocco). Năm 2001, ông được phong hàm Giáo sư tại Đại học College de France và giữ chức Chủ tịch Hội Vật lý Lượng tử.   David J. Wineland sinh ngày 24-2-1944. Ông hiện đang làm việc tại phòng thí nghiệm vật lý của Viện Quy chuẩn và Công nghệ Quốc gia (NIST) ở Boulder bang Colorado (Mỹ). Wineland nổi danh với các công trình nghiên cứu về quang học. Ông nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Harvard năm 1970 và được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ năm 1992.  Đây là một kết quả khá bất ngờ vì trước đó, đã có nhiều dự đoán là giải Nobel vật lý 2012 sẽ thuộc về nghiên cứu hạt Higgs hay còn gọi là “hạt của Chúa”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Vật lý 2022: Không bao giờ quá muộn để hiểu đúng      Động lực của Ủy ban Nobel trong việc quyết định lựa chọn giải thưởng năm nay có lẽ đến từ những tiến bộ ngoạn mục của tính toán lượng tử trong hai thập kỷ qua. Nó có nhiều ứng dụng tiềm năng, từ mật mã đến học máy và truyền thông lượng tử, sử dụng hết sức mạnh mẽ các cặp photon rối và các thực thể liên quan.      Ba nhà khoa học được trao giải Nobel Vật lý 2022 (từ trái qua phải): John Clauser, Anton Zeilinger và Alain Aspect. Nguồn: Quantamagazine  Chúng ta luôn cảm thấy khó chấp nhận một lý thuyết mới, đặc biệt là khi nó chứa nhiều điều trái ngược với trực giác của mình. Lý thuyết cũ thường trở nên quá quen thuộc đến mức chúng ta mặc nhiên chấp nhận nó như là mô tả của “thực tại”. Sự xuất hiện đồng thời của thuyết tương đối hẹp và cơ học lượng tử ở đầu thế kỷ XX là một minh họa hết sức ngoạn mục cho điểm này. Cái phản ứng cố hữu đó của con người đã khởi nguồn cho những cuộc thảo luận bất tận về thực tại, mở màn cho đủ loại giải thích và suy đoán về một bản tính siêu hình học và bản thể học. Nhưng lý thuyết mới cho ta thấy: “Bạn đang nói gì vậy? Thực tại, tồn tại chỉ là những lời sáo rỗng vô nghĩa cũng như những gì tôi nói với bạn. Bạn muốn làm cho chúng bao hàm những ý nghĩa siêu việt, nhưng lại không có cơ sở lập luận vững vàng cho chúng. Hãy thôi đi. Tôi là những gì bạn gọi là thực tại. Vậy thôi”. Với những nỗ lực hết sức có thể, sau nhiều thập kỷ nghiên cứu về các hiện tượng thống trị bởi lý thuyết mới, cuối cùng, các nhà khoa học lại trở nên quen thuộc với lý thuyết mới đến mức họ sẵn sàng chấp nhận nó bất chấp những vi phạm mà nó vẫn tiếp tục gây ra đối với trực giác thông thường của họ. Tuy nhiên, một vài người trong số họ lại không như vậy. Đó là Einstein, người dường như không có vấn đề gì với việc chấp nhận thuyết tương đối (nói một cách nhẹ nhàng là như vậy…) nhưng lại cảm thấy không thoải mái với cơ học lượng tử cho đến khi qua đời vào năm 1955. Năm 1935, cùng với Boris Podolsky và Nathan Rosen, ông đã công bố một bài báo1 thường được gọi là “nghịch lý EPR” [ND: viết tắt từ chữ cái đầu của Einstein, Podolsky và Rosen] với tiêu đề “Mô tả của cơ lượng tử về thực tại vật lý có thể được coi là hoàn chỉnh không?”. Nghịch lý này đã khởi đầu cho nhiều phát triển khởi sắc về cả lý thuyết và thực nghiệm thậm chí cho đến hiện nay. Giải Nobel Vật lý năm 2022 trao cho vế thứ hai, “các thí nghiệm với các photon rối, khẳng định sự vi phạm bất đẳng thức Bell và tiên phong trong khoa học thông tin lượng tử”.  Một sự tấn công lớn của cơ học lượng tử đối với trực giác của chúng ta là tuyên bố một hệ [ND: hệ vật lý] được quan sát nằm trong tập hợp những trạng thái có thể và có thể cũng nằm trong vô số các trạng thái khác. Điều này làm đảo lộn quan niệm của chúng ta về thực tại. Luận điểm này dựa vào các phép đo. Nó cho rằng bất cứ điều gì chúng ta muốn tìm hiểu về hệ đều là kết quả của một phép đo nào đó. Hãy nghĩ về cách chúng ta vẫn nhìn nhận về một hạt. Nếu muốn biết nó ở đâu, chúng ta đo vị trí, x. Hoặc, nếu muốn biết sẽ nó đi đâu, chúng ta đo xung lượng của nó, p. Cơ học lượng tử mô tả các trạng thái có thể có của một hạt như vậy như các vectơ trong một không gian tạo nên từ các trạng thái mà hạt ở đó khi chúng ta thực hiện phép đo. Khi đo x, chúng ta có thể nhận được kết quả x0 và một vectơ cụ thể (x0) mô tả trạng thái của hạt trong trường hợp này. Vì x0 có thể nhận vô số giá trị, nên không gian vectơ của các trạng thái có vô số chiều. Cái này được gọi là không gian Hilbert.  Giản đồ pion trung hòa phân rã thành một cặp electron-positron: mũi tên trống hiển thị mômen từ của electron và position.  Phát kiến ​​lớn đầu tiên của cơ học lượng tử là phát biểu rằng bất kỳ vectơ nào trong không gian Hilbert đều đại diện cho một trạng thái có thể của hạt, không chỉ các trạng thái (x0) cơ sở của nó. Nói chung, một trạng thái như vậy sẽ là sự chồng chập tuyến tính của các vectơ cơ sở và do đó sẽ có sự trộn lẫn của những vectơ cơ sở. Cơ học lượng tử giải thích điều này bằng cách nói rằng một phép đo trên một trạng thái như vậy có thể cho những kết quả khác nhau, xi, với xác suất được đo bằng các thành phần2 của trạng thái trên các vectơ (xi) cơ sở. Điều này làm cho cơ học lượng tử trở thành một lý thuyết phi tất định; đây là tác động lớn đầu tiên đối với nhận thức của chúng ta.  Phát kiến lớn thứ hai của cơ học lượng tử là giải thích thực tế rằng một số đại lượng không thể đo đồng thời với độ chính xác tùy ý, cái này được gọi là nguyên lý bất định Heisenberg. Để làm được như vậy, nó nói rằng hai đại lượng “không tương thích” liên kết với các vectơ trạng thái của cùng một không gian Hilbert. Trong ví dụ trên, vị trí và xung lượng là những đại lượng không tương thích. Nếu đo xung lượng, chúng ta sẽ nhận được kết quả p0 liên quan đến trạng thái (p0). Nhưng (p0) là một vectơ của cùng một không gian Hilbert phụ thuộc vào các trạng thái (x0). Cụ thể, nó là sự chồng chất tuyến tính của nhiều trạng thái (xi) như vậy và nếu bây giờ chúng ta đo x trên trạng thái đó, chúng ta sẽ đo được một giá trị nào đó với xác suất như nhau. Một trạng thái (x0), với vị trí xác định duy nhất x0, tương ứng với ý tưởng rằng chúng ta có một hạt và một trạng thái (p0), với xung lượng xác định duy nhất p0, tương ứng với ý tưởng về một sóng phẳng. Cơ học lượng tử mô tả theo cách này cái mà chúng ta gọi là lưỡng tính sóng hạt: nói chung, một trạng thái khả dĩ sẽ không mô tả hạt hay sóng rõ ràng, mà là một phiên bản lai của chúng. Nó sẽ giống một hạt hơn nếu các thành phần của nó trên cơ sở (x0) liên quan đến ít vectơ cơ sở hơn và giống như một sóng hơn nếu các thành phần của nó trên cơ sở (p0) bao gồm ít vectơ cơ sở hơn. Để một trạng thái trông giống càng nhiều càng tốt so với những gì mà chúng ta vẫn quen dùng, nó cần liên quan đến ít thành phần trên cả hai cơ sở (x0) và (p0): người ta nói về một “bó sóng”. Thông thường, các thành phần của nó trên (x) được coi là có phân bố Gauss xung quanh x0 với độ rộng Dx và các thành phần của nó trên (p) được coi là có phân bố Gauss xung quanh p0 với độ rộng Dp. Hệ thức bất định Heisenberg cho chúng ta biết rằng tích Dp×Dx phải lớn hơn hằng số Planck, h = 6,6 10–34 Jun.giây, một hằng số cơ bản của vật lý lượng tử đo mức độ không tương thích giữa các đại lượng x và p.    John Bell tại văn phòng ở CERN của mình.  Trong cách giải thích chính thống của cơ học lượng tử, chúng ta chỉ quan tâm đến những gì có thể đo được và không có tham vọng đưa ra cách giải thích không cần thiết về các trạng thái khác ngoài cơ sở liên quan đến phép đo. Chúng ta sử dụng chúng để mô tả một hệ, nhưng lý do duy nhất khi áp dụng mô tả này là do nó hoạt động hết sức tuyệt vời, cho phép chúng ta xây dựng nên một lý thuyết tao nhã về tất cả các hiện tượng quan sát được ở quy mô nguyên tử và nhỏ hơn. Thay vào đó, những cách giải thích không chính thống của cơ học lượng tử, với động lực bác bỏ sự phi tất định của nó, dành nhiều sự chú ý cho những cách giải thích có thể có về trạng thái tổng quát nhất của không gian Hilbert. Điển hình của điều sau là cách giải thích khó hiểu được đưa ra bởi nghịch lý EPR. Nó xem xét việc đo p tại một điểm A trong không gian, đối với một hệ ở trạng thái khác với trạng thái của hệ cơ sở (p); nhận được kết quả là p0, và hệ nằm ở trạng thái (p0). Trước khi thực hiện phép đo, có thể có nhiều kết quả khác, với các xác suất được đo bằng các thành phần của trạng thái trên cơ sở (p). Đồng thời với phép đo này, người ta đo p tại một điểm B, cách xa A. Làm sao B biết được kết quả của phép đo ở A? Làm thế nào nó có thể biết rằng hệ nằm ở trạng thái (p0) và kết quả của phép đo của nó phải là p0? Thông tin từ A đến B cần phải truyền đi ngay lập tức, mà điều này lại vi phạm thuyết tương đối hẹp; người ta nói về tính “phi định xứ”. Cách giải thích phi chính thống như vậy, coi phép đo gây ra cái mà người ta gọi là “suy sụp” của trạng thái ban đầu thành trạng thái được đo và sự suy sụp đó phải là phi định xứ.  Nghịch lý EPR được David Bohm3 phát biểu lại vào năm 1951 dưới một hình thức hấp dẫn trực giác hơn. Nó xem xét một cặp hạt được tạo ra cùng nhau từ một hạt mẹ, theo cách mà các đặc tính của chúng có tương quan với nhau. Một ví dụ cụ thể là một cặp photon, hoặc tương đương là một cặp electron-positron, được tạo ra từ sự phân rã của hạt có spin bằng không (hạt vô hướng), chẳng hạn như pion trung hòa, và bay ra xa nhau. Các hạt phân rã có spin, có thể đo được và được tìm thấy ở hai trạng thái khả dĩ, được gọi là “spin-lên” và “spin-xuống”. Phép đo như vậy ngụ ý chọn một trục theo đó spin được đo. Việc chọn một trục khác cũng cho ra hai kết quả, lên hoặc xuống, nhưng trạng thái spin-lên mới bây giờ là sự chồng chập của các trạng thái spin-lên và spin-xuống thu được liên quan đến phép đo sử dụng trục đầu tiên. Và cũng tương tự cho trạng thái spin-xuống mới. Vì hạt mẹ có spin bằng không, các hạt phân rã phải có spin ngược chiều nhau. Cơ học lượng tử mô tả cặp hạt phân rã là một trạng thái đơn lẻ, về mặt spin, nằm trong không gian Hilbert hai chiều phụ thuộc vào các trạng thái (lên, xuống) và (xuống, lên). Ở trạng thái (lên, xuống), hạt bên trái có spin hướng lên và hạt bên phải có spin hướng xuống; và tương tự cho trạng thái (xuống, lên). Không thể có trạng thái (lên, lên) và (xuống, xuống) trong mô tả như vậy: người nói rằng các hạt phân rã bị “rối” trong một trạng thái chung và người ta nói về “sự rối”. Trong trường hợp như vậy, nghịch lý EPR có dạng sau: người ta đo spin của hạt bên trái và tìm ra kết quả spin của hạt bên phải buộc phải có, ở trạng thái xác định rõ. Sẽ không có gì sai với điều này nếu chúng ta giải thích trạng thái của cặp hạt là ở một trong các trạng thái (lên, xuống) hoặc (xuống, lên) trước khi đo. Nhưng nếu chúng ta giải thích trạng thái ban đầu của cặp hạt là sự suy sụp thành một trong hai trạng thái khả dĩ chỉ sau khi thực hiện phép đo, thì người ta phải đối mặt với vấn đề phi định xứ: làm sao hạt ở phía bên phải có thể biết được kết quả của phép đo thực hiện với hạt bên trái? Cách giải thích chính thống của cơ học lượng tử không có vấn đề gì với câu đố rõ ràng này, nó không cần phải tuyên bố rằng trạng thái rối sụp đổ ngay lập tức ở mọi nơi bởi vì nó chỉ quan tâm đến các trạng thái được đo.    Trung Quốc đã vận hành thành công vệ tinh Mặc Tử cung cấp các cặp photon rối vào năm 2017 tới các trạm mặt đất gần Vienna và Bắc Kinh, cách nhau 7.400 km.  Một bước tiến quan trọng sau đó đã được thực hiện vào năm 1964 bởi John Bell tại CERN với một định lý được đặt theo tên ông4. Bell là một người đàn ông hết sức khiêm nhường và lôi cuốn, thật đáng buồn ông lại mất sớm. Tôi nhớ ông đã tổ chức một cuộc hội thảo về định lý của mình vào năm 1965 và giảng cho chúng tôi về vi phạm đối xứng CP với phân rã K0 tại một trường học mùa hè ở Les Houches cùng năm này. Ở thời điểm đó, cơ học lượng tử gần như đã được cộng đồng vật lý chấp nhận nhưng các cuộc thảo luận về cách lý giải nó sao cho ít trái với trực giác thông thường nhất vẫn tiếp tục diễn ra. Những cuộc trao đổi đó là nguồn cơn của nhiều ý tưởng thú vị. Trong số đó có những lý thuyết như lý thuyết biến ẩn5. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta sẽ không bàn về những lý thuyết như vậy để tránh đi quá xa. Có thể khẳng định rằng mối quan tâm chính của những người đặt vấn đề về cách giải thích chính thống của cơ học lượng tử, cái gọi là cách giải thích Copenhagen, là phủ nhận tính phi tất định của nó, bác bỏ sự tồn tại các trạng thái của một hệ trong đó các giá trị được lấy bởi một số đại lượng mô tả tính chất của nó không được xác định một cách chính xác và duy nhất. Định lý Bell nhằm mục đích phân biệt cơ học lượng tử chính thống và một loạt lý thuyết tất định. Ví dụ về sự phân rã của hạt có spin bằng không cho thấy rằng không thể tạo ra mối tương quan giữa các phép đo thực hiện ở bên trái và bên phải mạnh như với cơ học lượng tử. Ở dạng đơn giản, nó có thể được mô tả như sau: thành phần spin của hạt bên trái được đo dọc theo một trong hai trục, vuông góc với nhau và vuông góc với đường bay, kí hiệu 1 và 2. Thành phần spin của hạt bên phải được đo trên một trong các trục 3 và 4 là đường phân giác của trục 1 và 2. Người ta quyết định theo ý mình, đối với mỗi phân rã, Sz1 hoặc Sz2 được đo ở phía bên trái và, một cách độc lập, Sz3 hoặc Sz4 được đo ở phía bên phải. Sau đó, đối với loại lý thuyết tất định được Bell xem xét, khi tính trung bình trên một số lượng lớn các phép đo (với <SziSzj> là giá trị trung bình của tích SziSzj), <Sz1Sz3> + <Sz1Sz4> + <Sz2Sz3> – <Sz2Sz4> không được vượt quá 1/2: đây là bất đẳng thức Bell; ngược lại giá trị cơ lượng tử của cùng một đại lượng là 1/√2 với hệ số √2 lớn hơn giá trị xác định lớn nhất có thể. Như vậy sự vi phạm bất đẳng thức Bell là một đặc điểm khác biệt của cơ học lượng tử.  Giải Nobel Vật lý 2022 trao thưởng cho ba thí nghiệm điển hình đưa ra bằng chứng về vi phạm bất đẳng thức Bell.    “Nghịch lý EPR” đã khởi đầu cho một loạt các phát triển về cả lý thuyết và thực nghiệm vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Giải Nobel Vật lý năm 2022 trao cho vế thứ hai, “các thí nghiệm với các photon rối, khẳng định sự vi phạm bất đẳng thức Bell và tiên phong trong khoa học thông tin lượng tử”.    Năm 1972, John Clauser cùng với Stuart Freedman (mất năm 2012) đã công bố bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về vi phạm bất đẳng thức Bell6. Thí nghiệm được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Lawrence ở Berkeley, quan sát sự phân rã của một nguyên tử canxi từ trạng thái có tổng mômen động lượng J = 0 đến trạng thái J = 1 thông qua photon thứ nhất γ1 có bước sóng 5513 Å, tiếp theo là phân rã đến trạng thái J = 0 thông qua photon thứ hai γ2 có bước sóng 4227 Å. Hai photon được quan sát đồng thời (kĩ thuật trùng phùng), trạng thái J = 1 có thời gian sống chỉ ~5 ns, sau khi đi qua các thiết bị phân cực tuyến tính. Kết quả thu được hoàn toàn phù hợp với cơ học lượng tử và đưa ra bằng chứng về sự vi phạm bất đẳng thức Bell với độ tin cậy hơn 6 độ lệch chuẩn [ND: trong thống kế 3 độ lệch chuẩn tương đương với mức độ tin cậy 99,7%]. Trong thí nghiệm này, trạng thái J = 1 của nguyên tử canxi đóng vai trò hạt mẹ có spin bằng không trong thí nghiệm Bohm gây ra sự rối của cặp photon γ1+γ2.  Từ năm 1980 đến năm 1982, Alain Aspect, cùng với J. Dalibard, P. Grangier và G.Roger đã lặp lại thí nghiệm Freedman-Clauser tại Viện Quang học, Orsay (Pháp), cải thiện đáng kể một số tính năng kỹ thuật khi thiết lập thí nghiệm, bao gồm cả laser được sử dụng để kích thích các nguyên tử canxi về trạng thái J = 0 ban đầu và các bộ phân cực được cải tiến với các cài đặt để có thể thay đổi trong một khoảng thời gian ngắn. Một lần nữa, nhóm nghiên cứu thu được bằng chứng rõ ràng về vi phạm các bất đẳng thức Bell7 (5 độ lệch chuẩn). Cải tiến chính của thí nghiệm này so với thí nghiệm Freedman-Clauser là độ tin cậy của kết quả đo.  Phiên bản thứ ba của thí nghiệm Freedman-Clauser được công bố vào năm 19988 bởi nhóm của Anton Zeilinger tại Viện Vật lý Thực nghiệm của Đại học Innsbruck với cách thiết lập thí nghiệm hoàn toàn khác (cặp photon rối được tạo ra bằng cách bơm tinh thể Beta-Baryum-Borate với ánh sáng laser iôn argon). Lần này, bất đẳng thức Bell đã bị vi phạm với hơn 30 độ lệch chuẩn và quan trọng hơn, điều kiện định xứ, nghĩa là phép đo ở phía trái không có thời gian để cho phép đo ở phía phải biết về cài đặt của máy phân tích của nó, đã hoàn toàn được thực thi với các phát hiện photon cách nhau ~400 m (1,33 μs với vận tốc ánh sáng), siêu nhanh (<30 ns), máy phân tích được cài đặt ngẫu nhiên, và ghi nhận dữ liệu hoàn toàn độc lập.  Thí nghiệm Clauser (trái), Aspect (giữa) và Zeilinger (phải). Tốc độ trùng phùng R(Φ) chia cho tốc độ trùng phùng R0 đo được khi loại bỏ các bộ phân cực được biểu diễn dưới dạng hàm của góc Φ của các mặt phẳng phân cực. Các đường liền nét là dự đoán của cơ học lượng tử. Kết quả của nhóm Zeilinger được mô tả trong bài báo của họ, độc giả nên tìm đọc.  Ngày nay, một loạt các kết quả thực nghiệm mới cũng đã chứng minh sự vi phạm bất đẳng thức Bell ủng hộ cách giải thích chính thống của cơ học lượng tử với độ chính xác chưa từng có. Trong bối cảnh như vậy, thật hết sức cám dỗ để cơ học lượng tử và cách giải thích chính thống có thể tuyên bố chiến thắng vang dội và làm nín lặng những tiếng nói đòi hỏi diễn giải cơ học lượng tử dùng logic “vĩ mô”. Tuy nhiên, sự kiêu ngạo như vậy sẽ không phù hợp bởi nó bỏ qua thực tế rằng cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng không tương thích ở thang Planck. Điều này vốn được dịch bằng một ngôn ngữ không chính xác về mặt chính trị, có nghĩa là ít nhất một trong hai thuyết này và rất có thể cả hai đều sai. Nó cũng sẽ bỏ qua những ý tưởng phong phú truyền cảm hứng bởi nền tảng cơ học lượng tử như ý tưởng được Gerard ‘t Hooft9 xem xét gần đây. Nổi bật trong số này là phỏng đoán ER = EPR10, đề xuất bởi Leonard Susskind và Juan Maldacena năm 2013, gợi ý rằng việc xem xét một cặp lỗ đen rối có thể đem lại cơ sở để thống nhất cơ học lượng tử và thuyết tương đối.    Động lực của Ủy ban Nobel trong việc quyết định lựa chọn giải thưởng năm nay có lẽ đến từ những tiến bộ ngoạn mục của tính toán lượng tử trong hai thập kỷ qua.    Trước khi kết thúc bài viết này, tôi phải nói rằng động lực của Ủy ban Nobel trong việc quyết định lựa chọn giải thưởng năm nay có lẽ đến từ những tiến bộ ngoạn mục của tính toán lượng tử trong hai thập kỷ qua. Tính toán lượng tử có nhiều ứng dụng tiềm năng, từ mật mã đến học máy và truyền thông lượng tử, sử dụng hết sức với tần suất cao các cặp photon rối và các thực thể liên quan. Trung Quốc đã phát triển mạng lưới Phân phối Khóa Lượng tử lớn nhất thế giới giữa Bắc Kinh và Thượng Hải và đã vận hành thành công vệ tinh Micius cung cấp các cặp photon rối vào năm 2017 tới các trạm mặt đất gần Vienna và Bắc Kinh, cách nhau khoảng 7.400 km. Các cặp photon rối này có thể được sử dụng làm khóa mã hóa, giúp cho việc giao tiếp giữa hai đối tác có thể được giữ bí mật khỏi các hacker, hiệu quả hơn nhiều so với trước đây.  Thật thú vị khi nhận xét rằng ba nhà khoa học, với lý tưởng phổ biến kiến ​​thức tới công chúng càng rộng rãi càng tốt, hiện lại đang được khen thưởng vì đã đi tiên phong trong nỗ lực giữ bí mật thông tin cao nhất có thể… tôi chỉ đang nói đùa thôi.□  —-  Chú thích  1 Einstein, A., Podolsky, B. and Rosen, N., 1935, Phys. Rev. 47 10 777. https://en.wikipedia.org/wiki/EPR_paradox. Như một lời khuyên chung cho người đọc không quen thuộc với các vấn đề được thảo luận trong bài viết này, tôi khuyên các bạn nên đọc các bài viết trên Wikipedia, tất cả đều có chất lượng tốt, khi duyệt web để tìm thông tin về các vấn đề đó. Thật vậy, nhiều bài báo khác trộn lẫn khoa học cấp thấp với triết học cấp thấp, tạo nên sự bối rối trong tâm trí người đọc.  2 Trên thực tế, bình phương mô đun của các thành phần, là số phức, nhưng thảo luận hiện tại bỏ qua điều này.  3 Bohm, D., 1951, Quantum Theory, Prentice-Hall, Englewood Cliffs. https://en.wikipedia.org/wiki/EPR_paradox.  4 https://en.wikipedia.org/wiki/Bell%27s_theorem  5 https://en.wikipedia.org/wiki/Hidden-variable_theory  6 Freedman, S.J. and Clauser, J.F., 1972, Experimental test of local hidden-variable theories, Phys. Rev. Lett., 28/14, 938.  7 Aspect, A., Grangier, P. and Roger, G., 1981, Phys. Rev. Lett., 47, 460. Aspect, A., Grangier, P. and Roger, G., 1982, Phys. Rev. Lett., 49, 91. Aspect, A., Dalibard, J. and Roger, G., 1982, Experimental Test of Bell’s Inequalities Using Time-Varying Analyzers, Phys. Rev. Lett., 49, 1804.  8 Weihs, G., Jennewein, T., Simon, C., Weinfurter, H. and Zeilinger, A., 1998, Violation of Bell’s Inequality under Strict Einstein Locality Conditions, Phys. Rev. Lett. 81/23 5039  9 ‘t Hooft, 2016, The cellular automaton interpretation of quantum mechanics, Fondamental theories of physics, Volume 84, Springer  10 Maldacena, J. and Susskind, L., 2013, Cool horizons for entangled black holes, Fortschr. Phys., 61/9, 781;  https://en.wikipedia.org/wiki/ER_%3D_EPR    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nobel Vật lý cho cuộc dò tìm sóng hấp dẫn      Ba nhà vật lý người Mỹ Rainer Weiss, Barry Barish và Kip Thorne, những người đóng vai trò chủ chốt trong cuộc dò tìm đầu tiên ra sóng hấp dẫn, đã được trao giải Nobel vật lý 2017.    Giải thưởng gồm 9 triệu krona Thụy Điển (tương đương 1.1 triệu USD) được trao một nửa cho Rainer Weiss, giáo sư Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tại Cambridge, nửa còn lại cho Barry Barish và Kip Thorne, giáo sư Viện Công nghệ California (Caltech) tại Pasadena. Họ đã cùng làm việc tại Đài Quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế LIGO, và có những đóng góp mang tính quyết định trong việc xây dựng máy dò LIGO, “thiết bị nhạy nhất từng được chế tạo bởi con người” (theo nhận xét của ủy ban trao giải Nobel) và quan sát về sóng hấp dẫn. Tháng 9/2015, LIGO đã lọc được  những sự biến dạng của không – thời gian từ sự sáp nhập của hai lỗ đen trong vũ trụ sớm xảy ra cách trái đất hơn một tỷ năm ánh sáng. Khám phá này đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới của vật lý thiên văn mà ở đó các nhà khoa học lắng nghe những rung động của không – thời gian phát ra bởi những sự kiện gây chấn động bậc nhất vũ trụ. Đồng thời, nó khẳng định sự tồn tại của sóng hấp dẫn mà Albert Einstein đã tiên đoán cách đây một thế kỷ.    Weiss và Thorne là hai trong số ba nhà vật lý được biết với biệt danh Troika1 – những nhà sáng lập hai cỗ máy dò khổng lồ LIGO đặt ở Livingston, Louisiana, và Hanford, Washington tại Mỹ. Vào giữa những năm 1970, Weiss và Thorne đã bắt đầu cuộc truy tìm kéo dài vài thập kỷ để dò tìm sóng hấp dẫn, điều mà họ vẫn tin rằng có thể đem lại một cuộc cách mạng về nhận thức của chúng ta về vũ trụ.     Rainer Weiss đang làm việc tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tại Cambridge    Weiss thiết kế máy dò – giao thoa kế laser, thiết bị mà ông tin rằng có khả năng đo được tín hiệu nhỏ tới mức có thể dễ dàng bị át bởi tiếng rì rầm của sóng biển. Thorne, nhà vật lý lý thuyết, bắt đầu những dự đoán mang tính quan trọng về tín hiệu của sóng hấp dẫn được phát ra từ cuộc sáp nhập của hai lỗ đen sẽ hiển thị như thế nào.  Thành viên thứ ba trong bộ ba Troika, nhà vật lý người Scotland, Ronald Drever đã bắt đầu thiết kế các mẫu thử của máy dò tại Glasgow và sau khi chuyển đến Caltech, ông đã cùng Weiss và Thorn trở thành bộ ba xây dựng nền tảng cho dự án LIGO. Drever đã qua đời vào ngày 7/3/2017 vừa qua do căn bệnh sa sút trí tuệ và trong khi giải Nobel không trao cho người đã khuất, ông được ghi nhận như người một người đã có những đóng góp mang tính quyết định đối với dự án.    Còn Barry Barish, nhà vật lý hạt, mãi về sau mới tham gia dự án, nhưng ông được coi là người có công khiến cho khám phá của LIGO trở thành hiện thực. Trở thành giám đốc LIGO từ năm 1997 khi dự án đứng trước nguy cơ dừng hoạt động, Barish đã rà soát và tái cấu trúc lại dự án, lật ngược tình thế.        Barry Barish và Kip Thorne ăn mừng sau lễ trao giải Nobel tại nơi làm việc của họ, Viện Công nghệ California (Caltech)    Và cuối cùng, cuộc dò tìm đòi hỏi sự cộng tác lớn chưa từng có giữa các nhà thực nghiệm đã xây dựng một trong những cõ máy dò phức tạp nhất thế giới, với những nhà lý thuyết, những người xác định tín hiệu phát ra từ sự sáp nhập giữa hai lỗ đen trông sẽ ra sao.       “Tôi coi giải thưởng này là sự ghi nhận công lao của hơn 1.000 người, một nỗ lực tận tụy đã kéo dài trong – tôi ghét phải nói với anh điều này – một khoảng thời gian dài tới 40 năm” giáo sư Weiss cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Ủy ban giải thưởng Nobel ngay sau khi giải thưởng được công bố.  Giáo sư Thorne nói: “Giải thưởng đúng ra thuộc về hàng trăm nhà khoa học và kỹ sư ở LIGO, những người đã xây dựng và hoàn thiện các giao thoa kế sóng hấp dẫn đầy phức tạp của chúng ta, và hàng trăm… nhà khoa học đã tìm thấy các tín hiệu sóng hấp sẫn trong dữ liệu hỗn tạp mà LIGO thu nhận và trích rút ra được thông tin về sóng hấp dẫn.  Barish cho biết thêm, ông cảm thấy khiêm nhường và vinh dự về việc được trao giải thưởng. “Cuộc dò tìm sóng hấp dẫn là sự thắng lợi thực sự của vật lý thực nghiệm hiện đại trên quy mô lớn”.  “Chúng tôi cảm thấy hạnh phúc cho họ. Họ đã làm việc về vấn đề này trong hàng thập kỷ”, Gabriela Gonzalez, nhà vật lý tại trường đại học bang Louisiana tại Baton Rouge (Mỹ), thành viên của một nhóm nghiên cứu tại LIGO và là cựu phát ngôn viên của Nhóm Hợp tác khoa học LIGO. Giải Nobel chỉ được trao cho tối đa ba người nhưng Ủy ban giải thưởng Nobel đã ghi nhận số lượng lớn các nhà nghiên cứu làm việc tại LIGO trong thông cáo báo chí của mình.  Các nhà vật lý trên toàn thế giới đã chờ đợi Ủy ban giải thưởng Nobel xướng tên nhóm nghiên cứu kể từ khi việc phát hiện ra sóng hấp dẫn đã được thông báo từ năm 2016. “Tôi vô cùng hạnh phúc khi họ đã ghi nhận đúng người”, Charles Misner, nhà vật lý lý thuyết về Thuyết Tương đối rộng tại trường đại học Maryland tại College Park (Anh), cho biết.  Nhóm làm dự án LIGO trước đó đã giành được hầu hết những giải thưởng khoa học quan trọng trên thế giới như Giải thưởng Breakthough trong ngành vật lý cơ bản, Giải thưởng Shaw, Giải thưởng Kavli trong ngành vật lý thiên văn, Giải thưởng Gruber trong ngành vũ trụ học, Giải thưởng Paul F. Forman của Hiệp hội Quang học Mỹ dành cho nhóm kĩ sư xuất sắc. Dự án LIGO được cho là dự án tham vọng nhất của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) từ trước đến nay với đầu tư hơn 300 triệu USD (chưa kể 30 triệu USD vận hành).  Chia sẻ với Tia Sáng về giải Nobel Vật lý 2017, TS. Phùng Văn Đồng (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người đoạt giải Tạ Quang Bửu trẻ 2016, nhận xét: “Việc giải thưởng Nobel vật lý 2017 được trao cho các nhà nghiên cứu phát hiện ra sóng hấp dẫn cũng không đáng ngạc nhiên bởi trước khi Ủy ban giải thưởng Nobel công bố danh sách, giới vật lý đã dự đoán họ xứng đáng là ứng cử viên sáng giá hàng đầu. Phát hiện ra sóng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu ở LIGO là một bước đột phá và đem lại những tri thức mới của nhân loại về thế giới tự nhiên. Công lao lớn của họ là ghi nhận bằng thực nghiệm những tiên đoán về sự tồn tại của sóng hấp dẫn bằng lý thuyết của Einstein vào năm 1916 (cách đây hơn 100 năm). Năm 2016, họ bị trượt giải Nobel vì thời điểm phát hiện ra sóng hấp dẫn quá cận với thời điểm trao giải Nobel.  TS. Phùng Văn Đồng cũng đánh giá, tầm quan trọng của phát hiện sóng hấp dẫn tương đương với những sự kiện lớn trong lịch sử ngành vật lý: sự phát hiện ra hạt Higgs, tính chất hạt Neutrino – Ủy ban giải thưởng Nobel đã lần lượt trao giải Nobel Vật lý năm 2013 cho các nhà vật lý François Englert (Đại học Libre de Bruxelles, Brussels, Bỉ) và Peter W. Higgs (Đại học Edinburgh, Anh) và giải Nobel 2015 cho Takaaki Kajita (Nhật Bản) và Arthur B.McDonald (Canada)”.  Nguồn: Tổng hợp từ Nature và The Guardian. Thanh Nhàn và Hảo Linh dịch                                                                  1 Cỗ xe tam mã để vượt đường trường của Nga          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Vật lý cho sáng chế diode phát ánh sáng xanh      Giải Nobel Vật lý năm nay đã thuộc về ba nhà  khoa học người Nhật Bản đã chế tạo thành công những diode hiệu quả phát  ánh sáng xanh (Blue Light-Emitting Diode), giúp làm sáng và tiết kiệm  năng lượng những nguồn ánh sáng trắng.     Ngày 7/10, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã thông báo giải Nobel Vật lý 2014 được trao cho ba nhà khoa học:   Isamu Akasaki (1929) – Đại học Meijo và Đại học Nagoya, quốc tịch Nhật Bản   Hiroshi Amano (1960) – Đại học Nagoya, quốc tịch Nhật Bản  Shuji Nakamura (1954) – Đại học California, quốc tịch Mỹ   vì đã chế tạo thành công những diode hiệu quả phát ánh sáng xanh giúp làm sáng và tiết kiệm năng lượng những nguồn ánh sáng trắng.   Ba nhà vật lý nói trên đã chế tạo một nguồn sáng tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường – đó là các LED (Light Emitting Diode) phát ánh sáng màu xanh. Khi sử dụng các LED xanh, thì ánh sáng trắng sẽ được tạo ra theo một cách mới. Nhờ các LED này, chúng ta sẽ sở hữu một nguồn sáng bền hơn và tiết kiệm hơn so với các nguồn ánh sáng cũ.  Những diode phát ánh sáng đỏ (red) và xanh lá cây (green) đã được chế tạo từ lâu song nếu không tồn tại diode phát ánh sáng xanh (blue) thì chúng ta không tạo ra được ánh sáng trắng. Trong ba suốt thập kỷ qua, các LED xanh là một thách thức đối với giới khoa học và công nghiệp.  Khi ba nhà vật lý Akasaki, Amano và Nakamura chế tạo được các tia sáng xanh từ những bán dẫn của họ thì một cửa sổ đã rộng mở cho việc biến đổi công nghệ chiếu sáng.  Trong các LED, điện năng được chuyển biến thành các photon, như vậy có lợi hơn về mặt năng lượng so với các nguồn ánh sáng khác, nơi điện năng chủ yếu được chuyển biến thành nhiệt năng và chỉ một phần nhỏ chuyển thành ánh sáng.  Akasaki cùng làm việc với Amano tại Đại học Nagoya còn Nakamura làm việc tại Công ty hóa học Nichia ở Tokushima. Các sáng chế của họ thật sự là một cuộc cách mạng. Có thể nói thế kỷ 20 được chiếu sáng bởi đèn đốt cháy còn thế kỷ 21 sẽ được chiếu sáng bởi đèn LED. Các đèn LED sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn năng lượng trên trái đất. LED sống khoảng 100.000 giờ, so với 10.000 giờ của đèn huỳnh quang và 1.000 giờ của đèn đốt cháy.    CC biên dịch  Tài liệu tham khảo   [1] Press release, Nobel Physics 2014  [2] Popular Science Background, Nobel Physics 2014  [3] Advanced Information, Nobel Physics 2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Vật lý năm 2020: Sự tôn vinh dành cho lỗ đen      Năm nay, một lần nữa, giải Nobel vật lý lại được trao cho lĩnh vực vật lý thiên văn: chín người đoạt giải chỉ trong bốn năm! Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy sự năng động của ngành vật lý hiện đại này! Vậy mà cái tên vật lý thiên văn thậm chí còn không được nhắc đến trong Chương trình phát triển vật lý [1] mới được ban hành gần đây! Thật tiếc cho Việt Nam!      Đài thiên văn ALMA. Ảnh: ESO/C. Malin.  Thật vậy, nhiều nước đang phát triển gặp khó khăn trong việc tiếp cận với khoa học hiện đại. Chúng ta cũng có nhiều quan niệm sai lầm như vậy của những nước này. Một trong số đó là sự phân biệt một cách khiên cưỡng giữa lý thuyết và thực nghiệm. Quan niệm này làm ảnh hưởng đến sự tiến bộ của khoa học, vốn được tạo nên từ cuộc đối thoại liên tục giữa hai lĩnh vực này. Bạn không thể là một nhà lý thuyết giỏi nếu bạn không hiểu cái được quan sát và cách nó được quan sát. Bạn không thể là một nhà thực nghiệm tốt nếu thiếu lý thuyết định hướng cho nhiệm vụ của mình. Trong một lá thư gửi Bates, người vừa trở về từ những chuyến thám hiểm Amazon, Darwin 51 tuổi đã viết “một nhà quan sát giỏi thực sự cũng đồng thời là một nhà lý thuyết giỏi”. Thực vậy, Darwin giỏi cả lý thuyết lẫn thực nghiệm.    Quan niệm sai lầm này đi đôi với quan niệm sai lầm rằng các nước đang phát triển không thể tham gia vào cái gọi là “khoa học lớn”. Đây là một quan điểm ​​hoàn toàn sai lầm, điều đáng tiếc là nó lại rất phổ biến trong cách nghĩ của nhiều nhà quản lý khoa học ở các nước đang phát triển. Nhóm của chúng tôi là một minh chứng chống lại sự ngụy biện này: nghiên cứu của chúng tôi về vật lý thiên văn ở tầm quốc tế và không tốn một đồng nào từ Việt Nam dành cho thiết bị. Lý do là chúng tôi sử dụng các dữ liệu lưu trữ của hệ đo giao thoa vô tuyến tiên tiến nhất trên thế giới, ALMA. Dữ liệu được mở cho cộng động khoa học chỉ một năm sau khi được thu nhận. Ngoài ra, chúng tôi hợp tác với các nhà vật lý thiên văn từ các nước phát triển, những người có quyền sử dụng những thiết bị nghiên cứu khác, chẳng hạn như JCMT ở Hawaii hoặc NOEMA ở Pháp2, và qua đó chúng tôi được sử dụng thiết bị một cách miễn phí. Quan niệm sai lầm này đã ăn sâu vào tâm trí của một số nhà quản lý khoa học kém năng lực, đến nỗi khiến họ đôi khi lãng phí tiền bạc để mua những thiết bị khoa học vô dụng và tốn kém, những thứ mà họ cho là cần thiết để phát triển nhưng không ai sử dụng. Con người cần công cụ, chứ không phải công cụ cần con người. Chúng ta cần đầu tư vào tri thức trước khi đầu tư vào công cụ.    Sở dĩ chúng tôi có thể được tiếp cận với những thiết bị khoa học hiện đại nhất trên thế giới là do có rất nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới rất hào phóng và có tầm nhìn xa về khoa học. Họ hiểu rằng việc giúp các nước đang phát triển tham gia vào nỗ lực toàn cầu trong nghiên cứu cơ bản chính là giúp khoa học phát triển. Đó là suy nghĩ của các nhà thiên văn học người Mỹ, châu Âu và châu Á, những người vận hành Đài thiên văn ALMA. Đó là suy nghĩ của Paul Ho, giám đốc Đài thiên văn Đông Á, người cho chúng tôi quyền truy cập miễn phí tới kính thiên văn JCMT. Đó là suy nghĩ của cố giáo sư Jim Cronin, giải thưởng Nobel, người đã cho chúng tôi quyền truy cập miễn phí với Đài thiên văn Pierre Auger trong những ngày đầu thành lập nhóm nhỏ của chúng tôi. Đó là suy nghĩ của Antonino Zichichi và Odon Vallet, những người đang điều hành Phòng thí nghiệm Thế giới và Quỹ Odon Vallet, giúp đỡ các nhà khoa học trẻ ở các nước đang phát triển với những suất học bổng. Và đó là suy nghĩ của nhiều đồng nghiệp nước ngoài của chúng tôi. Chúng ta có thể tận dụng nhiều cơ hội hiện có nhờ vào sự hào phóng của nhiều nhà khoa học nước ngoài đối với các nước đang phát triển. Lựa chọn cộng sự nước ngoài là tùy thuộc vào chúng ta, làm sao để có thể được chấp nhận mà không phải trả phí: chúng ta không nên trả các khoản phí lớn để có quyền truy cập các thiết bị quốc tế lớn. Trong bối cảnh này, chúng ta nên xem xét lại sự hỗ trợ dành cho những nhóm sử dụng cơ sở vật chất như của Dubna ở Nga, Belle II và T2K tại KEK ở Nhật Bản và đảm bảo rằng nó tương xứng với sự đóng góp của các nhóm nghiên cứu tham gia với khoa học Việt Nam.  Năm mươi năm trước, Lê Văn Thiêm và Hoàng Tụy, với sự hỗ trợ của Tạ Quang Bửu và Phạm Văn Đồng, đã thành lập nên Viện Toán học tại Hà Nội. Họ có tầm nhìn về khoa học Việt Nam và về ngày nay, Viện hiện là một trong những đầu tàu khoa học của đất nước. Họ biết rằng sự xuất sắc là ưu tiên hàng đầu và cần tạo ra một môi trường học thuật dân chủ, nơi mọi chủ đề đều có thể được đề cập và thảo luận trên cơ sở bình đẳng, không phụ thuộc vào tuổi tác và vị trí 3. Khi nào chúng ta có thể nhìn nhận đúng đắn thực tại của khoa học hiện đại, tiếp nối di sản của những tiền bối này để thành lập một Viện Vật lý Thiên văn ở Việt Nam?    Tôi nhớ, từ kinh nghiệm của mình, trong những năm phụ trách công tác nghiên cứu tại CERN. Chúng tôi luôn sẵn sàng cấp quyền làm việc với máy gia tốc và truy cập dữ liệu cho các nhóm nghiên cứu trẻ từ các nước đang phát triển miễn là họ chứng tỏ được năng lực và có động lực. Ngược lại, chúng tôi sẽ không ủng hộ một yêu cầu chỉ đến từ lãnh đạo cấp cao, khi không có người bên dưới thực hiện công việc. Đôi khi chúng tôi cũng nhận được yêu cầu như vậy từ một số lãnh đạo có vị trí quan trọng ở nước họ, một số người có ý nghĩ sai lầm rằng vai vế của họ là đủ để thuyết phục chúng tôi. Tiến bộ trong khoa học cần phải được thực hiện từ dưới lên, cũng quan trọng như tác động từ trên xuống.    Giải Nobel năm nay vinh danh các nhà vật lý thiên văn, những người đã đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta về lỗ đen. Roger Penrose là một nhà khoa học nổi tiếng người Anh, người có những đóng góp chính nằm ở ranh giới giữa thuyết tương đối rộng và toán học, ông đã được cộng đồng khoa học tôn vinh trong nhiều thập kỷ qua. Andrea Ghez4 và Reinhard Genzel5 ít nổi tiếng hơn; hơn hai thập kỷ trước, họ đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của một lỗ đen, Sagittarius A* (Sgr A*), ở trung tâm của Dải Ngân hà, thiên hà của chúng ta. Từ đó trở đi họ không ngừng cải thiện những quan sát của mình. Trong hai thập kỷ qua, cùng với nhiều nhà vật lý thiên văn khác, họ đã thu thập được một lượng lớn thông tin mới, khiến Sgr A* trở thành một tượng đài của vật lý thiên văn đương đại.    Lực hấp dẫn là một lực đặc biệt. Vào cuối thế kỷ XVI, Galileo đã phát hiện ra rằng chuyển động rơi của vật thể không phụ thuộc vào mật độ của chúng; điều này ngụ ý sự một sự tương đương giữa khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn. Đây là cơ sở của thuyết tương đối rộng, gợi mở một cách mô tả về biến dạng cục bộ của không-thời gian. Lực hấp dẫn rất yếu, nhỏ hơn 43 bậc độ lớn so với lực điện, nhưng nó lại chiếm ưu thế ở khoảng cách lớn. Thật vậy, ngoài tính chất giống nhau là có độ lớn tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách, lực hấp dẫn rất khác so với lực điện; điện tích thì có điện tích dương và âm, nhưng vật chất lại trung hòa và che chắn lực điện trong khi các hạt và phản hạt lại đều có khối lượng dương và lực hấp dẫn thì không bị che chắn. Lực điện là một lực vectơ, với hạt truyền tương tác là photon, có spin bằng 1; ngược lại, trọng lực đóng vai trò như một ứng suất: nó là một lực tensor. Khi một điện tích di chuyển, nó tạo ra từ trường; khi một vật có khối lượng chuyển động không có một cái gì đó tương tự như vậy được tạo ra. Hai điện tích trái dấu hút nhau và cuối cùng triệt tiêu, nhưng các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau. Nhưng, khi hai khối lượng điểm hút nhau bằng lực hấp dẫn, không có gì ngăn cản chúng tăng tốc và cuối cùng vận tốc của chúng vượt quá vận tốc ánh sáng. Thật vậy, vào cuối thế kỷ 18, John Michell và Pierre-Simon Laplace đã nhận ra rằng lý thuyết hấp dẫn của Newton đang gặp phải một vấn đề lớn trong việc giải quyết điểm kỳ dị này.    Khi một ngôi sao đốt hết phần lớn hydro của nó thành heli, lực điện không còn đủ mạnh để ngăn chặn sự co lại của ngôi sao, lõi heli sẽ sụp đổ dưới sự tác động của trọng lực của chính nó. Nếu ngôi sao ban đầu đủ lớn, lõi sao có thể đạt đến kích thước mà vận tốc rơi bằng vận tốc ánh sáng; ngược lại, vận tốc để một vật có thể thoát ra từ bên trong lõi cũng bằng vận tốc ánh sáng, giới hạn vận tốc không thể vượt qua của tự nhiên: khi đó lõi sao sẽ trở thành một lỗ đen. Kích thước tới hạn biến một vật thành lỗ đen được gọi là bán kính Schwarzschild và kích thước này tỉ lệ thuận với khối lượng của vật, là 3 km cho vật có khối lượng bằng với khối lượng Mặt trời. Mặt trời của chúng ta không đủ lớn để có thể co lại tới kích thước nhỏ như vậy để trở thành một lỗ đen. Những ngôi sao lớn có tuổi thọ rất ngắn, vì vậy xác suất để quan sát được chúng khi còn sống là thấp; nhưng có thể có nhiều những ngôi sao nặng như vậy đã chết, và chúng ta có thể mong đợi rằng Vũ trụ chứa một số lượng lớn các lỗ đen sao.      GS Odon Vallet trao học bổng của Quỹ Odon Vallet. Ảnh: Trang tin về quỹ học bổng Vallet.   Lỗ đen không thể phát ra ánh sáng nên chúng ta không thể quan sát lỗ đen một cách trực tiếp được. Thay vào đó, sự tồn tại của chúng có thể được tiết lộ nhờ quan sát chuyển động của bạn đồng hành của nó trong hệ hai vật thể, trong thiên văn những hệ như vậy khá phổ biến: đây là cách mà chúng ta có thể nghiên cứu các lỗ đen sao.    Trong một thiên hà, các lỗ đen sao di chuyển về phía trung tâm của nó, nơi cuối cùng chúng hợp nhất với các lỗ đen sao khác, tạo nên cái mà người ta gọi là lỗ đen siêu nặng. Quá trình này diễn ra thường xuyên trong Vũ trụ sơ khai, vốn dày đặc hơn nhiều so với hiện nay, khi đó các thiên hà mới hình thành thường xuyên va chạm, khiến các lỗ đen trung tâm của chúng hợp nhất lại với nhau.    Không giống như với lỗ đen sao, các lỗ đen siêu nặng lại có thể được quan sát một cách trực tiếp. Tất nhiên, cái mà người ta quan sát được không phải là bản thân lỗ đen (không có ánh sáng, không có tín hiệu nào có thể phát ra từ lỗ đen để đến được với chúng ta) mà là vật chất quay quanh nó và cuối cùng bị nó nuốt chửng. Đặc biệt, lỗ đen siêu nặng Sagittarius A* đủ gần (chỉ cách chúng ta 24 nghìn năm ánh sáng) cho phép thực hiện những nghiên cứu chi tiết về đặc tính của nó. Lỗ đen này có khối lượng bằng 4 triệu lần khối lượng Mặt trời, tương đối nhỏ so với những lỗ đen siêu nặng khác, có thể lên tới hơn một tỷ lần khối lượng Mặt trời. Chuẩn tinh (quasar) và Nhân Thiên hà Hoạt động (Active Galactic Nuclei) là những vật thể chứa lỗ đen siêu nặng có thể được quan sát, chúng sở hữu những đĩa bồi tụ sáng và hai chùm vật chất phát tia X trên trục của đĩa. Trái với suy nghĩ của nhiều người, mật độ của các lỗ đen siêu nặng không lớn. Một lỗ đen có khối lượng10 tỷ lần khối lượng Mặt trời (ít lỗ đen được biết đến có khối lượng vượt quá giá trị này) có bán kính gấp khoảng 200 lần khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời và mật độ của nó so với nước chỉ là 0,18 phần nghìn, tức là có mật độ trung bình nhẹ hơn nước rất nhiều!    Năm năm trước, hệ đo sóng hấp dẫn LIGO lần đầu tiên phát hiện sự hợp nhất của một cặp lỗ đen có tổng khối lượng bằng 62 lần khối lượng Mặt trời; chỉ một tháng trước, cùng với VIRGO, một vụ hợp nhất khác cũng được phát hiện, lần này các lỗ đen có khối lượng lần lượt là 85±18 và 66±18 lần khối lượng Mặt trời. Phải mất hơn một nửa thế kỷ nỗ lực bền bỉ để cuối cùng chúng ta mới có thể thành công trong việc ghi nhận sóng hấp dẫn, ghi đo sóng hấp dẫn là một cách hết sức hiệu quả để nghiên cứu lỗ đen. Hơn một năm trước, Kính viễn vọng Chân trời Sự kiện sử dụng kỹ thuật giao thoa kế đường cơ sở dài, đã ghi nhận được hình ảnh đầu tiên về một lỗ đen, chính xác hơn là ánh sáng uốn quanh nó. Chỉ trong vòng hai thập kỷ, các lỗ đen đã phát triển từ trạng thái là những sinh vật kỳ lạ, bí ẩn thành trạng thái của những động vật quen thuộc trong vườn thú vật lý thiên văn.    Trước khi kết thúc bài viết ngắn gọn này về vật lý lỗ đen, với mục đích giới thiệu, khuyến khích đọc thêm, chứ không phải một bài viết đầy đủ về chủ đề này, hãy cho phép tôi đề cập ngắn gọn đến một vai trò khác của lỗ đen. Sự không tương thích giữa thuyết hấp dẫn và vật lý lượng tử vẫn chưa được hiểu rõ. Bất chấp những thành công đáng kể mà lý thuyết M đã đạt được, sự phức tạp về mặt toán học của lý thuyết siêu dây và thang năng lượng quá cao, thang Planck, không thể tiếp cận được bằng thực nghiệm đang thúc đẩy một loạt các cách tiếp cận khác nhau. Trong số này có nghiên cứu về những lỗ đen kích thước lượng tử6 tránh được ảnh hưởng định kiến ​​của lý thuyết dây: việc sử dụng các lỗ đen kích thước lượng tử như vậy như một “phòng thí nghiệm lý thuyết” đang làm sáng tỏ những câu hỏi chưa có lời giải đáp nằm giữa lằn ranh của vật lý lượng tử và thuyết hấp dẫn.     Phạm Ngọc Điệp dịch     Chú thích:   1 Quyết định số 1187/QĐ-TTg, ngày 04 tháng 08 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình phát triển vật lý giai đoạn 2021 – 2025”.  2 ALMA, Atacama Large Millimeter/submillimeter Array, hệ giao thoa kế lớn nhất trên thế giới, là sự hợp tác của ESO (European Southern Observatory), NSF (National Science Foundation, USA), Nhật Bản, Canada, Đài Loan và Hàn Quốc hợp tác với Chile. JCMT, James Clerk Maxwell Telescope, là kính thiên văn đĩa đơn lớn nhất do Đài thiên văn Đông Á vận hành ở bước sóng milimet. NOEMA, NOrthern Extended Millimeter Array, là hệ tiên tiến nhất của thiên văn học vô tuyến ở Bắc bán cầu, được điều hành chung bởi Pháp, Đức và Tây Ban Nha bởi IRAM (Institut de Radio Astronomie Millimétrique).  3 Tôi trích dẫn lời của Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học, nhớ lại những ngày đầu thành lập nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập viện.  4 Xem https://www.scientificamerican.com/article/how-andrea-ghez-won-the-nobel-for-an-experiment-nobody-thought-would-work/ , một bài viết hay đóng góp của cô ấy.  5 Xem https://astrobites.org/2020/10/14/the-nobel-prize-in-physics-2020-reinhard-genzel/ để có các video đáng chú ý về kiến thức hiện tại của chúng ta về chuyển động của các ngôi sao quay quanh Sagittarius A*.  6 https://arxiv.org/abs/1902.10469    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nobel Y học 2022. Kỳ 1: Phối ngẫu với kẻ thù      LTS: Vào đầu tháng 10 vừa qua, Svante Pääbo được trao giải Nobel Y học “vì những khám phá liên quan đến hệ gene của những nhóm người đã tuyệt chủng và liên quan đến sự tiến hóa của loài người”. Bài viết dưới đây, được đăng trên tạp chí The New Yorker năm 2011, không lâu sau khi ông công bố bản thảo trình tự hệ gene của người Neanderthal trên Tạp chí Science, làm chấn động thế giới, kể lại hành trình nghiên cứu vừa kì lạ, vừa thăng hoa của ông.         Người Neanderthal. Ảnh: Atelier Daynès và S. Entressangle.  Điều gì đã xảy ra giữa chúng ta và những người Neanderthal?  Svante Pääbo là người đứng đầu bộ phận di truyền tiến hóa của Viện Max Planck về Nhân chủng Tiến hóa, Leipzig. Ông cao lêu nghêu, khuôn mặt dài, cằm hẹp và có chòm lông mày rậm thường nhướn lên mỗi khi nhấn mạnh một điều gì trái khoáy. Nổi bật trong văn phòng của Pääbo là mô hình bộ xương người Neanderthal kích thước thật, được dựng thẳng đứng lên khiến đôi bàn chân như đang lơ lửng trên mặt đất, và bức chân dung, lớn hơn cả khổ người Pääbo do sinh viên cao học tặng ông vào dịp sinh nhật lần thứ 50. Mỗi sinh viên vẽ một mảnh của bức tranh và khi ghép lại cho ra một kết quả giống Pääbo một cách kinh ngạc, chỉ mỗi tội là màu sắc không đồng đều khiến chân dung ông trông như bị mắc bệnh ngoài da.  Dự án tham vọng nhất của Pääbo cho đến nay là tập hợp một nhóm quốc tế để giải trình tự toàn bộ bộ gene của người Neanderthal. Dự án đang hoàn thành một nửa và đã mang lại một số kết quả chưa chắc chắn lắm, bao gồm những tin tức mà Pääbo tung ra vào năm ngoài, đó là người hiện đại, trước khi diệt chủng người Neanderthal, đã giao phối với họ.  Nếu bộ gene của người Neanderthal được giải trình hoàn chỉnh thì các nhà khoa học có thể đối chiếu từng gene một, từng cặp base một của họ với con người và xem chúng gặp nhau và rẽ nhánh ở đâu. Đến lúc đó, Pääbo tin rằng, câu trả lời cho trăn trở xa xưa sẽ hoàn toàn trong tầm tay.  Người Neanderthal có quan hệ rất gần gũi người hiện đại – gần đến mức chúng ta từng đầu gối tay ấp với họ – và rõ ràng họ không phải con người. Đâu đó nằm giữa những cặp gene khác biệt phải là những đột biến, hay có thể, là những đột biến đã định hình con người chúng ta. Pääbo đã cho một nhóm rà soát hai hệ gene và liệt kê ra những đoạn gene có câu trả lời tiềm năng.  Pääbo lớn lên ở Stockholm. Mẹ của ông là một nhà hóa học, một người tị nạn Estonia. Bà từng làm việc trong phòng thí nghiệm của nhà hóa sinh Sune Bergström, sau này đã đoạt giải Nobel Y học vào năm 1982. Pääbo là sản phẩm của một cuộc tình trong phòng thí nghiệm giữa hai người. Mặc dù Pääbo biết cha mình là ai nhưng ông không muốn nhắc đến. Bergström đã có vợ và một con trai khác trong khi mẹ của Pääbo thì chưa bao giờ kết hôn. Vào mỗi thứ bảy, Bergström sẽ đến thăm Pääbo và đưa cậu đi dạo trong rừng hoặc ở một nơi nào khác mà không ai có thể nhận ra ông.  “Ở nhà coi như ông đi làm vào Thứ Bảy” Pääbo nói với tôi. “Thực sự là việc điên rồ. Vợ ông ấy biết nhưng họ chưa bao giờ nói về nó. Bà không bao giờ gọi cho ông ấy ở nơi làm việc vào các ngày thứ Bảy”. Khi còn nhỏ, Pääbo không đặc biệt bận tâm đến sự sắp xếp này, nhưng sau đó thỉnh thoảng cậu dọa sẽ đến gõ cửa nhà Bergström. “Tôi nói ‘Bố phải nói với con trai của bố vì một lúc nào đó cậu ấy sẽ phát hiện ra’”, ông nhớ lại. Bergström hứa sẽ làm nhưng không bao giờ thực hiện. (Kết quả là người con trai khác của Bergström không biết đến sự tồn tại của Pääbo cho đến trước khi Bergström qua đời vào năm 2004 không lâu).  Nghiên cứu bí mật  Ngay từ khi còn nhỏ, Pääbo đã thích thú với những thứ cổ cổ. Anh ta phát hiện ra xung quanh những cây đại thụ bị bật gốc có thể tìm thấy những mảnh gốm của người Thụy Điển thời tiền sử, và mang về để đầy căn phòng của mình. Thời thiếu niên một lần được mẹ đưa đến thăm các Kim tự tháp, ông đã bị nó mê hoặc nên sau đó đã đăng ký học Đại học Uppsala và dự định trở thành một nhà Ai Cập học. “Tôi thực sự muốn khám phá những xác ướp, giống như Indiana Jones,” ông nói. Tuy nhiên hầu hết các môn học đều liên quan đến việc phân tích chữ tượng hình, thay vì cảm thấy kích thích thì Pääbo nghĩ nó thật nhàm chán. Được truyền cảm hứng từ cha mình, ông chuyển sang học y rồi sau đó là sinh học tế bào.    “Điều gì đã khiến chúng ta có thể xây dựng nên những xã hội to lớn này, tỏa ra toàn cầu và phát triển công nghệ mà tôi nghĩ không ai có thể nghi ngờ, là năng lực độc nhất của con người. Phải có một cơ sở di truyền cho điều đó, và nó đang ẩn náu đâu đó trong những đoạn gene này”. Svante Pääbo    Vào đầu những năm 1980, khi Pääbo đang làm nghiên cứu sinh về virus thì đột nhiên ông lại mơ tưởng đến xác ướp một lần nữa. Ít nhất là theo hiểu biết của ông lúc bấy giờ, chưa ai tìm cách lấy DNA từ những xác chết cổ đại. Ông tự dưng cảm thấy điều đó là khả thi, và thế là một phương pháp nghiên cứu lịch sử hoàn toàn mới ra đời.  Sợ rằng thầy hướng dẫn sẽ bảo ý tưởng này là ngớ ngẩn (hoặc tệ hơn thế) nên Pääbo đã bí mật tiến hành nghiên cứu xác ướp, vào ban đêm. Nhờ quen một giáo sư Ai Cập học, ông đã tìm được một số mẫu vật từ Bảo tàng Ai Cập ở Đông Berlin. Năm 1984, ông công bố kết quả của mình trên một tạp chí Đông Đức ít người biết đến. Ông công bố đã phát hiện được DNA trong tế bào của một đứa trẻ được ướp xác đã chết hơn 2.000 năm. Pääbo kỳ vọng có thể tìm được lời giải đáp cho những câu hỏi như điều gì đã khiến các triều đại Pharaon thay đổi và mẹ của Tutankhamun là ai từ DNA của các xác ướp này.  Trong lúc soạn thảo phiên bản tiếng Anh của bài báo thì một nhóm các nhà khoa học Đại học California tại Berkeley thông báo rằng họ đã thành công trong việc giải trình tự một đoạn DNA từ một động vật giống ngựa vằn được gọi là quagga, một loài thú đã bị săn bắn đến tuyệt chủng vào những năm 1880. (DNA này được lấy từ xác con thú hơn 140 năm tuổi được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mainz). Trưởng nhóm Berkeley, Allan Wilson là một nhà hóa sinh có tiếng tăm. Ông là người tìm ra phương pháp nghiên cứu sự tiến hóa sử dụng khái niệm “đồng hồ phân tử”. Pääbo liền gửi cho Wilson một số đoạn trong bài báo xác ướp của mình. Wilson rất ấn tượng và ngỏ ý hỏi có còn vị trí nào trống trong lab của Pääbo; ông muốn dành kì sabatical (nghỉ phép để nghiên cứu) ở đó. Pääbo trả lời Wilson rằng mình không thể cho Wilson một vị trí nào ở phòng lab cả, vì đáng tiếc là anh nào có lab đâu – thậm chí lúc đó còn chưa có bằng tiến sĩ nữa kìa.  Bài báo về xác ướp của Pääbo được công bố trên trang bìa tạp chí Nature. Tờ New York Times còn viết về nó, gọi đây là “công trình kịch tính nhất trong một loạt các thành tựu gần đây của sinh học phân tử”. Dẫu vậy, các đồng nghiệp của Pääbo ở Thụy Điển vẫn tỏ ra hoài nghi. Họ giục ông hãy quên đi những xác chết nhăn nheo và kiên định với virus. “Tất cả nọi người đều nói với tôi rằng thật là ngu xuẩn khi rời bỏ một lĩnh vực quan trọng để đến với một thứ gần giống như trò tiêu khiển”. Pääbo phớt lờ họ, đến Berkeley làm việc cho Wilson.  Nhóm nghiên cứu của Svante Pääbo. Ảnh: mpg.de  Một ngành khoa học mới  “Anh ấy lên cứ như diều gặp gió” – Mary-Claire King, người cũng từng là sinh viên của Wilson và hiện là giáo sư về khoa học genome tại Đại học Washington, nhớ là Pääbo và Wilson (ông qua đời năm 1991). “Cả hai đều nghĩ về những ý tưởng rất lớn”. “Và mỗi người đều rất giỏi trong việc chuyển những ý tưởng đó thành những giả thuyết có thể kiểm chứng được. Cả hai cũng rất giỏi trong việc phát triển công nghệ cần thiết để kiểm tra các giả thuyết. Có được cả ba năng lực đó thì quả là đáng nể ”. Ngoài ra, tuy nhiên “dù cả hai đều rất coi trọng dữ liệu nhưng ai cũng không ngần ngại nói những điều phóng đại về dữ liệu của mình, và đều không hề sợ sai”.  DNA bao gồm các phân tử được gọi là nucleotide đan lại với nhau theo hình bậc thang – chính là chuỗi xoắn kép nổi tiếng. Mỗi nucleotide chứa một trong bốn base: Adenine, Thymine, Guanine và Cytosine được ký hiệu bằng các chữ cái A, T, G và C. Do đó một đoạn của bộ gene người có thể được biểu thị là ACCTCCTCTAATGTCA. Bộ gene của con người là một dải ba tỉ cặp base. Theo những gì đã xác định đến giờ này, thì phần lớn các cặp base đều không đáng quan tâm.  Ngoại trừ các tế bào hồng cầu thì mọi tế bào trong một sinh vật đều chứa một bản sao hoàn chỉnh của DNA của nó. Nó cũng chứa nhiều bản sao, từ hàng trăm đến hàng nghìn, của một dạng DNA rút gọn được gọi là DNA ty thể (mtDNA). Nhưng ngay sau khi sinh vật chết thì các chuỗi nucleotide dài bắt đầu bị phá vỡ. Phần lớn diễn ra trong vài giờ đầu tiên bởi các enzym bên trong cơ thể của chính sinh vật. Sau một thời gian, tất cả những gì còn lại là các đoạn mã, và sau một thời gian nữa – phụ thuộc vào các điều kiện phân hủy – những đoạn mã này cũng tan rã. “Có lẽ trong lớp băng vĩnh cửu bạn có thể quay ngược lại năm trăm nghìn năm,” Pääbo nói với tôi. “Nhưng chắc chắn trong giới hạn một triệu năm thôi.” Năm trăm nghìn năm trước thì loài khủng long cũng đã tuyệt chủng được hơn 64 triệu năm nên toàn bộ hình dung về “công viên kỉ Jura”, đáng tiếc, chỉ dừng lại ở tưởng tượng. Thế nhưng, năm trăm nghìn năm trước thì con người hiện đại vẫn chưa ra đời.    “Pääbo đã đưa lĩnh vực nghiên cứu DNA cổ đại, vốn ban đầu chỉ là chuyện giả tưởng trong phim ‘Công viên kỷ Jura’ thành một khoa học thực sự, đó là một thành tựu lớn”. Maynard Olson    Khi đến California, Pääbo vẫn quan tâm đến hướng sử dụng di truyền học để nghiên cứu lịch sử loài người. Tuy nhiên trong khi cố gắng xác định vị trí các đoạn ADN của người Ai Cập cổ đại, ông đã phát hiện ra một vấn đề lớn: chúng trông rất giống – thực sự, giống hệt – các đoạn ADN của con người đương đại. Vì vậy phân tử vi mô trên da của ông hoặc của người khác, thậm chí là của giám tuyển bảo tàng đã qua đời từ lâu tình cờ rơi vào, cũng có thể phá hỏng công sức cả tháng trời làm việc.  Ông giải thích: “Rõ ràng là tạp nhiễm từ bên ngoài là một vấn đề lớn. (Cuối cùng, Pääbo kết luận rằng các trình tự mà mình thu được trong bài báo xác ướp ban đầu của mình có thể đã bị hỏng vì lý do này). Và để khởi động, ông bắt đầu nghiên cứu những loài động vật đã tuyệt chủng. Ông phân tích mẫu mtDNA từ những con lười khổng lồ trên mặt đất đã biến mất khoảng mười hai nghìn năm trước như voi ma mút hay hổ Tasmania, bị săn bắn đến tuyệt chủng vào thập niên 1930. Ông cũng trích xuất mtDNA từ moas, loài chim khổng lồ không biết bay sống ở New Zealand trước khi người Maori đến, và nhận thấy rằng moas có quan hệ họ hàng gần với các loài chim từ Úc hơn là kiwi, loài chim không bay sống ở New Zealand ngày nay. Ông cũng thăm dò rất nhiều xác sinh vật không có DNA nào hữu ích, như xương từ công viên cổ sinh La Brea (nơi có hàng ngàn sinh vật thời kì băng hà bị chôn trong nhựa đường) và côn trùng hóa thạch được bảo quản trong hổ phách. Trong quá trình làm việc này, Pääbo ít nhiều đã phát minh ra lĩnh vực cổ sinh học.  “Thành thật mà nói đây là vấn đề mà bản thân tôi sẽ không muốn giải quyết, vì tôi nghĩ nó quá khó,” Maynard Olson, giáo sư danh dự tại Đại học Washington và một trong những người sáng lập Dự án Genome người Neanderthal đã nói với tôi. “Pääbo đã mang lại những tiêu chuẩn rất cao cho lĩnh vực này, và đưa lĩnh vực nghiên cứu DNA cổ đại, vốn ban đầu chỉ là chuyện giả tưởng trong phim ‘Công viên kỷ Jura’ thành một khoa học thực sự, đó là một thành tựu lớn”.  Các nhà nghiên cứu phải rất cẩn trọng để tránh chính DNA của mình làm tạp nhiễm những mẩu xương cổ đại.  Ed Green, giáo sư kỹ thuật phân tử sinh học tại Đại học California ở Santa Cruz, người làm việc trong Dự án bộ Gene người Neanderthal cho biết: “Hầu hết các ngành khoa học đều không có gì đặc biệt. Nếu bạn không làm, thì vài tháng sau sẽ có người khác làm về lĩnh vực đó. Svante là một trong số những nhà khoa học hiếm hoi chứng minh điều ngược lại. Nếu không có ông, sẽ không có ngành DNA cổ đại như chúng ta đã biết”.  Bước ngoặt trong nghiên cứu  Trong thời gian Pääbo sống ở California, thỉnh thoảng ông đến Đức để thăm một phụ nữ đang học cao học tại Đại học Munich. “Tôi đã có nhiều bạn trai, nhưng nhiều lúc tôi cũng có bạn gái”, ông nói với tôi. Khi mối quan hệ này kết thúc, thì ngay sau đó, Đại học Munich đã đề nghị Pääbo làm trợ lý giáo sư. Vì không có lý do thúc ép nào để chuyển đến Đức nên ông do dự. Rồi đề nghị đó trở thành lời mời làm giáo sư toàn phần: “Và rồi tôi nói, ồ chắc nước Đức cũng không tệ lắm đâu. Tôi sẽ đến đó vài năm”.  Khi bảo tàng Bang Rhenish, ở Bonn gọi Pääbo nhiều năm sau đó, ông vẫn đang yên vị ở Munich. Bảo tàng này lưu giữ xương của người Neanderthal đầu tiên được xác định, được phát hiện vào mùa hè năm 1856. Ông nghĩ mình có bao bao nhiêu % cơ hội để trích xuất những DNA hữu ích từ đó? Pääbo chỉ có thể xác định được tình trạng những chiếc xương cho đến khi ông tìm đến chúng.  “Tôi không biết phải nói gì với họ, vì vậy tôi nói,” Có 5% cơ hội có thể tìm ra”, ông nhớ lại. Vài tháng sau, ông nhận được một phần nhỏ của hài cốt bên phải của người Neanderthal.  Người Neanderthal đầu tiên được tìm thấy trong một hang động đá vôi cách Bonn khoảng bốn mươi lăm dặm về phía Bắc, trong một khu vực được gọi là Thung lũng Neander, theo tiếng Đức là das Neandertal. Mặc dù hang động đã biến mất – đá vôi từ lâu đã được khai thác để phục vụ xây dựng – khu vực này bây giờ là một công viên giải trí theo chủ đề người Neanderthal với bảo tàng riêng, những con đường mòn đi bộ đường dài và một khu vườn trồng các loại cây bụi đã xuất hiện từ kỉ băng hà. Người Neanderthal ở đây được khắc họa như những con người dễ mến, nếu không muốn nói là cuốn hút. Lối vào tòa nhà là một mô hình người Neanderthal cao tuổi đang chống gậy. Bên cạnh ông ta là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất của bảo tàng — một phòng chụp ảnh tên là Morphing-Station. Với 3 euro, khách đến đây sẽ được nhận một bức ảnh chụp chân dung họ bình thường, một bức ảnh thứ hai, đối xứng với bức thứ nhất, được chỉnh sửa với cằm thụt vào trong, trán hếch và sau đầu phồng ra. Lũ trẻ thích tự nhìn mình – hay đặc biệt là chứng kiến anh chị em chúng – bị biến hình thành người Neanderthal. Chúng thấy buồn cười kinh lên được.  Những bộ xương đầu tiên của người Neanderthal xuất hiện ở Thung lũng Neander bị đối xử như rác rưởi. Các mảnh vỡ như nắp sọ, bốn xương cánh tay, hai xương đùi và một phần xương chậu, về sau được một doanh nhân địa phương thu vén lại. Anh ta lại nghĩ rằng đó là xương của một con gấu tiền sử và gửi đến cho một người sưu tập hóa thạch. Người thu thập hóa thạch nhận ra rằng đây là một thứ lạ lẫm hơn nhiều so với một con gấu, một “thành viên nguyên thủy của chủng tộc chúng ta”.    Trước khi “thay thế” người Neanderthal, con người hiện đại đã quan hệ tình dục với họ. Sự mắc mứu này đã sinh ra những đứa trẻ, trở thành những công dân của châu Âu, châu Á và Tân Thế giới.    Và rồi điều này xảy ra đúng vào khoảng thời gian Darwin xuất bản cuốn “Về nguồn gốc của các loài”, và các mảnh xương nhanh chóng trở thành chủ đề tranh luận về nguồn gốc của con người. Những người phản đối thuyết tiến hóa khăng khăng rằng chúng thuộc về một người bình thường. Một giả thuyết cho rằng đó là một người Cossack đã lưu lạc đến khu vực trong cuộc hỗn loạn sau Chiến tranh Napoléon. Lý do bộ xương trông kỳ lạ – xương đùi của người Neanderthal bị cong một cách đặc trưng – là người Cossack đã ngồi quá lâu trên ngựa. Một người khác cho rằng hài cốt là của một người đàn ông bị bệnh còi xương: người đàn ông này đã phải chịu đựng quá nhiều cơn đau vì căn bệnh của mình đến mức khiến trán của anh ta luôn căng ra – do đó, một phần xương trán bị nhô ra. (Nhưng không ai thấy phân vân khi một người đã còi xương và thường xuyên đau đớn lại leo trèo vào hang động làm gì).  Trong những thập kỷ tiếp theo, những bộ xương giống xương của người ở Thung lũng Neander – dày hơn xương của người hiện đại, với những hộp sọ có hình dạng kỳ lạ – đã được phát hiện tại một số địa điểm khác bao gồm hai ở Bỉ và một ở Pháp. Trong khi đó một hộp sọ được khai quật nhiều năm trước đó ở Gibraltar được cho là trông rất giống với hộp sọ tìm thấy ở Đức. Rõ ràng tất cả những thứ còn sót lại này không thể được giải thích bằng chuyện về người Cossack lạc đường hay người còi xương đi thám hiểm hang động nữa. Nhưng các nhà tiến hóa cũng không biết giải thích thế nào. Người Neanderthal có hộp sọ rất lớn – trung bình lớn hơn người hiện đại ngày nay. Điều này khiến chúng ta khó có thể đưa họ vào trong quá trình tiến hóa từ loài vượn có não nhỏ tiến lên những bộ não lớn hơn cho đến con người. Trong cuốn “Hậu duệ của con người” xuất bản năm 1871, Darwin chỉ đề cập đến người Neanderthal rất ngắn. “Phải thừa nhận rằng một số hộp sọ có tính rất cổ xưa, chẳng hạn như hộp sọ nổi tiếng của người Neanderthal, đã phát triển tốt và có năng lực,” ông lưu ý.  Năm 1908, một bộ xương gần như hoàn chỉnh của người Neanderthal được phát hiện trong một hang động gần La Chapelle-aux-Saints, miền Nam nước Pháp. Bộ xương đã được gửi đến một nhà cổ sinh vật học tên là Marcellin Boule thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Paris. Trong một loạt sách chuyên khảo, Boule đã phát minh ra thứ tạm gọi là bức biếm họa về người Neanderthal – đầu gối cong, lưng gù và tàn bạo. Boule viết: các xương của người Neanderthal thể hiện một “cấu trúc linh trưởng đặc trưng”, và hình dạng hộp sọ cho thấy đây là “một loài kém phát triển hoặc hung tợn”. Các kết luận của Boule được nhiều người cùng thời với ông nghiên cứu và lặp lại; Ví dụ, nhà nhân chủng học người Anh, Sir Grafton Elliot Smith, đã mô tả người Neanderthal đi đứng với “một cơ thể khùng khoằm” đặt trên “một đôi chân đặc biệt dị dạng” (Smith còn mô tả người Neanderthal thêm muôn phần xấu xí với gần như toàn thân lông lá dù đến nay chưa hề có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy họ nhiều lông).  Vào những năm 1950, hai nhà giải phẫu học Williams Straus và Alexander Cave quyết định kiểm tra lại bộ xương từ La Chapelle. Straus và Cave khẳng định rằng những gì Boule tưởng là dáng đi tự nhiên của người Neanderthal, thực ra là do bệnh viêm khớp. Người Neanderthal không đi bộ với tư thế còng lưng và khuỵu chân. Thật vậy, nếu cạo râu nhẵn nhụi và khoác một bộ cánh mới và bước vào tàu điện ngầm ở New York thì một người Neanderthal có lẽ sẽ chả khiến ai chú ý “hơn một số cư dân khác của thành phố này”, họ viết. Nhiều nghiên cứu gần đây có xu hướng ủng hộ ý tưởng như vậy.  Pääbo quyết định giải trình tự toàn bộ hệ gene của người Neanderthal vào tháng 7/2006 đúng vào dịp kỷ niệm 155 năm phát hiện ra người Neanderthal. Thông báo được đưa ra cùng với một công ty của Mỹ, 454 Life Sciences, công ty đã phát triển một máy giải trình tự “thông lượng cao” với sự trợ giúp của các quả cầu nhựa nhỏ, có thể tái tạo hàng chục nghìn đoạn DNA cùng một lúc. Cả trong và ngoài ngành di truyền học kế hoạch này được xem là vô cùng tham vọng và dự án đã gây tiếng vang trên toàn thế giới. “Một nghiên cứu thật to gan”, tiêu đề trên tờ The Economist tuyên bố.  Con đường chông gai  Giờ đây, một phiên bản hoàn chỉnh của bộ gene người đã được công bố. Cùng với đó là các phiên bản hệ gene khác của tinh tinh, chuột, chuột cống cũng hoàn thành. Nhưng con người, tinh tinh, chuột và chuột cống đều là sinh vật sống, trong khi người Neanderthal đã tuyệt chủng trong ba mươi nghìn năm. Rào cản đầu tiên chỉ đơn giản là tìm đủ DNA của người Neanderthal để giải trình tự. Mẫu vật còn lại của người Neanderthal mà Pääbo nhận được ban đầu đã mang lại một số thông tin di truyền nhưng còn xa mới đủ số lượng cần thiết để lắp ráp/tập hợp lại cho đủ toàn bộ bộ gene. Vì vậy, Pääbo đã đặt hy vọng của mình vào một nhóm xương khác từ Croatia. (Xương của người Croatia hóa ra thuộc về ba người, tất cả đều là phụ nữ; người Neanderthal ban đầu có lẽ là đàn ông).  Đến cuối năm 2006, Pääbo và nhóm của ông báo cáo rằng bằng cách sử dụng một mảnh xương của người Croatia, họ đã thành công trong việc giải trình tự một triệu cặp base của bộ gene người Neanderthal. (Cũng giống như bộ gene của con người, bộ gen đầy đủ của người Neanderthal bao gồm khoảng ba tỷ cặp cơ bản). Ngoại suy ra họ ước tính sẽ mất khoảng hai năm và sáu nghìn lần “chạy” trên một cỗ máy 454 Life Sciences để hoàn thành dự án. Nhưng phân tích sau đó cho thấy hàng triệu cặp base có thể đã bị tạp nhiễm bởi DNA của con người. Điều này khiến một số nhà di truyền học đặt câu hỏi liệu Pääbo có vội vàng công bố những kết quả mà lẽ ra anh ta phải biết là sai hay không. Trong khi đó, các xương tiếp theo mang lại tỷ lệ DNA Neanderthal thấp hơn nhiều và tỷ lệ DNA vi sinh vật cao hơn nhiều. (Khoảng 80% DNA đã giải trình tự trong Dự án bộ gene người Neanderthal đều thuộc về vi sinh vật và, theo dự án thì hoàn toàn là vô dụng). Điều này có nghĩa là, công sức để hoàn thiện bộ gene lớn hơn rất nhiều so với những ước tính ban đầu. “Đã có những lúc tuyệt vọng,” Pääbo nói với tôi. Giải quyết được vấn đề này thì lại nảy ra vấn đề khác. “Đó là một chuyến tàu lượn đầy cảm xúc,” Ed Green, kỹ sư phân tử sinh học từ Santa Cruz, nhớ lại.  Khoảng sau hai năm bắt đầu dự án, một thách thức nảy sinh. Pääbo đã tập hợp một nhóm quốc tế để giúp phân tích dữ liệu từ các máy giải trình tự — về cơ bản, là một danh sách dài của A, T, G, C. Đang sàng lọc dữ liệu thì một trong những thành viên của nhóm, David Reich, một nhà di truyền học tại Trường Y Harvard, đã nhận thấy điều kỳ lạ. Trình tự của người Neanderthal, đúng như dự đoán, rất giống với trình tự của con người. Nhưng có những kiểu người giống với người Neanderthan hơn những kiểu người khác. Cụ thể, người châu Âu và châu Á chia sẻ DNA với người Neanderthal nhiều hơn người châu Phi. “Chúng tôi đã cố gắng phủ nhận kết quả này”, Reich nói với tôi. “Chúng tôi đã nghĩ, không thể thế được”.  Trong khoảng 25 năm qua, nghiên cứu về sự tiến hóa của loài người đã bị chi phối bởi lý thuyết được báo chí đại chúng gọi là “Từ châu Phi mà ra” (Out of Africa), hay giới học thuật gọi là giả thuyết “nguồn gốc duy nhất gần đây” hoặc giả thuyết “thay thế”. Lý thuyết này cho rằng tất cả con người hiện đại đều là hậu duệ của một nhóm dân số nhỏ sống ở châu Phi khoảng hai trăm nghìn năm trước. (Không lâu trước khi ông qua đời, Allan Wilson, cố vấn của Pääbo đã phát triển một trong những bằng chứng quan trọng cho lý thuyết, dựa trên sự so sánh DNA ty thể của người đương đại). Khoảng một trăm hai mươi nghìn năm trước một nhóm nhỏ người đã di cư vào Trung Đông, và đến năm mươi nghìn năm trước, một nhóm con khác đã đi vào lục địa Âu-Á. Khi di chuyển về phía Bắc và phía Đông, con người hiện đại chạm trán với người Neanderthal và những người khác được gọi là “người cổ đại”, những người đã sinh sống ở những vùng này trước đó. Con người hiện đại đã “thay thế” con “người cổ đại”, thật là một xảo ngôn che giấu việc con người đã đẩy họ đến tuyệt chủng. Mô hình di cư và “thay thế” này ngụ ý rằng dù đến từ đâu thì con người và người Neanderthal cũng có mối quan hệ (thù địch) với nhau.  Nhiều thành viên trong nhóm của Pääbo những tưởng đó là một trường hợp nhiễm tạp khác. Nhiều khi các mẫu xử lý bởi người châu Âu; đã bị trộn DNA của họ với DNA của người Neanderthal. Người ta đã chạy một số thử nghiệm để đánh giá khả năng này. Các kết quả đều âm tính. Reich nói với tôi: “Chúng tôi tiếp tục nhìn thấy đặc tính này và càng có nhiều dữ liệu xác nhận nó về mặt thống kê. Dần dần, các thành viên khác trong nhóm bắt đầu suy nghĩ. Trong một bài báo đăng trên tạp chí Science, vào tháng 5/2010, họ đã giới thiệu điều mà Pääbo gọi là giả thuyết “thay thế bị rò rỉ”. (Bài báo sau đó được bình chọn là bài báo xuất sắc của năm và nhóm nghiên cứu đã nhận được giải thưởng 25 nghìn USD).  Giả thuyết “thay thế bị rò rỉ” – giả định rằng nó đúng vào lúc này – cung cấp thêm bằng chứng về sự gần gũi của người Neanderthal với con người hiện đại. Không chỉ cả hai đã giao phối với nhau, mà những đứa con lai cũng đủ cứng cáp để hòa nhập vào xã hội loài người. Một số con lai này sống sót để có những đứa con của riêng mình, đến lượt chúng, lại sinh con, và cứ thế cho đến ngày nay. Ngay cả bây giờ, ít nhất là ba mươi nghìn năm sau sự kiện này, tín hiệu này vẫn không thể khiến chúng ta làm ngơ: tất cả những người không có nguồn gốc châu Phi, từ người New Guinea đến người Pháp cho đến người Hán Trung Hoa đều mang đâu đó từ một đến bốn phần trăm DNA của người Neanderthal.  Khi cuối cùng Pääbo có thể đón nhận ý tưởng rằng, người Neanderthal trao lại một số gene của họ cho người hiện đại, ông nói với tôi, “Tôi nghĩ điều đó thật “cool”. Nó có nghĩa là họ không hoàn toàn bị tuyệt chủng – mà vẫn còn hiện hữu phảng phất trong cơ thể chúng ta”.□ (còn tiếp)  Nguyễn Quang dịch  Nguyên tác: https://www.newyorker.com/magazine/2011/08/15/sleeping-with-the-enemy    Author                .        
__label__tiasang Nobel Y học 2022. Kỳ cuối: Tại sao loài người sống sót?      Vườn thú Leipzig nằm ở bên kia rìa thành phố so với Viện Nhân chủng học Tiến hóa. Nhưng viện này có phòng thí nghiệm riêng trong khuôn viên, cũng như các phòng thử nghiệm được thiết kế đặc biệt bên trong ngôi nhà nghiên cứu về vượn, được gọi là Pongoland. Vì không ai trong số họ hàng Neanderthal gần nhất của chúng ta sống sót (ngoại trừ những mảnh DNA nhỏ trong chúng ta), các nhà nghiên cứu phải dựa vào họ hàng gần nhất của chúng ta là tinh tinh và bonobos, hay họ hàng xa hơn là khỉ đột và đười ươi – để thực hiện các thí nghiệm sống. Một buổi sáng, tôi đến sở thú hy vọng sẽ xem một thí nghiệm đang được tiến hành.    Nhiều dữ liệu khảo cổ học đã hé lộ phần nào đời sống thường ngày của người Neanderthal hàng chục nghìn năm trước. Ảnh: mpg.de  Để lên hình cho đẹp, một nhà nghiên cứu tên là Héctor Marín Manrique chuẩn bị thực hiện lại một loạt các thí nghiệm khoa học mà ông đã làm. Một con đười ươi cái tên là Dokana được dẫn vào một trong những phòng thử nghiệm. Giống như hầu hết các con đười ươi khác, nó có bộ lông màu đồng và vẻ ngoài khinh khỉnh. Trong thí nghiệm đầu tiên liên quan đến nước trái cây màu đỏ và các ống nhựa nhỏ, Dokana có thể phân biệt ống hút nào thì dùng được và ống hút nào thì không. Trong phần thứ hai, có nhiều nước màu đỏ hơn và nhiều nhựa hơn, nó hiểu ý tưởng về ống hút bằng cách ngắt một đoạn của đường ống và dùng ống đó để hút nước. Cuối cùng, trong một màn thể hiện tài khéo léo ở cấp độ IQ cao thể hiện trí thông minh của loài vượn lớn, Dokana đã lấy được một hạt đậu phộng mà Manrique đã đặt ở đáy của một ống trụ dài. (Hình trụ được gắn cố định vào tường nên không thể dốc ngược ra). Nó đi đến chỗ uống nước, ngậm một ít nước trong miệng, trở lại và nhổ vào hình trụ, lặp lại quá trình cho đến khi hạt đậu phộng nổi đến tầm với của mình. Về sau, tôi thấy thí nghiệm này được dàn dựng lại với một số trẻ em năm tuổi sử dụng các hộp nhựa nhỏ hơn, những hạt đậu phộng được thay bằng kẹo. Mặc dù một bình đầy nước đã cố tình được để gần đó nhưng chỉ có một đứa trẻ – một bé gái – nghĩ ra phương án làm nó nổi lên và cũng phải sau một hồi gợi ý đủ kiểu (có bé trai còn hỏi “Nước thì giúp con kiểu gì?”, ngay trước khi bỏ cuộc).  Một cách để cố gắng trả lời câu hỏi “Điều gì làm nên con người chúng ta?” là hỏi “Điều gì khiến chúng ta khác với loài vượn?” hoặc, nói chính xác hơn, với loài vượn khác (vì con người cũng thuộc nhóm vượn). Như tất cả mọi người giờ đây đã biết – và như các thí nghiệm với Dokana một lần nữa khẳng định – loài vượn khác cực kỳ thông minh. Chúng có khả năng suy luận, giải các câu đố phức tạp và hiểu những gì người khác có thể biết và không biết. Khi các nhà nghiên cứu từ Leipzig thực hiện một loạt các thử nghiệm trên tinh tinh, đười ươi và những đứa trẻ hai tuổi rưỡi, họ phát hiện ra rằng tinh tinh, đười ươi và những đứa trẻ khá tương đồng với nhau trong một loạt các hoạt động liên quan đến việc tìm hiểu về thế giới vật chất. Ví dụ: nếu một người thử nghiệm đặt phần thưởng vào một trong ba chiếc cốc, rồi tráo vị trí ba cốc này, thì loài vượn tìm ra phần thưởng cũng giỏi như lũ trẻ – thậm chí, trong trường hợp của tinh tinh, còn giỏi hơn. Những con vượn dường như nắm bắt được khái niệm về số lượng tốt như lũ trẻ – chúng luôn chọn chiếc đĩa chứa nhiều món hơn, thậm chí việc lựa chọn này cần dựa trên kĩ năng mà ta có thể tạm gọi là toán học – và dường như loài vượn cũng nắm bắt tốt không kém bọn trẻ về quan hệ nhân quả. (Ví dụ, loài vượn hiểu rằng khi lắc một chiếc cốc mà chúng kêu lạo xạo thì khả năng cốc đó có thức ăn là cao hơn những chiếc cốc không phát ra tiếng động nào.) Và chúng cũng khôn khéo không thua gì trẻ em trong việc tận dụng các công cụ đơn giản.  Tuy nhiên, những đứa trẻ vượt trội hơn những con vượn ở điểm đọc các tín hiệu xã hội. Khi bọn trẻ được gợi ý về nơi tìm phần thưởng — ai đó chỉ vào hoặc nhìn vào đúng hộp đựng — lũ trẻ sẽ nhanh chóng bắt lấy cơ hội. Những con vượn thì hoặc là không hiểu chúng đang được giúp đỡ một tay, hoặc là không thể làm theo gợi ý. Tương tự, khi bọn trẻ được chỉ cách lấy phần thưởng, chẳng hạn như bằng cách xé toang hộp, chúng hiểu ý ngay và làm theo. Lũ vượn, một lần nữa, hết sức lúng túng. Phải thừa nhận rằng bọn trẻ có lợi thế lớn trong các hành động liên quan đến tương tác xã hội, vì chính những người thiết kế thí nghiệm cũng cùng giống loài với các em. Nhưng, nói chung, vượn dường như không có nhiều động lực để đạt được kĩ năng hợp tác cùng giải quyết vấn đề, vốn là trọng tâm của xã hội loài người.  Michael Tomasello, người đứng đầu bộ phận tâm lý học so sánh và phát triển của viện, nói với tôi: “Tinh tinh làm nhiều điều cực kỳ thông minh. Nhưng sự khác biệt chính [giữa con người và chúng] mà chúng tôi thấy là kĩ năng ‘ba cây chụm lại nên hòn núi cao’. Giờ đây nếu bạn quan sát ở sở thú, bạn sẽ không bao giờ thấy hai con tinh tinh cùng nhau khiêng vật nặng. Chúng không có kiểu hoạt động hợp tác như vậy”.  ***  Trở về từ sở thú, tôi hỏi Pääbo về một thí nghiệm giả định. Nếu ông có cơ hội khiến người Neanderthal phải trải qua các loại bài kiểm tra mà tôi đã thấy ở Pongoland, ông sẽ làm gì? Ông ấy có nghĩ rằng mình có thể nói chuyện với họ không? Ông ngả người ra sau ghế và khoanh tay trước ngực.  “Ai cũng không kìm được sự tò mò,” ông nói. “Vì vậy, tôi cố gắng kiềm chế điều đó bằng cách từ chối các câu hỏi như: ‘Họ có biết nói không?’ Bởi vì, thực sự thì tôi không biết trả lời thế nào, và theo một cách nào đó, tôi cũng chỉ biết suy đoán như bạn mà thôi”.  Hang động Grotte des Combarelles trên vách tràn ngập các bức vẽ của người tối cổ. Điều gì thôi thúc con người len lỏi trong bóng tối mịt mù và chật hẹp để tạo nên những tác phẩm chưa chắc đã có người đồng cảm? Ảnh: National Geographic.  Cho đến nay, rất nhiều địa điểm của người Neanderthal đã được khai quật, từ miền Tây Tây Ban Nha đến miền Trung nước Nga và từ Israel đến xứ Wales. Chúng cung cấp nhiều manh mối về người Neanderthal trông ra sao, ít nhất là với những người thích suy đoán. Người Neanderthal cực kỳ mạnh mẽ – điều này được chứng thực bởi độ dày của xương họ – và có thể đánh chúng ta nhừ tử cũng nên. Họ rất thành thạo trong việc chế tạo công cụ bằng đá, mặc dù có vẻ họ dành ra hàng chục nghìn năm chỉ để làm đi làm lại một vài công cụ, với những thay đổi không đáng kể. Ít nhất là trong một số trường hợp, họ chôn cất người đã khuất. Nhưng cũng trong một số trường hợp khác, họ có vẻ còn giết và ăn thịt lẫn nhau. Những vết nứt vỡ trên răng cửa của họ cho thấy họ đã rất mất công để dùng răng ngoạm da động vật, và điều này cũng gợi ý rằng họ đã xử lý da đó thành một loại da thuộc. Bộ xương của người Neanderthal thường để lại nhiều dấu vết của bệnh tật hoặc biến dạng. Ví dụ như người Neanderthal ban đầu của Mettmann, dường như đã phải trải qua và hồi phục từ hai vết thương nghiêm trọng, một ở đầu và một ở cánh tay trái. Người Neanderthal có bộ xương gần như hoàn chỉnh được tìm thấy ở La Chapelle đã phải chịu đựng ngoài việc bị viêm khớp còn bị gãy xương sườn và xương bánh chè ở đầu gối. Cả hai cá nhân này đều sống qua tuổi năm mươi, điều này cho thấy rằng người Neanderthal có khả năng hành động tập thể, hay nói cách khác mĩ miều hơn là có sự thấu cảm. Họ phải — ít nhất là cũng có khi — chăm sóc vết thương của đồng loại.  Từ các nghiên cứu khảo cổ học, người ta suy ra rằng người Neanderthal tiến hóa ở châu Âu hoặc tây Á và tỏa đi từ đó, chỉ dừng chân ở thủy vực hoặc gặp phải những trở ngại đáng kể nào đó khác. (Trong thời kỳ băng hà, mực nước biển thấp hơn rất nhiều so với hiện tại, vì vậy không có eo biển Anh để vượt qua). Đây là một trong những điểm cơ bản nhất mà con người hiện đại khác với người Neanderthal và, theo quan điểm của Pääbo, cũng là một trong những điều lý thú nhất. Vào khoảng bốn mươi lăm nghìn năm trước, con người hiện đại đã đặt chân đến Úc, một cuộc hành trình, kể cả ở giữa kỷ băng hà, cũng có nghĩa là băng qua vùng nước mở. Những con người cổ đại như Homo erectus “chỉ đi loanh quanh như rất nhiều loài động vật có vú khác ở thời Cựu Thế giới,” Pääbo nói với tôi. “Họ không bao giờ đến Madagascar, không bao giờ đến Úc. Người Neanderthal cũng vậy. Chỉ có những con người hoàn toàn hiện đại mới bắt đầu hành trình mạo hiểm trên đại dương, nơi người ta không nhìn thấy đất liền. Tất nhiên, một phần là nhờ công nghệ; bạn phải có tàu để làm điều đó. Nhưng tôi thích nghĩ và nói rằng, còn cần một chút “điên rồ” nữa. Bạn biết không, biết bao nhiêu người hẳn đã ra khơi và biến mất trên Thái Bình Dương trước khi đặt chân được đến đảo Phục Sinh? Ý tôi là, điều đó thật nực cười. Và tại sao người ta lại dám làm thế? Có phải vì vinh quang? Vì sự bất tử? Vì tò mò? Giờ đây chúng ta còn đòi lên sao Hỏa nữa. Đúng là không biết điểm dừng”. Nếu đặc tính của con người hiện đại là sự thao thức, “không bao giờ bằng lòng với hiện tại” của nhân vật Faust trong vở kịch của Geothe, hẳn phải có một loại gene Faust nào đó trong chúng ta, theo quan điểm của Pääbo. Rất nhiều lần, ông nói với tôi rằng có thể xác định được nguyên nhân của sự “điên rồ” này bằng cách so sánh DNA của Neanderthal và con người.  Nếu đặc tính của con người hiện đại là sự thao thức, “không bao giờ bằng lòng với hiện tại” của nhân vật Faust trong vở kịch của Geothe, hẳn phải có một loại gene Faust nào đó trong chúng ta, theo quan điểm của Pääbo.  “Nếu một ngày nào đó chúng ta biết được rằng một số đột biến kỳ lạ đã làm nên sự điên rồ và thích khám phá mọi thứ của con người, thì sẽ thật ảo diệu khi nghĩ rằng chỉ một chút xáo trộn này trên nhiễm sắc thể kia mà đã tạo nên ngày hôm nay, đã thay đổi toàn bộ hệ sinh thái trên hành tinh này và khiến chúng ta thống trị tất cả”.  Theo những ước tính gần đây nhất, người Neanderthal và người hiện đại có chung một tổ tiên sống cách đây khoảng bốn trăm nghìn năm. (Không rõ tổ tiên đó là ai, mặc dù có một khả năng là loài hominid nào đó mới được biết đến một cách mơ hồ, sau khi người ta tìm thấy một xương hàm ở gần Heidelberg, với tên gọi Homo heidelbergensi). Còn tổ tiên chung của tinh tinh và người, sống cách đây năm đến bảy triệu năm trước. Điều này có nghĩa là người Neanderthal và con người có ít hơn 1/10 thời gian đó để tích lũy sự khác biệt về gene.  Người ta cần khoảng 400 mg bột xương để thực hiện một phân tích gene. Nhưng nhiều khi kết quả không chỉ gồm gene của người Neanderthal mà còn tạp nhiễm cả của vi sinh vật. Ảnh: mpg.de  Về nguyên tắc, việc lập bản đồ những khác biệt này khá đơn giản về lý thuyết. Còn trong thực tế, nó phức tạp hơn một chút. Để bắt đầu, thực sự không có cái gọi là bộ gene chung của con người; ai cũng có bộ gene của riêng mình và chúng khác nhau đáng kể — giữa bạn và người ngồi cạnh bạn trên tàu điện ngầm, sự khác biệt rất có thể là đâu đó khoảng ba triệu cặp cơ bản. Một số biến thể này tương ứng với những khác biệt sinh lý có thể nhìn thấy — chẳng hạn như màu mắt, hoặc khả năng mắc bệnh liên quan đến tim mạch — và một số khác không có ý nghĩa đáng kể. Theo ước tính đầu tiên, một người và một người Neanderthal bất kì cũng sẽ khác nhau ba triệu cặp cơ sở. Cái khó là xác định chắc chắn cái nào trong số hàng triệu biến thể này đã tách chúng ta khỏi họ. Pääbo ước tính rằng khi Dự án bộ gene người Neanderthal hoàn thành, danh sách các cặp cơ bản độc nhất của con người với người Neanderthal sẽ đâu đó khoảng một trăm nghìn cặp. Đâu đó trong danh sách này sẽ ẩn giấu sự thay đổi – hay những thay đổi – đã khởi tạo nên chúng ta. Để xác định những đột biến gene này, ông cần phải nhờ đến những con chuột chuyển gene.  Từ quan điểm thực nghiệm, cách tốt nhất để kiểm tra xem thay đổi gene nào mới đáng kể là tạo ra một con người với trình tự gene của người Neanderthal. Điều này sẽ liên quan đến việc chỉnh sửa tế bào gốc của người, cấy phôi đã biến đổi gene đó vào một phụ nữ mang thai hộ và rồi quan sát đứa trẻ của thí nghiệm đó lớn lên. Vì những lí do quá rõ ràng, không ai cho phép một thí nghiệm trên người như vậy, đó còn chưa kể là nó còn bất khả. Vì những lí do tương tự, thí nghiệm kiểu này cũng không được phép áp dụng trên tinh tinh. Nhưng trên chuột thì được. Hàng chục giống chuột đã được chỉnh sửa gene để mang các trình tự gene của người, và người ta vẫn tạo ra các giống mới liên tục, đặt hàng khá dễ dàng.  Vài năm trước, Pääbo và một đồng nghiệp, Wolfgang Enard, bắt đầu quan tâm đến một gene được gọi là FOXP2, gene này ở người có liên quan đến ngôn ngữ. (Những người có một bản sao gene bị lỗi – một trường hợp cực kỳ hiếm xảy ra – có khả năng nói, nhưng những gì họ nói, đối với người lạ, hầu như không thể hiểu được.) Pääbo và Enard đã nuôi một số con chuột với một phiên bản gene này, và sau đó nghiên cứu chúng từ mọi góc độ có thể. Những con chuột bị biến đổi, có giọng kêu trầm hơn so với các đồng loại chưa được “nhân hóa” của chúng. Những con chuột này cũng thể hiện sự khác biệt đáng kể về phát triển thần kinh. Gene FOXP2 của người Neanderthal, hóa ra, gần như giống hệt loài người, khác có mỗi một cặp base. Khi ông phát hiện ra sự khác biệt này, ông đặt hàng ngay một lô chuột chuyển gene mới mà lút tôi tới thăm phòng thí nghiệm của ông, vừa mới sinh ra và đang được nuôi trong điều kiện tiệt trùng dưới tầng hầm.  Các gene liên quan đến kĩ năng nói của chúng ta là địa chỉ hiển nhiên để tìm kiếm những thay đổi khiến chúng ta là con người. Nhưng lí do của việc phải giải trình tự toàn bộ hệ gene của người Neanderthal là bởi địa chỉ hiển nhiên nhất chưa chắc đã là địa chỉ đúng nhất.  Pääbo nói với tôi: “Ưu điểm tuyệt vời của nghiên cứu gene theo phương thức này là nó không có thiên kiến. Nếu bạn chỉ chạy theo những gene ứng cử viên, bạn sẽ dễ phát biểu cảm tính rằng gene này hay gene kia mới là quan trọng nhất. Nhiều người sẽ bảo là gene ngôn ngữ. Nhưng có khi chúng ta sẽ ngạc nhiên vì gene khác mới là cốt yếu”. Gần đây, Pääbo trở nên hứng thú với một gene có tên là RUNX2, liên quan đến quá trình hình thành xương. Khi các thành viên trong nhóm của ông phân tích toán học bộ gene người và người Neanderthal, RUNX2 bỗng nổi lên như một vị trí đánh dấu sự rẽ nhánh của những dòng dõi người.  Những người có bản sao bị lỗi của gene RUNX2 thường phát triển một tình trạng, được gọi là chứng loạn sản xương sọ, có các triệu chứng bao gồm các đặc điểm bề ngoài giống người Neanderthal như khung xương sườn loe ra. Hai gene có liên quan đến chứng tự kỷ, CADPS2 và AUTS2, dường như có sự khác biệt đáng kể giữa người Neanderthal và người. Điều này rất thú vị vì một trong những triệu chứng của chứng tự kỷ là không có khả năng đọc các tín hiệu xã hội.  ***  Vào một buổi chiều nọ, khi tôi đi lang thang trong văn phòng của ông, Pääbo cho tôi xem một bức ảnh chụp nắp sọ mới được một nhà sưu tập nghiệp dư phát hiện cách Leipzig khoảng nửa giờ. Từ bức ảnh đã được gửi qua email, Pääbo nhận định rằng chiếc xương sọ có thể là đồ cổ – từ thời sơ khai của người Neanderthal, hoặc thậm chí là người Homo heidelbergensis. Ông cũng quyết định phải có nó bằng được. Chiếc nắp sọ đã được tìm thấy tại một mỏ đá trong một hố nước – ông giả thiết rằng có lẽ những điều kiện này đã bảo quản nó, và nếu ông nhanh chóng kịp đưa nó về, ông có thể trích xuất một số DNA. Nhưng hộp sọ đã được hứa đưa tới một giáo sư nhân chủng học ở Mainz trước. Làm thế nào mà Pääbo thuyết phục người giáo sư để lại cho ông đủ xương để kiểm nghiệm bây giờ?  Pääbo gọi cho tất cả những người mà ông nghĩ biết đâu có thể quen với giáo sư kia. Ông còn yêu cầu thư ký của mình liên hệ với thư kí của giáo sư kia để xin số điện thoại cá nhân và nói đùa – có khi nửa đùa nửa thật cũng nên – rằng nếu cần thiết thì Pääbo sẵn sàng “bán thân” cho giáo sư luôn. Cuộc gọi điện thoại qua lại điên cuồng trên khắp nước Đức kéo dài hơn một tiếng rưỡi đến khi cuối cùng Pääbo quay ra nói chuyện với một nhà nghiên cứu cùng lab với mình. Nhà nghiên cứu này hóa ra đã tận mắt nhìn thấy chiếc nắp sọ thực sự và kết luận miếng xương này khả năng cao là không phải đồ cổ gì cho lắm. Pääbo ngay lập tức không còn hứng thú gì với nó nữa.  Với những bộ xương cổ, không ai thực sự biết trước có thể thu được thông tin gì từ nó. Cách đây vài năm, Pääbo lấy được một phần răng từ một trong những bộ xương được gọi là “người Hobbit” được tìm thấy trên đảo Flores, Indonesia. (“Người Hobbit”, được phát hiện vào năm 2004, thường được cho là loài người cổ đại thấp bé – Homo floresiensis – mặc dù một số nhà khoa học đã lập luận rằng đó chỉ là người hiện đại bị chứng teo não.) Chiếc răng, khoảng 17 nghìn tuổi, không chứa một chút DNA nào.  Sau đó, khoảng một năm rưỡi trước, Pääbo đã lấy được một mảnh xương ngón tay được khai quật trong một hang động ở miền Nam Siberia cùng với một chiếc răng hàm kỳ dị, trông có vẻ giống người. Xương ngón tay – có kích thước bằng cục tẩy bút chì – được cho là đã hơn bốn vạn năm tuổi. Pääbo cho rằng nó đến từ người hiện đại hoặc từ người Neanderthal. Nếu điều này là đúng, thì địa điểm đó sẽ là nơi xa nhất về phía Đông mà người ta tìm thấy hài cốt người Neanderthal.  Trái ngược với chiếc răng của người Hobbit, đoạn ngón tay mang lại một lượng DNA lớn đáng kinh ngạc. Khi việc phân tích các mẩu thông tin đầu tiên được hoàn thành, Pääbo tình cờ lúc đó đang ở Hoa Kỳ. Ông gọi điện đến văn phòng và một trong những đồng nghiệp của ông trả lời: “Ông đang ngồi chắc chắn trên ghế chứ?” DNA cho thấy dữ liệu không thể thuộc về người Neanderthal hoặc của người hiện đại. Thay vào đó, chủ nhân của nó phải thuộc về một loài hominid hoàn toàn khác và chưa từng được phát hiện ra trước đó. Trong một bài báo được xuất bản vào tháng 12/2010, trên tạp chí Nature, Pääbo và nhóm của ông đã đặt tên cho nhóm này là người Denisovan, theo tên của hang Denisova, nơi xương đã được tìm thấy. Tờ Sydney Morning Herald chạy tít: “Một ngón tay đóng dấu lịch sử cổ đại của con người”. Thật đáng kinh ngạc – hay có lẽ, giờ đây, người ta cũng đã đoán được – con người hiện đại hẳn đã phối ngẫu với cả người Denisovan bởi vì những người New Guinean ngày nay mang tới 6% DNA của người Denisovan. (Tại sao điều này đúng với người New Guinea nhưng không phải với người Siberia bản địa hoặc người châu Á thì chưa rõ, nhưng có lẽ liên quan đến các mẫu hình di cư của con người).  Từ lâu, người ta đã hiểu rằng con người hiện đại và người Neanderthal là những người sống cùng thời với nhau. Việc phát hiện ra người Hobbit và bây giờ là người Denisovan cho thấy con người đã chia sẻ hành tinh với ít nhất hai sinh vật khác giống như chúng ta. Và có vẻ như càng phân tích DNA từ các bộ hài cốt cổ đại thì sẽ càng thấy những loài khác có họ hàng với người; như Chris Stringer, một nhà cổ sinh vật học nổi tiếng người Anh, đã nói với tôi, “Tôi chắc chắn rằng chúng ta sẽ có thêm nhiều điều bất ngờ nữa đang đến.”  “Nếu những dạng người khác này tồn tại được hơn hai nghìn thế hệ nữa, tức là không quá lâu, thì điều đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quan điểm của chúng ta về thế giới sinh vật?” Pääbo nói, khi sự phấn khích với câu chuyện về xương nắp sọ đã chùng xuống và chúng tôi ngồi uống cà phê với nhau. “Chúng ta từng đặt ra một ranh giới rõ ràng giữa con người và động vật. Nhưng có thể ranh giới đó không rõ ràng đến thế. Đó là một điều thú vị để triết lý.” Cũng thật thú vị khi nghĩ về lý do tại sao chúng ta là những người sống sót.  Trong nhiều thập kỷ, nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích nguyên nhân gây ra sự diệt vong của người Neanderthal, từ biến đổi khí hậu cho đến vận rủi đơn thuần. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng rõ ràng rằng, như Pääbo đã nói với tôi, “vận rủi của họ là chính chúng ta”. Hết lần này đến lần khác, bằng chứng khảo cổ học ở châu Âu chỉ ra rằng, mỗi khi con người hiện đại xuất hiện ở nơi nào người Neanderthal đang sinh sống, thì người Neanderthal ở vùng đó sẽ biến mất. Có thể người Neanderthal đã bị truy đuổi ráo riết, hoặc có lẽ họ đã bị thua trong cuộc cạnh tranh sinh tồn. “Vận rủi” của người Neanderthal có lẽ giống với bất hạnh mà người Hobbit và người Denisovan gặp phải, và tương tự như thảm kịch mà các loài thú có túi khổng lồ từng thống trị khắp Australia, và một loạt các loài thú lớn từng sinh sống ở Bắc Mỹ, những con chim Moa từng sống ở New Zealand. Và chính sự xui xẻo đó đã đưa rất nhiều loài – trong đó có tất cả các loài vượn lớn – đến bờ vực của sự lãng quên ngày nay.  Hai thành viên trong phòng thí nghiệm của Svante Pääbo đang chạy máy phân tích genome. Nó có thể phân tích cùng lúc nhiều mẫu. Ảnh: mpg.de  “Đối với tôi, sự tuyệt chủng của người Neanderthal không phải là điều bí ẩn”, Jean-Jacques Hublin, giám đốc bộ phận tiến hóa của con người thuộc Viện Nhân chủng học Tiến hóa, nói với tôi. “Đối với tôi, bí ẩn là điều gì khiến loài người hiện đại trở thành một nhóm thành công đến mức họ đã thay thế không chỉ người Neanderthal mà còn tất cả mọi thứ. Chúng tôi không có mấy bằng chứng cho thấy người Neanderthal hoặc những con người cổ xưa khác đã đẩy một loài thú có vú hoặc bất cứ thứ gì khác đến bờ vực tuyệt chủng. Còn với con người hiện đại thì có hàng trăm ví dụ, và chúng ta đã làm điều đó hết sức thành thục”.  ***  Một trong số những tập hợp xương người Neanderthal lớn nhất từng được tìm thấy — hài cốt của bảy cá thể — được phát hiện cách đây khoảng một thế kỷ tại một địa điểm được gọi là La Ferrassie, Tây Nam nước Pháp. La Ferrassie nằm ở Dordogne, không xa La Chapelle và cách hàng chục địa điểm khảo cổ quan trọng khác trong vòng nửa giờ lái xe, bao gồm cả các hang động được sơn ở Lascaux. Trong mùa hè, một nhóm bao gồm một trong những đồng nghiệp của Pääbo đang khai quật tại La Ferrassie, và tôi quyết định xuống đó để quan sát. Tôi đến trụ sở của nhóm khai quật – một kho thuốc lá đã được chuyển đổi mục đích – đúng lúc đang họ dùng bữa tối với món bò hầm rượu vang, được phục vụ trên những chiếc bàn tạm ở sân sau.  Ngày hôm sau, tôi lái xe đến La Ferrassie cùng với một số nhà khảo cổ học của nhóm. Địa điểm này nằm trong một khu vực nông thôn yên bình, ngay bên đường. Nhiều nghìn năm trước, La Ferrassie là một hang động đá vôi khổng lồ, nhưng một trong những vách hang bị đổ sập xuống, và có tới hai lối vào. Một phiến đá khổng lồ nhô lên khỏi mặt đất khoảng 20 feet, hình vòng cung. Người ta rào dây quanh khu vực đào bới trông nó có dáng dấp như hiện trường của một vụ án mạng.  Ngày hôm đó nắng nóng và bụi bặm. Nửa tá sinh viên chui rúc trong rãnh dài, dùng bay bới đất. Dọc theo thành rãnh, tôi có thể nhìn thấy những mảnh xương nhô ra từ đất đỏ. Người ta nói với tôi, những mẩu xương ở gần đáy là do người Neanderthal ném xuống. Phần xương gần đỉnh là những gì người hiện đại để lại, những người đã chiếm đóng La Ferrassie sau khi người Neanderthal biến mất. Các bộ xương của người Neanderthal ở đây đã bị mang đi từ lâu, nhưng người ta vẫn hy vọng rằng biết đâu vẫn tìm được một số mảnh vụt còn sót lại, chẳng hạn như một chiếc răng. Mỗi mảnh xương được khai quật cùng với mảnh đá lửa và bất cứ thứ gì khác có tiềm năng quan tâm sẽ được đặt sang một bên, đưa về trụ sở chính để phân loại và gắn thẻ.  Sau khi thấy các sinh viên trở nên thấm mệt, tôi lui vào bóng râm. Tôi cố tưởng tượng cuộc sống của người Neanderthal ở La Ferrassie sẽ như thế nào. Mặc dù khu vực này giờ đây tràn ngập cây cỏ, nhưng trước đấy nó hẳn là lãnh nguyên. Sẽ có nai sừng tấm đi lang thang trong thung lũng, tuần lộc, gia súc hoang dã và voi ma mút. Ngoài những chi tiết rời rạc này, tôi không thể nghĩ được điều gì khác. Tôi đem điều đó tới hỏi những nhà khảo cổ đi cùng.  “Rất lạnh,” Shannon McPherron, thuộc Viện Max Planck, phát biểu đầu tiên.  “Và hôi hám”, Dennis Sandgathe, thuộc Đại học Simon Fraser của Canada, cho biết.  “Có lẽ là họ phải chịu đói,” Harold Dibble, Đại học Pennsylvania, nói thêm.  Sandgathe nói: “Không ai sống nổi đến già cả”.  Sau đó, trở lại nhà kho, tôi nhặt lên xem những gì đã đào được trong vài ngày qua. Có hàng trăm mảnh xương động vật, mỗi mảnh đều được làm sạch và đánh số thứ tự rồi được đặt trong túi nhựa nhỏ của riêng nó, và hàng trăm mảnh đá lửa. Hầu hết các mảnh này có lẽ là sản phẩm phụ của quá trình chế tạo công cụ – tạm gọi là dăm bào thời kì Đồ đá – nhưng một số mảnh, tôi biết được, chính là công cụ. Từng được hướng dẫn cách nhìn những thứ đồ này, tôi có thể thấy các cạnh vát mà người Neanderthal đã chế tác. Một công cụ đặc biệt nổi bật: một viên đá lửa cỡ lòng bàn tay có hình giọt nước. Theo thuật ngữ khảo cổ học, nó là một cái rìu cầm tay, mặc dù nó có lẽ không được dùng như một cái rìu theo nghĩa hiện nay. Nó đã được tìm thấy gần đáy của rãnh, vì vậy nó được ước tính là khoảng 70 nghìn năm tuổi. Tôi lấy nó ra khỏi túi nhựa và lật đi lật lại. Nó gần như đối xứng hoàn hảo và – ít nhất là đối với mắt thường – khá đẹp. Tôi nói rằng tôi nghĩ người Neanderthal đã tạo ra nó hẳn là người có khiếu thiết kế tốt. McPherron phản đối.  “Chúng ta biết câu chuyện kết thúc thế nào”, anh ấy nói với tôi. “Chúng ta biết về văn hóa hiện đại ngày nay và chúng ta tò mò tại sao chúng ta trở nên như vậy. Và ta có xu hướng phóng đại những gì ở quá khứ bằng cách nhìn nó với con mắt người hiện đại. Vì vậy, khi bạn nhìn thấy một chiếc rìu cầm tay đẹp và bạn nói, ‘Ôi nhìn trình độ chế tác của nó này, thực sự là một tác phẩm nghệ thuật”. Đó là quan điểm của người ngày nay. Bạn không thể đưa ra kết luận về thứ mà bạn đang cố gắng chứng minh”.  Trong số hàng trăm nghìn đồ tạo tác của người Neanderthal đã được khai quật, hầu như không có đồ vật nào đại diện cho những ý đồ rõ ràng về mục đích nghệ thuật hoặc trang trí, và những đồ vật được giải thích theo cách này – ví dụ, mặt dây chuyền bằng ngà voi được phát hiện trong một hang động ở miền Trung nước Pháp – chỉ khơi mào cho những cuộc tranh cãi mơ hồ và không đi đến đâu. (Nhiều nhà khảo cổ học tin rằng mặt dây chuyền được tạo ra bởi người Neanderthal, những người đã tiếp xúc với người hiện đại và cố gắng bắt chước họ, nhưng, dựa trên các kỹ thuật xác định niên đại gần đây nhất, một số người cho rằng mặt dây chuyền thực tế là do người hiện đại tạo ra.) Sự thiếu bằng chứng này đã khiến một số người cho rằng người Neanderthal không có khả năng nghệ thuật hoặc không quan tâm đến nó. Đơn giản là họ không sở hữu thứ, về mặt di truyền học, có thể được gọi là đột biến thẩm mỹ.  Vào ngày cuối cùng của tôi ở Dordogne, Pháp, tôi quyết định đến thăm một địa điểm gần đó về con người được biết đến với những hình ảnh phi thường. Địa điểm, Grotte des Combarelles, là một hang động dài, rất hẹp, ngoằn ngoèo xuyên qua một vách núi đá vôi. Sâu trong đó vài trăm feet, các bức tường của hang động được bao phủ bởi các hình chạm khắc – một con voi ma mút đang thu vòi lại, một con ngựa hoang đang vươn cao đầu, một con tuần lộc đang rướn người về phía trước, dường như để uống nước. Mới gần đây thôi, người ta đào sàn của Grotte des Combarelles thành rãnh, vừa đủ để một người có thể đi bộ trong đó và đường hầm được được chiếu sáng lờ mờ bởi đèn điện. Nhưng khi các bản khắc ban đầu được tạo ra, khoảng mười hai hoặc mười ba nghìn năm trước, cách duy nhất để vào được đây là phải bò và cách duy nhất để nhìn trong bóng tối đen như mực là phải mang theo đuốc. Khi tôi quờ quạng trong bóng tối, lướt qua những bản khắc của về rừng wisent và bò rừng aurochs và tê giác lông mượt, tôi bỗng nhận ra rằng mình hoàn toàn không tưởng tượng được điều gì đã thôi thúc ai đó phải luồn lách qua một đường hầm tối tăm để bao phủ vách hang bằng những bức tranh mà chỉ ai cũng phải đồng cảm và mạo hiểm tương tự mới chiêm ngưỡng được. Và một xúc cảm dội vào tôi khi chứng kiến những gì là đặc trưng của con người đang hiển hiện – sự sáng tạo, sự táo bạo, “sự điên rồ”. Và tôi nghĩ về cả những con vật được vẽ trên vách hang – những con bò rừng, voi ma mút và tê giác. Những con quái thú khổng lồ này phải chạy trốn khỏi sự săn bắn truy đuổi của những người châu Âu thời kì Đồ đá cũ, và rồi, từng con một, cùng với những người Neanderthals, bị tận diệt. □  Nguyễn Quang dịch  Nguyên tác: https://www.newyorker.com/magazine/2011/08/15/sleeping-with-the-enemy      Author                .        
__label__tiasang Nobel y học cho nghiên cứu tế bào gốc      Giải Nobel y học năm nay đã được trao cho nhà khoa học Nhật Shinya Yamanaka và John B. Gurdon (người Anh) cho công trình tái lập trình tế bào trưởng thành thành các tế bào gốc đa năng tại Stockholm ngày 8-10.    Vượt trên 231 ứng viên, khám phá của Yamanaka và Gurdon được đánh giá là cuộc cách mạng làm “thay đổi hoàn toàn hiểu biết của chúng ta về sự phát triển và chuyên biệt hóa của các tế bào”, như tuyên bố của Hội đồng trao giải Nobel tại Viện Korolinska của Thụy Điển. Kết quả của hai nhà khoa học khẳng định tế bào trưởng thành đã chuyên biệt hóa có thể được tái lập trình để trở thành những tế bào chưa trưởng thành có khả năng phát triển thành mọi mô của cơ thể.  “Tôi vô cùng kinh ngạc và biết ơn vì họ đã tôn vinh một việc được thực hiện từ cách đây rất lâu” – ông Gurdon trả lời phỏng vấn trên Đài phát thanh Thụy Điển sau khi được trao giải.  Ông Yamanaka (sinh năm 1962) hiện đang làm việc tại Đại học Tokyo, Nhật Bản, trong khi ông Gurdon (sinh năm 1933) thuộc Viện Gurdon tại Cambridge, Anh.  Đảo ngược đồng hồ phát triển  Năm 1962, năm ông Yamanaka ra đời, John Gurdon đã trích thành công thông tin di truyền từ nhân tế bào ruột của một con ếch và đưa vào một trứng ếch. Quả trứng này sau đó phát triển thành nòng nọc bình thường. Kết quả này chứng minh rằng các tế bào trưởng thành lưu giữ “ký ức” về giai đoạn đa năng khi còn là tế bào gốc.  Chẳng hạn tế bào não chuyên biệt về khả năng truyền tải tín hiệu vẫn giữ được khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng như một tế bào thành ruột. Tuy nhiên, việc này buộc phải phá hủy phôi chứa tế bào gốc. Năm 1997, chú cừu nhân bản vô tính Dolly ra đời theo phương pháp tương tự cách mà ông Gurdon đã áp dụng trên ếch.  Nối tiếp kết quả này, hơn 40 năm sau, năm 2006 nhà khoa học Shinya Yamanaka đã đưa một tế bào trưởng thành trở thành một tế bào gốc hoàn toàn bằng cách sử dụng một số gen mà không cần dùng đến phôi.  Trên tạp chí khoa học Nature, ông Yamanaka giải thích “tình trạng ổn định của các tế bào chuyên biệt chịu sự kiểm soát của những cơ chế chức năng có thể bị gây nhiễu dễ dàng. Do đó việc tái lập trình tế bào trưởng thành là có thể”. Ông gọi công trình của mình là “tế bào gốc đa năng cảm sinh” (iPS). Dù vậy, vẫn có quan ngại iPS có thể phát triển ngoài tầm kiểm soát và biến thành ung thư.  Đánh giá nghiên cứu của hai nhà khoa học là một “cuộc cách mạng”, bởi trước đây việc phát triển của tế bào được xác định chỉ theo một chiều duy nhất và các tế bào trưởng thành không thể thay đổi được số phận một khi đã chuyên biệt hóa. “Khám phá của Gurdon và Yamanaka cho thấy các tế bào đã chuyên biệt vẫn có thể đảo ngược đồng hồ phát triển trong một số trường hợp – Hội đồng trao giải Nobel cho biết – Những khám phá này cũng cung cấp công cụ mới cho các nhà khoa học trên toàn thế giới và dẫn đến những tiến triển đáng ghi nhận trong nhiều lĩnh vực y học”.  Vô số ứng dụng  Tế bào gốc từ lâu được tin rằng có khả năng ứng dụng để chữa trị nhiều căn bệnh từ ung thư, tiểu đường, để thay thế các mô và nội tạng bị hỏng của cơ thể nhờ khả năng phát triển thành mọi loại tế bào thay thế những tế bào bệnh tật. Nó có thể sửa chữa một trái tim sau cơn đột quỵ hoặc đảo ngược tiến trình phát triển của bệnh Alzheimer. Nghiên cứu được trao giải Nobel y học năm nay đã mở ra một phương cách mới để có được tế bào gốc mà không phải dùng đến phôi thai, một vấn đề gây nhiều tranh cãi đạo đức. “Thiếu nội tạng để cấy ghép là một vấn đề lớn tại nhiều quốc gia hiện nay” – ông Yamanaka nhấn mạnh.  Một trong các ứng dụng thực tế khác của nghiên cứu này là khả năng nghiên cứu tận gốc rễ các căn bệnh thông qua tế bào của người mắc bệnh để tìm ra biện pháp chữa trị. “Tế bào da có thể được lấy từ người bệnh mắc nhiều căn bệnh khác nhau, tái lập trình và xem xét trong phòng thí nghiệm để xem chúng khác với những tế bào khỏe mạnh như thế nào”, Ủy ban Nobel cho biết.        * John Gurdon được gọi là “cha già của kỹ  thuật nhân bản vô tính”. Trong học bạ của Gurdon năm 15 tuổi, cô giáo đã  phê rằng ý định theo đuổi sự nghiệp sinh học của ông là “hoàn toàn lãng  phí thời gian”. “Khi ở trường tôi đã nuôi hàng ngàn con sâu bướm và  điều này khiến giáo viên của tôi càng khó chịu – ông Gurdon kể – Nhưng  tôi đam mê những điều này”. Ông cũng giữ vững quyết định của mình khi bị  gia đình buộc phải theo binh nghiệp hoặc ngân hàng.   *  Shinya Yamanaka sinh ra trong một gia đình có cha làm chủ nhà máy  chuyên sản xuất linh kiện máy may ở Nhật Bản. Cuộc đời của Yamanaka có  thể đã thay đổi nếu ông nghe theo lời khuyên của cha từ bỏ giấc mơ làm  bác sĩ để theo sự nghiệp của gia đình. Tuy nhiên, ông đã quyết định trở  thành một bác sĩ phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và sau này dẫn đầu  nghiên cứu về hoạt động của tế bào giúp ông đoạt được giải Nobel.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Y học cho phát hiện về “hệ thống định vị toàn cầu” của não      Giải Nobel Y học năm nay vừa được công bố thuộc về ba nhà khoa học tìm ra “hệ thống định vị toàn cầu” của bộ não.       Ba nhà nghiên cứu – Giáo sư John O’Keefe và vợ chồng Giáo sư May-Britt Moser và Edvard Moser – đã cùng chia nhau giải Nobel Y học năm nay khi họ phát hiện ra cách bộ não của con người xác định được vị trí của chúng ta và có thể điều hướng từ nơi này sang nơi khác.  Những kết quả nghiên cứu của họ có thể giúp giải thích tại sao các bệnh nhân Alzheimer không thể nhận ra môi trường xung quanh.  Hội đồng xét giải Nobel nhận xét: “Những phát hiện này giải quyết được một vấn đề đã làm đau đầu các nhà triết học và khoa học hàng thế kỷ nay”.    Tế bào vị trí  Giáo sư O’Keefe, từ Đại học London (University College London), đã phát hiện ra phần đầu tiên của hệ thống định vị bên trong của bộ não từ năm 1971. Nghiên cứu của ông cho thấy một bộ tế bào thần kinh được kích hoạt bất cứ khi nào con chuột thí nghiệm đang ở một vị trí nào đó trong phòng. Một bộ tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi con chuột ở một vị trí khác. Từ đó GS O’Keefe chỉ ra rằng các “tế bào vị trí” này – nằm trên vùng hồi hải mã của não (hippocampus) – tạo nên một bản đồ trong não.   Tế bào ô lưới    Từ năm 1996, vợ chồng giáo sư May-Britt và Edvard Moser thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy ở Trondheim bắt đầu nghiên cứu cùng với GS O’Keefe để học cách ghi lại các hoạt động của các tế bào vị trí trên vùng hồi hải mã. Đến năm 2005, nhóm nghiên cứu của vợ chồng Moser phát hiện ra một phần khác của bộ não hoạt động giống như một hải đồ. Những “tế bào dạng ô lưới” này na ná như những đường kinh độ và vĩ độ, giúp bộ não xét đoán được khoảng cách và điều hướng.   Ủy ban trao giải Nobel nhận định sự kết hợp giữa “tế bào dạng ô lưới” và “tế bào vị trí” tạo thành một hệ thống định vị toàn cầu toàn diện bên trong bộ não. Hệ thống này bị ảnh hưởng trong một số trường hợp rối loạn não bộ như chứng mất trí nhớ và bệnh Alzheimer. Bởi vậy mà sự hiểu biết tốt hơn về những cơ chế thần kinh làm nền tảng cho bộ nhớ về không gian là rất quan trọng. Những phát hiện về các tế bào vị trí và ô lưới là một bước nhảy lớn giúp thúc đẩy nỗ lực này.  Giải Nobel Y học được công bố chiều 6/10, theo giờ địa phương, đã mở đầu cho mùa Nobel năm nay. Tiếp theo, Nobel Vật lý sẽ được công bố chiều nay – 7/10, Nobel Hóa học – 8/10,Nobel Văn học – 9/10, Nobel Hòa Bình – 10/10, Nobel Kinh tế – 13/10.  PV tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Y Sinh đã bỏ qua một nhà nghiên cứu thực vật?      “Chúng tôi không ngạc nhiên về việc cơ chế giao thoa RNA (RNAi) – một khám phá mang tầm quan trọng lớn – được trao giải Nobel năm nay, nhưng chúng tôi thực sự bị sốc khi thấy những nhà khoa học với những nghiên cứu trên thực vật đã khám phá ra nền tảng của cơ chế đó lại không được chia sẻ giải này.”    Đó là lời kiến nghị mà các nhà khoa học Marc Bots (Viện Công nghệ Sinh học ở Gent, Bỉ), Spencer Maughan và Jeroen Nieuwland (Viện Công nghệ Sinh học, Đại học Cambridge, Anh) đã nói trên tạp chí Nature.  Theo những dẫn chứng của các nhà khoa học này, hầu hết sáu mục trích dẫn làm cơ sở cho giải Nobel được trao cho Andrew Fire và Craig Mello đều là những thứ đã được biết từ nghiên cứu trên thực vật. Thêm vào đó, việc quan sát sự vô hiệu hoá gene có tính chất nằm ngoài sự tự điều khiển của tế bào đã lần đầu tiên được thực hiện trên thực vật. Hơn nữa, các mô hình liên quan đến RNA chuỗi kép và các cơ chế tăng cường đã được đề xuất bởi những nhà nghiên cứu thực vật trước khi có sự công bố về các cơ chế RNAi trên động vật.  Họ kết luận: “Giải Nobel có lẽ nên được trao cho ba người, trong đó phải có một nhà nghiên cứu thực vật. Đó là David Baulcombe, một người tiên phong trong lĩnh vực này. Nghiên cứu của ông đã là chìa khoá để hiểu được cơ chế RNAi cũng như mở đường cho những phát hiện của Fire và Mello.”  Theo Nature Vol.443, p.906       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi cái chết vẫn phục vụ khoa học      Cách đây 40 năm chuyên gia pháp y Bill Bass đã thành lập Body Farm, một phòng thí nghiệm ngoài trời, nơi xác người được để mục rữa tự nhiên vì mục đích nghiên cứu khoa học. Nhờ các nghiên cứu này, ông đã góp phần khám phá hàng trăm vụ án giết người ở Mỹ.      Vào buổi chiều thứ bảy mùa đông năm 1971, một nhân viên làm việc tại sân vận động ở Knoxville, Tennessee, đã bị sốc dữ dội. Khi ông định dọn nhà kho, ông đụng phải một cái bao chất dẻo được buộc khá kỹ lưỡng. Mở cái bọc ra, ông phát hiện xác một người đàn ông không đầu trương phềnh bên trong.   Chủ của cái bọc kinh hoàng này là Giáo sư Bill Bass, người phụ trách Viện Nhân chủng học đặt trong khu hầm của sân vận động. Ông là một nhà nghiên cứu xác chết con người đầy tâm huyết, vì một lý do rất đơn giản đã phải cất cái bọc trong nhà kho. Trước đó, cơ quan cảnh sát đã yêu cầu ông xác định danh tính cái xác chết. Nhưng hôm đó là chiều thứ bảy, viện không có chỗ chứa nên ông phải để tạm cái bọc đó trong nhà kho. Người phụ trách sân vận động không thể thông cảm với việc làm tùy tiện của Giáo sư Bass, do đó hai người đã to tiếng với nhau. Cuối cùng giáo sư đã nói chuyện điện thoại với ông hiệu trưởng trường đại học. Ông này một mặt tỏ ra thông cảm với phản ứng dữ dội của người quản lý sân vận động, mặt khác ông giới thiệu với nhà khoa học một vị trí nơi ông có thể yên tâm làm công tác nghiên cứu của mình mà không làm ảnh hưởng đến những người khác.   Ngày 24/1/1971, tại một khu vực vốn là một trại lợn, Giáo sư Bill Bass đã xây dựng “Body Farm”, phòng nghiên cứu ngoài trời độc nhất vô nhị chuyên theo dõi quá trình phân hủy của cơ thể con người. Chính nhờ các nghiên cứu của Giáo sư Bill Bass, vài chục năm sau đó, ngành khoa học pháp y đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong việc nhận dạng tử thi và xác định chính xác thời điểm tử vong.    Nghiên cứu sự phân hủy của xác chết  Khi nào răng bị rụng khỏi đầu? Cánh tay rời khỏi cơ thể trong những điều kiện nào? Quá trình để một xác chết phân hủy hoàn toàn, chỉ còn trơ lại bộ xương là bao lâu? Đây là những câu hỏi được đặt ra đối với Body Farm, vào những ngày đầu thành lập. Giờ thì phòng thí nghiệm này đã có tên chính thức là “Anthropological Research Facility” (Cơ sở Nghiên cứu Nhân loại học) thuộc trường Đại học Tổng hợp Knoxville. Khu vực nằm trong rừng này có diện tích 12.000 m2 được rào chắn bằng những tấm gỗ cao quá đầu người và gia cố bằng dây thép gai. Nơi này chứa khoảng 50 cái xác ở trong những điều kiện và quá trình phân hủy khác nhau, có cái bị vùi ở độ sâu 3 mét, có cái nằm trong cốp xe ô tô, có cái cuộn trong một tấm thảm và có cái nằm giữa vũng nước…  Những nhà nghiên cứu làm việc tại Body Farm chụp ảnh, đo và ghi chép tỉ mỉ toàn bộ quá trình phân hủy cơ thể con người. Họ cũng rất quan tâm đến sự hình thành và phát triển của các loại sâu bọ, ruồi nhặng nơi có xác chết cũng như âm thanh do chúng phát ra từ chỗ có xác chết. Hiểu biết sâu sắc và chính xác về những vấn đề này giúp người ta xác định khá chuẩn xác thời điểm tử vong, từ đó các nhà điều tra có thể tìm ra dấu vết của kẻ giết người.   Trước đó, nghiên cứu quá trình phân hủy xác chết trước đó mới chỉ là theo dõi sự phân hủy ở súc vật như chó hoặc lợn, nhưng chính Giáo sư Bass là người đầu tiên dám vi phạm điều cấm kị khi tiến hành nghiên cứu sự thối rữa trên chính các xác chết của con người.   Nhà nghiên cứu Bass không hề sợ hãi khi va chạm với xác chết. Ông đã không ít lần làm bà vợ đầu của ông, một nhà nghiên cứu về dinh dưỡng suýt bị ngất xỉu, khi ông ninh một cái đầu lâu hoặc một cái đùi trong nồi nấu xúp cỡ 8 lít ngay trong bếp nhà mình để sau đó mang vào Viện tiếp tục nghiên cứu. Từ khi có cơ sở nghiên cứu ở trong rừng, ông cũng gặp những phản ứng không mấy thiện cảm của người dân ở Knoxville, nhất là vào thời kỳ đầu, khi cơ sở này chưa được che chắn kín đáo.    Công việc nghiên cứu diễn ra khá êm đẹp cho đến những năm 90 thế kỷ trước. Nhưng sự bình yên của “đế chế tử thần” này đã bị xáo trộn khi nữ nhà văn  Patricia Cornwell xuất bản cuốn tiểu thuyết  ly kỳ rùng rợn rất ăn khách của bà vào năm 1994 với nhan đề “Body Farm”. Khu thí nghiệm ngoài trời này bỗng nhiên được cả nước Mỹ biết đến: các đoàn quay phim truyền hình vây quanh khuôn viên này, cựu Tổng thống Ronald Reagan nhân một bữa ăn trưa cũng tạt qua đây… Ít lâu sau đó, cả nước Mỹ rầm rộ phản đối sự tồn tại của Body Farm.   Những vụ án được khám phá  Số các xác chết đưa về cơ sở nghiên cứu là xác người vô gia cư, được nhà khoa học Bass và các cộng sự để phân hủy tự nhiên, song có lần họ cũng để bị lẫn một cái xác cựu chiến binh. Do đó người đại diện cựu chiến binh ở bang Tennessee đã đệ trình một dự án luật mà nếu được thông qua thì Giáo sư Bass không thể tiếp tục công việc nghiên cứu của mình.   Chính nhờ có sự can thiệp quyết liệt của các luật sư, Body Farm mới được tiếp tục tồn tại. Các luật sư đã chịu ơn Bill Bass rất nhiều vì nhờ ông, nhiều kẻ lừa đảo, giết người đã bị phát hiện. Thí dụ như vụ án mạng đầu tháng 12/1992 đối với vợ chồng  Perry và cô con gái Krystal của họ ở bang  Mississippi. Đầu năm 1993, cảnh sát phát hiện xác của họ trong tình trạng bắt đầu thối rữa trong một nhà kho. Ông của Krystal là kẻ bị tình nghi nhưng y lại có bằng chứng ngoại phạm. Giáo sư Bill Bass phát hiện hố mắt của các nạn nhân hoàn toàn trống rỗng. Để có thể ăn ruỗng hoàn toàn hố mắt, loài ruồi và dòi phải trải qua ít nhất hai vòng đời. Từ đó ông khẳng định thời điểm tử vong là giữa tháng 11. Kẻ sát nhân không thể chối cãi và bị tuyên án tử hình.    Thành công của nhà nghiên cứu Bass còn dựa vào các phân tích ADN. Đó là trường hợp  liên quan đến gã triệu phú đồng thời là tên lừa đảo Madison Rutherford ở Connecticut. Gã buôn chứng khoán 34 tuổi này đã dựng lên một vụ tai nạn ô tô hòng nhận 7 triệu USD tiền bảo hiểm nhân mạng. Bill Bass đã xem xét kỹ những mẩu xương và răng mà các nhà điều tra thu được trong chiếc ô tô bị cháy trụi của Madison Rutherford, ông phát hiện đây là một vụ án mạng lừa đảo bảo hiểm nghiêm trọng vì người chết không phải là Rutherford. Xác chết trong xe là của một công nhân Mêhicô khoảng 50 đến 60 tuổi, người làm việc cho Rutherford. Ngày 7/11/ 2000, thủ phạm đã bị FBI  tóm cổ.   Vụ án nổi tiếng nhất mà Giáo sư Bass và các đồng nghiệp của ông ở Body Farm phá được là vụ bê bối liên quan đến lò hỏa thiêu “Tri-State-Crematory” ở Georgia vào năm 2002. Để tiết kiệm chi phí hỏa táng, lò hỏa thiêu trong nhiều năm liền đã vùi các xác chết ngay tại khuôn viên của mình rồi lấy tro củi và bột xi măng trộn với nhau, đổ vào hộp tro hài cốt trả lại cho thân nhân người quá cố. Một đội điều tra do Giáo sư Bass đứng đầu đã tiến hành so sánh mẫu ADN của 339 thi hài, trong đó có những cái ở trong tình trạng thối rữa để xác định danh tính người chết. Chủ của đài hóa thân này sau đó bị tòa án buộc phải đền bù tổng cộng 80 triệu USD cho người nhà của những người đã chết.  Cuộc sống giữa những xác chết   Hằng ngày phải tiếp xúc với xác chết bị phân hủy, với dòi, ruồi, nhặng… các chuyên gia pháp y và kể cả nhà nghiên cứu Bass cũng căm ghét cái chết. Ông đã viết điều này trong cuốn hồi ký của mình. Theo tiết lộ của bà vợ, khứu giác của chồng bà từ lâu không còn hoạt động. Khi Bass lần đầu tiên tiếp xúc với xác chết ông đã bị nôn thốc nôn tháo. Nhưng điều làm ông vượt qua được sự ghê tởm là sự mong muốn tìm ra sự thật.   Giờ thì Giáo sư Bill Bass đã già và bước qua tuổi 80, với mái tóc bạc phơ, cặp kính dày cộp và máy trợ tim bên người. Từ lâu, đã có những người khác tiếp tục sự nghiệp của ông tại Body Farm. Kể cả ở những nơi khác, dù ở hố chôn xác tập thể ở Bosnia, tại Ground Zero ở New York hay những nơi khác trên thế giới, người ta vẫn thấy những học trò của ông kiên trì bám gót cái chết.  Xuân Hoài  Theo Spiegel 4.2010    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi gặp gỡ của lịch sử và ký ức      Nhà khoa học Marie Curie là giám đốc đầu tiên của Phòng thí nghiệm Curie tại Viện Radium, được xây vào năm 1914 phục vụ mục đích nghiên cứu về bức xạ và các ứng dụng trong điều trị ung thư.  Ngày nay, văn phòng và phòng thí nghiệm, nơi bà Marie Curie làm việc trong 20 năm tiếp tục được bảo tồn trong bảo tàng Curie, là minh chứng cho những công việc nghiên cứu khoa học và y tế của Viện Radium và Quỹ Curie.      Một gia đình 5 giải Nobel  Sau khi Pierre và Marie Curie được trao giải Nobel Vật lý năm 1903 (cùng với Henri Becquerel), Pierre Curie được bổ nhiệm Giáo sư, và cả hai vợ chồng cuối cùng có thể rời nơi làm việc tồi tàn trong Trường Lý hóa Công nghiệp để đến một phòng thí nghiệm mới nơi Marie Curie được bổ nhiệm giám đốc nghiên cứu. Khi Pierre Curie qua đời năm 1906, Marie Curie được bổ nhiệm giảng viên (junior lecturer) và sau đó là giáo sư. Bà là người phụ nữ đầu tiên dạy học tại Đại học Sorbonne.  Marie Curie mong muốn xây dựng một phòng thí nghiệm lớn cho mục đích nghiên cứu về phóng xạ và những ứng dụng của nó trong các lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học, và y tế. Vì vậy, Viện Radium được ra đời. Nó được chia thành hai phần : Phòng thí nghiệm Curie, được lãnh đạo bởi Marie Curie và hoàn toàn dành cho nghiên cứu vật lý và hóa học ; phần thứ hai là Phòng thí nghiệm Pasteur được lãnh đạo bởi Bs Claudius Regaud, dành cho nghiên cứu sinh học và tác động y học của bức xạ. Năm 1911, Marie Curie được nhận giải Nobel thứ hai, lần này trong lĩnh vực hóa học. Cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất bùng nổ đúng lúc việc xây dựng Viện Radium hoàn thành. Khi đó, Marie Curie đích thân đứng giảng những lớp huấn luyện trị liệu bằng bức xạ, chính là những lớp học đầu tiên trong lịch sử ngành này. Khi chiến tranh kết thúc, Claudius Regaud tập trung vào việc nghiên cứu trị liệu ung thư bằng bức xạ, với sự giúp đỡ về mặt khoa học và kỹ thuật từ phòng thí nghiệm của Marie Curie.     Những nỗ lực của Marie Curie và Claudius Regaud đã giúp hình thành Quỹ Curie vào năm 1920 nhằm gây kinh phí tài trợ các hoạt động của Viện Radium và đóng góp vào hoạt động nghiên cứu trị liệu ung thư.  Một trong những kết quả đạt được của Quỹ là việc xây dựng một phòng khám ở đường d’Ulm ngay gần điện Panthéon, mở cửa vào tháng 11 năm 1922. Năm 1932, một khoản tài trợ giấu tên đã giúp hình thành một số phòng thí nghiệm mới dành cho nghiên cứu sinh học, được đặt ngay phía sau phòng khám. Trong khi đó, Phòng thí nghiệm Curie tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu vật lý và hóa học.   Năm 1934, không lâu sau khi Marie Curie qua đời, con gái bà là Irène và con rể là Frédéric Joliot-Curie khám phá ra bức xạ nhân tạo, phát kiến giúp họ giành giải Nobel Hóa học năm 1935.  Một địa chỉ của những hoài ức  Sau khi Frédéric Joliot qua đời năm 1958, những giám đốc tiếp nối tại Phòng thí nghiệm Curie mong muốn bảo tồn nguyên vẹn văn phòng giám đốc, là nơi làm việc của Marie Curie từ năm 1914 tới 1934, sau đó là André Debierne tới năm 1946, Irène Joliot-Curie tới năm 1956, và cuối cùng là Frédéric Joliot. Năm 1964, để kỷ niệm 30 năm phát kiến bức xạ nhân tạo, người ta lắp đặt trong sảnh ra vào Phòng thí nghiệm Curie một kệ trưng bày bằng kính đặt những thiết bị có giá trị lịch sử quan trọng nhất trong thời kỳ từ đầu tới thập kỷ 1930. Năm 1967, để kỷ niệm 100 năm ngày sinh Marie Curie, văn phòng và phòng thí nghiệm của bà, vốn được bảo tồn nguyên vẹn, đã được mở cửa tiếp đón một số khách mời ưu tiên. Tới năm 1981, phòng thí nghiệm hóa học của Marie Curie được khử xạ và tôn tạo nhờ tài trợ từ Hiệp hội Ung thư Pháp. Và từ năm 1992, bảo tàng mở cửa cho công chúng vào tham quan.   Năm 1995, kỷ niệm 75 năm Quỹ Curie, nước Pháp đưa tro cốt Pierre và Marie Curie vào điện Panthéon, và để chuẩn bị kỷ niệm 100 năm phát kiến về bức xạ tự nhiên, phòng trưng bày các thiết bị thí nghiệm được tôn tạo và mở rộng. Ngoài ra bảo tàng còn được tăng cường thêm bộ sưu tập các vật dụng, văn bản, và kho lưu trữ về Marie Curie, Irène và Frédéric Joliot-Curie, trong đó đáng kể là những hiến tặng từ gia đình Curie, và những nỗ lực tham gia của Hội Curie et Joliot-Curie.   Bảo tàng Curie ngày nay  Bảo tàng Curie nằm trong tòa nhà cổ từng là Phòng thí nghiệm Curie của Viện Radium. Những bộ sưu tập ở đây giúp chúng ta truy cứu lại lịch sử về phóng xạ và những ứng dụng của nó, đặc biệt trong lĩnh vực y học. Trung tâm sử liệu của bảo tàng với kho di sản phong phú những thiết bị thí nghiệm, vật dụng, sách, văn bản lịch sử, bản thảo viết tay, các tài liệu hình ảnh và phim chiếu, chính là một kho lưu trữ giá trị về lịch sử gia đình Curie, Viện Curie (bao gồm kho lưu trữ về Viện Radium và Quỹ Curie), và rộng hơn là lịch sử về phóng xạ và cuộc chiến của con người chống lại bệnh ung thư.  Gần đây nhất, vào năm 2012, Bảo tàng Curie được tiếp tục tôn tạo nhờ khoản di sản để lại từ bà Eve Curie Labouisse, qua đời năm 2007 ở New York, là con gái út của Pierre và Marie Curie.  Đến nay, ngoài việc tiếp đón khách tham quan và tiếp tục công việc bảo tồn, bảo tàng vẫn phát triển thêm các bộ sưu tập, tiến hành những nghiên cứu trong các lĩnh vực lịch sử và bảo tàng học, tham gia vào các sự kiện khoa học và văn hóa.           TT dịch  Nguồn tham khảo:  www.musee.curie.fr  * Bài viết theo đề nghị của Tạp chí Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu mới cho thấy nòi giống không quyết định hành vi và tính khí của chó      Có thật là chó pug thì “tinh nghịch”, còn chó chăn cừu thì “tình cảm”? Câu hỏi này vừa được các nhà khoa học giải đáp qua phân tích dữ liệu về hơn 18.000 con chó.    Kể từ khi chó nhà tiến hóa từ chó sói cách đây hơn 10.000 năm, con người đã sớm có những can thiệp nhằm tạo ra khả năng làm việc cho chúng- chẳng hạn như chăn gia súc, bảo vệ hay kéo xe trượt tuyết.    Các giống chó mà chúng ta biết đến ngày nay – chẳng hạn như chó săn thỏ, chó pug (chó mặt xệ) hay chó tha mồi – là sản phẩm của sự can thiệp tiến hóa gần đây hơn, từ khoảng 200 năm trước, khi những người đam mê chó ở Anh đã bắt đầu tích cực chọn lọc những đặc điểm mà họ thấy đẹp về mặt thẩm mỹ. Và người ta thường nghĩ rằng nòi giống định hình tính khí của chó, chẳng hạn chó pug được cho là “tinh nghịch” và chó chăn cừu được cho là “tình cảm”.        Tuy nhiên, như nhà sinh vật học tính toán Elinor Karlsson tại Đại học Massachusetts, đồng tác giả nghiên cứu mới, chỉ ra: “Bất kỳ ai sở hữu tám con chó từ cùng một giống sẽ nói rằng mỗi con đều có tính cách khác nhau.”    Để hiểu rõ hơn vấn đề này, Karlsson và các đồng nghiệp đã khảo sát hàng nghìn chủ sở hữu chó về thông tin thú cưng của họ, từ việc chúng có xu hướng ăn những gì, thích chơi những gì. Sau đó, nhóm nghiên cứu giải trình tự DNA một số con chó khảo sát để xem liệu tổ tiên và nòi giống có liên quan đến hành vi của chúng hay không.    Kết quả, giống không định hình hành vi/tính cách của chó. Trung bình, giống chỉ giải thích được khoảng 9% hành vi của một con chó – mối liên hệ này rất nhỏ so với suy nghĩ của nhiều người hiện nay. Cũng có một số đặc điểm xuất hiện phổ biến hơn ở một số giống chó nhất định. Ví dụ, so với một con chó ngẫu nhiên, chó chăn cừu Đức thường dễ bảo hơn.    Mối liên hệ giữa giống chó và hành vi hung hăng đặc biệt thấp, khác với cách xã hội thường nhìn nhận rằng một số giống chó là “nguy hiểm”.    Tuy nhiên, kết quả giải trình tự DNA cho thấy những con chó có cùng một tổ tiên cụ thể sẽ có nhiều khả năng có chung một số hành vi/tính cách hơn. Ví dụ, chó có tổ tiên là chó St Bernard thì tình cảm hơn, trong khi chó có tổ tiên là chó tha mồi ở Vịnh Chesapeake thì có xu hướng phá hoại đồ đạc.    Phân tích di truyền cho thấy 11 vùng của bộ gen có liên quan đến các hành vi cụ thể. Ví dụ, xu hướng hú liên quan đến một vùng gần hai gen, các gen tương đương ở người có liên quan đến lời nói. Mối liên hệ rõ ràng nhất là giữa vùng của bộ gen mà ở người liên quan đến hoạt động nhận thức nhưng ở chó lại làm tăng khả năng bị mắc kẹt phía sau các đồ vật.    Kelsey Witt, nhà di truyền học quần thể tại Đại học Brown ở Providence, Rhode Island, cho biết: những dấu hiệu di truyền này đã tồn tại lâu hơn yếu tố nòi giống nhiều.“Thoạt nhìn, có vẻ ngạc nhiên khi nòi giống không phải là một yếu tố để dự đoán hành vi. Nhưng khi nhớ ra các giống chó là sản phẩm lai tạo gần đây, điều này trở nên hợp lý,” Witt cho biết.    Thuyết Xuân    Author                .        
__label__tiasang Nội lực cộng đồng trong phát triển nông nghiệp vùng dân tộc thiểu số      Việc phát triển chuỗi nông nghiệp ở cộng đồng dân tộc thiểu số cần dựa trên nền tảng nguồn lực sẵn có của cộng đồng, quản trị chuỗi nông sản chặt chẽ cũng như vai trò tư vấn lâu dài theo nguyên tắc “win – win”(đôi bên cùng có lợi) của các nhà khoa học. Đó là những kinh nghiệm của PGS.TS Trần Văn Ơn (Trưởng Bộ môn Thực vật, trường Đại học Dược Hà Nội, nguyên Chủ tịch kiêm Giám đốc DKPharma) sau hơn 20 năm hỗ trợ khởi nghiệp nông nghiệp ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc.      Gian hàng của Sapanapro tại Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao ngành Thực phẩm và Nông sản sạch tại Hà Nội tháng 10/2016.  Một trong những điểm nhấn của “Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao ngành Thực phẩm và Nông sản sạch năm 2016” từ 6-9/10/2016 tại Hà Nội là gian hàng “Sản phẩm khởi nghiệp đồng bào dân tộc thiểu số”, nơi những người phụ nữ Hmông, Dao, trong chiếc váy hoa xòe truyền thống, bày bán tinh dầu, dầu tắm chiết xuất từ nhiều bài thuốc dân gian. Đó chính là các cổ đông của Sapanapro JSC., một startup tại xã Tả Phìn, huyện Sapa, Lào Cai, do Lý Láo Lở làm giám đốc. Họ khác hẳn hình dung thông thường của chúng ta về các startup (thường đặt ở các thành phố lớn, làm về công nghệ cao, có mô hình kinh doanh hiện đại,…). Vậy điều gì đã giúp những người dân tộc thiểu số – vẫn thường chịu cái nhìn định kiến gắn với sự nghèo đói, thiếu năng lực sản xuất và kinh doanh – tạo dựng thành công một startup có doanh thu hằng năm từ 3 – 4 tỉ đồng?  Đánh thức nội lực cộng đồng  Sapanapro chỉ là một trong hàng chục startup tương tự được gây dựng nhờ sự tư vấn từ PGS.TS Trần Văn Ơn, người đã đeo đuổi công việc tư vấn phát triển cộng đồng tại 22 hợp tác xã, bảy công ty sản xuất dược liệu ở khắp các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Thái Nguyên, Quảng Ninh…). Ông phân tích: “Người dân có sẵn các nguồn vốn quan trọng là đất đai, tri thức bản địa, vốn con người, và cuối cùng là vốn tài chính (mỗi hộ gia đình cá thể có ít tiền nhưng một cộng đồng thì không hề ít). Nhiệm vụ của các nhà làm phát triển cộng đồng là phải hỗ trợ các nguồn vốn khác mà họ chưa có như mạng lưới xã hội, khoa học kỹ thuật để họ tự phát triển lên bằng chính sản phẩm nông nghiệp truyền thống của mình. Vấn đề mấu chốt là người làm phát triển cộng đồng phải tin vào nội lực của người dân. Tôi vẫn tin như thế, nhờ đó mới có thể xây dựng hợp tác xã, công ty thành công ở ngay cả những xã đặc biệt khó khăn nằm trong chương trình giảm nghèo quốc gia 135 hoặc 30A”1.  Với quan điểm như vậy, khi xây dựng một hợp tác xã nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số, trước hết, PGS.TS Trần Văn Ơn và các đồng nghiệp ở Bộ môn Thực vật, trường ĐH Dược Hà Nội và Công ty DKPharma đã cùng người dân xác định các sản phẩm truyền thống, chọn loại cây vừa phù hợp với thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu và kinh nghiệm chăm sóc của người dân lại vừa phù hợp với yêu cầu của thị trường làm thành các “sản phẩm chiến lược”. Từ đó họ tạo dựng nên các hợp tác xã trồng, sơ chế, tinh chế và bán sản phẩm từ thảo dược truyền thống (như chiết xuất thuốc tắm của Sapanapro ở huyện SaPa, Lào Cai; tinh dầu gừng tía ở Bát Xát, Lào Cai; Actiso tại huyện Quản Bạ, Hà Giang…), là những sản phẩm có tính khả thi cao vì lượng “cầu” từ các công ty dược, mỹ phẩm và người tiêu dùng rất lớn.  Để quản trị các hợp tác xã và công ty cộng đồng một cách hiệu quả, ông Ơn tìm nguồn nhân lực điều hành tại chỗ. Ông chia sẻ, “người đứng đầu các hợp tác xã, công ty phải là người dân tộc thiểu số tại địa phương, có trí tuệ, tâm sáng. Nhưng chỉ nên ở khoảng 30 tuổi thôi. Vì ở tuổi này mới ‘xông xáo hết mình’ được, ít tuổi hơn thì còn ‘non’ quá, mà nhiều tuổi hơn, đủ độ chín thì lại có sức ì”. Ví dụ, “nhóm quản trị nòng cốt” do ông Ơn xây dựng khi thành lập Sapanapro gồm Lý Láo Lở – một chàng trai trẻ sinh năm 1982 có quyết tâm giữ gìn, phát huy tri thức bản địa – và một số thầy lang vườn nắm vững các bài thuốc, vị thuốc cổ truyền của người Dao. Ban đầu, vào năm 2006, bảy hộ gia đình trong nhóm nòng cốt này thành lập công ty Sapanapro để sản xuất và kinh doanh thuốc tắm. Theo thời gian, công ty ngày càng mở rộng quy mô số hộ cổ đông (đến nay đã hơn 100 hộ) và đa dạng hóa sản phẩm.  Trong bối cảnh lâu nay, các chương trình phát triển nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số thường có cách tiếp cận đòi hỏi sự hỗ trợ từ bên ngoài về tài chính, công nghệ, quản trị… thì phương pháp tiếp cận hỗ trợ cộng đồng “từ bên trong” của PGS.TS Trần Văn Ơn đã tỏ rõ ưu thế về hiệu quả và tính bền vững.  “Từ kinh nghiệm làm tư vấn phát triển cộng đồng của mình, tôi rút ra rằng, ở các vùng dân tộc thiểu số không thể chỉ đặt trọng tâm phát triển nông nghiệp với quy mô kinh tế hộ gia đình. Vì một gia đình ít khi đủ khả năng ‘xoay sở’ toàn bộ các khâu của chuỗi sản xuất. Nên phát triển mô hình hợp tác xã hoặc công ty cổ phần, nhiều hộ dân thì có nguồn lực lớn hơn và cùng bàn bạc sẽ tìm ra được các phương án tối ưu và cùng lo đảm nhiệm được các khâu khác nhau trong chuỗi sản xuất. Và đương nhiên, khi đó luôn cần tìm những thủ lĩnh có tâm và có tầm trong cộng đồng. Còn nhà khoa học thì phải cam kết đồng hành cùng các cộng đồng một cách lâu dài, làm tư vấn ‘suốt đời’…” PGS.TS Trần Văn Ơn.  Kiểm soát sản phẩm “từ nguồn tới đích”  Thông thường, với mô hình hợp tác giữa nông dân – nhà khoa học, nhà khoa học chỉ “đóng vai” chuyển giao công nghệ, kỹ thuật còn người nông dân sẽ tiếp tục vận hành hợp tác xã hoặc công ty của mình và tự tổ chức các mối quan hệ kinh tế với các đối tác khác. Nhưng PGS.TS Trần Văn Ơn và các đồng sự không chỉ “đóng tròn vai” như vậy mà còn tiếp tục tư vấn phát triển sản phẩm và quản trị chuỗi nông sản “từ nguồn tới đích”.  Sau khi nghiên cứu thành phần, công dụng của các loại thảo dược và chuyển giao quy trình chiết xuất, cô đặc, đóng gói thành phẩm cho người dân, ông Ơn cùng nhóm đồng sự còn “đồng hành” với các hợp tác xã sản xuất để kiểm soát chất lượng mọi khâu trong chuỗi sản xuất theo quy trình chuẩn GACP-WHO2 (từ đầu vào giống cây, phân bón… cho các hợp tác xã, sau đó tới các công ty thu mua, sơ chế, và cuối cùng là các công ty dược như DKPharma). Song song với đó, các cơ sở khoa học tại địa phương (hoặc cấp Bộ) chịu trách nhiệm thẩm định chất lượng quy trình sản xuất có đạt các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật hiện hành hay không. Như vậy, sản phẩm của các hợp tác xã này được thẩm định chất lượng theo đúng quy chuẩn và có thể truy xuất nguồn gốc dễ dàng.  Sau gần 20 năm, trong số 23 hợp tác xã, bảy doanh nghiệp các dân tộc thiểu số phát triển sản phẩm nông sản nhận được sự hỗ trợ của PGS.TS Trần Văn Ơn, khoảng 1/3 phát triển mạnh, có lợi nhuận cao. Ông so sánh, “với một công ty dược, lãi khoảng 20% đã là thành công rồi, còn công ty Sapanapro lãi tới trên 30%”. Khoảng 1/3 số hợp tác xã, doanh nghiệp khác có lợi nhuận ở mức độ “bình bình”, đủ chia lãi với nhu nhập ổn định cho các “cổ đông”. Số còn lại “ngắc ngoải”, nhưng “không thể từ bỏ các hợp tác xã này được, tôi cùng nhóm cộng sự vẫn tiếp tục đánh giá lại quá trình hỗ trợ, cải thiện tư vấn cho họ”, ông nói.  Nguyên tắc tư vấn “win – win”  Để đồng hành với cộng đồng lâu dài, ông đặt ra nguyên tắc “win – win” đôi bên cùng có lợi với các hợp tác xã. Cụ thể, một – hai năm đầu tiên, ông và các đồng sự hỗ trợ miễn phí trong việc hình thành, phát triển hợp tác xã, chuyển giao công nghệ, tạo dựng mối liên hệ giữa các mắt xích khác trong chuỗi giá trị,… Bắt đầu từ năm thứ ba, các hợp tác xã phải trả 3-5% doanh thu cho các hoạt động tư vấn phát triển sản phẩm và quản trị doanh nghiệp. Có nghĩa là, các nhà khoa học chỉ được hưởng lợi khi họ tư vấn đúng và các hợp tác xã này làm ăn có lãi. Còn ngược lại, khi vai trò tư vấn của nhà khoa học mờ nhạt, quản trị hợp tác xã lỏng lẻo, nghiên cứu phát triển sản phẩm không phù hợp với thị trường thì cả hai bên đều thiệt hại. Công việc tư vấn này cũng sẽ thành “nhiệm vụ suốt đời” của ông Ơn và các đồng sự, bởi theo ông, phải mất hàng chục năm các hợp tác xã mới có thể “tự đứng vững”. Trường hợp phát triển mạnh được như Lý Láo Lở không nhiều, nhưng ngay cả đối với Lý Láo Lở, thi thoảng ông cũng vẫn giúp kiểm soát về kỹ thuật sản xuất, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và quảng bá sản phẩm. Chính vì thế, “cứ cuối tuần tôi lại đi các hợp tác xã, thứ sáu xách ba lô đi đến tối chủ nhật mới về Hà Nội. Mỗi cuối tuần đi một hợp tác xã để kiểm tra tình hình, phân tích các vướng mắc và tìm phương án giải quyết. Trong những trường hợp có việc gấp thì gần như nhận điện thoại của người dân xong là tôi thu xếp công việc tại Hà Nội rồi đi ngay”, ông kể.  Rõ ràng, khả năng của một cá nhân là không đủ. PGS.TS Trần Văn Ơn rất cần một đội ngũ những cộng sự chuyên tư vấn, thảo luận và giải thích cho người dân cùng xây dựng và tổ chức hợp tác xã kinh tế. “Tôi đã từng đề cập đến vấn đề này ở nhiều Bộ, ngành nhưng dường như họ không quan tâm đến việc xây dựng hoặc đào tạo cho cán bộ để có thể tư vấn cộng đồng, còn cán bộ ở cấp tỉnh và huyện hiện nay không đủ năng lực, chưa được đào tạo để làm điều đó”, ông Ơn nói.  Ông cũng cho rằng, các chính quyền địa phương, doanh nghiệp/tổ chức xã hội rất cần quan tâm tạo điều kiện để người dân có thể tham gia các khóa học phù hợp (được giảng dưới hình thức trực quan, dễ hiểu) và nhận được tư vấn quản trị doanh nghiệp lâu dài. Bên cạnh đó, chính quyền nên “bỏ công” khảo sát thực trạng phát triển của các hợp tác xã của người dân tộc thiểu số, tạo điều kiện ưu đãi vốn vay, vận dụng các chương trình khuyến nông, khuyến công để hỗ trợ người dân về cây giống, kỹ thuật chế biến nông sản cũng như thẩm định chất lượng sản phẩm, tìm thị trường…  ———  1Chương trình giảm phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số theo quyết định 135/1998/QĐ-TTg và Chương trình hỗ trợ giảm nghèo bền vững theo nghị quyết 30/A/2008/NQ-CP của chính phủ dành cho 61 huyện có các xã đặc biệt khó khăn có tỉ lệ nghèo hơn 50%.  2 GACP-WHO là hướng dẫn Thực hành tốt trồng và thu hái cây dược liệu do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành và khuyến cáo ứng dụng.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Nơi nào trên thế giới canh tác khoai tây đầu tiên?      Các nhà khảo cổ học thuộc Đại học California, Merced, Mỹ, mới đây đã xác định được chính xác địa điểm và thời điểm khoai tây lần đầu tiên được con người thuần hóa.      Sau khi được người Tây Ban Nha mang về châu Âu, khoai tây trở thành loại lượng thực quan trọng trong đời sống. Tranh “Những người ăn khoai tây”  do họa sĩ Vincent van Gogh vẽ năm 1885.  Những nghiên cứu về gene được thực hiện gần đây đã chỉ ra các cao nguyên trên rặng Andes ở phía Nam Peru và Tây Bắc Bolivia là nơi đầu tiên cây khoai tây hoang dại được con người thuần hóa nhưng vẫn thiếu bằng chứng trực tiếp để xác thực điều đó. Tuy nhiên, theo các nhà khảo cổ học thuộc Đại học California, Merced, đã cung cấp bằng chứng về những hạt tinh bột còn sót lại của khoai tây được thuần hóa có niên đại vào khoảng năm 3.400 trước công nguyên trên các công cụ đá cổ đại được tìm thấy ở Peru. Nghiên cứu này đã được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences.  Các nhà nghiên cứu đã dùng kính hiển vi soi các hạt tinh bột khoai tây được tìm thấy trong kẽ nứt các công cụ đá được tìm thấy ở cao nguyên Jiskairumoko ở phía nam Peru. Họ ngờ rằng những công cụ đá này vốn được dùng để lột vỏ khoai tây.  “Trong quá trình lột vỏ khoai, tinh bột bị mắc kẹt trong các kẽ và rãnh nhỏ của các công cụ đá”, Mark Alderfer, một tác giả của nghiên cứu, cho biết.  Ông và đồng tác giả Claudia Rumold đã nhúng những công cụ đá này vào sonicator – một thiết bị chuyên dụng có chức năng phá vỡ các hạt siêu nhỏ bằng sóng siêu âm, để lấy các tinh bột ra khỏi công cụ đá, sau đó đem phân tích dưới kính hiển vi và so sánh chúng với các mẫu được trích từ hoa quả dại mọc trong vùng.  Có tất cả 141 mẫu tinh bột được lấy ra từ 14 công cụ đá và “50 mẫu trong số đó tương tự như tinh bột của khoai tây thông thường”, TS Rumold cho biết.  Yếu tố đóng vai trò chủ chốt trong nghiên cứu này chính là kỹ thuật phân tích tinh bột khá mới mẻ. Trước đây, người ta gặp khó khăn trong việc tìm ra bằng chứng về khoai tây bởi đặc điểm của các loại cây ăn củ dễ bị phân hủy, TS Aldenderfer giải thích. “Khi một hạt giống bị cháy thì thường vẫn còn gì đó của lớp vỏ ngoài sót lại. Khi một bắp ngô bị cháy thì một phần lõi ngô cũng có thể sót lại. Nhưng nếu một củ khoai tây bị cháy thì nó sẽ cháy sạch – hiếm khi có mẩu nào nó còn nguyên vẹn”.  Đánh giá về tác động của việc thuần hóa và gieo trồng khoai tây ở thời điểm năm 3.400 trước công nguyên, TS Aldenderfer cho rằng nó góp phần vào một thay đổi lớn tại Jiskairumoko – từ săn bắt, hái lượm sang chăn nuôi, trồng trọt. Cũng vào khoảng thời gian này, cư dân Jiskairumoko cổ đại bắt đầu xây dựng những ngôi nhà có kiến trúc khá phức tạp, và một xã hội phân tầng sơ khai đã manh nha. Cũng tại Jiskairumoko vào năm 2008, nhóm nghiên cứu do TS Aldenderfer đứng đầu, tìm thấy một vòng cổ bằng vàng được chế tác năm 2000 trước công nguyên, cho thấy tầng lớp trên trong xã hội đã hình thành vào thời điểm này.  Tuy nhiên vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp như việc trồng khoai tây được phổ biến như thế nào và bằng cách nào mà khoai tây lại có kích cỡ như ngày nay. “Chúng tôi chưa có đủ dữ liệu để biết cần bao nhiêu mùa vụ hay chỉ cần một vụ để thuần hóa khoai tây”, TS Rumold nói.  Các nhà lịch sử mới chỉ biết rằng, nhiều thiên niên kỷ sau, người Tây Ban Nha đã tới xâm lược đế chế Inca và mang khoai tây về châu Âu. Thế rồi thực dân Anh đem khoai tây trở lại Bắc Mỹ, nơi nó nhanh chóng trở thành một cây lương thực quan trọng. Và có lẽ kể từ những năm 1800, khoai tây xuất hiện trong thực đơn của ngày lễ Tạ ơn.  Nguồn: Who First Farmed Potatoes? Archaeologists in Andes Find Evidence    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nỗi sợ và Hy vọng      “Tác động của biến đối khí hậu với thế giới và Việt Nam thế nào?”, “Là nước đang phát triển, lượng CO2 thải vào không khí không lớn, trách nhiệm gìn giữ sự sống Trái đất của Việt Nam ra sao?”, “Đang là sinh viên, tôi có thể làm gì để ngăn chặn quá trình Trái đất nóng lên?”… Rất nhiều câu hỏi như vậy đã được đặt ra cho nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển, TS Đặng Kim Sơn trong cuộc đối thoại “Biến đổi khí hậu: Nỗi sợ và Hy vọng” do Tia Sáng cùng Hội đồng Anh tại Hà Nội tổ chức.    “Phải biết sợ”  “Trái đất là một bức tranh hoàn hảo đến mức hễ ai tìm cách thay đổi nó đều phải trải giá” Nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu từ 15 năm nay, GS.Phạm Duy Hiển nêu một ví dụ sinh động: Dựa trên việc nghiên cứu các lõi băng được lấy từ vùng cực, các nhà vật lý đã rút ra một kết luận quan trọng, tỷ lệ CO2 trong khí quyển đã được giữ ở một mức ổn định từ xa xưa cho đến khi con người bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa vào thế kỷ 18. Chính việc không ngừng đốt các loại nhiên liệu hóa thạch để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa trong vòng 200 năm vừa qua, loài người đã làm tăng vọt tỷ lệ CO2 trong bầu khí quyển. Sự gia tăng phát thải CO2 từ các hoạt động công nghiệp đã trở thành một trong những tác nhân chính gây hiệu ứng nhà kính và gây ra biến đổi khí hậu. “Điều này, đã được Ủy ban về biến đổi khí hậu toàn cầu xác nhận vào năm 2007”– GS Hiển cho biết. Hơn nữa, theo GS Hiển, CO2 là loại khí tồn tại rất lâu trong bầu khí quyển đến mức “nếu thải CO2 ở thời điểm bây giờ, chúng ta sẽ vẫn thấy CO2 ở thế kỷ sau” thì việc kêu gọi giảm lượng phát thải CO2 xuống còn một nửa vào thế kỷ 21 nhằm khống chế nhiệt độ trái đất không tăng quá 2oC là hoàn toàn có căn cứ và cũng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn.  Những dấu hiệu của biến đổi khí hậu nhiều khi rất nhỏ, nhưng chính nó lại báo trước thảm họa khôn lường. Nhà văn Nguyên Ngọc nêu một chi tiết: Cách đây không lâu, người dân Đồng Tháp bắt được một con cá đuối, chứng tỏ nước mặn đã xâm nhập sâu vào đồng bằng Nam Bộ. “Nếu xu hướng này tiếp diễn, người Nam Bộ chỉ còn cách lên Tây Nguyên ở. Nhưng với tốc độ rút nước ngầm tưới cà phê như hiện nay, thì Tây Nguyên cũng sẽ trở thành một cao nguyên đá!”  Những năm qua, nhiệt độ trái đất dù chỉ tăng 0,7oC đã gây nên những hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng nghiêm trọng đến một bộ phận không nhỏ đời sống dân cư thế giới, trong đó có người dân Việt Nam. Tiến sỹ Đặng Kim Sơn cho biết, theo đánh giá của các nhà khoa học, thì Việt Nam sẽ là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ sự ấm lên toàn cầu, “sẽ có khoảng 22000 người mất nhà cửa và một nửa diện tích ĐBSCL bị ngập, sẽ có ba thành phố bị ảnh hưởng là Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Vũng Tàu và Tp.Nam Định…” “Chúng ta phải biết sợ. Thay đổi hành động là phải bắt đầu từ biết sợ!” – TS Đặng Kim Sơn nhấn mạnh. Để làm được điều đó, các nhà khoa học, nhà văn hóa đang đi tiên phong bằng cách minh chứng sự tác động của công nghiệp hóa đến môi trường sống bằng những số liệu tính toán cụ thể, qua đó thuyết phục được chính phủ hành động bằng những chính sách hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Từ đó người dân cũng bắt đầu ý thức rằng, chạy theo “tiến bộ” bằng bất cứ giá nào có nghĩa là “ăn vào tài nguyên của con cháu chúng ta”.  Vẫn có quyền hy vọng  Nhưng “nỗi sợ” không chỉ đến từ những con số có thể đo đếm và có được từ những nghiên cứu khoa học (dù có độ tin cậy ở một mức nhất định), nỗi sợ còn đến từ chính cách sống, lối sống của con người mà như nhà văn Nguyên Ngọc gọi đó là “văn hóa sống”. Loài người đã sống một cuộc sống hàng vạn năm với nền văn hóa mà không đưa trái đất đến hiểm họa. Nhưng chỉ trong vòng 200 năm, động lực từ cách sống của loài người, sự tham lam bất chấp hậu quả đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra những hiện tượng biến đổi khí hậu. Và giải pháp đầu tiên để chống biến đổi khí hậu, theo nhà văn Nguyên Ngọc: “(có khi) là văn hoá sống”  Có ý kiến cho rằng, khoa học kỹ thuật đã góp phần tạo ra hiện tượng ấm lên toàn cầu, thì cũng chính khoa học kỹ thuật sẽ giải được những bài toán mà con người gặp phải như đã từng giải bao nhiêu bài toán trước đó. Vấn đề ấm lên toàn cầu cũng là một bài toán mà khoa học có thể đương đầu. Đã có những chương trình, dự án đang tiến hành nghiên cứu đề xuất những giải pháp thông minh, những “sản phẩm bền vững” để con người có thể vừa sống tiện nghi, đầy đủ nhưng vẫn có thể bảo vệ môi trường. “Nhưng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật liệu đã là chìa khóa toàn năng giúp con người giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu một cách triệt để?” Nhà văn Nguyên Ngọc đặt câu hỏi.  TS Đặng Kim Sơn nêu một “tấm gương” giữ gìn môi trường nhờ khoa học công nghệ: Hà Lan. Với tên gọi có nghĩa là “vùng đất thấp”, bằng những kỹ thuật còn thô sơ người Hà Lan đã sớm xây dựng được một hệ thống đê biển hết sức hiệu quả có thể giúp họ sống an toàn trên một nền lục địa thấp hơn mực nước biển. Nhưng không chỉ vậy, Hà Lan còn được biết đến với tên gọi “vương quốc xe đạp”. Theo ước tính, Hà Lan đã có tới 18 triệu xe đạp, trong khi dân số nước này chỉ khoảng 16 triệu người, có nghĩa là số xe đạp còn lớn hơn số dân của họ. Điều đó cho thấy, người dân Hà Lan rất có ý thức bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2.  Từ bài học Hà Lan, theo TS Đặng Kim Sơn, chúng ta còn có thể chống biến đổi khí hậu bằng… đạo đức: Con người phải thay đổi cách sống, đạo lý sống, phải sống vì tương lai của nhân loại chứ không vì sự ích kỷ của bản thân. Khi nào con người sống biết nghĩ tới tương lai, khi đó con người sẽ không phải chạy theo giải quyết những hậu quả do chính mình gây ra.      Tuấn Linh      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Nói” thay cho người khuyết tật      Hãng Hitachi (Nhật Bản) phối hợp cùng một nhóm chuyên gia đã phát minh một thiết bị giao tiếp mang tên Kokoro gatari (giao tiếp bằng ý nghĩ), dành cho bệnh nhân không thể nói được.    Thiết bị trên đo sự thay đổi của lượng máu lưu thông trong não nhờ vào một dải băng buộc đầu có cài cảm ứng để giúp những bệnh nhân bị liệt nửa người “nói” có hoặc không. Theo các nhà khoa học, lượng máu tại não sẽ tăng khi một người suy nghĩ về một chuyện gì đó. Dựa vào nguyên lý này, nhóm nghiên cứu yêu cầu người bệnh làm phép tính khi muốn “nói” có và thư giãn đầu óc nếu không đồng ý.  T.M (Japan Times)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet      Không ít người từng nghĩ Wikipedia sẽ không trở thành một trang web tử tế bởi bất kỳ kẻ ngốc có bàn phím nào cũng có thể viết bất cứ điều gì lên đó. Nhưng cho đến giờ, nó vẫn là một nơi chứa rất nhiều điều đúng đắn.      Wikipedia là một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nguồn: wire.com   Trong thập kỷ đầu tiên, Wikipedia đã xuất hiện trên dòng tít của rất nhiều tờ báo. Michael Scott của tờ The Office đã gọi đó là “điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay”, bởi vì “bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể viết bất cứ thứ gì họ muốn về bất kỳ chủ đề nào trên đó. Điều đó có nghĩa là người đọc sẽ nhận được thông tin tốt nhất có thể”.   Đến năm 2007, Wikipedia đã trở thành trang web được truy cập nhiều thứ tám trên thế giới. Phiên bản tiếng Anh gần đây đã có hơn 6 triệu bài viết và 3,5 tỷ từ; có 1,8 chỉnh sửa được thực hiện mỗi giây. Nhưng có lẽ điều đáng chú ý hơn thành công của Wikipedia là danh tiếng của nó rất ổn định. Lúc mới phát triển nó đã bị chỉ trích rất nhiều nhưng rồi cuối cùng mọi tiếng chỉ trích đều bị dập tắt. Có vẻ như đến nay người ta vẫn thấy không hẳn thoải mái với việc thú nhận là mới phát hiện ra một sự thật trên Wikipedia. Và một số câu hỏi từng lẩn quẩn trong đầu chúng ta từ giữa những năm 2000 như ‘Liệu nó có hoạt động không?’, ‘nó đáng tin cậy không?’, ‘nó có tốt hơn Encyclopedia Britannica không?, lần lượt được nêu ra rồi trả lời hết lần này đến lần khác với câu trả lời là có.  Wikipedia làm tắt những chỉ trích đó tốt hơn nhiều so với những gã khổng lồ Internet khác trên thế giới. Ở bất kỳ thời điểm nhạy cảm nào trong vài năm qua như cuộc bầu cử Trump, Brexit, các vụ vi phạm dữ liệu, hành vi thái quá của phe cánh hữu hoặc các tuyên bố độc lập trước Quốc hội – bạn sẽ nhận thấy dấu tay mờ ám của các công ty nền tảng độc quyền. Cách đây không lâu, chủ nghĩa công nghệ là môi trường cho ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo thì bây giờ nó đã trở thành những cái tên cấm kỵ. Bây giờ hầu như không ai có thể nói một cách trừu tượng về tự do, kết nối và cộng tác, những từ khóa ngắn gọn của những năm 2000, mà không phải đề phòng đến những phản ứng ngoại cảnh tiêu cực từ Internet.      Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến.      Tuy nhiên, trong thời đại mà những lời hứa của Thung lũng Silicon không còn bóng bẩy như trước, Wikipedia đã tỏa sáng khi so sánh. Đây là trang web phi lợi nhuận duy nhất nằm trong top 10 và là một trong số ít những trang trong top 100. Nó không có quảng cáo, không xâm phạm quyền riêng tư hoặc là nơi chứa những trò lố lăng của Đức Quốc xã. Giống như Instagram, Twitter và Facebook, nó phát nội dung do người dùng tạo. Không giống như chúng, các nội dung không định danh, mang tính cộng tác và vì lợi ích chung. Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến. Đây là một trong số ít những nơi còn lại vẫn giữ được vẻ rực rỡ không tưởng của thời kỳ đầu của World Wide Web. Một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại, được viết gần như hoàn toàn bởi các tình nguyện viên không được trả lương: Bạn có thể tin được không?  Wikipedia có thể không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề nó mắc phải và được thảo luận rất chi tiết trên chính Wikipedia, thường là trong các diễn đàn dành riêng để tự phê bình với tiêu đề như “Tại sao Wikipedia không tuyệt vời như vậy”. Một cộng tác viên nhận xét rằng “nhiều bài báo có chất lượng kém”. Một lo lắng khác rằng “sự đồng thuận trên Wikipedia có thể là một dạng sản xuất tri thức có vấn đề”. Lưu ý khác cho rằng “ai đó có thể đến và chỉnh sửa chính trang này và viết những thứ như ‘bút chỉ dành cho mèo’”,… Giống như phần còn lại của thế giới công nghệ, trang web này bị mất cân bằng giới tính; theo ước tính gần đây thì 90% biên tập viên tình nguyện của nó là nam giới. Phụ nữ và cộng tác viên không thường xuyên thường báo cáo có sự quấy rối từ các đồng nghiệp của họ trên Wikipedia: lừa đảo, dọa tung tư liệu cá nhân, xâm phạm tài khoản, đe dọa giết,… Tổ chức mẹ của trang đã nhiều lần phân tích tình hình và tìm cách giải quyết nó; vài năm trước, nó đã phân bổ hàng trăm nghìn đô la cho một “sáng kiến ​​sức khỏe cộng đồng”. Nhưng theo một cách nào đó phương tiện để sửa chữa những thiếu sót của Wikipedia, về cả văn hóa và phạm vi, đã có sẵn: sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa nữ quyền.  Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó. Wikipedia được xây dựng dựa trên lợi ích cá nhân và phong cách riêng của những người đóng góp; trên thực tế bạn thậm chí có thể nói rằng nó được xây dựng dựa trên tình yêu. Niềm đam mê của các biên tập viên giúp đưa trang web đi sâu vào những chi tiết vụn vặt, đầy đủ về hàng chục loại phần mềm thêu khác nhau, danh sách dành riêng cho các cầu thủ bóng chày đeo kính, bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn nhưng xúc động về Khanzir, chú lợn duy nhất ở Afghanistan. Không có kiến thức nào là thực sự vô dụng, nhưng ở mức tốt nhất, Wikipedia hướng sự quan tâm khác nhau đến mức độ thích hợp mà câu nói của Larry David “Khá, khá tốt!”, đã được coi như một lời đánh giá tiêu biểu. Khi đó có thể cảm nhận được một nơi trên Internet mà mọi thứ đang tốt dần lên.      Nguồn: wire.com   Một thách thức lớn với Wikipedia là khi nó được so sánh với bách khoa toàn thư Anh quốc Encyclopedia Britannica (Britannica) vào năm 2020. Thậm chí không phải là Britannica trực tuyến vẫn đang được phát hành mà là phiên bản in cuối cùng vào năm 2012.   Wikipedia và Britannica ít nhất có một điểm chung. Đó là ý tưởng xây dựng một bản tóm tắt đầy đủ kiến ​​thức của con người, một ý tường có từ nhiều thế kỷ. Và người ta luôn tìm cách tìm ra một chất liệu khác và tốt hơn giấy: H. G. Wells nghĩ rằng vi phim có thể là chìa khóa để xây dựng cái mà ông gọi là “Bộ não thế giới”; Thomas Edison đặt cược vào những lát niken mỏng. Nhưng đối với hầu hết những người còn sống trong những ngày đầu tiên của Internet, bách khoa toàn thư là một cuốn sách, đơn giản và dễ hiểu. Khi đó Wikipedia và Britannica là những khái niệm đối lập. Điểm mạnh của Britannica là các quy trình chỉnh sửa và kiểm tra tính xác thực nghiêm ngặt; danh sách những người đóng góp lừng lẫy của nó, bao gồm ba tổng thống Hoa Kỳ và một loạt người đoạt giải Nobel, người đoạt giải Oscar, tiểu thuyết gia và nhà phát minh. Và người ta đặt câu hỏi liệu những người nghiệp dư trên Internet có thể tạo ra một sản phẩm thậm chí tốt bằng một nửa Britannica hay không. Wikipedia khi đó chưa được tính đến, cách thức hoạt động “crowdsourcing” của nó thậm chí còn chưa tồn tại cho đến năm 2005, khi hai biên tập viên của WIRED đặt ra từ này.   Cũng trong năm đó, tạp chí Nature đã xuất bản một nghiên cứu so sánh chính thức đầu tiên. Kết quả cho thấy là ít nhất với các bài viết về khoa học thì hai nguồn gần như là tương đương: Britannica có trung bình ba lỗi cho mỗi chủ đề, trong khi Wikipedia trung bình có bốn lỗi. (Britannica khi đó cho rằng “toàn bộ khảo sát là sai và gây hiểu lầm”, nhưng Nature vẫn giữ nguyên quan điểm). Chín năm sau, một công trình khác từ Harvard Business School cho rằng Wikipedia có xu hướng thiên tả hơn Britannica – phần lớn là do các bài của Wikipedia dài hơn và do vậy chứa đựng nhiều từ ngữ dân túy hơn. Nhưng những sai lệch này sớm muộn cũng sẽ được sửa chữa. Nghiên cứu cho thấy một bài Wikipedia càng có nhiều chỉnh sửa thì sẽ càng trung lập hơn. Nói trên khía cạnh từ ngữ thì gần như không có xu hướng chính trị khác biệt giữa hai nguồn.      Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó.      Nhưng không phải sự khác biệt quan trọng nào cũng dễ đo lường và so sánh như vậy. Ví dụ như người đọc thường có xu hướng đọc Wikipedia hàng ngày trong khi quyển Britannica thì lại quá đẹp đến nỗi nó thường để trưng bày hơn là để tra cứu. Bản Britannica mà tôi mua được ở lề đường, mặc dù bìa có hơi sờn nhưng gáy sách không bị bung và các trang giấy thì còn nguyên – dấu hiệu cho thấy nó ít được sử dụng trong suốt 50 năm. Và khi đọc qua những bộ mà tôi mang về nhà thì nội dung của nó gần như chỉ dành cho những ai hoài cổ.  Tôi nhận thấy các mục trong bản Britannica năm 1965 là có chất lượng nhất. Tuy nhiên có những đoạn khá hời hợt khiến nó trở nên không chính xác. Ví dụ như về hệ thống giáo dục Brazil, sách viết “tốt hay xấu tùy theo các thống kê mà bạn có được và cách mà bạn đánh giá chúng”. Hầu hết các bài do người da trắng viết và có khi cũ đến hơn 30 năm khi xuất bản. Peter Prescott chỉ trích sự chậm trễ đến nửa đời người này là “ổ bánh mỳ bách khoa toàn thư: dùng càng sớm càng tốt bởi chúng có thể thiu trước cả ngày hết hạn.“ Các biên tập viên của Britannica viết về điện ảnh sau cả nửa thế kỷ; bản năm 1965 còn không viết về Luis Buñuel, một trong những cha đẻ của phim hiện đại. Truyền hình thì dĩ nhiên là không, trong khi đó lại dành cả bốn trang cho Lord Byron (Tính bảo thủ này không chỉ có ở Britannica, tôi còn nhớ đã rất bối rối khi đọc bách khoa thư World Book viết về hẹn hò như là chia nhau cốc sữa lắc (milkshakes).  Chi phí cho việc biên tập những bài của bách khoa thư không hề rẻ. Theo một bài báo của The Atlantic năm 1974, các biên tập viên của Britannica nhận được 10 cent cho mỗi từ – tương đương 50 cent theo giá hiện tại. Nhiều khi việc được viết cả một chương bách khoa thư được coi như một phần thưởng. Thế nhưng người viết dường như không để tâm đến sự ưu ái này. Chủ biên thường xuyên phàn nàn vì họ chậm deadline, ứng xử bồng bột, lười biếng hay không khách quan. “Những người làm về nghệ thuật viết rất tốt, họ khiến chúng tôi gặp khó khăn nhất”, một biên tập viên nói với The Atlantic. Nếu tính với giá của Britannica thì bản Wikipedia sẽ có chi phí đến hơn 1.75 tỷ USD.     Phiên bản in cuối cùng Encyclopedia Britannica (Britannica) là vào năm 2012. Nguồn:  sru.edu  Có một hạn chế khác hiếm khi được nhắc tới về bách khoa toàn thư: theo một cách nào đó, chúng đang thu hẹp lại. Tổng độ dài của các cuốn bách khoa toàn thư bằng giấy tăng không đáng kể nhưng số lượng dữ kiện trong vũ trụ thì lại không ngừng tăng lên. Kết quả là nội dung từng mục giảm đi, viết tắt nhiều hơn. Đúng là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì thêm vào các bài mới có nghĩa là phải xóa hoặc cắt bớt những bài hiện có. Ngay cả những nhân vật nổi tiếng nhất cũng không tránh khỏi, ví dụ như mục nói về Bach bị thu hẹp lại chỉ còn hai trang trong ấn bản Britannica năm 1989.  Vào thời đại của Internet một cuốn bách khoa thư không giới hạn đã không còn là điều không tưởng mà đã thành sự hiển nhiên. Tuy nhiên vẫn còn một luồng quan điểm cho rằng cần lưu giữ một tư liệu mang tính chuyên gia, tiếp cận từ trên xuống như Britannica. Quan điểm này được sự đồng tình của cả những người tiên phong sáng chế ra Internet.   Vào năm 2000, đúng 10 tháng trước khi Wales and Larry Sanger đồng sáng lập ra Wikipedia, họ đã lập ra trang Nupedia để tìm kiếm các bài báo từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng và đưa qua 7 vòng giám sát biên tập nữa. Nhưng trang web này không bao giờ phát triển; sau một năm chỉ có ít hơn hai chục bài (Wales, người đã tự viết một trong số các bài, nói với The New Yorker rằng “cảm giác giống như bài tập về nhà vậy.”). Khi Sanger nhận được thông tin về một công cụ phần mềm cộng tác có tên là wiki — từ wikiwiki của Hawaii có nghĩa là “nhanh chóng” – anh cùng Wales quyết định tạo ra một công cụ để tạo ra nội dung cho Nupedia. Họ không kì vọng gì vào nó nhưng chỉ trong vòng một năm Wikipedia đã có 20.000 bài báo. Một năm sau thì máy chủ của Nupedia gặp sự cố, trang web này trở thành một đống đổ nát còn hạt giống mà nó mang theo thì lại phát triển ngoài mong đợi.      Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.      Sanger rời Wikipedia vào đầu năm 2003, anh ta nói với Financial Times rằng anh ta chán ngấy với những “kiểu người theo chủ nghĩa troll” và “vô chính phủ”, những người “phản đối ý tưởng rằng bất kỳ ai cũng phải có một loại quyền hạn riêng mà những người khác không có”. Ba năm sau anh ta thành lập một trang đối thủ tên là Citizendium, được tạo ra để kết nối đối tác chuyên gia – người nghiệp dư. Cùng năm đó, một biên tập viên có ảnh hưởng khác của Wikipedia là Eugene Izhikevich đã tung ra Scholarpedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến chỉ dành cho người được mời và có xét duyệt với trọng tâm là các ngành khoa học. Citizendium đã phải vật lộn để kêu gọi tài trợ và quyên góp nhưng hiện cũng đang hấp hối; Scholarpedia khởi đầu với ít tham vọng hơn nhưng giờ cũng chỉ có gần 2.000 bài. Nhưng đáng chú ý hơn là lý do vì sao các trang web này chết mòn? Chúng chỉ ra một vấn đề đơn giản nhưng dường như không thể giải quyết được, giống như vấn đề mà Nupedia gặp phải và Wikipedia đã phỏng đoán: đó là hầu hết các chuyên gia không muốn đóng góp cho một bách khoa toàn thư trực tuyến miễn phí.  Rào cản này tồn tại ngay cả ở những nơi có nhiều chuyên gia và nguồn tài liệu. Ví dụ như Napoléon Bonaparte là chủ đề của hàng chục nghìn cuốn sách. Vị tướng Corsican này có lẽ là nhân vật lịch sử được nhiều nhà sử học tâm huyết nhất. Nhưng cho đến giờ những học giả này, kể cả những người nhiệt tình hay đã nghỉ hưu, vẫn từ chối chia sẻ kiến thức của họ trên các trang bách khoa thư trực tuyến. Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.    Wikipedia đã tồn tại trong 20 năm. Nguồn: thestatesman.com  Những đối thủ của Wikipedia cũng cho thấy một vấn đề khác của mô hình từ trên xuống: có quá ít người đóng góp, nội dung phủ ít và khó lấp đầy khoảng trống. Mục khoa học thần kinh của Scholarpedia còn không đề cập đến serotonin hoặc thùy trán. Tại Citizendium, Sanger không công nhận các nghiên cứu của phụ nữ là một hạng mục chính, mô tả ngành học này quá “chính trị”. (Hôm nay, anh ta đính chính lại “đó không phải là về các nghiên cứu cụ thể về phụ nữ” mà vì đã có “quá nhiều sự trùng lặp với các nhóm khác.”) Mặt khác, một wiki với hệ thống phân cấp ngang hơn có thể tự điều chỉnh. Bất kể chủ đề nào có liên quan đến chính trị hay trừu tượng đến đâu thì đám đông sẽ có thể phát triển sự và hướng đến sự đồng thuận. Trên Wikipedia tiếng Anh, những mục đặc biệt gây tranh cãi như về George W. Bush hay Jesus Christ  có số lượng chỉnh sửa lên đến hàng nghìn. □  (Còn nữa)  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/    Author                Richard Cooke        
__label__tiasang Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet (phần 2)      Những người anh hùng của Wikipedia không phải là những chuyên gia trong ngành mà là những WikiGnomes – các biên tập viên chuyên quét lỗi chính tả, sắp xếp các bài báo thành từng mục được phân loại gọn gàng và loại bỏ hành vi phá hoại. Công việc này thường không được biết đến nhưng không phải là không có niềm vui. Đó là điểm khởi đầu chung cho các Wikipedians và nhiều người hài lòng với nó.      Tượng đài Wikipedia đặt tại Słubice, Ba Lan, do nhà điêu khắc Armenia Mihran Hakobyan thiết kế để vinh danh những người đóng góp vào Wikipedia. Nguồn: Wikipedia  Theo một bài báo năm 2016 trên tạp chí Khoa học Quản lý, thời lượng chỉnh sửa trung bình trên Wikipedia chỉ là 37 ký tự, tức là có thể chỉ mất vài giây. Tuy nhiên, từ đó mà nhiều tình nguyện viên đã thấm sâu văn hóa của trang web. Họ thảo luận về các chỉnh sửa trên các trang Talk; hiển thị sở thích và khả năng của họ trên các trang Người dùng; một số khác cố gắng để đạt được vị trí đầu bảng xếp hạng số lượt chỉnh sửa. Một số được bầu chọn trở thành quản trị viên. Với khoảng 1/4 triệu người chỉnh sửa Wikipedia mỗi ngày, chỉ có khoảng 1.100 tài khoản có đặc quyền quản trị viên. Trang web đủ sâu và phức tạp đến nỗi riêng các quy tắc và chính sách của nó cũng dài tới hơn 150.000 từ. Những người tuân thủ cam kết nhất của trang web gần giống như luật sư, họ kháng cáo và tranh luận về quan điểm của họ. Cũng giống như luật, có nhiều trường phái giải thích khác nhau; Và hai nhóm lớn nhất trong số này là những người theo chủ nghĩa xóa bỏ và những người theo chủ nghĩa tích hợp. Những người xóa bỏ ưu tiên chất lượng hơn số lượng, sự nổi tiếng hơn là tiện ích. Những người tích hợp thì ngược lại.  Những biên tập viên đóng góp nhiều nhất, ở cả phía xóa bỏ hay tích hợp, là những người ở giữa các chuyên gia và người không chuyên. Họ còn gọi là người nhiệt tình. Hãy tưởng tượng về một người thích tìm hiểu về xe lửa. Kiến thức của họ về tàu hỏa hoàn toàn khác với một kỹ sư hay một nhà sử học đường sắt. Bạn không thể lái tàu hỏa hoặc được chứng nhận trong ngành nếu chỉ là một người hâm mộ đường sắt. Nhưng những người này dù sao cũng là một chuyên gia hợp pháp.      Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá.      Trước đây, kiến thức dân gian của họ thường đăng trên các diễn đàn trực tuyến, các chương trình radio và các tạp chí chuyên khoa, bây giờ Wikipedia khai thác nó. Mục về đầu máy xe lửa nổi tiếng Flying Scotsman dài 4.000 từ và bao gồm thông tin chi tiết hấp dẫn về cách đánh số lại của nó, loạt chủ sở hữu, bộ làm lệch hướng khói và phục hồi, được xây dựng bởi những người đóng góp có kiến thức sâu sắc nhất, hiểu biết rõ cách hoạt động của tàu hỏa (ví dụ như đoạn “Người ta cho rằng lò hơi A4 đã xuống cấp ở trạng thái tồi tệ hơn so với dự phòng do áp suất vận hành cao hơn mà đầu máy đã trải qua sau khi nâng cấp đầu máy lên 250 psi”).  Động lực này tự bản thân nó là một loại động cơ, được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và bao gồm cả tình yêu. Ban đầu nhiều chỉ trích rằng các công việc dẫn chứng do máy tính trợ giúp có thể làm giảm chất lượng nội dung, không mang tính người mà chỉ là những lời nói thực tế nhạt nhẽo. Một bài báo năm 1974 trên tờ The Atlantic đã cho thấy mối quan tâm này: “Tất nhiên, có thể có sự chính xác với những hội đồng trợ giúp bởi máy tính hơn là bởi một trí thông minh đơn lẻ. Nhưng trong khi tính chính xác ràng buộc lòng tin giữa người đọc và người đóng góp, thì tính lập dị, sang trọng và ngạc nhiên là những phẩm chất độc nhất khiến việc học trở thành một giao dịch hấp dẫn. Và đó không phải những phẩm chất mà chúng tôi tìm thấy ở các ban biên tập kia”. Tuy nhiên, Wikipedia cũng có những khoảnh khắc lập dị, sang trọng và ngạc nhiên vô cùng, đặc biệt là trong những khoảnh khắc nhiệt tình lên cao trào và các chi tiết được mô tả tinh vi (nhưng vô nghĩa) đến mức nó trở nên đẹp đẽ.    Wikipedia cung cấp câu trả lời cho Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon mỗi khi có truy vấn. Nguồn: wire.com  Trong bài báo về cuộc cách mạng tình dục có một dòng, đã bị xóa, viết “Đối với những người không sống ở giai đoạn 1960 và 1970 thì khó có thể hình dung ra tình dục tự do là như thế nào trong những năm đó”. Cuốn tự truyện ẩn danh này là một phần biên tập hấp dẫn, nhưng bản thân nó cũng là một di sản nhỏ của cuộc cách mạng tình dục, một sự phản ánh chân thực về khoảnh khắc tự do không kéo dài. (Người biên tập đã thêm yêu cầu “Cần trích dẫn” và cũng là một phần của câu chuyện). Trong bài báo về trí thức chống cộng sản Frank Knopfelmacher, chúng ta được biết đến “những cuộc độc thoại dài qua điện thoại vào đêm khuya thường xuyên của ông ấy (với nội dung nói với cộng sự hay thường xuyên hơn là những kẻ phản diện). Và ông vẫn giữ một tình trạng ảo tưởng trong nhiều thập kỷ trong giới trí thức Úc”. Với tiểu thuyết gia Hồng Kông Lillian Lee, chúng ta được biết bà tìm kiếm “tự do và hạnh phúc chứ không phải danh vọng”.  Thường thì những người lướt mạng không hài hước lắm nhưng với những biên tập viên của Wikipedia (Wikipedians), hài hước là nền tảng của sự hợp tác thiện chí trong các dự án.   Không cần phải tìm hiểu chi tiết lịch sử về con dê bằng rơm khổng lồ dựng ở một thị trấn Thụy Điển vào mỗi dịp Giáng sinh, nhưng bài báo Gävle Goat đã ghi lại số phận của nó đều đặn từng năm một cách rõ ràng. Nó rất dễ bị phá hủy hay cháy và vì vậy bài báo kể rõ những thời điểm nó bị phá hủy, cách bị phá hủy hay các biện pháp an ninh mới được áp dụng hằng năm kể từ năm 1966. (Năm 2005, nó bị “đốt cháy bởi những kẻ phá hoại không rõ danh tính hóa trang thành ông già Noel và người bán bánh gừng, họ đã bắn một mũi tên lửa vào con dê này”).  Nhưng vì sao mà những Wikipedians lại đóng góp không lương hàng triệu giờ lao động của họ? Và có những việc kiểu như con dê rơm khổng lồ này? Bởi vì họ không cho rằng đó là lao động. “Mọi người làm việc miễn phí là một quan niệm sai lầm”, Wales nói với trang web Hacker Noon vào năm 2018. Đúng ra là “Họ được vui vẻ miễn phí”. Một cuộc khảo sát năm 2011 với hơn 5.000 cộng tác viên của Wikipedia đã liệt kê “Thật thú vị” là một trong những lý do chính khiến họ chỉnh sửa trang web.    Ban biên tập của một bộ bách khoa toàn thư thế giới sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến một diễn đàn để kể truyện cười, đừng nói là hình dung ra nó sẽ quan trọng thế nào trong việc hình thành các thư mục hết sức nghiêm túc của một bộ sách như vậy. Nhưng trên Wikipedia thì những câu chuyện cười lại rất quan trọng, nó giúp xoa dịu căng thẳng, thúc đẩy hợp tác vui vẻ, khuyến khích sự khiêm tốn. Cuối cùng là giúp mọi người đọc và chỉnh sửa thêm các thư mục. Có lẽ bây giờ không ai mường tượng ra những thông tin gì có thể được rút ra từ tài liệu tham khảo của những ngày đầu tiên trong thời kỳ Khai sáng, ví dụ từ điển của Samuel Johnson biên soạn năm 1755 đã đưa ra một định nghĩa về “buồn tẻ” là “không phấn chấn; không thú vị: như làm từ điển là một công việc buồn tẻ”.ưư Hay trong cuốn bách khoa toàn thư quan trọng nhất của cuối thời kỳ hiện đại, Encyclopédie, có những chi tiết châm biếm và đối lập như: mục về “Kẻ ăn thịt người” lại tham chiếu với mục “Hiệp thông”.  Nếu tiếp tục so sánh Wikipedia với Britannica, chúng ta có thể nhìn theo một góc độ khác, giữa Wikipedia và các web khác trong top 10 trang trên Internet. Rõ ràng Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá. Tại đám cưới của Jimmy Wales, một trong những người phù dâu đã tôn vinh anh là ông trùm internet duy nhất không phải là tỷ phú.  Nhưng Wikipedia lại giúp đỡ những người khổng lồ công nghệ khác đặc biệt là trong cuộc AI. Nhờ chính sách nội dung tự do và kho thông tin rộng lớn của Wikipedia mà các nhà phát triển đã xây dựng các mạng nơ-ron nhanh hơn, rẻ hơn và phổ biến hơn nhiều so với các bộ dữ liệu độc quyền khác. Khi bạn hỏi Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon một câu hỏi thì hóa ra Wikipedia là bên giúp cung cấp câu trả lời. Khi bạn tìm kiếm một người hoặc một địa điểm nổi tiếng trên Google, Wikipedia sẽ hiển thị “bảng thông tin” xuất hiện bên phải cùng với kết quả tìm kiếm của bạn.  Những công cụ này có được nhờ một dự án tên là Wikidata, là bước tiếp theo đầy tham vọng nhằm hiện thực hóa giấc mơ “Bộ não thế giới”. Nó bắt đầu với nhà khoa học máy tính Croatia và biên tập viên Wikipedia tên là Denny Vrandei. Anh ta say mê với nội dung của bách khoa toàn thư trực tuyến nhưng cảm thấy thất vọng khi người dùng không thể hỏi nó những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mục trên trang web. Vrandei muốn Wikipedia có thể trả lời một câu hỏi như “20 thành phố lớn nhất trên thế giới có thị trưởng là nữ là gì?” Vrandei nói: “Kiến thức rõ ràng là có trong Wikipedia nhưng nó bị che giấu. Để truy xuất câu trả lời ra “sẽ cần một nỗ lực rất lớn”.  Dựa trên ý tưởng thời đầu internet gọi là “web ngữ nghĩa”, Vrandei bắt đầu cấu trúc và làm phong phú tập dữ liệu của Wikipedia để trên thực tế, nó có thể bắt đầu tổng hợp kiến thức của riêng mình. Nếu có một số cách để gắn thẻ phụ nữ, thị trưởng và thành phố theo quy mô dân số, thì một truy vấn được mã hóa chính xác có thể tự động trả về 20 thành phố lớn nhất có thị trưởng là nữ. Vrandei đã chỉnh sửa Wikipedia bằng tiếng Croatia, tiếng Anh và tiếng Đức, vì vậy anh nhận ra những hạn chế của việc sử dụng gắn thẻ ngữ nghĩa tiếng Anh thuần túy. Thay vào đó, anh chọn mã số. Ví dụ: bất kỳ tham chiếu nào đến cuốn sách Đảo kho báu có thể được gắn thẻ với mã Q185118 hoặc màu nâu với Q47071.  Vrandei cho rằng việc mã hóa và gắn thẻ này sẽ do bot (các ứng dụng robot) thực hiện. Nhưng trong số 80 triệu mục đã được thêm vào Wikidata cho đến nay thì khoảng một nửa đã được các tình nguyện viên thực hiện, một mức độ nguồn lực cộng đồng khiến ngay cả những người sáng tạo của Wikidata cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra, việc chỉnh sửa dữ liệu Wikidata và chỉnh sửa Wikipedia khác nhau đến mức ít ai có thể đóng góp được cùng lúc cả hai. Wikipedia thu hút những người quan tâm đến việc viết văn xuôi còn Wikidata lại thu hút những người kết nối nguồn dữ liệu, tìm và giải bug và hoàn thiện sản phẩm. (Giám đốc sản phẩm của nó, Lydia Pintscher, vẫn đi xem phim về nhà và ghi chép thủ công danh sách diễn viên từ IMDb vào Wikidata với các thẻ thích hợp).  Khi các nền tảng như Google và Alexa hoạt động để cung cấp câu trả lời tức thì cho các câu hỏi ngẫu nhiên thì động cơ Wikidata chạy bên dưới liên kết thông tin của thế giới với nhau. Hệ thống này đôi khi vẫn dẫn đến lỗi – đó là lý do tại sao Siri thoáng nghĩ rằng bài quốc ca của Bulgaria là “Despacito” – nhưng triển vọng của nó rất lớn có thể còn hơn cả Wikipedia. Có những dự án con như đánh chỉ mục tất cả các chính trị gia trên Trái đất, mọi bức tranh trong mọi bộ sưu tập công khai trên toàn thế giới và mọi gene trong bộ gene người thành dạng có thể tìm kiếm, thích nghi và sẵn sàng cho máy móc đọc được.  Và những trò đùa vẫn tồn tại ở đó. Ví dụ thẻ số của Wikidata cho tác giả Douglas Adams là Q42. Trong cuốn sách “The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy” của Adams, một nhóm sinh vật siêu thông minh đã xây dựng một chiếc máy tính khổng lồ, mạnh mẽ có tên là Deep Thought, họ yêu cầu “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng về sự sống, vũ trụ và mọi thứ”. Thứ tự câu trả lời là con số 42. Chính suy nghĩ chớp nhoáng của tự nhận thức, điên rồ và vui sướng khi xây dựng được một thứ gì đó phi lý và mạnh mẽ như một bộ não thế giới, là lý do vì sao bạn biết rằng bạn đang nhận được thông tin tốt nhất có thể với Wikipedia.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/    Author                Richard Cooke        
__label__tiasang Nơi triển khai ý tưởng khoa học thành sản phẩm phục vụ cuộc sống      Với những sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống dân sinh như viên nang, viên nén, cốm tảo Spirulina, chế phẩm  vi sinh vật xử lý chất thải hữu cơ, bột dinh dưỡng uống liền…, tập thể các nhà  khoa học nữ tại Trung tâm Sinh học thực nghiệm, Viện Ứng dụng công  nghệ – Bộ KH&amp;CN, đã được trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2012.    Nhiều thành tựu…  TS. Hương Sơn, Giám đốc Trung tâm cho biết, với 17 trên tổng số 22 cán bộ là nữ, tập thể nữ cán bộ nghiên cứu liên tục đảm nhận 05 đề tài cấp Nhà nước, 31 nhiệm vụ cấp Bộ, 30 đề tài cấp Viện, 03 nhiệm vụ được tài trợ của các quỹ,… Hầu hết các đề tài đều do các nữ cán bộ của đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện.  Cụ thể, từ năm 1991, Trung tâm thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu công nghệ sản xuất các chế phẩm giàu dinh dưỡng và giàu hoạt tính sinh học từ nguồn vi tảo phục vụ cho dinh dưỡng người và động vật” bước đầu đã chế thử sản phẩm viên nén, cốm Lina từ tảo Spirulina và thức ăn tổng hợp cho ấu trùng tôm từ vi tảo cho kết quả thử nghiệm tốt. Kết quả đề tài đã được Hội đồng KHCN nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc và đạt giải thưởng VIFOTEC dành cho các công nghệ ưu tiên năm 1996.  Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã đạt được, năm 2008 Trung tâm tiếp tục thực hiện Dự án Sản xuất thử nghiệm “Sản xuất một số sản phẩm (viên nén, viên nang, cốm) giàu dinh dưỡng và giàu hoạt tính sinh học từ tảo Spirulina” nhằm triển khai kết quả nghiên cứu đưa sản phẩm ra thị trường. Cả 3 sản phẩm viên nén, viên nang và cốm tảo đều được đăng kí chất lượng tại Cục An toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ y tế.  Trong đó đặc biệt phải kể đến sản phẩm cốm dinh dưỡng WELSPI là sản phẩm dành cho trẻ em độc đáo trên thị trường chế biến từ tảo Spirulina. Kết quả tiếp thị và bán hàng cho thấy đây là sản phẩm có tiềm năng phát triển tốt, phản hồi tiêu dùng cho thấy trẻ đều thích sử dụng sản phẩm và sản phẩm có tác dụng cải thiện tiêu hóa, giúp trẻ tăng cân, tăng sức đề kháng. Bước đầu công tác triển khai bán hàng đã đạt doanh thu trên 350 triệu đồng.  Trong lĩnh vực công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, năm 2006 Trung tâm Sinh học Thực nghiệm đã thực hiện đề tài trọng điểm cấp Bộ “Nghiên cứu trồng cây Nopal trên các vùng đất cát khô hạn làm cây che phủ đất, làm thức ăn gia súc và bước đầu xác định khả năng làm rau cho người” trở thành đơn vị nghiên cứu đầu tiên nhập nội cây xương rồng Nopal từ Mêhicô, nhân giống in vitro thành công với số lượng cây giống khá lớn và triển khai trồng thử nghiệm cây Nopal tại Ninh Phước (Ninh Thuận), Cam Lâm (Khánh Hòa – vùng IV Hải quân), Đồng Phú (Bình Phước), Phú Vang (Thừa Thiên Huế) và đảo Trường Sa – tạo nguồn cây giống phục vụ công tác chống sa mạc hóa, xói mòn và cung cấp rau quả cho các vùng đất khô cằn. Kết quả “Nghiên cứu quy trình nhân nhanh cây xương rồng Nopal bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào” đã được tặng cúp vàng Techmart Việt Nam năm 2007.  Một hướng nghiên cứu hợp tác có hiệu quả do Trung tâm thực hiện với Hàn Quốc thông qua các đề tài nghị định thư về công nghệ bảo quản màng là một trong những công nghệ mới của phía bạn trong lĩnh vực bảo quản rau quả tươi thân thiện với môi trường, đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Kết quả của đề tài đã được ứng dụng thực tế tại Công ty xuất nhập khẩu Bắc Giang để bảo quản vải và Công ty xuất nhập khẩu hoa quả Sài gòn bảo quản xoài cát Hoà Lộc giúp các đơn vị kéo dài được thời gian bảo quản quả đảm bảo chất lượng xuất khẩu.  Mới đây nhất, năm 2011, Trung tâm đã đăng kí và được giao thực hiện nhiệm vụ cấp Nhà nước “Khai thác và phát triển nguồn gen Lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl.) và Bạch Tật Lê (Tribulus terrestris L.) làm nguyên liệu sản xuất thuốc, kết quả bước đầu đã nhân giống in vitro thành công cây dược liệu Lan Kim tuyến thuộc sách đỏ Việt Nam – giúp Trung tâm Sinh học Thực nghiệm một lần nữa trở thành đơn vị nhân giống và trồng thành công Lan Kim tuyến bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật. Hiện nay đề tài đang tiến hành phát triển vùng trồng nguồn gen cây dược liệu Lan Kim Tuyến tại Lào Cai.  Nhằm tiếp cận với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng cho các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, gần đây Trung tâm đã tập trung vào hướng nghiên cứu tạo các chế phẩm sinh học phục vụ sức khỏe con người như: nghiên cứu tạo sản phẩm đường không năng lượng dành cho bệnh nhân tiểu đường được tách chiết từ quả La Hán, chế phẩm giàu probiotic từ cám gạo bổ sung vào thực phẩm giúp cải thiện hệ tiêu hoá, bột chiết chè xanh giàu polyphenol hay nước uống từ nấm Kombucha có tác dụng ngăn ngừa lão hóa… Từ những kết quả thu được, trong thời gian tới Trung tâm có định hướng phát triển các sản phẩm thử nghiệm thành hàng hoá, chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện nghị định 115, hướng đến việc phát triển sản phẩm đem lại doanh thu trực tiếp cho đơn vị.    Thương mại hóa nghiên cứu, tạo nguồn thu  Trong quá trình hoạt động, Trung tâm cũng đã thực hiện nhiều Hợp đồng dịch vụ khoa học kĩ thuật nhằm tăng nguồn thu cho Trung tâm cũng như góp phần cải thiện thu nhập cho cán bộ. Đặc biệt là việc các cán bộ nữ của Trung tâm đã và đang tích cực triển khai phát triển thị trường cho các sản phẩm của mình, tạo thêm một kênh tăng thu nhập cho cán bộ dựa trên thành quả của chính những nghiên cứu có được từ Trung tâm.  Từ những kết quả và kinh nghiệm có được, Trung tâm đã được nhiều đơn vị tín nhiệm kí Hợp đồng chuyển giao công nghệ: Trung tâm ứng dụng TBKH Hải Dương năm 1999, Sở KHCN&MT Vĩnh Phúc năm 2000, Sở KHCN Lai Châu năm 2008, Trung tâm ứng dụng  tiến bộ KH&CN Cao Bằng năm 2009,… Công tác chuyển giao cũng do hầu hết các cán bộ nữ của Trung tâm đảm nhận, mặc dù địa bàn thực hiện nhiệm vụ chuyển giao cần phải di chuyển xa nhà nhưng chị em đều nỗ lực hết sức trong việc hỗ trợ các đơn vị tiếp nhận công nghệ, xây dựng mô hình phòng thí nghiệm và đào tạo thành thạo kĩ thuật nhân giống in vitro một số giống cây mới hoặc có giá trị kinh tế như chuối, mía, dứa, các loại hoa ly, cúc, hoa lan…  Bên cạnh các Hợp đồng chuyển giao công nghệ, với mục tiêu tăng doanh thu cho đơn vị từ các nguồn thu dịch vụ, bắt đầu từ năm 2008, Trung tâm đã xây dựng Phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 (Vilas 303) nhằm tăng mức độ tin cậy cho khách hàng sử dụng các dịch vụ phân tích đánh giá chất lượng lượng môi trường, từ đó số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ phân tích tại Trung tâm tăng đáng kể so với trước đây.  Tuy nhiên, TS. Hương Sơn cho biết, thành công này có được không thể không nói đến sự chỉ đạo sát sao của Bộ KH&CN, của Viện ứng dụng công nghệ để Trung tâm có thể thực hiện và triển khai được các ý tưởng khoa học, tạo ra các sản phẩm phục vụ cuộc sống và sự nỗ lực không ngừng vượt qua bao khó khăn vất vả của phụ nữ làm công tác nghiên cứu khoa học của Trung tâm, họ đã đóng góp những viên gạch nhỏ bé của mình để xây lên lâu đài kết quả ngày hôm nay, bởi mỗi một đề tài thành công chính là niềm vui cho cán bộ phụ nữ của Trung tâm.  “Những người làm khoa học, đặc biệt là phụ nữ cũng có những thuận lợi và một số khó khăn, thuận lợi ở đây là phụ nữ có sự khéo léo, tỷ mỉ và cẩn thận, chúng tôi cũng nhận được nhiều sự động viên khuyến khích của các đồng nghiệp, gia đình và xã hội, vui nhất là những đề tài nghiên cứu nghiệm thu đạt được kết quả tốt và có khả năng thương mại hóa hoặc các quy trình có thể sản xuất thử nghiệm tại các nhà máy và cho đến này chúng tôi đã có một số sản phẩm đã có mặt trên thị trường phục vụ thiệt thực cho đời sống”, TS, Hương Sơn chia sẻ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông dân tự chế thuốc trừ sâu thảo dược      Rót thứ nước đen sì, đặc quánh từ trong  chiếc bình 20 lít ra chiếc chén nhỏ, rồi đưa lên miệng uống “ực” như  người ta uống rượu, nông dân Lê Văn Đáo (Khoái Châu, Hưng Yên, người có  biệt danh ông “Đáo Đâu”) cười khà khà nói: “Bây giờ đem nước này pha với  nửa lít cồn và lưng bình nước rồi phun cho ruộng rau chỉ cần qua một  đêm thôi là sâu rệp chết như ngả rạ hết.”    Rồi như sợ khách chưa tin tưởng những điều mình vừa nói, ông chỉ sang phó chủ tịch xã, ngồi bên cạnh nói thêm “ Tôi nói sai thì đồng chí phó chủ tịch gô cổ tôi lại, đưa lên xã chứ chẳng chơi”. Ông Đáo cho biết hơn tám năm nay ông dùng “thuốc” này để phun cho ruộng, vườn nhà vừa diệt được sâu bệnh cho cây trồng lại bảo đảm an toàn, không cần phải mặc áo mưa, đi ủng khi phun thuốc, cũng không sợ bị bệnh nếu vô tình để “thuốc sâu” rớt vào da thịt như các loại thuốc bảo vệ thực vật đang bán trên thị trường.  Tiết lộ những ưu điểm nổi bật về “thuốc sâu” tự chế của mình người nông dân 57 tuổi này cho biết sở dĩ ông khẳng định “thuốc trừ sâu” của ông hoàn toàn không gây hại đến sức khỏe cho con người bởi thành phần chủ yếu của nó là các loại thảo dược rất gần gũi với các bữa ăn của gia đình như giềng già, gừng ta, tỏi ta,… tất thảy có khoảng hơn 10 loại thảo dược được ngâm với cồn 90 độ để trong vòng nửa năm rồi đem ra pha chế là có bình “thuốc sâu thảo dược”. “ Mỗi vụ, chỉ cần ngâm một bình. Số tiền mua thảo dược chỉ khoảng 100 nghìn đồng mà đủ phun cho vài mẫu ruộng, vườn rau trong cả năm đấy”- ông Đáo cho biết thêm.  Được biết ý tưởng chế tạo ra “thuốc trừ sâu thảo dược” đến với ông rất tình cờ từ năm 2006. Khi ấy ông Đáo thường có thói quen sưu tầm các loại thảo dược để chữa các bệnh như nấm, đau bụng, viêm tai… cho người nhà và hàng xóm. Các bài thuốc này ông học được từ một cuốn sách cổ được vợ chồng ông lão người Nùng tặng khi còn trong quân đội. Vào tháng giêng, tháng hai thời tiết ẩm ướt để bảo quản thảo dược, ông đem cất trong hòm đựng thóc – nơi được xem là khô ráo nhất trong gia đình. Hai hòm thóc cùng để một chỗ, cũng có kẽ hở như nhau vậy mà khi mang thóc ra ăn, thùng thóc không chứa thảo dược thì rất nhiều mọt còn thùng kia tịnh không có một con mọt, mối nào. Lúc bấy giờ ông Đáo mới phát hiện thảo dược chứa trong hòm thóc có tác dụng ngăn chặn được côn trùng, mối mọt, cũng từ đấy ông nảy ra ý nghĩ thảo dược chữa bệnh được cho người thì cũng chữa được cho cây trồng và bắt tay vào nghiên cứu chế tạo thuốc trừ sâu từ thảo dược. “Vì ý tưởng ấy tôi cười phá lên sung sướng, làm vợ con được phen hú vía cứ tưởng tôi bị thần kinh” – ông Đáo hồi tưởng lại.  Nghĩ là làm, ông bắt tay ngày vào thử nghiệm. Ngày nào dân làng cũng thấy ông lặn lội ngoài đồng từ sáng sớm tinh mơ đến khi trời tối. Không ai hiểu ông làm gì mà suốt ngày cặm cụi ngoài đồng. Một số người biết việc ông nghiên cứu thuốc trừ sâu thảo dược cho rằng ông hâm, dở hơi…. Một số anh em thân thiết cũng khuyên ngăn bảo ông dành thời gian đó để làm ăn kinh tế. Thậm chí không ít lần vợ chồng ông “xô bát đĩa” cũng bởi ông toàn đi làm những việc “không đâu”.  Ông tâm sự “đôi lúc bà nhà tôi nóng giận thì tôi lại phải dĩ hòa vi quý, pha trò để cho bà ấy hạ hỏa. Việc làm của mình chỉ mình biết nào có chia sẻ được cùng ai? Nhiều lúc cũng trăn trở lắm, nhưng tôi vẫn tin một ngày nào đó sản phẩm sẽ được công nhận, được áp dụng đại trà trong nông nghiệp, lúc ấy nông dân sẽ không còn phải lo sâu bệnh và người tiêu dùng cũng bớt đi nỗi lo về thực phẩm nhiễm thuốc bảo vệ thực vật”.  Tin tưởng vào sản phẩm của mình ông bắt đầu phun thuốc trừ sâu tự chế vào vụ chiêm 2006. “Lần đầu tiên phun thuốc, thấy ruộng có chuột, tôi pha thêm ít dầu luyn vào bình thuốc với mục đích mùi hôi luyn sẽ xua được loài gặm nhấm. Lúc tôi đi phun về thì thấy ông trưởng thôn đang tập thể dục. Chiều hôm đó, ruộng lúa nhà tôi teo lại như lá hành, ông trưởng thôn và làng xóm kháo nhau ầm ĩ rằng thuốc tôi tự chế làm chết lúa”, ông kể.  Lúc đó, vợ con ông Đáo ruột gan như trên đống lửa, trách móc ông phen này đói không có gạo ăn. Mặc cho mọi người nói, ông không tin thứ thuốc của mình làm lúa chết. Quả nhiên, sau một đêm ngậm sương, năm thửa ruộng nhà ông lại tươi mơn mởn trở lại. Cũng năm đó cả làng phải đánh thuốc trị bệnh rầy nâu lúc trưa nắng trong khi ruộng nhà ông Đáo tuyệt nhiên chẳng bị bệnh tật gì.  Theo ông Đáo, loại thuốc tự chế có ưu điểm là diệt và phòng ngừa được nhiều loại sâu bọ như khô vằn, rầy nâu, đạo ôn… rất hiệu quả. Một ngày sau phun thì các loại sâu ăn lúa sẽ say thuốc và chết. Thuốc không gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước, giá thành rẻ, rất an toàn, thân thiện.  Nhiều lần chứng kiến ông Đáo thử thuốc, ông Lê Văn Dương (54 tuổi) không khỏi khâm phục biệt tài chế biến của người hàng xóm. “Ông Đáo lạ đời lắm, đi phun thuốc từ 3-4h sáng. Lúc dân làng thức dậy, ông ấy phun xong cả mẫu ruộng về rồi. Nhiều năm trước, tôi đã thấy ông trị sâu bệnh cho lúa bằng thuốc tự chế. Năng suất lúa vẫn cao, chẳng bao giờ ông ấy đi phun mà đeo khẩu trang, quần áo bảo hộ cả”.  Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Xuân Hường, Trạm trưởng Trạm Bảo vệ thực vật huyện Khoái Châu, cho biết: Mới đây, chúng tôi mới biết chuyện ông Đáo tự chế thuốc trừ sâu thân thiện với môi trường. Tôi được biết, tới đây, Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Hưng Yên cùng lãnh đạo huyện sẽ về làm việc với nông dân Lê Văn Đáo để nắm bắt tình hình và xin các mẫu thuốc đi thử nghiệm thêm ở các điểm mới, khi xác định được hiệu quả sẽ tiến hành công nhận bằng sáng chế cho ông.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nồng độ “hóa chất vĩnh cửu” ở Nam Cực ngày càng tăng cao      Bằng chứng mới từ Nam Cực cho thấy các “hóa chất vĩnh cửu chứa flo” độc hại trong môi trường đã tăng lên rõ rệt trong các thập kỷ gần đây. Các nhà khoa học cho rằng các hóa chất thay thế CFC có thể là một trong những nguồn này.     Các nhà khoa học lấy mẫu lõi tuyết nén. Nguồn: Phys.org  Các hợp chất hóa học như perfluorocarboxylic acids (PFCAs) thường được gọi là hóa chất vĩnh cửu vì chúng không phân hủy tự nhiên trong môi trường. Chúng có rất nhiều ứng dụng như tạo lớp phủ của chảo chống dính, chất chống thấm nước cho quần áo và bọt chữa cháy. Một trong số các chất này là perfluorooctanoic acid (PFOA), có khả năng tích tụ sinh học trong chuỗi thực phẩm và gây độc hại cho con người, liên quan đến suy giảm hệ thống miễn dịch và vô sinh.  Đây là kết quả của nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Environmental Science & Technology do các nhà khoa học ở ĐH Lancaster dẫn dắt, kết hợp với Cơ quan Khảo sát Nam Cực của Anh và Viện Hóa học môi trường bờ biển (Đức).   Họ đã lấy các lõi tuyết nén (firn) từ cao nguyên Dronning Maud Land vô cùng xa xôi, lạnh giá ở phía Đông Nam Cực. Các lõi tuyết nén đã cung cấp dữ liệu lịch sử từ năm 1957 đến 2017, chứng minh rằng nồng độ các chất ô nhiễm hóa học trong các lớp băng tuyết ở Nam Cực đã gia tăng rõ rệt trong vài thập kỷ gần đây. Cho đến nay, hóa chất phổ biến nhất được phát hiện là axit perfluorobutanoic (PFBA). Nồng độ của chúng trong lõi tuyết đã tăng lên đáng kể từ những năm 2000 cho đến lần lấy mẫu gần nhất vào năm 2017.   Giáo sư Crispin Halsall ở ĐH Lancaster, người dẫn dắt nghiên cứu, cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các công ty hóa chất trên toàn cầu khoảng 20 năm trước đã chuyển từ sản xuất các hợp chất hóa học chuỗi dài như PFOA sang các hợp chất chuỗi ngắn hơn như PFBA vì lo ngại vấn đề sức khỏe khi phơi nhiễm với PFOA.  TS. Jack Garnett, người đã tiến hành phân tích các hóa chất trên các mẫu tuyết, cho biết “sự gia tăng của PFBA trong các mẫu tuyết, đặc biệt trong thập kỷ gần đây, cho thấy ngoài sản xuất polymer, có một nguồn khác bổ sung hóa chất này trên toàn cầu. Chúng ta biết rằng các chất phá hủy tầng ozone trước đây (CFC và HCFC) hiện được thay thế bằng các chất như hydrofluoroethers – chất làm lạnh được sản xuất với số lượng lớn trên toàn cầu, tuy nhiên, chúng có thể phân hủy trong khí quyển để tạo thành PFBA. Chúng ta vẫn chưa biết rõ tác động môi trường và độc tính của một số chất hóa học thay thế này”.  Sự gia tăng của PFOA trong tuyết bắt đầu từ giữa những năm 1980. Nhưng khi ngành công nghiệp toàn cầu ngừng sử dụng hóa chất này trong những năm gần đây, không có bằng chứng cho thấy nồng độ PFOA suy giảm theo.  Các nhà nghiên cứu cho rằng các hóa chất đã phát tán đến Nam Cực bằng cách giải phóng các tiền chất dễ bay hơi của chúng vào khí quyển tại các khu sản xuất công nghiệp. Các tiền chất này lưu thông trong khí quyển và dần dần biến đổi dưới ánh nắng, tạo thành các chất PFCA bền hơn. Những trận tuyết rơi liên tiếp qua nhiều năm đã tích tụ các hóa chất từ bầu khí quyển, dẫn đến mức ô nhiễm kỷ lục toàn cầu giờ đang bị mắc kẹt trong lớp tuyết.  Các kết quả này cũng tương đồng với con số ước tính từ mô hình về phát thải hóa chất PFCA, bổ sung thêm bằng chứng cho thấy các “hóa chất vĩnh cửu” đang gia tăng ở Nam Cực và cao nguyên Tây Tạng, đồng thời phác họa bức tranh toàn cầu và giúp các nhà khoa học hiểu thêm về sự lưu thông các hóa chất này trong khí quyển.  TS. Anna Jones, Giám đốc Khoa học ở Cơ quan Khảo sát Nam Cực của Anh, nhận xét “những phát hiện này là một lời cảnh tỉnh rằng các hoạt động công nghiệp của chúng ta đã gây ra những hậu quả toàn cầu. Hoạt động của con người đã gây phát thải và để lại tín hiệu ở những nơi vô cùng xa xôi, cách chúng ta hàng ngàn dặm như Nam Cực. Băng tuyết ở Nam Cực là kho lưu trữ quan trọng về những tác động gây biến đổi hành tinh của chúng ta”. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-chemicals-antarctica.html    Author                .        
__label__tiasang Nông nghiệp Israel trong thế kỷ 21      Nền nông nghiệp Israel nổi tiếng trên toàn thế giới đang phải làm gì để đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng ở thế kỷ 21? Bài viết dưới đây, lược dịch từ một bài báo của Jon Fedler, Tổng biên tập tạp chí Agrictech giải thích các lý do, trong đó chủ yếu là vai trò của khoa học và công nghệ đã mang lại thành công không chỉ ở hiện tại mà cả tương lai cho đất nước này.      Vào khoảng năm 2020, dân số của Israel dự tính sẽ tăng 42% so với hiện nay, đạt con số 8,5 triệu người. Nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm nông nghiệp lúc đó sẽ gia tăng đáng kể. Cùng với đó, diện tích đất đô thị và lượng nước sử dụng chung của cả đất nước cũng ngày một lớn hơn, đặt ra nhiều vấn đề đối với phát triển nông nghiệp. Để đối phó với tình trạng này, Israel tiếp tục phải nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.  Theo một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Israel, vào năm 2020, lượng nước tưới tiêu cho nông nghiệp của nước này chỉ còn một nửa (700 triệu mét khối/năm) và diện tích đất dành cho nông nghiệp cũng giảm 18% so với hiện nay (360.000 ha). Như vậy, để đạt một sản lượng nông nghiệp tăng khoảng 48% so với mức của năm 1993, nông nghiệp Israel cần có mức tăng trưởng thực khoảng 1,5%/năm.   Nông nghiệp của Israel đã có mức tăng trưởng khá ổn định (trừ một giai đoạn ngắn của những năm 1980), và đóng một vai trò quan trong trong nền kinh tế của nước này. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 2% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm khoảng 3,5% xuất khẩu của Israel. Doanh thu nông nghiệp của Israel vào năm 2000 đạt mức 2 tỉ USD trong đó 70% thuộc về xuất khẩu.  Thành công của nông nghiệp Israel nhờ sự kiên định và sáng tạo liên tục của các nhà khoa học cũng như nông dân đất nước này. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết và địa hình không thuận lợi của Israel (hơn một nửa diện tích đất là sa mạc và đất nước có nhiều loại hình khí hậu rất đa dạng, khác biệt).  Nghiên cứu và phát triển   Sản lượng nông nghiệp liên tục tăng trưởng ở Israel mặc dầu các điều kiện khắc nghiệt về nước tưới tiêu và hạn chế về diện tích đất canh tác. Đây là kết quả của một “hiện tượng Israel”, có một không hai trên thế giới dựa trên sự hợp tác tích cực và chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, hệ thống mở rộng nông nghiệp, nông dân, các dịch vụ và công nghiệp phụ trợ.  Các ứng dụng R&D có định hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Israel từ đầu thế kỷ 20. Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của nước này hầu như gắn chặt với khoa học và công nghệ, với các tổ chức Chính phủ, các viện nghiên cứu, công nghiệp và hợp tác xã. Tất cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải. Đối mặt với hàng loạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước. Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và các nhà nông. Thông qua mạng lưới dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp. Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh.          Áp dụng công nghệ tưới tiêu hiệu quả trong nông nghiệp giúp Israel tiết kiệm tối đa tài nguyên nước          Động lực muốn đạt mức tối ưu trong sản lượng nông nghiệp và chất lượng giống đã dẫn tới việc ra đời các loại giống mới, đối với giống cây trồng hoặc súc vật nuôi, tới các cải tiến trong tưới tiêu, phân bón, thiết bị nông nghiệp, tự động hóa, hóa học, canh tác và thu hoạch. Nhờ vậy, các phát kiến khoa học và công nghệ này không chỉ phục vụ nông nghiệp trong nước mà rất nhiều trong số đó đã được xuất khẩu ra nước ngoài.  Cơ giới hóa và công nghệ nông nghiệp  Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và tiết kiệm nhân công, các sáng chế về máy móc nông nghiệp cũng như thiết bị điện tử phụ trợ đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộng rãi vào đời sống. Đặc biệt là các máy móc, thiết bị phục vụ đất trồng trọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thu hoạch và các thiết bị phù hợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)… Nhiều thiết bị tự động khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa, máy thu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… Rồi thì các máy móc phục vụ sau thu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệ thống kho trữ và đặc biệt là hệ thống vận tải chuyên biệt. Những công nghệ phát triển trong nước cũng chú trọng tới việc kiểm soát bón phân tự động hóa (thông qua hệ thống máy tính), có thể bón phân qua nước tưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trường trong lành cho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…  Sự can thiệp của Chính phủ  Bộ Nông nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm soát toàn bộ các hoạt động nông nghiệp của đất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, phát triển nông nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu và thị trường (kể cả marketing). Từ nhiều năm nay, nông nghiệp Israel được Chính phủ nước này kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sản xuất và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ. Hiện nay, nước này cũng kiểm soát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nông nghiệp như sữa, trứng, gà con và khoai tây.  Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêu cũng đang được tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa (tạo mưa nhân tạo), khử mặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọc nước để tái sử dụng. Các nghiên cứu mới đã dẫn tới việc khai thác nước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạc Negrev, dùng cho một số giống cây phù hợp.  Việc kiểm soát lượng nước tiêu thụ bằng định mức chủ yếu được thực hiện thông qua biện pháp giá, kiểm soát nước được bơm từ lòng đất và các dự án cung cấp nước sắp ra đời. Một chương trình kiểm soát nước mới được ra đời trong đó cắt giảm lượng nước sạch cung cấp cho nông nghiệp, thay vào đó, gia tăng việc tái sử dụng nước đã qua sử dụng ở các khu vực đô thị, mở rộng việc sử dụng nước được khử mặn, giảm việc thâm canh sử dụng nhiều nước, tăng cường các hệ thống trữ nước vào mùa lũ, phát triển các ngôi nhà xanh thân thiện với môi trường và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình khử mặn trong nước biển.  CNC trong nông nghiệp  Các nhà kinh tế thường tranh luận xem liệu sự lựa chọn của nông nghiệp sẽ như thế nào nếu cứ trồng và xuất khẩu một cân khoai tây với giá khoảng 5 USD với việc bán ra nước ngoài, cũng là một cân giống khoai tây lai, có giá lên tới 7.000 USD. Và muốn làm được như vậy, không có cách nào khác là phải sử dụng tới công nghệ cao trong nông nghiệp. Và Israel cũng nhận thức rõ rằng đây là con đường duy nhất để nông nghiệp nước này tiếp tục tồn tại. Trên thực tế, mãi lực thị trường trong nước và nước ngoài, sự hiếm hoi đất nông nghiệp, nhân công hạn chế và đặc biệt là thiếu nước tưới tiêu đã là các động lực lớn nhất biến đổi toàn bộ nông nghiệp Israel.          Áp dụng CNC trong chăn nuôi và khai thác sữa là đặc điểm điển hình của Israel          Một xu hướng ngày càng phát triển ở Israel là đang có bước chuyển giữa các trang trại thâm canh tăng vụ, các nhà sản xuất nông nghiệp truyền thống lớn sang các loại hình sản xuất dựa trên khoa học và R&D, thí dụ như sản xuất các loại khoai tây lai có khả năng kháng virus cao, hay các loại chuối cây thân nhỏ nhưng năng suất cao.   Bên cạnh đó, nông dân Israel cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn. Một mặt, họ phải đương đầu với nông sản giá rẻ nhập khẩu từ các nước láng giềng, mặt khác là phải phù hợp với các tiêu chuẩn mới về nhập khẩu nông sản theo Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới.  Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lực bởi lượng nhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm 40% từ năm 1960 tới năm 1996). Mặc dầu vậy, lượng nhân công ít ỏi trong nông nghiệp ngày nay lại đem lại sản lượng lớn hơn so với trước kia. Trong đầu những năm 1950, một nông dân có thể cung cấp đủ lương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số họ đã có thể nuôi được 90 người.  Phần lớn nông nghiệp của Israel được tổ chức theo hình thức hợp tác xã, hình thành từ các thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Thúc đẩy bởi cả ý tưởng và hoàn cảnh thực tế, các nhà tiên phong đã tạo ra hai hình thức nông nghiệp mới: kibbuttz, một cộng đồng tập thể với phương tiện sản xuất chung và mỗi thành viên được hưởng lợi ích từ công việc của chính mình. Và moshav, kiểu hợp tác xã của làng trong đó mỗi thành viên sử dụng đất của mình để sản xuất, nhưng đầu vào và đầu ra (kể cả marketing) được thực hiện tập thể, theo một đầu mối. Cả hai hình thức lao động tập thể này đều được tạo ra để hiện thực hóa giấc mơ cộng đồng nông nghiệp dựa trên bình đẳng xã hội, hợp tác và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, sản lượng nông nghiệp của các hợp tác xã này vẫn chiếm đa số áp đảo trong sản xuất nông nghiệp, kể cả phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.   Hoàng An dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp không nông dân      Nhật đang đẩy mạnh sử dụng công nghệ vũ trụ  để tiến tới tự động hóa toàn diện sản xuất nông nghiệp, thực hiện “nông  nghiệp không nông dân” – một viễn cảnh nhiều người còn chưa thể tưởng  tượng.     Tháng Một năm nay, Chính phủ Nhật công bố “Kế hoạch vũ trụ cơ bản”, đề xuất trong 10 năm tới sẽ phóng hơn 40 vệ tinh. Nhà nước đang tìm cách thu hút vốn đầu tư từ các công ty tư nhân để thực hiện dự án tốn kém này nhằm mục tiêu sử dụng vệ tinh để kích hoạt sản xuất nông nghiệp không dùng sức người, tức nông nghiệp tự động hóa toàn diện.   Đó là quá trình sản xuất nông nghiệp được thao tác và quản lý toàn diện bằng cách sử dụng các loại thiết bị cơ khí nông nghiệp hoặc xe-máy không người lái, sử dụng hệ thống định vị bằng vệ tinh; người điều khiển chỉ căn cứ vào hình ảnh theo dõi do các thiết bị, xe, máy đó truyền tới để phán đoán tình hình và đưa ra quyết định xử lý.   Hiện nay một nhóm nghiên cứu do Nhật dẫn đầu đang sử dụng hệ thống định vị toàn cầu kiểu Nhật để vận hành máy kéo không người lái trên các cánh đồng ở bang New South Wales tại Australia, nơi được lựa chọn để thí nghiệm triển khai nông nghiệp tự động hóa. Các máy kéo này di chuyển với phạm vi sai số không quá 5 cm. Malaysia và Đài Loan cũng quan tâm tới công nghệ này.  Hệ thống định vị toàn cầu kiểu Nhật là hệ thống vệ tinh định vị chất lượng cao Quasi-Zenith Satellite System (QZSS), tiếng Nhật là Juntencho, âm Hán-Nhật là Chuẩn thiên đỉnh, bao phủ vùng Đông Á và châu Đại Dương. Vệ tinh Juntencho đầu tiên có tên Michibiki được phóng ngày 11/9/2010.   Hệ thống GPS hiện hành ở Nhật chủ yếu vẫn dựa vào các vệ tinh của Mỹ. Nhưng do nước này có nhiều đồi núi nên tín hiệu GPS khó có thể hoàn toàn phủ kín các vùng, và định vị vẫn tồn tại sai số khá lớn, vào khoảng 10 m. Kế hoạch vũ trụ cơ bản công bố hồi tháng Một năm nay đề xuất, trước năm 2033 sẽ tăng số lượng vệ tinh QZSS từ một hiện nay lên bảy cái, nhằm xây dựng hệ thống định vị riêng của Nhật, bảo đảm bất kỳ vùng nào trong cả nước Nhật đều có thể nhận được số liệu xác định phương vị với sai số không quá 5 m.  Hệ thống mới này sẽ mở đường cho tiến trình sử dụng số liệu vệ tinh để phục vụ nông nghiệp. “Chúng tôi đã tiến gần đến thời đại toàn bộ thực hiện tự động hóa từ việc gieo trồng cho tới việc thu hoạch” – một giám đốc công ty nói. Người ta cũng đang tăng cường khả năng sử dụng xe không người lái và máy móc loại nhỏ không người điều khiển để tiến hành kiểm tra các thiết bị hạ tầng cơ sở.  Dự tính đến năm 2020, hệ thống định vị QZSS có thể đem lại hiệu quả kinh tế kèm theo lên tới 139 nghìn tỷ Yen trong phạm vi nước Nhật và 2.570 tỷ Yen trên phạm vi châu Á và châu Đại Dương được hệ thống này bao phủ.   Cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ vệ tinh đang diễn ra quyết liệt. Năm ngoái, Google bỏ ra 500 triệu USD mua lại công ty Skybox Imaging – nhà cung cấp những hình ảnh chụp vệ tinh có độ phân giải cao nhất cùng các phân tích dữ liệu và video Trái đất từ xa, đang khai thác hơn 20 vệ tinh cực nhỏ. Google còn đầu tư một tỷ USD vào dự án vệ tinh Internet của Công ty SpaceX với tham vọng phủ sóng Internet lên tận sao Hỏa. Space X đang bắt đầu kế hoạch sản xuất khoảng 700 vệ tinh thu phát sóng có khả năng hoạt động cùng nhau. NASA dự đoán từ năm 2014 đến 2024, toàn thế giới tổng cộng sẽ phóng hơn 780 vệ tinh thương mại. Có quan điểm cho rằng ngày nay vệ tinh đã trở thành “thiết bị hạ tầng cơ sở thứ 5”, sau đường ống dẫn nước máy, điện, khí đốt (gas) và điện thoại.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp Thái Lan-Lời giải từ công nghệ và đổi mới chính sách      Đất nông nghiệp bị thu hẹp, thoái hóa; người nông dân rời bỏ ruộng đất tha phương tứ xứ tìm kế mưu sinh mới, Thái Lan-đất nước được cho là “nồi cơm” của thế giới- giải quyết “vấn nạn” này bằng việc đổi mới chính sách, áp dụng khoa học công nghệ xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại để duy trì “ngôi vị số 1” toàn cầu về xuất khẩu gạo.      Thách thức  30 năm trước, có thời gian diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan tăng “đột biến”. Người Thái cần cù lao động, bám chặt đồng ruộng để mong thay đổi cuộc sống. Còn các nhà hoạch định chính sách Thái Lan coi nông nghiệp là nội lực sống còn để phát triển kinh tế quốc dân. Với lợi thế về nhân lực nông nghiệp (có đến 80% dân số Thái sinh sống vùng nông thôn), diện tích đất canh tác sẵn có, Thái Lan đã nhanh chóng hiện thực hóa được ước mơ trở thành “nồi cơm” của thế giới. Chỉ tính trong năm 2007, nước này xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, đạt 3,5 tỷ USD, giữ vững thế độc tôn.  Nỗi lo bắt đầu manh nha trong giới lãnh đạo của quốc gia được xem là luôn đi đầu khu vực trong xuất khẩu nông sản này khi diện tích đất canh tác nông nghiệp gần đây (hiện nay là 22 triệu ha) có xu hướng giảm mạnh. Nguyên nhân được các nhà nghiên cứu Thái Lan mổ xẻ: tốc độ công nghiệp hóa, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí; “trương nở” của những đô thị lớn; kèm theo đó là hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm phát triển bền vững khiến màu mỡ đất canh tác bị rửa trôi, xói mòn hoặc nhiễm mặn. Và như vậy, bài toán đặt ra đầu tiên đối với Chính phủ Thái Lan là “đất…không đủ cày”.   Như một “phản ứng dây truyền”, diện tích đất canh tác giảm, thoái hóa khiến người nông dân ở một số tỉnh, đặc biệt là vùng Đông Bắc Thái Lan, không mặn mà với nghề nông, bỏ lại ruộng vườn tìm đến những thành phố lớn như Bangkok làm thuê. Theo một thống kê, hơn 10 năm trước số lao động nông nghiệp Thái Lan chiếm từ 55-60% dân số thì gần đây, con số này chỉ còn khoảng 40%, và dự báo đến 2013 sẽ tiếp tục giảm xuống còn 37%. Diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm khiến nhiều hộ nông dân muốn có đất làm phải thuê với giá cao, còn nếu không có tiền thì đành phải nhắm mắt “cầu cứu” ngân hàng với lãi suất ngất ngưởng. Được mùa thì không sao nhưng nếu không may mất trắng thì nợ nần chồng chất. Cho nên bài toán “người cày có ruộng” đang trở thành vấn đề cấp thiết mà Thái Lan cần giải quyết.   Một thách thức khác lại đặt ra trong bối cảnh giá lương thực toàn cầu tăng cao nhưng người nông dân Thái không được hưởng lợi trực tiếp, mà thay vào đó hình thành lớp người trung lưu nông thôn, “nẫng tay trên” những đặc quyền lợi đặc lợi của họ. Lớp trung gian này là những nhóm lợi ích có thể kiếm bạc tỷ trong cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay.    Đổi mới chính sách  Sớm “bắt bệnh” để tìm thuốc chữa, việc đầu tiên là phải đổi mới chính sách. Các nhà hoạch định chính sách Thái lấy nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mục tiêu cốt lõi là tạo ưu đãi “tam nông”  để ổn định chính trị xã hội.  Nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của người nông dân cũng như phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững, bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân được coi trọng hướng đến. Có thể nhận thấy trong những năm qua, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và các khóa học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp. Một số trường đại học của Thái Lan như Chulalongkorn (lọt vào top 200 trường đại học thế giới) đã đầu tư thiết bị thí nghiệm, mời chuyên gia từ những nước đi đầu trong nghiên cứu nông nghiệp đồng thời tạo cơ chế đãi ngộ cho nhiều nghiên cứu sinh trẻ sang các trường đại học ở Mỹ, Nhật và châu Âu. Chính những con người này đang tạo nên những biến chuyển mạnh mẽ và sắc thái mới đối với nền nông nghiệp nước này. Mặc dù bình quân diện tích đất canh tác nông nghiệp Thái Lan gấp 4 lần Việt Nam nhưng nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lực nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằn không chỉ dành cho cây ngô, lúa nương mà nhiều loại lúa cao sản đã được triển khai và cho năng suất cao.  Vua Thái Lan rất quan tâm và chú trọng đến phát triển nông nghiệp và đời sống người nông dân. Nhiều ưu đãi về vốn và tăng cường bảo hiểm cho người nông dân được thực hiện, thuế nông nghiệp được bãi bỏ. Bên cạnh đó, chính phủ hỗ trợ các chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho ngạch tiêu thụ nông sản bằng cách đẩy mạnh hình thức hợp đồng “chính phủ với chính phủ”. Đồng bộ hóa các chính sách cũng là một cách để tính liên thông và liên hoàn từ khâu gieo trồng, sản xuất đến bao tiêu xuất khẩu được đảm bảo và cùng với đó là một hành lang pháp lý bảo đảm rủi ro cho người nông dân. Khi giá thị trường thấp, chính phủ đã tự bỏ tiền bao tiêu nông sản cho nông dân. Một động thái mang tính chiến lược được chính phủ triển khai bao gồm điện khí hóa nông thôn, xây dựng các thủy điện để đảm bảo việc tiếp cận thông tin khoa học nông nghiệp và những kỹ thuật canh tác mới được thông suốt.  Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách được cho là thực sự có động lực thì người nông dân Thái đang yêu cầu chính phủ cần phải ban hành những chính sách, biện pháp nhằm bảo vệ việc sử dụng, quản lý đất canh tác một cách hợp lý không để những lớp người giàu có, tham nhũng kiếm lợi.  Kết hợp kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại  Suy nghĩ của người Thái đã thay đổi, giờ đây họ trồng lúa không chỉ để ăn mà để xuất khẩu, và người Thái không chỉ trồng lúa mà họ còn đang chung sức chung lòng phát triển nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như ngô, cao su và cả những…loài hoa. Tại Hội chợ gạo 2007, Thủ tướng Thái Lan Sarayud Chulanont nhấn mạnh, “Thái Lan sẽ đẩy mạnh ứng dụng những công nghệ và kỹ thuật hiện đại đồng thời kết hợp kinh nghiệm truyền thống để ổn định sản lượng theo triết lý “Kinh tế đầy đủ””. Có thể nói, chính việc đầu tư áp dụng công nghệ mới đã quyết định tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của quốc gia Đông Nam Á này trong suốt thời gian qua.   Do diện tích đất nông nghiệp có hạn nên Thái Lan không thể mãi tiếp tục theo đuổi phát triển nông nghiệp theo hướng mở rộng đất canh tác, mà thay vào đó, đưa công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, lai tạo các giống cây trồng mới siêu năng suất có khả năng thích ứng với những vùng đất canh tác bạc màu, khô hạn. Hữu cơ hóa đất nông nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học cải tạo đất thoái hóa, nâng cao độ màu mỡ đã triển khai trong nhiều năm qua. Điều này vừa  giúp sử dụng quỹ đất hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón lại nâng cao xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch. Bên cạnh đó, Thái Lan khuyến khích các tổ chức tư nhân tham gia vào các chương trình khuyến nông. Nếu có dịp đến thăm những vùng nông thôn mới nhận thấy cơ giới hóa đã bao phủ từng thửa ruộng. Ngay cả những khâu sau thu hoạch đã hầu như được cơ giới hóa toàn bộ. Nhưng bí quyết thành công của nông dân Thái Lan chính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Bởi do điều kiện tự nhiên như địa lý, địa chất, tính chất đất trồng trọt nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và kỹ thuật canh tác đặc thù.  Bên trong các viện nghiên cứu, trường đại học trên khắp đất nước Thái Lan, nhà khoa học đang nghiên cứu những thế hệ cây trồng siêu năng suất, cải thiện chất lượng giống thông qua kỹ thuật chuyển gene; kỹ thuật chọn tạo, công nghệ di truyền và công nghệ nuôi cấy mô. Những “nút thắt cổ chai” trong việc nâng cao chất lượng nông sản theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng công nghệ sinh học. Chẳng hạn, Trung tâm Công nghệ gene Quốc gia Thái Lan, từ Ngân hàng gene sẵn có, đã nghiên cứu ra những giống lúa chịu mặn cao có thể gieo trồng ở vùng Đông Bắc, nơi đang đối mặt với tình trạng người dân bỏ nghề nông vì đất nhiễm bị nhiễm mặn. Và cũng tại miền Đông Bắc này với “đặc sản” gạo Horn Mali phát triển được trong điều kiện nắng nóng, các nhà khoa học Thái đã tạo thêm 3 giống lúa có khả năng kháng bệnh và cho năng suất cao là Khao Jao Hawm Suphan Buri, Khao Dok Mali 105, Khao Jao Hawm Klong Luang 1. Trong tương lai, Thái Lan được xem là đi đầu sản xuất và xuất khẩu vi sinh vật cho nông nghiệp. Với việc cơ giới hóa nông nghiệp, đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng công nghệ sinh học đã đáp ứng được tôn chỉ mà chính phủ Thái đặt ra là sản xuất nông sản sạch, chất lượng bằng công nghệ sinh học thay vì chạy theo số lượng. Và giờ đây người Thái đã trở nên khá giả nhờ xuất khẩu nông sản.    Tài liệu tham khảo: Science, Scientific American, Ministry of Agriculture and Cooperative of Thailand     Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp toàn cầu-mối đe dọa từ biến đổi khí hậu      Một nghiên cứu được công bố trên tờ Science chỉ ra rằng, do biến đổi khí hậu, Nam Phi có thể mất 30% sản lượng ngô và các cây lương thực khác vào năm 2030; khu vực Bắc Á sản lượng gạo, ngô và kê có thể giảm đến 10%. Cả thế giới đang lao đao trong cơn đói lương thực. Tất cả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trước những hiểm họa nhãn tiền của biến đổi khí hậu.    Liên Hiệp Quốc kêu gọi cần phải có hành động khẩn cấp ngay từ tháng 3 năm 2007 khi giá lúa mì, đậu tương đã tăng 87% và tiếp ngay sau đó là 130%. Khả năng dự trữ lương thực toàn cầu đã ở mức thấp nhất kể từ trước tới nay. Giá các loại lương thực chủ lực như gạo, ngô và lúa mì sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ, và do việc sử dụng ngô và đậu tương cho các nguyên liệu thay thế để sản xuất nhiên liệu sinh học. Nhưng đáng chú ý hơn cả, thông báo của IAASTD tại UNESCO vào 4/2008 vừa qua cảnh báo rằng, 35% đất canh tác bị thoái hóa trên Trái đất lại đang trong tình trạng nguy hại trầm trọng do chính các hoạt động nông nghiệp  Sinh quyển thay đổi          Phụ nữ Kenya băng qua những mảnh đất khô cằn để mang thực phẩm cứu trợ hàng tháng về nhà.         Tất cả những điều kiện như bức xạ mặt trời, lượng mưa, nhiệt độ quyết định sự phát triển của cây trồng và tăng trưởng mùa vụ. Khoảng thời gian 50 năm đổ lại đây, khi những máy móc được phát minh với mục đích cơ giới hóa nông nghiệp thì cũng là lúc bầu sinh quyển đang dần bị tổn hại ngày một nhanh theo hướng tiêu cực do những tác động trực  tiếp hoặc gián tiếp từ con người. Mải chạy theo cỗ xe công nghiệp, phát minh các máy móc, công cụ đa phương tiện nhưng dường như loài người quên rằng, họ đang sống nhờ lương thực chứ không phải là các cỗ máy.  Lượng khí nhà kính được phóng thích vào khí quyển bởi các hoạt động của con người đã làm cho nhiệt độ Trái đất nóng lên. Mỹ là nước đi đầu trong việc đóng góp vào tổng lượng CO2 phát thải toàn cầu (chiếm 22%), và thế giới cũng đang trong tình thế báo động khi một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, Trung Quốc vượt Mỹ trong phát thải CO2. Hình thức phát thải phần lớn là do các hoạt động công nghiệp tại các nước giàu, sử dụng năng lượng hóa thạch tại nhiều quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ… và phần còn lại do các hoạt động phá rừng, đốt rẫy cùng quá trình giải phóng CO2 và mêtan từ các quá trình tự nhiên và hoạt động canh tác nông nghiệp ở các nước nghèo. Các phép đo gần đây đã chỉ ra rằng, hàm lượng CO2 đã vượt quá 380 ppm. Và như vậy, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng từ 1,4-5,8oC vào 2100, vượt xa ngưỡng cảnh báo, là hoàn toàn có thể.  Khí nhà kính đang thay đổi nhiệt độ toàn cầu, đây là điều kiện đầu tiên tác động đến sinh trưởng của cây trồng. Theo báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), trong 100 năm qua nhiệt độ toàn cầu đã tăng 2oC, và sẽ còn tiếp tục tăng vào thế kỷ tới. Như một phản ứng dây chuyền, khi nhiệt độ tăng, tốc độ bốc hơi từ đại dương và các mặt sông, hồ sẽ tăng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành và phân bố các đám mây, thay đổi lượng mưa trên diện rộng. Cùng với hiện tượng ô nhiễm không khí, các hóa chất lơ lửng trong bầu khí quyển sẽ làm cho khả năng truyền và tán xạ tia sáng mặt trời giảm sút. Trung bình, Trái đất hấp thụ khoảng 60% năng lượng mặt trời, 40% còn lại sẽ phản xạ ngược trở lại vũ trụ. Nhưng do hiệu ứng nhà kính, lượng nhiệt mà Trái đất hấp thụ sẽ ngày một tăng. Bên cạnh đó, lượng mưa và phân bố mưa thay đổi khiến nhiều vùng hạn hán càng trở nên khô hạn trầm trọng trong khi lũ quét và ngập úng xảy ra thường xuyên hơn tại các vùng khác trên thế giới, biến Trái đất thành bộ mặt tương phản. Do vậy có những cây trồng không phát triển được vì thiếu nước và số khác lại chết vì ngập úng. Một điều tra được tiến hành cho thấy khoảng gần 1000 hồ nước ở Trung Quốc đã biến mất trong suốt 50 năm qua. Ngoài ra, nhiệt độ của Ấn Độ Dương tăng cùng với hiện tượng El Nino là nguyên nhân gây nên hạn hán ở Tây và Nam Phi và khiến lượng mưa ở những nơi này giảm 25% trong suốt một thập kỷ qua.           Những người dân Kenya tranh giành nhau thực phẩm cứu trợ từ Hội chữ thập đỏ quốc tế.        Trái đất nóng lên đồng nghĩa với việc mở rộng các sa mạc trên diện rộng, đồng thời mực nước biển dâng do tan chảy của những băng hà sẽ nhấn chìm những vùng đất duyên hải, khiến một diện tích lớn đất nông nghiệp biến mất. UNDP dự báo, cuộc xâm lăng hành tinh xanh của sa mạc sẽ khiến vùng cận Sahara có thể mở rộng thêm 60-90 triệu hecta vào 2060, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ USD. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, đến 2100, Mỹ sẽ mất khoảng 5000 dặm vuông đất khô ráo và 4000 dặm vuông đất ướt do nước biển dâng. Tổ chức FAO cũng thông báo rằng, các nước đang phát triển sẽ mất đi 11% diện tích đất canh tác sử dụng nước mưa vào năm 2080 so với năm 1995 và 65 nước đang phát triển có thể mất tới 280 tấn ngũ cốc, ước tính trị giá khoảng 56 tỷ USD do biến đổi khí hậu.  Một yếu tố vật lý khác tác động đến năng suất cây trồng đó là sự mở rộng của lỗ thủng tầng ôzôn sẽ khiến một lượng lớn bức xạ UV-B chiếu xuống bề mặt trái đất. Những loại bức xạ này gây ra những tác hại trực tiếp đối với hệ thực vật và là một trong những nguyên nhân đối với thay đổi sinh quyển. Tuy nhiên, những phản ứng của khí hậu không chỉ thể hiện thông qua các tác động vật lý. Những nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần và tính chất của đất, nước và không khí đang thay đổi mạnh mẽ. Những đợt mưa axit tàn phá mùa màng ở Mỹ, Trung Quốc xuất hiện thường xuyên hơn. Những vùng đất canh tác nông nghiệp ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng.  Hệ lụy toàn cầu  Mặc dù con người đã cải tiến công nghệ để tạo nên những công cụ canh tác hiệu quả với mục đích vừa nâng cao năng suất vừa giải phóng sức lao động như hệ thống tưới nước, những mô hình nông nghiệp công nghệ cao trồng cây không đất…;, đột phá trong nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng biến đổi gene siêu năng suất. Nhưng tất cả những nỗ lực đó của con người sẽ bị vô hiệu hóa khi thời tiết đang trở thành chìa khóa quyết định an ninh lương thực toàn cầu. Và không ai khác, những quốc gia nghèo sẽ chịu những cú hích nặng nề nhất.  Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 1/3 doanh thu xuất khẩu của hơn 50 quốc gia và cung cấp khoảng một nửa việc làm ở các nước phát triển. Đối với những công dân ở các nước nghèo thì sự sinh tồn phụ thuộc hoàn toàn vào gieo trồng. Tuy nhiên, công cụ và kỹ thuật canh tác của họ đều rất thô sơ và việc nuôi gia súc cũng chủ yếu là chăn thả cho nên giá trị và sản lượng nông nghiệp và chăn nuôi ở những nơi này là cực kỳ nhạy cảm với những biến đổi của thời tiết. Những quan sát và tiên đoán của các mô hình thời tiết chỉ ra rằng, khi Trái đất nóng lên khiến thời tiết ở châu Phi ngày càng bất ổn, lượng mưa giảm nhưng đồng thời tần suất xuất hiện những cơn bão có chiều hướng tăng nhanh từ vài thập niên trở lại đây. Theo một điều tra cho thấy, những vùng cận Sahara, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đi đôi với lượng mưa. Bên cạnh đó, tốc độ hóa sa mạc diện rộng đang trở thành những trở lực đối với quá trình xóa đói ở châu Phi, Trung Quốc và Nam Á. Theo báo cáo của IPCC, số người đói ở châu Phi vùng cận Sahara hiện nay đã vượt qua con số 300 triệu người. Dự báo, do tác động của hạn hán, đến năm 2020, năng suất cây trồng ở các vùng đất nông nghiệp ở châu lục này sẽ giảm 10-20%. Còn đối với Trung Quốc, trong vòng 20-80 năm nữa, sản lượng lúa, ngô có thể giảm 37%.  Rõ ràng, châu Phi, Đông và Nam Á, Mỹ Latinh là những khu vực mà nền nông nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước những thách thức của biến đổi khí hậu. ¾ dân số trên thế giới hiện nay sống leo lắt qua ngày chưa đầy 1 USD/ngày chủ yếu tập trung vào những khu vực này. Sản lượng lương thực giảm do hạn hán, lụt lội tại những “nồi cơm” của thế giới sẽ dồn thế giới tới tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, đẩy giá gạo, lúa mì và các mặt hàng nông sản khác lên mức chưa từng thấy. Liên Hiệp Quốc cảnh báo, thế giới có thể thiếu hụt khoảng 80 triệu tấn gạo trong năm tới.  Trách nhiệm không chỉ riêng ai  Những hệ lụy và hậu quả trước tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp và an ninh lương thực toàn cầu đã gióng lên hồi chuông cảnh báo nhân loại. Song song với việc phát triển các mô hình thời tiết để đưa ra những tiên đoán chính xác thì việc phát triển các mô hình nông nghiệp, kỹ thuật canh tác mới nhằm thích ứng với những biến đổi nhạy cảm nhất của thời tiết đang được cộng đồng các nhà khoa học quốc tế đặt ra.  Những khu nhà kính theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao có thể giúp sản xuất ngũ cốc ở những vùng đất bạc màu, khô hạn. Việc phát triển và áp dụng công nghệ vào sản xuất được các nhà khoa học cho là yếu tố sống còn quyết định đến an ninh lương thực toàn cầu. Phần lớn những nghiên cứu và cải tiến công nghệ cho nông nghiệp đều hướng vào những kịch bản mà IPCC và WB đưa ra.  Trong bài toán về an ninh lương thực trách nhiệm không chỉ của riêng ai. Những nước như Mỹ, cộng đồng châu Âu phải đi tiên phong và tích cực tham gia các thỏa ước quốc tế trong cuộc chiến chống lại sự thay đổi khí hậu. Tuy thuộc “top” những nước sản xuất gạo nhưng chính Mỹ cũng đang khốn đốn trong bối cảnh lương thực ngày càng trở nên khan hiếm.  Không chỉ tham gia tích cực các thỏa ước quốc tế, những nước giàu nên hỗ trợ công nghệ, vốn cho những nước đang phát triển nhằm cắt giảm tất cả những chất thải gây hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ôzôn, đồng thời chuyển giao công nghệ để hiện đại hóa nông nghiệp ở những quốc gia có nền nông nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước những thay đổi của thời tiết. Thực tế, những vựa lúa của thế giới lại thuộc về những nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam. Đây là những nước có kinh nghiệm canh tác truyền thống nhưng lại không đủ các công nghệ cho một nền nông nghiệp hiện đại. Thời tiết vẫn là yếu tố sống còn quyết định năng suất nền nông nghiệp tại những quốc gia này. Trong hơn 15 năm qua, Quỹ đa phương của Nghị định thư Montreal đã hỗ trợ cho gần 150 nước với số tiền gần 2 tỷ USD, tạo nên những biến chuyển tích cực trong vấn đề giảm thiểu phát thải khí gây tổn hại đến tầng ôzôn. Tuy nhiên, cho dù có thêm nhiều Quỹ như vậy đi chăng nữa nhưng nếu các “rốn” khí thải của thế giới không ban hành các chính sách và cơ chế và thực thi nghiêm chỉnh các thỏa ước quốc tế thì e rằng, trong thế kỷ tới những nước giàu cũng không có gạo để ăn. Thế giới lại khốn đốn trong “cơn đói”.  Dường như thế giới vẫn đang mê ngủ trong cơn đói có thể dội đến bất cứ lúc nào. Trong cán cân một bên là chạy theo công nghiệp còn bên kia là bám vào nông nghiệp để “nấu cơm” cho nhân loại chúng ta phải ưu tiên cho bên nào? Những gì đang diễn ra cho thấy, sự mất cân bằng giữa hai cán cân này ngày càng trầm trọng. Cỗ xe công nghiệp toàn cầu lăn bánh không kiểm soát đã đè lên thảm cỏ nông nghiệp. Và không gì khác, nền nông nghiệp toàn cầu đang là nạn nhân của chính sự phát triển công nghiệp. FAO khuyến khích các nước đang phát triển cải tiến kỹ thuật canh tác bằng việc áp dụng công nghệ và bán các tín dụng cácbon theo cơ chế CDM của Nghị định thư Kyoto. FAO cho rằng, công nghệ là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Thật đáng buồn, kể từ khi Nghị định thư Kyoto ra đời, các nước phát triển đã không thực thi bổn phận giúp các nước đang phát triển đến nơi đến chốn.  Đã đến lúc các quốc gia phải cùng ngồi với nhau để sẻ chia trách nhiệm, cùng nhau đưa ra một lộ trình phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên những quy định và chế tài bắt buộc để hạn chế, đối phó và thích nghi với những biến đổi khí hậu. Và bên cạnh việc thực thi các thỏa ước chung buộc các nước phải cam kết giảm thiểu khí nhà kính, thì các nước phát triển nên chuyển giao công nghệ để giúp những nước nghèo được trang bị những công cụ canh tác tối thiểu để đối phó trong mọi tình huống diễn biến của thời tiết, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực toàn cầu. Khi cộng đồng quốc tế chưa tìm được các biện pháp hữu hiệu để hạn chế những rủi ro của biến đổi khí hậu thì những nỗ lực của các nước giàu chung tay hỗ trợ các nước nghèo đang là nạn nhân đầu tiên và dễ tổn thương nhất là cần thiết hơn cả.  Tham khảo: Science và Scientific American    Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp và tương lai Trung Quốc      Với công nghệ như hiện nay thì đến năm 2050, Trung Quốc sẽ không đủ lương thực. Vì sao lại thế? Và Trung Quốc có lẽ nên làm gì để điều đó không xảy ra? Bài bình luận đăng trên tạp chí Nature sẽ xoay quanh những câu hỏi đó.    Với mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 4% một năm, GDP trên đầu người của Trung Quốc đến 2050 sẽ bằng với Nhật Bản hiện nay. Nếu chú trọng đến các vấn đề xã hội và khai thác tốt sức mạnh của khoa học công nghệ (KHCN), Trung Quốc thậm chí có thể vượt qua cả mức đó.  Những chênh lệch giữa thành phố và nông thôn cũng như giữa miền đông và miền tây Trung Quốc là quá lớn, chúng tạo ra một sự ngăn cách xã hội ngày càng nghiêm trọng. Hiện nay, 70% dân số nước này sống ở nông thôn. Trong 70% đó, 50% là nông dân và 20% là “di động”. Tầng lớp người “di động” này thường xuyên di cư đến bất cứ nơi đâu mà họ có thể tìm được việc. Những người ở lại quê hương để làm nông thì cũng không phải lúc nào cũng có việc, vì tính chất mùa vụ của nghề nông. Thêm vào đó, thu nhập của nông dân là cực kỳ thấp.  Hãy giảm bớt gánh nặng cho chúng tôi!  Ở các nước phát triển, khu vực nông nghiệp chỉ đóng góp cho GDP với tỷ lệ khá thấp. Theo số liệu năm 2002, khu vực nông nghiệp của Nhật Bản chỉ chiếm 1,4% GDP. Ở Mỹ, nông nghiệp cũng chỉ đóng góp 2% và chiếm 2% lực lượng lao động. Trong khi đó, ở Trung Quốc, nông nghiệp đem lại 15% GDP và chiếm tới một nửa lực lượng lao động.  Đến năm 2050, ngay cả khi giả sử rằng dân số Trung Quốc được ổn định ở mức 1,6 tỷ, nhu cầu về lương thực vẫn phải tăng gấp đôi. Với công nghệ đang được sử dụng hiện nay, việc tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu đó là bất khả thi. Trung Quốc ngay bây giờ phải hành động để thúc đẩy sự phát triển nông thôn.  Khu vực nông nghiệp của Trung Quốc là quá lớn và không thể ổn định hóa trong ngày một ngày hai, nhưng chính phủ nước này từ lâu đã hiểu rõ được tầm quan trọng của nông nghiệp và đã coi việc giải quyết vấn đề nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Tuy vậy, những vấn đề căn bản vẫn còn tồn tại.  Để hiểu được tình trạng nông nghiệp ở Trung Quốc, có lẽ người ta phải đến tận nơi và để quan sát và tìm hiểu các vùng nông thôn. Khi một câu hỏi được đưa ra cho một nhóm năm người nông dân: “Các bạn có muốn nói gì với chủ tịch nước ở Bắc Kinh không?” Họ nhất loạt trả lời mà không hề ngần ngại: “Hãy giảm bớt gánh nặng cho chúng tôi”.                     Một trong những thứ tạo nên “gánh nặng” chính là thuế nông nghiệp. Tiền thu từ thuế này tuy chỉ đóng góp 1% cho ngân quỹ quốc gia nhưng lại là một vấn đề lớn đối với những người nông dân Trung Quốc. Thuế này để bù vào chi phí sửa đường, hệ thống tưới tiêu và duy trì hệ thống hành chính nông thôn ở địa phương. Hầu hết những khoản đó đều không được chính phủ trả tiền. Mặc dù thuế cố định là thấp nhưng lại có rất nhiều các loại lệ phí khác khiến người nông dân phải bỏ ra hầu hết số tiền thu nhập của họ để chi trả. Điều này đôi khi đã gây ra nhưng bất mãn. Nếu tất cả các loại thuế và lệ phí của nhà nước cũng như địa phương được miễn cho người nông dân thì chắc chắn là thái độ của họ sẽ trở nên cực kỳ thiện chí.  Một gánh nặng nữa cũng ở trên vai người nông dân là yêu cầu cần phải bảo vệ sự màu mỡ của đất đai, chống xói mòn và ô nhiễm. Tuy nhiên, việc người nông dân có những ưu tiên khác là điều dễ hiểu: để có đủ thu nhập, họ phải thâm canh mạnh, tăng và xen vụ liên tục. Điều đó dẫn đến việc sử dụng nhiều nước và hóa chất khiến đất bị rửa trôi mặn hóa và ô nhiễm. Vì đất trồng là của tập thể nên tư tưởng “cha chung không ai khóc” khiến người nông dân ít chú ý đến bảo vệ đất. Nông dân vẫn thường cảm thấy họ giống như những người sử dụng đất đai tạm thời ngay cả khi họ có hợp đồng dài hạn. Nếu chính phủ trao quyền sở hữu cho dân cày thì chắc chắn là sẽ thúc đẩy được họ có trách nhiệm quản lý đất tốt hơn. Thêm vào đó, nhiều mảnh ruộng nhỏ phân tán của các tá điền có thể được quy hoạch lại thành những diện tích lớn hơn, đáp ứng được với việc cơ giới hóa. Đương nhiên là điều đó sẽ dẫn đến sự tăng hiệu quả và năng suất.  Có nhiều nhân tố khác có thể làm giảm gánh nặng của nông dân và tăng thu nhập của họ: áp dụng công nghệ hiện đại, phát triển thương hiệu và hệ thống tiếp thị sản phẩm, và có lẽ điều quan trọng nhất là giảm số lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp.  Có một cách khác để nâng cao lợi ích cho nông dân là tổ chức họ vào các liên hiệp để có thể thực hiện tất cả các bước, từ sản xuất đến tiếp thị và bán sản phẩm. Điều này sẽ làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí, nâng cao vị thế thương mại và thu được những nguồn tài chính lớn hơn. Thêm vào đó, sự thành lập các liên đoàn hoạt động kinh tế ở nông thôn cũng có thể trực tiếp tăng thu nhập của nông dân và tăng các cơ hội việc làm.  Phát triển nguồn lực  Để phát triển sản xuất nông nghiệp, ba nguồn lực quan trọng nhất – con người, đất đai và nước phải được sử dụng với hiệu quả tốt nhất.  Nhiều người cho rằng, quan trọng nhất trong ba điều này là chính bản thân người nông dân. Hầu hết họ đều không được học hành căn bản, vì thế việc tiếp thu các công nghệ mới là khó. Trẻ em trong các cộng đồng nông nghiệp cần ít nhất 9 năm phổ cập giáo dục, miễn học phí, và các sinh viên giỏi từ vùng sâu vùng xa nên được tạo điều kiện tối đa để được vào đại học và học tiếp sau đại học. Chính phủ và các trường đại học có lẽ phải đẩy mạnh hơn nữa giáo dục ở nông thôn.  Trung Quốc đã dành nỗ lực lớn để phát triển nền tảng KHCN của nước này. Các mục tiêu chính là cải thiện đời sống xã hội, nâng cao tính cạnh tranh quốc tế và gặt hái nhiều thành tựu khoa học. Nhưng nhiều chỉ số đánh giá về mức độ đổi mới và phát triển công nghệ đã cho thấy rằng, Trung Quốc vẫn còn tụt hậu xa so với nhiều nước phát triển. Nước này có lẽ phải tăng hơn nữa đầu tư cho khoa học công nghệ, bởi vì xét đến cùng thì điều đó sẽ giúp giảm nghèo đói và tăng sản lượng nông nghiệp.  Theo một báo cáo gần đây được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế ở Washington, cứ 10.000 NDT (1250 USD) chính phủ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sẽ có thể giúp được 7 người thoát khỏi cảnh nghèo đói. Trong sản xuất nông nghiệp, cứ mỗi tệ được đầu tư cho nghiên cứu sẽ khiến sản xuất sinh lợi thêm 8 tệ.               Trung Quốc thực ra có thể tranh thủ được các kinh nghiệm của các nước phát triển để tái thiết kế lại nền KHCN. Trong các chương trình nông nghiệp, giáo dục, nghiên cứu và triển khai phải vận hành như một thể thống nhất. Mỗi tỉnh hay vùng miền nên có hẳn một hệ thống giáo dục trình độ cao, nằm trong mạng lưới giáo dục của quốc gia. Thậm chí, những vùng rộng lớn phải cần đến một vài hệ thống như vậy.  Đến 2050, để dân số khổng lồ của Trung Quốc đủ ăn, một lực lượng lao động trong  nông nghiệp được đào tạo tốt sẽ là yếu tố sống còn. Trung Quốc có lẽ phải cần đến những cây trồng và vật nuôi biến đổi gene đủ an toàn để đáp ứng đủ nhu cầu – vì vậy, kiến thức khoa học đương nhiên là không thể thiếu để có thể có được thành công.  Ngoài việc được học hành, nông dân cũng cần đất để trồng trọt. Trung Quốc tuy rộng nhưng tài nguyên đất trồng lại có vẻ như là khan hiếm. Chỉ 10,2% diện tích là thích hợp cho trồng trọt và 37,1% là thích hợp cho chăn nuôi.   Vấn đề lớn ở đây thực ra là làm sao để Trung Quốc có thể tự đáp ứng được nhu cầu lương thực của họ, mặc dù ở khía cạnh nào đó, sự lo lắng này có lẽ là hơi quá mức. Hầu như không nước nào có thể thoả mãn được tất cả những nhu cầu của mình- mọi quốc gia đều ít nhiều bị hạn chế bởi các điều kiện địa phương và do đó phải dựa vào thông thương để nhập khẩu những thứ mà họ không sản xuất được.   Ở Trung Quốc, việc khai khẩn đất hoang có thể giúp cho nông nghiệp có thêm rất nhiều đất. Chẳng hạn, riêng ở Tân Cương, bên cạnh 8 triệu héc-ta đất trồng là 47 triệu héc-ta đất hoang và đồng cỏ. Ở các vùng miền tây, rất nhiều tài nguyên đất vẫn đang để không và chờ được khai thác.  Việc di cư đến các miền đó có thể làm giảm nhẹ áp lực dân số ở miền đông Trung Quốc. Mặc dù việc di cư quy mô lớn có thể gây nên những hủy hoại đối với các miền văn hóa nhưng điều đó là cần thiết để nâng cao chất lượng sống của những người bản địa và người đến định cư trên vùng nông thôn rộng lớn này. Điều đầu tiên cần làm ở miền tây là sản xuất đủ lương thực và xây dựng các nền tảng kinh tế xã hội ở đây, sau đó sẽ quay sang đáp ứng các nhu cầu ở miền đông. Tân Cương nằm giữa vùng miền tây rộng lớn, giàu tài nguyên và vì vậy nên được ưu tiên phát triển để đảm bảo sự quay vòng nhanh của vốn đầu tư. Tân Cương có thể trở thành “California của Trung Quốc.”  Một biện pháp khác là đi “thuê” đất trồng ở nước ngoài, chẳng hạn như ở Nam Mỹ, châu Phi và Nga. Tuy nhiên, về lâu về dài, Trung Quốc vẫn phải tự lực làm ăn trên đất của họ, điều đó đòi hỏi họ phải quản lý đất đai thật cẩn thận và hiệu quả.  Nước là một yếu tố quyết định khác trong nông nghiệp. Nguồn nước ngầm của Trung Quốc chỉ có giới hạn. Nước trên bề mặt thì lại phân bố không đều. Đến năm 2050,  Trung Quốc có thể bị thiếu đến 400 tỷ mét khối nước.  Phân bố mưa cũng không đều, đồng bằng miền bắc chiếm hơn một nửa số đất trồng nhưng lại chỉ nhận được 20% lượng mưa toàn lãnh thổ. Hầu hết các trận mưa đều xảy ra ở các vung miền nam. Ở miền tây thì có nhiều nước từ trên núi, đó là những nguồn nước cung cấp cho các sông Dương Tử và Hoàng Hà. Nhưng hầu hết nước miền tây đều đi qua sa mạc hoặc chạy sang nước bạn gây lũ lụt.  Chính phủ đã tìm nhiều cách để giải quyết vấn đề nước. Có một cách đáng chú ý là đổi hướng dòng chảy của sông Dương Tử. Tuy nhiên, cách này có lẽ sẽ không thể làm lợi cho nông nghiệp. Hơn nữa, người ta cũng không chắc chắn là có bao nhiêu nước có thể được chuyển dòng khi xét đến việc 40% nước phải được giữ lại để duy trì hệ sinh thái và 20% để phát triển kinh tế xã hội ở khu vực Dương Tử.      Dù việc tăng đầu tư vào nghiên cứu khoa học nông nghiệp ở Trung Quốc đang có chiều hướng tích cực. nhưng muốn giải quyết một cách cơ bản những vẫn đề về nông nghiệp, có lẽ Trung Quốc phải đầu tư ít nhất 3%GDP cho nghiên cứu KHCN. Nếu làm được như vậy, Trung Quốc có thể yên tâm hơn về tính bền vững trong sự tăng trưởng nhanh của mình.           TTD (lược dịch từ Nature)    T.C. Tso      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nông nghiệp-nông dân-nông thôn: trở lực hay động lực cho tăng tốc công nghiệp hóa?      Ba thế kỉ trước, nước Anh dẫn châu Âu vào cơn lốc công nghiệp hóa đầu tiên, ước vọng giàu có cuốn mọi nguồn lực xã hội vào phát triển công nghiệp, mở rộng đô thị. Cùng lúc, nền kinh tế cần có ngay một lượng lương thực, thực phẩm nhiều và rẻ, vừa huy động một lượng khổng lồ nguyên liệu, nhiên liệu, đất đai và lao động. Vật hi sinh đầu tiên của sự đòi hỏi ghê gớm này là nông thôn và nông dân.    “Món nợ” với nông dân  Hàng triệu nông hộ nhỏ sống bằng nghề trồng trọt bị thay bằng các trang trại, đồn điền chăn nuôi lớn cung cấp lông cừu cho công nghiệp dệt. Nông dân phá sản trở thành công nhân vô sản và dân nghèo đô thị. Gia đình tiểu nông truyền thống mất, làng xã tan vỡ theo. Những gia đình quen sống hài hòa với thiên nhiên phải chen chúc nhau trong các khu dân cư ổ chuột bẩn thỉu và tối tăm. Người nông dân quen tự do làm chủ trở thành lao động làm thuê 16 tiếng một ngày trong những điều kiện tàn nhẫn.                     Giai đoạn 1801-1861, tỷ lệ lao động nông nghiệp ở Anh giảm từ 35,9% xuống còn 18,7%  lực lượng lao động. Ở Đức, tỷ lệ này giảm từ 46 xuống 37% trong giai đoạn 1870-1914. London có 1,12 triệu dân vào đầu thế kỷ 19, đến năm 1901 tăng lên 6,59 triệu người. New York, năm 1870 có 1 triệu người tăng lên 5,6 triệu năm 1920.  Nông nghiệp bị lấy đi kiệt sức. Mặc dù được cơ giới hóa, thủy lợi hóa và hóa học hóa nhưng ở hầu hết các nước Anh, Đức, Thụy Điển, Mỹ, Nhật Bản,… nông nghiệp đều suy thoái, thiếu lương thực nghiêm trọng. Trong giai đoạn 1900-1939, 80% lương thực thực phẩm xuất khẩu của Đài Loan được đưa sang Nhật Bản, khoảng 60% tiêu dùng ở Anh phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Sự suy sụp của nông nghiệp ở các nước công nghiệp hóa trước được bù đắp bằng mồ hôi nước mắt của lao động nô lệ và bóc lột thuộc địa.  Sức hút khủng khiếp về vật liệu, năng lượng đã phá hết rừng nguyên sinh ở Anh, Pháp, Đức và cả Châu Âu. Mỏ than và các loại khoáng sản bị khai thác khắp nơi. Sinh thái bị tàn phá và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thiên tai và bệnh tật lan tràn. Nhưng sự bùng nổ đáng sợ nhất là mâu thuẫn chính trị, xã hội. Sự bóc lột nhóm người này đem lại giàu có cho nhóm người kia đã biến châu Âu trong suốt giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã trở thành nơi khởi điểm của nhiều cuộc cách mạng xã hội, hai cuộc chiến tranh thế giới, là nơi khởi đầu của nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế.            Đài Loan kiên quyết cải cách ruộng đất          Sự hi sinh của nông dân suốt quá trình công nghiệp đã trở thành món nợ chính trị đến ngày nay. Tuy nông nghiệp và dân cư nông thôn chỉ chiếm tỷ lệ vài ba phần trăm trong GDP và tổng dân số nhưng nông dân đã trở lực lượng chính trị có tiếng nói đặc biệt quan trọng trong xã hội công nghiệp. Các nước giàu ngày nay tuy hào phóng viện trợ cho các nước nghèo nhưng vẫn lúng túng bảo hộ mậu dịch và trợ cấp chính phủ để ngăn chặn các nước nghèo bán nông sản sang. Các vòng đàm phán WTO về nông nghiệp sau hàng chục năm vẫn tắc tị.  Sau thế chiến lần thứ 2, một loạt quốc gia dành được độc lập và các nước này lập tức lao vào làn sóng công nghiệp hóa mới, định về đích trong thời gian ngắn hơn, với điều kiện “hạn hẹp” hơn: không bóc lột thuộc địa, không khai thác lao động nô lệ, không làm cạn kiệt thiên nhiên, không vô sản hóa nông dân nhỏ,… Muốn vậy, các nước đi sau huy động những lợi thế mới như  vốn đầu tư phong phú, khoa học công nghệ phát triển,…   Điều đáng nói là, bên cạnh những lời tuyên bố đẹp đẽ, dù ở nước theo chủ trương kinh tế kế hoạch hay nước theo kinh tế thị trường, một lần nữa nông nghiệp, nông thôn vẫn được chọn để hi sinh vô điều kiện cho sự phát triển của công nghiệp và đô thị. Và vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân lại chuyển từ phạm vị kinh tế sang chính trị.    Khoảng cách lớn  Tại các nước châu Mỹ La Tinh, chế độ trang trại sở hữu đất đai lớn duy trì sự chênh lệch sở hữu đất đai. Công nghiệp phát triển hướng về hàng hoá thay thế nhập khẩu đã dẫn đến chính sách bảo hộ mậu dịch góp phần làm tách rời công nghiệp và nông nghiệp. Công nghiệp và đô thị tăng trưởng nhanh bỏ lại nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy lao động và dân nông thôn di cư ra những thành phố khổng lồ ô nhiễm và nghẽn tắc giao thông.  Chính sách kinh tế thất bại gắn với đảo lộn chính trị. Phát triển công nghiệp thất bại tiếp nối bằng cuộc cải cách nông nghiệp cũng chẳng thành công ở Chi lê, Pêru, Ecuado, Columbia vào những năm 1960-1970 và Nicaragoa và Enxanvador vào những năm 1970-1980. Các cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân chủ trong thập kỷ 1960 rồi bầu cử tự do lại thay thế các chính thể quân sự giai đoạn 1980-1990. Năm 2006, 10 nước bầu cử thì 7 nước lãnh đạo cánh tả lên cầm quyền cộng với 6 nước cánh tả đã nắm chính quyền từ trước, 70 triệu dân và 80% diện tích của lục địa đã về tay cánh tả.  Nhưng xu hướng ở châu Mỹ La Tinh ngày nay không xuất phát từ niềm tin mãnh liệt vào chủ nghĩa xã hội như ở các nước khối Liên Xô trước kia mà bắt nguồn từ sự thất vọng sâu sắc của đa số cử tri nghèo sau 20 năm thực hiện không thành công mô hình “kinh tế thị trường cổ điển” dưới sức ép của quỹ tiền tệ quốc tế (tự do hoá thương mại, tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước, xây dựng khối thị trường tự do trong khu vực…)              Chế biến trái cây ở Hàn Quốc          Sau 15 năm tưởng đã cất cánh công nghiệp hóa, các quốc gia Châu Mỹ La tinh hai lần (1980, và 1995) rơi vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Kinh tế sa sút, nợ nước ngoài chồng chất, tỷ lệ thất nghiệp cao, nhân dân nhất là các tầng lớp nghèo bất mãn. Trong tổng số 550 triệu dân Châu Mỹ La Tinh có đến 40 triệu người sống với mức dưới 2 USD/ngày. Vấn đề nông nghiệp nông thôn nông dân chưa có lối ra.  Nhóm các nước Nam Á khởi đầu công nghiệp hóa khó khăn hơn. Xuất phát từ một nền kinh tế tiểu nông, ít đồn điền trang trại lớn và không có dầu mỏ, các thể chế quản lý và điều hành xã hội ít quan tâm đến quyền lợi số đông người nghèo. Xã hội phân biệt tôn giáo, giới tính và sắc tộc. Mặc dù, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng mạnh nhờ “cách mạng xanh”, cũng giống như Nam Mỹ, Nam Á cải cách ruộng đất không thành công và cũng áp dụng chiến lược phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu.  Kết quả công nghiệp hóa của các nước Nam Á còn tệ hại hơn các nước Nam Mỹ. Nền kinh tế bị chia cắt thành hai phần, một bên là các đô thị lớn với công nghiệp phát triển và phải gánh chịu số dân di cư to lớn từ nông thôn đổ về. 20% người giàu chiếm gần 40% thu nhập của cả vùng, còn 20% người nghèo chỉ chiếm dưới 10%. Số người nghèo tuỵêt đối tăng từ 270 triệu người năm 1960 lên 515 triệu người năm 1995, 60 đến 70% dân số sống ở nông thôn nhưng mức thu nhập thực tế liên tục giảm từ năm 1980-95. Môi trường bị phá hoại nghiêm trọng, tỷ lệ diện tích rừng mỗi năm mất đi 3%, thiên tai diễn ra thường xuyên. Mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn đến xung đột vũ trang, mâu thuẫn sắc tộc và các yêu sách ly khai lãnh thổ. Các yếu kém trong phát triển nông nghiệp và nông thôn không chỉ cản trở phát triển kinh tế mà thực sự là nguyên nhân chính của tình trạng bất ổn chính trị ở nhiều quốc gia.  Tại Đông Nam Á, trừ Philipines, quá trình cải cách ruộng đất diễn ra khá thành công, sản xuất nông nghiệp tiểu nông khá phát triển, công nghiệp hướng tới xuất khẩu, nhờ đó kinh tế tăng trưởng khá tốt. Malaysia suốt từ năm 1969 cho đến 1995 đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7,5% (trừ 2 năm 1984, 1986). Indonesia suốt ba thập kỷ 1967-1996 tăng trưởng trung bình 6,8%/năm. Thái Lan trong bốn thập kỷ tăng trưởng 7,6%/năm. Nhiều người đã gọi các quốc gia này là những con hổ chuẩn bị công nghiệp hóa. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997 đã đẩy các nước này lùi lại một bước. Nhiều chính quyền Đông Nam Á phải thay đổi.  Trong biến chuyển từ kinh tế sang chính trị, nhân tố nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò quan trọng. Ví dụ ở vùng miền Nam Thái Lan, nông nghiệp và nông thôn không được chú ý phát triển so với các địa phương khác. Mâu thuẫn về cách biệt mức sống và quyền lợi cộng với sự đồng hoá nền văn hoá Hồi giáo nói tiếng Malaysia đã chuyển thành mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc, thổi bùng ngọn lửa bạo động ly khai. Cựu Thủ Tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra đưa ra các chính sách xoá đói giảm nghèo và phát triển nông thôn dành được sự hậu thuẫn đông đảo của nông dân toàn quốc nhưng lại tạo ra sự bất bình của tầng lớp thị dân và doanh nhân. Cuộc đảo chính năm ngoái xảy ra ngăn chặn được cuộc bầu cử mà số đông cử tri nông thôn có thể sẽ ủng hộ Thaksin, nhưng câu hỏi về chia rẽ quyền lợi giữa nông thôn, nông dân và công nghiệp, đô thị ở Thái Lan vẫn còn đó.    Cả thế giới hôm nay đang nhìn về Trung Quốc. Gần 30 năm qua, mức tăng trưởng GDP xấp xỉ 10% tạo nên mức giảm nghèo kinh ngạc và giải quyết an ninh lương thực mẫu mực. Tuy nhiên khi tăng tốc công nghiệp hoá, thì nông thôn trở thành gánh nặng phải xử lý. Năm 2001, thu nhập cư dân đô thị gấp 2,9 lần cư dân nông thôn, đến năm 2006, mức chênh này là 3,3 lần. Chỉ có 13 triệu trong 800 triệu dân nông thôn được trợ giúp tối thiểu về an sinh xã hội. Khoảng 100-150 triệu lao động nông thôn rời ruộng đồng ra thành phố làm việc. Họ làm việc cực nhọc mà gia đình không được hưởng quyền lợi y tế, giáo dục, văn hóa,… Trung Quốc đứng đầu thế giới về chênh lệch giàu nghèo. 10% dân số giàu có nhất sở hữu tới 40% tổng lượng tài sản cá nhân, trong khi 10% dân số nghèo nhất chiếm chưa tới 2%.  Trung Quốc ô nhiễm không khí và nguồn nước nhất thế giới, chiếm 16 thành phố / 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống thiếu hụt, 70% sông ngòi bị ô nhiễm. Từ các đô thị, 20% lượng nước thải, 150 triệu tấn rác được thải tự do về các vùng nông thôn. Tình hình mất an toàn vệ sinh thực phẩm rất nghiêm trọng.  Sự khác biệt về kinh tế, căng thẳng môi trường tất dẫn đến mâu thuẫn xã hội. Mặc dù tránh đưa tin chính thức về các vụ chống đối, phá phách của nông dân nhưng tình hình khiếu kiện, biểu tình phản đối lấy đất, chống lạm thu, chống tham nhũng, chống gánh nặng thuế khóa, đòi thanh toán lương và trợ cấp hưu, thời gian qua rất nghiêm trọng… Các vụ bất ổn xã hội ở Trung Quốc năm 1993 là dưới 10 nghìn vụ, năm 2003 tăng lên 6-7 lần, đến nay gấp 8-9 lần, trung bình 200 vụ/ngày.  Một khi vấn đề “tam nông” chuyển từ kinh tế-kĩ thuật sang chính trị-xã hội, nông nghiệp-nông dân-nông thôn trở thành tiêu điểm của các diễn đàn chính sách. Năm 2006, ở Trung Quốc, GDP nông nghiệp chỉ còn chiếm 12,5% tổng GDP kinh tế, và mỗi năm, chính phủ vừa chấm dứt mọi khoản thuế, phí vừa phải trợ cấp cho nông nghiệp, nông dân 30-40 tỷ USD.  Bài học: Phải bảo vệ quyền lợi của nông dân  Trong đa số các tấm gương thất bại của làn sóng công nghiệp hóa mới, nổi lên hai trường hợp thành công hiếm hoi của Đài Loan và Hàn Quốc.  Hàn Quốc công nghiệp hóa trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Nghèo tài nguyên, bất thuận khí hậu, chiến tranh phá huỷ hoàn toàn kinh tế và môi trường. Hàn Quốc đi lên công nghiệp hóa khi bên trong không có tích lũy vì sức dân kiệt quệ, bên ngoài không có đầu tư trực tiếp vì chẳng nước nào tin, và vẫn phải duy trì chi phí quốc phòng cao. Thập kỷ 50 đến tận đầu thập kỷ 60, GDP chỉ tăng 3,7%/năm, thu nhập bình quân đầu người 67 – 87 USD. Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với hơn hai phần ba dân số sống ở nông thôn.  Từ những năm 60 đến 70, trong hoàn cảnh nông nghiệp không có lợi thế, 94% vốn đầu tư tích lũy phát triển kinh tế phải vay nước ngoài theo kiểu ăn đong 2 tỷ USD/năm, (60% là tư nhân vay thương mại, 28% Chính phủ vay phát triển hạ tầng cơ sở).  Hàn Quốc chấp nhận một chiến lược kinh tế mà hầu hết các chuyên gia kinh tế lúc đó cũng như ngày nay đều cho là “quá mạo hiểm”, đó là: ưu tiên phát triển lĩnh vực công nghiệp làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sau khi đã thành công phát triển công nghiệp mới quay lại phát triển nông nghiệp, nông thôn. Phải công nghiệp hóa thành công trong thời gian ngắn nhất.  Sau 2 kế hoạch 5 năm, nhờ quyết sách chiến lược đúng đắn như phát triển tài nguyên con người, tập trung nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, công nghiệp hướng vào xuất khẩu, đầu tư kết cấu hạ tầng tiết kiệm và hiệu quả… Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong mười năm là 9,3% trong khi tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của thế giới chỉ là 5%. Hàn Quốc làm được điều kì diệu trở thành một nước công nghiệp sau 30 năm công nghiệp hóa.  Sự thành công đó phải trả giá. Tại Hàn Quốc cuối thập kỷ 60, xuất hiện sự phân cách và đối lập giữa thành thị hiện đại và nông thôn lạc hậu. Rừng bị chặt phá khắp nơi, sự tăng trưởng bất cân đối trong nền kinh tế lên tới đỉnh điểm. Mâu thuẫn xã hội và môi trường đe dọa sự ổn định của quá trình công nghiệp hóa. Trong khi một phần nhỏ dân cư đô thị hăng say học tập, cố gắng cạnh tranh làm giàu, quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, bi quan và ỷ lại, lối thoát duy nhất là rời bỏ quê hương, chạy về đô thị.  Trước tình hình nguy cấp, đầu thập kỉ 1970, sang kế hoạch 5 năm lần thứ 3, Chính phủ đầu tư trở lại khoảng 2 tỷ USD cho phát triển nông thôn. Khác với nhiều nước khác, Hàn Quốc chỉ dùng tiền nhà nước làm phương tiện thay đổi tâm lí thụ động, ỷ lại của nông dân. Mục tiêu của chính sách là tạo niềm tin cho nông dân để họ tự đứng lên tổ chức nhau lại hợp tác phát triển nông thôn theo cộng đồng.  Tại từng làng bản, các tổ chức cộng đồng được nông dân thành lập. Các lãnh đạo dân bầu dân chủ thực sự nắm quyền tổ chức mọi hoạt động phát triển, từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến tổ chức khuyến nông. Họ nắm tiền nhà nước và huy động dân cùng đầu tư xây dựng nông thôn. Lãnh đạo của nông dân tham gia các cuộc họp Chính Phủ. Tổng thống đi hết từng làng bàn bạc và khuyến khích dân tự chủ. Nhân dân tổ chức đánh giá và công khai kết quả phong trào. Làng nào làm tốt mới được đầu tư tiếp.   Sau 30 năm thực hiện phong trào ‘làng mới”, những nông dân đói nghèo trở nên tự tin. Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích luỹ, tự đầu tư, và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển. Trong những năm 70, dự án Saemaul một mặt giữ chân và tạo thu nhập cho lượng lao động chân tay khổng lồ thừa ra từ sản xuất nông nghiệp, mặt khác đã nâng cao tay nghề và khả năng lãnh đạo, ý thức và phương thức làm việc của lao động nông thôn chuyển họ thành lực lượng lao động có đủ kỹ năng và tác phong hiện đại. Trong vòng 20 năm, tổng số người làm nghề nông giảm 50%.  Con đường của Đài Loan khác hẳn Hàn Quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đài Loan rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Thu nhập bình quân xuống dưới 200 USD/người, lạm phát cao, dân số tăng 3,5%/năm, đất nông nghiệp bình quân chỉ có 0,2 ha/người, thất nghiệp lên tới 50%. Năm 1950 rời Trung Quốc lục địa, số người theo chính phủ Quốc dân đảng tăng vọt, tạo thêm khó khăn cho Đài Loan.  Chính phủ Tưởng Giới Thạch học được bài học vô giá là muốn ổn định chính trị phải phát triển nông thôn, muốn giữ chính quyền phải bảo vệ quyền lợi nông dân. Khác với tất cả các nước công nghiệp hóa trước đây, Đài Loan kiên quyết cải cách ruộng đất, nhanh chóng tạo nên tầng lớp tiểu nông có đất, có vốn, có kiến thức. Học từ khẩu hiệu của đảng Cộng Sản “người cày có ruộng”. Đài Loan đã vượt xa hơn, chủ động tổ chức nông dân nhỏ trong nông hội, thúc đẩy nông dân tự nguyện và dân chủ phát triển kinh tế hợp tác. Gần 100% tham gia các hợp tác xã hoạt động hiệu quả,  Nông hội là tổ chức của nông dân, bảo vệ quyền lợi và là đại biểu của nhân dân trong hoạt động phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ban đầu, nông hội giúp nông dân tổ chức các trạm sơ chế sản phẩm nông nghiệp và khuyến nông. Về sau, nông hội giúp doanh nghiệp nông thôn xuất khẩu nông sản chế biến, thiết kế nhãn hiệu và bao bì, thành lập trung tâm bao tiêu, tổ chức vận chuyển và tiêu thụ. Thông qua các bàn bạc, đóng góp chính sách với nhà nước, nông hộ thực sự là cầu nối giữa Chính phủ và người nông dân, đại diện cho tiếng nói và bảo vệ quyền lợi nông dân. Nhà nước đầu tư cao cho nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nông nghiệp Đài Loan tăng trưởng cao và ổn định, thập kỷ 50 khoảng 4,5%/năm, thập kỷ 60 lên 5,8%/năm, tạo đà mạnh cho công nghiệp hóa.  Chính sách quan trọng khác là gắn bó công nghiệp đô thị với công nghiệp nông thôn. Đài Loan phát triển công nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn phân tán về nông thôn. Trọng tâm là công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động. Giai đoạn đầu, Chính phủ hướng sản xuất vào thị trường nội địa và thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Khi sức mua của nội địa trở nên bão hoà, chuyển sang chiến lược phát triển hướng ngoại, tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu.  Thập kỷ 50, Đài Loan phát triển công nghiệp trải đều ở các vùng nông thôn, tận dụng lợi thế tính đa dạng hoá của nông sản, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu nông sản chế biến, từ các sản phẩm thô như đường, chuối, chè… sang các sản phẩm chế biến đóng hộp như nấm, dứa, mã thầy. Cuối thập kỷ 70 đầu 80, Đài Loan tập trung quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp tập trung vẫn ở địa bàn nông thôn, hướng mạnh sang các ngành công nghiệp nhẹ, hàng điện tử. Nông sản chế biến chỉ còn tập trung vào một vài mặt hàng có lợi thế như đồ hộp, thực phẩm đông lạnh.  Nhờ gắn công nghiệp với kinh tế nông thôn. Đài Loan thành công rực rỡ “li nông bất li hương”, hút lao động ra khỏi các nghề nông, tăng thu nhập nông thôn. 1960-1970, lao động nông thôn làm nghề phi nông nghiệp tăng từ 35% lên 65%, lao động nông nghiệp giảm từ 45% xuống còn 29%. Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị không đáng kể. Thập kỷ 60, công nghiệp nông thôn đã đóng góp 60% thu nhập nông thôn, tạo công ăn việc làm cho khoảng 20% lao động nông thôn, và đóng góp tới 60% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.  Đài Loan thành công trong việc đưa công nghiệp về nông thôn nhờ 2 yếu tố quan trọng: cơ sở hạ tầng và chất lượng lao động. Giáo dục nông thôn và đào tạo kỹ thuật hướng nghiệp đã có nền tảng từ khi còn là thuộc địa của Nhật, được Nhà nước tiếp tục ưu tiên phát triển. Năm 1970, tỉ lệ biết chữ đạt 90%, và hơn 2/3 dân số nông nghiệp Đài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức. Đầu tư phát triển giáo dục mạnh, tạo ra cho Đài Loan một lực lượng lao động được đào tạo tốt, có tay nghề, nắm bắt được khoa học kỹ thuật.  Trước đây, Nhật đã đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, tập trung mạnh vào giao thông (đường sắt, đường bộ), hệ thống điện, viện nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp. Năm 1908, tuyến đường sắt đầu tiên chạy dọc Đài Loan được xây dựng, nối các cảng và trung tâm công nghiệp quan trọng nhất, thúc đẩy liên kết nông thôn và thành thị. Chính phủ Đài Loan vẫn ưu tiên đầu tư đồng bộ mạng lưới quốc lộ, và đường nhánh nối các khu vực với nhau. Đến năm 1960, 70% các hộ nông dân đã có điện với giá điện bằng thành thị.  Điều kì diệu là trong sự thành công của công nghiệp hóa Đài Loan không có sự hi sinh môi trường và nông thôn, không có nạn di cư đến những thành phố lớn. Mức đồng đều từ thu nhập tại nông thôn cao. Giai đoạn 1950-1980, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hằng năm đạt trên 12%. Đặt mục tiêu chính trị lên đầu cho vấn đề tam nông, Đài Loan đã thành công cả trong lĩnh vực kinh tế và môi trường.  Ba thế kỉ qua, 192 quốc gia độc lập trên thế giới cùng công nghiệp hóa mà chỉ có khoảng 34 nước tới đích với đầy hi sinh và mất mát. Nửa thế kỉ gần đây, các nước Châu Mỹ La Tinh, Nam Á, Đông Nam Á, và cả Trung Quốc đổ bao công sức, nỗ lực, chịu đựng nhiều tổn thất mà không một quốc gia bước được lên hàng các nước phát triển (trừ một số ngoại lệ như Singapore là một thành bang nhỏ không có nông thôn). Không có sức mạnh nào, từ nguồn dầu mỏ trời cho đến khoa học công nghệ hiện đại hay đầu tư quốc tế to lớn thay thế được cho một cách đối xử với nông nghiệp nông thôn và nông dân hợp lý.     Bài học của Đài Loan và Hàn Quốc rất gần gũi với Việt Nam cả về địa lý và hoàn cảnh khi Việt Nam đang tăng tốc công nghiệp hóa. Với đóng góp của nông nghiệp trong tổng GDP chỉ 20% mà còn tới 70% dân số và lao động tắc lại nông thôn, từ mức thu nhập bình quân hiện nay dưới 800 USD/người, mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam căn bản trở thành một nước công nghiệp là vô cùng khó khăn.  Chạy theo mục tiêu tăng trưởng vội bằng mọi giá thì “tam nông” sẽ trở thành quả tạ lớn phá tan quá trình cất cánh công nghiệp hóa, nhưng khôn khéo, hài hòa gắn công nghiệp với nông nghiệp, nông thôn với đô thị thì “tam nông” lại chuyển thành động lực tăng tốc đem lại cả thành công về chính trị, kinh tế và môi trường cho một đất nước Việt Nam bay lên.    -anh4: Nông dân Hàn Quốc  -ảnh5: Nông dân Hàn Quốc            Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang NotPetya: Thảm họa an ninh mạng lớn nhất trong lịch sử      Một buổi chiều mùa hè hoàn hảo ở Copenhagen, tập đoàn vận tải lớn nhất thế giới bắt đầu phát điên.      Tổng thiệt hại của Maersk là 300 triệu USD sau vụ tấn công NotPetya.   Tổng hành dinh của  A.P. Møller-Maersk [tập đoàn Đan Mạch hoạt động trong các lĩnh vực vận tải, hậu cần, năng lượng – ND.] nằm bên đại lộ lát đá lộng gió dọc bến cảng Copenhagen. Một cột buồm mang quốc kỳ Đan Mạch được dựng ở góc đông bắc, tòa nhà sáu tầng với những ô cửa sổ xanh da trời nhìn ra phía biển, đối diện với chỗ neo du thuyền của Hoàng gia Đan Mạch. Dưới tầng hầm của tòa nhà có cửa hàng đồ lưu niệm dành cho nhân viên, với đầy túi và cra-vát in tên công ty, và cả một mô hình Lego cực hiếm của con tàu container khổng lồ hạng “Triple-E” [ba chữ E – một loại tàu biển chở được hơn 18000 container] của công ty, một con tàu lớn bằng tòa nhà Empire State [một tòa nhà chọc trời hơn 100 tầng ở New York] nằm ngang, và có thể chở được một lượng hàng hóa tương đương với một tòa nhà Empire State nữa.  Trong cửa hàng còn có một trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, là một bàn kỹ thuật viên tin học ở cạnh quầy thanh toán. Và buổi chiều ngày 27 tháng 6 năm 2017 đó, nhiều nhóm nhân viên Maersk bối rối bắt đầu tìm đến bàn hỗ trợ, hầu hết mang theo máy tính xách tay. Trên các màn hình máy tính là các dòng chữ màu đỏ và đen. Một số viết “đang sửa hệ thống file trên ổ C” và cảnh báo không được tắt máy. Những cái khác thì viết “ui, các file quan trọng của các người đã bị mã hóa” và đòi một khoản tiền chuộc 300 USD bằng đồng tiền ảo bitcoin để giải mã.  Bên kia phố, kỹ thuật viên quản lý hệ thống tin học Henrik Jensen đang làm việc trong một bộ phận khác của khu tổ hợp, một tòa nhà trang trí bằng đá trắng mà trong các thế kỷ trước là nơi lưu trữ hoàng gia bản đồ biển. (Henrik Jensen không phải là tên thật. Cũng như hầu hết các nhân viên, khách hàng, đối tác của Maersk được tôi phỏng vấn, Jensen sợ những hậu quả của việc công khai tiết lộ về câu chuyện này). Jensen đang chuẩn bị việc cập nhật phần mềm cho gần 80.000 nhân viên của Maersk thì máy tính của anh tự khởi động lại.  Anh lầm bầm chửi thề. Jensen nghĩ rằng việc khởi động lại bất ngờ lại là một hành động thô lỗ của bộ phận tin học tổng của Maersk. Đó là một bộ phận không mấy ai ưa, đóng ở Anh, và giám sát hầu hết đế chế của tập đoàn, với tám công ty con hoạt động trong các lĩnh vực từ cảng, hậu cần đến khai thác dầu, ở 574 chi nhánh đặt ở 130 nước trên toàn cầu.  Jensen định hỏi các đồng nghiệp kỹ sư tin học trong cùng văn phòng không gian mở xem có ai bị gián đoạn một cách thô bạo như thế không. Khi thò đầu lên nhìn, anh thấy tất cả các màn hình máy tính trong phòng liên tiếp tắt phụt.  “Tôi thấy một loạt màn hình trở thành tối đen. Đen, đen, đen. Đen đen đen đen đen,” anh nhớ lại. Jensen và các đồng nghiệp xung quanh nhanh chóng nhận ra rằng các máy tính đã bị khóa. Khởi động lại cũng vẫn chỉ dẫn đến màn hình đen.  Khắp tổng hành dinh Maersk, quy mô toàn diện của cuộc khủng hoảng bắt đầu trở nên rõ ràng. Chỉ sau nửa giờ, các nhân viên Maersk đã chạy dọc các hành lang, hô mọi người tắt máy tính hoặc ngắt kết nối với mạng máy tính của Maersk trước khi bị nhiễm phần mềm độc, bởi họ nhận ra rằng mỗi phút có thể có thêm hàng chục, hàng trăm máy tính bị lỗi. Các kỹ thuật viên chạy vào các phòng họp và rút điện máy tính ngay giữa các cuộc họp. Không lâu sau, các nhân viên bắt đầu trèo qua các cổng khóa từ bị phần mềm độc làm tê liệt, để đi báo động cho các khu khác của tòa nhà.  Bộ phận tin học của Maersk mất hơn hai giờ trong hoảng loạn để ngắt kết nối toàn bộ hệ thống mạng toàn cầu của công ty. Đến lúc đó, mọi nhân viên đã nhận được lệnh tắt máy tính và để nguyên nó trên bàn làm việc. Việc ngắt mạng khẩn cấp cũng vô hiệu hóa toàn bộ các máy điện thoại bàn sử dụng internet.  Khoảng 3 giờ chiều, một nhân viên quản lý của Maersk vào phòng bảo Jensen và hơn một chục đồng nghiệp, tất cả đang lo lắng chờ tin, đi về nhà. Mạng máy tính của Maersk bị hỏng nặng đến nỗi các kỹ thuật viên tin học cũng bó tay. Một ít nhân viên quản lý kiểu truyền thống yêu cầu nhân viên của mình ở lại. Nhưng nhiều người trở nên hoàn toàn vô dụng khi không có máy tính cá nhân, máy chủ, router, điện thoại bàn, và ra về.  Jensen ra khỏi tòa nhà trong buổi chiều tháng sáu ấm áp. Cũng như phần lớn nhân viên của Maersk, anh không biết khi nào mới có thể đi làm lại. Gã khổng lồ hàng hải nơi anh làm việc, quản lý 76 cảng trên toàn thế giới và một đội tàu biển gần 800 chiếc, trong đó có những tàu container chở hàng chục triệu tấn hàng, tức là gần một phần năm lượng hàng hóa đường biển toàn cầu, đang chết cứng.  NotPetya nhằm vào ai?   Ra đến rìa khu Podil náo nhiệt ở thủ đô Kiev của Ukraine, các quán cà-phê và công viên đột ngột biến mất, thay vào đó là một khung cảnh công nghiệp ảm đạm. Ở bên dưới một đường cao tốc trên cao, bên kia đường tàu đầy rác, và qua một cái cổng bê tông là một ngôi nhà bốn tầng, trụ sở của Linkos Group, một công ty phần mềm gia đình nhỏ.  Ở tầng bốn của tòa nhà là một phòng máy chủ, trong đó có một giá để những chiếc máy tính to cỡ hộp đựng pizza, được nối với nhau bởi dây nhợ chằng chịt, và mang những nhãn đánh số viết bằng tay.Vào một ngày bình thường, những máy chủ này sẽ gửi đi những bản cập nhật thường xuyên – vá lỗi, bảo mật, tính năng mới – cho một phần mềm kế toán tên là M.E.Doc, có thể coi là phiên bản Ukraine của TurboTax hay Quicken [các phần mềm thuế, tài chính cá nhân nổi tiếng của Mỹ]. Ở Ukraine gần như ai kinh doanh hay làm hồ sơ thuế cũng dùng phần mềm này.  Nhưng năm 2017, có một lúc những máy chủ đó đã bị biến thành điểm khởi đầu cho vụ tấn công tin học gây thiệt hại nặng nề nhất kể từ khi internet ra đời – vụ việc mà ban đầu là một cuộc tấn công của một quốc gia nhằm vào một quốc gia khác.  Đã bốn năm rưỡi trôi qua kể từ khi Ukraine bị mắc vào cuộc chiến tranh không chính thức dai dẳng với Nga, cuộc chiến khiến hơn 10.000 người Ukraine thiệt mạng và khiến cho hàng triệu người khác phải sơ tán. Cuộc xung đột cũng biến Ukraine thành nơi thử nghiệm các chiến thuật chiến tranh mạng của Nga. Năm 2015 và năm 2016, trong lúc Fancy Bear, nhóm hacker được cho là có liên quan tới Kremlin, bận tìm cách đột nhập vào các máy chủ của Ủy ban quốc gia của Đảng Dân chủ Mỹ, một nhóm khác được biết đến dưới cái tên Sandworm đã tấn công được vào hàng chục công ty và tổ chức chính phủ của Ukraine. Họ đột nhập vào hệ thống mạng của các nạn nhân, từ các cơ quan truyền thông tới các công ty đường sắt, kích hoạt những “quả bom lô-gích” phá hủy hàng terabyte dữ liệu. Trong mùa đông của cả hai năm đó, những kẻ tấn công kết thúc chuỗi phá hoại của mình bằng việc gây ra mất điện trên diện rộng – đó là những vụ mất điện đầu tiên được khẳng định là do hacker gây ra.    Công ty dược phẩm Merck, Mỹ mới chịu thiệt hại lớn nhất sau vụ thảm họa này với 870 triệu USD.   Nhưng đó chưa phải màn kết của Sandworm. Mùa xuân năm 2017, các hacker trong quân đội Nga lén xâm nhập vào các máy chủ dành cho cập nhật phần mềm của Linkos Group và tạo một cổng hậu bí mật tới hàng nghìn máy tính sử dụng phần mềm M.E.Doc ở Ukraine và trên thế giới. Không một ai ở Linkos Group phát hiện ra. Và tháng 6 năm 2017, những kẻ tấn công sử dụng cổng hậu đó để phát tán một phần mềm độc mang tên NotPetya, vũ khí tin học đáng sợ nhất của họ.  Mã độc đó được viết để tự động phát tán nhanh chóng và không phân biệt đối tượng. “Cho tới nay, nó là phần mềm độc lan truyền nhanh nhất mà chúng tôi từng biết đến,” Craig Williams ở công ty Talos của Cisco, một trong những công ty bảo mật đầu tiên tiến hành giải mã [nguyên văn “reverse engineer”, trong ngữ cảnh này là tìm cách viết lại mã nguồn] và phân tích NotPetya, cho biết. “Lúc các bạn thấy nó, trung tâm dữ liệu của các bạn đã không còn nữa.”  NotPetya hoạt động nhờ sử dụng song song hai khai thác bảo mật cực mạnh. Khai thác thứ nhất là một công cụ xâm nhập mang tên EternalBlue, do Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) tạo ra nhưng bị tuồn ra ngoài do một thảm họa lộ tài liệu tuyệt mật đầu năm 2017. EternalBlue tận dụng một lỗ hổng bảo mật trong một giao thức của Windows, qua đó cho hacker quyền chạy chương trình từ xa trên mọi máy tính chưa được vá lỗi.  Những tác giả của NotPetya kết hợp cái chìa khóa tổng đó với một thứ cũ hơn có tên là Mimikatz, được chuyên gia bảo mật người Pháp Benjamin Delpy viết ra năm 2011 để chứng minh việc Windows để mật khẩu của người dùng trong bộ nhớ của máy tính. Một khi những kẻ tấn công đã kiểm soát được một chiếc máy tính, Mimikatz sẽ đi tìm các mật khẩu đó trong bộ nhớ RAM và dùng chúng để xâm nhập vào các máy tính khác sử dụng cùng các thông tin đăng nhập. Trong một mạng mà trên mỗi máy tính có nhiều tài khoản người dùng, nó cho phép một cuộc tấn công tự động nhảy từ máy này sang máy khác.  Trước khi NotPetya xảy ra, Microsoft đã phát hành bản vá cho lỗ hổng EternalBlue. Nhưng sự kết hợp của EternalBlue và Mimikatz vẫn rất hiểm độc. “Anh có thể tấn công các máy tính chưa cập nhật bản vá, sau đó lấy mật khẩu từ những máy đó để đi tấn công các máy đã được vá lỗi,” Delpy giải thích.  Mã độc này được đặt tên NotPetya vì nó có vẻ giống với phần mềm tống tiền Petya, một mã độc xuất hiện đầu năm 2016 đòi nạn nhân trả tiền chuộc để mở khóa dữ liệu. Nhưng thông điệp đòi tiền chuộc của NotPetya là giả: mục đích của nó đơn thuần là phá hủy. Nó chỉ mã hóa một chiều bản ghi khởi động (phần đầu của ổ cứng, chỉ cho máy tính biết hệ điều hành nằm ở chỗ nào) của các máy tính. Mọi khoản tiền chuộc đều không có tác dụng. Không hề tồn tại chìa khóa giải mã để sắp xếp lại những nội dung đã bị xáo trộn.  Việc phát tán NotPetya thỏa mãn gần như mọi định nghĩa về một chiến tranh mạng – một cuộc chiến dường như bùng nổ vượt quá dự liệu của những người tạo ra nó. Trong vòng vài giờ kể từ lúc xuất hiện, phần mềm độc đã vượt ra khỏi Ukraine và lây nhiễm cho vô số máy tính trên khắp thế giới, từ các bệnh viện ở bang Pennsylvania đến một nhà máy sô-cô-la ở Tasmania. Nó làm tê liệt nhiều công ty đa quốc gia như Maersk, gã khổng lồ ngành dược Merck, công ty con TNT Express của FedEx ở châu Âu, công ty xây dựng Saint-Gobain của Pháp, công ty thực phẩm Mondelēz, nhà sản xuất hàng tiêu dùng Reckitt Benckiser. Thiệt hại nó gây ra ở mỗi trường hợp đều lên đến chín chữ số. Nó thậm chí quay ngược lại nước Nga và tấn công công ty dầu khí nhà nước Rosneft.  Thiệt hại tổng cộng là hơn 10 tỷ USD, theo một đánh giá của Nhà Trắng được xác nhận bởi cố vấn An ninh quốc gia Tom Bossert, người vào thời điểm xảy ra vụ tấn công là quan chức kỳ cựu nhất chuyên về an ninh thông tin dưới quyền Tổng thống Trump. Bossert và các cơ quan tình báo Mỹ cũng đã khẳng định, vào tháng 2 năm 2018, rằng quân đội Nga, nghi phạm chính trong mọi vụ tấn công tin học nhắm vào Ukraine, là thủ phạm phát tán mã độc. (Bộ Ngoại giao Nga liên tục từ chối bình luận về thông tin này.)  Để hình dung quy mô thiệt hại do NotPetya gây ra, chúng ta hãy xét vụ tấn công bằng phần mềm tống tiền đã gây tê liệt chính quyền thành phố Atlanta vào tháng 3 năm 2018: nó gây tiêu tốn 10 triệu USD, tức là một phần nghìn so với NotPetya. Đến cả WannaCry, phần mềm độc nổi đình đám lây lan một tháng trước NotPetya vào tháng 5 năm 2017, cũng “chỉ” có thiệt hại được ước tính từ 4 tỷ đến 8 tỷ USD. NotPetya vượt xa mọi thứ khác. “Mặc dù không có thiệt hại về người, nó tương đương với việc dùng một quả bom nguyên tử để đạt được một thắng lợi nhỏ về mặt chiến thuật,” Bossert nhận xét. “Đó là một sự liều lĩnh không thể tha thứ trên bình diện quốc tế.  Từ Ukraine đến toàn thế giới  Trong một năm kể từ khi NotPetya làm rung chuyển thế giới, chúng tôi đã tìm hiểu sâu về trải nghiệm của một tập đoàn khổng lồ bị con virus của nước Nga đánh quỵ: Maersk. Cuộc khủng hoảng của họ là một thí dụ có một không hai về sự đe dọa của chiến tranh mạng đối với cấu trúc hạ tầng của thế giới hiện đại. Các lãnh đạo của đế chế tàu biển, cũng như mọi nạn nhân bên ngoài Ukraine được chúng tôi tiếp cận để hỏi về NotPetya, từ chối bình luận. Bài tường thuật của chúng tôi thay vào đó được tổng hợp từ các nguồn đang hoặc từng là nhân viên của Maersk, phần lớn yêu cầu ẩn danh.  Nhưng câu chuyện về NotPetya không thực sự xoay quanh Maersk, thậm chí cũng không phải về Ukraine. Nó là câu chuyện về một vũ khí chiến tranh của một quốc gia, với một phương thức triển khai khiến cho các biên giới quốc gia trở nên vô nghĩa, với những thiệt hại bên lề xảy đến một cách tàn nhẫn và không ngờ: một cuộc tấn công nhắm vào Ukraine lại trúng vào Maersk, và một cuộc tấn công vào Maersk cũng đồng thời trúng vào mọi nơi khác.  Oleksii Yasinsky nghĩ rằng sẽ có một ngày đi làm thứ ba nhẹ nhàng. Ngày hôm sau là Ngày Hiến pháp Ukraine, một ngày nghỉ, và hầu hết các đồng nghiệp của ông nếu không đang lên kế hoạch đi nghỉ thì cũng đã đi rồi. Nhưng Yasinsky thì không. Đã một năm nay, ông làm trưởng phòng nghiên cứu tin học của Information Systems Security Partners (sau đây viết tắt là ISSP), lựa chọn hàng đầu của những nạn nhân tấn công tin học ở Ukraine. Công việc đó không cho phép nghỉ ngơi. Sự thực là kể từ vụ tấn công tin học đầu tiên của Nga và cuối năm 2015, ông nghỉ chỉ tổng cộng một tuần.  Bởi thế, Yasinsky vẫn bình thản khi giám đốc ISSP gọi cho ông sáng hôm đó và cho biết Oschadbank, ngân hàng lớn thứ hai của Ukraine, bị tấn công. Ngân hàng báo cho ISSP rằng họ bị nhiễm một phần mềm tống tiền, một loại khủng hoảng ngày càng phổ biến ở các công ty trên khắp thế giới, do tội phạm gây ra với mục đích kiếm tiền. Nhưng nửa giờ sau, khi Yasinsky bước vào trung tâm tin học của Oschadbank ở trung tâm Kiev, ông biết ngay có sự khác thường. “Nhân viên ngơ ngác, bối rối, bị sốc,” ông nhớ lại. Khoảng 90 phần trăm trong số hàng nghìn máy tính của ngân hàng bị khóa, trên màn hình hiển thị thông điệp tống tiền “sửa ổ cứng” của NotPetya.  Xem qua các file nhật ký còn sót lại của ngân hàng, Yasinsky thấy được rằng cuộc tấn công được gây ra bởi một phần mềm tự động bằng cách nào đó đã có được thông tin đăng nhập của quản trị. Nhờ đó, nó tung hoành trong mạng máy tính của ngân hàng như một tù nhân trộm được chìa khóa của cai ngục.  Khi trở về ISSP nghiên cứu kỹ hơn về vụ tấn công ngân hàng, Yasinsky bắt đầu nhận được những cuộc gọi và nhắn tin, từ khắp nơi ở Ukraine, về những vụ tương tự ở các công ty và cơ quan chính phủ khác. Một người cho ông biết một nạn nhân khác đã thử trả tiền chuộc. Đúng như Yasinsky nghi ngờ, tiền chuộc không có tác dụng. Đây không phải một phần mềm tống tiền bình thường. “Nó không có thuốc giải,” ông nói.  Cách đó một nghìn dặm [khoảng 1600 km] về phía nam, Roman Sologub, CEO của ISSP, đã có kế hoạch nghỉ kỳ nghỉ Ngày Hiến pháp ở bờ biển phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đang chuẩn bị cùng gia đình đi ra bãi biển thì điện thoại bắt đầu ngập với những cuộc gọi từ những khách hàng của ISSP, người thì đang chứng kiến NotPetya tàn phá mạng máy tính của mình, người thì đọc được tin về vụ tấn công và cuống cuồng tìm tư vấn.  Sologub quay về khách sạn và ở lại đó cả ngày, nhận hơn 50 cuộc gọi từ các khách hàng, hết người này đến người khác thông báo rằng hệ thống của họ đã bị lây nhiễm. Trung tâm an ninh của ISSP, vốn có nhiệm vụ theo dõi các mạng của khách hàng trong thời gian thực, cảnh báo Sologub rằng NotPetya đang chiếm trọn các hệ thống của khách hàng với một tốc độ kinh hoàng: nó chỉ mất 45 giây để đánh sập hệ thống mạng của một ngân hàng lớn của Ukraine. Một phần của một nút trung chuyển giao thông lớn của Ukraine, nơi ISSP đã cài đặt thử nghiệm các thiết bị của mình, bị nhiễm mã độc hoàn toàn trong 16 giây. Ukrenergo, công ty năng lượng được ISSP giúp xây dựng lại hệ thống mạng sau vụ mất điện do tấn công tin học năm 2016, cũng lại bị tấn công. “Chúng tôi đang dự định triển khai thêm các biện pháp bảo mật, anh còn nhớ chứ?” Sologub kể lại lời một giám đốc tin học của Ukrenergo nói với ông qua điện thoại. “Quá muộn rồi.”  Đến trưa, Oleh Derevianko, người sáng lập ISSP, cũng hủy kỳ nghỉ của mình. Khi các cuộc gọi về NotPetya ập tới, Derevianko đang lái xe về căn nhà nghỉ ở nông thôn của mình ở miền bắc để gặp gia đình. Ông nhanh chóng ra khỏi đường cao tốc và làm việc trong một nhà hàng ven đường. Đầu giờ chiều, ông yêu cầu tất cả những người gọi điện thoại ngắt ngay không do dự kết nối hệ thống mạng của mình, dù cho điều đó có khiến cho cả công ty ngừng hoạt động. Trong nhiều trường hợp, người ta đã chờ quá lâu. “Khi nói chuyện được với họ, hệ thống đã hỏng rồi,” Derevianko nói.  NotPetya đã ăn tươi nuốt sống các máy tính trên cả nước Ukraine. Trong các nạn nhân của nó có ít nhất bốn bệnh viện (chỉ tính riêng) ở Kiev, sáu công ty điện lực, hai sân bay, hơn 22 ngân hàng, các máy rút tiền tự động và các hệ thống thanh toán bằng thẻ trong bán lẻ và trong giao thông vận tải, và gần như mọi cơ quan nhà nước. “Chính phủ đã chết,” Bộ trưởng phụ trách Xây dựng và Giao thông vận tải Volodymyr Omelyan tóm tắt. Theo ISSP, ít nhất 300 công ty bị tấn công, và một quan chức chính phủ cao cấp của Ukraine ước lượng rằng 10 phần trăm số máy tính của cả nước bị xóa sạch dữ liệu. Vụ tấn công thậm chí đánh sập các máy tính của các nhà khoa học ở khu xử lý thảm họa Chernobyl, cách Kiev 60 dặm [gần 100 km] về phía bắc. Theo lời Omelyan, “Đó là một cuộc đánh bom ồ ạt trên toàn hệ thống của chúng tôi”.  Ra khỏi nhà hàng vào lúc chập tối, Derevianko dừng lại để đổ xăng và phát hiện ra rằng hệ thống thanh toán bằng thẻ của trạm xăng cũng đã bị NotPetya vô hiệu hóa. Không mang tiền mặt, ông nhìn đồng hồ xăng, băn khoăn không biết có đủ để đi đến làng mình không. Khắp nơi trên cả nước, người Ukraine cũng tự hỏi những câu tương tự: không biết họ có còn đủ tiền mặt để mua đồ ăn và xăng cho đến khi qua cơn khủng hoảng hay không, không biết họ có còn nhận được lương hay lương hưu hay không, không biết họ có còn mua được thuốc hay không. Tối hôm đó, trong khi người ta còn đang tranh luận xem NotPetya là phần mềm tống tiền của tội phạm hay là chiến tranh mạng do một nhà nước tài trợ, thì các nhân viên của ISSP đã coi nó là một loại hiện tượng mới: một “cuộc xâm lược mạng quy mô lớn, có phối hợp.”  (Còn tiếp)  Tổng thiệt hại do NotPetya: 10 tỷ USD (ước tính của Nhà Trắng)  Năm 2017, phần mềm độc NotPetya từ các máy chủ của một công ty phần mềm khiêm tốn của Ukraine lan tới và làm tê liệt hoạt động của một số công ty lớn nhất trên thế giới. Sau đây là danh sách thiệt hại ước tính theo báo cáo của một số nạn nhân lớn nhất.  ● Công ty dược phẩm Merck: 870 triệu USD  ● Công ty chuyển phát FedEx (qua công ty con ở châu Âu là TNT Express): 400 triệu USD  ● Công ty xây dựng Pháp Saint-Gobain: 384 triệu USD  ● Công ty tàu biển Đan Mạch Maersk: 300 triệu USD  ● Công ty thực phẩm Mondelēz (công ty mẹ của Nabisco và Cadbury): 188 triệu USD  ● Công ty hàng tiêu dùng Anh Reckitt Benckiser (sản xuất các loại nước lau rửa Lysol và bao cao su Durex): 129 triệu USD  Nguyễn Hoàng Thạch dịch,   Tít phụ trong bài viết do tòa soạn đặt  Nguồn: https://www.wired.com/story/notpetya-cyberattack-ukraine-russia-code-crashed-the-world/    Author                Andy Greenberg        
__label__tiasang NotPetya – Thảm họa an ninh mạng lớn nhất trong lịch sử (Kỳ 2)      Tóm tắt kì trước: Phần mềm NotPetya của Nga đã đánh gục toàn bộ máy tính trên đất Ukraine. Bề ngoài giống như là một virus tống tiền nhưng ngay cả khi trả tiền chuộc cũng không có tác dụng.  Khắp nơi trên cả nước, người Ukraine tự hỏi không biết họ còn đủ tiền mặt để mua đồ ăn và xăng cho đến khi qua cơn khủng hoảng hay không, không biết họ còn nhận được lương hay lương hưu hay không, không biết họ có còn mua được thuốc hay không. Nhưng chưa dừng lại ở đó, con virus này đã lây lan khắp thế giới, điều mà chính những người tạo ra nó cũng không kiểm soát được…    Người khổng lồ Maersk bị đánh gục  Trong cơn dịch đó, có một ca lây nhiễm định mệnh đối với Maersk (Tập đoàn Đan Mạch hoạt động trong các lĩnh vực vận tải, hậu cần, năng lượng – ND): Ở một chi nhánh ở thành phố cảng Odessa bên bờ Biển Đen, một giám đốc tài chính của Maersk Ukraine đã nhờ các quản trị viên tin học cài phần mềm kế toán M.E.Doc lên đúng một chiếc máy tính. Đó là điểm tựa duy nhất cho NotPetya, và nó chỉ cần có thế.  Bến tàu ở Elizabeth, New Jersey (Mỹ – ND) – một trong 76 cảng thuộc APM Terminals, bộ phận cảng của Maersk – nằm trên một bán đảo nhân tạo rộng một dặm vuông [giữa 2 và 3 km2] vươn ra vịnh Newark. Hàng chục nghìn container xếp chồng lên nhau phủ kín mặt đất, các cần trục cao hàng chục mét sừng sững soi xuống vịnh. Nhìn từ đỉnh các tòa nhà chọc trời ở khu Hạ Manhattan cách đó năm dặm [khoảng 8 km], trông chúng như một bầy khủng long cổ dài quây quần bên một hồ nước kỷ Jura.  Thường mỗi ngày có khoảng 3000 xe tải đến bến, mỗi cái chở đến hoặc mang đi hàng chục tấn hàng hóa, từ tã đến quả bơ rồi phụ tùng máy kéo. Hệt như hành khách đi máy bay, đầu tiên chúng làm thủ tục vào bến ở cổng: các máy quét tự động đọc các mã vạch của container và một nhân viên trực cổng của Maersk nói chuyện với tài xế qua loa; tài xế được in cho một thẻ cho biết chỗ đậu xe, ở đó một cần trục khổng lồ sẽ cẩu container lên và xếp vào bãi, từ đó nó sẽ được tải lên tàu chở hàng vượt đại dương – hoặc ngược lại.  Sáng 27 tháng 6, Pablo Fernández chuẩn bị đưa hơn một chục xe tải hàng hóa ra khỏi Elizabeth, đến một cảng ở Trung Đông. Fernández (không phải tên thật của anh ta) là một người trung gian, được chủ hàng hóa thuê để đảm bảo hàng hóa của mình đi nửa vòng trái đất đến nơi an toàn.  Khoảng 9 giờ sáng giờ địa phương, điện thoại của Fernández bắt đầu liên tục nhận được những cuộc gọi từ những chủ hàng giận dữ quát tháo. Tất cả bọn họ vừa được tài xế xe tải của mình báo cáo là xe bị ách lại bên ngoài bến Elizabeth. “Mọi người nhảy chồm chồm,” Fernández nói. “Họ không thể đưa container ra hoặc vào cổng.”  Cái cổng độc đạo của toàn bộ bộ phận cảng của Maersk ở New Jersey chết cứng. Các nhân viên trực cổng câm lặng.   Chẳng mấy chốc, hàng trăm xe tải 18 bánh xếp thành một hàng dài hàng cây số bên ngoài bến. Một nhân viên ở một bến tàu của một công ty khác ở gần đó, cũng trong cảng New Jersey, chứng kiến xe tải cứ đến thêm vào hàng, đến xa ngút tầm mắt. Trước đó, anh ta từng thấy các hệ thống cổng bị trục trặc 15 phút hoặc nửa tiếng. Nhưng sau vài giờ, không nhận được gì mới từ Maersk, ban quản lý cảng New Jersey ra thông báo rằng bến tàu Elizabeth sẽ đóng cửa đến hết ngày. “Đó là lúc chúng tôi bắt đầu nhận ra,” nhân viên bến tàu kia nhớ lại, “đây là một vụ tấn công.” Cảnh sát bắt đầu đến bảo các tài xế quay đầu những chiếc xe khổng lồ và giải tán.  Fernández và vô số các khách hàng đang phát điên khác của Maersk có vài lựa chọn. Họ có thể thử đưa chuyến hàng giá trị của mình lên những con tàu khác, với giá giờ chót rất cao, thường phải chờ đến khi có chỗ. Hoặc nếu chuyến hàng của họ là một phần của một chuỗi cung ứng rất hẹp, chẳng hạn các thiết bị cho một nhà máy, sự cố của Maersk có nghĩa phải trả một cái giá trên trời cho vận chuyển đường hàng không, hoặc có nguy cơ phải tạm ngưng sản xuất, mà một ngày không hoạt động gây thiệt hại hàng trăm nghìn USD. Các container đông lạnh chứa đồ dễ hư hỏng cần được giữ lạnh. Chúng phải được cắm điện, nếu không đồ chứa bên trong sẽ thối rữa.  Fernández phải bon chen để tìm được một nhà kho ở New Jersey để lưu hàng hóa của khách hàng trong khi chờ liên hệ với Maersk. Cả ngày đầu tiên, anh chỉ nhận được một email chính thức, mà theo lời anh là đọc rất “lộn xộn”, từ tài khoản gmail của một nhân viên Maersk mệt mỏi, không đưa ra một lời giải thích nào về cuộc khủng hoảng càng lúc càng nghiêm trọng. Trang web đặt hàng chính của công ty, Maerskline.com, thì không hoạt động, và không một nhân viên nào nghe điện thoại. Một số container anh đã gửi đi hôm đó trên tàu của Maersk sẽ thất lạc ở các bãi và cảng trên khắp thế giới trong ba tháng sau đó. “Maersk lúc đó như một hố đen,” Fernández thở dài nhớ lại. “Một mớ bòng bong.”  Thực sự nó là một mớ bòng bong của các mớ bòng bong. Tình cảnh tương tự xảy ra ở 17 trong số 76 bến tàu của Maersk, từ Los Angeles tới Algeciras ở Tây Ban Nha, tới Rotterdam ở Hà Lan, tới Mumbai ở Ấn Độ. Cổng không mở. Cần trục đứng yên. Hàng chục nghìn xe tải phải quay đầu rời khỏi những bến tàu hôn mê trên toàn cầu.    17 trong số 76 bến tàu của Maersk, từ Los Angeles tới Algeciras ở Tây Ban Nha, tới Rotterdam ở Hà Lan, tới Mumbai ở Ấn Độ tê liệt. Cổng không mở. Cần trục đứng yên.   Không có thêm đơn hàng nào, điều đó về cơ bản cắt mất nguồn thu chính của Maersk từ vận tải biển. Máy tính trên các con tàu của Maersk thì không bị làm sao. Nhưng phần mềm ở bến tàu để tiếp nhận các file dữ liệu từ trên tàu cho biết tàu chở gì thì bị xóa sạch toàn bộ. Và các bến tàu của Maersk không còn hướng dẫn để thực hiện trò chơi xếp hình vĩ đại với các chồng container cao ngất.  Suốt nhiều ngày sau đó, một trong những bộ máy phân tán phức tạp nhất và kết nối rộng nhất của thế giới, một bộ máy gánh vác hệ tuần hoàn của nền kinh tế toàn cầu, vẫn bị hỏng. “Rõ ràng đây là một vấn đề lớn chưa bao giờ thấy trong vận tải toàn cầu,” một khách hàng của Maersk nhớ lại. “Trong lịch sử tin học vận tải biển, chưa ai phải trải qua một cuộc khủng hoảng lớn như thế.”  Vài ngày sau khi màn hình của anh tắt phụt ở một góc văn phòng Maersk, Henrik Jensen ở trong căn hộ của mình ở Copenhagen, thưởng thức một bữa sáng muộn, với trứng chần, bánh mỳ nướng và mứt. Từ lúc rời chỗ làm hôm thứ ba, anh không nhận được tin gì từ cấp trên. Thế rồi điện thoại đổ chuông.  Anh nghe máy, đó là một cuộc gọi hội thảo với ba nhân viên Maersk. Họ bảo anh cần đến văn phòng của Maersk ở Maidenhead, một thị trấn ở phía tây London, ở nước Anh. Đó là trụ sở của bộ phận Cơ sở hạ tầng của tập đoàn Maersk, tức là “trùm” tin học của tập đoàn. Họ yêu cầu anh hoãn mọi việc và tới đó. Ngay lập tức.  Maersk hồi phục  Hai giờ sau, Jensen đã ở trên máy bay đi London, sau đó đi ô-tô đến một tòa nhà gạch-và-kính tám tầng ở trung tâm Maidenhead. Tới nơi, anh thấy tầng bốn và tầng năm đã được biến thành một trung tâm hành động khẩn cấp 24/7. Mục đích duy nhất của nó là xây dựng lại mạng máy tính toàn cầu của Maersk sau cơn khủng hoảng NotPetya.  Jensen tìm hiểu và biết rằng một số nhân viên Maersk đã có mặt từ thứ ba, lúc NotPetya bắt đầu tấn công. Có người ngủ lại tại chỗ, dưới gầm bàn hoặc trong góc phòng họp. Những người khác, mang theo hành lý, có vẻ như đến từ mọi nơi trên thế giới. Maersk đã thuê hầu như tất cả các phòng khách sạn trong vòng vài chục cây số, mọi phòng trọ giá rẻ, mọi phòng trống bên trên các quán rượu. Bữa ăn của các nhân viên là các thứ ăn vặt ai đó đã mua từ cửa hàng tạp hóa gần đó về chất đầy trong bếp ăn của công ty.  Trung tâm khôi phục Maidenhead do Deloitte điều khiển. Maersk về cơ bản gật đầu với mọi cái giá mà công ty tư vấn của nước Anh đưa ra, để thoát khỏi vấn đề NotPetya và lúc nào cũng có tới 200 nhân viên Deloitte ở văn phòng Maidenhead, cùng với 400 nhân viên Maersk. Tất cả các thiết bị máy tính của Maersk được sử dụng trước khi NotPetya bùng nổ đều bị tịch thu để phòng việc nó lây nhiễm cho hệ thống mới, và cảnh báo kỷ luật cho việc sử dụng chúng được dán khắp nơi. Thay vào đó, các nhân viên đi khắp các cửa hàng điện tử ở Maidenhead và mua hàng đống máy tính xách tay và thiết bị phát wi-fi trả trước. Jensen, như hàng trăm nhân viên tin học khác của Maersk, được phát cho một cái máy tính xách tay mới và yêu cầu làm việc. “Đại khái là Tìm lấy một góc và làm bất cứ cái gì cần làm”, anh nói.  Lúc bắt đầu việc khôi phục, các nhân viên tin học của Maersk nhận ra một điều thất vọng ghê gớm. Họ đã tìm được các bản sao lưu của hầu hết các máy chủ của Maersk, được lập trong khoảng từ ba đến bảy ngày trước NotPetya. Nhưng không ai tìm được một bản sao lưu của một phần quyết định của hệ thống mạng của công ty: các máy chủ điều khiển miền. Chúng có vai trò như một bản đồ chi tiết của cả hệ thống mạng của Maersk và đặt các quyền truy cập vào các hệ thống cho các người dùng.  Khoảng 150 máy chủ điều khiển miền của Maersk được lập trình để đồng bộ hóa dữ liệu với nhau, sao cho, trên lý thuyết, mỗi máy có thể được coi như một bản sao lưu cho các máy khác. Nhưng chiến lược sao lưu phi tập trung này không tính đến một kịch bản: khi tất cả các máy chủ điều khiển miền đồng thời bị xóa sạch dữ liệu. “Nếu không khôi phục được máy chủ điều khiển miền, chúng tôi sẽ không khôi phục được gì cả,” một nhân viên tin học nhớ lại.  Sau một cuộc tìm kiếm điên cuồng, có cả việc gọi điện thoại cho hàng trăm quản trị viên tin học của  nhiều trung tâm dữ liệu trên khắp thế giới, các quản trị viên tuyệt vọng của Maersk cuối cùng cũng tìm được một máy chủ điều khiển miền duy nhất còn sống sót, ở một văn phòng xa xôi, tận Ghana. Một lúc trước khi NotPetya tấn công đã xảy ra mất điện khiến cho chiếc máy tính ở Ghana bị ngoại tuyến, và nó bị ngắt kết nối với cả hệ thống mạng. Như vậy, nó chứa bản sao lưu duy nhất của dữ liệu điều khiển miền không bị ảnh hưởng bởi phần mềm độc – tất cả nhờ mất điện. “Có rất nhiều tiếng hò reo phấn khích khi chúng tôi tìm thấy nó,” một quản trị viên của Maersk kể lại.  Nhưng khi các kỹ sư căng thẳng ở Maidenhead thiết lập một kết nối với văn phòng Ghana, họ mới biết tốc độ đường truyền chậm đến nỗi sẽ phải mất nhiều ngày để chuyển hàng trăm gigabyte dữ liệu sang Anh. Ý tưởng mới: cho một nhân viên Ghana bay sang London. Nhưng không ai ở văn phòng Tây Phi đó có visa Anh.  Thế là lực lượng Maidenhead sắp xếp một cuộc chạy tiếp sức. Một nhân viên từ văn phòng Ghana bay tới Nigeria và trao cho một nhân viên Maersk khác chiếc ổ cứng vô cùng quý giá. Nhân viên này lại đáp một chuyến bay sáu tiếng rưỡi tới sân bay Heathrow, mang theo chìa khóa mở ra toàn bộ quá trình khôi phục của Maersk.  Xong vụ giải cứu đó, văn phòng Maidenhead đã có thể bắt đầu đưa các dịch vụ cốt yếu của Maersk hoạt động trở lại. Sau mấy ngày đầu tiên, bộ phận cảng của Maersk đã lại có thể đọc các dữ liệu hàng hóa trên tàu, nhờ thế các nhân viên điều hành biết được tàu nào chở những gì, 18.000 tàu container cập được cảng. Nhưng phải sau vài ngày, Maersk mới lại bắt đầu nhận thêm vận chuyển mới qua trang Maerskline.com, và phải sau hơn một tuần thì các bến tàu trên khắp thế giới mới bắt đầu hoạt động một cách tương đối bình thường.  Trong lúc đó, nhân viên của Maersk làm việc với mọi công cụ sẵn có. Họ in tài liệu ra giấy rồi dán lên container ở các bến tàu của APM, nhận đặt hàng qua tài khoản gmail cá nhân, qua phần mềm nhắn tin WhatsApp, qua bảng tính Excel. “Tôi nói anh biết, thật kỳ cục khi đặt vận chuyển 500 container qua WhatsApp, nhưng chúng tôi đã làm như thế đấy,” một khách hàng của Maersk nói.  Khoảng hai tuần sau vụ tấn công, hệ thống mạng của Maersk đã được khôi phục đến độ đủ để bắt đầu phát lại máy tính cá nhân cho phần lớn nhân viên. Tại trụ sở chính ở Copenhagen, một quán cà-phê dưới tầng hầm đã được biến thành nơi cài đặt máy tính. Từng đợt 20 chiếc máy tính xếp hàng trên các bàn ăn, các nhân viên hỗ trợ đi lại dọc các hàng, cắm những chiếc USB được sao chép hàng tá vào các máy tính và nhấp chuột, cứ như thế hàng giờ đồng hồ.  Vài ngày sau khi quay về từ Maidenhead, Henrik Jensen thấy máy tính của mình giữa một chồng hàng trăm cái được xếp theo thứ tự bảng chữ cái, ổ cứng bị xóa sạch, một bản Windows mới tinh mới được cài. Tất cả mọi thứ mà anh, và mọi nhân viên Maersk khác, đã lưu trên máy, từ ghi chép cá nhân tới danh bạ tới ảnh gia đình, đều mất.  Sự sợ hãi chưa nguôi  Năm tháng kể từ khi Maersk hồi phục sau vụ tấn công của NotPetya, chủ tịch Jim Hageman Snabe ngồi trên sân khấu tại cuộc gặp Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, và ca ngợi “nỗ lực anh hùng” của cuộc giải cứu hệ thống tin học của công ty. Tính từ ngày 27 tháng 6, khi ông bị đánh thức ở California bởi một cuộc gọi lúc 4 giờ sáng, trước một cuộc hội thảo dự kiến ở Stanford, ông kể, công ty chỉ mất 10 ngày để xây dựng lại toàn bộ hệ thống với 4000 máy chủ và 45000 máy tính cá nhân. (Việc phục hồi hoàn toàn kéo dài hơn: một số nhân viên ở nhiệm vụ Maidenhead tiếp tục làm việc suốt ngày đêm gần hai tháng để xây dựng lại hệ thống phần mềm của Maersk.) “Chúng tôi vượt qua bằng sự bền bỉ của con người”, Snabe nói với cử tọa.  Từ đó, Snabe tiếp tục, Maersk không chỉ làm việc để cải thiện an toàn thông tin, mà còn để biến nó thành một “ưu thế cạnh tranh”. Quả vậy, sau NotPetya, các nhân viên tin học cho biết gần như mọi biện pháp bảo mật họ đề xuất đều được duyệt một cách tức thời. Xác thực đa nhân tố được triển khai ở toàn công ty, cùng với việc nâng cấp lên Windows 10 vốn bị trì hoãn từ lâu.  Nhưng Snabe không nói nhiều về tình hình bảo mật của công ty trước NotPetya. Một số nhân viên bảo mật của Maersk cho chúng tôi biết rằng cho đến thời điểm bị tấn công, một số máy chủ của công ty vẫn chạy Windows 2000, một hệ điều hành cũ đến mức Microsoft đã ngừng hỗ trợ. Năm 2016, một nhóm lãnh đạo tin học đã thúc đẩy việc thiết kế lại của toàn bộ hệ thống mạng toàn cầu của Maersk vì lý do bảo mật phòng ngừa. Họ chỉ ra quá trình cập nhật phần mềm kém hoàn hảo, hệ điều hành lỗi thời, và trên hết là sự phân nhỏ mạng chưa đủ của Maersk. Họ cảnh báo rằng đặc biệt điểm yếu sau cùng có thể cho phép phần mềm độc từ một phần của hệ thống nhanh chóng lan rộng khắp, chính xác như những gì xảy ra với NotPetya vào năm sau đó.  Việc nâng cấp bảo mật được bật đèn xanh và được cho ngân quỹ. Nhưng thành công của nó không bao giờ được dùng để tính chỉ số đánh giá công việc cho những lãnh đạo tin học cao cấp nhất, vì vậy việc thực hiện nó không làm tăng tiền thưởng của họ. Họ không bao giờ phát triển những nâng cấp về bảo mật.  Ít công ty phải trả giá đắt như vậy vì chậm trễ trong bảo mật. Trong bài nói chuyện ở Davos, Snabe tuyên bố nhờ những nỗ lực nhanh chóng và nhờ những biện pháp khắc phục thủ công, công ty bị giảm 20 phần trăm lượng vận tải biển trong cuộc khủng hoảng NotPetya. Nhưng ngoài thiệt hại trong kinh doanh và do ngừng hoạt động, và chi phí xây dựng lại hệ thống mạng, Maersk còn phải đền bù nhiều khách hàng chi phí lưu trữ hoặc vận chuyển hàng hóa bằng đường khác. Một khách hàng Maersk tiết lộ nhận được một ngân phiếu bảy chữ số để thanh toán chi phí thuê máy bay gửi hàng vào phút chót. “Họ trả tôi một triệu mà không cần quá hai phút thảo luận”, người này nói.  Gộp tất cả, Snabe ước lượng ở Davos, NotPetya làm tiêu tốn của Maersk khoảng từ 250 đến 300 triệu USD. Phần lớn các nhân viên được chúng tôi tiếp xúc riêng ngờ rằng bộ phận kế toán của công ty đã làm nhẹ con số.  Dù thế nào đi nữa, những con số đó mới chỉ bắt đầu cho thấy mức độ thiệt hại. Chẳng hạn, không phải tất cả các công ty hậu cần phụ thuộc vào các bến tàu của Maersk đều được đối xử tốt như các khách hàng của Maersk. Jeffrey Bader, chủ tịch của Association of Bi-State Motor Carriers, một công ty xe tải đặt trụ sở ở cảng Newark, ước lượng chỉ riêng những chi phí không được bồi thường của các công ty và tài xế xe tải đã vào cỡ vài chục triệu USD. “Đó là một cơn ác mộng”, Bader nói. “Chúng tôi mất rất nhiều tiền, và chúng tôi phẫn nộ”.  Thiệt hại rộng hơn mà sự đình trệ của Maersk gây ra đối với chuỗi cung ứng toàn cầu, vốn phụ thuộc vào việc giao đúng hẹn sản phẩm và các thành phần sản xuất, thì khó đo đếm hơn. Và tất nhiên, Maersk cũng chỉ là một nạn nhân. Merck, phải tạm ngừng sản xuất một số loại thuốc vì NotPetya, báo với cổ đông rằng công ty mất 870 triệu USD vì phần mềm độc đó. FedEx, có công ty con ở châu Âu là TNT Express bị làm tê liệt bởi vụ tấn công và mất hàng tháng để khôi phục một phần dữ liệu, bị giáng một cú 400 triệu USD. Gã khổng lồ xây dựng Saint-Gobain của Pháp cũng mất cỡ chừng ấy. Reckitt Benckiser, nhà sản xuất bao cao su Durex của Anh, mất 129 triệu USD, và Mondelēz, công ty mẹ của hãng socola Cadbury, mất 188 triệu USD. Và không biết bao nhiêu nạn nhân không được kể đến, không có cổ đông, phải âm thầm tính thiệt hại.  Chỉ khi bắt đầu nhân rộng câu chuyện của Maersk – tưởng tượng cùng một sự tê liệt, cùng những cuộc khủng hoảng liên tiếp, cùng quá trình hồi phục tơi tả – cho hàng tá nạn nhân khác của NotPetya và vô số các ngành công nghiệp khác, chúng ta mới thấy hiện ra quy mô thực sự của tội ác trong cuộc chiến tranh mạng của Nga.  “Đây là một lời cảnh báo quan trọng,” Snabe nói ở Davos. Rồi ông nhấn mạnh thêm: “Một lời cảnh báo rất đắt giá.”  Một tuần sau khi NotPetya bùng nổ, cảnh sát Ukraine mang trang bị đặc nhiệm và súng tiểu liên tràn ra khỏi các xe tải và lao vào trụ sở khiêm tốn của Linkos Group, chạy lên cầu thang như Đội 6 biệt kích SEAL đột nhập nơi ở của Osama bin Laden.  Họ chĩa súng vào các nhân viên bối rối, bắt họ xếp hàng dọc hành lang, người sáng lập công ty Olesya Linnyk kể. Cạnh phòng làm việc của bà ở tầng hai, cảnh sát vũ trang thậm chí còn dùng một thanh kim loại để phá một cánh cửa, dù Linnyk đã đưa họ chìa khóa. “Đó là một tình huống không tưởng,” Linnyk nói sau một tiếng thở dài bức xúc.  Lực lượng cảnh sát vũ trang cuối cùng cũng thấy thứ họ tìm: cái giá để máy chủ có vai trò truyền bệnh đầu tiên trong cơn dịch NotPetya. Họ tịch thu các máy tính và cho chúng vào các túi nhựa.  Đến tận bây giờ, hơn một năm sau khi vụ tấn công lan rộng, các chuyên gia bảo mật vẫn đang tranh luận về những bí ẩn của NotPetya. Mục đích thực sự của kẻ tấn công là gì? Các nhân viên ở Kiev của công ty bảo mật ISSP, gồm cả Oleh Derevianko và Oleksii Yasinsky, vẫn cho rằng cuộc tấn công không chỉ nhằm phá hoại mà còn để xóa dấu vết. Rốt cuộc thì những hacker phát tán nó có hàng tháng trời thoải mái truy cập vào hệ thống mạng của các nạn nhân. Ngoài những hoảng loạn và gián đoạn mà nó gây ra, NotPetya rất có thể đã xóa đi bằng chứng gián điệp, hoặc việc thu thập thông tin cho những cuộc tấn công trong tương lai. Mới tháng 5 năm 2018, bộ Tư pháp Mỹ và các cơ quan tình báo Ukraine tuyên bố đã phá vỡ một điệp vụ của Nga, đã nhiễm một loại phần mềm độc hủy diệt mới vào nửa triệu thiết bị định tuyến internet, phần lớn ở Ukraine.  Trong khi nhiều người trong cộng đồng bảo mật vẫn cho rằng các nạn nhân quốc tế của NotPetya là thiệt hại bên lề, Craig Williams ở Cisco lập luận rằng Nga thừa biết mức độ ảnh hưởng quốc tế của phần mềm độc. Theo ông, thảm họa đó là để trừng phạt tất cả những ai dám đặt văn phòng bên trong biên giới của kẻ thù của Nga. “Nếu nghĩ rằng đây là tai nạn là đang mơ tưởng,” Williams nói. “Đây là một phần mềm độc mang theo một thông điệp chính trị: Ai làm ăn với Ukraine sẽ gặp tai họa.”  Tuy nhiên, hầu như tất cả mọi người nghiên cứu NotPetya thống nhất ở một điểm: nó có thể tái diễn, thậm chí ở mức độ lớn hơn. Các tập đoàn toàn cầu có quá nhiều liên kết, bảo mật thông tin thì quá phức tạp, những mặt có thể bị tấn công thì quá rộng để có thể được bảo vệ trước những hacker được chính phủ đào tạo và chỉ muốn tung ra thứ mã độc làm rung chuyển thế giới tiếp theo. Trong khi đó, Nga hầu như không có vẻ gì là bị kiềm chế bởi những trừng phạt của Mỹ vì NotPetya, được áp dụng tám tháng sau vụ tấn công, và những sự trừng phạt lẫn lộn với những thông điệp lên án Nga về mọi thứ, từ việc nhiễu loạn thông tin trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 đến việc hacker Nga thăm dò mạng lưới điện quốc gia Mỹ. “Việc thiếu một lời đáp trả đúng đắn gần như là lời mời gọi leo thang”, lời Thomas Rid, một giáo sư khoa học chính trị tại trường Nghiên cứu quốc tế cao cấp thuộc Đại học Johns Hopkin.  Nhưng bài học khách quan lâu dài nhất của NotPetya có khi chỉ là khung cảnh chiến trường kỳ lạ của chiến tranh mạng. Đây là địa lý khó hiểu của chiến tranh mạng. Bằng cách nào đó, thách thức trực quan của con người, những bóng ma trong phòng máy chủ của M.E.Doc ở một xó ở Kiev gieo rắc hỗn loạn trong những phòng họp dát vàng trong các cơ quan nhà nước ở thủ đô, trong những cảng biển khắp nơi trên thế giới, trong trụ sở trang nghiêm của Maersk bên cảng Copenhagen, và khắp nền kinh tế toàn cầu. “Bằng cách nào đó mà lỗ hổng trong phần mềm kế toán Ukraine này ảnh hưởng tới kho dự trữ vaccine của Mỹ và vận tải biển toàn cầu?” Joshua Corman, một học giả bảo mật, đặt câu hỏi tại diễn đàn Atlantic Council, như thể đang thắc mắc về hình dạng của một lỗ giun kết nối nhân-quả. “Các quy luật của không gian mạng khác hoàn toàn so với các lĩnh vực chiến tranh khác”.  Trong không gian đó, như NotPetya nhắc nhở chúng ta, khoảng cách không giúp phòng thủ. Mọi kẻ thù man rợ đã ở ngay trước cửa. Và cái mạng lưới nhằng nhịt trong không gian đó, mạng lưới trong 25 năm qua đã hợp nhất và nâng cao thế giới, có thể, trong vài giờ của một ngày mùa hè, làm cho thế giới ngừng quay. □  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/notpetya-cyberattack-ukraine-russia-code-crashed-the-world/    Author                Andy Greenberg        
__label__tiasang Nữ chủ nhân của “Giải Nobel Thiên văn học” thế giới      Cuối tháng năm vừa qua, tại Hồng Công, Quỹ  Shaw đã xướng danh ba nhà khoa học cùng đoạt Giải Shaw Thiên văn học 2012, trong đó có Giáo sư Lưu  Lệ Hằng với những đóng góp trong việc định danh “các vật thể  ngoài Hải Vương tinh” (Trans-Neptunian Objects), viết tắt là TNOs.    Giáo sư Jane X. Luu (Lưu Lệ Hằng) cùng với người thầy – đồng nghiệp của mình là Giáo sư David C. Jewitt, Giám đốc Viện nghiên cứu thiên thể (Institute for Planets and Exoplanets), Đại học California – Los Angeles, Hoa Kỳ, đã đoạt giải Shaw với công trình khám phá ra các vật thể ngoài Hải Vương tinh (TNOs) – những kho báu khảo cổ giúp chúng ta quay ngược thời gian về lúc hình thành nên hệ Mặt trời và nguồn gốc của các sao chổi chu kỳ ngắn.   Giải Shaw danh giá bắt đầu được trao tặng từ năm 2004 cho các thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất trong các lĩnh vực: thiên văn học, khoa học sự sống và y học, toán học. Điểm đặc biệt là giải chỉ được trao cho các nhà khoa học còn sống (cho đến lúc ra quyết định) giống như Giải Nobel. Giải Shaw mỗi năm gồm 3 triệu đô la Mỹ, chia đều cho ba lĩnh vực khoa học được xét thưởng. Ngài Run Run Shaw, ông trùm truyền thông Hồng Công, năm nay 105 tuổi, là người bảo trợ cho giải thưởng.  Trước đó, vào tháng 3 vừa qua, tại thủ đô Oslo của Na Uy, Quỹ Kavli cũng đã công bố Giải Kavli năm 2012 cho bảy nhà khoa học tiên phong thuộc ba lĩnh vực nghiên cứu hiện đại: vật lý thiên văn học (astrophysics), khoa học nano (nanoscience) và thần kinh học (neuroscience). Giáo sư Lưu Lệ Hằng, nhà thiên văn học Mỹ gốc Việt đã là một trong những chủ nhân của giải Kavli thiên văn học năm nay. Giải Kavli được khởi xướng từ năm 2008 bởi nhà khoa học người Na Uy Fred Kavli và Quỹ Kavli của ông. Một hội đồng chuyên gia quốc tế đến từ nhiều viện nghiên cứu khác nhau trên thế giới sẽ lựa chọn và hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu đoạt giải. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu sẽ có 1 triệu đô la Mỹ tiền thưởng, chia đều cho các đồng chủ nhân giải thưởng.   Giải Kavli Thiên văn học được mệnh danh là “Giải Nobel Thiên văn học” của thế giới. Giải thưởng Thiên văn học 2012 được trao cho công trình khám phá ra vành đai Kuiper của ba nhà thiên văn học: David C. Jewitt, Đại học California – Los Angeles (UCLA); Jane X. Lưu (Lưu Lệ Hằng), Phòng thí nghiệm Lincoln, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT); và Michael E. Brown, Viện Công nghệ California (Caltech) – đều ở Mỹ. Giải Kavli Thiên văn học 2012 ghi nhận công trình khám phá ra vành đai Kuiper và những vật thể lớn nhất của nó. Công trình này sẽ giúp ta có những bước tiến lớn trong việc tìm hiểu lịch sử hệ Mặt trời. Một điều đáng chú ý là năm nay, “nóc nhà công nghệ của thế giới” MIT có tới ba nhà khoa học nữ đoạt giải ở tất cả lĩnh vực nghiên cứu.         Bài viết của GS Đàm Thanh Sơn trên blog của ông sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về công trình của GS Lưu Lệ Hằng và cộng sự:              Giả thuyết rằng hệ mặt trời không kết thúc ở Pluto (Diêm vương tinh – NV) mà ngay rìa của hệ mặt trời còn có một vành đai các tiểu hành tinh được Edgeworth và Kuiper đưa ra khoảng những năm 1943-1951. (Trung tá quân đội Anh Edgeworth là một nhân vật khá thú vị, đã viết 4 cuốn sách về kinh tế học với những đầu đề như Unemployment Can Be Cured, và chỉ bắt đầu nghiên cứu kinh tế học và thiên văn học sau khi về hưu.) Chỉ đến năm 1992, vật thể đầu tiên trong vành đai này mới được tìm ra bởi David Jewitt và Jane Luu. Michael Brown, lúc đó là nghiên cứu sinh ở Berkeley, kể lại như sau trong cuốn How I Killed Pluto and Why It Had It Coming (tạm dịch Tôi đã khai tử Diêm vương tinh như thế nào – NV):              “Một buổi chiều, như nhiều lần trước đây, sau khi dành quá nhiều thời gian chú mắt vào dữ liệu trên màn hình máy tính, đọc những bài báo thuần túy kỹ thuật trong các tạp chí chuyên sâu, và viết ra những suy nghĩ, ý tưởng trong cuốn vở bìa đen của mình, tôi mở cánh cửa phòng làm việc dành cho nghiên cứu sinh của mình, nằm trên nóc tòa nhà khoa thiên văn học, bước vào khoảnh sân nhỏ có mái che, trèo lên cầu thang bằng kim loại dẫn tới một ban công mở nằm trên đỉnh cao nhất của mái nhà. Trong khi tôi nhìn ra Vịnh San Francisco trước mắt, cố gắng đưa tâm trí của mình trở lại mặt đất bằng cách ngắm nhìn những con thuyền chạy ngang mặt nước, bỗng nhiên tôi gặp Lưu Lệ Hằng, một người bạn là nhà nghiên cứu trong khoa thiên văn học, người có phòng làm việc ở đối diện bên kia khoảnh sân trên nóc nhà, cô cũng đang trèo lên cầu thang bằng kim loại và nhìn ra mặt nước cùng một hướng với tôi. Bằng giọng thì thầm đầy bí mật, cô nói, “Vẫn chưa ai biết điều này, rằng chúng tôi vừa tìm ra vành đai Kuiper”.               Tôi có thể thấy là cô ấy biết rằng mình đang tìm ra một điều gì đó thật lớn lao, và tôi có thể cảm thấy sự phấn khích của cô, đồng thời cũng có cảm giác tự hào vì cô đã nói cho tôi biết một thông tin quan trọng mà chưa ai khác được biết.              “Chà”, tôi nói. “Vành đai Kuiper là gì thế?”              Ngày nay nhớ lại chuyện cũ, thật buồn cười là tôi đã chẳng hề hiểu điều cô nói …”              [Tia Sáng dịch lại từ bản tiếng Anh trong blog của GS Đàm Thanh Sơn]                            Michael Brown sau này tìm thêm nhiều vật thể trong vành đai Kuiper, trong đó có vật thể còn to hơn Pluto. Sự tìm ra hàng loạt các vật thể mới dẫn đến việc Pluto không còn được coi là hành tinh nữa.              Người ta nghĩ là các sao chổi có chu kỳ nhỏ (< 200 năm) có nguồn gốc từ vành đai Kuiper, còn các sao chổi có chu kỳ cao hơn có nguồi gốc từ một cái gọi là đám mây Oort (Oort Cloud – NV) xa mặt trời hơn nhiều (gấp 1000 lần vành đai Kuiper). Đám mây Oort tới nay vẫn còn là giả thuyết.          Công trình lịch sử của thiên văn học hiện đại  Bên ngoài quỹ đạo của Hải Vương tinh là vành đai Kuiper (Kuiper Belt hay còn được biết đến với cái tên vành đai Edgeworth – Kuiper). Đây là một dĩa gồm hơn 70 ngàn vật thể nhỏ cấu thành bởi đá và băng, có đường kính trên 100km và quay xung quanh Mặt trời. Giải Kavli Thiên văn học 2012 vinh danh hai nhà thiên văn đã khám phá ra vành đai Kuiper là GS David Jewitt và GS Lưu Lệ Hằng; cùng với một nhà khoa học khác – GS Michael Brown đã khám phá ra rất nhiều vật thể lớn trong vành đai này. Khám phá của các nhà thiên văn học này là kết quả của những chiến dịch quan sát tinh tế nhằm tìm ra những phân loại mới cho các vật thể ở xa (hơn các hành tinh) trong hệ Mặt trời. Nghiên cứu của họ đòi hỏi những thủ thuật đầy sáng tạo, sự kiên trì không mệt mỏi và một sự cởi mở đón chào những điều không như mong đợi.  Các vật thể trong vành đai Kuiper (Kuiper Belt Objects) là những tàn tích vật chất nguyên sơ của thời kỳ đầu hình thành hệ Mặt trời, khi khí, bụi và băng đá trong vũ trụ bồi tụ nên những hành tinh khí khổng lồ (Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh và Hải vương tinh). Mặc dù những gã khổng lồ này quét sạch toàn bộ vật chất ban đầu ở xung quanh chúng nhưng người ta nghĩ rằng vành đai Kuiper nằm khá xa quỹ đạo của những hành tinh khổng lồ và ẩn chứa những tàn tích hoá thạch sau quá trình hình thành các hành tinh. Do đó, thành phần cấu tạo và đặc điểm quỹ đạo của chúng cung cấp những bằng chứng độc nhất vô nhị về các giai đoạn tiên khởi của hệ Mặt trời.  Michael Brown đã thiết kế nên và bổ sung vào đề tài Khảo sát các vùng rộng lớn (tạm dịch từ Caltech Wide-Area Survey – NV) – công trình quan sát một vùng rộng đến 20 ngàn độ vuông mặt phẳng của hệ Mặt trời. Ông đã tối ưu hoá đề tài này để tìm kiếm các vật thể có khối lượng lớn nhất trong vành đai Kuiper. GS Brown cũng đã khám phá ra Quaoar (năm 2002), Makemake (2005), Eris (2005) và rất nhiều vật thể lớn khác trong vành đai Kuiper. Điều này minh chứng rằng Diêm vương tinh không đơn độc, nó là một trong số những đối tượng ông tìm kiếm. Nhờ các vật thể lớn nhất của vành đai này cũng là một trong những vật thể sáng nhất nên người ta có thể dùng quang phổ kế để định lượng thành phần cấu tạo nên bề mặt của chúng.  Một khám phá không kém phần quan trọng khác của GS Brown là vật thể Sedna. Mất 10 ngàn năm quay quanh Mặt trời, Sedna có một quỹ đạo bị kéo dài và thuôn nhọn ở hai đầu. Điểm cực cận của Sedna với mặt trời bằng khoảng 76 đơn vị thiên văn AU (tức bằng 76 lần khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời) và rộng hơn gấp đôi quỹ đạo của Hải vương tinh. Đã có tranh luận sôi nổi về nguồn gốc của Sedna và hai giải thuyết thú vị được đưa ra là quỹ đạo của Sedna có thể đã bị kéo giãn ra bởi một ngôi sao xẹt ngang hoặc nó có thể đã bị hệ Mặt trời của chúng ta “bắt cóc” từ một hệ mặt trời khác.    Ảnh: NASA/JPL-Caltech/R. Hurt (SSC-Caltech)  Hình đầu tiên cho chúng ta thấy quỹ đạo của các hành tinh rắn thuộc hệ Mặt trời (trong đó có Trái đất) và vành đai tiểu hành tinh nẳm giữa Hoả tinh và Mộc tinh. Trong hình thứ hai, ta có thể thấy Sedna nằm ngoài quỹ đạo của các hành tinh khí và các vật thể trong vành đai Kuiper. Toàn bộ quỹ đạo của Sedna được minh hoạ trong hình thứ ba với tỉ lệ tương ứng thực tế cùng vị trí hiện tại của nó. Sedna đang ở gần điểm cực cận với Mặt trời và quỹ đạo 11,400 năm của nó quanh Mặt trời sẽ còn đưa nó đi xa hơn nhiều. Hình cuối cùng cho ta cái nhìn xa nhất có thể về một quỹ đạo hình bầu dục, nằm gọn trong cái mà chúng ta đã từng nghĩ là rìa phía trong của đám mây Oort. Đám mây Oort là một tập hợp hình cầu của các vật thể băng giá, nằm ở vùng giới hạn xa nhất lực hấp dẫn của Mặt trời.  Hai giải thưởng hàng đầu thế giới về thiên văn học năm 2012 cùng trao cho một đề tài về vành đai Kuiper hay rộng hơn là các vật thể ngoài Hải Vương tinh đã tái khẳng định nghị quyết của Hiệp hội Thiên văn quốc tế (IAU) đưa ra vào 2006, trong đó đưa ra 3 điều kiện rõ ràng cho khái niệm “hành tinh” và từ đó “giáng cấp” Diêm vương tinh xuống thành một hành tinh lùn. Đây cũng là đòn quyết định làm tiêu tan những hy vọng mong manh cuối cùng của luồng ý kiến phản đối nghị quyết năm 2006 của IAU. Có lẽ những ai phản ứng với việc “giáng cấp” Diêm vương tinh sẽ phải cất cái tên “Diêm Vương tinh – một trong 9 hành tinh của hệ Mặt trời” vào kỷ niệm. Dù vậy, Diêm vương tinh chắc sẽ không buồn tí nào vì gia đình “hành tinh lùn” mới toe của nó đã có tới 5 thành viên và chắc chắn sẽ còn tiếp tục tăng thêm trong thời gian tới.        Giáo sư Lưu Lệ Hằng, tên nhập quốc tịch Mỹ là Jane X. Luu, sinh năm  1963 và sang Mỹ từ năm 1975. Cô học trò gốc  Việt sau đó giành được học  bổng ngành vật lý tại Đại học Stanford. Sau  khi tốt nghiệp vào năm 1984,  cô đã dành mùa hè thảnh thơi  của mình để bắt đầu học lên  cao học tại Đại học California – Berkeley,  cùng lúc đó cô làm việc cho  Phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực (Jet  Propulsion Laboratory) ở  Pasadena. Thích thú trước những bức tường treo  đầy hình ảnh các hành  tinh do tàu nghiên cứu không gian Voyager gửi  về, Lưu Lệ Hằng quyết định  theo đuổi ngành thiên thể học. Sau khi hoàn  thành cao học tại Berkeley,  cô lấy bằng tiến sĩ ở MIT. Trong thời gian ở  MIT, cô cùng với nghiên  cứu sinh David Jewitt làm đề tài Khảo sát các  vật thể di chuyển chậm  (Slow-Moving Objects) ngoài hệ Mặt trời.              Sau đó Lưu Lệ Hằng tham gia giảng dạy tại Đại học Harvard rồi chuyển   sang Đại học Leiden ở Hà Lan. Khi quay về Mỹ, cô tạm xả hơi chuyên ngành   thiên văn quan sát của mình và công tác tại Phòng thí nghiệm Lincoln   của MIT cho đến nay. Cô hiện đang nghiên cứu các giải pháp công nghệ cho   vấn đề an ninh quốc gia của Mỹ. Vào năm 1991, Hiệp hội Thiên văn Mỹ đã trao giải Thiên văn học Annie J. Cannon cho cô. Sau khi   tốt nghiệp tiến sĩ cô là học giả sau tiến sĩ Hubble, là phần thưởng  danh  giá nhất cho các nhà nghiên cứu trẻ sau tiến sĩ. Để ghi nhận công  lao  của cô trong việc khám phá ra hơn 30 tiểu hành tinh, người ta lấy  tên cô  đặt cho tiểu hành tinh 5430 Luu. Năm nay – 2012 quả là năm của  người  phụ nữ gốc Việt khi cái tên Lưu Lệ Hằng được xướng danh ở cả hai  giải  thưởng thiên văn học danh giá nhất thế giới.           —  * Câu lạc bộ Thiên văn nghiệp dư TP Hồ Chí Minh (HAAC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nửa kia của người bệnh      Thưa đồng nghiệp, Tôi quả thật không ngạc nhiên khi nhận được phản hồi của đồng nghiệp. Lý do rất đơn giản. Gần ba mươi năm trước, thuở mới ra trường, tôi cũng đã nhiều lần phản ứng quyết liệt với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ, như đồng nghiệp hiện nay. Ngựa non nào lại không háu đá!    Gần ba mươi năm đã trôi qua. Nói nghe như rất lâu. Nhưng trên thực tế lại quá ngắn ngủi. Ba mươi năm dường như không đủ để thầy thuốc kịp hối hận về biết bao sai lầm của chính  mình trên con đường giúp người chữa bệnh. Lực nào có thể tòng tâm!  Tôi ngày ấy, cũng như đồng nghiệp hôm nay, cứ tưởng như có thể bật sáng mọi góc tối với ngọn đuốc khoa học. Tôi bây giờ, như tên gọi của chuyên đề hàng tháng trên tạp chí này, chỉ mong gom được chút tia sáng le lói ở cuối đường hầm thăm thẳm của tri thức y học. Thức khuya mới biết đêm dài là thế!  Chắc đồng nghiệp cũng đồng ý, chúng ta, những người học nghề thuốc trên cơ sở khoa học hiện đại, bao giờ cũng có khuynh hướng đặt nặng giá trị vào tiêu chuẩn thực nghiệm. Với chúng ta, y học là khoa học của chính xác, từ chẩn đoán cho đến tiên lượng. Bằng chứng là chúng mình cho thuốc thường dựa trên mg. Nay lại có thêm sự trợ giúp của phương tiện kỹ thuật, từ chụp hình cắt lát cho đến nội soi, thầy thuốc làm sao tránh khỏi phân tâm trước màn hình của máy vi tính? Đúng là chúng ta không sai, từ quy cách lý luận cho đến phương pháp thực hiện. Nhưng nghe qua sao vẫn còn điểm nào đó không thông. Cứ như câu chuyện thần tiên với đoạn kết không có hậu. Bằng chứng là phòng đợi vẫn còn đông nghẹt bệnh nhân! Chúng ta chắc khó có thể tự hào với thành tích “bệnh viện quá tải”! Nhưng tại sao lại thế khi ngành y của chúng mình đang tự hào với những bước tiến nhảy vọt?!  Phải rồi, vì chúng ta thường bỏ sót một điểm quan trọng trong tiến trình suy luận: Người bệnh! Đó không chỉ là một tập thể tế bào chồng xếp lên nhau và vận hành dưới ảnh hưởng của hệ thần kinh, nội tiết, tuần hoàn, tiêu hóa…, như chúng ta đã học nhiều năm trên ghế nhà trường. Phía sau, bên cạnh, chung quanh mỗi người bệnh rõ ràng có đó chiếc bóng tư duy tuy lúc mờ lúc tỏ, nhưng bao trùm người bệnh. Hình với bóng tuy một mà hai. Biết là không hình sao có bóng. Nhưng trong nhiều trường hợp, bóng lại lớn, lại rõ hơn hình. Đó chính là nguyên nhân, tại sao nhiều bệnh chứng phức tạp vô cùng nếu trong cơ chế bệnh lý có thêm bàn tay phá hoại ngấm ngầm của yếu tố tâm lý. Đó cũng chính là lý do, tại sao ngành tâm lý học cần được phát triển song song với tất cả chuyên khoa của nghề làm thuốc. Nếu tưởng thầy thuốc quen động dao động kéo trong phòng mổ nên không cần hiểu đến tâm tình, cảm xúc của người bệnh thì lầm.  Đã nhiều năm lắm rồi, chỉ nói riêng ở nước ta, bệnh tâm thể không được chú trọng đúng mức. Đó là điều đương nhiên vì bối cảnh của nền y tế trong một nước đang phát triển, khi thầy thuốc phải tất bật lo toan trăm bề vì mối đe dọa của bệnh cấp tính. Hoàn cảnh đó nay đã thay đổi để thầy thuốc trong nước phải bất ngờ đối đầu với cục diện mới, với những căn bệnh thời đại, với nhiều bệnh chứng nghiêm trọng gắn liền với yếu tố tâm lý của người bệnh. Sẽ không còn quá lâu để bệnh tim vì trầm uất, để tiểu đường do căng thẳng thần kinh, để dị ứng vì phân liệt cá tính… và còn nhiều nữa trở thành đề tài nóng bỏng, nóng đến bỏng tay nhiều thầy thuốc chưa kịp thích ứng với nhu cầu cấp bách của người bệnh trong những tháng ngày trước mặt. Đã đến lúc nhà điều trị không được phép cúi xuống toa thuốc quá sớm, mà phải nhìn người bệnh lâu hơn, phải nghe người bệnh kỹ hơn, để nhận ra nửa kia của người bệnh, một nửa rất mông lung, rất phức tạp nhưng là một nửa không thể tách rời trong mỗi người bệnh, trong mỗi tổng thể cá biệt.  Thầy thuốc, cho dù chịu ảnh hưởng của trường phái nào cũng thế, hiện nay không còn có thể quay đầu nhắm mắt trước một sự thật không thể chối cãi. Liệu pháp, dù dưới bất cứ hình thức nào, dù vì mục tiêu nào bất kỳ, chắc chắn xa rời tính toàn diện, nếu nhà điều trị bỏ quên nửa kia của người bệnh. Trừ khi thầy thuốc tự đánh lừa bằng cách chối bỏ chính nửa kia của thầy thuốc.  Hẹn gặp lại đồng nghiệp trong số báo tháng tới.      BS Lương Lễ Hoàng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nửa nhân loại sẽ thiếu nước      Dẫu cộng đồng quốc tế c&#243; li&#234;n tục cam kết, số lượng người kh&#244;ng tiếp cận được nguồn nước vẫn ng&#224;y c&#224;ng gia tăng. Hiện tr&#234;n thế giới c&#243; tới 1,1 tỉ người đang phải chịu cảnh thiếu nước v&#224; 2,6 tỉ người kh&#244;ng được sử dụng c&#225;c dịch vụ nước sạch. Nếu t&#236;nh h&#236;nh kh&#244;ng c&#243; g&#236; thay đổi, trong v&#242;ng từ 20 đến 30 năm tới, hơn một nửa d&#226;n số Tr&#225;i đất c&#243; nguy cơ sống trong cảnh thiếu nước. Đ&#226;y l&#224; một trong những th&#225;ch thức lớn nhất của nh&#226;n loại v&#224;o thế kỷ 21.     Bất bình đẳng toàn diện!  Tuy nhiên, dường như nguồn tài nguyên quý giá này có vẻ rất dồi dào. Mỗi năm, có tới 40.000 km3 nước lưu chuyển trên các đại lục. 6,5 tỉ dân địa cầu sử dụng khoảng 30.000 km3 nước mỗi năm. Như vậy, mỗi người dân có thể được cung cấp khoảng gần 7000 m3 nước. Thế nhưng, xin nhớ rằng chúng ta không thể sử dụng hết tất cả lượng nước lưu chuyển trên thế giới bởi nếu làm như thế, môi trường nước, đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng môi trường sống và thanh lọc môi trường, sẽ bị tổn hại.   Thêm nữa, nguồn tài nguyên này phân bố không đều trên bề mặt Trái đất. Thật vậy, 60% trữ lượng nước ngọt trên thế giới tập trung ở lãnh thổ của chín quốc gia: Brazil, Nga, Canada, Trung Quốc, Indonesia, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Colombia và Peru. Trên lãnh thổ châu Á, nơi sinh sống của gần 60% dân số thế giới, chỉ phân bố 30% lượng nước ngọt toàn cầu.   Tỉ lệ trữ lượng nước trung bình tính theo quốc gia và theo đầu người cũng rất khác biệt nhau (dao động từ 1 đến 20.000). Các quốc gia thuộc vùng tam giác rộng lớn trải dài từ Maroc đến Sudan qua Pakistan gồm hơn 20 nước nằm ở Bắc Phi, Trung cận Đông và Trung Á thiếu nước trầm trọng. Trung bình mỗi người dân ở các nước này chỉ tiếp cận được khoảng 1.000 m3 nước ngọt mỗi năm, tức họ phải chịu cảnh “thiếu nước kinh niên”.   Ngoài ra, mức sống người dân càng tăng, số lượng trang thiết bị gia đình giúp việc sử dụng nước được dễ dàng càng nhiều thì nước càng bị lãng phí. Người châu Âu hiện nay tiêu thụ nước sinh hoạt gấp 8 lần ông bà của họ. Tính trung bình, một người dân Sydney sử dụng 1.000 lít nước sạch mỗi ngày, một người Mỹ sử dụng 600 lít và một người châu Âu tiêu thụ từ 100 đến 200 lít, trong khi đó, tại một số quốc gia đang phát triển, mức tiêu thụ nước của mỗi người dân chỉ khoảng 20 lít mỗi ngày.   Do vậy, nhất thiết phải giảm thất thoát trong quá trình truyền dẫn nước; ở các nước nghèo, tỉ lệ này có thể lên đến 50%! Hiện nay, chỉ 55% lượng nước khai thác được thực sự sử dụng; 45% còn lại hoặc bị thất thoát trong quá trình truyền dẫn nước sạch, tiêu nước hoặc bốc hơi khi tưới cây.    Tiếp cận nguồn nước: một vấn đề mang tính chính trị   Tháng giêng năm 2008, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố công trình nghiên cứu do hai nhà khoa học của họ tiến hành. Hai nhà khoa học này đề nghị: từ nay đến năm 2015, cộng đồng quốc tế dành những khoản đầu tư mới để cung cấp nước sạch và các dịch vụ nước sạch cho một nửa số dân đang phải chịu cảnh thiếu nước trên toàn thế giới, tức ½ trên tổng số 1,1 tỉ người không được tiếp cận với nước sạch và ½ trên tổng số 2,6 tỉ người không được sử dụng các dịch vụ nước sạch căn bản.   Công trình nghiên cứu này đặc biệt có giá trị. Nó nhấn mạnh rằng do thiếu các dữ liệu cập nhật, đáng tin cậy về lượng nước tiêu thụ thực tế của các quốc gia đang phát triển nên không thể nào ước tính chính xác lượng kinh phí phải bỏ ra hiện nay để đầu tư cho các hệ thống cung cấp nước sạch. Do vậy, cần có một cái nhìn tương đối về số tiền mà các quốc gia hứa hẹn sẽ chi ra nhân ngày Quốc tế vì nước sạch (22/03 hằng năm).     Từ hơn chục năm nay, nước luôn là vấn đề được đề cập nhiều nhất trong các chương trình nghị sự quốc tế: “Từng ấy tỉ con người không được tiếp cận với nguồn nước, từng ấy người chết vì thiếu nước sạch mỗi năm. Nếu không hành động, sang năm, số người tử vong còn tăng lên; do vậy, cần phải huy động X tỉ USD để chấm dứt tấn thảm kịch này, v.v.” Những lời kêu gọi kiểu ấy rốt cuộc đã giết chết mọi suy nghĩ, mọi cách nhìn nhận thực tế và mọi ý thức mang đậm tính chính trị của vấn đề này. Không thể giải quyết tình trạng thiếu nước sạch trên thế giới chỉ bằng những hành động nhân đạo đơn thuần được.    Ngoài ra, số tiền các nước trên thế giới chi hằng năm để duy trì hoạt động của hệ thống cung cấp nước và đầu tư cho các hệ thống này cũng thiếu tính tin cậy. Theo ước tính, khoản này dao động từ 500 đến 800 tỉ USD. Nhìn vào con số ấy, có thể nhận thấy cộng đồng quốc tế “có lẽ sẽ phải” nỗ lực như thế nào mới tài trợ đủ kinh phí để giúp người dân trên toàn thế giới tiếp cận với nước sạch và các dịch vụ nước sạch.                  Tuy nhiên, nếu đem so sánh con số 500 đến 800 tỉ USD ấy với sự khai thác quá mức, sự lãng phí quá đáng nguồn tài nguyên đang cạn kiệt này thì chừng ấy tiền bỏ ra để giúp những người nghèo nhất trên thế giới tiếp cận với nguồn nước quả thật chẳng nghĩa lý gì. Chỉ cần 50% số cổ tức trả cho cổ đông của các công ty lớn nhất nước Pháp vào năm 2007, tức khoảng 20 tỉ Euro, đã đủ giúp một nửa trong số hàng tỉ người phải chịu cảnh thiếu nước và hàng triệu người chết vì thiếu nước được tiếp cận với nguồn nước và các dịch vụ nước sạch.   Do vậy, vấn đề giúp những người nghèo nhất tiếp cận với nước sạch không chỉ đóng khung trong khuôn khổ các hoạt động nhân đạo. Nó còn là một vấn đề mang tính chính trị. Không có nước sạch để sử dụng là một trong những bất công tàn nhẫn nhất đang giày xéo hành tinh chúng ta nên mỗi Nhà nước, mỗi chính quyền địa phương cần có trách nhiệm giúp người dân của mình tiếp cận với các dịch vụ tối thiểu đó.     Công trình nghiên cứu mới của WHO về kinh phí bỏ ra để đầu tư cho hệ thống cung cấp nước sạch  Năm 2000, tại New York, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong đó, mục tiêu thứ 10 là “từ nay [năm 2000] đến năm 2015, giảm đi một nửa tỉ lệ người không được tiếp cận lâu dài với các nguồn nước hợp vệ sinh và các dịch vụ nước sạch cơ bản”. Do nước ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, WHO đặc biệt lưu tâm đến vấn đề này.   Mục tiêu giảm đi một nửa số người không tiếp cận được nguồn nước và các dịch vụ nước sạch rất hay bị chỉ trích. Thế nhưng từ năm 2000, cộng đồng quốc tế đã xem đây là một mệnh lệnh cần phải tuân thủ và đã ước tính số tiền bỏ ra để đầu tư cho các hệ thống cung cấp nước sạch.      Bằng cách phân tích các số liệu sẵn có về lượng nước và các dịch vụ nước sạch được các hộ gia đình sử dụng vào năm 1990, 2004 và có tính đến tốc độ gia tăng dân số, các nhà khoa học của WHO đã tính được số người cần được cung cấp nước sạch và dịch vụ nước sạch để mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 10 trở thành hiện thực. Họ lấy năm 2005 làm mốc, rồi cộng thêm số dân gia tăng mỗi năm vào đó. Chi phí để đầu tư và duy trì hoạt động cho các công trình nước sạch được chia theo đầu người. Từ các số liệu sẵn có của các quốc gia, WHO chia thế giới thành 11 khu vực phát triển. Về phần chi phí tài chính, nó bao gồm chi phí hoạt động, bảo trì, thay thế các hệ thống hiện có, lắp đặt các dịch vụ mới và cả chi phí xây dựng chương trình. Ngoài ra, báo cáo của WHO còn nhấn mạnh sự cần thiết của các công trình nghiên cứu về giá cả ở cấp độ quốc gia trong việc dự báo chính xác.   Sau khi phân tích, các nhà khoa học đã tính được số tiền cần phải đầu tư mỗi năm (từ 2005 đến 2014) để cụ thể hóa Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 10 biết rằng kinh phí đầu tư cho hệ thống nước sạch (chiếm 50,2%) cao hơn so với kinh phí đầu tư cho các dịch vụ nước sạch (chiếm 49,8%).   Như vậy, từ nay đến năm 2014, chỉ để một nửa số người không tiếp cận được nguồn nước có thể sử dụng nước sạch, thế giới sẽ phải chi 42 tỉ USD để đầu tư cho các hệ thống cung cấp nước sạch và 142 tỉ USD cho các dịch vụ nước sạch ở các quốc gia đang phát triển. Số tiền phải chi tổng cộng là 18 tỉ USD mỗi năm.   Ngoài ra, để duy trì các dịch vụ hiện có (đa phần ở các quốc gia phát triển còn ở các quốc gia đang phát triển, chỉ tầng lớp khá giả mới được hưởng lợi từ các cơ sở này), từ 2005 đến 2014, phải chi thêm 538 tỉ USD: 322 tỉ USD cho việc bảo dưỡng các hệ thống cung cấp nước và 216 tỉ USD cho các dịch vụ nước sạch, tức 54 tỉ USD mỗi năm.   Như vậy, tính tổng cộng hai khoản (xây dựng các hệ thống cung cấp nước sạch mới cho các quốc gia đang phát triển và bảo dưỡng các hệ thống hiện có, chủ yếu ở các quốc gia phát triển), trong giai đoạn 2005-2014, mỗi năm thế giới sẽ phải chi tới 70 tỉ USD.                   Công trình nghiên cứu của WHO còn cho biết: đầu tư mở rộng hệ thống cung cấp nước sạch đem lại lợi ích chủ yếu cho người dân nông thôn (64%), trong khi đó đầu tư duy trì các hệ thống sẵn có sẽ mang lại lợi ích cho người dân sống ở thành thị (73%). Và để chương trình cung cấp nước sạch cho người dân này được triển khai hiệu quả, cần chi thêm 10 đến 30% tổng kinh phí nói trên cho chi phí quản lý hành chính, xây dựng chương trình.   Các số liệu do WHO đưa ra có thể bị chỉ trích. Thế nhưng, công trình này xứng đáng được trân trọng, nhất là khi cộng đồng quốc tế thường có thói quen gói gọn vấn đề thiếu nước trong khuôn khổ nhân đạo mà không nhìn nhận nó theo góc độ chính trị.     Biến đổi khí hậu và ODA  Thêm nữa, con số 500 tỉ USD theo ước tính mà cộng đồng quốc tế “có lẽ sẽ phải” dành ra hằng năm để đầu tư cho các cơ sở hạ tầng nước sạch được xem xét khi nguồn tài nguyên này ở mức độ tương đối ổn định như trong quá khứ. Ấy thế mà, nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy do khí hậu Trái đất biến đổi, chu trình của nước đã thay đổi một cách sâu sắc và những diễn tiến đã định hình ấy đánh dấu sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài nguyên nước. Do vậy, cần có những chương trình nghiên cứu mới để dự báo những vùng bị ngập úng, khô hạn, xác định trữ lượng nước và phân bổ nguồn nước dùng cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, tưới tiêu trong nông nghiệp.   Không bao lâu nữa, những chiến dịch nhân đạo rình rang của ngày Quốc tế vì nước sạch chẳng thể nào che đậy những hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra. Nó tác động lên cả các quốc gia giàu có và các quốc gia nghèo đói, thu hẹp hiệu quả của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).   Nếu như các nước giàu xem cuộc chiến chống lại hiện tượng Trái đất nóng lên là ưu tiên hàng đầu vì nó đe dọa an ninh quốc tế và an ninh của từng quốc gia phát triển vốn không muốn từ bỏ mô hình phát triển của mình như Cao ủy Liên minh châu Âu về chính sách đối ngoại và an ninh Javier Solana tuyên bố trước Hội đồng Bộ trưởng của Liên minh này hôm 13 tháng 3 năm 2008 thì những kẻ theo chủ nghĩa vị kỷ ở các quốc gia giàu có tất yếu sẽ cắt giảm sao cho các khoản tiền mà cộng đồng quốc tế đã “cam kết” hỗ trợ để giúp người dân các nước nghèo tiếp cận với nguồn nước chỉ còn là mớ giấy lộn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nửa thế kỷ trí tuệ nhân tạo      Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học và công nghệ nhằm làm cho máy có những khả năng của trí tuệ và trí thông minh của con người, tiêu biểu như biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ và tiếng nói, biết học và tự thích nghi, …  Hơn nửa thế kỷ qua, cùng với rất nhiều những thành tựu, ngành TTNT cũng có không ít những dự đoán không thành.    LƯỢC SỬ NGÀNH TRÍ TUỆ NHÂN TẠO  Mong muốn làm cho máy có những khả năng của trí thông minh con người đã có từ nhiều thế kỷ trước, tuy nhiên TTNT chỉ xuất hiện khi con người sáng tạo ra máy tính điện tử (MTĐT). Alan Turing−nhà toán học lỗi lạc người Anh, người được xem là cha đẻ của Tin học do đưa ra cách hình thức hóa các khái niệm thuật toán và tính toán trên máy Turing−một mô hình máy tính trừu tượng mô tả bản chất việc xử lý các ký hiệu hình thức−có một đóng góp quan trọng và thú vị cho TTNT vào năm 1950, gọi là phép thử Turing.  Phép thử Turing là một cách để trả lời câu hỏi ‘máy tính có biết nghĩ không?’, được phát biểu dưới dạng một trò chơi. Hình dung có ba người tham gia trò chơi, một người đàn ông (A), một người đàn bà (B) và một người chơi (C). Người chơi ngồi ở một phòng tách biệt với A và B, không biết gì về A và B (như hai đối tượng ẩn X và Y) và chỉ đặt các câu hỏi cũng như nhận trả lời từ A và B qua một màn hình máy tính. Người chơi cần kết luận trong X và Y ai là đàn ông ai là đàn bà. Trong phép thử này, A luôn tìm cách làm cho C bị nhầm lẫn và B luôn tìm cách giúp C tìm được câu trả lời đúng. Phép thử Turing thay A bằng một máy tính, và bài toán trở thành liệu C có thể phân biệt được trong X và Y đâu là máy tính đâu là người đàn bà. Phép thử Turing cho rằng máy tính là thông minh (qua được phép thử) nếu như biết cách làm sao cho C không thể chắc chắn kết luận của mình là đúng. Tuy phép thử Turing đến nay vẫn được xem có tầm quan trọng lịch sử và triết học hơn là giá trị thực tế (vì con người vẫn chưa làm được máy hiểu ngôn ngữ và biết lập luận như vậy), ý nghĩa rất lớn của nó nằm ở chỗ đã nhấn mạnh rằng khả năng giao tiếp thành công của máy với con người trong một cuộc đối thoại tự do và không hạn chế là một biểu hiện chính yếu của trí thông minh nhân tạo.                Trăn trở về những chiếc máy tính thông minh đã thôi thúc nhiều nhà khoa học trong nhiều năm tiếp theo, để rồi TTNT−với tư cách là một khoa học độc lập−đã ra đời chỉ chừng 10 năm sau khi những chiếc máy tính đầu tiên được tạo ra để dùng chính vào việc tính toán (thực hiện các phép tính số học cộng trừ nhân chia và so sánh bằng nhau khác nhau).  Người ta vẫn lấy hội nghị mùa hè năm 1956 tại trường Dartmouth ở Mỹ làm sự kiện ra đời của ngành TTNT. Hội nghị đầu tiên này do Marvin Minsky và John McCarthy tổ chức với sự tham dự của vài chục nhà khoa học, trong đó có Allen Newell và Herbert Simon. Bốn người này luôn được coi là những người sáng lập của ngành TTNT. Nhiều người tham gia hội nghị Dartmouth sau này đã trở thành những thủ lĩnh về nghiên cứu TTNT trong nhiều thập kỷ, trong đó có giáo sư Donald Michie, một người tiên phong về TTNT ở châu Âu, người đã lập ra phòng thí nghiệm TTNT nổi tiếng tại đại học Edinburgh ở Anh. Chính tại hội nghị Dartmouth, McCarthy đã đề nghị tên gọi ‘artificial intelligence’. Mặc dù còn tranh cãi trong một thời gian, tên này vẫn được thừa nhận và dùng cho đến nay.  Ba trong bốn người sáng lập ngành TTNT đều ở tuổi 29 vào mùa hè 1956 tại Dartmouth (trừ Herbert Simon, người nhận giải Nobel năm 1978 về những đóng góp trong nghiên cứu về quá trình trợ giúp quyết định trong kinh tế, năm đó 40). Những người sáng lập ngành TTNT đều lần lượt được nhận giải Turing của ACM (Hội Tin học lớn nhất thế giới)−được xem là giải Nobel của Tin học, mỗi năm thường chỉ trao cho một người: Minsky (1969), McCarthy (1971), Newell và Simon (1975). Tính đột phá của tuổi trẻ và tài năng đã thôi thúc họ nghĩ đến, đặt ra và đi tìm lời giải cho những vấn đề nền tảng của TTNT, như đề xuất Dartmouth cho những người làm nghiên cứu về TTNT: “mọi khía cạnh của khả năng học tập cũng như mọi tính chất khác của trí thông minh đều có thể mô tả được thật chính xác sao cho có thể làm ra máy để thực hiện chúng”, hoặc giả thuyết của Newell và Simon tiên đoán bản chất của trí thông minh là việc điều khiển ký hiệu: “mọi hệ ký hiệu hình thức đều có các cách cần và đủ để thực hiện các hành động thông minh phổ quát”.                  Một chuyện được quan tâm nữa là liệu máy có mô phỏng được bộ não con người? Một số người khi này đã quả quyết rằng về mặt công nghệ hoàn toàn có thể sao chép y chang bộ não người vào phần cứng và phần mềm máy tính, và do vậy bộ não mô phỏng trong máy tính hầu như hoàn toàn giống bộ não thật. Nhiều hệ lập luận tổng quát hay các hệ hiểu ngôn ngữ con người (thường được gọi là ‘ngôn ngữ tự nhiên’) như ELIZA hay SHRDLU (tên này được ghép từ sáu chữ cái xuất hiện nhiều nhất trong tiếng Anh) được phát triển trong thời gian này. Rất lạc quan, năm 1965 Simon tuyên bố: “Máy móc trong vòng hai mươi năm nữa sẽ có khả năng làm tất cả mọi việc con người làm”, hoặc năm 1967 Minsky tiên đoán: “Quãng một thế hệ nữa, việc tạo ra trí thông minh nhân tạo sẽ cơ bản được giải quyết”.  Tuy nhiên nhiều mong đợi đã không đến. Những tiên đoán này và nhiều tiên đoán khác đã không thành sự thật. Các hệ thông minh vạn năng dựa trên lập luận hình thức đã không thành công. Sau hơn một thập kỷ của những hứng khởi và lãng mạn, thập kỷ 70 của thế kỷ trước là những năm thiên hạ thất vọng tràn trề về TTNT. Chính phủ Mỹ và Anh đã cắt bỏ nhiều đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này.                  Nhưng những thất bại ở giai đoạn này cũng giúp giới nghiên cứu hiểu rõ hơn những hạn chế tính toán của các hệ lôgích hình thức, hạn chế về những gì máy có thể làm được như đã chỉ ra bởi định lý Gödel về tính không đầy đủ, phát biểu năm 1931, rằng với mọi hệ hình thức đều có những mệnh đề đúng không thể chứng minh được. Con người cũng hiểu rõ hơn khả năng tính toán bằng máy phụ thuộc rất nhiều vào độ phức tạp tính toán của từng bài toán. Rất nhiều bí ẩn vẫn thách thức ở phía trước. Câu hỏi ‘P = NP?’ về độ phức tạp tính toán do Stephen Cook đặt ra năm 1971 đã trở thành một trong bảy bài toán thách đố của thế kỷ 21 do Viện Toán Clay công bố ngày 24.5.2000. (Nói nôm na, P là tập hợp các bài toán có thể giải trên máy với thời gian là một hàm đa thức của kích thước dữ liệu, còn NP là tập hợp con của tập non-P các bài toán được dự đoán là chỉ giải được với thời gian hàm mũ của kích thước dữ liệu, nhưng có đặc điểm là ta có thể kiểm chứng trong thời gian đa thức xem các nghiệm dự đoán của mỗi bài toán trong NP có thật sự là nghiệm hay không.) Rất nhiều vấn đề của TTNT liên quan đến bài toán này.  Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã chứng kiến sự bắt đầu của một giai đoạn quãng 15 năm của sự hồi sinh, bùng nổ và thi đua quốc tế trong ngành TTNT. Ý tưởng cơ bản để phát triển TTNT khi này là sự thông minh của máy tính không thể chỉ dựa trên việc suy diễn lôgích mà phải dựa cả vào tri thức con người, và dùng khả năng suy diễn của máy để khai thác các tri thức này. Cốt lõi của TTNT có thể diễn giải bởi công thức  TTNT = Tri thức + Suy diễn                  Thành quả và nỗ lực tiêu biểu trong giai đoạn này là sự phát triển của các hệ chuyên gia (expert systems). Mỗi hệ chuyên gia về cơ bản gồm hai thành phần: một cơ sở tri thức chứa các tri thức của chuyên gia trong một lĩnh vực và một cơ chế suy diễn logic nhằm vận dụng các hiểu biết này để giải quyết các vấn đề cụ thể, với hiệu quả như chính các chuyên gia giải quyết. Các hệ chuyên gia được nghiên cứu và xây dựng khắp nơi. Hai hệ tiêu biểu là DENDRAL và MYCIN. Hệ DENDRAL nhằm giúp các nhà nghiên cứu hóa học hữu cơ xác định các phân tử hữu cơ chưa biết dựa trên phân tích phổ của chúng và các tri thức hóa học. DENDRAL do Edward Feigenbaum−một học trò của Simon, người được coi là cha đẻ của các hệ chuyên gia và được giải Turing năm 1994−và đồng nghiệp làm tại Đại học Stanford từ cuối những năm 1960. MYCIN là hệ chuyên gia có cơ sở tri thức chừng 600 luật về y học có tính đến yếu tố bất định. Từ quãng những năm đầu của thập kỷ 90, khái niệm hệ chuyên gia được nhìn rộng hơn thành khái niệm các hệ dựa trên tri thức (knowledge-based systems) theo nghĩa cơ sở tri thức không nhất thiết cần hạn chế với tri thức chuyên gia. Ý thức được vai trò của tri thức trong các hành vi thông minh của máy, con người lại phải đối mặt với bài toán làm sao có được tri thức để máy dùng. Trở ngại này vốn luôn luôn là điểm ‘tắc’ trong sự phát triển TTNT.                  Quãng 15 năm này là thời phát triển sôi nổi nhiều nội dung của TTNT: về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, như việc dịch các văn bản từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác; về sự thăng hoa của các phương pháp mạng neuron, vốn ra đời từ 1957 dưới dạng các perceptron đơn giản nhưng bị thờ ơ khi con người nhận ra các hạn chế của chúng; về tính toán tiến hóa, tiêu biểu là các giải thuật di truyền; về các tác tử tự trị và thông minh, những thứ có vai trò rất lớn với TTNT trong những năm về sau, …  Một chuyện đáng nhớ trong giai đoạn này là cuộc thi đua quốc tế về TTNT, khởi nguồn từ đề án máy tính thế hệ thứ 5 FGCS (Fifth Generation Computer Systems) của Nhật Bản do Bộ Ngoại thương và Công nghiệp (MITI) phát động. FGCS kéo dài trong 10 năm (1982-1992) với kinh phí ban đầu 450 triệu USD vào năm 1982. Đề án FGCS nhằm làm ra các hệ máy tính có khả năng suy diễn và giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên trên nền tính toán song song. Mặc dù cuối cùng bị đánh giá là thất bại do không đạt được các mục tiêu, đề án FGCS đã kích thích một cuộc thi đua quốc tế trong giai đoạn hồi sinh của TTNT, đặt ra và thách thức nhiều vấn đề cho giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Nước Mỹ đã dành một kinh phí tương đương với FGCS trong các dự án TTNT của DARPA (cơ quan quản lý các đề tài nghiên cứu tiên tiến của quốc phòng). Các cường quốc khoa học ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức cũng có những đầu tư rất lớn cho TTNT.  Từ 1956 đến nay đã là chặng đường 50 năm. Ba giai đoạn ta vừa nói trong 40 năm đầu có thể gọi tên là ‘mơ ước’, ‘thất bại’ và ‘hồi sinh’. Vậy hơn mười năm qua TTNT đã ra sao?  Không thể nói đến sự phát triển của bất cứ lĩnh vực nào trong Tin học và CNTT nếu không liên hệ với hai sự kiện ‘đổi đời’: một là sự ra đời của công nghệ vi mạch và máy vi tính vào cuối những năm 1970 và hai là sự ra đời của Internet và sự hòa nhập của CNTT và truyền thông (ICT) vào đầu những năm 1990. Trong một chừng mực nào đấy, từ hơn mười năm qua có thể mở rộng công thức cơ bản của TTNT thành    TTNT = Tri thức + Suy diễn + Môi trường  Ở đây ‘môi trường’ là Internet, là các thiết bị liên lạc không dây, là các thiết bị tính toán và lưu trữ thông tin ngày càng nhỏ hơn và mạnh hơn.                        Có thể thấy hai đặc trưng chính của TTNT trong hơn mười năm vừa qua. Thứ nhất là từ những thành bại trong giai đoạn hồi sinh, con người đã thấy rằng TTNT vẫn chỉ ở trong buổi đầu của sự phát triển, và bài học lớn nhất của những năm 1980 là TTNT không thể phát triển một mình, mà ngược lại những khả năng của TTNT cần phải và đã được hợp tác phát triển trong các hệ thống của CNTT và các khoa học khác. Thứ hai là nhiều lĩnh vực mới của TTNT đã ra đời và tiến triển sôi động theo sự thay đổi của môi trường tính toán và tiến bộ khoa học. Chẳng hạn sự xuất hiện của những hệ dữ liệu lớn với quan hệ phức tạp như dữ liệu Web, dữ liệu sinh học, thư viện điện tử, … đã là động lực ra đời các ngành khai phá dữ liệu, Web ngữ nghĩa, tìm kiếm thông tin trên Web. Thêm nữa, TTNT đã thâm nhập từ các khoa học vi mô như góp phần giải các bài toán của sinh học phân tử (tin-sinh học) đến các khoa học vĩ mô như nghiên cứu vũ trụ, rồi cả khoa học xã hội và kinh tế như phát hiện các cộng đồng mạng trong xã hội hay phân tích các nhóm hành vi. Cũng có thể chăng gọi những năm vừa qua của TTNT là giai đoạn ‘hòa nhập’?  Trong các thành công của TTNT giai đoạn này có sự kiện máy tính thông minh tranh tài với các kỳ thủ cờ vua, và đặc biệt máy tính Deep Blue của IBM với trí tuệ nhân tạo đã đánh bại nhà vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov vào năm 1997, và cuối năm 2006 máy tính Deep Fritz lại đánh bại nhà vô địch Kramnik.  Một lĩnh vực tiêu biểu của TTNT trong giai đoạn này là các tác tử thông minh. Tác tử (agent), theo nghĩa chung nhất, là một thực thể có khả năng hành động để thực hiện những nhiệm vụ được giao. Một người đưa hàng, một luật sư hay một điệp viên là những tác tử. Một robot cứu người sau động đất hay một robot hút bụi trong nhà là những tác tử. Một chương trình được cài trên máy tính để lọc thư rác hay một chương trình luôn xục xạo trên Internet để tìm những thông tin mới về một chủ đề là những tác tử. Nói nôm na, tác tử thông minh là những tác tử biết hành động với các phẩm chất của trí thông minh, tiêu biểu là biết nhận thức môi trường xung quanh và biết hướng các hành động tới việc đạt mục đích. Một robot hút bụi sẽ là thông minh nếu biết tìm đến các chỗ bẩn trong phòng để hút bụi và không đi tới những chỗ đã làm.  Nhìn nhận các phương pháp và phát triển TTNT theo quan điểm tác tử thông minh đang trở nên phổ biến trong những năm vừa qua. Nhiều người tin rằng, để thành công các hệ TTNT cần phải có khả năng tự hành động và hành động linh hoạt trong một môi trường thay đổi, không dự đoán được trước, chẳng hạn như Internet (đây chính là các yêu cầu cơ bản của các tác tử thông minh).  VÀI LĨNH VỰC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO  Có nhiều nội dung nghiên cứu và phát triển của TTNT, từ cách để máy có thể suy diễn lôgích và nhận thức, cách ra quyết định và giải quyết vấn đề, cách biểu diễn tri thức con người trong máy, cách lập kế hoạch hành động, hay cách máy biết tự học để tạo ra tri thức mới, … đến dịch tự động các ngôn ngữ, tìm kiếm thông tin trên Internet, robot thông minh. Ta nói về một vài lĩnh vực của TTNT có nhiều thay đổi trong những năm vừa qua.  Xử lý ngôn ngữ tự nhiên  Là việc làm cho máy có thể nhận biết và hiểu tiếng nói và ngôn ngữ của con người.  Liệu máy có thể nói được như người?  Đây là bài toán tổng hợp tiếng nói, tức việc làm cho máy biết đọc các văn bản thành tiếng người. Có thể hình dung nếu ta đưa cho máy các luật phát âm các âm tiết, bài toán này sẽ là việc áp dụng các luật này vào các âm tiết trong một từ để tạo ra cách đọc từ này. Đã có nhiều hệ thống tạo ra được giọng đọc tự nhiên của con người hoặc đọc giống giọng một người nào đấy, nhất là cho các ngôn ngữ được nghiên cứu nhiều như tiếng Anh. Nhưng vẫn cần rất nhiều thời gian để làm được như vậy cho các ngôn ngữ ít được nghiên cứu như tiếng Việt, hoặc làm cho máy thể hiện được buồn vui mừng giận khi nói như người.  Liệu máy có thể nhận biết được tiếng người nói?                  Đây là bài toán nhận dạng tiếng nói, tức việc làm cho máy biết chuyển tiếng nói của người từ microphone thành dãy các từ. Dễ thấy đây là bài toán rất khó, vì âm thanh người nói là liên tục và các âm quyện nối vào nhau, vì mỗi người mỗi giọng, vì có các âm thanh khác nhiễu vào microphone, …. Với tiếng nói chuẩn, các hệ hiện đại cũng mới nhận dạng đúng được khoảng 60-70%. Đại thể, máy mới nhận biết tốt tiếng nói của từng người riêng biệt với lượng nhỏ từ vựng và phải ‘tập nghe’ với chính giọng của người đó. Với các phương pháp học thống kê trên các kho ngữ âm tốt, ta có thể sớm hy vọng vào các hệ nhận dạng tiếng nói thông minh và chính xác.  Liệu máy có hiểu được tiếng nói và văn bản của con người?  Hiểu ngôn ngữ là một đặc trưng tiêu biểu của trí tuệ và việc làm cho máy hiểu được ngôn ngữ là một trong vài vấn đề khó nhất của TTNT nói riêng và CNTT nói chung. Ta lấy thí dụ của Marvin Minsky năm 1992 khi lý giải tại sao vấn đề này lại khó và lĩnh vực này tiến chậm: “Xét một từ, chẳng hạn ‘sợi dây’. Ngày nay không một máy tính nào có thể hiểu nghĩa từ này như con người. Ta có thể kéo một vật bằng một sợi dây, nhưng không thể đẩy một vật bằng sợi dây. Ta có thể gói một gói hàng hoặc thả diều bằng một sợi dây, nhưng không thể ăn sợi dây này. Trong vài phút, một đứa trẻ nhỏ có thể chỉ ra hàng trăm cách dùng hoặc không dùng một sợi dây, nhưng không máy tính nào có thể làm việc này”.  Để hiểu nghĩa một câu, máy không chỉ cần biết nghĩa từng từ, mà trước hết phải biết phân tích được câu này về mặt ngữ pháp. Để làm việc này, đại thể máy phải tách câu thành các từ đơn lẻ hay cụm từ, nhận biết chúng là các loại từ gì, rồi xác định cấu trúc của câu, đoán nghĩa của từng từ, và giải nghĩa cả câu. Ngôn ngữ thường nhập nhằng đa nghĩa và điều này trở nên vô cùng khó với máy. Lấy một thí dụ quen thuộc của câu đơn giản ‘ông già đi nhanh quá’. Với hai cách phân tách từ và cụm từ thành (ông già)(đi)(nhanh quá) và (ông)(già đi)(nhanh quá), với các nghĩa khác nhau của động từ ‘đi’, của cụm từ ‘ông già’,… ta cũng có dăm cách hiểu câu nói trên. Làm sao để máy tự động hiểu đúng nghĩa một câu nói bất kỳ còn là một thách thức lâu dài của ngành TTNT.  Dịch tự động  Liên quan đến hiểu ngôn ngữ là việc dịch tự động từ tiếng này sang tiếng khác, chẳng hạn dịch câu ‘ông già đi nhanh quá’ sang tiếng Anh. Việc dịch này đòi hỏi máy không những phải hiểu đúng nghĩa câu tiếng Việt mà còn phải tạo ra được câu tiếng Anh tương ứng. Nhiều dự án dịch tự động đã được theo đuổi từ hàng chục năm qua, và chắc còn phải tiếp tục nhiều chục năm nữa để có được những hệ dịch tốt. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây của các phương pháp dịch thống kê trên các kho ngữ liệu lớn và tốt có thể cho phép đến một ngày ai cũng nhờ máy đọc được sách báo từ hàng chục thứ tiếng.  Tìm kiếm thông tin trên mạng  Đây là lĩnh vực có sự chia sẻ nhiều nhất giữa TTNT và Internet, và ngày càng trở nên hết sức quan trọng. Sẽ sớm đến một ngày, mọi sách báo của con người được số hóa và để lên mạng hay các thư viện số cực lớn. Giả sử ta muốn tìm những tài liệu liên quan đến việc ‘trí tuệ nhân tạo đóng góp vào việc nâng cao thành tích ở thế vận hội’. Nếu dùng Google để tìm với các từ khóa tiếng Anh ‘artificial intelligence’, ‘performance’ và ‘olympic’ hay dùng một hệ nào đó như Xalộ (http://www.xalo.com.vn/) để tìm với từ khóa tiếng Việt ‘trí tuệ nhân tạo’, ‘thành tích’, ‘thế vận hội’, ta sẽ nhận được rất nhiều tài liệu không phải thứ ta muốn tìm, cũng như có nhiều tài liệu liên quan không được tìm ra.  Có ít nhất hai cách để TTNT đóng góp vào việc giải bài toán này. Một là hệ tìm kiếm cho phép đưa vào câu hỏi ở dạng ngôn ngữ tự nhiên, phân tích để hiểu nghĩa câu hỏi và có cơ chế tìm kiếm các văn bản trong thư viện theo nghĩa này. Hai là hệ tìm kiếm sẽ mô hình các từ ‘trí tuệ nhân tạo’, ‘thành tích’, và ‘thế vận hội’, mỗi mô hình là một tập hợp nhiều từ khác kèm theo phân bố xác suất của chúng theo những quy luật thống kê. Thay vì tìm kiếm trên mạng hay trong thư viện với ba từ khóa, hệ sẽ tìm kiếm với ba tập hợp từ. Với các phương pháp ‘thông minh’ này, ta sẽ sống dễ dàng hơn trong không gian Internet mênh mông đầy bí ẩn.  Robot đá bóng và robot lái xe  RoboCup là một đề án nghiên cứu quốc tế từ 1995 nhằm phát triển TTNT, robot thông minh và các lĩnh vực liên quan. Chọn thi đấu bóng đá giữa các đội robot làm chủ đề nghiên cứu, đề án này hướng đến các sáng tạo công nghệ có nhiều ý nghĩa trong xã hội và công nghiệp. Với mục tiêu này, RoboCup đặt ra nhiều bài toán quan trọng đòi hỏi phải tích hợp nhiều công nghệ, như nguyên lý các tác tử tự trị, hợp tác đa tác tử, nhận biết chiến lược, lập luận thời gian thực, công nghệ robot, nhận dạng và xử lý các chuỗi hình ảnh liên tục trong thời gian thực, … Mục tiêu dài hạn của đề án RoboCup là đến năm 2050, sẽ làm được một đội người máy có thể thắng đội bóng đá vô địch thế giới. Một trong các ứng dụng chính của các công nghệ RoboCup là giải thoát nạn nhân trong các thảm họa. Có thể xem tin, hình ảnh và video của RoboCup tại http://www.robocup.org/.  Số người chết hằng năm ở Mỹ do tai nạn ôtô chỉ đứng sau số chết do bệnh tim và ung thư. Chế tạo được ôtô tự lái và an toàn cao là một mục tiêu được DARPA khởi xướng và hỗ trợ dưới dạng một cuộc thi mang tên ‘Thách thức lớn của DARPA’ (DARPA grand challenge). Cuộc thi cũng hướng đến sáng tạo các công nghệ tích hợp của thị giác máy, robot, lập kế hoạch tự động, học máy, lập luận,… để ôtô có thể tự chạy an toàn. Cuộc thi bắt đầu năm 2004 với yêu cầu xe tự đi 150 dặm qua sa mạc Nevada ở Mỹ. Có 106 đội tham gia, nhưng xe đi xa nhất chỉ được 7 dặm. Cuộc thi năm 2005 yêu cầu xe tự đi qua 132 dặm của sa mạc, đường khó hơn với hầm hẹp, dốc núi. Có 195 đội tham gia, và sau 6 giờ đua, hai đội của đại học Stanford và Carnegie Melon đã về nhất và nhì. Tháng 11.2007, cuộc thi chuyển qua lái trong thành phố với các vận động phức tạp như tránh xe khác, đỗ xe trong bãi, qua ngã tư, … tại Victorville, California với sự tham gia của 35 đội, thi qua nhiều vòng trong 8 ngày. Kết thúc cuộc đua, các đội của đại học Pittsburgh, Stanford, và Blackburg lần lượt giành các giải nhất, nhì và ba.  Sẽ đến một ngày, những chiếc ôtô chạy trên đường không cần người lái. Chỉ nói nơi muốn đến, xe sẽ đưa ta đi và đi an toàn.  TRÍ TUỆ NHÂN TẠO SẼ ĐI VỀ ĐÂU?                 Đây là câu hỏi không dễ trả lời, vì 50 năm qua ngành TTNT đã làm được rất nhiều và cũng không làm được rất nhiều những gì đã dự đoán. Dường như những người làm TTNT là những người lãng mạn nhất trong cộng đồng CNTT. Họ hay mơ ước, tưởng tượng và thách thức với những thứ của tương lai xa, và vì vậy cũng thường thất bại. Nhưng có điều to lớn nào khi đạt được lại không cần những con người như vậy?  Những bộ phim viễn tưởng của Hollywood hay tập trung vào người máy. Đấy thường là những người máy do con người trong một tương lai nào đấy tạo ra nhưng lại vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người, thay thế con người và thống trị thế giới. Hoặc như nếu đã xem bộ phim A.I. của Steven Spielberg mấy năm trước, hẳn ta không thể quên chú bé người máy David, tuy có trí tuệ nhân tạo vẫn luôn khát khao về một tình yêu của con người: “Mẹ ơi, hãy làm cho con thành một đứa trẻ thật”.  Những gì TTNT đang tạo ra ở đầu thế kỷ 21 này không làm con người phải sợ hãi, mà ngược lại đang từng bước đi vào cuộc sống hàng ngày của con người. Hiểu rõ về quá khứ, con người đang thiết kế và thực hiện những chương trình nghiên cứu lớn và định hướng, như khoa học về bộ não. Những gì Alan Turing nói năm 1950 vẫn có nghĩa trong thế kỷ 21 này: “Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy một quãng đường ngắn trước mắt, nhưng chúng ta có thể thấy rất nhiều việc để làm”. Và với những gì con người đang làm, chúng ta có quyền nghĩ đến một ngày máy sẽ qua được phép thử Turing, trước khi TTNT đi hết chặng đường một thế kỷ.      Hồ Tú Bảo      Author                Quản trị        
__label__tiasang Núi lửa đã giết chết khủng long      Đó là giả thuyết mới của các chuyên gia ở Đại học Mở tại Anh sau khi nghiên cứu các chứng cứ mới được tìm thấy tại Deccan Traps, Ấn Độ. Một giả thuyết khác chính là vụ thiên thạch rơi xuống trái đất, gây biến đổi lớn về khí hậu.      Theo các nhà khoa học, một chuỗi các vụ núi lửa phun, hình thành nên Deccan Traps, đã thải một lượng khí sulphur và chlorine cực lớn vào khí quyển cách đây 65 triệu năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Hậu quả là những cơn mưa a-xít diễn ra triền miên và những vụ khí a-xít sulphuric bị phun vào không khí, làm nguội bề mặt trái đất. Đây là lý do gây nên sự hủy diệt hàng loạt các giống nòi trên trái đất, bao gồm cả loài khủng long.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Núi lửa gây tuyệt chủng loài khủng long      Sự tuyệt chủng đột ngột của loài khủng long cuối kỷ Creta được giải thích do một thiên thạch rơi ở vịnh Mexico làm rối loạn khí hậu toàn cầu.      Nhưng nghiên cứu mới đây khẳng định, chính núi lửa đã phun một lượng lớn khí nhà kính, làm thay đổi khí hậu khiến đa số các động vật sống vào thời đó tuyệt chủng. Cuộc điều tra thực hiện trên cao nguyên Dekkhan, Ấn Độ. Việc định tuổi nhờ chất đồng vị phóng xạ chứng minh dung nham đã đọng lại cách đây khoảng 65 triệu năm trong thời kỳ địa chất khá ngắn (khoảng 1 triệu năm), trùng hợp với sự tuyệt chủng của loài khủng long.   (Theo Science & Avenir)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Núi lửa giúp dừng một trận động đất ở Nhật Bản      Theo phát hiện mới đây của các nhà nghiên cứu, núi Aso, một trong những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất ở Nhật Bản, đã giúp dừng trận động đất 7,1 độ richter hồi tháng Tư nhờ nguồn nhiệt cực nóng của bể magma trong lòng núi.      Dải tro bụi trôi về phía nam từ núi Aso. Ảnh do NASA chụp ngày 13/01/2015.  Trận động đất rung chuyển TP Kumamoto trên đảo Kyushu vào ngày 16/4/2016, đã tạo ra đới đứt gãy trên bề mặt dài 40km. Nhưng các nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng cho thấy trận động đất kéo dài khoảng 30 giây này đã bị ngưng lại nhờ một bể magma dưới cụm núi lửa Aso, nằm cách tâm chấn 30km.  Phát hiện này đã cung cấp cho các nhà khoa học một cái nhìn sơ bộ hiếm hoi về cách hai hiện tượng địa chất – núi lửa và động đất – tương tác với nhau như thế nào.  Ngay sau trận động đất Kumamoto, các nhà nghiên cứu đã đến vùng tâm chấn và ở lại đây mười ngày để khảo sát các đứt gãy do trận động đất gây ra.  Họ đã phát hiện đới đứt gãy kéo dài đến miệng núi lửa Aso, từ rìa tây nam đến rìa đông bắc, và đột ngột dừng lại tại đó, ở độ sâu 6km dưới lòng đất.  Những điều tra về hoạt động địa chất sâu dưới miệng núi lửa Aso cho thấy ngay nơi đới đứt gãy dừng lại có một bể magma (được gọi là dung nham khi nó phun trào ra khỏi lòng đất qua các miệng núi lửa).  Theo các nhà nghiên cứu, các sóng năng lượng từ trận động đất đã di chuyển về phía núi Aso, qua vùng đá nguội và dễ vỡ và do đột ngột chạm trán nguồn nhiệt cực nóng của bể magma dưới núi lửa, năng lượng của chúng bị tản ra theo hướng lên trên và thoát ra ngoài. Kết quả là sức mạnh của của các luồng sóng năng lượng bị suy giảm và quá trình đứt gãy bị dừng lại.  Người đứng đầu nghiên cứu này, GS Aiming Lin, Khoa Khoa học về Trái đất và Hành tinh,i Đại học Kyoto, cho biết, “Đây là trường hợp đầu tiên liên quan đến sự tương tác giữa núi lửa và quá trình tạo đứt gãy do cùng một cơn địa chấn mà chúng ta biết đến nay”. Song trong quá khứ cũng có những thí dụ tương tự khác về mối tương tác này, GS Lin viết trong nghiên cứu của mình.  Năm 1707, đới đứt gãy do trận động đất Houei-Tokai-Nankai (8,7 độ Richter) tạo ra kéo dài lên phía bắc và cuối cùng kết thúc ở phía tây núi Phú Sĩ. Còn năm 1930, đới đứt gãy do trận động đất ở phía bắc bán đảo Izu mạnh 7,3 độ Richter tạo ra đã bị chặn lại tại núi lửa Hakone trên bán đảo này.  Theo nhà nghiên cứu địa chấn Gregory Beroza, phó giám đốc Trung tâm Động đất Nam California, giáo sư địa vật lí tại Đại học Stanford, phát hiện này có thể giúp các nhà nghiên cứu dự đoán chính xác hơn thời gian kéo dài của các trận động đất dựa vào mối tương tác của chúng với núi lửa.   “Ý nghĩa của nghiên cứu này đối với động đất ở chỗ nó cho thấy hệ thống magma có thể dừng quá trình tạo đứt gãy và bằng cách đó hạn chế được quy mô của các trận động đất theo một cách có thể dự đoán được”, GS Beroza nói.  “Tuy nhiên đây chỉ là [nghiên cứu về] một trận động đất, dù nó có thú vị hay có vẻ thuyết phục thế nào đi chăng nữa thì cũng là mạo hiểm nếu ta khái quát hóa tất cả các trận động đất trong tương lai theo cách đó,” GS Beroza lưu ý.  Nguồn:  http://www.livescience.com/56571-how-volcano-stops-an-earthquake.html       Author                Nhàn Vũ        
__label__tiasang Nước biển có thể không dâng cao như dự đoán      Điều chắc chắn là, mực nước đang dâng lên, hiện giờ trung bình là khoảng 3 mm một năm.     Mực nước biển dâng lên có thể gây nguy hiểm cho hàng triệu người trong các vùng gần bờ trên toàn thế giới. Một công trình mới đây đăng trên tạp chí chuyên ngành Science đã “hãm phanh” chút ít cho tấm bi kịch. Theo nhóm nghiên cứu của Tad Pfeffer từ Đại học Colorado, họ không tin rằng mực nước biển sẽ dâng cao lên 2 m cho đến cuối thế kỷ như một vài mô hình dự đoán trước đây. Để cho mực nước biển dâng lên thêm 2 m cho đến cuối thế kỷ, các sông băng trên Greenland phải chảy với vận tốc chưa từng thấy – 27 km mỗi năm – cho đến cuối thế kỷ. Pfeffer cho rằng điều đó là rất không hợp lý – và vì thế dự đoán mực nước biển sẽ dâng lên ít hơn nhiều. Họ cho rằng khoảng 0,8 m đến cuối thế kỷ là thực tế, cũng có thể nhiều hơn một ít.     Phan Ba (theo Spiegel Online)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước biển dâng: Bài toán khó cần giải trong thế kỷ 21      Không chỉ ĐBSCL mà còn rất nhiều khu vực ven biển khác trên thế giới đang phải đối diện với hệ quả của hiện tượng ấm lên toàn cầu. Một trong những tác động có tính lâu dài và quy mô rộng lớn của biến đổi khí hậu là hiện tượng nước biển dâng. Làm thế nào để con người chúng ta thích ứng được một cách có hiệu quả sẽ là một trong những bài toán khó cần giải trong thế kỷ 21.    Thay đổi mực nước biển và nguyên nhân  Hình thành từ hàng triệu năm trước, biển và đại dương đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Biển tạo ra hơn một nửa nguồn oxy mà chúng ta thở hằng ngày, cung cấp một nguồn hải sản đa dạng, giúp vận chuyển 3/4 hàng hoá tiêu dùng, và chứa đựng trong lòng nó các nguồn tài nguyên thiết yếu như dầu mỏ. Liên Hiệp Quốc ước tính có chừng 40% dân số cư ngụ gần biển, với 600 triệu người sinh sống trong khu vực cao hơn mực nước biển từ 10 mét trở xuống. Việt Nam có 28 trên tổng số 64 tỉnh thành ven biển, với đường bờ biển dài hơn 3000km. Chính bởi vậy, những thay đổi dù nhỏ của mực nước biển sẽ có tác động mạnh mẽ tới cuộc sống của chúng ta.   Về diện tích, biển và đại dương bao phủ 72% bề mặt Trái đất. Mực nước biển của Trái đất không phẳng lặng mà luôn có sự lên xuống hằng ngày và hằng giờ, mỗi khu vực có một biên độ khác nhau. Sự thay đổi ấy do tác động đồng thời của nhiều yếu tố, bao gồm thủy triều, ảnh hưởng của gió và bão, và tác động của khí hậu. Trong khi thủy triều hay nước dâng do gió và bão dễ nhận quan sát được bằng mắt thường do có biên độ lớn, thì sự thay đổi mực nước do tác động của khí hậu tương đối khó nhận biết.  Thủy triều là yếu tố có dao động lớn và thường xuyên nhất đến sự thay đổi của mực nước biển. Dao động thủy triều được hình thành do lực hút của Mặt trăng và Mặt trời tác động lên Trái đất, làm khối chất lỏng trên bề mặt nó (biển và đại dương) biến đổi. Ở Biển Đông, thủy triều có hai lần dâng lên đạt đỉnh (high waters) và hai lần mực nước đạt thấp nhất (low waters), được kết hợp từ các thành phần nhật triều và bán nhật triều có tần số và biên độ khác nhau của sóng biển. Khoảng dao động tổng hợp có độ lớn trung bình từ 2 đến 3 mét, tùy địa điểm dọc bờ biển (Hình 1). Một số nơi như vịnh Fundy (Canada) và cửa sông Severn (Anh), biên độ thủy triều hằng ngày có thể đạt tới 15-16 mét.       Trong tương lai, nhiệt độ tăng lên bao nhiêu có độ bất định rất cao, phụ thuộc vào cách hành xử và lối sống của chúng ta. Liệu chúng ta sẽ vẫn tiếp tục chạy xe xăng, đốt thêm than, tiêu thụ nhiều sản phẩm công nghiệp, chặt phá rừng,.. hay chúng ta sẽ đổi phát triển năng lượng sạch, sống xanh và bền vững hơn?      Bên cạnh thủy triều, mực nước còn bị ảnh hưởng bởi tác động của khối không khí trên mặt biển, đặc biệt là gió. Không chỉ có góp phần tạo nên các hoàn lưu và dòng chảy trên biển, gió còn khiến cho mực nước dâng cao hơn hay hạ thấp xuống. Tác động của gió và áp suất khí quyển trở nên rõ rệt nhất khi xảy ra bão. Khi bão hay áp thấp nhiệt đới hình thành trong vòng vài ngày, mực nước biển nằm gần khu vực cơn bão đi qua cũng tăng tạm thời khoảng 1-2 mét. Hiện tượng này còn gọi chung là nước dâng do bão (storm surge). Ngoài ra, động đất hay va chạm kiến tạo dưới đáy biển cũng có tiềm năng sinh ra sóng thần, là hiện tượng nước biển dâng cao đến vài mét trong ngắn hạn. Ở Đông Nam Á, trận sóng thần năm 2004 ở Indonesia đã giết hại hơn 200’000 người.  Không chỉ cần gió mạnh của các cơn bão, mực nước biển còn bị thay đổi bới các loại gió yếu hơn. Trong một nghiên cứu do nhóm chúng tôi thực hiện cách đây nhiều năm tại ĐH Quốc gia Singapore, chúng tôi thấy rằng gió mùa Đông Bắc trên thực tế làm hạ mực nước biển trung bình ở Vịnh Bắc Bộ chừng 10 centimet trong những tháng mùa đông. Mực nước trung bình ở Biển Đông nhìn chung dao động trong khoảng chừng 20-30 centimét, chủ yếu do tính chất thay đổi theo mùa của gió và dòng chảy, và tác động của các thành phần có chu kỳ dài của thủy triều. Dao động của thủy triều và gió mùa diễn ra đều đặn hàng năm, đã như vậy từ hằng ngàn năm trước và sẽ tiếp tục như vậy trong tương lai với sự thay đổi không đáng kể.   Trong khi đó, nước biển dâng (sea level rise) do biến đổi khí hậu (climate change) diễn ra âm thầm hơn. Sự dâng lên này thường rất nhỏ, chỉ vài milimet mỗi năm. Do đó, rất khó nhận biết bằng trực tiếp mắt thường mà không có các đo đạc và quan trắc. Thế nhưng, lượng tăng sẽ trở nên rất đáng kể trong dài hạn vài chục năm. Tầm quan trọng của nước biển dâng ở chỗ: không giống như thủy triều hay nước dâng do bão hết lên rồi lại xuống, lượng tăng lên này là vĩnh viễn và không đảo ngược được. Khi kết hợp với triều cường, chúng sẽ có tác động rất lớn đến tương lai của những nơi có cư dân đông đúc như các thành phố New York, Vancouver, Amsterdam, Sydney, Melbourne, Tokyo, Bangkok, Singapore, Hồ Chí Minh.   Vậy biến đổi khí hậu liên quan thế nào đến nước biển dâng? Trước hết, do nhiệt độ tăng cao, các khối băng, tuyết từ Bắc Cực, Nam Cực và các đỉnh núi cao tan ra chảy ra biển. Dù lượng băng này sẽ tan ra vào mùa hè và được bổ sung vào mùa đông, khí hậu ấm khiến lượng tan nhanh hơn và lượng đóng băng giảm đi. Thứ đến, nước dâng do hiện tượng giãn nở nhiệt của nước biển. Khi nước biển ấm hơn, thể tích sẽ tăng lên, dẫn tới việc mực nước biển sẽ dâng cao hơn. Các nguyên nhân khác gắn với địa vật lý biển và khí hậu, như thay đổi của dao động khí hậu (ENSO), biến đổi dòng chảy, biến dạng hình dạng Trái đất (geoid)… cũng tác động lên sự thay đổi của mực nước biển.      “Đo” lượng nước dâng: các phương pháp và những hạn chế  Từ xa xưa, sự dâng lên và hạ xuống của mực nước đã gắn liền với lịch sử của loài người. Không phải ngẫu nhiên mà hiện tượng đại hồng thủy và con thuyền Noah đã xuất hiện trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau. Một cách nào đó, câu chuyện dân gian đã phản ánh ký ức của con người trước hiện tượng nước biển dâng. Truyền thuyết về nhà tiên tri Moses cũng là một chỉ dấu khác về những ký ức về sự thay đổi đột ngột của mực nước dâng trong lịch sử chúng ta.   Chúng ta hầu như khó cảm nhận được rõ rệt sự thay đổi của mực nước biển do lượng tăng hằng năm khá nhỏ. Tuy nhiên, nhờ có các phân tích và quan sát khoa học tinh vi, nhà khoa học đã có thể tính toán và gián tiếp ước lượng độ cao mực nước khi xem xét thay đổi của san hô, hay khảo cứu các dấu tích lưu lại trên hang động. Tuy nhiên, để thu được dữ liệu chính xác hơn về mực nước, cần phải quan sát trực tiếp. Đó là cơ sở cho sự ra đời của các trạm thủy triều (tide gauge). Trạm thủy triều cổ nhất xuất được cho được xây dựng tại Amsterdam (Hà Lan) vào khoảng năm 1700. Các trạm thủy triều thường được đặt tại các vùng đất có nền đất tốt, ít dịch chuyển và chịu được sóng gió và điều kiện khắc nhiệt. Mực nước đo được ghi nhận với các quãng thời gian khác nhau, thường là hàng giờ. Các trạm thủy triều hầu hết được đặt dọc bờ biển, một số ít còn lại được đặt trên các đảo đá ngoài khơi.   Bên cạnh cách đo mực nước trực tiếp, ngày nay các thiết bị viễn thám cũng được sử dụng để đo mực nước từ trên cao. Ưu điểm của các thiết bị viễn thám là có thể quan sát được mực nước biển ngoài khơi, điều mà các trạm thủy triều gần bờ không làm được. Tuy nhiên, nhược điểm của quan sát này là sự gián đoạn về không gian và thời gian. Do số lượng vệ tinh tham gia quan sát rất ít (2-3 chiếc), tại một thời điểm ta chỉ quan sát được mực nước tại một khu vực nhất định trên biển, trước khi chuyển qua khu vực khác. Trong khi đó, mực nước thay đổi hằng giờ. Muốn sử dụng được số liệu này, các nghiên cứu cần tích hợp chúng vào các mô hình, để từ đó suy đoán ra mực nước tại các vị trí không quan sát được. Ngoài ra, độ chính xác của mực nước khi quan sát vệ tinh rất kém khi gần bờ. Một số nghiên cứu mới hơn dùng quan sát bằng laser (ridar) khắc phục được nhược điểm về độ phân giải gần bờ, nhưng vẫn bị những hạn chế về phạm vi không gian có thể đo đạc được tại một thời điểm và sự đắt đỏ trong việc đầu tư và duy trì sự hoạt động của chúng.  Giữa các thiết bị đo mực nước, trạm thủy triều có tầm quan trọng nổi bật, bởi chúng cung cấp một nguồn dữ liệu chính xác trong thời gian dài. Tuy nhiên, có một hạn chế là các vùng đất đặt trạm thủy triều không chỉ dịch chuyển theo phương ngang mà còn theo phương thẳng đứng (Vertical Land Motion – VLM). Sự thay đổi của VLM của các vùng đất quanh khu vực có băng tan do hiện tượng được gọi là GIA (glacial isostatic adjustment) khi các khối địa tầng được giải tỏa sức ép do băng nên dâng cao hơn so với vị trí cũ. Còn ở hầu hết các nơi khác, VLM do dịch chuyển của các khối địa tầng Trái đất (tectonics) và tác động nhân tạo của con người (hút nước ngầm, bồi đắp). Dịch chuyển này đa phần rất nhỏ, chừng vài mm cho đến vài cm mỗi năm. Tuy nhiên, cũng có nhiều nơi diễn tốc độ thay đổi rất lớn. Ví dụ, chỉ trong vòng 20 năm, đất nền của thành phố Bangkok (Thái Lan) lún đến 40-50 cm.  Tại sao VLM quan trọng? Vì trên thực tế, mực nước tuyệt đối của nước biển bằng tốc độ dâng tương đối của nước biển (đo tại trạm thủy triều) khấu trừ phần sự dịch chuyển của mặt đất của trạm thủy triều này. Nếu không khấu trừ phần dịch chuyển của đất mà dùng luôn mưc nước giá trị tại trạm thủy triều, thì tốc độ nước biển dâng hằng năm thu được chứa sai sót lớn. Cách đây một số năm khi còn làm phân tích nước biển dâng, nhóm chúng tôi có phân tích và thấy rằng nếu không khấu trừ VLM này, thì sai số về nước biển dâng đo được có thể lên tới 20-60% (Hình 2). Phân tích tiết và đầy đủ hơn về riêng VLM đã được tiến hành nhiều nơi, như bài báo của Wolpellman trên Review of Geophysics (Woppelmann và Marcos, 2016). Tuy nhiên, đo đạc VLM là công việc dài hạn và khó khăn, đa phần các phân tích khoa học chỉ dừng lại khấu trừ phần dịch chuyển VLM do GIA (Church et al., 2013).  Mực nước biển sẽ dâng bao nhiêu?  Bằng cách kết hợp các nguồn dữ liệu mực nước đo tại trạm thủy triều, từ vệ tinh và các quan sát khác với các phân tích tinh vi, các nhà khoa học đã tái xây dựng nhiều bản đồ mực nước trung bình của Trái đất. Các thảo luận do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) chủ trì đã đưa đến một đánh giá tương đối thống nhất và toàn diện. Theo đó, trong báo cáo đánh giá khoa học mới nhất (AR5) của IPCC, mực nước biển toàn cầu đã dâng lên hơn 20 cm từ thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cho đến nay (Hình 1).     Hình 1. Nước biển dâng từ cuối thế kỷ 19 đến nay từ các nguồn dữ liệu khác nhau. (Nguồn: Church et al., 2013)  Nước biển dâng bao nhiêu trong dài hạn chủ yếu tùy thuộc vào tốc độ ấm lên toàn cầu nhanh hay chậm. Do sự tương tác phức tạp trong hệ thống khí hậu, mực nước biển dâng là không đều. Tại một số khu vực, mực nước tăng nhanh hơn nơi khác, đặc biệt là quanh hai cực của Trái đất nơi băng tan ra, và gần “bể nước nóng nhiệt đới” (Tropical Warm Pool) giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, được biết đến là địa điểm hình thành các cơn bão thường xuyên đổ bộ vào Biển Đông của chúng ta.   Mức nước biển dâng ở các giai đoạn khác nhau là không đều nhau. Ngược dòng về quá khứ, đã có những giai đoạn nước biển thấp hơn ngày nay đến 300-400 mét, hay cũng có những thời kỳ mực nước dâng cao hơn cả chục mét so với ngày nay (Hình 2). Có một số giai đoạn nước biển dâng có chững lại, nhưng ngay sau đó lại tăng lên với tốc độ nhanh hơn. Trong những năm gần đây, mức nước biển dâng trung bình khoảng 3 milimet mỗi năm. Điều đáng nói là việc tăng này có gia tốc, nghĩa là mức tăng của năm sau sẽ cao hơn năm trước.    Hình 2. Nước biển dâng trong khoảng 8000 năm trở lại đây (Nguồn: R.A. Rohde, 2006, Global Warming Art project).  Trong tương lai, nhiệt độ tăng lên bao nhiêu có độ bất định rất cao, phụ thuộc vào cách hành xử và lối sống của chúng ta. Liệu chúng ta sẽ vẫn tiếp tục chạy xe xăng, đốt thêm than, tiêu thụ nhiều sản phẩm công nghiệp, chặt phá rừng,.. hay chúng ta sẽ đổi phát triển năng lượng sạch, sống xanh và bền vững hơn? Nếu có thì sẽ xảy ra bao giờ và ra sao? Chưa kể, chúng ta cũng chưa hoàn toàn hiểu hết về hệ thống khí hậu và đại dương của Trái đất. Bởi những bất định này, các nhà khoa học hợp tác trong IPCC đã đưa ra những dự đoán cho nhiều kịch bản, từ đó các chính phủ và người dân có thể hình dung về những diễn biến tương ứng sẽ xảy ra.    Nước biển Trái đất dâng lên tương ứng với sự ấm lên toàn cầu. Báo cáo gần nhất AR5 của IPCC có phân tích kỹ hơn về có 4 kịch bản phát thải từ thấp đến cao có khả năng nhấp, sắp xếp từ từ thấp (RCP 2.6), trung bình (RCP4.5), cao (RCP6.0), và rất cao (RCP8.5). Trong kịch bản “lạc quan” nhất (Hình 3), lượng nước biển cũng dâng lên 35 cm. Theo kịch bản “xấu” nhất, nước biển trên Trái Đất sẽ dâng lên 86 cm so với này nay. Điều đó cho thấy, nhiều khả năng chúng ta sẽ đối diện với nguy cơ nước biển tăng từ 50 cm trở lên, lượng tăng hơn gấp đôi so với một thể kỷ trước. Kể cả khi chúng ta chấm dứt hoàn toàn việc thải vào khí quyển khí nhà kính, thì không chỉ nhiệt độ toàn cầu mà cả mực nước biển về dài hạn vẫn tiếp tục tăng chứ không giảm đi.  Tác động của nước biển dâng ra sao?  Nước biển dâng sẽ làm úng ngập (inundation) các đồng bằng và xóa sổ nhiều vùng đất ngập nước (wetland). Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các đô thị lớn trên thế giới từ xa xưa đều nằm ở khu vực cửa sông ven biển, nơi có nguồn nước ngọt dồi dào cho hoạt động nông nghiệp và sinh sống, thuận tiện giao thương đường biển và là cửa ngõ giao lưu văn hóa. Trong khi đó, các khu vực ngập nước, bao gồm rừng nhiệt đới Amazon hay đầm lầy Siberia, là các khu sinh quyển rộng lớn với nhiều loại động thực vật hết sức phong phú. Nước biển dâng cũng làm dần biến mất hoặc xói mòn các bãi biển, cồn cát, đảo chắn và các khu vực vịnh, cửa sông ven biển. Nước biển dâng sẽ làm tăng nguy cơ tác động của các cơn bão và của triều cường, khi nước biển dễ dàng xâm nhập vào đất liền.    Trong đánh giá tác động của nước biển dâng, các yếu tố rủi ro đều được xem xét. Bên cạnh nước biển dâng dài hạn do biến đổi khí hậu, yếu tố thủy triều và nước dâng do bão cũng thường được cộng gộp trong phân tích. Trong khi lượng nước biển dâng và thủy triều có thể ước lượng được, thì tần suất và cường độ của bão là yếu tố bất định khó dự đoán. Để vượt qua vấn đề này, các phân tích cực trị (Extreme Value Analysis) được áp dụng, qua đó giúp tính được xác suất xảy ra các cơn bão và mức nước biển dâng tương ứng. Chính phủ Singapore khi xây dựng các kịch bản đánh giá rủi ro đã tính đến các chu kỳ lặp lại (Return Period) của bão là hầng năm, 1 trong 10 năm, 1 trong 100 năm và thậm chí 1 trong 1000 năm. Tùy theo tầm quan trọng của các công trình xây dựng ven biển mà các mức độ rủi ro được áp dụng phòng ngừa một cách thích hợp. Sau khi lượng hóa các yếu tố này, ta thu được mực nước tuyệt đối của nước biển phục vụ cho việc đánh giá rủi ro, bao gồm xây dựng bản đồ úng ngập.    Hình 3. Dự báo nước biển dâng đến cuối thế kỷ theo 4 kịch bản nước biển dâng được đưa ra bởi IPCC. (Nguồn: Church et al., 2013)  Với bản đồ úng ngập, ta có thể ước tính tác động của nước biển dâng dưới nhiều góc độ khá nhau. Theo một ước tính trên tạp chí Thư Nghiên cứu Môi trường (Jevrejeva et al., 2018), thế giới sẽ bị thiệt hại chừng 10,2 ngàn tỷ (trillion) USD mỗi năm vào năm 2100 khi nhiệt độ Trái Đất tăng thêm 1.5oC. Ứng với mức tăng mực nước 86 cm theo kịch bản RCP8.5 vào cuối thế kỷ này, con số thiệt hại lên tới 14 ngàn tỷ USD, chiếm chừng 2.7% GPD toàn cầu, nếu như chúng ta không có biện pháp ứng phó hiệu quả. Trong trường hợp xấu nhất với mực nước biển đạt cao nhất (180 cm), chúng ta sẽ thiệt hại 27 ngàn tỷ USD, một con số khổng lồ – gấp khoảng 10 lần GDP Việt Nam hiện nay.  Lời kết  Trong dài hạn, mực nước biển trung bình toàn cầu liên tục thay đổi. Thời xa xưa, có giai đoạn mực nước thấp hơn ngày nay đến vài trăm mét với tốc độ tăng thường rất chậm.   Tuy nhiên, sự ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến cho Trái đất ấm dần lên. Kéo theo đó là mực nước biển toàn cầu bắt đầu tăng với tốc độ ngày càng nhanh hơn do nhiều nguyên nhân khác nhau: băng tan, giãn nở của nước và các thay đổi trong hệ thống khí hậu Trái đất. Các đo đạc khoa học từ các trạm thủy triều và ảnh vệ tinh đã chỉ ra tốc độ dâng của nước biển do biến đổi khí hậu chừng 3 milimet một năm với gia tốc dương. Dự kiến vào cuối thế kỷ tới, mực nước biển sẽ tăng lên trong khoảng 35-85 cm, gây thiệt hại cho kinh tế toàn cầu hàng ngàn tỷ USD với nhiều hệ lụy về phát triển.   Tìm cách thích ứng một cách hiệu quả là một trong những bài toán khó nhất mà loài người chúng ta cần hợp tác phải quyết trong thế kỷ này. □  Tham khảo  Church, J.A., P.U. Clark, A. Cazenave, J.M. Gregory, S.Jevrejeva, A. Levermann, M.A. Merrifield, G.A. Milne, R.S. Nerem, P.D. Nunn, A.J. Payne, W.T. Pfeffer, D. Stammer and A.S. Unnikrishnan, 2013: Sea Level Change. In: Climate Change 2013: The Physical Science Basis. Contribution of Working Group I to AR5 of IPCC, Cambridge University Press.  Jevrejeva, S , L.P. Jackson, A. Grinsted, D. Lincke and B. Marzeion, 2018, Flood damage costs under the sea level rise with warming of 1.5 °C and 2 °C, Environmental Research Letters, 13(7), 074014, doi: 10.1088/1748-9326/aacc76  Luu, Q. H., Tkalich, P., and Tay, T. W.(2015) Sea level trend and variability around Peninsular Malaysia, Ocean Science, 11, 617–628, doi:10.5194/os-11-617-2015.  Luu, Q. H., Q. Wu, P. Tkalich & G. Chen (2018) Global mean sea level rise during the recent warming hiatus from satellite-based data, Remote Sensing Letters, 9:5, 497-506, doi: 10.1080/2150704X.2018.1437291  Minh, N.N., Patrick, M., Florent, L., Sylvain, O., Gildas, C., Damien, A., V.U., Dinh, 2014, Tidal characteristics of the gulf of Tonkin, Continental Shelf Research, 91, 37-56, doi:10.1016/j.csr.2014.08.003  Woppelmann, G., M. Marcos (2016), Vertical land motion as a key tounderstanding sea level changeand variability, Review of Geophysis, 54,64–92, doi:10.1002/2015RG000502.    Author                Lưu Quang Hưng        
__label__tiasang Nước trên Sao Hỏa không thích hợp cho sự sống      Nước trên Sao Hỏa có quá nhiều muối nên không thích hợp cho các sinh vật sống nảy sinh và tồn tại. Kết luận nói trên được các nhà khoa học thuộc trường Đại học Harvard (Mỹ) công bố trên tạp chí Science sau khi họ tiến hành phân tích muối lắng đọng trong các mẫu đất đá trên Sao Hỏa có tuổi tới 4 tỉ năm, được xe tự hành trên Sao Hỏa mang tên Opportunity và các thiết bị bay trên quỹ đạo thu thập được và chuyển về Trái Đất.    Theo các nhà khoa học, cách đây hàng tỷ năm, trên Sao Hỏa có sự tồn tại rõ ràng của nước, song đó chỉ là loại nước giống như dung dịch muối đậm đặc với nồng độ cao, không thể cho phép sự sống nảy sinh và tồn tại. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng không loại trừ khả năng tồn tại những hình thái sống mà con người chưa từng biết tới trên hành tinh này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước trên Trái Đất và Mặt Trăng có cùng nguồn gốc      Nước trong đá nham thạch ở Mặt Trăng rất  giống với nước trên Trái Đất, một nhóm nghiên cứu của Mỹ khẳng định khi  phân tích đồng vị của chúng.    Nước có mặt khắp nơi trên thế giới, ngay cả trong những sa mạc khô nhất hay trong dung nham núi lửa. Từ lâu nay, người ta tin rằng, trên mặt trăng hầu như nước không tồn tại. Cách đây năm năm, nhóm nghiên cứu người Mỹ đã phát hiện ra dấu hiệu của nước trong một số mẫu đá do các phi hành gia của tàu vũ trụ Apollo 15 và 17 mang về trái đất. Hiện nay, các nhà khoa học ở Trường Đại học Brown ở Đảo Rhode (Mỹ) đã nghiên cứu những mẫu đá này và phát hiện ra rằng, chúng có “họ hàng” với nước trên Trái Đất và nước trong các thiên thạch cổ đại.  Lượng nước trên mặt trăng được tìm thấy là rất thấp. Nhóm nghiên cứu do Alberto Saal đứng đầu đã phân tích chất lỏng trong các hạt thủy tinh nhỏ tồn tại trong khoáng vật Olivin của nham thạch mặt trăng và đã cho kết quả, các hạt này có mật độ 60 phần triệu (ppm) nước. Mặc dù nước có ý nghĩa rất lớn sự sống, nhưng Cơ quan hàng không vũ trụ Nasa lại không cho rằng, trên Mặt Trăng tồn tại sự sống.   Từ trước tới nay, các nhà khoa học tin rằng, trong sự hình thành của Mặt Trăng, tất cả các chất dễ bay hơi, đặc biệt là hydro sẽ bay hơi hoàn toàn. Theo giả thuyết, Mặt Trăng xuất hiện rất sớm trong Hệ Mặt Trời, sau một cuộc va chạm cách đây khoảng 4,5 tỷ năm của Tiền Trái Đất với một vật thể. Cuộc va chạm này làm bắn ra một mảnh của Trái Đất, và cùng với vật chất tàn tích của cuộc va chạm đã hình thành nên Mặt Trăng. Một phần động năng của cuộc va cham chuyển thành nhiệt, nhiệt này sẽ làm cho các vật chất nhẹ bay hơi hết. Vì thế, nhận định về sự tồn tại nước trong nham thạch trên Mặt Trăng của các nhà khoa học rất gây ngạc nhiên.    Nhóm các nhà khoa học đã phân tích thành phần đồng vị của nước trong nước trên Mặt Trăng. Nghiên cứu này rất khó khăn do lượng nước phân tích rất ít ỏi và vì thế, phép đo có thể sai số lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ của đồng vị bền của hydro là Deuteri (hay còn gọi là hydro nặng) với hydro trong nước Mặt Trăng phù hợp với tỷ lệ đồng vị trong nước trên Trái Đất, cũng như trong nước của thiên thạch giàu carbon Chondrite. Theo Alberto Saal, nước trên Mặt Trăng có từ 4,5 tỷ năm trước đây, tức là từ khi hình thành Mặt Trăng. Kết quả này cũng mở ra câu hỏi, làm sao lượng nước này có thể “sống sót” dưới sức nóng ghê gớm của sự hình thành Mặt Trăng.     Diệu Hoa dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước- vấn đề toàn cầu      Nếu không có gì thay đổi, chỉ trong vòng một thế hệ nữa, nghĩa là từ khoảng năm 2030, trên phạm vi toàn thế giới sẽ trở nên khô hạn. Vấn đề quản lí nguồn nước, nước ngọt, trong lục địa sẽ là vấn đề chính quyết định sự phát triển kinh tế và xã hội. Sự lãng phí nước, sự ô nhiếm cũng như sự căng thẳng về nước (water stress), cách này hay cách khác sẽ tác động đến tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước nghèo.    Tình thế ngày càng đáng lo ngại.  Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn tài nguyên đặc biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu đang ngày càng tăng của con người. Trong tổng lượng nước của toàn thế giới, có tới 97% là nước mặn, và trong số 3% nước ngọt có thể sử dụng, có tới 70% tồn tại dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên những đỉnh núi cao. Nước ngọt có thể sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu. Về mặt địa lí, sự phân bố của nước là không đồng đều. 15% lượng nước ngọt toàn cầu được giữ tại khu vực Amazon. Ngay trong khu vực Địa trung hải, các nước giàu về tài nguyên nước (Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới 2/3 lượng nước toàn khu vực. Tình trạng này dẫn đến sự phân hóa những nước giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên nước trên đầu người: giao động từ chưa đến 100m3/năm đến 10.000m3/năm. Dưới ngưỡng 1000m3/năm/đầu người những căng thẳng bắt đầu xuất hiện và ngưỡng thiếu nước được xác định ở mức 500m3/năm. Không những thế lượng nước lại có sự phân bố không đồng đều theo thời gian. Có một sự mất cân đối về lượng nước giữa mùa khô hạn và mùa mưa và giữa các năm.                     Trong vòng một thế kỉ vừa qua, trong khi dân số toàn cầu tăng lên ba lần thì mức tiêu thụ nước đã tăng lên sáu lần, trong đó nông nghiệp tiêu thụ tới 75% lượng nước ngọt toàn cầu và nhu cầu tưới tiêu của nông nghiệp lại không ngừng tăng lên cùng với sự phát triển dân số. Ngay cả những nước có khí hậu ôn hòa như Pháp thì lượng nước dành cho nông nghiệp cũng chiếm tới 30% tổng lượng nhu cầu. Tiêu thụ ở những thành phố lớn cũng không ngừng tăng lên. Ở đó có một kẻ tiêu thụ mới nhưng cũng vô cùng tham lam: du lịch. Tính trung bình, một khách du lịch trong một khách sạn hạng sang tiêu thụ từ 500 đến 800l nước/ngày, gấp nhiều lần mức tiêu thụ của cư dân bản địa. Kèm theo là các dịch vụ giải trí và vệ sinh. Một sân golf hằng năm tiêu thụ khoảng 10.000m3 nước cho một ha, tương đương với một diện tích trồng trọt trong nông nghiệp. Thêm vào đó thủy điện và công nghiệp cũng là những kẻ tiêu thụ nước với số lượng lớn. Cùng với những tác động xấu đến sinh thái và văn hóa – xã hội ở các khu vực nhà máy.  Sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước đã dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước và ô nhiễm môi trường nước. Theo một thống kê của chương trình phát triển liên hợp quốc thì 85% lượng chất thải sản phẩm của công nghiệp và sinh hoạt con người được đưa thẳng vào môi trường không qua xử lí gây ra ô nhiễm môi trường nước, và ngày càng trở nên trầm trọng cùng với quá trình hiện đại hóa.  Một nguy cơ lớn khác là sự lãng phí nước. Trên thế giới hiện nay, mức độ áp dụng các biện pháp hiện đại trong tưới tiêu là hết sức không đồng đều thế nên nhu cầu nước phục vụ cho nông nghiệp giao động trong một biên độ rất lớn từ 2.000 đến 2.000m3/ha/năm và có tới 70% lượng nước dành cho nông nghiệp bị lãng phí. Ở những thành phố lớn, 50% lượng nước bị thất thoát dọc đường ống. Trong khi đó thì các đập dự trữ nước lại luôn bị thất thoát qua con đường bốc hơi. Ở Ai Cập, mỗi năm người ta mất 10 tỷ m3 nước ở đập Assouan, nghĩa là 12% lưu lượng nước của sông Nil.  Tình hình trên càng trở nên trầm trọng hơn bởi việc quản lí tài nguyên nước đòi hỏi phải có những cơ quan quản lí chuyên trách, có tính cách liên vùng và liên quốc gia. Vậy mà hiện nay, đó lại chính là khâu còn thiếu. Hơn thế nữa, một chính sách tiết kiệm nước bằng giá cả thông qua việc quy định một mức giá bao hàm tất cả mọi thứ chi phí về sử dụng nước vẫn còn chưa được phổ biến. Càng ngày, người ta càng nhận thấy rằng không thể có một giải pháp thực sự cho vấn đề nước nếu không có sự tham gia tài chính trực tiếp của các đối tượng sử dụng.    Những giải pháp cấp bách, châu Âu và nước Pháp.  Trước những thực tế trên, một cuộc khủng hoảng nước có tính toàn cầu trong khoảng hai mươi năm tới hoàn toàn không phải là một sự cường điệu nếu không có những cái thiện thực sự có tính cách mạng hệ thống khai thác và tiêu thụ nước. Cần phải làm sao để sử dụng ít nước đi nhưng vẫn bảo đảm được nước tưới tiêu, công nghiệp cũng như sinh hoạt. Điều này đòi hỏi cùng với việc nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ mới làm giảm thiểu thất thoát nước, tái chế, chống ô nhiễm và đặc biệt một nỗ lực đáng kể trong việc giáo dục và thay đổi hành vi, cần có những giải pháp có tính tổng thể và dài hạn về vấn đề nước, trong đó sự hợp tác quốc tế là rất cần thiết để có thể hỗ trợ được các nước nghèo.  Trong cuộc tìm kiếm những giải pháp có tính tổng thể cho vấn đề nước toàn cầu, Liên minh châu Âu có thể được xem như một hình mẫu trong việc hợp tác quốc tế về bảo vệ tài nguyên nước với những Hiệp định khung có hiệu lực cho tất cả 27 nước thành viên. Trong Liên minh châu Âu, những nghiên cứu cũng như những thành quả thực tế trong quản lý nước và hợp tác khoa học và kĩ thuật cũng như Trợ giúp công cộng và phát triển đa phương của Pháp đã được nhiều tổ chức quốc tế thừa nhận và áp dụng: mô hình quản lí nước toàn bộ lưu vực sông, sự liên kết và nhượng bộ giữa các đơn vị quản lí và sử dụng nước, cơ cấu phối hợp quản lí và cung ứng dịch vụ phối hợp công – tư, mạng thông tin quốc gia về tài nguyên nước và hệ thống đào tạo nghề nước với Trung tâm quốc gia đào tạo nghề nước ở Limoges-La Souterraine. Có thể nói, tính đặc sắc của kinh nghiệm Pháp thể hiện ở tính liên kết và thỏa hiệp giữa các đơn vị tiêu thụ nước, hệ thống quản lí hiện đại và hữu hiệu tài nguyên nước, thương mại hóa các dịch vụ liên quan đến nước, sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến nguồn tài nguyên nước và sử dụng nước.  (Tổng hợp từ bài viết của của Jean Francois Donzier tại website của Văn phòng quốc tế về nước)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi cá và trồng lúa trên cùng một cánh đồng, thu nhập gấp đôi      Một nghiên cứu cho biết kĩ thuật canh tác truyền thống là trồng lúa và nuôi cá cạnh nhau, có thể giúp những người nông dân nhỏ lẻ tăng thu nhập và giảm tác động đến môi trường.    Nghiên cứu kéo dài 6 năm được tiến hành ở Trung Quốc này cho thấy, khi cá được đưa vào nuôi trong những cánh đồng lúa nước thì người nông dân vẫn có thể trồng một lượng ngũ cốc tương đương như trong biện pháp độc canh lúa truyền thống, nhưng lượng thuốc trừ sâu giảm 2/3 và lượng phân bón giảm 1/4.   Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Science trong tháng 11 cho thấy nuôi trồng lúa – cá cùng lúc có thể làm giảm tác động của các hóa chất nông nghiệp tới môi trường và giúp việc trồng lúa có lợi hơn.   “Ở những khu vực mà đất và nước bị giới hạn cho việc phát triển cả sản xuất lúa và cá, thì rất nên tiến hành RF (vừa nuôi cá vừa trồng lúa)” – bà Xin Chen, tác giả chính của nghiên cứu này, đồng thời là giảng viên tại Đại học Zhejiang, Trung Quốc chia sẻ với tờ SciDev.net. Bà cho biết thêm rằng kĩ thuật này nên được kết hợp với những kĩ thuật hiện đại như thủy lợi và sử dụng máy móc.  Cá được sử dụng trong nghiên cứu này là loài cá chép bản địa – được xem là một món ăn, vì thế người nông dân có thể bán chúng. Họ cũng có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí phân bón và thuốc trừ sâu – thường chiếm khoảng 60-70% tổng chi phí sản xuất lúa gạo.  Nuôi cá trên cánh đồng làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh đạo ôn cháy lá, giảm lượng cỏ dại cũng như các sâu bệnh gây hại như rầy nâu. Loại côn trùng xâm lấn này có khả năng tàn phá toàn bộ cánh đồng lúa. Một ổ dịch ở Thái Lan vào năm ngoái đã phá hủy 4% vụ mùa của nước này.   Bằng cách điều chỉnh lượng ni-tơ trong hệ sinh thái, quy trình này cũng giảm thiểu nhu cầu sử dụng phân bón.  Cây lúa cho bóng mát, giúp giữ cho nước luôn mát mẻ và cho phép cá có thể hoạt động trong những tháng nóng nhất của năm. Những côn trùng bị thu hút bởi cây lúa cũng là một nguồn thức ăn cho cá.  Ông Zainul Abedin, một chuyên gia về các hệ thống canh tác của Viện nghiên cứu Lúa gạo quốc tế ở Philippines cho hay: “Đây là một công cụ cực kì hữu ích cho việc giảm đói nghèo và an ninh lương thực – một biện pháp có thể được sử dụng ở những vùng nhiệt đới”.  Phương pháp này có thể tạo ra gấp đôi thu nhập so với việc chỉ trồng lúa, nhờ nghiên cứu mới giúp cải tiến kĩ thuật canh tác đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay – ông nói thêm. Những phát hiện giúp cho thấy rõ cách thức hệ thống này hoạt động, từ đó có thể cải tiến nó.   Ông Paul Kiepe – đại diện Đông và Nam Phi của Trung tâm Lúa gạo châu Phi phát biểu với SciDev.Net rằng: “Vì sản lượng đánh bắt cá đang trở nên ít hơn, nên phương pháp này sẽ ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo rằng ngành sản xuất thực phẩm sẽ cung cấp cho con người đủ protein”.  Tuy nhiên, ông Kiepe nhấn mạnh rằng nhiều nông dân không có những công cụ và kiến thức phù hợp để thực hiện hệ thống này một cách hiệu quả.  Nguyễn Thảo dịch từ  http://www.nature.com/news/fish-and-rice-flourish-together-in-paddies-1.9390      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi cấy mô phân sinh để tẩy sạch virus ở khoai tây      Chỉ trong 2 năm, diện tích khoai tây giống của một xã Bắc Ninh giảm hơn nửa do bị bệnh. Các nhà khoa học của Viện Sinh học Nông nghiệp – Đại học Nông nghiệp I đã tìm được lời giải đáp về nguyên nhân và biện pháp khắc phục tình trạng trên.    Không đòi hỏi thời vụ nghiêm ngặt, với thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và dễ tiêu thụ, khoai tây không những là một trong bốn loại cây lương thực quan trọng mà còn trở thành cây trồng lý tưởng đối với bà con nông dân, đặc biệt là bà con nông dân khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi chiếm 95% diện tích trồng khoai tây trong cả nước.  Ngoài các giống đã có lâu năm như Diamant, Solara, Mariella, KT2 là giống mới được nhập vào Việt Nam quãng mấy năm đổ lại đây. KT2 trở thành giải pháp tối ưu cho nhà nông khu vực Bắc Ninh, Bắc Giang vì những đặc tính vượt trội: trồng vào vụ đông sớm, năng suất ổn định, chất lượng tốt, mắt củ nông, thời gian bảo quản lâu, lại dễ vận chuyển xa.           Cây khoai tây nuôi cấy mô KT2 trong ống nghiệm        Khoai tây giống nhập từ Hà Lan, Hàn Quốc, được bà con nông dân trồng vào vụ Đông, từ khoảng cuối tháng 10 đến tháng 12. Sau khoảng 70– 80 ngày có thể thu hoạch, bà con lại chọn những củ “khoai tây đẹp” cất trên nền nhà để làm giống cho vụ sau. Đây là phương pháp thủ công truyền thống từ xưa vốn dĩ khá phù hợp với điều kiện nhà nông: đơn giản, không tốn kém và tiện lợi. Nhưng từ vụ nọ sang vụ kia, các giống khoai tây các thế hệ F1, F2, F3… đem trồng phát triển kém, hay bị bệnh dẫn đến năng suất giảm đáng kể, mà nguyên nhân chính là giống bị thoái hóa, nhiễm virus và già củ do bảo quản thô sơ không đảm bảo. Là nước nhiệt đới, nên chỉ cần từ 5 – 10% khoai tây bị nhiễm virus là bắt buộc phải thay giống mới. Nhập giống khoai tây mới “sạch bệnh” của nước ngoài thì quá tốn kém, nằm ngoài khả năng tài chính của bà con nông dân nên dường như cánh cửa sản xuất đang khép lại dần vì không tìm được lối thoát. Trước những băn khoăn ấy, Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp Nguyễn Quang Thạch và đồng nghiệp cùng nghiên cứu, thực hiện đề tài Tẩy sạch virus giống khoai tây KT2 bằng phương pháp nuôi cấy mô phân sinh (meristem), mở ra cánh cửa cho bà con nông dân trong sản xuất và thu hoạch khoai tây.   “Khoai tây bị bệnh là do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do môi giới truyền bệnh như những loại côn trùng chích hút, do nguồn nước, do đất trồng bị ô nhiễm. Nguyên nhân này có thể cải tạo được. Còn nếu do virus trong củ khoai tây thì chỉ còn cách là thay thế giống nhập nội”, GS Thạch tâm sự. Ông cũng cho biết thêm: “Khoai tây thoái hóa là do bà con chọn giống và để trong thời gian dài từ vụ nọ sang vụ kia với điều kiện bảo quản không đạt yêu cầu. Củ khoai tây chứa 90% nước, giống như một túi nước đựng chất dinh dưỡng, nên dẫn đến việc trao đổi chất mạnh và càng làm giảm chất dinh dưỡng nhanh. Bảo quản không tốt củ sẽ teo lại, lá kém thành già củ sinh lý. Xây dựng phòng lạnh để bảo quản thì rất tốn kém”. Từ mẫu giống khoai tây KT2 của trung tâm cây có củ (viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp) chọn tạo thu thập từ vùng trồng ở Bắc Ninh, qua điều tra ngoài sản xuất kết hợp phương pháp test Elisa, kết quả cho thấy, 100% giống KT2 bị nhiễm virus PVX, PVY khiến năng suất khoai tây giảm hơn 50%.  Khoai tây bị bệnh là tình trạng chung không tránh khỏi. Việc tẩy sạch virus bằng kỹ thuật nuôi cấy meristem đã được áp dụng thành công trên thế giới qua các nghiên cứu của Morel G. và Martin C. từ những năm 1952 – 1955, Norris D.O. (1954), Kasanis B. (1957). Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu chi tiết quy trình tẩy sạch virus cho khoai tây bằng công nghệ này. Áp dụng thành tựu của thế giới, GS. Thạch và cộng sự đã nghiên cứu thành công quy trình tẩy sạch virus cho khoai tây KT2. GS. Thạch giải thích: “Thân thực vật, trong đó có khoai tây KT2, có nhiều meristem với kích thước từ 0.1-0.3mm. Đây là những bộ phận rất sạch, không có mạch dẫn nên virus không xâm nhập vào được”. Trong phòng thí nghiệm của Viện Sinh học Nông nghiệp, các nhà khoa học đã tách cắt meristem của khoai tây KT2 dưới kính hiển vi, sau đó tiến hành nuôi cấy mô để phát triển thành cây khoai tây trong ống nghiệm. “Vì meristem không có virus và môi trường nuôi cấy hoàn toàn sạch bệnh nên cây khoai tây KT2 sạch virus 100% và có được những tính trạng ưu việt ban đầu của nó”, GS Thạch cho biết.  Những cây khoai tây nuôi cấy mô này, sau một thời gian sinh trưởng, sẽ được ươm trong môi trường sạch, an toàn của nhà màn. Các nhà khoa học ngoài phương pháp nuôi cây trong ống nghiệm, cũng có thể nhân giống bằng cách tạo củ trong ống nghiệm, từ đó có thể đem trồng trên đồng ruộng. GS.Thạch cho biết thêm, lợi thế của củ mini là có thể sản xuất quanh năm trong môi trường tự nhiên, giá thành hạ, năng suất cao và dễ bảo quản củ giống. Đến bây giờ Viện sinh học Nông nghiệp đã hoàn thiện hệ thống sản xuất giống sạch bệnh.   Bài toán cho việc tẩy sạch virus, nhân giống khoai tây KT2 sạch bệnh đã được giải quyết, nhưng vẫn còn vấn đề về chuyển giao công nghệ sản xuất, tiến hành sản xuất giống để đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân. GS.Thạch hồ hởi: “Chất lượng giống KT2 của ta tương đương với giống nhập nội nhưng giá thành giảm hơn một nửa”. Do nhu cầu của bà con khá lớn nên để giải quyết được khâu số lượng giống thì vẫn còn là quá trình dài. “Yêu cầu cho 400ha diện tích trồng thì cần khoảng 800 tấn giống. Hiện tại, chúng tôi mới nhân giống sạch bệnh được 2 vạn củ, vụ tới sẽ nhân lên 20 vạn củ thì cũng mới chỉ đủ dùng cho 3 ha. Giải pháp duy nhất là triển khai việc nhân giống sạch bệnh trên diện tích rộng đồng bộ ở các tỉnh mới mong khắc phục được bài toán nan giải ấy” – Viện trưởng nói.  Viện Sinh học Nông nghiệp đã đi tiên phong trong việc sản xuất giống khoai tây sạch bệnh nên việc chuyển giao công nghệ cho các tỉnh là giải pháp hiệu quả và thiết thực nhất. Một số địa phương đã nhận chuyển giao công nghệ như Công ty giống cây trồng TW, Trung tâm khuyến nông Thái Bình. Ngoài ra Viện cũng đã cải tiến phương tiện vận chuyển cây giống: giao cây giống gốc cho các địa phương, sản xuất củ mini trong nhà màn cách ly để nhân ra một lượng lớn cây đồng đều trong thời gian ngắn. Đồng thời xây dựng hệ thống sản xuất khoai tây liên hoàn từ phòng thí nghiệm đến cơ sở sản xuất đã được chấp nhận ở quy mô tỉnh để có thể nhân giống đồng loạt số lượng lớn cây giống trong thời gian ngắn và trái vụ, củ giống đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng giá thành hạ. GS. Thạch tin tưởng, “Chỉ trong vài năm tới, chúng tôi hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu về giống của bà con nông dân trong cả nước”. Không chỉ dừng ở cây khoai tây, Viện Sinh học Nông nghiệp sẽ mở rộng và hoàn thiện sản xuất giống cho nhiều đối tượng khác.  Ảnh trên cùng: Sản xuất củ giống siêu bi sạch bệnh trong nhà màn.  Phường Hằng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm ánh sáng làm gia tăng nguy cơ nhiễm virus Tây sông Nile      Florida đã trải qua một mùa đông tương đối ấm áp, báo hiệu mùa hè sẽ có nhiều muỗi và chim chóc kiếm mồi hơn. Nếu lịch sử lặp lại, có khả năng các ca nhiễm virus Tây sông Nile (West Nile virus) sẽ tăng lên trong năm nay, đặc biệt ở vùng rìa ngoại ô ban đêm bị ô nhiễm ánh sáng từ các thành phố lân cận.      Một nhà nghiên cứu trường ĐH Nam Florida đang kiểm tra một mẫu muỗi. Nguồn: ĐH Nam Florid.  Nghiên cứu do các nhà khoa học ở trường ĐH Nam Florida (USF) mới công bố là nghiên cứu đầu tiên cung cấp bằng chứng trực tiếp cho thấy ô nhiễm ánh sáng đang đẩy nhanh tốc độ lan truyền các bệnh truyền nhiễm trong tự nhiên. Trước đó, nhóm nghiên cứu đã xác định muỗi và chim chóc bị ánh sáng thu hút khiến nguy cơ lây truyền virus Tây sông Nile từ các loài này sang động vật và con người tăng lên đáng kể. Phát hiện mới “Light pollution affects West Nile virus exposure risk across Florida” (Ô nhiễm ánh sáng ảnh hưởng đến virus Tây sông Nile dẫn đến nguy cơ rủi ro phơi nhiễm khắp Florida) đã được công bố trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B. Nó đã chỉ ra kết quả trái ngược với những nghiên cứu trước đây cho rằng nguyên nhân lây lan virus nằm ở việc đô thị hóa với mật độ dân số cao và những điểm nóng chăn nuôi như hệ thống cống rãnh.  “Trước đó, chúng tôi đã biết rằng ô nhiễm ánh sáng ảnh hưởng đến hoạt động hệ miễn dịch của vật chủ”, Meredith Kernbach, tác giả đứng đầu và hiện đang làm nghiên cứu sinh ở Trường Y tế cộng đồng (USF) cho biết. “Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không biết rằng ô nhiễm ánh sáng có thể tác động đáng kể tới thời gian và địa điểm virus Tây sông Nile xuất hiện trong tự nhiên”.  Nhóm nghiên cứu bao gồm các cộng sự đến từ ĐH Georgia và ĐH Bách khoa bang California đã lập mô hình dữ liệu phơi nhiễm virus Tây sông Nile từ Sở Y tế Florida. Họ nghiên cứu 6468 mẫu kháng thể của các “gà lính canh” (sentinel chicken) – vùng nông thôn thường sử dụng những con gà này để dò virus Tây sông Nile và những bệnh do muỗi gây ra. Các mẫu này được thu thập từ tháng 6 đến tháng 12 trong vòng bốn năm ở 105 trang trại trên toàn bang. Các nhà nghiên cứu thấy rằng hầu hết ca nhiễm virus Tây sông Nile rơi vào những con gà bị phơi nhiễm ánh sáng mức độ yếu, so với những con ở khu vực ô nhiễm ánh sáng cường độ cao và khu vực không bị ô nhiễm.  “Chúng tôi nghĩ rằng trọng điểm ở đây là mức độ ánh sáng yếu vì ô nhiễm ánh sáng có rất nhiều phương thức tác động để tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh dịch”, Marty Martin, Giáo sư về sinh thái dịch bệnh ở Trung tâm nghiên cứu bệnh truyền nhiễm và y tế toàn cầu (USF) cho biết. “Dựa trên những công trình trước đây, chúng tôi biết rằng ô nhiễm ánh sáng ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch của chim chóc với virus Tây sông Nile, nhưng có lẽ cũng tác động đến lượng muỗi, vì phần lớn côn trùng đều bị ánh sáng thu hút. Thậm chí các loài chim cũng có thể bị thu hút đến những vùng ô nhiễm ánh sáng vì thức ăn ở đó sẽ dồi dào hơn. Có lẽ tất cả những yếu tố trên kết hợp với nhau đã khiến nguy cơ lây nhiễm tăng lên ở những khu vực bị ô nhiễm ánh sáng nhẹ”.  Nhiều sở y tế ở các hạt địa phương đã sử dụng gà canh gác như một cơ chế giám sát để theo dõi virus Tây sông Nile và các bệnh truyền nhiễm khác do muỗi gây ra. Chúng thường không bị bệnh do virus và không thể truyền virus sang muỗi, người hoặc các loài chim khác. Các hạt đã tính toán đặt chuồng trại ở những khu vực có tính đại diện tốt nhất cho dân số địa phương, góp phần xác định đúng địa điểm cần nỗ lực ngăn chặn lây lan dịch bệnh.  Những kết quả này cũng củng cố một nghiên cứu từ năm 2019 của USF cho thấy việc phơi nhiễm với ánh sáng nhân tạo làm tăng thời gian truyền nhiễm bệnh của các loài chim hoang dã, đồng thời tăng khả năng bùng phát virus Tây sông Nile thêm 41%. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-pollution-west-nile-virus.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ loãng xương      Các nhà khoa học tại Trường Y tế Cộng đồng Mailman thuộc Đại học Columbia, Mỹ, phát hiện việc tiếp xúc với không khí ô nhiễm làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương. Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí The Lancet Planetary Health vào tháng 11/2017.      Các nhà nghiên cứu phân tích kết quả khám sức khỏe của 9,2 triệu người.   Nhóm nghiên cứu phân tích kết quả khám sức khỏe của 9,2 triệu người dân đăng ký chương trình Medicare của Chính phủ Mỹ với mục đích chăm sóc người già trên 65 tuổi, từ năm 2003 đến năm 2010. Họ nhận thấy các trường hợp nhập viện do gãy xương thường sống tại những nơi có nồng độ bụi PM2.5 trong không khí ở mức cao (bụi PM2.5 là các hạt bụi lơ lửng có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2,5µm). Ngoài ra, sự gia tăng nồng độ bụi PM2.5 dù nhỏ cũng làm tăng khả năng gãy xương ở người lớn tuổi.  Các nhà khoa học cho biết, các hạt bụi, trong đó có bụi PM2.5, có thể làm gia tăng khả năng loãng xương ở người cao tuổi. Việc hút thuốc, trong đó có chứa nhiều thành phần hạt bụi, cũng có liên quan đến loãng xương. Thậm chí, những người sống tại khu vực nồng độ bụi PM2.5 cao hoặc ô nhiễm không khí có lượng hormone ở tuyến cận giáp thấp hơn so với người bình thường. Hormone tuyến cận giáp ảnh hưởng đến quá trình hình thành canxi và mật độ khoáng chất của xương, do đó làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương.  Quốc Hùng lược dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2017/ 11/171109224041.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí ở Jakarta: Liệu có thể cứu vãn?      Nhiều người cho rằng xe cộ và nhà máy là một trong những ‘thủ phạm’ chính gây ra ô nhiễm không khí tại Jakarta. Bên cạnh đó, hệ thống giám sát, trạm quan trắc và các quy định liên quan đến khí thải dường như vẫn còn quá sơ sài, ít ỏi đối với một đô thị rộng lớn đến dường này. Chính quyền Jakarta sẽ phải giải quyết tất cả những vấn đề trên nếu muốn cải thiện một phần chất lượng không khí – vốn dĩ đã quá tồi tệ – ở thành phố này.      Kẹt xe ở một trong những trục đường chính của Jakarta. Khí thải xe cộ là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ra ô nhiễm không khí trong thành phố. AFP / Getty  Đã nhiều tháng trôi qua kể từ lần cuối cùng Andy Rahman đạp xe dạo quanh đường phố Jakarta, một sở thích mới từ năm ngoái trong thời gian anh phải làm việc tại nhà vì dịch bệnh COVID-19. “Sau khoảng 30 phút, mắt và cổ họng tôi bỏng rát, cổ họng đau đớn và tôi bắt đầu ho”, vị giám đốc marketing 47 tuổi kể. Rahman nhận ra rằng bất cứ khi nào anh đi xe đạp, không khí anh hít vào sẽ có mùi khét kỳ lạ như thể có thứ gì đó đang cháy. Trước mắt anh, những tòa nhà cao chọc trời chỉ lờ mờ hiện lên như những chiếc bóng in trên nền trời xám xịt. Lúc này, anh nghi ngờ rằng cơn ho của mình có liên quan đến việc chất lượng không khí đang dần xấu đi.   Theo các công cụ giám sát chất lượng không khí, thành phố 11 triệu dân này luôn giữ vị trí top đầu trong số những thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Dữ liệu từ Cơ quan Y tế Jakarta cho thấy vào năm 2019, trước khi đại dịch bắt đầu, thành phố chỉ có hai ngày chất lượng không khí được coi là “trong lành”. Trong suốt quãng thời gian còn lại của năm, thành phố chìm trong khói độc và các hạt bụi mịn từ phương tiện giao thông, xí nghiệp và nhà máy nhiệt điện than xung quanh thủ đô.  Vào năm 2020, bất chấp các quy định hạn chế di chuyển, số ngày trong lành chỉ tăng lên 29 ngày. Và rồi khi các quy định phong tỏa được nới lỏng, chất lượng không khí đã dần trở lại như trước thời kỳ đại dịch. Không khí ở Jakarta thường chứa các loại khí độc hại ở mức không tốt cho sức khỏe như carbon monoxide, sulfur dioxide, nitrogen dioxide và ozone ở tầng mặt đất cũng như các chất dạng hạt (PM). Với kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet, bụi PM2.5 có thể đi vào máu và tích tụ ở các bộ phận khác nhau của cơ thể con người. Điều này có thể dẫn đến các bệnh tim mạch và hô hấp.   Trong nghiên cứu Chỉ số Chất lượng Cuộc sống Hằng năm, Viện Chính sách Năng lượng thuộc Đại học Chicago cho biết nồng độ PM2.5 trung bình mà người dân Jakarta tiếp xúc mỗi ngày cao hơn sáu lần mức nồng độ PM2.5 mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo. Viện ước tính rằng trung bình tuổi thọ của người dân Jakarta sẽ tăng lên 5,5 năm nếu thành phố cải thiện được chất lượng không khí đến mức mà WHO đề ra.  Năm 2019, 32 người dân thành phố đã kiện Tổng thống Joko Widodo, ba bộ trưởng của ông cũng như các thống đốc của Jakarta và các tỉnh lân cận Banten và Tây Java.  Vào ngày 16/9, hai năm sau khi vụ kiện được công bố, Tòa án Quận Trung tâm Jakarta đã thông qua một phán quyết mang tính bước ngoặt , tuyên bố chính phủ phạm tội “thực hiện các hành vi trái pháp luật” do không đảm bảo quyền của công dân đối với không khí sạch và không ngăn chặn được tình trạng ô nhiễm không khí ở thủ đô. Bộ Môi trường và Lâm nghiệp đã tuyên bố rằng họ sẽ kháng cáo quyết định này.        “Jakarta phụ thuộc rất nhiều vào cơn mưa để làm sạch không khí. Chúng tôi có không khí sạch là nhờ mưa chứ không phải vì chính phủ đang làm tốt công việc kiểm soát khí thải từ các phương tiện giao thông và các nhà máy nhiệt điện than” (Andriyanu, Greenpeace).      Xe cộ là nguồn phát thải lớn nhất  Jakarta được xem là một trong những thành phố kẹt xe nhất thế giới. Mỗi ngày, có khoảng 20 triệu phương tiện chen chúc nhau trên 6.500 km phố xá. Các phương tiện giao thông – bao gồm của cả những người sống ở ngoại ô nhưng phải đi lại, làm việc trong thành phố – không chỉ góp phần khiến tình trạng tắc nghẽn thêm phần nghiêm trọng, mà chúng còn thải ra khói độc và các hạt bụi gây ô nhiễm không khí.   Theo một nghiên cứu do tổ chức y tế toàn cầu Vital Strategies thực hiện, được công bố vào tháng chín năm ngoái, xe cộ đóng góp 32% đến 57% lượng khí thải gây ô nhiễm không khí. Irvan Pulungan, đặc phái viên của Thống đốc Jakarta về biến đổi khí hậu, cho biết thành phố đang nỗ lực đưa ra một số chính sách nhằm kiểm soát ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông gây ra. “Chúng tôi thực sự quan tâm đến vấn đề này”, Pulungan nhấn mạnh. Ông cho biết, vào năm 2019, chính quyền thành phố đã yêu cầu tất cả các phương tiện cá nhân phải vượt qua các bài kiểm tra khí thải. Trong một dự án thử nghiệm, những ai không vượt qua bài kiểm tra sẽ phải trả phí đậu xe cao hơn. Bên cạnh đó, các nhà chức trách cũng đang thiết lập các khu vực phát thải thấp, nơi các phương tiện có lượng phát thải cao sẽ không thể chạy qua. “Chúng tôi không thể ngăn cản mọi người sử dụng xe hơi, nhưng chúng tôi có thể giảm thiểu phần nào tình trạng ô nhiễm thông qua các chính sách này”.  Tuy vậy, số người tham gia kiểm tra khí thải còn thấp.    Năm 2020, Jakarta có 3 triệu xe hơi và 16 triệu xe máy lưu hành. Tuy nhiên, theo số liệu của Cơ quan Môi trường Jakarta, cũng trong năm đó, chỉ có 13.019 xe tham gia các cuộc kiểm tra khí thải do chính quyền thành phố tổ chức. Chính quyền thành phố đang nỗ lực vận động để có thêm nhiều xe hơi và xe máy được kiểm tra khí thải. Bắt đầu từ năm sau, cảnh sát Jakarta dự kiến ​​tiến hành các cuộc kiểm tra và phạt 500.000 rupiah (tương đương 35,18 USD) đối với xe hơi và 250.000 rupiah đối với xe máy không đáp ứng tiêu chuẩn phát thải.    Một nhà máy nhiệt điện than ở Suralaya, cách thủ đô Jakarta 90 km về phía Tây. Khói và bụi mịn từ các nhà máy điện như thế này có thể di chuyển hàng trăm km, khiến chất lượng không khí ở các thành phố như Jakarta ngày càng xấu đi. Ảnh: Greenpeace.   Nhà máy điện, xí nghiệp cũng là thủ phạm  Bên cạnh các phương tiện xe máy, ngành công nghiệp sản xuất cũng là một nguồn phát thải lớn. Hàng ngàn xí nghiệp và nhà máy điện xung quanh Jakarta đang sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm nặng nề.   Tại một khu công nghiệp cách trung tâm thành phố khoảng 90 phút lái xe, các lò luyện kim loại và nhà máy hóa dầu thường xuyên tỏa ra cụm khói xám dày đặc đến nỗi cảnh tượng chẳng khác gì như đang cháy rừng. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của các xí nghiệp, các nhà máy nhiệt điện than phải làm việc thâu đêm suốt sáng, xả ra làn khói đen bốc cao lên bầu khí quyển. Các hạt và khí độc hại do các xí nghiệp và nhà máy điện này ‘tỏa’ ra có thể di chuyển hàng trăm km đến Jakarta. Với việc thủ đô của Indonesia được bao quanh bởi các khu công nghiệp, thành phố chắc chắn trở thành nạn nhân của tình trạng ô nhiễm không khí xuyên khu vực, bất chấp gió có thổi theo hướng nào đi chăng nữa.  Lãnh đạo Bộ Môi trường Chaniago cho biết văn phòng của ông đang làm tất cả những gì có thể để đảm bảo mức phát thải từ các nhà máy vẫn đang giảm xuống. Tuy vậy theo nhiều chuyên gia, “Bộ luôn nói rằng họ thường xuyên giám sát, đánh giá và kiểm định khí thải. Nhưng khi các thẩm phán [tại vụ kiện ô nhiễm không khí] yêu cầu họ trình bày kết quả, họ lại chẳng thể đưa ra bất kỳ một tài liệu nào”, Bella Nathania, một nhà nghiên cứu từ Trung tâm Luật Môi trường Indonesia (ICEL) lưu ý. “Họ cũng tuyên bố đã thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải đối với các nhà máy điện và xí nghiệp, nhưng trong quá trình kiểm tra, họ không thể đưa ra con số chính xác có bao nhiêu công ty đã tuân thủ các quy định và bao nhiêu công ty đã bị xử phạt”.  “Ô nhiễm không khí là sát nhân thầm lặng”  Agus Dwi Susanto, Chủ tịch Hiệp hội Hô hấp Indonesia cho biết với mức độ ô nhiễm không khí cao như hiện nay, sức khỏe người dân có thể sẽ phải gánh chịu những tác động tiêu cực ngay tức thì. Ô nhiễm không khí “có thể gây kích ứng mắt, sổ mũi, đau họng, ho cũng như nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính”, ông nói. “Ô nhiễm gây suy giảm hệ miễn dịch của chúng ta”.  Những người mắc các bệnh nền như hen suyễn hoặc tắc nghẽn hô hấp mãn tính có thể chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng hơn. “Khi tiếp xúc với không khí ô nhiễm, họ sẽ lên cơn hen,” vị chuyên gia về bệnh phổi nói thêm.  Susanto cho biết ông hiện đang tiến hành nghiên cứu mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí với số lượng bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Persahabatan ở Đông Jakarta nơi ông làm việc. Persahabatan là bệnh viện chuyển tuyến cho những bệnh nhân mắc các bệnh về đường hô hấp. “Nếu bạn nhìn vào các biểu đồ, số lượng bệnh nhân đến thăm khám gia tăng – tương quan với tình trạng ô nhiễm không khí đang ngày càng nghiêm trọng. Nếu tình trạng ô nhiễm được cải thiện, các chuyến thăm khám sẽ giảm”, ông phân tích.  Tuy nhiên, điều mà bác sĩ thực sự lo lắng chính là những tổn thất lâu dài mà ô nhiễm không khí sẽ để lại. “Sau nhiều năm tiếp xúc với không khí ô nhiễm, chúng ta mới cảm nhận được những tác động tiêu cực. Có thể nói, ô nhiễm không khí giống như một tên sát nhân thầm lặng”, ông nhận định. Khi tiến hành một nghiên cứu vào năm 2013, Susanto phát hiện ra rằng trong số 300 bệnh nhân ung thư phổi được khảo sát, 4% các trường hợp có khả năng mắc bệnh vì hít thở không khí ô nhiễm. “Những bệnh nhân này không hút thuốc nhưng họ dành phần lớn thời gian ở ngoài trời, và do đó lời giải thích khả dĩ duy nhất đó là họ đã hít phải những luồng không khí độc hại”.   Trong một nghiên cứu khác, ông phát hiện ra rằng trong số 153 người quét đường mà ông khảo sát, 10 người đã mắc các bệnh về đường hô hấp như hen suyễn và tắc nghẽn đường thở mãn tính. “Tỷ lệ người quét đường mắc bệnh về đường hô hấp ở Jakarta cao gấp hai lần rưỡi so với những người làm nghề quét dọn đường phố ở các vùng nông thôn. Có một mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh và ô nhiễm không khí”.  Liệu có còn hy vọng?  Dường như không có cách nào giúp dứt điểm tình trạng ô nhiễm không khí tồi tệ của Jakarta. Dữ liệu chất lượng không khí do công ty giám sát Nafas cung cấp cho thấy vào giữa đêm và sáng sớm, mức độ ô nhiễm không khá hơn là bao so với ban ngày khi đường phố tắc nghẽn và các xí nghiệp hoạt động. Thời điểm không khí trong lành nhất là khi có trận gió lớn giúp thổi bay các chất ô nhiễm, hoặc khi cơn mưa rào cuốn trôi các chất ô nhiễm. “Jakarta phụ thuộc rất nhiều vào cơn mưa để làm sạch không khí. Chúng tôi có không khí sạch là nhờ mưa chứ không phải vì chính phủ đang làm tốt công việc kiểm soát khí thải từ các phương tiện giao thông và các nhà máy nhiệt điện than,” Andriyanu của Greenpeace nhấn mạnh.  Irvan Pulungan, đặc phái viên của Thống đốc Jakarta, nhấn mạnh rằng “chúng tôi không hề án binh bất động”. Chính quyền thành phố đang rất nỗ lực để người dân bỏ phương tiện cá nhân ở nhà và chuyển sang sử dụng xe buýt, tàu điện. “Chúng tôi đang phát triển hệ thống giao thông công cộng, mở rộng vỉa hè để khuyết khích mọi người đi bộ, xây dựng làn đường cho xe đạp, xây dựng cơ sở hạ tầng cho giao thông phi cơ giới”.   Người đứng đầu Bộ Môi trường Chaniago cho biết, Indonesia đã cam kết ngừng xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới vào năm 2030 và chuyển sang phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2060. “Những việc này cần có thời gian. Đây không phải là thứ mà chúng ta có thể hoàn thành trong ngày một ngày hai bằng cách niệm thần chú ‘úm ba la xì bùa’. Rồi thì sẽ đến lúc chúng ta thành công”, ông kết luận.□  Anh Thư lược dịch  Nguồn: https://www.channelnewsasia.com/asia/indonesia-jakarta-air-pollution-emissions-vehicles-factories-2285926    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí ở Trung Quốc gây ra bão tuyết ở Mỹ      Mới đây Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA)  công bố một đoạn video hoạt hình cho thấy ô nhiễm không khí (phần lớn  đến từ châu Á) chỉ trong vòng vài tháng đã nhanh chóng khuếch tán khắp  bầu khí quyển Trái đất.     Ô nhiễm không khí ở Trung Quốc là nguyên nhân làm cho khu vực Thái Bình Dương xuất hiện thời tiết xấu nghiêm trọng và có tính phá hoại hơn. Các nghiên cứu khí hậu cho thấy ô nhiễm không khí không dừng lâu tại Trung Quốc mà nhanh chóng lan tỏa đi nơi khác. Trong một bài viết đồng thời công bố cùng với đoạn video hoạt hình kể trên, nghiên cứu viên Vương Viễn ở Phòng thí nghiệm phản lực của NASA giải thích: “Ô nhiễm khí quyển đến từ Trung Quốc đã ảnh hưởng tới sự hình thành các tầng mây trên bầu trời vùng Bắc Thái Bình Dương và tăng cường các luồng khí xoáy ôn đới.” Những luồng khí xoáy đó lại là nguyên nhân gây ra bão tuyết và lạnh giá nghiêm trọng tại Mỹ.   Điều đáng buồn là các đô thị vùng Hoa Bắc (bao gồm Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc, Sơn Tây, và Nội Mông) – được hy vọng là vùng trọng điểm phát triển công nghiệp năng lượng mặt trời – lại đứng đầu bảng những thành phố ô nhiễm nhất Trung Quốc.  Điều đó cho thấy xu thế ô nhiễm không khí do công nghiệp và giao thông gây ra sẽ tiếp tục trong tương lai và xu thế đó đang thay đổi cách nhìn thế giới của các nhà khí hậu học. Một đồng nghiệp của Vương Viễn nói: “Trước đây chúng tôi chỉ xét tới sự khác biệt giữa Nam với Bắc: Bắc bán cầu có nhiều lục địa, Nam bán cầu có nhiều biển, sự khác nhau ấy có tác dụng rất quan trọng đối với hoàn lưu khí quyển toàn cầu. Giờ đây ngoài sự khác biệt Nam-Bắc còn có sự khác biệt Đông-Tây nữa. Châu Âu và Bắc Mỹ đang giảm phát thải các chất ô nhiễm, còn châu Á thì đang tăng phát thải ô nhiễm. Thay đổi này cũng có ảnh hưởng tới sự sản sinh hoàn lưu khí quyển và làm nhiễu loạn khí hậu Trái đất.”  Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng Trái đất rất mong manh và các sự vật đều có mối liên hệ với nhau.  Trang mạng Financial Times ngày 3/2 đưa tin: trong bản báo cáo về tình trạng chất lượng không khí của 72 đô thị Trung Quốc do Bộ Môi trường nước này công bố hôm 2/2, Bảo Định bị xếp vào loại ô nhiễm nặng nhất. Đây chính là nơi đóng trụ sở của Tập đoàn Yingli Solar – nhà chế tạo các tấm pin năng lượng mặt trời lớn thứ nhì toàn cầu. Năm 2010, Bảo Định, cách Bắc Kinh 150 km về phía Tây Nam, được giao nhiệm vụ triển khai dự án thí điểm thành phố có lượng phát thải các-bon thấp, nhằm giảm bớt lượng than đốt trong công nghiệp nặng.   Xếp hạng kém về chất lượng không khí của Bảo Định là một tin xấu đối với dự án di chuyển các cơ quan tư vấn và cơ quan chính phủ cấp hai từ Bắc Kinh về Bảo Định; dự án này nhằm giảm bớt nạn ách tắc giao thông và ô nhiễm ở Bắc Kinh.  Nguyên Hải tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm kim loại nặng trong không khí: Khi rêu trở thành “chứng nhân”      Cách tiếp cận mới không chỉ làm tăng thêm một trong những bằng chứng quan trọng về chất lượng không khí mà còn xác định được những “điểm nóng” về ô nhiễm và mở ra cơ hội có được một bản đồ ô nhiễm kim loại nặng ở Việt Nam.      Nguồn: baotainguyenmoitruong.vn  Tình trạng chất lượng không khí đô thị tại Hà Nội hay TPHCM khiến người ta luôn đặt câu hỏi “rút cục thì những ô nhiễm đó gồm những chất gì ngoài bụi mịn”, “có thể xác định được các thời điểm ô nhiễm và điểm nóng ô nhiễm ở từng nơi được không”? Những câu hỏi từ thực tế đó luôn khiến các nhà nghiên cứu phải suy ngẫm và dành thời gian tìm hiểu để gắng có được câu trả lời xác thực nhất. Phần lớn các nghiên cứu về chất lượng không khí hiện nay đều tập trung vào kích cỡ, sự phân bố các hạt bụi mịn PM2.5, PM10 hoặc các khí thải NOx, SO2 – những chỉ tiêu quan trọng về chất lượng không khí phổ biến. Bức tranh phức tạp về chất lượng không khí vẫn còn rất nhiều khoảng trống cho những “tay chơi mới” bước vào và bổ sung một vài mảnh ghép không kém phần quan trọng – ô nhiễm kim loại nặng trong không khí và áp dụng phương pháp mới là dùng rêu làm chỉ thị sinh học, thay vì sử dụng cảm biến trong các trạm quan trắc hoặc các phương pháp lấy mẫu thụ động và chủ động thông thường.   Đó là cách làm mà giáo sư Lê Hồng Khiêm (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và cộng sự ở rất nhiều trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam như ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), Viện KH&KT hạt nhân, Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), trường Đại học Nha Trang… tiến hành từ vài năm nay  thông qua đề tài Nghị định thư Việt Nam – Nga “Nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng trong không khí thông qua chỉ thị rêu Barbula indica” đem lại gần 10 công bố quốc tế về ô nhiễm không khí ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng, TP HCM… Những kết quả này không chỉ đóng góp số liệu về ô nhiễm kim loại nặng trong không khí ở Việt Nam mà còn gợi mở những vấn đề cần được nghiên cứu sâu trong tương lai.   Bầu không khí “nặng” kim loại ở Hà Nội  Không làm “choáng váng” mọi người như những thông số về hạt bụi mịn hoặc các chất khí độc hại từ khói thải giao thông hay hoạt động công nghiệp nhưng kết quả từ nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng ở Hà Nội cũng đủ khiến người ta bất ngờ. “Không khí ở Hà Nội chứa nhiều nguyên tố kim loại nặng, trong đó hàm lượng zirconi và niken ở mức rất cao”, kết quả công bố “Assessment of atmospheric deposition of metals in Hanoi using the moss bio-monitoring technique anh proton induced x-ray emission” của giáo sư Lê Hồng Khiêm và cộng sự trên tạp chí Journal radioanalytical and nuclear chemistry (thuộc danh mục ISI) đã cho thấy một cái nhìn bi quan về chất lượng không khí Hà Nội.      Giáo sư Lê Hồng Khiêm giới thiệu loại rêu lấy từ xã Tả Củ Tỷ (Lào Cai) để làm moss bag.  Những nguyến tố vô cơ này không tồn tại một cách đơn lẻ trong không khí mà dưới dạng một phần trong các bụi lơ lửng như bụi mịn PM2.5, PM10. Để nhận diện được chúng, giáo sư Lê Hồng Khiêm và cộng sự đã tiến hành đặt các mẫu rêu tại nhiều “điểm nóng” ô nhiễm như các khu công nghiệp, ven các con đường có lưu lượng giao thông lớn, làng nghề truyền thống cũng như tại các điểm mà họ cho là xa nguồn ô nhiễm hơn như khu dân cư, trồng trọt canh tác… tại Hà Nội và một số thành phố như Lâm Đồng, Huế, TPHCM… Công việc được họ tiến hành định kỳ từ năm 2013 với mục tiêu có được bộ chỉ số chính xác và ổn định trong thời gian dài về lượng nguyên tố kim loại của các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội, trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa ngày một gia tăng.       “Mật độ bụi trong không khí ở Hà Nội rất cao và ô nhiễm không khí ở Hà Nội có thể chủ yếu do các hạt bụi lơ lửng trong không khí gây ra. Tình trạng ô nhiễm kim loại này đều có ở mọi điểm của thành phố” (Giáo sư Lê Hồng Khiêm).      Trong quá trình nghiên cứu, sau mỗi phần phân tích mẫu rêu thu thập được, lo ngại về chất lượng không khí đô thị của giáo sư Lê Hồng Khiêm và cộng sự ngày một lớn dần. Với những nguồn phát thải ngày một gia tăng từ lưu lượng giao thông, khí thải xe cộ, hoạt động xây dựng và chất thải từ các khu công nghiệp quanh những thành phố như Hà Nội và TPHCM, rất có thể bầu không khí nơi này đang lâm vào sự ô nhiễm kim loại đáng kể. “Những nghiên cứu đã được xuất bản trên nhiều tạp chí quốc tế chuyên ngành đã cho thấy chất lượng không khí ở nhiều đô thị trên thế giới gia tăng tương đồng về ô nhiễm không khí với tốc độ đô thị hóa”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nói.   Rút cục sau nhiều chờ đợi, việc phân tích các mẫu rêu được thu thập bằng kỹ thuật hạt nhân PIXE (Proton-induced X-ray emission PIXE) – một kỹ thuật phân tích rất chuẩn xác được sử dụng để xác định thành phần nguyên tố của mẫu bằng việc phơi lộ chúng trước chùm tia ion nhưng không làm phá hủy chúng – đã cho thấy các hạt bụi mịn trong không khí Hà Nội có chứa 22 nguyên tố kim loại như natri, mangan, nhôm, silic, chì, kali, sắt, đồng, kẽm, thủy ngân… với nồng độ lớn nhất là tám chất silic, canxi, kali, nhôm, sắt và magie. “Như vậy mật độ bụi trong không khí ở Hà Nội rất cao và ô nhiễm không khí ở Hà Nội có thể chủ yếu do các hạt bụi lơ lửng trong không khí gây ra. Tình trạng ô nhiễm kim loại này đều có ở mọi điểm của thành phố”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nói. Vậy những nguồn phát thải kim loại này là gì? “Nguyên nhân là do ở Hà Nội có rất nhiều công trình cao tầng và hệ thống giao thông đang được triển khai xây dựng trong thành phố. Tuy nhiên nếu căn cứ vào phạm vi biến động rất cao của các nguyên tố này trong rêu, có thể thấy nguồn gốc ô nhiễm hết sức đa dạng”, ông giải thích.   Để đi đến kết luận này về nguồn gốc ô nhiễm kim loại nặng trong không khí ở Hà Nội, các nhà nghiên cứu đã dùng phương pháp phân tích đa biến, một phương pháp phân tích thống kê phổ biến được sử dụng rộng rãi trong ngành khoa học môi trường. Họ đã tìm hiểu năm nhân tố quan trọng thể hiện nồng độ của các nguyên tố mà mình quan tâm. “Kết quả đạt được ngoài mong đợi. Ví dụ khi tìm hiểu về nồng độ của các nguyên tố brom, zirconi và stronti thì chúng tôi thấy nồng độ lớn nhất thu được từ mẫu rêu đặt ở huyện Đông Anh, nguồn chính có thể là từ khu công nghiệp Thăng Long ở đó”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nói.   Những kết quả khác thu được cũng cho các nhà nghiên cứu thấy mối liên hệ giữa ô nhiễm kim loại với những hoạt động của con người: sự tương quan giữa asen và chì trong mẫu rêu đặt ở Bát Tràng cho thấy chúng có cùng nguồn gốc, có thể là từ việc đốt than để sản xuất gốm sứ, và sử dụng thuốc trừ sâu chứa asen trong trồng lúa và hoa màu ở khu vực này; hệ số cao của kẽm và bari trong các mẫu đặt ven đường giao thông ở nội thành cho thấy giao thông và mật độ dân số đông dẫn đến sự gia tăng nồng độ kẽm và bari; nồng độ niken và đồng từ các đường quốc lộ, nơi có lưu lượng xe tải và gần nhiều xưởng cơ khí, nhà máy sản xuất pin cho thấy ảnh hưởng của hoạt động đốt than, công nghiệp luyện kim, nhà máy than, giao thông và thậm chí cả đất. “Nồng độ các nguyên tố kim loại trong các mẫu rêu được lấy và phân tích vào mùa hè năm 2018 thể hiện sự khác biệt rất lớn trong tỉ lệ các kim loại. Nó cho thấy sự phân bố các nguyên tố kim loại nặng trong khí quyển Hà Nội không đồng đều”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nhận xét.     Rêu Barbula indica. Nguồn: ResearchGate.  Về tổng thể, một cái nhìn trực diện hơn về ô nhiễm kim loại trong không khí Hà Nội và các đô thị khác đã được các nhà nghiên cứu định hình. “Chúng tôi bất ngờ phát hiện ra, phần lớn các nguyên tố kim loại trong không khí Hà Nội có nồng độ cao hơn ở Huế, Hội An, TP HCM. Đặc biệt nồng độ bari ở Hà Nội cao gấp 15,5 lần so với TP HCM”, giáo sư Lê Hồng Khiêm lo ngại chỉ ra một hiện trạng đang tồn tại. Tuy nhiên khi được hỏi kết quả đó nói lên điều gì, ông chỉ có thể nói ngắn gọn, “với nghiên cứu ban đầu này thì chúng tôi chưa thể giải thích được nhiều bởi xét về thực tế, TP HCM là trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam và trước đó chúng tôi đã dự đoán ô nhiễm không khí ở TP HCM cao hơn Hà Nội. Có thể đi đến một kết luận chính xác hơn, chúng tôi sẽ phải thực hiện thêm một vài nghiên cứu nữa, hoặc đặt thêm mẫu ở TPHCM”.   Việc đặt các kết quả phân tích của các thành phố Việt Nam lại với nhau và đặt cạnh dữ liệu của một số thành phố châu Âu khác đã đưa các nhà nghiên cứu đến một nhận định mà các nhà quản lý môi trường không thể bỏ qua: nồng độ nhôm, clo, kali, crom, mangan, sắt, đồng và sắt của Hà Nội cao hơn một chút so với Thái Nguyên nhưng nồng độ kẽm, rubidi, stronti và bari cao hơn rất nhiều, đặc biệt là bari cao gấp 14 lần so với Thái Nguyên; nồng độ crom cao gấp ba lần, valdanium cao gấp hai lần so với Lâm Đồng. Không chỉ cao hơn so với các thành phố khác ở Việt Nam, nồng độ kim loại của không khí Hà Nội “cao hơn rất nhiều lần so với các thành phố này, đặc biệt là chì, rubidi, asen và kẽm. Điều này chứng tỏ là tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu vực của Hà Nội đều khá nghiêm trọng so với những địa phương khác”, giáo sư Lê Hồng Khiêm và cộng sự viết trong công bố của mình.   Độ tin cậy của kỹ thuật phân tích trên lò xung mạnh nhất thế giới   Giữa một cộng đồng nghiên cứu về chất lượng ô nhiễm không khí mới được hình thành ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu của giáo sư Lê Hồng Khiêm là nơi hiếm hoi sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học. Đây gần như là một “lãnh địa” ít dấu chân người, nếu không kể đến một nghiên cứu ban đầu về chất lượng không khí bằng rêu ở Hà Nội và Thái Nguyên của TS. Nguyễn Việt Hùng (ĐH Y tế Công cộng). “Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức thăm dò khả năng dùng kỹ thuật này ở Việt Nam và số lượng mẫu phân tích còn ở mức khiêm tốn. Sau này khi tôi liên hệ thì được biết là anh Hùng cũng không còn tập trung vào hướng này nữa”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nói về xu hướng nghiên cứu bằng chỉ thị sinh học rêu ở Việt Nam.   Thực chất, việc sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học để nghiên cứu ô nhiễm không khí đã phổ biến trên thế giới từ những năm 1960 và cho đến nay, “hướng nghiên cứu này vẫn đang được triển khai rất mạnh ở các nước phát triển, đặc biệt là các nước châu Âu. Hàng nghìn công bố của các nhà khoa học trên thế giới về lĩnh vực này trong những năm gần đây đã cho thấy sự quan tâm của cộng đồng khoa học trong việc sử dụng rêu để nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong không khí”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nhận xét.     Các phép phân tích PIXE được thực hiện trên lò phản ứng IBR-2 ở Dubna. Nguồn: atomic-energy.ru.  Mặc dù phương pháp lấy mẫu không khí bằng bơm khí và phin lọc đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam được đánh giá là khá linh động, cho phép nhà nghiên cứu có thể tự do di chuyển để lấy mẫu ở nhiều nơi khác nhau song lại có nhược điểm là “không thể quan trắc trên một khu vực rộng tại cùng một thời điểm, thời gian hút mẫu không đủ dài nên kết quả phân tích thường chỉ được xem là phản ánh mức độ ô nhiễm trong một khoảng thời gian ngắn”, giáo sư Lê Hồng Khiêm nhận xét. “Muốn vượt qua được nhược điểm này, anh chỉ còn cách là kiên trì lấy mẫu trong nhiều thời điểm”. Ngoài ra, hạn chế là các thiết bị lấy mẫu khí cũng có giá thành không hề rẻ, thường dao động ở mức vài chục triệu đồng và thậm chí còn cao hơn vài chục lần với thiết bị lấy mẫu chủ động.   Do đó từ năm 2013, ông đã bắt đầu theo đuổi hướng nghiên cứu sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học để nghiên cứu ô nhiễm không khí với mục tiêu du nhập được kỹ thuật này về Việt Nam để nhiều nhà nghiên cứu có thể sử dụng rộng rãi. Tại sao một chuyên gia lâu năm về vật lý hạt nhân thực nghiệm như ông lại đột ngột chuyển hướng sang một vấn đề mới có vẻ chẳng mấy liên quan đến chuyên môn của mình? Điều này bắt nguồn từ một “cơ duyên” vào năm 2013: “Khi đó, nhận nhiệm vụ làm đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện liên hiệp hạt nhân Dubna (Nga), tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu ở đây triển khai rất nhiều hướng nghiên cứu, ô nhiễm không khí trong đó có sử dụng rêu làm chỉ thị sinh học. Tôi thấy phương pháp này rất hay và quan trọng là phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Quá trình thu thập rêu, bảo quản và xử lý để phân tích cũng rất đơn giản, rêu lại có khả năng chịu được ô nhiễm ở mức độ cao nên ở những khu vực bị ô nhiễm nặng vẫn có thể thu thập được mẫu”, ông giải thích.      Lập bản đồ ô nhiễm là mơ ước của nhiều nhà nghiên cứu về môi trường. “Đây là công cụ hỗ trợ rất mạnh cho các nhà quản lý môi trường trong việc theo dõi, giám sát ô nhiễm ở cả một khu vực, một quốc gia cũng như gợi mở rất nhiều ý tưởng về chính sách ngăn ngừa rủi ro phơi nhiễm”, theo nhận định của giáo sư Phạm Hùng Việt.      Để có được những kết quả phân tích chính xác về thành phần kim loại trong các hạt bụi, giáo sư Lê Hồng Khiêm đã thực hiện các phân tích quan trọng tại Dubna. “Các nhà khoa học ở đây đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này và rất nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi với mong muốn phát triển phương pháp này ở Việt Nam. Một thuận lợi khác là Dubna cũng có lò phản ứng IBR-2 với những luồng neutron xung mạnh nhất thế giới, cho phép chúng tôi thực hiện các phép phân tích bằng kỹ thuật PIXE và phương pháp phân tích kích hoạt neutron (NAA) với độ nhạy và chính xác rất cao”, giáo sư Lê Hồng Khiêm cho biết. Có thể kết quả nghiên cứu của ông là bước kế tiếp và bổ sung vào những kết quả đã có, mặt khác cũng cho thấy mức biến động theo thời gian của nồng độ kim loại trong không khí Hà Nội.   Mong lập bản đồ ô nhiễm ở Việt Nam  Dù mới bắt đầu, những nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong không khí ở Việt Nam của giáo sư Lê Hồng Khiêm và cộng sự đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, ví dụ ICP Vegetation – một chương trình nghiên cứu quốc tế về những tác động của các chất ô nhiễm trong không khí lên cây trồng, đánh giá: “Việt Nam là một trong những quốc gia phát triển mạnh nhất khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu ô nhiễm không khí sử dụng chỉ thị rêu”. Tuy vậy, giáo sư Lê Hồng Khiêm vẫn còn cảm thấy chưa thực sự hài lòng bởi ông thấy, mình mới chỉ thực hiện được nghiên cứu ban đầu với việc nhận diện các chất kim loại trong không khí: “Chúng tôi nhận thấy vẫn còn quá nhiều nghiên cứu tiếp theo cần thực hiện, số liệu chúng tôi mà thu được hiện nay chưa nhiều, chỉ có Hà Nội làm kĩ lưỡng nhất còn các thành phố khác vẫn còn sơ sài. Chúng tôi muốn thu thập thật nhiều số liệu và áp dụng nhiều phép phân tích theo nhiều hướng khác nhau để đạt tới mục tiêu là lập được một bản đồ ô nhiễm ở Việt Nam”.   Việc lập bản đồ ô nhiễm là điều mơ ước của nhiều nhà nghiên cứu về môi trường. “Đây là công cụ hỗ trợ rất mạnh cho các nhà quản lý môi trường trong việc theo dõi, giám sát ô nhiễm ở  cả một khu vực, một quốc gia cũng như gợi mở rất nhiều ý tưởng về chính sách ngăn ngừa rủi ro phơi nhiễm”, theo nhận định của giáo sư Phạm Hùng Việt, giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích và kiểm định môi trường, thực phẩm (ĐHQGHN), người từng tham gia thực hiện nghiên cứu “Arsenic pollution of groundwater in Vietnam exacerbated by deep aquifer exploitation for more than a century” (Nguy cơ tăng cao ô nhiễm asen trong nước ngầm ở Việt Nam do việc khai thác nước tầng sâu trong hơn một thế kỷ) trên PNAS năm 2011.  Tuy nhiên để có được bản đồ ô nhiễm không phải đơn giản. “Muốn làm được như vậy thì các điểm ô nhiễm phải được xác định ở nhiều vị trí khác nhau với những nồng độ cao thấp và những nguồn phát tán ô nhiễm khác nhau, tức thời và theo mùa. Có như vậy thì khi nhìn vào bản đồ ô nhiễm, người ta mới có thể đánh giá được mức ô nhiễm của từng điểm và của cả bức tranh chung”, PGS. TS Trần Mạnh Trí (Khoa Hóa học, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), một nhà nghiên cứu đang mơ ước lập được bản đồ của các nhóm chất hữu cơ mới nổi trong không khí trên nhiều địa phương ở miền Bắc, cho biết.  Việt Nam đã có bản đồ ô nhiễm không khí đầu tiên với nỗ lực của giáo sư Phạm Duy Hiển (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) và cộng sự: bản đồ ô nhiễm khí NO2 và SO2 của Hà Nội dựa trên dữ liệu thu thập được ở 9 khu nội đô và 5 vùng ven đô trong những năm 1980 và những năm 1990 được công bố trên Science of The Total Environment, một phần của công bố “Impact of urban expansion on the air pollution landscape: A case study of Hanoi, Vietnam” (Tác động của mở rộng đô thị với ô nhiễm không khí: Một trường hợp nghiên cứu về Hà Nội, Việt Nam). Với mong muốn nhóm sẽ có bản đồ tiếp theo như thế với ô nhiễm kim loại, giáo sư Lê Hồng Khiêm cho rằng, nhóm nghiên cứu của mình cần phải thực hiện thêm nhiều nghiên cứu khác. “Trong tương lai, chúng tôi phải đặt thêm nhiều mẫu rêu ở nhiều nơi và sử dụng thêm nhiều phương pháp phân tích khác như phân tích khối phổ plasma cảm ứng (ICP MS) để có thể phân tích các hợp chất hóa học khác ngoài kim loại nặng. Chúng tôi cũng mong muốn hợp tác với các nhà nghiên cứu về ô nhiễm không khí khác ở Việt Nam để thiết lập được các mô hình tính toán tối ưu, qua đó có thể xác định nguồn phát thải các chất ô nhiễm”, ông cho biết.  Để đạt được mục tiêu này, khó khăn lớn nhất mà nhóm nghiên cứu của ông phải đối mặt là thiếu nhân lực có chuyên môn. “Phần lớn các thành viên trong nhóm nghiên cứu là các bạn trẻ, chủ yếu thực hiện lấy mẫu chứ chưa làm chủ được các phương pháp phân tích. Tôi đang muốn gửi một số bạn sang các phòng thí nghiệm bên nước ngoài để đào tạo thêm, nhưng muốn thành thạo thì cũng phải mất 5-7 năm”. Tuy nhiên, việc triển khai những nghiên cứu mới cũng rất khả quan bởi “việc đặt các mẫu rêu đã được thuần thục và việc phân tích được thực hiện tại lò xung số một thế giới”, ông tự tin cho biết. □    Author                Thanh Nhàn – Thanh An        
__label__tiasang Ô nhiễm nguồn nước làm biến đổi gen      Ủy ban kiểm soát ô nhiễm bang Punjab (Ấn Độ) vừa công bố một kết quả làm rùng mình: hóa chất độc hại trong nguồn nước đang làm biến đổi gen của dân chúng!      Kết quả ban đầu của nghiên cứu này phát hiện 65% người được xét nghiệm máu có ADN biến thể. Nghiên cứu cũng cho thấy hàm lượng thạch tín và thủy ngân trong nước máy ở Punjab rất cao. Theo ông J. S. Thakur, người đứng đầu nghiên cứu trên, khi con người bị phơi nhiễm thuốc trừ sâu và khi đồng ruộng được tưới tiêu bằng nước ô nhiễm thì nguy cơ mắc các bệnh về gen, hệ thần kinh và đường sinh sản rất cao.   Thanh Trúc         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm phóng xạ do urani nghèo đã được phát hiện ở nước ta hơn 40 năm trước      Sau 1975, đồng đen được đồn đại như món hàng cực đắt ở nước ta. Không phải là đồng đen đúc tượng, vốn được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Nhưng đồng đen này là gì, công thức thế nào, từ đâu ra, dùng vào mục đích gì…, tất cả đều rất tù mù. Chỉ nghe đồn thổi là một số đường dây nước ngoài có thể mua với giá đắt hơn vàng. Người ta săn lùng đồng đen. Có người tìm được còn cất giấu cẩn thận cạnh giường ngủ, chờ mối bán.      Giáo sư Phạm Duy Hiển. Ảnh Thanh Nhàn.  Lực lượng an ninh đã sớm vào cuộc. Năm 1978, ba sĩ quan an ninh đã đến phòng thí nghiệm Vật lý hạt nhân, Viện Vật lý, thận trọng mở chiếc hộp đựng mấy viên kim loại màu đen, to bằng ngón chân cái:    “Người ta bảo đây là đồng đen, nhờ các đồng chí kiểm định”.    Vật lạ rất nặng, tỷ trọng 19, suýt soát vonfram và vàng, nhưng rắn hơn vàng. Cũng không phải vonfram vì có phóng xạ có thể phát hiện bằng máy dò thông thường. Vậy chỉ có thể là urani. Nhưng urani gì, nghèo hay giàu, hay urani tự nhiên? Phải căn cứ trên hai đồng vị số 235 (235U) và 238 (238U) mới biết.  Urani trong tự nhiên chứa 0,7% 235U, 99,3% còn lại là 238U. Để chế tạo bom nguyên tử cần phải làm giàu nhiên liệu sao cho thành phần đồng vị 235 lên đến 90%. Bã thải của nhà máy làm giàu còn chứa một ít đồng vị 235U, nên gọi là urani nghèo.    Cần phải cưa dũa ra bột vụn mới đo được các đồng vị, nhưng “đồng đen” quá rắn, cưa dũa cứ tóe lửa. Khó nhọc lắm chúng tôi mới bóc ra được một ít bột vụn (sau khi cạo đi lớp phủ ô xit màu đen bên ngoài), đem đo đồng vị bằng phổ kế gamma với detecto bán dẫn Ge-Li được đặt trong buồng chì chống phông phóng xạ, một hệ thống thiết bị chuyên dụng phân tích đồng vị phóng xạ độc nhất thời bấy giờ ở nước ta. Phân tích đồng vị là việc nằm ngoài khả năng của các phương pháp hóa học cổ điển ở nước ta lúc bấy giờ.    Phổ gamma rất sạch, chỉ xuất hiện hai đồng vị urani số 235 và 238. Nhưng 235U chỉ có 0.22%. Đích thực là urani nghèo rồi! Hóa ra ‘đồng đen” mà người ta đồn đại chính là bã thải từ các nhà máy làm giàu urani để chế tạo bom nguyên tử. Đã thế, nó không thể đắt hơn vàng, vì urani nghèo đầy ắp trong kho nhiên liệu hạt nhân của Mỹ và Liên Xô.      Rất nhiều nghiên cứu dịch tễ phóng xạ sau cuộc chiến ở Iraq, Bosnia, Kosovo được công bố trên các tạp chí quốc tế về sức khỏe cộng đồng đã chứng minh mối liên quan giữa đạn urani nghèo với các hội chứng do nhiễm xạ trong hàng ngũ cựu chiến binh và thường dân. Nhưng chưa có nghiên cứu nào tương tự về urani nghèo vốn từng có mặt hàng chục năm trước trên đất Việt Nam.      Nhưng loại bã thải này cũng khá đặc biệt, và có thể có giá trị nhất định đối với các nước muốn chế tạo bom nguyên tử. Đem urani nghèo chiếu xạ trong lò phản ứng để thu hồi plutoni sẽ ưu việt hơn chiếu xạ urani tự nhiên. Một lượng lớn urani nghèo cũng đã được sử dụng làm thành phản xạ (tamper) trong các bom hạt nhân. Đây có thể là lý do khiến “đồng đen” được các đường dây nước ngoài mua với giá rất đắt, nếu chuyện đồn đại này là có thật.    Song tại sao urani nghèo lại có mặt trên đất Việt Nam? Lại không phải từ các kho quân cụ của Mỹ như Long Thành, mà được tìm thấy gần những nơi có máy bay rơi, theo lời kể của những chủ tang vật với các sĩ quan an ninh. Từ một số thông tin khoa học rất hiếm hoi thời bấy giờ, chúng tôi biết rằng nhờ có tỷ trọng rất lớn nên urani nghèo đã được Mỹ sử dụng làm đối trọng cho một số bộ phận trên máy bay. Trên thực tế, urani nghèo đã được sử dụng trên hơn 550 chiếc Boeing 747 sản xuất từ 1968 đến 1983. Mỗi chiếc đã sử dụng đến nửa tấn urani nghèo để làm đối trọng cho đuôi máy bay. Sau sự cố Boeing bị rơi năm 1981 gây ô nhiễm phóng xạ, urani nghèo không còn được phép dùng nữa, mà phải thay bằng vonfram.         Tuy có phóng xạ yếu, nhưng nếu mảnh vụn hay bột urani nghèo xâm nhập vào cơ thể thì độc tố kim loại nặng và phóng xạ do tia alpha sẽ rất nguy hiểm. Độc tố kim loại urani có thể gây hoại tử gan. Do đó, tuy không phải là nhiên liệu hạt nhân, urani nghèo vẫn được xem là vật liệu hạt nhân có phóng xạ và phải được bảo quản theo các quy chế đặc biệt.    Sau khi báo cáo đầy đủ những phát hiện và nhận định trên đây lên Bộ Nội vụ, chúng tôi đề nghị Bộ tìm cách thu hồi toàn bộ và bảo quản urani nghèo theo quy chế phóng xạ và vật liệu hạt nhân, sớm chấm dứt nguy cơ người dân bị chiếu xạ khi cưa cắt để buôn bán. Ngày 9/1/1980, Chính phủ đã ra Chỉ thị Tuyệt mật Về việc tìm kiếm, phân tích và bảo quản một số kim loại URANI do Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp ký.              Mặc dù có Chỉ thị của Chính phủ, các vụ “áp phe đồng đen” vẫn tiếp diễn cho đến hết thập kỷ 1990. Thậm chí có người còn kiện lên Chính phủ đòi cơ quan an ninh bồi thường thiệt hại sau khi tang vật bị tịch thu. Mãi đến 2003, với những cố gắng của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và Bộ Nội vụ, urani nghèo mới được thu gom đưa về bảo quản trong khu lò phản ứng Đà Lạt. Mãi đến 2012, vẫn còn 10 kg urani nghèo đã được chuyển từ Quảng Bình đến Đà Lạt. Rất nhiều mẫu vật chỉ nặng vài trăm gam, chứng tỏ urani nghèo đã được cưa gọt và trao đổi trong dân chúng.    Tuy urani nghèo thu gom được khá nhiều, song chắc chắn chỉ là một phần nhỏ so với những gì đã từng nằm rải rác trên đất nước ta sau chiến tranh. Vậy toàn bộ urani nghèo là bao nhiêu, có phải tất cả đều liên quan đến máy bay rơi hay còn có nguồn gốc nào khác, vũ khí chẳng hạn? Bao nhiêu người bị nhiễm xạ, nhiễm độc? Những câu hỏi này chưa được nghiên cứu.    Và cũng vì hồ sơ phóng xạ này là tuyệt mật nên các kết quả nghiên cứu khoa học đầu tiên trên thế giới về ô nhiễm phóng xạ do urani nghèo được Mỹ sử dụng trong chiến tranh không được công bố.    Sau hơn 10 năm, trong cuộc chiến vùng Vịnh “Bão táp sa mạc”, hơn 780.000 đầu đạn urani nghèo đã được liên quân Mỹ – Anh sử dụng cho các trọng pháo chống tăng. Đạn urani khoét thủng vỏ thép xe tăng, để lại trên chiến trường rác và bụi khí phóng xạ. □        Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Ô nhiễm phốt pho ở mức báo động trên toàn thế giới      Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Water Resources Research của Liên đoàn Địa Vật lý Mỹ (AGU), trên khắp thế giới, mức độ ô nhiễm phốt pho trong nước ngọt do con người gây ra đang ở mức nguy hiểm.      Hàm lượng phốt pho dư thừa trong nước khiến tảo phát triển nhanh chóng. Ảnh: Bill Yates.  Phốt pho là thành phần phổ biến có trong phân bón bởi vì nó làm tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, một lượng lớn phốt pho không được cây trồng hấp thụ sẽ tích tụ trong đất hoặc bị cuốn trôi ra sông, hồ và vùng ven biển. Phốt pho có thể kích thích sự nở hoa của tảo. Khi tảo chết đi và phân hủy, nguồn nước bị ô nhiễm này có thể làm chết cá. Nhưng phần lớn lượng phốt pho không biến mất trong nước sau hiện tượng trên mà được tích tụ trong đất. Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa có cách xử lý lượng phốt pho tồn dư này.  “Nhiều nơi trên thế giới không có đủ nước để pha loãng phốt pho hoặc có tải lượng ô nhiễm quá lớn khiến hệ thống nước không thể đồng hóa tất cả mọi thứ”, TS. Mesfin Mekonnen ở Đại học Nebraska, Mỹ, đồng tác giả nghiên cứu nói.  Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát hoạt động nông nghiệp để tính toán tổng lượng phốt pho do con người tạo ra xâm nhập vào nước trên bề mặt Trái Đất từ năm 2002 đến năm 2010. Họ thu thập dữ liệu về lượng phân bón dùng để canh tác nông nghiệp ở mỗi quốc gia, đồng thời ước tính sản lượng phốt pho công nghiệp và nội địa bằng cách nhìn vào mức tiêu thụ protein trên đầu người của mỗi nước.  “Nhiều nghiên cứu khác từng tính toán tải lượng phốt pho toàn cầu. Nhưng chúng tôi đã tiến xa hơn vì chúng tôi chia nhỏ tải lượng phốt pho theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như loại cây trồng, quốc gia và thành phần kinh tế. Đây là điều chưa ai từng làm”, Mekonnen nói.  Kết quả của nghiên cứu mới cho thấy, hoạt động của con người mỗi năm thải ra 1.62 triệu tấn phốt pho vào các lưu vực nước ngọt lớn trên khắp thế giới. Trung Quốc đóng góp 30% tải lượng phốt pho vào các vùng nước ngọt, đứng sau là Ấn Độ và Mỹ (lần lượt ở mức 8% và 7%).  Nguyên nhân gây ô nhiễm phốt pho toàn cầu chủ yếu đến từ nước thải sinh hoạt (54%), tiếp theo là canh tác nông nghiệp (38%) và sản xuất công nghiệp (8%). Nhóm nghiên cứu nhận thấy, tải lượng phốt pho trong nông nghiệp tăng 27% trong giai đoạn nghiên cứu, từ 579 tấn vào năm 2002 đến 734 tấn vào năm 2010.  Các nhà nghiên cứu cũng ước lượng mức độ ô nhiễm nước (WPL) trên những lưu vực sông lớn của Trái Đất. Họ so sánh lượng nước ngọt cần thiết để pha loãng phốt pho dư thừa đến nồng độ cho phép với dòng chảy thực tế của sông trong lưu vực. Nếu lưu vực nước ngọt có WPL trên giá trị 1, các tiêu chuẩn chất lượng nước đang không được đảm bảo và lưu vực nhận nhiều phốt pho hơn lượng nó có thể đồng hóa, Mekonnen cho biết.  Kết quả so sánh cho thấy, các lưu vực nước ngọt với WPL trên giá trị 1 ở 38% diện tích mặt đất – là nơi sinh sống của 90% dân số thế giới (ngoại trừ Nam Cực). Những lưu vực này thường gắn liền với vùng đông dân cư hoặc vùng nông nghiệp thâm canh.  Các khu vực nước ngọt bị ô nhiễm phốt pho nặng nề nhất bao gồm lưu vực thoát nước Aral (giữa các quốc gia Kazakhstan và Uzbekistan), sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, sông Danube ở châu Âu. Các khu vực ít dân cư như Australia và phía bắc châu Phi cũng bị ô nhiễm nước ở mức độ cao. Những khu vực này tuy có tải lượng phốt pho nhỏ hơn so với Trung Quốc và châu Âu nhưng lại có ít nước để pha loãng phốt pho dư thừa hơn.  Joep Schyns – nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nước tại Đại học Twente (Hà Lan) – cho biết, các vùng nước ngọt có hàm lượng phốt pho ở mức cao sẽ khả năng xảy ra hiện tượng phú dưỡng, hoặc dư thừa chất dinh dưỡng. “Tình trạng nước phú dưỡng do ô nhiễm phốt pho gây ra hiện tượng tảo nở hoa, dẫn đến cái chết của cá và nhiều loài sinh vật thủy sinh do chúng bị thiếu oxy và ánh sáng”, Schyns nói.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2018-01-phosphorus-pollution-dangerous-worldwide.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm từ nấu bếp tồn lưu trong khí quyển lâu hơn người ta nghĩ      Theo một nghiên cứu mới, các hạt ô nhiễm từ đun nấu tồn lưu trong khí quyển lâu hơn trước đây người ta thường nghĩ, do đó góp phần vào việc làm giảm chất lượng không khí nhiều hơn.      Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Birmingham đã thành công trong việc chứng minh cách phát thải trong đun nấu – vốn chứa tới 10% trong các hạt ô nhiễm ở Anh – có thể tồn tại trong bầu khí quyển trong nhiều ngày, thay vì bị tan rã.  Nhóm nghiên cứu này hợp tác với các chuyên gia trường đại học Bath, Trung tâm Laser và máy gia tốc Diamond để chứng tỏ các các phân tử a xít béo tương tác với các phân tử được tim thấy một cách tình cờ trong bầu khí quyển trái đất. Trong suốt quá trình tương tác này, một lớp áo hoặc vỏ được hình thành quanh bên ngoài hạt đó để bảo vệ chất a xít béo bên trong từ các chất khí như ozone, vốn có thể phá vỡ hạt.  Đây là lần đầu tiên, các nhà khoa học có thể tái tạo quá trình này theo cách cho phép được thực hiện trong các điều kiện phòng thí nghiệm bằng việc sử dụng chùm tia X cường độ cao tại Diamond Light Source để cho phép phân rã các lớp mỏng của phân tử từ các phát thải trong nấu ăn chi tiết từng phút. Các kết quả nghiên cứu mới được xuất bản trên Faraday Discussions của Hội Hóa học Hoàng gia Anh.  Khả năng lưu lại trong bầu khí quyển của các hạt này đem lại những gợi ý về biến đổi khí hậu và sức khỏe con người bởi vì các phân tử đang tương tác rất chặt chẽ với nước, qua đó ảnh hưởng đến khả năng hình thành các đám mây của những giọt nước. Đổi lại, điều này có thể thay đổi lượng mưa và cũng lượng ánh nắng mặt trời bị phản xạ qua mây che phủ hoặ hấp thụ xuống trái đất – tất cả đều có thể góp phần vào những biến đổi nhiệt độ.  Thêm vào đó, khi bị phát thải từ nấu nướng, các hạt này hình thành lớp áo bảo vệ và có thể liên kết với những hạt ô nhiễm khác, bao gồm những chất được biết là có ảnh hưởng đến sức khỏe con người như carcinogen từ phát thải động cơ chạy dầu diesel. Những hạt này có thể được vận chuyển qua những khu vực rộng hơn.  Tác giả chính của nghiên cứu, TS. Christian Pfrang của trường Địa lý, Khoa học trái đất và môi trường của trường đại học Birmingham, nói: “Những phát thải đó xuất phát từ các quá trình nấu nướng như rán ngập dầu mỡ, bổ cập một tỉ lệ phần trăm đáng kể ô nhiễm không khí trong các thành phố, đặc biệt trong các hạt bụi PM2.5. Tại London, các hạt này chiếm khoảng 10%, tuy nhiên ở một số siêu đô thị trên thế giới như tại Trung Quốc, nó có thể chiếm 22%, còn những đo đạc gần đây ở Hong Kong thì tỉ lệ này lên tới 39%.  “Các gợi ý từ nghiên cứu cho thấy có thể tính đến điều này trong việc lập quy hoạch thành phố. Tuy nhiên chúng tôi vẫn cần theo dõi những cách thức có thể giúp chúng ta lọc không khí tốt hơn – cụ thể trong ngành công nghiệp đồ ăn nhanh, nơi những hướng dẫn có thể vẫn còn chưa được tín đến những tác động đến chất lượng không khí do hoạt động nấu nướng”.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-pollution-cooking-atmosphere-longer-previously.html  https://pubs.rsc.org/en/content/articlelanding/2021/FD/D0FD00088D#!divAbstract    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ở thiên hà, màu đỏ chứng tỏ cái gì?      Nhìn vào bức ảnh đầu tiên của kính James Webb được công bố vào ngày 11/7/2022, chúng ta rất dễ nhận thấy vô vàn thiên hà xoắn ốc màu đỏ, lấm tấm bên cạnh quần tụ thiên hà SMACS 0723. Đây là một hiện tượng hiếm gặp vì gần như tất cả các xoắn ốc chúng ta có thể quan sát qua chiếc kính thiên văn thông dụng thường có sắc xanh da trời, tím, v.v. Vậy các thiên hà xoắn ốc đỏ này có nguồn gốc ra sao, và ở chúng, màu đỏ chứng tỏ cái gì?     Quần tụ thiên hà SMACS 0723. Ảnh: NASA, ESA, CSA, STScI  Trẻ rồi cũng già  Trước tiên, phải nhấn mạnh rằng màu sắc của các hiện tượng trong thiên văn học đều có những ý nghĩa nhất định. Một ngôi sao có màu sắc thiên về phía xanh dương thường vẫn còn rất trẻ, rất nóng và rất sáng. Khi một ngôi sao bắt đầu già đi, nó giảm nhiệt độ và di chuyển về phía sắc đỏ. Dĩ nhiên, đây chỉ là một tóm tắt mang tính bao quát, bởi tính chất muôn hình vạn trạng của vũ trụ khiến quá trình hình thành sao ở cấp độ cá thể rối rắm hơn nhiều.  Một thiên hà, xét cho cùng, cũng chỉ là một gia đình sao. Có hai loại thiên hà liên quan đến chủ đề ngày hôm nay là thiên hà xoắn ốc (spiral galaxy) và thiên hà elip (elliptical galaxy). Trong đó, các thiên hà xoắn ốc như NGC 1376 thì xanh ngắt một màu, bởi chúng không những chứa phần lớn là sao trẻ, mà còn thừa mứa các đám mây khí không ngừng sản sinh nhiều ngôi sao trẻ khác. Mặt khác, các thiên hà elip như M84 thì đã ngả vàng hoặc đỏ bởi chúng đã xài hết chỗ khí sinh sao của mình, còn những bé sao mà chúng đã “đẻ” ra ngày trước thì đến nay cũng đã thành “hội cao tuổi”. Đến đây, chúng ta có thể tạm trả lời câu hỏi ở tiêu đề bài viết như sau: “Ở thiên hà, màu đỏ chứng tỏ già nua”.  Việc màu đỏ có quan hệ mật thiết với tuổi thiên hà như vậy cũng hàm ý rằng xanh-đỏ không phải là một hệ nhị nguyên. Theo quan điểm chung của các nhà phân loại thiên hà, một thiên hà vẫn còn nhiều khí sinh sao thì còn xanh tươi, song đến khi bắt đầu cạn khí thì từ từ tiến về phía đỏ rực. Hai thiên hà quen thuộc nhất với chúng ta là dải Ngân hà và bà dì Tiên Nữ (Andromeda) ở sát vách hiện nay đều đang trong giai đoạn chuyển tiếp giữa xanh và đỏ. Trong một bài nghiên cứu có tựa đề “Cuộc khủng hoảng tuổi trung niên của dải Ngân hà và M31 [tên gọi khác của Thiên hà Tiên Nữ]”, Mutch và cộng sự (2011) đã miêu tả rằng dải Ngân hà và Thiên hà Tiên Nữ đang dần cạn kiệt lượng khí sinh sao, và 4.5 tỷ năm nữa, khi hai thiên hà xoắn ốc này hợp nhất, lượng khí sinh sao còn lại cũng sẽ chẳng đủ để lấn át các “hội cao tuổi” vốn dĩ đã tồn tại ở hai thiên hà này từ trước. Không những vậy, theo Cox và Loeb (2008) cùng nhiều nhóm nghiên cứu khác, cái thiên hà lớn mà dải Ngân hà và Tiên Nữ hợp thành sau này sẽ có dạng elip, nghĩa là các thiên hà xoắn ốc xanh về già hoàn toàn có thể hợp lại thành các thiên hà elip đỏ. Từ đó, ta có thể kết luận rằng xoắn ốc-xanh và elip-đỏ là hai cặp tính trạng trái ngược nhau, tồn tại ở hai đầu của quá trình tiến hóa thiên hà. Vậy các thiên hà xoắn ốc đỏ của James Webb từ đâu mà ra?  Hội người cao tuổi chòm Phi Ngư  Trên thực tế, chiếc kính James Webb không phải là thiết bị đầu tiên nhòm được các thiên hà lão thành này. Khi Kính viễn vọng Không gian Spitzer còn hoạt động (2003-2020), chiếc Máy ảnh Dãy Hồng ngoại (IRAC) của nó đã chụp được các vật thể nêu trên trong địa phận chòm sao Phi Ngư (Volans). Tuy nhiên, vì IRAC đã phải phóng to quá mức, những khung hình mà Spitzer gửi về cuối cùng chỉ toàn những pixel lờ mờ. Những năm sau đó, các nhà thiên văn học mới chỉ nhận thức được rằng đây là các thiên hà đỏ, còn hình thái xoắn ốc đặc biệt của chúng thì phải đến lúc mổ xẻ các bức ảnh vô cùng sắc nét của James Webb mới biết. Để so sánh độ sắc nét của ảnh James Webb so với ảnh Spitzer, có thể tham khảo Hình 2.  Vậy các thiên hà xoắn ốc đỏ này rốt cuộc là như thế nào? Tháng 8/2022, nhóm của Yoshinobu Fudamoto đã chọn lấy ba vật mẫu điển hình trong số các thiên hà này và gọi chúng là RS12, RS13 và RS14. Họ điều tra từng thiên hà bằng phương pháp trắc quang khẩu độ (aperture photometry), trong đó máy tính sẽ đặt lên ảnh gốc những khẩu độ (aperture) đủ lớn để lấy tích phân của thông lượng ánh sáng bên trong mỗi khẩu độ. Nói theo cách dễ hiểu hơn, trắc quang khẩu độ giống như chụp ảnh một cánh rừng từ trên cao rồi khoanh vùng để đếm xem có bao nhiêu cái lá trong một tán cây nhất định, chỉ khác ở chỗ các nhà thiên văn không đếm bằng tay dùng lập trình để tính tổng lượng ánh sáng từ một thiên thể ở xa. Xong xuôi công đoạn trắc quang khẩu độ, nhóm của Fudamoto phân tích các tính chất vật lý của RS12, RS13 và RS14 dựa trên các mô hình lý thuyết liên quan. Kết quả cho thấy, cả ba thiên hà đều đã ngừng hình thành sao và chứa hầu hết là các sao già lụ khụ; duy chỉ có RS14 là còn le lói một vài đám sao xanh thanh niên, có thể quan sát được ở bước sóng cực tím. Ngoài ra, cả ba xoắn ốc đỏ này đều cách Trái đất khoảng 10 tỷ năm ánh sáng, nghĩa là chúng thuộc vào hàng các thiên hà cổ xưa nhất mà con người từng ghi nhận được.  Hình 2: So sánh ảnh chụp RS12, RS13 và RS14 của Spitzer (trên) và James Webb (dưới). Ảnh: Fudamoto và cộng sự (2022)  Sự phát hiện đến ba xoắn ốc đỏ trong ảnh chụp của James Webb là một bước tiến quan trọng trong chuyên ngành nghiên cứu thiên hà, bởi chúng nằm ngoài cái dải phổ xoắn ốc xanh-elip đỏ mà chúng ta đã thảo luận ở phần trước. Tuy nhiên, bản thân nhóm của Fudamoto cũng thận trọng trước phát hiện của mình. Theo chính sự thừa nhận của họ, bởi các đặc điểm vật lý của ba thiên hà này vẫn còn chưa được hiểu rõ, họ hoàn toàn có thể đã đánh giá sai về lượng bụi bên trong từng thiên hà, từ đó dẫn đến một số tính toán không chính xác. Nhóm tác giả này nêu đích danh bụi là bởi vì mỗi khi có một đám mây bụi nằm giữa quan sát viên và một thiên thể bất kỳ, ánh sáng từ thiên thể hoàn toàn có thể bị hấp thụ tới mức các bước sóng ngắn hơn ở vùng xanh dương bị khuếch tán đi mất, chỉ còn để lại các bước sóng dài thiên về phía màu đỏ. Hiện tượng này được gọi là tiêu quang (extinction), và nếu không được loại trừ cẩn thận thì có thể khiến một ngôi sao, một thiên hà đỏ hơn nhiều so với thực tế.  Vậy tóm lại, liệu RS12, RS13 và RS14 có thực sự là ba thiên hà xoắn ốc đỏ? Với lượng phân tích ít ỏi tại thời điểm này, thật khó để đưa ra một câu trả lời tuyệt đối. Thay vào đó, có lẽ chúng ta nên thử lật lại nền tảng lý thuyết của cái gọi là “bình thường” trong nghiên cứu thiên hà nói chung. Có đúng là các thiên hà chỉ tồn tại trên một dải phổ xếp theo tuổi tác từ xoắn ốc-xanh đến elip-đỏ, hay thực tế của vũ trụ mông lung hơn rất nhiều?  Già vẫn có tương lai  Các thiên hà xoắn ốc đỏ đầu tiên thực chất được phát hiện tận từ cuối những năm 2010, do một nhóm các nhà khoa học công dân (citizen scientist) tham gia dự án Vườn bách thú Thiên hà (Galaxy Zoo). Trong dự án này, những người nghiệp dư truy cập vào dữ liệu gửi về từ Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số Sloan (SDSS) và giúp giới chuyên gia phân loại các thiên hà mà SDSS chụp được ở bước sóng nhìn thấy. Sau nhiều năm nỗ lực, các nhà nghiên cứu nghiệp dư này đã thống kê được khoảng 300 thiên hà xoắn ốc đỏ khác nhau, đều có khối lượng lớn hơn 10 tỷ lần Mặt trời. Dựa vào thống kê này, Luca Cortese (2012) từ Đài thiên văn phương Nam châu Âu đã tổng hợp thêm dữ liệu ở bước sóng cực tím và bước sóng hồng ngoại, rồi tính toán độ sáng bề mặt (surface brightness) sao cho tác động của bụi được giảm thiểu. Kết quả cho thấy, 255 trong tổng số các thiên hà xoắn ốc đỏ này vẫn còn đang hình thành sao, và thậm chí là ở cùng tốc độ hình thành sao với tất cả các thiên hà xoắn ốc khác trong vũ trụ. Nhận thấy sự tương đồng rõ rệt với các xoắn ốc xanh thông thường, Cortese tìm cách lý giải sắc đỏ của 255 xoắn ốc này bằng cách ước tính thành phần khối lượng của các loại sao trong từng thiên hà. Theo Cortese, có thể màu đỏ là vì sự áp đảo về khối lượng của các sao đỏ đã khiến màu sắc tổng thể của cả thiên hà nghiêng về phía đỏ, ngay cả khi thiên hà vẫn còn đang sinh ra các sao mới vừa xanh vừa mãnh liệt. Cortese kết luận rằng đối với các thiên hà có khối lượng lớn hơn 10 tỷ lần Mặt trời, “màu sắc nhìn thấy không còn là đại diện tốt cho hoạt động hình thành sao hiện đang xảy ra trong thiên hà nữa.” Từ đó, một câu trả lời chính xác hơn cho tiêu đề của bài viết này sẽ là: “Ở thiên hà, màu đỏ chứng tỏ già nua, song nếu thiên hà có khối lượng lớn thì chúng ta không biết chắc được”.  Thiên hà Bóng Ma (Phantom Galaxy), được kính James Webb chụp ở bước sóng hồng ngoại. Ảnh: ESA/Webb, NASA & CSA, J. Lee & the PHANGS-JWST Team.  Vào cùng năm mà phân tích của Luca Cortese được công bố, Christopher Thom và cộng sự (2012) cũng xuất bản một bài viết khác đi ngược với quan niệm chung về thiên hà. Trong nghiên cứu của mình, nhóm Thom phân tích thành phần cấu tạo của 16 thiên hà elip khác nhau bằng một phương pháp rất khôn khéo. Để đo được các nguyên tố hóa học của mỗi thiên hà elip lờ mờ, họ chờ tới lúc thiên hà chen vào giữa kính Hubble và một chuẩn tinh (quasar) rực rỡ ở xa xa, nghĩa là ánh sáng từ chuẩn tinh tới Hubble ắt sẽ đâm xuyên qua thiên hà và bị vật chất của thiên hà này hấp thụ một phần. Một khi Hubble thu được quang phổ của chuẩn tinh này, nhóm nghiên cứu phân tích các vạch hấp thụ trên quang phổ và nhận thấy một lượng lớn hydro trung hòa điện tích đang bao quanh thiên hà elip ở dạng khí nguội (cool gas). Theo nhóm của Thom, vận tốc của chỗ khí này không đủ cao để duy trì quỹ đạo ổn định xung quanh thiên hà elip, nên sớm muộn cũng sẽ bị hút về bên trong thiên hà và tái khởi động quá trình hình thành sao đã bị dập tắt (quenched) từ lâu. Nói cách khác, ngay cả những elip đỏ – các thiên thể thường được đặt ở vị trí cuối đời của một thiên hà – cũng không hề trầm lặng, không hề hết sạch khả năng hình thành những vì sao mới như các nhà thiên văn học thường nghĩ. Câu trả lời cho tiêu đề bài viết giờ đây thực sự dài dòng: “Ở thiên hà, màu đỏ chứng tỏ già nua, song nếu thiên hà có khối lượng lớn thì chúng ta không biết chắc được, và ngay cả những thiên hà già nua nhất chưa kiệt sức sinh sao mà còn có tương lai xán lạn”.  So với số lượng thiên hà mà chúng ta đã thống kê được trong toàn bộ vũ trụ khả kiến, 300 xoắn ốc đỏ hay 16 elip đỏ có tương lai sinh sao cũng chỉ là một bộ phận thiểu số. Tuy nhiên, bản thân sự tồn tại của những thiên thể như vậy cũng gây thách thức đáng kể đối với quan niệm phổ biến rằng đã là một thiên hà thì sẽ mặc định từ xoắn ốc xanh lão hóa thành elip đỏ. Với công hiệu phi thường của chiếc kính James Webb, các nhà thiên văn học sẽ càng có thêm cơ hội phát hiện nhiều trường hợp “phá luật” hơn xưa, và rất có thể minh chứng cho tiềm năng đó nằm ở chính ba vật thể được nhóm của Fudamoto nhận dạng là xoắn ốc đỏ trong bức ảnh công bố hôm 11/7 vừa qua. □  —  Cortese, L. (2012), “Are passive red spirals truly passive? – The current star formation activity of optically red disc galaxies”, Astronomy & Astrophysics 543, pp. A132.  Cox, T.J. and Loeb, A. (2008), “The collision between the Milky Way and Andromeda”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 386(1), pp. 461-474.  Mutch, S.J., Croton, D.J. and Poole, G.B. (2011), “The mid-life crisis of the Milky Way and M31”, The Astrophysical Journal 736(2), pp. 84.  Fudamoto, Y., Inoue, A.K. and Sugahara, Y. (2022), “Red Spiral Galaxies in the Cosmic Noon Unveiled in the First JWST Image”, The Astrophysical Journal, preprint.  Thom, C. et al (2012), “Not dead yet: Cool circumgalactic gas in the halos of early-type galaxies”, The Astrophysical Journal Letters 758(2), pp. L41.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Ô tô điện tốc độ 400 dặm/giờ      Đến nay mới chỉ có chín mẫu ô tô chạy  xăng vượt qua vận tốc 400 dặm/giờ. Tuy vậy có những nhà sáng chế đang  cố gắng thiết kế, chế tạo được loại ô tô chạy điện vượt giới hạn này.    Những người ôm ấp ý tưởng thiết kế chế tạo ô tô chạy điện vận tốc cực cao không phải là các công ty sản xuất ô tô có lực lượng kỹ thuật và tài chính hùng hậu. Đó là những chàng trai trẻ đang còn ngồi trên ghế trường đại học.       R.J. Kromer là một thí dụ. Hồi học năm thứ nhất Đại học Bang Ohio, một hôm khi đang đến trường dự giờ toán, anh chợt bị thu hút bởi tấm biển quảng cáo của một nhóm các nhà kỹ thuật trẻ thiết kế loại ô tô chạy pin nhiên liệu. Kromer lập tức nộp đơn tham gia nhóm này. Ngay sau đó, anh được mời tới Trung tâm nghiên cứu ô tô (Center for Automotive Research, CAR) của nhà trường. Phần lớn nhóm tác giả của mấy loại xe đua chạy bằng nhiên liệu thay thế (alternative-fuel race cars) xê-ri Buckeye Bullet từng lập kỷ lục thế giới đều là những chàng sinh viên mặt búng ra sữa.       Phẩm chất đầu tiên Kromer được kiểm tra là tinh thần phụng sự công việc. Mấy tháng đầu, Kromer chỉ lo thu dọn phòng làm việc, xếp sắp dụng cụ thiết bị, quét dọn nhà xưởng, lau chùi máy móc. Trong quá trình đó, anh mầy mò, học hỏi các bạn cũ, nhờ họ hướng dẫn tìm hiểu các mạch điện, hệ thống điều khiển và nhiều thứ khác. Một thời gian sau, Kromer thấy những thứ mình học được ở đây còn nhiều hơn ở nhà trường. Đến năm thứ hai, anh đã được làm nhiệm vụ kỹ sư điện thay cho một sinh viên trong nhóm đã tốt nghiệp.      Hoàn cảnh tương tự Kromer, trưởng nhóm David Cooke trước kia đang là sinh viên năm thứ nhất cũng ngẫu nhiên tham gia nhóm. Kỹ sư cao cấp Evan Maley trở thành nhân viên của CAR khi đang là một học sinh PTTH.      Điều kiện quan trọng nhất để gia nhập nhóm không hẳn là IQ mà là tính chủ động, chăm chỉ trong công việc. Mọi thành viên đều làm việc không kể thời gian, khi mệt thì lăn ra ngủ ngay trên sàn nhà. Vào những ngày nghỉ cuối tuần, họ không đến vũ trường, quán bar mà say sưa thao tác trên máy phay máy tiện hoặc mải mê đo thử các mạch điều khiển… Năm 2008, CAR thiết kế chế tạo thành công chiếc ô tô chạy pin nhiên liệu hydro đạt vận tốc 286 dặm/giờ. Hai năm sau, họ cải tạo mẫu xe này thành một chiếc xe đua chạy điện đạt vận tốc trên 300 dặm/giờ.       Năm 2010, trên đường thử xe Bonneville Speedway ở ngoại ô Wendover (bang Utah), mẫu xe chạy điện mới của nhóm đạt vận tốc hơn 307 dặm/giờ, một kỷ lục dành cho xe điện, và nhóm hy vọng sẽ chế tạo được mẫu xe vượt giới hạn vận tốc 400 dặm/giờ. Tuy nhiên, để làm được điều này, nhóm sẽ phải giải quyết nhiều thách thức. Chẳng hạn, khi chạy với vận tốc gần 400 dặm/giờ, trở lực khí động học tăng theo cấp số nhân; mô tơ quay trục xe đòi hỏi dòng điện cực lớn, phải tăng số ắc-quy trên xe đồng nghĩa việc tăng trọng lượng xe – điều này mâu thuẫn với yêu cầu cần chạy nhanh. Hơn nữa, khi trục xe quay cực nhanh, lực ly tâm có thể làm cho bánh xe bị nứt toác, dẫn đến tai nạn chết người.       Các loại ô tô chạy điện của CAR hoặc dùng ắc-quy thường, hoặc dùng pin nhiên liệu hydro. Xe Buckeye Bullet 1 từng đạt kỷ lục vận tốc gần 315 dặm/giờ (508 km/giờ); thân xe làm bằng sợi carbon, mô tơ điện xoay chiều ba pha có công suất 300 kW; xe dài 9,4 m, nặng 1.814 kg. Buckeye Bullet2 chạy bằng pin nhiên liệu hydro, tháng 10/2007 đạt kỷ lục hơn 223 dặm/giờ (hơn 359 km/giờ); năm 2008 đạt kỷ lục hơn 286 dặm/giờ (hơn 461 km/giờ); năm 2009 đạt kỷ lục hơn 303 dặm/giờ (hơn 487 km/giờ).      NHH tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Obama tuyên chiến với nạn “phá bĩnh bằng sáng chế”      Tổng thống Barack Obama vừa tuyên bố đã đến lúc phải mạnh tay với “sự phá bĩnh bằng sáng chế” (patent trolling), nhưng làm thế nào để xác định ai là kẻ “phá bĩnh” đây?      Patent Troll – tạm dịch là “phá bĩnh bằng sáng chế” – là tiếng lóng để chỉ một công ty vớ vẩn nào đó thu mua các bằng sáng chế mà Văn phòng cấp bằng Sáng chế và Thương hiệu (USPTO) Hoa Kỳ đã cấp lần đầu tiên cho ai khác chứ không phải cho công ty đó. Sau đó, kẻ phá bĩnh “khẳng định” bản quyền sáng chế bằng cách đe dọa sẽ kiện các doanh nghiệp vi phạm chúng. Đa phần doanh nghiệp bị dọa kiện chấp nhận giải quyết bên ngoài tòa án và phải nộp lệ phí bản quyền khủng đến mức có thể làm doanh nghiệp lụn bại.    Ví dụ, một “kẻ phá bĩnh” chiếm hữu một bằng sáng chế liên quan đến mạng không dây đã gửi thư đến 8.000 quán cà phê, nhà bán lẻ, và khách sạn yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi vì những cơ sở này cung cấp cho khách hàng của họ kết nối mạng không dây Wi-Fi miễn phí. Lại có trường hợp kẻ phá bĩnh yêu cầu các nhà phát triển ứng dụng phải mua giấy phép vì kẻ đó có bằng sáng chế cho việc sử dụng các ứng dụng để mua hàng trực tuyến. Năm 2011, Trường Luật của Đại học Boston ước tính các doanh nghiệp đã phải chi đến 29 tỷ USD để đối phó với những kẻ phá bĩnh bằng sáng chế.    Tuần trước, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã công bố một loạt biện pháp mà ông hy vọng cuối cùng sẽ chấm dứt được nạn “phá bĩnh bằng sáng chế”. Mặc dù việc xác định những kẻ phá bĩnh có thể không dễ dàng chút nào.    Obama tuyên bố, tiền phải dành để chi vào việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và công ăn việc làm. Vì vậy Nhà Trắng đang yêu cầu Quốc hội buộc USPTO trong vòng sáu tháng tới phải thu hẹp phạm vi tác động của bằng sáng chế để mọi lĩnh vực của đời sống không thể bị phá bĩnh nữa. Obama cũng muốn ngăn chặn việc đòi bản quyền sáng chế đối với người sử dụng công nghệ, ví dụ như quán cà phê, mà chỉ được đòi hỏi đối với nhà sản xuất, chế tạo mà thôi. Nhà Trắng cho biết kẻ phá bĩnh phải xưng danh tính rõ ràng, không cho phép che giấu “lạm dụng kiện tụng và khai thác việc thỏa thuận [bên ngoài tòa án]” nấp sau các công ty vỏ bọc.    Alan Schoenbaum, cố vấn pháp luật cho Công ty lưu trữ web Rackspace ở San Antonio, Texas, nhận xét: “Đây là một bước tiến táo bạo của Tổng thống Obama, và nếu những đề nghị lập pháp này được ban hành, một sân chơi công bằng sẽ được thiết lập.” Theo Schoenbaum, điều quan trọng là những thay đổi mà Obama tạo ra phải làm cho kẻ phá bĩnh phải trả giá khi bị thua tại tòa án. Về bản chất, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ không cân bằng. Tại Anh chẳng hạn, người thua kiện bao giờ cũng phải trả tiền. “Điều đó giúp giảm số vụ kiện vớ vẩn xuống mức tối thiểu. Tuy nhiên, ở Mỹ hiếm khi kẻ thua cuộc phải trả tiền.”    Làm thế nào để xác định những kẻ phá bĩnh? Schoenbaum nói: “Nhiều cách lắm, kẻ phá bĩnh không hề phát minh, thực hiện hoặc phát triển bất cứ thứ gì cả. Khoảng từ 70 đến 90% bằng sáng chế của họ liên quan đến phần mềm hoặc phương pháp kinh doanh, và trong hầu hết các trường hợp, bằng sáng chế [bị đem ra làm vì] là phi lý.”    Nhưng Gregory Aharonian ở San Francisco, “một khắc tinh của bằng sáng chế”, người từng bác đi nhiều bằng sáng chế bằng cách chỉ ra sự trùng hợp ý tưởng của chúng với các sáng chế đã có từ trước, lại nghĩ rằng chuyện xác định kẻ phá bĩnh khá phức tạp. “Obama sẽ rất khó khăn để đối phó với vấn đề định nghĩa kẻ phá bĩnh,” ông nói, chủ yếu do một số công ty công nghệ lớn cũng hành xử như kẻ phá bĩnh khi họ nắm giữ những bằng sáng chế quá chung chung hoặc quá chuyên biệt mà họ chưa bao giờ khai thác sử dụng. “Bất cứ ai nắm giữ một bằng sáng chế phi lý, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng là kẻ phá bĩnh.”    Hành động duy nhất để có thể đè bẹp hiện tượng phá bĩnh bằng sáng chế là phải cải thiện đáng kể chất lượng bằng sáng chế, Aharonian phát biểu. “Điều làm mọi người tức tối không phải là mưu mô chiếm giữ bằng sáng chế, mà là những thứ rác rưởi cũng được tuyên bố là sáng chế!”      XH  dịch theo New Scientist       Author                Quản trị        
__label__tiasang Olympic Toán Quốc tế IMO 2007: Từ “đỉnh cao” nhìn lại      Với 3 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, và tổng điểm xếp thứ 3 (cùng điểm với đội tuyển Hàn Quốc, chỉ sau hai cường quốc là Nga và Trung Quốc), chúng ta lại leo lên “đỉnh cao” ngay trên sân nhà, trong một kỳ thi mà số nước tham gia chiếm kỷ lục. Nhưng đây cũng là lúc mà những người “trong cuộc” thở dốc sau chặng đường vất vả, ngoái nhìn lại con đường đã qua, chuẩn bị cho những gì còn đang ở trước mặt.    Ngày 30/7/2007, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình đã long trọng diễn ra lễ bế mạc kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 48. Đây là kỳ thi lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam và là kỳ thi lớn nhất trong lịch sử, các kỳ thi Olympic toán quốc tế, với 95 nước và vùng lãnh thổ tham gia, trong đó có 93 nước gửi học sinh đến tranh tài, với tổng số 520 em, gồm đủ 5 Châu lục.  Có thể khẳng định, cuộc thi đã thành công tốt đẹp về nhiều mặt, chúng ta đã được bạn bè quốc tế đánh giá cao về khả năng chuyên môn, công tác tổ chức và nhất là lòng mến khách.  Tại sao lại là “Olympic”?                   Tên gọi của kỳ thi “International Mathematical Olympiad”  không phải là ngẫu nhiên. Đây đúng là một cuộc thi thể thao, theo tinh thần Olympic. Vì thế, người chiến thắng là người đã thi đấu trung thực, phấn đấu hết khả năng của mình vì màu cờ sắc áo, cho dù họ không nhận được huy chương nào. Trong kỳ thi Olympic toán, yếu tố trung thực càng phải được đặt lên hàng đầu. Điều này được lý giải từ cách chấm điểm của kỳ thi: mỗi em làm bài bằng tiếng mẹ đẻ của mình, nước chủ nhà cùng với trưởng đoàn chấm bài cho thí sinh nước họ thông qua lời dịch của trưởng đoàn. Vì thế, nếu trưởng đoàn không thật sự trung thực thì họ có thể “đánh lừa” khi dịch. Trên thực tế, hầu hết các trưởng đoàn đã thể hiện tinh thần “fair play”. Đơn cử một ví dụ: khi cầm bài làm dài 8 trang của một học sinh Israel, ban chấm thi của ta hết sức bối rối vì không hiểu gì cả. Nếu ông trưởng đoàn Israel dịch giống y như đáp án thì chắc học trò của ông ta đã được điểm tối đa! Vậy nhưng ông ấy nói ngay: “cậu này viết nhiều nhưng không đúng ý nào, chỉ được 0 điểm thôi!” Trong 6 bài thi thì có hai bài khó nhất là bài số 3 và bài số 6. Bài số 6 do Hà Lan đề xuất, vậy nhưng tất cả học sinh của họ đều được 0 điểm, bài số 3 do Nga đề xuất, mà người giỏi nhất trong đoàn họ cũng chỉ đạt 4/7 điểm. Tuy nhiên, cũng không thiếu những ví dụ ngược lại, khi có một số trưởng đoàn có ý định đánh lừa ban chấm thi. Rất may là lần này chúng ta chuẩn bị khá kỹ: trong ban chấm thi của chúng ta có những người thạo các thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Trung Quốc, Nhật, Hungary, và nhờ thêm các phiên dịch tiếng Hàn Quốc, Ba Tư, Ả rập. Điều đó đã góp phần đảm bảo cho việc chấm thi diễn ra công bằng, mặc dù làm “mếch lòng” không ít trưởng đoàn bạn! Cần nói thêm một điều, ngay một số người đã từng là trưởng đoàn Việt Nam tham dự các kỳ Olympic toán cũng có quan niệm: cần “chiến đấu” cho thành tích của học sinh, nghĩa là đôi khi học sinh làm không chính xác mà vẫn dịch ra cho đúng (mà tiếng Việt thì mấy ai hiểu được). Thậm chí họ còn tự hào vì thành tích mang về cho Tổ quốc » thêm huy chương. Quan điểm này thật sai lầm, vì học sinh tự biết là mình làm không đúng, và biết thầy giáo đã không trung thực. Chắc chắn, “mặt trái của tấm huy chương” mà họ nhận được khi đó sẽ ám ảnh suốt cuộc đời họ, và nếu nguy hiểm hơn, họ sẽ nhiễm tính không trung thực ngay từ khi chưa bước vào con đường khoa học. Không có “bệnh thành tích” nào tai hại hơn. Vậy nên, khi tự hào về thành tích của học sinh ở IMO, cần tránh hết sức việc đạt thành tích bằng “mọi giá”. Hơn nữa, thành công của một kỳ thi không chỉ là những tấm huy chương, mà điều quan trọng hơn là kỳ thi phải góp phần thúc đẩy phong trào học toán ở học sinh phổ thông. Đặc biệt, với kỳ thi IMO-2007 tại Việt Nam thì việc giới thiệu với bạn bè 5 Châu về đất nước, con người Việt Nam mới là điều quan trọng nhất.  Nước đến đâu thì nhảy?                   Có nhiều việc mà nếu để nước đến chân thì không thể nhảy kịp nữa. Chẳng hạn như các việc chuyên môn của kỳ thi: ra đề, chấm thi. Để chọn được 6 bài thi chính thức, ban tuyển chọn đề thi phải làm việc trong hơn 2 tháng để ra được một danh sách gồm 30 “ứng cử viên”. Từ các ứng cử viên này, trải qua khoảng 30 cuộc bỏ phiếu, Hội đồng giám khảo quốc tế mới chọn ra được 6 bài thi. Và để có được một ban chấm thi đủ trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, chúng tôi đã phải liên hệ với nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước từ hơn một năm nay. Họ đều là những người bận rộn, nên nếu không có kế hoạch trước ít nhất một năm thì rất khó thu xếp công việc để về tham gia chấm thi. Vì thế, chúng tôi đành làm cái việc “cầm đèn chạy trước ôtô”: khi chưa được Bộ giáo dục và đào tạo giao nhiệm vụ, đã “tự tiện” liên hệ và đề nghị anh em đang ở nước ngoài thu xếp về nước dịp tổ chức IMO 2007. Chúng tôi thực sự gặp may: cái ôtô chạy khá chậm đằng sau nên không đến nỗi bị nó đè chết! Hơn nữa, anh em đang công tác nước ngoài nhiệt tình ngoài sự mong đợi: có 29 bạn thu xếp về tham gia chấm thi, trong đó có nhiều tên tuổi đã rất nổi tiếng: Lê Tự Quốc Thắng, Vũ Hà Văn, Đàm Thanh Sơn, Phùng Hồ Hải, Hà Huy Tài, Phạm Hữu Tiệp… khó mà kể hết. Và dịp tổ chức IMO 2007 là một dịp vui lớn của cộng đồng toán học Việt Nam: chưa bao giờ giới toán học Việt Nam lại tề tựu đông đủ đến vậy, đủ các thế hệ, cả trong nước lẫn ngoài nước. Bạn bè quốc tế đánh giá Ban chấm thi của chúng ta thực sự là mạnh nhất từ trước đến nay, còn nhiều người am hiểu trong nước thì cười vui: ta đã đem dao giết trâu để mổ gà! Cũng có phần đúng, nhưng mấy cái “dao giết gà” của ta, nếu muốn dùng được thì phải có người đứng ra lo tổ chức mài dũa chu đáo. Không biết ai sẽ làm việc đó, khi nước đã đến chân rồi?  Thế nhưng, vẫn còn nhiều việc mà quả thật, nước đến chân vẫn còn chưa nhảy. Ví dụ thì nhiều, khó mà kể hết. Có lẽ những ai dự hoặc xem tường thuật trực tiếp buổi lễ bế mạc IMO 2007, chứng kiến màn trình diễn lộn xộn trên sân khấu thì đều thấy rõ hình như đến khi đó, chúng ta vẫn còn chưa nhảy? Càng giật mình hơn, khi thấy nước chủ nhà IMO 2011 là Ha Lan đã cử một đoàn sang đây, trình bày cả một cuốn sách về công tác chuẩn bị của họ. Mà trình độ tổ chức của họ thì khó có thể nói là thua xa trình độ của chúng ta!  Đến đỉnh rồi, đi đâu?  Một câu hỏi khó, nhất là khi cái “đỉnh” này mới chỉ là một gò đất thôi, phía trước còn bao nhiêu ngọn đồi, bao nhiêu đỉnh cao của khoa học nữa. Nhìn thấy đội ngũ những người chấm thi, những gương mặt “cựu IMO” nay đã thành danh, có thể tin rằng, nếu được đào tạo tốt, được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tài năng thì những mầm non Olympic ngày nay có thể trở thành “cây đa cây đề” của khoa học nước nhà mai sau. Nhưng cũng có phần lo ngại: hầu như tất cả đều trưởng thành nhờ được học tại các đại học nước ngoài, và sau khi học, tiếp tục ở lại làm việc. Đến nỗi, nhiều tờ báo gọi họ là “Việt kiều”, mặc dù từ này có lẽ không thật chính xác. Thật đáng lo ngại, khi hầu hết học sinh tài năng của Việt Nam, nếu muốn trưởng thành về khoa học đều phải trở thành “Việt kiều”. Đây là câu hỏi mà những người hoạch định chính sách cần tìm câu trả lời. Một trong những biện pháp cấp thiết có lẽ là nhà nước phải gấp rút, với quyết tâm thật cao, xây dựng cho được một vài trường đại học đạt trình độ quốc tế, làm mảnh đất gieo mầm những hạt giống tốt đã lựa chọn. Và cần có những chính sách khuyến khích người làm khoa học, đặc biệt những bạn trẻ. Có như vậy họ mới có thể ở lại trong nước mà vẫn trưởng thành. Điều đó có thể là dễ làm hơn rất nhiều so với việc để họ thành “Việt kiều” rồi mới nghĩ các chính sách “thu hút”.  ————  * Phó Trưởng Ban tổ chức IMO-2007, Trưởng ban tuyển chọn đề thi, Chủ tịch Hội đồng Giám khảo quốc tế  Hà Huy Khoái*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Omega-3 giúp tránh suy giảm trí nhớ      Ăn nhiều thực phẩm chứa các acid béo omega-3 – loại chất béo tốt cho cơ thể có rất nhiều trong các loại cá, như cá hồi – có thể giúp bảo vệ người cao tuổi tránh suy giảm trí nhớ và các vấn đề về não, theo một nghiên cứu công bố hôm 28/2 trên tạp chí Neurology.      Từ lâu người ta đã biết rằng ăn cá tốt cho não. Nhưng nghiên cứu mới đây là nghiên cứu đầu tiên chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ omega-3 trong máu và các vấn đề như teo não, mất trí nhớ, suy giảm chức năng nhận thức, và tất cả các vấn đề này đều làm gia tăng nguy cơ bị bệnh Alzheimer cũng như các dạng mất trí khác.   Nghiên cứu mới này thử nghiệm trên 1575 người độ tuổi từ 58 tới 76, tất cả đều được chụp MRI não, thử máu, và nhiều dạng thử nghiệm chức tăng tâm thần. So với những người có nồng độ omega-3 cao nhất, những người đàn ông và đàn bà có nồng độ thấp nhất thường có thể tích não bé hơn, và đạt kết quả kém hơn qua các kỳ kiểm tra thị lực và tư duy trừu tượng,  “Nồng độ omega-3 càng thấp thì kết quả kiểm tra càng kém đi”, nhận xét từ Zaldy Tan, một nhà nghiên cứu về Alzheimer từ trường UCLA, cũng là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu. “Chúng tôi đã tính tới các ảnh hưởng từ tuổi tác, giới tính, học vấn, chỉ số khối lượng cơ thể, thói quen hút thuốc, v.v, nhưng cuối cùng kết quả vẫn chỉ ra mối quan hệ khá rõ ràng”.  Các nghiên cứu trước đây đã tìm ra những mối liên quan tương tự giữa omega-3 và các bệnh tâm thần, nhưng những khảo sát trong đó người tham gia kể lại họ đã ăn những gì trong một tuần hay tháng nào đó thường không thể nào chính xác. Nhưng thử máu thì chắc chắn giúp xác định chính xác hàm lượng chất béo mà cơ thể một ai đó đã hấp thụ.  “Đây là lần đầu tiên chúng ta chứng minh được mối quan hệ, và điều này thật đáng phấn khích”, nhận xét từ BS. Gisele Wolf-Klein, giám đốc giáo dục về tuổi già tại tổ chức North Shore–LIJ Health System ở New Hyde Park, New York, người không tham gia vào đề tài nghiên cứu. “Nghiên cứu này sẽ thúc đẩy nhiều nghiên cứu sâu hơn”.  Não nhỏ chưa chắc là điều đáng lo, vì não vẫn tự nhỏ đi một cách tự nhiên theo tuổi tác. Nhưng qua thử nghiệm cho thấy những người có mức omega-3 thấp nhất thường có kích cỡ não tương đương với những người già hơn họ 2 tuổi, Tan cho biết.  Bên cạnh đó, những người có mức omega-3 thấp thường có lượng chất trắng kết lại trong não cao hơn. Sự cố kết chất trắng này được cho là liên quan tới nguy cơ cao hơn gây mất trí và đột quỵ.  Kết quả nghiên cứu này chưa phải là căn cứ để khiến mọi người mua thật nhiều cá và các thực phẩm chức năng liên quan tới cá – cũng là một nguồn cung cấp omega-3 đáng kể khác. “Sau khi đọc nghiên cứu này, bạn đừng vội chạy ra cửa hàng mua những viên bổ sung omega-3”, Wolf-Klein nói. “Đây chưa phải là một nghiên cứu có tính can thiệp để chúng ta có thể diễn dịch thành những khuyến nghị về y tế”.  Hướng dẫn thực phẩm liên bang của Mỹ khuyên mọi người nên ăn 8 ounce (tương đương 226,8 gram) đồ biển mỗi tuần để giúp phòng ngừa bệnh tim. (Hạt lanh và hạt óc chó cũng là những nguồn cung cấp omega-3 rất tốt). Tan cho rằng chừng đó lượng đồ biển là “tương đối đủ” cho đa số mọi người, nhưng ông cũng lưu ý rằng nghiên cứu chưa xác định nồng độ omega-3 nào trong máu là bình thường, khỏe mạnh.     “Liệu những viên thực phẩm chức năng có tốt cho bạn không? Chúng tôi không rõ. Chúng tôi chưa có đủ cơ sở để khuyến nghị, nên chúng tôi chưa biết như thế nào là tốt”, ông nói. “Nhưng có lẽ cái gì là tốt cho tim thì cũng tốt cho não”.  Lược dịch theo bài của Matt McMillen từ Time:http://healthland. time.com/2012/02/28/omega-3s-may-guard-against-brain-decline/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Omicron ở Kenya vô thưởng vô phạt      Ở Kenya, làn sóng Omicron không hề bùng lên, mặc dù người ta hầu như không có biện pháp phòng chống virus nào đáng kể. Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ đây?      Chỉ có những cái khẩu trang làm người ta nghĩ đến đại dịch corona tại đây. Nhiều người nghĩ omikcon chỉ là một bệnh cúm vô thưởng vô phạt.  Bỗng nhiên mọi người đều bị cúm. Xét nghiệm  Covid-19 ở thủ đô Nairobi của Kenya khá tốn kém. Vả lại nếu kết quả dương tính thì rất lôi thôi, có thể bị cách ly, phải nghỉ việc. Do đó người ta chỉ kêu bị cúm, thế là ổn.  Tại một trong những bệnh viện khá lớn, người ta cũng tiến gần tới sự thật hơn một chút. Đây là nơi tầng lớp trung lưu thành thị đến để khám và điều trị bệnh. Trong phòng chờ nhiều người bị ho, ngủ gà ngủ gật. Một bác sĩ điều trị cho biết trong khoảng thời gian từ giáng sinh đến đêm giao thừa, 70% các xét nghiệm corona đều cho kết quả dương tính. Theo số liệu thống kê chính thức (cần xem xét các số liệu này một cách thận trọng), tỷ lệ dương tính ở thời điểm này là 35%. Omicron đã tràn qua Kenya như một trận cháy rừng, tuy nhiên biến thể omicron không để lại hậu quả kinh hoàng.  Theo một số nhà nghiên cứu, những đợt sóng trước đây cũng ít nghiêm trọng hơn so với ở châu Âu, tuy vậy chúng cũng đủ làm cho hệ thống y tế yếu kém ở nước này điêu đứng. Khi biến thể Delta xuất hiện tràn lan ở Kenya thì tại các bệnh viện các phòng chăm sóc đặc biệt đều chật kín. Ở nhiều nơi, ngay đến oxy cũng khan hiếm.  Bác sỹ Shamsa Ahmed, phụ trách phòng chăm sóc đặc biệt ở bệnh viện  M.P.-Shah, ở  Nairobi cho hay “Từ giữa tháng 12 đã có một số ca phải nhập viện vì covid-19, nhưng hầu như không có ca bị bệnh nặng nào. Tất cả bệnh nhân đều chưa được tiêm chủng chỉ có vài ba người trong số này bị chết“. Nói chung ở Kenya, số ca phải nhập viện điều trị đặc biệt ít hơn nhiều so với các làn sóng trước đó.  Trong khi đó, số ca lây nhiễm đang giảm nhanh chóng như nó từng tăng vọt trước Giáng sinh. Kenya  đã trải qua làn sóng mới mà không bị phong tỏa hay giới nghiêm. Không giống như ở Nam Phi, nơi áp dụng lệnh giới nghiêm. Các quán bar, nhà hàng và câu lạc bộ vẫn mở cửa và luôn đông đúc. Vào thời điểm Giáng sinh, đám đông tụ tập trên các bãi biển của Mombasa. Các chuyến xe liên tỉnh luôn kín chỗ. Virus hoàn toàn không bị ngăn chặn. Vì vậy, hiếm có  gia đình nào mà không có ít nhất một người bị “cúm”.    Ô tô vẫn chật kín hành khách.  Trên văn bản, giấy tờ thì chính phủ Kenya tỏ ra rất cứng rắn. Theo đó, nhiều khu vực của cuộc sống công cộng, như  nhà hàng, siêu thị và giao thông địa phương, chỉ tiếp nhận những người có thẻ tiêm chủng. Các  quy định của chính phủ ở Kenya vào loại nghiêm ngặt nhất thế giới.Tuy nhiên tòa án đã dừng các lệnh này trong khi bộ Y tế kiên quyết đòi giữ nghiêm các quy định trên. Song có lệnh nhưng lệnh không được thi hành!  Viktor, chủ một xe khách nói, “Nếu chỉ những người đã tiêm chủng mới được lên xe thì đào đâu ra hành khách? Chúng tôi tự biết điều gì tốt nhất đối với mình”. Bản thân hành khách cũng chẳng mấy người để ý đến các quy định của nhà nước. Một người nói, “tôi đào đâu ra thẻ tiêm chủng kia chứ?” Ông Viktor cho rằng, “corona chả làm ảnh hưởng gì đến chúng tôi cả” đồng thời cho biết là chưa thấy ai bị bệnh nặng cả. Tóm lại, Corona chỉ là “con ngáo ộp” với người dân Kenya mà thôi.  Cho đến nay, chính quyền cũng không thi hành các biện pháp một cách cứng rắn cho dù hầu như chả ai thực hiện các biện pháp do nhà nước quy định. Kế hoạch tiêm chủng ban đầu đầy tham vọng, tuy nhiên cho đến nay chỉ có 16,5% người lớn đã tiêm chủng đầy đủ. Câu hỏi đặt ra là vì sao tỷ lệ tiêm chủng chỉ đạt rất thấp nhưng tỷ lệ bệnh nhân phải nhập viện cũng không đáng kể? Phải chăng Omicron thực sự vô hại?  Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng tỷ lệ nhiễm virus corona cao đã góp phần giảm nhẹ lây nhiễm ngay cả ở các làn sóng virus trước omicron. Theo một số  nghiên cứu  có tới 70% người dân ở các đô thị đông dân cư như Johannesburg hoặc Nairobi đã bị nhiễm corona, điều này có thể dẫn đến một dạng  miễn dịch cơ bản. Độ tuổi trung bình ở Châu Phi cũng trẻ hơn nhiều so với châu Âu vả lại có thể người dân ở đây đã thường xuyên tiếp xúc với các loại virus tương tự corona.    Ai muốn thì được tiêm chủng bổ sung, vaccine tự chọn  Tuy nhiên, các nhà dịch tễ học cảnh báo không nên lạc quan tếu. Catherine Kyobutungi, phụ trách  Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe và Dân số châu Phi cho biết: “Lúc này chưa có thể nói  đại dịch corona đã kết thúc hay chưa. “Cũng không nên quá lạc quan cho rằng biến thể tiếp theo sẽ nhẹ hơn  và bảo vệ khỏi các bệnh lây  nhiễm trước đó.” Lời khuyên của chuyên gia này là hãy tiếp tục tiêm chủng, tiêm chủng và tiêm chủng.  Tin vui là, hiện tại  ở hầu hết các nước châu Phi không còn tình trạng thiếu vaccine. Rất nhiều vaccine đã có sẵn ở Kenya mà bất cứ ai quan tâm gần đây đều có thể tiêm tăng cường.   Hoài Nam tổng hợp  Nguồn bài và ảnh: Omikron-Variante in Kenia: Die Katastrophe blieb aus – DER SPIEGEL    Author                .        
__label__tiasang  Tác động của Omicron đến quỹ đạo đại dịch      Các đặc điểm sinh học khiến cho biến thể Omicron gây bệnh nhẹ hơn và ít gây tử vong hơn, nhưng lây lan rất nhanh và có nguy cơ làm quá tải hệ thống y tế.    Biến thể Omicron đang lây nhiễm nhanh chóng, phá vỡ kỷ lực số ca nhiễm COVID-19 trên khắp Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Phi và Úc. Do có số lượng lớn người bị nhiễm bệnh hoặc đang phải cách ly, hàng chục nghìn chuyến bay và chuyến tàu đã bị hủy bỏ, nhiều công sở và trường học đóng cửa. Trước đây, nếu số ca nhiễm tăng chóng mặt như hiện nay, gần như theo đồ thị thẳng đứng, thì các nước đã ra các lệnh phong tỏa nghiêm ngặt. Nhưng bây giờ thì khác: Nhiều chính phủ vẫn cho phép mở cửa mọi hoạt động, dựa trên các khuyến nghị rằng vaccine vẫn bảo vệ khỏi bệnh nặng và Omicron là biến thể gây bệnh nhẹ hơn các biến thể trước đây.        Quyết định như vậy là khá mạo hiểm, bởi vì các nhà khoa học vẫn chưa thể dự đoán được tác động của Omicron đến quỹ đạo đại dịch. Dữ liệu ban đầu từ Nam Phi, Đan Mạch và Vương quốc Anh cho thấy biến thể này gây bệnh nhẹ hơn, nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn. Và ngay cả khi Omicrongây bệnh nhẹ, thì số ca nhiễm quá lớn vẫn sẽ làm quá tải các bệnh viện. Tuần trước, tỷ lệ nhập viện do COVID-19 ở Mỹ đã tăng đột biến.    Các nhà virus học, sinh học phân tử và dịch tễ học đang hồi hộp chờ đợi và hy vọng số ca nhiễm sẽ sớm đạt đỉnh và bắt đầu giảm. Họ cũng đang cố gắng tìm hiểu các đặc tính của biến thể mới. Dưới đây là một số vấn đề nghiên cứu chính trong thời điểm này.    Omicron khác với các biến thể trước như thế nào?    Omicron hoạt động rất khác so với các biến thể trước đây. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy Omicron nhân lên trong tế bào phổi kém hiệu quả hơn so với các biến thể khác, và hai nghiên cứu đã xác định nguyên nhân nằm ở cách Omicron xâm nhập vào tế bào người.    SARS-CoV-2 có hai đường xâm nhập vào tế bào. Con đường thứ nhất: sau khi liên kết với ACE2 – một protein thụ thể trên bề mặt tế bào người, protein gai trên bề mặt virus gắn với protein TMPRSS2 trong tế bào người, và các phần tử virus kết hợp trực tiếp với tế bào. Con đường thứ hai: sau khi liên kết với ACE2, virus có thể bị tế bào nuốt vào trong một túi gọi là endosome, sau đó, do protein gai có thể gắn vào các protein cathepsin trong tế bào, virus thoát khỏi túi và đi vào tế bào chất.    Các nghiên cứu ban đầu trong phòng thí nghiệm cho thấy TMPRSS2 không gắn chặt vào protein gai của Omicron như khi gắn vào protein gai của các biến thể khác, cản trở con đường lây nhiễm đầu tiên, trực tiếp hơn. Và trong một bản thảo công bố vào tuần trước, nhà virus học Joe Grove tại Đại học Glasgow và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: dùng chất điều chỉnh hóa học ngăn chặn TMPRSS2 có thể ức chế các pseudovirus, virus “giả”, mang protein gai của các biến thể Alpha hoặc Delta, nhưng không ức chế được pseudovirus mang protein gai của Omicron. Ngược lại, ngăn chặn cathepsin sẽ ức chế các pseudovirus mang gai của Omicron, nhưng không ức chế pseudovirus mang gai của Alpha hoặc Delta. Rõ ràng Omicron có xu hướng lây nhiễm qua đường endosome, theo Grove nói. (Một bản thảo khác của nhà virus học Thomas Peacock tại Đại học Hoàng gia London và các đồng nghiệp cũng chỉ ra những phát hiện tương tự.)    Một số nhà nghiên cứu cho rằng Omicron ít lây nhiễm vào phổi, và do đó gây ra bệnh nhẹ hơn, vì protein TMPRSS2 tồn tại nhiều trong các tế bào ở đường hô hấp dưới, nhưng chưa có nhiều dữ liệu ủng hộ giả thuyết này, theo Peacock. Có thể các tế bào bị nhiễm Omicron ít có khả năng kết hợp với các tế bào lân cận để tạo thành các tế bào lớn hơn, gọi là hợp bào và là nguyên nhân gây ra bệnh nặng.    Vì sao Omicron lây lan nhanh?    Các nhà nghiên cứu quan sát thấy thời gian từ khi tiếp xúc virus đến khi xuất hiện triệu chứng đã rút ngắn, từ khoảng 5 ngày đối với các biến thể trước đây, 4 ngày đối với Delta, và chỉ còn 3 ngày đối với Omicron. Đây có thể là một phần lý do vì sao số ca nhiễm tăng mạnh.    Nguyên nhân cũng có thể nằm ở khả năng né tránh miễn dịch của Omicron. Nghiên cứu về lây nhiễm SARS-CoV-2 trong gần 12.000 hộ gia đình ở Đan Mạch, Frederik Plesner Lyngse tại Đại học Copenhagen và Viện Huyết thanh Statens Đan Mạch cùng các đồng nghiệp phát hiện: trong các hộ gia đình có ca nhiễm Delta, những người chưa tiêm phòng có nguy cơ bị nhiễm bệnh cao gấp đôi so với những người đã tiêm hai mũi. Nhưng trong các hộ gia đình có ca nhiễm Omicron, những người chưa tiêm phòng và hai mũi có nguy cơ nhiễm bệnh gần như ngang nhau. Nghiên cứu đã được đăng dưới dạng bản thảo vào ngày 27/12/2021.    Không có nghĩa là vaccine COVID-19 không còn tác dụng – các dữ liệu khác cho thấy rõ ràng vaccine vẫn giúp ngăn ngừa bệnh nặng. Trong nghiên cứu nói trên, mũi vaccine thứ ba làm giảm một nửa nguy cơ nhiễm Omicron. Thêm nữa, Lyngse lưu ý: Đối với cả hai biến thể, một ca nhiễm chưa được chủng ngừa có nguy cơ lây nhiễm cho các thành viên khác trong gia đình cao hơn 41% so với một ca nhiễm đã tiêm đủ hai mũi.    Nhà dịch tễ học Bill Hanage tại Đại học Harvard T.H. Chan School of Public Health chỉ ra một nguyên nhân khác: Omicron chủ yếu nhân lên ở đường hô hấp trên, do đó dễ phát tán ra không khí xung quanh hơn và dễ gây ra các sự kiện siêu lây nhiễm hơn các biến thể trước đây. Do Omicron gây bệnh nhẹ hơn, nhiều người nhiễm virus nhưng có rất ít triệu chứng, khiến họ dễ lây cho những người xung quanh. Và nếu các giả thuyết này là đúng, các biện pháp cấm tụ tập đông người sẽ rất hiệu quả trong việc ngăn chặn Omicron lây lan, theo Hanage.    Omicron ít gây nhập viện hơn?    Dữ liệu từ Nam Phi, nơi số ca nhiễm đã bắt đầu giảm, cho thấy Omicron chỉ gây ra 1/3 số ca nhập viện so với Delta. Nhưng cần lưu ý: số ca nhiễm ở Nam Phi trước đây rất cao và đã tạo ra mức độ miễn dịch nhất định trong dân số, và dân số nước này tương đối trẻ. Đây đều là các yếu tố có thể hạn chế số ca bệnh nặng.    Dữ liệu ban đầu từ Anh và Đan Mạch cũng cho thấy các ca nhiễm Omicron thường ít nghiêm trọng hơn. Nhưng đây lại là các quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng rất cao; và ở các quốc gia này, Omicron chủ yếu lây lan ở những người trẻ tuổi. Số ca bệnh nặng có thể tăng sau các kỳ nghỉ lễ, khi người dân ở mọi lứa tuổi tiếp xúc với nhau. “Nếu Omicron có khả năng gây bệnh nặng ở các nhóm lớn tuổi, tình hình sẽ tồi tệ hơn hiện nay rất nhiều,” Hanage nói.    Dữ liệu ở Mỹ thì không mấy khả quan, ngày 8/1 có khoảng 120.000 ca nhập viện vì COVID-19, trong khi trước đó một tuần, ngày 1/1, chỉ có khoảng 85.000 ca.    Hơn nữa, có những dấu hiệu cho thấy Omicron có thể gây mất nước do sốt, nôn mửa, tiêu chảy và có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe khác như bệnh tiểu đường. Những ca bệnh như vậy thường không cần đưa vào chăm sóc đặc biệt (ICU), nhưng vẫn làm quá tải các bệnh viện. Maria van Kerkhove, nhà dịch tễ học tại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho biết: “Tôi nghe hết câu chuyện này đến câu chuyện khác về những bệnh viện chật kín, trong khi nhân viên y tế bị nhiễm bệnh và không thể làm tốt công việc của họ”.    Mức độ nghiêm trọng của Omicron ở những người “chưa có miễn dịch” – chưa tiêm chủng và chưa từng nhiễm COVID-19 – vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ. Nhóm này là thiểu số ở hầu hết các quốc gia, nhưng họ cũng có thể chất thêm gánh nặng cho bệnh viện nếu bị bệnh nặng. Số ca tử vong ở Ghana, Bờ Biển Ngà và Madagascar, những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, đang tăng mạnh do số ca nhiễm COVID-19 tăng đột biến.    Omicron có phải là biến thể dáng lo ngại cuối cùng?    Aris Katzourakis, nhà nghiên cứu tiến hóa virus tại Đại học Oxford, cho biết có thể sẽ tiếp tục phát sinh nhiều biến thể giống như Omicron, nhưng với độc lực còn mạnh hơn. Bản thân Omicron chưa chắc đã tiến hóa để gây bệnh nhẹ hơn, Katzourakis lưu ý.    Thậm chí biến thể đáng lo ngại tiếp theo có thể đã xuất hiện. WHO đang theo dõi hai “biến thể cần quan tâm” và ba “biến thể cần theo dõi”, cũng như 30 dòng phụ của Delta.    Nhưng có khả năng Omicron sẽ giúp tạo ra miễn dịch để chống lại các biến thể trong tương lai. Tỷ lệ tiêm phòng và số ca nhiễm tự nhiên đều cao đã khiến hàng triệu người tiếp xúc với protein gai của SARS-CoV-2, tạo ra khả năng miễn dịch. Việc nhiễm Omicron, có protein gai khác biệt, có thể sẽ tăng cường khả năng miễn dịch, theo Hanage. “Tôi cho rằng khả năng miễn dịch hậu Omicron sẽ khá rộng,” Hanage nói, “nhưng cũng chưa thể chắc chắn”.     Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Ôn lại chuyện năm 1900      Năm ấy ở Trung Quốc ngoài việc có một Đảng cách mạng do ông Tôn Trung Sơn lãnh đạo ra, khắp nước này đầy rẫy đàn ông để tóc đuôi sam và đàn bà bó chân. Tháng 4 năm đó, Hội chợ Quốc tế khai mạc trong ánh điện rực sáng ngay cạnh tháp Effel ở Paris. Nhiều nước đua nhau trưng bày các loại máy móc công nghiệp tiên tiến, còn Trung Quốc thì chẳng có quái gì để mang đến triển lãm. Đã lạc hậu thì tất phải ăn đòn. Ngày 14.8.1918, liên quân 8 nước Anh, Nhật, Mỹ, Đức, Nga, Ý, Pháp, Úc chiếm thành Bắc Kinh…    Năm ấy ở Trung Quốc ngoài việc có một Đảng cách mạng do ông Tôn Trung Sơn lãnh đạo ra, khắp nước này đầy rẫy đàn ông để tóc đuôi sam và đàn bà bó chân. Tháng 4 năm đó, Hội chợ Quốc tế khai mạc trong ánh điện rực sáng ngay cạnh tháp Effel ở Paris. Nhiều nước đua nhau trưng bày các loại máy móc công nghiệp tiên tiến, còn Trung Quốc thì chẳng có quái gì để mang đến triển lãm. Đã lạc hậu thì tất phải ăn đòn. Ngày 14.8.1918, liên quân 8 nước Anh, Nhật, Mỹ, Đức, Nga, Ý, Pháp, Úc chiếm thành Bắc Kinh…  99 năm sau, ngày 8.5.1999, lại là Liên quân Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) bắn 5 quả tên lửa vào tòa nhà Đại sứ quán Trung Quốc ở một nước ngoài, nước ta lại một lần nữa bị các liệt cường sỉ nhục. Đương nhiên bấy giờ Trung Quốc trải qua cuộc cách mạng dân chủ mới đã không còn là Trung Quốc hồi đầu thế kỷ nữa rồi, nhưng mãi cho tới năm 1979 chúng ta mới thực sự tìm thấy đạo lý “Phát triển mới là cái quan trọng nhất”- xem ra có muộn một chút. Nếu sau khi dựng nước năm 1949, chúng ta biết dồn sức vào phát triển kinh tế thì Trung Quốc cuối thế kỷ XX sẽ ra sao? Nhưng ta đã làm gì? Người nọ đấu người kia, nội bộ suy thoái kiệt quệ lâu tới 10-20 năm. Đúng vào lúc cuộc “Cách mạng Văn hóa” của Trung Quốc nổi lửa to nhất- năm 1969, toàn dân lại đấu tranh với nhau bằng vũ lực- thì tầu vũ trụ Apolo của Mỹ đổ bộ lên Mặt Trăng.  Cho tới nay, chúng ta vẫn còn thiếu nghiêm túc tự xem xét lịch sử. Mới đây tôi còn thấy một bài báo cao giọng bàn về 4 phát minh lớn của Trung Quốc thời cổ, tác giả đúng là vẫn “ngáy khò khò” trên nền văn minh cổ xưa của Trung Quốc. Tại sao chẳng ai bàn luận gì về nước Mỹ mới dựng nước hơn 200 năm thôi mà đã vượt qua 5000 năm của ta? Sau khi mổ xẻ sâu sắc cái tính xấu căn bản của người Trung Quốc, Lỗ Tấn đẻ ra được nhân vật AQ điển hình cho tâm lý của chúng ta; nhưng cho tới bây giờ lũ AQ vẫn còn nhan nhản khắp nơi. Trong quan chức có, trong giới văn nghệ sĩ cũng có. Hình như nền văn minh cổ của Trung Quốc là một thứ “giường lò xo”, cứ say sưa nằm lên hoặc ngâm nga vài điệu nhạc văn minh cổ đấy thì Trung Quốc có thể lớn mạnh được. Đây là nỗi đau suy thoái lớn nhất của Trung Quốc ngày nay!  Ôn lại cuộc bể dâu trăm năm qua, Trung Quốc ngày nay hy vọng vào các dũng sĩ hăng hái lo toan việc nước, dốc sức vào việc đối ngoại giành quyền lợi cho đất nước, đối nội dám trừng trị bọn quan chức tham nhũng, đồng thời không ngừng tự xét nước mình còn thiếu nhiều cái. Không chỉ nghiêm chỉnh đối ngoại mà đối nội cũng phải tự thấy các vết nhơ của mình. Nếu không trừng trị lũ sâu mọt lớn bé trong các rường cột của nhà nước thì cũng khó mà giữ được giang sơn khỏi bị chúng đục ruỗng. Triều nhà Thanh năm 1900 sở dĩ sụp đổ trước liệt cường, cái đuôi sam cổ hủ chỉ là một nguyên nhân, mà tham nhũng mới là nguyên nhân lớn làm tăng tốc quá trình suy sụp ấy.  Vết xe đổ năm 1900 và vụ tên lửa năm 1999 đáng để mọi người suy ngẫm lắm.  Tùng Duy Hy (nhà văn)  Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ôn nghèo, nhớ khổ      Viện Toán học duy trì không khí làm việc từ thuở ban đầu rất vui vẻ thú vị. Xin nêu một ví dụ.  Một lần cố giáo sư Vũ Quốc Phóng viết lên bảng đen để ở hành lang một bài toán mà mình đang suy nghĩ, giải thưởng là 20 đồng (lúc đó lương tối thiểu khoảng 23 đồng) cho ai giải được. Thế rồi ít hôm sau giáo sư Nguyễn Xuân Tấn đã giải được, nhận giải thưởng và bạn bè được cùng thụ hưởng chầu phở quán cóc Hồ Tây.    Cái đơn giản và giản dị ở Viện Toán học được ảnh hưởng từ giáo sư Lê Văn Thiêm rất nhiều. Tôi còn nhớ khi giáo sư P. Cartier sang giảng bài ở ĐH Bách khoa HN, tôi đi nghe và giờ giải lao, tôi gặp giáo sư P. Cartier lúc đó đang nói chuyện với giáo sư Lê Văn Thiêm, tôi xin phép đưa cho giáo sư P. Cartier bản thảo viết tay bằng giấy đen nhám một mặt. Giáo sư Lê Văn Thiêm ái ngại bảo tôi, “liệu Cartier nó có quan tâm đến cái toán của cậu không”. Liều, vẫn cứ đưa. Hai hôm sau giáo sư Cartieer hẹn đến Viện Toán học làm việc riêng tại Đội Cấn với tôi. Biết tin, giáo sư Lê Văn Thiêm bảo, “ấy chết Viện mình toàn nhà tranh vách đất, có chỗ nào cho cậu tiếp P. Cartier. Thôi cậu lấy phòng viện trưởng của mình mà ngồi làm việc với Cartier nhé”. Tôi thật ái ngại, nhưng rồi cũng vẫn phải lấy phòng đó tiếp khách vì không có lựa chọn nào khác. Sáng ấy giáo sư Lê Văn Thiêm không vào phòng mà để dành phòng cho tôi và giáo sư P. Cartier làm việc cả buổi sáng. Cuối buổi, giáo sư Cartier bảo tôi, “nhưng mà anh có phòng làm việc tốt đấy chứ”. Tôi nói thật là hhông có phòng nào cho tôi cả, đây là phòng của viện trưởng và tôi dẫn giáo sư Cartier đi tham quan “cơ ngơi” Đội Cấn của Viện, toàn nhà tranh vách đất, ở trong nhà nhiều lỗ thủng trên mái tranh, nhìn thấy mây bay trên trời (như lời tả cùa Gs Niels Koblitz trong bài báo nói về Viện Toán học Việt Nam đăng ở The Mathematical Intelligencer). Hào hứng với bản thảo của tôi, giáo sư P. Cartier đã giúp tôi chỉnh sửa và sau này, năm 1982 và 1983 viết thành ba bài đăng trong Comptes Rendus Academie es Science Paris và là loạt công trình được Viện tặng giải thưởng cho nhà khoa học trẻ đầu tiên của Viện.    Trường hè giải tích lồi, lý thuyết điều khiển tại Tam Đảo tháng 7/1983. Nguồn: VTH  Viện Toán học luôn có cơ sở làm việc rất khiêm tốn và chật hẹp. Đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhờ Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên xây lại cơ sở cho Viện Toán. Lúc đó Viện Toán có hai lựa chọn, hoặc là vị trí gần Nhà hát lớn chỗ khách sạn Hinton ngày nay, hoặc trong khuôn viên Trung tâm Khoa học, là Viện Hàm lâm KH&CN Việt Nam ngày nay. Cái khiêm tốn đã khiến Viện Toán họ chọn chỗ ở là ngôi nhà xây hai tầng hình hộp phấn là chỗ ở ngày nay. Sau nhiều lần chỉnh sửa, ngôi nhà đã đẹp đẽ khang trang, nhưng các cán bộ đều ngồi chung trong một phòng. Một lần có cậu post-doc do Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế Abdus Salam (ICTP) gửi đến làm việc với tôi một năm cứ thắc mắc sao là khách mà có phòng một mình còn tôi là trưởng phòng mà cũng không có phòng riêng, hay là có ý ly gián ông ta (ông ta người Thượng Hải). Giải thích mãi ông ta mới hiểu là sự ưu ái của Viện với ông ta. Có lần khác đoàn tham quan của Thái Lan nhất định chụp cái biển ở cửa phòng của tôi, có đến bốn tên người cùng trong một phòng. Họ bảo chưa thấy ở đâu chật như vậy. Bây giờ Viện có thêm nhà mới, có chỗ làm việc đẹp, ai đến cũng suýt xoa chả kém gì ở các Viện cao cấp nước ngoài.   Sinh hoạt khoa học ngày nay, thời Covid, mọi người có thể làm online giao lưu với cả thể giới. Nhớ lại những năm Viện ở Đội Cấn với hội trường nhìn thấy mây bay trên mái nhà, dưới chân nước mưa lõm bõm còn chưa tiêu kịp. Trong bài ở The Mathematical Intelligencer, giáo sư Niels Koblitz đã mô tả cái cảnh seminar như thế cho cả thế giới hiểu là Việt Nam vẫn làm toán, vẫn thảo luận các công trình của V. I.Arnold, Yu. I. Manin, L. Schwartz, … Có cái thú vị là sau những buổi seminar ngâm chân như thế, bụng đói, nếu mà có ai đó hô to “khao” thế là cả seminar kéo nhau đi quán gió Hồ Tây, dù chỉ đủ kinh phí ăn vài cái bánh tôm hay mấy thanh kẹo lạc, nước chè tươi. Nhưng vậy mà vui.   Tiếp khách nước ngoài thời đó là cực nhọc, vì không có tiền. Một lần phòng Tôpô-Hình học chỉ đủ tiền chiêu đãi khách Nhật ở quán bún Quốc Tử Giám. Chúng tôi bảo đưa anh ta đi ăn thịt nai rừng. Khách thú vị hào hứng ra mặt. Chúng tôi mời anh ta tự tay mình vắt chanh vào mắm tôm (giới thiệu cho khách là nước sốt), nhìn thấy bọt sủi lên anh ta sung sướng. Món nai “thịt chó mắm tôm bảy món” được ăn ngon lành và thú vị. Nhưng hai hôm sau, tin đến tai ông Trưởng ban Hợp tác quốc tế Viện Khoa học, tôi là trưởng phòng, bị gọi lên chất vấn và khiển trách sao lại cho khách ăn thịt chó, nhỡ họ đau bụng thì sao. Cũng may là đã hai ngày qua đi, anh ta không sao cả, vẫn hào hứng với món nai rừng ngon thật.  Ông Trưởng ban Hợp tác quốc tế bảo “lần sau các cậu phải làm dự trù kinh phí nhé”. “Vâng, chúng em xin lỗi, nhận khuyết điểm”… “nhưng khách ăn thấy ngon và không sao ạ”. Nói vậy thôi chứ làm gì có kinh phí cho cấp phòng chuyên môn tiếp khách.  Ngày nay, Viện Toán học hằng năm có khoảng 60-70 bài in trên tạp chí ISI và chỉ thưởng những công trình đó. Ngày xưa khác, phương châm là “trăm hoa đua nở”, ai làm được gì cũng quí. Ấy thế nhưng mọi người làm việc rất chuẩn mực. mỗi năm viết vài ba bài là cùng. Có lần có một cố giáo sư viết tám bài trong một năm, bị giáo sư Viện trưởng Hoàng Tụy gọi lên cho một trận. Giáo sư đó phải giải thích là bài nó dồn từ nhiều năm trước gộp lại.  Cái triết lý của ngày xưa viết bài là khi làm xong trọn vẹn một vấn đề dù to dù nhỏ. Ngày nay khác, do áp lực “đếm bài ăn tiền” nên có nhiều bài bị nhiều người cắt xé thành nhiều bài, miễn là đăng được.   Thật là tự hào được là thành viên làm việc ở Viện Toán học 40 năm và bây giờ nhìn thấy Viện ngày càng khang trang, ngày càng được nâng lên tầm cao mới. □    Author                Đỗ Ngọc Diệp        
__label__tiasang Ong bắp cày giấy đánh mất khả năng nhận diện khuôn mặt khi sống đơn độc      Nếu như cách ly xã hội trong đại dịch Covid-19 khiến con người phải đối mặt với nhiều thách thức, thì nghiên cứu mới “Age and Social Experience Induced Plasticity Across Brain Regions of the Paper Wasp Polistes fuscatus”, công bố trên tạp chí Biology Letters cho thấy, lối sống đơn độc cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến bộ não của một loài côn trùng xã hội: ong bắp cày giấy.    Ong bắp cày giấy (Polistes fuscatus) là loài sở hữu khả năng nhân diện và ghi nhớ được những khuôn mặt rực rỡ màu sắc của những con ong đồng loại. Khả năng này cũng tương tự với động vật linh trưởng và con người, tuy nhiên lại không giống với các loài côn trùng xã hội khác. Khi những con ong bắp cày trưởng thành sống đơn độc, vùng thị giác trong bộ não của chúng – đặc biệt là các vùng liên quan đến việc nhận dạng các màu sắc và hình dạng khác nhau – sẽ nhỏ hơn và ít phát triển hơn so với những con ong bắp cày sống cùng đồng loại.  “Ong bắp cày phù hợp với nghiên cứu do có bộ não côn trùng đơn giản, cung cấp một hệ thống giúp hiểu về cách thức hoạt động của mạng thần kinh và cách các tương tác xã hội định hình bộ não”, Michael Sheehan, trợ lý giáo sư tại Khoa Sinh học Thần kinh và Hành vi tại Trường Nông nghiệp và Khoa học Đời sống, cho biết.  Những con ong bắp cày giấy sống trong những bầy đàn nhỏ hơn (có vài trăm cá thể) so với bầy đàn ong mật (khoảng hàng chục nghìn con). Không giống như những tổ ong mật chỉ có duy nhất một ong chúa, ong bắp cày giấy có thể có cùng lúc nhiều ong chúa khác nhau. Khi bắt đầu làm tổ vào mỗi mùa xuân, những con ong chúa tương lai có thể tạo thành các nhóm nhỏ để cùng hợp tác lao động. Tuy nhiên, trong các bầy đàn này vẫn có thứ bậc xã hội và sự ganh đua. Trong đó, con ong chúa thống trị sẽ độc quyền đẻ trứng còn những con ong chúa cấp dưới sẽ làm hầu hết các công việc khác. Những con ong cấp thấp hơn này cũng có thể sẽ rời khỏi tổ để gia nhập một tổ mới hoặc tự xây dựng một bầy đàn riêng nếu chúng cảm thấy cách sắp xếp công việc không công bằng.  Nghiên cứu trước đây của Sheehan đã cho thấy, ong bắp cày có thể nhận diện khuôn mặt cũng như các hình khối hoa văn màu sắc tốt và nhanh như thế nào. Một nghiên cứu khác gần đây của ĐH Michigan cũng chỉ ra, chúng sẽ đánh mất khả năng trên khi được nuôi một cách biệt lập, trái ngược với khi được nuôi trong tổ.  Nhưng trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã đánh giá sâu hơn tác động của quá trình trưởng thành và các trải nghiệm xã hội đối với sự phát triển bộ não của ong bắp cày, trong đó tập trung vào các vùng liên quan đến xử lý thông tin khứu giác và thị giác do ong bắp cày giấy cũng có thể nhận diện các cá thể khác nhau thông qua mùi hương hay phương thức giao tiếp hóa học (chemical communication).  Khi những con ong bắp cày mới sinh chui ra khỏi kén, các nhà khoa học tiến hành tách chúng ra khỏi đàn của mình. Một số con được nuôi biệt lập trong các hộp chứa, còn một số con khác cũng được nuôi trong các hộp tương tự nhưng sống cùng với những con ong đồng loại. Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra bộ não của những con ong bắp cày non này để có cơ sở đánh giá, trước khi chúng có bất kỳ trải nghiệm trưởng thành nào.  Sau hai tháng, họ tiến hành đánh giá bộ não của chúng khi đã trưởng thành. Kết quả cho thấy, bất kể những con ong này có trải nghiệm xã hội như thế nào, bộ não của chúng cũng đều tăng khối lượng khi chúng trưởng thành, một điều thường thấy ở các loài côn trùng. Thêm vào đó, mặc dù khối lượng của vùng khứu giác không thay đổi, song các nhà khoa học phát hiện ra một vùng liên quan đến quá trình xử lý màu sắc thị giác là củ não thị giác phía trước (anterior optic tubercle), đã phát triển theo hướng trở thành một vùng xử lý cao hơn có tên là thể cuống (mushroom body) – gần giống như vỏ não ở côn trùng.  Jernigan nhận định, nghiên cứu này đã mở đường cho các nghiên cứu sâu hơn về vai trò cụ thể của vùng thị giác đối với ong bắp cày giấy, cũng như so sánh với các mạch não đáp ứng xã hội ở động vật linh trưởng.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-social-wasps-recognition-abilities-isolation.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông cả patent      Là đơn vị nghiên cứu vươn lên trong bối cảnh nền khoa học cơ bản trong nước còn bộn bề khó khăn, nhưng Khoa Hóa học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) đã trở thành địa chỉ đào tạo, nghiên cứu khoa học có uy tín, được giới khoa học đặt biệt danh là “ông cả patent” trong trường đại học.      Những bứt phá “lãng mạn”  35 sinh viên đầu tiên theo học chương trình Hóa tiên tiến, một trong 9 chương trình đào tạo tiên tiến được Bộ GD & ĐT chọn thí điểm, đã bảo vệ xuất sắc khóa luận tốt nghiệp bằng tiếng Anh. Đây được xem là bước đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế của ngành hoá học.  Với chương trình này, sinh viên được “nhúng” trong môi trường học tập và nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế. Ngay sau khi tốt nghiệp, nhiều em đã được các trường đại học danh tiếng của Mỹ, Pháp, Nhật, Hàn Quốc cấp học bổng làm tiến sĩ. Ngoài ra, trong quá trình học, mặc dù chưa tốt nghiệp nhưng nhiều sinh viên đã được nhận vào làm ở các công ty nước ngoài. Với chất lượng đào tạo như vậy, sinh viên sau khi ra trường sẽ có đủ trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc và vốn tiếng Anh tốt để có thể làm việc ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Niềm vui được hiện lên trên khuôn mặt của PGS.TS Lưu Văn Bôi – Chủ nhiệm Khoa Hóa khi ông “khoe” về thành quả ban đầu này.  Khoa Hóa học là một trong hai khoa thí điểm triển khai đào tạo chương trình tiên tiến của ĐHQGHN, thầy Chủ nhiệm khoa nhận định, đây là một bứt phá “lãng mạn” trong lộ trình hội nhập quốc tế. “Khi mới bắt đầu triển khai chương trình, toàn khoa đang phải tập trung nâng cao chất lượng đào tạo nội địa, chưa có kinh nghiệm đào tạo trình độ quốc tế. Khó khăn lớn nhất là trình độ tiếng Anh của phần lớn cán bộ, giảng viên khi đó chỉ đủ dùng để… đọc tài liệu.”, PGS.TS Lưu Văn Bôi cho biết.           Khoa Hóa có cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, làm khoa học cơ bản tốt mới tạo ra được công nghệ cao và muốn phát triển công nghệ ứng dụng phải có đội ngũ khoa học cơ bản giỏi. Tuy nhiên, các nhà khoa học, đặc biệt là đội ngũ nghiên cứu cơ bản, còn thiệt thòi nhiều và hầu hết làm việc vì say mê và luôn cảm thấy“nợ” đất nước một điều gì đó.                                                        PGS.TS Lưu Văn Bôi           Một trong những thành công lớn nhất của chương trình này là đã nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên để đảm nhận đào tạo, giảng dạy chương trình tiên tiến ngành hóa học và sẵn sàng mở rộng cho các ngành khác. “Hiện tại, 70% các chương trình Hóa tiên tiến của chúng tôi đều do cán bộ giảng dạy của Khoa đảm nhận”, PGS.TS Lưu Văn Bôi tiết lộ.  Nói về yếu tố để đạt được những thành tựu trong việc đào tạo chất lượng cao, thầy Chủ nhiệm Khoa cho biết, bên cạnh việc tiếp cận chương trình học của những đại học uy tín của nước ngoài, gần 100% sinh viên được tham gia nghiên cứu khoa học, những sinh viên trong chương trình đào tạo tiên tiến thì được tham gia nghiên cứu khoa học ngay từ năm đầu. Ông cho rằng, điều này rất quan trọng đối với các ngành khoa học thực nghiệm như Hóa học. “Ở một số trường khác, sinh viên muốn làm nghiên cứu khoa học hay khóa luận phải đóng tiền. Nhưng sinh viên của chúng tôi được miễn phí hoàn toàn và phần lớn kinh phí này được trích từ đề tài của các thầy cô”, PGS.TS Lưu Văn Bôi nói.  Ngoài chương trình đào tạo tiên tiến bằng tiếng Anh,  Khoa đang triển khai chương trình đào tạo bằng tiếng Pháp. Và bên cạnh chương trình Hóa tiên tiến, Khoa Hóa cũng đang thực hiện 4 chương trình đào tạo sau ĐH theo trình độ quốc tế, trong đó có 2 chương trình thuộc nhiệm vụ chiến lược của ĐHQGHN là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ chuyên ngành “Hóa học hữu cơ – Hóa dược”.   …Và “nhà vô địch” patent  Ngày đầu thành lập (1956), cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu thiếu thốn trăm bề, đội ngũ cán bộ chỉ vỏn vẹn 5 cán bộ giảng dạy và 7 kỹ thuật viên. Đến nay, Khoa đã có một đội ngũ cán bộ hùng hậu gồm các giáo sư, chuyên gia đầu ngành về Hóa học với các nhóm nghiên cứu mũi nhọn: Hóa lý lý thuyết và ứng dụng, Điện hóa và ăn mòn kim loại, Hóa lý các hợp chất cao phân tử và Hóa keo, Động học xúc tác và ứng dụng và Vật liệu công nghệ cao. Cùng với đó, Khoa có một hệ thống phòng thí nghiệm nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh với những thiết bị đồng bộ và hiện đại.   Trước đây, các cán bộ của Khoa triển khai tới gần 40 hướng nghiên cứu nhưng chất lượng chưa cao, theo PGS.TS Lưu Văn Bôi, nhiều hướng nghiên cứu sẽ không tập trung, làm cho lực lượng nghiên cứu phân tán, ảnh hưởng đến chất lượng. Do vậy, hiện tại, Khoa chỉ tập trung vào 4 hướng nghiên cứu mũi nhọn bao gồm: khoa học và công nghệ vật liệu mới, hóa học tính toán, hóa học các hợp chất hoạt tính sinh học và hóa dược, bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng tái tạo đảm bảo an ninh năng lượng và giảm thiểu biến đổi khí hậu.  Chỉ tính từ năm 2007 đến nay, Khoa Hóa đã thực hiện 9 đề tài, nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước, trong đó có những đề tài đã chuyển giao vào thực tiễn, đoạt Huy chương Vàng Chợ công nghệ thiết bị (Techmart) như: màng lọc máu để chạy thận nhân tạo đã chuyển giao cho bệnh viện Bạch Mai; gốm chịu lực và gốm kháng khuẩn chuyển giao cho công ty gốm Mỹ Đức; công nghệ xử lý asen trong nước sinh hoạt. Hằng năm, các nhà khoa học của Khoa công bố hơn 100 công trình nghiên cứu trên các tạp chí trong nước và quốc tế, chủ trì thực hiện hàng chục đề tài nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng công nghệ. Đây là một con số đáng nể đối với một cơ sở đào tạo cấp khoa. Bên cạnh đó, các nhà khoa học của Khoa rất tích cực trong các hoạt động học thuật, tham gia tổ chức và chủ trì nhiều hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế.  Theo nhận định PGS.TS Lưu Văn Bôi, Khoa Hóa là một trong những khoa có nhiều patent (sáng chế) nhất trong các trường đại học cả nước với hơn 22 patent. Trong số đó, có những sáng chế có đóng góp quan trọng cho xã hội như tách chất làm thuốc chống ung thư từ củ sâm hay công trình nghiên cứu hợp tác với các nhà khoa học Nhật Bản tạo công nghệ sạch đồng dung môi với độ chuyển hóa vượt trội so với tiêu chuẩn quốc tế và thời gian chuyển hóa rút ngắn hơn 10 lần. “Hiện tại, công nghệ này đã được hoàn chỉnh cả về quy trình và thiết bị, sẵn sàng chuyển giao cho các cơ sở và địa phương có nhu cầu phát triển nhiên liệu Biodiesel (BDF) ở mọi quy mô”, PGS.TS Lưu Văn Bôi cho biết. Quả không ngoa khi giới khoa học đặt biệt danh cho Khoa Hóa là “ông cả patent” trong trường đại học.  Có bột mới gột nên hồ  Trong khi các ngành khoa học cơ bản khác đang phải đối mặt với sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu kế cận thì thành quả lớn nhất mà Khoa Hóa đạt được chính là đào tạo ra một đội ngũ các nhà khoa học kế cận có chất lượng. “Ngay cả trong các chương trình nghiên cứu hợp tác quốc tế, mặc dù kết quả vật chất còn hạn chế, nhưng thành quả vô hình mà chúng tôi thu được chính là ở việc đội ngũ cán bộ được trưởng thành, học tập được kinh nghiệm quốc tế”, PGS.TS Lưu Văn Bôi nói.  Một trong những cách để giữ chân các nhà khoa học trẻ, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất để họ phát huy hết năng lực được thầy Chủ nhiệm bật mí là hầu hết những cán bộ mới ra trường đều được ưu tiên chủ trì các đề tài cấp cơ sở và cấp ĐHQGHN. Đây được xem là một điều hiếm thấy trong các trường đại học. Điều này vừa giúp các giảng viên, nghiên cứu trẻ được trải nghiệm, cọ xát thực tế vừa giúp họ tích lũy những “tiêu chí cứng” để phấn đấu lên các vị trí học thuật cao. PGS.TS Lưu Văn Bôi phấn khởi cho biết, năm nay, lần đầu tiên Khoa Hóa sẽ có PGS ở tuổi 32.  Khuôn mặt chất chứa niềm vui bỗng thoáng nét trầm ngâm khi người thầy đã đầy lục tuần ngẫm về cuộc đời khoa học của mình và tương lai thế hệ kế cận. “Khoa Hóa chú trọng cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, làm khoa học cơ bản tốt mới tạo ra được công nghệ cao và muốn phát triển công nghệ ứng dụng phải có đội ngũ khoa học cơ bản giỏi. Tuy nhiên, các nhà khoa học, đặc biệt là đội ngũ nghiên cứu cơ bản, còn thiệt thòi nhiều nhưng hầu hết làm việc vì say mê và luôn cảm thấy “nợ” đất nước một điều gì đó”, PGS.TS Lưu Văn Bôi trải lòng. Theo ông, cần thiết phải có chế độ khen thưởng, chính sách cụ thể khích lệ kịp thời các nhà khoa học, nhất là những nhà khoa học trẻ. Bài toán ở đây là “có bột mới gột nên hồ”. Bên cạnh đó, việc quản lý đề tài cần minh bạch, chặt chẽ dựa trên tiêu chí sản phẩm khoa học đầu ra. Là người cả đời gắn bó với khoa học, ông không khỏi chạnh lòng khi nhiều hội đồng khoa học lập ra không phải để thẩm định mà là để… “hỗ trợ” các nhà khoa học. Do đó không đảm bảo được chất lượng công trình nghiên cứu.  Chia tay thầy Chủ nhiệm Khoa, tôi nhận thấy trong mắt ông ánh lên niềm lạc quan về tương lai của một ngành khoa học cơ bản. Xin kết lại câu nói của một nhà báo: “Quá trình chất lượng cao và quốc tế hóa đang diễn ra ở ĐHQGHN phải chăng đã là một phần cho câu hỏi lớn – “món nợ lớn” của giáo dục đại học Việt Nam, rằng “Chúng ta đang ở đâu và cần phải làm thế nào…?”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ong nghệ đục lỗ trên lá để cây ra hoa sớm      Các nhà nghiên cứu tại ETH Zürich đã phát hiện ra cách ong nghệ gặm lỗ trên lá cây để thúc đẩy cây nở hoa nhanh, để có nhiều phấn hoa sớm hơn vài tuần so với tự nhiên.    Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ETH Zürich đã tình cờ phát hiện ra điều này khi họ nhìn thấy những vết cắn thử trên lá trong lúc nghiên cứu cách thức loài ong phản ứng với mùi hương của thực vật. Họ thả những con ong nghệ vào nhà kính và quan sát chúng cắt những lỗ có dạng nửa vầng trăng trên lá. Các nhà nghiên cứu tự hỏi, chuyện gì đang xảy ra vậy?   Lúc đầu, họ nghĩ rằng loài côn trùng này có thể ăn chất lỏng tiết ra từ lá cây. Nhưng những con ong không dừng đủ lâu để lấy được nhiều chất lỏng, mà có vẻ chúng cũng không mang các mẩu lá về tổ.   Sau đó, những quan sát sâu hơn chỉ ra một mục đích khác. Họ thấy rằng ong nghệ ở những tổ có ít thức ăn thường hăng hái đục lá hơn. Các nhà nghiên cứu tự hỏi liệu điều này có kích hoạt cây ra hoa sớm hơn để cung cấp phấn hoa cho những loài thụ phấn đang đói bụng? Thực tế một số cây cũng thường ra hoa nhanh hơn khi bị căng thẳng do bệnh tật hoặc hạn hán – những mối đe dọa khiến cây cối có động lực sinh sản sớm hơn. Tuy nhiên, chưa từng có ai chỉ ra rằng một loài thụ phấn có thể kích thích cây ra hoa. “Tôi nghĩ nó là một phỏng đoán mạo hiểm nhưng có thể thành công”, nhà sinh vật học tiến hóa Mark Mescher tại Viện ETH Zürich, người đồng dẫn dắt nghiên cứu cho biết.   Nhóm nghiên cứu đã thiết lập một thí nghiệm nhà kính với cây mù tạt đen (Brassica nigra). Mười cây mù tạt được đặt trong túi lưới có ong nghệ chưa ăn phấn hoa trong 3 ngày. Những con ong đã gặm 5-10 lá trên mỗi cây. Theo kết quả công bố trên tạp chí Science, trung bình những cây đó đã ra hoa sau 17 ngày, trong khi những cây không bị tổn thương vì không tiếp xúc với ong nghệ phải mất 33 ngày mới ra hoa.   Cơn đói dường như là động lực thúc đẩy loài ong. Khi các nhà nghiên cứu đặt chậu cây và tổ ong lên mái nhà tại khuôn viên Viện ETH Zürich vào đầu mùa xuân trước khi hoa nở, ong nghệ đã cắt lỗ trên lá. Tuy nhiên khi mùa xuân đến, phấn hoa sẵn có hơn, ong nghệ cũng tạo ra ít lỗ hơn.   Để tìm hiểu xem liệu việc làm tổn hại lá có làm cây ra hoa sớm hơn không, các nhà nghiên cứu đã cắt những lỗ có kích thước tương tự trên lá. Những cây này mặc dù ra hoa sớm hơn so với nhóm kiểm soát, nhưng không sớm như những cây bị ong gặm. Nhà sinh thái học hành vi Lars Chittka tại Đại học Queen Mary, London, người không tham gia vào nghiên cứu này, cho rằng có khả năng là nước bọt của ong có thể chứa các loại hóa chất thúc đẩy nở hoa, tương tự như hóa chất trong nước bọt của các loài côn trùng ăn thực vật để kích thích phản ứng phòng thủ của cây. Các nhà nghiên cứu của Viện ETH Zürich hi vọng có thể xem xét ý tưởng này và nghiên cứu những tín hiệu hóa học bên trong cây sau khi chúng bị cắn. “Nếu chúng ta tìm thấy một vài chất sinh hóa có thể đẩy nhanh tốc độ ra hoa thì đây thực sự là giấc mơ thúc hoa ra sớm với chi phí rẻ cho những người làm vườn”, TS. Chittka nhận xét.  Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu rõ về bản chất hành vi này. Khó có khả năng là ong thợ học được mẹo đó vì chúng chỉ sống được trong vòng 1 tháng và không có đủ thời gian xem xét thành quả công việc của mình. Nếu hành vi đó là bản năng, thì chúng ta vẫn chưa thể hiểu được hành vi đó bắt đầu như thế nào. Chẳng hạn, lợi ích ban đầu của con ong là gì khi nó cắn lá cây? Rốt cuộc, để giúp tổ của mình (chứ không phải những tổ ong ở xa khác), ong sẽ cần phải cắn những lá cây gần nhà. “Bằng cách nào đó, tất cả những điều này đã xảy ra thông qua quá trình tiến hóa thử – sai. Thật đáng ngạc nhiên.” TS. Chittka nhận xét. Ông cũng nói thêm rằng chúng ta mới chỉ ở bước đầu khám phá hiện tượng. Còn rất nhiều câu hỏi cụ thể về chiến lược này của loài ong cũng như cách thức tiến hóa của nó vẫn cần được giải đáp. □  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/05/hungry-bumblebees-make-plants-flower-early-cutting-holes-their-leaves    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ông trở về      Ông đã trở về với bùn lầy, lau sậy, và những rừng già nóng ẩm của Việt Nam.  Ông trở về nước, như một nghịch lý, lại như định mệnh. Có giàu sang như ở Pháp, ở Đức thì đó cũng chẳng phải là quê hương ông.      Chỉ trong nháy mắt, ông quyết định ngay việc trở về với một lời thưa “Dạ!”.  Ông rời nước ra đi năm xưa chí tại trời cao khoa học. Và ông đã trở thành một con đại bàng của thế giới công nghệ thời Thế chiến thứ Hai.  Cuối những năm 20, ông đã nghiên cứu những sản phẩm bứt mạnh khỏi sức hút của trái đất. Ông là kỹ sư trong ngành chế tạo máy bay của nước Đức. Những chiếc máy bay cường kích Messerschmitt từng gầm thét trên khắp các bầu trời châu Âu. Bom bay V1, V2 cũng nằm trong sự thách thức trí tuệ của ông.  Nước Đức của Hitler bại trận. Nước Pháp giang tay rước ông về Paris, vào ngành hàng không của Pháp.  Như duyên nợ ba sinh, năm 1946 Cụ Hồ sang Paris và gặp ông.  Chú về cùng tôi giúp dân, giúp nước nhé!  Dạ!  Tiếng “dạ” của Nam bộ ấy, nhẹ nhàng, thân thiết, cẩn trọng.  Và ông xếp vali, chào Paris, thành phố nhiều ánh sáng cùng những nẻo khuất tối. Tôi mường tượng ông đã thản nhiên vứt cuốn sổ lương qua cửa sổ, thả nó trôi luôn theo dòng sông Seine. Lương ông lúc bấy giờ là một khoản tiền rất lớn, so với mức sống của tất cả mọi người dân nhân Pháp. Chính phủ Pháp đã mua tài năng của ông với cái giá 10.000 USD/tháng (5.500 Franc) lúc bấy giờ tương đương với 22 lạng vàng.  Ông là người si mê khoa học. Si mê đến thế thì có thể quên tất cả sự đời. Nhưng ông là ông. Ngồi trong cái phòng thí nghiệm hiện đại của Paris, đáy lòng ông vẫn còn xanh cây lúa dưới chân bùn, và dìu dặt những Lý con sáo, Lý quạ kêu…  Được đánh giá như một ông hoàng của khoa học kỹ thuật mũi nhọn, nước Pháp khôn khéo nào có bao giờ dám động nhẹ đến cái nguồn gốc “An-nam” dân thuộc địa của ông đâu.  Nhưng Cụ Hồ đã gặp ông, ông đã gặp Cụ Hồ. Thế là hết cho thực dân Pháp.  “Dạ!”, và ông thu xếp vali. Một vali đầy ứ sách. Và mấy tấn sách khoa học còn lại, ông đóng gòm gửi ngay trên chiếc chiến hạm Dumont Durville của hải quân Pháp. Chiếc Dumont Durville ấy sẽ đưa Cụ Hồ (và ông) từ Pháp trở về cái nước An-nam có tên mới: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Chính quyền pháp, hải quan Pháp, tình báo pháp không lạ gì cái khối sách ông đóng thùng đưa xuống khoang tàu chiến ấy. Nhưng vào thời bấy giờ, theo kế hoạch chiến lược của nhiều tướng tài nước Pháp, việc đánh chiếm Việt Nam cũng chỉ cần một đến hai năm. Vì vậy, chắc có quan chức Pháp nghĩ rằng: khối sách khoa học đó có đưa về Hà Nội, thì chẳng mấy chốc cũng sẽ chuyển vào cái thư viện mà Pháp lập lại ở Đông Dương thôi. Đằng nào cũng chỉ mất một công chuyên chở.  Ai hay, tất cả khối trí tuệ phương Tây in thành chữ nghĩa đó đã theo ông lên rừng Việt Bắc, chiến khu của kháng chiến Việt Nam.  Vào rừng, ăn cơm với măng, ông đã chiêu tập môn sinh đi thu nhập gang vụn, sắt vụn đi cưa bom lấy thuốc. Ông giảng sách cho môn sinh học. Việt Nam phải có cách đánh của Việt Nam. Việt Nam cần có vũ khí hợp hoàn cảnh Việt Nam.  Thế là Bazooka, SKZ… Trần Đại Nghĩa ra đời. Những lô cốt của phòng tuyến thực dân nổ tung.  Ông có lẽ là người trí thức Việt Nam duy nhất mà khi còn sống, đã được Cụ Hồ viết bài báo khen đến cái chí, cái tâm cùng với sự nghiệp anh hùng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ống xả xe máy thân thiện môi trường      Ý tưởng từ một chuyến đi  Một lần đi công tác Ấn Độ liên quan đến đề tài vật liệu từ, trong lúc thăm quan phòng thí nghiệm, PGS TSKH. Nguyễn Văn Vượng đã nhìn thấy một bộ xương gốm cấu trúc tổ ong được trưng bày    Ông cảm thấy rất thú vị tự hỏi làm thế nào để chế tạo ra nó và được dùng vào mục đích gì? Chắc chắn đó không phải là công nghệ chọc lỗ truyền thống mà phải được chế tạo theo một công nghệ đặc biệt nào đó. Các nhà khoa học Ấn Độ rất tự hào coi đây là một bí quyết công nghệ mà chưa muốn trao đổi. Ngay lúc đó ông đã ý thức được vai trò và tác dụng to lớn của sản phẩm này trong phát triển và ứng dụng vật liệu xúc tác, bởi vật liệu xúc tác dưới dạng bột không có chất mang sẽ không phát huy tác dụng. Cách đây 7 năm, vấn đề môi trường được đặt ra và ngày càng trở nên cấp thiết. Ý tưởng có một bộ xúc tác cấu trúc tổ ong đặt trong ống xả xe máy để xử lý khí thải được hình thành.   Giải pháp công nghệ  Để sau này có thể sản xuất lớn, TS. Vượng hiểu rằng phải dùng công nghệ đùn để chế tạo các bộ xương gốm cấu trúc tổ ong. Và như vậy, bí quyết chính là ở chỗ chế tạo được khuôn đùn. Sau hơn nửa năm suy nghĩ, đến cuối năm 2002, ý tưởng làm khuôn đùn đã hình thành. Đầu năm 2003, nhân dịp chuyến công tác ở Nhật, tận dụng xưởng cơ khí với các thiết bị chính xác điều khiển bằng máy tính, TS. Vượng đã làm ra được chiếc khuôn đùn đầu tiên.  Để kiểm tra ý tưởng chế tạo, ông đã tự mua một máy đùn con, tìm kiếm nguyên vật liệu đùn thử. Một cục xương gốm cấu trúc tổ ong nhỏ bé đầu tiên ra đời. Điều này minh chứng ý tưởng hoàn toàn đúng.                Ống bô có lắp bộ xương gốm        Trở về nước, ông cùng các cộng sự của Phân Viện Vật liệu quý hiếm thuộc Viện Khoa học Vật liệu , Viện KHCN Việt Nam (Viện KHCNVN) đã đăng ký đề tài “Công nghệ chế tạo hệ xúc tác lọc khí thải trên nền xương gốm cấu trúc tổ ong để sử dụng trong ống xả xe máy” trong 2 năm tại Viện KHCN. Có kinh phí, tập thể đề tài đã thành công chế tạo các bộ xương gốm, chế tạo vật liệu xúc tác kích thước nanomét, công nghệ tẩm vật liệu xúc tác lên xương gốm, bố trí thích hợp bộ xúc tác trong ống xả xe máy, thử nghiệm, đo đạc và cuối cùng đã cho ra đời ống xả xe máy thân thiện môi trường.   Tiềm năng  Mật độ xe máy của các nước khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không loại trừ là lớn nhất so với thế giới. Do vậy, ô nhiễm môi trường không khí do khí thải xe máy hiện là một vấn đề bức súc đòi hỏi sự tập trung giải quyết của chính phủ các nước.  Riêng ở Việt Nam, tiêu chuẩn khí thải được xiết chặt bởi quy định 249/2005/QĐ-TTg do Chính phủ ban hành cuối năm 2005. Nếu đối với các xe máy lắp ráp hoặc nhập khẩu mới việc sử dụng ống xả xe máy thân thiện môi trường là một trong các biện pháp được các nhà sản xuất áp dụng, thì đối với hơn 16 triệu xe máy hiện đang lưu hành trên toàn quốc có lẽ biện pháp sử dụng ống xả thân thiện môi trường nói trên là duy nhất.  Bộ xúc tác dài khoảng 100 mm, diện tích mặt cắt ngang là hình vuông mỗi cạnh dài 42 mm, hoặc hình tròn đường kính 48 mm có khoảng gần 200 lỗ vuông 2,2×2,2mm, được lắp đặt trên đường thoát khí từ lối ra của động cơ trước bộ giảm thanh. Chúng có hiệu suất chuyển hóa hai thành phần độc hại CO và HC trong khí thải xe máy về CO2 và H2O trung bình khoảng 80% cho tốc độ xe máy chạy trong khoảng 5 – 50 km/h. Nồng độ khí CO và HC đo ở đuôi ống xả có lắp đặt bộ xúc tác đều thấp hơn nhiều so với hai giá trị ngưỡng tương ứng là 4,5% và 1500 ppm xác định trong quy định 249 nói trên. Cấu trúc tổ ong của bộ xúc tác cho phép người dùng hoàn toàn không lo lắng về sự tốn thêm nhiên liệu, về bất kỳ ảnh hưởng nào của chúng lên hoạt động của động cơ. Do sử dụng vật liệu xúc tác nền ôxít kim loại kích thước nanomét nên chất lượng của các bộ xúc tác do tập thể đề tài chế tạo có chất lượng tương đương với các sản phẩm cùng loại dùng xúc tác là các kim loại quý nhưng giá thành thấp hơn và dịch vụ hậu mãi thuận tiện hơn.  Tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Ấn Độ họp tại New Dehli tháng 11 vừa qua, sản phẩm ống xả xe máy thân thiện môi trường đã được trưng bày trong gian hàng các sản phẩm khoa học công nghệ của Việt Nam và đã được các nhà khoa học và đại diện các tổ chức công nghiệp của các nước bạn đánh giá cao. Trước đó trong Hội chợ triển lãm khoa học công nghệ Việt Nam-Thái Lan tại Trung tâm Thông tin Tư liệu tổ chức vào cuối tháng 7 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong rất hài lòng với sản phẩm ống xả xe máy thân thiện môi trường và cho đây là một giải pháp hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường khí quyển tại Việt Nam.  Từ phòng thí nghiệm tới thực tiễn            Bộ xương gốm đã tẩm vật liệu xúc tác        Đề tài liên quan đến công nghệ chế tạo ống xả xe máy thân thiện môi trường vừa kết thúc tháng 6 năm 2006 và được Hội đồng nghiệm thu cấp Viện KHCNVN đánh giá xuất sắc. Tập thể đề tài đã chuẩn bị mọi phương án để nâng cao công suất chế tạo các bộ xúc tác và hiện đang hy vọng được hợp tác với các cơ quan quản lý chức năng trong việc triển khai ứng dụng ống xả xe máy thân thiện môi trường, một sản phẩm khoa học công nghệ cao có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm môi trường khí quyển do khí thải của xe máy. Một vấn đề cần phải cấp thiết giải quyết hiện nay mà đã được Chính phủ quan tâm từ mấy năm trước.    Cứu nguy những xe cũ và xiết chặt nhà sản xuất  Bộ xúc tác này sau khi đặt trong ống xả thì ống xả sẽ trở nên thân thiện môi trường. Đây là biện pháp duy nhất cứu nguy cho những xe máy đã lưu hành quá lâu. Đối với những xe đã lưu hành hiện tại, để giải quyết vấn đề khí thải thì phải đáp ứng được những tiêu chuẩn mới. Những xe này, sau một thời gian dài lưu hành, xi-lanh mòn, séc-măng bị dơ làm cho quá trình cháy nổ không hoàn toàn. Hàng chục triệu xe máy trên toàn quốc đang là nguồn thải ô nhiễm di động. Bằng việc lắp ống xả thân thiện môi trường, những xe máy quá cũ vẫn có thể lưu hành bình thường. Coi như vấn đề ô nhiễm do các nguồn thải xe máy được giải quyết.  Đối với các xe mới thì Chính phủ sẽ phải xiết chặt các nhà sản xuất. Những xe này phải đảm bảo khí thải ra phải sạch. Các nhà sản xuất có thể cải tiến động cơ, đặt bộ xúc tác hay chế tạo một bộ mạch chỉnh tỷ số giữa nhiên liệu và không khí thật chuẩn. Nhưng có một điều bất cập ở đây, đó là người bỏ tiền làm lợi cho người không bỏ tiền. Cho nên, cần phải có biện pháp can thiệp từ cơ quan quản lý chứ không thể để thị trường quyết định bởi đây là vấn đề của toàn xã hội. Lúc đó Chính phủ sẽ có một biện pháp như bán cho dân nhưng với giá mà Nhà nước trợ giúp để người tiêu dùng có cảm giác sẵn sàng góp một phần để giải quyết những vấn đề chung của toàn xã hội. Hoặc Nhà nước áp đặt cho nhà sản xuất xe máy tại Việt Mam phải sử dụng ống xả này. Và giá thành của sản phẩm ẩn vào trong giá thành của xe máy, như vậy nhà sản xuất chịu chứ người tiêu dùng không phải chịu. Sau đó các nhà nghiên cứu tiếp tục kết hợp với các cơ quan hữu quan sẽ giải quyết các vấn đề ô nhiễm do ô tô. Số lượng ô tô trên toàn quốc bây giờ chỉ có khoảng 0,7 triệu, trong khi số lượng xe máy gấp nhiều lần và trở thành vấn đề môi trường cấp bách.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang OPPENHEIMER VÀ CHU THỰC SỰ NÓI GÌ? (Đọc Địa đàng ở phương Đông và Quan hệ di truyền của dân cư TQ)      Người Việt ch&#250;ng ta c&#243; một truyền thống qu&#237; b&#225;u l&#224; v&#244; c&#249;ng t&#244;n k&#237;nh tổ ti&#234;n. C&#225;c truyền thuyết Rồng Ti&#234;n, mười t&#225;m đời vua H&#249;ng, Th&#225;nh Gi&#243;ng, Sơn Tinh – Thủy Tinh, c&#249;ng những trang sử oanh liệt về Bạch Đằng, Chương Dương, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Bi&#234;n Phủ&#8230; c&#243; lẽ đ&#227; thấm v&#224;o từng tế b&#224;o của mỗi con d&#226;n đất Việt. V&#236; thế ch&#250;ng ta rất nhạy cảm với những th&#244;ng tin về nguồn gốc con người v&#224; văn h&#243;a Việt. C&#243; lẽ đ&#243; l&#224; l&#253; do Oppenheimer v&#224; Chu từng được cộng đồng người Việt, cả trong v&#224; ngo&#224;i nước, ch&#224;o đ&#243;n v&#224; thảo luận rất nồng nhiệt. Vậy Oppenheimer v&#224; Chu đ&#227; thực sự n&#243;i g&#236;?  &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;      1.                  OPPENHEIMER VÀ ĐỊA ĐÀNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG:  Stephen Oppenheimer là chuyên gia nhi khoa nhiệt đới người Anh, từng nhiều năm làm việc tại Đông Á, Đông Nam Á và châu Phi. Sau khi trở về Anh năm 1996, ông bắt đầu viết sách phổ biến kiến thức về nguồn gốc loài người, mà tiêu biếu là hai tác phẩm Địa Đàng ở phương Đông: Lục địa Đông Nam Á bị chìm (Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia) năm 1999 và Rời khỏi Địa Đàng (Out of Eden) năm 2004. Địa Đàng ở phương Đông viết về vùng Đông Nam Á, mà lúc chưa bị nước biển nhấn chìm do băng tan sau kỉ băng hà được gọi là lục địa Sunda (Sundaland); còn Rời khỏi Địa Đàng viết về các cuộc thiên di từ châu Phi để chiếm lĩnh hành tinh của người hiện đại (Homo sapiens), bắt đầu từ hơn 50 ngàn năm trước.  Địa Đàng ở phương Đông bản tiếng Việt đã được NXB Lao Động và Trung tâm Văn hóa Đông Tây ấn hành năm 2005, với bản dịch của Lê Sỹ Giảng và Hoàng Thị Hà, do giáo sư Cao Xuân Phổ hiệu đính. Với những tác phẩm có nột dung mang tính liên và xuyên ngành như Địa Đàng ở phương Đông, việc chuyển ngữ bao giờ cũng là công việc rất khó khăn, vất vả và nhiều thách thức; và nó quyết định không nhỏ tới sự lĩnh hội của người đọc. Vì thế trước khi đi vào nội dung cụ thể của tác phẩm, xin nhận xét về chất lượng bản dịch.  1.1.           Về chất lượng bản dịch:  Đầu tiên cần khẳng định sự cẩn trọng và nghiêm túc của các dịch giả, khi họ mời cả một vị giáo sư để hiệu đính. Đó là điều rất đáng trân trọng, vì nghệ thuật thì dài mà cuộc đời thì ngắn, không ai có đủ kiến thức trong mọi lĩnh vực, dù ở mức tối thiếu. Vì thế, tuy không có bản gốc tiếng Anh để đối chiếu, nhưng tôi nghĩ, về cơ bản, các dịch giả đã chuyển tải tương đối đầy đủ các quan điểm cơ bản của Oppenheimer.  Tuy nhiên, nếu xét khắt khe hơn, không thể nói đó là một bản dịch tốt, khi thấy không ít lỗi rất khó chấp nhận. Dưới đây là một số thí dụ điển hình.  + “Ngay lập tức chúng tôi xuất bản ấn phẩm The Lancet” (trang 302). Chắc chắn Oppenheimer không thể xuất bản tạp chí y khoa nổi tiếng The Lancet. Đây có thể chỉ là lỗi in ấn, nhưng cũng cần dịch chuẩn và nhuyễn hơn, chẳng hạn “Ngay lập tức chúng tôi công bố trên ấn phẩm The Lancet”.  + “ADN bào quan” (trong các chương 6-7, trang 285-346). Để theo dõi hành trình các cuộc thiên di của người hiện đại, giới khoa học nghiên cứu các đột biến ngẫu nhiên tại ADN ti thể (mitochondrial DNA), do mẹ truyền cho con, và tại ADN nhiễm sắc thể Y (Y chromosomal DNA), do cha truyền cho con trai. Vì thế dịch “ADN bào quan” là sai, vì ngoài ti thể, còn rất nhiều loại bào quan khác. Chỉ cần tra cuốn từ điển tiếng Anh chuyên về y sinh học bất kì là tránh được sai sót này.  + “Phương pháp so sánh đã tồn tại trong gần 7000 năm qua” (trang 202). Nếu bản dịch đúng thì Oppenheimer đã mắc một lỗi rất sơ đẳng. Để nghiên cứu quan hệ giữa các ngôn ngữ, người ta dùng nhiều phương pháp, trong đó có phương pháp so sánh. Bằng cách so sánh một số đặc trưng điển hình, các nhà ngữ học có thể tìm ra mối liên hệ giữa các ngôn ngữ, kể cả quan hệ nguồn gốc – phát sinh. Theo tuyên bố của giới chuyên gia, phương pháp này có thể tìm về cội nguồn của các ngôn ngữ từ 7000 năm trước (giới hạn hiện hành của các phương pháp ngữ học khi truy ngược về quá khứ là 9000 năm trước). Ở đây có lẽ các dịch giả đã sai lầm, chứ không phải Oppenheimer.  + “Người cổ đại 120.000 năm trước” (chú thích tại hình 15, trang 159). Nguyên văn tiếng Anh là “Homo sapiens for over 120,000 years”; và nó phải được dịch thành “Người khôn (hay người hiện đại) hơn 120.000 năm trước”. Theo bản dịch thì tất cả loài người hiện nay đều là “người cổ đại”!  + “Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây và chẳng bao giờ chúng gặp được nhau, cho đến ngày cả hai ngồi vào Chiếc ghế Phán xét cuối cùng của Thượng Đế…” (trang 713). Đây là lời dịch sai hoàn toàn, cả về ngữ nghĩa lẫn cú pháp, nên có thể dẫn tới sự hiểu lầm ý tứ sâu sắc của tác giả.   Nguyên văn tiếng Anh của hai câu thơ đó như sau:   “Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet,  Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;   Đó là hai trong số bốn câu thuộc khổ thơ dùng để mở đầu và kết thúc bài thơ dài Khúc ca Đông Tây của Kipling, nhà văn Anh đoạt giải Nobel. Vì mấy câu thơ này mà người ta vẫn hiểu lầm Kipling, khi xem ông là người phân biệt Đông Tây; trong khi theo văn bản thì ngược lại mới đúng là sự thật. Hai câu thơ trên cần được dịch như sau:  “Ôi, Đông là Đông, Tây là Tây, và hai phía không bao giờ gặp mặt,   Chừng nào Trời và Đất vẫn còn đứng như hiện nay theo phán quyết vĩ đại của Thượng Đế;”   Và hai câu thơ tiếp theo là:   Nhưng sẽ chẳng có Đông hay Tây, chẳng có ranh giới,  giống nòi hay sinh nở, Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đối mặt nhau, họ đến từ hai tận cùng Trái đất!”   (But there is neither East or West, Border, nor Breed, nor Birth,  When two strong men stand face to face, tho’ they come from the ends of the earth!)  Như vậy theo Kipling, ngược với hai hướng Đông Tây không bao giờ gặp được nhau (điều quá hiển nhiên), giữa hai nền văn hóa Đông Tây không hề có một ranh giới chia cắt nào, dù là địa lý hay giống nòi.  Cũng cần lưu ý rằng, tuy đây là lỗi nặng, nhưng nên thông cảm với các dịch giả, vì chính Oppenheimer cũng không hiểu đúng Kipling.  Trước khi chuyển sang phần nội dung, xin nhắc lại rằng, có lẽ Địa Đàng ở phương Đông tiếng Việt không phải là một bản dịch tốt, nhất là căn cứ vào lối hành văn.  Về nội dung tác phẩm:  Địa Đàng ở phương Đông tiếng Việt gồm 787 trang, được chia thành hai phần. Phần 1: Đá, xương, gene và tiếng nói gồm 7 chương, với dung lượng 302 trang (từ trang 47 tới trang 348), được dùng để trình bày các bằng chứng địa chất, khảo cổ, ngôn ngữ và di truyền. Phần 2: Lời thì thầm Trung Hoa gồm 9 chương, dung lượng 364 trang (từ trang 349 tới trang 712), dùng để trình bày các truyền thuyết, được Oppenheimer xem như một loại bằng chứng về nguồn gốc các tộc người. Ngoài ra là lời giới thiệu, lời tựa, lời cảm ơn và phần mở đầu (tổng cộng 42 trang); cùng lời kết, chú thích và danh mục các hình minh họa (gồm 75 trang)  Có thể tóm lược các quan điểm cơ bản của Oppenheimer trong Địa Đàng ở phương Đông như sau: 1) Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của nông nghiệp, xét trên phạm vi toàn cầu, chứ không phải vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu; và chính người Đông Nam Á đã truyền kĩ thuật trồng lúa nước cho người Hán, chứ không phải ngược lại; 2) Đông Nam Á là cội nguồn của nhiều yếu tố trong các nền văn minh phương Tây. Ngoài ra là quan điểm ít quan trọng hơn: Người Đông Nam Á, chứ không phải người Trung Quốc, đã thiên di tới vùng Đa Đảo (Polynesia) phía Nam Thái Bình Dương.   Có thể nói đây là những quan điểm mang tính cách mạng, khi lật ngược hiểu biết hiện hành của nhân loại về thời tiền sử. Nói theo cố thiên văn gia Carl Sagan (cha đẻ chương trình tìm kiếm các nền văn minh ngoài Trái đất SETI bằng cách theo dõi sóng điện từ liên hành tinh), đó là những tuyên bố khác thường. Vậy bằng chứng mà Oppenheimer đưa ra có đạt tới độ tin cậy tương xứng hay không? (Tiêu chí Carl Sagan nổi danh trong khoa học: Tuyên bố khác thường đòi hỏi chứng cớ khác thường).  Đầu tiên xin nhấn mạnh rằng, có lẽ Oppenheimer là người đầu tiên (và duy nhất?) xem truyền thuyết hay huyền thoại là loại hình bằng chứng quan trọng về nguồn gốc các tộc người, thậm chí quan trọng hơn các bằng chứng vật chất như khảo cổ, di truyền hay ngôn ngữ. Vì thế mà ông dành cho phần 2 (phần về các truyền thuyết) tới 364 trang, trong khi phần 1 (dành cho các bằng chứng khảo cổ, di truyền và ngôn ngữ) chỉ có 302 trang. Có lẽ đây là sự mất cân đối nghiêm trọng.   Theo quan niệm truyền thống, huyền thoại chỉ có vai trò trợ giúp trong việc tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử các tộc người hay các dân tộc mà thôi. Đóng vai trò quyết định phải là các bằng chứng vật chất như khảo cổ, ngôn ngữ hay di truyền. Tại sao như vậy? Câu trả lời là khoa học có thể xác định niên đại của các bằng chứng vật chất tương đối chính xác bằng nhiều kĩ thuật khác nhau; nhưng hầu như không thể xác định tuổi của huyền thoại. Vì thế khi thấy truyền thuyết của hai nhóm người có nhiều đặc trưng riêng biệt giống nhau, có thể suy luận họ có quan hệ nguồn gốc với nhau; nhưng vì khó xác định tuổi của hai truyền thuyết, nên hầu như không có khả năng xác định nhóm nào đóng vai trò nguốn gốc, nhóm nào là phát sinh.   Khi dùng huyền thoại như bằng chứng khoa học, xin hãy nhớ rằng, sử thi có thể mang nhiều thông tin về nguồn gốc; trong khi huyền thoại chủ yếu thể hiện ước mơ. Từ truyền thuyết trăm trứng, liệu chúng ta có thể biết người Việt xuất hiện tự bao giờ, ở đâu và có nguồn gốc di truyền như thế nào hay không? Nói cách khác, độ tin cậy của các huyền thoại cũng đầy … sắc màu huyền thoại!  Oppenheimer thường dẫn các huyền thoại về những người khôn ngoan đến từ phương Đông. Và ông giả định đó là người Đông Nam Á, do tránh nạn hồng thủy khoảng 8-10 ngàn năm trước tại lục địa Sunda (do băng tan cuối kỉ băng hà mà nước biển có thể dâng cao hàng trăm mét), nên đã cưỡi thuyền ra chiếm lĩnh hệ quần đảo Nam Thái Bình Dương và hướng về phương Tây, tới tận Lưỡng Hà, thậm chí cả Trung Âu. Và chính họ đã gieo mầm cho các nền văn minh rực rỡ tại phương Tây kể từ Thời đá mới. Tuy nhiên phương Đông đối với người Cận Đông là phương Đông nào, Apganistan, Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa hay Đông Nam Á ngày này? Có lẽ chẳng ai biết, nếu chỉ căn cứ vào truyền thuyết. Và chúng ta đành phải rời khỏi lĩnh vực huyền thoại đầy lãng mạn để quay về với các bằng chứng tuy kém thi vị hơn nhưng có thể “sờ nắn” và “đo đếm” được.  Có thể nói một cách tổng quát rằng, giả thuyết phụ của Oppenheimer (người Đông Nam Á tràn xuống vùng Đa Đảo) có thể là sự thật. Tuy nhiên cũng không nên bác bỏ vai trò của người Trung Quốc, khi Đài Loan được xem là nơi phát tích của ngữ hệ Nam Đảo, là ngữ hệ của vùng Polynesia. Và trong hai quan niệm căn bản thì một cần xem xét lại (Đông Nam Á là nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên), còn một sai hoàn toàn (Đông Nam Á là nguồn gốc văn minh nhân loại).  a) Quan niệm Đông Nam Á là nơi phát tích nông nghiệp đầu tiên:  Giả thuyết thứ nhất, Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của cuộc cách mạnh nông nghiệp Thời đá mới, tuy không hoàn toàn sai như giả thuyết thứ hai (sẽ bàn trong tiểu mục tiếp sau), nhưng cũng tương đối khó nuốt. Quan niệm chính thức hiện nay vẫn là vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu tại Cận Đông mới là nơi thuần hóa cây trồng và vật nuôi đầu tiên trên thế giới. Và ngay sau đó một loạt trung tâm thuần hóa khác xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Nên nếu cho rằng, Đông Nam Á là một trong những trung tâm đó thì dễ được chấp nhận hơn. Vậy đâu là bằng chứng khảo cổ cho thấy Đông Nam Á là ngọn cờ đầu? Theo Oppenheimer thì chúng đã chìm sâu trong nước biển do nạn Đại hồng thủy. Vậy chúng ta hãy xem đó là một trong rất nhiều giả thuyết khoa học đang chờ được phản nghiệm. Ngay Oppenheimer cũng không phải không thấy điều đó, như đã thể hiện trong lời kết, mà chúng ta sẽ quay lại ở phần cuối.  Còn việc trồng lúa nước thì sao? Đông Nam Á hay Nam Trung Quốc là nơi trồng lúa đầu tiên? Các nhà khảo cổ vẫn phân vân về niên đại của các di chỉ khảo cổ. Di chỉ 7.000 năm tuổi tại Hemudu, bên hồ Dongting vùng Hoa Nam, là bằng chứng khảo cổ sớm nhất của lúa nước. Còn tại hang Ma, một di chỉ 8.800 năm tuổi tại Thái Lan, không có dấu vết lúa gạo trong số thực vật tìm thấy. Theo Gorman (1969), đó là số thực vật do những người tiền nông nghiệp thu lượm được. Tuy nhiên theo hai nhà nhân học và khảo cổ Jolly và White thuộc Đại học New York, 1995, có khả năng lúa nước được thuần hóa đầu tiên tại Đông Nam Á trong khoảng thời gian từ 8.800 tới 7.000 năm trước.   Cần lưu ý rằng, trong khi Đông Nam Á và vùng Hoa Nam vẫn phải đấu tranh về “bản quyền” trồng lúa đầu tiên, thì một vấn đề đã trở nên rõ ràng. Đó là người Nam Á (chủng lai giữa hai đại chủng Á và Phương Nam khoảng 10.000 năm trước, và đang Á hóa mạnh mẽ), chứ không phải tổ tiên người Hán (thuộc đại chủng Á), mới là những người đầu tiên trồng lúa nước (tại Hoa Nam hoặc Đông Nam Á). Xin nhấn mạnh thêm rằng, đến lúc đó, khoảng 7000 năm trước, hoàn toàn chưa có người Hán, người Việt hay người Thái… như ta hiểu ngày nay.   b) Quan niệm Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh nhân loại:  Oppenheimer đưa ra một số bằng chứng (không rõ ràng) về nguồn gốc Đông Nam Á của văn minh Trung Cận Đông, vốn được xem là hạt giống của văn minh phương Tây. Chẳng hạn ông thấy dân New Guinea thường bị thiếu máu do một bệnh di truyền là alpha-thalassamemia. Vì người Trung Đông cũng bị bệnh đó, nên ông suy luận, dân Đông Nam Á đã tới Trung Đông và lập ra văn minh cổ Ur và Ai Cập!  Để không làm mất thời gian của bạn đọc, xin khẳng định rằng, đó là giả định hoàn toàn sai sự thật. Tại sao tôi dám chắc như đinh đóng cột như vậy? Có hai nguyên do căn bản. Thứ nhất, người Trung Đông thuộc đại chủng Âu (Caucasoid), trong khi ở Thời đá mới, người New Guinea thuộc đại chủng Phương Nam (Australoid), còn người Đông Nam Á hoặc thuộc đại chủng Phương Nam, hoặc là hỗn chủng giữa đại chủng Á (Mongoloid) và đại chủng Phương Nam. Không thể có chuyện một nhóm người thuộc đại chủng này lại biến thành người thuộc đại chủng khác chỉ trong một thời gian ngắn như vậy. Thứ hai, và quan trọng hơn, hành trình các dấu gene giữa Đông và Tây không ủng hộ Oppenheimer.  Theo giả thuyết của Oppenheimer thì ta phải thấy một dòng gene đi từ Đông Nam Á hướng về phía Tây. Trong Địa Đàng ở phương Đông cũng có bản đồ dòng gene như vậy trên hình 34, trang 330. Còn trên thực tế thì sao? Theo kết quả của Dự án bản đồ gene của Hội địa lý quốc gia Mỹ, Quĩ gia đình Waitt và hãng IBM, chỉ thấy các dòng gene liên tục chảy từ Tây sang Đông cho tới tận Thời đá mới, chứ không thấy dòng ngược lại (xem hình). Điều đó cho thấy giả thuyết quan trọng nhất của Oppenheimer không đúng với hiện thực khách quan. Và đó là lí do khiến Địa Đàng ở phương Đông không được giới chuyên môn đánh giá cao.                    Bản đồ các dòng gene theo               ADN nhiễm sắc thể Y.        Để kết thúc, xin dẫn ra tuyên bố của chính Oppenheimer trong phần kết luận, mà những người ủng hộ ông thường không thấy, vô tình hay hữu ý: “Tôi không đòi hỏi những dấu hiệu về mặt khảo cổ, di truyền và văn hóa dân gian mà tôi mô tả trong quyển sách này sẽ được chấp nhận mà không có thắc mắc gì. Quả thật là có quá ít những bằng chứng đầy đủ và hoàn chỉnh. Và liệu niên đại của chúng có chính xác hay không? Rõ ràng còn rất nhiều việc phải làm. Những gì tôi nêu ra chỉ là thời tiền sử của vùng Đông Nam Á xứng đáng có được một cuộc khảo sát tỉ mỉ hơn…”(trang 714). Người viết bài này hoàn toàn đồng ý với sự tỉnh táo hiếm hoi đó của Oppenheimer.           2.                  CHU VÀ DỰ ÁN ĐA DẠNG BỘ GENE NGƯỜI TRUNG QUỐC:  Tạp chí Kỷ yếu Viện hàn lâm khoa học Mỹ (PNAS) ngày 29-9-1998 đăng tải bài báo Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc của Chu và 13 đồng tác giả (www.pnas.org/content/95/20/11763.full.pdf+html). Cũng như Địa Đàng ở phương Đông, công trình này thu hút sự chú ý của rất nhiều người Việt Nam, cả trong và ngoài nước. Nguyên do là phần tóm tắt của bài báo được kết thúc như sau: “Phát sinh chủng loại cũng gợi ý rằng, nhiều khả năng hơn là tổ tiên người Đông Á hiện nay đến từ Đông Nam Á” (Nguyên văn tiếng Anh: The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestors of the populations currently residing in East Asia entered from Southeast Asia). Tôi cho rằng đó là một kết luận kì lạ, như sẽ trình bày ngay dưới đây.  Trong phạm vi Dự án đa dạng bộ gene người Trung Quốc, nhóm nghiên cứu của Chu và đồng nghiệp đã nghiên cứu 15 và 30 vi vệ tinh (các đoạn ADN ngắn lặp đi lặp lại) trên ADN ti thể của 28 nhóm dân cư đang sống tại Trung Quốc. Kết quả là họ thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người Hoa Bắc và người Hoa Nam. Tiếp theo, họ lấy số liệu về một số nhóm dân Phi, Âu, Úc, Mỹ bản địa và Đông Nam Á từ các công trình khác để vẽ cây phả hệ di truyền nhắm xác định sự phát sinh chủng loại giữa các nhóm dân cư đó.  Kết luận chính thức của công trình như sau: “Phân tích này gợi ý rằng cư dân vùng nam Đông Á có thể bắt nguồn từ cư dân Đông Nam Á, mà ban đầu cũng từ châu Phi, có thể qua ngả Trung Á, và cư dân vùng bắc Đông Á chịu ảnh hưởng mạnh về di truyền từ dân Altai phương bắc”; và “Bây giờ chúng tôi đã xác lập được rằng, dân cư Đông Á là đối tượng của nhiều nguồn gene khác nhau: Đông Nam Á, Altai từ Bắc Á, và Trung Á hoặc châu Âu”.   Vậy tại sao trong phần tóm tắt, các tác giả lại “thiên vị” Đông Nam Á? Đọc kĩ bài báo mà không tìm thấy nguyên nhân xác đáng, tôi chuyển qua bài bình luận Dự án đa dạng bộ gene người Trung Quốc (www.pnas.org/content/95/20/11501.full.pdf+html) của Cavalli-Sforza, một trong những người cha của ngành nhân chủng học phân tử. Và tôi cho rằng mình đã hiểu lí do khi đọc thấy câu: “Sự lan tỏa từ châu Phi ra toàn thế giới không, hay không cần thiết, phải qua Trung Á” (Bài đã dẫn, trang 11503, cột 2). Mười năm sau bài báo của Chu, chúng ta đã thực sự hiểu tại sao Cavalli-Sforza và Chu lại kết luận khác thường như vậy.  Trước năm 2000, tuy đã có thông tin ban đầu về con đường phía Bắc, nhưng giới khoa học cho rằng, khoảng 60.000 năm trước, người hiện đại từ châu Phi tới Ấn Độ và Đông Nam Á theo con đường phía Nam, men theo bờ Ấn Độ Dương (làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ nhất). Và từ vùng Sunda, họ đi tiếp tới Úc, lên Đông và Đông Bắc Á, tới Siberia rồi sang Bắc Mỹ. Đó là lí do Chu ưu ái Đông Nam Á hay Cavalli-Sforza bác bỏ khả năng đi qua Trung Á. Ngày nay ta biết rằng, con đường phía Bắc, từ châu Phi sang Trung Đông rồi lên Trung Á (khoảng vùng Bắc Afghanistan và lân cận) mới là đường thiên di chủ yếu. Đây là làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ hai. Hơn 90% số nam giới ngoài châu Phi hiện nay là hậu duệ của những người từng thám hiểm con đường này khoảng 40.000 năm trước. Chính xác hơn, họ là con cháu của người đàn ông mang dấu gene M9 trong ADN nhiễm sắc thể Y thuộc nhóm người từng thiên di tới Trung Á đó. Đó là chàng Adam Á – Âu. Con đường phía Nam chỉ góp một phần nhỏ vào nguồn gene người Trung Quốc hiện nay mà thôi.     3. VÌ SAO OPPENHEIMER VÀ CHU ĐƯỢC HOAN NGHÊNH?  Vì Oppenheimer cho rằng, Đông Nam Á là nguồn gốc của mọi nền văn minh nhân loại; còn Chu cho rằng, tổ tiên của người Đông Á đến từ Đông Nam Á; nên nhiều người Việt rất hào hứng với quan điểm của hai ông. Nỗi ẩn ức hơn 2000 năm trước phương Bắc dường như đã có cơ được giải tỏa: Tổ tiên người phương Nam sinh ra tổ tiên người phương Bắc, còn văn hóa Đông Nam Á (và do đó văn hóa Việt) sinh ra văn hóa Hán đấy nhé! Vì thế mà khi thuật lại công trình, nhiều người cho rằng, chính vị giáo sư người Hán và 13 đồng nghiệp đã kết luận: Tổ tiên các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Á. Như vậy là sự thận trọng trong giả định của Chu, thể hiện trong cụm từ “nhiều khả năng hơn là”, dường như đã biến thành sự khẳng định chắc chắn!  Tuy nhiên theo người viết bài này, hoàn toàn không có gì đáng tự hào, ngay cả khi điều đó là sự thật. Nếu tự hào như thế thì người Đông Phi cất vào đâu cho hết sự tự hào? Khi tới Trung Quốc lần đầu tiên khoảng 30.000 năm trước, theo hành trình Đông Phi → Trung Đông → Trung Á → Nam Trung Quốc (đồng thời có thể cũng tới Đông Nam Á), Homo sapiens chỉ là Homo sapiens nguyên thủy mà thôi, tức có nước da đen, tóc quăn hay lượn sóng, người thon, răng to, giống người châu Phi bản địa. Các đại chủng như ta hiểu ngày nay chỉ xuất hiện hoàn chỉnh khoảng 10.000 năm trước. Còn các dân tộc chỉ xuất hiện sau đó khoảng 3.000 – 5.000 năm (có thể còn muộn hơn), khi các Nhà nước và quốc gia sơ khai xuất hiện. Chẳng hạn người Hán, một trong những tộc người xuất hiện sớm nhất, cũng chỉ ra đời khoảng 4600 năm trước từ các nhóm người Hoa Hạ sống tại lưu vực Hoàng Hà, phía bắc Trung Quốc ngày nay. Cho dù có Bắc tiến thì đó cũng chỉ là những cuộc Bắc tiến của người da đen từ 30.000 năm trước. Sống tại xứ lạnh mấy chục ngàn năm, họ dần tiến hóa thành người da vàng (đại chủng Á). Và tới Thời đá mới thì họ liên tục di cư xuống phương Nam. Do các cuộc Nam tiến này mà ngày nay tại Đông Nam Á, người da vàng đến sau chiếm đa số so với người da đen bản địa thuộc đại chủng Phương Nam. Có gì đáng tự hào về những cuộc Bắc tiến từ mấy chục ngàn năm trước, nếu có?    4.                  VĨ THANH:  Như đã biết, khi người Hán xuất hiện từ nhóm người Hoa Hạ khoảng 4600 năm trước tại lưu vực Hoàng Hà, phía bắc Trung Quốc ngày nay, thì từ nam Hoàng Hà trở xuống là địa bàn cư trú của những người được gọi là Bai Yue (Bách Việt), thuộc tiểu chủng Nam Á trong đại chủng Á. Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, nhất là sau khi nhà Hán thay nhà Tần, người Hán dần dần mở rộng cương vực xuống phía nam sông Dương Tử (Trường Giang) bằng cách đồng hóa người Bách Việt. Chỉ có người Lạc Việt, do sống xa ở phía Nam và do kiên cường bảo vệ nền độc lập suốt mấy ngàn năm, là thoát khỏi sự đồng hóa. Có thể cảm nhận sự hung bạo của quá trình đồng hóa đó qua dấu gien của người Hán hiện đại. Từ 2004, giáo sư Li Jin thuộc Đại học Fudan, Thượng Hải (hiện đại diện cho Dự án bản đồ gene tại Đông Á và Đông Nam Á), đã thấy rằng, nếu ở ADN ti thể có sự khác biệt rõ ràng giữa hai vùng Hoa Bắc và Hoa Nam, thì ở ADN nhiễm sắc thể Y không có sự khác biệt như vậy. Nói cách khác, gene theo đường mẹ giữa hai vùng Bắc và Nam Trung Quốc hoàn toàn khác nhau; trong khi gene theo đường cha thì lại giống nhau. Tại sao như vậy? Đó là vì khi Nam tiến, người Hán phương Bắc không mang theo phụ nữ; và khi chiếm đất của người phương Nam, họ giết hết đàn ông, đồng thời chiếm đoạt phụ nữ. Vì thế người Hán tại vùng Hoa Nam ngày nay mang ADN nhiễm sắc thể Y (do cha truyền cho con trai) của người Hán phương Bắc và ADN ti thể (do mẹ truyền cho con) của người Nam Á bản địa. Chu thấy ADN ti thể tại Hoa Nam gần gũi với ADN ti thể tại Đông Nam Á là vì vậy (cùng gốc Nam Á).   Những ai là đàn ông con dân đất Việt cần biết ơn sâu sắc các vị anh hùng dân tộc trong suốt tiến trình dựng và giữ nước trải đã mấy ngàn năm.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ôtô chạy bằng… kim loại      Giá dầu không ngừng “leo thang” đã kích thích các nhà phát minh, sáng chế.    Tại Nhật Bản, hãng Genepax, một công ty nhỏ mới ra đời cách đây 2 năm với số vốn ban đầu chỉ là 300.000 Euro, vừa tuyên bố sẽ sớm công bố chi tiết công nghệ mô-tơ nước của mình. Ngay sau đó, báo chí Nhật đã có bài viết về chiếc ô tô chạy bằng hệ thống này. Tất nhiên, chuyện này không có liên quan gì tới chiếc mô-tơ nước mạo xưng từng trở thành trò đùa cho dư luận trong những năm 70 của thế kỷ trước khi người ta đồn nhau rằng có thể đi vòng quanh thế giới chỉ với 1lít nước! Công nghệ của hãng Genepax dựa trên pin đốt bằng hydro, được cung cấp bởi không khí và nước. Công ty khẳng định đã cải thiện được “phương pháp nổi tiếng” để phá vỡ phân tử nước, thu lại hydro và nạp vào pin để tạo ra điện. Trong hệ thống này, năng lượng nạp vào pin đốt tất nhiên không phải là nước. Chất đốt trên thực tế là một kim loại hydrua, hoặc một hợp chất hydrua. Phản ứng của nó với nước giải phóng hydro, hydro sau đó kết hợp với oxy trong không khí để tạo thành điện trong pin.  Nhiều phòng thí nghiệm đã thử nghiên cứu loại hydro nhôm. Trong trường hợp này, nhôm được biến đổi, chứ không phải là nước, để dùng làm chất đốt. Nhiều công trình khác cũng đã được tiến hành trên magne. Hoặc là dưới dạng hydro hoặc dưới dạng kim loại. Trong trường hợp này, chính quá trình sự đốt cháy các phân tử trong nước giúp giải phóng hydro, và tạo ra ôxy từ magne có thể được tái chế.  Bạch Dương (Theo Sciences et Vie)      Author                Quản trị        
__label__tiasang ‘Oumuamua: vật thể ngoại hành tinh và những định kiến nội hành tinh      Kể từ khi được phát hiện vào năm 2017 đến ngày nay, ‘Oumuamua – vật thể ngoài hệ Mặt trời đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử vẫn khiến các nhà khoa học không ngừng tranh cãi về nguồn gốc của nó. Sự xuất hiện của Oumuamua làm chúng ta nghĩ về bản chất của tài trợ nghiên cứu trong khoa học, tính mạo hiểm và tính cẩn trọng trong nghiên cứu với vô vàn những khả năng và những lời giải thích có thể đưa ra khả dĩ, cùng sự quan trọng của dữ kiện thực nghiệm.      ‘Oumuamua, sứ giả từ một ngôi sao khác. Nguồn: Jordan Collver.  Sứ giả ngoài hành tinh, và những nhà khoa học bối rối     Ngày 19/10/2017, Robert Weryk phát hiện ra ‘Oumuamua trong dữ liệu của kính thiên văn survey Pan-STARRS ở Hawaii. Nó xuất hiện dưới dạng một vệt sáng dài, một dấu hiệu rằng nó di chuyển nhanh hơn nhiều các ngôi sao nền. Các vệt sáng như thế là khá thông thường với sao chổi và thiên thạch trong hệ Mặt trời, nhưng ‘Oumuamua đều không phải những thứ đó. Nó không đến từ bên trong hệ Mặt trời. ‘Oumuamua trong tiếng Hawaii có nghĩa là người thám thính, người đầu tiên và sẽ còn nữa.    Robert phát hiện ra ‘Oumumua chỉ ngay khi vật thể này (*) (chú thích: báo giới đôi khi dùng từ ‘tiểu hành tinh’, hay ‘phi thuyền’ để mô tả ‘Oumuamua. Điều này là sai – bản chất của ‘Oumuamua chưa được xác định một cách thỏa đáng bởi các nhà khoa học và vẫn còn nhiều tranh cãi.) đã đi xa khỏi Trái đất. Nó đã tiếp cận hệ Mặt trời từ một hướng gần vuông góc, di chuyển rất gần tới Trái đất và đi theo quỹ đạo hyperbolic, như một cú văng ra khỏi hệ Mặt trời. Ngay sau khi nó được phát hiện, các kính thiên văn mặt đất đã ngay lập tức bắt đầu theo sát ‘Oumuamua trên hành trình thoát li. Tính toán quỹ đạo cho thấy ‘Oumuamua chỉ có thể đến từ bên ngoài hệ Mặt trời – và vì thế, nó nghiễm nhiêm trở thành vật thể liên sao đầu tiên được phát hiện.     Các diễn biến đến sau còn gây ngạc nhiên hơn. ‘Oumuamua, vật thể ngoài hành tinh đầu tiên con người phát hiện ra, không giống gì với những sao chổi hay thiên thạch đã biết. Các sao chổi có một cái đuôi do bức xạ Mặt trời làm băng trên bề mặt sao chổi bốc hơi. Các thiên thạch hay tiểu hành tinh thì thường rất gồ ghề. Với dữ liệu phản quang (reflectivity) từ ‘Oumuamua, tuyệt nhiên không có phát hiện có khí nào thoát ra trên Oumumua. Cũng không có dấu hiệu bề mặt gồ ghề nào, trái lại. ‘Oumuamua có vẻ rất phẳng.     Phổ từ ánh sáng phản chiếu trên bề mặt của ‘Oumuamua biến thiên theo chu kì khoảng 8.4 giờ vì ‘Oumuamua tự quay quanh chính nó. Từ dữ kiện này, các nhà nghiên cứu đã tính toán được rằng ‘Oumuamua có thể có dạng như (1) một cái đĩa dẹp hoặc (2) thon dài như một điếu xì gà. Tuy nhiên, vì ta chỉ nhìn được hình chiếu 2-chiều bị giới hạn góc của một vật thể 3-chiều, khó để mà biết chính xác hình dạng của ‘Oumuamua. Nhưng họ biết rằng hình dạng của ‘Oumuamua hết sức kì lạ, với một tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng rất lớn. (Rafikov, 2018, Fraser et al 2017)    Điều đặc biệt nhất, quỹ đạo của ‹Oumuamua không chỉ bị chỉ phối bởi lực hấp dẫn. Các quan sát cho thấy, ngoài gia tốc hấp dẫn, quỹ đạo của ‘Oumuamua còn có một thành phần gia tốc khác, tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ Mặt trời. Điều này gây ngạc nhiên lớn cho các nhà khoa học. (Micheli et al. 2018)    Trong một năm sau đó đã, có các giả thuyết về nguồn gốc của ‘Oumuamua liên tiếp được đề ra. Desch et. al (2021) cho rằng ‘Oumuamua là tàn dư của một hành tinh bị phân rã. Seligman & Laughlin (2020) cho rằng oumuamua là một tảng băng hydrogen trôi dạt trong vũ trụ. Sekanina Z. (2019) cho rằng ‘Oumuamua là một đám bụi siêu nhẹ.       ‘Oumuamua ở trung tâm của ảnh phơi sáng lâu. Các sao nền xung quanh bị mờ do kính thiên văn cần di chuyển để theo dõi vật thể này. Credit: ESO/K. Meech et al.      Tất cả các giả thuyết này đều có một điểm chung: chúng đều không có sự đồng thuận hoàn toàn của cộng đồng khoa học. Các giả thuyết được đề ra không giải quyết hoàn toàn được các sai số trong dữ liệu, và gây nhiều tranh cãi. Nhưng trong số đó, một giả thuyết đặc biệt gây tranh cãi nhất.    Giáo sư Avi Loeb – cựu trưởng khoa vật lý thiên văn tại Đại học Harvard, cựu giám đốc trung tâm vật lý tính toán tại đài quan sát Harvard-Smithsonian, cho rằng câu trả lời cho các bí ẩn về ‘Oumuamua rất đơn giản: ‘Oumuamua là một vật thể ‘ngoại hành tinh’. Nó phải tới từ một nền văn minh bên ngoài Trái đất.     Trong suốt ba năm kể từ ngày phát hiện ‘Oumuamua, GS. Loeb đã làm việc cùng nhiều cộng sự, thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với báo giới, và thậm chí viết một cuốn sách, để đưa ra thông điệp về ‘Oumuamua. Thông điệp của Loeb bao gồm nhiều phần, nhưng có thể tóm gọn nó như sau bằng hai ý chính: 1) ‘Oumuamua có khả năng là một vật thể của một nền văn minh ngoại hành tinh, và 2) cộng đồng khoa học đang rất có vấn đề khi xem nhẹ khả năng này.      Lightsail – một giả thuyết điên rồ?     Về luận điểm đầu tiên – ‘Oumuamua là sản phẩm của một nền văn minh, GS. Avi cho rằng các dữ kiện về ‘Oumuamua nằm ngoài lời giải thích của các hiện tượng tự nhiên đã biết, và việc các đồng nghiệp của ông nhất quyết đi tìm một câu trả lời đến từ tự nhiên là rất vô lý. Ông cho rằng các giả thuyết về việc ‘Oumuamua là một vật thể siêu nhẹ ít đặc hơn không khí tới 100 lần hay một tảng băng hydrogen đều không thuyết phục, và đưa ra nhiều tính toán để chứng minh điều đó.    Cùng với GS. Hoàng Chí Thiêm – giáo sư người Việt công tác tại Viện Thiên văn vũ trụ Hàn Quốc, GS. Loeb đã tính toán rằng một tảng băng thuần hydrogen sẽ thăng hoa (chuyển từ thể rắn sang thể khí) rất nhanh trong 10 triệu năm (để so sánh thì tuổi của hệ Mặt trời là 4.5 tỷ năm) bởi bức xạ của môi trường liên sao, và sẽ khó để nó không phân rã trên hành trình đến được Trái đất (Thiêm & Loeb 2018).      So sánh quỹ đạo của ‘Oumuamua với một sao chổi thông thường trong hệ Mặt trời. Credit: Greg Smye-Rumsby.    Với GS Loeb, các dữ kiện về ‘Oumuamua như độ nhẵn của bề mặt, việc thiếu đuôi khí thường thấy của sao chổi, và sự thất bại trong việc áp dụng các hiểu biết về sao chổi/thiên thạch/tiểu hành tinh để phân tích ‘Oumuamua, là gợi ý để xem xét một giả thuyết khác táo bạo hơn. GS. Loeb đặc biệt chú ý tới thành phần gia tốc phi hấp dẫn khi ‘Oumuamua ở gần Mặt trời, với cường độ giảm theo bình phương khoảng cách từ Mặt trời,    Các nhà nghiên cứu đều cho rằng nó có thể là gia tốc đến từ năng lượng bức xạ. Bức xạ tác động hơn một tảng băng hydrogen có thể tạo ra sự bốc hơi và một lực đẩy, nguồn gốc của gia tốc này. Nhưng như đã thấy, ‘Oumuamua có lẽ không phải là một tảng băng hydrogen. Liệu vật thể nào khác có thể được đẩy đi bởi ánh sáng?    Vào năm 2018. GS Loeb cùng với cộng sự, postdoc Biably, đã công bố giả thuyết rằng ‘Oumuamua có thể là một lightsail – một chiếc thuyền buồm năng lượng ánh sáng. Dựa trên độ phản quang, thành phần gia tốc phi hấp dẫn, độ nhẵn bề mặt và hình dạng đĩa dẹp khả dĩ của ‘Oumuamua, GS. Loeb và Bialy tính được rằng chiếc lightsail này phải có độ dày khoảng một vài milimet. Bài báo của Loeb và Bialy được công bố trên tạp chí Astrophysical Journal Letters danh giá.     GS. Loeb cho rằng, nếu giả sử có một nền văn minh sở hữu công nghệ lightsail và đã phóng chúng đi khắp vũ trụ, việc tìm thấy tàn tích của một lightsail trôi dạt trong vũ trụ không nằm ngoài dự đoán.    Không phải nói thêm, công bố của Loeb và Biably bùng nổ trong tranh cãi.     “Không – không thể là người ngoài hành tinh!”    Các đồng nghiệp của Loeb hầu hết chọn bác bỏ giả thuyết này. Các công kích chủ yếu liên quan tới nguồn gốc của giả thuyết Lightsail.    Vào năm 2016, tỉ phú người nga Yuri Milner – một nhà đầu tư công nghệ khét tiếng ở Silicon valley – cùng với vài nhà khoa học nổi tiếng đã cùng thành lập quỹ Breakthrough Starshot với mục tiêu khám phá hệ sao gần nhất Mặt trời – Alpha Centauri ở cách 4.37 năm ánh sáng, trong khoảng 50 năm tới. Yuri đóng góp hơn 100 triệu đô cho sứ mệnh này.         Đồ họa về ‘Oumuamua dưới dạng một tảng băng hydrogen (hình trái), và một lightsail (hình phải). Credit: AFP/Mark Garlick.  Ý tưởng trụ cột của Breakthrough Starshot là một chiếc lightsail khoảng 4×4 mét, cùng một vệ tinh microchip siêu nhỏ. Với một bệ phóng đèn laser công suất lớn khoảng vài trăm gigawatt cùng chĩa vào lightsail, nó sẽ được gia tốc tới khoảng 20% vận tốc ánh sáng – khoảng 60,000 km/s (để so sánh, tàu vũ trụ Voyager 2, thứ xa nhất con người từng phóng khỏi hệ Mặt trời, có vận tốc khoảng 17km/s) (Scharf, 2013).     Không ai khác ngoài GS. Loeb là người đã củng cố và đưa ý tưởng lightsail vào sứ mệnh này. Vì thế, một số người cho rằng GS. Loeb đang bị ám thị với ý tưởng sẵn có khi đưa giả thuyết lightsail vào ‘Oumuamua.     Giả thuyết lightsail của GS. Loeb cũng không hoàn toàn nhất quán với dữ liệu. Cụ thể, tốc độ quỹ đạo của ‘Oumuamua khi ở gần nhất Mặt trời (perihelion velocity) vào khoảng 87.7 km/s. Ngay cả khi được gia tốc bằng động lượng từ photon, con số này vẫn nhỏ hơn nhiều so tốc độ về mặt lý thuyết của một lightsail. Quan trọng hơn, ‘Oumuamua có màu đỏ, không khác biệt lắm với những thiên thạch trong hệ Mặt trời. Trong khi đó, nếu ‘Oumuamua cũng không quá sáng, trong khi một lightsail siêu phản quang nên có độ sáng hơn nhiều lần quan sát. (Meech et al, 2017).    Trên tinh thần thận trọng, nhiều nhà khoa học cho rằng dù ‘Oumuamua là một vật thể rất kì lạ, các tính chất của nó vẫn nằm gọn trong các tham số khả dĩ của tự nhiên. Tuy vậy, không phải công kích nào cũng đến từ góc nhìn phản biện khoa học thuần túy.    Phần đông các nhà khoa học trong cộng đồng vật lý thiên văn sẽ không lấy làm thích thú với các ý tưởng khoa học liên quan đến những nền văn minh ngoài Trái đất, một phần vì trong khoa học cần có một sự bảo thủ nhất định, nhưng một phần khác cũng là vì định kiến của cộng đồng khoa học với mảng nghiên cứu này – một điều mà GS. Loeb đặc biệt nhấn mạnh.      Triết lý khoa học và những nhân tố giễu cợt     Trong cuốn sách mới nhất, GS. Loeb nêu một ví dụ. Một quan sát mới về phân tử hydrogen trong những thời kì đầu của vũ trụ cho thấy nhiệt độ của nó thấp hơn nhiều lần tiên đoán. GS. Loeb đã công bố một giả thuyết rằng, có thể là do vật chất tối là một hạt với diện tích rất nhỏ đã làm nguội hydrogen. Bản thân công bố này cũng mang tính suy đoán cao, tuy nhiên nó hoàn toàn không gây ra quá nhiều tranh cãi, và Loeb cho rằng việc này chứng minh cho định kiến của cộng đồng khoa học. (Muñoz, Loeb 2018)    Hơn ai hết, các nhà học SETI hiểu rất rõ định kiến này. Viện Nghiên cứu SETI – Search for Extra-Terrestrial Intelligence (Tìm kiếm Sự sống Thông minh ngoài Trái đất), khởi đầu là một dự án nghiên cứu thuộc NASA. Các kính thiên văn radio của SETI liên tục theo dõi bầu trời để tìm kiếm những dấu hiệu của văn minh ngoài Trái đất, ví dụ như những tín hiệu được điều biến. Việc theo dõi tín hiệu vô tuyến cũng giúp nghiên cứu hiện tượng khoa học, như bức xạ vô tuyến từ fast radio bursts (FRBS), hố đen và các sao từ (magnetar). Lượng công bố khoa học của SETI không thua kém các ngành khác. (Wright, Oman-Reagan 2017)    SETI không phải ưu tiên đầu tư của hội đồng khoa học quốc gia, và đã trải qua nhiều cuộc cắt giảm ngân sách và ngừng hoạt động nhiều lần. Nếu không vì những khoản đầu tư tư nhân, SETI đã không còn nữa. Các nhà vật lý thiên văn ngày nay đặt nhiều nỗ lực tìm kiếm những chỉ dấu sinh học (biosignatures) hơn là những chỉ dấu công nghệ văn minh (technosignatures).     Wright, Oman-Reagan (2017) viết rằng, ‘giggle factor’ (nhân tố giễu cợt) là một trong những rào cản lớn nhất của thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu về SETI. Nhân tố giễu cợt này đến từ độ nổi tiếng của chủ đề người ngoài hành tinh trong văn hóa đại chúng. Nhưng cứ mỗi bộ phim về người ngoài hành tinh được tư vấn nghiêm túc về mặt khoa học – Contact (2001), Interstellar (2014), Arrival (2016) – thì có hàng tá những bộ phim người ngoài hành tinh được sản xuất vì mục đích giải trí hơn. Tồn tại không ít những nhóm không nhỏ xoay quanh những thuyết âm mưu cực đoan về UFO. Vì thế, ngay trong chính cộng đồng vật lý thiên văn, các nhà khoa học SETI nghiêm túc vẫn đối diện với định kiến về công việc của họ như một ngành ‘trên trời’.    Với các dữ liệu về ngoại hành tinh, ta đã tính toán được thiên hà của chúng ta có hơn 200 tỉ ngôi sao, và cứ trong 4 ngôi sao có ít nhất một hành tinh nằm trong quỹ đạo có thể có sự sống với nhiệt độ bề mặt tương tự Trái đất. Con số đó tính ra là hơn 50 tỉ hành tinh giống Trái đất chỉ riêng trong dải ngân hà. Đó là chưa nói về số lượng các hành tinh trong vũ trụ khả kiến, với con số ước tính khoảng 1021 (Loeb 2020). Các nhà khoa học dù thận trọng nhất, đều không bỏ qua khả năng rằng có sự sống tồn tại ngoài Trái đất – đơn bào, đa bào, thông minh hay bất kì thể dạng nào khác. Nhưng đơn giản là chúng ta không thật sự biết, vì chưa có bất kì bằng chứng hay dữ kiện nào thật sự chắc chắn.     Vì thế, SETI có thể được xem là một nghiên cứu dựa trên một giả định triết học về tự nhiên hơn là dựa trên dữ liệu đã biết. Các investigation như này không phải hiếm: các nhà vật lý dành nhiều thời gian và công sức để phát triển lý thuyết dây, siêu đối xứng, hay các hạt mới để giải thích vật chất tối. Họ cũng dựa trên những giả định lý thuyết mang tính lý luận triết học, với rất ít bằng chứng thực nghiệm. Nếu so sánh với những chuyên ngành lý thuyết nhất trong vật lý, việc tìm kiếm sự sống là một mục tiêu vẫn còn tương đối thận trọng.    Thực tế mà nói, thử sai là một quá trình cơ bản trong khoa học. Nếu thất bại trong việc kiểm chứng các lý thuyết này, thực nghiệm đó cũng là một thành công. Công sức sẽ được dành cho những giả thuyết khác để hiểu hơn về cách tự nhiên hoạt động.     Khoa học phải có khả năng lặp lại      Quay về câu chuyện của ‘Oumuamua, tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết rõ ràng và nhiều giả thuyết mở (vào tháng 3/2021, các nhà khoa học đưa ra một bằng chứng về băng nitrogen với giả thuyết ‘Oumuamua là một phân mảnh của một ngoại hành tinh ở rìa một hệ sao (Desch et al, 2021)). Một lí do quan trọng đơn giản là có quá ít dữ liệu về vật thể này. Không chỉ thiếu dữ liệu, GS. Loeb chỉ ra, vấn đề của các nghiên cứu về technosignature là thiếu tính lặp lại. Các sự kiện bức xạ vô tuyến lớn mà SETI theo dõi cũng chỉ xảy ra một lần. Trong khi đó, reproducibility (nghiên cứu khả lặp – khả năng lặp lại cùng một kết quả của một nghiên cứu) là một phần quan trọng của thực nghiệm.     Vì thế, GS. Loeb cho rằng cách duy nhất để có câu trả lời xác đáng là tiếp tục theo dõi những chuyến thăm ngoại hành tinh này với kính thiên văn Pan-STARRS và kính thiên văn Vera C. Rubin, và trong tương lai, gửi một tàu thăm dò đến những vật thể này. Các tính toán cho thấy xác suất của một vật thể liên sao tiếp cận gần Trái đất là ít nhất một sự kiện mỗi năm, và thậm chí có thể nhiều hơn ở rìa hệ Mặt trời.    Trong khi ‘Oumuamua thoát li hệ Mặt trời trên hành trình xuyên qua những vì sao, ngày càng xa hơn với Trái đất, những nhà khoa học đối diện với thực tại của các định kiến trong nghiên cứu. Các nhà khoa học cũng là con người – và con người thì luôn bị ảnh hưởng bởi định kiến. Việc hiểu rõ các định kiến và giả định vô căn cứ là rất quan trọng trong quá trình làm khoa học.     Câu nói của Carl Sagan về sự sống ngoại hành tinh sẽ rất phù hợp, “không tồn tại bằng chứng rất khác với bằng chứng cho sự không tồn tại”. Thế giới rộng lớn hơn nhiều so với hiểu biết của con người, và khoa học cũng cần thận trọng với những điều chưa biết và chưa ai hình dung tới cũng như là những điều chưa biết mà người ta đã nghĩ tới. Những nghiên cứu khoa học để tìm hiểu về sự sống ngoài Trái đất vì thế nên được xem trọng, dù là ở mức độ đơn bào hay ở mức độ của một nền văn minh, vì chúng đều là những câu hỏi khoa học chính thống.□  —  Về tác giả: Nguyễn Phúc Đạt, là sinh viên tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Không gian, trường ĐH Quốc Tế, Đại học Quốc gia TP.HCM, và là thành viên của nhóm nghiên cứu Vật lý Thiên văn VARNET, với sự chủ trì của GS. Hoàng Chí Thiêm, TS. Lê Ngọc Trẫm, PGS.TS Phạm Ngọc Điệp cùng cộng sự. (https://sites.google.com/view/sf2-varnet/home)    Author                Nguyễn Phúc Đạt        
__label__tiasang Pennicillin và người trồng nấm thầm lặng      Ngày nay nhiều người đã biết câu chuyện về sự ra đời của penicillin, cũng như tên tuổi của những người giành giải Nobel nhờ góp công phát hiện ra loại thuốc kháng sinh này. Tuy nhiên, có một người đã có những đóng góp mang tính mở đường cho sự ra đời của loại thuốc kháng sinh này nhưng không mấy ai biết đến, đó là Norman Heatley (1911-2004).    Những người biết phương pháp phi chính thống và đầy sáng tạo của Heatley – được dùng để chiết xuất penicillin thành những lượng đủ lớn cho thí nghiệm trên chuột và người vào năm 1940 – tin rằng nếu không có Heatley thì Ngài Alexander Fleming, giáo sư Howard Florey và tiến sĩ Ernst Chain sẽ không thể đoạt giải Nobel vào năm 1945. Nếu thiếu công trình độc đáo và đầy sáng tạo của ông tại Trường Y Sir William Dunn (ở Oxford) cũng như sự cộng tác nhiệt tình của ông với các nhà khoa học của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ở Peoria, bang Illinois và công ty Merck ở Rahway, New Jersey, thì việc tách lọc, tinh chế và sản xuất penicillin – thuốc kháng sinh đầu tiên mà loài người chế ra – đơn giản là bất khả thi trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến và hậu quả sẽ là vô số người chết vì nhiễm trùng.  Nhưng vì sao cộng đồng khoa học lại xem nhẹ một nhà khoa học đã có những đóng góp mang tính mở đường cho các đột phá về công nghệ trong phát triển thuốc kháng sinh?   Cơ duyên  Norman Heatley sinh ra tại Woodbridge, Suffolk (Anh) vào ngày 10 tháng Giêng năm 1911, là người con duy nhất sống sót của một bác sĩ thú y địa phương và vợ. Sau khi tốt nghiệp trung học ở Tonbridge, ông vào học trường cao đẳng St John tại Cambridge và lấy bằng Khoa học Tự nhiên năm 1933, rồi trở thành tiến sĩ 3 năm sau dưới sự dẫn dắt của Joseph Needham, một nhà khoa học nổi tiếng trong lĩnh vực sinh hóa.  Trong thời gian học với Needham, tài năng của Heatley, đặc biệt là trong lĩnh vực hóa học vi lượng, đã giành được sự chú ý từ tiến sĩ Ernst Chain, một nhà khoa học Đức trẻ tuổi, sống lưu vong và làm việc tại phòng thí nghiệm Cambridge cùng giáo sư từng đoạt giải Nobel, ngài Franklin Gowland Hopkins.  Chain, vốn giàu tham vọng chuyển tới Oxford làm giảng viên về bệnh dịch học năm 1935, tham gia vào một nhóm nhà nghiên cứu mà đứng đầu là nhà khoa học xuất chúng người Úc Howard Florey, giáo sư bệnh dịch học trẻ tuổi nhất trong lịch sử Oxford.  Chàng trai Heatley cũng được Florey mời tới trường Oxford vào ngày 3/9/1936. Được làm việc dưới quyền những khoa học gia giỏi, nhưng Heatley không bao giờ xem mình như một ngôi sao mới đang hình thành. Trái lại, ông nhận thấy mình là một người làm ứng dụng thực tiễn chứ không phải lý thuyết gia, một người có thể xử lý đa dạng các vấn đề theo những cách thức không hề có trong sách giáo khoa.  Tuy chính thức được Florey mời về Oxford nhưng Heatley ban đầu được tuyển dụng làm chuyên gia về vi cơ khí phục vụ cho dự án của Chain về enzyme liên quan tới ung thư. Song làm việc với Chain không phải dễ; một con người trí tuệ và đầy khả năng sáng tạo nhưng cũng vô cùng đồng bóng và cực đoan. Việc cộng tác giữa hai cá tính quá khác biệt như vậy luôn có xu hướng căng thẳng. Chain bốc đồng và kiêu ngạo, bộc phát và hung hăng; Heatley thì duyên dáng, kín đáo, chu đáo và khiêm tốn. Chain rất hiếm khi, nếu không muốn nói là không hề, khen ai ngoài chính mình, còn Heatley thường xuyên xin ý kiến của các nhà khoa học khác và là một học giả lịch thiệp. Ngạn ngữ xứ Wykeham “thái độ làm nên con người”1 áp dụng rất phù hợp vào mẫu người cổ điển của Heatley.   Trong công việc hai cá tính khác biệt nhau này cũng đối lập một trời một vực. Chain làm việc theo từng cơn bộc phát. Ông năng nổ một cách bất tận, vừa đi quanh phòng thí nghiệm vừa nói oang oang nhằm tìm kiếm nguồn cảm hứng, hoặc hô hào các đồng nghiệp. Trong khi đó, Heatley hiệu quả một cách thầm lặng, chỉ muốn sự trật tự và bình yên để tập trung vào quan sát và làm thí nghiệm. Vì vậy, tranh cãi giữa hai nhà khoa học này trở nên thường xuyên, gây tâm lý căng thẳng mệt mỏi trong phòng thí nghiệm. Nếu như Florey không can thiệp và giải tán đội hình bất ổn này vào tháng Chín năm 1939 thì hẳn là anh chàng Heatley trẻ tuổi hơn đã rời bỏ trường Dunn để tới Copenhagen theo chương trình hợp tác Rockefeller.  Nhưng may thay, đúng vào giai đoạn đó Florey đi tới kết luận rằng trường Dunn cần phải điều phối lại các nguồn lực để tiến hành các đề tài nghiên cứu có tính thực dụng và hấp dẫn hơn với các nhà tài trợ tiềm năng. Do vậy, cuối những năm 1930 khi chiến tranh đang đến gần, ông quyết định thành lập một nhóm gồm những cộng sự nghiên cứu các chất kháng khuẩn.   Lúc đó, người ta đã biết rằng trong Đệ nhất Thế chiến, có nhiều người chết vì nhiễm trùng hơn là vì bom đạn trên chiến trường. Vì thế, Florey cũng như nhiều người khác, đã bị cuốn hút bởi bài báo khoa học gây chấn động của Alexander Fleming đăng trên tạp chí British Journal of Experimental Pathology vào năm 1929 về tác dụng kháng khuẩn của Penicillium notatum. Kể từ khi bài báo ra đời, Fleming đã tìm cách cô lập, chiết xuất và tinh lọc loại hợp chất rất bất ổn định này trong suốt hai hay ba năm nhưng không hề đạt được một tiến triển đáng kể nào sau khám phá ban đầu. Đến giữa những năm 1930, Fleming chán nản với hợp chất thách đố đó đến mức ông bắt đầu tin rằng bí mật của nấm mốc có lẽ không mấy quan trọng về mặt y học đối với nhân loại.   Năm 1938, không nao núng vì tất cả các nhà khoa học Anh khác đều đã từ bỏ lĩnh vực này, Florey yêu cầu Chain xem lại bài nghiên cứu và đề xuất một hướng tiếp cận mà trường Dunn có thể theo đuổi được. Chain không cần đợi mời đến lần thứ hai. Ông đọc ngấu nghiến, như cách ông vẫn đọc, và qua đó cập nhật tất cả những thông tin có thể thu thập được về những chất được hi vọng là có tính năng kháng khuẩn. Cho dù có những tính chất khó kiểm soát, Penicillium notatum dường như mang lại cơ hội tốt nhất cho một bước đột phá, chưa kể đến một lợi thế là một vài mẫu nấm mốc từ phòng thí nghiệm của Fleming ở Bệnh viện St Mary tại Paddington vốn đã được lưu giữ tại trường Dunn và họ có thể bắt tay ngay vào công việc, nhằm tìm cách trồng, chiết xuất, và tinh lọc thứ mà sau này thế giới biết đến rộng rãi với tên gọi penicillin.  Trong lúc Chain cố gắng phân tích cấu trúc hóa học của Penicillium notatum thì Florey đảm nhiệm việc đánh giá tác động sinh học của nó. Tuy nhiên, cả hai người đều không làm được gì nhiều nếu không có một lượng hoạt chất penicillin tinh chế đủ lớn tách từ nấm mốc. Vậy nên Heatley đã được giao trách nhiệm trồng thêm thật nhiều nấm mốc, với số lượng quy mô lớn chưa từng có.  Vượt qua thử thách  Việc trồng nấm mốc, cấy lên đó một bào tử Penicillium notatum rồi nuôi ở nhiệt độ 24-26 độ C trong vòng 10 ngày, vốn là một quy trình đã được biết đến rộng rãi. Tuy nhiên, trồng nấm là việc dễ, còn tất cả các công đoạn còn lại đều phức tạp kinh khủng.   Vấn đề Heatley cần giải quyết là phải có những bình chứa phù hợp để trồng nấm. Ông nhanh chóng nhận ra rằng rất nhiều thứ có thể được sử dụng cho quá trình này, từ chai lọ tiệt trùng cho đến những món đồ “độc đáo” khác như can đựng xăng, đĩa đựng bánh hay hộp bánh bích quy. Nhưng bồn trồng nấm tốt nhất và khó tin nhất của ông hóa ra lại là những chiếc bô tráng men mà ông mua từ bệnh xá Radcliffe đúng lúc họ đang có dư thừa.  Mặc dù Heatley tạo ra được nhiều nấm mốc chưa từng có nhưng hoạt chất penicillin tồn tại trong dung dịch màu vàng thu được sau quá trình ươm chỉ là một milligram trong một lít. Tách lượng hoạt chất nhỏ như thế là vô cùng khó, vì penicillin, như Fleming, Raistrick và những người khác đã nhận thấy từ thời kỳ 1928-34, là một hợp chất vô cùng kém ổn định, có thể bị phá hủy do tác động của acid và kiềm mạnh, một số hóa chất, kim loại hay một số môi trường nhiệt độ. Vì vậy, những phương pháp điều chế thông thường sẽ không khả thi.  Heatley một lần nữa vượt qua thách thức. Ông sáng chế ra một chiếc máy đối lưu để thực hiện quá trình tách ngược mà Chain ban đầu cho là không hợp lý và không đáng theo đuổi. Thực tế đã chứng minh rằng Chain đã sai khi chiếc máy hoạt động “tốt như mơ”. Điểm mấu chốt là môi trường nuôi bị nhiễm acid dưới những tấm phủ đã được lọc qua vải dù cũ, được làm mát và được thổi ê-te trong những ổng thủy tinh dài. Sau này, Heatley cải thiện nguồn tiếp xúc này bằng cách phun chất lọc thành những tia nhỏ theo hướng từ dưới lên trên để tạo thành các cột amyl-acetate di động. Khi quá trình này kết thúc thì dung môi chứa penicillin sẽ được thu lại ở đầu trên ống còn chất thừa thì được rút ra từ đầu dưới và đổ đi.  Heatley sau đó tìm cách dùng một quá trình đối lưu tương tự để tách amyl-acetate vào trong nước có pha kiềm loãng và trong quá trình này, penicillin sẽ được thu ở đầu dưới ống. Sản phẩm thu được sau quá trình kép này sẽ được Chain cô đặc và làm khô thành một thứ bột bền vững màu nâu, có lẽ nhiều nhất khoảng 5 đơn vị penicillin mỗi milligram.   Đi vào lịch sử  Mặc dù việc tách penicillin vẫn chưa thực sự hiệu quả và sản phẩm về cơ bản vẫn chưa được nguyên chất nhưng Florey đã thu được lượng hoạt chất đủ để làm thí nghiệm đầu tiên vào hai ngày cuối tuần 25 và 26 tháng Năm năm 1940. Florey tiêm một liều vi khuẩn streppococci mạnh đủ gây tử vong lên 8 con chuột thí nghiệm. Hai giờ sau, 2 trong số 8 con chuột được tiêm thêm một liều đơn 10mg penicillin. 2 con khác được tiêm 5mg penicillin ngay lúc đó và thêm 4 liều 5mg nữa lần lượt sau 3, 5, 7 và 11 giờ kể từ khi bị nhiễm khuẩn. 4 con chuột còn lại (mẫu tiêu chuẩn) không hề được tiêm penicillin và suy nhược nhanh chóng. Trong khi mẫu tiêu chuẩn không thể trụ được và chết sau khoảng 13 đến 17 giờ kể từ lúc bị lây nhiễm, những con đã được tiêm penicillin lại tỏ ra rất khỏe và năng động.   Một mình trong phòng thí nghiệm lúc 3 giờ 45 phút sáng, Heatley ghi lại một trong những khoảnh khắc lịch sử của thập kỷ vào nhật ký: “Có vẻ như P có tầm quan trọng thực tiễn.” Ông cũng thú nhận là đã mặc ngược quần lót và coi đó là một điềm lành. Có thể đúng vậy thật. Sau này ông còn kể với người viết bài này rằng vào lúc đạp xe qua cầu Magdalen trong ánh bình minh của ngày mới hôm đó, ông đã huýt sáo một giai điệu vui tươi.   Tinh thần lạc quan của ông có cơ sở vững chắc. Đến trưa ngày Chủ nhật, lũ chuột được tiêm thuốc vẫn sống khỏe mạnh, Florey và nhóm của ông rất phấn khích. Tuy nhiên, penicillin có thực sự là một bước đột phá trong việc kháng khuẩn hay không thì còn lâu mới khẳng định được.   Suốt chín tháng sau đó, nhóm Oxford thực hiện thêm rất nhiều thí nghiệm bổ sung trên động vật để chứng minh sức mạnh của penicillin trong việc chữa trị. Nhưng liệu những tính chất kháng khuẩn đáng chú ý đó khi dùng trên cơ thể người, có nhiều nội tạng phức tạp hơn hẳn những động vật trong phòng thí nghiệm đã được dùng thử, có đạt hiệu quả hay không? Nếu như penicillin gây hiệu ứng phụ đáng kể trên cơ thể người như trên chuột lang thì sao? Chỉ có một cách duy nhất để biết – cần phải làm một loạt thí nghiệm lâm sàng trên những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Và để có thể bắt đầu làm thí nghiệm thì cần phải có được một lượng penicillin nguyên chất lớn gấp 600 lần so với 600 đơn vị penicillin dùng trong thí nghiệm với chuột (để sản xuất ra 600 đơn vị penicillin phải cần tới 1 tuần).   Dù chiếc máy đối lưu của Heatley hoạt động ổn định nhưng nó chỉ tạo ra được 12 lít dung dịch trung gian mỗi giờ. Ông hiểu rằng phương pháp “dùng tạm” kỳ quặc này sẽ không thể cung cấp đủ lượng penicillin cần thiết để làm thí nghiệm trên người, và vì thế mà ông bắt tay vào thiết kế một mẫu bồn nuôi hiệu quả hơn, rồi tìm được một công ty gốm sứ ở Burslem có thể sản xuất ra thứ mà ông cần. Bồn nuôi mới này có thể được tích hợp ngay vào trong dây chuyền sản xuất đã được lắp đặt tại trường Dunn.   Tuy nhiên, dù lượng penicillin thu được lớn hơn bao giờ hết nhưng vẫn còn rất xa mới đủ mức cần thiết. Sự thật đáng buồn này đến với nhóm Florey và các nhân viên ở bệnh xá Radcliffe khi họ để mất một bệnh nhân bị nhiễm trùng cấp tính vào tháng Ba năm 1941, chỉ đơn giản vì họ hết penicillin trước khi quá trình điều trị cho người này hoàn tất.  Bất chấp những bằng chứng về hiệu quả điều trị của penicillin xuất hiện ngày càng nhiều, các công ty dược lớn của Anh lúc đó, không hiểu vì lý do gì, vẫn án binh bất động trước những khám phá của nhóm Oxford suốt những năm 1940-1941. Thất vọng nhưng không nản chí vì sự thờ ơ đó, Florey và Heatley bay tới Mỹ để giới thiệu công trình của mình và tìm kiếm đối tác cho dự án penicillin từ những công ty và viện nghiên cứu lớn của Mỹ.   Ngây thơ và bị bội ước  Bỏ qua cơ hội đăng ký bản quyền công nghệ những phát hiện của mình, các nhà khoa học Anh đã giới thiệu với những người chủ nhà Mỹ tất cả những gì họ đã khám phá được, và  người Mỹ đã nhanh chóng thu xếp để Heatley đến làm việc tạm thời với Bộ Nông nghiệp Mỹ tại một trong những phòng thí nghiệm về men của họ ở Peoria, Illinois.   Heatley được yêu cầu làm việc với tiến sĩ Andrew Moyer, một nhà nghiên cứu cao cấp tài năng nhưng bướng bỉnh, và than ôi, là một người chống Anh quyết liệt. Mặc dù ông này và Heatley đã đồng ý ngầm với nhau rằng sẽ cộng tác mật thiết và cùng công bố các kết quả thu được từ sự hợp tác đó nhưng Moyer nhanh chóng bội ước và xuất bản một số bài báo đứng một mình tên ông ta trong thời kỳ chiến tranh rồi đăng ký 5 bằng sáng chế về bào chế penicillin.  Sau 4 tháng làm việc với Moyer và đạt được mức sản lượng nấm mốc gấp 10 lần nhờ việc chuyển từ dung môi muối và gluco (Czapek-Dox) sang loại lactose và nước bột ngô xay, Heatley rời đến Rahway, New Jersey, để thực hiện một nghiên cứu kéo dài sáu tháng tại phòng thí nghiệm của công ty Merck. Nhưng trước khi ông kịp đến nơi vào giữa tháng Mười Hai thì nước Mỹ bị cuốn vào cuộc chiến. Đến thời điểm Heatley hoàn thành nghiên cứu vào mùa hè năm 1942 và trở về Oxford thì bí mật về penicillin đã được chính thức chuyển tới tất cả các lãnh đạo quan trọng tại các cấp liên quan ở Bắc Mỹ. Thế rồi các công ty dược lớn của Mỹ bắt đầu hốt bạc từ những phát hiện của trường Dunn, và chỉ đền đáp cho trường rất ít, hoặc thậm chí không gì cả. Đây hoàn toàn không phải là những gì mà Florey và Heatley trước đấy từng hình dung khi họ bay tới New York vào tháng Sáu năm 1941.  Đóng góp đặc biệt to lớn của Heatley vào lịch sử phát triển penicillin là không thể chối cãi, vậy mà khi cộng đồng khoa học chính thức thừa nhận thành quả của những người liên quan chính tới việc khám phá ra loại thuốc này thì tên ông lại bị bỏ qua một cách khó hiểu. Dù thật sự Heatley chưa từng làm gì để tự quảng bá nhưng đáng lẽ Hiệp hội Hoàng gia phải biết sửa sai bằng cách bầu ông làm Ủy viên. Đáng tiếc là Hội đồng lại từ chối đơn ứng cử của ông với lý do ông chỉ đơn thuần là “đôi tay của Florey”. Đây là một bất công quá lớn khi mà vai trò của ông rõ ràng không chỉ là một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm.   Tuy nhiên, Heatley không theo đuổi vinh quang và cũng không cáu giận khi vinh quang bỏ qua ông. Có lẽ, đây mới là điều thực sự cho thấy giá trị thực sự của một con người đáng ngưỡng mộ. Năm 1998, Ngài Henry Harris, Giáo sư Hoàng gia về Y học tại Đại học Oxford, tóm tắt những đóng góp khoa học trong lịch sử phát triển penicillin như sau: “Không có Fleming thì không có Chain hay Florey; không có Chain thì không có Florey; không có Florey thì không có Heatley; không có Heatley thì không có penicillin.”  Lời truy tặng thật hay, và Heatley xứng đáng với nó.         Malcom Murfett dạy Lịch sử Anh và châu Âu Hiện đại tại Đại học Quốc gia Singapore, và là Phó Tổng biên tập kỷ yếu Oxford Dictionary of National Biography          Hoàng Minh dịch theo   http://www.historytoday.com/malcolm-murfett/penicillin-quiet-cultivator  —-  1 Tạm dịch từ nguyên văn “Manners maketh man”, một danh ngôn của Willian xứ Wykeham (1320-1404), giám mục Winchester, người sáng lập Đại học Winchester    Author                Quản trị        
__label__tiasang Penrose nhớ đến Hawking      Nhà vật lý mới đoạt giải Nobel Roger Penrose cho rằng, đồng nghiệp của mình là Stephen Hawking hết sức xứng đáng cùng nhận giải thưởng với ông sau khi ho cùng có những nghiên cứu tiên phong về lỗ đen.      Penrose ở tuổi 89 nói với các phóng viên là ông vừa bước khỏi phòng tắm thì nhận được thông tin đoạt giải thưởng từ Ủy ban Nobel.  “Tôi không hề chờ đợi tin vui này. Đây là vinh dự lớn và tôi chắc chắn là nó sẽ đem lại lợi ích là thúc đẩy các ý tưởng mà tôi hi vọng mọi người sẽ nhìn nhận một cách nghiêm  túc hơn về vũ trụ học”, ông nói từ ngôi nhà mình ở Oxford.  Hiểu về lỗ đen là điều quan trọng để rọi ánh sáng vào những nguồn gốc của vật chất và vũ trụ, nhà toán học nói, và hiểu những “điểm kì dị” nằm ở tâm điểm của chúng chính là “câu đố khó nhất” mà các nhà vật lý thiên văn phải đối mặt ngày nay.  “Chúng tôi chưa biết cách mô tả thứ vật lý diễn ra ở tâm các thiên hà”, ông nói.  Penrose đã nhận giải Nobel với hai nhà vật lý khác. Công trình giúp ông nhận giải  là nghiên cứu năm 1964 chứng tỏ Thuyết tương đối rộng của Albert Einstein dẫn đến sự hình thành lỗ đen.  Penrose là một trong những người chấm thi tiến sĩ của Hawking năm 1966, và họ hợp tác trong nghiên cứu về nguồn gốc của vũ trụ. Martin Rees, nhà thiên văn học Anh, cho rằng họ là “hai cá nhân đã làm được nhiều hơn bất cứ ai kể từ Einstein để làm sâu sắc hơn hiểu biết của chúng ta về hấp dẫn”.  “Thật đáng buồn, giải thưởng này đã bị trì hoãn quá lâu khiến Hawking không thể chia sẻ vinh quang với tôi”, ông nói.  Hawking đã qua đời vào tháng 3/2018 sau một thời gian dài mắc bệnh thoái hóa thần kinh. Ông đã dành cả cuộc đời mình để giải thích về sự tồn tại của các lỗ đen và Big Bang tại thời điểm khai sinh vũ trụ.  Penrose nói, một giải Nobel cho Hawking có thể “rất xứng đáng” nhưng điều này có thể bị cản trở bởi mong muốn của Ủy ban giải thưởng là vinh danh những kết quả có thể kiểm chứng về mặt khoa học hơn là những tính toán lý thuyết.  Dẫu vậy thì ông cho rằng bằng chứng ủng hộ các lý thuyết về bức xạ từ bốc hơi của các lỗ đen già hơn của Hawking, ngay cả từ một vũ trụ tồn tại trước đây, rất mạnh và có lẽ được “minh oan đúng lúc.  Với bản thân mình, Penrose cho rằng ông rất mừng là đã đợi đến tận cuối đời trước khi nhận được Nobel. “Thật tệ nếu như nhận được giải Nobel quá sớm. Tôi biết những người mà tôi biết là nhận giải quá sớm, và điều đó làm hỏng công việc nghiên cứu của họ”, ông nói.  Nói về phim khoa học viễn tưởng, Penrose nói ông “yêu” “2001: A Space Odyssey” của Stanley Kubrick. Nhưng bộ phim gần đây của Christopher Nolan là “Interstellar”, khắc họa một lỗ sâu đục sau một tủ sách là “vô nghĩa”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-uk-nobel-physics-laureate-tribute.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Perelman      Trong lịch sử khoa học, một điều có vẻ như rất bình thường là có rất nhiều thiên tài tỏ ra “không bình thường”. Pythagoras, Archimedes, Pascal, Newton, Godel… tất cả đều từ bỏ một cuộc sống bình thường để theo đuổi những lĩnh vực mà hầu hết những người cùng thời với họ đều không thể hiểu được.    Nhà toán học người Nga Grigory Perelman dường như cũng đang làm theo cái điều rất bình thường đó. Ông đã từ chối Huy chương Fields, giải thưởng danh giá nhất trong toán học. Perelman rất xứng đáng nhận giải thưởng này vì công trình của ông đã mở ra lời giải cho phỏng đoán Poincaré, một bài toán liên quan đến cấu trúc cơ bản của những vật thể ba chiều, đã làm đau đầu các nhà topo suốt một trăm năm trời. Perelman cũng tỏ ra không thèm đếm xỉa gì đến giải thưởng 1 triệu đôla do Viện Toán Clay ở Cambridge trao tặng.  “Tôi biết rằng, có nhiều người thích thăng tiến và thích được nổi tiếng, đó cũng là chuyện bình thường và tôi mong là họ sẽ gặp may mắn”, ông nói với tờ Telegraph ở London, “nhưng với bản thân tôi thì chuyện đó chẳng có gì hay ho cả”.  Người ta không biết nhiều về tiến sỹ Perelman vì ông thường từ chối kể về mình trước báo giới. Ông sinh ngày 13 tháng 6 năm 1966, học trường năng khiếu toán lý ở St Petersburg. Năm 16 tuổi, Perelman đoạt huy chương vàng Olympic toán quốc tế với số điểm tuyệt đối. Sau khi học xong phó tiến sỹ ở Đại học St Petersburg, ông làm việc ở Viện Toán Steklov. Cuối những năm 1980, ông sang Mỹ, và cách đây 10 năm ông trở về Steklov để thực hiện công trình nổi tiếng của mình.  Công trình của Perelman liên quan một cách cơ bản đến lĩnh vực topology (topo học). Theo tuyên bố của ông, công trình này đã là một lời giải tổng quát cho phỏng đoán hình học hóa của Thurston, trong đó phỏng đoán Poincaré là một trường hợp đặc biệt.  “Đây là một bài toán trung tâm của cả toán học và vật lý, bởi vì việc giải nó sẽ giúp ta hiểu hơn về những hình dạng khả dĩ của vũ trụ”, giáo sư Marcus Du Sautoy ở Đại học Oxford nói. “Rất nhiều người đã từng tuyên bố phỏng đoán này là sai”.  Theo http://www.guardian.co.uk  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang PGS Lê Minh Đại và nỗi lo      Hai mươi năm qua, PGS.TS Lưu Minh Đại đã miệt mài theo đuổi nghiên cứu về vật liệu đất hiếm của nước ta. Mới đây, ông cùng nhóm nghiên cứu (GS Đặng Vũ Minh, TS. Nguyễn Hồng Quyền, PGS.TS Đỗ Kim Chung, TS. Nguyễn Văn Huân) đã được nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học và công nghệ cho Cụm công trình: “Công nghệ vật liệu đất hiếm phục vụ sản xuất, đời sống và bảo vệ môi trường”.    PGS.TS Lưu Minh Đại sinh năm 1948 ở thị xã Phủ Lý – Hà Nam. Được cử đi học nước ngoài sau khi học hết cấp ba (lớp 10 thời đó), trường Đại học Hóa Công nghệ Mendeleev ở Matxcova đã cho ông nhiều kỉ niệm với nước Nga, trong đó, ấn tượng nhất là trận động đất ở Tasken, cùng kiến thức về chuyên ngành hóa Bức xạ, để khi trở về có thể đóng góp cho sự phát triển ngành năng lượng hạt nhân của Việt Nam.  Năm 1973, khi về nước, Lưu Minh Đại được phân công vào làm việc tại Viện Vật lí, dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng, GS. Nguyễn Văn Hiệu, một trong những nhà vật lí hàng đầu của nước ta. Ông cũng có một may mắn là được trực tiếp GS. Đặng Vũ Minh – Viện trưởng Viện KHCNVN hiện nay, phụ trách công tác. GS là người mà ông luôn xem như bậc đàn anh trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu phóng xạ và những khoáng chứa đất hiếm, Urani. Nhờ ngay từ những ngày đầu tiên tiếp xúc với các nhà khoa học lớn, được động viên và khuyến khích, gần mười năm sau, Lưu Minh Đại trúng tuyển kỳ thi nghiên cứu sinh và đăng kí chương trình nghiên cứu sinh tại Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, dưới sự hướng dẫn của GS. Korbusov, người cũng đạt nhiều thành tựu khoa học, trong đó, có giải thưởng Nhà nước trao cho công trình về đất hiếm và Urani. Vì vậy, “nối tiếp bước chân thầy” là điều mà ông ấp ủ nhất khi được Viện KHVL trao cho một phòng thí nghiệm để làm việc.  Theo PGS. Lưu Minh Đại, ở nước ta, vào những năm cuối của thế kỉ XX, cùng sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp hiện đại, đất hiếm với những tính chất vật lý, vật liệu học vô cùng phong phú cho ta những khả năng ứng dụng ngày càng hấp dẫn và đã được khẳng định trong sản xuất, đời sống. Tuy nhiên, những tính năng, công dụng của đất hiếm vẫn chưa được khoa học nghiên cứu và khai thác “đến nơi đến chốn”. “Nếu khai thác tận cùng những tầng chất từ vi mô đến vĩ mô của đất hiếm, ta sẽ tận dụng được tất cả để ứng dụng vào không chỉ ở những lĩnh vực mà ta từng triển khai như luyện kim, nấu thủy tinh, huỳnh quang, vật liệu từ… hay những ứng dụng khác trong nông nghiệp để nâng cao năng suất cây trồng, mà hiện nay vẫn mới dừng lại ở ứng dụng cho lúa, hạt điều, cà phê, lạc, chè”.             Ống khói lò đốt rác y tế        Tuy hạn chế, nhưng một số kết quả nghiên cứu điều chế đất hiếm mà Lưu Minh Đại cùng các nhà khoa học thuộc Viện KHVL đã khẳng định được là: chế tạo vật liệu có chứa đất hiếm để hình thành các chất xúc tác, từ đó sử dụng để giảm thiểu khí độc hại của ô tô, xe máy; đưa loại vật liệu này vào lò đốt rác y tế made in Vietnam, khắc phục những nhược điểm của lò đốt rác y tế nhập ngoại vốn có giá thành đắt, người sử dụng không làm chủ được công nghệ. Một số lò đốt rác y tế từ đây đã chuyển giao cho các đơn vị như Trung tâm kế hoạch hóa gia đình Nghệ An, Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn – Hà Nội, Bình Giang – Hải Dương, Dương Minh Châu – Tây Ninh… và trong nhiều năm vẫn hoạt động bình thường.  Ngoài ra, một số kết quả về nghiên cứu và điều chế đất hiếm của PGS. Lưu Minh Đại cùng các đồng nghiệp cũng đã được ứng dụng trong nông nghiệp, như sử dụng phân vi lượng cho canh tác lúa, năng suất lúa sẽ tăng lên từ 7-12 %, lá lúa dày hơn cho sức đề kháng chống lại các căn bệnh thường gặp như đạo ôn, khô vằn, nhất là bệnh đạo ôn cổ bông, đồng thời chất lượng hạt được nâng cao, từ đó người nông dân giảm bớt được chi phí trong vận chuyển, công sử dụng, tiền mua các loại phân đa lượng. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với đồng bào vùng sâu vùng xa. Với cây điều, cà phê, việc sử dụng các phân vi lượng hiếm cho phép cây rụng hoa ít, năng suất quả và chất lượng quả thu được tốt hơn. Hiện nay, Viện Công nghệ Xạ hiếm thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã triển khai chế phẩm đất hiếm đối với cây chè, những kết quả đầu tiên rất khả quan.  Một số vật liệu chế tạo từ ôxít đất hiếm kích thích nanô phục vụ cho công nghệ hạt mài trong lắp ráp thiết bị điện tử như tivi, các thiết bị kính quang học, bột huỳnh quang… cũng đã cho thấy khả năng ứng dụng rộng rãi các sản phẩm công nghệ phân chia và làm sạch đất hiếm. Với mong muốn chứng minh khả năng ứng dụng rộng rãi của đất hiếm trong đời sống, mặc dù rất bận rộn (bên cạnh nghiên cứu khoa học, ông còn là Trưởng ban tổ chức cán bộ của Viện KHCN, đồng thời phụ trách đào tạo cho nhiều thạc sĩ, tiến sĩ tại phòng thí nghiệm), vài năm gần đây, PGS. Lưu Minh Đại vẫn tranh thủ đến các di tích văn hóa, những chùa chiền, đền tháp nổi tiếng để áp dụng phương pháp hoá học cũng như một số chất chứa đất hiếm trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng. Đó là các hợp chất được điều chế từ đất hiếm, tiêm vào gỗ tác dụng chống mối, mọt, tiêm vào thân cây diệt các cây xâm hại quần thể kiến trúc… Là các loại vật liệu composit đưa vào các phần rỗng mục của cột, xà để gia cố bảo quản, phục chế các hạng mục di tích chất liệu gỗ.  Mấy chục năm gắn bó với đất hiếm, cho đến tận giờ, ông vẫn băn khoăn lo lắng, bởi theo ông, những lớp người đi trước nghiên cứu vật liệu đất hiếm nay đều đã lớn tuổi, lớp nhà khoa học kế cận thì vẫn… “chưa hết tâm sức”. Kinh phí cho nghiên cứu, triển khai và đầu ra vẫn là vướng mắc lớn cho các nhà khoa học, y hệt băn khoăn chưa tháo gỡ được của hầu hết các nhà khoa học ở những ngành nghiên cứu khác. Ông nói: “Tôi rất sợ bị… bỏ quên. Không phải là sự bỏ quên nhà khoa học, bỏ quên bản thân hay gì khác, mà là sự bỏ quên việc chưa đầu tư đúng mức cho một ngành khoa học có tiềm năng phát triển mạnh”.    Lê Mỹ      Author                Quản trị        
__label__tiasang PGS Trần Văn Ơn: Cầu nối khoa học với cộng đồng      Học trò ngành dược bảo “từ rừng rú tới hội nghị khoa học, chỗ nào cũng thấy dấu chân thầy phía trước”, còn những chuyên gia giảm nghèo đi cùng anh thì thốt lên “mô hình của anh Ơn không thể nhân rộng được”, bởi lẽ thật khó tìm thấy nhà khoa học nào tranh thủ từng ngày, từng giờ với cộng đồng như anh.      PGS.TS Trần Văn Ơn bên vườn tam thất sau thu hoạch ở Si Ma Cai, Lào Cai. Mặc dù các dược liệu như tam thất hoang, sâm vũ diệp là dược liệu đặc thù ở dãy Hoàng Liên Sơn, có chất lượng nổi trội nhưng hiện nay người dân vẫn chưa thể thoát nghèo dựa vào loại cây này (trong khi đó dược liệu này trên thị trường hầu hết được nhập khẩu từ Trung Quốc).  Nhẫn nại bám cộng đồng  “Mười lăm năm nay, một ba lô và chiếc xe bảy chỗ này, thầy đi khắp các hang cùng ngõ hẻm Tây Bắc, Đông Bắc đấy chị ạ”, Đức, một học trò của phó giáo sư Trần Văn Ơn trên chuyến xe từ Hà Nội đi tới hợp tác xã rượu Bâu ở Bằng Cả, Hoành Bồ (Quảng Ninh), đã giới thiệu một cách hào hứng về người thầy “độc nhất vô nhị” của mình.   Nếu không đi cùng, quả thực rất khó hình dung những gì mà anh đang làm để hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số phát triển các sản phẩm từ đặc sản thế mạnh của địa phương. Nếu lấy xuất phát điểm từ Sa Pa, qua một vòng cung các dãy núi, từ Phanxipăng của Lào Cai đến sống lưng khủng long ở Bình Liêu, cao nguyên đá Đồng Văn, những “học trò từ núi cao” của anh, từ Lý Láo Lở, Nịnh Văn Trắng hay Lý Tà Dèn… đều đang xây dựng những thương hiệu độc đáo từ dược liệu địa phương, từ thuốc tắm cho phụ nữ sau sinh đến “xa xỉ phẩm” như trà hoa vàng. Những người thật thà chất phác, nói tiếng Kinh còn có chút ngọng nghịu, đều chưa học hết lớp 9 này đã trở thành chủ nhiệm hợp tác xã, doanh nghiệp cộng đồng, nơi quy tụ mấy chục, cả trăm hộ gia đình miền núi cùng làm việc. Mỗi người như thế đều mang trong lòng những ước mơ mà ngày trước, họ còn không dám nghĩ tới, như “ông giám đốc” lớp 9 Lý Láo Lở đặt mục tiêu doanh thu 30 – 50 tỉ mỗi năm trong 10 năm tới, Lý Tà Giàng mơ làm vườn bảo tồn dược liệu quý trên “cổng trời” Quản Bạ.      “Sapanapro cho tôi bài học rất lớn, đó là để trí tuệ cộng đồng ấy không bị mất đi, chỉ có một con đường là để cộng đồng người dân sở hữu chính tài sản của mình, và mình phải cùng họ đứng lên làm chủ vận mệnh”, PGS.TS Trần Văn Ơn nói      Tập hợp được những người dân nơi này và đưa cho họ cơ hội “làm giàu từ sản vật địa phương” – cụm từ mà người ta thường nhắc đến trong vài năm trở lại đây nhưng chúng tôi chỉ thấm thía giá trị của nó khi cùng phó giáo sư Trần Văn Ơn xuống tận từng hợp tác xã, đó là cả một quá trình kiên trì và nhẫn nại. Có cả ngàn công việc phát sinh trong quá trình gây dựng đó, đôi khi không phải do sản phẩm làm ra chất lượng kém mà từ nguyên nhân tưởng chừng rất vô lý, ví dụ chuyện ở Công ty rượu Bâu Bằng Cả của người Dao Thanh y này, giám đốc lớp bảy muốn bỏ ngang, nợ nhà nước một đống tiền máy móc thiết bị, nhà xưởng… nói chung là “chưa đâu vào đâu” khiến anh phải tức tốc phóng xe tới Hoành Bồ, Quảng Ninh họp lúc 12 rưỡi trưa với trưởng phòng Nông nghiệp huyện, giám đốc công ty, cán bộ kỹ thuật.   Chính sự nhẫn nại và tận tâm giải quyết từng việc tưởng chừng rất nhỏ và tưởng chừng không liên quan đến ngành học của mình đã đưa phó giáo sư Trần Văn Ơn theo từng “nhất cử nhất động” của hơn hai chục hợp tác xã, bảy doanh nghiệp các dân tộc thiểu số phát triển sản phẩm nông sản và thảo dược mà anh đã tư vấn gây dựng. Không có chuyện dựng lên rồi “đem con bỏ chợ”, đến ngày hôm nay, anh chưa bao giờ ngừng hỗ trợ bất kỳ một đơn vị nào, dù đã lớn hay còn nhỏ, đã phát triển mạnh hay đang “ngắc ngoải”. Bỏ sao được, đi kèm với những cơ sở đó là số phận của hàng trăm con người, nhất là khi mới có khoảng 1/3 phát triển mạnh, có lợi nhuận cao, 1/3 có lợi nhuận ở mức độ “bình bình”, đủ chia lãi với thu nhập ổn định cho các “cổ đông”, số còn lại vẫn phải vật lộn để sống. Mỗi giai đoạn phát triển, người dân đều vướng vấn đề rất khác nhau nên chỉ những người đã có vài chục năm lăn lộn với miền núi, chứng kiến muôn hình vạn trạng những va vấp khác nhau của các hợp tác xã hay doanh nghiệp cộng đồng như anh mới đủ trải nghiệm, đúc rút thành lý thuyết, nguyên tắc để cùng người dân vượt qua. Hơn tất cả những khung phân tích sinh kế bền vững đang được phân tích “đến nát nước” để làm rõ các nguồn vốn của cộng đồng, anh biết rằng, chỉ có những bài học thực tế mới giúp người dân đi qua tất cả những quanh co khúc khuỷu như cung đường “vạn cua lộ” từ Lào Cai sang Hà Giang mà anh đi, bởi “làm gì có khung sinh kế nào, có ai dạy làm cách nào tìm được người phù hợp để đứng đầu hợp tác xã, cách làm hồ sơ thuế hay tiêu chuẩn sản phẩm, sửa từng lỗi dây chuyền ngoài mình đâu”.  “Những ‘điển hình tiên tiến’ được báo chí nói nhiều như Sapanapro của Lý Láo Lở ở Sa Pa, Lào Cai mà mình phát triển cũng có xuất phát điểm như công ty rượu Bâu này, hồi đó còn khó khăn hơn vì chưa có chương trình nào của nhà nước hỗ trợ như Nông thôn mới hay Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) như bây giờ”, anh giải thích. Quãng 15 năm trước, anh nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Sa Pa và phát hiện ra bài thuốc tắm là một tài sản vô cùng quý giá nhưng không người Dao đỏ nào được hưởng lợi từ nó. Ngay thị trấn Sa Pa, những phòng tắm thuốc đều của người… Kinh từ Hà Nội, Hà Tây (cũ) lên mở còn người Dao đỏ, giàu tri thức mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Do đó, điều bật ra trong đầu anh là “tốt nhất để người dân là chủ nhân, phát triển dựa trên tri thức của mình” giống hệt bao nhiêu cuốn sách, khung sinh kế bền vững phân tích về các nguồn nội lực của người dân tộc thiểu số như DFID (cơ quan phát triển Anh), IFAD (Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế) được đưa vào Việt Nam thời bấy giờ.     Vườn cây thuốc của Lý Tà Dèn (thứ hai từ trái sang), chủ nhiệm hợp tác xã Nậm Đăm trên cổng trời Quản Bạ, Hà Giang. HTX cộng đồng Nậm Đăm có 7 sản phẩm chính đã được Bộ Y tế cấp phép và được ưa chuộng gồm: cao củ dòm; cao atiso; cao bổ tỳ ích não; trà gừng cao nguyên đá; dầu xoa bóp; thuốc đau răng; các sản phẩm tinh dầu…   Nhưng “nói một câu quá dễ, ý tưởng nghe đơn giản, lúc xắn tay vào làm mới cực kỳ khó”, khâu đầu tiên là nghiên cứu ra sản phẩm, đơn giản hóa bài thuốc hàng trăm vị của người Dao, chọn lấy phần cốt lõi sau đó chuyển nấu thành cao, loại tạp chất để đưa vào sản xuất chưa phải là khó nhất vì anh chỉ cần nghiên cứu cùng hai “nữ tướng” bản địa Chảo Sử Mẩy và Lý Mẩy Chạn. Nhưng bắt đầu từ khâu chuyển giao kết quả nghiên cứu này mới thực sự “đau đầu”, “câu hỏi lớn nhất là tôi nghiên cứu xong rồi thì trả cho ai? Chẳng lẽ trả cho ủy ban xã? hay một cá nhân nào? đây là tri thức của cộng đồng thì các phương án ấy đều không phù hợp. Chia sẻ lợi tức từ tài sản trí tuệ này như thế nào? Mở tất cả các sách ra không chỗ nào nói về tình huống này, một mớ lý thuyết phát triển của Anh, Mỹ không hề phù hợp với mình”, anh kể. Doanh nghiệp cộng đồng của người Dao đỏ Sapanapro được lập ra, anh chuyển giao nghiên cứu và giúp đỡ cách tổ chức sản xuất, Lý Láo Lở làm giám đốc dù chỉ mới học chưa hết trung học cơ sở, từ chỗ chưa từng cầm chứng từ, con dấu, chạy dây chuyền sản xuất đến nay có doanh thu hơn chục tỉ mỗi năm và trở thành gương mặt “quen thuộc” của cộng đồng khởi nghiệp từ vốn bản địa. “Công ty đó cho tôi bài học rất lớn, đó là để trí tuệ cộng đồng ấy không bị mất đi, chỉ có một con đường là để cộng đồng người dân sở hữu chính tài sản của mình, và mình phải cùng họ đứng lên làm chủ vận mệnh”, anh nói.       Hơn tất cả những khung phân tích sinh kế bền vững đang được phân tích “đến nát nước” để làm rõ các nguồn vốn của cộng đồng, anh biết rằng, chỉ có những bài học thực tế mới giúp người dân đi qua tất cả những quanh co khúc khuỷu như cung đường “vạn cua lộ” từ Lào Cai sang Hà Giang mà anh đi, bởi “làm gì có khung nào, có ai dạy làm cách NÀO tìm được người phù hợp để đứng đầu hợp tác xã, cách làm hồ sơ thuế hay tiêu chuẩn sản phẩm, sửa từng lỗi dây chuyền ngoài mình đâu”.      Những công việc như thế hút phần lớn quỹ thời gian của anh, đến mức dường như mọi vật dụng của anh đều chiểu theo “hệ quy chiếu vùng cao”. Chiếc xe Mitsubishi 7 chỗ rút cục tiện việc di chuyển bởi gầm cao có thể vượt các khúc cua đường núi dễ dàng, cốp rộng đựng được đủ thứ hầm bà lằng nào lá cây cỏ cho đến hộp to hộp nhỏ những sản phẩm mẫu. Ngay cả lối ăn mặc của anh cũng giản dị, trong Hội nghị tổng kết OCOP gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp do Phó Thủ tướng chủ trì, anh vẫn áo sơ mi cũ, không vest đứng trên bục diễn giả, từ tốn và rành mạch nêu quan điểm của một người “khơi mào” ra chương trình OCOP đầu tiên trong cả nước ở tỉnh Quảng Ninh, đó là: làm sao để “phát triển từ dưới lên”, không áp một mô hình chung cho cả nước bởi bức tranh khó phát triển là chung nhưng đặc sản, đặc thù văn hóa, các nguồn vốn của từng nơi rất khác nhau mà không bài học kinh nghiệm nào giống nhau cả.   Vì thế, bắt đầu hành trình “di thực” OCOP lên Hà Giang, Bắc Kạn, vào Quảng Nam… có khi đều là các “hợp tác xã không đồng” nhưng anh vẫn cần mẫn viết chương trình riêng cho từng tỉnh, huyện, đánh giá từng đặc điểm của hợp tác xã, vì “mỗi nơi một kiểu không đồng”. Tất nhiên còn nhiều nỗi lo ở đó, “vì tâm lý, thói quen của cán bộ mình là vốn áp chế người dân phải làm cái này cái kia, không tôn trọng sự sáng tạo của người dân. Nhưng bàn tay có ngón dài ngón ngắn, có chỗ làm tốt chỗ chưa tốt, phải kiên trì, mất thời gian sẽ làm được”, anh nói.   Người con từ rẻo cao  “Tôi sinh ra từ miền núi, từ bé đã chứng kiến mẹ, ông ngoại tìm thuốc chữa bệnh nên khi học dược tôi đã quyết tâm nghiên cứu những bài thuốc từ cây cỏ”, anh kể. Là người Sán Chay đầu tiên của xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên bước chân vào giảng đường Đại học Dược, xuất thân “không đồng” nhưng dày vốn liếng nhờ “lớn lên cùng cây cỏ, thuộc mặt từng lá thuốc trong rừng” anh đã bước vào con đường nghiên cứu dược liệu. Tận tay, tận mắt thấy những bài thuốc dân gian chữa nhiều bệnh nan y như động kinh, tràn dịch khớp cho đến chăm sóc sản phụ, anh hiểu rằng, kho tàng này là một trong những nguồn vốn quý giá nhất của cộng đồng tộc người, nhưng đang ngày càng lép vế trước thuốc Tây. “Sau này mình học lên mới thấy, trên thế giới có hàng trăm loại thuốc được gọi là thuốc Tây ngày nay thực ra xuất phát từ kinh nghiệm của người dân, từ cộng đồng, ví dụ như caffein từ cây cafe, reserpin từ cây ba gạc. Hà cớ bây giờ ta lại xóa bỏ, lãng quên nó đi”, anh nói.    PGS.TS Trần Văn Ơn (giữa) và Lý Láo Lở (bìa phải) trong cuộc họp tổng kết và chia cổ tức của Sapanapro. Anh cùng cộng đồng thường áp dụng “luật phường săn” để chia lợi tức, tài sản trí tuệ của hợp tác xã cộng đồng.  Là học trò “chân truyền” của giáo sư Trần Công Khánh, một cây đại thụ trong nghiên cứu các cây thuốc dân tộc cổ truyền Việt Nam và xây dựng Dược điển Việt Nam, PGS. Trần Văn Ơn đã phát triển những hướng đi riêng về một số loại dược liệu đặc thù trong nghiên cứu trên cái nền nghiên cứu về thực vật. Tiếp bước thầy, anh góp sức cùng nghiên cứu, chọn lọc hàng trăm bài thuốc dân gian của các dân tộc thiểu số, trở thành một trong hai nhà nghiên cứu hiếm hoi ở Việt Nam chuyên sâu về bảo tồn cây thuốc. Vài năm gần đây, tên tuổi anh lại gắn liền với sản phẩm thuốc từ Dây thìa canh cho người mắc tiểu đường. “Mỗi nhà nghiên cứu dược liệu như mình chắc cả đời chỉ chuyên chú nghiên cứu làm ra thuốc từ một loại cây thôi, bởi gắn với nó là hàng chuỗi công đoạn, từ đánh giá tác dụng sinh học, độ an toàn, tìm dược chất, công bố, thử nghiệm lâm sàng, hơn chục năm mới ra sản phẩm”, anh kể. Nhưng anh hiểu rằng cần cù trong phòng lab, công bố quốc tế, nghiên cứu để bảo tồn nhiều mấy thì vẫn không giải quyết được những gì đang bày ra trước mắt ở nông thôn, miền núi đó là “có tri thức – nhân lực – đất đai – cảnh quan – đa dạng sinh học nhưng không thể biến thành tiền”. Do đó, anh với tay sang một khối ngành gần gũi với nghiên cứu và bảo tồn dược liệu, đó là dân tộc học và phát triển cộng đồng. Anh theo chân thế hệ những nhà sinh học hàng đầu ở Việt Nam thời những năm 1990 như GS Võ Quý, GS Võ Lê Trọng Cúc để làm dự án phát triển cộng đồng, lặn lội khắp các nẻo miền núi, sang các nước tương tự Việt Nam trong khối ASEAN, đi tận châu Phi để thu thập các kinh nghiệm và lý thuyết quốc tế. Cùng với quá trình tích lũy chuyên môn về dược liệu, hành trình “va đập” học hỏi ấy cũng mất tới 10 năm, đem lại cho anh đủ vốn liếng phát triển cộng đồng.       “Sapanapro cho tôi bài học rất lớn, đó là để trí tuệ cộng đồng ấy không bị mất đi, chỉ có một con đường là để cộng đồng người dân sở hữu chính tài sản của mình, và mình phải cùng họ đứng lên làm chủ vận mệnh”, PGS.TS Trần Văn Ơn nói      Cũng nhờ bước ra từ rẻo cao, am hiểu “cách thức sinh hoạt, suy nghĩ, tâm lý, tập tục” nên anh làm việc với cộng đồng dễ dàng, tự nhiên. Bài toán phân chia tài sản trí tuệ ở Sapanapro và các hợp tác xã khác nghe phức tạp, nếu đem luật ra giải thích cả ngày người dân vẫn rất mệt mỏi và căng thẳng nhưng khi anh nói “ta nên làm theo luật phường săn” thì ai cũng hài lòng, bởi cộng đồng nào cũng có cách phân chia lợi tức, thành quả lao động chung theo luật lệ rõ ràng rành mạch, chỉ là không ai biết gọi thành tên theo luật.    Nhìn lại chặng đường mấy chục năm đó, anh tạm chia ba giai đoạn, mười năm đầu lăn lộn với cây thuốc, mười năm sau bắt đầu hỗ trợ từng hợp tác xã thương mại hóa sản phẩm bản địa, mười năm gần đây tạo thành một mạng lưới OCOP. Còn mười năm tới thì sao? Anh đang ấp ủ một ước mơ biến Việt Nam thành “vườn thảo dược” của thế giới, với các trục văn hóa thảo dược đang dần hình thành như: Trục Văn hóa – thảo dược Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Trục Văn hóa – thảo dược Cao Nguyên Đá (Hà Giang), Trục Văn hóa – thảo dược Việt Bắc (Thái Nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng), Thung lũng dược liệu Ngọa Vân – Yên Tử (Quảng Ninh), Trục Văn hóa – thảo dược Hội An – Trà My (Quảng Nam) và một số vườn cây thuốc đã dần hình thành. Việt Nam cần phải làm và đủ điều kiện để thay đổi vị thế của nước có lợi thế tài nguyên sinh vật và tri thức bản địa nhưng nhập khẩu tới 90% dược liệu.  Nghe quá lớn và quá khó, khó hơn nhiều lần so với việc giúp từng chuỗi đặc sản hay từng tỉnh, huyện làm OCOP. Anh biết vậy và biết chỉ có anh và nhóm đồng sự vỏn vẹn vài chục người là các học trò đi phát triển ở từng địa phương thì không thành hiện thực được, mà cần nhiều người cùng hướng chung một tầm nhìn này. “Thực sự mà nói, đất nước mình không có tầm nhìn chung, mà chỉ quen hô khẩu hiệu chung chung thôi, chứ không hề bắt tay vào đưa ra đích đến cùng các giải pháp thực tế. Nhìn sang ngay Thái Lan thì ta thấy họ có tầm nhìn rất rõ: một là vùng Đông Bắc của Thái Lan sẽ trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược và y học truyền thống Thái Lan và massage Thái, thứ hai là Thái Lan sẽ trở thành nước dẫn đầu thế giới về mỹ phẩm thảo dược. Họ nói điều đó từ 20 năm và đang dần trở thành hiện thực”, anh nói. Anh không ngại khó ngại khổ, và đã từng thất bại khi làm vườn dược liệu Ngọa Vân Yên Tử ở Quảng Ninh, lúc đầu 5ha thử nghiệm thì thành công, nhưng đến lúc mở rộng quy mô thành vườn dược liệu vài chục ha thì tỉnh và Bộ Y tế đá quả bóng trách nhiệm và giờ vườn dược liệu thành …vườn rau. Nhưng cũng giống như giúp Sapanapro hay OCOP, sẽ cần một hành trình nhiều năm kiên trì kêu gọi vốn cộng đồng, thúc đẩy mạng lưới từ những người làm dược, doanh nghiệp, chính quyền, người dân.   Những người đã từng làm việc với PGS.TS Trần Văn Ơn đều không xa lạ gì những chuyến đi nhanh chóng và bụi bặm theo đúng nghĩa đen của anh. Chị Phạm Hoàng Ngân, một mentor “quen mặt” với miền núi, chuyên đi tư vấn thị trường cho các startup nông nghiệp phải thốt lên với chúng tôi “mô hình của anh Ơn là mô hình không nhân rộng được” đến mấy lần. “Chưa thấy ai lăn lộn với cộng đồng như anh ấy” chị nói, không chỉ cần “lòng say mê” mà thực sự là “dũng cảm lắm” mới chia nửa thời gian và cuộc sống cho cộng đồng được như anh.   Dường như anh sinh ra đã có những phẩm chất vừa vặn để làm công việc này suốt đời. □       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang PGS. TS Ngô Đức Thành: Ngược dòng xu hướng      Làm việc trong một lĩnh vực chưa từng có quá khứ lẫy lừng như ngành Toán và cũng như chưa bao giờ là ngành “hot” ở Việt Nam nhưng dường như PGS. TS Ngô Đức Thành (trường Đại học KH&CN Hà Nội, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) chưa bao giờ băn khoăn về con đường mà mình đã lựa chọn. Ngay cả khi nhiều đồng nghiệp đã chuyển sang làm quản lý và không còn nhiều thời gian cho nghiên cứu nữa, anh vẫn bình thản chuyên tâm, qua đó định vị cho mình một chỗ đứng riêng biệt.      PGS. TS Ngô Đức Thành. Ảnh: Mỹ Hạnh  Thoạt nhìn, câu chuyện về một nhà khoa học bền bỉ đi theo định hướng nghiên cứu của mình chẳng có gì lạ và hiếm bởi đó là lẽ đương nhiên và là phẩm chất cần thiết của một người muốn làm tốt công việc. Thế nhưng phải đặt trường hợp của PGS. TS Ngô Đức Thành vào bối cảnh hiện tại của ngành khí tượng/khí hậu Việt Nam, nơi đang ngày một chứng kiến sự thiếu hụt của nguồn nhân lực đầu vào trong khi mai một dần số người làm nghiên cứu, người ta mới thấy sự kiên trì với nghề của anh thật đáng quý. “Anh ấy là một người làm khoa học rất rất nghiêm túc, luôn luôn đề cao tính minh bạch trong nghiên cứu và tôn trọng sự khác biệt”, giáo sư Phan Văn Tân (Khoa Khí tượng, Thủy văn và Hải dương học, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) – một người thầy và đồng nghiệp lâu năm của PGS. TS Ngô Đức Thành, trìu mến nói về người cộng sự đặc biệt của mình.     Không chấp nhận sự lưng chừng     Có lẽ, chính sự nghiêm túc trong khoa học là điều mà PGS. TS Ngô Đức Thành luôn giữ cho mình, bất cứ ở hoàn cảnh nào. “Không dễ để làm được một cái gì đấy có ý nghĩa”, câu nói của anh với Tia Sáng vào năm 2018 khi đề cập đến một hiện trạng trong nghiên cứu khí tượng/khí hậu ở Việt Nam: ít có công bố quốc tế bởi nghiên cứu về khí tượng/khí hậu không chỉ là một ngành có sự giao thoa kiến thức của nhiều ngành khác như vật lý khí quyển, toán học, khoa học máy tính…, mà còn mang đặc trưng của một lĩnh vực mở – “bài toán biến đổi khí hậu không biên giới, ngồi ở chỗ nào cũng có thể làm nghiên cứu được”, theo nhận xét của giáo sư Phan Văn Tân – nên có được công bố quốc tế lại có những thách thức riêng. “Ví dụ khi nghiên cứu biến đổi khí hậu, ta có thể thấy số lượng bão dường như giảm nhưng cường độ bão tăng trên biển Tây Bắc Thái Bình Dương. Với nhiều công trình, kết luận như vậy là có thể đăng bài ở một tạp chí trong nước rồi nhưng dừng ở đấy thì không bao giờ anh đăng được ở tạp chí quốc tế tốt cả. Anh cần phải tìm hiểu được cơ chế, thu thập rất nhiều nguồn số liệu khác nhau, và đưa ra được những kết quả mới không trùng lặp với những nghiên cứu trước”, câu bộc bạch về công bố quốc tế vài năm trước đã cho thấy tâm thế rất quyết liệt trong nghiên cứu của PGS. TS Ngô Đức Thành 1.    Câu chuyện làm nghiên cứu về khí tượng/khí hậu ở Việt Nam, hay trong trường hợp của PGS. TS Ngô Đức Thành là nghiên cứu cơ bản về biến đổi khí hậu, bản thân nó đã mang màu sắc quốc tế. Vì thế, nếu không hội nhập về năng lực nghiên cứu thì “những người làm nghiên cứu Việt Nam khó có được bài toán mang tính thời đại và ý nghĩa, ngược lại khi những bài toán biến đổi khí hậu mà chúng ta giải quyết được một cách triệt để thì sẽ đóng góp quan trọng vào hiểu biết khoa học chung của nhân loại và góp phần ứng phó với một trong những vấn đề thách thức nhất của thế kỷ này”, anh nói.    Tuy vậy, để có được tính thời đại và ý nghĩa trong bài toán của mình, ắt hẳn nhà nghiên cứu nào cũng phải cần đến thời gian và sự chuyên tâm. Đôi khi để có được hai yếu tố ấy, họ buộc phải lựa chọn: không chỉ ở lựa chọn theo một nghề có thu nhập không bằng những nghề khác mà còn ở lựa chọn dành thời gian cho quản lý hay chỉ tập trung cho nghiên cứu. Trong “lịch sử” Giải thưởng Tạ Quang Bửu có vài gương mặt như vậy – PGS. TS Nguyễn Sum nộp đơn xin nghỉ làm quản lý để trở lại với vị trí một giảng viên bình thường của Khoa Toán, trường ĐH Quy Nhơn; PGS. TS Phạm Tiến Sơn xin thôi vị trí trưởng Khoa Toán tin trường Đại học Đà Lạt để toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu. Hiện tại, nếu xét ở “tiêu chuẩn” này thì người đồng nghiệp trẻ của họ, PGS. TS Ngô Đức Thành, một trong hai ứng cử viên giải chính của giải Tạ Quang Bửu năm nay, đã có thể đứng cạnh các bậc đàn anh của mình: năm 2018, anh đã xin thôi vị trí Phó Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội để có thể dành toàn bộ quỹ thời gian cho nghiên cứu và giảng dạy.      Hạn hán và xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng ở Việt Nam, vì vậy càng cần thiết có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này. Nguồn: hanoimoi.vn  Qua các chuyện trò với cả ba người, có thể nhận thấy một điểm khá trùng hợp ở họ, đó là họ đều cho rằng lựa chọn này cũng hết sức bình thường, không có gì đáng nói và là việc ắt phải thế khi muốn dành thời gian làm tốt điều mình đam mê. Về phần mình, PGS. TS Ngô Đức Thành chỉ đơn giản cho rằng, đây là lựa chọn mang tính cá nhân trước thực tế là công việc quản lý ngốn rất nhiều thời gian trong khi quỹ thời gian của mỗi người thì hữu hạn. “Thực ra trong hai năm đó, tôi thấy mình không thể chuyên tâm làm tốt được tất cả mọi việc như mong muốn, dù vẫn có thể duy trì được mạch nghiên cứu… Tất nhiên, không thể đạt được mục tiêu như mình kỳ vọng vì đầu óc mình còn phải nghĩ đến những vấn đề khác trong khi làm nghiên cứu thì phải nghĩ rất sâu về một vấn đề và cần phải tĩnh tâm mới trả lời được câu hỏi đặt ra”, anh nói.    Trong ngành khí tượng/khí hậu Việt Nam, số người chuyên tâm vào nghiên cứu như vậy không nhiều, nếu xét trên tiêu chí công bố quốc tế. Do vậy nếu mô hình hóa sự phát triển của ngành hiện nay, người ta sẽ thấy rõ hai luồng chuyển dịch, một là dòng những nhà nghiên cứu nhanh chóng chuyển sang giữ những vị trí quản lý nhà nước, hai là dòng những nhà nghiên cứu chấp nhận bằng lòng với các bài báo chưa theo chuẩn mực quốc tế. Việc bình thản ngược dòng xu hướng và coi đó là lẽ tất yếu của một người làm nghiên cứu rút cục đã góp phần định vị một chỗ đứng cho PGS.TS. Ngô Đức Thành trong cộng đồng nghiên cứu biến đổi khí hậu ở khu vực Đông Nam Á.  Nhưng liệu việc định vị này có thực sự dễ dàng?     Tìm Đông Nam Á trong cộng đồng quốc tế     Chắc chắn là không, bởi mới bước từ nhà ra ngõ đã thấy gần như chưa có đường đi…    Nếu nhìn lại tình trạng nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á khoảng bảy, tám năm trước, khu vực này chỉ như một điểm mờ trên bản đồ thế giới. Dù án ngữ một vị trí quan trọng trên vùng biển rộng lớn giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương – một trong những “rốn bão” của thế giới và chứng kiến tác động của biến đổi khí hậu ngày một rõ nét thì Đông Nam Á trong báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2007 vẫn còn nhiều khoảng trống thông tin. Giải thích về nghịch lý này, PGS. TS Ngô Đức Thành cho biết “Khoảng trống ấy là do nguồn nhân lực nghiên cứu chuyên sâu ở khu vực Đông Nam Á còn ít, thứ nữa là nguồn lực tính toán trong khu vực cũng không đủ để có thể đề xuất ý tưởng và thực hiện những bài toán của khu vực”.      Việc tham gia vào quá trình thành lập và duy trì một cộng đồng nghiên cứu biến đổi khí hậu của PGS. TS Ngô Đức Thành gắn liền với quá trình gần bốn năm cho một ý tưởng nghiên cứu tới lúc xuất bản. Kết quả của nó đem lại một cách thức mới để PGS. TS Ngô Đức Thành có thể bắt đầu góp phần vào việc định vị thông tin về khu vực Đông Nam Á trong nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu, hơn nữa bổ sung thông tin vào báo cáo lần thứ 6 của IPCC, dự kiến sẽ công bố trong năm nay.      Do đó, công trình về biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á chưa nhiều, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Ai cũng chỉ làm một vài bài toán đơn lẻ của quốc gia mình mà chưa có sự kết nối, hợp tác với đồng nghiệp ở quốc gia khác, cho dù biến đổi khí hậu không biên giới. Tình thế này chỉ thực sự thay đổi khi vào năm 2012, các nhà khoa học ở trường ĐH Khoa học Tự nhiên như Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành đứng ra tổ chức một hội thảo cho Đông Nam Á tại trường với sự tham gia của các đồng nghiệp năng động trong khu vực. Thời điểm đó đã khởi thủy cho SEACLID/CORDEX-SEA, dự án chung về dự tính biến đổi khí hậu chi tiết cho khu vực mà đến nay quy tụ 18 viện nghiên cứu của các quốc gia trong và ngoài khu vực.    Không đơn thuần là “góp gạo thổi cơm chung”, việc duy trì hợp tác trong dự án là cả nỗ lực của những người tâm huyết, tận dụng những nguồn lực về kinh phí và cơ sở hạ tầng tính toán trong mỗi quốc gia. PGS. TS Ngô Đức Thành nói về ý nghĩa của dự án “Cái lõi của nó là tạo điều kiện cho chúng ta chia sẻ nguồn lực. Chỉ khi chúng ta kết hợp lại được với nhau thì mới có thể thực hiện được bài toán mang tính quy mô hơn”.    Trong khuôn khổ dự án SEACLID/CORDEX-SEA, PGS. TS Ngô Đức Thành đề xuất ý tưởng tìm một thiết kế mô hình mô phỏng và dự tính biến đổi khí hậu cho các yếu tố cực đoan trong tương lai ở khu vực Đông Nam Á. “Trước đây, mô hình toàn cầu dùng cho bài toán biến đổi khí hậu có độ phân giải rất thô cho Đông Nam Á. Để có thông tin chi tiết về Đông Nam Á thì cần thiết kế những thí nghiệm riêng biệt phân giải cao, cho nó chạy ở quy mô khu vực, từ đó mới đưa ra được các phân tích đánh giá cụ thể”, anh lý giải.    Từ ý tưởng này, 18 thí nghiệm mô phỏng khí hậu cho khu vực Đông Nam Á với các cấu hình tham số hóa khác nhau được thiết kế, trong đó bộ tham số phải đủ rộng để xác định được tính bất định của khí hậu nhưng cũng không quá rộng để khỏi vượt quá khung năng lực tính toán trong khu vực. Để đảm bảo được cả hai yếu tố ấy, 18 thí nghiệm với độ phân giải 36km cho giai đoạn 1989-2007 được phân chia cho năm quốc gia, riêng Việt Nam là ba thí nghiệm. Kết quả thu được từ các thí nghiệm đó đã được đánh giá với số liệu từ 52 trạm quan trắc khí tượng trong khu vực. Vậy các nhà khoa học đã thu được gì? “Chúng tôi so sánh để đánh giá sai số hệ thống của các thí nghiệm với quan trắc, sau đó xác định được tính bất định của mô hình và chứng minh được là khi chi tiết hóa đến khu vực Đông Nam Á thì các mô hình đem lại kết quả tốt hơn là dùng mô hình nguyên thủy toàn cầu. Quan trọng hơn, chúng tôi đã đưa ra được một bảng xếp hạng, xác định được thí nghiệm nào phù hợp nhất để từ đó chạy mô hình cho thời gian dài, tiết kiệm đáng kể nguồn lực tính toán cho khu vực. Đây là bước đầu tiên để xác định bộ tham số hóa phù hợp nhằm chạy mô hình khu vực cho thời gian hơn 100 năm để dự tính sự biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21”, PGS. TS Ngô Đức Thành cho biết về nghiên cứu mà anh đóng vai trò chính: đồng thiết kế thí nghiệm, điều phối thực hiện, phân tích kết quả và viết bài.    Tất cả nội dung đó đã được anh và cộng sự đưa vào bài báo “Performance evaluation of RegCM4 in simulating extreme rainfall and temperature indices over the CORDEX-Southeast Asia region” (Đánh giá hiệu suất của mô hình RegCM4 trong mô phỏng các chỉ số cực đoan của lượng mưa và nhiệt độ trên khu vực CORDEX-Đông Nam Á) trên International Journal of Climatology, một trong những tạp chí hàng đầu ngành khí hậu học 2. “Mặc dù trước đó nhóm nghiên cứu đã có bài đầu tiên do một đồng nghiệp Malaysia là tác giả chính nhưng bài báo này mới thực sự là một điểm nhấn cho tham khảo về nghiên cứu biến đổi khí hậu ở khu vực Đông Nam Á”, giáo sư Phan Văn Tân nhận xét.      Những nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Đông Nam Á sẽ là cơ sở để hoạch định chính sách ứng phó trong tương lai. Nguồn: dangcongsan.vn    Đó là lý do vì sao mà kể từ thời điểm xuất bản vào năm 2017, đến nay bài báo này đã trở thành công trình được trích dẫn nhiều nhất của dự án với 58 lần. Không chỉ có vậy, kết quả của nó còn dẫn đến nhiều kết quả nghiên cứu khác về kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai trên khu vực từ dự án CORDEX-SEA (trong đó có hơn 15 công trình do PGS. TS. Ngô Đức Thành làm tác giả hoặc đồng tác giả). Sự “nở hoa” của các nghiên cứu biến đổi khí hậu trong khu vực sau một thời gian dài vắng bóng mang một ý nghĩa đặc biệt mà theo PGS. TS Ngô Đức Thành “nét đặc biệt là ở chỗ, trước đây các nghiên cứu quy mô thường ít nhiều dựa vào nguồn lực bên ngoài còn giờ nó là bài toán thực sự của khu vực và do khu vực thực hiện”. Trong bối cảnh không biên giới của biến đổi khí hậu, việc khu trú nguồn lực như vậy có phải là một cách làm hay? “Chúng tôi vẫn luôn trao đổi và hợp tác phát triển các nghiên cứu với các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài khu vực. Minh chứng là CORDEX-SEA hiện có sự tham gia của 18 viện nghiên cứu thuộc 14 quốc gia, trong đó có bảy quốc gia ngoài Đông Nam Á. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng cộng đồng nghiên cứu trong khu vực có ưu điểm là những người hiểu rõ nhất bài toán mà họ cần thực hiện, hiểu rõ về cơ chế khí hậu, hoặc nhu cầu sử dụng nguồn số liệu, kết quả đầu ra từ mô hình để phục vụ các bài toán khác trên khu vực, ví dụ như các bài toán đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp, đến thu nhập, đến bất bình đẳng trong xã hội…”.    Việc tham gia vào quá trình thành lập và duy trì một cộng đồng nghiên cứu biến đổi khí hậu của PGS. TS Ngô Đức Thành gắn liền với quá trình gần bốn năm cho một ý tưởng nghiên cứu tới lúc xuất bản. Kết quả của nó đem lại một cách thức mới để PGS. TS Ngô Đức Thành có thể bắt đầu góp phần vào việc định vị thông tin về khu vực Đông Nam Á trong nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu, hơn nữa bổ sung thông tin vào báo cáo lần thứ sáu của IPCC, dự kiến sẽ công bố trong năm nay.    Nhưng thành quả này không phải là một hành trình một chiều. Khi ai đó đã lao tâm khổ tứ về một việc thì nhất định ở một điểm đến nào đó sẽ được hưởng một “hàm thưởng” bất ngờ. Với PGS. TS Ngô Đức Thành, dẫu có thể dự đoán được khả năng bài báo được đón nhận thông qua số lần trích dẫn nhưng anh cũng không nghĩ đến khả năng định vị được chính mình trong cộng đồng nghiên cứu biến đổi khí hậu quốc tế, thông qua việc được mời tham gia vào ban soạn thảo Báo cáo Đánh giá biến đổi khí hậu của IPCC lần thứ sáu với vai trò là tác giả chính (lead author) của một chương 3.    Ồ đây có phải là cơ hội để thế giới biết đến Đông Nam Á nhiều hơn không? “Trong báo cáo lần này thì số lượng các thông tin, nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á sẽ tăng lên nhiều so với những báo cáo trước. Tuy nhiên, nguyên nhân tăng không phải là do IPCC ‘ưu ái’ Đông Nam Á mà là do số lượng và chất lượng nghiên cứu về biến đổi khí hậu của khu vực đã tăng lên”, anh trả lời.  ***  Với một nhà nghiên cứu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận như vậy là một vinh dự. Dẫu vậy thì điều PGS. TS Ngô Đức Thành nghĩ không hẳn là thế. Anh đang nghĩ đến những chuyện khác, những chuyện mà anh và giáo sư Phan Văn Tân nhiều lần đề cập tới: Trong tương lai, biến đổi khí hậu sẽ như thế nào, tác động vào đâu? khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập đến đâu? hiện tượng xâm nhập mặn ở đây và các vùng khác sẽ như thế nào? thiên tai bão lũ sẽ thay đổi theo chiều hướng nào?… Việc trả lời được vô vàn câu hỏi đó sẽ góp phần dẫn đến những bài toán quy hoạch mang tính chiến lược cho một vùng, một quốc gia.    Nhưng thật khó khăn để thực hiện được những bài toán dự tính biến đổi khí hậu như vậy, bởi chẳng có phép đột biến nào đưa một cộng đồng chỉ còn lại một số ít những người có năng lực hội nhập trở thành đông đảo chỉ sau một quãng thời gian ngắn ngủi, trong khi những cơ chế tuyển dụng, đầu tư và đãi ngộ đã lạc hậu. “Bản thân các bài toán khí hậu đã là những nan đề trong khi cộng đồng sẵn sàng chiến đấu với nó chưa nhiều. Hiện các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số cá nhân và một số nhóm nhất định. Vì vậy chỉ khi cộng đồng ấy lớn mạnh lên thì chúng ta mới có thể giải quyết được những bài toán lớn”, anh nói.    Trong khi chưa thể đạt được điều mình mong ước thì người thực tế thường tập trung vào thực hiện những việc mình có thể. Với PGS. TS Ngô Đức Thành, đó chính là kết nối và tối ưu các nguồn lực để làm được điều mà anh diễn đạt thật giản dị “giải các bài toán thời sự của khu vực chứ không lặp lại hoặc làm lại những bài toán mà cộng đồng quốc tế đã làm”. □  ——  1. https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Nhung-khoang-cach-can-duoc-thu-hep-15248  2. https://rmets.onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/joc.4803  3. https://www.ipcc.ch/authors. Hàng trăm chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau có mặt trong báo cáo của IPCC đã đóng góp thời gian và hiểu biết của họ trong vai trò là tác giả chính điều phối (Coordinating Lead Authors) và tác giả chính (Lead Authors) để viết báo cáo. Hàng trăm người khác sẽ tham gia vào soạn thảo những nội dung đóng góp cụ thể với vai trò tác giả đóng góp (Contributing Authors) và nhận xét trong từng chương như các chuyên gia bình duyệt (Expert Reviewers).    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng: “Theo dấu” tiến hóa virus cúm      Trên con đường theo dấu sự tiến hóa của virus cúm mùa và cúm gia cầm, PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng không chỉ có được những công trình nghiên cứu có giá trị mà còn tìm thấy ý nghĩa thiết thực trong công việc âm thầm của mình: góp phần phát triển các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa cúm hiệu quả để đảm bảo sức khỏe cộng đồng.      PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng cùng nhóm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.   Dù đã gần 20 năm nghiên cứu về virus cúm, với PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng – Phó trưởng Khoa Virus, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương – con virus này, dù là cúm mùa hay cúm gia cầm, luôn ẩn chứa nhiều điều mới mẻ. “Ví dụ như trong quá trình lây nhiễm, hai virus có thể cùng xâm nhiễm vào một tế bào vật chủ, trao đổi và tích hợp bộ gene, tạo ra chủng virus cúm mới có khả năng tránh được miễn dịch của con người, dù trước đó họ đã có được miễn dịch với chủng đang lưu hành trước đó hoặc miễn dịch tạo ra từ vaccine”, chị giải thích. Trong suốt những năm này, chị không chỉ quan sát được những tiến hóa không ngừng của virus cúm qua những lần giải trình tự gene mà còn thấy được những biến chuyển trong nhận thức về cúm ở Việt Nam, từ các cấp quản lý đến người dân: “Trước đây nghĩ đến cúm thì mọi người thường nghĩ rằng ‘cảm cúm ấy mà, một vài ngày rồi hết…’ còn các đại dịch nọ kia thì ở đâu đó chứ không phải ở đây. Nhưng sau khi virus cúm A/H5N1 lây truyền từ gia cầm và được ghi nhận lần đầu tiên trên người tại Việt Nam cuối năm 2003, cái nhìn về cúm đã thay đổi, và chúng tôi cũng có nhiều điều kiện để triển khai các nghiên cứu về cúm hơn”.  Truy tìm dấu vết virus  Tưởng chừng như công việc nghiên cứu về cúm, đặc biệt là cúm gia cầm, của PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng khởi đầu không có gì đặc biệt: tốt nghiệp chuyên ngành Vi sinh vật, khoa Sinh học (Đại học KHTN, ĐHQGHN), chị về làm việc tại Phòng thí nghiệm Virus Hô hấp của Viện Vệ sinh dịch tễ (Bộ Y tế), được cử đi Nhật Bản, Anh và Mỹ để tập huấn các kỹ thuật sinh học phân tử về chẩn đoán các virus lây qua đường hô hấp như virus cúm mùa. Giữa những công việc đều đặn đó, một bất ngờ xảy ra: vào năm 2003, một bệnh nhân từ Hồng Kông sang Việt Nam bị sốt không rõ nguyên nhân và được chuyển vào bệnh viện Việt Pháp điều trị. “Mẫu bệnh phẩm được gửi sang bên đây xét nghiệm. Hồi đó vẫn chưa biết là gì, chỉ nghi là cúm thường thôi, chưa ai biết đến SARS Coronavirus”, chị Hằng kể lại thời điểm lần đầu tiếp xúc với một tác nhân gây bệnh đường hô hấp ngoài virus cúm mùa hằng năm.  Sau dịch SARS đầu năm thì đến cuối năm đó, vào ngày 28/12/2003, chị và đồng nghiệp ở Viện đã phát hiện ra trường hợp nhiễm virus cúm A/H5N1 đầu tiên trên người ở Việt Nam, loại virus mới có độc lực cao, lây trực tiếp từ gia cầm sang người với tỷ lệ trầm trọng của bệnh và tử vong cao. Qua hơn 15 năm nhưng đến nay, chị không quên thời điểm mang tính chất quyết định với công việc nghiên cứu đó của mình. Bằng nhạy cảm của một người làm nghiên cứu, dù khi đó còn non kinh nghiệm nhưng chị đã xác định, ngoài virus cúm mùa, mình sẽ chuyên tâm nghiên cứu về virus cúm lây từ gia cầm sang người (virus cúm A).  Với những người bình thường, virus cúm A chẳng qua là một thủ phạm gây bệnh bên cạnh vô vàn loại bệnh nguy hiểm chết người khác; với những người làm ngành y nói chung, virus cúm A là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính có khả năng lây nhiễm rất cao và lan nhanh trong cộng đồng. Còn với người nghiên cứu chuyên sâu như chị Hằng, virus cúm A là một thế giới khác biệt với nhiều bí ẩn, “độc nhất vô nhị” không xuất hiện ở những virus khác, “ví dụ vật liệu di truyền RNA của nó gồm 8 phân đoạn riêng biệt, không phải dạng sợi dài nên trong trường hợp hai virus cúm A cùng xâm nhập vào một tế bào vật chủ thì sẽ có sự trao đổi giữa các đoạn gene của hai virus đấy, mỗi kiểu tổ hợp giữa các đoạn gene đó đều có thể tạo ra một chủng mới”, chị cho biết.  Những yếu tố đặc biệt như vậy đã trở thành chất liệu quan trọng để chị “kể câu chuyện virus” trong các công bố quốc tế – những công trình khi ghép lại có thể cho thấy một phần nhỏ bức tranh về virus cúm A dưới nhiều khía cạnh: các đột biến liên quan đến khả năng tăng độc lực của virus, các yếu tố tiềm tàng của sự trao đổi và tích hợp của virus cúm mùa và virus cúm A/H5N1, tính kháng/giảm độ nhạy của thuốc Oseltamivir với virus cúm trong điều trị/dự phòng cúm, khả năng cảm nhiễm cúm A ở người, khả năng tương tác các bệnh do căn nguyên virus giữa động vật và người… Nhìn sâu vào trong đó, có thể thấy từng dấu vết tỉ mỉ, cần mẫn và điềm tĩnh của một người làm nghiên cứu giàu kinh nghiệm – vừa hết sức cẩn trọng từ việc phân lập các virus hoàn chỉnh từ mẫu bệnh phẩm lâm sàng, thực hiện nhiều phương pháp để khẳng định độ chính xác của các kết quả xét nghiệm lại vừa hết sức linh hoạt trong việc thiết kế chọn mẫu và tìm giải pháp ngay khi không có mẫu như dự kiến. Thậm chí, ở đó cũng còn chút bóng dáng của nỗi sợ rất đời thường ở giai đoạn mới bắt đầu, “hồi mới xét nghiệm để xác định virus bệnh SARS, chưa biết nó như thế nào nhưng thấy căn bệnh lây lan khủng khiếp, bọn mình cũng sợ lắm. Khi đó, mình vẫn chủ yếu nghiên cứu về cúm mùa, nên phòng thí nghiệm vẫn là an toàn sinh học cấp 2. Không biết bảo vệ mình như thế nào cho đúng”, chị Hằng nhớ lại những trải nghiệm trong nghiên cứu của mình.  Theo sát những xu hướng mới  Việc thực hiện các dự án và xuất bản các công bố quốc tế, theo quan điểm của PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng, là một chuyện tất nhiên của người làm ở viện nghiên cứu. Dù con số 33 công bố trên các tạp chí ISI như Theranostics, Biosensor and Bioelectronics, Journal of Infectious Diseases, PloS ONE… chưa hẳn là nhiều so với các nhà nghiên cứu trong những lĩnh vực khác, nhưng với chị, đó là kết quả của những nỗ lực từng bước trên con đường làm khoa học. “Vào những năm 2000 thì trong ngành Y, chỉ có các giáo sư mới có công bố quốc tế, còn nhân viên mới như mình thì việc có công bố trên tạp chí trong nước như Y học dự phòng đã là ‘hoàn hảo’ rồi”, chị kể lại như vậy.  Cách làm tuần tự đó của chị bất ngờ bị phá vỡ đúng vào năm 2005, thời kỳ “nóng” của virus cúm A/H5N1. Khi đó, thuốc cúm Oseltamivir mới được dùng điều trị bệnh chưa lâu. Tuy nhiên, trong một lần xét nghiệm, chị và đồng nghiệp phát hiện ra một bệnh nhân người miền Bắc kháng thuốc – trường hợp kháng thuốc đầu tiên tại Việt Nam với sự phối hợp của nhóm nghiên cứu giáo sư Yoshihiro Kawaoka ở trường Đại học Tokyo, Nhật Bản tiến hành phân tích, giải trình tự gene… Kết quả của trường hợp này là bài báo “Avian flu: Isolation of drug-resistant H5N1 virus” được đăng trên Nature vào tháng 10/2005”. Dù mới đóng góp một phần nhỏ vào công trình đáng nhớ ấy nhưng điều đó cũng đủ sức động viên chị phải có nhiều công bố quốc tế trong tương lai.  Với nỗ lực tìm tòi những điều mới mẻ và khai thác những dữ liệu sẵn có, chị và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu, trong đó PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai là người luôn theo sát đã tìm được hướng tiếp cận hợp lý để duy trì mạch công bố. Quá trình ấy được bổ trợ rất nhiều khi nhận được cả sự đầu tư của Bộ Y tế, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, với một hệ thống cơ sở vật chất khá hiện đại và một lực lượng đủ mạnh. “Mình có thiết bị tốt, có con người được đào tạo, tập huấn quốc tế, có số liệu tốt, tại sao mình không công bố quốc tế”, chị suy nghĩ như vậy. Do đó ngay cả khi cúm mùa chưa được giám sát toàn diện trên cả nước thì chị vẫn có công bố “Epidemiology of Influenza in Hanoi, Vietnam, from 2001 to 2003” trên tạp chí Journal of Infection vào năm 2007.  Trong quá trình nghiên cứu, việc trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế cũng khiến chị nhanh chóng nắm bắt được xu hướng mới của thế giới. Nhờ vậy, khi Tổ chức Y tế thế giới giới thiệu khái niệm One Health trong y tế hiện đại,– một cách tiếp cận liên ngành, thu hút nhiều bên tham gia, thực hiện từ quy mô địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu nhằm tìm hiểu cơ chế phát sinh và tiến triển của các bệnh truyền nhiễm thông qua mối tương tác giữa con người, động vật, môi trường, chị đã nghĩ đến chuyện “làm một điều gì đó như vậy ngay tại Việt Nam”, một nghiên cứu về sự tương tác giữa gia cầm và con người theo không gian và thời gian. Chị giải thích: “Tôi muốn tìm hiểu sự liên hệ giữa người và gia cầm bị nhiễm cúm A theo cách là người nhiễm có liên quan gì đến gia cầm nhiễm trong cùng thời điểm và trên cùng địa phương hay không để trả lời câu hỏi virus cúm trên gia cầm có những đột biến này nhưng khi lây sang con người, virus còn giữ nguyên những đột biến này không, hay nó biến đổi thành những đột biến khác để dễ dàng thích nghi trên người ?”  Chị đã lên khung nghiên cứu với sự tham gia của ba bên: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (Bộ Y tế), Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương, Cục Thú y (Bộ NN&PTNT), Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (US-CDC). “Cái khó của nghiên cứu là dù có tư liệu nhưng không phải có sẵn số liệu phù hợp ở đâu đó, mình phải tập hợp lại và chọn lọc ra thứ mình cần”, chị cho biết. Trên thực tế, để có được “thứ mình cần” đó cũng phải mất 6 tháng “vì trong giai đoạn 2003-2010 thì cả Việt Nam chỉ có 119 trường hợp nhiễm cúm A nhưng bên thú y họ có một lượng mẫu khổng lồ trên gia cầm, phải tính toán lựa chọn để tìm đúng mẫu tương ứng”. Với những kinh nghiệm đã được tích lũy, chị và đồng nghiệp đã xác định được những điểm mấu chốt của virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam giai đoạn 2003-2010: sự tiến hóa nhanh của virus, thống kê các đột biến trong tương tác người – động vật của virus, mối tương quan về không gian và thời gian giữa sự xuất hiện của virus trên gia cầm và người. Những kết quả đó được trình bày trong bài báo “Highly Pathogenic Avian Infuenza A(H5N1) Viruses at the Animal– Human Interface in Vietnam, 2003–2010”, xuất bản trên tạp chí The Journal of Infectious Diseases, một trong số các tạp chí uy tín trên thế giới về nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm với chỉ số ảnh hưởng (IF) là 6,732. Đây cũng là công trình lọt vào vòng xét chọn cuối cùng của giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019.  Với PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng, niềm vui chị có được không chỉ ở việc có những bài báo quốc tế hay bổ khuyết những thông tin về cúm ở Việt Nam trên bản đồ thế giới mà còn ở những đóng góp âm thầm để bảo vệ sức khỏe cộng đồng: “Mình đã tham gia Mạng lưới cúm toàn cầu nên hằng năm, mình vẫn phân lập và gửi chủng tới Trung tâm CDC Atlanta để báo cáo chủng đại diện ở Việt Nam (50 chủng/năm). Trên cơ sở chủng của mình và nhiều quốc gia khác trong mạng lưới, họ phân tích để dự báo chủng nào sẽ lưu hành chủ yếu, qua đó chuẩn bị loại vaccine cúm mùa năm tới”. Đó cũng là lý do để chị và những người trụ cột của nhóm mong muốn “khám phá vùng đất virus cúm màu mỡ để cung cấp bằng được những câu trả lời nhanh, chính xác cho cộng đồng”.  Những năm 2003-2004 là giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của tôi với nhận thức bệnh truyền nhiễm đã trở nên nguy hiểm hơn với sự xuất hiện của các tác nhân mới, lây lan nhanh chóng và mang tính chất toàn cầu. Những tiến bộ về kỹ thuật sinh học phân tử được áp dụng trong chẩn đoán góp phần xác định nhanh, chính xác các tác nhân gây bệnh, góp phần kiểm soát và điều trị bệnh có định hướng chính xác. Bên cạnh đó, nhận thức về an toàn sinh học, đặc biệt với các tác nhân nguy hiểm, lần đầu tiên được hiểu và quan tâm đúng mức. Được sự quan tâm của Ban giám đốc Viện, nhóm nghiên cứu đã được làm việc trong điều kiện đảm bảo an toàn sinh học với phòng thí nghiệm An toàn sinh học cấp 2 + tại thời điểm đó, theo PGS. TS Nguyễn Lê Khánh Hằng.     Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/theo-dau-tien-hoa-virus-cum/20190321021546200p1c160.htm    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng: Hai điều ước của nhà khoa học      Sau khi có các công trình nghiên cứu được đông đảo đồng nghiệp quốc tế biết đến và đưa được một số kết quả nghiên cứu đó vào ứng dụng, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Trung tâm nghiên cứu liên ngành, Đại học Công nghệ TPHCM) còn ấp ủ một số dự án tương lai.      PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (đứng, ngoài cùng bên phải) và các thành viên của Trung tâm nghiên cứu liên ngành HUTECH.  Trong lĩnh vực cơ học tính toán, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng được biết đến qua những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển các công thức về phần tử cấu trúc (structural element formulations). Với 120 công bố trên tạp chí ISI, trong đó chủ yếu trên tạp chí được xếp hạng Q1, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng đã bốn lần liên tiếp lọt vào danh sách các nhà khoa học có công trình được trích dẫn cao (highly cited researchers) của Thomson Reuters và Clarivate Analytics từ năm 2014 đến 2017.  Trường đại học Bochum vùng Ruhr (Ruhr-University Bochum RUB, Đức), nơi PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng, hợp táctừ tháng 1 đến tháng 6/2016 trong dự án nghiên cứu về phát triển thiết kế cấu trúc các vật liệu mới với giáo sư Klaus Hackl – Viện trưởng Viện Cơ học RUB, và giáo sư Timon Rabzcuk, Viện trưởng Viện Cơ học tính toán (trường đại học Bauhaus ở Weimar, Đức) theo phần thưởng Georg Forster Research 2015 của Quỹ Alexander von Humboldt, nhận xét anh là “nhà nghiên cứu Việt Nam nổi bật có nhiều đóng góp to lớn trong việc truyền tải những kiến thức chuyên ngành từ Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại” 1.  Theo đánh giá của Hội Cơ học Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng đã lên kế hoạch nghiên cứu dài hạn một cách bài bản, đồng thời dày công, nghiêm túc trong việc thực hiện kế hoạch đó mới có thểđạt được thành công trong mô hình hóa và mô phỏng các bài toán phức tạp về kết cấu, vật liệu, đứt gãy, truyền nhiệt…, đặc biệt những vấn đề gắn liền với nhiều môi trường vật lý khác nhau. Đây cũng là cách thứcanh kiên trì thực hiện nhiều năm qua và vẫn đang theo đuổi trong thời gian tới 2  Phát triển các công cụ tính toán mô phỏng đa ngành  Trong nhóm nhà khoa học người Việt có mặt trong danh sách được trích dẫn cao, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng là người duy nhất làm việc tại Việt Nam. Đây cũng là một điều lạ, bởi thông thường, điều kiện nghiên cứu trong nước chưa thể so sánh với những trung tâm quốc tế, nhiều nhà khoa học Việt Nam còn phải tự xoay xở tìm kinh phí thực hiện đề tài, lên kế hoạch xin đầu tư thiết bị, máy móc…, nên khó có thể dành toàn tâm, toàn ý cho nghiên cứu và xuất bản được những công trình tốt. Vậy làm thế nào anh vượt qua được những khó khăn? PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng cho rằng, mìnhcó thuận lợi là hầu hết các công đoạn tính toán mô phỏng, thiết kế tối ưugiảiquyết bài toán dựa trên máy tính.Bên cạnh đó, cơ học tính toán là một lĩnh vực nghiên cứu rộng, có tính liên ngành và đang phát triển mạnh của ngành cơ học thế giới. Do đó,số lượng tạp chí quốc tế liên quan lĩnh vực này cũng khá lớn nên như các nhà nghiên cứu của cơ học tính toán Việt Nam, anh cũng có nhiều điều kiện xuất bản công trình nghiên cứu và bắt kịp các đồng nghiệp quốc tế, cho dù“nghiên cứu của tôi cũng chỉ xuất phát từ những điều giản dị và tôi vẫn còn phải học tập nhiều lắm”.  Khi được hỏi về “bí quyết công bố”, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng mãi mới dè dặt trả lời,“quan điểm của tôi là cần phải theo được những hướng mà các tổ chức, các nhóm nghiên cứu quốc tế đang theo đuổi, tức là phải vẽ được bản đồ mà [trên đó] người Việt Nam mình cũng có chỗ đứng và tạora cơ hội để mình ở Việt Nam nhưng vẫn có thể kết nốiđược với nhà khoa học quốc tế”.      “Quan điểm của tôi là cần phải theo được những hướng nghiên cứu mà các tổ chức, các nhóm nghiên cứu quốc tế đang theo đuổi, tức là phải vẽ được bản đồ mà [trên đó] người Việt Nam mình cũng có chỗ đứng và tạo ra cơ hội để mình ở Việt Nam nhưng vẫn có thể kết nối được với nhà khoa học quốc tế” (PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng).      Lập công ty spin-off từ những kết quả nghiên cứu  Nỗ lực lớn nhất mà PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng tự nhận là “thuộc tuýp người làm nghiên cứu cần cù và xông pha”, dám “vật lộn” đi xin kinh phí của các quỹ quốc tế để thực hiện những dự án nghiên cứugắn liền với những vấn đề cần thiết ởViệt Nam và không ngại tìm kiếm doanh nghiệp để mời họ cùng thực hiện.  Một trong những khách hàng đầu tiên của PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng là công ty Kềm Nghĩa, một doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh các sản phẩm chăm sóc móng như kềm cắt móng, giũa móng, bấm móng… đã hợp tácvới anh. “Yêu cầu không khó nhưng mình phải cẩn trọng để giữ uy tín”, anh cho biết. Từ các công cụ sẵn có, nhóm nghiên cứu của anh đã xâ dựng mô hình tối ưu trong dập cán sản phẩmtừ phôi thép giảm chi phí sản xuất và tiết kiệmnguyên liệu hiệu quả.  Tiếp đến, anh và cộng sự quyết định thành lập công ty Kỹ thuật & Mô phỏng số (Ensco), một doanh nghiệp dạng spin-off vào năm 2013 chuyên cung cấp các dịch vụ đa ngành, trong đó chủ yếu là cơ khí và xây dựng. “Đến đây khôngcòn là chuyện đơn giản, đó là chuyện về con người và tài chính, làm sai là phải tự chịu trách nhiệm lấy tiền túi ra chỉnh sửa, mỗi lần như thế có thể phải ‘trả giá’ tới hàng trăm triệu”, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng cho biết.  Mở công ty spin-off như thế không phải là chuyện hiếm trong cơ học tính toán Việt Nam, giữa các công ty đó, Ensco nổi bật lên về sự đa dạng trong dịch vụ. “Muốn giải được những bài toán cụ thể của doanh nghiệp như Hùng phải có kiến thức rất rộng và thông thạo nhiều phương pháp tính toán”, PGS. TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) nhận xét.  Với tầm nhìn của một nhà nghiên cứu, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng đãthấy những vấn đề rất thời sự trên thế giới như việc sản xuất thông minh trên cơ sở xử lý các dữ liệu số hóacủa cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đem lạinhưng đã có thểáp dụng ngay tại Việt Nam. Anh giải thích, “tôi đã bắt đầu có một số sản phẩm, trong đó có quạt không cánh, được tự động hóa theo một chu trình kín: thiết kế trên máy tính, số hóa dữ liệu, rồi tính toán mô phỏng nó để tạo mẫu gửi đi sản xuất; sản phẩm được tung ra thị trường và sensor tích hợp vào trong cấu kiện sản phẩm sẽ gửi thông tin về kho dữ liệu để lưu trữ, cập nhật. Đó là vòng đời của sản phẩm với dữ liệu nằm trong không gian số chứ không còn trong môi trường vật lý thông thường nữa”.Quy trình này có thể áp dụngtrên nhiều loại sản phẩm khác nhau, “chỉ cần thay đổi một số công đoạn cho phù hợp với tính chất sản phẩm, dù là thiết bị làm tỏi đen hay thiết kế bờ kè cũng vậy. Nếu muốn, chúng ta có thể dựa vào dữ liệu số để cải tiến sản phẩm thay vì phải thực hiện các công đoạn từ đầu”, anh cho biết thêm.  ***  Trong cuộc trả lời phỏng vấn tại trường đại học Bochum, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùngbày tỏ một trong hai mơ ước lớn của mình là “có một phòng thí nghiệm hiện đại và đầy đủ thiết bị, nếu điều đó thành hiện thực, tôi có thể làm được nhiều điều hơn bây giờ”.Để theo đuổi mục tiêu, anh chọn giải pháp đi đi về về và cố gắng tìm kiếm tài trợ từ các dự án do các quỹ quốc tế để thực hiện ở Việt Nam.  Và không giới hạn ở những dự án hiện tại,anh còn điều ước khác. Vì thế, điều ước thứ hai của anh chính là “điều luôn ám ảnh tôi: sáng chế ra thiết bị thông minh tự cung cấp năng lượng cho người khuyết tật vận động hoặc người cao tuổi mà tôi vẫn gặp và cho phép họ cử động chân tay, đi lại một cách thoải mái theo ý muốn” 1  Nhưng để làm được tất cả những điều đó, ắt hẳn phải cần đến rất nhiều yếu tố? “Mình nghĩ đàng hoàng, làm việc đàng hoàng là sẽ có những con người đàng hoàng và nguồn đầu tư đàng hoàng đến với mình để cùng giải quyết vấn đề”, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng mỉm cười tự tin.  —-  1. 3 http://www.fbi.ruhr-uni-bochum.de/aktuelles/2016/akt00194.html.de  2. http://www.cohocvietnam.org.vn/ home/detail.asp?iData=1131&iCat=547&iChannel=62          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng lần thứ tư vào danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới      Trong danh sách các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới (Highly Cited Researchers) năm 2017 do Clarivate Analytics, công ty hàng đầu thế giới về dữ liệu khoa học, công bố ngày 15/11/2017, tiếp tục có bốn nhà khoa học người Việt: GS. TS Nguyễn Sơn Bình (ĐH Northwestern, Mỹ), GS.TS Nguyễn Thục Quyên (ĐH California ở Santa Barbara, Mỹ), GS.TS Võ Văn Ánh (ĐH Công nghệ Queensland, Australia) và PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Đại học Công nghệ TPHCM).      PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (giữa) và các đồng nghiệp quốc tế trong một hội thảo tại Việt Nam. Ảnh: NVCC  Sự tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc  Căn cứ vào các chỉ số khoa học cốt lõi (Essential Science Indicators ESI), một phương pháp tính toán dựa trên việc phân tích và lựa chọn từ dữ liệu của Web of Science trong vòng 10 năm (2005-2015), Clarivate Analytics đã lựa chọn ra được hơn 3.300 nhà nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất trong 21 lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.  Đây là những nhà nghiên cứu xuất sắc công bố những bài báo thuộc tốp 1% bài báo được trích dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực của họ trong 10 năm. Việc được trích dẫn nhiều nhất cho thấy các công trình của họ được đồng nghiệp đánh giá cao về ý nghĩa và tầm ảnh hưởng.  Để đảm bảo tính công bằng trong việc thống kê trích dẫn, mỗi lĩnh vực nghiên cứu chỉ có một tạp chí đại diện, với trường hợp các tạp chí đa ngành như Science, Nature… thì tính theo một phương pháp phân tích riêng.  Về quốc gia có nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất, Mỹ dẫn đầu với 1.661 người, tăng 13% so với năm ngoái; Trung Quốc là quốc gia có số lượng tăng nhanh nhất khi đứng thứ ba với 237 người, tăng 34%; Anh thứ hai với 350 người. Không chỉ có mức tăng trên 20%, Phần Lan và Singapore gây ấn tượng bởi phần lớn các nhà nghiên cứu của họ đều ở độ tuổi dưới 30.  Về số các viện nghiên cứu và trường đại học có nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất, đứng đầu là Đại học Harvard (Mỹ) với 109 người, tiếp theo là Đại học Stanford (Mỹ) 64 người, Hiệp hội Max Planck (Đức) 47 người. Đáng chú ý, Viện Hàn lâm KH&CN Trung Quốc đứng thứ 4 với 45 người.  “Sự nổi lên của Trung Quốc trong số lượng xuất bản quốc tế và tỷ trọng các tạp chí quốc tế có ảnh hưởng của quốc gia này được đưa vào Web of Science đã tăng lên mạnh mẽ trong 20 năm trở lại đây”, David Pendlebury, nhà phân tích trích dẫn cao cấp của Clarivate Analytics ghi nhận. “Chúng ta đang chứng kiến sự hiện diện ngày càng nhiều tác giả và công trình được trích dẫn nhiều nhất đến từ Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý. Số lượng công bố của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học vật liệu bây giờ đã gấp hơn hai lần Mỹ và tỷ lệ bài báo trong lĩnh vực này của họ được trích dẫn nhiều nhất thế giới ngày càng tăng mạnh mẽ. Trong một số lĩnh vực khác, Trung Quốc không chỉ bắt kịp mà còn vươn lên vị trí dẫn đầu”.  Bí quyết để bài báo được nhiều trích dẫn  Trong “sự cạnh tranh” đó, bốn nhà khoa học người Việt GS. TS Nguyễn Sơn Bình, GS.TS Nguyễn Thục Quyên – hóa học, GS.TS Võ Văn Ánh – toán học và PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng – cơ học tính toán tiếp tục giữ vững vị trí của mình ở danh sách các năm trước.  Đáng chú ý, trong bốn nhà khoa học này thì duy nhất PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng làm việc tại Việt Nam. Hiện anh có 120 công bố ISI, hơn 4.400 trích dẫn và chỉ số H là 41. Là nhà khoa học có nhiều uy tín, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng thường xuyên nhận được tài trợ từ các quỹ đầu tư quốc tế cho các công trình nghiên cứu của mình. Một trong những công trình mà anh đang thực hiện là phòng chống sạt lở cho khu vực ĐBSCL, bắt đầu khởi động từ năm 2016 với tổng kinh phí  300.000 EURO do Quỹ VLIR-UOS (Bỉ) tài trợ. Cùng với các nhà nghiên cứu Đại học Ghent (Bỉ) và doanh nghiệp Việt Nam, anh sẽ phát triển một mô hình mẫu và xây dựng thử nghiệm tại một địa phương, sau đó rút kinh nghiệm để áp dụng trên toàn bộ khu vực.   Lý giải vì sao PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng có công trình được nhiều đồng nghiệp trong nước và quốc tế trích dẫn, PGS. TS Lê Văn Cảnh (bộ môn Kỹ thuật Xây dựng, Đại học Quốc tế, ĐHQGTPHCM) cho biết: thứ nhất, phần lớn các công bố đều được xuất bản trên các tạp chí uy tín thuộc tốp Q1 và Q2 của lĩnh vực cơ học tính toán; thứ hai, các công bố đó đề xuất những mô hình mô phỏng được xây dựng trên cơ sở kết hợp các công cụ rất mạnh của khoa học máy tính và cơ học tính toán nên có phạm vi ứng dụng rất rộng trong các ngành kỹ thuật truyền thống như xây dựng, cơ khí, thủy lợi… cũng như những ngành khác như khoa học vật liệu, y sinh…  Có thể thấy điều tương tự ở ba nhà khoa học người Việt còn lại, đặc biệt với GS. TS Nguyễn Sơn Bình và GS.TS Nguyễn Thục Quyên, những người có xu hướng hợp tác liên ngành và nhiều công bố trong lĩnh vực khoa học vật liệu. Hiện GS. TS Nguyễn Sơn Bình quan tâm đến các vật liệu xốp (Porous Materials), Graphene/Graphene Oxide và các vật liệu sinh học (Biomaterials), GS.TS Nguyễn Thục Quyên nghiên cứu các thiết bị điện tử hữu cơ (organic electronics), polyme liên hợp có chứa ion (conjugated polyelectrolytes) và vật liệu sinh học (biomaterials). Trong khi đó, hoạt động trong lĩnh vực Toán học tính toán và ứng dụng, GS. TS Võ Văn Ánh tập trung vào phân tích các trường ngẫu nhiên và ước lượng thống kê của các phương trình vi phân ngẫu nhiên dạng phân thức và các phương trình vi phân riêng dưới các điều kiện ngẫu nhiên ban đầu; các phương pháp số cho xấp xỉ và mô phỏng của các phương trình khuếch tán dị thường.  Trao đổi với Tia Sáng, GS. TS Võ Văn Ánh chia sẻ về những công bố mà ông đã thực hiện: “Tôi tập trung vào các công cụ mới được phát triển để sử dụng cho một số hiệu ứng quan trọng để mô hình hóa và phân tích một số hiệu ứng quan trọng, bao gồm sự vận chuyển của nước mặn trong tầng ngậm nước không đồng nhất, sự điều tiết hành vi tế bào ở tim đến sự không đồng nhất trong tổ chức mô, phát hiện các dao động nhỏ và biến đổi trên phạm vi toàn cầu trong trường bức xạ phông vũ trụ. Thông qua việc được trích dẫn, các kỹ thuật và phương pháp của tôi không chỉ được tối ưu hơn mà còn thúc đẩy những ứng dụng của nó vào giải quyết những vấn đề quan trọng của KH&CN”.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Phạm Đức Chính: Giữa tĩnh và động      Cân bằng một cách khéo léo giữa tĩnh và động, giữa niềm say mê nghiên cứu về lý thuyết trong lĩnh vực cơ học vật rắn biến dạng với việc duy trì tinh thần thẳng thắn đòi phải có sự công bằng, minh bạch trong môi trường nghiên cứu khoa học, PGS. TSKH Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã trở thành một trong những chứng nhân, thậm chí mắt xích quan trọng, cho những chuyển mình của ngành Cơ học Việt Nam.       PGS. TS Phạm Đức Chính. Ảnh: Thanh Nhàn.  Để đánh giá tường tận về một con người hay một sự việc, người ta cần có độ lùi cần thiết về không gian và thời gian, đủ sức gạt bỏ những yếu tố gây “nhiễu” hoặc những ấn tượng ban đầu dễ làm hiểu sai lệch bản chất vấn đề. Với trường hợp PGS. TS Phạm Đức Chính cũng vậy, đôi khi cái nhìn của nhà nghiên cứu thế hệ sau lại vượt qua được những yếu tố nhiễu đó. Trong một cuộc trò chuyện qua mạng internet với Tia Sáng cách đây vài năm, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Đại học Công nghệ TPHCM) – một “thủ lĩnh” trẻ của ngành Cơ học Việt Nam với 5 lần lọt vào top 1% các nhà khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới, không ngần ngại đánh giá: ngành Cơ học với nếp làm việc dựa trên các chuẩn mực quốc tế, tạo cơ hội và khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ như ngày hôm nay là nhờ có sự đóng góp rất lớn của thầy Chính. Từ những nỗ lực và kiên trì đấu tranh trong nhiều năm của thầy Chính mà những nhà nghiên cứu đi sau như anh và đồng nghiệp có thêm nhiều cố gắng để tiếp tục làm nhiều điều có ý nghĩa cho ngành.  Đấu tranh trực diện để thay đổi ngành Cơ  Mỗi khi nhắc đến cái tên Phạm Đức Chính, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành Cơ học thường nhìn nhau cười “từ hồi trước, tay ấy đã thích tranh luận, mổ xẻ để làm rõ vấn đề”. Thực ra, những thứ mà PGS. TS Phạm Đức Chính thích tranh luận đó thường chỉ gói gọn trong các vấn đề liên quan tới chuyên môn, còn những thứ là “chuyện cá nhân con người tự nhiên như để tóc dài quá tai, thi thoảng đi nhảy với bạn bè thì mình tránh, khó có thể thể làm theo yêu cầu của chi đoàn”, anh nhớ lại thời sinh viên ở Belarus vẫn bị chi đoàn phê là thiếu tinh thần đấu tranh.  Vậy có mâu thuẫn giữa một người còn bị phê “thiếu tinh thần đấu tranh” hồi sinh viên với một nhà nghiên cứu được nhiều người biết đến vì dũng cảm nói thật về những vấn đề tiêu cực của ngành mình không? PGS. TS Phạm Đức Chính trầm ngâm, “việc đấu tranh sau này thì do tình huống mang đến. Khi mình đấu tranh thì bị phản công, mà khi ở thế cưỡi lên lưng hổ thì mình phải đấu tranh tiếp, không có đường lùi nữa”.  Câu chuyện đấu tranh của PGS. TS Phạm Đức Chính bắt đầu từ những bức xúc trước chuyện tiêu cực trong khoa học Việt Nam những năm 2000, “dù hồi xưa tôi cũng nép mình lắm, chỉ nghĩ đến chuyện nghiên cứu chứ không dám nói gì đến chuyện khác. Song có nhiều chuyện ngang tai trái mắt trong Viện Cơ, ví dụ các đề tài khoa học ưu tiên giao một cách nhập nhèm cho những chủ trì không xứng đáng, phớt lờ các chuẩn mực quốc tế khách quan. Không riêng gì trong viện mà nhìn rộng ra, cả ngành Cơ còn lạc hậu và trì trệ, thậm chí, “khái niệm công bố quốc tế còn chưa phổ biến, hoặc có được đề cập đến nhưng chỉ là bề ngoài còn trên thực tế thì chả quan tâm gì”. Nguyên nhân sâu xa khiến ngành Cơ lúc đó tụt hậu so với ngành toán và lý, theo lý giải của PGS. TS Phạm Đức Chính, “ở ngành toán còn có những người như bác Hoàng Tụy cố gắng gây dựng một văn hóa học thuật nghiêm túc” trong khi “từ rất nhiều năm, trong ngành Cơ thì chẳng mấy ai quan tâm đến chuyện làm khoa học phải hướng tới chuẩn mực quốc tế. Những quan chức đầu ngành, dù là những người được đào tạo ở Tây về, nhưng lại chỉ hài lòng với tư duy bao cấp cũ, chỉ thích làm chủ nhiệm các đề tài ‘to’ thông qua hệ thống quản lý xét duyệt quan liêu nên Viện Cơ và ngành Cơ gần như không có công bố quốc tế”.  Vậy bằng cách nào anh có thể góp phần xoay chuyển tình thế? “Tôi ‘tấn công’ trực diện luôn, công khai nói về những vấn đề của ngành và cả khoa học Việt Nam nói chung ở các diễn đàn, trong đó có Tia Sáng”, anh kể. Tuy nhiên, anh vẫn luôn cho rằng, việc mình cất lên một tiếng nói là vì khó nhắm mắt làm ngơ trước cảnh những hội đồng nghiên cứu cơ bản có “những nhà quản lý lũng đoạn, né tránh tiến trình hội nhập đang diễn ra rộng khắp ở mọi lĩnh vực kinh tế xã hội Việt Nam những năm 2000. Các đề tài khoa học rởm thì nhiều còn những người làm nghiêm túc, có chất lượng khoa học thực sự lại rất ít ỏi”.       “Tôi muốn đấu tranh để quyền lực không tập trung vào một số người trì trệ và tiêu cực, để đem lại sự trong sạch và minh bạch của khoa học Việt Nam nói chung, chứ không phải riêng chuyện nội bộ cơ quan”. (PGS. TS Phạm Đức Chính)      Trong quá trình đấu tranh chống những tiêu cực trong nghiên cứu của khoa học, PGS. TS Phạm Đức Chính cho rằng mình có ba điểm thuận lợi: Thứ nhất là người đi sau, tiếp nối những đề xướng của “các bác Hoàng Tụy ngành Toán, bác Phạm Duy Hiển ngành Lý – những nhà khoa học lão thành có uy tín ‘đã nổ những phát súng đầu tiên’ qua những bài viết đề cập đến một số mặt lạc hậu của khoa học Việt Nam trên Tia Sáng”; Thứ hai, anh không đơn độc trong cuộc đấu tranh này do “có nhiều anh em tiến bộ trong ngành Cơ và nhất là ở nhiều ngành khác họ ủng hộ mình, dù là không trực tiếp lên tiếng”; Thứ ba là những năm 2000, đất nước đã mở cửa trên tiến trình hội nhập nên xu hướng cởi mở hơn trước, “đến đội tuyển bóng đá cũng đã mời huấn luyện viên nước ngoài và sẵn sàng sa thải nếu không đạt được mục tiêu huy chương”, anh nhấn mạnh.   Trong ba yếu tố đó, điều quan trọng nhất là PGS. TS Phạm Đức Chính được những “anh em tiến bộ” ủng hộ, đó đều là những người có uy tín về học thuật như các GS. TS Ngô Việt Trung, Lê Tuấn Hoa, Nguyễn Đông Yên, Phùng Hồ Hải, Hoàng Xuân Phú (Viện Toán), Hoàng Ngọc Long, PGS. TS Nguyễn Bá Ân, Trần Minh Tiến, Nguyễn Hồng Quang (Viện Vật lý), Nguyễn Ngọc Châu (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)…, vì “họ cũng bức xúc vì những chuyện tiêu cực đó” nên “khi tôi nói thì mọi người nói rất ủng hộ, đặc biệt sự khuyến khích của các bác Hoàng Tụy và Phạm Duy Hiển đã cổ vũ chúng tôi rất nhiều”.  Để có được tiếng nói sắc bén và vạch ra những tồn tại của ngành cơ nói riêng cũng như trong quản lý khoa học cơ bản nói chung, PGS. TS Phạm Đức Chính đã phải dành rất nhiều thời gian tới các Viện Toán, Viện Lý gặp gỡ bàn thảo với các đồng nghiệp nhằm đưa ra những ý kiến mang tính xây dựng bởi theo quan điểm của anh, viết bài phản biện trên Tia Sáng “phải nêu được phương án giải quyết, chứ chỉ vạch ra cái xấu thì để làm gì, họ lại bảo mình bất mãn. Điều quan trọng là phải xử lý [vấn đề] như thế nào, cái nào hợp với hoàn cảnh Việt Nam, không cứ nguyên mẫu Tây bê nguyên xi vào là ổn”.     PGS. TS Phạm Đức Chính được mời tham gia viết bộ sách “Bách khoa toàn thư về mài mòn, ma sát và bôi trơn” (Springer, New York, 2013). Ảnh: Springer Link  Là một người làm nghiên cứu nên anh có một cách định lượng rất riêng về ảnh hưởng của việc đấu tranh, “thời kỳ 2008-2010, số lượng bài báo khoa học tôi viết ít hẳn đi so với thời gian trước và sau đó (3 năm chỉ công bố 4 bài ISI) vì mất rất nhiều thời giờ vào việc ấy, tốn thời gian kinh khủng”.   Dẫu cho rằng ở Viện Cơ hồi đó không có ai cản trở anh trong công việc nhưng không hẳn PGS. TS Phạm Đức Chính có thể làm bất cứ việc gì mình muốn. Đôi khi, khách đến Viện gặp anh cũng bị “tra khảo” dò xét, và những nội tình trong viện khiến anh có lần gửi email tới các nhà khoa học tiến bộ, trong đó có cả Tia Sáng, chia sẻ nỗi niềm: “Trong viện, người ta cho rằng tôi chơi nổi, muốn đạp đổ mọi chuyện…” Đỉnh điểm của chuyện chống tiêu cực là năm 2008, một cuộc họp Hội đồng Khoa học Viện Cơ diễn ra với nội dung duy nhất: mười mấy người lần lượt đứng lên phê phán anh – một thành viên của Hội đồng, là người muốn phá tung hệ thống và có những hành động, lời nói bất mãn làm mất uy tín lãnh đạo và cơ quan. Năm đó, PGS. TS Phạm Đức Chính mất danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Sau khi Quỹ NAFOSTED ra đời, một số thành viên Hội đồng đã từng phê phán anh kịch liệt đã tới bắt tay, “chúc mừng thành công – thỏa mãn nhé, muốn gì được nấy”.  Tuy nhiên, anh không lấy điều đó làm phiền, vì quan trọng nhất là đã bảo vệ được quan điểm của mình, “tôi muốn đấu tranh để quyền lực không tập trung vào một số người trì trệ và tiêu cực, để đem lại sự trong sạch và minh bạch của khoa học Việt Nam nói chung, chứ không phải riêng chuyện nội bộ cơ quan” như lời anh phản bác trong phiên họp đó. Và dù chuyện gì xảy ra, đông đảo anh em làm khoa học trong Viện Cơ vẫn tín nhiệm anh, “dù bị phê phán kịch liệt như thế thì tôi vẫn luôn được bầu vào Hội đồng Khoa học viện với số phiếu cao. Nếu tôi là người cá nhân, vụ lợi thì đừng có hòng”, anh nói.   Rút cục, đấu tranh của những nhà khoa học tiến bộ, trong đó có tiếng nói của PGS. TS Phạm Đức Chính, cũng đi đến thắng lợi: năm 2009, những đổi mới trong quản lý khoa học đã dẫn đến sự ra đời của Quỹ NAFOSTED – một mô hình tài trợ cho các đề tài khoa học cơ bản theo cơ chế quỹ với những tiêu chí công bằng và minh bạch. “Mọi chuyện tốt dần lên, cái xấu bị giảm thiểu và không thể lấn át cái tốt được nữa”, anh kết luận.  Tĩnh tâm làm nghiên cứu  Câu chuyện làm nghiên cứu của PGS. TS Phạm Đức Chính dường như dao động quanh hai thái cực, một bên là động với những nhiệt tình đấu tranh chống tiêu cực trong khoa học, một bên là tĩnh với những tập trung nghiên cứu về lý thuyết. Anh giải thích: “Tôi thấy trên thế giới có những nhà khoa học thích ngồi một chỗ làm việc. Tôi cũng là một kiểu như thế, mà người làm lý thuyết nói chung hay thích như thế”.  Do cái thích riêng biệt này mà không như nhiều đồng nghiệp khác, PGS. TS Phạm Đức Chính ít đi công tác nước ngoài dài hạn, ngoại trừ hai chuyến đi dưới một năm theo học bổng Humboldt (Aachen, Đức) vào năm 1999 và Fullbright (Princeton, Mỹ) năm 2002. Cả hai chuyến đi đều để lại dấu ấn đậm nét trong con đường nghiên cứu của PGS. TS Phạm Đức Chính: chuyến đi Đức tập trung vào hướng thích nghi và hỏng dẻo kết cấu chịu lực, chuyến còn lại là về cơ học vi mô và đồng nhất hóa vật liệu – đều là những vấn đề đã được đặt ra từ thế kỷ trước. “Tôi không thấy người khác cùng lúc làm theo hai hướng nghiên cứu khác nhau đó nhưng tôi thấy, theo đuổi nó cũng có cái hay là thỉnh thoảng có thể nhảy sang làm cái này rồi lại sang cái kia, không khi nào thấy nhàm chán cả”, anh nói.   Sống trong thời đại của cơ học tính toán, khi những bài toán kỹ thuật với kích cỡ hàng ki lô mét đến nano mét đều có thể diễn tả bằng các mô hình số trên máy tính thì việc một nhà nghiên cứu theo đuổi các vấn đề lý thuyết cổ điển có lạc hậu? Anh giải thích, “việc tôi chọn ‘chiến đấu’ với các vấn đề cổ điển đã được bàn thảo rộng rãi là vì nó là vấn đề mang tính nền tảng và cũng là thế mạnh của mình. Để tiếp cận những vấn đề thời sự như cơ học nano (lý thuyết còn rất thô), mình cần được tham gia vào các thực nghiệm công nghệ như các đồng nghiệp quốc tế. Ở Việt Nam thì rất khó vươn lên tuyến đầu”. Với một số đồng nghiệp, giải bài toán là điều quan trọng nhất nhưng với anh, việc xây dựng mô hình lý thuyết thú vị nhất, bởi “phải xây dựng được phương trình phản ánh vấn đề thực tế và biến nó thành bài toán tổng quát, không phải cho chỉ một vật liệu cụ thể mà những vật liệu trên một diện rộng, xây dựng những giả thuyết mà người khác có thể thấy là nó đủ rộng và đủ tin cậy”.   Việc kiên trì theo đuổi các vấn đề lý thuyết, đặc biệt lý thuyết thích nghi và hỏng dẻo kết cấu chịu lực – vốn đem lại cho PGS. TS Phạm Đức Chính hơn 1/4 trong tổng số hơn 100 bài công bố quốc tế ISI (hầu hết được thực hiện độc lập từ VN), trong số đó là một đề cử giúp anh giành giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019 (đề cử đầu tiên năm 2014 là nghiên cứu về đa tinh thể hỗn độn – trên hướng cơ học vi mô và đồng nhất hóa vật liệu), đã đem lại cho anh một uy tín nhất định trên diễn đàn quốc tế: được mời viết chương-bài về hướng nghiên cứu này cho các bộ sách “Bách khoa toàn thư về mài mòn, ma sát và bôi trơn” (Springer, New York, 2013), và “Bách khoa toàn thư về cơ học môi trường liên tục” (Springer, Berlin, Heidelberg, sẽ xuất bản trong thời gian tới).   Để có được những điều đó, thật không phải là điều dễ dàng. Nhớ lại quãng thời gian bắt đầu làm nghiên cứu, PGS. TS Phạm Đức Chính kể: “Thời gian đầu tôi gửi bài toàn bị từ chối với lời bình là có ý tưởng nhưng thiếu thông tin về những kết quả đã có trong lĩnh vực, tiếng Anh thì kém. Đến 5, 6 bài bị trả lại như vậy”. Thật khó hình dung tình thế của một nhà nghiên cứu vào thời điểm đó cứ mò mẫm viết bài, ngày nghỉ đến viện để mượn máy chữ gõ, công thức ghi bằng tay và mỗi lần gửi bài đi mất hàng trăm nghìn tiền cước. “Thời gian đầu, tôi cũng phải dùng đến lương. Sau thì có tiền từ đề tài nghiên cứu cơ bản, người ta dùng để tiêu pha còn tôi dồn vào việc gửi bài. Cũng may giai đoạn đó tôi chưa lập gia đình, nếu không cũng khó”, anh kể. Có lần, anh tập hợp hóa đơn kinh phí gửi bài trong một năm, “tính đến cả triệu” và gửi lãnh đạo Viện đề nghị hỗ trợ thì bị gạt đi, “nếu hồi đó mình tinh ý ghi tên lãnh đạo vào bài báo của mình thì có thể cũng được duyệt đấy nhưng tôi không làm điều đó. Cái vất vả của tôi nó cứ dài dài như thế”, anh nói hài hước về gian nan làm nghiên cứu của mình.   Bất luận hoàn cảnh thế nào thì niềm say mê làm nghiên cứu với anh không thay đổi. Gương mặt anh sáng lên khi nói về lý thuyết thích nghi và hỏng dẻo kết cấu chịu lực, hướng nghiên cứu mà mình đã có công bố từ những năm 1990. Được khởi xướng từ thế kỷ trước, lý thuyết thích nghi sau được phát triển cho các vật liệu phức tạp hơn với mô hình đàn dẻo tái bền giới hạn. Sau chuyến đi Đức, anh tập trung vào vật liệu đàn dẻo tái bền chứ không phải vật liệu đàn dẻo lý tưởng vì “các quy luật dẻo tái bền phi tuyến của các vật liệu thực, vốn phụ thuộc vật liệu cụ thể, nói chung là không xác định duy nhất và thường phụ thuộc vào đường đặt tải”, anh giải thích.  Những bài toán về vật liệu đàn dẻo tái bền hết sức phức tạp. Theo PGS. TS Phạm Đức Chính, “lý thuyết thích nghi phải dành cho những vật liệu đàn dẻo tái bền mới phản ánh đúng các vật liệu thực, kết cấu thực, chứ còn lý thuyết thích nghi cổ điển trên vật liệu đàn dẻo lý tưởng bị hạn chế rất nhiều”. Trong vật liệu đàn dẻo tái bền, quan hệ biến dạng – ứng suất là phi tuyến, phụ thuộc đường đặt tải, không duy nhất, “không thực nghiệm nào mô tả được hết tất cả các đường ấy cả. Trong không gian tải trọng đa chiều, anh đề cập đến việc khó đưa ra được một lý thuyết thích nghi theo tinh thần kinh điển không phụ thuộc đường đặt tải đối với một vật liệu chứa đựng nhiều yếu tố không xác định.  Với dân Cơ học, khó không có nghĩa là không làm được. PGS. TS Phạm Đức Chính cho rằng, cần phải xây dựng thêm một số giả thiết cho vật liệu đàn dẻo tái bền, đặt để nó thỏa mãn một số tiêu chuẩn nhất định theo cảm nhận vật lý của mình. Suy nghĩ như vậy nhưng cũng phải mất nhiều năm, từ năm 2001 khi bắt đầu quan tâm đến lý thuyết này, trải qua quá trình nghiên cứu hoàn chỉnh lý thuyết thích nghi cổ điển cho vật liệu đàn dẻo lý tưởng đến việc bổ sung và xây dựng đủ các giả thiết vào năm 2017: 1. Hao tán dẻo tối đa (vốn gắn liền với các tên tuổi ngành Cơ thế kỷ 20 như Hill, Drucker, Prager); 2. Hysteresis dương trong không gian đa chiều (được xây dựng trong một bài báo đăng năm 2008 của anh); 3. Tái bền ổn định mạnh; 4. Bauschinger đa chiều. Trong đó, bài báo giúp anh nhận giải Tạ Quang Bửu 2019 đã bổ sung 2 giả thiết cuối cùng. “Xuất phát từ việc có một số vấn đề mâu thuẫn không giải thích được xảy ra khi nhiều khoa học áp dụng lý thuyết cho bài toán cụ thể, tôi đã xây dựng thêm 2 giả thiết mới để giải quyết những mâu thuẫn đó”, PGS. TS Phạm Đức Chính nói. Với các giả thiết này, chỉ cần cho trước biên của vùng lực tác động, bất kể quy luật tái bền dẻo như thế nào, người ta vẫn có thể trả lời được câu hỏi kết cấu có bị hỏng dẻo (mất khả năng chịu lực) hay không. Anh nhận xét: “Mọi người chấp nhận giả thiết của tôi vì nó tương đối phản ánh đúng thực nghiệm”.  Có công bố xuất sắc nhưng PGS. TS Phạm Đức Chính cho rằng, “mình làm tốt việc của mình thôi, không có ý định tham gia giải thưởng Tạ Quang Bửu lần hai”. Ý nghĩ này của anh khiến Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu suýt mất cơ hội xét giải cho một công trình tốt. Chỉ gần một tuần trước khi “khóa sổ”, anh mới quyết định lập hồ sơ, sau khi được Hội đồng khoa học ngành Cơ (NAFOSTED) chủ động khuyến nghị anh đăng ký. “Anh Chính là một nhà khoa học đích thực, ngại nói về mình, nói về công trình của mình, vì thế ngay cả hồ sơ đề cử giải thưởng cũng không cố giải thích một cách tường tận mà chỉ trình bày vấn đề rất ngắn gọn”, TS. Phạm Đình Nguyên – Phó giám đốc NAFOSTED, đề cập đến “trường hợp đặc biệt” này của giải thưởng năm nay.   ***  Có lẽ bắt đầu con đường làm khoa học của mình, PGS. TS Phạm Đức Chính chưa khi nào nghĩ, “một nghiên cứu viên như mình lại có thể phá bỏ những ‘lô cốt’ bền vững” (cách anh gọi những hội đồng xét duyệt nghiên cứu cơ bản kiểu cũ) trong khi đang phải dồn sức vượt khó trong chuyên môn. Rút cục thành công cũng đến với anh, dù chật vật và trầy trật. Bây giờ, mọi thứ với anh đều rõ ràng và giản dị: tập trung vào làm những thứ mình thật sự thích, và hơn nữa, không quên đấu tranh làm trong sạch môi trường nghiên cứu ngành Cơ, khi một số điều “ngang tai chướng mắt” và một số vấn đề mới phát sinh còn chưa được giải quyết.     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Phạm Thành Huy: Những năm tháng đẹp nhất tôi dành cho AIST      Đằng sau thành công của Viện Tiên tiến KH&CN (AIST) – một “địa chỉ đỏ” về khoa học vật liệu của trường Đại học Bách khoa HN, là nỗ lực của cả tập thể các nhà khoa học trẻ say mê nghiên cứu, và đằng sau tập thể ấy là cố gắng bền bỉ của một viện trưởng luôn không coi mình là… viện trưởng, PGS. TS Phạm Thành Huy.      PGS. TS Phạm Thành Huy trao đổi công việc với các học viên của AIST. Ảnh: Thanh Nhàn.  Trong vòng 10 năm gây dựng và thúc đẩy AIST trở thành một trong những đơn vị có công bố và chuyển giao công nghệ tốt của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, PGS. TS Phạm Thành Huy vẫn coi vai trò quản lý hành chính của mình là “phục vụ, hỗ trợ các bạn ấy khi cần thiết và sẵn sàng giải đáp thắc mắc khi có thể”. Anh tâm đắc với quan điểm của TS. Trần Chí Thành – Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, “làm viện trưởng không có nghĩa phải làm ra nhiều bài báo mà là tạo điều kiện, tạo môi trường làm việc để các nhà nghiên cứu có nhiều bài báo hơn”.   Gây dựng môi trường thật và “ảo”  Với các nhà nghiên cứu về khoa học thực nghiệm, phòng thí nghiệm tất yếu cần phải có máy móc, thiết bị để triển khai nghiên cứu. Vì vậy, hơn 10 năm trước khi cùng đồng nghiệp viết đề án thành lập Viện AIST, PGS. TS Phạm Thành Huy đã suy nghĩ rất cẩn trọng về việc thiết kế phòng thí nghiệm với mục tiêu “có được một cơ sở hạ tầng đủ tốt để anh em ở nước ngoài trở về cũng yên tâm là có thể làm nghiên cứu được ở trong nước”. Câu hỏi đặt ra là một hệ thống phòng thí nghiệm với trang thiết bị “đủ tốt” như vậy có rơi vào cảnh lỗi thời sau 10, 15 năm? Nhớ lại quãng thời gian đó, anh Phạm Thành Huy cho biết, “muốn có phòng thí nghiệm tốt thì ngay từ đầu, phải có một cấu trúc tổng thể và một số nguyên tắc nhất định, cho nên dù sau này có xoay sang theo hướng nghiên cứu khác thì cũng thực hiện được trên nền tảng đó”. Với ý tưởng này, cấu trúc phòng thí nghiệm của AIST gồm 4 mô đun mang tính bổ trợ và kết nối, trong đó mô đun 1 tập trung vào các thiết bị chế tạo vật liệu với phòng chế tạo vật liệu bằng phương pháp vật lý và chế tạo vật liệu bằng phương pháp hóa học; mô đun 2 có nhiều thiết bị phân tích quang học, các máy đo tính chất quang, từ, điện của vật liệu; mô đun 3 là phòng sạch với nhiều thiết bị chế tạo màng mỏng đơn lớp nguyên tử, màng đa lớp đa thành phần…; và mô đun 4 là các hệ kính hiển vi điện tử (SEM, TEM). Dù không thể so sánh với quốc tế nhưng hệ thống cơ sở vật chất này đã cho phép các nhà nghiên cứu của AIST có thể thực hiện được những nghiên cứu rất cơ bản đến chuyên sâu của vật liệu, đồng thời có được những sản phẩm hợp tác với doanh nghiệp.   Việc xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm với tầm nhìn xa như vậy không chỉ đòi hỏi sự suy nghĩ thấu đáo mà còn cả sự hiểu biết và nhạy cảm của một người đam mê với nghiên cứu. Tuy nhiên, anh cũng khiêm tốn tự nhận, “mình chẳng thông thái gì đâu, cũng phải tìm hiểu kinh nghiệm đồng nghiệp trong nước, quốc tế xem họ xây dựng phòng thí nghiệm như thế nào để làm theo”.  Mất 4 năm để PGS. TS Phạm Thành Huy và cộng sự tạo dựng một cơ sở vật chất “đủ tốt”, nhưng để xây dựng một bầu không khí tin cậy, dân chủ và minh bạch ở AIST đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều công sức hơn thế, nhất là khi không có một “công thức chung” nào để làm theo. “Mọi thứ không đến ngay một lúc, mình phải xây dựng một cách từ từ với mục tiêu để Viện duy trì được một cách làm việc tốt, một nơi để anh em cảm thấy hạnh phúc khi đến làm việc”, PGS. TS Phạm Thành Huy nói.       “Là người phụ trách, mình buộc phải chấp nhận họ theo cách phải biết họ giỏi cái gì để khai thác cái giỏi của họ. Mình không nhất thiết phải viết bài nhiều hơn nhưng phải trao cho họ cơ hội để họ có nhiều bài tốt”. (PGS. TS Phạm Thành Huy).      Để làm được điều này, theo PGS. TS Phạm Thành Huy, “trước tiên, mình phải chấp nhận sự khác biệt và tạo điều kiện cho mọi người có thể thẳng thắn trao đổi quan điểm của mình”. Chấp nhận sự khác biệt – nói thì dễ nhưng thực hiện thực sự là điều khó, nhất là tới 90% các nhà nghiên cứu trẻ của AIST từ nước ngoài trở về, “đều giỏi về chuyên môn và rất cá tính, có người vô cùng đặc biệt và không phải ai cũng chấp nhận cái riêng nhau”. Anh thừa nhận: “Rất khó! Mình phải hiểu là trong viện sẽ có những nhà nghiên cứu giỏi hơn mình, thậm chí chưa chắc họ đã coi mình ra gì cả”. Vậy cách nào? “Là người phụ trách, mình buộc phải chấp nhận được họ theo cách phải biết họ giỏi cái gì để khai thác cái giỏi của họ. Mình không nhất thiết phải viết bài nhiều hơn họ nhưng phải trao cho họ cơ hội để họ có nhiều bài tốt”, anh Huy nói. Sự tôn trọng và gắn kết giữa các nhà nghiên cứu, giữa họ với viện trưởng của mình đã bắt đầu từ những điều như vậy.    Sự đồng thuận ở AIST là niềm tự hào của PGS. TS Phạm Thành Huy. Đôi mắt anh sáng lên khi kể: “10 năm nay, cứ bỏ phiếu thông qua một vấn đề là được 100% tán thành”. Anh giải thích, đồng thuận ở đây “không phải là mình đi thuyết phục từng người đâu mà tự mỗi người đều được thuyết phục bởi sự minh bạch, dân chủ từ công tác quản lý, tiền bạc đến thi đua”.   Logic ứng dụng của người làm nghiên cứu cơ bản  Các nhà nghiên cứu ở AIST đều tôn trọng viện trưởng của mình, không chỉ vì anh là người đem lại một môi trường làm việc tốt và những cơ hội nghiên cứu tốt mà còn vì “anh ấy nỗ lực giải quyết công việc đến cùng. Nhiều khi tôi thấy ngạc nhiên là tại sao anh ấy có thể vừa làm nghiên cứu cơ bản lại vừa triển khai tốt cả ứng dụng trong khi hai thứ ở hai đầu xa tít tắp”, TS. Nguyễn Đức Dũng (trưởng phòng BKEMMA, AIST) từng trao đổi với Tia Sáng như vậy vào cuối năm 2017.  Mối gắn bó với nghiên cứu ứng dụng của PGS. TS Phạm Thành Huy và anh em AIST bắt đầu từ rất sớm, khi Viện mới thành lập, và bắt đầu một cách “tưởng chừng ngẫu nhiên nhưng rất logic” như đánh giá của anh. Năm 2010, dự án về phòng thí nghiệm của AIST mới bắt đầu nên để có được cơ sở nghiên cứu, các anh “đã phải đi nhờ khắp nơi, phải nghĩ đến chỗ nào đấy có thể giúp mình, hỗ trợ mình mở phòng thí nghiệm. May quá lúc đó vào được Rạng Đông (Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông), nhờ thử làm thành công mấy việc, Ban Giám đốc Rạng Đông đã đồng ý xây dựng phòng thí nghiệm chung giữa hai bên”.   Xuất phát từ mong muốn có một chỗ làm việc, đến nay việc hợp tác giữa AIST và Rạng Đông được tiến hành cũng gần 10 năm, mặc dù cái gốc của PGS. TS Phạm Thành Huy vẫn thuần là nghiên cứu cơ bản và “giữa cái mình nghiên cứu cơ bản khi ấy và cái mình nghiên cứu ứng dụng ở Rạng Đông vẫn còn khác xa nhau”. Tuy nhiên, với những hiểu biết rất rộng về quang điện tử, nhóm nghiên cứu AIST của anh đã giải được những bài toán của Rạng Đông, ví dụ như tìm ra phương pháp thu hồi bột huỳnh quang từ ống thủy tinh chì tráng lớp phát quang phế phẩm để có được hai sản phẩm bột huỳnh quang tinh sạch và thủy tinh nguyên liệu. “Tất cả đều dựa trên kiến thức, quan trọng là mình phải có ý tưởng, trường hợp lấy bột huỳnh quang ra khỏi ống cũng vậy, lấy được nó rồi thì phải có giải pháp làm sạch nó để tái sử dụng”, anh giải thích.     PGS. TS Phạm Thành Huy (thứ hai từ trái sang) trao đổi với ban lãnh đạo Rạng Đông về phương pháp thu hồi bột huỳnh quang. Nguồn: Rạng Đông.  Sự thông đồng bén giọt trong hợp tác với Rạng Đông đã mở đường cho PGS. TS Phạm Thành Huy cũng như AIST làm việc với nhiều doanh nghiệp khác, một hành trình mà anh vẫn nói vui là thực tế hóa các nhà khoa học: “Hồi đầu, có lần làm việc với doanh nghiệp, khi đàm phán về chuyển giao công nghệ, ở nhà anh em đã bàn và đưa ra mức giá khá cao đã chốt sẵn. Tưởng họ không chấp nhận, ai dè họ đồng ý luôn. Khi về, anh em cứ bấm nhau cười”. Ở đây, việc hợp tác và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp không chỉ đem lại thêm khoản kinh phí để “nuôi quân” mà còn giúp anh em có những trải nghiệm, những bài học đáng giá từ thực tế. Với tâm thế cầu thị, anh đã học hỏi được rất nhiều ở doanh nghiệp, từ người kỹ sư đến lãnh đạo, ví dụ có những bài toán giải được là “nhờ anh em ở đó cả, như trường hợp tạo lớp phủ cho đèn khởi động nhanh, mình làm đủ cách, tính mọi đường vẫn không ra. Sau anh phụ trách ở đấy giỏi lắm bảo ‘bình thường chúng tôi vẫn làm như thế này là được’, mình làm theo là thành công”.   Sức hấp dẫn của nghiên cứu ứng dụng – vừa nhìn thấy sản phẩm của mình có mặt trên thị trường, vừa đem lại tiền bạc, có làm phai nhạt sự gắn bó với nghiên cứu cơ bản và ảnh hưởng đến khả năng công bố của các nhà khoa học? PGS. TS Phạm Thành Huy cho biết, cũng như nghiên cứu cơ bản, việc làm ứng dụng mất rất nhiều thời gian vì thông thường, các nhà khoa học không có kinh nghiệm về sản xuất và sản phẩm mình làm ra trong phòng thí nghiệm là sản phẩm đơn chiếc, mọi công đoạn chưa được chuẩn hóa nên khi áp dụng mới có nhiều vấn đề xuất hiện. Ngay bản thân anh, giai đoạn 2012-2013, thời kỳ làm việc với Rạng Đông nhiều nhất, anh ở trong tình trạng “hoàn toàn không có công bố”.       “Anh ấy nỗ lực giải quyết công việc đến cùng. Nhiều khi tôi thấy ngạc nhiên là tại sao anh ấy có thể vừa làm nghiên cứu cơ bản lại vừa triển khai tốt cả ứng dụng trong khi hai thứ ở hai đầu xa tít tắp”. TS. Nguyễn Đức Dũng (Trưởng phòng BKEMMA, AIST).      Vậy tại sao làm ứng dụng ở Việt Nam lại ít có công bố trong khi nhiều doanh nghiệp và nhiều nhà khoa học quốc tế vẫn có công bố từ nghiên cứu ứng dụng? Anh Huy giải thích, thông thường nếu nhà khoa học chỉ đưa ra những giải pháp thuần túy về mặt kỹ thuật cho doanh nghiệp mà không có sự gắn kết với doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề một cách sâu sắc thì ứng dụng cũng chỉ ở mức lưng chừng, không thể đưa kiến thức từ ứng dụng thành những hướng nghiên cứu mới và có thể công bố được. Rất may là mối hợp tác bền chặt và hiệu quả giữa AIST và Rạng Đông trong vòng gần 10 năm không chỉ đem đến gợi ý cho công ty mở một trung tâm R&D của mình mà còn mở ra cơ hội hai bên cùng giải quyết những vấn đề lớn, có “những cái liên quan đến nghiên cứu ứng dụng mình cũng có thể công bố được”. Đó cũng là nét mới trong công bố của AIST năm 2017-2018 khi có một vài bài báo liên quan đến phương pháp mô phỏng về thiết bị chiếu sáng và bột huỳnh quang – những vấn đề liên quan đến việc thiết kế, chế tạo một số sản phẩm mới của Rạng Đông, tuy để giải quyết vấn đề ứng dụng nhưng cách làm, cách tiếp cận, cách thiết kế… hoàn toàn mới. Tiềm năng công bố theo hướng này cũng rất lớn bởi theo anh Huy, “từ một số bài toán đã làm cho Rạng Đông nay lại mở ra một số vấn đề về nghiên cứu cơ bản rất hay”.   Dẫu vậy, anh thừa nhận, “không dễ để làm tốt hai việc cùng một lúc, không dễ làm nhưng mà nếu cố gắng thì vẫn làm được”.  Không dễ bằng lòng    Cảm nhận ban đầu về PGS. TS Phạm Thành Huy là sự thân thiện, chân thành và cởi mở. Đó cũng là lý do vì sao, nhiều nhà nghiên cứu trẻ giỏi nghề từ nước ngoài trở về đã chọn AIST sau một buổi làm việc với anh. “Ở đây, các bạn ấy chọn nơi làm việc, có bạn ‘phỏng vấn ngược’ mình tới 50 câu chỉ để chắc chắn AIST là nơi có thể làm việc được”, anh kể. Khi bước vào nghiên cứu, điều làm họ cảm phục ở anh là thái độ làm việc nghiêm túc và luôn cố gắng giải quyết trọn vẹn vấn đề đặt ra. Không chỉ những người cùng viện mà ngay cả đối tác của AIST cũng nhận xét như vậy. Trong nhiều cuộc tọa đàm do Tia Sáng tổ chức, Tổng giám đốc Rạng Đông ông Nguyễn Đoàn Thăng vẫn nhắc cơ duyên đưa “thầy Huy” – cách gọi thân mật của Rạng Đông với các nhà khoa học, đến công ty và nỗ lực của anh trong việc giải bài toán thu hồi bột huỳnh quang từ các ống đèn phế phẩm, “lặn lội đến ngay cả ngày 29 Tết năm hết tết đến, mọi người đều đã nghỉ và mua sắm Tết hết”.  Chính sự tận tâm với công việc mà một người vừa làm công tác quản lý và nghiên cứu như PGS. TS Phạm Thành Huy luôn rơi vào trạng thái “bận như con mọn”, cụm từ anh thường lấy để nói về sự bận rộn của mình, “lúc nào cũng có 15 việc trước mặt cần giải quyết. Phải tĩnh tâm làm từng việc một thôi”. Chính vì phải dành rất nhiều thời gian cho công tác quản lý, phân bổ thời gian lên lớp, vào phòng thí nghiệm và làm dự án… đến nay anh vẫn chưa làm được một việc đã đặt ra kế hoạch thực hiện từ lâu, đó là viết một cuốn sách về “Vật liệu và Công nghệ chế tạo đèn chiếu sáng chuyên dụng cho nông nghiệp” – đúc kết kết quả hơn 10 năm tham gia nghiên cứu ứng dụng với Rạng Đông. Tuy bận bịu như vậy nhưng có những điều anh không cho phép mình được quên, ngay cả việc tưởng chừng nhỏ nhặt là “sáng sớm đến thấy trời nồm ẩm thì phải nhắc nhở các bạn không được vội bật máy ngay mà cần bật điều hòa trước”, hay trước khi về “đi tuần”, kiểm tra phát hiện máy nào chưa lau sau thí nghiệm, điện phòng nào chưa tắt… Các nhà nghiên cứu của AIST yêu mến viện trưởng của mình từ những điều nho nhỏ như thế.    Ở một viện nghiên cứu thì công việc của viện trưởng không chỉ có vậy. “Mình phải xác định rất rõ, anh em nhìn nhau bằng hiệu quả công việc, mình làm quản lý thì hiệu suất nghiên cứu không thể bằng anh em giỏi nhất của viện nhưng vẫn phải cố gắng”, anh Huy nói. Cố gắng của anh ở đây là đặt mục tiêu hàng năm, có bài báo nhưng “bài báo của anh không phải là bài đứng tên cho có mà phải là ‘chính chủ’, làm thế nào thì làm, kiểu gì cũng phải đạt”. Những năm gần đây, công việc đã vào guồng, công bố của anh và đồng nghiệp đã tăng lên, riêng năm 2018 có 10 bài, trong đó anh là tác giả chính ba bài. Niềm vui của người làm nghiên cứu cơ bản đôi khi cũng giản dị, “bây giờ anh đã có 73 bài công bố trên các tạp chí ISI/Scopus, trong đó 21 bài trên các tạp chí Q1”.   Có trong tay nhiều thứ, một đội ngũ các nhà nghiên cứu trẻ “thiện chiến”, một lý lịch khoa học tốt và một bề dày kinh nghiệm làm ứng dụng nhưng PGS. TS Phạm Thành Huy vẫn chưa tự bằng lòng. Ngay cả với ứng dụng thì anh cũng muốn không chỉ dừng ở việc tối ưu những sản phẩm thông thường. Trong một tọa đàm tổ chức năm 2016 nhân dịp kỷ niệm 5 năm thành lập Trung tâm R&D chiếu sáng của Rạng Đông, anh không ngần ngại nêu quan điểm của mình: lẽ ra Trung tâm còn có thể làm được nhiều thứ tốt hơn, hiện tại Trung tâm mới giải quyết được vấn đề gắn liền với sản xuất, làm ra một số sản phẩm mới nhưng chỉ là sản phẩm của tương lai gần, Trung tâm chưa có được sản phẩm mang tính dẫn dắt thị trường. “Muốn làm được như vậy, Trung tâm phải thực hiện được những nghiên cứu về công nghệ mới trên cơ sở có được một đội ngũ chuyên sâu, nghĩ được vấn đề rất xa”, anh nói.  Với AIST, anh cũng thấy còn quá nhiều điều chưa đạt được, “cái mình đạt được là tốt nhưng mình còn mong muốn tốt hơn như hướng đến những công trình công bố trên các tạp chí cao nhất thì vẫn chưa đạt được, công trình năm ngoái về pha tạp carbon trong ZnO của TS. Nguyễn Đức Dũng cũng mới bắt đầu tiệm cận điều đó”. Kinh nghiệm mà anh thấy là “muốn công bố trên những tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao thì ngay cả nghiên cứu cơ bản cũng cần giải quyết triệt để một vấn đề nào đó từ lý thuyết đến thực nghiệm. Nếu mình không có đủ người thì không bao giờ mình làm được”. Nhưng để làm được điều này, cần có một cơ chế đủ linh hoạt, cho phép “viện trưởng có thể quyết định trong vòng 1 phút” để có thể tuyển được nhiều người giỏi. Trong bối cảnh hiện nay, những điều như thế dường như là không tưởng với các cơ sở nghiên cứu công lập…  ***  Dù bận rộn, đôi lần trong năm, PGS. TS Phạm Thành Huy cũng dành thời gian nhìn lại công việc của chính mình, “kê ra những việc đã làm được và chưa làm được”. Nhìn lại chặng đường đã qua với AIST, dẫu chưa thật sự bằng lòng nhưng anh cho rằng, “những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình là dành cho AIST”, chắt chiu vun đắp nó thành “nơi quy tụ anh em cùng chí hướng làm khoa học”, ở đó soi vào mỗi công bố đều thấy những gương mặt thân thuộc của anh em AIST.     Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Phạm Tiến Sơn: Chọn “ẩn cư” ở Đà Lạt để làm toán      Gần như hầu hết các công trình nghiên cứu của PGS. TS Phạm Tiến Sơn (Khoa Toán tin, trường Đại học Đà Lạt), trong đó có “Generic properties for semialgebraic programs” (Các tính chất tổng quát của quy hoạch nửa đại số) xuất bản trên SIAM Journal on Optimization – công trình được đề cử giải thưởng Tạ Quang Bửu 2020, đều được hình thành và hoàn thiện ở Đà Lạt. Dù lượng khách du lịch đến mỗi năm một đông, Đà Lạt vẫn là nơi lý tưởng cho người ưa bình lặng như anh có thể trầm tĩnh làm việc theo đúng cách mình đã chọn hơn 30 năm qua.      Ảnh: Phan Tuấn Anh.  Làm toán ở Đà Lạt  Trên một đồi thông ở vùng rìa thành phố, Đại học Đà Lạt với các giảng đường nằm rải rác cạnh những lối đi và bậc thang dường như được xếp đặt một cách ngẫu nhiên khiến tự nó đã mang một dáng vẻ biệt lập. Cách đây vài năm, một nhà toán học trong chuyến công tác tại trường đã nghi ngờ không rõ là có người “làm toán” thực sự ở đó không. Có lẽ, dáng vẻ biệt lập của ngôi trường cũng như cả bề ngoài những người “ít ai tự nói về mình” trong đó (lời chia sẻ của thầy hiệu phó Nguyễn Văn Kết vào đầu năm 2019) khiến cho ngay cả người làm cùng ngành đặt dấu hỏi. Rất may mắn là ở nơi này, dù không nhiều, cũng còn có “một vài người làm toán, tiếp nối ‘truyền thống’ Lý thuyết kỳ dị mà các thầy như giáo sư Nguyễn Hữu Đức từng theo đuổi”, PGS. TS Phạm Tiến Sơn, một người từng gắn bó với trường từ những ngày ở Đà Nẵng lên Đà Lạt học đại học đến nay, cho biết.  Cũng giống PGS.TS Nguyễn Sum, một đồng nghiệp ở trường Đại học Quy Nhơn và người nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2017, anh không phải là người quảng giao, dù tính cách khá thân thiện. Sống trong một môi trường hoàn toàn khác biệt với hai trung tâm nghiên cứu lớn là Hà Nội và TP.HCM, những người như Phạm Tiến Sơn và Nguyễn Sum dường như có một phẩm chất khác để “làm nghề”, đó là sự quyết liệt  bảo vệ đến cùng điều mình cho là đúng, ngay cả những thời điểm xao động nhất của sự nghiệp. Có một điểm khá trùng hợp giữa hai nhà toán học này là họ từng đệ đơn lên ban giám hiệu trường xin thôi chức, một bên là vị trí hiệu phó trường Đại học Quy Nhơn và một bên là vị trí trưởng khoa Toán tin trường Đại học Đà Lạt, cùng một lý do là để toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu. Hoàn cảnh mỗi người đều có chút khác nhau, người thì ngây thơ không chịu nổi những cáo buộc ác ý còn người thì kiên quyết không muốn theo ý định nhất thời của lãnh đạo, nhưng tựu trung lại đều muốn đấu tranh để có thể tiếp tục duy trì mạch nghiên cứu của mình. “Vào thời điểm đó, cũng có vài người có học vị tiến sĩ ở trường chuyển công tác về TP.HCM nên nhiều người nghĩ tôi sẽ rời Đà Lạt…”, câu nói của PGS. TS Phạm Tiến Sơn bỏ lửng ở đó như không muốn nhắc lại “chuyện đã cũ và cũng không vui” từ năm 2012 mà mình đã gói ghém và cất lại một góc.      Sống trong một môi trường hoàn toàn khác biệt với hai trung tâm nghiên cứu lớn là Hà Nội và TP.HCM, những người như Phạm Tiến Sơn và Nguyễn Sum dường như có một phẩm chất khác để “làm nghề”, đó là sự quyết liệt bảo vệ đến cùng điều mình cho là đúng, ngay cả những thời điểm xao động nhất của sự nghiệp.      Sau chuyện đó, anh vẫn ở lại Đà Lạt, nơi chứng kiến gần như toàn bộ quá trình anh gắn bó với Lý thuyết Kỳ dị và Hình học nửa đại số. “Thực sự, sau chuyện này, tôi vẫn nghiên cứu bình thường, thậm chí có phần ‘tích cực’ hơn do không phải làm công tác quản lý nữa”, anh thoáng chút trầm ngâm.   Điểm lại những giai đoạn đã qua, chỉ duy nhất một lần anh nghĩ đến chuyện rời Đà Lạt, “vào quãng năm  1987-1989, sau khi tốt nghiệp trường Đại học Đà Lạt, tôi cũng có ý định đi tìm kiếm một công việc ở TP.HCM”. Rút cục việc được nhận ở lại trường và vượt qua sóng gió đã khiến anh “từ đó đến nay, chưa bao giờ có ý định rời trường, ngay cả những lúc khó khăn nhất về kinh tế. Ở Đà Lạt, tôi cảm thấy dễ chịu bởi người dân hiền lành, không gian thoáng và yên tĩnh…, một nơi rất thích hợp với những người làm công tác nghiên cứu”.  Có lẽ, vì lý do này mà hầu như phần lớn thời gian nghiên cứu của PGS. TS Phạm Tiến Sơn đều ở Đà Lạt, ngoài những chuyến công tác thời gian ngắn tại các viện nghiên cứu và các trường đại học trong nước và quốc tế. Việc sống ở một môi trường có phần biệt lập như vậy có ảnh hưởng đến công việc nghiên cứu? “Ồ không”, anh giải thích, “nhờ có internet mà tôi có thể tiếp xúc với các đồng nghiệp ở xa và có thể tìm các tài liệu một cách nhanh chóng. Thực sự không có khó khăn gì với tôi khi nghiên cứu tại trường Đại học Đà Lạt cả”.  Giữa không gian quá thuận lợi của thành phố cao nguyên, những người làm toán nơi này đã cố gắng xây dựng cho mình và đồng nghiệp một môi trường nghiên cứu như những nơi khác, dù không ít chật vật để duy trì. “Từ năm 2007 đến nay, chúng tôi đã tổ chức sinh hoạt seminar khoảng một giờ vào tối thứ Tư hằng tuần, bắt đầu từ 17h15 do lúc đó hầu như không ai đi dạy. Người trình bày là các giáo viên, khách mời (nếu có), nghiên cứu sinh và học viên cao học”, anh kể với đôi chút hào hứng. Việc có được những buổi seminar như vậy đã mang lại lợi ích cho nhiều người làm toán ở Đà Lạt, và dĩ nhiên cả chính anh: “Tôi đã học Hình học nửa đại số từ PGS. TS. Tạ Lê Lợi, một người rất am hiểu về Hình học nửa đại số qua các buổi seminar”.     Sách chuyên khảo Genericity in Polynomial Optimization (Hà Huy Vui và Phạm Tiến Sơn) nằm trong chuỗi các ấn phẩm về chủ đề Tối ưu và Ứng dụng của NXB World Scientific. Giáo sư Hà Huy Vui viết chương 1 (giới thiệu những tính chất cơ bản của Hình học nửa đại số), PGS. TS Phạm Tiến Sơn viết từ chương 2 đến chương 9 (trình bày một số vấn đề quan trọng và thời sự trong tối ưu nửa đại số).  Những cọ xát ở “quy mô” địa phương và quốc tế như vậy đã để lại dấu ấn ngay trong các công bố của PGS. TS Phạm Tiến Sơn. “Ngoại trừ các công trình viết chung với các nghiên cứu sinh ở Đà Lạt, các công trình khác của tôi đều được viết chung với các đồng nghiệp không ở Đà Lạt, chẳng hạn, ở trong nước (Hà Nội, Quy Nhơn) hay quốc tế (Australia, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc)”, anh nói.  Tìm nghiệm bài toán nửa đại số dạng tổng quát  Theo đuổi các bài toàn Tối ưu nửa đại số từ Đà Lạt, PGS. TS Phạm Tiến Sơn nhận xét, sẽ rất thú vị nếu có các đồng nghiệp nghiên cứu cùng lĩnh vực bởi trong trường hợp đó chúng ta có thể trao đổi các vấn đề cùng quan tâm. “Đáng tiếc là ở Việt Nam gần như không có ai nghiên cứu về Tối ưu nửa đại số”. Theo lý giải của anh, một lý do quan trọng khiến chủ đề này gần như “bơ vơ” là để có thể tiếp cận nó một cách sâu sắc, người ta cần có những kiến thức cơ bản về Hình học nửa đại số trong khi các trường Đại học (trừ Đại học Đà Lạt ở bậc cao học) không giảng chuyên đề này.   Ngược lại, theo tìm hiểu của anh, các nhà toán học quốc tế lại dành nhiều công sức cho chủ đề này. Những nghiên cứu như vậy ngày càng thúc đẩy mối quan tâm đến chủ đề Tối ưu nửa đại số. Trong các kỳ Đại hội Toán học quốc tế được tổ chức bốn năm một lần của Pablo A. Parrilo (năm 2010), Adrian Lewis (năm 2014), Monique Laurent (năm 2014), và Jean Bernard Lasserre (năm 2018), một số vấn đề về Tối ưu nửa đại số được trình bày trong các báo cáo mời ở tiểu ban Tối ưu và Điều khiển. Năm 2017, Hội Toán Công nghiệp và Ứng dụng Mỹ đã cho ra mắt ấn phẩm mới SIAM Journal on Applied Algebra and Geometry, một tạp chí chuyên xuất bản các công trình liên quan đến những ứng dụng của Đại số, Hình học và Tô pô trong sinh học, lý thuyết mã, độ phức tạp, đồ họa máy tính, lý thuyết điều khiển, khoa học dữ liệu, tối ưu, thống kê…  Vào quãng những năm 2000, Lasserre, Nesterov, Parrilo và Sturmfels triển khai ý tưởng của giáo sư Naum Zuselevich Shor. “Lasserre ứng dụng thành công các kết quả trong Hình học Đại số thực vào tối ưu như sử dụng các định lý biểu diễn đa thức không âm trên các tập nửa đại số compact (sau này người ta gọi Định lý Schdmugen và Định lý Putinar), để tìm giá trị tối ưu của một bài toán tối ưu nửa đại số trên tập compact, Lasserre đã giải một dãy (có thể vô hạn) các bài toán quy hoạch nửa xác định; bây giờ người ta thường gọi là ‘Lasserre hierarchy’”, anh nói.   Dưới con mắt của những người theo đuổi, kết quả đó ẩn chứa nhiều điều thú vị như cho thấy mối liên hệ giữa hai lĩnh vực Hình học nửa đại số và Tối ưu cũng như mở ra một hướng mới cho Tối ưu nửa đại số. PGS. TS Phạm Tiến Sơn nói về những điều thú vị đó, “chẳng hạn, Nie, Demmel, Powers và Sturmfels (2006, 2007) đã giải quyết trường hợp không compact nhưng hàm mục tiêu đạt giá trị tối ưu, Schweighofer (2006) giải quyết trường hợp hàm mục tiêu có thể không đạt giá trị tối ưu nhưng chỉ có kỳ dị cô lập tại vô hạn. Giáo sư Hà Huy Vui – người hướng dẫn tôi làm tiến sĩ, và tôi trong năm 2008 và 2009 đã giải quyết trường hợp tổng quát. Sau kết quả này, chúng tôi thường gặp gỡ và trao đổi chuyên môn với Lasserre”.    PGS Phạm Tiến Sơn cùng GS Hà Huy Vui (thứ ba từ trái sang), cùng nhóm nghiên cứu lý thuyết kỳ dị ở Đà Lạt tại Nhật Bản.   Với PGS. TS Phạm Tiến Sơn, các bài toán khó như bài toán Tối ưu nửa đại số có sức hút riêng biệt, nhất là ở dạng tổng quát, bởi người giải phải vượt qua hai khó khăn là tính không lồi của hàm mục tiêu, các hàm ràng buộc và tính không compact của tập ràng buộc. Với công trình đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu “Generic properties for semialgebraic programs”, anh cho rằng “Khi nghiên cứu một lớp các bài toán, người ta thường có một vài giả thiết. Câu hỏi đặt ra là những giả thiết như vậy có ‘tự nhiên’, tức chúng có đúng với hầu hết các bài toán trong lớp được xét? Trong công trình này, chúng tôi chứng minh những giả thiết quan trọng trong tối ưu đều đúng với hầu hết các bài toán Tối ưu nửa đại số”.  Đi sâu vào giải quyết vấn đề, anh đặt kỳ vọng tìm giá trị nhỏ nhất của một hàm đa thức trên một tập ràng buộc nửa đại số (là tập được xác định bởi các phương trình và bất phương trình đa thức) với câu hỏi chính là xây dựng một thuật toán hiệu quả xác định giá trị (và/hoặc nghiệm) tối ưu của bài toán. Có một đặc điểm thú vị với các bài toán Tối ưu nửa đại số là nếu biết nghiệm tối ưu thì sẽ biết giá trị tối ưu nhưng nếu xét ngược lại thì lại… không đúng. Anh chỉ ra “những kết quả của tác giả khác, đặc biệt, Jiawang Nie chỉ chứng minh được (thậm chí trong trường hợp tập ràng buộc compact) với hầu hết các bài toán tối ưu nửa đại số giá trị tối ưu được xác định sau một số hữu hạn bước giải các bài toán quy hoạch nửa xác định”.   Trong vòng ba năm từ khi lên ý tưởng đến hoàn thành và xuất bản công trình, anh và giáo sư Gue Myung Lee – đồng tác giả nghiên cứu, đã xác định được tính tổng quát của các bài toán Tối ưu nửa đại số. “Dựa vào các định lý biểu diễn tổng các bình phương của các đa thức không âm trên các tập nửa đại số, chúng tôi chứng minh nghiệm tối ưu (và do đó, giá trị tối ưu) của hầu hết các bài toán tối ưu nửa đại số hoàn toàn được xác định bằng cách giải một số hữu hạn các bài toán quy hoạch nửa xác định (là những bài toán quy hoạch lồi có thể giải một cách hiệu quả bằng thuật toán điểm trong); dãy bài toán sau được xây dựng một cách tường minh”, anh nói về kết quả của công trình.   Không chỉ xuất bản công trình trên tạp chí tốt mà các kết quả của nó đã được đưa vào sách chuyên khảo Genericity in Polynomial Optimization (Hà Huy Vui và Phạm Tiến Sơn) nằm trong chuỗi các ấn phẩm về chủ đề Tối ưu và Ứng dụng của NXB World Scientific do giáo sư Jean Bernard Lasserre (Tổng biên tập của chuỗi ấn phẩm) đề nghị viết. Nội dung sách dựa trên hầu hết các công trình chung của GS Hà Huy Vui và PGS. TS Phạm Tiến Sơn. Giới thiệu về cuốn sách này, PGS. TS Phạm Tiến Sơn cho biết: “Chúng tôi mất hơn một năm để hoàn thiện và gần như tôi không còn thời gian để nghiên cứu, thành thử lúc đầu cả hai thầy trò đều rất ngại viết… Thực sự nếu không có GS Lasserre động viên khích lệ, có lần ông đến Hà Nội chỉ để đề nghị chúng tôi khởi động công việc, thì chúng tôi đã bỏ cuộc rồi”  PGS. TS Phạm Tiến Sơn có hai hướng nghiên cứu chính là Lý thuyết kỳ dị và Hình học nửa đại số. Khi được hỏi về mối liên quan giữa hai hướng nghiên cứu này, anh cho rằng: “Lời giải của một bài toán tối ưu có quan hệ mật thiết đến hiện tượng kỳ dị (địa phương hoặc tại vô hạn). Những ý tưởng trong Lý thuyết kỳ dị dẫn đến một vài phỏng đoán liên quan đến Tối ưu nửa đại số trong một số công trình của tôi; mặt khác, những công cụ của Hình học nửa đại số giúp chứng minh tính đúng của các phỏng đoán này. Chẳng hạn, trong lý thuyết kỳ dị, chúng ta biết rằng hầu hết các hàm trơn đều là hàm Morse, tức là hàm chỉ có các điểm kỳ dị không suy biến với các giá trị kỳ dị phân biệt. Mặt khác, cực tiểu (địa phương và toàn cục) của một bài toán tối ưu là các điểm tới hạn của hạn chế hàm mục tiêu trên tập ràng buộc. Bởi vậy rất tự nhiên khi nói hầu hết các bài toán tối ưu chỉ có các điểm cực tiểu không suy biến và có duy nhất một cực tiểu toàn cục”.  Không chỉ có cuốn sách mang tính tổng kết này, theo PGS. TS Phạm Tiến Sơn, việc giải được các bài toán tối ưu nửa đại số dạng tổng quát còn góp phần mở ra một số dự án nghiên cứu khác trong tương lai, “chẳng hạn nghiên cứu giải tích biến phân trong khung cảnh hình học nửa đại số cũng như nhiều vấn đề cần giải quyết đối với bài toán tối ưu nửa đại số, đặc biệt các bài toán có cấu trúc phức tạp”.  Việc đi tìm lời giải cho các bài toán trong lý thuyết kì dị và hình học nửa đại số có thể không đem lại cho PGS. TS Phạm Tiến Sơn một “ứng dụng” thực tế nào, “mặc dù những nghiên cứu gần đây của tôi hướng theo toán ứng dụng, nhưng từ đó cho đến áp dụng thực tế có lẽ còn rất xa. Hầu hết các kết quả đạt được vẫn mang đậm dấu ấn ‘lý thuyết’”. Vậy có phải đó là suy nghĩ của phần lớn các nhà toán học? “Ồ không, tôi không chắc lắm nhưng thực sự tôi cũng không quan tâm lắm đến những ứng dụng thực tế”. Có lẽ, “ứng dụng” lớn nhất anh có được là cuốn sách chuyên khảo, không chỉ chứa đựng những vấn đề anh và thầy mình đúc rút về dạng tổng quát của Tối ưu đa thức mà còn gói ghém một mong ước rất thật, đó là “hy vọng sách sẽ bổ ích cho những người quan tâm, đặc biệt các bạn trẻ, đến Tối ưu nửa đại số – lĩnh vực còn tương đối mới”.   Không quá quan tâm đến những ứng dụng theo cách hiểu thông thường, PGS. TS Phạm Tiến Sơn cũng không quá quan tâm đến những điều kiện vật chất khác. Đây cũng là một phần lý do giải thích vì sao, anh vẫn “bám trụ” ở thành phố cao nguyên này để được yên tĩnh làm toán. Có người hài hước nói rằng, với một nhà toán học thì chỉ cần một cái máy tính tốt và một không gian yên tĩnh để làm việc là đủ. Vậy còn với anh? Anh mỉm cười, “có lẽ đúng… Nơi tôi làm việc ‘sang’ hơn một chút: còn có máy in, bảng, bút và giấy nữa”.  “Quy hoạch tuyến tính nghiên cứu các bài toán tối ưu đa thức bậc nhất; công cụ chủ yếu được sử dụng ở đây là Đại số tuyến tính. Nhiều mô hình trong thực tế có thể đưa về bài toán Quy hoạch tuyến tính. Tồn tại thuật toán hữu hiệu để xác định nghiệm (và giá trị) tối ưu và có các phần mềm giải các bài toán Quy hoạch tuyến tính. Thêm nữa, Quy hoạch tuyến tính được đưa vào giảng dạy ở bậc đại học (chẳng hạn các ngành Toán, Kinh tế). Mặt khác quy hoạch tuyến tính là trường hợp rất đặc biệt của tối ưu nửa đại số. Bởi vậy rất tự nhiên khi nghiên cứu lớp các bài toán tối ưu nửa đại số. Trong trường hợp này các hàm mục tiêu/ràng buộc là các đa thức bậc tùy ý, nên cần những công cụ khác thích hợp hơn để xử lý” (PGS. TS Phạm Tiến Sơn).    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan: Góp phần thay đổi thực hành hỗ trợ sinh sản      Nhằm giải đáp một câu hỏi tồn tại trong quá trình hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan (Trưởng Bộ môn Phụ sản – trường Đại học Y Dược TPHCM) và đồng nghiệp ở Bệnh viện Mỹ Đức (TPHCM) đã thực hiện nghiên cứu so sánh việc chuyển phôi trữ với chuyển phôi tươi với các bệnh nhân không có hội chứng buồng trứng đa nang và xuất bản nghiên cứu trên tạp chí The New England Journal of Medicine (NEJM). Với công trình này, chị trở thành một trong số bốn nhà khoa học được đề cử giải chính Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2020. Báo KH&PT đã trao đổi với chị về nghiên cứu này.      Với nghiên cứu so sánh hiệu quả của chuyển phôi đông lạnh với chuyển phôi tươi ở bệnh nhân không có hội chứng buồng trứng đa nang, PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan trở thành một trong số các nhà khoa học được đề cử giải chính Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2020.  Vì sao chị lại muốn tập trung vào nghiên cứu về việc chuyển phôi đông lạnh và phôi tươi trên phụ nữ không mắc hội chứng đa nang?  Kể từ khi được thực hiện thành công đầu tiên trên giới vào năm 1978, việc áp dụng thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trong hỗ trợ sinh sản đã đi kèm với sự phát triển của nhiều kỹ thuật mới. Trước đây, kỹ thuật đông lạnh phôi chưa tốt, khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, bệnh nhân thường được chuyển phôi tươi và chuyển nhiều phôi cùng lúc đưa đến nguy cơ quá kích buồng trứng và đa thai cho bệnh nhân điều trị. Sau đó, khi kỹ thuật đông lạnh phôi được cải thiện, khi thực hiện TTTON tạo ra phôi, chuyển phôi tươi thường được thực hiện trong chu kỳ điều trị và số phôi dư có thể được đông lạnh để sử dụng tiếp nếu chuyển phôi tươi thất bại.  Vào năm 2011, kết quả chuyển phôi đông lạnh được ghi nhận có vẻ tốt hơn chuyển phôi tươi. Từ đó, nhiều trung tâm thụ tinh ống nghiệm trên thế giới đã chuyển sang đông lạnh phôi toàn bộ và chỉ thực hiện chuyển phôi rã đông cho bệnh nhân. Tuy nhiên phương pháp này có thể làm kéo dài thời gian điều trị của bệnh nhân cũng như có thể tăng thêm chi phí cho quy trình đông lạnh – rã đông phôi mà thật ra hiệu quả của nó chưa được chứng minh và công bố rộng rãi.  Hiệu quả của chuyển phôi tươi so với chuyển phôi đông lạnh là vấn đề nổi cộm và được tranh luận nhiều trong các hội thảo về hỗ trợ sinh sản trên thế giới. Một nghiên cứu ở Trung Quốc trên đối tượng là bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang đã ghi nhận việc chuyển phôi trữ có hiệu quả hơn chuyển phôi tươi đã được công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine (NEJM) vào năm 2016. Tuy nhiên, cho đến năm 2017, vẫn chưa có câu trả lời liệu rằng chuyển phôi trữ có hiệu quả hơn chuyển phôi tươi cho các bệnh nhân không có hội chứng buồng trứng đa nang hay không? Đa số các nghiên cứu được công bố về vấn đề này đều có thiết kế hồi cứu hoặc là những nghiên cứu tiến cứu nhưng có cỡ mẫu nhỏ và không đồng nhất.  Vì vậy, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả của chuyển phôi đông lạnh với chuyển phôi tươi ở bệnh nhân không có hội chứng buồng trứng đa nang.  Vậy đây là vấn đề được cả các nhà nghiên cứu Việt Nam và trên thế giới quan tâm?  Đúng vậy, đây là một vấn đề mà các bác sĩ ở các trung tâm TTON trên thế giới và ở Việt Nam phải đặt ra hằng ngày để chọn lựa phương pháp chuyển phôi cho bệnh nhân. Trên thế giới, có khoảng 10 nhóm nghiên cứu ở các nước khác nhau gồm Trung Quốc, Mỹ, Anh, Úc, Đan Mạch, Hồng Kông,… thực hiện nghiên cứu về vấn đề này cùng lúc với chúng tôi nhưng nghiên cứu của chúng tôi hoàn thành trước các nhóm khác và cùng lúc với nhóm nghiên cứu của Chen và cộng sự ở Trung Quốc.  Mặt khác, đây là vấn đề có ý nghĩa ứng dụng cao nên tạp chí NEJM đã đăng tải kết quả của cả hai công trình nghiên cứu, một của chúng tôi ở Việt Nam và một của nhóm Trung Quốc trong cùng một số báo.  Khi thực hiện nghiên cứu này, chị và cộng sự mong muốn tập trung vào giải quyết vấn đề gì?  Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào bốn điểm chính là: 1) Nghiên cứu chứng minh được chuyển phôi đông lạnh hiệu quả và an toàn như chuyển phôi tươi, do đó, các cặp vợ chồng điều trị TTTON không cần chuyển nhiều phôi tươi một lúc mà có thể giảm số phôi chuyển xuống, số còn dư được đông lạnh để sử dụng sau đó, tránh việc phải kích thích buồng trứng trở lại nếu thất bại; 2) Trữ phôi và giảm số phôi chuyển vào buồng tử cung, giúp giảm tỉ lệ đa thai, từ đó, hạn chế các biến chứng thai kỳ cho mẹ và con, cải thiện sức khỏe của trẻ sinh ra từ TTTON; 3) Các phụ nữ điều trị TTTON có nguy cơ quá kích buồng trứng, có thể thực hiện đông lạnh phôi toàn bộ, sau đó thực hiện chuyển phôi rã đông, sẽ giúp giảm biến chứng quá kích buồng trứng; 4) Cả 2 phương pháp chuyển phôi đều hiệu quả như nhau, do đó, các bác sĩ không nên chuyển sang thực hiện chuyển phôi đông lạnh cho tất cả bệnh nhân vì sẽ làm kéo dài thời gian từ lúc bắt đầu điều trị đến lúc có thai và tăng chi phí của bệnh nhân.  Kết quả của nghiên cứu đã góp phần làm vào thay đổi thực hành trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản trên thế giới và ở Việt Nam. Ước tính cả thế giới mỗi năm có hơn hai triệu cặp vợ chồng thực hiện TTTON và có gần ba triệu lượt chuyển phôi đông lạnh; ở Việt Nam hiện nay mỗi năm có hơn 30.000 cặp vợ chồng thực hiện TTTON và gần 40.000 trường hợp chuyển phôi đông lạnh. Việc trả lời câu hỏi khi nào thực hiện kiểu chuyển phôi nào giúp tăng hiệu quả điều trị, giảm biến chứng, giảm chi phí và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân.    “Đây là lần đầu tiên chúng tôi nộp bài cho tạp chí NEJM. Với sự hỗ trợ của GS Robert Norman và GS Ben Mol ở Úc, chúng tôi phải sửa bản thảo nội bộ tổng cộng 17 lần trong khoảng 10 tháng để có một bản thảo hoàn chỉnh nhất nộp cho tạp chí. Quá trinh bình duyệt của tạp chí có nhiều vòng, chúng tôi lần lượt vượt qua từng vòng. Sau vòng bình duyệt bởi các chuyên gia, chúng tôi nhận được 14 trang A4 câu hỏi và ý kiến nhận xét yêu cầu trả lời. Thú thật. lần đầu tiên tôi nhận được phản hồi nhiều và chi tiết đến như vậy. Tôi mất 2 tháng để trả lời toàn bộ các câu hỏi, yêu cầu và điều chỉnh bản thảo để nộp lại. Sau đó, thêm 2 lần điều chỉnh, sửa chữa cùng với một thành viên của ban biên tập, bài báo của chúng tôi được chính thức chấp nhận. Như vậy, với tổng cộng 20 lần sửa chữa trong khoảng thời gian hơn một năm, bài báo của chúng tôi được công bố. Đó là một hành trình dài, căng thẳng nhưng cũng đầy thú vị. Điều quan trọng nhất là bản thân tôi và các đồng nghiệp đã học và rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu cho hành trình nghiên cứu và công bố tiếp theo của mình.” (PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan)  hắc hẳn trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chị và cộng sự cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh?  Khi xây dựng đề cương nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã suy tính đến các tình huống khác nhau, các vấn đề có thể gặp phải trong nghiên cứu và hướng giải quyết. Do đó, không có nhiều trục trặc xảy ra trong quá trình nghiên cứu. Khó khăn gặp phải lớn nhất là nghiên cứu thực hiện trên một số lượng lớn bệnh nhân, gần 800 bệnh nhân và phải theo dõi tất cả bệnh nhân trong một khoảng thời gian dài từ khi bắt đầu điều trị cho đến khi sinh em bé. Toàn bộ quá trình khám thai, theo dõi các biến chứng trong thai kỳ và kết cục sinh của em bé cần phải được ghi nhận trong khi không phải tất cả bệnh nhân đều sống tại TP.HCM hay khám và theo dõi thai tại bệnh viện Mỹ Đức.  Để có thể có được đầy đủ kết cục của nghiên cứu cũng như đảm bảo giá trị và chính xác của kết quả nghiên cứu, chúng tôi phải thiết lập các kênh liên lạc khác nhau. Cả nhóm nghiên cứu chia nhau để liên hệ với bệnh nhân, cập nhật kết quả khám và sinh của toàn bộ các lần khám thai trong suốt 9 tháng thai kỳ và kết cục sinh em bé. Do đó hoàn thành việc thu thập dữ liệu nghiên cứu trên 800 bệnh nhân là một nỗ lực lớn của nhóm nghiên cứu.  Các đồng nghiệp ở bệnh viện Mỹ Đức, nơi nghiên cứu được tiến hành chủ yếu, chắc hẳn đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nghiên cứu này?  Các đồng nghiệp ở bệnh viện Mỹ Đức có đóng góp rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu này khi tham gia vào nhiều công đoạn của nghiên cứu, ví dụ như tham gia trong quá trình thiết kế và xây dựng đề cương nghiên cứu, thực hiện thu thập dữ liệu, quản lý dữ liệu, phân tích số liệu và các thảo luận liên quan đến bài công bố của nghiên cứu.  Rất may mắn là tôi đã từng hợp tác với bệnh viện Mỹ Đức trong việc thực hiện điều trị thụ tinh trong ống nghiệm cho bệnh nhân và tôi tư vấn cũng như chủ trì một số đề tài nghiên cứu lâm sàng tại đây nên mọi người rất hiểu và chia sẻ với nhau trong công việc.  Theo tài khoản trên ResearchGate thì chị công bố rất đều đặn, thậm chí trong những tháng đầu năm 2020 đã có ba công bố quốc tế. Bí quyết gì để chị có được nhiều công bố như vậy?  Nhìn chung, nhiệm vụ của một nhà khoa học và của một nhóm nghiên cứu là phải có công bố khoa học. Với lĩnh vực nghiên cứu của chúng tôi, kết quả của những công bố khoa học có thể là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo hoặc được ứng dụng để cải thiện hiệu quả điều trị. Do đó, việc phải duy trì mạch nghiên cứu và công bố là điều tiên quyết. Tôi may mắn được làm việc cùng một nhóm nghiên cứu được tổ chức một cách chuyên nghiệp, tuân theo các chuẩn mực khoa học, làm việc có chất lượng và đầy nhiệt huyết. Muốn duy trì được khả năng công bố khoa học đều đặn, chúng tôi cũng phải hoàn thiện kỹ năng làm việc nhóm, sự phối hợp đồng bộ, làm đúng vai trò, trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm.  Các nghiên cứu của chị đều rất có ý nghĩa thực tiễn. Vậy đó có phải là động lực để chị có thêm công bố?  Đối với các nhóm nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu thường xuất phát từ thực tiễn lâm sàng. Do đó, kết quả nghiên cứu cần được công bố để có thể cải thiện hiệu quả và thay đổi phác đồ điều trị lâm sàng. Ngay cả nghiên cứu có kết quả âm tính cũng cần được công bố để các đồng nghiệp tránh các biện pháp điều trị, can thiệp không hiệu quả. Nói chung, nghiên cứu khoa học phải luôn đi kèm với công bố khoa học.  Mẹ chị, giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Phượng, và chồng chị, bác sĩ Hồ Mạnh Tường, cũng là những người cùng hướng phát triển với chị. Vậy điều này có ý nghĩa và tác động như thế nào với việc định hướng phát triển của chị?  Cùng lúc làm nhiều công việc như điều trị bệnh nhân, giảng dạy, quản lý và nghiên cứu khoa học nên quỹ thời gian của tôi rất eo hẹp. Ngoài ra, là một phụ nữ, việc chăm sóc con cái cũng rất quan trọng đối với tôi. Vì cùng hướng phát triển, cùng chuyên ngành, mẹ tôi và chồng tôi rất thấu hiểu, chia sẻ, tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi hoàn thành các nhiệm vụ của mình. Đa số các bữa cơm gia đình là thời gian để thảo luận và trao đổi công việc. Mẹ tôi và chồng tôi có những góp ý và định hướng quan trọng cho sự phát triển của tôi.  Cảm ơn chị và chúc chị sức khỏe.  Theo https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/pgs-ts-vuong-thi-ngoc-lan-gop-phan-thay-doi-thuc-hanh-ho-tro-sinh-san/20200401094012523p1c160.htm  Hướng nghiên cứu chính của PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan là y học sinh sản (Thụ tinh trong ống nghiệm: chuyển phôi tươi so với chuyển phôi trữ lạnh; Kỹ thuật trưởng thành trứng non trong ống nghiệm); Sản phụ khoa (Dự phòng sinh non; Thai kỳ nguy cơ cao: đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật). Công trình đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu “IVF transfer of Fresh or Frozen embryos in women without Polycystic Ovaries” xuất bản trên The New England Journal of Medicine.  “Chúng tôi phân ngẫu nhiên 782 phụ nữ vô sinh không bị hội chứng buồng trứng đa nang, những người đang được điều trị với chu kỳ IVF đầu tiên hoặc lần thứ hai, để được chuyển phôi đông lạnh hoặc chuyển phôi tươi vào ngày thứ 3 sau IVF. Ở nhóm chuyển phôi đông lạnh, tất cả phôi độ 1 và 2 đều được đông lạnh, sau đó tối đa 2 phôi sẽ được chọn rã đông và chuyển vào tử cung ở tháng tiếp theo. Ở nhóm chuyển phôi tươi, tối đa 2 phôi tươi sẽ được chọn để chuyển vào tử cung ngay trong chu kỳ kích thích buồng trứng. Kết quả chính là tỉ lệ có thai diễn tiến sau lần chuyển phôi đầu tiên.  au khi kết thúc chu kỳ điều trị đầu tiên, thai diễn tiến có được 142 trường hợp trên 391 phụ nữ (36,3%) ở nhóm chuyển phôi đông lạnh, và có được 135 trường hợp trên 391 phụ nữ (34,5%) ở nhóm chuyển phôi tươi (tỉ số nguy cơ trong nhóm chuyển phôi đông lạnh là 1.05; 95% khoảng tin cậy [CI], 0,87 to 1,27; P=0,65). Tỉ lệ thai sinh sống sau lần chuyển phôi đầu tiên tuần tự là 33,8% và 31,5% (tỉ số nguy cơ, 1,07; 95% CI, 0,88 to 1,31). Do đó, đối với phụ nữ vô sinh không có hội chứng buồng trứng đa nang, khi thực hiện IVF, chuyển phôi đông lạnh không làm tăng có ý nghĩa tỉ lệ thai diễn tiến hay tỉ lệ sinh sống so với chuyển phôi tươi”. (PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan)    Author                Quản trị        
__label__tiasang PGS.TS Ngô Đức Thọ, nhà nghiên cứu đa năng      Trong thế hệ những nhà khoa học xã hội đương  đại có tên tuổi, nếu như Nguyễn Tài Cẩn, Hà Văn Tấn, Nguyễn Huệ Chi là  những người xây nền móng cho các ngành ngôn ngữ học, khảo cổ học và văn  học trung đại, thì Ngô Đức Thọ là người đi “be bờ đắp đập” cho nhiều  chuyên ngành khoa học chuyên sâu khác nhau, từ văn tự học, văn bản học,  thư tịch học, cho đến sử liệu học, bi ký học, phiên dịch học…     Ở mỗi một  mảng chuyên ngành ấy, Ngô Đức Thọ luôn để lại những công trình quan  trọng. Bài viết này sẽ lần lượt điểm những cống hiến của ông ở những  bình diện nêu trên.   Về văn tự học  Ở Việt Nam, hàng loạt các văn tự cổ từng tồn tại đã và đang chết đi, như chữ Chăm cổ, chữ Thái cổ, chữ Quốc ngữ cổ, chữ Nôm Tày, chữ Nôm Dao, chữ Nôm Việt,… và dĩ nhiên là chữ Hán cổ. Trong bối cảnh đó, công trình “Nghiên cứu chữ Huý trên các văn bản Hán Nôm” của Ngô Đức Thọ (1995) đã đánh dấu sự ra đời của chuyên ngành văn tự học chữ Hán. Như lời tựa giới thiệu của giáo sư Hà Văn Tấn: “công trình này đã đặt nền móng cho môn tỵ húy học ở Việt Nam”.   Cuốn sách hình thành trên cơ sở luận án tiến sĩ của ông, và là thành quả lao động trong hơn mười năm, trên cơ sở khảo sát hàng vạn văn khắc và thư tịch cổ. Cuốn chuyên luận được in bằng hai thứ tiếng (Việt, Pháp) ngay lập tức đã trở thành giáo khoa thư và sách tham khảo gối đầu giường cho nhiều học giả ở các ngành văn tự học, văn bản học, thư tịch học, sử liệu học… Giới Hán học quốc tế biết đến văn tự học ở Việt Nam chủ yếu vẫn là qua cuốn sách trên. Tiếc rằng, sau gần 20 năm, đây vẫn là cuốn chuyên luận duy nhất về chuyên ngành này. Không biết sau sẽ như thế nào, nhưng nếu như Ngô Đức Thọ là người mở đầu và cũng là người chấm hết cho chuyên ngành văn tự học chữ Hán ở Việt Nam, thì đó là một điều vô cùng đáng tiếc và day dứt!     Về văn bản học  Văn bản học cùng với khảo cổ học là hai ngành khoa học quan trọng bậc nhất trong nghiên cứu lịch sử và văn hóa truyền thống. Các chuyên gia về khảo cổ học hiện nay có thể lên đến vài chục, nhưng chuyên gia về văn bản học chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong đó, Ngô Đức Thọ được coi là cánh chim đầu đàn của chuyên ngành khoa học này với công trình “Cơ sở văn bản học Hán Nôm” (viết chung với Trịnh Khắc Mạnh, NXB Khoa học xã hội, 2007, 408 trang). Đây cũng là cuốn sách duy nhất hiện nay tại Việt Nam trình bày về hệ thống lý thuyết cũng như các thao tác, quy trình nghiên cứu văn bản học, sử liệu học. Cuốn sách đã trở thành giáo trình giảng dạy tại các bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tại một số cơ quan như Đại học Quốc gia, Học viện Khoa học Xã hội.   Bên cạnh chuyên luận “Cơ sở văn bản học Hán Nôm”, ở mảng này, Ngô Đức Thọ còn công bố một số nghiên cứu khoa học quan trọng khác, ví dụ như “Đi tìm nguồn gốc và năm xuất hiện của văn bản Binh thư yếu lược” (công bố năm 1986). Trong nghiên cứu này, ông xác định rằng văn bản “Binh thư yếu lược” là một văn bản giả tạo (ngụy thư) do người sau sáng tác (sớm nhất là vào năm 1869), chứ không phải là một văn bản nguyên gốc của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từ thời Trần. Kết luận về văn bản này là dấu chấm hết cho một nghi án lịch sử.   Có thế nói, mỗi phát hiện về văn bản học, cũng giống như phát hiện về khảo cổ học, sẽ là một cuộc lật đổ khoa học. Toàn bộ các thành quả nghiên cứu của các ngành khác (như sử học, văn học, triết học, tôn giáo, quân sự học, văn hóa học, địa lý học lịch sử…) sẽ chỉ là những giả thuyết mong manh nếu chưa có giám định của khoa văn bản học. Ngô Đức Thọ với những nghiên cứu của ông về văn bản học đã và đang tạo nên những bước đi vững chãi cho khoa học xã hội ở Việt Nam.   Về từ điển học  Là người nghiên cứu về chữ viết cổ truyền (văn tự học), Ngô Đức Thọ đương nhiên có lợi thế rất lớn trong nghiên cứu và biên soạn từ điển. Ông cùng một số đồng nghiệp đã dành công sức cả đời để biên soạn Từ điển Hán Việt trên cơ sở ngữ liệu Hán văn Việt Nam từ Lý – Trần cho đến Nguyễn. Bộ từ điển này gồm 12.500 mục từ (chữ) đơn, 16.500 mục từ ghép, 215.000 cứ liệu có xuất xứ trong các thư tịch, bi ký Hán văn Việt Nam; lựa chọn được 85.000 dẫn liệu đưa vào các mục từ, tổng số trang lên đến 6.000 trang A4.   Đây hẳn sẽ là công trình từ điển có ý nghĩa nhất ở lĩnh vực này, bởi như ta biết các từ điển Hán Việt trước nay chủ yếu sử dụng các ngữ liệu của Hán văn Trung Quốc, phải đến công trình này, ngữ liệu của các văn bản văn học, lịch sử của Việt Nam mới được đưa vào thống kê, phân tích. Tiếc rằng, cuốn sách này cho đến nay chưa được cơ quan nào tài trợ xuất bản.  Trước đó, Ngô Đức Thọ cũng đã có một số công trình từ điển nổi tiếng khác.   Cuốn thứ nhất là “Từ điển di tích văn hoá Việt Nam” do ông chủ biên, được xuất bản lần đầu vào những năm 1990. Đây là cuốn từ điển đầu tiên tổng hợp 150 nguồn tư liệu cổ, với 20.000 phiếu lược thuật, 1.202 đơn vị di tích, bao gồm: 605 đền, miếu; 132 đình; 454 chùa (am, viện, tháp); 11 Đạo quán thuộc nhiều địa phương nước ta. Từ điển này ngay từ khi ra đời đã trở thành một “cơn sốt” trên thị trường sách học thuật – các cơ quan nghiên cứu, các nhà nghiên cứu, những người yêu văn hóa di tích truyền thống đều tìm đọc.   Cuốn thứ hai là “Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)” cũng do ông chủ biên và viết bài khảo cứu (NXB Văn học, tái bản 2006, 875 trang). Đây thực chất là một cuốn từ điển về gần 3.000 vị trạng nguyên, tiến sĩ đã trúng tuyển trong các kỳ thi đại khoa (thi Hội) chính thức do triều đình tổ chức từ thời Lý cho đến thời Nguyễn. Như ta biết, phần lớn các nhà khoa bảng đó đều là các quan lại cao cấp, các nhà văn hóa, nhà thơ, nhà văn, nhà y dược học, nhà tư tưởng- chính trị,… Đúng như lời giới thiệu khảo cứu của Ngô Đức Thọ, trước cuốn sách này, ở Việt Nam “chưa có một bộ sách nào đáp ứng được yêu cầu tra cứu tổng hợp về các nhà trí thức” trong lịch sử 1.000 năm của Việt Nam. Vì thế, sau khi ra đời, “Các nhà khoa bảng Việt Nam” đã được tái bản nhiều lần, và được đánh giá là một sách công cụ đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ ai muốn nghiên cứu về lịch sử nhân vật, lịch sử khoa cử…   Về sử liệu học, địa lý học lịch sử    Khoa sử liệu học luôn gắn chặt hữu cơ với văn tự học và văn bản học. Sử liệu có khả tín hay không đều phải qua thao tác giám định văn bản (thật / giả), hiệu điểm văn tự (đính ngoa, cú đậu). Ngô Đức Thọ chính là người có những đóng góp quan trọng trong ngành sử liệu học ở Việt Nam. Ông là dịch giả của cuốn Đại Việt sử ký toàn thư (bản in Nội các quan bản mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697) – NXB Khoa học xã hội, Tập 1 do Hà Văn Tấn hiệu đính, 2009, 436 trang). Ông đồng thời là người khảo cứu văn bản học và biên dịch một số tác phẩm sử học quan trọng khác như Hoàng Việt hưng long chí, Văn bia Văn miếu Quốc tử giám – Thăng Long, Ngô Đức Kế: cuộc đời và sự nghiệp,…  Quan trọng hơn cả, cùng với Philippe Papin, ông chủ biên việc nghiên cứu văn bản, biên dịch, chú thích bộ sách Đồng Khánh địa dư chí (hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm, với Viện Viễn đông Bác Cổ Pháp, NXB Thế giới, ba tập, 2003, 5.000 trang). Đây là một công trình đồ sộ về sử liệu học và địa lý học lịch sử. Hàng nghìn trang tư liệu và bản đồ cổ đã được công bố chú thích, góp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu chủ quyền biển đảo cũng như lãnh thổ, địa giới của Việt Nam trong lịch sử.   Biên dịch  Ngoài những chuyên ngành trên, Ngô Đức Thọ còn được biết đến với tư cách là một trong những dịch giả có khối lượng tác phẩm đồ sộ. Các tác phẩm dịch thuật của ông trải trên nhiều lĩnh vực từ văn học, sử học (đã nêu), cho đến Phật học, thiên Chúa giáo, các tài liệu nghiên cứu khoa học.  Về văn học, ông là dịch giả của cuốn Mộng Bá vương (Việt Nam khai quốc trí truyện) của tác giả Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm (NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1990), là đồng dịch giả của cuốn Hậu Thuỷ hử (ba tập, tác giả Thi Nại Am, La Quán Trung, NXB Văn học, 1994), Hoàng Việt Long hưng chí – bộ tiểu thuyết lịch sử của Ngô Giáp Đậu (NXB Văn học, 1993, 445 trang).   Về Phật giáo, ông là đồng dịch giả của bộ Thiền uyển tập anh (Anh tú Vườn Thiền) – tác phẩm văn học-lịch sử Phật giáo sớm nhất (NXB Văn học, 1993, 249 trang), Lục tổ đàn kinh của Huệ Năng đại sư (NXB Văn học, 1992, 206 trang); Lời giáo huấn của Phật Đà của Walpola Rahula (NXB Tôn giáo, 1999).  Ông còn là dịch giả/đồng dịch giả của một số sách nghiên cứu như Thái Đình Lan và tác phẩm Hải Nam tạp trứ của giáo sư Trần Ích Nguyên ở Đài Loan (NXB Lao động – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2008, 291 trang); Nghiên cứu về khuyên phát tâm bồ đề của Pháp sư Diễn Bồi (NXB Hà Nội, 1994, 297 trang).   Ngoài những tác phẩm thuộc các lĩnh vực trên, Ngô Đức Thọ còn tham gia biên soạn nhiều bộ sách khác. Số liệu đến nay chưa thống kê thực đầy đủ, nhưng với những gì chúng tôi biết, số lượng trang in lên đến khoảng 10.000 trang. Những đóng góp đồ sộ của ông đối với nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam hẳn là công sức bền bỉ trong suốt cuộc đời lao động khoa học nhọc nhằn và lặng lẽ. Những sai sót ở trong đó không phải là không có, nhưng về cơ bản ông xuất hiện như một “người khổng lồ đa năng”, người trấn giữ trọng trách, người đặt nền ở các lĩnh vực văn tự học, văn bản học, từ điển học, sử liệu học… Chỉ nguyên điều đó thôi đã khiến ông có một vị trí trang trọng ở bất kỳ một hội đồng khoa học nào.   “Giải thưởng văn hóa Phan Chu Trinh” về dịch thuật 2014 là một sự công nhận và động viên rất lớn đối với cá nhân ông. Nhưng xét cho cùng, sự nghiệp trước tác chính là giải thưởng lớn nhất mà ông đã tự dành cho mình!        PGS. TS Ngô Đức Thọ sinh năm 1938, quê Hà  Tĩnh, có ông nội là chí sĩ yêu nước Ngô Đức Kế (1878-1929). Ông tốt  nghiệp khoa Ngữ văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội, năm 1967; bảo vệ Tiến sỹ Ngữ  văn học – chuyên ngành Hán Nôm năm 1995. Năm1996, ông được phong Phó  Giáo sư Ngữ văn học. Từ năm 1982 cho đến năm 2001, tức một năm trước khi  nghỉ hưu, ông là Trưởng ban Văn học của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.   Với  40 sách nghiên cứu (chung và riêng), 156 bài viết, và 30 tác phẩm dịch  đã được công bố, PGS. TS Ngô Đức Thọ là một trong những nhà nghiên cứu  có số lượng tác phẩm đồ sộ nhất về tư liệu và sử liệu có liên quan đến  lịch sử – văn hóa Việt Nam.             Author                Quản trị        
__label__tiasang PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Chấp nhận các mảng đậm nhạt trong bức tranh khoa học      Mười năm sưu tầm nghiên cứu, Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam (Trung tâm) đã có được phông lưu trữ khá toàn diện về các nhà khoa học (KH) Việt Nam. Đó là hành trình “từ không đến có trong thay đổi nhận thức xã hội và các nhà KH về di sản KH”. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc kỹ thuật của Trung tâm, lưu trữ cũng phải chấp nhận các hiện tượng sáng tối khác nhau của nền học thuật, vấn đề là “chúng ta sẽ kể chuyện này như thế nào”?        PGS.TS Nguyễn Văn Huy làm việc với TS. Nguyễn Đức Lộc, người lập ra Viện Nghiên cứu đời sống ở TP HCM.Nguồn ảnh: Trung tâm.  Có thể nói, Trung tâm đã tạo ra được một nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng về câu chuyện cuộc đời, hành trình sáng tạo của các nhà KH Việt Nam. Nhìn nhận lại hành trình 10 năm, ông cho rằng, những điều gì là quan trọng nhất đưa đến kết quả ngày hôm nay?  Cho đến ngày hôm nay khi nhìn lại có thể thấy là có nhiều thành tựu khác nhau, nhưng tôi muốn tập trung vào hai thành tựu cơ bản, nổi bật của Trung tâm.  Thứ nhất là vật chất. Trung tâm đã nghiên cứu, sưu tầm, tiếp cận tư liệu về hơn 1400 nhà KH – với rất nhiều hiện vật khối; hiện vật giấy; ảnh: ảnh tư liệu; băng ghi âm, ghi hình…. có thể nói là hành trình từ không đến có. Đây là điều quan trọng nhất. Nó mang tính chất “cấp cứu” các tư liệu hiện vật: Giống như con người có thể chết, nếu không cấp cứu, hiện vật cũng có thể chết do bị hủy hoại, bị mối xông… Để tập trung cấp cứu, Trung tâm vạch ra chiến lược đúng đắn là tập trung vào nghiên cứu các nhà KH thế hệ trước cao tuổi hay đã mất. Rất nhiều nhà KH thuộc thế hệ đầu đã mất lâu rồi, gia đình nhiều khi ‘giữ [hiện vật] lại cũng khổ mà bỏ đi cũng không dám’. Nhiều tài liệu, hiện vật bị bỏ mặc rất lung tung lộn xộn. Những ký ức về thời kỳ đấy cũng đi qua rất nhanh. Có những bức ảnh không còn hiểu được bối cảnh, các nhân vật trong ảnh nữa.  Điều thành công thứ hai là sau khi cấp cứu, Trung tâm đã giải quyết và thu thập được một số lượng tư liệu lớn về các nhà KH ở các thời kỳ khác nhau, từ trước 1945, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, thời bao cấp…, như vậy ta có được những “lớp lang” thế hệ các nhà KH, một bức tranh toàn cảnh các nhà KH đóng góp gì với đất nước, và tại làm sao họ có thể đóng góp được như thế. Nền KH Việt Nam rất khác với nền KH của các nước phương Tây, hay Nhật Bản –  đó là những nền KH có bối cảnh lâu dài. Trong khi chúng ta, từ năm 1945 có 90% dân mù chữ. Sự nhen nhóm phát triển của nền KH chúng ta chỉ bắt đầu từ năm 1946-54 trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những sự nhen nhóm đầu tiên như thế ta nghiên cứu sẽ tìm thấy điều hay. Ví dụ, khi bắt đầu giảng dạy ở Đại học Y ở Việt Bắc, GS Hiệu trưởng Hồ Đắc Di phát biểu bằng tiếng Pháp. Rồi GS giảng bài bằng tiếng Pháp, bởi sinh viên thời đấy học tú tài bằng tiếng Pháp hết… Tất cả những danh từ KH, thuật ngữ y học cũng dùng thuật ngữ Pháp bởi lúc đó người ta chưa tìm ra được từ ngữ, tư duy mạch lạc bằng tiếng Việt. Ai kể được cho chúng ta nghe những manh nha của các nhà KH như thế? Nếu chúng ta không có hệ thống tài liệu hiện vật về bảo tàng và lưu trữ ấy thì rất khó kể.      Trước đây chúng tôi thu lượm tất cả tài liệu còn bây giờ phải tạo ra được những sản phẩm KH cho xã hội, đấy mới là điều các nhà KH đang chờ, xã hội đang chờ chúng tôi.      Tôi còn nhớ, thời gian đầu Trung tâm gặp nhiều khó khăn, chủ yếu từ nhận thức xã hội, mà như GS Nguyễn Anh Trí (Chủ tịch Medlatec, đơn vị đầu tư cho Trung tâm) từng chia sẻ – có nhiều nhà KH nghi ngờ sự tồn tại của Trung tâm, có người đã thẳng thừng nói rằng sẽ không tham gia cùng Trung tâm.  Đúng vậy, đến nay chúng tôi đã tạo dựng được niềm tin trong xã hội về di sản các nhà KH nhưng cũng đã trải qua rất nhiều sóng gió, đặc biệt là 1-2 năm đầu. Bởi vì từ xưa đến nay, trước khi có Trung tâm, thì không có khái niệm di sản các nhà KH. Trong Luật Di sản cũng như bất kỳ văn bản nào khác đều không nhắc đến, cũng không ai đề cập… Tất cả những gì mà các nhà KH làm ra chưa được ai nâng lên thành một loại hình di sản. Vì vậy Trung tâm đã xác định sẽ góp phần giúp cho xã hội nhận thức rằng đây là một cái loại hình di sản rất quan trọng.  Cũng trong thời gian ấy, các nhà KH và gia đình họ đã thay đổi nhận thức về di sản của mình. Tôi còn nhớ, hồi đầu, các nhà KH vẫn chỉ nghĩ cần phải tặng cho Trung tâm những tác phẩm được in ra, thế thôi. Thế nhưng qua cả một quá trình làm việc với Trung tâm thì các nhà KH mới vỡ lẽ ra là không phải, di sản của mình nó thật sự  đa dạng, nó không phải chỉ là tác phẩm in – mà tác phẩm in thì người ta có thể tìm thấy ở khắp nơi, ở thư viện, ở các cơ sở lưu trữ, v.v. Quan trọng nhất thực ra là những tài liệu viết tay, những bản thảo, những giấy rác, những cuốn nhật trình của những người đi khai quật khảo cổ, đi khảo sát địa chất, những cuốn nhật ký của sinh viên, nghiên cứu sinh khi đi làm ở trong nước cũng như ở nước ngoài, rồi thư từ của tất cả gia đình, bạn bè, vợ con gửi cho nhau… đó đều là di sản cả – mà trước đây người ta không nghĩ rằng đấy là thứ Trung tâm cũng như xã hội đương quan tâm và đương rất cần. Và khi mà người ta đã nhận thức như thế rồi thì mới giữ gìn, trân trọng cái di sản đấy, chứ không vứt đi. Nhiều lần, cán bộ Trung tâm đến nhà KH thì họ nói “tôi vừa mới bán một tạ giấy lộn, đấy là tất cả những gì mà tôi đã đọc, ghi chép”, “tôi vừa mới đốt đi tất cả sổ tay ghi chép vì đã 20 năm trôi qua rồi, không còn dùng nữa”, rất đáng tiếc. Cũng có lần cán bộ Trung tâm phải chạy theo xe đồng nát vừa mua “giấy vụn” của nhà KH để lục tìm lại tất cả những tài liệu đấy.  Công việc phải “cấp cứu” hiện vật và thu thập thông tin của nhiều nhà KH thế hệ trước nhưng lại cũng phải đáp ứng yêu cầu câu chuyện sâu sắc, hay và tinh tế hẳn đòi hỏi việc xây dựng đội ngũ rất lâu dài và khắt khe?  Từ những kinh nghiệm thực tiễn trước đó khi xây dựng Bảo tàng Dân tộc học, chúng tôi thấy rằng ở rất nhiều bảo tàng ở Việt Nam, dù có một bề dày lịch sử khá dài, đi sưu tầm nhiều hiện vật nhưng lại chưa quan tâm đúng mức đến thông tin của nó. Cho nên khi trưng bày thì rất thiếu thông tin, không thể kể được những câu chuyện hay. Khi làm Bảo tàng Dân tộc học, bằng phương pháp nghiên cứu dân tộc học, chúng tôi thu thập thông tin và diễn tả các câu chuyện ở đó dễ dàng và có nhiều thông tin hữu ích cho người xem. Đến khi triển khai mô hình nghiên cứu sưu tầm ở Trung tâm, chúng tôi luôn luôn định hướng là nghiên cứu song song với sưu tầm – tức là phải đi để nghiên cứu về cuộc đời của nhà KH, để thấy lịch sử cuộc đời ấy nó được thể hiện thông qua cái tư liệu hiện vật như thế nào.  Điều đó yêu cầu nhóm nghiên cứu viên của trung tâm phải làm việc rất căng. Vừa thuyết phục nhà KH, vừa phải sưu tầm, vừa phải làm hồ sơ tư liệu, vừa phải nghiên cứu để có được thông tin… Rất may là Trung tâm có được sự hỗ trợ các nhà KH, các biên tập viên, nhà báo khác nhau tham gia vào công việc định hướng, tổ chức bài viết, biên tập… Trong 10 năm qua, Trung tâm đã gây dựng được một đội ngũ cán bộ thật sự ham mê, sẵn sàng làm việc một cách không mệt mỏi, họ có tác phong, thái độ nghiên cứu, thái độ gặp gỡ, thái độ trân trọng… tất cả những yếu tố rất cần thiết cho công việc này. Bởi vì công việc này tiếp cận với những tài liệu một cách rất buồn tẻ, tài liệu thì bụi bặm không sạch sẽ. Rồi thuyết phục nhà KH cũng không đơn giản. Đi nhiều lần, thuyết phục, trò chuyện nhiều mới được tất cả những câu chuyện lịch sử cuộc đời. Có thể nói là một đội ngũ của Trung tâm đã tiếp cận và làm cho các nhà KH xiêu lòng và coi như con em, như những người trong gia đình, và họ sẵn sàng chia sẻ tất cả. Điều đó không phải ở đâu cũng có thể có để làm được, trong bối cảnh như hiện nay.     Một góc trưng bày “Thẳm sâu trong từng kỷ vật” tại Công viên di sản các nhà KH tại Hòa Bình. Nguồn ảnh: Trung tâm.  Tuy nhiên, chúng tôi cũng vẫn chưa hoàn toàn hài lòng với cách làm việc hiện nay. Vì các anh chị em vẫn chịu một mâu thuẫn giữa một bên là sức ép phải đi sưu tầm, phải đưa về càng nhiều [tư liệu, hiện vật] càng tốt, kiểu như là định mức với một bên là sưu tầm ở mức độ vừa phải nhưng tăng thông tin, tăng các câu chuyện, tăng chất lượng của tất cả câu chuyện đấy. Bởi vì nhà đầu tư thì bao giờ cũng muốn nhìn thấy số lượng, còn nhà chuyên môn thì chỉ muốn thấy chất lượng.  Phải chăng, có phần là do ta chưa có một cái thấu đáo về vai trò của việc nghiên cứu chuyên sâu về tiểu sử các nhà KH?  Chính xác đấy. Chúng ta vẫn viết tiểu sử rất nhiều. Nhưng mà cái gọi là cái tiểu sử học… phương pháp luận tiến hành nó như thế nào thì chưa được bàn thấu đáo. Nghiên cứu tiểu sử dưới nhiều giác độ khác nhau: tiểu sử dưới giác độ một nhà văn, tiểu sử dưới giác độ của một nhà KH… của nhà sử học; tiểu sử dưới giác độ của một nhà xã hội học, tiểu sử dưới giác độ của một nhà nhân học… là những vấn đề rất khác nhau. Mà chỉ có nghiên cứu chuyên sâu, thì đến lúc làm trưng bày hay viết ra mới làm dấy lên cảm xúc.  Những công trình [mang tính tiểu sử học] thực sự về các nhà KH còn rất hiếm. Chúng ta vẫn hay nói về thế hệ ‘trí thức vàng’ sau Cách mạng tháng 8, mỗi người đáng một cuốn sách, đáng một nghiên cứu nhưng còn khá hiếm hoi. Ví dụ như nghiên cứu cuộc đời nhà báo, nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Dục thấy ông ấy là một trí thức lớn nhưng rất khổ sở, bị đánh giá sai rồi cách chức, mất hết tất cả các chức vụ, từ Thứ trưởng bị cho về làm nghiên cứu viên ở Viện Văn học… Khi nhìn lại thấy nhiều bài học cho hiện tại và tương lai, thông qua những con người cụ thể.      Nền KH của ta cũng không ít chuyện này chuyện kia. Lưu trữ những tư liệu như vậy, sau này tổ chức trưng bày mà kể những câu chuyện đấy cũng là cần thiết để hiểu những lát cắt khác nhau về bức tranh nền học thuật của chúng ta.      Trung tâm đang có một khối tài sản – dữ liệu khổng lồ, mà nếu phân tích sẽ có được bức tranh về nền KH nước nhà. Nhưng ai sẽ là người phân tích? Liệu Trung tâm sẽ làm hay sẽ mở dữ liệu để các nhà nghiên cứu có thể khai thác được?  Mười năm tới đây, Trung tâm sẽ bước sang một cái bước khác về chất so với 10 năm trước. Trước đây chúng tôi thu lượm tất cả tài liệu còn bây giờ phải tạo ra được những sản phẩm KH cho xã hội, đấy mới là cái cần thiết, là điều các nhà KH đang chờ, xã hội đang chờ chúng tôi. Trong đó phải làm bằng được việc tổ chức trưng bày thường xuyên về từng nhà KH, từng lĩnh vực KH, hoặc từng môn học… Và niềm tin [mà xã hội dành cho Trung tâm] có được tăng cường hay không nằm tất cả ở đây.      Hướng thứ hai trong 10 năm tới là phải mở được kho lưu trữ, đưa nó vào phục vụ xã hội. Tức là phải tổ chức để có phòng đọc, có bộ phận tra cứu… sinh viên có thể làm khai thác làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, nhà nghiên cứu có thể sử dụngv.v… để từ đấy tất cả các cái câu chuyện như thế chúng ta làm được thì sẽ là mở ra một cái trường mới. Thế nên là trong 10 năm vừa rồi, ở trung tâm, tôi luôn luôn nói trong tất cả các bài phát biểu là chúng ta xây dựng 3 trụ cột. Thứ nhất là bảo tàng; thứ hai là lưu trữ; và thứ 3 là thư viện. Nếu chúng ta làm tốt ba cái trụ cột này thì sẽ phát huy được công sức, cũng như giá trị của chúng ta đã thu lượm.  Để làm được điều đó, thì trước hết các nghiên cứu viên ở Trung tâm phải thực sự trở thành những nhà nghiên cứu lịch sử hoặc nhân học hay xã hội học chuyên nghiên cứu sâu lịch sử cuộc đời của các nhà KH cũng như hiểu rất rõ về các trưng bày – kể chuyện. Nếu đào tạo nghiên cứu viên tốt thì trong 10 năm tới sẽ có được một tương lai tốt. Tuy nhiên, tôi cũng không nghĩ rằng phải hành động một cách quá gấp gáp. Gấp gáp thì sẽ không ra được sản phẩm tốt.  Lưu trữ và trưng bày sẽ được mang lên Công viên di sản các nhà KH ở Hòa Bình vì hiện nay Công viên đã đi vào hoạt động và đón được hơn 80.000 lượt khách.  Về mặt lưu trữ, thời gian tới Trung tâm phải vươn tới nghiên cứu các nhà KH trước 1975 ở miền Nam. Họ đã có nhiều đóng góp cho xã hội, chúng ta không được quên họ mà phải tập trung nghiên cứu – không thì quá muộn. Mấy năm nay Trung tâm bắt đầu vào TP HCM tìm kiếm thông tin nhưng mới được 4-5 nhà KH. Rồi trong tương lai xa hơn cũng phải tiếp cận và lưu trữ được về các nhà KH người Việt ở nước ngoài.  Sau mười năm làm Trung tâm di sản, tiếp xúc với rất nhiều các câu chuyện hiện vật từ hơn nửa thế kỷ trước, ông có nhận xét, so sánh gì về không gian sáng tạo của các nhà KH thông qua các thời kỳ khác nhau?  Thực tế lịch sử cũng cho thấy, trong điều kiện càng khó khăn thì sự đóng góp của các KH lại càng lớn, càng nhiều. Tinh thần làm việc chí công vô tư dành cho KH là trào lưu chủ đạo, là mạch chính của giới KH trong cả thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay của chúng ta, với những điều kiện kinh tế mới, xã hội thay đổi, thì suy nghĩ của nhà KH nhiều khi lệch pha. Nhiều người ít chú trọng đến chất lượng nghiên cứu, làm KH là để kiếm tiền, chứ không nghĩ đến là làm KH để có được công trình thật sự. Có những nghiên cứu hiện nay nó hời hợt, hớt lớp váng ở trên chứ ít đi nghiên cứu sâu, ít có những phát hiện… Trong KH xã hội có thể thấy, tiền đầu tư thì nhiều nhưng thành tựu thực sự thì còn ít. Ví dụ trong ngành của tôi, các nhà dân tộc học giờ đây hiếm khi đi và ở lại địa phương lâu tới hai tháng, ba tháng mà cùng lắm chỉ 10 ngày cho đến 15 ngày. Và họ ở đâu? Họ chủ yếu là sáng đi tối về, ở khách sạn. Cách tổ chức nghiên cứu như thế chắc chắn rằng sẽ thiếu sự sâu sắc; khó phát hiện sâu đối với xã hội, đối với lĩnh vực của mình.  Có những ý kiến cho rằng, trong giới KH cũng có vàng thau lẫn lộn, có cả những câu chuyện buồn về đạo văn, vậy sưu tầm tư liệu có phải chọn lọc và… tránh đi không?  Trung tâm có những cách làm riêng để tiếp cận với những nhà KH cho chính xác. Bắt đầu từ những nhà KH đầu ngành giới thiệu, Trung tâm lan dần để mở rộng mạng lưới các nhà KH có uy tín để mà xây dựng dữ liệu.  Tuy nhiên, nền KH của ta cũng không ít chuyện này chuyện kia. Thì Trung tâm vẫn cứ phải lưu tư liệu về những vấn đề đó. Chẳng hạn như gần đây có nghi án đạo văn của GS Nguyễn Đức Tồn. Ta phải sưu tầm và kể chuyện giáo sư Tồn chứ… Nó rất hay. Thế có ý kiến bảo là bây giờ ông ấy đương thật giả thế này mà ông đi sưu tầm làm gì? Không, ông ấy là giáo sư thì tôi phải sưu tầm, vấn đề là tôi sử dụng nó không? Tôi sử dụng nó như thế nào? Qua câu chuyện này, tôi muốn kể cái gì? Cái đấy mới là điều quan trọng.  Lưu trữ được những tư liệu như vậy để sau này tổ chức trưng bày mà kể những câu chuyện đấy cũng là cần thiết để hiểu những lát cắt khác nhau về bức tranh nền học thuật của chúng ta.  Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!  Bảo Như – Tuấn Quang thực hiện              Author                Quản trị        
__label__tiasang PGS.TS Nguyễn Văn Huy: Người đem dân tộc học đến công chúng      Nửa thế kỷ gắn bó với ngành dân tộc học cũng là hành trình nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huy “xê dịch” trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ những vấn đề “truyền thống” của ngành học này cho tới khám phá những vấn đề văn hóa xã hội đương đại. Cũng là hành trình mà ông khơi mở ra “lãnh địa” mới, kéo ngành học này tới gần công chúng hơn, đó là bảo tàng dân tộc học.      PGS.TS Nguyễn Văn Huy.   Hẳn nhiều người tự hỏi, con của GS Nguyễn Văn Huyên, người đặt nền tảng quan trọng cho ngành dân tộc học Việt Nam sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ cha mình, nhưng không hẳn vậy, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huy không đứng dưới cái bóng lớn đó mà định vị cho mình một con đường riêng, khác biệt. Có chăng, ông chịu ảnh hưởng bởi phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể và lòng kiên trì, nhẫn nại trong nghiên cứu hơn là các chủ đề nghiên cứu.  Những khảo tả hiếm về các dân tộc rất ít người  Vào những năm 1970 – 1980, ông lặn lội tìm hiểu các dân tộc rất ít người ở Việt Nam, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí xác định thành phần tộc người và phân loại tộc người chứ không tiếp tục tìm tòi trong mảng nghiên cứu về văn hóa người Việt như cha. Bối cảnh thống nhất đất nước đặt ra một câu hỏi lớn đối với các nhà dân tộc học: Đất nước ta có chính xác bao nhiêu dân tộc? “Một câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản về mặt nhân khẩu học là ‘ông/ bà là người dân tộc nào’ được đặt ra trong cuộc tổng điều tra dân số năm 1969 nhưng không thể trả lời được, mà cần những nền tảng lý thuyết về tộc người và căn cứ thực tiễn. Vì thế tôi cũng như các đồng nghiệp ở Tổ Dân tộc học cùng nghiên cứu về vấn đề này”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói. Ông cùng với các đồng nghiệp ở Tổ Dân tộc học mới tách ra từ Viện Sử học (nay là Viện Dân tộc học) đều tập trung vào làm sáng tỏ các tiêu chí phân loại tộc người chính gồm: 1) Tộc người đó cùng có chung nguồn gốc lịch sử, 2) Có chung một đặc tính văn hóa; 3) Có tâm lý chung – được quyết định bởi ý thức tự giác tộc người.  Song song với nghiên cứu lý thuyết về tiêu chí, các nhà nghiên cứu dân tộc học tỏa đi vào thực tiễn để xác định và phân loại. Nhà nghiên cứu dân tộc học trẻ Nguyễn Văn Huy lúc đó đảm nhận phần nghiên cứu về những dân tộc rất ít người biết đến (thậm chí cho đến tận ngày nay) đang sinh sống ở vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên ven biên giới Việt – Lào, Việt – Trung. Với hành trang chỉ có gạo và muối vừng, hầu như chỉ đi bộ và đi xe đạp, thậm chí nhiều phen phải “vác xe đạp trèo đèo lội suối, đưa xe đạp xuống thuyền độc mộc vượt sông Đà”, trong 10 năm, ông đã tiếp cận được các dân tộc Xinh Mun, Kháng, Khơ Mú (thuộc Ngữ hệ Nam Á); các dân tộc Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si La, Phù Lá – Xa Phó (thuộc Nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, Ngữ hệ Hán Tạng), các dân tộc Cơ Lao, La Chí, Pu Péo (thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai, ngữ hệ Thái Kađai), người Xơ Đăng, Rơ-măm, Brâu để làm khảo tả dân tộc học và xác định thành phần tộc người.  Việc gọi tên các dân tộc ở trên như hiện nay là kết quả sau quá trình nghiên cứu kéo dài 10 năm, chứ ngay tại thời điểm đầu những năm 1970, khi PGS.TS Nguyễn Văn Huy và các nhà dân tộc học khác xách ba lô đi tìm hiểu thì hầu như chỉ có rất ít thông tin về các tộc người này và cách viết tên của mỗi dân tộc cũng rất khác nhau. Nhiệm vụ quan trọng nhất lúc đó là tìm hiểu “họ là ai? bức tranh có thể mô tả về văn hóa, tâm lý, kiến thức, phong tục tập quán của dân tộc đó là gì?” được vạch ra trong bối cảnh thông tin cho trước gần như bằng không, bởi vì các mô tả dân tộc học từ thời Pháp và trước đó hầu như chỉ tập trung vào những tộc người lớn ở Việt Nam, còn phần lớn nhóm tộc người nhỏ hơn chỉ được đề cập tới một cách khá chung chung, mơ hồ, thậm chí nhiều miệt thị. Mặt khác, việc áp dụng các tiêu chí xác định tộc người ở trên vào trong từng trường hợp cụ thể lại rất phức tạp, cần thời gian quan sát lâu dài, với “sự tinh tế, linh hoạt và kỹ lưỡng”. Nhà dân tộc học phải phân biệt rõ: 1) Dân tộc A có phải một dân tộc không hay chỉ là một nhóm của dân tộc B? 2) Trong một dân tộc có rất nhiều nhóm địa phương, phải xác định rõ dân tộc đó có bao nhiêu nhóm địa phương, tại sao lại có sự phân chia như vậy. 3) Phải xác định tên gọi chính xác theo tên tự gọi của các tộc người đó, thay vì gọi họ bằng cách gọi mà người dân tộc đa số hoặc nhà nước quy định/ áp đặt lên họ.      Từ những năm 1990, ông đã có quan điểm, dân tộc học không chỉ là “tầm chương trích cú” mà cần phải phân tích thực trạng phát triển, tìm hiểu những vấn đề thiết thực nhất trong bối cảnh thời đại như hợp tác hóa, xung đột đất đai, biến đổi xã hội nông thôn, đô thị.      Ví dụ, trước khi được xác định tộc người, một nhóm người sống ở huyện Sông Mã, Mai Sơn, Yên Châu, Sơn La vẫn được gọi là “người Xá”, hoặc tất cả các dân tộc sinh sống ở Tây Nguyên đều được gọi là “người Mọi” “người Thượng”. “Dưới những cái tên gọi chung đó có bao nhiêu tộc người? Tộc danh thực sự của họ là gì? Phải ở cùng với họ hàng tháng trời chúng tôi mới xác định được tộc danh là “Xinh Mul” (sau này được ghi danh trong danh mục chính thức là Xinh Mun vì tiếng Việt khó đánh vần đuôi “ul”) chứ không phải là “Xá” – một cách gọi miệt thị và chung chung”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói.  Tại thời điểm năm 1980 – 1990, những nghiên cứu đó của PGS.TS Nguyễn Văn Huy không chỉ góp phần phân loại tộc người, mà còn mang tới tri thức hoàn toàn mới, đầy đủ, có tính chất “mở đường” về văn hóa các tộc người thiểu số nói trên. Những tư liệu từ nghiên cứu của ông này có thể được tìm thấy trong một bộ sách gối đầu giường, của những người làm dân tộc học, một “bách khoa thư” đầy đủ nhất về các dân tộc Việt Nam – cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam”(1). Đặc biệt, kết quả của công cuộc xác minh thành phần tộc người này vẫn được sử dụng cho đến hiện nay, được thể hiện rõ trong danh mục các dân tộc được chính phủ ban hành (2).    PGS.TS Nguyễn Văn Huy (giữa) trong một hội thảo góp ý về quy trình giáo dục trải nghiệm cho học sinh khi tham quan di sản tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.   Không để văn hóa các dân tộc “đông cứng” trong bảo tàng  Nhưng hành trình dân tộc học của PGS.TS Nguyễn Văn Huy không thể chỉ mãi đi theo một thông lệ đã trở thành lối mòn trong ngành dân tộc học là mô tả truyền thống văn hóa các dân tộc ít người, trong khi các đặc điểm kinh tế xã hội của các dân tộc sẽ không thể đứng yên mãi mãi, phải có sự vận động, thậm chí thay đổi cả về bản sắc để thích ứng với bối cảnh xã hội hiện đại. Vì thế, ông lại bắt đầu đưa chính mình vào một quá trình “thích ứng” mới – kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học vào dân tộc học ở đầu những năm 1990, ở thời điểm mà xã hội học còn chưa được thừa nhận chính thức ở nước ta hoặc đa phần những người làm dân tộc học và xã hội học Việt Nam vẫn nghĩ rằng, hai ngành này đi hai con đường riêng biệt, dân tộc học thuần mô tả định tính còn xã hội học thuần thống kê định lượng.  Nhóm nghiên cứu của ông cùng các chuyên gia xã hội học Xô viết thiết kế cuộc điều tra xã hội học đầu tiên để tìm hiểu về thực trạng kinh tế xã hội của các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm và Khơ Me. Cuộc điều tra này đã đặt nền tảng cho nghiên cứu xã hội học tộc người và chỉ ra một hướng đi quan trọng trong nghiên cứu dân tộc học: dân tộc học không chỉ là “tầm chương trích cú” mà cần phải phân tích thực trạng phát triển, tìm hiểu những vấn đề thiết thực nhất trong bối cảnh thời đại như hợp tác hóa, xung đột đất đai, biến đổi xã hội nông thôn, đô thị… “Hay nói cách khác, đó là thời điểm mà chúng tôi kéo dân tộc học từ mô tả sang ứng dụng”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói.  Chính bước chuyển này đã giúp ông có được nền tảng quan trọng để mở ra một con đường hoàn toàn mới đối với những người làm công tác dân tộc học, kéo những kiến thức hàn lâm gần với đại chúng: xây dựng Bảo tàng dân tộc học. Tuy nhiên, bảo tàng ra đời muộn, lại hầu như không được kế thừa các bộ sưu tập của các thế hệ trước, ông cùng các đồng nghiệp phải đối mặt với thách thức cơ bản nhất của bảo tàng là thiếu… hiện vật. Nhiều nét văn hóa truyền thống ở các tộc người đang thay đổi, thậm chí mất đi nhanh chóng nên quá trình sưu tầm các hiện vật có giá trị văn hóa rất khó khăn. “Khi làm bảo tàng, tôi hoàn toàn là người ngoại đạo, và chỉ có một niềm tin duy nhất là sẽ đi theo một thế mạnh của mình là văn hóa đương đại, để xây dựng bảo tàng nhưng là một bảo tàng sống động chứ không phải là bất động”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nhớ lại. Vì vậy, chủ trương của ông và nhóm xây dựng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong sưu tầm cũng như trưng bày là đi ngay từ hiện tại, bắt đầu từ hiện tại, từ đó mới ngược dần về quá khứ. Những hiện vật từ quá khứ phải là căn cứ để giải thích được cái hiện nay, để thấy được sự nối tiếp truyền thống trong cuộc sống đương đại.      “Khi làm bảo tàng, tôi hoàn toàn là người ngoại đạo, và chỉ có một niềm tin duy nhất là sẽ đi theo một thế mạnh của mình là văn hóa đương đại, để xây dựng bảo tàng nhưng là một bảo tàng sống động chứ không phải là bất động” PGS.TS Nguyễn Văn Huy.      Năm 1997, sau khi Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam khai trương, nhà nghiên cứu dân tộc học về nhà cửa lão làng GS Nguyễn Khắc Tụng đã phê phán trưng bày nhà người Dao trong bảo tàng có treo liềm gặt lúa là không đúng với “truyền thống du canh du cư vốn chỉ sử dụng nhíp cắt lúa của người Dao”. “Nhưng trưng bày ở bảo tàng không phản ánh một truyền thống văn hóa bất động/ đông cứng, mà chúng tôi cho thấy một sự thay đổi trong đời sống vật chất của người Dao, họ đã sử dụng những nông cụ mới khi họ đã định cư làm ruộng nước nhưng vẫn ở trong kiểu nhà cũ. Chính điều đó mới cho thấy văn hóa là một động năng”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy giải thích.  Để bảo tàng là một kênh đem kiến thức dân tộc học tới gần công chúng một cách sống động nhất, ông xây dựng bảo tàng theo một cách “không giống ai”: ngoài tòa nhà trưng bày hiện vật phải tuân theo thiết kế xây dựng và có tư vấn chuyên gia từ Pháp, Mỹ thì 10 ngôi nhà trưng bày ngoài trời đều… do người dân các dân tộc thiểu số xây dựng. Đích thân PGS.TS Nguyễn Văn Huy cùng các cán bộ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đến tận những bản làng Tây Nguyên, lên Tây Bắc, vào Nam Trung Bộ… mời từng người dân về bảo tàng xây dựng ngôi nhà truyền thống theo đúng kiến thức dân gian của họ.  Trong 6 tháng, ngôi nhà rông được xây dựng mà không hề có bản vẽ thiết kế, được ra đời chỉ bằng một niềm tin vào tri thức của người dân, tri thức của cộng đồng. Hiện nay, ở nhiều ngôi nhà trong bảo tàng còn lưu giữ hình ảnh quá trình người dân tháo dỡ nhà cũ, dựng lại trong bảo tàng. Với cách làm này, công chúng thực sự được chiêm ngưỡng những nét đẹp tinh tế từ các kỹ thuật, thẩm mỹ khác nhau của các dân tộc chứ không phải ngắm những hiện vật được tái phục dựng vô hồn thông qua bàn tay của những kỹ sư, người thợ chuyên nghiệp. Từng chi tiết nhỏ trong bảo tàng dân tộc học cũng đều được chăm chút tỉ mẩn bằng tri thức dân gian như thế.  Ví dụ, thủy đình ở Bảo tàng Dân tộc học Việt nam vốn là nơi dành cho các phường rối nước từ Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây, Hà Nội tới diễn cho khách chứ không phải của bất kỳ một công ty nghệ thuật chuyên nghiệp nào tổ chức trình diễn. Tôi còn nhớ, mỗi lần bước chân vào căn nhà dài nơi cuối vườn của Bảo tàng, ở đó bao giờ cũng có bếp lửa ấm áp, vài thức quà quê như ngô, kẹo lạc, chén trà xanh… như cuộc sống đang diễn ra ở làng quê. Bếp lửa ấy vừa để giữ ấm ngôi nhà, chống ẩm, và giữ phần hồn của ngôi nhà theo đúng truyền thống của dân tộc.  Không chỉ làm thay đổi hẳn những quan niệm và phương thức hoạt động, đem tới một sức sống mới cho bảo tàng, PGS.TS Nguyễn Văn Huy cũng mạnh dạn cho thành lập Phòng Hợp tác quốc tế để chớp lấy triển vọng hợp tác quốc tế trong khi một số đơn vị làm nghiên cứu dân tộc học khác vẫn khá đóng và dè dặt trong hợp tác quốc tế vào những năm 1995 (đây cũng là bảo tàng đầu tiên trong cả nước có Phòng đối ngoại).  “Nhà nước chỉ cho đất xây dựng và trang bị cơ sở vật chất cho trưng bày trong nhà, còn lại toàn bộ phần trưng bày ngoài trời được thực hiện phần lớn đều do các dự án hợp tác quốc tế mang lại”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy kể. Những nỗ lực ấy đã đưa bảo tàng dân tộc học từ một xuất phát điểm muộn hơn nhiều so với các bảo tàng giàu truyền thống khác nhưng đã vượt lên trở thành một điểm đến hấp dẫn. Số lượng khách tới tham quan Bảo tàng Dân tộc học VN lên tới gần 500.000 người/ năm và chỉ đứng sau Bảo tàng chứng tích chiến tranh.  Kiên trì làm giáo dục di sản  Đến tuổi nghỉ hưu nhưng ông không có một ngày ngơi nghỉ mà tiếp tục hỗ trợ, tư vấn đổi mới cho các bảo tàng khác như Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam, Dinh Độc Lập, Trung tâm hoạt động văn hóa và khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, xây dựng Trung tâm Di sản các nhà khoa học và “chiến đấu” để thay đổi cách giáo dục bảo tàng cho học sinh mặc dù ông thừa nhận “tôi không hề giỏi dỗ trẻ con”.  Sau nhiều năm làm bảo tàng, PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho rằng bảo tàng vẫn là nơi cồng kềnh, bảo thủ và ngại thay đổi nhất. Vì thế phải tiếp tục thay đổi tư duy, đưa bảo tàng trở thành nơi “giáo dục trải nghiệm” cho những thế hệ nhỏ tuổi – thế hệ sẽ quyết định số phận của di sản các dân tộc hiện nay.  Những năm 2006, trong giới nghiên cứu và bảo tàng hầu như chưa ai hiểu “giáo dục trải nghiệm” là gì, ông thậm chí đã đề xuất nhưng không thể thuyết phục những người làm luật đưa cụm từ “Bảo tàng có chức năng giáo dục” hoặc “giáo dục bảo tàng” vào trong Luật Di sản văn hóa (sửa đổi bổ sung năm 2015). “Thực ra những kiến thức, quy trình giáo dục học sinh tham quan di sản như tôi đề xuất không có gì mới so với thế giới, mình chỉ cần áp dụng có sáng tạo là đã thành công rồi”, ông nói. Nhưng hành trình đó cũng mất tới hơn 10 năm và chưa dừng lại. Ông cùng với các chuyên gia giáo dục, chuyên gia về di sản của UNESCO nghiên cứu đưa ra một quy trình giáo dục di sản với ba bước “trước, trong và sau tham quan” ở nước ta nhằm giúp học sinh chủ động, sáng tạo khám phá di sản.  Quy trình này đã thể hiện tính ưu việt trong việc giúp các em củng cố kiến thức phổ thông và kỹ năng sống một cách trực quan, sinh động và được Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa thể thao và du lịch ra thông tư hướng dẫn thực hiện (thông tư 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL). Nhưng rất tiếc cho đến nay số trường học và di sản đã áp dụng đúng quy trình này không nhiều, mà mới chỉ khu trú ở một số đơn vị ở Hà Nội, Hội An, bởi vì chưa nhiều đơn vị quản lý di sản và nhà trường nhận thức được đúng vấn đề này.  ——  Chú thích:  1 Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam, nhà xuất bản khoa học xã hội (2 tập, xuất bản vào các năm 1978, 1984). Sau này, bộ sách đã được kế thừa, tiếp nối trong bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” do Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2016.  2 Danh mục các dân tộc Việt Nam: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=405&idmid=5&ItemID=1851    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang PGS.TS Phạm Hoàng Hiệp: Từ cậu bé mê giải toán đến nhà toán học      Nhà toán học Việt Nam đầu tiên ở trong nước có bài đăng trên tạp chí Acta Mathematica danh tiếng mới đây đã trở thành chủ nhân đầu tiên của Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho Nhà khoa học trẻ.    Khác với năm ngoái, Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay đã tìm được chủ nhân cho hạng mục Nhà khoa học trẻ, đó là PGS.TSKH. Phạm Hoàng Hiệp, người mới chuyển về Viện Toán học từ tháng Tư vừa qua, sau 10 năm giảng dạy ở Khoa Toán-Tin, ĐHSP Hà Nội.  Với công trình viết chung cùng Viện sĩ viện Hàn lâm khoa học Pháp, Giáo sư Jean-Pierre Demailly mang tên “A sharp lower bound for the log canonical threshold” (Một đánh giá tốt nhất có thể của ngưỡng chính tắc) đăng trên tạp chí Acta Mathematica số 212, tập 1, năm 2014, nhà toán học 34 tuổi đã giành được số phiếu tuyệt đối của Hội đồng Giải thưởng.   “Đây là lần đầu tiên một nhà toán học Việt Nam ở trong nước có bài đăng trên tạp chí Acta Mathematica – tạp chí được xếp hạng cao nhất theo chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn năm năm trong danh mục 302 tạp chí ngành toán lý thuyết của cơ sở dữ liệu ISI. Công trình này được viết chung với nhà toán học hàng đầu của thế giới. Theo thư ủng hộ của ông ta thì PGS Phạm Hoàng Hiệp là người đề xuất vấn đề nghiên cứu và đưa ra ý tưởng chính để giải quyết vấn đề, đồng thời là người đóng vai trò chủ chốt trong việc viết bài. Công trình này đưa ra một ước lượng tốt nhất cho một chỉ số quan trọng trong Hình học, có thể giúp giải quyết giả thuyết Guedj và Rashkovskii đang được nhiều nhà toán học hàng đầu thế giới quan tâm nghiên cứu,” theo GS Ngô Việt Trung, Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu, cũng là Chủ tịch Hội đồng khoa học ngành Toán học của Quỹ Nafosted.  PGS Phạm Hoàng Hiệp cho biết, anh bắt đầu nghiên cứu công trình này từ cuối năm 2010; sau đó, vào tháng 9 năm 2011, khi sang làm nghiên cứu một năm ở viện Fouier, ĐH Grenoble, Pháp, anh đã gặp và trao đổi với VS. GS Jean-Pierre Demailly để hoàn thiện công trình trong vòng hai tháng. “Đây là một trong năm kết quả nghiên cứu mà tôi ưng ý nhất từ trước đến nay,” Hiệp chia sẻ.   Điều bất ngờ là tác giả của nghiên cứu xuất sắc này đến với toán học khá muộn và với một tình yêu vô cùng đặc biệt. Mãi đến năm lớp 9, sau khi tình cờ đọc một cuốn sách về số học mà bố anh mua cho từ trước đó rất lâu, Hiệp phát hiện mình có thêm niềm đam mê mới ngoài bóng đá. Mặc dù đã lỡ cơ hội thi vào lớp chuyên toán của tỉnh Hải Dương, nhưng Hiệp vẫn nuôi mơ ước được đi thi toán quốc tế. Cậu say sưa tìm giải các đề thi toán trong tạp chí Toán học và Tuổi trẻ. Đôi lần, lời giải của cậu được tạp chí chọn đăng. “Hồi đó có khi tôi dành vài ba ngày để giải một bài toán. Giờ thì một bài toán có thể lấy của tôi vài ba năm,” anh kể. Mặc dù không thực hiện được ước mơ thi toán quốc tế (Hiệp chỉ đoạt giải ở các cuộc thi toán của tỉnh), “nhưng đó chính là những năm tháng tôi đã rèn cho mình cách tự học, đọc sách, và suy nghĩ giải quyết vấn đề”. Sau đó, Hiệp thi vào học Khoa Toán, ĐH Sư phạm với ước mơ rất khiêm tốn là “nếu không được nghiên cứu toán thì cũng được giảng dạy toán”.   Anh cho rằng, những năm theo học Lớp chất lượng cao của Khoa Toán, ĐH Sư phạm Hà Nội là giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời nghiên cứu của anh khi anh dành phần lớn thời gian để đọc và nghiền ngẫm các tài liệu về toán học, tạo cho mình một nền tảng vững chắc. Cũng tại đây, sau khi được thầy giáo của mình là GS. Nguyễn Văn Khuê giới thiệu về hướng nghiên cứu The complex Monge-Ampere Equation (Phương trình Monge-Ampere phức) của GS. Urban  Cegrell, anh đã tìm tòi để viết các kết quả nghiên cứu về hướng này rồi gửi cho các tạp chí toán học quốc tế. Nhờ đó, vị giáo sư người Thụy Điển đã biết đến anh và nhận lời hướng dẫn anh bảo vệ luận án tiến sĩ tại ĐH Umea vào năm 2008. Sau đó, từ năm 2011 đến năm 2014, anh lần lượt dự tuyển thành công vào một số vị trí nghiên cứu ở Pháp với niềm tin rằng ở những nơi đó, anh sẽ có cơ hội gặp gỡ nhiều đồng nghiệp xuất sắc. Về nước vào cuối năm 2014, anh xin chuyển sang Viện Toán học vì muốn “tập trung sâu hơn vào nghiên cứu, đồng thời vẫn có thể giảng dạy một cách có chọn lọc”.  Trò chuyện với Hiệp, có thể cảm nhận mối quan tâm của anh dành cho toán học chiếm vị trí đặc biệt như thế nào trong cuộc sống so với các mối quan tâm khác. Những thời điểm mà anh cho là đáng nhớ trong đời cũng đều gắn với toán học – đó là những ngày đầu cấp 3, khi anh lần đầu phát hiện ra vẻ đẹp của toán học; hay những năm còn là sinh viên, mỗi khi nghĩ ra lời giải cho một bài toán nào đó anh liền đến nhà thầy Khuê để trao đổi và nghe những bình luận của thầy. Cách anh đi qua mọi chuyện ngoài toán học hệt như đường đi của một hòn đá được ném xuống nước, nó sẽ rơi xuống đáy bằng con đường nhanh nhất, và chỉ để bị hút theo cái đích của mình.  Vậy anh nghĩ thế nào về tính ứng dụng thực tế trong các nghiên cứu của mình? “Tôi cho rằng nghiên cứu toán học cũng như nghiên cứu ở các lĩnh vực lý thuyết khác, trước hết phải là tìm kiếm, khám phá những điều mới mẻ để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của con người. Việc ứng dụng vào cuộc sống cần sự tổng hợp của nhiều người trong nhiều lĩnh vực. Thiết nghĩ, làm nghiên cứu cũng giống như phát triển thể thao, cần phong trào ở nhiều nơi với nhiều người tham gia, từ đó những vận động viên xuất sắc chắc chắn sẽ xuất hiện. Theo cách đó, càng có nhiều người làm nghiên cứu khoa học thì càng tốt, vì chỉ cần một trong số các nghiên cứu lý thuyết được ứng dụng thì cũng có thể dẫn tới sự thay đổi bộ mặt của cả thế giới; còn nếu nghiên cứu của họ chưa thể ứng dụng ngay thì ít nhất nó cũng phát huy được vai trò trong việc đào tạo những người đi sau,” Hiệp chia sẻ.     Vài nét về PGS. TS Phạm Hoàng Hiệp: 2000-2004: Lớp Chất lượng cao, Khoa Toán-Tin, ĐH Sư phạm Hà Nội 2007: Tốt nghiệp Thạc sĩ tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2008: Bảo vệ Tiến sĩ tại ĐH Umea, Thụy Điển 2013: Bảo vệ Tiến sĩ Khoa học tại ĐH Aix-Marseille, Pháp Được phong Phó giáo sư năm 29 tuổi (2011) Chuyên ngành: Giải tích và Hình học Đã có 29 bài báo đăng trên các tạp chí ISI như Comptes Rendus Mathematique, Annales de l’institut Fourier (Grenoble), Journal de Mathématiques Pures et Appliquées…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phá hủy đa dạng sinh học: Đại dịch sẽ xuất hiện thường xuyên hơn?      Các đại dịch trong tương lai sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, lây lan nhanh hơn, gây thiệt hại nhiều hơn cho nền kinh tế thế giới và dẫn đến cái chết của nhiều người hơn Covid-19, trừ khi có thay đổi trong cách tiếp cận toàn cầu để đối phó với các bệnh truyền nhiễm.       Khói từ những đám cháy rừng bay qua một trang trại chăn nuôi gia súc ở bang Mato Grosso (Brazil) vào năm 2019. Nguồn: National Geographic  Tàn phá môi trường có liên quan tới bệnh tật  Phần lớn các dịch bệnh trên người đều bắt nguồn từ các virus trú ngụ trong các loài động vật hoang dã. Số lượng mầm bệnh tiềm ẩn này sẽ khiến nhiều người bất ngờ. Một báo cáo của Tổ chức Liên chính quyền về nền tảng chính sách khoa học cho đa dạng sinh học và sinh thái (IPBES), Liên Hiệp Quốc, do 22 chuyên gia hàng đầu trên thế giới thực hiện, công bố vào ngày 30/10/2020 ước tính, có 1,7 triệu virus “chưa được phát hiện” đang tồn tại ở động vật có vú và các loài chim – trong đó, 540.000-850.000 loại virus có thể lây nhiễm sang người và gây ra bệnh tật. Đây cũng là kết quả của một hội thảo trực tuyến khẩn cấp do IPBES tổ chức kéo dài hàng tuần từ tháng 7/2020 nhằm thảo luận về mối liên hệ giữa suy thoái hệ sinh thái tự nhiên và gia tăng nguy cơ đại dịch.  Trung bình mỗi năm có năm loại bệnh mới lây nhiễm từ động vật sang người – tất cả đều có nguy cơ bùng nổ thành đại dịch. Chúng ta có thể thấy điều này qua sự xuất hiện của một số dịch bệnh từ thế kỷ trước: virus Ebola (từ dơi ăn quả); AIDS (từ tinh tinh); bệnh Lyme (do bọ ve) và virus Hendra (phát hiện lần đầu tiên tại trường đua ngựa Brisbane, Úc vào năm 1994).   Sự gia tăng số lượng đại dịch không phải là điều ngẫu nhiên. Các hoạt động của con người đang gây sức ép lên môi trường và khiến con người tiếp xúc nhiều hơn với các loài động vật hoang dã. Chẳng hạn như dịch bệnh Ebola, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976, nhưng các đợt bùng phát xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Đợt bùng phát năm 2014-2016 đã giết chết hơn 11.000 người ở Tây Phi. Dù các nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác bản chất lây truyền của Ebola, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nạn phá rừng có liên quan đến các đợt bùng phát trong giai đoạn 2004-2014. Nạn phá rừng đã chia cắt những cánh rừng thành từng mảnh nhỏ, điều này khiến các loài động vật hoang dã – vật chủ lây truyền Ebola tập trung lại với mật độ dày hơn, trở thành “hành lang” duy trì nguồn bệnh và mở rộng quá trình lây nhiễm. Sự phân mảnh rừng cũng làm tăng nguy cơ tiếp xúc giữa con người và động vật hoang dã dọc theo bìa rừng.   Tình trạng tương tự cũng diễn ra trong đại dịch Covid-19 hiện nay. Covid-19 là đại dịch toàn cầu thứ sáu kể từ Đại dịch cúm năm 1918, mặc dù bắt nguồn từ virus trên động vật, sự xuất hiện của Covid-19 hoàn toàn do các hoạt động của con người thúc đẩy, giống như mọi đại dịch khác. “Chẳng có bí ẩn to lớn nào về nguyên nhân của đại dịch Covid-19 – hoặc bất kỳ đại dịch hiện đại nào khác”, TS Peter Daszak, Chủ tịch Liên minh EcoHealth, một trong những tác giả của báo cáo cho biết. “Các hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu và mất mát đa dạng sinh học, đồng thời dẫn đến nguy cơ đại dịch do tác động đến môi trường. Những thay đổi trong việc sử dụng đất; mở rộng và thâm canh nông nghiệp; buôn bán, sản xuất và tiêu dùng không bền vững đã hủy hoại thiên nhiên và gia tăng sự tiếp xúc giữa động vật hoang dã, vật nuôi, mầm bệnh và con người. Đây là con đường dẫn đến đại dịch”.      Covid-19 là đại dịch toàn cầu thứ sáu kể từ Đại dịch cúm năm 1918, mặc dù bắt nguồn từ virus trên động vật, sự xuất hiện của Covid-19 hoàn toàn do các hoạt động của con người thúc đẩy, giống như mọi đại dịch khác. Tính đến tháng 7/2020, chi phí dành cho đại dịch Covid-19 ước tính lên tới 8-16 nghìn tỷ USD trên toàn cầu.      Sự bùng nổ các đại dịch đã khiến nhiều người tử vong và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của các quốc gia trên toàn cầu. Báo cáo cho biết các đại dịch và bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người mới nổi khác có thể gây ra thiệt hại kinh tế hơn 1 nghìn tỷ USD mỗi năm. Tính đến tháng 7/2020, chi phí dành cho đại dịch Covid-19 ước tính lên tới 8-16 nghìn tỷ USD trên toàn cầu.  Phụ nữ và các cộng đồng bản địa là những đối tượng chịu thiệt hại đặc biệt do đại dịch. Nguyên nhân là do hơn 70% nhân viên xã hội và chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu là nữ, và các đại dịch trong quá khứ thường gây thiệt hại nhiều cho người dân bản địa, do sự cô lập về mặt địa lý.     Thay đổi mối quan hệ với môi trường  Trước thực tế này, các quốc gia đã tìm nhiều giải pháp ứng phó với đại dịch. Tuy nhiên, thay vì tìm hiểu nguồn gốc lây lan đại dịch, các chính phủ trên thế giới chủ yếu tập trung vào việc ứng phó – thông qua phát hiện sớm, ngăn ngừa lây lan và hy vọng vào sự phát triển nhanh chóng của vaccine và thuốc. Đại dịch Covid-19 đã cho chúng ta thấy, “đây là một con đường chậm chạp và không chắc chắn, trong lúc người dân trên toàn cầu đợi có vaccine, chi phí con người đang tăng lên, những sinh mạng mất đi, bệnh tật, suy thoái kinh tế và mất kế sinh nhai đang tiếp tục diễn ra”.  Cách tiếp cận này cũng gây ra suy thoái về đa dạng sinh học, chẳng hạn, dẫn đến việc tiêu hủy số lượng lớn các loài động vật được xác định mang mầm bệnh. Sau khi dịch SARS bùng phát vào năm 2002-2004, hàng chục nghìn động vật hoang dã ở Trung Quốc đã bị tiêu hủy, đến nay loài dơi tiếp tục bị thảm sát sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát.  Nhìn từ những kinh nghiệm trong quá khứ, báo cáo của IPBES đã đề xuất cách tiếp cận bền vững và giải quyết vấn đề tới tận gốc rễ hơn, bao gồm việc thành lập một hội đồng quốc tế để giám sát hoạt động ngăn chặn đại dịch; dành các nguồn kinh phí để bảo tồn đa dạng sinh học; đầu tư vào nghiên cứu và giáo dục. Các chuyên gia hy vọng, những thay đổi về mặt thể chế này sẽ giúp hạn chế sự bành trướng của các ngành công nghiệp đang tàn phá rừng như sản xuất dầu cọ, khai thác gỗ và chăn nuôi gia súc.  Họ ước tính, để triển khai toàn diện chiến lược nhằm giảm nguy cơ đại dịch trong tương lai sẽ tiêu tốn khoảng 40-58 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp các quốc gia giảm bớt thiệt hại kinh tế do các đại dịch gây ra lên tới hàng nghìn tỷ USD mỗi năm.  “Tôi nghĩ điều thực sự quan trọng là hiểu được quy mô hành động mà chúng ta phải thực hiện”, Lee Hannah, một nhà khoa học ở Tổ chức bảo tồn quốc tế (Hoa Kỳ) cho biết. “Đây không phải là việc nỗ lực thêm một bậc nữa mà là tín hiệu cho chúng ta thấy mình phải hành động ở cấp độ cao nhất từ trước tới nay”. TS Enric Sala ở National Geographic Society, một tổ chức giáo dục và khoa học phi lợi nhuận có trụ sở ở Hoa Kỳ bổ sung: “Chúng tôi cần sự đồng thuận của tất cả các quốc gia. Đặc biệt là những quốc gia sở hữu những vùng hoang dã lớn nhất còn sót lại trên Trái đất, không chỉ là nguồn đa dạng sinh học lớn mà còn là những giải pháp tự nhiên tuyệt vời nhất để giảm thiểu biến đổi khí hậu”.  Ba mươi quốc gia đã cam kết hỗ trợ “Chiến dịch vì Thiên nhiên” (do Hiệp hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ phối hợp với hơn 100 tổ chức bảo tồn trên thế giới khởi xướng) với mục tiêu bảo vệ 30% đất và biển trên toàn cầu vào năm 2030. Tuy nhiên, Brian O’Donnell, giám đốc chiến dịch cho biết, vẫn còn nhiều việc cần thực hiện để đi đến cam kết thực tế. Đền tháng 5/2021, các quốc gia sẽ nhóm họp về Công ước Đa dạng Sinh học của Liên Hiệp Quốc nhằm đề xuất các chiến lược hành động để thực hiện mục tiêu này.  Việc triển khai các kế hoạch này đang gặp khó khăn, một phần do Covid-19 ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, O’Donnell cho biết, việc chậm trễ một năm cũng tăng thêm rủi ro. Bên cạnh đó, “chúng ta vẫn chưa thấy các cam kết tài chính thực tế để bảo tồn thiên nhiên mặc dù các chính phủ đang chi một số tiền lớn nhằm thúc đẩy điều này”, ông nói. Ngoài hạn chế về mặt kinh phí, O’Donnell cho biết, một rào cản lớn là thiếu sự hỗ trợ của các quốc gia đang diễn ra nạn phá rừng nghiêm trọng, chẳng hạn như Brazil.  O’Donnell hy vọng đại dịch Covid-19 sẽ là một “hồi chuông cảnh tỉnh lớn” cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn thiên nhiên. “Chỉ số ít nghe thấy tiếng chuông báo động”, ông nhận xét, tuy nhiên, “quá nhiều người vẫn đang mộng du”.  Bên cạnh việc chỉ ra giá trị của thế giới tự nhiên và động vật hoang dã, Hannah hy vọng báo cáo mới này sẽ giúp các bên liên quan thấy rằng sức khỏe con người là lý do bắt buộc để bảo tồn thiên nhiên. “Có một lý do ích kỷ để làm những việc này, đó là bảo vệ chính chúng ta”, Hannah nhận xét.□  Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://www.ipbes.net/pandemics    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phá rừng khiến làm việc ngoài trời trở nên không an toàn cho hàng triệu người      Vùng nhiệt đới trở nên ngày một nóng hơn do sự kết hợp giữa nạn phá rừng và tình trạng biến đổi khí hậu – và có thể làm giảm khả năng làm việc an toàn ngoài trời của người lao động.      Việt Nam là một trong những quốc gia để xảy ra tình trạng chặt phá rừng. Nguồn: Báo Giao thông  Các nhà nghiên cứu đã nêu kết quả nghiên cứu của mình trên tạp chí One Earth, trong đó ước tính bao nhiêu giờ làm việc an toàn của người dân vùng nhiệt đới đã bị mất do sự thay đổi nhiệt độ địa phương liên quan với việc mất cây trong vòng 15 năm qua 1. “Có sự suy giảm không cân xứng lớn trong những giờ làm việc an toàn liên quan đến phơi nhiễm nhiệt của con người trong những vùng có rừng bị chặt phá chỉ trong vòng 15 đến 20 năm qua”, Luke Parsons, một nhà khoa học khí hậu ở trường đại học Duke nói. “Chỉ một thay đổi nhỏ của biến đổi khí hậu xảy ra trong vòng 15 năm nhưng sự gia tăng của cường độ phơi nhiễm nhiệt ẩm của người sống trong những nơi có rừng bị chặt phá lớn hơn rất nhiều so với biến đổi khí hậu”.  Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy việc phá rừng liên quan đến việc gia tăng nhiệt độ địa phương. Cây cối ngăn bức xạ mặt trời và đem lại bóng mát. Chúng cũng làm mát không khí thông qua việc hóa hơi, một chu trình khi cây cối vận chuyển nước từ đất, sau đó hóa hơi nước khỏi bề mặt lá, tương tư hiện tượng đổ mồ hôi trên da để làm mát.    Một góc rừng Amazon năm 2017. Nguồn: phys  “Cây ở vùng nhiệt đới dường như giới hạn với các mức nhiệt độ cực đại mà không khí có thể đạt tới. Một khi chúng ta hạ cây xuống thì chúng ta sẽ mất đi khả năng làm mát tự nhiên và có thể phải đón nhận không khí nóng”, Parsons nói. “Tại rừng Amazon của Brazil, nơi những diện tích lớn của rừng mưa nhiệt đới đã bị làm sạch trong vòng 15 đến 20 năm, vào buổi chiều có thể nóng hơn 10 độ so với những nơi vẫn còn rừng”.  Nghiên cứu trên tạp chí One Earth đã tiến một bước xa hơn và ước tính số người sống ở những nơi bị ảnh hưởng bởi tình trạng nhiệt độ nóng lên do chặt phá rừng. Sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh và các quan sát khí tượng, Parsons và đồng nghiệp đã dò theo các mức nhiệt độ và độ ẩm của vùng trong 94 quốc gia có vĩ độ thấp có rừng nhiệt đới ở châu Mĩ, châu Phi và châu Á từ năm 2003 đến năm 2018.  Họ ước tính rằng tại các vùng có rừng bị phá hiện nay, khoảng năm triệu người mất it nhất nửa giờ làm việc an toàn mỗi ngày- khi thời tiết bên ngoài trở nên quá nóng và ẩm ướt khiến công việc lao động trở nên nặng nhọc. Trong số này có ít nhất 2,8 triệu người làm việc ngoài trời làm việc tay chân trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng. Các công việc “thổ mộc” làm tăng lượng nhiệt bên trong cơ thể con người, vón kết hợp với độ ẩm và cái nóng của môi trường, làm tăng nguy cơ căng thẳng do nhiệt và bệnh liên quan đến nhiệt, bao gồm đột quỵ do nhiệt, vốn có thể dẫn đến tử vong.    15 năm qua, tình trạng phá rừng ở Amazon đã trở nên đáng báo động. Nguồn: phys  “Những vùng nhiệt đới đang ở trên đà trở nên quá ẩm và quá nóng với an toàn lao động bởi biến đổi khí hậu. Việc phá rừng có thể thúc đẩy những vùng này vượt qua nó để rơi vào môi trường làm việc thậm chí còn thiếu an tòan hơn”, Parsons nói.  Nghiên cứu này cũng ước tính có gần 100.000 người sống ở vùng nhiệt đới mất hơn hai giờ làm việc an toàn do nhiệt độ gia tăng liên quan đến tình trạng phá rừng, và hơn 90% trong số này sống ở châu Á. Parsons giải thích, sự phân bố không cân xứng này là do mật độ dân số đông của châu Á.  “Tôi nghĩ nghiên cứu này mang một thông điệp nhiều nghĩa”, ông nói. “Điều đáng buồn là nếu chúng ta chặt cây, chúng ta không chỉ gây ra những vấn đề cho hệ sinh thái và phát thải carbon toàn cầu mà chúng ta có thể mấ đi các ‘dịch vụ’ làm mát tự nhiên của các vùng đất, vốn đã đem lại một nơi thoải mái và an toàn để làm việc. Nhưng điều tích cực là nếu chúng ta coa thể ngăn tình trạng phá rừng, chúng ta có thể duy trì được các ‘dịch vụ’ làm mát tự nhiên cùng với tất cả những lợi ích mà rừng có thể đem lại. Quan trọng hơn, mối liên hệ giữa sự tươi tốt của rừng và sức khỏe của người dân dịa phương có thể đem lại đề xuất về việc bảo vệ rừng”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-years-deforestation-outdoor-unsafe-millions.html  https://phys.org/news/2021-11-deforestation-local-temperatures-degrees-celsius.html  ———————–  1. https://www.cell.com/one-earth/fulltext/S2590-3322(21)00664-3       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phá vỡ kỷ lục về khoảng cách viễn tải lượng tử      Các nhà vật lý tại Viện Tiêu chuẩn và Công  nghệ Quốc gia Mỹ (NIST) vừa phá vỡ kỷ lục viễn tải lượng tử khi có thể  truyền thông tin từ một photon tới một photon khác trên chặng đường hơn  102 km cáp sợi quang – xa gấp bốn lần so với kỷ lục cũ.    Viễn tải lượng tử được xây dựng dựa trên rối lượng tử. Khi các phân tử hạ nguyên tử gần nhau bị vướng vào nhau, chúng sẽ dính với nhau mãi mãi, ngay cả khi bị tách khỏi nhau. Khi một phân tử này truyền thông tin lượng tử cho phân tử khác, về bản chất đó chính là phân tử tự thực hiện viễn tải lượng tử cho nó.    Để phá vỡ kỷ lục về khoảng cách, các nhà khoa học ở NIST đã phải dùng đến một máy dò rất nhạy cảm. Marty Stevens, thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết: “Chỉ có khoảng 1% trong số các photon có thể đi qua sợi quang dài 100km. Chúng tôi sẽ không thể thực hiện được thí nghiệm này nếu không có những máy dò mới kia, chúng có thể đo được tín hiệu rất yếu này.”    Mục đích cuối cùng của viễn tải lượng tử nhằm thực hiện mật mã lượng tử. Dưới đây là một định nghĩa của tạp chí Physics World:    Mật mã lượng tử bao gồm hai phần tử cùng có chung một chiếc chìa khóa bí mật được tạo ra từ việc sử dụng các trạng thái của các phân tử lượng tử chẳng hạn như photon. Khi đó, các bên tham gia liên lạc có thể trao đổi thông điệp cho nhau bằng các phương thức thông thường nhưng với mức độ an ninh được bảo đảm tuyệt đối nhờ việc mã hóa thông tin bằng chiếc chìa khóa bí mật. Nếu có kẻ nghe lén muốn tìm cách chặn chiếc chìa khóa đó sẽ phải phá hủy các trạng thái lượng tử, và như vậy kẻ đó sẽ tự động để lộ tung tích của mình. Về lý thuyết, không thể lấy trộm những thông tin được mã hóa theo phương pháp này. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi rất nhiều người đang nóng lòng muốn nó trở thành khả thi. Nhưng trước tiên, các nhà khoa học sẽ phải nghiên cứu cách thực hiện viễn tải lượng tử một cách tin cậy hơn nữa, và ở khoảng cách xa hơn nữa. Các nhà khoa học ở NIST hiện đang nghiên cứu tạo ra nhiều máy dò nhạy cảm hơn để thực hiện được điều đó.   Trang Bùi dịch theo washingtonpost.com     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phác thảo chính sách cho tài năng KH&CN      Đề án Chính sách sử dụng và trọng dụng, phát huy tài năng cán bộ KH&amp;CN giai đoạn 2006–2010 đang được Bộ KH&amp;CN nỗ lực hoàn thiện. Với mong muốn có được ý kiến đóng góp của các nhà quản lý trong lĩnh vực KHXH, ngày 20/10, Nhóm chuyên gia Bộ KH&amp;CN đã thảo luận với Viện KHXH về bản đề cương của Đề án.    Khoanh vùng đội ngũ cán bộ tài năng  Điều đầu tiên cần chú ý đến đối tượng của đề án là cán bộ KH&CN có tài năng. Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng thế nào là “người tài”. Theo ý kiến của ông Đỗ Tiến Sâm (Viện nghiên cứu Trung Quốc), cần phải xác định nội hàm khái niệm “nhân tài”. Những người có tài nhưng không nghiên cứu, những người tham gia viết báo, tham gia nghiên cứu nhưng không có kết quả có thuộc phạm vi được trọng dụng của Nhà nước hay không, đến nay vẫn còn gây tranh luận. Các ý kiến cũng cho rằng cái thiếu nhất của chúng ta không phải là người tài, người có khả năng mà thiếu nhất là xây dựng cơ chế cho từng loại. Để trên cơ sở đó, có được quy trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, trọng dụng người tài. Hiện nay có một thực tế đáng buồn là chúng ta đang sống trong môi trường mà tri thức thực sự chưa được đãi ngộ thỏa đáng. Vấn đề là chúng ta thiếu tiêu chí, chuẩn mực, hệ giá trị để đánh giá. Đã đến lúc có chính sách trọng dụng tài năng, đánh giá đúng đắn công sức, thành quả của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực, cả KHTN, KHCN, KHXH&NV. Hơn nữa, cũng cần xác định, phân loại các nhà khoa học. Họ là những người làm việc trong các viện nghiên cứu hay cả những nhà khoa học tham gia công tác giảng dạy, những nhà khoa học tham gia công tác quản lý?… Cũng theo ông Sâm, ở Trung Quốc, người ta chia nhân tài thành 4 nhóm: nhân tài trực tiếp tham gia sản xuất vật chất, nhân tài nghiên cứu khoa học, truyền thụ tri thức, nhân tài quản lý và các sinh viên, nghiên cứu sinh xuất sắc trong các trường đại học. Điều quan trọng là phải nắm được đội ngũ ấy như thế nào. GS. Vũ Đình Cự cho biết: “Từ trước đến nay chúng ta chưa có được cơ sở dữ liệu tổng hợp về đội ngũ các nhà khoa học. Chúng ta có hơn 10 ngàn tiến sĩ, 14 ngàn thạc sĩ, và hơn 2 triệu người tốt nghiệp đại học song nếu có người hỏi hơn 10 ngàn tiến sĩ ở đâu, thuộc ngành nào, họ đang làm gì thì chưa có được câu trả lời. Có số liệu song còn lẻ tẻ, khu biệt ở từng bộ, ngành và chưa có được thống kê đầy đủ”. Bởi vậy, nội dung đầu tiên trong bản đề án chính là: “Xây dựng cơ sở dữ liệu về đội ngũ cán bộ KH&CN”.  Đề án cũng tập trung vào đối tượng khá rộng: Có chính sách cho cán bộ khoa học đã nghỉ hưu, có chính sách cho cán bộ khoa học trẻ, có chính sách cho các nhà khoa học Việt Kiều, có chính sách cho những người có tài năng đặc biệt trong một lĩnh vực nhất định… Trong đó, đầu tư cho đội ngũ cán bộ trẻ là mục tiêu quan trọng mà đề án hướng tới, bởi đây chính là lực lượng nòng cốt cho nền khoa học hiện đại. Ông Nguyễn Thiết Sơn (Viện nghiên cứu châu Mỹ) phát biểu: “Hiện nay nhóm cán bộ nghiên cứu đã tập hợp được những chuyên gia đầu ngành, có kinh nghiệm song còn thiếu vắng những nhà khoa học trẻ. Vấn đề ở đây là phải thay đổi tư duy, cần trẻ hóa đội ngũ cán bộ khoa học để thích ứng với môi trường khoa học năng động trong xu thế hội nhập thế giới”.  Lương là sự đầu tư có lãi nhất   Hiện nay thu nhập của các nhà khoa học của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Lương của Giáo sư Viện trưởng Việt Nam chỉ bằng 1/10 lương của Giáo sư Viện trưởng Trung Quốc. Điều này đặt ra nhiều câu hỏi: Đóng góp của Viện trưởng Việt Nam có thua kém Viện trưởng Trung Quốc hay không? Các nhà khoa học Việt Nam đã được trọng dụng đúng hay chưa? Có đề xuất từ nay đến năm 2010, mức lương của các nhà khoa học sẽ được tăng đến khoảng 1000 USD. Bởi vậy, các ý kiến đều hướng đến chính sách đãi ngộ (nhất là về tiền lương) cho các nhà khoa học, giúp họ ổn định về đời sống vật chất có điều kiện đi sâu nghiên cứu, dành hết tâm huyết để cống hiến. Theo ý kiến của ông Đinh Bộ Lĩnh (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á) nên coi lương là một sự đầu tư, là một sự đầu tư cho khoa học có lãi nhất. Và hơn hết, tất cả các chính sách không nên biến thành đặc quyền đặc lợi cho các nhà khoa học, mà chính sách ấy phải dựa trên đặc thù của nước ta. Điều quan trọng nhất là phải xuất phát từ đặc điểm đất nước, các chính sách đều không thể thoát ly khỏi đặc điểm kinh tế Việt Nam. Ở Thái Lan, mức thu nhập bình quân hàng tháng của các nhà khoa học hiện nay là 2500 USD, song chính họ cũng chưa có được đội ngũ cán bộ khoa học có “tầm”. Nếu làm phép so sánh ở đây, các nhà khoa học Việt Nam với mức lương 1000 USD liệu có tạo dựng được một đội ngũ nhân tài khoa học xứng đáng cho đất nước hay không? Theo ông Nguyễn Thiết Sơn, bản đề án còn khá rụt rè vì không đưa ra hệ thống lương cụ thể, cần có sự khác biệt giữa mức lương của những người tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp nghiên cứu sinh. Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có được bậc lương riêng cho những người được đào tạo sau đại học nên các cơ quan ban ngành liên quan cần xem xét lại.  Nhiều ý kiến cho rằng chính sách đãi ngộ tài năng nên tập trung tới các khía cạnh: thu nhập cho các nhà khoa học, môi trường, điều kiện làm việc và chính sách tôn vinh thỏa đáng đối với những thành tựu, cống hiến của giới khoa học. Ngoài đãi ngộ về mặt vật chất, chính sách cũng tập trung đến việc động viên về mặt tinh thần cho các nhà khoa học bằng cách tôn vinh qua các giải thưởng, danh hiệu. Việc làm này vừa thể hiện sự tôn trọng, đánh giá đúng tài năng, vừa khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học có nhiều đóng góp có ý nghĩa cho đất nước. Không chỉ có vậy, làm tốt công tác tuyên truyền, tạo được dư luận xã hội tốt cho các nhà khoa học cũng là một việc cần chú trọng thực hiện.   Song bên cạnh đó cũng phải chú ý đến việc đãi ngộ sao cho phù hợp với tình hình thực tế. Không nên để các nhà khoa học bị ràng buộc, lệ thuộc bởi các chính sách về đất đai, nhà cửa, tiền lương, và những nhu cầu khác của đời sống vật chất.    Tìm hướng đi cho thành quả của các nhà khoa học  Một thực tế đặt ra là việc tìm đầu ra cho các sản phẩm của các nhà khoa học cũng là một trong những vấn đề được các lãnh đạo KHXH quan tâm. Các ý kiến đều xoay quanh việc nên chăng đề án cần có cam kết cụ thể, rõ ràng về sản phẩm của các nhà khoa học. Bởi hiện nay, như bên ngành KHXH, có những công trình, những đề tài chưa được thực thi, những cuốn sách chưa được xuất bản. Theo ông Nguyễn Xuân Kính (Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian) cần chú trọng hơn nữa đến tính dân chủ trong khoa học xã hội. Bởi với đặc thù của ngành, “nếu không có được sự bảo đảm sẽ dễ trở thành nghiên cứu giáo điều. Cần tự do trong nghiên cứu KHXH. Có những người nghiên cứu 10 năm nhưng không có sản phẩm cũng không thể đánh giá họ kém được”. Một cơ chế dân chủ trong khoa học sẽ giúp các nhà nghiên cứu giải phóng tư tưởng, tạo cho họ một môi trường tranh luận lành mạnh. Ông Đỗ Tiến Sâm nhấn mạnh: “Nếu coi KH&CN là “sức mạnh cứng” của đất nước thì phát triển KHXH là giải pháp quan trọng tăng “sức mạnh mềm” của đất nước, có như vậy mới mong “góp phần đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển” như mục tiêu mà chính sách đã đề ra”.    Ngoài những quan điểm trên, các ý kiến cũng góp ý bản đề án nên có thêm phần đánh giá thực trạng chính sách sử dụng, trọng dụng, phát huy tài năng cán bộ nghiên cứu KH&CN, tổng kết trong 20 năm đổi mới, những ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm để có kiến nghị, có cơ sở xây dựng chính sách mới cho phù hợp. Và với quy mô của đề án khá lớn như vậy thì vấn đề thời gian cũng cần cân nhắc lại khi mục tiêu của đề án đặt ra là: “Xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học và nền KH&CN đạt trình độ tiên tiến trong khu vực vào khoảng năm 2010”. Ngoài ra, đội ngũ chuyên gia cũng cần có sự cân bằng giữa KHTN, KHCN với KHXH&NV. Chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ cũng nên phân thành nhóm, ngành theo đặc thù và phải chú trọng đến vấn đề liên ngành.  ————–  Chú thích ảnh: GS. Vũ Đình Cự đang nghe các ý kiến  – Xây dựng tiêu chí đối với đối tượng cụ thể tương ứng với chính sách ưu đãi cụ thể (Ví dụ Chính sách cấp nhà đất, cử đi đào tạo, cấp kinh phí nghiên cứu…)  – Chính sách cụ thể gắn với trách nhiệm của nhà khoa học (nếu hoàn thành nhiệm vụ được ưu đãi và tôn vinh xứng đáng)  – Chính sách phải dựa vào hiệu quả nghiên cứu, đóng góp cho xã hội (Ví dụ không cần có hệ thống lương riêng biệt, nhưng có chế độ trợ cấp theo kết quả nghiên cứu, có cơ chế thẩm định và đánh giá để trợ cấp đúng đối tượng, không nên hỗ trợ đồng loạt)  – Có chính sách đãi ngộ trong hợp tác quốc tế (ai có thành tích nghiên cứu ở mức nào thì được đi tham quan, thực tập ở nước ngoài bằng tiền ngân sách hay một phần tiền ngân sách, cán bộ được giải thưởng của nước ngoài thì trong nước cũng được khen tương xứng)  – Có chính sách cụ thể cho cán bộ khoa học trẻ. Giao cho cơ quan, tổ chức nào quan tâm theo dõi và hỗ trợ cán bộ trẻ làm khoa học từ khi phát triển đến khi thành đạt. Xây dựng cơ sở dữ liệu về cán bộ trẻ có tài năng…  (Trích một số nội dung của đề cương “Đề án: Chính sách sử dụng và trọng dụng, phát huy tài năng cán bộ KH&CN giai đoạn 2006 – 2010”)    Thúy Hằng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải chăng chúng ta đều xảo quyệt?      Khi còn là một nhà nghiên cứu trẻ, Frans B. M. de Waal đã sớm nhận ra rằng, những cuốn sách giáo khoa mà ông đã từng học không thể giúp ông hiểu được tập tính của loài tinh tinh. Có lẽ sự tư duy theo kiểu Machiavellian* sẽ là một cách tốt hơn giúp Waal hiểu được những gì khi ông quan sát xã hội của loài tinh tinh.    Tôi vẫn cảm thấy băn khoăn và lúng túng trước khái niệm “ý chí quyền lực” (“will to power”) của Friedrich Nietzsche và trước việc vấn đề này có vẻ như là một sự kiêng kị trong xã hội chúng ta. Hầu hết các cuốn sách về tâm lý học thậm chí còn không đề cập đến các khái niệm quyền lực và  thống trị, ngoài sự dính dáng đến các mối quan hệ bất công. Mọi người có vẻ như là vẫn phủ nhận chủ đề này.                     Trong một nghiên cứu về động cơ quyền lực, một nhóm những người có chức tước được hỏi về mối quan hệ của họ với quyền lực. Tất cả họ đều thừa nhận sự tồn tại của tham vọng quyền lực nhưng lại không hề áp dụng điều này cho chính bản thân họ. Họ cho rằng, họ đơn giản là những người được hưởng vị thế có trọng trách lớn, có thanh thế và có uy quyền. Còn những kẻ tham lam, thích tranh quyền đoạt lợi lại là những kẻ khác cơ.  Các ứng cử viên chính trị đều miễn cưỡng như nhau. Họ “bán mình” để trở thành những người đầy tớ của công chúng, chỉ để vực dậy nền kinh tế hoặc cải thiện giáo dục. Đã bao giờ bạn nghe thấy một ứng cử viên nào thừa nhận là ông ấy muốn quyền lực chưa? Cái từ “đầy tớ” làm nảy sinh hai câu hỏi: Có bất cứ ai tin rằng, từ này chỉ phục vụ lợi ích của chúng ta trong một nền dân chủ hiện đại không? Chính các ứng cử viên có tin vào điều này không? Nếu có thì đây đúng là một sự hy sinh đáng chú ý.  Vấn đề này trở nên mới mẻ trong nghiên cứu về loài tinh tinh: chúng là những chính trị gia thật thà nhất, những chính trị gia mà từ lâu tất cả chúng ta vẫn mong ước. Khi nhà triết học chính trị Thomas Hobbes thừa nhận sự tồn tại của một cuộc chạy đua quyền lực không thể kìm hãm được, ông đã nhắm đúng mục tiêu cho cả loài người và loài khỉ. Cứ quan sát cái cảnh tranh giành om xòm của loài tinh tinh, chúng ta sẽ thấy rằng, không thể nào tìm được ở đây những động cơ giấu giếm hay những lời hứa mưu toan.            Khi còn là một sinh viên ít tuổi, tôi đã không được chuẩn bị để chứng kiến cảnh tượng này. Hồi ấy, trong sở thú Arnhem, tôi đã quan sát qua một ô cửa sổ những màn trình diễn của những con tinh tinh trên hòn đảo của chúng. Các sinh viên nói chung là thích sự khác biệt và chống lại khuôn mẫu, mái tóc dài chấm vai của tôi là một thí dụ. Chúng tôi đã coi quyền lực là xấu xa và sự tham vọng là lố bịch. Nhưng việc quan sát những con khỉ đã buộc tôi phải mở rộng suy nghĩ của mình, tôi thấy rằng, mối quan hệ quyền lực không phải là cái gì đó tồi tệ mà thực ra là một điều mang tính căn bản và cố hữu.                     Có lẽ sự bất công không đơn thuần chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Nó dường như là mang một bản chất sâu sắc hơn thế. Ngày nay, điều này có vẻ như tầm thường vô vị, nhưng vào những năm 1970, cách cư xử của con người được xem là tuyệt đối linh hoạt; không phải mang tính tự nhiên mà là mang tính văn hóa. Người ta đã tin rằng, nếu thực sự muốn, chúng ta có thể giải thoát chính bản thân mình khỏi những xu hướng cũ kỹ như sự kỳ thị giới tính, quyền sở hữu vật chất, và vâng, cả tham vọng thống trị nữa.  Không hề biết đến những khái niệm đó, những con tinh tinh của tôi cũng đã minh họa những xu hướng cũ kỹ giống như vậy, nhưng không hề có dấu hiệu của sự xung đột mang tính có nhận thức. Chúng là những kẻ ích kỷ, hay ghen ghét, kỳ thị giới tính, thích giành giật một cách cách thô kệch và đơn giản.  Khi ấy, tôi đã không biết rằng, tôi sẽ nghiên cứu về chúng trong suốt cả cuộc đời hay tôi sẽ không bao giờ lại được ngồi thoải mái trên cái ghế gỗ để quan sát chúng hàng ngàn giờ như thế này nữa. Đó là thời điểm mang tính khai sáng nhất trong cuộc đời tôi. Tôi đã trở nên mải mê đến mức nhiều lần cố gắng để tưởng tượng xem có điều gì đã tác động đến hành vi của những con tinh tinh. Tôi đã bắt đầu mơ thấy chúng hàng đêm, và điều đáng chú ý nhất là tôi đã bắt đầu nhìn mọi người xung quanh mình với một cái nhìn khác.  Tôi là một người quan sát bẩm sinh. Mẹ tôi hầu như không bao giờ phải nói với tôi về những gì bà mới mua cả, bà biết rằng, chỉ cần tôi bước vào phòng, thì trong một vài giây tôi có thể phát hiện ra ngay bất cứ sự thay đổi nào, cho dù sự thay đổi đó là rất nhỏ nhặt. Chẳng hạn như một cuốn sách mới được đặt giữa những cuốn sách khác, hoặc một cái chai mới vừa được để trong tủ lạnh. Tôi làm việc đó gần như vô thức và không có chủ đích.  Tôi thích chú ý đến hành vi của con người. Khi ngồi trong khác sạn, tôi muốn nhìn thấy càng nhiều bàn càng tốt. Tôi thích theo đuổi việc tìm hiểu những động thái xã hội – tình yêu, sự căng thẳng, sự buồn chán, sự ác cảm. Những điều đó diễn ra trong cuộc sống xung quanh tôi, dựa trên ngôn ngữ cơ thể, kiểu ngôn ngữ mà tôi cho là chứa đựng nhiều thông tin hơn lời nói. Tôi theo dõi người khác một cách vô thức, và tôi cũng quan sát thế giới những con khỉ bằng bản năng tự nhiên của mình.    Những quan sát đã giúp tôi nhìn động thái con người dưới ánh sáng của học thuyết tiến hóa. Ở đây, tôi không đơn giản là chỉ nhắc đến tư tưởng Darwin, cái mà mọi người đã được nghe nhiều. Tôi còn muốn để ý đến những điệu bộ vò đầu bứt tai giống khỉ của chúng ta khi gặp phải khó khăn rắc rối.  Tôi cũng đã bắt đầu với vấn đề mà tôi đã từng được học về loài vật: Chúng đơn giản là làm theo bản năng; chúng không mơ mộng gì về tương lai cả; mọi điều chúng làm đều là ích kỷ. Tôi đã không thể làm khớp điều này với những gì tôi nhìn thấy. Tôi đã mất đi khả năng tổng quát hoá về “tinh tinh” theo một cách mà chưa ai từng nói về “con người” theo cách đó. Càng quan sát, tôi càng nhận ra rằng, không có hai con tinh tinh nào hoàn toàn giống nhau cả.  Không thể theo dõi sự trình diễn trong xã hội tinh tinh mà không phân biệt các diễn viên với nhau và tìm cách hiểu được mục đích của chúng. Chính trị của tinh tinh, giống như chính trị của con người, cũng là một vấn đề của những chiến lược cá nhân. Những tài liệu về sinh học không thể giúp gì trong việc hiểu về thủ đoạn xã hội, bởi vì chúng xung khắc với hệ thống ngôn ngữ của những động cơ chính trị. Các nhà sinh học không bao giờ nói đến những dự định hay cảm xúc của những đối tượng mà họ nghiên cứu.  Bây giờ, tôi chuyển sang Niccolò Machiavelli*(1469-1527, được coi là nhà sáng lập khoa học chính trị hiện đại). Tôi đã đọc cuốn Quân vương của Machiavelli, được xuất bản cách đây 4 thế kỷ. Cuốn Quân vương đã đưa tôi tiếp cận đúng hệ tư duy cần thiết để diễn giải những gì tôi đang nhìn thấy ở hòn đảo của loài tinh tinh. Mặc dù, tôi đoán chắc là, bản thân tác giả của cuốn sách cũng chưa bao giờ hình dung ra sự áp dụng nào đặc biệt như thế.  Trong bầy tinh tinh, hệ thống cấp bậc thể hiện ở mọi lúc mọi nơi. Khi chúng ta mang hai con cái vào trong một căn nhà (trong một cuộc thử nghiệm), một con sẽ sẵn sàng ra đi còn con kia sẽ lưỡng lự muốn ở lại. Con thứ hai đủ can đảm để ở lại chờ phần thưởng, và nó sẽ không chạm vào bất cứ thứ gì để trong nhà. Nó hăng hái hơn con kia, và cũng tỏ ra mạnh hơn. Ở đây, không có sự căng thẳng hay thù địch nào cả, và trong một bầy, chúng có lẽ là những người bạn tốt nhất của nhau. Một con đơn giản là ở cấp cao hơn và thống trị con còn lại.  Trong bầy tinh tinh ở Arnhem, con cái đầu đàn Mama thỉnh thoảng cũng củng cố vị trí của nó bằng việc tấn công những con cái khác, nhưng nói chung là nó được thừa nhận và kính trọng mà không cần phải thi đấu. Người bạn tốt nhất của Mama, Kuif, chia sẻ quyền lực với nó, nhưng điều này không giống như sự liên minh của các con đực. Các con cái vươn lên nắm quyền bởi vì cả bầy đều thừa nhận chúng là những nhà lãnh đạo, điều này nghĩa là hầu như không cần phải đánh nhau. Vì địa vị thường là một vấn đề gắn với tuổi và tính chất cá thể nên Mama đã không cần đến Kuif. Kuif đã được hưởng nhưng không đóng góp cho quyền lực của Mama.  Ngược lại, đối với những con đực, quyền lực luôn luôn là đối tượng để giành giật. Nó không phải được phân định dựa trên cơ sở tuổi tác hay bất cứ đặc điểm nào khác mà được phân định dựa trên các trận ẩu đả, đấu tranh gay gắt giữa các định thủ. Nếu các con đực tạo thành liên minh, đó là bởi vì chúng cần có nhau. Địa vị thống trị được xác định bởi việc ai có thể đánh bại ai, không chỉ trên cơ sở cá thể mà là trên cơ sở toàn thể bầy đàn.  Tuy nhiên, một con đực không thể đánh bại các đối thủ của nó một cách đơn thuần để nắm quyền thống trị. Để nắm quyền, một con đực phải cần đến cả sức mạnh vật lý của nó lẫn những kẻ thân cận, những kẻ sẽ giúp nó khi trận chiến trở nên quá khốc liệt. Khi Nikkie là con đầu đàn, thì trợ lý của nó Yeroen là rất quan trọng. Một con tinh tinh già như Yeroen không những có thể kìm lại sự nổi dậy của một con đực khác mà còn có thể giúp Nikkie chặn đứng sự bất mãn và chống đối của nhóm các con cái.   Nhưng vài năm sau, với những sai lầm trong tính toán các chiến thuật phức tạp, Nikkie đã từ bỏ Yeroen vì không chịu nổi con tinh tinh già này, thế là nó mất đi sự hỗ trợ và cũng mất luôn địa vị trong đàn. Nikkie đã đánh giá thấp sự phụ thuộc của nó vào con tinh tinh già. Đây là lý do tại sao mà chúng ta dùng đến từ “các kỹ năng chính trị”.  Quyền lực ở xung quanh chúng ta, liên tục được thừa nhận, liên tục được tranh cãi và cũng đã được nhận thức với độ chính xác cao. Nhưng các nhà khoa học xã hội, các chính trị gia và thậm chí cả những người không có chuyên môn đều coi nó như một vấn đề nan giải. Chúng ta vẫn thích che đậy những động cơ của mình. Và bất cứ ai giống như Machiavelli, phá bỏ “lời nguyền” này và sẵn sàng bộc lộ những động cơ của mình thì đều có khả năng làm ảnh hưởng đến danh tiếng của chính mình. Không ai muốn bị gọi là Machiavellian mặc dù hầu hết chúng ta đều như vậy.    Trung Trung dịch từ The Chronicle of Higher Education                       ————–  * Niccolò Machiavelli (1469-1527) được coi là một trong những nhà sáng lập khoa học chính trị hiện đại. Machiavellian là tính từ thuộc hệ tư tưởng của Machiavelli. Ngoài ra “Machiavellian” còn trở thành một từ phổ biến trong xã hội, nó có nghĩa là “Kẻ xảo quyệt.” (ND)  Frans B. M. De Waal    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải dám chấp nhận rủi ro      Giáo sư Jeorome Isaac Friedman là nhà vật lý người Hoa Kỳ, làm việc tại Học viện Công nghệ Massachusets. Friedman nhận giải thưởng Nobel năm 1990 cùng với Richard E. Taylor và Henry W.Kendall nhờ một loạt các thí nghiệm diễn ra từ năm 1967-1973, tìm ra hạt cơ bản được xem là “viên gạch” của vật chất: hạt quark (chứ không phải là neutron hay proton như trước đây người ta nghĩ trước đó). Giáo sư Friedman đã có cuộc trao đổi với PV Nguyễn Văn Minh nhân dịp ông sang Việt Nam dự Olympic Vật lý quốc tế lần thứ 39 (IPhO 39).    GS có thể cho biết ông bắt đầu yêu thích vật lý như thế nào? Và GS có gặp khó khăn gì trong quá trình học vật lý hay không?  Khi còn học phổ thông, tôi mơ ước trở thành một họa sỹ và đã theo học một lớp đặc biệt để chuẩn bị thi vào trường hội họa. Và đương nhiên là, tôi học rất ít về toán, còn đối với vật lý, thậm chí còn ít hơn. Khi học lớp 12, tôi bắt đầu thấy thích vật lý sau khi đọc một cuốn sách về lý thuyết tương đối của Albert Einstein. Môn học này ngay lập tức lôi cuốn tôi và thay vì nhận một học bổng để theo học về nghệ thuật ở Học viện nghệ thuật Chicago, tôi quyết định theo học vật lý ở Đại học Chicago. Lúc đầu tôi cũng gặp khá nhiều khó khăn bởi nền tảng toán học quá kém, thế rồi nhờ chăm chỉ, tôi cũng vượt qua được tất cả.  GS có thể nói ngắn gọn việc tìm ra hạt quark cho một người không hiểu biết nhiều về vật lý?  Trong suốt sự nghiệp của mình, tôi chỉ nghiên cứu về các hạt nhỏ nhất và các lực liên kết chúng với nhau với mục đích là chứng minh định luật căn bản nhất của tự nhiên bằng thực nghiệm.  Trước đây proton và neutron, những hạt cấu thành nên nguyên tử, vẫn luôn được coi là các hạt cơ bản. Nhưng qua các thí nghiệm chúng tôi phát hiện là còn có những hạt nhỏ hơn, tạo nên hạt proton và neutron, đó là các hạt quark, đồng thời những nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra được một số tính chất của lực liên kết các hạt quark đó với nhau. Điều này dẫn đến một chuyên ngành lý thuyết về  “Động học đồng cực lượng tử”, mô tả về loại lực siêu mạnh gắn kết các hạt quark với nhau và tạo thành hạt nhân nguyên tử. Hạt quark và lý thuyết về động học đồng cực lượng tử trở thành cơ sở cho Mô hình chuẩn của các hạt vật lý, là mô hình có thể giải thích được các hiện tượng vật lý hạt năng lượng cao.  Cảm xúc đầu tiên khi GS biết mình nhận giải Nobel là gì? Ông có ngạc nhiên? Lúc đó ông đang ở đâu?  Tôi đã hết đỗi ngạc nhiên. Tôi gần như không thể tin được điều này. Lúc đó tôi đang ở Fort Worth, Texas để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo vật lý.    Theo GS làm thế nào để khuyến khích trẻ em theo học vật lý khi mà phần lớn chúng đều cho rằng vật lý thật rắc rối và khó hiểu?  Tôi đến với vật lý bởi sự tò mò đối với các hiện tượng tự nhiên. Tôi nghĩ chúng ta có thể làm trẻ em thích vật lý nếu chúng ta giúp chúng hiểu được hết các điều bí ẩn trong tự nhiên. Chúng ta cũng có thể dạy chúng thông qua cách đặt câu hỏi về các hiện tượng xảy ra xung quanh ta. Chúng ta cũng nên giải thích cho chúng hiểu, bằng một cách đơn giản nhất, về các vật dụng thường ngày dựa trên vật lý như điện thoại di động, radio, TV… Điều này giúp vật lý gần gũi với cuộc sống của chúng. Để làm cho trẻ cảm thấy yêu thích bất cứ ngành khoa học nào, điều đầu tiên là phải kích thích được trí tưởng tượng của chúng.  GS có lời khuyên nào dành cho các nhà khoa học trẻ, những người đang tiếp bước ông?    Đến với khoa học, tức là bạn phải thực sự yêu thích và chỉ làm việc với những gì khiến bạn cảm thấy thích thú. Nếu bạn đang đi theo một hướng mới và người ta khuyên bạn là không nên, bạn hãy dám tin vào chính mình. Bạn phải biết chấp nhận rủi ro nếu như bạn muốn làm được điều gì đó thực sự có ý nghĩa.    Theo GS đâu là phẩm chất tạo nên một nhà khoa học lớn?  Có rất nhiều phẩm chất để tạo nên một nhà khoa học vĩ đại. Trong đó chắc chắn phải có tính tò mò, tiếp đó là tính cởi mở để chấp nhận những ý tưởng mới, rồi đến khả năng chịu đựng hy sinh vì công việc và cuối cùng là phải dám chấp nhận mạo hiểm.    Cảm ơn GS về cuộc trao đổi này!  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải tiếp tục tìm hiểu về nguồn gốc COVID sau báo cáo của WHO      Các nhà khoa học cho rằng việc săn tìm nguồn gốc đại dịch COVID phải được tiếp tục, sau khi một đoàn chuyên gia của WHO tới Trung Quốc không tìm ra được lời giải cho những câu hỏi chính về việc coronavirus bắt đầu lây nhiễm lên con người như thế nào.      Quang cảnh buổi họp báo kéo dài ba tiếng đồng hồ sau khi kết thúc chuyến điều tra của WHO tại Trung Quốc.   Sau cuộc họp báo vào ngày 9/2 tại Vũ Hán,Trung Quốc, các thành viên của đoàn chuyên gia WHO đã báo cáo một loạt kết luận từ cuộc điều tra về nguốn gốc của coronavirus tại đất nước này, vốn được nhắc đến như một căn bệnh bí ẩn trong tháng 12/2019. Các nhà nghiên cứu đã bác bỏ một giả thiết gây tranh cãi là virus này bị “sổng” một cách tình cờ khỏi một phòng thí nghiệm, và đề xuất là SARS-CoV-2 có lẽ được truyền cho người từ một vật chủ trung gian – ngay lập tức trở thành giả thiết được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, đoàn điều tra còn đề xuất hai giả thuyết khác do chính phủ Trung Quốc xúc tiến: có thể là virus này, hoặc là tổ tiên của chúng, đến từ một loài vật ở ngoài Trung Quốc, và một khi virus được lưu hành trên người thì nó có thể lan truyền sang con khác trên động vật hoang dã bị đông lạnh hoặc hàng hóa đông lạnh. Giả thiết này đã được truyền thông Trung Quốc thúc đẩy.  Giới khoa học có đánh giá khác nhau về những phát hiện của cuộc điều tra này. “Vẫn còn có những tảng đá lớn cần được nhấc lên bởi bất kỳ cuộc điều tra nào về nguồn gốc của virus không thể nào hoàn thành trong vòng hai tuần,” Angela Rasmussen, một nhà virus học tại trường đại học Georgetown, nói. “Nhưng điều quan trọng là điều này đã đặt ra công việc nền tảng cho một điều tra dài hơn trong sự hợp tác với chính quyền Trung Quốc”.  Một số nhà nghiên cứu nói đoàn chuyên gia, bao gồm 17 người Trung Quốc và 17 chuyên gia quốc tế, dường như đã đặt nhiều câu hỏi và truy cập vào một lượng lớn dữ liệu. “Dường như đoàn WHO và đồng nghiệp Trung Quốc của họ đã triển khai một cách tiếp cận dựa trên sự đo lường, xem xét dữ liệu sẵn có một cách thích hợp và trao đổi với đúng người,” David Robertson, một nhà vi trùng học tại trường đại học Glasgow, Anh, nói. Robertson cho biết ông hi vọng các chi tiết chính xác hơn sẽ được công bố trong báo cáo của đoàn, vốn đang được giới khoa học chờ đợi.  Không thoát ra từ phòng thí nghiệm  Nhưng các nhà khoa học khác cho biết vẫn chưa rõ bằng chứng mà nhóm chuyên gia sử dụng để đưa ra những kết luận của họ. Các phát hiện không làm thay đổi bức tranh đã có là virus có nguồn gốc từ động vật, Nikolai Petrovsky, một nhà miễn dịch học tại trường đại học Flinders ở Adelaide, nói với Trung tâm truyền thông khoa học Úc. Và đánh giá dường như đi xa hơn bởi nó nhấn mạnh đến hai giả thuyết mà chính quyền Trung Quốc thúc đẩy. Petrovsky cho rằng bằng chứng giới hạn cho ý tưởng sự lan truyền sớm ở Trung Quốc có liên quan đến chuỗi hàng hóa đông lạnh như thịt “vượt ra ngoài dữ liệu tương đối yếu đã có trong phạm vi công khai”. Tuy vậy ông cũng biết là nhóm chuyên gia có lẽ có được sự truy cập vào thông tin mà hiện chưa được công khai.    Đoàn chuyên gia WHO đi kiểm tra thực địa tại chợ cá Huanan.  Dominic Dwyer, một nhà vi trùng học tại Trung tâm bệnh lý y học New South Wales và là một thành viên của đoàn chuyên gia WHO, nói có một số bằng chứng cho thấy coronavirus có thể lan truyền trên cá và thịt bị nhiễm bẩn ở các chợ ở Trung Quốc, và nhiều chi tiết sẽ được đưa vào báo cáo.  Một trọng tâm khác của chuyến đi là điều tra ý tưởng virus thoát ra khỏi một phòng thí nghiệm  – có kịch bản mà họ nói là không thể. Peter Ben Embarek, một nhà khoa học về an toàn thực phẩm phụ trách đoàn chuyên gia, nói là đoàn đã thực hiện những cuộc thảo luận mở rộng với các thành viên của Viện Vi trùng Vũ Hán (WIV), vốn là trung tâm của suy đoán, và tới nhiều phòng thí nghiệm khác ở Vũ Hán. Ông nói sự thoát ra là không thể bởi vì các nhà khoa học không biết về virus trước tháng 12/2019.  Dwyer nói, đoàn chuyên gia không thấy chứng cứ nào cho thấy virus từ một phòng thí nghiệm. “Hiện tại liệu chúng ta đã chứng tỏ được tất cả mọi điều không? Anh không bao giờ có thể biết được. Đoàn không được thiết kế để đến và làm một cuộc thẩm tra thực tiễn công việc của một phòng thí nghiệm theo kiểu pháp y.”  Cuộc điều tra đã cung cấp nhiều nội dung hơn và cái nhìn thấu suốt hơn vào những gì đã xảy ra ở Vũ Hán, Jason Kindrachuck, một nhà vi sinh vật tại trường đại học Manitoba, nhận xét. Nhưng sự chia rẽ giữa giả thiết “nhảy ra từ phòng thí nghiệm” và “nguồn gốc tự nhiên” đã trở nên sâu sắc hơn vì đại dịch tiến triển và trở nên mang màu sắc chính trị hơn, ông cho biết thêm. “Không nên đổ thêm dầu vào lửa nữa.”  Các trường hợp ban đầu ở Vũ Hán  Cuộc điều tra đặt mối quan tâm vào những ngày đầu của đại dịch ở Vũ Hán – nơi những trường hợp của một “chứng bệnh do virus gây ra” được nhắc đến trong tháng 12/2019 – và cố gắng hạ bớt sự chú ý trong thời điểm những trường hợp bị lây nhiễm đầu tiên ở thành phố này. Đoàn WHO đã xem xét các hồ sơ bệnh án trong thành phố và cả vùng với những thay đổi bất thường về những căn bệnh giống cúm và nhiễm trùng đường hô hấp nặng, việc mua thuốc trị ho và cảm lạnh, tình trạng tử vong liên quan đến viêm phổi vào nửa cuối năm 2019. Họ cũng xem lại việc xét nghiệm mẫu RNA của virus SARS-CoV-2 lấy từ 4.500 bệnh nhân, và phân tích các mẫu máu có khang thể chống lại virus. Trên cơ sở các phân tích đó, họ không tìm thấy bằng chứng về việc virus lưu hành trong thành phố trước tháng 12/2019.  Nhưng việc vẫn còn thiếu những dấu hiệu rõ ràng về việc lây truyền không có nghĩa là virus này không có mặt trong cộng đồng vào thời điểm đó, Dwyer nói. Phân tích của đoàn đã dựa trên cơ sở dữ liệu có giới hạn và một hệ thống giám sát không được thiết kế để “tóm” một virus có thể đã lan truyền một cách lặng lẽ. Để đánh giá một cách chính xác là virus có mặt ở đây sớm hơn tháng 12 không, các nhà nghiên cứu có thể phải dò những gì đã diễn ra ở cộng đồng rộng lớn hơn, không chỉ trong các cơ sở y tế, ông thừa nhận.  Và dẫu đoàn điều tra có đi theo thuyết virus có nguồn gốc động vật thì họ cũng không nhận diện được loại động vật có thể truyền virus sang người. Ben Embarek nói cac nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thử nghiệm nhiều loại động vật được nuôi trong nhà, nuôi trong trang trại và động vật hoang dã trong đất nước nhưng không tìm thấy bằng chứng cho thấy virus đã hiện diện hoặc tiếp tục lưu hành trên các loài đó.  Petrovsky cho rằng phát hiện về lan truyền từ động vật có thể là một bài học quan trọng: “Nếu đại dịch này là từ một sự kiện lan truyền từ tự nhiên thì chúng ta có thể chờ đợi những lan truyền tương tự liên quan đến các coronavirus từ những vật chủ tương tự sang người trong những năm tới.”  Cần xem xét thêm  Đoàn WHO cho biết là các điều tra ở Vũ Hán và vùng lân cận cần phải được tiếp tục, cụ thể là dõi theo những trường hợp đầu tiên, vốn có thể giúp hiểu về cách đại dịch bắt đầu như thế nào. Họ đề xuất phân tích các mẫu cũ hơn từ các ngân hàng máu trong vùng và những vùng lân cận, bao gồm sử dụng các xét nghiệm kháng thể có thể đưa ra những truy dấu lây nhiễm.  Các nhà nghiên cứu cũng cho biết cần nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về vai trò có thể của việc đông lạnh các dạng sống tự nhiên trong lan truyền virus và liệu con người có bị lây nhiễm qua chu trình nay không. Các xét nghiệm mở rộng hơn về động vật có thể đóng vai trò là ổ bệnh cũng cần được tiến hành, đoàn WHO lưu ý.  “Tôi đã nghe nhiều về các kế hoạch nghiên cứu như vậy,” Rasmussen nói. Có nhiều mẫu virus được lưu trữ trong các phòng thí nghiệm chưa được giải trình tự nhưng cần có kế hoạch và tiền bạc, bà cho biết.  Giới khoa học cho biết lời khuyên của đoàn WHO về việc mở rộng tìm kiếm nguồn gốc virus ngoài Trung Quốc là đúng đắn, đặc biệt là một số báo cáo mới về coronavirus là họ hàng gần với SARS-CoV-2 được tìm thấy trên dơi ở Nhật Bản, Campuchia và Thái Lan.  Trong một nghiên cứu xuất bản trên Nature Communications vào ngày 9/2, các nhà khoa học đã báo cáo một phát hiện ra loài coronavirus mới với tên gọi RacCS203 có trên dơi (Rhinolophus acuminatus) bắt được trong một hang động ở Đông Thái Lan vào tháng 6/2020. 91,5% hệ gene của virus này tương đồng với hệ gene của SARS-CoV-2. Dẫu không gần gũi với virus gây ra đại dịch nhưng phát hiện này cho thấy những virus họ hàng gần của nó lưu hành tại Đông Nam Á. “Không nghi ngờ gì nữa, nếu tôi chỉ có một cơ hội khảo sát thì tôi sẽ khảo sát ở Đông Nam Á hơn là trong Trung Quốc”, Linfa Wang, một nhà virus học tại trường Y đại học quốc gia Singapore, người dẫn dắt thực hiện công trình này.  Các nhà khoa học đã nhận diện nhiều coronavirus họ hàng gần với virus gây đại dịch trong các mẫu dơi đông lạnh lưu trữ ở Campuchia và Nhật Bản. Họ cũng có các mẫu dơi ở Trung Quốc trong vòng 15 năm. Điều này có thể giúp nhận diện được virus họ hàng gần SARS-CoV-2 là RaTG13, trong một loài được cho là dơi ngựa (Rhinolophus affinis). Hệ gene của hai loài này trùng nhau tới 96%. “Nếu chúng ta có cùng một quyết tâm, kinh phí thực hiện ở Đông Nam Á thì chúng ta có thể có nhiều loại virus họ hàng gần của nó hơn,” Wang dự đoán.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-00375-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phải vẽ lại bản đồ thế giới vì thời tiết      Những tác động của biến đổi khí hậu đang buộc các nhà làm bản đồ phải vẽ lại bộ mặt thế giới: Hồ Chad ở châu Phi đã mất đi 95% diện tích kể từ 1963; Biển Chết đã thấp xuống 25 mét so với 50 năm trước; Biển Aral ở Trung Á đã co ngót đi 75% kể từ năm 1967; Bờ biển Bangladesh đã phải vẽ lại vì gió mùa mạnh hơn và nước biển dâng cao khiến cho nhiều vùng đất đai bị nuốt chửng xuống nước; Một vài quần đảo trên Thái Bình Dương cũng đang bị đe dọa do nước biển dâng…    Các ấn bản mới của cuốn atlas sẽ tính đến những thay đổi trong tầng băng trên biển Bắc cực và sự thu hẹp hay mở rộng các hồ, sông, biển và các biên giới rừng, khi chúng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Phiên bản mới của atlas cũng ghi chú rằng 40% các rạn san hô trên thế giới đã thành bãi đá chết hoặc suy tàn trong những thập kỷ gần đây, và cứ mỗi năm, lại có hơn 1% diện tích rừng nhiệt đới bị xóa sổ.  (theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phạm Tuấn Huy và Giả thuyết Kahn-Kalai      Gần đây, báo chí Việt Nam nhắc nhiều đến cái tên Phạm Tuấn Huy – nghiên cứu sinh 26 tuổi, ngành Toán học tại Đại học Stanford được trao tài trợ nghiên cứu Clay (Clay Research Fellowship) của viện toán học cùng tên. Giải thưởng này dành cho những nhà nghiên cứu ở buổi đầu sự nghiệp và có tiềm năng trở thành nhà toán học đầu ngành trong tương lai. Điều đặc biệt ở Clay Research Fellowship là có tính dự đoán cao, trong 45 nhà toán học từng giành được tài trợ này, có chín người đã trở thành chủ nhân giải thưởng Fields sau đó.     Phạm Tuấn Huy. Ảnh: www.quantamagazine.org/ nhân vật cung cấp.  Phạm Tuấn Huy từ lâu đã được biết tới như một chàng trai vàng của làng Toán học Việt Nam. Cậu là người Việt Nam thứ sáu đoạt hai huy chương vàng Toán quốc tế (IMO) liên tiếp, tiếp nối thành tích của các bậc tiền bối như Ngô Bảo Châu hay Ngô Đắc Tuấn (nghiên cứu viên cao cấp tại CNRS, Pháp). Sau khi chinh phục vô số giải thưởng và huy chương trong các cuộc thi Toán phổ thông trong và ngoài nước, Huy rời mái trường Phổ thông năng khiếu TP.HCM để theo học chương trình đại học tại Đại học Stanford nổi tiếng của Hoa Kỳ, rồi học tiếp lên thạc sĩ tại Đại học Cambridge danh giá của Anh quốc. Môi trường học tập đỉnh cao thế giới không làm khó được Huy. Cậu liên tiếp đoạt được nhiều giải thưởng xuất sắc như Dean’s Award dành cho top 10 sinh viên đại học xuất sắc nhất, huy chương Firestone và giải thưởng Kennedy cho luận văn tốt nghiệp xuất sắc nhất, giải thưởng Toán lý thuyết cho sinh viên xuất sắc nhất về Toán lý thuyết tại Cambridge. Lên tới chương trình tiến sĩ, Huy quyết định quay lại Stanford để theo học dưới sự hướng dẫn của giáo sư Jabob Fox, một trong những thần đồng Toán học nổi tiếng của Hoa Kỳ. Lĩnh vực nghiên cứu mà Huy lựa chọn là Lý thuyết tổ hợp và xác suất cùng các ứng dụng trong lý thuyết khoa học máy tính và học máy. Huy thường quan tâm tới tính chất của các đối tượng ngẫu nhiên như đồ thị, đa thức hay tập hợp số. Chỉ trong một thời gian ngắn, gia tài khoa học của Huy đã rất đồ sộ với gần 30 bài báo đăng trên các tạp chí khoa học uy tín. Trong số đó, lời giải cho giả thuyết Kahn-Kalai là kết quả gây được tiếng vang lớn nhất và đã giúp Huy giành được giải thưởng danh giá của Viện Clay.  Trong Toán học đôi khi chúng ta bắt gặp những điều kì diệu. Một bài toán rất phức tạp và có độ tổng quát hóa cao lại có thể có một lời giải tường minh hết sức gọn gàng. Chứng minh cho giả thuyết Kahn-Kalai của Phạm Tuấn Huy và người đồng nghiệp người Hàn Quốc Jinyoung Park là một điều kì diệu như vậy.  Giả thuyết Kahn-Kalai được đề xuất năm 2006 bởi hai bậc đại thụ trong làng toán tổ hợp và xác suất là GS. Jeff Kahn (ĐH Rutgers, Mỹ) và GS. Gil Kalai (ĐH Hebrew của Jerusalem, Israel). Giả thuyết được biết tới như là sự tổng quát hóa của rất nhiều bài toán phức tạp xoay quanh sự xuất hiện của một cấu trúc nào đó trong  quá trình phát triển của một hệ thống ngẫu nhiên. Để dễ hình dung về nội dung giả thuyết, chúng ta hãy xem xét một ví dụ đơn giản. Hãy tưởng tượng là có 100 thành phố trên thế giới, và chúng ta bắt đầu thiết lập đường bay trực tiếp giữa các thành phố bằng cách tung 1 đồng xu.  Giữa hai thành phố bất kì, ta tung đồng xu một lần, nếu đồng xu lật ngửa thì đường bay trực tiếp sẽ được thiết lập, còn nếu đồng xu lật sấp thì sẽ không có đường bay. Giả sử bạn là một khách du lịch muốn thăm tất cả 100 thành phố này, bạn sẽ muốn tìm một lịch trình bay qua 100 thành phố mà không phải quay lại thành phố nào hai lần. Nếu đồng xu được tung không đồng nhất và có khả năng lật ngửa rất thấp, khi đó mạng lưới bay của ta sẽ có rất ít đường bay, và sẽ rất khó để tìm được một lịch trình bay qua tất cả như ý muốn. Giờ hãy tưởng tượng là bằng một cách nào đó, ta thay đổi khả năng lật ngửa của đồng xu theo hướng tăng cao dần lên, khi đó mạng lưới đường bay tương ứng sẽ ngày càng dày đặc thêm, và tới một thời điểm nào đó các lịch trình bay qua cả 100 thành phố sẽ đột ngột xuất hiện. Điểm chuyển tiếp giữa tình trạng “không có một lịch trình nào” và “chắc chắn có lịch trình” đi qua 100 thành phổ sẽ tương ứng với một giá trị cụ thể của khả năng lật ngửa của đồng xu. Và giá trị này gọi là “giá trị ngưỡng”.  Mạng lưới đường bay thiết lập như trên là một ví dụ về một hệ thống ngẫu nhiên, còn lịch trình bay qua toàn bộ 100 thành phố là ví dụ về một cấu trúc mong muốn trong hệ thống đó. Hệ ngẫu nhiên và các cấu trúc quan trọng của nó là đối tượng được nghiên cứu rất nhiều trong cơ học thống kê và lý thuyết đồ thị.  Khi nói một hệ thống là ngẫu nhiên có nghĩa là chúng ta không kiểm soát được trạng thái cụ thể của nó. Bởi vậy, việc xác định được giá trị ngưỡng sao cho gần như chắc chắn hệ thống có chứa cấu trúc mong muốn là rất quan trọng. Tuy nhiên thường thì rất khó để tính chính xác được giá trị ngưỡng này. Trong khi đó, có một giá trị khác được gọi là “ngưỡng kì vọng” hay “ngưỡng trung bình” thì lại có thể được tính khá dễ dàng. Nếu có thể xác định được một mối quan hệ rõ ràng giữa giá trị ngưỡng và giá trị ngưỡng kì vọng thì công việc ước lượng giá trị ngưỡng sẽ đơn giản đi rất nhiều.  Jinyoung Park. Ảnh: video của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán IAS.  GS. Kahn và GS. Kalai đã đề xuất một giả thuyết để kết nối hai giá trị này như sau: cho một hệ ngẫu nhiên và một cấu trúc cụ thể, tỉ lệ giữa giá trị ngưỡng kì vọng và giá trị ngưỡng để cấu trúc xuất hiện trong hệ thống luôn nhỏ hơn một hệ số xác định được. Nói một cách khác là hai giá trị này đủ gần với nhau để có thể dùng giá trị ngưỡng kì vọng để ước lượng giá trị ngưỡng một cách khá chính xác. Đây là một giả thuyết đầy tham vọng vì phạm vi áp dụng của nó rất rộng cho nhiều hệ ngẫu nhiên khác nhau. Nếu giả thuyết này là đúng thì nó sẽ cung cấp cho các nhà toán học một con đường tắt để ước lượng giá trị ngưỡng cho nhiều cấu trúc trong nhiều hệ khác nhau. Từ đó, nó có khả năng mở ra một loạt các khám phá mới khác, tương tự như Bổ đề cơ bản mà GS. Ngô Bảo Châu đã chứng minh, dù ở quy mô nhỏ hơn. Chính vì tầm quan trọng đó, rất nhiều nhà toán học (trong đó có bản thân GS. Kahn và GS. Kalai) đã đầu tư thời gian nghiên cứu nhằm giải quyết chứng minh này trong hơn 15 năm qua.  Cơ duyên giữa Phạm Tuấn Huy và giả thuyết Kahn-Kalai bắt đầu từ khi TS. Jinyoung Park gia nhập nhóm nghiên cứu của GS. Jacob Fox tại ĐH Stanford. TS. Park là người phụ nữ kiên cường, từ một giáo viên dạy toán phổ thông vươn lên thành một trong những nhà toán học có triển vọng cao. Mặc dù bắt đầu học t.iến sĩ rất muộn ở tuổi 32, cô đã rất nỗ lực và trở thành một học trò xuất sắc của GS. Kahn tại trường ĐH Rutgers. Luận án tiến sĩ của cô được đánh giá rất cao và được tặng giải thưởng Luận văn xuất sắc của Hội các nhà toán học nữ (AWM). Một trong các kết quả tốt nhất của cô là chứng minh được một phiên bản yếu hơn của giả thuyết Kahn-Kalai, trong đó thiết lập mối quan hệ giữa giá trị ngưỡng với một giá trị “ngưỡng kì vọng một phần”.  “Ngưỡng kì vọng một phần” là khái niệm xuất hiện trong một công trình năm 2010 của GS. Michel Talagrand, trong đó đề xuất một loạt các giả thuyết quan trọng. TS. Park cùng cộng sự đã chứng minh được một trong các giả thuyết đó. Đây được coi là một bước tiến lớn trên con đường chinh phục giả thuyết Kahn-Kalai. Tuy nhiên, phần việc còn lại để chứng minh toàn bộ giả thuyết được GS. Kahn, trong đó phải tìm mối liên hệ giữa “ngưỡng kì vọng” và “ngưỡng kì vọng một phần”, được đánh giá là rất khó khăn. Các kĩ thuật và khái niệm dùng trong chứng minh cũ không sử dụng lại cho “ngưỡng kì vọng”, mà lời giải thực sự lại được tìm ra từ một hướng tiếp cận khác.    Trong Toán học đôi khi chúng ta bắt gặp những điều kì diệu. Một bài toán rất phức tạp và có độ tổng quát hóa cao lại có thể có một lời giải tường minh hết sức gọn gàng. Chứng minh cho giả thuyết Kahn-Kalai của Phạm Tuấn Huy và Jinyoung Park là một điều kì diệu như vậy.    Khi Phạm Tuấn Huy gặp TS. Park tại ĐH Stanford, họ nhanh chóng kết nối với nhau và cùng làm việc để giải quyết một số giả thuyết khác của GS. Talagrand về cực đại của các quá trình ngẫu nhiên. Định hướng nghiên cứu là phát triển một số kĩ thuật thừa hưởng từ các công trình đột phá về “Giả thuyết Hoa hướng dương”. Đây là một giả thuyết rất lâu đời do huyền thoại Paul Erdos và Richard Rado đề xuất, về các điều kiện để một hệ tập hợp có thể được sắp xếp theo mô hình cánh hoa hướng dương. Các kĩ thuật này cho phép xây dựng một hệ thống bằng một chuỗi các bước lặp đi lặp lại, mỗi bước chọn một phần nhỏ của hệ thống. Sau một thời gian dài với rất nhiều nỗ lực để tổng quát hóa và nhiều lần thất bại, Huy và Park đã phát triển được một cụm ý tưởng mới để có thể giải quyết các giả thuyết của Talagrand. “Phân mảnh tối tiểu”, một trong số các ý tưởng đó, tình cờ lại là chìa khóa để có thể chứng mình giả thuyết Kahn – Kalai.  Gill Kalai, Đại học Hebrew của Jerusalem, một trong hai tác giả của giả thuyết Kahn – Kalai.  Trong một chuyến đi thăm bạn tại Berkeley, khi đang suy nghĩ về việc dùng khái niệm này cho các ứng dụng khác, Huy tình cờ thấy được sự vai trò của Phân mảnh tối tiểu trong chứng minh của cả giả thuyết Talagrand và giả thuyết Kahn-Kalai. Nó sẽ giúp mã hóa phần đặc trưng nhất của các cấu trúc mong muốn, qua đó giúp cho việc xác định xem các hệ ngẫu nhiên có chứa cấu trúc mong muốn hay không. Thay vì cố gắng xác định xem mật độ của hệ thống bao nhiêu là đủ cho cấu trúc mong muốn xuất hiện (ví dụ như có bao nhiêu đường bay là đủ trong ví dụ của chúng ta), Huy xây dựng một hệ thống con bằng một loạt các phân mảnh tối tiểu (để giữ cho mật độ của hệ thống ở mức thấp) sao cho hệ thống này sẽ chứa cấu trúc mong muốn. Với ý tưởng đột phá này thì chứng minh cho giả thuyết Kahn – Kalai không phải quá phức tạp về mặt kĩ thuật. Ý tưởng cũng giúp nhóm của Huy chứng minh được đầy đủ giả thuyết của Talagrand. Điều đặc biệt ở đây là nếu Huy không theo đuổi nghiên cứu về giả thuyết Talagrand thì sẽ không có ý tưởng để chứng mình giả thuyết Kahn – Kalai. Điều này cũng cho thấy sự đồng nhất của Toán học đỉnh cao khi các ý tưởng đột phá được ứng dụng vào nhiều bài toán và thể hiện một nguyên tắc vận hành chung ẩn giấu dưới các vỏ bọc khác nhau.  Đêm hôm đó Huy đã thức trắng để hoàn thiện chứng minh của giả thuyết Kahn – Kalai. Trong hai ngày tiếp theo, Huy trình bày chứng minh với thầy hướng dẫn và cộng sự. Tất cả mọi người đều ngạc nhiên và gần như không tin vào mắt mình khi thấy một lời giải tường minh và đẹp đẽ như vậy. Cả nhóm lập tức bắt tay vào viết và hoàn thiện bài báo chỉ trong vài ngày. Bài báo chỉ dài vỏn vẹn có sáu trang nhưng ngay lập tức gây tiếng vang lớn trong cộng đồng Toán học thế giới. Các GS. Kahn, Kalai, và Talagrand đều rất vui mừng và chúc mừng thành công của nhóm.  Đối với Huy, thành công này chỉ là bước khởi đầu của một chặng đường phía trước, khi kết quả này sẽ mở ra rất nhiều hướng nghiên cứu mới để tối ưu hóa và rút ngắn khoảng cách giữa giá trị ngưỡng và ngưỡng kì vọng. Huy cũng có kế hoạch tiếp tục theo đuổi nghiên cứu các giả thuyết quan trọng khác trong chuyên ngành và săn tìm các khám phá bất ngờ mới. □  ——  *Đại học Fulbright  Nguồn tham khảo:  – Phỏng vấn của quĩ Two Sigma: https://www.twosigma.com/articles/the-fellowship-forum-meet-the-two-sigma-fellows/  – Bài báo của Quanta Magazine: https://www.quantamagazine.org/elegant-six-page-proof-reveals-the-emergence-of-random-structure-20220425/    Author                Trần Vĩnh Linh        
__label__tiasang Phản biện mở      Từ khoảng giữa thế kỷ 20, phản biện đã trở thành một tập quán vững chắc trong sinh hoạt học thuật quốc tế. Gần đây, quy trình này đã được xem xét lại và hoàn thiện hơn nữa nhằm tạo điều kiện tối đa cho tư duy sáng tạo mà vẫn duy trì được chất lượng và sự minh bạch trong trao đổi học thuật.    Bất cập của phản biện truyền thống  “Phản biện trước xuất bản” là một cách dịch thuật ngữ “peer review” do chúng tôi đề xuất, trong đó “review” có nghĩa là “bình luận, xét duyệt, đánh giá, kiểm định”, còn “peer” có thể được hiểu là “đồng nghiệp”, hoặc “những người có chuyên môn và trình độ tương đương với mình, có thể làm đối trọng cho mình”. Một cách chính xác, có lẽ “peer review” nên được hiểu là “đối luận” hoặc “đối duyệt”.  Bất cập dễ nhận thấy đầu tiên của quá trình phản biện trước xuất bản là khá mất thời gian, thường kéo dài từ vài tháng đến một năm, thậm chí vài năm. Quá trình giao tiếp giữa biên tập viên và những người phản biện và tác giả thường có thể bị đình trệ vì nhiều lý do, trong đó có thực tế là những người phản biện thường là các học giả có uy tín cao, thường có rất nhiều công việc và nghĩa vụ hằng ngày, vì vậy không phải lúc nào cũng sắp xếp được thời gian duyệt bản thảo và viết bài nhận xét.  Một nguy cơ trong quá trình phản biện là khả năng kiểm soát hoặc ảnh hưởng của một số ít học giả ưu tú đối với quá trình xuất bản, hoặc tác động tiêu cực của tính ganh đua và ghen tị cá nhân. Một học giả dù uy tín cao đến đâu, có thiện ý xây dựng và mong muốn mình công tâm tới mức nào, cũng vẫn là con người với những cảm xúc cá nhân nhất định. Vì vậy, có một xu hướng thực tế là các nhà phản biện thường phê phán hoặc khó chấp nhận những kết luận trái ngược với quan điểm của chính mình, nhưng lại có thể dễ tán thưởng những ai đồng thuận với mình. Chính vì vậy, hạn chế lớn nhất của quá trình phản biện, khớp với quan sát nổi tiếng của Thomas Kuhn về sự phát triển của khoa học, là nó vô hình trung dẫn đến kìm hãm những ý tưởng độc đáo, mới lạ, mang tính cách mạng hoặc đột phá, hoặc ngăn chặn những lập luận đi ngược lại với những lý thuyết hoặc hệ thức “chủ lưu”.  Cuối cùng, mặc dù hầu hết mọi người đều tin tưởng rằng tính ẩn danh là một cơ chế đảm bảo tính trung thực và vô tư của phê phán học thuật, trên thực tế, nguyên tắc này rất khó được đảm bảo trọn vẹn. Cho dù tính ẩn danh được thực hiện cả hai chiều, nhưng trong trường hợp bài viết về một chuyên ngành hẹp và nhất là khi có khá ít chuyên gia về lĩnh vực được đề cập, có thể dễ dàng đoán ra được cả tác giả lẫn những người phản biện.  Chính vì những hạn chế và bất cập nói trên trong phản biện truyền thống mà gần đây đã có những thử nghiệm mới trong sinh hoạt học thuật nhằm vừa tiếp tục duy trì chất lượng vừa đảm bảo tính vô tư và minh bạch trong xuất bản khoa học.  Các dạng phản biện và một số lựa chọn khác  Mặc dù phản biện trước xuất bản là tiêu chí chung cho các tạp chí khoa học muốn vươn lên đạt được và duy trì uy tín quốc tế, tùy từng tạp chí và từng ngành, phản biện có thể rất nghiêm ngặt hoặc tương đối dễ dãi. Tỉ lệ công bố tùy thuộc vào số lượng bản thảo nhận được, quy mô rộng hẹp về lĩnh vực chuyên môn, và dung lượng ấn hành của từng tạp chí. Một số tạp chí có tỉ lệ từ chối rất cao, như Nature chỉ công bố 5% số bài nhận được. Ngược lại, có những tạp chí, thường là những tạp chí chuyên ngành, công bố tới 70% bản thảo sau khi đã được hiệu chỉnh.  Những tạp chí nhận được nhiều bản thảo có thể áp dụng một vòng xét duyệt sơ bộ trước khi đưa vào phản biện, nhằm loại ra ngay từ đầu những bài viết quá yếu, lặp lại, hoặc ăn cắp văn quá lộ liễu.  Phản biện truyền thống, như đã trình bày ở trên, có những hạn chế nhất định như sự đình trệ về thời gian, những khó khăn trong việc thực hiện nguyên tắc ẩn danh, nguy cơ bị giới học giả ưu tú chi phối và nguy cơ ngăn chặn hoặc khống chế những ý tưởng đột phá. Để khắc phục những hạn chế này, với sự trợ giúp của truyền thông Internet, một số dạng thức phản biện mới đã được đưa vào thử nghiệm online như phản biện mở hoặc phản biện năng động.  Trong phản biện mở, bản thảo gửi đến một tạp chí online sẽ được xuất bản ngay, và quá trình phản biện bắt đầu ngay từ lúc công trình được công bố. Các bài nhận xét được đăng tiếp ngay phía dưới công trình. Vai trò của biên tập viên không còn nữa, vì bất cứ độc giả là học giả nào (thường là thành viên có đăng ký của trang web hoặc tạp chí online đó) đều có thể viết bài nhận xét, mà không cần phải công bố danh tính của mình. Mục đích của những bài nhận xét ẩn danh hoặc công khai này cũng khác so với phản biện truyền thống: chúng không còn đóng vai trò tư vấn trong việc ra quyết định có công bố hay không nữa, mà nhằm đưa ra những phê phán học thuật, những đề xuất, hoặc định hướng, trao đổi với tác giả và những độc giả khác. Ý nghĩa của phản biện mở chính là rút ngắn thời gian chờ đợi xuất bản và giải tỏa sự khống chế đối với những ý tưởng khác lạ, bất đồng với khối tư duy “chủ lưu” trong ngành. Một lợi ích nữa của phản biện mở là giúp cho người đọc tiếp cận trực tiếp các bài nhận xét để từ đó có định hướng trong việc tham khảo và tra cứu, thuận lợi hơn trong việc xác định được bài viết nào được đánh giá cao, bài viết nào không được thừa nhận rộng rãi.  Phản biện mở trực tuyến (online) có thể được áp dụng kết hợp với việc xuất bản và phản biện kín trước xuất bản. Song song với quá trình phản biện kín trước xuất bản, bài viết có thể được công bố ở dạng ‘trước khi in’ trên mạng Internet để lấy ý kiến nhận xét công khai rộng rãi trước khi chính thức quyết định xuất bản ở dạng bản giấy. Phản biện mở cũng có thể hỗ trợ cho xuất bản dạng giấy bằng cách đăng tải online những bài bình luận đối với những công trình vừa được công bố.  Trương Huyền Chi      Author                Quản trị        
0.0847457627118644
__label__tiasang Phấn đấu đạt trình độ nhóm hàng đầu ASEAN vào 2020      Trong Hội nghị triển khai chương trình hành động của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước diễn ra mới đây tại Hà Nội, quan điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là việc phát triển CNSH của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ chia làm 3 giai đoạn.    Trong giai đoạn 2006-2010, CNSH nông nghiệp của Việt Nam phấn đấu tiếp cận và làm chủ được một số lĩnh vực của CNSH hiện đại, phát triển nhanh ngành công nghiệp sinh học trên các lĩnh vực đã có thành tựu, đào tạo một đội ngũ cán bộ CNSH chuyên sâu ở một số lĩnh vực chủ yếu và hoàn thiện các phòng thí nghiệm CNSH hiện đại. Tiếp đó, trong giai đoạn 2011-2015 phát triển mạnh mẽ các công nghệ gen, tiếp cận các khoa học mới như gen học (Geomics), tin sinh học (Bio-informatics), Protein học (Proteomics), biến dưỡng học (Metabolomics), đưa CNSH nông nghiệp nước ta đạt trình độ khá trong khu vực.  Mục tiêu là tới năm 2020, CNSH nông nghiệp nước ta đạt trình độ nhóm các nước hàng đầu trong khối ASEAN và đạt trình độ tương đương mức tiên tiến của thế giới trong một số lĩnh vực.   Tổng kinh phí mà Bộ NN&PTNT dự kiến cho giai đoạn 2006-2015 là hơn 1.000 tỉ đồng (bình quân mỗi năm hơn 100 tỉ đồng)../.  Anh: Một trong những mục tiêu trong thời gian tới là CNSH phải góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam (ảnh: Quốc Tuấn)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng      Phần mềm do Phó giáo sư Vương Văn Quỳnh (Đại học Lâm nghiệp) làm chủ nhiệm có đặc trưng kỹ thuật là tự động cập nhật, lưu trữ, xử lý thông tin thu được từ nhiều trạm khí tượng, dự báo nguy cơ cháy rừng, tư vấn về giải pháp phòng chống cháy rừng cho các địa phương ở Tây Nguyên.    Phần mềm sẽ cung cấp thông tin hàng ngày về nguy cơ cháy rừng ở các địa phương cho đài phát thanh và truyền hình, cung cấp lên mạng internet thông tin về quá trình diễn biến thời tiết và nguy cơ cháy rừng của các vùng trên lãnh thổ.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm dự đoán độc tính chính xác tương đương thử nghiệm trên động vật      Học máy có thể đưa ra các đánh giá tốt hơn qua việc xử lý khối lượng lớn dữ liệu an toàn.      Trong một số trường hợp, phần mềm học máy có thể dự đoán được độc chất chính xác hơn cả thử nghiệm trên chuột hoặc một số loại động vật khác. Nguồn: Nature  Một nhóm nhà nghiên cứu mới công bố về việc phát triển một phần mềm học máy sử dụng khối lượng lớn các dữ liệu an toàn hóa học để dự đoán chính xác độc tố ở mức tương đương và đôi khi vượt qua các thử nghiệm tốn kém trên động vật.  Theo lời nhà độc học Thomas Hartung từ Đại học Johns Hopkins – Hoa Kỳ, các mô hình máy tính có thể thay thế hàng triệu con vật hàng năm sử dụng trong các nghiên cứu và thí nghiệm, ví dụ như việc thả các hợp chất vào mắt thỏ để kiểm tra xem chúng có gây kích ứng hay không, hay việc cho chuột ăn hóa chất để đo độc tính. “Sức mạnh của big data có nghĩa là chúng ta có thể thiết kế công cụ có khả năng dự đoán tốt hơn động vật thí nghiệm”.  Trong một bài báo được công bố trên tạp chí Toxicological Sciences vào ngày 11/7, nhóm nghiên cứu Hartung công bố việc phát triển một thuật toán mới có thể dự đoán chính xác độc tính của hàng chục nghìn hóa chất – phạm vi rộng hơn nhiều so với các mô hình đã công bố khác – qua chín loại thử nghiệm từ thử nghiệm hô hấp đến sinh thái thủy sinh.  Bài viết sẽ giúp “thu hút chú ý đến khả năng mới của big data”, Bennard van Ravenzwaay, một nhà độc học tại công ty hóa chất BASF ở Ludwigshafen – Đức nói: “Tôi tin tưởng 100% đây sẽ là nền tảng cho sự phát triển của độc chất học tương lai.” Tuy nhiên, ông nói thêm, phải mất nhiều năm nữa để các nhà quản lý chấp nhận phương pháp mới thay cho các thử nghiệm động vật, bởi loại hình thử nhiệm này vẫn có ưu thế trong đánh giá các yếu tố độc hại phức tạp hơn như xác định xem hóa chất có gây ung thư hay gây trở ngại cho khả năng sinh sản hay không.  Phương pháp có hiệu quả  Từ lâu, các nhà nghiên cứu và sản xuất đã sử dụng các mô hình máy tính để dự đoán độc tính. Các mô hình này thường kết hợp phân tích cấu trúc hóa học phân tử, phân tích cách hóa chất có thể phản ứng trong cơ thể và dữ liệu từ các thử nghiệm trên động vật hoặc các nghiên cứu trong ống nghiệm. Người ta cũng có thể suy luận độc tố của các chất chưa kiểm định bằng cách so sánh chúng với các hợp chất có cấu trúc tương đồng đã biết đến – một phương pháp được gọi là “đọc chéo”. Tuy nhiên, các nhà quản lý vẫn dè dặt khi chấp nhận những phương pháp này và có xu hướng đặt ra yêu cầu chính xác cao cho phương pháp hay đề nghị thí nghiệm trên động vật để thay thế.  Để cải thiện phần mềm, nhóm Hartung tập hợp một cơ sở dữ liệu khổng lồ với thông tin về khoảng 10.000 hóa chất dựa trên khoảng 800.000 thí nghiệm động vật. Những dữ liệu này ban đầu được thu thập bởi Cơ quan Hóa chất Châu Âu (ECHA) ở Helsinki như một phần của Luật REACH 2007 (Luật đăng ký, đánh giá, ủy quyền và cấm đoán hóa chất) trong đó yêu cầu các công ty phải gửi các dữ liệu an toàn cho hầu hết các hóa chất được bán trong Liên minh Châu Âu. Cho đến tháng 5/2018 – ngày kết thúc đăng ký – cơ quan đã nhận được thông tin về hơn 20.000 loại hóa chất.  Dù ECHA đã cho mở những các dữ liệu này nhưng định dạng của chúng không dễ để máy tính phân tích. Vì vậy nhóm của Hartung trong năm 2014 đã trích xuất dữ liệu có sẵn thành cơ sở dữ liệu có thể đọc được bằng máy. Điều này kéo theo một cuộc tranh chấp pháp lý giữa Hartung và ECHA khi cơ quan này cho rằng các thông tin trên thuộc bản quyền các công ty đã tiến hành thí nghiệm. Vấn đề tạm thời được giải quyết trong năm 2017 với việc nhóm Hartung đồng ý không tự xuất bản dữ liệu và ECHA sẽ chỉ công khai những kết quả nghiên cứu chính – chứ không phải toàn bộ dữ liệu – trong một tập tin mở cho công chúng.  Sử dụng phương pháp đọc chéo, phần mềm của Hartung so sánh một hóa chất mới với các hợp chất có liên quan nhất đã biết, tham chiếu các thông số của hóa chất đã biết để đánh giá xác suất của các tác động độc hại. Phương pháp này mô phỏng nhà độc chất học phân tích hóa chất mới.  Phân tích dữ liệu của Hartung cũng chỉ ra tính thiếu ổn định của các thí nghiệm trên động vật: cùng một loại hóa chất thí nghiệm đôi khi cho các kết quả khác nhau, bởi thực tế không phải tất cả các động vật đều phản ứng giống nhau với hóa chất. Với một số loại độc tính, phần mềm do đó cung cấp dự đoán đáng tin cậy hơn so với bất kỳ thử nghiệm động vật riêng lẻ nào. Theo lời Craig Rowlands, đồng tác giả nghiên cứu, thì thành công này: “Không thể thực hiện được cách đây 5 năm. Quy định về dữ liệu hóa chất đã giúp xây dựng một cơ sở dữ liệu rất lớn về độc chất và tác dụng của chúng.”  Quyền sử dụng sản phẩm của nhóm nghiên cứu Hartung thuộc về cơ quan chủ quản là Công ty Thí nghiệm an toàn Underwriters tại Northbrook, Illinois – Mỹ. Theo kế hoạch, công ty này sẽ sớm bán sản phẩm phân tích dữ liệu ra thị trường. Hartung và các đồng sự sẽ nhận được một phần lợi nhuận thu được. Tuy nhiên, GS. Hartung khẳng định các dữ liệu gốc vẫn sẽ được chia sẻ với nhà nghiên cứu hay cơ quan chính phủ quan tâm.  Thỏa hiệp với quy định  Hiện nay, các nhà nghiên cứu và công ty khác cũng đang phát triển các thuật toán riêng biệt dù chưa công bố. Ở Maryland tháng Tư rồi, Ủy ban điều phối liên ngành về Kiểm nghiệm các phương pháp thay thế được sự ủy nhiệm của 16 cơ quan chính phủ Hoa Kỳ, sau thời gian phát triển các phương pháp thay thế thử nghiệm an toàn động vật đã công bố với giới khoa học về  một phần mềm mới có thể dự đoán độc tính cho 40.000 loại hóa chất vốn chỉ trước đây chỉ có thể thử nghiệm trên chuột.  Việc kết hợp các phần mềm chất lượng (như của Hartung) đã tạo ra được một mô hình tính toán đồng thuận “có hiệu quả [trong phát hiện độc chất] tương đương thí nghiệm động vật”, theo lời Nicole Kleinstreuer, người phối hợp thực hiện và phát triển các phương pháp thử nghiệm độc tính thay thế cho Chương trình Độc học quốc gia Hoa Kỳ tại North Carolina. Đến cuối năm nay, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) sẽ công bố mô hình đồng thuận trực tuyến miễn phí trên internet.  Kể từ năm 2016 khi luật yêu cầu các loại hóa chất phải được chứng nhận an toàn trước khi đưa vào thị trường, các công ty Mỹ đã quan tâm hơn đến các phương pháp thử nghiệm không sử dụng động vật. Tháng trước, EPA đã công bố một bản kế hoạch để thúc đẩy các phương pháp thử nghiệm không có động vật, bao gồm việc sử dụng phần mềm.  Tuy nhiên, theo Mike Rasenberg, trưởng bộ phận đánh giá điện tử của ECHA, cơ quan này hiện cũng khuyến khích các công ty hóa chất nếu có thể thay thế việc thí nghiệm động vật bằng phương pháp kiểm tra chéo hay thí nghiệm phân tích tế bào.  Những gì bài báo nói là “một sáng kiến tốt”, Rasenberg nói, nhưng “về mặt khoa học, có rất nhiều việc phải làm. Thí nghiệm trên động vật là điều không ai muốn nhưng máy tính chưa thể làm được mọi thứ.”  Tuấn Quang dịch   Nguồn: Nature 559, 163 (2018) doi: 10.1038/d41586-018-05664-2       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm máy tính nhận dạng bản phác họa vẽ tay tốt hơn người      Các nhà nghiên cứu từ trường Đại học Queen  Mary London (QMUL) vừa phát triển được chương trình máy tính đầu tiên có  thể nhận ra bản phác thảo vẽ tay tốt hơn con người.    Được đặt tên là Sketch-a-Net, chương trình này có khả năng xác định chính xác đối tượng của bản phác thảo với tỷ lệ là 74,9%, trong khi đó tỷ lệ thành công của con người chỉ đạt 73,1%. Thành tựu này có thể cung cấp nền tảng để tạo ra những cách thức mới trong việc tương tác với máy tính.  Màn hình cảm ứng có thể hiểu những gì bạn đang vẽ và cho phép bạn truy xuất một hình ảnh cụ thể bằng cách dùng ngón tay để vẽ vật ấy – một điều gần với phản ứng tự nhiên của con người hơn là phải nhớ ra các từ khóa để thực hiện việc tìm kiếm hình ảnh. Cải tiến này cũng có thể hỗ trợ ngành điều tra pháp y khi sử dụng hình vẽ của họa sĩ về một tên tội phạm được so với hình ảnh chân dung của tội phạm trong cơ sở dữ liệu của cảnh sát.  Bản vẽ phác họa đã được con người sử dụng như một công cụ giao tiếp hàng ngàn năm nay, nhưng việc nhận dạng các bản phác thảo bằng tay vẫn đang là một thách thức bởi vì chúng khá trừu tượng, đa dạng và chỉ bao gồm các đường nét đen trắng chứ không sử dụng các điểm ảnh màu như một bức ảnh. Giải quyết việc nhận dạng bản vẽ phác họa sẽ giúp hiểu rõ về cơ sở khoa học của quá trình nhận dạng bằng thị giác..  Timothy Hospedales, đồng tác giả của cuộc nghiên cứu và là giảng viên tại Khoa Kỹ thuật điện tử và Khoa học máy tính thuộc QMUL cho biết: “Thật thú vị khi chương trình máy tính của chúng tôi có thể giải quyết các nhiệm vụ thậm chí còn tốt hơn người. Bản vẽ phác họa là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị vì chúng đã được con người sử dụng từ thời tiền sử. Với việc gia tăng sử dụng màn hình cảm ứng, bản vẽ phác họa lại đang trở thành một công cụ giao tiếp và phổ biến hơn trước nhiều lần. Điều này thực sự có thể mang lại một tác động rất lớn đối với các lĩnh vực như điều tra pháp y, sử dụng màn hình cảm ứng và truy xuất hình ảnh, và về lâu về dài sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu đến tận cùng về những cảm nhận thị giác.”     Phương Anh dịch    Nguồn:   http://www.sciencedaily.com/releases/2015/07/150721081638.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm phát hiện bệnh Alzheimer      Các nhà nghiên cứu của Phòng thí nghiệm khoa học thần kinh nhận thức và hình ảnh não, phối hợp với các nhóm làm việc của Viện Sức khỏe và nghiên cứu y tế của Pháp (Inserm), vừa cho ra đời một phần mềm cho phép đo được thể tích bằng hình ảnh cộng hưởng từ phần hà mã – một cấu trúc não giúp cho quá trình phát triển trí nhớ, kích cỡ của nó sẽ giảm trong giai đoạn đầu mắc bệnh.    Olivier Colliot, chuyên gia xử lý hình ảnh ở CNRS, khẳng định: “Nhờ phương pháp này, bác sỹ có thể có trong tay một chỉ số giúp chẩn đoán đúng bệnh chỉ trong khoảng 10 phút”. Các test trên người bệnh cho phép khẳng định lại chẩn đoán Alzheimer. Một số thử nghiệm khác cũng đã được lên chương trình. Các nhà nghiên cứu cần mở rộng dữ liệu của mình để xây dựng nhiều cách quy chiếu đối với từng người theo từng độ tuổi. Theo O.Colliot, phương pháp này sẽ có thể được áp dụng đại trà trong các trung tâm hình ảnh trong những năm tới. Phát hiện này có ý nghĩa rất lớn vì trước đó các nhà khoa học chưa có biện pháp kiểm tra nào cho phép khẳng định một người là mắc bệnh đó, trừ nghiên cứu giải phẫu não sau khi chết. Vì thế, các bác sỹ phải dựa vào một loạt các dấu hiệu để phát hiện bệnh, thường là quá muộn.  Quốc Thái (Theo Sciences et Avenir)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phần mềm tiện dụng mới cho người lướt web      Có thể nói không có ai sử dụng internet mà lại không biết đến Google- công cụ tìm kiếm số một trên toàn cầu hiện nay. Có thể nói, trong Google chứa đựng cả đại dương thông tin, tốc độ và phạm vi tìm kiếm làm hài lòng rất nhiều người. Thế mà phát minh web IC mới đây của trường đại học Alberta đã… đẩy cách tìm kiếm của Google xuống hàng… không thông minh, bởi với web IC người lướt web có thể tìm kiếm nhanh hơn và chính xác hơn thông tin họ muốn tìm nhờ công nghệ “máy tự học”(learning machine). Đúng là không có giới hạn nào đối với khoa học và những điều mà loài người chưa biết.    Với ước tính khoảng 12 tỷ website trên mạng, thật không dễ dàng để tìm ra chính xác địa chỉ bạn muốn tìm. Tuy nhiên, những chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT) của trường Đại học Alberta (Canada) đã nghiên cứu thành công một phần mềm mới mà họ tin tưởng rằng sẽ làm cho việc lướt web trở nên nhanh hơn và dễ dàng hơn.  Phần mềm này sử dụng công nghệ “máy tự học”(learning machine) để dự đoán thông tin yêu cầu bằng cách phân tích những yêu cầu tìm kiếm và lọc những kết quả không liên quan, dựa trên những kết quả tìm kiếm lần trước của người lướt web.            Tiến sĩ TingShao Zhu          Một trong những nhà phát minh- TingShao Zhu- nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Khoa “Khoa học máy tính” nói: “Lướt web có thể tốn rất nhiều thời gian làm cho bạn cảm thấy phiền phức và mất kiên nhẫn vì không thể hoặc không tìm thấy cái bạn muốn và sản phẩm web IC sẽ giúp cho công việc này đơn giản đi rất nhiều”.  Phần mềm này có thể kết hợp với các công cụ tìm kiếm (Google chẳng hạn) hoặc có thể tải trực tiếp xuống máy tính cá nhân. Nó hoạt động bằng cách phân tích những thông tin yêu cầu của người sử dụng. Người sử dụng có thể kích chuột vào biểu tượng dẫn tới địa chỉ trang web gợi ý mà có thể đó là trang web mà họ tìm kiếm. Đó chính là bước dựa trên sự quay lại những thông tin của những công cụ tìm kiếm thông thường, nó có thể dùng để lọc thư và tìm kiếm các bài báo trêm mạng (chứ không chỉ là đơn giản dẫn bạn tới các địa chỉ web).  “Ở hầu hết các công cụ tìm kiếm, thứ tự của từ khóa ảnh hưởng rất quan trọng đến kết quả tìm kiếm” Zhu nói. “Phần mềm của chúng tôi sử dụng khả năng tự học của máy để chuyển yêu cầu của con người sang dạng mà một máy tính có thể hiểu rõ. Hệ thống của chúng tôi có thể chỉ trực tiếp cho bạn tới địa chỉ mà bạn muốn mà không phải là những địa chỉ liên quan đến từ khóa của bạn. Zhu và các đồng nghiệp của ông đã phát triển phần mềm này từ hơn 5 năm trước và đã thử nghiệm nó rất nhiều lần đều cho kết quả tốt. Hiện các nhà nghiên cứu đang làm việc với Công ty TEC Edmonton- một “doanh nghiệp khởi nguồn” (spin- off) nhằm thương mại hóa phát minh này. Họ hy vọng sẽ đưa sản phẩm ra thị trường vào cuối năm 2006.  Zhu nói thêm: “Tôi chắc chắn rằng sản phẩm của chúng tôi rất độc đáo. Bất cứ ai cũng có thể dùng nó để tìm kiếm bất cứ điều gì họ muốn trên các trang web. Chúng tôi đã có một sản phẩm đột phá và thật sự thú vị khi sáng tạo ra một cái gì đó giúp ích cho rất nhiều người”.  Được biết, hội đồng nghiên cứu khoa học công nghệ quốc gia Canada, Trung tâm máy tự học Alberta, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Canada đang đồng tài trợ cho nghiên cứu này.  Hải Yến    Nguồn tin: Đại học Alberta    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân tích bút tích với tia laser để đánh giá các trạng thái tinh thần      Các nhà khoa học tại trường đại học Nghiên cứu hạt nhân quốc gia Nga MEPhI cùng với các đồng nghiệp quốc tế đã nghiên cứu cơ chế sinh học của các chuyển động của tay khi viết, vẽ, qua đó phát triển một phương pháp độc đáo để đánh giá các đặc tính cá nhân của tốc độ viết và áp lực bút.      Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Laser Physics Letters với tiêu đề “Evaluation of handwriting peculiarities utilizing laser speckle contrast imaging”.  Các nhà nghiên cứu đã dùng một phương pháp tán xạ ánh sáng động học (dynamic light-scattering). Vượt qua môi trường đậm đặc, vật chất bị chắn sáng như các mô sinh học hoặc giấy, bức xạ laser tán xạ lên các yếu tố cấu trúc bên trong và phân rã thành các tia sáng phức hợp tinh tế. Các phần tán xạ này giao thoa, kết quả là hình thành các vùng của giao thoa thuận và nghịch gọi là laser giảm đốm nhiễu (laser speckles).  Nếu có bất cứ hoạt động nào diễn ra trong vùng trung gian, người ta có thể quan sát rung động trong mẫu hình giảm đốm nhiễu trong giao thoa. Việc phân tích các mẫu giảm đốm nhiễu cho phép đánh giá chất lượng các đặc tính cấu trúc của tán xạ xánh sáng vùng trung gian.  “Phương pháp phân tán đốm nhiễu laser này tỏ ra rất nhạy với sự ảnh hưởng của bất kỳ cơ chế tác động nào, thậm chí cả những thay đổi diễn ra ở cấp độ micro và nano. Tất cả những thay đổi trong các đặc tính vật lý và cấu trúc được ghi nhận bằng một camera số tốc độ cao, sau đó một thuật toán máy tính đặc biệt tính toán và phục hồi thông tin một cách chính xác về bản chất tự nhiên của cả chuyển động tay và bút. Chúng tôi nhận thấy phương pháp này có thể được sử dụng cho ngành pháp y để phân tích hệ thống và nghiên cứu các đặc tính chữ viết của tội phạm, nạn nhân của chúng và cả nhân chứng”, Igor Meglinskiy, giáo sư của trường MEPhI và trường đại học Aston (Anh) và là tác giả của nghiên cứu, nói.  Theo Meglinskiy, nhiệm vụ chính cho nhóm nghiên cứu của ông là giới thiệu kết quả nghiên cứu này vào thực hành ngành y và pháp y. Hiện tại, với sự hỗ trợ từ nhóm nghiên cứu của giáo sư Vyacheslav Kalchenko và tiến sĩ  Yuri Kuznetsov, một chuyên gia được chứng nhận trong lĩnh vực tâm lý và chữ viết ngành luật (cả hai đều làm việc ở Viện nghiên cứu Weizmann, Israel), các vật liệu đã được thu thập và đánh giá thứ tự để đưa phương pháp này ứng dụng trong ngành luật. Họ chờ đợi phương pháp này có thể hữu dụng trong việc hình thành các nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý của con người.  Theo các nhà khoa học, phương pháp này có thể hoàn toàn hiệu quả trong các cuộc đối thoại phi tiếp xúc với các điều kiện về mặt tâm lý phức tạp như bệnh nhân tự kỷ, Alzheimer, Parkinson, động kinh và tâm thần phân liệt. Cụ thể, phương pháp này có thể hữu dụng khi làm việc với trẻ em, phân tích cách trẻ em vẽ hoặc viết có thể tiết lộ tiến triển bệnh tật hoặc hiệu quả của việc điều trị có chọn lọc hoặc lập kế hoạch về nơi chốn tái định cư.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-scientists-lasers-mental-states.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân tích các ấn phẩm y sinh học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế 2002-2006      Y sinh học là một trong những lĩnh vực khoa học “nóng” trên thế giới hiện nay, vì sự tiến triển cực nhanh của các bộ môn như di truyền học và công nghệ sinh học. Có thể nói không ngoa rằng đa số các hoạt động khoa học đời sống (life science) ngày nay đều có định hướng phục vụ cho y khoa. Vấn đề đặt ra là giới khoa học Việt Nam làm việc trong ngành y sinh học đã có đóng góp gì cho y văn thế giới và mức độ đóng góp ra sao. Theo tôi biết, chưa có một phân tích nào trả lời câu hỏi này. Vì thế, tôi tiến hành một phân tích dựa trên các bài báo y sinh học xuất phát từ Việt Nam đã được công bố trên các tập san quốc tế trong vòng 5 năm qua (tính từ 2002 đến 2006).        Số liệu được thu thập từ các tập san trong danh sách của Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information, hay ISI) theo phương pháp được mô tả trong phần Chú thích [2]. Viện này được thành lập từ năm 1961 và có nhiệm vụ hệ thống hóa tất cả các bài báo trên các tập san có hệ thống bình duyệt và được giới khoa học chuyên ngành chấp nhận; do đó việc thống kê các bài báo tương đối chính xác.    Ấn phẩm y sinh học trong tổng thể hoạt động khoa học ở Việt Nam  Trong thời gian từ 2002 đến 2006, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 2.469 bài báo khoa học trong hệ thống tập san ISI, hay tính trung bình là 494 bài / năm. Như vậy so với thời gian trước đó 2004, năng suất khoa học Việt Nam có phần tăng đáng kể (ước tính khoảng 45%) trong vài năm sau này. Đó là một con số đáng mừng.   Tuy nhiên, khi so sánh tổng số bài báo khoa học với các nước trong vùng như Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia, và Philippines, thì số lượng ấn phẩm của ta chỉ cao hơn Philippines, nhưng thấp hơn so với các nước khác (Xem chi tiết Bảng 1). Chẳng hạn như trong cùng thời gian, Singapore công bố được 27.956 bài (cao hơn Việt Nam 11 lần) và Thái Lan 11.429 bài (cao hơn Việt Nam 4,6 lần). Ấn phẩm khoa học của Malaysia cũng cao hơn Việt Nam gấp 2,8 lần (6.909 so với 2.469 bài).                  Khoảng một phần ba (n = 830 bài) trong tổng số 2.469 bài báo khoa học của các tác giả từ Việt Nam liên quan đến ngành y sinh học. Tỉ lệ bài báo y sinh học của Việt Nam cao hơn Singapore (23%), Malaysia (22%), Philippines (29%) và Indonesia (31%), nhưng thấp hơn Thái Lan (44%). Qua con số này, có thể nói rằng Việt Nam và Thái Lan khá “mạnh” về lĩnh vực y sinh học so với tất cả các nước trong vùng.   Phân tích theo từng năm (Bảng 2) cho thấy một xu hướng đáng mừng: ngoại trừ năm 2006 số lượng bài báo y sinh học từ Việt Nam liên tiếp gia tăng. Tính trung bình mỗi năm số lượng bài báo y sinh học từ Việt Nam tăng khoảng 20 (hay khoảng 16%) mỗi năm. Tuy nhiên, trong cùng thời gian số lượng ấn phẩm từ Singapore cũng tăng xấp xỉ 138 bài / năm (hay 14%), hay Thái Lan tăng 98 bài / năm (12%). Ấn phẩm y sinh học từ các nước như và Indonesia và Philippines không thay đổi đáng kể trong vòng 5 năm qua.                       Nội lực và hợp tác   Trong tổng số 830 bài báo y sinh học từ Việt Nam, chỉ có 19 bài (tức 2%) là hoàn toàn các tác giả Việt Nam đứng tên. Nói cách khác, chỉ có 2% các ấn phẩm y sinh học trên trường quốc tế từ Việt Nam là do “nội lực”; phần 98% còn lại là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, hoặc thực hiện ở nước ngoài.   Nước nào có nhiều hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực y sinh học? Phân tích địa chỉ của tác giả cho thấy hai nước có tỉ lệ cộng tác lớn nhất là Mĩ (21%) và Nhật (19%). Các nước khác cũng có mức độ hợp tác đáng kể là Anh, Úc, Pháp và Thuỵ điển, với mỗi nước chiểm một tỉ lệ xấp xỉ 10%. Tình trạng này gần như giống nhau ở tất cả các nước khác trong khu vực, trong đó Mĩ và Nhật vẫn là hai đối tác khoa học hàng đầu ở các nước như Thái Lan và Malaysia. Riêng Singapore, nước hợp tác nhiều nhất là Mĩ (chiếm 17% tổng số bài báo y sinh học), tiếp theo là Trung Quốc (7,4%), Anh (6,5%) và úc (5,7%).   Lĩnh vực nghiên cứu   Bảng 3 cung cấp thông tin về 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu cho từng nước dựa vào các bài báo y sinh học trong thời gian 2002-2006. Qua các số liệu này, có thể thấy gần 1 phần 5 các ấn phẩm y sinh học Việt Nam tập trung vào lĩnh vực y tế công cộng và môi trường. Các nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm và dược học cũng chiếm một tỉ lệ khá cao (mỗi lĩnh vực chiếm khoảng 12%). Các nghiên cứu về công nghệ sinh học và ứng dụng sinh học hay sinh học phân tử chỉ chiếm khoảng 7% tổng số bài báo từ Việt Nam.   Tình hình trên rất khác với Thái Lan, nơi mà các nghiên cứu về dược học và dược phẩm chiếm hàng đầu (chiếm gần 13% tổng số bài báo y sinh học), sinh hóa và sinh học phân tử (~12%) và miễn dịch học (11%). Singapore, có lẽ do trình độ khoa học khá hơn, nên các nghiên cứu sinh hóa và sinh học phân tử của họ đứng đầu (với tỉ lệ ~16% tổng số bài báo). Điều đáng chú ý là các nghiên cứu y học lâm sàng và nội khoa của Singapore đứng hàng thứ 2 (chiếm 9% tổng số bài báo y sinh học), trong khi đó lĩnh vực nghiên cứu này không đứng trong hàng “top 10” ở các nước Đông Nam Á khác.                              Chất lượng nghiên cứu   Về chất lượng tập san khoa học, phân tích chi tiết thêm cho thấy các bài báo y sinh học Việt Nam thường xuất hiện trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng (impact factor hay IF) tương đối thấp. Năm tập san công bố các bài báo nghiên cứu thuộc lĩnh vực y sinh học của Việt Nam nhiều nhất là American Journal of Tropical Medicine and Hygiene (IF= 2,5) đăng 29 bài (3.5%); Journal of Clinical Microbiology (IF=3,5), 25 bài (3%); Tropical Medicine & International Health (IF=2,6), 24 bài (3%); International Journal of Tubeculosis and Lung Disease (IF=2), 19 bài (2.3%); và Chemical and Pharmaceutical Bulletin (IF=1.3), 17 bài (2%).            Có thể nói rằng sự có mặt của y sinh học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Thật vậy, ở bất cứ chỉ tiêu khoa học nào (như số lượng ấn phẩm khoa học, số chuyên gia có uy tín trên trường quốc tế, vị thế, v.v…) thì nước ta kém xa so với Thái Lan, Singapore, Mã Lai và thậm chí kém hơn cả Indonesia. Chỉ tính riêng trong ngành y sinh học, trong thời gian 5 năm (2002-2006), số lượng ấn phẩm khoa học từ nước ta chỉ bằng 9% so với Singapore, 22% so với Thái Lan, 36% so với Mã Lai, v.v…              Một điều đáng quan tâm hơn nữa là số lượng ấn phẩm khoa học từ nguồn nội lực, tức không cần đến hỗ trợ từ nước ngoài còn cực kì kém, chỉ chiếm 2% trong số các công trình được công bố trên các tập san quốc tế.            Đây cũng chính là tình hình chung cho các nước vùng Đông Nam Á. Hầu hết các tập san quốc tế mà các nhà khoa học Thái Lan và Singapore (hai nước có số lượng ấn phẩm y sinh học hàng đầu trong vùng) đều có chỉ số ảnh hưởng thấp (dưới 2). Gần 8% các bài báo của Singapore thường được công bố trên tập san địa phương của Singapore (tập san Annals Academy of Medicine Singapore, có trong hệ thống ISI) với chỉ số ảnh hưởng chỉ 0.7! Nói cách khác, Singapore và Thái Lan tuy có nhiều bài báo khoa học nhưng chất lượng của các bài báo đó — tính trung bình — có phần thấp hơn chất lượng các bài báo từ Việt Nam.  Các trung tâm nghiên cứu y sinh học hàng đầu  Vì phần lớn nghiên cứu y sinh học từ nước ta tập trung vào lĩnh vực y tế công cộng và dịch tễ học, cho nên không ngạc nhiên khi thấy khoảng 9% các bài báo y sinh học từ Việt Nam xuất phát từ Viện vệ sinh dịch tễ trung ương (Hà Nội) (Bảng 4). Nhưng điều đáng chú ý là hai trong số 10 trung tâm “sản xuất” các bài báo y sinh học từ Việt Nam lại có địa chỉ nước ngoài: Đại học Oxford (chiếm gần 8% các bài báo) và Viện Pasteur (5%). Thật ra, Đại học Oxford và Viện Pasteur hợp tác với Viện vệ sinh dịch tễ trung ương. Cũng có thể nói rằng hai đơn vị này mới chính là trung tâm nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam!   Tình hình ở Thái Lan và Singapore khác hẳn với tình hình ở nước ta. Ở Thái Lan và Singapore, tất cả “top 10” trung tâm nghiên cứu đều có địa chỉ địa phương. Ở Thái Lan, gần 36% các bài báo y sinh học xuất phát từ Đại học Mahidol, kế đến là Đại học Chulalongkorn (~18%) và Đại học Chiang Mai (10%). Ở Thái Lan, các công trình nghiên cứu từ Đại học Quốc gia Singapore (hay NUS) chiếm gần phân nửa các công trình nghiên cứu y sinh học của nước này. Ngoài ra, điều đáng chú ý là các trung tâm nghiên cứu y sinh học hàng đầu của Singapore tập trung ở các bệnh viện, như Bệnh viện Đa khoa Singapore (14%), Bệnh viện thuộc Đại học Quốc gia Singapore (~10%), Bệnh viện Tan Tock Seng ~6%).   Ngay cả ở các nước như Indonesia, Malaysia và Philippines, các trung tâm nghiên cứu hàng đầu đều là các đại học địa phương. Chỉ có ở Việt Nam, nơi mà đại học y khoa đóng vai trò rất khiêm tốn trong nghiên cứu y sinh học. Thật ra, Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh thậm chí không nằm trong hàng top 10 các trung tâm nghiên cứu y sinh học với ấn phẩm khoa học quốc tế!                   Chú thích: số phần trăm tính trên tổng số bài báo y sinh học trong thời gian 2002-2006.    Các tác giả hàng đầu   Phân tích các tác giả hàng đầu (top 10) cho thấy một xu hướng thú vị. Trong số 10 tác giả hàng đầu các bài báo y sinh học ở Việt Nam có đến 4 tác giả người nước ngoài: cụ thể là JJ Farrar (Trung tâm nghiên cứu bệnh nhiệt đới, Đại học Oxford, Anh) và NJ White (Đại học Mahidol, Thái Lan) và PJ De Vries (Trung tâm nghiên cứu bệnh truyền nhiễm và y học nhiệt đới, Hà Lan) và NPJ Day (Đại học Oxford). Bài báo của 4 tác giả này chiếm gần 18% tổng số bài báo y sinh học từ Việt Nam trong thời gian 2002-2006. Hai tác giả Farrar và White đứng hàng đầu và hàng hai về lượng bài báo, kế đến là tác giả TT Hiền (tức bác sĩ Trần Tịnh Hiền, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh), NTN Lan, TQ Binh, TTH Chau, HT Long, và NH Phu, với mỗi người công bố khoảng 16 đến 18 bài, tức khoảng ~2% (ngoài TT Hien công bố 40 bài) với các tác giả nước ngoài.   Trong số tác giả “top 10” của Thái Lan, NJ White là người đứng đầu với 135 bài báo y sinh học (chiếm 2,6% tổng số bài báo từ Thái Lan), kế đến là các tác giả Thái Lan mỗi tác giả công bố khoảng 1 đến 2% tổng số bài báo. Ở Singapore, tất cả các tác giả top 10 đều là người bản xứ, và mỗi tác giả chỉ “chiếm” khoảng 1% so với tổng số bài báo từ nước này. Tất cả các tác giả top 10 của Malaysia cũng là người bản xứ. Nhưng ở Indonesia và Philippines, có khoảng 2 đến 3 tác giả top 10 là người nước ngoài, chủ yếu do hợp tác quốc tế.  Bình luận   Qua các số liệu vừa trình bày trên đây, có thể nói rằng sự có mặt của y sinh học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Thật vậy, ở bất cứ chỉ tiêu khoa học nào (như số lượng ấn phẩm khoa học, số chuyên gia có uy tín trên trường quốc tế, vị thế, v.v…) thì nước ta kém xa so với Thái Lan, Singapore, Mã Lai và thậm chí kém hơn cả Indonesia. Chỉ tính riêng trong ngành y sinh học, trong thời gian 5 năm (2002-2006), số lượng ấn phẩm khoa học từ nước ta chỉ bằng 9% so với Singapore, 22% so với Thái Lan, 36% so với Mã Lai, v.v…   Một điều đáng quan tâm hơn nữa là số lượng ấn phẩm khoa học từ nguồn nội lực, tức không cần đến hỗ trợ từ nước ngoài còn cực kì kém, chỉ chiếm 2% trong số các công trình được công bố trên các tập san quốc tế. Trong số 830 bài báo y sinh học trong thời gian 5 năm qua, chỉ có 395 bài (tức xấp xỉ 50%) do tác giả người Việt Nam đứng đầu, nhưng ngay cả trong số này, các tác giả chính và chịu trách nhiệm (responsible author hay correspondence author) vẫn là người nước ngoài. Nói cách khác, đại đa số — nếu không muốn nói tất cả 811 bài báo y sinh học từ Việt Nam từ nguồn hợp tác – các tác giả Việt Nam chỉ là “lính đánh bộ” và sở hữu tri thức vẫn là tác giả nước ngoài, dù chất liệu nghiên cứu là từ Việt Nam và của người Việt Nam! Tình trạng này tôi gọi là “hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù” [3].   Tình trạng khoa học nhảy dù này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn hiện diện ở các nước khác, và tỉ lệ 50% tác giả nước ngoài đứng tên đầu bài báo cũng từng thấy trước đây. Tính từ 1993 đến 1998, tập san British Medical Journal công bố 59 bài báo với sự hợp tác giữa các nhà khoa học các nước Tây phương và các nước đang phát triển; trong số này, 58% bài báo mà tác giả đứng đầu là các nhà khoa học Tây phương. Tỉ lệ khoa học nhảy dù ở tập san Lancet là 57% (trong số 82 bài báo). Trong thời gian trên, tập san Science công bố 6 bài báo hợp tác, và tất cả đều do các nhà khoa học Tây phương đứng tên tác giả đầu. Tập san có ảnh hưởng càng cao, tỉ lệ khoa học nhảy dù hay khoa học thuộc địa càng cao. Nói cách khác, các nhà khoa học Tây phương chỉ “tử tế” với các nhà khoa học địa phương chỉ khi nào các bài báo đăng trên các tập san có ảnh hưởng thấp, nhưng với các bài báo trên các tập san ảnh hưởng lớn thì họ dành quyền đứng tên tác giả đầu.   Tình trạng tác giả bài báo như vừa đề cập liên quan đến vấn đề nội lực và khả năng chuyên môn trong nghiên cứu y học ở nước ta. Phải công nhận một thực tế là các giáo sư và nhà khoa học nước ta chưa quen với nghiên cứu khoa học ở tầm cỡ quốc tế, chưa quen với các kĩ năng nghiên cứu khoa học quốc tế, và do đó, chưa thể tự thực hiện những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy đại đa số các nghiên cứu y học từ Việt Nam là do hợp tác với các đồng nghiệp Tây phương. Tuy nhiên, ở Thái Lan hay các nước trong vùng cũng có hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài, nhưng các nhà khoa học địa phương vẫn là những người dẫn đầu nghiên cứu và do đó tri thức vẫn thuộc về đất nước họ. Còn ở nước ta, các tác giả hàng đầu lại là người nước ngoài!   Xem qua các lĩnh vực nghiên cứu y sinh học ở Việt Nam qua các ấn phẩm trên các tập san quốc tế, có thể nói rằng trình độ nghiên cứu y họ ở Việt Nam còn thấp. Thật vậy, phần lớn các nghiên cứu y học nước ta chỉ tập trung vào các vấn đề y tế công cộng, bệnh truyền nhiễm và y học nhiệt đới; chỉ có 7% là các công trình liên quan đến sinh học phân tử. Trong 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu không có các nghiên cứu về gen và di truyền học hay nghiên cứu về nội khoa và y học lâm sàng. Nhưng đây cũng là tình trạng chung ở các nước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Riêng Singapore thì gần như ở một “đẳng cấp” khác, vì phần lớn nghiên cứu ở đây tập trung vào các công trình mang tính “công nghệ cao” như sinh học phân tử, sinh hóa, công nghệ sinh học, di truyền học, thần kinh học, ung thư học và y học lâm sàng.     Tại sao số lượng ấn phẩm y học (và khoa học nói chung) từ Việt Nam còn quá khiêm tốn trên trường quốc tế?   Thứ nhất là nước ta thiếu một “văn hóa nghiên cứu khoa học”. Các đại học nước ta vẫn chưa xem nghiên cứu khoa học là một lí do để tồn tại, và do đó chưa quan tâm đến nghiên cứu khoa học. Có lẽ đó chính là lí do giải thích tại sao các nước trong vùng, các đại học là những “nhà sản xuất” ấn phẩm khoa học cống hiến cho kho tàng y văn quốc tế, còn ở nước ta, phần lớn các nghiên cứu lại xuất phát từ các trung tâm y tế.   Ở nước ngoài, các bài báo trên các tập san quốc tế là tiêu chuẩn số 1 để phong chức giáo sư và phó giáo sư [4], và đó chính là một động lực mạnh mẽ nhất để các nhà khoa học phải nghiên cứu khoa học và không ngừng đi tìm cái mới trong y sinh học. Nhưng ở nước ta, các chuẩn mực đề bạt chức vụ giáo sư đại học vẫn chưa đặt nặng vào các công trình nghiên cứu tầm quốc tế, mà đánh đồng với các công trình trong nước một cách thiếu hợp lí.   Cần phải nhấn mạnh rằng một công trình nghiên cứu thường được tài trợ từ các cơ quan nhà nước, và số tiền này là do dân chúng đóng góp. Khi tiến hành nghiên cứu, nhà nghiên cứu có khi phải nhờ đến sự tham gia của tình nguyện viên hay của bệnh nhân. Trong trường hợp đó, tình nguyện viên và bệnh nhân phải bỏ thì giờ, tạm bỏ qua công ăn việc làm để tự nguyện cung cấp thông tin và có khi hi sinh một phần da máu cho nhà nghiên cứu. Nếu một công trình nghiên cứu đã hoàn tất mà kết quả không được công bố, thì công trình nghiên cứu đó có thể xem là có vấn đề về y đức và đạo đức khoa học, và nhà nghiên cứu có thể xem như chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình với sự đóng góp của quần chúng. Do đó, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một nghĩa vụ của nhà nghiên cứu, là một cách gián tiếp cám ơn sự đóng góp của bệnh nhân và giúp đỡ của dân chúng qua sự quản lí của nhà nước.          Cách phân phối kinh phí hiện nay ở nước ta như là một cuộc đấu thầu xây dựng. Cơ quan chủ quản (Bộ y tế và Bộ khoa học) ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu đệ đơn, và các cơ quan chủ quản xét duyệt. Nhưng nhu cầu nghiên cứu y sinh học phải xuất phát từ thực tế lâm sàng và cộng đồng, chứ không thể xuất phát từ cơ quan quản lí hành chính, và do đó nhiều đề tài nghiên cứu mà các bộ đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu y tế thực tế trong nước.            Thứ hai là vấn đề kinh phí. Ở nước ta phần lớn ngân sách cho nghiên cứu y sinh học ở Việt Nam phần lớn xuất phát từ Bộ y tế và Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, nhưng kinh phí còn quá thấp, nên chưa thể thực hiện những nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Có công trình nghiên cứu dịch tễ học qui mô trên hàng ngàn đối tượng mà kinh phí cũng chỉ 50 ngàn USD! Với một kinh phí như thế, không ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp trong nước phải hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài để tìm thêm nguồn kinh phí nghiên cứu.   Người viết bài này có cảm giác hình như các bộ liên quan đến khoa học và y tế vẫn chưa nhận thức rõ nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển như Thái Lan (và trước đó là Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan) đã sớm nhận thức vai trò của nghiên cứu cơ bản nên họ đã đầu tư nhiều vào các công trình này, và ngày nay họ đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào. Để khoa học Việt Nam vươn cao tầm quốc tế, không có con đường nào khác là cần phải tăng cường ngân sách nghiên cứu y sinh học, nhất là nghiên cứu cơ bản. Chỉ có các nghiên cứu cơ bản mới là đòn bẩy để phát triển cơ sở vật chất khoa học và qua nghiên cứu cơ bản chúng ta mới tạo được một đội ngũ khoa học gia với chuyên môn sâu cho nước nhà.   Ngoài ra, cách phân phối kinh phí là một vấn đề cần được xem xét lại. Có thể nhìn cách phân phối kinh phí hiện nay ở nước ta như là một cuộc đấu thầu xây dựng. Cơ quan chủ quản (Bộ y tế và Bộ khoa học) ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu đệ đơn, và các cơ quan chủ quản xét duyệt. Nhưng nhu cầu nghiên cứu y sinh học phải xuất phát từ thực tế lâm sàng và cộng đồng, chứ không thể xuất phát từ cơ quan quản lí hành chính, và do đó nhiều đề tài nghiên cứu mà các bộ đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu y tế thực tế trong nước. Thật vậy, nhìn qua các đề tài nghiên cứu mà Bộ y tế ra thông báo trong năm nay, tôi thấy có hơn ba phần tư đề tài hoặc là không đem lại lợi ích lâm sàng cho người bệnh, hoặc là không thể thực hiện được trong điều kiện hiện nay.   Thứ ba là vấn đề nhân lực. Thiếu kinh phí và thiếu phương tiện hiện đại chỉ là vấn đề mang tính “ngoại tại”, còn một nguyên nhân “nội tại” đáng quan tâm hơn là vấn đề nhân lực. Nước ta vẫn còn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các giáo sư hay nhà khoa học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Phần lớn các giáo sư cũng chưa quen với cách làm khoa học theo các chuẩn mực quốc tế. Có lẽ vì lí do này mà rất nhiều nghiên cứu y học ở Việt Nam còn quá nhiều sai sót và khả năng các công trình này xuất hiện trên các diễn đàn khoa học quốc tế rất thấp [5].  Theo thống kê năm 2000, chỉ có 15% thầy cô đại học có học vị tiến sĩ (một học vị cần thiết cho nghiên cứu khoa học độc lập), và trong số mang hàm giáo sư, phần lớn ở độ tuổi 60 – 65. Với một lực lượng yếu như thế, không ngạc nhiên chúng ta chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên trường quốc tế như là một tập thể. Trong khi đó thì số lượng sinh viên chịu dấn thân vào nghiên cứu khoa học còn quá ít, vì viễn ảnh về đồng lương dành cho các nhà khoa học quá khiêm tốn, nếu không muốn nói là quá nghèo nàn. Vì thế, ngay từ bây giờ nhà nước cần phải có chính sách thu tuyển nhân tài, nhất là giới trẻ, vào hoạt động khoa học và nghiên cứu khoa học. Cần phải khuyến khích sinh viên theo đuổi sự nghiệp khoa học, và biến nghiên cứu khoa học thành một nghề nghiệp hấp dẫn.   Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nghiên cứu y sinh học tầm quốc tế, các đại học và trung tâm nghiên cứu (kể cả bệnh viện) cần phải tuyển dụng các chuyên gia, giáo sư, hay giảng viên trẻ có tài năng thật sự, và tạo điều kiện cho họ (như thời gian và phương tiện nghiên cứu) và trao cho họ quyền tự do theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu mà họ thích và có khả năng thực hiện. Cần phải có những hình thức khuyến khích tài chính cho các nhà khoa học có công trình trên các tập san quốc tế. Ở một số đại học tại các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia, v.v… người ta thưởng khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao. Ngay cả tại Úc, một số trường sẵn sàng tặng hàng ngàn đô-la cho các nhà nghiên cứu có công trình đăng trên các tập san với hệ số ảnh hưởng trên 10.          Ở Việt Nam có khá nhiều tập san y học, nhưng không có tập san nào viết bằng tiếng Anh, và hệ thống bình duyệt cũng chưa hoàn chỉnh. Do đó, một trong những biện pháp thực tế nhất để nâng cao sự có mặt của nghiên cứu y học Việt Nam trên trường quốc tế là kiện toàn và kết nhập các tập san y học thành một tập san tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, với ban biên tập từ các giáo sư uy tín ở trong và ngoài nước.            Thứ tư là vấn đề tổ chức. Hiện nay, có thể nói là chúng ta đang có khá nhiều viện và cơ sở nghiên cứu hoặc độc lập, hoặc trực thuộc các trường đại học, hoặc rải rác ở các Bộ, tỉnh, mà chức năng của các việc này nhiều khi chồng chéo một cách không cần thiết. Vì thế, việc làm cấp bách nhất là cần phải tổ chức và kiện toàn lại hệ thống các viện, các cơ sở nghiên cứu khoa học, và các trường đại học để tận dụng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất [vốn đã hạn chế] một cách tối đa, tránh lãng phí và kém hiệu quả. Kinh nghiệm ở các nước Tây phương cho thấy, các viện và trung tâm nghiên cứu khoa học đều nằm trong hệ thống đại học; các nhà khoa học trong các viện này không chỉ làm nghiên cứu mà còn có nhiệm vụ giảng dạy, và do đó tiết kiệm được tiền bạc. Qua giảng dạy, các nhà nghiên cứu còn có cơ hội tuyển sinh viên để huấn luyện họ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu sau này.   Thứ năm là vấn đề ngôn ngữ, hay nói cụ thể hơn là tiếng Anh. Ngày nay, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ khoa học quốc tế. Vào thập niên 1980s, trên 60% các tập san khoa học trên thế giới sử dụng tiếng Anh; hai mươi năm sau, con số này là trên 80% [6]. Trong lĩnh vực y sinh học, hiện nay hơn 90% các tập san sử dụng tiếng Anh. Trong khi đó, tiếng Anh lại là một điểm yếu của các nhà khoa học nước ta, do một phần lớn được đào tạo từ các nước Đông Âu trong thời gian trước 1975. Vì khả năng tiếng Anh còn quá nhiều hạn chế [6], cho nên dù một công trình nghiên cứu có ý nghĩa cũng khó mà xuất hiện trên các tập san y sinh học quốc tế. Tôi biết khá nhiều nghiên cứu từ Việt Nam rất thú vị, nhưng vì tác giả viết tiếng Anh quá nhiều sai sót nên ban biên tập đành phải “đau lòng” từ chối! Vấn đề tiếng Anh, mới đầu thoạt nghe qua tưởng như rất nhỏ, nhưng trong thực tế lại là một hàng rào cản trở rất lớn cho các đồng nghiệp trong nước.                Và sau cùng là các tập san khoa học Việt Nam chưa vươn đến tầm quốc tế. Một trong những lí do mà Thái Lan và Singapore có nhiều bài báo khoa học hơn Việt Nam là hai nước này có các tập san khoa học, kể cả tập san y sinh học địa phương, được viết bằng tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt và được Viện Thông tin Khoa học (tức ISI) công nhận. Chẳng hạn như Thái Lan có tập san Journal of the Medical Association of Thailand (tập san y học của hội y học Thái Lan), tập san ScienceAsia, và Singapore có tập san Annals Academy of Medicine Singapore là diễn đàn của các bác sĩ và nhà khoa học địa phương. Vì các tập san này được ISI công nhận, cho nên các bài báo ở đây được tính trong hệ thống của PubMed. Để được ISI công nhận các tập san này đã phải trải qua thời gian từ 5 đến 10 năm hoạt động và với những công trình có chất lượng, có qua bình duyệt (peer review).  Ở Việt Nam có khá nhiều tập san y học, nhưng không có tập san nào viết bằng tiếng Anh, và hệ thống bình duyệt cũng chưa hoàn chỉnh. Do đó, một trong những biện pháp thực tế nhất để nâng cao sự có mặt của nghiên cứu y học Việt Nam trên trường quốc tế là kiện toàn và kết nhập các tập san y học thành một tập san tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, với ban biên tập từ các giáo sư uy tín ở trong và ngoài nước. Trong giai đoạn đầu, tập san có thể chỉ xuất bản 2 tháng hay 3 tháng một lần, nhưng với những công trình nghiên cứu có chất lượng cao (tức là làm đúng phương pháp, ý tưởng mới, và diễn dịch một cách khoa học). Phải cố gắng sao cho 2 hay 3 năm sau tập san có trong danh bạ tập san của ISI.   Một vấn đề khác tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa quốc gia, cần phải đề cập đến ở đây là một số (nếu không muốn nói là nhiều) nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang nghiên cứu hay làm luận án ở nước ngoài và khi công bố ấn phẩm khoa học thường không ghi địa chỉ từ Việt Nam, mà chỉ ghi địa chỉ nơi họ đang theo học. Tình trạng này chẳng những không hợp lí (vì cá nhân nghiên cứu sinh xuất phát từ Việt Nam) mà còn làm ảnh hưởng đến năng suất khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế. Vấn đề này thoạt đầu mới nghe qua như là chuyện nhỏ, nhưng các đại học Tây phương xem là chuyện quan trọng đến nổi lãnh đạo trường có hẳn những văn bản và điều lệ chính thức yêu cầu các nhà nghiên cứu phải ghi rõ địa chỉ đại học hay viện nghiên cứu mà họ đang công tác hay đang giữ những chức vụ kiêm nhiệm. Do đó, các đại học Việt Nam cần phải khuyến khích, hay nói đúng hơn là yêu cầu, các nghiên cứu sinh của trường ở nước ngoài khi công bố bài báo trên các tập san quốc tế, ngoài địa chỉ của trường họ đang theo học, cần phải đề tên trường Việt Nam vào phần địa chỉ tác giả của bài báo.   Nhưng bất kể biện minh cách nào, bất kể dựa vào tiêu chuẩn nào, một thực tế đáng buồn là sự có mặt (hay đóng góp) của khoa học Việt Nam nói chung và y sinh học Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế còn cực kì khiêm tốn. Mức độ đó không hay chưa tương xứng với truyền thống khoa bảng của dân tộc. Một điều còn đáng quan tâm hơn là chúng ta đang đứng trước nguy cơ mất sở hữu tri thức khoa học địa phương vào tay người nước ngoài. Chúng ta cần phải nâng cao sự có mặt của ngành y sinh học trên trường quốc tế để nâng cao uy thế khoa học của Việt Nam, và để thực hiện hoài bảo đó, chúng ta cần phải cải cách hệ thống hoạt động khoa học, hệ thống xuất bản ấn phẩm khoa học, và cải cách phải bắt đầu ngay từ hôm nay chứ không phải ngày mai.        “Tôi nghĩ môi trường y tế ở nước ta có nhiều chất liệu và đề tài nghiên cứu rất hay (tôi nói “rất hay”) và quan trọng. Những lĩnh vực như y học cổ truyền, tác dụng của các loại thảo dược địa phương, các làng ung thư, các bệnh nghề nghiệp, v.v… là những đề tài nghiên cứu mà nước ngoài rất khó mà có được. Đồng nghiệp trong nước hoặc là không thấy hoặc thấy mà không làm được. Không làm được là do thiếu được huấn luyện về phương pháp khoa học và kém tiếng Anh. Nhìn qua những nghiên cứu ở trong nước có thể thấy ngay nhiều yếu kém, sai sót về phương pháp, và do đó, các nghiên cứu này khó có thể công bố trên các tập san quốc tế.              Lấp vào khoảng trống đó là các đồng nghiệp phương Tây, khi đến Việt Nam họ phát hiện rất nhiều đề tài nghiên cứu. Trong thực tế họ cũng đã có những hợp tác có ích với đồng nghiệp trong nước. Chỉ tiếc một điều là các hợp tác đó, theo tôi, vẫn chưa được công bằng và sòng phẳng. Tôi nói “chưa được công bằng” là vì phần lớn các đồng nghiệp trong nước đóng vai trò quá lu mờ, phụ việc cho đồng nghiệp phương Tây, dù chất liệu là từ Việt Nam. Thật ra, điều này cũng hiểu được vì nó xuất phát từ sự yếu kém về phương pháp học của ta, cho nên đứng về mặt công trạng khó mà cạnh tranh lại với các đồng nghiệp phương Tây. Hệ quả là tri thức và dữ liệu về Việt Nam lại nằm trong tay người phương Tây!              Nói về phuơng pháp tôi có nhận xét rằng nhiều thầy cô trong nước còn quá bảo thủ lắm, và sự bảo thủ của họ có thể gây tác hại nên năng suất khoa học của giới trẻ. Có lần tôi nói chuyện về các mô hình nghiên cứu mới trong y khoa, có người nói rằng “Những gì thầy nói, chúng em rất thích; những phương pháp mới em cũng nghe qua và thấy người ta làm như thế, nhưng nếu chúng em ứng dụng các phương pháp đó, thầy cô em sẽ không biết và đánh trượt chúng em!” Thoạt đầu mới nghe qua tôi cứ tưởng là chuyện đùa, vì làm sao có chuyện thầy cô chống lại những phương pháp chuẩn được. Ấy thế mà một lần khác, lại có một ý kiến y như thế, và qua trao đổi nhiều người khác tôi mới biết đó là một thực trạng ở trong nước. Có em nói với tôi: “Thôi, xin lỗi thầy, chúng em làm theo cách cũ cho chắc ăn.” Với thế hệ mới mà họ làm như thế thì làm sao chúng ta khá được. Chúng ta cần phải thay đổi tư duy và văn hóa khoa học, và sự thay đổi này phải bắt đầu từ người thầy, người hướng dẫn luận án. Các thầy cô cần phải học cách nói “Tôi không biết”, chứ không nên vì không quen với cái mới mà làm cản lại sự tiến bộ và tiếp cận cái mới của giới trẻ. Ở nước ngoài chúng tôi thường nói với nghiên cứu sinh như thế này: “Chúng tôi muốn em sau khi tốt nghiệp tiến sĩ phải là chuyên gia của vấn đề, là người thầy dạy lại chúng tôi về vấn đề mà em nghiên cứu”. Bây giờ nghĩ lại cách nói đó cũng giống như cách nói của ông bà ta “Con hơn cha, nhà có phúc” vậy.”        ——————–    Chú thích:  [1] Xem bài “Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học Việt Nam: các nhà khoa học nghĩ gì qua những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế?” của Phạm Duy Hiển, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 1 năm 2006, web: http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033  [2] Tôi sử dụng công cụ tìm kiếm dữ liệu Web of Science thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khoá mã nước là Vietnam OR Viet Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand. Sau khi thu thập được tổng số các bài báo thuộc các ngành, tôi tuyển chọn vào ngành y sinh học (biomedical sciences) bằng các sử dụng công cụ “refining” để chọn lọc các bài báo theo chủ đề có liên quan đến ngành y sinh học (loại trừ ngành độc tố học). Toàn bộ các số liệu thu thập được truy xuất ra tập dữ liệu gốc để tính toán.   [3] Xem bài “Làm khoa học kiểu nhảy dù” của Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên Tia Sáng, số tháng 6 năm 2007.   [4] Trong ngành y khoa, để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số 1 là số lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học; một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 15 bài báo khoa học trở lên (trong số này 5 bài phải là tác giả đầu); và một professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên (và trong số này phải là tác giả đầu của 20 bài). Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.   [5] Xem bài “Nghiên cứu y học ở Việt Nam: đặc điểm, thiếu sót và sai sót” của Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên Tạp chí Thời sự Y học của Hội Y học Thành phố Hồ Chí Minh, số tháng 1, 2 và 3 năm 2007.   [6] Large A. The foreign language barrier. Deutsch, London: 1983.  ——————————-  Trong hoạt động khoa học, các tập san khoa học là những tờ báo xuất bản định kì, có thể là mỗi tuần một lần, mỗi tháng, hay mỗi 3 tháng, thậm chí hàng 6 tháng một lần. Mục tiêu chính của các tập san khoa học là chuyên chở thông tin đến giới nghiên cứu khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học. Các tập san khoa học còn là những diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng chuyên môn trao đổi và học hỏi với nhau. Phần lớn các tập san khoa học rất chuyên sâu về một bộ môn khoa học như American Heart Journal (chuyên về tim), American Journal of Epidemiology (dịch tễ học), Bone (xương), Blood (máu), Neurology (thần kinh học) … nhưng một số tập san lớn như Science, Nature, Proceedings of the National Academy of Science USA … công bố tất cả nghiên cứu từ bất cứ bộ môn khoa học nào.   Trên thế giới ngày nay, có khoảng 3000 tập san y sinh học được công nhận, và con số vẫn tăng mỗi năm. (Được công nhận ở đây có nghĩa là được nằm trong danh sách của tổ chức Index Medicus). Tiêu chuẩn mà các tập san này dựa vào để công bố hay không công bố một bài báo khoa học cũng rất khác nhau. Một số tập san như Science, Nature, Cell, hay Physical Reviews chỉ công bố những bài báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể hiện những cống hiến cơ bản, những phát hiện quan trọng, hay những phương pháp mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng khoa học. Do đó, các tập san này từ chối công bố hầu hết các bài báo khoa học gửi đến cho họ. Theo một báo cáo gần đây các tập san này chỉ công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được hàng năm. Nói cách khác, họ từ chối khoảng 99% bài báo. Trong y học, các tập san hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95% các bài báo gửi đến, và chỉ công bố những bài báo quan trọng trong y khoa.   Hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng suất khoa học của một nước là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số tác giả thuộc nước đó đứng tên đầu (hay tác giả chính) của bài báo. Trong vài năm gần đây, trong quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề hoạt động khoa học và năng suất nghiên cứu khoa học ở nước ta đang được đặt ra khá nhiều lần. Năm ngoái, giáo sư Phạm Duy Hiển tiến hành một phân tích thống kê các bài báo khoa học có nguồn gốc từ Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế, và kết quả rất đáng để cộng đồng khoa học nước ta phải suy nghĩ. Theo phân tích này, trong thời gian 10 năm (1995 đến 2004), các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 3.236 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Nói cách khác, tính trung bình, mỗi năm cả nước chỉ công bố khoảng 320 bài báo khoa học, một con số rất khiêm tốn so với các nước trong vùng, và còn kém hơn cả một trường đại học trung bình ở Úc. Một con số giật mình khác khác là trong số trên ba ngàn bài báo đó, chỉ có chỉ có 798 bài (25%) là do “nội lực”, phần còn lại là đứng tên hay hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài [1].        GS. Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hợp chất tạo mùi tiết lộ thông tin quan trọng về Ai Cập cổ đại      Phân tích mùi hương của những hũ thức ăn trong những ngôi mộ cổ Ai Cập có thể giúp tìm ra những gì từng được chứa trong đó.    Năm 1906 là một dấu mốc quan trọng đối với ngành Ai Cập học: phát hiện ngôi mộ còn nguyên vẹn của Kha và Merit ở nghĩa địa Deir el-Medina. Mộ của Kha – một ‘công trình sư’, hay kiến trúc sư – và Merit, vợ ông, đến nay vẫn là mộ cổ ngoài hoàng gia hoàn chỉnh nhất từng được tìm thấy ở Ai Cập. Ngôi mộ hơn 3.400 năm tuổi này tiết lộ thông tin quan trọng về cách các nhân vật cấp cao được đối xử sau khi qua đời.        Vào thời điểm đó, những nhà khảo cổ học thường không thể cưỡng lại tò mò và cám dỗ, họ sẽ mở bọc xác ướp và mở các lọ, bình, hũ xung quanh, làm hỏng tất cả mẫu vật trong khi không có công nghệ để phân tích những gì bên trong. Nhưng may mắn là nhóm nhà khảo cổ phát hiện mộ của Kha đã không làm như vậy, do đó các đồ tạo tác, bình, hũ, cốc, v.v… vẫn còn nguyên.    Để tìm hiểu những gì chứa bên trong mà vẫn giữ nguyên vẹn mẫu vật, nhà hóa học phân tích Ilaria Degano tại Đại học Pisa, Ý, và các đồng nghiệp dựa vào mùi hương. Nhóm Degano đặt nhiều đồ tạo tác khác nhau từ lăng mộ Kha – những chiếc lọ đậy kín và những chiếc cốc hở miệng chứa thực phẩm cổ đã thối rữa – bên trong túi nhựa trong vài ngày để thu thập các phân tử bay hơi từ đó. Tiếp theo, họ sử dụng khối phổ kế để xác định các thành phần mùi hương từ mỗi mẫu. Họ tìm thấy các aldehyde và các hydrocacbon mạch dài, biểu hiện của sáp ong; trimethylamine, liên quan đến cá khô; và các aldehyde khác thường gặp trong trái cây. Hai phần ba số đồ tạo tác đã cho kết quả về các thực phẩm ban đầu, theo Degano.    Những phát hiện này sẽ được đưa vào một dự án lớn hơn nhằm phân tích tổng thể ngôi mộ cũng như tục mai táng cho những người không thuộc hoàng tộc vào thời điểm đó ở Ai Cập cổ đại, khoảng 70 năm trước khi Vua Tutankhamun, người trị vì cuối cùng trong giai đoạn Tân Vương quốc Ai Cập kéo dài từ giữa thế kỷ thứ 16 trước Công nguyên đến thế kỷ 11 trước Công nguyên, lên ngôi.    Đây không phải là lần đầu tiên các hợp chất tạo mùi tiết lộ thông tin quan trọng về Ai Cập cổ đại. Năm 2014, các nhà nghiên cứu đã chiết xuất các phân tử dễ bay hơi từ băng vải lanh có tuổi đời từ 6.300 đến 5.000 năm được sử dụng để quấn các thi thể trong một số nghĩa sớm nhất ở Ai Cập. Các phân tử xác nhận rằng người Ai Cập đã sử dụng các chất ướp xác có đặc tính kháng khuẩn, cho thấy họ đã thực hành ướp xác sớm hơn 1.500 năm so với giả thuyết trước đó.    Phân tích mùi hương vẫn là một lĩnh vực khảo cổ chưa được khám phá nhiều, theo Stephen Buckley, nhà khảo cổ học và nhà hóa học phân tích tại Đại học York, Anh, người tham gia vào nghiên cứu năm 2014. Nhưng “nếu bạn muốn hiểu về người Ai Cập cổ đại, phải tìm hiểu thế giới của mùi hương”, Buckley nói.    Ngọc Đỗ    Author                .        
__label__tiasang Phân tử chất béo rất quan trọng với mạch máu      Một nghiên cứu trên tạp chí Cell Reports đã chứng minh tầm quan trọng của lipid (chất béo) đối với việc duy trì sức khỏe của mạch máu.    Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có 15 triệu người bị đột quỵ trên toàn cầu. Trong số đó có 13% các trường hợp gặp đột quỵ xuất huyết – một tình trạng xảy ra khi mạch máu bị suy yếu, vỡ và gây chảy máu não. Việc suy giảm tính toàn vẹn và chức năng của mạch máu cũng xuất hiện trong các trường hợp phản ứng dị ứng và sốc nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị hiện có cho những tình trạng bệnh lý này không phải lúc nào cũng hiệu quả để ngăn ngừa các biến chứng nặng hơn và trường hợp tử vong.  Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học tại Trường Y khoa Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore (trường Y khoa NUS) do nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Long dẫn dắt, phối hợp với Đại học Paris Cité và Vườn ươm Lipidomics Singapore (SLING), đã chứng minh rằng S1P – được xuất đi từ tế bào máu và mạch máu – đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì tính toàn vẹn và chức năng của mạch máu 1.  Trước hết, cần hiểu rằng chất béo là các phân tử đa dạng được tìm thấy ở khắp nơi trong cơ thể. Một số phân tử chất béo có lợi, trong khi một số khác lại có hại cho sức khỏe nếu chúng tích tụ trong cơ thể. Và một phân tử chất béo đặc biệt có tên sphingosine 1-phosphate (S1P) – một phân tử truyền tín hiệu mạnh được tìm thấy trong các hạt lipoprotein mật độ cao (HDL) – là một loại chất béo tốt có trong máu. S1P – xuất phát từ các tế bào máu và mạch máu – sẽ đi vào huyết tương thông qua các chất vận chuyển. Lúc này, S1P sẽ liên kết với các thụ thể của nó (ví dụ như thụ thể S1P 1) để điều chỉnh một số quá trình sinh học quan trọng.  Theo đó, nhóm nghiên cứu đã xác định Mfsd2b và Spns2 là hai protein chịu trách nhiệm giải phóng S1P vào tuần hoàn máu trong giai đoạn phát triển đầu đời. Khi những protein này bị loại bỏ để ngăn chặn quá trình giải phóng S1P, phôi sẽ chết non do bị xuất huyết não và xuất huyết cơ thể nghiêm trọng. Điều này phản ánh tầm quan trọng của S1P đối với sự phát triển và duy trì mạng lưới mạch máu trong quá trình phát triển của thai nhi.  Trước đây, trong một bài báo đăng trên tạp chí Nature, nhóm nghiên cứu đã khám phá ra việc giải phóng S1P từ các tế bào máu đóng vai trò quan trọng để ngăn ngừa sốc phản vệ. Và trong nghiên cứu mới này, nhóm đã tiến thêm một bước khi phát hiện ra: việc giải phóng S1P từ các tế bào của mạng lưới mạch máu cũng rất quan trọng để đối phó với các bệnh về mạch máu. Với kết quả này, nhóm nhiên cứu đã khẳng định được tầm quan trọng của S1P huyết tương đối với sự phát triển và trưởng thành của mạch máu. Cả hai nghiên cứu đều ủng hộ giả thuyết: việc duy trì nồng độ S1P trong máu sẽ có lợi cho việc điều trị các bệnh liên quan đến mạch máu.  “Sức khỏe của mạch máu có vai trò mật thiết đối với sự sống còn của con người. Và nghiên cứu này đã đem lại những manh mối quan trọng giúp chúng ta hiểu được vai trò của S1P trong máu, cũng như cung cấp những cách tiếp cận thú vị để chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh liên quan đến mạch máu và dị ứng nghiêm trọng”, Giáo sư Trợ lý Nguyễn Nam Long, công tác tại Khoa Hóa sinh tại trường Y khoa NUS, giải thích.  Với những kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu đang đang xem xét một vấn đề tiếp theo: làm thế nào để việc đo mức S1P có thể giúp xác định sức khỏe của mạch máu ở những người như bệnh nhân COVID-19, hoặc phát triển phương pháp trị liệu điều chỉnh mức S1P trong máu. Họ tin rằng phát hiện này có thể đóng vai trò then chốt trong việc phát triển một chiến lược trị liệu mới cho các tình trạng dị ứng và các tình trạng liên quan đến mạch máu.  Kim Dung lược dịch  Nguồn: https://www.eurekalert.org/news-releases/962211  https://www.medicalnewstoday.com/articles/males-with-obesity-may-be-more-at-risk-of-heart-complications-but-why  ———————-  1. https://www.cell.com/cell-reports/pdf/S2211-1247(22)01025-7.pdf    Author                .        
__label__tiasang Phản ứng nhiệt hạch, nguồn năng lượng sạch chưa thể làm chủ      Phản ứng tổng hợp hạt nhân (còn gọi là phản ứng nhiệt hạch) cung cấp nguồn năng lượng khổng lồ cho Mặt trời và các vì sao qua việc kết hợp những nguyên tố nhẹ như hydro hay heli. Nếu có thể khai thác được phản ứng này ngay trên Trái đất thì chúng ta sẽ có một nguồn năng lượng sạch vô tận với nguyên liệu chính là nước biển. Nguồn năng lượng này không phát ra khí thải nhà kính, không tạo ra chạy đua hạt nhân và không có nguy cơ phát sinh tai nạn thảm khốc.   &#160;  &#160;    Lượng chất thải phóng xạ rất ít và gián  tiếp, chủ yếu từ sự kích hoạt neutron tại phần lõi của nhà máy (power  plant core). Với công nghệ hiện tại, một nhà máy năng lượng nhiệt hạch  có thể được tái chế hoàn toàn trong vòng 100 năm sau khi nhà máy ngừng  hoạt động.     Các nhà máy hạt nhân hiện nay dùng phản  ứng phân hạch – tức phân rã hạt nhân của các nguyên tố nặng như urani,  thori và plutoni thành các hạt nhân con nhẹ hơn, – trong phản ứng này  các hạt nhân nặng bị neutron bắn phá, đập vỡ ra thành những hạt nhân nhẹ  hơn và giải phóng năng lượng. Quá trình này cũng xảy ra một cách tự  phát trong các nguyên tố kém ổn định và có thể được dùng để tạo ra điện,  nhưng nó cũng sinh ra chất thải phóng xạ tồn tại lâu dài khó xử lí.     Vậy  tại sao chúng ta chưa dùng năng lượng nhiệt hạch an toàn và sạch? Cho  dù đã có nhiều tiến bộ trong việc nghiên cứu phản ứng nhiệt hạch, nhưng  tại sao các nhà vật lý của chúng ta vẫn có thái độ nghi ngờ đối với các  tuyên bố “đột phá” vô căn cứ? Câu trả lời ngắn gọn là rất khó để đạt  được những điều kiện để duy trì phản ứng. Nhưng nếu những thí nghiệm  hiện tại sẽ thành công thì việc sử dụng năng lượng nhiệt hạch sẽ trở  thành hiện thực trong vòng một thế hệ.     Các quá trình nhiệt hạch      Khác với phân hạch, các hạt nhân không tự phát tổng hợp nhiệt hạch vì chúng đều mang điện tích dương và phải khắc phục lực đẩy tĩnh điện rất lớn để đến gần nhau cho đến khi lực tương tác mạnh trở nên mạnh hơn lực đẩy tĩnh điện và giúp các hạt nhân kết hợp với nhau.      Trong thiên nhiên, lực hấp dẫn của các ngôi sao là đủ mạnh để nhiệt độ, mật độ và khối lượng của lõi ngôi sao cũng đủ sức để làm cho các hạt nhân kết hợp lại thông qua hiệu ứng “đường hầm lượng tử” (quantum tunneling), vượt qua rào cản tĩnh điện đó. Trong phòng thí nghiệm, hiệu ứng này xảy ra ít hơn hẳn và người ta chỉ có thể vượt qua rào cản ấy bằng cách làm cho các hạt nhân nóng lên tới cực điểm – gấp sáu đến bảy lần nhiệt độ ở lõi Mặt trời.      Ngay cả phản ứng nhiệt hạch đơn giản nhất – kết hợp hai đồng vị của hydro là deuteri và triti để tạo thành heli (là một hạt nhân nặng hơn) và một neutron năng lượng cao (cỡ 14 MeV) – cũng cần đến nhiệt độ khoảng 120 triệu độ C. Ở nhiệt độ cực cao này, các nguyên tử nhiên liệu bị phá vỡ thành các điện tử và hạt nhân, tạo thành một hỗn hợp plasma cực nóng (hỗn hợp ion hóa deuteri và triti).      Giữ trạng thái của plasma này đủ lâu tại một chỗ để các hạt nhân kết hợp lại là một việc cực kỳ khó. Trong phòng thí nghiệm, plasma bị giam giữ bởi các từ trường mạnh do các cuộn dây siêu dẫn tạo ra. Các cuộn dây này làm thành một cái “chai từ” hình xuyến để nhốt plasma vào trong đó.           Sơ đồ một lò phản ứng nhiệt hạch     Những thí nghiệm plasma ngày nay như Joint European Torus có thể giam giữ plasma nhiệt độ cao để tỏa ra năng lượng nhưng mật độ plasma và thời gian giữ năng lượng (một dạng đo thời gian plasma nguội đi) còn quá thấp, chưa đủ để plasma có thể tự duy trì nhiệt độ. Tuy nhiên, việc này vẫn đang được nghiên cứu và cải thiện – các thí nghiệm phản ứng nhiệt hạch ngày nay tốt hơn 40 năm trước hàng nghìn lần về các chỉ số như nhiệt độ, mật độ plasma và thời gian giữ năng lượng. Và hướng phát triển tiếp cũng đã khá rõ ràng.       Sự thay đổi chế độ      Lò phản ứng thí nghiệm nhiệt hạch quốc tế ITER (International Thermonuclear Eperimental Reactor), hiện đang được xây dựng ở Cadarach miền nam nước Pháp, sẽ nghiên cứu “chế độ plasma đốt nóng” khi lượng nhiệt tỏa ra từ phản ứng nhiệt hạch sẽ lớn hơn lượng nhiệt cung cấp cho phản ứng nhiệt hạch. Tổng lượng nhiệt nhận được từ ITER sẽ gấp 5 lần lượng nhiệt cung cấp từ bên ngoài trong những phản ứng gần như liên tục, và đạt được từ 10 đến 30 lần trong những phản ứng thời gian ngắn.   Với cái giá hơn 20 tỉ USD và được tài trợ bởi một tập đoàn gồm bảy quốc gia và liên minh, ITER là dự án khoa học lớn nhất thế giới cho đến nay. Mục đích của nó là chứng tỏ tính khả thi về mặt khoa học và công nghệ của việc sử dụng phản ứng nhiệt hạch cho những mục đích hòa bình, như việc sản xuất điện năng.      Các thách thức kĩ thuật và vật lí là không hề nhỏ. ITER sẽ phải có một từ trường với sức mạnh 5 Tesla (gấp 100 nghìn lần từ trường Trái Đất), và một thiết bị có đường kính 6 m chứa 840 m3 plasma (1/3 thể tích một bể bơi tiêu chuẩn Olympic). Thiết bị sẽ có trọng lượng 23 nghìn tấn, bao gồm 100 nghìn km dây siêu dẫn hợp kim niobi-thiếc. Hợp kim này là chất siêu dẫn tại 4,5 độ K (khoảng âm 269 độ C) nên cả thiết bị sẽ nằm trong một máy làm lạnh bằng heli lỏng để giữ các sợi dây siêu dẫn ở vào nhiệt độ cao vài độ so với không độ tuyệt đối.           Mặt cắt ngang của lò phản ứng thí nghiệm nhiệt hạch quốc tế ITER     Theo kế hoạch, ITER sẽ tạo ra những plasma đầu tiên vào năm 2020, trong khi các thí nghiệm về plasma cháy (burning plasma) dự kiến sẽ bắt đầu vào năm 2027. Một trong những vấn đề chính là liệu việc plasma tự duy trì (self-sustaining plasmas) có thể thực sự được tạo ra và duy trì mà không làm hỏng bức thành đối diện plasma hoặc “bia chuyển hướng” dòng nhiệt cao (the high heat flux “divertor” target).      Những thông tin và kinh nghiệm chúng ta có được từ việc xây dựng và vận hành ITER sẽ cung cấp cho ta bản thiết kế các nhà máy năng lượng nhiệt hạch trong tương lai, với mục đích cuối cùng là đưa công nghệ này dùng vào việc sản xuất năng lượng thương mại. Hiện tại xem ra nhà máy điện nhiệt hạch mẫu đầu tiên sẽ được xây dựng vào những năm 2030 và sẽ sản xuất khoảng 1 gigawatt điện năng.      Cho dù các nhà máy phát điện thế hệ đầu dự kiến sẽ có kích cỡ tương tự ITER, người ta vẫn hi vọng rằng những tiến bộ về điều khiển và giam giữ từ trường sẽ khiến các thế hệ nhà máy sau này có kích thước nhỏ hơn. Tương tự, giá thành của chúng cũng sẽ thấp hơn ITER: từ mô hình hóa dài hạn có thể suy ra các nhà máy điện nhiệt hạch sẽ có hiệu quả kinh tế với ít ảnh hưởng đến môi trường.      Kết luận là, mặc dù còn những thách thức rất lớn trong việc sản xuất năng lượng từ phản ứng nhiệt hạch, song những gì nhận lại được còn lớn hơn rất nhiều. Tất cả những gì chúng ta cần làm là đưa nhà máy điện nhiệt hạch vào vận hành.     Dương Quang Thành dịch     Cao Chi hiệu đính     Nguồn:https://theconversation.com/nuclear-fusion-the-clean-power-that-will-take-decades-to-master-41356              Author                Quản trị        
__label__tiasang Phản xạ trong miền tần số (FDR)- một phương pháp hữu hiệu để nhận dạng lỗi trên đường truyền      TÓM TẮT   Đường truyền có thể bị gián đoạn bởi lỗi đường dây, cuộn cảm và chỗ rò rỉ cản trở việc truyền dẫn. Những nhà cung cấp dịch vụ điện thoại/ADSL cần phải định vị và sửa chữa những lỗi này nhằm đảm bảo đường truyền dữ liệu tốc độ cao. Nội dung của bài báo này thảo luận về một kỹ thuật được gọi là Phản xạ trong Miền Tần số (FDR) được dùng để định vị một cách chính xác những chỗ hư hỏng trên đường truyền điện thoại/ADSL và xác định biên độ phản xạ gây ra bởi lỗi. Việc đo lường này cho ra một kết quả tương tự như kỹ thuật Phản xạ trong Miền Thời gian (TDR) nổi tiếng, mặc dù các kỹ thuật sử lý tín hiệu số (DSP) ngày nay được áp dụng để cung cấp giải pháp nâng cao và dải rộng hơn 3-4km. Ngoài biên độ phản xạ, kỹ thuật mới còn có thể đo được góc phản xạ, giúp xác định bản chất của lỗi (hở mạch, ngắn mạch, đứt dây, coil,…)      GIỚI THIỆU  Nội dung bài báo này sẽ thảo luận về Phản xạ trong Miền Tần số (FDR) và kết quả thí nghiệm có thể xác minh bằng mã hóa Fortran và Matlab. FDR có thể được sử dụng để đo các khoảng cách đến lỗi thông qua sự phản xạ. FDR là một công cụ có thể dùng để định vị các lỗi trên Waveguides. Waveguides là một chất không đồng nhất được hạn chế và truyền dẫn sóng điện từ. Một tín hiệu sẽ được gửi vào Waveguide và một bộ dò, được đặt tại đầu phát, để bắt những tín hiệu tiếp theo. Bộ dò bắt cả tín hiệu quét đã phát đi và các tín hiệu dội trở lại từ bất kỳ một lỗi nào trên đường truyền. FDR vượt trội hơn TDR (Phản xạ trong miền thời gian) bởi những lý do sau đây: FDR đi được những khoảng cách xa hơn TDR. FDR chi phí thấp hơn TDR. FDR cũng có một hệ thống báo có thể thông báo với người dùng, dựa trên góc phản xạ, về kiểu lỗi nào mà họ đang gặp phải.            [3]Hình 1: Ví dụ về quy trình FDR từ việc gửi tín hiệu quét đến việc nhận được kết quả đầu ra.          Sơ đồ trên là một minh họa cho quy trình FDR. Quy trình được bắt đầu bằng việc gửi một tín hiệu qua đường truyền, nó sau đó được phản xạ ngược trở lại cùng với tín hiệu lỗi. Tiếp theo, cả hai tín hiệu cùng được xử lý thông qua “bộ nối” và tín hiệu lỗi được gửi đến bộ khuếch đại. Bộ khuếch đại phóng đại tín hiệu lỗi và gửi đến “bộ chuyển đổi NI 5122 A/D” xử lý tiếp. Cuối cùng PC sẽ chấn nhận tín hiệu từ bộ chuyển đổi và xử lý, sau đó xuất ra biên độ và pha của lỗi.  Một số lỗi điển hình:  – Hở mạch  – Đoản mạch  – Tách cặp  – Cuận cảm  Bốn bước tiếp cận:            Hình 2: Quá trình vênh tầng số               1. Làm vênh trục tần số  • Hiệu quả của vênh tầng số  • Hằng số pha β  • Thừa số làm vênh = β/ω  • ω = 2πf  • Khoảng cách đến lỗi                     Hình 3: Bộ lọc thông thấp        2. Bù cho tổn thất cao tần  • Dùng bộ lọc thông thấp và bộ lọc thông cao để bù tổn thất           Hình 4: Bộ lọc thông cao          3. Số liệu Window  • Vị trí của lỗi, xác định bởi Biến đổi Fourier  • Trải phổ  • f* = β/(2πf)                    4. Dùng biến đổi Fourier để tính toán khoảng cách lỗi  Biến đổi Fourier được dùng để xác định ra vị trí của một lỗi bằng cách định lượng tốc độ biến đổi của “dấu vết”. Như đã giải thích trước, nếu đường truyền có một lỗi, “dấu vết” nhận được sau máy dò là một vết hình sin có tốc độ là một biến tỷ lệ với khoảng cách đến vị trí của lỗi. Nếu có nhiều hơn một lỗi trên đường truyền, kết quả sẽ là một sự pha trộn giữa các vết hình sin với biên độ giảm dần và chu kỳ tăng dần, mỗi vết tương ứng với một lỗi. Có thể xác định được khoảng cách đền từng lỗi bằng cách tìm ra tốc độ biến đổi của mỗi hình sin trọng “vết pha trộn” này. Do đó có thể giải quyết trong trường hợp có nhiều hơn một lỗi.  Kết quả thí nghiệm  Ta có thể dựng một mẫu và xác định vị trí các lỗi trên các đường dây điện thoại thực tế. Hình 5 cho thấy phép đo của một đường dây với một mạch hở tại 1200m. Phép đo chỉ ra một đỉnh tại 1200.3m với một góc là 2’. Hình 6 cho thấy kết quả của một phép đo từ một mạch bị đoản mạch tại 1200m và kết quả đo được là 1200.3m, nhưng lần này là với một góc 180”. Hình 7 chỉ ra một phép đo xa hơn. Đây là một mạch hở tại 3200m nhưng vẫn được nhận dạng chính xác bất chấp khoảng cách xa. Cuối cùng, hình 8 cho thấy kết quả của phép đo một đường truyền có 2 chỗ gián đoạn. Nó có một mối rò gỉ tại 1200m và một mối kết thúc bằng một mạch hở tại 400m. Trong hình này ta có thể thấy rằng, kỹ thuật này có thể phát hiện cả những chỗ gián đoạn trên cùng một đường điện thoại và, bằng cách đo góc, nó cũng có thể chỉ ra loại gián đoạn. Chú ý: đỉnh nhỏ tại 2000m bị gây ra bởi lần phản xạ thứ hai tại chỗ rò gỉ.            Hình 5 : Hở mạch tại 1200m        Hình 6: Đoản mạch tại 1200 m             Hình 7: Hở mạch tại 3200 m          Hình 8:  400m cầu nối ở đoạn rò rỉ 1200m                 KẾT LUẬN  Kỹ thuật do phản xạ FDR cho một giải pháp tốt hơn và có thể đo được các khoảng cách xa hơn với các kỹ thuật Time domain reflectometry (TDR) nhu đã miêu tả trên đây. Bên cạnh ưu điểm chi phí thấp hơn, kỹ thuật này còn có ưu điểm tiên tiến hơn là nó có thể đo được góc phản xạ của điểm gián đoạn. Với kỹ thuật này, người ta có thể xác định được bản chất của các lỗi riêng biệt.  ——————-  * Trường ĐH Florida    THAM KHẢO:  [1]http://www.birds-eye.net/definition/f/fdr-frequency_domain_reflectometry.shtml  [2] Bordas Stephane P. “Numerical Simulation of Measured Time Domain Reflectometry Signatures” Northwestern University, Evanston, IL.  Dec. 1998  [3] Fujimoto J.G., Huber R., Taira K., Wojtkowski M. “ Amplified, frequency swept lasers for frequency domain reflectometry and OCT imaging design and scaling principles” Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, MA.      Trần Vũ Nam *      Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháo đường ray điện từ có thể tiêu diệt mọi hạm đội      Theo website Manufactured For America, Hải  quân Mỹ đã ấn định kế hoạch năm 2016 sẽ lắp đặt cho một trong các tàu  chiến tốc độ cao của họ loại vũ khí cực kỳ hiện đại – Pháo-đường ray  điện từ (Electromagnetic railgun, EM Railgun). Loại vũ khí dùng năng lượng điện từ (lực  Lorenz Force) để diệt mục tiêu này sẽ làm thay đổi bộ mặt chiến tranh  trên biển trong tương lai.     Trong năm 2016 và 2017 Hải quân Mỹ sẽ thử nghiệm EM Railgun trên cả hai căn cứ trên biển và trên đất. Trong thập niên sau, nếu các tàu chiến đều được trang bị loại súng này thì Hải quân Mỹ sẽ chiếm ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh, thí dụ Trung Quốc.   EM Railgun là sản phẩm nghiên cứu sáng tạo của Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Mỹ (Office of Naval Research, ONR), được trưng bày công khai lần đầu tại Triển lãm Khoa học và Công nghệ của Lực lượng hải quân tương lai (Naval Future Force S&T EXPO) ở Washington vào các ngày 4 và 5/2/2015.  Website của ONR giải thích EM Railgun là một loại vũ khí tầm xa sử dụng điện năng, chứ không dùng thuốc nổ hóa chất, để đẩy viên đạn đi. Từ trường tạo ra bởi dòng điện mạnh làm tăng tốc một vật kim loại hoặc một armature (phần cảm ứng), trượt giữa hai đường ray để bắn đầu đạn đi với tốc độ 7.242 km/h tới mục tiêu ở cách xa 110 hải lý.  Nguyên lý hoạt động của EM Railgun như sau: Điện năng do con tàu tạo ra được tích lại vài giây trong hệ thống xung điện. Sau đó một xung điện được đưa vào EM Railgun, tạo ra một lực điện từ làm tăng tốc viên đạn lên đến Mach 6 (1 Mach = 1.245 km/h), tức 7.470 km/h, nhanh hơn nhiều so với vận tốc của loại đạn pháo hiện dùng (4.389 km/h). Vận tốc cao tạo ra động năng cực lớn cho viên đạn, khiến nó không cần chứa chất nổ nhưng vẫn tiêu diệt được các mục tiêu lớn như tàu chiến. Nói cách khác, những tàu được trang bị EM Railgun sẽ không cần mang theo bất kỳ chất nổ nguy hiểm nào.   EM Railgun thực sự là một yếu tố sẽ làm thay đổi cuộc chơi tác chiến. Tầm bắn xa, phản ứng nhanh phi thường (mỗi phút có thể bắn 10 phát) và mang theo được rất nhiều đầu đạn, mở rộng phạm vi tác chiến và sức công phá của các chiến hạm được trang bị công nghệ này. Viên đạn EM Railgun có sức hủy diệt như một quả tên lửa nhưng giá thành chỉ vào khoảng 25.000 USD/viên, trong khi một quả tên lửa giá 0,5-1 triệu USD. Nó có thể diệt mọi mục tiêu từ máy bay, tên lửa đang bay, tàu chiến, tàu thuyền nhỏ, các mục tiêu trên đất liền.   Tổng công trình sư hải quân (Navy’s chief engineer), Thiếu tướng hải quân Bryant Fuller, nói: “EM Railgun là loại vũ khí tấn công kiểu mới của Hải quân Mỹ. Nó sẽ giúp chúng ta, bằng một giá thành tương đối thấp, đối phó hữu hiệu với các mối đe dọa. Do trên tàu không cần chứa nhiều vũ khí nổ mạnh nên con tàu và các thủy thủ sẽ càng được an toàn hơn.”   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát điện dựa theo nguyên lý…bụng bò      Một nhóm nghiên cứu của trường đại học bang Ohio (Mỹ) đã đưa ra một phương pháp sản xuất điện độc đáo: một máy phát sử dụng dịch trong dạ cỏ của bò    Dạ cỏ của loài nhai lại này là môi trường lý tưởng cho các vi khuẩn phân hủy cellulose khó tiêu thành các chất dễ hấp thụ. Hamid Rismani-Yadzi và các đồng nghiệp của ông đã lấy chất lỏng này tưới lên cellulose. Rất nhanh, cellulose bị phân hủy nhờ các phản ứng sinh hóa và cho ra một dòng điện 0,58 Volt. Hai nhà hóa học Mỹ dự định tiếp tục thử nghiệm với phân bò vì chúng cũng chứa nhiều cellulose và vi khuẩn.  http://researchnews.osu.edu/archive/compower.htm. BMJ, 633, 331, 2005    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện      Các nhà khoa học Mỹ cho biết họ vừa phát hiện được “vũ khí bí mật” của virus gây bệnh SARS (hội chứng viêm đường hô hấp cấp). Phát hiện này có thể giúp tạo ra một loại vắcxin mới phòng ngừa căn bệnh này.    Nhóm các nhà nghiên cứu tại Trường ĐH Y khoa Texas phát hiện virus SARS đã sử dụng một protein được gọi là nsp1 để can thiệp vào quá trình sản sinh một loại protein trong cơ thể giúp các tế bào chống lại sự tấn công của các loại virus.  Giáo sư chuyên ngành miễn dịch và vi trùng học Shinji Makino, tác giả nghiên cứu, cho biết nhóm sẽ tiếp tục dựa trên phát hiện này để nghiên cứu và tạo ra loại vắcxin chống SARS.  Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tờ Proceedings của viện Hàn lâm khoa học Mỹ.  Dịch SARS bùng phát đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 2003 khiến khoảng 916 người thiệt mạng trên khắp Châu Á, Châu Âu, Nam và Bắc Phi.  (Theo HealthDay News)  T.VY      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện ba loại gen mới gây ung thư phổi      Các nhà khoa học Mỹ tại Trung tâm nghiên cứu “Cold Spring Harbor” ở New York cho biết đã phát hiện ba loại gen mới là tác nhân liên quan đến 20% tổng số ca ung thư phổi.    Ba loại gen TTF1, NKX2-8 và PAX9 tương tác với nhau để làm cho khối u phát triển, và định vị ở gần nhau trong nhóm nhiễm sắc thể 14. Phát hiện mới này mở ra cách tiếp cận mới với bệnh nhân bị ung thư phổi dạng có tế bào không nhỏ. Các nhà khoa học nói rằng việc hiểu được cơ chế biến đổi của ba loại gen sẽ giúp họ có thể tìm ra phương thức ngăn chặn việc tương tác giữa chúng và ngăn ngừa khối u phát triển.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện bảy ngoại hành tinh có thể có sự sống      Lần đầu tiên các nhà thiên văn học phát hiện nhiều hành tinh có kích thước tương đương với Trái đất cùng quay quanh một ngôi sao như vậy.      Hình ảnh minh họa bảy hành tinh quay quanh sao Trappist-1, theo thứ tự khoảng cách đến sao này, so với hệ Mặt trời.  NASA vừa công bố trên Nature về việc phát hiện một nhóm bảy ngoại hành tinh, có kích thước tương đương Trái đất, có khả năng có nước và sự sống, quay xung quanh một ngôi sao thuộc chòm sao Bảo Bình.  Ngôi sao mà bảy hành tinh này quay quanh là sao lùn có tên Trappist-1, cách Trái đất 39 năm ánh sáng. Trappist-1 chỉ nhỉnh hơn sao Mộc một chút, và ánh sáng của nó yếu hơn so với Mặt trời 2.000 lần.  Năm 2015, nhóm nghiên cứu do GS Michaël Gillon tại Đại học Liège, Bỉ, dẫn dắt, đã phát hiện ba hành tinh cỡ Trái đất quay quanh một sao lùn bằng phương pháp Transit Photometry (tạm dịch là trắc quang kinh tuyến, phương pháp được cho là hiệu quả nhất hiện nay để phát hiện các ngoại hành tinh) với hỗ trợ của kính viễn vọng Trappist tại Đài quan sát La Silla ở Chile. “Ngôi sao này [Trappist-1] nhỏ và lạnh nên bảy hành tinh có khí hậu ôn hòa, nghĩa là chúng có thể có nước ở dạng lỏng và nói rộng ra, là sự sống, trên bề mặt”, theo GS Michael Gillon.  Tiếp nối khám phá của kính viễn vọng Trappist, kính viễn vọng không gian Spitzer của NASA đã quan sát sao Trappist-1 trong 21 ngày và, với dữ liệu từ các trạm quan sát khác, cho thấy toàn bộ bảy hành tinh xoay quanh nó. Kích thước của mỗi hành tinh (ở trong khoảng từ nhỏ hơn 25% đến lớn hơn 10% so với kích thước Trái đất) được suy luận từ lượng ánh sáng bị nó che khuất, trong khi khối lượng được ước tính từ cách nó bị đẩy và kéo bởi các hành tinh khác trong cùng hệ.  Điểm nổi bật nhất của các hành tinh trong hệ Trappist-1 là chúng ở rất gần ngôi sao trung tâm. Sao Thủy, hành tinh trong cùng của hệ Mặt trời, cũng cách Mặt trời một khoảng xa gấp sáu lần so với khoảng cách từ hành tinh ngoài cùng đến Trappist-1. Từ hành tinh thứ năm, nơi được xem là có khả năng có sự sống cao nhất, Trappist-1 sẽ hiện ra lớn gấp 10 lần so với vầng thái dương trên bầu trời của chúng ta. Các hành tinh mất từ khoảng từ ngày rưỡi đến 20 ngày để quay quanh ngôi sao. Ở khoảng cách gần như vậy, hầu hết các hành tinh, nếu không phải là tất cả, sẽ bị “khóa thủy triều”, có nghĩa là chúng sẽ chỉ hướng một mặt về phía Trappist-1, như chỉ một phía của Mặt trăng luôn luôn hướng về phía Trái đất.  Giờ đây các nhà nghiên cứu đang tập trung vào việc tìm hiểu liệu các hành tinh này có khí quyển hay không bởi nó có thể tiết lộ những chỉ dấu về sự sống trên bề mặt các hành tinh. Họ hi vọng trong vòng mười năm nữa sẽ có câu trả lời, theo Amaury Triaud thuộc Viện Thiên văn học, ĐH Cambridge.  Trạng thái của các hành tinh trong hệ Trappist-1 rất gần với trạng thái của sao lùn, nơi phóng ra những bùng nổ tia X và tia cực tím, vốn không phải là điều kiện thuận lợi nhất cho sự sống. Nhưng khi Mặt trời tắt trong vài tỷ năm tới, Trappist-1 sẽ vẫn là một ngôi sao trẻ. Nó đốt hydrogen chậm đến mức sẽ tồn tại thêm 10 nghìn tỉ năm nữa, nghĩa là lâu hơn 700 lần so với lịch sử vũ trụ cho đến nay, vì thế vẫn còn rất nhiều thời gian cho sự sống phát triển – nhà vật lý thiên văn tại Đài quan sát Leiden, Hà Lan, viết trong bài báo đi kèm trên Nature.  Nhàn Vũ lược dịch  Nguồn:  https://www.theguardian.com/science/2017/feb/22/thrilling-discovery-of-seven-earth-sized-planets-discovered-orbiting-trappist-1-star    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện bộ lạc nguyên thủy còn sót lại trên trái đất      Một cộng đồng những người da đỏ chưa từng tiếp xúc với thế giới bên ngoài mới được phát hiện tại khu vực sông Envira của Brazil vào tháng 5 vừa qua.      Theo tổ chức Funai, Hiệp hội những người da đỏ quốc gia, bộ lạc này đã rất kinh ngạc khi nhìn thấy máy bay lượn trên nóc lều của họ. Các thổ dân đã bắn tên và ném lao vào máy bay. Các bức ảnh chụp được cho thấy đó là những chiến binh mạnh mẽ và vạm vỡ, sống trong 6 ngôi lều và một khu vực trồng trọt rộng lớn. “Chúng tôi bay sát gần nơi ở của họ để cho mọi người thấy rằng họ thực sự tồn tại ở đó”, chuyên gia Jos Carlos dos Reis Meirelles Jr. cho biết. Họ là một trong những bộ lạc còn sót lại trên trái đất mà chưa từng biết đến thế giới văn minh hiện đại. Tổ chức Funai ngăn chặn việc xâm nhập vùng đất của họ để bảo tồn quyền tự chủ của bộ lạc. Theo các chuyên gia, cuộc sống của những bộ lạc như thế này đang bị đe dọa do nạn chặt phá rừng bất hợp pháp. Hơn một nửa những bộ lạc hoang dại trên thế giới sống ở Brazil hoặc Peru. “Thế giới cần phải thức tỉnh trước điều này và cần bảo vệ lãnh thổ của họ theo luật quốc tế. Nếu không họ sẽ nhanh chóng biến mất”, tổ chức Sống còn quốc tế phát biểu. Hiện nay có hơn 100 bộ lạc sống cô lập trên trái đất.   M.T (Theo ABC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cá heo có dấu hiệu điển hình của bệnh Alzheimer      Trước đây, bệnh Alzheimer chưa từng được phát hiện xảy ra tự nhiên ở các loài khác ngoài con người.    Vì vậy các nhà nghiên cứu từ các trường Đại học Glasgow, St Andrews, Edinburgh và Viện nghiên cứu Moredun ở Scotland đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng các xét nghiệm trên 22 con cá voi có răng, hay odontocete, cho thấy 3 thay đổi não chính liên quan đến bệnh Alzheimer.    Các nhà khoa học không biết nguyên nhân của sự thoái hóa não này nhưng phát hiện củng cố cho một giả thuyết về lý do một số nhóm hoặc đàn cá voi và cá heo mắc cạn ở vùng nước nông.        Cụ thể, giả thuyết này cho rằng hầu hết các cá thể cá voi khỏe mạnh đều mắc cạn vì chúng đi theo một thủ lĩnh nhóm đã bị nhầm lẫn do bệnh liên quan đến trí nhớ.    Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các dấu hiệu của bệnh Alzheimer ở 3 trong số 22 cá thể odontocete mắc cạn: một con cá heo mõm trắng, một con cá heo mũi chai và một con cá voi hoa tiêu vây dài, cũng là một thành viên của họ cá heo.    Theo bài báo đăng trên Tạp chí Khoa học Thần kinh Châu Âu, cả 3 cá thể đều già so với loài của chúng và mang 3 dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer ở ​​người: mức độ bất thường của protein beta-amyloid đã tích tụ thành các mảng làm phá vỡ tế bào thần kinh trong não, một loại protein khác gọi là tau đã tập hợp thành đám rối bên trong tế bào thần kinh và có sự tích tụ của các tế bào thần kinh đệm, gây viêm não.    Nhà nghiên cứu bệnh học và trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Mark Dagleish của Đại học Glasgow cho biết không thể xác nhận liệu các dấu hiệu này có gây ra sự thiếu hụt nhận thức giống như bệnh Alzheimer ở người hay không. Để xác định xem cá heo và cá voi có mắc bệnh Alzheimer hay không cũng cần phải nghiên cứu từng cá thể động vật khi chúng còn sống.    “Tuy nhiên đây là những phát hiện quan trọng lần đầu tiên cho thấy rằng bệnh lý não ở loài odontocete mắc cạn tương tự như não của người bị bệnh Alzheimer. Mặc dù ở giai đoạn này, rất dễ suy đoán rằng sự hiện diện của những tổn thương não này cũng dẫn đến suy giảm nhận thức liên quan đến bệnh Alzheimer ở người, nhưng cần phải thực hiện thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về những gì đang xảy ra với những loài động vật này”, Dagleish nói.    Một lý do có thể khiến cá voi và cá heo có biểu hiện tổn thương não giống bệnh Alzheimer ở người, trong khi nhiều loài động vật khác thì không, là chúng có thể sống nhiều năm sau khi ngừng hoạt động sinh sản. Một nguyên nhân có thể khác có thể là do tình trạng thiếu oxy – mức oxy thấp trong các mô cơ thể – do chúng kiếm ăn dưới đại dương sâu.    Giáo sư Tara Spires-Jones của Đại học Edinburgh, thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi rất thích thú khi thấy những thay đổi về não ở cá heo già tương tự như ở người già và bệnh Alzheimer. Liệu những thay đổi bệnh lý này có góp phần khiến những con vật này mắc cạn hay không là một câu hỏi thú vị và quan trọng cho các nghiên cứu trong tương lai”.    Dagleish cho biết nghiên cứu này đặt ra nhiều câu hỏi hơn cho nghiên cứu về bệnh Alzheimer ở động vật và con người. “Nếu đây là những động vật duy nhất phát triển những tổn thương này một cách tự nhiên, nghiên cứu sâu hơn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những gì xảy ra trong giai đoạn rất sớm của quá trình phát triển những tổn thương này”, ông nói.    Nguyễn Long    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện cá sấu xanh ở Mexico      Từ đầu năm đến nay, các nhà sinh vật học tại Mexico đã phát hiện tổng cộng 9 con cá sấu xanh ở hẻm núi Sumidero mà sông Grijalva chảy qua.    Chín con cá sấu này có mắt đen và mình màu xanh nhạt, trong khi những con cá sấu thông thường cùng chủng loại này có màu vàng, bụng trắng, lưỡi và mắt màu vàng.  Qua nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận rằng sự biến đổi màu sắc của cá sấu có liên quan nhiều đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, môi trường sinh thái và nguồn thức ăn. Nhưng điều khiến các nhà khoa học hết sức ngạc nhiên là các chú cá sấu xanh lại lành tính hơn nhiều so với các đồng loại khác màu.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện các “bong bóng” khổng lồ quanh lỗ đen của Ngân hà      Kết quả quan trọng đầu tiên thu được từ Kính thiên văn vô tuyến mang tính tiên phong MeerKAT ở Nam Phi đã tiết lộ những dấu vết còn lại của những bùng nổ năng lượng tại trung tâm của dải Ngân hà.         Trong kết quả quan trọng đầu tiên của nó, mới chỉ hơn một năm sau khi khai trương, một kính viễn vọng siêu nhạy ở Nam Phi đã phát hiện ra hai “bong bóng vô tuyến” khổng lồ ở phía trên và dưới của dải Ngân hà. Những chi tiết trải rộng khắp một khu vực rộng 430 parsec (tương đương 1.400 năm ánh sáng), khoảng 5% khoảng cách giữa Hệ mặt trời và trung tâm của thiên hà này.  Các bong bóng này là các cấu trúc khí có thể quan sát được bởi các điện tích phóng bên trong chúng tạo ra các sóng vô tuyến như cách chúng được các từ trường gia tốc. Chính hoạt động này đề xuất rằng các bong bóng là những thứ còn sót lại của một suy sụp năng lượng của khí nóng ở nhiều triệu năm trước, theo các tác giả của một công bố về miêu tả các đặc điểm này, mới được xuất bản trên Nature vào ngày 11/9/2019, “Lạm phát của các bong bóng sóng thiên văn lưỡng cực trong Trung tâm Ngân hà bằng một sự kiện phóng điện tích” (Inflation of 430-parsec bipolar radio bubbles in the Galactic Centre by an energetic event).  Một giải thích có thể là chính lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm của Ngân hà đã trải qua một thời kỳ “ngấu nghiến” vật chất khủng khiếp và tạo ra sự bùng nổ. Một giải thích khác là đây có thể là một sự kiện “bùng nổ” sao – quá trình hình thành gần như song song này và cái chết theo sau của khoảng 100 ngôi sao lớn. Những sóng từ những va chạm của các bùng phát của chúng có thể đã kết hợp, “thổi” được một lỗ qua đám vật chất liên sao dày đặc ở vùng trung tâm Ngân hà này.  Oliver Pfuhl, một nhà vật lý thiên văn tại Đài quan sát Nam Âu ở Garching, Đức, cho biết cả các vụ bùng nổ sao và hoạt động của lỗ đen có thể đóng vai trò trong đó, thậm chí là củng cố lực tác động lên chúng. Và các nhà nghiên cứu biết một vụ nổ sao đã diễn ra tại khu vực trung tâm Ngân hà vào 7 triệu năm trước đây. “Thật hấp dẫn khi liên hệ bong bóng vô tuyến với chính sự kiện hình thành sao này”, ông nói.  Các nhà nghiên cứu đang làm việc với Kính viễn vọng vô tuyến MeerKAT ở Nam Phi – một thiết bị tiền thân của kính viễn vọng vô tuyến lớn nhất thế giới hiện nay, Kính viễn vọng Square Kilometre Array (SKA) – đã khám phá ra những bong bóng quanh lỗ đen ở trung tâm Ngân Hà— khi họ tạo ra một hình ảnh về trung tâm Ngân hà để chúc mừng một năm kỷ niệm ngày thành lập đài quan sát và kiểm tra việc vận hành thiết bị mới được lắp đặt từ tháng 4/2018, nhà thiên văn học sóng vô tuyến Fernando Camilo, người phụ trách khoa học của đài quan sát nói. Điều đáng nói là sẽ phải mất nhiều năm để các nhà nghiên cứu có được một đài quan sát mới để làm việc một cách hiệu quả, và tạo ra được các sản phẩm nghiên cứu trên các thiết bị đó nhưng với MeerKAT, họ đã làm mọi người kinh ngạc khi có được những điều đó một cách trôi chảy. “Đây đúng là kiểu công việc vượt ra ngoài khuôn khổ”, Camilo nói.  Các bong bóng đó có thể góp phần giải quyết một bài toán cũ trong thiên văn sóng vô tuyến. Có thể là các điện tích được gia tốc bên trong chúng là nguồn năng lượng làm sáng “các dây tóc” của vật chất dài hàng chục parsec, kéo dài ở trung tâm dải Ngân hà, đầu tiên được quan sát vào năm 1984. Ngay cả những bong bóng lớn nhất, vượt hẳn lên các bong bóng khác do MeerKAT quan sát, đã được quan sát trong phần tia γ của dải quan phổ, và có thể tương tự về nguồn gốc.  Đài quan sát MeerKAT trị giá 330 triệu USD là một dãy 64 ăng ten parabol đặt cách nhau 13,5 m, tại một vùng hẻo lánh ở vùng Bắc Cape. Nó sẽ hình thành vùng lõi của Đài quan sát SKA ở Nam Phi, sẽ được xây dựng vào những năm 2020. Phần thứ hai của SKA sẽ được xây ở Australia.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02726-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện căn phòng bí mật trong Đại Kim tự tháp Giza bằng tia vũ trụ      Các nhà nghiên cứu đã dùng các máy dò muon để khám phá ra một không gian dài 30 m, cơ hội có thể giúp họ tìm hiểu người Ai Cập cổ đại đã xây đài tưởng niệm có tuổi đời 4.500 tuổi này như thế nào.      Các nhà nghiên cứu đặt thiết bị dò muons bên ngoài và bên trong kim tự tháp để kiểm tra liệu các giả thuyết về không gian trống trong Kim tự tháp vĩ đại là có thật hay không.  “Sự tồn tại của một căn phòng có kích thước lớn như vậy trong lòng Kim tự tháp nhất định không thể là ngẫu nhiên”, ông Mehdi Tayoubi – Chủ tịch Viện Bảo tồn Sáng tạo Di sản có trụ sở đặt tại Paris, người dẫn đầu nghiên cứu cho biết. Phát hiện này cũng thu hút sự quan tâm của giới khảo cổ và các nhà vật lý hạt.  Theo ước tính, Đại kim tự tháp Giza được xây dựng từ gần 2.3 triệu khối đá granite, cao 140m và rộng 230m, là một kỳ quan xây dựng còn nhiều bí ẩn, giống như hai “người anh em” của nó nhưng có kích thước nhỏ hơn nhiều là Kim tự tháp Khafre và Menkaure. Công trình này được xây dựng làm lăng mộ cho vua Khufu – trị vì trong giai đoạn 2589 – 2566 trước công nguyên cho tới khi mất. Trong suốt một thời gian dài, các nhà khoa học vẫn băn khoăn về cách [chính xác] mà các kim tự tháp này được xây dựng vùng với cấu trúc bên trong của chúng.   Và nay, ngành khảo cổ đã nhận được sự trợ giúp từ một công cụ mà ít ai ngờ tới: các tia vũ trụ cùng những hạt hạ nguyên tử rớt xuống từ không gian. Trên thực tế, các nhà vật lý đã phát hiện căn phòng trống bên trong Đại kim tự tháp qua việc chụp ảnh nó bằng các hạt muon –một loại hạt sơ cấp hình thành từ các va chạm năng lượng cao của các proton và hạt nhân nguyên tử khác có trong tia vũ trụ với bầu khí quyển Trái đất.  Theo lý thuyết, trung bình mỗi phút có hàng chục ngàn hạt muon đi qua một diện tích bằng một mét vuông trên bề mặt Trái đất. Những hạt này trông giống với electron nhưng có khối lượng gấp 207 lần. Do rất nặng, những hạt mang điện tích âm này có khả năng đi xuyên qua lớp đá dày hàng trăm mét trước khi bị hấp thụ, trong lúc đó electron chỉ có thể đi xa được vài cm. Cũng giống như các bác sĩ dùng tia X để “nhìn” vào trong cơ thể bệnh nhân, còn các nhà vật lý dùng hạt muon để “nhìn” xuyên qua những vật thể có cấu trúc dày – như núi lửa hay các lò phản ứng hạt nhân ngưng hoạt động. Để làm được điều đó, các nhà khoa học cần đặt thiết bị dò muon ở ngay gần với vật thể muốn tìm hiểu nhất, sau đó tính toán số lượng các hạt muon tới từ nhiều hướng khác nhau.        Lần đầu tiên các nhà khoa học – tiên phong là nhà vật lý đạt giải Nobel Luis Alvarez đã dùng bức ảnh muon để tìm kiếm bí mật bên trong Kim tự tháp Khafre (lớn thứ hai sau Giza) là vào cuối những năm 1960, tuy nhiên lúc đó họ không phát hiện được gì vì độ nhạy của máy chưa đủ cao. Cho đến nay, công nghệ đã thay đổi và tiến bộ hơn trước rất nhiều, Tayoubi nhận định: “Tôi nghĩ Alvarez là người có tầm nhìn xa, ý tưởng của ông ấy là đúng nhưng chỉ hơi sớm. Vì vậy, chúng tôi mong muốn thực hiện lại thí nghiệm với Kim tự tháp Khafre để chứng minh Alvarez đúng và vinh danh ông ấy.”  Tháng 12/2015, nhà vật lý Kunihiro Morishima – ĐH Nagoya (Nhật Bản) cùng các đồng nghiệp đã đặt một thiết bị dò muon ngay bên trong phòng của hoàng hậu, nơi họ phát hiện các hạt muon có khả năng đi xuyên qua kim tự tháp từ bên trên. Vì các hạt đã bị hấp thụ phần nào, cho nên bất kỳ khoảng trống lớn nào bên trong kim tự tháp cũng có xác suất xuất hiện hạt muon lớn hơn khi sử dụng thiết bị dò. Những thử nghiệm mới đã hé lộ nhiều bất thường, cho thấy phải có thứ gì đó tồn tại ngay phía sau những bước tường đá.   Để kiểm chứng giả thuyết này, hai nhóm các nhà vật lý khác – tới từ Tổ chức Nghiên cứu năng lượng cao Nhật Bản (ở Tsukuba), và Ủy ban Năng lượng thay thế & Năng lượng nguyên tử Pháp (ở Paris) đã đặt các thiết bị dò muon rất nhạy, tại nhiều vị trí khác nhau, ở cả bên trong lẫn bên ngoài kim tự tháp: tại phòng hoàng hậu và hàng lang liền kề, ở cả hướng Bắc, tiếp đó họ phân tích dữ liệu thu thập sau 2 đến 5 tháng. Kết quả cho thấy, giả thuyết về sự hiện diện của 3 khoảng trống lớn: tại phòng của nhà vua (nơi lưu giữ cỗ quan tài đá), phòng của hoàng hậu, và khu vực hành lang kết nối giữa hai phòng giống như một đường hầm lớn. Kết cấu này tương đối khác với những kim tự tháp được xây dựng trong cùng thời kỳ – khi các hàng lang thường được xây dựng nằm ngay trên hầm mộ đặt dưới lòng đất. Cụ thể, căn phòng này có chiều cao gần 8m, rộng 2m và dài ít nhất 30m – khá giống với một thánh đường Công giáo, nhưng hẹp hơn, và cao khoảng 20m tính từ phần nền bên trong kim tự tháp. Nghiên cứu đã được công bố trên Nature vào ngày 2/11/2017.     Bob Brier – nhà Ai Cập học tại ĐH Long Island (Brookville, New York), tác giả cuốn sách Bí mật Đại Kim tự tháp (Smithsonian, 2008) nhận định về kiến trúc này: “Những bức tường cao, dốc và chìa ra cùng với những chiếc ghế đá huyền bí, đường hầm lớn quả là một công trình xây dựng kỳ vĩ bởi thế giới cổ đại”. Cũng theo GS Lee Thompson – chuyên gia vật lý hạt tại Đại học Sheffield vương quốc Anh, người không tham gia trong nghiên cứu: vì các nhà khoa học đã sử dụng nhiều thiết bị dò muon trong 3 thí nghiệm độc lập, cho nên các phát hiện đồng loạt về căn phòng này là rất vững chắc.    Các giả thuyết xoay quanh  Hiện nay, vì chưa thể chui vào sâu bên trong kim tự tháp để tiếp cận căn phòng trống, người ta mới chỉ có thể đưa ra phỏng đoán về vai trò của nó. Tuy nhiên, chắc chắn đó không phải là nơi thích hợp để an táng như nhà khảo cổ Mark Lehner – giám đốc Hiệp hội nghiên cứu Ai Cập cổ đại ở Boston, người không tham gia nghiên cứu nhận định. Aidan Dodson – nhà Ai Cập học tại ĐH Bristol (Anh) cũng loại bỏ khả năng tìm kho báu thất lạc trong một khu vực trống dài tới 30m như vậy.  Thay vào đó, mục đích khi xây dựng căn phòng trống này có thể chỉ đơn giản là để hỗ trợ, làm giảm bớt áp lực từ những khối đá nặng nằm ngay phía trên và giữ cho chúng khỏi đổ xuống, bảo vệ nơi an táng xác ướp nhà vua – như Lehner nhận định. Giả thuyết về một hệ thống cân bằng lực khổng lồ như vậy cũng được Brier và kiến trúc sư người Pháp Jean-Pierre Houdin đặt ra vào năm 2007, rằng những nhà xây dựng Ai Cập cổ đại đã sử dụng một hàng lang bên trong để nâng các khối đá lên cao nhất có thể. Đồng ý với quan điểm này, Dodson nêu ví dụ về một cấu trúc tương tự trong Kim tự tháp giành cho vua Sneferu (cha của Khufu) ở Meidum (một khu vực kháccó nhiều kim tự tháp ở Ai Cập). Tuy nhiên, Colin Reader – nhà địa chất và kỹ sư độc lập tới từ Liverpool (Vương quốc Anh), người từng nghiên cứu về cách xây dựng các Kim tự tháp Ai Cập đã bác bỏ giả thuyết này khi cho rằng không gian này nằm quá xa đường hầm lớn nên không phù hợp với mục đích như vậy. Ông đặt nghi vấn: cũng giống như đường hầm lớn dẫn đến phòng nhà vua, liệu không gian này có dẫn tới một gian bí mật nào khác nằm tại vị trí cao hơn.   Hay đơn thuần, không gian này chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, như là một lối đi dành cho linh hồn nhà vua, Tayoubi suy đoán. TS Zahi Hawass – nhà Ai cập học ở Cairo, chủ tịch hội đồng đánh giá nghiên cứu, tỏ ra rất thận trọng trong việc gọi căn phòng trống này là “phòng thiêng liêng” vì những người cổ xưa khi xây dựng kim tự tháp thường cố ý để chừa lại những khe hở lớn, nắm giữa các khối đá – khiến lõi kim tự tháp trông có vẻ giống như miếng phô-mai Thụy Sĩ.    Trả lời cho những thắc mắc về cấu trúc và chức năng chi tiết của căn phòng trống, các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ tiếp tục thực hiện nhiều thí nghiệm chụp ảnh bằng hạt muon hơn, đi kèm với độ phân giải rõ nét hơn. Điều đó có nghĩa rằng sẽ phải đặt thêm máy dò ở khu vực bên trong và gần với kim tự tháp, dữ liệu sẽ phải thu thập lâu hơn, trong thời gian có thể lên tới cả năm, Tayoubi cho biết. Khi đã hiểu rõ cấu trúc chi tiết bên trong căn phòng trống này, các nhà khoa học có thể làm rõ [chính xác] cách mà Đại Kim tự tháp được xây dựng.  Tới nay, những phát hiện trên, mặc dù rất mới và “ấn tượng”, nhưng vẫn chưa đủ để nhanh chóng thay đổi hiểu biết của chúng ta về kim tự tháp, Lehner nhận xét. Tuy nhiên, đối với các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khác, như nhà vật lý hạt Guido Saracino – Đại học Naples Federico II (Italia), họ cảm thấy rất hứng thú với phát hiện này. Theo Saracino, công trình này đã góp phần khẳng định: vật lý hạt có giá trị ứng dụng rất lớn trong thực tiễn, bao gồm cả công việc điều tra khảo cổ học. Một ngày nào đó, những nhà khoa học có thể tìm ra cách xây dựng những kim tự tháp cổ xưa.  Hải Đăng tổng hợp  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/11/cosmic-rays-reveal-unknown-void-great-pyramid-giza; http://www.nature.com/news/cosmic-ray-particles-reveal-secret-chamber-in-egypt-s-great-pyramid-1.22939    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cặp sao hình “củ lạc”      Một cặp sao khổng lồ màu vàng, quay gần nhau đến mức tạo thành vật thể hình củ lạc, vừa được khám phá kính thiên văn Large Binocular trong một thiên hà Holmberg IX, cách chúng ta 12 triệu năm ánh sáng.      Hình dáng của nó cũng cho thấy hai ngôi sao này phình to đến mức chúng đan xen vào nhau một phần, tạo nên dáng củ lạc. Các nhà thiên văn cho biết những cặp bài trùng tương tự như vậy có thể là nguồn gốc của một vài vụ nổ tân tinh bất thường. “Đây là ngôi sao sáng nhất chúng tôi tìm thấy trong Holmberg IX”, trưởng nhóm nghiên cứu José Prieto, ĐH bang Ohio (Mỹ), phát biểu. Nó sáng gấp khoảng 100.000 lần mặt trời ở bước sóng nhìn thấy.   T. An (theo NewScientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cây thuốc quý Giảo cổ lam      Nhóm nhà khoa học thuộc trường ĐH Dược Hà Nội do GS Phạm Thanh Kỳ đứng đầu đã tìm thấy cây Giảo cổ lam ở độ cao trên 2.000m thuộc vùng núi Cao Bằng và Lào Cai. Tên khoa học đầy đủ của cây là Gynostemma pentaphyllum Cucurbitaceae.    Giảo cổ lam là một dược liệu rất quý hiếm và mới chỉ phát hiện thấy tại Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan. Giảo cổ lam có tác dụng tăng cường chuyển hóa lipid giúp ổn định mức cholesterol, ngăn ngừa biến chứng tim, mạch, não, chống lão hóa, ngăn ngừa stress… Đầu tháng 6, Bộ Y tế đã thông qua đề tài nghiên cứu sản xuất giảo cổ lam thành thuốc dưới dạng viên nang. Nếu kết quả nghiên cứu thành công trong vòng 2-3 năm nữa thuốc dạng viên nang sẽ ra đời.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện chất thải nhựa có liên kết hóa học với đá ở Trung Quốc      Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra loại “đá nhựa”, có lẽ được hình thành từ những loại túi và chai nhựa, trong một nhánh sông.    Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra cái mà họ nghĩ là một dạng mới của ô nhiễm nhựa: các màng mỏng của chất thải nhựa có liên kết về mặt hóa học với các tảng đá trong tự nhiên.  Phát hiện này góp phần tăng ghi nhận của các nhà khoa học về việc nhựa có thể trở thành một phần của địa chất trái đất. Vào năm 2020, các nhà địa chất đã miêu tả đá trầm tích ở Brazil có chứa nắp chai nhựa, hoa tai nhựa và những vật mang khác bị ấn lõm thành từng lớp. Họ đã nghi ngờ là những tảng đá đó là các anthropoquinas – thuật ngữ được đề xuất để chỉ những loại đá trầm tích có khả năng kết dính có liên quan đến con người, hoặc còn được gọi là technofossils (hóa thạch công nghệ). Các nhà khoa học khác đã đưa ra từ plastiglomerates – loại đá được tạo thành từ hỗn hợp các hạt trầm tích và các mảnh vụn tự nhiên khác, và cả vật liệu do con người tạo ra, được liên kết với nhau bằng nhựa.  “Con người ở thế kỷ 20 và 21 đang tạo ra một hồ sơ địa chất mới”, Deyi Hou, một nhà khoa học đất và nước ngầm ở ĐH Thanh Hoa, Bắc Kinh, nhận xét. Hou và các đồng nghiệp của mình đã tìm thấy đá được phủ nhựa ở gần một nguồn nước ở thành phố Hà Trì, Trung Quốc.  Công trình của họ, xuất bản trên tạp chí Environmental Science and Technology là nghiên cứu đầu tiên khám phá sự liên kết hóa học giữa nhựa và đá trong môi trường 1. Nguồn nhựa này, Hou cho biết là chất thải được tích tụ quanh nguồn nước, bao gồm các màng mỏng polypropylene – giống như những nguyên liệu làm túi nhựa – và màng mỏng polyethylene – giống như thứ được nông dân che phủ hoa màu.  Khi các nhà nghiên cứu nhìn cận cảnh sự kết hợp đá – nhựa bằng thiết bị quang phổ, họ thấy các nguyên tử carbon trên bề mặt của màng polyethylene đã liên kết về mặt hóa học với silicon trong đá với sự hỗ trợ của nguyên tử oxygen. Hou nói, sự liên kết này có thể được điều hướng bởi tia bức xạ mặt trời, hoặc bằng hoạt động chuyển hóa của cộng đồng vi sinh vật sống trên loại đá nhựa mà họ tìm thấy. Màng mỏng polypropylene mà họ tìm thấy dường như gắn vào đó bằng những lực vật lý còn mạnh hơn liên kết hóa học.  Một kỷ nguyên mới  Bên cạnh sự ảnh hưởng lên địa chất trái đất, đá nhựa cũng khiến người ta lo ngại bởi vì chúng thêm phần phát tán vi nhựa vào môi trường. Các mảnh nhựa có thể được vận chuyển đường dài qua bầu khí quyển và đại dương, có thể đâm xuyên qua mô cây và có thể lạc vào chuỗi thức ăn bởi các loài động vật như chim, cá 2. Muốn hình dung ra bao nhiêu vi nhựa có thể liên kết với đá, Hou và cộng sự dò theo các phần của màng mỏng và phơi lộ chúng trong những chu trình khô – ướt ở phòng thí nghiệm, để bắt chước những gì có thể diễn ra khi dòng nước chảy theo chu kỳ. Nhóm nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ vi nhựa sinh ra theo trình tự lớn hơn kết quả thu được trong phòng thí nghiệm, bắt chước sự phát tán của nhựa vào bãi chất thải, nước biển và trầm tích đại dương.  Gerson Fernandino, một nhà địa chất ở ĐH Rio Grande do Sul ở Porto Alegre, Brazil, người đang nghiên cứu về các loại anthropoquinas trong trầm tích, nói nghiên cứu của Hou rất hấp dẫn nhưng không rõ là liệu các phức hợp đá – nhựa có thực sự hiện diện dưới dạng một dạng mới của tương tác giữa đá và nhựa không. Ngay cả như thế thì Fernandino nói, các phức hợp này vẫn là dạng đầu tiên của vật chất được hình thành trong một hệ sinh thái nước ngọt – phần lớn các nghiên cứu đều nhin vào cách nhựa tương tác với các vật liệu trong bãi rác hoặc đại dương, hoặc môi trường ven biển. Fernandino cho biết thêm là các kết quả này “làm phong phú thêm cuộc thảo luận về tương tác nhựa với các quá trình địa chất” nhưng nhấn mạnh là kết quả này mới chỉ là sơ khởi.  Hou hiểu là nghiên cứu của mình vẫn mới chỉ trên bốn mẫu vật. nhóm nghiên cứu đang tiếp tục tìm kiếm thêm nhiều ví dụ khác về các tương tác nhựa với hệ sinh thái đất và xa hơn là đặc điểm hóa được các phức hợp này trong phòng thí nghiệm.  Một số các nhà địa chất đang coi nghiên cứu đá nhựa như một dòng khác của bằng chứng là con người đã làm thay đổi một cách sâu sắc địa chất của hành tinh này kể từ giữa thế kỷ 20. Một số đồng ý là sự chuyển đổi phải được ghi nhận như một kỷ nguyên địa chất mới, Thế Nhân sinh (the Anthropocene). Trong vài tuần tới, Nhóm nghiên cứu Thế nhân sinh, một ủy ban các nhà khoa học, do Hội đồng Địa tầng học quốc tế thành lập, sẽ bỏ phiếu về việc ghi nhận trái đất khởi đầu kỷ nguyên địa chất, trên cơ sở các vật chất công nghiệp và bức xạ.  Jan Zalasiewicz, một nhà cổ sinh vật học tại ĐH Leicester, Anh, người tham gia vào một nhóm khoa học đề xuất kỷ nguyên mới vào năm 2008, cho biết nghiên cứu của Hou mang Thế Nhân sinh trở lại hiện tại “Khi anh ra ngoài đồng cỏ, đến bên một dòng suối và nhặt lấy một hòn đá có nhựa phủ lên, anh đã khiến Thế Nhân sinh trở nên hữu hình”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: doi: https://doi.org/10.1038/d41586-023-01037-6  —————————————-  1.https://pubs.acs.org/doi/10.1021/acs.est.3c00662  2.https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/vi-nhua-mot-dai-dich-khac/    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện “Chiến binh biển cả”      Các nhà cổ sinh vật học Brazil vừa thông báo tìm thấy hóa thạch của một loài cá sấu biển mới có niên đại cách nay 62 triệu năm, tại ven biển Mina Poty ở đông bắc Brazil.      Nó được mệnh danh là “Chiến binh biển cả” và được biết đến như là loài bò sát đã sống qua được thời kỳ tuyệt chủng của khủng long vào khoảng 65 triệu năm trước. Theo các nhà khảo cổ, “Chiến binh biển cả” thuộc loài Dyrosauridae hiện diện trên Trái đất từ kỷ phấn trắng muộn. Dyrosauridae đã thay thế loài mosasaurs hay những loài thằn lằn biển hình rắn khác để trở thành động vật biển ăn thịt vượt trội trong giai đoạn này. Việc phát hiện ra loài cá sấu biển này cũng đem đến một lý giải mới cho việc di cư của loài cá sấu tiền sử từ châu Phi đến Nam Mỹ và sau đó là Bắc Mỹ.   D.B (Theo Reuters, AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện chủng cúm lợn ở Trung Quốc có khả năng gây đại dịch cho con người      Trong bối cảnh toàn thế giới hiện đang phải đối mặt với đại dịch Covid-19, việc có thêm một dịch bệnh nữa xuất hiện là điều không một quốc gia nào mong muốn. Do đó, mới đây, các nhà nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm trên toàn thế giới đã xôn xao trước những thông tin về một chủng cúm lợn có khả năng lây bệnh cho con người.      Robert Webster, nhà nghiên cứu bệnh cúm vừa nghỉ hưu gần đây của Bệnh viện Nghiên cứu Nhi St.Jude, nhận định, câu hỏi liệu chủng virus này có biến đổi và dễ dàng lây truyền giữa người với người hay không vẫn đang là một “trò chơi dự đoán” bởi điều này vẫn chưa xảy ra. “Chúng ta không biết khi nào thì một đại dịch sẽ xuất hiện, cho đến khi điều tồi tệ đó xảy đến”, Webster nói và lưu ý, Trung Quốc là quốc gia nhiều lợn nhất trên thế giới. “Liệu điều này có xảy ra hay không? Có Chúa mới biết”.  Khi có nhiều chủng virus cúm cùng lây nhiễm trên một con lợn, chúng sẽ dễ dàng trao đổi gen với nhau. Quá trình này thường được biết đến với tên gọi là sự “tái tổ hợp”. Nghiên cứu mới được công bố gần đây trên tạp chí khoa học “Proceedings of the National Academy of Sciences” đã tập trung vào một loại virus cúm có tên là G4. Đây là virus độc nhất có sự pha trộn giữa 3 dòng: một dòng giống với chủng được phát hiện ở những con chim châu Á và côôhâu Âu, dòng thứ hai là chủng H1N1 đã gây ra đại dịch năm 2009 và dòng cuối cùng là chủng H1N1 Bắc Mỹ có các gen từ virus cúm gia cầm, cúm lợn và cúm ở người.  Biến thể G4 này đặc biệt đáng lo ngại ở chỗ, lõi của nó là sự kết hợp của một virus cúm gia cầm mà con người không có khả năng miễn dịch cùng với các chủng virus của động vật có vú. “Từ những dữ liệu được đưa ra, có vẻ như virus cúm lợn này đã sẵn sàng để truyền sang cho con người”, Edward Holmes, một nhà sinh học tiến hóa chuyên nghiên cứu về các mầm bệnh ở đại học Sydney, cho biết. “Rõ ràng đây là một trường hợp cần được theo dõi cẩn trọng”.  Với một trong những mục tiêu của dự án là xác định được các chủng cúm có khả năng gây đại dịch, nhóm nghiên cứu do Liu Jinhua từ Đại học Nông nghiệp Trung Quốc dẫn dắt đã phân tích gần 30,000 mẫu dịch mũi từ những con lợn tại các lò mổ ở 10 tỉnh thành của Trung Quốc, cùng với 1000 mẫu dịch nữa từ những con có các triệu chứng của bệnh hô hấp  ở khoa thú y của bệnh viện. Những mẫu dịch này được thu thập từ năm 2011 đến 2018, cung cấp 179 virus cúm lợn, trong số đó phần lớn là chủng G4 hoặc một trong năm chủng G khác bắt nguồn từ dòng giống với gia cầm Á-Âu. “Virus G4 đã có sự gia tăng mạnh mẽ kể từ năm 2016, và là kiểu gen chiếm ưu thế trong số những con heo được phát hiện tại ít nhất 10 tỉnh thành”, các nhà khoa học viết trong bài báo.  Sun Honglei, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết, việc các gen từ đại dịch H1N1 năm 2009 có trong G4 “có thể thúc đẩy khả năng thích ứng của virus”, qua đó dẫn đến sự lây truyền giữa người với người. Bởi vậy, theo ông Sun, cần phải tăng cường giám sát các đàn lợn tại Trung Quốc để phát hiện các loại virus cúm.  Trước đây, các virus cúm thường xuyên truyền từ lợn sang người, tuy nhiên hầu như không có sự lây truyền giữa con người với nhau. Cả hai trường hợp nhiễm G4 ở người đã được ghi nhận đều không lây truyền sang người khác. “Khả năng biến thể đặc biệt này sẽ gây ra đại dịch là khá thấp”, Martha Nelson, nhà sinh học tiến hóa ở Trung tâm Quốc tế Fogarty thuộc Viện nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ, người chuyên nghiên cứu về các virus cúm lợn và khả năng lây lan của chúng sang con người, đánh giá. Tuy nhiên, bà Nelson lưu ý rằng, không ai biết về chủng cúm đại dịch H1N1 – chủng cúm đã lây truyền từ lợn sang người, cho đến khi những ca bệnh đầu tiên xuất hiện vào năm 2009. Bà Nelson cho biết: “Bệnh cúm có khả năng làm chúng ta ngạc nhiên. Không may thay, chúng ta có thể sẽ bỏ qua nó và những mối đe dọa khác do thời điểm này đang có dịch Covid-19”.  Nghiên cứu mới cũng đã đưa ra cái nhìn sơ lược về các chủng cúm lợn tại Trung Quốc – quốc gia hiện sở hữu đàn lợn hơn 500 triệu con. Mặc dù bà Nelson cho rằng sự xuất hiện áp đảo của chủng G4 trong các kết quả phân tích của họ là một phát hiện thú vị, rất khó để biết được liệu sự lây lan của virus này có phải là một vấn đề đang lớn dần hay không, bởi số lượng mẫu được đưa vào khảo sát khá nhỏ. “Chúng ta thực sự chưa có được một bức tranh toàn cảnh về đàn lợn ở Trung Quốc”, bà cho biết và nhấn mạnh vào sự cần thiết của việc phải có thêm các mẫu để nghiên cứu.  Trong bài báo của mình, Sun và các cộng sự – bao gồm George Gao, người đứng đầu Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc – đã mô tả lại các nghiên cứu lab dish (đĩa/thiết bị trong phòng thí nghiệm) về cách G4 trở nên thuần thục trong việc lây nhiễm và sao chép chính mình trong các tế bào biểu mô đường dẫn khí ở con người (airway epithelial cells). Các virus cũng cho thấy khả năng lây nhiễm và truyền bệnh giữa những con chồn sương – một mô hình động vật phổ biến được sử dụng để nghiên cứu về bệnh cúm ở người. Không chỉ vậy, trong một khảo sát ở quy mô hộ gia đình, các nhà khoa học cũng đã tìm thấy kháng thể đối với chủng G4 ở 4,4% trong số 230 người được nghiên cứu, và tỉ lệ này còn cao hơn gấp 2 lần ở những người chăn nuôi lợn.  Bởi vậy, bên cạnh việc tăng cường giám sát, ông Sun cho rằng việc phát triển vắc-xin chống lại G4 ở cả lợn và con người cũng là một điều cần thiết. Ông Webster nhận định, ít nhất, những “hạt giống” dùng để tạo ra vắc-xin cho con người – các biến thể của một chủng mà phát triển nhanh chóng trong các quả trứng để làm ra vắc-xin phòng cúm – nên được sản xuất ngay bây giờ. “Việc tạo ra những ‘hạt giống’ không phải là vấn đề lớn, do đó chúng ta nên chuẩn bị sẵn sàng”, ông Webster nói.  Trung Quốc hiếm khi dùng vắc-xin cúm cho lợn, trong khi theo Nelson, nông dân Mỹ lại sử dụng rất nhiều. Tuy nhiên, những vắc-xin này hầu như không có tác dụng bởi chúng thường đã lạc hậu và không còn phù hợp với các chủng bệnh đang lưu hành.  Lý tưởng nhất, theo Nelson, chúng ta cần sản xuất được vắc-xin G4 cho con người và dự trữ sẵn, tuy nhiên đó lại là một quá trình đòi hỏi phải có nguồn kinh phí đáng kể. “Chúng ta cần phải cảnh giác với các mối đe dọa từ các loại bệnh truyền nhiễm khác nhau kể cả khi dịch Covid vẫn còn đang hoành hành, bởi virus không quan tâm đến việc chúng ta có đang phải đối mặt với một dịch bệnh khác từ trước hay không”, bà Nelson nói.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/06/swine-flu-strain-human-pandemic-potential-increasingly-found-pigs-china    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện chủng enterovirus mới là tác nhân nguy hiểm gây bệnh tay chân miệng      Thông qua những đánh giá về mặt lâm sàng và thực nghiệm trên mô hình chuột chuyển gene, các nhà nghiên cứu Đại học Kanazawa, Viện Khoa học Y khoa Tokyo Metropolitan, Đại học Nagasaki (Nhật Bản) và Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Nhi Trung ương (Việt Nam) đã phát hiện được một dòng con mới của enterovirus có kiểu gene phụ A71 (EV-A71) C4 với hai chủng virus tái tổ hợp chính là nguyên nhân gây ra đợt bùng phát dịch tay chân miệng ở Hà Nội và các tỉnh thành phía Bắc năm 2015-2016. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ tác nhân gây bệnh và giúp xác định các chủng virus để phát triển vaccine đa hóa trị.      Bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ dưới năm tuổi. Nguồn: sggp.org.vn  Nghiên cứu “Newly emerged enterovirus-A71 C4 sublineage may be more virulent than B5 in the 2015–2016 hand-foot-and-mouth disease outbreak in northern Vietnam” đã được công bố trên Scientific Reports.   Bệnh tay chân miệng (HFMD) là một bệnh nhiễm siêu vi cấp tính thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới năm tuổi do virus đường ruột (enterovirus) thuộc họ Picornaviridae gây ra, trong đó giống virus gây bệnh phổ biến nhất là EV-A71, coxsackievirus A16 (CV-A16) và CV-A6. Bệnh này có thể tự hết mà không cần nhập viện; tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, nó có thể gây viêm não, viêm màng não, dẫn đến tê liệt, biến chứng tim phổi hoặc thậm chí tử vong. Trong khi hầu hết các trường hợp có thể tự hết trong vòng một vài tuần thì bệnh do EV-A71 gây nên có thể nguy hiểm hơn với các biến chứng nghiêm trọng.  Để xác định đặc điểm dịch tễ và nhận dạng các chủng enterovirus khác nhau gây ra đợt dịch tay chân miệng ở miền Bắc Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã thu thập và phân tích các mẫu lấy từ họng và trực tràng của 488 trẻ mắc bệnh ở Hà Nội. Chu Sơn, một trong hai tác giả chính của nghiên cứu, giải thích: “CV-A6 là chủng phổ biến nhất, tiếp đến là EV-A71. Trong chủng EV-A71 này, có 92,1% là kiểu gene phụ B5 và 7,9% là kiểu gene phụ C4. Giải trình tự gene cho thấy bảy trong số tám chủng C4a đã hình thành nên một dòng mới, bao gồm hai tái tổ hợp tồn tại giữa các chủng EV-A71-C4 và CV-A8”.  Để đánh giá độc lực của dòng mới, các nhà nghiên cứu đã dựa vào tỷ lệ bệnh nhân nội trú. Trẻ nhập viện do virus EV-A71 nhiều hơn đáng kể so với trẻ nhập viện do virus CV-A6. Tiếp tục tiến hành phân tích sâu hơn ở những trẻ nhiễm EV-A71, họ thấy tỷ lệ bệnh nhân nội trú nhiễm C4 nhiều hơn đáng kể so với bệnh nhân nhiễm B5, chứng tỏ độc lực của kiểu gene C4 cao hơn kiểu gene B5.  Kyousuke Kobayashi, nhà thần kinh học và là đồng tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Vì số lượng bệnh nhân nhiễm C4 cũng không nhiều nên chúng tôi đã áp dụng một kỹ thuật khác để so sánh độc lực, đó là cấy vào chuột chuyển gene – những con dễ bị nhiễm EV-A71 – các phân lập virus và theo dõi tình trạng suy giảm sức mạnh của các chi, tình trạng tê liệt cấp tính, sự thay đổi trọng lượng cơ thể và khả năng tử vong”. Cuối cùng họ nhận thấy, tình trạng tê liệt và tỷ lệ tử vong của những con chuột bị nhiễm các chủng C4 cao rất nhiều so với những con bị nhiễm các chủng B5.  Các nhà nghiên cứu hi vọng vào kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào quá trình phòng chống bệnh tay chân miệng bởi các vụ bùng phát dịch thường xảy ra theo chu kỳ vài năm một lần tại nhiều nơi trên thế giới. Điều này khiến bệnh tay chân miệng trở thành một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nào được phê duyệt, cách tốt nhất để giảm thiểu tác động của nó là phát triển các loại vaccine phòng bệnh. Mặc dù đã có các vaccine bất hoạt, nhưng việc phát hiện ra các chủng gây bệnh mới là một bước đột phá để có thể tiếp tục phát triển thêm các vaccine sống, giảm độc lực.   Anh Thư dịch (theo Sciencedaily)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện chủng vi khuẩn có thể tiêu hủy nhựa      Các nhà nghiên cứu thuộc Khoa Hóa học Polymer, trường Đại học Kyoto, Nhật Bản vừa phát hiện ra một chủng vi khuẩn mới, có thể tiêu thụ chất nhựa, qua đó làm dấy lên hi vọng về việc có thể dùng loại vi khuẩn này để tiêu hủy khoảng 311 triệu tấn nhựa sản xuất hằng năm trên toàn thế giới.        Polyethylene terephalate (PET) được sử dụng phổ biến trên thế giới để sản xuất đồ nhựa hoặc các sản phẩm thông dụng khác như vải polyester, vỏ chai đựng nước, hay bóng tennis. Sự gia tăng của các loại sản phẩm nhựa này gây hại cho môi trường bởi giới khoa học cho rằng chỉ một số ít loài nấm mới có khả năng tiêu hủy PET bằng enzyme, do đó chưa thể nghĩ tới giải pháp tiêu hủy hay tái chế chúng bằng con đường sinh học.   Qua thăm dò và chọn lọc các chủng vi khuẩn tự nhiên phơi nhiễm trong môi trường có PET, nhóm nghiên cứu trên đã tách ra được một chủng vi khuẩn mới, được đặt tên là Ideonella sakaiensis 201-F6; chủng vi khuẩn này có thể dùng PET là nguồn năng lượng và carbon chính của mình. Khi phát triển trên PET, Ideonella sakaiensis 201-F6 tạo ra hai enzyme có khả năng thủy phân PET và tạo ra phản ứng hóa học tức thì mono (2-hydroxyethyl) terephthalic acid. Cả hai loại enzyme này đóng vai trò thiết yếu trong việc chuyển PET thành hai đơn thể thân thiện với môi trường là terephthalic acid và ethylene glycol.   Thu Trang dịch  http://time.com/4256185/scientists-find-bacteria-that-can-eat-plastic-bottles/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cơ chế loại bỏ neuron thần kinh lão hóa      Đến tuổi dậy thì, bộ não chứa hầu như đầy đủ neuron thần kinh cho cả cuộc đời. Nhưng ở một vài khu vực, để tiếp tục phát triển các tế bào thần kinh mới, cần đến một số tế bào miễn dịch chuyên dụng giữ cho não an toàn bằng cách loại bỏ các tế bào chết hoặc rối loạn chức năng.      Các nhà khoa học ở viện Nghiên cứu sinh học Salk đã có phát hiện đáng ngạc nhiên về cơ chế loại bỏ tế bào thần kinh chết hoặc bị lão hóa, và xác định được điểm mấu chốt của cơ chế này. Công trình này đã được công bố trên tạp chí Nature ngày 6/4/2016.  “Chúng tôi phát hiện ra các thụ thể (receptors) trên các tế bào miễn dịch trong não rất cần thiết cho cả trạng thái khỏe mạnh và bị thương tổn. Các thụ thể có thể là mục tiêu điều trị tiềm năng cho chứng thoái hóa thần kinh hoặc rối loạn thần kinh do chứng viêm”, giáo sư sinh học Greg Lemke ở viện Salk cho biết.  Từ hai thập kỷ trước, phòng thí nghiệm Lemke đã phát hiện ra rằng các tế bào miễn dịch giải phóng ra các phân tử quan trọng được gọi là thụ thể TAM. Hai trong số các thụ thể TAM được đặt tên là Mer và Axl, giúp các tế bào miễn dịch gọi là đại thực bào “thu gom rác” từ hơn 100 tỉ tế bào chết do cơ thể tạo ra mỗi ngày.  Trong nghiên cứu mới này, nhóm nghiên cứu đặt ra câu hỏi Mer và Axl đã làm công việc tương tự trong não như thế nào. Các đại thực bào của hệ thống thần kinh trung ương được gọi là tiểu thần kinh đệm (microglia) chiếm khoảng 10 phần trăm của các tế bào trong não, nơi chúng phát hiện, phản ứng lại và tiêu diệt mầm bệnh. Các nhà nghiên cứu loại bỏ Axl và Mer thuộc tiểu thần kinh đệm ở những con chuột khỏe mạnh. Và họ rất ngạc nhiên rằng, sự thiếu hụt hai thụ thể này dẫn đến một lượng lớn tế bào bị chết, nhưng không phải ở tất cả các khu vực trong não bộ. Các tế bào chết chỉ được tìm thấy ở trong một số khu vực nhỏ – nơi sản xuất ra tế bào thần kinh mới.  Rất nhiều tế bào thần kinh ở người trưởng thành bị chết đi, nhưng ngay lập tức bị các tiểu thần kinh khu đệm “ăn” mất. “Rất khó để phát hiện ra một tế bào đơn lẻ bị chết ở não bộ bình thường, bởi vì nó thường bị tiểu thần kinh khu đệm phát hiện ra và xóa sổ ngay. Nhưng ở những vùng não của chuột bị xóa mất thụ thể Mer và Axl, chúng tôi phát hiện được rất nhiều tế bào chết”, Paqui G. Través, đồng tác giả của nghiên cứu này cho biết.  Phòng thí nghiệm Lemke đã thực hiện một loạt thí nghiệm về vai trò của thụ thể TAM đối với bệnh tật: theo dõi hoạt động của Mer và Axl trong mô hình bệnh Parkinson trên chuột. Bệnh này tạo ra một loại protein hiện diện trong hình thức di truyền bệnh tật – kết quả của việc não bị thoái hóa chậm. Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng Axl hoạt động mạnh trong môi trường này, tương tự các nghiên cứu khác cũng chỉ ra sự gia tăng Axl là một chỉ số đáng tin cậy cho thấy có tình trạng viêm mô.  Nhưng các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi họ loại bỏ thụ thể Mer và Axl ra khỏi những con chuột bị Parkinson. Thay vì yếu đi so với những con chuột có tiểu thần kinh đệm bình thường, những con chuột này còn sống lâu hơn. Điều này xảy ra có thể do Axl và Mer nhắm tới, tiêu diệt tế bào mắc bệnh và bị rối loạn chức năng. Khi có bệnh, sẽ có nhiều tế bào thần kinh bị rối loạn chức năng hơn bình thường, và Axl cùng Mer có thể phá hủy quá nhiều tế bào thần kinh, nhằm đẩy nhanh quá trình tiêu diệt bệnh.  “Có vẻ như chúng ta có thể tác động vào tiến trình bệnh tật bằng cách điều chỉnh thụ thể Axl và Mer”, Lawrence Fourgeaud trong nhóm nghiên cứu cho biết.  Bảo Như lược dịch   http://www.salk.edu/news-release/brain-guardians-remove-dying-neurons/     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện con đường quân sự La Mã cổ đại      Các nhà khảo cổ Hà Lan vừa phát hiện ra một phần của con đường quân sự mà các binh lính La Mã từng diễu hành qua gần 2.000 năm trước, nhằm phòng ngự trước quân Đức xâm lăng ở biên giới phía bắc của đế chế La Mã.    Con đường được sử dụng từ năm 50 đến 350 trước khi nó bị hư hỏng và mất tích hoàn toàn dưới mặt đất. Nhà khảo cổ Wilfried Hessing, đứng đầu cuộc khai quật tại Houten, cách Amsterdam 48 km về phía đông nam, cho biết con đường nối liền 2 pháo đài – Traiectum (Utrecht ngày nay) và Fectio (Vechten ngày nay). Những cột gỗ được phát hiện tại khu vực có thể đã được sử dụng để ngăn ngừa xói mòn ở 2 bên đường. Các chuyên gia hy vọng sẽ sử dụng kỹ thuật tính vòng cây để xác định tuổi chính xác của những thân gỗ này.  “Nó về sau được sử dụng để giao thương, nhưng trước tiên nó là một phần của chiến thuật quân sự để bảo vệ biên giới. Với con đường này bạn có thể phản ứng một cách nhanh chóng nên cần tới ít quân đội hơn”.  Các cuộc khai quật tại những phần khác của con đường cũng đang diễn ra tại các nước châu Âu khác. Liên Hợp Quốc dự định tuyên bố đây là một di sản thế giới.  Hessing cho biết con đường được xây từ các gò đất sét và cát nhô cao khoảng 1 m so với cánh đồng xung quanh. Nó được rải các lớp sỏi và vỏ sò hến nghiền nát. Lớp sỏi cứng ở trên cùng vẫn còn nguyên vẹn một cách kỳ lạ. Con đường cũng bị xói mòn do những đường thoát nước nên các cọc gỗ được chống lên để gia cố móng.  Người La Mã lần đầu tiên đặt chân tới vùng đất này của Hà Lan dưới sự thống lĩnh của Julius Caesar vào năm 53 trước Công nguyên. Theo lịch sử gia La Mã Tacitus, một bộ lạc của Đức đã nổi dậy vào năm 69 và chiếm giữ 2 pháo đài ven biển. Lính La Mã có thể đã rút về phía đông dọc theo con đường để bảo vệ chắc chắn hơn những pháo đài ở nơi là nước Đức ngày nay.  Một năm sau đó, sau thất bại đầu tiên trên một chiến trường lầy lội gần Nijmegen, quân La Mã đã giảng hoà với quân Batavian, kẻ chủ mưu trong cuộc nổi loạn.  Mặc dù con đường này đã được biết đến từ những bản sao chép bản đồ thời Trung cổ, mới chỉ một vài phần được tìm thấy nguyên vẹn ở Hà Lan. Trong số những vật dụng tìm thấy có một con dao, cái cưa, xẻng gỗ, kéo lớn, nồi đồng, cốc chén bằng đất sét, xà beng bằng sắt, đế giày da và một mảnh gỗ có con số La Mã trên đó.  M.T. (theo AP)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện con lai giữa người Neanderthal và Denisova      Từ một mảnh xương còn sót lại của một thiếu niên qua đời khoảng 90.000 năm trước, các nhà khoa học đã phân tích gene và phát hiện, đây là con lai giữa hai chủng người cổ đại – Neanderthal và Denisovan – đều không phải tổ tiên trực tiếp của chúng ta (Homosapien).      Denny thừa hưởng một bộ nhiễm sắc thể từ các tổ tiên người Neanderthal của cô. Ảnh: Nature  Nhóm nghiên cứu, do các nhà cổ sinh học Viviane Slon và Svante Pääbo thuộc Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck ở Leipzig, Đức, tiến hành phân tích bộ gene trên một mảnh xương duy nhất được lấy từ hang Denisova ở dãy núi Altai của Nga. Hang động này mang tên “Denisovans”, của một nhóm người tuyệt chủng mới được phát hiện dựa trên cơ sở phân tích chuỗi ADN từ đầu của một xương ngón tay được phát hiện ở đây năm 2008. Vùng Altai cũng là quê hương của người Neanderthal.  Trước đây, bằng việc phân tích các mô hình biến đổi di truyền ở con người cổ đại và hiện đại, các nhà khoa học đã biết rằng người Denisova và người Neanderthal có lai tạo với nhau và với cả Homo sapiens nhưng chưa từng phát hiện ra con cái thế hệ đầu tiên từ những cuộc hôn phối này. Trước khi khám phá ra con lai Neanderthal-Denisova này – mà nhóm nghiên cứu đã đặt tên là Denny, bằng chứng tốt nhất về mối liên kết giữa các chủng người chỉ được tìm thấy trong DNA của một mẫu vật Homo sapiens, người mà có tổ tiên thuộc chủng người Neanderthal từ 4–6 thế hệ trước.  Nhóm của Pääbo lần đầu tiên phát hiện ra những mẩu xương của Denny cách đây vài năm sau đó, lúc đó họ giải trình tự DNA ty thể của mẫu vật và so sánh dữ liệu đó với các chuỗi DNA từ những người cổ đại khác. Phân tích ở thời điểm năm 2016 cho thấy DNA ty thể của mẫu vật có nguồn gốc từ người Neanderthal. Nhưng đây mới chỉ là một nửa bức tranh, danh tính của người cha và tổ tiên phía bên nội vẫn còn là khoảng trống.  Cho đến nghiên cứu mới nhất vừa công bố trên Nature, các nhà khoa học đã giải trình tự gene và và so sánh sự biến đổi trong DNA của Denny với ba loại hominin khác: Neanderthal và Denisova – cả hai đều được tìm thấy trong hang Denisovan, và người hiện đại từ châu Phi. Kết quả là khoảng 40% các đoạn ADN từ mẫu ADN tương ứng với người Neanderthal – còn 40% khác phù hợp với Denisova. Bằng cách giải trình tự nhiễm sắc thể giới tính, các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng mảnh xương còn sót lại có giới tính nữ, và độ dày của xương cho thấy cô bé ít nhất 13 tuổi.  Kelley Harris, một nhà di truyền học dân số tại Đại học Washington ở Seattle, người đã nghiên cứu về vấn đề lai ghép giữa con người (Homosapien) cổ đại và người Neanderthal cho rằng có thể những cuộc hôn phối giữa người Neanderthal và người Denisovan là khá phổ biến. “Số lượng xương người Denisovan thuần chủng đã được tìm thấy chỉ đếm trên đầu ngón tay”, cô nói – đây có thể là một biểu hiện cho thấy rằng, hiện tượng con lai với người Denisovan là phổ biến. Tuy nhiên điều này lại đặt ra một câu hỏi thú vị khác: nếu người Neanderthal và Denisovan phối ngẫu thường xuyên, tại sao hai quần thể này lại khác biệt về mặt di truyền trong vài trăm nghìn năm? Harris suy đoán rằng con cái của Neanderthal – Denisovan có thể vô sinh hoặc đã có sự thiếu tương thích về mặt sinh học và ngăn không cho hai loài này hòa nhập lẫn nhau.  Pääbo thì đồng ý rằng sự lai tạo giữa người Neanderthal và Denisovan sẽ dễ dàng khi họ gặp nhau – nhưng ông nghĩ rằng những cuộc gặp gỡ đó rất hiếm. Hầu hết những dấu vết về người Neanderthal đã được tìm thấy trên khắp miền tây lục địa Á-Âu, trong khi cho đến nay người Denisovan mới chỉ được phát hiện trong hang động Siberia. Nhưng đôi khi, người Neanderthal có thể đã đi từ Tây Âu đến Siberia, hoặc ngược lại. Trên cơ sở sự biến đổi trong bộ gene của Denny, nhóm nghiên cứu đã suy luận rằng người mẹ Neanderthal của Denny có quan hệ gần gũi với một mẫu vật còn lại của người Neanderthal được tìm thấy cách xa hàng ngàn cây số – ở Croatia hơn so với một mẫu khác trong cùng hang động. Người Neanderthal ở Croatia có niên đại gần đây hơn Denny – khoảng 55.000 năm trước, trong khi người Neanderthal trong hang Denisova có niên đại khoảng 120.000 năm tuổi. Điều đó dẫn tới hai khả năng để giải thích về nguồn gốc tổ tiên của mẹ Denny: một số người Neanderthal châu Âu đến dãy núi Altai và một phần thay thế người Neanderthal ở đây trước khi Denny được sinh ra, hoặc một nhóm người Neanderthal có thể đã rời dãy núi Altai đến châu Âu sau khi Denny ra đời. Dù bằng cách nào, Harris nói, “điều đó cho thấy, người Neanderthal không chỉ ở cố định một nơi trong hàng ngàn năm”.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06004-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện cuộc di cư cực lớn của muông thú      Hàng triệu con, gồm: voi, trâu, đà điểu, sư tử, hươu cao cổ…, tình cờ được phát hiện đang băng qua miền nam Sudan, có thể là cuộc di cư lớn nhất của các loài thú trên hành tinh.    Những đàn thú khổng lồ như vậy được cho là đã biến mất sau nhiều thập kỷ nội chiến trên vùng đất này, và 25 năm qua, chưa từng có cuộc điều tra nào về sự sống hoang dã ở nơi đây.  Sau khi miền nam Sudan được chính phủ trao quyền tự trị từ năm 2005, các nhà khoa học mới có thể tiến hành những cuộc điều tra hàng không trên vùng đồng cỏ này về động vật hoang dã.  Và họ đã kinh ngạc khi đếm được hơn 1,2 triệu con linh dương tai trắng, linh dương Mongalla, cùng với ít nhất 8.000 con voi.  “Chưa bao giờ tôi nhìn thấy cảnh tượng như vậy, ngay cả ở đồng bằng nổi tiếng Serengeti (ở Tanzania)”, J. Michael Fay, một nhà bảo tồn của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên hoang dã, thốt lên.  “Nó giống như thể mặt đất đang rung chuyển”, Fay nói. Ông ước tính cuộc di cư này ít nhất phải đứng hàng thứ 3 trong số các cuộc di cư lớn nhất của động vật trên cạn, thậm chí có thể là lớn nhất.  Cuộc khảo sát được thực hiện trên 1/4 diện tích của vùng nam Sudan.  T. An (theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện dê núi bạch tạng      Các nhân viên kiểm lâm ở vùng núi Alps của Italia đã lần đầu tiên xác nhận sự tồn tại của một chú dê núi bạch tạng và đặt tên cho nó là Snowflake.    Họ đã chụp được ảnh chú dê núi này đang leo núi cùng với mẹ ở độ cao khoảng 3.048 m tại khu vực Val d’Aosta hôm 24-6.  Theo Christian Chioso, một quan chức bảo tồn động vật hoang dã khu vực, “đây là trường hợp dê núi bạch tạng duy nhất được ghi nhận và nhìn thấy”. Ông cho biết chứng bạch tạng rất hiếm gặp ở loài vật, và từ trước tới nay chưa có tài liệu nào nói có hiện tượng này xảy ra ở loài dê núi.  Chioso ước đoán chú dê núi này khoảng 1 tuổi. Trước đó, các nhân viên kiểm lâm đã được những người đi đường thông báo họ nhìn thấy một con vật màu trắng ở vùng núi cao này, gần ranh giới Công viên quốc gia Big Paradise, công viên được lập nên để bảo vệ dê núi Alps.  TƯỜNG VY (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện di chỉ của người Hòa Bình tại Điện Biên      Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện một hang động có vết tích cư trú của người Hòa Bình ở Điện Biên. Phát hiện này bổ sung những nhận thức mới về quá trình người Hòa Bình di cư, sinh sống trong các hang động ở miền Bắc Việt Nam đồng thời có thể góp phần tìm hiểu về quá trình mở rộng địa bàn sinh cư của cư dân tiền Đông Sơn vào khu vực này.      Cửa hang Thẳm Tâu. Ảnh: Phạm Thanh Sơn.  Đợt điều tra điền dã tháng 4/2021 của Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Điện biên, Ban quản lý di tích tỉnh Điện Biên đã phát hiện thêm một di chỉ có cả dấu vết người Hòa Bình và những hiện vật gốm có thể thuộc giai đoạn tiền Đông Sơn (niên đại 3000 năm cách ngày nay) tại hang Thẳm Tâu, xã Pa Ham, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.     Kết quả khảo sát và đào thám sát ở hai khoang của hang Thẳm Tâu cho thấy, tầng văn hóa (tầng văn hóa: các tầng có chứa hiện vật của các thời kỳ khác nhau) dày trên 1.5m, gồm các giai đoạn văn hóa khác nhau. Các công cụ đá của người Hòa Bình xuất hiện ở mọi độ sâu của tầng văn hóa. Hiện vật đồ gốm – thuộc giai đoạn muộn hơn chỉ được phát hiện ở tầng bề mặt tới độ sâu khoảng 40cm. Gốm được trang trí văn thừng, hoa văn kết hợp với trang trí khắc vạch và in chấm có nhiều nét tương đồng với gốm của giai đoạn tiền Đông Sơn.     Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã phát hiện di cốt người cùng với rất nhiều mảnh vụn xương cốt của cả các loài động vật, thú ăn thịt nhỏ và các loài nhuyễn thể. Từ những xương cốt, vỏ nhuyễn thể còn sót lại, có thể đoán biết được người sinh sống trong hang Thẳm Tâu săn bắt cả các loài hươu, nai, chim, khỉ, lợn, sóc, hoẵng, trai ốc nước ngọt, ốc núi, rùa và cá. Cấu tạo địa tầng của hố thăm dò còn cho thấy ít nhất có hai giai đoạn cư trú bị giãn cách vì giữa hai giai đoạn cư trú có lớp canxi cacbonat dày từ 5cm tới 10cm.       Công cụ đá ghè đẽo phát hiện tại hang Thẳm Tâu. Ảnh: Phạm Thanh Sơn.     Các kết quả thăm dò sơ bộ cho thấy, bằng chứng của giai đọan chiếm cư muộn nhất tại hang Thẳm Tâu có thể thuộc thời kỳ tiền Đông Sơn, có niên đại khoảng 3000 năm cách ngày nay. Giai đoạn sớm nhất của quá trình cư trú của người Hòa Bình thì sẽ cần các kết quả nghiên cứu chuyên sâu thông qua khai quật khảo cổ học kết hợp với các nghiên cứu liên ngành để xác định niên đại, cũng như tìm hiểu bối cảnh cổ môi trường để nghiên cứu sự thích nghi và ứng xử của cư dân cổ lúc bấy giờ. Hiện tại có thể đặt ra giả thiết là hang Thẳm Tâu được người Hòa Bình cư trú, sau đó lại được tái sử dụng bởi những cư dân tiền Đông Sơn trong quá trình mở rộng và tìm kiếm địa bàn sinh cư.     Trong số hơn 130 di chỉ về người Hòa Bình được phát hiện ở Việt Nam, hang Thẳm Tâu có vị trí khá đặc biệt, vì là một trong số các hang hiếm hoi có cả dấu vết cư trú của người Hòa Bình và người Tiền Đông Sơn. Cùng với Thẳm Tâu ở Điện Biên, di tồn văn hóa vật chất của cư dân tiền Đông Sơn cũng được phát hiện tại Hang Tọ ở Sơn La. Đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu khảo cổ học phải tiếp tục làm rõ.      Mảnh gốm Tiền Đông Sơn. Ảnh: Phạm Thanh Sơn.      Từ năm 1930 tới nay, số lượng di tích phát hiện thuộc văn hóa Hòa Bình ở nước ta là khoảng 130. Bên cạnh đó, phạm vi phân bố còn được phát hiện lẻ tẻ ở hầu hết các quốc gia khác ở khu vực Đông Nam Á lục địa và một phần của Nam Trung Quốc, niên đại kéo dài từ khoảng 40 ngàn năm tới 4000 năm cách này nay. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi về người Hòa Bình, như họ từ đâu đến Việt Nam và Đông Nam Á? Về sau họ di cư đi đâu? Họ có để lại dấu vết nào trong các nền văn hóa khảo cổ học sau này như Tiền Đông Sơn, Đông Sơn hay không đều cần tiếp tục phải được đi sâu tìm hiểu. Các nhà khoa học, ở các chuyên ngành khảo cổ học, giải mã hệ gene đều đang nỗ lực tìm kiếm bằng chứng để giải mã những vấn đề này.     Phạm Thanh Sơn (Viện Khảo cổ học)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện gene gây ra bệnh hói đầu      Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Mc Gill, Đại học King’s và tập đoàn GlaxoSmithKline vừa phát hiện ra hai biến thể gene ở người da trắng, có thể tăng nguy cơ mắc bệnh hói đầu lên 7 lần.     Theo ước tính, hơn 80% trường hợp bị mắc là do di truyền. Cùng với những đồng nghiệp ở Iceland, Thụy Sĩ, và Hà Lan, những nhà nghiên cứu này phát hiện ra có hai biến thể gene chưa rõ tên trên nhiễm sắc thể thứ 20, tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã biết đến một biến thế genee trên nhiễm sắc thể X có liên quan đến bệnh hói đầu kiểu nam. Nếu có cả hai biến thể genee trên nhiễm sắc thể thứ 20 và biến thể genee trên nhiễm sắc thể X thì nguy cơ mắc bệnh hói là cao gấp 7 lần. Trên thế giới, cứ 7 người đàn ông thì có 1 người có tất cả những biến thể genee trên, chiếm tận 14% tổng số dân. Hồng Thoa (Nguồn: Đại học McGill)     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện gene gây ung thư ruột      Một nhóm các nhà khoa học Anh thông báo lần đầu tiên họ đã xác định được một biến thể gene thường gặp gây ung thư ruột. Phát hiện có thể giúp chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả hơn căn bệnh này.    Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra cấu trúc gene của hơn 30.000 người – 1/2 trong số này mắc ung thư ruột – và phát hiện một biến thể gene được cho là gây ra 1 trong 10 ca ung thư ruột, căn bệnh gây tử vong nhiều thứ tư trong các bệnh ung thư. Khoảng một nửa trong số những người có biến thể gene này có nguy cơ mắc ung thư ruột đến 20%.  Đến nay các nhà khoa học đã xác định được một số biến thể gene làm tăng nguy cơ mắc ung thư ruột. Tuy nhiên các biến thể này ít gặp và chỉ chiếm chưa tới 5% các ca mắc bệnh. Do đó, theo nhà nghiên cứu Emma Mowat thuộc Hội Ung thư ruột Anh, “phát hiện này là một bước tiến lớn giúp giảm số ca tử vong vì ung thư ruột”.  Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ung thư ruột là nguyên nhân gây ra 655.000 ca tử vong trên thế giới mỗi năm.  TƯỜNG VY (Theo Telegraph, BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện giống khỉ mới      Các nhà khoa học đã phát hiện ra một giống khỉ châu Phi mới có màu  “không giống với bất cứ thứ gì đã nhìn thấy”, theo lời của một nhà  nghiên cứu đã tìm ra.       Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một giống khỉ mới của loài khỉ châu Phi, loài Cercopithecus hamlyni. Con đực có lông màu đen (hình trái) trong khi đó con cái lại có lông màu vàng hoe (hình phải).  Giống khỉ này đã được biết tới bởi người dân ở Cộng hòa nhân dân Congo với cái tên là Lesula, có cằm và phía trên ngực màu vàng, ngược lại, chân tay nó lại có màu đen. Phần dưới của lưng và đuôi lại có sắc đỏ.  “Một con khỉ đực trưởng thành có phần da trần lớn không có lông ở khu vực mông, hậu môn, và bìu đái”, theo lời John A. Hart, nhà nghiên cứu người đã cung cấp những miêu tả về màu sắc. “Khu vực này có màu xanh sáng, thực sự là rất đẹp mắt”.  Tiến sĩ Hart cùng vợ mình cũng là đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu về đời sống hoang dã của Quỹ Lukuru đã báo cáo những phát hiện này trên tạp chí PLoS One.  Các nhà nghiên cứu tìm thấy loài khỉ này sống ở khu vực miền trung nước Cộng hòa nhân dân Congo trong phạm vi sinh sống khoảng 6.500 dặm vuông.  Con lesula đầu tiên được các nhà nghiên cứu tìm thấy là một con đang bị nuôi nhốt như là thú nuôi của một nữ sinh. Màu sắc kỳ lạ của nó khiến các nhà nghiên cứu phải để tâm.  Họ đã phát hiện ra được thêm những con lesula khác ở ngoài thiên nhiên và tìm thấy các mẫu vật ở nhà của những tay săn khỉ. Họ phân tích những mẫu mô và xác nhận rằng loài lesula có những khác biệt di truyền so với các loài khác.  Loài lesula sống ở những khu vực biệt lập rộng lớn và ít bị con người xâm phạm đến. Nhưng Hart đưa ra cảnh báo: “Việc săn bắn không kiểm soát hiện nay có thể gây nguy hiểm cho loài này”.  Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://www.nytimes.com/2012/09/18/science/a-new-kind-of-monkey-with-colors-that-set-it-apart.html?_r=1&ref=science       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hải cảng 1.500 tuổi lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ      Đó dường như là một khung cảnh quen thuộc của một đô thị đổ nát: những tòa nhà bỏ hoang, các bức tường xiêu vẹo, rác thải chất đống và những vỏ chai rượu nằm chỏng chơ.    Quang cảnh còn nguyên vẹn từ hơn 1.500 năm trước. Các kỹ sư đã phát hiện ra khu đổ nát của hải cảng La Mã cổ đại này trong khi đào một đường tàu dưới mặt đất tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.  Giống như các thành phố lịch sử khác thời La Mã, Istanbul cũng là nơi chứa đựng rất nhiều di tích khảo cổ quan trọng. Nhưng khu cảng cổ được phát hiện vào năm ngoái ở vùng ngoại ô Yenikapi có một quy mô hoàn toàn khác: Nó trở thành một phát hiện khảo cổ lớn nhất trong lịch sử Istanbul.  Các nhà khảo cổ gọi nó là “Cảng Theodosius”, lấy tên từ vị hoàng đế thành Rome và Byzantine chết vào năm 395. Họ hy vọng sẽ có cái nhìn sâu hơn về cuộc sống giao thương cổ đại của thành phố từng mang tên Constantinople, và là thủ phủ của các đế chế La Mã, Byzantine và Ottoman.  Đến nay, 17 nhà khảo cổ, 3 kiến trúc sư và khoảng 350 công nhân đã tìm thấy một nhà thờ, một cổng vào thành phố và 8 con thuyền bị chìm.  Tiến sĩ Cemal Pulak, tại Đại học A&M Texas, Mỹ, tin rằng những con thuyền này đã bị lật chìm trong một cơn bão lớn. Ông cho biết các con thuyền gỗ đã lấp một lỗ hổng trong lịch sử chế tạo thuyền, bởi sự kết hợp giữa các kỹ thuật cũ và mới trong việc chế tạo chúng.  Khu vực hải cảng rất rộng lớn. Xung quanh, các công nhân tìm thấy rất nhiều mảnh gốm và xương động vật. Tất cả đều là rác thải, chẳng hạn như một mảnh gốm vỡ mà các thủy thủ vứt đi từ con tàu hay xương động vật mà một lò mổ gần đó ném xuống cảng.  Hàng nghìn đồ vật cũng được nạo vét từ dưới đáy biển Bosporus. Chỉ một lượng nhỏ trong số này là có giá trị bảo tàng và nghiên cứu, phần còn lại sẽ lại được chôn vùi.  Những di vật này cũng giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu những thương nhân cổ đại đã chở rượu, dầu oliu trong các bình lọ như thế nào và chuyên chở ra sao.  M.T. (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hành tinh giống Trái đất      Nhóm các nhà thiên văn học quốc tế đến từ Thụy Sĩ, Pháp và Bồ Đào Nha đã phát hiện một hành tinh giống Trái đất nhất từ trước đến nay nằm ngoài Thái dương hệ. Theo Hãng tin ANI, đây là hành tinh có bán kính lớn hơn 50% so với Trái đất và có nhiều khả năng chứa nước trên bề mặt.    Đội ngũ nghiên cứu đã sử dụng Đài thiên văn Bắc Âu để khám phá hành tinh trên, vốn có khối lượng lớn gấp 5 lần Trái đất và quay xung quanh một ngôi sao có tên Gliese 581. Mặc dù hành tinh trên chỉ mất 13 ngày để kết thúc một vòng quay xung quanh Gliese 581 và khoảng cách giữa chúng gần hơn đến 14 lần nếu so với khoảng cách của Mặt trời – Trái đất, hành tinh mới phát hiện nằm trong khu vực có thể có sự sống.   Theo nghiên cứu đăng trên Chuyên san Thiên văn và Vật lý học thiên thể, nhiệt độ trên bề mặt của hành tinh trên vào khoảng 0 đến 40 độ C và hoàn toàn có thể tồn tại nước ở dạng lỏng. Mô hình dựng theo các thông tin thu thập được dự đoán hành tinh này có thể có đá lởm chởm ở bề mặt hoặc được bao phủ bằng các đại dương. Gliese 581 nằm trong số 100 ngôi sao gần Trái đất nhất, cách khoảng 20,5 năm ánh sáng.  T.M (theo ANI)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hành tinh mới trong Hệ mặt trời      Các nhà khoa học Nhật Bản vừa cho biết, “Có nhiều khả năng có một thực thể giống hành tinh chưa được biết đến, lớn bằng 30-70% Trái đất, tồn tại ở vòng ngoài của Hệ mặt trời”.      Do nhiệt độ rất lạnh, nên bề mặt của nó có thể được bao phủ trong băng, amoniac đóng băng và khí mêtan. Hành tinh X, tên được các nhà khoa học đặt cho, có thể có quỹ đạo hình elip thuôn, quay quanh mặt trời 1.000 năm một vòng. Các nhà khoa học có được thông số này nhờ ước đoán bán kính của nó khoảng từ 15-26 tỷ km. Nếu tiến hành nghiên cứu sâu hơn, hành tinh này chắc chắn sẽ được tìm thấy trong vòng chưa đầy 10 năm nữa.   Phan Anh (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hạt sơ cấp hiếm      Một nhóm khoa học gia tại Phòng Thí nghiệm gia tốc Illinois (Mỹ) vừa phát hiện hai dạng phần tử được cấu thành từ những hạt sơ cấp cực hiếm.    Những phần tử này có tên gọi là Sigma-sub-b, nặng hơn khoảng 6 lần so với hạt proton, được các chuyên gia miêu tả một cách bóng bẩy là “giống như những viên đá quý hiếm được lấy lên từ hầm mỏ”. Các phần tử này chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn và bị phân hủy sau mỗi phần trăm giây. Tiến sĩ J.Konigsberg thuộc Đại học Florida cho biết phát hiện mới giúp các chuyên gia hoàn tất bảng tuần hoàn về các hạt barion.  C.M.L (CBC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hố đen phun ra vật chất bí ẩn với tốc độ bằng 2/3 tốc độ ánh sáng      Từ lâu khoa học đã quan tâm nghiên cứu dòng phun hình thành tại hố đen (black hole jet) nhưng chưa biết nó chứa những vật chất gì. Mới đây tạp chí Nature công bố một công trình nghiên cứu dòng phun từ hố đen, do các nhà khoa học ở Đại học Barcelona (Tây Ban Nha), Đại học Curtin (Australia) và cơ quan đóng tại CHLB Đức của Đài Thiên văn European Southern Observatory (ESO) thực hiện, giải đáp phần nào câu hỏi trên.      Họ đã khám phá được thành phần của chùm tia sáng bí ẩn do hố đen giải phóng, tìm được chứng cớ tồn tại ni-ken và sắt trong đó; hai kim loại nặng ấy có thể là nguồn của các điện tích dương. Điều này cho thấy hố đen không phải là nơi chứa những vật chất kỳ lạ, mà thực ra ở đấy các vật chất bình thường vẫn có tác dụng lớn.  Hố đen là thiên thể bí ẩn nhất trong vũ trụ, bởi lẽ con người không thể nào dùng biện pháp đo lường quang học, tức dùng giải sóng ánh sáng nhìn thấy, để phát hiện hình ảnh nó. Tuy vậy khoa học cũng tìm ra cách quan sát hố đen.   Hố đen sử dụng lực hút mạnh khủng khiếp của nó để nuốt chửng mọi thứ, từ đất đá tới chất khí, tới các hành tinh, định tinh và cả ánh sáng, không từ thứ nào. Vì thế mà xung quanh nó hình thành một vành đĩa vật chất những thứ bị nó hút. Cái đĩa ấy phản ánh một số đặc điểm của hố đen, thí dụ những tia X năng lượng lớn do nó phóng ra trong quá trình hút các vật.  Tháng 9/2012, một nhóm nhà thiên văn đứng đầu là tiến sĩ Díaz Trigo ở ESO cùng các cộng tác viên đã sử dụng tàu thăm dò XMM-Newton Observatory của Cơ quan Không gian châu Âu (ESA) để tiến hành quan trắc các bức xạ tia X phóng ra từ hố đen ký hiệu 4U1630 – 47; họ phát hiện thấy trong đó có ni-ken và sắt. Hố đen 4U1630 – 47 nằm trong Thiên hà chúng ta, có khối lượng to gấp mấy lần Mặt Trời.  Các nhà khoa học làm việc tại kính viễn vọng ATCA (Australia Telescope Compact Array) cũng quan sát thấy hố đen đó bỗng dưng xuất hiện dòng phun. Simone Migliari ở Viện Khoa học Vũ trụ thuộc Đại học Barcelona (ICCUB) cho rằng dòng phun này một phía hướng về Trái Đất, một phía hướng ngược lại, vận tốc phun bằng 2/3 vận tốc ánh sáng hoặc 708 triệu km/h.   James Miller-Jones ở Trung tâm quốc tế Nghiên cứu Thiên văn vô tuyến (International Centre for Radio Astronomy Research) tại Australia nói trong dòng phun đó có cả điện tích dương, nhưng chúng ta còn chưa rõ các điện tích dương ấy đến từ phản vật chất positron hay từ các nguyên tử mang điện tích dương. Ni-ken và sắt mới đây phát hiện thấy trong dòng phun có thể là một nguồn của các điện tích dương.  Từ các ghi chép quan trắc hố đen ký hiệu 4U1630 – 47, người ta phát hiện thấy những vật chất cấp nguyên tử trong hệ thống thiên thể hố đen; nghĩa là các vật chất đó cũng tồn tại trong những hố đen khác. Vì nguyên tử mang điện tích dương nặng hơn nhiều so với positron cho nên dòng phun từ hố đen mang theo một năng lượng rất lớn, lớn hơn cả các số liệu trước đây đã ghi chép được.  Phát hiện mới nói trên còn giúp tìm ra câu trả lời dòng phun phát ra từ vị trí nào của hố đen. Một số nhà khoa học cho rằng dòng phun đó có liên quan tới sự tự quay của hố đen. Nhưng có những kết luận nghiên cứu lại cho rằng dòng phun có quan hệ với đĩa vật chất xung quanh hố đen. Bởi vậy kết quả phát hiện mới đây đã góp phần chứng minh vành đĩa vật chất đó có tác dụng quan trọng, qua một kênh nào đó các vật chất này được “rót vào” dòng phun.   Nguyễn Hải Hoành lược thuật    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hóa thạch của 6 chú khủng long con      Các nhà khoa học Anh, Canada và Trung Quốc vừa phát hiện hóa thạch 6 chú khủng long con khoảng dưới 4 tuổi và được tạo thành từ ít nhất 2 ổ khác nhau chết trong trận lũ bùn của núi lửa tại vùng Yixian (Dịch Huyện) thuộc đông bắc Trung Quốc.      Đứng đầu nhóm nghiên cứu, TS.Paul Barrett, cho biết những hóa thạch này khoảng 120 triệu năm tuổi và thuộc loài khủng long Psittacosaurus. Những mẫu vật này được bảo quản rất nguyên vẹn. Đặc biệt, những mẫu hóa thạch này cho biết loài khủng long Psittacosaurus đã bắt đầu sống theo bầy đàn, sớm hơn so với những quan niệm trước đây. Đồng thời đưa đến một sự hiểu biết thấu đáo về hành vi của loài khủng long này qua hình dạng mỏ như mỏ vẹt của chúng.   D.B (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hóa thạch lâu đời nhất của Homo sapiens lên tới 300.000 năm      Các nhà khoa học đã tìm thấy hóa thạch của những mảnh xương sọ của người Homo sapiens có niên đại lớn nhất từ trước đến nay ở di chỉ khảo cổ học Jebel Irhoud, Morocco. Phát hiện này đã viết lại câu chuyện về lịch sử nguồn gốc loài người và nêu lên giả thiết loài người đã phát triển từ nhiều địa điểm khác nhau trên khắp lục địa châu Phi, chứ không phải chỉ từ một “cái nôi”.      Xương hàm dưới hoàn chỉnh của người trưởng thành được phát hiện ở Jebel Irhoud.  “Loài người chúng ta không tiến hóa từ một cái nôi duy nhất ở ‘đâu đó’ trong khu vực Đông Phi, mà đã phát triển trên khắp lục địa châu Phi”, TS. Phillipp Gunz, nhà nhân chủng học cổ sinh vật tại Phân viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa ở Leipzig, Đức, và là đồng tác giả của hai công bố về những hóa thạch này trên Nature cho biết.  Cho đến ngày nay, loài linh trưởng được cho là có mối quan hệ gần gũi nhất với Homo Sapiens là tinh tinh (Chimpanzee) và vượn Bonobos, có thể là cùng có tổ tiên với chúng ta vào khoảng sáu triệu năm trước đây. Sau khi tách khỏi tổ tiên chung này, tổ tiên của của loài người đã phát triển ra làm nhiều loài khác nhau, còn được gọi là các họ người (hominin, bao gồm con người và những loài giống người như trong bộ linh trưởng). Hàng triệu năm trôi qua, các tông người hominin vẫn còn rất giống với loài vượn, với não ngắn, nhỏ và mới chỉ sử dụng được các công cụ bằng đá thô.  Cho đến trước khi phát hiện ra hóa thạch ở Morocco, các hóa thạch lâu đời và rõ ràng nhất của Homo sapiens đã được phát hiện ở Ethiopia. Vào năm 2003, các nhà nghiên cứu tìm thấy sọ người Herto, có niên đại khoảng 154.000 – 160.000 năm tuổi cách ngày nay. Cặp sọ Omo Kibish cũng có niên đại khoảng 195.000 năm cách ngày nay. Những phát hiện đó đã đưa tới kết luận về việc có khả năng loài người phát triển từ một khu vực nhỏ – có thể là Ethiopia, hoặc khu vực Đông Phi. Và từ khu vực này, loài người di cư đi khắp lục địa Châu Phi (sau đó, vào khoảng 70.000 năm cách ngày nay, thì từ châu Phi, loài người đã di chuyển tới các châu lục khác).  Tuy nhiên sau đó, các nhà nhân học cổ sinh vật đã nhận thấy, những hóa thạch khác được tìm thấy ở các khu vực khác ở châu Phi không khớp với giả thiết trên.  Từ năm 1961, một người thợ mỏ phát hiện một vài mảnh sọ người ở khu di tích khảo cổ học Jebel Irhoud, cách thành phố Marrakesh 100 km về phía tây. Sau đó các nhà nhân học cổ sinh vật tại viện Max Planck đã tới đây và ước tính, niên đại của chúng vào khoảng 300.000 năm cách ngày nay và là của Homo sapiens chứ không thuộc nhóm Hominin khác, ví dụ như người Neanderthals.  Những phát hiện này sẽ làm thay đổi mốc thời gian xuất hiện loài người. Và không chỉ có giá trị ở đó, mà nghiên cứu này còn có thể góp phần khám phá về một số loài người tiền sử, chứ không chỉ là một loài – như những phát hiện khảo cổ khác. Về mặt hình thái học, những người sống ở Jebel Irhoud cách đây 300.000 năm có những đặc điểm giống với người hiện đại. Họ có lông mày rõ rệt, cằm nhỏ, khuôn mặt phẳng và rộng, nhìn về tổng thể thì không quá khác biệt so với người hiện đại. Cấu tạo khuôn mặt đó có thể liên quan tới việc phát triển ngôn ngữ, theo suy đoán của Christopher Stringer, nhà nhân học cổ sinh vật tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên London. Tuy nhiên, dù hộp sọ của các cư dân này có kích thước lớn như người hiện đại nhưng về hình thái lại vẫn giữ đặc điểm dài và thấp giống đầu của các Hominin giai đoạn sớm. TS. Gunz cho rằng, đầu của con người trở nên tròn sau quá trình tiến hóa, vùng phía sau của não bộ đã mở rộng hơn sau hàng ngàn năm.  Kỹ năng của cư dân Jebel Irhoud được đánh giá là ở mức độ tinh vi, họ có thể tạo ra lửa, làm vũ khí phức tạp như những mũi giáo bằng gỗ để giết linh dương và các loài động vật ăn cỏ khác. Vấn đề sử dụng công cụ đá của người Jebel Irhoud cũng rất thú vị: công cụ bằng đá lửa của họ có nguồn gốc tại một địa điểm cách Jebel Irhoud 32km. Như vậy là, người Homo sapiens sớm cũng đã biết tìm kiếm nguồn nguyên liệu để làm công cụ trên một phạm vi rộng. Trước đó, các lưỡi đá lửa (flint blade) tương tự cũng được tìm thấy ở các địa điểm khác ở châu Phi và các nhà khoa học chưa tìm ra câu trả lời là ai đã tạo ra những lưỡi đá đánh lửa đó. Nhưng phát hiện tại Jebel Irhoud đã đưa tới khả năng là chính người Homo sapiens đã tạo ra các lưỡi đá lửa.  Nếu điều đó đúng, TS. Gunz và đồng nghiệp đang thảo luận về một giải thiết rằng, tổ tiên loài người đã phát triển thành một mạng lưới trên khắp lục địa châu Phi.    Hình ảnh tái hiện phần đầu của người Homo sapiens ở Jebel Irhoud.    Những công cụ lao động bằng đá được phát hiện tại di chỉ Jebel Irhoud.  Nguồn ảnh trong bài: Phân viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa.  Bảo Như lược dịch.  https://www.nytimes.com/2017/06/07/science/human-fossils-morocco.html?rref=collection%2Fsectioncollection%2Fscience    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hóa thạch rùa cổ nhất thế giới      Các nhà cổ sinh vật học Ba Lan vừa phát hiện hóa thạch của một loài rùa cổ nhất thế giới và chưa từng biết đến. Hóa thạch này cũng là chìa khóa để giải đáp những câu đố hóc búa về nguồn gốc của loài bò sát cổ đại.    Dẫn đầu nhóm nghiên cứu, giáo sư Tomasz Sulej cho biết đã tìm thấy hai loại hóa thạch rùa tại bãi rác gần thị trấn Poreba, khu vực tây nguyên Jurassic, Ba Lan có niên đại khoảng 215 triệu năm, tức thuộc giai đoạn cuối của kỷ Triat.  Sau 15 phút khai quật trong bùn tại bãi rác, ông đã phát hiện hóa thạch một loại rùa thuộc loài rùa Proterochersis robusta sống cách đây hàng trăm triệu năm. Hóa thạch còn lại vẫn chưa xác định được danh tính thuộc loài rùa nào.  Tuy nhiên, hóa thạch này được đánh giá cao, sau khi thực hiện một số xét nghiệm, các nhà khoa học cho rằng đó là loài rùa cổ nhất thế giới và chưa bao giờ xuất hiện ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.  Hóa thạch được tìm thấy bao gồm: mai rùa, cổ và đuôi đốt sống cùng với các xương chi. Tuy hóa thạch này không mang vật chất hữu cơ để thử nghiệm ADN, nhưng cấu trúc của nó nắm giữ manh mối vô cùng quý giá về nguồn gốc của các loài.    Theo Daily Mail    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hóa thạch thằn lằn 2 đầu ở Trung Quốc      Các nhà cổ sinh vật học Pháp và Trung Quốc đã tìm thấy hóa thạch của một con bò sát 2 đầu sống tại Trung Quốc cách đây 150 triệu năm.    Sinh vật được phát hiện tại Yixian, nơi cất giữ rất nhiều hóa thạch thuộc miền Đông Bắc Trung Quốc. Trước đó người ta cũng tìm thấy tại đây dấu vết của chim cổ đại và khủng long có lông.  Chỉ dài khoảng 7 cm, bộ xương tí xíu có từ kỷ Phấn trắng sớm này cho thấy đó là một con thằn lằn mới sinh có 2 đầu và 2 cổ. Nó thuộc loài thằn lằn cổ dài sống dưới nước và có chiều dài tới hơn 1 m khi trưởng thành.  Việc mọc thêm chiếc đầu thứ 2 là một dị tật cũng hay xuất hiện ở các loài bò sát ngày nay như rùa và rắn.  M.T. (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện hơi nước ngoài Hệ mặt trời      Các nhà thiên văn học cho biết họ vừa phát hiện hơi nước trong bầu khí quyển của một hành tinh khổng lồ bên ngoài Hệ mặt trời.    Hơi nước được phát hiện trên hành tinh HD 189733b, nhờ kính viễn vọng hồng ngoại Spitzer của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA).  Đây là lần thứ hai nước được phát hiện trên một hành tinh bên ngoài Hệ mặt trời. Trước đó, ngày 10-4, các nhà thiên văn học thông báo lần đầu tiên họ đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của nước trên một hành tinh bên ngoài Hệ mặt trời – hành tinh HD 209458b.  Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể nước có mặt trên tất cả các hành tinh khí, những hành tinh giống sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên vương và sao Hải vương trong Hệ mặt trời.  HD 189733b quay quanh một ngôi sao thuộc chòm sao Vulpecula, cách Mặt trời 64 năm ánh sáng. Mặc dù trên HD 189733b có thể có nước, hành tinh này vẫn quá nóng để sự sống có thể tồn tại. Nó bay rất gần ngôi sao mẹ, gần hơn khoảng cách giữa Trái đất – Mặt trời đến 30 lần, với cái nóng như thiêu đốt vào ban ngày và được xem là một “sao Mộc nóng” (chỉ khoảng 50 trong số 200 hành tinh được biết ngoài hệ Mặt trời là “sao Mộc nóng”).  TƯỜNG VY (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện khảo cổ mới thách thức học thuyết loài người có nguồn gốc ở châu Phi      Mới đây tại Đạo Huyện thuộc tỉnh  Hồ Nam, các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật được 47 hóa thạch  răng “có đặc trưng của loài người hoàn toàn hiện đại”. Qua giám định  niên đại và nghiên cứu hình thái những hóa thạch đó, các nhà khoa học  phỏng đoán khoảng 80-125 nghìn năm trước, vùng này từng xuất hiện loài  người hiện đại, nghĩa là sớm hơn 20 nghìn năm so với cuộc “Di dân ra  khỏi châu Phi”.    Báo cáo nghiên cứu của họ đã được đăng trên tạp chí Nature ngày 15/10/2015.    Cho tới nay, các lý thuyết được giới khoa học công nhận đều cho rằng loài người hiện đại có nguồn gốc ở châu Phi, khoảng 50.000 năm trước, do xảy ra đại hạn, họ buộc phải đi ra khỏi châu Phi, vượt Hồng Hải tiến sang Tây Á và châu Âu. Họ được coi là loài người hiện đại sớm nhất. Lý thuyết này cho rằng những người đó là tổ tiên đồng nhất của nhân loại sau đó sinh sôi nảy nở ở khắp nơi trên trái đất.    Truyền thông Trung Quốc đưa tin: nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu động vật có xương sống và nhân loại cổ thuộc Viện Khoa học Trung Quốc đã hợp tác với Viện nghiên cứu môi trường trái đất thuộc Viện Khoa học Trung Quốc, trường Đại học Bắc Kinh và Trung tâm nghiên cứu sự tiến hóa nhân loại nhà nước Tây Ban Nha tiến hành phân tích tổng hợp về hình thái hóa thạch loài người và các yếu tố liên quan như địa tầng, niên đại.     Tiến sĩ María Martinón-Torres ở University College London (UCL) cho rằng việc khai quật và kết quả giám định niên đại hóa thạch răng loài người Đạo Huyện (Daoxian) cho thấy lý thuyết “Cuộc di dân ra khỏi châu Phi” còn có quá nhiều lĩnh vực chưa biết rõ; những người di cư ấy sau khi ra khỏi châu Phi thì đi đâu và số phận của họ ra sao – đây là một trong những vấn đề chính của cuộc tranh cãi hiện nay.    GS Chris Stringer ở Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London nói nghiên cứu mới này là “sự thay đổi cuộc chơi” trong các tranh luận về sự truyền lan của loài người hiện đại.    Nguyên Hải tổng hợp    Nguồn:    – http://www.bbc.com/news/science-environment-34531861   Fossil teeth place humans in Asia ‘20,000 years early’ 14 Oct. 2015  – http://www.bbc.com/zhongwen/simp/science/2015/10/151015_hunan_human_fossile 15 Oct.  湖南出土化石挑战“人类源自非洲”学说       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện khu rừng nhiệt đới hóa thạch cách đây 300 triệu năm      Hội địa chất Mỹ ngày 23-4 cho biết các nhà khoa học Mỹ và Anh vừa phát hiện một khu rừng nhiệt đới hóa thạch cách đây 300 triệu năm tại một mỏ than ở bang Illinois, Mỹ.    Khu rừng này gồm hàng loạt các loài cây đã bị tuyệt chủng cao hơn 40 m, phủ lên một vòm các cây dương xỉ, mọc chen lẫn giữa rêu và cây bụi. Các nhà khoa học xác nhận chưa có nơi nào trên thế giới người ta có thể bước đi giữa một khu rừng nhiệt đới hóa thạch rộng như vậy.  Phát hiện này đã làm thay đổi nhận thức của giới địa chất về hệ sinh thái của các khu rừng nhiệt đới đầu tiên trên trái đất. Khu rừng hóa thạch này được bảo tồn sau một trận động đất dữ dội xảy ra cách đây 300 triệu năm, làm toàn bộ khu vực này chìm xuống dưới mực nước biển và từ đó khu rừng bị bùn đất chôn vùi vĩnh viễn.  Tiến sĩ Howard Falcon-Lang, Giáo sư Trường ĐH Bristol của Anh, thành viên nhóm nghiên cứu nói: “Thật là ấn tượng. Chúng tôi đi trên một chiếc xe bọc thép xuống độ sâu hàng trăm m dưới mỏ than. Các cây hóa thạch bám trên nóc vỉa than, vì vậy, sau khi bóc hết lớp than đi, khu rừng hiện ra ở trên trần hầm lò. Chúng tôi tiến sâu hàng dặm dọc theo hầm than, với những lớp cây hóa thạch ngay trên đầu. Nhờ ánh sáng của đèn đi lò, chúng tôi đã vẽ được bản đồ của khu rừng này”.  Khu rừng hóa thạch rộng trên 10.000 ha, cung cấp những bằng chứng độc đáo giúp con người hình dung được các khu rừng nhiệt đới tồn tại cách đây 300 triệu năm. Phần lớn các mỏ than trên thế giới đều được hình thành trong thời kỳ này.  Trước đó, các nhà khoa học biết rất ít về hệ sinh thái và cấu trúc quần thể của các loài cây cổ đại. Các hóa thạch cho thấy những khu rừng nhiệt đới đầu tiên trên trái đất rất đa dạng và các loài cây biến đổi theo từng khu vực địa lý. Các nhà khoa học đang tái hiện lại khu rừng nhiệt đới hóa thạch này ở qui mô lớn.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện khủng long mỏ vịt với 800 chiếc răng      Những người săn hóa thạch đã tìm thấy loài khủng long mỏ vịt mới có cơ thể đồ sộ và cái miệng đầy răng khác thường, trong một nghĩa địa khủng long ở Utah, Mỹ.      Con vật ăn cỏ to lớn này sinh sống trên hành tinh khoảng 75 triệu năm trước, cuối kỷ Creta, và hầu như là kẻ thống trị trên lãnh địa của chúng, vượt hẳn các loài khủng long khác sinh sống cùng khu vực ở thời kỳ đó. Nó có bộ hàm mạnh mẽ hình cái mỏ với 300 chiếc răng có thể cắn nát hầu hết các loài thực vật, cộng thêm 500 chiếc răng thay thế nằm ẩn trong xương hàm lớn. Nhóm nghiên cứu đặt cho sinh vật này cái tên Gryposaurus monumentensis.   T.An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loài bò sát biển mới cùng kỳ khủng long      Được gọi là Umoonasaurus, sinh vật này sống ở vùng nước ngoài khơi bờ biển nay là Australia 115 triệu năm trước, khi mà lục địa này vẫn còn ở gần Nam cực hơn nhiều so với ngày nay.  Umoonasaurus thuộc nhóm plesiosaur – những con bò sát biển lớn có thân hình tròn trịa, chắc nịch, đuôi ngắn và những cái chân giống như bơi chèo. Sự khác biệt nổi bật của Umoonasaurus so với những con còn lại là một chuỗi các mào mảnh, nhô cao trên đầu nó và nhiều đốt sống ở chót đuôi là nơi bám víu cho những chiếc vây nhỏ.    Sinh vật mới tìm thấy này thuộc bộ dã thú ăn thịt dưới nước có tên gọi Rhomaleosaurids. “Chúng tương đương như những con cá kình của kỷ Jura”, trưởng nhóm nghiên cứu Benjamin Kear từ Đại học Adelaide cho biết. Tuy nhiên, Umoonasaurus chỉ dài khoảng 2,4 mét.  Hóa thạch của Umoonasaurus được tìm thấy trong các mỏ opan của Australia trong nhiều năm, kể từ cuối thập kỷ 1960, nhưng chỉ đến năm ngoái, các phân tích mới nhất mới khẳng định nó là loài độc nhất vô nhị.   (theo LiveScience)    T. An       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loài chim đa sắc mới ở Colombia      Các nhóm bảo tồn thiên nhiên hôm qua cho biết họ vừa phát hiện một loài chim đa sắc mới ở vùng rừng rậm Andean, Colombia    Loài chim này có bộ lông vàng sáng, lưng màu đen, trên đầu là chiếc “vương miện” màu đỏ, còn đôi cánh điểm những hạt màu trắng, được xác định là chim sẻ Yariguies.  Đối với các nhà bảo tồn thiên nhiên, phát hiện này khá quan trọng, diễn ra vào thời điểm chính phủ Colombia quyết định dùng 200 ha rừng nguyên sinh – nơi loài chim này sinh sống – để mở một công viên quốc gia. Nhà khoa học Camila Gomez thuộc nhóm bảo tồn ProAves cho biết còn có nhiều quần thể thực vật và động vật sinh sống tại khu vực này chưa được khám phá.  Theo nhà khoa học Thomas Donegan, có khoảng 2-3 loài chim mới được phát hiện trên thế giới mỗi năm, và việc phát hiện chim sẻ Yariguies là một sự kiện rất hiếm. Điều đặc biệt hơn, đây là lần đầu tiên các nhà khoa học phát hiện một loài chim mới mà không làm chúng chết. Thông thường các nhà khoa học sẽ bắt loài chim mới, chụp ảnh và lấy mẫu ADN và sau đó thả chúng; một số con bình an trở về với thiên nhiên, nhưng có đến 1/2 các con chim này chết trong quá trình bị giam giữ.  (Theo AP)  TƯỜNG VY       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loài chim đã tuyệt chủng tại Thái Lan      Các nhà khoa học vừa cho biết chim chích sậy mỏ lớn, một loài chim sống ở vùng đầm lầy được cho là đã tuyệt chủng hơn 130 năm qua, hiện vẫn còn sống tại Thái Lan.    Loài chim này được nhìn thấy lần cuối cùng tại Ấn Độ vào năm 1867. Theo Philip Round, một nhà nghiên cứu người Anh, giám đốc chương trình bảo tồn động vật hoang dã tại Trường ĐH Mahidol ở Bangkok cho biết ông đã tình cờ gặp loài chim này vào tháng 3-2006 tại tỉnh Phetchaburi.  “Chúng ta nghĩ chúng đã tuyệt chủng, tuy nhiên hiện chúng tôi đã chứng minh được loài chim này vẫn còn tồn tại. Tôi tin còn có thêm nhiều nhà nghiên cứu nữa đang tìm kiếm chúng tại Ấn Độ, Nepal và cả Burma”, ông nói.  Round cũng cho biết phát hiện của ông đã được đăng tải trên tạp chí sinh vật quốc tế chuyên về chim. Điểm giúp phân biệt loài chim này với các loài chim chích khác nằm ở chiếc mỏ dài và cánh ngắn.  Nặng chỉ 9,5 gr, dài 14 cm, chim trống được cho là có tuổi thọ chỉ khoảng 1 năm. Hiện các kiểm tra ADN của loài chim này đang được tiến hành tại Trường ĐH Lund của Thụy Điển.  TƯỜNG VY (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loại hạt phá vỡ giới hạn tốc độ ánh sáng      Một thí nghiệm do các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN), có trụ sở tại Thụy Sĩ và phòng thí nghiệm tại Italy, đã đưa ra bằng chứng rằng các hạt cơ bản được biết đến với tên gọi Neutrino có thể di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng.    Phát hiện này đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và kiểm nghiệm một cách cẩn trọng trước khi được công bố chính thức. Nhưng nếu điều này là đúng, nó sẽ phá vỡ những nguyên tắc cơ bản nhất của vật lý hiện đại – không gì có thể chuyển động nhanh hơn 299.792.458 m/s.  Thí nghiệm này có tên gọi OPERA (Oscillation Project with Emulsion-tRacking Apparatus), được thực hiện ở phòng thí nghiệm quốc gia Gran Sasso nằm sâu 1.400m dưới lòng đất tại Italia. Đây là một trong những phòng thí nghiệm vật lý năng lượng hàng đầu tại châu Âu, được thiết kế nhằm nghiên cứu một chùm Neutrino đến từ CERN. Neutrino là những hạt cơ bản trung hòa về điện, rất hiếm khi tương tác với vật chất khác và có khối lượng nghỉ gần như bằng 0. Neutrino có khả năng đâm xuyên qua mọi thứ và tồn tại rất nhiều xung quanh chúng ta.  Hiện tượng hạt Neutrino di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng được phát hiện hoàn toàn tình cờ bởi một nhà vật lý khi ông tham gia các thí nghiệm về hạt cơ bản thuộc dự án hợp tác giữa CERN và Trung tâm thí nghiệm Gran Sasso tại Italy. Trong cuộc thí nghiệm, các chuyên gia đã bắn 15.000 luồng hạt Neutrino từ ngoại ô thành phố Ganeva (Thụy Sĩ) tới thành phố Gran Sasso, nơi chúng được thu nhận bởi các cỗ máy khổng lồ. Khoảng cách giữa điểm xuất phát và đích đến của luồng hạt là 730 km. Và kết quả thu được khiến người ta thật sự bất ngờ: các hạt Neutrino bay nhanh hơn ánh sáng 60 phần tỷ giây.  Phá vỡ quy luật  Ý tưởng “không gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng” chính là nền tảng thuyết tương đối của nhà vật lý lừng danh Albert Einstein, đồng thời tạo nên nền tảng cơ sở của nền vật lý hiện đại ngày nay. Nếu phát hiện của CERN là chính xác, nó sẽ làm thay đổi cách nhìn của thế giới về vật lý hiện đại. “Nếu điều này là sự thực, nó chắc chắn sẽ tạo nên biến đổi to lớn”, ông  John Ellis – một nhà vật lý lý thuyết tại CERN nói.  Trước đây, một thí nghiệm khác cũng đã đưa ra kết quả tương tự, tuy nhiên mức độ tin cậy từ thí nghiệm này thấp hơn nhiều. Năm 2007, thí nghiệm MINOS (Main Injector Neutrino Oscillation Search) được thực hiện tại tiểu bang Minnesota đã cho thấy rằng các hạt Neutrino phát ra từ cơ sở vật lý hạt Fermilab tại Illinois đến nơi trước thời hạn. Khi đó, nhóm nghiên cứu MINOS đã chủ động hạ thấp kết quả, một phần vì có quá nhiều sự không chắc chắn về thời điểm phát hiện vị trí hạt, ông Jenny Thomas – phát ngôn viên của thí nghiệm nói. Thomas nói rằng MINOS đã lập một kế hoạch tỉ mỉ hơn nhằm theo dõi thí nghiệm trước khi những kết quả mới nhất của OPERA được công bố, “Tôi hy vọng chúng ta có thể xác nhận chính xác điều này sau khi tiếp tục đo lường và kiểm nghiệm lại trong vòng một hoặc hai năm nữa”.  Những điều còn hoài nghi    Nếu MINOS xác nhận phát hiện của thí nghiệm OPERA, sự tác động tới lý thuyết vật lý sẽ vô cùng to lớn. “Nếu giới hạn tốc độ ánh sáng bị phá vỡ, thuyết tương đối cũng sẽ sụp đổ”, ông Antonino Zichichi – một nhà vật lý lý thuyết và cũng là giáo sư danh dự tại đại học Bologna, Italy nói. Zichichi phỏng đoán rằng các hạt Neutrino phát hiện bởi OPERA có thể bị trượt khỏi kích thước trong không gian giống như dự đoán của lý thuyết dây.  Tuy nhiên Ellis vẫn hết sức hoài nghi. Có rất nhiều thí nghiệm trong quá khứ được tiến hành nhằm tìm kiếm loại hạt có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng nhưng đều thất bại. Và vấn đề đặt ra cho thí nghiệm OPERA chính là sự phân tách riêng biệt của xung neutrinos từ những siêu tân tinh (supernova) như 1987a. Nếu tốc độ mà OPERA cho thấy đúng với tất cả các neutrinos, sóng xung từ những siêu tân tinh sẽ được nhìn thấy sớm hơn hàng năm so với ánh sáng của một một ngôi sao phát ra.  Ereditato nói rằng ông hoan nghênh bất kỳ sự hoài nghi nào từ phía bên ngoài. Nhưng ông cũng cho biết thêm rằng chưa có bất kỳ một nhà khoa học nào có thể tìm ra lời giải thích hợp lý khác cho phát hiện này. “Bất cứ ai đứng trong hoàn cảnh này cũng phải đồng ý với quan điểm của chúng tôi”, ông nói.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loài khỉ châu Phi mới      Một loài khỉ mới đã được phát hiện ở vùng núi phía Nam Tanzania. Loài này được cho là đang có nguy cơ tuyệt chủng, có lẽ không nhiều hơn 1000 cá thể còn tồn tại. Đây là một loài khỉ núi, sống trên cây và khá gần gũi với họ hàng khỉ đầu chó.    “Nhưng con khỉ này có lẽ đã ở vùng núi phía Nam Tanzania từ hàng trăm nghìn năm”, Tiến sỹ Butynski, một trong những nhà khoa học đầu tiên tìm ra loài khỉ này nói. Nhóm nghiên cứu của Hội Bảo vệ Thiên nhiên Hoang dã New York cũng là đồng tác giả của khám phá này, người dẫn đầu nhóm, Tiến sỹ Davenport nói: “Phát hiện này chứng tỏ rằng, vẫn còn rất nhiều điều cần phải nghiên cứu ở những khu vực xa xôi và ít được biết đến của Tanzania, cũng như của tòan bộ châu Phi”.  Sự tồn tại của một loài có vú lớn như vậy mà trong một thời gian dài không hề được biết đến đã làm sửng sốt các nhà sinh học. Russell Mittermeier, thuộc Hội Bảo tồn Thế giới nói rằng, phát hiện này chứng tỏ chúng ta vẫn còn biết rất ít về những loài linh trưởng gần gũi nhất với con người. Ông nói: “Trên một đất nước có trình độ đáng kể về nghiên cứu cuộc sống hoang dã mà một loài khỉ to tướng vẫn có thể ẩn nấp ngay trước mũi chúng ta”.  Các nhà khoa học tin rằng, có ít nhất là hai quần thể hiện đang sống ở vùng rừng gần dãy Udzungwa thuộc Công viên Quốc gia, nhưng vì có một số cá thể đã biến mất nên họ vẫn còn đang lo ngại cho tương lai của loài khỉ mới này.  P.V    Nguồn tin: tác giả Helen Briggs, BBC News      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loài san hô mới      Các nhà khoa học Mỹ cho biết họ vừa phát hiện một loài san hô nước sâu được cho là mới cùng nhiều mảng bọt biển lớn ở độ sâu 1.000 – 2.000m dưới lòng đại dương.      Cây san hô có dạng đốt màu vàng chanh và những mảng bọt biển này được phát hiện vào tháng trước ở khu bảo tồn biển Papahanaumokuakea, ngoài khơi đảo Hawaii. Các mẫu san hô và bọt biển đã được thu thập để phân loài và phân tích DNA.   Minh Anh (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện loại vi khuẩn có thể tích nhỏ tới mức giới hạn      Mới đây, một nhóm nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley thuộc Bộ Năng lượng Mỹ và Đại học California, Berkeley đã sử dụng kính hiển vi điện tử lần đầu tiên chụp được hình ảnh một loại vi khuẩn cực nhỏ, thể tích bình quân chỉ bằng 0,009 micro mét khối (1 micro mét bằng một phần triệu mét).  &#160;    Các nhà khoa học cho rằng đây là hình thức sự sống nhỏ nhất trên thế giới, là sinh mệnh đơn giản nhất mà thiên nhiên có thể sáng tạo được. Đã hơn 20 năm qua, giới khoa học tranh luận về khả năng tồn tại loại sinh vật như vậy. Giờ đây, nhờ xuất hiện công nghệ kính hiển vi cực kỳ tinh xảo, họ đã phát hiện ra chúng. Đó là kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp (cryo-transmission electron microscopy).  Kết quả nghiên cứu nói trên được công bố trên tạp chí Nature Communications (Anh Quốc).   Thể tích của loại khuẩn này nhỏ tới mức không thể chứa được các chất cần thiết cho sự sống. Có thể hình dung: trong một khuẩn Escherichia coli có thể chứa được khoảng 150 siêu vi khuẩn này; hoặc hơn 150.000 siêu vi khuẩn đó có thể chứa trong đầu mút sợi tóc con người.   “Những vi khuẩn siêu nhỏ mới được mô tả ấy là thí dụ về đời sống của một tập hợp nhỏ các vi sinh vật trên trái đất mà chúng ta hầu như chưa biết gì… Chúng thật là bí ẩn. Những vi khuẩn đó được phát hiện thấy trong nhiều môi trường và có thể chúng đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng vi sinh vật và trong hệ sinh thái. Nhưng chúng ta còn chưa hoàn toàn hiểu những siêu vi khuẩn ấy làm gì,” GS Jill Banfield nói. Ông là một trong hai tác giả của bản báo cáo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí Nature Communications.  Nhóm nghiên cứu phát hiện thấy loại khuẩn siêu nhỏ này trong một mẫu nước ngầm dưới đất. Chúng tồn tại phổ biến trong môi trường sống của chúng ta, nhưng thể tích cực nhỏ của chúng là điều chúng ta chưa hề tưởng tượng được.  Tế bào loại siêu khuẩn này có những xoắn dầy đặc có lẽ là DNA, một lượng rất ít ribosome, những vật phụ có dạng sợi tóc, một cơ chế trao đổi chất đơn sơ, dường như đòi hỏi chúng phải dựa vào các vi khuẩn khác để lấy được các dưỡng chất cần thiết cho sự sống.  Loại siêu khuẩn này thuộc vào ba họ vi sinh vật (microbial phyla) mà hiện nay khoa học còn hiểu biết rất ít. Nếu hiểu rõ hơn về các họ vi sinh vật đó thì sẽ có thể làm sáng tỏ vai trò của vi khuẩn trong khí hậu của Trái đất, trong cung cấp thực phẩm và nước của chúng ta, và trong các quá trình quan trọng khác. Theo các nhà nghiên cứu, do vi khuẩn tồn tại trong nhiều môi trường, cho nên rất có thể chúng có tác động quan trọng đối với việc duy trì sự cân bằng sinh thái, nhưng hiện nay khoa học chưa thể chứng minh được điều đó. Khoa học hiện đại cũng còn chưa thể giải thích được vì sao những siêu vi khuẩn nói trên lại nhỏ như vậy, hoặc thể tích nhỏ như thế rốt cuộc có ích gì cho sự tồn tại của chúng, bởi lẽ thể tích đó đã đạt tới giới hạn của sự sống.   Nguyên Hải tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mộ cổ chứa kho báu thời La Mã      Các nhà khảo cổ trên một hòn đảo Hy Lạp đã tìm thấy một ngôi mộ lớn thuộc thời kỳ La Mã cổ đại có chứa rất nhiều đồ trang sức bằng vàng, đồ gốm và đồng quý hiếm.    Khu mộ cổ có kích thước 8×6 m nằm ở ngôi làng Fiscardo thuộc Kefalonia có chứa 5 phần mộ trong đó có một mộ vòm và một quan tài bằng đá.  Các nhà khảo cổ tìm thấy nhẫn và khuyên tai bằng vàng, những chiếc lá bằng vàng được gắn lên các lễ phục, cũng như bình gốm, thuỷ tinh, đồ trang trí bằng đồng cùng mặt nạ, khoá đồng và các đồng xu.  Ngôi mộ hình vòm có một chiếc cửa nhỏ bằng đá được mở ra bằng một trục đứng vẫn còn hoạt động tốt. Trên một mảnh đất gần đó, các nhà khảo cổ còn tìm ra dấu vết của một nhà hát nhỏ có 4 hàng ghế bằng đá.  Những cuộc khai quật trước đó ở khu vực này cũng làm lộ ra nhiều ngôi nhà, phòng tắm và một nghĩa trang, có từ thời La Mã từ năm 146 trước Công nguyên đến năm 330.  M.T. (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới có thể chấm dứt bệnh cúm mùa      Một phát hiện đột phá đầy tiềm năng về các loại kháng thể mới có thể tạo ra một loại vaccine phổ dụng. Nếu thành công, loại vaccine này có thể kháng toàn bộ các virus cúm mùa nguy hiểm, thậm chí ngăn ngừa được bệnh dịch truyền nhiễm.      Nhà miễn dịch học Ali Ellebedy đã thực hiện một nghiên cứu phân tích phản ứng miễn dịch nhiễm cúm ở người và phát hiện ra một chủng kháng thể mạnh trong mẫu máu của một bệnh nhân nhiễm virus cúm.  Ellebedy đã gửi các mẫu kháng thể đến chỗ Florian Krammer – một nhà vi trùng học đã chứng minh hiệu lực của các kháng thể bằng cách thử nghiệm chúng chống lại các mẫu protein của virus có từ những năm 1970. Thông qua những protein này (được gọi là neuraminidase), virus có thể lây lan qua cơ thể người.  Nghiên cứu do Trung tâm nghiên cứu Scripps thuộc trường Y của Đại học Washington ở St. Louis và trường Y khoa Icahn ở New York thực hiện này đã được xuất bản trên Science.  Loại vaccine tương lai có thể sống sót trước các kháng virus  Theo chia sẻ của Kammer với DW, điều đặc biệt của loại kháng thể mới mang tên 10G1 này là nó có thể liên kết với những phần bất biến của virus cúm. Điều này có nghĩa là kể cả khi phát hiện thêm những chủng cúm mới, loai vaccine chứa kháng thể này vẫn có tác dụng.  Hơn thế nữa, kháng thể mới có khả năng tấn công cả hai phân nhóm A và B của các virus cúm, biến nó trở thành ứng viên tốt hơn cho loại vaccine phổ dụng với các chủng cúm người, lợn và gia cầm, cũng như các lại virus cúm có khả năng gây tử vong hiếm gặp khác.  Có ba loại virus cúm ảnh hưởng đến con người là A, B và C. Loại A gây ra dịch cúm theo mùa. Trong số này có cúm lợn, H5N1 ở chim, gia cầm và cúm H3N2 ở người. Virus A có thể lây lan giữa người và các loài khác, trong khi virus B và C chỉ bị mắc ở người, gây nhiễm trùng nhẹ và thường không có triệu chứng.  DW đã phân tích dữ liệu về hoạt động của virus trên khắp Hoa Kỳ và Châu Âu được trích rút từ Hệ thống Giám sát và Phản ứng Toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (GISRS). Các kết quả cho thấy đã có sự gia tăng ổn định hoạt động của virus cúm đối với cả các phân nhóm virus A và B, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Anh, Bồ Đào Nha, Đức và Croatia.  Ngoài ra, các kết quả chỉ ra virus cúm hoạt động mạnh hơn vào các tuần đầu và cuối năm  Không chỉ để phòng ngừa, mà còn để chữa bệnh  Mặc dù thường bị nhầm với cảm lạnh do các triệu chứng tương tự như ho, sổ mũi, hắt hơi và bị sốt cao – cúm mùa có thể rất nguy hiểm. Cúm không được điều trị có thể gây hậu quả nghiêm trọng, vì có thể dẫn đến nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng, đặc biệt là đối với các nhóm nhạy cảm với cúm như trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, người già và người mắc bệnh mãn tính.    Một trong những vấn đề lớn nhất với các vaccine hiện tại là chúng thường chỉ có tác dụng một mùa trước khi virus biến đổi. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tham gia nghiên cứu này cũng đã cố gắng tạo ra các virus kháng thuốc trong phòng thí nghiệm để kiểm tra xem liệu kháng thể mới có còn hoạt động hay không. Kết quả đã chứng minh rằng các kháng thể vẫn liên kết với virus và vô hiệu hóa nó.  Các kháng thể đã được chứng minh là có hiệu quả với cả chống lại các chủng vaccinekháng Tamiflu, một phương pháp chữa trị hiệu quả  đang được sử dụng để điều trị các trường hợp nhiễm virus cúm nặng như lợn và cúm gia cầm.  “Những con chuột bị nhiễm bệnh trong nghiên cứu đã phản ứng rất tốt với các kháng thể này thậm chí sau ba ngày bị nhiễm bệnh, và thời gian cửa sổ cho Tamiflu phát triển đã đóng lại. Điều này có nghĩa là sẽ có khả năng phát triển cả vắc-xin và thuốc chữa bệnh từ các kháng thể mà chúng tôi đã phát hiện”, Krammer nói với DW.  Số người tử vong vì cúm mùa tăng trên toàn cầu  Số lượng tử vong do virus cúm gia tăng hàng năm trên toàn cầu. Bây giờ, ước tính có khoảng 290.000 đến 600.000 trường hợp tử vong mỗi năm, nhưng vẫn khó xác định được con số thực.  “Có dữ liệu khá tốt cho Bắc Mỹ và Châu Âu, vì thế thông tin thực sự phụ thuộc vào hệ thống giám sát tốt như thế nào. Thật không may, có rất nhiều quốc gia không có hệ thống giám sát tốt về bệnh cúm.”  Phân tích dữ liệu sâu hơn của DW cho thấy năm 2018 chứng kiến ​​hoạt động của virus cúm đặc biệt cao so với nhiều năm qua.  Các bệnh nhiễm trùng cúm phổ biến nhất là do virus A không được phân loại gây ra. Krammer nói với DW, các virus A chưa được phân loại có nghĩa là rất khó để xác định xem virus có phải là cúm lợn hay còn gọi là H3N2, là virus cúm ở người hay không.  Một báo cáo mới từ Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cũng cho thấy rằng mùa cúm ở Hoa Kỳ đã bắt đầu vào đầu năm nay và hoạt động của virus A lan rộng đã được ghi nhận ở Puerto Rico và bảy tiểu bang khác, bao gồm Texas, Alabama và Nevada.  Mặt khác, Krammer giải thích rằng mùa cúm khác nhau ở bán cầu bắc và nam. Ở miền bắc, mùa cúm phổ biến vào mùa đông, nhưng ở các nước như Trung Quốc và Singapore, cúm lan truyền quanh năm vì không có mùa đông thực sự. Điều đó khiến việc xác định tác động thực sự của bệnh cúm trở nên khó khăn hơn.  Krammer nói: “Vẫn chưa rõ mùa cúm bị ảnh hưởng ở mức độ nào bởi thay đổi thời tiết và thay đổi hành vi ở con người trong thời điểm giao mùa”.  Nguy cơ xảy ra đại dịch cao    Krammer chỉ ra rằng khả năng xảy ra dịch truyền nhiễm toàn cầu đang gia tăng. Thật khó để dự đoán khi nào đại dịch tiếp theo sẽ xảy ra, nhưng Krammer chắc chắn nó sẽ xảy ra lần nữa.  Ông cũng giải thích rằng loại vi-rút cúm gây tử vong nhiều nhất, thống trị các mùa cúm trong vài năm qua là virus cúm người H3N2. Nhưng không thể nói virus nào sẽ gây ra đợt bùng phát lớn tiếp theo và gây ra nhiều cái chết nhất.  “Chúng ta có khoảng ba đến bốn đại dịch mỗi thế kỷ. Chúng ta đã có một vào năm 1918, 1957, 1968 và một vào năm 2009, vì vậy điều đó không thể đoán trước được.”, ông nói.  Tuy nhiên, khả năng đại dịch xảy ra đang gia tăng vì có nhiều tương tác toàn cầu hơn. Virus đại dịch đến từ các loài thuộc họ chim, như chim hoang dã, gà, vịt, nơi tất cả các virus cúm này lưu hành. Nếu chúng ta nhìn vào số lượng gà chúng ta nuôi để lấy thức ăn, chúng đang ngày càng tăng, vì dân số toàn cầu đang tăng và chúng ta cần nuôi sống con người.   Phòng ngừa tốt nhất để tránh nhiễm cúm gây chết người    Mặc dù các kháng thể mới được phát hiện có tiềm năng to lớn để phát triển một loại vaccine thực sự phổ biến và chữa khỏi bệnh cúm, nhưng sẽ phải mất nhiều năm thử nghiệm lâm sàng tốn kém trước khi đưa ra thị trường, Krammer nói.  Bước đầu tiên là kiểm tra xem tất cả mọi người có thể phát triển kháng thể 10G1 hay không.  Cho đến khi một loại vaccine phổ thông được phát triển, một trong những cách tốt nhất để giữ an toàn là thực hiện các biện pháp phòng ngừa, Krammer đề xuất.  “Đầu tiên, hãy tiêm vaccine. Các loại vaccine chúng ta có hiện không hoàn hảo, nhưng chúng thực sự có hiệu quả. Bước thứ hai là giữ cho bản thân khỏe mạnh. Nếu chúng ta khỏe mạnh, nhiễm trùng sẽ ít ảnh hưởng hơn. Thế hệ vaccine mới mà chúng ta hiện có đang chống lại bốn loại virus lưu hành ở người là H1N1, H3N2 và hai loại virus cúm B.”  Minh Anh dịch  Nguồn: https://www.dw.com/en/new-discovery-could-spell-end-to-seasonal-flu/a-51400585             Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới thách thức hiểu biết về các hệ thần kinh và sự tiến hóa của chúng      Một bài báo mới xuất bản trên tạp chí Science đề xuất những khác biệt cơ bản của kiến trúc mạng thần kinh đã thách thức hiểu biết của chúng ta trước đây về sự tiến hóa của các hệ thần kinh và cách chúng truyền thông tin.    Bằng việc sử dụng các công nghệ tiên tiến, một nhóm nhà khoa học Pawel Burkhardt ở Trung tâm SARS Michael, ĐH Bergen, và Maike Kittelmann từ trường ĐH Brookes Oxford, đã phát hiện ra các kết nối hệ thần kinh của các con sứa lược, một trong những ngành động vật cổ xưa nhất trái đất. Khi tái cấu trúc các neuron từ mạng thần kinh qua một kính hiển vi điện tử 3D, họ phát hiện ra một kiến trúc độc đáo: một mạng thần kinh liên tục. Những phát hiện này thách thức hiểu biết của chúng ta về các hệ thần kinh và sự tiến hóa của chúng.  Thay đổi lý thuyết sinh học thần kinh  Ngay từ khi công trình của các nhà khoa học Santiago Ramón y Cajal và Fridtjof Nansen ở thế kỷ 19, nghiên cứu sinh học thần kinh được giải thích qua lăng kính của chủ nghĩa neuron. Lý thuyết này tuyên bố là các hệ thần kinh tạo ra các tế bào rời rạc. Camillo Golgi thách thức lý thuyết này bằng cách đặt ý tưởng là các neuron bên trong một hệ thần kinh kết nối như một hệ liên tục. Cajal và Golgi cùng nhau đon giải Nobel trong năm 1906 do phát hiện đáng kinh ngạc đó, dẫu cho họ là những người cạnh tranh nhau trong sự nghiệp nghiên cứu.  Lý thuyết của Cajal cuối cùng được chứng minh là đúng bằng việc nhận diện được các tiếp giáp thần kinh gọi là các synapse, thông qua việc phát triển được kính hiển vi điện tử vào nhưng năm 1950, do đó bác bỏ lý thuyết của Golgi. Nhưng những phát hiện mới hiện tại thì chứng tỏ là Golgi cũng đúng.  Tại sao lại là sứa lược?  Các con sứa lược là những sinh vật thu hút bởi sống trong các đại dương xấp xỉ 600 triệu năm. Khi các sinh vật đầu tiên tiến hóa, các con sứa lược là một trong những chủng động vật đầu tiên trên hành tinh. Trong sự tiến hóa sớm của các neuron và các hệ thần kinh, có nhiều cách để thiết lập một hệ thần kinh.  Những nỗ lực trước đây để mô tả sự kết nối của các hệ thần kinh sứa lược đã cho thấy đây là điều vô cùng khó khăn bởi vì các sinh vật này rất mỏng manh, và việc tìm hiểu chúng thông qua phẫu thuật vô cùng thách thức.  Áp dụng kỹ thuật mới để thỏa mãn trí tò mò  Sự hợp tác của Pawel Burkhardt và Maike Kittelmann, một chuyên gia về kính hiển vi điện tử 3D, đã dẫn đến một quan sát quan trọng: chỉ một neuron ở mạng thần kinh của sứa lược đã tạo ra một mạng lưới nhỏ bằng việc kết hợp các quá trình thần kinh của nó, được gọi là neurites, với nhau.  Tò mò muốn khám phá tính không đều này, Pawel và Maike đã thu thập được một bộ dữ liệu 3D lớn hơn nhiều. “Tại Trung tâm Hình ảnh sinh học ở ĐH Oxford Brookes, chúng tôi có một Kính hiển vi điện tử quét cho phép thu thập một cách tự động hàng trăm hình ảnh của một sinh vật. Một trong những bộ dữ liệu đó là năm mạng neuron thần kinh và các nhánh neurites rộng lớn của chúng”, Maike nói. Việc tái cấu trúc các tế bào đó cho thấy một kiến trúc đáng kinh ngạc: chúng hình thành một mạng lưới thần kinh liên tục. “Chúng tôi tìm thấy những khác biệt cơ bản giữa lưới thần kinh của các con sứa lược và các loài thuộc ngành sứa lông châm cũng như các loài động vật khác”, Burkhardt nói. “Điều này thật vô cùng thú vị. Người ta có thể tranh luận về nó: thậm chí nó có thể là một hệ thần kinh không?”.  Bất chấp kiến trúc độc đáo của nó, lưới thần kinh sứa lược hiển thị những đặc điểm chính tìm thấy trong các hệ thần kinh như các neuropeptide và các kênh ion tạo ra các màng.  Những phát hiện này có ý nghĩa gì?  Đặc trưng của lưới thần kinh sứa lược có tiềm năng đem đến thông tin quan trọng về nguồn gốc tiến hóa của các hệ thần kinh. Thông qua việc phát hiện ra điểm độc đáo và các nguyên tắc vận hành bất thường của các neuron sứa lược, nhóm nghiên cứu đề xuất một cách tư duy mới về các kiến trúc hệ thần kinh, do đó giúp tiến trên con đường mới cho một giai đoạn mới về nghiên cứu khoa học thần kinh so sánh.  Kết quả nghiên cứu được công bố trong “Syncytial nerve net in a ctenophore adds insights on the evolution of nervous systems” trên Science1.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-04-discovery-nervous-evolution.html  https://www.technologynetworks.com/neuroscience/news/jelly-brain-study-hits-nerve-net-discovery-372438  https://www.nature.com/articles/d41586-023-01381-7  ————————————————  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.ade5645    Author                .        
__label__tiasang Phát hiện mới về bệnh ung thư      Các nhà khoa học Hàn Quốc hôm nay (24-4) thông báo họ đã khám phá ra nguyên nhân vì sao hệ miễn dịch của con người không thể chống lại sự phát triển của ung thư. Phát hiện có thể mở ra hướng điều trị mới cho căn bệnh được cảnh báo là đang “bùng nổ” tại châu Á này.    Nhóm nghiên cứu do giáo sư Kim Ho-guen thuộc Trường ĐH Yonsei dẫn đầu cho biết họ có thể xác định được cách thức các tế bào ung thư tự “ngụy trang” để tránh bị cơ thể con người tấn công.  Theo đó, các tế bào này đã sản sinh ra một chất được gọi là nonsense-mediated translational repression (NMTR) có thể ngăn chặn sự phát triển của các protein có nhiệm vụ phát hiện những kẻ “đột nhập” vào cơ thể.  Cuộc nghiên cứu được sự hỗ trợ của Bộ Khoa học Hàn Quốc này đã được đăng tải trên tạp chí PLoS Biology có trụ sở tại Mỹ số mới nhất. Theo hãng tin Yonhap, nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng, bởi một khi các nhà khoa học có thể vô hiệu hóa ảnh hưởng của NMTR, họ có thể tìm ra các biện pháp mới chữa trị hiệu quả bệnh ung thư.  T.VY (Theo Yonhap, Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về hiến sinh người: Giúp củng cố quyền lực trong xã hội phân hóa giai cấp      Trước đây, hiến sinh người, vốn được cho rằng thường gắn với các xã hội nguyên thuỷ. Nhưng nghiên cứu mới do các nhà khoa học Úc và New Zealand công bố trên Nature đã chỉ ra, hiến sinh người phổ biến trong xã hội mới phân hóa giai cấp hơn so với trong xã hội nguyên thuỷ. Vì vậy nhóm nghiên cứu cho rằng hiến sinh người đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và duy trì quyền lực.      Hình thức hiến sinh con người là đặc trưng trong nhiều xã hội loài người sớm như Đức, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Inuit, châu Phi, Trung Quốc và Nhật Bản, hay ở Bắc, Trung và Nam Mỹ nhưng tư liệu khảo cổ học không dễ phân biệt giữa người chết do hiến sinh với bất kỳ cái chết do bạo lực nào khác. Vì vậy, Joseph Watts ở Đại học Auckland, New Zealand và các đồng nghiệp tập trung nghiên cứu các nền văn hóa Nam Đảo, bởi các nền văn hóa này vốn cùng chung nguồn gốc, và đã có nhiều khảo sát kỹ lưỡng. Họ đã phân tích từ dữ liệu và các quan sát trên 93 nền văn hóa Nam Đảo, trải dài từ Đài Loan đến Madagascar, từ New Zealand, qua Hawaii đến đảo Phục Sinh.  Tôn giáo tín ngưỡng ở khu vực này rất đa dạng nhưng có điểm chung là nghi lễ hiến sinh được thực hành khá phổ biến – xuất hiện ở 43% các nền văn hóa này. Trong số các nền văn hóa Nam Đảo được khảo sát, các nhà nghiên cứu nhận thấy chỉ 5 trong số 20 xã hội nguyên thủy có nghi lễ hiến sinh, còn tới 18 trong số 27 xã hội có phân hóa giai cấp có nghi lễ hiến sinh. Như vậy, càng ở các xã hội nguyên thủy, con người càng ít có khả năng bị chọn để hiến sinh. Trong khi đó, ở các xã hội phân hóa giai cấp, một cá nhân thuộc tầng lớp thấp rất có khả năng bị chọn làm nạn nhân cho nghi lễ hiến tế.   Từ thống kê trên, các nhà khoa học đi tới phân tích và xác thực giả thuyết rằng hiến sinh người góp phần “ổn định sự phân tầng xã hội mới hình thành, và thúc đẩy chuyển giao tới những hệ thống giai tầng kế cận”. Nhóm tác giả cho biết thêm: “Trong khi các lý thuyết tiến hóa của tôn giáo tập trung vào các chức năng mang tính đạo đức và hữu ích xã hội (prosocial) của tín ngưỡng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên kết tàng ẩn giữa tôn giáo và sự tiến hóa của các xã hội phân tầng hiện đại”.   Ở đây có sự đan xen giữa vai trò của tôn giáo và ảnh hưởng của quyền lực chính trị, “ví dụ, ở Polynesia, thường có niềm tin rằng tù trưởng là hậu duệ của đấng tối cao. Nghi lễ hiến sinh thường được đại diện tầng lớp trên trong xã hội như tù trưởng hoặc các chức sắc tôn giáo tổ chức ra bằng cách chọn một người ở tầng lớp thấp trong xã hội như nô lệ hoặc tù nhân để hiến tế”, Watts nói.  “Một cái chết được coi là hiến sinh khi nó có yếu tố tôn giáo thúc đẩy. Tuy rằng khi hiến sinh không được sử dụng để kiểm soát (quyền lực) trong xã hội hiện đại nhưng các tôn giáo vẫn sử dụng chức năng này một cách rộng rãi. Nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh rằng tôn giáo dễ dàng bị lợi dụng bởi các tầng lớp chức sắc trong xã hội và trở thành một công cụ xây dựng và duy trì kiểm soát xã hội – hiến sinh người được sử dụng như một phương tiện kiểm soát xã hội là minh chứng rùng rợn cho điều này”, Watts nhận định.  Mặc dù nghiên cứu rất có ý nghĩa với các hệ thống chính trị hiện đại, nhưng nghiên cứu này không tiến hành khảo sát những phán xử dưới thời vua Luis XIV. Ông  nói thêm: “Trong nghiên cứu này, chúng tôi không tìm thấy dấu vết của các nghi lễ hiến sinh trong xã hội hiện đại, mặc dù đó thực sự là một vấn đề rất thú vị”.  Thu Quỳnh dịch theo TheGuardian  https://www.theguardian.com/science/2016/apr/04/study-shows-human-sacrifice-was-less-likely-in-more-equal-societies       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về mối liên hệ gene giữa sức sáng tạo với bệnh tâm thần      Tạp chí Nature Neuroscience (Anh quốc) số ra  ngày 8/6 mới đây có đăng bài của Kari Stefansson, nhà sáng lập và Giám  đốc deCODE, một công ty chuyên nghiên cứu di truyền học có trụ sở tại  Reykjavik (Iceland), trong đó tác giả viết về kết quả nghiên cứu mối  quan hệ giữa một số bệnh thần kinh với khả năng sáng tạo của con người.     Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 25% số người làm nghề sáng tạo có mang những gene làm tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực. Nhưng một số nhà khoa học khác lại nghi ngờ rằng các kết quả đó chưa chắc đã đúng.  “Thông thường, khi sáng tạo mới một cái gì đấy, cuối cùng người sáng tạo ở vào giữa hai trạng thái tỉnh táo và điên rồ,” Stefansson nói. “Tôi cho rằng kết quả ấy ủng hộ quan điểm cũ về thiên tài điên rồ (the mad genius). Sáng tạo là một phẩm chất đem lại cho chúng ta những người như Mozart, Bach, Van Gogh. Phẩm chất đó rất quan trọng đối với xã hội. Tuy thế nó kèm theo sự rủi ro đối với các cá nhân và 1% số người phải trả giá cho sự sáng tạo.”  Nhưng Albert Rothenberg, giáo sư tâm thần học tại Đại học Harvard, lại không tán thành quan điểm trên. Ông tin rằng chưa có chứng cứ khả tín chứng minh mối liên hệ giữa bệnh tâm thần và sự sáng tạo. “Đó là khái niệm lãng mạn ở thế kỷ XIX, cho rằng các nghệ sĩ là những nhà tranh đấu tách khỏi xã hội và vật lộn với ma quỷ trong nội tâm mình,” ông nói. “Như Van Gogh, ông đúng là nhà sáng tạo mắc bệnh tâm thần. Đối với tôi, đảo ngược lại mới thú vị hơn: những người sáng tạo nói chung không mắc bệnh tâm thần, nhưng họ sử dụng quá trình suy nghĩ tất nhiên là sáng tạo và khác người”.  Dự án nghiên cứu do công ty deCODE tiến hành đã phân tích nhóm gene của 86.000 người Iceland nhằm tìm các biến dị di truyền làm tăng gấp đôi nguy cơ trung bình mắc bệnh tâm thần phân liệt, và làm tăng hơn một phần ba nguy cơ rối loạn lưỡng cực.  Kết quả phân tích cho thấy yếu tố di truyền làm tăng nguy cơ rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt được tìm thấy thường xuyên hơn ở người làm những ngành nghề sáng tạo. Tính trung bình, các họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và vũ công có biến dị di truyền nhiều hơn 25% so với người làm những ngành nghề được các nhà khoa học đánh giá là ít sáng tạo, – trong số đó có nông dân, người lao động chân tay và nhân viên bán hàng. Những nghệ sĩ là thành viên các hội nghệ thuật quốc gia có biến dị di truyền nhiều hơn 17% so với những nghệ sĩ không phải là thành viên các hội này.   “Để sáng tạo, bạn phải suy nghĩ khác người,” Stefansson nói với tờ Guardian. “Và khi đã khác người, chúng ta có xu hướng bị thiên hạ gọi là loại người kỳ quặc, điên rồ, thậm chí mất trí.”  Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích cơ sở dữ liệu y tế lớn hiện có ở Hà Lan và Thụy Điển nhằm kiểm chứng phát hiện nói trên của họ. Trong số đó có dữ liệu của khoảng 35.000 người được coi là làm công việc có tính sáng tạo (theo nghề nghiệp hoặc thông qua trả lời câu hỏi); khoảng 25% số người này có nhiều khả năng mắc các biến chứng rối loạn tâm thần.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về nguồn gốc con người      Một cuộc nghiên cứu phân tích gien người mới nhất đã khẳng định thêm thuyết cho rằng con người bắt nguồn từ châu Phi.      Đó là kết luận của nhóm các chuyên gia tại Đại học Stanford (Mỹ) sau khi đánh giá bản đồ gien của 938 cá nhân thuộc 51 nhóm dân cư trên thế giới. Đội ngũ các nhà khoa học đã quan sát sự biến đổi của 650.000 đoạn của các mẫu DNA, từ đó cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn về sự tương đồng và khác biệt giữa nhiều dân tộc trên toàn cầu. Giới khoa học từ lâu cho rằng con người hiện đại phát triển đầu tiên tại châu Phi, sau đó di chuyển sang phần còn lại của thế giới và cuộc nghiên cứu trên đã khẳng định điều đó.   T.M (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về protein của virus SARS-CoV-2 lý giải khả năng lây nhiễm      Vào lúc bắt đầu một ca lây nhiễm COVID-19, coronavirus SARS-CoV-2 chui vào các tế bào của người bằng việc sử dụng các protein gai trên bề mặt của chúng. Cái protein gai này là vấn đề trung tâm của việc phát triển vaccine bởi nó kích hoạt phản hồi của hệ miễn dịch người.      Một nhóm các nhà khoa học Đức, bao gồm các thành viên Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử châu Âu (EMBL) ở Heidelberg, Viện Vật lý y sinh Max Planck, Viện nghiên cứu Paul-Ehrlich và trường đại học Frankfurt Goethe đã tập trung vào cấu trúc bề mặt của virus để có thêm những cái nhìn sâu hơn về cách họ có thể sử dụng để phát triển các vaccine và của những liệu pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh nhân bị lây nhiễm.  Công bố của họ mang tên “In situ structural analysis of SARS-CoV-2 spike reveals flexibility mediated by three hinges” (Phân tích cấu trúc tại chỗ của gai SARS-CoV-2 tiết lộ tính linh hoạt do ba khớp nối) xuất bản trên Science.  Nhóm nghiên cứu đã kết hợp các phương pháp chụp X quang điện tử nhiệt độ thấp và các mô phỏng động lực phân tử để phân tích cấu trúc phân tử của protein gai trong môi trường tự nhiên của nó, lên những virus hoàn chỉnh và với độ phân giải ở mức gần nguyên tử. Sử dụng kính hiển vi điện tử nhiệt độ thấp hiện đại của EMBL, họ có 266 tấm chụp cắt lớp của 1000 virus khác nhau, mỗi tấm có trung bình khoảng 40 gai trên bề mặt. Việc kết hợp các kỹ thuật xạ hình và xử lý hình ảnh với các mô phỏng động lực phân tử cuối cùng đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu thông tin cấu trúc mới nhất và quan trọng nhất về các gai này.  Các kết quả thu được thật đáng ngạc nhiên: dữ liệu cho thấy phần hình cầu của protein virus, nơi chứa vùng liên kết thụ thể và “cỗ máy” đó cần sự dung hợp với tế bào đích, được kết nối với một cái cuống linh hoạt. “Phần hình cầu phía trên của gai có một cấu trúc dễ tái tạo bằng các protein tái tổ hợp, có thể dùng nó để phát triển vaccine”, Martin Beck, trưởng nhóm nghiên cứu ở EMBL và là giám đốc của Viện nghiên cứu Vật lý y sinh Max Planck (MPI). “Phát hiện của chúng tôi về cái cuống này, với phần hình cầu của protein gai đến bề mặt virus, là mới”.     “Chúng tôi từng nghĩ cái cuống này hoàn toàn cứng”, Gerhard Hummer của MPI và Viện Vật lý Y sinh ở trường đại học Frankfurt Goethe. “Nhưng qua những mô hình tính toán của chúng tôi trong các hình ảnh thực tế, chúng tôi đã phát hiện ra những cái cuống lại ‘hành xử’ vô cùng linh hoạt”. Bằng việc kết hợp các mô hình động lực phân tử với chụp X quang điện tử nhiệt độ thấp, nhóm nghiên cứu đã nhận được ba mấu nối – hông, khuỷu và đầu gối – đã đem lại sự linh hoạt của cuống này.  “Giống như một quả bóng trên dây, các gai xuất hiện và chuyển động trên bề mặt của virus cho đến lúc có thể tìm được thụ thể để xâm nhập vào tế bào đích”, Jacomine Krijnse Locker, trưởng nhóm nghiên cứu tại Viện Paul Ehrlich, nói. Để ngăn chặn sự lây nhiễm, các kháng thể hướng đến những cái gai này. Tuy nhiên các hình ảnh và mô phỏng đã cho thấy toàn bộ protein gai, bao gồm cả cuống, được bao phủ bằng các chuỗi phân tử giống đường glycan. Các chuỗi này như một dạng áo bảo vệ che chắn các gai khỏi các kháng thể trung hòa: một phát hiện quan trọng khác để tạo ra các vaccine và thuốc hiệu quả.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-sars-cov-protein-virus-ability-infect.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện mới về sự sống trên trái đất      Theo nghiên cứu của ĐH California Riverside, sự tiến hóa của sự sống trên trái đất đã bị kìm hãm trong gần 2 tỉ năm do tình trạng thiếu oxy và molybdenum trong các đại dương.      Cho đến nay, thuyết chủ đạo là các đại dương đã bị oxy hóa trong thời gian ngắn sau vụ bộc phát oxy vào không khí, vào khoảng 2,4 tỉ năm trước. Tiến trình này được cho là bước khởi động mạnh cho sự sống phát sinh. Các nhà địa hóa học, khi nghiên cứu các lớp cổ đại của đá phiến đen, đã phát hiện một lượng thấp molybdenum, một vi chất đóng vai trò quan trọng cho đời sống vi khuẩn, trong một thời gian dài của trái đất. Lượng molybdenum cũng đồng thời là dấu hiệu cho sự tồn tại của oxy trong biển, nên việc thiếu molybdenum phản ánh tình trạng thiếu oxy. Do đó, các nhà khoa học cho rằng, vụ bộc phát khí oxy cách đây 2,4 tỉ năm chỉ đủ cung cấp một luồng không khí tươi mới cho sự sống phát triển tại bề mặt các đại dương. Còn phần sâu gần đáy biển vẫn chưa có oxy để sự sống tại đấy phát triển.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một cấu trúc DNA mới trong tế bào sống      Lần đầu tiên trên thế giới, các nhà khoa học tìm ra một cấu trúc DNA mới – được gọi là cấu trúc i-motif ở bên trong các tế bào của cơ thể người. Trong đó, cấu trúc i-motif có những nút xoắn chưa từng được quan sát thấy trong các tế bào sống. Phát hiện này mới đây được các nhà nghiên cứu ở Viện Garvan, Úc công bố trên tạp chí Nature Chemistry.      Cấu trúc i-motif có những nút xoắn (phát sáng màu xanh lá trong hình) chưa từng được quan sát thấy trong các tế bào sống.  Thông tin về DNA của chúng ta cho thấy, có khoảng 6 tỉ ký tự A (adenine), C (cytosine), G (guanine) và T (thymine) cho chúng ta biết toàn bộ thông tin về cách cơ thể chúng ta được cấu tạo, hình thành và hoạt động ra sao. Hình dạng “xoắn kép” mang tính biểu tượng của DNA đã chiếm lĩnh tưởng tượng của công chúng từ năm 1953, khi James Watson và Francis Crick phát hiện ra cấu trúc của DNA. Tuy nhiên, đến nay người ta đã biết rằng các đoạn DNA ngắn có thể tồn tại dưới các hình dạng khác, và các nhà khoa học nghi ngờ rằng những hình dạng khác nhau này có thể đóng vai trò quan trọng quyết định cách thức và thời điểm mã DNA được “đọc”.  “Hầu hết chúng ta khi nghĩ về DNA đều tưởng tượng chúng có hình xoắn kép,” PGS.TS Daniel Christ, người đứng đầu phòng thí nghiệm Kháng thể điều trị ở Viện Garvan, đồng tác giả chính của nghiên cứu cho biết. “Nghiên cứu mới này cho thấy rằng các cấu trúc DNA hoàn toàn khác nhau tồn tại và có thể điều đó rất quan trọng đối với các tế bào trong cơ thể”, ông nói.  Thông thường, các ký tự C liên kết với G và ngược lại, nhưng trong cấu trúc mới của i-motif, ký tự C tạo thành cặp với nhau.  Thực ra, trước đây các nhà nghiên cứu đã nhìn thấy i-motif và đã nghiên cứu về nó, nhưng họ mới chỉ nhìn được trong điều kiện nhân tạo trong phòng thí nghiệm, chứ không phải bên trong tế bào của một cơ thể sống. Và các nhà khoa học đã đặt ra câu hỏi, liệu có thể nhìn thấy i-motif trong cơ thể sống hay không?  Để phát hiện các i-motif bên trong tế bào, các nhà nghiên cứu đã phát triển một công cụ mới – sử dụng một kháng thể – có thể nhận dạng và gắn kết với i-motif với ái lực rất cao. Mà từ trước đến nay, việc thiếu một kháng thể đặc hiệu cho việc nghiên cứu i-motif đã cản trở sự hiểu biết về vai trò của chúng. Đồng thời, các nhà khoa học sử dụng các kỹ thuật huỳnh quang để xác định vị trí của các i-motif – các điểm phát sáng màu xanh lá trong nhân tế bào là vị trí của i-motif. Tiến sĩ Mahdi Zeraati, trong nhóm nghiên cứu ở Viện Garvan chia sẻ rằng “chúng tôi phấn khởi nhất là khi nhìn thấy những đốm màu xanh lá cây – các cấu trúc i-motif – xuất hiện và biến mất theo thời gian”. Với công cụ mới, các nhà khoa học đã khám phá ra vị trí của i-motif trong một loạt các dòng tế bào của con người.  Các nhà nghiên cứu cho rằng, các cấu trúc i-motif này chủ yếu hình thành trong một thời điểm cụ thể trong “vòng đời” của tế bào. “Chúng tôi nghĩ rằng bản chất thoáng qua của i-motif cũng giải thích được rằng tại sao trước đây rất khó có thể theo dõi cấu trúc này trong các tế bào ở cơ thể sống”, PGS Christ nói.  Tuy nhiên các nhà khoa học vẫn chưa hiểu được vai trò thực sự của cấu trúc i-motif. Việc phát hiện ra một cấu trúc DNA hoàn toàn mới này rất quan trọng, điều này sẽ đánh dấu cho một giai đoạn mới nhằm nghiên cứu, tìm hiểu xem cấu trúc này thực sự có ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe và bệnh tật ở cơ thể người, PGS.TS Marcel Dinger ở Viện Garvan nhận xét.   Bảo Như lược dịch  Nguồn: https://www.garvan.org.au/news-events/news/a-new-form-of-dna-found-in-our-cells    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một ngôi sao bị lỗ đen nuốt chửng      Một lỗ đen khổng lồ đã xé vụn rồi nuốt gọn một ngôi sao nằm ở dải thiên hà cách hành tinh của chúng ta khoảng 4 tỷ năm ánh sáng, các nhà khoa học thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), thông báo.    Các chuyên gia của NASA đã sử dụng Galaxy Evolution Explorer, kính viễn vọng bay vòng quanh Trái Đất, để theo dõi dải thiên hà nói trên. Do có khả năng thu được hai bước sóng của tia tử ngoại, kính viễn vọng này đã phát hiện ra một luồng tử ngoại phát ra từ trung tâm của thiên hà.  “Luồng sáng tử ngoại tới từ một ngôi sao đã bị xé toạc và nuốt chửng bởi lỗ đen”, Suvi Gezari, thuộc Học viện Công nghệ California, miêu tả. “Đây là lần đầu tiên chúng tôi quan sát được bức xạ ánh sáng có nguồn gốc từ một sự kiện như thế. Phải mất tới 10.000 năm mới có một ngôi sao di chuyển gần tới lỗ đen trung tâm của một thiên hà để rồi bị xé toạc và nuốt chửng”.  Các nhà nghiên cứu hy vọng phát hiện này sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về những lỗ đen, loại vật chất có khối lượng riêng lớn đến nỗi ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát khỏi chúng.  Người ta tin rằng những lỗ đen khổng lồ thường nằm ở trung tâm các dải thiên hà. Chẳng hạn, theo Gezari, dải Ngân hà, nơi trú ngụ của hệ Mặt trời và cả Trái Đất, có một lỗ đen khổng lồ ở trung tâm. Tuy nhiên, lỗ đen này đang ở trạng thái “ngủ”.  Các nhà khoa học nhận định rằng, trong trường hợp mà họ quan sát được, ngôi sao xấu số đã “lạc” tới một vị trí quá gần lỗ đen. Lực hút trọng trường khủng khiếp của lỗ đen đã kéo giãn ngôi sao trước khi xé toạc nó. Họ tin rằng nhiều phần của ngôi sao đã xoay tròn trước khi lao vào lỗ đen, phát ra luồng tử ngoại sáng chói mà kính thiên văn thu được.  Các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục sử dụng kính thiên văn để theo dõi sự mờ đi của tia tử ngoại trong khi lỗ đen nuốt những phần cuối cùng của ngôi sao xấu số.  “Chúng tôi đã theo dõi thiên hà đó từ năm 2003 và không phát hiện được tia tử ngoại nào từ đó”, Gezari tiết lộ. “Nhưng vào năm 2004, chúng tôi bất ngờ nhìn thấy luồng sáng tử ngoại này. Cách giải thích duy nhất là: luồng sáng tử ngoại ấy phát sinh khi lỗ đen nuốt chửng một ngôi sao”, Gezari phát biểu.  Việt Linh (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một ngôi sao có 5 hành tinh      Các nhà thiên văn Mỹ vừa phát hiện một hành tinh mới quay quanh quỹ đạo ngôi sao 55 Cancri, cách Trái đất 41 năm ánh sáng, đưa tổng số hành tinh quay quanh ngôi sao này lên con số 5 và trở thành ngôi sao có nhiều hành tinh nhất được phát hiện bên ngoài Hệ mặt trời.      Hành tinh mới được phát hiện là một hành tinh khí, trọng lượng lớn gấp 45 lần Trái đất. Nếu hành tinh này có nhiệt độ bề mặt vừa phải, có một hay nhiều mặt trăng đá quay quanh có thể nó có nước lỏng. Hệ hành tinh mới này lớn gấp 5 lần Hệ mặt trời và có nhiều điểm tương đồng với Trái đất.   Tường Vi (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một ngôi sao đồng hành bí ẩn      Đây là một trong những ngôi sao đồng hành nhỏ nhất, thậm chí là ngôi sao đồng hành nhỏ nhất chưa từng được chụp ảnh. Kính viễn vọng Hubble đã quan sát nó quay quanh một ngôi sao khối lượng thấp là sao lùn đỏ CHRX-73.    Ngôi sao đồng hành này có thể đủ nhỏ để được gọi là một hành tinh, nhưng theo các nhà thiên văn đã phát hiện ra nó, đây là một sao lùn nâu, một ngôi sao quá nhỏ để chiếu sáng. Khối lượng của CHRX-73B, ngôi sao đồng hành của CHRX-73, được ước tính có khối lượng gấp 12 lần sao Mộc và có thể là một hành tinh.  Nhà thiên văn Kevin Luhman (trường Đại học Penn State, Mỹ) dẫn đầu nghiên cứu ở ngôi sao đồng hành với CHRX-73 đã nhắc rằng kích thước chưa phải là tiêu chuẩn đủ để định nghĩa một hành tinh.  Để xác định chính xác đặc tính của CHRX-73B, các nhà vật lý thiên văn sẽ truy tìm sự có mặt của một đĩa bụi xung quanh thiên thể này. Kính viễn vọng Spitzer đã từng quan sát những đĩa bụi này xung quanh nhiều sao lùn nâu. Tuy nhiên, CHRX-73 ở quá gần ngôi sao đồng hành để Spitzer có thể nhìn thấy rõ.  Theo các nhà nghiên cứu, phải chờ việc phóng kính viễn vọng James Webb được dự kiến vào năm 2013 mới có thể thực hiện việc quan sát này.   (Theo Sciences & Avenir)  TĐ        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện ngôi đền cổ 4000 năm ở Peru      Ngôi đền Ventarron với nhiều bức họa được khắc trên thành tường được khai quật ở bờ biển phía bắc Peru, là một trong những ngồi đền cổ nhất được phát hiện ở châu Mỹ.      Ventarron được xây dựng trước thời nền văn minh Sipan cổ đại, cách đây khoảng 2.000 năm trước khi Chúa Giesu ra đời. Nhà khảo cổ Walter Alva cho biết, “Điều ngạc nhiên là các phương pháp xây dựng, thiết kế kiến trúc và hầu hết những bức bích họa còn lại có thể đều thuộc diện cổ xưa nhất ở châu Mỹ”. Khám phá này đã tiết lộ bí mật về Thung lũng Lambayeque là một sự chuyển đổi văn hóa lớn giữa vùng biển Thái Bình Dương và phần còn lại của Peru.    Ngọc Lan (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện ngôi mộ của vua Herod      Các nhà khoa học Israel đã tìm thấy ngôi mộ của Herod vĩ đại – vị hoàng đế Do Thái trong đế chế La mã ở thành Judea cổ đại.  Phát hiện được tìm thấy tại Herodium, nơi cung điện kiêm pháo đài của Herod từng ngự trị, cách thành phố thánh nơi ông đã xây lại và mở rộng ngôi đền Do Thái khoảng 12 km.    Herod đã ra lệnh tàn sát những đứa trẻ vô tội, nhằm giết hết những cậu con trai mới lớn tại nơi sinh của Jesus ở Bethlehem, do lo ngại rằng sẽ bị mất ngôi bởi một vị vua Do Thái mới. Theo sách phúc âm, Joseph và Mary cùng đứa con Jesus đã chạy trốn thoát sang Ai Cập.  Triều đình La Mã đã phong cho Herod là vua Do Thái vào khoảng năm 40 Tr.CN. Herod chết năm 4 Tr.CN.  M.T. (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện ngôn ngữ kỳ lạ không có số đếm      Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều tin rằng, trên trái đất không hề tồn tại thứ ngôn ngữ nào mà lại không sử dụng các con số để tính toán.      Thậm chí, ở thời nguyên thủy con người đã biết đếm đến con số… 2. Ấy vậy mà vẫn có một bộ lạc trên thế giới không hề sử dụng điều được cho là hiển nhiên đó – các con số. Tại một nơi hẻo lánh trong rừng nhiệt đới Amazon có một bộ lạc chưa hề có chút khái niệm nào về những nguyên tắc số học sơ đẳng nhất. Đối với họ, các con số là một thứ vô cùng lạ lùng. Những thổ dân trong bộ lạc có hơn 300 người này đều sử dụng một thứ ngôn ngữ kỳ lạ có tên là Piran. Sau khi phát hiện ra bộ lạc này, giáo sư ngôn ngữ Edward Gibson, MIT, đã tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu quá trình hình thành số đếm trong ngôn ngữ của họ. Kết quả thật hết sức bất ngờ! Trong ngôn ngữ Piran không có các con số cụ thể, mà thay vào đó là những từ ngữ có khả năng biểu đạt số lượng là “một vài” và “nhiều”. Số “một” được người này hiểu và gọi là “ít”. Trên thực tế, những người nói tiếng Piran có thể xác định được các đồ vật khác nhau từ 1 đến 4 và coi đó là “ít”. Thế nhưng, nếu như đối tượng cần đếm là 5 hoặc 6, họ sử dụng tổ hợp từ “không nhiều lắm”, còn nếu có nhiều hơn 6 thì họ gọi là “nhiều”.   Anh Nguyễn (Theo Utro.ru)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện nguồn tế bào gốc mới      Đại học Wake Forest và Đại học Harvard (Mỹ) đã phát hiện một nguồn tế bào gốc mới được lấy từ nước ối của thai phụ có thể dùng để khôi phục các cơ quan nội tạng bị tổn thương của con người trong tương lai.    Nhóm nghiên cứu cho biết họ đã có thể biến các tế bào gốc thành các tế bào cơ, mỡ, mạch máu, thần kinh và gan. Thí nghiệm trên chuột cho thấy, các tế bào mới được tạo ra này đã giúp phục hồi một số chức năng ở chuột bị tổn thương não. Các nhà khoa học hy vọng, một ngày nào đó, có thể ướp lạnh các tế bào gốc lấy từ nước ối của người mẹ để sử dụng trong tương lai nếu con cái họ phải thay cơ quan nội tạng mà không lo bị đào thải khi cấy ghép.  H.Y (BBC, AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện nhanh H5N1      Các nhà khoa học thuộc Viện Kỹ thuật sinh học và Công nghệ nano (Singapore) tuyên bố đã sáng chế được một phòng thí nghiệm mini có thể phát hiện vi-rút cúm gia cầm H5N1 chưa đầy 30 phút.      Báo cáo được đăng trên Chuyên san Nature Medicine cho biết những cách thử khác hiện nay phải mất từ nhiều giờ cho tới nhiều ngày mới cho kết quả và tốn kém. Một trong những thách thức lớn nhất trong trường hợp bùng phát đại dịch cúm gia cầm là xác định và cách ly những người bị nhiễm bệnh để ngăn vi-rút lây lan sang người khác.      C.M.L         Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện nhanh khuẩn lao nhờ công nghệ soi huỳnh quang      Bệnh lao tưởng như chỉ hoành hành từ thế kỷ 19 nhưng đến nay vẫn là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong số các loại bệnh truyền nhiễm.       Cứ ba phút có một người chết do bệnh lao. Bệnh lao có thể chữa được nhưng việc chẩn đoán chính xác bệnh này rất khó do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis (TB) phát triển rất chậm và các phương pháp xét nghiệm truyền thống tốn rất nhiều thời gian.     Một nhóm nghiên cứu tại Đại học Y Dược trung tâm, thuộc Đại học Texas A&M đã thử nghiệm phương pháp chẩn đoán lao nhanh chóng và rẻ thay vì mất tới một tháng để xét nghiệm ra vi khuẩn lao như trước đây.     Phương pháp chẩn đoán và cách chữa mới rất quan trọng vì các thuốc chống lao thông thường đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới đã bị kháng thuốc.    Tiến sĩ Jeffrey Cirillo, trưởng nhóm nghiên cứu cùng đồng sự gần như hoàn thiện các khâu thử nghiệm, đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí PLoS ONE và đang chuẩn bị đưa ra thị trường phương pháp chẩn đoán mới này. Cirillo nói “vì các xét nghiệm kiểu cũ mất tới hàng tháng để định lượng được vi khuẩn lao trong cơ thể sống, nên một phương pháp trực tiếp cho phép xác định chính xác số lượng vi khuẩn này thực sự rất hữu ích, giúp tiết kiệm hàng tháng trời thực nghiệm”.    Nhờ công nghệ soi huỳnh quang, các nhà khoa học có thể quan sát thực tế vi khuẩn ở trong vật thể sống mà không làm hại chúng. Phương pháp này cũng dễ dàng xác định được quá trình điều trị xảy ra như thế nào và lượng vi khuẩn giảm xuống bao nhiêu.    Tiến sĩ Jeffrey Cirillo, cho biết “trước đây chưa từng có một phương pháp nào đủ nhạy bén để đo lường vi khuẩn trong cơ thể động vật. Đây là công nghệ hoàn toàn mới và hầu như có ứng dụng không hạn chế trong các nghiên cứu vi sinh học, đặc biệt ở động vật”.  Bảo Như lược dịch theo Sciencedaily  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/03/160325093943.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện nước trên hành tinh ngoài Hệ mặt trời      Các nhà thiên văn học ngày 10-4 thông báo lần đầu tiên họ đã tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của nước trên một hành tinh bên ngoài Hệ mặt trời – hành tinh HD 209458b.    Travis Barman, một nhà thiên văn học tại Đài quan sát thiên văn Lowell ở Flagstaff, Arizona (Mỹ) cho biết hơi nước được tìm thấy trong khí quyển của HD 209458b – một hành tinh lớn ở thể khí giống sao Mộc, cách Trái đất 150 năm ánh sáng, nằm trong chòm sao Pegasus.  Đài quan sát thiên văn Lowell cho biết phát hiện này đã được đăng tải trên tờ Astrophysical Journal và nghiên cứu của họ đã nhận được sự ủng hộ của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA).  HD 209458b cũng là hành tinh đầu tiên bên ngoài Hệ mặt trời được phát hiện có khí quyển với khí carbon và oxy.  Các nhà khoa học đang tìm kiếm dấu hiệu của sự sống bên ngoài Trái đất đã mất một thời gian dài để chứng minh sự hiện diện của nước trên các hành tinh khác, cả trong và ngoài Hệ mặt trời, do nước được cho là nhân tố cơ bản cho sự sống tồn tại.  TƯỜNG VY (Theo Reuters, Earthtimes)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện quảng trường 5.500 tuổi ở Peru      Các nhà khảo cổ Peru và Đức đã khám phá ra khu quảng trường hình tròn được xây dựng từ 5500 năm trước, nằm sâu dưới một công trình đổ nát khác có tên là Sechin Bajo ở Casma, cách thủ đô Lima 368 km về phía bắc.      Những cột trụ có hình một chiến binh cầm con dao và chiến lợi phẩm cũng được tìm thấy gần quảng trường. Các nhà khảo cổ cho rằng đó là một trong những công trình lâu đời nhất ở châu Mỹ. “Chúng tôi tìm thấy nhiều dấu vết của các công trình khác nằm dưới quảng trường mà có thể còn lâu đời hơn”, nhà khảo cổ Yenque cho biết. Các nhà khoa học cho biết Caral là một trong 6 nơi trên thế giới mà con người bắt đầu sống ở các thành phố khoảng 5.000 năm trước.   M.T (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện rừng 8 triệu năm tuổi ở Hungary      Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một khu rừng Bách tám triệu năm tuổi, được bảo quản rất tốt tại vùng Bukkabrany – đông bắc Hungary.  Khu rừng này rất khác thường vì những thân cây vẫn còn giữ được cấu trúc gỗ chứ không bị biến thành than đá cũng như không bị hóa thạch.    Sau vài ngày đào xới, các nhà khảo cổ đã tiết lộ về khu rừng bí ẩn của những cây Bách mọc trong đầm lầy và công bố phát hiện vào hồi tuần trước.  Trong môi trường tự nhiên của đầm lầy, những thân cây bị chôn vùi hóa thành than đá là việc vẫn thường xảy ra. Nhưng ở sâu hơn trong lòng đất, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 16 thân cây vẫn còn được lưu giữ tại nơi mà chúng đã trưởng thành cách đây 8 triệu năm, được bảo quản rất tốt trong tình trạng hình dạng và chất liệu gỗ nguyên thủy.  Muốn chiêm ngưỡng những thân cây cổ này, bạn phải đi xuống độ sâu khoảng 60m trong một khu mỏ rộng 3.500m2 đã được khai quật. Phần còn lại của những thân cây ở đây có đường kính rộng từ 2 đến 3m và cao khoảng 6m, mặc dù những cây Bách đầm lầy nguyên thủy phải cao từ 30 đến 40m.  Trong suốt thời kỳ địa lý của trái đất được gọi là “Miocene”, bắt đầu từ hơn 10 triệu năm trước, vùng đất này đã được bao phủ bởi một cái hồ rộng lớn cùng với bùn và những đầm lầy. Đó là hồ Pannon.  Tình trạng bảo quản đặc biệt cho những thân cây có được là do nhờ vào một trận bão cát xảy ra đột ngột, đã phủ kín khu rừng với một lớp cát dày đến 6m. Toàn bộ phần phía trên các thân cây bị tiêu hủy dần theo thời gian, nhưng phần được chôn vùi dưới lớp cát thì lại được bảo quản nguyên vẹn một cách hoàn hảo. Những thân cây có tuổi 8 triệu năm, khi sờ vào vẫn còn thấy có cảm giác như sờ vào gỗ. Vì nằm sâu dưới lòng đất 60m, những thân cây này đã không thể bị di chuyển đi nơi khác và chúng cũng đã không bị phá hủy khi phải tiếp xúc với không khí và ánh sáng mặt trời, vốn là hai yếu tố đặc biệt gây tổn hại cho tuổi thọ của gỗ.  Các biện pháp an ninh nghiêm ngặt đã được thiết lập, mọi sự xâm nhập vào vùng mỏ đều bị giới hạn. Những nhà khảo cổ đã bắt đầu tiến hành các biện pháp để bảo quản và giữ gìn những thân cây. Nhưng những cây Bách đầm lầy Bukkabrany đang trở nên khô cứng vì chúng bị mất chất cellulose, nó như chất keo dính cho các tế bào màng nhầy của cây cối. Những thân cây được kiến tạo bằng các chất hữu cơ này sẽ được đưa đi kiểm tra tuổi thọ. Qua việc nghiên cứu những vòng tròn của thân cây, người ta sẽ xác định được những thay đổi của khí hậu trong suốt quãng đời của một cây.  Những thân cây Bách đầm lầy Bukkabrany có thể có tuổi thọ từ 300 đến 400 tuổi tại thời điểm chúng chết, và những cây ấy đã không mọc trong cùng một thời điểm. Điều đó có nghĩa là các nhà khoa học có thể nghiên cứu sự thay đổi khí hậu của vùng trong khoảng thời gian trải dài từ 1.000 đến 1.500 năm. Các nhà khoa học cho biết cần khoảng từ 220.000-270.000 USD để bảo quản những thân cây Bách đầm lầy ở vùng Bukkabrany.  HOÀNG HOA (Theo AFP)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện sao Hỏa có nước ở thể lỏng      Tạp chí Nature Geoscience xuất bản vào trung tuần tháng 4/2015 đưa tin: “Các dữ liệu do xe robot thăm dò sao Hỏa Curiosity gửi về Trái đất cho thấy ở vị trí khoảng 5 cm dưới lớp đất bề mặt sao Hỏa phát hiện thấy có nước ở trạng thái lỏng.”  &#160;    Đây là tuyên bố của một nhóm nghiên cứu quốc tế, với trung tâm là NASA.   Các nhà khoa học bình luận: Phát hiện nước không đóng băng có nghĩa là khả năng tồn tại sự sống trên sao Hỏa tăng lên.  Kể từ năm 1965, đã có nhiều tàu vũ trụ tiến hành thăm dò sao Hỏa nhưng đây là lần đầu tiên phát hiện hành tinh này có nước ở thể lỏng. Năm 2002, Curiosity từng phát hiện nước đóng băng trên sao Hỏa – một khám phá có tiếng vang lớn hồi đó.  Xe robort Curiosity có kích thước 2,9 x 2,7 x 2,2 m (dài-rộng-cao), nặng 174 kg, do NASA phóng ngày 26/11/2011. Sau hành trình bay 563 triệu km, ngày 6/8/2012, nó hạ cánh xuống sao Hỏa. Tiếp đó, nó liên tục bò đi trên bề mặt hành tinh này, vừa đi vừa làm việc. Đến tháng Tư năm nay, Curiosity đã đi được khoảng 10 km. Hiện nó đang tiến hành thăm dò núi Sharp và miệng núi lửa Gale. Thiết bị Curiosity mang theo có thể khoan sâu 5 cm xuống đất đá bề mặt sao Hỏa, thu lượm mẫu đất đá và tiến hành phân tích.   Nhóm nghiên cứu phát hiện trong dữ liệu mẫu đất đá do Curiosity phân tích gửi về có nước thể lỏng chứa muối perchlorate nồng độ cao. Trên Trái đất, muối perchlorate tồn tại trong nước biển, trong nham thạch và ở sa mạc.  Trên sao Hỏa, nước chỉ hình thành vào ban đêm, khi khí quyển trở nên lạnh giá, hơi nước trong khí quyển ngưng tụ và thấm xuống đất, trở thành nước chứa muối perchlorate. Ban ngày, do mặt đất sao Hỏa nóng lên, nước bốc hơi hết, chỉ còn lại muối perchlorate kết tinh. Nhóm nghiên cứu cho rằng, loại muối này có thể còn lại trong các túi nước nhỏ trên sao Hỏa, khi muối được tích lũy với số lượng lớn nhiệt độ đóng băng của nước sẽ giảm, khiến cho nước thể lỏng vẫn tồn tại mà chưa đóng băng. Nhiệt độ vùng gần đường xích đạo trên sao Hỏa biến đổi với biên độ cực lớn, từ âm 100 độ ban đêm đến dương 20 độ C ban ngày.  Javier Martín-Torres, nhà khoa học hành tinh của trường Đại học Công nghệ Luleå, Thụy Điển, người phụ trách nhóm nghiên cứu nói trên, cho biết: Điều thú vị là địa điểm phát hiện chứng cớ tồn tại nước thể lỏng lại ở miệng núi lửa Gale, một trong những nơi nóng nhất và khô nhất, vì ở vùng xích đạo của sao Hỏa. Điều này cho thấy có nhiều khả năng những túi nước muối đó có thể được hình thành ở bất cứ chỗ nào trên sao Hỏa. “Nếu chúng ta thấy nước muối ở vùng xích đạo thì nước muối ấy phải có ở khắp mọi nơi trên hành tinh…” ông nói.   Phát hiện nước lỏng trên sao Hỏa làm cho triển vọng con người có thể sống trên Hành tinh Đỏ trở nên hấp dẫn hơn – có lẽ những người sẽ lên sống trên đó có thể tìm cách thu được loại nước muối ấy vào ban đêm rồi lọc lấy nước để dùng. Chúng ta hãy chờ xem!  Ng.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện sóng hấp dẫn: Chân trời mới cho ngành vật lý thiên văn      Với vai trò là căn cứ thuyết phục chưa từng có để xác  minh tính đúng đắn của Thuyết tương đối rộng và Thuyết lực hấp dẫn của  Einstein, cũng như sự tồn tại của hố đen, có thể tin tưởng chắc chắn  rằng khám phá về sóng hấp dẫn “sẽ giành giải Nobel”, như khẳng định của  Marc Kamionkowski, nhà vật lý lý thuyết tại Johns Hopkins University ở  Baltimore, Maryland.      Từ cách đây rất lâu, sâu trong không  gian có hai hố đen to lớn – là các trường hấp dẫn siêu mạnh hình thành  từ sự lụi tàn và sụp đổ của các ngôi sao khổng lồ – chậm rãi di chuyển  lại gần nhau. Chúng hợp làm một khi đang xoay cuốn quanh nhau với tốc độ  một nửa tốc độ ánh sáng. Cú va chạm gửi vào vũ trụ những gợn sóng hấp  dẫn. Sau 1,3 tỷ năm di chuyển, cách đây năm tháng chúng mới kịp lan tới  Trái đất và được phát hiện bởi các nhà khoa học làm việc cho dự án Đài  Quan sát Sóng hấp dẫn bằng Giao thoa kế tia Laser (LIGO). Đó là thời  khắc lịch sử, đánh dấu lần đầu tiên con người quan trắc thành công sóng  hấp dẫn sau đúng 100 năm kể từ tiên đoán của Einstein, và sau 40 năm  triển khai dự án LIGO, với sự tham gia của hàng nghìn người, đồng thời  qua đó mở ra một chân trời hoàn toàn mới cho ngành vật lý thiên văn.   Kết quả trên được tuyên bố hôm 11/2 bởi David Reitze, giám đốc LIGO, và được đăng trên tạp chí khoa học Physical Review Letters.Về bản chất, lực hấp dẫn chính là sự uốn cong của không-thời gian, và sóng hấp dẫn là sự lan truyền của những biến dạng không-thời gian này. Đây chính là một phần của Thuyết tương đối rộng mà Albert Einstein đã tìm ra vào năm 1915.  Các kết quả mô phỏng trên máy tính cho biết sóng hấp dẫn lần này đến từ hai vật thể có khối lượng lần lượt gấp 29 và 36 lần Mặt trời, xoáy tròn cách nhau 210 km thì bắt đầu hòa nhập. Chỉ có thể là hố đen, vật thể cấu thành từ năng lượng hấp dẫn thuần nhất với khối lượng đạt được từ công thức nổi tiếng E=mc2 của Einstein mới có thể tích tụ nhiều vật chất trong một không gian nhỏ như vậy, như nhận định của Bruce Allen, một thành viên LIGO tại Viện Max Planck. Vì vậy, có thể nói rằng đây chính là bằng chứng trực tiếp đầu tiên về sự tồn tại của hố đen. Trước đây, một số nhà khoa học vẫn có thể phản bác sự tồn tại của hố đen, nhưng nay thì “không thể”, Allen nói.   Với vai trò là căn cứ thuyết phục chưa từng có để xác minh tính đúng đắn của Thuyết tương đối rộng và Thuyết lực hấp dẫn của Einstein, cũng như sự tồn tại của hố đen, có thể tin tưởng chắc chắn rằng khám phá về sóng hấp dẫn “sẽ giành giải Nobel”, như khẳng định của Marc Kamionkowski, nhà vật lý lý thuyết tại Johns Hopkins University ở Baltimore, Maryland.  Hơn thế nữa, khám phá về sóng hấp dẫn còn mở ra một chân trời mới cho ngành thiên văn học, và được coi là có ý nghĩa tương tự như phát minh kính viễn vọng hoặc phát hiện sóng vô tuyến vũ trụ. Mấy trăm năm nay, mọi phát hiện về thiên văn học đều chủ yếu dựa vào các biện pháp quan trắc thiên văn như đo quang phổ điện từ, sóng vô tuyến, quang học, tia cực đỏ, tia X – tất cả đều là quan trắc vũ trụ dựa vào biện pháp “nhìn”. Giờ đây, phát hiện sóng hấp dẫn sẽ giúp các nhà khoa học quan trắc vũ trụ từ một góc độ hoàn toàn khác – đó là “nghe” vũ trụ. Sóng hấp dẫn sẽ trở thành một cửa sổ mới để kiểm nghiệm thuyết tương đối của Einstein, quan trắc khối lượng của hố đen, đo cự ly vũ trụ. “Đây là lần đầu tiên vũ trụ ‘nói chuyện’ với chúng ta thông qua sóng hấp dẫn. Từ trước tới nay chúng ta vẫn bị đui mù”, Reitze phát biểu.   Chúc mừng thành tựu nói trên của các nhà khoa học LIGO, nhà vật lý học người Anh Stephen Hawking nói: “Sóng hấp dẫn cung cấp một phương thức hoàn toàn mới để quan sát vũ trụ. Sự kiện loài người có được năng lực phát hiện sóng hấp dẫn có thể sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong thiên văn học.”   Thiên văn học sóng hấp dẫn (gravity wave astronomy) được kỳ vọng sẽ trở thành thiên văn học của thế kỷ XXI, làm hé mở những thông tin quan trọng có liên quan tới lực hấp dẫn, hố đen và các vấn đề vật lý cơ bản, giải đáp các vấn đề về sự sống cũng như cái chết của các ngôi sao,… mang lại cho các nhà khoa học chiếc chìa khóa để mở cánh cửa bí ẩn về nguồn gốc và cơ chế vận hành của vũ trụ.  Nguyên Hải, theo các tài liệu trên Internet        Một hành trình kỳ vĩ từ tiên đoán tới thực tiễn       1915  – Albert Einstein công bố Thuyết Tương đối rộng trong đó nhận định lực  hấp dẫn là sự vây bọc không – thời gian bằng vật chất hoặc năng lượng    1916  – Einstein tiên đoán rằng các vật thể khi xoay tròn theo những cách  nhất định có thể gây ra các gợn sóng không – thời gian, gọi là sóng hấp  dẫn    1936 – Einstein tự phủ nhận tiên đoán trước đó của ông và nhận  định trong một bản thảo rằng sóng hấp dẫn không tồn tại – nhưng sau đó  nhận định này bị người ta chỉ ra là sai lầm    1962 – Các nhà vật lý  người Nga M. E. Gertsenshtein và V. I. Pustovoit công bố nghiên cứu của  họ với bản phác thảo phương thức quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa  kế.   1969 – Physicist Joseph Weber khẳng định có thể quan trắc được  sóng hấp dẫn bằng một ống nhôm khổng lồ – nhưng các nỗ lực thử nghiệm  theo mô hình này đều thất bại    1972 – Rainer Weiss của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đề xuất một phương án độc lập khác nhằm quan trắc sóng hấp dẫn   1974  – Các nhà thiên văn khám phá ra sao xung (pulsar) quay quanh một sao  neutron dường như bị chậm lại do phát xạ hấp dẫn – công trình này sau đó  mang lại cho họ một giải Nobel    1979 – Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF)  của Mỹ cấp kinh phí cho Học viện Công nghệ California ở Pasadena và MIT  xây dựng thiết kế LIGO   1990 – NSF đồng ý tài trợ 250 triệu USD cho thí nghiệm LIGO    1992 – Các địa điểm ở bang Washington và Louisiana được chọn để phục vụ cho dự án LIGO; các công trình được khởi công 2 năm sau   1995  – Khởi công xây dựng cơ sở quan trắc sóng hấp dẫn GEO600 ở Đức, đối tác  của LIGO; cơ sở này bắt đầu thu thập dữ liệu từ 2002   1996 – Khởi công xây dựng cơ sở quan trắc sóng hấp dẫn VIRGO ở Italy; từ 2007 bắt đầu thu thập dữ liệu   2002–2010 – Các cuộc vận hành ban đầu của dự án LIGO – chưa tìm thấy sóng hấp dẫn   2007  – Các nhóm nghiên cứu ở LIGO và VIRGO đồng ý chia sẻ dữ liệu, hình  thành một mạng lưới toàn cầu duy nhất về quan trắc sóng hấp dẫn    2010–2015 – 205 triệu USD được chi để nâng cấp các thiết bị quan trắc của LIGO    2015 – LIGO sau khi được nâng cấp bắt đầu vận hành từ tháng 9    2016 – Ngày 11 tháng 2, các nhóm của NSF và LIGO công bố đã quan trắc thành công sóng hấp dẫn.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện thêm sự hoạt động trên hai mặt trăng của Thổ Tinh.      Theo dữ liệu từ chuyến khám phá Thổ Tinh của tàu Cassini, có hai mặt trăng của Thổ Tinh là Tethys và Dione đang phun những luồng lớn các hạt vào không gian. Phát hiện này cho thấy khả năng có những hoạt động địa chất, thậm chí có thể là núi lửa đang hoạt động ở trên những thiên thể băng giá này.    Do tác động của chất khí tích điện (thậm chí tới trạng thái plasma) bị bẫy trong từ trường của Thổ Tinh, những luồng hạt này vẫn bám lấy hai mặt trăng mà không bị tan rã nhanh chóng. Thổ Tinh tự quay quanh nó với chu kỳ 10 giờ 46 phút, sự quay đó cũng có xu hướng hất plasma ra khỏi hành tinh.  Ngay sau khi Cassini tới Saturn vào tháng 6/2004, nó đã phát hiện cái đĩa plasma tạo ra bởi sự quay của hành tinh và cả những vòi khí lớn phun ra từ rìa đĩa.  Mới đây, Jim Burch ở Viện Nghiên cứu tây nam (Mỹ)  và các đồng nghiệp đã sử dụng Phổ kế Plasma Cassini (CAPS) để nghiên cứu tỉ mỉ về hiện tượng này. Họ đã chỉ ra rằng, các electron phát ra quay hướng về phía Tethys và Dione. “Chứng tỏ Tethys và Dione là những nguồn plasma quan trọng trong quyển từ của Thổ Tinh,” Burch nói.  Trước khi biết được điều này, người ta chỉ mới biết về sự hoạt động trên mặt trăng Enceladus của Thổ Tinh.”Kết quả mới này có vẻ là một bằng chứng thuyết phục cho thấy trên Tethys và Dione cũng có sự hoạt động,” Andrew Coates, một cộng sự của nghiên cứu, đến từ Phòng Thí nghiệm Khoa học Không gian Mullard nói.   Những hoạt động như vậy có nghĩa là hành tinh vẫn chưa đạt đến sự cân bằng, hoặc có lẽ là nó đang được cung cấp năng lượng.  Burch nói rằng, ngoài việc theo dõi các electron, nhóm nghiên cứu cũng đang đi tìm hành tung của các dòng ion để xác định được toàn bộ hợp phần plasma của Tethys và Dione. Khám phá này đã được công bố trên chuyên san Nature ngày 14/6/2007.  Nguồn: Nature/www.vatlyvietnam.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện thiên hà xoắn ốc cổ xưa nhất vũ trụ      Các nhà thiên văn tại Đại học Công nghệ Swinburne và Đại học Quốc gia Australia (ANU) phát hiện thiên hà xoắn ốc A1689B11 có độ tuổi khoảng 11 tỷ năm.      Thiên hà xoắn ốc A1689B11.  Đây là thiên hà cổ xưa nhất từng được phát hiện, hình thành chỉ 2,6 tỷ năm sau vụ nổ Big Bang. Kết quả nghiên cứu được công bố trên thư viện trực tuyến của Đại học Cornell, Mỹ, hôm 30/10.  Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một kỹ thuật cao cấp khi kết hợp thấu kính hấp dẫn với thiết bị tiên tiến là máy quang phổ cận hồng ngoại (NIFS) đặt trên Kính thiên văn Gemini North ở Hawaii (Mỹ) để xác định đặc điểm và tính chất xoắn tự nhiên của thiên hà này. Các thấu kính hấp dẫn là kính viễn vọng lớn nhất trong tự nhiên, được tạo ra bởi các cụm thiên hà khổng lồ và vật chất tối. Cụm thiên hà uốn cong và khuếch đại ánh sáng của các thiên hà đằng sau nó giống như một thấu kính bình thường nhưng ở quy mô lớn hơn nhiều.  Tiantian Yuan, trưởng nhóm nghiên cứu tại Đại học Swinburne, cho biết, kỹ thuật này cho phép chúng ta nghiên cứu những dải ngân hà cổ xưa với độ phân giải cao có khả năng phát hiện những chi tiết chưa từng thấy. Chúng ta có khả năng nhìn lại 11 tỷ năm trước trong đúng thời điểm và chứng kiến trực tiếp sự hình thành của những cánh tay xoắn ốc ban sơ của một thiên hà”.  Đồng tác giả, TS. Renyue Cen (Đại học Princeton) cho biết, việc nghiên cứu về những dải thiên hà xoắn ốc cổ xưa như thiên hà A1689B11 là chìa khóa để khám phá về bí ẩn của thời điểm và cách thức dãy Hubble xuất hiện.  Thiên hà xoắn ốc là dạng cực kỳ hiếm trong vũ trụ lúc mới hình thành. Khám phá mới về A1689B11 sẽ giúp chúng ta tìm hiểu làm thế nào các thiên hà chuyển từ trạng thái hỗn độn sang dạng đĩa mỏng và yên tĩnh giống như dải Ngân hà ngày nay.  Các thành viên của nhóm nghiên cứu cũng cho biết thêm, nghiên cứu cho thấy nhiều đặc điểm gây ngạc nhiên về thiên hà A1689B11 như tốc độ hình thành nhanh gấp 20 lần so với các thiên hà ngày nay. Đây cũng là đặc điểm của những thiên hà trẻ khác cùng khối lượng trong vũ trụ sớm. A1689B11 có dạng đĩa mỏng, xoay tròn nhẹ nhàng với một chút biến động. Dạng thiên hà xoắn ốc như thế này là dạng cực kỳ hiếm trong vũ trụ sớm.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2017-11-ancient-spiral-galaxy.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện thỏ sọc ở Sumatra      Một trong những loài thỏ quý hiếm nhất thế giới vừa được phát hiện, lần thứ 3 trong suốt 35 năm qua.    Con thỏ sọc được chụp ảnh hồi cuối tháng 1 vừa qua ở đảo Sumatra, Indonesia. Nó được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế liệt vào danh sách động vật cực kỳ nguy cấp, do sự mất nơi cư trú.  Lần chụp ảnh trước đó của nó là năm 2000, và trước nữa là vào năm 1972.  “Loài thỏ này được khoa học ít biết đến nỗi bất kỳ bằng chứng nào về sự tồn tại của nó đều là những tin cực kỳ tốt lành, và đều xác nhận cho tầm quan trọng phải bảo tồn các cánh rừng ở Sumatra”, Colin Poole, giám đốc Chương trình bảo tồn quốc tế tại châu Á, nhận định.  Trở lại năm 1999, các nhà nghiên cứu đã phát hiện một loài thỏ sọc khác ở dãy núi Trường Sơn (còn gọi là dãy Annamite) đồng thời lấy tên Annamite đặt cho chúng. Những mẫu gene cho thấy loài thỏ sọc này rất đặc hữu, mặc dù nó chỉ tách khỏi họ hàng gần nhất khoảng 8 triệu năm trước.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện trái cây cổ trong mộ vua Tuktankhamon      Một nhóm các nhà khảo cổ Ai Cập do Tổng thư ký Hội đồng Di sản Tối cao Ai Cập – Zahi Hawass dẫn đầu đã phát hiện tám giỏ trái cây có niên đại 3.000 năm này trong gian phòng Kho báu thuộc ngôi mộ vua Tuktankhamon nằm ở Thung lũng các vị vua Ai Cập.      Tám giỏ này có chiều cao 50cm và chứa những quả dừa hình bầu dục thường được người Ai Cập cổ dùng làm lễ vật dâng lên người chết. Các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện 20 chiếc bình hình quả lê cao 1m mang dấu ấn của vua Tuktankhamon. Theo ông Hawass, những chiếc bình này chứa thức ăn dành cho chuyến du hành của vua Tuktankhamon qua bên kia thế giới.    T.Đ (Theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện trầm tích muối trên sao Hỏa      Tàu thăm dò Mars Odyssey đã phát hiện bằng chứng của trầm tích muối, có niên đại cách nay khoảng 3,5-3,9 tỉ năm, trên hành tinh đỏ.      Nhóm nghiên cứu do Mikki Osterloo, ĐH Hawaii, đứng đầu đã phát hiện dấu vết của các khoáng chất clorua ở khoảng 200 địa điểm trải dài trên diện tích từ 1-25 km2 ở miền nam sao Hỏa. Ngoài các trầm tích muối, các nhà khoa học cũng tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy sao Hỏa đã từng trải qua giai đoạn khí hậu ấm và ẩm ướt chứ không lạnh và khô như ngày nay. Do muối có thể bảo quản chất hữu cơ nên nếu trên sao Hỏa từng có sự sống, chỉ cần phân tích các trầm tích muối này, họ sẽ có câu trả lời liệu có hay không sự sống trên hành tinh đỏ.   Minh Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện tượng hoàng hậu Ai Cập cổ đại      Các nhà khảo cổ Ai Cập và châu Âu vừa khám phá ra bức tượng khổng lồ của một hoàng hậu cổ đại, trong khu vực di tích ở phía nam Ai Cập. Bức tượng cao 3,62 mét là của hoàng hậu Tiy, vợ của pharaoh triều đại 18 Amenhotep III.      Nó được tìm thấy xung quanh khu vực có hai bức tượng song sinh to lớn Colossi of Memnon, trấn át con đường vàoThung lũng các ông hoàng danh tiếng. Nhóm khoa học cũng tìm thấy ở đây hai tượng nhân sư, đại diện cho Tiy và Amenhotep III, cùng với 10 bức tượng granit đen về vị thần đầu sư tử Sekhmet, người bảo vệ các pharaoh.   T. An (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện vi khuẩn ăn kháng sinh      Nhóm chuyên gia sinh học phân tử của Đại học Harvard (Mỹ) thử nuôi một số loại vi khuẩn trong môi trường kháng sinh. Những “siêu vi khuẩn” này không những sống sót trong môi trường kháng sinh, mà còn có thể “xơi tái” nhiều loại thuốc.      Trong số 75 chủng vi khuẩn được nuôi thử nghiệm, hơn một nửa đã ăn 18 loại thuốc kháng sinh. “Chúng có thể ăn hầu hết kháng sinh mà loài người đang có. Đặc tính này rất đáng lo ngại”, Morten Sommer, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, khẳng định. Vi khuẩn sống trong đất có thể truyền các gene quy định đặc tính chống kháng sinh cho họ hàng của chúng. Các thí nghiệm cho thấy siêu vi khuẩn có thể truyền đặc tính kháng thuốc sang chủng E. coli – tác nhân gây nhiều bệnh ở hệ thống tiêu hóa. Trong số những vi khuẩn phân tách được, 40% có họ hàng với Burkholderia – một trong những vi khuẩn đáng sợ nhất đối với con người.   Việt Linh (Theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện vi khuẩn siêu nhỏ      Các nhà khoa học của ĐH California vừa phát hiện được sự hiện diện của một loại vi khuẩn siêu nhỏ trong một môi trường được đánh giá là “không thể tồn tại sự sống” tại một khu mỏ hoang thuộc quận Shasta (California – Mỹ).    Đây là loại vi khuẩn được coi là hoàn toàn mới với kích cỡ khoảng 200 nanometers (2.10-7m). Bước đầu vi khuẩn này được xác định là hình thái tế bào sống nhỏ nhất được phát hiện cho đến nay.  Các nhà khoa học từng cho rằng không thể tồn tại vi khuẩn có kích cỡ nhỏ như thế này vì chúng không thể tự sinh sản. Trung bình các loại vi khuẩn có kích cỡ gấp 5 lần kích cỡ này.   Theo các nhà nghiên cứu, phát hiện mới này có thể giúp phỏng đoán về sự tồn tại của những vi khuẩn kỳ lạ, nằm sâu hàng dặm trong lòng đất, tạo thành một sinh quyển ngầm còn đa dạng hơn thế giới sinh vật trên bề mặt trái đất.  Trung Hà (NYT)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện vùng não giúp cai nghiện thuốc lá      Qua nghiên cứu 156 bệnh nhân đột quỵ có tổn  thương tại các vùng khác nhau trong não, các nhà khoa học phát hiện  những người có tổn thương ở vỏ não đảo (insular cortex) thì càng dễ cai  thuốc lá thành công, hơn nữa, so với các bệnh nhân đột quỵ khác thì họ  cũng ít trải qua triệu chứng thoát nghiện hơn.    Các chuyên gia cho rằng việc tập trung nghiên cứu vùng đặc biệt này của não sẽ có thể giúp dân nghiện bỏ được thuốc lá.    Hiện nay các loại thuốc cai nghiện bán trên thị trường đều dùng biện pháp ngăn chặn đường thưởng của não xảy ra phản ứng với chất nicotine.    Các nhà khoa học nói việc cai nghiện nhằm vào vỏ não đảo sẽ có kết quả tốt hơn, dĩ nhiên họ còn phải nghiên cứu tiếp để làm rõ tác dụng và cơ chế của vỏ não đảo. Song rõ ràng bộ phận này có tác dụng nhất định ảnh hưởng thói nghiện thuốc lá.    Một số liệu pháp liên quan cai nghiện cũng có thể tập trung vào vỏ não đảo, sử dụng dược phẩm mới hoặc các phương pháp kích thích não ở tầng sâu, kể cả kỹ thuật kích thích từ để can nhiễu thói nghiện thuốc lá.    Kết quả nghiên cứu nói trên được đăng trên hai tạp chí y học Addiction and Addictive Behaviors (Nghiện và Hành vi gây nghiện).    Đối tượng nghiên cứu đều là dân nghiện nằm bệnh viện do đột quỵ. Trong đó 38 người có tổn thương ở vùng vỏ não đảo, 118 người tổn thương ở các vùng khác của não; họ được khuyến khích cai thuốc. Qua ba tháng theo dõi, các bác sĩ phát hiện những người có tổn thương ở vùng vỏ não đảo thì dễ cai nghiện hơn.    Vỏ não đảo nằm sâu trong não, tác dụng chính của nó có liên quan tới ham muốn và tình cảm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện xương hóa thạch loài di cư từ châu Phi sang châu Âu      Một số xương hóa thạch của loài động vật giống người có tuổi khoảng 1,8 triệu năm vừa được các nhà khoa học tìm thấy tại Cộng hòa Geogia.      Đây là xương hóa thạch lâu đời nhất được tìm thấy bên ngoài châu Phi. Trưởng nhóm khảo cổ David Lordkipanidze cho rằng, số xương này có nét đặc trưng pha trộn giữa sự nguyên thủy và tiến hóa. Động vật gần giống người này có thể đã di chuyển từ châu Phi đến các vùng khác trên thế giới. Theo nhận định ban đầu, xương hóa thạch này có thể là loài có tên khoa học Homo erectus, một nhánh phát triển của loài Homo xuất hiện cách đây khoảng 2 triệu năm tại châu Phi. Sau đó, di chuyển sang châu Âu và châu Á. Điểm đáng chú ý của động vật này là xương sống và chi dưới của loài này có cấu trúc thích nghi với việc di chuyển xa, trong đó, bàn chân đặc biệt phát triển. Kích thước của loài này còn phụ thuộc vào giống đực hoặc giống cái. Tuy nhiên, bộ não nhỏ và chi trên còn kém phát triển, tương tự đặc điểm Australopithecus xuất hiện đầu tiên ở châu Phi cách đây 4 triệu năm trước.   Trần Nam (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát minh mới chấm dứt tranh cãi đạo đức      Các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản vừa tuyên bố đã biến những tế bào da người bình thường thành những tế bào gốc mà không cần sử dụng phôi hay trứng. Thành tựu này được đánh giá là “cột mốc khoa học quan trọng không kém phát minh máy bay của anh em nhà Wright”    Với khám phá mới này, những người từ trước tới nay từng lên tiếng chỉ trích khía cạnh đạo đức của việc tạo ra tế bào gốc giờ đây cũng cảm thấy hài lòng. Và trong một cuộc họp được Vantican tổ chức, khi kỹ thuật mới này được giới thiệu, các nhà khoa học đều không thấy có bất cứ vấn đề đạo đức nào nảy sinh. Ngoài ra, hướng nghiên cứu này sẽ nhận được những khoản tài trợ lớn từ phía các chính phủ.  Sau thành công của thí nghiệm tiến hành trên chuột, nhiều nhóm nghiên cứu cùng chạy đua để có thể tạo ra những tế bào gốc mà không sử dụng phôi người. Song chiến thắng huy hoàng đã dành cho hai nhà khoa học James Thomson (ĐH Wisconsin) và Shinya Yamanaka (ĐH Tokyo).  “Thật là một công việc đồ sộ. Mười năm khó nhọc, bây giờ là một kết thúc tốt đẹp và tôi có thể thư giãn”, Thomson nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn. Còn Yamanaka thì ngạc nhiên khi biết rằng những nhóm nghiên cứu khác cũng theo sát họ: “Nhiều người nói rằng, họ cũng đang tiến hành nghiên cứu cùng trên lĩnh vực đó. Nhưng tôi không biết họ có thành công hay không”. Những công bố của hai nhà khoa học này lần lượt được công bố trên Science và Cell.  Giấc mộng tạo tế bào trứng trong phòng thí nghiệm bắt đầu trở thành hiện thực vào tháng 6, khi nhóm nghiên cứu của Yamanaka xác định 4 gen trong những tế bào da chuột khi kết hợp với nhau thì có thể “tắt”, “bật” vô số những gen khác theo một khuôn mẫu chính xác để tạo nên những tế bào da hầu như không khác với tế bào gốc.                   Bởi vì những tế bào “nghịch đảo” này có chút khác biệt với tế bào gốc nên Yamanaka đặt tên là “ips” (viết tắt của “induced pluripotent stem cells” – tạm dịch là “tế bào gốc nhân tạo”) . Ông đã ngay lập tức áp dụng kỹ thuật tương tự với tế bào da người nhưng liên tiếp bị thất bại. Điều mà ông không nhận ra đó là, đối với tế bào của người quá trình này cần phải diễn ra trong nhiều tuần, không như các tế bào của chuột thời gian chỉ cần vài ngày. Sau vài ngày chờ đợi không có dấu hiệu khả quan ông cảm thấy chán nản. “Chúng tôi đã không có đủ kiên nhẫn”, Yamanaka  nói.  Nhưng cuối cùng, ông cũng đã thu được 10 tế bào ips từ 50.000 tế bào da, một tỷ lệ có thể chấp nhận được, và điều này cho thấy rằng có thể dễ dàng phát triển hàng nghìn tế bào da từ một mẫu nhỏ. Đặc biệt, Yamnaka có thể biến những tế bào ips thành tế bào thần kinh, tế bào tim và cả những loại  tế bào chủ yếu khác  Cùng thời điểm đó, Thomson, Junying và đồng sự đang cùng chạy đua phía trước. Họ đã tiến hành thí nghiệm với danh sách ban đầu gồm 14 gen được xem là có thể tạo nên tế bào phôi của người. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã dẫn thu hẹp lại chỉ còn 4 gen. Những tế bào của Thomson cũng trải qua những lần thử nghiệm tương tự như thí nghiệm của Yamanaka, mặc dù trong phương pháp thực hiện cuối cùng ông sử dụng hai loại gen khác. Rõ ràng có nhiều cách khác nhau để đến được thành Rome. Bích Ngọc (Theo Washinton Post)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát minh thuốc thay thế kháng sinh      Hai nhà khoa học Thụy Sĩ vừa phát triển một  loại hợp chất được tạo nên từ các hạt nano chất béo có thể dùng để thay  thế thuốc kháng sinh điều trị những ca nhiễm khuẩn nặng.       Kể từ ngày phát minh ra penicillin cách đây 90 năm, các loại kháng sinh (antibiotics) luôn luôn được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc điều trị các ca viêm nhiễm do vi khuẩn gây ra.   Thế nhưng Tổ chức Y tế Thế giới WHO từng nhiều lần cảnh báo về sự xuất hiện không ngừng các loại vi khuẩn có tính kháng/nhờn thuốc kháng sinh. Một khi thuốc kháng sinh không còn khả năng chế ngự các ca nhiễm khuẩn nữa thì ngay cả bệnh viêm phổi bình thường cũng có thể gây chết người. WHO cho biết năm 2012 đã xảy ra 450.000 ca lao phổi kháng-nhờn nhiều loại thuốc.   Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) của Mỹ cũng cho biết nước này hằng năm có khoảng 2 triệu ca bệnh bị gây ra bởi tính kháng-nhờn kháng sinh, làm chết tới 23 nghìn người.  Cho tới nay y học thế giới vẫn chưa đưa ra được liệu pháp nào vừa có thể diệt vi khuẩn lại vừa không làm cho vi khuẩn nhờn, kháng thuốc.  Mới đây, một nhóm nhà khoa học quốc tế đã thử nghiệm một loại vật chất mới do hai nhà khoa học Eduard Babiychuk và Annette Draeger ở Viện Giải phẫu thuộc Đại học Bern (Thụy Sĩ) nghiên cứu phát triển. Họ thiết kế loại hạt nano nhân tạo làm từ chất béo (lipids) gọi là liposomes, rất giống với màng của các tế bào vật chủ. Trong y học lâm sàng, người ta dùng liposomes để vận chuyển những loại thuốc đặc biệt vào bên trong cơ thể bệnh nhân. Khi thực hiện công trình nghiên cứu này, hai nhà khoa học ở Bern đã chế tạo được loại liposomes có thể hút độc tố vi khuẩn, nhờ đó cách ly và trung hòa độc tố.   Eduard Babiychuk, người phụ trách dự án nghiên cứu này, nói: “Chúng tôi đã chế tạo được một loại mồi nhử (decoys) khiến độc tố vi khuẩn không thể nào chống cự được. Độc tố bị hút vào liposomes, và khi đã bám vào liposomes thì chúng có thể dễ dàng bị tiêu diệt, nhờ thế chúng không còn đem lại bất kỳ nguy hiểm nào cho tế bào vật chủ.”   Nhà nghiên cứu Annette Draeger bổ sung thêm, do không trực tiếp nhằm vào vi khuẩn nên liposomes sẽ không kích thích sự phát triển tính kháng-nhờn thuốc kháng sinh của vi khuẩn. Những con chuột thí nghiệm mắc bệnh bại huyết nguy hiểm sau khi được điều trị bằng liposomes đã sống sót mà không cần dùng thuốc kháng sinh.  Báo cáo kết quả nghiên cứu của Eduard Babiychuk và Annette Draeger được đăng trên tạp chí Công nghệ Sinh học Tự nhiên (Nature Biotechnology, Anh) số ra ngày 2/11/2014.   Đây thực sự là một bước phát triển quan trọng trong công cuộc đối phó với mối đe dọa kháng-nhờn thuốc kháng sinh đang ngày một nghiêm trọng trên thế giới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát minh túi đỡ đẻ của ông thợ sửa xe      Sau khi xem video clip trên YouTube, một ông  thợ sửa chữa ô tô người Argentina chợt nảy ra ý tưởng tuyệt vời về một  cái túi có thể dùng để giúp cho các ca đẻ khó. Không chỉ có vậy, ông còn thuyết phục được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hỗ trợ sáng chế của mình.     Trong video, một người đàn ông dùng sức mạnh nhấn cái nút bấc vào một vỏ chai rồi quả quyết, có thể lấy cái nút ra khỏi cổ chai mà không đập vỡ cái chai. Sau đó ông ta lấy một túi ni lông, xếp nhỏ phần đáy túi rồi tuồn vào trong cái chai và thổi mạnh vào miệng túi, túi trong chai phồng lên và ôm trọn cái nút. Sau đó người đàn ông từ từ rút cái túi ra và cái nút cũng bị lôi bật ra ngoài.  Đã có trên 600.000 người xem clip này, phần lớn chỉ xem để biết và coi đây là chuyện tầm phào, vô bổ vì mấy khi cần phảỉ lấy một cái nút chai ra khỏi một cái vỏ chai rỗng không? Chỉ có ông thợ chữa xe ô tô Jorge Odón bỗng thấy có cảm hứng.   Ý tưởng tuyệt vời nảy sinh lúc 4 giờ sáng   Bốn giờ sáng ngày hôm sau, ông đánh thức bà vợ nằm bên. “Một ý tưởng chợt nảy ra trong đầu tôi,” Odón kể với tờ “New York Times”. Ông liên tưởng cái nút bấc trong vỏ chai với đứa trẻ sơ sinh trong bụng mẹ và bị kẹt cứng trong đó. Vậy liệu người ta có thể lôi đứa bé ra khỏi bụng người mẹ đơn giản như lôi cái nút chai ra khỏi miệng chai hay không? Lúc đầu, vợ ông càu nhàu bảo ông điên, nhưng sau đó bà cũng giúp ông một tay trong việc thực hiện ý tưởng này.  Bà giúp ông khâu một cái túi tương tự như cái túi ni lông, một con búp bê của con gái được dùng làm cái thai thí nghiệm, lấy một cái bình thủy tinh giả làm dạ con. Nguyên mẫu thí nghiệm thành công. Không chỉ có vậy, ông thợ sửa chữa ô tô đã thuyết phục được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hỗ trợ sáng chế của mình.   Một trong 20 ca sinh nở phải dùng đến giác hút   Quá trình sinh nở nhiều khi bị khựng lại, thí dụ do người mẹ mệt lả, bị mất sức, cơn đau đẻ giảm hoặc cái thai quá to bị kẹt cứng trong bụng mẹ không chui ra được. Trong trường hợp này, bác sỹ ở Đức thường dùng forceps, hoặc, phổ biến hơn, dùng một giác hút để lôi đứa trẻ sơ sinh ra ngoài. Năm 2012, trung bình cứ 20 ca thì có một ca đẻ phải hỗ trợ bằng forceps hoặc giác hút (5,7% bằng giác hút và 0,5% bằng forceps). Nếu ca đẻ quá phức tạp và nguy hiểm đến tính mạng của cả mẹ lẫn con thì phải chuyển vào phòng mổ.  Tại các nước đang phát triển, các ca đẻ khó thường thiếu phương tiện và nhân lực để hỗ trợ, nhất là ở vùng nông thôn hẻo lánh, xa xôi.   Đầu đứa trẻ được ôm gọn trong túi khí   Với những trường hợp như vậy, WHO hy vọng trong tương lai có thể áp dụng phát minh của ông Odón vì phương pháp này vừa đơn giản, vừa dễ sử dụng và ít tốn kém. Điều này đã được chứng minh qua các thử nghiệm. Ở đây Odón đã áp dụng đúng nguyên tắc lấy nút chai ra khỏi vỏ chai trong video clip.  Thao tác thực hiện: bà đỡ trùm lên đầu trẻ sơ sinh một cái túi ni lông hai lớp khi đứa trẻ vẫn chưa chui ra khỏi bụng mẹ. Sau đó, người ta bơm không khí và giữa hai lớp túi, đầu đứa trẻ nằm gọn trong một cái bọc không khí.   Lúc này bà đỡ từ từ rút cái túi ra đồng thời lôi luôn cả đứa trẻ sơ sinh ra ngoài. Để ca đẻ dễ dàng hơn, có thể bôi trơn thành túi bằng một loại chất nhờn. Thí nghiệm cho thấy, phương án hỗ trợ đẻ khó này thành công. Tuy nhiên, cần có loại túi chuyên dụng đồng thời còn một số vấn đề phải được nghiên cứu thêm trước khi đưa ra ứng dụng rộng rãi.  Giá một cái túi chưa đến 50 USD   Phát minh của ông Odón đã được thử nghiệm ở 30 phụ nữ Argentina, đây là trường hợp các bà mẹ đẻ bình thường tại bệnh viện. Một bà mẹ sinh đứa con nặng 4,5 kg sau khi đẻ đã nói với báo “New York Times” rằng, phương pháp này “đã giúp bà thực sự”.   WHO dự kiến sẽ tiếp tục thử nghiệm đối với 100 phụ nữ khác ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi – cũng chỉ áp dụng với những ca đẻ thường. Sau loạt thí nghiệm này, sẽ dùng túi đẻ cho 170 trường hợp đẻ khó. Nếu qua thử nghiệm, túi đẻ tỏ ra có hiệu quả thì sẽ tiến hành sản xuất công nghiệp loại. Hãng Becton, Dickinson and Company của Mỹ, nổi tiếng khắp thế giới về sản xuất ống tiêm đã nạp đơn xin cấp giấy phép sản xuất loại túi này, giá mỗi túi dưới 50 USD. Các nước đang phát triển sẽ được ưu tiên về giá cả.  WHO tỏ ra lạc quan, trên trang web của mình, tổ chức này đã nói về một loại dụng cụ có thể “cứu tính mạng con người”. Bất luận thế nào, phát minh của ông thợ sửa chữa ô tô 59 tuổi đã tiến xa hơn những nỗ lực khác trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy: để tạo nên một sự biến đổi mạnh mẽ trong y tế không nhất thiết phải có những đổi mới phức tạp về kỹ thuật – đôi khi những ý tưởng tuyệt vời cũng tạo nên những thay đổi hết sức to lớn.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát thải khí nhà kính làm mùa mưa đến chậm      Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (Bộ Năng lượng Hoa Kỳ) cho thấy con người đã tác động đến thời gian tuần hoàn nước của Trái đất.      Những đám mây bám trên sườn đồi phía sau một đồn điền chè gần Kerala (Ấn Độ). Thời điểm bắt đầu gió mùa chậm sẽ ảnh hưởng đến sản lượng chè ở đây. Nguồn: Phys.org  Các nhà khoa học đã bóc tách nhiều lớp nhiễu khí hậu để khám phá ra một tín hiệu rõ ràng: từ năm 1979-2019, ước tính sự gia tăng khí nhà kính và giảm sol khí do con người tạo ra đã khiến lượng mưa theo mùa ở các vùng nhiệt đới và Sahel (châu Phi) bị chậm khoảng bốn ngày. Điều này đồng nghĩa với việc các đợt nắng nóng, cháy rừng trầm trọng hơn và nhiều hậu quả khác… “Chúng tôi tự tin khẳng định, sự nóng lên toàn cầu là do hoạt động của con người”, nhà khoa học khí quyển Ruby Leung, đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Tuy nhiên, chúng tôi chưa chỉ ra chính xác được dấu ấn hoạt động của con người trong chu trình thủy văn. Nghiên cứu này cho thấy đúng là gió mùa xuất hiện muộn hơn, và hiện tượng nóng lên trong tương lai theo dự báo của các mô hình khí hậu”.  Mưa đến chậm là do bầu không khí ngày càng ẩm. Khí nhà kính làm bề mặt Trái đất nóng lên, khiến hơi nước xâm nhập vào bầu khí quyển ngày càng nhiều hơn. Độ ẩm bổ sung này làm tăng năng lượng cần thiết để làm nóng bầu khí quyển khi chuyển từ mùa xuân sang hè, dẫn đến thay đổi thời điểm vào mùa mưa.   Trong khi đó, các sol khí do con người tạo ra, chẳng hạn như các hạt từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, có xu hướng phản xạ ánh sáng mặt trời. Điều này sẽ làm mát khí quyển và giảm xu hướng nóng lên do khí nhà kính gây ra. Tuy nhiên, nồng độ sol khí đang suy giảm do những nỗ lực cải thiện chất lượng không khí của con người, làm mất đi một số hiệu ứng làm mát. Nó vừa làm gia tăng hiện tượng nóng lên toàn cầu, vừa làm trễ mùa mưa trong những thập kỷ gần đây.  Nếu nồng độ sol khí tiếp tục suy giảm và khí nhà kính tiếp tục tăng thì hiện tượng mưa đến trễ sẽ càng trầm trọng hơn trong tương lai. Nhóm nghiên cứu dự đoán rằng, vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa theo mùa ở vùng nhiệt đới bán cầu Bắc có thể bị chậm hơn năm ngày và vùng Sahel có thể bị chậm hơn tám ngày. Leung phân tích, “Với những vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa và có nền kinh tế nông nghiệp như Ấn Độ, lượng mưa mùa hè bắt đầu chậm có thể tàn phá sản lượng trồng trọt và đe dọa sinh kế của phần lớn người dân, trừ khi họ nhận ra và thích nghi với những thay đổi dài hạn về thời điểm bắt đầu khác nhau của gió mùa”.  Cách đây một thập kỷ, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã dự đoán độ trễ của mưa thông qua mô hình khí hậu. Tuy nhiên, việc chỉ ra sự chậm trễ trong các dữ liệu đã quan sát là một thách thức. Vấn đề không chỉ đơn giản là đo lượng mưa toàn cầu, Leung cho biết, thực tế khó khăn gấp đôi.  Việc thu thập dữ liệu là khó khăn thứ hai. Trong khi dữ liệu lịch sử về nhiệt độ toàn cầu rất phong phú, đã có từ lâu và được đo trực tiếp, dữ liệu về lượng mưa toàn cầu lại tương đối ít và bất định.  Các vệ tinh đo lượng mưa toàn cầu một cách gián tiếp thông qua việc phát hiện năng lượng do các đám mây và hạt mưa phản chiếu, do vậy nó có độ bất định cao. Vệ tinh bắt đầu sử dụng phổ biển từ cuối những năm 1970, nên dữ liệu về lượng mưa chỉ có trong vài thập kỷ gần đây.   Việc khám phá những tín hiệu chậm trễ bị chôn vùi trong các dữ liệu nhiễu về biến đổi khí hậu chỉ được bắt đầu khi dữ liệu lượng mưa toàn cầu ngày càng tăng và các mô hình khí hậu ngày càng mạnh hơn. Sử dụng 8 bộ dữ liệu đã quan sát, kết hợp với 243 bản mô phỏng trên nhiều mô hình, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra lượng mưa đã bị trễ vào mùa xuân ở bán cầu Bắc.   Phần lớn sự dịch chuyển lượng mưa theo mùa là hệ quả của sự phát triển kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ II, làm tăng phát thải khí nhà kính và sau đó là giảm phát thải sol khí từ những năm 1980. Tuy nhiên, hoạt động của con người không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra sự chậm trễ. Sự thay đổi nhiệt độ bề mặt đại dương trong hàng thập kỷ, cùng với các yếu tố khác, cũng có thể góp phần vào sự thay đổi lượng mưa theo mùa. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-06-emissions-rainfall.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát thanh-truyền hình bằng tiếng dân tộc: Ngôn ngữ, phương ngữ nào cần được phát sóng?      Những năm gần đây, các chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc liên tục được mở rộng cả về số lượng (ngôn ngữ) lẫn thời lượng và nội dung. Tuy nhiên, do cơ hội được lựa chọn để phát sóng không thể đến được với tất cả các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, nên xuất hiện một câu hỏi lớn: Sử dụng ngôn ngữ, phương ngữ dân tộc thiểu số nào để phát sóng?      Có số dân đông trên 1 triệu, nhưng cả tiếng Mường, tiếng Tày – Nùng chưa được lên sóng trên Hệ Phát thanh Dân tộc VOV4. Ảnh: Một phụ nữ Tày ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, bên khung cửi. Nguồn: caobang.gov.vn.  Ngôn ngữ, phương ngữ dân tộc thiểu số nào đang được phát sóng?  Theo số liệu thống kê chính thức của cuộc Tổng điều tra dân số (2009), dân số Việt Nam là gần 86 triệu người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85%, còn lại là các dân tộc thiểu số. Tuy về mặt dân tộc, chúng ta có 53 dân tộc thiểu số, nhưng thực tế có bao nhiêu ngôn ngữ dân tộc thiểu số, và trong ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số có bao nhiêu phương ngữ, vẫn là một câu hỏi chưa có câu trả lời rõ ràng, chính xác và chưa đạt được sự thống nhất trong giới nghiên cứu. Có tài liệu còn đề cập đến một danh sách gồm 90 ngôn ngữ với một rào đón thận trọng rằng danh sách các ngôn ngữ, phương ngữ này vẫn cần phải được cập nhật, bổ sung, điều chỉnh.  Tạm thời không xét đến những ngôn ngữ có số lượng người sử dụng ít, trên đại thể, chúng ta có thể nói rằng ngôn ngữ nào cũng có các phương ngữ (tiếng địa phương); phương ngữ nào cũng lại có nhiều thổ ngữ, thổ âm khác nhau. Chẳng hạn, tiếng Hmông có các phương ngữ Hmông (Hmông Hoa), Hmông Đơ (Hmông Trắng), Hmông Đu (Hmông Đen), Hmông Sua (Hmông Hán), Hmông Si (Hmông Đỏ); Chăm thì có Chăm Đông (Ninh Thuận, Bình Thuận), Chăm Tây (An Giang, Tây Ninh), Chăm Hroi (Bình Định), Nùng thì có Nùng Dín, Nùng Lòi, Nùng Phàn Slình,…  Hiện nay đã có gần 30 ngôn ngữ dân tộc thiểu số được phát sóng trên Hệ Phát thanh Dân tộc VOV4 và trên Ban Truyền hình Dân tộc VTV5. Nhìn chung, các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số cư trú đều đã có các chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc; các huyện, xã ở các vùng dân tộc cũng đã có chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc.  Xét trên phương diện lí thuyết, pháp lí cũng như mục đích thực tế thì tất cả các ngôn ngữ dân tộc thiểu số đều có thể và cần được phát sóng trên phát thanh truyền hình, vì (1) tất cả các dân tộc, các ngôn ngữ đều bình đẳng, (2) phát thanh truyền hình bằng ngôn ngữ là một trong hai cách làm (cùng với giáo dục ngôn ngữ) hiệu quả nhất để bảo tồn và phát huy các ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Thậm chí, xét ở một góc độ nào đó (về tính nhân văn, về nhu cầu bảo tồn sự đa dạng sinh thái về ngôn ngữ, văn hóa, tri thức bản địa,…), chúng ta thấy rằng chính những ngôn ngữ yếu, có số lượng người nói ít, dễ bị mai một, tiêu vong (ví dụ như tiếng Si La, Pu Péo, Ơ Đu) lại là những ngôn ngữ cần được hỗ trợ phát triển qua con đường truyền thông và giáo dục nhất. Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau, cơ hội được lựa chọn để phát sóng không thể đến được với những ngôn ngữ này nói riêng và đến được với tất cả các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, chúng ta buộc phải lựa chọn một số ngôn ngữ nhất định để phát sóng.  Những ngôn ngữ được lựa chọn để phát sóng hiện nay trên VOV4 và VTV5 đều là những ngôn ngữ có dân số đông, có số lượng người nói lớn, có nhiều dân tộc cùng sử dụng (thường được xem là những ngôn ngữ vùng), có địa vị và uy tín về văn hoá xã hội, đã có chữ viết chính thức,… Những căn cứ để lựa chọn một ngôn ngữ nào đó để phát sóng như vậy nhìn chung là hợp lí. Tuy nhiên, nếu chiếu những tiêu chí đó vào tình hình thực tế thì có lẽ danh sách các ngôn ngữ được lựa chọn phát sóng nên được điều chỉnh. Chẳng hạn, hiện nay tất cả những ngôn ngữ được lựa chọn để phát sóng trên VOV4 đều có số dân đông trên 10 vạn, nhưng cả tiếng Mường và tiếng Tày – Nùng đều có dân số trên 1 triệu (đều đã có chữ viết, có vị thế và văn hóa xã hội,…) lại không được phát sóng.  Bên cạnh đó, nhìn chung, ngôn ngữ nào cũng có các phương ngữ khác nhau, nên khi đã lựa chọn một ngôn ngữ để phát sóng thì người ta buộc phải lựa chọn một hay một vài phương ngữ nào đó để phát sóng, có nghĩa là người ta tiếp tục thực hiện sự lựa chọn của sự lựa chọn. Trên thực tế, do cả ở trung ương lẫn địa phương đều thiếu đội ngũ làm công tác phát thanh truyền hình được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp,…, việc chọn phương ngữ chủ yếu phụ thuộc vào đội ngũ có sẵn, có phát thanh viên của vùng nào thì sử dụng tiếng của vùng đó để lên sóng.  Niềm tự hào ngôn ngữ – một yếu tố cần được xét đến  Tuy rằng xét trên phương diện quyền/ quyền lợi, các dân tộc và các ngôn ngữ, phương ngữ là bình đẳng với nhau, nhưng các ngôn ngữ, phương ngữ lớn nhỏ khác nhau có thể có được vị trí và do đó là vai trò khác nhau về mặt chức năng giao tiếp.  Lấy một ví dụ. Tiếng Mường hiện nay được sử dụng chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ. Riêng ở Hòa Bình thì có thể kể đến tiếng của bốn vùng mường tiêu biểu là Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động. Do yếu tố lịch sử, văn hóa và địa lí, cộng với nhịp độ phát triển và giao lưu kinh tế hiện đại, Mường Bi, theo đó là tiếng Mường Bi, thường được xem là vùng và tiếng quan trọng nhất ở Hoà Bình. Cách nói Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động là một minh chứng hùng hồn cho điều này. Và do đó, đội ngũ phát thanh viên tiếng Mường của Đài Phát thanh – Truyền hình Hòa Bình thường là người Mường Bi, nói giọng Mường Bi. Theo khảo sát của Đài Phát thanh – Truyền hình Hòa Bình (2009), người dân bốn vùng Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động có thái độ ngôn ngữ đối với việc sử dụng tiếng địa phương trên sóng phát thanh truyền hình như sau:  – Với câu hỏi về giọng đọc tiếng Mường trên Đài Phát thanh – Truyền hình Hòa Bình, gần 60% người Tân Lạc ở Mường Bi yêu thích giọng đọc của phát thanh viên (giọng Mường Bi), trong khi tỉ lệ này ở các vùng Mường Động (Kim Bôi) là 44%; Mường Thàng (Cao Phong) – 29%, Mường Vang (Lạc Sơn) – 26 %. Cần lưu ý rằng, tiếng Mường Bi và tiếng Mường Động gần giống nhau, và đây có thể là lý do tại sao tỉ lệ người ở Mường Bi và Mường Động thích giọng đọc của phát thanh viên Mường Bi cao; trong khi giọng Mường Vang, Mường Thàng khá khác giọng Mường Bi và Mường Động, dẫn đến tỉ lệ người hai vùng này thích giọng đọc của phát thanh viên Mường Bi thấp.  – Khi được hỏi tiếng vùng Mường nào thì thích hợp để sử dụng phát thanh truyền hình, người dân của từng vùng mường đều có xu hướng chọn tiếng nói của vùng mường mình. 74% người Mường ở Tân Lạc ủng hộ sử dụng tiếng Mường Bi; 60% người Mường ở Lạc Sơn ủng hộ sử dụng tiếng Mường Vang; 46% người Mường ở Cao Phong ủng hộ sử dụng tiếng Mường Thàng; 59% người Kim Bôi ủng hộ sử dụng tiếng Mường Động.  Làm sao để hiểu nhau hay câu chuyện về thái độ ngôn ngữ  Có một thực tế là nhiều người cho rằng họ không hiểu hoặc hiểu không hết khi nghe hoặc xem chương trình phát bằng tiếng dân tộc mình, như trường hợp của tiếng Chăm, Hmông, Thái, Khmer,…  Vấn đề được đặt ra là sự không thông hiểu đó xuất phát từ đâu? Khảo sát điều tra điền dã ở nhiều địa phương cho chúng tôi một gợi ý là: Sự không thông hiểu đó thường gắn với thái độ ngôn ngữ.  Không dễ gì để giải thích một cách thuyết phục rằng các cộng đồng nói tiếng địa phương khác nhau lại không hiểu được nhau do sự khác biệt quá lớn về từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp. Tình trạng cư trú đan xen vừa là một yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các tiếng địa phương, giữa các ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc, song cũng lại vừa là một yếu tố tạo nên sự liên kết, gắn bó và thông hiểu lẫn nhau giữa các tiếng địa phương, giữa các ngôn ngữ, bởi lẽ ngôn ngữ sinh ra là để giao tiếp, tạo sự thông hiểu, và bản thân các chủ thể ngôn ngữ không đứng im một chỗ, mà họ luôn dịch chuyển, giao lưu qua lại với nhau. Bằng chứng là khi điều tra khảo sát thực tế trực tiếp và chính thức, người dân có thể trả lời là không hiểu hoặc hiểu rất ít người vùng khác nói gì, nhưng khi ngồi bên bếp lửa cùng chung vui với một vò rượu cần, cùng chia sẻ một câu chuyện riêng tư, chẳng mấy người lại nói rằng mình không hiểu tiếng của vùng khác. Như thế, có thể thấy rằng khi người dân nói họ hiểu hay không hiểu tiếng địa phương của nhau thì đó là câu chuyện thái độ ngôn ngữ của chính họ với các ngôn ngữ, phương ngữ.  Gợi ý về giải pháp dung hòa  Việc người dân bày tỏ thái độ của mình với tiếng địa phương khác không có nghĩa là người địa phương này kì thị hay muốn loại bỏ tiếng địa phương kia. Bởi ngôn ngữ không thuần túy là công cụ giao tiếp và tư duy trong nội bộ một dân tộc, mà đó còn là niềm tự hào, dấu hiện nhận diện, thậm chí ở một chừng mực nào đó nó không khác gì tô tem của chính dân tộc. Vì thế, đứng từ góc nhìn của truyền thông, chúng ta cần phải có một cách ứng xử và hành động phù hợp. Theo chúng tôi, giải pháp tối ưu trong việc lựa chọn, sử dụng phương ngữ để phát thanh truyền hình nên là giải pháp dung hòa. Sự dung hòa nên được thể hiện ở hai cấp độ.  – Ở cấp độ thứ nhất, không nên sử dụng duy nhất một thứ tiếng địa phương nào đó để truyền thông, dù thứ tiếng đó là thứ tiếng quyền uy của vùng có lịch sử văn hóa lâu đời, có kinh tế phát triển. Ví dụ như trong trường hợp của tiếng Mường đối với Đài Phát thanh – Truyền hình Hòa Bình nên có đủ cả giọng Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động. Rộng hơn, đối với các đài Trung ương, nên có cả giọng tiếng Mường ở Hòa Bình lẫn Thanh Hóa và Phú Thọ.  – Ở cấp độ thứ hai, phát thanh viên của một vùng, một tiếng nào đó cũng nên dung hòa cách nói của các vùng, các tiếng địa phương khác nhau thông qua việc lược bỏ bớt những đặc trưng tiếng địa phương của mình, sử dụng thêm một số đặc trưng tiếng địa phương của vùng khác, cố gắng sao cho có thể tạo nên một cách nói có tính “siêu phương ngữ” cho một ngôn ngữ hay “siêu thổ ngữ” cho một phương ngữ. Quá trình “địa phương hóa” thành công các giọng đọc của các phát thanh viên nói giọng miền Nam và miền Trung ở Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian gần đây là một ví dụ minh chứng tốt cho việc này. Các phát thanh viên dù vẫn giữ giọng đọc, cách phát âm đặc trưng thuộc vùng phương ngữ của mình song cũng đã “hội nhập”, chỉnh sửa giọng đọc, cách phát âm sao cho dễ nghe nhất, tròn vành rõ chữ nhất, gần với chuẩn của chữ Quốc ngữ nhất.  Cần nhớ rằng tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ hành chính, lại có truyền thống văn tự tương đối thống nhất từ lâu, thậm chí đã có sự thống nhất toàn quốc ở nhiều khía cạnh như chữ viết trong giáo dục, ngữ âm trong thanh nhạc,… song chỉ rất gần đây trên cả đài phát phát thanh và truyền hình trung ương mới có thể dần dần thử nghiệm và rồi đưa chính thức một số phát thanh viên nói giọng địa phương miền Trung và miền Nam vào. Hiện giờ dù chúng ta đã cảm thấy tương đối quen thuộc với một số phát thanh viên giọng địa phương, nhưng câu chuyện đưa một số phát thanh viên nói giọng ngoài giọng Hà Nội lên sóng ở giai đoạn đầu không hề dễ dàng, thuận lợi.       Author                Phạm Văn Lam        
__label__tiasang Phát triển Công nghệ cao theo hướng Hệ thống Quốc Gia về Đổi mới      Khác với các nước công nghiệp hóa, nơi công nghệ cao (CNC) gần như một sự phát triển tự nhiên, ở nước chưa công nghiệp hóa, phát triển CNC là một sự lựa chọn (option) đòi hỏi tính duy lý cao và sự hoạch định kỹ lưỡng vì họ còn thiếu nhiều điều kiện vật chất (hard) và phi vật chất (soft) cho CNC. Cách tiếp cận của Hệ thống Quốc gia về đổi mới (National Innovation System – NIS) mang lại nhiều gợi suy cho việc phát triển CNC ở Việt Nam.    Về quan điểm và một số vấn đề cụ thể trong phát triển CNC  Thay vì bắt tay ngay vào xây dựng một khu CNC, cần bắt đầu từ một báo cáo nghiên cứu khả thi (Feasibility study) được thực hiện trên cơ sở những số liệu điều tra chính xác. Nếu có tính khả thi, cần làm tiếp một kế hoạch tổng thể (Masterplan) cho việc triển khai. Trong điều kiện cho phép, nên thuê công ty tư vấn chuyên môn của nước ngoài thực hiện hai việc trên. Điều này không những giúp “quét” hết được các tình huống (cơ hội) tiềm năng mà còn giúp tránh được việc đưa ra các quyết sách thiếu căn cứ dẫn đến lãng phí.  Cần có các căn cứ xác đáng khi đặt mục tiêu. Ví dụ: “Khoa học – Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất chính của đất nước” (Trung Quốc đã đặt mục tiêu này) hoặc “… trở thành nước có nền KH-CN ngang tầm với các nước…” (như Trung Quốc đặt mục tiêu trở thành 1 trong 10 cường quốc về KH-CN trên thế giới vào đầu thế kỷ 21).  Cân nhắc giữa hai kịch bản. Một, nhà nước đưa ra kế hoạch tổng thể dưới dạng chung chung, đặt ra môi trường pháp lý (luật chơi) và một “sân chơi” với các đòn bẩy về ưu đãi, sắc thuế… để các bên tham gia hoạt động theo sự điều tiết của thị trường. Hai, nhà nước đưa ra kế hoạch tổng thể với các chỉ tiêu định lượng hay dưới dạng một dự án đầu tư với các sản phẩm, phương án kinh doanh và những thị trường… cụ thể.  Trong trường hợp thứ hai, kế hoạch tổng thể cần như một dự án đầu tư, tức là đưa ra các tính toán về tổng vốn đầu tư, phương án sản phẩm, phương án kinh doanh, hiệu quả kinh tế với các chỉ số đánh giá như: tỷ lệ hoàn vốn nội tại, thời gian hoàn vốn… Kế hoạch tổng thể cần đề xuất với nhà nước 1-2 ngành kinh tế CNC (hoặc “công nghiệp CNC”. Thuật ngữ này khác với “công nghiệp CNC” trong khu CNC thường để chỉ các ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm hữu hình trong CNC). Để đầu tư có hiệu quả, các “định hướng CNC” hay “chiến lược CNC” quốc gia không thể chung chung mà phải cụ thể.  Tùy theo sự hoạch định, sản phẩm CNC không nhất thiết là những sản phẩm hữu hình (như máy tính, chip…) mà có thể là những sản phẩm phi vật thể như: bản quyền, bí quyết công nghệ… (ví dụ: Ireland, Ấn Độ với phần mềm là sản phẩm).  Kế hoạch tổng thể CNC nên có hai phần. Phần một: phần do Nhà nước đầu tư đề cập các hoạt động thực hiện bởi vốn ngân sách TW. Phần hai: phần thực hiện bằng các nguồn vốn khác. Ví dụ: vốn tư nhân, vốn địa phương, vốn nước ngoài… Phần dùng vốn khác nên thiết lập như các môđun lẻ có thể được lắp ghép thêm vào các hoạt động của nhà nước, nhưng thiếu các môđun này cũng không làm ảnh hưởng đến các dự án của nhà nước.  Phần vốn ngân sách cần bảo đảm thực hiện hoàn tất 1-2 chương trình quốc gia về CNC tại các khu CNC quốc gia hoặc các khu do nhà nước chỉ định. Ví dụ: tiến hành R&D và sản xuất thử thành công ở 1-2 lĩnh vực. Nhà nước nên sử dụng ngân sách để thực hiện các chương trình nghiên cứu-phát triển CNC (High-Tech R&D) tương tự như Chương trình 863 về nghiên cứu-phát triển CNC của Trung Quốc và việc đưa các kết quả R&D này vào sản xuất thử. Sự phối hợp giữa chương trình R&D quốc gia với các triển khai áp dụng tại các khu CNC giống như chương trình 863 và các chương trình Bó đuốc (Torch Program), Đốm lửa (Spark Program) của Trung Quốc. Các khu CNC thuộc các địa phương, ngành, tư nhân sẽ tập trung nghiên cứu áp dụng các kết quả R&D, sản xuất và thương mại hóa (xã hội hóa đầu tư vào CNC).  Kế hoạch tổng thể CNC cần xác định trọng tâm là phát triển dựa vào các khu CNC hay trên diện rộng (không nhất thiết vào các khu).  Việc quy hoạch các khu CNC (nếu có) không nên dựa vào tiêu chí địa lý mà dựa vào các tiêu chí như: lĩnh vực (ví dụ: khu sinh học, khu phần mềm…), “công đoạn” trong CNC. Ví dụ: khu R&D, khu ứng dụng công nghệ, khu công nghiệp CNC… Điều đặc biệt quan trọng là quy hoạch các khu để tạo ra các cụm công nghiệp và các mạng lưới công nghiệp hỗ trợ.    Phát triển CNC theo hướng Hệ thống quốc gia về đổi mới  Càng phát triển, tính liên ngành càng cao. Khoa học và công nghệ từ chỗ là hai lĩnh vực độc lập nay đã trở thành một thực thể khó có thể tách rời. Sự phân chia chức năng nhiệm vụ mang tính quan liêu giữa các bộ dẫn đến các kế hoạch tổng thể của các bộ không mang các yếu tố liên ngành – điều mà thực ra lại không thể thiếu được để một dự án quốc gia mang tính khả thi. Sự sáp nhập giữa công nghiệp (khâu sản xuất) với nội-ngoại thương (khâu tiêu thụ) thành một bộ (bộ công nghiệp và ngoại thương – MITI) ở hầu hết các nước Châu Á là một tất yếu cho phát triển.  Càng phát triển, càng cần mở rộng mối liên kết dọc và ngang khi hoạch định các chương trình quốc gia. Trong những năm 80 của thế kỷ trước, yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh của các nước và khu vực đã đem lại sự đột phá của Hệ thống Quốc gia về đổi mới – một cách tiếp cận tổng thể nhất mà các nước cần chủ động áp dụng. Một trong những nội dung chính của Hệ thống Quốc gia về đổi mới là phát triển các mối liên kết. Sự tích hợp và mô phỏng các quá trình phát triển cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của các yếu tố phi vật thể (các mối liên kết) như những “phần mềm” của hệ thống. Như vậy, các liên kết được chủ động tác động để thiết lập, phát triển (tương tự như người ta chủ động tìm ra nguyên tố mới dựa trên tính quy luật của Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học). Chính vì vậy, chỉ xây dựng các khu CNC, phòng thí nghiệm trọng điểm (phần cứng) chưa đủ để phát triển CNC. Các nước đang phát triển thường gặp khó khăn khi hoạch định các chương trình quốc gia mang tính liên ngành vì các chương trình này chủ yếu do các bộ ngành soạn thảo căn cứ vào nguồn lực và chú trọng vào quyền lợi của mình.  Hệ thống Quốc gia về đổi mới đòi hỏi hoạch định sự phát triển của một ngành cũng như của nền kinh tế trong một mối liên kết hữu cơ. Muốn thực sự có hiệu quả, phát triển CNC cần được hoạch định như một dự án đầu tư và trong mối liên kết chặt chẽ với các ngành như công nghiệp, thương mại, nông-lâm nghiệp, y tế…  Tuy nhiên, vấn đề không chỉ mang tính “kỹ thuật” như vậy. Một trong những khó khăn cho các nước đang phát triển khi áp dụng Hệ thống Quốc gia về đổi mới là hệ thống này đòi hỏi các “phần mềm” của nó. Đó là: vai trò chủ động của “nhạc trưởng” nhà nước, một nền quản lý vĩ mô mang tính chuyên môn với các nhà kỹ trị ít hành chính-quan liêu-hình thức.     * Tiếp theo phần 1: “Phát triển ngành Công nghệ cao ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Hùng (cùng tác giả), Tia Sáng, Số 11, 5-9-2005  Đinh Thế Phong       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển công nghệ nano ở Trung Quốc      Từ những năm đầu thập niên 1990, Trung Quốc đã đầu tư vào khoa học và công nghệ nano. Quốc gia này hiện có mạng lưới gồm hơn 20 viện nghiên cứu, 50 trường đại học và hơn 300 công ty thương mại hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano. Với đội ngũ nghiên cứu giỏi hùng hậu (ước tính khoảng hơn 3000), trong đó, nhiều nhà khoa học được đào tạo tại Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ. Trung Quốc được xếp vào một trong năm quốc gia đứng đầu thế giới về lĩnh vực đang phát triển rất nhanh này.    Trung Quốc gia tăng tiềm lực quốc gia bằng chiến lược phát triển  kinh tế nhanh gắn liền với giáo dục và khoa học. Dự tính đến cuối năm 2020, khả năng đổi mới khoa học và công nghệ của Trung Quốc sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ. Khả năng toàn diện của Trung Quốc trong nghiên cứu khoa học cơ bản, cũng như trong các lĩnh vực tiên phong, sẽ được tăng cường đáng kể. Mặc dù Trung Quốc đã được xem là nước đứng đầu trong một số nỗ lực khoa học. Đến năm 2020, quốc gia này sẽ đạt nhiều thành tựu khoa học và công nghệ có ý nghĩa toàn cầu, đủ điều kiện trở thành một trong những quốc gia đổi mới nhất thế giới. Trong số các lĩnh vực phát triển đặc biệt nhanh trong thập kỉ qua có khoa học và công nghệ nano. Hai thuật ngữ này đề cập đến nền tảng tri thức và cơ cấu kỹ thuật đang phát triển từng ngày, là cơ sở cho việc hiểu biết và thao tác với vật liệu có kích thước từ nguyên tử đến tế bào.    Những tiến bộ nano  Trong số các lĩnh vực chính của khoa học và công nghệ nano đang được các nhà khoa học Trung Quốc đặc biệt quan tâm, nghiên cứu vật liệu nano chiếm vị trí trọng tâm. Những nghiên cứu về ống nano cacbon (CNT) có thể xem là tiêu biểu cho tiến bộ nhanh chóng của lĩnh vực thiết kế vật liệu thấp chiều.  Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi S.S. Xie, Viện vật lý thuộc Viện Khoa học Trung Quốc (CAS), đã phát minh ra phương pháp “phát triển khuôn” (template growth) có thể điều khiển được cả đường kính và hướng phát triển của ống nano cacbon nhiều lớp. Báo cáo gần đây của nhóm nghiên cứu S.S. Fan, đại học Thanh Hoa, lập nên kỷ lục thế giới về tổng hợp ống nano cacbon dài nhất và hẹp nhất, trình bày về tổng hợp “sợi vải” làm bằng ống nano cacbon và ứng dụng của chúng trong phát sáng và phân cực ánh sáng.  Đối với vật liệu nano kim loại, nhóm nghiên cứu ở Viện nghiên cứu kim loại, CAS, dẫn đầu bởi K Lu, đã khám phá ra tính siêu dẻo của đồng ở cấu trúc nano. Những nghiên cứu tiếp theo, họ đã sản xuất được tinh thể kép đồng mật độ cao ở kích thước nano có sức căng lớn hơn khoảng 10 lần hạt đồng thô trong lúc vẫn giữ được tính dẫn điện giống như đồng nguyên chất. Đây là kết quả rất có ý nghĩa, khi mà các phương pháp truyền thống nhằm tăng sức căng của kim loại thường làm giảm tính dẫn điện, tạo nên sự bù trừ giữa tính dẫn diện và độ bền cơ học. Trong một nghiên cứu khác, Lu và các đồng nghiệp của ông đã phát triển kỹ thuật để tăng khả năng khuyếch tán của Crôm qua chất nền sắt (khả năng khuyếch tán là xu hướng của một thành phần, ví dụ nhiệt hay trong trường hợp này là nguyên tử Crôm phân bố đồng đều bằng cách phân tán trong môi trường khác). Tính chất mới này của Crôm đạt được bằng cách xử lý cơ học bề mặt sắt liên tục ở 350oC, nhiệt độ này thấp hơn khoảng 300oC đến 400oC so với nhiệt độ xử lý truyền thống. Khả năng khuyếch tán của Crôm trong tinh thể nano sắt cao hơn 7-9 lần so với Crôm trong tinh thể sắt thường. Tính chất này sẽ làm cho quá trình sản xuất các vật liệu kỹ thuật truyền thống được cải thiện và có thể dẫn đến sự phát triển của các loại vật liệu mới cho ứng dụng kỹ thuật.            a) ảnh với độ phóng đại thấp của sản phẩm qua kính hiển vi quét điện tử (SEM) cho thấy một số lượng lớn các cấu trúc nano giống như những chuỗi hạt.       b) ảnh với độ phóng đại lớn hơn của mẫu điển hình.      c) ảnh SEM của một mẫu MWCNT/Co3O4 NP với tiếp xúc Pt.          Hai trong số 10 tiến bộ hàng đầu về khoa học và công nghệ của Trung quốc năm 2005 liên quan đến khoa học và công nghệ nano. Tiến bộ đầu tiên là về điều khiển trạng thái quay của đơn phân tử CoPc, có tiềm năng lớn ứng dụng trong các thiết bị điện tử nano. Với sự hỗ trợ của kính hiển vi hiệu ứng đường hầm chân không nhiệt độ thấp. (STM), nhóm nghiên cứu ở trường đại học công nghệ và khoa học Trung Quốc (USTC) thực hiện thao tác tinh vi đơn phân tử trên tiểu thể màu Coban cho phép kiểm soát trạng thái từ của một đơn phân tử. Lần đầu tiên, phản ứng hóa học được kích thích bên trong đơn phân tử và các đặc tính vật lý của phân tử có thể bị biến đổi và điều khiển bằng cách sử dụng các phản ứng hóa học chọn lọc.               ảnh  SEM và TEM của hạt nano và lưới (xốp) nano của ZnS          Tiến bộ lớn thứ hai của năm 2005 liên quan đến đặc tính tổng hợp và dẫn thuốc của khối cầu Silic dioxit rỗng thủng lỗ (đường kính lỗ từ 2-50 nm) có kích thước và hình thái giống hệt nhau. J.L. Shi và đồng nghiệp đã trình bày phương pháp để thiết kế hệ thống phân phát thuốc được điều khiển bằng kích thích nhằm che các lỗ mở của khối cầu Silic dioxit chứa đầy thuốc. Với kích thước đồng nhất 200nm, những “phương tiện vận tải” nhỏ này có thể vận chuyển thuốc một cách an toàn trong hệ thống tuần hoàn của người và dưới tác động của từ trường bên ngoài do thầy thuốc điều khiển, giải phóng thuốc ở tốc độ được kiểm soát ở vị trí đặc biệt cần điều trị.  Tác động toàn cầu  Trong suốt 10-15 năm qua, công nghệ nano được xem là một trong những môn khoa học hàng đầu trong cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công nghệ cao và được phát triển trên toàn cầu. Thành tựu khoa học của các nhà khoa học nano Trung Quốc đang trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chẳng hạn, trong cả 2004 và 2005, quốc gia này xếp thứ hai trong việc xuất bản các bài báo khoa học. Tuy nhiên, uy tín bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc vẫn còn thua xa bài báo của đồng nghiệp ở các nước phát triển hơn. Từ năm 2001 đến 2003, số lần trích dẫn một bài báo về công nghệ nano được xuất bản bởi các nhà khoa học làm việc ở Đức, Nhật Bản và Mỹ lần lượt là 4.54, 3.7 và 6.56. Trong khi đó của Trung Quốc là 2.28; một số nhóm nghiên cứu được trích dẫn thường xuyên hơn số trung bình.    Đảm bảo tiêu chuẩn  Thuật ngữ nano đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Một số công ty có thể thể tăng lợi nhuận bằng cách dán nhãn sản phẩm của họ là sản phẩm nano, một số sản phẩm là giả danh. Tình trạng này dẫn đến việc thành lập tổ chức quản lý tiêu chuẩn quốc gia, có thẩm quyền ban hành và thiết lập tiêu chuẩn và hệ thống đánh giá sản phẩm nano. Trong năm 2004, một hội đồng quốc gia đặc biệt đã được thành lập để đánh giá trong phòng thí nghiệm dưới thẩm quyền của Hội đồng các phòng thí nghiệm quốc gia. Vào tháng 2 năm 2005, bảy tiêu chuẩn quốc gia về vật liệu nano được phát hành, bao gồm một thuật ngữ, bốn tiêu chuẩn cho sản phẩm bột nano (bột niken, kẽm oxit, titan oxit và canxi cacbonat) và hai tiêu chuẩn cho kiểm tra phân tích (phương pháp hấp phụ khí của Brunauer, Emmett và Teller; đo kích thước hạt của bột nano bằng nhiễu xạ tia X). Cộng đồng khoa học cũng được mời tham gia các hoạt động cộng đồng để cung cấp đánh giá chân thực về các ảnh hưởng xã hội của công nghệ đang phát triển này. Phân tích kỹ lưỡng sẽ hướng dẫn khoa học và công nghiệp trong lĩnh vực quan trọng này.  Vẫn có sự khác biệt đáng kể trong ứng dụng thực tiễn giữa Trung Quốc và các nước có nền kinh tế phát triển khác, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển các thiết bị kích thước nano và công nghiệp hóa. Tuy nhiên, các nhà khoa học Trung Quốc sẽ tiếp tục đóng góp cho sự tiến bộ của công nghệ nano bằng nhiều cách, vừa là đối tác trong các chương trình hợp tác và vừa là đối thủ cạnh tranh đang theo dõi cẩn thận thị trường toàn cầu tương lai. Nghiên cứu ứng dụng, có những ưu tiên riêng của nó, tham gia hợp tác nhiều hơn với các đồng nghiệp quốc tế và công nghiệp. Tiến bộ bắt nguồn từ những nghiên cứu như thế cũng được xem là đóng góp quan trọng cho phát triển bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng triệu người Trung Quốc, góp phần đem lại lợi ích cho cộng đồng quốc tế.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán ở Việt Nam: Bài học và ý kiến      Máy tính và công nghệ thông tin đã thay đổi sâu sắc xã hội và cuộc sống chúng ta. Máy tính cá nhân đã trở thành công cụ lao động hết sức quan trọng của nhiều người, nhưng không đủ mạnh để dùng cho các nghiên cứu khoa học và kỹ thuật có tầm ảnh hưởng lớn cũng như dùng để tham gia giải quyết những vấn đề quốc kế dân sinh.      Cạnh tranh quốc tế về siêu máy tính   Trong thập niên trước và nhất là hai năm nay giới khoa học và công nghệ đã chứng kiến các siêu máy tính liên tiếp xuất hiện và các kỷ lục thế giới về hiệu suất của chúng liên tục bị xô đổ. Sức mạnh của các siêu máy tính được đánh giá theo nhiều tiêu chí, nhưng quan trọng nhất vẫn là số phép tính làm được trong một giây (flops). Vào tháng 11 năm 2010, siêu máy tính Thiên Hà-1A (Tianhe-1A) do Trung quốc chế tạo đã vượt qua máy tính mạnh nhất của Mỹ để đứng đầu thế giới với tốc độ 2,507 petaflops, tức 2,507 triệu tỷ phép tính giây. Nhưng chỉ nửa năm sau, máy tính Kei của Nhật Bản (K-computer), kết quả của chương trình trọng điểm quốc gia trong giai đoạn 2007-2012 với kinh phí hơn một tỷ đôla Mỹ, đã ra đời và đạt tốc độ 10,51 petaflops, nhanh gấp bốn lần Thiên Hà-1A. Tuy nhiên, nước Nhật chỉ được tận hưởng một năm ngôi đầu thế giới. Tháng 6 năm nay, Bộ Năng lượng Mỹ đã cho ra đời máy tính IBM Sequoia với tốc độ 16,32 petaflops, dành vị trí đầu trong bảng xếp hạng 500 siêu máy tính hàng đầu thế giới [1]. Chưa dừng lại, ít ngày trước đây (12 tháng 11 năm 2012) danh sách 500 siêu máy tính hàng đầu lại có nhà vô địch mới: Máy tính Titan của hãng Cray chế tạo tại Phòng Thí nghiệm Quốc gia Hoa Kỳ Oak Ridge ở bang Tennessee, đạt tốc độ 17,59 petaflops. Góp mặt trong những siêu máy tính hàng đầu ở châu Âu còn có JUQUEEN (4,141 petaflops) và SuperMUC (2,897 petaflops) ở nước Đức hay FERMI (1,725 peta flops) ở nước Ý do IBM sản xuất, và máy Curie của hãng Bull nước Pháp với tốc độ 1,359 petaflops, cùng hoàn thành vào mùa hè 2012.    Để thấy tốc độ tính toán cấp petaflops này lớn thế nào, hãy hình dung nếu mỗi người trong số 7 tỷ người trên trái đất có một máy tính cầm tay và thực hiện mỗi giây một phép tính, liên tục 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm, thì tất cả mọi người trên trái đất phải tính liên tục 40 năm để làm được những gì Thiên Hà-1A tính trong một giờ, và 286 năm để đạt được số phép tính Titan làm trong một giờ đồng hồ [2].  Câu chuyện về Khoa học và Kỹ thuật Tính toán            Khoa học tính toán và tính cạnh tranh của nước Mý                ‘‘Cùng với lý thuyết và thực nghiệm, khoa học tính toán đang trở thành ‘trụ cột thứ ba’ (pillar) của khoa học, cho phép các nhà nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm mô hình của các hiện tượng phức tạp’’.   Báo cáo đặc biệt của Hội đồng cố vấn về Công nghệ Thông tin của Tổng thống Mỹ (PITAC), “Khoa học tính toán: Sự đảm bảo cho tính cạnh tranh của nước Mỹ”            Nhìn thế giới cạnh tranh làm siêu máy tính, nhiều câu hỏi đến với ta thật tự nhiên. Chẳng hạn tại sao các cường quốc về khoa học và công nghệ lại thi nhau chế tạo những siêu máy tính cực kỳ tốn kém này? Họ làm ra các siêu máy tính để dùng vào việc gì, quan trọng thế nào? Việc gì quan trọng nhưng không làm được nếu thiếu các siêu máy tính với tốc độ nhiều petaflops? Có phải mọi quốc gia đều cần đến siêu máy tính? Dùng siêu máy tính giống và khác thế nào với việc dùng các máy tính cá nhân PC? Việt Nam ta có cần siêu máy tính không? Và cần vào việc gì?  Có thể trả lời phần nào các câu hỏi trên khi đọc báo cáo đặc biệt của Hội đồng cố vấn về Công nghệ Thông tin của Tổng thống Mỹ (PITAC), “Khoa học tính toán: Sự đảm bảo cho tính cạnh tranh của nước Mỹ” [3]. Bản báo cáo 117 trang công bố tháng 6 năm 2005 bắt đầu bằng: ‘‘Cùng với lý thuyết và thực nghiệm, khoa học tính toán đang trở thành ‘trụ cột thứ ba’ (pillar) của khoa học, cho phép các nhà nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm mô hình của các hiện tượng phức tạp’’. Như để gần với đời thường hơn, thiên hạ còn gọi khoa học tính toán là ‘chân thứ ba’ của khoa học (the third leg), hoặc đôi khi là ‘cách thức thứ ba’ (paradigm) của khoa học.   Nhưng khoa học tính toán là gì và tại sao lại có thể trở thành một cách thức mới của khoa học?  Một cách đại thể ta có thể hiểu khoa học tính toán (computational science) là khoa học về việc dùng toán học kết hợp với tính toán trên máy tính để giải quyết các vấn đề phức tạp của các khoa học. Cụ thể hơn, khoa học tính toán là lĩnh vực liên ngành với sự kết hợp hài hoà của ba thành phần: (i) Mô hình và mô phỏng, (ii) Khoa học máy tính, (iii) Hạ tầng cơ sở tính toán.   Nền tảng của mỗi lý thuyết khoa học là các mô hình, nghĩa là sự mô tả khái quát cái cốt lõi của các thực thể trong khoa học này (như mô hình E = mc2 trong thuyết tương đối của Einstein). Điều quan tâm đầu tiên trong khoa học tính toán là các mô hình toán học, tức việc mô hình hoá các thực thể cần nghiên cứu bằng ngôn ngữ toán học hoặc ngôn ngữ tính toán, sao cho vấn đề cần giải quyết có thể thực hiện nhờ việc tính toán dựa trên các mô hình. Nhờ các mô hình toán học thông minh và các siêu máy tính ngày càng mạnh, lĩnh vực mô phỏng (simulation) đang có những tiến bộ vượt bậc, tạo ra sức mạnh đặc biệt của khoa học tính toán, cho phép con người nhìn thấy và hiểu được những thực thể và quá trình rất phức tạp của tự nhiên và xã hội mà ta không thể nào quan sát được trong thực tế.  Giải quyết các vấn đề phức tạp của khoa học không chỉ cần đến mô phỏng, mà còn cần các phân tích định lượng ở thành phần thứ hai của khoa học tính toán. Thành phần này cũng liên quan mật thiết với khoa học máy tính [4], đặc biệt các phương pháp quản trị và phân tích dữ liệu, mạng máy tính… Hạ tầng cơ sở tính toán, thành phần thứ ba của khoa học tính toán, chính là các siêu máy tính, cho phép con người thực hiện những khối lượng tính toán khổng lồ.          Những thành phần chính của khoa học và kỹ thuật tính toán        Để giải thích tại sao khoa học tính toán có thể góp phần giải được nhiều bài toán phức tạp của khoa học mà các lý thuyết và thí nghiệm theo cách truyền thống không luôn luôn cho kết quả, ta có thể nghĩ đến ít nhất hai lý do. Một là trong một số bài toán hết sức phức tạp trong nhiều khoa học, các đòi hỏi về độ chính xác cũng như chi tiết đã vượt quá khuôn khổ của những lý thuyết khoa học con người đã sáng tạo ra, hoặc số lượng thí nghiệm cần tiến hành quá lớn không thực hiện nổi hoặc không biết cần bắt đầu từ đâu. Hai là có rất nhiều vấn đề khoa học ta không thể làm được thí nghiệm trên các thực thể (in vivo). Chẳng hạn như hiện nay ta không thể quan sát chi tiết các chuyển động của từng nguyên tử trong cơ thể sống, không thể thử nghiệm làm vỡ đập thuỷ điện hoặc làm nổ nhà máy điện nguyên tử, cũng như không thể thử nghiệm cho thiên thạch đâm vào trái đất hoặc làm núi lửa phun trào. Ta cũng không thể dễ dàng thấy các hiện tượng xã hội như hiệu ứng tập thể của người tiêu dùng, sự đầu cơ tài chính dẫn đến sụp đổ của toàn bộ hệ thống tài chính thế giới. Khi một vấn đề khoa học được diễn đạt với những mô hình tính toán, con người có thể tiến dần đến câu trả lời do thực hiện các tính toán này trên các siêu máy tính, dù khối lượng tính toán có thể rất lớn.   Khoa học tính toán không góp phần vào nghiên cứu khoa học một cách độc lập, mà luôn kết hợp với lý thuyết và thực nghiệm khoa học, hoặc là cầu nối giữa hai cách nghiên cứu truyền thống này để việc nghiên cứu hiệu quả hơn, hoặc trực tiếp đưa ra lời giải. Chính nhu cầu tính toán là động lực để phát triển những lý thuyết khoa học mới với các mô hình toán học phù hợp và sâu sắc hơn. Đặc điểm cơ bản là siêu máy tính và việc tính toán cho phép ta xem xét tất cả giả thuyết có thể có, hoặc hầu hết các giả thuyết triển vọng, đánh giá chúng và chọn ra những giả thuyết nhiều triển vọng nhất để tiến hành thực nghiệm. Với sức mạnh kỳ diệu có được trong những năm gần đây, khoa học tính toán cho phép con người hy vọng giải được những bài toán rất phức tạp trong vũ trụ bao la, sâu dưới đáy đại dương, ngầm trong lòng quả đất, những bí ẩn về sự sống, những liên kết chằng chịt của xã hội loài người, dự báo được chính xác những vật liệu nano mới với tính chất mong muốn…  Các mô hình toán học, mô phỏng, phân tích định lượng, tính toán trên các siêu máy tính không chỉ thay đổi cách con người làm khoa học và đột phá trong sáng tạo, mà còn có thể thay đổi sâu sắc nhiều ngành công nghiệp, nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường như việc giải quyết vấn nạn tắc đường, chế tạo thuốc riêng hợp với từng người bệnh, phát hiện dầu mỏ, tăng an toàn lò hạt nhân, phân tích và dự báo rủi ro của hệ thống ngân hàng…   Gần đây, khoa học và kỹ thuật tính toán (KH&KTTT, computational science and engineering), xuất hiện như một lĩnh vực liên ngành, được hiểu là việc phát triển và ứng dụng các mô hình tính toán và mô phỏng, thường gắn với các siêu máy tính để giải quyết các bài toán phức tạp trong phân tích và thiết kế kỹ thuật cũng như với các hiện tượng tự nhiên [5], [8].  Nếu như KH&KTTT đang trở thành vấn đề thời sự của nhiều quốc gia, của giới khoa học và công nghệ trên thế giới, thì câu chuyện này đang còn im ắng ở ta, dù lâu nay nhiều người làm nghiên cứu khoa học cần đến máy tính mạnh vẫn âm thầm mơ ước.          Hơn 30 năm trước, chúng ta đã làm nhiều tính toán khoa học trên máy tính lớn ODRA, MINSK        Việc dùng máy tính mạnh để giải quyết các bài toán khoa học hoàn toàn không mới mẻ ở ta. Thuở ban đầu khi máy tính đến Việt Nam vào năm 1967 với MINSK 22, rồi ODRA 1304, MINSK 32 ở miền Bắc, và IBM 360-20, 30, 40, 50 ở miền Nam, chúng ta đã dùng các máy tính này chủ yếu cho các tính toán khoa học như dự báo thời tiết, thăm dò địa chất, tính dòng chảy sông ngòi… dù công suất tính toán của các máy lớn lúc đó có còn thấp hơn nhiều máy tính nhỏ hiện nay. Bước ngoặt lớn đến với nền tin học non trẻ của chúng ta khi các máy tính cá nhân (PC) với các bộ vi xử lý xuất hiện vào đầu những năm 1980, cuốn giới tin học của ta vào “vi tính”. Rồi những năm 1990 internet được đón chào nồng nhiệt ở Việt Nam, chúng ta trở thành một nước có internet phát triển rất nhanh.   Hai thành tựu kỳ diệu này đã nhanh chóng đi vào vào mọi ngóc ngách của cuộc sống và đưa tin học, ít lâu sau được gọi tên mới công nghệ thông tin (CNTT), cùng các thành tựu của truyền thông, thành một phần không thể thiếu của hầu hết hoạt động trong xã hội Việt Nam. Bên cạnh cái được thì điều cần nhận biết là “văn hoá” CNTT của ta hầu như bị chi phối hoàn toàn bởi các máy tính cá nhân và internet. Siêu máy tính và các việc làm trên chúng dường như bị lãng quên hoặc không được chú ý đến. Từ thời kỳ đổi mới đến nay, ngoài các máy tính cá nhân, Việt Nam hầu như thiếu mất mấy thế hệ máy tính, như các trạm làm việc (workstations), các hệ máy mini (minicomputer), các hệ máy chùm (clusters), các siêu máy tính (supercomputer)… để giải quyết các vấn đề khoa học và kỹ thuật trong các đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam.   Nhìn rộng trên cả nước, nhiều bài toán ở mức quốc gia cần đến tính toán lớn dường như chưa được đặt ra hoặc chưa được nhìn nhận sâu sắc trong các chương trình khoa học, công nghệ, và kỹ thuật trọng điểm của nhà nước. Được tiếng là một nước nhiều người giỏi toán, nhưng ta như thiếu biết bao những người giỏi toán dùng máy tính để tính toán được những điều đất nước thật cần. Giới khoa học vẫn chủ yếu cặm cụi trên những chiếc máy tính cá nhân. Không có máy tính mạnh, những kỹ thuật mô phỏng, phần rất sôi động của khoa học và kỹ thuật thế giới hai thập kỷ qua, dường  như chưa được phát triển ở ta. Nói một cách hình ảnh ở một đất nước đã  quen với chiến tranh và nếu ví những người làm khoa học, kỹ thuật của ta  như bộ đội còn các hoạt động khoa học và công nghệ như các trận đánh, thì đội quân khoa học và công nghệ ấy tuy rất đông nhưng hầu như chỉ đang đánh các trận nhỏ của các tiểu đội, trung đội với vũ khí bộ binh, mà chưa có các trận đánh lớn hiệp đồng quân binh chủng ở cấp sư đoàn, quân đoàn với cả xe tăng, pháo binh, không quân… cho các mục tiêu lớn hơn.    Một vài bài học kinh nghiệm          Đánh giá an toàn lò hạt nhân câfần nhiêfều tính toán phức tạp        Tuy chưa có máy tính lớn để làm việc trong nước, một số nhà nghiên cứu của ta thông qua hợp tác quốc tế đã dùng siêu máy tính ở nhiều nước để thực hiện các tính toán trong nghiên cứu của mình, nhất là các anh chị làm tính toán trong vật lý, hoá học và vật liệu mới. Nhiều nghiên cứu sinh trẻ đào tạo ở nước ngoài trong những năm qua cũng quen thuộc với việc làm nghiên cứu trên các siêu máy tính hoặc các hệ máy chùm. Tại hội thảo quốc tế “Hạ tầng tính toán hiệu năng cao bền vững cho Việt Nam và hợp tác xây dựng lưới tính toán quốc gia” do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 8/11/2012 tại Hà Nội, chúng tôi đã chia sẻ những bài học sau nhiều năm nghiên cứu về mô hình vật liệu, hoá lượng tử, tin sinh học với các siêu máy tính tại Đại học Oxford (Anh), Đại học Leuven (Bỉ), Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (Nhật), và trong hợp tác với các đồng nghiệp ở Việt Nam [6]:  1.    Rất nhiều bài toán liên ngành có bản chất khoa học phức tạp chỉ có thể giải quyết được nhờ tính toán hiệu năng cao. Thí dụ như bài toán chúng tôi đang tham gia về đánh giá độ an toàn dài hạn của lò phản ứng nhiệt hạch (fusion) trong các điều kiện khắc nghiệt (tương tác vật liệu và plasma, bức xạ mạnh gây ra bởi neutron). Cần nhấn mạnh đây là nhà máy điện tương lai sử dụng năng lượng từ nguyên lý phản ứng hạt nhân nhiệt hạch (tương tự năng lượng mặt trời) dựa trên phản ứng tổ hợp giữa các đồng vị của hydrogen, do vậy sẽ tránh được những rủi ro ảnh hưởng tới môi trường do phóng xạ xảy ra ở những nhà máy điện hạt nhân dựa theo nguyên lý phân hạch (fission). Đây là bài toán rất phức tạp, được mô hình từ sự kết hợp các vật liệu và nguyên tử ở nhiều bước đo về thời gian và độ dài với tính toán chi tiết bởi các chương trình được xây dựng trên các siêu máy tính tại Daresbury, Juelich và IFERC tại Rokkasho. Lúc này ở ta cũng có nhiều bài toán quan trọng cần giải quyết có độ phức tạp cỡ như bài toán này ở mức độ nhiều tỷ lệ (multi scaling) của không gian và thời gian. Thí dụ như việc tính toán và đánh giá sự an toàn bên trong các nhà máy điện nguyên tử dựa trên sơ sở các phản ứng hạt nhân phân hạch dự kiến sẽ được xây dựng ở Việt Nam. Những bài toán phức tạp này chỉ có thể được giải quyết bằng tính toán hiệu năng cao cũng như dựa trên hợp tác quốc tế.  2.    Hiệu quả việc sử dụng siêu máy tính trong KH&KTTT phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đặc biệt là con người. Số phép tính mỗi giây của mỗi máy tính là một con số lý thuyết, còn khi tính toán việc ta đạt được bao nhiêu phần của các con số này phụ thuộc rất nhiều vào sự phù hợp của bản chất bài toán với đặc tính của các siêu máy tính. Hiệu suất sử dụng các siêu máy tính còn đặc biệt phụ thuộc vào đội ngũ chuyên gia khoa học và kỹ thuật, kỹ năng của người sử dụng, cũng như khả năng xây dựng các chương trình máy tính hiệu quả và thông minh. Khi thử trên một máy mới với nhiều bộ xử lý hơn, do chưa làm chủ được kỹ thuật nên thời gian tính toán của chúng tôi còn cao hơn khi tính trên một máy tính tuy yếu hơn nhiều nhưng đã quen hơn. Các siêu máy tính cũng thường xuyên hỏng hóc, đòi hỏi chế độ chăm sóc đặc biệt. Thí dụ SGI ALTIX UV 1000 Intel Xeon(R) 2.0GHz, 18M, 6.4GT/s, 128 cores, 128GB memory tại JAIST thường bị hỏng và phải chỉnh sửa trung bình hai tuần một lần.  3.    Thế hệ trẻ là người của khoa học và kỹ thuật tính toán và bạn bè quốc tế luôn bên ta. Trong những năm qua chúng tôi đã tham gia tổ chức một số hội nghị quốc tế ở Việt Nam về hoá học tính toán, vật liệu tính toán, tin sinh học, và tham gia xây dựng các trung tâm khoa học tính toán ở Đại học Sư phạm Hà Nội, trung tâm quốc tế về khoa học vật liệu tính toán ở Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Có thể nói các hoạt động trên đã mở đường cho nhiều bạn trẻ trong nước bước vào KH&KTTT. Ngoài ra, nhiều bạn bè quốc tế cũng đã luôn nhiệt tình giúp chúng ta trong hoạt động khoa học như các giáo sư Y. Kawazoe (Nhật), M.C. Lin (Taiwan), hay về định hướng phát triển KH&KTTT như tiến sĩ Denis Perret-Galix (Pháp). Có thể nói, để bắt đầu con đường KH&KTTT nhiều triển vọng và đầy thách thức, nhiệt huyết của tuổi trẻ và tấm lòng bạn bè quốc tế là những yếu tố hết sức quan trọng.  Một số bài toán và lĩnh vực cần đến KH&KTTT  Rất nhiều lĩnh vực và bài toán về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng cần đến KH&KTTT. Thí dụ như một số được kể ra ở đây:  1.    Phòng chống thảm hoạ thiên nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: Đây là những việc như cần biết thiên tai sẽ xảy ra thế nào và khi nào, dự báo lũ lụt, mô phỏng biển, sói lở đất đai… Chẳng hạn ta rất cần  biết chính xác lũ lụt ở các tỉnh miền Trung có khả năng xảy ra từng ngày thế nào trong mùa mưa. Hiện nay nhiều cơ sở nghiên cứu của ta thường dùng các phần mềm miễn phí chạy trên máy cá nhân PC để đánh giá dòng chảy của một đoạn sông hay đoạn bờ biển và tình trạng ngập lụt ở khu vực quanh đó. Có đề tài nhà nước ở một viện nghiên cứu lớn xây dựng bản đồ tĩnh cho ta thấy thông tin lũ lụt đã xảy ra trong một số năm của quá khứ ở miền Trung. Điều ta thực sự cần là một hệ thống trên máy tính cho phép tính toán, hiển thị và dự đoán chính xác mức độ lũ lụt sẽ xảy ra từng ngày, từng giờ sắp tới trên mọi khu vực của miền Trung. Đây là một việc chúng ta có thể làm, chỉ chúng ta làm, và chỉ làm được với KH&KTTT, dù phải làm lâu dài nhưng hoàn toàn xứng đáng với một chương trình quốc gia để theo đuổi. Bài toán này cũng giống bài toán do Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra, “Nghiên cứu về tình trạng ngập lụt, triều cường, xả lũ của thành phố”.  2.    Đánh giá sự cố rủi ro của các hệ thống lớn như các lò hạt nhân, nhà máy thuỷ điện, hệ thống ngân hàng… Rủi ro luôn là mối lo của mọi người nhất là khi ta chưa có khả năng và biện pháp tốt để chống rủi ro cho các công trình lớn. Rủi ro cao nếu hệ thống càng phức tạp và tính bất định càng cao, phụ thuộc nhiều yếu tố (tham số). Để đánh giá được rủi ro luôn cần những lượng tính toán khổng lồ. Trong kế hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam, việc đánh giá các rủi ro như bài toán chúng tôi đề cập ở trên cũng là một việc cần làm và có thể làm với KH&KTTT.  3.    Khoa học về sự sống: Sinh học phân tử và y học là những lĩnh vực trung tâm của khoa học về sự sống và khoa học thế kỷ 21. Việc phân tích các nguồn dữ liệu omics rất lớn có từ nghiên cứu về genes (genomics), về protein (proteomics) và các quá trình trao đổi chất (metabolomics) đang mở ra nhiều khả năng to lớn cho khoa học về sự sống. Nhiều bài toán quan trọng chúng ta có thể theo đuổi với đóng góp của KH&KTTT, như dự đoán và cảnh báo việc phát tán các bệnh truyền nhiễm, tìm cách chống bệnh sốt rét, chế thuốc chống các bệnh truyền nhiễm, bệnh nhiệt đới…   4.    Khoa học vật liệu và công nghệ nano: Chẳng hạn việc phát triển các mô hình vật liệu nhiều tỷ lệ, từ việc dùng những chương trình và thuật toán tiên tiến dựa trên cơ học lượng tử để hiểu các cấu trúc nano đến các ứng dụng kỹ thuật. Đây là lĩnh vực chúng ta có nhiều chuyên gia như các nhóm nghiên cứu tại Viện Vật Lý (Viện KH&CNVN), ĐHQGHN và ĐHQGHCM… cũng như sự hợp tác của nhiều nhà khoa học người Việt ở nước ngoài.  5.    Tính toán tài chính: Tính toán tài chính định lượng là một lĩnh vực đang được quan tâm ở nhiều cơ sở nghiên cứu ở Việt Nam. Lĩnh vực này liên quan đến những tính toán phức tạp như quản lý rủi ro trong đầu tư và thị trường, dự đoán và mô phỏng các kịch bản và phương án kinh tế. Hệ thống ngân hàng luôn phải đối mặt với những rủi ro về lạm phát, thị trường, lãi suất, hối đoái, tái đầu tư, tác nghiệp, tín dụng, thanh khoản và đặc biệt là rủi ro chính sách. Để đánh giá và dự đoán các rủi ro trong một hệ thống như vậy, cần những mô hình tốt, dữ liệu lớn [7] và những tính toán phức tạp trong thời gian hạn chế trên các siêu máy tính.  Trên đây chỉ là vài lĩnh vực và bài toán tiêu biểu của KH&KTTT. Có thể nói KH&KTTT có thể có mặt và góp phần thay đổi với hiệu quả cao hơn trong hầu hết các vấn đề quan trọng của kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng.   Một vài ý kiến  Mặc dù KH&KTTT có vai trò rất lớn trong phát triển đất nước, việc chúng ta phát triển KH&KTTT thành công hay thất bại tuỳ thuộc vào nhiều điều, trước hết là con người từ những nhà quản lý cấp cao nhất đến những người trực tiếp thực hiện việc tính toán. Chúng tôi có một số ý kiến sau góp vào việc để ta có những nhìn nhận đúng cho việc định hướng phát triển lĩnh vực này:         Việc phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán là cấp bách nhưng quan  trọng hơn phải tiến hành một cách đúng đắn dựa trên tầm nhìn, chiến  lược, lộ trình và đầu tư kinh phí hợp lý. Phải trước hết chú trọng yếu  tố con người, không phải việc mua máy tính. Đặc biệt phải tuyệt đối  tránh các chuyện chạy dự án mua máy tính, nhưng chưa rõ làm gì và ai  làm.         1.    Ta phải nhận thức sâu sắc rằng KH&KTTT là chìa khoá chính yếu cho phép thực hiện các giải pháp liên ngành để giải quyết các bài toán lớn của đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng. Máy tính và công nghệ thông tin đã thay đổi sâu sắc xã hội và cuộc sống chúng ta. Máy tính cá nhân đã trở thành công cụ lao động quan trọng bậc nhất của nhiều người, nhưng không đủ sức mạnh dùng cho các nghiên cứu khoa học và kỹ thuật phức tạp cũng như để giải quyết nhiều vấn đề lớn ở mức quốc gia. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, đã trễ nhiều chuyến tàu khoa học và công nghệ. Không thể đánh mất thêm một lần nữa cơ hội của KH&KTTT.  2.    Việc phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán là cấp bách nhưng quan trọng hơn phải tiến hành một cách đúng đắn dựa trên tầm nhìn, chiến lược, lộ trình và đầu tư kinh phí hợp lý. Phải trước hết chú trọng yếu tố con người, không phải việc mua máy tính. Đặc biệt phải tuyệt đối tránh các chuyện chạy dự án mua máy tính, nhưng chưa rõ làm gì và ai làm.   3.    Bốn yếu tố cần cân đối một cách hài hoà trong phát triển khoa học và kỹ thuật tính toán là: (i) Nhân lực, (ii) Những bài toán lớn của đất nước cần đến vai trò thiết yếu của khoa học và kỹ thuật, (iii) Các hệ siêu máy tính, (iv) Kinh phí đầu tư cho các đề tài nghiên cứu.  4.    Phải bắt đầu bằng việc đào tạo nhân lực cho con đường dài của KH&KTTT vì đây là yếu tố quyết định thành bại của phát triển KH&KTTT ở Việt Nam. Phải sớm thiết kế và khởi động các chương trình đào tạo chuyên ngành về KH&KTTT cũng như đưa KH&KTTT vào các chương trình đào tạo ở các ngành sinh, lý, hoá, khoa học vật liệu… Cần đào tạo nhân lực cho KH&KTTT ngay trong nước ở cả bậc cao học và tiến  sĩ.    5.    Phải xác định và có các chương trình nhà nước để theo đuổi các bài toán lớn và quan trọng cho sự phát triển đất nước dựa trên KH&KTTT, bên cạnh việc đẩy mạnh các đề tài nghiên cứu khoa học dựa trên KH&KTTT ở các đại học và cơ quan nghiên cứu. Phải chú trọng đến các giải pháp đa ngành, đa lĩnh vực cho nhiều bài toán lớn của đất nước trong đó KH&KTTT đóng vai trò cốt yếu.        Cần xây dựng một vài trung tâm xuất sắc với những người đầu ngành ở  trình độ quốc tế, có chú trọng mời các chuyên gia người Việt ở nước  ngoài qua các dạng ‘phòng thí nghiệm vệ tinh’ (satellite labs) để triển  khai các hướng đi ban đầu trong nghiên cứu…        6.    Về hạ tầng cơ sở của KH&KTTT, trong những năm tới đây phải xây dựng các trung tâm KH&KTTT ở các cơ sở khoa học và giáo dục. Tuyệt đối không mua máy lớn hơn nhu cầu sử dụng vì tỷ lệ giá thành trên hiệu năng của máy giảm rất nhanh. Cần hợp tác để liên kết các trung tâm trong KH&KTTT thành các lưới tính toán để nâng cao sức mạnh tính toán chung. Cần xây dựng một vài trung tâm xuất sắc với những người đầu ngành ở trình độ quốc tế, có chú trọng mời các chuyên gia người Việt ở nước ngoài qua các dạng ‘phòng thí nghiệm vệ tinh’ (satellite labs) để triển khai các hướng đi ban đầu trong nghiên cứu…   7.    Cần bắt đầu các đề tài KH&KTTT có kích thước phù hợp với lực lượng và bài toán cần giải với chú ý là hầu hết các hệ máy tính đều có thể tăng dần kích thước. Phải đầu tư kinh phí thích đáng để thúc đẩy và khuyến khích các đề tài về KH&KTTT, đặc biệt ở giai đoạn đầu (qua chương trình của các Trường, Bộ, Nafosted…).   8.    Phải tận dụng tốt hợp tác quốc tế cho phát triển KH&KTTT, trong đó có các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài. Chúng ta không thể để lỡ chuyến tàu KH&KTTT cũng như không thể một lần nữa thất bại trong việc thu hút nhân tài ở nước ngoài cho việc phát triển KH&KTTT.  Đi trên con đường dài  Hội thảo quốc tế về cơ sở hạ tầng của tính toán hiệu năng cao ngày 8/11/2012 ở Hà Nội là một sự kiện quan trọng, là buổi gặp gỡ đầu tiên của các đại biểu trong Nam ngoài Bắc bàn về việc phát triển KH&KTTT của chúng ta. Trước thời gian này, để định hướng cho đơn vị mình, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức điều tra thực trạng và nhu cầu tính toán hiệu năng cao tại các đơn vị cơ sở của mình. Đây thực sự là những việc làm đúng, cần thiết và tích cực trên con đường dài của KH&KTTT.   Từ các cấp quản lý nhà nước đến các cơ sở nghiên cứu khoa học và các doanh nghiệp lớn, chúng ta cần có nhìn nhận sâu sắc hơn về những gì KH&KTTT có thể làm được trong sự phát triển đất nước, để từ đó có chính sách, đầu tư kinh phí và hành động cho những dự án liên ngành hướng đến các vấn đề lớn của quốc gia.   Và luôn nhìn KH&KTTT là một con đường dài ở đó ta phải có lộ trình và sự nhấn mạnh vai trò quyết định của con người.   Lời cám ơn  Các tác giả chân thành cám ơn đồng nghiệp Hoàng Dũng (ĐH Quốc gia Hồ Chí Minh), Phạm Thọ Hoàn và Nguyễn Thị Minh Huệ (ĐH Sư phạm Hà Nội), Thân Quang Khoát và Trương Vĩnh Trường Duy (JAIST), Nguyễn Việt Cường (HPC Systems Inc.) về những trao đổi và hợp tác về Khoa học và Kỹ thuật Tính toán.  ——  * Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản  ** Trung tâm John von Neumann, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  *** Trung tâm Năng lượng Nhiệt hạch Culham và Đại học Oxford, Vương quốc Anh  **** Đại học Leuven, Vương quốc Bỉ  Tài liệu tham khảo và chú giải  1.    Top 500 supercomputers http://www.top500.org  2.    Tính toán hiệu năng cao (high performance computing) đại thể là việc dùng các kỹ thuật và hệ máy tính lớn để giải các bài toán đòi hỏi lượng tính toán rất lớn vốn không giải được trên các máy tính thông thường. Máy tính dùng cho tính toán hiệu năng cao gồm hai loại chính: máy tính chính (mainframe) được chế tạo cho các vấn đề tính toán đa nhiệm, không nhất thiết dùng các bộ xử lý mạnh nhưng cần làm việc với lượng dữ liệu lớn bên ngoài (ngân hàng, giao dịch thương mại, cơ sở dữ liệu quốc gia…), và siêu máy tính (supercomputer) được chế tạo dựa vào việc dùng song song nhiều bộ xử lý mạnh cho các nhu cầu tính toán khoa học phức tạp với rất nhiều phép tính cần thực hiện ở bộ nhớ trong máy tính (như dự báo thời tiết, mô phỏng khoa học,..). Các siêu máy tính cũng rất đa dạng, từ những máy “siêu mạnh” trong danh sách 500 máy hàng đầu với hàng trăm nghìn bộ xử lý [4], đến các hệ cluster hàng chục, hàng trăm bộ xử lý và các loại mạng của chúng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển năng lượng gió – kinh nghiệm của một số nước      Năng lượng gió: Mới và đầy sức sống Mặc dù điện gió bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có (Hình 1). Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua.                             Năng lượng gió: Mới và đầy sức sống  Mặc dù điện gió bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có . Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua.   Đầu tiên phải kể đến những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá đã giúp giảm giá thành điện gió xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả và độ tin cậy của các trạm điện gió. Cụ thể là nếu như vào năm 1990, công suất trung bình của một trạm điện gió ở Đan Mạch và Đức chỉ vào khoảng 200 KW, thì đến năm 2002 đã lên tới 1,5 MW và hiện nay các nước này đang phát triển các tuốc bin lớn cỡ 5-10 MW nhằm phát triển các trạm điện gió trên thềm lục địa. Hiệu quả của các trạm điện gió này cũng được cải thiện từ 2 đến 3% mỗi năm, góp phần vào việc giảm 30% giá thành điện gió trong vòng 12 năm.1                       Một lý do quan trọng nữa giải thích sự phát triển đột biến của điện gió trong 10 năm trở lại đây là nguy cơ khủng hoảng năng lượng của các nước đã phát triển. Bên cạnh đó, mối quan tâm ngày càng cao của các nước này về bảo vệ môi trường đã tiếp thêm sức mạnh cho những nỗ lực tìm kiếm các dạng năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, trong đó điện gió hiển nhiên là một ứng cử viên sáng giá.  Trong các nước chủ trương phát triển năng lượng gió, Đức vẫn là nước dẫn đầu với công suất vào cuối năm 2004 lên tới 16.649 MW, chiếm hơn 30% tổng công suất điện gió của thế giới. Ngay sau Đức là Tây Ban Nha và Mỹ lần lượt chiếm 19% và 16% tổng công suất điện gió thế giới. Một điều đáng lưu ý là không chỉ các nước đã phát triển mà cả một số nước đang phát triển (đặc biệt là những nước đông dân như Ấn Độ và Trung Quốc) cũng quyết định đầu tư để phát triển điện gió. Trong phần dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm phát triển điện gió của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, và Philippin là ba nước có trình độ phát triển không quá cách biệt đối với Việt Nam.                   Các bài học của Ấn Độ, Trung Quốc và Philippin  Ấn Độ  Ấn Độ là một trong hai nước đang phát triển nằm trong Top 10 nước dẫn đầu về công suất điện gió (nước còn lại là Trung Quốc). Năm 2004, công suất điện gió tăng thêm của Ấn Độ đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau CHLB Đức, Tây Ban Nha, đứng trên cả Anh và Mỹ. Các nỗ lực này đã đưa Ấn Độ vươn lên hàng thứ năm trên thế giới về công suất                    Tính đến tháng 3/2005, công suất điện gió của Ấn Độ đạt mức 3.595 MW, và chỉ riêng trong năm 2004 Ấn Độ đã lắp đặt mới được 1.112 MW, đạt mức tăng trưởng 45%. Nếu lấy năm 2000 làm mốc, khi Ấn Độ mới chỉ có 1.220 MW điện gió, thì chỉ sau 5 năm,  công suất điện gió của Ấn Độ đã tăng lên 3 lần.   Năm 1980 đánh dấu bước khởi đầu của chiến lược phát triển năng lượng gió của Ấn Độ khi Cơ quan Nguồn năng lượng (sau chuyển thành Bộ Năng lượng) của nước này được thành lập nhằm mục đích đa dạng hóa nguồn năng lượng để phục vụ cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng bình quân của Ấn Độ trong 10 năm qua là khoảng 6-7 %/năm). Cơ quan này đã tiến hành nghiên cứu, xác định, và triển khai các dự án năng lượng gió và sau đó đưa vào kinh doanh. Chính phủ Ấn Độ cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho dự án. Các công ty công nghiệp và thương mại, đặc biệt là các công ty tư nhân, đã tận dụng những ưu đãi này của nhà nước để tiến hành đầu tư một cách mạnh mẽ. Kết quả là các công ty này (trong đó 97% là các công ty tư nhân) đã tự sản xuất được các bộ phát điện, và hơn thế, một số nhà sản xuất đã có thể bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình.   Bài học của Ấn Độ cho thấy một khi có chính sách khuyến khích đúng đắn, kết hợp với những nghiên cứu kỹ thuật công phu và định hướng chính sách phát triển rõ ràng của nhà nước thì các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân năng động, sẽ mạnh dạn đầu tư và phát triển thị trường điện gió một cách tương đối hiệu quả mà không cần sự can thiệp và đầu tư lớn của nhà nước. Nếu như các nguồn năng lượng thủy điện và hạt nhân đòi hỏi mức độ đầu tư ban đầu rất lớn và tiềm tàng mức độ ảnh hưởng ngoại tác (externality) cao, và vì vậy thường đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, thì các trạm điện gió có quy mô vừa phải hoàn toàn nằm trong tầm với của các nhà đầu tư tư nhân. Tất nhiên, nhà nước cần tạo cơ sở và hành lang pháp lý cũng như có những biện pháp kiểm tra, giám sát cần thiết để đảm bảo những đầu tư của khu vực tư nhân không đi ngược lại lợi ích của xã hội và cộng đồng.   Trung Quốc  Với một bờ biển dài, Trung Quốc là một quốc gia có nhiều tiềm năng về năng lượng gió. Dự án điện gió thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc được bắt đầu từ năm 1986. Trong 20 năm qua, tận dụng các khoản viện trợ nước ngoài và các khoản vay lãi suất thấp, Trung Quốc đã phát triển thêm nhiều khu điện gió, hòa mạng vào lưới điện quốc gia. Năm 1994, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Điện của Trung Quốc đã ra quyết định đẩy mạnh phát triển năng lượng gió – một quyết định hết sức khó khăn. Lý do là vì vào thời điểm đó, năng lượng gió trên thế giới vẫn chưa phát triển, đồng thời nhiệt điện than khá rẻ và vẫn còn tương đối dồi dào. Hiểu được điểm yếu này của điện gió so với các nguồn năng lượng truyền thống khác, Bộ Năng lượng của Trung Quốc đã định hướng phát triển điện gió thông qua việc giảm giá thành bằng cách phát triển những dự án quy mô lớn, đồng thời địa phương hóa các nhà máy sản xuất tuốc-bin gió. Chính quá trình địa phương hóa các nhà máy sản xuất tuốc-bin đã góp phần quyết định vào việc giảm giá thành, đồng thời giúp phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa nhờ đảm bảo cung ứng điện ổn định, tăng nguồn thu thuế và tạo thêm công ăn việc làm cho địa phương.   Với tiền đề chính sách đúng đắn đó, thị trường điện gió ở Trung Quốc được hình thành, và đến cuối năm 2004 Trung Quốc đã có 43 khu điện gió với tổng công suất là 850 MW. Trong năm 2005, có thêm 450 MW được đưa vào vận hành. Hướng tới tương lai xa hơn, chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020, công suất điện gió của nước này sẽ tăng lên tới 20.000 MW, tức là gấp 20 lần công suất hiện tại.                     Philippin  Trong thập kỷ tới, Philippin có triển vọng trở thành quốc gia dẫn đầu về năng lượng gió trong khu vực Đông Nam Á. Một sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và thành phần kinh tế tư nhân được xác lập với mục tiêu đạt công suất tối thiểu là 417 MW điện gió trong vòng 10 năm tới. Dựa vào những nghiên cứu của phòng thí nghiệm quốc gia về năng lượng tái tạo, Philippin quy hoạch một khu vực được đánh giá là rất tốt để phát triển năng lượng gió với diện tích lên tới 10.000 km2 cho dự án phát triển điện gió. Theo tính toán, tiềm năng về công suất gió của khu vực này lên tới hơn 70.000 MW, có thể cung cấp khoảng 195 tỷ kWh mỗi năm. Các nghiên cứu triển khai cho dự án này hiện vẫn đang được tiếp tục và bước đầu đưa vào thực tế.  Các dự báo về tốc độ phát triển của năng lượng gió của nhiều nước trên thế giới thường xuyên phải điều chỉnh để phản ánh chính xác hơn tốc độ tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp điện gió. Có lẽ chúng ta sẽ được chứng kiến sự được đóng góp tích cực của ngành công nghiệp điện gió một cách toàn diện vào đời sống kinh tế – chính trị thế giới trong một tương lai không xa.   Vũ Thành Tự Anh – Đàm Quang Minh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam      Rất nhiều chuyên gia cho rằng, để phát triển điện tái tạo, Việt Nam nên tạo cơ hội cho những nhà đầu tư tư nhân thay vì để EVN nắm độc quyền toàn bộ thị trường điện như trước. Nhưng bằng cách nào? Tia Sáng đã có một buổi trao đổi với anh Tobias Cossen, Trưởng dự án Hỗ trợ Mở rộng Quy mô Điện gió tại Việt Nam/Chương trình Hỗ trợ Phát triển Năng lượng của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) tại Việt Nam.      Thi công nhà máy điện gió ở Bạc Liêu.  Điện gió: đã có nhưng khó hoạt động  Theo anh, tiềm năng điện gió của Việt Nam như thế nào, và để dễ hình dung, nó có thể chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng sản lượng điện quốc gia?  Tiềm năng điện gió của Việt Nam là rất lớn do Việt Nam có đường bờ biển dài. Theo nghiên cứu bản đồ gió của World Bank thì công suất lắp đặt của điện gió ở Việt Nam vào khoảng 501 GW (để dễ so sánh, công suất của nhà máy Thủy điện Hòa Bình, nguồn cung cấp điện chính cho toàn miền Bắc chỉ vào khoảng hơn 1 GW). Tỉ trọng của điện gió so với tổng sản lượng điện quốc gia chỉ phụ thuộc vào việc các bạn xác định mục tiêu phát triển điện gió là bao nhiêu.  Tuy nhiên, để đánh giá chính xác tiềm năng, cần phải tính toán đến cả những yếu tố về thị trường nữa. Chẳng hạn như ở Nhật Bản, họ có rất ít tài nguyên cho năng lượng, người dân phải trả rất cao cho giá điện nhưng đây vẫn là một nơi rất hấp dẫn để các nhà đầu tư bỏ tiền vào các dự án điện, bởi vì Chính phủ Nhật có cơ chế đảm bảo rằng, các nhà đầu tư sẽ không bao giờ phá sản khi đầu tư vào lĩnh vực này.  Theo Quy hoạch điện VII, chính phủ có đưa ra mục tiêu đến năm 2020, công suất điện gió của Việt Nam là 800MW. Điều này có khả thi hay không?  Chúng tôi đã tham gia tư vấn cho rất nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ, chẳng hạn như Lào hay Campuchia, họ nói rằng họ muốn phát triển năng lượng tái tạo, nhưng tất cả chỉ thế thôi, họ không đi sâu vào chi tiết. Còn Chính phủ Việt Nam không chỉ nói rằng chúng tôi muốn có năng lượng tái tạo mà còn đề ra mục tiêu vào năm 2020, công suất lắp đặt của điện gió Việt Nam là 800 MW. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng đó là một mục tiêu tham vọng bởi vì bây giờ con số đó mới chỉ là 160 MW.    Quy hoạch điện VII đối với năng lượng tái tạo của Việt Nam.  Để tạo ra một thị trường thúc đẩy năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, là một vấn đề rất phức tạp. Đức phải mất 20 năm để có thể đạt tới ngày hôm nay. Nếu tôi là Chính phủ Việt Nam, tôi sẽ dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng những gì mình đang có, xác định mình muốn gì, muốn theo mô hình của nước nào và làm thế nào để áp dụng mô hình này vào Việt Nam. Nhiều người nghĩ rằng họ có thể sao chép mô hình của Thái Lan hoặc Philippines và áp đặt vào Việt Nam. Nó sẽ không hiệu quả, đặc biệt là bối cảnh chính trị của Việt Nam hiện giờ rất khác họ.  Hiện nay GIZ đang tư vấn cho Tổng cục Năng lượng/ Bộ Công Thương những kịch bản mà Việt Nam có thể theo đuổi, đồng thời tìm phương án tốt nhất để triển khai tại Việt Nam.  Anh có biết cơ sở nào để Chính phủ Việt Nam đưa ra con số 800MW đó không?  Con số đó được đưa ra bởi các cơ quan chức năng của Việt Nam, đó không phải là nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi có thể làm điều đó nhưng nhiệm vụ của dự án này (dự án Mở rộng Quy mô Điện gió tại Việt Nam – Up-scaling wind energy project) chỉ là hỗ trợ Chính phủ Việt Nam mở rộng quy mô của năng lượng gió.  Dự án đầu tiên về điện gió của chúng tôi bắt đầu vào năm 2009 và kết thúc năm 2011. Năm 2011 giá bán điện gió2 (feed in tariff) được ban hành, với mỗi kWh điện gió kết nối với lưới điện quốc gia, người bán sẽ nhận được một khoản tiền là 7.8 US cent/kWh. Chúng tôi gợi ý một con số cao hơn để khuyến khích khối tư nhân tham gia đầu tư vào điện gió. Vì sao ư? Bởi vì có lẽ ai cũng đồng ý với quan điểm rằng, sẽ thật khó khăn cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khi cứ mãi độc quyền trên thị trường và làm tất cả mọi thứ như hiện nay. Họ đã quá tải rồi và trách nhiệm cũng nên được san sẻ.  Một vấn đề khác nữa là quy trình, giấy phép cần thiết để triển khai một dự án điện gió. Các dự án xây dựng nhà máy điện gió với công suất lắp đặt tối đa là 30 MW sẽ cần phải xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh. Nếu với công suất lớn hơn, dự án phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, đã có khung quy định chung về phát triển đầu tư dự án, tuy nhiên, mỗi tỉnh lại áp dụng một cách khác nhau thành ra quy trình thủ tục mất rất nhiều thời gian và có lúc không được rõ ràng và mình bạch. Mới đây, với sự cộng tác chặt chẽ của Tổng cục Năng lượng và các Sở Công Thương cũng như các bên liên quan, cuốn sổ tay Hướng dẫn Phát triển và Đầu tư Điện gió tại Việt Nam đã được xây dựng và ban hành. Với nỗ lực này, chúng tôi hy vọng giúp các nhà đầu tư và phát triển dự án có thông tin đầy đủ và rõ ràng hơn.  Như anh vừa nói thì giá bán điện gió là rất thấp, vậy tại sao trên thực tế vẫn có những nhà đầu tư chấp nhận đầu tư vào lĩnh vực này?  Nếu bạn nói về những người đầu tư điện gió ở Việt Nam, bạn nên nhớ hiện nay chỉ có bốn nhà máy điện gió đã hoạt động ở Việt Nam chứ không phải là hàng trăm nhé: REVN, nhà máy điện gió đầu tiên ở Việt Nam; Công Lý, nhà máy lớn ở phía Nam và Phú Lạc, được đầu tư bởi Ngân hàng Tái thiết Đức và một dự án rất nhỏ không nối lưới trên đảo Phú Quý. Bốn dự án đang được hưởng những chính sách giá và cơ chế ưu đãi rất khác nhau. Chẳng hạn như dự án Phú Lạc, EVN là nhà đầu tư nắm phần lớn cổ đông và nhận được vốn ưu đãi từ Chính phủ Đức, có giá bán điện thực chất là 6.8 US cent/kWh (theo kì vọng, họ được bán với giá 7.8 US cent/kWh với 1 US cent hỗ trợ từ chính phủ nhưng cuối cùng họ không nhận được hỗ trợ này) còn dự án Công Lý có giá bán điện là 9.8 US cent/kWh (trong khi thời kỳ đầu là 7.8 US cent/kWh)  Nhưng tôi biết, hiện nay, có rất nhiều người muốn đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, họ vẫn chờ đợi những cơ chế ưu đãi rõ ràng hơn từ chính phủ.  Điều gì là khó khăn lớn nhất trong việc tạo ưu đãi cho những người đầu tư vào điện gió hiện nay ở Việt Nam?  Khó khăn lớn nhất vẫn là xác định đúng giá bán điện gió. Có ba mức giá bán điện gió: trên bờ, gần bờ và xa bờ. Trên bờ hiện nay là 7.8 US cent/kWh và gần bờ là 9.8 US cent/kWh. Điều quan trọng là làm sao để nâng giá bán điện lên một mức nào đó đủ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhưng, câu hỏi đặt ra là thế nào mới là hấp dẫn? Vả lại, cũng cần nhớ rằng Việt Nam là một nước đang phát triển nên khả năng chi trả cũng có hạn. Chúng tôi đưa ra ba trường hợp: Nếu dự án được đầu tư bằng vốn ODA, nếu bằng tiền của nhà đầu tư chiến lược và nếu bằng tiền của nhà đầu tư thương mại hoàn toàn.  Nếu dự án được đầu tư bằng vốn ODA, dĩ nhiên bạn không cần lợi nhuận cao, tỉ suất lợi nhuận mà vốn ODA đòi hỏi gần như là 0. Dự án được đầu tư bởi nhà đầu tư chiến lược cũng không đòi hỏi lợi nhuận cao vì họ đầu tư dài hạn, hàng chục năm mới cần thu lại vốn. Còn với nhà đầu tư thương mại, họ chỉ muốn bỏ tiền vào dự án trong một vài năm rồi ngay lập tức muốn bán cổ phần và thu lợi nhuận. Chúng tôi chọn lựa phương án ở giữa vì sẽ đến lúc Việt Nam không được nhận ODA nữa và do Việt Nam là một nước đang phát triển nên không để trông đợi vào việc có ai đó sẵn lòng mua điện với giá cao của nhà đầu tư thương mại.  Chúng tôi đề xuất giá bán điện sẽ vào khoảng 10.4 US cent/kWh, hiện nay thì EVN đang bán cho người dân với giá thấp hơn 10.4 US cent/kWh. Vậy thì ai sẽ trả khoản tăng thêm đó?  Chúng tôi đưa ra hai phương án, hoặc là nhà nước trợ giá toàn bộ, hoặc người dân sẽ cùng trả thêm một khoản phí, điều mà ở rất nhiều nước khác đang áp dụng. Ngoại trừ những người thu nhập thấp, mỗi hộ dân sẽ trả thêm để Việt Nam có 800MW điện gió.  Không phải là phép màu nhưng điện tái tạo sẽ giảm áp lực thiếu điện  Tỷ trọng điện gió nói riêng và điện tái tạo trong tổng sản lượng điện quốc gia là không đáng kể vì vậy nếu phải trả thêm tiền điện bây giờ sẽ có rất nhiều người phản đối, đặc biệt là các nhà máy, xí nghiệp vốn tiêu thụ rất nhiều điện.  Chúng tôi đã tính toán, với 800 MW điện gió ở Việt Nam thì giá tăng thêm cho mỗi số điện (1 kWh) chỉ vào khoảng 3.5 đồng3 (để dễ hình dung, một hộ gia đình bốn người dùng một tháng khoảng 400 số điện chỉ phải trả thêm 1,200 đồng), một con số không đáng kể.  Mùa hè năm nay, Việt Nam sẽ thiếu điện, sẽ có tình trạng mất điện ở nhiều nơi vì một số nhà máy nhiệt điện không được hoàn thiện và nối lưới như kế hoạch. Đó là tình huống EVN đang rất lo lắng. Dĩ nhiên, năng lượng tái tạo không phải là một phép màu để có thể giải quyết toàn bộ vấn đề này ngay, nhưng nếu chính phủ có chính sách khuyến khích khối tư nhân tham gia vào lĩnh vực năng lượng này thì sẽ giảm được một chút áp lực cho việc thiếu điện.  Vả lại, Việt Nam không thể theo con đường nhiệt điện nữa, bởi vì sẽ phải nhập khẩu than và than ngày càng đắt. Bạn muốn trả cho cái gì? Muốn trả cho than nhập khẩu từ Indonesia, thậm chí là Trung Quốc, hay bạn muốn trả cho năng lượng tái tạo được sản xuất ở việt Nam?  Nếu tỉ trọng điện tái tạo lớn hơn thì người dân có phải trả thêm tiền không?  Có, nhưng cũng còn phụ thuộc vào cơ chế nữa. Hiện nay điện than được nhà nước trợ giá nhưng điện tái tạo thì không. Điện than có những ưu đãi mà hiện nay điện tái tạo không có, chưa kể giá điện than không tính vào đó phí môi trường hay phí xả thải CO2. Đó là một cuộc cạnh tranh không công bằng.  Về giá điện, không thể kỳ vọng giá điện tái tạo rẻ ngay từ đầu. Nó có thể cao trong giai đoạn đầu nhưng sẽ giảm theo thời gian. Khi chính phủ và những nhà đầu tư tư nhân có nhiều kinh nghiệm hơn (chính phủ cho các nhà đầu tư một sự đảm bảo rằng họ có khả năng thu hồi vốn thì họ cũng không nóng vội đòi hỏi lợi nhuận cao. Đó là cách mà Chính phủ Đức thúc đẩy năng lượng tái tạo trong một thời gian dài), giá điện tái tạo sẽ giảm dần. Chẳng hạn như giá điện mặt trời ở Đức đã giảm khoảng 10 lần trong thập kỷ qua, thậm chí còn rẻ hơn cả điện than.  Bên cạnh bốn dự án điện gió đang hoạt động, tình hình các dự án điện mặt trời hay điện sinh khối ở Việt Nam ra sao?  Không có nhiều dự án điện sinh khối lắm và chúng chiếm một thị phần rất nhỏ so với điện gió và điện mặt trời. Chính phủ Việt Nam cũng ban hành giá bán điện sinh khối nhưng vẫn quá thấp nên các dự án này không thấy có lãi.  Hiện nay chỉ có một dự án điện mặt trời nhưng công suất lắp đặt chưa đến 1 MW và vì chưa có giá bán điện mặt trời chính thức nên dự án này phục vụ cho nhu cầu cá nhân chứ không bán được điện.  Hiện nay, Việt Nam nên tập trung vào loại năng lượng tái tạo cụ thể nào, hay là nên làm tất cả cùng một lúc?  Tôi e không có câu trả lời cho điều này. Nếu tập trung vào một thứ thì nếu nó thất bại, mọi thứ sẽ sụp đổ.  Chính phủ Việt Nam phải bước vào lĩnh vực năng lượng tái tạo để có những kinh nghiệm riêng của mình, từ đó mới có thể đưa ra quyết định nên lựa chọn cái này hay cái kia. Chẳng hạn như Trung Quốc, ban đầu họ cũng đầu tư cho tất cả mọi loại năng lượng tái tạo rồi đột nhiên chuyển hướng đầu tư mạnh sang năng lượng mặt trời bởi họ nghĩ rằng đó là lựa chọn tốt nhất cho họ và họ có thể sản xuất loại điện với giá rẻ nhất. Mười năm trước, khi nhìn vào 10 công ty sản xuất pin mặt trời hàng đầu thế giới, có tám công ty của Đức và hai công ty của Trung Quốc. Hiện nay thì có chín công ty của Trung Quốc và một công ty của Đức.  Chính phủ Việt Nam tiếp nhận các góp ý của GIZ như thế nào?  Đó là một quá trình đầy thách thức. Vì sao lại thách thức? Chúng tôi làm việc thường xuyên với Tổng cục Năng lượng về các nội dung liên quan đến năng lượng tái tạo, Tổng cục Năng lượng trình các thông tin của chúng tôi đến Bộ Công Thương, Bộ Công Thương sẽ trình lên Thủ tướng Chính phủ…Tổng cục Năng lượng chỉ có bốn năm người chịu trách nhiệm toàn bộ về năng lượng tái tạo và đó quả là một trách nhiệm nặng nề với họ. Nếu có vài chục người phụ trách thì điều đó đã hoàn toàn khác. Đó sẽ là một quá trình dài sẽ có rất nhiều bên can thiệp và gây ảnh hưởng lên những lời khuyên của chúng tôi.  Một câu hỏi khác là các bạn muốn phát triển năng lượng tái tạo theo hướng nào? Theo hướng EVN vẫn nắm vai trò chính và thống lĩnh thị trường hay phát triển một thị trường điện tự do với nhiều nhà sản xuất điện tư nhân đóng góp vào việc phát triển năng lượng tái tạo? Câu trả lời cho điều này có lẽ mất hàng năm trời. GIZ đã ở đây từ năm 2009 và tám năm đã trôi qua. Nhiều lúc, tôi rất muốn quyết định sẽ được đưa ra nhanh hơn nhưng việc của chúng tôi không phải là đưa ra quyết định mà chỉ cung cấp lời khuyên thôi.  Sang năm, dự án của anh sẽ kết thúc, vậy đơn vị nào sẽ tiếp nối công việc dang dở của các anh?  Hiện nay có Hiệp hội điện gió Bình Thuận, anh Bùi Văn Thịnh, CEO công ty Phong điện Thuận Bình với dự án Phú Lạc là chủ tịch. Cùng với anh Thịnh và Ủy ban Năng lượng toàn cầu, chúng tôi cố gắng thành lập một hiệp hội năng lượng gió ở Việt Nam để khối tư nhân có một tiếng nói chung, đối thoại với chính phủ trong việc phát triển điện gió ở Việt Nam.  Một điều khác nữa là chúng tôi có hợp tác công nghệ giữa ba đại học ở Đức và vài đại học Việt Nam để xây dựng chương trình đào tạo cụ thể về năng lượng tái tạo. Đây là cách chúng tôi chuyển giao kinh nghiệm và nâng cao năng lực cho Việt Nam. Các trường đại học và đơn vị đào tạo ở Việt Nam có thể cung cấp nhân lực cho thị trường năng lượng tái tạo trong tương lai.  Xin cảm ơn chia sẻ của anh!  Hảo Linh thực hiện  ————–  1 Số liệu của World Bank là 50GW. Tuy nhiên, GIZ – đối tác thực hiện dự án này cùng với World Bank đưa ra con số thấp hơn và khả thi hơn với điều kiện của Việt Nam là 27 GW  2 Giá mà các nhà sản xuất điện nhận được khi bán một kWh điện  3 Theo quy hoạch điện VII, vào năm 2030, tổng công suất lắp đặt của điện gió Việt Nam là 6000 MW, chiếm 1% tổng sản lượng điện quốc gia. Khi đó, như GIZ tính toán số tiền mỗi kWh sẽ tăng thêm 5.3 VND so với hiện nay.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam:  Vẫn ở tầm vĩ mô      Mặc d&#249; Thủ tướng Ch&#237;nh phủ đ&#227; ph&#234; duyệt Đề &#225;n Ph&#225;t triển nhi&#234;n liệu sinh học (NLSH) đến năm 2015 tầm nh&#236;n 2020 c&#225;ch đ&#226;y gần 2 năm (Đề &#225;n 117) nhưng đến nay, việc triển khai đề &#225;n v&#224;o thực tế vẫn c&#242;n gặp nhiều kh&#243; khăn, l&#250;ng t&#250;ng. Cụ thể l&#224; c&#242;n thiếu kh&#225; nhiều c&#225;c văn bản ph&#225;p luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai c&#225;c dự &#225;n NLSH tại Việt Nam, chưa c&#243; sự gắn kết c&#225;c nghi&#234;n cứu khoa học với doanh nghiệp v&#224; tốc độ ph&#225;t triển NLSH tại Việt Nam chưa được như mong muốn. Tại cuộc hội thảo “Ph&#225;t triển nhi&#234;n liệu sinh học hiệu quả v&#224; bền vững: Ch&#237;nh s&#225;ch, định hướng v&#224; lộ tr&#236;nh”, do Hội đồng Ch&#237;nh s&#225;ch Khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ Quốc gia tổ chức tại H&#224; Nội, nhiều đại biểu đ&#227; c&#243; rất những &#253; kiến đ&#243;ng g&#243;p nhằm khắc phục t&#236;nh trạng n&#243;i tr&#234;n.    Nghiên cứu trùng lặp, chồng chéoMục tiêu của Đề án 117 là “Phát triển nhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường”, với các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D), triển khai sản xuất thử sản phẩm phục vụ phát triển sinh học; Hình thành và phát triển ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học của Việt Nam; Xây dựng tiềm lực phục vụ phát triển nhiên liệu sinh học trong nước; Tăng cường hợp tác quốc tế phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.Phát biểu tại hội thảo, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu tự nhận mình là một người “cổ động viên bóng đá”, nhưng cũng có một số góp ý với đội trưởng (Bộ Công thương, nơi được giao chủ trì tổ chức thực hiện đề án”. Theo ông, Bộ Công Thương cần tập hợp các nhà khoa học, các chuyên gia liên quan để cùng thực hiện đề án này bởi “cứ theo báo cáo thì có rất nhiều đề tài trùng lặp, gây lãng phí không biết bao nhiêu tỉ (tiền ngân sách của Nhà nước)”. Và đặc biệt là “Không ai làm đến nơi, đến chốn và có hiệu quả kinh tế”.Tương tự như vậy, PGS. TS. Hồ Sơn Lâm, Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng cũng cho rằng có sự lãng phí chất xám, lãng phí trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, làm chậm tiến độ ứng dụng. “Do không có một “bộ chỉ huy chung” nên nhiều Bộ, ngành, trường, viện và doanh nghiệp đã đầu tư rất nhiều kinh phí cho việc nghiên cứu. Nhiều đề tài được cấp tiền tỉ nhưng kết quả cũng chỉ để đăng báo hay báo cáo khoa học”, ông nói.Một nhà khoa học trong giờ nghỉ cũng cho biết tình trạng lãng phí trong nghiên cứu phát triển NLSH là khá lớn: “Lãng phí nhiều lắm, thí dụ chúng ta đã có tới 3 dự án sản xuất ethanol nhiên liệu với tổng công suất thiết kế là 300 triệu lít/năm nhưng vừa rồi vẫn có đề án nghiên cứu sản xuất ethanol nhiên liệu với công suất 100 tấn/năm được duyệt. Chẳng hiểu để làm gì?”. Ông cũng cho biết thêm một nghiên cứu khác cũng đã được duyệt và đang tiến hành với tổng chi phí được duyệt lên tới vài tỉ đồng. Trong khi nhiều nước đang chào hàng chúng ta công nghệ và thiết bị cả gói với mức kinh phí rẻ hơn như thế, đặc biệt là công suất lớn hơn và có thể thực hiện được ngay (chẳng mất công nghiên cứu gì cả).Một Phó viện trưởng một viện nghiên cứu khác cũng cho rằng vấn đề lựa chọn công nghệ cần phải xem xét kỹ, không sẽ dẫn tới việc lãng phí. Riêng trong lĩnh vực NLSH, thế giới đã tiến xa hơn chúng ta rất nhiều. Do vậy, nhiều công nghệ chỉ cần xem xét xem khả năng ứng dụng nếu phù hợp với điều kiện của chúng ta thì có thể nhập công nghệ và thiết bị về sản xuất. Như vậy sẽ tiết kiệm hơn kể cả về mặt thời gian, công sức lẫn tiền bạc. “Nhiều khi chúng ta cứ tưởng nghiên cứu các công nghệ, thiết bị sản xuất NLSH từ các nguyên liệu rẻ tiền, có sẵn là lợi. Nhưng thực tế, nếu tính tổng chi phí cho việc nghiên cứu, ứng dụng để sử dụng các nguyên liệu này thì lại hóa ra là đắt”, ông nói.Rất nhiều ý kiến cho rằng trong khi các nhà máy mía đường hiện đang thiếu nhiên liệu, gặp khó khăn trong sản xuất thì việc phê duyệt 3 dự án sản xuất ethanol nhiên liệu với tổng công suất 300 triệu lít/năm quả thực là một sự lãng phí lớn. Ngay trong báo cáo đánh giá bước đầu kết quả thực hiện Đề án 117 cũng thừa nhận: “Nhóm ngành sản xuất diesel sinh học chưa đạt được nhiều hiệu quả như mong muốn do việc phát triển vùng nguyên liệu đòi hỏi thời gian cũng như khó khăn trong nghiên cứu lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp”.  Nguyên liệu: vấn đề không nhỏTheo báo cáo của PGS. TS Đỗ Huy Định, Hội Hóa học Việt Nam, bất cứ quốc gia nào muốn phát triển NLSH, đầu tiên phải lựa chọn nguyên liệu cho hiện tại và lâu dài bởi nguyên liệu chiếm trên 70% giá thành của NLSH. Nguyên liệu làm NLSH rất đa dạng, bao gồm: nguyên liệu chứa đường (mía, củ cải đường, cao lương ngọt…), chứa tinh bột (ngô, sắn, cao lương…), chứa dầu (dầu mỡ động, thực vật, tảo, bèo dâu và kể cả dầu đã qua sử dụng), chứa cellulose (phế liệu nông, lâm nghiệp) và những nguyên liệu khác chứa lipit và hydratcacrbon.               Các cây jatropha giống hiện nhập chủ yếu từ Trung Quốc (jatropha)        Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh các vùng nhiên liệu cho NLSH rất có thể gây ra những hậu quả khó lường, ảnh hưởng tới việc phát triển bền vững. Thí dụ như Chương trình quốc gia Proalcool của Brazil, một nước đi tiên phong trong phát triển NLSH đã tạo nhiều áp lực đối với tài nguyên đất trồng trọt, đất dùng cho chăn nuôi và đất rừng ở nước này. Nước Mỹ đã dùng quá nhiều ngô, đậu tương làm NLSH khiến sản lượng nông sản xuất khẩu giảm dẫn đến giá nông sản tăng nhanh. Người dân Malaysia, Indonesia và Ấn Độ có lúc đã phá rừng để trồng cọ dầu, jatropha (cây cọc rào), nhưng sau các quốc gia này phải điều chỉnh lại chính sách và kiểm soát chặt chẽ để NLSH được phát triển một cách hiệu quả và bền vững.Tại Việt Nam, nhiều đại biểu tại hội thảo cũng nói đến “hiện tượng jatropha”, tức là phong trào xin đất trồng jatropha ở khắp nơi trên cả nước. “Năng suất jatropha ở Bình Thuận, Bình Dương và nhiều nơi khác thấp lắm vì cây giống nhập từ Trung Quốc, không kiểm soát được chất lượng”, GS. VS Nguyễn Văn Hiệu nói. Ông còn cảnh báo: “Cũng phải cẩn thận tình trạng doanh nghiệp lấy đất trồng jatropha, nhưng thực chất là để chiếm đất”. Một vấn đề khác mà Giáo sư Hiệu cũng nhấn mạnh là sắn là loại cây gây thoái hóa đất rất nhanh. Nếu qui hoạch không tốt, người nông dân ào ạt trồng sắn thì sẽ nguy hại về lâu dài vì sẽ phá hỏng đất. Ông cũng đề nghị nếu thực sự có kế hoạch sử dụng cây jatropha làm nguyên liệu thì nên đầu tư thích đáng để nghiên cứu có một bộ giống jatropha tốt, phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam. Sau đó thành lập một công ty để sản xuất và cung cấp giống cho thị trường, chứ “cần gì phải sang Trung Quốc mà mang về”.Một số nguyên liệu khác cho NLSH như sắn, mỡ cá hiện lại đang là các mặt hàng rất được phía Trung Quốc ưa thích. Do vậy, họ thường trả giá cao để nhập khẩu các mặt hàng này, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước. “Đây cũng là các vấn đề cần được quan tâm nếu chúng ta muốn phát triển các nguồn nguyên liệu này về mặt dài hạn”, một đại biểu nói.Còn ông Trịnh Minh Tú, Chủ tịch công ty Minh Tú đơn vị sản xuất NLSH và đã xuất khẩu được ra nước ngoài thì đưa một ví dụ cụ thể hơn: “Doanh nghiệp trong nước rất thiệt thòi vì nếu mua nguyên liệu mỡ cá trong nước thì phải chịu thuế VAT 10%, trong khi mỡ cá xuất khẩu sang Trung Quốc lại không bị đánh thuế”. Chính điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp bởi “10% không phải là con số nhỏ”, ông nói.  Cần một “nhạc trưởng”Để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Đề án 117 cũng như đưa ra các định hướng rõ ràng, cụ thể cho việc phát triển NLSH tại Việt Nam, nhiều đại biểu tại hội thảo cho rằng cần có một cơ quan đóng vai trò “nhạc trưởng”, hay “Bộ tư lệnh” để điều phối tất cả các hoạt động liên quan.GS. TS Hồ Sĩ Thoảng, trong phần kết luận hội thảo nói rằng cơ quan này phải có quyền lực, trách nhiệm cao, đặc biệt là trong việc phân bổ ngân sách, nhiệm vụ nghiên cứu để tránh trùng lặp. Bên cạnh đó, bàn tay của Nhà nước phải mạnh để đẩy nhanh được việc phát triển NLSH đúng với tầm vóc và qui mô đáng có của nó. Bên cạnh đó, ông cũng ủng hộ ý tưởng của GS. VS Nguyễn Văn Hiệu là nên có một diễn đàn trên mạng (online forum) nhằm cung cấp thông tin đến mọi người, là nơi bàn thảo, trao đổi học thuật và kinh nghiệm trong việc phát triển NLSH tại Việt Nam.Tóm lại, xin mượn lời của PGS. TS Hồ Sơn Lâm để kết thúc bài viết này: “Ngay từ khi Đề án 117 đang ở dạng dự thảo, chúng ta đã chậm hơn các nước khác gần 20 năm trong lĩnh vực NLSH. Sau gần 2 năm thực thi đề án, chúng ta đã có nhiều nỗ lực lớn nhưng kết quả vẫn chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó và chưa được thực hiện trên qui mô cả nước”. Như vậy, nếu không có những hướng đi cụ thể để đưa nhanh việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất NLSH, những quyết sách chắc chắn vẫn chỉ nằm ở tầm vĩ mô mà thôi.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vaccine Covid-19: Những rào cản khó vượt qua      Trước khi số người chết vì dịch bệnh vượt quá ngưỡng bệnh SARS, các nhà nghiên cứu và sản xuất vaccine đã thiết lập các liên minh để phát triển vaccine. Tuy nhiên, điều này không hề dễ dàng, bất chấp việc họ đã được trang bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ “đến tận răng” và những khoản kinh phí lớn đang được đầu tư.      Giám đốc điều hành Liên minh Đổi mới sáng tạo Sẵn sàng cho dịch bệnh (CEPI) Richard Hatchett, người nhiều năm phụ trách Cơ quan nghiên cứu và phát triển Y sinh tiên tiến Mỹ, cho rằng chiến dịch phát triển vaccine mà CEPI đầu tư đang đối mặt với một thách thức mà ông gọi là “vấn đề khó bậc nhất mà tôi từng dối mặt trong cuộc đời”. Ông lý giải: “Có quá nhiều thứ chúng ta không biết về virus này. Bản chất dịch tễ học, các mẫu hình lan truyền, số người thực sự bị lây nhiễm là gì? Số người bị nhiễm có thể không phải được xác định về phương diện địa lý, mà phải được xác định bằng số lượng người thực, bằng các xác định theo nhóm tuổi và nhóm có nguy cơ bị lây nhiễm. Để khi vaccine sẵn sàng, mỗi quốc gia có thể cung cấp ngay cho những người thuộc nhóm ở nguy cơ rủi ro cao nhất”.  Tuy nhiên vào thời điểm này, cả thế giới đang mải chạy theo hàng đống câu hỏi, trong đó những câu hỏi thường trực là khi nào vaccine sẵn sàng? Người ta có phải chờ đợi vaccine Covid-19 như với các loại vaccine truyền thống khác không?  Câu trả lời là có hàng loạt rào cản đặt ra trước mắt, xuất phát từ bản chất nội tại của việc phát triển và sản xuất vaccine đến những tình huống có thể gặp mà những chuyên gia hàng đầu về vaccine dự đoán.  Cần ít nhất một năm để có vaccine  Sự thật là các nhóm liên kết đang chạy đua tìm ra một vaccine đặc hiệu, thậm chí đã có một số ứng cử viên vaccine đang sẵn sàng chờ kiểm tra thử trên động vật, chỉ vài tuần sau giải trình tự gene của Covid-19 được công khai với các nhà nghiên cứu. Jeff Richardson của công ty Inovio Pharmaceuticals, một trong những nhóm được Liên minh Đổi mới sáng tạo Sẵn sàng cho dịch bệnh (CEPI) – nơi đầu tư 11 triệu USD cho vụ này, cho The Guardian biết, một vaccine của nhóm đã sẵn sàng để sản xuất trên quy mô lớn để chuẩn bị cho thử trên người vào đầu mùa hè. Một nhóm nghiên cứu khác từ trường Đại học Queensland, cũng nhận được hỗ trợ của CEPI đang sẵn sàng kiểm tra vaccine của họ trong sự kết hợp công nghệ do GlaxoSmithKline – một trong những gã khổng lồ ngành dược, phát triển. Công nghệ này có khả năng giúp hệ miễn dịch phản hồi mạnh hơn.  Các quan chức y tế Mĩ cũng đặt một mốc thời gian đầy tốc độ, nhưng giống như với nhiều nơi khác, họ vẫn chỉ ở bước đầu tiên của phát triển vaccine. TS. Anthony Fauci, giám đốc bộ phận bệnh truyền nhiễm của Viện nghiên cứu Y tế quốc gia Mĩ, vào ngày 7/2/2020 cho biết đã lên kế hoạch thử trên người loại vaccine tiềm năng được phát triển trên nền tảng công nghệ của công ty y sinh Moderna trong khoảng hai tháng rưỡi nữa.  Nóng ruột nhất có lẽ là Trung Quốc, tâm điểm của dịch bệnh. Ngày 10/2/2020, Tân hoa xã đưa tin, Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Trung Quốc (CDC) tuyên bố, CDC, trường Đại học Đông Tế và công ty Stermirna Therapeutics đã bắt đầu quá trình thử nghiệm trên chuột loại vaccine mRNA do họ phát triển.  Điểm thuận lợi là tất cả các nhóm nghiêm cứu phát triển vaccine trên thế giới hiện nay đều có những cách tiếp cận đầy đổi mới sáng tạo trước lời hứa gia tăng tốc độ thực hiện chưa từng thấy trước đây. Tuy nhiên, chưa chắc họ đã được cấp phép cho vaccine ngay.  Trong tình huống này, có rất ít người nghi ngờ vào khả năng có một loại vaccine khả thi sẽ được thử trên người vào mùa hè này. Ngay cả với vaccine mRNA của Trung Quốc, dù chu trình phát triển và sản xuất dựa trên công nghệ mới có thể ngắn hơn so với vaccine truyền thống nhưng việc thử nghiệm trên động vật vẫn thuộc giai đoạn đầu của phát triển vaccine và còn nhiều bước cần thiết trước khi sẵn sàng được thử nghiệm trên người, một quan chức CDC cảnh báo. Đơn giản là vì kiểm tra trên chuột vẫn mới chỉ là một bước sàng lọc ban đầu của một vaccine ứng viên. Chỉ sau khi trải qua các kiểm tra độc chất trên những loài động vật có kích thước lớn như khỉ mới đảm bảo độ an toàn cho những ca thử nghiệm trên người tiếp theo, một nhà nghiên cứu ở trường Đại học Đông Tế nói.  Những trường hợp thử nghiệm lâm sàng trên người sẽ tập trung vào tính an toàn của vaccine, kiểm thử các liều khác nhau, thông thường trên các tình nguyện viên khỏe mạnh. “Ít nhất là một năm, tôi vi vọng là chúng ta sẽ ít nhất có một phần của câu trả lời”, Elena Maria Bottazzi, đồng giám đốc Trung tâm Phát triển vaccine của Bệnh viện Nhi Texas, Mỹ, nhận định.  Sau đó, vòng tiếp theo sẽ là lựa chọn một số liều để kiểm nghiệm trên hàng trăm người. Đây là giai đoạn cuối, giai đoạn nhiều thách thức nhất của quá trình phát triển thuốc. Theo quy định thì cần có những ca thử nghiệm với số lượng cần được gia tăng, trong đó số người tham gia thử vaccine sẽ được tăng từ 20 đến 200 người và sau đó là hàng ngàn người, sẽ mất nhiều tháng để chắc chắn là loại vaccine đó đủ an toàn và thậm chí là để phát hiện những tác dụng phụ hiếm gặp. Do đó, để một vaccine sẵn sàng thương mại hóa và tung ra thị trường, có khi mất cả năm trời cũng là nhanh. TS. Gregory Poland, giám đốc của nhóm nghiên cứu vaccine thuộc Trung tâm nghiên cứu Mayo Clinic (Mỹ), cho biết, cần hàng trăm ngàn bệnh nhân và hàng trăm ngàn USD cho giai đoạn cuối.  Những người trong nghề vaccine đều thấm thía chuyện này. “Tôi sẽ vô cùng hạnh phúc nếu điều tôi nghĩ là sai nhưng tôi không thấy cách nào để một vaccine có thể có mặt đúng thời điểm chúng ta mong muốn để giúp ngăn chặn tình trạng bệnh dịch hiện tại”, TS. Derek Lowe, người có hơn 30 năm kinh nghiệm trong khám phá các loại thuốc, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.  Đã có những bước phát triển lớn trong vài năm trở lại đây trong việc thúc đẩy tạo ra vaccine từ những nguyên liệu ban đầu nhưng bất chấp điều đó, tiến trình này sẽ mất vài năm, TS. Stanley Plotkin, người đã tham gia vào nghiên cứu vaccine từ năm 1958 và đóng vai trò quan trọng trong phát triển vaccine rubella trong những năm 1960, bổ sung. Ước tính thời gian của ông còn khắc nghiệt hơn các đồng nghiệp. “Để một vaccine sẵn sàng cho đông đảo người dân, tôi chỉ có thể nói là cần mất ít nhất hai năm”.  Những thách thức còn lại  Có cách nào vượt qua những rào cản đó? Thực ra, quá trình phát triển vaccine từ những nền tảng công nghệ do các công ty nắm giữ và những hiểu biết mới về dịch bệnh đã được các chính phủ tối ưu, đó là tham gia vào chu trình đó bằng việc tạo điều kiện thiết lập các khối liên minh giữa các cơ quan chính phủ, nhà nghiên cứu và các công ty dược phẩm. Với các khối liên minh này, mỗi quốc gia đều có được một nền tảng tối ưu, kết hợp được những yếu tố mà không phải quá trình phát triển vaccine nào cũng may mắn có: những kiến thức về dịch tễ học, những cách thức tiếp cận mới, sự sẵn sàng của một số công nghệ, sự sẵn sàng của một nền tảng sản xuất chuyên nghiệp và sự hậu thuẫn về kinh phí, quản lý.  Dường như mọi thứ đều sẵn sàng để hỗ trợ sự ra đời của vaccine. Nhưng trên thực tế vấn đề lại phức tạp hơn nhiều. Giống như lo ngại của WHO là sự lây lan bệnh dịch có thể diễn ra tại các quốc gia có hệ thống y tế yếu hơn so với những nước phát triển và các chuyên gia y tế, giám đốc điều hành CEPI Richard Hatchett chỉ ra một nghịch lý: “Những gì chúng tôi không muốn xảy ra trong dịch bệnh này là vaccine được phát triển tại những những quốc gia có nền tảng phát triển và sản xuất tốt rồi sau đó được sử dụng riêng biệt cho những quốc gia đó. Đây có thể là một thảm họa cho thế giới”. Vì vậy, ông đã làm việc với WHO để chắc chắn một điều: khi nào có vaccine được sản xuất thì WHO có thể hỗ trợ khối lượng lớn vaccine cho những người cần.  Tuy nhiên vẫn còn một số lo ngại, đó là khả năng đầu tư vào vaccine có thật sự bền vững? Các công ty dược phẩm sẽ cam kết đổ một lượng lớn tiền vào nghiên cứu, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ có thể mở ví chỉ để cho vaccine nhưng có thể là điều này sẽ kết thúc khi dịch bệnh được kiểm soát. Họ chỉ ưu tiên khi dịch bệnh đang bùng phát. “Một vấn đề lớn với các vaccine cho dịch bệnh mới nổi là nó thuộc vấn đề mới, vấn đề lớn và các chính phủ hồi đáp bằng việc đặt tiền lên bàn”, TS. Poland nói. “Nó sẽ biến mất một khi không có tin gì mới nữa”.  Trong lịch sử, những cái kết đột ngột như vậy đã từng xảy ra, khi sự chú ý giảm dần, ví dụ như SARS trong năm 2002-2003 và MERS năm 2012. Với những trường hợp này, những vaccine ứng viên vẫn còn ở phần đầu giai đoạn thử nghiệm lâm sàng trên người. Đến Ebola thì mất một giai đoạn gián đoạn sau nhiều thập kỷ phát triển, các nỗ lực phát triển vaccine chỉ tái khởi động khi dịch bệnh bùng phát trở lại. Do đó vaccine Ebola đầu tiên được chấp thuận vào tháng 12/2019 nhưng để đạt tới điểm đó đã phải mất nhiều năm thử nghiệm trên hàng ngàn người do Merck, một trong những nhà sản xuất dược phẩm lớn nhất thế giới, thực hiện.  Cũng phải nói thêm là các dịch bệnh truyền nhiễm dường như thường tấn công các quốc gia đang phát triển, nơi khó có tiền để mua vaccine. Do đó, giải pháp bền vững mà TS Plotkin và những chuyên gia khác là kêu gọi một quỹ đầu tư vaccine toàn cầu để chuẩn bị đối phó với “một khủng hoảng” trong phát triển vaccine. Kết quả là CEPI ra đời năm 2017 với sự hậu thuẫn của các chính phủ cũng như Quỹ Bill & Melinda Gates, Quỹ Wellcome Trust, và Diễn đàn kinh tế thế giới WEF.  Elena Maria Bottazzi, từng có kinh nghiệm tham gia vào phát triển một loại vaccine ứng viên SARS và phải chứng kiến sự hết vốn giữa chừng vì thiếu đầu tư, nhận xét: “Chúng ta đã trải qua ít nhất ba dịch bệnh trong vòng vài thập kỷ – SARS, MERS và Covid-19. Tôi thực sự mong cộng đồng học được bài học này: đừng làm những việc kiểm soát dịch bệnh nửa chừng”.  Nguồn:  http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/phat-trien-vaccine-covid19-nhung-rao-can-kho-vuot-qua/20200213024046525p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vật lý thiên văn tại Việt Nam      Sự chấn hưng nền giáo dục và khoa học của Việt Nam là điều cần thiết và đã được bàn đến rất nhiều trong cộng đồng các nhà khoa học trong và ngoài nước. Vốn là một nhà nghiên cứu thiên văn – một ngành khoa học cơ bản, nhưng có những ứng dụng cụ thể liên quan đến sự sinh hoạt thường ngày của con người, tôi chỉ nêu lên một số vấn đề liên quan đến phát triển lĩnh vực này tại Việt Nam.      Một ngành khoa học cơ bản, thực nghiệm và ứng dụng  Nhờ có những định luật cơ học của Newton và Kepler mà các nhà khoa học mới tính được quỹ đạo để phóng những vệ tinh phục vụ ngành vô tuyến viễn thông, như vô tuyến truyền hình và hệ thống điện thoại di động. Hệ định vị toàn cầu nhằm xác định vị trí của tàu bè trên biển, máy bay trên không gian và hướng dẫn người lái xe hơi len lỏi để tìm đường phố trong những đô thị, có thể đạt được độ chính xác rất cao, nếu thuyết tương đối của Einstein được áp dụng. Kỹ thuật hiện đại làm kính thiên văn được dùng trong ngành y để chẩn đoán bệnh trong võng mạc ở đáy mắt. Thiên văn học cũng giải đáp được phần nào những thắc mắc siêu hình và triết lý mà nhân loại ấp ủ từ thời xa xưa. Quan sát bầu trời là để tìm hiểu nguồn gốc của vũ trụ và của loài người, là để phát hiện những thế giới văn minh khác, nếu có, trên những hành tinh xa xôi ở ngoài hệ Mặt trời.   Mục tiêu đầu tiên của ngành thiên văn vẫn là nghiên cứu những hiện tượng trên bầu trời, sự sinh tử của những ngôi sao, của những thiên hà và sự tiến hóa của toàn thể vũ trụ. Xác định những điều kiện lý-hóa trong phòng thí nghiệm thiên nhiên vũ trụ cũng là một đề tài không kém quan trọng của ngành thiên văn vật lý. Vì bức xạ của những thiên hà xa xôi thu được trong kính thiên văn và antenne rất yếu, nên các nhà thiên văn phải dùng những kính thiên văn quang học và vô tuyến thật lớn cùng những thiết bị điện tử tối tân để thu từng hạt photon. Họ còn phóng vệ tinh lên không gian để tránh hiện tượng hỗn loạn trong bầu khí quyển của Trái đất làm hình những thiên thể kém phần sắc nét. Kỹ thuật xây những kính thiên văn vừa lớn vừa nhẹ và chế ra những máy điện tử thu tín hiệu ngày càng nhạy đã góp phần vào sự phát triển ngành công nghệ tiên tiến.           Hình 1 a)                  Hình 1: (a) Hệ kính thiên văn  vô tuyến đặt tại Nançay, vùng đồng quê Sologne (180 km về  phía Nam  Paris), có 2 antenne khổng lồ đặt cách xa nhau 460 m. Phía bên trái hình  là antenne phẳng (kích thước 200 m x 40 m) quay xung quanh một trục  ngang và phản chiếu tín hiệu vô tuyến vũ trụ vào antenne cong (phía bên  phải hình, kích thước 300 m x 35 m). Tín hiệu được hội tụ vào tiêu điểm  (toà nhà thấp màu trắng ở giữa 2 antenne), nơi có máy quang phổ thu và  phân tích tín hiệu. (b) Hình antenne cong, ở phía bên phải trong hình  (a), được phóng to ra. Hệ kính Nançay, thuộc Đài Thiên văn Paris, được  dùng để thu tín hiệu vô tuyến phát từ những pulsar, nhân của những ngôi  sao đã nổ, cùng những thiên hà xa xôi. Kính thiên văn vô tuyến Nançay đã  được Tổng thống Pháp, Charles de Gaulle, khánh thành mùa xuân năm 1965  (Hình Trung tâm thiên văn vô tuyến Nançay).             Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, các kỹ sư trước kia đã từng làm nghĩa vụ quân sự phòng không và phát hiện tàu chiến trên biển bằng radar, nay trở thành những nhà khoa học tiên phong xây những antenne và máy điện tử để thu tín hiệu vô tuyến trong vũ trụ. Ngành thiên văn vô tuyến đã được phát triển, chính là nhờ những nỗ lực của các chuyên gia kỹ thuật radar. Nhiều khám phá thiên văn quan trọng, như sự phát hiện bức xạ phông vũ trụ, một bằng chứng thiết yếu củng cố thuyết Big Bang, đã được thực hiện trên bước sóng vô tuyến. Sự cộng sinh giữa khoa học cơ bản và khoa học kỹ thuật là yếu tố cần thiết trong quá trình phát triển của ngành thiên văn hiện đại.    Các nhà thiên văn dùng những lý thuyết vật lý mới nhất cùng những kết quả thu được bằng kính thiên văn để tìm hiểu nguồn gốc và sự tiến hóa của vũ trụ. Những công trình quan sát đại trà và những mô hình lý thuyết chạy liên tục hàng tháng trong những siêu máy tính đã giúp các nhà thiên văn mô phỏng được cấu trúc của toàn thể vũ trụ.  Giải pháp phát triển vật lý thiên văn của Việt Nam  Vũ trụ là một môi trường trong đó có đủ các hiện tượng lý-hóa mà chúng ta cần quan sát và nghiên cứu để cũng thực hiện được trong phòng thí nghiệm trên Trái đất. Các nhà thiên văn tìm thấy trong Dải Ngân hà chất hữu cơ HC11N thuộc loại cyanopolyyne, một hóa chất có những chuỗi cacbon dài liên kết với nhau. Các nhà hóa học, khi muốn tìm hiểu trong phòng thí nghiệm cơ chế hình thành của cyanopolyyne, đã tình cờ chế ra chất fullerene có cấu trúc như một quả bóng đá vi mô chứa toàn là nguyên tử cacbon. Chất fullerene có độ bền rất cao và được dùng trong công nghệ nano. Tìm hiểu cơ chế phát ra năng lượng trong lòng Mặt trời và những ngôi sao cũng giúp các nhà vật lý thực hiện được những phản ứng nhiệt hạch giải phóng ra nhiều năng lượng hơn cả những phản ứng phân hạch trong lò nguyên tử.  Việt Nam không nhất thiết phải xây những đài thiên văn đắt tiền và những kính thiên văn lớn để quan sát vũ trụ. Các nhà thiên văn toàn cầu là một cộng đồng không phân biệt biên giới. Trong thời gian đầu chưa có thiết bị, các nhà thiên văn Việt Nam có thể cộng tác với những đồng nghiệp nước ngoài và sử dụng những kính thiên văn sẵn có trên thế giới. Họ không cần phải đến tận đài quan sát, nhưng có thể theo dõi những buổi quan sát từ xa trên máy tính và xử lý số liệu trong phòng thí nghiệm trong nước. Họ cũng có thể dùng máy tính để lập ra những mô hình lý thuyết nhằm giải thích những kết quả thu được.            Đài thiên văn Phủ Liễn          Điều cốt yếu là đào tạo đủ chuyên gia, dù phải gửi ra nước ngoài, để sau khi về nước họ thành lập được một đội ngũ thiên văn đầu ngành. Trước đây, ngành thiên văn vật lý ở Tây Ban Nha hầu như không phát triển đáng kể. Nhưng chỉ trong ba thập niên, họ đã gửi sinh viên đi du học tại các nước láng giềng có truyền thống thiên văn, như Pháp và Đức. Hiện nay, Tây Ban Nha đã có một đội ngũ thiên văn vô tuyến trẻ rất năng động và có uy tín.   Hành trang của các nhà  thiên văn vật lý rất đa dạng nên có thể giúp họ hoạt động trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Với sự hỗ trợ của Hội Thiên văn Quốc tế, chúng tôi đã tổ chức những khoá học thiên văn vật lý tại Việt Nam. Từ năm 1996 đến năm 2005, chúng tôi đã vận động Chính phủ Pháp để trao học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Đại học Paris 6 và Đài thiên văn Paris thực tập và làm luận án tiến sĩ về môn thiên văn vật lý. Họ đã trở về nước công tác, trong số đó có những sinh viên đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Paris. Tuy nhiên, họ không tập trung ở một cơ quan để cùng cộng tác và cũng không đủ đông để thành lập một bộ môn nghiên cứu thiên văn.           Một cuộc gặp gỡ với cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (đứng bên phải) nhân buổi Giáo sư đến tham quan Đài Thiên văn Paris – Meudon vào năm 1987          Đài thiên văn Phủ Liễn ở Kiến An, thành phố Hải Phòng, đã được chính quyền Pháp xây vào đầu thế kỷ trước, chủ yếu là để dự báo thời tiết và quan sát Mặt trời. Giáo sư Nguyễn Xiển là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên được cử làm giám đốc Đài Phủ Liễn. Trong thời chiến, kính thiên văn và thiết bị quang học đã được chuyển đi nơi khác. Hiện nay, nhiệm vụ chính của Đài Phủ Liễn là theo dõi khí tượng. Khí hậu nhiệt đới ẩm thấp ở Việt Nam không thuận lợi cho sự quan sát bầu trời trong lĩnh vực quang học và trên những bước sóng ngắn milimet vô tuyến. Đa số kính thiên văn vô tuyến hiện đại trên thế giới hoạt động trên bước sóng milimet. Tuy nhiên, sóng vô tuyến trên những bước sóng dài từ 10 cm trở lên có khả năng truyền tới kính thiên văn, ngay cả khi có mưa, mà không bị khí quyển ẩm ướt hấp thụ. Do đó, ngành thiên văn vô tuyến cũng có thể được phát triển tại Việt Nam. Những nước ở vùng nhiệt đới như Ấn Độ cũng đã xây những hệ giao thoa vô tuyến hoạt động trên những bước sóng dài để thu bức xạ của nguyên tử hydro rất phổ biến trong vũ trụ. Do sự dãn nở của không gian vũ trụ, vạch hydro phát trên bước sóng 21 cm từ những thiên hà xa xôi đều dịch chuyển về phía những bước sóng dài. Những kết quả quan sát này giúp các nhà thiên văn tìm hiểu vũ trụ ở thời đại nguyên thủy. Ấn Độ cũng là nơi sinh viên Việt Nam có thể thực tập trong ngành thiên văn vô tuyến.   Cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn là người đã quan tâm đến ngành thiên văn nước nhà. Giáo sư là một nhà học giả uyên thâm, không những chỉ trong lĩnh vực khoa học và làm lịch, mà còn đối với những vấn đề văn hóa. Chúng tôi đã có dịp trao đổi với Giáo sư Hãn về lịch sử thiên văn phương Đông để viết và xuất bản những tác phẩm phổ biến khoa học.  Trong khuôn khổ hợp tác khoa học giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Paris, Pierre và Marie Curie, và Đài Thiên văn Paris, chúng tôi đã tổ chức vào đầu tháng 11 năm 2010 một hội thảo về môn khoa học vũ trụ và khí hậu học tại Việt Nam, nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Các nhà khoa học đầu ngành của Pháp trình bày những kết quả mới nhất thu được bằng kính thiên văn đặt trên mặt đất và phóng lên không gian, cùng khả năng phát triển thiên văn học tại Việt Nam. Các nhà khoa học nhận định rằng khí thải công nghiệp làm Trái đất ngày càng nóng lên và có khả năng biến thành một hành tinh khô cằn. Kỹ thuật thám hiểm vũ trụ cũng được dùng để tiên đoán những diễn biến của khí hậu.   Những cuộc thí nghiệm khoa học đơn giản và những buổi trình diễn thiên văn dưới vòm nhà chiếu hình vũ trụ là những biện pháp để nâng cao dân trí. Đã có một đề án Việt – Pháp để xây tại thủ đô Hà Nội một Cung khoa học trong đó có nhà chiếu hình vũ trụ, nhằm phổ biến khoa học cho quảng đại quần chúng. Chúng tôi đã tham gia hoạt động tích cực trong nhiều năm nhằm thực hiện đề án này. Nhưng cho đến nay, công trình xây dựng Cung khoa học vẫn hãy còn tồn tại dưới dạng đồ án thiết kế.   Sự thành công rực rỡ của ngành toán học Việt Nam là động cơ thúc đẩy sự phát triển những ngành khoa học khác trong đó có ngành vật lý thiên văn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển vi chip hiệu suất cao      Các nhà nghiên cứu tại MIT và Tập đoàn Texas Instruments đã hé lộ bí mật về mô hình loại chip kiểu mới dùng cho các thiết bị điện tử cầm tay tăng hiệu suất điện năng lên 10 lần so với công nghệ hiện nay.      Chìa khóa dẫn đến những cải tiến về hiệu suất năng lượng nằm trong cách chế tạo các mạch trong con chip làm việc ở một hiệu điện thế thấp hơn mức thông thường. Trong khi phần lớn các loại chip hiện nay hoạt động quanh mức điện thế 1 volt thì thiết kế mới cho phép chúng hoạt động chỉ ở mức 0,3 volt. Thiết kế này có thể ứng dụng cho máy điện thoại di động, các thiết bị y tế cấy dưới da & thiết bị cảm biến, giúp tăng thời gian chạy lâu hơn khi sử dụng nguồn điện từ pin.   H.Phong (Theo MIT News Office)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phê duyệt công nghệ điều chỉnh biểu hiện gene sau 20 năm chờ đợi      Các nhà quản lý Hoa Kỳ đã chấp thuận liệu pháp dựa trên can thiệp RNA (RNAi), một kỹ thuật dùng để điều chỉnh biểu hiện của các gene đặc biệt có liên quan đến bệnh tật. Loại thuốc mang tên patisiran này nhắm vào loại bệnh hiếm gặp có thể làm suy giảm chức năng tim và thần kinh.      RNAi là một kỹ thuật dùng để điều chỉnh biểu hiện của các gene đặc biệt có liên quan đến bệnh tật. Nguồn: Alnylam.  Khi được nạp vào cơ thể, patisiran điều chỉnh biểu hiện gene gây ra bệnh thoái hóa tinh bột di truyền (hereditary transthyretin amyloidosis), một căn bệnh hiếm gặp. Khi phát bệnh, các dạng đột biến của protein transthyretin tích lũy trong cơ thể, đôi khi làm suy yếu chức năng của tim và thần kinh.  Do FDA đã chấp thuận thuốc này nên sách dược học sẽ cần phải được viết lại, theo Ricardo Titze-de-Almeida, nhà nghiên cứu RNAi tại Đại học Brasilia. “Chúng tôi đang bắt đầu nêu một nhóm dược lý mới. Sẽ có nhiều loại thuốc như vậy trong những năm tới”, ông nói.  Đây là bước ngoặt cho một cuộc đấu tranh trong gần hai thập kỷ để chứng minh giá trị của RNAi trong thử nghiệm lâm sàng. Được phát hiện ra 20 năm trước, RNAi làm dấy lên hy vọng về cách tiếp cận mới mang tính cách mạng đối với y học. Tuy nhiên, một loạt các thất bại trong thử nghiệm lâm sàng đã làm giảm đi kỳ vọng.  Đó là do để biến can thiệp ARN thành thuốc, trước tiên các nhà phát triển cần phải xác định cách vận chuyển một cách an toàn các phân tử ARN đến các mục tiêu của chúng. Họ cần bảo vệ RNA khỏi thoái hóa khi ở trong máu, ngăn bị thận lọc nhưng phải có khả năng thoát khỏi các mạch máu và lan truyền qua các mô. “Vấn đề này khó khăn hơn nhiều so với dự đoán của chúng tôi”, Douglas Fambrough, giám đốc điều hành của Dicerna, một công ty tập trung vào phát triển các kỹ thuật về RNA ở Cambridge, Massachusetts, nói.  Nhưng dần dần, một số công ty phát triển RNAi bắt đầu giải quyết được các vấn đề trọng yếu về vận chuyển thuốc, và Tenthoff bắt đầu khuyến khích các nhà đầu tư mua lại cổ phiếu. Alnylam đã thử nghiệm thuốc trên một số đường truyền và cơ quan mục tiêu, bọc một số phân tử RNA trong các hạt nano được chuyển đổi để giúp chúng tồn tại khi vận chuyển trong máu. Được bảo vệ theo cách này, khi có mặt trong máu, RNA có xu hướng tích lũy trong thận và gan. Điều này khiến công ty chuyển sang transthyretin, loại protein được chủ yếu sản xuất ở gan. Trong một thử nghiệm lâm sàng trên 225 bệnh nhân thoái hóa tinh bột di truyền có dấu hiệu bị tổn thương thần kinh, tốc độ phục hồi được cải thiện đáng kể ở những người được điều trị.  Trong tương lai, các công ty dược sẽ có thể hướng đến các loại protein được sản xuất ngoài gan, Thomas Tuschl, người đồng sáng lập công ty và một nhà sinh hóa tại Đại học Rockefeller ở New York cho biết. Công ty dược phẩm Quark ở Fremont, California đang thử nghiệm các liệu pháp RNAi nhắm vào các protein trong thận và mắt. Alnylam đang phát triển các phương pháp để nhắm vào não và tủy sống, và Dược phẩm Arrowhead của Pasadena, California, đang nghiên cứu phương pháp điều trị ARN cho bệnh xơ nang.  Những tiến bộ trong phân phối RNA cũng có thể mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu đang phát triển các liệu pháp chỉnh sửa gene dựa trên kỹ thuật phổ biến CRISPR – Cas9. Hệ thống này sử dụng Cas9, một protein cắt DNA, được một phân tử RNA dẫn tới vị trí mong muốn trong hệ gene. Giống như RNAi trước đó, CRISPR – Cas9 đã trở thành một công cụ phổ biến trong các phòng thí nghiệm di truyền học. Nhưng có thể vẫn phải trải qua một chặng đường dài nữa bởi giống như nhiều loại thuốc thông thường, các liệu pháp RNAi sẽ giảm hiệu lực theo thời gian; tuy nhiên chỉnh sửa gene sẽ để lại tác động vĩnh viễn, do đó nó làm tăng thêm những những lo ngại về an toàn.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05867-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phê duyệt vaccine Ebola đầu tiên trên thế giới      Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) đã phê duyệt một loại vaccine giúp kiểm soát sự bùng phát của Ebola, qua đó cho phép các nhà sản xuất phân phối vaccine này rộng rãi. Hiện nó đã được tiêm cho hàng trăm ngàn người ở Congo.      Quyết định của EMA giúp vaccine Ebola có thể được dự trữ và phân phối rộng rãi hơn, đặc biệt là ở châu Phi, tâm điểm của bệnh dịch. Vào năm 2015, Gavi, Vaccine Alliance  – một đối tác y tế toàn cầu tài trợ cho việc cung cấp vaccine ở các nước thu nhập thấp – đã cam kết với các nhà sản xuất vaccine Ebola sẽ mua vaccine sau khi nó được các tổ chức y tế nghiêm ngặt – trong đó có EMA chấp thuận.  Vaccine này được cấp bằng sáng chế đầu tiên vào năm 2003, được sử dụng khẩn cấp trong cuộc bùng phát dịch tại Congo. Nó cũng được sử dụng thử  nghiệm tại Guinea năm 2015. Trong đợt bùng phát năm 2018 tại Congo, hàng trăm ngàn người đã được tiêm vacxin, trong đó hơn 60.000 nhân viên chăm sóc sức khỏe tại quốc gia này và cả các quốc gia lân cận.  “Đây là một loại vaccine có tiềm năng rất lớn”, Seth Berkley, giám đốc điều hành của Gavi tại Geneva, Thụy Sĩ, cho biết trong một cuộc họp báo sau quyết định của EMA. “Nó đã giúp bảo vệ hơn 250.000 người tại Congo và cũng có thể chặn đứng dịch Ebola”. Gavi đã hỗ trợ dự trữ và cung cấp vaccine Ebola. Họ hy vọng xây dựng một dây chuyền cung ứng toàn cầu để có thể chủng ngừa nhanh chóng khi có sự bùng phát của virus nói chung và Ebola nói riêng trong tương lai.  Mặc dù đánh giá “sự chấp thuận của EMA đã tạo ra một sự khác biệt lớn” nhưng David Heymann, một nhà dịch tễ học tại Trường Vệ sinh dịch tễ và y học nhiệt đới London, vẫn lưu ý “nghiên cứu vẫn chưa xong, nó phải được tiếp tục nghiên cứu và phát triển các loại vắc-xin thế hệ thứ hai và thứ ba. Các loại này có thể cung cấp khả năng miễn dịch lâu dài hơn, nhắm mục tiêu đến nhiều loài Ebola hơn và dễ dàng lưu trữ hơn”.  Bảo vệ tương lai  Vaccine của Merck lưu hành trong thị trường dưới tên Ervebo – được các nhà nghiên cứu gọi là rVSV-ZEBOV-GP, đã được kiểm chứng trong một thử nghiệm lâm sàng ở Guinea cho đến khi kết thúc đợt bùng phát Ebola năm 2014 ở Tây Phi. Ở đó, vaccine được tiêm cho những người đã tiếp xúc với người bị nhiễm Ebola hoặc với những người tiếp xúc với họ sau đó. Kết quả đã chỉ ra vaccine cung cấp một mức độ bảo vệ cao chống lại virut này.  Các nhân viên y tế đã áp dụng chiến lược tiêm khoanh vùng trong hai đợt bùng phát khác nhưng Heymann cho rằng điều quan trọng là xác định liệu vaccine Merck có thể được sử dụng theo những cách khác hay không, qua đó xác định thời gian bảo vệ của vaccine kéo dài bao lâu và liệu một liều bổ sung có thể kéo dài khả năng miễn dịch hay không.  Sản phẩm của Merck chống lại loài Zaire của virus Ebola, đứng sau vụ dịch DRC hiện tại và vụ dịch 2014-16 ở Tây Phi. “Sẽ còn nhiều nghiên cứu phát triển các vaccine cạnh tranh với rVSV-ZEBOV-GP”, theo nhận định của Hill, một nhà nghiên cứu vaccine ở đại học Oxford, Anh đóng vai trò quan trọng trong phát triển vaccine chống lại các chủng virus Ebola khác. Ông là người thúc đẩy thử nghiệm vaccine Ebola khi nó bị xếp xó và bị các công ty lờ đi.  Có bảy loại vaccine Ebola khác nhau trong các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng khác nhau, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Geneva. Vào tháng 9/2019, WHO đã thông báo một loại vaccine do Johnson & Johnson sản xuất sẽ được sử dụng trong đợt bùng phát tại Congo. Tuần trước, công ty đã đệ trình vaccine đó lên EMA.  Không giống như vaccine Merck tiêm trong một liều, vaccine của Johnson & Johnson yêu cầu tiêm nhắc lại sau 56 ngày kể từ lần tiêm đầu tiên. Tại Congo, nó sẽ được tiêm cho những người có nguy cơ mắc bệnh Ebola, chẳng hạn như nhân viên chăm sóc sức khỏe, ở những khu vực mà virus chưa xuất hiện.  Đức Phát dịch  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-019-03490-8?utm_source=fbk_nnc&utm_medium=social&utm_campaign=naturenews&sf223471920=1&fbclid=IwAR39VTytTK9JxyWv7VsBmQ20OVPe85FeP3f0VWlGVLl8QceNomHGbp-5Kns       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phe phái và cạnh tranh quyền lực ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX      Mâu thuẫn bè phái không phải là đặc sản riêng có của triều Nguyễn, tuy nhiên ảnh hưởng của nó ở đầu thế kỷ XIX là cực kỳ nghiêm trọng, đe dọa sự thống nhất và ổn định của nền chính trị vương triều. Nhưng đó cũng là một thế giới mà vai trò của các nhà lãnh đạo khôn khéo như Gia Long, mạnh mẽ và tài năng như Minh Mệnh đã giúp kiểm soát và hạn chế xung đột phe nhóm, góp phần vào sự ổn định của vương triều. Một bài học mà nền chính trị Việt Nam sau này có thể tham khảo.      Quan hệ giữa Lê Văn Duyệt, Lê Chất với Minh Mệnh là một trong những ẩn số phức tạp nhất của cấu trúc chính trị Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XIX. Trong ảnh: Đền thờ tả quân Lê Văn Duyệt tại Q. Bình Thạnh, TP HCM.   Vào năm 1802, nhà vua mới của nước Việt Nam thống nhất, Gia Long đang ngự trên ngai vàng ở Huế. Dù tổ tiên ông cai trị vùng đất này trong gần 200 năm, với ông, đó vẫn là vùng đất xa lạ nằm dưới sự kiểm soát của kẻ thù (quân Trịnh và Tây Sơn) trong gần hai thập kỷ. Ông cùng gia đình bỏ chạy vào Nam lúc 12 tuổi. Phần lớn các thành viên thân thích bị giết hại và ông cai trị trong một hoàng cung đầy sự nghi kỵ, trên một vương quốc với nhiều xung đột. Bắc Hà là một thế giới khác, nơi cư dân chỉ biết có nhà Lê. Họ coi ông đơn giản là một phiên thần nổi loạn. Phía nam của Huế, vùng Quy Nhơn là thành trì cũ của Tây Sơn. Trên điện triều là những văn thần, võ thần đầy quyền lực, nhìn nhau với sự thù địch: Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Trương, và các viên chức phương Tây nhiều tham vọng.  Hai thập kỷ sau, ngồi trên ngai vàng lúc này là vị hoàng đế 30 tuổi, Minh Mệnh. Tham vọng thống nhất lãnh thổ, thể chế và tập trung quyền lực của ông sẽ tấn công trực diện vào địa vị và quyền lợi của các phe nhóm chính trị lớn. Dù một nửa trong số các lão thần kỳ cựu theo Gia Long đã rời khỏi võ đài vì tuổi tác hay thất thế do xung đột phe phái, phe chiến thắng: Lê Văn Duyệt và Lê Chất đang ở đỉnh cao quyền lực. Hai người này thống trị Bắc Thành (Bắc Kỳ) và Gia Định Thành (Nam Kỳ) như những “phó vương”. Ảnh hưởng của họ không chỉ dựa trên tay chân thân cận trong triều mà còn ở chỗ Minh Mệnh phải dựa vào uy tín quân sự của họ để chống lại các cuộc nổi dậy và giữ vững bờ cõi trước nguy cơ xâm lấn từ Siam. Đến năm 1821, Duyệt đã theo phò nhà Nguyễn 40 năm, hơn cả tuổi đời của Minh Mệnh. Quyền lực của Duyệt, Chất là không thể thách thức.  Những người này can dự vào một thế giới mà mâu thuẫn giữa quyền thần, phe nhóm có thể dẫn đến sự chao đảo của nền chính trị, cũng như tham vọng quyền lực của họ phủ bóng đen lên ngai vàng triều đại. Nhưng đó cũng là một thế giới mà vai trò của các nhà lãnh đạo khôn khéo như Gia Long, mạnh mẽ và tài năng như Minh Mệnh đã giúp kiểm soát và hạn chế xung đột phe nhóm, góp phần vào sự ổn định của vương triều. Một bài học mà nền chính trị Việt Nam sau này có thể tham khảo.  Các xung đột này bắt đầu từ trước khi Tây Sơn bị đánh bại năm 1802. Sự phức tạp trong thành phần những người theo Nguyễn Ánh là nguyên nhân chủ đạo. Đầu tiên là nhóm công thần Vọng Các (những người bôn ba theo Nguyễn Ánh sang Bangkok từ 1784 đến 1787) và những người gia nhập ở miền Nam với nhóm những người đến sau, từ miền Bắc vào, đặc biệt là hàng tướng Tây Sơn như Lê Chất và Nguyễn Văn Trương. Sự dèm pha đối với những hàng tướng lĩnh này luôn là vấn đề gây chia rẽ quân Gia Định, và buộc Nguyễn Ánh nhiều lần trấn an (ĐNTL; I, q.20).  Mâu thuẫn nhóm thứ hai, quyết liệt và lâu dài hơn, giữa phe tướng lĩnh “trận mạc” Lê Văn Duyệt, Lê Chất với các tướng lĩnh “học giả” như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Quân của Nguyễn Ánh chia làm 5 đạo. Duyệt là Chưởng tả quân, xuất thân thái giám, theo Nguyễn Ánh lúc 17 tuổi, trong khi Thành, Chưởng tiền quân được coi là có học thức, cha là cai đội của chúa Nguyễn. Ông cùng cha phò chúa Nguyễn và Nguyễn Ánh từ lúc 15 tuổi (1773), nổi tiếng trong quân không chỉ ở tài năng quân sự mà còn bởi sự uyên thâm văn chương và khả năng bày mưu tính kế. Đối lập với Thành, Duyệt lấy dũng làm cơ sở tiến thân, như ông thể hiện trong trận Thị Nại (1801).  Cùng phe với Thành là Đặng Trần Thường. Ông đỗ sinh đồ nhà Lê và theo Nguyễn Ánh từ 1794 với chức Hữu tham tri Lại bộ (hàm thứ trưởng). Nổi tiếng với khả năng “gây thù chuốc oán”, Thường nhanh chóng trở thành đối thủ của Chất. Cả Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường tập hợp quanh mình các trí thức Bắc Hà như Vũ Trinh, Nguyễn Gia Cát. Họ đóng vai trò quan trọng trong buổi đầu việc xác lập thể chế của triều Nguyễn cho đến khi Thành bị thất thế năm 1816, dẫn đến sự sụp đổ của cả nhóm này. Cạnh tranh với Thành và Thường là các học giả xuất thân từ Gia Định (và Đàng Trong) như Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng. Những người này giúp Nguyễn Ánh xây dựng hệ thống chính trị ở Gia Định trước năm 1802 và sau này là hỗ trợ Minh Mệnh trong những năm đầu.    Bản tấu của mẹ Chưởng hậu quân Lê Chất là Đào Thị Thôn về việc đấu thầu đầm Vũng Lấm, phủ Quy Nhơn và xin giảm nửa thuế kể từ năm Tân Tỵ về sau. (tháng chạp năm 1820). (Châu bản triều Minh Mệnh, tập 1).  Lời châu phê của vua Minh Mệnh: “Thuế lệ vẫn như cũ, tuy nhiên xét con của thị có công với nước nhà, vì thế gia ân từ năm Tân Tỵ trở về sau, đặc chuẩn cho Đào Thị Thôn lãnh thầu thửa Ghềnh Miệt, đầm Vũng Lấm, mỗi năm miễn nửa tiền thuế 600 quan, chỉ nộp nửa phần 600 quan, để tỏ ý rất ân dưỡng người già của trẫm. Bộ Hộ biết đó để thi hành”.   Cùng phe với Duyệt là Lê Chất, một người Bình Định. Ông phục vụ dưới trướng Tây Sơn trước khi đến Quy Nhơn đầu hàng Nguyễn Ánh năm 1799. Hai năm sau, ông được phong Quận công, và 1802, thành Chưởng hậu quân, lãnh binh đánh ra Bắc Hà. Duyệt và Chất cùng sát cánh trong nhiều chiến dịch và có vẻ như cả hai coi thường sự “nhút nhát” của Thành (ĐNTL: I, q. 23; QTCBTY, q.1).  Mâu thuẫn giữa hai nhóm này sẽ định hình lịch sử Việt Nam ít nhất là ba thập kỷ sau đó. Gia Long biết rõ điều này và tìm cách tạo ra sự ganh đua giữa hai bên bằng cách phái Đặng Trần Thường đi theo Thành. Nhà vua Nguyễn sau đó tìm cách dung hòa bằng việc cử Duyệt vào Gia Định và Thành ở Hà Nội. Tài năng của họ sẽ giúp ông quản lí vùng đất này gần như trong suốt thời kỳ trị vì. Thành, với tri thức của mình còn được giao biên soạn Hoàng Việt luật lệ (1812), và rõ ràng là đã gây được ảnh hưởng lớn ở Huế trong những năm 1812-1816, trong đó có cuộc vận động cho con của hoàng tử Cảnh (hoàng tôn Đán) lên kế ngôi.  Phe phái, quyền lực và cuộc tranh giành ngôi vị thái tử năm 1816 là một trong những sự kiện quan trọng nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Sử quan nhà Nguyễn chắc chắn đã cố tình làm giảm tính chất nghiêm trọng của các xung đột này nhằm gia tăng tính chính thống cho ngai vàng của Minh Mệnh. Tuy nhiên, những gì diễn ra cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của cuộc chiến ngai vàng đến tập hợp phe phái và phân chia quyền lực chính trị ở Việt Nam.  Gia Long, lúc này 54 tuổi, nhận ra bầu không khí căng thẳng trong triều đình liên quan đến cuộc chiến kế vị, đặc biệt là bắt đầu hoài nghi cuộc vận động của Nguyễn Văn Thành ở Huế. Văn thần kỳ cựu như Trịnh Hoài Đức, trong một bữa tiệc cũng phải can ngăn rằng “Việc lớn của nhà nước, quyết định do ở lòng vua, nếu người bầy tôi định kế riêng, tham lấy công to thì tội lại lớn.” (ĐNTL: I, q. 51). Với sự “đa nghi” được rèn luyện qua hơn nửa đời người bôn ba, Gia Long rõ ràng nhìn hoạt động này hoàn toàn xuất phát từ ý đồ cá nhân của Thành nhằm thao túng triều chính bằng việc đưa lên ngai một ông vua nhỏ tuổi (ĐNTL: I, q. 51). Để tạo ra đối trọng với Thành, năm 1815, Gia Long gọi Lê Văn Duyệt về Huế. Ban đầu, Duyệt có vẻ như cũng không hài lòng với địa vị “không chính thống” của hoàng tử Đảm (con thứ phi), cũng như lo ngại ảnh hưởng tiêu cực của một ông vua “Nho giáo” đối với giao tiếp của ông với phương Tây, đặc biệt là thương nhân và giáo sĩ. Mặc dù vậy, Duyệt đã tìm cách thoát ra khỏi “cuộc chiến cung đình” ở Huế năm 1816 một cách an toàn bằng cách tuân theo ý chí của Gia Long. Ông thậm chí còn ghi điểm với nhà vua tương lai bằng việc giúp hạ bệ Nguyễn Văn Thành bằng việc tố cáo bài thơ phản nghịch do con Thành là Nguyễn Văn Thuyên làm (ĐNTL: I, q. 51).  Trong cuộc chiến này, đối thủ của Duyệt và Chất bị tổn thất nặng nề. Ba năm trước, đồng minh thân cận của Thành là Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát trở thành nạn nhân của Lê Chất khi Chất được cử thay Thành phụ trách Bắc Thành. Thường bị giết năm 1813. Khi vụ án bài thơ phản nghịch được đưa lên, Duyệt được cử đi tra xét và Thuyên nhận tội. Nguyễn Văn Thuyên sau đó bị giết, Thành tự sát, và một đồng minh khác của ông ở triều đình là Vũ Trinh bị đày đến Hội An.  Với sự thất sủng của Ngô Nhân Tịnh, sau đó cả Tịnh và Lê Quang Định đều qua đời năm 1813, liên minh của Lê Văn Duyệt, Lê Chất chắc chắn là “phe nhóm” lớn nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Điều này không hoàn toàn có nghĩa là nó được hiểu theo nội hàm hiện đại, liên quan đến tham nhũng và lũng đoạn quyền lực. Chất và Duyệt đại diện cho thế hệ các lão thần cuối cùng của thời đại Gia Long: các tướng lĩnh quân sự nắm giữ các vùng đất địa phương trong sự đối đầu với một ông vua cải cách tập quyền hóa, với mong muốn thâu tóm quyền lực địa phương qua con đường trực trị.  Họ chống lại cải cách hành chính với sự gia tăng lễ nghi triều đình và sự phức tạp hóa của nền chính trị. Khi Trịnh Hoài Đức được yêu cầu tham khảo điển chế cũ để tấu lên thi hành, hai người này tấn công trực tiếp vào Đức và cáo buộc ông thao túng, dèm pha vị vua mới lên ngôi (Liệt truyện, q. 24). Cáo buộc này không gì khác là một tấn công trực diện vào dự án chính trị tâm huyết của Minh Mệnh.     Lại bộ Tả thị lang Lê Bá Tú nêu ra 16 tội của Lê Chất (1835). (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 24).  Theo sau vụ án, vợ Lê Chất là Lê Thị Sa bị đày lên Cao Bằng. Năm người con (4 trai, 1 gái) bị giết và gia sản bị tịch thu 22,000 quan tiền.    Quan hệ giữa Lê Văn Duyệt, Lê Chất với Minh Mệnh là một trong những ẩn số phức tạp nhất của cấu trúc chính trị Việt Nam trong những năm 1820. Duyệt và Chất phản ánh cách thức vận hành quyền lực cũ, phân tán thời Gia Long trong xung đột với một ông vua tìm cách thâu tóm quyền lực, thiết chế hóa lễ nghi, điển chế. Cuộc tấn công của Minh Mệnh vào Thiên Chúa giáo chắc chắn đã làm Duyệt không hài lòng. Ông đã đi theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu tiên và vẫn còn nhớ sự giúp đỡ của giáo sĩ phương Tây cũng như lính đánh thuê trong đạo quân đã đánh bại Tây Sơn. Ông cũng thấy được vai trò của thương mại trao đổi với phương Tây đối với nền kinh tế vùng hạ lưu Mekong, đặc biệt là các vũ khí mới giúp ông đủ sức đương đầu với quân Siam ở Cambodia. Với Duyệt, sự thịnh vượng và an toàn của vùng đất ông cai trị gắn liền với giao thương với bên ngoài. Vì thế, phản ứng của Duyệt và Chất đối với Minh Mệnh nhằm hạn chế sức ép từ Huế là điều dễ hiểu (Liệt truyện, q. 24, Choi 2004).    Ở một khía cạnh khác của mối quan hệ phức tạp này, cũng chính Duyệt là người thực hiện bản án cuối cùng dành cho vợ của hoàng tử Cảnh vào năm 1824. Sự kiện được ghi lại đó là khi có người cáo việc riêng của Hòa công Mỹ Đường dâm loạn với mẹ là Tống Thị Quyên, Duyệt mật đem việc ấy tâu Minh Mênh. Nhà vua đã sai bắt Tống Thị đóng cũi giải đến cho Duyệt đem dìm chết và giáng Mỹ Đường (hoàng tôn Đán) làm thứ dân (Liệt truyện, q. 22).  Minh Mệnh rõ ràng không hài lòng với hai viên nhất phẩm đại thần, chưởng quân và tổng trấn hai thành Bắc, Nam, nhưng ông có chiến thuật riêng của mình. Thành công của ông trong việc loại bỏ dần quyền thần, chống lại xu thế bè phái và lũng đoạn quyền lực dựa trên ba công cụ chủ yếu.  Thứ nhất, ông tập trung đào tạo lớp nho sĩ mới, những người trung thành với ông và có cùng ý chí thực hiện dự án chính trị tập quyền hóa. Bằng việc mở khoa thi chọn tiến sĩ hai năm sau khi lên ngôi (1822), hơn một thập kỷ sau đó, ông có trong tay gần 80 tiến sĩ và phó bảng để thay thế cho các cựu thần và tướng lĩnh cũ.  Thứ hai, dùng chính công cuộc cải cách hành chính, quân sự như một đòn bẩy để “thay máu” nền chính trị. Dùng sự phức tạp của nền cai trị hậu chiến để đẩy phe “quân sự” dần rút lui khỏi địa hạt chính quyền. Trong dụ về thành lập Nội Các năm 1829, Minh Mệnh tỏ ra cẩn trọng đặc biệt đối với quyền thần và bè phái và quyết tâm sử dụng sự ràng buộc thể chế để kiểm soát hệ thống thay vì đặt niềm tin vào cá nhân (châu bản Minh Mệnh, tờ 83, tập 40).  Thứ ba, dùng hình pháp nghiêm khắc để ngăn chặn nguy cơ của bè phái và lũng đoạn quyền lực trong triều, cho dù là những dấu hiệu nhỏ nhất. Không chỉ cấm quan lại không được làm quan tại quê nhà; cấm quan lại không lấy vợ ở nơi cai trị; cấm quan lại không được kết giao, hôn nhân với vương công, quý tộc; cấm quan lại cấp cao thăm viếng nhau (trừ khi có việc công); cấm quan lại chấm thi khi có người nhà ứng thí, cấm những người trong cùng gia đình bổ nhiệm cùng cơ quan…  Đến năm 1834, Minh Mệnh đã thành công với dự án tập quyền hóa lãnh thổ và chính trị của mình, đồng thời “thay máu” cho nền hành chính bởi một thế hệ quan chức mới. Tuy nhiên, nền cầm quyền ngắn ngủi của Thiệu Trị (1841-1847) và sự yếu ớt của Tự Đức (1848-1883) đã không thể tiếp tục duy trì hệ thống do Minh Mệnh tạo ra. Sự quan liêu hóa là một tất yếu của tất cả các hệ thống hành chính. Minh Mệnh với một bàn tay mạnh có thể giữ được hệ thống vận hành và bảo đảm rằng không một quan chức nào có thể lũng đoạn hệ thống. Việc ông đọc và châu phê hàng chục nghìn tấu sớ trong hai thập kỷ cầm quyền cho thấy không chỉ tỉnh táo và chặt chẽ trong quản lí hệ thống hành chính mà còn là khả năng đủ sức làm việc để bao quát được nền chính trị. Cháu của ông, Tự Đức hoàn toàn không có ý chí chính trị mạnh mẽ đó, và hệ thống vì thế ngày càng lệ thuộc vào các viên chức quyền lực như Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương…    Cuối cùng, phe phái là sản phẩm của sự vận hành các hệ thống chính trị, xã hội nơi mà dựa theo hệ tiêu chí nào đó, các cá nhân tập hợp lại với nhau dưới cùng một mục tiêu, lợi ích. Lợi ích nhóm vì thế luôn song hành và chi phối sự thăng trầm của các xã hội. Mặc dù vậy, sự quyết liệt và chặt chẽ của Minh Mệnh đã góp phần hạn chế hình thành và lũng đoạn của các đại thần quyền lực và các nhóm lợi ích. Lịch sử ghi nhận đóng góp này, mà nhờ đó sự thống nhất chính trị và lãnh thổ của nước Việt Nam hiện đại được bảo tồn và củng cố.  Tham khảo  Cao Xuân Dục. QTCBTY-Quốc Triều Chính Biên toát yếu. Bản Hán: thư viện Quốc gia; bản dịch: Huế: Thuận Hóa, 1998.  Châu bản triều Nguyễn, thời Minh Mệnh, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.  Choi Byung Wook. 2004. Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng. Ithaca, N.Y: Cornell University Press; bản dịch, Hà Nội: Thế giới, 2011.  Đại Nam Thực Lục (ĐNTL): bản Hán: Tokyo, 1977, bản dịch, Hà Nội: Giáo dục, 2004.  Đại Nam liệt truyện: bản Hán, Tokyo: 1977, bản dịch, Huế: Thuận Hóa, 1993.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Phép màu kỳ diệu của Mendel  (kỳ 1)      Tháng 7/2022 đánh dấu 200 năm ngày sinh của Gregor Mendel, người thường được vinh danh là “cha đẻ của di truyền học hiện đại”. Lần theo nguồn gốc của Mendel, đọc lại công trình nổi tiếng “Các thí nghiệm lai tạo thực vật” (Versuche über Pflanzenhybriden) của ông, chúng ta có thể chiêm nghiệm ý nghĩa mang tính cách mạng và di sản khoa học khiến công trình này tiếp tục định hình sinh y học hiện đại cho đến ngày nay.     Gregor Mendel đang làm việc bên những cây đậu nổi tiếng. Nguồn: Twitter  Một thế giới mới của vật chất hữu sinh  So với vật chất vô sinh, việc quan sát cũng như đo đếm hoạt động của các thành phần phân tử trong tế bào hữu sinh là vấn đề vô cùng khó khăn. Tuy vậy, ngày nay chúng ta đã biết cấu trúc đến mức nguyên tử của hầu hết các đại phân tử trong tế bào. Phương pháp đo đếm sự tương tác của các cấu trúc này theo không gian và thời gian cũng ngày càng tinh vi. Quan trọng hơn cả là chúng ta đã hiểu cách các cấu trúc này được tạo ra, và cách thức tế bào truyền lại thông tin để các thế hệ sau cũng có thể tạo ra được những cấu trúc như vậy. Tri thức này đã thay đổi cách ta hiểu và cả chữa trị bệnh tật. Khả năng giải trình tự DNA gần như không có giới hạn ngày nay đã tạo ra một cuộc cách mạng trong việc theo dõi các dịch bệnh lây lan, chẩn đoán bệnh cũng như xác định nguyên nhân di truyền hay môi trường gây bệnh.  Cuộc cách mạng giải trình tự DNA còn cho phép cả việc quan sát và mô tả hệ sinh thái, cho phép ta hiểu rõ thêm mối quan hệ và sự phụ thuộc của bản thân mình đối với những sinh vật khác. Trừ vấn đề nguồn gốc sự sống vốn vẫn còn nhiều suy đoán, công nghệ giải trình tự DNA đã cho phép ta hiểu sâu sắc về những giai đoạn chuyển tiếp then chốt trong quá trình tiến hóa. Ví dụ nổi bật là phát hiện gần đây cho thấy tất cả các tế bào nhân thật (eukaryotae) đều là hậu duệ từ một nhánh đặc biệt của vi sinh vật cổ (Archaea), những sinh vật có protein tiền thân của nhiều loại protein mà trước đây người ta nghĩ chỉ có eukaryotae mới có. Việc khám phá ra sự đứt gãy cả hai mạch DNA dẫn đến hiện tượng tái tổ hợp tương đồng cũng đã mở ra nhiều kỹ thuật rất tốt trong thay đổi bộ gene ở bất kỳ sinh vật nào. Những kỹ thuật này mang lại lợi ích to lớn cho nông nghiệp và y khoa, song mong muốn dùng chúng để “cải thiện bản thân” chúng ta cũng sẽ đưa đến nhiều hệ quả xã hội khó lường mà không phải cái nào cũng có lợi. Nói ngắn gọn, những tiến bộ gần đây đã mở ra cho ta một “thế giới mới đầy táo bạo”.  Những thành tựu này đều dựa trên hai trụ cột phương pháp luận song song. Một là việc xác định cấu trúc các đại phân tử trong đó có DNA bằng phương pháp nhiễu xạ sóng điện từ. Hai là mô tả và truy dấu phân li các biến dị DNA bằng các kỹ thuật di truyền cổ điển trước đây hay các kỹ thuật giải trình tự DNA sau này. Cả hai cách tiếp cận này rất khác nhau, nhưng đều là nguồn gốc của những thông tin đáng tin cậy và chính xác nhất về sinh vật sống. Và điều đáng lưu ý là cả hai đều bắt nguồn từ những sự kiện có ý nghĩa lịch sử cùng diễn ra vào năm 1865: công bố của James Clerk Maxwell về lý thuyết động học trường điện từ, và loạt bài báo cáo của Gregor Mendel về lai tạo thực vật trước Hội lịch sử tự nhiên Brünn (nay là Brno). Công trình của Maxwell là bước tiếp nối giữa Isaac Newton và Albert Einstein, tạo cơ sở cho toàn bộ ngành sinh học cấu trúc. Còn thí nghiệm của Mendel mở đầu cho một lĩnh vực phân tích định lượng hoàn toàn đặc trưng cho sinh học mà không vay mượn từ hóa học và vật lý – một phương pháp chìa khóa mở ra cánh cửa cất giấu bí ẩn cốt lõi của sự sống: sinh vật sinh sản như thế nào.  Tư duy sáng suốt của Mendel hay ở chỗ nó cho phép ta đo đếm hiện tượng truyền thông tin di truyền mà không cần phải biết cơ sở vật chất, chỉ cần quan sát quá trình truyền tính trạng là được. Nói cách khác, ta chỉ cần khảo sát cách dịch chuyển của thông tin chứ không cần của vật chất. Việc tìm ra cơ sở vật chất của hiện tượng di truyền phải cần đến các khám phá sau này về nhiễm sắc thể, chứng minh một bộ nhiễm sắc thể hoàn chỉnh là cần thiết cho phát triển, rồi kết luận được sự giảm số lượng nhiễm sắc thể trong quá trình hình thành giao tử rồi nhân đôi khi hình thành hợp tử là rất giống với những quan sát về di truyền tính trạng của Mendel. Lý thuyết nhiễm sắc thể xuất phát từ đây không chỉ là tiền đề trực tiếp cho cuộc cách mạng DNA hiện đại, mà còn là cơ sở khoa học cho quan điểm của Charles Darwin và Alfred Wallace rằng các loài được hình thành từ chọn lọc các biến dị cạnh tranh. Quan điểm này thực ra ban đầu giống với một luận điểm xuất phát từ các tham vọng xã hội và đế quốc hơn là một giả thuyết có thể kiểm chứng được. Chẳng những thế, quan điểm của Darwin và Wallace cũng chỉ đúng một phần do các yếu tố ngẫu nhiên và hiệu ứng trôi dạt di truyền (genetic drift) cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng bên cạnh “đấu tranh sinh tồn”. Tiến hóa là một hệ luận vô cùng quan trọng, nhưng thực ra không phải cơ sở cho các giả thuyết về vai trò của DNA trong sinh vật sống.    Phát hiện gần đây cho thấy tất cả các tế bào nhân thật (eukaryotae) đều là hậu duệ từ một nhánh đặc biệt của vi sinh vật cổ (Archaea), những sinh vật có protein tiền thân của nhiều loại protein mà trước đây người ta nghĩ chỉ có eukaryotae mới có.    Công trình đột phá của Mendel là một trong năm nhánh lớn hợp thành kiến thức sinh học hiện đại bao la. Ba nhánh khác là: tế bào học về sự phân bào và phân chia nhiễm sắc thể, nghiên cứu các phản ứng hóa học trong tế bào, và tìm hiểu cấu trúc các đại phân tử bằng nhiễu xạ sóng điện từ. Còn nhánh cuối cùng là khái niệm về sự canh tranh giữa các biến thể DNA đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới sinh vật vô cùng đa dạng đang tồn tại và chỉ tồn tại trên hành tinh này.  Nguồn gốc của những phát hiện đột phá  Vậy Mendel từ đâu tới, ông đã làm gì, ông làm như thế nào và tại sao, ông đã kết luận gì, những việc này quan trọng ra sao, và những đóng góp của ông có thực sự đặc biệt?  Mendel chào đời ngày 22/7/1822 trong gia đình có cha mẹ là nông dân nghèo, nói tiếng Đức ở một khu làng nhỏ lúc bấy giờ có tên gọi là Heizendorf, nay thuộc lãnh thổ Cộng hòa Czechia. Lúc nhỏ, Mendel học trường làng, sau đó ông lên Troppau học trung học nên phải ở xa nhà sáu năm. Mendel có một thời gian quay về nhà để phụ giúp gia đình sau khi cha của ông bị thương tật do tai nạn. Tuy nhiên, Mendel nhanh chóng quay lại học, tốt nghiệp trung học, rồi vào đại học ở Olmütz. Mặc dù gia đình bán cả nông trại và được em gái giúp đỡ thêm, nhưng Mendel cũng chỉ đủ tiền học hai năm đầu. May sao, nhờ thành tích học tập tốt, đặc biệt là luôn đạt điểm vật lý cao nhất, Mendel được nhận vào dòng tu Augustinus ở Brünn với dự định sau này sẽ dạy học cả đời ở một trường trung học địa phương.  Là người sống nội tâm, Mendel rất muốn làm thầy giáo. Tuy vậy, Mendel lại trượt hai lần khi thi vấn đáp để lấy chứng chỉ dạy học. Một phần là do ông quá căng thẳng, nhưng một phần cũng là do ông không chịu đưa ra câu trả lời mà giám khảo muốn nghe. Mendel thi trượt không phải vì vật lý mà là vì môn lịch sử tự nhiên – thật quá trớ trêu vì ông chính là người có những đóng góp to lớn nhất cho lĩnh vực này về sau. Nhưng thi trượt thế mà lại là chuyện may. Sau lần trượt đầu tiên, Mendel được tu viện trưởng Cyrill Napp sắp xếp cho đi học hai năm ở Wien. Ở đó, Mendel theo học sinh lý thực vật và tế bào học dưới sự hướng dẫn của Franz Unger. Unger là người giới thiệu cho Mendel khái niệm thụ tinh là sự kết hợp giữa tế bào đực và tế bào cái. Cũng nhờ ông mà Mendel được biết rằng các loài sinh vật hiện hữu không phải xuất hiện ngay từ đầu mà tiến hóa qua sự sinh sôi tế bào liên tiếp từ tổ tiên chung, và không phải hậu duệ nào cũng sống sót. Về mặt cơ sở tế bào học và cổ sinh vật học, các ý tưởng tiến hóa của Unger mang tính cơ học hơn, không nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh như ý tưởng của Darwin và Wallace.  Một triển lãm về thành tựu của Mendel tại nơi ông sinh ra. Nguồn: mendel-genetics.cz/  Ngoài ra, Mendel còn học vật lý thực nghiệm dưới sự hướng dẫn của Christian Doppler rồi sau đó là Andreas von Ettinghausen. Nhờ thầy, Mendel nắm rất vững môn toán tổ hợp mà sau này rất có tác dụng trong việc phân tích kết quả các thí nghiệm lai tạo. Sau thi trượt lần thứ hai thì Mendel buộc phải quay lại Brünn mà không có chứng chỉ, và không được dạy có nghĩa là trong vòng một thập kỷ tới Mendel có thể dành phần nhiều thời gian cho nghiên cứu.  Người đi trước thời đại  Nguồn gốc các loài là một trong những vấn đề trung tâm lúc bấy giờ, và người ta cho rằng lai tạo có vai trò quan trọng. Một phần là do kết quả lai mang tính trạng mới đôi khi là thuần chủng, nhưng có khi người ta cũng thấy thực vật có thể chịu biến đổi rất lớn khi lai liên tiếp bằng phấn từ cây có các đặc điểm khác nhau. Mặc dù nổi tiếng nhờ công trình lai tạo không có phân li biến dị, nhưng thực tế Mendel cũng rất quan tâm đến lai bất biến mà ngày nay chúng ta biết là kết quả của một tiến trình bỏ qua giảm phân. Lai tạo vật nuôi và cây trồng có vai trò then chốt với kinh tế địa phương, đó chắc cũng là lý do thúc đẩy Mendel đi vào con đường nghiên cứu lai tạo. Như vậy, chọn tạo vật nuôi và cây trồng không chỉ giúp Darwin áp dụng vào khái niệm chọn lọc “tự nhiên”, mà còn giúp Mendel tìm ra cách thức các tính trạng được di truyền.  Tuy cả Mendel lẫn Darwin đều có chung mục tiêu tìm cách giải thích loài mới phát sinh ra sao, nhưng họ lại đi theo hai hướng tiếp cận rất khác nhau. Ý tưởng ban đầu đơn giản một cách tài tình của Darwin là loài mới hình thành qua quá trình “chọn lọc tự nhiên” của các tính trạng di truyền khác nhau rất nhỏ nhưng ảnh hưởng đến khả năng mỗi cá thể cạnh tranh giành các nguồn tài nguyên có hạn. Ý tưởng này chịu sự ảnh hưởng từ công trình của Thomas Malthus chứng minh rằng quần thể cứ tăng trưởng mãi sẽ đến lúc cạn kiệt nguồn thức ăn. Darwin sau đó đem ý tưởng này ra xem xét trong công trình tổng quan bách khoa toàn thư lỗi lạc về thế giới sống của ông (“Nguồn gốc các loài”, 1859).    Thí nghiệm của Mendel mở đầu cho một lĩnh vực phân tích định lượng hoàn toàn đặc trưng cho sinh học mà không vay mượn từ hóa học và vật lý – một phương pháp chìa khóa mở ra cánh cửa cất giấu bí ẩn cốt lõi của sự sống: sinh vật sinh sản như thế nào.    Quan điểm của Darwin và Wallace như cách được đưa ra ban đầu thì đương nhiên là đúng. Một khi ta chấp nhận rằng khả năng sinh sản khác nhau được di truyền, và có một cơ chế khiến cho sự khác biệt về khả năng sinh sản đó nảy sinh, thì đương nhiên chọn lọc tự nhiên là một kết luận logic. Theo nghĩa này thì nó giống với toán học hơn là khoa học thực nghiệm. Nhờ những tác phẩm vang danh của Darwin mà khái niệm chọn lọc tự nhiên nhanh chóng được phổ biến. Tuy không phải tất cả nhưng nhiều người chấp nhận khái niệm này, và nó có sức ảnh hưởng vô cùng lớn trong việc thay đổi cách con người nhìn nhận sự tồn tại của chính mình. Đây có lẽ phần nào là do khái niệm này phản ánh cũng như khuyến khích não trạng đế quốc đang thịnh hành bấy giờ. Tuy nhiên, lý thuyết của Darwin và Wallace không giải thích được sự di truyền tính trạng. Do đó, nó không thực sự dẫn đến một phương pháp hoàn toàn mới để giải đáp ẩn số cốt lõi của sự sống là sinh vật sinh sản như thế nào, chứ chưa nói tới vật liệu thô cho chọn lọc tự nhiên là tính trạng được di truyền ra sao. Về mặt khoa học, khái niệm của Darwin và Wallace bị mắc kẹt trong một ngõ cụt cho đến khi được di truyền học Mendel mở lối thoát, giúp cho nó có một nền tảng thực nghiệm.  Khác với Darwin và Wallace, lối tiếp cận của Mendel dẫn đến một phương pháp hoàn toàn mới trong đo đếm tập tính của sinh vật sống. Hệ quả của nó là cả một cuộc cách mạng trong sinh y học tuy có bị trễ nhiều thập kỷ. Công trình của Mendel không được phổ biến rộng rãi, lại quá khác biệt và trừu tượng khiến cho những người cùng thời với ông khó hiểu được. Darwin chưa bao giờ đọc được bài báo của Mendel. Nhưng Carl von Nägeli, một người được cho là chuyên gia và cũng là người sau này đặt ra thuật ngữ “chủng chất” (idioplasm) cho vật liệu di truyền, rõ ràng là có đọc công trình của Mendel. Mặc dù hai bên trao đổi rất nhiều, nhưng von Nägeli lại không hề đề cập gì đến công việc của Mendel trong công trình kinh điển của mình (“Lý thuyết sinh lý cơ học của tiến hóa hữu cơ”, 1898). Có thể von Nägeli không hiểu bài báo của Mendel chứ chưa nói tới đánh giá đúng tầm quan trọng của nó, hoặc cũng có thể von Nägeli không muốn hiểu.  Gregor Mendel được ghi danh trên các con tem. Nguồn: mendel-genetics.cz  Còn Darwin thì có khái niệm về thụ tinh rất khác với Mendel – ông cho rằng phải có nhiều tế bào phấn cùng tham gia. Do đó rất có thể là ngay cả khi Darwin có bài báo của Mendel trong tay, ông cũng không hiểu hết ý nghĩa của nó. Trên thực tế, Darwin cũng có phân tích các phép lai, ông khảo sát các màu hoa mõm sói (Antirrhinum) khác nhau, mô tả tính trạng trội và lặn, và cũng nhận thấy tính trạng lặn xuất hiện trở lại ở một phần tư số cây lai thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, Darwin không tiếp tục phân tích thêm. Có lẽ Darwin không có niềm say mê các con số như Mendel. Darwin cũng không có sự tập trung cao độ như Mendel và viễn kiến rằng việc tập trung tìm hiểu những phép lai này sẽ cho ta biết những quy luật về tự nhiên với mức độ phổ quát vốn thường chỉ các định luật vật lý mới có.  Mendel kiên trì tiếp tục với các thí nghiệm lai tạo để rồi tìm ra quy luật các cặp tính trạng khác nhau được di truyền độc lập. Những thí nghiệm này cần phải phân tích sản phẩm của hàng ngàn phép lai trong vòng ít nhất là 6 năm – một công trình công phu hơn hầu hết nếu không muốn nói là tất cả các bài báo sinh học hiện đại.  Một điểm quan trọng khiến công việc của Mendel bị bỏ qua là nhiễm sắc thể và vai trò của nó trong di truyền vẫn chưa được biết đến lúc đó; lỗ hổng này khiến người ta khó gán một cơ sở vật chất nào cho những ý tưởng của Mendel. Kết quả là công trình của Mendel không được đề cao trong suốt thời gian ông còn sống.  Cuộc đời Mendel thật là một ánh sáng soi rọi cho những bạn trẻ dấn thân trên con đường khoa học. Ta phải đi theo nhận thức đúng sai của mình, tin vào bản thân, còn hậu thế chứ không phải những người đương thời mới có thể nhận xét ta một cách đúng đắn. Như Mendel đã nói khi được hỏi vì sao sự nghiệp của ông chẳng có ai biết đến: “Thời của tôi rồi sẽ tới”. □  ———  Phương pháp của Mendel nghiêng về thực nghiệm hơn, tức là đo đếm một cách rất chuẩn xác các loại cá thể lai khác nhau rồi vận dụng tư duy để giải thích, hay nói đúng hơn là lý thuyết hóa kết quả theo cách ít phải suy đoán nhất. Theo cách nhìn nhận này, lối tiếp cận của Mendel không có gì khác biệt so với khoa học hiện đại, trong khi phương pháp của Darwin thuộc về một thời đại khác. Do đó, hai ông đã đi đến những kết quả rất khác nhau.  (Còn tiếp)  Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: “The magic and meaning of Mendel’s miracle”, Nature 23:447 (2022), DOI: 10.1038/s41576-022-00497-2.    Author                Kim Nasmyth        
__label__tiasang Phép màu kỳ diệu của Mendel  (kỳ 2)      Việc Mendel không được đánh giá cao lúc sinh thời vẫn có một hậu quả đáng tiếc, đó là người ta đem đốt hết mọi ghi chép của ông khi ông qua đời. Do vậy, chúng ta không biết cụ thể Mendel tiến hành lai tạo thế nào, đã phân tích chính xác là bao nhiêu cây, hay suy nghĩ gì khi thực hiện công trình mất nhiều công sức như vậy.     Bức tranh cho thấy Gregor Mendel đang làm thực nghiệm với vườn đậu để tìm ra nguyên lý của tính di truyền. Nguồn: Bettmann/Getty Images  Những ước tính số lần thực hiện phép lai của Mendel có khả năng thiếu chính xác, khiến cho Ronald Fisher nghi ngờ rằng số liệu của Mendel quá hoàn chỉnh đến mức khó tin. May mắn thay, công bố “Các thí nghiệm lai tạo thực vật” năm 1866 của Mendel mô tả một cách tuyệt vời những động lực cũng như lựa chọn của ông, và ở một chừng mực nào đó giúp ta tìm hiểu những ẩn ý đằng sau những con chữ. Mendel đã chú ý say mê vào từng chi tiết ngay từ đầu, chắc chắn đây là đặc điểm giúp ông khám phá ra những quy luật mà những người làm các thí nghiệm tương tự không nhận ra.   Để tránh nhập nhằng trong ghi chép kết quả lai, Mendel phân tích cá thể lai hình thành từ các giống đậu Hà Lan (Pisum sativum) thuần chủng có các tính trạng khác nhau hoàn toàn – ví dụ như tính trạng trơn hay nhăn của hạt, vàng hay xanh của nội nhũ. Tuy nghiên cứu nhiều tính trạng khác nhau, nhưng Mendel tập trung chủ yếu vào các đặc tính của hạt. Nhờ đó ông có thể phân tích kết quả lai mà không phải đợi cả năm (và cần thêm nhiều cá thể cây đậu) như phân tích tính trạng cây hay hoa.   Một lợi thế then chốt nữa khi nghiên cứu đậu Hà Lan là đây là loài tự thụ phấn, giúp cho việc tạo ra và phân tích kết quả lai dễ dàng. Tuy nhiên, nhờ kích thước hoa lớn, ta có thể cắt bỏ bao phấn trước khi phấn chín, rồi thụ phấn cho hoa đã khử đực bằng cách dùng cọ quét phấn từ cây khác lên hoa. Để kiểm chứng xem côn trùng có tham gia thụ phấn và làm ảnh hưởng đến thí nghiệm không, Mendel so sánh kết quả lai ở cây trồng ngoài trời với cây trồng trong nhà kính, mà trong đó Mendel cho bọ cánh cứng Bruchus pisorum sinh sôi để ăn các loại côn trùng thụ phấn. Đáng tiếc là cái nhà kính nổi tiếng ấy không còn nữa. Sự cẩn thận tới nhường ấy rất giống với trong thiết kế thí nghiệm hay các bài báo khoa học hiện đại.  Ngoài hình dáng và màu sắc hạt, Mendel còn nghiên cứu năm cặp tính trạng khác: vị trí hoa (mọc từ giữa cành hay mọc ở ngọn), màu hoa (tím hay trắng), chiều cao (cao hay thấp), hình dáng vỏ đậu (rộng hay hẹp), và màu vỏ đậu (vàng hay xanh). Đối với cả bảy cặp tính trạng này, thế hệ lai F1 của cây cha mẹ mang tính trạng khác nhau đều giống chỉ một bên cha hoặc mẹ. Tính trạng thể hiện ở F1 là “trội” còn tính trạng bị ẩn đi là “lặn”. Theo đó, hạt trơn là trội còn hạt nhăn là lặn, nội nhũ vàng là trội còn nội nhũ xanh là lặn – hiện tượng này không phụ thuộc việc tính trạng đó là của cha hay của mẹ truyền cho. Quan trọng là tất cả 7 tính trạng lặn đều có mặt nhưng ở dạng ẩn vì khi được tự thụ phấn thì lại xuất hiện ở thế hệ kế tiếp cho dù chỉ bằng khoảng 1/3 so với tính trạng trội. Không như những người đã quan sát thấy hiện tượng này trước đó, Mendel nhận ra rằng không phải cây lai mang tính trạng trội nào cũng giống nhau. Khi để chúng tự thụ phấn một lần nữa, 2/3 cây cho kết quả lai như thế hệ lai đầu tiên, tức là cho ra cả tính trạng lặn lẫn tính trạng trội theo tỉ lệ 1:3. Nhưng 1/3 cây lai kia thì chỉ cho ra cây con mang tính trạng trội – tức là những cây này là cây thuần chủng, cũng giống như con cái của thế hệ F1 mang tính trạng lặn vậy. Do đó, trong số các cá thể lai, 1/4 chỉ có tính trạng trội, 1/4 chỉ có tính trạng lặn, và một nửa thì giống như thế hệ lai F1 ban đầu, tức là tạo ra các cá thể con khác nhau.     Mendel đã chú ý say mê vào từng chi tiết ngay từ đầu, chắc chắn đây là đặc điểm giúp ông khám phá ra những quy luật mà những người làm các thí nghiệm tương tự không nhận ra.    Với kiến thức ngày nay, ta biết việc những tính trạng này luôn xuất hiện theo những tần số nhất định là do chúng chỉ do một gene quy định. Ví dụ, hình dạng hạt chắc chắn do nhiều gen quy định, và khả năng tính trạng mà Mendel chọn theo dõi không chỉ do một mà là hai gene quy định là hoàn toàn đã có thể xảy ra. Nếu thực tế đã diễn ra đúng như vậy thì chắc Mendel sẽ không quan sát thấy sự trội của một tính trạng so với tính trạng khác, còn chuyện phân tích kết quả lai chắc chắn sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Vì những ghi chép của Mendel không còn nữa nên chúng ta không bao giờ biết được thực ra Mendel đã may mắn chọn được những tính trạng không phải do nhiều gene quy định, hay thực ra ông đã khôn ngoan tập trung vào những đặc tính thể hiện rõ sự trội hay lặn.   Sáng tạo tuyệt vời tiếp theo của Mendel là đặt ra ký hiệu cho những kết quả này bằng ký tự như A và a để chỉ các tính trạng trội và lặn (ví dụ như hạt trơn và hạt nhăn), rồi B và b để chỉ một cặp tính trạng trội và lặn khác (chẳng hạn như hạt vàng và hạt xanh). Con lai của cây thuần chủng mang tính trạng A và cây thuần chủng mang tính trạng a được gọi là Aa vì chúng rõ ràng có mang cả tính trạng trội và lặn tuy tính trạng lặn không được thể hiện ra. Từ đây, chúng ta có ba loại cá thể con chứ không phải hai loại như người ta nghĩ trước đó: loại chỉ có A, loại chỉ có a, và loại Aa giống như thế hệ lai đầu tiên. Điểm mấu chốt là ba loại cá thể lai này xuất hiện theo tỉ lệ 1:1:2. Hiểu theo lời lẽ của Mendel thì biểu thức A + 2 Aa + a cho thấy tỉ lệ phân ly của các cá thể con từ cha mẹ Aa.   Mendel phân tích cá thể lai hình thành từ các giống đậu Hà Lan (Pisum sativum) thuần chủng có các tính trạng khác nhau hoàn toàn. Nguồn: mammothmemory.net/  Để theo dõi và hiểu đúng tư duy của Mendel, ta cần phải ngưng việc cố liên hệ cách ghi của Mendel với cách ghi AA + 2 Aa + aa ngày nay. Với những phương pháp có được lúc bấy giờ, tức là phân tích kết quả lai từ tự thụ phấn hay lai tạo, Mendel chỉ có thể chứng minh rằng cây Aa có mang tính trạng lặn lẫn tính trạng trội, nhưng ông không thể nào biết được rằng cây thuần chủng cũng có cặp tính trạng tuy hai tính trạng trong cặp giống nhau hoàn toàn. Nói cách khác, Mendel không có bằng chứng nào từ thực nghiệm để gọi các cá thể thuần chủng là AA hay aa. Hơn nữa, ông cũng không biết những tính trạng ông đang theo dõi được truyền lại qua nhiễm sắc thể mà luôn tồn tại theo cặp trong mỗi tế bào. Điều may mắn là việc ký hiệu cây thuần chủng là A hoặc a (chứ không phải AA hoặc aa) không cản trở việc giải thích và biện luận kết quả thí nghiệm của Mendel.  Bài báo kế tiếp của Mendel có lẽ là công trình đột phá nhất của ông: phân tích cá thể lai từ cha mẹ khác nhau từ hai cặp tính trạng trở lên. Ta vẫn không rõ những thí nghiệm này và thí nghiệm kể trên được thực hiện cùng nhau hay riêng biệt. Một vài phép phân tích một cặp tính trạng có thể cũng được thực hiện trên cây mang nhiều cặp tính trạng khác nhau. Trong thí nghiệm đầu, thụ phấn một cây AB có hạt trơn, vàng với một cây ab có hạt nhăn/xanh tạo ra toàn cây con có hạt trơn/vàng (AaBb). Những cây AaBb này khi tự thụ phấn sẽ tạo ra bốn loại hạt là trơn/vàng, nhăn/vàng, trơn/xanh, và nhăn/xanh theo tỉ lệ gần với 9:3:3:1. Khi tiếp tục đem gieo trồng, Mendel xác định được cây nào là thuần chủng còn cây nào không phải, rồi từ đó ông ký hiệu cho các loại cây con có cha mẹ là thế hệ lai F1 là AB, Ab, aB, ab, ABb, aBb, AaB, Aab, và AaBb. Các cây này có thể xếp thành ba nhóm. Nhóm 1 gồm AB, Ab, aB, và ab là những cây thuần chủng ở cả hai cặp tính trạng. Nhóm 2 gồm ABb, aBb, AaB, và Aab chỉ có một cặp tính trạng thuần chủng. Nhóm 3 là AaBb thì cả hai cặp tính trạng đều không thuần chủng. Điều đáng chú ý là mỗi loại cây lai xuất hiện theo tỉ lệ 1:2:4; tức là nếu mỗi loại trong nhóm 1 có 1 cây thì mỗi loại trong nhóm 2 và nhóm 3 lần lượt có 2 và 4 cây. Như vậy, ở phép lai cây không thuần chủng ở một cặp tính trạng, ta có ba kiểu con lại là A + 2 Aa + a, thì phép lai cây không thuần chủng ở hai cặp tính trạng sẽ tạo ra chín kiểu con lai là AB + Ab + aB + ab + 2 ABb + 2 aBb + 2 AaB + 2 Aab + 4 AaBb.   Chắc hẳn Mendel nhận thức được ý nghĩa của kết quả này nhờ kiến thức toán tổ hợp: tỉ lệ phân li khác nhau hai tính chất là sự kết hợp (hay nhân kết quả) của (A + 2 Aa + a) với (B + 2 Bb + b). Trong thí nghiệm thứ hai, hạt của cây thuần chủng có hạt trơn/vàng và vỏ xám (ABC) được thụ phấn bằng phấn của cây có hạt nhăn/xanh và vỏ trắng (abc). Kết quả phân tích của Mendel cho thấy, chuỗi tỉ lệ phân ly với 27 thành tố, là kết quả của sự kết hợp (A + 2 Aa + a), (B + 2 Bb + b), và (C + 2 Cc + c).   Từ những thí nghiệm này và những thí nghiệm tương tự liên quan đến hai hay ba cặp tính trạng, Mendel đã kết luận rằng: “Hậu duệ của con lai trong đó các tính trạng khác nhau về bản chất được hợp nhất thể hiện các tính chất của một chuỗi số tổ hợp mà tỉ lệ phân li cho mỗi cặp tính trạng khác nhau được kết hợp”. Theo Mendel, kết quả này chỉ có thể là do “mỗi cặp tính trạng khác nhau được kết hợp ở cá thể lai một cách độc lập với các tính trạng khác giữa hai cá thể cha mẹ ban đầu”.  Đây chính là quy luật phân ly độc lập của Mendel mà ta biết đến ngày nay. Quy luật này cho thấy đặc tính quan trọng của tiến trình di truyền các tính trạng. Nó còn dẫn đến một ý tưởng mang tính cách mạng rằng các đặc tính sinh lý khác nhau của thực vật phải được các ‘thành tố’ độc lập quy định (ngày nay ta biết đó là gene); và tuy chúng có vai trò khác nhau, chúng đều được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng một cơ chế giống hệt nhau. Điều này cũng cho ta thấy rõ câu hỏi thôi thúc nghiên cứu của Mendel, đó chính là nguồn gốc các biến dị dẫn đến sự hình thành loài mới. Menden đã nhận ra rằng nếu n là số các tính trạng khác nhau giữa hai cây cha mẹ, thì số lớp trong chuỗi tổ hợp là 3n và số tổ hợp bất biến là 2n. Mendel cũng có thực hiện một phép lai bao gồm hết cả bảy cặp tính trạng, và chứng minh rằng kết quả cho ra 27 (128) tổ hợp bất biến khác nhau, mỗi tổ hợp trên lý thuyết đều có thể dẫn đến hình thành một loài mới. Không rõ Darwin sẽ nghĩ gì khi có được những thông tin này.    Vì những ghi chép của Mendel không còn nữa nên chúng ta không bao giờ biết được thực ra Mendel đã may mắn chọn được những tính trạng không phải do nhiều gene quy định, hay thực ra ông đã khôn ngoan tập trung vào những đặc tính thể hiện rõ sự trội hay lặn.    Sự tài tình của Mendel không chỉ ở việc ông tiến hành đủ các phép lai để nhận ra quy luật di truyền và tổ hợp toán học của chúng, mà còn ở chỗ ông nhận biết được cơ chế của hiện tượng này bằng trực giác. Mendel đề xuất rằng: mỗi tế bào phấn (giao tử đực) và mầm (giao tử cái) của cá thể Aa chỉ chứa một A hoặc một a mà không bao giờ có cả hai; các tế bào giao tử A và a được tạo ra với số lượng bằng nhau; giao tử cái chỉ cần một giao tử đực thụ phấn; và con lai thuần chủng sẽ được tạo ra nếu giao tử đực và giao tử cái mang cùng mang A hoặc cùng mang a. Nếu cho rằng cơ hội thụ phấn của các giao tử là như nhau thì ta sẽ có bốn kiểu thụ phấn: giao tử cái A với giao tử đực A, giao tử cái A với giao tử đực a, giao tử cái a với giao tử đực A, và giao tử cái a với giao tử đực a (tức là, A/A + A/a + a/A + a/a); phép lai này sẽ tạo ra hai dòng thuần chủng và hai dòng không thuần chủng theo chuỗi A + 2 Aa + a. Đây là lúc Mendel đã có thể thay đổi hệ thống ký hiệu và dùng AA và aa để chỉ cá thể thuần chủng. Tuy nhiên, có lẽ Mendel đã không làm vậy vì nhiều lý do. Trước hết là thay đổi giữa bài như thế sẽ làm người đọc khó hiểu vì không giống với cách ghi trước đây. Lý do thứ nữa là cách ghi này không thống nhất với lý giải tiếp theo (mà thực ra là sai) của ông về cách các tính trạng được kết hợp khi thụ phấn. Lý do cuối là có đổi cách ghi hay không thì cũng không ảnh hưởng đến kết luận ở đây. Việc thay đổi cách ghi ký hiệu chỉ hoàn toàn cần thiết khi ta thấy được nhiễm sắc thể là cơ sở vật chất của hiện tượng di truyền tính trạng.  Ngân hàng quốc dân Czechia (ngân hàng trung ương của Cộng hòa Czechia) phát hành tiền kim loại mệnh giá 200 koruna nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Gregor Mendel (1822–1884). Một mặt là chân dung Mendel, mặt kia là sơ đồ tính tỉ lệ phân li tính trạng trong phép lai cây đậu Hà Lan (Pisum sativum). Cả hai mặt đều có ký hiệu yếu tố di truyền quy trình tính trạng theo cách ghi của Mendel. Cách ghi này phản ánh sự thật là Mendel không hề biết đến sự tồn tại của nhiễm sắc thể cũng như cách nhiễm sắc thể được tổ chức trong tế bào (theo cặp trong tế bào sinh dưỡng và lẻ trong giao tử). Tuy vậy, Mendel vẫn tìm ra được quy luật di truyền qua quan sát tỉ lệ phân ly tính trạng của tập hợp cá thể lai qua nhiều thế hệ.  Loạt thí nghiệm lớn cuối cùng được mô tả trong bài báo của Mendel đúng là sản phẩm của một bậc thầy. Mendel đương nhiên không thể đo đếm các kiểu tế bào mầm hay tế bào phấn này một cách trực tiếp, nhưng ông biết rằng mình có thể khảo sát thông qua phân tích cá thể con lai từ thụ phấn. Để nghiên cứu tế bào mầm, ông dùng tế bào phấn có các thành tố đã biết, chẳng hạn như phấn từ cây thuần chủng AB (hạt vàng, trơn) hay cây thuần chủng ab (hạt xanh, nhăn) – đây là những cây chỉ có thể tạo một kiểu phấn là AB hoặc ab. Ngược lại, để nghiên cứu phấn, ông đem chúng thụ phấn cho cây thuần chủng AB hoặc ab. Ví dụ như trường hợp tế bào mầm từ cá thể lai AaBb được lai với phấn từ cây ab. Bốn kiểu thụ phấn là AB/ab + Ab/ab + aB/ab + ab/ab sẽ tạo ra chỉ bốn kiểu cây lai AaBb, Aab, aBb, và ab.     Sự tài tình của Mendel không chỉ ở việc ông tiến hành đủ các phép lai để nhận ra quy luật di truyền và tổ hợp toán học của chúng, mà còn ở chỗ ông nhận biết được cơ chế của hiện tượng này bằng trực giác.  Nghiên cứu của Mendel, chính là nguồn gốc các biến dị dẫn đến sự hình thành loài mới.    Đương nhiên là Mendel không thể quan sát được trực tiếp, nhưng chỉ qua những con số và tỉ lệ các loại tổ hợp tính trạng như số hạt trơn vàng, trơn xanh, nhăn vàng và nhăn xanh, ông đã thấy kết quả đúng như dự đoán của mình. Để chứng minh hạt trơn vàng đúng là kết quả lai của hai cặp tính trạng (AaBb), ông đã đem gieo những hạt này và quan sát thấy đúng là cây trưởng thành tạo ra cả hạt trơn và nhăn, vàng và xanh. Tương tự, các hạt trơn xanh khi nảy mầm lớn lên sẽ tạo ra hạt xanh cả trơn lẫn nhăn, cho thấy đây là kiểu lai Aab; còn hạt nhăn vàng thì nảy mầm sẽ sinh ra hạt nhăn cả vàng lẫn xanh, tức đây là kiểu lai aBb. Cuối cùng là khi đem các hạt xanh nhăn cho nảy mầm thì cây trưởng thành chỉ tạo ra hạt xanh nhăn, kết quả này xác nhận rằng chúng là cây ab thuần chủng. Đây chỉ là một trong bốn kiểu lai ngược dòng mà Mendel thực hiện. Quan trọng là cả bốn kiểu lai đều xác nhận rằng cây lai AaBb (là kết quả lai giữa cây mang noãng AB và cây cho phấn ab) tạo ra bốn kiểu tế bào mầm hay phấn với tỉ lệ như nhau là AB, Ab, aB, và ab (Còn tiếp).   Nguyễn Trịnh Đôn dịch  Nguồn: “The magic and meaning of Mendel’s miracle”, Nature 23:447 (2022), DOI: 10.1038/s41576-022-00497-2.   —————-  (*) Đọc thêm về tính vị kỷ của gene: “Gene vị kỷ: Tầm ảnh hưởng lớn về tiến hóa và cách tư duy về thế giới sinh vật”, Tia Sáng (2019), https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/gen-vi-ky-tam-anh-huong-lon-ve-tien-hoa-va-cach-tu-duy-ve-the-gioi-sinh-vat-20823/     Author                .        
__label__tiasang Phi hành đoàn Discovery đã sẵn sàng      Phi hành đoàn 7 người của phi thuyền con thoi Discovery thực hiện sứ mệnh mang số STS-120 sẽ được phóng lên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) vào ngày 23.10.      Các thành viên phi hành đoàn sẽ bước vào đợt tập dượt nghiêm ngặt để bảo đảm các yêu cầu cho chuyến bay. Đặc biệt lần này, chỉ huy trưởng chuyến bay, Pamela A. Melroy là một người phụ nữ.  Melroy sẽ trông nom tàu Discovery trong kế hoạch bay 14 ngày để gắn một mô-đun mới có tên Harmony vào Trạm Vũ trụ Quốc tế.  D.B (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phi hành gia đầu tiên của Malaysia lên vũ trụ      Tàu Soyuz chở phi hành gia Shekh Muszaphar Shukor lên trạm không gian quốc tế ISS, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử một người Malaysia có mặt trên vũ trụ.      Anh sẽ ở lại đây trong 9 ngày. Shukor, 35 tuổi, đại diện cho Viện Genome của Malaysia thực hiện một loạt thí nghiệm khoa học trong không gian, trong đó có thí nghiệm liên quan đến tế bào gây bệnh ung thư. Trước đó anh đã trải qua một năm huấn luyện tại Thành phố Ngôi sao của Nga. Đây là một sự kiện được chờ đón từ lâu tại Malaysia và được coi như cột mốc quan trọng tại quốc gia Đông Nam Á này.   Đình Chính (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phi thuyền con thoi Endeavour hạ cánh an toàn      Vào lúc 0h32 sáng ngày 22.8 (giờ VN), tàu con thoi Endeavour đã hạ cánh an toàn tại Trung tâm không gian Kennedy, Florida với tốc độ 200 dặm/giờ với góc đáp dốc hơn các máy bay thương mại thông thường. Tàu đã hoàn thành hành trình 13 ngày với nhiệm vụ lắp ráp một số bộ phận trên trạm không gian quốc tế.    Endeavour trở về nhà sớm hơn một ngày so với dự định. NASA đã quyết định rút ngắn thời gian hành trình để đề phòng trường hợp siêu bão Dean đang hoạt động ảnh hưởng đến việc hạ cánh. Trước đó, các thành viên phi hành đoàn cũng đã rút ngắn thời gian đi bộ ngoài không gian nhằm lắp ráp một số bộ phận trên trạm không gian.  Để hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra do va chạm với các thiên thạch li ti trên quỹ đạo, các phi hành gia đã kiểm tra phần bao bọc mũi và hai cánh của tàu trước khi hạ cánh.  Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ NASA đã đưa ra kế hoạch phóng thêm 14 phi thuyền con thoi vào không gian từ nay đến năm 2010 nhằm hoàn tất việc lắp ráp trạm không gian quốc tế. Năm 2010 cũng là thời điểm “về hưu” của loại tàu không gian này.  Vĩnh Bảo (theo CNN, NASA)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phía trong vòng tròn niềm tin      LTS: Hơn nửa năm sau cú sốc tạo ra cặp bé gái chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới, nhà nghiên cứu He Jiankui (Trung Quốc) vẫn là một con người bí ẩn và câu chuyện về việc anh ta thực hiện thí nghiệm này như thế nào vẫn còn chưa được tiết lộ. Phóng viên Science Jon Cohen đã cất công lần theo dấu vết, đi gặp hầu hết những người liên quan với He tại Mỹ và Trung Quốc, truy ngược bằng được dấu vết He bằng nhiều cách thức rồi cố gắng phục dựng câu chuyện. Tia Sáng giới thiệu với độc giả phóng sự này.         Cú sốc vào tháng 11/2018 ở Hong Kong bắt nguồn từ một chuyến đi của một cặp vợ chồng tới trường Đại học KH&CN miền Nam (SUSTech) vào thứ 7 ngày 10/6/2017 ở Thâm Quyến, Trung Quốc, để thảo luận việc tham gia một thí nghiệm mà không một nhà nghiên cứu ngành y nào dám thực hiện. Họ không phải là cặp vợ chồng duy nhất, còn có những người như họ tới gặp gỡ He Jiankui, nhà sinh lý học của SUSTech, người đã trở thành một nhà khoa học – doanh nhân có tiếng trong nước từ năm 33 tuổi.  Thí nghiệm của He hướng đến những cặp đôi với người chồng nhiễm virus HIV và đang dùng thuốc kháng virus – những cặp vợ chồng đang phải chịu sự kì thị và phân biệt đối xử của xã hội do HIV và muốn con cái của mình sinh ra khỏe mạnh. Để làm được điều đó, He sẽ cùng với đồng nghiệp thực hiện quy trình IVF (thụ tinh nhân tạo) để tạo ra những đứa trẻ không bị mắc HIV.   He dành phần lớn thời gian để giải trình tự DNA và đưa ra giải pháp tiềm năng bằng CRISPR, một công cụ chỉnh sửa bộ gene có thể thay đổi bộ gene trong phôi IVF với khả năng bất hoạt protein CCR5 trên bề mặt tế bào miễn dịch. Là thụ thể giúp virus HIV truyền bệnh, việc bất hoạt CCR5 khiến HIV không thể xâm nhập vào tế bào. “Kỹ thuật này có thể giúp tạo ra một em bé IVF với hệ miễn dịch tự nhiên kháng AIDS”, anh nói.       Sự xuất hiện của cặp bé gái Nana và Lulu mở ra một sự thật: việc kiểm soát công nghệ CRISPR đã thất bại.      Mặt khác, các đột biến gene của những em bé CRISPR này cũng có thể được truyền cho thế hệ tương lai, giúp chúng vĩnh viễn thoát khỏi căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Triển vọng của sự thay đổi di truyền này là lí do tại sao kể từ sự ra đời, CRISPR khiến chỉnh sửa phôi người, trứng hoặc tinh trùng trở thành đề tài bàn tán sôi nổi. Vấn đề cốt lõi là liệu việc chỉnh sửa dòng tế bào mầm như vậy có vượt qua ranh giới đạo đức hay không, vì suy cho cùng nó có thể gây ra sự thay đổi gene của loài người. Ở một số quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc, công nghệ này vẫn còn bị cấm. Tuy nhiên, sự xuất hiện của cặp bé gái Nana và Lulu mở ra một sự thật: việc kiểm soát công nghệ CRISPR đã thất bại.   Thật khó giải thích được những hành động của He, rất nhiều đồng nghiệp và những người bạn thân của anh cũng đã từ chối trả lời Science. Ryan Ferrell, một chuyên gia quan hệ công chúng mà He thuê, đã lập danh mục 50 người tuy không tham gia nghiên cứu nhưng đã biết hoặc cảm thấy nghi ngờ những việc He đã làm trước khi được công khai và gọi nó là “vòng tròn niềm tin” (circle of trust) của He. Vậy họ gồm những ai, có thật sự đáng tin cậy? Thực ra, đó là các nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ hàng đầu lĩnh vực của mình –  trong số họ có một người từng đoạt giải Nobel, giám đốc điều hành kinh doanh, một doanh nhân kết nối với các nhà đầu tư mạo hiểm, các tác giả của báo cáo NASEM, một chuyên gia IVF người Mỹ đã thảo luận về việc mở một phòng khám chỉnh sửa gene với He, và ít nhất một chính trị gia người Trung Quốc. Theo đánh giá của nhà di truyền học George Church – người không thuộc nhóm vòng tròn, He có mối liên hệ chằng chịt và phức tạp với rất nhiều tổ chức khác nhau. Chính điều đó làm nên thí nghiệm của anh.  Khổng tước ngày về và bệ phóng sáng giá    He sinh năm 1984 và lớn lên ở một ngôi làng ở huyện Tân Hóa, Hồ Nam. Tại trường trung học, theo hồ sơ của một cơ quan báo chí Trung Quốc, gia đình làm nông của anh nghèo đến mức không có tiền để mua sách cho con nên anh thường phải tới một hiệu sách địa phương để đọc “ké”. Nhưng vào thời điểm trở thành tâm điểm của báo chí quốc tế, He đã trở nên giàu có nhờ những điều học hỏi được ở Mỹ cùng với những mối quan hệ thật thiết với các nhà khoa học xuất sắc.  Khi còn ở Trung Quốc, nhờ học giỏi mà He có được học bổng ngành vật lý tại trường Đại học KH&CN Hợp Phì. Năm 2007, giống như nhiều sinh viên tốt nghiệp với điểm số xuất sắc ở Trung Quốc, He được tới Mỹ, tham gia phòng thí nghiệm của Michel Deem tại Đại học Rice ở Houston, Texasvới học bổng nghiên cứu sinh ngành lý sinh. Họ cùng có công bố trên Physical Review Letters vào năm 2010 về một mô hình toán học cho phép tìm hiểu những đặc tính tiến hóa của hệ miễn dịch vi trùng CRISPR. Ngoài ra họ còn có một số công bố phân tích về mạng lưới thương mại thế giới, các kế hoạch tiến hóa của cơ thể động vật, và các giải trình tự gene virus cúm…  Deem đã giới thiệu He với Stephen Quake, một bậc thầy về trình tự gene ở Stanford, nơi He chuyển tới làm postdoc vào năm 2011. Cùng năm đó, He đã trả lời tuyển dụng trực tuyến của SUSTech, một trường đại học mới nổi tại Thâm Quyến do nhà hóa học Zhu Qingshi, một người có tinh thần cải cách và từng là hiệu trưởng trường đại học của He, đang muốn thúc đẩy nghiên cứu đỉnh cao, sáng tạo và tinh thần doanh nhân. Zhu gặp He trong một chuyến tuyển dụng tại Mỹ và kết quả là cuối năm 2011, trên trang web của các nhà khoa học Trung Quốc, He bắt đầu thông báo là anh, trường SUSTech và Deem có thể sẽ khởi động một phòng thí nghiệm hợp tác với mục tiêu tìm những gene đặc hiệu có thể kiểm soát sự đáp ứng của hệ miễn dịch. Với kinh phí đầu tư từ Khổng tước Kế hoạch (Peacock Plan), một trong những chương trình thu hút các nhà nghiên cứu trẻ trở về nước, He đã thành lập một công ty tại SUSTech năm 2012. “Sự hào phóng có thể so sánh với Silicon Valley của Thâm Quyến trong khuyến khích các khởi nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư mạo hiểm, là nguyên nhân chính để tôi trở về,” He đã tiết lộ với Beijing Review. “Tôi không phải là một giáo sư theo kiểu truyền thống mà thích trở thành một nhà nghiên cứu – doanh nhân hơn”.  Sau khi tới Thâm Quyến, nơi có khoản đầu tư dành riêng cho startup này tới 6 triệu USD, He lập Direct Genomics và ngay lập tức được Quake, một công ty đầu tư công nghệ  rót vốn để giải trình tự các đơn phân tử của DNA. Quake từng đồng sáng lập công ty Helicos Biosciences để thương mại hóa công nghệ nhưng phá sản; giờ He muốn hồi sinh công nghệ này với một thiết bị giá rẻ để đưa nó trở thành một công cụ chẩn đoán ung thư hoặc chẩn đoán những điểm bất thường về di truyền trong phôi.  Công ty mới đã thiết lập nền tảng cho chính vòng tròn của anh.   Bill Efcavitch, người phụ trách bộ phận R&D tại Helicos, kể lại sự hứng khởi của Quake về kế hoạch của He về Direct Genomics. “Bill, đây chính là cơ hội mang phượng hoàng trở lại từ đống tro tàn”, ông nhớ lại những điều Quake đã nói với mình. Efcavitch, hiện giờ là người phụ trách mảng khoa học của Molecular Assemblies ở San Diego, California, cũng từng bị He làm mê hoặc bởi nguồn năng lượng dồi dào, trí thông minh khác thường, tài ăn nói lưu loát và sự hài hước của anh. “He đã mang về nhà tinh thần doanh nhân nổi trội từ Mỹ. Tôi không nghĩ là anh ấy nói dối”.    Cả Efcavitch, Deem, và Yu Jun, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS), đồng sáng lập Viện nghiên cứu hệ gene Bắc Kinh – công ty giải trình tự DNA nổi tiếng ở Thâm Quyến, cùng tham gia hội đồng tư vấn khoa học của Direct Genomics. Tuy nhiên Efcavitch cũng thận trọng khi cho rằng thí nghiệm có thể gây tổn hại đến danh tiếng của He. “Tôi đã đặt câu hỏi cho anh ta, tại sao anh cảm thấy cần phải chấp nhận rủi ro cho sự nghiệp của mình?”. Cũng như Efcavitch, Quake cũng đã biết về kế hoạch chỉnh sửa phôi từ rất sớm, trong trả lời bằng văn bản với Science và trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với The New York Times vào mùa xuân 2019, Quake cho biết mình không khuyến khích He theo đuổi thí nghiệm và khi thấy anh ta phớt lờ lời khuyên thì ông cũng cảnh báo cần phải tuân thủ các quy trình đạo đức và quy định thích hợp.   Tháng 4/2018, He đã nói với Quake, Efcavitch và một vài người khác liên quan đến Direct Genomics rằng một người phụ nữ đã mang thai có phôi được chỉnh sửa CRISPR. Ngay lúc ấy, Efcavitch đã nghĩ những thí nghiệm của He là điên rồ.  Một thành viên khác trong hội đồng tư vấn khoa học của công ty, nhà khoa học đoạt giải Nobel Craig Mello của Đại học Y Massachusetts ở Worcester, lại có phản ứng khác. Mello nói với Science rằng ông đã được Li Weibo, một trong những nhà đầu tư lớn của Direct Genomics hỏi ý kiến. và khi He gửi mail thông báo về việc phôi đã phát triển, Mello hồi đáp: ”Tôi rất mừng cho anh [về thí nghiệm thành công] nhưng tôi không muốn liên quan đến chuyện này”.  Còn với Steve Lombardi, cựu CEO của Helicos, cho biết Quake đã giới thiệu ông với He để giúp tìm nhà đầu tư cho Direct Genomics và ông đã đưa He đến gặp gỡ những nhà tư vấn. He đã kể với Lombardi về tham vọng chỉnh sửa phôi và hỏi liệu Lombardi có thể tìm kiếm những nhà đầu tư cho một công ty về du lịch y tế di truyền mới thành lập lại Trung Quốc hay không. Vào thời điểm đó, công nghệ CRISPR vẫn còn quá thô sơ để có thể chỉnh sửa phôi một cách an toàn, tuy nhiên Lombardi cũng nghĩ rằng việc kiểm soát mầm bệnh bằng gene là điều không thể tránh khỏi.   Một cố vấn khác của He là Jennifer Doudna ở trường ĐH California, Berkeley, một nhà nghiên cứu từng công bố bài báo đầu tiên về cách thực hiện CRISPR trên vi khuẩn như một công nghệ chinh sửa gene đa năng vào tháng 6/2012. Bà nhớ lại thời khắc gặp He vào tháng 8/2016 tại cuộc họp CRISPR thường niên được tổ chức tại phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor (CSHL) ở New York. Sau đó anh chụp ảnh với bà và đưa lên blog của mình.   He đã gửi email cho Doudna và hỏi xem liệu họ có thể gặp nhau trong chuyến thăm sắp tới của anh đến Vịnh San Francisco hay không. Anh viết, “Tôi đang nghiên cứu về công nghệ để nâng cao hiệu quả và sự an toàn của việc chỉnh sửa bộ gene phôi người ở Trung Quốc.” Thật trùng hợp, Doudna và Hurlbut đã tổ chức một cuộc họp vào khoảng thời gian He đề nghị đến để thảo luận về khía cạnh đạo đức và xã hội của việc chỉnh sửa gene. Mặc dù những người tham dự đã thống nhất không tiết lộ xem về cuộc họp, nhưng He cũng đã viết trên blog về nó, tiết lộ Giáo hội đã ở đó, cùng học giả tế bào gốc nổi tiếng Pei Duanqing, Viện trưởng Viện Y sinh và Sức khỏe Quảng Châu, và là tác giả của báo cáo NASEM về chỉnh sửa gene người sẽ ra mắt sau đó.  Thật kỳ lạ là He đã nhấn mạnh rằng nhiều vấn đề tồn tại với CRISPR, bao gồm cả việc cắt DNA với những nguy hiểm tiềm tàng vô tình được thực hiện ở vị trí sai trong bộ gene. Trước khi giải quyết các vấn đề an toàn quan trọng này, bất kì việc chỉnh sửa tế bào sinh sản hoặc tạo ra con người được chỉnh sửa gene sẽ là hành vi cực kỳ vô trách nghiệm.  Doudna nhớ lại, phần trình bày của He có nói về một vài nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc đã chỉnh sửa phôi người nhưng không thành công, phôi không phát triển được, trong đó có một nhóm đã xuất bản nghiên cứu về chỉnh sửa CCR5 bằng CRISPR. “Tôi không nghĩ rằng anh ta đang lập kế hoạch sử dụng [CRISPR] trong lâm sàng”, bà nói.   Thí nghiệm bí mật    Được làm việc với nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu về công nghệ CRISPR, He đã tiến bộ nhanh chóng và vào 7/3/2017, He nộp đơn xin phê duyệt y đức cho bệnh viện Phụ nữ và Trẻ em HarMoniCare ở Thâm Quyến,  trong đó phác thảo kế hoạch CCR5 chỉnh sửa phôi người để cho ra đời những em bé kháng HIV cũng như bệnh đầu mùa và bệnh tả (vì theo một số nghiên cứu, đột biến CCR5 tự nhiên có thể  được chọn vì nó giúp người mang nó sống sót khỏi mầm bệnh đầu mùa và bệnh dịch hạch, nhưng chưa đề cập đến bệnh tả). Đây sẽ là một thành tựu khoa học kể từ khi công nghệ IVF được trao giải Nobel vào 2010, và hứa hẹn mang lại hi vọng cho nhiều bệnh nhân mắc bệnh di truyền. 7 người trong ủy ban đạo đức do Lin Zhitong, Giám đốc Direct Genomics và quản trị viên của HarMoniCarre, chủ trì, đã chấp thuận.  Trong tháng đó, He bắt đầu làm việc với Baihualin, một nhóm vận động phòng chống AIDS ở Bắc Kinh, tuyển dụng những ứng viên tiềm năng. Ba tháng sau, He gặp Hurlbut ở Standford, một bác sĩ và nhà sinh học thần kinh, từng có mặt trong Hội đồng đạo đức sinh học từ 2002 – 2009, ngay lập tức có cảm tình với He và coi anh ta như một người cần được hướng dẫn. “Chúng tôi đào tạo mọi người ở đây, đặc biệt là các postdocs nước ngoài mà không cung cấp bất kỳ bối cảnh thực tế nào và hướng dẫn về các vấn đề đạo đức liên quan đến công việc nghiên cứu họ thực hiện”, Hurlbut thừa nhận.  Trở lại Thâm Quyến, He đã tổ chức một cuộc họp, đưa ra bản cập nhật về chỉnh sửa CCR5 của mình, kết thúc bằng một slide của bài báo của New York Times năm 1999 : “Cái chết của công nghệ sinh học của Jesse Gelsinger” kể lại một bi kịch trị liệu gene nổi tiếng. He nói: “Việc chỉnh sửa gene bệnh của con người sẽ sớm diễn ra trong tương lai, vì vậy chúng ta nên làm điều này một cách từ từ và thận trọng, bởi vì chỉ cần một lần thất bại là có thể bóp chết toàn bộ lĩnh vực”, tuy nhiên không nhắc về việc thí nghiệm đang tiến hành của mình  Vào tháng 1/2018, sau thất bại chuyển phôi đã chỉnh sửa lần đầu, He cùng với một thành viên phòng thí nghiệm đã trở lại Stanford và gặp Matthew Porteus, một bác sĩ ung thư nhi khoa, người từng tham gia viết báo cáo chỉnh sửa bộ gene NASEM vào 2017. Khi thấy He nói hội đồng đạo đức đã phê duyệt kế hoạch của mình trong nghiên cứu chỉnh sửa mầm bệnh, Porteus hết sức tức giận: “Tôi đã dành nửa giờ tiếp theo nói với họ về tất cả các lý do sai lầm, tôi đã cố can ngăn anh ta”. He ngồi im lặng, mặt đỏ bừng. “[He] rõ ràng thất vọng, và tôi đoán, là có lẽ hơi ngạc nhiên bởi chưa có ai phản đối trực diện như vậy”. Tuy nhiên, điều mà cả Hurlbut và Porteus đều không nhận ra là He đang tìm kiếm lời khuyên. Cuộc thử nghiệm đang diễn ra tốt đẹp, và He đang nghĩ về việc xây dựng chiến công của mình.   Cú sốc ở Hong Kong  Nhiều tuần trước khi tin tức nổ ra, He đã phải vật lộn lựa chọn thời điểm tiết lộ tin tức. Trong một tin nhắn tới Science, He nói rằng anh ta đã thảo luận với vợ mình và Zhang, một thành viên trong phòng lab, cùng với “thị trưởng Xie” – Xie Bingwen, Phó thị trưởng và Phụ trách KH&CN ở quận Nanshan của Thâm Quyến (Xie không trả lời email hoặc điện thoại).   Vào sáng ngày 26/11/2018 ở Thâm Quyến, một ngày trước khi hội nghị về chỉnh sửa gene bắt đầu ở Hồng Kong, công việc chuẩn bị quảng bá đã hoàn tất. Các em bé chỉnh sửa gene đã sinh trước đó một tháng. Sáng đó theo giờ Trung Quốc, MIT Technology Review đã đưa tin phôi người đang được chỉnh sửa và cấy ghép, sau khi phóng viên Antonio Regalado phát hiện ra các mô tả về dự án trong một đăng kí thử nghiệm lâm sàng của Trung Quốc mà He đã đăng lên mạng. He đã cho phép AP đăng thông tin hai bé gái sinh đôi Lulu và Nana đã chào đời. Ferrell và He cũng đăng thêm 5 video trên Youtude chưa hoàn thành và giải thích về cuộc thí nghiệm chưa từng có này.      “Tôi nhận ra rằng mình đã đẩy quá nhanh việc nghiên cứu lâm sàng mà không có bất kì đối thoại nào với các nhà quản lý, cộng đồng khoa học và công chúng”. (He Jiankui)      Bản thân He rất căng thẳng. Anh tuyệt vọng gửi email cho Doudna. “Trong chớp mắt hạ cánh xuống sân bay, tôi đã nhận được cả tấn email của He: Tôi có chuyện muốn nói với bà ngay lúc này, mọi thứ thực sự đã vượt khỏi tầm kiểm soát”, Doudna kể. Dẫu biết He hơn hai năm nhưng Doudna chỉ mới biết về thí nghiệm của He vào đầu tuần trước đó khi anh gửi cho bà một email thông báo với một bản thảo đính kèm. Doudna ngỡ đó chỉ là một trò đùa.    Khi Doudna cùng ngồi xuống với He vào 26/11/2018, vài giờ sau khi tin tức về những đứa trẻ được tung ra. He thậm chí còn hỏi Doudna liệu anh có nên thảo luận về các em bé được chỉnh sửa gene trong bài nói chuyện của anh hay không. Trong bữa ăn tối với He, Doudna và các nhà tổ chức hội nghị khác đã hỏi He thông tin. He trông có vẻ buồn. Đến ngày nói chuyện theo lịch trình của He, ban tổ chức vẫn lo lắng rằng anh ta sẽ không xuất hiện và không khí căng thẳng bao trùm Hội trường lớn của Đại học Hồng Kông trước dự kiến về bài thuyết trình của He.   Rút cục He đã có một buổi nói chuyện dài 20 phút, sau đó là 40 phút để trả lời các câu hỏi. Các nhà khoa học trong khán phòng và hơn 1 triệu người xem truyền hình trực tiếp đã chú ý phân tích các dữ liệu trong slide của He và cho thấy rằng các chỉnh sửa gene đã được thực hiện trên một em bé mục tiên. Một em bé khác, theo He, không được chỉnh sửa trong cả hai gene của cha và mẹ và do đó sẽ không được bảo vệ khỏi virus HIV. Tiết lộ giật gân nhất mà anh đưa ra là hiện đang có một người phụ nữ khác mang thai em bé được chỉnh sửa CRISPR.  Sau cuộc nói chuyện, He lập tức lái xe trở lại Thâm Quyến, vòng tròn niềm tin của anh ta bắt đầu bị tan rã. He không có bất kì buổi nói chuyện công khai kể từ đó. Ferrell không nghĩ rằng He có thể lấy lại hình ảnh của mình bằng cách PR, không ai muốn làm việc cùng anh ta nữa.   Bị quay lưng  Sau khi He trở về Thâm Quyến, nếu còn quay cuồng đầu óc với những cuộc thảo luận ở Hong Kong thì nó vẫn không là gì so với những công kích từ cộng đồng. Ngay lập tức, SUSTech đã tuyên bố không biết gì về dự án nghiên cứu và bản chất của nó, một thành viên ủy ban sinh học của trường đã kết luận He đã vi phạm nghiêm trọng đạo đức học thuật và quy tắc ứng xử. HarMoniCare cho biết bệnh viện của họ không bao giờ tham gia vào bất kì hoạt động lâm sàng nào liên quan đến sự cố trẻ sơ sinh được chỉnh sửa gene, các em bé không được sinh ra ở đó, không có cuộc họp liên quan nào của Ủy ban Đạo đức Y khoa của bệnh viện và trên thực tế, các chữ kí trong phê duyệt đã bị nghi ngờ là giả mạo. Hơn 100 nhà khoa học Trung Quốc đã kí một tuyên bố trực tuyến và gọi nghiên cứu này là điên rồ.    Sau vụ việc, nhiều người đã quay lưng lại với He Jiankui, trong đó có Quake.  Có nhiều tin đồn thất thiệt xảy ra, ví dụ như anh đã mất tích, đang bị theo dõi hoặc đang chuẩn bị đối mặt với án tử hình. Vào tháng 1/2019, He bất ngờ gửi email đến Hurlbut thừa nhận “Tôi nhận ra rằng mình đã đẩy quá nhanh việc nghiên cứu lâm sàng mà không có bất kì đối thoại nào với các nhà quản lý, cộng đồng khoa học và công chúng”.  Thái độ phản ứng của những người trong vòng tròn của He cũng khác nhau: người thì chỉ trích gay gắt, số khác hoặc ủng hộ hoặc chỉ giữ im lặng, số khác né tránh He như Deemvà Yu Jun. Các luật sư của Deem nói rằng ông chưa từng gặp gỡ bố mẹ của những đứa bé chỉnh sửa CCR5, hoặc bất kì ai khác có phôi đã được chỉnh sửa, dù trước đó, Deem đã tiết lộ sự ra đời của những đứa trẻ trên hãng thông tấn AP, kể mình đã có mặt ở Trung Quốc khi những ứng cử tiềm năng đã tham gia thí nghiệm này và cho nghĩ rằng họ hoàn toàn ý thức được rủi ro sẽ gặp phải.   Yu thừa nhận đã tham dự cuộc họp cùng với Deem, nhưng không biết gì về kế hoạch của He.  Nhà sinh vật học William Hurlbut ở Đại học Stanford ở Palo Alto, California, người từng can ngăn He tiến hành thí nghiệm, nhận xét, nhiều người từng ủng hộ He đã quay lưng với He. Ví dụ một vài người ủng hộ He ở Trung Quốc đã bỏ rơi anh ta trong im lặng. Cựu chủ tịch SUSTech là Zhu, trước đã tuyển dụng He đã nghỉ hưu vào năm 2014. Theo tin tức trên Sina, ban đầu Zhu thấy công việc này rất ý nghĩa, nhưng sau đó ông đã dừng lại và cho rằng nó không phải là lĩnh vực mà ông theo đuổi. Science không thể tiếp cận ông. Còn chủ tịch của SUSTech hiện tại đổ hết tội lỗi cho Stanford, nói rằng Quake đã cũng cấp những chỉ dẫn để chuẩn bị và thực hiện thí nghiệm, xuất bản các bài báo, công bố tin tức và quảng cáo, và chỉ đạo chiến lược phản ứng sau khi tin tức được phát hành. Sau khi tiến hành đánh giá, các mối quan hệ của He với Quake, Hurlbut và Porteus, Stanford đã chấm dứt không rõ lí do.   Chính phủ trung ương và các cơ quan điều tra khác vẫn chưa tiến hành cuộc điều tra minh bạch mà nhiều người mong muốn. SUSTech tuyên bố muốn thành lập một ủy ban độc lập để điều tra vụ việc này và công bố kết quả đến công chúng, tuy nhiên chưa có cuộc điều tra nào. Cuộc điều tra duy nhất được công bố là một thông báo trên Tân Hoa Xã không cung cấp tài liệu và liệt kê tên các nhà điều tra, chỉ ghi “He Jiankui đã bất chấp lệnh cấm của chính phủ và tiến hành nghiên cứu nhằm theo đuổi danh tiếng và lợi ích cá nhân”. Hình phạt sẽ dựa trên luật pháp và quy định, và bất cứ ai bị nghi ngờ là tội phạm sẽ được chuyển sang bộ phận an ninh công cộng.  Church, người đã có nhiều sự hợp tác về CRISPR ở Trung Quốc, thấy không thể tin được việc của He đã khiến Chính phủ Trung Quốc ngạc nhiên. Ông nói “Trung Quốc có hệ thống giám sát tối ưu nhất trên thế giới, họ hoàn toàn nhận thức được mỗi bước đi của anh ta, đặc biệt là vì anh ta không giữ bí mật về điều đó.”  Nhà khoa học tế bào gốc Pei mà He đã gặp tại cuộc họp Templeton, người đồng tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Hồng Kông và đồng tác giả viết báo cáo NASEM, cũng bị dính vào vụ này. Theo như hai nguồn tin mật cho biết, He đã nói đã thông báo cho Pei vài tháng trước khi hội nghị về cấy ghép và chỉnh sửa phôi được tổ chức. Pei sau đó đã gay gắt từ chối thảo luận về vấn đề này.  Benjamin Hurlbut, con trai của William và là một nhà sử học về y sinh tại Đại học bang Arizona ở Tempe, đã nói rằng các nhà khoa học hàng đầu nên xem xét kĩ hành động của họ. Ông nghĩ báo cáo NASEM 2017 đã giúp He bằng cách tiếp cận thiết lập để hướng dẫn khoa học: chỉ định một nhóm ưu tú để quyết định các nhà khoa học nên được quy định như thế nào. Benjamin Hurlbut, tác giả cuốn Thí nghiệm về Dân chủ tìm hiểu về quản trị nghiên cứu phôi thai và đạo đức sinh học, kêu gọi cần có một bộ phận theo dõi toàn cầu về chỉnh sửa gene để tổ chức các cuộc họp với các quan điểm khác nhau.  Doudna gợi ý rằng việc chỉnh sửa mầm bệnh là không thể tránh khỏi vào năm 2015, trước cả khi He bắt đầu thí nghiệm của mình .“Quyết định đó được đưa ra khi người đầu tiên bắt đầu làm việc với phôi người sử dụng CRISPR. Đối với tôi, câu hỏi được đặt ra hiện tại là, nó sẽ xảy ra như thế nào? Làm sao để kiểm soát nó? và điều gì sẽ tác động đến xã hội trong tương lai?” □  Ly Vũ lược dịch  Nguồn: Sciencema    Author                Quản trị        
__label__tiasang Philae hạ cánh xuống sao chổi: Lịch sử hệ Mặt trời đang được viết lại      Ngày 12/11, khoang thăm dò Philae đã tách khỏi tàu mẹ để hạ xuống sao chổi sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko. Paolo Ferri, người phụ trách dự án Rosetta, tin rằng, những số liệu do Rosetta và Philae gửi về đã viết lại toàn bộ lịch sử hệ Mặt trời.       Tàu vũ trụ Rosetta của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) được phóng lên ngày 2/3/2004 với sứ mệnh đưa thiết bị khoa học đổ bộ lên sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko để nghiên cứu tình hình địa chất của nó. Sao chổi là loại thiên thể bằng băng đá được sinh ra cùng thời với hệ Mặt trời cách đây 4,6 tỷ năm, qua nghiên cứu sao chổi sẽ có thể giải đáp một số câu hỏi về nguồn gốc sự sống trên Trái đất – mối quan tâm lớn nhất hiện nay của loài người.     Hơn cả chuyện viễn tưởng   Dự án Rosetta bị nhiều người cho là hoang tưởng. Theo dự tính, Rosetta phải bay mất 10 năm mới đuổi kịp sao chổi 67P ở cách Trái đất 500 triệu km và thả khoang hạ cánh (lander) có tên Philae xuống bề mặt thiên thể này. Thân Philae làm bằng sợi cacbon, có lắp 10 thiết bị khoa học và hơn chục camera, tổng cộng khoang hạ cánh nặng chừng 100 kg. Như vậy Rosetta sẽ phải bay quá lâu và quá xa, chưa ai biết dọc đường sẽ xảy ra những bất trắc gì. Trong thực tế, đã bốn lần Rosetta không đủ lực để bay tiếp, người ta phải điều khiển cho nó bay ngang qua Trái đất ba lần và qua sao Hỏa một lần nhằm sử dụng lực hấp dẫn từ hai hành tinh này để tiếp sức cho nó. Để tiết kiệm nhiên liệu, từ tháng 6/2011, Rosetta được lệnh bắt đầu “ngủ đông”. Tháng 1/2014 nó được “đánh thức”, bắt đầu liên lạc với mặt đất.  Cuối cùng, sau khi bay được 6,4 tỷ km, ngày 6/8/2014 Rosetta gặp sao chổi mục tiêu. Các nhà khoa học ở Trung tâm Điều khiển ESOC của ESA vô cùng hồi hộp chờ đợi giây phút phi thuyền này đi vào quỹ đạo của sao chổi. Paolo Ferri, người phụ trách dự án Rosetta, kể lại: “Lúc đó chúng tôi đang chờ tín hiệu từ Rosetta phát về xác nhận nó đã đi vào quỹ đạo. 45 phút đợi chờ ấy là 45 phút đau khổ dài nhất trong đời tôi.”   Ngày 10/9, Rosetta đi vào quỹ đạo của sao chổi 67P và sau đó cả hai cùng bay vòng quanh Mặt trời trong hơn một năm. Rosetta đã chụp nhiều ảnh sao chổi và gửi về mặt đất.   Mấy tháng sau cùng trước khi Rosetta thả khoang hạ cánh Philae xuống bề mặt sao chổi, Trung tâm Điều khiển ESOC sống trong bầu không khí vô cùng căng thẳng, mọi người nín thở chờ đợi giờ phút lịch sử. Tất cả đồng hồ ở đây đều chạy ngược, giờ Zero được xác định là 08h35 ngày 12/11 (giờ GMT, tức 15h35 giờ Hà Nội).   Ngày 12/11, Ferri và các đồng sự lại một lần nữa sống trong cái cảm giác đau khổ họ đã từng trải qua, nhưng lần này lâu tới bảy giờ. Đó là thời gian từ lúc Philae tách ra khỏi Rosetta cho tới lúc chạm bề mặt sao chổi, hoàn thành một sứ mệnh chưa từng có trong lịch sử nhân loại.   Hôm ấy giới truyền thông toàn cầu cũng như những người trong ngành thám hiểm vũ trụ trên thế giới đều ngóng chờ tin tức từ thị trấn nhỏ Darmstad ở nước Đức, nơi đặt Trung tâm Điều khiển ESOC. Bảy tiếng đồng hồ này quyết định kết quả công sức hơn 20 năm nay của Ferri và các cộng sự. Ferri kể: Đây là giây phút giấc mơ đẹp biến thành hiện thực. Mỗi khi nghĩ đến thời điểm lịch sử ấy, tôi lại rưng rưng nước mắt… Bao năm nay chúng tôi theo đuổi Rosetta, làm việc không kể ngày đêm, gắn bó với nó vô cùng khăng khít.  Khi Rosetta hạ độ cao tới mức thích hợp, Philae phải được tách khỏi tàu mẹ để bắt đầu hạ xuống sao chổi. Công việc này cực kỳ khó khăn, phức tạp.  José Luis Pellon-Bailon, một trong tám chuyên viên điều khiển Philae hạ cánh, cho biết: nhóm của ông đã chuẩn bị sẵn cho ngày này, kể cả thức ăn mang theo, trong đó dĩ nhiên phải có món lạc hạt. Hồi thập niên 1990 khi được tham gia dự án Rosetta, Bailon nghĩ rằng dự án này cứ như chuyện khoa học viễn tưởng, ngay cả bây giờ ông cũng khó tin là nhóm ông có thể đưa được một thiết bị thăm dò đi vào quỹ đạo của sao chổi. Thế mà bây giờ họ đang làm chuyện đó!  Thói quen ăn lạc là của các nhân viên NASA mỗi khi có hoạt động gì đặc biệt khó, nay được ESA kế thừa. Ferri còn mặc đúng bộ quần áo đã mặc hôm phóng tàu Rosetta cách đây 10 năm. Những nghi thức bí hiểm có vẻ giúp họ bớt căng thẳng.  Philae có dạng hộp với thể tích chỉ 2m3, nó phát những tín hiệu chuyển về Trái đất qua tàu mẹ Rosetta. Tín hiệu đó được dàn ăng-ten khổng lồ ở Australia nhận rồi chuyển đến Trung tâm điều khiển ở Đức. Để vượt 500 triệu km, tín hiệu từ Philae đi tới Trái đất mất 28 phút 20 giây, nghĩa là phải sau một giờ ESOC mới biết kết quả của lệnh điều khiển do họ phát đi. Sự chờ đợi lâu như thế làm cho tâm trạng nhóm điều khiển vô cùng căng thẳng và vì vậy họ có thể có những quyết định nhầm lẫn. Dự tính được rủi ro này, trước đó ESA đã cho nhóm điều khiển tập thao tác mô phỏng hạ cánh Philae theo kịch bản trong đó có trường hợp hạ cánh thất bại, để họ trải nghiệm các tâm trạng sợ hãi, buồn rầu, cáu giận và nản chí. Điều đáng sợ nhất là khi đổ bộ mà Philae không thể truyền tin về.  Philae phải được tách khỏi tàu mẹ vào thời điểm cực kỳ chính xác, nếu không nó sẽ có thể bị rơi xuống hố thiên thạch sâu hoắm trên sao chổi rồi mãi mãi nằm chết ở đấy. Sao chổi 67P có hình con vịt, chỗ rộng nhất chỉ khoảng 4 km. Trong năm địa điểm được chọn để Philae hạ cánh, ESA chọn điểm J ở chỗ được gọi là Agilka nằm trên đầu «con vịt», còn điểm C dự phòng thì ở thân con vịt.   Khi cách sao chổi chừng 22,5 km thì Rosetta nhận lệnh cho Philae tách ra rồi từ từ hạ xuống với tốc độ 1 m/s. Bảy giờ sau đấy, ba cái chân của Philae chạm đất. Tín hiệu xác nhận hạ cánh thành công chuyển tới Trái đất vào 16h03 giờ GMT (23h03 giờ Hà Nội). Các nhân viên nhóm điều khiển vô cùng xúc động trước thành tựu tuyệt vời này. Vài giờ sau khi Philae tiếp đất, ESOC nhận được những ảnh chụp đầu tiên từ bề mặt sao chổi.   Niềm vui không kéo dài  Có điều đáng tiếc là niềm vui về chuyến hạ cánh thành công của Philae không kéo dài được lâu. Sáng sớm ngày 15/11/2014, ESA xác nhận lúc 1h36 cùng ngày (giờ Trung Âu, tức 7h36 giờ Hà Nội) thiết bị thăm dò Philae đã mất liên lạc với mặt đất, nguyên nhân do nguồn điện quá yếu. Trước khi “ngủ đông”, Philae đã liên lạc với nhóm điều khiển ở mặt đất gần hai tiếng đồng hồ, và kịp truyền về toàn bộ số liệu thí nghiệm mà nó hoàn thành sau khi đổ bộ lên sao chổi 67P. ESA cho biết, trừ phi tấm pin Mặt trời của Philae nhận được đủ ánh sáng và cung cấp dòng điện đủ mạnh để “đánh thức” Philae, còn không, mặt đất sẽ không thể liên lạc lại với nó. Rất may, trong 120 phút cuối cùng trước khi “đi ngủ”, Philae đã kịp nhận lệnh quay thân nó một góc 35 độ để tấm pin Mặt trời hướng về phía có tia nắng.  Những tấm ảnh Philae truyền về mặt đất cho thấy nó hạ cánh xuống chỗ bóng râm của một vách dốc, mỗi ngày (ngày sao chổi dài 12,4 giờ Trái đất) nó chỉ được Mặt trời chiếu sáng nửa giờ. Điều đó có nghĩa là sau khi ắc-quy chính hết điện thì Philae có thể không được pin Mặt trời cấp đủ điện.  ESA xác nhận, sau khi hạ cánh, Philae đã khởi động toàn bộ các thiết bị khoa học mang theo, kể cả chiếc máy khoan, máy này đã khoan xuống 25 cm để lấy mẫu đất đá. Các nhà khoa học sẽ nghiên cứu những số liệu Philae gửi về để xác định xem nó đã hoàn thành tất cả các thí nghiệm hay chưa.  Cho dù Philae có đi vào giấc ngủ thì việc nó hạ cánh thành công xuống sao chổi vẫn là một trong những thành tựu khoa học kỹ thuật tuyệt vời nhất của loài người.  Jean-Jacques Dordain, Tổng Giám đốc ESA, nói: “Sứ mệnh Rosetta đầy tham vọng của chúng tôi đã chiếm được một chỗ trong các sách lịch sử: chẳng những đây là lần đầu tiên (một tàu vũ trụ) đến gần và bay vòng quanh một sao chổi mà giờ đây cũng lần đầu tiên nó thả một thiết bị hạ cánh xuống bề mặt sao chổi.”  “Với Rosetta, chúng ta đang mở ra cánh cửa quan sát nghiên cứu nguồn gốc của Trái đất… Sau hơn 10 năm du hành trong vũ trụ, giờ đây chúng ta đang thực hiện sự phân tích khoa học tốt nhất chưa từng có về một mảnh vụn lâu đời nhất của hệ Mặt trời,” Alvaro Giménez, Giám đốc Khai thác khoa học và robot của ESA, nói.  Paolo Ferri nhận xét, cho dù xảy ra bất cứ điều gì thì những số liệu do Rosetta gửi về đã viết lại toàn bộ lịch sử hệ Mặt trời.   Riêng tàu vũ trụ Rosetta sẽ tiếp tục bay vòng quanh sao chổi 67P. Rosetta sẽ tới điểm gần Mặt trời nhất vào ngày 13/8/2015, khi đó nó cách Mặt trời 185 triệu km, ở vào khoảng giữa quỹ đạo của Trái đất và sao Hỏa.     Nguyễn Hải Hoành tổng hợp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Philip Anderson, nhà lý thuyết huyền thoại định hình vật lý hiện đại qua đời      Philip Anderson, nhà vật lý lý thuyết với những quan điểm định hình vật lý chất đậm đặc và tiên phong ở nhiều lĩnh vực khác, qua đã qua đời tại Princeton, New Jersey ở tuổi 96, nơi ông đã dành 45 năm làm việc.    .  Anderson nhận giải Nobel vật lý vào năm 1977  Được coi là nóng nảy, khó tính và gắt gỏng, Anderson đã có nhiều đóng góp như nhà vật lý lý thuyết Mỹ danh tiếng Richard Feynman, người qua đời vào năm 1988, Michael Norman, một nhà lý thuyết tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, nhận xét: “Phil là một người khổng lồ thực sự của ngành vật lý, một trong những người vĩ đại nhất”.   Danh tiếng của Anderson được thiết lập trong những năm 1950 khi ông chứng minh được sự hỗn độn trong sắp xếp của các nguyên tử trong một tinh thể có thể bẫy được các electron chuyển động tự do tại một điểm xác định, một hiệu ứng lượng tử sau được gọi là định xứ Anderson (Anderson localization). Với công trình này, ông đã nhận giải Nobel Vật lý vào năm 1977 cùng với Sir Nevill Francis Mott và John van Vleck Prize. Hiện tượng này rất phức tạp bởi nó đòi hỏi sóng lượng tử của electron chồng lấn và giao thoa với chính nó để giữ sóng khỏi lan rộng.  Cùng thời gian, Anderson đã giải đoán các vật liệu như phản sắt từ là một dạng kỳ lạ trong số các vật liệu có trật từ từ mà người ta vẫn gọi là sắt từ. Trong một sắt từ như sắt, tất cả các nguyên tử đóng vai trò như những nam châm nhỏ và chúng đều cùng theo một hướng để từ hóa toàn bộ vật liệu. Trong phản sắt từ như chromium, các nguyên tử lân cận chuyển động theo hướng đối nghịch để hình thành một mẫu hình có chuyển động lên –xuống – lên – xuống.  Tại thời điểm đó, các nhà vật lý không thích mẫu hình này bởi theo các nguyên tắc lượng tử cơ bản, họ có thể nghĩ là không có tương tác giữa các nguyên tử có từ tính, qua đó có được đối xứng đúng để tạo ra mẫu hình này. Dẫu vậy, Anderson nghiên cứu một ý tưởng mang tên phá vỡ đối xứng tự phát (spontaneous symmetry breaking) để chứng tỏ quan điểm đó không còn thích hợp. Ông đã cho thấy một vật liệu có thể có một trạng thái nền năng lượng ở mức thấp nhất mang mức đặc trưng của mẫu hình đó, thậm chí ngay cả khi các tương tác không được mã hóa một cách rõ rệt. Về bản chất thì đối xứng của tương tác bị trạng thái nền phá vỡ.  Vào đầu những năm 1960, Anderson dùng ý tưởng phá vỡ đối xứng tự phát để giải thích tại sao một siêu dẫn – một loại vật liệu có khả năng truyền điện năng mà không gặp điện trở nếu được làm lạnh một cách hiệu quả ở gần độ không tuyệt đối – có thể phát ra một từ trường. Theo cách này, ông chứng tỏ là một photon có thể trở nên có khối lượng bên trong một siêu dẫn. Chỉ một năm sau, nhà vật lý lý thuyết Anh Peter Higgs bổ sung thêm ý tưởng mà cuối cùng trở thành lời giải thích cho các nhà lý thuyết của vật lý hạt về cách các hạt cơ bản có thêm khối lượng từ những tương tác trong chân không. Do đó, Anderson đã tiến thêm một vài bước tiên phong về cơ chế Higgs và hạt này cũng đã có bước chuyển theo với hạt Higgs boson, Piers Coleman, một nhà lý thuyết tại trường đại học Rutgers, New Brunswick, nhận xét.    Sau đó, Anderson tuyên bố đã giải quyết một bí ẩn khác: các siêu dẫn nhiệt độ cao. Vào cuối những năm 1980, các nhà thực nghiệm khám phá ra một lớp các vật liệu phức hợp chứa đồng và oxy, có thể trở nên siêu dẫn tại các nhiệt độ vượt xa dự đoán của lý thuyết thông thường về siêu dẫn. Anderson nhanh chóng đề xuất lý thuyết của mình, lý thuyết liên kết hóa trị cộng hưởng (resonating valence bond RVB), trong đó ông cho rằng mình đã giải thích được hiện tượng này. Tuy nhiên, nhiều người đã thấy là ý tưởng này chưa thực sự thuyết phục – một nhà vật lý lý thuyết danh tiếng châm biếm gọi RVB là viết tắt của cụm từ “đúng hơn là chuyện nhảm nhí mơ hồ (rather vague bullshit) – và đến nay thì câu đố về siêu dẫn nhiệt độ cao vẫn còn chưa được giả mã. Dẫu vậy lý thuyết RVB đã chứng minh sự thiết yếu với nghiên cứu về các hiệu ứng từ lạ trong vật liệu đậm đặc như chất lỏng spin.  Dẫu nỗ lực nghiên cứu của Anderson trải rộng trên nhiều lĩnh vực thì chúng cũng có cùng nền tảng ý tưởng chung, Coleman nhận xét. Vào giữa những năm 1900, nhiều nhà vật lý đã áp dụng một cách tiếp cận cực đoan là giả định một vấn đề đã được giải quyết khi nhận diện được các thành phần cơ bản nhất của một hệ và mô tả được đặc điểm các tương tác của chúng, một cách làm đã được minh họa trong vật lý hạt. Tuy nhiên ngược lại, Anderson lý giải ý tưởng mới xuất hiện này, ông nói rằng như bất kỳ hệ nào phát triển lớn hơn, một hiệu hiện tượng mới như phản sắt từ và siêu dẫn, có thể xuất hiện khả năng không dự đoán được từ những tương tác cơ bản. “Anh phải thấy là ông ấy không chỉ có những đóng góp to lớn về mặt vật lý mà còn có những quan điểm triết học vô cùng xuất sắc,” Coleman bình luận.  Trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình, Anderson được coi là người hay tranh cãi và nhiều lần có những vấn đề tranh luận khoa học mang tính cá nhân. “Ông ấy không e ngại một cuộc chiến, ngay cả khi ông ấy có lỗi”, Norman nói. Thói quen này có thể hình thành trong những năm Anderson làm việc tại Bell Labs danh tiếng từ năm 1949 đến năm 1984, nơi nuôi dưỡng một văn hóa trung thực đến tàn bạo và khuyến khích tinh thần “chiến đấu”. Norman kể lại là có buổi tối Anderson đã từng ném một cái ngạch sắc. “Chúng tôi đi ăn và ai đó mắc lỗi khi dám hỏi Phil là ông nghĩ gì về lý thuyết của mình,” Norman kể. “Phil chỉ nhìn vào anh ta và nói ‘không nhiều’’”  Nhưng Anderson cũng tử tế với học trò và đồng nghiệp, Coleman – người từng là nghiên cứu sinh của Anderson từ năm 1980 đến năm 1984, nói. “Ông ấy rất hiền từ với học trò và thúc đẩy họ làm việc rất nhiều.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/03/philip-anderson-legendary-theorist-whose-ideas-shaped-modern-physics-dies    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phối hợp để vừa thúc đẩy hệ thống khoa học mở      Sau Hội nghị thượng đỉnh giữa các bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhóm G7 vào tháng sáu, các quốc gia phát triển hàng đầu đang phối hợp để vừa thúc đẩy hệ thống khoa học mở, chia sẻ dữ liệu nhưng vẫn đảm bảo an ninh nghiên cứu.    Những năm gần đây, G7 nỗ lực bảo vệ thành quả nghiên cứu khoa học và công nghệ khỏi bị các nước khác đánh cắp công nghệ. Đến bây giờ thì nhóm các nước G7 lại đang cố gắng chống lại một nguy cơ khác: các biện pháp bảo mật có thể gây hại cho nền khoa học của chính các quốc gia này, đồng thời ảnh hưởng rất lớn tới năng suất của phần lớn mạng lưới nghiên cứu trên thế giới – với hàng nghìn hợp tác R&D đang diễn ra giữa Mỹ, Đức, Pháp, Ý, Nhật Bản, Canada và Anh, và mở rộng sang các đồng minh nhỏ hơn của họ từ Đan Mạch đến New Zealand – chiếm phần lớn trong số 2 nghìn tỷ USD mỗi năm mà thế giới chi cho R&D. Các hợp tác trải rộng trong nhiều lĩnh vực chưa từng có, những mối hợp tác điển hình như vaccine COVID-19, trí tuệ nhân tạo, tính toán lượng tử và công nghệ khí hậu chỉ là một vài trong số những hợp tác rộng khắp thế giới.    Rào cản gia tăng    Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu phàn nàn, căng thẳng địa chính trị đang tạo thêm rào cản cho quá trình hợp tác khoa học và công nghệ. Tại Mỹ, chính quyền Trump truy tố một số nhà nghiên cứu bị cáo buộc làm rò rỉ bí mật cho Trung Quốc. Tại Canada, người nộp đơn xin tài trợ bắt đầu phải thêm thông tin về rủi ro bảo mật về nhiều hoạt động hợp tác với nước ngoài . EU, trong khi thúc đẩy các đối tác quốc tế mới trong chương trình Horizon Europe trị giá 95,5 tỷ euro với thông điệp “Càng cởi mở càng tốt và càng an toàn càng tốt” cũng đang phát triển chính sách an ninh khoa học riêng. Và sau đó cuộc chiến ở Ukraine, khiến hầu hết các chính phủ các nước phương Tây hạn chế hợp tác khoa học và công nghệ với Nga.    Đối với nhiều nhà nghiên cứu, xu hướng này thật đáng buồn. Thomas Schuelke, chủ tịch chi nhánh tại Mỹ của hãng công nghệ khổng lồ Fraunhofer, nhớ lại vào năm 2017 hãng của ông đã quyết định từ bỏ một hợp tác xuyên Đại Tây Dương về công nghệ kim cương đã lên kế hoạch vì quá khó để mà cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát an ninh về khoa học và công nghệ và xuất khẩu. Và, mặc dù sau đó Tổng thống Trump đã hết nhiệm kỳ, nhưng vấn đề hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là về nghiên cứu ứng dụng, vẫn còn là vấn đề cho đến ngày nay. “Không có sự khác biệt cho dù đó là Trump, Obama hay Biden. “Trong 10 năm qua, chúng tôi đã thấy có xu hướng gia tăng trong việc thực thi các biện pháp kiểm soát” góp phần gây ra những khó khăn trong hợp tác xuyên biên giới. “Chúng ta đang ngăn cản lẫn nhau để hợp tác hiệu quả”, Schuelke nói.    Thay vào đó, điều giới nghiên cứu khoa học công nghệ mong muốn là một hệ thống hợp tác nghiên cứu mới “sẽ mang lại kết quả tích cực cho mọi người và mọi người đều có thể tham gia miễn là họ tuân theo các quy tắc”.    Một bước tiến tới một hệ thống như vậy đã được thực hiện vào tháng trước tại Frankfurt, khi các bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhóm G7 gặp nhau để thảo luận về hợp tác nghiên cứu. Thông cáo chính thức sau cuộc họp đã được tuyên bố rộng rãi rằng, “Chúng tôi tin rằng tính mở là nền tảng, an ninh là cần thiết và tự do và liêm chính là rất quan trọng”.    Tiến trình của Mỹ    Một đại diện của phái đoàn Mỹ cho biết muốn nhấn mạnh là tự đóng cửa không phải là giải pháp mà giải pháp phải rõ ràng – đưa bất kỳ rủi ro, xung đột hoặc vấn đề đạo đức có thể xảy ra ngay từ trước khi xây dựng mối hợp tác.    Đây là điều mà giới quản lý khoa học công nghệ ở Mỹ cũng đang làm rõ. Vào tháng một, Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia của Nhà Trắng đã ban hành một tài liệu hướng dẫn các cơ quan tài trợ về việc cần sửa đổi các biểu mẫu đăng ký tài trợ để làm rõ hơn những loại xung đột và rủi ro mà một nhà nghiên cứu phải làm rõ khi xin tài trợ.    Mục đích của hướng dẫn này không chỉ là để ngăn cản nguồn tài trợ có liên quan tới Trung Quốc hoặc hợp tác của Nga. Chính phủ Mỹ muốn các nhà nghiên cứu tiết lộ rõ ​​ràng hơn các cam kết khác – có thể cho một nhà tài trợ khác hoặc một đối tác công ty mà họ đã ký thỏa thuận không tiết lộ – điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghiên cứu mà họ đang tìm kiếm tài trợ.    Rebecca Keizer, phụ trách bảo mật nghiên cứu tại NSF, cho biết trong năm nay NSF đã tham khảo ý kiến ​​của các cơ quan tài trợ khác về việc phối hợp và làm rõ các yêu cầu công khai thông tin. Các cơ quan tài trợ đang hướng tới xây dựng một bộ dữ liệu chuẩn hóa cho những người nộp đơn xin tài trợ – có đầy đủ thông tin về sơ yếu lý lịch, xung đột quyền lợi, cam kết – với tất cả các cơ quan tài trợ liên bang, để sau đó các công ty phần mềm tư nhân có thể phát triển các công cụ để khai báo thông tin thân thiện với người dùng. Keizer cho biết: “Chúng tôi muốn loại bỏ khả năng mắc những lỗi đơn giản” trong các ứng dụng. Bà hy vọng, các nỗ lực này sẽ làm giảm các thủ tục khai báo thông tin.    Thông tin chi tiết về hệ thống mới sẽ được công bố vào cuối mùa hè này để lấy ý kiến giới chuyên môn. Đồng thời, Keizer cũng cho biết thêm NSF đã yêu cầu Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia tổ chức một hội thảo để đánh giá rà soát các yêu cầu về việc bảo mật thông tin khoa học, dán nhãn thông tin mật trong bối cảnh cần phải phát triển khoa học mở hiện nay.    Nỗ lực của nhóm G7    Cuộc họp nhóm các bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhóm G7 ở Frankfurt vào tháng sáu vừa qua đã nêu bật những nỗ lực tương tự mà tất cả đều đang thực hiện nhằm xác định cách thức để vừa đảm bảo tính mở trong khoa học vừa đảm bảo an ninh nghiên cứu. Các bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí về một quy trình ba bước do một tiểu ban về an ninh khoa học của G7 thực hiện.    Bước đầu tiên là thống nhất, đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tính bảo mật và tính toàn vẹn của nghiên cứu – về bản chất, dựa trên các nguyên tắc là nghiên cứu tốt, có đạo đức và an toàn nên được tiến hành.    Thứ hai là một khóa học mà EU sẽ xây dựng, để đào tạo cho các nhà nghiên cứu về các nguyên tắc nghiên cứu.    Và thứ ba là một bộ công cụ về an ninh nghiên cứu: một bản tóm tắt các chính sách và thủ tục ở quốc gia khác nhau để đảm bảo an ninh trên toàn G7.    Các nhà quản lý cho biết bộ nguyên tắc đã gần hoàn thành, công cụ dự kiến ​​sẽ được công bố vào cuối năm nay.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Phơi nhiễm bụi PM2.5: Rủi ro cho ai?      Trong những ngày mà chất lượng không khí ở mức thấp nhất trong năm, dù ở Hà Nội hay TPHCM, không ai có thể thoát khỏi sự đeo bám của những hạt bụi PM2.5. Thực tế này khiến chúng ta bất giác đặt câu hỏi “ai sẽ là người hứng chịu rủi ro nhiều nhất”?      Sống trong thế giới nối mạng, thông tin cập nhật hằng ngày hằng giờ, hẳn nhiều người có thể phần nào biết được rủi ro có thể đến từ PM2.5, ví dụ như những bệnh về đường hô hấp mà mức độ trầm trọng hơn ở người già và trẻ nhỏ. Không chỉ có vậy, PM2.5 và những chất ô nhiễm khác liên quan đến rất nhiều loại bệnh khác. Theo một nghiên cứu trên tạp chí Current Pollution Reports vào năm 2020, dựa trên kết quả của 247 bài báo khoa học xuất bản trong vòng năm năm (2015–2019), bụi PM2.5 còn dẫn đến nguy cơ tử vong và bệnh tật cao do rối loạn hô hấp, tim mạch, rối loạn mạch máu não và tiểu đường, ngay cả khi phơi nhiễm nồng độ PM2.5 ở mức thấp1.     Thậm chí, trên Vox, một tờ báo online của Mỹ, ngày 27/12/2021 còn đưa ra lời nhận xét dựa trên thông tin rút trích từ nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu (WHO) “Bạn không thể thấy những hạt bụi nhỏ hơn 2,5 micron. Nhưng chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến cái chết của 3,4 triệu người mỗi năm”2.     Đến đây, hẳn không ai còn cảm thấy bình thản trước câu chuyện về bụi PM2.5 nữa. Nhưng nguy cơ rủi ro ở Việt Nam như thế nào? Đi tìm câu trả lời này, từ gần 10 năm qua, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung và đồng nghiệp trong và ngoài trường Y tế công cộng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về đánh giá nguy cơ rủi ro với sức khỏe do bụi PM2.5. Báo cáo “Tác động ô nhiễm không khí do bụi PM2.5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội năm 2019”, công trình mới nhất của chị và đồng nghiệp thực hiện cho chúng ta thấy những dữ liệu đầu tiên về gánh nặng bệnh tật do tác động của ô nhiễm bụi PM2,5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội3. “Trong nghiên cứu này chỉ tính ra phần quy thuộc về nguy cơ rủi ro, còn bằng chứng liên quan về bệnh tật do phơi nhiễm bụi đã được chứng minh ở nhiều quốc gia khác. Câu chuyện ở Hà Nội có khác không? Theo tôi, không khác biệt lắm”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung trao đổi như vậy tại hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu vào ngày 12/8/2021     Tìm dữ liệu để đo lường gánh nặng bệnh tật      “Khi làm nghiên cứu sinh ở Thụy Sĩ vào năm 2014, tôi đã nghĩ đến việc thực hiện một nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của bụi đến sức khỏe con người tại Việt Nam và cố gắng tìm kiếm các nguồn dữ liệu, cả   mối quan hệ cá nhân, nhưng không thành vì không có đủ dữ liệu”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung đã cho biết như vậy khi nhìn lại cả quá trình theo đuổi hướng nghiên cứu này. Không khỏi nuối tiếc khi nghĩ đến việc nếu như đã làm một nghiên cứu đánh giá về gánh nặng bệnh tật với sự hỗ trợ của một nhóm nghiên cứu châu Âu nhiều kinh nghiệm thì ắt hẳn, đến bây giờ, vấn đề này sẽ được nhiều người ở Việt Nam, trong đó có cả nhà quản lý, quan tâm hơn.      Nhưng cuộc sống không có chữ “nếu”. TS. Nguyễn Thị Trang Nhung đã phải chờ đến gần năm năm sau, cùng với PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN), một nhà nghiên cứu chất lượng không khí bằng công cụ dữ liệu ảnh vệ tinh và học máy, và Live and Learn, một tổ chức NGO về môi trường ở Hà Nội, thì cơ hội mới sáng rõ. Dù đã nắm rất chắc hướng dẫn của WHO về đánh giá tác động của bụi PM2.5 lên sức khỏe với những yêu cầu về dữ liệu nền (dân số, nồng độ bụi, số liệu y tế…) và công cụ GEMM – một mô hình ước lượng nguy cơ tử vong, sự gia tăng của nguy cơ tử vong do sự gia tăng của ô nhiễm không khí tại tất cả các nước phát triển và chưa phát triển, trong đó có quốc gia có nồng độ ô nhiễm giống Việt Nam là Trung Quốc, nhưng cái khó là Việt Nam chưa có bản đồ nồng độ bụi. Đó là lý do để nhóm nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh “đi trước một bước”: vẽ bản đồ phân bố nồng độ bụi PM2.5 năm 2019 của Hà Nội chi tiết đến cấp quận huyện. “Mọi người có thể thấy trên biểu đồ, nơi có nồng độ bụi cao là hai quận nội thành Đống Đa và Ba Đình (39,52μg/m3) và nơi nồng độ bụi thấp nhất là huyện ngoại thành Ba Vì (22,9μg/m3)”, chị giới thiệu trong hội thảo.        Dưới tác động của sự gia tăng nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm tại Hà Nội, trung bình mỗi năm gia tăng thêm khoảng 1.062 ca nhập viện do bệnh tim mạch, tương đương 1,2% tổng số ca nhập viện do bệnh tim mạch của người dân Hà Nội, và 2.969 ca nhập viện do bệnh hô hấp tại Hà Nội, tương đương 2,4% tổng số ca nhập viện do bệnh hô hấp. Nếu kiểm soát chất lượng không khí ở mức dưới quy chuẩn Việt Nam thì Hà Nội sẽ thu được hai lợi ích dễ thấy: 1.Tránh được 2.575 trường hợp tử vong/năm do các bệnh liên quan đến phơi nhiễm bụi, hay nói cách khác là giảm số ca tử vong lên tới 11% ở nhóm người trên 25 tuổi. 2. Số năm kỳ vọng sống của chúng ta có thể tăng 812 ngày tuổi, nghĩa là chúng ta tăng 2,22 tuổi”.  Đó là nền tảng để TS. Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự dựa vào khi tính nguy cơ rủi ro với sức khỏe của việc phơi nhiễm bụi với những thông số như số ca nhập viện, số ca tử vong do các bệnh liên quan đến ô nhiễm bụi, tổng số năm sống khỏe mạnh bị mất của cả quần thể (Years of Life Lost), kỳ vọng sống bị mất (Loss of Life Expectancy) – trung bình tuổi thọ kỳ vọng của người mới sinh – của quần thể do phơi nhiễm dài hạn với bụi. Một trong những điểm mấu chốt để chị tính toán gánh nặng bệnh tật do phơi nhiễm quá mức với nồng độ bụi thực tế là xác định được điểm cơ sở. Ở đây, điểm cơ sở chính là nồng độ bụi thấp nhất ở Hà Nội theo đo lường của PGS. Nguyễn Thị Nhật Thanh, 22,9μg/m3. “Ngoài ra, chúng tôi tính gánh nặng bệnh tật cho hai mức cơ sở khác nữa là mức tham chiếu theo quy chuẩn Việt Nam 25 microgram/m3 và theo mức khuyến cáo của WHO là 10μg/m3.  Ý nghĩa của nó là tìm hiểu xem nếu Hà Nội thực hiện các bước thực hiện kiểm soát mức bụi PM2.5 về các mức đó thì lợi ích sức khỏe thu được như thế nào”, chị giải thích.   Những kết quả mà TS. Nguyễn Thị Trang Nhung có được trong tay có khiến mọi người giật mình? Suy cho cùng, đó là một sự thật mà nhiều người có thể mường tượng ra. “Tôi nghĩ mọi người biết đến nguy cơ có thể sẽ đến nhưng không rõ là mình sẽ thiệt mất bao nhiêu thời gian sống thôi”, chị nói.    Là người làm nghiên cứu, chị hiểu rõ ý nghĩa của những con số đó: “Bây giờ mình đã có đủ bằng chứng hiện hữu ở Việt Nam để chứng tỏ là ô nhiễm không khí có tác động thật sự đến sức khỏe chứ không đơn thuần lấy thông tin của Tây rồi suy ra ta”.      Ai phải chịu rủi ro?     Quá trình tìm ra cái mới trong khoa học bao giờ cũng thú vị. Nhưng với những người làm về tác động của yếu tố ngoại cảnh lên sức khỏe con người, cái mới ấy lại đi kèm với lo âu, đặc biệt trong trường hợp này. Bởi họ sẽ là những người đầu tiên thấy được nguy cơ cho cả cộng đồng, khi bị phơi nhiễm chất độc hại trong thời gian dài. “Dù phơi nhiễm bụi và hút thuốc lá có thể có cùng nguy cơ dẫn đến một số bệnh hô hấp, tim mạch, ung thư nhưng xét cho cùng, chỉ có khoảng 35% dân số hiện nay hút thuốc, còn bụi thì ngược lại, 100% dân số cùng trải nghiệm việc này”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung nói.       Chị Nguyễn Mai Linh (phố Cửa Bắc, Hà Nội) cho biết, con chị đang bị viêm phổi nên khi biết không khí tại Hà Nội rất ô nhiễm đã mua thêm khẩu trang cho cả gia đình dùng. Nguồn: Infonet.    Nghĩa là 100% dân số Hà Nội, những người cùng hít thở một bầu không khí có nồng độ bụi PM2.5 dao động từ 22,9 μg/m3 đến mức 39,52 μg/m3 đều khó có khả năng tránh khỏi nguy cơ phơi nhiễm dài hạn. Ở đây, chúng ta có thể chú ý thêm một chi tiết, nếu mức 22,9 μg/m3 là mức thấp nhất trong năm 2019 đo được ở huyện Ba Vì thì mức nồng độ trung bình năm của bụi PM2,5 ở các quận, huyện trên địa bàn Hà Nội là từ 28,15 μg/m3 đến 39,4μg/m3.    Sống trong bầu không khí với nồng độ bụi trung bình năm đều vượt ngưỡng quy chuẩn Việt Nam QCVN 05:2013/BTNMT là 25μg/m3, chúng ta sẽ phải hứng chịu điều gì? “Theo kết quả rút ra từ mô hình tính toán của chúng tôi thì việc bị phơi nhiễm ở các khu vực có nồng độ bụi cao hơn giá trị 22,9 μg/m3 sẽ dẫn đến nguy cơ gây ra 2.855 ca tử vong sớm do các bệnh liên quan đến bụi PM2.5. Và tính đến tỉ suất tử vong (số ca tử vong quy thuộc/100.000 dân) thì sẽ có khoảng 35,5 ca tử vong/100.000 dân do các bệnh này. Như vậy có thể nguy cơ tử vong do bụi ở những người dân Hà Nội trên 25 tuổi là 12%”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung cho biết trong hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu. Trong số 12 quận, 17 huyện và một thị xã của Thủ đô, đáng chú ý là hai quận nội thành Hoàn Kiếm và Ba Đình có tỷ suất tử vong sớm do phơi nhiễm bụi PM2.5 cao hơn với con số 59,8 và 55,3/100.000 dân, thấp nhất là huyện Ba Vì và quận Nam Từ Liêm với tỷ suất tử vong sớm lần lượt là 24,7 và 24,3/100.000 dân.     Nhưng rủi ro không chỉ có vậy, nó còn được hiển thị qua những con số khác – tổng số năm sống bị mất và kỳ vọng sống bị mất do phơi nhiễm bụi. Tính trên tổng dân số thì Hà Nội sẽ có nguy cơ mất đi 79.933 năm (992,5 năm/100.000 dân), đây là tổng năm sống khỏe mạnh bị mất, và kỳ vọng sống bị mất là 908 ngày.     Ai cũng có thể “nhìn thấy” viễn cảnh có thể đến này, nếu như vẫn phải sống trong bầu không khí có nồng độ bụi PM2.5 là 22,9μg/m3. Nhưng chúng ta hãy nhớ một điều là những lá phổi của người dân nội đô còn luôn phải đón nhận những luồng không khí tệ hơn mức đó (28,15μg/m3 đến 39,4μg/m3). TS. Nguyễn Thị Trang Nhung giải thích thêm, “nói cách khác là kỳ vọng sống lúc sinh của người sống ở HN là giảm 2,49 tuổi do các bệnh liên quan đến bụi. Kỳ vọng sống hiện nay của người Hà Nội là 79 tuổi nhưng do các bệnh lý liên quan đến bụi nên sẽ bị giảm 2,49 tuổi. Điều đó nghĩa là nếu chất lượng không khí được cải thiện và nồng độ bụi ở dưới mức 22,9 thì kỳ vọng sống của người sống ở Hà Nội là khoảng 81 tuổi”.    Nếu tương lai Hà Nội kiểm soát tốt chất lượng không khí thì những lợi ích có thể thu nhận là gì? Dĩ nhiên, trong trường hợp này thì các quận trung tâm có mật độ dân số cao và nồng độ bụi cao như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình sẽ giảm được các ca tử vong, ví dụ Hoàn Kiếm giảm 55 ca/100.000 dân và ngay cả huyện Ba Vì cũng giảm còn 17 ca/100.000 người.     Ai trong số những người đang sống ở Hà Nội sẽ phải hứng chịu nhiều rủi ro nhất? Có lẽ, khi nghĩ đến những nguy cơ có thể đến với người bị phơi nhiễm dài hạn với bụi, người ta thường quy về hai nhóm dễ bị tổn thương là người già và trẻ em. Không phải không có lý bởi năm 2017, TS. Lương Thị Mai Ly (Khoa Khoa học môi trường, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) và cộng sự đã phát hiện ra “Mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí ở dạng hạt và việc nhập viện đường hô hấp ở trẻ nhỏ ở Hà Nội, Việt Nam” (“The association between particulate air pollution and respiratory admissions among young children in Hanoi, Vietnam) trên tạp chí Science of The Total Environment4. Khi kiểm tra hậu quả phơi nhiễm ngắn hạn (2010 -2011), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy việc gia tăng 10μg/m3 của PM10, PM2.5 hoặc PM1 dẫn đến sự tăng nguy cơ nhập viện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.    Ba năm sau, cũng trên tạp chí này, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung, với đề tài do NAFOSTED tài trợ, đã xuất bản công bố “Exposure to air pollution and risk of hospitalization for cardiovascular diseases amongst Vietnamese adults: Case-crossover study” (Tiếp xúc với ô nhiễm không khí và nguy cơ nhập viện vì các bệnh tim mạch ở người trưởng thành Việt Nam: nghiên cứu bệnh bắt chéo)5, trong đó chị phát hiện ra mối liên quan giữa nồng độ bụi PM2.5, PM1 với tần suất nhập viện ở ba tỉnh Hà Nội, Quảng Ninh, Phú Thọ và hiệu ứng này mạnh hơn với người trên 65 tuổi và trong mùa đông.      Có nên sống chung với bụi?      Ít nhất trong bốn tháng 1, 2, 11 và 12 hằng năm, khu vực Hà Nội trên bản đồ online của PAMair – một mạng lưới chất lượng không khí tư nhân với hơn 400 điểm giám sát tại tất cả 63 tỉnh thành và có mật độ dày nhất ở Hà Nội – đều hiển thị những chấm đỏ và tím: biểu hiện của tình trạng ô nhiễm không khí ở mức xấu đến rất xấu. Trốn đâu khỏi bụi bây giờ.    Điều đó khiến chúng ta không khỏi âu lo về nguy cơ mà mình và người thân, bạn bè có thể mắc phải. Ở đây, tác động của việc phơi nhiễm bụi PM2.5 lên sức khỏe là một câu chuyện lạ lùng. Nó lạ ở chỗ dường như không gây ra cảm giác một cách rõ rệt ở người này người kia, không gây ra những căn bệnh ngay tức thì, ngoại trừ những cái hắt hơi khó chịu, nhưng nguy cơ rủi ro cuối cùng khó tránh khỏi, nếu phơi nhiễm đủ lâu. Đủ lâu là mất bao nhiêu thời gian? Liệu cơ chế phơi nhiễm bụi ở người Hà Nội, hay nói rộng ra là người Việt Nam, có khác so với người châu Âu, người Mỹ? “Để giải đáp một cách rốt ráo những câu hỏi này, các nhà nghiên cứu cần thời gian và cần được đầu tư”, một nhà nghiên cứu trả lời.    Nhưng nếu trong trường hợp Hà Nội có thể kiểm soát nồng độ bụi thì điều gì sẽ xảy ra? Nếu nồng độ bụi PM2.5 trong không khí Hà Nội thấp hơn quy chuẩn Việt Nam, có thể nhiều người sẽ tránh nguy cơ tử vong sớm, nhiều căn bệnh sẽ lui ư? Dĩ nhiên là vậy, các nhà nghiên cứu cho biết.     Lý tưởng hơn, nếu Hà Nội kiểm soát được nồng độ bụi PM2.5 mức dưới 10microgram/m3 như khuyến cao của WHO thì chúng ta có thể lạc quan cho tương lai? “Chúng tôi tính ra cho các lợi ích nếu Hà Nội kiểm soát được nồng độ bụi PM2.5 mức dưới 10microgram/m3 thì số ca tử vong tránh được là 4.222 ca/năm, nâng tuổi kỳ vọng sống lên 3,88 tuổi, tổng số năm sống bị mất của những người do liên quan đến phơi nhiễm bụi là 123.103 năm”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung trao đổi trong hội thảo.     Điều đó có nghĩa, ngay cả khi chúng ta sống ở một vùng đất mà nồng độ bụi trong không khí nhỏ gấp nhiều lần so với hiện tại, nguy cơ rủi ro với sức khỏe khác của chúng ta vẫn còn hiện hữu.     Nhưng biết đâu phơi nhiễm bụi lại có thể ít rủi ro hơn so với những nguy cơ khác mà chúng ta có thể gặp phải trong cuộc sống này? Không hẳn thế. Trong báo cáo “Air Quality life index” của trường Đại học Chicago công bố vào tháng 9/2021, hai nhà nghiên cứu Ken Lee và Michael Greenstone viết “Việc uống rượu làm giảm kỳ vọng sống xuống còn chín tháng; nước không đủ tiêu chuẩn và nhiễm mặn bảy tháng; HIV/AIDS bốn tháng; sốt rét ba tháng; xung đột và khủng bố bảy ngày. Theo cách đó, tác động của ô nhiễm bụi lên kỳ vọng sống có thể so sánh với tác động của hút thuốc, gấp ba lần với uống rượu, ma túy và nước không đủ tiêu chuẩn, gấp năm lần so với nhiễm HIV/AIDS, và 114 lần so với xung đột và khủng bố”6.    Quả thật, có quá nhiều nguy cơ rủi ro ảnh hưởng đến mạng sống con người, trong đó có cả chúng ta. Liệu chúng ta có thể tránh khỏi ô nhiễm? “Sống trên Trái đất này, chúng ta phải chịu rất nhiều tác động khác nhau, mỗi tác động đều có tính chất khác biệt nhưng tổng hợp lại thì lại lớn. Tuy nhiên có một vấn đề là nếu anh thường có thể tự quyết định hút thuốc lá hay uống rượu hay không…, nhưng với bụi thì không thể, anh buộc phải hít thở một bầu không khí do người khác tạo ra…”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung nhận xét.    Nghĩa là tất cả sẽ là vô vọng ư? Ồ không, nếu tất cả chúng ta cùng ngồi lại với nhau, cùng tìm cách giảm thiểu các nguồn phát, thay đổi thói quen giao thông, trồng nhiều cây xanh hơn… thì rất có thể đến lúc thấy ánh sáng cuối đường hầm. □  Khi ước lượng gánh nặng bệnh tật, có thể chúng tôi vẫn còn ước lượng thiếu và con số thực tế có thể sẽ còn cao hơn do một số nguyên nhân: kết quả của bản đồ nồng độ bụi PM2.5 là kết quả đầu vào để ước tính gánh nặng bệnh tật có thể có sai số; sổ tử vong A6 chỉ phản ánh 80% ca tử vong ở Hà Nội bởi số ca tử vong được ghi nhận là người được đăng ký thường trú tại Hà Nội nhưng tại Hà Nội cũng có những người bị phơi nhiễm bụi nhưng không đăng ký tử vong tại Hà Nội. Với số liệu các ca nhập viện thì chúng tôi cũng chỉ lấy những người sống Hà Nội mà không lấy số người không ghi sống ở Hà Nội” (TS. Nguyễn Thị Trang Nhung).  ——————–  1. https://link.springer.com/article/10.1007/s40726-020-00155-3  2. https://www.vox.com/future-perfect/22691558/air-pollution-deaths-mortality-pm-25-soot-particulate  3. “Báo cáo Tác động ô nhiễm không khí do bụi PM2,5 đến sức khỏe cộng đồng tại Hà Nội năm 2019” do Trường Đại học Y tế Công cộng, Trường Đại học Công nghệ – ĐHQGHN thực hiện. Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ Dự án Chung tay vì Không khí Sạch do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) hỗ trợ, Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn) điều phối.  4. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0048969716316965?via%3Dihub#!  5. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0048969719346285?via%3Dihub  6. https://aqli.epic.uchicago.edu/wp-content/uploads/2021/08/AQLI_2021-Report.EnglishGlobal.pdf       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phóng phi thuyền quay phim mặt trời      Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) vừa phóng lên không gian 2 phi thuyền với mục đích thực hiện sứ mạng Stereo, quay những thước phim 3D đầu tiên về mặt trời.    Dự án trên nhằm nghiên cứu sự phun trào mãnh liệt của mặt trời, được gọi là các cơn bùng phát hào quang khổng lồ (CME), phóng ra với tốc độ 1,6 triệu km/giờ. Hiện tượng trên tạo ra các đám mây phân tử năng lượng cực lớn có thể gây nên các cơn bão từ, phá vỡ các lưới năng lượng và phương tiện liên lạc qua vệ tinh trên trái đất.  Với sứ mạng Stereo, các nhà khoa học sẽ hiểu được cách các CME hình thành và chúng di chuyển xuyên qua Thái dương hệ như thế nào. Từ đó, các nhà khoa học mong muốn kéo dài các cảnh báo về các cơn bão mặt trời sớm hơn vài ngày so với vài giờ như hiện nay. Dự án có sự đóng góp lớn của Anh khi nước này cung cấp tất cả hệ thống camera trên tàu không gian.  T.M (BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phóng tàu vũ trụ để giải mã bí ẩn đường chân trời phát sáng của Mặt Trăng      Hơn 40 năm sau ngày các nhà du hành vũ trụ  trên tàu Apollo rời khỏi Mặt Trăng, giờ đây Cơ quan Thăm dò vũ trụ NASA  của Mỹ quyết định sẽ phóng một tàu vũ trụ không người lái lên đó nhằm tìm  hiểu một trong các phát hiện kỳ lạ nhất trên thiên thể này — dải ánh  sáng trên đường chân trời của Mặt Trăng.    NASA cho biết ngày 6/9 (giờ địa phương) đã phóng Tàu Thăm dò Khí quyển và Môi trường Bụi Mặt Trăng (Lunar Atmosphere and Dust Environment Explorer, LADEE) lên Mặt Trăng bằng tên lửa vượt đại châu Minotaur V của Không quân Mỹ.  LADEE sẽ bay vòng quanh Mặt Trăng nhằm thu thập các thông tin chi tiết về bầu khí quyển trên đó, các điều kiện gần bề mặt và ảnh hưởng của môi trường đối với bụi Mặt Trăng. LADEE sẽ giải quyết được những điều lâu nay còn chưa hiểu về Mặt Trăng và giúp các nhà khoa học hiểu hơn về các hành tinh khác.   Sứ mạng thăm dò lần này là phân tích bầu khí quyển loãng trên Mặt Trăng và giải mã bí ẩn về đường chân trời phát sáng của nó (lunar glowing horizon).  Trước kia, tàu Surveyor phóng ngày 17/4/1967 từng phát hiện đường chân trời phát sáng chạy dọc theo đường phân cách vùng sáng và vùng tối trên Mặt Trăng (tức đường terminator); về sau các nhà du hành vũ trụ trên tàu Apollo khi bay vòng Mặt Trăng cũng nhìn thấy dải ánh sáng này. Ghi chép của Surveyor cho thấy đó là một dải ánh sáng mỏng. Tiến sĩ Paul Spudis, nhà khoa học nổi tiếng của Viện Mặt Trăng và Hành tinh Mỹ (Lunar and Planetary Institute) cho biết khi Surveyor phát hiện dải ánh sáng đó, nó dường như chỉ ở cách bề mặt Mặt Trăng khoảng 1-2 mét. Nhưng các nhà du hành vũ trụ Apollo lại nói dải ánh sáng này ở độ cao vài trăm km so với bề mặt Mặt Trăng. Đây là một bí ẩn chưa có lời giải.  Nhiều năm qua, người ta cho rằng dải ánh sáng đó là sự phản quang của các hạt bụi Mặt Trăng. Nhưng tàu vũ trụ Clementine (1994) lại không phát hiện thấy dải ánh sáng này. Bởi vậy việc phóng tàu LADEE nhằm nghiên cứu xem dải ánh sáng đó thực tế có tồn tại không, hay chỉ là sự tưởng tượng của con người.  Từ 2007 tới nay, Mỹ đã liên tục phóng bảy tàu thăm dò Mặt Trăng nhưng đều không chú ý nghiên cứu bầu khí quyển trên thiên thể này. Việc phóng tàu LADEE nhằm bổ khuyết thiếu sót đó.   Bầu khí quyển Mặt Trăng có thể một phần cấu tạo bởi các chất khí phun ra từ bên trong Mặt Trăng, một phần là những chất khí sinh ra khi các sao băng nhỏ va chạm rồi bốc hơi, và các hạt mang điện trong gió Mặt Trời. Bầu khí quyển Mặt Trăng cực loãng: một xăngtimét khối khí quyển ở bề mặt thiên thể này chỉ chứa từ 100 nghìn cho tới 10 triệu phân tử, trong khi một xăngtimét khối khí quyển ở bề mặt Trái Đất chứa khoảng 100 tỷ tỷ phân tử.  Tàu vũ trụ robot LADEE trị giá 280 triệu USD, mang theo bốn thiết bị đo lường, không những chỉ quan sát bề mặt Mặt Trăng mà đồng thời còn quan trắc quỹ đạo của nó. Các nhà nghiên cứu cho rằng rất có thể đường chân trời phát sáng được cấu tạo bởi các hạt mang điện hút bụi. Những hạt bụi đó có thể có ảnh hưởng bất lợi đối với các tấm pin Mặt Trời và bộ tản nhiệt trên tàu vũ trụ. Vì thế việc nghiên cứu bụi Mặt Trăng là rất quan trọng.  Do loài người ngày càng tăng cường thăm dò Mặt Trăng nên các chất khí do tàu vũ trụ sinh ra rất có thể đã trở thành một phần của bầu khí quyển Mặt Trăng. Trên thực tế, những tàu hạ cánh thành công trên Mặt Trăng thì tiêu hao nhiều nhiên liệu hơn những tàu bị rơi xuống đây. Điều đó có nghĩa là các chất khí do tàu thăm dò Mặt Trăng thải ra cũng sẽ trở thành một phần của bầu khí quyển Mặt Trăng.    Nguyễn Hải Hoành lược thuật     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm Bell      Phòng thí nghiệm Bell (Bell Labs – tên đặt theo nhà phát minh ra điện thoại và sáng lập công ty Western Electric, Alexander Graham Bell) nổi tiếng với những phát minh như transistor, laser, hệ điều hành UNIX… Hơn 80 năm hoạt động, Bell Labs có 6 nhà khoa học đoạt giải Nobel. Trước năm 2000, chỉ riêng chi nhánh lớn nhất của Bell Labs ở bang Illinois đã có tới 11 nghìn nhân viên. Qua những phát minh của Bell Labs, người ta cũng hình dung được phần nào bước tiến dài của khoa học trong thế kỉ qua.    Những năm 20  Năm 1925, Giám đốc công ty AT&T W. Gifford lập ra Bell Labs như một bộ phận tách biệt của AT&T để tiếp quản các công trình nghiên cứu của công ty Western Electric. Quyền sở hữu Bell Labs được chia đều cho AT&T và Western Electric. Ngay trong năm hoạt động đầu tiên, Bell Labs đã cho ra mắt máy fax. Năm 1926, Bell Labs phát minh ra hệ thống ghi hình và thu âm đồng bộ (synchronous-sound motion picture system). Năm 1927, hình ảnh vô tuyến từ Washington tới New York được truyền thành công. Năm 1928, lần đầu tiên đo được nhiễu nhiệt (thermal noise) trên điện trở. Cũng trong những năm 20, G. Vernam và J. Mauborgne phát minh ra mật mã hóa một lần (one-time pad cipher) – sau đó người ta chứng minh được rằng nó không thể bị phá vỡ.  Những năm 30            Những chiếc transistor đầu tiên của Bell Labs        Năm 1933, K.Jansky đặt nền tảng cho khoa học thiên văn vô tuyến (radio astronomy) trong khi phát hiện ra các tín hiệu sóng nhiễu phát từ trung tâm thiên hà. Cũng năm đó, tín hiệu stereo được truyền từ Philadelphia tới Washington DC. Năm 1937, nhà nghiên cứu của Bell Labs là Clinton Davisson chia giải Nobel với George Paget vì phát hiện ra nhiễu xạ điện tử – phát hiện đặt nền tảng cho điện tử học chất rắn.  Những năm 40  Thời kì này, Russel Ohl phát triển pin quang điện (photovoltaic cell). Năm 1947, transistor – có lẽ là phát minh vĩ đại nhất của Bell Labs được John Bardeen, William Bradford Shockley và Walter Houser Brattain (tất cả họ sau đó đều được giải Nobel Vật lý năm 1956) phát triển. Năm 1948, bài báo “Một lý thuyết toán về truyền thông” công bố trên tạp chí Bell System Technical của C. Shannon đã đặt nền tảng cho lý thuyết thông tin (information theory). Năm 1949, Bell Labs giới thiệu chiếc máy in ở New Hampshire được điều khiển bằng máy tính ở New York. Một loạt loại máy tính ngày càng phức tạp cũng được Bell Labs giới thiệu trong thời kỳ này.  Những năm 50  Hoạt động của Bell Labs thời kỳ này khá trầm lắng. Năm 1956, Bell Labs cùng với một số công ty viễn thông của Anh và Canada đã lắp đặt đường điện thoại xuyên Đại Tây Dương từ Canada tới Scotland. Một năm sau, Bell Labs tạo ra MUSIC – chương trình máy tính chơi nhạc đầu tiên trên thế giới. Một thuật toán do C. Prim và J. Kruskal phát triển đã mở ra cuộc cách mạng về thiết kế mạng máy tính. Năm 1958,  lần đầu tiên laser được A. Schawlow và Charles Townes mô tả trên một bài báo khoa học.  Những năm 60            Đèn LED        Những năm 60 đánh dấu những thành công quan trọng của Bell Labs, bao gồm phát minh ra đèn LED (light emitting diode – ống hai cực phát sáng) vào năm 1962 của N. Holnyak. Từ đó tới nay, đèn LED được dùng trong hàng triệu sản phẩm thương mại trên khắp thế giới, như trong máy tính cá nhân. Năm 1964, K. Patel phát minh ra laser carbon dioxide. Năm 1965, Penzias và Wilson phát hiện ra bức xạ phông vi ba vũ trụ (cosmic microwave background), nhờ đó hai ông đoạt giải Nobel năm 1978. Năm 1966, kỹ thuật đa phân tần trực giao (orthogonal frequency division multiplexing) do R.W Chang phát triển đăng ký sáng chế – đây là kỹ thuật chủ chốt cho dịch vụ không dây. Năm 1969, D. Richie và K. Thompson tạo ra hệ điều hành UNIX. Sau đó UNIX được phát triển thành các hệ điều hành hiện đại hơn như Linux và Mac OSX. Bộ cảm biến CCD (Charge couple device) trong hàng triệu máy ảnh số ngày nay được W. Boyle và E. Smith phát minh năm 1969.  Những năm 70  Cùng với cuộc cách mạng về máy tính cá nhân, những phát minh quan trọng của Bell Labs trong những năm 70 và 80 có liên quan nhiều tới tin học. Năm 1970, ngôn ngữ lập trình C được D. Ritchie phát triển cho hệ điều hành UNIX. Năm 1971, hệ thống chuyển mạch lưu chuyển cuộc gọi điều khiến bằng máy tính được S. Hoover phát minh, đây là phần mềm đầu tiên trên lĩnh vực này. Năm 1976, hệ thống cáp quang lần đầu tiên được thử nghiệm tại Georgia. Năm 1980, chiếc chip đơn 32-bit BELLMAC-32A được giới thiệu lần đầu và sau đó 2 năm thì thành sản phẩm thương mại. Năm 1980, kỹ thuật điện thoại di dộng số (digital cellular telephone technology) TDMA và CDMA được cấp bằng sáng chế. Năm 1982, hiệu ứng Hall lượng tử phân đoạn (fractional quantum Hall effect) được H. Stormer và một cựu nghiên cứu viên của Bell Labs là B. Laughlin phát hiện. Năm 1983, ngôn ngữ lập trình nổi tiếng C++ được B. Stroustrup phát triển trên cơ sở ngôn ngữ lập trình C.  Những năm 80  Năm 1984, thuật toán lập trình tuyến tính Karmarkar được nhà toán học Narendra Karmarkar phát triển. Cũng trong năm, một bộ phận của Bell Labs tách ra thành công ty Bellcore – công ty này có chức năng tương tự như Bell Labs (cũng rất thành công với một loạt phát minh nổi tiếng như mạng ADSL). Năm 1985, Steve Chu cùng nhóm của mình đã dùng laser để làm “lạnh” được nguyên tử. Cũng năm đó, Bell Labs được tặng Huân chương Công nghệ quốc gia vì đã “hiện đại hóa hệ thống thông tin công cộng trong nhiều thập kỷ”. Trong nhiều năm của thập kỷ 80, hệ điều hành Plan 9 được phát triển để thay thế UNIX. Năm 1988, Bell Labs thực hiện thành công việc truyền dẫn tín hiệu xuyên Đại Tây Dương qua cáp quang.  Những năm 90  Trong năm 1990, Bell Labs phát triển thành công mạng nội bộ không dây WaveLAN. Mạng không dây được thử nghiệm từ năm 1995, đến cuối những năm 90 thì phổ biến. Năm 1991, kỹ thuật chuyển đổi tín hiệu số (modem) 56k của N. Dagdenviren cùng cộng sự được cấp bằng sáng chế. Năm 1994, laser tầng lượng tử (quantum cascade laser) được F. Capasso và C. Gmachl cùng cộng sự phát minh. Năm 1996, L.Harriott và cộng sự phát minh ra máy in dập điện tử (electron lithography) SCALPEL có thể in kích cỡ nguyên tử lên bộ vi xử lý. Cũng năm đó, Inferno – hệ điều hành nâng cấp từ Plan 9 – được D. Rittchie và cộng sự xây dựng. Năm 1996, công ty Lucent tách ra từ AT&T trở thành công ty mẹ của Bell Labs.  Năm 1997, tức 50 năm sau khi phát minh ra transistor, một transistor nhỏ nhất thế giới (60 nanometers) được tạo ra. Năm 1998, bộ router quang được phát minh và hệ thống kết hợp âm thanh và dữ liệu trên mạng giao thức internet (Internet Protocol) được phát triển.  Hoạt động gần đây  Năm 2000 là một năm đầy năng động của Bell Labs với việc phát triển nguyên mẫu máy DNA (DNA machine prototypes); thực hiện việc truyền hình ảnh ba chiều bằng thuật toán nén hình học lũy tiến (progressive geometry compression algorithm); lập nên một bản đồ trên diện rộng các vật chất tối (dark matter) của vũ trụ và phát minh F-15 – chất hữu cơ có thể khiến transistor làm bằng chất dẻo trở thành hiện thực. Năm 2002, Jan Hendrick Schon, nhà vật lý người Đức bị Bell Labs đuổi việc vì bị phát hiện nghiên cứu “dỏm” – đây là trường hợp đuổi việc vì giả mạo đầu tiên trong lịch sử Bell Labs. Nhiều công trình của Schon, bao gồm cả công trình transistor phân tử được coi là “đột phá” hóa ra dựa trên những số liệu bị sửa đổi. Cũng trong năm 2002, loại laser bán dẫn (semiconductor laser) đầu tiên trên thế giới phát ánh sáng trong một vùng rộng của phổ hồng ngoại được phát minh.  Tháng 4/2006, việc công ty mẹ của Bell Labs là Lucent Technologies sáp nhập với Alcatel đã khiến người Mỹ lo ngại. Có tin đồn rằng một công ty độc lập với Mỹ sẽ được lập ra để quản lý những hợp đồng nhạy cảm của Bell Labs và Lucent với chính phủ Mỹ.  DŨNG – ANH (Theo Wikipedia)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm cao nhất thế giới      Một nhóm các chuyên gia y tế Anh đang tìm kiếm những người tình nguyện để thực hiện các nghiên cứu ở nơi được họ gọi là phòng thí nghiệm cao nhất thế giới – phòng thí nghiệm trên đỉnh Everest.    Nhóm Xtreme Everest sẽ thực hiện các nghiên cứu để tìm hiểu những tác động khi thay đổi độ cao ở cơ thể người, trong đó có thay đổi ở não, phổi và tim. Họ cần 208 tình nguyện viên tham gia cuộc thử nghiệm kéo dài 23 ngày trên Everest Base Camp – ở độ cao 5.300 m so với mực nước biển. Cuộc thử nghiệm sẽ diễn ra vào đầu năm tới.    Người đứng đầu nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Mike Grocott công tác tại Viện nghiên cứu sức khỏe và khả năng con người thuộc Trường ĐH London – cho biết kết quả thử nghiệm sẽ được ứng dụng vào việc chữa trị các căn bệnh “khó chịu”, chẳng hạn bệnh về hô hấp.  “Bằng cách theo dõi sức khỏe của từng cá nhân ở độ cao khan hiếm khí oxy, chúng tôi có thể hiểu biết về những thay đổi sinh lý, điều này giúp cải thiện việc chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện do lượng oxy thấp rất hay gặp trong các trường hợp cần chăm sóc sức khỏe”, tiến sĩ Mike nói.  Nếu cuộc nghiên cứu thành công, nó có thể giúp ích cho những người bị các căn bệnh liên quan đến lượng oxy thấp trong máu, trẻ sinh non, bệnh xơ nang và bệnh phổi.  Everest cao 8.844 m, nằm trên dãy Hymalaya giữa Nepal và Trung Quốc. Dự kiến sẽ có ít nhất 10 nhóm nghiên cứu lên đỉnh núi này.   (Theo BBC, Zee News)  T.VY      Author                Quản trị        
0.46153846153846156
__label__tiasang       Hồ Hùng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm Curie      Sau Đại chiến Thế giới lần I, Marie Curie trở thành giám đốc một trong những phòng thí nghiệm lớn nhất của Pháp. Tại đây, bà không chỉ tiến hành nghiên cứu những tính chất đặc biệt của chất phóng xạ mà còn có chủ trương liên kết với công nghiệp, y tế và công chúng. Nhờ vậy, phòng thí nghiệm của Marie Curie đã đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới khoa học, công nghiệp, đo lường và y tế tại Pháp thời kỳ đó.      Nghiên cứu về đặc tính của các chất phóng xạ   Sau phát hiện ban đầu của Becquerel về hiện tượng phóng xạ của urani vào năm 1896-1897, khám phá ra radi và poloni của Pierre Curie và Mari Curie vào năm 1898, các nghiên cứu về các chất phóng xạ diễn ra mạnh mẽ. Các công bố về chủ đề này không ngừng tăng lên. Trong những năm 1920, cộng động nghiên cứu phóng xạ tổ chức hoạt động xung quanh mạng lưới các phòng thí nghiệm quan trọng gồm Viện nghiên cứu Radi của Marie Curie, Viện nghiện cứu của Stefan Meyer ở Vienne, phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge do Rutherford đứng đầu, và phòng thí nghiệm hóa học Berlin dưới sự điều hành của Otto Hahn và Lise Meitner. Những phòng thí nghiệm này có cách tiếp cận và tiến hành thực nghiệm theo cách khác nhau. Ví dụ như tại Cavendish, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu những thay đổi của chất phóng xạ về mặt vật lý, các cơ chế và các sản phẩm của quá trình phân rã. Còn ở Berlin các nhà khoa học lại rất thành công trong việc xác định những chất phóng xạ mới và nghiên cứu tính chất vật lý của chúng.   Tại Pháp, phòng thí nghiệm của Marie Curie do trường Đại học Paris và Viện Pasteur thành lập, là phòng thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng cả về thành tích khoa học lẫn số lượng nhà nghiên cứu. Bà cùng các đồng nghiệp nghiên cứu đặc tính lý hóa của các chất phóng xạ và những ứng dụng của các chất này trong y học. Khi Marie Curie tới làm việc tại phòng thí nghiệm này, bà đã là một nhà khoa học nổi tiếng. Trước đó, bà bắt đầu sự nghiệp trong một nhà kho cũ kỹ của trường vật lý và hóa công nghiệp của Paris (EPCI), nơi Pierre Curie là giáo sư. Chính tại nhà kho ở phố Lhomond này mà vợ chồng Curie năm 1898 đã phát hiện ra poloni và radi.   Liên kết với công nghiệp          Hai lần nhận giải Nobel              Marie Curie hai lần nhận giải Nobel: Nobel Vật lý năm 1903 cùng với Henri Becquerel và Pierre Curie và Nobel Hóa học năm 1911. Một số nhà khoa học khác cũng hai lần được trao giải Nobel như Linus Pauling được trao giải Nobel vật lý năm 1954 và Nobel Hòa bình năm 1962, hay John Bardeen giải Nobel vật lý năm 1956 và 1972. Marie Curie là người phụ nữ của những cái đầu tiên: nữ tiến sĩ vật lý đầu tiên tại Pháp, nữ giáo sư đầu tiên của Sorbonne vào năm 1906. Mặc dù đạt được nhiều thành tích, cánh cửa của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vẫn đóng đối với bà. Hồ sơ xin gia nhập của bà vào năm 1911 đã làm dấy lên cuộc tranh cãi về vị trí của phụ nữ trong khoa học tại 5 viện thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học. Cho tới năm 1979, nhà vật lý và toán học Yvonne Choquet Bruhat trở thành nữ viện sĩ đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học.            Từ rất sớm, phòng thí nghiệm Curie đã tham gia vào việc tách, xác định tính chất hóa học của các chất phóng xạ và tìm các nguồn cung cấp chất phóng xạ. Năm 1898, vợ chồng Curie gặp phải trở ngại: poloni và radi mà họ muốn tách ra từ quặng pechblende chỉ tìm thấy một lượng rất nhỏ. Vì vậy, để có được số lượng radi đủ dùng, họ phải xử lý lượng quặng lớn hơn. Do không gian của phòng thí nghiệm không đủ, họ đã phải nhờ tới Hiệp hội các sản phẩm hóa chất, nơi đã bắt đầu thương mại hóa các dụng cụ đo phóng xạ của Pierre Curie.   Andre Debierne, một cựu học sinh của EPCI và sinh viên dự bị của khoa Khoa học đã đưa những phương pháp tách radi do vợ chồng Curie phát triển vào sản xuất công nghiệp. Nhờ có ứng dụng này, Marie Curie vào năm 1902 đã tách thành công lượng radi đủ để xác định trọng lượng nguyên tử của nguyên tố này.   Mối quan hệ của vợ chồng Curie với bên công nghiệp không chỉ dừng lại ở đây. Từ năm 1904, bà đã hợp tác thường xuyên với Armet de Lisle, một nhà hóa công nghiệp. Sau khi tham khảo ý kiến vợ chồng Curie, ông này đã thành lập tại Nogent sur Marne nhà máy đầu tiên thương mại các sản phẩm phóng xạ, đặt tên là Muối radi (Sels de radium). Pierre và Marie Curie nhiều lần đưa ra lời khuyên cho ông về các phương pháp tách quặng pechblende.   Marie Curie còn thiết lập mối quan hệ với những nhà máy radi khác ở Pháp. Mối quan hệ cũng khá dễ dàng vì nhiều cộng sự của vợ chồng Curie tham gia trực tiếp vào hoạt động công nghiệp, như Jacques Danne, một cộng sự của Pierre Curie, vào năm 1912 cùng với anh trai đã thành lập Hiệp hội radi công nghiệp tại Gif sur Yvette.  Do đắt và hiếm, radi không bao giờ đủ cho nhu cầu của các nhóm nghiên cứu. Nhiều nhóm đã phải nhờ cậy tới phòng thí nghiệm của Curie chuyên tập trung trong lĩnh vực tinh chế. Bà là chuyên gia hàng đầu trong việc tách các chất phóng xạ và đưa phòng thí nghiệm của mình lên vị trí hàng đầu trong tất cả những gì liên quan tới hoạt chất phóng xạ và các ứng dụng của nó.   Đo lường phóng xạ   Phòng thí nghiệm Curie phát triển những dụng cụ và kỹ thuật đo sử dụng tại Pháp trong tất cả các lĩnh vực liên quan tới phóng xạ. Các nhà công nghiệp, khoáng sản và những nhà ứng dụng radi vào chữa bệnh đều phải sử dụng tới các phương pháp phát hiện và đánh giá tia phóng xạ do vợ chồng Curie phát triển.   Tại Pháp nghiệm điện đầu tiên được sử dụng để đo phóng xạ đã được Pierre Curie hoàn thiện vào năm 1900. Tại đại hội về điện và phóng xạ ở Bruxelles, một ủy ban được thành lập để xem xét vấn đề về đo lường đã giao cho Marie Curie thực hiện mẫu đo phóng xạ quốc tế. Các thành viên của Ủy ban cũng đã định ra các quy tắc của hệ thống đo lường và đặt tên cho đơn vị đo xạ khí là “curie”.  Từ khi bắt đầu hoạt động, phòng thí nghiệm của Curie đã nhận được nhu cầu rất lớn từ bên ngoài. Từ việc kiểm tra các muối radi thương mại cho tới các thiết bị dùng trong xạ trị, Marie Curie đáp ứng tất cả những yêu cầu này. Vào cuối năm 1911 bà đã thành lập dịch vụ đo lường trả tiền. Nhưng ngay sau đó đụng chạm với những nguyên tắc của trường đại học là không cho phép các giáo sư thu lợi ích từ các mối quan hệ cá nhân với giới công nghiệp.   Dịch vụ trả tiền của phòng thí nghiệm Curie hoạt động không phép trong 2 năm. Sau đó Marie Curie đã giành được thắng lợi: hiệu trưởng trường đại học đã đồng ý cho bà duy trì dịch vụ này với điều kiện trường đại học kiểm tra tài chính. Nhân viên của phòng thí nghiệm, chủ yếu là phụ nữ, được trả tiền theo đơn đặt hàng. Bộ phận này đã trở thành một phần của phòng thí nghiệm quốc gia về đo lường được thế giới biết đến.           100.000 USD (tương đương với 1 triệu euros ngày nay) là giá của 1 gram radi vào năm 1921. Radi đắt là do khó tách từ quặng urani: cần phải khoảng 10 tấn pechblende mới tách được 1 gram radi. Trong khoảng 1912-1922, Mỹ chỉ tách được 170 gram radi. Nhờ phát hiện ra các mỏ quặng ở Congo, hiệp hội khoáng sản đã cung cấp radi cho thị trường với giá rẻ hơn là 70.000 USD/gram. Sau đại chiến thế giới II, nhu cầu sử dụng radi trong y tế và công nghiệp giảm sút, do vậy giá radi rớt xuống còn 25.000 USD/gram.          Ứng dụng trong y học   Phòng thí nghiệm Curie duy trì các mối quan hệ với cộng đồng y học từ rất sớm. Năm 1901, Pierre Curie đã hợp tác với bác sĩ Henri Danlos tại bệnh viện Saint Louis, Paris, để thử nghiệm phương pháp chữa trị các căn bệnh về da và ung thư nhờ đặc tính của các chất phóng xạ. Tại Viện Radi thành lập năm 1913 do Marie Curie làm giám đốc cũng có hướng nghiên cứu ứng dụng chất phóng xạ trong lĩnh vực sinh học và y tế do bác sĩ Claudius Regaud phụ trách.   Năm 1916, Marie Curie đã cùng nghiên cứu tạo ra đèn khí radon để chữa các vết thương cung cấp cho quân y và các bệnh viện dân sự. Việc sử dụng radi trong lĩnh vực y tế phát triển mạnh mẽ trong những năm 1910-1920. Tuy nhiên, dần dần, người ta nhận ra sự nguy hiểm của các tia phóng xạ. Vào năm 1934, Bộ Lao động Pháp đã xếp những bệnh liên quan tới sản xuất muối radi trong danh sách các bệnh nghề nghiệp. Cách chữa trị này, do vậy, đã không được phổ biến, thậm chí đã bị loại bỏ do tính chất nguy hiểm của radi. Từ những năm 1950, phương pháp xạ trị lại hồi sinh với việc chiếu xạ ở khoảng cách xa và sử dụng các tia phóng xạ nhân tạo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm đầu tiên ngoài Trung Quốc sao chép được coronavirus      Một đột phá lớn trong cuộc chiến với toàn cầu coronavirus xuất hiện khi Australia phát triển được một phiên bản virus nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.    .  TS. Julian Druce miêu tả đó là một phát triển đáng ghi nhận trong hiểu biết của toàn cầu về virus này. Nguồn: ABC  Viện nghiên cứu nhiễm trùng và miễn dịch Peter Doherty tại Melbourne vào ngày thứ ba đã trở thành phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới ngoài Trung Quốc sao chép được virus nguy hiểm này. Thành quả này được cho là “kẻ thay đổi cuộc chơi”, giúp các nhà khoa học xác định là liệu loại vaccine được phát triển trong tương lai có thật sự hiệu quả không.  Họ đã chia sẻ kết quả này với Tổ chức WHO ở châu Âu, nơi sẽ tiếp tục chia sẻ nó với các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới tham gia vào cuộc chạy đua phát triển vaccine điều trị bệnh.  Nhóm nghiên cứu nuôi cấy virus từ một bệnh nhân đã bị xác định lây nhiễm từ thứ sáu vừa qua.  Đài truyền hình ABC (Australia) đã có mặt tại phòng thí nghiệm vào thời điểm các nhà khoa học khám phá ra họ đã nuôi cấy thành công virus, cùng với Mike Catton, phó giám đốc Viện Doherty. Ông chỉ xác nhận điều này bằng vài từ ngắn ngủi: “Chúng tôi đã có nó. Thật tuyệt vời!”  TS. Catton cho biết khám phá này là “vô cùng quan trọng” và có thể trở thành một phần không thể thiếu của một bộ kit để kiểm tra là vaccines có hoạt động không, để các nhà khoa học có thể kiểm nghiệm bất kỳ loại vaccine tiềm năng nào có khả năng chống lại phiên bản virus phát triển trong phòng thí nghiệm.  Nó cũng giúp các nhà khoa học phát triển một kiểm nghiệm để nhận diện ai có thể bị lây nhiễm virus, ngay cả khi họ còn chưa có biểu hiện nào về triệu chứng nhiễm bệnh.  Hiện ở Australia, bệnh nhân với triệu chứng mắc coronavirus ban đầu phải trải qua kiểm tra ở bệnh viện và mẫu được gửi đến viện Doherty, phòng thí nghiệm duy nhất ở Australia có thể xác định các mẫu lần thứ hai rồi đưa ra kết quả đúng 100% là liệu người đó có lây nhiễm hay không. Nhưng điều này có thể thay đổi hoàn toàn sau khám phá này.  Việc nuôi cấy virus như vậy sẽ giúp các chuyên gia hiểu hơn về cách hành vi của coronavirus. Do đó, giám đốc Viện nghiên cứu Doherty Julian Druce miêu tả đó là một phát triển đáng ghi nhận trong hiểu biết của toàn cầu về virus này. “Nó sẽ là thứ làm thay đổi cuộc chơi của các phòng thí nghiệm khác ở Australia”, ông nói.  Viện Doherty là phòng thí nghiệm thứ hai trên thế giới sao chép được virus gây dịch viêm phổi này. Một phòng thí nghiệm ở Trung Quốc đã làm được điều này nhưng lại không chia sẻ khám phá của họ với WHO.  Dẫu sao, một phòng thí nghiệm khác của Trung Quốc đã công khai kết quả giải trình tự gene của virus, điều đó giúp các nhà nghiên cứu của Viện Doherty có thể sử dụng cho nghiên cứu.  TS. Druce cho biết, các nhà nghiên cứu của viện đã nỗ lực làm việc để hiểu hơn về căn bệnh. “Chúng tôi đã làm việc 10 đến 12 giờ mỗi ngày, công việc thường kết thúc vào 2 giờ sáng. Chúng tôi đã thiết kế và lập kế hoạch cho một quy trình làm việc như vậy trong nhiều năm. Đó là những gì mà Viện Doherty đã xây dựng được. Và đó là nguyên nhân tại sao chúng tôi lại có thể có được câu trả lời về chẩn đoán, dò tìm, giải trình tự và cô lập trong khoảng thời gian từ thứ sáu tuần trước đến thứ ba tuần sau”.  Tô Vân lược dịch  Nguồn: https://www.abc.net.au/news/2020-01-29/wuhan-coronavirus-created-in-australian-lab-outside-of-china/11906390       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm sinh học ở Mỹ không an toàn      Đầu tháng 10 vừa qua, Quốc hội Mỹ vừa tổ chức một loạt buổi điều trần về phòng thí nghiệm sinh học. Câu hỏi đặt ra là: Bao nhiêu phòng thí nghiệm chứa mầm bệnh nguy hiểm? Và nghiên cứu của các phòng thí nghiệm đó có làm cho cuộc sống an toàn hơn không? Câu trả lời nhận được là từ “Không” đến “Không biết”.    “Vì có quá nhiều điều còn chưa được biết vào thời điểm này, tôi có thể nói là chúng ta đang ở trong tình thế có nguy cơ cao hơn,” Keith Rhodes, người đứng đầu Ban giải trình (GAO), phát biểu trước Quốc hội, “bởi vì số lượng các phòng thí nghiệm sinh học tăng lên thì nguy cơ cũng tăng theo. Mà vấn đề không ở chỗ số phòng thí nghiệm tăng lên mà ở chỗ số phòng thí nghiệm tăng thêm lại là những phòng thí nghiệm ít kinh nghiệm.”  Hàng trăm, nếu không phải là hàng nghìn, phòng thí nghiệm mới ở Mỹ đang tiến hành các thí nghiệm sinh học có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cộng đồng. Hằng ngày, có ít nhất 15 nghìn kỹ thuật viên làm việc với những mầm bệnh nguy hiểm chết người. Mặc dù FBI có nhiệm vụ phải nắm rõ lai lịch những nhân viên đang làm việc với những mầm bệnh hoặc các độc tố – chính phủ cũng đã đưa ra danh sách 73 loại mầm bệnh và độc tố nguy hiểm có thể gây chết người, chẳng hạn như Ebola, chất độc ricin, và bệnh đậu mùa khỉ (monkeypox) – thì việc điều tra lý lịch này chủ yếu để bảo đảm an ninh hơn là an toàn sinh học. Hầu hết các sự cố đều do những sơ xẩy của con người, TS Gigi Gronvall, chuyên viên cao cấp thuộc Trung tâm An toàn sinh học của ĐH Pittsburgh, nói. Những nhân viên mới của phòng thí nghiệm thường được người có kinh nghiệm truyền thụ về các quy định bảo đảm an toàn cho phòng thí nghiệm trong quá trình học việc – nhưng gần đây, việc phát triển quá nhanh các phòng thí nghiệm sinh học đã làm cho đội ngũ những nhân viên giàu kinh nghiệm bị dàn mỏng.  Những thí nghiệm nguy hiểm nhất được thực hiện ở phòng thí nghiệm cấp 3 và cấp 4. Kể từ khi vụ tấn công bằng lá thư có chứa vi trùng bệnh than xảy ra vào năm 2001, làm 5 người thiệt mạng và 17 người khác bị nhiễm bệnh, Chính phủ Mỹ đã tiêu tốn hàng tỷ USD cho nghiên cứu về khủng bố bằng sinh học và các bệnh truyền nhiễm, cũng như để lập các phòng thí nghiệm dành cho những thí nghiệm nguy hiểm. Nhưng không một ai biết chắc chắn hiện giờ có bao nhiều phòng thí nghiệm như vậy. Theo khảo sát năm 2005 của Viện Y tế quốc gia (NIH), cơ quan tài trợ cho nhiều nghiên cứu về an ninh sinh học của nước này, thì Mỹ có 277 phòng thí nghiệm cấp 3 có đăng ký. Trong khi đó, con số do một cơ quan khác đưa ra, cũng trong năm 2005, là hơn 600. Còn con số do ông Rhodes báo cáo trước Quốc hội là “chắc chắn phải hàng nghìn”. Các phòng thí nghiệm cấp 4, nơi lưu giữ những mầm bệnh nguy hiểm nhất – tức là những bệnh chưa có cách điều trị hoặc chưa có vaccine phòng ngừa, như Ebola – thì ít hơn, một phần bởi chi phí cực kỳ tốn kém. Trước năm 2001, Mỹ có năm phòng thí nghiệm cấp 4; giờ có 15 phòng thí nghiệm đang hoặc sắp đi vào hoạt động, trong đó có Phòng thí nghiệm An ninh sinh học và An ninh nông nghiệp Quốc gia (National Bio and Agro-Defense Facility – NBAF) trị giá 470 triệu USD, rộng tương đương năm siêu thị Wal-Mart. Trong số các bang đang tranh nhau giành quyền được xây NBAF có cả Mississipi, một bang chẳng hề có chút kinh nghiệm nào về lĩnh vực này. “Trong khi việc mở thêm một số phòng thí nghiệm có lẽ là hợp lý”, ông Rhodes nói, “thì số phòng thí nghiệm mới được mở một cách tuỳ tiện, không có sự giám sát phù hợp, tăng vọt”.  Tệ hơn, không có cơ quan quản lý tập trung nào có thể bao quát hoạt động của các phòng thí nghiệm – 17 cơ quan cấp liên bang đều không ít thì nhiều tham gia vào các nghiên cứu sinh học nhưng không một cơ quan nào nhận nhiệm vụ theo dõi và xử lý nguy cơ. “Một số cơ quan có nhu cầu nắm được con số và địa điểm của các phòng thí nghiệm và hỗ trợ hoạt động của chúng,” ông Rhodes nói, nhưng không cơ quan nào thực sự có thông tin này cả. Trung tâm phòng chống dịch bệnh (CDC) chịu trách nhiệm hàng đầu về quản lý việc sử dụng các mầm bệnh – nhưng theo những người chỉ trích, CDC đang làm việc dựa trên một bản danh sách lỗi thời. Lần chỉnh sửa bổ sung bản danh sách gần đây nhất, tiến hành năm 2005, có bổ sung thêm virus cúm biến đổi gene, loại virus đã giết chết 40 triệu người hồi năm 1918. Một số mầm bệnh nguy hiểm vẫn còn thiếu trong danh sách này: SARS, virus Hanta và một số loại virus chết người khác chính thức không chịu sự kiểm soát nào.  Thiếu giám sát thường dẫn đến thông tin thiếu đầy đủ về các sự cố nguy hiểm. Theo luật, các phòng thí nghiệm phải nhanh chóng báo cáo với CDC về những rủi ro do các mầm bệnh gây ra, nhưng việc này không phải lúc nào cũng được thực hiện. Năm ngoái, một nhân viên phòng thí nghiệm sinh học ở ĐH A&M thuộc bang Texas đã bị nhiễm virus nhiệt thán nhưng trường ĐH này đã không báo cáo lại vụ việc và có lẽ sẽ không bao giờ thừa nhận sự cố nếu ông Edward Hammond, một người trong ngành, thuộc dự án Ánh Dương (Sunshine Project), không thuyết phục chánh án toà án địa phương ép buộc ĐH A&M phải công bố các tài liệu nội bộ. CDC sau đó đã nhanh chóng cử các điều tra viên đến và họ còn phát hiện ra hàng loạt vi phạm khác, bao gồm những thí nghiệm không có đăng ký, không báo cáo về ba trường hợp nhiễm bệnh sốt Q khác, không phải tất cả các nhân viên kỹ thuật đều qua kiểm tra của FBI, để mất mầm bệnh và các động vật mang mầm bệnh. “Cuộc điều tra do CDC tiến hành hồi tháng 8 không chỉ làm lộ ra những thiếu sót về phía ĐH A&M, mà cả những thiếu sót về mặt quản lý của CDC,” ông Bart Stupak, Chủ tịch Hội đồng Giám sát và Điều tra của Quốc hội, nói. “Hoá ra CDC đã điều tra những vụ việc rất giống trường hợp của phòng thí nghiệm ĐH A&M trước khi sự cố này lộ ra, tuy nhiên CDC chỉ coi đó là chuyện vặt.”  Đáp lại những lời chỉ trích nặng nề, CDC đang xem xét hình thành bộ phận phản biện từ bên ngoài để rà soát lại các quy định về quản lý mầm bệnh và quy trình bảo đảm an toàn cho phòng thí nghiệm. Cơ quan này có thể sẽ sửa đổi những quy định về báo cáo tường trình – chẳng hạn, có thể không bắt buộc phải công khai danh tính để hạn chế tối đa sự ngại ngần của người muốn thông tin về sự cố. “Đây là một chương trình khá mới mẻ, giúp quản lý tốt hơn, nhưng rõ ràng là chúng ta còn có thể làm được nhiều hơn thế,” Richard Besser, Giám đốc Phòng điều phối của CDC về công tác chuẩn bị chống khủng bố và phản ứng nhanh trong trường hợp khẩn cấp (Coordinating Office for Terrorism Preparedness and Emergency Response), người cho rằng việc tăng thêm các phòng thí nghiệm sinh học ở Mỹ thời gian gần đây là cần thiết bởi nó sẽ giúp công tác chẩn đoán tốt hơn và các vaccine thế hệ mới sẽ đến được với nhiều người Mỹ hơn.  Nhưng nhiều nhà khoa học không đồng tình với ý kiến này, cho rằng việc tập trung quá nhiều vào các nghiên cứu sinh học – chẳng hạn như đối với bệnh than và dịch hạch thay vì bệnh lao kháng thuốc hay virus viêm gan – chỉ gây thiệt hại cho đất nước. Năm 2005, trong một bức thư ngỏ do ông Richard H. Ebright, giáo sư hóa học ở ĐH Rutgers (bang New Jersey), soạn, 758 nhà vi sinh vật học đã phàn nàn rằng việc NIH ưu tiên “những nghiên cứu coi trọng an ninh sinh học hơn sức khoẻ cộng đồng” đã làm cho chương trình sức khoẻ cộng đồng bị lạc hướng và kém hiệu quả.  Thái Thanh (theo TIME)    Chú thích ảnh: Các nhân viên trong trang phục bảo hộ phun chất sát trùng lên người các đồng nghiệp sau khi tìm kiếm vi khuẩn bệnh than trong Toà nhà văn phòng Thượng viện Dirksen ở TP Washington (ảnh chụp ngày 18-11-2001).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử Cambridge: Tự do nghiên cứu và phi hành chính      Hai năm 2017 và 2018, giải Nobel Hóa học đều thuộc về hai thành viên của Phòng thí nghiệm sinh học phân tử Cambridge (MRC-LMB): Richard Henderson và Sir Greg Winter, nhà sinh hóa người Anh (cùng chia giải với hai nhà khoa học khác người Mỹ) – cựu phó giám đốc. Việc một phòng thí nghiệm hai năm liên tục được nhận giải Nobel (trước đó đã có tới 11 giải Nobel được trao cho các nghiên cứu từ đơn vị này) là thành tích xuất sắc mà hiếm trung tâm nghiên cứu nào trên thế giới có thể đạt được. Những thành tựu của MRC-LMB là một minh chứng cho thành công trong nghiên cứu khoa học đến từ tự do nghiên cứu và đơn giản hóa các cấu trúc quản lý hành chính, có thể là một bài học hữu ích cho nhiều quốc gia muốn đầu tư trọng điểm cho khoa học.      Nhà nghiên cứu John Kendrew giới thiệu cho nữ hoàng Anh các mô hình khoa học trong đợt bà tới khai trương LMB vào năm 1962. Nguồn: insight.mrc.ac.uk  Lịch sử phát triển và những thành công vang dội  Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Cambridge (MRC Laboratory of Molecular Biology) là một trung tâm nghiên cứu đặt tại phía nam thành phố Cambridge (Vương quốc Anh), nơi có Viện Đại học Cambridge. Trung tâm nghiên cứu này nhận tài trợ trực tiếp từ Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (Medical Research Council) của Chính phủ Anh, và vì thế trong tên gọi có thêm chữ viết tắt MRC của Hội đồng này.  Chính thức thành lập năm 1962, nhưng LBM bắt đầu được manh nha xây dựng từ năm 1947 với nỗ lực của các nhà vật lý ở Phòng Thí nghiệm Cavendish của Viện Đại học Cambridge. Vào năm 1947, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh quốc (MRC) quyết định tài trợ cho hai nhà khoa học Max Perutz và John Kendrew ở Cavendish để thành lập một đơn vị nghiên cứu cấu trúc protein dựa trên tinh thể học tia X. Đơn vị này được đặt tại PTN Cavendish mang tên “Unit for Research on the Molecular Structure of Biological Systems” và nó nhanh chóng phát triển và trở thành nơi khai sinh cho ngành sinh học phân tử với các nghiên cứu về sinh học phân tử, bao gồm cấu trúc DNA, cấu trúc virus,.. Năm 1953 tại chính phòng thí nghiệm này, cấu trúc xoắn kép của DNA được xây dựng, và đơn vị được đổi tên là “MRC Unit for Molecular Biology”.  Frederick Sanger là nhà khoa học đầu tiên của nhóm nghiên cứu này được trao giải Nobel Hóa học năm 1958 về cấu trúc protein và insulin 1. Giải Nobel của Sanger là một cú hích lớn cho giới nghiên cứu sinh hóa ở Anh và MRC nhanh chóng nhận thấy tiềm năng ứng dụng to lớn trong y học của các nghiên cứu tại đơn vị này và quyết định đầu tư và phát triển đơn vị này thành một phòng thí nghiệm trọng điểm. Tháng 5/1962, MRC-LMB được thành lập thành một phòng thí nghiệm độc lập dựa trên đơn vị trước đó. Max Perutz là chủ tịch đầu tiên của phòng thí nghiệm, bao gồm ba bộ môn chính: nghiên cứu cấu trúc đứng đầu là John Kendrew, di truyền phân tử đứng đầu là Francis Crick và hóa học protein đứng đầu là Frederick Sanger. Và ngay trong năm đó, các nghiên cứu của LMB lại được vinh danh bằng giải Nobel Y học dành cho Francis Crick và Jim Watson (cho các nghiên cứu về cấu trúc DNA) và giải Nobel Hóa học cho John Kendrew và Max Perutz (cho các nghiên cứu về cấu trúc haemoglobin & myoglobin) – một sự ra mắt thành công chưa từng có trong lịch sử và danh tiếng của MRC-LMB được xác lập.      Khi nghiên cứu kinh nghiệm thành công của LMB, nhà khoa học ở Đại học Quốc gia Chung-Hsing (Đài Loan) đã kết luận “Họ đã gạt quan liêu sang một bên để nghiên cứu tiến bước”.      Có thể nói, nhiều thành tựu khoa học được tạo ra từ LMB được coi là thay đổi thế giới, như cấu trúc DNA của Crick, xác định trình tự DNA của Sanger, tế bào gốc vạn năng của John Gurdon2, giải mã bộ gene người của John Sulston,.. Và gần đây nhất, các nghiên cứu tại LMB đã hai lần liên tục được trao giải Nobel Hóa học (2017, 2018). Không chỉ thành công rực rỡ trong các nghiên cứu cơ bản, MRC LMB cũng là một trung tâm chuyển giao công nghệ y sinh thành công, tạo ra thu nhập hơn 700 triệu bảng từ các hợp đồng chuyển giao công nghệ và các công ty spin-off (ví dụ như Domantis, Cambridge Antibody Technology, Ribotargets, Protein Design Labs, Celltech, Biogen) 3.  Bài học từ thành công của MRC LMB  Vậy điều gì làm nên thành công của LMB và vì sao họ có thể thu hút được nhân tài? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng nhìn vào cách thức tổ chức, điều hành và sử dụng kinh phí tài trợ của họ. LMB nhận tài trợ trực tiếp từ hội đồng MRC theo ngân sách cho từng 5 năm (con số tài trợ cho 2012-2017 là 170 triệu bảng Anh) và xây dựng cấu trúc theo từng nhóm nghiên cứu (hiện tại LMB có hơn 50 nhóm nghiên cứu). LMB thu hút các nhà nghiên cứu trẻ bằng chương trình MRC’s Programme Leader-Track (PLT) scheme 4. Chương trình này trả lương cho nhà nghiên cứu LMB (lương khởi điểm hiện tại là 51.608 đến 61.942 bảng) theo một thời hạn ban đầu (tenure-track) là 6 năm, và bất kỳ thời điểm nào trong thời gian tenure-track này, nhà nghiên cứu đều có thể được chuyển sang dạng biên chế vĩnh viễn khi được đánh giá đủ năng lực. Đã có không ít các nhà nghiên cứu trẻ không thể có được biên chế tại LMB sau tenure track nhưng phần lớn đều thành công và tiếp tục các nghiên cứu của họ.  Việc tuyển dụng nhanh chóng và tài chính hiệu quả cho phép LMB thu hút các nhà khoa học trẻ tiềm năng với những ý tưởng nghiên cứu mới, thậm chí ngay cả các nhà khoa học chỉ mới tốt nghiệp nghiên cứu sinh chưa lâu. Một trường hợp được giám đốc Hugh Pelham ca ngợi như một minh chứng của việc thu hút giới trẻ là tiến sĩ Jason Chin, gia nhập LMB năm 2003 chỉ sau khi làm postdoc tại Mỹ vài tháng, và hoàn toàn thuyết phục được các nhà tuyển dụng của LMB sau bài thuyết trình. Jason Chin nhanh chóng trở thành một nhà khoa học xuất sắc của LMB và nhận giải thưởng của châu Âu cho nghiên cứu xuất sắc. Venki Ramakrishnan, nhà khoa học của LMB giành giải Nobel Hóa học năm 2009 thuật lại kinh nghiệm tuyển dụng tại LMB rằng “Chúng tôi không quá quan tâm đến việc ứng viên có các bài báo impact-factor cao hay không, mà chúng tôi có các tiêu chuẩn riêng ít đánh giá hơn về công bố khoa học, mà một trong những yếu tố quan trọng là ứng viên có dám theo đuổi các mục tiêu dài hạn, các thử thách khoa học mới”. Ramakrishnan chia sẻ rằng “chúng tôi lắng nghe thuyết trình của họ, mang họ tới thăm cơ quan của chúng tôi để thảo luận về ý tưởng, mục tiêu nghiên cứu để cảm nhận đó có phải là ứng viên tốt hay không” 5.  Là một phòng thí nghiệm của Anh, nhưng LMB là một môi trường quốc tế hóa cao độ với nhiều quốc gia khác nhau ở tất cả các châu lục, và số lượng nhà khoa học “quốc nội” chỉ chiếm chưa tới 1/3. Tổng số cán bộ hiện tại của LMB là 650 người trong đó bao gồm hơn 400 nhà nghiên cứu và hơn 180 nhân viên hỗ trợ nghiên cứu (kỹ thuật viên, nhân viên hành chính).  Bộ máy của LMB nổi tiếng trên thế giới là có truyền thống cực kỳ tinh gọn với mức cơ cấu hành chính tối giản. Cấu trúc quản lý hiện tại chỉ có Ban giám đốc, xuống tới các trưởng nhóm. Trong gần 20 năm đầu mới thành lập, LMB thậm chí không hề có giám đốc chính thức và chỉ có một nhân viên hành chính duy nhất Audrey Martin (kèm với một chú chó hàng ngày) 6. Max Perutz, giữ chức vụ chủ tịch LMB từ 1962-1979 (không phải giám đốc) khi tổng kết những kinh nghiệm ở LMB có một câu rất vắt tắt “Không có chính trị, không hội đồng, không phản biện, chỉ có những con người cực kỳ tài năng mà thôi” (No politics, no committees, no referees, just talented highly motivated people). Khi nghiên cứu kinh nghiệm thành công của LMB, nhà khoa học ở Đại học Quốc gia Chung-Hsing (Đài Loan) đã kết luận rằng “Họ đã gạt quan liêu sang một bên để nghiên cứu tiến bước” 7.  Nghiên cứu tại LMB là các nghiên cứu cơ bản và rất sâu. Logic thông thường mà nhiều người thường cho rằng các nghiên cứu cơ bản có thể tiềm năng cho các giải Nobel nhưng không đem lại nhiều lợi nhuận kinh tế cho ứng dụng thì LMB lại chứng minh điều này không hoàn toàn chính xác. Bên cạnh tiền đầu tư trực tiếp của MRC, LMB còn tạo ra hàng trăm triệu bảng lợi nhuận từ các công nghệ mình tạo ra từ các nghiên cứu thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ và các công ty spin-out. Một điểm khiến lãnh đạo LMB luôn tự hào là LMB là mảnh đất của các ý tưởng nghiên cứu tiên phong, hoàn toàn mới chưa từng được làm ở nơi nào khác trên thế giới, và điều này đạt được nhờ cả văn hóa làm việc tại LMB là duy trì “những giờ giải lao vui vẻ” (tea-break triumphs). Những giờ uống trà, cà phê giải lao của LMB là những thời gian thư giãn vui vẻ tạo ra sự kết nối giữa các thành viên của LMB, và nó cũng là thời điểm mà mọi ý tưởng có thể đem thảo luận và mổ xẻ. Không khí ngang bằng được tạo ra giữa các thành viên LMB và không hề có sự khác biệt nào giữa lãnh đạo với nhân viên, hay sinh viên với giáo viên hướng dẫn trong các tranh luận tại LMB. LMB khuyến khích thảo luận và kết nối trong các thành viên, một sinh viên được khuyến khích thảo luận vấn đề của mình không chỉ với giáo viên hướng dẫn của mình, mà cả với bất kỳ một nhà nghiên cứu có kinh nghiệm khác để tìm lời tư vấn, tìm các cách giải quyết vấn đề.  Các nhà nghiên cứu tại LMB được khuyến khích theo đuổi các vấn đề nghiên cứu lớn, các ý tưởng hoàn toàn mới thay vì bó hẹp trong việc tạo ra các bài báo khoa học theo chỉ tiêu. Và LMB là một trong số ít phòng thí nghiệm ở Anh nơi mà áp lực công bố khoa học được xem là không cao. “LMB có một truyền thống là cố gắng tuyển dụng những người tài giỏi và để mặc họ tự do làm việc” – Leo James, trưởng nhóm nghiên cứu trong bộ môn Hóa học Protein và Acid Nucleic cho biết. Tất nhiên để có được điều này thì phải kể đến một phần không nhỏ đến từ ngân quỹ dồi dào mà MRC cấp cho LMB theo chu kỳ 5 năm một lần (ví dụ con số 2012-2017 là 170 triệu bảng Anh), và ngân quỹ này sẽ được cấp cho các nhóm (bên cạnh các đề tài bên ngoài mà các nhóm có được) thông qua các dự án và việc cấp kinh phí này được tiến hành nhanh hơn rất nhiều so với thời gian xin các dự án bên ngoài. Tất nhiên mô hình có tính chất bao cấp này cũng được cảnh báo rủi ro một khi các nhà khoa học mất đi động lực phải có khám phá mới.  ***  Sự thành công của Phòng Thí nghiệm Sinh học Phân tử Cambridge trong hơn 50 phát triển trong cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng là một ví dụ tốt để nhiều nước học tập (mô hình LMB đã được áp dụng cả ở Mỹ). Sự thành công này không chỉ là trong một vài thời điểm mà nó được tạo ra liên tục trong suốt quá trình phát triển của đơn vị. Sự thành công đó được đánh giá là đến từ môi trường làm việc phi hành chính, phi chính trị, tự do nghiên cứu và cởi mở. Bỏ qua các cơ cấu quan liêu để giúp nghiên cứu cất cánh – đó là bí quyết đơn giản mà nhiều người đã tổng kết từ sự thành công của LMB, và có thể là một bài học quý giá cho Việt Nam khi mà nước ta đang có tham vọng tạo những đầu tư nghiên cứu trọng điểm.     Cho đến nay, đã có 12 công trình khoa học của LMB được trao giải Nobel khoa học, với 15 nhà nghiên cứu của LMB được nhận giải Nobel, cùng với 11 nhà khoa học khác là các cựu sinh viên và nhà khoa học từng làm việc hoặc bắt đầu nghiên cứu tại LMB được nhận giải Nobel. Điều đó có nghĩa là một phòng thí nghiệm với 400 nhà khoa học (trong đó có 130 postdoc và 90 nghiên cứu sinh) đã đóng góp cho thế giới tới 16 nhà khoa học đoạt giải Nobel, chủ yếu trong lĩnh vực y sinh và hóa học, do đó LMB còn được mệnh danh “Nhà máy sản xuất giải Nobel”.  —  Tài liệu tham khảo và chú thích:  1 Frederick Sanger lần thứ 2 được trao giải Nobel Hóa học là năm 1980 cho các thành tựu về giải trình tự DNA  2 John Gurdon được trao giải Nobel Y học năm 2012 cho các thành tựu nghiên cứu về tế bào gốc vạn năng chủ yếu từ hơn 10 năm ông làm việc tại MRC LMB (1971-1983).  3 https://www2.mrc-lmb.cam.ac.uk/about-lmb/  4 Tham khảo: https://mrc.ukri.org/about/mrc-jobs/  5 Vivienne Raper (2011): “A Nobel Prize–Winning Culture”, Science http://dx.doi.org/10.1126/science.caredit.a1100063  6 W. Bynum, “What makes a great lab?”, Nature 490, 31–32 (2012).  7 M-L. Wong, “Bureaucracy bypass let research flourish”, Nature 490, 487 (2012).          Author                Ngô Đức Thế        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phải có tính mở      Có nhiều yếu tố đem lại thành công của Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Lọc hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp – Tập đoàn Hóa chất Việt Nam), trong đó quan trọng nhất là thực hiện tốt việc nghiên cứu khoa học, làm ra những sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh theo đặt hàng của doanh nghiệp và thiết lập một mạng lưới giữa các nhà khoa học trong và ngoài phòng thí nghiệm. Đó là quan điểm của PGS. TS Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Phòng thí nghiệm.    PGS. TS Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia Lọc hóa dầu.  Theo chị, để đánh giá một phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cần căn cứ trên những tiêu chí nào?  Để trở thành một phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hoạt động hiệu quả, theo tôi phòng thí nghiệm đó cần phải đạt những tiêu chí chặt chẽ, tập trung ở bốn điểm cơ bản: 1. Tạo ra những công trình nghiên cứu mang tính mới, đạt trình độ khu vực và quốc tế, được công bố trên các tạp chí ISI hoặc tương đương; 2. Tạo ra những sáng chế, công nghệ có thể triển khai được trong thực tiễn và được các cơ quan chức năng trong nước hoặc quốc tế công nhận và cấp bản quyền; 3. Xây dựng và tập hợp được một đội ngũ, lực lượng các nhà nghiên cứu khoa học đảm bảo cho sự phát triển của phòng thí nghiệm. 4. Đó là phòng thí nghiệm mở.      Mỗi năm chúng tôi thường công bố khoảng 4 đến 5 bài ISI; đăng ký khoảng 10 sở hữu công nghiệp trong và ngoài nước và được cấp khoảng 3 đến 4 chứng nhận; đào tạo khoảng 8 nghiên cứu sinh; đưa vào áp dụng thực tiễn nhiều kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, mang lại hiệu quả cao.      Với Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Công nghệ lọc hóa dầu, các nhiệm vụ công bố ISI, đăng ký sáng chế và triển khai ứng dụng công nghệ được thực hiện song song, tùy theo tính chất của từng nhiệm vụ KH&CN cụ thể. Để thực hiện được các mục tiêu đã đặt ra, ngay từ khi đi vào hoạt động, năm 2008, chúng tôi đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tạo ra đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn cao, có khả năng phát huy các thế mạnh về trang thiết bị để thực hiện thành công các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ.  Chị có thể nói cụ thể hơn về tiêu chí phòng thí nghiệm mở.  Sự khác biệt giữa phòng thí nghiệm thường với phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, theo tôi phòng thí nghiệm đó có thực sự là phòng thí nghiệm mở hay không. Nếu nhà nước thiết lập hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm và tập trung nguồn lực đầu tư thì mục tiêu của nó phải là tạo ra đột phá để đem lại sự phát triển cho một lĩnh vực nghiên cứu hay thậm chí là một ngành. Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia không thể “đóng cửa” chỉ để phục vụ nội bộ mà cần phải được mở cửa cho những nhà khoa học khác ngoài biên chế đơn vị cũng như của cả các doanh nghiệp có nhu cầu đến khai thác các thiết bị của phòng thí nghiệm, phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình. Vì vậy, đây chính là nét đặc thù của một phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.  Vậy tính mở của Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Lọc hóa dầu là gì?  Tính mở của phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cũng tùy thuộc vào tính chất của từng ngành, từng lĩnh vực. Với phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Lọc hóa dầu (PTNTĐLHD), chúng tôi đã ít nhiều đạt được tiêu chí này với cơ chế hợp tác rất cởi mở và rộng rãi với các cơ quan nghiên cứu khác trong chuyên ngành của mình, ví dụ như Viện Hóa học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Khoa Hóa Đại học KHTN (ĐHQGHN), Viện Kỹ thuật Hoá học và Viện Cơ khí động lực – ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa – ĐH Đà Nẵng, ĐH Mỏ Địa chất… Cán bộ nghiên cứu của các đơn vị này khi cần sử dụng thiết bị mà bản thân phòng thí nghiệm họ thường sử dụng không có đã chủ động đến đặt vấn đề hợp tác với chúng tôi. Hai bên sẽ cùng thống nhất phương thức làm việc phù hợp bởi có những đề tài hai bên cùng xây dựng nội dung nghiên cứu, có thể thực hiện hoàn toàn hoặc một phần ở phòng thí nghiệm này.   Việc thực hiện quy chế mở này đem lại nhiều thuận lợi cho chính PTNTĐLHD, đơn cử là qua những hoạt động nghiên cứu chung như vậy, chúng tôi đã tập hợp được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu không thường xuyên và hình thành một mạng lưới nghiên cứu, tạo ra được nhiều cơ hội thực hiện những đề tài nghiên cứu mang tính liên ngành và liên vùng.  Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế của PTNTĐLHD rất đa dạng, luôn mang lại hiệu quả cao và liên tục phát triển.  Thời gian gần đây, người ta nói nhiều đến sự lãng phí trong việc mua sắm trang thiết bị hiện đại và đắt tiền cho phòng thí nghiệm do thiếu người đủ khả năng vận hành hoặc khi có máy móc lại không có được nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp. Vậy PTNTĐLHD đã giải quyết vấn đề này như thế nào?  Trong quá trình lập dự án và thực hiện dự án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm, chúng tôi đã được mời tham gia ngay từ đầu, ý kiến mà chúng tôi đề xuất về việc nên mua máy móc gì, trang thiết bị nào là cần thiết trong lĩnh vực lọc hóa dầu đều được cơ quan chủ trì lắng nghe, tôn trọng và coi là yếu tố quan trọng trong quá trình đấu thầu, mua sắm, chứ không phải chỉ để tham khảo. Bên cạnh đó, trong quá trình làm việc, ngoài những thứ được trang bị ban đầu, việc mua sắm máy móc còn được tiến hành theo nhu cầu và tiến độ công việc, nhiệm vụ nghiên cứu của phòng thí nghiệm. Song song với công việc này, chúng tôi tiến hành đào tạo nhân lực trên cơ sở tính toán hệ thống máy móc đi kèm, coi đó là một trong những phương thức hiệu quả để duy trì sự đồng bộ giữa máy móc và đội ngũ cán bộ. Vì vậy, khi máy được nhập về phòng thí nghiệm là đội ngũ cán bộ của chúng tôi có thể sẵn sàng tiếp quản. Về lâu dài, để đảm bảo việc khai thác hiệu quả máy móc, chúng tôi tìm kiếm đơn đặt hàng của nhà nước cũng như của doanh nghiệp và thực hiện các đơn đặt hàng đó trên trang thiết bị mà phòng thí nghiệm quản lý.   Trên thực tế, việc đào tạo đội ngũ cán bộ của phòng thí nghiệm đủ về số lượng và năng lực khai thác máy móc thiết bị một cách hiệu quả là thách thức lớn với PTNTĐLHD bởi nó liên quan đến vấn đề lương bổng, khen thưởng, chế độ đãi ngộ… Nếu không lường trước được vấn đề như vậy thì bất cứ phòng thí nghiệm nào cũng đứng trước nguy cơ “vỡ trận” khi thu không đủ bù chi, nhất là trong trường hợp áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm như PTNTĐLHD.   Chị đã có giải pháp chủ yếu nào để không bị “vỡ trận”?  Bên cạnh những đơn đặt hàng của các cơ quan quản lý, chúng tôi phải tự tìm nguồn thu thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu triển khai xuất phát từ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, do doanh nghiệp đặt hàng. Một câu hỏi đặt ra: làm thế nào có được đơn đặt hàng của doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp vẫn còn chưa hẳn tin tưởng vào kết quả nghiên cứu của nhà khoa học trong nước? Đến nay, chúng tôi chỉ có một cách giải quyết là làm ra công nghệ hoàn chỉnh, một cách nhanh nhất, kịp thời ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn sản xuất. Muốn có được điều này, khi tiến hành nghiên cứu một đề tài, dù kéo dài 5 hay 7 năm và trải qua nhiều công đoạn, tầng nấc từ cấp cơ sở đến quốc gia thì chúng tôi vẫn phải xác định rõ mục đích nghiên cứu và địa chỉ của kết quả nghiên cứu, tránh trường hợp nghiên cứu nửa vời, làm ra rồi cất ngăn kéo. Một trong những ví dụ thành công là chúng tôi đã hợp tác với công ty Cổ phần Hóa chất Phúc Lâm (Lào Cai), giúp họ hoàn thiện công nghệ, tiết kiệm năng lượng, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu đã giúp công ty tiết kiệm được từ 50 đến 100 tỷ đồng chi phí sản xuất mỗi năm.    PTNTĐLHD trực thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, vậy trong quá trình vận hành, chắc hẳn PTN sẽ nhận được sự đầu tư và hỗ trợ lớn từ cơ quan chủ quản?  Trên thực tế thì không hẳn như vậy. Tuy trực thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam nhưng PTNTĐLHD chỉ nhận được sự hỗ trợ của cơ quan chủ quản thông qua việc giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ phục vụ sự phát triển của tập đoàn. Do không phải là nơi ra quyết định thành lập phòng thí nghiệm nên Tập đoàn không phải chịu trách nhiệm hỗ trợ về đầu tư. Trong khi đó, theo quy định về cơ chế tài chính ở các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, những phòng thí nghiệm thuộc các tập đoàn kinh tế sẽ không được nhận hỗ trợ về đầu tư trang thiết bị từ ngân sách nhà nước. PTNTĐLHD thuộc nhóm đối tượng này và do đó, không được phép nhận kinh phí của nhà nước đầu tư cho công tác duy tu, bảo dưỡng hoặc mua sắm trang thiết bị mới như với các phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc các viện, trường.   Vậy là để tạm giải quyết vấn đề, trong những năm qua, PTNTĐLHD phải tự “giật gấu vá vai”, nếu thiết bị hỏng thì trích chi phí từ tiền thực hiện đề tài liên quan, từ hợp đồng dịch vụ. Tuy nhiên về lâu dài, chúng tôi không thể tự cáng đáng được việc mua thiết bị mới hoặc đầu tư nâng cấp phòng thí nghiệm do kinh phí quá lớn. Một trong những nguyên nhân khiến PTNTĐLHD gặp khó về cơ chế là do trong quá trình xây dựng thông tư liên tịch về cơ chế tài chính cho phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia giữa Bộ KH&CN và Bộ Tài chính, các nhà quản lý vẫn chưa lường hết được những vấn đề thực tiễn nảy sinh. Việc thay đổi thông tư là cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những đơn vị trực thuộc tập đoàn kinh tế như PTNTĐLHD.  Với tình hình hiện tại, nếu PTNTĐLHD có trông chờ vào một điều gì khác thì cũng chỉ mong có một cơ chế phù hợp, khuyến khích được sự phát triển và tạo cơ hội thuận lợi cho các hoạt động của phòng thí nghiệm.  Cám ơn chị.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử (Kỳ 1)      Bất cứ quốc gia dân tộc hiện đại nào cũng tìm kiếm cho mình một nền văn hóa, văn minh, hay một vương quốc khởi đầu qua việc kết nối với một thực thể mờ ảo trong quá khứ. Đó là nơi huyền thoại dựng nước bắt đầu, và cũng là nơi chứng kiến sự va chạm giữa các diễn ngôn lịch sử. Phù Nam là một câu chuyện như thế ở Đông Nam Á.      Bản đồ không gian Phù Nam (Miriam Stark, 2006).  Trong số các nền văn hóa kim khí quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó phát triển các xã hội phức tạp và hình thành nhà nước: Đông Sơn/ Cổ Loa, Sa Huỳnh/Champa, Óc Eo/ Phù Nam, thì Phù Nam ít được chú ý hơn cả. Bao trùm lên nó là huyền thoại về vương quốc được hình thành đầu tiên ở Đông Nam Á, với cảng thị sầm uất như Óc Eo, trung tâm tôn giáo, chính trị như Angkor Borei. Dù chỉ tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII CN, vương quốc này không chỉ là trung tâm của kết nối giao thương giữa các cộng đồng khu vực với Ấn Độ, Trung Hoa mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong diễn ngôn chính trị-lịch sử ở thời kỳ hiện đại bởi vì dựa vào những cứ liệu lịch sử không rõ ràng của giai đoạn này mà chủ nghĩa dân tộc Campuchia tìm cách khẳng định sự hiện diện của dân tộc Khmer hàng nghìn năm trước ở vùng hạ lưu Mekong. Bài viết này lập luận rằng Phù Nam không thể là sản phẩm chiếm hữu, độc quyền của một quốc gia dân tộc nào cả. Thực tế, nó là một thực thể lịch sử đứng giữa các đường biên hiện đại ở hạ lưu Mekong mà một phần di sản của nó đã trở thành bộ phận không tách rời của nước Việt Nam. Thực tế lịch sử đó cần phải được tôn trọng. Lịch sử của Phù Nam cũng chính là một phần của lịch sử Việt Nam.  Các huyền thoại về Phù Nam  Sau hơn nghìn năm bị “lãng quên”, người đầu tiên đưa Phù Nam trở lại là học giả Pháp Paul Pelliot (1903: Le Fou-Nan, BEFEO). Ông sử dụng tư liệu Trung Hoa để phác họa lịch sử vương quốc mà ông cho là bắt đầu từ thế kỷ I CN đến khoảng thế kỷ VI-VII CN. Những nghiên cứu sau đó sẽ khảo sát khía cạnh ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, văn bia… để tìm kiếm phác thảo chi tiết về vương quốc bí ẩn này. Tiếp sau khảo cứu của George Coedès (1944), cuộc khai quật của L.Malleret ở Óc Eo là dấu mốc quan trọng về nhận thức đối với Phù Nam. Các cuộc khai quật khảo cổ quy mô những thập kỷ gần đây ở Việt Nam, từ Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Đá Nổi (An Giang), Cây Gáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh), Bình Tả- Gò Xoài (Long An), Gò Thành (Tiền Giang), Phụng Sơn Tự-Chùa Gò (TP.HCM), đến Cát Tiên; và ở Campuchia bởi các nhà khảo cổ học Campuchia, Mỹ, Pháp… như dự án Khảo cổ hạ lưu Mekong- LOMAP của ĐH Hawaii và bộ Văn hóa Nghệ thuật Campuchia, đã gia tăng đáng kể hiểu biết của chúng ta về diện mạo của Phù Nam và các tương tác vùng của nó.  Lịch sử hình thành Phù Nam được trùm phủ bởi các truyền thuyết và huyền thoại. Huyền thoại này được ghi vào bi ký và phản ánh gần như nhau trong các sách cổ Trung Hoa như Tấn thư, Nam Tề thư, Lương thư. Theo đó, thực thể này lần đầu tiên được người Trung Hoa ghi chép ở thế kỷ III, bắt đầu từ chuyến thăm của hai vị sứ thần là Khang Thái và Chu Ứng tới vương quốc họ gọi là Phù Nam. Rằng có một người từ Ấn Độ, Malay hay các vùng biển phía Nam nào đó tên là Hỗn Điền – Kaundinya được thần báo mộng, nhặt được cây cung ở dưới gốc cây và chỉ hướng đi thuyền lớn ra biển. Thuyền đến biển Phù Nam, dưới sự cai trị của một nữ hoàng là Liễu Diệp. Liễu Diệp cho người ra chống lại, Kaundinya giương cung bắn, tên xuyên qua mạn thuyền, Liễu Diệp sợ, xin hàng. Kaundinya cưới Liễu Diệp và cùng trị vì. Bia Champa Mỹ Sơn 3 (năm 658) kể một câu chuyện tương tự, nhưng nhuốm màu sắc huyền thoại hơn, thần thánh hóa ảnh hưởng của Hindu giáo với các tước hiệu, tên các vị thần và dòng dõi các tộc cổ xưa có liên hệ với châu thổ sông Hằng.    a: Hình thần Vishnu trên mảnh vàng, di chỉ Gò Tháp; b: Hình thần khắc trên mảnh vàng, Cát Tiên. (ảnh: Nguyễn Tiến Đông); (Lê Thị Liên, 2011).    Như vậy, dù câu chuyện về sự lập nước diễn ra như thế nào đi nữa, diễn ngôn của nó phản ánh sự tương tác giữa những người bản địa với những người từ bên ngoài (Ấn Độ), mang theo các yếu tố mà trong nhiều thập kỷ, học giả phương Tây gọi là nhân tố “Ấn Độ hóa” như tôn giáo, thiết chế chính trị, nghệ thuật, luật pháp… Còn Liễu Diệp, vị nữ hoàng bản địa có lẽ là thủ lĩnh của một bộ lạc mà sử Trung Hoa mô tả là “còn trần truồng” (Lương Ninh 2006). Tuy vậy, chắc chắn các nhóm bản địa đã đóng vai trò năng động trong quá trình hình thành nên thực thể chính trị này, chứ không đơn thuần là kết quả của quá trình tương tác ngoại lai. Sự kết hợp này do đó mở đầu cho vương triều Phù Nam, vương quốc mà ngay cả phổ hệ của những người đứng đầu vẫn còn là một thách thức đối với các sử gia.    Hình thần Vishnu trên mảnh vàng, di tích Đá Nổi (ảnh Lê Xuân Diệm). (Lê Thị Liên, 2011)  Khung cảnh của Phù Nam  Lịch sử của Phù Nam có lẽ nên được kể từ 5000-7000 năm trước. Bắt đầu với cuộc di cư của các cư dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesians) từ đảo Đài Loan xuống Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Họ mang theo lúa nước, lợn, dừa, khoai mỡ, và kỹ nghệ làm gốm, đóng tàu… qua các hòn đảo, duyên hải trên Biển Đông (Peter Bellwood 2006, 2007, 2014, 2017; Solheim 2007). Cuộc du hành này là một trong những hiện tượng kỳ vĩ của nhân loại, đưa Austronesians thành nhóm ngôn ngữ trải rộng nhất trong lịch sử thời tiền hiện đại, băng qua 1/3 địa cầu, kết nối hàng chục nghìn hòn đảo trải dài từ Nhật Bản đến đảo Madagascar và quần đảo Tây Thái Bình Dương.      Bản đồ vùng phân bố của dân nói ngôn ngữ Austronesia (Nam Đảo), Peter Bellwood, 1997.  Một trong các nhóm này được cho là đã cập bến vùng duyên hải miền Trung và Nam Việt Nam từ đảo Borneo và quần đảo Philippines (Peter Bellwood 2017). Điều này đã được chứng thực không chỉ qua bằng chứng ngôn ngữ học (Leonard Andaya 2008), mà còn phản ánh qua đường phân bố của nhiều loại hiện vật khảo cổ. Một trong số đó chính là dải phân bố của các vật phẩm ngọc bích, đặc biệt là khuyên tai hai đầu thú từ Đài Loan tới văn hóa Sa Huỳnh, quần đảo Philippines, hạ lưu Mekong và phía Bắc bản đảo Malay.    Vùng phân bố các vật phẩm ngọc bích từ Đài Loan trong vùng Đông Nam Á (Hsiao-Chun Hung, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Berenice Bellina, et al., 2007).  Huyền thoại Phù Nam mang theo những câu hỏi lớn từ tộc người, thể chế chính trị, quan hệ lãnh thổ, phạm vi địa lý, kinh đô, trạng thái kinh tế, và tương tác khu vực. Mỗi khía cạnh của nó đều chứa đựng những diễn dịch lịch sử có tác động trực tiếp đến nhận thức về quá khứ của một vùng đất rộng lớn từ phía Nam biển Hồ xuống hạ lưu Mekong và một phần của Tây Nguyên. Điều càng có ý nghĩa là vùng đất này ngày nay nằm trên hai quốc gia khác nhau: Việt Nam và Campuchia.  Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học (Hsiao-Chun Hung, Yoshiyuki Iizuka, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Bérénice Bellina, et al) đăng trên PNAS (2007) cũng chỉ ra phần lớn các vật phẩm này khá tương đồng trên nhiều phương diện và được làm cùng thời (500 TCN-500 SCN). Điều đó có nghĩa là dải đất và duyên hải kéo dài hơn 3,000 km xung quanh biển Đông đã được kết nối trong những tương tác sôi động ở các thế kỷ tiếp giáp CN. Đó là cơ sở của Óc Eo và Phù Nam.    a. Các vật phẩm ngọc bích: A-Gò Mả Vôi (văn hóa Sa Huỳnh) và các di chỉ ở Phillipines và Đài Loan. (Hsiao-Chun Hung, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Berenice Bellina, et al., 2007)  b. Khuyên tai hai đầu thú và vật phẩm đá quý và thủy tinh từ văn hóa Sa Huỳnh  (Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002)  c. Khuyên tai hai đầu thú trên thái dương một di cốt tại di chỉ Giồng Cá Vồ (Cần Giờ)  (Vũ Đức Liêm, Triển lãm khảo cổ học Việt Nam tại bảo tàng Khảo cổ học Herne, Đức).  Khi các nhóm cư dân này bước vào thời kỳ kim khí, nhiều khu định cư đã được xác lập nơi ngày nay là các di chỉ khảo cổ lớn như Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Đá Nổi (An Giang), Cây Gáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh), Bình Tả- Gò Xoài (Long An), Gò Thành (Tiền Giang), Giồng Cá Vồ, Chùa Gò (TP.HCM), kéo dài lên Cát Tiên ở phía Bắc, khu vực Angkor Borei ở phía Đông, cách Châu Đốc khoảng 50 km. Những trung tâm định cư và hình thái tổ chức xã hội phức tạp này sau đó tiếp xúc với thiết chế chính trị và tư tưởng tôn giáo từ Ấn Độ trong các thế kỷ tiếp giáp công nguyên để từng bước hình thành nên cấu trúc chính trị Phù Nam.  Một vương quốc, một đế quốc, một mandala, một “bá quyền” hay…  Chúng ta biết gì về cấu trúc chính trị và lãnh thổ của Phù Nam? Người Trung Hoa gọi nó là “quốc” (vương quốc, nước) đơn giản vì trong thế giới quan của họ, “quốc” phản ánh tất cả các hình thái tập trung quyền lực xã hội. Đương nhiên người đứng đầu “quốc” sẽ là vương (vua), cũng như người Ấn gọi tất cả những người nắm quyền khác là Raja. Nhưng đó là cách bên ngoài nhìn Phù Nam. Tư liệu Trung Hoa thậm chí còn cung cấp một bảng phổ hệ không đầy đủ về các vương triều Phù Nam. Một vài tấm bia ở vùng hạ lưu Mekong cũng nhắc đến vị hoàng tử hay nhà vua nào đó.  Ngay từ đầu các học giả đã gọi nó là một vương quốc, hay thậm chí là “đế quốc” vì sử nhà Đường nói rằng Chân Lạp (nhà nước sơ kỳ của người Khmer ở phía Bắc) từng lệ thuộc Phù Nam. Những người khác thì gọi nó là nhà nước Ấn Độ hóa, nhà nước sơ kỳ đầu tiên ở Đông Nam Á, hay một “bá quyền” (hegemony, Kenneth R. Hall) cho đến khi Oliver W. Wolters, sử gia ở ĐH Cornell (Mỹ), đề xuất gọi những thể chế sơ kỳ trong khu vực là mandala (1982, 1999). Mandala là khái niệm từ tiếng Sanskrit mà Wolters dùng để chỉ tình trạng chính trị riêng biệt và thường không bền vững, trên phạm vi địa lý xác định một cách mơ hồ, không có biên giới định rõ. Trong hệ thống này, các trung tâm nhỏ có nhu cầu tìm kiếm sự bảo trợ và liên minh chính trị ở khắp nơi. Vì thế, mỗi mandala gồm có tôn chủ và các tiểu thủ lĩnh phụ thuộc; trong khi chỉ có tôn chủ mới được quyền nhận cống nạp và thần phục thì các nhóm lệ thuộc luôn tìm cách tạo lập một hệ thống mandala của riêng mình khi có điều kiện. Điều này xuất phát từ đâu? Wolters giải thích đó là do điều kiện tự nhiên phân tán, chia cắt bởi thung lũng, rừng rậm, đầm lầy, dân cư thưa thớt và các quan hệ quyền lực lỏng lẻo.    Bản đồ phân bố các di chỉ Đá Nổi, Gò Tháp, Cát Tiên (Lê Thị Liên 2011).  Dù nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà khảo cổ và sử gia về giai đoạn sơ sử Đông Nam Á, quan điểm này vẫn còn là vấn đề tranh luận ở Việt Nam. GS. Lương Ninh không tán đồng với quan điểm cho Phù Nam là một mandala, ít nhất là ở giai đoạn mà ông gọi là thời kỳ “đế quốc” (thế kỷ III – VI CN). Ông cho ở giai đoạn sơ kỳ, có thể tổ chức bộ máy Phù Nam còn lỏng lẻo, phân tán, chưa ổn định, nhưng sau đó, chính quyền được củng cố lại như một quy luật lịch sử (2009: 68-69).    Bản đồ kênh cổ kết nối các trung tâm của Phù Nam. Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002.  Cuối cùng, điều mà chúng ta biết được là Phù Nam tồn tại dựa trên các trung tâm chính trị và thương mại như Angkor Borei và Óc Eo. Những trung tâm này kiểm soát, kết nối hệ thống các khu đô thị/ định cư cổ phân bố cả hai bên đường biên giới Việt Nam-Campuchia. Nền chính trị, ý niệm quyền lực, nghi lễ tôn giáo của nó gắn bó chặt chẽ với sự thực hành chính trị và tư tưởng quyền lực Ấn Độ. Họ xây dựng các kênh đào, có các trung tâm sản xuất thủ công như đồ gốm và chế tác đồ trang sức, cũng như một mạng lưới các trung tâm tôn giáo phức tạp. Phạm vi “lãnh thổ” Phù Nam có thể được phác thảo thông qua mạng lưới này. Bản đồ phân bố các di chỉ khảo cổ hạ lưu sông Mekong (Lê Thị Liên 2011) và bản đồ các con kênh cổ kết nối các di chỉ quan trọng của Phù Nam dưới đây (Charles Higham 2002) gợi ý về cấu trúc lãnh thổ và tương tác khu vực của thể chế này.  (Xem tiếp kỳ sau)  ———-  Tham khảo  Charles Higham. 2002. Early Cultures of Mainland Southeast Asia. Oxford University Press  Ian Glover. 1989. Early trade between India and Southeast Asia : A link in a world trading system, Center for Southeast Asian Studies. University of Hull.  Ian Glover and Peter Bellwood. 2004 Southeast Asia from Prehistory to History. Routledge Curzon.  James C. M. Khoo. 2000. Art & Archaeology of Fu Nan: Pre-Khmer Kingdom of the Lower Mekong Valley. Bangkok: Orchid Press, Bangkok  Lê Thị Liên. 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X. HN: Nxb Thế giới  Lê Thị Liên. 2011. Hindu Deities in Southern Vietnam: Images on small archaeological artifacts, in Early Interactions Between South and Southeast Asia, eds., Pierre-Yves Manguin, ‎A. Mani, ‎Geoff Wade, Singapore: ISEAS.  Lương Ninh. 2009. Nước Phù Nam. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.  Oliver W. Wolter. 1999.  History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Southeast Asian Program Publications No. 26, Cornell University, Ithaca, New York, 1999  Paul Wheatley.1983. Nagara and Commandry. Origins of Southeast Asian Urban Traditions (Chicago:UC, Dept. of Geography, Research Papers Nos. 207-208, 1983)  Peter Bellwood. 2017. First Islanders: Prehistory and Human Migration in Island Southeast As. Wiley Blackwell.  Phan Huy Lê. Qua di tích Óc Eo và thư tịch cổ thử nhận diện nước Phù Nam. Nghiên cứu Lịch sử, 11/2007  Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh. 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ. Thành Phố Hồ Chí Minh.          Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Phù Nam: Huyền thoại và  những vấn đề lịch sử (tiếp theo và hết)      Dù cấu trúc chính trị của Phù Nam là vương quốc hay là một tập hợp của các liên minh thì điều không thể phủ nhận là vai trò thương mại nổi bật mà nó tham dự trên biển Đông, trong khu vực hàng hải kết nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Ấn Độ với Trung Hoa. Sự tương tác này vừa là xúc tác cho sự phát triển của Phù Nam, vừa là biểu hiện cho sự thịnh vượng của nó.    Phù Nam trong mối giao thương giữa Ấn Độ – Đông Nam Á-Trung Hoa    Bản đồ thương mại Á châu, khoảng năm 600 (James C.M. Khoo. Art & Archaeology of Fu Nan, 2006)  Để hiểu được điều này, chúng ta cần định vị Phù Nam trong khung cảnh rộng lớn hơn của lịch sử toàn cầu, giai đoạn mà nhiều sử gia gọi là thời kỳ “toàn cầu hóa” đầu tiên. Con đường tơ lụa kết nối Trung Hoa với thế giới Địa Trung Hải, nơi mà Viện Nguyên Lão Rome nhiều lần cấm các thành viên mặc lụa bởi vì sản phầm này làm chảy máu vàng và bạc ra khỏi đế chế. Xuôi về phía nam hàng nghìn km, có một tuyến giao thương không kém phần quan trọng nhưng ít được biết đến hơn. Nhà khảo cổ học người Anh, Ian Glover gọi đó là Con đường tơ lụa phương Nam (2000), hình thành do sự gia tăng thương mại của Rome với Ấn Độ, Đông Nam Á, và Trung Hoa. Cuốn sách bàn về chính trị cổ xưa của Ấn Độ là Arthashastra (viết bởi Kautilya, c. 350-275 TCN) đã đề cập đến việc người Ấn đi về phía Đông để tìm vàng. Điểm đến của họ là hòn đảo có tên Suvarnadvipa (Đảo Vàng), mà nhiều khả năng là đảo Java. Các văn bản Phật giáo đề cập đến việc nhà vua Asoka cũng phái các tăng đoàn đến vùng đất được gọi là Suvarnabhumi (Đất Vàng), nơi mà cả Malaysia, Thailand và Myanmar đều cho là thuộc về mình. Bản thân truyền thuyết về sự ra đời của Phù Nam cũng đã phản ánh sự dịch chuyển của những người Ấn Độ này.    Tượng thần Vishnu, niên đại thế kỷ VI, cao 1.6 m, khai quật tại Đồng Tháp năm 1998 (Võ Sĩ Khải 2000)  Tại sao Phù Nam lại quan trọng ở giai đoạn đầu của kết nối trên Biển Đông? Vì nó là trung tâm của một mạng lưới các giao thương ven bờ. Các sử gia về lịch sử thương mại và kỹ thuật hàng hải trong khu vực như Paul Wheatley, Oliver W. Wolters, Kenneth R. Hall, Micheal Jacq-Hergoualc’h, và Pierre-Yves Manguin đều gợi ý rằng cho đến trước thế kỷ VI-VII, giao thương hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương được trung chuyển chủ yếu qua eo đất Kra, miền Nam Thailand ngày nay. Hạn chế kỹ thuật hàng hải, tri thức địa lý cùng với nỗi lo cướp biển và các cơn bão đã khiến thủy thủ đoàn không dám mạo hiểm đi qua eo Mallaca. Chuyến đi của nhà sư Pháp Hiển ở thế kỷ thứ V là một ví dụ. Sau khi đi đường bộ đến Ấn Độ, ông quyết định trở về Trung Quốc trên một con tàu thương mại Ba Tư. Chuyến hành trình được Pháp Hiển ghi lại trong cuốn Phật Quốc Ký của mình, đã trở thành một thảm họa thực sự. Con tàu của ông bị bão đánh dạt hơn 1000 km về bờ biển phía Bắc Trung Quốc, thay vì địa điểm hướng đến là Quảng Châu (Tansen Sen 2003). Hơn nữa, việc chuyển hàng qua dải đất Kra cũng sẽ giúp giảm được hơn 1200 km đi lại. Phù Nam vì thế trở thành một đầu mối thương mại trong vùng vịnh Thailand, cùng với vương quốc người Môn là Dvaravati trên lãnh thổ trung tâm Thailand ngày nay.    a: Đồng tiền Roma thời hoàng đế Antonius Pius tìm thấy ở Óc Eo (Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002).  b: Đồng tiền Roma thời hoàng đế Victorius (268-70), được đúc ở Cologne (Đức), được phát hiện tại U-Thong (Thailand). (Ian Glover 1989).  Sự thịnh vượng của Phù Nam được phản ánh qua số lượng phong phú các hiện vật khảo cổ được tìm thấy mà phần lớn trong số chúng là những vật phẩm thương mại giá trị. Rất  nhiều trong số chúng có nguồn gốc ngoại lai từ Rome, Ấn Độ, Trung Hoa và các khu vực thuộc Đông Nam Á: từ các đồng tiền, chuỗi hạt đá quý, thủy tinh, đồ kim loại, đồ trang sức vàng, ngọc, các vật phẩm tôn giáo như lá vàng khắc chữ Sanskrit, hay khối lượng phong phú hình các linga, tượng thờ…  Các đồ trang sức bằng đá quý và thủy tinh cũng gợi ý về các trung tâm chế tác ở vùng châu thổ Mekong và sự gắn bó chặt chẽ với nhiều vùng sản xuất khác trên đất Ấn Độ. Số lượng đồ gốm rất đa dạng tại các di tích này cho thấy sự phát triển của thủ công nghiệp, trong khi các con kênh cổ có thể được dùng cho cả mục đích giao thương và sản xuất nông nghiệp.    a: Tiền Phù Nam và tiền Pegu (Lương Ninh 2009).  b: Tiền bạc tìm thấy tại Ba Thê, giống như những đồng tiền mà L.Malleret khai quật tại Óc Eo. (Bảo tàng An Giang).  (John N. Miksic 2000).  Việc tìm thấy nhiều đồng tiền đúc bằng bạc cho thấy sự phát triển của hoạt động trao đổi. Sự tương đồng của những đồng tiền này với các đồng tiền tìm thấy trên bán đảo Malay, Thailand, và Myanmar cho thấy không gian tương tác khu vực rộng lớn của các cư dân Phù Nam. Chính sức hấp dẫn đó mà ngay từ thế kỷ III, người Trung Hoa đã phái sứ đoàn đến vùng đất này.    Mảnh vàng lá khắc chữ và đồ trang sức bằng vàng khai quật năm 1987 tại Long An (Võ Sĩ Khải 2000).  Trong khi đó số lượng phong phú các tượng Phật và Hindu, nền tháp và di tích các công trình tôn giáo cũng như vật phẩm tôn giáo cho thấy đời sống tinh thần phức tạp và đa dạng của các nhóm cư dân Phù Nam. Nhiều trung tâm tôn giáo được ghi nhận trên vùng hạ lưu Mekong, cùng với đó là sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc (xem thêm Lê Thị Liên 2006, Nghệ thuật Phật giáo và Hin-du giáo ở ĐBSCL trước thế kỷ X).    Mảnh vỡ tượng đất nung được cho là các vị thần của Rome cùng với tượng phật và một linga nhỏ (Võ Sĩ Khải 2000).         Phù Nam là Phù Nam và Chân Lạp là Chân Lạp. Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam.      Phù Nam và Chân Lạp  Chân Lạp là tên người Trung Hoa ghi chép về vương quốc sơ kỳ của người Khmer. Theo các văn bia, vương quốc này cũng là một thực thể chính trị chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, thành lập cuối thế kỷ VI ở vùng cao nguyên phía Nam Lào (Vat Phou, Champasak). Sử nhà Đường có chép việc Chân Lạp vốn là thuộc quốc của Phù Nam, đến thế kỷ thứ VII thì lớn mạnh và chinh phục Phù Nam. Sau đó Chân Lạp bị chia rẽ, phân làm Thủy Chân Lạp (ở phía Nam) và Lục Chân Lạp (ở phía Bắc). Campuchia ngày nay nói rằng vì thế mà họ là người kế thừa của Phù Nam!  Tấm bản đồ dưới đây phản ánh thành quả nghiên cứu hơn một thập kỷ của dự án khảo cổ Hạ lưu Mekong-LOMAP trong việc xác định không gian địa lý của hai thực thể: Phù Nam và Chân Lạp.      Bản đồ không gian Phù Nam và Chân Lạp (Miriam Stark 2006)  Phù Nam là Phù Nam và Chân Lạp là Chân Lạp. Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam.  Trước hết, Chân Lạp được tạo dựng bởi người Khmer. Người Khmer nói tiếng Nam Á (Austroasiatic). Địa bàn phân bố của những người tạo dựng nên Chân Lạp trải dài từ khu vực cao nguyên Khorat, dọc lưu vực sông Chi, sông Mun, theo dãy Dangrek về phía đông đến vùng cao nguyên Champassak của Lào. Chân Lạp được thành lập sau Phù Nam và ban đầu còn phải nhận sự lệ thuộc.  Thứ hai là chính Chân Lạp đã tấn công phá hủy Phù Nam, sau đó rút về phía Bắc của Biển Hồ. Lịch sử cư trú của người Khmer ở hạ lưu Mekong sau thời kỳ Phù Nam là hầu như không được đề cập đến. Nhà sử học Nhật Bản Yumio Sakurai nói rằng nhiều vùng đất như Đồng Tháp Mười đã bị bỏ hoang cả nghìn năm sau sự sụp đổ của Phù Nam. Sứ thần nhà Nguyên Chu Đạt Quan đến Angkor vào thế kỷ XIII, ghi chép về vùng đất xung quanh hai bờ sông hầu như bỏ trống, chỉ có trâu hoang và rừng rậm. Nhà khảo cổ người New Zealand, Charles Higham đã lập tấm bản đồ trong đó đánh dấu các địa điểm có văn bia Khmer từ thế kỷ IX đến XIII, cho thấy họ hầu như không có sự hiện diện nào từ khu vực phía Nam Phnom Penh (2002).    Bản đồ phân bố các văn bia Khmer từ triều đại Mahidharpura (c. 802–1219) (Charles Higham 2002)  Cuối cùng, Phù Nam đang dần bước ra khỏi huyền thoại. Càng tách lịch sử ra khỏi huyền thoại thì chủ nghĩa dân tộc càng ít chỗ “ẩn nấp”, đó là lí do chúng ta cần đưa vương quốc này ra ánh sáng khoa học. Điều đó không chỉ giúp quá khứ được hiểu đúng mà quan trọng hơn thực tế lịch sử và các di sản của nó được tôn trọng, trong đó có vấn đề lãnh thổ, biên giới.  Lịch sử Phù Nam và vùng hạ lưu Mekong chắc chắn sẽ là những chủ đề được quan tâm trong tương lai. Hiện tại, các bảo tàng cấp tỉnh ở An Giang, Đồng Tháp, Long An, thành phố Hồ Chí Minh… có rất nhiều các hiện vật được khai quật, đang chờ đợi các nhà nghiên cứu. Chúng sẽ góp phần làm sáng tỏ bức chân dung ẩn giấu của Phù Nam. Thực tế, huyền thoại về Phù Nam là một ẩn dụ cho cách tiếp cận lịch sử của người Việt hiện đại, rằng lịch sử Việt Nam dường như vẫn chủ yếu được viết và nhìn từ châu thổ sông Hồng. Đã đến lúc chúng ta cần những cách thức tiếp cận lịch sử đa dạng, và mở rộng không gian của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bởi vì, dù phía sau Phù Nam là huyền thoại gì đi nữa, nó đã trở thành một phần của Việt Nam, cũng như lịch sử Phù Nam đã là một bộ phận của lịch sử Việt Nam.  Tham khảo  Charles Higham. 2002. Early Cultures of Mainland Southeast Asia. Oxford University Press.  Ian Glover. 1989. Early trade between India and Southeast Asia : A link in a world trading system, Center for Southeast Asian Studies. University of Hull.  Ian Glover and Peter Bellwood. 2004 Southeast Asia from Prehistory to History. Routledge Curzon.  James C. M. Khoo. 2000. Art & Archaeology of Fu Nan: Pre-Khmer Kingdom of the Lower Mekong Valley. Bangkok: Orchid Press, Bangkok.  Lê Thị Liên. 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X. HN: Nxb Thế giới.  Lê Thị Liên. 2011. Hindu Deities in Southern Vietnam: Images on small archaeological artifacts, in Early Interactions Between South and Southeast Asia, eds., Pierre-Yves Manguin, ‎A. Mani, ‎Geoff Wade, Singapore: ISEAS.  Lương Ninh. 2009. Nước Phù Nam. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.  Oliver W. Wolter. 1999.  History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Southeast Asian Program Publications No. 26, Cornell University, Ithaca, New York, 1999.  Paul Wheatley.1983. Nagara and Commandry. Origins of Southeast Asian Urban Traditions (Chicago:UC, Dept. of Geography, Research Papers Nos. 207-208, 1983).  Peter Bellwood. 2017. First Islanders: Prehistory and Human Migration in Island Southeast As. Wiley Blackwell.  Phan Huy Lê. Qua di tích Óc Eo và thư tịch cổ thử nhận diện nước Phù Nam. Nghiên cứu Lịch sử, 11/2007.  Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh. 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ. Thành Phố Hồ Chí Minh.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Phụ nữ ăn chay có nguy cơ bị gãy xương hông cao hơn      Một nghiên cứu mới đây tại Anh cho thấy những phụ nữ ăn chay có nguy cơ bị gãy xương hông cao hơn những người thường xuyên ăn thịt.     Chế độ ăn chay thường được xem là lành mạnh hơn chế độ ăn thịt, chúng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh tim và một số bệnh ung thư. Ảnh: Unsplash.  TS. James Webster (Khoa Môi trường, Đại học Leeds) và các cộng sự đã thu thập dữ liệu từ dự án Nghiên cứu Đoàn hệ của Phụ nữ Anh (UK Women’s Cohort Study), trong đó họ theo dõi để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sức khỏe của phụ nữ theo thời gian. Trong số 26.318 phụ nữ từ 35 đến 69 tuổi, có 822 người – tương đương 3% – bị gãy xương hông trong khoảng thời gian 22 năm, và những người ăn chay (vegetarian – những người không ăn thịt) và người ăn thuần chay (Vegan – những người hoàn toàn không ăn thịt và bất cứ sản phẩm nào từ động vật) có nguy cơ gãy xương hông cao gấp 3 lần so với những người ăn thịt.  Nhóm nghiên cứu nghi ngờ rằng một số người ăn chay đã không hấp thụ đủ chất dinh dưỡng để bồi bổ cho xương và cơ bắp, điều này khiến họ dễ té ngã và gãy xương. “Điều này không có nghĩa là chúng ta nên từ bỏ chế độ ăn chay. Ăn chay tốt cho sức khỏe, tác động tích cực đến môi trường, nhưng bạn hãy lên một kế hoạch ăn uống kỹ lưỡng và bổ sung các dưỡng chất cần thiết – những dưỡng chất bạn thiếu vì không ăn thịt hoặc cá”, cho hay.  Chế độ ăn chay thường được xem là lành mạnh hơn chế độ ăn thịt, chúng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh tim và một số bệnh ung thư. Nhưng nghiên cứu này – được công bố trên BMC Medicine – nhấn mạnh tầm quan trọng của một chế độ ăn uống cân bằng, bất kể bạn ăn chay hay ăn mặn.  Khoảng 90% trường hợp gãy xương hông có liên quan đến té ngã, thường xảy ra ở những người lớn tuổi – xương cốt yếu hơn và sức khỏe đi xuống. Gãy xương khiến tình trạng xương lại càng tệ thêm, dẫn đến các sự cố té ngã tái diễn thường xuyên.  Các nhà khoa học cho rằng những người ăn chay thường nhẹ cân hơn những người ăn thịt, ngoài việc xương và cơ yếu hơn, cơ thể họ cũng ít chất béo hơn – thứ hoạt động như một tấm đệm khi chúng ta ngã.  Với những phát hiện này, Webster gợi ý những người ăn chay có thể cân nhắc bổ sung ngũ cốc vào thực đơn, món ăn này giúp tăng cường thêm sắt và B12 tốt cho xương. Họ cũng cần đảm bảo mình hấp thụ đủ protein thông qua các loại hạt, đậu.  Các nhà nghiên cứu đã so sánh tỷ lệ gãy xương hông ở những người ăn chay, những người ăn chay bán phần (ăn cá nhưng không ăn thịt), và những người ăn thịt không thường xuyên với những người ăn thịt thường xuyên. Những người thường xuyên ăn thịt là những người đã ăn thịt ít nhất năm lần một tuần.  TS. Webster cho biết họ sẽ tiến hành thêm các nghiên cứu để xem liệu những người đàn ông ăn chay có nguy cơ gãy xương hông cao tương tự hay không. Nghiên cứu trước đây cho thấy trung bình đàn ông và phụ nữ ăn chay có xương cốt yếu hơn so với những người ăn thịt; “nhưng chúng ta vẫn chưa có số liệu rõ ràng về nguy cơ gãy xương hông ở đàn ông ăn chay”, ông nói.  Nghiên cứu của Đại học Leeds cho thấy những người ăn chay có chỉ số khối cơ thể (BMI), lượng protein, lượng vitamin D thấp hơn những người ăn mặn, “tất cả đều là những yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ gãy xương hông”, TS. Tammy Tong, nhà dịch tễ học dinh dưỡng tại Đại học Oxford, nhận định. Vào năm 2020, cô và các cộng sự đã phát hiện ra rằng so với những người ăn thịt, những người ăn chay có nguy cơ gãy xương hông cao hơn tới 25%, thậm chí con số này ở những người ăn thuần chay là 31%.  Thực chất, một trong những cách thức quan trọng để giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đó là ăn ít thịt hơn. Nghiên cứu do Đại học Leeds thực hiện vào năm ngoái cho thấy chế độ ăn mặn tạo ra lượng khí thải nhiều hơn 59% so với chế độ ăn chay. Tuy vậy, “những người ăn chay nên đặc biệt chú ý đến việc duy trì một cơ thể khỏe mạnh và đảm bảo rằng họ hấp thụ đủ protein và các dưỡng chất quan trọng khác để giúp xương chắc khỏe hơn, chẳng hạn như canxi và vitamin D”, TS. Tammy Fong kết luận. □  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2022/aug/11/vegetarian-women-fracture-hips-study-bone-health    Author                .        
__label__tiasang Phụ nữ châu Á nên hạn chế ăn đồ Tây?      Một nghiên cứu trên 1.500 phụ nữ Trung Quốc cho thấy những ai ăn chế độ ăn vừa ngọt vừa nhiều thịt sẽ tăng gấp đôi khả năng bị bệnh so với những người ăn nhiều rau. Tỷ lệ tăng gấp đôi này nằm chủ yếu ở những phụ nữ thừa cân mãn kinh.    “Với phụ nữ sau mãn kinh, tiêu thụ ít đồ ăn phương Tây cùng với việc kiểm soát cân nặng sẽ giúp ngăn ngừa nguy cơ bị ung thư vú. Châu Á vốn có tỷ lệ bệnh thấp nhưng đang bị ảnh hưởng bởi đồ ăn phương Tây”, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm ung thư Fox Chase nói.  Chế độ ăn ngọt nhiều thịt bao gồm các loại thịt cá, cũng như bánh kẹo, pudding, bánh mì trắng và sữa. Còn chế độ ăn nhiều rau truyền thống ở Trung Quốc bao gồm các loại rau, các sản phẩm từ đậu nành và cá nước ngọt.  Theo Hiệp hội chống ung thư Trung Quốc, tỷ lệ bị mắc và chết vì ung thư vú ở các thành phố lớn đã tăng từ 37% đến 38,9% trong những năm 1990. Những phụ nữ mãn kinh bị béo phì có nguy cơ ung thư vú cao hơn cả.  M.T. (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phụ nữ có nguy cơ mắc kẹt trong ô tô khi gặp tai nạn gấp hai lần nam giới      Không chỉ vậy, phụ nữ còn gặp chấn thương ở các vị trí khác với nam giới. Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí BMJ đã kêu gọi cần phải cải thiện thiết kế và mức độ an toàn của xe hơi đối với phụ nữ.     Dự án này là nghiên cứu lớn đầu tiên của Anh nhắm đến mục tiêu so sánh sự khác biệt giới đối với các kiểu thương tích và khả năng bị mắc kẹt trong xe hơi sau khi va chạm.  Ý tưởng nghiên cứu đến với giáo sư Tim Nutbeam (chuyên gia tư vấn cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Plymouth) và đồng nghiệp sau khi đọc cuốn sách “Những người phụ nữ vô hình” của Caroline Criado Perez. Trong cuốn sách, tác giả đã nhấn mạnh việc phụ nữ dễ bị chấn thương nghiêm trọng trong các vụ tai nạn xe hơi hơn, do các hình nộm thử nghiệm va chạm ô tô chỉ được mô phỏng dựa trên hình dạng của “những người đàn ông bình thường”.  Để thực hiện nghiên cứu, các tác giả đã phân tích dữ liệu từ 70,027 bệnh nhân tại các trung tâm và khoa chấn thương nghiêm trọng ở Anh trong khoảng thời gian từ tháng 1/2012 – 12/2019.  Kết quả cho thấy, mặc dù đàn ông dễ vướng vào các vụ tai nạn nghiêm trọng và phải nhập viện hơn, nhưng chỉ 9% trong số đó bị mắc kẹt trong của ô tô, trong khi con số đó ở phụ nữ là 16%. Phụ nữ cũng bị chấn thương ở hông và cột sống nhiều hơn, trong khi đó nam giới hay bị thương ở đầu, mặt, ngực và tay chân.  “Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là nghiên cứu cho thấy nam và nữ sẽ gặp phải các ‘kiểu mắc kẹt’ khác nhau”, tiến sỹ Lauren Weekes – bác sỹ gây mê tại Bệnh viện Đại học Plymouth, người cũng tham gia vào nghiên cứu, cho biết.  “Việc hiểu được rằng có sự khác biệt giới tính trong các dạng chấn thương sẽ giúp nhân viên y tế dự đoán ai hay gặp thương tích ở vị trí nào, từ đó có thể hỗ trợ bệnh nhân hiệu quả hơn. Các nhà sản xuất xe cũng sẽ có định hướng để điều chỉnh hệ thống an toàn và bảo vệ cả nam và nữ một các bình đẳng”.  Có một khả năng là bản chất các vị trí thương tích của phụ nữ khiến cho họ khó thoát ra khỏi đống đổ nát. “Chẳng hạn, phụ nữ có tỉ lệ bị thương ở vùng chậu cao hơn, và khi đã bị gẫy xương chậu thì sẽ khó mà có thể tự thoát ra khỏi xe”, Weekes nói.  Sự khác biệt trong cách lái xe của nam và nữ cũng có thể là một yếu tố, bởi nam thường hay ngồi ở vị trí lái xe hơn so với nữ, do đó sẽ có nhiều khả năng bị chấn thương khi va vào bánh lái hoặc túi khí hơn. Bên cạnh đó, nếu phụ nữ là người lái xe, họ thường có xu hướng điều chỉnh ghế lái gần vô lăng hơn – yếu tố góp phần khiến phụ nữ dễ bị mắc kẹt hơn khi gặp nạn.  Tuy nhiên, sự khác biệt về hình dáng cơ thế cũng rất có thể là một nguyên nhân, và sự khác biệt ấy đã không được mô phỏng chính xác trong các thử nghiệm va chạm ô tô. Theo Weekes, “vùng xương chậu của phụ nữ, ngay cả khi đã điều chỉnh theo tỉ lệ chiều cao và cân nặng, vẫn rộng hơn nhiều so với vùng chậu của nam giới, trong khi đó các hình nộm được dùng để mô phỏng tai nạn lại giống như một bé gái 12 tuổi chưa dậy thì hơn là một phụ nữ trưởng thành, dẫn đến thiếu sự tương quan chính xác giữa vùng chậu của phụ nữ với cánh cửa của xe hơi”.  “Các thử nghiệm va chạm sẽ được tiêu chuẩn hóa, do đó dữ liệu từ các thử nghiệm này cần phải có khả năng bảo vệ được cả nam và nữ một cách công bằng. Nếu các nhà sản xuất không sử dụng các hình nộm chính xác về mặt sinh học, làm sao họ có thể đảm bảo được điều đó?”.  Criado Perez hy vọng rằng kết quả nghiên cứu này sẽ tạo áp lực khiến các cơ quan quản lý phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc: “EU đang trong quá trình ban hành luật mới, trong đó lần đầu tiên đề cập đến việc phụ nữ ngồi trên ô tô cũng phải được bảo đảm an toàn như đàn ông”□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2022/may/17/women-almost-twice-likely-trapped-crashed-vehicle-study    Author                .        
__label__tiasang Phụ nữ chỉ chiếm 32% tất cả các vị trí nghiên cứu kinh tế      Tại các tổ chức nghiên cứu kinh tế trên toàn cầu, phụ nữ chỉ chiếm khoảng 1/3 các vị trí cấp dưới và 1/4 các vị trí cấp cao – theo một nghiên cứu mới.    Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong nghiên cứu kinh tế từ trước đến nay chỉ tập trung vào các quốc gia riêng lẻ. Vì thế nhà kinh tế học Emmanuelle Auriol tại Trường Kinh tế Toulouse, Pháp, và các đồng nghiệp đã quyết định khảo sát vấn đề này ở các tổ chức nghiên cứu kinh tế trên khắp thế giới. (Tuy nhiên nghiên cứu của nhóm Auriol không bao gồm nhiều tổ chức ở Châu Phi hoặc Đông Nam Á.) Kết quả công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences tháng này.        Để thu thập dữ liệu, nhóm Auriol tạo ra một thuật toán có thể thống kê giới tính và chức danh công việc của 96.044 nhân viên từ 1.383 tổ chức nghiên cứu kinh tế. Tất cả các chức danh công việc khác nhau từ khắp nơi trên thế giới được sắp xếp vào một hệ thống phân cấp: giáo sư (professor) và phó giáo sư (associate professor) được xếp vào vị trí cấp cao; giáo sư trợ lý (assistant professor) và giảng viên (lecturer)là vị trí cấp dưới; và nghiên cứu sinh là cấp khởi điểm.    Kết quả, trung bình trên toàn cầu, phụ nữ chỉ chiếm 32% tất cả các vị trí nghiên cứu kinh tế. Đáng lo ngại hơn, trong khi tỷ lệ nam nữ nhìn chung không chênh lệch quá lớn ở cấp khởi điểm và cấp dưới, thì càng lên vị trí cao hơn tỷ lệ phụ nữ càng thấp hơn rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ là 40% ở cấp khởi điểm và cấp dưới, nhưng lên đến cấp cao tỷ lệ này chỉ còn 27%.    Ngạc nhiên là mẫu hình bỏ qua phụ nữ này nhất quán ở các cơ sở nghiên cứu trên toàn cầu, theo Anusha Chari, nhà kinh tế học tại Đại học Bắc Carolina.    Nếu chỉ tính riêng 300 tổ chức nghiên cứu kinh tế hàng đầuthì phụ nữ cũng ít tham gia hơn nam giới. Cụ thể, Úc và New Zealand có tỷ lệ phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế cao nhất – 35%, Châu Âu 32%, Bắc Mỹ 26%, phần còn lại của thế giới có tỷ lệ 34%.    Ở nhóm các tổ chức hàng đầu xuất hiện một tình trạng đáng báo động khác: có ít phụ nữ ở các vị trí khởi điểm hơn so với các tổ chức xếp hạng thấp, cho thấy phụ nữ không thường được các tổ chức nghiên cứu kinh tế hàng đầu chú ý tuyển dụng như nam giới. Điều này đặc biệt rõ ở Mỹ. “Đây không phải là bằng chứng, nhưng dựa trên các nghiên cứu đã có đến nay, chúng tôi tin rằng đang có sự phân biệt đối xử,” Auriol nói.    Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng văn hóa làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế có thể không thân thiện đối với phụ nữ với các yếu tố như phân biệt đối xử, hành vi không phù hợp ở nơi làm việc, xu hướng chỉ trích phụ nữ, thiên vị tuyển dụng và thăng chức. Tất cả những điều này đều có thể góp phần vào khoảng cách giới và không có yếu tố nào là nguyên nhân duy nhất, theo các nhà nghiên cứu.    Tình trạng mất cân bằng có thể tạo thành vòng lặp, vì sẽ càng có ít hình mẫu phụ nữ nghiên cứu kinh tế để tạo động lực cho những người khác, theo nhóm Auriol. So với nam giới, phụ nữ thường có xu hướng nghiên cứu nhiều về các chủ đề như sức khỏe và giáo dục hơn, vì vậy mất cân bằng giới tính có thể kéo theo tình trạng nghiên cứu kinh tế “nghiêng về các chủ đề được nam giới yêu thích, không nhất thiết là những chủ đề quan trọng nhất đối với xã hội”, Auriol nói.    “Cần phải ghi nhận đầy đủ tình trạng thiên lệch này, để không ai có thể phủ định hoặc cho rằng không tồn tại thiên lệch,” theo nhóm Ariol.    Trang Anh    Author                .        
__label__tiasang “Phù thủy” của nguồn nước      Tết đã cận kề, cứ ngỡ các cán bộ của Viện Công nghệ môi trường (Viện KH&amp;CN Việt Nam) đều có mặt ở “nhà”. Không dè, vòng đi vòng lại từ nhà A21, A9 rồi sang nhà A18B mới tìm được mấy cán bộ của Viện vừa đi công tác về, số còn lại vẫn đang ở tít tắp nơi rừng sâu núi xa cặm cụi với phần việc của mình. Các anh bảo, hôm nay tôi đã may mắn bởi nếu sang ngày mai thì các anh cũng đã lại khăn gói lên đường. Các hợp đồng chuyển giao công nghệ khiến các anh luôn phải đi lại như con thoi giữa Hà Nội và địa phương có công trình. Dường như, không lúc nào ở đây ngơi việc…    Những nhà khoa học có… đôi hài vạn dặm  Cù Thi Nê là người Thái. Anh sống ở xã Hát Lót huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Thi Nê nói tiếng Kinh lơ lớ. Không chỉ với anh mà với tất cả đồng bào người Thái ở Mai Sơn này thì xử lý nước thải và các lò đốt rác bệnh viện là một khái niệm quá xa lạ, chẳng thể nào hiểu nổi. Nhưng, kể từ khi cán bộ Kiên ở Viện Công nghệ Môi trường lên đây rồi lắp đặt mấy cái bể nước phía sau Trung tâm Y tế Mai Sơn, con suối nhỏ chảy qua chân đồi nhà anh nước lại trong văn vắt, con tôm con cá lại nhiều như cách đây chừng mươi năm trước thì anh tự nhiên thấy cái “công nghệ lạ lùng” ấy như có phép nhiệm màu. Và, mến yêu dòng suối mát bao nhiêu anh lại thấy quý cán bộ Kiên bấy nhiêu. Cũng từ đó, những buổi đi lấy mẫu nước, kiểm tra mẫu nước của cán bộ Kiên, Thi Nê săng sái đi cùng. Mang vác nặng anh đều sắn tay lăn vào giúp. Mỗi khi bẫy được con nai, săn được con hoẵng, anh đều sai con mang sang biếu người cán bộ có phép… thần thông đó.  Nhớ lại chuyến đi đầu tiên, anh Kiên kể: “Lần đó tôi được cử đi Sơn La theo dõi khởi động và đào tạo cho trạm xử lý nước thải bằng vi sinh vật của Nhà máy sữa Mộc Châu. Chuyến đi kéo dài gần hai tháng. Với một sinh viên mới ra trường như tôi thì chuyến đi đó quả là có nhiều ấn tượng”. Từ Hà Nội lên Sơn La hơn 300 cây số mà chiếc xe khách chạy mất… 13 tiếng chỉ vì đường khó đi, lại đang thi công, có lúc phải dừng xe chờ dọn dẹp đất đá mới đi tiếp được. Rồi qua Mai Sơn, xe vừa qua thì chợt uỳnh uỳnh, tất cả hành khách trong xe đều ngoái đầu lại và kinh hoàng nhìn tảng đá to bằng nửa chiếc xe đang ầm ầm lăn xuống đường, rơi bộp xuống nơi chiếc xe vừa đi qua rồi lăn xuống vực. Hai tháng trên núi, không điện thoại, không tivi, không điện, nơi ở là nhà kho của người dân tộc, muỗi to như con ruồi, thức ăn cho các bữa cơm là món… mối rang. Nhìn thấy đã sợ rồi những vẫn phải cố ăn bởi có quý lắm bà chủ nhà mới đem ra mời.  Theo lời anh Kiên thì ở Viện Công nghệ môi trường, các cán bộ thường xuyên phải đi công tác. Không ít lần ở giữa rừng, giữa núi, nhà dân thì xa, các anh đành dựng lều ở cạnh công trường. Năm vừa qua, Viện nhận chuyển giao một lò đốt rác cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận. Vậy là anh Nguyễn Quang Huy lên đường. Hai tháng sau, vừa từ Ninh Thuận trở ra, chưa kịp lấy đồ ra khỏi va ly anh lại trở vào Thanh Hóa. Còn anh Phan Thế Dương vì công việc đành “mặc kệ” người vợ mới cưới, nằm vùng ở Sơn La hơn một tháng nay. Anh chị em trong Viện bảo anh Dương chẳng mấy khi thấy ở nhà và là người giữ kỷ lục đi nhiều nhất Viện. Năm nhiều thì cả 10 tháng anh đi tỉnh, năm ít cũng 7-8 tháng.    Nhiều nỗi trăn trở với nghề  Thực ra, công nghệ xử lý nước thải bằng vi sinh không phải là kết quả nghiên cứu mới mẻ trên thế giới. Song tại Việt Nam, công nghệ này mới xâm nhập được một vài năm nay và được ưa chuộng vì rẻ, hiệu quả và thân thiện với môi trường. Để thiết kế một hệ thống như thế, cán bộ của Viện phải xuống tận nơi lấy mẫu về phân tích hiện trạng của địa phương, xem xét chủng loại và số lượng vi sinh vật trong hệ thống cống rãnh và lượng chất thải trong nước. Sau đó sẽ thiết kế hệ thống đảm bảo cho các vi sinh vật này tồn tại với một số lượng phù hợp. Những vi sinh vật này sẽ ăn hết các hợp chất hữu cơ trong nước thải. Nếu vi sinh vật phát triển quá nhiều, nước sẽ bị đặc, thiếu hữu cơ cung cấp thì rồi sinh vật cũng chết. Nếu vi sinh vật quá ít thì sẽ không xử lý kịp lượng nước thải. Cuối cùng, nước thải sẽ được chuyển sang một bể lắng và thải ra ngoài môi trường.  Đối với các cán bộ của Viện nói riêng và nhiều cán bộ môi trường khác thì khó khăn lớn nhất không nằm ở công tác nghiên cứu mà ở thái độ thờ ơ của nhiều cơ quan cũng như người dân mới là rào cản lớn nhất khi đưa công nghệ đó vào cuộc sống ngay cả khi nó đã được chứng minh trên thực tế là hiệu quả.                     Hiện nay, hầu hết các nhà máy, các bệnh viện ở nước ta không được trang bị hệ thống xử lý chất thải bao gồm cả nước, rác, khí… Nếu có thì cũng được xây dựng cách đây 30 – 40 năm, đã hỏng hoặc không có kinh phí hoạt động nên các đơn vị đều bỏ qua. Bây giờ khi dư luận chú trọng hơn đến việc bảo vệ môi trường thì các cơ quan này mới chịu nghĩ đến một hệ thống xử lý các chất thải. Trong suốt quãng thời gian hơn 10 năm làm việc trong lĩnh vực công nghệ xử lý ô nhiễm, anh Trịnh Văn Tuyên đã không ít lần gặp những trung tâm xử lý chất thải “dỏm”. Những trung tâm này đều đồ sộ, đắt tiền và không thể… vận hành được do chỉ xây để làm cảnh qua mắt dư luận và cơ quan kiểm tra. Anh Tuyên dẫn chứng, gần đây Nhà máy dệt Minh Khai làm việc nhiều buổi với Viện xem xét khả năng xây dựng hệ thống xử lý nước thải của nhà máy. Nước thải của các nhà máy dệt thường rất khó xử lý do có các thành phần màu và hồ bột vậy nên giá thành của hệ thống này lên tới hàng chục tỷ đồng. Mức đầu tư này khiến Nhà máy… chùn tay và toàn bộ nước thải ấy vẫn tiếp tục được đưa xuống sông Tô Lịch -dòng sông này là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm trên lưu vực sông Nhuệ – Đáy  Thế nhưng, ở vùng cao, đời sống còn thấp nên chuyện chi một số tiền lớn để làm sạch nước thải là chuyện… hoang đường. Ngay cả thứ rác thải bệnh viện vốn được coi là độc hại vào bậc nhất cũng chẳng thế làm gì ngoài việc vứt thẳng ra quả đồi lân cận nơi bệnh viên tọa lạc. Ở nhiều bệnh viện tuyến huyện thậm chí cả tuyến tỉnh mà cụ thể như Trung tâm Y tế Mai Sơn, đống rác thải này qua nhiều năm nay vun đầy như một quả đồi nho nhỏ. Nước thải bệnh viện thì vô tư chảy, tìm khe tìm suối mà chảy và người dân tộc thì cứ vô tư dùng ống tre mà dẫn nước suối về dùng. Nhưng không dùng nước suối đó thì lấy nước ở đâu? “Viện tôi cũng tham gia nhiều dự án cung cấp nước sạch cho đồng bào miền núi. Tuy nhiên, những dự án này còn ít ỏi lắm và cũng mới chỉ giải quyết được một phần nhỏ nhu cầu thực tế của người dân” – anh Tuyên bảo thế.   Mới thành lập được 3 năm, nhưng năm nào Viện Công nghệ môi trường cũng có hàng chục hợp đồng chuyển giao theo nhiều hướng nghiên cứu với tổng trị giá ngót nghét chục tỷ đồng. Vậy mà TS Nguyễn Thế Đồng, Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường vẫn phàn nàn rằng chưa làm được gì nhiều. So với nhiều đơn vị nghiên cứu triển khai khác thì số lượng hợp đồng và đề tài của Viện là một con số đáng mơ ước. Nhưng “thành tựu của một đơn vị nghiên cứu triển khai, dù ít dù nhiều vẫn chỉ là hạt muối bỏ bể. Nói ngay như Quyết định 64/QĐ-TTg yêu cầu xử lý gần 350 đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong thời gian từ nay đến 2007. Nay đã bước sang năm 2006, tiến độ chậm chạp thế này làm sao mà xong nổi. Các cơ quan Nhà nước cần phải nhập cuộc sát sao hơn nữa thì tình trạng ô nhiễm môi trường mới có thể chuyển biến thực sự” – TS Đồng tâm sự.  Tết đã gần kề nhưng các “phù thủy” của Viện vẫn còn miệt mài với công việc của mình ở nhiều địa phương để người dân bớt đi nỗi lo về những “hung thần” ấn nấp trong nguồn nước…      Thu Trang      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phục hồi tranh bằng miếng xốp nano      Các nhà khoa học Ý vừa công bố một phát minh có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sạch và phục hồi các bức tranh sơn dầu vô giá cũng như các tượng điêu khắc cẩm thạch và các công trình nghệ thuật khác: miếng xốp nano. Các nhà khoa học cho biết có thể sử dụng miếng xốp nano để phục chế các tác phẩm nghệ thuật cũng như ứng dụng trong trang điểm, tẩy rửa và công nghệ sinh học.    Việc sử dụng miếng xốp nano làm từ những hạt nano siêu nhỏ được xem như một nghiên cứu có tính chất đột phá trong lĩnh vực này. Hạt xốp này được trộn với dung môi và tác nhân làm sạch, sau đó được đưa vào nơi bẩn cần phục hồi trên bề mặt sơn. Sau khi làm sạch, người phục chế có thể tẩy lớp gel bằng nam châm một cách dễ dàng. Sử dụng miếng xốp nano đem lại hiệu quả vượt trội so với việc sử dụng dung môi và các tác nhân làm sạch dưới dạng gel để phục hồi các tác phẩm nghệ thuật.  Minh Anh (Theo Science Daily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp định vị tiếng vang cho người khiếm thị      Phương pháp định vị tiếng vang có thể giúp người khiếm thị tự đi đến những nơi mình muốn.     Cậu bé bốn tuổi người Đức Felix (ảnh bên) bị mù bẩm sinh, nhưng em vẫn đi lại tự tin trong ngôi nhà bằng cách đánh lưỡi để những âm thanh chậc chậc phát ra chạm vào đồ vật xung quanh và phản xạ lại, qua đó giúp em nhận biết các chướng ngại trên đường đi của mình. Phương pháp này có tên là “định vị tiếng vang”, do Daniel Kish, một người Mỹ khiếm thị, phát triển.   Chuyên gia Klaus Mönkemeyer cho rằng, với phương pháp này, trẻ em sẽ học được cách vận động trong không gian âm học. Mönkemeyer nhấn mạnh, trẻ em khiếm thị được tiếp cận phương pháp này càng sớm càng tốt, cho dù cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào khẳng định điều đó.  Daniel Kish được coi là nhà vô địch thế giới về kỹ thuật “định vị tiếng vang”. Ông đã tự học phương pháp này từ khi còn nhỏ. Kish có thể một mình đi dạo trong rừng và đi xe đạp – hiện ông là người hướng dẫn những học sinh khiếm thị và các thầy cô giáo ở nhiều nước trên thế giới.   Kish đã giới thiệu phương pháp này ở Đức vào cuối năm 2011, tuy nhiên cho đến nay chỉ có rất ít người Đức biết về nó. Felix là một trong số 13 em tham gia lớp thí điểm đầu tiên. Đánh giá chung cho thấy, sau khoảng thời gian tập luyện khoảng 18 tháng, các học viên đều đi lại nhanh nhẹn và vững vàng hơn. Những em thành thạo thậm chí có thể biết, trên một đường phố không quen thuộc, có bao nhiêu ô tô đậu ở phía trước, và xác định được những vật cản trên đường đi như thùng đựng rác hay hòm thư.   Việc liên tục phải đánh lưỡi khá vất vả, bởi vậy các em sử dụng thêm các công cụ hỗ trợ là món đồ chơi có thể phát ra tiếng động “Knackfrosch” và cây gậy giúp nhận biết những chỗ lồi lõm trên đường đi.   XH dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp dò hạt neutrino mới sử dụng nước      Nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters do một nhóm nghiên cứu quốc tế thực hiện, trong đó có Joshua Klein, giáo sư ghế Edmund J. & Louise W. Kahn ở trường Khoa học và Nghệ thuật, đã đưa ra một đột phá trong dò các hạt neutrino.    Thực nghiệm hợp tác quốc tế này được gọi là Quan sát Neutrino Sudbury (SNO+), đặt tại một mỏ cũ ở Sudbury, Ontario, cách một lò phản ứng hạt nhân gần nhất xấp xỉ 240 km, để dò các hạt hạ nguyên tử mà người ta vẫn gọi là các phản neutrino bằng nước tinh khiết.  Klein lưu ý là các thực nghiệm trước đều quan sát hạt neutrino bằng một chất lỏng phát sáng nhấp nháy, một môi trường giống dầu có thể tạo ra nhiều ánh sáng khi các hạt mang điện tích như các electron hoặc proton đâm xuyên qua.  “Có được máy dò cách xa lò phản ứng, có được lượng chất lỏng phát sáng cần thiết vốn rất đắt đỏ”, Klein nói. “Vì vậy công việc của chúng tôi là chứng tỏ là những máy dò quy mô lớn có thể được thiết kế để dò dược neutrino chỉ bằng nước”.  Hạt neutrino và phản neutrino là gì và tại sao phải quan tâm?  Klein giải thích, các hạt neutrino và các hạt phản neutrino đều là những hạt hạ nguyên tử bé nhỏ nhưng nhiều vô số trong vũ trụ và được coi là những khối cơ bản của vật chất. Tuy vậy các nhà khoa học lại vô cùng khó dò được chúng do những tương tác của chúng với các vật chất khác rất hiếm khi xảy ra và bởi chúng có thể đâm xuyên qua bất kỳ vật thể nào. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng có hại: gần 100 nghìn tỉ hạt neutrino xuyên qua cơ thể chúng ta mỗi giây mà chúng ta không thể nhận biết.  Những đặc tính đó, tuy nhiên lại khiến những hạt khó nắm bắt đó vô  cùng hữu ích để hiểu một phạm vi rộng các hiện tượng vật lý, như sự hình thành của vũ trụ và nghiên cứu về các vật thể thiên văn ở khoảng cách xa, và chúng “có những ứng dụng thực tế khi chúng được sử dụng để giám sát các lò phản ứng hạt nhân và có tiềm năng dò những hoạt động hạt nhân bí mật”, Klein nói.  Chúng đến từ đâu?  Trong khi các hạt neutrino được tạo ra từ những phản ứng năng lượng cao như các phản ứng hạt nhân trong các ngôi sao, phản ứng nhiệt hạch của of hydrogen thành helium trong mặt trời nơi các proton và các hạt khác va chạm và giải phóng các hạt neutrino như một sản phẩm đi kèm, còn các hạt phản neutrino, Klein nói, lại thường được tạo ra một cách nhân tạo, “ví dụ, các lò phản ứng hạt nhân phân tách các hạt nhân nguyên tử, tạo ra các phản neutrino như kết quả của một phân rã beta từ phản ứng này”, ông nói. “Các lò phản ứng hạt nhân tạo ra một lượng lớn phản neutrino khiến chúng trở thành một nguồn lý tưởng để nghiên cứu chúng”.  Tại sao phát hiện mới lại là một đột phá?  “Vì vậy việc giám sát các lò phản ứng bằng việc đo đạc các phản neutrino của chúng có thể nói với chúng tôi là liệu các lò phản ứng này hoạt động hay không”, Klein nói, “và có lẽ ngay cả nhiên liệu hạt nhân gì được đốt trong lò phản ứng nữa”.  Klein giải thích, có thể giám sát một lò phản ứng trong một đất nước xa xôi là đất nước đó có đang chuyển từ một lò phản ứng nhiên liệu sang làm giàu vật liệu hạt nhân và có khả năng trở thành vũ khí hạt nhân hay không. Thực hiện đánh giá này với nước có nghĩa là đảm bảo một quốc gia thực thi đúng cam kết về sử dụng hạt nhân vì mục đích hòa bình, ví dụ như vậy.  Tại sao thực nghiệm như vậy chưa từng được thực hiện trước đây?  “Các hạt phản neutrino từ lò phản ứng hạt nhân đều có mức năng lượng rất thấp, và do đó một máy dò phải được đảm bảo vô cùng tinh sạch khỏi các vết phóng xạ”, Klein nói. “Thêm vào đó, máy dò phải được ‘kích hoạt’ ở một ngưỡng đủ thấp để có thể dò được các sự kiện”.  Ông nói rằng với một lò phản ứng cách xa 240km, điều quan trọng là lò phản ứng phải chứa ít nhất 1.000 tấn nước. SNO+ hội tụ tất cả những tiêu chuẩn đó.  Klein hướng dẫn các học trò cũ Tanner Kaptanglu và Logan Lebanowski cho nỗ lực tiên phong này. Trong khi ý tưởng đo đạc là một phần của luận văn tiến sĩ của Kaptanglu thì Lebanowski, một nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ, giám sát việc vận hành.  “Với thiết bị mà nhóm nghiên cứu của chúng tôi có, chúng tôi đã thiết kế và xây dựng mọi dữ liệu mà các thiết bị điện tử thu thập được và phát triển máy dò ‘kích hoạt’ hệ thống, vốn là điều cho phép SNO+ có được ngưỡng năng lượng đủ thấp để dò các phản hạt neutrino từ lò phản ứng”.  Kết quả nghiên cứu được nêu trong “Evidence of Antineutrinos from Distant Reactors Using Pure Water at SNO+” trên tạp chí Physical Review Letters 1 .  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2023-03-neutrino-method.html  https://interestingengineering.com/science/detect-antineutrinos-using-water-only  ————————————–  1.https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.130.091801    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp mới biến CO2 thành nhiên liệu      Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) – Mỹ phát triển phương pháp mới giúp chuyển đổi khí carbon dioxide (CO2) thải ra từ nhà máy nhiệt điện trở thành những hợp chất hữu ích. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí ChemSusChem.      Nhóm nghiên cứu gồm Xiao-Yu Wu và Ahmed Ghoniem chế tạo một loại màng cấu tạo từ hỗn hợp lantan (La), canxi (Ca) và sắt oxit. Nó cho phép nguyên tử oxy có trong phân tử carbon dioxide (CO2) di chuyển qua, trong khi giữ lại phân tử carbon monoxide (CO) ở phía bên kia lớp màng. Quá trình tách oxy diễn ra ở nhiệt độ rất cao, khoảng 990 độ C. Nhiệt lượng cần thiết sẽ được lấy từ năng lượng Mặt Trời hoặc nhiệt thải từ chính nhà máy điện. Chúng có thể được dùng làm nhiên liệu cho ôtô, xe tải, máy bay cũng như làm nguyên liệu hóa học với nhiều ứng dụng đa dạng.  Các nhà nghiên cứu sử dụng dòng nhiên liệu hydro hoặc methane để vận chuyển nguyên tử oxy đi qua màng do những chất này dễ bị oxy hoá. Màng cũng ngăn không cho nguyên tử oxy di chuyển ngược lại để kết hợp với CO tạo thành CO2. Hợp chất sản phẩm CO có nhiều ứng dụng trong thực tế, chẳng hạn như trực tiếp sử dụng làm nhiên liệu, tạo ra các hóa chất như methanol, khí tổng hợp, hoặc kết hợp với hydro và nước để sản xuất hydrocarbon lỏng.  Theo nhóm nghiên cứu, nhà máy điện sử dụng khí đốt tự nhiên có thể chia khí thành hai dòng khác nhau. Một dòng bị đốt cháy để phát điện, đồng thời tạo ra khí CO2. Dòng còn lại có tác dụng vận chuyển nguyên tử oxy đi qua màng.  Trong thời gian tới, các nhà khoa học sẽ khảo sát cách tốt nhất để làm tăng tốc độ oxy qua màng. Họ cân nhắc tới việc thay đổi nguyên liệu chế tạo màng, thay đổi hình dạng hoặc thêm các chất xúc tác trên bề mặt. Wu cho biết, công nghệ mới có thể hoạt động ở bất kỳ nồng độ CO2 nào, nhưng nồng độ càng cao thì quá trình tách oxy càng hiệu quả.  Quốc Hùng dịch  Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2017/11/171127173225.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp mới giúp cải thiện trí nhớ      Trong một nghiên cứu mới, sau bốn ngày được kích thích não bộ bằng dòng điện yếu lặp đi lặp lại, những người tham gia có khả năng nhớ lại thông tin tốt hơn trong tối đa một tháng.    Nghiên cứu do nhà khoa học thần kinh nhận thức Robert Reinhart tại Đại học Boston Massachusetts và các đồng nghiệp tiến hành, và được công bố vào ngày 22/8 trên tạp chí Nature Neuroscience.    Dựa trên giả thuyết cho rằng trí nhớ dài hạn và trí nhớ ngắn hạn được kiểm soát bởi các cơ chế và bộ phận riêng trong não, nhóm Reinhart muốn chứng minh rằng việc kích thích vỏ não trước trán vùng lưng bên, một vùng nằm ở phía trước của bộ não, bằng các dòng điện tần số cao sẽ cải thiện trí nhớ dài hạn; trong khi kích thích tiểu thùy đỉnh dưới, vùng nằm phía sau và sâu trong não, bằng dòng điện tần số thấp sẽ tăng cường trí nhớ ngắn hạn.        Sử dụng phương pháp kích thích não không xâm lấn, được gọi là kích thích dòng điện xoay chiều xuyên sọ (tACS), truyền dòng điện qua các điện cực dán trên bề mặt da đầu, nhóm Reinhart đã tiến hành một loạt thí nghiệm trên 150 người trong độ tuổi từ 65 đến 88. Trong khi kích thích điện, những người tham gia được giao thực hiện một nhiệm vụ thử khả năng ghi nhớ: nhớ lại danh sách 20 từ do một người thực hiện thí nghiệm đọc to. Kích thích điện xảy ra trong suốt 20 phút thực hiện nhiệm vụ.    Sau bốn ngày liên tiếp thực hiện quy trình này, những người được kích thích vùng vỏ não trước trán có khả năng ghi nhớ hiệu quả hơn các từ ở phía đầu danh sách, một nhiệm vụ phụ thuộc vào trí nhớ dài hạn. Trong khi đó, kích thích thùy đỉnh làm người tham gia dễ nhớ các từ ở cuối danh sách, một nhiệm vụ phụ thuộc vào trí nhớ ngắn hạn. Sau bốn ngày, hiệu suất ghi nhớ của những người tham gia được cải thiện, và mức độ cải thiện vẫn tiếp tục duy trì một tháng sau khi ngừng kích thích điện. Những người có chức năng ghi nhớ kém nhất trước khi bắt đầu thử nghiệm là những người cải thiện nhiều nhất.    Ngược lại, khi các nhà khoa học thay đổi tần số và vùng não kích thích (ví dụ: kích thích thùy đỉnh bằng dòng điện tần số cao) hoặc sử dụng “giả dược”, chỉ kích thích một thời gian rất ngắn để vờ như đã kích thích, thì trí nhớ của những người tham gia không cải thiện.      Phát hiện này gây ngạc nhiên cho nhiều nhà khoa học thần kinh vì họ cho rằng dòng điện mà các thiết bị tACS tạo ra yếu hơn nhiều so với các thiết bị và phương pháp kích thích não khác, do đó sẽ không truyền đủ điện tới não để làm thay đổi chức năng. Tuy nhiên, nhóm Reinhart đã chỉ ra một cách thuyết phục rằng dòng điện yếu cũng liên quan đến những cải thiện nhất quán và khá mạnh mẽ trong khả năng ghi nhớ. Mặt khác, các nghiên cứu trước đây thường chỉ thực hiện một phiên duy nhất và bao gồm các sinh viên trẻ với chức năng ghi nhớ tốt.    Vẫn còn một số câu hỏi cần giải đáp. Nhóm Reinhart cho biết muốn tìm hiểu xem kích thích tACS có cải thiện các loại nhiệm vụ trí nhớ khác không, và liệu sự cải thiện có thể tồn tại lâu hơn một tháng không.    Hiện nhóm đang mở rộng nghiên cứu để tìm hiểu xem tACS có thể giúp những người mắc các bệnh suy giảm nhận thức như Alzheimer, vì theo kết quả mới, kích thích mang lại nhiều lợi ích nhất cho những người có chức năng nhận thức kém.      Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Phương pháp mới tăng độ an toàn cho máy bay      Các nhà khoa học thuộc Đại học Portmouth (Anh) sắp cho ra đời một phương pháp mới nhằm kiểm tra chất lượng các bộ phận của máy bay để giảm thiểu các rủi ro gây tai nạn.    Nhóm nghiên cứu của giáo sư Jie Tong, một chuyên gia kỹ thuật về hàng không vũ trụ, đã lập trình phương pháp điện tử truyền dẫn (TEM-transmision electron microscope) thành một chương trình chạy trên máy tính.  Sau khi được lập trình, TEM cho phép kiểm tra cấu trúc các bộ phận máy bay và những thay đổi cực nhỏ do bị hư hại. Từ đó, các kỹ sư có thể dự đoán chính xác mức độ hư hại cho máy bay. Chương trình này không chỉ tăng độ an toàn cho máy bay mà còn hạn chế được chi phí bảo trì.  A.V (THX)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp mới tạo tinh trùng trong phòng thí nghiệm      Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và trường Đại học Y Nam Kinh vừa công bố trên tạp chí Cell Stem Cell rằng họ đã đưa được tế bào gốc của một loài chuột thành tế bào giống như tế bào tinh trùng, và các tế bào này có thể được đem đi thụ tinh với trứng để tạo ra những con chuột con khỏe mạnh.      Qua phương pháp này, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu có được cái nhìn đầy đủ về quá trình phân bào giảm nhiễm ở động vật có vú – tức quá trình trong đó các tế bào trong tinh hoàn và buồng trứng phát triển thành tinh trùng và trứng. Nếu có thể dùng phương pháp này để tạo ra tế bào tinh trùng người thì nó sẽ mang đến những tác động rất lớn, đặc biệt là đối với những nam giới mắc một số chứng vô sinh nhất định, chẳng hạn như những người không còn khả năng tạo tinh trùng sống sau quá trình hóa học trị liệu. Khi đó, những người này vẫn có thể sinh con nếu lấy các tế bào khác trên cơ thể họ rồi chuyển thành tế bào tinh trùng rồi sau đó kích thích để chúng phát triển thành tinh trùng.    Năm 2011, một nhóm nghiên cứu tại trường Đại học Kyoto, Nhật Bản, đã tìm cách đưa tế bào gốc phôi (ES) ở chuột thành các tế bào giống với các tế bào tinh trùng nguyên thủy (PGC). Nhưng trong quá trình phát triển thành tinh trùng, tức phải có một nửa số nhiễm sắc thể của các tế bào không phải tế bào tinh trùng, những tế bào PGC này đã được cấy trở lại tinh hoàn chuột. Như vậy, các nhà nghiên cứu không thể quan sát được toàn bộ quá trình phân bào giảm nhiễm, đồng thời nếu áp dụng phương pháp này trên người, quá trình này vẫn đòi hỏi một bước đưa tế bào quay trở lại cơ thể người, và điều này có thể tạo thêm các loại u bướu cho người được cấy.    Nhóm các nhà khoa học Trung Quốc vẫn áp dụng phương pháp trên của nhóm nghiên cứu Nhật Bản để tạo ra các tế bào PGC từ tế bào gốc phôi. Sau đó, họ kết hợp các tế bào này với các tế bào tinh hoàn lấy từ chuột mới sinh. Cuối cùng, họ đưa chúng vào một dung dịch gồm các hormone giới tính và các chất tạo sự phát triển, trong đó có cả một chiết xuất giàu hormone lấy từ tuyến yên của bò. Dưới những điều kiện này, các tế bào trải qua một quá trình phân chia, thể hiện tất cả những mốc quan trọng trong quá trình phân bào giảm nhiễm. Sau đó, các nhà nghiên cứu tiêm các tế bào giống như tế bào tinh trùng thu được – nhưng chúng không bơi được – trực tiếp vào trứng rồi cấy chúng trong một con chuột cái. Kết quả là những con chuột con ra đời.    Tuy vẫn còn xa mới có thể nghĩ đến chuyện đưa phương pháp này vào ứng dụng thực tế, bởi tế bào tinh trùng chuột và người có hình thái phát triển khác nhau nên có thể đòi hỏi những điều kiện khác nhau. Tuy vậy, kết quả này vẫn rất đáng khích lệ, bởi nhiều nhà khoa học tin rằng nếu phương pháp này có hiệu quả trên chuột thì không có lý do gì để không áp dụng nó trên người cả.   Trang Bùi dịch theo Science  http://www.sciencemag.org/news/2016/02/new-method-grows-sperm-dish    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp thử nghiệm điều trị ung thư mới có thể “đánh thức” hệ miễn dịch      Trong phương pháp này, một số tế bào khối u được lấy ra khỏi cơ thể, điều trị bằng thuốc hóa trị, rồi đưa trở lại khối u. Khi đó, các tế bào bị tổn thương bởi hóa trị sẽ phát tín hiệu kích hoạt tế bào T tấn công khối u.      Tế bào T tấn công khối u. Ảnh minh họa.  Liệu pháp miễn dịch là phương pháp điều trị ung thư hiệu quả, kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể tiêu diệt các tế bào khối u, nhưng liệu pháp này chỉ có hiệu quả đối với một số ít bệnh ung thư nhất định.  Một nhóm thuốc hiện đang được sử dụng trong liệu pháp miễn dịch ung thư là chất ức chế buộc các tế bào T tấn công khối u, nhưng thuốc này không có tác dụng với nhiều loại ung thư. Michael Yaffe, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y học ung thư chính xác MIT và các đồng nghiệp đã cố gắng cải thiện hiệu suất của liệu pháp miễn dịch bằng cách kết hợp thêm với các loại thuốc hóa trị. Phương pháp mới của nhóm Yaffe dựa trên một hiện tượng được gọi là chết tế bào sinh miễn dịch, trong đó các tế bào khối u chết hoặc sắp chết gửi tín hiệu thu hút sự chú ý của hệ thống miễn dịch.  Trong đĩa thí nghiệm, họ thử điều trị các tế bào ung thư bằng một số loại thuốc hóa trị khác nhau, với liều lượng khác nhau. Sau khi xử lý tế bào ung thư bằng hóa trị, họ đưa tế bào T – tế bào có nhiệm vụ tiêu diệt những tế bào bị thương hoặc bị bệnh – vào đĩa. Sau đó, họ đo lường khả năng tiêu diệt tế bào ung thư của tế bào T. Đáng ngạc nhiên là thuốc hóa trị đã không hỗ trợ được nhiều cho tế bào T; những thuốc hóa trị hỗ trợ nhiều nhất cho tế bào T lại là các thuốc liều thấp, không giết chết nhiều tế bào ung thư. Họ nhận ra nguyên nhân: Các tế bào khối u đã chết không kích thích hệ thống miễn dịch, mà là các tế bào bị thương do hóa trị nhưng vẫn còn sống.  Từ đó, họ tìm ra phương pháp mới: xử lý các tế bào khối u trong đĩa thí nghiệm, đưa chúng trở lại khối u cùng với thuốc liệu pháp miễn dịch, và các tế bào khối u còn sống nhưng bị thương sẽ kích hoạt hệ thống miễn dịch hoạt động, Yaffe cho biết. Vì khi các tế bào khối u bị tổn thương DNA, chúng sẽ phát ra tín hiệu “trạng thái stress”, tín hiệu này kích thích tế bào T; và tế bào T sẽ tiêu diệt cả những tế bào khối u gần đó.  Trong thử nghiệm trên chuột bị u ác tính và u vú, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, phương pháp điều trị mới loại bỏ hoàn toàn các khối u ở 40% số chuột. Hơn nữa, vài tháng sau khi điều trị, các nhà nghiên cứu tiêm tế bào ung thư trở lại vào chính những con chuột này, nhưng các tế bào T của chuột đã nhận ra và tiêu diệt tế bào ung thư trước khi chúng có thể hình thành các khối u mới.  Yaffe hy vọng sẽ thử nghiệm phương pháp này ở những bệnh nhân có khối u không đáp ứng với liệu pháp miễn dịch, nhưng trước tiên cần nghiên cứu thêm để xác định xem nên sử dụng loại thuốc hóa trị nào và liều lượng bao nhiêu để có hiệu quả nhất đối với các loại khối u khác nhau.  Hoàng Nam tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp xây dựng chính sách giảm nghèo      Từ nhiều năm nay, các tổ chức quốc tế đã đánh giá, một thách thức rất lớn với quá trình xây dựng chính sách giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội cho vùng nông thôn, miền núi ở nước ta là vẫn duy trì cách thức huy động nguồn lực từ “bên ngoài” mà chưa chú trọng thúc đẩy các nguồn “vốn nội lực” của cộng đồng cũng như tham vấn ý kiến người dân. Điều đó khiến cho nhiều chính sách không đạt được hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực.      Hoạt động lấy ý kiến người dân trước khi hỗ trợ giảm nghèo do Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn (RDSC) thực hiện.  Có thể thấy, mặc dù những chương trình giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội như 135 hay 30A đặt mục tiêu lâu dài “giúp người dân từng bước phát huy vốn nội lực, vươn lên phát triển bền vững” nhưng trong thực tế triển khai chính sách, khái niệm “vốn giảm nghèo” mới chỉ mang hàm nghĩa hẹp – khu trú trong phạm vi của “vốn tài chính” từ phía Nhà nước mà không hề nhắc tới “nội lực” người dân.  Vì vậy, cũng hai thập kỷ nay, các tổ chức quốc tế đưa ra khuyến nghị nên thay đổi cách xây dựng chính sách giảm nghèo: từ tiếp cận bằng nguồn lực bên ngoài chuyển sang hỗ trợ phát triển nguồn lực của cộng đồng. Họ chỉ ra, để phát triển sinh kế bền vững, các hộ gia đình/ cộng đồng phải tự thiết kế “chiến lược sử dụng tổng hòa các nguồn vốn” của chính mình để ứng phó với các thay đổi về kinh tế, xã hội, đặc biệt là khi có bối cảnh tổn thương như các cú sốc sức khỏe, mùa vụ, thị trường. Còn thể chế nhà nước đóng vai trò điều chỉnh và tác động lên yếu tố bối cảnh đó. Do đó, nhà nước cần tạo ra hành lang pháp lý tốt, tổ chức thực hiện hỗ trợ, thúc đẩy cộng đồng phát huy nguồn nội lực của họ chứ không phải là loay hoay rót vốn tài chính (trừ vốn xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu, dịch vụ công cơ bản và an sinh xã hội).  Nếu tiến hành xây dựng chính sách theo khuyến nghị trên, thông thường phải theo trình tự: 1) đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của các nguồn vốn tại chỗ. Theo Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển quốc tế Anh (DFID), các nguồn vốn đó bao gồm: + Vốn vật chất, là cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; + Vốn xã hội, là các nguồn lực xã hội bao gồm: mạng lưới xã hội, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau…; + Vốn con người là các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe…của mỗi cá nhân. Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là số lượng và chất lượng lao động của hộ, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc, thể chế chính thống và phi chính thống; + Vốn tự nhiên như đất đai, rừng, sông suối… tất cả những nền tảng tự nhiên mà hộ gia đình và cộng đồng đang sở hữu và khai thác; và + Vốn tài chính ngụ ý các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế. 2) hoạch định một chiến lược giảm nghèo, 3) thực hiện, 4) giám sát đánh giá và thường xuyên bổ sung, sửa chữa. Toàn bộ trình tự này phải được thực hiện “từ dưới lên”, tức là luôn thảo luận lấy ý kiến người dân, để người dân “chủ động” chỉ ra “vấn đề” ở cộng đồng mình.  Trên thực tế, cách làm này cần tới những người làm phát triển cộng đồng thật sự, những người nắm vững các khung phân tích, có kiến thức thực tiễn, có khả năng phân tích các nguồn lực, có kỹ năng làm việc với cộng đồng… Đó lại là điều rất khó trong bối cảnh hiện nay, khi mà, các cán bộ làm công tác giảm nghèo ở tất cả các cấp mới chỉ là những người những nhân viên hành chính thuần tuý. Và càng khó hơn khi về cơ bản, chính sách phát triển vẫn được lập kế hoạch và thực hiện từ trên xuống, áp dụng một kiểu mẫu cho tất cả các vùng.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Phương pháp xét nghiệm mới giúp phát hiện tiền sản giật ở thai phụ      Tiền sản giật là biến chứng cao huyết áp xảy ra ở 8% phụ nữ mang thai, có thể gây tổn thương các cơ quan nội tạng hoặc thậm chí gây tử vong cho thai nhi. Thường tình trạng này không có dấu hiệu cho đến cuối thai kỳ.    Giờ đây, bằng cách phân tích mô hình hoạt động của RNA trong máu của phụ nữ mang thai, các nhà nghiên cứu tìm ra một xét nghiệm có thể dự đoán biến chứng này vài tháng trước khi nó phát triển.    Các nhà nghiên cứu cho rằng tiền sản giật phát triển một phần do các mạch máu trong nhau thai không phát triển đúng cách. Do tiền sản giật không có dấu hiệu sinh học sớm đáng tin cậy, các bác sĩ thường tính toán nguy cơ tiền sản giật của phụ nữ trong thời kỳ mang thai dựa trên các yếu tố như chủng tộc (tình trạng này phổ biến hơn ở phụ nữ da đen), tuổi và chỉ số khối cơ thể (BMI). Những người có nguy cơ tiền sản giật cao có thể được cho dùng aspirin liều thấp, biện pháp phòng ngừa tiền sản giật phổ biến nhất.    Khi một phụ nữ mang thai xuất hiện các dấu hiệu thường thấy nhất của tiền sản giật, chẳng hạn như huyết áp cao và protein trong nước tiểu cao, bác sĩ có thể cho họ sinh sớm. Biện pháp ứng phó này kéo theo nhiều rủi ro sức khỏe, trong khi các phương pháp dự đoán hiện có không chính xác, chỉ có khoảng 4% phụ nữ trong nhóm “nguy cơ cao” thực sự phát triển chứng tiền sản giật.    Trong nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu đã phân tích mẫu máu của 1.840 phụ nữ mang thai để tìm RNA. (RNA rỉ vào máu trong quá trình các tế bào của mẹ, thai nhi và nhau thai tạo ra protein.) Đầu tiên, nhóm nghiên cứu sử dụng học máy để tìm ra các mẫu hình RNA tương ứng với sự phát triển bình thường của thai nhi.    Tiếp theo, để tìm hiểu liệu các mẫu hình như vậy có thể tiết lộ vấn đề sức khỏe hay không, nhóm đã so sánh các mẫu RNA (lấy vào khoảng tháng thứ 6 trong thai kỳ) từ 452 phụ nữ có thai kỳ bình thường với 72 phụ nữ phát triển chứng tiền sản giật. Họ đã tìm thấy một dấu hiệu sinh học dựa trên bảy gen. Ở những phụ nữ có kiểu mô hình RNA này, 32% về sau phát triển tiền sản giật. Tỷ lệ dự đoán này chính xác hơn gấp nhiều lần so với phương pháp dự đoán hiện tại dựa trên các yếu tố như chủng tộc, tuổi tác và chỉ số BMI, theo kết quả nhóm công bố ngày 5/1 trên tạp chí Nature.          Xét nghiệm máu mới phát hiện tiền sản giật chính xác hơn so với các phương pháp dự đoán hiện nay.    Tuy độ chính xác cao hơn, xét nghiệm mới vẫn tạo ra nhiều kết quả dương tính giả: Cứ ba phụ nữ có mẫu hình RNA đặc trưng trong nghiên cứu, thì hai phụ nữ không bị tiền sản giật. Trưởng nhóm nghiên cứu Thomas McElrath, chuyên gia y học về bà mẹ và thai nhi tại Bệnh viện Brigham and Women’s, gợi ý rằng những phụ nữ có xét nghiệm mẫu hình RNA dương tính có thể tự theo dõi huyết áp liên tục và liên hệ với bác sĩ nếu họ thấy huyết áp cao.    Các tác giả nghiên cứu lưu ý một điểm quan trọng là xét nghiệm mới không phụ thuộc vào chủng tộc, mà thay vào đó là những gì đang thực sự xảy ra ở cấp độ sinh học ở thai phụ. Các công cụ tính toán rủi ro tiền sản giật dựa trên chủng tộc đã từng bị chỉ trích vì chủng tộc là một cấu trúc xã hội không dựa trên di truyền, và các công cụ tính toán dựa trên các nhóm lớn như vậy có thể bỏ qua các nhóm thiểu số.    Công ty khởi nghiệp công nghệ sinh học Mirvie, đơn vị tài trợ cho nghiên cứu, đang tiếp tục phát triển xét nghiệm, với mục tiêu dự đoán nguy cơ tiền sản giật khi mang thai được 3 tháng (thay vì 6 tháng như hiện nay). McElrath, một cố vấn của Mirvie, cho biết công ty cũng hy vọng sẽ sử dụng công nghệ này để dự đoán các biến chứng khác như tiểu đường thai kỳ và sinh non.    Thuyết Xuân    Author                phongvien        
__label__tiasang Phương trình như những bài thơ      Có thể nói không ngoa rằng linh hồn của khoa học hiện đại như là những phương trình lớn, những phương trình mô tả các định luật cơ bản của thế giới tự nhiên. Những phương trình  này cũng có thể lột tả ra từng lớp một, và những liên  kết tinh vi của nó dần dần hiện ra tương tự như trong một bài thơ hay, mỗi câu thơ, thậm chí  mỗi lời thơ, khi được phân tích cẩn thận, từng ý nghĩa được phơi bày, lôi cuốn người thưởng thức tìm hiểu thêm về thông điệp sâu xa của bài thơ. Nhưng hiện thân của phương trình là đặc tính và  hệ quả, chứ không phải nghĩa như một bài thơ.    Cho đến nay, trong giới văn học, hình như chưa ai đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất thế nào là một bài thơ. Nhưng trong toán học, không ai phải tranh cãi thế nào là một phương trình. Phương trình toán học là một biểu thức hoàn toàn cân đối: phía bên trái bằng phía bên phải của phương trình. Đối với các nhà toán học thuần tuý, không quan tâm đến khoa học, mỗi phương trình là một phát biểu trừu tượng không có dính dáng gì đến thế giới thực tế. Thành ra, khi các nhà toán học nhìn một phương trình như y = x + 1, họ nghĩ đến y và x như là những kí hiệu trừu tượng, không đại diện cho một thực thể nào ngoài đời.   Có thể tưởng tượng ra một vũ trụ mà trong đó các phương trình toán học không dính dáng gì đến hệ thống vận hành của thiên nhiên. Song, điều kì diệu là mối liên hệ giữa phương trình và thiên nhiên có thật. Các nhà khoa học hay mô tả những qui luật khoa học bằng phương trình với các kí hiệu đại diện cho những khối lượng có thể đo lường được qua thí nghiệm. Qua cách miêu tả bằng kí hiệu này, phương trình đã trở thành một loại vũ khí lợi hại của giới khoa học.   Một trong những phương trình toán học nổi tiếng nhất thế giới có lẽ là E = mc2, do Nhà vật lí học lừng danh, Albert Einstein đề nghị vào năm 1905. Cũng giống như phần lớn các phương trình nổi tiếng khác, phương trình của Einstein xác nhận sự tương đương giữa các sự vật mà lúc đầu mới nhìn qua rất khác nhau – năng lượng (E, energy), khối lượng (m, mass), và tốc độ ánh sáng trong không gian trống (c). Qua phương trình này, Einstein tiên đoán rằng, với bất cứ khối lượng nào, nếu chúng ta nhân nó 2 lần với tốc độ ánh sáng, kết quả sẽ tương đương với năng lượng của khối. Cũng giống như mọi phương trình khác, E = mc2 nói đến sự tương đương giữa hai khối lượng.              Những phương trình vĩ đại cũng giống như những bài thơ trứ danh ở một thể chất: đó là nội lực. Thơ là một hình thức súc tích nhất của ngôn ngữ, cũng giống như phương trình là một cách diễn đạt cô đọng nhất về một hiện tượng tự nhiên. E = mc2 tự nó là một biểu hiện lớn: những kí hiệu tóm lược tri thức có thể áp dụng cho mỗi hoán chuyển năng lượng, từ mỗi tế bào sống trong mỗi sinh vật trên Trái đất, đến những bùng nổ ngoài vũ trụ xa xăm. Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, phương trình này vẫn đúng.           Phương trình trứ danh này khởi đầu bằng một suy đoán đầy tự tin, và chỉ sau nhiều thập niên nó trở thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng tri thức nhân loại, sau nhiều thí nghiệm cho thấy quả nó nhất quán với thế giới tự nhiên. Cùng với các phương trình nổi tiếng khác, E = mc2 cũng giống như một bài thơ lớn. Cũng giống như một bài thơ trữ tình tuyệt hão có thể bị hư hỏng nếu một chữ, hay một cách phát âm, hay một chấm câu bị thay đổi, không một chi tiết nào của phương trình E = mc2 có thể thay đổi nếu không muốn cho nó trở nên vô dụng. Những phương trình vĩ đại cũng giống như những bài thơ trứ danh ở một thể chất: đó là nội lực. Thơ là một hình thức súc tích nhất của ngôn ngữ, cũng giống như phương trình là một cách diễn đạt cô đọng nhất về một hiện tượng tự nhiên. E = mc2 tự nó là một biểu hiện lớn: những kí hiệu tóm lược tri thức có thể áp dụng cho mỗi hoán chuyển năng lượng, từ mỗi tế bào sống trong mỗi sinh vật trên Trái đất, đến những bùng nổ ngoài vũ trụ xa xăm. Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, phương trình này vẫn đúng.   Những phương trình vĩ đại cũng có một khả năng kích thích phong phú như thơ: đó là sự tưởng tượng. Văn hào Shakespeare không thể nào thấy trước được nhiều ý nghĩa mà độc giả đời sau đã cảm nhận qua câu “Shall I compare thee to a summer’s day?”. Tương tự, Einstein cũng không thể nào tiên đoán được vô số hệ quả của phương trình tương đối mà ông đề ra.   Nói như thế không có nghĩa là thơ và phương trình giống nhau. Mỗi bài thơ được viết bằng một ngôn ngữ đặc thù và sức lôi cuốn có thể bị suy giảm khi được dịch sang một ngôn ngữ khác. Nhưng phương trình được viết bằng một ngôn ngữ phổ quát của toán học: dù viết bằng tiếng Anh hay tiếng Việt Nam, E = mc2 vẫn là E = mc2. Ngoài ra, nhà thơ tìm tòi nhiều ý nghĩa trong một bài thơ và những liên đới giữa từ ngữ và ý tưởng, trong khi đó nhà khoa học có ý định truyền đạt một ý tưởng logic duy nhất qua phương trình.   Cái ý nghĩa mà một phương trình khoa học cung cấp cho chúng ta là một định luật tự nhiên. Có thể dùng một ví dụ của Nhà vật lí lừng danh Richard Feynman để giải thích mối quan hệ giữa phương trình và luật tự nhiên. Hãy tưởng tượng khán giả đang xem một trận đấu cờ. Nếu khán giả cuộc tranh tài không biết các luật lệ của cuộc chơi cờ, họ có thể chỉ quan sát cách đi và đường hướng di chuyển của các tay chơi. Hãy tưởng tượng nếu những tay chơi thuộc thành phần thượng thặng, và cách đi cờ của họ phức tạp hơn các tay chơi cờ thường. Đối với khán giả, muốn tìm hiểu luật lệ của cuộc chơi cờ, họ phải quan sát cực kì cẩn thận, định hướng, và nhìn kĩ tất cả các đầu mối mà họ có thể tập trung. Cơ bản của cách làm việc đó là phạm trù của các nhà khoa học. Giới khoa học quan sát thế giới tự nhiên một cách cẩn thận – những chuyển động của từng bộ phận – và cố gắng thu thập dữ liệu, để rồi phát triển thành những định luật.   Hàng ngàn nhà tư tưởng từng bị thất bại thê thảm trước những bí ẩn của tự nhiên, họ không hiểu tại sao có quá nhiều luật tự nhiên không thể mô tả một cách gọn gàng bằng những phương trình. Trong vật lí, phương trình tương đối của Einstein cho ra đời một lí thuyết mới về trọng lực, bằng cách đối chiếu không gian / thời gian với năng lượng của vật chất. Trong lí thuyết lượng tử, phương trình của Schrodinger mô tả tác động của vật chất trong một thế giới vi mô, giúp chúng ta hiểu được nguyên tử và phân tử mà trước đó chúng ta không thể nào biết được với những ý tưởng cũ. Trong sinh thái học, phương trình mô tả sự sản sinh của cá từ một thế hệ này sang thế hệ khác cũng đem đến cho chúng ta một hiểu biết về sự phân phối trong thiên nhiên. John Nash, nhà toán học nổi tiếng với giải Nobel, bị chứng tâm thần phân liệt, đề xuất một phương trình xác định cách thức mà hai người phải hành động trong một cuộc tranh tài. Sau này, các nhà kinh tế học và sinh vật học tìm thấy phương trình của John Nash cực kì hữu dụng trong nghiên cứu lí thuyết chọn lọc tự nhiên (theory of natural selection theory).   Tại sao có nhiều qui luật tự nhiên lại có thể diễn đạt bằng những phương trình có tính cách xác định, như hai khối lượng không liên hệ với nhau lại bằng nhau một cách chính xác như thế?  Tại sao những qui luật cơ bản này lại tồn tại?  Một nhận xét thông thường nhưng mang ít nhiều mỉa mai cho rằng Thượng đế là một nhà toán học, một ý tưởng không mấy có ích trong những câu hỏi quan trọng mà chúng ta không thể nào kiểm định được!   Một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi hơn cả vấn đề lai lịch của các phương trình khoa học là câu hỏi các phương trình này được sáng tạo ra hay khám phá. Nhà vật lí học thiên thể người Mỹ gốc Ấn Độ, Subrahmanyan Chandrasekhar, cho rằng khi ông tìm thấy một dữ kiện mới hay hiểu thấu được một vấn đề, thì có một cái gì đó hình như luôn luôn nằm ở đó, và ông ta chỉ cần nhặt nó lên. Theo quan điểm này, những phương trình mô tả vận hành cơ bản của vũ trụ, ở một góc độ nào đó, “luôn ở đó,” tồn tại độc lập với sự có mặt của con người, như thể các nhà khoa học là những nhà khảo cổ vũ trụ, cố khai quật những định luật đã được giấu kín kể từ khi thời gian bắt đầu. Còn nguồn gốc của các định luật vẫn còn là một điều bí ẩn!   Trong số hàng trăm ngàn nhà khoa học, chỉ có một số cực kì ít có phương trình gắn liền với tên của họ. Hai nhà khoa học có công khám phá những phương trình cơ bản tỏ ra am hiểu một cách sâu sắc về vai trò của toán học trong khoa học là Albert Einstein và Paul Dirac, một nhà vật lí học cũng không kém lỗi lạc so với Einstein. Cả hai đều không phải là nhà toán học, nhưng cả hai đều có một năng khiếu đặc biệt trong việc viết xuống những phương trình mới có khả năng ”sinh sản” phì nhiêu như những bài thơ đẹp. Cả hai đều chịu sự quyến rũ của một niềm tin cho rằng những phương trình cơ bản vật lí phải là những phương trình đẹp.                      Dirac và Einstein là hai nhà khoa học đã đem lại cho khoa học hiện đại một số phương trình cơ bản, mà qua tính xúc tích, đơn giản, và năng lực mạnh mẽ, các phương trình đó có thể được xem là những bài thơ đẹp nhất của nhân loại của thế kỉ 21.             Điều này thoạt đầu nghe qua có vẻ hơi lập dị. Cái quan niệm đẹp không khi nào được giới trí thức ân cần, và nhất định là không có địa vị trong giới phê bình khoa bảng. Song, nó là một thế giới sẵn sàng đi vào tâm hồn tất cả chúng ta, khi chúng ta cảm thấy dao động trước một nụ cười của một hài nhi, trước một cảnh núi rừng hùng vĩ, hay trước một đóa lan thanh tú. Một phương trình đẹp có nghĩa gì?  Về cơ bản, nó có nghĩa là phương trình đó có khả năng gợi lên một cảm giác mê li, cho chúng ta một trạng thái như chúng ta đứng trước một cảnh đẹp. Cũng giống như những tác phẩm nghệ thuật lớn, một phương trình đẹp không chỉ hấp dẫn, mà còn phải có tính phổ quát, phải đơn giản, tính đương nhiên, và năng lực mạnh mẽ. Đứng trước những tác phẩm trứ danh như Táo và Lê (Apples and Pears) của Cézanné, hay Đo đạc hình vòm (Geodesic dome) của Buckminster Fuller, Lady Macbeth của Judi Dench, Manhattan của Ella Fitzgerald, chúng ta có cảm giác như đang đứng trước một khái niệm đồ sộ, bất hủ, tinh khiết, không có những u lồi, và được sáng tác một cách cực kì cẩn thận như thể năng lực của chúng sẽ biến tan đi nếu chỉ một chi tiết trong tác phẩm bị thay đổi.   Một phẩm chất khác của một phương trình khoa học là nó có một vẻ đẹp thiết thực. Nó phải ăn khớp với kết quả của mỗi thí nghiệm, và tốt hơn nữa, cung cấp cho chúng ta một tiên đoán mà chưa ai làm trước đó. Khía cạnh thực dụng này của một phương trình cũng giống như cái đẹp của một cỗ máy được sáng chế một cách tinh vi. Trong phim Full Metal Jacket của Stanley Kubrick, Gomer Pyle tán dương những đường nét tỉ mỉ của khẩu súng, hài lòng với phẩm chất tuyệt vời của nó, nhưng chỉ khó chịu cái là nó chỉ thích hợp cho một mục tiêu chết người! Dù biết thế, nhưng một khẩu súng sẽ không “đẹp” nếu nó không vận hành.   Quan niệm đẹp đặc biệt quan trọng đối với Einstein. Theo như người con trai của ông, Hans Einstein, “Tính ba tôi giống như tính của một nghệ sĩ hơn là của một khoa học gia. Chẳng hạn như ông thường hay tán thưởng một lí thuyết không phải gì nó đúng với thực tế, nhưng vì nó đẹp.”  Einstein có lần viết rằng “Những lí thuyết vật lí mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận là những lí thuyết đẹp,” tức nó phải nhất quán với kết quả thực nghiệm.   Paul Dirac thậm chí còn dứt khoát hơn Eisntein về cái đẹp. Dirac cho rằng toán học là một tiêu chuẩn về chất lượng của một lí thuyết. Trong những năm cuối đời, Dirac tiêu ra nhiều thời giờ đi vòng quanh thế giới, thuyết giảng về nguồn gốc của các phương trình mang tên ông, nhấn mạnh rằng việc theo đuổi cái đẹp luôn luôn là nguyên tắc chỉ đạo cũng như là một cảm hứng. Trong một hội nghị ở Moscow vào năm 1955, khi được hỏi tóm lược triết lí của ông về vật lí, Dirac viết ngay trên bảng đen một hàng chữ hoa “Định luật vật lí cần phải có vẻ đẹp toán học” (“Physical laws should have mathematical beauty.”)  Dirac và Einstein là hai nhà khoa học đã đem lại cho khoa học hiện đại một số phương trình cơ bản, mà qua tính xúc tích, đơn giản, và năng lực mạnh mẽ, các phương trình đó có thể được xem là những bài thơ đẹp nhất của nhân loại của thế kỉ 21.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phút chốc quên quên nhớ nhớ có thể là dấu hiệu của chứng sa sút trí tuệ      Thường xuyên hay quên có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh sa sút trí tuệ sẽ xảy ra khi về già. Một nghiên cứu cho thấy, trầm cảm cũng làm tăng nguy cơ phát triển căn bệnh này.      Đôi tay của một bệnh nhân mắc chứng sa sút trí tuệ ở Frankfurt am Main. Nguồn: Alexander Heinl/dpa +++(c) dpa       Không biết mình vừa để cái kính đọc sách ở chỗ nào? Con gái vừa kể mình chuyện gì ấy nhỉ? Ai từ trung tuổi trở đi mà hay có hiện tượng quên quên nhớ nhớ nhu thế này thì nhiều khả năng khi về già sẽ bị mắc chứng sa sút trí tuệ. Theo một công trình của các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Ung thư Đức (DKFZ) ở Heidelberg, những người có vấn đề về trí nhớ ngắn hạn (quên quên nhớ nhớ) có nguy cơ sau này sẽ phát triển thành bệnh.    Các chuyên gia đã kiểm tra dữ liệu của gần 6.200 người trong độ tuổi từ 50 đến 75. Kết quả được công bố trên tạp chí Age and Ageing 1. Đây là một phần của một nghiên cứu khác từ năm 2000 đến năm 2002, thu hút sự tham gia của những người tham gia vào một thí nghiệm đánh giá khả năng trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Tuy thí nghiệm bước đầu kết thúc nhưng trong 17 năm sau đó, mọi người vẫn không ngừng kiểm tra sức khỏe của mình.    Kết quả cho thấy, những người trước đó hay rơi vào tình trạng nhớ nhớ quên quên thì khi nhiều tuổi có nhiều nguy cơ bị suy giảm trí tuệ, thậm chí nguy cơ tăng gấp đôi so với người khác. Điều này cũng diễn ra cho người thuộc nhóm tuổi từ 50 đến 64, tức là độ tuổi trung niên, theo công bố của như các nhà nghiên cứu. Tổng cộng 492 người tham gia nghiên cứu, họ được theo dõi suốt 17 năm về sa sút trí tuệ.    Hermann Brenner, nhà khoa học tham gia nghiên cứu này và là người dẫn dắt nhóm nghiên cứu, cho biết: “Các vấn đề chủ quan về trí nhớ ngắn hạn có thể cho thấy nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ ở những người từ 50 tuổi tăng lên – và điều này xảy ra nhiều năm trước khi họ được chẩn đoán. Các quan sát của chúng tôi cho thấy tầm quan trọng của các biện pháp phòng ngừa sớm để tránh các bệnh mạch máu, một trong các nguyên nhân gây ra sa sút trí tuệ”.    Theo kết quả, những người đã bị rối loạn trí nhớ ngắn hạn mà còn bị rơi vào trầm cảm thì sau này có nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ cao hơn. Tuy nhiên, không có mối tương quan nào giữa các vấn đề về trí nhớ dài hạn và chứng sa sút trí tuệ ở các nhóm tuổi được đánh giá.    Đối với những người cao tuổi hơn, trước đây người ta đã chứng minh nguy cơ sa sút trí tuệ tăng lên khi bị rối loạn cả trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn.     Hoài Nam  tổng hợp  Nguồn: Demenz: Lücken im Kurzzeitgedächtnis können Vorboten von Demenz sein – DER SPIEGEL  https://www.welt.de/newsticker/dpa_nt/infoline_nt/wissenschaft_nt/article239361081/Luecken-im-Kurzzeitgedaechtnis-koennen-Vorboten-von-Demenz-sein.html    ———————    1. https://academic.oup.com/ageing/article-abstract/51/6/afac113/6607610?redirectedFrom=fulltext    Author                .        
__label__tiasang Pin dùng đường thực phẩm làm nguồn năng lượng      Một nhóm nhà khoa học ở trường Đại học Công nghệ Virginia (Mỹ) vừa công bố trên tạp chí Nature Communications sáng chế pin sinh học lấy năng lượng từ đường thực phẩm có hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao, thân thiện với môi trường, sử dụng an toàn và có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về pin dùng cho các dụng cụ điện tử cầm tay.    Trong khi các loại pin sinh học trước đây chỉ đạt hiệu suất khoảng 17% thì loại pin mới (tiếng Anh là sugar-powered biobattery) nói trên trực tiếp chuyển hóa năng lượng chứa trong đường thành điện năng với hiệu suất gần bằng 100%. Nó có mật độ tồn trữ năng lượng bằng 596 ampe-giờ cho mỗi kg, tức gấp 10 lần pin lithium hiện đang sử dụng phổ biến.      Y.H. Percival Zhang, Phó giáo sư hệ thống sinh học tại Học viện Nông nghiệp và Khoa học sự sống thuộc Đại học Virginia Tech (Virginia Tech’s College of Agriculture and Life Sciences) là người phụ trách dự án nghiên cứu nói trên. Ông nói: “Đường là một hợp chất tồn trữ năng lượng hoàn hảo trong thiên nhiên. Vì thế việc tận dụng loại năng lượng thiên nhiên này để chế tạo loại pin kiểu mới theo phương pháp thân thiện với môi trường là rất hợp logic.” Ông cho biết loại pin này có thể sẽ xuất hiện trên thị trường sớm nhất trong vòng ba năm.     Nhóm nghiên cứu đã dùng biện pháp enzyme (enzymatic pathway) để làm ra điện từ chất glucose trong đường. So với quá trình chuyển hóa đường thành năng lượng trong cơ thể con người thì quá trình chuyển hóa đường thành điện năng trong loại pin nói trên sử dụng ít enzyme hơn. Shelley Minteer, chuyên gia pin sinh học ở Đại học Utah nói: “Sử dụng ít enzyme mà lấy ra được tất cả các điện tử (từ các phân tử đường) là điều rất quan trọng. Tôi cho rằng đây là một thành tựu lớn về biện pháp trao đổi chất.”     Các tác giả sáng chế đã tìm ra biện pháp tổng hợp phi tự nhiên chất enzyme, sau đó dùng loại enzyme xúc tác sinh vật giá thành hạ này để làm chất xúc tác thay cho platinum (bạch kim) đắt tiền trước nay vẫn dùng trong chế tạo pin.      Giống như mọi loại pin nhiên liệu khác, pin đường kết hợp nhiên liệu – trong trường hợp này là đường maltodextrin (một loại đường mạch nha dạng keo) – với không khí để làm ra điện, đồng thời sinh ra hai sản phẩm phụ là khí CO2 và nước. Bằng cách sử dụng chất xúc tác enzyme (enzyme cascade), nhóm nghiên cứu giải phóng được tất cả các điện tử trong dung dịch đường, vì thế quá trình chuyển đổi năng lượng có hiệu suất cực cao. Pin nhiên liệu đường có đặc điểm an toàn vì nó không thể gây cháy hoặc nổ như các loại pin nhiên liệu hiện nay đang sử dụng (thí dụ pin nhiên liệu hydrogen và pin nhiên liệu methanol) và mật độ trữ năng lượng cũng cao hơn. Do có khả năng bị phân hủy bởi vi khuẩn nên loại pin này khi bị thải sẽ không gây ô nhiễm môi trường.     Trong ba năm qua, loại pin mới của Zhang đã được thử dùng để chạy một số điện thoại di động, máy tính bảng, video game, và nhiều dụng cụ điện tử khác.      Tuy là đột phá quan trọng trong lĩnh vực pin sinh học nhưng loại pin nói trên vẫn còn chưa hoàn thiện. Một cộng sự của Zhang là Zhi Guangzhu giải thích: “Hiện nay chúng tôi đứng trước thách thức là tuổi thọ của loại pin này còn rất ngắn, hơn nữa lại chưa có cách nào nạp điện cho nó.”     Pin sinh học là hướng phát triển của công nghệ sản xuất pin, vì nó có ưu điểm thân thiện với môi trường, không như các loại pin thường dùng trước nay đều lấy năng lượng từ các hóa chất có hại cho môi sinh và sức khỏe của con người, hơn nữa lại không tự phân hủy được.     Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ cho biết riêng nước này mỗi năm thải ra hàng triệu chiếc pin độc hại như vậy. Vì thế sáng chế nói trên của các nhà khoa học ở Đại học Công nghệ Virginia có thể giúp loài người tránh được hậu quả tai hại lâu dài do việc chôn xuống đất hàng trăm nghìn tấn pin đã qua sử dụng mà không tự phân hủy được.       Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pin mặt trời siêu rẻ      Công nghệ này cũng sẽ giúp các hộ gia đình tiết kiệm được nhiều tiền khi mua pin năng lượng mặt trời thay vì xài điện như hiện nay.    Theo giáo sư Blakers, bằng cách lấy một loại pin năng lượng mặt trời dày khoảng 1 mm và cắt nó thành nhiều mảnh nhỏ rộng khoảng 120 micrometre, các chuyên gia đã tạo nên công nghệ sản xuất điện từ năng lượng mặt trời. Khi đem những mảnh nhỏ này ra đặt dưới ánh mặt trời, nó sẽ hấp thụ và phát ra nhiều năng lượng hơn so với các loại thiết bị năng lượng mặt trời hiện nay.  H.Y (New Kerala)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hệ thống lưu trữ điện năng bằng pin nhiệt      Một câu hỏi lớn của ngành điện tái tạo là làm thế nào để có năng lượng khi nắng tắt và gió không thổi?    Các ngân hàng pin quy mô lớn (cũng sử dụng pin lithium-ion phổ biến hiện nay) là một trong những giải pháp. Nhưng ở quy mô lưới điện, giải pháp này rất đắt tiền và chỉ có thể lưu trữ năng lượng trong vài giờ, trong khi thời tiết có thể nhiều ngày trời không nắng hoặc lặng gió.        Một ý tưởng khác là “pin nhiệt”: một bể kim loại lỏng hoặc một khối than chì được đốt nóng lên vài nghìn độ bằng điện gió hoặc điện mặt trời dư thừa. Nhiệt lượng từ khối pin này sau đó được dùng để tạo ra điện khi cần. Tuy nhiên, do các vấn đề hiệu suất chuyển đổi, pin nhiệt vẫn chỉ dừng lại ở ý tưởng và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm suốt vài chục năm qua. Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã cải tiến được một cấu phần quan trọng trong giải pháp này là thiết bị chuyển nhiệt lượng thành điện, đưa pin nhiệt đến gần hơn với thực tế.    Về lý thuyết, khối pin nhiệt có thể tạo ra điện bằng cách làm cho hơi nước vận hành tuabin. Nhưng có sự đánh đổi: nhiệt độ càng cao thì hiệu suất chuyển đổi càng cao, nhưng vật liệu tuabin bắt đầu phân hủy ở khoảng 1.500°C. Vì thế các nhà khoa học ứng dụng một công nghệ khác để chuyển đổi hiệu quả hơn: vật liệu nhiệt điện (TPV). Thay vì dùng nhiệt lưu trữ để đun nước, thì truyền nhiệt vào màng hoặc dây tóc kim loại, làm cho kim loại nóng lên và phát sáng giống như dây vonfram trong bóng đèn sợi đốt, sau đó TPV hấp thụ ánh sáng phát ra và chuyển thành điện năng.    Nhưng ngay cả với TPV, pin nhiệt cũng không trở nên khả quan hơn. TPV đầu tiên được phát minh vào những năm 1960 chỉ chuyển đổi một vài phần trăm nhiệt năng thành điện năng. Hiệu suất này tăng lên khoảng 30% vào năm 1980, nhưng từ đó đến nay không cải thiện thêm. Nguyên nhân là vonfram và các kim loại khác có xu hướng phát xạ các photon trong một phổ rất rộng, từ tia cực tím năng lượng cao đến tia hồng ngoại năng lượng thấp. Trong khi đó TPV chỉ hấp thụ và chuyển đổi các photon trong một phổ hẹp, cụ thể là các tia có tần số cao hơn. Các tia tần số thấp sẽ bị lãng phí.    Đối với thiết bị mới, kỹ sư cơ khí Asegun Henry tại MIT đã thiết kế lại cả nguồn phát sáng và TPV. Các hệ thống trước đây lấy nhiệt từ pin để tạo ra nguồn sáng có nhiệt độ khoảng 1.400°C, giúp tối đa hóa độ sáng của chúng trong dải bước sóng phù hợp nhất với TPV. Nhóm của Henry đã đẩy nhiệt độ nguồn sáng lên 2.400°C, làm cho vonfram phát ra nhiều photon năng lượng cao hơn, cải thiện quá trình chuyển đổi năng lượng, sau đó thiết kế lại TPV để tương thích với nguồn sáng này.    Hợp tác với các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Năng lượng Tái tạo Quốc gia Mỹ, nhóm Henry dùng hơn hai chục lớp chất bán dẫn mỏng để tạo ra hai phần vật liệu TPV riêng biệt xếp chồng lên nhau. Phần nằm trên cùng hấp thụ hầu hết các photon có thể nhìn thấy và tia cực tím, trong khi phần phía dưới chủ yếu hấp thụ tia hồng ngoại. Có thêm một tấm vàng mỏng đặt ở dưới cùng để phản chiếu ngược trở lại các photon năng lượng thấp mà TPV chưa thể thu hoạch. Kết quả, như nhóm báo cáo trên tạp chí Nature, là một TPV có thể chuyển đổi 41,1% năng lượng phát ra từ dây tóc vonfram 2.400°C thành điện năng.    TPV của nhóm MIT được làm từ các chất bán dẫn III-V (gọi tên theo vị trí của các nguyên tố thành phần trong bảng tuần hoàn), đắt hơn silicon trong pin mặt trời trên mái nhà. Nhưng các bộ phận khác của hệ thống pin nhiệt, chẳng hạn như than chì, thì có giá thành rất rẻ. Trong một bài báo năm 2019, Henry và các đồng nghiệp tính toán rằng chỉ cần chuyển đổi ở hiệu suất 35% thì pin nhiệt sẽ khả thi về mặt kinh tế.    “Đây là lần đầu tiên TPV đạt được phạm vi hiệu suất thực sự hứa hẹn đối với nhiều ứng dụng thực tế,” theo kỹ sư vật liệu Andrej Lenert tại Đại học Michigan, Ann Arbor.    Gần đây, Henry đã mở một liên doanh – Thermal Battery Corp. để thương mại hóa công nghệ của nhóm. Họ ước tính có thể lưu trữ điện với giá 10 USD cho mỗi kilowatt giờ, thấp hơn 10% so với chi phí sử dụng các ngân hàng pin lithium-ion quy mô lớn. Giải pháp pin nhiệt cũng có thể lưu trữ năng lượng trong nhiều ngày.    Không giống như các nhà máy nhiên liệu hóa thạch chỉ hoạt động hiệu quả ở quy mô lớn, hệ thống lưu trữ điện năng bằng pin nhiệt có tính mô-đun. Có nghĩa là hệ thống năng lượng tái tạo – pin nhiệt – thiết bị chuyển đổi có thể cung cấp điện một cách hiệu quả cho một ngôi làng nhỏ hay một lưới điện lớn, tùy vào quy mô muốn triển khai. Pin nhiệt cũng có thể lưu trữ điện cho các trang trại điện gió, điện mặt trời cho dù quy mô lớn hay nhỏ.    Minh Ngọc    Author                .        
__label__tiasang Pioneer: “tăng lực” KH&CN Việt Nam      Sau nhiều lần tiếp xúc với các chuyên gia và “mục sở thị” những trung tâm nghiên cứu của Việt Nam, TS.Ji-Ho Hwang cùng các chuyên gia khác từ Viện Kế hoạch và Đánh giá KH&amp;CN Hàn Quốc (KISTEP) đã đề xuất với Bộ KH&amp;CN Chương trình Pioneer với mục đích sàng lọc, đầu tư triển khai những công nghệ chủ chốt đạt trình độ quốc tế bằng việc phát triển những nhóm nghiên cứu mạnh.    “Bốc thuốc” cho KHCN Việt Nam  Khác hẳn với cách nhìn “khá lạc quan” của nhiều nhà quản lý và nhà khoa học trong nước, TS.Hwang lại có một cái nhìn khác biệt. Anh cho biết, “Qua khảo sát “khá kỹ” môi trường nghiên cứu ở Việt Nam, phân tích các đề tài nghiên cứu chúng tôi đưa ra kết luận: hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học còn quá ít và chủ yếu lấy định hướng giảng dạy là chính; các doanh nghiệp hầu như không tiến hành R&D; liên kết giữa trường, viện và doanh nghiệp rất mong manh; năng lực quản lý các hoạt động KHCN cũng như năng lực cạnh tranh về KHCN còn rất thấp; kinh phí đầu tư cho R&D còn thấp và đầu tư theo kiểu dàn trải”. Trên cơ sở đã “định vị” thực trạng KHCN Việt Nam và “định vị” chương trình Pioneer, TS.Hwang cho biết, “Pioneer rất cần thiết cho Việt Nam bởi vì nó có vị trí là nền tảng của công nghệ và giúp nâng cao năng lực cạnh tranh về KH&CN. Và các bạn cũng phải luôn nghĩ cho nền tảng KHCN nước nhà. Nếu không đẩy mạnh sáng tạo công nghệ thì khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triển ngày càng tăng”. Có thể nói, Pioneer là một quá trình đồng bộ, chặt chẽ theo chuẩn mức quốc tế từ việc kêu gọi đề cương, đánh giá xét chọn, theo dõi hàng năm, đánh giá giữa kỳ và cuối cùng là đánh giá kết thúc để làm sao cho “ra lò” những công nghệ chủ chốt, đa ngành đạt trình độ quốc tế.  “Viện KISTEP của chúng tôi và Viện VISTEC của Bộ KH&CN đã làm việc đồng bộ cùng nhau để đưa ra những tiêu chí đánh giá tiềm năng KH&CN Việt Nam, và có thể kết luận rằng, Việt Nam có đủ khả năng để triển khai Chương trình Pioneer hiệu quả”, TS.Hwang khẳng định.  Cũ người nhưng… mới ta               TS.Ji-Ho Hwang            TS.Sang-Sung Nam            Những năm của thập kỷ 80, Hàn Quốc cũng đã phải tự tay “bắt mạch” cho mình để mong tìm ra những bài thuốc hiệu nghiệm chữa trị căn bệnh chậm tiến của nền KHCN, khi quốc gia này đặt mục tiêu KHCN là nền tảng phát triển kinh tế. Hàn Quốc đã ý thức rằng, kinh tế tri thức thế kỷ 21 sẽ là kỷ nguyên của cạnh tranh toàn cầu dựa trên sức mạnh KHCN. Và đất nước của xứ sở kim chi cũng đã một vài lần “bốc”… nhầm thuốc. Những chương trình như “Các chương trình R&D quốc gia” hay “Dự án G7” đã không mang lại hiệu quả mong muốn trong sự kỳ vọng của nhiều chuyên gia về chiến lược chính sách. Chỉ đến những năm gần đây, khi viện KISTEP được thành lập, Hàn Quốc đã nhìn ra thế giới bên ngoài học tập kinh nghiệm và mô hình phát triển KHCN của một số nước như Úc, Nhật, Pháp,… sau đó điều chỉnh và áp dụng phát triển KHCN tại nước mình. Pioneer không phải là chương trình do Hàn Quốc “sáng tạo” ra, mà thực chất, đây là một chương trình “tích hợp” kinh nghiệm từ một số nước thành công đi trước. Chính vì vậy, khi áp dụng cho Việt Nam, các chuyên gia đã phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh KHCN trong nước. Do đó Pioneer không phải là một “thuật toán đa năng” và cũng không phải là một phép nhiệm mầu. Nhưng nó sẽ là một liều thuốc hiệu nghiệm nếu chúng ta “nghiêm túc” và nỗ lực hết khả năng thực hiện theo những quy chuẩn chặt chẽ.  Định hướng của chương trình Pioneer là xét chọn các nhóm nghiên cứu mạnh, đánh giá các đề cương nghiên cứu, lựa chọn nhà nghiên cứu xuất sắc và nuôi dưỡng họ cho các nhóm nghiên cứu mạnh quốc gia với mục đích là phát triển và làm chủ các công nghệ chủ chốt, đa ngành đạt trình độ quốc tế sau đó chuyển giao cho các doanh nghiệp. Pioneer coi các nhóm nghiên cứu mạnh đóng vai trò quan trọng liên kết viện, trường và doanh nghiệp. Theo TS.Hwang, “Mục tiêu của chương trình này là đến năm 2011 có thể lựa chọn và nuôi dưỡng khoảng 200 nhóm nhiên cứu mạnh”. Các nhóm nghiên cứu có thể được thành lập ở trường, viện hay doanh nghiệp. Mỗi nhóm nghiên cứu chỉ ở quy mô trung bình nhỏ với lượng nghiên cứu viên chủ chốt từ 3-4 người. Kinh phí đề xuất hỗ trợ đề tài mỗi năm khoảng 150 nghìn USD-nhiều hơn các đề tài thuộc các chương trình khác. Thời gian hỗ trợ cho mỗi đề tài là 4 năm và sẽ tiến hành đánh giá giữa kỳ để loại khoảng 20% đề tài có xếp hạng thấp. Tất cả là một quy trình đồng bộ, chặt chẽ theo những chuẩn mực quốc tế. So với mặt bằng chung thế giới, do kinh phí đầu tư cho KHCN của Việt Nam không nhiều nên cần phải lựa chọn và tập trung vào những đề tài công nghệ mục tiêu. Vì vậy, nhiệm vụ đổi mới quản lý hoạt động KHCN và nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho R&D là việc làm cần thiết nhất. Để làm được việc này, theo các chuyên gia, chúng ta cần phải “khẩn cấp nhập khẩu và thích ứng các kỹ năng tiên tiến trong quản lý R&D”.  Lương bổng của những nhà khoa học Việt Nam ở những viện nghiên cứu, trường đại học còn rất thấp không thể khuyến khích họ đầu tư cho sáng tạo. Chính vì vậy mà Pioneer tạo ra những ưu đãi xứng đáng cho những nghiên cứu viên, đặc biệt là những nghiên cứu viên chính. TS.Hwang cho biết, “Chi phí nghiên cứu có thể bao gồm tiền lương cho những nghiên cứu viên chính trên cơ sở điều chỉnh 150 nghìn USD”. Ngoài ra, cơ sở vật chất sẽ được đầu tư thỏa đáng cung cấp cho những nghiên cứu viên phương tiện và môi trường nghiên cứu tốt nhất để có thể tiến hành phát triển những công nghệ mục tiêu. TS.Hwang nhấn mạnh, “Tất cả 17 phòng thí nghiệm trọng điểm đang triển khai sẽ cần phải được khai thác hiệu quả thông qua cơ chế hoàn chỉnh phù hợp”.  “Cần có một cơ sở dữ liệu chính xác và công tâm”  Có một thực tế là KHCN Việt Nam có vẻ như rất thiếu những nhà khoa học có trình độ cũng như khả năng làm R&D thực sự để có thể đáp ứng được nguồn nhân lực của Pioneer. Xua tan những lo lắng trên, TS.Hwang tự tin, “Trên những thông tin có được trong quá trình khảo sát hiện trạng hoạt động KHCN, tôi thấy rằng, Việt Nam không thiếu những nhà khoa học có năng lực. Quan trọng là tuyển chọn và nuôi dưỡng họ như thế nào để họ trở thành những nhà khoa học tài năng”. Như để bổ sung cho nhận định của TS.Hwang, TS.Sang-Sung Nam cho biết, “Số lượng những nghiên cứu sinh và tiến sỹ trong các truờng đại học, viện nghiên cứu có xu hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây. Những người này có thể gửi đến những trung tâm nghiên cứu tiên tiến trên thế giới, sau khi trở về sẽ trở thành nguồn lực dồi dào. Ngoài ra, Việt Nam cũng có một lượng đáng kể những nhà khoa học Việt kiều”. Theo các chuyên gia, đẩy mạnh đào tạo các nhà nghiên cứu, tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp KHCN Việt Nam vượt qua điểm yếu của chính mình.  Một điều nữa được các chuyên gia nhấn mạnh đó là, đối với quá trình xét chọn những nghiên cứu viên xuất sắc cho từng nhóm nghiên cứu mạnh quan trọng nhất là phải có một cơ sở dữ liệu chuyên gia đầy đủ, tin cậy để Hội đồng đánh giá có thể lựa chọn những chuyên gia có năng lực, đặc biệt là những chủ nhiệm đề tài trên cơ sở những thông tin hồ sơ của họ. Những chủ nhiệm đề tài phải được đánh giá thông qua cơ sở dữ liệu tin cậy, được thẩm định để tìm ra những tiêu chí cần thiết như phải có bài báo công bố trên những tạp chí chuyên ngành uy tín, bằng phát minh sáng chế, có kinh nghiệm R&D thực sự. Không nên quá chú trọng vào bằng cấp mà phải xét thực danh. TS.Hwang cho rằng, quan trọng hơn hết là chúng ta phải xây dựng được cơ sở dữ liệu chuyên gia chi tiết, đầy đủ, chính xác và công tâm. Và ở đây, vai trò của Hội đồng đánh giá là tối quan trọng quyết định thành công của chương trình. Hội đồng tổng hợp phải gồm ít nhất 20 chuyên gia là các nhà khoa học của các trường đại học, viện nghiên cứu, và thậm chí bao gồm cả những nhà quản lý từ các công ty. Còn thành viên của Hội đồng chuyên môn phải là những nhà khoa học xuất sắc, dày dạn kinh nghiệm.  TS.Sang-Sung Nam nhấn mạnh, “Những nhà nghiên cứu giỏi không chỉ ở năng lực mà phải có chí hướng lớn. Đặc biệt, trong KHCN không thể đi nhanh. Nếu gấp quá sẽ hỏng. Chúng ta không chỉ cần những nhà khoa học thông minh mà quan trọng hơn, phải vạch ra được hướng đi đúng đắn”.  Pioneer đã được các chuyên gia Hàn Quốc làm sáng tỏ nhưng có vẻ như vẫn còn là một “bài toán” cho các nhà quản lý và khoa học Việt Nam.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Planck vén màn bí ẩn về ánh sáng đầu tiên của vũ trụ      Ra mắt vào năm 2009, kính thiên văn không  gian Planck của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã và đang quét bầu trời  suốt từ đó đến giờ, làm sáng tỏ sự khởi đầu của vũ trụ và sự ra đời của  các ngôi sao.       Độ chính xác đáng kinh ngạc của Planck cho phép phân biệt được sự khác nhau cực kỳ nhỏ của ánh sáng và nhiệt độ, tương ứng với sự khác nhau của mật độ vật chất còn sót lại từ vụ nổ Big Bang. Số liệu và kết quả 15 tháng đầu tiên của sứ mệnh được công bố ngày 21/3/2013 tại trụ sở ESA ở Paris, Pháp (xem chi tiết tại http://www.sciops.esa.int/index.php?page=Planck_Legacy_Archive&project=planck). Planck đã phác thảo lại hình dạng của vũ trụ khi nó đạt 380 nghìn năm tuổi. Đây là bản đồ tốt nhất của ánh sáng cổ nhất trong vũ trụ – bức xạ tàn dư còn sót lại từ vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 13 tỷ năm.  Các hình ảnh có độ chi tiết cao của vũ trụ – được tạo ra bởi kính thiên văn không gian Planck của ESA và sự cộng tác của các nhà khoa học quốc tế – tiết lộ rằng vũ trụ già hơn một chút, mở rộng chậm hơn và có nhiều vật chất hơn chúng ta tưởng.  “Đối với tất cả chúng ta, điều kì diệu là làm thế nào chúng ta chuyển quan sát các mẫu hình trong bức màn ‘ánh sáng đầu tiên’ của vũ trụ thành các cấu trúc trong những khoảnh khắc sớm nhất của vũ trụ –mà hiện nay vũ trụ có kích thước tỉ tỉ tỉ mét và bị nén lại thành một phần tỉ của một phần tỉ của một phần tỉ mét vào thời điểm đó,” GS Richard Bond, Đại học Toronto, nói. Còn theo nhà thiên văn người Việt Nam Hoàng Chí Thiêm, Viện Vật lý thiên văn lý thuyết Canada: “Kính thiên văn Planck lần đầu tiên xác nhận chính thức sự tồn tại của một loại bức xạ microwave mới phát ra từ các hạt bụi có kích cỡ nano.” Ông cũng đang xây dựng các mô hình giải thích sự phân cực của các hạt bụi trong giải ngân hà.  Bằng chứng của Planck xác nhận các mô hình trước đây, nhưng với các chi tiết hấp dẫn mới:  Nhóm nghiên cứu Planck tính vũ trụ được 13,82 tỷ năm tuổi – lớn hơn 80 triệu năm so với ước tính trước đó.  Kính thiên văn không gian Planck tiết lộ rằng vũ trụ đang giản nở chậm hơn so với tiêu chuẩn hiện nay được xác định bằng kính viễn vọng không gian Hubble.  Planck cũng cho phép các nhà vũ trụ học xác nhận thành phần của vũ trụ chính xác hơn trước đây: vật chất thông thường, các chất liệu của các ngôi sao và các thiên hà như thiên hà Milky Way của chúng ta, chỉ chiếm 4,9% của vũ trụ. Vật chất tối – sự hiện diện của nó cho đến nay được suy ra chỉ qua ảnh hưởng trọng lực của nó gây ra – chiếm 26.8%. Năng lượng tối – một sức mạnh bí ẩn hoạt động theo cách ngược lại với trọng lực, thúc đẩy và mở rộng vũ trụ của chúng ta – chiếm 68.3% của vũ trụ – hơi ít hơn so với suy nghĩ trước đây.  Độ chính xác của Planck cũng đã đem lại cho các nhà vật lý thiên văn một số vấn đề nan giải mới để giải quyết. “Trong hơn ba thập kỷ qua, tôi đã cố gắng hé mở cấu trúc đã được ghi nhớ trên vũ trụ từ thời điểm gia tốc giãn nở của vũ trụ trong những khoảnh khắc sớm nhất,“ Bond nói. “Planck giờ đã cho thấy bằng chứng rõ ràng hơn rất nhiều về vũ trụ lạm phát này. Các cấu trúc mà chúng ta thấy khá đơn giản, mà nhiều giả thuyết tồn tại trước đây nay trở thành nạn nhân của Planck, tức là bị Planck loại bỏ. Các bản đồ Planck chỉ ra những đặc tính cấu trúc lớn không thể giải thích được làm kích thích trí tưởng tượng của các nhà vật lý, những người đang mong đợi những kết quả của Planck về vũ trụ nguyên thuỷ.”  “Bây giờ, chúng ta có một công thức chính xác cho vũ trụ của chúng ta: có bao nhiêu vật chất tối và vật chất bình thường, nó gia tốc nhanh đến mức nào; nó co cụm đến mức nào và sự co cụm ấy thay đổi theo quy mô như thế nào; bức xạ còn sót lại từ vụ nổ Big Bang tán xạ như thế nào,“ GS Douglas Scott, Đại học British Columbia nói. “Điều đáng ngạc nhiên là toàn bộ vũ trụ dường như được mô tả bằng một mô hình chỉ sử dụng sáu thông số. Bây giờ, Planck nói với chúng ta giá trị của các con số đó với độ chính xác cao hơn.”   28 bài báo khoa học từ sứ mệnh Planck được công bố cùng ngày bao gồm nhiều khía cạnh về sự hình thành và tiến hóa của vũ trụ. Các công cụ Planck cho phép các nhà thiên văn học tách ánh sáng nguyên thủy ra khỏi những ảnh hưởng của bụi và khí đến từ dải ngân hà của chúng ta. GS Peter Martin thuộc Viện Vật lý thiên văn lý thuyết Canada đang viết một loạt các bài báo sẽ được xuất bản trong một bản phát hành sắp tới với dữ liệu này: “Chúng tôi không chỉ đơn giản là quét sạch những tín hiệu rác vào thùng rác, mà trân trọng nó vì những gì nó nói với chúng tôi về các hoạt động của dải ngân hà. Nó cho phép khám phá sự tiến hóa của cấu trúc trong môi trường liên sao, làm cho tó từ một trạng thái khuếch tán để hình thành ngôi sao trong đám mây phân tử dày đặc,” ông nói.   Hàng trăm các nhà thiên văn học từ khắp nơi trên thế giới sẽ tiếp tục nghiên cứu dữ liệu của Planck trong khi kính thiên văn tiếp tục công việc quan sát. Các kết quả hoàn thành của sứ mệnh dự kiến ​​sẽ được phát hành vào năm 2014.   Khoa vũ trụ và ứng dụng của Đại học KH&CN Hà Nội (USTH) cũng tham gia trực tiếp vào dự án Planck. Tại Việt Nam, thông tin về Planck có thể được tìm hiểu qua GS Yannick Girauld-Heraud, TS Guillaume Patanchon thuộc ĐH USTH.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Polariton LED: Polaritonics ra đời      Các nhà nghiên cứu Hy Lạp đã đạt được bước tiến quan trọng để tạo ra một linh kiện quang-điện tử thiết thực sử dụng “polarition” (PLED).    Nhóm nghiên cứu đã tạo ra một diode phát quang polariton hoạt động ở gần nhiệt độ phòng thay vì phải ở nhiệt độ cực thấp như các linh kiện sử dụng polarition trước đây. Và hơn nữa, PLED này được tạo ra bằng công nghệ bán dẫn truyền thống và chạy chỉ nhờ một pin đơn giản thay vì phải được nuôi nhờ một laser như các thiết bị trước đây. Nghiên cứu này sẽ mang lại một hi vọng là các polarition có thể được sử dụng rộng rãi trong nhiều linh kiện. Những linh kiện polariton sẽ có công suất tiêu tán thấp và siêu nhanh. Chúng cũng có thể được lắp ghép song song vào trong các ma trận của hàng ngàn các linh kiện như thế và sẽ làm giảm một cách đáng kể giá cả cho mỗi linh kiện. PLED mới này là một bước tiến quan trọng tiến đến việc tạo ra một thế hệ linh kiện polariton điều khiển bằng dòng điện ở nhiệt độ phòng.   Vạn lý Độc hành (Theo Nature)    Author                Quản trị        
__label__tiasang PRICAI-08: Cuộc hội ngộ của các nhà khoa học trí tuệ nhân tạo      Giữa th&#225;ng 12. 2008, Hội nghị ch&#226;u &#193; – Th&#225;i B&#236;nh Dương về Tr&#237; tuệ Nh&#226;n tạo (TTNT) PRICAI-08 sẽ được tổ chức lần đầu ti&#234;n ở Việt Nam.  Trao đổi với ph&#243;ng vi&#234;n Tia S&#225;ng, GS Hồ T&#250; Bảo, một nh&#224; khoa học về TTNT, hiện đang l&#224;m việc tại Viện C&#244;ng nghệ Ti&#234;n tiến Nhật Bản (JAIST), đồng thời cũng l&#224; người đem PRICAI đến Việt Nam cho biết:    Trí tuệ nhân tạo, một lĩnh vực của tin học và công nghệ thông tin (CNTT), nhằm làm cho máy có những khả năng của trí tuệ con người, như biết suy nghĩ và lập luận, hiểu ngôn ngữ và tiếng nói, biết tự học để có kiến thức mới, biết điều chỉnh để thích nghi với môi trường, … Ngành TTNT được nghiên cứu và phát triển trên thế giới đã trên 50 năm, ngay sau khi máy tính điện tử ra đời. Những thí dụ tiêu biểu của TNTT như người máy thông minh ASIMO, máy tính đánh cờ vua thắng nhà vô địch Garry Kasparov, dịch văn bản từ tiếng nước này sang tiếng nước kia, tìm kiếm thông tin trên Internet bằng Google, …   Ở Việt Nam, từ đầu những năm 1970 môn học về TTNT đã được đưa vào dạy cho sinh viên ngành tin học ở một vài ĐH ở Hà Nội, và nay đã là môn học cơ bản của các khoa CNTT. Tiên phong trong giảng dạy và nghiên cứu TTNT ở Việt Nam là các GS Nguyễn Văn Ba, Bạch Hưng Khang, Phan Đình Diệu, Hoàng Kiếm,…những người đã đào tạo nhiều sinh viên và xây dựng nên những tập thể làm nghiên cứu và phát triển về TTNT. Và đã có một số sản phẩm như: hệ nhận dạng chữ viết VnOCR của Viện CNTT, hệ dịch Anh-Việt EVTRAN của Nacentech hay hệ dịch của công ty Lạc Việt, hệ “Xalộ” tìm kiếm thông tin trên Web của công ty Tinh Vân,…Nhưng các nhà nghiên cứu của ta ở lĩnh vực này ít có dịp tham gia các hội nghị quốc tế. Với PRICAI thì càng ít hơn.    Vậy xin GS cho biết vài nét về Hội nghị PRICAI  IJCAI (Hội nghị quốc tế liên kết về TTNT) là hội nghị TTNT lớn nhất trên thế giới. Với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các nhà khoa học Nhật Bản, PRICAI được tổ chức lần đầu vào tháng 11 năm 1990 tại Thành phố Nagoya (Nhật Bản), quy tụ hơn 500 nhà nghiên cứu về TTNT trên thế giới, trong đó có hai đại biểu từ Việt Nam. Sau đó PRICAI đã lần lượt được tổ chức tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc,  Singapore,… PRICAI lần thứ 10 được tổ chức tại Hà Nội từ 16-19.12.2008.    Làm thế nào GS “đem” được PRICAI về Việt Nam. Việc trở thành “chủ nhà” của PRICAI-08 Việt Nam sẽ được “hưởng lợi” gì?  Hè 2006 tại PRICAI-06 ở Quế Lâm, Trung Quốc, tôi đã đến trình bày đề cương của Hội nghị PRICAI-08 với Ban Chỉ đạo của PRICAI (gồm hơn mười nhà khoa học về TTNT trên thế giới) và nhận được quyền đăng cai tổ chức PRICAI-08.   Thứ hạng và đẳng cấp của các hội nghị quốc tế trong ngành tin học và CNTT rất khác nhau (giống như sự khác biệt về khoa học và kinh tế của các nước trên thế giới). Người ta thường xếp các hội nghị đó vào 4 hạng hoặc không được xếp hạng, thậm chí một số còn bị khuyến cáo không nên tham dự do chất lượng thấp. Hội nghị ở ba hạng đầu thường có tỷ lệ bài được nhận dưới 30% hoặc ít hơn, còn các hội nghị không được xếp hạng thường nhận phần lớn bài gửi. Một người tham dự một hội nghị quốc tế ở nước ngoài thường cần 2000-3000 USD (35-50 triệu đồng), gồm vé máy bay, hội nghị phí (thường trên dưới 500 USD) và chi phí ăn ở. Điều này đang làm tăng thêm khoảng cách giữa các nước nghèo và khoa học chưa phát triển như Việt Nam với các nước giàu và có nền khoa học phát triển. Có một mâu thuẫn rất đáng chú ý‎: nhà khoa học ở ta thường chỉ có thể có kinh phí đi hội nghị nếu có bài, nhưng lại rất khó có bài ở những hội nghị thứ hạng cao là nơi có thể học được rất nhiều, khác với các hội nghị thứ hạng thấp là nơi dễ đến nhưng không có nhiều thứ để học.   Vì vậy tổ chức một hội nghị quốc tế có thứ hạng cao ở Việt Nam là cách để nhiều nhà khoa học Việt Nam tham dự được các sinh hoạt khoa học quốc tế với một chi phí thấp nhất. PRICAI-08 là cơ hội rất tốt để những người nghiên cứu TTNT và CNTT ở Việt Nam gặp gỡ rất nhiều đồng nghiệp trên thế giới. Sẽ có chừng 150 nhà khoa học nước ngoài tham gia PRICAI-08 trong đó có nhiều người xuất sắc trên thế giới.     Nhưng với  hội nghị phí là 450 USD có hạn chế người Việt Nam tham gia?  Kinh phí tổ chức các hội nghị thuần túy khoa học như PRICAI-08 hoàn toàn dựa trên hội nghị phí của người tham gia. Ban tổ chức đã đề nghị một cách làm đặc biệt khi đem PRICAI đến Việt Nam. Người Việt ở trong nước khi tham gia PRICAI-08 cần đóng hội nghị phí 1 triệu đồng (để trả một phần của chi phí cơ bản cho mỗi đại biểu). Kinh phí này được vận động đóng góp bởi các cơ quan, dưới dạng trả và cử đoàn đại biểu của mình tham gia hội nghị, đặc biệt là các nơi cán bộ có bài tại PRICAI-08. Như vậy người tham gia cũng có trách nhiệm hơn với cơ quan.   Ngoài ra và rất quan trọng, PRICAI-08 cho phép sinh viên và nghiên cứu sinh được tham dự hội nghị miễn phí (phải đăng k‎í qua trường). Đây là cơ hội rất tốt cho các nghiên cứu sinh ngành CNTT, cho các sinh viên ham học và có chí tiến thủ.   Việc chuẩn bị một hội nghị tầm cỡ như PRICAI-08, theo GS công việc nào được xem là tốn “sức” nhất ?  Đây là một quá trình chuẩn bị công phu của rất nhiều người, từ việc quảng bá cho hội nghị, làm trang Web của PRICAI-08 với các thông tin cập nhật thường xuyên từ đầu năm 2008, mời gửi bài và mời vào Ban chương trình, chọn và mời các báo cáo mời, lo“hậu cần” và khách, …Nhưng việc nhiều công sức nhất là đánh giá và tuyển chọn bài.    GS có thể nói cụ thể hơn?                  PRICAI-08 bắt đầu bằng các sự kiện trong ngày 16/12, gồm bốn hội thảo (workshop) về “Thu nhận tri thức”, “Xử l‎ý ngôn ngữ tự nhiên”, “Tính toán mềm”, “Tin sinh học”, và ba bài giảng chọn lọc về “Các phương pháp thực nghiệm trong TTNT” của GS Paul Cohen, ĐH Arizona (Mỹ), “Tác tử và khai phá dữ liệu” của GS Chengqi Zhang, ĐH công nghệ Sydney (Úc) trình bày, và “Viết và trình bày một bài báo khoa học” của tôi. Tiếp theo là hội nghị (conference) PRICAI-08 trong ba ngày 17-19/12, với nội dung bao gồm hầu hết những lĩnh vực chính của ngành TTNT. Bốn hội thảo ngày 16/12 đều có các Ban chương trình riêng, đánh giá và tuyển chọn chương trình từ các bài gửi tham gia hội thảo. Riêng hội nghị chính PRICAI-08 nhận bài tham gia từ đầu tháng 6, đã tuyển chọn 82 bài từ 234 bài gửi tham gia bởi một ban Chương trình quốc tế gồm 198 thành viên. Trong số 21 bài của các tác giả Việt Nam gửi tham gia, 8 bài đã được tuyển chọn để trình bày tại hội nghị. Các bài báo của PRICAI-08 được in trong một tuyển tập của nhà xuất bản Springer.     Ngoài chất lượng của các bài được trình bày trong hội nghị, theo GS giá trị của Hội nghị PRICAI-08 còn phụ thuộc vào những điều gì khác?  Có thể kể đến một số điều như: uy tín của Ban chương trình và các phản biện, nhà xuất bản, … và sự hấp dẫn của các báo cáo mời tại phiên toàn thể. PRICAI-08 có bốn báo cáo mời của các GS Paul Cohen và Đoàn An Hải từ Mỹ, Hendrik Blockeel từ Bỉ và Hà Lan, và Yuji Matsumoto từ Nhật. Đây đều là những nhà nghiên cứu danh tiếng trên thế giới. Một người Việt trong số này là Tiến sĩ Đoàn An Hải, hiện là Phó GS tại ĐH Wisconsin Madison. An Hải là người được nhận giải thưởng luận án tiến sĩ của ACM năm 2003 cho kết quả dùng các phương pháp học máy để nghiên cứu các biểu diễn cấu trúc của dữ liệu. Cũng như giải Turing của ACM (vốn được coi là giải Nobel của Tin học), giải thưởng luận án tiến sĩ của ACM mỗi năm thường chỉ trao cho một hoặc hai người và Đoàn An Hải là người châu Á thứ hai được giải kể từ 1980 khi giải bắt đầu.   PRICAI-08 còn tổ chức một buổi gặp gỡ trao đổi giữa sinh viên CNTT ở Hà Nội với một số GS người Việt đang làm nghiên cứu về CNTT ở nước ngoài, như các GS Dương Nguyên Vũ, Nguyễn Hùng Sơn, Đoàn Anh Hải, …và cả tôi.     GS đánh giá thế nào về tương lai ngành TTNT ở Việt Nam?  Việc này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Chỉ có thể nói rằng, nếu phát triển phần mềm là lĩnh vực ưu tiên của ta thì không thể không quan tâm đến việc phát triển ngành TTNT. Vì vậy tôi tin ở tương lai của ngành TTNT của Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Procademic: Sự giao hòa giữa học thuật và ứng dụng      Ngay sau khi đăng bài viết “Nghiên cứu và phát triển ở đại học: Một vài đề xuất” của GS. Ngô Quang Hưng, Tia Sáng đã nhận được bài viết “Procademic: Sự giao hòa giữa học thuật và ứng dụng” của TS. Võ Đình Trí (ĐH Kinh tế TPHCM và IPAG Business School Paris) cùng chia sẻ quan điểm này.      GS. TS Phan Thanh Sơn Nam hướng dẫn sinh viên trong phòng thí nghiệm ĐH Bách khoa TPHCM  Có một thực tế không thể phủ nhận là giữa nghiên cứu và thực tiễn luôn tồn tại khoảng cách. Ngay cả nhiều kết quả trong nghiên cứu ứng dụng cũng không thể hoặc chưa thể đưa vào cuộc sống. Tuy nhiên, việc kết hợp giữa học thuật và ứng dụng (procademic 1) cho thấy nhiều lợi ích và ngày càng được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau.  Lợi ích của “procademic”  Từ góc nhìn của của người làm thực tế, việc phối hợp với giới nghiên cứu trong cùng lĩnh vực hoặc lĩnh vực có liên đới mang lại một số lợi ích. Thứ nhất, người làm thực tế gắn liền với nghiên cứu giữ được và phát triển các mối quan hệ (network) trong lĩnh vực của mình. Việc duy trì và phát triển các mối quan hệ nghề nghiệp là quan trọng ở bất kỳ ngành nghề nào, nhất là trong việc mở rộng các cơ hội hợp tác hay việc làm. Thứ hai, thông qua các hợp tác trao đổi về học thuật như cùng thực hiện đề tài nghiên cứu, tham gia hội thảo chuyên ngành, giúp những người làm thực tế luôn cập nhật được những xu hướng nghiên cứu mới hoặc những giải pháp mới. Ví dụ như trong lĩnh vực kinh tế tài chính, nhiều hội thảo lớn 2 có sự tham gia của các nhà nghiên cứu đến từ các ngân hàng trung ương, các cơ quan kinh tế của chính phủ, các định chế tài chính tư nhân lớn như ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư. Còn các hội nghị trong nhóm IEEE, luôn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu của giới công nghiệp. Thứ ba, việc hợp tác với các trường đại học nghiên cứu thông qua các dự án giúp cho người làm thực tế có một kênh để phát triển nguồn nhân lực. Các dự án đều có sự tham gia của các sinh viên hoặc các nhà nghiên cứu trẻ, đây là nguồn nhân lực có chất lượng tốt cho doanh nghiệp hay tổ chức khi họ có nhu cầu.  Từ góc nhìn của người nghiên cứu, việc hợp tác với những người làm thực tế (industry), cũng là cơ chế win-win. Trước hết, bản thân người làm nghiên cứu thuần túy ở đại học khi hợp tác nghiên cứu với bên ngoài, không chỉ phát triển mạng lưới quan hệ cho bản thân mà còn cho cả nơi mình đang công tác. Người làm nghiên cứu có quan hệ tốt và nhiều với giới công nghiệp sẽ là cầu nối giúp sinh viên trong việc tìm nơi thực tập hoặc việc làm. Lý do tiếp theo, những dự án hợp tác với bên ngoài giúp cho người làm nghiên cứu thuần túy tiếp cận với thực tế nhiều hơn, điều này không chỉ có ích trong việc nâng giá trị hồ sơ cá nhân, mà còn giúp cho các bài giảng sinh động và thực tế hơn. Ngay như cựu Bộ trưởng Đại học Anh Quốc David Willets cũng thừa nhận nhiều sinh viên của Anh thiếu thực tế và không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.3  Ông còn đưa ra một ví dụ là một công ty năng lượng có thể giao việc ngay lập tức cho một sinh viên Đức mới tốt nghiệp, trong khi với sinh viên Anh thì không. Lý do thứ ba, cũng không kém phần quan trọng của việc hợp tác nghiên cứu với bên ngoài, là giúp người làm nghiên cứu thuần túy có thêm thu nhập cũng như hoàn thiện các kỹ năng mềm. Việc hợp tác với giới công nghiệp qua dự án giúp phát triển các kỹ năng như quản lý dự án, quản lý thời gian, làm việc nhóm, marketing, đàm phán v.v… cho người làm nghiên cứu.  Để thúc đẩy “procademic”  Sự giao hòa giữa giới hàn lâm và công nghiệp4  trước hết xuất phát từ sự nỗ lực liên tục của từng cá nhân. Động lực phát triển của chính bản thân người làm nghiên cứu trong trường đại học và người làm nghiên cứu trong công nghiệp là nền tảng cho sự phát triển “procademic”. Tuy vậy, sự giao hòa này cần nhiều hỗ trợ và xúc tác từ các tổ chức có liên quan: giới công nghiệp, trường đại học, và chính phủ.  Theo GS Ngô Quang Hưng 5, giữa giới công nghiệp và hàn lâm thiếu một sự giao lưu ý tưởng và niềm tin. Không phải tất cả các doanh nghiệp, tổ chức có điều kiện triển khai R&D đều chủ động tìm đến các trường đại học hay các hội nghị, hội thảo khoa học. Thậm chí, nhiều nơi còn e dè trước những lời ngỏ hợp tác từ phía trường đại học. Trong xu hướng phát triển nhanh của nền kinh tế tri thức, thiếu đầu tư vào R&D khi có điều kiện sẽ làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp hay tổ chức. Những doanh nghiêp hay tổ chức lớn cần có những người làm cầu nối với những kết quả mới trong nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kỹ thuật, quản lý, tài chính, marketing v.v…  Về phía trường đại học, cần tạo điều kiện tốt nhất có thể cho các giảng viên hợp tác với các dự án nghiên cứu bên ngoài, nhất là các việc liên quan đến thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, có cơ chế khuyến khích động viên với những giảng viên tìm được nguồn tài trợ nghiên cứu từ giới công nghiệp thông qua những ghi nhận thiết thực cụ thể như trong xem xét đãi ngộ, thăng tiến trong nghề nghiệp.  Một nhân tố cuối nhưng rất quan trọng là vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy “procademic” phát triển. Những chính sách của chính phủ liên quan về thuế, tài chính có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển hoạt động R&D và từ đó là “procademic”. Chẳng hạn những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, tài trợ tín dụng cho hoạt động R&D sẽ khuyến khích doanh nghiệp tích cực hơn. Ví dụ như ở Pháp, hoạt động R&D được hỗ trợ qua tín dụng thuế cho nghiên cứu (crédit impôt recherche), khi một phần thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn trả qua hoạt động R&D. Khoản tài trợ này là khá lớn với các doanh nghiệp lớn, lên đến hàng triệu euros, từ đó hình thành các dự án phối hợp nghiên cứu giữa doanh nghiệp và trường đại học.  Như vậy, sự giao hòa giữa học thuật và ứng dụng trong điều kiện thuận lợi đem lại lợi ích cho nhiều bên, từ giới hàn lâm, giới công nghiệp, doanh nghiệp, trường đại học, và xa hơn là cộng đồng khi những thành tựu mới sớm đưa vào ứng dụng. Muốn như vậy, mỗi bên đều cần liên tục cố gắng, vì nói cho ngay, quyết định cuối cùng vẫn là củamột người hay vài người. Nhiều khi vì không vượt qua được “cái tôi” mà sự phát triển chung bị gián đoạn hay bị vụt mất cơ hội.  ——————————————————–  1.  Procademic = Professional + Academic. Procademic còn có nghĩa là giảng viên là người có kinh nghiệm thực tế, theo tiêu chuẩn giảng viên của AACSB.  2. http://risk2016.institutlouisbachelier.org/?lng=EN  3. http://www.telegraph.co.uk/education/universityeducation/10373099/Students-lacking-real-life-experience-warns-Willetts.html   4. Hiểu theo nghĩa là ngành nghề   5. http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Nghien-cuu-va-phat-trien-o-dai-hoc-Mot-vai-de-xuat-10092          Author                Võ Đình Trí        
__label__tiasang Protein có thể lưu trữ dữ liệu số      Giáo sư Tetsuro Majima, ĐH Osaka (Nhật), cho biết Protein có thể được sử dụng để lưu trữ dữ liệu máy tính điện tử.       Khả năng lưu trữ dữ liệu của Protein còn vượt qua mọi công nghệ lưu trữ từ tính và quang học hiện đang được ứng dụng rộng rãi. Các nhà khoa học Nhật Bản đã sử dụng một loại Protein huỳnh quang đặc biệt để “in” dữ liệu lên một mặt kính. Quá trình “in dữ liệu” kéo dài trong khoảng một phút. Sử dụng kết hợp ánh sáng và các hóa chất có thể dễ dàng đọc lại hoặc xóa bỏ “các dữ liệu” đó. Công nghệ lưu trữ bằng Protein còn có thể được ứng dụng để tăng cường hiệu quả của kiểm soát sinh trắc học và thử nghiệm y tế tự động.   T.Dũng (Theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Proton nhẹ hơn ta tưởng      Trong công bố mới đây của các nhà vật lý Viện Max Planck tại Heidelberg, CHLB Đức trên tạp chí Physical Review Letter, khối lượng proton xấp xỉ 1.007276466583 đơn vị khối lượng nguyên tử, nghĩa là nhỏ hơn quãng 30 phần tỷ của 1% giá trị trung bình của những thí nghiệm trước – sự sai khác tưởng chừng rất nhỏ bé này lại có một ý nghĩa thực sự quan trọng.      Mô hình cho thấy proton và neutron trong một hạt nhân nguyên tử  Proton rất nhẹ – chỉ bằng một phần vài tỷ của một phần tỷ kilogram – tức rất khó để xác định khối lượng bằng những phương pháp đo thông thường. Gần đây, các nhà vật lý Viện Max Planck tại Heidelberg, CHLB Đức đã nghiên cứu và chế tạo thành công một thiết bị điện từ trường mạnh mẽ, được gọi là ống thu nơ-ron (Penning trap), giúp đo khối lượng proton chính xác hơn. Trong thí nghiệm này, một điện trường và từ trường được chụp quanh proton và lực từ trường sẽ khiến cho proton di chuyển theo quỹ đạo tròn. Trong quá trình đó, proton sẽ rung lắc hay dao động, ở một tần số có quan hệ tới khối lượng của nó. Như vậy, những nhà nghiên cứu có thể tính toán khối lượng proton bằng cách đo tần số này và so sánh với những kết quả tham khảo khác, chẳng hạn như hạt nhân nguyên tử đồng vị Carbon-12, được định nghĩa có khối lượng bằng 12 đơn vị (ký hiệu là u hay Da).    Nhà vật lý Edmund Myers tới từ Đại học bang Florida (Mỹ), người không tham gia vào nghiên cứu này nói: “Phát hiện này là một bước tiến đáng kể trong nhận thức của chúng ta về khối lượng của hạt cơ bản như proton”.  Tuy nhiên, lực từ trường luôn biến thiên theo không gian và thời gian nên có thể gây ra những sai số trong các phép đo rất nhỏ. Để hạn chế ảnh hưởng của sự biến động này, một nhóm các nhà khoa học tại Mainz, Đức, đã bắn những hạt nhân nguyên tử carbon và proton vào những ống thu nơ-ron riêng biệt, sau đó hoán vị chúng (vào ra, thay đổi vị trí) với tốc độ thật nhanh. Trong những thí nghiệm trước, việc hoán vị hạt nhân và proton cần hơn 30 phút, nhóm nghiên cứu này chỉ cần có 3 phút – điều này giúp giới hạn sai số tới mức đáng kể khi cộng gộp các kết quả. Nhóm nghiên cứu cũng đưa thêm máy dò chuyển động trong thí nghiệm, đem tới một kết quả đo chính xác hơn của 32 trên một nghìn tỷ hạt.  Kết quả đo cho thấy, khối lượng proton xấp xỉ 1.007276466583 đơn vị khối lượng nguyên tử. Con số này nhỏ hơn quãng 30 phần tỷ của 1% giá trị trung bình của những thí nghiệm trước – sự sai khác tưởng chừng rất nhỏ bé này lại có một ý nghĩa thực sự quan trọng, bởi 3 giá trị độ lệch chuẩn, kết quả này cũng đã được công bố trên tạp chí Physical Review Letter. (Để so sánh, những nhà khoa học thường coi 2 giá trị lệch chuẩn là đã đủ cho kết quả thí nghiệm có những sai khác thống kê đáng kể).  TS. Sven Sturm ở Trung tâm Vật lý Nguyên tử, Viện Max Planck, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết ông vẫn chưa rõ tại sao những nghiên cứu trước đây lại cho kết quả với giá trị lớn hơn nhiều đến vậy và hoài nghi có lẽ còn những nguyên nhân khác dẫn tới sai sót chưa được phát hiện. Ông nói thêm, dẫu vậy kết quả thu được do nhóm của ông thực hiện, tỏ ra dễ được chấp nhận hơn, với kết quả mới đây nhất cho khối lượng của nguyên tử Helium-3, vốn được cấu tạo bao gồm 2 proton và 1 neutron.       Nhóm nghiên cứu đang có tham vọng đạt được kết quả đo chính xác hơn, đồng thời với những proton và ion carbon trong những ống thu nơ-ron khác nhau. Một thành viên khác trong nhóm cho biết, họ sẽ cố gắng để có thể đo được khối lượng phản proton (anti-proton) – hạt giống hệt proton nhưng mang điện tích âm (-). Sự khác biệt nếu có, dù là nhỏ nhoi giữa khối lượng của proton và phản proton, thậm chí có thể giúp lý giải tại sao vũ trụ mà chúng ta biết được cấu tạo chủ yếu bởi vật chất, còn phản vật chất thì cực kỳ hiếm.      Thế Hải lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/07/surprise-proton-lighter-we-thought                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Proust giữa những cỗ máy      Trong cuộc đời mình, chúng ta có thể chứng kiến máy tính tiệm cận với trí thông minh của loài người. Nhưng liệu chúng có những trải nghiệm có ý thức về thế giới?     Sớm hay muộn thì cuối cùng các máy tính cũng có thể đạt được mức trí tuệ của người bình thường.  Viễn cảnh về khả năng suy nghĩ của máy tính tiệm cận với chúng ta đang mở ra nhanh chóng. Chúng ta cảm thấy những thuật toán học máy ngày một quyền năng đang thở sau gáy chúng ta.  Những tiến bộ nhanh chóng trong các thập niên tới sẽ mang lại những cỗ máy với trí tuệ ngang ngửa con người, có khả năng nói và lập luận, với vô số đóng góp cho kinh tế, chính trị, và tất nhiên, chiến tranh. Sự ra đời của trí tuệ nhân tạo sống động như đồ thật sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên tương lai của loài người, bao gồm cả tương lai mà loài người không còn nữa.  Câu trích dẫn dưới đây cho ta một ví dụ tốt:  “Ở thời điểm đột phá vĩ đại cuối cùng của trí tuệ nhân tạo trong thập niên 1940, các nhà khoa học trên khắp thế giới lúc đó đã tìm kiếm đủ mọi cách để mài giũa thứ ‘trí tuệ nhân tạo’ này nhằm cải tiến công nghệ vượt xa cả những gì mà những chương trình trí tuệ nhân tạo tinh vi nhất hiện nay có thể đạt tới”.  “Thậm chí hiện nay, người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu để hiểu sâu hơn những chương trình AI mới làm được những gì, dù cũng chỉ xoay quanh giới hạn của công nghệ hiện tại. Phần lớn các chương trình AI mới chỉ lập trình giới hạn trong việc đưa ra các quyết định đơn giản hoặc các thao tác đơn giản trên một lượng dữ liệu nhỏ”.    Trí tuệ và trải nghiệm là kết quả tất yếu của khả năng suy luận nhân quả trong bộ não của chúng ta. Tiền đề đó vô cùng giá trị đối với giới khoa học trong vài thế kỷ qua.    Hai đoạn văn này được GPT-2 viết, một bot ngôn ngữ mà tôi thử mùa hè năm ngoái. Được một viện nghiên cứu đặt tại San Francisco chuyên về AI thương mại, Open AI, phát triển, GPT-2 là một thuật toán học máy với một nhiệm vụ dường như ngớ ngẩn: với một đoạn văn bản ngẫu nhiên, nó phải dự đoán từ tiếp theo. Nó không được dạy để “hiểu” câu chữ theo cách của loài người. Thay vào đó, trong giai đoạn được huấn luyện, AI này tự điều chỉnh những liên kết nội bộ trong mạng neuron mô phỏng của nó để dự đoán chính xác từ tiếp theo, và cứ như thế với các từ sau đó nữa. Dữ liệu huấn luyện nó đến từ tám triệu trang web, cấu trúc bên trong của nó có chứa tới hơn một tỉ kết nối mô phỏng theo các xynap – điểm kết nối giữa các neuron. Khi tôi nhập vào một vài câu đầu tiên của bài báo này, thuật toán đã trả lại hai đoạn văn kia, giống như một sinh viên năm nhất vừa mơ màng, vừa cố nhắc lại lời giảng về nhập môn học máy trên lớp. Kết quả ban đầu chứa tất cả những từ và cụm từ phù hợp – thật sự không tệ! Nhưng lần thứ hai thì lại có vẻ khác.        Các bot này rồi sẽ sản sinh ra một loạt những nhận xét sản phẩm và tin tức deepfake (tạm dịch là: “giả như thật”), làm đầy lên những thứ độc hại trên internet. Bên cạnh những việc như chơi game chiến thuật, dịch văn bản, đưa ra gợi ý về sách vở và phim ảnh, nhận diện gương mặt người, đây rồi sẽ là một ví dụ nữa về việc máy làm được những việc vốn chỉ thuộc về con người.  Học máy sẽ cần nhiều những bước tiến vượt bậc hơn nữa trước khi một thuật toán có thể viết một kiệt tác mạch lạc như Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, nhưng khả năng thì rõ ràng rồi. Nhớ lại tất cả buổi đầu của những nỗ lực tạo ra máy tính chơi trò chơi điện tử, máy tính dịch thuật, ta thấy chúng hết sức vụng về và khôi hài vì quá lởm khởm. Nhưng sự ra đời của mạng neuron sâu và hạ tầng tính toán khổng lồ của nền công nghiệp công nghệ, máy tính liên tục tự cải tiến mình cho đến khi kết quả của chúng trở nên thuyết phục. Như chúng ta đã thấy với cờ vây, cờ vua và poker, các thuật toán ngày nay có thể thắng con người, và khi ấy, sự cười cợt ban đầu của chúng ta chuyển thành sự sửng sốt. Chúng ta có giống những phù thủy tập sự của Goethe, đã triệu hồi những linh hồn giúp việc mà giờ đây lại mất kiểm soát chúng không?  Sẽ cần nhiều những bước tiến vượt bậc để một thuật toán có thể viết một kiệt tác như “Đi tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust.  NHẬN THỨC NHÂN TẠO  Mặc dù nhiều chuyên gia bất đồng với nhau về nguyên nhân cấu tạo nên nhận thức, tự nhiên hay theo cách thức nào khác, nhưng hầu hết họ đều chấp nhận rằng, sớm hay muộn thì các máy tính cũng đạt được mức trí tuệ của người bình thường, tức là hiểu, học và thao tác trí tuệ cơ bản khác. Giới công nghệ gọi đây là Trí tuệ chung nhân tạo – AGI.  Càng nghĩ đến trí tuệ của máy móc, thì ta càng sinh ra những câu hỏi khó có câu trả lời: Nếu đạt đến AGI thì máy tính có cảm nhận, cảm xúc, cảm giác gì không? Liệu những chiếc máy tính lập trình được có thể có nhận thức không?  Với từ “nhận thức” hay “cảm nhận chủ quan”, tôi muốn nói đến đặc tính cố hữu trong trải nghiệm của một người bất kỳ – chẳng hạn như vị ngon ngọt của mứt Nutella, cái đau nhói của một chiếc răng sâu, sự chậm rãi của thời gian khi người ta buồn chán, hoặc cảm nhận về sức mạnh và nỗi lo âu ngay trước một cuộc thi. Theo nhà triết học Thomas Nagel, ta có thể nói một hệ thống có nhận thức nếu hệ thống đó biết mình muốn trở thành như thế nào.  Hãy nghĩ tới cảm nhận xấu hổ khi đột nhiên nhận ra bạn vừa lỡ lời, rằng ý đùa cợt của bạn bị hiểu thành lời xúc phạm. Liệu máy tính có thể trải nghiệm những cảm xúc phát rồ ấy không? Khi bạn đang gọi điện thoại, chờ đợi hết phút này tới phút khác, và một giọng tổng hợp ngâm nga, “Xin lỗi vì để bạn phải chờ,” liệu phần mềm có thực sự cảm thấy có lỗi vì đã giữ bạn lại trong địa ngục dịch vụ khách hàng?    Các trạng thái nhận thức nảy sinh từ cách thuật toán khu trung tâm xử lý những tín hiệu cảm biến đầu vào, cử động đầu ra thích hợp và những biến nội tại liên quan đến trí nhớ, động lực và kỳ vọng. Xử lý toàn cục như vậy chính là nhận thức.    Không có mấy nghi ngờ rằng trí tuệ và trải nghiệm là kết quả tất yếu của khả năng suy luận nhân quả trong bộ não của chúng ta. Tiền đề đó vô cùng giá trị đối với giới khoa học trong vài thế kỷ qua. Bộ não nặng 1,2kg, có hình thái như đậu phụ của chúng ta là khối vật chất hoạt động có tổ chức phức tạp nhất trong vũ trụ đã biết. Chúng ta vẫn chưa hiểu hoàn toàn khả năng suy luận nhân quả của bộ não, nhưng vẫn trải nghiệm nó hằng ngày – một nhóm các neuron được kích hoạt khi bạn thấy các màu sắc, trong khi các tế bào đang gửi đi các xung điện vào một khu vực lân cận khác của vỏ não gắn với việc đang có tâm trạng vui vẻ.  Với nền tảng các giả định rộng như vậy, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo ngụ ý điều gì về khả năng của nhận thức nhân tạo?  Câu hỏi này dẫn chúng ta đến một con đường vô số ngã rẽ với hai đích đến khác nhau. Suy nghĩ của thời đại này, như được thể hiện trong các tiểu thuyết và bộ phim như Blade Runner, Her và Ex Machina, là một tương lai giả định rằng những cỗ máy thực sự thông minh sẽ có cảm xúc; chúng sẽ nói, lập luận, tự kiểm soát và tự vấn. Chúng có thể tự nhận thức.  Con đường này là sự cô đọng của lý thuyết không gian hoạt động thần kinh toàn cục (global neuronal workspace – GNW), một trong những lý thuyết khoa học nổi bật về nhận thức. Lý thuyết này bắt đầu với não bộ và phỏng đoán rằng một vài đặc điểm cấu trúc riêng biệt của nó là những thứ khởi sinh nhận thức.  Một cảnh trong phim “Westworld.”  Nó có nguồn gốc từ “cấu trúc bảng đen” của khoa học máy tính trong thập niên 1970, trong đó nhiều chương trình chuyên biệt được tỏa đi từ một nguồn thông tin chung, gọi là bảng đen, hay khu vực trung tâm. Các nhà tâm lý học đặt ra định đề rằng tồn tại một nguồn xử lý như vậy trong não bộ và nó đóng vai trò trung tâm trong việc nhận thức của con người. Dung lượng của nó thì nhỏ, nên một lúc thì chỉ có một đối tượng tri giác, suy nghĩ, hay ký ức đơn lẻ nằm trong không gian hoạt động. Thông tin mới cạnh tranh và thay thế chỗ của thông tin cũ.  Nhà khoa học nhận thức Stanislas Dehaene và nhà sinh học phân tử Jean-Pierre Changeux, đều ở Collège de France ở Paris, đã phóng chiếu các ý tưởng này vào cấu trúc của vỏ não, lớp ngoài cùng của chất xám. Hai tấm vỏ não gấp mạnh, một ở bên trái và một ở bên phải, với kích thước và độ dày bằng một chiếc pizza loại đường kính 30cm, được nhồi vào trong một chiếc sọ bảo vệ.  Dehaene và Changeux giả định rằng khu trung tâm đó được đại diện bởi một mạng lưới các neuron hình chóp tỏa đi tới những vùng vỏ não trải rộng, đặc biệt là phần thùy trán trước, đỉnh thái dương, và những khu vực kết nối đường giữa.  Phần lớn các hoạt động của não bộ đều mang tính cục bộ. Nhưng khi một hay nhiều khu vực hoạt động vượt ngưỡng – chẳng hạn như khi ai đó được xem ảnh một bình mứt Nutella – nó khởi phát một tín hiệu, một làn sóng kích thích thần kinh lan tỏa qua khu trung tâm, truyền đi khắp não. Cách truyền tín hiệu như vậy tạo ra khả năng lưu trữ một loạt các quá trinh phụ trợ như ngôn ngữ, lập kế hoạch, khoái cảm, lục lại trí nhớ dài hạn, và lưu giữ kí ức vào bộ nhớ đệm ngắn hạn. Hoạt động truyền dẫn toàn cục thông tin này là điều thể hiện nhận thức. Trải nghiệm không thể bắt chước với mứt Nutella được cấu thành từ sự kiện những nơron hình chóp kết nối với vùng lên kế hoạch của não – kích thích chúng ta cầm lấy thìa để xúc thứ mứt phết đó lên. Trong khi đó những môđun khác truyền dẫn thông điệp chờ đợi một khoái cảm dưới dạng hormone dopamine dồn dập sinh ra do hàm lượng chất béo và đường cao của Nutella.    Nếu các máy tính trải nghiệm được cuộc sống nhờ những giác quan của chúng, chúng không còn là một công cụ thuần túy, được định nghĩa bởi sự hữu dụng với con người nữa. Chúng tự quyết định vận mệnh của chính mình.    Các trạng thái nhận thức nảy sinh từ cách thuật toán khu trung tâm xử lý những tín hiệu cảm biến đầu vào, cử động đầu ra thích hợp và những biến nội tại liên quan đến trí nhớ, động lực và kỳ vọng. Xử lý toàn cục như vậy chính là nhận thức. Lý thuyết GNW hoàn toàn bao quát những câu chuyện thần kỳ về sức mạnh gần như vô hạn của máy tính. Nhận thức chỉ là một phần khéo léo của nó.  NĂNG LỰC SUY LUẬN NHÂN QUẢ NỘI TẠI  Con đường thứ hai – lý thuyết thông tin tích hợp (IIT) – chọn một cách tiếp cận căn bản hơn để giải thích nhận thức.  Giulio Tononi, một nhà tâm lý và thần kinh học ở Đại học Wisconsin-Madison, là tác giả của IIT. Lý thuyết này bắt đầu với trải nghiệm và tiếp tục từ đó tới bước kích hoạt những mạng xy náp quyết định “cảm nhận” của chúng ta về trải nghiệm đó. Thông tin tích hợp là thước đo năng lực suy luận nhân quả của một số cơ chế. Các neuron kích thích những hoạt động tiềm năng, tác động đến những tế bào cấp dưới được cuộn một lớp xynap bên ngoài, là một cơ chế, như một mạch điện, làm từ các bóng bán dẫn, điện dung, điện trở và dây dẫn.  Năng lực suy luận nhân quả nội tại không phải một khái niệm bay bổng mơ mộng mà có thể được định giá chính xác cho bất cứ hệ nào. Trạng thái hiện tại của hệ thống càng chỉ rõ nguyên nhân (thông tin đầu vào) và kết quả (thông tin đầu ra) của nó thì năng lực suy luận nhân quả của nó càng mạnh.  IIT giả định rằng bất cứ cơ chế nào với năng lực nội tại, mà trạng thái của nó vừa mang nặng quá khứ vừa sản sinh ra tương lai của nó, thì có nhận thức. Thông tin tích hợp vào hệ thống (một số không âm, ký hiệu bằng Φ) càng nhiều, thì hệ thống càng nhận thức tốt. Nếu thứ gì đó không có năng lực suy luận nhân quả thì Φ của nó bằng 0; nó không cảm thấy gì cả.  Với sự không đồng nhất của các neuron thuộc vỏ não và tập hợp thông tin đầu ra và đầu vào chồng chéo dày đặc, lượng thông tin tích hợp trong vỏ não là cực lớn. Lý thuyết này đã truyền cảm hứng cho việc xây dựng một thước đo nhận thức hiện đang được kiểm định lâm sàng, một công cụ xác định xem liệu người ta có chìm hẳn vào trạng thái thực vật hay đang chỉ có nhận thức ở mức tối thiểu, hôn mê hay có nhận thức nhưng không thể giao tiếp, hay “vô hồn”. Khi phân tích năng lực suy luận nhân quả của những máy tính kỹ thuật số được lập trình ở thang đo các thành phần kim loại của chúng – các bóng bán dẫn, dây điện và điốt với vai trò nền tảng vật lý cho bất cứ tính toán nào – lý thuyết chỉ ra rằng năng lực suy luận nhân quả nội tại và Φ của chúng là rất nhỏ. Hơn thế nữa, Φ độc lập với phần mềm chạy trên bộ vi xử lý, bất kể máy tính đang tính thuế hay đang mô phỏng não bộ.  Thật vậy, lý thuyết chứng minh rằng hai hệ thống thực hiện cùng một thao tác đầu ra – đầu vào nhưng có những hệ thống được cấu hình khác nhau sẽ có Φ khác nhau. Một mạng có thể có Φ bằng không, trong khi mạng khác có thể cho thấy Φ cao. Mặc dù bề ngoài chúng y hệt nhau, nhưng một hệ thống trải nghiệm cái gì đó khác trong khi hệ kia không cảm nhận thấy gì. Khác biệt nằm ở cái chúng ta không nhìn thấy, trong các dây dẫn bên trong hệ thống. Nói ngắn gọn, nhận thức là về bản thể không phải về hoạt động.  Sự khác biệt giữa các lý thuyết này là GNW nhấn mạnh vào chức năng não người để giải thích nhận thức, trong khi IIT khẳng định rằng năng lực suy luận nhân quả nội tại của não mới là cái cần quan tâm.  Sự khác biệt này này thể hiện qua việc xem xét kỹ lưỡng bản đồ tổng thể các liên kết thần kinh trong não – connectome, chi tiết hệ thống dây nhợ xynap bao quanh toàn bộ hệ thống thần kinh. Các nhà giải phẫu vốn đã lập bản đồ connectome của một vài loại sâu. Họ đang làm việc với connectome của ruồi giấm, và dự định làm chuột trong thập niên tới. Giả như trong tương lai chúng ta có thể quét toàn bộ não người với khoảng 100 tỉ neuron và hàng 100 nghìn triệu triệu xynap, ở thang siêu cấu trúc sau khi chủ nhân của nó qua đời và sau đó mô phỏng cơ quan này trên một máy tính tân tiến nào đó, có thể là một máy tính lượng tử. Nếu mô hình này đủ tin cậy, thì mô phỏng này sẽ thức tỉnh và hành xử như một phiên bản kỹ thuật số của người đó – nói và tiếp cận ký ức của người đó, khao khát, sợ hãi và một số đặc điểm khác.  Nếu sao chép chức năng của bộ não là tất cả những gì cần để tạo ra nhận thức, như GNW giả định, người được mô phỏng sẽ có nhận thức, đầu thai vào một máy tính. Thực ra, việc tải connectome lên một máy chủ trên mạng nhờ đó người ta có thể tiếp tục sống một kiếp sau kỹ thuật số là một hình ảnh thường thấy trong khoa học viễn tưởng.  Tuy nhiên, IIT đề xuất một cách giải thích căn bản khác biệt cho tình huống này: bản mô phỏng sẽ không gì cả. Nó sẽ thể hiện như một con người nhưng không có cảm xúc nội tại nào, một zombie – một deepfake tột bậc.  Để tạo ra nhận thức, cần phải có các năng lực suy luận nhân quả của não. Và những năng lực ấy  không thể được mô phỏng mà phải là một đặc điểm của vật lý của cơ chế ẩn sau đó.  Để hiểu tại sao mô phỏng vẫn chưa đủ, bạn hãy tự hỏi tại sao mình không bao giờ bị ướt trong một mô phỏng thời tiết của một cơn mưa giông hay tại sao các nhà vật lý thiên văn có thể mô phỏng trường hấp dẫn khổng lồ của một lỗ đen mà không lo bị không thời gian uốn cong quanh máy tính của mình nuốt chửng. Câu trả lời là: bởi vì một bản mô phỏng không có năng lực tư duy để tạo ra hơi nước ngưng tụ lại thành nước hay khiến không thời gian uốn cong! Tuy nhiên, về nguyên lý, có thể đạt tới trình độ nhận thức của con người bằng cách chế tạo một thứ gọi là phần cứng mô phỏng não người (neuromorphic), dựa trên một cấu trúc được xây dựng nhờ hình ảnh hệ thống thần kinh.  Còn có những khác biệt khác giữa những tranh cãi về các bản mô phỏng. IIT và GNW dự đoán rằng các khu vực khác nhau của vỏ não tạo thành nền tảng vật lý cho một số trải nghiệm nhận thức cụ thể, với một tâm nhận thức nằm ở phần phía trước hoặc sau của vỏ não. Các dự đoán đang được thử nghiệm qua sự cộng tác vĩ mô của sáu phòng thí nghiệm ở Mỹ, châu Âu, và Trung Quốc, vốn đã nhận 5 triệu USD tài trợ từ Quỹ Từ thiện thế giới Templeton.  Liệu máy móc có thể có tri giác hay không là câu hỏi quan trọng vì nhiều lý do đạo đức. Nếu các máy tính trải nghiệm được cuộc sống nhờ những giác quan của chúng, chúng không còn là một công cụ thuần túy, được định nghĩa bởi sự hữu dụng với con người nữa. Chúng tự quyết định vận mệnh của chính mình.  Với GNW, họ chuyển từ những vật thể thuần túy tới người – mỗi đối tượng tồn tại như một cái “tôi” – với một quan điểm. Tình thế khó xử này xuất hiện trên các chuỗi phim truyền hình đầy thuyết phục Black Mirror và Westworld. Một khi những khả năng nhận thức của các máy tính cạnh tranh với những khả năng ấy của con người, sự thôi thúc nhằm đòi hỏi các quyền hợp pháp và chính trị của chúng sẽ trở nên không thể cưỡng lại nổi – quyền không bị xóa bỏ, không bị xóa trắng ký ức, không chịu đau đớn và hạ cấp. Quan điểm khác của IIT là các máy tính sẽ vẫn chỉ là những cỗ máy siêu phức tạp, những lớp vỏ ma quái, thiếu đi cái mà chúng ta đánh giá cao nhất: cảm nhận về cuộc sống. □  Nguyễn Duy Khánh dịch  Nguồn: https://christofkoch.files.wordpress.com/2019/12/proust-among-the-machines-19.pdf    Author                .        
__label__tiasang Quả bóng đá C60 và ống Nano Carbon      Nhà vật lý học nổi tiếng Richard Feynman trong một bài thuyết trình năm 1959 qua câu nói vừa nghiêm túc vừa hài hước”There’s plenty of room at the bottom” (Có rất nhiều chỗ trống ở miệt dưới) đã tiên đoán vùng tận cùng của nguyên tử và phân tử vẫn còn là những vùng phì nhiêu bát ngát chờ đợi con người đến thao túng khai hoang!    Tuy nhiên con người phải chờ đến 30 năm mới nhìn thấy sự bùng nổ của nền công nghệ nano chủ yếu sử dụng phương pháp “từ dưới lên”. Nền công nghệ này đang có tác động mạnh lên nền công nghệ “cổ điển” hiện tại và cũng là một động lực của những công trình nghiên cứu đa ngành (multi-discipline) bao gồm vật lý, hóa học, vật liệu học, sinh học, toán học, tin học…  Đằng sau công nghệ nano là những vật liệu nano, nổi tiếng nhất là hai dạng carbon: phân tử fullerene C60 có hình dạng trái bóng đá và ống nano carbon (carbon nanotube). Sự phát hiện của hai dạng carbon ở thập niên 80 và 90 ở thế kỷ trước có một trùng hợp thời điểm công nghệ nano ra đời và phát triển. Đối với một số nước, công nghệ nano và bộ môn fullerene/ống nanocarbon là ưu tiên quốc gia cho các đề án nghiên cứu và triển khai. Trong bài viết này chúng ta hãy nhìn xem có thật sự là con người đang đi vào một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mở ra một thời đại hoàng kim công nghệ chưa từng có trong lịch sử nhân loại? Và có thật sự là nền công nghệ silicon của thế kỷ 20 đang từ giã “cuộc hí trường” để được thay thế bởi nền công nghệ carbon?     Quả bóng đá C60        Cách đây mười năm cụm từ “công nghệ nano” (nanotechnology) ít được người biết đến, nhưng ngày hôm nay nó trở thành một thuật ngữ quen thuộc ở mọi giai tầng trong xã hội hiện đại. Nano là tiếng gọi tắt của nanometer (ký hiệu nm, 1 nm = 10-9 m hay là 0.000000001 m) là một đơn vị đo lường ở thứ nguyên nguyên tử hay phân tử. Công nghệ nano liên quan đến việc lợi dụng những hiện tượng ở đơn vị nanometer để thiết kế vật liệu và vật chất với những chức năng đặc biệt ngay từ thang (scale) nguyên tử hoặc phân tử. Người ta gọi đây là phương pháp thiết kế “từ dưới lên” (bottom-up method) khác với phương pháp thiết kế thông thường “từ trên xuống” (top-down method) đang được lưu dụng.        Năm 1985, một nhóm nghiên cứu bao gồm Harold Kroto (University of Sussex, Anh Quốc) và Sean O’Brien, Robert Curl, Richard Smalley (Rice University, Texas, Mỹ) đã khám phá ra một phân tử chứa 60 nguyên tử carbon, viết tắt là C60. Giáo sư Kroto là một nhà nghiên cứu hóa học thiên văn. Vào thập niên 70, ông đã có một chương trình nghiên cứu những chuỗi dài các nguyên tử carbon trong các đám mây bụi giữa các vì sao (interstellar dust). Ông liên lạc với nhóm của Curl và Smalley và dùng quang phổ kế laser của nhóm này để mô phỏng điều kiện hình thành của các chuỗi carbon trong các đám mây vũ trụ. Họ không những có thể tái tạo những chuỗi carbon mà còn tình cờ khám phá một phân tử rất bền chứa chính xác 60 nguyên tử carbon. Sự khám phá C60 đã chuyển hướng nghiên cứu của nhóm này từ chuyện tìm kiếm những thành phần của vật chất tối (dark matter) trong vũ trụ đến một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ liên hệ đến khoa vật liệu (Materials Science). Năm 1996, Kroto, Curl và Smalley được giải Nobel Hóa học cho sự khám phá này.  Sự khám phá của C60 cho carbon một dạng thứ tư. Sau khi nhận diện C60 từ quang phổ hấp thụ Kroto, Curl và Smalley bắt đầu tạo mô hình cho cấu trúc của C60. Trong quá trình này các ông nhanh chóng nhận ra rằng các nguyên tố carbon không thể sắp phẳng theo kiểu lục giác tổ ong của than chì, nhưng có thể sắp xếp thành một quả cầu tròn trong đó hình lục giác xen kẽ với hình ngũ giác giống như trái bóng đá. Phân tử mới này được đặt tên là buckminster fullerene theo tên lót và họ của kiến trúc sư Richard Buckminster Fuller. Ông Fuller là người sáng tạo ra cấu trúc mái vòm hình cầu với mô dạng lục giác. Người ta thường gọi C60 là fullerene hay là bucky ball.  Việc khám phá C60 đã làm chấn động hầu hết mọi ngành nghiên cứu khoa học. Đặc biệt đối với môn hóa học hữu cơ, nó đã tạo ra một nguồn sinh khí mới cho ngành nghiên cứu quá cổ điển này. Sự khám phá có tầm quan trọng hơn sự khám phá cấu trúc vòng nhân benzene của Kekule gần 150 năm trước. Benzene đã mở ra toàn bộ ngành hóa học của hợp chất thơm (aromatic compounds). C60 đã mở ra ngành “Hóa học fullerene” đi song song với sự phát triển của ngành công nghệ nano hiện nay.  Kroto, Curl và Smalley chỉ cho biết sự hiện hữu của C60, nhưng tổng hợp C60 cho việc nghiên cứu và ứng dụng phải đợi đến năm 1990 khi Krotschmer và Huffman đưa ra phương pháp tổng hợp với một sản lượng lớn. Nhờ vào phương pháp này, đến năm 1997 đã có hơn 9000 hợp chất dựa trên fullerene được tổng hợp, hơn 20.000 báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Những người nghiên cứu hóa hữu cơ thường có nhiều nỗi ám ảnh và niềm đam mê đối với những cấu trúc phân tử đối xứng và cấu trúc lồng (cage structure), nên fullerene trở thành một lĩnh vực nghiên cứu mầu mỡ trong bộ môn này. Họ tổng hợp những fullerene cao hơn C60 như C70 (70 nguyên tử carbon, hình bóng bầu dục), C84 (84 nguyên tử carbon, hình quả đậu phộng). Họ kết hợp những nhóm chức (functional group) để chức năng hóa (functionalization) fullerene, gắn fullerene vào polymer để tổng hợp những dược liệu hay vật liệu cho áp dụng quang điện tử.                    Lịch sử fullerene lâu đời hay non trẻ tùy vào hai cách nhìn khác nhau. Nghiên cứu fullerene thật ra rất ngắn, chỉ hơn 20 năm kể từ ngày khối phổ khí của Curl và Smalley cho biết sự hiện diện của C60 và C70, nhưng sự hiện hữu của fullerene có lẽ còn sớm hơn sự xuất hiện của loài người. Nó có trong những đám mây bụi trong vũ trụ, mỏ than, bồ hóng từ những ngọn nến lung linh hoặc những nơi khiêm tốn hơn như ở lò sưởi than, cái bếp nhà quê đen đui đủi vì nhọ nồi… Người ta không tìm được C60 vì hàm lượng rất nhỏ và thường bị than vô định hình phủ lấp.  Khi màn bí mật C60 được vén mở, người ta nghĩ ngay đến những áp dụng thực tiễn của C60. Người ta kết hợp C60 với potassium (K) để tạo ra chất siêu dẫn hữu cơ ở nhiệt độ 18 K (-256 C). Một số nhà nghiên cứu sinh học hy vọng có thể dùng C60 điều chế dược phẩm trị liệu bệnh AIDS. Trong vật lý, rất nhiều đề nghị áp dụng C60 để chế tạo những trang cụ (device) quang điện tử trong công nghệ cao. Tuy nhiên, trên mặt áp dụng các nhà khoa học thường mắc phải một căn bệnh chung là “lạc quan quá độ”. Cấu trúc tròn trịa, đối xứng của C60 đã được tạp chí Science tôn vinh là “phân tử của năm 1991”, nhưng cái xinh đẹp hấp dẫn không phải lúc nào cũng đưa đến kết quả thực tiễn hoàn mỹ.   Hai yếu tố làm C60 giảm tính thực tế là: (1) giá cả quá cao (giá cho 1 gram là vài trăm USD hoặc cao hơn cho tinh chất, so với giá vàng vào khoảng 10USD/g) và (2) C60 không hòa tan trong dung môi rất bất lợi cho việc gia công. Những hồ hởi ban đầu trong cộng đồng nghiên cứu khoa học dành cho fullerene bị dập tắt nhanh chóng vì những trở ngại này. Thậm chí ngay trong công nghệ “thấp”, chẳng hạn dùng C60 như một chất phụ gia (additives) cho dầu nhớt làm giảm độ ma sát vẫn không địch nổi về giá cả và hiệu quả của những chất phụ gia thông thường. Tuần báo The Economist có lần phê bình “Cuộc cách mạng công nghệ duy nhất mà quả bóng bucky đã thực hiện là… sản xuất ra những bài báo cáo khoa học!”  Nhưng viễn ảnh của C60 trong áp dụng công nghệ không đến nỗi tăm tối như các nhà bình luận kinh tế đã hấp tấp dự đoán. Sự kiên trì của những người làm khoa học lúc nào cũng cho thấy một niềm lạc quan của “những tia sáng ở cuối đường hầm”. Gần đây công ty Nano-C (Mỹ) tuyên bố khả năng sản xuất hàng tấn C60 cho giới công nghệ. Một nhà máy thí điểm tại Nhật đang có khả năng chế tạo 40 tấn hàng năm và sẽ lên đến vài trăm tấn khi nhà máy được nâng cấp. Phương pháp sản xuất hàng loạt sẽ làm giảm giá C60 đến mức 5USD/g và có thể 1USD/g trong một tương lai không xa. Đây là một bước nhảy vĩ đại so với những năm đầu ở thập niên 90 khi người ta chỉ thu lượm vài miligram C60 ở mỗi lần tổng hợp khó khăn và giá cho mỗi gram có lúc lên đến 1500USD/g. Nhà sản xuất dự đoán nhu cầu C60 sẽ tăng nhanh trong vài năm tới cho việc chế biến dược liệu, dầu nhớt cao cấp và mỹ phẩm trang điểm.      Khả năng áp dụng fullerene trong công nghệ cao liên quan đến quang học và quang điện tử đang được tích cực khảo sát ở nhiều cơ quan nghiên cứu trên thế giới. Tạp chí Journal of Materials Chemistry xuất bản một số đặc biệt tổng kết những thành quả mới nhất của nghiên cứu fullerene1. Một trong ứng dụng có tầm quan trọng đặc biệt là đặc tính photovoltaic của C60 tức là khả năng biến năng lượng mặt trời thành điện còn gọi là pin mặt trời. Loại pin này được chế tạo từ C60 và polymer dẫn điện (electrically conducting polymers). Mặc dù hiệu suất chuyển hóa năng lượng vẫn chưa bì kịp pin mặt trời silicon đang được phổ biến trên thương trường, loại pin mặt trời hữu cơ nầy sẽ cho những đặc điểm không có ở silicon như dễ gia công, giá rẻ, nhẹ, mỏng và mềm.    Ống Nano Carbon                  Kroto vì niềm đam mê tái tạo những chuỗi carbon dài trong các đám mây bụi vũ trụ đã tình cờ phát hiện ra fullerene. Sáu năm sau (1991), tiến sĩ Sumio Iijima một nghiên cứu viên của công ty NEC (Nhật Bản) cũng vì niềm đam mê tìm hiểu fullerene lại tình cờ phát hiện qua kính hiển vi điện tử ống nano carbon – “người em họ” của C602. Ngẫu nhiên này được nối tiếp với ngẫu nhiên khác. C60 có hình dạng quả bóng đá, nhưng ống nano carbon (gọi tắt: ống nano) giống như một quả mướp dài với đường kính vài nanometer (nm) và chiều dài có thể dài đến vài trăm micrometer (10-6 m), vì vậy có cái tên gọi “ống nano” (Hình 3). Với đường kính vài nm ống nano carbon nhỏ hơn sợi tóc 100 000 lần. Chỉ trong vòng vài năm từ lúc được phát hiện, “người em họ” cho thấy có rất nhiều ứng dụng thực tế hơn C60. Cấu trúc hình ống có cơ tính (mechanical properties) và điện tính (electrical/electronic properties) khác thường và đã làm kinh ngạc nhiều nhà khoa học trong các cơ quan nghiên cứu, đại học và doanh nghiệp trên thế giới. Ống nano có sức bền siêu việt, độ dẫn nhiệt cao (thermal conduction) và nhiều tính chất điện tử thú vị. Với một loạt đặc tính hấp dẫn này nhiều phòng nghiên cứu đã phải chuyển hướng nghiên cứu từ C60 sang ống nano.   Việc chế tạo ống nano có thể thực hiện bằng cách phóng điện hồ quang (arc discharge) hoặc dùng laser (laser ablation) trên một vật liệu gốc chứa carbon hoặc phun vật liệu này qua một lò ở nhiệt độ 800 – 1200 C (Chemical Vapour Deposition, CVD). Tùy vào điều kiện chế tạo và vật liệu gốc người ta có thể tổng hợp ống nano một vỏ (single-wall carbon nanotube, SWNT), vỏ đôi (double-wall carbon nanotube, DWNT) và nhiều vỏ (multi-wall carbon nanotube, MWNT). MWNT là một tập hợp của SWNT giống như con búp bê Nga (Russian doll) (Hình 6). Ống nano được Iijima phát hiện đầu tiên thuộc loại MWNT. Richard Smalley (Rice University) một lần nữa đã phát huy tài năng của mình qua phương pháp laser để chế tạo SWNT với hiệu suất rất cao. Phương pháp này đã được thương mại hóa để sản xuất SWMT cho công nghệ.        Trong việc quyết định trao giải Nobel, Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển đã quên mất công lao của giáo sư Eiji Osawa. Ông là người đầu tiên đã tiên đoán sự hiện hữu của C60 từ năm 1970. Sau này ông có nói: “Theo sự tính toán của tôi thì năng lượng hoạt tính của phản ứng tạo ra C60 rất cao. Tôi không thể hình dung được một chất xúc tác nào có thể hạ thấp năng lượng hoạt tính để phản ứng có thể xảy ra. Nhưng tôi đã hình dung được cấu trúc của nó trong một lần tôi nhìn đứa con trai của tôi đùa giỡn với trái bóng đá trong công viên gần nhà. Tôi cũng không nghĩ ra một phương tiện vật lý như dùng laser hoặc tia có năng lượng cao như nhóm Smalley đã làm để kích động phản ứng. Có một điều làm cho ông được an ủi phần nào là trong bài diễn văn nhận giải Nobel Kroto, Curl và Smalley đã đề cập đến thành quả tiên phong của ông.             Người ta đã định được độ bền (strength) và độ cứng (stiffness, modulus) của ống nano. Kết quả thí nghiệm cho thấy ống nano bền hơn thép 100 lần nhưng nhẹ hơn thép 6 lần. Như vậy, có thể nói là ống nano là một vật liệu có cơ tính cao nhất so với các vật liệu người ta biết từ trước đến nay. Tuy nhiên, một vấn đề lớn hiện nay cho các nhà vật liệu học (materials scientist) là làm sao xe những ống nano thành tơ sợi (nanotube fibres) cho những ứng dụng thực tế mà vẫn giữ được cơ tính tuyệt vời cố hữu của các ống nano tạo thành. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Ray Baughman (University of Texas, Mỹ)3 đã phát minh ra một quá trình xe sợi ống nano cho ra sợi với cơ tính cao hơn thép và tương đương với tơ nhện (spider silk). Tơ nhện được biết là một loại tơ thiên nhiên có cơ tính cao nhất trong các loại tơ sợi. Kinh nghiệm cho thấy một con ruồi bay với tốc độ cao nhất vẫn không bao giờ làm thủng lưới nhện. Nếu sự kiện này được phóng đại vài chục ngàn lần để sợi tơ nhện có đường kính bằng cây bút chì, sợi tơ có thể kéo ngược lại chiếc phi cơ 747 đang bay trên không! Mặc dù độ cứng của sợi ống nano do nhóm Baughman làm ra chỉ bằng 1/10 độ cứng của từng ống nano riêng lẻ, sợi Baughman vẫn chưa phải “siêu cứng” nhưng đã hơn hẳn Kevlar4 về sức bền và nếu điều kiện sản xuất hàng loạt cho phép nó có thể thay thế Kevlar dùng trong những chiếc áo giáp cá nhân chống đạn trong tương lai. Quá trình xe sợi của nhóm Baughman chứng tỏ khả năng chế tạo sợi ống nano với những cơ tính vĩ mô càng lúc càng gần đến cơ tính ở thang phân tử.   Với dạng hình ống dài và cơ tính lý tưởng, ống nano carbon được cho vào các loại polymer (plastic) để tạo những sản phẩm nano-composite. Thật ra, composite dùng những chất độn (filler) có hình dài để tăng cơ tính không phải là những gì mới lạ. Từ 6000 năm trước, nhân loại đã trộn bùn với rơm để làm gạch. Ở những vùng sâu vùng xa người dân vẫn còn dùng đất sét và rơm để làm tường. Hiện tại, chất độn kim loại hay ceramic là những vật liệu phổ biến được dùng trong polymer để tăng cường cơ tính thay thế kim loại. Người ta tin rằng ống nano carbon sẽ là một chất độn “tối thượng” cho polymer nano-composite. Vài phần trăm ống nano carbon có thể gia tăng độ bền, độ cứng và độ dai (toughness) của polymer (plastic) lên nhiều lần. Các công ty chế tạo ô tô đang triển khai polymer nano-composite cho các bộ phận xe hơi. Đặc điểm của các composite này là nhẹ và bền chắc. Công ty ô tô GM (Mỹ) dự trù sẽ dùng 500 tấn ống nano/năm trong vòng vài năm tới. Một cơ tính khác của ống nano đang được khảo sát hiện nay là đặc tính làm giảm sốc (shock damping), chống rung5. Tính chất rất quan trọng này sẽ mang đến những ứng dụng dân sự lẫn quốc phòng.  Điện tính và đặc tính điện tử của ống nano đã thu hút nhiều sự chú ý của các nhà vật lý và thiết kế điện tử vi mạch. Cũng nhờ vào dạng hình ống và các electron tự do pi trong ống, các electron tự do có thể tải điện nhưng ít chịu sự phân tán electron (ballistic conduction). Sự tán xạ electron là nguyên nhân điện trở gây ra sự phát nhiệt thường thấy ở chất bán dẫn hay kim loại. Nói một cách khác, ống nano có khả năng tải điện hữu hiệu vì ít phát nhiệt. Độ lớn của silicon chip hiện nay là 180 nm và cũng là giới hạn trong kỹ thuật làm chip hiện nay. “Độ lớn” 180 nm rất nhỏ (nhỏ hơn sợi tóc 500 lần) và hiệu năng tải điện của silicon càng giảm vì càng nhỏ sự phát nhiệt càng cao. Tuy nhiên 180 nm vẫn còn rất to so với đường kính vài nm của ống nano. Ở kích thước này ống nano vẫn còn có thể tải điện mà không sợ phát nhiệt.          Dù ở kịch bản nào, những linh kiện điện tử sẽ phải thu nhỏ đến thang phân tử. Phương pháp “từ trên xuống” sẽ được thay thế bằng phương pháp “từ dưới lên”. Chúng ta sẽ thấy transistor phân tử (molecular transistor), diode phân tử, tụ điện phân tử… Liệu lúc đó ống nano có là một vật liệu chủ yếu như silicon trong ngành vi điện tử (micro-electronics) hiện tại? Chúng ta hãy chờ xem.         Một đặc tính khác của ống nano là sự phát xạ trường (field emission). Khi điện thế được áp đặt vào một đầu của ống nano, đầu kia sẽ liên tục phát ra electron6. Đã có nhiều vật liệu hoặc trang cụ (thí dụ: ống tia âm cực- cathode ray tube) có đặc tính phát xạ trường nhưng ống nano có thể vận hành ở điện thế thấp, phát xạ trong một thời gian dài mà không bị tổn hại. Áp dụng trực tiếp của phát xạ trường là màn hình TV và vi tính. Đây là một công nghệ mang lại hàng tỉ đô la mỗi năm. Màn hình mỏng tinh thể lỏng đang thay thế dần các màn hình ống tia âm cực nặng nề, kềnh càng. Ống nano có thể làm màn hình mỏng hơn nữa, rõ nét và dùng điện 10 lần ít hơn. Đặc tính phát xạ trường của ống nano cho thấy khả năng thay thế màn hình tinh thể lỏng trong một tương lai gần mặc dù màn hình này hiện rất thông dụng và đang được ưa chuộng.    Ngoài ra, ống nano còn cho nhiều áp dụng khác chẳng hạn dùng trong bộ cảm ứng (sensor) để phát hiện ánh sáng, nhiệt, sóng điện từ hoặc những hóa chất độc hại với độ nhạy rất cao. Ống nano tự thân hoặc kết hợp với polymer dẫn điện để biến chế thành cơ bắp nhân tạo (artificial muscle, actuator). Cơ bắp nhân tạo là một mô phỏng của cơ bắp sinh vật biến đổi điện năng thành cơ năng; khi có một dòng điện chạy qua cơ bắp sẽ cho một tác lực. Cơ bắp nhân tạo là một trong những bộ phận quan trọng tạo thành con robot hoặc hệ thống cơ điện vi mô (microelectronic mechanical system, MEMS). Ống nano cũng có mặt trong sinh học. Một báo cáo khoa học gần đây cho biết tế bào xương rất tương thích (compatible) với ống nano7. Ống nano được sử dụng như giàn giáo (scaffold) để các tế bào xương tăng trưởng và phát triển. Phương pháp này có thể triển khai trong việc ghép và trị liệu xương.  ——–    “Funtionalised Fullerene Materials”, Journal of Materials Chemistry 2002, 12 (7)  2 S. Iijima, MRS Bulletin November 1994, volume XIX, 43  3 A. B. Dalton, S. Collins, E. Mu#oz, J. M. Razal, V. H. Ebron, J. P. Ferraris, J. N. Coleman, B. G. Kim and R. H. Baughman, Nature 2003, 423, 703  4 Kevlar là thương hiệu của sợi poly-paraphenylene terephthalamide được dùng trong áo giáp và mũ cối quân đội.  5 J. Suhr, N. Koratkar, P. Keblinski and P. Ajayan, Nature Materials 2005, 4, 134  6 P. G. Collins and P. Avouris, Scientific American December 2000, 62  7 L. P. Zanello, B. Zhao, H. Hu, R. C. Haddon, Nano Lett. 2006, 6, 562  Trương Văn Tân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quả cân chuẩn thế giới nhẹ đi một cách bí ẩn      Khối trụ 118 tuổi, biểu tượng quốc tế cho đơn vị khối lượng, được bảo quản nghiêm ngặt ở ngoại ô Paris, đang nhẹ đi một cách khó hiểu.      Quả cân 1 kilogram này có vẻ đã mất đi 50 microgram so với cân nặng trung bình của hàng loạt phiên bản của nó. “Điều bí ẩn là tất cả chúng được làm cùng chất liệu, và nhiều quả cân được làm cùng thời điểm và bảo quản trong cùng điều kiện, tuy nhiên đến nay, khối lượng của chúng đang dần dần chênh nhau. Chúng tôi thực sự chưa có giải thích tốt nào cho vấn đề này”, nhà vật lý Richard Davis từ UB Khối lượng và Đo lường quốc tế, cho biết. Sự thay đổi của quả cân kilogram thậm chí có thể ảnh hưởng đến các quốc gia không sử dụng hệ mét, theo quy tắc chuyển đổi. Với các nhà khoa học, sự biến động của đơn vị đo được xem là bất biến này đe dọa đến việc tính toán những công trình đòi hỏi độ chính xác lớn, chẳng hạn các nhà máy điện.   T.An (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quả cầu vàng cho màng nano      TS Võ Thị Hạnh Thu, giảng viên khoa vật lý – vật lý kỹ thuật Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM, là người duy nhất đoạt giải trong sáu đề cử của TP.HCM gửi tranh giải khoa học kỹ thuật thanh niên Quả cầu vàng năm 2012 do Trung ương Đoàn phối hợp với Bộ KH&amp;CN trao tặng.    TS Võ Thị Hạnh Thu cũng là người có những suy nghĩ thiết thực trong việc nghiên cứu khoa học (NCKH). “Tôi muốn nghiên cứu vào những lĩnh vực “nóng” như năng lượng và môi trường. Trong tương lai gần, VN sẽ cần nhiều nghiên cứu ứng dụng từ các lĩnh vực này” – TS Thu chia sẻ.  Gương sáng dẫn đường  Nhưng điều gì đã giúp TS Thu sớm có được định hướng NCKH thiết thực ở tuổi còn trẻ của người dấn thân vào con đường nghiên cứu, khi mơ ước đầu tiên là trở thành giáo viên dạy toán cho học sinh THCS? TS Thu không ngại ngần khoe: “Ban đầu tôi cũng không nghĩ sẽ theo nghiên cứu nhưng nhờ… ngưỡng mộ một người thầy”. Người thầy đó là GS-TS Nguyễn Hữu Chí, người có công “kéo” SV Võ Thị Hạnh Thu từ ngành toán – tin học sang ngành vật lý – vật lý kỹ thuật.  Trên thực tế, không phải GS-TS Nguyễn Hữu Chí lôi kéo thật sự mà trong giai đoạn đang là sv ngành toán – tin học, Hạnh Thu đã được học những bài giảng của GS-TS Chí. “Phong cách giảng dạy của thầy cộng với những cái hay cảm nhận được từ bộ môn vật lý kỹ thuật đã khiến tôi rẽ vào con đường này và bị mê hoặc”. Thế nên, từ đầu vào là sv ngành toán – tin học nhưng Võ Thị Hạnh Thu lại tốt nghiệp ĐH ngành vật lý – vật lý kỹ thuật.          Phủ trên lồng kính sưởi ấm bé sơ sinh              Màng  nano TiON mà TS Võ Thị Hạnh Thu chế tạo là loại màng cực mỏng, chỉ  khoảng 400-600 nanomet (nm), được ứng dụng làm sạch vi khuẩn trong nước,  chống đọng nước bề mặt, diệt vi khuẩn E.coli, chống mờ, đọng nước trên  bề mặt kính… Theo đó, màng này có thể phủ trên kính trong các lồng  kính sưởi ấm bé sơ sinh hoặc các nhà vệ sinh để diệt khuẩn.        Rẽ sang con đường này, Võ Thị Hạnh Thu bắt đầu mày mò nghiên cứu. Những ngày đầu chỉ là phụ các thầy cô, giảng viên của khoa để làm quen với NCKH. Rồi vừa học vừa tham gia nghiên cứu, nên ngay khi tốt nghiệp ĐH, thành tích khoa học của Võ Thị Hạnh Thu đã không ít. Năm 2001, Võ Thị Hạnh Thu tốt nghiệp ĐH tại ĐH Khoa học tự nhiên loại giỏi với đề tài “Chế tạo màng Al/Pet (nhôm/nhựa) để làm bao bì chất lượng”.  Cùng thời điểm đó, Võ Thị Hạnh Thu đoạt giải nhất sv NCKH cấp trường, giải nhì Euréka, giải nhì sv NCKH cấp Bộ GD-ĐT và nhận bằng khen của Bộ GD-ĐT, Trung ương Đoàn. Chưa hết, năm 2004, Võ Thị Hạnh Thu tiếp tục được giới khoa học đánh giá cao khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu chế tạo pin mặt trời”.  Đề tài từ cuộc sống  Nhưng con đường NCKH không trải thảm hoa hồng với Võ Thị Hạnh Thu. Một thời gian dài đeo đuổi vấn đề năng lượng, liên tiếp gửi đề tài đến các đơn vị để xin nghiên cứu như Sở Khoa học – công nghệ TP.HCM, ĐH Quốc gia TP.HCM… nhưng những đề tài mà Hạnh Thu gửi đi đều không được duyệt.  Không trách các cơ quan quản lý, các viện, trường, TS Võ Thị Hạnh Thu tự nhìn nhận lại các vấn đề khoa học của mình. “Tôi thấy các đề tài mà tôi đăng ký nghiên cứu vào thời điểm đó còn non, chưa đủ tầm và chưa thiết thực. Đó là lỗi của chính bản thân tôi.” Nhận ra lỗi và tự tìm cách khắc phục, TS Thu đi nhiều hơn, lắng nghe từ cuộc sống nhiều hơn và nhận ra rằng “còn nhiều vấn đề bức xúc khác cần các công trình nghiên cứu”.  Năm 2007, TS Thu chuyển hướng sang nghiên cứu các vấn đề về cải thiện môi trường. “Xử lý dầu trên biển, lọc lưu huỳnh, lọc vi khuẩn trong nước… những vấn đề nhức nhối này đã cho tôi nghĩ đến việc phải nghiên cứu xử lý môi trường bằng công nghệ vật liệu”. Cuối năm 2007, TS Thu đã quyết định hướng đi của đề tài nghiên cứu mới là “Nghiên cứu chế tạo màng quang xúc tác ứng dụng để làm sạch môi trường” nhằm tạo ra màng có cấu trúc nano để thu hồi bột TiO2, xử lý vi khuẩn trong nước. Đề tài này đã được Sở Khoa học – công nghệ TP.HCM duyệt thực hiện và nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Ứng dụng thiết thực cũng khiến đề tài đoạt giải nhì Vifotec 2011 và giành luôn giải khoa học kỹ thuật thanh niên Quả cầu vàng 2012 mới đây. Hiện TS Thu đang ấp ủ nhiều dự định về nghiên cứu mới: “Cuộc sống đưa ra nhiều câu hỏi khoa học và tôi đang mong sẽ nghiên cứu để trả lời các vấn đề đó”.  Mong một cơ chế  Sinh năm 1979, đã lập gia đình và có hai con nhỏ nhưng có những lúc Võ Thị Hạnh Thu ở lại phòng thí nghiệm đến nửa đêm mới về nhà. Vậy nhưng TS Thu vẫn là người vợ, người mẹ đảm đang mà vẫn “giỏi việc nước”. Bên cạnh những thành quả trong NCKH, TS Thu cũng là gương mặt giáo viên trẻ tiêu biểu được tuyên dương trong nhiều năm liền.  Hỏi ước mơ điều gì, TS Thu đùa: “Giá một ngày có thêm mấy tiếng để làm việc. Tôi thấy thời gian quá thiếu”. Nghiên cứu, chăm lo gia đình, dạy học… lịch của TS Thu dày đặc và hầu như rất ít thời gian chăm lo được cho bản thân, TS Thu lại cho đó là “bài thể dục thẩm mỹ tốt nhất”. TS Thu kể: “Sau khi sinh bé thứ hai tôi mập ú, nhưng rồi lao vào làm việc, bẵng đi một thời gian thấy mình tự động xuống cân. Chính khoa học làm cho tôi… đẹp lên đó”.  Đam mê với con đường nghiên cứu, TS Hạnh Thu tâm huyết rằng “làm giảng viên là phải tham gia nghiên cứu nhiều mới mong không tụt hậu”. Nỗi trăn trở của nhà khoa học Hạnh Thu không phải là những vất vả về cơm, áo, gạo, tiền, là những tần tảo sớm khuya và ngược xuôi thử nghiệm, mà vấn đề lớn nhất là “tôi làm khoa học, có nghiên cứu ứng dụng nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu để đưa sản phẩm của mình ra thị trường”. Vì thế, mong ước lớn nhất của TS Thu là có một cơ chế thông suốt để những ứng dụng, những sản phẩm của các nhà khoa học ra được thị trường, đi vào được cuộc sống thường ngày.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quả lựu có thể hỗ trợ điều trị ung thư máu?      Từ lâu lựu đã được coi là một loại dược  liệu. Gần đây, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tác  dụng chữa bệnh của lựu đối với con người, trong đó có bệnh ung thư máu.    Bệnh ung thư máu có nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên chúng có một điểm chung là bạch cầu thay đổi và bùng phát trong tủy. Do đó những thành phần khác của máu như hồng cầu và bạch cầu khỏe – một thành phần của hệ miễn dịch – bị thiếu hụt. Từ tủy, tế bào bạch cầu bệnh có thể tấn công sang các tổ chức khác của cơ thể hay vào các hạch bạch huyết.   Đã có dấu hiệu đầu tiên về tác động của quả lựu đến việc điều trị ung thư. Ông Satoru Kawaii thuộc ĐH Tokyo Denki và một đồng nghiệp đã làm thí nghiệm với tế bào máu trắng trong ống nghiệm. Họ nhận thấy nước lựu lên men có khả năng kiềm chế sự phát triển của tế bào ung thư máu. Thí nghiệm của nhà khoa học này cho thấy, tế bào ung thư máu có thể phục hồi và khỏe trở lại hoặc sẽ diễn ra quá trình tế bào ung thư máu tự tử hàng loạt. Tuy nhiên giới nghiên cứu về ung thư không vì thế mà lạc quan thái quá.   Không thể lấy kết quả trong ống nghiệm áp dụng đơn giản đối với con người. Nhà khoa học M. Rostock thuộc Đại học Y Hamburg-Eppendorf (UKE) nói “thí nghiệm tế bào cho thấy nước quả lựu tác động vào tế bào ung thư máu, tuy nhiên người ta không thể lấy đó làm bằng chứng về tác động của nó với con người”.  Hy vọng với chè xanh   Quả lựu chứa hợp chất Polyphenole và hợp chất này đã chứng minh tác dụng đối với thí nghiệm trên tế bào – cây cối dùng chất này để tự bảo vệ trước côn trùng gây hại. Hợp chất này cũng thấy có trong chè xanh. Các nhà khoa học đã có một bước tiến xa hơn trong việc nghiên cứu tác dụng của chè xanh đối với bệnh ung thư máu: Cũng như ở quả lựu, trong nước chè cũng chứa các Polyphenol Epigallocatechingallat (EGCG). Đã có những nghiên cứu về tác dụng của EGCG ở người.   Trong một nghiên cứu tiến hành hồi tháng Giêng 2013, Neil Kay và các đồng nghiệp thuộc bệnh viện Mayo ở TP Rochester, Mỹ, đã điều trị 42 bệnh nhân bị bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (CLL), mỗi ngày bệnh nhân điều trị hai lần bằng chất chiết xuất từ chè xanh. Ngoài ra người bệnh không có điều trị gì khác. Các nhà nghiên cứu đã trình bầy kết quả trên tạp chí chuyên đề “Cancer” như sau: “Ở 29 bệnh nhân (69%) thấy có sự giảm sút liên tục tế bào ung thư máu hoặc / và có sự giảm tế bào ở hạch lympho tại một điểm trong sáu tháng điều trị.”  Ông Rostock cho rằng, “Người ta có thể coi những nghiên cứu này là dấu hiệu cho thấy chè xanh có thể tác động tích cực đến diễn biến điều trị bệnh CLL, một dạng ung thư máu phát triển tương đối chậm ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên điều này chưa đủ để có thể coi là một bằng chứng về hiệu quả lâm sàng. “Còn thiếu những nghiên cứu lớn với sự tham gia của nhiều người hơn, về cơ chế tác động của Polyphenole cũng chưa được biết nhiều. Có lẽ ở đây có sự tương tác của nhiều chất khác nhau dẫn đến hiệu ứng này.  Thức ăn có thể hỗ trợ quá trình điều trị   Vì vậy những nghiên cứu nêu trên hầu như chưa có ý nghĩa trong thực tiễn. Thay vào đó, các chuyên gia đề cập những rủi ro về việc điều trị không bình thường: “Tôi can không nên dùng đại nước quả lựu để thử nghiệm, vì điều này có thể ảnh hưởng đến tác động của các loại thuốc được dùng trong điều trị”, ý kiến của Clarissa Gerhäuser thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư của Đức (DKFZ) khi trả lời SPIEGEL ONLINE.   Tuy vậy, người bệnh vẫn có thể thông qua ăn uống lành mạnh để tác động tích cực đến bộ phận cơ thể bị ung thư: “Thông qua vận động và chế độ dinh dưỡng có thể hỗ trợ cho bộ phận cơ thể bị ung thư chống chọi với căn bệnh tai ác này”, theo ông Rostock. “Trong đó những loại thức ăn có chứa nhiều chất polyphenol như ở quả lựu và nó có vai trò nhất định. Tốt nhất nên trao đổi với thầy thuốc về chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là chế độ ăn trong quá trình điều trị ung thư,” ông nói  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quá trình tiến hóa giải thích tại sao chúng ta thích ăn đồ ngọt      Các nghiên cứu về quá trình tiến hóa của nhận thức vị giác có thể cung cấp những manh mối quan trọng về lý do tại sao chúng ta rất khó để nói không với ngọt ngào.      Ảnh minh họa: Internet.   Sở thích “hảo ngọt” của con người trái với các nguyên tắc khoa học là nên ăn càng ít đường càng tốt, thậm chí là không nên ăn. Ở bất kỳ độ tuổi nào, hầu hết mọi người đều thích ăn ngọt. Nhắm trúng đặc điểm này, các công ty thực phẩm “quyến rũ” người tiêu dùng đến với sản phẩm của họ bằng cách thêm đường vào hầu hết mọi thứ: sữa chua, nước sốt cà chua, đồ ăn nhẹ trái cây, ngũ cốc ăn sáng…  Các nghiên cứu về quá trình tiến hóa của nhận thức vị giác có thể cung cấp những manh mối quan trọng về lý do tại sao chúng ta rất khó để nói không với ngọt ngào.  Gene xác định vị ngọt  Từ thời tiền sử, một thách thức cơ bản là làm sao kiếm đủ thức ăn. Các hoạt động cơ bản của cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như nuôi dạy con non, tìm nơi trú ẩn và đảm bảo đủ thức ăn, tất cả đều cần năng lượng dưới dạng calo. Những cá nhân có kỹ năng thành thạo hơn trong việc thu nạp calo có xu hướng sống sót lâu hơn và sinh được nhiều con sống sót hơn, có sức khỏe tốt hơn.  Trong tự nhiên, vị ngọt báo hiệu có đường, một nguồn calo rất tốt. Vì vậy, những người săn bắt hái lượm có khả năng cảm nhận vị ngọt có thể phát hiện ra đường có trong thực phẩm tiềm năng, đặc biệt là trong thực vật và lượng đường là bao nhiêu.  Khả năng này cho phép người săn bắt hái lượm đánh giá hàm lượng calo một cách nhanh chóng trước khi mất công thu hái, chế biến và ăn các món đó. Việc phát hiện ra vị ngọt đã giúp con người thuở sơ khai hu thập được nhiều calo mà ít tốn công sức hơn. Thay vì cứ thế ăn ngẫu nhiên, họ có thể nỗ lực “nhắm đích”, cải thiện khả năng tìm kiếm thức ăn trong quá trình tiến hóa của họ.  Bằng chứng về tầm quan trọng của việc phát hiện đường có thể được tìm thấy ở gene, cấp độ cơ bản nhất của sinh học. Khả năng cảm nhận vị ngọt của mỗi người không phải ngẫu nhiên mà có – nó được ghi nhớ trong cấu trúc gene của cơ thể.  Cảm nhận vị ngọt bắt đầu từ lưỡi, cơ quan xác định vị giác này có các cụm tế bào ẩn nấp bên dưới bề mặt. Mỗi loại tế bào khác nhau trong chồi vị giác có một thụ thể protein cảm nhận cấu tạo hóa học của thực phẩm khi chúng ta nhai trong miệng và nhận ra từng vị riêng: chua, mặn, mặn, đắng hoặc ngọt.   Trong đó, các tế bào phát hiện vị ngọt có một thụ thể tế bào gọi là TAS1R2 và TAS1R3, có thể phát hiện ra đường. Khi gặp được đường, nó sẽ gửi một tín hiệu thần kinh đến não để xử lý. Thông điệp này là cách chúng ta cảm nhận vị ngọt trong thực phẩm đã ăn.  Các gene TAS1R2 và TAS1R3 không chỉ có ở người – hầu hết các động vật có xương sống khác cũng có – các gene này được tìm thấy ở khỉ, gia súc, chó, dơi, thằn lằn, gấu trúc, cá và vô số động vật khác.   Tuy nhiên, cũng có những loài không cần tới đường trong chế độ ăn nên khả năng nhận thức vị ngọt cũng mất đi. Ví dụ, nhiều loài ăn thịt ít khi cần tới đường nên các thụ thể nhận diện vị ngọt chỉ còn sót lại những dấu tích trên bộ gene.  Lý thuyết tiến hóa giải thích điều này dựa trên nguyên tắc chọn lọc tự nhiên: Những gene không có vai trò quan trọng sẽ chỉ để lại dấu vết hoặc tiêu biến khi các loài tiến hóa.   Thích hương vị ngọt ngào  Không chỉ vị ngọt, các giác quan của cơ thể phát hiện ra nhiều khía cạnh của môi trường sống xung quanh, từ ánh sáng, nhiệt đến mùi, nhưng chúng ta không bị quyến rũ bởi các yếu tố đó nhiều như cách chúng ta thích sự ngọt ngào.  Một ví dụ để so sánh là vị đắng. Không giống như các thụ thể ngọt, phát hiện các chất con người muốn tìm kiếm trong thực phẩm, thì các thụ thể đắng phát hiện những chất không mong muốn: độc tố. Khi lưỡi gửi thông tin đến não, não sẽ phản ứng một cách thích hợp. Trong khi não ra hiệu cho cơ thể tiếp tục ăn vị ngọt thì lại báo hiệu vị đắng và phải nhổ thức ăn ra. Điều này có ý nghĩa tiến hóa.  Nếu các phản ứng đối với một cảm giác cụ thể đem lại lợi ích, thì chọn lọc tự nhiên sẽ chọn lọc và chúng trở thành bản năng.  Cơ chế cơ thể phản ứng vị đắng ngược lại với đường. Đối với vị đắng, trẻ sơ sinh không cần phải được luyện để không thích vị đắng – chúng từ chối vị đắng theo bản năng. Còn đối với đường, hầu hết thử nghiệm này đến thử nghiệm khác đều phát hiện ra một điều giống nhau: Con người bị đường quyến rũ ngay từ khi họ mới sinh ra. Những phản ứng này cũng có thể được định hình bằng quá trình rèn luyện sau này, nhưng cốt lõi vẫn là bản năng.  Như vậy bất cứ ai quyết định giảm lượng đường đều phải chống lại áp lực tiến hóa hàng triệu năm đã định hướng để tìm kiếm và hấp thụ đường. Người dân ở các nước phát triển hiện đang sống trong một môi trường mà xã hội sản xuất ra nhiều đường tinh luyện ngọt hơn trong tự nhiên nhiều lần. Như vậy cùng một lúc con người phải chống chọi lại hai “thế lực”: sự quyến rũ của các hãng thực phẩm, thị trường có quá nhiều đường và phản ứng của cơ thể con người luôn hướng tới vị ngọt sau cả triệu năm tiến hóa. Ở một khía cạnh nào đó, chúng ta là nạn nhân của chính thành công của mình.  Bảo Như lược thuật  Nguồn: https://theconversation.com/a-taste-for-sweet-an-anthropologist-explains-the-evolutionary-origins-of-why-youre-programmed-to-love-sugar-17319       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quái vật khổng lồ dưới đại dương      Một con mực khổng lồ chỉ có thể tìm thấy trong các truyền thuyết hoặc truyện cổ tích lần đầu tiên được các nhà khoa học quay phim được trong tình trạng sống tự nhiên ở dưới biển sâu.      Nhóm nghiên cứu dẫn đầu là Tsunemi Kubodera của Bảo tàng Khoa học quốc gia ở Tokyo đã lần theo dấu vết của một con mực khổng lồ Architeuthis dài tới 6 mét dưới độ sâu hơn 900 mét dưới biển thuộc địa phận đảo Bonin (Nhật Bản). “Đây là lần đầu tiên chúng tôi quay phim được một con mực khổng lồ đang sống ở tình trạng tự nhiên”, Kyoichi Mori, một nhà nghiên cứu trong nhóm cho biết. Anh cũng cho biết con mực có màu đỏ tía đã tấn công ác liệt con mồi của nhóm nghiên cứu và chính vì vậy các nhà khoa học đã quay được những cảnh di chuyển rất chậm của con mực.   (AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan điểm mới về các trận động đất do con người gây ra      Khoa học đã có những bước tiến đáng kể giúp  ta hiểu rõ hơn về các rung lắc tiềm tàng của mặt đất xuất phát từ những  trận động đất cảm ứng (induced earthquakes), – tức động đất gây ra bởi  các hoạt động của con người.      Hoạt động địa chấn đã tăng mạnh kể từ năm 2009 tại vùng trung tâm và miền đông nước Mỹ. Sự gia tăng này có liên quan đến hoạt động công nghiệp xử lý nước thải bằng cách bơm nó xuống các giếng sâu.    Ngày 23/4 mới đây, Cục Điều tra địa chất Mỹ (US Geological Survey, USGS) công bố bản báo cáo trong đó có trình bày một bộ mô hình bước đầu dự báo sự rung chấn mặt đất nguy hiểm có thể xảy ra tại các vùng từng ghi chép thấy sự tăng mạnh rung chấn.   Các nhà khoa học của USGS xác nhận 17 vùng ở tám bang của Mỹ có hiện tượng tăng tần suất xảy ra địa chấn cảm ứng. Từ năm 2000, một số vùng đó đã xảy ra địa chấn ở mức cao.  Khoan giếng dầu khí, hoặc quá trình bơm nước xuống tầng sâu dưới lòng đất đã và đang gây ra hoạt động địa chấn ở các bang Alabama, Arkansas, Colorado, Kansas, New Mexico, Ohio, Oklahoma và Texas.  Các chuyên gia cho rằng có khi động đất là do tầng địa chất bị sức ép thủy lực làm nứt vỡ gây ra; trong quá trình khai thác dầu và khí sẽ có rất nhiều nước, cát và hóa chất chảy vào trong kết cấu tầng nham thạch. Hiện nay trong hoạt động khai thác dầu khí từ đá phiến, người ta sử dụng công nghệ Fracking (công nghệ bẻ gãy thủy lực), tức bơm nước áp lực cao trộn với cát và hóa chất để dùng sức nước cắt phá các tầng đá phiến, nhờ đó giải phóng dầu và khí đốt hàng triệu năm qua bị kẹt lại trong lớp đất đá này. Phần nước thải trào lên từ giếng khoan sau đó sẽ được tái sử dụng để bơm xuống các giếng khoan khác dùng chung kỹ thuật fracking.  Việc bơm nước xuống lòng đất có thể kích hoạt tầng đứt gãy đang ngủ yên, qua đó sinh ra hoạt động địa chấn. Trước đây nhiều nghiên cứu đã đề cập vấn đề bơm nước thải có thể dẫn tới những trận động đất nhỏ, nhưng bản báo cáo nghiên cứu mới đây do USGS đưa ra lần đầu tiên phân tích toàn diện sự hình thành động đất.  “Bản báo cáo này lần đầu tiên trình bày việc những trận động đất gây ra bởi sự bơm nước xuống lòng đất có thể được đưa vào Bản đồ nguy cơ địa chấn,” Mark Petersen, người phụ trách Dự án Mô hình cảnh báo nguy hiểm động đất toàn quốc của USGS (National Seismic Hazard Modeling Project) nói. “Những trận động đất này xảy ra với nhịp điệu cao chưa từng thấy và đem lại nguy cơ rủi ro lớn cho dân chúng ở gần. USGS đang phát triển các phương pháp vượt qua những thách thức trong việc đánh giá các nguy cơ địa chấn ở các vùng này để hỗ trợ việc đưa ra các quyết định bảo đảm cuộc sống cộng đồng được an toàn khi mặt đất rung chuyển.”   Năm 2014, USGS đã phát hành Bản đồ cảnh báo nguy cơ địa chấn toàn quốc cập nhật (National Seismic Hazard Maps), trình bày mức độ nguy hiểm của các trận động đất tự nhiên. Các bản đồ này được sử dụng vào việc lập quy phạm kiến trúc, xác định mức giá bảo hiểm, lập kế hoạch ứng phó khẩn cấp và các ứng dụng khác. Chúng dự báo khả năng xảy ra địa chấn trong vòng chu kỳ 50 năm – là tuổi thọ trung bình của một tòa nhà. Thế nhưng những sản phẩm địa chấn cảm ứng mới lại trình bày mật độ địa chấn trong chu kỳ chỉ là một năm. Khung thời gian ngắn hơn là hợp lý vì các hoạt động địa chấn cảm ứng có thể nhanh chóng thay đổi theo thời gian.  NG.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ Anh – Việt trước năm 1858: Góc nhìn của người Anh      Bài viết này giải thích một phần nguyên nhân tại sao chính Pháp chứ không phải Anh là người nổ súng xâm lược Việt Nam, thông qua quá trình chuyển biến quan hệ Anh – Việt trước năm 1858. Những phân tích về vị trí, vai trò kinh tế, chính trị của Việt Nam ở Đông Á dưới góc nhìn của “người bên ngoài” – người Anh sẽ đem đến lời giải cho bước ngoặt của lịch sử này.          Công ty Đông Ấn Anh tại Kẻ Chợ (Thăng Long) (1683-1697). Nguồn: S. Baron, “A description of the Kingdom of Tonqueen”, in J. Pinkerton (ed), A collection of voyages, p. 3.  Trước đó, mặc dù người Anh đã chuyển quan điểm nhìn nhận Việt Nam từ chỗ như một thị trường trung gian, bổ trợ cho hai thị trường tiềm năng Trung Quốc, Nhật Bản cho đến như một căn cứ có thể khống chế toàn bộ vùng biển Đông, con đường thương mại nối Ấn Độ Dương với Trung Quốc, và bàn đạp cho việc tiếp cận Trung Quốc từ phía Nam. Tuy nhiên, trong so sánh với tiềm năng của Xiêm, Singapore hay Hồng Kông, người Anh đã không lựa chọn Việt Nam, điều này phần nào dẫn đến việc Pháp có thể tiếp cận và tấn công xâm lược Việt Nam năm 1858.    Việt Nam – thị trường trung gian ở Đông Á thế kỷ XVII    Quan hệ giữa Anh và các chính quyền chúa Trịnh, Nguyễn trên lãnh thổ Việt Nam trong thế kỷ XVII gắn liền với hoạt động thương mại của công ty Đông Ấn Anh ở Đông Á. Người Anh lần lượt đặt chân đến cả hai vương quốc nhưng chỉ thiết lập và duy trì thương điếm ở Đàng Ngoài trong vòng 25 năm cuối thế kỷ XVII. Tại sao Việt Nam chỉ được quan tâm trong thời gian ngắn? Một là Việt Nam chỉ giữ vai trò  thị trường trung gian, hỗ trợ khi Anh không thể tiếp cận Trung Quốc trực tiếp. Hai là những hạn chế về trình độ sản xuất của Việt Nam.   Các thương nhân phương Tây nhìn nhận vai trò quan trọng của Việt Nam – với tư cách là một mắt xích – trong duy trì mối quan hệ thương mại khăng khít với Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á. Mặt hàng chính được người Anh và phương Tây hướng đến là lụa (cả tơ sống và lụa thành phẩm) để đổi lấy nguồn bạc từ Nhật Bản. Tuy vậy, kết quả thương mại giữa Anh và Việt Nam đầu thế kỷ XVII vô cùng hạn chế (Cocks, 2010). Trong khi đó, người Anh tại Bantam (Indonesia) lại nhìn nhận Đàng Trong như một cứ điểm quan trọng khống chế toàn bộ khu vực và tạo thế đối trọng với việc Hà Lan chiếm đóng Đài Loan năm 1624.  Do mục tiêu thương mại khác biệt, người Anh chỉ quay lại Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XVII với sự xuất hiện của thương điếm của Anh ở Đàng Ngoài (1672-1697) và chuyến đi sứ đến Đàng Trong (1695-1696).   Người Anh đã đưa ra các kế hoạch khác nhau xoay quanh việc buôn bán lụa nhằm xây dựng một hệ thống thương mại hoàn chỉnh và hiệu quả ở Đông Á, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi cái bóng quá lớn của Trung Quốc. Anh duy trì thương điếm Đàng Ngoài cũng chỉ nhằm mục tiêu gián tiếp tiếp cận Trung Quốc từ phía Nam. Ban đầu, Anh hướng đến việc trao đổi lụa – bạc với Nhật Bản, và cung cấp vàng cho Ấn Độ, hàng xa xỉ phẩm cho châu Âu. Ngược lại Đàng Ngoài là thị trường của hàng châu Âu như vải dạ, kính, nước hoa hồng, diêm tiêu, lưu huỳnh. Sau đó, Anh đã tìm cách buôn bán với Macao, Xiêm, Manila nhưng bất thành. London tiếp tục nỗ lực biến Đàng Ngoài thành thị trường thường xuyên trong hệ thống thương mại liên châu lục nhằm cung cấp tơ tằm và lụa cho châu Âu để phục vụ nền công nghiệp lụa đang phát triển ở Anh. Tuy vậy, kế hoạch này chỉ thực hiện được một vài năm (1674-1680) và người Anh một lần nữa quay trở lại mục tiêu biến Đàng Ngoài thành một cơ sở thu mua hàng hóa châu Á để xuất sang châu Âu, đặc biệt là đồ sứ, nhung, xạ hương và lụa chất lượng từ Trung Quốc.   Do chiến tranh Minh – Thanh, Thanh – Đài Loan và chính sách cấm biển của nhà Thanh, người Anh chưa thể trực tiếp buôn bán với đại lục nên càng phải chú trọng duy trì thương điếm Đàng Ngoài để thu mua những sản phẩm được thương nhân Trung Quốc mang đến. Anh chỉ chú tâm đến Việt Nam trong thế bắc cầu đến thị trường Trung Quốc khi nước này hạn chế tiếp xúc với phương Tây hơn là phát triển thị trường ở Việt Nam nên khi Trung Quốc mở cửa năm 1684, vai trò của Đàng Ngoài đi xuống nghiêm trọng và chấm dứt hoàn toàn cuối thế kỷ XVII.  Bên cạnh yếu tố Trung Quốc, điểm lưu ý thứ hai dẫn đến việc người Anh thiếu mặn mà với Việt Nam là chất lượng hàng hóa. Mặc dù lụa là mặt hàng chủ đạo của Việt Nam nhưng chất lượng lại vô cùng thấp, chỉ đóng vai trò thay thế tạm thời lụa chất lượng thấp của Trung Quốc trong một giai đoạn nhất định. Chỉ trong một thời gian ngắn lụa Việt Nam đã phải chấm dứt chuyến “phiêu lưu” sang châu Âu do chất lượng hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu, và số lượng hàng hóa cũng không lớn. Người Anh đã nỗ lực tìm cách đưa kĩ thuật sản xuất lụa tiên tiến từ châu Âu cùng với việc cử những nhân viên có am hiểu lĩnh vực này đến Đàng Ngoài những năm 1678, 1681 nhưng hầu như không thay đổi được chất lượng sản phẩm. Thói quen sản xuất thủ công chỉ trong phạm vi hộ gia đình của Đàng Ngoài nhằm phục vụ nhu cầu nội tại và xuất sang Nhật Bản cùng với việc thiếu vốn đầu tư đã dẫn đến hạn chế nhu cầu thay đổi kĩ thuật sản xuất. Hệ quả tất yếu là lụa Đàng Ngoài thất thế trong việc cạnh tranh với lụa Trung Quốc và Bengal (Ấn Độ) (IOR/G/12/17).     Việt Nam – “căn cứ” chiến lược kiểm soát vùng biển Đông Nam Á    Khi đóng cửa thương điếm Đàng Ngoài, người Anh cũng bắt đầu có những chuyển biến rõ rệt trong việc nhìn nhận vai trò của Việt Nam, đặc biệt là Đàng Trong trong khu vực Đông Á. Then chốt của mối quan hệ vẫn là nhân tố Trung Quốc. Yếu tố kinh tế đơn thuần đã hầu như không còn tồn tại như giai đoạn trước mà vấn đề chính trị được gắn chặt trong quan hệ Anh – Việt. Chuyến đi đến Đàng Trong của Thomas Bowyear năm 1695-1696 đã lần đầu tiên nhắc đến những yêu cầu về quyền ‘lãnh sự tài phán’, ‘lãnh thổ ngoại giao’ của người Anh nằm trong vương quốc Đàng Trong. Mặc dù vậy, chúa Nguyễn Phúc Chu đã khước từ toàn bộ những yêu cầu của người Anh liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia mà chỉ hướng đến hợp tác thương mại hòa bình.  Tàu thuyền trên sông tại Hội An. Nguồn: John Barrow, A voyage to Cochin-China 1792-1793 (of George Macartney) (London, 1806), p. 320.  Quan hệ Anh – Việt trở nên căng thẳng, thiên hẳn sang yếu tố chính trị, quân sự với việc người Anh xây dựng pháo đài và thương điếm tại Côn Đảo giai đoạn 1702-1705 nhằm kiểm soát đường đến Trung Quốc từ phía Nam. Sự kiện này đánh một dấu mốc quan trọng trong sự chuyển biến về tham vọng, cách tiếp cận chính trị, quân sự của người Anh tại Đông Á. Vai trò của Việt Nam chính là cung cấp những ‘cứ điểm’ khống chế toàn bộ vùng biển Đông Nam Á. Chúa Nguyễn đã gửi thư cho người Anh năm 1703 với đề nghị, thiết lập quan hệ ngoại giao . Ông cũng khẳng định được yêu cầu về chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia sau đó khi Anh ngó lơ lời đề nghị hợp tác. Năm 1705 chúa Nguyễn đã giao cho Trấn thủ dinh Trấn Biên, Trương Phúc Loan, kết hợp với người dân Côn Đảo và nô lệ người Mã Lai tấn công và tiêu diệt toàn bộ pháo đài của người Anh (Danny, 2011). Sau vụ thảm sát này, người Anh hầu như không duy trì hoạt động kinh tế và gần như từ bỏ tham vọng tại Việt Nam, và chỉ quay lại vào cuối thế kỷ XVIII, trước áp lực mất ảnh hưởng tại Đông Á từ những cường quốc phương Tây khác.  Giai đoạn 1778 – 1858, bên cạnh yếu tố Trung Quốc thì dấu ấn của Pháp cũng có tác động đến quan hệ Anh – Việt dưới cả góc độ chính trị và ngoại giao. Tuy nhiên, quan hệ Anh – Việt có vẻ ‘nhạt nhòa’ hơn nếu so sánh với ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam. Việc người Pháp tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam, giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn và thống nhất đất nước năm 1802 chính là nguy cơ tiềm tàng đối với vị thế của Anh, buộc Anh phải cân nhắc có can thiệp vào Việt Nam hay không. Đại diện của Anh từ Trung Quốc, Ấn Độ đã nhiều lần đi sứ đến Việt Nam với mục tiêu chính mở rộng ảnh hưởng về mặt chính trị tại khu vực Đông Á trước áp lực cạnh tranh từ Pháp. Đó là các chuyến đi của Charles Chapman (1778), George Macartney (1792-1793), David Lance (1803), John W. Robert (1804), John Crawfurd (1822), John Francis Davis (1847), và Thomas Wade (1855). Một loạt các hoạt động trên cho thấy Anh vẫn ý thức rõ vai trò của Việt Nam trong khu vực, đặc biệt trong việc tạo lập ảnh hưởng chính trị và quân sự trong so sánh với Xiêm, Singapore, và Hồng Kông (Lamb, 1970). Đặc biệt, vị trí của Đà Nẵng (Tourane Bay) – nơi năm 1858 người Pháp đã nổ súng mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam, được nhắc đến nhiều lần như một cảng biển, cứ điểm quan trọng để tiến lên Trung Quốc.       Tại sao người Anh chỉ quan tâm đến Việt Nam trong thời gian ngắn? Vì, một là Việt Nam chỉ giữ vai trò thị trường trung gian, hỗ trợ khi Anh không thể tiếp cận Trung Quốc trực tiếp, hai là những hạn chế về trình độ sản xuất của Việt Nam.      Tuy nhiên, Anh lại chỉ dừng ở mức cân nhắc vị trí, vai trò của Việt Nam mà không hề có một động thái rõ ràng, nghiêm túc trong việc can thiệp vào tình hình Việt Nam suốt gần một thế kỷ. Anh từ chối can thiệp, giúp đỡ cả chúa Nguyễn lẫn nhà Tây Sơn giai đoạn cuối thế kỷ XVIII mặc dù cả hai nhóm đều đặt vấn đề liên minh và nhờ cậy việc cung cấp vũ khí hiện đại với người Anh. Trong so sánh giữa Việt Nam với Xiêm, Anh đã cân nhắc và đặt lợi ích nhiều hơn vào Xiêm (Tarling, 1966). Nhất là sau khi Anh chiếm được Singapore năm 1819 và Hồng Kông năm 1841 thì vai trò của Việt Nam  đối với Anh càng trở nên kém quan trọng, dẫn đến việc mối quan hệ hai nước hầu như không có những thay đổi đáng kể. Năm 1855, người Anh định ký hiệp ước thiết lập quan hệ ngoại giao lâu dài với vua Tự Đức nhưng rồi cũng không thành. Sau đó, Pháp không gặp phải bất cứ động thái ngăn chặn nào từ phía Anh  khi tiến hành tấn công xâm lược Việt Nam năm 1858.  Bên cạnh những hoạt động ngoại giao, những tiếp xúc khác giữa người Anh và Việt Nam khá hạn chế. Về kinh tế, mặc dù việc trao đổi buôn bán  giữa hạ lưu Mekong và Singapore thuộc Anh  khá mạnh sau năm 1819, nhưng vai trò của nhà Nguyễn và người Anh không thực sự nổi bật như thương nhân Hoa kiều. Tài liệu từ phía Anh có nhắc đến việc trao đổi, mua bán vũ khí của vua Gia Long hay nỗ lực mua tàu hơi nước của vua Thiệu Trị từ người Anh ở Ấn Độ. Tuy vậy, những hoạt động này vô cùng hạn chế, không đủ để đánh dấu những thay đổi về góc nhìn của người Anh về Việt Nam. Cuối cùng, người Pháp với những mục tiêu rõ ràng hơn, những hoạt động ráo riết hơn đã tấn công xâm lược Việt Nam năm 1858 trong khi Anh từ bỏ ảnh hưởng của mình tại Việt Nam để nhìn về Xiêm, Singapore trong mối liên kết với Đông Á.  Nhìn chung, đối với người Anh, dù ở khía cạnh kinh tế hay chính trị, quân sự, thì vị trí của Việt Nam luôn gắn liền với Trung Quốc, cần thiết hay không cần thiết cũng tùy thuộc vào sự hiện diện và mối quan hệ của người Anh với Trung Quốc. Điều đó đem đến một thực tế không thể phủ nhận rằng, trong cuộc chơi với các cường quốc Việt Nam cần nhìn nhận rõ yếu tố Trung Quốc có tác động như thế nào, Việt Nam cần tận dụng ra sao để xác lập được quan hệ phù hợp với các quốc gia khác.□    Tham khảo  IOR/G/12/17/1-10, Tonkin factory 1672-1697. British Library, London, UK.  IOR/H/628, Miscellaneous collection firmans & treaties 1602-1753, King of Cochin-China to the Great General in Pulo-Condore, 2 August 1703, pp. 469-479.  S. Baron, ‘A Description of the Kingdom of Tonqueen’ [first published in 1685], in J. Pinkerton (eds.), A Collection of the Best and Most Interesting Voyages and Travels in All Parts of the World, Vol. 9 (London, 1811), pp. 656-707.  R. Cocks, Diary of Richard Cocks, Cape-Merchant in the English Factory in Japan, 1615-1622, 2 Vols [first published 1883] (Cambridge, 2010).  Trần Ngọc Dũng, “Chính sách của công ty Đông Ấn Anh ở Đông Á trong thế kỷ XVII”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 10/2017, pp. 66-76.  A. Lamb, The Mandarin road to Old Hue: The narrative of Anglo-Vietnamese diplomacy from the seventeenth century to the eve of the French conquest (London, 1970).  N. Tarling, ‘British relations with Vietnam, 1822-1858’, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 39 (1966), pp. 19-51.  D.W. Tze-Ken, ‘The Destruction of the English East India Company Factory on Condore Island, 1702-1705’, Modern Asian Studies, 46 (2012), pp. 1097-1115.        Author                Trần Ngọc Dũng        
__label__tiasang Quan hệ ngoại giao Anh – Việt Nam thế kỷ 17: Hai thái cực khác biệt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài      Một trong những vấn đề mà xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đặt ra cho mọi quốc gia là làm thế nào để kết nối với thế giới bên ngoài, học tập, giao lưu, tìm kiếm cơ hội phát triển nhưng vẫn giữ vững chủ quyền, bản sắc văn hóa dân tộc. Nhìn lại lịch sử nước nhà, không ít lần ông cha ta phải đứng trước những lựa chọn, thách thức từ bên ngoài, đặc biệt là từ thế giới phương Tây – nơi có những ưu thế nổi bật về kinh tế, kĩ thuật, quân sự. Thái độ tiếp nhận khác nhau sẽ dẫn đến những hệ quả khác nhau trong quá trình giao lưu với thế giới bên ngoài. Bài viết này về chính sách ngoại giao của Đàng Ngoài và Đàng Trong đối với người Anh (cụ thể là công ty Đông Ấn Anh – EIC) dựa trên góc nhìn từ bên ngoài, là một minh chứng cho những thái độ khác nhau của giới cầm quyền Việt Nam trong quá trình tiếp xúc, phản biện lại luồng gió mới từ các công ty Đông Ấn châu Âu đến châu Á trong thế kỷ XVII.      Phong thư chúa Trịnh gửi EIC về việc đề nghị mua một số sản phẩm. Nguồn: British Library, MS 3460: Letter from the Trinh Lord to the English East India Company. Do sự thất lạc của tư liệu mà những dữ kiện còn sót lại hiện chỉ có thể chỉ ra rằng bức thư được viết vào khoảng giữa tháng 11, dưới thời chúa Trịnh Tạc, (và được ước chừng khoảng năm 1673).  Trong thế kỷ XVII, tiếp xúc Anh – Việt Nam thực sự không liền mạch do nhiều nguyên nhân khác nhau và những hiện diện đáng lưu ý nhất chỉ xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ (xin đọc thêm trong bài viết Quan hệ Anh – Việt trước năm 1858: Góc nhìn của người Anh trên Tia Sáng số 22 ra ngày 20 tháng 11 năm 2018). Tuy vậy, quá trình tiếp xúc đó vẫn phản ánh được sự khác biệt trong chính sách ngoại giao của chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài và điều đó đã dẫn đến những thái cực khác nhau trong quan hệ giữa Anh với hai vương quốc trên.  Niên biểu dưới đây đã chỉ rõ người Anh đã có ba giai đoạn đến Đàng Trong, bao gồm chuyến buôn từ Nhật Bản năm 1614 và 1617, chuyến đi sứ của Thomas Bowyear năm 1695-1696, và sau đó lập thương điếm và khu đồn trú tại Côn Đảo (1702-1705). Trong khi đó, người Anh chính thức xây dựng thương điếm tại Đàng Ngoài trong vòng 25 năm (1672-1697). Những tiếp xúc đó diễn ra trong bối cảnh trước và sau cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn (1627-1672) nên quan hệ Anh – Việt có thể nói là không chịu tác động trực tiếp từ nguy cơ chiến tranh hay nhu cầu về đồng minh như người Bồ Đào Nha, Hà Lan đã trải qua tại Việt Nam.     Trong cả quá trình tiếp xúc ngoại giao Anh – Việt Nam trước 1705, người Anh đã nhận thức rõ nhu cầu về lễ nghi để thể hiện sự tôn trọng dành cho cả hai chính quyền vốn chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Do đó, người Anh đều chuẩn bị lễ vật, quà ra mắt và quan trọng hơn là thư xin thiết lập quan hệ ngoại giao. Cụ thể giai đoạn đầu thế kỷ XVII, đại diện công ty EIC tại Bantam (Indonesia) đã cử đại diện mang thư gửi chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Năm 1672, đại diện từ Bantam (Henry Dacres) gửi thư cho chúa Trịnh Tạc và Hoàng tử trưởng. Năm 1695, Thống đốc Anh (Nathaniel Higginson) tại Madras (Ấn Độ) gửi thư cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Những lễ vật ra mắt thường là đồ xa xỉ phẩm của châu Âu, Ấn Độ như vải dạ, hổ phách, súng, kính đeo, nước hoa hồng. Những lễ vật trên thể hiện sự tôn trọng của người Anh đối với chính quyền bản địa, đồng thời cũng là những hiểu biết khá rõ của người Anh về vấn đề ngoại giao tại Việt Nam (British Library, IOR/G/12/17/1, IOR/G/40/18).  Đổi lại, chúa Trịnh và chúa Nguyễn cũng đáp lễ người Anh bằng những lễ vật địa phương như gạo, rượu, lợn sữa, và cả tiền đồng theo đúng nghi thức ngoại giao. Tuy nhiên, sau sự tiếp đón ban đầu, mỗi chính quyền đã thể hiện những chính sách khác nhau đối với người Anh.  Chính quyền Đàng Ngoài: Kiềm tỏa, hạn chế người Anh  Về phía chúa Trịnh và hệ thống chính quyền Đàng Ngoài, điểm nổi bật nhất dường như là chính sách hạn chế người nước ngoài, cụ thể là người Anh hoạt động, nhất là tại kinh đô Thăng Long, mặc dù người Anh vẫn nhận được sự giúp đỡ của một số quan lại hoặc sau cùng vẫn có được thương điếm tại kinh thành. Chỉ vài tháng sau khi đặt chân đến Đàng Ngoài, Giám đốc thương điếm Anh William Gyfford đã gặp phải những khó khăn, hạch sách của bộ máy quan lại địa phương. Người Anh phải cho thuyền ngược sông trong điều kiện khó khăn, phải chờ đợi quá lâu hoặc phải đối phó với việc đòi quà của giới chức địa phương. Thậm chí Gyfford còn nhận ra rằng người Đàng Ngoài không cần sự xuất hiện của người Anh, và nếu muốn duy trì hoạt động, người Anh phải nộp lệ phí, lễ vật nhiều như người Hà Lan trước đây (British Library, IOR/G/12/17/1).  Theo thống kê từ ghi chép của thương điếm Anh, chúng tôi phân loại được 3 loại phí/ quà tặng người Anh phải thực hiện trong quá trình hoạt động tại Đàng Ngoài:  Phí ra mắt (entry-fee) được thực hiện năm 1672 khi người Anh lần đầu tiên đến Đàng Ngoài. Họ chính thức đã gửi quà tặng 11 lần trong năm 1672, riêng tháng 7 là 9 lần. Đối tượng nhận quà là chúa Trịnh, các hoàng tử, Trấn thủ Sơn Nam và Thăng Long, các quan giám thương. Ngoài ra, rất nhiều lần khác người Anh chủ động tặng hoặc bị vòi vĩnh tiền đồng, quà tặng (vải vóc, kính, dao) từ thư lại, người của nha môn cho việc kiểm kê, vận chuyển, trông coi hàng hóa, cũng như giúp việc đưa tin.    Hình ảnh về một buổi “thiết triều” của chính quyền chúa Trịnh. Nguồn: A. Lamb, The Mandarin road to Old Hue: Narratives of the Anglo-Vietnamese diplomacy from the 17th century to the Eve of the French conquest (London, 1971), p. 17.  Phí xin xây dựng thương điếm tại kinh thành (lobby-fee) được thực hiện trong suốt 10 năm (1672-1682) với vô vàn những khó khăn dành cho người Anh. Dưới chính sách của chúa Trịnh, ban đầu người Anh chỉ được phép ở và xây dựng thương điếm tại Phố Hiến (thuộc Hưng Yên). Nhưng đây chỉ là một thị trấn nhỏ, một trạm trung chuyển không phù hợp với buôn bán lớn, nên người Anh ngay từ đầu đã muốn chuyển lên kinh đô để mở rộng hoạt động và dễ dàng tiếp xúc với chính quyền Đàng Ngoài. Quá trình đó gặp khó khăn bởi chính sách hạn chế người nước ngoài trú tại kinh đô, cũng như những hạch sách của quan lại các cấp, và việc những món quà người Anh dâng tặng (vàng, bạc, lụa, đại bác) không làm hài lòng chúa Trịnh Tạc. Người Anh do đó đã phải uyển chuyển trong cách đối phó, tìm cách vận động quan lại tại kinh đô, nhờ đến sự giúp đỡ của các phi tần để có được sự phê chuẩn của triều đình. Tuy nhiên, mọi việc chỉ thuận lợi khi chúa Trịnh Căn lên ngôi và người Anh được cấp phép trú ngụ, xây dựng tại Thăng Long năm 1683.  Phí/ quà tặng hàng năm (annual gift) dành cho chúa Trịnh vào các dịp Tết Nguyên đán, Trung thu, sinh nhật chúa hoặc một số dịp lễ khác. Ngoài ra, người Anh còn phải tặng quà thường niên cho hoàng thân, một số quan lại liên quan trực tiếp đến hoạt động của người Anh. Tuy nhiên, hoạt động này cũng có những thay đổi tùy theo điều kiện kinh doanh của người Anh và việc tàu Anh cập bến như thế nào. Xu hướng chính là người Anh tiết giảm các món quà, tập trung vào một số đồ vật Chúa thích như súng, đồ xa xỉ phẩm,… (nhưng không phải tiền). Đổi lại, Chúa tặng người Anh lụa, tiền đồng như hình thức trao đổi cho các hàng hóa Chúa đã lấy từ người Anh. Tuy vậy, việc tặng lụa cũng chấm dứt vào năm 1677 và người Anh sau đó ngày càng nhận được ít quà hơn từ chính quyền Đàng Ngoài.  Mặc dù phải nộp phí, tặng quà thường niên nhưng không đồng nghĩa với việc người Anh gặp thuận lợi trong hoạt động tại Đàng Ngoài. Những ghi chép của EIC chỉ ra rằng chúa Trịnh chỉ một lần duy nhất gửi thư cho người Anh bày tỏ mong muốn thông thương và yêu cầu một số sản phẩm, nhưng không đề cập đến vấn đề ngoại giao hay quan hệ hữu hảo. Những báo cáo về việc quan lại mua hàng không trả tiền, trả với tỉ giá thấp, hạch sách trong mua bán diễn ra hàng năm. Ngay cả trấn thủ Sơn Nam và Phố Hiến, Nguyễn Đình Kiên, một người ủng hộ người Anh nhiều năm cũng gây khó dễ năm 1694 khi cho đốt lá cờ Anh vì cho rằng biểu tượng chữ thập trên lá cờ liên quan đến Thiên chúa giáo, điều cấm kị tại Đàng Ngoài. Chính vì thế, sau khi cân nhắc phí tổn trong duy trì hoạt động, cộng với nguồn lợi đem lại quá ít, người Anh đã cân nhắc rời bỏ Đàng Ngoài vĩnh viễn vào năm 1697.    Hình ảnh phần đầu bức thư của chúa Nguyễn Phúc Chu gửi người Anh năm 1696 được lưu trữ tại British Library. Nguồn: IOR/G/40/18, Translate of the King of Cochin-China Letter sent to English Governor of the city of Madras in India, 2 April 1696, p. 21.  Chính quyền Đàng Trong: Chào đón, khuyến khích người Anh buôn bán  Về phía chúa Nguyễn, sự chào đón, cởi mở thể hiện ngay từ năm 1617 khi Chúa cho phép người Anh buôn bán tại Đàng Trong trong bất cứ thời điểm nào và hứa sẽ đảm bảo đầy đủ những điều kiện tốt nhất cho hoạt động thương mại. Chính những thương nhân Anh như William Adams, Edmund Sayers và William Nealson đã viết báo cáo đề nghị tiếp tục quay lại Đàng Trong bởi sự ưu ái rất lớn từ chính quyền. Rất tiếc, chuyến đi tiếp theo của người Anh từ Nhật Bản đến Đàng Trong (1618) đã thất bại do bão và người Anh tại Nhật gặp khó khăn nên không thể tiếp tục hoạt động thương mại với Đàng Trong (William Adams, Log-book).  Gần một thế kỷ sau, năm 1695 đại diện Anh từ Ấn Độ cũng nhận được những chào đón nồng ấm từ chúa Nguyễn. Bên cạnh những món quà đáp lễ ban đầu, sự chào đón đó được thể hiện qua mấy điểm chính sau: 1) quan lại Đàng Trong hết sức giúp đỡ người Anh dâng thư và yêu cầu buôn bán lên Minh Vương và không hề yêu cầu tiền lệ phí như quan lại Đàng Ngoài, 2) người Anh được tạo điều kiện thuận lợi khảo sát các tuyến đường giao thông và địa điểm chiến lược để xây dựng thương điếm, cụ thể là Hội An và kinh đô ở Thuận Hóa, 3) chúa Minh Nguyễn Phúc Chu gửi thư phúc đáp Thống đốc Anh tại Madras tỏ lòng hòa hiếu và đề nghị xây dựng quan hệ ngoại giao và thương mại. Đồng thời, Chúa cũng gửi một số mẫu sản phẩm để người Anh biết về tiềm năng thương mại của Đàng Trong. Điều này vô cùng đặc biệt trong so sánh với chúa Trịnh, người chưa một lần viết thư tỏ ý muốn thiết lập quan hệ với người Anh cũng như giới thiệu các sản phẩm bản địa nhằm thúc đẩy hoạt động thông thương (IOR/G/40/18).  Chính quyền Đàng Trong còn có chính sách ngoại giao mềm mỏng với người Anh khi họ tự ý xây dựng khu đồn trú và thương điếm tại Côn Đảo năm 1702. Biết được điều đó, chúa Nguyễn Phúc Chu đã gửi thư cho người đại diện công ty Đông Ấn Anh tại Côn Đảo, một mặt thể hiện sự không hài lòng vì việc người Anh trú tại Côn Đảo mà không xin phép, mặt khác đề nghị quan hệ hữu hảo, cho phép người Anh buôn bán nếu chấp thuận những yêu cầu cơ bản của chúa Nguyễn và giúp chúa chống lại cướp biển.  Tuy nhiên, bên cạnh thái độ chào đón thân thiện và mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao, chúa Nguyễn còn thể hiện rõ sự kiên quyết trong việc hạn chế tham vọng của người Anh về quyền “lãnh sự tài phán” hay ý đồ xây dựng khu đồn trú với quân đội riêng nhằm xây dựng “tiểu thuộc địa” trên lãnh thổ Đàng Trong. Tháng 12/1695, Thomas Bowyear, người đứng đầu phái bộ ngoại giao Anh tại Đàng Trong đề xuất với chúa Nguyễn việc xây dựng thương điếm và việc người Anh được phép áp dụng luật lệ riêng, có chính sách riêng đối với lao động, người bản địa, bao gồm cả quan lại địa phương không được phép vào khu vực thương điếm khi không có sự đồng ý của người Anh. Tuy nhiên, những yêu cầu trên “vi phạm” nghiêm trọng quyền lực của chúa Nguyễn cũng như đe dọa về chủ quyền, an ninh quốc gia. Do đó, trong các cuộc tiếp xúc ngày 10/1, 27/1, 24/2, 24/3/1696, chúa Nguyễn tránh không nhắc đến những yêu cầu trên mà chỉ đề cập việc người Anh được phép buôn bán, tìm hiểu xây dựng thương điếm ở Đàng Trong (IOR/G/40/18). Tiêu biểu hơn, năm 1703, khi biết tin công ty Đông Ấn xây dựng khu đồn trú ở Côn Đảo, chúa Nguyễn đã gửi thư cảnh cáo và yêu cầu người Anh cử đại diện đến diện kiến triều đình. Khi người Anh phớt lờ yêu cầu trên, năm 1705, nhân cuộc nổi dậy của nô lệ tại khu đồn trú người Anh, chúa Nguyễn đã cử quân tấn công Côn Đảo tiêu diệt toàn bộ khu đồn trú này (Davis, The EIC in Pulo-Condore).  Tầm nhìn khác biệt  Như vậy, xét trong gần một thế kỷ, chính sách của Đàng Trong với người Anh hầu như không đổi, vẫn luôn là sự chào đón, thân thiện để hướng đến mục tiêu thiết lập quan hệ ngoại giao và mở rộng buôn bán. Điều đó hoàn toàn khác với chính sách hạn chế, kiềm tỏa của chúa Trịnh trong khoảng 25 năm tồn tại của thương điếm Anh ở Đàng Ngoài. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt trên? Xét trong bối cảnh chiến tranh Trịnh– Nguyễn đã kết thúc năm 1672, chính sách của mỗi vương quốc đối với người Anh phụ thuộc vào tầm nhìn và mục tiêu riêng.  Đối với Đàng Ngoài, trong giai đoạn chiến tranh, họ đã tìm cách tận dụng vai trò của người Hà Lan trong việc cung cấp vũ khí, trở thành đồng minh quân sự nhằm chống lại Đàng Trong. Tuy nhiên, chiến tranh kết thúc cũng đồng nghĩa với suy giảm nhu cầu đồng minh, hỗ trợ bên ngoài, dẫn đến chính sách với người phương Tây có những khắt khe hơn. Người Anh đến Đàng Ngoài đúng thời điểm nhạy cảm trên nên không có được bất cứ thuận lợi nào về mặt chính sách. Sâu xa hơn, Đàng Ngoài vẫn đi theo con đường phát triển kinh tế nông nghiệp, sự thay đổi về kinh tế công thương nghiệp chỉ nở rộ trong một giai đoạn để thay thế hàng Trung Quốc. Đến khi những tác động trên không còn, dễ hiểu rằng Đàng Ngoài vẫn mang những cách nhìn cũ để áp đặt lên chính sách ngoại giao và do đó gây khó khăn cho người Anh.  Ngược lại, Đàng Trong luôn trong tâm thế chuẩn bị đối phó với nguy cơ đe dọa từ Đàng Ngoài nên không ngừng vận động, tìm kiếm sự ủng hộ từ bên ngoài. Sau chiến tranh Trịnh – Nguyễn vẫn còn đó những nguy cơ xung đột với Champa, Campuchia và Xiêm ở phía Nam cùng với áp lực áp chế các lực lượng Minh Hương, cướp biển buộc chúa Nguyễn phải tìm cách củng cố lực lượng hơn nữa. Quan trọng hơn, với tâm thế của một quốc gia mới thành lập, đứng trước nhiều áp lực cả trong và ngoài đã dẫn đến những chính sách cởi mở, chào đón những luồng gió mới từ phương Tây để phát triển hơn nữa cả kinh tế, quân sự của nhà Nguyễn. Tuy vậy, thiết lập và phát triển quan hệ với bên ngoài nhưng Đàng Trong chưa bao giờ quên đi nhiêm vụ bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Đó chính là cơ sở tiên quyết dẫn đến sự hình thành chính sách vừa thân thiện, vừa kiên quyết đối với người Anh trong thế kỷ XVII. Chính vì thế, sự khác biệt trong chính sách đối ngoại của Đàng Trong và Đàng Ngoài với người Anh đã để lại cho chúng ta những bài học hữu ích, những ví dụ cụ thể về việc mềm mỏng, khéo léo tiếp cận với thế giới bên ngoài nhằm học tập, phát triển nhưng cũng không quên bảo vệ chủ quyền dân tộc. Ngược lại, việc đóng cửa, hạn chế sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài cũng dẫn đến những hậu quả khôn lường, mà trước mắt chính là sự tụt hậu của quốc gia trước đà phát triển chung của thế giới. ¨  ————  Tài liệu tham khảo:  British Library: IOR/G/12/17, Tonkin factory (1672-1697).  IOR/G/40/18, Factory Records: Miscellaneous (1695-1697).  A. Lamb, The Mandarin road to Old Hue: Narratives of the Anglo-Vietnamese diplomacy from the 17th century to the Eve of the French conquest (London, 1971).  Danny Wong Tze-ken, “The Destruction of the English East India Company factory on Condore Island, 1702-1705”, Modern Asian Studies, 5 (2012), pp. 1097-1115.    Author                Trần Ngọc Dũng        
__label__tiasang Quản lý tài nguyên qua ảnh vệ tinh      Vừa giảng dạy vừa nghiên cứu, vừa thành thạo tin học vừa lăn lộn thực địa, nhóm nghiên cứu GIS thuộc Trung tâm Sinh thái nông nghiệp (ĐH Nông nghiệp I), dù đều còn rất trẻ, đã có kết quả công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín.    Nhóm nghiên cứu trẻ  Dẫn chúng tôi đến căn phòng bé xíu, chỉ chừng 5m2, Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp I Trần Đức Viên giới thiệu: “Nhiều địa phương sợ ‘cái này’ lắm. Đất đai mất bao nhiêu, rừng mất bao nhiêu, không cãi đi đâu được”.  Đó là phòng GIS (Geographic information system – Hệ thống định vị toàn cầu) của Trung tâm Sinh thái nông nghiệp. Các nghiên cứu viên đang chăm chú nhìn vào màn hình, tất cả họ đều dưới 30. Trần Trung Kiên, nghiên cứu viên của nhóm GIS phóng to ảnh trên màn hình: Từ một vùng xanh biếc, hiện dần lên hình một con sông.  “Đây là lưu vực sông Cả. Chúng tôi đang so sánh ảnh khu vực này hiện nay với ảnh những năm trước”… – Kiên giải thích – “Cơ sở khoa học của nghiên cứu này là tất cả các đối tượng trên mặt đất đều bức xạ lại quang phổ theo nhiều cách khác nhau. Dựa trên quy luật tương tác giữa thảm che phủ và năng lượng điện tử, nhóm nghiên cứu phân biệt được các lớp thảm che phủ từ ảnh vệ tinh: thảm thực vật dày (cây cao, to hoặc rừng già), thảm thực vật kém dày hơn (các khu rừng cây to đã bị khai thác gần hết, rừng tái sinh), thảm thực vật cỏ và cây bụi (cây thấp, tre nứa, thực vật tái sinh cùng cỏ sau khi dọn nương), đất trống đồi trọc (nương rẫy, đất vườn tạp, khu dân cư và các vùng đất đang tiến hành canh tác nông nghiệp)”.  Đó là một phần công việc của dự án nghiên cứu tác động của chính sách đến quản lý tài nguyên rừng và sinh kế của người dân thượng nguồn sông Cả – một dự án hợp tác với Viện Địa lý của ĐH Copenhagen (Đan Mạch). Khác với hình dung ban đầu của tôi là các nhà “khoa học nông nghiệp” luôn “chân lấm tay bùn” – các nghiên cứu viên ở đây thao tác máy tính hết sức thành thạo.  “Nghiên cứu ở đây chủ yếu trên máy tính?” – Tôi hỏi.  “Cũng phải nghiên cứu thực địa nhiều chứ. Ở bản hàng tuần là chuyện bình thường” – Kiên cười.             Nghiên cứu viên trẻ Trần Trung Kiên        Chị Nguyễn Thị Thu Hà, trưởng nhóm nghiên cứu GIS, người vừa “chân ướt chân ráo” sau chuyến thực địa từ Hà Tĩnh về cho biết: Dùng ảnh vệ tinh viễn thám kết hợp với điều tra thực địa, nhóm nghiên cứu đã thấy sự tác động rất rõ rệt của chính sách nhà nước tới phát triển rừng. Điều tra ở Kỳ Anh cho thấy, khi thực hiện chương trình 327 (giao đất giao rừng), những xã nào thực hiện chính sách hỗ trợ tốt chương trình 327 thì “vùng xanh” trên ảnh vệ tinh viễn thám đậm hơn và rộng hơn. Cũng qua ảnh vệ tinh viễn thám, có thể nhận thấy những xã ở Kỳ Anh thực hiện chương trình 661 (trồng mới 5 triệu ha rừng) có hiệu quả hơn những xã thực hiện chương trình 327.  “Xem ảnh vệ tinh viễn thám, thấy ngay diện tích rừng ở Việt Nam không được như những con số công bố. Dù sao thì những năm qua, diện tích rừng cũng đã tăng lên” – Thu Hà nói.  Không chỉ nghiên cứu dùng ảnh vệ tinh để quản lý tài nguyên rừng, nhóm nghiên cứu còn thực hiện các dự án quản lý tài nguyên nước, ảnh hưởng của thủy văn tới mùa vụ ở Hòa Bình và Nghệ An. Một hướng nghiên cứu khác được nhóm đặt nhiều kỳ vọng là dự đoán năng suất cây trồng, cũng qua ảnh vệ tinh.  “Từ ảnh vệ tinh, có thể tính được khả năng hấp thụ ánh sáng quang hợp của cây trồng. Phối hợp với nhiều yếu tố thực địa khác như tưới tiêu, sâu bệnh, người ta có thể dự đoán năng suất được trước 1 tháng rưỡi” – Thu Hà cho biết.  Trong chuyến thực tập ở Mozambique và Nam Phi mấy năm trước, Thu Hà đã dự báo năng suất mía ở đây với độ chính xác khoảng 80%. Tới đây, Thu Hà sẽ làm luận án tiến sĩ ở Hà Lan về dự báo năng suất cây trồng ở Việt Nam bằng ảnh vệ tinh. “Diện tích trồng trọt càng lớn, dự báo càng chính xác. Vì thế trước hết chúng tôi chỉ nghiên cứu ở miền Nam”. Thu Hà hy vọng sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, mức độ chính xác sẽ còn cao hơn nữa.  Dự báo trước được sản lượng cây trồng rất hữu ích cho cả nông dân, các doanh nghiệp xuất khẩu và nhà quản lý. Lợi ích lớn, song phần lớn ảnh vệ tinh để dự báo năng suất cây trồng lại có thể khai thác… miễn phí. “Thậm chí ảnh mất tiền, độ phân giải cao lại không dùng để dự báo được vì chu kỳ cập nhật dài (trên dưới 1 tháng), lúc đó cây trồng có khi đã thu hoạch cả”. “Chúng tôi lấy ảnh miễn phí của NASA, được cập nhật hằng ngày” – Thu Hà cho biết thêm.  Khuyến khích nghiên cứu, đãi ngộ công bố  Nhờ hợp tác nghiên cứu với các tổ chức nước ngoài, như dự án Nghiên cứu và quản lý tài nguyên lưu vực sông cả (Quỹ Rockefeller), Nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái nương rẫy tổng hợp (Quỹ Ford), Dự án phát triển nghề vườn ở Đông Phi và Đông Nam Á (Ủy ban châu Âu) mà nhiều thành viên trong Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp, dù còn rất trẻ, cũng đã có bài đăng trên các tạp chí quốc tế. Đặc biệt Thu Hà đã có bài đăng trên 2 tạp chí chuyên ngành rất uy tín là Agricutural System và Elsevier Direct. “Uy tín của Elsevier Direct chỉ sau Nature” –  Hà cho biết.  Hà và các đồng nghiệp trẻ của mình có lý do để nỗ lực nghiên cứu. Trường ĐH Nông nghiệp I có “Quy định về quản lý hoạt động KHCN” (Hiệu trưởng Trần Đức Viên gọi đùa đó là “hương ước trường”), theo đó giảng viên có bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế theo ISI hay SCI thì được “bù” tương đương 200 giờ dạy và thưởng 10 triệu đồng. Ngoài ra, ai có công bố quốc tế thì “mặc nhiên” được công nhận là giảng viên dạy giỏi hoặc Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. “Có GS già bất mãn với quy định này, tôi bảo: thì ông cứ công bố được như “chúng nó” đi. Thế là họ thôi” – Hiệu trưởng Trần Đức Viên kể.  Có lẽ ông là một trong số ít “quan chức” của các trường đại học mà tôi từng gặp có ý thức rõ ràng về việc phải “vừa khuyến khích, vừa thúc ép” các giảng viên trẻ của mình nghiên cứu khoa học. Chính lực lượng trẻ là động lực để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong trường.  “Tôi quy định khoa nào cũng phải tìm được một phó khoa tuổi dưới 40, từng học ở nước ngoài về” – Ông Viên cho biết.  Những ai “trốn” nghiên cứu cũng phải “trả giá”. “Hương ước trường” quy định: Giảng viên 2 năm liên tục không nghiên cứu thì không được dạy lý thuyết cho các bậc đại học; giảng viên có học vị từ tiến sĩ trở lên, có chức danh từ giảng viên chính trở lên, nếu 2 năm liên tục không nghiên cứu thì không được hướng dẫn thạc sĩ và nghiên cứu sinh…  Tuy nhiên, với Thu Hà, lý do để cô vừa giảng dạy, vừa lao vào nghiên cứu không phải vì sợ “phạt” hay để “được thưởng”, mà vì: “Nhiều sinh viên hiện nay không còn thụ động như xưa, họ hỏi nhiều câu rất “hóc”. Sau này đào tạo theo tín chỉ, không có kiến thức thật sự, không còn ai theo học”.  Còn vài ngày nữa là Hà “xuất ngoại” làm tiến sĩ. Tôi hỏi đùa: “Xong tiến sĩ, chị có định đi khỏi trung tâm không?”. Hà lắc đầu dứt khoát: “Không. Trước đã từng có nhiều người đi học nước ngoài về, nhưng chưa ai bỏ Trung tâm này cả”.    ảnh trên cùng: Kết quả giải đoán tài nguyên rừng từ ảnh vệ tinh ở xã Mậu Đức, Con Cuông, Nghệ An  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan niệm của Einstein về đạo vũ trụ      Đạo vũ trụ (cosmic religion) theo quan điểm của Albert Einstein* được coi như “tôn giáo của tương lai”**, một thứ tôn giáo “bao trùm cả tự nhiên lẫn tâm linh”, “dựa trên một ý thức tôn giáo nảy sinh từ kinh nghiệm về vạn vật, kể cả tự nhiên lẫn tâm linh”, “một tổng thể có ý nghĩa”. Einstein cũng nhận định: “Phật giáo đáp ứng được sự mô tả này” và “nếu như tồn tại một tôn giáo có thể đồng thuận với những đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo.”  Vậy đạo vũ trụ là gì và vì sao nó được Einstein coi trọng như vậy? Bài viết này chia sẻ một số suy nghĩ của tác giả về những đặc trưng cơ bản của đạo vũ trụ và ý nghĩa triết học của nó.      Albert Einstein tin rằng, tôn giáo của tương lai sẽ phải vượt lên trên ý tưởng về một đức Chúa có bản ngã và tránh xa những giáo điều cùng thần học.  Một số đặc trưng cơ bản của đạo vũ trụ  1/ Không tin vào đức Chúa có bản ngã, hoặc Chúa phỏng nhân (personal or anthropomorphic God), mà thừa nhận quan niệm của Baruch Spinoza, quan niệm phiếm thần luận về Chúa: Chúa và tự nhiên là một và giống nhau (deus sive natura).  Phiếm thần luận (phiếm nghĩa là nói chung, không cụ thể, phiếm đàm, phiếm chỉ) được định nghĩa là “một học thuyết, hoặc niềm tin rằng Chúa là vũ trụ và những hiện tượng của vũ trụ (được xem như một tổng thể), hoặc một học thuyết tôn kính vũ trụ như là sự biểu hiện của Chúa”. Vũ trụ là biểu hiện của Chúa (manifestation of God) chứ không phải là sản phẩm của Chúa. Chúa không nằm ngoài vũ trụ, không tạo ra vũ trụ. Vũ trụ tự tạo ra chính nó. Khẳng định như vậy để khỏi rơi vào vòng luẩn quẩn: Nếu Chúa tạo ra vũ trụ thì ai đã tạo ra Chúa? Chúa (Thượng đế) cũng không phải là một đấng sáng tạo toàn năng, mắt xanh mũi lõ ở châu Âu, hoặc đội mũ Bình Thiên mặc hoàng bào ở châu Á, có sức mạnh siêu nhiên chi phối cuộc sống của mọi người, ban thưởng hoặc trừng phạt mỗi người.  Quan niệm phiếm thần có thể có từ ngàn xưa, và một số tôn giáo ở phương Đông vẫn tiếp tục mang các yếu tố phiếm thần. Tuy nhiên học thuyết phiếm thần chỉ được xây dựng nên vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII ở phương Tây. Thuật ngữ “phiếm thần” bằng tiếng Anh (pantheism) lần đầu tiên được John Toland, nhà văn người Ireland, sử dụng năm 1705. Ông khẳng định: “Chúa là một khởi nguyên phi nhân tính, không nằm ngoài giới tự nhiên, mà đồng nhất với tự nhiên”. Mặc dù vậy, người đặt nền móng cho học thuyết phiếm thần chính là nhà triết học Hà Lan gốc Do Thái Baruch Spinoza (1632-1677) trong tác phẩm nổi tiếng Đạo đức học năm 1676. Trong sách này, ông đã trả lời thuyết nhị nguyên của Descartes cho rằng tinh thần và thể xác tách biệt nhau. Spinoza theo thuyết nhất nguyên (monism), xem tinh thần và thể xác là một thể thống nhất, Chúa và Tự nhiên là hai cái tên của cùng một thực tại. Spinoza là một nhân vật lịch sử quan trọng tại Hà Lan, nơi chân dung ông xuất hiện trên tờ bạc 1.000 guilder được lưu hành cho đến khi đồng euro được đưa vào sử dụng năm 2002. Albert Einstein gọi Spinoza là nhà triết học có ảnh hưởng lớn nhất đối với thế giới quan của mình.  2/ Đạo vũ trụ bao quát cả tự nhiên lẫn tâm linh, cả linh hồn và thể xác. Làm rõ điều này là công việc khó khăn, đầy thách thức đối với nhà phiếm thần. Trả lời câu hỏi: liệu ông có thể tự xác định mình là một nhà phiếm thần hay không, Einstein nói: “Câu hỏi của bạn là khó nhất trên thế giới. Nó không phải là một câu hỏi mà tôi có thể trả lời đơn giản là có hay không. Tôi không phải là người vô thần (atheist), và tôi không nghĩ mình có thể tự coi mình là một nhà phiếm thần (pantheist). Chúng ta đang ở vị trí của một đứa trẻ nhỏ đi vào một thư viện khổng lồ với nhiều sách bằng nhiều thứ tiếng. Trẻ biết ai đó đã viết những quyển sách này. Nhưng nó không biết họ đã làm như thế nào. Nó không hiểu các ngôn ngữ mà chúng được viết. Đứa trẻ mơ hồ nghi ngờ một trật tự bí ẩn trong việc sắp xếp các quyển sách, nhưng không biết nó là gì. Điều đó, dường như với tôi, là thái độ của con người thông minh nhất đối với Chúa. Chúng ta thấy vũ trụ được sắp xếp một cách kỳ diệu và tuân theo một số định luật nhất định, nhưng chỉ lờ mờ hiểu được những định luật này. Tâm trí hạn chế của chúng ta nắm bắt được lực lượng huyền bí di chuyển các chòm sao. Tôi mê thuyết phiếm thần luận của Spinoza, nhưng ngưỡng mộ hơn nữa sự đóng góp của ông đối với tư tưởng hiện đại, vì ông là triết gia đầu tiên xem linh hồn và thể xác như là một, chứ không phải là hai thứ riêng biệt”.  3/ Là tôn giáo của tương lai, đạo vũ trụ phải tương thích với khoa học hiện đại, có quan niệm mới về sáng tạo. Nói theo Trịnh Xuân Thuận, phải “đặt cược cho một vũ trụ duy nhất và sự tồn tại của một nguyên lý sáng tạo chịu trách nhiệm cho việc điều chỉnh vũ trụ một cách vô cùng chính xác… Nguyên lý này không đại diện bởi một vị Chúa rậm râu; đó là một nguyên lý phiếm thần biểu hiện qua các định luật của tự nhiên.” Nguyên lý này có nét giống với những gì Spinoza miêu tả và Albert Einstein khẳng định: “Chắc chắn rằng, tựa như tình cảm tôn giáo, niềm tin rằng thế giới là lý tính, hay ít nhất là có thể hiểu được, chính là cơ sở của mọi công trình khoa học. Niềm tin này tạo nên quan niệm của tôi về Chúa. Đó là quan niệm của Spinoza”.  Sức sống của đạo vũ trụ  Ở Việt Nam, mọi người được dạy về chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng cách tiếp cận của chúng ta với bản thân chủ nghĩa này cũng còn hết sức thô sơ và chưa đầy đủ, dẫn tới cách hiểu rằng tất cả các nhà triết học, nhà tư tưởng từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều được dàn thành hai trận tuyến đấu tranh sống mái: Duy vật với Duy tâm, Khoa học với Tôn giáo, Tự nhiên với Tâm linh v.v… Tuy nhiên, trên thế giới có những người và ngày càng nhiều người như Spinoza, như Einstein, chẳng đối lập khoa học với tôn giáo, tự nhiên với tâm linh, chẳng duy tâm cũng không duy vật, kể cả duy vật biện chứng, những người đó chẳng lẽ không có chỗ đứng nào trong đời sống tư tưởng của nhân loại sao? Phải chăng đây cũng là một loại giáo điều và thần học mà đạo vũ trụ cần phải tránh xa?  “Mọi chia rẽ con người đều nguy hiểm”, Đức Dalai Lama từng nói. Theo sáng kiến của Ngài cùng các nhà tư tưởng Phật giáo khác, một cuộc đối thoại giữa khoa học và Phật giáo đã được mở ra suốt 20 năm nay. Nhiều cuộc gặp gỡ giữa Dalai Lama với các nhà khoa học lỗi lạc (gồm các nhà thần kinh học, sinh học, tâm lý học, vật lý học và triết học) đã được tổ chức thường xuyên. Những cuộc trao đổi này tạo nên sự hiểu biết về bản chất của các hiện tượng và của ý thức, tâm linh.  Ngày nay đối thoại đã trở thành một nét đặc trưng, một đòi hỏi ngày càng cấp bách. Werner Heisenberg, một trong những cha đẻ của vật lý lượng tử đã viết: “Tôi cho rằng khát vọng vượt qua những điều đối lập, bao gồm sự tổng hợp cả hiểu biết duy lý và trải nghiệm tâm linh về tính thống nhất, là một nét đặc trưng nhất, dù được thể hiện ra hay không được nói ra, của thời đại chúng ta”.  Trong cuộc đối thoại với Matthieu Ricard, một nhà khoa học phương Tây trở thành nhà sư, Trịnh Xuân Thuận nhà vật lý thiên văn, một trong những chuyên gia lớn nghiên cứu sự hình thành của các thiên hà, đã đề cập nguyên lý sáng thế, được hiểu theo cách hiểu của Spinoza và của Einstein. Đó là “nguyên lý vị nhân” (anthropic principle), theo đó, “có một sự điều chỉnh cực kỳ chính xác các hằng số vật lý và các điều kiện ban đầu của vũ trụ để cho nó có thể cưu mang được sự sống và ý thức”.  Theo Trịnh Xuân Thuận, nghiên cứu khoa học không những không đối lập với tâm linh, mà còn phải coi tâm linh như người bạn đường. Có như vậy chúng ta mới không quên mất tính nhân văn của mình. Tâm linh nhằm cải thiện sự sung túc nội tâm của chúng ta để chúng ta có khả năng cải thiện sự sung túc nội tâm của tất cả mọi người. Trong thực tế, khoa học có thể hoạt động không cần tới tâm linh. Tâm linh có thể tồn tại không cần tới khoa học. “Nhưng con người, để trở nên toàn thiện, thì cần phải có cả hai”.  Đáp ứng nhu cầu thiêng liêng đó của con người, đạo vũ trụ sẽ có sức sống lâu bền.  ———-  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1- Albert Einstein (2005), Thế giới như tôi thấy. Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hào, Trần Tiễn Cao Đăng dịch. Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. H.: Tri thức.  2- Albert Einstein, Leopold Infeld (2005). Sự tiến triển của vật lý học. Lê Minh Triết dịch. H.: Khoa học và Kỹ thuật.  3- Matthieu Ricard, Trịnh Xuân Thuận (2005). Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Từ Big Bang đến Giác ngộ. Phạm Văn Thiều, Ngô Vũ dịch. TP.HCM.: Trẻ.  4- Trịnh Xuân Thuận(2014). Khát vọng tới cái vô hạn. Những con số-các vũ trụ-và con người. Phạm Văn Thiều, Phạm Nguyễn Việt Hưng dịch. H.: Trẻ-Tri Thức.  5- Stephen Hawking và Leonard Mlodinow (2013). Bản thiết kế vĩ đại. Phạm Văn Thiều-Tô Bá Hạ dịch. TP.HCM.: Trẻ.  6- Đức Dalai Lama và Jean-Claude Crrière (2008). Sức mạnh của đạo Phật. Để sống tốt hơn trong thế giới ngày nay. Lê Việt Liên dịch, Nguyễn Quang Chiến hiệu đính. H.: Phương Đông.   ——  * Bài viết chia sẻ cảm nghĩ của tác giả về đạo vũ trụ nhân sự kiện ngày 17-6-2017 tại Diễn đàn Lý luận phát triển do Viện VIDS và Viện SENA tổ chức, TS Nguyễn Thế Hùng, Viện Vật lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đề cập quan niệm của Albert Einstein về ba loại tín ngưỡng: Tín ngưỡng siêu nhiên; tín ngưỡng các nhân tượng, nhân hình cụ thể; và đạo vũ trụ.  ** “Tôn giáo của tương lai sẽ là một đạo vũ trụ. Nó sẽ phải vượt lên trên ý tưởng về một đức Chúa có bản ngã và tránh xa những giáo điều cùng thần học. Có khả năng bao trùm cả tự nhiên lẫn tâm linh, đạo vũ trụ sẽ phải dựa trên một ý thức tôn giáo nảy sinh từ kinh nghiệm về vạn vật, kể cả tự nhiên lẫn tâm linh, được coi là một tổng thể có ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được sự mô tả này. Nếu như tồn tại một tôn giáo có thể đồng thuận với những đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo.” (“The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.”)       Author                Phạm Khiêm Ích        
__label__tiasang Quan sát chi tiết Mặt trăng của sao Hỏa      Tàu thám hiểm sao Hỏa (MRO) của NASA đã ghi lại được những chi tiết ba chiều chi tiết về mặt trăng Phobos của sao Hỏa, và khám phá ra những chi tiết chưa từng được quan sát của vệ tinh hình củ khoai tây này.      Các nhà khoa học sẽ phân tích chi tiết những bức ảnh này để hiểu rõ hơn về nguồn gốc của Phobos. Chi tiết nổi bật nhất là một miệng núi Stickney dài 5,5 dặm. Các hình ảnh từ MRO đã chỉ ra rằng vành miệng của Stickney được hình thành từ nhiều vật liệu khác biệt so với các vùng xung quanh nó. Ngoài ra trên Phobos có thể có nước đóng băng và các vật liệu giàu carbon cần thiết cho việc định cư trên sao Hỏa sau này. Bên cạnh đó MRO còn ghi lại được sự lở đất dọc theo các vách của Stickney và các miệng núi khác, bao gồm cả quá trình hình thành trên mảng tối của mặt trăng mà trước đây chưa được khám phá.   Linh Ngân (Theo DiscoveryNews)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát chuyển động của điện tử chính xác tới atto giây      Các nhà nghiên cứu châu Âu vừa phát triển kỹ thuật mới cho phép nghiên cứu chuyển động của các điện tử trong chất rắn với độ chính xác trong khoảng thời gian ngắn tới atto giây (10-16s).    Với kỹ thuật này, nhóm nghiên cứu có thể đo chính xác khoảng thời gian điện tử di chuyển ra tới bề mặt của mẫu khi được kích thích bởi laser. Độ phân giải thời gian atto giây là giới hạn dịch chuyển của một điện tử hoạt động trong các linh kiện điện tử. Vì thế, trên nguyên tắc, các mạch điện tử tí hon với kích thước chỉ một vài nguyên tử có thể đóng mở dòng điện với tần số lên tới 1015Hz, nhanh gấp một triệu lần so với các bộ vi xử lý hiện nay. Kỹ thuật mới này sẽ vô cùng hữu ích cho việc phát triển các linh kiện điện tử trong tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát được hiện tượng hiếm thấy về hố đen      Website báo Independent (Anh Quốc) ngày 17/8  đưa tin Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ – NASA phát hiện một hiện tượng  hiếm thấy về hố đen.     Lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà khoa học quan sát thấy khi hố đen quay, nó có thể kéo theo không gian và thời gian xung quanh chúng; khám phá này có khả năng dẫn đến những hiểu biết mới về Thuyết Tương đối của Einstein.  Kính thiên văn Nuclear Spectroscopic Telescope Array (NuSTAR) của NASA đã ghi lại hiện tượng trên. Khi đó, một nguồn dày đặc tia X, được gọi là quầng sáng, chuyển động tới hố đen và bị hút vào trong hố, khiến cho tia X trở nên mờ nhạt không rõ và bị kéo dài ra. Hiện tượng này rất hiếm thấy, trước đây cũng chưa từng được ai nghiên cứu kỹ như vậy.  Ánh sáng phát ra từ quầng sáng đã chiếu sáng hố đen được các nhà khoa học nghiên cứu. NASA mô tả dường như có một bó đuốc được thắp sáng tại nơi họ đang quan sát.  Hố đen nói ở đây được gọi là Markarian 335, cách Trái Đất 324 triệu năm ánh sáng, có khối lượng vào khoảng 10 triệu Mặt Trời nhưng thể tích lại chỉ to gấp 30 lần Mặt Trời. Loại hố đen quay này đã kéo theo không gian và thời gian xung quanh nó. Việc nghiên cứu hiện tượng mờ nhạt đó sẽ giúp các nhà khoa học hiểu thêm về các quầng sáng hố đen, thứ cho tới nay vẫn còn là bí ẩn.   Ngoài ra, vận tốc hạt của quầng sáng có thể giúp chứng minh một số hiệu ứng được trình bày trong Thuyết Tương đối của Einstein. Fiona Harrison, nhà nghiên cứu phụ trách kính thiên văn NuSTAR (tại Viện Công nghệ California) nói: “Hiện tượng xưa nay chưa từng thấy mà NuSTAR quan sát được có thể giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu hiệu ứng ánh sáng bị bẻ cong – phần cực đoan nhất trong Thuyết Tương đối tổng quát.”  Theo website phys.org/news (Anh Quốc), trong vũ trụ có rất nhiều hố đen, không thể nào đếm được tất cả. Riêng hệ Ngân hà có thể có 100 triệu vật thể làm mê hoặc lòng người này. Hầu như tất cả mọi hố đen đều có thể quy vào một trong hai hoại: lớn và siêu lớn. Các nhà thiên văn tin rằng các hố đen có khối lượng bằng 10 đến 100 khối lượng Mặt Trời là những vật còn lại của các ngôi sao đang chết, những hố đen khối lượng cực lớn bằng hơn 1 triệu lần Mặt Trời thì nằm ở chính giữa phần lớn các hệ sao.   Trong vũ trụ cũng rải rác có một số hố đen bí ẩn hơn, có khối lượng vào loại vừa, bằng từ vài trăm cho tới vài trăm nghìn lần khối lượng Mặt Trời, do khó quan trắc được nên mọi người còn tranh cãi về sự tồn tại của chúng. Tuy nhiên mới đây, một nhóm nhà thiên văn ở ĐH Maryland (Mỹ) đã tiến hành trắc lượng chính xác được hố đen M82X-1 ở cách Trái Đất 12 triệu năm ánh sáng, có khối lượng bằng 400 lần Mặt Trời, qua đó chứng thực sự tồn tại của nó. Bản online tuần san Nature (Anh Quốc) ngày 17/8 công bố kết quả nghiên cứu này của Dheeraj Pasham, nghiên cứu sinh thiên văn học ĐH Maryland, và hai cộng sự.  Một trong các tác giả bản báo cáo là Richard Mushotzky nói: “Khó gặp nhất là loại hố đen có khối lượng trong phạm vi như vậy. Bao lâu nay các nhà thiên văn luôn thắc mắc những vật thể đó có tồn tại hay không? Chúng có các đặc tính gì? Trước đây người ta chưa thể thu được các số liệu để trả lời câu hỏi đó.” Ông cho biết hố đen được nhóm của mình nghiên cứu là hố đen đầu tiên thuộc loại khối lượng trung bình có được kết quả đo lường chính xác, qua đó “trở thành thí dụ khiến mọi người tin cậy về loại hố đen này”.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  Nguồn:  http://www.independent.co.uk/incoming/nasa-gets-a-rare-glimpse-of-a-black-hole-9674026.html  http://phys.org/news/2014-08-fascinating-rhythm-pulses-illuminate-rare.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát pha mới trong ngưng tụ Bose-Einstein của các hạt ánh sáng      Khoảng 10 năm trước, các nhà nghiên cứu tại trường đại học Bonn dã tạo ra một kết tập tới hạn trạng thái photon, một đơn hạt “siêu-photon” được tạo ra bằng hàng trăm hạt ánh sáng đơn lẻ, và được thể hiện hoàn toàn thành một nguồn sáng mới.      Trạng thái này được gọi là ngưng tụ Bose-Einstein quang và thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà vật lý bởi thế giới của những hạt mang ánh sáng ngoại lai này là nơi quy tụ nhiều hiện tượng vật lý riêng có. Các nhà nghiên cứu do giáo sư Martin Weitz, người khám phá ra siêu photon, và nhà vật lý lý thuyết là giáo sư Johann Kroha mới có một quan sát mới: pha  giảm dao động quá mức (overdamped phase), một chuyển pha chưa từng được biết đến trước đây bên trong ngưng tụ Bose-Einstein.  Nghiên cứu này đã được xuất bản trên tạp chí Science “Observation of a non-Hermitian phase transition in an optical quantum gas”.  Ngưng tụ Bose-Einstein là một trạng thái vật lý cực đoan chỉ xuất hiện một cách bất thường tại các mức nhiệt độ cực thấp. Lúc đó, không thể phân biệt được các hạt trong hệ này, chúng ở cùng một trạng thái lượng tử như nhau; nói theo cách khác, chúng hành xử như một “siêu hạt” khổng lồ. Trạng thái này có thể được miêu tả bằng một hàm sóng.  Năm 2010, các nhà nghiên cứu do Martin Weitz dẫn dắt đã thành công khi lần đầu tiên tạo ra một ngưng tụ Bose-Einstein từ các hạt ánh sáng (các photon). Hệ cụ thể của họ đến giờ vẫn còn hữu dụng: các nhà vật lý bẫy các hạt ánh sáng trong một vật cộng hưởng được tạo ra từ hai gương cong được đặt cách quãng với khoảng cách một micrometer đủ để phản chiếu nhanh một chùm tia ánh sáng chuyển động qua lại. Không gian này được lấp đầy bằng một dung dịch chất nhuộm lỏng được dùng để làm lạnh các photon. Các phân tử chất nhuộm “nuốt” các photon và sau đó bắn chúng ra một lần nữa, qua đó đưa các hạt mang ánh sáng này tới mức nhiệt độ của dung dịch nhuộm – tương đương nhiệt độ phòng. Hệ này có thể làm lạnh các hạt ánh sáng bởi các đặc tính tự nhiên cả chúng là để phân rã khi được làm mát.  Sự phân tách rõ ràng của hai pha    Một chuyển pha là những gì mà các nhà vật lý gọi sự chuyển trạng thái giữa nước và băng trong suốt quá trình đóng băng. Nhưng chuyển pha cụ thể xảy ra giữa hệ các hạt ánh sang bị bẫy như thế nào? Các nhà khoa học giải thích theo cách này: hai tấm gương trong bị mờ là do các photon bị mất và bị thay thế, tạo ra một sự bất cân bằng và kết quả là hệ này không có một nhiệt độ xác định và được đưa vào trạng thái dao động. Điều này tạo ra một chuyển đổi giữa pha dao động và pha tắt. Tắt ở đây có nghĩa là biên độ của dao động suy giảm.  “Pha giảm dao động quá mức mà chúng tôi quan sát được tương ứng với một trạng thái mới của trường ánh sáng”, Fahri Emre Öztürk, một nghiên cứu sinh tại Viện Vật lý ứng dụng tại trường đại học Bonn và là tác giả thứ nhất của công trình, nói. Tính chất đặc biệt này là hiệu ứng của tia laser thường không tách biệt ngưng tụ Bose-Einstein bằng một chuyển pha, và cũng không có ranh giới rõ ràng giữa hai trạng thái này. Điều này có nghĩa là các nhà vật lý có thể chuyển qua chuyển lại giữa các hiệu ứng.  “Dẫu sao, trong thực nghiệm của chúng tôi, trạng thái giảm dao động quá mức của ngưng tụ Bose-Einstein quang được phân tách bằng một chuyển pha từ cả trạng thái dao động và một laser tiêu chuẩn”, giáo sư Martin Weitz, người dẫn dắt nghiên cứu nói. “Điều này chứng tỏ có một ngưng tụ Bose-Einstein là một trạng thái khác biệt với laser tiêu chuẩn. “Nói cách khác, chúng tôi đang xử lý cả hai pha tách biệt của ngưng tụ Bose-Einstein quang”, ông nói.  Các nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch áp dụng các phát hiện mới của mình cho những nghiên cứu khác về tìm kiếm các trạng thái mới của trường ánh sáng trong các ngưng tụ ánh sáng đa kết hợp có thể xảy ra trong hệ này. “Nếu các trạng thái rối lượng tử phù hợp trong các ngưng tụ ánh sáng kết hơp thì rất có thể dùng nó cho truyền các thông điệp mã hóa lượng tử giữa nhiều bên tham gia”, Fahri Emre Öztürk dự báo.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-04-physicists-phase-bose-einstein-condensate-particles.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát sóng hấp dẫn và giả kim thiên văn học      Nếu bạn đang đeo một món trang sức bằng vàng, hãy ngắm nó thật kỹ và xem xét điều này: rất có thể bạn đang đeo một mảnh thiên thạch của một vụ nổ sao, một vụ  nổ kinh hoàng đến nỗi nó làm chấn động toàn vũ trụ. Đó là kết luận từ thông báo về tín hiệu sóng hấp dẫn GW170817 vào 17/08/2017    Đây cũng chính là thông điệp cho thấy chúng ta có mối liên hệ mật thiết với vũ trụ quanh mình. Thực chất, thiên văn học không phải là về những hiện thực xa xôi, trừu tượng mà ngược lại nó cho chúng ta biết về nguồn gốc loài nguời và nguồn gốc của những gì chúng ta trân trọng.  Đối với thiên văn học, nguồn gốc tạo ra vàng là một bí ẩn trong nhiều thập kỉ. Người ta chỉ nhận ra vào những năm 1920 rằng những ngôi sao tỏa sáng là do chúng tổng hợp chất hóa học này thành chất hóa học khác bởi phản ứng nhiệt hạch. Điều này đồng nghĩa với việc, mỗi ngôi sao là một nhà máy hoá chất, một nhà máy tạo ra hầu hết các nguyên tố trong bảng tuần hoàn, tuy nhiên, những chi tiết cụ thể về quá trình này vẫn chưa hoàn toàn được hiểu rõ.    Minh họa về sự va chạm của hai sao neutron. Nguồn: R HURT/CALTECH-JPL/EPA  Những nhà thiên văn học đã chứng minh rằng những nguyên tố giản đơn nhất – hydro và heli – được tạo ra trong giai đoạn sơ khởi của Vũ trụ từ vụ nổ Big Bang. Những nguyên tố tự nhiên khác được hình thành trong quá trình chết, bùng nổ hay va chạm của các ngôi sao.  Tuyên bố vào ngày 17/08/2017 khẳng định một nghiên cứu từ năm 2013 rằng một tỉ lệ lớn vàng và các nguyên tố nặng khác có thể được sinh ra từ sự va chạm của hai thiên thể siêu đặc được biết đến với tên gọi là sao neutron. Kết quả của vụ nổ này được gọi là kilonova.  Sao neutron là lõi của một sao không lồ, sau khi sao này bùng nổ từ trước đó rất lâu. Hai ngôi sao trong vụ va chạm này ban đầu cách nhau khoảng 200 dặm, chuyển động xoáy ốc vào nhau nhanh đến nỗi chúng va chạm vào nhau chỉ sau 100 giây. Nằm cách xa Trái Đất khoảng 130 triệu năm ánh sáng, mỗi ngôi sao neutron này có đường kính khoảng 19 km và nặng gấp nửa triệu lần Trái Đất .           Video về sự va chạm của hai sao neutron   Sóng hấp dẫn đã được phát ra ở những thời khắc cuối cùng trong chuyển động xoáy ốc cũng nhưtrong quá trình va chạm . Sóng hấp dẫn phát ra được phát hiện vào lúc 1:41 chiều (giờ Anh) vào ngày 17/8 bởi hai hệ ghi đo giống hệt nhau tại Mỹ (bang Washington và Loisiana) và một hệ thứ ba tại Pisa, Ý. Sự kiện này thu hút sự chú ý của nhiều nhà thiên văn học khác, kích thích họ hướng kính thiên văn của mình tới vị trí của vụ va chạm tìm kiếm phát xạphát ra ở những bước sóng truyền thống.  Vào thời điểm lần đầu tiên phát hiện ra sóng hấp dẫntháng 2 năm 2016, đã có người nói rằng sóng hấp dẫn là một giác quan mới của các nhà thiên văn học. Là những gợn sóng trong không gian, sóng hấp dẫn có thể được coi như tương đồng vũ trụ của âm thanh. Phát hiện này giống như sự đi lên từ phim câm sang phim có tiếng. Điều đó đang trở thành sự thật vì cùng lúc sóng hấp dẫn được phát hiện, đài thiên văn Fermi của NASA đã thuđược một tín hiệu bùng nổ tia gamma ngắn.  Những bùng nổ tia gama chớp nhoáng đã được biết đến từ nhiều năm nay. Phân tích cho rằng đó là kết quả của va chạm giữa hai sao neutron nhưng những bằng chứng xác thực vẫn lẩn trốn những nhà thiên văn học. Cho đến tận ngày hôm nay.  Tín hiệu sóng hấp dẫn [lần này] đã cho thấy một cách rõ ràng rằng chúng là những sao neutron, chứ không phải là họ hàng của chúng, những lỗ đen. Những quan sát tiếp sau đó được thực hiện bởi những kính thiên văn trên mặt đất đã ghi lại những ánh chớp từ vụ nổ và đem đến cho những nhà thiên văn học dấu hiệu hóa học của những nguyên tử trong những mảnh vỡ từ vụ nổ, trong đó chứa một lượng lớn vàng.  Sự kết hợp của sóng hấp dẫn và những quan sát truyền thống sẽ là khởi đầu cho hàng loạt những sự kiện thiên văn trong tương lai. Phối hợp quan sát sẽ trở thành ”quy chế” giữa những nhà thiên văn học. Và khi họ làm như vậy, hi vọng sẽ có nhiều kì quan và nhiều liên hệ giữa chúng ta và vũ trụ rộng lớn sẽ được tìm thấy.  Hảo Linh dịch từ The Guardian  Phạm Ngọc Điệp hiệu đính       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát sự đột sinh của hành xử thu thập      Các chuyển pha miêu tả những thay đổi ở mức cực độ trong những tính năng của một hệ vĩ mô – giống như pha từ lỏng sang khí. Bắt đầu với các đơn tinh thể siêu lạnh, các nhà vật lý trường đại học Heidelberg đã có thể quan sát sự đột sinh của một chuyển pha với số lượng gia tăng của cấc hạt. Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trong lĩnh vực vật lý lượng tử dưới sự hương dẫn của giáo sư Selim Jochim của Viện vật lý.      Sáu cặp nguyên tử trong sự hội tụ của một chùm tia laser. Nguồn: Jonas Ahlstedt / Lund University Bioimaging Centre (LBIC)  Theo trật tự để hình thành các lý thuyết có ảnh hưởng, các chi tiết vi mô được thiết lập bên cạnh sự ủng hộ của các đại lượng có thể quan sát được về mặt vĩ mô. Một cốc nước có thể được miêu tả bằng các đặc tính như áp suất, nhiệt độ phòng và độ đậm đặc của chất lỏng, trong khi vị trí và vận tốc của các đơn phân tử nước thì chưa được chú ý. Một chuyển pha được miêu tả bằng sự thay đổi của hệ vĩ mô từ một trạng thái của vật chất như chất lỏng, sang một trạng thái khác của vật chất như khí. Các đặc tính của các hệ vĩ mô – vẫn gọi là các hệ nhiều vật (hệ nhiều hạt) – có thể được miêu tả như sự đột sinh bởi chúng là kết quả của sự tương tác của những đơn thành phần mà chúng không hề chứng tỏ có những đặc tính đó.  “Từ lâu tôi đã quan tâm đến cách thay đổi vĩ mô cực độ này tại một chuyển pha đột sinh từ một miêu tả vi mô”, Selim Jochim nói. Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu đã thiết kế một thí nghiệm trong đó họ lập một hệ từ những đơn nguyên tử siêu lạnh. Sử dụng mô phỏng lượng tử đó, họ tìm hiểu cách hành vi thu thập gia tăng trong một hệ vi mô. Để kết thúc hành xử natf, họ bẫy 12 nguyên tử trong một chùm laser siêu nhỏ. Trong hệ nhân tạo đó, cường độ tương tác giữa các hạt nhân từ không tương tác đã hình thành mức năng lượng lớn. “Số lượng các hạt trong hệ đủ nhỏ để miêu tả hệ về mặt vi mô. Nói cách khác, đã có bằng chứng về hiệu ứng thu thập”, Luca Bayha, một postdoc trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Jochim, giải thích.  Trong thí nghiệm của mình, các nhà vật lý Heidelberg đã định hình mô phỏng lượng tử để các nguyên tử có thể thu hút các nguyên tử khác, và nếu sự hấp dẫn này đủ mạnh thì sẽ dẫn đến việc kết cặp. Các cặp nguyên tử đó là thành phần bắt buộc của một chuyển pha từ siêu lỏng – một trạng thái trong đó các hạt chuyển động thành dòng mà không bị ma sát. Các thí nghiệm tập trung vào thời điểm hình thành cặp đột sinh như một chức năng của cường độ tương tác và số lượng hạt. “Kết quả đáng ngạc nhiên trong thực nghiệm của chúng tôi là chỉ có sáu nguyên tử chứng tỏ tất cả các dấu hiệu của một chuyển pha được chờ đợi với một hệ nhiều hạt”, Marvin Holten, một nghiên cứu sinh trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Jochim cho biết thêm.  Công trình của họ “Observing the emergence of a quantum phase transition shell by shell”  xuất bản trên tạp chí Nature.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-12-physicists-emergence-behaviour.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan sát trực tiếp cơ chế tổng hợp protein      Nhà sinh học phân tử Harry Noller và cộng sự thuộc UC Santa Cruz đã thành công quan sát trực tiếp cơ chế tổng hợp protein trong tế bào sống. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng “nhíp quang học” để thăm dò từng bước của bộ máy ribosome khi nó chuyển hóa những mã gen thành phân tử protein.      Nhờ hệ thống này, các nhà nghiên cứu có thể theo dõi quá trình chuyển hóa ở từng ribosome đơn lẻ. Nhóm nghiên cứu của Noller là những người đầu tiên giải thích trọn vẹn cấu trúc của một ribosome sử dụng tinh thể học tia X. Đó là bước đầu tiên để trả lời câu hỏi lớn hơn: Ribosome hoạt động như thế nào? “Cho đến nay, chúng ta chỉ dừng ở việc quan sát hàng nghìn tỷ ribosome, và chúng không đồng bộ-những chi tiết không rõ ràng. Bây giờ chúng ta có thể quan sát chỉ một ribosome tại một thời điểm,” ông nói.   Trà Mi (Theo Physorg)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Quang học và chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật Phục hưng      Tác phẩm Giovanni Arnolfini và vợ của danh họa thời Phục hưng Jan van Eyck (1390?-1441) là một trong những bức họa đầu tiên đạt được tính hiện thực đến ngạc nhiên. Nó đã thể hiện tính chất ba chiều, sự sống động của con người và chiều sâu tâm lý ở mức mà các bức họa trước đó không thể có được. Eyck đã vẽ như thế nào?    Arnolfini  Nghệ sỹ đương đại nổi tiếng David Hockney đã từng đưa ra một lý thuyết để giải thích những bức vẽ hiện thực như vậy. Ông cho rằng, các họa sỹ đã sử dụng những gương và thấu kính để chiếu hình ảnh lên các bề mặt rồi vẽ theo những hình ảnh đó. Trên thực tế, vào những thế kỷ 18 và 19, cũng đã có những họa sỹ dùng các ảnh quang học như vậy để vẽ. Tuy nhiên, lý thuyết của Hockney lại mô tả điều này sớm hơn tới một phần tư thiên niên kỷ. Và điều quan trọng ở đây là, theo lý thuyết của Hockney thì từ thời Phục hưng, chính lịch sử nghệ thuật đã phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử quang học.  Giáo sư David G. Stork ở Đại học Stanford cùng các cộng sự đã sử dụng những kỹ thuật đồ họa máy tính để kiểm tra lại lý thuyết mà Hockney và nhà vật lý Charles Falco ở Đại học Arizona đã đưa ra. Theo Hockney, một số họa sỹ từ những năm 1425 đã sử dụng một loại “máy ảnh” nguyên thủy. Loại máy ảnh này dĩ nhiên là không có phim, nó chỉ đơn giản là một thấu kính hội tụ, cho một ảnh thật ngược chiều in trên màn. Họa sỹ sẽ vẽ theo những đường nét của hình ảnh đó, mặc dù theo như chính Hockney nói, làm được như vậy cũng là rất khó. Theo Hockney, họa sỹ cũng có thể dùng gương cầu lõm vì nó cũng cho hiệu quả giống như thấu kính hội tụ. Nhưng vào thời của Eyck, chế tạo một chiếc gương như vậy là quá phức tạp về mặt kỹ thuật và chưa có bằng chứng cho thấy bất cứ ai ở thời đó đã từng mô tả về những ảnh do một gương cầu lõm tạo ra.  Không giống gương cầu lõm, những gương cầu lồi cho ảnh ảo cùng chiều với vật, nhỏ hơn vật và không thể “chiếu” ảnh ảo đó lên vải vẽ. Tuy nhiên, Hockney đã giả thiết rằng, trong trường hợp bức họa của Eyck, gương cầu lồi đã được đảo ngược lớp tráng bạc và xoay ngược lại để trở thành gương cầu lõm. Để kiểm chứng phỏng đoán này, Stork đã tính toán tiêu cự của chiếc gương được giả định là dùng để chiếu ảnh trong bức họa của Eyck và tiêu cự của chiếc gương cầu lõm được tạo ra từ gương cầu lồi. Kết quả là chiếc gương chiếu ảnh có tiêu cự khoảng 61 ± 8 cm. Sở dĩ có sai số là vì Stork không có được số liệu hoàn toàn chính xác về kích cỡ và vị trí các đồ vật trong căn phòng. Trong khi đó, tiêu cự của gương cầu lõm được tạo bởi gương lồi là 18 ± 4 cm. Sự sai khác là khoảng 43cm. Như vậy, cái gương mà Hockney mô tả đã không thể được sử dụng để chiếu ảnh dùng cho bức vẽ. Trên thực tế, việc chế tạo một chiếc gương cầu mà có thể sử dụng được là vượt quá khả năng kỹ thuật thổi thủy tinh và tráng bạc của thời Phục hưng. Đường kính của hình cầu bằng bốn lần tiêu cự chiếc gương cầu được cắt ra từ nó. Để có được chiếc gương cầu 61cm ta cần một mặt cầu có đường kính khoảng 2,4m.  Cũng có những bằng chứng khác khiến chúng ta nghi ngờ về giả thiết rằng Eyck đã vẽ bức Arnolfini theo một hình chiếu trên một phông gỗ sồi. Một hình ảnh được chiếu sẽ phải tuân theo những luật phối cảnh. Nhưng với nhiều đối tượng trong bức họa của Eyck như sàn nhà và cửa sổ, các đường song song đã không có vẻ là gặp nhau ở điểm ảo của luật phối cảnh.   Một kỹ thuật được gọi là phản xạ kế hồng ngoại đã cho thấy ở bức họa Arnolfini rõ ràng là đã từng có một lớp sơn lót ướt ở bên dưới cùng với những sửa chữa ở hầu khắp các vị trí, đặc biệt là ở đầu, chân và tay của Arnolfini. Những chứng cứ như vậy cũng phản biện lại giả thiết cho rằng bức họa được thực hiện nhờ vào sự chiếu ảnh.                    Cái đèn chùm ở trong bức tranh không có lớp sơn lót. Chẳng nhẽ nó được vẽ nhờ vào một hình chiếu? Trong tranh, cái đèn chùm được chiếu sáng trực tiếp bởi ánh sáng mặt trời lọt qua cửa sổ. Theo Hockney, “cái đèn chùm này là hoàn hảo về phối cảnh” như thể nó đúng là được vẽ nhờ vào hình chiếu. Tuy nhiên, có thật là cái đèn chùm tuân theo luật phối cảnh hay không? Stork đã kiểm tra bằng cách vẽ các đường kéo dài nối các chi tiết tương ứng trên các tay của cái đèn chùm. Các luật phối cảnh đảm bảo rằng, trên ảnh của cái đèn chùm qua một gương cầu lõm, tất cả các đường song song đều phải gặp nhau ở một điểm ảo, giống như hai đường ray tàu gặp nhau ở đường chân trời trong một bức ảnh chụp. Nhưng các đường mà Stork đã vẽ trên cái đèn chùm lại cho kết quả khá là lộn xộn, giống như những cái que được ném ngẫu nhiên trên sàn nhà và không có dấu hiệu nào về sự tồn tại của một điểm ảo là giao điểm của tất cả các đường nói trên. Stork không loại trừ khả năng bản thân cái đèn chùm là bất đối xứng. Nhưng bằng chứng nào cho thấy cái cái đèn chùm mà Eyck đã dùng làm mẫu là thực sự bất đối xứng?  Để trả lời câu hỏi này, Stork và Antonio Criminisi thuộc trung tâm nghiên cứu của Microsoft ở Cambridge đã sử dụng những thuật toán máy tính để phân tích đồng thời xem xét luôn cả những tác phẩm kim loại tại Bảo tàng Hoàng gia Nghệ thuật và Lịch sử ở Brussels. Kết quả đã cho thấy, sự sai khác giữa các tay của những chiếc đèn chùm chỉ vào khoảng một milimét. Hầu hết các học giả đều tin rằng, những sản phẩm bằng đồng thau thời van Eyck đều được làm từ một mẫu khuôn.  Lý thuyết chiếu ảnh vẫn cho rằng, van Eyck không thể đạt được sự chính xác phối cảnh chỉ “bằng mắt” mà không nhờ vào những hình chiếu quang học. Nhưng nếu dùng mắt thì chúng ta có thể thu được độ chính xác phối cảnh đến mức nào? Stork đã nhờ nghệ sỹ người Anh Nicholas Williams vẽ một số cái đèn chùm phức tạp mà không sử dụng bất cứ tấm ảnh hay dụng cụ hỗ trợ phối cảnh nào. Những bức vẽ của Williams có được sự phối cảnh rất tốt – tốt hơn cả cái đèn chùm trong bức Arnolfini. Điều này dĩ nhiên là đã cho thấy rằng, một nghệ sỹ có kỹ năng tốt không nhất thiết cứ phải sử dụng các hình chiếu thì mới thu được sự phối cảnh tốt.    Giáo chủ Albergati                 Van Eyck đã mất ba ngày để vẽ một phác thảo Chân dung Niccolò Albergati vào năm 1431. Tác phẩm được thực hiện bằng kỹ thuật “điểm bạc” (silverpoint), trong đó một bút châm kim loại được thao tác trên một loại giấy đặc biệt để tạo ra một hình sắc nét. Đây vốn là một bức vẽ nghiên cứu để chuẩn bị cho một tác phẩm chính thức. Trong năm sau đó, họa sỹ đã làm một bản sao lớn hơn của bức chân dung bằng dầu trên bảng gỗ. Hockney và Falco cho rằng, van Eyck đã sử dụng một hình chiếu quang học để tạo ra bức vẽ dầu. Trong đó, một “máy chiếu” nguyên thủy đã được sử dụng, gồm hai giá vẽ, một cái đỡ bức phác thảo được chiếu sáng (giả định là ánh sáng mặt trời), cái kia đỡ bảng gỗ đặt trong bóng tối. Một gương cầu lõm sẽ chiếu lên bảng gỗ một ảnh thật ngược chiều của bức phác thảo. Luận điểm này của Hockney và Falco dựa trên hai đặc trưng nổi bật của các bức chân dung: sự chính xác cao về tỷ lệ các hình và một sự sai khác thừa ra ở một số vị trí, đăc biệt là ở tai. Cái tai bị dịch 30 độ về bên phải trong bức vẽ dầu, nó cũng lớn hơn cần thiết tới 30% (ngoài sự phóng to khoảng 40% từ bức phác họa sang bức vẽ dầu). Hockney và Falco đã giải thích sự dịch chuyển này như sau: van Eyck đã vẽ theo hình chiếu và vô tình chạm phải điểm bạc, cho nên hình ảnh bị chệch đi.                    Nhưng cách giải thích này có vấn đề. Nếu thực sự van Eyck đã bị đụng chạm trong quá trình vẽ, ông ấy chắc chắn sẽ nhìn thấy sự lệch lạc giữa ảnh chiếu đã bị dịch chuyển và những đường đánh dấu mà ông đã vẽ từ trước để xác định khuôn hình. Stork cũng đã thử lặp lại kịch bản của van Eyck được giả thiết ở trên và thực tế là ông đã dễ dàng phát hiện ra sự lệch lạc đó. Bức họa này cũng là một hợp đồng quan trọng và ông không thể không sửa lại những lỗi như vậy được.  Bức phác thảo điểm bạc có thể được sao chép bằng một phương pháp đơn giản hơn nhiều, chẳng hạn như dùng một dụng cụ tương tự như compa, có hình gần như chữ X (xem hình vẽ). Họa sỹ sẽ đặt hai đầu ngắn của dụng cụ vào bản gốc và hai đầu dài vào bản sao để được tỷ lệ lớn hơn. Richard Taylor ở Đại học Oregon đã thử làm như vậy với bức Albergati và đã thu được một bản sao rất tốt với những sai lệch nhỏ hơn 1milimét. Một điều thú vị là, đến đoạn vẽ tai, Taylor đã bị lệch một chút, có lẽ ông ấy đã bắt đầu từ góc trái dưới và tầm với của dụng cụ bị hạn chế nên đã dẫn đến lỗi.  Đâu là nguyên nhân của tính hiện thực?           Tượng Jan van Eyck        Như vậy, có thể Jan van Eyck đã không sử dụng các thiết bị quang học để làm việc. Nhưng chúng ta vẫn còn chưa trả lời câu hỏi: Điều gì đã giúp làm tăng tính hiện thực trong hội họa Phục hưng khoảng những năm 1425 mà van Eyck là một đại diện? Có cả một đống lý do: một số là về kỹ thuật, một số là về văn hoá và những thứ khác. Thậm chí vẫn còn có cả lý do liên quan đến quang học.  Hội họa Phục hưng chính xác là ra đời khi chất liệu sơn dầu được sử dụng, và thực ra van Eyck vẫn được coi là cha đẻ của tranh sơn dầu. Chất liệu dầu cho phép sự biến đổi sắc độ một cách dần dần và liên tục cũng như những kỹ thuật đánh bóng và tạo lớp mới. Thêm vào đó là một phổ rộng các màu, bao gồm cả những màu đậm, sinh động hơn nhiều so với các màu cũ. Nhưng có lẽ đặc tính quan trọng nhất của màu dầu là nó khô chậm hơn các vật liệu trước đó rất nhiều, cho phép họa sỹ thao tác lại nhiều lần và có thể chỉnh sửa trong thời gian hàng tháng hoặc hàng năm.  Cũng vào khoảng thời gian này, các họa sỹ Italia đã tìm ra luật phối cảnh tuyến tính. Luật này dựa trên một đường chân trời, một điểm ảo, và những đường trực giao hay những “tia nhìn thấy” có tác dụng hướng mắt người xem đến điểm ảo. Hệ thống toán học này đã tạo ra ảo giác về không gian và khoảng cách trên một bề mặt phẳng, cho phép họa sỹ mô tả cảnh vật theo một khuôn hình tự nhiên hơn. Một đổi mới khác về kỹ thuật trong thời kỳ này là các nghệ sỹ đã lần đầu tiên nghiên cứu các tử thi và có thêm nhiều hiểu biết về các cơ và cấu trúc xương.  Nhiều nguyên nhân văn hóa cũng đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho nghệ thuật. Thời Phục hưng đã thúc đẩy sự phát triển của “chủ nghĩa thế tục” (secularism) và những lý tưởng cổ điển tập trung vào con người. Sự bảo trợ, đỡ đầu cũng quan trọng, các họa sỹ sẽ phải làm hết sức để cống hiên cho người bảo trợ của mình. Nếu bức Arnolfini của van Eyck mà không chân thực và mang tính tôn vinh thì người bảo trợ quyền lực này sẽ không chấp nhận họa sỹ.     Trần Trung lược thuật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quên là để nhớ      Vạn Lý Lần đầu tiên các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra rằng bộ não có khả năng xóa đi những ký ức không cần thiết để lưu giữ tốt hơn những sự kiện thực sự quan trọng.    Phó giáo sư Anthony Wagner, khoa Tâm lý học Đại học Stanford, cho biết: “Bất cứ hành động hồi tưởng nào đều làm bộ nhớ thay đổi, khiến nó trở nên thích nghi hơn trong lần nhớ lại tiếp theo”. Nói rõ hơn tức là “bộ não có tính co giãn – tự điều chỉnh, và một đặc tính của nó là không chỉ củng cố một số hồi ức, mà còn xóa hoặc làm mờ đi những hồi ức khác”.   Một ví dụ: ngân hàng yêu cầu bạn thay đổi mật khẩu 6 tháng một lần vì lý do an toàn. Thoạt tiên chỉ có 1 mật khẩu phải nhớ. Nhưng từ mật khẩu thứ hai trở đi, việc nhớ lại mật khẩu mới phải cạnh tranh với mật khẩu cũ. Sử dụng máy cộng hưởng từ chức năng, các nhà khoa học nhận thấy vùng vỏ não trước trán chính là khu vực của não bộ chịu trách nhiệm về cơ chế này. Quan trọng hơn, họ cũng ghi nhận được mối liên quan giữa những thay đổi trong hoạt động của não bộ và việc quên dần.  Điều này chứng minh cái lợi của sự quên lãng: khi những ký ức không cần thiết bị quên đi, hệ thần kinh làm việc bớt căng thẳng hơn, và do vậy giúp chúng ta nhớ tốt hơn.  Vạn Lý (theo Daily Health)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Qui luật và ngẫu nhiên      Như các ngành khoa học khác, một trong những vấn đề trung tâm trong Toán học là đi tìm một hoặc một vài tính chất chung trong số vô vàn những đối tượng có vẻ rất khác nhau. Chẳng hạn, có vô số vòng tròn lớn nhỏ. Ngoài chuyện hình dáng trông giống giống nhau, có vẻ chúng chẳng có gì chung. Ấy thế mà từ lâu loài người đã đoán định rằng tỷ số giữa chu vi và đường kính là như nhau ở tất cả các đường tròn. Mãi đến khi khái niệm giới hạn xuất hiện ở thế kỷ thứ 16 thì điều đoán định đó mới được chứng minh chặt chẽ, và tên gọi số pi cũng như ký hiệu π mới xuất hiện. Việc tìm ra số  π chính là đã khám phá ra một qui luật.    Giáo sư Ngô Việt Trung.  Oái ăm thay, tỷ số π này lại là một số không thể tính chính xác được! Cho đến hiện nay, người ta cũng không biết được các chữ số thập phân của π có xuất hiện theo một qui luật nào không, hay hoàn toàn ngẫu nhiên (theo nghĩa ta không đoán trước được cho đến khi tìm ra nó)?   Qua ví dụ tưởng như đơn giản là số π, ta có thể hiểu được, việc tìm ra qui luật nhiều khi khó khăn và tốn thời gian như thế nào!  Một ví dụ cao cấp hơn là việc giải hệ phương trình đa thức (với hệ số trên một trường). Trong trường hợp một biến, sinh viên Toán năm thứ nhất dễ dàng chứng tỏ được dù hệ có rất nhiều, thậm chí vô số phương trình, thì cũng có thể quy về giải một phương trình mà thôi. Điều đó không còn đúng khi số biến từ 2 trở lên. Tuy nhiên, vào cuối thế kỉ 19, nhà toán học người Đức D. Hilbert – một nhà toán học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 – đã phát hiện ra một qui luật (và tất nhiên đã chứng minh) là mọi hệ vô hạn đều có thể quy về một hệ gồm hữu hạn phương trình. Chứng minh của ông thời đó rất độc đáo và mới lạ, đến nỗi có người bảo đó không phải là chứng minh toán học, mà là thần học! Nhưng số phương trình ít nhất thì lại có thể rất lớn, tùy thuộc vào hệ cụ thể. Hay nói cách khác, số phương trình tối tiểu của một hệ phương trình đa thức là một số ngẫu nhiên.  Lĩnh vực nghiên cứu của giáo sư Ngô Việt Trung là Đại số, trong đó có hai khái niệm vành và idean đóng vai trò cơ bản. Chính nhờ sử dụng khái niệm khá trừu tượng là idean mà Hilbert đã chứng minh được kết quả có thể diễn đạt tương đối sơ cấp nêu trên. Vành được xem xét trong kết quả của Hilbert là một vành đa thức trên trường.  Khi có vành đa thức R và một idean I của nó, ta có một vành mới R/I – được gọi là vành thương. Để cho đơn giản, ta hạn chế xét trường hợp được gọi là idean thuần nhất. Một trong những cách nhận biết cấu trúc của vành R/I là thông qua các bất biến bằng số. Một bất biến vào loại quan trọng nhất của vành R/I là độ sâu depth(R/I). Độ sâu càng lớn thì vành đó càng đẹp!  Lũy thừa thứ n của I, được ký hiệu là In, là một khái niệm mở rộng khái niệm lũy thừa an thông thường của một số. Người ta nhận thấy, khi cố định I, độ sâu depth(R/In) có vẻ rất ngẫu nhiên, theo nghĩa phụ thuộc vào việc n. Vì vậy, kết quả của một nhà toán học Thụy Sĩ tên là M. Brodmann đưa ra năm 1979 nói rằng khi n đủ lớn, độ sâu depth(R/In) là một hằng số (không phụ thuộc n), đã tạo ra một sự ngạc nhiên trong giới chuyên môn. Tính chất này được gọi là tính ổn định tiệm cận. Không những thế, chứng minh qui luật này khá đơn giản, nhưng bản thân kết quả lại có nhiều ứng dụng. Vì vậy, bài báo chứa kết quả tuy đơn giản đó đã có 170 trích dẫn trên google scholar, tính đến thời điểm bài viết này – một số trích dẫn khá lớn trong Toán lý thuyết. Tuy nhiên người ta không hình dung được trước khi ổn định thì dãy số depth(R/I), depth(R/I2),… có dáng điệu như thế nào? Một giả thuyết phát biểu năm 2005 của hai nhà toán học Đức và Nhật nói rằng dãy đó có thể tùy ý, miễn nó ổn định tiệm cận. Nói cách khác, khoảng đầu của dãy này hoàn toàn ngẫu nhiên. Cách đây năm năm, giáo sư Ngô Việt Trung cùng ba đồng nghiệp Việt Nam khác đã giải quyết được giả thuyết đó, và công trình mới được công bố chính thức năm 2021. Khoảng thời gian từ khi phát hiện ra qui luật của độ sâu cho tới khi chứng minh được tính ngẫu nhiên khoảng đầu của dãy số độ sâu là hơn 40 năm!  Đối tượng mà giáo sư Ngô Việt Trung nghiên cứu cùng tiến sĩ Nguyễn Đăng Hợp trong công trình “Depth functions of symbolic powers of homogeneous ideals” (Các hàm độ sâu của lũy thừa hình thức của idean thuần nhất) phức tạp hơn nhiều so với lũy thừa In. Đó là lũy thừa hình thức I(n) – có liên quan chặt chẽ với lũy thừa thông thường, nhưng lại rất khác. Đây là một khái niệm xuất phát từ Hình học đại số. Nó được chú ý đặc biệt từ khi đóng vai trò quan trọng  trong việc xây dựng phản ví dụ cho Bài toán Hilbert thứ 14 nổi tiếng do Nagata xây dựng năm 1958. Thế nhưng, trái với In, việc tính cũng như nghiên cứu I(n) rất khó khăn. Có nhiều câu hỏi có vẻ đơn giản, nhưng vẫn còn mở liên quan đến lũy thừa hình thức. Cho đến cách đây ít năm, cho dù phỏng đoán là không, nhưng người ta vẫn không biết chắc chắn là depth(R/I(n)) không ổn định tiệm cận. Trong trường hợp đặc biệt, khi I là idean đơn thức – một loại idean đặc biệt – thì từ một kết quả của giáo sư Ngô Việt Trung và hai đồng nghiệp nước ngoài công bố năm 2007, có thể suy ra khi n đủ lớn, dãy depth(R/I(n)) ổn định tuần hoàn – tức rất gần với kết quả của Brodmann. Tuy gần, nhưng vẫn khác xa. Nếu đúng là khác thì thật thú vị. Nhưng biết đâu trên thực tế, với idean đơn thức, depth(R/I(n)) vẫn ổn định tiệm cận? Chẳng hạn, nếu I là idean đơn thức đặc biệt, gọi là idean không chứa bình phương, năm 2010, tôi cùng với tiến sĩ Trần Nam Trung đã chứng minh được đúng là depth(R/I(n)) ổn định tiệm cận. Từ đó, ý nghi ngờ cho rằng với idean đơn thức, depth(R/I(n)) vẫn ổn định tiệm cận, lại tăng lên.     Việc xây dựng được idean I thích hợp đòi hỏi những ý tưởng sâu sắc tổng hợp từ nhiều chuyên ngành khác nhau: Đại số giao hoán, Hình học đại số và tổ hợp. Kỹ thuật chứng minh cần những kiến thức sâu sắc trong Đại số giao hoán và sự kết hợp tài tình với những tính toán tổ hợp phức tạp, cũng như vận dụng thành thạo qui hoạch nguyên – một chuyên ngành có vẻ khá xa Đại số giao hoán.    Công việc tìm ra qui luật hay khẳng định tính ngẫu nhiên rất gian truân, nhiều khi là đứng giữa ranh giới giữa có và không. Chẳng hạn cũng là vấn đề ổn định tiệm cận của độ sâu nêu trên, nếu chỉ xét lớp idean đơn thức không chứa bình phương vừa nói, thì cùng với phó giáo sư Nguyễn Công Minh ở ĐH Sư phạm Hà Nội, giáo sư Ngô Việt Trung năm 2011 đã chứng minh rằng nếu depth(R/I(3)) đạt giá trị lớn nhất, thì depth(R/I(n)) cũng đạt giá trị lớn nhất với mọi n > 3. Dựa trên công trình đó, năm 2012, cùng với nhà toán học Nhật Bản N. Terai, ông đã chứng minh kết quả tương tự cho độ sâu với lũy thừa thông thường. Cả hai công trình đó đã được đăng trên tạp chí Advances in Mathematics – một tạp chí có thứ hạng rất cao, thường xuyên có mặt trong top 20. Như vậy, với việc thêm điều kiện, tính ngẫu nhiên bị biến mất. Thay vào đó là một qui luật mới được phát hiện.  Trong công trình “Depth functions of symbolic powers of homogeneous ideals”, một số lớp idean đơn thức mới có  depth(R/I(n)) ổn định tiệm cận đã được tìm ra. Đó là những kết quả hay, và với chỉ mình chúng cũng có thể đăng được ở tạp chí tốt, nhưng không thể đăng được ở tạp chí đỉnh cao.  Kết quả chính có ý nghĩa quan trọng nhất và thú vị nhất của công trình này là đã chứng minh được mọi dãy số tuần hoàn ổn định tiệm cận đều có thể là dãy depth(R/I), depth(R/I(2)), depth(R/I(3), …. của một idean  đơn thức I nào đó. Dãy số vô hạn  a1, a2,… được gọi là tuần hoàn ổn định tiệm cận chu kì t, nếu khi n đủ lớn thì an = an+t = an+2t = ….  Nếu lấy chu kì tuần hoàn từ 2 trở lên, hệ quả trực tiếp của kết quả này nói rằng độ sâu depth(R/I(n)) không thoả mãn qui luật ổn định tiệm cận như Brodmann đã chỉ ra với lũy thừa thông thường. Đó là một điều được giới chuyên môn dự đoán từ lâu, nhưng bây giờ mới được kiểm chứng! Nhưng phần khó khăn hơn rất nhiều và khó tưởng tượng hơn rất nhiều là công trình này đã chứng minh được tính ngẫu nhiên hoàn toàn của dãy depth(R/I), depth(R/I(2)), depth(R/I(3),…. Bản thân công trình cũng đặt ra vấn đề mới: Hãy chứng tỏ (hay phủ nhận) rằng tồn tại idean I có depth(R/I(n)) không tuần hoàn ổn định tiệm cận. Chắc chắn đây là một bài toán rất khó – và chưa hiểu cách tiếp cận sẽ như thế thế nào.  Việc xây dựng được idean I thích hợp đòi hỏi những ý tưởng sâu sắc tổng hợp từ nhiều chuyên ngành khác nhau: Đại số giao hoán, Hình học đại số và tổ hợp. Kỹ thuật chứng minh cần những kiến thức sâu sắc trong Đại số giao hoán và sự kết hợp tài tình với những tính toán tổ hợp phức tạp, cũng như vận dụng thành thạo qui hoạch nguyên – một chuyên ngành có vẻ khá xa Đại số giao hoán. Chính vì vậy mà công trình đã được nhận đăng trong tạp chí Inventiones Mathematicae. Đây là một trong 2-3 tạp chí có uy tín nhất trong Toán học. Đây cũng là lần đầu tiên có một công trình thuần Việt được đăng trong một tạp chí lớn như vậy. Hoàn toàn thuần Việt theo nghĩa: cả hai tác giả đều là người Việt Nam và từ khi hình thành đến khi kết thúc, hoàn toàn được thực hiện trong nước. Nó còn đặc biệt ở chỗ, hiếm lắm mới có bài báo chuyên ngành Đại số giao hoán được đăng trên tạp chí Annals of Mathematics hay tạp chí Inventiones Mathematicae nêu trên.  Năm 2017, cùng giáo sư Nguyễn Tự Cường và giáo sư Lê Tuấn Hoa, giáo sư Ngô Việt Trung được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V về KH&CN với cụm công trình “Các bất biến và cấu trúc của vành địa phương vành phân bậc”. Nguồn: Vietnamnet  Đi tìm qui luật là một trong những sở trường của giáo sư Ngô Việt Trung. Ngay từ khi còn là sinh viên đại học cách đây gần 50 năm, cùng với bạn học Nguyễn Tự Cường – bây giờ là giáo sư – và một tiến sĩ trẻ người Đức, ông đã phát hiện ra một lớp vành mà hiệu của hai bất biến có thể thay đổi khá tuỳ tiện đối với họ tuy vô hạn, nhưng chiếm một lượng nhỏ (theo một nghĩa nào đó), nhưng lại là hằng số với số còn lại. Đó là lớp vành được biết đến dưới tên gọi Cohen-Macaulay suy rộng. Mãi tới năm 1978, bài báo đó mới được đăng, và đã kích hoạt nghiên cứu của hàng trăm bài báo của nhiều nhà toán học trên thế giới (299 trích dẫn trên google scholar). Một ví dụ khác là nghiên cứu chỉ số chính qui Castelnuovo-Mumford, một bất biến khác khó hơn nhiều so với độ sâu. Vào năm 2020, cùng với hai đồng nghiệp người Mỹ và Đức, ông đã chứng minh được khi n đủ lớn, bất biến đó của In là một hàm tuyến tính. Đương nhiên bài này đã được đăng trên một tạp chí rất uy tín và được trích dẫn nhiều (248 trích dẫn trên google scholar).   Đó chỉ là vài trong số nhiều kết quả khác của ông được nhiều nhà toán học quan tâm. Tuy nhiên, trước khi có bài báo ở tạp chí đỉnh cao, không có gì chắc chắn để khẳng định trước sau ông cũng sẽ có bài đăng ở đó. Xét về góc độ này thì việc có được bài đăng ở đấy như là một sự ngẫu nhiên, hay chí ít là một sự gặp may. Nhưng nếu xét từ cả quá trình làm việc và công bố đồ sộ của ông thì lại có dáng dấp như một qui luật. Chí ít thì có thể khẳng định: trong số người nghiên cứu Đại số ở Việt Nam, nếu có ai đó đăng được bài ở một trong hai tạp chỉ đỉnh cao nói trên, thì người đầu tiên phải là ông! (Trước ông, năm 1976 có giáo sư Nguyễn Hữu Anh có bài đăng ở Annals of Mathematics, khi làm việc ở Mỹ).  Giáo sư Ngô Việt Trung là nhà toán học hàng đầu của Việt Nam, đã được trao tặng nhiều giải thưởng lớn. Ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học các nước thế giới thứ 3 (TWAS) năm 2000 khi mới 47 tuổi. Năm 2009, Giải thưởng Nhân tài Đất Việt lần đầu tiên được mở rộng sang lĩnh vực khoa học tự nhiên, và ông là người được trao Giải thưởng trong lĩnh vực Toán học. Đặc biệt, năm 2017, ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V về khoa học và công nghệ với tư cách là chủ trì nhóm nghiên cứu gồm ba thành viên.   Ông đã giữ nhiều chức trách trong ngành Toán: Tổng biên tập tạp chí Acta Mathematica Vietnamica (16 năm, từ 1991 – 2007), Viện trưởng Viện Toán học (2007 – 2013), Chủ tịch Hội đồng ngành Toán của Quỹ NAFOSTED (nhiều năm), Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam (từ 2018). Tuy rất bận bịu với những công việc hành chính hay các hoạt động khoa học, nhưng ông luôn luôn đặt nhiệm vụ nghiên cứu ở vị trí số một, và dành phần lớn thời gian cho nó. Công trình “Depth functions of symbolic powers of homogeneous ideals” được hoàn thành và đăng trên tạp chí hàng đầu của Toán khi ông là đương kim Chủ tịch Hội Toán học quả thực càng có ý nghĩa khích lệ thế hệ trẻ phấn đấu nghiên cứu để ngày càng có nhiều công trình xuất sắc.  Thực ra, giáo sư Ngô Việt Trung là người thể hiện có năng khiếu Toán học rất sớm. Ông là người đã đạt Giải Nhất lớp 10 kì thi Học sinh giỏi toàn miền Bắc về Toán. Thời đó, kì thi Học sinh giỏi toàn miền Bắc chỉ tổ chức cho Toán và Văn, trao rất ít giải, kể cả giải khuyến khích thường không quá 10, và nhiều năm không trao giải Nhất (trước năm 1975, tôi chưa từng nghe có năm nào trao hai giải nhất và tôi nghĩ là không). Do vậy, những người đạt giải khi đó được các bạn cùng trang lứa nhớ tên rất lâu. Rất may là thời đó thông tin không nhiều như bây giờ, nên người ta biết đến tên tuổi ông như một nhà khoa học thành đạt, chứ không phải nhờ dư âm từ thời học sinh!   Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được chuyển tiếp nghiên cứu sinh và bảo vệ tiến sĩ năm 1978. Năm 1983, ông đã bảo vệ được luận án tiến sĩ khoa học khi mới 30 tuổi. Cũng năm đó, Đoàn Thanh niên có tổ chức triển lãm thành tựu khoa học, công nghệ và sản xuất của thanh niên tại Cung Văn hóa thiếu nhi Hà Nội. Đích thân cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đến thăm để nói lên tầm quan trọng của triển lãm. Các sản phẩm công, nông nghiệp thì nhiều, nhưng theo tôi nhớ thì về nghiên cứu lý thuyết, chỉ có của tiến sĩ Ngô Việt Trung với 13 công bố ở nước ngoài và 2-3 tiền ấn phẩm. Đó là những con số rất ấn tượng thời đó. Tôi khi đó là lính mới của Viện, nên được giao trực “gian hàng” của Viện Toán. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã dừng lại ngắm nghía gian hàng khoảng một phút!  Gợi lại một số kỷ niệm trước đây để nói rằng, thành công của giáo sư Ngô Việt Trung là có cơ sở và là kết quả của một quá trình làm việc bền bỉ, lâu dài, không bao giờ tự hài lòng, bất chấp tuổi tác ngày càng cao hay công việc bận bịu, luôn tìm cách chinh phục những đỉnh cao mới. Từ rất lâu, nghiên cứu khoa học đã ngấm vào máu của ông.□    Author                Lê Tuấn Hoa        
__label__tiasang Quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam: THÊM CƠ HỘI CHO DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VỪA VÀ NHỎ      “Sau hai năm, cơ hội đầu tư ở Việt Nam đã tăng lên 5 lần. Và đây là thời cơ tốt cho đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam” – Tại phiên họp thứ 15 của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Bùi Mạnh Hải thuật lại nhận xét của lãnh đạo tập đoàn IDG tại Việt Nam như vậy.    Việt Nam hiện đã có một số quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động như quỹ của tập đoàn IDG (Mỹ), Quỹ Đầu tư mạo hiểm MeKong, nhưng các quỹ này chủ yếu chỉ đầu tư vào công nghệ thông tin, vì vậy việc ra đời một quỹ đầu tư mạo hiểm huy động được các nguồn vốn trong và ngoài nước để thúc đẩy nền công nghệ cao, công nghệ mới của Việt Nam vẫn rất cần thiết. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển thị trường công nghệ, Bộ KH&CN vừa trình Thủ tướng đề án Quỹ Đầu tư mạo hiểm công nghệ cao Việt Nam (VNFCF – Vietnam Venture Capital Fund) với số vốn dự kiến 450 tỷ đồng, nhằm thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu công nghệ cao.  “Mạo hiểm” hay  “Triển vọng”?  Khái niệm “quỹ đầu tư mạo hiểm” bắt nguồn từ Mỹ. Đó là phương thức đầu tư mà theo đó nhà đầu tư rót vốn vào doanh nghiệp mới thành lập, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán (chủ yếu là doanh nghiệp khoa học và công nghệ). Khác với đầu tư tài chính thông thường, đối tượng được đầu tư mạo hiểm phần lớn là doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ mới có quy mô vừa và nhỏ trong giai đoạn khởi nghiệp.Vì đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ mới nên độ rủi ro rất cao, nhưng thành công thì lợi nhuận rất lớn. Một trong những đặc điểm của đầu tư mạo hiểm là nhà cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm không trực tiếp cung cấp vốn cho doanh nghiệp mà thông qua một tổ chức chuyên nghiệp để thực hiện đầu tư và quản lý vốn đầu tư.  Tuy nhiên theo Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân, không nên dùng từ “đầu tư mạo hiểm” vì nó gây tâm lý lo ngại cho nhà đầu tư. Đã là nhà đầu tư thì ai cũng muốn sinh lãi. Vì vậy nên đặt tên Quỹ là “Quỹ đầu tư triển vọng công nghệ cao Việt Nam”.              TS Trương Hữu Chí        TS Trương Hữu Chí thì cho rằng, việc đặt tên Quỹ là “Quỹ Đầu tư Mạo hiểm công nghệ cao” sẽ tạo ra 2 vấn đề: Thứ nhất, gây ra tranh cãi khái niệm công nghệ cao, và trong thực tế, không phải tất các các dự án công nghệ cao đều mang lại hiệu quả kinh tế. Thứ hai, hạn chế Quỹ chỉ đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao, trong khi nhiều dự án công nghệ mới có thể không được xếp vào vào loại công nghệ cao lại mang lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn.  Một ví dụ cụ thể về việc chuyển giao công nghệ chế tạo trạm trộn bê tông tự động của IMI năm 1997. Đây là sản phẩm cơ điện tử do IMI nghiên cứu, có trình độ công nghệ tiên tiến nhưng không thể gọi là công nghệ cao, khi chuyển giao sản xuất thì các nhà khoa học phải bỏ tiền cá nhân để đầu tư (do chưa có quỹ đầu tư mạo hiểm). Từ công nghệ này, đã có 3 công ty được hình thành và phát triển với tổng doanh thu gần 300 tỷ đồng/năm. Tỷ suất lợi nhuận/vốn là 70%/năm. Một dự án triển khai công nghệ như vậy có đủ điều kiện để Quỹ đầu tư Mạo hiểm đầu tư hay không?  “Theo tôi, nên đổi tên Quỹ thành ‘Quỹ Đầu tư Mạo hiểm công nghệ thích hợp Việt Nam’. Việc thay ‘công nghệ cao’ thành ‘công nghệ thích hợp’ là phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam, đồng thời mở rộng đối tượng đầu tư, làm tăng tính hiệu quả của Quỹ” – TS Chí phát biểu – “Ngoài ra, tên viết tắt của Quỹ là VNVCF, gồm 5 phụ âm, không có nguyên âm là rất khó đọc, khó nhớ, nên chọn tên khác để dễ nhớ hơn”.  Là người thạo tiếng Trung Quốc, GS Nguyễn Hoa Thịnh cho rằng tên “Quỹ Đầu tư Mạo hiểm” là hợp lý: “ Mạo là ‘xông vào’, ‘hiểm’ là ‘nguy hiểm’, đúng với tính chất của việc kinh doanh nhiều rủi ro này”. Đồng ý với GS Nguyễn Hoa Thịnh, GS Đỗ Huy Định cũng cho rằng “phải giữ nguyên tên ‘Mạo hiểm’ để người đầu tư nhận thức rõ tính chất của Quỹ”.  Nguồn vốn và phương thức điều hành  Ông Đỗ Văn Lộc, Quyền Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN cho biết: Con số 450 tỷ đồng mà Dự thảo điều lệ Quỹ đưa ra là dựa trên dự kiến số doanh nghiệp công nghệ cao của Việt Nam đang chuẩn bị hình thành, kinh nghiệm từ Quỹ Đầu tư mạo hiểm IDG và từ 19 quỹ công nghệ cao của Trung Quốc (vốn từ 100 – 1.400 tỷ đồng). Như vậy Quỹ đầu tiên của Việt Nam có số vốn bằng gần 1/3 quỹ của IDG và bằng một quỹ trung bình trong 19 quỹ của Trung Quốc.  Về phương thức đầu tư, Quỹ sẽ đầu tư vào doanh nghiệp dưới dạng góp vốn cổ phần (không quá 30% tổng số vốn của dự án đầu tư), mua lại cổ phần chứng khoán của doanh nghiệp công nghệ cao. Lấy mục tiêu hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao là cơ bản, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu chính nên Quỹ sẽ được Nhà nước bảo đảm cấp vốn từ ngân sách.  Để tăng nguồn vốn, Quỹ được phép huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách của các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước.  Bộ máy điều hành Quỹ gồm Hội đồng Quản lý Quỹ (năm thành viên, do Bộ trưởng KH&CN thành lập), Giám đốc Quỹ, Hội đồng Thẩm định đầu tư.  Bộ KH&CN phối hợp cùng Bộ Tài chính để kiểm soát hoạt động đầu tư. Chi phí quản lý của Quỹ hàng năm không vượt quá 2,5 % tổng số vốn của Quỹ.  Không đồng ý với mục tiêu “cơ bản là hỗ trợ” của Quỹ, GS Nguyễn Công Nghiệp cho rằng đầu tư mạo hiểm là chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận cao theo “nguyên tắc của thị trường”. Kinh nghiệm cho thấy, sự bao cấp quá sâu của nhà nước (như mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm của Đức) đã làm quỹ này hoạt động không hiệu quả.  Nhận định “Việt Nam chưa có những tập đoàn kinh tế mạnh nên trong giai đoạn trước mắt, việc hình thành Quỹ bằng nguồn vốn nhà nước là cần thiết”, song Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân cũng cho rằng: “Có quá nhiều cơ quan tham gia vào điều hành quỹ. Sẽ không có ai chịu trách nhiệm thực sự nếu Quỹ hoạt động không hiệu quả. Chí phí điều hành 2,5%/năm của 450 tỷ là 11,25 tỷ mà không có bất cứ cam kết gì về kết quả hoạt động là không phù hợp với yêu cầu sử dụng ngân sách có hiệu quả.”  “Từ kinh nghiệm của Mỹ cho thấy, trình độ của người chủ đầu tư triển vọng cả về công nghệ, kinh doanh và tài chính là quyết định. Người đầu tư phải có lợi ích trực tiếp, gắn với đầu tư, từ đó mới nỗ lực tối đa để thu lời qua đầu tư”. Theo ông, giải pháp để vận hành quỹ một cách tốt nhất trong giai đoạn hiện nay là đầu tư trực tiếp mà thông qua một tổ chức chuyên nghiệp. “Công chức nhà nước không thể có đủ quan tâm và dám chịu rủi ro để điều hành một công ty hay quỹ như thế này” – Bộ trưởng GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân phát biểu.  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy hoạch không gian xanh cho các đô thị      Ngoài chức năng cảnh quan, việc phát triển không gian xanh trong các đô thị ở Việt Nam còn là một giải pháp quan trọng để ứng phó trước tình trạng ô nhiễm không khí đang gia tăng và biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt.    Tuy nhiên, làm thế nào để biến các không gian xanh trong các bản quy hoạch trở thành hiện thực là bài toán vẫn đang chờ lời giải.      Những con đường vắng bóng mát trong nắng hè ở Hà Nội khiến nhiều người nhớ tiếc những hàng cây xanh trước đây. Nhưng dưới góc nhìn của các nhà khoa học, cây xanh còn có ý nghĩa đặc biệt hơn cả việc che mát hay làm đẹp cảnh quan: “Cây xanh ven đường là một phần của không gian xanh đô thị, có vai trò hết sức quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, điều hòa nhiệt độ, giảm bớt tiếng ồn, tăng sự đa dạng sinh học, tạo bản sắc cho mỗi đô thị,…”, TS. Nguyễn Thế Đồng, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam nhấn mạnh trong tọa đàm “Bảo vệ không gian xanh đô thị” do tạp chí Môi trường và Cuộc sống tổ chức vào cuối tháng bảy vừa qua.            Giá trị của cây xanh càng thể hiện rõ hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Khi các đợt nắng nóng xảy ra thất thường và khắc nghiệt hơn trên toàn thế giới, chúng ta có thể thấy rõ khu vực đô thị sẽ nóng bức hơn nhiều do các vật liệu xây dựng như bê tông, đường nhựa hấp thụ nhiệt tốt (hiện tượng đảo nhiệt đô thị – urban heat island). Tuy nhiên, các không gian xanh có thể làm giảm hiện tượng này. Thậm chí theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Úc gần đây, các khoảng xanh nhỏ như tán cây, thảm cỏ cũng có thể góp phần giảm nhiệt độ bề mặt ở khu vực này xuống khoảng 6oC trong các đợt nắng nóng khắc nghiệt. Ngoài nắng nóng, một số quốc gia còn thiết kế các không gian xanh để ứng phó với ngập lụt. Đơn cử như vào năm 2018, Thái Lan đã triển khai dự án xây dựng Công viên Thế kỷ Đại học Chulalongkorn tại thủ đô Bangkok có thể chứa được khoảng 3,7 triệu lít nước mưa, nhằm giải quyết vấn đề ngập lụt sau mưa.    Do vậy, không gian xanh (urban green space – những không gian được phủ xanh bởi cây cối và các vùng mặt nước như ao, hồ, sông, suối chảy qua đô thị) luôn là một phần thiết yếu trong quy hoạch đô thị. Những con đường rợp bóng cây xanh hay rừng cây giữa lòng thành phố ở nhiều quốc gia mà nhiều người hằng ước ao đều là kết quả từ các chính sách phát triển không gian xanh từ lâu. Chẳng hạn ngay từ thế kỷ 17, thành phố London (Anh) đã thành lập một Ủy ban về công trình xây dựng để giám sát sự phát triển của Lincoln’s Inn Fields – một trong những không gian xanh được quy hoạch đầu tiên ở Anh. Đến nay, nơi đây đã trở thành một công viên xanh nổi tiếng ở London.    Dù đi sau so với thế giới song các chính sách về xây dựng không gian xanh ở Việt Nam khá đầy đủ. “Trong quy hoạch đô thị bắt buộc phải có quy hoạch về không gian xanh. Công trình xây dựng tối đa chỉ 40-50%, còn lại phải dành cho diện tích cây xanh khoảng 30-40% tùy loại công trình”, ThS. Trần Thị Thanh Ý, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quy hoạch và phát triển đô thị cho biết. “Các nội dung về không gian xanh đã được luật hóa trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng hay Luật Bảo vệ môi trường mới nhất vào năm 2020,… Trong đó đưa ra các quy định yêu cầu các khu đô thị, khu dân cư tập trung phải thực hiện nguyên tắc phát triển bền vững, gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên và đảm bảo tỉ lệ không gian xanh, diện tích cây xanh, mặt nước phải đảm bảo theo quy chuẩn đã ban hành”, TS. Nguyễn Thế Đồng nói thêm.    “Độ chênh” giữa quy hoạch và thực tế    Những chính sách về phát triển không gian xanh ở Việt Nam càng lý tưởng bao nhiêu thì thực tế càng khiến người ta “vỡ mộng” bấy nhiêu: “Theo quy chuẩn hiện nay, các đô thị đặc biệt như Hà Nội phải đảm bảo diện tích cây xanh là 9m2/đầu người, nhưng thực tế hiện nay, chúng ta chỉ đạt 2m2/đầu người. Một con số rất đáng buồn với thủ đô Hà Nội và Việt Nam, trong khi chúng ta vốn được coi là một quốc gia ‘xanh’ từ xưa đến nay. Việc đáp ứng tỉ lệ không gian xanh theo quy hoạch mới đảm bảo được mức cơ sở, tức là mức thấp. Nhưng hiện nay, chúng ta còn ở dưới mức thấp nhiều lần”, TS. Nguyễn Thế Đồng nói. Và không riêng Hà Nội, đây là bài toán mà nhiều thành phố đang phải đối mặt trong xu hướng đô thị hóa nhanh chóng như hiện nay.    Tuy đầy đủ về vật chất và cơ sở hạ tầng hơn so với nông thôn song tình trạng thiếu không gian xanh đang khiến chất lượng cuộc sống của người dân đô thị bị suy giảm nghiêm trọng: không khí nóng bức và ô nhiễm hơn, trẻ em thiếu chỗ vui chơi với thiên nhiên, ngập lụt thường xuyên hơn… “Chúng ta đều thấy trong những năm gần đây, cứ sau mỗi trận mưa lớn, Hà Nội và TP.HCM lại ngập trong biển nước – một điều trước đây rất ít xảy ra. Đây là hệ quả của quá trình đô thị hóa, tốc độ xây dựng quá nhanh đã lấp đi những ao hồ – các không gian xanh vốn là nơi thoát nước. Ngoài ra một số đoạn sông chảy qua thành phố được cống hóa cũng làm hạn chế dòng chảy tự nhiên, ảnh hưởng đến việc điều tiết nước”, ThS. Trần Thị Thanh Ý giải thích.    Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến “độ chênh” giữa không gian xanh trong quy hoạch và thực tế? “Lời giải thích mà tôi thường nghe được từ nhiều bên là do quỹ đất eo hẹp nhưng nhu cầu lại lớn. Do vậy, họ đã điều chỉnh quy hoạch, giảm phần cây xanh để tăng diện tích xây dựng”, TS. Nguyễn Thế Đồng nói. Theo kiến trúc sư Đinh Đăng Hải, chuyên gia của Dự án Thành phố sống tốt, tổ chức Healthbridge Canada tại Việt Nam, đây là câu chuyện quen thuộc của các công trình xây dựng hiện nay: “Nguồn quỹ đất chịu áp lực từ rất nhiều nhu cầu sử dụng khác nhau. Do vậy, các chủ đầu tư thường chọn mảnh đất làm không gian xanh là mảnh đất xen kẹp, thừa lại hoặc không thể làm gì khác được thì mới để làm vườn hoa”.    Tuy nhiên, vấn đề thiếu đất liệu có đủ sức thuyết phục? “Việc thiếu quỹ đất đúng là có, nhưng không phải là không có giải pháp khắc phục. Hiện nay trong quy hoạch của Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 (Quyết định 1259 do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2011 về quy hoạch chung xây dựng Hà Nội), chúng ta đã nội dung di dời một số trường học, nhà máy, cơ sở y tế không phù hợp ra ngoài. Lẽ ra chỗ đó phải dành cho không gian công cộng hoặc cây xanh, nhưng rất nhiều cơ quan di dời nhưng vẫn giữ lại trụ sở, hoặc mọc ra một tòa nhà cao tầng. Vì vậy, quỹ đất thiếu là do chính chúng ta chưa làm được đến nơi đến chốn”, ThS. Trần Thị Thanh Ý phân tích.    Cần sự tham gia của nhiều bên    Có thể thấy rõ, việc giám sát chặt chẽ hơn quá trình triển khai quy hoạch là biện pháp đầu tiên để giải quyết tình trạng “bản vẽ một đằng, thực tế một nẻo”. Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, quá trình này sẽ hiệu quả và minh bạch hơn nếu có sự tham gia của cộng đồng. “Nhiều thành phố trên thế giới đã thành lập hội đồng phát triển cây xanh đô thị, đại diện cho người dân cũng như các bên liên quan đến phát triển không gian xanh, họ tham gia các khâu từ quy hoạch, thiết kế, thậm chí là đầu tư xây dựng. Ở Việt Nam cũng đã có một số nơi phát triển các mô hình tương tự và đã cho thấy hiệu quả rõ ràng, chẳng hạn khi chúng tôi làm việc với Hội An, họ cũng có một tổ công tác về phát triển không gian công cộng. Họ đại diện cho rất nhiều ngành như văn hóa, du lịch, kinh tế,… cùng với các nhà quản lý và cư dân địa phương. Tổ công tác này chịu trách nhiệm tìm kiếm thông tin về những mảnh đất trong thành phố có khả năng phát triển thành không gian công cộng, không gian xanh, từ đó đề xuất phương án huy động nguồn lực. Tôi nghĩ các địa phương khác cũng có thể học hỏi mô hình này, giúp tăng sự kết hợp giữa cộng đồng và các cơ quan quản lý nhà nước”, kiến trúc sư Đinh Đăng Hải đề xuất.    Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng không kém là phải thay đổi suy nghĩ không gian xanh chỉ chiếm phần thứ yếu trong các quy hoạch. “Chúng ta cần có các quy định cụ thể hơn để đảm bảo rằng không gian xanh là một hạ tầng đô thị được ưu tiên, phải đặt lên hàng đầu rồi mới đến các nhu cầu khác”, kiến trúc sư Hải nói. Nhưng liệu các chủ đầu tư có chịu đáp ứng nếu quy hoạch không gian xanh làm giảm diện tích xây dựng, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của họ? Thực ra, mục tiêu môi trường và kinh tế không phải lúc nào cũng mâu thuẫn với nhau. “Một điều dễ thấy là việc cắt giảm không gian xanh giúp tăng diện tích xây nhà nhưng chưa chắc đã giúp tăng giá khu đô thị đấy. Thực tế hiện nay, những nơi ưu tiên phát triển không gian xanh thì giá trị đất đai của khu vực đó tăng lên rất nhiều”, theo kiến trúc sư Đinh Đăng Hải.    Quá trình phát triển không gian xanh đô thị cũng gắn liền với việc đầu tư nghiên cứu: “Chúng ta tạo ra màu xanh là chưa đủ, mà phải nghiên cứu sao cho không gian xanh phải phát huy hiệu quả. Việc đầu tiên cần làm là đánh giá lại những thứ hiện có, xem cái gì cần bảo tồn giữ gìn, cái gì cần cải tạo. Khi định trồng bất cứ cây gì, chúng ta cũng phải nghiên cứu xem chọn giống cây gì phù hợp với địa điểm, thổ nhưỡng khí hậu… Chính vì động tác này chúng ta làm không bài bản nên gây ra phản ứng dư luận lớn, như việc trồng hàng cây phong ở đường Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội)”, ThS. Trần Thị Thanh Ý nhận xét. Ngoài ra, “trong xu hướng đô thị hóa hiện nay, chúng tôi cũng nghiên cứu các mô hình vườn đứng, giúp tiết kiệm diện tích và phù hợp với điều kiện ở thành phố. Những màu xanh nhỏ ấy dồn lại sẽ góp phần tạo ra diện tích xanh lớn, kết hợp với những công nghệ mới và việc thay đổi quản lý, dần dần sẽ giải quyết được bài toán xanh trong không gian đô thị ở Việt Nam”.      Liên Khúc    Author                .        
__label__tiasang Quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu và biển dâng      1. Công tác quy hoạch thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), mặc dù còn một số khiếm khuyết, về cơ bản đã góp phần đáng kể vào mặt trận sản xuất nông nghiệp và giải quyết an ninh lương thực cho cả nước. Những thách thức mà biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đối với Việt Nam nói chung, và miền đất này nói riêng, được nhận thức ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh đó, nhìn lại công tác quy hoạch thủy lợi đã qua và cập nhật nó là điều bức thiêt phải làm.    2. Bối cảnh mới mà quy hoạch thủy lợi phải tính đến là gì? Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, hay cả hai, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng?  Đúng là biến đổi khí hậu toàn cầu làm tan băng ở Bắc và Nam Cực, dẫn đến biển dâng. Tan băng ở thượng nguồn làm thay đổi chế độ thủy văn của sông Mêkông, vì vậy có ý kiến cho rằng chỉ cần nói biến đổi khí hậu là đủ. Lập luận như vậy đúng nhưng e rằng chưa gióng đủ tiếng chuông biển dâng là thách thức tác động trực tiếp và sâu sắc đến các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội và đời sống ở đồng bằng sông Cửu Long.  Thế thì chỉ nên thu hẹp về yếu tố mực nước biển dâng chăng? Tôi lại e rằng như vậy sẽ không tính đến các thách thức một cách đầy đủ. Chúng ta đều biết biến đổi khí hậu không chỉ là biển dâng mà còn là bão tố, là tài nguyên nước bị tác động, là biến đổi của nhiệt độ bề mặt của nước biển và dòng hải lưu, của lượng mưa, nhiệt độ và bức xạ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng vật nuôi, đến sức khỏe con người, đến đa dạng sinh học, năng lượng, những biến đổi mà tài nguyên nước rất cần để chế ngự các hậu quả tiêu cực.  Do vậy phải tính đến cả hai biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng và quan trọng trên hết, đến các tác động hệ thống giữa biến đổi khí hậu (toàn cầu và khu vực) với nước, nông nghiệp, đa dạng sinh học, sức khỏe và năng lượng. Có thế mới thấy hết nhiệm vụ của quy hoạch thủy lợi, nặng nề và phức tạp, trong bối cảnh mới này.  3. Một điểm mới khác trong quy hoạch thủy lợi hiện nay là không chỉ đáp ứng các yêu cầu của các ngành kinh tế khác trong phát triến, của cuộc sống của người dân và an sinh xã hội mà còn phải bao gồm (hay thể hiện) sự ứng phó đối với biến đổi khí hậu và biển dâng.  Về sự ứng phó, tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới, có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (hay chống đở, đương đầu), thích nghi và rút lui về phía sau. Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng), và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái đầm lầy. Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi phương án biển dâng. Ứng phó không thể riêng lẽ từng tỉnh mà phải theo yêu cầu của giải pháp ứng phó và Yêu cầu đối với ứng phó là gìn giữ tối đa thành quả của lao động quá khứ, sinh mạng, tài sản và đời sống của nhân dân [1]  4. Thời gian quy hoạch thủy lợi như thế nào là hợp lý? Cuộc họp về quy hoạch thủy lợi Bán đảo Cà Mau, tháng 9/2007, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức, đã nêu lên một “mâu thuẫn” của quy hoạch thủy lợi là phải phục vụ yêu cầu của sản xuất và đời sống trước mắt nhưng lại phải xây dựng những công trình tồn tại “lâu dài”. Cái khó này càng nhân lên khi mà sau mỗi kế hoạch năm năm mực nước biển lại dâng lên thêm vài xăng-ti-mét với các hậu quả đi kèm mà quy hoạch thủy lợi phải tính tới và ứng phó.  Gần đây lãnh đạo các quốc gia trên thế giới ý thức được hiểm họa của biến đổi khí hậu đối với nhân loại, đã nhất trí tăng cường các biện pháp nhằm cắt giảm các nguyên nhân dẫn đến BĐKH và giảm bớt việc tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên. Giả thiết rằng thỏa thuận này sẽ được thực hiện thì cũng phải đến những năm 2050 quá trình mực nước biển dâng mới chậm lại. Do vậy, quy hoạch thủy lợi đặt tầm nhìn đến năm 2050 là hợp lý với điều kiện công tác dự báo phải ngang tầm.  5. Nói chung chung mực nước biển, nhiệt độ, vũ lượng, … tăng giảm bao nhiêu chưa đủ mà phải nói được những hiện tượng đó đã diễn ra như thế nào trong không gian và theo thời gian. Có như vậy mới biết ứng phó thế nào, tại mỗi nơi, với cái gì và vào thời điểm nào. Đó là yêu cầu bức thiết đối với công tác quy hoạch thủy lợi hiện nay. Khó khăn lớn nhất là phải có các chuổi số liệu đo đạc cần thiết.  Những nhận xét “trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7O C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm”, hay thông báo “mực nước biển dâng cao thêm 3-15cm (năm 2010) và 15-90cm (năm 2070)” hoàn toàn không đủ để trả lời cụ thể ở Huyện Duyên hãi (tỉnh Trà Vinh), người dân sẽ còn có thể ở lại đó hay phải di dời; ở Huyện Long Phú (tỉnh Sóc Trăng), đê biển có trụ được không, phải được gia cố và nâng cao bao nhiêu? Những thông tin đó còn “thô” hơn cả Hình 5 (tài liệu đã dẫn) mà Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) dựa trên các số liệu đo đạc, đã tính toán mực nước biển dâng trên thế giới, trong vùng Đông Nam Á vào những năm cuối thế kỷ XX.  Tôi có dịp được thấy các bản đồ biến đổi của vũ lượng, số ngày mưa, số ngày nắng trung bình năm trên lãnh thổ Thái Lan trong hai thời đoạn 30 năm (1951-1980) và (1976-2005). Những bản đồ này cung cấp những thông tin về nhu cầu nước đối với sản xuất và sinh hoạt tại các vùng khác nhau trên lãnh thổ.  6. Hiện nay chúng ta đang triển khai Chương trình xây dựng đê biển. Chủ trương này là rất đúng, nhất là trong bối cảnh biển dâng. Nhưng chương trình thành công nhiều hay ít, thậm chí có những nơi có thể thất bại, lãng phí ngân sách nhà nước tùy thuộc vào hiểu biết địa mạo vùng ven biển. Chương trình “Điều tra cơ bản tổng hợp Đồng bắng sông Cửu Long” [2] đã chỉ ra tình hình xói lở ở Cửa Bồ Đề (tỉnh Cà Mau) từ năm 1885 đến năm 1985 và đến năm 2005. (Hình 1).  Hiểu biết sự giao thoa giữa hai chế độ triểu Biển Đông (bán nhật triều) và triều Vịnh Thái Lan (nhật triều) là cần thiết về mặt khoa học và còn là nền tảng trong việc quy hoạch phát triển bền vững huyện Ngọc Hiển (nay là hai huyện Ngọc Hiển và Năm Căn). Trung tâm Nghiên cứu Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã nghiên cứu phân vùng thủy văn, thủy lực huyện này năm 1996 [3]. (Hình 2).  Theo tôi, điều tra cơ bản tổng hợp là bước đi trước không thể thiếu. Chất lượng của quy hoạch thủy lợi tùy thuộc rất nhiều vào công tác này.  Trong điều kiện mà chúng ta thiếu khá nhiều số liệu cơ bản về khí tượng thủy và hải văn, cần thống kế các số liệu đã có và xây dựng một chương trình điều tra nghiên cứu cơ bản làm rõ những điều mà công tác quy hoạch cần.             Hình 1     Hình 2          7. Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều vùng sẽ bị ngập. Nhưng hậu quả của biển dâng không phải chỉ có ngập tĩnh.    Động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỡ khi tiếp cận bờ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở hạ tầng ven biển bị đe dọa lớn hơn.  Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sâu hơn, thời gian ngập kéo dài hơn. Xâm nhập mặn sẽ vào sâu hơn, nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thủy văn, thủy lực trên từng địa bàn và trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho động thái bồi xói bờ biển, bờ sông, cù lao, cồn bãi, bồi lắng phù sa trên hệ thống sông chính và vùng cửa sông cũng thay đổi.  Các đề tài của chương trình khoa học nói ở điểm 6 ít nhất phải giải đáp cụ thể các nội dung trên đây, trên ba vùng của đồng bằng sông Cửu Long, vùng quá trình biển chiếm ưu thế, vùng quá trình sông chiếm ưu thế và vùng giao thoa hỗn hợp giữa hai quá trình sông, biển [4]; chỉ ra những vùng địa mạo không ổn định, bán ổn định ven biển hiện nay và trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biển dâng, … thì công tác quy hoạch thủy lợi mới đáp ứng mong đợi mà xã hội đặt vào nó.  8. Cho tới nay công tác quy hoạch ngành là “mảnh đất dành riêng” của ngành. Các viện nghiên cứu, các trường đại học, nhất là “ngoài ngành” rất ít được mời tham gia. Tình trạng “khép kín” sẽ dẫn đến lãng phí kinh phí, thời gian và chất xám, và chỉ gây thiệt hại cho công tác quy hoạch. Có nhiều đơn vị góp sức vào là cần thiết. Nhưng nhận phần việc riêng lẻ và chia phần kinh phí là chưa đủ. Cái cốt yếu là phải phối hợp giải quyết những nhiệm vụ của quy hoạch, thường đòi hỏi một sự tiếp cận tổng hợp, liên ngành.  9. Số liệu, tài liệu khoa học, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, … nói chung có tình trạng vừa thiếu vừa sử dụng rất lãng phí, nơi có thì giữ kín làm của riêng, ai cần sử dụng thì phải trả tiền, nơi cần để nghiên cứu thì không có. Xây dựng cơ sở các dữ liệu, hay ít nhất là lập danh sách các dữ liệu có liên quan, đang có ở cơ quan nào, và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này phục vụ công tác quy hoạch thủy lợi, là một trong những việc mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường phải làm, vì đã từ lâu đó là mong đợi, là yêu cầu rất chính đáng của cộng đồng khoa học nước nhà.  10. Mêkông là một con sông quốc tế. Việt Nam là quốc gia cuối cùng ở hạ lưu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biển dâng, bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với sử dụng nước sông Mêkông ở thượng nguồn đúng với quy định của luật pháp quốc tế là một nhiệm vụ hàng đầu của Ủy ban Quốc gia sông Mêkông. Có các kết quả điều tra nghiên cứu cơ bản cần thiết tương ứng là một công cụ mạnh để chúng ta đàm phán, bảo vệ quyền lợi chính đáng của quốc gia.  Lực lượng khoa học của chúng ta để phục vụ dự án còn mỏng. Thông tin, số liệu còn thiếu và cần được cập nhật. Hợp tác quốc tế có mục tiêu nhằm đào tạo nguồn nhân lực am tường, cập nhật thông tin, số liệu, tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm thông qua nghiên cứu và trao đổi chuyên gia và phổ biến rộng rãi các kết quả tiếp thu được là một công tác quan trọng cần triển khai.      [1] Xem bài “Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung – Một số nhiệm vụ cần triển khai”, Tạp chí Tia Sáng, 14/7/2008, http://www.tiasang.com.vn/news?id=2850  [2] Chương trình “Điều tra cơ bản tổng hợp Đồng bắng sông Cửu Long” là một chương trình khoa học cấp nhà nước từ 1983-1990, có mã số 60-02 (1983-1985) và 60-B (1986-1990), có hai mục tiêu: hiểu biết cơ bản về ĐBSCL và phục vụ quy hoạch phát triển vùng đất này.  [3] Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn văn Đăng, Bùi Đắc Tuấn, Lê Đình Hồng. “Phân vùng thủy văn thủy lực Huyện Ngọc Hiển, tỉnh Minh Hải”, Hội thảo khoa học “Nuôi tôm trong rừng ngập mặn: hiện trạng, các vấn đề và triển vọng”, do Ủy ban nhân dân tỉnh Minh Hải, TTNCPTĐBSCL cùng tổ chức với sự tham gia của cơ quan nghiên cứu ORSTOM (Pháp) tại Cà Mau, 10-11/9/1996.  [4] Xem Mục IV, tài liệu đã dẫn.  GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc      Theo trang web chính thức của Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc (http://www.nsfc.gov.cn), trong hơn 20 năm hoạt động (từ 1986), Quỹ đã dùng 18 tỷ NDT từ ngân sách nhà nước để đầu tư cho 100.000 đề tài khoa học cơ bản, đã “đạt nhiều thành tích, thúc đẩy tiến bộ khoa học, đặc biệt trên các lĩnh vực mới như nghiên cứu gene, nano, quang học lượng tử…”    Một thành quả nữa của Quỹ là “đào tạo và bồi dưỡng nhân tài”: Tài trợ cho hơn 13 nghìn người thông qua “Quỹ Khoa học Thanh niên”, cho gần 1.500 người thông qua “Quỹ Thanh niên kiệt xuất”, cho 118 tập thể thông qua “Quỹ tập thể sáng tạo”. Ngoài ra, Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc còn tài trợ cho hơn 500 học giả trẻ ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao. Ngoài hợp tác với các Bộ, chính quyền địa phương, viện nghiên cứu… Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc còn hợp tác với 55 quỹ khoa học quốc tế.  7 lĩnh vực được Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc đầu tư lần lượt là: Toán-Lý, Hóa học, Khoa học Sự sống, Khoa học trái đất, Khoa học vật liệu, Tin học, Khoa học Quản lý. Nguyên tắc xét duyệt của Quỹ là: “Dựa vào chuyên gia, phát huy dân chủ, tuyển chọn ưu tú, hợp lý công bằng” (Y khao chuyên gia, phát dương dân chủ, trạch ưu chi trì, công chính hợp lý)   Tất nhiên không chỉ có suôn sẻ. Trong công trình nghiên cứu năm 2006 “Các vấn đề Chính sách quản lý của Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc” (http://www.paper.edu.cn), các tác giả đã chỉ ra một loạt vấn đề của Quỹ này:  -Nặng số lượng, nhẹ chất lượng: Nhiều trường đại học ở Trung Quốc có chính sách coi việc “lôi” được tài trợ từ Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia là điều kiện để phong giáo sư hay phó giáo sư, có trường thưởng cho người xin được tài trợ, thậm chí có trường coi đề cương xin tài trợ Quỹ là điều kiện bắt buộc để làm tiến sĩ.  Chính vì vậy mà mấy năm nay, số lượng đề cương xin tài trợ tăng vọt, năm 2000 là 21.000; đến 2005, số lượng đã tăng hơn gấp đôi, lên hơn 50.000. Nếu như trước đây, một đề cương được 5 chuyên gia xét duyệt thì hiện chỉ còn 3, việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng xét duyệt. Mặt khác, số lượng đề cương ngày một nhiều, song rất ít những đề cương có tư duy và phương pháp nghiên cứu độc đáo; thiếu tính dự báo và tính sáng tạo. Đó là chưa kể đến các đề cương “học thuật hủ bại”, giả mạo, cắt xén gửi đến cũng ngày một nhiều.  -Nặng đề cương, nhẹ quản lý: Nhiều chủ nhiệm thường dồn hết tinh lực vào làm đề cương để được tài trợ; khi được rồi thì xem nhẹ các thủ tục quản lý. Nói chung họ thường không chấp hành khâu báo cáo đánh giá tiến độ hằng năm; không phát hiện và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh; đến khi hết thời gian thì vội vã ứng phó.  -Nặng đẳng cấp, nhẹ kết quả:  Vì Quỹ tài trợ cho nghiên cứu cơ bản nên tiêu chí đánh giá chủ yếu là (1) Tình hình công bố nghiên cứu; (2) Kết quả nghiên cứu có tính sáng tạo hay không; (3) Giải thưởng cho kết quả các hạng mục nghiên cứu; (4) Hiệu quả và sự phổ biến của kết quả các hạng mục; (5) Đào tạo nhân lực. Có 5 mức để đánh giá các tiêu chí: Xuất sắc, tốt, khá, trung bình, kém. Trong 5 tiêu chí trên, chỉ có các tiêu chí 1, 3, 5 là có thể lượng hóa và đánh giá được tương đối chính xác. Vì thế hầu hết các đề tài đều nhấn mạnh các tiêu chí 1, 3, 5: nào là đã công bố được bao nhiêu, đào tạo được bao nhiêu; song tính sáng tạo và sự  phổ biến của nghiên cứu lại không đủ.  – Nhiều kết quả, ít tinh hoa: Xem tổng kết nhiều đề tài chỉ thấy nói đã đào tạo bao nhiêu tiến sĩ, bao nhiêu thạc sĩ nghiên cứu sinh, đã công bố bao nhiêu bài báo; song đăng ở các báo trong nước thì nhiều, ở các tạp chí quốc tế uy tín thì ít. Tìm hiểu chi tiết thì không mấy bài báo có tác giả thứ nhất là chủ nhiệm đề tài, điều này cho thấy nghiên cứu chủ yếu do học sinh thực hiện. Chủ nhiệm đề tài không toàn tâm toàn ý nghiên cứu, giải quyết vấn đề cốt yếu, thậm chí đóng vai “ông chủ”.  Chú thích ảnh: Cơ cấu Quỹ khoa học tự nhiên Quốc gia Trung Quốc    TRẦN ANH      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ Nobel: Hủy bỏ tiệc Nobel vì coronavirus      Quỹ Nobel, nơi phụ trách các giải Nobel, đã tuyên bố hủy bỏ bữa tiệc truyền thống vào tháng 12 vì đại dịch COVID-19 và lễ trao các giải thưởng sẽ được tổ chức theo “những hình thức mới”.      Các nhà khoa học đoạt giải Nobel năm 1958, từ trái qua phải: George Beadle, E. L. Tatum, Igor Yevgenyevich Tamm (vật lý), Frederick Sanger (hóa học), Pavel Alekseyevich Cherenkov (vật lý), Ilja Mikhailovich Frank (vật lý), Joshua Lederberg (y học). Nguồn: circulatingnow.nlm.nih.gov  Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1956 buổi tiệc này bị hủy bỏ, theo Quỹ Nobel.  “Tuần lễ Nobel sẽ không diễn ra với các sự kiện như thông thường vì tình hình đại dịch hiện nay. Đây là một năm rất đặc biệt khi mọi người cần phải hi sinh và chấp nhận thích ứng một cách hoàn toàn với những tình trạng mới”, Lars Heikensten, giám đốc Quỹ Nobel, nói trong một thông báo.  Heikensten cho biết thêm là những người được nhận giải thưởng năm nay có thể được tưởng thưởng theo “những cách khác biệt” cùng với “những khám phá và công trình của họ”.  Bữa tiệc Nobel xa hoa truyền thống thường kết lại tuần lễ Nobel vào tháng 12 hàng năm, khi những người thắng giải được mời tới Stockholm cho những cuộc gặp gỡ và trao giải. Ở tòa thị chính Stockholm, những người giành giải Nobel với gia đình hoàng gia Thụy Điển và khoảng 1.300 khách mời được thết tiệc theo đúng phép tắc. Tại bữa tiệc này, những người giành giải Nobel thường có một bài phát biểu ngắn (riêng giải Nobel Hòa bình sẽ được vinh danh ở Oslo).  Việc loan báo các giải thưởng (Y sinh, vật lý, hóa học, văn học, hòa bình và sau đó là kinh tế) sẽ vẫn diễn ra từ ngày 5 đến 12/10, Quỹ Nobal cho biết thêm.  Các lễ trao giải ở Stockholm và Oslo vào ngày 10/12 sẽ được tổ chức “theo những hình thức mới”.  Trong lịch sử tổ chức giải Nobel, tiệc Nobel chỉ bị hủy bỏ vào năm 1956 để tránh việc mời đại sứ Soviet tới dự do sự kiện ở Hungary, người phát ngôn của Quỹ Nobel nói. Buổi tiệc Nobel cũng từng bị hủy bỏ trong hai cuộc chiến tranh vào năm 1907 và 1924.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-07-nobel-prize-banquet-cancelled-coronavirus.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền năng của CRISPR trong tương lai?      Khi Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ngày 7/10 thông báo TS Jennifer Doudna, ở Đại học California, Berkeley đoạt giải Nobel Hóa học 2020, cô vẫn đang ngủ say tại nhà ở California. Phóng viên tạp chí Nature gọi một cuộc điện thoại đánh thức cô lúc 3 giờ sáng để phỏng vấn về giải thưởng, cô vẫn ngơ ngác hỏi: “Chà, ai đã thắng giải vậy?”.      Với nỗ lực phát triển một phương pháp chỉnh sửa bộ gen, hai nhà khoa học nữ Emmanuelle Charpentier và Jennifer A. Doudna chính thức trở thành chủ nhân của giải Nobel Hóa học năm 2020. Ảnh: nobelprize.org  TS Doudna và TS Emmanuelle Charpentier, Viện Max Planck ở Đức, hai nhà hóa sinh bắt đầu hợp tác vào năm 2011 và chỉ một năm sau đó đã xuất bản một bài báo đột phá về CRISPR, công trình đã tạo ra một cuộc cách mạng về khả năng chỉnh sửa gene và đem lại cho họ giải Nobel 2020.    CRISPR là viết tắt của clustered regularly interspaced short palindromic repeats, là các trình tự DNA palindromic (từ DNA đọc xuôi ngược đều giống như nhau) ngắn được lặp lại tập trung thành cụm. Nó là một hệ thống miễn dịch tự nhiên của vi khuẩn. Khi virus tấn công, vi khuẩn sẽ lấy các đoạn dữ liệu di truyền từ virus, sau đó kết hợp các đoạn này vào DNA của chính chúng. Điều này giúp vi khuẩn nhận ra virus, giúp ngăn chặn những kẻ xâm lược nhỏ bé này. Vi khuẩn làm điều này bằng cách tạo ra một phân tử RNA hoạt động như một chất dẫn đường cho protein Cas (CRISPR-associated), phân tử này sau đó sẽ cắt bộ gene của virus.    Doudna và Charpentier nhận ra rằng họ có thể khai thác khả năng cắt này để chỉnh sửa gene cho mọi sinh vật sống. Trong bài báo năm 2012, họ đã mô tả hệ thống này của vi khuẩn có thể được sử dụng như “chiếc kéo DNA” và từ đó, công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR ra đời.    Được công bố là một trong những khám phá quan trọng nhất của thế kỷ 21, CRISPR nhanh hơn, rẻ hơn và chính xác hơn so với các hệ thống chỉnh sửa gene trước đây. Nó dần trở nên phổ biến trong các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới. Các nhà khoa học đang sử dụng công nghệ này cho nỗ lực để điều trị các bệnh di truyền nghiêm trọng, phục hồi thị lực ở những người mắc một loại mù di truyền, thiết kế các loại cây trồng có khả năng chống chịu tốt hơn với bệnh tật và biến đổi khí hậu, đồng thời loại bỏ các loài gây bệnh như muỗi và chuột. Và trên hết, các nhà khoa học đang nghiên cứu các phiên bản mới hơn, cải tiến hơn và thậm chí còn chính xác hơn của CRISPR.    Quyền năng chỉnh sửa gene cũng mở ra nhiều cách khiến CRISPR có thể bị lạm dụng. Vào năm 2018, nhà khoa học Trung Quốc He Jiankui đã bị lên án trên khắp thế giới, sau khi ông tiết lộ rằng đã sử dụng CRISPR để tạo ra những đứa trẻ được chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới. He Jiankui vẫn đang thụ án, nhưng điều này đã làm dấy lên lo ngại rằng CRISPR có thể dẫn đến “những đứa trẻ được thiết kế”- được cải tiến về mặt di truyền.      Được công bố là một trong những khám phá quan trọng nhất của thế kỷ 21, CRISPR nhanh hơn, rẻ hơn và chính xác hơn so với các hệ thống chỉnh sửa gene trước đây.      Một tuần sau khi công bố giải Nobel, Doudna đã nhận lời trả lời phỏng vấn của Future Human nói chuyện về tương lai của CRISPR, lĩnh vực chỉnh sửa gene cũng như dự định khoa học tới đây của riêng cô.     Future Human: Đầu tiên, xin chúc mừng chị. Đây thật sự là một vinh dự lớn. Chị có cảm thấy ngạc nhiên khi biết mình đã đoạt giải Nobel?    Jennifer Doudna: Ôi, tôi hoàn toàn sốc! Vừa thức giấc và nhận được tin lớn như thế – tôi thật sự không thể nào tin được. Tôi nói với phóng viên, “Tôi không thể nói chuyện với bạn ngay bây giờ. Tôi phải gọi cho ai đó và tìm hiểu xem điều này có phải là thật hay không ”.     Chúng ta đang chứng kiến ​​một số thử nghiệm lâm sàng cho các phương pháp điều trị dựa trên CRISPR đang được tiến hành hiện nay. Chị có thể cho biết CRISPR có triển vọng đối với những bệnh nào trong tương lai gần?    Chắc chắn là các bệnh do gene đơn hoặc đột biến gene gây ra. Một ví dụ tuyệt vời, và chúng tôi đã thu được kết quả ban đầu từ một thử nghiệm, là bệnh hồng cầu hình liềm. Nhưng tôi nghĩ trong tương lai, chúng ta sẽ thấy cơ hội sử dụng CRISPR cho các loại rối loạn máu khác, các bệnh di truyền về mắt, và sau đó, có thể về lâu dài, là xơ nang cũng như loạn dưỡng cơ, cũng là những bệnh di truyền.     Chị nghĩ điều gì sẽ là trở ngại lớn nhất để đưa những phương pháp điều trị này đến với bệnh nhân?    Nó có thể là vấn đề phân phối. Một trong những lý do tại sao rối loạn máu là một trong những mục tiêu ban đầu của CRISPR, là việc chỉnh sửa bộ gene có thể được thực hiện ở các tế bào được lấy ra từ bệnh nhân. Việc chỉnh sửa được thực hiện trong phòng thí nghiệm trước khi chuyển chúng vào lại cơ thể. Việc này dễ dàng hơn so với bệnh xơ nang hoặc chứng loạn dưỡng cơ, nơi việc chỉnh sửa thực sự cần được thực hiện bên trong cơ thể, ở tại các tế bào phù hợp, để mang lại lợi ích lâm sàng. Đó là một thách thức khó khăn bây giờ.     Công ty Mammoth Biosciences của chị đang thực hiện một thử nghiệm nhanh dựa trên CRISPR cho Covid-19. Theo chị, xét nghiệm chẩn đoán dựa vào CRISPR sẽ đóng vai trò như thế nào trong tương lai?    Có một số nỗ lực đang được tiến hành để phát triển chẩn đoán CRISPR trong các công ty và các phòng thí nghiệm. Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ thấy mọi thứ, từ các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm thông lượng cao yêu cầu thiết bị robot và chuyên gia, đến các xét nghiệm tại điểm chăm sóc có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm nghiên cứu, phòng khám với bác sĩ hoặc phòng cấp cứu. Cuối cùng, chúng tôi hy vọng sẽ có một xét nghiệm tại nhà có hiệu quả như que thử thai đối với Covid. Điều thú vị với công nghệ CRISPR là, nó có khả năng là một phương pháp nhanh hơn và trực tiếp hơn để phát hiện sự ra virus. Nó cũng dựa vào một chuỗi cung ứng khác với những gì cần thiết cho thử nghiệm PCR (phản ứng chuỗi polymerase).     Được biết là chị cũng đang nghiên cứu về xét nghiệm Covid. Tình hình thử nghiệm Covid-19 của công ty như thế nào, thưa chị?    Mammoth Biosciences đang có kế hoạch triển khai thử nghiệm của mình cho một số phòng thí nghiệm đối tác để thử nghiệm ban đầu (beta) vào tháng 11. Tùy thuộc vào cách các thí nghiệm đó diễn ra và kết quả đó ra sao, chúng tôi sẽ mở rộng sang các phòng thí nghiệm khác sau đó. Chúng tôi muốn xem nó như thế nào so với xét nghiệm PCR.     Gần đây, chị vừa thành lập một công ty CRISPR khác, là Scribe Therapeutics. Trọng tâm của công ty khởi nghiệp mới này là gì?    Có rất nhiều cách khác nhau để CRISPR có thể được triển khai. Đối với các ứng dụng lâm sàng, lý do mà chúng ta đang thấy rất nhiều nỗ lực tập trung vào các rối loạn máu như bệnh hồng cầu hình liềm và ở một mức độ nào đó, các bệnh về mắt hoặc thậm chí là gan là vì những mô đó dễ dàng đưa các phân tử chỉnh sửa gene vào. Với Scribe Therapeutics, chúng tôi đang tìm kiếm cơ hội sử dụng CRISPR cho các bệnh thoái hóa thần kinh. Đối với những rối loạn đó, công nghệ rõ ràng cần phải rất mạnh mẽ và phải rất an toàn. Nó phải xâm nhập vào các tế bào não và mô thần kinh, nơi nó có thể có tác động. Chúng tôi muốn đảm bảo rằng các công cụ chỉnh sửa là tốt nhất có thể và sau đó tìm ra cách tốt nhất để đưa chúng vào não bộ. Đó thực sự là trọng tâm của công ty.      Trong hình: Reengineering Life là một loạt phim nói về những cách mà công nghệ di truyền đang thay đổi nhân loại và thế giới kinh ngạc như thế nào. Nguồn ảnh: picture alliance/Getty Images.     Báo cáo mà chị đã đề cập cũng kêu gọi “đối thoại xã hội sâu rộng” trước khi các quốc gia quyết định cho phép sử dụng chỉnh sửa bộ gene người. Trước đây chị đã từng nói về việc cần tương tác với công chúng về kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR. Nhưng làm thế nào chúng ta đảm bảo rằng tiếng nói của công chúng về CRISPR được lắng nghe?    Đó là một câu hỏi thực sự quan trọng. Đó là một thách thức. Bởi vì một mặt, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải có sự tham gia của công chúng nhiều hơn vào các quyết định về cách sử dụng công nghệ. Mặt khác, điều đó đòi hỏi mức độ hiểu biết về công nghệ mà người bình thường có thể không có hoặc có thể không muốn có. Vì vậy, tôi nghĩ điều quan trọng là phải có các diễn đàn khác nhau để khuyến khích thảo luận. Chúng tôi đã thấy điều này với CRISPR theo một số cách khác nhau. Có những cuộc họp mang tính kỹ thuật cao bao gồm thảo luận về các vấn đề đạo đức và xã hội từ quan điểm kỹ thuật khá chi tiết. Nhưng cũng ngày càng có nhiều hội nghị và sự kiện không đi sâu vào vấn đề khoa học, mà họ dành nhiều nỗ lực hơn để suy nghĩ về các hàm ý của CRISPR và các ứng dụng khác nhau của nó.     Ngoài y học, chị nghĩ CRISPR có thể ảnh hưởng ở lĩnh vực nào?    Nông nghiệp là một lĩnh vực khác sẽ chịu ảnh hưởng. Chúng ta đã thấy rất nhiều trường hợp sử dụng CRISPR trong việc tạo ra những cây trồng biến đổi gene, có thể cho phép những đặc điểm như năng suất cây trồng tốt hơn, chống lại hạn hán, mức giá trị dinh dưỡng cao hơn, hoặc những thứ tương tự. Tôi nghĩ điều đó thực sự thú vị, và rõ ràng là còn nhiều việc phải làm ở đó. Đó có thể là lĩnh vực mà chúng ta sẽ thấy tác động rộng lớn và mạnh hơn trong thời gian tới.     Với khả năng bị lạm dụng, chị nghĩ nên có những quy định quản lý CRISPR như thế nào?    May mắn thay, tôi nghĩ rằng có một khuôn khổ quy định khá tốt ở Hoa Kỳ và ở hầu hết những nơi có hoạt động nghiên cứu lớn, có thể phục vụ cho quản lý việc sử dụng CRISPR. Điều đó khiến chúng ta thực sự nhớ lại những năm 1970 [tại Hội nghị Asilomar về DNA tái tổ hợp], khi các hướng dẫn tự nguyện được đưa ra để sử dụng một số công cụ ban đầu của sinh học phân tử, như dòng hóa (molecular cloning). Điều đó như chúng ta đã thảo luận, có một số ứng dụng nhất định của CRISPR như trong phôi thai người, thứ mà tôi nghĩ cần phải được quan tâm đặc biệt.    Các nhà khoa học nghiên cứu về CRISPR mà chị thực sự ngưỡng mộ là ai?    Nhiều chứ. Lĩnh vực này đã từng rất nhỏ, và bây giờ nó đã phát triển rộng lớn. Trong đó, một người tôi ngưỡng mộ là Luciano Marraffini. Ông ấy là một nhà khoa học tại Đại học Rockefeller, nghiên cứu về các nguyên tắc cơ bản của sinh học CRISPR và hiểu cách nó hoạt động như một hệ thống miễn dịch trong vi khuẩn. Jill Banfield tại Berkeley đang tiếp tục nghiên cứu vi khuẩn không nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và đang phát triển trong các môi trường khác nhau. Chị ấy là một trong những người phát hiện ra hệ thống CRISPR và vi khuẩn rất sớm. Và chị ấy tiếp tục tìm ra rất nhiều hệ thống mới nữa.     Về sinh học thực vật, tôi thực sự thích công trình nghiên cứu của Pamela Ronald tại Đại học California, Davis. Chị ấy chủ yếu làm việc trong lĩnh vực lúa gạo, nơi họ đang sử dụng CRISPR để sửa đổi bộ gene của cây lúa mà tôi nghĩ, sẽ thực sự quan trọng khi nông dân trồng lúa đối mặt với những thách thức của biến đổi khí hậu. Về y sinh, tôi thật sự hứng thú với công trình của Charles Gersbach tại đại học Duke.   Tôi nghĩ một khả năng thú vị là chúng ta sẽ thấy CRISPR được sử dụng không phải chỉ để chỉnh sửa bộ gene, hoặc ít nhất là không tạo ra những thay đổi vĩnh viễn đối với bộ gene. Thay vào đó, nó có thể kiểm soát mức độ protein được tạo ra từ các gene khác nhau của con người. Đây là một cách mới hơn để sử dụng công nghệ CRISPR. Tôi nghĩ rằng nó có rất nhiều tiềm năng cho phép kiểm soát các tế bào mà không yêu cầu các thay đổi hóa học vĩnh viễn đối với DNA. TS. Jennifer Doudna  Hướng đi tiếp theo của chị là gì?    CRISPR sẽ khiến chúng ta bận rộn trong một thời gian nữa. Vẫn còn rất nhiều câu hỏi cơ bản về cách nó diễn ra mà tôi thực sự muốn cố gắng trả lời. Jill Banfield là cộng tác viên thân thiết của chúng tôi và chị ấy đang tiếp tục cho chúng tôi thấy rất nhiều con đường CRISPR mới. Chúng tôi cũng thực sự quan tâm đến việc chỉnh sửa bộ gene trong các nhóm các vi sinh vật tự nhiên. Tôi nghĩ đó là những lĩnh vực mà tôi sẽ tập trung nỗ lực trong thời gian tới.θ     Huỳnh Đức Phát  (Viện Tế bào gốc, trường ĐH KHTN TP HCM) dịch     Nguồn: https://futurehuman.medium.com/fresh-off-her-nobel-prize-win-jennifer-doudna-predicts-whats-next-for-crispr-1fea0225c41d    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyết định của WHO về Đông y Trung Quốc có khả năng gây phản tác dụng      Các chuyên gia cho rằng việc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa phương pháp trị liệu truyền thống vào bản danh sách các liệu pháp chẩn đoán toàn cầu sẽ đi kèm với nhiều rủi ro.      Công nhân làm việc trong một nhà máy chế biến a giao ở Đường Sơn, Hợp Phì vào tháng 3/2016. Nguồn: VCG  Ở châu Phi, lừa đang là một mặt hàng nóng. Trong vài năm qua, giá bán lừa và da lừa tăng cao tới mức dẫn đến nạn trộm cắp. Để bảo tồn quần thể lừa, một số quốc gia như Nigeria, Tanzania và Botswana đã ban hành lệnh cấm xuất khẩu. Tháng trước, Chính phủ Nigeria tăng cường lệnh cấm, trong đó quy định việc giết lừa cũng là bất hợp pháp.   Sở dĩ có tình trạng như vậy là do tồn tại một thị trường chuyên về a giao (ejiao), một loại gelatin được làm từ da lừa, trị giá 15 tỷ nhân dân tệ (tương đương 2,2 tỷ USD) mỗi năm. Là thành phần rất giá trị trong Đông y Trung Quốc với các tác dụng cầm máu, trị ho và ung thư nên 250 gram a giao có thể bán với giá vài trăm đô la. Khi giá cả tăng và số lượng lừa ở Trung Quốc giảm thì họ đã tìm kiếm nguồn cung từ châu Phi.  Những động vật khác còn bị đe dọa nhiều hơn. Nhu cầu khổng lồ về các phương thuốc Đông y của Trung Quốc đã đẩy nhiều loài vật như hổ, tê giác, ngựa biển và tê tê đến bờ vực tuyệt chủng, dù có rất ít bằng chứng cho thấy các chế phẩm từ động vật trên mang lại lợi ích như hứa hẹn. Đông y dựa trên các lý thuyết kinh mạch và khí công, vốn chưa được khoa học chứng minh. Phần lớn các bác sĩ và nhà nghiên cứu y học được đào tạo ở phương Tây đều hoài nghi việc áp dụng Đông y do không có bằng chứng đáng tin cậy về hiệu quả của phần lớn các liệu pháp Đông y, thậm chí còn có một số dấu hiệu cho thấy tác hại của một vài liệu pháp.  Chính phủ Trung Quốc đã đầu tư hàng triệu nhân dân tệ vào các chương trình nhằm hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa Đông y, nhưng các chương trình này mới chỉ đưa ra một vỏ bọc hợp pháp cho các phương pháp điều trị chưa được kiểm tra nghiêm ngặt. Mặt khác, Đông y là một ngành kinh tế lớn được chính phủ hỗ trợ. Tháng 1/2018, thuế nhập khẩu da lừa ở Trung Quốc đã giảm từ 5% xuống 2%. Trung Quốc nhiệt tình quảng bá Đông y trên toàn thế giới – ẩn sau ảnh hưởng của Sáng kiến Vành đai và Con đường, đồng thời ngăn chặn sự chỉ trích về Đông y trong nước.  Trong bối cảnh đó, WHO phê duyệt “Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan (ICD-11), tài liệu có ảnh hưởng lớn về phân loại và đánh mã số các tình trạng bệnh lý và được sử dụng trên toàn thế giới. Những thầy thuốc Đông y trên toàn thế giới đều coi đây là một bước quan trọng trong việc mở rộng ứng dụng Đông y trên toàn thế giới. Một tờ báo Trung Quốc gọi đó là “bước tiến quan trọng với việc quốc tế hóa Đông y”, và là trợ giúp lớn để thành lập các trung tâm Đông y trên thế giới.  Tuy nhiên, nhiều nơi chỉ trích WHO. Để đáp trả, trong một tuyên bố vào ngày 4/4, WHO đã nhấn mạnh, chương về Đông y chỉ giúp các bác sĩ cơ hội sử dụng cả Đông y và Tây y trong chẩn đoán như một “tùy chọn kép” và các danh mục này [trong ICD] “không đề cập hoặc chứng thực đến bất kỳ hình thức điều trị nào”  Chắc chắn Đông y không nên bị loại bỏ, nhiều nơi trên thế giới hiện nay vẫn chủ yếu sử dụng các liệu pháp này, nhiều sản phẩm khai thác từ tự nhiên có khả năng cứu mạng người như loại thuốc “vàng” artemisinin trị sốt rét được phát hiện ở Trung Quốc được phân lập từ cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua). Quan trọng là phải phân biệt được các liệu pháp có hại với những liệu pháp mặc dù không hiệu quả nhưng tương đối lành tính hoặc với nhữngliệu pháp có thể hiệu quả nhưng chưa được kiểm tra nghiêm ngặt.  Mặc dù vậy, nội dung về Đông y trong bản phân loại của WHO rất có khả năng phản tác dụng, nó có nguy cơ hợp pháp hóa một lý thuyết cơ bản vô căn cứ và không khoa học. Dù mục đích thực sự là gì thì quyết định đó của WHO không có công dụng mấy ngoài việc thúc đẩy doanh số bán hàng của nhiều liệu pháp điều trị chưa được kiểm chứng.  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01726-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt kho phần mềm miễn phí      Kho phần mềm miễn phí tại địa chỉ Khophanmem.vn vừa được Công ty An ninh mạng Bkav chính thức ra mắt ngày 18/11.    Đây là nơi tập trung các tiện ích thiết yếu mà người dùng máy tính đều cần như: bộ gõ tiếng Việt, từ điển, ứng dụng nghe nhạc, xem phim, phần mềm bảo mật, phần mềm học tập, tiện ích hệ thống… Toàn bộ ứng dụng tại Kho phần mềm đã được chọn lọc kỹ lưỡng với quy trình kiểm duyệt an ninh nghiêm ngặt của Bkav, đảm bảo an toàn tuyệt đối khi tải về.   Tiêu chí của Kho phần mềm là “chọn lọc”. Theo lý giải của Công ty Bkav, hiện nay cũng có những địa chỉ để tải phần mềm, nhưng số lượng ở đó quá nhiều và không được chọn lọc khiến người sử dụng như bị lạc vào rừng và rất vất vả để tìm được những ứng dụng mình cần. Với Khophanmem.vn, người dùng có thể dễ dàng tìm ngay được phần mềm quen dùng.   Đặc biệt, ứng dụng cài đặt phần mềm tự động Bkav AutoInstaller được tích hợp sẵn trên Khophanmem.vn sẽ giúp người sử dụng cài đặt các phần mềm dễ dàng, nhanh chóng. Nếu không biết cách cài đặt, bạn chỉ cần tick chọn các phần mềm mong muốn trên Khophanmem.vn và Bkav AutoInstaller sẽ cài các phần mềm đó cho bạn một cách hoàn toàn tự động, bạn không phải làm thêm bất kỳ thao tác nào khác.   Ngoài phiên bản dành cho máy tính, Bkav cũng cung cấp Khophanmem.vn phiên bản dành cho di động.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt sách “An toàn điện hạt nhân”      An toàn điện hạt nhân là chủ đề nóng ở nước ta trong thời gian gần đây, được đề cập thường xuyên trong những hội thảo quốc gia và quốc tế, được đăng tải liên tục trên các phương tiện truyền thông. Trong khi đó, các sách trình bày cơ sở khoa học về an toàn điện hạt nhân lại thiếu hẳn. Trăn trở với hiện trạng này đã thôi thúc việc biên soạn sách “An toàn điện hạt nhân” được NXB Khoa học kỹ thuật ấn hành1.&#160;   Normal  0  false  false  false  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable  {mso-style-name:”Table Normal”;  mso-tstyle-rowband-size:0;  mso-tstyle-colband-size:0;  mso-style-noshow:yes;  mso-style-parent:””;  mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;  mso-para-margin:0in;  mso-para-margin-bottom:.0001pt;  mso-pagination:widow-orphan;  font-size:10.0pt;  font-family:”Times New Roman”;  mso-ansi-language:#0400;  mso-fareast-language:#0400;  mso-bidi-language:#0400;}      Sau thảm họa hạt nhân Fukushima, một số nước dứt khoát từ bỏ điện hạt nhân để phát triển năng lượng tái tạo, trong khi đó nhiều lò phản ứng mới vẫn được xây dựng ở nhiều nước khác. Chủ đề an toàn điện hạt nhân lại tiếp tục chia rẽ thế giới, từ công chúng đến các đảng phái chính trị và ngay cả giới chuyên môn. Đủ thấy an toàn điện hạt nhân là chủ đề khoa học rất phức tạp, rất khó cân đong đo đếm để có thể khẳng định dứt khoát, có hay không. Đây còn là khoa học đa ngành, nơi hội tụ các đỉnh cao từ nhiều khoa học hiện đại sử dụng tối đa các phương tiện tính toán cực mạnh. Do đó, phán xét về an toàn điện hạt nhân không hề đơn giản, không thể theo những tư duy cơ giới hời hợt, và rất dễ bị những tâm thức chủ quan chi phối.      Mỗi lò phản ứng ở nhà máy điện hạt nhân chứa trong vùng hoạt hàng tỷ cu ri chất phóng xạ, sản phẩm phân hạch dây chuyền neutron với hạt nhân uranium. Tai nạn điện hạt nhân xảy ra nếu khối phóng xạ này bị tan chảy do nhiệt độ tăng lên quá cao khi phản ứng dây chuyền tăng tốc không kiểm soát được, hoặc do mất nước tải nhiệt. Khi ấy, nhân viên vận hành có thể bị chiếu xạ, nhà máy sẽ bị hư hỏng hoàn toàn, xác phóng xạ phải được canh giữ hàng chục năm, sau đó phải tháo dỡ và chôn cất rất tốn kém. Tệ hại hơn, dân chúng sẽ bị nhiễm xạ, môi trường bị hoang phế một khi chất phóng xạ thoát được ra khỏi nhà lò.   Ở nhiều cấp độ thấp hơn, sự cố điện hạt nhân có thể gây hậu quả về mặt kinh tế xã hội. Đơn giản nhất là lò phản ứng phải ngừng hoạt động do một thông số kỹ thuật nào đó bị lêch lạc, từ đó phát ra tín hiệu dập lò khẩn cấp. Phải mất vài ngày để lò hoạt động trở lại, mà cứ mỗi ngày lò ngưng hoạt động không theo kế hoạch nhà máy mất đi một triệu đô la.   Các sự cố và tai nạn điện hạt nhân thường khởi nguồn từ những sai lệch trong hệ thống công nghệ, sai sót con người và những hiện tượng thiên nhiên cực đoan. Tai nạn càng nghiêm trọng khi các yếu tố này ập đến cùng một lúc, tuy hãn hữu theo lý thuyết xác suất, song lại chính là những kịch bản của ba tai nạn lớn đã từng xảy ra. Công nghệ và thiết bị rất quan trọng, song yếu tố con người bao gồm đội ngũ vận hành, quản lý, hệ thống pháp lý và văn hóa an toàn luôn đóng vai trò quyết định.   An toàn điện hạt nhân không hề được cài đặt sẵn trong công nghệ mà chỉ nên xem là thành tích của đội ngũ, một tổng kết chí lý của nhóm chuyên gia điện hạt nhân đăng trên The Economist nhân dịp tròn một năm thảm họa Fukushima. Ỷ lại vào công nghệ mà thiếu đội ngũ chuyên nghiệp chính là gieo mầm cho điện hạt nhân mất an toàn. Ngược lại, tai nạn điện hạt nhân rất khó xảy ra nếu đất nước sở hữu được một đội ngũ chuyên gia hùng hậu, và đây chính là hiện thực ở hàng trăm lò phản ứng được thiết kế hơn 40 năm trước đây nhưng vẫn được vận hành an toàn ở các nước tiên tiến.         Sách “An toàn điện hạt nhân” được NXB Khoa học kỹ thuật ấn hành  An toàn điện hạt nhân là chủ đề nóng ở nước ta trong thời gian gần đây, được đề cập thường xuyên trong những hội thảo quốc gia và quốc tế, được đăng tải liên tục trên các phương tiện truyền thông. Trong khi đó, các sách trình bày cơ sở khoa học về an toàn điện hạt nhân lại thiếu hẳn. Trăn trở với hiện trạng này đã thôi thúc việc biên soạn sách “An toàn điện hạt nhân” được NXB Khoa học kỹ thuật ấn hành.    Mạch logic bắt đầu từ chương IV, khi bàn đến cấu trúc lò phản ứng năng lượng và cơ chế vật lý dẫn đến tai nạn điện hạt nhân cũng như hậu quả thoát chất phóng xạ ra môi trường (chương V). Không thể hiểu kỹ hai nội dung này nếu không ngược lại lịch sử phát triển vật lý hạt nhân bắt nguồn từ phát minh ra hiện tượng phóng xạ trong khoáng uranium từ đầu thế kỷ 20 (chương I), nguồn gốc phóng xạ trong tự nhiên (chương II) và nền phông phóng xạ nhân tạo còn lưu lại từ các cuộc thử vũ khí hạt nhân ào ạt trong khí quyển hồi đầu thập kỷ 1960 (chương III).   Phân tích an toàn điện hạt nhân theo phương pháp tất định và xác suất (chương VI) là hai phương pháp luận cơ bản trong an toàn điện hạt nhân. Tiếp theo, ba tai nạn Three Mile Island, Chernobyl và Fukushima (chương VII, VIII, IX) được minh họa tương đối chi tiết. Cuối cùng là câu chuyện hậu Fukushima (chương X) trình bày hiện trạng điện hạt nhân trên thế giới và triển vọng của các lò thế hệ mới có khả năng sử dụng phế thải hạt nhân ngay trong lò, và có thể được thương mại hóa trong vài thập kỷ tới.   Sách có thể được sử dụng làm tài liệu tham chiếu trong giảng dạy chuyên ngành hạt nhân ở trương đại học. Những người hoạt động trong ngành, kể cả giới quản lý và hoạch đinh chính sách, có thể tìm thấy ở đây những kiến thức cơ bản, có hệ thống và hữu ích cho công việc của mình. Đặc biệt, sách “An toàn điện hạt nhân” còn hy vọng được làm những chiếc cầu nối trong công nghệ điện hạt nhân đa ngành, giúp chuyên gia thuộc các chuyên môn khác nhanh chóng có được hành trang cần thiết để rẻ sang cống hiến trong lãnh vực điện hạt nhân. Cuối cùng, trong sách vẫn có nhiều chỗ dành cho giới truyền thông thường xuyên tác nghiệp về điện hạt nhân nhưng chưa được trang bị kiến thức nền về chuyên môn này.  Viết sách là đối thoại với người đọc. Đọc sách là đối thoại với tác giả. Từ đây tri thức khoa học sẽ đến với công chúng.  ————————————————-  Chú thích:  1. Tác giả Phạm Duy Hiển, sách dày 460 trang, ấn hành vào tháng 5/2015.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ra mắt website về các loài chim tại Việt Nam      Chương trình BirdLife quốc tế tại Việt Nam (BifdLife VN) vừa đưa trang web chuyên về các loài chim tại Việt Nam (www.birdlifeindochina.org) vào hoạt động.    Trang web này có nhiều thông tin về 15 khu để quan sát chim tốt nhất ở Việt Nam như Phong Nha – Kẻ Bàng, các vườn quốc gia Cát Tiên, Cúc Phương, Bạch Mã… Theo BirldLife, hiện Việt Nam có khu hệ chim phong phú nhất ở phần lục địa Đông Nam Á, với gần 900 loài được ghi nhận và là nơi cư trú của 73 loài có tầm quan trọng bảo tồn toàn cầu, trong đó có 38 loài bị đe dọa tuyệt chủng.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Rắn có đúng là nhân tố lan truyền virus mới ở Vũ Hán?      Một phân tích di truyền cho thấy nguyên nhân có thể là loài bò sát nhưng các nhà nghiên cứu vẫn nghi ngờ về việc coronavirus có thể bắt nguồn từ các vật khác như chim hoặc động vật có vú.      Khi các ca lây nhiễm trên người gia tăng trong một dịch bệnh bí ẩn bùng phát từ Trung Quốc, các nhà khoa học đã tập trung vào nhận diện các loài vật bị nghi ngờ là điểm xuất phát của dịch bệnh. Trong một nghiên cứu gây tranh cãi mới xuất bản, một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đã tuyên bố là đã có câu trả lời: những con rắn.  Nhưng nhiều nhà khoa học khác cho biết không có chứng cứ nào cho thấy các con virus như những con đang là nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh này có thể lây nhiễm cho các loài khác hơn động vật có vú và chim. “Không có gì ủng hộ loài rắn cả,” David Robertson, một nhà vi trùng học tại đại học Glasgow, Anh, nói.  Mầm bệnh gây ra dịch bệnh này thuộc về một họ lớn là coronavirus, bao gồm các virus là nguyên nhân dẫn đến hội chứng SARS và hội chứng MERS, cũng như tất cả những virus đằng sau chứng cảm lạnh thông thường. Virus mới nhất – hiện nay được gọi là 2019-nCoV, là chủng gần nhất với virus SARS và có liên quan đến các virus lưu hành trên dơi. Nhưng chúng có thể lây nhiễm cho các loài động vật khác và có thể truyền sang người. Nhiều nhà khoa học nghi ngờ một loài vật chưa xác định đã mang theo 2019-nCoV và lan truyền sang người tại khu chợ bán hải sản sống và động vật hoang dại ở Vũ Hán, nơi những trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên được ghi nhận vào tháng 12/2019.  “Vật chủ trung gian này là miếng ghép chưa tìm thấy của bài toán: làm thế nào mà những người này đều bị nhiễm bệnh?”, Robertson nêu vấn đề.  Các ứng viên nhím, gà và dơi    Một nhóm nghiên cứu do Wei Ji, một nhà vi sinh học tại Trung tâm các khoa học khoa cơ bản của trường ĐH Y Bắc Kinh dẫn dắt, đã xem xét một dấu hiệu cho thấy 2019-nCoV đã thích nghi với vật chủ trung gian là bất kỳ loài động vật nào.  Phần lớn các axít amino được giải mã bằng các mã codon – những trình tự của tổ hợp ba nucleotide DNA hoặc RNA được mã hóa mang thông tin về axít amino. Một cách cho thấy các virus thích nghi khi các protein được mã hóa bằng việc dùng cùng một lựa chọn các mã hóa codon như vật chủ mang nó. Nhóm nghiên cứu của Wei đã so sánh các codon được 2019-nCoV ưa thích với những loại codon được ưa thích của vật chủ tiềm năng, bao gồm nhím, tê tê, dơi, gà, người và rắn.  Nhóm nghiên cứu đã cho thấy là sự lựa chọn mã hóa codon của 2019-nCoV phần lớn đều tương tự như những thứ được ưa thích của hai loài rắn: Bungarus multicinctus (cạp nia bắc) và Naja atra (hổ mang Trung Quốc). Các loài rắn được bán ở chợ Vũ Hán, các nhà nghiên cứu cho biết. “Đặt cạnh nhau, các con rắn có thể là ‘bể chứa’ 2019-nCoV hàng đầu trong số các động vật hoang dại,” họ viết như vậy trong một công bố xuất bản vào ngày 22/1/2020 trên tạp chí Journal of Medical Virology.  Robertson cho biết, dường như không có loài vật trung gian thứ cấp nào bị nhiễm 2019-nCoV trong thời gian đủ dài để biến đổi hệ gene của chúng một cách đáng kể như vậy. “Sẽ phải mất một thời gian dài cho một tiến trình đó được diễn ra”, ông lưu ý.  Khoảng trống về bằng chứng  “Họ không có bằng chứng cho thấy các con rắn có thể bị lây nhiễm bởi chủng coronavirus mới và đóng vai trò là một vật chủ,” Paulo Eduardo Brandão, một nhà vi trùng học tại trường đại học São Paulo và đang tham gia nghiên cứu vấn đề là liệu các coronavirus có thể lây nhiễm từ rắn hay không. “Không có bằng chứng thích hợp về các coronavirus trong các vật chủ nào hơn là động vật có vú và chim.”  Nhóm nghiên cứu của Wei cũng chưa phản hồi các e-mail của Nature để giải thích về vấn đề công bố của họ đặt ra và sớm hứng chịu chỉ trích.  Nhiều nhà nghiên cứu đang hoài nghi rằng vật chủ của 2019-nCoV có thể được nhận diện mà không cần thêm các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hay thực địa nữa. Họ hi vọng là các xét nghiệm di truyền của động vật hoặc nguồn từ môi trường, cũng như các lồng nuôi nhốt và container chở động vật từ khu chợ ở Vũ Hán cũng có thể đưa ra được manh mối.  Một loài động vật có vú là ứng cử viên số một, theo Cui Jie, một nhà vi trùng học tại Viện Pasteur Thượng Hải từng tham gia vào nhóm nghiên cứu nhận diện các virus liên quan tới SARS trên dơi từ một hang động ở Vân Nam ở tây nam Trung Quốc vào năm 2017. SARS và 2019-nCoV là một phần của phân nhóm virus betacoronavirus. Công việc nghiên cứu thực địa trong giai đoạn bùng phát dịch SARS vào năm 2002–2003 đã tìm thấy các virus chỉ có trong các động vật có vú, Cui nhận xét. “Rõ ràng là 2019-nCoV là một virus trên động vật có vú.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00180-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rạn san hô Great Barrier có thể biến mất      Quần thể rạn san hô Great Barrier – kì quan thiên nhiên thế giới của Australia – đang đứng trước nguy cơ biến mất do hiện tượng tẩy trắng đã giết chết gần ¼ lượng san hô chỉ trong năm nay và nhiều nhà khoa học tin rằng đã quá muộn để cứu số còn lại.      San hô ở rạn Great Barrier đang chết dần. Nguồn ảnh: National Geographic News.  Ververs, nhà sáng lập và điều hành Ocean Acency, một công ty phi lợi nhuận hoạt động nhằm tăng cường sự hiểu biết của người dân về các vấn đề môi trường, đang đi khắp nơi trên thế giới thu thập tài liệu về những rạn san hô chết hoặc những bức ảnh về các rạn san hô này ngay trước khi chúng chết. Để thu thập tài liệu về tình trạng tẩy trắng san hô ở Great Barrier, ông đã đến đảo Lizard thuộc quần đảo Queensland nhiều lần: khi các rạn san hô còn khỏe mạnh, khi chúng bắt đầu bị tẩy trắng trong năm nay, và lần gần đây nhất là vài tuần ngay sau khi hiện tượng tẩy trắng xảy ra. Ông cho biết: “Những con san hô cứng đã chết, cứ như đã chết từ nhiều năm trước, những con san hô mềm thì vẫn đang chết dần”.  Hiện nay, tốc độ tẩy trắng của rạn san hô quanh đảo Lizard xảy ra rất nhanh, thậm chí các rạn san hô có thể sẽ bị mất vĩnh viễn.  Hiện tượng tẩy trắng xảy ra khi nước biển trở nên quá ấm trong một thời gian dài. Những cá thể san hô (polyp) bị ức chế và đẩy tế bào tảo (zooxanthellae) đang cộng sinh với chúng ra ngoài. Các loại tảo này sống trong mô của san hô, được san hô bảo vệ và cung cấp các hợp chất cho quá trình quang hợp. Tảo giúp san hô dọn dẹp chất thải, cung cấp oxi và đặc biệt là các dưỡng chất vốn là các sản phẩm của quá trình quang hợp giúp nuôi sống san hô. San hô nhận đến 90% nguồn thức ăn từ tảo dù chúng có các xúc tu để bắt sinh vật phù du. Ngoài ra, chính các tế bào tảo mang các sắc tố khác nhau tạo nên màu sắc cho san hô. Khi nước biển trở nên quá nóng, tế bào tảo bị đẩy ra ngoài, san hô do đó bị mất màu (được gọi là hiện tượng “tẩy trắng”) và bắt đầu thiếu thức ăn. Nếu nhiệt độ nước biển không quay trở lại bình thường, san hô sẽ chết đói trong một khoảng thời gian ngắn.  Khi san hô chết, toàn bộ hệ thống sinh thái quanh nó đều bị biến đổi. Các loài cá nhỏ vốn được rạn san hô nuôi dưỡng, cung cấp nơi trú ẩn sẽ chết hoặc bỏ đi kéo theo sự di cư của những loài cá lớn hơn ăn những loài nhỏ này. Các loài chim ăn cá giảm dần, cây cối trên các đảo ngoài khơi vốn được phân chim cung cấp dinh dưỡng cũng sẽ chịu tác động. Và tất nhiên con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng, đặc biệt là ngư dân – những người sống phụ thuộc vào rạn san hô và biển cả.  Thủ phạm – hiện tượng nóng lên toàn cầu  Trước đây, hiện tượng tẩy trắng san hô thường xảy ra ở mức độ nhỏ trong những đợt thời tiết nóng bất thường nhưng không thường xuyên và với cường độ mạnh như hiện nay. Những lần tẩy trắng được ghi nhận đầu tiên là vào năm 1911 ở rạn Bird Key thuộc Florida Keys (Mĩ) và năm 1929 ở Great Barrier. Không có lần tẩy trắng đáng kể nào sau đó, cho đến tận năm 1979.  Năm 1979 là năm đầu tiên xuất hiện hiện tượng tẩy trắng trên diện rộng, san hô chết từ vịnh Caribbean đến Florida Keys và bắt đầu lan rộng ra toàn cầu. Vào thời điểm El Nino năm 1982 – 1983, các rạn san hô trên khắp thế giới bị tẩy trắng, từ Great Barrier thuộc Australia, đến Indonesia, Nhật và vịnh Caribbean. Năm năm sau đó, trong một đợt El Nino khác, hiện tượng tẩy trắng san hô lại một lần nữa được ghi nhận trên toàn cầu.  Vào năm 1997-98, khi có El Nino mạnh nhất được ghi nhận trong lịch sử, ước tính có khoảng 16% lượng san hô trên toàn cầu bị phá hủy trong vòng vài tháng, khoảng một nửa trong số đó đã không thể phục hồi phục.  Sự kiện san hô bị tẩy trắng năm 2016 có thể sẽ phá kỉ lục trước đó. Đây là lần tẩy trắng lâu nhất được biết đến từ trước đến nay và Great Barrier là nơi bị ảnh hưởng tồi tệ nhất. Trong 18 năm nay, quần thể rạn san hô Great Barrier đã chịu ba lần tẩy trắng vào các năm 1998, 2002 và 2016 với mức độ ngày càng gia tăng.  Thủ phạm chính của hiện tượng này là tình trạng ấm lên toàn cầu. Theo báo cáo lần thứ 5 (2014) của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change), kể từ thập niên 1950, hơn 90% lượng nhiệt dư thừa do phát thải khí nhà kính ngưng tụ trong bầu khí quyển đã truyền hơi nóng đến các đại dương. Trong vòng 4 thập kỉ, từ 1971 – 2010, nhiệt độ bề mặt (với độ sâu 75m) của đại dương tăng trung bình 0.11˚C/thập kỉ. Nhiệt độ này ngày càng tiến gần quá ngưỡng chịu đựng của san hô. Vào những năm có hiện tượng El Nino, hiện tượng nóng bức bất thường đi kèm hạn hán thường xảy ra ở phía tây Thái Bình Dương (trong đó có Australia), dẫn đến nhiệt độ nước biển càng tăng cao, ngưỡng chịu đựng của san hô bị phá vỡ. Chúng bị tẩy trắng và chết dần vì thiếu nguồn dinh dưỡng.  Tình trạng trên có thể sẽ còn trầm trọng hơn nữa. Một nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học Melbourne cho biết, trong khoảng 20 năm tới, Great Barrier rất có khả năng sẽ phải hứng chịu hiện tượng tẩy trắng trung bình hai năm một lần.  Nhiều nhà sinh học nghiên cứu về san hô khi được hỏi cho biết có thể đã quá muộn để cứu Great Barrier. Nhưng vẫn còn một tia hy vọng: có dấu hiệu cho thấy san hô có khả năng chống chịu tốt hơn những gì các nhà sinh học vẫn nghĩ. Trong khi phần đa bị tẩy trắng và chết, một số ít san hô có thể tiến hóa và thích nghi với điều kiện sống mới và sau đó có khả năng sinh sản và lan rộng. Ở một số địa điểm, san hô thậm chí có thể di chuyển xa khỏi vùng xích đạo để tìm vùng nước lạnh hơn. Điều này đang làm dấy lên niềm hy vọng cho các nhà sinh học về sức chống chịu của san hô và khả năng phục hồi chúng.  Vi Thị Hương Thơm tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rạn san hô vịnh Nha Trang: Làm gì để cứu vãn?      Có lẽ không lâu nữa, rạn san hô đẹp lộng lẫy góp phần đưa vịnh Nha Trang giữ thương hiệu một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới sẽ chỉ còn là quá khứ.    Bốn thập kỷ suy giảm  Tuyệt vọng và lo lắng là tâm trạng của nhà sinh thái học môi trường biển John Pandolfi ở Đại học Queensland ở Brisbane, Úc khi phải chứng kiến cái chết từ từ của rạn san hô Great Barrier, vốn đã suy giảm đến một nửa so với 15 năm trước. Hàng loạt tờ báo lớn đã gọi đây là thảm họa và cất lời “ai điếu” cho rạn san hô vĩ đại này vì sự biến mất của nó không chỉ làm mất đi nguồn lợi tôm cá mà còn dẫn tới sự đứt gãy của cả chuỗi sinh thái.  Không ai ngờ điều đó lại xảy ra ở Nha Trang.      Hình chụp tại một khu vực khảo sát ở rạn san hô Nha Trang vào năm 2016 và 2019. Ảnh: GS Konstantin cung cấp.  Đối với những nhà nghiên cứu san hô ở Nha Trang, có lẽ họ không quá sốc? Tuy nhiên ngược lại với phỏng đoán của chúng tôi, dù đã có thời gian dài chứng kiến cái chết đang đến từ từ với rạn san hô này, “một quá trình suy giảm liên tục mà chưa có dấu hiệu dừng lại”, họ cũng ngậm ngùi nói rằng “quả thực tình trạng đã đến mức báo động”. Kết quả nghiên cứu công bố mới nhất của Viện Sinh thái học và Tiến hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga tại Nha Trang và Viện Hải dương học trên tạp chí Marine and Freshwater Research1 ghi nhận 90% san hô đã biến mất so với những năm năm 1980, trong đó giai đoạn hiện nay là suy giảm mạnh nhất, đáng báo động.  Nhóm nghiên cứu do GS. Konstantin Tkachenko đứng đầu và cộng sự tiến hành khảo sát san hô ở 10 điểm trong khoảng thời gian ba năm, lần cuối cùng vào năm 2019. Thực tế thật ngỡ ngàng: độ che phủ san hô trung bình giảm 64,4% (tỉ lệ san hô biến mất dao động từ 43% đến 95%), trong đó, mức giảm mạnh nhất là hai chi san hô Acropora và Montipora, vốn là thành phần chủ yếu của rạn san hô ở vịnh Nha Trang, nay suy giảm lần lượt ở mức 80,6% và 82,3%. Mức độ suy giảm của san hô ở các điểm khảo sát trên đều nghiêm trọng, chẳng hạn tại điểm quan sát gần đảo Hòn Một, các loài san hô này đã mất hoàn toàn hoặc độ che phủ giảm 4 lần, thậm chí có chỗ giảm tới 8 lần. Tình trạng suy giảm đặc biệt nghiêm trọng ở điểm khảo sát phía bắc đảo Hòn Tre, độ che phủ san hô bị mất 98% (giảm 54 lần).  Kết quả quan sát, thu thập mẫu phân tích ở 20 điểm cố định, tính cả từ năm 20132 tới năm 2019, kết hợp với sử dụng công cụ lập bản đồ rạn và phân tích hệ thống thông tin địa lý GIS cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh, cho phép chúng ta so sánh với bốn thập niên trước: tổng diện tích rạn san hô phong phú và khỏe mạnh ở vịnh Nha Trang đã giảm từ 6,65 km2 trước những năm 1980 xuống còn 0,74 km2 vào năm 2019. Điều đó cho thấy, Nha Trang đã mất 90% san hô trong vòng chưa đầy 40 năm. 10% còn lại của quần xã san hô đang trong hai tình trạng: một số vẫn ổn định và một số tiếp tục suy giảm, mức độ che phủ của quần xã còn lại dao động từ 13 đến 50% và tính phong phú đa dạng loài giờ đây cũng suy giảm nhiều.  Không chỉ khiến chúng ta mất đi chỗ ngắm vẻ đẹp lộng lẫy của biển cả, việc mất đi rạn san hô còn gây ra sự đứt gãy sinh thái lớn hơn rất nhiều, thậm chí gây khủng hoảng cho cả hệ sinh thái ở vịnh vì “san hô chính là mái nhà, đi kèm với nó là các quần xã sinh vật biển”. Mất rạn san hô là mất nơi cư trú, nơi sinh sống của các cộng đồng sinh vật có mối liên kết chặt chẽ với nhau: trên rạn có tảo cộng sinh để quang hợp, tạo ra năng suất sơ cấp cho các loài cá ăn tảo, tiếp theo là các loài cá ăn thịt, tạo dây chuyền thức ăn. Nên rạn san hô không còn cũng làm mất đứt gãy chuỗi thức ăn, ảnh hưởng đến nguồn lợi, sản lượng sinh vật có thể khai thác, cũng như đến chất lượng môi trường vịnh – TS Nguyễn Hữu Huân cho biết.  Chủ yếu do “nhân tai”  Với góc nhìn của một người nghiên cứu về san hô ở vịnh trong suốt tám năm qua, GS Konstantin Tkachenko cho biết, dù các rạn san hô ở vịnh Nha Trang đang bị suy thoái nghiêm trọng và nhanh chóng do nhiều biến động phức tạp, cả do tác động của con người và những biến động tự nhiên nhưng nguyên nhân chính vẫn là “nhân tai”. Nếu bóc tách kỹ hơn, có thể thấy các hoạt động du lịch mà ông nhấn mạnh là ở mức “bùng nổ” (bomming), xả thải, khai thác và nuôi trồng thủy hải sản gây tác động chồng chéo cùng lúc. Phân tích sâu hơn, ông cho rằng thủ phạm lần lượt là “hiện tượng gia tăng bồi lắng do cải tạo đất, nạo vét, xây dựng ven biển, đặc biệt là hoạt động xây dựng trên đảo Hòn Tre; thứ hai là hiện tượng phú dưỡng ngày càng tăng chủ yếu do xả thải, xả phân từ đất liền cũng như sự phát triển bùng nổ của nghề nuôi trồng thủy sản trong khu vực; thứ ba là đánh bắt quá mức và khai thác cạn kiệt nguồn lợi hải sản ở biển và cả dưới đáy biển”. Còn nguyên nhân liên quan đến “thiên tai” chủ yếu do “sự bùng phát của kẻ thù tự nhiên chính của san hô – sao biển gai (Acanthaster planci) đã đe dọa đời sống của những phần san hô ít ỏi còn lại tương đối khỏe mạnh trong Vịnh Nha Trang trong giai đoạn 2016-2019”.  Trên thực tế, TS Nguyễn Hữu Huân cho biết, không phải tới khi nhóm của ông cùng GS Konstanin làm nghiên cứu lần này mới đưa ra các đánh giá trên. Nhóm nghiên cứu của ông đã từng đánh giá áp lực các hoạt động của con người lên san hô ở vịnh Nha Trang trong công bố vào năm 2016 trên tạp chí Marine Ecology. Bên cạnh đó, công bố của TS Nguyễn Đức Ái3, Đại học Queensland và Viện Hải dương học vào năm 2013 trên tạp chí Coral Reefs cũng đã bổ sung thêm một số bằng chứng thông qua việc đo đạc, đánh giá tác động từ hoạt động xả thải, san lấp, nạo vét ở vịnh Nha Trang để xây dựng các resort, khu du lịch. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ở san hô.  Những khu resort mọc lên ven biển, những công trình phục vụ khách du lịch đem lại nguồn thu cho Nha Trang nhưng mặt khác “hoạt động kinh tế xã hội lớn nhất ảnh hưởng tới rạn san hô là lấn biển, lấn vịnh”. Điều mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy được chứ chưa cần tới các đo đạc phức tạp hay lặn biển lấy mẫu là “cách đây ba đến năm năm, các hoạt động khai thác các đảo ven vịnh dùng làm công trình du lịch, đô thị hóa xây dựng resort xung quanh vịnh Nha Trang rất sôi động, ảnh hưởng rất lớn đến rạn san hô vịnh. Thứ hai là du lịch Nha Trang tăng trưởng nóng, trong đó chỉ tập trung khai thác du lịch biển đảo, (lặn biển, neo đậu tàu thuyền, xả nước thải du lịch)… làm ảnh hưởng rất lớn tới rạn san hô, đặc biệt là phía Nam vịnh Nha Trang”, TS Nguyễn Hữu Huân nói.      Tôi đã so sánh sơ bộ ba vùng ven biển của Việt Nam: Vịnh Nha Trang, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (vùng ven biển Vườn quốc gia Núi Chúa) và Côn Đảo. Tôi thấy chỉ có Côn Đảo vẫn giữ được rạn san hô. Tôi hi vọng rằng các nhà quản lý ở Côn Đảo không nên lặp lại kinh nghiệm đáng buồn của chính quyền Nha Trang, nơi đã cho phép phát triển du lịch bùng nổ dẫn tới hậu quả tàn phá thiên nhiên.  GS. Konstantin Tkachenko    Khi nào vượt ngưỡng tải môi trường?  Đối với các nhà nghiên cứu môi trường biển như GS Konstantin Tkachenko và TS Nguyễn Hữu Huân, san hô chính là một chỉ báo cho sức tải của biển cả, chỉ báo cho sức khỏe môi trường biển, tiềm năng tài nguyên, nguồn lợi biển. Và những điều đang xảy ra với rạn san hô Nha Trang cho thấy vịnh đã đến giới hạn chịu đựng – ngay cả khi bị/được ngơi nghỉ do ảnh hưởng không ai mong muốn của Covid-19 thì trong một hai năm vịnh cũng không thể phục hồi được. “Lâu nay vịnh đã chịu đựng nhiều rồi, nhưng nó không thể chịu mãi được. Nếu mình khôn ngoan không chạm vào ngưỡng thì được, còn nếu đã quá ngưỡng thì nó sẽ phá vỡ hệ [sinh thái]. Khi đó thì không còn gì cả, mình phải lục tục nhặt từng mẩu vài cm ở nơi khác mà cấy lại, vài chục, vài trăm năm sau chưa thể khôi phục được” TS Nguyễn Hữu Huân nói thêm.  “Chẳng lẽ chúng ta không còn cách nào cứu vãn ư?” trước câu hỏi tôi bật thốt lên, TS Nguyễn Hữu Huân cho biết “thực ra vẫn có”. Tuy nhiên dù có thể sẵn sàng có những giải pháp mang tính “chữa cháy” thì ông và GS Konstantin nhấn mạnh đến giải pháp lâu dài, mang tính tổng thể như quy hoạch phát triển tổng thể của đô thị cần phải được xây dựng trên quyết tâm rất lớn của chính quyền địa phương, bởi nó liên quan đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội. Rạn san hô Nha Trang (và nhiều vùng khác ở Việt Nam) đều chịu chung một nghịch lý là trung tâm điều hòa khí hậu, môi trường, tài nguyên cho khu vực các vịnh, các đảo nhưng lại là vùng “bờ xôi ruộng mật” khiến bất cứ ai cũng mong muốn được “canh tác, khai thác” – là miếng đất màu mỡ, đẹp, phân bố ngay tại những nơi có thể du lịch được, có nhiều tài nguyên, thu hút nhiều hoạt động của con người. Nếu chính quyền các địa phương không quyết tâm điều tiết du lịch, hạn chế nuôi trồng thủy sản thì sẽ không có câu trả lời nào lâu dài cho các rạn san hô này. Để giải pháp đó hiệu quả, cần tính toán sức tải chi tiết đến từng ngành kinh tế, chẳng hạn như sức tải của vịnh đối với ngành du lịch tới mức nào với ngành nuôi trồng thủy sản tới mức nào để đảm bảo môi trường sinh thái cho vịnh. Từ đó, đưa các tính toán sức tải này vào quy hoạch phát triển của thành phố.    Thu mẫu san hô. Nguồn ảnh:GS Konstantin cung cấp.  Dưới góc nhìn của họ, có một vài giải pháp cấp thiết trước mắt là chính quyền Nha Trang nên tổ chức thu gom sao biển gai ở các rạn san hô trong vịnh để cứu ngay lấy san hô còn đang sống sót tương tự các nước như Úc, Nhật Bản, Polynesia … đều phải chi hàng triệu đô la diệt sao biển gai để cứu các rạn san hô. GS Konstantin gợi ý, ngư dân địa phương cũng có thể làm được và được hưởng lợi từ việc thu gom sao biển gai này. Mặt khác, ông cho rằng, cần có quy chế yêu cầu chủ sở hữu các khu nghỉ dưỡng và khu du lịch đã san lấp, nạo vét, gây ảnh hưởng tới môi trường biển phải cải tạo vùng ven biển như góp phần xây dựng cho khu bảo tồn biển, nuôi trồng san hô.  GS Konstantin lưu ý, không thể chỉ trông chờ vào việc nuôi trồng san hô nhân tạo còn TS Nguyễn Hữu Huân cũng nhấn mạnh “đó là điều cực chẳng đã và là giải pháp cuối cùng khi không còn lựa chọn thôi”, bởi vì sức người chỉ có thể trồng san hô tính bằng cành, bằng cụm với mỗi năm “nhích” tăng trưởng vài cm, còn bị mất mát tính đến hàng cây số vuông và hàng thế kỷ, thậm chí thiên niên kỷ phát triển của cả rạn san hô trong tự nhiên. “Mình khôi phục, nuôi trồng san hô cũng chưa đồng nghĩa với việc khôi phục được hệ sinh thái của rạn, mà phải đủ điều kiện sinh thái cần thiết thì sinh vật rạn mới tới ở, sinh sôi phát triển”, TS Nguyễn Hữu Huân nói.    Hiện nay mong muốn lớn nhất của chúng tôi là có đầy đủ các nghiên cứu và cơ sở dữ liệu về san hô, để có thể so sánh, đánh giá được hiện trạng san hô theo thời gian cũng như ở các vùng khác nhau. Mặt khác, chúng tôi rất muốn có quy định về việc các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu phải công bố dữ liệu để cho các nhà nghiên cứu có thể sử dụng, thậm chí là các nhà khoa học quốc tế cũng dùng được.  TS Nguyễn Hữu Huân  Thu Quỳnh/KH&PT  Chú thích:  1 Konstantin S. Tkachenko, Nguyen H. Huan, Nguyen H. Thanh, Temir A. Britayev, Extensive coral reef decline in Nha Trang Bay, Vietnam: Acanthaster planci outbreak: the final event in a sequence of chronic disturbances, Marine and Freshwater Research, https://doi.org/10.1071/MF20005  2 Trước công bố trên tạp chí Marine and Freshwater Research vào năm 2020, nhóm Konstantin S. Tkachenko cũng đã công bố vào năm 2016:  Konstantin S. Tkachenko, Temir A. Britayev, Nguyen H. Huan, Mikhail V. Pereladov &  Yuri Y. Latypov, Influence of anthropogenic pressure and seasonal upwelling on coral reefs in Nha Trang Bay (Central Vietnam), Marine Ecology, doi: 10.1111/maec.12382  3 Ai Duc Nguyen, Yue-xing Feng, Jian-xin Zhao, Ke-Fu Yu, Impact of recent coastal development and human activities on Nha Trang Bay, Vietnam: Evidence from a Porites lutea geochemical record, Coral Reefs, DOI: 10.1007/s00338-012-0962-4  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/ran-san-ho-vinh-nha-trang-lam-gi-de-cuu-van/20210311094515196p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang RẠNG ĐÔNG – Địa chỉ tin cậy của nhà khoa học      Đối với Tổng giám đốc Nguyễn Đoàn Thăng, các nhà khoa học là những “người thầy”, còn đối với họ, doanh nghiệp của ông là cơ hội để ứng dụng và đúc kết các kết quả nghiên cứu.      Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, đồng thời bức tranh chung của nền công nghiệp chế tạo nội địa còn nhiều ảm đạm do sự cạnh tranh gay gắt của hàng hóa nhập khẩu – đặc biệt là từ Trung Quốc – và sự lấn lướt của các công ty đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông vẫn liên tục đạt được những thành công đáng tự hào, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2012, doanh thu công ty đạt 2208 tỷ, tăng 16,2% so với 2011; lợi nhuận đạt 96 tỷ đồng, tăng 20% so với 2011. Với số lượng nhân viên công ty khoảng 3000 người, mức thu nhập bình quân trên đầu người cũng rất ấn tượng, đạt gần 8,5 triệu đồng/tháng.  Mặc dù vốn điều lệ công ty chỉ 115 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu chưa tới 500 tỷ đồng, nhưng công ty vẫn được xếp vào top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2012.        Từ 2010 tới 2012, Rạng Đông đã cung cấp cho thị trường nội địa Việt Nam 80,3 triệu đèn CFL, 18,55 triệu bộ đèn T8 và ballast điện tử. Theo tính toán của công ty, với số đèn CFL 15w thay thế đèn IL 75w, và những bộ đèn T8 (tiêu tốn 39,5watt) thay thế đèn T10 (51watt), tính hệ số sử dụng đồng thời 0,5, thời gian sử dụng 6 giờ ngày, thì Rạng Đông đã góp phần giảm điện năng sử dụng là 5,51 tỷ KWh, tương đương gần 2% tổng điện thương phẩm quốc gia mỗi năm.        Nguyên nhân quan trọng đầu tiên của những thành công trên là do Rạng Đông đã mạnh dạn ‘tăng cường sử dụng vốn vay để đầu tư mạnh vào dây chuyền sản xuất và tăng quy mô vốn lưu động dẫn đến hệ số nợ tăng mạnh từ mức 53% cuối năm 2008 lên mức 68% cuối quý 3/2012’.  Tuy nhiên, trong xu hướng nền kinh tế tài chính toàn cầu suy thoái, kinh tế trong nước bất ổn với lãi suất cao, việc một doanh nghiệp liên tục vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ và đạt thành công trong sản xuất kinh doanh không chỉ đòi hỏi sự mạnh dạn mà cả tầm nhìn sáng suốt trong quyết định đầu tư, đặc biệt là trong quyết định lựa chọn dây chuyền công nghệ.  Hợp tác đầu tư nghiên cứu cải tiến công nghệ      Ý thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu cải tiến công nghệ, từ nhiều năm qua Rạng Đông đã thường xuyên dành 2% doanh thu để đầu tư phát triển năng lực công nghệ, kỹ thuật và các dây chuyền sản xuất hiện đại. Mức đầu tư này tương đương khoảng 20% lợi nhuận trước thuế, một con số rất cao nếu so với thực trạng đa số các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam không đạt được mức trích 10% lợi nhuận trước thuế đầu tư cho khoa học và công nghệ để hưởng chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước, như Bộ KH&CN phản ánh lâu nay.   Một mặt đầu tư nhập một phần công nghệ từ nước ngoài, mặt khác Rạng Đông tích cực hợp tác với các trường, viện trong nước như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), các viện nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội (tháng 4/2010)…  Những quan hệ hợp tác này đã giúp Rạng Đông thực hiện được 22 đề tài đáp ứng nhu cầu nghiên cứu về các nguồn sáng hiệu suất cao thay thế các thiết bị hiệu suất thấp, nâng cao chất lượng, giảm chi phí. Cụ thể như các nghiên cứu thiết kế và công nghệ chế tạo Catốt Oxýt; nghiên cứu chế tạo chất phát quang hiệu suất cao, chất phát quang có phổ phát xạ cho mục đích chuyên dụng, thu hồi và tái chế chất phát quang sử dụng đất hiếm; nghiên cứu cải tiến công nghệ tráng phủ lớp bột huỳnh quang không sử dụng dung môi, nghiên cứu tráng lớp phủ bảo vệ – Al2O3, sử dụng loại thủy tinh không có chì, loại thủy tinh hàm lượng kiềm (Na+) thấp tránh đen ống và kéo dài tuổi thọ; cải tiến công nghệ tráng lớp bảo vệ và bột huỳnh quang trên ống đèn CFL xoắn; nghiên cứu chế tạo các loại đèn phóng điện đường kính nhỏ, hiệu suất cao, giảm vật tư và hóa chất độc hại, giảm chất thải sau sử dụng FL (T10, T8), CFL (T5,T4,T3,T2); nghiên cứu phủ lớp vật liệu nano, giảm chiều dày ống thủy tinh, giảm lượng thủy tinh sử dụng, giảm khí thải; nghiên cứu lớp phủ khắc phục hiện tượng khó sáng đèn tuýp gầy T8; nghiên cứu cải tiến tối ưu hóa ballast điện tử cho đèn FL, CFL, bổ sung các tính năng, giải quyết tương thích giữa ballast và ống phóng điện; nghiên cứu cơ chế giảm tiêu hao thủy ngân trong quá trình tuổi thọ ống phóng điện, nghiên cứu sử dụng Amalgam thay thế thủy ngân lỏng; tiếp nhận kết quả nghiên cứu thiết bị đo phân bố quang hiện đại của Viện Vật lý Kỹ thuật và Viện Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, v.v.   Cũng qua hợp tác với các Viện, trường, Rạng Đông đã tận dụng được thiết bị tại các cơ sở này và các phòng thí nghiệm quốc gia để xây dựng tiêu chuẩn một số vật tư nhạy cảm đầu vào thực hiện hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ theo mô hình châu Âu, theo phương pháp XRF, EDX, XR; phương pháp tán xạ Laze, SEM.  Ngoài ra, công ty còn đầu tư nghiên cứu phương pháp, tự chế tạo các thiết bị chuyên dụng kiểm soát chất lượng quá trình sản xuất (PQC) như: Thiết bị kiểm tra điện trở tiếp xúc và Rh/Rc, thiết bị đo tích số khởi động tức thời đèn phóng điện áp suất thấp, thiết bị đo áp lực khí nạp không phá hủy, thiết bị đo điện áp xuyên kích, thiết bị gia tốc đánh giá nhanh tuổi thọ… thực hiện hệ thống EFQM trong toàn công ty.           Nghiên cứu chế tạo bột huỳnh quang 3 phổ tại phòng thí nghiệm chung HUST – RALACO            Đối với người tiêu dùng và xã hội, những cải tiến công nghệ của Rạng Đông đã giúp người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm có chất lượng sản phẩm cao hơn, tiết kiệm đáng kể về tiền bạc và nhu cầu năng lượng. Các sản phẩm đèn huỳnh quang T8, ballast sắt từ, ballast điện tử của Rạng Đông là sản phẩm được dán tem Ngôi sao năng lượng đầu tiên ở Việt Nam.   Đồng thời, cải tiến công nghệ còn giúp công ty thay thế nhiều vật tư nhập khẩu như keo gắn đèn IL, FL, CFL, keo chịu ẩm đèn CFL sử dụng ngoài trời, dung dịch Silicon dạng nhũ tương cho đèn huỳnh quang khởi động nhanh xuất khẩu, v.v.  Tự thành lập Trung tâm R&D để chủ động trong nghiên cứu liên ngành  Tháng 3/2011, Trung tâm R&D Rạng Đông và Hội đồng Khoa học Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông được thành lập dưới sự lãnh đạo của PGS.TS Đỗ Xuân Thành.   Trung tâm R&D có nhiệm vụ tập hợp và khai thác hiệu quả các nguồn tri thức tiên tiến trong và ngoài công ty, trong và ngoài nước để nghiên cứu, thiết kế và tiếp nhận chuyển giao khoa học –  công nghệ, xây dựng quy trình sản xuất và hướng dẫn đào tạo cho các đơn vị trong Công ty tiến hành sản xuất hàng loạt, và đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao trong Công ty. Trung tâm chủ trì thực hiện phát triển các công nghệ quan trọng như nguồn sáng LED, cao áp (HID) thế hệ mới…, các bộ sản phẩm chuyên dụng phục vụ nhu cầu thị trường, cải tiến nâng cao chất lượng dàn sản phẩm chiến lược mũi nhọn compact, huỳnh quang của Công ty, là đầu mối hợp tác, ứng dụng, triển khai các kỹ thuật chiếu sáng trong các lĩnh vực đời sống.   Bộ máy của Trung tâm R&D được tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, chú trọng vào hiệu quả sản phẩm đầu ra. Đến nay, biên chế Trung tâm R&D có 40 nhà khoa học và kỹ sư, trong đó có 1 NGND-GS-TS, 6 PGS-TS và nhiều Tiến sỹ, Thạc sỹ, kỹ sư chủ trì các bộ môn, tư vấn các lĩnh vực chuyên ngành về nguồn sáng và thiết bị chiếu sáng của Việt Nam. Với nguồn nhân lực chuyên gia trình độ cao trên các lĩnh vực khác nhau đã đưa Trung tâm R&D của Rạng Đông thành một tổ chức nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành đầu tiên ở Việt Nam về thiết bị chiếu sáng.           Phương pháp EDX- xác định thành phần hoá học của khuyết tật thủy tinh            Năng lực hợp tác liên ngành là một lợi thế rất quan trọng trong lĩnh vực sản xuất này, nơi mà một sản phẩm dù đơn giản nhất cũng đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên ngành kỹ thuật. Đơn cử như đề tài chiếu sáng nhân tạo trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao xuất phát từ đòi hỏi của các nhà sinh học cần những nguồn bức xạ thích hợp cho cây trồng, đã được các đơn vị trong Trung tâm R&D phối hợp triển khai, trong đó Bộ môn Nghiên cứu Nguồn sáng phụ trách giải mã công nghệ Bộ môn Hóa -Vật liệu nghiên cứu chế tạo vật liệu phát quang tạo phổ bức xạ phù hợp, và Bộ môn Kỹ thuật Điện tử nghiên cứu điều khiển nguồn. Sản phẩm từ đề tài liên ngành này đã được đưa thử nghiệm trên đồng ruộng, trong các phòng nuôi cấy mô và được phản hồi nhanh chóng về sự trưởng thành cây giống, kết quả điều khiển chu kỳ ra hoa về nhóm các nhà nghiên cứu.  Tuy nhiên, thách thức cho một Trung tâm Nghiên cứu R&D, trước khi có thể nghĩ tới mục tiêu trở thành viện nghiên cứu trong tương lai, đó là làm sao trang trải kinh phí để triển khai được những đề tài có tiềm năng lớn về giá trị gia tăng, không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà cả với cộng đồng, nhưng lại đòi hỏi sự đầu tư tốn kém kèm theo không ít rủi ro. Ví dụ như công nghệ thiết bị chiếu sáng nhân tạo trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được đề cập trên đây có thể giúp tạo được những hoa, quả chất lượng cao theo mùa vụ linh hoạt như mong muốn của người trồng, đem lại giá trị tiềm năng to lớn trong sản xuất kinh doanh trong nước cũng như xuất khẩu. Tuy nhiên, nghiên cứu này đòi hỏi phải được thử nghiệm trên quy mô vài hecta, kéo dài trong 2-3 năm, với chi phí dự kiến lên tới hàng chục tỷ đồng cùng những rủi ro tất yếu kèm theo. Thật mạo hiểm nếu công ty nghiên cứu bằng nguồn vốn tự huy động và rất khó để tìm kiếm nguồn tài trợ từ Nhà nước khi các quy định và cơ chế hiện hành vẫn chưa cho phép việc cấp ngân sách tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện một dự án liên ngành với kinh phí lớn như vậy. Tổng Giám đốc Nguyễn Đoàn Thăng cho biết, Rạng Đông sẵn sàng bỏ ra 9 tỷ vốn đối ứng, nhưng vẫn cần Nhà nước tài trợ 14 tỷ, nhưng vướng mắc ở chỗ Nhà nước chưa có cơ chế tài trợ nghiên cứu liên ngành, và chỉ dám cấp kinh phí từ 5 tỷ trở xuống, trong đó không cho phép dùng tiền mua thiết bị. Vì vậy, dù lâu nay được sự quan tâm và ủng hộ từ các hộ nông dân và các nhà quản lý, như lãnh đạo Bộ KH&CN cùng các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, nhưng Rạng Đông vẫn chưa tìm được cách tháo gỡ thỏa đáng.  Mối gắn kết bền chặt hai chiều  Mặc dù vẫn còn đó hạn chế về nguồn lực, nhưng đối với các nhà khoa học, Rạng Đông là một địa chỉ đáng mơ ước để cộng tác thực hiện các đề tài nghiên cứu. Theo TS. Trịnh Xuân Anh, Trưởng môn Hóa Vật liệu Đại học Bách khoa, làm việc với Rạng Đông là “cơ hội để nhà khoa học ứng dụng và đúc kết các kết quả nghiên cứu”. Với năng lực triển khai trên quy mô công nghiệp tại các cơ sở sản xuất ở Rạng Đông, các ý tưởng đổi mới và cải tiến công nghệ được nhanh chóng ứng dụng, thử nghiệm, và khi thành sản phẩm có thể đưa ra thị trường, qua mạng lưới 7000 cửa hàng rộng khắp trên cả nước. Đồng thời cũng qua mạng lưới này, các nhà khoa học sẽ nhận được sớm nhất những phản hồi từ người tiêu dùng, biết được những điểm hay dở trong sản phẩm và những vấn đề mới mà thực tiễn đang đặt ra để tiếp tục tìm tòi nghiên cứu cải tiến.         Hiện nay chúng tôi đang cùng Rạng Đông triển khai những nghiên cứu rất có ý nghĩa, tìm những nguồn sáng, những thiết bị chiếu sáng để sử dụng trong việc chiếu sáng điều khiển cho phòng nuôi cấy mô, và đang nghiên cứu những hệ thống nguồn sáng thích hợp để điều khiển sự ra hoa của cây hoa cúc, điều khiển sự ra hoa của cây thanh long và còn nhiều cây tương tự khác.”   NGND.GS.TS. Nguyễn Quang Thạch,               Nguyên Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp- Đại học Nông nghiệp Hà Nội        Quá trình cọ xát với thực tế một cách hiệu quả như vậy khiến các chuyên gia cộng tác với Rạng Đông thực sự tâm huyết và đam mê. Họ thường xuyên ở lại các xưởng tới 7, 8 giờ tối. PGS. TS Đỗ Xuân Thành, Giám đốc Trung tâm R&D và Hội đồng Khoa học của Rạng Đông hằng ngày nhiều khi tới 11 giờ đêm vẫn có mặt trên mạng internet để chỉ đạo và hướng dẫn trực tuyến cho các kỹ sư của công ty. PGS. TS Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ, thậm chí không nề hà vất vả, tới 1 giờ đêm ngày 28 Tết Quý Tỵ vừa rồi vẫn ở lại để tính toán kiểm tra đảm bảo cho công ty kịp thời hoàn thiện công nghệ để sản xuất giao hàng ngay sau Tết.  Ngược lại, những nghiên cứu đem lại kết quả cụ thể rõ ràng khiến các nhà khoa học nhận được từ những người kỹ sư, công nhân Rạng Đông sự nể trọng và nhiệt tình phối hợp trong công việc. “Bản thân tôi cũng phải gọi họ là thày”, Tổng giám đốc Nguyễn Đoàn Thăng nói. Đối với ông, các nhà khoa học đầu ngành là nguồn tri thức quý giá giúp đội ngũ kỹ sư của ông rút ngắn được nhiều năm tìm tòi nghiên cứu, và qua đó gắn liền với công ăn việc làm của những người công nhân. Nếu không công nghệ đèn Led mà các nhà khoa học đã sát cánh cùng công ty nghiên cứu từ năm 2008, “400 công nhân Rạng Đông” sẽ mất việc do từ ngày 1/1/2013 quy định của Nhà nước không cho phép tiếp tục sản xuất lưu thông đèn dây tóc công suất trên 60W, ông Thăng cho biết. Hay nếu như không có nghiên cứu tách đất hiếm khỏi thủy tinh để tái chế từ bóng đèn phế phẩm của TS. Trịnh Xuân Anh, doanh nghiệp sẽ phải gánh thêm chi phí hàng chục tỷ đồng do Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm từ năm 2010 khiến giá cả tăng vọt.           Đèn Led Panel của Rạng Đông đạt hiệu suất rất cao, tới 80 – 92 lm/W, tương đương chất lượng sản phẩm khu vực (Hàn Quốc, Đài Loan), trong khi các sản phẩm tương đương trên thị trường trong nước chỉ đạt 30– 40 lm/W. Nguyên lý phản xạ toàn phần và phương pháp ELLG đã biến nguồn sáng điểm với độ chói cao thành nguồn sáng diện với các bí quyết về thiết kế, lựa chọn vật liệu và kiểm soát quá trình nghiêm ngặt đã tạo ra sản phẩm LED Panel có chất lượng cao nhất so với các sản phẩm tương tự đang có trên thị trường Việt Nam.          Động lực mạnh mẽ từ cả hai phía, doanh nghiệp cũng như các nhà khoa học, đã khiến mối quan hệ hợp tác giữa họ, cụ thể là qua mô hình Trung tâm R&D Rạng Đông, phát triển liên tục và bền vững, thường xuyên đem lại những sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ đời sống. Đây là điều không dễ có ở các doanh nghiệp cũng như tổ chức nghiên cứu hoạt động riêng rẽ độc lập.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ranh giới cho những khả thể của con người      Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn và TS nguyễn Thị Từ Huy trò chuyện chung quanh các câu hỏi: vì sao nói triết học là khoa học của mọi khoa học, sứ mệnh của triết học là gì, sự hoài nghi có ích lợi cho triết học và cho đời sống nhân loại nói chung hay không…    Nguyễn Thị Từ Huy (NTTH): Hai từ “triết học” đối với em, thời đại học, là một nỗi kinh hoàng. Em từng thấy nó trừu tượng, khó hiểu và xa rời cuộc sống. Hình ảnh triết gia được hình dung như những người khô khan, chỉ biết có lý tính mà thôi. Rồi đột nhiên, khi vào một môi trường đại học khác, liền ngay lập tức em bị triết học cuốn hút cho dù biết rằng mình không thể hiểu hết nó, và khám phá ra rằng triết gia là những người có niềm đam mê mãnh liệt, có tâm hồn cao thượng.  Còn anh, chắc chắn triết học đối với anh có một ý nghĩa đặc biệt?    Bùi Văn Nam Sơn (BVNS): Vâng, cũng lạ! Ít có môn học nào khiến người ta dằn vặt như môn triết, bởi có quá nhiều đường vào và cách gặp. Những triết gia lớn – qua tiểu sử của họ – đến với triết học từ nhiều chân trời rất khác nhau, có khi từ những sự cố gây chấn động trong tâm tư. Người ta thường nhắc đến Descartes với hai cơn mơ nổi tiếng thời trẻ, đến Rousseau với sự bàng hoàng, xúc động lạ thường khi gặp hai câu hỏi do Viện Hàn lâm Dijon treo giải thưởng…   Với người bình thường như chúng ta, “cái thuở ban đầu lưu luyến” khi mới tiếp xúc với triết học giữ phần quan trọng trong việc xa rời hay gắn bó với nó. Anh có phần may mắn vì được hưởng khá trọn vẹn bầu không khí triết học “đầy thao thức” khi bước chân vào khoa triết Đại học Văn khoa Sài Gòn những năm 1964-1968, và ngay sau đó, được chứng kiến và ít nhiều hòa mình vào cao trào triết học “thế hệ 68” sôi động ở Tây Âu, thế hệ “vàng” đã tạo ra những “trường phái Frankfurt”, triết học hậu-hiện đại và triết học hậu cấu trúc với vô số những biến thể phức tạp và phong phú của nó. Là người đến từ phương Đông, nạn nhân của chiến tranh và nghèo đói, bên cạnh sự tò mò cố hữu muốn biết người Tây phương “nghĩ gì trong đầu”, nề nếp học thuật ở đó dạy cho biết rằng muốn biết điều ấy thì phải dày công và thực sự không dễ dàng! Sự say mê chỉ là điều kiện ban đầu…  NTTH: Anh có thể giải thích một cách giản dị và dễ hiểu về mệnh đề này: “triết học là khoa học của mọi khoa học”? Liệu thế giới có thể có các thành tựu ngày nay mà không có triết học không? Nghĩa là nếu không có triết học thì liệu có thể có khoa học không?  BVNS: “Triết học là khoa học của mọi khoa học” hay triết học như “khoa học phổ quát” là tiêu ngữ của thời cổ đại và trung đại Tây phương. Lý do lịch sử: các ngành khoa học riêng lẻ chưa tách rời khỏi triết học và chưa định hình thành những khoa học độc lập. Lý do hệ thống: triết học cung cấp cơ sở siêu hình học (bản thể học – thần học) và cơ sở nhận thức luận cho mọi lĩnh vực.   Từ thời cận đại, các khoa học riêng lẻ lần lượt trưởng thành ít nhiều tự phát (ví dụ: vật lý học Newton vẫn còn mang danh là “triết học” như cuống rốn chưa lìa!) từ lòng mẹ triết học như từ một cái dạ con khổng lồ ngày càng trống rỗng dần. Cả hai (triết học và khoa học) đều trải qua cơn khủng hoảng của sự trưởng thành, nghĩa là với sự cực đoan từ cả hai phía. Khoa học (nhất là khoa học tự nhiên) muốn đoạn tuyệt với triết học hoặc giản lược triết học thành phương pháp luận và khoa học luận; ngược lại, triết học vẫn muốn tiếp tục giữ vững vai trò “phổ quát” của mình với sự hình thành các hệ thống tư biện đồ sộ từ Descartes, Leibniz, thuyết duy tâm Đức (Fichte, Schelling, Hegel…) kéo dài đến tận Husserl (“triết học như là khoa học chặt chẽ”) và Heidegger (“bản thể học nền tảng”).   Từ giữa sau thế kỷ 20, trước thực tế rằng triết học không còn đứng “trên”, trái lại, bình đẳng và song hành với khoa học và các loại diễn ngôn khác, tư tưởng hậu-hiện đại xét lại triệt để tham vọng cố hữu này của triết học. Một cuộc khủng hoảng thứ hai diễn ra ở mức độ còn trầm trọng hơn trước, nhưng là một khủng hoảng có tác động giải tỏa khỏi nhiều định kiến và ảo tưởng đã ít nhiều làm xơ cứng tư duy triết học.   Tuy nhiên, tính “phổ quát” của triết học không vì thế mà mất đi, trái lại, nhờ thế mà được đặt lại trên những cơ sở mới. Triết học phổ quát hiểu như “hệ thống triết học” không còn lý do tồn tại, nhưng “triết học có hệ thống” tỏ ra cần thiết hơn lúc nào hết, bởi kho dự trữ những điểm chung giữa các “văn hóa khoa học” khác nhau cũng chưa bao giờ phong phú đến thế. Mọi sự giản lược muốn quy cái này vào cái kia đều không thích hợp trong việc hợp nhất các bộ môn khoa học. Sự lai tạp, hay đúng hơn, sự nối mạng giữa các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật với các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn có thể dẫn đến chỗ hội tụ thành một văn hóa-khoa học duy nhất. Có người gọi đó là cái khung lý thuyết triết học. Khung lý thuyết triết học có tính phức hợp rất cao. Xét như cái toàn bộ, nó bao hàm nhiều khung lý thuyết đặc thù, hiểu như các cấp độ của tiến trình hình thành khung lý thuyết hoàn chỉnh, có hệ thống.   Với khái niệm “khung lý thuyết”, triết học có thể giữ trở lại vai trò của một “khoa học phổ quát”, theo nghĩa là lý thuyết về các cấu trúc phổ quát của thế giới diễn ngôn vô giới hạn (universe of discourse) như cách nói ưa chuộng hiện nay. Một sự “thay đổi hệ hình tư duy” đang ló dạng, vừa chia tay với thuyết lạc quan ngây thơ của thời kỳ trước “hậu-hiện đại”, vừa vượt qua cái “Zeitgeist” (“tâm thức thời đại”) có tính thảm họa của tư duy hậu-hiện đại. Nhưng đó là câu chuyện rất phức tạp, có lẽ nên dành cho một buổi nói chuyện khác, khi thử “sơ kết” những thành tựu lý thuyết của tư duy hậu-hiện đại.   Tóm lại, triết học và khoa học cần đến nhau, nếu mượn cách nói của Kant: triết học mà không có khoa học thì trống rỗng; khoa học mà không có triết học thì mù quáng. Tuy nhiên, triết học vẫn có thể giữ vững đặc thù riêng của mình: chịu đựng được sự trống rỗng của cái dạ con “tất cả và không là gì cả”, đồng thời không đánh mất cái toàn thể.  NTTH: Kundera từng nói rằng tiểu thuyết “chống lại sự lãng quên con người”, nó nhắc cho chúng ta phải nhớ đến con người trong cái thân phận cụ thể của nó, cái con người cá nhân với các giá trị cá biệt, bản thân nó có giá trị ngang với toàn bộ thế giới còn lại, cái con người cần được bảo vệ để không bị nghiền nát bởi các cỗ máy, dù đó là cỗ máy chiến tranh hay ý hệ… Nhưng phải chăng triết học hiện sinh cũng làm chính cái việc đó: nhắc cho con người nhớ rằng nó là con người, nó cần phải được hạnh phúc trong đời sống này, phải chịu trách nhiệm về chính nó và về mọi thứ có liên quan?  BVNS: Từ Huy đã tự trả lời rất hay cho câu hỏi! Chỉ xin nói thêm: với sự mẫn cảm của một nhà văn, Kundera không chỉ thực hiện trong văn chương cái “bước ngoặc nhân học” đã diễn ra từ khá lâu trong triết học, mà còn gợi lên sự nhức nhối liên quan đến thân phận con người thời đại. “Văn hóa điêu tàn trong cơn lũ ngôn từ, trong sự điên rồ của số lượng”. “Chỉ có những câu hỏi hồn nhiên nhất mới là thực sự nghiêm chỉnh. Đó là những câu hỏi không có câu trả lời. Một câu hỏi không có câu trả lời là một rào cản không tài nào vượt qua được. Nói khác đi, câu hỏi ấy đặt ranh giới cho những khả thể của con người, nói lên những giới hạn của kiếp người”. “Gánh càng nặng, đời ta càng gần gũi mặt đất, càng thực tồn, càng chân thật”. Những suy nghĩ ấy được Kundera nói lên trong tác phẩm với nhan đề được dịch sang tiếng Việt thật bóng bẩy: “Đời nhẹ khôn kham”. Tại sao sự nhẹ nhàng của kiếp nhân sinh lại “khôn kham”? Vì đó là trải nghiệm ngày càng nhiều về sự hưởng thụ hời hợt, mỏng mảnh, thiếu sức nặng, như là chỗ trú ẩn của con người khi chạy trốn khỏi những tra vấn nặng nề, nghiêm trọng của tồn sinh.  NTTH: “Từ trong lòng tối đen và mòn vẹt của đôi giày, sự vất vả của những bước chân lao động còn ghi dấu. Trong sự nặng nề thô ráp của đôi giày chất chồng sự dẻo dai của bước đi chậm rãi xuyên qua những luống cày dằng dặc và đều đều của thửa ruộng, dưới cơn gió gắt. Trên lớp da giày là sự ẩm ướt và màu mỡ của đất đai. Dưới đế giày là nỗi cô đơn của con đường ruộng kéo lê trong chiều muộn. Trong đôi giày, rung rung tiếng gọi câm nín của đất, sự ban tặng âm thầm những hạt lúa đang chín dần và cả sự bất lực không thể giải tỏ của cánh đồng bị bỏ hoang trong mùa đông. Thấm đẫm trong vật dụng này là nỗi lo âu không chút thở than về sự ăn chắc của vụ mùa, là niềm vui không nói nên lời của việc lại vượt qua được cơn khốn khó, là sự sôi nổi khi đón ngày sinh nở hay sự run sợ trước cái chết đang đe dọa. Vật dụng ấy thuộc về Đất và được chở che trong Cõi Sống của người nông phu”. Ai đã viết đoạn văn đầy chất thơ và gây xúc động này? Đọc lên nghe như là lời của một nghệ sĩ, một nhà văn. Thế nhưng, những dòng này lại được viết ra bởi một triết gia nổi tiếng là khó: Heidegger. Em may mắn được đọc trước bản dịch mà anh chưa công bố. Em cũng đã từng đọc cuốn Tái diễn (Reprise) của Kierkegaard và thấy nó giống hệt một cuốn tiểu thuyết tự thuật, với bao cảm xúc, đam mê, giằng xé, tuyệt vọng và hy vọng. Vậy rốt cuộc triết gia là ai? Triết học và nghệ thuật có mối quan hệ với nhau như thế nào?  BVNS: Vâng, đó là một đoạn bình giải của Heidegger về bức tranh “Đôi giày” nổi tiếng của Van Gogh trong “Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật” (1936), một luận văn tương đối ngắn nhưng được đọc nhiều nhất sau tác phẩm chính “Tồn tại và Thời gian” của ông.   Người nữ nông phu mang đôi giày khi làm đồng như chúng ta sử dụng vô số vật dụng hàng ngày như một thói quen tự nhiên đến độ vô tâm. Vật dụng là thế giới ý nghĩa cơ bản của ta, nhưng ta hiếm khi có ý thức về chúng. Triết gia và nhà khoa học, với ý thức tỉnh táo, có thể lý giải về thế giới ấy, nhưng bằng những công cụ khái niệm trừu tượng. Dưới bàn tay của người nghệ sĩ, vật dụng, và quan trọng hơn, “cõi sống” gắn liền với nó, mới cất lên tiếng nói. Da giày, đế giày… không còn là “vật liệu” của người thợ đóng giày, không còn là “chất liệu/hình thức” trong bộ khung khái niệm trừu tượng của triết gia, trái lại, lần đầu tiên, chúng thật sự “là” chúng trong tác phẩm nghệ thuật.   Heidegger dùng lối nói “văn chương” không phải ngẫu nhiên, trái lại, muốn cho thấy sự “bất lực” của triết học, hay đúng hơn, thừa nhận nghệ thuật như một cách tiếp cận khác với thực tại. Nghệ thuật và triết học như hai đỉnh núi, dùng phương tiện khác nhau, nhưng chung một cội nguồn. Cả hai dùng ngôn ngữ đánh thức con người ra khỏi nhịp điệu nhàm chán, vô hồn của nếp sống thường ngày, làm cho họ thấy “khôn kham” cái “đời nhẹ” như cách nói tuyệt diệu của Kundera ở trên.  NTTH: Nietzsche, Marx và Freud là ba “bậc thầy hoài nghi”. Họ đã hoài nghi cái gì? Sự hoài nghi của họ có ích lợi cho triết học và cho đời sống nhân loại nói chung?  BVNS: Một sự trùng hợp thật thú vị! F. Lyotard, “cha đẻ” của triết học hậu-hiện đại cũng xuất phát từ “ba bậc thầy hoài nghi” ấy (một sự liên tưởng khá lạ lùng nhưng trúng đích!). Lyotard đề cao tinh thần hoài nghi này, nhằm vượt bỏ những chiến lược sai lầm khi thực hiện các giá trị của Hiện đại (tính chủ thể tự do và sự bình đẳng) suốt mấy thế kỷ nay, chứ không hề bác bỏ các giá trị ấy, và xem đó là đặc trưng của tư duy hậu-hiện đại.   Nietzsche “đại nghi” về tính phổ quát và tất yếu của những giá trị luân lý và quy điều xã hội ước thúc “năng lượng” của con người. Tín niệm khoa học của Marx là “hãy nghi ngờ tất cả!” (De omnibus dubitandum est!), không lùi bước trước việc vạch trần sự lừa mị và huyễn hoặc của những gì nhầm tưởng là “tự nhiên”, “đương nhiên”, nhất là trong quan hệ giữa người với người. Freud không tin vào ý thức minh nhiên, đi tìm phần ẩn khuất, lắng sâu trong tâm hồn con người. “Đại nghi” có dẫn đến “đại ngộ” hay không, hoặc phải luôn đi “con đường phủ định” (viva negativa) trong suy tưởng? Đó mãi mãi là lời mời gọi và thách thức, trong triết học cũng như trong đời sống.   Trong mọi trường hợp, hoài nghi là thái độ lành mạnh của đầu óc còn lành mạnh. Nó giúp ta biết giữ khoảng cách với chính ta và với thực tại, điều kiện tiên quyết của hoạt động tinh thần. Biết giữ khoảng cách thì niềm vui, nỗi buồn của riêng ta mới thành niềm vui, nỗi buồn phổ biến, có thể trao đổi và cảm thông. Triết học, nói riêng, nhờ đó, trở thành “ba trong một”: khoa học khai minh, giúp xóa bỏ những ảo tưởng, định kiến; khoa học điều hòa, giúp cân đối mọi lối nhìn, và khoa học hành động, giúp định hướng cho mọi lựa chọn, quyết định.  NTTH: Lịch sử triết học được bắt đầu cùng với nỗi oan khuất lớn lao của Socrates. Cái chết của ông đã giúp người phương Tây đi tới những nhận thức căn bản nào?  BVNS: Thật khó nói về ý nghĩa của một cái chết, khi người ấy… đã chết! Nhưng quả thật, cái chết bi tráng của Socrates (và sau này của Giêsu Kitô) luôn tra vấn lương tâm Tây phương. Không ai trả lời hay hơn Plato, người môn đệ chứng kiến cái chết ấy: chân lý là cực kỳ nguy hiểm, nhưng cũng là cái đáng cho ta hiến dâng mạng sống. Cái chết ấy ám ảnh Plato trọn đời, vì thế, ông dành hết tâm sức để tìm tòi một hình thức tổ chức xã hội nào giảm thiểu được nguy cơ. Con đường thật gian nan, nhưng những thành quả có được ngày nay về nhân quyền và dân quyền không khỏi mang ơn sự trăn trở và tìm tòi ấy.  NTTH: Ngày 25.05.2012 vừa qua, ở Athens, Hy Lạp, đã diễn ra phiên tòa tượng trưng gồm nhiều thẩm phán quốc tế xử lại vụ án và tuyên bố Socrates vô tội. Anh nghĩ gì trước tin vui ấy?  BVNS: Một cử chỉ đẹp, không phải để chiêu tuyết cho triết gia cho bằng để phục hồi danh dự cho Hy Lạp trong cơn khốn khó hiện nay! Aristoteles cũng từng phải rời bỏ Athens trong cơn biến loạn vì không muốn quê hương mình “phạm tội ác lần thứ hai đối với triết học”. Bài học ấy, tiếc thay, không phải nơi đâu và lúc nào cũng được học thuộc.  NTTH: Chúng ta sẽ kết thúc cuộc trao đổi này bằng một vài phát biểu của Socrates. Câu này em đọc được trong Phaedo (Đối thoại Socratic I): “Không có tai ương nào lớn hơn là sự thù ghét lý luận, và nó có cùng một căn nguyên là bệnh oán ghét con người”. Vì sao sự thù ghét lý luận lại có cùng một nguyên nhân với sự căm ghét con người?  BVNS: “Lý luận”, trong nguyên nghĩa Hy Lạp, là sự nhìn ngắm vô tư (theoria). Ai ghét sự vô tư, tất ghét “lý luận”! Bản tính của nó màu xám, biểu trưng của lao động trí tuệ. Ghét màu xám của lý luận không khác gì chê bò trắng răng! Hình tròn theo định nghĩa của hình học và “khuôn trăng đầy đặn” của Thúy Vân vẫn có thể chung sống bên nhau! Xin đừng ngộ nhận câu thường hay trích dẫn: “Bạn yêu ơi! Mọi lý thuyết đều là màu xám; chỉ có cây vàng của cuộc đời là mãi mãi tươi xanh”. Câu này do Goethe viết ra (câu 240 trong kịch Faust nổi tiếng), nhưng đó không phải là lời của Goethe, mà của quỷ Mephisto để lung lạc và dụ dỗ Faust! Mephisto thù ghét con người vì lo sợ phần tinh anh trong hồn người và năng lực giải ảo tiềm ẩn trong lý thuyết. Nhưng, Mephisto cũng chính là mặt trái của con người! Nên chàng ta đắc ý:  “Cứ để hắn coi khinh khoa học và lý trí,  Là sức mạnh tối cao của con người trần thế,  Cứ để quỷ Dối lừa làm hắn thêm vững tin  Vào hào nhoáng bên ngoài, vào ma thuật bí huyền,  Và thế là, ta đã tóm được hắn một cách vô điều kiện!”…           (Faust, Quang Chiến dịch, câu 1850-55)  Hoàn toàn không phải là sự trốn chạy hay viễn mơ khi Aristoteles xem “cuộc sống trong lý thuyết” (bios theoretikos) là “thiên phúc đệ nhất”, và Hegel tâm niệm rằng “tham dự càng sâu và càng nghiêm chỉnh vào triết học thì càng cô đơn trong nội tâm và càng tĩnh lặng đối với bên ngoài” và “càng ồn ào bao nhiêu thì càng ít thích hợp với công việc này bấy nhiêu” (Lời Tựa 3, Bách Khoa Thư 1).  NTTH: Và cuối cùng, ta dừng lại ở niềm tin mà Socrates bộc lộ trước tòa, trước những vị thẩm phán đã kết tội ông: “Vì vậy, thưa quý thẩm phán, cả quý bạn nữa cũng nên giữ hy vọng trước cái chết, và lấy chân lý làm điều tâm niệm: không ác quả nào có thể xảy đến với người thiện, dù trong đời này hay sau khi chết, vì thần thánh không bao giờ bỏ rơi họ”. (Socrates tự biện). Anh có tin rằng, kể cả khi không còn thần thánh thì người thiện cũng không bị bỏ rơi?  BVNS: Theo kinh nghiệm của Socrates và theo lời khuyên khôn ngoan của Pascal, có lẽ không nên đặt ra một “giả thuyết” như thế!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rào cản nhà khoa học tiếp cận doanh nghiệp      Nhiều nhà khoa học không tìm được nhà đầu tư cho các nghiên cứu ứng dụng của mình; nhiều chủ doanh nghiệp có định kiến với giới nghiên cứu trong nước… Làm gì để nhà khoa học với nhà kinh doanh “bắt tay” nhau?    “Thiên lý độc hành”  Là nhà địa chất hàng đầu và hiện đang điều hành một viện nghiên cứu và giám định đá quý uy tín, GS Phan Trường Thị vẫn còn nhớ một thời gian khổ tìm “địa chỉ” để ứng dụng những  nghiên cứu của mình.  Hơn 10 năm trước, ông cùng các đồng nghiệp đã nghiên cứu chuyển giao công nghệ tuyển đất sét cao lanh cho công nghiệp giấy. Ban đầu quan hệ giữa nhà máy sản xuất giấy và các nhà khoa học rất tốt. Đến khi gần thành công, người quản lý đột ngột chấm dứt hợp đồng để tìm nguồn hàng trực tiếp có chất lượng… kém hơn. Vấn đề là nghiên cứu trên thuộc đề tài cấp nhà nước, nhóm nghiên cứu đã phải vay trước 100 triệu để nghiên cứu, song công nghệ hoàn thành mà không được chuyển giao. “Vỡ nợ”, GS Thị phải bỏ tiền túi để bù, và phải mất một thời gian dài mới bù hết. “Các doanh nghiệp chỉ thích mua công nghệ của nước ngoài. Nước ngoài họ trả được “phần trăm”, còn nhà khoa học lấy đâu ra?”  Đã có lần GS Thị phải đáp ứng yêu cầu rất gắt gao từ phía doanh nghiệp. Đó là khi ông phải đáp ứng 200 tấn thuỷ tinh flourine vào đúng ngày 30/4. Thời gian gấp gáp, ông phải thuê chuyên chở bằng… máy bay. “May mà hồi đó cước vận chuyển bằng máy bay rẻ!”.  Cũng có lần ông cùng một người bạn ở TP Hồ Chí Minh làm thiếc xuất khẩu. Ở Tây Nguyên, hai người mua lại quặng của dân, xây lò luyện. Tuy nhiên, khi bắt đầu mua quặng, xây lò thì giá thiếc xuất khẩu cao, đến khi luyện được thiếc thì giá lại “rớt” xuống vài lần.  Một lần khác, ông đưa công nghệ sản xuất gốm về làng nghèo của ông ở Phù Cát, Bình Định. Về cơ bản, các công đoạn làm gốm là của nghệ nhân Bát Tràng, song công đoạn làm men lại được “gia tăng giá trị” nhờ cố vấn của các nhà khoa học. Lò gốm sản xuất rất tốt, nhưng đùng một cái hợp tác xã tan, lò gốm cũng tan theo.  Với doanh nghiệp nước ngoài cũng không dễ dàng hơn. Từng có một doanh nhân Italy đặt hàng ông cung cấp một khối lượng nguyên liệu làm men sứ rất lớn: mỗi tháng cần 200 nghìn tấn của 6 loại vật liệu khác nhau. Công việc tưởng chừng rất triển vọng thì khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra. Doanh nhân kia lập tức rời Việt Nam, không quay lại.  Câu chuyện của GS Phan Trường Thị cũng là câu chuyện của hàng nghìn các nhà khoa học trong nước quyết ứng dụng tri thức và nghiên cứu của mình. Tuy nhiên từ thành công trong phòng thí nghiệm đến thành công trong thương trường cũng lại là một con đường đầy đèo dốc. “Thị trường đầy bất trắc, nhà khoa học ngoài tri thức chỉ có bàn tay trắng. Không có doanh nghiệp thì không thể có ứng dụng được” – GS Thị nói.  Trường hợp chiết xuất dầu diesel sinh học của TS Thái Xuân Du ở TP Hồ Chí Minh là một ví dụ. TS Du phải tự bỏ tiền túi, thử đi thử lại hàng trăm loại cây có dầu mới chọn ra được loại cây dầu mè mà dân gian vẫn gọi là “cây cọc rào”. Trong phòng thử nghiệm, diesel sinh học từ cây dầu mè đạt đủ mọi tiêu chuẩn về hóa, lý, giá thành lại rẻ chỉ bằng một nửa dầu diesel thông thường. Song tìm nhà đầu tư để sản xuất lại là một chuyện hoàn toàn khác. “Sản xuất khối lượng lớn diesel sinh học cần vùng nguyên liệu lớn, cần quảng cáo sản phẩm mới, cần tuyên truyền thay đổi thói quen sử dụng, cần chính sách giá của nhà nước (phòng khi giá dầu thế giới hạ)…doanh nghiệp nào dám mạo hiểm?” Câu hỏi của TS Du trong một cuộc trò chuyện cách đây đã gần một năm, giờ vẫn chưa có doanh nghiệp nào trả lời.  L.V.P (đề nghị không nêu tên), chủ một doanh nghiệp sản xuất đồ điện gia dụng nhận xét: Nếu không tìm được nơi ứng dụng thì phần lớn các nhà khoa học phải huy động vốn gia đình hay họ hàng để tự triển khai công nghệ của mình. Từng là nhà khoa học, giờ là doanh nhân, chính V.P cũng không lý giải được vì sao nhiều doanh nghiệp không muốn thay đổi công nghệ: Vì không muốn thay đổi, hay vì không tin tưởng nhà khoa học “nội” (nói cách khác là nghiên cứu ứng dụng của ta chưa đủ độ tin cậy)?  Know how hay know who?  Với câu hỏi trên, chúng tôi thử một cuộc “điều tra bỏ túi” với gần 10 chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội. Kết quả, hầu hết đều ý thức cần đổi mới công nghệ, song “đổi mới công nghệ” ở đây chỉ có nghĩa là mua máy móc, dây chuyền sản xuất mới, không phải là tìm mua công nghệ trong nước. Ngay L.V.P cũng công nhận, mỗi khi muốn tìm hiểu máy móc mới là anh lại “sang Tàu xem”.  Nguyễn Hoàng Anh, giám đốc Công ty Công nghệ Năng lượng & Môi trường, từng là nhà khoa học trẻ có thành tích, hiện đang kinh doanh trên lĩnh vực nghiên cứu của mình cũng cho biết: Vấn đề của một doanh nghiệp nhỏ như của anh hiện nay là vốn, thị trường. Đổi mới công nghệ thì chỉ… kính nhi viễn chi. Giống với ý kiến trên, một doanh nhân khác cho rằng, ở giai đoạn hiện nay, vấn đề của nhiều doanh nghiệp vẫn là know who (quen ai), chưa phải know how (bí quyết công nghệ).  Chương trình khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ (theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP) đã thực hiện được 5 năm, song hầu hết các chủ doanh nghiệp được phỏng vấn trong bài đều không biết gì về chương trình này. Khi được hỏi: “có bao giờ cần đến các nhà nghiên cứu trong nước”, câu trả lời đáng tiếc thường là “không” và kèm theo dẫn chứng “để đến cả nông dân phải chế tạo máy bay”. (Một nhà khoa học bình luận: cả Nhật Bản cũng không chế tạo máy bay!).  Những điều trên khá giống với đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới về chỉ số sẵn sàng công nghệ của Việt Nam. Năm 2004, chỉ số này của Việt Nam là 81/104, còn chỉ số của những trước nữa là 68/80; 64/74 và 49/59. Quá thấp!  Doanh nghiệp nhỏ không đủ tiềm lực, doanh nghiệp lớn (phần lớn là doanh nghiệp nhà nước, một số bắt đầu cổ phần hoá) lại không “thích” dùng công nghệ trong nước.  Phải làm gì để các doanh nghiệp chia sẻ gánh nặng đầu tư  cho khoa học của nhà nước? “Những công ty lớn như Vina Milk có giá trị hàng chục nghìn tỷ đồng, thử hỏi một năm họ bỏ ra mấy tỷ cho nghiên cứu?” – Tiến sĩ L.M.Q (đề nghị không nêu tên) ở ĐH Bách Khoa đặt câu hỏi. Theo anh, muốn khuyến khích công nghệ trong nước thì nhà nước phải đánh thuế thật nặng những công nghệ nhập khẩu tương tự, đây là điều Hàn Quốc đã làm và thành công.  GS Phan Trường Thị thì cho rằng nhà khoa học phải chủ động tìm ra tiếng nói chung với doanh nghiệp: “Doanh nghiệp cần lợi nhuận, cần uy tín, cần nhà khoa học”. Nhiều bạn bè, học trò của ông nhờ có được “tiếng nói chung” nên hiện rất thành công. Theo ông, vai trò của nhà nước trong ứng dụng công nghệ nên là hỗ trợ gián tiếp, không đầu tư theo kiểu “cho tiền”. Nếu cần vốn để triển khai công nghệ, nhà khoa học có thể viết dự án, kết hợp với doanh nghiệp để đưa dự án lên sàn chứng khoán, kêu gọi vốn. “Các nhà địa chất Việt Nam từng viết dự án cho một công ty khai thác vàng ở Australia. Họ đưa dự án đó lên sàn chứng khoán ỏ Canada, 10 năm sau, công ty đó khai thác được 10 tấn vàng” – GS Thị kể và kết luận: “Chúng ta hoàn toàn có thể làm vậy với các mỏ ở Bồng Miêu, Xạ Khía.”  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rất cần biết mực nước biển dâng thực tế      Liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu  lên sản xuất và đời sống của người dân tại đồng bằng sông Cửu Long, trên  từng vùng cụ thể, mực nước biển dâng phải biết là mực nước biển dâng  thực tế (effective sea level rise).     Một cập nhật cần thiết   Tháng 6/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT) đã công bố “Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam”1 trong đó dự báo nước biển sẽ dâng theo ba kịch bản phát thải như sau:      Đây là lần đầu tiên đất nước có một dự báo về biến đổi khí hậu, và đặc biệt nước biển dâng, sử dụng các dữ liệu và mô hình mà các nước và các tổ chức quốc tế đã đo đạc và tính toán.  Bảng mực nước biển dâng (MNBD) trên đây được áp dụng suốt dọc 3.260 km bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Mũi Nai.   Từ khi MNBD được công bố chính thức nhiều đề tài khoa học phục vụ công tác quy hoạch ngành và tổng thể, đã lấy đó làm cơ sở để tính toán việc truyền triều và xâm nhập mặn vào bên trong đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong các thập niên tới đây theo các kịch bản MNBD khác nhau.  Tuy nhiên, MNBD được công bố có một nhược điểm không nhỏ nếu được áp dụng ven bờ. Bờ biển Việt Nam rất dài, đi qua nhiều vĩ độ, lực Coriolis khác nhau đáng kể giữa Hòn Dấu và Năm Căn. Có nơi bờ biển mở, có nơi được che chắn một phần. Chế độ triều, dòng triều khá khác nhau suốt dọc 3.260 km bờ biển, Trong vùng cận duyên châu thổ sông Mêkông lực ma sát đáy khó có thể bỏ qua. Trong bài “Mực nước biển dâng nào cho đồng bằng sông Cửu Long”2, tôi có nhận xét như vậy và đề nghị MNBD cần được cân nhắc, tính toán sát hợp hơn nữa, có đối chiếu với thực tế của biển Việt Nam.  Tháng 3/2012, một kịch bản mới đã được Bộ TN-MT công bố3. Lần này bờ biển Việt Nam được chia ra 7 khu vực và MNBD được dự báo cho mỗi khu vực ứng với ba kịch bản phát thải B1 (thấp), B2 (trung bình) và A1FI (cao).   Đây là một cập nhật cần thiết, được mong đợi. Một kết luận gây chú ý là tại khu vực Mũi Cà Mau – Hà Tiên, MNBD tăng cao nhất trong cả ba kịch bản.      Kết luận khá đặc biệt này đáng lý ra cần được thuyết trình. Trong ấn phẩm không có thông tin gì khác có liên quan nên các nhà khoa học, những người tác nghiệp ở địa phương và những người quan tâm đến biến đổi khí hậu rất mong được giải đáp.   Chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu, trích từ các công bố của IPCC, có liên quan đến mực nước biển dâng suốt dọc đất nước, và một số kết quả tính toán dựa trên các số liệu thủy văn thực đo tại các trạm ở cửa sông ĐBSCL trong 21 năm (1988-2008), khả dĩ làm sáng tỏ vấn đề, cho phép xác nhận, không đồng ý hoặc dè dặt với kết luận trên.  Hình 1 trích ra kết quả đo đạc và tính toán của IPCC về xu hướng của nhiệt độ biển bề mặt và mực nước biển tại Đông Nam Á. Đáng chú ý là xu hướng mực nước biển tăng ở Nam Trung Bộ và giảm trong Vịnh Thái Lan.    Hình 1. Xu hướng tại địa phương của nhiệt độ biển bề mặt và mực nước biển    Hình 2 trích ra kết quả tính toán của AR4, WG1 (2007) về các xu hướng trên.     Hình 2. Xu hướng tại địa phương của nhiệt độ biển   bề mặt và mực nước biển. Nguồn: AR4-WG1 2007    Hình 3 thể hiện sự biến đổi của mức nước và biên độ triều tại các trạm thủy văn ở các cửa sông lớn dọc Biển Đông và Vịnh Thái Lan (1988-2008). Sự biến đổi về mức nước rất thấp ở trạm Rạch Giá và xu hướng thay đổi của biện độ triều tại đây là âm.    Hình 3. Thay đổi mức nước và biên độ triều tại ĐBSCL (1988-2008)  Nguồn: MDDRC, 2010, NNTrân, NVĐăng, LXThuyên    Mực nước biển dâng nào?  Cụm từ “nước biển dâng” được tài liệu của Bộ TN-MT giải thích: “Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác.”  Trong khi đó, IPCC có đưa ra một số mực nước biển dâng như sau4:  “Mực nước biển dâng là sự gia tăng của mực nước trung bình của đại dương.   Mực nước biển trung bình là một độ đo của độ cao trung bình của mặt biển đại dương, ví dụ như đại lượng trung bình giữa đỉnh triều cao nhất bình quân và chân triều thấp nhất bình quân nhiều năm.  Mực nước biển dâng “eustatic”5 là sự gia tăng của mực nước biển toàn cầu do có sự thay đổi về thể tích của nước các đại dương.   Mực nước biển dâng tương đối xảy đến khi có một sự gia tăng mực nước của đại dương so với các biến động cục bộ của đất liền.”   IPCC có nhận xét: Các nhà nghiên cứu về mô hình khí hậu quan tâm đến sự thay đổi của mực nước biển dâng “eustatic”, còn các nhà nghiên cứu về tác động (của biến đổi khí hậu) chú trọng đến sự biến động mực nước biển dâng tương đối.   Như vậy, một câu hỏi được đặt ra: MNBD được công bố là MNBD gì, eustatic hay tương đối?   Một câu hỏi khác tiếp ngay theo đó: Khi khuyến nghị các ngành, các tỉnh, thành phố áp dụng MNBD được công bố (trang 35, 36 và 93 của tài liệu), liệu tính hiện thực của các kết quả đến mức độ nào?   Hai câu hỏi trên đây không lý thuyết hay kinh viện mà rất thực tế, có liên quan đến hiệu quả sử dụng hàng chục ngàn (thậm chí hàng trăm ngàn) tỷ đồng vốn từ ngân sách nhà nước trong những năm sắp tới, chi cho các công trình nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng!  Nhiều mô hình tính toán thủy lực và xâm nhập mặn ở ĐBSCL trong các năm 2009 trở lại đây đã lấy biên biển là mực nước tại trạm thủy văn cửa sông cộng chồng lên đó MNBD chính thức được công bố. Điều này chứng minh sự chính đáng của các câu hỏi vừa nêu.     Cần quan tâm mực nước biển dâng thực tế   Liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu lên sản xuất và đời sống của người dân tại ĐBSCL, trên từng vùng cụ thể, mực nước biển dâng phải biết là mực nước biển dâng thực tế (effective sea level rise).   MNBD thực tế của cả châu thổ hoặc của từng vùng là MNBD tương đối trừ đi độ nâng cao bề mặt, từ phù sa hoặc từ nâng nền, cộng với độ sụt lún ở nơi đó6&7.   Có hai loại sụt lún: sụt lún tự nhiên của mặt đất do quá trình nén dẽ, canh tác và sụt lún do hoạt động khai thác nước ngầm, than bùn và các khoáng sản khác dưới lòng đất, cũng như do xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, phát triển đô thị.   Sự sụt lún quan trọng của thủ đô Bangkok trong nhiều năm đã buộc phải xây cống và đê chống ngập cho thành phố. Hệ thống này đã ngăn việc thoát lũ cho phía Bắc Bangkok trong nhiều tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2012. Rõ ràng, biết MNBD thực tế là yêu cầu bức thiết đối với sản xuất và đời sống.  Ở ĐBSCL sự sụt lún tự nhiên là tất yếu. Lượng vật liệu trầm tích, có nguy cơ giảm đi do việc xây dựng các đập trên thượng nguồn, sẽ làm cho MNBD thực tế tăng lên. Sự sụt lún do việc khai thác thái quá nước ngầm, do việc xây dựng quá nặng trên nền đất yếu, chắc chắn sẽ làm MNBD thực tế tăng lên.   Mong rằng MNBD thực tế sẽ sớm được Nhà nước, các Bộ ngành chức năng và các địa phương quan tâm đúng mức, mà cụ thể là theo dõi mức độ sụt lún, để việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biên dâng đi vào thực chất và có hiệu quả.  —  1. Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, tháng 6/2009.  2. NGUYỄN NGỌC TRÂN, “Mực nước biển dâng nào tại đồng bằng sông Cửu Long?” 12/02/2011, đăng trên các báo giấy và mạng sau đây: http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=74&NewsId=203697, http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=96507&Code=VFCFA96507, http://www.vncold.vn/Web/Content.aspx?distid=2610  3. Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, NXB Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ, 2012, www.imh.ac.vn   4. Third Assesment Report IPCC Terms.   5. Có tự điển Anh Việt dịch eustatic là chấn tĩnh. Chúng tôi xin giữ nguyên tiếng Anh vì đã có giải thích đi kèm.  6. Jason P. Ericson et al. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human dimension implications, Global and Planetary Change 50 (2006) 63–82.  7. Irina Overeem, J. Syvitski, A. Kettner, E. Hutton, and B. Brakenridge, Singking Deltas due to Human Activities, Search and Discovery Article #70094 (2010).                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Rất khó thu hút nhà khoa học trẻ xuất sắc      Viện trưởng Viện Địa chất (Viện KH&amp;CN Việt Nam) Trần Trọng Huệ (TTH) đã có cuộc trò chuyện với phóng viên Tia Sáng xung quanh những nghiên cứu của các nhà khoa học địa chất và công việc của người quản lý.    PV: Hồi nhỏ, tôi từng đọc rất nhiều sách báo về các nhà địa chất và hình dung họ là những người đi khắp non cao rừng thẳm để “tìm tài nguyên đất nước”. Công việc của các nhà nghiên cứu ở Viện Địa chất có thực sự như vậy?  TTH: (Cười). Còn hơn thế nhiều. Chúng tôi nghiên cứu cơ bản về những vấn đề quan trọng trong khoa học địa chất như các dạng tai biến địa chất để xây dựng giải pháp phòng tránh, nghiên cứu tài nguyên địa chất cho quy hoạch kinh tế xã hội, và cả những vấn đề môi trường cấp bách…  Nghiên cứu cơ bản đóng một vai trò thiết yếu trong khoa học địa chất hiện đại. Ở lĩnh vực này, chúng tôi đã nghiên cứu các cấu trúc sâu thạch quyển Việt Nam và các vùng kế cận, làm sáng tỏ lịch sử địa động lực lãnh thổ và xác lập các tiền đề đánh giá triển vọng khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản quý hiếm (kim loại nhóm platin, vàng, đá quý). Viện Địa chất là đơn vị đầu tiên tiến hành nghiên cứu đánh giá triển vọng tìm kiếm kim cương Tây Bắc, miền Trung và Tây nguyên. Ngoài ra chúng tôi đã nghiên cứu quá trình hình thành và tiến hóa các bồn trầm tích Mesozoi, Kainozoi phục vụ minh giải kiến tạo khu vực, tìm kiếm khoáng sản ngoại sinh và sự thay đổi khí hậu toàn cầu.     Được biết dù chủ yếu nghiên cứu cơ bản, các nhà nghiên cứu của Viện Địa chất vẫn thực hiện những đề tài ứng dụng?  Ở hướng nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện từ những đề tài lớn như đánh giá triển vọng một số khoáng sản quan trọng ở Việt Nam (sắt, măng gan, chì, đồng, thiếc, vàng, thuỷ ngân…) tới những đề tài nhỏ như chế tạo «đất nặn» cho trẻ chơi. Một số nghiên cứu được chuyển giao rất thành công như quy trình sản xuất gạch không nung, gạch tự chèn, làm bê tông rải đường… Các nghiên cứu về cảnh quan địa chất, địa mạo vùng hang động karst cũng rất có ích cho việc phát triển du lịch địa-sinh thái ở Hà Giang, Sơn La, Ninh Bình…  Gần đây báo chí nói rất nhiều về vụ sụt đất, sạt lở… Liệu các nhà địa chất có thể dự đoán được những tai họa như vậy?  Từ gần 20 năm nay, chúng tôi nghiên cứu sâu về các dạng tai biến địa chất điển hình phổ biến ở Việt Nam như: nứt đất, sụt đất, trượt-lở, lũ quét-lũ bùn đá, xói mòn đất, bồi tụ và xói lở bờ sông-bờ biển, núi lửa trẻ… và đã có những kết luận về nguyên nhân cơ chế hình thành, đồng thời đề xuất các giải pháp thích ứng. Trước các tai biến địa chất gần đây ở một số tỉnh như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Nam… chúng tôi đã hợp tác với từng địa phương để tìm cách đối phó. Chúng tôi cũng đã lập một số bản đồ dự báo nguy cơ từng dạng tai biến địa chất hoặc tai biến địa chất tổng hợp. Các nghiên cứu chi tiết về tai biến địa chất đối với một số tỉnh, các công trình dân sinh- kinh tế quan trọng (đường Hồ Chí Minh, hồ thủy điện Hòa Bình, Ya Ly…) đã được phân tích dự báo trên các bản đồ ở tỷ lệ 1: 50.000 và lớn hơn.  Báo chí cũng khá ồn ỹ quanh chuyện “tia đất”, nói rộng ra là chuyện ảnh hưởng của địa chất tới sức khỏe. Đó có là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu địa chất?  Xin nói chuyện “tia đất” của ông Vũ Văn Bằng trong một dịp khác. Còn nếu trong một vùng dân cư, nếu có tỷ lệ bệnh tật cao bất thường thì phải nghĩ ngay đến môi trường, có thể bị ô nhiễm asen, kim loại nặng, ô nhiễm xạ, các chất có hại khác…  Chúng tôi đo mức độ ô nhiễm và đề xuất các giải pháp giảm thiểu, khắc phục cho cộng đồng dân cư  một số khu vực của một số tỉnh như  Hà Nam, Phú Thọ, Bắc Cạn, Hà Giang, Nam Định…  Trên cơ sở nghiên cứu thử nghiệm nhiều năm, Viện đã hoàn thiện công nghệ chế tạo KIT kiểm tra môi trường nước rất hiệu quả.    Viện Địa chất làm gì để thu hút những người nghiên cứu trẻ có năng lực?  Quả thực đây là vấn đề rất khó khăn. Những người xuất sắc không về Viện vì lương quá thấp. Những ai có khả năng mà còn ở lại với công việc này thì chủ yếu do lòng yêu nghề. Biện pháp “ưu đãi” các nhà nghiên cứu trẻ của chúng tôi hiện nay chủ yếu là tạo điều kiện cho đi học nước ngoài. Viện cũng tận dụng mọi mối hợp tác quốc tế, như quan hệ với Phân viện Siberi thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga, các cơ sở nghiên cứu của Mỹ, Canada, Đức, Nhật Bản… để cử cán bộ trẻ làm việc trong các chương trình hợp tác.    Như vậy vẫn còn thiếu một cơ chế đãi ngộ xác đáng để “phân biệt” những người thật sự có năng lực và người “ăn không ngồi rồi”? Theo ông, thực hiện quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 có giải quyết được vấn đề này?  Viện Địa chất đã hoàn thành đề án chuyển đổi theo Nghị định 115 và Viện KH&CN Việt Nam đang thẩm định. Theo tôi, Nhà nước phải chấp nhận giai đoạn chuyển đổi. Ví như Trung Quốc, họ chấp nhận trả không 5 năm lương cho những cán bộ nghiên cứu đã “lỗi thời” gần đến tuổi hưu. Khi đó hình thức quản lý hiệu quả cho nhiều viện nghiên cứu sẽ là khoán chi. Ví dụ với Viện Địa chất, vì có kinh nghiệm về xói lở, Nhà nước có thể giao đề tài nghiên cứu chống xói lở, giả sử cấp cho Viện số tiền là 10 tỷ, thực hiện trong 5 năm, “ông” Viện trưởng phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhà nước. Khi đó thủ trưởng mới có quyền quyết định chọn ai làm, lương bao nhiêu. Còn hiện nay, không nghiên cứu ở đâu như ở Việt Nam, nhận lương không gắn với nhiệm vụ. Nhiều người không làm gì nhưng không đuổi việc được, vì đuổi việc chỉ với người vi phạm khuyết điểm chứ không phải với người không làm được việc. Chủ trương của Nghị định 115, theo tôi là rất đúng đắn, nhưng sẽ gặp phải rất nhiều trở ngại, cần phải thực hiện đồng bộ và quyết liệt hơn.  Trong những cuộc trò chuyện trước đây với một số nhà khoa học và nhà quản lý, có người đánh giá nếu thực hiện triệt để Nghị định 115 thì viện của họ chỉ còn khoảng 70%, thậm chí 50% làm được việc. Theo ông, con số này ở Viện Địa chất là bao nhiêu?  Với hoàn cảnh hiện nay thì việc đánh giá ai làm việc hiệu quả hơn ai thật là khó. Có thể có nhà nghiên cứu rất giỏi nhưng “gàn” nên không có đề tài nghiên cứu; cũng có những người không giỏi chuyên môn, nhưng để họ phục vụ công việc nghiên cứu thì lại tốt. Tình trạng này không chỉ có ở cơ quan nghiên cứu mà ở bất kỳ tổ chức nào cũng vậy. Cần nhất là cơ chế để có thể đặt từng người vào đúng vị trí của mình.    Xin cảm ơn ông.  PV thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang R&D: Vấn đề sống còn của Phenikaa      Giữa lúc nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn đang loay hoay giải bài toán tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm thì Phenikaa – một tập đoàn chuyên sản xuất và cung cấp đá nhân tạo, đã định vị được mình trên thị trường thế giới với thương hiệu đá thạch anh nhân tạo Vicostone thông qua việc liên tục thực hiện các dự án R&D.      TS. Phạm Anh Tuấn và các thành viên Trung tâm R&D trong phòng thí nghiệm Hóa học. Ảnh: Hảo Linh  Nhận xét về công tác R&D tại Phenikaa, GS. TSKH Trần Vĩnh Diệu (Đại học Bách khoa Hà Nội), một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm về composite và polymer – những vật liệu quan trọng trong ngành đá nhân tạo, cho rằng: “Tại Phenikaa, ngay từ đầu anh Hồ Xuân Năng (Chủ tịch HĐQT công ty) đã nhận ra giá trị của R&D và coi đó là vấn đề sống còn”. Hợp tác với tập đoàn ngay từ ngày đầu thành lập, ông đã thấy quyết tâm không chỉ của người lãnh đạo mà của cả tập thể Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới Phenikaa trong “giải quyết từ những vấn đề sản xuất đặt ra đến sáng tạo những vật liệu có thể đem lại những sản phẩm mới trong tương lai”.       Câu nói này đã gói gọn những vấn đề mà Trung tâm thực hiện trong gần 10 năm qua, vốn “pha trộn giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng để làm sao tạo ra được các sản phẩm có những tính năng đặc biệt nhưng lại phải có giá thành thấp, đủ sức cạnh tranh trên thị trường” như quan điểm của TS. Phạm Anh Tuấn, người đảm trách vai trò giám đốc Trung tâm trong 9 năm trước khi được đề bạt lên vị trí Phó tổng giám đốc Phenikaa phụ trách công tác R&D của tập đoàn.      Ở giai đoạn đầu mới thành lập và chỉ có 5, 6 kỹ sư, Trung tâm đã nghiên cứu thành công chất chống dính khuôn cao su sử dụng trong công nghệ sản xuất đá nhân tạo gốc thạch anh, để thay thế sản phẩm làm ra sẽ thay chế sản phẩm cùng loại phải nhập của hãng Breton (Ý).      Tạo ra sản phẩm mới qua giải quyết vấn đề thực tiễn  Được đặt ngay trong khuôn viên công ty Vicostone tại Khu CNC Hòa Lạc, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới Phenikaa sở hữu các phòng thí nghiệm Hóa học, Cơ lý, phòng Dự án và một xưởng sản xuất quy mô pilot. “Những gì chúng tôi thực hiện ở đây sẽ được áp dụng thử nghiệm ngay ở ngoài kia trước khi đưa vào dây chuyền sản xuất”, ThS Hoàng Thu Hường – phó giám đốc Trung tâm, cho biết. Trong suy nghĩ của chị, vấn đề “ở đây” và “ngoài kia” dường như rất liền mạch. Đó cũng là cách nhìn nhận của cả Trung tâm về gốc rễ của vấn đề cần giải quyết là phải gắn bó chặt chẽ với sản xuất để “vừa nghiên cứu các vấn đề đầu vào của sản xuất, vừa nghiên cứu giải quyết các vấn đề đầu ra của sản xuất, tức là nghiên cứu để nội địa hóa các nguồn nguyên liệu và nghiên cứu tái sử dụng chất thải trong quá trình sản xuất thành nguyên liệu đầu vào cho những loại vật liệu mới”, TS. Phạm Anh Tuấn chia sẻ với Tia Sáng.  Với những suy nghĩ này, khi ở giai đoạn đầu mới thành lập và chỉ có 5, 6 kỹ sư, Trung tâm đã thực hiện nghiên cứu đầu tiên nằm ở nhánh giải quyết vấn đề đầu vào của sản xuất “Nghiên cứu chế tạo chất chống dính khuôn cao su sử dụng trong công nghệ sản xuất đá nhân tạo gốc thạch anh”. Sản phẩm làm ra sẽ thay chế sản phẩm cùng loại phải nhập của hãng Breton (Ý) – nhà cung cấp dây chuyền công nghệ sản xuất đá nhân tạo cho Vicostone. Đây là một loại nguyên phụ liệu rất đặc thù chỉ áp dụng trong ngành đá nhân tạo với một hệ tổng hợp gồm nhiều loại polymer có tính chất lưỡng cực như vừa ưa nước, vừa kỵ nước, vừa có khả năng bám dính vào khuôn cao su nhưng có khả năng bám ngược lấy đá để tách khỏi khuôn khi kết thúc quy trình sản xuất. Dù đã “đọc hàng ngàn trang tài liệu”, TS. Phạm Anh Tuấn vẫn chưa tìm ra được đáp án. Cuối cùng, anh đã phải nhờ cậy đến sự tư vấn, hỗ trợ của thầy mình, GS. TSKH Trần Vĩnh Diệu. Nhớ lại thời điểm đó, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu cho biết: “Việc làm ra chất chống dính khá phức tạp vì liên quan đến rất nhiều vấn đề của khoa học nhưng lại không có một tạp chí hoặc tài liệu chuyên khảo nào về nó. Thực chất, nó chỉ xen vào đâu đó trong những mảng như là polymer, composite, sơn, cao su…, cứ ở chỗ này một tí, chỗ kia một tí nên đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức tổng hợp, sáng tạo trong vận dụng kiến thức vào quá trình thí nghiệm”. Nhờ có sự gợi ý của thầy, TS. Phạm Anh Tuấn không chỉ tìm được năm loại polymer có thể tạo ra được các màng có độ dai, đồ bền xé, chịu va đập mà còn tìm ra được các quy trình phối trộn bởi “nhiệm vụ của mình không chỉ là làm ra sản phẩm như của Breton mà còn phải hoàn thiện một quá trình hoàn chỉnh để bộ phận sản xuất họ có thể áp dụng được ngay”.      Tại Phenikaa, ngay từ đầu anh Hồ Xuân Năng (Chủ tịch HĐQT công ty) đã nhận ra giá trị của R&D và coi đó là vấn đề sống còn. GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu      Dự án đã đem lại kết quả ngoài mong đợi: sau một năm làm thí nghiệm và triển khai trên dây chuyền sản xuất thử nghiệm, cuối cùng chất chống dính mà Trung tâm tạo ra có chất lượng hoàn toàn tương đương với loại nhập khẩu mà giá thành chỉ bằng 25% sản phẩm cùng loại của Breton, vì vậy giúp công ty tiết kiệm được cả 25 đến 30 tỷ đồng chi phí mỗi năm.  Thành công của dự án nghiên cứu đầu tiên đem lại sự tin tưởng của Ban giám đốc công ty với đội ngũ R&D và cả sự tự tin vào chính mình của họ. Các nghiên cứu viên của Trung tâm đã mạnh dạn đề đạt lên lãnh đạo công ty cấp kinh phí thực hiện những đề tài nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra của sản xuất như tạo tính năng chống tia tử ngoại, kháng khuẩn cho sản phẩm đá nhân tạo… “Chúng tôi tìm đề tài nghiên cứu bằng cách bám vào yêu cầu thực tế như giải quyết vấn đề môi trường hay cần thiết làm ra vật liệu mới có giá thành thấp hơn sản phẩm ngoại nhập”, ThS Hường cho biết. Đây cũng là lý do để chị và cộng sự thực hiện “Nghiên cứu sản xuất hệ keo dán đá ứng dụng trong gia công chế tạo đá nhân tạo gốc thạch anh” để cho ra đời keo Phenikaa, sản phẩm dùng để lát đá nhân tạo từ bùn đá thải từ quá trình sản xuất đá nhân tạo ở nhà máy của Vicostone. Việc tận dụng nguyên liệu có sẵn tại nhà máy là sáng kiến mang tính tiết kiệm và bảo vệ môi trường rất cao bởi mỗi ngày, nếu các dây chuyền hoạt động hết công suất sẽ thải ra khoảng 20m3 bùn đá và phải thuê một công ty môi trường xử lý chôn lấp, mỗi năm mất cả chục tỷ đồng. Cũng tương tự với chất chống dính, điều mấu chốt của đề tài là phải tìm được một hệ tổng hợp gồm các polymer có tính năng đặc biệt để khi phối trộn với bột đá thải sấy khô có thể tạo ra sản phẩm keo vừa có khả năng hút nước để vẫn không bị bong khỏi đá trong mùa nồm, vừa có khả năng nhả nước trong mùa nắng. Giải quyết vấn đề này trong vòng hơn một năm, hiệu quả mà nghiên cứu đem lại là “mình sẽ không phải thuê công ty chôn lấp nữa, một năm có thể tiết kiệm cả chục tỷ đồng, ngoài ra lại tạo được một vật liệu mới, một sản phẩm mới có chất lượng tốt, giá thành hạ và quan trọng nhất là nó góp phần làm cho quá trình sản xuất sạch hơn và khép kín,” theo TS. Phạm Anh Tuấn.  Do tận dụng được nguyên liệu sẵn có nên giá thành keo Phenikaa chỉ bằng khoảng 70% sản phẩm cùng loại bán trên thị trường. Năm 2017, công ty đã triển khai sản xuất hơn 400 tấn, và áp dụng thử nghiệm vào việc lát toàn bộ đá nhà chung cư Phenikaa và một số công trình xây dựng khác, giúp tiết kiệm hàng tỉ đồng so với dùng sản phẩm ngoại nhập. TS. Phạm Anh Tuấn cho biết thêm, do phải phụ thuộc vào hàng ngoại nhập đắt đỏ nên việc ứng dụng đá nhân tạo ốp tường, lát sàn, lát nền ở Việt Nam còn bị hạn chế. Vì thế, việc ra đời sản phẩm mới vừa chất lượng, vừa có giá thành hạ sẽ có thể góp phần làm tăng phạm vi sử dụng đá nhân tạo trong nước thời gian tới.  Gây dựng đội ngũ R&D chuyên nghiệp  Có một điều dễ nhận thấy ở Trung tâm R&D Phenikaa là sự hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành cũng như sự ngăn nắp và quy củ trong nề nếp công việc. Bất cứ ai đến làm việc với Trung tâm đều nhận thấy điều đó, đặc biệt là những người đủ tinh tế và giàu trải nghiệm như GS. TSKH Trần Vĩnh Diệu, PGS. TS Phạm Thành Huy (Viện AIST, Đại học Bách khoa Hà Nội). “Trung tâm cho tôi cảm nhận rất tốt về môi trường làm việc. Các bạn ở đó nắm bắt rất rõ công việc của mình còn các thiết bị máy móc trong phòng thí nghiệm đều được xếp đặt gọn gàng, phòng thí nghiệm Hóa đạt tiêu chuẩn của phòng Hóa sạch”, PGS. TS Phạm Thành Huy nhận xét.  Đó là công sức gây dựng của Trung tâm ngay từ ngày đầu. Cần có cách thức tổ chức hợp lý và tạo được mối liên kết chặt chẽ trong công việc mới đảm bảo cho các dự án có thể “chạy” được và giải quyết sớm vấn đề đặt ra, vì thế Trung tâm tổ chức hoạt động nghiên cứu theo phương thức “cả Trung tâm cùng thực hiện một đề tài”. TS. Phạm Anh Tuấn giải thích. Do vậy, tuy cùng thực hiện một dự án nhưng công việc được phân chia rất linh hoạt, “không có chuyên một dự án là nhiệm vụ của anh, không phải nhiệm vụ của tôi, mà sẽ liên thông tất cả, là công sức của cả phòng Dự án, phòng Cơ lý và phòng Hóa”.  So với những cơ sở nghiên cứu của nhà nước thì Trung tâm ắt hẳn sẽ thuận lợi hơn ở khoản đầu tư cho nghiên cứu? TS. Phạm Anh Tuấn nhận thấy một điều là “với hoạt động nghiên cứu của Trung tâm, chưa bao giờ bị từ chối bất điều gì cho R&D cả. Bởi ngay từ đầu lãnh đạo công ty đã xác định đầu tư cho nghiên cứu là nhiệm vụ trọng yếu của Tập đoàn”.  Tuy ngân sách rót cho nghiên cứu ở thế “xông xênh” hơn những cơ sở nghiên cứu công lập nhưng việc dùng tiền đó vào đâu, mua thiết bị hay để thực hiện đề tài nghiên cứu nào cũng phải tuân theo những quy tắc tài chính rất chặt chẽ. Về kinh phí thực hiện đề tài, phòng Dự án của Trung tâm sẽ chủ động đề xuất những đề tài do các thành viên chủ động tìm hiểu và lên khung kế hoạch hoặc ban lãnh đạo chủ động giao nhiệm vụ giải quyết những vấn đề công nghệ mà sản xuất gặp phải. Việc lựa chọn đầu tư cho đề tài thường dựa trên các tiêu chí tính cấp thiết cần giải quyết về công nghệ, hiệu quả mà dự án nghiên cứu sẽ mang lại và mục tiêu phát triển sản phẩm trong từng giai đoạn của công ty… Về kinh phí mua thiết bị máy móc, quan điểm của ban lãnh đạo tập đoàn là thiết bị nào có thể sử dụng thông qua mối quan hệ hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học thì không đầu tư mà dành để đầu tư các thiết bị, máy móc chưa có hoặc thiết bị mà Trung tâm sử dụng với tần suất lớn, phục vụ công việc hàng ngày, “khi đó đề xuất mua hàng của R&D được ưu tiên hàng đầu”, TS. Phạm Anh Tuấn nói.  Sự chặt chẽ trong quan điểm đầu tư như vậy có hạn chế được tối đa rủi ro trong nghiên cứu ở Trung tâm? TS. Phạm Anh Tuấn cho rằng, với nghiên cứu ứng dụng ở Trung tâm thì rủi ro đã được hạn chế rất nhiều do vấn đề đặt ra là để phục vụ yêu cầu của thực tế sản xuất, “ngay ở bước nghiên cứu, anh đã nhìn thấy rõ sản phẩm của anh sẽ phải được thực hiện theo các bước như thế dưới nhà máy, tức nghiên cứu phải gắn liền, thiết thực với sản xuất”.    ThS Hoàng Thu Hường và thành viên phòng thí nghiệm Cơ lý kiểm tra kết quả thử nghiệm. Ảnh: Hảo Linh  Tuy nhiên, cũng như ở các nơi khác, đôi khi việc thực hiện các dự án ở Trung tâm không tránh khỏi rủi ro. “Rủi ro ở đây không có nghĩa là không làm ra được sản phẩm, lại càng không phải là sản phẩm thiếu chất lượng, mà là quá trình áp dụng nó vào thực tế gặp vấn đề”, TS. Phạm Anh Tuấn giải thích. Năm 2011, Trung tâm thực hiện dự án làm gạch không nung để tận dụng bùn đá thải của nhà máy. Dự án cho ra sản phẩm được cấp giấy chứng nhận của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng)  và vượt qua cả test thử nghiệm của phòng thí nghiệm quốc tế tại Singapore. Khi sản phẩm tưởng chừng như hoàn hảo thì quá trình áp dụng lại trục trặc: khi xây lên, tường bị nứt. “Ban đầu cứ nghĩ là do gạch của mình kém chất lượng nhưng không phải, nguyên nhân là chúng ta không có loại vữa gắn phù hợp với gạch không nung. Gạch và vữa là hai loại vật liệu rất khác nhau về tính co ngót nên dẫn đến hiện tượng nứt rồi tạo ra đường xé trên tường”, anh kể.  Kinh nghiệm thu được qua những lần thành công và thất bại như vậy khiến các thành viên của Trung tâm trưởng thành lên rất nhiều. Họ vừa có thể độc lập nghiên cứu hoặc kết hợp nghiên cứu với người ở cơ sở nghiên cứu khác bằng sự chuyên nghiệp và tinh thần chủ động học hỏi. Theo quan sát của GS. TSKH Trần Vĩnh Diệu, “Hường lúc còn ở trường thì chỉ chủ yếu làm về gia công chất dẻo (processing), tức là đảm trách khâu lấy chất này trộn vào chất kia, gia nhiệt hoặc ép gì đó, không thành thạo về sinh tổng hợp (synthesis). Nếu trong giai đoạn đầu tham gia làm chất chống dính, khi thực hiện tổng hợp hóa học còn lúng túng còn thì bây giờ em đã thành thạo từ cả gia công lẫn tổng hợp”.  Sự trưởng thành của các thành viên không chỉ là thành thục công việc chuyên môn mà còn là khả năng vượt qua áp lực tiến độ công việc. Trên thực tế, áp lực ở một đơn vị nghiên cứu của doanh nghiệp khác hoàn toàn so với đơn vị nghiên cứu công lập, ThS Hoàng Thu Hường – người đã từng làm việc ở cả hai môi trường này, cho biết. “Ở đây áp lực rất nhiều, kể cả thời gian lẫn tiến độ, lúc nào cũng phải nhanh. Thường thì làm đề tài trong trường mang tính học thuật, còn ở đây, sản xuất họ đang rất cần mình rồi, phải đẩy nhanh tiến độ [thực hiện đề tài], tự mình phải thúc mình”, chị so sánh.  Nhìn lại quá trình hoạt động của Trung tâm, TS. Phạm Anh Tuấn cho rằng, qua công tác R&D, công ty “có một đội ngũ tự tin và bản lĩnh đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khó khăn hơn, phức tạp hơn, phạm vi hoạt động rộng hơn… Ví dụ Wacker Chemie AG – tập đoàn hóa chất nổi tiếng của Đức ban đầu còn không tin là có thể cùng hợp tác nghiên cứu với một doanh nghiệp Việt Nam và chỉ khi sang đây làm việc, họ mới tin tưởng và đồng ý kết hợp làm một đề tài nghiên cứu chung”.      Chúng tôi tìm đề tài nghiên cứu bằng cách bám vào yêu cầu thực tế như giải quyết vấn đề môi trường hay cần thiết làm ra vật liệu mới có giá thành thấp hơn sản phẩm ngoại nhập. ThS Hoàng Thu Hường      Mở rộng phạm vi ảnh hưởng  Trong cuộc tọa đàm “Đưa tri thức thành động lực phát triển bền vững: Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông” do Rạng Đông, trường đại học Ngoại thương và Tia Sáng tổ chức vào tháng 6/2016, PGS.TS Phạm Thành Huy cho rằng: “R&D đúng nghĩa trong doanh nghiệp phải tạo ra được động lực phát triển [của doanh nghiệp] trong tương lai… Do đó doanh nghiệp cần phải đầu tư cho R&D một cách dài hạn để có thể tạo ra những sản phẩm đủ sức dẫn dắt thị trường trong lĩnh vực hoạt động của mình vài năm tới”. Quan điểm về R&D của PGS.TS Phạm Thành Huy cũng là mong ước của Phenikaa hiện nay.  Đây là lý do để Phenikaa thành lập Viện nghiên cứu ứng dụng (PRATI) trên cơ sở Trung tâm R&D hiện nay. Chín năm trước họ thành lập Trung tâm R&D trên cơ sở Phòng Công nghệ cao với mong muốn tập trung vào nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới chứ không chỉ dừng lại ở làm chủ công nghệ, đưa ra quy trình phát triển sản phẩm mới. Lần này, PRATI muốn tạo ra đột phá với những sản phẩm có thể dẫn dắt thị trường tương lai. Khả năng làm ra sản phẩm cho tương lai đã bắt đầu nhen nhóm ở Trung tâm một vài năm nay, ví dụ “Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh thái từ dầu lanh epoxy hóa để gia cường tính ứng dụng trong đá thạch anh nhân tạo”, đưa Vicostone là nhà sản xuất đầu tiên trên thế giới làm ra loại đá nhân tạo “sinh thái” với tỷ lệ 100% là dầu hạt lanh epoxy hóa (tỷ lệ này ở nhiều công ty khác chỉ đạt 5, 10 %). Tuy chưa được sản xuất đại trà do giá thành còn cao nhưng theo đánh giá của TS. Phạm Anh Tuấn “về lâu dài, khi xu hướng sử dụng vật liệu xanh trở nên phổ biến hơn chắc chắn sản phẩm sẽ được ứng dụng rộng rãi. Lúc bấy giờ mình đã sẵn sàng có một thứ ‘vũ khí’ trong tay”.  Tuy nhiên những đề tài như vậy ở Trung tâm vẫn còn ở dạng đơn lẻ, Phenikaa cần có nhiều nghiên cứu “dự trữ” có khả năng đón đầu xu thế phát triển ở một phạm vi rộng hơn. Vì vậy, việc thành lập PRATI được kỳ vọng sẽ “mở rộng hơn những lĩnh vực khác nhưng vẫn trong lĩnh vực vật liệu và vật liệu ứng dụng, có thể là điện tử, nano, gốm… Sản phẩm nghiên cứu có thể phục vụ ngay cho nhu cầu sản xuất của Phenikaa, hoặc cho kế hoạch một vài năm tới”, TS. Phạm Anh Tuấn nêu dự định. Thậm chí nhiệm vụ của PRATI là “tập trung vào những định hướng của Phenikaa hoặc có thể là nghiên cứu để chào mời doanh nghiệp khác tham gia đầu tư, phát triển sản phẩm”, anh cho biết thêm.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang René Thom: Nhà tư tưởng và toán học lớn thế kỷ XX      René Thom (2/9/1923-25/10/2002) là một trong  những nhà toán học nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng nhất trong xã hội,  đến nỗi có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật lấy đề tài từ cuộc đời ông.&#160;  &#160;    Đạo  diễn Jean-Luc Godard đã dựng bộ phim “René”, mà nhân vật chính phỏng  theo con người thật của Thom; họa sĩ Salvador Dali đã vẽ loạt tranh cuối  cùng của mình vào năm 1983 với đề tài lấy từ lý thuyết “tai biến” của  Thom, kèm theo lời đề tặng “à René”; nhà soạn nhạc Dusapin cảm hứng từ  những công trình của Thom đã sáng tác bản nhạc Loop[1] …    René Thom sinh ngày 2 tháng 9 năm 1923 ở Montbeliard, một thị trấn nhỏ của nước Pháp nằm bên bờ sông Allan chảy từ vùng Jura, Thụy Sĩ. Gia đình ông có một cửa hàng tạp hóa nhỏ, và sống trong ngôi nhà cũ, mà Thom vẫn còn nhớ là có ghi năm xây dựng 1631 trên cửa nhà. Họ sống ở đó với hai bà nội ngoại của Thom. Cuộc sống của họ có thể cứ êm đềm trôi qua trong thị trấn nhỏ như thế, nếu như không có chiến tranh xảy ra vào năm 1940. Bố mẹ của René ở lại, còn René thì cùng người anh trai Robert sơ tán sang Thụy Sĩ bằng xe đạp. Trong “Tiểu sử tự thuật” của mình, ông viết:  Chúng tôi được đón tiếp ở đó với sự nồng nhiệt đáng ngạc nhiên, mọi người gặp trên đường cho chúng tôi thực phẩm và nước uống. Điều đó làm tôi cảm động đến tận bây giờ.  Tại Thụy Sĩ, René làm việc giúp một người sản xuất nhung ở gần Romont, nhưng đến cuối tháng 9 năm đó thì anh bị buộc trở lại Pháp, sống tại Lyon trong gia đình một người bạn của mẹ. Năm 1940, Thom đã có bằng tú tài về toán, nhưng khi ở Lyon, anh theo học và lấy bằng tú tài triết học năm 1941. Có lẽ tác giả của “Sự ổn định cấu trúc và phát sinh hình thái” đã say mê triết học ngay từ thời đó. Tháng 6 năm 1941, hai anh em Thom tìm cách trở lại quê nhà ở Montbeliard.  Được thầy Becker ở Montbeliard giới thiệu, Thom đến Paris để tiếp tục học tại trường Lycée Saint-Louis nổi tiếng, và thi vào Ecole Normale Supérieure năm 1942, nhưng không đỗ! Ông thi lại vào năm 1943, và như ông kể, lần này thì đỗ, nhưng không xuất sắc gì!  Thời kì này, Montbliard là “vùng cấm”, và ông rất khó mới có thể thỉnh thoảng về thăm gia đình. Cuộc sống ở Paris ngột ngạt dưới sự chiếm đóng của Đức quốc xã. Tuy vậy, ông Hiệu phó Bruhat đã cố hết sức để sinh viên có thể yên ổn học hành (dù phải xung khắc với thầy Hiệu trưởng bất đồng về chính trị), cho đến khi Bruhat bị bắt. Thom viết:  … năm cuối cùng, sau “chiến thắng”, là một năm mang lại ấn tượng cởi mở, được sống hết mình. Về sự hồi sinh đó, tôi có thể gọi là một sự chấn động của tự do mà tôi khó có thể tự kiềm chế.  Lý thuyết Cobordism  Mặc dù cuộc sống ở Ecole Normale thời đó khá nặng nề, nhưng “đời sống toán học” của trường thì lại rất tuyệt vời. Đó là thời kỳ mà nhóm Bourbaki mới lập, và có những ảnh hưởng lớn trong toán học. Thom theo các bài giảng của Henri Cartan, và cuối năm 1946 thì ông quyết định chuyển đến Strasbourg để tiếp tục làm việc với Henri Cartan. Ở đó ông cũng chịu ảnh hưởng của những người khác, như Ehreshman và Koszul. Ông bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1951 dưới sự hướng dẫn của Henri Cartan về  Không gian phân thớ trên mặt cầu và đại số Steenrod. Công trình được hoàn thành tại Strasbourg, nhưng Thom bảo vệ luận án ở Paris.          Không chỉ là nhà toán học, Thom còn là nhà  triết học với những tư tưởng sâu sắc về các quy luật phát triển của tự  nhiên và xã hội, với “lý thuyết tai biến” một thời nổi lên như là cơ sở  để giải thích nhiều hiện tượng của sự phát triển. Thế nhưng, Thom nhận  được giải thưởng Fields lại không phải nhờ lý thuyết đó, mà nhờ xây dựng  nên “lý thuyết cobordism”[2], một lý thuyết dựa trên khái niệm “quá đơn  giản”, gần như là  “trực giác tầm thường”! Trực giác chính là điểm độc  đáo nhất trong tất cả các công trình của Thom.        Cơ sở của lý thuyết cobordism, mà nhờ nó Thom nhận Giải thưởng Fields, đã xuất hiện ngay từ luận án tiến sĩ của ông. Có thể mô tả một cách thô thiển ý tưởng về cobordism của Thom như sau. Giả sử A, B là hai đa tạp m chiều (đối tượng cơ bản của hình học chiều cao, mà trong không gian ba chiều thì có thể hiểu đấy là những vật thể hình học tương đối “nhẵn”). Khi đó, A và B được gọi là cùng một lớp cobordism nếu A hợp “lạ” với B (được lấy với hướng ngược lại, tức là đa tạp –B) làm thành biên của một đa tạp  m+1 chiều (tương tự như hai cái thúng úp vào nhau thì thành “biên” của một hình cầu). Với định nghĩa như vậy, tất cả các đa tạp được phân thành các lớp cobordism, và tập hợp các lớp cobordism thoả mãn rất nhiều tính chất đẹp đẽ, lập thành đại số Thom. Trong bài phát biểu về công trình của Thom khi ông được giải thưởng Fields, Hopf nói rằng, cobordism của Thom cũng đơn giản đến kì lạ, giống như định nghĩa về đồng luân của Hurewicz. Và cũng như khái niệm đồng luân rất đơn giản và trực quan đó, cobordism cũng trở thành một trong những khái niệm nền tảng của toán học. Đồng luân và cobordism một lần nữa chứng tỏ rằng, chân lý bao giờ cũng rất đơn giản, và thiên tài chính là người nhận ra quy luật phổ quát trong những hiện tượng bình thường hằng ngày. Vào thời đó, Hurewicz được xem là nhà hình học lớn nhất, và ông qua đời năm 1956, đúng vào thời kì Thom sáng tạo nên lý thuyết cobordism. Hopf nói rằng, Thom chính là người thay thế xứng đáng cho Hurewicz. Ngay sau khi ra đời, cobordism đã có ảnh hưởng lớn. Được khích lệ bởi lý thuyết cobordism, Hirzebruch chứng minh Định lý Riemann-Roch-Hirzebruch, một trong những thành tựu rực tỡ nhất của tôpô thời bấy giờ. Cobordism cũng được Milnor sử dụng trong chứng minh sự kiện gây chấn động về sự tồn tại nhiều cấu trúc vi phân khác nhau trên mặt cầu 7 chiều.  Sinh học “triết học”  Đối với Thom, hệ quả của cobordism chính là giải thưởng Fields, và hệ quả quan trọng nhất của giải thưởng Fields là ông nhận được một ghế giáo sư của Viện nghiên cứu khoa học cao cấp (IHES) ở Bures-sur-Yvette! Ông nói rằng, điều may mắn nhất cho ông là nhờ giải thưởng Fields mà người ta để cho ông hoàn toàn tự do, “muốn làm gì thì làm”. Với những nhà tư tưởng lớn như Thom thì tự do chính là điều kiện cần thiết nhất để phát triển. Về sau, có lần Thom nói rằng, “đối với những người hàng đầu, đừng hỏi họ đang đi đâu. Khi biết mình đang đi đâu, người ta không đi được xa!”.  Nhưng cũng phải đến năm 1964 ông mới chuyển về Viện nghiên cứu khoa học cao cấp ở Bures-sur-Yvette và sống ở đó cho đến cuối đời, năm 2002. Tuy nhiên điều này dẫn đến một sự thay đổi trong hướng đi, như sau này Thom giải thích:          Thom luôn luôn quan tâm đến vấn đề giảng dạy  toán học. Trong bài viết “Toán học “hiện đại”: một sai lầm sư phạm và  triết học?”, ông đã phê phán xu hướng muốn đưa nhanh các khái niệm của  toán học “hiện đại” vào trường phổ thông: tập hợp, lôgic, phương pháp  tiên đề…Đồng thời, Thom cũng phê phán cách người ta muốn dạy cho học  sinh các khái niệm một cách “chính xác” nên đã “đại số hóa” nhiều phần,  và coi thường trực giác hình học. Điều này không những làm giảm sự phát  triển sáng tạo ở học sinh, mà còn trái với quá trình nhận thức của nhân  loại.        Quan hệ của tôi với bạn đồng nghiệp Grothendieck không thật dễ chịu. Tài năng tính toán của ông ta thật nổi bật. Seminar của ông ta thu hút tất cả giới toán học Paris, mà tôi thì không có gì mới để nói. Điều này làm cho tôi rời bỏ thế giới toán học chặt chẽ để quan tâm đến những khái niệm tổng quát hơn, như lý thuyết phát sinh hình thái, một đối tượng làm tôi thích thú hơn và dẫn tôi đến một dạng rất tổng quát của sinh học “triết học”.  Thom nói rằng, Leon Motchane, Viện trưởng của IHES thời đó, không phản đối gì, hoặc làm ra vẻ không phản đối! Trong vài ba năm đầu sống ở  IHES, ông chủ trì một  Seminar nổi tiếng dưới tên gọi “Crazy seminar” (Seminar điên), trong đó ông trở về với Aristote và các nhà triết học cổ điển Hy Lạp. Kết quả của những năm làm việc này là sự ra đời của cuốn sách “Sự ổn định cấu trúc và phát sinh hình thái”. Nhiều ý kiến trái ngược nhau về cuốn sách. Ngay khi nó chưa ra đời, một số nhà khoa học cho rằng, đó như là một lý thuyết Darwin mới, vì nó cố gắng giải thích các hiện tượng của tự nhiên và xã hội (điều này tôi nghe từ Giáo sư Tạ Quang Bửu, tên cuốn sách trong tiếng Việt cũng là do Giáo sư dịch từ “Stabilité structurrele et morphogenèse”). Theo Thom, bất kì sự vật nào trong quá trình phát triển cũng đi đến sự “ổn định cấu trúc”, cho đến khi đạt được mức độ tới hạn thì “phát sinh hình thái” mới, để trở thành sự vật mới, và dần lại đi đến ổn định. Điều quan trọng là ông mô tả các luận thuyết đó trên ngôn ngữ và công cụ toán học, và như thế, gần với một “chứng minh” hơn là một lý luận triết học. Vậy nhưng cuốn sách đã rất khó khăn mới tìm được nhà xuất bản chịu in nó! Thom nói rằng, cuốn sách được in một phần vì danh từ “Lý thuyết tai biến” (catastrophe) đã bắt đầu xuất hiện trên báo chí.  Lý thuyết tai biến  Trong tiểu sử tự thuật của mình, Thom nói rằng lý thuyết tai biến đã có mầm mống rất sớm, từ khi ông còn ở Strasbourg. Khi đó ông nghiên cứu các “kì dị hình học” và các hiện tượng trong quang học. Lý thuyết đó của Thom là sự cố gắng lý giải, theo một cách mà không thể sử dụng phép tính vi phân, những tình hình trong đó các lực lượng thay đổi lớn dần lên, dẫn đến cái gọi là tai biến, hoặc chấm dứt sự biến đổi. Lý thuyết đó tìm thấy ứng dụng rộng rãi trong vật lý, sinh học, cũng như trong khoa học xã hội. Hầu như hiện tượng phát triển nào của tự nhiên và xã hội cũng dẫn đến một “tai biến” nào đó. Điều này có lẽ cũng tương tự như quy luật “lượng biến thành chất”. Tuy nhiên, vấn đề là ở đây, Thom đã dùng lý thuyết kỳ dị của toán học để nghiên cứu, phân loại các “tai biến”, và đề ra “bảy tai biến sơ cấp” nổi tiếng. Tham vọng của lý thuyết tai biến thật lớn lao, vì dường như nó cho câu trả lời cho mọi hiện tượng đột biến, nó dự đoán cách mà các “tai biến” có thể xảy ra.  Lý thuyết này sau đó được phát triển bởi nhiều nhà toán học. Tuy vậy, chính René Thom giải thích tại sao lý thuyết đã từng được nổi tiếng lạ thường như vậy sau này lại trở nên ít được ưa chuộng:  Có một sự kiện là lý thuyết tai biến đã chết. Nhưng người ta có thể nói rằng, lý thuyết đó chết từ chính sự thành công của nó. …Dần dần trở nên rõ ràng rằng lý thuyết này không cho các dự báo định lượng, và người ta cho rằng, nó không có giá trị.  Tuy nhiên, nhiều khái niệm của lý thuyết tai biến sẽ còn mãi với toán học như những khái niệm cổ điển. Thom nói rằng, thuật ngữ “tai biến” đã nhiều khi phản lại ông: người ta nghĩ rằng ông gọi như thế để lôi cuốn sự chú ý. Thực ra “tai biến” tức là sự thai nghén một cái gì đó rời rạc trong một biến đổi liên tục thuần nhất không khả vi. Và ông nhớ lại rằng, trong chuyến đi Edinburgh để nhận giải thưởng Fields, vợ ông cảm thấy “khó ở”, hóa ra lúc đó bà bắt đầu “thai nghén” đứa con sẽ sinh ra vào ngày 17 tháng 4 năm 1959! Thật là một sự trùng hợp thú vị giữa toán học và cuộc sống.  ***  Tôi có may mắn gặp Thom lần đầu năm 1988, khi làm việc gần phòng ông ở IHES trong vòng một  năm. Với nụ cười hiền lành trên môi và dáng đi chậm rãi, ông có cái gì đó gần với một nhà hiền triết phương Đông hơn là một nhà toán học phương Tây. Năm đó, một hội nghị lớn, kéo dài một tuần, được tổ chức ở Paris nhân dịp ông tròn 65 tuổi. Ngày cuối cùng, tôi ngồi cùng ông trên chuyến tàu điện từ Bures-sur-Yvette vào Paris, và ngạc nhiên thấy ông thở phào nhẹ nhõm vì chỉ còn hôm đó nữa là “xong việc”! Dường như hội nghị đó là để tôn vinh một ai khác, chứ không phải là ông. Dường như đối với ông, các ý tưởng mới là quan trọng, việc người khác nghĩ về nó thế nào phỏng có quan trọng gì.  Thom mất ngày 25 tháng 10 năm 2002, sau một thời gian dài bị bệnh. Những năm cuối đời, ông thường lúc tỉnh lúc không. Những khi tỉnh, ông nói nhiều điều mà người nghe không thật hiểu rõ. Người ta chỉ biết rằng, ông đang nói về những điều gì đó rất bí ẩn và cao siêu.   —-  [1] Có lẽ ngoài Thom, chỉ có nhà toán học  thứ hai nổi tiếng trong xã hội như thế là John Nash, người được giải  Nobel, nhân vật chính của bộ phim với bốn giải Oscar “A beautiful mind”  [2] Thuật ngữ “cobordism” chưa được dịch ra tiếng Việt. Có người đề nghị dùng chữ “đồng biên”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Richard Feymann: Những suy ngẫm về khoa học      Trong phần phỏng vấn tiếp theo của chương trình Horizon – đài BBC (thực hiện vào năm 1981), nhà vật lý Richard Feymann chia sẻ những điều ông cảm nhận và rút ra sau những sự kiện mà mình can dự, đó là tham gia dự án phát triển vũ khí hạt nhân Manhattan, nhận giải thưởng Nobel…  Qua câu chuyện của Feymann, người ta nhận thấy nỗi dằn vặt của một nhà khoa học đích thực vì sự trớ trêu của bối cảnh chính trị xã hội mà sa chân vào vấn đề liên quan đến đạo đức khoa học; sự thờ ơ trước cái hấp dẫn của vinh danh… để cuối đời nhận ra “tôi cũng chưa làm được gì quan trọng và cũng sẽ không bao giờ làm cái gì đó quan trọng. Tôi chỉ thích Vật lý và Toán”.       Nhà vật lý Richard Feymann năm 1974. Ảnh: Los Angeles Times  Huân chương và Giáo hoàng     Bố tôi đã dạy một điều ngoài Vật lý (cười lớn) mà tôi thấy tâm đắc: đó là không phải cái gì nhiều người ngưỡng mộ thì mình cũng theo,  dù đúng hay không. Ví dụ như hồi nhỏ tôi có xem trên tờ “Thời báo New York” một bài có hình Giáo hoàng đứng và nhiều người đang cúi chào phía trước. Bố tôi nói, “Con nhìn xem, có một người đứng đây và tất cả những người khác cúi xuống. Có gì khác biệt? vì người kia là Giáo hoàng.” Ông ấy không thích Giáo hoàng lắm và nói – “Cái khác biệt là danh hiệu, hay đúng hơn là cái bề ngoài.” Nếu mà không phải Giáo hoàng mà là một vị tướng chẳng hạn, với một bộ quân phục hoành tráng thì cũng tương tự vậy à. “Nhưng những vị này cũng là người thôi mà, cũng ăn tối như chúng ta, cũng đi tắm, và cũng có đủ hết mọi rắc rối trong cuộc sống thường ngày như ai, con người mà. Vậy thì tại sao mọi người cúi đầu trước ông ấy? Có phải là vì chức tước, hay vị trí, hay bộ quân phục hơn là những gì ông ấy làm được.” Bố tôi khi đó đi làm doanh nghiệp và cũng hay mặc những bộ công sở oách lắm, nhưng ông ấy luôn nói rằng mỗi con người, dù mặc trang phục nào đi nữa, cũng chỉ là một người mà thôi.    Tôi nghĩ bố tôi khá tự hào về tôi. Lúc mà tôi học MIT được vài năm, ông có nói – “Giờ thì con đã học cao rồi, con thử trả lời cho bố một câu hỏi này nhé?” Tôi hỏi lại “Câu gì ạ?” Ông ấy nói ông biết rằng khi một nguyên tử chuyển từ một trạng thái này qua một trạng thái khác thì nó phát ra một “hạt” ánh sáng gọi là “photon”. Tôi trả lời “Dạ đúng”. Ông nói tiếp “Vậy hỏi con là liệu cái hạt photon kia có tồn tại trong nguyên tử từ trước không? Tôi trả lời “Dạ không có, chỉ đúng vào lúc nguyên tử chuyển trạng thái thì photon mới xuất hiện”. Bố tôi liền hỏi – “Vậy thì photon kia từ đâu đến, nó xuất hiện thế nào?” Đến đây thì tôi không thể nói kiểu sách vở như “Theo lý thuyết thì số hạt photon không bảo toàn, và chúng được tạo ra từ những chuyển động của electron.” Tôi cũng không thể giải thích kiểu dân dã như: cái âm thanh mà con nói ra thực ra không nằm trong người con. Hay là giống như khi tôi đang nói đến một từ “mèo” thì ngừng lại vì cái giỏ từ trong tôi đã hết sạch từ “mèo” (cười lớn). Tức là không hề có một cái giỏ từ nào trong bất cứ ai trong chúng ta, khi nói là bạn tạo ra nó tự nhiên mà thôi. Tương tự vậy, không hề có một giỏ photon trong nguyên tử để từ đó mà photon được phát ra. Tôi không thể giải thích được hơn thế và dĩ nhiên là bố tôi không hài lòng. Ông bảo “tao không hiểu mới cho mày đi học đại học, tưởng thế nào mày về giảng lại cũng chả hơn gì” (cười lớn).      Phần thưởng là niềm vui khi tìm ra những điều mới, khi dấn thân vào khám phá và nghiên cứu, và khi nhìn mọi người dùng các khám phá của mình – đó mới là những cái thực, còn sự vinh danh thì không thực đâu. Tôi không tin vào sự vinh danh. Nó chỉ là tấm huân chương, là bộ trang phục mà thôi.      Được mời làm bom nguyên tử     (Cuối thời gian làm luận văn tiến sỹ, Feynman đã được mời tham gia dự án làm bom nguyên tử Mahattan do J. Robert Oppenheimer ở Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos dẫn dắt. Sau nhiều suy nghĩ, vào đầu năm 1943, Feynman chính thức tham gia dự án).    Đây là một điều cực kỳ đặc biệt. Tôi đã phải dừng hướng nghiên cứu của mình để chuyển sang làm một cái mà tôi nghĩ rằng cần thiết để bảo vệ nhân loại. Được chứ? Tôi đã phải đấu tranh với chính mình. Thoạt đầu, tôi không muốn dừng công việc hiện tại để làm cái quái quỷ này, nhưng sau đó tôi đã suy nghĩ nhiều về đạo đức trong chiến tranh. Tôi cảm thấy sợ khi nghĩ đến những gì trái bom có thể gây ra, nhưng rút cục nó đã thực sự xảy ra ở Hirosima và Nagasaki. Tuy nhiên lúc chúng tôi thực hiện dự án Mahattan, không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy là đối phương sẽ không làm được. Và do vậy tôi nghĩ cần phải tham gia.    Tôi có vài điều muốn nói về những vấn đề đạo đức. Đầu tiên khi bắt đầu chế tạo bom, người ta nói rằng người Đức đang là một mối nguy hiểm, và cần phải có trái bom này. Do vậy mọi nỗ lực đều hướng tới chế tạo trái bom kinh khủng nhất. Chúng tôi đã làm việc rất cật lực, cộng tác hết sức cho dự án này bởi nó bắt buộc phải thành công. Nhưng tôi cho rằng tôi đã sai bởi khi đó, Đức đã bị đánh bại. Lẽ ra thì tôi phải xem lại vì sao tôi tiếp tục tham gia, vậy mà tôi đã không nghĩ ra, vậy đó.     Thành công và chịu đựng     (Vào ngày 6/8/1945 khi trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima)     Phản ứng duy nhất mà tôi còn nhớ khi đó là chúng tôi như bất động – rồi một cảm giác rất kích động và bùng cháy, không thể làm chủ được. Có nhiều bữa tiệc, nhiều người uống say, thật là tương phản vô cùng với những gì đang diễn ra ở Hiroshima. Nơi tôi ở, mọi người phấn khích, nhiều người uống và say, ngồi trên những chiếc xe Jeep đánh trống và chạy khắp Los Alamos. Trong khi đó, bao người đang chết và khắc khoải ở Hiroshima.    Phản ứng của tôi rất bản năng. Do trái bom đã phát nổ, giống như những cú sốc tâm lý cực mạnh khác, ví dụ như mất đi một người thân chẳng hạn. Khi đó, tôi đang ngồi cùng mẹ tôi trong một nhà hàng ở New York. Khi điều đó xảy ra ở Hiroshima, tôi biết được trái bom đó có sức tác động như thế nào. Tôi ước tính giờ chúng tôi ở đường số 59, thì tức là nếu bom nổ ở đường số 34, mọi thứ từ đó đến chỗ này sẽ bị san phẳng, tất cả sẽ chết. Và sẽ không chỉ có một quả bởi người ta có thể dễ dàng làm ra những quả bom khác. Điều đó đã thay đổi một cách căn bản cách con người hành xử với nhau.    Tôi biết rằng con người sẽ khó thay đổi, và rồi có thể người ta sẽ lại sử dụng nó. Tôi cảm thấy phiền muộn mỗi khi nhìn mọi người xây dựng nên một cái gì đó, ví dụ ngay cả một cây cầu cũng vậy. Tôi vẫn thường nói “các anh không hiểu hết [hậu quả của nó] đâu”, bởi lẽ rồi trong nháy mắt, mọi thứ lại trở thành vô nghĩa và có thể bị phá hủy rất nhanh chóng. Nhưng rút cục không ai hiểu cả. Đó là một cảm giác rất thất vọng.     “Tôi không cần phải tốt bởi vì mọi người nghĩ rằng tôi sẽ tốt”     (Sau chiến tranh Feynman gia nhập nhóm nghiên cứu của Hans Bethe1 ở Đại học Cornell. Ông đã từ chối công việc ở Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton)      Nhà vật lý Richard Feymann trong lễ trao giải Nobel năm 1965. Nguồn: PrincetonGrad.  Mọi người đã nghĩ tôi sẽ rất hài lòng khi được mời vào một vị trí ở đó (Princeton), thực sự thì tôi không có hứng thú. Tôi đã nhận ra một nguyên tắc là tôi không cần phải có trách nhiệm với những gì người khác nghĩ tôi có thể làm; Tôi cũng không cần phải trở thành một người tốt theo cách người ta nghĩ là tốt [cho tôi]. Tôi cần phải cảm thấy thoải mái, nghĩ về bản thân, tôi cũng chưa làm được gì quan trọng và cũng sẽ không bao giờ làm cái gì đó quan trọng. Tôi chỉ thích Vật lý, Toán và tôi đã tập trung vào công việc đó thôi, những cái sau này giúp tôi nhận giải Nobel 2.     Giải Nobel có ý nghĩa gì?     (Feynman được trao giải Nobel Vật lý cho những công trình về điện động lực học lượng tử)    Công trình của tôi, cùng do hai nhà khoa học khác là Sinitiro Tomanaga ở Nhật và Julian Schwinger nghiên cứu độc lập, là tìm ra cách để điều khiển, phân tích và thảo luận một lý thuyết đã được tìm ra trước đó năm 1928 là lý thuyết lượng tử về điện và từ trường; làm sao lý giải nó để tránh những trường hợp có giá trị vô cùng; đưa ra tính toán để có được kết quả có thể kiểm chứng một cách chính xác bằng thực nghiệm. Và cuối cùng là lý thuyết điện động lực học lượng tử đã được hoàn thiện và kiểm chứng tốt với thực nghiệm đến từng chi tiết – nhưng không liên quan đến lực hạt nhân đâu. Đó là công việc chính tôi làm năm 1947 đã dẫn tới giải Nobel Vật lý.    [BBC: Công trình đó liệu có xứng đáng giải Nobel, theo ông?]    À (cười lớn) … Tôi không biết gì về giải Nobel cả. Tôi không biết nó có ý nghĩa gì và giá trị bao nhiêu. Chỉ là người ta ở trong Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển quyết định trao cho ông X, Y hay Z giải Nobel thì ông đó được thôi. Tôi không liên quan gì cả… đó thực sự là nỗi đau … (?). Tôi không thích những giải thưởng đâu. Tôi tôn trọng nó vì những công trình tôi đã làm, vì mọi người tôn trọng những công trình của tôi, và tôi biết là nhiều nhà vật lý dùng lý thuyết của tôi, thế thôi, không cần gì khác. Tôi không thấy có gì hơn khi mọi người trong Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển nhận ra những công trình đó xứng đáng được nhận giải – tôi đã có những phần thưởng đó rồi. Phần thưởng là niềm vui khi tìm ra những điều mới, khi dấn thân vào khám phá và nghiên cứu, và khi nhìn mọi người dùng các khám phá của mình – đó mới là những cái thực, còn sự vinh danh thì không thực đâu. Tôi không tin vào sự vinh danh, nó làm phiền tôi, vinh danh thực sự làm phiền. Nó chỉ là tấm huân chương, là bộ trang phục mà thôi. Như bố tôi đã chỉ ra cho tôi điều đó mà. Tôi không thích, thực sự không thích (sự vinh danh).      Rốt cuộc với Feymann, niềm vui lớn nhất là được làm khoa học chứ không phải phần thưởng.   Khi tôi còn học trung học, một trong những phần thưởng đầu tiên tôi nhận được là được vào nhóm “Arista”, đó là một nhóm những học sinh được điểm cao. Và, dĩ nhiên, đứa nào chả muốn vào nhóm “Arista”. Và rồi khi ở trong nhóm tôi nhận ra rằng trong những buổi họp nhóm, chỉ có một việc duy nhất để làm là ngồi túm lại và bàn tán xem ai sẽ là người kế tiếp xứng đáng được gia nhập nhóm tinh tú của chúng ta. Và rồi cứ ngồi và suy nghĩ có đúng việc đó thôi. Những thứ kiểu này làm tôi bực bội và ức chế đến mức không hiểu nổi mình. Và từ ngày đó tôi rất dị ứng với những giải thưởng hay vinh danh. Khi tôi được trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, tôi xin rút ngay bởi vì nó y chang như vậy. Một tổ chức chỉ để tụ họp lại và bàn xem ai sẽ là người xứng đáng được gia nhập tổ chức trọng vọng của chúng ta. Có những chuyện kiểu như những nhà Vật lý chúng ta cần phải đoàn kết lại bởi họ đang có một ứng viên ngành Hóa khá tốt, nếu để hắn vào thì bên này không còn nữa, v.v.. Hóa thì sao nào? Tất cả chỉ để quyết định xem ai được vào nhóm tinh tú – thật là vô nghĩa, đúng không? Tôi không thích danh hiệu chút nào.□     Nguyễn Quang dịch  —  1. (Sinh năm 1906-) Nhận giải Nobel Vật lý năm 1967 cho các công trình về lý thuyết phản ứng hạt nhân, đặc biệt là những khám phá về năng lượng sản sinh trong những ngôi sao.  2 Năm 1965, giải Nobel Vật lý được trao cho Richard Feynman, Julian Schwinger và Sin-Itiro Tômnaga cho các công trình cơ bản về điện động lực học lượng tử và những hệ quả quan trọng của nó trong vật lý hạt cơ bản.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robert Malone, Nhà khoa học lan truyền thông tin sai lệch về vaccine      Lời tòa soạn: Trên các hội nhóm chống vaccine của Việt Nam gần đây đã thi nhau dẫn lời của Robert Malone, được mệnh danh là cha đẻ của vaccine mRNA. Robert Malone phản đối việc tiêm chủng toàn dân Pfizer/BioNTech và Moderna, gọi đây là sản phẩm “thí nghiệm” và chỉ trích kịch liệt FDA (cơ quan cấp phép thuốc của Mỹ).  Thực sự Malone có phải là người ta tạo ra vaccine mRNA hay không? Điều gì khiến ông lại phủ nhận vaccine này đến thế? Bài viết trên tạp chí The Atlantic về câu chuyện đằng sau nhà khoa học này, về những ấm ức, ghen tị và cả những cảm xúc cá nhân đã biến ông trở thành “miếng mồi ngon” cho phong trào anti-vaccine trên thế giới.      Robert Malone – một bác sĩ y khoa và một nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm – gần đây đã gợi ý rằng vaccine Pfizer và Moderna thực sự có thể làm cho COVID-19 trở nên tồi tệ hơn. Ông ta thậm chí còn cười khúc khích khi tưởng tượng Anthony Fauci (chuyên gia bệnh truyền nhiễm hàng đầu của Mỹ) thông báo rằng chiến dịch tiêm chủng diện rộng thực ra là một sai lầm lớn và cần phải bị dừng lại. Khi ông ta nói về viễn cảnh khủng khiếp đó trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Steve Bannon, cả hai người đàn ông gần như tỏ ra vui mừng trước cảnh tượng các quan chức y tế công cộng và các công ty dược phẩm phải nhận được hậu quả thích đáng cho những gì họ đã làm. “Đây là một thảm họa,” Bannon tuyên bố, tươi cười với vị khách của mình. “Bạn đang nghe điều này từ người đã phát minh ra mRNA [vaccine] và đã cống hiến cả cuộc đời của mình cho vaccine. Anh ta hoàn toàn không giống với một anti-vaxxer (người chống lại vaccine)”.  Trước khi chúng đi xa hơn, cần phải nhấn mạnh rằng những gì Bannon và Malone vừa tạo dựng là dựa trên những thông tin sai lệch. Các loại vaccine đã nhiều lần được chứng minh về khả năng giúp ngăn ngừa việc nhiễm coronavirus có triệu chứng và giảm mức độ nghiêm trọng của chúng. Malone đã nói về một câu bịa đặt trong một bài báo đăng trên USA Today, dù đã được xóa nhưng trước đó nó đã được chụp màn hình và lan truyền rộng rãi. Kiểu thổi phồng thái quá và nói chuyện thiếu logic đó đích thị là cách mà những buổi phỏng vấn kiểu như Bannon vừa thực hiện, với một loạt thông điệp nghe quen đến phát nản: Vaccine gây ra nhiều tác hại hơn các chuyên gia đã công bố; Fauci là một kẻ nói dối và có thể là một kẻ phát xít; và các phương tiện thông tin chính thống đang hoặc đồng lõa một cách đáng xấu hổ hoặc quá ngu ngốc để tìm hiểu điều gì đang thực sự xảy ra.  Trong vũ trụ truyền thông đen tối đó, Robert Malone chính là một ngôi sao đang lên, một siêu phẩm. Vài tháng trước, ông bắt đầu xuất hiện trên các podcast và chương trình tin tức truyền hình cáp, với tư cách là một chuyên gia khoa học, lập luận rằng quá trình phê duyệt vaccine đã quá gấp rút một cách thiếu thận trọng. Ông nói với Tucker Carlson rằng công chúng không có đủ thông tin để quyết định có nên tiêm vaccine hay không. Ông nói với Glenn Beck rằng việc đưa ra các ưu đãi cho việc tiêm vaccine là phi đạo đức. Ông nói với Del Bigtree, một nhà hoạt động chống vaccine, người phản đối việc tiêm chủng phổ biến ở trẻ em, rằng chưa có nghiên cứu đầy đủ về cách vaccine có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản của phụ nữ. Hết chương trình này đến chương trình khác, Malone, người đã nhanh chóng thu hút hơn 200.000 người theo dõi trên Twitter, tỏ ra nghi ngờ về tính an toàn của vaccine trong khi chỉ trích những gì ông ta coi là nỗ lực kiểm duyệt bất đồng.  Ở bất cứ nơi nào ông ta xuất hiện, Malone được coi là người phát minh ra vaccine mRNA. Thông tin này thậm chí còn xuất hiện trên Twitter của ông. Malone, hiện 61 tuổi, cho biết: “Tôi thực sự đã phát minh ra công nghệ mRNA khi tôi 28 tuổi”. Nếu điều đó là sự thật — hoặc hơn thế nữa, nếu Malone tin đó là sự thật — chúng ta có lẽ đã trông đợi một cách ứng xử rất khác của Malone trên truyền thông. Theo một nghiên cứu gần đây, chính phát minh mà Malone tự cho là của mình đã cứu sống hàng trăm nghìn sinh mạng chỉ riêng ở Hoa Kỳ; có người còn khẳng định rất có thể giải Nobel sẽ sớm được dùng để vinh danh các cá nhân đằng sau loại vaccine này.  Thành tựu ở mức đó rất hiếm các nhà khoa học từng nhận được trước đây. Tuy nhiên, thay vì cư xử như một người thắng cuộc, Malone lại nổi tiếng như một trong những người chỉ trích mạnh mẽ nhất về thành tích đáng nể đó. Ông đã gieo rắc nghi ngờ về vaccine Pfizer và Moderna trên khá nhiều podcast hoặc kênh YouTube.  Tại sao người tự nhận đã phát minh ra vaccine mRNA lại rất nỗ lực trong việc phá hủy danh tiếng của chúng?  Liệu Malone có thực sự là cha đẻ của vaccine mRNA hay không là một câu hỏi có lẽ tốt nhất nên để ủy ban trao giải thưởng của Thụy Điển trả lời. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nỗ lực để hiểu thêm phần nào. Khi tôi gọi cho Malone tại trang trại ngựa của ông ở Virginia, ông đã gửi cho tôi một bài luận dài 6000 chữ mà vợ ông, Jill, viết để giải thích lý do tại sao ông xứng đáng là người khám phá chính của vaccine mRNA. “Đây là một câu chuyện về sự hám lợi trong học thuật và thương mại,” và rồi bài luận tiếp tục với giọng điệu quả quyết, thậm chí có những chữ viết hoa toàn bộ như để xả cơn giận không kiềm chế nổi. Jill mô tả chồng bà là một nhà khoa học thiên tài, người mà “không được phần lớn giới khoa học biết đến vì bị các cá nhân lạm dụng để đảm bảo vị trí của mình trong sử sách”.      Ông ta đã ném cơ hội giành được giải Nobel qua cửa sổ rồi.      Một phiên bản ngắn gọn hơn của câu chuyện này bắt đầu khi Malone là sinh viên tốt nghiệp ngành sinh học vào cuối những năm 1980 tại Viện Nghiên cứu Sinh học Salk, ông đã tiêm vật liệu di truyền – DNA và RNA – vào tế bào của chuột với hy vọng tạo ra một loại vaccine mới. Ông là tác giả đầu tiên của bài báo năm 1989 chứng minh cách RNA có thể được đưa vào tế bào bằng cách sử dụng lipid, về cơ bản là những hạt mỡ nhỏ, và là đồng tác giả của bài báo Khoa học năm 1990 cho thấy rằng việc tiêm RNA hoặc DNA tinh khiết vào tế bào cơ chuột có thể dẫn đến việc phiên mã các protein mới. Nếu phương pháp tương tự có hiệu quả với tế bào người, công nghệ này “có thể cung cấp các phương pháp tiếp cận thay thế để phát triển vaccine”.  Theo Rein Verbeke, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Ghent, Bỉ, và là tác giả chính của lịch sử phát triển vaccine mRNA năm 2019, hai nghiên cứu này thực sự đại diện có tầm quan trọng trong lĩnh vực chuyển gene. (Thật vậy, các nghiên cứu của Malone là hai tài liệu tham khảo đầu tiên trong bài báo của Verbeke, trên tổng số 224.) Verbeke tin rằng Malone và các đồng tác giả của ông đã “lần đầu tiên làm dấy lên hy vọng rằng mRNA có thể có tiềm năng như một loại thuốc mới, “dù Verbeke khẳng định thành tựu của vaccine mRNA ngày nay là thành quả của rất nhiều nỗ lực hợp tác”.  Malone cho rằng bản thân xứng đáng được ghi nhận vì nhiều điều hơn là chỉ “dấy lên hy vọng”. Ông bỏ học vào năm 1988, trong khi chỉ còn thiếu việc nhận bằng Tiến sĩ, và đến làm việc tại một công ty dược có tên Vical. Bây giờ ông tuyên bố rằng cả Viện Salk và Vical đều thu lợi từ công việc của ông và về cơ bản đã ngăn cản ông tiếp tục theo đuổi nghiên cứu của mình. (Người phát ngôn của Viện Salk nói rằng không có gì trong hồ sơ của viện chứng minh những cáo buộc của Malone. Công ty công nghệ sinh học mà Vical được sáp nhập, Brickell, đã không trả lời yêu cầu bình luận.) Sẽ thật không đủ nếu chúng ta nghĩ rằng Malone chỉ đơn giản là bất bình với những gì ông coi là không công bằng trong cách đối xử. Malone bức xúc đến mức ông gọi những gì đã xảy ra là “hiếp dâm trí tuệ”.  Một trong những người mà Malone nhắm tới chính là nhà hóa sinh Katalin Karikó, người được nhiều tờ báo nhắc tới với tư cách là “người tiên phong về vaccine mRNA”. CNN gọi công trình của bà là “cơ sở cho vaccine Covid-19” trong khi một dòng tiêu đề trên tờ New York Times cho rằng chính bà đã “giúp bảo vệ thế giới khỏi virus coronavirus”. Không ai trong số những câu chuyện đó đề cập đến Malone. “Tôi đã bị xóa tên khỏi lịch sử,” ông nói. Tất cả đều về Kati.” Karikó đã chia sẻ với tôi một email từ Malone vào tháng sáu, cáo buộc bà cung cấp thông tin không có thật cho các phóng viên và thổi phồng thành tích của bản thân. “Chuyện này sẽ không kết thúc tốt đẹp đâu,” thông điệp của Malone viết.  Karik, ngược lại, khẳng định bà chưa nói với ai rằng bà ấy là người phát minh ra vaccine mRNA và rằng “nhiều nhà khoa học” đã đóng góp vào thành công của nó. Bà trả lời bức thư từ Malone: “Tôi chưa bao giờ tuyên bố bất cứ cái gì ngoài việc khám phá ra cách làm cho RNA bớt phản ứng viêm hơn. Bà cho biết, Malone tự gọi mình trong email là “người cố vấn” và “ người huấn luyện ” của bà, mặc dù trên thực tế họ mới gặp trực tiếp một lần, vào năm 1997, khi Malone mời bà nói chuyện. Theo Karikó, chính Malone mới là người đã phóng đại thành tích của mình. Có “hàng trăm nhà khoa học đã đóng góp nhiều hơn ông ấy trong việc phát triển vaccine mRNA”, Karikó cho biết.  Malone khẳng định lời cảnh báo với Karikó rằng “chuyện này sẽ không kết thúc tốt đẹp” không nhằm mục đích đe dọa. Thay vào đó, ông chỉ đơn giản là đang gợi ý rằng sự phóng đại của bà sẽ sớm bị phơi bày. Malone coi Karikó như một nhà khoa học đang đứng trên vai ông và nhận lấy tất cả những lời khen ngợi. Còn những người khác đã nhận được khoảng thưởng xứng đáng vì công trình nghiên cứu vaccine mRNA của họ. (Karikó là Phó chủ tịch cấp cao của BioNTech, công ty đã hợp tác với Pfizer để tạo ra vaccine COVID-19 đầu tiên được phép sử dụng vào năm ngoái.) Malone không hề sống trong cảnh nghèo khó: ngoài việc là một bác sĩ. Ông còn từng là nhà tư vấn vaccine cho các công ty dược phẩm.  Tuy nhiên, ông thường xuyên sa vào những suy đoán gây hiểu lầm hoặc rõ ràng là sai sự thật. Ví dụ, gần đây ông đã tweet rằng, theo một “nhà khoa học Israel” giấu tên, Pfizer và Chính phủ Israel đã có một thỏa thuận không tiết lộ thông tin về các tác động bất lợi trong 10 năm. Điều này thật khó tin vì bộ y tế nước này vừa mới cảnh báo về mối liên hệ giữa việc tiêm Pfizer và các trường hợp viêm cơ tim hiếm gặp. Tài khoản LinkedIn của Malone đã hai lần bị tạm ngưng vì được cho là phát tán thông tin sai lệch.  Nhưng phát ngôn của ông còn dựa trên những cảm xúc, trải nghiệm cá nhân. Malone mắc Covid vào tháng 2/2020, và sau đó tiêm vaccine Moderna với hy vọng rằng nó sẽ làm giảm các triệu chứng bệnh kéo dài của ông. Giờ đây, ông tin rằng những mũi tiêm đã làm cho các triệu chứng của ông trở nên tồi tệ hơn: Ông vẫn bị ho và đang phải đối phó với chứng tăng huyết áp, giảm khả năng chịu đựng, cùng những bệnh khác. “Cơ thể của tôi sẽ không bao giờ được như trước,” ông nói với tôi.  Trong những lần xuất hiện trên phương tiện truyền thông, ông thường lưu ý rằng còn có các đồng nghiệp trong chính phủ và tại các trường đại học, những người đồng tình với ông và luôn ngầm cổ vũ ông. Tôi đã nói chuyện với một số người trong số này – các nhà khoa học vaccine và tư vấn công nghệ sinh học, do chính Malone đề xuất – và đó không phải là những gì họ nói với tôi. Bức chân dung họ vẽ về Malone là một nhà nghiên cứu sâu sắc nhưng có thể trở nên cứng đầu. Đó là bởi ông từng bị đá khỏi các dự án vì quá khó trao đổi và không chấp nhận thỏa hiệp. (Malone cũng thừa nhận tính cách thích đối đầu với các đồng nghiệp của mình). Các đồng nghiệp cũ đều kinh ngạc bởi sự nổi lên của ông như một người hoài nghi vaccine. Một người gọi sự phấn khích của Malone khi xuất hiện trên các podcast kém uy tín là “ngây ngô”, người khác thì nghĩ rằng luận điệu công khai của Malone đã “chuyển từ ngoại suy sang khẳng định giật gân.” Stan Gromkowski, một nhà miễn dịch học tế bào, người đã nghiên cứu vaccine mRNA vào đầu những năm 1990 và coi Malone như một nhà tiên phong không được đánh giá cao, đã nói như thế này: “Ông ta đã ném cơ hội giành được giải Nobel qua cửa sổ rồi”.  Chỉ trong thế giới tò mò của các phương tiện truyền thông phi chính thống, Malone mới tìm thấy sự công nhận mà ông đã tìm kiếm bấy lâu nay. Ông hào hứng nói chuyện với những người dẫn chương trình, những người sẽ không đặt câu hỏi liệu ông có phải là bộ não đằng sau Pfizer và Moderna hay không. Họ sẽ không phân minh về việc liệu có nên chia sẻ hào quang với các đồng tác giả, hay nói về cách khoa học giống như một cuộc chạy đua tiếp sức, hoặc chỉ ra rằng, nếu không có công sức của các nhà nghiên cứu xuất sắc đến trước và sau Malone, thì sẽ không có vaccine. Ông là người đưa ra danh sách khách mời điển hình gồm các bác sĩ chỉnh hình và các bác sĩ chuyên khoa tự nhiên, và họ hoàn toàn vui lòng chào đón ông bằng danh hiệu mà ông ta tin rằng mình đã đạt được: nhà phát minh ra vaccine mRNA.  Malone cuối cùng đã ghi dấu ấn của mình, bằng cách làm suy yếu niềm tin vào chính loại vaccine mà ông nói rằng sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự thiên tài của chính ông. Đó là một chiến thắng, nhưng là một chiến thắng mà ông ta và những người còn lại có thể sẽ phải hối tiếc.□     Hạnh Duyên dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2021/08/robert-malone-vaccine-inventor-vaccine-skeptic/619734/    Author                Tom Bartlett        
__label__tiasang RoboCup 2006      Đến năm 2050, để thực sự khẳng định được ngôi vị của mình thì có lẽ đội vô địch World Cup còn cần phải vượt qua một đối thủ đặc biệt nữa – một đội bóng gồm toàn robot, ít ra thì đó cũng là lời dự đoán đầy hào hứng của Liên đoàn RoboCup. Đây là liên đoàn được thành lập để chuyên tổ chức những giải vô địch thế giới dành cho các cỗ máy.    Trong năm 2006 này, giải RoboCup cũng đã được tổ chức tại Bremen, Đức, song song với World Cup. Đây là thứ 10 một cuộc tranh tài dành cho các robot được tổ chức, lần đầu tiên là vào năm 1997 ở Nagoya, Nhật Bản, sau đó giải vô địch lần lượt được tổ chức ở các nước Ý, Hàn Quốc và Bồ Đào Nha.       “Sau 50 năm nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, người ta đã thấy rằng bóng đá là một môi trường thử nghiệm còn tốt hơn cả đấu cờ. Chúng tôi đã đạt được một sự tiến bộ đáng tự hào với RoboCup lần thứ 10 này”, Hans-Dieter Burkhard, phó chủ tịch liên đoàn RoboCup nói.                     Kể từ giải RoboCup đầu tiên, các đề án giáo dục và nghiên cứu trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo cũng như tự động hóa đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Cuộc thi năm nay được tổ chức từ 14 đến 20 tháng 6, đã thu hút hơn 440 đội với 2500 người tham gia đến từ 40 nước. Trong đó chỉ có 33 đội được lọt vào vòng trong. Các nội dung thi đấu bao gồm các cuộc thi Robot giải cứu, RoboCup thiếu niên, thi đấu bóng đá mô phỏng, với sự tham gia của các robot cỡ nhỏ, cỡ vừa, robot bốn chân, robot dạng người, robot cứu hộ.  Đồng trưởng ban tổ chức Ubbo Visser ở Đại học Bremen nói rằng họ đã chuẩn bị cho sự kiện này từ năm 2003: “Đây là một sự kiện vui vẻ, mọi thứ đã diễn ra rất trơn tru và đâu vào đấy”.  Tuy nhiên, theo Visser thì cũng đã có những trục trặc kỹ thuật làm một số đội phải điên đầu, “chỉ cần một module bị trục trặc thì cả con robot sẽ không thể hoạt động được, vì thế một trong những nỗi lo lớn nhất của các nhà khoa học là một bộ phận nào đó bị hỏng”. Ông cũng nói thêm rằng: “trong suốt giải đấu, các đội đã không ngừng phát triển và cải thiện những phần mềm điều khiển của mình”.  Nhưng thách thức lớn nhất chính là làm thế nào để các robot có thể tự xoay sở được trong môi trường thi đấu thực sự. Tiến sỹ Peter Stone ở Đại học Texas nói rằng những thách thức mới về điều kiện môi trường đã buộc các đội phải nỗ lực cải tiến công nghệ, chẳng hạn như tìm ra các giải pháp xử lý hình ảnh để sao cho các robot có thể sử dụng được cả những quả bóng đen trắng hoặc được chiếu sáng tự nhiên chứ không phải chỉ những quả bóng màu da cam.                  Stone cũng là một người quản trị của RoboCup, đồng thời là người sáng lập và trưởng nhóm của đội bóng robot Austin Villa. Theo như Stone thì nội dung thi đấu bóng đá dành cho các robot 4 chân của Sony năm nay đã có những thay đổi tích cực: sân bóng lớn hơn, nhiều robot hơn và có các tường chắn để bóng bật lại. “Nên có những trận đấu được điều khiển nhiều hơn… và cần khuyến khích các đội có nhiều đổi mới hơn”, ông nói. “Giải vô địch này cũng đem lại cho chúng ta một cách tiếp cận tốt để tìm hiểu về chiến thuật trong bóng đá”, Stone cũng nhấn mạnh rằng, chính bóng đá đã giúp các nhà khoa học thử nghiệm những robot của mình, “có những con người sáng tạo nhất đang tham gia cuộc thi này, họ đang cực kỳ khát khao chiến thắng”.  “Giải thi đấu này vui vẻ nhiều hơn là căng thẳng”, Stone cũng nói thêm, “chưa có lúc nào mà giới trí thức khoa học lại có thể nhảy nhót và hò hét cuồng nhiệt như lúc này. Có rất nhiều sự hào hứng và những mối quan hệ cởi mở, thân thiết, sự kiện này đã góp phần xây dựng nên một cộng đồng mới, mở ra một tương lai mới của khoa học”.  Sau năm ngày tưng bừng với những trò chơi bóng đá, giải cứu và nhảy múa, RoboCup 2006 đã bế mạc ở trung tâm triển lãm Bremen. Những đội của Đức đã đạt được kết quả mỹ mãn với giải nhất toàn đoàn: 11 trong số 33 chiếc huy chương vàng quý giá đã ở lại Đức. Đứng ở vị trí thứ hai là Trung Quốc với 9 huy chương vàng, vị trí thứ ba là Nhật Bản với 6 huy chương, Iran xếp vị trí thứ tư vì giành được 5 huy chương. Vị trí thứ nhất và thứ hai của Giải Bốn Chân – giải rất được công chúng ưa thích đều thuộc về các đội đến từ Australia. Robot dạng người xuất sắc nhất chính là Robot Trẻ em nói tiếng Nhật đến từ Osaka.           RoboCup 2007 sẽ được tổ chức ở Atlanta (Mỹ) từ ngày 1/7 đến 10/7, trưởng ban tổ chức sẽ là Phó giáo sư Tucker Balch ở trường Georgia Tech, ông có những nghiên cứu về các robot tự động, các robot động vật có tính tổ chức xã hội và những nhóm nhiều robot. Balch nói: “Điều thú vị nhất là bạn quan sát những con robot và bạn cảm thấy dường như chúng đang sống thực sự. Chúng tôi đang tập trung phát triển những phần mềm trí tuệ nhân tạo tiên tiến nhất, các robot sẽ là tự động và có khả năng nhận thức môi trường của chúng tốt hơn. Một nhóm robot sẽ phức tạp hơn là một robot riêng lẻ, những con robot trong một nhóm sẽ có những khả năng giao tiếp với nhau bằng việc sử dụng các tín hiệu số được truyền không dây”.          Trần Trung tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot 6 bậc của Việt Nam      Viện Cơ học thuộc Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam  vừa chế tạo thành công “Tay máy 6 bậc tự do” – eRobot, phục vụ đào tạo  và định hướng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp và đời sống.    “Tay máy 6 bậc tự do” – eRobot là một bộ phận “chấp hành” quan trọng đáp ứng được yêu cầu cao về độ tin cậy, độ chính xác, khả năng phối hợp, khả năng tự ứng xử thông minh, đa ứng dụng, đặc biệt là khả năng đáp ứng được thời gian thực.  Với bậc tự do ≥ 6, eRobot có thể chuyển động đa hướng với các “khớp” xoay trở linh hoạt, chính xác, đạt mức khéo léo, được các nhà công nghệ trong nước đánh giá cao.  eRobot gồm tủ điều khiển, 6 cơ cấu chấp hành và cơ cấu thao tác cuối của robot. eRobot có tầm với lớn nhất trong bán kính 600mm (toàn hướng) với độ chính xác vị trí ± 2mm, độ chính xác lặp là ± 2mm.  eRobot có thể thực hiện thao tác “nắm”, “gắp” và di chuyển đối tượng có khối lượng tới 0,5kg,  thực hiện động thái hàn điểm như người thợ… theo thời gian thực.  ThS Đỗ Trần Thắng cùng các cộng sự ở Viện Cơ học cho biết phần mềm điều khiển eRobot được các nhà khoa học Viện Cơ học viết bằng ngôn ngữ Visual C++, có giao diện thân thiện với người sử dụng, tích hợp công nghệ đồ họa 3D OpenGL. Hệ thống được kết nối với các bộ điều khiển qua cổng COM theo chuẩn RS232. Các nhà khoa học đã sử dụng và phát triển các thuật toán điều khiển, động học, động lực học, xử lý tín hiệu, truyền thông có tốc độ xử lý cao và tin cậy (tất cả đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm).  Qua nhiều thực nghiệm, eRobot đã khẳng định tính linh hoạt trong vận hành, động tác tinh vi, nhanh và chuẩn xác. Nhờ vậy bên cạnh ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, đào tạo, eRobot còn mở rộng tính năng kết nối từ xa và còn có tác dụng lớn khi phát triển các robot trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng phi tuyền thống như: Tìm kiếm cứu nạn, trinh sát nơi khắc nghiệt như ô nhiễm hóa chất, phóng xạ, cấp cứu thảm họa, rà phá bom mìn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot biết nhảy có thể làm việc nhà      Các nhà khoa học ở Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc vừa chế tạo ra một con robot có hình dáng và tính cách của con người, có thể nhảy, thể hiện cảm xúc và làm việc nhà.    Mahru có thể mấp máy môi, nhướng mày, thậm chí liếc mắt, và tỏa ra hai mùi hương để thể hiện cảm xúc. Nó có thể lắc thân trên một cách dễ dàng khi đang di chuyển. Phát minh này tạo ra bước tiến trong việc sử dụng những con robot giống con người để làm việc nhà. Mahru được lập trình để bắt chước những cử chỉ, hành động của con người thông qua một hệ thống lưu giữ chuyển động tiên tiến. Nó có thể dễ dàng chuyển động bàn tay để xử lý những chướng ngại vật. Nhóm các nhà khoa học này cũng đã chế tạo ra con robot Mahru-M, có bộ cảm biến để nhận dạng khuôn mặt, đồ vật và phân phát đồ vật. Tuy nhiên, Mahru-M phải sử dụng hệ thống xe ba bánh để di chuyển. Hồng Thoa (Theo AFP)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot bơi trong tủy người      Một nhóm chuyên gia của Trung tâm công nghệ Haifa (Israel) đã chế tạo thành công một robot có hai đuôi cực nhỏ. Loại robot này nhỏ đến mức nó có thể được cấy vào tủy xương của người và một bộ động cơ đẩy sẽ cho phép robot chu du trong tủy.    Hiện các chuyên gia đang nghiên cứu chế tạo một máy chụp ảnh đủ nhỏ để gắn vào robot. Nếu toàn bộ công trình thành công, loại robot trên có thể trở thành một trợ thủ đắc lực cho con người trong việc chữa trị các bệnh liên quan đến tủy. Chủ nhiệm dự án này là tiến sĩ Moshe Shoham, người từng chế tạo thành công loại robot hỗ trợ các ca phẫu thuật tủy phức tạp  C.M.L. (THX)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot chẩn đoán ung thư      Các nhà khoa học tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ) đã chế tạo ra một loại robot có thể giúp lấy sinh thiết của các khối u ung thư và chẩn đoán bằng hình ảnh qua máy MRI (máy quét cộng hưởng từ).    Robot này có động cơ mang tên PneuStep (ảnh) được làm bằng nhựa, cao su và gốm. Nó có thể hoạt động trong từ trường do máy MRI phát ra. Theo các nhà khoa học, động cơ này có thể được điều khiển bằng máy vi tính nên di chuyển đều đặn và chính xác hơn so với tay người trong việc lấy sinh thiết của khối u. “Robot của chúng tôi có thể tiếp cận các khối u. Điều này sẽ tăng độ chính xác trong việc xác định vị trí và thu thập mẫu mô, giảm sai sót trong chẩn đoán và cải thiện việc điều trị ung thư”, Báo Science Daily dẫn lời giáo sư D.Stoianovici tại Đại học Johns Hopkins cho biết.  H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot có thể phát hiện khi nào con người thực sự cần giúp đỡ      Robot đang xuất hiện ngày càng nhiều trong thế giới thực của chúng ta, nhưng liệu chúng có thể phối hợp hiệu quả với con người? Bên cạnh việc giao tiếp với con người và hỗ trợ họ trong các công việc hằng ngày, giờ đây robot thậm chí có thể cân nhắc xem liệu sự trợ giúp của mình cho con người có thực sự cần thiết hay không.      Robot giám sát ánh mắt và giọng nói của người dùng để xác định thời điểm cần giúp đỡ khi người đó chuẩn bị nướng bánh quy. Ảnh: Wilson, Aung & Boucher.     Các nhà khoa học tại Đại học Franklin & Marshall gần đây đã nỗ lực phát triển các công cụ tính toán có thể nâng cao hiệu suất của các robot hỗ trợ xã hội, bằng cách cho phép chúng xử lý các tín hiệu xã hội của con người và đưa ra phản hồi tương ứng. Trong một bài báo được xuất bản ở dạng tiền ấn phẩm lên arXiv trong khi chờ bình duyệt và được trình bày tại hội nghị chuyên đề AI-HRI 2021 vào tuần trước, họ đã giới thiệu một kỹ thuật mới cho phép robot tự động phát hiện đâu là thời điểm thích hợp để chúng bước vào và trợ giúp người dùng.     “Tôi khá hứng thú với việc thiết kế các loại robot hỗ trợ mọi người thực hiện các công việc hằng ngày, chẳng hạn như nấu bữa tối, học toán hoặc lắp ráp đồ nội thất Ikea”, Jason R. Wilson, một trong những nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu, chia sẻ với TechXplore. “Tôi không có ý để robot làm thay con người toàn bộ phần việc, mà chúng chỉ đóng vai trò hỗ trợ con người, đặc biệt là vào những lúc chúng ta không có đủ người để hoàn thành một việc nào đó.”     Wilson tin rằng khi một robot giúp con người hoàn thành nhiệm vụ được giao, nó nên làm điều đó một cách ‘đàng hoàng’. Nói cách khác, ông cho rằng lý tưởng nhất là robot nên có độ nhạy cảm, tôn trọng phẩm giá và quyền tự chủ của người dùng.      Trong công trình gần đây của mình, Wilson và các học trò của ông là Phyo Thuta Aung và Isabelle Boucher đặc biệt tập trung vào việc duy trì quyền tự chủ của người dùng. “Một trong những cách để robot hỗ trợ quyền tự chủ là đảm bảo rằng robot nhận ra sự cân bằng giữa việc giúp đỡ quá nhiều và quá ít”, Wilson giải thích. “Công trình trước đây của tôi đã xem xét các thuật toán để điều chỉnh lượng trợ giúp của robot dựa trên mức độ trợ giúp mà người dùng cần. Nối tiếp theo đó, nghiên cứu mới đây của chúng tôi tập trung vào việc ước tính mức độ trợ giúp mà người dùng cần.”     Khi con người cần trợ giúp với một nhiệm vụ nhất định, họ có thể trực tiếp yêu cầu hỗ trợ hoặc truyền đạt khéo léo rằng họ đang gặp khó khăn. Ví dụ: họ có thể đưa ra những nhận xét như “hừm, tôi không chắc” hoặc bày tỏ sự thất vọng thông qua nét mặt hoặc ngôn ngữ cơ thể của mình. Một chiến lược khác khó nhận thấy hơn mà con người thường sử dụng khi cần nhờ vả, đó là dùng ánh mắt.     “Ví dụ, một người có thể xem xét nhiệm vụ mà họ đang thực hiện, sau đó nhìn vào một người có thể giúp họ và sau đó nhìn lại nhiệm vụ,” Wilson nói. “Kiểu nhìn này, được gọi là ánh mắt xác nhận, nhằm ẩn ý yêu cầu người đối diện nhìn vào những gì họ đang nhìn, có lẽ vì họ không chắc liệu đánh giá của họ về nhiệm vụ có chính xác hay không.”     Với nghiên cứu này, Wilson, Aung và Boucher hướng đến mục tiêu cho phép robot tự động xử lý các tín hiệu liên quan đến ánh mắt theo những cách hữu ích. Kỹ thuật mà họ tạo ra có thể phân tích các loại tín hiệu khác nhau, bao gồm cả kiểu giọng nói và ánh mắt của người dùng.     “Cấu trúc mà chúng tôi đang phát triển sẽ tự động nhận dạng giọng nói của người dùng và phân tích nó để xác định xem người dùng có muốn hay cần sự hỗ trợ hay không”, Wilson phân tích. “Đồng thời, hệ thống cũng phát hiện cách dùng mắt của người dùng, xác định xem liệu họ có đang nhìn theo kiểu kêu gọi sự giúp đỡ.”     Trái với các kỹ thuật hướng đến tăng cường tương tác giữa người và robot, phương pháp này không yêu cầu thông tin về nhiệm vụ cụ thể mà người dùng đang hoàn thành. Điều này có nghĩa là nó có thể dễ dàng áp dụng cho các robot hoạt động trong các bối cảnh thế giới thực khác nhau và được đào tạo để giải quyết các nhiệm vụ đa dạng.     Mặc dù mô hình do Wilson và các đồng nghiệp của ông tạo ra có thể nâng cao trải nghiệm người dùng mà không cần đến thông tin cụ thể, chi tiết về nhiệm vụ, nhưng các nhà phát triển vẫn có thể cung cấp các thông tin này để nâng cao độ chính xác và mức độ hiệu quả của nó. Trong các thử nghiệm ban đầu, công nghệ này đã đạt được kết quả đầy hứa hẹn, vì vậy nó có thể sớm được đưa vào sử dụng trong thực tế để cải thiện hiệu suất của cả robot xã hội hiện có và robot xã hội thế hệ mới.     “Hiện chúng tôi đang tiếp tục tìm hiểu những tín hiệu xã hội nào sẽ cho phép robot xác định thời điểm người dùng cần trợ giúp và mức độ họ muốn được trợ giúp”, Wilson chia sẻ. “Một hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ quan trọng mà chúng tôi chưa sử dụng là biểu hiện cảm xúc. Cụ thể hơn, chúng tôi đang phân tích các biểu hiện trên khuôn mặt để xem khi nào người dùng cảm thấy thất vọng, buồn chán, bị ép buộc hoặc bị đòi hỏi.”     Hà Trang tổng hợp     Nguồn: A technique that allows robots to detect when humans need help  Enabling a Social Robot to Process Social Cues to Detect when to Help a User    Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot di chuyển trong cơ thể để chẩn đoán và chữa bệnh      Một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Trường ĐH Ritsumei-kan và nhiều công ty điện tử Nhật Bản, trong đó có Omron, đã chế tạo một nguyên mẫu robot thu nhỏ có khả năng di chuyển trong cơ thể nhằm chụp ảnh hoặc đưa thuốc vào điều trị tại chỗ.    Đây là kết quả nghiên cứu trong 3 năm trong khuôn khổ dự án kéo dài từ nay đến năm 2010.  Robot cân nặng 5g, có chiều dài 2cm, chiều rộng 1cm, thoạt đầu trông giống một con côn trùng. Nó được đưa vào cơ thể bệnh nhân qua một vết cắt nhỏ trên da nhằm chụp ảnh những bất thường trong cơ thể hoặc đưa một chất thuốc đến một vùng chính xác. Ngoài một camera bé xíu, robot còn tích hợp một bộ vi xử lý, một đèn diode chiếu sáng và các cảm biến khác nhau để di chuyển.  Nguyên mẫu hiện nay được thao tác qua một bộ điều khiển từ xa và truyền hình ảnh ra ngoài qua cáp. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu hy vọng robot chẩn đoán và điều trị này sẽ được trang bị một thiết bị truyền và phát không dây để có thể di chuyển mà không gặp trở ngại.  Robot có thể tiêu diệt dần các khối u được phát hiện ở bệnh nhân, giúp tránh các tác dụng phụ của liệu pháp hóa học hoặc liệu pháp phóng xạ.  Theo HTV (AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot gây tai nạn chết người      Theo bản tin ngày 1/7/2015 của Thời báo Tài  chính (Financial Times), vừa qua tại một nhà máy của Volkswagen ở gần  thành phố Kassel (Đức) đã xảy ra tai nạn một cán bộ kỹ thuật bị robot  giết chết.       Nạn nhân 21 tuổi khi đang cùng một đồng nghiệp làm việc trên robot thì bị nó đánh vào ngực rồi ép mạnh vào một tấm thép. Sau đó người này đã chết vì vết thương.    Cơ quan Kiểm sát đã mở cuộc điều tra vụ tai nạn.    Trong các nhà máy sản xuất ở phương Tây nói chung hiếm xảy ra án mạng có liên quan tới robot, vì các robot loại nặng đều được đặt trong lồng bảo vệ an toàn nhằm tránh ngẫu nhiên tiếp xúc với con người. Trong trường hợp này, nhân viên-nạn nhân nói trên lúc đó đang đứng bên trong lồng để làm việc. Đồng nghiệp của anh đứng bên ngoài lồng và không bị hề hấn gì.    Người phát ngôn của công ty Volkswagen cho biết robot gây tai nạn không thuộc vào thế hệ robot cộng tác loại nhẹ (lightweight collaborative robot), là loại được phép làm việc sát cánh với công nhân trên dây chuyền sản xuất và không cần đặt trong lồng an toàn. Chiếc robot này cũng chưa lần nào xảy ra trục trặc về kỹ thuật.    Hàng chục năm trước từng xảy ra những vụ thiết bị tự động gây ra tai nạn chết người, bắt đầu bằng vụ tai nạn trên dây chuyền lắp ráp ô tô hồi những năm 1970.     Sau khi xảy ra tai nạn chết người ở Volkswagen, nhiều người bắt đầu nghi ngờ về khả năng an toàn của robot. Viện Tương lai sự sống (Future of Life Institute) đã sử dụng số tiền 7 triệu USD do Elon Musk, Giám đốc Công ty ô tô điện Tesla, quyên góp để tiến hành nhiều dự án nghiên cứu nhằm tăng cường khả năng khống chế các thiết bị trí tuệ nhân tạo.    Nhân vụ robot gây án mạng, nhiều người đã đưa ra các kịch bản đen tối về tương lai của robot. Những người như Elon Musk, Bill Gates thì tỏ ý lo ngại về công nghệ robot, họ cho rằng robot có thể bị mất kiểm soát, dẫn đến hậu quả tiêu diệt loài người.     Tuy nhiên, nhờ trình độ tự động hóa được nâng cao mà tỷ lệ tai nạn chết người trong công nghiệp chế tạo ở châu Âu hoặc ở Mỹ đều thấp hơn so với các ngành khác.     Nói riêng ngành chế tạo ở Mỹ năm 2013, trong mỗi 100.000 nhân viên làm việc toàn thời gian có 2,1 người chết vì tai nạn lao động, giảm so với năm 2006 (2,7). Theo số liệu của chính phủ Mỹ, tỷ lệ tử vong trong công nghiệp thiết bị vận tải chỉ là 0,9 trên 100.000 nhân viên. Mức độ nguy hiểm khi làm việc trong các quán bar ở Mỹ cao gấp tám lần so với lĩnh vực công nghiệp chế tạo: tỷ lệ tử vong lên tới 16,4 ca trên 100.000 nhân viên.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot thăm dò Mặt trăng      Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Robot, ĐH Carnegie Mellon (Mỹ) đang nghiên cứu một robot thăm dò và khai phá Mặt trăng có tên gọi Scarab.      Môi trường trên Mặt trăng khá khắc nghiệt, ở cực Nam chỉ toàn bóng đêm với nhiệt độ -3850C. Theo kết quả thử nghiệm thì Scarab sẽ hoạt động hiệu quả và có thể cung cấp năng lượng điện cho 1 bóng đèn 100w. Nó có thể hoạt động nhiều tháng trong bóng đêm mà không cần năng lương mặt trời hay pin, thay vào đó sử dụng nguồn năng lượng đồng vị phóng xạ và các cảm biến laser năng lượng thấp. Các nhà nghiên cứu tính toán chế tạo Scarab nặng 250 kg nhằm đảm bảo cả 2 mục tiêu: di chuyển nhanh với hiệu suất cao và có khối lượng đủ lớn để tạo sự ổn định khi khoan. Nhiệm vụ của robot này là tìm các vị trí tập trung hydro và nước (nếu có) cũng như các chất dễ bay hơi trên Mặt trăng để tìm ra nguồn nhiên liệu trong tương lai cho các hoạt động sau này.   Minh Anh (Theo Science Daily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot thu hoạch rau      Ở thung lũng Salinas, “cái nôi trồng rau xanh của Hoa Kỳ”, robot thu hoạch đã được triển khai trên đồng ruộng.     Một robot bằng 20 lao động   Tích hợp các cảm biến, phần mềm nhận dạng hình ảnh thông minh với công nghệ định vị GPS có độ chính xác cao, Salad robot  – một thiết bị bằng kim loại được đặt trên bốn bánh xe gắn với một máy kéo được đưa ra những cánh đồng rộng bạt ngàn ở thung lũng Salina, vùng chuyên canh rau ở California, để thu hoạch những cây xà lách đã đến thời kỳ bán ra thị trường. Một Salad robot có thể thay thế 20 lao động thủ công trong việc thu hoạch có chọn lọc xà lách trên đồng ruộng.   Các loại robot phục vụ nông nghiệp còn cần thêm nhiều năm nữa để phát triển và hoàn thiện trước khi được sản xuất hàng loạt. Nhưng ở vùng chuyên canh rau quả phụ thuộc nhiều vào lao động nhập cư như thung lũng Salina, việc sớm sử dụng robot trong khâu thu hoạch giúp giải quyết khó khăn cơ bản về lao động.   Trong nhiều năm qua, nghiên cứu tự động hóa trong nông nghiệp đã bị sao lãng, do lực lượng lao động thủ công khá đông đảo và giới công đoàn luôn kình chống mọi nỗ lực hợp lý hóa sản xuất. Nhưng những năm gần đây, do thiếu lao động và chịu áp lực cạnh tranh khá lớn với nước ngoài nên các chủ trang trại bắt đầu tìm kiếm các loại thiết bị, máy móc thích hợp để giảm chi phí sản xuất và thoát tình trạng lệ thuộc vào thị trường lao động khá bấp bênh, đặc biệt đối với lao động thời vụ. Chính phủ ở California, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp thương mại, cùng đóng góp tài chính để xử lý vấn đề này. Tuy nhiên, những người đại diện cho lao động nông nghiệp lại phản đối và cho rằng: tự động hóa trong nông nghiệp cuối cùng sẽ dẫn đến thiếu việc làm. Các chủ trang trại sẽ sử dụng nhiều hơn thuốc bảo vệ thực vật, góp phần vào việc mất an toàn thực phẩm.   Con người vẫn hơn máy móc  Tự động hóa khâu thu hoạch quả tươi luôn là thách thức lớn nhất. Bên cạnh xác định độ chín của sản phẩm, robot còn phải có khả năng phân biệt lá cây với cành cây. Vì vậy, cho đến nay ở một số công đoạn, lao động thủ công vẫn làm việc này nhanh hơn và khéo léo hơn so với robot.       “Người lao động kết hợp mắt và tay vô cùng nhuần nhuyễn nên họ thu hái rất nhanh. Hiện tại, máy móc vẫn chưa thể thay thế con người cả về tốc độ cũng như hiệu quả kinh tế, phải mất một thời gian dài nữa mới có thể cải thiện tình trạng này,” ông Daniel L. Schmoldt của Viện Quốc gia về Thực phẩm và Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, nhận xét.  Các kỹ sư thuộc doanh nghiệp Agrobot của Tây Ban Nha ở California hiện đang phối hợp với các chủ trang trại thử nghiệm một loại máy thu hoạch dâu tây. Máy có 24 tay và được điều khiển bởi các cảm biến quang mà nhờ đó, robot có khả năng phân biệt quả dâu qua màu sắc, độ lớn và chất lượng. Sau khi thu hoạch, quả dâu được đưa vào băng chuyền và chỉ cần một lao động để đóng gói sản phẩm.  Các chuyên gia cho rằng, phải mất ít nhất mười năm nữa mới có thể thực hiện sản xuất hàng loạt và đưa ra thị trường các loại máy thu hoạch quả tươi kiểu này. Lupe Sandoval, Giám đốc Hiệp hội giới chủ trang trại, tin rằng, sẽ xuất hiện các loại máy tự động thu hoạch trái cây. Ông nói: “Con người đã lên được mặt trăng, thì không lẽ gì con người không làm ra được robot tự động thu hoạch hoa quả.”  XH dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Robot và AI tạo ra nhiều việc làm ở châu Á hơn là “cướp việc      Phân tích các nền kinh tế châu Á giai đoạn 2005 – 2015, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)* nhận ra rằng, việc áp dụng robot và những hệ thống kết nối khác đã kích thích sản xuất và tăng trưởng kinh tế, tạo ra 134 triệu việc làm mới trong khi chỉ làm mất đi 101 triệu việc làm.      Robot trong một triển lãm về trí tuệ nhân tạo tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Nguồn: China daily  Lạc quan vào khả năng tạo công việc mới  Hãy nhìn vào ngành ngân hàng, có thể thấy công nghệ mới chỉ hỗ trợ một vài công đoạn chứ không thể thay thế toàn bộ công việc, ví dụ máy rút tiền ATM không thể thay thế toàn bộ công việc của nhân viên giao dịch mà chỉ giúp họ quản lý mối quan hệ khách hàng được tốt lên. Trong khi đó, robot, trí tuệ nhân tạo và internet vạn vật đã tạo ra nhiều công ty mới, nhiều ngành sản xuất mới và dĩ nhiên là công việc mới, do đó đã tạo ra nhiều cuộc giao dịch qua ngân hàng hơn.  Cũng phải nói thêm rằng, công nghệ hiện đại trong ngành sinh học, y tế, dược phẩm… đã dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành nghề chăm sóc và điều trị sức khỏe cho con người theo cách mới – cá thể hóa dựa trên những kết quả phân tích về hệ gene mà cách đây nhiều năm chúng ta còn chưa thể hình dung, ví dụ như y học cá thể hóa, y học chính xác, y dược hệ gene… Yêu cầu về những ngành nghề mới này đòi hỏi ngành giáo dục phải kịp thời có được những chương trình, những khóa đào tạo mới để có được nguồn nhân lực kịp thời. Tạo ra những nghề nghiệp mới, bản thân công nghệ sẽ là giải pháp để giải quyết vấn đề thay thế con người trong công việc.  “Những loại công việc mới đã hình thành nhằm tiếp thu và điều hành các thiết bị công nghệ mới”, báo cáo của ADB chỉ ra. “Một phân tích chi tiết về chức danh nghề nghiệp ở Ấn Độ, Malaysia, và Philippines cho thấy 43 đến 57% công việc mới xuất hiện trong vòng 10 năm qua, chỉ tính riêng ngành công nghệ thông tin và truyền thông… Những xu hướng như vậy sẽ tiếp tục nở rộ”, báo cáo nhận xét.  Đan xen lạc quan và âu lo  Người ta vẫn thường nói đến sự thay thế con người của máy móc với các loại công việc đơn giản, ít cần kỹ năng phức tạp như dệt may, lắp ráp. Đó là việc có thể nhưng không phải bây giờ. Những số liệu của ADB cho thấy, ngay với điện tử và sản xuất ô tô là hai ngành công nghiệp sử dụng nhiều robot nhất với tỷ lệ 39%, thì số robot này cũng chỉ chiếm 13,4% tổng số lao động trong hai ngành này.  Ngược lại, tỷ lệ robot có mặt trong dây chuyền sản xuất của các nhà sản xuất hàng dệt may, thực phẩm và đồ uống cũng chỉ đạt 1,4%. ADB giải thích: “Điều đó phản ánh tính khả thi về mặt công nghệ và tiềm lực kinh tế. Vẫn cần phải tối ưu hơn nữa để gia tăng độ khéo léo của robot để chúng có thể khâu vải hoặc xử lý những chất liệu kim loại lớn”. Và có một nguyên nhân khác: mức lương thấp trong ngành dệt may và giày dép khiến các doanh nghiệp ít có động cơ sử dụng robot trong các dây chuyền sản xuất, trong khi các mặt hàng cao cấp lại đòi hỏi nhân công phải làm bằng tay nhiều.  Tuy nhiên về lâu dài, những người làm các công việc đơn giản và ít kỹ năng vẫn cần trang bị cho mình những kỹ năng làm việc tốt hơn hoặc chuyên sâu hơn, kể cả khi robot chưa thắng thế và thay thế công việc của họ bởi tiền lương từ những việc làm thông thường sẽ ngày càng thấp hơn và cũng bấp bênh hơn trong khi những việc làm mới đòi hỏi những kỹ năng mới, đồng thời có sự tham gia của tự động hóa, trí tuệ nhân tạo trong một số công đoạn của công việc cũng đòi hỏi người làm phải tự thích ứng với tình hình mới, phát triển những kỹ năng mới.  Để “chiến thắng” công nghệ?  Về cơ bản, công nhân với kỹ năng làm việc yếu có thể sẽ đứng trước nguy cơ mất việc. Theo báo cáo của ADB, “nếu không phát triển được những kỹ năng tương ứng với yêu cầu công việc mới hoặc không được đào tạo lại, họ thường phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thích nghi với công việc mà công nghệ mới tạo ra”.  Nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động trước sự “tấn công” của các loại hình công nghệ mới và giảm bớt bất bình đẳng xã hội, các chính phủ cần phải sẵn sàng đối mặt với các thách thức này bằng việc tạo điều kiện cho họ có được những kỹ năng làm việc mới, đủ khả năng khai thác những ưu điểm của công nghệ.  ADB khuyến cáo, điều này chỉ có thể thực hiện được bằng những chương trình hành động phối hợp sự tham gia của nhiều cơ quan chính phủ, nhiều tổ chức nghề nghiệp, trường đại học… để có thể phát triển kỹ năng, tăng cường các quy định làm việc, bảo trợ xã hội và phân phối thu nhập xã hội. Chính phủ cần áp dụng những công nghệ mới vào giáo dục cũng như mở ra nhiều dịch vụ công như các chương trình bảo trợ xã hội, hỗ trợ việc làm, hướng dẫn kỹ năng làm việc cho người lao động ở nhiều độ tuổi và nhiều ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi tự động hóa, trí tuệ nhân tạo… Bên cạnh đó, với sự tư vấn của các chuyên gia KH&CN, chính phủ chỉ nên ủng hộ phát triển những công nghệ mới có khả năng đem lại lợi ích cho con người, bảo vệ quyền lợi chính đáng và quyền riêng tư của họ.  Và rõ ràng, không chỉ ở châu Á mà các chính phủ khác trên thế giới cũng cần thiết phải cải cách chương trình giáo dục, thiết kế chương trình học mới ở các cấp để tăng cường kiến thức và kỹ năng mới cho học viên, không chỉ ở lứa tuổi đi học mà còn ở lứa tuổi trưởng thành – theo nghĩa này là một chương trình học tập suốt đời để có thể trao cho con người những cơ hội tốt nhất, những điều kiện tốt nhất để có thể chiến thắng các cỗ máy thông minh.  —-  * Báo cáo: “Triển vọng phát triển châu Á: Công nghệ ảnh hưởng đến nghề nghiệp như thế nào”.  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Robot yêu hòa bình      Một thế hệ robot mới đã xuất hiện tại Nhật Bản, có thể biểu lộ 36 nét mặt khác nhau khi nghe một từ khóa hoặc một câu nói nào đó bằng tiếng Anh. Kansei (ảnh), tên của robot, là công trình nghiên cứu của Đại học Meiji (Nhật Bản) với ý định ban đầu là tạo ra một loại robot có thể tăng khả năng đối thoại với chủ nhân.    Kansei có 19 bộ phận điều khiển cử động bên dưới chiếc mặt nạ silicone. Khi nghe từ “tổng thống”, bộ phận cơ sở dữ liệu gồm 500.000 từ khóa được nối trực tiếp lên mạng sẽ lựa chọn các từ liên quan như “Bush”, “chiến tranh”, “Iraq”… và Kansei sẽ biểu lộ một gương mặt pha trộn giữa sự sợ hãi và gớm ghiếc. Robot sẽ cười nếu nghe đến từ “sushi”, cau mày khi nghe ai đề cập đến chữ “bom”. Các nhà nghiên cứu hy vọng sau vài năm nữa, Kansei sẽ có khả năng nói và biểu lộ cảm xúc bằng hành động.  T.M (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả (Giới thiệu Tôpô học)      Có những vấn đề của hình học, nhưng lại không phụ thuộc vào kích cỡ to nhỏ, rộng hẹp, dài ngắn của các đối tượng liên quan. Những vấn đề như thế thuộc về một lĩnh vực được gọi là Tôpô học (Topology). Trong những vấn đề thuộc loại này, chuyện một mảnh đất rộng hay hẹp, vuông hay méo chẳng quan trọng gì. (Thế có lạ không!) Vì thế, những người buôn đất, buôn bất động sản chớ nên học Tôpô. Nếu như vì tò mò mà họ cứ học, họ thể nào cũng cả quyết rằng các nhà Tôpô học là những kẻ điên, hâm hấp.      Cao đàm khoát luận như thế không khéo dễ dẫn đến tư biện, mù mờ, rồi dễ sinh ra nói nhảm. Để tránh chuyện đó, ta hãy bắt đầu bằng một vài ví dụ. Đôi khi, vài ví dụ thực chất có thể đẻ ra một lý thuyết, có khi còn đẻ ra cả một ngành học.  Leonhard Euler (1707 – 1783), nhà toán học vĩ đại người Thuỵ Sĩ, được xem là cha đẻ của ngành Tôpô học, vì ông là người đầu tiên nghiên cứu hai bài toán sau đây.     Bài toán về 7 chiếc cầu  Königsberg là một thành phố cổ thuộc Vương quốc Phổ và nước Đức cho đến 1945. Sau Đại chiến Thế giới II, nó thuộc Liên Xô (cũ) rồi Nga, và được gọi là Kaliningrad. Chỉ có rất ít dấu tích của Königsberg còn sót lại ngày nay ở Kaliningrad.  Ở thành phố Königsberg, có 7 chiếc cầu. Chúng nối hoặc là hai bờ sông, hoặc một bờ sông và một trong hai cù lao, hoặc nối hai cù lao đó. (Xem bản đồ dưới đây).                     Từ xưa, cư dân ở Königsberg đã đặt câu hỏi: Liệu có thể đi một lần qua tất cả 7 chiếc cầu mà không có cầu nào phải lặp lại hay không?  Không cần để tâm nhiều lắm đến vị trí cụ thể của 7 chiếc cầu. Điều quan trọng nhất mà người ta quan sát được từ bài toán này là như sau: Đây là một vấn đề của hình học, nhưng không phụ thuộc vào độ lớn của các yếu tố tham dự (dòng sông rộng hay hẹp; những chiếc cầu dài hay ngắn, to hay bé; các cù lao lớn nhỏ thế nào). Vấn đề chỉ phụ thuộc hình dáng và vị trí tương đối của các yếu tố.  Dựa trên nhận xét đó, sơ đồ 7 cái cầu ở Königsberg được vẽ lại như sau:                      Không có bằng chứng nào còn lại chứng tỏ rằng Euler đã tới Königsberg. Tuy nhiên, năm 1735 ông đã chứng minh rằng mong muốn tìm một cách đi qua cả 7 chiếc cầu “một lần, không lặp lại” là không thể thực hiện được.  Chúng ta thử tìm hiểu lời giải của Euler cho bài toán 7 cây cầu. Trên bản đồ Königsberg, hãy thay mỗi bờ sông, mỗi cù lao bằng một điểm, gọi là đỉnh, thay mỗi chiếc cầu bằng một đường nối các đỉnh, gọi là cạnh. Hình thu được gọi là một đồ thị. Bài toán về 7 cái cầu ở Königsberg thực chất là chuyện cố gắng “vẽ bằng một nét” đồ thị sau đây:                     Bài toán này rất quen thuộc với trẻ em qua trò chơi “vẽ hình bằng một nét”. Có ai thuở thiếu thời lại chẳng đã từng đau đầu với câu đố vẽ cái phong bì chỉ bằng một nét?                     Hãy bắt đầu với nhận xét đơn giản sau đây: Mỗi khi ta đi qua một đỉnh, thì có 2 cạnh (2 cây cầu) xuất phát từ đỉnh đó đã được đi qua: Cạnh đi tới, và cạnh đi ra khỏi đỉnh đó. Như thế, mỗi lần đi qua một đỉnh, số cạnh nối với đỉnh đó mà ta chưa đi qua giảm đi 2. Cho nên, nếu một đỉnh có số cạnh nối tới là một số chẵn (gọi tắt là đỉnh chẵn) thì mỗi lần đi tới đó ta luôn còn đường để thoát ra ngoài. Còn tại mỗi đỉnh lẻ, chẳng hạn có (2k+1) đường nối với đỉnh đó, thì sau k lần đi qua, tới lần (k+1) ta sẽ hết đường để đi khỏi đỉnh đó.  Như vậy, các đỉnh lẻ chính là các cản trở cho việc “đi qua” mà không phải dừng lại. Chiến thuật của ta là không xuất phát từ các đỉnh chẵn (nếu vẫn còn đỉnh lẻ), vì nếu xuất phát từ một đỉnh chẵn, khi đi khỏi đỉnh đó, chúng ta sẽ biến đỉnh chẵn này thành một đỉnh lẻ trong phần tiếp theo của trò chơi.  Ta chỉ cần xét các đồ thị liên thông, nghĩa là đồ thị mà giữa 2 đỉnh bất kỳ của nó đều có ít nhất một đường nối. (Việc vẽ một đồ thị không liên thông hiển nhiên qui về vẽ từng thành phần liên thông của nó.) Dựa trên những nhận xét về đỉnh chẵn và đỉnh lẻ nói trên, ta có thể chứng minh:  Trong mỗi đồ thị, số các đỉnh lẻ luôn là một số chẵn,  Một đồ thị liên thông không có đỉnh lẻ nào, cần tối thiểu 1 nét vẽ.  Một đồ thị liên thông có 2n đỉnh lẻ (n>0), cần tối thiểu n nét vẽ.  Cách vẽ như sau: Xuất phát từ một đỉnh lẻ bất kỳ (nếu có), vẽ tuỳ ý cho đến khi không vẽ được nữa. Khi đó ta gặp một đỉnh lẻ khác. Nét vẽ vừa rồi khử bớt 2 đỉnh lẻ (là điểm đầu và điểm cuối của nét vẽ). Lặp lại quá trình trên cho đến khi không còn đỉnh lẻ nào. Trường hợp không có đỉnh lẻ nào, hãy xuất phát từ một đỉnh chẵn bất kỳ, vẽ tuỳ ý cho đến khi không vẽ được nữa. Khi đó, ta gặp lại đỉnh xuất phát.  Chúng tôi không đi sâu vào chi tiết chứng minh những khẳng định trên.  Cái phong bì có 5 đỉnh, trong đó 4 góc là 4 đỉnh lẻ. Vì thế, không thể vẽ phong bì bằng 1 nét. Cần ít nhất 4/2 = 2 nét để vẽ được phong bì.  Trong bài toán 7 cây cầu ở Königsberg, có bốn đỉnh, đều là các đỉnh lẻ. Do đó, không thể vẽ đồ thị đó bằng 1 nét. Tối thiểu cần 4/2 = 2 nét. Đó là lý do trong suốt chiều dài lịch sử, không người dân nào ở Königsberg có thể đi một lần qua tất cả các cây cầu mà không chiếc cầu nào bị lặp lại.  Bài toán về số mặt, số cạnh, và số đỉnh của một đa diện  L. Euler đã chứng minh định lý sau đây, thoạt nhìn tưởng như trò chơi trẻ con: Trong bất cứ đa diện lồi nào, số mặt trừ đi số cạnh cộng với số đỉnh đều bằng 2.  Hãy lấy vài ví dụ.                     Trong một tứ diện, số mặt m=4, số cạnh c=6, số đỉnh d=4;  Ta có m – c + d = 4 – 6 + 4= 2.                      Trong một hình hộp chữ nhật, số mặt m=6, số cạnh c=12, số đỉnh d=8;  Ta cũng có m – c + d = 6 – 12 + 8 = 2.  Vì sao lại có chuyện lúc thì lấy dấu “cộng”, lúc lại lấy dấu “trừ” trong định lý trên? Xin thưa: Mặt là một yếu tố 2 chiều, đỉnh thì 0 chiều, những yếu tố chẵn chiều thì được mang dấu cộng; còn cạnh là một yếu tố 1 chiều, tức số chiều lẻ, nên nó mang dấu trừ.  Giống như bài toán về 7 chiếc cầu, bài toán này cũng là một vấn đề hình học, nhưng không phụ thuộc vào độ lớn các yếu tố. Thật vậy, một đa diện dù bé như hạt đậu hay to như Trái đất thì số mặt, số cạnh, và số đỉnh của nó cũng không thay đổi. Nhận xét trên gợi ý cho suy luận sau đây: Hãy tưởng tượng đa diện lồi được làm bằng cao su. Ta hãy thổi phồng đa diện lồi đó thành một quả bóng hình cầu.                          Các mặt, cạnh, và đỉnh của đa diện biến thành các mặt (cong), cạnh (cong), và đỉnh trên mặt cầu. Như thế, định lý trên của Euler về bản chất là một định lý về mặt cầu: Trong mọi cách phân mặt cầu thành các hình đa giác cong, số mặt trừ số cạnh cộng số đỉnh đều bằng 2. Hơn nữa, mọi hình thu được từ mặt cầu bằng một phép biến đổi liên tục (tương tự như co dãn màng cao su) đều nghiệm đúng định lý này.  Chúng ta vừa đạt được một bước tiến quan trọng trong cách nghĩ: Bài toán của Euler ban đầu xét rất nhiều đối tượng, là bất cứ đa diện lồi nào. Rút cuộc, nó là một bài toán về chỉ một đối tượng duy nhất, đó là mặt cầu.  Đạt được bước tiến đó là do chúng ta sử dụng lập luận về các biển đổi kiểu “co dãn cao su”. Người ta gọi đó là các phép biến đổi tôpô.                      Bây giờ, thay cho mặt cầu đã nói ở trên, hãy lấy mặt xuyến (cái săm ôtô) làm thí nghiệm. Có thể phân chia cái săm bằng 2 đường (c=2), một đường cắt theo vết măng-xông, đường kia cắt dọc toàn bộ chiều dài săm. Hai đường này cắt nhau tại một điểm duy nhất (d=1). Bị cắt hai đường đó, săm trở thành một mặt hình chữ nhật (m=1). Vậy, số mà Euler quan tâm của mặt xuyến (săm) là m – c + d = 1 – 2 + 1 = 0.                     Tiếp theo, hãy lấy một mặt “xuyến kép”, có được bằng cách dính 2 chiếc săm ôtô vào nhau. Bạn hãy tự chọn một cách chia mặt “xuyến kép” thành các mặt giống như hình vuông (cong), các cạnh (cong), và các đỉnh. Chẳng hạn, ta chọn cách chia mô tả bằng hình vẽ trên. Các đường đỏ và vàng cắt nhau ở 2 điểm (1 điểm nhìn thấy, 1 điểm là hình chiếu thẳng đứng của điểm nhìn thấy), vậy d= 2. Các đường đỏ và vàng được 2 đỉnh ấy chia làm 4 cạnh (4 nửa đường tròn), cộng thêm 2 đường màu xanh, vậy c= 6. Sau khi cắt theo các đường ấy mặt xuyến kép bị chia thành ra 2 hình chữ nhật, vậy m= 2. Ta có  m – c + d = 2 – 6 + 2 = -2. Như thế, số Euler của xuyến kép là -2.  Ta có thể dính nhiều săm ôtô với nhau để tạo thành một mặt xuyến có g lỗ. Số mà Euler quan tâm đối với mặt đó bằng m – c + d = -2(g-1).  Trong tôpô hiện đại, định lý Euler được tổng quát hoá như sau: Nếu chia bất cứ một vật thể n chiều nào thành các phần “giống như đa diện”, thì tổng số các phần với chiều chẵn trừ đi tổng số các phần với chiều lẻ luôn là một hằng số, được gọi là đặc số Euler, của vật thể đó.   Như thế, mỗi vật thể đều là sự tổng hoà nhịp nhàng của hai phần âm và dương, chẵn và lẻ nội tại của nó, không thể thay đổi. Đặc số Euler, cũng còn được gọi là đặc số Euler – Poincaré (bởi vì Poincaré (1854-1912) chính là người đầu tiên ý thức được chuyện này ở trường hợp số chiều tuỳ ý), của một vật thể chính là một loại “bản thể”, một loại “chứng minh thư”, một “ID Card” của vật thể ấy.  Hệ quả là, nếu hai vật thể có đặc số Euler khác nhau, thì chúng không thể cái này biến thành cái kia sau một phép biến đổi thuận nghịch liên tục (kiểu như co dãn cao su). Người ta nói hai vật thể đó không cùng kiểu tôpô.  Như thế, mặt cầu, mặt xuyến, và mặt xuyến kép không cùng kiểu tôpô, vì chúng có đặc số Euler khác nhau (tương ứng bằng 2, 0, và -2). Về mặt trực giác, vì sao chúng không cùng kiểu tôpô? Lý do thật đơn giản: Mặt cầu không có lỗ nào; mặt xuyến có 1 lỗ (là cái chỗ người ta vẫn chui vào để biến săm thành phao bơi); còn mặt xuyến kép có 2 lỗ. Các nhà tôpô bảo mặt xuyến có 1 lỗ, nên có giống (genus) bằng 1; mặt xuyến kép có 2 lỗ, nên có giống bằng 2; mặt cầu không có lỗ nào, nên có giống bằng 0. À ra thế, phải có lỗ thì giống mới không bị triệt tiêu. Các nhà tôpô thật giỏi ỡm ờ.  Riemann còn chứng minh một định lý thật thâm thuý: Mọi mặt 2 chiều trơn (tức mịn màng), bị chặn (có thể giữ trong một căn phòng), và có hướng (tức là phân biệt được phía nào là ngoài da, phía nào là trong thịt) đều xác định được về mặt tôpô chỉ bằng cách đếm số lỗ trên nó. Chà chà, phải mời Picasso đến đây mới được.  Những chuyện kể trên có thể dẫn chúng ta đến những gì? Sau đây là một kết luận thật khó tin.  Khẳng định: Dù có nhào nặn một cục bột, hình cái bánh mì, kỹ đến mức nào, miễn là hình của cục bột lúc đầu và khi thôi nặn vẫn là cái bánh mì, nặn xong lại để cái bánh vào đúng chỗ cũ, khi đó luôn luôn có một hạt bột mì không thay đổi vị trí.  Thật vậy, sau một phép biến đổi liên tục 2 chiều, cục bột hình cái bánh mì được biến thành một hình cầu B. Gọi S là mặt cầu bao quanh B. Khẳng định trên được chứng minh bằng các bước suy luận sau đây:  1/ Không có phép biến đổi nào biến B thành S và vẫn giữ nguyên mọi điểm trên S. (Ý chứng minh: Giả sử tồn tại một phép biến đổi như thế. Trước phép biến đổi, S là biên của B, sau phép biến đổi S phải là biên của chính S. Điều này vô lý.)  2/ Giả sử phản chứng, sau nhào nặn không có hạt bột mì nào giữ nguyên vị trí. Giả sử hạt bột mì x được biến thành f(x) sau nhào nặn. Nửa đường thẳng nối f(x) với x (kéo dài) cắt mặt cầu S tại một điểm duy nhất, ký hiệu g(x). Phép biến đổi x thành g(x) chính là một phép biến hình liên tục, biến B thành S và giữ nguyên mọi điểm trên S. (Nếu x nằm trên S, thì nửa đường thẳng nối f(x) với x cắt S tại chính x.) Điều này mâu thuẫn với điểm 1). Mâu thuẫn này bác bỏ giả thiết phản chứng.                      Hai bài toán được Euler nghiên cứu nói trên là những ví dụ đơn giản của các vấn đề hình học, trong đó kích cỡ không quan trọng, chỉ có hình dáng và vị trí tương đối đóng vai trò quyết định. Ngành toán học nghiên cứu những vấn đề như vậy ngày nay được gọi là Tôpô học (Topology).  Ngẫm cho kỹ thì chuyện kích cỡ không quan trọng đã được tạo hoá duy trì như một trong những nguyên lý hàng đầu, đóng vai trò “đảm bảo an ninh” không chỉ cho xã hội loài người, mà cho toàn bộ các giống loài trong tự nhiên. Nếu một người mua nhầm đôi giày, chật quá hay rộng quá, tức là người ấy gặp một vấn đề về kích cỡ, thì anh ta đem đổi. Thế nhưng, nếu người ấy lấy vợ, và nếu như anh ta cũng gặp một vấn đề về kích cỡ, rồi đòi đổi, thì nguy hiểm vô cùng. Và nếu rất nhiều người sau khi lấy vợ cùng gặp vấn đề về kích cỡ như thế, đều cần phải đổi, thì xã hội chắc chắn sinh loạn.  Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương(1772–1822) chính là nhà Tôpô học đầu tiên của Việt Nam, người bằng trực cảm tuyệt vời đã phát biểu tường minh những ý tưởng táo bạo của tôpô từ hơn 200 năm trước. Không nghiên cứu bài toán về 7 cái cầu hay bài toán về số mặt số cạnh số đỉnh trong đa diện, nhưng bằng một tiếp cận đầy mẫn cảm, bà đã nhận ra chuyện này từ xưa. Bà viết thật nhân văn:  “Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả  Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau”.  Hai câu thơ đó trích trong bài “Dệt cửi” của bà:    “Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau  Con cò* mấp máy suốt canh thâu  Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,  Một suốt đâm ngang thích thích mau,  Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả  Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau  Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ  Chờ đến ba thu mới dãi màu.”  Như thế, Hồ Xuân Hương (1772–1822) độc lập và gần như đồng thời với L. Euler (1707-1783), đã phát biểu tường minh quan điểm cơ bản của tôpô học. Nữ sĩ họ Hồ quả là đã khởi đầu đầy sinh khí cho đám hậu sinh làm tôpô của Việt Nam, trong đó có kẻ học trò viết bài này:  “Mát mặt anh hùng khi tắt gió  Che đầu quân tử lúc sa mưa”.  Theo được Hồ nữ sĩ quả là khó. May sao,  “Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”.  Vậy mà lại bảo các nhà Tôpô là hâm thì nghe thế quái nào được, hở giời.  Vĩ thanh  Lão Cò-nhà-đất đọc xong bài này cười phá lên, mà rằng: “Có mảnh đất cũng không biết nó to hay bé, vuông hay méo, lại bảo rằng như nhau tuốt. Thế thì nghèo suốt đời là phải. Bọn tôpô này xem ra chỉ lo chuyện giống thôi.    Author                Nguyễn Hữu Việt Hưng        
__label__tiasang “Rồng nhỏ” – Pico Dragon      Hoàn toàn tương phản với VINASAT – 1, chiếc “vệ tinh đầu tiên của Việt Nam”, vừa rất lớn, rất hiện đại và vừa… cực kỳ đắt dự kiến phóng lên quỹ đạo vào 19/4 tới. “Vệ tinh đầu tiên chế tạo tại Việt Nam” Pico-Dragon (Rồng nhỏ) dự kiến phóng vào khoảng năm 2009 – 2010 có kích thước vô cùng “khiêm tốn”: 10x10x10cm, nặng không đầy 1kg. Đó là một sản phẩm của đề tài nghiên cứu cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam do Viện Công nghệ Vũ trụ (Space Technology Institute – STI) thực hiện.        “Made in Vietnam”              TS.Phạm Anh Tuấn             TS Phạm Anh Tuấn, Viện phó STI cho biết, hiện nhóm nghiên cứu của Viện đang tiến hành thiết kế các module cho vệ tinh, gồm các module cấu trúc, module máy tính và điện tử, module điều khiển tư thế bay, module camera, module truyền thông và module năng lượng.   “Với dự án này, Viện STI sẽ thực hiện từ đầu đến cuối tất cả các khâu từ thiết kế (bao gồm thiết kế cơ khí, điện tử), lập trình phần mềm điều khiển, mô phỏng, chế tạo, thử nghiệm hoạt động với sự tư vấn và hợp tác kỹ thuật với Cơ quan vũ trụ Nhật Bản – JAXA” – TS Tuấn nói.   Trong quá trình nghiên cứu chế tạo, nhóm nghiên cứu phải giải quyết hàng loạt các bài toán kỹ thuật đảm bảo vệ tinh đạt được các yêu cầu: cấu trúc chịu được những dao động rung lắc trong quá trình phóng và không bị biến dạng trong quá trình hoạt động; khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi nhiệt độ (từ khoảng -40oC đến 85oC); tiết kiệm năng lượng ở mức tối đa; giảm thiểu tác động của các bức xạ vũ trụ… Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc ổn định hoạt động và kéo dài thời gian sử dụng của vệ tinh.   Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành và tích hợp các module này thành mô hình kỹ thuật của vệ tinh hoàn chỉnh để đưa vào thử nghiệm. Song song với quá trình thử nghiệm phần cứng, phần mềm điều khiển sẽ được lập trình, đồng thời việc mô phỏng quá trình phóng hoạt động trên quỹ đạo cũng sẽ được thực hiện.   “Với kích thước nhỏ như vậy, Pico-Dragon sẽ được phóng kèm với vệ tinh lớn tương tự như VINASAT – 1. Chính vì phải “đi nhờ” như vậy nên thời gian phóng chưa đựơc xác định cụ thể, nhưng dự kiến vào khoảng 2009 – 2010″ – TS Tuấn cho biết.   “Mốc chủ quyền” trong không gian  Việc chế tạo vệ tinh Pico-Dragon xuất phát từ nhận thức xu thế phát triển của công nghệ vũ trụ (CNVT) và tiếp thu bài học kinh nghiệm của các nước đi trước. Công nghệ vệ tinh nhỏ được nhiều nước trên thế giới quan tâm do giá thành thấp mà vẫn đảm bảo các tính năng cần thiết. Làm chủ công nghệ vệ tinh nhỏ là một trong những con đường đi vào CNVT có tính khả thi và phù hợp với các nước đang phát triển. Từ năm 2006, Chính phủ đã đầu tư và chỉ đạo STI hoàn thành mục tiêu Việt Nam sẽ phóng vệ tinh viễn thám cỡ nhỏ lên vũ trụ vào năm 2010. Nếu như vệ tinh viễn thông hỗ trợ đắc lực cho hoạt động truyền thông thì vệ tinh viễn thám sẽ phục vụ đắc lực cho các công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, giám sát tài nguyên thiên nhiên, thiên tai, cháy rừng, an ninh quốc phòng… Đó là những lợi ích không đo đếm được bằng tiền.              Nhóm các bạn trẻ tham gia dự án Pico             Thực ra, nhận thức về tầm quan trọng và lợi ích CNVT của các nhà khoa học Việt Nam không phải chỉ bắt đầu từ mấy năm gần đây. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, trạm APT do Liên Xô trang bị lắp đặt tại Tổng cục Khí tượng – Thủy văn đã thu ảnh mây từ các vệ tinh METEOR, TIROS, NOAA… hàng ngày đã cung cấp các ảnh chụp đen trắng phục vụ việc theo dõi trường mây, sự chuyển động của các mắt bão. Ảnh chụp các phần lãnh thổ Việt Nam thu được từ các vệ tinh viễn thám của nước ngoài được sử dụng trong ngành lâm nghiệp, địa chất, khai thác nông nghiệp, giám sát môi trường và thiên tai, quy hoạch lãnh thổ… Chúng ta cũng đã tiến hành những một số đề tài nghiên cứu về vật lý vũ trụ và CNVT trong Chương trình khoa học của chuyến bay phối hợp giữa Liên Xô – Việt Nam, thực hiện trong các năm 1981 – 1982, và trong Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước 48.07 “Ứng dụng thành tựu nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ”, thực hiện trong giai đoạn 1981 – 1985.  Tuy nhiên đó mới chỉ có những ứng dụng được chuyển giao từ nước ngoài hay những hoạt động nghiên cứu khoa học còn rất ít và mang nặng tính lý thuyết. “Để thực sự “chinh phục vũ trụ”, và được bình đẳng trên sân chơi quốc tế, chúng ta còn nhiều việc cần phải làm.” – TS Tuấn nói.                                5h15’ (giờ VN) sáng 19/4, Ariane 5 dời bệ phóng tại Trung tâm vũ trụ Guyane (Pháp). Vệ tinh trị giá hơn 200 triệu USD, nặng 2,6 tấn thuộc “cấu hình” A2100A này, được ông trùm công nghệ không gian Lockheed Martin sản xuất với dung lượng 20 bộ phát đáp (12 bộ phát đáp ở băng tần Ku, 8 bộ ở băng tần C) sẽ cung cấp dung lượng truyền dẫn tương đương với 10000 kênh điện thoại, internet, truyền số liệu hay 120 kênh truyền hình. Với tuổi thọ là 15 năm nhưng các chuyên gia hy vọng Vinasat 1 có thể kéo dài thời gian khai thác tới 22 năm. Khi Vinasat 1 được chính thức bàn giao khai thác từ 8/5 sẽ đóng một vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam, và bước đầu tiên chấm dứt cảnh chúng ta là người “đi thuê” của nước ngoài.                Tuấn Linh    Author                Quản trị        
__label__tiasang ROV – xác định chủ quyền thềm lục địa      Một thiết bị điều khiển từ xa &#8211; ROV đ&#227; được một nh&#243;m c&#225;c nh&#224; nghi&#234;n cứu thuộc Cộng h&#242;a Ireland chế tạo nhằm x&#225;c định ranh giới dưới đ&#225;y biển của c&#225;c quốc gia. Được lấy t&#234;n vị thần bia v&#224; nước của xứ Celtic, ROV Latis vừa kết th&#250;c thời gian vận h&#224;nh thử nghiệm ở v&#249;ng biển ph&#237;a T&#226;y Ireland.    Xác định biên giới  Theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (LHQ), một quốc gia có quyền khai thác đến chân thềm lục địa của mình. Các khu vực này thường có nhiều dầu khí và các nguồn khoáng sản khác cho nên liên tục bị các nước tranh chấp, bất đồng về chuyện các đường biên đó bắt đầu từ đâu và kết thúc chỗ nào. Chẳng hạn như Nga và Canada đều đang tranh chấp khu vực Bắc Cực, mỗi nước đều đầu tư hàng triệu USD vào nghiên cứu vùng nước sâu trong một khu vực mở rộng chừng 1,75 triệu cây số vuông. New Zealand cũng chi hàng triệu USD để khảo sát tương tự với các vùng biển đảo của họ.  Được chế tạo bởi nhóm Nghiên cứu Robot thuộc Đại học Limerick của Ireland, ROV Latis có thể nghiên cứu chi tiết đáy biển thuộc độ sâu 1.000m. Theo Daniel Toal, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ của trường, thiết bị này sẽ có nhiều ứng dụng như: vẽ bản đồ dưới đáy biển; khảo sát hải dương học; thực hiện các nghiên cứu về tác động môi trường, và thậm chí còn có thể tham gia quốc phòng.  Các nhà thiết kế cũng chế tạo đường truyền quang học đặc biệt có chức năng kiểm soát tốc độ và hướng đi của thiết bị với độ chính xác cao nhất.  Hệ thống điều khiển  ROV Latis có tám máy đẩy và hệ thống phao nhanh chóng cắt rời, cho phép lặn nhanh chóng và ghi nhận tư liệu video chất lượng cao mà không cần phải quay trở về tàu mẹ. Bên trong đã có sẵn hệ thống hướng dẫn định vị và điều khiển, cho phép điều chỉnh khi biển động.                  Sự dịch chuyển của thiết bị được thực hiện qua ăngten nhận thông tin dẫn từ đường GPS từ vệ tinh, thông qua tám đường dây cáp quang, và có thể tự di chuyển thông qua xử lý máy tính hoặc hệ thống lái tự động. Các hình ảnh chất lượng cao trên máy tính sẽ giúp xác định vị trí, địa điểm, chiều di chuyển và cự ly của thiết bị đối với đáy biển và tàu mẹ cùng lúc.  Trên xe tự hành cũng có một hệ thống kiểm soát lỗi rất đặc biệt, sẽ được khởi động trong trường hợp có một máy đẩy bị mất điều khiển. Khi đó, máy tính sẽ điều chỉnh các động cơ còn lại cho tương xứng và giữ ROV ở đúng vị trí cần thiết.  Hiện cũng có nhiều đối thủ cạnh tranh với ROV Latis, nhưng hệ thống này có khả năng ghi nhận và phân tích thông tin đáy biển nhanh hơn nhiều. Đây cũng là lần đầu tiên có hệ thống máy cho phép chụp ảnh chất lượng cao trong tầm 2m dưới đáy biển.  Stephen M Jones, giảng viên Địa chất ở trường Trinity College Dublin, giải thích rằng, thông thường thì các vùng mỏ dầu khí là quá sâu để dùng ROV chụp ảnh trực tiếp, nhưng Latis có thể phát hiện thấy “các chất thẩm thấu Hydrocarbon dưới đáy biển”. Tiến sĩ Jones nói: “Các phát hiện đó có thể khiến các công ty khai thác quan tâm và đầu tư khảo sát các tầng đất đá sâu hơn bên dưới, với hy vọng tìm được khu mỏ có giá trị kinh tế”. Cũng được lắp đặt trên Latis còn có các đầu dò sonar, cho phép thiết bị nằm cách đáy biển vài cemtimet có người điều khiển từ xa có thể dễ dàng thông qua cần điều khiển (joystick).  Có khả năng di chuyển với tốc độ 2 hải lý dưới đáy biển, hệ thống cũng được thiết kế để kiểm tra gần đối với các hệ thống máy móc dưới đáy biển của ngành công nghệ dầu khí. Latis cũng có thể kiểm tra các thiết bị dưới biển xem có dấu hiệu hư hại nào hay không, ví dụ như bị đá rơi hay rò rỉ.  Các máy quay phim chất lượng cao cho phép chuyển hình ảnh về tàu mẹ để nghiên cứu các hư hại đó. Người điều khiển máy cũng có thể giúp kéo máy ra khỏi vùng rắc rối. Từ tàu mẹ, các nhà khoa học có thể tìm ra các báo cáo về khả năng đá rơi do các biến động dưới đáy biển gây ra.  Phân tích môi trường  Latis cũng có thể ứng dụng vào các khu vực ít thương mại hơn. Các nhà khoa học biển quan tâm đến việc khảo sát hệ thống động thực vật dưới đáy biển, hay giới khảo cổ dưới đáy biển có thể tận dụng các chức năng của hệ thống này.  Trước đây, các Robot đại dương được kéo theo đuôi tàu (tow-fish) hay được dùng để chụp ảnh đáy biển bằng sóng âm, nhưng phương pháp đó cho ra ảnh chất lượng không cao, độ phân giải kém và hình ảnh đen trắng hoặc có thay đổi độ sáng tối. Các thiết bị kiểu đó di chuyển với tốc độ 20 hải lý trên bề mặt biển và khảo sát theo phương pháp được gọi là “lawn-mower”, hay giống như máy cắt cỏ.  Trong khi đó, Latis dùng được cả hệ thống sonar lẫn máy quét, cho phép khảo sát các đối tượng như xác tàu đắm, cả phần nổi trên mặt lẫn chìm sâu dưới đáy. Hiện tại, các nhà điều tra tai nạn tàu biển thường thuê các thiết bị tự vận hành dưới đáy biển AUV với giá lên tới 20.000 Euro mỗi ngày.  Nhóm thiết kế nói Latis sẽ hiệu quả hơn và rẻ hơn rất nhiều. Và người sử dụng cũng không cần phải lo chuyện lạc mất máy móc, vì nó được trang bị hệ thống giúp định vị và tìm kiểm dễ dàng, trong trường hợp bị đứt dây neo.  Ngay bây giờ, thiết bị này đã có thể giữ vai trò đặc biệt đối với nước chủ nhà Ireland. Vào năm 2007, một nghị quyết của LHQ đã mở rộng lãnh thổ của nước này. Họ được mở rộng thềm lục địa ra khỏi tầm giới hạn 200 dặm biển.  Có thêm một phần diện tích to bằng một nửa phần lãnh thổ trên đất được gắn thêm vào vùng chủ quyền của Ireland sẽ mở rộng viễn cảnh về khai thác khoáng sản của họ. Đây có thể là lý do để vị thần Celtic uống mừng vài cốc bia.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Rùa có thể tự lựa chọn giới tính từ trong phôi thai      Các nhà nghiên cứu Trung Quốc mới đây công  bố những hiểu biết mới về phôi thai của loài rùa, có thể cho phép kết  luận về những tác động của biến đổi khí hậu đối với động vật.    Phôi thai rùa ngay trong trứng đã tìm một vùng nhiệt độ tối ưu, các nhà nghiên cứu Trung Quốc công bố trên tạp chí “Tin tức Sinh học”. Theo đó, cá thể rùa con đang hình thành trong quả trứng hoạt động tích cực ở các vùng nơi sự phát triển của nó được hỗ trợ tối ưu. Thậm chí, phôi thai có thể tự chọn lựa giới tính tương lai của mình ở một mức độ nào đó.   Các động vật máu lạnh như rắn hoặc rùa ưa thích tắm trong ánh nắng mặt trời. Ở nhiệt độ cao, chúng nhanh nhẹn sôi nổi hơn; ngược lại, cái lạnh làm chúng trở nên chậm chạp hơn. Các phôi thai của rùa ngay trong trứng đã tự tìm cho mình một nhiệt độ thích hợp, như nhóm các nhà khoa học, do nhà động vật học Wei-Guo Du thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh đứng đầu, chỉ ra. Họ sưởi ấm quả trứng của loài rùa ba vạch Trung Hoa (chinemys reevesii) ở một phía lên đến nhiệt độ trong khoảng giữa 26oC và 33oC, để sự chênh lệch nhiệt độ lớn nhất trong quả trứng đạt được khoảng 1,6oC. Sau đó, họ chiếu ánh sáng qua quả trứng để định vị tâm điểm của phôi.    Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến giới tính  Ở nhiệt độ không đổi 26oC, các phôi chỉ ở gần tâm điểm quả trứng. Khi trứng được sưởi nóng thì các phôi di chuyển về phía có nhiệt – chừng nào nhiệt độ vẫn còn ở trong khoảng 30oC. Ở độ nóng tới 33oC, là nhiệt độ có thể đe dọa sự sống sót của các phôi, thì chúng di chuyển hướng về vùng mát hơn. Trong khi đó, ấu trùng rùa đang thành hình di chuyển thật sự chủ động – mà không thụ động trôi trong chất lỏng. Vì các phôi đã chết thì không thay đổi vị trí.  “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, các phôi không chỉ di chuyển về các vùng ấm hơn, mà cũng ra khỏi các vùng nhiệt độ cao nguy hiểm,” và xuất phát từ quan sát này, các nhà nghiên cứu viết rằng, điều đó cũng đúng cho các loài rùa khác. Vì nhiệt độ ảnh hưởng đến giới tính sau này của phôi, nên chính sự di chuyển của các phôi cũng có thể tác động giới tính của nó.  Cho đến nay, các nhà khoa học đã xuất phát từ quan điểm cho rằng giới tính của phôi thai rùa dựa trên sự lựa chọn ví trí làm tổ và nhiệt độ bên ngoài. “Khả năng các phôi thai có thể quyết định giới tính cho chính mình cũng phần nào dẫn đến suy đoán rằng một số loài sẽ bị thiệt hại do biến đổi khí hậu,” các nhà khoa học khẳng định. “Những hiệu ứng này bị hạn chế bớt không chỉ bởi sự linh hoạt trong việc lựa chọn tổ của mẹ, mà còn thông qua sự tự điều chỉnh theo nhiệt một cách chủ động của phôi.”  Nguyễn Diệu Hoa dịch  Nguồn:  http://www.focus.de/wissen/natur/neue-erkenntnisse-zu-embryoverhalten-koennen-schildkroeten-sich-ihr-geschlecht-aussuchen_aid_1011536.html.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng Amazon trở thành nguồn gây ô nhiễm khí thải nhà kính?      Lâu nay, trong cuộc chiến chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu, rừng Amazon là một đồng minh của con người. Nhưng thực tế đó có thể thay đổi.      Thảm thực vật dày đặc của rừng Amazon từ lâu đã giúp làm mát cho cả hành tinh bằng cách hấp thụ khí CO2 từ khí quyển. Nhưng hiện tượng cây chết hàng loạt do hạn hán và nạn phá rừng có thể biến khu vực này thành một nơi thải ra nhiều khí nhà kính hơn là hấp thụ vào.  “Lúc này rừng Amazon vẫn đang hấp thụ khí carbon, nhưng chắc chắn là nó cũng đang trở thành một nguồn phát thải”, khẳng định từ Eric Davidson, giám đốc trung tâm nghiên cứu Woods Hole Research Center ở Falmouth, Massachusetts, Mỹ. Trong một công bố ngày 19 tháng 1 trên tạp chí Nature, Davidson và 14 nhà nghiên cứu khác của Mỹ và Brazil đã đưa ra những căn cứ cho thấy khu rừng nhiệt đới lớn nhất của thế giới đang ngày càng dễ bị tổn thương trước các biến đổi.    Nhờ những kết quả đo lường thường xuyên từ 100 nghìn cây, các nhà khoa học đã ước lượng rằng vào thời gian đầu của thiên niên kỷ hiện tại, rừng Amazon hấp thụ khoảng 1,5 tỷ tấn CO2 mỗi năm. Cây cối hấp thụ khí này trong quá trình quang hợp, và lưu trữ thành phần carbon trong lá, gỗ, rễ, đồng thời bơm thành phần này vào trong đất. Toàn bộ rừng Amazon được coi là chứa khoảng 100 tỷ tấn carbon, tương đương với mức thải khí CO2 từ nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu trong vòng 10 năm.   Người ta nhận thấy rõ ràng là một phần lớn lượng carbon từ rừng Amazon tại các khu vực rìa phía Nam và phía Đông đang bị thải ra, những nơi rừng bị phá do hoạt động khai thác gỗ hoặc khai hoang cho gia súc và đất nông nghiệp, theo lời Davidson.  Những vùng đất trọc này không chỉ kém về khả năng tích trữ carbon, mà còn đe dọa cây rừng do làm giảm lượng hơi ẩm trong không khí, và kéo mưa ra khỏi các cánh rừng.  Mùa khô ở các rìa phía Nam và phía Đông của rừng Amazon đang trở nên kéo dài hơn. Và khi có mưa xuống thì nước mưa thoát ra sông thay vì được giữ lại trong rừng. Một nghiên cứu năm 2003 đăng trên tạp chí Journal of Hydrology cho thấy lượng nước chảy qua sông Tocantins ở phía Nam rừng Amazon tăng gần 25% trong bối cảnh đất nông nghiệp trong khu vực này mở rộng.   Vào lúc này, ảnh hưởng của nạn phá rừng có lẽ vẫn hạn chế ở một số phần của rừng Amazon. Một mô hình mô phỏng trên máy tính cho thấy nếu nạn phá rừng làm mất đi 40% diện tích rừng của lưu vực sông Amazon thì điều kiện tự nhiên toàn vùng sẽ bị biến đổi, chuyển hóa vùng rừng này thành savanna. Nhưng nhóm nghiên cứu của Davidson cho rằng có quá nhiều sự không chắc chắn để đưa ra một dự đoán như vậy.  Thay vì nạn phá rừng một cách trực tiếp, biến đổi khí hậu có lẽ mới là yếu tố cơ bản đe dọa toàn bộ rừng Amazon. Nhiệt độ toàn cầu gia tăng được dự đoán là sẽ làm ấm nước biển ở Đại Tây Dương, gây ra hiện tượng El Nino và tác động tới lượng mưa xuống rừng Amazon, khiến hạn hán trở nên thường xuyên và khắc nghiệt hơn.    “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi trái đất trở nên ấm hơn, những nơi như rừng Amazon sẽ mất đi carbon”, khẳng định từ Kevin Gurney, nhà khoa học khí tượng từ Đại học Arizona State ở Tempe.   Những cây nằm sâu trong rừng Amazon có khả năng chống hạn tốt hơn. Rễ của chúng thọc sâu hơn xuống lòng đất, hút được các tầng nước sâu để có thể tồn tại trong những điều kiện không thuận lợi.  Nhưng ngay cả những cây này cũng có giới hạn nhất định. Trong một nghiên cứu công bố vào năm 2010 trên tờ New Phytologist, các nhà khoa học đã thử cách ly nước mưa với một khoảng rừng nhỏ ở Amazon trong vòng 7 năm. Vào năm thứ 3, người ta thấy rằng tăng trưởng của cây bị giảm đáng kể và lượng cây chết tăng gấp đôi.   Một cuộc hạn hán lớn vào năm 2005 đã khiến tình hình trở nên trầm trọng còn nhanh chóng hơn. Lượng mưa giảm trên một phần ba diện tích rừng Amazon, một số chỗ giảm tới 75%. Vào thời gian đó, các nhà khoa học ước tính toàn bộ khu rừng thải ra khoảng 1,5 tỷ tấn carbon vì cây bị chết. Sự kiện này khi ấy được coi là hi hữu, cả thế kỷ mới có một lần.  Nhưng tới năm 2010, một trận hạn hán thậm chí còn khắc nghiệt hơn xảy ra, trong đó diện tích rừng bị thiệt hại rộng hơn, và lượng carbon thải ra cũng lớn hơn. Một phân tích từ hình ảnh vệ tinh công bố cuối tháng 4 năm ngoái trên tờ Geophysical Research Letters cho thấy khu rừng chuyển sang màu nâu.   “Chúng ta thấy rằng xảy ra hai trận hạn hán khác thường chỉ trong vòng ít năm”, nhận xét từ Oliver Phillips, một nhà sinh thái rừng nhiệt đới từ Đại học Leeds của Anh. Tuy nhiên, dù những trận hạn hán này phù hợp với những hậu quả được dự kiến do biến đổi khí hậu, Phillips cho rằng chúng vẫn có thể chỉ là một hiện tượng khác thường về mặt thống kê, xảy ra do những biến đổi ngẫu nhiên thông thường trong tự nhiên. “Khó để xác định đây là một xu hướng gia tăng rõ rệt hay đơn thuần là gia tăng nhất thời mang tính chu kỳ”, ông nói.   Trong khi các nhà khoa học tiếp tục tìm hiểu điều gì đang xảy ra với lượng carbon của rừng Amazon, thì ở Brazil đã bắt đầu có những tiến triển trong nỗ lực hạn chế phá rừng. Tuy thói quen đốt rừng để khai hoang vẫn còn khá phổ biến, nhưng nạn chặt phá rừng đã giảm được một phần tư so với năm 2004. Các nhà khoa học hi vọng cuối cùng thì con người và rừng nhiệt đới cũng có thể trở thành đồng minh của nhau.   “Brazil có cơ hội chuyển mình từ một nước có nền kinh tế mới nổi thành một quốc gia phát triển mà không cần phải phá hủy những cánh rừng”, Davidson nói. “Đây không phải là điều mà đa số các quốc gia, kể cả nước Mỹ, làm được.”    Theo Science News  http://www.sciencenews.org/view/generic/id/337827/title/Amazon_may_become_greenhouse_gas_emitter    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng mưa nhiệt đới cũng từng bốc cháy vì biến đổi khí hậu      Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở ĐH Colorado, Mỹ, hàng triệu năm trước, lửa đã càn quét hành tinh. Trong bầu khí quyển giàu oxi, ngay cả rừng mưa nhiệt đới cũng bốc cháy.      Lính cứu hỏa đang cố gắng chữa cháy tại các khu rừng ở bang Queensland và New South Wales. Nguồn: AAP  Kết quả này được công bố trên tạp chí Nature Geoscience ngày 30/9, cung cấp những bằng chứng địa hóa học cho thấy trong giai đoạn 90 triệu năm trước, các đám cháy rừng đã lan mạnh, thiêu rụi khoảng 30-40% diện tích rừng trên toàn thế giới trong suốt 100 ngàn năm. Các nhà nghiên cứu thấy rằng, do biến đổi khí hậu toàn cầu, các vụ cháy rừng giai đoạn trước kia gia tăng ngay cả tại những khu vực ẩm ướt   “Nghiên cứu về giai đoạn lịch sử Trái đất này có thể làm sáng tỏ cách Trái đất hiện tại và tương lai có thể thay đổi như thế nào dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu”, tác giả chính TS. F.Garrett Boudinot ở khoa Khoa học địa chất, ĐH Colorado cho biết.   Phân tích các mẫu lõi đá tồn từ giai đoạn mất oxy đại dương 2 (Oceanic Anoxic Event 2 – OAE2) thuộc Kỷ Phấn trắng, khoảng 94 triệu năm trước, Boudinot thấy, hàm lượng lượng carbon trong đại dương tăng lên khi bắt đầu giai đoạn OAE2 có liên quan đến các dấu hiệu cháy rừng, có thể do sự gia tăng oxy trong khí quyển  Hàm lượng lớn khí CO2 trong khí quyển – nhiều tương đương mức dự báo Trái đất vào năm 2100 – đã bắt đầu chu trình này.    Khoảng 50 ngàn năm trước khi giai đoạn OAE2 bắt đầu, tảo và các loại thực vật có phôi hấp thụ lượng carbon này vào đại dương thông qua quá trình quang hợp, khiến quá trình hô hấp của vi sinh vật tăng lên, dẫn đến hàm lượng oxy trong đại dương suy giảm, thậm chí có nơi không còn. Trong những vùng “chết” này, carbon hữu cơ từ khí quyển được lưu trữ và bị chôn vùi trong các trầm tích, còn thành phần oxy trong CO2 sẽ được giải phóng vào khí quyển. Sau 100 ngàn năm kể từ giai đoạn OAE2, quá trình này được thúc đẩy do gia tăng nhiệt độ, các trầm tích đại dương trên toàn cầu đã lưu trữ đủ carbon hữu cơ khiến khí quyển trở nên giàu oxy, nhiều đến mức có thể tạo điều kiện cho tỉ lệ cháy rừng trên toàn cầu tăng 40%, ngay cả tại những vùng ẩm ướt.  Hiện nay, Trái đất đang trải qua một quá trình biến đổi tương tự. Điểm khởi đầu của chu trình đã diễn ra, với lượng CO2 tích vụ trong khí quyển và chất dinh dưỡng tích tụ trong đại dương. Nếu tình thế cứ tiếp tục, lịch sử có thể lặp lại trong tương lai, trong vòng vài thế kỷ đến một thiên niên kỷ tới. Boudinot cho biết: “Việc thải khí CO2 vào trong khí quyển và chất dinh dưỡng trong đại dương không chỉ gây ra nguy cơ tăng nhiệt độ toàn cầu mà còn tác động mạnh tới sinh địa hóa học hoặc sinh thái cơ bản trên Trái đất, chẳng hạn như tình trạng cháy rừng”.  Boudinot cũng thực hiện một thí nghiệm khác: sử dụng phương pháp phân tích để xác định các chỉ thị phân tử thuộc các đám cháy rừng trong những mẫu đá lấy từ các địa điểm và thời gian khác nhau. Các chỉ thị này được gọi là hydrocarbon thơm đa vòng, hoặc PAH, đôi khi được gọi là “pyro PAH”. Trong lõi đá lấy từ Utah có các phiến đen chứa đầy chất hữu cơ tồn tại từ 94 triệu năm trước, khi đó nước biển còn bao phủ nơi đây. Sau khi thực hiện các thử nghiệm trên lõi đá này, ông thấy có một lượng đáng kể pyro PAH trong đó.  Giai đoạn OAE2 có nhiều đám cháy rừng cũng là một điều bí ẩn với các nhà địa chất. Dữ liệu địa hóa học mới này không chỉ đáng tin cậy mà còn thể hiện mức tiến hóa chi tiết của sự kiện – mỗi điểm dữ liệu đại diện cho một quãng thời gian nhỏ hơn. Điều này giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về việc lưu trữ carbon trong đại dương liên quan như thế nào đến mức oxy trong khí quyển và nhiệt độ toàn cầu, cũng như tốc độ xảy ra những quá trình khí hậu này.  Trong khi các nhà khoa học nghi ngờ hoạt động núi lửa là nguyên nhân khiến lượng CO2 trong khí quyển ở mức cao trước khi giai đoạn OAE2 bắt đầu, Boudinot nhận thấy lượng CO2 con người thải ra ngày nay cũng ở mức tương đương. “Phát hiện này nhấn mạnh những tác động lâu dài của biến đổi khí hậu. Nếu chúng ta khắc phục được nó thì không phải chỉ có con cháu chúng ta phải đối đầu với nó, mà hậu quả của nó còn kéo dài mãi, như lịch sử biến đổi khí hậu của Trái đất đã chỉ ra”.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-09-forests-due-climate.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng ngập mặn: Vệ binh môi trường cho các vùng ven biển      Các loại rừng ngập mặn gồm những cây đước, sú, vẹt… là những loài cây có khả năng sinh sống tại những nơi có nguồn nước mặn bậc nhất thế giới. Mới đây, một nghiên cứu tại UniSA cho thấy, chúng còn có thể là những vệ sĩ bảo vệ các khu vực bờ biển, có năng lực sống sót trong những môi trường ô nhiễm kim loại nặng.      Rừng ngập mặn ở quanh nhà máy luyện kim Nyrstar, Nam Úc. Credit: UniSA  Các nhà nghiên cứu phát hiện ra, cây mắm ổi (Avicennia marina) – một loài thuộc thực vật ngập mặn thuộc chi Mắm, có thể chịu đựng được trầm tích ô nhiễm lượng chì, kẽm, arsen, cadmium và đồng cao – mà không bị ảnh hưởng đến chính khả năng sinh trưởng của mình 1.  Nghiên cứu này đã thử đánh giá khả năng sinh trưởng của mắm ổi sống ở quanh khu vực nhà máy luyện kim Port Pirie, Úc. Sử dụng hàm lượng diệp lục trong lá như một thành phần đại diện cho sức khỏe thực vật, các nhà nghiên cứu đã phân tích và nhận thấy là các cây này đều không bị các ô nhiễm kim loại nặng ảnh hưởng, bất chấp sự thật là nồng độ chì và kẽm ở mức gấp 60 và 151 lần so với giá trị thông thường mà cây có thể chịu đựng.  Phát hiện mới nhấn mạnh vào vai trò của rừng ngập mặn trong những vùng bị ô nhiễm liên tục và vai trò quan trọng của việc bảo vệ “những vệ binh bờ biển” khắp thế giới. Nghiên cứu này cũng được sự ủng hộ của một sang kiến chính quyền bang Adelaide ba triệu đô la Úcnhằm phục hồi rừng ngập mặn ở phía bắc bang này.  Tiến sĩ Farzana Kastury từ Viện nghiên cứu công nghiệp tương lai của UniSA cho biết khả năng của các rừng ngập mặn chống chịu với môi trường có nồng độ kim loại cao khiến cho chúng trở nên vô giá trong việc quản lý môi trường ô nhiễm. “Rừng ngập mặn chính là hàng rào bảo vệ sinh thái lý tưởng: chúng không chỉ bảo vệ những vùng ven biển của chúng ta khỏi xói mòn và đa dạng sinh học bền vững mà còn có một năng lực lạ thường để ‘bẫy’ các ô nhiễm độc hại trong trầm tích”, tiến sĩ Farzana nói.  “Cây mắm ổi vẫn được biết bởi khả năng chống chịu các thành phần độc hại nhưng đến giờ thì chúng ta mới chỉ hiểu được một ít về vấn đề sức khỏe của chúng ở vùng vịnh Thượng Spencer.  Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mắm ổn có khả năng đáp ứng và sống sót trước sự phơi nhiễm chì và kẽm ở mức độ rất cap mà không để lại những hiệu ứng ảnh hưởng đến sức sinh trưởng trong diệp lục – nó thể hiện được giá trị của cây mắm ổi cho các hệ sinh thái ven biển”.  Mặt khác, trong nghiên cứu đang được thực hiện ở Port Pirie do phó giáo sư UniSA Craig Styan phụ trách cho thấy, có thể là hàm lượng kim loại có trong trầm tích ở rừng ngập mặn cao gấp 4 đến 7 lần  so với trầm tích ở các thềm bùn. Styan nhận xét, nhìn chung, một nồng độ kim loại cao hơn được tìm thấy trong trầm tích có nghĩa là rủi ro ô nhiễm cao hơn với động vật và thực vật sinh sống trong đó hoặc trên đó. “Các nồng độ kim loại sinh khả dụng (bioavailable metals) chúng tôi đo đạc được trong trầm tích mặt ở khu vực rừng ngập mặn lưu trữ được lượng kim loại nhiều hơn đáng kể nhưng lại không làm gia tăng nguy cơ rủi ro ô nhiễm cho loài vật sinh sống ở khu vực này”, Styan nói.  “Tuy nhiên thì những người đang quyết định sẽ ăn cá được đánh bắt tại khu quanh nhà máy luyện kim cũng cần đến lời khuyên của Văn phòng y tế Nam Úc”.  Rừng ngập mặn (cùng với các bãi triều và các thảm cỏ biển) là một phần của hệ sinh thái carbon xanh; khi được bảo vệ hoặc phục hồi, chúng có thể phân tách và lưu trữ carbon nhưng khi bị suy giảm hoặc phá hủy, chúng lại phát thải carbon vào khí quyển như các loại khí nhà kính.  Tiến sĩ Kastury cho rằng việc hiểu biết về vai trò của rừng ngập mặn trong ô nhiễm kim loại an toàn bền vững ở những khu vực ô nhiễm nặng hiện rất cấp thiết, không chỉ cho các cộng đồng Nam Úc mà còn với cả thế giới.  “Nhìn về toàn cầu, hơn một phần ba diện tích rừng ngập mặn đã biến mất, chủ yếu là do con người như thu hồi đất đai để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và các dự án phát triển hạ tầng”, tiến sĩ Kastury lưu ý.  “Chúng ta phải bảo vệ những cánh rừng ngập mặn của chúng ta để chúng có thể làm tốt công việc của mình là bảo vệ môi trường của chúng ta”.  Vũ Nhàn tổng hợp  Nguồn:  https://phys.org/news/2022-11-mangroves-environmental-guardians-coastline.html  https://www.apple.com/newsroom/2022/04/conserving-mangroves-to-protect-local-livelihoods-and-the-planet/  ——————————————————–  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0048969722066025?via%3Dihub    Author                .        
__label__tiasang Rừng nhiệt đới biến đổi khiến loài động vật lớn và tông người tuyệt chủng      Trong một công bố xuất bản trên tạp chí Nature ngày 7/10 “Environmental drivers of megafauna and hominin extinction in Southeast Asia”, các nhà khoa học ở khoa Khảo cổ học ở Viện Max Planck về Khoa học lịch sử loài người (Đức) và Viện Nghiên cứu tiến hóa con người ở Đại học Griffith (Úc) đã phát hiện ra việc mất đi các đồng cỏ ở Đông Nam Á là nguyên nhân chính dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài động vật lớn (megafauna) trong khu vực, thậm chí có thể còn cả người cổ đại nữa.      Bức tranh tái hiện lại đồng cỏ ở khu vực Đông Nam Á vào giữa Thế Pleistocene. Nguồn: Phys.org  “Những cuộc thảo luận toàn cầu về sự tuyệt chủng của các loài động vật lớn thường bỏ qua khu vực Đông Nam Á”, Phó giáo sư Julien Louys, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết. “Nhưng thực tế, khu vực này từng tồn tại một cộng đồng động vật có vú phong phú với kích cỡ khổng lồ, giờ đây tất cả đều tuyệt chủng”.  Thông qua việc nghiên cứu các đồng vị bền trong răng của động vật có vú hiện nay và hóa thạch, các nhà nghiên cứu có thể tái dựng, tìm hiểu các động vật trong quá khứ chủ yếu ăn cỏ hay lá cây, cũng như điều kiện khí hậu tại thời điểm chúng còn sống. “Từ những hướng phân tích khác nhau, chúng tôi có được một bức tranh sơ bộ nhưng độc nhất vô nhị về chế độ ăn của các loài này và môi trường sinh sống của chúng”, TS. Patrick Roberts ở Viện Max Planck, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.   Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp các dữ liệu đồng vị của các điểm hóa thạch trải dài suốt Thế Pleistocene, khoảng 2,6 triệu năm trước, cũng như bổ sung 250 phép đo mới về các loài động vật có vú ở Đông Nam Á – trước đây chúng chưa từng được nghiên cứu theo cách này. Họ chỉ ra rằng rừng nhiệt đới đã phát triển mạnh ở khu vực từ Myanmar tới Indonesia hiện nay trong suốt giai đoạn đầu của Thế Pleistocene nhưng sau đó bắt đầu nhường chỗ cho các đồng cỏ. Các đồng cỏ phát triển mạnh nhất vào 1 triệu năm trước, tạo điều kiện thuận lợi cho những loài động vật ăn cỏ lớn như voi răng kiếm, cũng như những loài họ hàng gần nhất với con người phát triển mạnh. Sự biến đổi lớn lao trong hệ sinh thái mang lại lợi ích cho một số loài, song cũng dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài động vật khác, chẳng hạn như loài linh trưởng to lớn nhất từng xuất hiện trên hành tinh: vượn gigantopithecus.  Tuy nhiên, như chúng ta biết hiện nay, sự biến đổi này không phải là vĩnh viễn. Những cánh rừng nhiệt đới đã bắt đầu quay trở lại khoảng 100 000 năm trước, cùng với hệ động vật rừng mưa nhiệt đới cổ điển được coi là yếu tố sinh thái chính trong khu vực này.  Sự mất mát của nhiều loài động vật lớn ở Đông Nam Á thời cổ đại liên quan đến sự suy giảm của các đồng cỏ này. Tương tự như vậy, những loài người cổ đại từng xuất hiện trong khu vực này, chẳng hạn như Homo erectus (Người đứng thẳng) không thể thích nghi với việc rừng phát triển trở lại.  “Chỉ có duy nhất loài của chúng ta, Homo sapiens, mới có những kỹ năng cần thiết để khai phá và phát triển thành công trong môi trường rừng nhiệt đới”, Roberts cho biết. “Tất cả những loài hominin (tông người) khác dường như không thể thích nghi với môi trường năng động và khắc nghiệt này”.  Một điều trớ trêu là các loài động vật lớn sống ở rừng mưa nhiệt đới hiện nay đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao nhất, nhiều loài trong số đó ở mức cực kì nguy cấp. Đây là hệ quả từ hoạt động của loài hominin duy nhất còn sống sót ở khu vực này trên thế giới, đó là con người.  “Thay vì được hưởng lợi từ sự mở rộng của rừng mưa nhiệt đới trong hàng ngàn năm qua, các loài động vật có vú ở Đông Nam Á đang đứng trước mối đe dọa chưa từng thấy từ các hoạt động của con người”, Louys nhận xét. “Bằng cách chiếm đoạt những cánh rừng nhiệt đới rộng lớn thông qua việc mở rộng các đô thị, phá rừng và săn bắn quá mức, chúng ta sẽ mất đi một số loài động vật to lớn cuối cùng còn sót lại trên Trái đất”.  Thanh An dịch   Nguồn: https://phys.org/news/2020-10-tropical-forest-drove-megafauna-hominin.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng thế giới ngày càng teo lại      Các nhà nghiên cứu Mỹ, với sự hỗ trợ của các nhân viên Google, đã phân tích và xử lý trên 650.000 bức ảnh vệ tinh do Lansat-7 cung cấp để đánh giá về tình hình rừng trên thế  giới từ năm 2000 đến năm 2012.       Nhìn chung, theo nhóm nghiên cứu này, diện tích rừng, đặc biệt là rừng nhiệt đới – nơi có nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đang bị teo lại.   Một số kết quả quan trọng rút ra từ việc nghiên cứu, thu thập dữ liệu:   • Từ năm 2000 đến 2012, toàn thế giới đã mất đi 2,3 triệu km2 rừng, lớn hơn diện tích nước Mông Cổ. Cũng trong thời gian đó đã hình thành 800.000 km2 rừng mới trồng.   • Brazil đã thành công trong việc bảo vệ rừng. Trong khi từ 2003 đến 2004, nước này đã phá khoảng 40.000 km2 rừng thì tới 2010 và 2011, mức độ triệt hạ rừng đã giảm một nửa.  • Tại Indonesia tỷ lệ rừng bị triệt hạ tăng. Từ 2011 đến 2012 đã biến mất gần 20.000 km2 rừng mưa nhiệt đới – tăng trên gấp đôi so với thời kỳ bắt đầu tiến hành quan sát. Bất chấp một lệnh cấm của chính phủ ban hành năm 2011, những tháng sau đó việc triệt hạ rừng đã diễn ra mạnh mẽ hơn.   • Sự mất mát rừng ngày càng tăng còn diễn ra ở Malaysia, Paraguay, Bolivia, Sambia và Angola.   • 32% diện tích rằng bị giảm trên toàn thế giới là rừng nhiệt đới.  • Trong khoảng thời gian từ năm 2000-2012, ở vùng đông nam Mỹ đã khai thác 31% diện tích rừng đồng thời song song là việc trồng lại rừng. Điều này phản ánh việc thâm canh rừng ở Mỹ.   • Diện tích rừng ở vùng ôn đới chỉ giảm nhẹ, ở đây cũng có nhiều diện tích trồng mới rừng. Tại Đức trong khoảng thời gian từ năm 2000-2012, theo nghiên cứu này, đã có 4.980 km2 rừng bị biến mất, trong khi diện tích trồng mới là 2585 km2.  Theo Matthew Hansen thuộc ĐH Maryland, một trong những tác giả tham gia công trình nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí  “Science”, việc xây dựng bản đồ thế giới được hoàn thành nhờ có ba sự thay đổi. Thứ nhất, chương trình “Landsat 7” với “Enhanced Thematic Mapper Plus” (ETM+) khởi động năm 1999 đã tiến hành thu thập dữ liệu toàn cầu. Thứ hai, việc tiếp cận các lưu trữ của “Landsat” từ năm 2008 không mất tiền, nhờ đó các nhà khoa học có thể sử dụng rất nhiều bức ảnh để xây dựng bản đồ rừng rộng 128,8 triệu km2. Và thứ ba, nếu trước đây việc tính toán với các máy tính riêng lẻ mất khoảng 15 năm thì giờ đây nhờ Cloud Computing công việc được hoàn tất trong vòng vài ngày.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng tích tụ thủy ngân lớn hơn chúng ta tưởng      Các phép đo thủy ngân trong rừng tại bang Massachusetts cho thấy, trên toàn cầu, nguyên tố độc hại này đang tích tụ ở các khu rừng mới với số lượng lớn hơn nhiều hơn so với những gì chúng ta biết trước đây. Nghiên cứu được công bố trên PNAS.      Giáo sư Daniel Obrist, Khoa Các khoa học Môi trường, trái đất và khí quyển, trèo lên một trạm quan sát để kiểm tra việc đo đạc thủy ngân tích tụ ở vị trí này. Nguồn: Daniel Obrist.  Theo GS. Daniel Obrist ở Đại học Massachusetts Lowell, người đứng đầu nghiên cứu, rừng tạo nên các hệ sinh thái phong phú và phổ biến nhất trên đất liền. Do đó, kết quả này nhấn mạnh đến mối lo ngại về sức khỏe con người, động vật hoang dã và các hệ thống nước mặt vì thủy ngân tích tụ trong rừng cuối cùng sẽ chảy vào sông suối và đổ ra hồ, đại dương.   Thủy ngân là chất ô nhiễm độc hại, đe dọa đến các loài cá, chim, động vật có vú và con người. Mỗi năm, các nhà máy nhiệt điện than, khai thác vàng và nhiều quy trình công nghiệp khác giải phóng hàng trăm tấn thủy ngân vào khí quyển. Chất ô nhiễm này sẽ được gió và các dòng khí quyển mang đi phân phối khắp toàn cầu.   Theo GS. Obrist, việc con người bị phơi nhiễm lâu dài với thủy ngân hoặc tiêu thụ thực phẩm chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn mức cho phép có thể dẫn đến các vấn đề về sinh sản, miễn dịch, thần kinh và tim mạch.   Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét bức tranh đầy đủ về cách thủy ngân trong khí quyển lắng đọng tại bất kì khu rừng nào trên thế giới, bao gồm cả tích tụ thủy ngân dạng khí mà hầu hết các nghiên cứu trước đây không đề cập đến. “Cây hấp thụ thủy ngân từ khí quyển qua lá và khi cây rụng lá, về cơ bản chúng sẽ chuyển lượng thủy ngân đó vào hệ sinh thái”, ông nói.   Trong 16 tháng qua, nhóm nghiên cứu đã đo đạc lượng thủy ngân trong khí quyển tích lũy tại khu rừng Harvard ở Petersham rộng gần 4.000 mẫu Anh, có các loại cây gỗ cứng lá rộng rụng lá hàng năm như sồi đỏ và phong đỏ. Họ đã đặt các hệ thống đo lường ở nhiều độ cao khác nhau trong tháp nghiên cứu cao 100 feet để đánh giá sự lắng đọng của thủy ngân dạng khí từ tán cây xuống thảm rừng.   “76% thủy ngân tích tụ tại khu rừng này là từ thủy ngân trong khí quyển. Chúng lớn gấp năm lần so với thủy ngân lắng đọng do mưa, tuyết; và gấp ba lần so với thủy ngân tích tụ qua việc rụng lá. Trước đây, các nhà nghiên cứu thường dùng thủy ngân lắng đọng qua lá rụng làm đại diện để ước tính lượng thủy ngân tích lũy trong rừng”, GS. Obrist cho biết.  “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tải lượng thủy ngân trong rừng đã bị đánh giá thấp hơn khoảng hai lần. Các khu rừng trên toàn thế giới có thể là nơi hấp thụ và lưu giữ thủy ngân lớn hơn nhiều so với đánh giá hiện nay. Điều này có thể giải thích cho lượng thủy ngân cao bất ngờ mà chúng tôi quan sát thấy ở các mẫu đất trong rừng”.  Thực vật dường như là nguồn chứa thủy ngân chính tại đất liền. Chúng chiếm khoảng 54 đến 94% thủy ngân tích tụ trong đất trên khắp Bắc Mỹ. Tổng lượng thủy ngân toàn cầu tích lũy trong đất hiện ước tính khoảng 1.500 đến 1.800 tấn mỗi năm, nhưng nó có thể nhiều hơn gấp đôi nếu các khu rừng khác cũng có mức độ tích  tụ tương tự.  Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục công việc tại khu rừng thứ hai ở thị trấn Howland, Bắc Maine. Rừng Howland rộng gần 600 mẫu Anh, gồm các loại cây lá xanh quanh năm. Đây là môi trường sống khác biệt rõ rệt so với rừng rụng lá ở Petersham, nhờ đó các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra sự khác biệt về tích tụ thủy ngân giữa các loại rừng khác nhau.   Nghiên cứu này cũng cho phép Eric Roy, một sinh viên chuyên ngành khí tượng và toán học của Đại học Massachusetts Lowell và là người đã tham gia Chương trình Học giả của trường từ năm 2019 được trải nghiệm nghiên cứu thực tế.  Roy nói: “Thật thú vị khi được trở thành đồng tác giả của bài báo…Nghiên cứu cho phép chúng tôi định lượng được thủy ngân tích lũy trong loại rừng này. Các nhà phát triển mô hình có thể sử dụng những kết quả đó để cải thiện sự hiểu biết của họ về vòng tuần hoàn của thủy ngân trên toàn cầu và nó có thể thay đổi như thế nào trong tương lai”.  Roy đã hỗ trợ phân tích dữ liệu thu thập trong công trình này. GS. Obrist cho biết, “Eric có đóng góp lớn cho nghiên cứu. Việc một sinh viên đại học được đóng vai trò quan trọng như vậy trong một dự án lớn do liên bang tài trợ là cực kỳ ít gặp”.  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-07-forests-greater-role-depositing-toxic.html      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rừng tự nhiên ở Việt Nam bị khai thác quá mức      Theo Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam 2005 về Đa dạng sinh học (VEM) được công bố mới đây tại Hà Nội, các khu rừng tự nhiên ở Việt Nam đang bị khai thác quá mức và suy thoái về chất lượng, có tới gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia và 300 loài bị đe doạ tuyệt chủng toàn cầu…    Báo cáo VEM năm nay của Ngân hàng Thế giới phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện nhấn mạnh Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Cải thiện hệ thống khu bảo tồn và hiệu quả quản lý hệ thống này, Tăng cường quyền và năng lực của cộng đồng để quản lý tài nguyên thiên nhiên, Cải thiện việc lồng ghép các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học vào khu vực phát triển kinh tế, Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đặc biệt trong việc kiểm soát buôn bán phi pháp động vật hoang dã và tăng cường…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ruồi giấm phát phì khi bị “cách ly xã hội”      Khó ngủ, phát phì đó là hệ quả không mong muốn khi bị cách ly quá lâu. Sự cô đơn có thể là nguyên nhân cho hai hiện tượng trên. Các thí nghiệm với ruồi giấm đã chứng minh điều này.      Ruồi giấm, một “cộng sự” đắc lực trong nghiên cứu về hành vi.  Ruồi giấm là sinh vật xã hội, chúng có những điểm chung với con người. Các loài côn trùng sống trong cộng đồng không chỉ cảm thấy hòa đồng với nhau mà chúng còn tán tỉnh và chơi đùa với nhau. Chúng cần nhau, ví dụ khi tìm kiếm thức ăn hoặc bảo vệ con non. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Rockefeller ở New York sử dụng những điểm tương đồng này để tìm hiểu thêm về con người.  Đại dịch tác động vào tâm trí của nhiều người. Rối loạn giấc ngủ thường là những biểu hiện ban đầu cho những căn bệnh nghiêm trọng. Người mất ngủ thường bẳn gắt, khó chịu. Ai cả tuần, cả tháng không được bình yên có thể bị trầm cảm. Do đó, các nhà khoa học muốn tìm hiểu chính xác tình trạng bị cô lập với  xã hội ảnh hưởng đến giấc ngủ như thế nào và điều gì xảy ra trong não khi con người phải sống cô đơn.  Ruồi giấm thích ngủ và ngủ kéo dài. Chúng  ngủ nghỉ tới 16 giờ trong ngày là bình thường. Ban đầu, các nhà nghiên cứu đặt côn trùng thành từng nhóm 100 con, số lượng sau đó giảm dần. Chúng vẫn không có sự thay đổi về hành vi khi ngủ ở nhóm 25 con và sau đó là 5 con. Ngay cả khi chỉ có hai con ruồi sống cùng nhau, hồ sơ giấc ngủ không có sự sai lệch lớn so với trạng thái bình thường. Tình hình thực sự thay đổi khi ruồi bị phải sống cô lập hoàn toàn.  Khi sống cô độc một mình ruồi bị  “mất ngủ rõ rệt”, khi ruồi phải sống hoàn toàn biệt lập ba ngày liền. Ngoài ra chúng tỏ ra rất phàm ăn. Triệu chứng được công bố trên tạp chí Nature.  Trong đại dịch nhiều người cũng bị tăng cân trong một thời gian cách ly rất ngắn, người ta đặt tên trạng thái này là “Hyperphagie”, một dạng “đói ăn”.  Do đó, các nhà nghiên cứu giả định rằng không chỉ có mối liên hệ giữa sự cô đơn và chất lượng giấc ngủ, mà còn giữa sự cô lập xã hội và hành vi ăn uống. Nguyên nhân hiện tượng này là do gene. Nghiên cứu về cấu trúc thần kinh cho thấy một số tế bào não phản ứng với sự cô lập, điều này cũng liên quan đến  giấc ngủ và  ăn uống. Có thể những loài sinh vật có lối sống theo xã hội coi sự sống cô đơn kéo dài như tín hiệu báo trước về một tai họa sắp xẩy ra  buộc nó phải tỉnh táo để đề phòng. Ăn nhiều cũng là biểu hiện của phòng khi cơ nhỡ – một kiểu “quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy”.  Xuân Hoài dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fwissenschaft%2Feinsamkeit-was-man-von-taufliegen-ueber-die-auswirkungen-der-corona-pandemie-lernen-kann-a-44be5fce-8f04-4cd6-a5e6-90e4eee08ec6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ruột nhân tạo      Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu thực phẩm Anh đã chế tạo được ruột nhân tạo. Đoạn ruột này được làm từ chất dẻo và kim loại, có thể chịu đựng được chất a-xít và enzyme bào mòn trong ruột cũng như tiêu hóa được thức ăn.    Nó cũng bắt chước được các phản ứng lý hóa thường xảy ra trong quá trình tiêu hóa và thậm chí có thể gây nôn mửa như những đoạn ruột bình thường.  Các nhà khoa học hy vọng phát minh trên sẽ giúp họ hiểu hơn về việc thức ăn tiêu hóa như thế nào và loại dinh dưỡng nào cơ thể dễ hấp thụ để từ đó có thể tạo ra loại thức ăn tốt hơn cho việc tiêu hóa.  H.Y (BBC, AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ruth Belville: nhà cung cấp dịch vụ      Để có thời gian chuẩn (chính xác) hiện giờ đối với chúng ta là một việc quá dễ dàng. Thế nhưng vào những năm 1930 ở Luân Đôn, Thủ đô của đất nước công nghiệp Anh quốc, để biết được thời gian chuẩn, người ta chỉ có thể nghe các tiếng bíp trên đài phát thanh, đặt mua dịch vụ thời gian bằng điện báo hoặc hàng tuần đến gặp… Ruth Belville- một bà cô hơn tám mươi tuổi. Trong vòng hơn 50 năm, Belville đã dùng một chiếc đồng hồ có tuổi già hơn cả bà để “mang” thời gian chuẩn Greenwich từ Royal Observatory (Đài thiên văn Hoàng gia) tới vài chục khách hàng nằm rải rác trong thành phố. Điều kỳ lạ là mặc dù các công nghệ mới thay nhau ra đời nhưng dịch vụ này vẫn tiếp tục phát đạt    Nhu cầu của sự “chính xác”  Vào đầu thế kỷ 19 ở Luân Đôn, thời gian chuẩn là một “sản phẩm dịch vụ” có nhu cầu rất cao nhưng lại ít người cung cấp. Lúc đó, tuy các loại đồng hồ đã xuất hiện và phổ biến trên thị trường nhưng một chiếc đồng hồ tốt theo đúng nghĩa là luôn phải được đặt giờ chuẩn. Phần lớn những người có đồng hồ lúc đó chỉnh đồng hồ theo mặt trời. Nhưng như vậy thì đồng hồ chỉ có độ chính xác tương đối. Muốn có giờ chuẩn thì phải làm thế nào? Ở thời đó, phần lớn thời gian chuẩn chỉ có thể hỏi ở các nhà thiên văn học, những người luôn cần tới sự chính xác để phục vụ việc quan sát, nghiên cứu các vì sao. Và như vậy, họ cũng là những người cung cấp dịch vụ thời gian chuẩn cho các thủy thủ để họ có thể tính toán được kinh, vĩ độ khi đi thuyền. “Nếu ai đó muốn có giờ chuẩn, họ có thể tới các đài thiên văn hoặc hỏi Nhà thiên văn Hoàng gia”, David Rooney, người hướng dẫn tại Đài thiên văn Hoàng gia nói.  Các nhà sản xuất đồng hồ chính xác hơn ai hết chính là những người cần có giờ chuẩn trong suốt quá trình chế tạo đồng hồ. John Pond, Nhà thiên văn Hoàng gia lúc đó phát ốm vì quá nhiều người tới hỏi thời gian chuẩn và tất nhiên cả phía các nhà sản xuất đồng hồ cũng chẳng muốn quấy rối quá nhiều các nhà thiên văn. Và họ tìm ra một giải pháp: đề nghị Pond cung cấp một dịch vụ giờ chuẩn bằng cách nào đó cho tiện lợi.  Pond đã giao cho người phụ tá của mình, John Henry Belville công việc này. Henry đã tìm cách có một thời gian biểu thích hợp để có thể “cung cấp dịch vụ thời gian chuẩn” cho khách hàng. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi, Pond đưa cho Henry chiếc đồng hồ của một trong những nhà sản xuất đồng hồ nổi tiếng nhất lúc bấy giờ-John Arnorl & Son. Chiếc đồng hồ này thực tế là được làm cho công tước xứ Sussex, George IV, một người cực kỳ đam mê chơi đồng hồ. Tuy nhiên, chiếc này quá lớn so với yêu cầu của công tước. Do vậy, ông gửi trả lại nó cho nhà sản xuất. Nhận được chiếc đồng hồ, Henry liền thay chiếc vỏ vàng bằng bạc bởi ông không thích quá phô trương.    Dịch vụ khởi sắc và kẻ ngáng chân   Henry chính thức bắt đầu cung cấp dịch vụ “thời gian chuẩn” vào tháng 6/1836 và sử dụng phương tiện đi lại là xe lửa. Lúc đó ông có tới 200 khách hàng gồm không chỉ các nhà sản xuất mà cả những người sửa chữa đồng hồ, ngân hàng và các công ty lớn. Các doanh nhân lúc đó nhận thức rất rõ ràng về tầm quan trọng của thời gian chính xác bởi nó ảnh hưởng tới các giao dịch tài chính. Tuy nhiên, trên đường “giao hàng”, ông thỉnh thoảng cũng dừng lại ở một vài gia đình để cung cấp cho họ thời gian chuẩn. Lúc đó, đối với một số cá nhân, có thời gian chuẩn cũng là có một cái gì đó tượng trưng cho sự “sành điệu” và địa vị xã hội.  Khi Henry qua đời vào năm 1856, công việc của ông được chuyển sang cho người vợ góa. Đến năm 1892, bà giao việc này cho người cháu gái Ruth. 16 năm kế tiếp sau đó, Ruth thầm lặng tiếp tục công việc. Vào mỗi sáng thứ hai hàng tuần, cô gái rời ngôi nhà mình ở Berkshire để tới Greenwich. Ở đó, cô chỉnh lại đồng hồ theo giờ chuẩn, lấy giấy chứng nhận và lên đường phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, tới năm 1908, công việc đều đặn của Ruth đã gặp một trở ngại lớn: một doanh nghiệp lớn trong cùng lĩnh vực muốn hất cẳng cô ra khỏi thị trường này. Câu chuyện này thực ra mới được làm sáng tỏ vào năm ngoái khi người ta đi tìm tư liệu cho Phòng bảo tàng thời gian của Đài thiên văn Hoàng gia.           Thời gian chính xác, một “món hàng” xa xỉ ở Anh nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20        Trong đống tư liệu của đại học Cambridge, nhà sử học Rooney đã tìm thấy một tập hồ sơ bao gồm các thư từ và thông cáo báo chí. Từ các hồ sơ này, ông tìm kiếm thêm các thông tin liên quan để tái dựng lại câu chuyện.  Câu chuyện bắt đầu vào ngày 4/3/1908 khi “ngài” St John Wynne đọc một bài phát biểu trước nhóm các nhà tư vấn và ủy viên hội đồng thành phố Luân Đôn. Với tựa đề “Yêu cầu của sự đồng bộ”-A Plea for uniformity,  chủ đề chính của bài phát biểu này nói tới sự cần thiết thống nhất giờ chuẩn trên cả nước Anh. Wynne cho rằng một xã hội hiện đại và hiệu quả trước hết cần phải thống nhất được giờ chuẩn trong toàn xã hội đó. Mặc dù múi giờ GMT (Greenwich Mean Time) được coi là giờ chuẩn ở Anh từ năm 1880, Wynne vẫn “cảm thấy” có quá nhiều người và doanh nghiệp phụ thuộc vào việc “lấy giờ chuẩn”. Dịch vụ báo giờ bằng điện báo điện tử là một phương thức rất tốt và đã được thực hiện từ những năm 1852. Như vậy chẳng cần phải nhờ tới các phương thức truyền thống khác đã lỗi thời và ít hiệu quả. Trong buổi nói chuyện đó tất nhiên có một số người đang sử dụng dịch vụ của Ruth.  Theo những gì tờ The Times đưa tin sau đó 3 ngày, Wynne đã phê phán kịch liệt dịch vụ của Ruth. “Điều kỳ cục là vẫn có những công ty hiện nay không biết làm thế nào để có giờ chuẩn và một phụ nữ có trong tay một chiếc đồng hồ chính xác, được trang bị thêm một giấy chứng nhận của Đài thiên văn Hoàng gia có thể thực hiện dịch vụ “bán” thời gian chuẩn”.  Trên thực tế, dường như Wynne không trực tiếp phê phán dịch vụ của Ruth mà ám chỉ tới Ruth, nhờ sắc đẹp và sự duyên dáng của phụ nữ mới có thể vào được đài thiên văn để lấy giờ chuẩn và sau đó “bán lại”. Nếu không có lợi thế đặc biệt này, liệu cô có duy trì được việc làm ăn của mình?  Nhưng Wynne là ai? Ông ta chính là Giám đốc của Công ty Giờ chuẩn (Standard Time Company-STC), công ty tư nhân lớn nhất cung cấp giờ chuẩn qua điện báo ở Anh. Âm mưu của Wynne đã rõ ràng, nếu hất được Ruth ra khỏi thị trường cung cấp dịch vụ thời gian chuẩn này thì ông ta sẽ kiếm được kha khá khách hàng cũ của cô. Lo sợ việc này sẽ ảnh hưởng tới uy tín của Đài thiên văn Hoàng gia và công việc của mình, Ruth liên tiếp gửi thư xin lỗi tới Nhà thiên văn Hoàng gia lúc đó là William Christie: “Tôi rất lấy làm tiếc vì sự việc này và rất có thể Đài thiên văn cho rằng tôi dính líu tới việc này”. Trong một cuốn nhật ký của mình, Ruth cũng từng viết: “Mình hy vọng Công ty Giờ chuẩn không nên tiếp tục tấn công mình nữa trước công chúng”. Dường như tất cả các nỗ lực phá hoại của Wynne không hề ảnh hưởng nhiều tới công việc của Ruth. Cô tiếp tục dịch vụ của mình trong suốt thời gian 30 năm sau đó. Một điều mà Wynne không nghĩ tới là dịch vụ của công ty ông ta khiến khách hàng phải bỏ ra khá nhiều tiền. Mỗi người thuê dịch vụ phải có một đường truyền điện báo. Mặc dù vậy, việc các tín hiệu điện báo gửi đi bị trục trặc và không tới người nhận là chuyện bình thường. Trong khi đó, Ruth chỉ ngừng cung cấp dịch vụ khi cô bị ốm. Sau năm 1924, các tín hiệu thời gian chuẩn đã được các đài phát thanh phát đi nhưng các thiết bị thu phát không dây lúc đó còn rất tốn kém và đòi hỏi không chỉ giấy phép mà cả hệ thống dây ăng ten rất phức tạp.  Ruth thực sự chỉ ngừng cung cấp dịch vụ của mình khi các tín hiệu truyền thanh về giờ chuẩn ngày càng phổ biến và khi người ta chỉ cần nhấc điện thoại lên là có thể hỏi ngay được giờ chính xác. Lúc đó vào khoảng năm 1939 và Ruth thực sự đã quá già: 86 tuổi. Khi quyết định dừng dịch vụ, Ruth vẫn còn tới 50 khách hàng. 4 năm sau đó, bà qua đời.  Hoàng An  Nguồn tin: NewScientist, 25/2/2006      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sa mạc Sahara từng xanh tươi      Đó là kết luận của các chuyên gia khảo cổ học thuộc Đại học Chicago (Mỹ) sau khi nghiên cứu một nghĩa địa từ thời đồ đá tại Sahara.      Khu nghĩa địa 10.000 năm tuổi trên, được gọi là Gobero, đã được phát hiện vào năm 2000 nhưng đến nay nhóm nhà nghiên cứu mới thu thập đủ dữ liệu để có được báo cáo hoàn chỉnh. Ít nhất 200 nấm mộ người đã được tìm thấy tại khu vực trên cùng với những phần còn lại của các loài động vật như cá lớn và cá sấu. Nấm mộ gây ấn tượng nhất là nơi an nghỉ của một phụ nữ và 2 trẻ em trong tư thế ôm nhau trên một chiếc giường hoa cách đây khoảng 5.000 năm. Những phát hiện trên chứng tỏ Sahara, hiện là sa mạc lớn nhất thế giới, từng có thời gian xanh tươi. Điều này do sự thay đổi nhỏ của quỹ đạo trái đất cách đây khoảng 12.000 năm đã mang gió mùa đến nơi này trong một thời gian ngắn, tạo nên một Sahara khác biệt với nhiều hồ nước, thu hút các cộng đồng người và động vật.   T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sa mạc trên đại dương      “Sa mạc biển” hay “vùng biển chết” là những vùng đại dương thiếu oxy. Hiện tượng này có thể do tự nhiên hoặc do có quá nhiều ni-tơ, và các chất thải công nghiệp trong nước biển.    Theo Ủy ban bảo vệ biển, thập kỉ qua một vùng biển chết ở Vịnh Mexico, nơi con sông Mississippi đổ ra mỗi giây hàng tấn galon nước ô nhiễm, đã lan rộng tới 18.000 km2. Những năm gần đây, nhiều vùng biển chết khác cũng trải qua hiện tượng trên. Nhà hải dương học Lothar Stramma và một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã khẳng định điều này, và cho rằng nó liên quan đến hiện tượng nóng lên toàn cầu. Hiện tượng lan rộng của các vùng chết ảnh hưởng hầu như toàn bộ các sinh vật và hệ sinh thái biển. Mỗi người chúng ta có thể giúp cải thiện tình hình này bằng những lựa chọn hằng ngày thông minh hơn, giảm “dấu chân cacbon” – lái xe ít hơn, đi bộ nhiều hơn, mặc nhiều áo ấm thay vì bật lò sưởi, và hạn chế sử dụng túi nilon. Hồng Thoa (Theo E-The Environmental Magazine)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách minh họa giúp trẻ học tốt hơn      Các bức hình trong sách không chỉ giúp trẻ giải trí mà còn dạy chúng cách định vị thế giới một cách hiệu quả. Trẻ tiếp thu tốt nhất khi các hình tượng giống hiện thực nhất.    Nhà nghiên cứu Gabrielle Simcock tại Đại học Queensland, Australia, và Judy DeLoache tại Đại học Virginia, Mỹ, đã kiểm tra 132 trẻ em chưa tới 30 tháng tuổi để xem chúng có bắt chước các hành động trong sách tranh. Kết quả cho thấy hầu hết các bé đều hoàn thành các động tác mà chúng nhìn thấy trên trang sách.  “Hình thức tương tác phổ biến này xảy ra từ giai đoạn đầu trong cuộc sống của trẻ có thể cung cấp một nguồn thông tin quan trọng cho chúng về thế giới xung quanh”, Simcock nói.  Hầu hết phụ huynh đọc truyện cho con trẻ hằng ngày, nhưng đến gần đây các nghiên cứu mới tập trung vào việc cha mẹ nên sử dụng sách như thế nào cho con trẻ.  Trong thí nghiệm đầu tiên, lũ trẻ được đọc một quyển sách về cách tạo ra một cái lúc lắc, trong đó có những bức ảnh thể hiện một đứa trẻ nhét một quả bóng cao su vào trong hộp nhựa và gắn vào một cái gậy. Bọn trẻ sau đó được cho những dụng cụ đó và yêu cầu tạo ra một quả lúc lắc.  Hầu hết trẻ em đều hoàn thành được các bước, trong đó đa số nhét quả bóng vào hộp nhựa và một nửa gắn thêm cái gậy. Tất cả đều thực hiện tốt hơn nhóm không được xem sách.  Những bức ảnh sau được chuyển thành hình vẽ. Những em bé 24 tháng tuổi và 30 tháng tuổi thực hiện tốt như khi xem ảnh, nhưng những em 18 tháng tuổi thì không thể hoàn thành nhiệm vụ.  Cuối cùng, các em 24 và 30 tháng tuổi được xem các bức hình hướng dẫn chỉ có màu đen trắng. Lần này, chúng cũng làm tệ như nhóm không được xem hình ảnh.  Kết quả cho thấy trẻ em học tốt nhất từ các bức tranh phản ứng hiện thực nhất các đồ vật. Khi được người lớn hướng dẫn, tất cả đều lắp được quả lúc lắc hoàn chỉnh.  M.T.  (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sách toán Việt Nam: Giữa hiện thực và huyền thoại (Kỳ cuối)      Qua những những cuốn sách toán hiện còn sót lại, chúng ta không chỉ hình dung ra một lịch sử phát triển của toán học Việt Nam thời kỳ Trung đại mà còn cả những nhà toán học tiêu biểu, trong đó có Lương Thế Vinh và cuốn Toán pháp đại thành.      Chân dung Trạng Lường Lương Thế Vinh trong đền thờ ông ở thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguồn: wikipedia  Sách toán Việt Nam hiện tồn  17. Toán pháp tiết cương 算法提綱. Tiêu đề Toán pháp tiết cương 算法提綱 của cuốn sách này trong Thư viện Quốc gia Hà Nội không phải là tên thật của cuốn sách. (Các) trang đầu của cuốn sách này bị mất và Toán pháp đề cương chỉ là tên đề mục của phần đầu cuốn sách. Phần thứ nhất của cuốn sách giải thích rất chi tiết các phép toán thực hiện với bàn tính và trình bày một loạt các hình vẽ thể hiện vị trí các hạt trên bàn tính (công cụ được trình bày là bàn tính Trung Hoa chuẩn với 2+5 hạt và 11 thanh ngang). Phần còn lại của cuốn sách là sự biên soạn lại chín chương của toán học Trung Hoa cổ, theo phân tích sơ bộ, có thể giả thiết rằng dựa trên cơ sở của cuốn Toán pháp thống tông của Trình Đại Vị.  18. Toán pháp kỳ diệu 算法奇妙. Tên của cuốn sách (không biết tác giả) này được Tran and Gros đặt (1993) có khả năng nhất là dựa trên trang đầu của bản viết tay trong thư viện Hán Nôm. Nhưng cả phần Mục lục lẫn phần mở đầu của cuốn sách đều chỉ rõ tên của cuốn sách là Tập thành chư gia huyễn nghì toán pháp 集成諸家幻儀算法. Năm biên soạn của cuốn sách không rõ, nhưng do nó có chứa phần phụ lục liên quan đến các tiêu chuẩn thu thuế trong thời Minh Mạng 明命 (từ 1820 đến 1841), có thể kết luận rằng cuốn sách được soạn không sớm hơn 1820 (vẫn không rõ có tồn tại hay không bản in của cuốn sách). Cuốn sách không được chia thành các chương, nhưng qua tiêu đề của trang (có thể được thêm vào sau), có thể giả định rằng cuốn sách ban đầu chứa “ba chương hợp làm một”. Phần nhập đề của cuốn sách chứa thông tin về các kí hiệu số, đơn vị đo và một số vấn đề phụ trợ khác. Phần cơ bản chứa một loạt các bài toán, các bảng và các giải thích liên quan tới các vấn đề truyền thống như tính diện tích hình phẳng, các phép toán qui đồng phân số, khai căn bậc hai và bậc ba.      Toán học và thiên văn học Việt Nam đã chiếm một vị trí trong xã hội Việt Nam tương tự như ở Trung Hoa vào thiên niên kỉ thứ nhất.      19. Toán pháp quyển 算法卷. Tác phẩm này của tác giá Đỗ Đức Tộ 杜德祚 đã được biên soạn năm 1909. Cuốn sách bắt đầu với bảng nhân và tập hợp các qui tắc thực hiện trên công cụ tính toán và chứa các bài toán liên quan đến phân bổ tỉ lệ, tính thể tích của các khối, tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai, tính thu hoạch từ cánh đồng với diện tích đã cho.  20. Tổng tụ chư gia toán pháp đại toàn 總聚諸家算法大全. Bản viết tay trong thư viện Hán Nôm không đầy đủ, chỉ chứa chương 3 (48 bài toán), chương 4 (32 bài toán), và hai trang đầu của Phụ lục (chứa một bài toán). Các bài toán liên quan đến phân bổ có trọng, tính thể tích, và các vấn đề khác, chủ yếu liên quan đến xây dựng, lao động tập thể, và các công việc hành chính. Có thể cuốn sách chứa các bài toán trong các kì thi toán quốc gia (Mở đầu Chương 3 đề cập đến kì thi này).  21. Trùng đính Toán học chỉ nam tân biên 重訂算法指南新編. Cuốn sách viết tay không biết tên tác giả nằm trong thư viện Viện nghiên cứu Lịch sử (Hà Nội). Nó chứa các bài toán liên quan đến tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, ứng dụng của tam giác vuông vào đo đạc từ xa (trong đó có phương pháp cắm hai cọc và các hình vẽ minh họa), sử dụng các cọc đo ruộng đất, và các phương pháp khác. Cuốn sách nhắc đến hệ thống đơn vị đo được qui định trong thời Gia Long 嘉隆 (1802-1820) được viết bằng chữ Hán, do đó chỉ có thể được viết sau nửa đầu của thế kỉ 19. Nhưng cuốn sách chứa một số lớn các tính toán kiểu phương Tây được viết với các chữ số Ả-Rập trong văn bản, điểu này cho phép giả thiết rằng các tác giả của nó hoặc ít nhất người biên tập hoặc người chép cuối cùng đã làm quen với các phương pháp phương Tây, và bản chép tay còn lại được làm rất muộn về sau.    Tích Trạng Lường Lương Thế Vinh giải đố cân voi của sứ thần nhà Minh được diễn trong hoạt động của CLB Khoa học trường iSchool Long An với chủ đề “Tìm hiểu tiểu sử của các nhà toán học”. Nguồn: ischool.vn  22. Ý Trai toán pháp nhất đắc lục 意齋算法一得錄. Nguyễn Hữu Thận 阮有慎 (1756-1831), người giữ những vị trí cao trong chính phủ và đã đi sứ sang Trung Hoa vào khoảng giữa các năm 1809 và 1813, đã hoàn thành cuốn sách vào năm 1829. Ông đã tìm được những cuốn sách liên quan đến thiên văn và đã trao đổi với các nhà thiên văn Trung Hoa.  Cuốn sách chứa tám chương dành cho các phép toán số học cơ bản thực hiện với công cụ tính, hệ thống đo lường, tính diện tích hình phẳng, phân bổ có trọng, “khai căn bậc hai” (theo ngôn ngữ hiện đại là giải phương trình bậc hai), các tính chất của tam giác vuông (đặc biệt liên quan đến việc sử dụng trong đo đạc từ xa), “khai căn bậc ba” (nghĩa hiện đại: giải số phương trình bậc ba), và các vấn đề khác của chương trình toán học truyền thống. Cuốn sách chứa các giải thích của tác giả liên quan đến các phép toán bằng số cần thực hiện, từ nguyên của các danh từ toán học, cơ sở của các qui tắc, và do đó có thể được sử dụng như là một cuốn sách giáo khoa để đào tạo chuyên nghiệp các nhà toán học và các nhà thiên văn quốc gia.   Cấu trúc của một tác phẩm toán học qua Toán pháp đại thành  Hiện có hai bản viết tay tác phẩm Toán pháp đại thành, cả hai đều được lưu giữ tại thư viện Hán Nôm với kí hiệu  VHv.1152 và A.2931. Trong khi bản A.2931 không có năm chép (nhưng chắc chắn là trước 1934), bản VHv.1152 được chép vào năm 1944, điều này được ghi trên trang đầu của cuốn sách. So sánh các bản này cho thấy VHv.1152 là bản sao của A.2931. Không bản thảo nào có lời nói đầu hoặc lời tựa, hoặc các thông tin khác cho phép biết ngày biên soạn tác phẩm và tác giả của nó. Tên của tác giả giả định “Tiến sĩ Lương Thế Vinh” chỉ được viết trên trang đầu tiên của mỗi bản thảo bên cạnh tiêu đề. Tuy nhiên, có thể trang này đã được thêm vào sau (Gaspardone, 1934, trang 149, Mục 1).     Học sinh trường tiểu học Lương Thế Vinh (TPHCM) trong cuộc thi toán mang tên Lương Thế Vinh năm 2018. Nguồn: thluongthevinh.hcm.edu.vn/  Sách được biên soạn theo các sách Trung Hoa cổ: Phát biểu bài toán, đáp số và lời giải. Cũng có một số qui tắc giải không tương ứng với bất kì bài toán cụ thể nào. Rất có thể đây là do bị mất một số phần lời văn chứa đầu bài và đáp số tương ứng. Tổng số bài toán trong cuốn sách lên tới 138 bài. Một số bài toán hình học không được phát biểu rõ, nhưng được giới thiệu bằng hình vẽ với các kích thước được ghi. Có một bài toán không có dữ liệu số đi kèm với lời giải, nhưng thuật giải có thể là một đoạn từ “Bài toán phần dư Tôn Tử” nổi tiếng của Trung Quốc.  Cuốn sách có thể được chia làm 8 phần:  Phần 1 (Các bài toán 1-35) gồm các bài toán về phép bình phân và sai phân.  Phần 2 (Các bài toán 36-42) gồm các bài toán tính diện tích hình phẳng: hình vuông, hình chữ nhật, hình thang, các hình được xấp xỉ bởi diện tích hình tròn.  Phần 3 (Các bài toán 43-69) chứa các bài toán về tỉ lệ, qui tắc ba đại lượng, qui tắc vị trí sai kép, và các trường hợp đơn giản của phép nhân và chia. Phần này cũng chứa phương pháp tính chiều cao của vật khi biết chiều cao của một vật khác và bóng của cả hai vật.   Phần 4 (Các bài toán 70-85) chứa các bài toán khai căn và qui tắc phụ trợ cho việc đổi đơn vị tiền từ loại này sang loại khác.  Phần 5 (Các bài toán 86-93) là tiếp tục của Phần 3. Người đọc được yêu cầu phải giải các bài toán về tính toán lợi ích và các bài toán về nhân chia. Nhưng có một bài toán liên quan đến tính thể tích khối đặc và một đoạn về bói toán.    Phần 6 (Các bài toán 94–131) liên quan tới nhiều chủ đề khác nhau, như tính toán diện tích các hình. Ở đây có các hình dạng chữ nhật, các cung tròn, hình sừng trâu, hình tròn, hình trống, hình ellipse, hình nhẫn, hình con mắt (giao của hai vòng tròn), tam giác cân, hình thang, hình gồm một số hình thang liền kề, hình tứ giác với bốn cạnh đã cho, và hình tạo bởi hai hình vuông liền kề. Các bài toán còn lại trong nhóm này là khai căn bậc hai, tính thể tích của khối đa diện và chuyển đổi các đơn vị đo lường.   Phần 7 không có các bài toán, mà là một văn bản dài độc lập liên quan đến thuế đất.  Phần 8 (Các bài toán 132-138) bao gồm nhiều vấn đề như “Sử dụng số trong bói toán”, tính chiều cao của cây khi biết bóng của nó, một bài toán thơ về phương trình vô định, và tính diện tích tứ giác.     Với hi vọng làm rõ xuất xứ của nội dung cuốn sách Toán pháp đại thành, một số bài toán và phương pháp toán học đã được thảo luận trong Volkov (2002). Các chủ đề được phân tích bao gồm: (1) Công cụ tính toán được sử dụng; (2) Bảng nhân 9×9 đặc trưng trong cuốn sách; (3) Danh sách các số lớn; (4) Toán thơ tính diện tích; (5) Đo đạc từ xa;  (6) Các vấn đề liên quan đến bói toán; (7)  Phương trình vô định.  Các kết quả so sánh đã nói ở trên về phương pháp toán học, các dạng toán và công cụ với toán học Trung Hoa có thể tóm tắt như sau (chi tiết hơn, xem Volkov, 2002):  1. Việc thiếu các tài liệu tham khảo rõ ràng về bàn tính trong cuốn sách cho thấy cuốn sách được các nhà toán học Việt Nam biên soạn trước khi làm quen với các cuốn sách Trung Hoa dành cho tính toán với bàn tính, hoặc nó đã được biên soạn sau đó chỉ trên cơ sở các cuốn sách toán Trung Hoa và Việt Nam được viết trước năm 1573 khi tác phẩm toán học Trung Hoa đầu tiên hiện tồn của Xu Xinlu (Từ Tâm Lỗ) 徐心魯 Panzhu suanfa (Thuật toán hạt) 盤珠算法 dành riêng đặc biệt cho sử dụng bàn tính.  2. Cuốn sách không chứa một thông tin nào nói rằng tác giả của nó thực sự là Lương Thế Vinh, danh nhân văn hóa và quan chức nhà nước vào thế kỉ XV.  3. Tuy nhiên, không phải là không thể, cuốn sách có thể là tổng hợp dựa trên cơ sở các tác phẩm toán học của Trung Quốc trước cuối thế kỉ thứ XV và sau đó có mặt ở Việt Nam. Việc biên soạn đã được “địa phương hóa”. Đó là sự chuyển đổi các bài toán và phương pháp sang các đơn vị đo lường địa phương, tiền tệ, hệ thống thuế, cũng như tên địa phương được nhắc đến trong các bài toán (thực vật, thuốc, các loại thức ăn, động vật).  Các phương pháp trong cuốn sách dường như có sự tương tự với cuốn sách Suan fa tong zong (Toán pháp thống tông) 算法統宗 (1592) của  Cheng Dawei (Trình Đại Vị) 程大位 không có nghĩa là cuốn sách toán của Việt Nam được biên soạn dựa trên cơ sở cuốn sách của Trình Đại Vị. Sự tương tự này có thể giải thích rằng, chính cuốn sách của Trình cũng dựa trên rất nhiều cuốn sách toán được biên soạn vào thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI, đầu tiên và có thể quan trọng nhất là tác phẩm của Yang Hui (Dương Huy) 楊輝(khoảng 1275) và Wu Jing (Ngô Kính) 敬 (khoảng 1450). Không phải là không thể là nhà biên soạn cuốn sách Việt Nam cũng biết đến các cuốn sách này, hoặc các cuốn sách Trung Hoa cổ hơn chứa các nội dung tương tự và sau đó đã bị thất lạc.  Nghiên cứu sơ bộ nội dung của cuốn sách Việt Nam Toán pháp đại thành đã được trình bày trong Volkov (2002) chưa cho phép có một bức tranh rõ ràng về nguồn gốc của nó. Khảo sát những tư liệu liên quan đến cuộc đời và hoạt động của người được cho là tác giả, Lương Thế Vinh, là một yêu cầu cần thiết để xác định nguồn gốc của cuốn sách. Các kết quả nhận được qua những nghiên cứu này (Volkov, 2005, 2006) được tóm tắt như sau.  Lương Thế Vinh – một vị thánh toán học  Tiểu sử của Lương Thế Vinh có thể được chia làm hai phần “tiểu sử lịch sử” và “tư liệu huyền thoại”. Tiểu sử lịch sử của Lương Thế Vinh có thể tìm thấy trong các cuốn Đăng khoa lục 登科錄 của Nguyễn Hoãn 阮俒 (1712–1791), trong bản viết tay 登科錄抄本 và trong cuốn sách in Lịch đại đại khoa lục 歷代大科籙.  Tất cả các văn bản này mô tả khá ngắn gọn con đường làm quan, nơi sinh và công việc chính thức của Lương Thế Vinh trong Hàn lâm viện. Cuốn sách thứ hai và thứ ba có nhắc đến cuốn sách toán mà ông viết, nhưng lại cho những tiêu đề rất khác nhau của cuốn sách. Cuốn thứ hai và thứ ba có nhắc đến hoạt động ngoại giao của ông, nhưng các chi tiết vẫn chưa được sáng tỏ. Nhóm thứ hai về tiểu sử Lương Thế Vinh hiện tồn tập trung chủ yếu về hiện tượng siêu nhiên quanh sự ra đời và cuộc sống của ông. Một đoạn ngắn mô tả tiểu sử này có thể tìm thấy trong Volkov (2005), bản dịch của một phần được in trong Volkov (2006).   Phân tích ban đầu của các giai thoại này cho thấy các huyền thoại ban đầu về Lương Thế Vinh đã được tạo ra trong hai nơi  là “thiên đình” và “làng”, nhưng cả hai nhóm giai thoại đều miêu tả ông có nguồn gốc thần thánh hoặc sở hữu năng lượng siêu nhiên. Có thể phỏng đoán rằng ông gắn bó với toán học là do liên quan đến nhiệm vụ hành chính trong suốt cuộc đời của ông. Thí dụ, trong công việc ngoại giao và các hoạt động quân sự chống lại người Chăm, có lẽ liên quan đến công việc của ông trong lập bản đồ, được nhắc qua trong một số tiểu sử của ông. Giai thoại về ông liên quan đến “tính” và “đo lường” (theo nghĩa rộng) trong trường hợp này có thể được hợp nhất với nguồn gốc siêu nhiên và do đó làm ông trở thành thánh bảo trợ của các nhà toán học chuyên nghiệp vào đầu thế kỉ XVIII (Volkov, 2005).   Đền thờ Lương Thế Vinh 梁狀元祠 ở thôn Cao Hương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, nơi ông sinh ra có ảnh chân dung ông với trang phục quan chức cùng mũ và hia, và một số sắc lệnh của Vua liên quan đến việc xây dựng và hoạt động của ngôi đền (Volkov, 2005). Chân dung chính thức của ông được bảo tồn trong đền miêu tả ông như  một quan chức nhà nước, không liên quan gì đến các giai thoại về sự ra đời và cuộc sống của ông. Chỉ có duy nhất một dòng chữ đề cập đến tác phẩm toán mà ông có lẽ là tác giả.    Kết luận   Các tài liệu hiện có không cho phép đề xuất bất kì một bức tranh đáng tin cậy về toán học Việt Nam trước thế kỉ XV, và không có thông tin nào liên quan đến hệ thống giáo dục toán học đó rất có thể là kết quả của sự chiếm đóng của Trung Quốc vào đầu thế kỉ XV. Tuy nhiên, nhiều nguồn tư liệu cho phép nhận định rằng toán học và thiên văn học Việt Nam đã chiếm một vị trí trong  xã hội Việt Nam tương tự như ở Trung Hoa vào thiên niên kỉ thứ nhất và vẫn còn là một môn học được nhà nước hỗ trợ cho đến đầu thế kỉ XX.   Các cuốn sách toán của Việt Nam hiện tồn rất có thể đã được viết trong giai đoạn từ đầu thế kỉ thứ XVIII đến đầu thế kỉ XX, trên cơ sở các sách toán cổ hơn của Việt Nam, mà những cuốn sách này có thể giả định rằng đã dựa trên các cuốn sách của Trung Hoa thời nhà Minh (1368-1644).  Sơ bộ nghiên cứu các tác phẩm toán học Việt Nam cho thấy toán học Việt Nam chưa tiếp thu được các kiến thức toán học hiện đại phương Tây, được du nhập vào Trung Quốc vào thế kỉ XVII và XVIII, hoặc đã không được nhắc tới trong các tác phẩm của họ. Thay vào đó, các tác phẩm toán học Việt Nam khá giống với các tác phẩm “thực tế” hoặc “phổ thông” của toán học Trung Hoa vào cuối nhà Nguyên và nhà Minh, khác hẳn với các tác phẩm toán trình độ cao về đại số đa thức bậc cao vào thời cuối Tống (960–1279) và đầu nhà Nguyên.   Trong thời đại nhà Minh Trung Quốc, toán học truyền thống đã bị biến thành khoa học ứng dụng dành cho các quan chức cấp thấp, những nhà buôn và người làm nghề thủ công. Trong khi đó toán học vẫn là đối tượng nghiên cứu được các học giả bị cô lập và không có sự trợ giúp về mặt tinh thần và vật chất từ phía nhà nước tiến hành. Toán học đã không còn là đối tượng của kì thi quốc gia, như trong thời nhà Đường (618-907) và thời nhà Tống. Ngược lại, ở Việt Nam, toán học vẫn được nhúng vào trong khuôn khổ giáo dục của Nhà nước Trung Quốc kiểu cũ, liên kết với hệ thống phân cấp quan liêu thông qua hệ thống các kì thi toán học nhà nước (Volkov, 2014b).□  Tạ Duy Phượng dịch    Author                Alexei Volkov        
__label__tiasang Sách toán Việt Nam hiện tồn (kỳ 2)      Hiện được bảo tồn trong các thư viện và trong các bộ sưu tập tư nhân, các tác phẩm toán học của người Việt Nam đều phản ánh một trong những mối quan tâm về ứng dụng toán học quan trọng của người Việt là tính toán các diện tích mặt phẳng, các phép đo đạc và đơn vị đo.      Bàn tính được nhắc đến trong cuốn “Bút toán chỉ nam”.  Ảnh: Một bức tranh khắc gỗ lấy từ cuốn “Margarita Philosophica” của Gregor Reisch xuất bản tại  Freiburg năm 1503 miêu tả một cuộc thi toán giữa nhà toán học Pythagoras dùng một dạng bàn tính và nhà toán học, triết học Boethieus dùng chữ số Ả rập mới. Nguồn: Wikipedia.  Trong đó, cuốn Toán pháp đại thành mà Lương Thế Vinh (1441 -1496?) được coi là tác giả, được coi là cổ nhất. Những cuốn sách khác đã được biên soạn vào thế kỷ thứ 19 hoặc thậm chí vào đầu thế kỷ XX. Những cuốn sách còn lại không được nhắc tới trong chương Thư mục của Đại Việt thông sử 大越通史 in năm 1749 của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784?), và do đó có thể tin rằng tất cả các sách còn lại được biên soạn không sớm hơn cuối thế kỷ thứ 18.  Nội dung toán học của tất cả những sách này tương tự như các sách toán học Trung Hoa trước thời gian mà các phương pháp toán học châu Âu được các giáo sĩ Dòng Tên giới thiệu ở Trung Hoa vào đầu thế kỷ 17.   1. Bút toán chỉ nam 筆算指南. Tác giả Nguyễn Cẩn 阮瑾 (cũng được viết là 謹) và được Kiều Oánh Mậu 喬瑩懋 (1854-1912) hiệu đính, hiện còn hai bản in năm 1909.  Cuốn sách giải thích phương pháp tính toán phương Tây (các nhà ứng dụng toán học Việt Nam truyền thống sử dụng công cụ tính toán là que tính và bàn tính để thực hiện các tính toán số học), nhưng thực ra nó bao gồm một loạt các chủ đề khá rộng đặc trưng của Toán học Trung Hoa và Toán học Việt Nam truyền thống.   Cuốn sách gồm 5 Chương (Quyển 卷). Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện còn một bản viết tay có tiêu đề 算法 Toán pháp cũng của Nguyễn Cẩn 阮謹 viết năm 1909 và cũng được Kiều Oánh Mậu 喬瑩懋 hiệu đính. Có thể đây là bản thảo của Bút toán chỉ nam 筆算指.  2. Chỉ minh lập thành toán pháp 指明立成算法. Cuốn sách này do Phan Huy Khuông 潘輝框viết năm 1820, mở đầu bằng một hình vẽ bàn tính tái tạo chính xác hình ảnh có trong cuốn sách Toán pháp thống tông của nhà toán học Trung Hoa Cheng Dawei (Trình Đại Vị) 程大位. Tiếp theo là bảng các lũy thừa của 10, đơn vị tiền, đơn vị đo độ dài, khối lượng và thể tích. Các trang tiếp theo chứa 32 hình vẽ của các “cánh đồng” khác nhau, nghĩa là các hình đa giác và các hình giới hạn bởi các cung tròn. Các hình vẽ tương tự có thể được tìm thấy trong Toán pháp thống tông, thậm chí có thể được tìm thấy trong một số cuốn sách khác của Việt Nam. Cuốn sách có một “đề thi giả định” với lời giải và các giải thích.  3. Cửu chương lập thành tính pháp 九章立成併法. Đây là cuốn sách toán in của Việt Nam sớm nhất hiện tồn. Cuốn sách tương đối mỏng được viết một phần bằng chữ Nôm và một phần bằng chữ Trung Hoa truyền thống. Hiện tồn hai bản in (năm 1713  và 1721, Hình 1) và một bản viết tay đã được biên tập lại, có lẽ là vào đầu thế kỉ XIX. Cuốn sách được cho là do Phạm Hữu Chung 范有鍾, tên chữ là Phúc 福, viết. Tuy nhiên, tên của tác giả được ghi trong một trong các bản in là Phạm Hữu Chổng (?) 范有偅 bút danh là Phúc Cẩn 福謹, trong khi bút danh ở cuốn sách khác là giống hệt nhau về mặt ngữ âm nhưng được viết với một ký tự Cẩn khác (福菫).    Hình 1. Bìa cuốn sách Cửu chương lập thành tính pháp trong thư viện Hán Nôm (Kí hiệu: AB 53).  Cuốn sách không được chia thành các chương và chứa các mục ngắn về các chủ đề khác nhau như bảng nhân, tính diện tích hình phẳng, phân bổ tỷ lệ và các phép toán với phân số.  Cuốn sách có các bài toán được trình bày dưới dạng truyền thống: Bài toán-Đáp số-Lời giải.  4. Cửu chương lập thành toán pháp 九章立成算法. Vẫn còn chưa rõ tác giả và thời gian biên soạn, dù hiện tồn một bản viết tay năm 1899 và được lưu giữ trong Thư viện Quốc gia Việt Nam (Hà Nội). Cuốn sách giới thiệu tên của các “số lớn”, bảng nhân và tính diện tích các hình chữ nhật và hình cong.  5. Cửu chương toán pháp 九章算法 tên khác: Cửu chương toán pháp lập thành 九章算法立成. Trong Danh mục của thư viện Hán-Nôm có liệt kê hai bản viết tay của tác phẩm này ghi năm 1882. Tác phẩm bắt đầu với đề mục “Nam toán” 南算, (toán Việt Nam) với các giải thích về các phép toán số học, bảng tên các số lớn lũy thừa của 10, và bảng nhân 9×9. Mục tiếp theo là mục “lịch sử” viết bằng chữ Nôm 喃 chứa những giải thích về các phép toán cơ bản và lịch sử có tính huyền thoại của nguồn gốc toán học Việt Nam bắt nguồn từ toán học Trung Hoa.   Các mục tiếp theo mô tả dưới dạng thơ các phương pháp toán học khác nhau, như khai căn bậc hai, đưa về mẫu số chung, các tính toán cần thiết trong đổi đơn vị đo và đơn vị tiền tệ, tính diện tích các hình phẳng, phân bổ đơn giản và phân bổ có trọng. Trong phần này, qui tắc tính toán chi tiết song hành với các mô tả dưới dạng thơ. Phần tiếp theo chứa một lượng lớn các bài toán khác nhau, trong đó có một số bài toán giải hệ phương trình, thí dụ, bài toán về số các con thỏ và con gà có tổng cộng 36 đầu và 100 chân.   6. Đại thành toán học chỉ minh 大成 算學 指明. Tác giả cuốn sách là Phạm Gia Kỷ 范嘉紀, một quan chức nhà nước (không biết năm sinh năm mất), và được Tư nghiệp Quốc Tử Giám Phạm Gia Chuyên 范嘉 (sinh năm 1791, đỗ tiến sĩ 進士 năm 1832) hiệu đính. Cuốn sách lưu giữ trong thư viện Hán Nôm được viết tay cẩn thận không có bìa, tuy nhiên tên cuốn sách và tên người biên soạn ở ngay trang đầu của sách. Năm biên soạn không được chỉ rõ.    Cuốn sách chứa 20 mục nhỏ, một số mục khớp với cuốn sách kinh điển Trung Hoa Cửu chương toán thuật. Thí dụ, mục 16 trình bày phương pháp vị trí sai kép (double false position). Nhưng một số phần khác hé lộ phần nào sự khác biệt, thí dụ, Mục 1 chứa phân loại 15 khối đa diện khác nhau, mà theo hiểu biết của tôi, không có trong các sách Trung Hoa.  7. Đại thành toán pháp 大成算法. Trang bìa của bản viết tay của cuốn sách được giữ trong thư viện Hán Nôm (Hà Nội) bị mất, và tên Cửu chương toán pháp 九章算法 xuất hiện ở trang thứ hai liên quan đến bảng nhân, do đó khó có thể coi là tên của cuốn sách. Một tên khác, Đại thành toán pháp 大成算法, xuất hiện ở trang 5a của bản viết tay, nhưng vẫn chưa rõ đây có phải là tên gốc của cuốn sách hay không. Được viết bằng chữ Hán nhưng có một số đoạn viết bằng chữ Nôm giải thích một số qui tắc, cuốn sách không được chia thành các chương và có các mô tả về các phép toán số học, các đơn vị đo, và một số các bài toán tính diện tích các hình phẳng, phân bổ đơn và phân bổ có lý (pondered distribution), tính thuế ruộng, đổi tiền, qui tắc khai căn bậc hai và bậc ba không có trong cuốn sách. Điều này khẳng định, cuốn sách này khác với cuốn Cửu chương toán pháp 九章算法 năm 1882, trong đó có mô tả qui tắc khai căn bậc hai và bậc ba.  8 & 9. Lập thành toán pháp 立成算法. Bản viết tay chữ Hán không có ngày tháng với tên như trên có trong thư viện Hán Nôm chứa phần nhập đề truyền thống về các phép toán số học và bảng nhân, sau đó là một mục dài dành cho tính toán diện tích các hình phẳng kèm theo một số hình vẽ. Phần còn lại là các bài toán dạng khác nhau. Thư viện Viện Sử học (Hà Nội) cũng có một bản viết tay khác cùng tên là Lập thành toán pháp. Tuy nhiên, phân tích sơ bộ chỉ ra hai bản này không trùng nhau. Tên thật sự và thời gian biên soạn cuốn sách sau chưa xác định được, vì các trang đầu tiên của bản thảo đã bị nát và các trang cuối bị mất.  10. Thống tông toán pháp  統宗算法. Bản viết tay Thống tông toán pháp không rõ thời gian biên soạn của tác giả Tạ Hữu Thường 謝有常 (không rõ năm sinh) được lưu giữ trong thư viện Quốc gia Hà Nội (Hình 2).     Hình 2. Trang 75 của Thống tông toán pháp 統宗算法.  Tên cuốn sách ám chỉ rõ ràng đến cuốn Suan fa tong zong (Toán pháp thống tông) 算法統宗 (1592) của Trình Đại Vị. Thực chất, một số phần cuốn sách của Trình Đại Vị đã được trích dẫn nguyên văn, thí dụ, các qui tắc tính diện tích hình phẳng viết thành thơ, bài toán hai người đi bộ, v.v. Tuy nhiên, tác giả Việt Nam đã cải biên một cách đáng kể các phần trong bản gốc Trung Hoa và thêm vào một số lớn các bài toán không tìm thấy trong bản gốc, chuyển hóa các đơn vị đo Trung Hoa sang các đơn vị đo Việt Nam, và trình bày các giải thích của mình bằng chữ Nôm.  11. Toán điền trừ cửu pháp 算田除九法. Bản viết tay không rõ tác giả và ngày tháng được lưu giữ trong Thư viện Hán Nôm. Như tên của cuốn sách, tác phẩm này trình bày cách tính diện tích các hình phẳng. Văn bản được viết bằng chữ Hán, nhưng chứa các bình luận bằng chữ Nôm.   12. Toán học cách trí 算學格致. Trang đầu của bản viết tay trong thư viện Hán Nôm bị mất và cuốn sách được ghi trong Danh mục Tran and Gros (1993) với tên không chính xác là Toán pháp 算法. Nhưng tên thật của cuốn sách này được nhắc lại ở đầu mỗi chương là Toán học cách trí Hoàng Phong Dụ gia thư chính bổn 算學格致黃豐裕家書正本. Tên người biên soạn cuốn sách chưa rõ.   Theo bảng Mục lục, cuốn sách lúc đầu có bốn Chương và một Phụ lục nói về những vấn đề liên quan đến xây dựng. Nhưng bản viết tay chỉ có chương 1-2 và bốn trang đầu của chương 3, phần còn lại đã bị mất hoàn toàn. Chương mở đầu nói về các kí hiệu số, thực hiện các phép toán số học với các công cụ tính (bàn tính được nhắc tới nhưng không có hình vẽ), và các đơn vị trong hệ thống đo lường. Cuốn sách cũng chứa một loạt các bài toán minh họa các vấn đề, như phân bổ tổng tiền cho một số người đã cho.  Chương 2 dành riêng cho tính toán diện tích hình phẳng và hình cong phẳng cùng với các giải thích cặn kẽ.  Chương 3 trình bày cách khai căn bậc hai và bậc ba. Nội dung của Chương 4 và Chương 5 không thể khôi phục trên cơ sở tên chương trong bảng mục lục.  13. Toán học để uẩn 算學底蘊. Vì (các) trang đầu tiên của cuốn sách này bị mất nên không rõ tên tác giả. Tên Toán học để uẩn mà cuốn sách được ghi trong Danh mục hoàn toàn dựa trên cơ sở dòng 算學底蘊目錄 trong Bảng mục lục tìm thấy trên trang đầu của bản viết tay của cuốn sách trong thư viện Hán Nôm. Năm biên soạn không rõ, nhưng vì tên của triều đại vua Gia Long 嘉隆 (1802-1820) được nhắc tới trong bản thảo, nên có thể giả thiết rằng cuốn sách được biên soạn không sớm hơn 1802. Cuốn sách chứa 6 chương về các vấn đề sau: các phép toán số học, tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, trình bày sơ lược các phương pháp tương ứng với phân loại trong cuốn 九數 Cửu chương của Trung Hoa cổ điển. Có các bài toán về xây dựng và lí thuyết toán học của nhạc. Phân tích sơ bộ cho thấy cuốn sách chứa một số lớn các trích dẫn từ cuốn sách Toán pháp thống tông算法統宗 của Trình Đại Vị đã nêu ở trên.    14. Toán học tâm pháp 算學心法. Trang đầu tiên của cuốn sách này trong thư viện Hán Nôm bị mất nên tên của cuốn sách này được ghi dựa trên lời nói đầu do Hoàng Phong Dụ 黃豐裕 viết vào năm 1850. Bảng mục lục liệt kê 5 chương: các phép toán với các số, tính diện tích hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, tính toán liên quan đến xây dựng, và tính toán liên quan đến thuế đất. Nhưng các chương không được phân chia rõ ràng và các đề mục của chúng được đưa vào trong nội dung văn bản, do đó có thể giả thiết rằng sơ đồ ban đầu đã bị thay đổi bởi những người viết sau này. Cuốn sách cũng chứa các mục không tương ứng với năm chương đã nêu, thí dụ như các phương pháp đo đạc từ xa.   15. Toán pháp 算法. Tên chính xác của cuốn sách chưa rõ. Tên Toán pháp được người chép hoặc thủ thư đặt cho cuốn sách với các trang đầu bị mất dựa trên nội dung của nó. Tác giả và năm biên soạn cũng không được biết. Bản chép tay và microphim của cuốn sách trong thư viện Hán Nôm với số hiệu A.3150. Cuốn sách không được chia thành các chương, chứa hơn 250 bài toán dành cho các vấn đề như tính diện tích, ứng dụng của tam giác vuông, khai căn bậc hai và bậc ba, và các vấn đề khác. Phân tích sơ bộ chỉ ra rằng cuốn sách được biên soạn theo kiểu cắt dán từ cuốn sách Toán pháp thống tông của Trình Đại Vị. Thí dụ, các bài toán tính diện tích đa giác và hình cong, các qui tắc tính toán cũng như các sơ đồ hình học tương ứng có thể tìm thấy trong chương 3 của Toán pháp thống tông, các bài toán khai căn và giải phương trình đa thức đã được sao chép từ chương 6 của Toán pháp thống tông, và các phần khác nữa.   16. Toán pháp đại thành 算法大成. Năm biên soạn và tên của tác giả không được rõ. Cuốn sách cùng tên đã được gán cho tác giả là Lương Thế Vinh 梁世榮 (1441-1496?), một quan chức thời Lê 黎 (1428-1789), nhưng tác giả và năm biên soạn thực sự của cuốn sách hiện có trong thư viện Hán Nôm không được rõ, và một số phần của cuốn sách bị nghi ngờ là khó có thể đã được biên soạn vào thế kỉ thứ 15.   Hiện có hai bản chép tay của cuốn sách, một cuốn được viết trước 1934 và một bản được chép vào năm 1944. Cuốn sách không được chia thành các chương và chứa 138 bài toán, nếu tính cả các bài toán tự nó như là một vài qui tắc không tương ứng với bài toán riêng biệt nào, sự hiện diện của chúng phần nhiều có thể là do mất một phần văn bản.   Các bài toán được tìm thấy trong tác phẩm liên quan tới các vấn đề phổ biến trong các cuốn sách Trung Hoa cổ như chia phần (phân bổ tỷ lệ), tỷ lệ, qui tắc ba đại lượng, qui tắc vị trí sai kép, khai căn, tính diện tích hình thẳng và hình cong phẳng, tính thể tích các khối, đổi tiền và các đơn vị đo lường các loại, phương trình vô định và “thuật số bói toán”. Cuốn sách cũng chứa một mục lớn và tương đối độc lập liên quan đến thuế ruộng. □  (Còn tiếp)   Tạ Duy Phương dịch    Author                Alexei Volkov        
__label__tiasang Sách vở bớt dùng từ biểu cảm      Trong thế kỉ vừa qua, người ta dần bớt dùng  từ ngữ chứa đựng cảm xúc để viết sách. Kết quả rút từ cuộc nghiên cứu  mới đây của các trường Đại học Bristol, Sheffield và Durham.    Nghiên cứu, được công bố trên tờ PLOS ONE, cũng phát hiện ra tình trạng phân ra hai hướng khác nhau giữa tiếng Anh của người Mỹ và của tiếng Anh của người Anh, khi mà người Mỹ dùng nhiều từ ‘cảm xúc’ hơn người Anh.  Các nhà nghiên cứu để ý đến chuyện những từ ngữ chỉ tâm trạng được sử dụng thường xuyên ra sao trong suốt một thời gian, bằng cách xem xét kho dữ liệu hơn năm triệu cuốn sách được số hóa của Google. Danh sách từ ngữ được chia ra làm sáu loại (giận dữ, kinh tởm, sợ hãi, vui mừng, buồn bã, ngạc nhiên) mà trước đây TS Vasileios, một trong số các nhà nghiên cứu, đã từng dùng để phát hiện sự thay đổi tâm trạng trong xã hội đương đại bằng cách thu thập những chia sẻ đăng trên Twitter ở Anh quốc suốt hơn hai năm.  TS Alberto Acerbi, thuộc khoa Khảo cổ học và Nhân học tại ĐH Bristol và là tác giả chính của nghiên cứu, đã cho biết: “Chúng tôi nghĩ rằng thật đáng lưu tâm khi áp dụng cùng một phương pháp luận cho các phương tiện truyền thông khác và đặc biệt dựa trên một khoảng thời gian dài hơn. Ban đầu chúng tôi ngạc nhiên khi thấy những giai đoạn diễn ra tâm trạng tích cực và tiêu cực có mối tương quan sâu sắc với các sự kiện lịch sử. Chẳng hạn như thời Chiến tranh thế giới Thứ hai đánh dấu bằng việc người ta dùng nhiều hơn hẳn các từ ngữ chỉ nỗi buồn và tương ứng với đó là việc các từ chỉ niềm vui được dùng ít hơn.”  Bằng cách áp dụng kĩ thuật này, các nhà nghiên cứu đã có một số khám phá đáng chú ý về sự tiến hóa của cách dùng từ trong những cuốn sách Anh ngữ trong suốt thế kỉ qua. Đầu tiên, trong những cuốn sách Anh ngữ được xuất bản, việc dùng các từ ngữ cảm xúc giảm xuống đều đặn, ngoại trừ các từ liên quan đến nỗi sợ hãi, một dạng cảm xúc tái xuất hiện trong vài thập niên qua.  Họ cũng phát hiện tiếng Anh của người Mỹ và tiếng Anh của người Anh đang trải qua quá trình phân nhánh rõ rệt về văn phong kể từ thập niên 1960. Tiếng Anh người Mỹ đang trở nên nhiều ‘cảm xúc’ hơn so với tiếng Anh của người Anh trong nửa cuối thế kỉ qua.  Sự phân nhánh tương tự cũng được người ta phát hiện trong cách dùng những hư từ, những từ gần như không chứa đựng ý nghĩa về mặt từ vựng, như các liên từ (‘and’, ‘but’) hay các mạo từ (‘the’).  TS Acerbi nói: “Điều này đặc biệt thú vị bởi gần đây người ta đã chứng tỏ rằng sự khác biệt trong cách dùng các hư từ là dấu ấn cho những giai đoạn hành văn khác nhau trong lịch sử văn chương Tây phương.”  Điều này cho thấy sự phân nhánh về nội dung chứa cảm xúc giữa hai hình thức Anh ngữ đi đôi với sự phân nhánh tổng quát hơn về văn phong.  GS Alex Bentley, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi không biết chính xác chuyện gì đã xảy ra hồi thập niên sáu mươi, nhưng kết quả chứng tỏ đây là thời điểm chính xác xảy ra phân nhánh giữa tiếng Anh văn chương của người Mỹ và của người Anh. Ví dụ, ta chỉ có thể phỏng đoán liệu chuyện này có liên hệ gì đến sự tăng vọt tỉ lệ sinh sản hoặc đến sự trỗi dậy của phong trào phản văn hóa.  “Ở Mỹ, sự tăng vọt tỉ lệ sinh sản diễn ra vào giai đoạn kinh tế thịnh vượng nhất trong thế kỉ, trong khi đó sự tăng vọt sinh sản ở Anh quốc diễn ra vào giai đoạn hồi phục thời hậu chiến, do vậy có lẽ ‘đa cảm’ là thứ xa xỉ đối với sự phát triển kinh tế.”  Trong khi khuynh hướng được phát hiện ở nghiên cứu này hiện ra rất rõ ràng, thì phần lí giải tại sao vẫn còn để ngỏ. Theo các nhà nghiên cứu, một vấn đề còn tồn đọng là liệu cách dùng từ có bày tỏ được hành vi thực của dân chúng hay không, hoặc có thể cho biết sự thiếu vắng của hành vi đó, vốn được khai thác ngày càng nhiều thông qua các tác phẩm hư cấu văn chương. Sách vở có thể không phản ánh dân chúng ngoài đời thực cũng giống như các cô người mẫu thời trang không phản ánh được thể trạng cơ thể trung bình của xã hội.  TS Acerbi kết luận: “Ngày nay ta có được nhiều công cụ có thể làm cuộc cách mạng giúp thông hiểu văn hóa nhân loại và hiểu được văn hóa thay đổi qua thời gian ra làm sao. Những nghiên cứu liên ngành như thế này có thể phát hiện ra những mẫu hình rõ ràng bằng cách nhìn vào lượng dữ liệu trước đây chưa ai từng xem xét, như Twitter, tiện ích Google Trends, blog hoặc trong trường hợp của chúng tôi là những cuốn sách được số hóa, vốn là những thứ miễn phí mà bất kì ai có hứng thú đều có thể dùng tới”.  Đoàn Khương Duy dịch (theo Science Daily)  Nguồn: “Fear Factor Increases, Emotions Decrease in Books Written in Last 50 Years.” Science Daily, 3/2013: http://www.sciencedaily.com/releases/2013/03/130320212822.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sahara từng là nhà của những sinh vật biển lớn nhất hành tinh      Nhờ việc sử dụng hóa thạch được tìm thấy tại đường biển cổ đại ở phía Bắc CH Mali, các nhà khoa học đã tái lập cấu trúc của một số loài sinh vật biển đã bị tuyệt chủng.  Nghiên cứu mới đăng trên Bulletine of American Museum of Natural History đã có bằng chứng sống động về một số loài cá da trơn và rắn biển lớn nhất thế giới đã từng sống ở vùng biển là sa mạc Sahara ngày nay.      Một số sinh vật biển từng sống dưới nước tại nơi là sa mạc Sahara ngày nay. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ 2019.  Vùng biển này từng sâu 50 mét, bao phủ một diện tích rộng lớn 3,000 km2. Trầm tích biển để lại chứa đầy những mẩu hóa thạch giúp các nhà khoa học xây dựng được một bức tranh cho khu vực một thời đầy sức sống này. Theo nhà cổ sinh vật học Maureen O’Leary và là trưởng nhóm nghiên cứu, trong khoảng từ 100 triệu đến 50 triệu năm về trước, vùng đất phía Bắc Mali cằn cỗi ngày nay “trông giống như một hòn đảo Puerto Rico hiện đại” – mặt trời tỏa nắng trên những khu rừng ngập mặn đầu tiên của thế giới và các loài động vật thân mềm nằm dưới đáy biển nông.   Lần đầu tiên đưa khu vực này lên bản đồ địa chất, nghiên cứu này cho thấy biển đã chảy và rút đi như thế nào trong 50 triệu năm tồn tại, đồng thời tích lũy thêm thông tin về ranh giới kỷ Phấn trắng-Cổ cận (K-Pg), dấu mốc địa vật lý của một trong năm sự kiện tuyệt chủng lớn của Trái đất khi các loài khủng long có lông vũ không thuộc chim (non-avian dinosaur) biến mất.  Thông qua các mẫu cá da trơn dài 1,6m, rắn biển dài 12,3m và cá pycnodont – một loại cá trong Liên lớp cá xương (bony fish) dài 1,2 m, Maureen O’Leary và các nhà khoa học khác đã phát triển ý tưởng: vào thời kỳ cuối kỷ Phấn trắng và đầu thế Cổ tân, các loài động vật này đã trải qua quá trình khổng lồ hóa kích cỡ.   Từ lâu, các nhà sinh vật học tiến hóa đã nói về hiện tượng “khổng lồ trên đảo”, nơi các loài sống trên các đảo nhỏ đôi khi có thể phát triển kích thước cơ thể rất lớn – nguyên nhân có thể do có nhiều nguồn tài nguyên hơn hoặc tại đây có ít động vật săn mồi tấn công hơn, hoặc cả hai. Maureen O’Leary cho biết: “Ý tưởng của chúng tôi là có lẽ hiện tượng này liên quan đến những đảo nước. Nếu luôn có hiện tượng nước di chuyển ra vào, một vùng biển có thể để lại những túi chứa nước có các tham số mới có thể ảnh hưởng đến kích thước cơ thể”.   Ngày nay, mặc dù Sahara trở thành sa mạc nhưng vẫn có sự hiện diện của con người – những người đã quen với ý niệm nơi đây từng tồn tại sinh vật biển cổ đại. Nhóm nghiên cứu đã khám phá ra điều này trong những cuộc thám hiểm vào năm 1999, 2003 và 2009. “Người dân địa phương ở đây biết rằng biển đã từng xuất hiện. Họ nói về những chiếc vỏ sò họ nhặt được và biết chúng là sản vật của biển”, Maureen O’Leary chia sẻ.  Nghiên cứu trên được xây dựng dựa trên những công trình thám hiểm của người Anh đến Mali vào những năm 1980. Trong số rất nhiều thứ khám phá có một chiếc mai rùa lớn và một bộ sưu tập hóa thạch quan trọng. Các hóa thạch thu thập được vẫn là tài sản thuộc về đất nước Mali nhưng đang cho Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ mượn để nghiên cứu.  Việc Sahara từng chìm trong nước cho thấy tiền lệ của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao. Nó sẽ khiến những người phủ nhận biến đổi khí hậu phải suy nghĩ lại. “Hy vọng bằng cách hiểu những ví dụ lịch sử, những chứng tích lịch sử ở tầm rộng lớn cho thấy hành tinh đã từng thay đổi, mọi người có thể chấp nhận những gì các nhà khoa học đang nói là đúng”, O’Leary nói. “Có lẽ việc nói về biến đổi khí hậu là kết quả do con người gây ra khiến mọi người nhầm lẫn bởi đã có rất nhiều biến đổi trong lịch sử Trái đất. Việc hiểu những ví dụ trên có thể khiến cho vấn đề này trở nên dễ tiếp thu hơn và khiến mọi người có thể thiết lập những kì vọng khác đi.”□  Ngô Hà dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2019/jul/12/sahara-was-home-to-some-of-largest-sea-creatures-study-finds?fbclid=IwAR0O5WR258Pn3gpstXvaxXx3nmvpYy374fBuiq1N6E7dpJBR6hXb-7Yn-dc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sai lầm trong giả định cách tính chiều dài của chân      Trong b&#224;i Một quyết định thiếu t&#237;nh khoa học v&#224; nh&#226;n bản, t&#244;i đ&#227; chỉ ra rằng kh&#244;ng c&#243; bất cứ một cơ sở khoa học n&#224;o để cho rằng những người c&#243; chiều cao thấp hơn 145 cm c&#243; nguy cơ g&#226;y tai nạn giao th&#244;ng cao hay thấp hơn người c&#243; chiều cao tr&#234;n 145 cm. B&#224;i viết n&#224;y b&#224;n đến chuyện chiều d&#224;i của ch&#226;n- một ti&#234;u chuẩn l&#224;m cơ sở để Bộ Y tế ban h&#224;nh quyết định n&#224;y.    Trong tài liệu “Một số nội dung về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ”, Bộ Y tế viết rõ:   “Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học là: Theo thông số kỹ thuật của một số xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ trên 50 cm3 đến dưới 175cm3 , thì chiều cao yên xe trung bình từ 74 cm đến 76cm. Để đảm bảo an toàn giao thông, người điều khiển xe mô tô 2 bánh phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75cm. Mà để có chiều dài của chân từ 75cm trở lên thì người đó phải có chiều cao đứng trên 1m45.”  Lí giải trên đây cho thấy thông số chính để quyết định cấp giấy phép lái xe gắn máy là chiều dài của chân, chứ không phải chiều cao. Cần nhắc lại rằng chiều cao khi đứng (standing height, hay gọi tắt là chiều cao) bằng chiều cao khi ngồi (sitting height) cộng với chiều dài của chân (leg length). Trong 3 chỉ số chiều cao trên, chiều cao khi đứng và chiều cao khi ngồi dễ đo nhất, nhưng trong thực tế có đến 5 phương pháp khác nhau để đo chiều cao khi ngồi, và chưa có phương pháp nào có thể cho là chuẩn cả. Cố nhiên, khi biết chiều cao đứng và chiều cao ngồi, thì chiều dài của chân có thể xác định.   Bộ Y tế lí giải rằng bởi vì chiều cao trung bình của yên xe là 75 cm, cho nên người lái xe cần phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75 cm để đảm bảo an toàn khi lái xe. (Có người nói xe đạp cũng có chiều cao yên xe 75 cm trở lên, vậy có cấm lái xe đạp không?)   Nhưng từ đó, Bộ Y tế đã làm một suy luận khá táo bạo: họ giả định rằng một người phải có chiều cao đứng là 145 cm thì mới có chiều dài chân bằng 75 cm. Nói cách khác, giả định đằng sau phát biểu này là chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (lấy 75 cm chia cho 145 cm).  Tôi có lí do để cho rằng giả định này không đúng với thực tế. Tôi và đồng nghiệp trong nước đã thực hiện một nghiên cứu trên khoảng 300 phụ nữ tuổi 16 trở lên. Những người này không có vấn đề về sức khỏe ảnh hưởng đến thể trạng, và họ được chọn ngẫu nhiên từ các quận ở Hà Nội. Chúng tôi đo lường chiều cao, chiều cao ngồi, và từ đó xác định chiều dài của chân. Kết quả (xem Biểu đồ) cho thấy tính trung bình chiều dài của chân bằng 46% chiều cao, với độ lệch chuẩn là 1,4%. Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu ở người Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, và Đài Loan: tức đúng 46%.                                   Biểu đồ 1 — mối tương quan giữa chiều dài của chân (trục tung) và chiều cao (trục hoành) ở 327 phụ nữ trên 16 tuổi. Những điểm chấm màu đỏ là những người có chiều dài chân dưới 75 cm (chiếm khoảng 95% tổng số). Nói cách khác, chỉ có 5% nữ có chiều dài của chân trên 75 cm, tức [theo Bộ Y tế] hội đủ điều kiện lái xe gắn máy trên 50 cc.          Nói cách khác, giả định của Bộ Y tế (51,7%) không đúng với thực tế. Vấn đề giả định sai có ảnh hưởng lớn đến qui định tiêu chuẩn. Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng thông số chính để làm tiêu chuẩn cấp bằng lái xe gắn máy là chiều dài của chân, chứ không phải chiều cao. Bộ Y tế đòi hỏi chiều dài của chân phải trên 75 cm mới được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc.   Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu người Việt có chiều dài chân trên 75 cm? Bởi vì chiều dài của chân bằng 46% chiều cao cơ thể, cho nên một người phải có chiều cao tối thiểu là 163 cm mới có chiều dài của chân bằng 75 cm. Chiều cao trung bình của người nam (trong độ tuổi 16-65) là 163,3 cm và nữ là 153,4 cm. Do đó, số người có chiều cao dưới 163 cm là khoảng 50% nam và 95% nữ. Biểu đồ trên cũng cho thấy ở nữ, chỉ có 5% người có chiều dài của chân trên 75 cm. Nói cách khác, nếu căn cứ vào chiều dài của chân trên 75 cm thì chỉ có khoảng 50% nam và 5% phụ nữ Việt Nam được phép lái xe gắn máy trên 50 cc!   Nhưng tỉ lệ 46% (chiều dài của chân trên chiều cao) chỉ là tỉ lệ trung bình, và tỉ lệ này dao động giữa các cá nhân trong một quần thể, chứ không phải bất biến. Thật vậy, Biểu đồ 1 trên đây cho thấy mối liên hệ giữa chiều cao và chiều dài chân không phải là một mối liên hệ xác định tuyệt đối, tức không phải lúc nào chiều dài của chân bằng chiều cao nhân cho 0,46. Hai người có cùng chiều cao (chẳng hạn như 150 cm), nhưng một người có thể có chiều dài của chân là 65 cm và người kia là 75 cm. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế: không thể căn cứ vào chiều cao mà xác định chiều dài của chân cho một cá nhân.   Ấy thế mà Bộ Y tế căn cứ vào chiều cao để suy luận cho chiều dài của chân cho mỗi cá nhân! Đây là một sự hiểu lầm cơ bản, bởi vì con số trung bình chỉ áp dụng cho một quần thể, chứ không phải cho mỗi cá nhân. Áp dụng một chỉ số trung bình để quyết định cho một cá nhân dễ dẫn đến những quyết định không công bằng cho thành viên trong xã hội.   Ngoài ra, Bộ Y tế còn qui định rằng người có vòng ngực dưới 72 cm cũng không được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc. Qui định này chẳng những thiếu cơ sở khoa học mà còn khó thực hiện. Lí do đơn giản là vòng ngực có mối tương quan với chiều cao: người càng cao vòng ngực càng lớn (và ngược lại). Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi vòng ngực cũng có tương quan với độ tuổi, nhưng hàm số tương quan phức tạp hơn là mối tương quan giữa vòng ngực và chiều cao. Do đó, khó mà dựa vào một giá trị tham chiếu bất biến (như 72 cm) là không hợp lí và thiếu tính khách quan.  Tuy nhiên, Biểu đồ 2 dưới đây cho thấy số phụ nữ chịu ảnh hưởng bởi qui định về vòng ngực không nhiều như chiều dài của chân. Tính trung bình, khoảng 4% nữ trong độ tuổi 16-65 có vòng ngực ngắn hơn 72 cm. Vì không có số liệu cho nam nên tôi không ước tính được có bao nhiêu nam sẽ bị ảnh hưởng bởi qui định của Bộ Y tế.                                   Biểu đồ 2 — mối tương quan giữa vòng ngực (trục tung) và chiều cao (trục hoành) ở 327 phụ nữ trên 16 tuổi. Những điểm chấm màu đỏ là những người có vòng ngực 72 cm (chiếm khoảng 4% tổng số). Nói cách khác, có 4% nữ [theo Bộ Y tế] không hội đủ điều kiện lái xe gắn máy trên 50 cc vì vòng ngực “lép”.          Những bàn luận trên đây cho thấy rõ ràng Bộ Y tế đã sai lầm trong giả định về cách tính chiều dài của chân. Sai lầm này dẫn đến sai lầm về qui định chiều cao. Nhưng vấn đề cơ bản hơn là tiền đề của việc dựa vào chiều cao. Câu hỏi đặt ra là: chiều cao có phải là yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông?   Ở nước ta, nghiên cứu của Trường Đại học Giao thông vận tải (công bố trong Hội nghị về giao thông ở vùng Đông Á vào năm 2005) cho thấy những nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông là: lái xe quá tốc độ chiếm 34% tổng số tai nạn, vượt tuyến ẩu và bất cẩn (22%), say xỉn (11%). Nghiên cứu này còn cho biết 50% tai nạn giao thông xảy ra trên các quốc lộ, 31% trên các đường trong các thành phố, và chỉ 12% ở tỉnh lẻ. Cũng cần nói thêm rằng ở nước ta, 81% tai nạn giao thông là do nam giới gây ra.  Nghiên cứu ở Thái Lan (một nước có nhiều đặc điểm giao thông gần ta nhất) cho thấy các yếu tố nhân trắc có liên quan đến tai nạn giao thông là trong độ tuổi 15-19, độc thân, làm nghề buôn bán, lái xe gắn máy, và đặc biệt là nam giới. Thật vậy, công trình nghiên cứu này một lần nữa cho thấy nam giới có xác suất gây tai nạn giao thông cao gấp 2 lần so với nữ giới.   Thật ra, không một nghiên cứu nào cho thấy chiều cao, trọng lượng, hay vòng ngực là yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông. Và, cũng chẳng có nước nào trên thế giới qui định cấp bằng lái xe dựa vào các chỉ số thể trạng này.   Do đó, nhân danh an toàn giao thông bằng cách hạn chế cấp giấy phép lái xe gắn máy dựa vào các chỉ số thể trạng này là không phù hợp với bằng chứng khoa học và gây ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội. Mọi người trong xã hội, kể cả người khuyết tật hay có chiều cao thấp hay cân nặng thấp hay vòng ngực ngắn, đều có quyền bình đẳng tham gia giao thông. Nhà nước cần phải đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người chứ không gây thêm bất công trong việc tham gia giao thông.  Tìm đâu ngực nở, chân dài  Để cho xe máy có ngày thăng hoa    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sai lầm về chiến lược phòng bệnh      Theo Bộ Y tế, hiện nay có đến 80% bệnh nhân tiêu chảy cấp (hay nói chính xác hơn là bệnh tả) từng ăn thịt chó và mắm tôm trước khi mắc bệnh. Từ đó, người ta tin rằng mắm tôm là “nghi can” số một, là nguyên nhân gây nên bệnh. Rồi với nhận thức đó và trước tình hình lan truyền của bệnh, dễ hiểu rằng các giới chức y tế phải có chính sách “mạnh” đối với các cơ sở sản xuất món ăn “quốc hồn quốc túy” này. Phát biểu gần đây trên báo chí, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết “chúng tôi đã yêu cầu các địa phương có cơ sở sản xuất mắm tôm, mắm tép cần tạm ngưng việc vận chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài. Hiện tại, mắm tôm sẽ tạm cấm sử dụng.”  Tôi e rằng tập trung việc kiểm soát và can thiệp vào một yếu tố mắm tôm như thế có thể dẫn đến sai lầm về chiến lược phòng bệnh, vì các yếu tố quan trọng khác như nguồn nước và thói quen vệ sinh (hay thiếu vệ sinh) cá nhân có thể bị sao lãng hay xem nhẹ.      Yếu tố nguy cơ bệnh tả  Đứng trên phương diện y tế công cộng, cần phân biệt rõ hai thành tố liên quan đến bệnh: nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân (cause) là yếu tố sinh học trực tiếp gây nên bệnh. Yếu tố nguy cơ (risk factor) là một yếu tố — qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp — làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và bệnh mang tính nhân-quả và xác định. Nhưng mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh thì mang tính bất định: không phải bất cứ ai bị phơi nhiễm đều mắc bệnh, mà người phơi nhiễm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không phơi nhiễm.  Do đó, cần phải phân biệt và hiểu rõ hai phát biểu sau đây: (a) trong số những người mắc bệnh tả, X% từng ăn mắm tôm, và (b) trong số những người ăn mắm tôm, X% mắc bệnh tả. Câu thứ nhất đề cập đến hệ quả (bệnh tả) đã xảy ra và truy tìm về quá khứ phơi nhiễm (ăn mắm tôm). Câu thứ hai nói đến sự phơi nhiễm hôm nay hay quá khứ để dự đoán về khả năng bệnh xảy ra trong tương lai. Hai phát biểu bao hàm thời gian tính khác nhau: câu thứ nhất nói về quá khứ và câu hai đề cập đến tương lai. Hai câu phát biểu cũng mang bản chất khác nhau: câu thứ nhất là chẩn đoán (diagnosis), và câu hai là dự đoán (prognosis).  Do đó, không thể nào căn cứ vào thực tế rằng phần lớn (hãy cứ cho là 80%) những người mắc bệnh tả từng ăn mắm tôm (hay thịt chó) trước đó, để kết luận rằng mắm tôm là nguồn truyền vi khuẩn gây bệnh tả.  Nếu không chỉ mắm tôm, các yếu tố nguy cơ khác liên quan đến bệnh tả là gì? Rất tiếc là cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nguy cơ và qui mô bệnh dịch tả được công bố trên các diễn đàn y học quốc tế, nên chúng ta chưa biết rõ các yếu tố nguy cơ bệnh dịch tả ở nước ta là gì. Có khả năng có nghiên cứu công bố trên các tập san ở trong nước nên thông tin chưa phổ biến ra ngoài. Do đó, tôi dựa vào y văn nước ngoài để trình bày trong phần bàn về các yếu tố nguy cơ của bệnh dịch tả.  Kinh nghiệm từ các vụ bộc phát bệnh tả tại một số nước trên thế giới cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố nguy cơ đáng chú ý. Trong thời gian 2001 đến 2004, bệnh dịch tả bộc phát ở tỉnh Sistan-va-Baluchestan, và các nhà nghiên cứu Iran đã làm một việc có ý nghĩa: họ tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để hệ thống hóa đặc điểm vùng bị nhiễm vi khuẩn và nhận dạng các yếu tố nguy cơ [1]. Qua kết quả phân tích dữ liệu, các yếu tố nguy cơ sau đây được phát hiện:                       Chú thích diễn dịch: Tỉ số nguy cơ liên quan đến một yếu tố nguy cơ có thể diễn dịch qua một ví dụ như sau: những người đi tiêu / tiểu mà không rửa tay có nguy cơ mắc bệnh dịch tả, tính trung bình, cao hơn 22,1 lần so với những người có rửa tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu.  Kết quả phân tích trên cho thấy các yếu tố nguy cơ nguy hiểm nhất là không làm vệ sinh tay sau khi đi tiêu / tiểu và trước khi ăn uống. Uống nước sông hay nước giếng cũng là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra, kết quả của họ còn cho thấy đàn ông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn phụ nữ đến 3,7 lần, và người mù chữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người biết chữ khoảng 6 lần.  Năm 1997, bệnh dịch tả bộc phát ở vài vùng ở Tanzania [2]. Các nhà nghiên cứu tận dụng “cơ hội” này để tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học và kết quả cung cấp cho chúng ta một số yếu tố nguy cơ có vẻ “gần” với những đặc điểm sinh sống ở nước ta.                   Kết quả trên một lần nữa cho thấy các yếu tố như nguồn nước uống, nhà xí, tắm sông (và ngạc nhiên thay, ăn cá khô) là những yếu tố rất quan trọng có liên quan đến bệnh dịch tả. Chú ý trong danh sách “yếu tố nguy cơ” trên cũng khá phù hợp với một bản tin gần đây trên báo Tuổi Trẻ, mà theo đó, “Tại tỉnh Hải Dương (mới phát hiện có người mắc bệnh khoảng ba ngày nay) nhưng số bệnh nhân đã xấp xỉ 100 người, phần lớn trong số này cùng ăn cỗ tại một đám tang, với các thực phẩm truyền thống như thịt lợn, bò, giò chả.” Tất nhiên, dự đám tang không phải là nguyên nhân, nhưng chỉ là một yếu tố nguy cơ gián tiếp!  Cần phải nói thêm rằng bệnh dịch tả không phải mới ở nước ta. Trong thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385 trường hợp bệnh dịch tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam miền Trung, 27% ở các bờ biển phía bắc miền Trung. Tỉ lệ phát sinh là 2,7 trên 100.000 dân số. Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu [3].  Hiệu quả can thiệp mắm tôm và làm sạch nguồn nước  Các nghiên cứu trên đây cho chúng ta thấy rất rõ ràng rằng bệnh dịch tả có nhiều yếu tố nguy cơ, chứ không phải chỉ mắm tôm hay thói quen ăn thịt chó. Không ngạc nhiên khi biết “Không ăn mắm tôm, rau sống… vẫn mắc bệnh”. Một bài báo khác cho biết “Xuất hiện bệnh nhân tiêu chảy không phải do ăn mắm tôm”. Thật vậy, những tin này không làm chúng ta ngạc nhiên, nhưng chúng cho thấy nếu chúng ta chỉ tập trung vào tấn công và khống chế món “quốc hồn quốc túy” đó là một sai lầm nghiêm trọng.  Thế nhưng, như có thể hiểu được, các giới chức vẫn có những phản ứng mạnh. Tiêu biểu cho phản ứng mạnh đó được Thanh Niên tường thuật như sau: “Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết: chúng tôi đã yêu cầu các địa phương có cơ sở sản xuất mắm tôm, mắm tép cần tạm ngưng việc vận chuyển mắm tôm trong nội tỉnh cũng như ra tỉnh ngoài. Hiện tại, mắm tôm sẽ tạm cấm sử dụng.” Còn Bộ trưởng y tế thì có ý kiến rằng: “Chúng tôi đang soạn thảo văn bản hướng dẫn cách xử lý. Nếu mắm tôm vẫn còn niêm phong trong túi thì hãy để nguyên. Còn nếu định vứt đi thì người dân phải cho cloramin B vào lọ mắm trong một thời gian.” Với những phân tích vừa trình bày, tôi e rằng mắm tôm chịu hàm oan ở đây.  Vấn đề đặt ra là nếu chúng ta can thiệp và kiểm soát mắm tôm, có bao nhiêu trường hợp bệnh tả có thể ngăn ngừa? Qua xem xét y văn trên thế giới, chúng ta có thể ước tính rằng những người ăn các loại thực phẩm với khả năng bị nhiễm vi khuẩn cao (như mắm tôm, cá khô, rau cải sống, v.v…) có nguy cơ mắc bệnh tả cao hơn khoảng 4 lần so với những người không ăn các thực phẩm đó. Với số liệu này, và giả dụ rằng trong cộng đồng dân số gồm 10% người có thói quen ăn mắm tôm, câu hỏi đặt ra là nếu chúng ta “can thiệp” vào mắm tôm, chúng ta sẽ ngăn ngừa bao nhiêu trường hợp bệnh tả? Một vài tính toán dịch tễ học cho biết đáp số là 23%. Nói cách khác, can thiệp vào mắm tôm chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa được tối đa một phần tư trường hợp bệnh.  Nếu chúng ta can thiệp làm sạch nguồn nước thì hiệu quả sẽ ra sao? Tất cả chúng ta đều phải uống nước. Tất cả chúng ta đều phải sử dụng nước cho sinh hoạt hằng ngày. Do đó, không ngạc nhiên khi các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đều đi đến một kết luận rằng nguồn nước bị nhiễm trùng là yếu tố nguy cơ số 1 gây bệnh tả (và các bệnh khác). Hơn 100 năm trước, nhà dịch tễ học người Anh, John Snow, đã chứng minh rằng bệnh dịch tả ở London (Anh) lan truyền qua nguồn nước bị nhiễm trùng từ phân người. Nạn dịch ở Nam Mĩ vào năm 1991-1994, “thủ phạm” là nhóm O1, El Tor của vi khuẩn V. cholerae cũng lan truyền qua đường nước thải từ một chiếc tàu hàng và gây tử vong cho cả vạn người.  Nghiên cứu từ Iran và Tanzania (những nơi từng kinh qua nạn dịch tả gần đây) cho thấy người tắm sông nước bẩn và uống nước bị nhiễm trùng có nguy cơ mắc bệnh tả cao gấp 10 lần những người không tắm sông và sử dụng nước không bị nhiễm trùng. Dựa vào kết quả này, có thể nói rằng nếu chúng ta can thiệp làm sạch nguồn nước uống và nước cho sinh hoạt hằng ngày, chúng ta sẽ ngăn ngừa được ít nhất là 90% bệnh tả.  Như vậy, làm sạch nguồn nước, kể cả đun sôi trước khi uống và tẩy trùng bằng clorine hay các hóa chất khử trùng, có hiệu quả cao hơn nhiều so với việc can thiệp vào mắm tôm. Cố nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta bỏ qua việc kiểm soát qui trình sản xuất và phân phối mắm tôm, mà chỉ muốn nói rằng ngoài công tác đó, chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm đến nguồn nước. Can thiệp làm sạch nguồn nước chính là một biện pháp hữu hiệu nhất, thực tế nhất, và đơn giản nhất để ngăn ngừa bệnh tả.  Tiêm chủng phòng ngừa  Đối với những vùng phía Nam hay Trung chưa mắc bệnh, phương châm của y tế công cộng vẫn là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Hiện nay, các tỉnh miền Trung đang ở trong tình trạng lũ lụt, và kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy lũ lụt có thể làm cho bệnh dịch tả lan truyền nhanh hơn, cho nên có thể nói rằng các tỉnh miền Trung và phía Nam đang chịu sức ép của nguy cơ lan truyền bệnh dịch tả. Đối với các tỉnh này, có lẽ chiến lược phòng ngừa thực tế nhất là tiêm chủng ngừa những người có nguy cơ mắc bệnh cao. Một số nghiên cứu gần đây ở Bangladesh và Peru cho thấy vắc-xin WC/rBS có hiệu quả chống dịch tả đến 85-90% trong vòng 6 tháng cho tất cả đối tượng bất kể độ tuổi nào [4]. Thật ra, vắc-xin này cũng đã được thử nghiệm ở Việt Nam vào năm 1992-1993 với hiệu quả phòng chống bệnh lên đến 66% trong vòng 8 tháng. Một loại vắc-xin khác (CVD 103-HgR) cũng đã qua thử nghiệm lâm sàng và hiệu quả cũng rất khả quan với 65% phòng chống vi khuẩn V. cholerae El Tor (loại vi khuẩn gây ra nạn dịch ở Peru vào 1991-1994). Năm 2005, chính phủ Nam Dương quyết định tiêm chủng vắc-xin WC/rBS để phòng chống dịch tả cho tất cả các cư dân trong vùng bị ảnh hưởng cơn bão Tsunami, và họ đã thành công trong việc kiểm soát và ngăn ngừa cơn đại dịch.  Đến đây thì câu hỏi đặt ra là tiêm chủng đại trà ở các vùng có nguy cơ cao (như miền Trung) có hiệu quả kinh tế hay không? Câu trả lời ngắn gọn là “có”. Năm 1998, một nghiên cứu tiêm chủng từ Việt Nam cho thấy chi phí tiêm 2 liều vắc-xin cho 118.555 người là 105.447 USD. Như vậy tính trung bình, chi phí tiêm chủng cho một người là khoảng 0,9 USD. So với số trường hợp bệnh tả được ngăn ngừa và chi phí bệnh viện nếu mắc bệnh thì một chiến dịch tiêm chủng như thế vừa rất có hiệu quả kinh tế và y tế [5] vừa an toàn [6].  Bệnh tả và nạn dịch tả cho đến nay vẫn là một vấn đề y tế công cộng có qui mô toàn cầu, và cũng là cũng một chỉ tiêu để đo lường sự phát triển xã hội. Hằng năm, có khoảng 5-7 triệu người trên thế giới mắc bệnh tả, và số tử vong vì bệnh này khoảng 100.000 người. Chỉ riêng năm 2005, Tổ chức y tế thế giới (WHO) ghi nhận gần 132.000 trường hợp bệnh dịch tả và 2272 trường hợp tử vong (tỉ lệ tử vong 1,72%) trên thế giới; trong đó, 98% trường hợp xảy ra ở Phi châu. Mặc dù bệnh dịch tả không còn là mối quan tâm ở các nước đã phát triển, nhưng ở các nước đang phát triển như nước ta với điều kiện vệ sinh nguồn nước là một thách thức lớn thì dịch tả vẫn là một mối đe dọa không nhỏ đến sức khỏe người dân. Thiết nghĩ kinh nghiệm từ các nước trong vùng và trên thế giới cung cấp cho chúng ta một bài học quan trọng: đó là chủ động phòng chống bệnh, kể cả tiêm ngừa ở qui mô cộng đồng để ngăn chận sự bộc phát của bệnh.    Cần một chiến lược lâu dài           Y học thực chứng (evidence-based medicine, có người dịch thiếu chính xác là “y học chứng cứ”) là một trường phái y học hiện đại xuất hiện vào khoảng thập niên 1980 trong thế kỉ trước, và nay được chấp nhận là một bộ phận không thể nào thiếu được trong thực hành y khoa, kể cả y tế công cộng. Nói một cách ngắn gọn, y học thực chứng phát biểu rằng thực hành y khoa phải dựa vào các dữ liệu khoahọc một cách sáng suốt và có ý thức nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Dữ liệu khoa học được đúc kết từ các nghiên cứu khoa học công bố trên các tập san y khoa quốc tế. Sử dụng dữ kiện y học một cách “sáng suốt và có ý thức” có nghĩa là người thầy thuốc phải cân nhắc, đánh giá, phân loại các dữ kiện nghiên cứu y học, kết hợp cùng kinh nghiệm lâm sàng và thông tin từ bệnh nhân và cộng đồng.      Theo thông tin từ báo chí — có lẽ vẫn chưa đầy đủ — tính đến nay (7/11) đã có trên 1000 người mắc bệnh “tiêu chảy cấp” (thật ra, phải viết là “bệnh tả” thì chính xác hơn). Vấn đề đặt ra hiện nay là phát triển một chiến lược y tế công cộng, không chỉ khắc phục làm giảm tần số mắc bệnh hiện nay, mà phòng chống bệnh về lâu về dài. Có lẽ ai cũng nhất trí rằng không thể phát triển một chiến lược phòng ngừa hữu hiệu nếu không có thông tin khoa học đáng tin cậy. Do đó, tôi cho rằng các nguyên lí của y học thực chứng rất cần thiết trong việc nhận định các yếu tố phát sinh bệnh và phát triển một chiến lược y tế công cộng để phòng chống bệnh tả ở qui mô cộng đồng.          Một thực tế của bệnh tả là bệnh thường bộc phát ở những vùng có mật độ dân cư cao và các gia đình nghèo. Do đó, phần lớn các yếu tố nguy cơ của bệnh tả thường liên quan đến tình trạng kinh tế và thậm chí văn hóa sinh hoạt của người dân. Phải thú nhận một thực tế là rất nhiều người Việt chúng ta chưa có thói quen rửa tay trước bữa ăn hay sau khi đi tiêu / tiểu, và cũng chưa xem nhà xí là một phương tiện phòng chống bệnh tật. Rất nhiều nhà hàng, nhà ở được xây dựng hoành tráng, nhưng cầu xí thì rất ư là tồi tệ. Các thói quen mang tính văn hóa này đã được chứng minh là những yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh dịch tả. Điều này cho thấy chúng ta cần có một chiến lược y tế công cộng về lâu về dài nhằm nâng cao và cải thiện vệ sinh môi trường sống ở những vùng có nguy cơ mắc bệnh cao.  Bệnh dịch tả và vi khuẩn gây bệnh đã song hành cùng con người qua nhiều năm, nhưng có xu hướng tập trung vào một số vùng trên thế giới. Á châu và Nam Mĩ là những vùng chịu ảnh hưởng bệnh này nhiều nhất. Nhưng ngay cả trong vùng Á châu, những nước như Singapore hay ngay cả Thái Lan có tần số bệnh gần như không đáng kể so với nước ta. Điểm khác biệt giữa các nước này và nước ta là họ đã cải thiện nguồn cung cấp nước và có hệ thống kiểm tra thực phẩm hữu hiệu hơn nước ta.  Bệnh tả là bệnh hoàn toàn có thể ngăn ngừa. Chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm của các nước này để tiến đến một định hướng giảm tần số bệnh đến mức tối thiểu. Và, để tiến đến một định hướng như thế, chúng ta cần có một chiến lược tổng thể và lâu dài, chứ không nên tập trung vào một yếu tố như mắm tôm. Ở nước ta, làm sạch nguồn nước cần phải được xem là một biện pháp số 1 trong bất cứ một chiến lược y tế công cộng nào để ngăn ngừa bệnh tả và các bệnh khác.  Sau cùng, cần nghiên cứu phục vụ cho y học thực chứng. Chúng ta không thể hành động nếu không có thông tin. Mặc dù bệnh dịch tả không mới ở nước ta, nhưng cho đến nay các thông tin về qui mô, yếu tố nguy cơ của bệnh vẫn còn quá khiêm tốn, nếu không muốn nói là “chẳng có gì”. Điều này rất tương phản với các nước khác, kể cả các nước Phi châu, nơi mà họ thu thập thông tin khá đầy đủ để đi đến những chương trình y tế dự phòng rất hữu hiệu. Đây là thời điểm lí tưởng để thực hiện các nghiên cứu dịch tễ học tìm hiểu về quá trình bộc phát bệnh cũng như các yếu tố địa phương và cá nhân có liên quan đến bệnh. Những thông tin này rất cần cho việc hoạch định một chiến dịch phòng ngừa bệnh trong tương lai.  Tài liệu tham khảo:  [1] Izadi S, Shakeri H, Roham P, Sheikhzadeh K. Cholera outbreak in southeast of iran: routes of transmission in the situation of good primary health care services and poor individual hygienic practices. Jpn J Infect Dis. 2006 Jun;59(3):174-8.  [2] Acosta CJ, Galindo CM, Kimario J, Senkoro K, Urassa H, Casals C, Corachan M, Eseko N, Tanner M, Mshinda H, Lwilla F, Vila J, Alonso PL. Cholera outbreak in southern Tanzania: risk factors and patterns of transmission. Emerg Infect Dis. 2001;7(3 Suppl):583-7.  [3] Kelly-Hope LA, Alonso WJ, Thiem VD, Anh DD, Canh do G, Lee H, Smith DL, Miller MA. Geographical distribution and risk factors associated with enteric diseases in Vietnam. Am J Trop Med Hyg. 2007 Apr;76(4):706-12.  [4] WHO. Weekly epidemiological record. WHO Bulletin No 31, 2006, 81:297-308.  [5] Vu DT, et al. Coverage and costs of mass immunization of an oral cholera vaccine in Vietnam. J Health Popul Nutr. 2003 Dec;21(4):304-8.  [6] Anh DD, et al. Safety and immunogenicity of a reformulated Vietnamese bivalent killed, whole-cell, oral cholera vaccine in adults. Vaccine. 2007 Jan 22;25(6):1149-55.  GS. Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sai một ly đi một…hàm!      Cái răng cái tóc là gốc con người. Chắc chắn nhiều độc giả sẽ nhăn mặt vì biết rồi nói mãi. Đồng ý là ai ai cũng hiểu về vai trò quan trọng của hàm răng. Cũng nhất trí là không mấy ai không biết ít nhiều về giá trị của biện pháp vệ sinh răng miệng. Ấy thế mà theo các nhà nghiên cứu về răng miệng của tập đoàn Colgate, lại có đến 90% người tiêu dùng vẫn chưa hiểu đúng về biện pháp bảo vệ hàm răng, mặc dầu quảng cáo về kem đánh răng hầu như không vắng mặt giờ nào trên màn ảnh truyền hình! Dưới đây là 10 điểm hiểu lầm thường gặp nhất dựa trên kết quả cuộc thăm dò với hơn 1400 thân chủ của nhiều nha sĩ trên khắp nước Đức.    Chỉ cần một phút đánh răng là đủ: Sai trầm trọng vì hai lý do. Trước hết, cần đánh răng nhiều lần trong ngày mới có hy vọng làm sạch chân răng và kẽ răng. Hàm răng không chỉ có hai mặt trước sau mà còn nhiều nơi “uẩn khúc”. Kế đến, dù có nhanh tay đến mấy cũng phải cần tối thiểu 3 phút mới làm sạch nổi cả 2 hàm trên dưới. Thêm vào đó, lần đánh răng quan trọng nhất là trước khi đi ngủ vì nhiều loại vi trùng chực chờ trong hầu họng, trên nướu răng, chỉ chờ lúc gia chủ say giấc nồng để ra tay đánh lén.  Cần đổi bàn chải đánh răng khi lông bàn chải bị tòe: Quá muộn, vì khả năng “thanh lý” của bàn chải đã suy giảm rất nhiều trước khi đầu lông bị tòe hoàn toàn. Đừng dùng bàn chải lâu hơn 2 tháng. Đừng tiếc, nên đổi bàn chải mới sau cơn cảm cúm, viêm họng hay lở môi do vi khuẩn Herpes. Tiền mua bàn chải mới bao giờ cũng rẻ hơn tiền thuốc.    Không cần dùng chỉ nha khoa (chải khe răng) nếu đánh răng thường xuyên: Sai bét. Bàn chải, dù có được quảng cáo khéo bao nhiêu về hình dáng, về độ cong… vẫn không thể chải sạch kẽ răng. Đó lại là điểm yếu của hàm răng! Đừng quên, diện tích của toàn bộ khe răng chiếm gần 30% mặt bằng tổng cộng của hàm răng. Nên tập thói quen dùng chỉ nha khoa hay que (có hình dạng giống bàn chải rửa chai lọ) để dọn sạch chân răng sau mỗi bữa ăn.  Muốn bảo vệ răng phải đánh răng thường xuyên: Đúng nhưng chưa chính xác hoàn toàn. Chỉ tác động từ bên ngoài thì răng không thể nào đủ mạnh. Răng chỉ khỏe khi, bên cạnh biện pháp vệ sinh đúng cách, đồng thời được cung ứng đầy đủ khoáng tố như vôi, fluor, silicium… thông qua chế độ dinh dưỡng với tri thức về dưỡng chất.    Nhai kẹo cao su cũng tốt như đánh răng: Phiến diện! Cho dù không hẳn sai, vì kẹo cao su đúng là một biện pháp bổ sung cho mục tiêu vệ sinh răng miệng, nhờ làm tăng hoạt động của tuyến nước bọt với công năng thanh trùng cục bộ. Cũng đúng là một số hoạt chất trong kẹo cao su như xylit, tinh dầu thực vật… có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành cao răng, nhưng cho dù có dùng kẹo cao su với hoạt chất được quảng cáo nghe êm tai như trắng răng, thơm miệng, sát trùng… thì kẹo vẫn không thể thay thế tác dụng cơ học của bàn chải.    Tác hại của việc hút thuốc chỉ là nám răng: Ngụy biện mà thôi. Tác hại nghiêm trọng của thuốc lá chính là tình trạng viêm nướu răng với tỷ lệ nhiễm bệnh cao gấp 4 lần nếu so với nhóm đối chứng không hút thuốc, theo kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Hậu quả này đương nhiên tỷ lệ thuận với số điếu thuốc đốt mỗi ngày. Thêm vào đó, nướu răng ở người hút thuốc một khi đã viêm sẽ khó lành hơn ở người không hút thuốc. Nha sĩ ở Wurzburg, Đức, đã chứng minh là thuốc lá gây thiếu máu và thiếu dưỡng khí ở nướu răng. Không những thế, sức đề kháng của người hút thuốc cũng suy giảm rõ rệt do thuốc lá là nguồn tiêu hao các loại sinh tố và khoáng tố cần thiết cho hoạt động của hệ miễn nhiễm như  sinh tố C, E, D, kẽm, selen, magnesium…  Chải răng bằng tay tốt hơn dùng bàn chải điện: Không! Biết là hàng thủ công bao giờ cũng cao giá nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ. Đánh răng bằng bàn chải điện có lợi hơn với bàn chải tay nhờ cường độ ổn định.  Răng sữa đằng nào cũng rụng: Chỉ là định kiến thiếu cơ sở khoa học. Răng sữa, dù rồi sẽ mất, vẫn cần được chăm sóc kỹ lưỡng như răng khác vì thương tổn ở răng sữa, đặc biệt ở chân răng, sẽ để lại hậu quả trên nướu răng và xương hàm khiến răng trưởng thành sau đó khó giữ được nét khỏe mạnh như mong muốn.  Cạo cao răng chỉ có giá trị thẩm mỹ: Sai to! Cao răng là môi trường thuận lợi cho hoạt động phá hoại men răng và gây mùi hôi của vi trùng trong vòm miệng. Quan trọng hơn nữa, sự hình thành của cao răng là dấu hiệu cho thấy có điểm nào đó trục trặc trong quy trình biến dưỡng của người “sưu tầm” cao ở kẽ răng.  Khám nha sĩ khi đau răng: Đúng nhưng chưa hay. Dĩ nhiên không ai vui gì khi phải đến nha sĩ, nhất là phải nghe tiếng máy khoan đến êm ẩm người. Nhưng nếu đợi đến khi ôm hàm kêu trời mới nhớ đến nha sĩ thì e quá muộn. Khám răng định kỳ, dù không đau răng, cần được quan niệm như một biện pháp thiết yếu để dự phòng không chỉ bệnh răng miệng, mà còn để kịp thời lưu ý nhiều bệnh chứng khác nghiêm trọng hơn răng đau. Xem răng để nhổ răng thì có gì lạ?! Nhìn răng mà đoán ra bệnh nơi khác mới thật khéo!  Không ai muốn mất gốc. Chẳng ai muốn thiếu răng. Nhưng muốn giữ răng cho đẹp, cho khỏe mà hiểu sai về cách bảo vệ hàm răng thì sớm muộn cũng đến lúc lấy thêm tên Tây: Hăng-rết!  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang San hô ở biển Đông đang biến mất nhanh chóng      Những hình ảnh chụp biển Đông từ vệ tinh cho thấy, các rạn san hô ở đây đang bị tàn phá với quy mô lớn và tốc độ  nhanh chóng, song song với tiến trình biến môi trường sống nguyên thủy  thành các tiền đồn quân sự của Trung Quốc.      Trong khuôn khổ Chương trình Minh bạch về biển ở châu Á của Liên hợp quốc, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies) vừa công bố những hình ảnh chụp biển Đông từ vệ tinh. Kết quả cho thấy, một số rạn san hô được đánh giá có sự đa dạng sinh học lớn nhất thế giới tại đây đang bị tàn phá với quy mô lớn và tốc độ nhanh chóng, song song với tiến trình biến môi trường sống nguyên thủy thành các tiền đồn quân sự của Trung Quốc.   Phân tích về các hình ảnh này cho thấy hàng nghìn ha san hô đã biến mất trong vài năm gần đây – đây là tốc độ tàn phá san hô nhanh nhất trong lịch sử loài người. Giáo sư Terry Hughes, một chuyên gia về san hô, cho biết: “Xây dựng đảo nhân tạo trên những rạn san hô ở vùng biển nông đồng nghĩa với việc bóp nghẹt bầu không khí của chúng bằng các loại cặn bùn và biến nguồn nước sạch thành nước có bùn – sự thiệt hại về môi trường ở đây là rất lớn và chưa từng có về quy mô. Các rạn san hô ở vùng biển này vốn đã và đang bị đe dọa vì hoạt động đánh bắt cá quá mức và sự thay đổi khí hậu, và bây giờ chúng còn phải đối phó với những tác động của việc nạo vét biển để xây dựng tiền đồn quân sự mới. Chúng ta cần có một sự đột phá trong hợp tác nhằm bảo vệ các hệ sinh thái san hô đang tồn tại rất mong manh.”  Theo ước tính của chương trình trên, lượng cá ở biển Đông chiếm 10% lượng cá toàn cầu. Báo cáo của chương trình cũng chỉ ra, các rạn san hô ở đây là nơi cư ngụ của những loài cá có tầm quan trọng về mặt kinh tế, và đóng “một vai trò quan trọng trong việc thu hút và duy trì lượng cá ở biển.”  Trang Bùi dịch  Nguồn: theguardian.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn lùng nguyên tố mới: Câu chuyện không có hồi kết      Từ những thầy tu bị đầu độc và bom hạt nhân đến “cuộc chiến transfermium1”, vẽ bản đồ thế giới nguyên tử chưa bao giờ là việc dễ dàng. Đằng sau bảng tuần hoàn là một lịch sử ẩn giấu về quá trình truy tìm nguyên tố mới.      Việc săn tìm nguyên tố mới đã dần trở thành tạo ra nguyên tố mới, và ý nghĩa của bảng tuần hoàn cũng thay đổi theo. Giờ đây, nó không chỉ mô tả những gì đang tồn tại, mà còn mô tả cả những gì có thể. Minh họa của Ilya Milstein.  Câu chuyện đằng sau ô phốt-pho trên bảng tuần hoàn     Câu chuyện về nguyên tố thứ 15 bắt đầu ở Hamburg, năm 1669. Hennig Brandt2, một thợ thủy tinh và nhà giả kim thất bại, trong lúc cố gắng tạo ra hòn đá của triết gia, chất trong truyền thuyết có thể biến kim loại thành vàng, đã chưng cất được một chất mới. Nó sủi bọt và có màu vàng hoặc đen tùy theo cách điều chế. Ông ta gọi nó là “lửa lạnh”, vì nó phát sáng trong bóng tối. Nó được nhiều người quan tâm xem xét, một số cảm thấy mình được chứng kiến một phép màu. Một người viết: “Nếu ai đó xoa nó lên toàn thân, anh ta sẽ phát sáng như Moses khi từ trên núi Sinai đi xuống3.” Robert Boyle, cha đẻ của hóa học hiện đại, để một ít chất đó trên tay và nhận xét rằng nó “mềm mại và vô hại”. Một nhà khoa học khác thấy trong nó có những hạt nhấp nháy “như những ngôi sao nhỏ”.    Ban đầu, không ai biết thần Prometheus của Hamburg đã đánh cắp được thứ gì. Sau khi một người thân tín của Brandt đưa ra một gợi ý, rằng nguyên liệu chính của nó là “một cái gì đó từ cơ thể người”, Boyle luận ra rằng ông và những người khác cầm một chất được chế biến từ nước tiểu. Trong cuốn sách về lịch sử các nguyên tố “Antimony, Gold, and Jupiter’s Wolf4” (NXB Oxford), nhà hóa học Peter Wothers ở Đại học Cambridge giải thích công thức của Brandt: cần đến một tấn nước tiểu. Tấn nước tiểu đó được để trong các xô rất lâu, đến nỗi giòi bọ sinh sôi trong đó, rồi được chưng cất trong lò nóng, và kết quả là 120 gam “lửa lạnh”. Brandt tin rằng nếu có đủ chất này, ông ta sẽ tạo được hòn đá của triết gia. Năm 1678, Công tước xứ Saxony yêu cầu Brandt thu lấy 100 tấn nước tiểu từ một doanh trại để tạo ra chất mà Boyle và những người khác sẽ gọi là phosphorus, tiếng Latin5 nghĩa là “người/vật mang ánh sáng”.    Thứ phốt-pho xốp bọt của Brandt là một của hiếm. Nhưng ở nước Anh, Boyle bắt đầu sản xuất được một dạng phốt-pho rắn hơn, tinh khiết hơn, và rất dễ cháy. Một nhà khoa học khác khi nghiên cứu phốt-pho của Boyle đã nhận thấy “nếu đem bôi lên chỗ kín, nó sẽ gây sưng tấy và bỏng rát một lúc khá lâu.” Về phần mình, Boyle tìm cách dùng nó làm mồi thuốc súng. (Trợ lý của ông, nhà bào chế Ambrose Godfrey, trong khi nghiên cứu về chất này đã làm cho tóc mình bắt lửa và đốt thủng “hai hay ba lỗ lớn trên ống quần”.) Việc kinh doanh phốt-pho phát triển trong suốt thế kỷ 18, một phần vì các thầy thuốc ngộ nhận rằng nó có giá trị y học. Trong thế kỷ 19, các nhà sản xuất diêm phát hiện ra rằng những que gỗ có một đầu phủ phốt-pho ít nguy hiểm hơn phiên bản phủ lưu huỳnh trước đó; không lâu sau đó, phát minh ra việc dùng lò điện để chiết xuất phốt-pho từ quặng ở quy mô lớn đã dẫn tới việc sản xuất thuốc nổ. Trong Chiến tranh Thế giới II, trong “một bước ngoặt bi thảm của số phận” – từ của Wothers, vũ khí phốt-pho đã được sử dụng khi quân Đồng minh ném bom hủy diệt thành phố Hamburg quê nhà của Brandt.      Khả năng thích ứng của bảng tuần hoàn giúp nó trường tồn. Trong một thế kỷ rưỡi vừa qua, hiểu biết của chúng ta về vũ trụ đã thay đổi mạnh mẽ. Nhưng dạng bảng tuần hoàn vẫn giữ được dạng cơ sở của nó.      Wothers tìm ra rất nhiều bước ngoặt như thế trong những câu chuyện ẩn sau từng ô của bảng tuần hoàn. Antimon (nguyên tố số 51) là một khoáng chất sáng bóng; bốn nghìn năm trước, người ta đã đẽo nó làm bình, và nó xuất hiện trong những lối trang điểm được tả trong kinh Cựu Ước. Theo Pierre Pomet, nhà bào chế và nhà giả kim thế kỷ 17, cái tên antimon bắt nguồn từ chuyện một thầy tu người Đức cho nó vào đồ ăn của các đồng môn của mình (Wothers cho rằng câu chuyện này không xác thực). Vị thầy tu đó đã cho lợn ăn antimon, ban đầu chúng nôn ra nhưng sau đó trở nên béo khỏe. Rủi thay, tất cả các thầy tu ăn phải nó đều chết. “Câu chuyện này là lý do vì sao khoáng chất này được gọi là antimon,” Pomet viết, “vì nó chết chóc đối với các thầy tu6.” (Trong một chuyện ít chết chóc hơn, một bác sỹ thế kỷ 19 và những người bạn của mình mỗi người đã nuốt 15 mi-li-gam telu (nguyên tố số 52) và thở ra mùi tỏi suốt tám tháng.)    Tên gọi của các nguyên tố từ lâu đã là nguồn gốc của những tranh cãi và sự khó hiểu. Wothers chỉ ra rằng trong tiếng Hy Lạp, hydrogen nghĩa là “cái tạo thành nước”, còn oxygen là “cái tạo thành a-xít”; nhưng thực tế hi-đrô mới kết hợp với các nguyên tố khác tạo thành a-xít, còn ô-xy lại kết hợp với hi-đrô tạo thành nước. “Aluminium [nhôm],” Charles Dickens viết năm 1856, là “một phần hóa thạch của tiếng Latin, đối với quần chúng thì nó cũng vừa miệng như một món sườn thằn lằn cá cổ đại hay món tủy chim khổng lồ.” (Gốc Latin của nó có nghĩa là “muối đắng”, chỉ loại đất khoáng chứa thứ kim loại từng rất quý này; những đề nghị “bạc đất” và “vàng đất” của Dicken cũng chẳng hơn gì.) Nhà hóa học người Pháp Marguerite Perey, một học trò của Marie Curie, khám phá ra một nguyên tố mới vào năm 1939. Bà muốn đặt tên nó là “catium” vì nó bị hút mạnh về cực âm [cathode]; con gái của Marie Curie, Irène Joliot-Curie, lo ngại rằng người nói tiếng Anh sẽ gắn nguyên tố mới với mèo. Perey, một người Pháp, quyết định đặt tên nó là francium.     Cuộc tranh luận về Mendeleev     Nhiều nhà sử học lấy dấu mốc ra đời của bảng tuần hoàn là việc xuất bản cuốn sách của nhà hóa học người Nga Dmitri I. Mendeleev, vào 150 năm trước. Nhưng Eric Scerri, nhà triết học hóa học của Đại học California, Los Angeles (UCLA) – ông nghiên cứu lịch sử của những câu hỏi như “Thế nào là một nguyên tố hóa học?” –  và là tác giả cuốn “The Periodic Table: Its Story and Its Significance7” (NXB Oxford), cực lực phản đối quan điểm rằng Mendeleev đã cách mạng hóa khoa học bằng cách đưa tính tuần hoàn của hóa học ra ánh sáng. Scerri lập luận rằng tính tuần hoàn – ý tưởng rằng các nguyên tử lớn và nhỏ hòa hợp với nhau theo quy luật, như các phím đàn – không phải từ trên trời rơi xuống. Nó được chú ý đến nhờ công của nhiều nhà khoa học; trong quá trình đó, những ý tưởng vốn bị coi thường từ lâu, chẳng hạn thuật giả kim, hóa ra lại có một số mặt đúng, và những ý tưởng về cơ bản là sai, chẳng hạn tính không thể phân chia của các nguyên tố, lại trở thành những cách suy nghĩ hiệu quả. Một số nhà hóa học thế kỷ 18 và thế kỷ 19, những người bắt đầu nhận thấy các quy luật ở một số nguyên tố hóa học, thực ra đang đi lại con đường của những nhà nguyên tử luận thời Hy Lạp cổ đại như Democritus và Leucippus, những người ở thế kỷ 5 trước Công nguyên đã lập luận rằng mọi thứ ta có thể nhìn thấy và chạm vào đều được làm từ những hạt vô hình không thể bị chia nhỏ. Các nhà nguyên tử luận tin rằng những hạt đó có vô số hình dạng và kích thước khác nhau, và các tính chất quan sát được của chúng đến từ những cấu trúc được tạo thành khi chúng gắn lại với nhau.    Thời Trung cổ, thuyết nguyên tử hầu như bị lấn át bởi thuyết của Aristotle rằng vạn vật trong vũ trụ được tạo thành từ bốn nguyên tố lửa, đất, nước và không khí. Nhưng thuyết nguyên tử chưa bao giờ hoàn toàn biến mất. Các học giả thời Phục hưng tin vào nhiều mô hình nguyên tố. Trong cuốn sách của Wothers có hình chụp lại một số sơ đồ có trước khi bảng tuần hoàn ra đời: một bản khắc thế kỷ 17 về “bảy kim loại” mô tả bảy vị thần La Mã cầm các biểu tượng hóa học cổ (các vị thần nhắc nhở người xem rằng sắt là từ sao Hỏa và đồng là từ sao Kim8); một hình khác có bảy kim loại và bốn nguyên tố của Aristotle xếp thành hình tam giác. Bao quanh sơ đồ là một câu tiếng Latin: “Dù vô hình, ta là cha và mẹ của mọi thứ hữu hình trên thế gian”.    Tất nhiên, chẳng cần phải là học giả cũng có thể nghĩ rằng thế giới được tạo nên bởi nhiều hơn bốn nguyên tố. Thợ mỏ thế kỷ 17, Wothers viết, phân biệt các loại khí khác nhau: họ gọi loại khí nhẹ ở phía trên nóc hang động là “khí lửa” vì nó rất dễ bùng cháy, và những đám mây nặng ở gần mặt đất là “khí ngạt” vì nó gây khó thở. Trong thế kỷ 18, người dân địa phương gọi một cái hang ở gần Naples là Grotta del Cane9, vì những con chó đi lạc vào hang không thể ngóc đầu cao hơn lớp khí thoát ra từ mặt đất và bị chết ngạt; nếu được đưa ra ngoài trời, chúng có thể sống lại.      Tranh vẽ Hennig Brandt tìm nguyên tố phốt-pho. Joseph Wright vẽ năm 1771/ Derby Museum and Art Gallery.  Những quan sát như vậy ngày càng có nhiều, và niềm tin rằng có nhiều nguyên tố khác nhau cũng ngày càng lớn. Cuối thế kỷ 18, các nhà khoa học trong khi kết hợp các chất bắt đầu nhận thấy một số chất luôn phản ứng với nhau theo cùng tỷ lệ, cho thấy chúng có thể có khối lượng cơ bản khác nhau. (Dường như để trung hòa cùng một lượng a-xít sulfuric thì cần nhiều ammoniac hơn ô-xít magie.) Năm 1803, nhà khoa học người Anh John Dalton đề xuất rằng các nguyên tử đã tham gia vào các phản ứng đó; ông kêu gọi các đồng nghiệp giúp mình xác định khối lượng của những thứ vô hình này. Một “cơn cuồng tìm kiếm các hằng số”, theo cách nói của Scerri, bắt đầu. Các nhà hóa học chẳng mấy chốc đã nhận thấy các quy luật khi họ nhóm các nguyên tố thành các bộ ba theo khối lượng nguyên tử. (Thí dụ liti, natri và kali đều cháy trong nước; khối lượng nguyên tử của natri bằng trung bình cộng khối lượng nguyên tử của liti và kali.) Những thí nghiệm như vậy làm hé lộ một thứ tự trong thế giới của các nguyên tố. Nhưng đó là một công việc khó nhọc. Năm 1836, nhà hóa học Jean Baptiste André Dumas, học trò của Dalton, tuyệt vọng đầu hàng. “Chuyến dấn thân đầy tham vọng của chúng ta vào vùng đất nguyên tử đã để lại gì?” ông viết. “Nếu có quyền, tôi sẽ xóa từ ‘nguyên tử’ khỏi khoa học.”    Những nhà hóa học khác vẫn đi tiếp. Khối lượng nguyên tử càng được tính chính xác, các quy luật càng hiện rõ. Năm 1864, nhà hóa học người Đức Julius Lothar Meyer công bố một bảng 28 nguyên tố. Các nguyên tố của Meyer được sắp xếp chủ yếu theo khối lượng tăng dần và được xếp thẳng hàng theo các tính chất hóa học chung lặp lại theo các khoảng đều nhau. Năm năm sau, Mendeleev công bố bảng tuần hoàn của mình, và nó dần phát triển thành phiên bản chúng ta sử dụng ngày nay. Cũng như Meyer, Mendeleev xếp các nguyên tố thành bảng, mỗi hàng chứa các nguyên tố có tính chất tương tự nhau. Nhưng ông còn thêm vào bảng của mình nhiều khoảng trống và dấu hỏi, và đưa ra những tiên đoán cụ thể về các nguyên tố mới. Mendeleev đã dự báo chính xác sự tồn tại của những nguyên tố khi đó chưa được khám phá, chẳng hạn gali và germani, cũng như tương tác của chúng với các nguyên tố khác.    Mendeleev cũng dự đoán sai nhiều. Nhưng như Scerri giải thích, nhà hóa học người Nga là một bậc thầy kể chuyện và hiệu quả hơn Meyer và những đối thủ khác trong việc truyền bá hệ thống tuần hoàn. Mendeleev không từ một cơ hội nào để tranh luận, nhiều khi một cách khinh suất, rằng đặc tính của các nguyên tố lặp lại một cách có trật tự và có thể dự đoán. Ông vừa không mệt mỏi vừa kiên định, chí ít là cho đến khi xu hướng quan điểm khoa học chống lại ông. Cuối những năm 1850, các nhà khoa học phát hiện ra rằng ánh sáng của một chất khi bị đốt cháy có thể cho biết các nguyên tố cấu thành chất đó; năm 1868, nhà thiên văn học người Pháp Jules Janssen sử dụng kỹ thuật đó trong một lần nhật thực toàn phần để khám phá ra heli (nguyên tố số 2) trên bề mặt Mặt trời. Ban đầu Mendeleev cho rằng heli không thể tồn tại vì không có chỗ cho nó trong bảng tuần hoàn. Nhưng đầu thế kỷ 20, sau khi các khí hiếm khác được khám phá và được chứng minh là có những tính chất giống với heli, các nhà khoa học khác tạo thêm một cột riêng cho chúng, và Mendeleev đồng ý. (Đó là cột bên phải, với heli ở trên cùng.)    Khả năng thích ứng của bảng tuần hoàn giúp nó trường tồn. Trong thế kỷ 20, các nhà khoa học nhận ra rằng tính tuần hoàn không được quyết định bởi khối lượng nguyên tử, mà bởi số proton trong hạt nhân của nguyên tử. Nhưng khám phá này không phá vỡ bảng tuần hoàn; sau một số sắp xếp lại, nó trở nên chính xác hơn. Trong một thế kỷ rưỡi vừa qua, hiểu biết của chúng ta về vũ trụ đã thay đổi mạnh mẽ. Nhưng dạng bảng tuần hoàn vẫn giữ được dạng cơ sở của nó. □ (Còn tiếp)     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.newyorker.com/science/elements/the-histories-hidden-in-the-periodic-table  —-  1. “Transfermium wars”, tranh cãi về việc đặt tên cho các nguyên tố đứng sau fermium (tiền tố “trans-” nghĩa là vượt qua) trong bảng tuần hoàn, bắt đầu trong Chiến tranh Lạnh và được giải quyết vào năm 1997 – ND.  2. Nhiều tài liệu viết là Brand – ND.  3. Trong Kinh Thánh, núi Sinai là nơi nhà tiên tri Moses gặp Chúa Trời – ND.  4. Tạm dịch “Antimon, Vàng và Con sói của Jupiter” – ND.  5. Ở đây tác giả có sự nhầm lẫn: phosphorus là từ gốc Hy Lạp chứ không phải Latin – ND.  6. Theo thuyết này, từ [tiếng Pháp] antimoine được ghép từ “anti”, nghĩa là chống lại, và “moine”, nghĩa là thầy tu – ND.  7. Tạm dịch: “Bảng tuần hoàn: Lịch sử và Ý nghĩa” – ND.  8. Biểu tượng cổ của hai kim loại này là hai biểu tượng quen thuộc của các vị thần Mars và Venus  – ND.  9. Nghĩa là “hang chó” – ND.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn lùng nguyên tố mới: Câu chuyện không có hồi kết (kỳ 2)      Trong kỳ 1, chúng ta đã cùng khám phá những bước ngoặt trong những câu chuyện ẩn sau từng ô của bảng tuần hoàn và dừng lại ở nhận định “khả năng thích ứng của bảng tuần hoàn giúp nó trường tồn”…      Nhà hóa học Glenn Seaborg, người đã tham gia khám phá 10 nguyên tố trong phòng thí nghiệm trong cuộc chiến “Transfermium” để tìm kiếm các nguyên tố mới. Ảnh: Seaborg đứng trước một bảng đồng vị vào năm 1946. Nguồn: Argonne National Laboratory, courtesy of AIP Emilio Segrè Visual Archives.  Kỷ nguyên hiện đại của săn lùng nguyên tố     …nhưng như vậy không có nghĩa là không ai thử thay đổi nó: theo Eric Scerri [nhà triết học hóa học của Đại học California, Los Angeles (UCLA) – ông nghiên cứu lịch sử của những câu hỏi như “Thế nào là một nguyên tố hóa học?” –  và là tác giả cuốn “The Periodic Table: Its Story and Its Significance7” (NXB Oxford)] thì từ những năm 1860, đã có hơn một nghìn kiểu bảng tuần hoàn khác được đề xuất, thường với mục đích thể hiện một quy luật tuần hoàn nào đó không có trong bảng ban đầu. Trong số đó có cây Giáng sinh ba chiều của Fernando Dufour, năm 1990; hình xoắn ốc trông như đầu con vịt của Theodor Benfey, năm 1964; và khối hình bánh pretzel của Willam Crookes, thế kỷ 19, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Khoa học, London. Mô hình thứ ba đặt urani ở dưới cùng, vì nó dựa vào giả định không có nguyên tử nào lớn hơn. Nhưng giới hạn trên của các nguyên tố ngày càng được nâng lên. Những câu chuyện khám phá của khoảng ba chục nguyên tố trong thế kỷ 20 – một số trong đó có lẽ nằm ngoài tưởng tượng của Mendeleev và Meyer – được gom lại trong cuốn sách “Superheavy: Making and Breaking the Periodic Table1” (NXB Bloomsbury) của nhà báo khoa học Kit Chapman.    Những nhà săn lùng nguyên tố thời xưa dùng lửa để chưng cất nguyên tố, hoặc trộn quặng với a-xít đun sôi. Trong thế kỷ 20, những kỹ thuật đó nhường chỗ cho công nghệ mới sử dụng các chùm tia để phá vỡ nguyên tử. Các nhà khoa học còn nhận thấy nguyên tử có cấu trúc tạo bởi proton, neutron và electron, và những cấu trúc đó có thể bị phá vỡ hoặc lớn lên. Những tiến bộ này đã thay đổi một cách căn bản mối quan hệ giữa chúng ta và vật chất. Thời xưa, tìm ra một nguyên tố mới cũng giống như “tìm thấy bác sỹ Livingstone2”: ta biết ông ấy ở đâu đó ở Đông Phi. Thời nay, chỉ có ranh giới mờ nhạt giữa tìm thấy và tạo ra. Những nguyên tố được tạo ra trong phòng thí nghiệm có thể không tồn tại ở nơi nào khác.  Kỷ nguyên hiện đại của săn lùng nguyên tố bắt đầu vào thập kỷ 1930, khi nhà vật lý học Ernest Lawrence lãnh đạo các nhà khoa học ở Đại học California, Berkeley, phát triển một loạt máy cyclotron, những cỗ máy dùng điện để bắn proton vào những tấm kẽm đặt trong buồng kim loại. Các nhà khoa học nhận thấy một số hạt nhân tích điện sẽ bám vào các nguyên tử ở mục tiêu và tạo thành những nguyên tố nặng hơn. Đó là những hạt vô cùng nhỏ và xác suất va chạm là không đáng kể. “Nó giống như bắn chim trong đêm tối ở một vùng đất chỉ có vài con chim,” Albert Einstein nói, năm 1934. Thế nhưng các máy cyclotron của Lawrence vẫn cho phép bắn hàng nghìn tỷ lượt, và năm 1937 một trong số chúng đã tạo ra technetium (nguyên tố số 43), một nguyên tử được Mendeleev dự đoán. Giống như mọi nguyên tố được sinh ra trong máy cyclotron, technetium là nguyên tố phóng xạ. Lawrence nhận giải Nobel năm 1939 cho phát minh của mình; cùng năm đó, Einstein viết thư Tổng thống Roosevelt vì làm vũ khí hạt nhân3.      Albert Ghiorso đặt một mẫu vào buồng lưới alpha. Máy dò này được sử dụng để khám phá các yếu tố 97, 98, 99, 100 và 101. Ảnh: Lawrence Berkeley National Laboratory  Những quả bom như vậy phát nổ lại lấp đầy thêm bảng tuần hoàn. Từ năm 1952, Mỹ thử bom nhiệt hạch xung quanh quần đảo Marshall. Các nhà khoa học cho máy bay chiến đấu F-84 bay vào các khu vực vụ nổ. (Theo Chapman, những quả cầu lửa đủ nóng để “mô phỏng sức nóng mãnh liệt của Mặt trời”.) Đầu cánh của những chiếc F-84 được gắn những bộ lọc có thể thu lấy những nguyên tử được vụ nổ tạo ra. Bay xuyên qua cuống của những đám mây hình nấm, cố gắng giữ cho máy bay khỏi rung lắc dữ dội, các phi công thu lượm “những nguyên tố thường chỉ có trong những vụ va chạm của sao neutron, Chapman viết. (Một phi công, Jimmy Robinson, phát hiện động cơ ngừng hoạt động sau khi ra khỏi cơn bão bụi hạt nhân; ông thiệt mạng khi cố gắng hạ cánh xuống nước.) Sau đó, trong một phòng thí nghiệm ở Berkeley, nhà vật lý học Glenn Seaborg và đồng nghiệp tìm được ở một trong các bộ lọc gắn trên máy bay 200 nguyên tử của nguyên tố số 99. Khám phá này chỉ được giải mật sau nhiều năm tranh cãi, nhưng các nhà khoa học Berkeley đã công khai mô tả nguyên tố đó vào năm 1954. Họ uống “cả đống cocktail” và sẽ đặt tên nguyên tố mới là einsteinium, theo tên người đề xuất làm quả bom4.     Cuộc đua giữa các phòng thí nghiệm     Ngay cả trong điều kiện phòng thí nghiệm, việc săn lùng nguyên tố mới cũng có nhiều nguy cơ. Năm 1959, Al Ghiorso, một nhà vật lý học ở Berkeley với thần kinh thép, người dám chơi tennis với những quả bóng chứa chất phóng xạ, tìm kiếm nguyên tố số 102. Một hôm, khoảng giờ ăn trưa, ông nạp quá nhiều heli vào một máy gia tốc để bắn phá một tấm lọc bằng curi. Heli làm tấm lọc phồng lên rồi nổ như “một quả bóng bay chứa đầy những mẩu giấy bóng màu phóng xạ”, Chapman viết. Ghiorso phải cúi xuống để tránh đám mây, và cả tòa nhà phải sơ tán. Thế mà Ghiorso có thể không phải người đầu tiên tìm ra nguyên tố đó. Một nhóm nghiên cứu Thụy Điển, với thiết bị sơ khai hơn, tuyên bố đã tìm ra nó trước tiên và muốn đặt tên nó là nobelium, theo tên người phát minh ra thuốc nổ. Trong khi đó, các nhà khoa học Xô viết lại nghi ngờ các kết quả của cả Stockholm lẫn Berkeley. Việc đặt tên hai nguyên tố số 100 và 101, fermium và mendelevium, không gây nhiều lộn xộn, nhưng sự bình yên đó chẳng mấy chốc bị phá vỡ. Trong giai đoạn mà ngày nay được gọi là “cuộc chiến transfermium”, chu kỳ phát hiện rồi nghi ngờ trở thành nét chủ đạo của nghiên cứu về nguyên tố trong Chiến tranh Lạnh. (Cuối cùng, Liên đoàn Quốc tế về Hóa học lý thuyết và Hóa học ứng dụng – IUPAC – công nhận Liên Xô tìm ra nguyên tố trước tiên, nhưng giữ lại tên “nobelium”.) Đến năm 1970, có ít nhất hai phiên bản của bản tuần hoàn. Người Mỹ đặt tên nguyên tố số 104 theo Ernest Rutherford, cha đẻ của khoa học hạt nhân. Người Liên Xô đặt tên nó theo Igor Kurchatov, cha đẻ của vũ khí hạt nhân Liên Xô.    Một điều buồn cười nảy sinh trong cuộc chiến transfermium: các nhà khoa học nguyên tử đi tìm sự bất tử trong việc khám phá những nguyên tố chỉ tồn tại trong nháy mắt. Các hạt “siêu nặng” cần một năng lượng khổng lồ để được tạo ra, nhưng lại nhanh chóng phân rã thành những nguyên tố nhẹ hơn, thường chỉ trong vòng vài phần tỷ giây. Các nhà khoa học Mỹ và Liên Xô cố gắng tìm cách để giữ được chúng lâu hơn. Khi làm thí nghiệm với các nguyên tố được tạo ra trong Dự án Manhattan, các nhà khoa học nhận thấy có thể tạo ra hai phiên bản khác nhau, tức là hai đồng vị, của promethium, nguyên tố số 61 trong bảng tuần hoàn. Đồng vị có 88 neutron có chu kỳ bán rã tính bằng ngày, đồng vị còn lại, có 86 neutron, có chu kỳ bán rã vài năm. Rõ ràng có một con số “kỳ diệu”, là số neutron và proton thích hợp để giữ các hạt siêu tích điện của một nguyên tố siêu nặng lại với nhau. Các nhà khoa học bắt đầu tự hỏi liệu các nguyên tử lớn bền vững này có xuất hiện trong tự nhiên. Chapman đưa ra một bức vẽ “Bản đồ Đồng vị”, được một nhà khoa học vẽ năm 1978. Nó vẽ một bán đảo vươn ra “biển không ổn định”. Ở cuối bán đảo có một người nhỏ bé ngồi trong một cái ná khổng lồ; cái ná nhắm vào một “Hòn đảo Kỳ diệu”, và một con chim “độ nhớt hạt nhân” ghê gớm dang rộng đôi cánh canh giữ hòn đảo.     Tìm kiếm trong thế giới thật     Giấc mơ về một hòn đảo kỳ diệu của những nguyên tử ổn định ẩn ở những tầng sâu của bảng tuần hoàn đã kích hoạt cái mà Chapman gọi là “cơn sốt vàng” siêu nặng. Thay vì tạo ra các nguyên tố siêu nặng trong các máy gia tốc, các nhà khoa học bắt đầu tìm kiếm chúng trong thế giới thật. Một thuyết cho rằng nếu các nguyên tố siêu nặng tồn tại, việc phát hiện chúng sẽ dễ dàng hơn ở cách xa bề mặt Trái đất, nơi có nhiều tia vũ trụ làm nhiễu các thiết bị đo. Theo một thuyết khác, các nguyên tố siêu nặng (hoặc dấu vết của chúng) có thể được tìm thấy trong vật chất tạo thành từ các nguyên tố ở cùng cột với nó. Các nhà khoa học đã xuống đáy biển sâu, đào trong các mỏ muối, xem xét quặng vàng, đưa khí cầu quan sát lên các tầng cao của khí quyển, đi bộ trong các đường hầm tàu điện ngầm, vớt muối biển Caspi, xem xét răng cá mập 65 triệu năm tuổi, và vào nhà thờ để phân tích các ô kính màu. (Họ hy vọng các đường viền bằng chì lưu lại dấu vết của các phản ứng hạt nhân xa xưa.) Nhưng sau hai thập kỷ tìm kiếm, họ không tìm thấy nguyên tố siêu nặng nào trong tự nhiên. Có vẻ là máy gia tốc, hoặc không gì cả.    Những năm gần đây, thay vì đi tìm một hòn đảo ổn định, các nhà khoa học gần như làm điều ngược lại: họ đã tạo ra các nguyên tố siêu nặng đe dọa phá vỡ bảng tuần hoàn. Năm 1998, các nhà khoa học Nga tạo ra một nguyên tố biến mất sau hơn một giây. Trưởng nhóm tìm kiếm của Nga, Yuri Oganessian, đặt tên nó theo người thầy quá cố Georgy Flerov của ông. Năm 2016, đến lượt Oganessian có nguyên tử mang tên mình. Nguyên tố của ông, hiện là nguyên tố cuối cùng trong bảng tuần hoàn, cũng là một điểm bất thường. Chapman tin rằng những nguyên tố như flerovium và oganesson (số 114 và 118) có thể báo hiệu “kết thúc của hóa học mà chúng ta từng biết”. Oganesson nằm ở đáy cột khí hiếm, nhưng một bài báo năm 2017 cho rằng đó có thể không phải chỗ của nó: vận tốc của các electron của nó đạt đến gần tốc độ ánh sáng, do đó cách hoạt động của nó có thể không giống với các khí hiếm. Thay vào đó, oganesson và các nguyên tố xung quanh nó có thể tuân theo các quy luật tương đối, không gian và thời gian bên trong chúng có thể bị uốn cong và các tính chất của chúng cũng có thể thay đổi theo.    Scerri không cho rằng bảng tuần hoàn bị đe dọa nghiêm trọng bởi các nguyên tố như oganesson; ông chỉ ra rằng một số electron trong nguyên tử vàng cũng có vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Có thể đến cả thuyết tương đối cũng phù hợp với một quy luật nào đó – “một bằng chứng nữa”, ông viết, “về tính cơ bản chứa trong định luật tuần hoàn.” (Copernicium, nguyên tố số 112, nằm dưới vàng một hàng, cũng có vẻ mang các hiệu ứng tương đối.) Nhưng Scerri lập luận rằng những nguyên tố như vậy làm bảng tuần hoàn mất ổn định theo một cách khác. Ban đầu, tấm bảng được hình dung là sẽ mô tả các khối cơ sở của tự nhiên. Nhưng khi săn lùng nguyên tố trở thành tạo ra nguyên tố, ý nghĩa của bảng cũng thay đổi.  Giờ đây nó mô tả những gì có thể, bên cạnh những gì tồn tại.      Hai nhà vật lý Nga Georgy Flyorov và học trò Yuri Oganessian là cha đẻ của các nguyên tố siêu nặng là fleraium và oganesson. Ảnh:  Credit: ru.armeniasputnik.am.  Kể cả có một hòn đảo ổn định của nguyên tử, những nguyên tố siêu nặng sống trên đó rất có thể sẽ vô cùng hiếm. Nguyên tử hi-đrô cháy hết của một ngôi sao chỉ có thể trở thành nặng như sắt (nguyên tố số 26, trong số 172 hoặc 173 nguyên tố mà một số nhà khoa học tiên đoán sự tồn tại). Các nhà vật lý thiên văn tin rằng các nguyên tử lớn hơn được tạo thành khi các ngôi sao sụp đổ có thể, sau khi đi rất xa trong không gian, hạ cánh vào cái lò của một Mặt trời khác và tiếp tục lớn lên. Nhưng Trái đất đã bốn tỷ rưỡi tuổi – già hơn nhiều so với chu kỳ bán rã của nguyên tố siêu nặng ổn định nhất được dự đoán – và rất ít dấu vết của các hạt đó được tìm thấy ở đây. (Vì các nguyên tố siêu nặng thường dễ phân rã, các nhà săn lùng nguyên tố thường kiểm tra các thiên thạch vì chúng có thể có nguồn gốc từ những vụ nổ mới hơn.) Trong vài năm tới, các nhà khoa học nguyên tử có thể dễ dàng tạo ra các nguyên tố số 119 và 120 bằng máy gia tốc. Các nguyên tố đó có thể sẽ không bao giờ được tìm thấy ở ngoài phòng thí nghệm.     Cơn sốt vẫn còn âm ỉ     Cơn sốt nguyên tố có vẻ đã nguội đi ở Mỹ, nhưng nó tiếp tục âm ỉ ở những nơi khác. Nguyên tố đầu tiên được người Nhật tìm ra là nihonium, số 113, năm 2004. Chapman kể rằng trẻ em Nhật đọc những truyện tranh kịch tính hóa công trình của Kosuke Morita, nhà vật lý hạt nhân hàng đầu trong nước. Năm 2016, khi nihonium chính thức được đưa vào bảng tuần hoàn, Thái tử5 Naruhito vô cùng xúc động: tại một buổi lễ đặc biệt, ông nhớ lại việc chép tay bảng tuần hoàn khi còn bé. Trong khi đó, ở Geneva, các nhà khoa học ở Trung tâm châu Âu về Nghiên cứu hạt nhân (CERN) đã mở rộng cuộc tìm kiếm tới những vùng khác của vũ trụ. “Một số người tin rằng có những dạng vật chất tối khác nhau,” Ying Wun Yvonne Ng, một nhà nghiên cứu vật lý hạt, nói với tác giả. “Ai mà biết được. Nó có thể lấp đầy một bảng tuần hoàn lớn hơn nhiều.”    Technetium, nguyên tố nhân tạo đầu tiên, hiện vẫn được sử dụng trong điều trị ung thư ở khắp thế giới. Trên lý thuyết, các nguyên tố mới hơn cũng có thể có ích giống như thế: theo Chapman, các nhà khoa học phỏng đoán rằng một lượng flerovium bằng hạt đậu “có thể cấp điện cho một thành phố”, nếu nó có thể trở nên ổn định. Tuy nhiên, sự thực là những người bị ám ảnh bởi việc săn lùng nguyên tố có những lý do trừu tượng vượt quá cả vinh quang khoa học. Trong cuốn “Superheavy”, Chapman đến phòng thí nghiệm ở Nga để gặp Oganessian và hỏi ông vì sao vẫn tiếp tục tìm kiếm, nhất là sau khi đã có một nguyên tố mang tên mình. “Nếu anh có một cỗ máy để làm việc này,” Oganessian trả lời, “thì tại sao không?” Anh xây dựng cỗ máy để tìm kiếm nguyên tử, anh tạo ra nguyên tử vì anh có cỗ máy. “Thứ này giống như cái bình của Pandora,” Oganessian nói, vỗ vỗ một bộ phận của một chiếc cyclotron đang được xây dựng. “Một cơ sở mới. Một máy gia tốc mới.” Tiếp tục tìm kiếm các nguyên tố, và câu chuyện không bao giờ kết thúc.□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://www.newyorker.com/science/elements/the-histories-hidden-in-the-periodic-table  ——  Chú thích  1. Tạm dịch: “Siêu nặng: Sự hình thành và phá vỡ bảng tuần hoàn” – ND.  2. David Livingstone là bác sỹ, nhà truyền giáo, nhà thám hiểm nổi tiếng người Scotland ở thế kỷ 19 – ND.  3. Trong bản gốc trên, Newyortar viết Eistein “khuyên” làm vũ khí nhưng thực tế điều này không đúng. Bức thư (do Leó Szilárd soạn và Einstein ký) gửi tổng thống Roosevelt cảnh báo việc Đức có thể đang phát triển bom nguyên tử và khuyến nghị nước Mỹ có chương trình quốc gia về nghiên cứu năng lượng hạt nhân. Trong thư không có khuyến nghị về việc làm bom hạt nhân – ND.  4. Einstein là một người yêu hòa bình và không ủng hộ vũ khí hạt nhân. Xem thêm chú thích ở đoạn trước – ND.  5. Nhật hoàng kể từ tháng 5/2019 – ND.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn tìm thiên thạch      Vệ tinh đầu tiên được thiết kế cho mục đích  tìm kiếm và theo dõi thiên thạch và các mảnh vụn ngoài không gian đã  được phóng lên quỹ đạo hôm 25/2 vừa qua.     Vệ tinh Giám sát Đối tượng gần Trái đất (Near-Earth Object Surveillance Satellite) của Cơ quan Không gian Canada sẽ bay vòng quanh Trái đất liên tục theo mỗi chu kỳ 100 phút, tìm kiếm trong vũ trụ để phát hiện ra những thiên thạch có nguy cơ trở thành mối đe dọa cho Trái đất.   Tuy nhiên, nó sẽ không thể giúp đưa ra cảnh báo sớm cho những vụ nổ thiên thạch tương tự như vụ xảy ra ở Nga trong tháng 2 vừa qua, do đối tượng được tập trung tìm kiếm và theo dõi ở đây là những thiên thạch và sao băng có kích cỡ lớn hơn nhiều, cơ quan này cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Săn vật chất tối dưới lòng đất      Ở sâu hàng km dưới bề mặt trái đất, một số khoáng chất có thể mang những dấu vết về sự va chạm với vật chất tối.      Các khoáng chất như muối mỏ (dạng các tinh thể trong suốt) nằm sâu dưới lớp vỏ trái đất có thể giữ các bằng chứng về những tương tác với vật chất tối. Ảnh: Nature  Các khoáng chất nằm sâu trong lòng trái đất có thể mang những chỉ báo giúp các nhà nghiên cứu theo dấu những cuộc va chạm với vật chất tối – các nhà nghiên cứu cho rằng thư vật chất khó nắm bắt này có thể góp phần tạo lên phần lớn vật chất trong vũ trụ. Các thí nghiệm được thiết kế nhằm tìm những vết tích va chạm này sẽ bổ sung thêm những tri thức hữu ích hoặc thậm chí sẽ tới một thời điểm chúng ta có thể nhận được sự quan tâm không kém so với các nỗ lực nghiên cứu đang được triển khai để dò trực tiếp vật chất tối.   Nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã dùng các máy dò tối tân có thể hoạt động sâu dưới mặt đất để tìm kiếm các dấu hiệu của vật chất tối. Hiện tại Katherine Freese – một nhà vật lý tại trường đại học Michigan ở Ann Arbor và đồng nghiệp đã đề xuất ý tưởng: các khoáng chất như halite (sodium chloride) và zabuyelite (lithium carbonate) có thể đóng vai trò như những cảm biến để dò tìm vật chất tối.   Các nhà thiên văn học có thể dò được ảnh hưởng hấp dẫn của vật chất tối lên chuyển động của các thiên hà và các chùm ngân hà nhưng chưa bao giờ “tóm” được vật chất tối một cách trực tiếp. Cách giải thích về vật chất tối phổ biến hiện nay là nó được tạo ra từ các hạt có khối lượng tương tác yếu (WIMPs), tương tác chủ yếu với các hạt thông thường thông qua lực hấp dẫn.  Những thực nghiệm trên máy dò trực tiếp nhằm tìm ra những kết quả mờ nhạt từ các cuộc va chạm của các hạt WIMP với hạt nhân của các nguyên tử trong các vật chất như germanium, silicon hay sodium iodide bên trong một máy dò.  Nhiều thực nghiệm phải được bố trí sâu dưới lòng đất để che chắn khỏi sự bắn phá của các tia vũ trụ lên bề mặt trái đất. Những tia vũ trụ này có thể va chạm với máy dò các vật liệu và để lại những vết tích, dẫu mờ nhạt nhưng có khả năng che khuất bất kỳ dấu vết tiềm tàng nào của vật chất tối. Chỉ có thực nghiệm DAMA/LIBRA được thực hiện tại Phòng thí nghiệm quốc gia Gran Sasso ở Italy tuyên bố là dò được vật chất tối nhưng điều này chưa được kiểm chứng.   Cú đào sâu   Freese và đồng nghiệp phán đoán là khoáng chất như halite và zabuyelite có mặt trong lòng đất được che chắn khỏi tia vũ trụ. Theo phân tích trên công bố trên arXiv của họ vào tháng 6/2018, nếu một WIMP bị va mạnh vào hạt nhân của một nguyên tử  sodium hoặc chlorine, hạt nhân đó có thể nảy lại, dẫn đến khả năng ăn mòn khoảng từ 1 đến 1.000 nano mét ở bất cứ chỗ nào trên khoáng chất đó.  Một thí nghiệm có thể tách chiết các khoáng chất có độ tuổi khoảng 500 triệu năm từ các lỗ sâu hàng kilo mét sẵn có từ những nghiên cứu địa chất và thăm dò dầu mỏ. Các nhà vật lý có thể cần làm nứt các khoáng chất cần tách chiết này và quét các bề mặt đã được phơi lộ bằng một kính hiển vi lực điện từ hoặc kính hiển vi lực nguyên tử để tìm những vết do hạt nhân dội lại. Họ có thể sử dụng các máy quét 3 D tia tử ngoại hay tia X để nghiên cứu các khoáng chất nhanh hơn, nhưng với độ phân giải thấp hơn.  Các va chạm tiềm năng với các hạt WIMP  sẽ tạo ra những dấu hiệu khác biệt trong mỗi nguyên tố trong mỗi khoáng chất và đồng thời có thể cung cấp những nguồn thông tin khác. Freese giải thích, “Ví dụ sodium chloride chứa cả sodium và chlorine nên mỗi khoáng chất có thể cung cấp nhiều dấu hiệu rất đa dạng. Nếu anh tìm những dấu hiệu xác thực, sau đó có thể miêu tả loại của hạt WIMP trên cơ sở tán xạ của sodium và chlorine.”  Nhận diện lỗi  Ý tưởng này thật thú vị, Dan Hooper – nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia Fermi ở Batavia, Illinois, nhận xét  “Dẫu cần chứng minh thêm nhiều chi tiết trước khi chương trình này diễn ra nhưng tôi không thấy bất cứ nguyên nhân nào có thể khiến nó không thành công, ít nhất về mặt nguyên tắc”.   Nhưng những nhà nghiên cứu khác, như nhà vật lý Juan Collar của trường đại học Chicago tại Illinois, tỏ ra thận trọng. Vào giữa những năm 1990, các nhà vật lý đã cân nhắc việc dùng khoáng chất mica như bia cho những cuộc tìm kiếm vật chất tối tương tự. Nhưng Collar đã chứng tỏ minh rằng phóng xạ phát ra từ uranium trong các khoáng chất có thể tạo ra những vết không thể phân biệt được với những dấu vết do các hạt WIMP tạo ra. Ông e ngại điều tương tự có thể đến với kế hoạch của Freese nếu nó diễn ra.  “Kết quả này không giới hạn ở mica mà còn ảnh hưởng lên bất cứ loại khoáng chất giàu uranium và thorium tự nhiên nào. Họ có thể đã tìm thấy đúng những khoáng chất có vấn đề này nhưng tôi vẫn nghĩ là họ quá lạc quan khi tuyên bố ngay ở thời điểm này.”  Freese biết rằng cần quan tâm đến uranium, mặc dù vẫn chưa rõ là các khoáng chất mà cô và đồng nghiệp đề xuất có chứa uranium hay thorium hay không. Nhưng cô cho biết thêm, có thể loại bỏ các mẫu hình có vết được sinh ra do phóng xạ. “Sự thật là anh phải thực hiện và tìm được ra chúng”, cô nói.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05660-6       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất các sợi nano từ tơ sợi thiên nhiên      Các vật liệu từ thiên nhiên như tơ nhện, collagen, cotton có thể sẽ là nguồi nguyên liệu rẻ tiền và phong phú cho các sợi nano theo lời của các nhà khoa học Trung Hoa và Mỹ. Xi-Qiao Feng (Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh) và các đồng nghiệp ở Đại học Brown (Providence, Mỹ) đã chỉ ra rằng các sợi nano với đường kính từ 25 đến 100nm có thể chiết suất từ các nguồn nguyên liệu thiên nhiên này bằng kỹ thuật siêu âm. Kỹ thuật đơn giản này thậm chí có thể triển khai ở quy mô công nghiệp.    Các vật liệu sợi nano có thể được sử dụng trong nhiều ứng dụng như công nghệ sinh học, nanocomposite (vật liệu tổ hợp nano), các linh kiện nano, đang được sản xuất bằng nhiều kỹ thuật khác nhau như quay điện hóa (electrospinning), quang khắc, kỹ thuật tự lắp ghép các phân tử (molecular self-assembly). Tuy nhiên, một số vật liệu nhất định cũng đã hàm chứa các sợi nano rồi. Ví dụ như các tơ nhện, tơ của các sâu chứa tới hàng chục ngàn các sợi nano với đường kính khoảng 30nm và Feng cùng các cộng sự đã thành công trong việc chiết suất chúng bằng kỹ thuật siêu âm (tần số 20 kHz).  Ban đầu, các nhà nghiên cứu nhúng khoảng 0,05g (50 mg) tơ nhện vào 100ml nước. Tiếp đó, họ đặt hỗn hợp này vào một thiết bị phát siêu âm thông thường chứa một đầu phát siêu âm và giữ trong 45 phút ở công suất từ 900 đến 1000 W. Sau quá trình hòa trộn bằng siêu âm, hỗn hợp được làm lạnh đến nhiệt độ phòng và thu hồi các sợi bị tụ lại dưới đáy bể chứa. Phương pháp này được tiến hành đồng thời trên cả các dạng sợi khác như kén sâu, collagen ở vảy cá, sợi chitin của tôm, cá, hay cellulose từ tre, gỗ, gai dầu…  Sử dụng kính hiển vi điện tử quét, Feng và các cộng sự đã quan sát được các vật liệu thiên nhiên này đã tự tách rời nhau ra thành các sợi với đường kính từ 25 đến 60 nm (xem hình). Hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn phát hiện thấy rằng có thể điều khiển kích thước của các sợi từ 20 nm đến 100 nm bằng cách thay đổi thời gian và công suất phát siêu âm.  Nhóm tin rằng các sợi nano này được tạo ra là do hiệu ứngsủi bọt do sóng âm. Các sóng âm có tần số cao khi truyền qua dung dịch sẽ tạo nên các vi bọt, các bọt này phát triển dần và “sụp đổ” một cách mãnh liệt. Sự sụp đổ này tạo ra các sóng xung kích tại bề mặt các sợi thiên nhiên và chia cắt chúng dọc theo chiều dài. Sóng âm thanh cũng bẻ vỡ một cách hữu hiệu các lớp chuyển tiếp tương đối yếu trong các sợi nano, vốn thường liên kết với nhau bằng lực tương tác Van der Waals. Tốc độ tách rời nhau của các sợi phụ thuộc vào tần số sóng siêu âm, cường độ phát siêu âm.  Các nhà nghiên cứu cho biết kỹ thuật với này có giá thành khá rẻ và lại đơn giản cho việc tạo ra các sợi nano sinh học từ thiên nhiên và có thể dễ dàng sản xuất hàng loạt ở quy mô lớn bằng cách tăng các đầu phát siêu âm. Các sợi nano thiên nhiên này có nhiều ưu điểm hơn so vớicác sợi nhân tạo ở điểm khỏe hơn, dẻo dai hơn và có độ tương tích sinh học và chống lai hóa sinh học tốt hơn. Nhóm vừa công bố các kết quả trên tạp chí Applied Physics Letter(Appl. Phys. Lett. 90 073112, 2007)  Đức Thế (NanotechWeb.org/vatlyvietnam.org)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất điện năng từ chất ô nhiễm      Các nhà khoa học ở Pennsylvania đang phát triển một loại tế bào nhiên liệu mới dựa trên công nghệ tế bào nhiên liệu sinh học, sử dụng chất bị ô nhiễm từ các mỏ than đá và mỏ kim loại để sản xuất ra điện năng.      Qua đó có thể vừa giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường vừa tạo ra một nguồn cung cấp nhiên liệu mới. Tế bào nhiên liệu này có khả năng tạo ra điện từ nước. Các nhà nghiên cứu khẳng định sự cải tiến tế bào nhiên liệu mới này sẽ cho phép tạo ra điện năng với hiệu suất cao hơn trong tương lai.   Uyển Nhi (Theo Sciencedaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất điện từ khí CO2      Khí carbon dioxide (CO2) được bơm qua lớp đá nóng có thể làm quay turbine máy phát và tạo ra dòng điện, một nhà khoa học Mỹ khẳng định. Phát hiện này có thể giúp làm giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính do các nhà máy nhiệt điện thải ra.    Các khối đá dưới lòng đất có nhiệt lượng rất lớn. Để tận dụng lượng nhiệt khổng lồ đó, con người đã xây dựng các nhà máy thủy nhiệt điện. Những nhà máy sản xuất điện kiểu này được đặt trên những mỏ đá nóng. Người ta bơm nước qua những viên đá nóng để chúng hấp thu nhiệt rồi dẫn chúng vào bể chứa. Từ đây, hơi nước được đưa vào các ống dẫn tới turbine của máy phát điện.  Karsten Pruess, một nhà địa chất học tại Trung tâm thí nghiệm Berkely (Mỹ), khẳng định, về mặt lý thuyết, CO2 có thể thay thế cho hơi nước trong hệ thống sản xuất điện bằng thủy nhiệt. Hơn nữa, CO2 còn làm tăng lượng điện đầu ra của máy phát lên ít nhất 50%. Ông cho rằng kỹ thuật mới có thể “tống khứ” khí CO2 do các nhà máy nhiệt điện thải ra, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiệu ứng nhà kính.  Pruess chọn nhà máy thủy nhiệt Soultz, tây bắc nước Pháp, làm nơi thử nghiệm đầu tiên. Trong nhà máy này, nước được bơm xuống những lớp đá dưới lòng đất qua một lỗ. Sau khi đi qua đá, nhiệt độ của nước tăng lên tới 200°C. Nước nóng đi qua một lỗ nhỏ khác rồi được dẫn tới các turbine của máy phát điện.  Thay vì dùng nước, Pruess bơm CO2 qua những viên đá nóng. Ông phát hiện ra rằng lượng điện đầu ra của máy phát đã tăng ít nhất 50% sau khi làm như vậy.  Theo giải thích của Pruess, mặc dù CO2 không hấp thu được nhiều nhiệt lượng như nước, song loại khí này đi qua đá nóng, ống dẫn và những nơi khác trong máy phát điện với tốc độ nhanh hơn nhiều. Điều này làm cho công suất của máy phát điện tăng lên.  Cho dù dùng nước hay CO2, người ta vẫn cần bỏ ra một mức năng lượng nào đó để bơm chúng xuống đất. Khí CO2 ở lỗ thoát luôn loãng hơn (do nóng hơn) khí CO2 ở lỗ vào. Sự khác biệt về mức độ loãng sẽ dẫn tới chênh lệch áp suất, khiến cho CO2 di chuyển dễ dàng hơn nên năng lượng bỏ ra để bơm nó sẽ giảm đi.  Việt Linh (theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất hàng loạt nhà máy điện mặt trời cỡ nhỏ      Một công nghệ mới của Đức cho phép sản xuất hàng loạt nhà máy điện mặt trời cỡ nhỏ. Những nhà máy này không sử dụng ánh sáng mà là nhiệt từ bức xạ mặt trời theo cách nhiệt được tích tụ qua những tấm gương và trực tiếp hoặc gián tiếp biến nước  thành hơi để từ đó sản xuất ra điện.     Để xây dựng một nhà máy điện mặt trời cần có sự tham gia của hàng trăm kỹ sư, kỹ thuật viên trong nhiều tháng trời. Tại miền tây nam Sicily (Ý) công việc xây dựng nhà máy điện mặt trời với công xuất 1 megawatt đang được thí điểm nhằm rút ngắn thời gian thi công xuống chỉ còn một tháng.   Sở dĩ đạt được tốc độ kỷ lục này là nhờ hãng công nghệ Protarget Solarkraftwerke ở Cologne, Đức đã thực hiện sản xuất theo kiểu “chìa khóa trao tay”, giao sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng, theo lời ông Martin Scheuerer, Chủ tịch HĐQT Protarget.  Loại nhà máy điện này không sử dụng ánh sáng mà là nhiệt từ bức xạ mặt trời. Nhiệt sẽ được tích tụ qua những tấm gương và trực tiếp hoặc gián tiếp biến nước thành hơi để từ đó sản xuất ra điện.   Protarget đã phối hợp với Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức (Deutsches Zentrum für Luft- und Raumfahrt) và một số đối tác khác, trong đó có hãng sản xuất gương Flabeg, để phát triển nhà máy điện mặt trời dưới dạng module và trên cơ sở đó sản xuất hàng loạt với quy mô công nghiệp. Với cách làm này, việc xây dựng, lắp đặt nhà máy điện mặt trời không những nhanh hơn mà còn rẻ hơn nhiều so với việc xây dựng các dự án điện mặt trời cỡ lớn như hiện đang triển khai ở Tây Ban Nha, Mỹ hay Bắc Phi. Có thể ví cách làm này tương tự như tập đoàn Ikea sản xuất đồ gỗ nội thất hàng loạt vậy.  Kiểu sản xuất hàng loạt này giúp giảm chi phí khoảng 30% tính trên một kWh. Do đó tùy theo cường độ bức xạ mặt trời, chi phí sản xuất còn dưới 15 cents/kWh (giá phổ biến hiện nay là từ 25 đến 50 cents/kWh).  Có nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm chi phí. Mỗi nhà máy điện gồm một hoặc nhiều module -gương, ở đây là hai hàng gương parabol, chúng tích tụ tia hồng ngoại mặt trời vào một một ống có dầu chảy qua. Dầu nóng lên biến nước trong thiết bị trao đổi nhiệt thành hơi và nhờ Tuabin phát điện để tạo ra điện. Mỗi module có một lượng nhiệt là 250 Kilowatt. Với hệ thống lắp đặt tại Sicily thì Protarget kết nối 18 module nối tiếp nhau. Có thể kết nối tối đa 360 module, tạo ra một sản lượng điện là 20 Megawatt.     Tuabin phát điện là thiết bị tạo ra điện, tùy theo tổng công suất để mua máy. Trên thị trường có nhiều doanh nghiệp sản xuất Tuabin phát điện và công suất tối đa là 20 Megawatt. Máy được sản xuất hàng loạt và đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hạ giá thành sản xuất điện. Ngoài ra, để làm một nhà máy điện kiểu này chỉ cần một bản thiết kế xây dựng duy nhất, thông thường với các dự án lớn thì mỗi dự án phải có một ban kỹ thuật riêng.  Các module được chế tạo, đo kích cỡ, kiểm định chất lượng và đóng vào container để vận chuyển tới chân công trình. Tại đây sẽ tháo dỡ, lắp ráp và kết nối với thiết bị trao đổi nhiệt và Tuabin phát điện, những công việc này tiến hành song song trên một cái nền đã được chuẩn bị trước.     “Hệ thống điện của chúng tôi hiện cung cấp cho những nơi không có điện lưới mà dùng điện máy phát diesel, do đó giá thành điện rất đắt“, ông Scheuerer nói và dẫn ra ví dụ một hòn đảo 15.000 dân thuộc quần đảo Aegean của Hy Lạp sẽ lắp hệ thống quang điện. Giá điện diesel ở đây giao động từ 25 đến 35 cents/kWh, trong đó người dân phải trả 12 đến 15 cents, còn phần chênh lệch nhà nước chịu.   Một dự án khác ở Tây Ban Nha không nhằm sản xuất điện mà chỉ để sản xuất hơi nước phục vụ sản xuất công nghiệp. Doanh nghiệp hóa dầu đó trước kia phải dùng khí lỏng để sản xuất hơi nước, nay nhờ nhiệt mặt trời có thể giảm tới 85% năng lượng hóa thạch. Những nhà máy sinh nhiệt loại này chỉ sau từ sáu đến bảy năm thì thu hồi vốn.   XH dịch theo Tuần kinh tế (Đức)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất hydrogen nhanh và rẻ từ phế liệu thực vật      Hydrogen là chất khí lý tưởng để sử dụng cho các loại động cơ ít khí thải hoặc cho ô tô chạy pin nhiên liệu, bởi lẽ khi đốt hydrogen hầu như không tồn tại chất khí nhà kính. Thế nhưng giá thành sản xuất hydrogen lại cao hơn xăng dầu và khoảng 95% lượng hydrogen sản xuất hiện nay lại được làm ra từ nhiên liệu hóa thạch – tức là vẫn có khí thải độc hại.  &#160;    Mới đây các nhà nghiên cứu ở Học viện Công nghệ Virginia (Virginia Tech) tuyên bố họ đã sáng tạo ra phương pháp chế tạo nhiên liệu hydrogen bằng công nghệ sinh học, không những rẻ hơn và nhanh hơn mà còn làm được hydrogen chất lượng cao, hơn nữa toàn bộ nguyên liệu chỉ là thân cây ngô, vỏ và lõi bắp ngô – các phế liệu cây trồng nông nghiệp này có rất nhiều ở khắp nơi và đang cần được tận dụng.  Dự án nghiên cứu nói trên được công ty dầu mỏ Shell tài trợ. Kết quả nghiên cứu đăng trong tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences số gần đây.   Các nhà nghiên cứu đã dùng phương pháp enzyme để phân hủy nguyên liệu, chuyển đổi toàn bộ chất đường trong các phế liệu thực vật đó thành hydrogen và CO2 nhưng hoàn toàn không thải CO2 vào khí quyển.  Để sản xuất năng lượng sạch thay thế cho dầu mỏ, hiện nay các nước đều nghiên cứu tìm cách tận dụng các phế liệu từ cây trồng để chế tạo ra hydrogen nguyên chất. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nền kinh tế xanh. Thế nhưng các phương pháp hiện dùng đều có hiệu suất rất thấp và rất tốn kém; ngoài ra cũng khó tách được hydrogen từ sản phẩm.  Joe Rollin, nghiên cứu sinh tiến sĩ Khoa Các hệ thống sinh học thuộc Virginia Tech, đã sử dụng một bộ quy tắc di truyền chuyên dùng hợp lý để giúp xác định từng phần của quá trình enzyme, qua đó biến phế liệu cây trồng thành hydrogen và CO2. Rollin cũng chứng minh phương pháp này có khả năng đồng thời kích hoạt hai loại đường tồn tại trong thực vật – glucose và xylose – từ đó đã chi tiết hóa một phương pháp nâng cao tốc độ chế tạo hydrogen.  GS Percival Zhang (cùng Khoa với Rollin) cho biết: khi trộn một dung dịch gồm 10 loại enzyme với nguyên liệu nói trên, các enzyme này sẽ chuyển hóa hai loại đường glucose và xylose thành hydrogen và CO2.   Ông cho biết: các phương pháp trước đây dùng vi khuẩn lên men hoặc chất xúc tác công nghiệp chỉ có thể chuyển hóa được 30-60% chất đường trong thực vật thành hydrogen, nhưng công nghệ mới do Virginia Tech đề xuất có thể nâng hiệu suất chuyển hóa này lên tới 100%.   “Khi sử dụng công nghệ mới, tất cả các sản phẩm sinh ra đều là chất khí, vì thế có thể dễ dàng tách và thu thập chúng. Trong quá trình ấy chúng tôi thực hiện sự trung hòa carbon và tăng được 17 lần tốc độ phản ứng, nhờ thế giảm được đáng kể giá thành sản xuất. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đã tiến được một bước quan trọng nhất trên con đường đi lên nền kinh tế năng lượng hydrogen: sử dụng tài nguyên sinh vật tại chỗ của địa phương để chế tạo năng lượng hydrogen trong nền kinh tế xanh,” theo GS Zhang.  Ngoài ra, xưởng lắp đặt thiết bị chế tạo hydrogen chỉ cần diện tích như một trạm xăng, có thể đặt ngay tại nơi có nguồn nguyên liệu, nhờ thế có thể phân bố rộng rãi các trạm cung cấp nhiên liệu xanh trên phạm vi toàn quốc. GS Zhang cho biết: “Nếu có đủ kinh phí thì trong vòng ba-năm năm chúng tôi có thể chế tạo được thiết bị nói trên. Mỗi ngày nó có thể sản xuất được 200 kg hydrogen, đủ cung cấp cho 40-50 chiếc ô tô.”  H.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sản xuất thành công vacxin H5N1      Các nhà khoa học tại ba cơ quan nghiên cứu và sản xuất của VN vừa công bố nghiên cứu và phát triển thành công những lô vacxin phòng H5N1 đầu tiên cho cả người và gia cầm bằng công nghệ nuôi cấy trên trứng gà có phôi.    Các cơ quan này là Viện Vacxin và các chế phẩm sinh học Nha Trang, Xí nghiệp thuốc thú y Hoài Đức, Hà Tây (Viện Thú y Trung ương) và Công ty Thuốc thú y Trung ương (Navetco) tại TP.HCM. Giá ước tính của các loại vacxin H5N1 sản xuất trong nước tương đương hơn giá nhập ngoại. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là VN có thể chủ động được nguồn vacxin khi có dịch xảy ra, tránh được tình trạng thiếu hoặc phải nhập vacxin với khối lượng lớn trong một thời gian ngắn, khó kiểm tra đánh giá chất lượng.  Vào cuối năm ngoái, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cũng đã công bố thành công trong nghiên cứu sản xuất vacxin cúm H5N1 bằng công nghệ nuôi cấy trên tế bào thận khỉ. (TS-TT)       PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sandra Díaz: Bảo vệ đa dạng sinh học      Nhà sinh thái học Sandra Díaz và những người đồng nghiệp của mình đã nghiên cứu về các hệ sinh thái của trái đất và kêu gọi phải có những hành động quyết liệt.      Tổ chức IPBES đã đưa ra danh sách một triệu loài đang dần tuyệt chủng bởi các hoạt động của con người  Vào ngày 4/5/2019, Sandra Díaz và 144 nhà nghiên cứu khác đã gửi đến thế giới một thông điệp nhuốm màu sắc ảm đạm. Họ vừa hoàn thành xong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến nay về sự đa dạng sinh học của trái đất, đồng thời cũng đem đến thông tin tồi tệ hơn nhiều so với những gì mà hầu hết các nhà khoa học đã từng tưởng tượng: có một triệu loài đang dần tuyệt chủng bởi các hoạt động của con người và chúng ta cần phải hành động thật hiệu quả để có thể ngăn chặn điều đó. “Tốc độ tuyệt chủng của các loài đã nhanh hơn ít nhất hàng chục đến hàng trăm lần so với tốc độ trung bình trong vòng mười triệu năm qua”, bà Díaz nói. “Mạng lưới an toàn của chúng ta đã bị kéo gần đến điểm tới hạn rồi”.  Những phát hiện đáng báo động này xuất phát từ tổ chức IPBES (Nền tảng chính sách khoa học liên chính phủ về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái). Díaz, nhà sinh thái học làm việc tại trường đại học quốc gia Córdoba, Argentina, là một trong ba đồng chủ tịch. Trong hầu hết ba năm trước đó, bà và những người đồng nghiệp của mình – nhà nhân chủng học Eduardo Brondízio tại Đại học Indiana Bloomington và nhà sinh thái học Josef Settele tại Trung tâm nghiên cứu môi trường Helmholtz ở Halle, Đức – đã điều phối hoạt động của các chuyên gia đến từ 51 quốc gia khác nhau, tổ chức các buổi hội thảo và các nhóm làm việc trực tuyến cũng như nghiên cứu hơn 15.000 nguồn thông tin.  Và báo cáo cuối cùng của họ dài tới 1.500 trang đã chỉ ra: các quốc gia sẽ không thể đạt được hầu hết các mục tiêu toàn cầu về đa dạng sinh học và phát triển bền vững trừ khi họ thực hiện được những thay đổi lớn, ví dụ như từ bỏ suy nghĩ là các nền kinh tế phải liên tục tăng trưởng. “Chúng ta không thể sống một cuộc sống trọn vẹn mà không có thiên nhiên”, bà Díaz nói. Và nếu các nền kinh tế vẫn tiếp tục vận hành theo cách phá hoại như thế này thì “một mô hình kinh tế mới là điều cần thiết cho con người và thiên nhiên”, bà nhận định.  Đây là một thông điệp thẳng thắn và quyết liệt, tuy nhiên Díaz không hề ngần ngại cất lên tiếng nói của mình về những vấn đề quan trọng trong khoa học và chính sách. Bà đã thách thức điều từng là một trong những nguyên lý chính về hệ sinh thái ở thế kỷ XX: đó là các hệ sinh thái và ích lợi của chúng đối với con người, ví dụ như cung cấp thức ăn hay điều hòa khí hậu, phụ thuộc rất nhiều vào việc có số lượng các loài lớn. Shahid Naeem, một nhà nghiên cứu về tác động của sự mất đa dạng sinh học tại đại học Columbia, New York, đánh giá Díaz là người đi đầu trong việc làm nổi bật giá trị của những loài thực vật.  Để có được cái nhìn sâu sắc như vậy, Díaz đã dành nhiều năm chu du qua các cánh đồng ở châu Á, châu Âu, châu Phi và Mỹ Latin, nhặt nhạnh lá cây, đo độ dẻo dai của chúng và đánh giá các đặc tính của đất. Thói quen này đã hình thành trong quãng thời gian bà lớn lên ở miền trung Argentina, trong khi những người khác đang nghỉ trưa thì bà sẽ đi khám phá các đồng cỏ Nam Mỹ. “Tôi thường trốn giờ ngủ trưa để đi ngắm nhìn cây cối và động vật. Và từ khi còn đang học đại học, tôi đã biết rằng mình muốn trở thành một nhà nghiên cứu”.  Ngoài lĩnh vực khoa học bảo tồn, hiện công việc thứ hai của Díaz là tác động chính sách thông qua những hoạt động của bà ở IPBES. Díaz tin vào cách mà báo cáo của tổ chức được nhiều phong trào môi trường và xã hội đón nhận, bao gồm cả Extinction Rebellion (Đấu tranh chống tuyệt chủng) – phong trào đang giúp thúc đẩy việc phải có hành động hiệu quả và cấp thiết hơn cho môi trường.  “Chúng tôi đã ngạc nhiên trước khả năng tiếp cận của báo cáo”, bà Díaz chia sẻ và đánh giá, “nó đã xuất hiện vào đúng thời điểm”. Và mặc dù dự đoán của báo cáo khá u ám, bà vẫn không hề bi quan về khả năng xoay chuyển tình thế của con người. “Tôi cần phải lạc quan”, bà nói, “vì chúng ta không có phương án B dự phòng nào cả”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng nghiệp doanh nghiệp CNTT      Công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang làm thay đổi cơ bản cuộc sống con người trong suốt hơn nửa thế kỷ qua với tốc độ ngày càng nhanh chóng và len lỏi vào từng ngóc ngách nhỏ nhất trên quy mô toàn cầu. Ở nước ta, CNTT đã và đang được đầu tư phát triển mạnh. Là một nước được đánh giá cao về tốc độ phát triển viễn thông, Việt Nam có số lượng người sử dụng Internet vào loại lớn nhất trong khu vực Asean với gần 30% dân số và hơn 151 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có 90% là thuê bao di động.      Từ những con số này có thể nhận thấy một thị trường rộng lớn đang mở ra trước mắt doanh nhân, đặc biệt là những doanh nhân trẻ được sinh ra trong thời đại của nền kinh tế tri thức. Trong một thời gian dài CNTT là một thứ mốt, một phong trào, một ngành đầu tư hấp dẫn hứa hẹn tiềm năng lớn, tuy nhiên lĩnh vực này có những yếu tố rất riêng và liên quan mật thiết đến khoa học công nghệ (KHCN) cho nên không phải dễ thành công. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chia sẻ một số yếu tố quan trọng khi sáng nghiệp đối với doanh nghiệp CNTT có nghiên cứu khoa học công nghệ.  Điều đầu tiên cần nói đến chính là con người và quản lý con người. Thông thường các doanh nghiệp KHCN xuất phát từ những nhóm nghiên cứu khoa học có thành tựu. Ở đây chúng tôi không nói đến những nhóm bán đi thành tựu của mình cho các doanh nghiệp đã tồn tại mà nói đến những nhóm muốn tự mình sáng nghiệp. Nhóm đó thường có một vài người có ước mơ lớn, có “máu kinh doanh” và thuyết phục được cả nhóm tham gia mạo hiểm cùng. Lúc ban đầu các nhóm này thường không có gì ngoài tri thức và thành tựu công nghệ, mà hai thứ này lại phụ thuộc vào yếu tố con người rất mạnh. Nếu không bảo toàn được nhóm cộng tác thì sẽ khó thành công lớn. Giả sử doanh nghiệp khởi đầu thuận lợi, mở rộng ra thì việc quản lý con người trong công tác nghiên cứu công nghệ lại càng quan trọng hơn. Lúc này việc bảo vệ tài sản trí tuệ, tài sản công nghệ, tài sản vô hình trong sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào việc làm công tác quản lý nhân sự có tốt hay không. Chúng tôi đã trải nghiệm điều này rất rõ tại Naiscorp. Tám năm trước (năm 2002) chúng tôi là những sinh viên cùng học, cùng nghiên cứu, và chúng tôi đã có được thành tựu ngay khi còn ở trên ghế nhà trường. Một năm trước khi ra trường, chúng tôi cảm thấy sản phẩm của chúng tôi có thể giúp ích cho cuộc sống của rất nhiều người, và cần tiếp tục nghiên cứu nhiều nữa. Do vậy chúng tôi quyết định lập công ty ngay sau khi tốt nghiệp đại học. Đến nay nhóm 5 người chúng tôi vẫn đầy nhiệt huyết với sứ mệnh mang thông tin đến cho người Việt Nam.          Ban lãnh đạo Naiscorp tại trụ sở của Google (Mỹ)          Một mô hình kinh doanh tốt, với hình dung rõ ràng về thị trường, nhu cầu, khách hàng, vv… từ đó đề ra sứ mệnh và mục tiêu phù hợp cho công ty cũng là điều quan trọng không kém yếu tố con người. Nhiều khi do vốn kiến thức cơ sở thiên về kỹ thuật làm cho những người sáng nghiệp chỉ nghĩ đến sản phẩm mình làm là hay, là tốt mà không nghĩ ai sẽ cần đến nó, có phù hợp với nhu cầu của họ không. Điều này giống như nghiên cứu thuốc gây chán ăn cho người gầy và kết quả là họ không mua. Việc xây dựng được mô hình kinh doanh tốt từ đầu đối với một doanh nghiệp KHCN không phải là điều dễ dàng. Đừng ngạc nhiên và ngần ngại khi một doanh nghiệp cần phải thay đổi mô hình kinh doanh, mục tiêu hoặc sứ mệnh, miễn là sự thay đổi đó tốt cho công ty, có thể cho đến khi thành công, một doanh nghiệp phải thay đổi đến 3 lần. Trong thời đại Internet, mô hình kinh doanh thường có yếu tố trực tuyến, doanh nghiệp cần hết sức tận dụng lợi thế của mạng thông tin toàn cầu, các công cụ trực tuyến, thư điện tử, website, vv… nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao hơn, tiếp cận được lượng khách hàng lớn hơn.  Do có Internet, khách hàng có thể dễ dàng tìm ra được sản phẩm thay thế hoặc sản phẩm cạnh tranh, cho nên doanh nghiệp cần được tổ chức tốt, phản ứng nhanh với sự biến đổi của thị trường. Có một câu rất hay cho bất kỳ một người sáng nghiệp trong lĩnh vực CNTT nào là “nghĩ kỹ, khởi đầu đơn giản, mở rộng nhanh” (think smart, start small, scale fast). Với một số ngành, việc khởi đầu và cho ra sản phẩm thử nghiệm không dễ, có khi mất nhiều thời gian và chi phí lớn, nhưng với CNTT việc này đơn giản hơn đặc biệt với doanh nghiệp có nền tảng nghiên cứu tốt và nghiêm túc. Khi ra được sản phẩm, phải gặp gỡ khách hàng hoặc người sử dụng ngay, cho họ sử dụng miễn phí và ghi nhận phản hồi của khách hàng. Phản hồi của khách hàng chính là động lực, là mệnh lệnh đối với việc nghiên cứu công nghệ, nếu một sản phẩm chưa phù hợp chứng tỏ công nghệ còn cần phải điều chỉnh.        Đối với các doanh nghiệp KHCN thì hẳn nhiên phải có bí quyết công nghệ của mình. Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong một hệ thống kinh doanh bền vững.        Có hàng trăm ngàn doanh nghiệp đã được lập ra, và hàng chục ngàn doanh nghiệp mới mỗi năm, trong lĩnh vực CNTT con số này là hàng ngàn. Để thành công được trên thương trường, mỗi một doanh nghiệp đều phải có bí quyết riêng nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, có thể là marketing, sản phẩm, kênh phân phối, vv… Riêng đối với các doanh nghiệp KHCN thì hẳn nhiên phải có bí quyết công nghệ của mình. Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong một hệ thống kinh doanh bền vững. Lấy ví dụ, trong 4-5 năm gần đây, có rất nhiều công ty được lập ra để kinh doanh dịch vụ trên Internet. Đến nay số lượng công ty tồn tại được chỉ còn vài phần trăm. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp chủ yếu đi copy, hoặc đi mua với chi phí bản quyền không nhỏ, dẫn tới không đáp ứng được nhu cầu khách hàng theo sự vận động nhanh đến chóng mặt hiện nay. Một vấn đề nữa của việc không tự chủ mà đi copy sản phẩm của nước ngoài đó là không thích ứng được với thị trường, hay nói cách khác, thị trường không hấp thụ sản phẩm của công ty.  Với một thị trường mở và tương đối lớn như Việt Nam, doanh nhân còn nhiều “đất” để phát triển và đầu tư. Đứng từ quan điểm của một doanh nghiệp từng gặp khó khăn trong khởi nghiệp, chúng tôi hết sức cổ vũ và ủng hộ việc thành lập các công ty KHCN nhằm đóng góp giá trị cho cộng đồng và đất nước. Còn rất nhiều điều cần thiết khác cho việc sáng nghiệp một doanh nghiệp KHCN, trong khuôn khổ bài viết ngắn, chúng tôi nêu ra mấy vấn đề trên. Hi vọng những thông tin trên có ích cho những ai có tham vọng sáng nghiệp trong lĩnh vực CNTT.  .———  * Tổng giám đốc công ty cổ phần dịch vụ CNTT NAISCORP    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo công nghệ và kỹ thuật tại Olympic      Nhờ không ngừng cải tiến kỹ thuật và cải tiến chất lượng sợi thuỷ tinh của cây sào, nên Sergej Bubka vận động viên nhảy sào người Ukraina đã đạt kỷ lục 6,14 mét vào năm 1994 và duy trì cho đến tận ngày nay. Đó là một ví dụ điển hình về việc không ngừng đổi mới công nghệ và kỹ thuật trong cuộc đua tài ở các kỳ thế vận hội Olympic.    Nhảy cao  Mọi người đều lao lên phía trước để nhảy, riêng anh lại  nhảy lùi băng qua xà. Với cú nhảy “Flop”, Richard Douglas Fosbury một vận động viên nhảy cao người Mỹ, 21 tuổi đã đạt được một thành tích kỳ diệu và được huy chương vàng Olympic tại Mexico năm 1968. Có thể nói cú nhảy vượt xà bằng lưng là một trong nhiều cuộc “cách mạng” từng diễn ra trong lịch sử môn điền kinh nhẹ. Các đối thủ lắc đầu quầy quậy, khán giả trầm trồ, thán phục, tiếng hoan hô “Olé”, “Olé” trên sân vận động Olympic ở Mexico-City hôm  20. 10.1968 vang lên không dứt.  Trước đó Richard Douglas Fosbury, thường gọi là “Dick”, liên tục bị nhạo báng. Trong những năm sáu mươi các vận động viên nhảy cao thường chạy lấy đà, chân vọt lên, bụng úp xuống xà ngang. Fosbury cũng chỉ đạt thành tích trung bình với kỹ thuật nhảy cao kiểu này  do đó anh hoàn toàn không hài lòng với kỹ thuật này. Vì thế trong khi tập anh tìm cách thử nghiệm các kiểu chạy, nhảy khác nhau và cuối cùng anh đã sáng tạo ra một kiểu nhảy cao hoàn toàn mới và trở thành người nổi tiếng khắp thế giới: Fosbury lấy đà chạy về phía  xà ngang, tạo cua rồi xoay lưng  băng qua xà  ngang.                     Hồi đó huấn luyện viên của anh là ông  Bernie Wagner  cũng không tin tưởng vào kỹ thuật mới của học trò mình, ông nói: “Cậu làm thế không ổn đâu, có lẽ cậu nên xin vào một rạp xiếc lắm khi lại hay hơn”. Ngay cả  ông Payton Jordan, trưởng đoàn Olympia của Mỹ năm 1968 cũng tỏ ra băn khoăn lo lắng về cái kiểu nhảy  cao không giống ai này, ông nói: “Nếu bọn trẻ con bắt chước Fosbury nhảy,  thì có nguy cơ cả một thế hệ vận động viên nhảy cao sẽ bị xoá sổ, vì bọn chúng sẽ bị gẫy cổ cả lượt”. Nhưng cuối cùng cả  Fosbury đạt kỷ lục Olympic  về nhảy cao là 2,24 mét và được huy chương vàng. Kỹ thuật nhảy cao của anh được tất cả các vận động viên nhảy cao trên thế giới chấp nhận và noi theo.  Sau thắng lợi huy hoàng này một nữ phóng viên hỏi  Fosbury về tên kiểu nhảy mới của anh là gì. Fosbury bỗng nghĩ đến tiêu đề trên một tờ báo là: “Fosbury flops over the bar” (Cú nhảy qua xà của Fosbury). Anh lấy tên kiểu nhảy này là “Fosbury-Flop”.  Sau kỹ thuật nhảy cao mới, một loạt đổi mới trong các môn điền kinh nhẹ đã ra đời.    Đường chạy Tartan  Một phát minh nữa  cũng có ý nghĩa cách mạng tại Mexico là đường chạy mới.  Lần đầu tiên các vận động viên không chạy trên đường băng rải xỉ mà chạy trên đường băng Tartan ra đời ở Mỹ đầu những năm 1960.  Sau khi sử dụng đường băng rải xỉ nhiều chục năm, chất liệu này đã trở thành lạc hậu vì thế các nhà khoa học nghiên cứu một chất liệu mới thay cho xỉ. Họ sử dụng Tartan, một loại chất giẻo tổng hợp. Tartan ở dạng lỏng, có mầu đỏ hồng, được láng lên bề mặt nền cứng tạo thành đường chạy. Đường chạy Tartan có nhiều ưu điểm, nhờ cấu trúc đặc biệt, có tính ổn định cao giúp cho vận động viên tăng tốc dễ dàng hơn. Do đó các vận động viên chạy nhanh hơn. Vận động viên chạy tốc độ  người Mỹ James Hines đạt thành tích 9,95 giây đo bằng đồng hồ điện tử, phá cái mốc 10 giây tồn tại trong một thời gian rất dài  không ai vượt qua nổi.    Cũng nhờ loại đường băng này nên một loạt kỷ lục thế giới đã được tạo ra ở Mexico.    Việc áp dụng Tartan làm đường băng  cho các môn chạy có thể coi là một  trong ba cuộc cách mạng lớn về chất liệu trong môn điền kinh, đầu tiên là việc bắt đinh vào giày trong những năm ba mươi và đưa vào xử dụng  tấm lấy đà xuất phát, thay vì trước đó người ta thường lấy xẻng khoét một lỗ xuống đường băng. Những sáng kiến này được tiếp tục hoàn thiện trong quá trình phát triển, duy có một điều từ Thế vận hội đầu tiên tổ chức năm 1896 ở Athen cho đến nay vẫn hoàn toàn không thay đổi: đó là việc trọng tài dùng súng để phát lệnh xuất phát.  Phóng lao                Mũi lao được coi là  loại vũ khí lâu đời nhất của nhân loại và nó  có mặt từ các thế vận hội thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay. Nhưng hôm 20.7.1984 vận động viên Uwe Hohn xuýt nữa phóng lao diệt người – Tại một cuộc thi thể thao quốc tế trên sân vận động Olympic ở Berlin vận động viên CHDC Đức này đã lập một kỷ lục mới: phóng lao tới 104,80 mét và và mũi lao của anh đã rơi xuống ngay gần đường chạy, nơi đang tổ chức thi nhảy cao, nhảy xa. Cả khán giả lẫn trọng tài bị một phen thót tim.  Những người có trách nhiệm của Liên đoàn Điền kinh quốc tế lo ngại cho vấn đề bảo vệ sức khoẻ các vận động viên nên quyết định thay đổi quy chế. Trọng tâm của mũi lao được dịch lên phía trước 4cm do đó mũi lao vọt lên cao rồi lao thẳng xuống với tốc độ cao. Quy định này làm cho đường bay của mũi lao bị cản và mũi lao không thể bay xa.  Loại mũi lao mới này được áp dụng từ ngày  1.4.1986. Klaus Tafelmeister, một vận động viên điền kinh của Cộng hòa Liên bang Đức  đã phóng lao  xa  85,74 mét trong một cuộc thi diễn ra ngày 20.9.1986, kỷ lục này kém kỷ lục của Hohn tới 20 mét. Những năm sau kỷ lục này liên tục tăng lên, năm 1996  vận động viên  điền kinh người Cộng hòa Séc lập kỷ lục thế giới là 98,48 mét – tuy vậy độ xa này còn lâu mới đến được đường chạy.  Đẩy tạ  Đối với môn đẩy tạ thì nguyên liệu làm quả tạ không thay đổi nhưng kỹ thuật đẩy tạ lại thay đổi nhiều.  Đầu những năm năm mươi thường các vận động viên  hơi nghiêng thân về phía trước rồi đẩy tạ. Cho đến khi O’Brien là người đã phát hiện và áp dụng lực đòn bẩy để thực hiện việc  đẩy tạ. Anh quay lưng về hướng bay của quả tạ, hạ người xuống gần như tư thế ngồi xổm, xoay nửa vòng rồi duỗi toàn thân thật mạnh để đẩy quả tạ đi thật xa. Với kỹ thuật mới này O’Brien đã dành được huy chương vàng ở Thế vận hội Olympic năm 1952 ở Helsinki. Năm 1953 anh là vận động viên đẩy quả tạ vượt  qua ngưỡng 18 mét. Ba năm sau, 1956,  anh lại đoạt huy chương vàng Olympic lần thứ hai ở  Melbourne và là người đầu tiên phá ngưỡng 19 mét. Trong khoảng thời gian từ  1952 đến 1956 O’Brien đã liên tiếp dành  116 trận thắng. Alexander Baryschnikow, một vận động viên đẩy tạ của Liên xô cũng là người tìm ra một kỹ thuật mới trong môn đẩy tạ, lập kỷ lục  thế giới  là 22 mét. Tuy nhiên anh không liên tiếp dành được thắng lợi như O’Brien bằng kỹ thuật xoay vòng – đẩy của mình. Nhờ xoay một vòng rưỡi  vận động viên chuyển  được gia tốc từ thân thể vào quả tạ , do đó tạo được lực đẩy rất lớn ;  một tháng sau khi đạt  kỷ lục 22 mét anh tham gia thế vận hội ở Montreal nhưng chỉ đạt mức đẩy xa 21 mét, xếp hàng thứ ba. Nói chung kiểu đẩy tạ của  Baryschnikow đòi hỏi vận động viên phải phối hợp mọi động tác hết sức thuần thục,  nhưng kỹ thuật này không tỏ ra hơn hẳn kiểu đẩy tạ của O’Brien, ngày nay  vẫn có một số vận động viên đẩy tạ theo kiểu xoay-đẩy.  Thay đổi kỹ thuật và chất liệu dụng cụ trong môn nhảy sào cũng gây nhiều bất ngờ trong 150 năm qua.  Thời kỳ đầu, cây sào chưa  có độ giẻo và sức bật  như ngày nay, vận động viên băng qua xà không dựa mấy vào sức bật của cây sào mà  trong quá trình nhảy vận động viên phải  nhiều lần thay đổi vị trí tay nắm để leo sào băng qua xà  vì thế với kỹ thuật nhảy sào kiểu này người xuất sắc nhất cũng chỉ vượt được độ cao 3,50m. Đến năm 1912 vận động viên người Mỹ Marc Wright là người đầu tiên vượt ngưỡng 4 mét nhờ sử dụng cây sào bằng trúc. Kỷ lục này trong 40 năm “chỉ” nâng lên thêm được có 80cm. Vì thế người ta thấy cần một loại chất liệu mới để thay thế cây sào trúc.  Trong những năm bốn mươi đến năm mươi người ta xử dụng sào bằng nhôm sau đó  bằng thép nhưng kỷ lục cũng không được cải thiện  là bao. Chỉ đến khi người Mỹ sản xuất những cái sào bằng nhựa tổng hợp gia cố bằng sợi thuỷ tinh có độ giẻo lớn, độ uốn và sức bật cao thì môn nhảy sào mới đạt được tiến bộ cơ bản: Vận động viên George Davies (USA) sử dụng cây sào bằng sợi thuỷ tinh năm 1961 và đạt độ cao 4,83m, tăng ba cm so với kỷ lục đạt được vào năm 1960 bằng sào thép. Chỉ hai năm sau người đồng hương của Davies là Brian Sternberg  đã phá ngưỡng 5m. Nhờ không ngừng cải tiến kỹ thuật trong môn nhảy sào và cải tiến chất lượng sợi thuỷ tinh nên ngày nay kỷ lục môn nhảy sào  đã đạt tới mức 6,14m. Kỷ lục này do  Sergej Bubka vận động viên người Ukraina tạo nên từ năm  1994 và duy trì cho đến tận ngày nay.  Tuy nhiên thời gian giữ kỷ lục này so với hai môn điền kinh nhẹ khác chưa thấm vào đâu. Ở môn nhảy xa, kỷ lục 8,90m của vận động viên Mỹ Bob Beamon lập ngày 18.10.1968 tồn tại gần 23 năm, và bị phá bởi vận động viên người Mỹ Mike Powell ngày 30.8.1991 anh đã nhảy xa 8,95m. Cú nhảy đó được mệnh danh là “cú nhảy sang thiên niên kỷ mới”. Chỉ hai ngày sau khi chứng kiến kỷ lục tuyệt vời của Beamon khán giả ở Mêhicô lại được chứng kiến thành công của cuộc cách mạng kỹ thuật trong lịch sử điền kinh nhẹ do “Dick” Fosbury tạo nên.  Xuân Hoài theo Spiegel 8.8      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tạo, trong suốt và trách nhiệm với cộng đồng là nguyên tắc sống và triết lý kinh doanh của tôi      Trong một bài báo “Niềm tin tìm lại” viết về Công ty Mỹ Lan, tác giả, chuyên gia kinh tế Alan Phan kể lại là một người luôn tin vào thế mạnh của doanh nghiệp tư nhân trong việc xây dựng nền kinh tế quốc gia, nên mỗi lần về quê hương là ông thắp đuốc đi tìm các doanh nhân, đại gia Việt thành công để nhận lãnh những bài học thực tiễn cho thế hệ sau.    Hơn 80 đại gia mà ông đã gặp đều chia sẻ một mẫu số chung: rất năng động, khôn ngoan, thông minh, liều lĩnh, thủ đoạn, kiên trì và ứng biến giỏi. Nhất là họ biết rất rõ về những trung tâm quyền lực và có liên hệ mật thiết với mọi quan chức có quyền, từ đó dựng lên những gia tài đáng kể nhờ biết lợi dụng khe hở luật lệ. Tuy vậy, họ đều hiểu rằng khi ra khỏi sân chơi nhà, những lợi thế cạnh tranh nói trên sẽ bốc hơi và sản phẩm của doanh nghiệp họ sẽ ế ẩm so với đồng nghiệp. Vì vậy, ông đã khá bi quan với thực trạng đó cho tới khi đặt chân đến Trà Vinh và đi thăm Công ty Mỹ Lan – Ông thấy ở Công ty này nơi hội tụ đủ 4 yếu tố cho sự thành công, phát triển bền vững của một doanh nghiệp: sản phẩm có công nghệ có tính đặc thù, tạo một bước lợi nhuận cao; đội ngũ quản lý bài bản và quan tâm đến phúc lợi của nhân viên; doanh thu bền vững và dòng tiền lưu chuyển mạnh; và trên hết là một tầm nhìn, một tư duy sáng tạo lâu dài cho doanh nghiệp do vợ chồng anh chị Nguyễn Thành Mỹ, Việt kiều từ Canada đã bỏ ra 6 năm và 1 triệu USD để tạo dựng nên – thì niềm tin về một lớp doanh nhân mới đã trở lại với ông.  Tia Sáng đã có cuộc phỏng ông Nguyễn Thành Mỹ- Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Mỹ Lan nhân dịp ông tham dự cuộc tọa đàm giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân với một số doanh nghiệp xuất sắc trong đổi mới sáng tạo vào cuối tháng 3/2013.  Với nhiều công trình nghiên cứu, bằng sáng chế có giá trị sử dụng cao, sau hơn 34 năm ở Canada với biết bao thăng trầm, khi quyết định về nước đầu tư, ngoài nguyện vọng chung là góp phần xây dựng đất nước, hẳn là ông có những nguyện vọng, mục đích khác?  Là một người con xa quê hơn 34 năm dài, những tâm tư tình cảm hướng về Trà Vinh luôn thôi thúc để tôi trở về, đầu tư và góp phần phát triển Trà Vinh.  Sau 9 năm trở về đầu tư, sự thành công của Tập đoàn Mỹ Lan đã phần nào giúp tôi đạt được những thành tựu của nguyện vọng chung ấy: đóng góp phát triển kinh tế tỉnh nhà, chia sẻ và thực hiện trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, tạo một môi trường làm việc hiện đại và xây dựng nguồn lực lao động trẻ, năng động, tri thức. Cá nhân tôi và toàn thể nhân viên Tập đoàn Mỹ Lan luôn kiên trì và nỗ lực không ngừng cho mục tiêu chung ấy.           Tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ              Sinh ngày 2-9-1956 tại làng Thanh Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.              Nhà khoa học: Tiến sĩ  Trung tâm Nghiên cứu khoa học năng lượng và vật liệu INRS-Energie et Materiaux, Varennes, Quebec (Canada). Đã có hơn 100 bằng phát minh được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận.              Các giải thưởng khoa học: IBM-Invention Achievement Award (1994), Sun Chemical – Inventor Award (1995, 1996, 1997), Dianippon Ink and Chemicals – Silver Award for CTP Technology (1997) v.v…              Nhà đầu tư: – Chủ tịch công ty American Dye Source, Inc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Mỹ Lan (Công ty Cổ phần Mỹ Lan, Công ty Sản xuất Vật tư Ngành in Mỹ Lan, Mylan Quang Điện Tử)        Ông có thể chia sẻ về chuyện khởi nghiệp, chuyện làm ăn… của ông như thế nào để có thể đầu tư vào một vùng đất vẫn còn nghèo như là Trà Vinh, một tập đoàn với những nhà máy hoạt động hiệu quả trong những ngành sản xuất vật liệu hóa học cao cấp, vật tư ngành in và vật liệu quang điện tử, đồng thời xây dựng Tập đoàn Mỹ Lan cũng như cảnh quan nơi đây có rất nhiều cây xanh hơn cả những khu du lịch sinh thái cũng như những gì ông mang đến cho Trà Vinh và mọi người xung quanh?  Tôi về nước vào năm 2004 và bước đầu thành lập Công ty hóa chất Mỹ Lan tại Trà Vinh, đây là tiền thân của Công ty Cổ phần Mỹ Lan sau này. Thời điểm bấy giờ, Trà Vinh vẫn còn là một trong ba tỉnh thành nghèo nhất nước. Địa điểm tôi chọn lựa đầu tư là Khu công nghiệp Long Đức nhưng thực chất lúc ấy vùng này lại toàn là đất ruộng, điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất còn rất khó khăn, điều kiện về nguồn nhân lực lại hạn chế, mặt khác sự hỗ trợ giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp còn hạn chế rất nhiều vì thủ tục hành chính còn phức tạp. Có thể nói, việc thành lập và phát triển Tập đoàn Mỹ Lan là một quá trình dài với rất nhiều thử thách.  Tôi đầu tư ở quê hương mình không chỉ là về mặt vật chất mà còn là cái tâm của một người con xa quê và vì thế tôi không ngại khó, vì cái khó không thể lớn hơn sự quyết tâm. Điều đầu tiên tôi hướng đến là tạo một nơi có điều kiện làm việc tốt nhất, tạo việc làm cho người lao động địa phương, xây dựng được cơ sở hạ tầng hiện đại, tạo môi trường làm việc với nhiều cây xanh, cảnh quan, không khí trong lành,  tham gia liên kết với Trường đại học Trà Vinh thành lập Khoa Hóa học Ứng dụng, đào tạo nguồn nhân lực. Sau 9 năm chính thức hoạt động, Tập đoàn Mỹ Lan đã dần dần mở rộng sự lớn mạnh với 3 công ty thành viên (Công ty Cổ phần Mỹ Lan, Công ty Sản xuất Vật tư ngành in Mỹ Lan và Mylan Quang điện tử). Kết quả này làm tôi tự hào cũng như toàn thể nhân viên Tập đoàn vẫn không ngừng nỗ lực để đạt tới thành công cao hơn.  Tôi luôn ý thức trách nhiệm của mình dành cho cộng đồng, do vậy Tập đoàn quan tâm đến những hoạt động từ thiện, xây cầu, xây nhà tình thương cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trao quà cho trẻ em nghèo…   Đối với nhân viên, cá nhân tôi vẫn thường chia sẻ với nhân viên của mình rằng, tôi không thể đồng thời đưa họ đến làm việc tại những môi trường hiện đại nơi những công ty lớn như IBM (Hoa Kỳ) nhưng tôi tự hào có thể tạo môi trường làm việc như thế tại Việt Nam. Tôi dành cho nhân viên mình những điều kiện ưu đãi nhất và chăm sóc họ sánh ngang với những doanh nghiệp bậc nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, tôi cũng đang truyền đạt sự hiểu biết, thành công của mình dành cho nhân viên tại Tập đoàn, những người sẽ tiếp bước tôi thực hiện mục tiêu đưa Tập đoàn vươn xa hơn nữa.                  Có nhà báo nói, ông là người đã đưa thung lũng Silicon về Trà Vinh. Đằng sau câu nói có phần ngoa ngôn đó, là một sự khẳng định về hiệu quả hoạt động nghiên cứu triển khai của Tập đoàn ông. Xin ông cho biết những lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất chính của Tập đoàn hiện nay và lâu dài là gì?  Hiện nay, Tập đoàn Mỹ Lan đang là đối tác chiến lược của Tập đoàn HP trong sản xuất những vật liệu hóa học cao cấp dùng trong ngành in và quang điện tử; sản xuất mực in; đồng thời nghiên cứu, phát triển thêm nhiều vật liệu hóa học dựa trên vật liệu và công nghệ Nano. Chúng tôi đã cho ra thị trường:  – Sản phẩm bản kẽm nhiệt CTP: Tập đoàn đang sản xuất dựa trên những bản quyền được tôi sáng chế từ năm 1997, đây là một trong 03 phát minh đầu tiên trên thế giới về sản phẩm bản kẽm nhiệt CTP; Chúng tôi đã xuất khẩu bản kẽm với 70% dành cho thị trường ngoài nước, 30% dành cho nội địa (chiếm 65% thị phần trong cả nước), kết hợp với việc chuyển giao công nghệ và cho thuê bản quyền đối với nhiều doanh nghiệp in ấn tầm cỡ ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như: Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan,…  – Máy in phun công nghiệp Vjet1000: dùng trong thị trường in đóng gói và bao bì, sản phẩm này đạt hiệu quả in ấn rất cao, in được thông tin dạng chữ số, logo, hạn sử dụng, barcode…, sản phẩm mang nhiều tính năng vượt trội: nhỏ, gọn, được điều khiển trực tiếp thông qua kết nối Wifi với các loại thiết bị thông minh: Iphone, Ipad, chạy trên hệ điều hành Android và iOS, có khả năng tự làm sạch đầu in, có thể sử dụng mực nước hoặc mực dung môi,…  – Vjet1020: là sản phẩm nâng cấp từ Vjet1000, được trang bị thêm một số tính năng như: in được nhiều dòng, in được nhiều ngôn ngữ, bộ nhớ lớn, đồng bộ tốc độ dây chuyền, kết nối được USB,  in được barcode động, độ phân giải lên đến 600 x 600 dpi).  – Vjet2000: dùng trong ngành in công nghiệp, in thương mại, sản phẩm này có nhiều tính năng nổi bật: sử dụng đầu in Ricoh, đạt tốc độ 150 mét/phút, sử dụng được nhiều loại mực: mực nước, mực dung môi, mực UV, mực dầu, có thể điều khiển bằng Iphone, Ipad, PC, in được tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, in được nhiều font, size, tùy chọn, in được barcode động, dữ liệu động…).  Tập đoàn cũng đang xúc tiến phát triển sản phẩm mới là màng đa lớp, đa vật liệu, sản phẩm này có ứng dụng rất lớn trong ngành: quang điện tử, năng lượng; công nghiệp đóng gói thực phẩm, dược phẩm…Và đang nghiên cứu hướng đến những ngành đang có tiềm năng phát triển rất lớn ở thị trường trong và ngoài nước như quang điện tử, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước,…  Ông có thể cho biết chiến lược lâu dài của Công ty?        Tôi dành cho nhân viên mình những điều kiện ưu đãi nhất và chăm sóc họ sánh ngang với những doanh nghiệp bậc nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, tôi cũng đang truyền đạt sự hiểu biết, thành công của mình dành cho nhân viên tại Tập đoàn, những người sẽ tiếp bước tôi thực hiện mục tiêu đưa Tập đoàn vươn xa hơn nữa.        Chiến lược lâu dài của Tập đoàn chúng tôi là hướng đến đào tạo nguồn nhân lực ngày càng năng động, có tinh thần trách nhiệm, kỷ luật cao và trong suốt trong nhân cách, cũng như tăng cường chuyên môn để ngày càng đạt hiệu quả cao hơn trong công việc. Con người luôn là nhân tố rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Có tầm nhìn và định hướng phát triển tốt, quản lý tốt dưới sự hỗ trợ đội ngũ nhân viên giỏi, đó sẽ là những yếu tố góp phần làm nên thành công của doanh nghiệp. Hiện nay, tôi cũng đang có những kế hoạch phối hợp với Trường Đại học Trà Vinh đào tạo chuyên ngành về Quang – cơ điện tử, tham gia đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực địa phương vào lĩnh vực phát triển mới. Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng đang hướng đến việc mở rộng quy mô sản xuất ở những công ty thành viên và đầu tư cho sự ra đời của công ty thành viên thứ 4 tại Khu công nghiệp Long Đức, tỉnh Trà Vinh.   Được biết Công ty Mylan quang điện tử (MOP) thuộc Tập đoàn Mỹ Lan khởi công tháng 5/2009 đã đi vào hoạt động đầu năm 2013 với mục tiêu doanh thu 100 triệu USD vào năm 2015, xin ông cho biết sản phẩm chính của MOP và vai trò của MOP trong chiến lược của Tập đoàn.   Mylan quang điện tử (MOP), đây là công ty thứ 3 trực thuộc Tập đoàn Mỹ Lan. Sản phẩm chính của MOP là màng đa lớp, đa vật liệu. Những loại màng này đa dạng về tính năng và được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực: quang điện tử, năng lượng, điện tử, in ấn, xử lý nước, màng chống giả, bảo mật, đóng gói thực phẩm, dược phẩm… những sản phẩm này có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Về vai trò của tiềm năng phát triển của công ty là vô cùng to lớn và sẽ góp phần quan trọng trong việc mở rộng phát triển Tập đoàn.  Với vai trò là người sáng lập và là Trưởng khoa Hóa học ứng dụng của ĐH Trà Vinh, ông có nhận xét gì giữa mối quan hệ hợp tác giữa một ĐH địa phương với doanh nghiệp KHCN.  Tập đoàn Mỹ Lan không chỉ phối hợp với trường Đại học Trà Vinh thành lập Khoa Hóa học ứng dụng năm 2007 mà còn tham gia liên kết đào tạo thông qua Chương trình Co-op (theo mô hình của Đại học Concordia – Canada, và được nhiều nước trên thế giới áp dụng thành công). Đây là sự hợp tác mang lại nhiều thành công dành cho cả hai bên:  Nhà trường nhận được hỗ trợ từ doanh nghiệp trong liên kết đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc đào tạo sinh viên. Định hướng giáo dục gắn việc với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho sinh viên có được những kiến thức thực tế cũng như cơ hội nắm bắt nghề nghiệp. Ngoài kiến thức đạt được, sinh viên còn được trang bị thêm nhiều kỹ năng và kinh nghiệm khi được doanh nghiệp tạo điều kiện hỗ trợ về tiền lương, môi trường làm việc nhóm và nhiều chính sách ưu đãi khác. Về phía doanh nghiệp, khi tham gia liên kết đào tạo, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn  khi sử dụng được lao động địa phương, có được nguồn nhân lực có tri thức và kỹ năng đáp ứng được những yêu cầu cho lĩnh vực ngành nghề đã và đang hướng đến  Ông có thể nói vắn tắt nhất nguyên tắc sống và triết lý kinh doanh của ông.  Nguyên tắc sống và triết lý kinh doanh của tôi luôn dựa trên 3 nền tảng: creativity (sáng tạo), transparency (trong suốt), social responsibility (trách nhiệm với cộng đồng). Tôi quan tâm đến sự sáng tạo để đổi mới và không ngừng phát triển, đồng thời chú trọng vấn đề trong suốt, trung thực trong nhân cách, không chỉ yêu cầu ở bản thân tôi mà còn ở toàn thể nhân viên làm việc tại Tập đoàn Mỹ Lan. Tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình đối với nơi sinh sống và làm việc, đó là trách nhiệm xuất phát từ mong ước của bản thân, nó luôn thôi thúc tôi mỗi ngày có thể tạo được nhiều thành công hơn, mang lại nhiều hạnh phúc hơn đến những người xung quanh.               PV. thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáng tỏ sự sống ở “vùng chạng vạng” đại dương      Lần đầu tiên, một nhóm các nhà khoa học từ Đại học Cardiff (Anh) đã theo dõi được sự phát triển của môi trường sống lớn nhất và bí ẩn nhất trên thế giới.      Sinh vật phù du Trùng lỗ (Foraminifera). Ảnh: Biogeosciences  Trong nghiên cứu mới được công bố trên Science, các nhà khoa học đã làm sáng tỏ việc sự sống ở “vùng chạng vạng” của đại dương – nơi nằm ở độ sâu từ 200 đến 1000m dưới mặt nước biển, đã hình thành và phát triển đa dạng như thế nào nhờ có sự giảm nhiệt của đại dương trong suốt 15 triệu năm vừa qua. Các phát hiện mới cũng làm dấy lên lo ngại rằng các sinh vật sống ở những tầng sâu này sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực nếu nhiệt độ đại dương ấm dần lên trong tương lai.  Vùng chạng vạng của đại dương là nơi sinh sống của vô vàn các loài sinh vật huyền bí, bao gồm cả giáp xác, sinh vật phù du, sứa, mực và cá. Đây thực sự là một kho tàng ẩn giấu về sinh khối và đa dạng sinh học – điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của đại dương. Ở khu vực chạng vạng này, sự sống của các sinh vật phụ thuộc vào “tuyết biển” – vật chất hữu cơ chìm xuống từ bề mặt – để làm nguồn thức ăn.  Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã sử dụng những chiếc vỏ hóa thạch tí hon được thu thập từ bùn ở đáy đại dương để tìm hiểu xem các sinh vật biển sâu đã biến đổi và trở nên đa dạng theo thời gian như thế nào. “Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã quan sát thấy bằng chứng về việc các loài sinh vật di cư từ mặt nước xuống những vùng sâu hơn của đại dương trong 15 triệu năm qua. Đây là một điều rất khó hiểu”, TS. Flavia Boscolo-Galazzo, nhà nghiên cứu cổ sinh vật học, một trong hai tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  “Hóa ra, nhiệt độ của nước biển lại chính là chìa khóa để giải mã bí ẩn”, TS. Katherine Crichton tại ĐH Exeter, tác giả chính của nghiên cứu, người đã xây dựng mô hình máy tính mô phỏng cách thức chu trình carbon biển phát triển theo thời gian, cho biết.  “Nhiệt độ nước bên trong đại dương đã giảm đi rõ rệt trong giai đoạn này và tạo nên hiệu ứng làm mát, giúp lớp tuyết chìm ở biển được bảo quản lâu hơn và chìm sâu hơn, cung cấp thức ăn cho các sinh vật”.  “Nhiệt độ mát mẻ ở các vùng biển sâu đã thúc đẩy các sinh vật ở nơi đây phát triển và trở nên đa dạng”, TS. Boscolo-Galazzo nói. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các máy khoan địa chất lấy bùn ở vùng chạng vạng của tất cả các đại dương trên thế giới (nhờ Chương trình Khám phá Đại dương Quốc tế – IODP) để xây dựng lịch sử của các cộng đồng sinh vật phù du trong suốt hàng triệu năm.  Khi phân tích mẫu bùn chứa hóa thạch của các sinh vật phù du, nhóm nghiên cứu không chỉ phát hiện được độ sâu nơi các sinh vật sinh sống, mà còn cả mức độ tuyết biển chìm xuống xung quanh những sinh vật này. Bằng chúng hóa thạch đã cho thấy rất rõ ràng các sinh vật ở vùng sâu sống phụ thuộc vào nhiệt độ nước biển, đồng thời chỉ ra cách thức tiến hóa của chúng theo thời gian. Theo nhóm nghiên cứu, các kết quả đã làm dấy lên mối lo ngại về tương lai của đại dương khi nhiệt độ ở nơi này ấm dần lên theo thời gian dưới áp lực của biến đổi khí hậu toàn cầu.  “Nhiều loài sinh vật sống kỳ lạ nhất đã được phát hiện ở các tầng sâu của đại dương như loài sứa lược – trông giống như phi thuyền của người ngoài hành tinh, hay cá răng nanh xấu xí. Tuy kỳ lạ nhưng chúng lại là những sinh vật rất quan trọng đối với mạng lưới thức ăn của đại dương”, Paul Pearson, trưởng dự án, giáo sư nghiên cứu danh dự tại trường Khoa học Trái đất và Môi trường thuộc ĐH Cardiff cho biết. “Những loài cá sống ở vùng nước sâu đóng vai trò là hàng tỷ tấn sinh khối, đồng thời là nguồn thức ăn chính cho cá voi, cá heo cũng như các loại cá lớn như cá ngừ và cá kiếm”.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-evolution-ocean-twilight-zone-creatures.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao Diêm Vương không còn là hành tinh      Gần 2.500 nhà khoa học đang gặp gỡ tại Prague, cộng hòa Czech đã nhất trí bỏ phiếu loại sao Diêm vương ra khỏi danh sách các hành tinh trong hệ mặt trời.    Thiên thể nhỏ bé xa xôi này bị giáng xuống hạng thấp hơn.  Quyết định của Hiệp hội thiên văn quốc tế (IAU) có nghĩa là các sách giáo khoa giờ đây sẽ phải viết lại về hệ mặt trời chỉ với 8 hành tinh lớn.    Quyết định được đưa ra sau khi các nhà khoa học thống nhất những tiêu chí để phân loại một thiên thể là một hành tinh:  – Nó phải bay trong quỹ đạo quanh mặt trời.  – Nó phải đủ lớn để có hình dạng gần tròn  – Quỹ đạo của nó phải tách bạch với các vật thể khác  Theo những tiêu chí này, sao Diêm Vương đã tự mình rơi khỏi bảng xếp loại bởi quỹ đạo hình elip dẹt của nó cắt qua quỹ đạo của sao Hải Vương.  Sao Diêm Vương, được nhà thiên văn Mỹ Clyde Tombaugh mô tả năm 1930, giờ đây sẽ được xem là một “hành tinh lùn”.  Đồng hạng với nó là thiên thể mới tìm thấy 2003 UB313 – tiểu hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời Ceres – và Charon – mặt trăng lớn nhất của chính nó.  Cuộc tranh cãi về địa vị của sao Diêm Vương đã kéo dài nhiều năm qua, bởi kích cỡ nhỏ và vị trí quá xa của nó so với 8 hành tinh “truyền thống” khác của thái dương hệ. Thậm chí, nó còn bé hơn cả một số vệ tinh của các hành tinh khác trong hệ mặt trời. Quỹ đạo của nó cũng nghiêng hơn so với tất cả những hành tinh còn lại. Chưa hết, gần đây nhất người ta đã tìm thấy những thiên thể còn lớn hơn hoặc xấp xỉ bằng nó trong vùng ngoài cùng của hệ mặt trời là vành đai Kuiper.  (theo BBC)  T. An      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao Hỏa không có nhiều nước      Trong số các hành tinh của Hệ mặt trời, sao Hỏa là ứng viên sáng giá nhất ngoài Trái đất để tìm kiếm và nghiên cứu sự sống. Loài người đã tốn không biết bao nhiêu tiền bạc và sức lực cho nhiều cuộc hành trình “tiến tới sao Hỏa”. Vài năm trở lại đây, các nhà khoa học hành tinh bắt đầu tiến hành nghiên cứu cẩn thận hơn về hành tinh đỏ, và những nghiên cứu này tiết lộ rằng Sao Hỏa ít ẩm ướt và “thiếu vắng” các hoạt động thời tiết hơn chúng ta tưởng, thậm chí ngay trong giai đoạn “ấu thơ” của Hệ mặt trời.    Ở khoảng cách trung bình 228 triệu kilômét, sao Hỏa không quá xa Mặt trời, nhiệt độ cao nhất vào mùa hè có thể lên đến 26oC. Ngoài ra, hành tinh này cũng có một bầu khí quyển mỏng với một số hiện tượng thời tiết tương tự như Trái đất của chúng ta. Chính vì thế đã có bao câu chuyện được thêu dệt về những nền văn minh sao Hỏa. Những quan sát trong quá khứ và cả những những bức ảnh chụp bởi những trạm thăm dò không gian gợi ý tồn tại một hệ thống “kênh đào” trên hành tinh này. Trong những năm gần đây, “nước, nước có ở mọi nơi” đã trở thành khẩu hiệu cho những khám phá hành tinh mang tên vị thần chiến tranh. Có nước cũng đồng nghĩa với có…sự sống. Những biển muối nông cạn đã từng trị vì sao Hỏa, và về mặt địa lý, trong quá khứ, nước đã từng chảy tạo thành những rãnh xói mòn. Những khám phá mới đây được trang bị những thiết bị khoa học tân tiến nhất với những camera và phổ kế có độ phân giải cao đã nói với chúng ta rằng, những điều tượng tưởng của con người về một sao Hỏa chan hòa bởi nước đã dần bị tước đoạt.  “Khô” hơn chúng ta nghĩ  Các phân tích từ những quan sát thực hiện bởi những robot tự hành và các tàu quỹ đạo, cũng như những chi tiết chưa từng được thấy từ trước tới nay cung cấp bởi sứ mệnh thăm dò MRO đã mang tới nhiều điều sáng tỏ về mặt địa lý để giải quyết câu hỏi có tồn tại nước trên bề mặt sao Hỏa hay không? “Trong suốt một thời gian dài sao Hỏa chỉ là một bãi hoang tàn và đổ nát”, nhà địa hóa học Scott mcLennan, Đại học Stony Brook, New York, kết luận.                     Một kho tàng số liệu phong phú thu được từ thiết bị chụp ảnh độ phân giải cao HiRISE (Thí nghiệm Khoa học Chụp ảnh phân giải cao) của MRO có thể “chớp” một tảng đá có kích thước nửa mét. Với độ phân giải cực mạnh như vậy,  Alffred McEwen và cộng sự đang hăm hở lao vào cuộc tìm kiếm “nước”. Và mới đây, họ thông báo đã chụp được những lớp trầm tích sáng màu xuất hiện thành hai rãnh giữa đường quét của camera MOC gắn trên tàu quỹ đạo MGS bay quanh hành tinh này. Những lớp vật chất sáng màu này có cấu trúc giống như những dòng chảy mà nhóm nghiên cứu MOC kết luận, các đặc điểm này tiết lộ sự hiện diện của nước. Tuy nhiên, HiRISE giờ đây đã khám phá thêm bốn rãnh sáng khác nhưng các nhà khoa học vẫn không tìm thấy bất cứ bằng chứng nào khẳng định nước đang tồn tại. Và như McEwen nói, “ Chúng ta phải thay đổi tư duy của chính mình ngay từ bây giờ. Không có gì ở đây cả và cũng không có gì để giải thích. Tất cả những gì có được chỉ là những rãnh khô cằn, bao gồm những mảnh vụn trải dọc triền dốc trên khắp địa hình của hành tinh đỏ”.  Những rãnh mới không phải là những đặc điểm duy nhất giống nước, có tuổi tương đối trẻ và nhóm của HiRISE đang đặt ra những câu hỏi để làm sáng tỏ bài toán tìm nước trên sao Hỏa. Họ đang dùng những thiết bị tân tiến nhất của khoa học để tìm kiếm “nguồn thiết yếu” trên một hoang mạc đỏ quạch lớn hơn cả một nửa Trái đất và nằm ở một nơi xa xôi với loài người gần nhất cũng vài chục triệu kilômét. Frank Chuang (Viện Khoa học hành tinh ở Tucson, Azirona), MEwen và đồng sự thông báo đã quan sát được những địa hình lòng chảo bên ngoài những vệt tối chạy dọc triền dốc. Một số nhà khoa học cho rằng nước đã tạo ra những vệt như thế. Nhưng những cấu trúc địa hình tối được ghi nhận thông qua những bóng xế chiều gợi ý, đó chỉ là những thác bụi khô cằn thay vì có dòng nước chảy.  Lội ngược về các thời kỳ địa chất, nhóm HiRISE đang đặt ra những câu hỏi với mục đích làm sáng tỏ những dấu hiệu tồn tại nước. Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng, nước chảy từ những vết nứt lớn dưới lòng đất, cắt xuyên qua những dòng nham thạch tạo nên thung lũng Athabasca. McEwen vẫn nghĩ rằng, những thung lũng cổ có khả năng bị những dòng nước chia cắt. Tuy nhiên, giờ đây các nhà khoa học được trang bị với thiết bị có khả năng phân giải lớn hơn như HiRISE, những thung lũng và cả các lớp trầm tích lắng đọng ở đó- mà từng được cho là có khả năng dung dưỡng sự sống dưới bề mặt-bị chôn vùi khoảng vài mét dưới lớp nham thạch. Những quan sát có thể giúp giải thích tại sao rất nhiều trạm nghiên cứu sao Hỏa được giả định là đổ bộ xuống những đáy hồ hay kênh đào nhưng không tìm thấy gì cả, thay vì thế chỉ toàn là nham thạch. Điều này phủ nhận quan điểm cho rằng, sự mở rộng những vùng đồng bằng phẳng-nơi nước được giả định chảy từ thung lũng Athabasca từ hàng triệu năm trước-đang là một biển nước đóng băng.  Cuối cùng, những số liệu mới về những vùng đất thấp ở bắc bán cầu của hành tinh đỏ mà HiRISE thu được đã đưa ra những nghi ngờ về sự tồn tại của một đại dương cổ ở đó. Những dải đất ven rìa được tìm thấy xung quanh một lưu vực hình lòng chảo phẳng phiu. Nhưng những hình ảnh chụp bởi thiết bị HiRISE lại tiết lộ vô số tảng đá có kích thước lên tới 2 mét vương vãi khắp nơi dọc theo những vùng đất thấp nơi cho rằng, có một đại dương sâu từng tồn tại suốt một khoảng thời gian dài trong quá khứ, để lại không một thứ gì lớn hơn một hạt cát. Hoặc có một lớp trầm tích khá mỏng hơn chúng ta dự đoán, hoặc không có một đại dương nào cả?  Nước dưới lòng đất  Tuy nhiên, sao Hỏa không phải đã hoàn toàn khô. Với một quan sát cận cảnh hơn bằng việc sử dụng camera HiRISE, McEwen và đồng sự cho rằng, họ đã quan sát được một nguồn nước nằm ở dưới sâu trong lòng đất. Thay vì nguồn nước từ trên trời “rơi” xuống, họ lại cho rằng có một vật va chạm đã tác động vào lớp vỏ chứa nhiều nước, tạo ra những mảng bùn chảy xuống tạo nên những cấu trúc hình quạt. Thiết bị HiRISE đã chụp được những rãnh có tuổi hàng triệu năm như những giải thích sớm nhất cho các dòng nước chảy.  Những kết quả quan sát của HiRISE có khuynh hướng thu nhỏ vai trò của nước lỏng tồn tại trên bề mặt của sao Hỏa. Băng đá và tuyết trước đó đã từng di chuyển trên khắp hành tinh, khi sao Hỏa nghiêng theo trục quay của nó một cách định kỳ. Nhưng những quan sát thực hiện bởi robot tự hành Opportunity và Spirit tiết lộ một quá trình xói mòn đã diễn ra rất chậm chạp. Chính bởi vậy mà các nhà nghiên cứu kết luận rằng: Nước thể lỏng không nhiều ở 3 tỷ năm trước. Và bộ mặt sao Hỏa với màu sắc đỏ quạnh được cho là từng tồn tại một thời tiết ẩm ướt có vẻ như chỉ là một lớp gỉ sắt mỏng bao quanh những tảng đá giàu oxit sắt. Khí hậu quá khứ của sao Hỏa chỉ mang một chút ẩm ướt. Một sao Hỏa quá khứ được cho là “ấm và ẩm ướt” thực tế có vẻ khô hơn nhiều.  Các nhà khoa học hành tinh đang cùng nhau ngồi lại để chọn ra những vị trí đổ bộ thích hợp cho sứ mệnh thám hiểm sắp tới. Tất cả công việc đang và sẽ triển khai là để tăng cường những nghiên cứu mong tìm ra dấu vết của nước trên sao Hỏa.  Đức Phường (Theo Science)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao không hình thành khi các thiên hà lớn va      Khi&#160; nghiên cứu sự phức tạp kỳ lạ của các sợi khí ấm nằm cách 400.000 năm ánh sáng, kết nối thiên hà êlip M86 và thiên hà xoắn ốc NGC 4439 trong cụm thiên hà Virgo, các nhà khoa học thuộc ĐH Yale phát hiện ra rằng, sự va đập với tốc độ cao giữa các thiên hà êlip lớn có thể ngăn cản quá trình hình thành sao.     Kết quả này được công bố trên Tạp chí Astrophysical Journal Letters. Trưởng nhóm nghiên cứu, GS.Jeffrey Kenny, cho biết, sự va đập xảy ra gần đây nhất giữa một thiên hà êlip lớn và một thiên hà xoắn ốc lớn gợi ý khả năng hình thành lỗ đen giữ vai trò như một lời giải thích cho việc các ngôi sao không thể hình thành ở các thiên hà lớn. Theo các tác giả, sự va đập với vận tốc nhỏ giữa các thiên hà nhỏ hay thiên hà cỡ trung bình thường tăng tốc độ hình thành sao trong thiên hà. Nhưng đối với hiện tượng va đập tốc độ cao chỉ xảy ra ở các thiên hà lớn, năng lượng của vụ va đập đã làm khí nóng lên nhiều đến mức khí không thể nguội đi dễ dàng để hình thành sao. Theo ScienceDaily    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao Kim có nhiều núi lửa đang hoạt động      Nghiên cứu mới “Present-day volcanism on Venus as evidenced from weathering rates of olivine” do Universities Space Research Association (USRA) dẫn dắt xuất bản trên tạp chí Science Advances nêu các dòng chảy dung nham trên sao Kim có thể mới có vài năm tuổi, qua đó đề xuất ý tưởng là ngôi sao này có thể vẫn còn những núi lửa hoạt động đến ngày nay – khiến cho nó là hành tinh duy nhất thuộc hệ mặt trời của chúng ta, ngoài trái đất, có các hoạt động phun trào trong thời gian gần đây.      “Nếu sao Kim có các núi lửa thậm chí còn hoạt động đến ngày nay, nó có thể là một nơi tốt để chúng ta tới tìm hiểu để có những hiểu biết sâu sắc hơn về các phần bên trong của các hành tinh”, TS. Justin Filiberto, người dẫn dắt nghiên cứu và là một nhà khoa học thành viên của USRA tại Viện nghiên cứu Mặt trăng và hành tinh (LPI). “Ví dụ, chúng ta có thể nghiên cứu về cách các hành tinh lạnh như thế nào và tại sao trái đất và sao Kim lại có các hiện tượng núi lửa hoạt động trong khi sao Hỏa lại không như vậy. Các nhiệm vụ trong tương lai phải là có khả năng thấy được các dòng chảy đó và những thay đổi trên bề mặt sao Kim, đồng thời cung cấp các bằng chứng cụ thể về các hoạt động của nó”.  Các hình ảnh rada từ tàu vũ trụ Magellan của NASA vào đầu những năm 1990 đã tiết lộ sao Kim, hành tinh hàng xóm của chúng ta, là một thế giới của núi lửa và tồn tại các dòng nham thạch. Trong những năm 2000, tàu vũ trụ Venus Express của Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA’s) được phóng vào quỹ đạo và tới sao Kim đo đạc một lượng ánh sáng hồng ngoại phát ra từ phần bề mặt sao Kim (vào ban đêm). Nó đã rọi ánh sáng mới về hiện tượng núi lửa trên hành tinh này. Những dữ liệu mới cho phép các nhà khoa học nhận diện được sự thay đổi của những dòng chảy nham thạch trên bề mặt hành tinh. Dẫu vậy cho đến tận bây giờ, tuổi của nham thạch từ các hoạt động phun trào và các ngọn núi lửa trên sao Kim vẫn còn chưa được biết rõ bởi vẫn còn chưa rõ tỷ lệ thay đổi của nham thạch tươi.  TS. Filiberto và đồng nghiệp đã tái tạo bầu khí quyển toàn kiềm chất nóng trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu cách các khoáng chất sao Kim được quan sát tương tác và thay đổi theo thời gian như thế nào. Các kết quả thực nghiệm của họ cho thấy olivin, một loại khoáng chất có rất nhiều trong đá basalt, tương tác một cách nhanh chóng với bầu khí quyển và trong vòng vài tuần đã được phủ một lớp ô xít sắt, magnetit và hematit. Họ còn tìm thấy là những quan sát của Venus Express về sự thay đổi trong khoáng vật học có thể xảy ra chỉ trong một vài năm.  Do đó, các kết quả mới của Filiberto và các đồng tác giả đã đề xuất những dòng nham thạch trên sao Kim có tuổi còn rất trẻ, qua đó gợi ý là sao Kim thậm chí còn có cả các núi lửa đang hoạt động.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-scientists-evidence-venus-volcanoes.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao lùn trắng xé nát một hành tinh      Một hành tinh nhỏ đã bị xé toạc thành nhiều mảnh và biến mất sau khi di chuyển tới quá gần một sao lùn trắng. Hành tinh xấu số có lẽ đã bị kéo về phía ngôi sao lùn trắng bởi trọng lực của một hoặc nhiều hành tinh không nhìn thấy, các nhà thiên văn học cho biết.    Các ngôi sao như Mặt Trời (thành phần chủ yếu là hydro và heli) sẽ phồng lên thành quả cầu khổng lồ màu đỏ rực – gọi là sao khổng lồ đỏ – khi chúng già đi. Sau đó, những lớp vật chất ở phía trên của chúng sẽ dần tách ra, chỉ còn lại lõi. Khi đó, chúng được gọi là sao lùn trắng.  Các nhà thiên văn học rất quan tâm tới việc tìm kiếm những dấu hiệu của các hành tinh xung quanh các ngôi sao sắp tắt này, bởi chúng sẽ giúp họ hiểu được điều gì sẽ xảy ra với những hệ hành tinh giống như hệ mặt trời của chúng ta.  Trước đây, các nhà khoa học từng nhìn thấy những đĩa bụi bay xung quanh nhiều sao lùn trắng. Người ta cũng phát hiện ra rằng, trên bề mặt của sao lùn trắng có nhiều kim loại – một dấu hiệu cho thấy chúng có thể đã “nuốt chửng” những hành tinh nhỏ bay quá gần sau khi xé vụn những “thiên thể kém may mắn” này.  Giờ đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Warwick (Anh) đã có trong tay bằng chứng thuyết phục nhất về việc sao lùn trắng nuốt chửng một hành tinh. Họ đã nhìn thấy sự hình thành của một vành bụi kim loại xung quanh một sao lùn trắng có tên SDSS 1228+1040 nằm ngoài hệ Mặt Trời của chúng ta.  Việt Linh (theo Newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao Thủy đi qua đĩa Mặt trời      Ngày 8 và 9 tháng 11, những ai yêu thích thiên văn sẽ có dịp quan sát một hiện thượng thiên văn lý thú, sao Thủy đi qua đĩa Mặt trời. Hiện tượng sao Thủy đi qua đĩa Mặt trời xảy ra trong khoảng thời gian 5 giờ đồng hồ. Các nước ở khu vực bắc và nam châu Mỹ có thể quan sát thấy vào trước lúc Mặt trời lặn ngày 8/11. Đối với các nước New Zealand, Australia và viễn đông có thể quan sát thấy ngay sau khi Mặt trời mọc ngày 9/11.    Tuy nhiên, không giống với hiện tượng sao Kim đi qua đĩa Mặt trời có thể quan sát bằng mắt thường với các bộ lọc bảo vệ dùng cho các quan sát  Mặt trời. Sao Thủy thì khác, đường kính góc nhỏ hơn  Mặt trời 194 lần, do vậy, chúng ta chỉ có thể quan sát hiện tượng thiên văn lý thú này với  các kính thiên văn hoặc ống nhòm có độ phóng đại 30 lần trở lên. Tất nhiên, một điều không thể thiếu là cần phải lắp đặt các bộ lọc bảo vệ dành cho các quan sát Mặt trời. Tuyệt đối không được nhìn thẳng vào Mặt trời, đặc biệt là qua kính thiên văn hay ống nhòm nếu không có thiết bị bảo vệ.  Để quan sát hiện tượng này xảy ra lần tới, chúng ta phải chờ đợi 10 năm nữa, tức là năm 2016. Hiện tượng này có thể xảy ra vào tháng 5 hoặc tháng 11 của năm. Thời gian xảy ra giữa các tháng 11 là 7, 13 và 33 năm. Còn đối với tháng 5 là 13 và 33 năm.  Sao Thủy là hành tinh gần Mặt trời nhất, nên chu kỳ chuyển động quanh Mặt trời cũng ngắn nhất. Sao Thủy bắt đầu đi vào đĩa Mặt trời  lúc 5giờ13 phút (UT). Hiện tượng Sao Thủy đi qua đĩa Mặt trời xảy ra khoảng tám lần trong một thế kỷ, tức là xảy ra thường xuyên hơn so với sao Kim. Sao Kim tính trung bình xảy ra hai lần trong một thế kỷ.  Nguyễn Đức Phường       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sắp có vắc-xin phòng sốt rét      Từ hàng chục năm nay, hãng dược phẩm của Anh  GlaxoSmithKline (GSK) đã phát triển vắc-xin tiêm phòng RTS,S, giúp con  người phòng tránh bệnh sốt rét. Nếu được Cơ quan quản lý dược phẩm EMA  thông qua thì trong năm tới, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sẽ khuyến nghị  về việc sử dụng loại vắc-xin này.     Bệnh sốt rét là bệnh nhiệt đới do muỗi cái thuộc loài Anopheles truyền. Ký sinh trùng “Plasmed falciparum” sẽ chín dần trong nước bọt của muỗi. Biểu hiện bệnh là sốt cao, rét run, đầu và chân tay bị đau nhức. Theo ước tính của WHO, hằng năm có khoảng 300 đến 500 triệu người bị nhiễm bệnh sốt rét, trong đó hai đến ba triệu người bị tử vong.  Vắc-xin RTS,S giúp giảm khả năng lây nhiễm sốt rét. Theo Glaxo, việc tiêm chủng làm cho cơ thể con người có phản ứng miễn dịch. Sự phản ứng này cản trở ký sinh trùng có cơ hội chín dần trong gan người, do đó ký sinh trùng không thể lây lan, thâm nhập vào huyết quản.  Loại thuốc tiêm phòng mới chống sốt rét của hãng Sanaria cũng cho kết quả tốt đẹp: 11 trong số 12 người tham gia thử nghiêm bị nhiễm bệnh sốt rét do không tiêm phòng. Tiêm phòng với nồng độ thấp vẫn có tới 16 trong tổng số 17 người bị bệnh. Khi tiêm phòng với nồng độ cao hơn thì có ba trong tổng số 15 người bị bệnh.   Việc phát triển thuốc diệt côn trùng mới cũng có sự tiến bộ. Trong năm tới, theo thông báo của nhóm nghiên cứu thuộc Innovative Vector Control Consortium (có trụ sở ở Anh và do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ), sẽ có ba dòng thuốc thử nghiệm được xúc tiến. Sở dĩ phải làm nghiên cứu này vì hiện tại nhiều loài muỗi đã có sức đề kháng với các loại thuốc diệt côn trùng quen thuộc. Loại thuốc diệt côn trùng mới có khả năng trừ những con muỗi đã miễn dịch.  Người dân ở vùng có bệnh sốt rét nhiều khi không có khả năng tự vệ vì loại màn tẩm thuốc diệt côn trùng và thuốc xịt lên tường tỏ ra không hiệu quả với loại muỗi kháng thuốc. Nếu có sự tài trợ thỏa đáng thì loại thuốc diệt côn trùng mới sẽ ra thị trường vào năm 2020.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáp nhập sao neutron đôi sẽ dẫn đến các vụ bùng phát tia gamma ngắn      Được công bố trên Physical Review Letters, khám phá của các nhà khoa học tại trường Đại học bang Oregon đã đem lại những hiểu biết mới cho các nhà vật lý thiên văn về mối quan hệ giữa vụ sáp nhập sao neutron đôi, sóng hấp dẫn và các vụ bùng phát tia gamma ngắn.      Vụ nổ tia gamma ngắn. Nguồn: phys.org  Các vụ bùng phát tia gamma (GRB) là các chùm tia sóng điện từ hẹp của các bước sóng ngắn nhất trong phổ điện từ. Nó là hiện tượng điện từ mạnh nhất trong vũ trụ, xuất hiện cách Trái đất hàng tỷ năm ánh sáng và có thể giải phóng năng lượng lớn trong vài giây tương đương với năng lượng Mặt trời phát ra trong suốt quá trình tồn tại của mình.  GRB có hai loại dài và ngắn. Liên quan đến cái chết của một sao khổng lồ vì lõi của nó sẽ trở thành lỗ đen, GRB dài có thể kéo dài vài giây đến vài phút, còn các GRB ngắn kéo dài trong tối đa 2 giây. Nó bị các nhà nghiên cứu nghi ngờ là có thể xuất phát từ sự sáp nhập hai sao neutron, hiện tượng này cũng tạo ra một lỗ đen mới – nơi sức hút của lực hấp dẫn từ vật chất siêu đậm đặc mạnh đến mức ánh sáng cũng không thể thoát ra được.  Vào tháng 11/2017, các nhà khoa học trong nhóm hợp tác Mỹ và châu Âu đã tuyên bố phát hiện một chớp tia gamma/tia X trùng khớp với một vụ phát sóng hấp dẫn, theo sau là các ánh sáng khả kiến từ kilonova – một vụ nổ vũ trụ mới.  Davide Lazzati, nhà vật lý thiên văn lý thuyết thuộc trường ĐH Khoa học của ĐH bang Oregon cho biết: “Việc dò được đồng thời tia gamma và sóng hấp dẫn từ cùng một nơi trên bầu trời có thể là cột mốc quan trọng trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ. Từ tia gamma này, chúng ta có thể xác định được chính xác vị trí xuất phát của sóng hấp dẫn, đồng thời việc kết hợp thông tin từ bức xạ hấp dẫn và điện từ cũng giúp chúng ta chứng minh hệ sao đôi neutron gây ra [vụ bùng phát tia gamma] theo những cách chưa từng được áp dụng.”  Năm ngoái, nhóm nghiên cứu của Lazzati đã công bố một bài báo nêu giả thuyết: trái ngược với ước tính của cộng đồng vật lý thiên văn, vụ nổ tia gamma ngắn liên quan đến phát sóng hấp dẫn của hệ sao đôi neutron có thể quan sát được, ngay cả khi vụ nổ tia gamma không hướng trực tiếp đến Trái đất. Lazzati giải thích: “Tia X và tia gamma là chuẩn trực, giống như ánh sáng của ngọn hải đăng, và có thể dễ dàng phát hiện chỉ nếu chùm tia hướng trực tiếp đến Trái đất. Mặt khác, sóng hấp dẫn gần như đẳng hướng và có thể phát hiện được ngay.”  Sau khi dò thấy sóng hấp dẫn vào tháng 11/2017, các nhà thiên văn tiếp tục quan sát và đã thấy địa điểm xuất phát của sóng hấp dẫn. Họ cũng thấy nhiều bức xạ đến từ sau vụ bùng phát tia gamma, sóng vô tuyến, tia X khác biệt so với kiểu bức xạ muộn của GRB ngắn. Thông thường có một vụ nổ ngắn, một xung sáng, bức xạ tia X sáng, sau đó nó phân rã theo thời gian. Đây là một xung tia gamma yếu, và bức xạ muộn đã mờ, nó sáng rất nhanh và sau đó tắt đi. Nhưng trạng thái đó chỉ có thể nhìn thấy khi chúng ta đứng ở điểm quan sát ngoài trục, thay vì nhìn thẳng lên trên. “Chúng tôi đang mong đợi một luồng tia ngoài trục sẽ mang đến bằng chứng thuyết phục là vụ sáp nhập hệ sao neutron đôi và các vụ nổ tia gamma ngắn thực sự có liên quan đến nhau” – Lazzati tổng kết.  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2018-06-short-gamma-ray-binary-neutron-star.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sarah Frances Whiting – Chụp ảnh những thứ vô hình      Bằng sự gắn bó sâu sắc với những tiến bộ khoa học đương đại, Sarah Frances Whiting đã đem lại cho sinh viên của mình những trải nghiệm mà rất ít sinh viên thời đó, nhất là sinh viên nữ, có được. Nhờ vậy, các nhà khoa học nữ tại phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Wellesley là một trong những nhóm đầu tiên ở Mỹ thực hiện thành công thí nghiệm về tia X.      Sarah Frances Whiting (1847 – 1927).  Tháng hai năm 1896, Sarah Frances Whiting, người sáng lập các khoa vật lý và thiên văn của Đại học Wellesley, thực hiện một loạt các thí nghiệm về tia X. Khám phá của Wilhelm Röntgen mới chỉ được công bố vài tuần trước đó, và bà không phải người duy nhất: các nhà khoa học, cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư, tại các trường đại học và bệnh viện trên khắp nước Mỹ đều cố gắng lặp lại và mở rộng các kết quả của Röntgen. Nhưng Whiting cùng với một đồng nghiệp và một số sinh viên của Đại học Wellesley là một trong những người đầu tiên thành công. Quan trọng hơn cả, Whiting là phụ nữ đầu tiên – và hầu như chắc chắn là người đầu tiên, tính cả nam và nữ – làm được điều đó trong một phòng thí nghiệm dành cho giảng dạy1. Những tấm kính2 được dùng trong thí nghiệm hiện không còn, nhưng 15 bức ảnh in từ chúng mới được tìm thấy trong một tòa nhà cũ sắp bị phá đi. Chúng là những bằng chứng sống động cho thành công của Whiting.     Wellesley, Whiting và một cách giáo dục khoa học mới     Đại học Wellesley được hai nhà hảo tâm Pauline Fowle Durant và Henry Fowle Durant sáng lập năm 1870 như một thử nghiệm về giáo dục. Ở nước Mỹ thời đó không có nhiều lựa chọn cho phụ nữ muốn theo học đại học, và ông bà Durant quyết định dùng tài sản của mình để giúp sinh viên và giảng viên nữ có được cơ hội ngang bằng với nam giới [1]. Tìm kiếm giảng viên [nữ] là một thách thức. Trừ một vài ngoại lệ, những thế hệ giảng viên đầu tiên của trường là những phụ nữ độc thân, thời đó bị người ta coi là các “bà cô”. Quan niệm phổ biến là phụ nữ có chồng phải có bổn phận với gia đình và không thể theo đuổi nghiệp học hành. Ngay cả Alice Freeman, vị chủ tịch thứ hai nổi tiếng của Wellesley, cũng phải từ chức sau khi kết hôn vào năm 1887. Các giảng viên sống ở gần trường, thường là với mẹ hoặc chị em; Sarah Whiting sống cùng em gái Elizabeth, người cũng làm việc ở trường.       Những thí nghiệm tia X thành công đầu tiên ở một trường đại học bậc cử nhân, chúng có thể thành công là nhờ tâm huyết của Whiting đối với phương pháp giảng dạy bằng thí nghiệm, cũng như sự quan tâm của bà đối với những tiến bộ khoa học.      Là một trong số rất ít những trường đại học ở Mỹ vừa đào tạo vừa tuyển dụng nữ giới, Wellesley nhanh chóng trở thành một bến đỗ cho những trí thức nữ cấp tiến. Giảng viên của trường tham gia vào mọi khía cạnh của đời sống sinh viên và cùng nhau xây dựng một chương trình học mang tính đòi hỏi cao, tương đương với những chương trình của các trường đại học dành cho nam giới. Nhưng Wellesley cũng chủ động tìm kiếm sự khác biệt với những trường đại học khác. Henry Durant từng nói: “Nếu chúng ta cũng giống như các trường đại học khác, chúng ta sẽ không thể trở thành thứ chúng ta hướng đến [2]”.     Nhưng không dễ để xây dựng được một trường đại học thành công cho phụ nữ. Hầu hết phụ nữ ở thời đó bước vào đại học mà không có nền tảng tốt như nam giới, và khá nhiều trong số họ rút lui trước khi tốt nghiệp, để kết hôn hoặc do những áp lực xã hội khác. Khóa đầu tiên, năm 1875, của Đại học Wellesley có 246 sinh viên, nhưng bốn năm sau chỉ có 18 người tốt nghiệp. Để chống lại sự sụt giảm này, ông bà Durant đã lập ra một trường dự bị để giúp sinh viên sẵn sàng với việc học ở đại học. Họ cũng mở rộng chương trình để bao gồm nhiều môn học trong một phạm vi rộng hơn, cung cấp cơ hội việc làm cho phụ nữ trí thức trong nhiều lĩnh vực. Từ năm 1875 đến năm 1921, Wellesley tuyển nhiều nhà khoa học nữ hơn bất kỳ một trường đại học Mỹ nào khác [3].    Một trong những nhà khoa học nổi bật nhất của Wellesley là Whiting, được tuyển làm giảng viên vật lý vào năm 1876. Chúng ta biết về Whiting qua những tác phẩm của bà và qua các bài cáo phó do học trò nổi tiếng nhất của bà, nhà thiên văn học Annie Jump Cannon, sinh viên khóa 1884 [4], viết. Từ nhỏ Whiting đã yêu thích khoa học, một phần nhờ ảnh hưởng và sự khuyến khích của cha bà, một thầy giáo. Năm 1864, sau khi tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Ingham, Le Roy, New York, bà bắt đầu dạy toán và văn học Hy Lạp – La Mã tại một trường trung học nữ ở Brooklyn. Whiting, giống như hầu hết các đồng nghiệp ở Wellesley trong những năm đầu, không được đào tạo về khoa học ở bậc đại học, nhưng bà đi nghe giảng để mở rộng kiến thức và tạo được một ấn tượng đủ lớn trong cộng đồng giáo dục để được vợ chồng Durant chú ý. Họ mời bà về dạy ở Wellesley và thu xếp để trong hai năm đầu, bà có thể tham quan và làm việc tại các trường đại học quanh khu vực New England.    Trong hai năm đó, Whiting trở thành người phụ nữ đầu tiên tham dự các lớp vật lý của Edward Pickering tại Viện Công nghệ Massachusettes (MIT). Phương pháp giảng dạy thực hành mới mẻ, trực tiếp của Pickering gây ấn tượng mạnh với Whiting và ông bà Durant, Whiting lấy đó làm hình mẫu để xây dựng chương trình môn vật lý của chính mình. Giống như Pickering, Whiting yêu cầu sinh viên tự thiết kế và thực hiện các thí nghiệm. Cách làm này rất phù hợp với những nỗ lực của Wellesley nhằm khuyến khích sinh viên chủ động trong việc học, và nó nhanh chóng lan sang các môn học khác. Trường phát triển phòng thí nghiệm giải phẫu học so sánh dành cho giảng dạy đầu tiên của nước Mỹ, và dưới sự dẫn dắt của Alice Van Vechten Brown, sinh viên lịch sử nghệ thuật được học và thực hành những kỹ thuật cổ xưa. Cách tiếp cận của Brown gây ấn tượng mạnh với các nhà giáo dục khác đến nỗi nó được gọi là “phương pháp Wellesley” và được áp dụng ở nhiều nơi khác [5].     Cơ sở vật chất tại Wellesley     Phương pháp dạy vật lý bằng thực hành đòi hỏi nhiều thiết bị thí nghiệm. Phòng thí nghiệm do Whiting sáng lập là phòng thí nghiệm vật lý cho giảng dạy thứ hai ở Mỹ, sau MIT, và là cái đầu tiên dành cho phụ nữ. Khi đó ở Mỹ không có nhiều nhà sản xuất thiết bị thí nghiệm, nhưng nhờ sự ủng hộ hào phóng của ông bà Durant và lời khuyên của Pickering tại MIT, Charles Baker tại Đại học Pennsylvania – người sau này được Whiting gọi là “cha đỡ đầu khoa học” [6] của bà – và nhiều người khác, Whiting cũng có được những thứ bà cần. Bà chọn một số thiết bị của các nhà sản xuất châu Âu được trưng bày ở cuộc Triển lãm Bách niên3 năm 1876 ở Philadelphia và gửi thiết kế chi tiết tới các thợ thủ công ở New England để đặt làm số còn lại. Khi Whiting bắt đầu dạy vật lý vào mùa thu năm 1878, phòng thí nghiệm của bà được trang bị đầy đủ, với những thiết bị để nghiên cứu âm thanh, nhiệt, điện, và cơ học. Bà cũng có một bộ các máy chụp ảnh và các thiết bị quang học phức tạp, trong đó có nhiều máy quang phổ các loại.      Sarah Frances Whiting xem xương bàn tay của mình bằng huỳnh quang nghiệm trong phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Wellesley, khoảng 1896. Trên mặt bàn trước mặt bà là một ống Crookes được gắn trên giá và một cuộn Ruhmkorff để điều chỉnh điện áp.  Whiting là một giáo viên tận tâm. Bà viết giáo trình thiên văn học Daytime and Evening Exercises in Astronomy for Schools and Colleges4 (1912), cũng như nhiều bài viết về giáo dục khoa học, tất cả đều nằm trong những nỗ lực đào tạo thế hệ các nhà khoa học nữ tiếp theo. Bà cũng luôn cập nhật những tiến bộ mới nhất để dạy cho sinh viên. Bà từng gặp Thomas Edison và giới thiệu bóng đèn dây tóc của ông với cộng đồng Wellesley để thuyết phục hội đồng quản trị của trường đầu tư vào công nghệ của ông. Bà nghe giảng ở Đại học Berlin và Đại học Edinburgh và trao đổi trực tiếp hoặc qua thư từ với nhiều nhà khoa học Mỹ và châu Âu. Những chuyến đi và những lần gặp gỡ các nhà khoa học là một niềm tự hào đối với bà. Sau này bà hồi tưởng:    Tôi có mặt ở cuộc gặp của Hiệp hội Khoa học Anh5 năm 1881 khi nhiệt kế bức xạ của Langley được công bố, năm 1888 khi những khám phá của Hertz được thảo luận, rồi năm 1896 khi tia X của Röntgen đang là tâm điểm và Ramsey cho tôi một ống chứa chất helium ông ấy mới tìm ra. Ở Hiệp hội Khoa học Mỹ6, tôi có mặt năm 1901, khi Nichols tuyên bố chứng minh được tiên đoán của Maxwell về áp suất ánh sáng. […] Năm 1896, tôi được đặc cách mời đến thăm các phòng thí nghiệm của Dewar tại Viện Khoa học Hoàng gia ở London và chứng kiến tận mắt chiếc máy hóa lỏng khí đang hoạt động. Năm 1896, tôi còn thăm các phòng thí nghiệm của Onnes ở Đại học Leyden đúng vào tuần ông hóa lỏng thành công helium [7].    Bất hạnh thay, là phụ nữ làm việc trong một lĩnh vực thời đó gần như thuộc về nam giới, Whiting và các nhà khoa học nữ khác phải đối mặt với định kiến lớn và số cơ hội rất ít ỏi [8]. Gần về cuối sự nghiệp của mình, bà nghĩ lại về “trải nghiệm có phần căng thẳng khi phải thường xuyên có mặt ở những nơi một phụ nữ không được trông đợi, và làm những việc mà phụ nữ bình thường không làm [6].” Một số nhà khoa học có cách tiếp cận tiến bộ đối với sự hiện diện của các đồng nghiệp nữ. Ở London, Whiting gặp Nam tước Kelvin; trong một bài báo viết cho Science năm 1924, bà nhớ lại ấn tượng mạnh của mình khi ông “không hề ngạc nhiên hay cảnh giác” vì giới tính của bà [9]. Nhưng những người khác thì lo ngại về những điều có thể xảy đến với thế giới tiện nghi của họ nếu có thêm nhiều phụ nữ bước chân vào lĩnh vực của họ. Người ta kể rằng khi Whiting gặp William Crookes vào năm 1888, ông đã nói: “Cúc áo và bữa sáng sẽ ra sao nếu mọi phụ nữ đều biết rõ đến thế về máy quang phổ?” [10]      Một bức ảnh tia X, do Sarah Frances Whiting chụp năm 1896, cho thấy một cặp kính trong bao da và một cái gối cắm kim.    Có lẽ nhận xét của Crookes khiến Whiting buồn cười, vì bà quả thực biết rất nhiều về máy quang phổ. Bà hướng dẫn sinh viên làm thí nghiệm với quang phổ Mặt trời, quang phổ phát xạ của nhiều kim loại, quang phổ hấp thụ của diệp lục, và, trong môn Thiên văn học vật lý bà dạy, phân loại quang phổ sao [11]. Kiến thức đó cùng với xu hướng coi trọng thực nghiệm của bà đã dẫn đến thành công với tia X.     Röntgen và tia X     Tháng 11/1895, khi quan sát quang phổ tạo ra bởi các chùm tia electron trong một ống tia âm cực, Wilhelm Conrad Röntgen có một phát hiện quan trọng. Một bức xạ lạ phát ra từ ống đi xuyên qua các vật liệu rắn và để lại hình ảnh trên các tấm kính dùng để chụp ảnh. Sau khi dùng hóa chất để cố định những hình ảnh đó, ông dùng những tấm kính âm bản để in ra những bức ảnh giấy tiện cho việc sao chép và vận chuyển hơn. Mặc dù một số nhà khoa học khác đã để ý đến những hiện tượng tương tự, Röntgen là người đầu tiên tìm hiểu các tính chất vật lý của bức xạ đó, mà ông đặt tên là “tia X”, theo chữ cái thường biểu diễn các ẩn số trong toán học. Röntgen công bố khám phá của mình trong Tạp chí của Hội Vật lý – Y khoa Würzburg7 vào cuối năm đó; ban biên tập bỏ qua bài giảng tiền – xuất bản như một cách thừa nhận tầm quan trọng của bài báo.    Mặc dù Röntgen đăng bài ở một tạp chí tiếng Đức ít phổ biến, ông gửi một số bản báo và những tấm ảnh cho các đồng nghiệp. Tin về khám phá của ông bắt đầu xuất hiện trên báo chí tiếng Anh ngày 7/1/1896. Nhiều bài báo được đăng tiếp đó, đỉnh điểm là các bản dịch bài báo của Röntgen trên cả hai tạp chí Nature, ngày 14/1, và Science, ngày 14/2. Đặc biệt, tấm ảnh bàn tay đeo nhẫn cưới của Anna Bertha Ludwig, vợ Röntgen, còn tạo ra một cơn sốt.    Khả năng chụp ảnh những thứ không nhìn thấy được thu hút trí tưởng tượng của công chúng một cách chưa từng có đối với những công bố khoa học trước đó. Nó tạo cảm hứng cho bài hát, thơ, sách, và cả biểu tình. (Phải sau này, các nhà khoa học và các bác sỹ mới nhận ra những nguy cơ do tiếp xúc với tia X [12]) Các nhà vật lý nổi tiếng trên thế giới, cũng như khá nhiều nhà khoa học nghiệp dư, chạy đua để thực hiện lại những thí nghiệm của Röntgen. Năm 1926, một nghiên cứu sinh tại Đại học Davidson (bang Bắc Carolina) tuyên bố mình đã cùng với các bạn học bí mật thực hiện thành công một thí nghiệm tia X vào ngày 12/1/1896; tuy nhiên điều này không thể được chứng thực [13]. Những thí nghiệm được xác nhận thành công đầu tiên ở Mỹ có sự hỗ trợ của các trường đại học nghiên cứu lớn: Arthur Wright tại Đại học Yale, ngày 27/1; John Trowbridge tại Đại học Harvard, ngày 29/1; Edwin Frost tại Đại học Dartmouth, ngày 3/2; Mihajlo Pupin tại Đại học Columbia, ngày 4/2; Arthur Goodspeed tại Đại học Pennsylvania, ngày 5/2; và William Magie tại Đại học Princeton, ngày 6/2 [14].     Thí nghiệm tia X của Whiting     Ngày 7/2, Whiting bước vào danh sách tinh hoa đó. Có vẻ như bà nghe đến tia X lần đầu tiên nhờ tờ Boston Daily Advertiser vào ngày 14/1. Bài báo đó mô tả các thiết bị thí nghiệm của Röntgen, gồm một ống Crookes, một cuộn Ruhmkorff, và một ắc-quy. Tất cả đều sẵn có ở phòng thí nghiệm của Wellesley, cùng với các tấm kính, giá đỡ, hóa chất chụp ảnh.      Đồng nghiệp Mabel Chase của Sarah Frances Whiting đặt tay trên một tấm kính ảnh và bên dưới một ống Crookes để chụp xương bàn tay của bà, phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Wellesley, khoảng 1896.    Whiting được hỗ trợ bởi một đồng nghiệp giảng viên vật lý là Mabel Augusta Chase, người sau này có một sự nghiệp lâu dài tại Đại học Mount Holyoke. Theo phương pháp dạy học của Wellesley, hai giảng viên làm việc cùng ít nhất hai sinh viên: Cannon, người quay lại học thêm một số lớp trước khi tiếp tục học thiên văn tại Đại học Radcliffe và Harvard, và Grace Evangeline Davis, khóa 1898, người sau này trở thành một nhà khí tượng nổi tiếng và dạy vật lý tại Wellesley từ năm 1899 đến năm 1936. Bốn người phụ nữ cùng làm thí nghiệm theo một số cách khác nhau – các vật khác nhau, các thiết bị khác nhau, các khoảng thời gian khác nhau – để tạo ra ít nhất 15 bức “ảnh bóng”, cách Whiting gọi những hình ảnh tia X trên những tấm kính.    Ngoài một số ghi chú trên mặt sau của một số tấm ảnh được in từ những tấm kính đó, Whiting không lưu lại ghi chép nào về những thí nghiệm tia X của mình. Tuy nhiên, ai đó đã thông báo cho tờ Boston Daily Advertiser, và họ đưa tin vào ngày 8/2. Tờ báo còn phỏng vấn Whiting và đăng thành một bài dài trong số ngày 11/2. Trong bài báo đó, bà giải thích tỉ mỉ các kết quả thí nghiệm của mình, về cách sử dụng các nguồn điện, thời gian phơi, và các vật liệu khác nhau để cải thiện chất lượng của hình ảnh và tìm hiểu mức độ xuyên thấu của bức xạ đối với những vật liệu có khối lượng riêng khác nhau.    Một bức thư Cannon viết cho người em họ Ned Jump cho biết thêm về những thí nghiệm đầu tiên của họ. Trên mặt sau của một trang vở bị xé ra, Cannon mô tả chi tiết công việc họ đã làm:    Sáng nay, bọn chị chụp một bức ảnh bằng cái gọi là quy trình Röntgen, nói cách khác là bằng tia âm cực. Hình ảnh không sáng rõ lắm, nhưng điều quan trọng là nó tồn tại. […] Cô Whiting đã dự định làm, vì thế quyết định làm ngay. Thế là bọn chị sắp xếp rất đơn giản. Một dòng điện từ bốn chiếc pin chạy qua một cuộn Ruhmkorff nối với một ống Crookes. Tất cả được để trên một cái bàn, và ngay bên dưới cực âm của ống, bọn chị để một cái giá đỡ nằm ngang giữ khay kính. Phía trên khay, bọn chị để một cái kìm, một cái móc treo tranh, một cái chìa khóa. Bọn chị đóng mạch điện, và để tất cả ở nguyên vị trí đó trong một giờ mười lăm phút. Sau đó cô Chase và chị vào phòng tối để rửa ảnh. Chị không biết có ra được hình ảnh gì không! Chị có chút phấn khích, chắc em cũng hình dung được. Ban đầu có vẻ như không có gì cả. Chị bọc chặt tấm kính để phòng hơi nước. Khi chị nhìn lại thì ô kìa, có một vệt mờ, “Là cái đinh móc,” bọn chị cùng thốt lên, và đúng là nó, rõ ràng, không thể nhầm được. Cái kìm cũng xuất hiện, nhưng cái chìa khóa thì không [15].    Whiting ghi tên của mình và Chase vào một tấm ảnh thí nghiệm cùng với mô tả như sau: “Móc treo tranh và kìm trong hộp gỗ. Lần thử đầu tiên. Phơi sáng chưa đủ, nhưng cho thấy có thể thành công với các thiết bị được dùng, tức là ống Crookes [bà vẽ kèm sơ đồ của ống] để làm hiện ra bóng của phân tử. Thực hiện với cuộn 6 inch.” Cuộn dây trong câu cuối là cuộn Ruhmkorff đường kính 6 inch trên bàn của Whiting.    Dù thiếu phơi sáng, đó vẫn là một kết quả gây hồi hộp và giúp bốn người phụ nữ hiểu rõ hơn cách thực hiện. Bước tiếp theo được tóm tắt trong bức thư của Cannon: “Trong lúc chị viết cho em, bọn chị đang phơi sáng một tấm kính khác. Đó là một sự phơi sáng kỳ quặc chưa từng thấy. Một hộp các-tông đóng kín chứa nhiều đồ kim loại khác nhau được gắn vào giá đỡ với khay kính – tất cả được dựng trước ống Crookes, dòng điện chạy xẹt xẹt. Bọn chị sẽ để như thế hai giờ [15]”.    Vài giờ sau, một Cannon mệt rũ viết thêm một trang cho bức thư. Bà viết: “Chị thức để rửa bức ảnh thứ hai và có được một âm bản tốt. Mọi thứ bên trong hộp đều rõ, nhưng không có dấu vết gì của cái hộp hay của khay kính. Chị mệt quá, không thể viết thêm nữa” [15].    Họ in ra một tấm ảnh từ âm bản đó. Tuy các đồ vật – một cái nhẫn, một cái móc, và hai thứ khác không rõ là gì – còn mờ, nhưng bức ảnh đã khá hơn lần trước. Whiting ghi chú: “Đồ vật kim loại trong hộp gỗ. Bức ảnh thứ hai được chụp ngay sau khi báo chí đưa tin về tia X.” Sau đó, Whiting và Chase thực hiện một thí nghiệm thứ ba, lần này với các khối vật liệu khác nhau, gồm thủy tinh, thạch anh, chất dẻo, phèn, tinh thể khoáng, và muối, để đánh giá độ cản tia X của chúng. Vật liệu khác nhau khiến cho khó xác định được thời gian phơi sáng; bức ảnh không cho thấy sự khác biệt rõ ràng nào giữa các khối, và Whiting ghi chú ở mặt sau: “Một bức ảnh hỏng”.      Sarah Frances Whiting (thứ 4 từ trái sang) và đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm.  Những ghi chú của Whiting cho thấy bà muốn theo đuổi và hoàn thiện những thí nghiệm của mình. Với hiểu biết thu được từ ba lần thử đầu tiên, bà tạo thêm những bức ảnh khác. Trong nhiều bức, bà sử dụng các vật dụng của phòng thí nghiệm, như tuốc-nơ-vít, và những chiếc hộp chứa chúng biến mất như một phép màu khi để trước bức xạ. Trong một bức ảnh, bà dùng một số đồ trang sức, có thể của chính bà hoặc của đồng nghiệp, điều này cực kỳ tương phản với những thứ mà các nhà khoa học nam giới sử dụng. Trong những bức ảnh khác có một cặp kính kẹp mũi và một cái gối cắm kim (hình ở đầu bài), dụng cụ, một bàn tay đeo nhẫn và một bàn tay không đao nhẫn.     Di sản của Whiting     Báo chí Boston và những nơi khác ca tụng thành công của Whiting bên cạnh thành công của các đồng nghiệp nam giới. Nhưng một số người vẫn không thể kiềm chế việc nhắc đến giới tính của bà với một giọng bề trên. Ngày 16/2, tờ Boston Daily Globe dẫn lời một vị giáo sư giấu tên: “Biết đâu mấy phụ nữ ở Wellesley sẽ phám khá ra một loại tia hoàn toàn mới – tia nữ tính, hay đại loại thế. Hoặc họ sẽ phát hiện ra là tia Röntgen có hai thành phần, đực và cái. Mặc dù chưa từng có một phát hiện khoa học vĩ đại nào được phụ nữ tìm ra, nó không có nghĩa là sẽ không bao giờ có, và mọi sinh viên khoa học đều vui mừng khi thấy phụ nữ quan tâm”.    Nhưng Whiting biết những thí nghiệm tia X của mình có ý nghĩa như thế nào đối với giáo dục dành cho nữ giới. Trong một bài báo ngày 11/2 trên tờ Boston Daily Advertiser, bà nói “trường đại học cho phụ nữ quan tâm và hiểu biết về vấn đề không kém các trường cho đàn ông”. Một số bài báo đăng trên các tờ báo ở Boston và tờ New York Tribune cho thấy bà đã có một số bài giảng về tia X tại Wellesley trong tháng hai, tháng ba và tháng tư.    Cũng như các đồng nghiệp ở Wellesley, Whiting tích cực hoạt động trong các cộng đồng đan xen của phụ nữ Boston gồm trí thức, nhà văn, họa sỹ, người vận động bãi nô, người vận động quyền bầu cử phổ thông, và những người cải cách. Bà trở nên nổi tiếng trong những cộng đồng phụ nữ này sau thành công với tia X. Những bức thư được lưu trữ tại Đại học Wellesley cho thấy nhà cải cách Mary Livermore từng mời Whiting đến nói chuyện tại Câu lạc bộ Boston’s Fortnightly, một nhóm phụ nữ đấu tranh cho công bằng xã hội thường xuyên tụ họp nghe nói chuyện về các chủ đề khác nhau. Ngày 14/3, tờ báo của hội, The Woman’s Column, viết về thành công của bài giảng: “Phòng chật kín người nghe Giáo sư Whiting, Đại học Wellesley, nói về ‘Chụp ảnh những thứ vô hình’ (tia Röntgen). Nhiều người còn không tìm được chỗ để đứng”.    Những thí nghiệm tia X của Whiting nhanh chóng được đưa vào chương trình học tại Wellesley. Trong khi Whiting nghỉ dạy năm học 1896-1897 [để nghiên cứu], giảng viên thay thế bà đảm nhiệm môn học; trong vở ghi, hiện còn trong lưu trữ của trường, của Florence Crofut, khóa 1897, có nhiều chỗ đề cập đến “tia Röntgen”. Nhiều năm sau, Lucy Wilson, tốt nghiệp năm 1909 và là người đầu tiên nhận vị trí Giáo sư Vật lý Sarah Frances Whiting vào năm 1945, nhớ lại khi Whiting “cho chúng tôi một trải nghiệm không thể nào quên khi bà cung cấp các dụng cụ thí nghiệm để chúng tôi thực hiện lại thí nghiệm khám phá tia X của Röntgen […] và chúng tôi chụp được ảnh của xương của mình một cách rõ ràng” [16].    Whiting nhớ về nỗ lực tập thể của những người phụ nữ tham gia thí nghiệm với một tình cảm trìu mến. Trên một tấm bưu thiếp Giáng sinh gửi cho Cannon vào khoảng giữa 1914 và 1926, bà nhắc lại một loạt kỷ niệm với người học trò cũ, trong đó có thí nghiệm với tia X [17]. Cannon có lẽ cũng có cùng cảm xúc; trong bài cáo phó về Whiting, đăng ngày 4/11/1927 trên Science, bà viết: “Những sinh viên vật lý ngày đó sẽ luôn nhớ đến nhiệt huyết của cô Whiting khi cô nhanh chóng chuẩn bị cái ống Crookes cũ, và niềm vui khi cô tạo được một trong những bức ảnh đầu tiên của nước Mỹ chụp tiền xu ở trong ví và xương ở trong cơ thể”.    Whiting nghỉ hưu năm 1916, nhưng vẫn tham gia vào các hoạt động ở Wellesley cho tới khi qua đời năm 1927. Mặc dù những thí nghiệm về tia X của bà được nhắc đến trong cáo phó của Cannon và một số học bổng ngày nay, chi tiết và những bức ảnh bằng chứng của chúng đến giờ mới được công bố. Gần như chắc chắn là những thí nghiệm tia X thành công đầu tiên ở một trường đại học bậc cử nhân, chúng có thể thành công là nhờ tâm huyết của Whiting đối với phương pháp giảng dạy bằng thí nghiệm, cũng như sự quan tâm của bà đối với những tiến bộ khoa học. Là những thí nghiệm đầu tiên như vậy được thực hiện bởi các giảng viên và sinh viên nữ, chúng minh họa cho vai trò tiên phong của Whiting và Đại học Wellesley trong việc giảng dạy khoa học và truyền bá tri thức cho phụ nữ ở Mỹ. Đó là một di sản được tiếp nối bởi các học trò của Whiting, mà ngoài Cannon, Davis, và Wilson còn có Isabelle Stone, khóa 1890, tiến sỹ Vật lý nữ đầu tiên của Mỹ, và Louise Sherwood McDowell, khóa 1898, phụ nữ Mỹ đầu tiên làm việc tại Cục Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ (nay là NIST). Từ những phòng thí nghiệm của mình ở Wellesley, Whiting giúp định hình vai trò của phụ nữ trong khoa học cho nhiều thập kỷ tiếp theo.□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: Physics Today 73, 8, 26 (2020); doi: 10.1063/PT.3.4545  ——–  * Tác giả: John S. Cameron là giáo sư danh dự ngành sinh học, Jacqueline Marie Musacchio là giáo sư ngành lịch sử nghệ thuật tại Đại học Wellesley, Massachusetts.  ——–  Chú thích của người dịch  1 Tạm dịch; nguyên văn: undergraduate laboratory. Phân biệt với phòng thí nghiệm nghiên cứu ở các trường có đào tạo sau đại học (graduate). Đại học Wellesley chỉ đào tạo ở bậc cử nhân (undergraduate). – ND  2 Trước khi có phim máy ảnh, người ta dùng những tấm kính tráng muối bạc. – ND  3 Centennial Exhibition, triển lãm quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày ký Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. – ND.  4 Tạm dịch: Bài tập thiên văn học ban ngày và ban đêm cho trường phổ thông và đại học.  5 “British Association” [for the Advancement of Science].  6 “American Association” [for the Advancement of Science].  7 Sitzungsberichte der Würzburger Physikalischen-Medicinischen Gesellschaft.  ——-  Tài liệu tham khảo     1. J. Glasscock, ed., Wellesley College 1875–1975: A Century of Women, Wellesley College (1975); H. L. Horowitz, Alma Mater: Design and Experience in the Women’s Colleges from Their Nineteenth-Century Beginnings to the 1930s, Knopf (1984); P. A. Palmieri, In Adamless Eden: The Community of Women Faculty at Wellesley, Yale U. Press (1995).  2. S. F. Whiting, “Department of physics,” Wellesley College News, 22 February 1911, p. 6.  3. M. W. Rossiter, Women Scientists in America: Struggles and Strategies to 1940, Johns Hopkins U. Press (1982), pp. 25–26.  4. Ref. 2; S. F. Whiting, “The experiences of a woman physicist,” Wellesley College News, 9 January 1913, p. 1; S. F. Whiting, “History of the Physics Department of Wellesley College from 1878 to 1912,” box 2, Physics Department Papers, Wellesley College Archives; A. J. Cannon, Pop. Astron. 35, 539 (1927); A. J. Cannon, Science 66, 417 (1927); F. A. Stahl, Am. J. Phys. 73, 1009 (2005).  5. K. Hentschel, Mapping the Spectrum: Techniques of Visual Representation in Research and Teaching, Oxford U. Press (2002); M. R. S. Creese, Ladies in the Laboratory? American and British Women in Science, 1800–1900: A Survey of Their Contributions to Research, Scarecrow Press (1998); C. R. Sherman, in The Early Years of Art History in the United States: Notes and Essays on Departments, Teaching, and Scholars, C. H. Smyth, P. M. Lukehart, eds., Princeton U. Press (1993), p. 151.  6. Ref. 4, S. F. Whiting, “The experiences of a woman physicist,” p. 3.  7. Ref. 4, S. F. Whiting, “History of the Physics Department of Wellesley College from 1878 to 1912.”  8. M. W. Rossiter, in The Cambridge History of Science, vol. 5, M. J. Nye, ed., Cambridge U. Press (2002), p. 54.  9. S. F. Whiting, Science 60, 149 (1924), p. 150.  10. Ref. 4, S. F. Whiting, “The experiences of a woman physicist,” p. 4.  11. Ref. 5, K. Hentschel, p. 385.  12. R. Herzig, Am. Q. 53, 563 (2001).  13. W. H. Sprunt III, N. C. Med. J. 18, 269 (1957); “X-Ray: Davidson College, 1896–1939 and 1940–2010,” Davidsoniana file, Davidson College Archives.  14. R. Brecher, E. Brecher, The Rays: A History of Radiology in the United States and Canada, Robert E. Krieger (1969); P. K. Spiegel, Am. J. Roentgenol. 164, 241 (1995).  15. A. J. Cannon to N. Jump (7 February 1896), box 1, Personal Correspondence, Papers of Annie Jump Cannon, 1863–1978, Harvard University Archives.  16. S. S. Hinerfeld, ed., Wellesley After-Images, Wellesley College Club of Los Angeles (1974), p. 4.  17. S. F. Whiting to A. J. Cannon (no date), Cannon papers, in ref. 15.      Author                John S. Cameron - Jacqueline Marie Musacchio        
__label__tiasang “Sát thủ” của vi trùng      Các nhà khoa học thuộc Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã chế tạo một loại sơn có thể giết chết các loại vi trùng truyền bệnh. Sản phẩm này khi được quét trên tường hoặc bất cứ vật dụng nào kể cả vải sợi đều để lại một bề mặt đầy gai góc, có thể đâm thủng và giết chết các vi khuẩn gây bệnh.    Khác với các sản phẩm diệt khuẩn khác như xà phòng, bọt biển… vốn chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn lây lan qua nguồn nước, gây hại môi trường và tác dụng diệt khuẩn sẽ giảm theo thời gian, loại sơn mới có thể tiêu diệt cả các loại vi khuẩn lây truyền trong không khí do ho hoặc hắt hơi gây ra. Thử nghiệm cho thấy 99% vi khuẩn tiếp xúc với bề mặt được quét bằng lớp sơn trên đã chết.  H.Y (Discovery)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau 55 năm, lỗ đen cũng lên tiếng: “Roger, thưa ngài Penrose”      Thế kỷ 20 là một thế kỷ có lẽ là đặc biệt nhất và quan trọng nhất trong suốt lịch sử phát triển của vật lý học với sự ra đời của hai lý thuyết nền tảng cho Vật lý hiện đại là Cơ học lượng tử và Thuyết tương đối rộng.      Giáo sư Roger Penrose đang trình bày biểu đồ về lý thuyết xoắn tại trường đại học Oxford, Anh vào năm 1980. Nguồn: Anthony Howarth/Science Photo Library  Thành công rực rỡ của cơ học lượng tử gắn liền với các tên tuổi lớn như M. Planck, W. Heisenberg, E. Schrodinger, W. Pauli, P. Dirac, N. Bohr,… Một ví dụ có thể dễ dàng liệt kê ra đây, đó là chiếc máy tính mà tôi viết những dòng chữ này là chính là một sản phẩm hữu hình của Cơ học lượng tử.    Đối với Thuyết tương đối rộng thì ngược lại, mặc dù những kết quả của nó đã là nền tảng cho các nghiên cứu về thế giới vật chất cũng như vũ trụ trong suốt nhiều thập kỷ qua. Chỉ vài năm gần đây, chính xác là sau 100 năm, Thuyết tương đối rộng mới thật sự được kiểm chứng một cách chắc chắn nhất sóng hấp dẫn (gravitational waves) lần đầu tiên được phát hiện vào tháng 9/2015 bởi dự án LIGO của Mỹ (hợp tác với dự án Virgo của châu Âu). Sóng hấp dẫn chính là một trong những tiên đoán quan trọng bậc nhất của Thuyết tương đối rộng do chính Einstein đưa ra. Trong phát hiện của LIGO thì sóng hấp dẫn được sinh ra từ quá trình hai lỗ đen sáp nhập vào nhau. Tháng 4/2019, hình ảnh về bóng (shadow) của lỗ đen siêu nặng (supermassive black hole) nằm tại tâm thiên hà M87 đã được dự án Kính thiên văn Chân trời Sự kiện (Event Horizon Telescope – EHT) chính thức công bố. Với những kết quả rất quan trọng thu được từ hai dự án LIGO và EHT, sự tồn tại của lỗ đen trong vũ trụ cũng đã được khẳng định một cách rõ ràng. Giờ đây, chúng không còn được coi như là một nghiệm toán học đặc biệt do các nhà vật lý tưởng tượng ra từ các phương trình trường của thuyết tương đối rộng. Và giờ chính là lúc để chúng ta quay ngược lại lịch sử để gọi tên những nhà vật lý có những nghiên cứu mang tính cách mạng trong lĩnh vực vật lý hấp dẫn nói chung và vật lý lỗ đen nói riêng. Có những nhà vật lý thật không may đã ra đi trước khi được giải Nobel gọi tên như nhà vật lý thiên tài người Anh S. Hawking, mất năm 2018.      Trong những năm 1960, Roger Penrose đã có những đóng góp nền tảng cho sự hiểu biết về Thuyết tương đối rộng. Có thể nói rằng ông là người có những đóng góp nổi bật cho sự hiểu biết về Thuyết tương đối rộng chỉ sau Einstein. Các ý tưởng của Penrose, cùng với những nỗ lực sau này của Stephen Hawking và những người khác, đã dẫn đến những hiểu biết định tính chúng ta có được ngày hôm nay về sự suy sụp hấp dẫn cũng như sự hình thành lỗ đen. Giáo sư Edward Witten      Tranh luận về các điểm kì dị của lỗ đen Schwarzschild     Ngày 18/11/1915, A. Einstein chính thức hoàn thành thuyết tương đối rộng, một lý thuyết nền tảng, góp phần quan trọng mở ra một kỷ nguyên mới cho vật lý hiện đại. Chỉ chưa đầy hai tháng sau khi bài báo của Einstein được xuất bản, ngày 13/1/1916, K. Schwarzschild đã công bố nghiệm chính xác đầu tiên của phương trình trường Einstein mô tả không-thời gian cong xung quanh khối lượng tĩnh, đối xứng cầu. Sau này, nghiệm này được làm sáng tỏ ý nghĩa vật lý và được gọi là hố đen Schwarzschild. Về mặt toán học, nghiệm lỗ đen Schwarzschild chứa hai điểm đặc biệt: r = 0 và r =  rs = 2GM. Điểm r = 0 được gọi là điểm kì dị thật sự (true singularity), trong khi đó điểm r = rs được gọi là điểm kì dị Schwarzschild (Schwarzschild singularity). Các nghiên cứu sau này đã chỉ ra điểm kì dị Schwarzschild có thể biến mất trong hệ tọa độ thích hợp, như hệ tọa độ Eddington-Finkelstein hay hệ tọa độ Kruskal. Chính các điểm kì dị này đã tạo nên những tranh luận của các nhà vật lý hàng đầu trong thời kì 1920-1960, trong đó có cả Einstein [1,2].    Những bài báo của Friedmann và Lemaitre trong thập niên 1930 chỉ ra, kì dị của vũ trụ tồn tại trong quá khứ nếu vũ trụ đang giãn nở tại thời điểm hiện tại. Câu hỏi được đặt ra đó là liệu có kì dị trong các mô hình hấp dẫn co lại không ? Năm 1931, S. Chandrasekhar đã tìm ra giới hạn trên về khối lượng để sao lùn trắng duy trì trạng thái cân bằng. Điều đó cũng chỉ ra nếu ngôi sao có khối lượng lớn hơn thì nó chắc chắn sẽ suy sụp. Năm 1939, J. R. Oppenheimer và G. M. Volkoff đã xem xét các nhân của sao neutron khổng lồ bằng việc kết hợp phương trình trạng thái Fermi cho khí lạnh và thuyết tương đối rộng. Họ đã tìm ra một giới hạn khối lượng khác để duy trì trạng thái cân bằng và đưa ra kết luận rằng một ngôi sao neutron có khối lượng đủ lớn thì sẽ chắc chắn co lại, không bao giờ quay lại trạng thái cân bằng. Điều này đã thúc đẩy Oppenheimer và Snyder xem xét các nghiệm của phương trình trường Einstein ngay trong năm 1939 và họ chứng minh được nghiệm Schwarzschild dưới đối xứng cầu thật sự có kì dị. Một kết quả quan trọng không kém cũng được Einstein đưa ra vào năm 1939 đó là kì dị Schwarzschild không thể diễn tả một cách vật lý được. Năm 1955, A. K. Raychadhuri đưa ra một định lý đầu tiên về kì dị. Các kết quả nghiên cứu của Raychadhuri sau này trở thành nền tảng của các nghiên cứu liên quan tới kì dị, ngoại trừ bài báo năm 1965 của Penrose (tuy nhiên các nghiên cứu sau này về kì dị của Penrose cùng với Hawking đều kể đến nghiên cứu của Raychadhuri). Năm 1963, hai nhà vật lý Liên Xô, E. Lifshitz và I. Khalatnikov, đã xem xét lại các tính toán của Oppenheimer và Snyder và kết luận rằng các kết quả đó không phản ánh những thứ thật sự xảy ra trong thế giới thật. Điều đó là do các tính toán của Oppenheimer và Snyder dựa trên giả thuyết về đối xứng cầu. Chính điều này đã thúc đẩy Penrose suy nghĩ một kịch bản về suy sụp hấp dẫn khi không tính đến đối xứng cầu.    Bài báo PRL năm 1965 của Penrose     Roger Penrose, nhà vật lý toán, giáo sư toán học Đại học Oxford, sinh ngày 8/8/1931 tại Colchester, Essex, nước Anh. Ông hoàn thành luận án tiến sĩ vào năm 1958 tại Đại học Cambridge với chủ đề “các phương pháp tensor trong hình học đại số” dưới sự hướng dẫn của giáo sư về hình học và đại số, J. A. Todd. Trước giải Nobel về Vật lý năm 2020, Penrose đã giành được rất nhiều giải thưởng quan trọng. Một trong số đó là giải thưởng Wolf năm 1988 được trao cho ông cùng với đồng nghiệp của ông, nhà vật lý S. Hawking, cho việc khám phá ra các định lý kì dị sau này mang tên Penrose-Hawking. Ông được phong tước hiệp sĩ vào năm 1994.    Năm 1963, nhà thiên văn người Hà Lan, M. Schmidt, khám phá ra sự tồn tại của quasar (chuẩn tinh) QSO 3C 273. Khám phá này sau đó đã hút được sự chú ý của nhiều nhà thiên văn khác. Họ thấy rằng các quasar thực tế nằm ở tâm ở các thiên hà xa. Năm 1963, F. Hoyle và W. A. Fowler cho rằng các quasar này có thể là các ngôi sao siêu nặng, cỡ vài triệu lần khối lượng Mặt trời. Tuy nhiên, các nhà vật lý sớm nhận ra rằng các ngôi sao siêu nặng kiểu này nếu có tồn tại thì cũng rất không ổn định, có thời gian sống ngắn, và do đó không thể lý giải được các quan sát về quasar. Về sau, các nhà vật lý cũng như các nhà thiên văn học, trong đó nổi bật là E. E. Salpeter, Y. B. Zeldovich, I. D. Novikov, D. Lynden-Bell, M. Rees, thấy các lỗ đen siêu nặng chính là lời giải thích phù hợp nhất cho quasar [các nghiên cứu của hai nhóm thiên văn, một dẫn đầu bởi Reinhard Genzel (Đức), một dẫn đầu bởi Andrea Ghez (Mỹ), những người chia nhau nửa giải thưởng Nobel năm 2020 về Vật lý, chính là về việc xác nhận sự tồn tại của lỗ đen siêu nặng Sgr A* tại tâm Dải Ngân Hà – Milky Way].    Khám phá của Schmidt đã khiến cho J. A. Wheeler, nhà vật lý người Mỹ, xem xét lại vật lý của quá trình suy sụp hấp dẫn. Wheeler chính là người đã giúp thuật ngữ “lỗ đen” (đưa ra lần đầu bởi R. H. Dicke vào năm 1960) trở nên phổ biến trong cộng đồng vật lý quốc tế. Wheeler đã thảo luận vấn đề này với Penrose và điều này khiến Penrose bắt đầu suy nghĩ về suy sụp hấp dẫn vào cuối năm 1964. Penrose đã biết được điểm yếu trong chứng minh của Oppenheimer và Snyder, đó chính là giả thuyết về đối xứng cầu. Penrose cũng nhận thấy rằng mặc dù nghiệm lỗ đen quay do R. Kerr tìm ra năm 1963 chứa kì dị nhưng tính đối xứng vẫn tồn tại trong nó. Do đó, Penrose thấy rằng nghiệm Kerr không mô tả tình huống vật lý tổng quát. Điều đó thúc đẩy Penrose đi đến một quyết định mang tính đột phá: nghiên cứu sự suy sụp hấp dẫn không cần tới các giả thuyết về đối xứng mà chỉ cần tới giả thuyết vật chất suy sụp có mật độ năng lượng dương.    Để làm được điều đó, Penrose đã phát minh ra các công cụ toán học và sử dụng tới topo, một lĩnh vực  toán học. Chìa khóa trong chứng minh của Penrose là việc đưa vào khái niệm bề mặt bẫy (trapped surface). Bề mặt bẫy là một bề mặt đóng hai chiều có tính chất đó là tất cả các đường ánh sáng vuông góc với bề mặt sẽ hội tụ khi hướng về chiều tương lai. Bề mặt này có tính chất ngược lại với bề mặt cầu trong không gian phẳng, ở đó các đường ánh sáng hướng ra ngoài sẽ phân kỳ. Để dễ hình dung, ta lấy ví dụ minh hoạ đơn giản như sau [3]: nếu ta đặt các bóng điện trên bề mặt bẫy thì tất cả các tia sáng phát ra từ các bóng điện này sẽ hội tụ, thay vì lan tỏa ra không gian như các bóng điện ở môi trường bình thường, do lực hấp dẫn mạnh bên trong bề mặt bẫy.    Bề mặt bẫy có thể dễ dàng tìm thấy trong không-thời gian Schwarzschild có đối xứng cầu. Trong trường hợp này, bất kỳ mặt cầu nào có bán kính nhỏ hơn bán kính Schwarzschild, rs = 2GM, đều có thể coi là bề mặt bẫy. Bán kính Schwarzschild chính là nơi chân trời sự kiện (event horizon) của lỗ đen Schwarzschild xuất hiện. Bên trong chân trời sự kiện, hai tọa độ thời gian t và không gian r đổi vai trò cho nhau, nghĩa là tọa độ t giờ đóng vai trò như tọa độ r và ngược lại tọa độ r đóng vai trò như tọa độ t. Do đó, vật chất bên trong chân trời sự kiện không thể thoát ra ngoài chân trời sự kiện vì điều đó đồng nghĩa với việc quay ngược lại thời gian. Thú vị hơn, vật chất bên trong chân trời sự kiện sẽ tiếp tục tiến vào điểm kì dị, nơi mà thời gian kết thúc. Quá trình này được mô tả một cách đơn giản như hình 2.      Hình 2: Sơ đồ mô tả bên trong lỗ đen. Bên trong chân trời sự kiện (đường màu đỏ), toạ độ r đóng vai trò như thời gian. Thời gian kết thúc tại điểm kì dị (chấm xanh dương). Nguồn: Bản thông báo chi tiết của Hội đồng giải thưởng Nobel 2020  Ta có thể hình dung bề mặt bẫy có vai trò như chân trời sự kiện của lỗ đen Schwarzschild. Bề mặt bẫy cũng được tìm thấy trong trường hợp hố đen quay (lỗ đen Kerr). Thực tế, bề mặt bẫy tồn tại bên trong lỗ đen mà không phụ thuộc vào việc nghiệm lỗ đen bị nhiễu động ra sao cũng như không phụ thuộc vào các giả thuyết về đối xứng được dùng để tìm ra nghiệm lỗ đen. Sau khi phân tích sự ưu việt của ý tưởng bề mặt bẫy, Penrose đã tiến hành mở rộng nghiên cứu và chứng minh được một khi bề mặt bẫy được hình thành thì không thể ngăn được quá trình suy sụp hấp dẫn về điểm kì dị trong khuôn khổ của Thuyết tương đối rộng với giả thuyết mật độ năng lượng dương. Chứng minh này có tính tổng quát vì nó đã loại bỏ các giả thuyết về đối xứng cầu [4]. Nó rất phù hợp cho việc giải thích các quá trình suy sụp hấp dẫn xảy ra trong thực tế, ví dụ với sự suy sụp hấp dẫn của các ngôi sao nặng.      Hình 3: Giản đồ dựa trên bài báo năm 1965 của Penrose mô tả sự suy sụp của vật chất (của ngôi sao) bên trong lỗ đen. Trên bề mặt bẫy (đường tròn màu trắng) tất cả các nón ánh sáng đều được hướng vào trong và sự hình thành điểm kì dị là không thể tránh khỏi. Các giải thích thêm về giản đồ được nêu ở mục *  cuối bài viết. Nguồn: Bản thông báo chi tiết của Hội đồng giải thưởng Nobel 2020    Lời kết     Giải Nobel Vật lý năm 2020 là giải Nobel đầu tiên trao cho một công trình nghiên cứu thuần túy lý thuyết về hố đen. Penrose là người đầu tiên có được vinh dự này, sau 55 năm chờ đợi, kể từ thời điểm ông công bố bài báo đột phá về kì dị của lỗ đen trên tạp chí Physical Review Letters của Hội Vật lý Mỹ. Những lời nhận xét của Edward Witten [5], nhà vật lý đầu tiên được giải thưởng toán học danh giá Field năm 1990, giáo sư tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, Mỹ, đã nêu bật tầm quan trọng của những nghiên cứu về hố đen của Penrose: “Trong những năm 1960, Roger Penrose đã có những đóng góp nền tảng cho sự hiểu biết về thuyết tương đối rộng. Có thể nói rằng ông là người có những đóng góp nổi bật cho sự hiểu biết về thuyết tương đối rộng chỉ sau Einstein. Các ý tưởng của Penrose, cùng với những nỗ lực sau này của Stephen Hawking và những người khác, đã dẫn đến những hiểu biết định tính chúng ta có được ngày hôm nay về sự suy sụp hấp dẫn cũng như sự hình thành lỗ đen”.    Tài liệu tham khảo:  Bài viết dựa trên hai tài liệu tham khảo chính sau:  [1] Bản thông báo chi tiết của Hội đồng giải thưởng Nobel 2020 có thể tải về tại địa chỉ sau đây: https://www.nobelprize.org/prizes/physics/2020/advanced-information  [2] J. M. M. Senovilla and D. Garfinkle, The 1965 Penrose singularity theorem, Class. Quant. Grav. 32, 124008 (2015).  Ngoài ra nó còn dựa trên các tài liệu sau:  [3] M. Schirber, Nobel Prize: Facing the Reality of Black Holes, Physics 13, 158 (2020) https://physics.aps.org/articles/v13/158  [4] R. Penrose, Gravitational collapse and space-time singularities, Physical Review Letters 14, 57 (1965).  [5] Nguyên văn lời của GS Edward Witten: “In the 1960s, Roger Penrose made fundamental contributions to the understanding of classical General Relativity. Arguably, he contributed more to the understanding of classical General Relativity than anyone since Einstein. Penrose’s ideas, with later elaborations by Stephen Hawking and others, led to the qualitative understanding that we have today of gravitational collapse and the formation of a black hole.” https://www.ias.edu/news/2020/nobel-prize-physics     *: Một chút giải thích thêm về giản đồ trong hình 3. Do thời gian t bên trong hố đen bây giờ có vai trò như r nên ta thấy điểm kì dị được kéo dài thành đường màu xanh dương theo trục thời gian t của người quan sát bên ngoài lỗ đen. Khi vật chất bồi thêm vào từ phía vỏ của ngôi sao vào trong lỗ đen (được hình thành trước đó từ phần lõi của ngôi sao) thì bán kính chân trời sự kiện của hố đen được tăng lên do độ lớn của nó tỉ lệ thuận với khối lượng vật chất bên trong lỗ đen (xem công thức bán kính Schwarzschild nêu bên trên). Điều đó giải thích tại sao đường màu đỏ mô tả chân trời sự kiện lại ngày càng phình to theo trục thời gian t của người quan sát bên ngoài lỗ đen.  —-  *Tiêu đề: Trong liên lạc điện đàm, bên thu nhận thông tin thường nói “Roger” để xác nhận với bên gửi thông tin rằng mình đã nhận được thông tin.    Author                Đỗ Quốc Tuấn        
__label__tiasang Sau bánh phở là mặt hàng nào có chất biến đổi gen?      Các phương tiện truyền thông Nhật Bản vừa đồng loạt đưa tin phát hiện chất biến đổi gen (GMO) trong bánh phở làm từ gạo của Công ty cổ phần Thực phẩm (CPTP) Bích Chi, có trụ sở tại thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (Vietnam.net,17/11/2011). Cơ quan chức năng của Nhật Bản còn cho biết chất biến đổi gen đó là gen Bt (Bacillus thuringiensis).       Ngay sau khi nhận được thông báo từ Nhật Bản, Công ty CPTP Bích Chi đã cho tiến hành lấy các mẫu sản phẩm và gửi Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 ở thành phố Hồ Chí Minh (QUATEST 3), thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn- Đo lường- Chất lượng Việt Nam để phân tích. Tại phiếu thông báo kết quả thử nghiệm đối với 4 mẫu phân tích gồm gạo, bánh phở, bột gạo, tinh bột khoai mì QUATEST 3 khẳng định không phát hiện có chứa hàm lượng chất biến đổi gen.  Cũng ngay sau khi được thông tin, Văn phòng Chính phủ và Hiệp hội lương thực Việt nam VFA đã vào cuộc, đề nghị “các bộ nhanh chóng giải quyết trường hợp trên để lấy lại uy tín cho gạo Việt Nam”. Tức khắc Cục Trồng trọt của Bộ NN & PTNT khẳng định “Hiện luật pháp Việt Nam không cho phép nhập khẩu và kinh doanh loại gạo biến đổi gen, nên rất khó có khả năng loại gạo này có mặt tại thị trường trong nước. Không riêng gạo, tất cả loại thực phẩm biến đổi gen đều chưa được Chính phủ cho phép nhập khẩu để kinh doanh”. Sở NNPTNT Đồng Tháp, nơi công ty CPTP Bích Chi đặt trụ sở, cũng khẳng định “Hiện nay, nguồn nguyên liệu lúa đang trồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là những loại giống không có nguồn gốc GMO”.  Việt Nam có chính sách không phát triển giống lúa GMO nên chắc chắn là không có gạo biến đổi gen, đúng như Tổng Giám đốc Công ty CPTP Bích Chi đã nói “đây là thông tin không đúng với thực tế ở Việt Nam”. Tuy nhiên dù cho đa số nguyên liệu trong bánh phở của công ty CPTP Bích Chi làm từ bột gạo (87%) và bột khoai mì (13%), nhưng nếu (xin nhắc lại – nếu) trong quá trình làm bánh phở mà công ty CPTP Bích Chi sử dụng các chất phụ gia – thường là dầu – hoặc trộn thêm một ít các loại bột khác làm từ đậu tương hoặc ngô như những sản phẩm chế biến khác, và nếu (cũng xin nhắc lại – nếu) đậu tương và ngô nhập từ Mỹ, thì sự có mặt chất biến đổi gen trong bánh phở của công ty CPTP Bích Chi có xác suất rất cao bởi vì đa số đậu tương (89%) và ngô (60%) của Mỹ là giống biến đổi gen. Trên thế giới cho đến bây giờ chưa có gạo chuyển gen Bt, chỉ có ngô và đậu tương mới được chuyển gen Bt thôi.  Nhớ lại vào năm 2009, khi Nhật Bản thông báo cho biết gạo xuất khẩu qua Nhật của Việt Nam có chứa thuốc BVTV – chất  acetamiprid – cao hơn ngưỡng cho phép, thì phía Việt Nam cũng đã phản ứng quyết liệt. Tuy nhiên dù phản ứng như thế nào, năm ấy (2009) Nhật Bản vẫn ra lệnh ngưng nhập khẩu gạo từ Việt Nam. Chúng ta mất thị trường gạo Nhật Bản. Nên nhớ rằng vào năm 2005, Nhật Bản nhập khẩu 80.000 tấn gạo Việt Nam, qua đến năm 2008 nhập khẩu trên 200.000 tấn, chủ yếu là gạo thơm, với giá cao hơn nhiều lần so với gạo thường. Cho nên đối với sự kiện Nhật Bản công bố bánh phở Việt Nam có chất biến đổi gen, dù Việt Nam có giải thích kiểu nào đi nữa, Nhật Bản cũng sẽ ngưng nhập khẩu bánh phở từ Việt Nam. Nhiều đơn hàng sẽ bị hủy, mọi hoạt động sản xuất bánh phở sẽ bị dừng lại. Nhật Bản đã nghiêm khắc cảnh báo cho Việt Nam biết thị trường Nhật Bản không chấp nhận thực phẩm biến đổi gen!  Sau bánh phở, còn có bao nhiêu mặt hàng có chất biến đổi gen???  Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ. Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Nhật Bản đạt 4,85 tỷ đô la, chủ yếu là nông sản thực phẩm, thủy hải sản, đồ may mặc, gỗ và sản phẩm từ gỗ. Trong số gần 1 tỷ đô la hàng thủy hải sản xuất khẩu sang Nhật, tôm là nhóm mặt hàng đạt khối lượng và giá trị cao nhất.    Trong khi không cho phép trồng cây lúa biến đổi gen, thì Chính phủ Việt Nam lại cho phép trồng cây bông, ngô và đậu tương biến đổi gen (Quyết định 11/2006/QĐ-TTg ngày 12.1.2006), trong đó khẳng định cho biết các loại cây biến đổi gen sẽ được cho phép sản xuất thương mại từ 2011 – 2015, để cho đến năm 2020, diện tích 3 loại cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam phải đạt 30-50%. Cứ thấy quyết tâm của Bộ Nông nghiệp & PTNT và không khí hồ hởi của báo chí về kết quả thử nghiệm 7 giống ngô biến đổi gen của các công ty Mỹ (Syngenta, Monsanto và Pioneer Hi-Bred) trên đồng ruộng Việt Nam, chúng ta thấy trước Việt Nam sẽ thành công trong việc phát triển 50% diện tích ngô và đậu tương biến đổi gen như lộ trình Chính phủ đã đề ra. Như vậy đến năm 2020 Việt Nam sẽ có khoảng 600.000 ha ngô và 100.000 ha đậu tương biến đổi gen. Một diện tích quá lớn về cây biến đổi gen cho một đất nước chỉ có khoảng 4-5 triệu ha dành để trồng cây lương thực.  Vì ngô và đậu tương là nguyên liệu chính làm thức ăn cho gia súc và thủy sản cho nên khi nuôi cá tra và tôm, nông dân Việt Nam tất nhiên phải sử dụng loại thức ăn biến đổi gen. Theo như cách phân loại của Bộ Nông nghiệp Mỹ, động vật nào được nuôi bằng thức ăn biến đổi gen cũng được xếp vào nhóm thức ăn biến đổi gen.  Cá tra và tôm Việt Nam từ nay được xếp vào nhóm thức ăn biến đổi gen.  Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2010 cả nước xuất khẩu được 1,353 triệu tấn thủy sản trị giá 5,034 tỷ đô la. Dẫn đầu trong xuất khẩu thủy sản phải kể đến sự đóng góp của sản phẩm tôm. Năm 2010 Việt Nam đã xuất khẩu 220 ngàn tấn tôm, đạt kim ngạch 1,8 tỷ đô la, con số được coi là kỷ lục xuất khẩu của ngành thủy sản trong những năm qua. Đứng thứ hai là sản phẩm cá tra, hiện nay, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 650.000 tấn cá tra. Trong 5 năm tới (2011-2015), lượng xuất khẩu sẽ đạt khoảng 800 nghìn tấn/năm.   Sự kiện Nhật cảnh báo bánh phở Việt Nam có chất biến đổi gen cho ta hiểu rằng đây chỉ là màn mở đầu cho những khó khăn cực kỳ lớn sắp tới cho một mặt hàng khác của Việt Nam: Thủy sản. Rồi đây khi được phép thương mại, thị trường thức ăn gia súc và thủy sản Việt Nam sẽ vô cùng hỗn tạp, lẫn lộn thức ăn có và không có chất biến đổi gen. Nông dân và doanh nghiệp sẽ rất bối rối trong việc lựa chọn thức ăn cho vật nuôi của mình. Để tránh những hiểu lầm đáng tiếc như vụ bánh phở, không biết Chính phủ Việt Nam đã ra quy chế kiểm soát giống biến đổi gen một cách thích ứng chưa, ví dụ như:  1. Phân vùng một cách rõ ràng nơi có trồng cây biến đổi gen;  2. Buộc dán nhãn cho các sản phẩm biến đổi gen; và  3. Giúp nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu nông thủy sản sang Nhật Bản và Châu Âu tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình sản xuất nông nghiệp/thủy sản tốt GAP để truy nguyên nguồn gốc khi cần.  Những động thái này sẽ giúp nông dân và doanh nghiệp – ví dụ như công ty CPTP Bích Chi – phân biệt được loại sản phẩm nào có và không có chất biến đổi gen, chủ động được tình hình sản xuất, và không bất ngờ bị quy kết một điều mà nông dân/doanh nghiệp không chủ ý làm.  Nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học/biến đổi gen là một ngành khoa học hiện đại cần phải tích cực đầu tư. Nhưng việc sử dụng cây biến đổi gen ở Việt Nam lại mang tính kinh tế cực kỳ nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến vận mạng của hơn 70% dân số sống ở nông thôn. Chỉ khi nào Việt Nam làm chủ được công nghệ, chắc chắn thị trường xuất khẩu chấp nhận thức ăn biến đổi gen, và nông dân chủ động quản lý được việc sản xuất của mình, thì lúc đó cây biến đổi gen mới thực sự giúp nông nghiệp, nông thôn, và nông dân ta phát triển sản xuất một cách bền vững. Rất may Nhật Bản đã kịp thời cảnh báo, giúp Việt Nam sớm nhìn lại bước phát triển xuất khẩu nông nghiệp của mình. Trong chiến lược phát triển xuất khẩu, ngoài việc xây dựng nội lực như đã nói trên, chúng ta tuyệt đối không cung cấp cho “đối thủ thương mại” một cơ hội nào, chẳng hạn như rêu rao nông sản Việt Nam có lẫn lộn giống cây biến đổi gen. Chỉ vì bị “nghi ngờ” có sự hiện diện của giống lúa biến đổi gen mà Mỹ đã mất 1,2 tỷ đô la vì không xuất khẩu được gạo vào năm 2006. Trước đây vào năm 1999 ngô của Mỹ cũng đã bị thị trường Châu Âu tẩy chay ngô biến đổi gen. Bộ Nông nghiệp Mỹ USDA đã từng kết luận “việc Mỹ mất thị phần ngô ở thị trường Châu Âu là kết quả từ những vấn đề liên quan đến công nghệ biến đổi gen”.  Cảnh báo của Nhật Bản về bánh phở Việt Nam xác quyết nhận định của Bộ Nông nghiệp Mỹ là không sai!    * Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Việt Nam  Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001, Úc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sâu bệnh ngày càng bành trướng      Các nhà nghiên cứu cho thấy một xu hướng  rất đáng lo ngại: nhiều loại sâu bệnh mở rộng rõ rệt vùng phân bố  của chúng, mà nguyên nhân chính liên quan đến hoạt động giao thông vận  tải toàn cầu ngày càng tăng và biến đổi khí hậu.    Kể từ năm 1960, mỗi năm sâu bệnh mở rộng vùng phân bố khoảng 3km về phía các cực, theo một công bố mới trên tạp chí chuyên đề  “Nature Climate Change”.   Các nhà khoa học thuộc ĐH Exeter (Anh quốc), do TS Daniel Bebber đứng đầu, đã phân tích những công trình nghiên cứu về sự thay đổi vùng phân bố liên quan tới khoảng 600 loại bệnh và sâu hại đối với cây trồng trong khoảng 50 năm qua. Tác nhân gây hại đối với cây trồng không phải là một nhóm thống nhất, trong đó có thể kể đến các loại nấm bệnh, vi khuẩn, virus, côn trùng, tuyến trùng cũng như các loại giun và cái gọi là nấm trứng (Eipilze).   Theo các nhà khoa học, trong mười năm đầu tiên, hai phần ba các loại tác nhân gây hại chỉ có mặt ở phía bắc hoặc nam bán cầu. Một phần mười chỉ thấy ở phía ngoài và một phần mười khác chỉ thấy ở trong vùng nhiệt đới. Sau 50 năm thì hơn một nửa tác nhân gây hại có mặt trên toàn cầu. “Trong số các tác nhân gây hại chỉ tập trung ở vùng nhiệt đới thì có tới hai phần ba sau đó mở rộng vùng hoạt động và đa số có mặt trên toàn cầu.”  Trong quá trình chuyển dịch tới các cực, giữa các loài có một sự biến động lớn, theo nhóm các nhà nghiên cứu. Nhưng nhìn chung có thể nhận thấy xu hướng rõ rệt là: những tác nhân gây hại ở bắc bán cầu – như nấm bệnh, vi khuẩn và côn trùng –  mở rộng vùng hoạt động lên phía bắc. Trong khi đó các loại giun và virus lại dịch chuyển về hướng nam bán cầu. Tại sao lại như vậy, đây là vấn đề cần nghiên cứu tiếp để làm rõ.  Theo nhóm nghiên cứu, sự mở rộng vùng phân bố chủ yếu liên quan đến hoạt động giao thông vận tải toàn cầu ngày càng tăng. Biến đổi khí hậu cũng tạo điều kiện để tác nhân gây hại có thể tồn tại và phát triển ở vùng phân bố mới, nơi mà trước đó chúng không thể sinh tồn. Bình quân cứ mười năm, sự mở rộng vùng lãnh thổ của các tác nhân gây hại với cây trồng đạt 27 km, so với các loài động vật khác là 18 km. Xu hướng này phù hợp với sự tăng nhiệt độ và không gây bất ngờ.   Khi một tác nhân gây hại xâm nhập vào một vùng đất mới thì sự nguy hại có thể rất lớn. Ví dụ điển hình là nạn đói ở Ireland xảy ra trong những năm 1840 khi loại nấm phấn trắng Phytophthora infestans hủy diệt các vùng trồng khoai tây ở nước này. Năm 1943, một loại nấm hại ở cây lúa cũng làm cho hàng trăm nghìn người lâm vào nạn đói ở Bengal (Ấn Độ). Hiện nay mỗi năm sâu bệnh làm sản lượng của các loại cây trồng từ 10 đến 16%.  NXH dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáu căn bệnh của giới nghiên cứu Trung Quốc      Bình mới nước cũ  Rất nhiều tài liệu giảng dạy, cả khoa học xã hội lẫn tự nhiên, đều đã “lão hóa”. Nhiều tài liệu giảng dạy trong trường ĐH không những dừng lại ở kiến thức thập kỷ 70, 80, mà còn ở thập kỷ 50, 60 của thế kỷ trước. Kết quả một điều tra ở Đại học Thượng Hải: 63% sinh viên bất mãn vì chỉ được dạy kiến thức “già cả”. Sinh viên khoa báo chí phản ánh, hiện giờ họ vẫn phải học giáo trình “Phỏng vấn tin tức” của một giáo sư biên soạn từ năm 1983; giáo trình “Lý luận văn học” là bản thêm thắt của một tài liệu từ những năm 60.    Không chỉ có giáo trình đại cương mới xào xáo, giáo trình chuyên ngành cũng không khác bao nhiêu. Cựu học sinh của một trường đại học có tiếng ở phía nam Trung Quốc kể: Có lần vào giờ chuyên môn, một ông thầy gần 70 tuổi bước vào, giở ra một cuốn giáo trình vàng ố – được in từ năm 1985. Kết quả, buổi đầu tiên giảng đường có hơn 30 sinh viên, buổi thứ 2 còn 10 người, buổi thứ 3 còn 5.  Tìm tài liệu giảng dạy mới thời này rất dễ, vì sao giảng viên đại học còn dùng tài liệu cũ? Một giảng viên Đại học Trung Sơn phát biểu: tài liệu giảng dạy mới hoặc là trực tiếp sao chép tài liệu cũ, hoặc là khoa trương “lý thuyết tiên tiến”, “kiến thức mới nhất”, kỳ thực chỉ là “bình mới nước cũ”.  Đánh bóng mạ kền                   Hiện loại người “đánh bóng mạ kền” trong giới học thuật ở Trung Quốc vô cùng nhiều, mục đích không gì khác là nhăm nhăm đề cao bản thân. Một giảng viên của một trường đại học danh tiếng là mẫu người điển hình “chân trong chân ngoài”, dùng danh tiếng nhà trường để kiếm tiền cho công ty riêng. Song ông này có tiếng Anh rất khá, từng được mời “nghiên cứu thăm viếng” vài tháng ở Harvard và Oxford. Sau khi về nước, đi đâu ông này cũng ầm ĩ rằng mình là bạn thân của một học giả nổi tiếng thế giới, được nhà khoa học đó tặng cho toàn bộ tác phẩm của mình. Sau vài bài báo giới thiệu công trình của học giả nổi tiếng kia, ông này cũng nghiễm nhiên được coi là học giả tầm cỡ thế giới, thành  “sứ giả” của nền học thuật Trung Quốc. Tuy nhiên một lưu học sinh Trung Quốc ở London cho biết, nguyên bản các công trình của học giả nổi tiếng thế giới kia đều bằng tiếng Pháp, ông ta chưa từng viết bằng tiếng Anh.    Bong bóng phập phồng  Mấy năm gần đây, giới nghiên cứu trong các trường đại học Trung Quốc “phồn thịnh” chưa từng thấy.  Số lượng “giảng viên đại học”, “sách chuyên ngành”, “bài báo khoa học” của Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới, song số giáo sư, sách chuyên ngành hay bài báo khoa học của Trung Quốc có ảnh hưởng quốc tế lại không nhiều. Một trong những nguyên nhân là việc đánh giá chất lượng nghiên cứu nhiều khi chỉ “ào ào cho qua”.                     Trước kia, một học giả cần mẫn thì 1 năm chỉ công bố được 2 bài, cả đời chỉ  ra được 2, 3 cuốn sách chuyên ngành. Nhiều “học giả trẻ” hiện nay “trước tác đầy mình”, viết nhanh như chớp: sách chuyên ngành 3-40 cuốn, công bố nghiên cứu hàng trăm bài. Một số người bảo “sách viết nghìn trang còn phát ngượng”, bởi trong giới học thuật phổ biến quan niệm: “trăm trang biết lẫy, nghìn trang biết bò, chục nghìn trang lò dò biết đi”.  Vừa “xuất đầu lộ diện”, học giả trẻ của trường Đại học Phúc Đán, Thân Tiểu Long, đã có mười mấy cuốn sách về ngôn ngữ có tiếng như “Diễn giải văn hóa ngôn ngữ”, “Văn hóa làng xã và biến dị văn hóa”, “Ngôn ngữ văn hóa học”… Nhưng gần đây có người chỉ ra, Thân Tiểu Long cướp ý tưởng của người khác làm của mình; cuốn “Diễn giải văn hóa ngôn ngữ” sao chép nghiên cứu của gần 40 người. Một giáo sư còn phát hiện, cuốn “Ngôn ngữ văn hóa học” có hơn 640 trang thì 350 trang là sao chép từ cuốn sách trước đó của anh ta. Giống trường hợp Thân Tiểu Long, sách sao chép của nhiều người hay của chính mình là hiện tượng không hiếm trong giới nghiên cứu.  Loạn bình xét  Bình xét giải thưởng và cả đề tài là nỗi thống hận lâu nay trong giới nghiên cứu Trung Quốc. Người ta “bình xét” việc bình xét giải thưởng: Giải thưởng là chuyện trong nhà, anh chi cho tôi, tôi trao tặng anh. Mười phần thì phải để hai, ba cho người ngoài làm vì.  Năm ngoái, 3 giáo sư khoa Triết của Đại học Võ Hán đã viết bài báo cay đắng về Giải thưởng triết học của tỉnh Hồ Bắc: “Ban giám khảo… lấy tay che mặt trời, kết bè kéo cánh, bày trò hề để chia danh lợi…” Theo 3 ông, giải thưởng này được trao cho cả một bản… hướng dẫn luận văn, là việc “dù hủ bại đã thành quen, cũng hiếm thấy trong giới học thuật”.  “Hủ bại” trong bình xét đề tài cũng giống trong bình xét giải thưởng. Giáo sư Nhất Đinh ở Đại học Thiểm Tây nhận xét: (Đăng ký đề tài) cũng giống như cô gái chưa sinh mà xin cấp sữa, nói con tôi sau này nhất định sẽ tài trí hơn Dương Chấn Ninh (Nhà vật lý gốc Hoa đoạt giải Nobel). Sau đó tuỳ trình độ đấu hót mà được các loại sữa tốt xấu khác nhau. Mỗi năm một lần, thấy đề tài đăng ký với kinh phí là lại thấy nực cười.  Loạn chức danh  Chế độ chức danh có vẻ là một “sáng chế độc quyền” của Trung Quốc. Trong trường đại học, chức danh để chỉ trình độ học thuật, đồng thời để phân biệt chế độ đãi ngộ, phân nhà.  Để có chức danh này nọ, một số giảng viên đại học không ngừng nhờ vả, chạy chọt, thậm chí bỏ tiền thuê viết nghiên cứu; có người còn bê nguyên cả bài của người khác đăng trên “Quang Minh nhật báo” làm nghiên cứu của mình, suýt nữa thì “lọt lưới”; có người “chiếm” công trình của học trò; có người chế biến một nghiên cứu của mình thành không biết bao nhiêu công trình. Có người đùa rằng, nếu thu thập những “điển hình” chạy chức danh, sẽ biên được một cuốn “Mưu hay chước lạ chạy chức danh”, “Ngọc điển phong chức danh”…, hay không kém các bí kíp võ lâm.                     Chức danh giáo sư ở Trung Quốc “chỉ lên không xuống”, được giữ đến trọn đời. Với một số học giả, được phong “giáo sư” đồng nghĩa với “cùng đường mạt lộ” về học thuật. Giới học thuật Trung Quốc có câu: Trợ giảng khổ sở, phó giáo sư không dám lơ mơ, giáo sư chỉ chơi dài.  Đạo văn  “Văn chương là cuộc sao chép lớn” (Thiên hạ văn chương nhất đại sao), mấy năm gần đây, “đạo văn” được ví với “dịch châu chấu” trong giới học thuật. Một học giả bình luận: Vấn đề lớn nhất của giới nghiên cứu Trung Quốc hiện nay là không còn biết xấu hổ.  Có người chỉ theo dõi các “vụ án trộm văn” trên báo chí mà rút ra được những cách ăn trộm như “Đổi tên trộm toàn bộ”, “Trộm quan điểm, trộm tư tưởng”, “trộm điểm hay”, “ngoài soạn trong trộm”… Ông Dương Ngọc Thánh, người chuyên vạch trần giả mạo trong giới học thuật nói: Trước kia chỉ có những người trẻ tuổi, trình độ kém mới đạo văn. Nhưng nay, cả người danh cao vọng trọng trong các trường đại học lớn hay cơ quan cao cấp của chính phủ cũng đạo văn. Họ Dương nhận định: “đạo” là căn bệnh nặng nhất của giới học thuật Trung Quốc, nó làm “học phong” bại hoại, đạo đức xuống dốc, nhân tài ly tán, không những gây hại cho xã hội mà còn làm mất uy tín cả một nền khoa học.  TRẦN ANH (theo Liêu vọng Đông phương)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau Doha, nước Mỹ có thay đổi?      Dù hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu tại Doha, Qatar (COP18) kết thúc ngày 8/12/2012 mà không có cam kết mới của Mỹ về cắt giảm phát thải khí thải carbon hay viện trợ chống biến đổi khí hậu, một số nước vẫn cảm thấy nhẹ nhõm khi nước Mỹ – quốc gia phát thải nhiều thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc – đã không làm cho thỏa thuận về khí hậu vốn dĩ đã yếu này càng trở nên yếu hơn.    Nhiều nước đang quan sát chính quyền của Tổng thống Obama, ở nhiệm kỳ mới, sẽ định hướng ra sao về biến đổi khí hậu và liệu có những nỗ lực mới nhằm cắt giảm lượng khí phát thải của nước Mỹ, và mở đường cho các mục tiêu tham vọng hơn như việc thông qua một hiệp ước mới về khí hậu toàn cầu trong năm 2015 .  Cuộc đàm phán trong hai tuần tại Doha kết thúc với việc kéo dài thời hạn của Nghị định thư Kyoto, vốn sẽ hết hạn vào tháng 12 năm 2012, tới năm 2020. Nhưng giờ đây các nước tham gia cam kết chỉ chiếm có 15% tổng lượng khí phát thải toàn cầu, vì một số nước phát triển, bao gồm cả Nhật Bản và Canada, đã không tham gia việc gia hạn Nghị định thư Kyoto. Nước Mỹ thậm chí còn chưa bao giờ phê chuẩn Nghị định thư này.  Thành viên Ủy ban Khí hậu của Liên minh châu Âu (EU), bà Connie Hedegaard phát biểu hôm Chủ nhật, ngày 9 tháng 12 rằng các nhà đàm phán Mỹ đã “cẩn thận để không gây trở ngại cho các cuộc đàm phán diễn ra”  tuy nhiên bà thêm rằng “vẫn chưa thể biết họ, nước Mỹ, liệu có thực sự đầu tư vào việc xây dựng một thỏa thuận quốc tế mới.”  Và trong một bình luận được gửi qua email cho hãng thông tấn AP, bà Hedegaard cho biết bà đã hy vọng Tổng thống Obama “sẽ ủng hộ không chỉ một chính sách chống biến đổi khí hậu trong nước mà còn là tăng cường sự tham gia cũng như cam kết của nước Mỹ cho thỏa thuận khí hậu của quốc tế.”  Có một thực tế là cả hai phía, các nước phát triển giàu có, và các nước đang phát triển, từ lâu đã cáo buộc nước Mỹ gây cản trở các nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu, hiện tượng mà các nhà khoa học coi là nguyên nhân làm nâng cao mực nước biển, đe dọa các vùng trũng thấp và các quốc đảo, chuyển đổi các mô hình thời tiết có ảnh hưởng đến nạn hạn hán, lũ lụt và tần số của các cơn bão có tác hại tàn phá.  Và cũng chỉ có mình nước Mỹ, trong số các quốc gia công nghiệp phát triển, bác bỏ Nghị định thư Kyoto năm 1997, hiệp ước ràng buộc duy nhất của quốc tế về giảm lượng khí thải CO2 và các khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính khác. Chính quyền Tổng thống Bush, thời kỳ đó cho rằng Nghị định thư này sẽ làm hại nền kinh tế và nó không công bằng bởi vì không ràng buộc các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ.  Những hy vọng vào sự thay đổi của nước Mỹ trong các cuộc đàm phán của Liên Hiệp Quốc dưới thời Tổng thống Obama đã tiêu tan khi dự thảo luật về lượng khí phát thải bị chặn lại tại Hạ viện. Nhưng kỳ vọng lại tăng lên trong năm 2012 sau khi cơn bão Sandy, gây thiệt hại ước tính tới 20 tỷ USD cho nước Mỹ, đã đưa chủ đề về biến đổi khí hậu quay lại các cuộc tranh luận chính trị trong nước Mỹ.  Càng hy vọng hơn vì sau khi tái đắc cử, Tổng thống Obama nói về “sức mạnh hủy diệt của một hành tinh đang nóng lên,” và cho biết ông hy vọng sẽ có một cuộc thảo luận tầm quốc gia về vấn đề này.  “Tôi nghĩ rằng những gì chúng ta đã thấy từ các hành động của nước Mỹ tại Doha là cả hai mặt tích cực và tiêu cực“ Alden Meyer, nhà khoa học từ  Liên hiệp các nhà khoa học quan ngại (Union of Concerned Scientists) cho biết.  Ông nói rằng Hoa Kỳ, một mặt vẫn là “trở ngại lớn” trong các cuộc đàm phán nhằm tăng viện trợ khí hậu để giúp các nước nghèo chuyển sang năng lượng sạch và thích ứng với hiện tượng mực nước biển dâng và các tác động khác của biến đổi khí hậu.  Nhưng mặt khác, nước Mỹ thừa nhận rằng có nhiều việc phải làm để đáp ứng cam kết tự nguyện giảm khí phát thải thêm 17% vào năm 2020, so với mức của năm 2005.  “Ngoài ra, trưởng đoàn đàm phán Mỹ, ông Todd Stern, cũng bày tỏ sẵn sàng thảo luận việc làm thế nào để chia sẻ một cách công bằng trách nhiệm giữa các nước để giảm đáng kể lượng khí thải từ sau năm 2020 để tránh những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu”, ông Meyer nói thêm. “Đây là hai tín hiệu tích cực cho vòng đàm phán Doha”.  Một số nước cảm thấy tích cực khi mà các nhà đàm phán Mỹ đã không ngăn chặn một đề xuất của các quốc gia đảo quốc nhỏ thảo luận về “mất mát và thiệt hại” liên quan đến thiệt hại do thiên tai từ nguyên nhân biến đổi khí hậu.  Các quốc gia đảo quốc nhỏ, bị đe dọa do mực nước biển dâng, đã vận động để có một số cơ chế có thể giúp họ đối phó với các thảm họa tự nhiên dạng này, nước Mỹ mặc dù không ngăn chặn thảo luận đã không ủng hộ do lo ngại trách nhiệm tài chính vì chính nước Mỹ là nước phát thải khí nhà kính lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc.  Tuy thỏa thuận Doha không thiết lập loại cơ chế trợ giúp này, nhưng có đề cập rằng các quốc gia đồng ý thảo luận về nó.  “Đó là một sự thay đổi đáng kể trong lập trường của Mỹ và đây là kết quả bất ngờ lớn cho Doha”, ông Iain Keith, từ nhóm hoạt động vì môi trường Avaaz.  Ông cho rằng về tổng thể có “sự thay đổi tinh tế nhưng đáng kể” về quan điểm của Mỹ trong các cuộc đàm phán.  “Nhiều bên có thể thất vọng rằng nước Mỹ không đến đây và cung cấp tài trợ về tài chính nhiều hơn” ông nói. “Tuy nhiên, với các cuộc tranh cãi về vực thẳm tài chính (fiscal cliff) ở Washington, họ đã bị trói tay” ông nói thêm, đề cập đến nguy cơ do sự kết hợp việc tự động tăng thuế và cắt giảm chi tiêu của Chính phủ Mỹ vào đầu năm tới.  Thỏa thuận Doha có các câu chữ mơ hồ về việc các nước giàu sẽ mở rộng quy mô viện trợ khí hậu đến 100 tỷ USD mỗi năm từ năm 2020 – một mục tiêu đã được nhất trí ba năm trước đây. Với ngân sách bị căng thẳng do khủng hoảng tài chính, các nước phát triển chống lại lời kêu gọi của các nước đang phát triển trong việc cụ thể hóa các cam kết này.  “Tôi nghĩ rằng các nước phát triển, trừ một số trường hợp ngoại lệ, không ở hoàn cảnh thuận lợi để có thể cam kết, do nhiều nguyên nhân trong đó có những thách thức tài chính mà chúng ta đang phải đối mặt ở Mỹ và châu Âu”, ông Stern, đặc phái viên về khí hậu của Mỹ nói.  Trong cuộc họp báo tại Doha, các đại biểu Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh những gì chính quyền Mỹ đã thực hiện như: tăng tiêu chuẩn hiệu suất nhiên liệu cho xe ô tô và xe tải, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong các tòa nhà và đầu tư vào năng lượng xanh.  Wael Hmaidan, một nhà hoạt động Lebanon và là giám đốc của Mạng lưới hành động về khí hậu, cho biết ông rất thất vọng với việc Hoa Kỳ không hỗ trợ nhiều hơn tại Doha, đặc biệt là về tài chính cho các nước nghèo.  “Chúng tôi hy vọng sẽ có một số chuyển động sau cuộc bầu cử Mỹ,” ông nói. “Chúng tôi biết sẽ không có bất kỳ sự thay đổi lớn nào nhưng chúng tôi hy vọng sẽ có thêm sự linh hoạt và nhượng bộ của Mỹ, và điều này đã không được thể hiện”.  Một số người có thể đã quá kỳ vọng vào những bình luận của Tổng thống Obama về biến đổi khí hậu sẽ nhanh chóng chuyển thành hành động. Jake Schmidt, từ Hội đồng Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nhận xét.  “Mọi việc đều cần thời gian để giải quyết tại Mỹ,” ông nói. “Nhưng tôi nghĩ người ta ngày càng cảm thấy rõ rằng biến đổi khí hậu là có thật, thời tiết khắc nghiệt đang xảy ra ở Mỹ. Điều đó thể hiện trong tất cả các cuộc thăm dò.”  Schmidt cho biết chính quyền Mỹ có thể đạt được việc tiếp tục cắt giảm khí thải với các tiêu chuẩn mới cho các nhà máy nhiệt điện dùng than hiện đang hoạt động.       Đức Phú dịch từ: http://science.time.com/2012/12/09/after-climate-talks-eyes-on-u-s-for-next-round/#ixzz 2EixoOK4G    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sáu loài dơi tiền sử được phát hiện      Những loài dơi cổ đại mới này có niên đại cách đây 35 triệu năm vừa được phát hiện sau khi phân tích 33 mẫu hóa thạch gồm răng và xương hàm trong thời gian vài thập niên ở El Faiyum, một ốc đảo cách Cairo 50 dặm về phía tây nam.      Các chuyên gia rất ngạc nhiên khi những loài mới phát hiện tương tự như một số loài dơi nhỏ ngày nay, một nhóm dơi dùng sóng siêu âm để định vị và săn mồi. Mối liên hệ này là chứng cứ cho thấy loài dơi hiện đại tiến hóa từ châu Phi chứ không phải đến từ Bắc bán cầu như một số giả thiết đặt ra. Trong những loài mới phát hiện có một thành viên “khổng lồ” của họ dơi nhỏ là loài định vị bằng sóng âm lớn nhất từng được tìm thấy.   Tuệ Minh (Theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau nâng cấp, LHC bắt đầu cuộc chạy đua huyền thoại để tìm thứ vật lý mới      Ba năm sau khi tạm dừng, cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC sẽ vận hành, cho va chạm các hạt lại với nhau ở mức năng lượng cực cao.      Các thực nghiệm tại cỗ máy gia tốc hạt lớn có mức năng lượng bậc nhất thế giới đã bắt đầu được tái khởi động tại CERN, Trung tâm hạt nhân châu Âu, sau ba năm nâng cấp cỗ máy của mình. ở lần vận hành thứ ba này, các chùm tia proton của Large Hadron Collider (LHC) sẽ hoạt động ở cường độ và năng lượng cao kỷ lục. Các nhà vật lý muốn sử dụng các va chạm này để hiểu về vũ trụ ở quy mô nhỏ nhất, và để giải quyết các bí ẩn như bản chất của vật chất tối.    Tại lúc 4h47 chiều giờ địa phương ngày 5/7/2022, các nhà vật lý tại LHC đã khởi động các máy dò và bắt đầu đón nhận dữ liệu. Cuộc vận hành này kế tiếp hai cuộc trước, lần lượt vào năm 2009-2013 và 2015-2018. “Đây là lần đầu tiên trong thời đại mà sau đại dịch, chúng ta mở một cánh cửa vào vũ trụ để xem cái gì cấu tạo nên nó”, Tara Shears, một nhà vật lý hạt tại trường đại học Liverpool, Anh và là thành viên của nhóm hợp tác LHCb  – chuyên nghiên cứu về hành xử của một dạng hạt cơ bản gọi là quark đẹp.    Nhiều chùm proton được nén chặt hơn sẽ cho phép LHC duy trì tốc độ đỉnh cao của các cuộc sáp nhập trong thời gian dài hơn để thu thập được nhiều dữ liệu hơn những lần trước. Một va chạm đạt mức năng lượng 13,6 nghìn tỉ electron volts (TeV), cao hơn so với mức 13 TeV ở lần chạy trước, gia tăng xác suất của việc tạo ra những hạt nặng hơn mà khoa học còn chưa biết. “Với dữ liệu từ những cuộc va chạm năng lượng cao và một lượng dữ liệu lớn hơn chúng toi có thể tìm kiếm được nhiều hơn. Đó là một kích thích thực sự khủng khiếp”, Shears nói.  Các nhà vật lý sẽ sử dụng lượng dữ liệu cực lớn này để có thể nghiên cứu nhiều hơn về Higgs boson, hạt từng được khám phá tại CERN 10 năm trước đây và về vô số những câu hỏi đang tồn tại. Họ sẽ áp dụng những kỹ thuật phân tích mới để tìm kiếm vật lý mới ngoài mô hình chuẩn, vốn dùng để miêu tả những hạt đã biệt và các tương tác của chúng. Và họ sẽ khám phá một chuỗi danh sách những kết quả dị thường mà mô hình này không giải thích được.    Những thiếu nhất quán này, bao gồm “sự thiên vị” các hạt quark đáy phân rã thành các electron hơn là những hạt “bà con” nặng hơn của nó là các muon, khi mô hình chuẩn dự đoán số lượng tương đương của cả hai dạng hạt. Nếu những bất thường này được xác thực, chúng có thể giúp các nhà vật lý giải thích các đặc điểm bí ẩn về vũ trụ mà mô hình chuẩn không thể có – như tại sao vật chất có ở khắp mọi nơi nhưng lại hiếm thấy phản vật chất. Nhưng nếu những dị thường này xuất hiện qua những dao động tình cờ thì việc có nhiều dữ liệu hơn cũng có thể giúp các nhà nghiên cứu nhìn thấy những gợi ý đó.    Trở lại với chùm tia    Các chùm tia đã sẵn sàng ở LHC kể từ tháng 4/2022, và một số cuộc va chạm đã được bắt đầu nhưng chỉ ngày 5/7 thì chùm tia này mới đủ an toàn cho các thí nghiệm được thực hiện. Trong số chúng có ATLAS và CMS, những thực nghiệm chính ở LHC được thiết kế để nghiên cứu trên một phạm vi rộng của vật lý.    Chùm hạt này có năng lượng đủ để phá hủy các máy dò và các thiết bị khác, vì vậy các kỹ sư sẽ bắt đầu rất cẩn trọng, chỉ phát ra chùm tia với số lượng tối thiểu proton. Con số này sau đó sẽ được gia tăng, Mike Lamont, giám đốc máy gia tốc và công nghệ tại CERN, nói. Cuối cùng, năng lượng của chùm tia đóng gói những hạt nhỏ bé đó sẽ trở thành “chuyến tàu chở hàng” đạt tốc độ 150 km mỗi giờ, “vì vậy chúng tôi phải rất cẩn trọng về điều này”, ông nói.    Trong suốt thời gian tạm dừng hoạt động, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi COVID-19, nhóm nghiên cứu của CERN đã nâng cấp hệ phức hợp gia tốc này, vốn để tạo ra và gia tốc chùm hạt. Nó còn bao gồm cả việc lắp đặt một nguồn proton mới để thay thế công nghệ đã được sử dụng tại CERN từ năm 1978.    Các nhà vật lý cũng nâng cấp các máy dò cho thực nghiệm ở LHC, cụ thể cải tiến hệ điện tử và tính toán để có thể phù hợp với cường độ va chạm lớn hơn. Tại thực nghiệm CMS và ATLAS, LHC sẽ cho va chạm hàng trăm tỉ hạt proton với tốc độ 40 triệu va chạm mỗi giây. Mỗi lần như vậy sẽ tạo ra khoảng 60 proton–proton va chạm – mỗi thứ sẽ tạo ra hàng trăm hạt.  Hai thực nghiệm lớn này đã được nâng cấp: LHCb và ALICE, vốn nghiên cứu về một dạng hình thức đậm đặc của vật chất là quark-gluon plasma. Trên thực tế thì CMS và ATLAS có thể tăng gấp đôi tốc độ tạo ra dữ liệu của chúng, tốc độ của LHCb sẽ cao gấp 10 lần và ALICE sẽ nhằm mục tiêu ghi nhận mục tiêu ghi nhận hơn gấp 50 lần so số lượng các cuộc va chạm trước đây.    Cỗ máy có độ sáng cao    Chùm tia, vốn có trong mọi loại máy dò, bắt đầu khởi động ở một cường độ thấp, vì vậy sẽ mất hàng tháng trước khi thu được đủ dữ liệu cho phân tích, Shears nói. Các nhà vật lý sẽ cần để hiệu chỉnh lại thực nghiệm trên chùm tia mới và kiểm tra những chiếc máy dò đã được nâng cấp để chúng có thể hoạt động như kỳ vọng, trước khi tạo ra những phát hiện mới. “Anh không thể thấy những kết quả mới đến chỉ trong một ngày,” chị cho biết.    LHC sẽ vận hành trong vòng bốn năm cho đến khi dừng các cuộc va chạm để cho các cuộc nâng cấp tiếp theo, chuẩn bị cho một thiết bị có cường độ cao hơn. Thiết bị này sẽ được đặt tên là High-Luminosity LHC, sẽ bắt đầu được vận hành vào năm 2029 và cuối cùng sẽ tạo ra dữ liệu nhiều gấp 10 lần dữ liệu của ba lần vận hành của LHC cộng lại.  Dẫn dắt cuộc khởi động này, tổng giám đốc CERN Fabiola Gianotti cho biết giấc mơ của bà với lần chạy thứ ba của LHC là phát hiện ra các hạt cấu tạo nên vật chất tối – thành phần còn bí ẩn mà các nhà vật lý nghĩ rằng chiếm tới 85% vật chất trong vũ trụ. Nhưng các mục tiêu của thực nghiệm này không chỉ theo đuổi bất kỳ lý thuyết cụ thể nào mà để “hiểu cách tự nhiên hoạt động ở cấp độ cơ bản nhất”, bà nói.    Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-022-01859-w  https://www.space.com/large-hadron-collider-scientists-excited-run-3  https://www.livescience.com/large-hadron-collider-third-run-begins    Author                .        
__label__tiasang Sẽ có điện mặt trời ở phố cổ Hội An      Hội An sẽ có điệnmặt trời để vận hành hệ thống âm thanh và chiếu sáng tại khu phố cổ, với sự hỗ trợ từ chính phủ Đức.      UBND TP. Hội An (tỉnh Quảng Nam) và TP. Wernigerode (CHLB Đức) vừa khởi động dự án “Xây dựng hệ thống cung cấp điện từ năng lượng mặt trời để vận hành hệ thống âm thanh và chiếu sáng tại khu phố cổ Hội An”.  Tổng mức đầu tư khoảng 3,5 tỉ đồng (tương đương 135.000 euro, Chính phủ Đức tài trợ 90%, TP. Hội An và TP. Wernigerode tham gia kinh phí đối ứng 10%).  Dự án gồm những tấm pin năng lượng mặt trời được lắp đặt tại quảng trường Sông Hoài, dự kiến tạo ra nguồn điện tương ứng là 55 kW/h, phục vụ vận hành, thắp sáng trang trí cho các hoạt động, như trình diễn nghệ thuật đường phố, trò chơi dân gian, các lớp dạy hát dân ca, hợp xướng, hệ thống loa phát nhạc, đèn lồng trang trí, di tích chùa Cầu…  Phát biểu tại buổi ra mắt, ông Võ Phùng, Giám đốc Trung tâm Văn hóa-Thể thao và Du lịch TP. Hội An cho biết ngoài việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai thành phố kết nghĩa, thành công của dự án còn khuyến khích thói quen sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện môi trường và phù hợp với chủ trương xây dựng Hội An trở thành thành phố sinh thái-văn hóa-du lịch.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Pho-co-Hoi-An-se-co-dien-mat-troi/289481.vgp    Author                Theo baodientu.chinhphu.vn        
__label__tiasang Sẽ có “Tamiflu” kiểu Việt Nam?      Sau khi chiết xuất thành công axit shikimic từ quả Hồi của Việt Nam, vào trung tuần tháng 3 vừa qua, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã thông báo tổng hợp được oseltamivir photphat, hợp chất hữu cơ quan trọng nhất trong Tamiflu. Với thành công này, dường như các nhà khoa học Việt Nam đã làm chủ được công nghệ sản xuất Tamiflu . Tuy vậy, khả năng tự sản xuất được thuốc Tamiflu của Việt Nam vẫn còn đang ở phía trước.      Một công trình tổng lực  Những tin tức bất lợi về diễn biến của dịch cúm gia cầm ở Việt Nam từ cuối năm 2004 và lặp lại với mức độ leo thang suốt nửa cuối 2005 đã khiến các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học không yên lòng. Họ đã khẩn trương tập hợp và nghiên cứu các tư liệu khoa học để tìm hiểu về hoạt chất của thuốc Tamiflu và các con đường tổng hợp ra nó. Kết quả họ đã lựa chọn ra một hướng đi có triển vọng thực hiện được ở Việt Nam. Đó là từ quả Hồi lấy ra axit shikimic, sau đó tiến hành một chuỗi các phản ứng hoá học để biến đổi axit shikimic thành hoạt chất oseltamivir photphat, từ đó làm thành thuốc Tamiflu. Quả hồi lại là đặc sản xuất khẩu truyền thống của nước ta (xem phần đóng khung), nhưng trong những năm gần đây thường được các thương nhân Trung Quốc mua lại với giá rẻ để bán sang các nước khác làm gia vị và dược liệu dưới thương hiệu của chính họ.   Biết được hoạt chất chính của Tamiflu nhưng tự mình nghiên cứu, chiết xuất và làm ra được chất đó thì lại là một câu chuyện không hề đơn giản, thậm chí cực kỳ gian nan.                  Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên và đặc biệt là tách chiết tinh dầu và các hợp chất có hoạt tính sinh học dùng làm thuốc từ thực vật, họ đã cùng nhau ngồi lại, bàn bạc và quyết định: dù khó nhưng vẫn làm. Cả nhóm báo cáo ý định của mình lên Giáo sư Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Giáo sư Minh đồng ý ngay và giao nhiệm vụ khẩn cấp cho Viện Hóa học với nhóm nghiên cứu là những người thực hiện trực tiếp, vì vấn đề cúm gia cầm lúc đó rất nóng bỏng. Mặc dù cuối năm ngân sách đã cạn nhưng Giáo sư Minh vẫn xuất ngay 100 triệu đồng còn trong quĩ dự trữ để nhóm có kinh phí nghiên cứu.  Bước đầu tiên là chiết xuất cho ra axit shikimic. Các nhà hóa học có trình độ và có kinh nghiệm nhất đã được huy động. Một tháng sau đó (tháng 11/2005), lọ axit shikimic đầu tiên đã ra đời với vẻn vẹn 7 gam. “Cảm giác của anh em lúc đó sướng và phấn khởi lắm”, Tiến sĩ Nguyễn Quyết Chiến, Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu thăm dò các phương pháp chiết xuất axit shikimic và tổng hợp hoạt chất oseltamivir photphat đi từ quả Hồi của Việt Nam để dùng làm thuốc chữa bệnh cúm gia cầm” nhớ lại. Làm ra được axit shikimic rồi còn phải xác định đó đúng là nó. Để làm được điều đó, bản chất hóa học của sản phẩm làm ra đã được nghiên cứu bằng một loạt các phương pháp nghiên cứu cấu trúc hiện đại, trong đó quan trọng nhất là phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân. “Trong nghiên cứu hóa học ngày nay, cấu trúc của một hợp chất hữu cơ chỉ được coi là đã được xác định chắc chắn khi được chứng minh bằng các dữ kiện của các phổ cộng hưởng từ hạt nhân ghi trên các máy đo hiện đại cho phép ghi được cả các phổ một chiều và hai chiều với độ chính xác cao”, TS Chiến giải thích. Cũng may chiếc máy này Viện Hóa cũng vừa được trang bị ít lâu và chiếc máy đắt đỏ cỡ 1 triệu đô la này hiện là chiếc máy cộng hưởng từ hạt nhân có tần số hoạt động ở 500 MHz duy nhất ở Việt Nam.                  Thành công của giai đoạn đầu thúc đẩy các nhà khoa học tiếp tục giai đoạn hai nhọc nhằn hơn nhiều: tổng hợp được oseltamivir photphat. Giai đoạn đầu, các nhà khoa học có nhiều cơ sở (quả Hồi có rất sẵn ở Việt Nam) và kinh nghiệm (nhiều năm nghiên cứu chiết xuất tinh dầu và các hợp chất thiên nhiên) để thành công. Tuy nhiên, giai đoạn sau này thì quả thật “hy vọng nhiều nhưng chắc chắn thành công thì cũng chắng dám”, TS Chiến nói. Quả thật, khi đặt vấn đề nghiên cứu oseltamivir photphat, nhiều chuyên gia hóa học có uy tín cũng đã nghi ngại.  Với quan niệm “thế giới đã làm được” và điều quan trọng nhất “đây là thứ đất nước đang cần” cộng với niềm đam mê nghề nghiệp “thấy khó vẫn cứ làm” vốn là phẩm chất của các nhà khoa học, những người thực hiện công trình lại lao vào nghiên cứu. Cuối cùng, cuối tuần đầu của tháng 3 vừa qua, lọ oseltamivir photphat đầu tiên đã được tổng hợp tại Viện Hóa học thuộc Viện KH&CN Việt Nam, sau 5 tháng ròng rã nghiên cứu với hàng chục phản ứng hóa học. Tuy nhiên, với TS Chiến và đồng nghiệp, tất cả mới chỉ bắt đầu.                  Những công việc còn lại  Tổng hợp được oseltamivir photphat là kết quả có tính chất quyết định để có thể nhìn thấy triển vọng sản xuất được Tamiflu ở Việt Nam, nhưng đi đến sản xuất được thuốc này thì con đường phía trước còn rất dài.  Đối với tiến sĩ Chiến và các cộng sự, công việc hiện giờ là quay trở lại nghiên cứu các phương án khác, các con đường khác (nếu có). Từ đó có thể đưa ra một phương án sản xuất Tamiflu có hiệu quả, và nhất là có tính khả thi trong điều kiện của Việt Nam. “Trong nghiên cứu khoa học, khi làm một chất (một sản phẩm) ở lượng bé, trong phòng thí nghiệm khác hoàn toàn với việc sản xuất nó ở lượng lớn, trên qui mô công nghiệp. Do vậy, tìm ra được một công nghệ mới chỉ là bước đầu mà điều quan trọng là hoàn thiện công nghệ đó để nó có mức khả thi cao nhất”, TS Chiến nhấn mạnh. Thành công trong việc tổng hợp oseltamivir photphat cũng đồng nghĩa với việc nhóm nghiên cứu của TS Chiến tiếp tục nhận được một đề tài lớn hơn, đề tài cấp Quốc gia của Bộ Khoa học và Công nghệ. TS Chiến tâm sự: “Do lần đầu thực hiện một đề tài cấp nhà nước cho nên chúng tôi cũng khá lúng túng về mặt thủ tục. Hiện các anh ở trên bộ đang xét duyệt đề tài này”.                        Nhóm nghiên cứu cố gắng tới cuối năm nay sẽ tổng hợp được một lượng hoạt chất oseltamivir photphat cần thiết để có thể chuyển giao cho Bộ Y tế (Trường Đại học Dược) tiến hành các bước nghiên cứu phát triển tiếp theo thì oseltamivir photphat mới có thể chính thức trở thành thuốc chống cúm gia cầm được. Cũng không thể quên các nghiên cứu song hành về cây hồi (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật) để đảm bảo một nguồn nguyên liệu ổn định về chất lượng cũng như về số lượng cho việc sản xuất trong tương lai.                   Một câu hỏi được nhiều người đặt ra cho nhóm nghiên cứu là vấn đề bản quyền của hãng dược phẩm Hoffmann-La Roche (Thụy Sĩ). Để có thuốc Tamiflu ngày nay, hãng này đã phải đầu tư cho nghiên cứu phát triển đến 500 triệu euro, vì thế bất cứ nước nào muốn sản xuất loại thuốc này đều phải có sự đồng ý của hãng. Tuy nhiên, với tính chất phức tạp của dịch cúm gia cầm, nhiều nước trên thế giới đã thương lượng được với Roche để có thể sản xuất Tamiflu trong nước. Ngoài ra, theo các điều khoản quốc tế, trong những điều kiện dịch bệnh hiểm nghèo, các nước bị ảnh hưởng hoàn toàn có thể tự sản xuất thuốc để ứng cứu kịp thời các trường hợp khẩn cấp. “Chúng tôi nghiên cứu tổng hợp oseltamivir photphat không phải với mục đích thương mại, cạnh tranh với Roche. Mục tiêu của chúng tôi là làm chủ quá trình sản xuất thuốc, đào tạo và tập dượt một đội ngũ chuyên gia cần thiết, để với nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, chúng ta có thể có được Tamiflu đối phó với tình trạng khẩn cấp khi không may xảy ra đại dịch. Chúng tôi coi việc làm này là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhà khoa học Việt Nam đối với nhân dân của mình.”, tiến sĩ Chiến nhấn mạnh.  Nguyễn Hoàng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ đóng cửa vĩnh viễn kính thiên văn huyền thoại Arecibo      Hình ảnh thiên văn mới tiết lộ trình trạng tồi tệ dẫn đến khả năng đóng cửa vĩnh viễn cơ sở nghiên cứu này, có thể dẫn đến việc kết thúc một kỷ nguyên quan sát thiên văn.      Một trong những kính thiên văn nổi tiếng nhất thế giới – kính viễn vọng vô tuyến 305 mét đặt tại Arecibo, Puerto Rico – đang gần đóng cửa mãi mãi. Các kỹ sư không thể tìm được cách nào thực sự an toàn để sửa chữa hai tuyến cáp đỡ cấu trúc bởi nó bị đứt một cách đột ngột và khủng khiếp, một vào tháng 8 và một vào đầu tháng 11.  Đây là điểm cuối của một kính thiên văn mang tính biểu tượng cho khoa học với hiệu suất cao nhất về mặt khoa học trong lịch sử vật lý thiên văn – các nhà khoa học đều cảm thấy đau buồn về điều đó.  “Tôi không biết phải nói gì nữa”, Robert Kerr, cựu giám đốc đài quan sát. “Không thể tin được”.  “Tôi vô cùng đau khổ”, Abel Méndez, một nhà sinh học thiên văn tại trường đại học Puerto Rico ở Arecibo và thường xuyên tới đài quan sát, cho biết.  Được xây dựng năm 1963, kính thiên văn vô tuyến lớn nhất thế giới Arecibo đóng vai trò quan trọng trong vật lý thiên văn. Đây chính là nơi các nhà nghiên cứu gửi một thông điệp vô tuyến liên sao vào năm 1974 với hi vọng có thể bất kỳ nền văn minh ngoài trái đất nào cũng có thể nghe được, đồng thời cũng là nơi đầu tiên xác nhận phát hiện hành tinh ngoại mặt trời đầu tiên vào năm 1992.  Đây cũng là nơi tiên phong thực hiện nhiều khám phá về các hiện tượng thiên văn, bao gồm các tiểu hành tinh gần trái đất và những vụ nổ trong vũ trụ như các vụ nổ vô tuyến nhanh. Giờ tất cả các con đường tìm hiểu đã đóng lại, dẫu một số nghiên cứu nhỏ vẫn được tiếp tục thực hiện ở những cơ sở nghiên cứu nhỏ lẻ ở Arecibo.  Đánh giá tình hình  Các đường cáp bị đứt từng đỡ cho một khung chứa các thiết bị khoa học nặng 900 tấn, treo phía trên đĩa kính thiên văn chính. Đường cáp đầu tiên trượt khỏi hốc của nó và các bảng bị vỡ tại rìa của đĩa còn đường cáp thứ hai mới bị đứt một nửa  và xé rách một miếng ở trung tâm của đĩa.  Một hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao do một công ty quan sát trái đất có trụ sở ở San Francisco, California, cho thấy mức độ hư hỏng của đường cáp thứ hai: màu xanh của cây cỏ bên dưới có thể nhìn thấy qua những lỗ trên đĩa. Bức thứ hai do các thành viên của đài quan sát cũng cho thấy tình trạng đó.  Nếu bất kỳ cáp đỡ nào bị đứt – điều này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào – toàn bộ khung đỡ có thể va vào đĩa bên dưới. Quỹ Khoa học Mỹ (NSF), nơi sở hữu đài quan sát Arecibo, đang lên kế hoạch để đưa khung bên dưới thấp vào trạng thái an toàn hơn.  Nhưng các kế hoạch này cũng phải mất tới vài tuần và không thể nói là khung đỡ này có thể bị rơi xuống trong tình trạng không thể kiểm soát. “Thậm chí các nỗ lực ổn định hoặc kiểm tra tình trạng cáp có thể dẫn đến việc đẩy thảm họa đến nhanh hơn,” Ralph Gaume, giám đốc bộ phận thiên văn NSF, nói trong một thông cáo báo chí ngày 19/11.  Vì vậy NSF quyết định đóng cửa Arecibo vĩnh viễn. “Việc đưa ra quyết định này không hề dễ dàng nhưng an toàn vẫn là ưu tiên số một,” Sean Jones, phụ trách bộ phận toán học và vật lý trong ban giám đốc NSF.  Việc đóng cửa mang đến một cú sốc với cộng đồng thiên văn. Một làn sóng truyền trên mạng xã hội với hashtag #WhatAreciboMeansToMe đã ngay lập tức gây xôn xao dư luận với hành động của các nhà thiên văn, kỹ sư và các nhà khoa học khác – nhiều người từ Puerto Rico – chia sẻ những câu chuyện về việc đài quan sát này định hình sự nghiệp của họ như thế nào. “Đóng cửa đài quan sát Arecibo là mất mát lớn của khoa học, của việc bảo vệ hành tinh và cho cả Puerto Rico,” Desireé Cotto-Figueroa, một nhà thiên văn tại trường đại học Humacao Puerto Rico, chia sẻ trong một e-mail trước khi tin đóng cửa được loan báo.  Các quan chức NSF vẫn nhấn mạnh, việc hỏng cáp là điều đáng ngạc nhiên. Sau sự cố với dây cáp đầu tiên, nhóm kỹ thuật đã xác định được hàng loạt dây trọng yếu bị đứt trong cáp thứ hai nhưng lại không thấy vấn đề nghiêm trọng nào bởi trọng lượng nó mang vẫn nằm trong khoảng cho phép của thiết kế. “Không thể nhìn được mối đe dọa trước mắt nào,” Ashley Zauderer, giám đốc chương trình Arecibo tại NSF, nói.  Nhưng cáp chính, vốn được lắp đặt vào đầu những năm 1960s đã bị xuống cấp theo thời gian. Trải qua nhiều năm tháng, các dây cáp này đã bị lão hóa và cần được bảo trì. Zauderer cho rằng việc bảo trì trong những năm gần đây vẫn được hoàn thành theo lịch trình.  Cho đến trước năm ngoái thì đợt nguy hại nhiều nhất cho dây cáp chính yếu tại đài quan sát là một trận động đất trên thang độ 6.4 xảy ra vào tháng 1/2014 làm một phần cáp và cũng được các kỹ sư sửa chữa. Cấu trúc trong quá trình lão hóa còn chịu những cú sốc khác nữa trong vài năm gần đây, bao gồm hư hại một ăng ten và đĩa thiên văn do bão Maria năm 2017.  Vẫn chưa thể ước tính được chi phí tháo dỡ của kính thiên văn này.  Một địa điểm huyền thoại    Khoa học đang được nghiên cứu tại Arecibo là những nghiên cứu hàng đầu thế giới, trong đó có nghiên cứu về tiểu hành tinh. Các sóng vô tuyến va vào kính thiên văn phát ra từ những tiểu hành tinh gần trái đất tiết lộ hình dạng và spin của những viên đá không gian có thể mang hiểm họa khôn lường tới cho trái đất. Việc không có kính thiên văn này “sẽ là một mất mát lớn”, Alan Harris, một nhà khoa học tiểu hành tinh ở La Canada, California, nhấn mạnh (Kính viễn vọng hình cầu mở 500 mét Telescope FAST của trung Quốc đi vào hoạt động năm 2016 hiện không có khả năng thực hiện các nghiên cứu radar).  Một số dự án khoa học ở đài quan sát có thể được chuyển sang các cơ sở nghiên cứu khác, Gaume nói – và ông chờ đợi các nhà khoa học đề xuất nơi sẽ thực hiện nghiên cứu của họ. Dẫu vậy, có rất nhiều công trình có thể chỉ thực hiện được trên những thiết bị thiên văn độc nhất vô nhị tại Arecibo. “Hiện không có gì thay thế được kính thiên văn Arecibo,” thông cáo báo chí từ hai tổ chức nghiên cứu thiên văn vô tuyến hàng đầu Mĩ là Đài quan sát thiên văn vô tuyến quốc gia ở Charlottesville, Virginia, và Đài quan sát Green Bank ở Tây Virginia.  Một số lượng nhỏ các nghiên cứu vẫn sẽ tiếp tục tại các phòng thí nghiệm khác ở đài quan sát Arecibo, ví dụ hai cơ sở tia lidar chuyên bắn các tia laser vào bầu khí quyển để nghiên cứu các hiện tượng khí quyển.  Kính thiên văn Arecibo đã được nâng cấp định kỳ với nhiều thiết bị mới được lắp đặt trong những năm tới. “Kính thiên văn này không hề lỗi thời,” Christopher Salter, một nhà thiên văn học tại đài quan sát Green Bank và làm việc nhiều năm tại Arecibo, nhận xét.  Việc nâng cấp đã được ấn định này hiện đang được thực hiện, bao gồm một ăng ten 5,8 triệu USD được đặt trên khung của kính viễn vọng và cps thể gia tăng độ nhạy một cách đáng kể. Brian Jeffs, một kỹ sư tại trường đại học Brigham Young ở Provo, Utah, và là người phụ trách dự án lắp đặt này, cho biết nhóm của ông chờ đợi để thảo luận các lựa chọn cho tương lai của nó với NSF. “Chúng tôi lo ngại cho ban quản lý, kỹ thuật, khoa học và cả các nhân viên hỗ trợ” của đài quan sát này, ông nói.  Đài quan sát này là trung tâm giáo dục khoa học lớn ở Puerto Rico, nơi thúc đẩy sự nghiệp của nhiều nhà thiên văn và kỹ sư. Nó đã trở thành một phần của văn hóa đại chúng, bao gồm những bộ phim lớn như Contact (năm 1997), vốn dựa trên một tiểu thuyết của nhà thiên văn học Carl Sagan, và GoldenEye (năm 1995) trong loạt phim James Bond.  Thảm họa gần đây nhất của kính thiên văn vô tuyến là vào năm 1988, khi một ăng ten tại Đài quan sát Green Bank bị đổ sập trong một đêm do lỗi trong cấu trúc của nó.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03270-9  Năm 1974, nhà thiên văn học Joseph Taylor và Russell Hulse, hiện tại cùng ở trường đại học Princeton đã dùng kính thiên văn Arecibo để khám phá một cặp sao xung pulsar có quỹ đạo quay quanh nhau. Với nỗ lực tìm hiểu các xung trong nhiều năm, họ đã xác định được có thể tính được chính xác tỉ lệ mất năng lượng của hệ này đều như các pulsar phát ra sóng hấp dẫn – những gợn sóng trong không- thời gian mà Einstein từng dự đoán là có tồn tại nhưng mãi đến năm 2015 thì người ta mới có bằng chứng về nó thông qua phát hiện của LIGO. Vào năm 1993, hai tiến sĩ Taylor và Hulse giành giải Nobel Vật lý cho “công trình phát hiện một loại sao xung mới, một phát hiện đã mở ra các khả năng mới cho việc nghiên cứu lực hấp dẫn”. Vào năm 1990, Aleksander Wolszczan, một nhà thiên văn học Ba Lan đã có một khám phá bước ngoặt khác với Arecibo: PSR B1257+12, một sao xung với một nhịp điệu không đều. Việc nghiên cứu tiếp theo cho thấy sao xung này có quỹ đạo bằng ba hành tinh – các hành tinh đầu tiên được phát hiện quay quanh một ngôi sao khác ngoài mặt trời. Ngày nay, người ta đã biết tới hàng trăm ngoại hành tinh và chúng ngày một thu hút được sự chú ý của cộng đồng thiên văn học.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ thiết lập Trung tâm hợp tác IAEA tại Việt Nam      Ngày 29/11/2018, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) ký Thỏa thuận thiết lập Trung tâm hợp tác với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Theo bản thỏa thuận, trong giai đoạn ủy quyền ban đầu là 3 năm, Trung tâm hợp tác đặt tại Việt Nam là sử dụng kỹ thuật hạt nhân và đồng vị trong quản lý tài nguyên nước và môi trường khu vực duyên hải và lưu vực sông.          Tiến sĩ Trần Chí Thành, Viện trưởng  VINATOM và Phó Tổng Giám đốc IAEA, ông Aldo Malavasi (ngồi bên  phải) và ông David Osborn, Giám đốc NAEL (đứng bên phải), trong khi ký kết thỏa  thuận hợp tác với VINATOM. Nguồn: IAEA  Ngoài một số đại diện cấp cao của IAEA và VINATOM, buổi lễ ký kết Thỏa thuận công nhận chính thức VINATOM là Trung tâm Hợp tác mới còn có sự tham dự của  ông Lê Dũng, Đại sứ Việt Nam tại Áo và Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc.TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng VINATOM đánh giá: “Trung tâm Hợp tác với IAEA chắc chắn sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng của VINATOM và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Trung tâm cũng là một công cụ hữu hiệu cho VINATOM và IAEA để thúc đẩy hiệu quả việc áp dụng kỹ thuật hạt nhân trong phát triển và bảo vệ môi trường”.Trung tâm Hợp tác mới sẽ làm việc với hai bộ phận trực thuộc Vụ Khoa học và Ứng dụng hạt nhân của IAEA là Hệ thống phòng thí nghiệm Môi trường của IAEA (NAEL) và Bộ phận Thủy văn Đồng vị (ISH) (là một phần của Trung tâm Vật lý và Hóa học). Các đơn vị này sẽ tập trung thúc đẩy việc sử dụng các kỹ thuật hạt nhân để đánh giá, quan trắc và quản lý tổng thể tài nguyên nước và môi trường ở Việt Nam cũng như quản lý tổng hợp lưu vực sông và vùng ven biển rộng lớn hơn trong khu vực Đông Nam Á. Các lĩnh vực hợp tác bao gồm đánh giá và quan trắc chất lượng không khí, nghiên cứu đất và nông nghiệp, nghiên cứu và phân tích tài nguyên nước, nghiên cứu và phân tích môi trường biển, nghiên cứu biến đổi khí hậu, đào tạo và kiểm soát chất lượng và truyền thông. Trung tâm Hợp tác này sẽ liên kết với các dự án của IAEA liên quan đến việc liên kết nghiên cứu trên cạn, nước ngọt và biển; đo hoạt độ phóng xạ môi trường ở khu vực Đông Nam Á; tiếp cận với lò phản ứng nghiên cứu, cơ sở vật chất và kiến thức chuyên môn; và xây dựng năng lực cho các phòng thí nghiệm phân tích để phục vụ mạng đo hoạt độ phóng xạ môi trường, ALMERA.Ông David Osborn, Giám đốc NAEL cho biết: “Trong quá khứ, VINATOM đã tham gia thành công vào một số dự án hợp tác nghiên cứu và hợp tác kỹ thuật của IAEA và hiện nay VINATOM có khả năng cung cấp những cơ sở vật chất và đội ngũ chuyên gia tại khu vực Đông Nam Á và trong lĩnh vực quản lý tài nguyên lưu vực sông và ven biển”.Từ trước đến nay, VINATOM  đã tham gia chặt chẽ nhiều dự án và các hoạt động của IAEA, cụ thể như một số Dự án nghiên cứu phối hợp (CRPs), Dự án hợp tác kỹ thuật, Hội thảo và các Cuộc họp Ủy ban, nghiên cứu và kỹ thuật. Ngoài ra, vào tháng 5 năm 2018, VINATOM đã trở thành một thành viên của mạng lưới ALMERA, bao gồm 177 phòng thí nghiệm ở 89 nước thành viên. Các phòng thí nghiệm được ALMERA công nhận đều thông qua tuyển chọn dựa trên khả năng xác định các nhân phóng xạ trong các mẫu môi trường một cách tin cậy và kịp thời của các phòng thí nghiệm đó cho việc quan trắc môi trường thường quy và khi có sự cố. Mạng lưới ALMERA được điều phối bởi NAEL dưới sự bảo trợ của Vụ Khoa học và Ứng dụng hạt nhân của IAEA.Ông Aldo Malavasi, Phó Tổng Giám đốc kiêm Vụ trưởng Vụ Khoa học và Ứng dụng hạt nhân của  IAEA cho biết: “IAEA ghi nhận việc hợp tác nghiên cứu tuyệt vời mà VINATOM đã thực hiện từ trước đến nay, và hoan nghênh sự hợp tác mới này giữa các tổ chức. Thỏa thuận hợp tác này sẽ mở rộng mạng lưới tri thức toàn cầu quan trọng, đem đến cho hàng triệu người những lợi ích của việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân vì mục đích hòa bình”.Trung tâm Hợp tác IAEA tại Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho nghiên cứu, phát triển và đào tạo, giúp các quốc gia thành viên đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong đó có các mục tiêu về Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc. Với việc gia nhập của Trung tâm Hợp tác IAEA-VINATOM, IAEA hiện có một mạng lưới gồm 33 trung tâm hợp tác đang hoạt động trên toàn cầu.Nguyễn Thị Thu Hà dịchNguồn: https://www.iaea.org/newscenter/news/viet-nams-atomic-energy-institute-vinatom-signs-new-collaborating-centre-agreement-with-the-iaea       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ tìm thấy sóng hấp dẫn trong vòng năm năm tới      Sóng hấp dẫn là một hiện tượng tồn tại trong  dự đoán của lý thuyết do Einstein đề ra năm 1916, đó là những gợn sóng  của không-thời gian. Để quan sát sóng hấp dẫn, các nhà khoa học Mỹ đã  xây dựng Đài quan sát sóng hấp dẫn – giao thoa kế laser (Laser  Interferometer Gravitational-Wave Observatory, LIGO). Đây là dự án có  nhiều hoài bão nhất được Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) tài trợ.       LIGO gồm hai giao thoa kế hình chữ L (L-shaped interferometers), mỗi giao thoa kế có một cánh tayquỹ đạo dài tới 4 km, tại đầu cuối cánh tay quỹ đạo có treo những tấm gương phản xạ; sự dịch chuyển của những gương đó được ghi chép đo lường với độ chính xác cực kỳ cao, tương đương 1/1.000 đường kính của hạt proton.  Dự án nghiên cứu chưa từng thấy trong lịch sử này do Caltech và MIT kết hợp tiến hành. LIGO thế hệ đầu được vận hành từ năm 2001, sau khi tiến hành nâng cấp kỹ thuật, thiết bị LIGO Tiên tiến thế hệ hai bắt đầu vận hành từ ngày 19/5/2015 vừa qua.   Dưới đây là phần phỏng vấn hai nhà khoa học tham gia dự án: Barry Barish – người đứng đầu dự án LIGO những năm 1994-1997 và Giám đốc LIGO những năm 1997-2006; và Stan Whitcomb – Phó giáo sư Vật lý Caltech những năm 1980-1985, tham gia dự án LIGO từ năm 1991.  Dự án LIGO khởi đầu như thế nào?  Barish: Einstein không cho rằng có thể phát hiện được sóng hấp dẫn, bởi lẽ nó là một lực quá yếu. Nhưng hồi thập niên 1960, Joseph Weber ở ĐH Maryland từng dùng một tấn nhôm để chế tạo một thanh kim loại dài 153 cm. Thanh nhôm này có tần số tự nhiên khoảng 1.000 Hz. Một Siêu tân tinh bùng nổ (collapsing supernova) có thể sinh ra những sóng hấp dẫn nằm trong phạm vi tần số như vậy. Nếu sóng hấp dẫn đó xuyên qua thanh nhôm nói trên thì hiệu ứng cộng hưởng do thanh này sinh ra sẽ có thể tiến hành khuếch đại tín hiệu tới mức đủ để chúng ta đo được. Đây là một ý tưởng rất hay và về cơ bản có thể nói nó đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu thí nghiệm. Thế nhưng rốt cuộc kích thước thanh kim loại làm ra không thể lớn quá và tín hiệu ta quan sát thấy cũng phụ thuộc vào kích thước của thiết bị thăm dò.  Về sau chúng tôi mời GS Vật lý Ron Drever của ĐH Glasgow đến để đẩy mạnh việc nghiên cứu bằng thiết bị thanh kim loại. Nhưng trong khi làm cho chúng tôi thì Ron Drever và Rainer Weiss ở MIT lại đang độc lập nghiên cứu sáng chế các thiết bị thăm dò kiểu giao thoa kế (interferometer-type detectors), theo ý tưởng do những người khác đề xuất trước đây.   Nói chung các tấm gương phải được cố định chắc chắn để không bị dịch chuyển, nhưng các gương phản xạ của LIGO thì lại có thể tự do xoay, có vậy thì sóng hấp dẫn mới có thể làm chúng chuyển động. Kết hợp một thiết bị rất lớn và nặng với sự đo lường có độ chính xác cực kỳ cao là nhiệm vụ vô cùng khó khăn.  Whitcomb: Cho dù thiết bị thăm dò kiểu thanh kim loại dường như là phương án có độ nhạy cao nhất hiện nay, song nếu muốn thiết bị thăm dò cuối cùng đạt được độ nhạy cần thiết thì rất khó. Kip Thorne đã sáng suốt yêu cầu Caltech nghiên cứu sáng chế công nghệ thăm dò kiểu giao thoa kế, và sau đó ông đã thường xuyên thúc đẩy việc này.  Nhóm Ron ở ĐH Glasgow đã làm được một thiết bị thăm dò kiểu giao thoa kế dài 10 m, chiếm hết phòng làm việc. Dựa trên thiết kế của họ, chúng tôi đã làm một thiết bị thăm dò dài 40 m, nhưng trong quá trình làm đã ra sức cải tiến thiết kế cũ. Thời gian ấy suốt ngày chúng tôi làm việc với argon-ion lasers – đây là lựa chọn tốt nhất nhưng cũng rất rắc rối. Khi sử dụng, nước làm mát sẽ gây ra cho thiết bị sự can nhiễu rung lắc rất nghiêm trọng, khiến chúng tôi khó đạt được mục tiêu độ nhạy đặt ra trong thiết kế ban đầu. Chúng tôi còn phải thiết kế hệ thống điều khiển, trong điều kiện hồi ấy thì phải dùng mạch điện analog. Chúng tôi còn làm được loạt “gương siêu cấp” (supermirrors) đầu tiên. Thực ra những thứ đó đều thuộc về kỹ thuật quân sự nhưng chúng tôi thành công chuyển sang dùng cho mục đích khoa học. Cánh tay của thiết bị thăm dò kiểu giao thoa kế càng dài thì độ nhạy càng cao, nhưng chiều dài hữu hiệu là cự ly lũy tiến mà ánh sáng đi được trong đó. Chúng tôi cho ánh sáng phản xạ đi lại vài trăm lần trong đường ống, qua đó làm cho hiệu ứng giao thoa tương đương với độ nhạy của thiết bị thăm dò kiểu giao thoa kế dài hàng nghìn km.  Khi nào thì bắt đầu sự hợp tác chính thức với MIT?  Barish: Rai [Weiss] và Ron [Drever] hồi ấy đang làm các dự án riêng tại MIT và Caltech cho tới lúc GS Robbie Vogt, Trưởng phòng giáo vụ ở Caltech, kết hợp họ lại. Rai và Ron khác nhau về thế giới quan nhưng Robbie đã thành công trong việc làm cho họ hợp tác với nhau.  Năm 1989, Robbie viết bản đề cương dự án nộp lên NSF, gồm hai tập dày gần 300 trang, chứa đựng một số ý tưởng quan trọng, kỹ thuật và khái niệm mà ngày nay chúng tôi sử dụng trong LIGO. Cho dù so với thiết kế hồi ấy, thiết bị LIGO ngày nay có rất nhiều chi tiết khác trước, rất nhiều thứ đã được thiết kế mới, song những thứ cơ bản nhất thì vẫn như bản đề cương đó.   Whitcomb: Năm 1991, LIGO trở thành dự án chung của Caltech và MIT với Giám đốc là Robbie Vogt. Hồi ấy, Robbie lấy về nhiều kỹ sư thiết kế, phần lớn là người ở Phòng Thí nghiệm phản lực JPL. Boude Moore (đã mất) là kỹ sư chân không do chúng tôi mời, ông đã thiết kế phương án hệ thống cao chân không bằng thép không gỉ có hàm lượng hydrogen thấp. Đây là vấn đề chưa từng gặp. Nguyên tử hydrogen hấp thụ trong kim loại sẽ dần dần thoát ra trong chu kỳ sống của toàn hệ thống, nhưng hệ thống này có độ nhạy cực cao, chỉ cần một nguyên tử lang thang chạm vào gương của LIGO thì sẽ gây ra sai lầm về số liệu. Boude đã làm một số công tác đo thử trên kích thước tương đối lớn, chủ yếu ở bên trong kiến trúc máy gia tốc đồng bộ (synchrotron building). Chúng tôi đã xây dựng gần sân bóng đá của Caltech một xilanh thí nghiệm dài 80 m. Các thí nghiệm được triển khai rải rác ở những địa điểm khác nhau rồi tiến hành tổ hợp tại thiết bị thăm dò kiểu giao thoa kế dài 40 m. Hồi đó chủ yếu vẫn dùng mạch analog, nhưng đã có một thiết bị chân không mới. Sau đó chúng tôi thiết kế lại hệ thống treo (suspension) và tăng thêm chức năng mới cho thiết bị thăm dò. Khi ấy chúng tôi đã đạt được độ nhạy cần thiết và chuẩn bị tốt cho việc xây dựng thiết bị thăm dò LIGO cỡ lớn có đường ống dài 4 km. Sau chót, cũng vào năm 1991 chúng tôi nhận được thông tin phản hồi là toàn bộ dự án được cấp trên chuẩn y.  Vì sao LIGO Tiên tiến có độ nhạy cao hơn?  Barish: Nguyên nhân khá phức tạp. Phần lớn các dự án thí nghiệm vật lý có độ nhạy cực cao đều bị hạn chế bởi sự tồn tại của tiếng ồn phông, cho nên phải tập trung chú ý vào mặt này và tìm cách khử hoặc hạ thấp loại nhiễu đó. Nhưng LIGO có ba hạn chế. Chúng tôi đang lùng tìm những sóng hấp dẫn trong giải tần từ 10 Hz tới 10 kHz. Trái đất là một nguồn rung chấn khó tin, cho nên trên tần số 10Hz~100Hz chúng tôi phải tìm cách cách ly mình với các rung chấn tự nhiên của Trái đất. Ngoài ra trên các tần số rất cao, chúng tôi phải tăng nhanh tốc độ lấy mẫu sao cho có thể thấy được tín hiệu, như vậy chúng tôi bị hạn chế bởi công suất laser, nó quyết định số lượng photon chúng tôi có thể lấy được trong thời gian cực ngắn. Còn ở giải tần loại trung bình, chúng tôi bị hạn chế bởi cái gọi là “nhiễu nhiệt (thermal noise)”, đó là do các nguyên tử bên trong gương phản xạ cũng tồn tại chuyển động.   Thế hệ LIGO Tiên tiến có lắp laser mạnh hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu đối với tần số cao. Hệ thống cách ly đã được cải tiến, kể cả hệ thống tự động phản hồi. Chúng tôi có khối lượng thử nghiệm lớn hơn và sử dụng lớp phủ gương phản xạ tốt hơn, bảo đảm hạ tín hiệu nhiễu nhiệt xuống tới mức thấp nhất. Tất cả các cải tiến đó đều có trong văn bản viết năm 1989, văn bản này kiến nghị sử dụng công nghệ lúc đó đã chín muồi để xây dựng thiết bị LIGO đầu tiên, tức các công nghệ hầu hết đã thử nghiệm tại đây trên mẫu 40 m. LIGO Tiên tiến hiện đã xây dựng xong cũng ứng dụng công nghệ mới đã được kiểm nghiệm trên mẫu 40 m sau khi LIGO đầu tiên vận hành tốt. Hiện giờ chúng tôi đang dùng thiết bị 40 m để thực hiện vòng thí nghiệm nâng cấp tiếp theo.   Ông cho rằng còn bao lâu nữa sẽ thăm dò thấy tín hiệu sóng hấp dẫn?  Barish: Tôi luôn hy vọng là năm 2016 sẽ thăm dò thấy tín hiệu sóng hấp dẫn, đó là dịp kỷ niệm 100 năm ngày Einstein công bố Thuyết Tương đối tổng quát. LIGO Tiên tiến đòi hỏi thời gian từ ba đến năm năm mới có thể đạt được độ nhạy thiết kế. Trong thời gian đó, chúng tôi không ngừng thu thập số liệu, nhờ thế cơ hội khám phá sóng hấp dẫn của chúng tôi sẽ không ngừng tăng lên. Theo thiết kế, LIGO Tiên tiến sẽ tăng được đáng kể độ nhạy và xác suất phát hiện tín hiệu. Độ nhạy tăng nghĩa là có thể thăm dò thấy tín hiệu ở xa và không gian thăm dò thì tăng theo lập phương của cự ly.  Năm 1989 khi chúng tôi bắt đầu khởi động dự án, một số người tỏ ra nghi ngờ, cho rằng có thể đây lại là một dự án tương tự như lò phản ứng tổng hợp hạt nhân (fusion). Họ nói phải cần ít nhất 50 năm để thực hiện lò tổ phản ứng này. Đối với LIGO, nói chung có quan điểm cho rằng cần khoảng 10 năm nữa mới thăm dò thấy sóng hấp dẫn. Nhưng tôi nghĩ là không cần lâu đến thế, có lẽ chỉ cần năm năm.     Ng. H lược dịch theo nguồn phys.org  Cao Chi hiệu đính         Author                Quản trị        
__label__tiasang Siemens xây xa lộ  cho xe tải điện ở Mỹ      Tập đoàn Siemens đang thí điểm tuyến xa lộ e-Highway đầu tiên dành cho các xe tải điện ở California, Mỹ.    Cơ quan môi trường ở Nam California đã giao cho Siemens xây dựng thử nghiệm tuyến xa lộ Interstate I-710 ở Carson gần Los Angeles, nơi xe tải sẽ tiếp điện từ mạng lưới điện trên không để vận hành, tương tự như hệ thống xe điện ở các thành phố. Khi xe chạy trên đoạn đường không có mạng lưới điện trên không thì động cơ điện của xe sẽ đi vào hoạt động nhờ các nguồn năng lượng khác như dầu diesel, khí thiên nhiên nén hoặc ắc-quy. Việc kết nối hoặc tách khỏi mạng lưới điện trên không diễn ra hoàn toàn tự động khi xe chạy ở tốc độ 90 km/giờ.   Dự kiến, xe tải điện đầu tiên sẽ được đưa vào vận hành thử vào tháng 7/2015 trên tuyến đường này và sau một năm sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả.   Theo Siemens, công nghệ này đặc biệt thích hợp trên các tuyến đường tương đối ngắn có mật độ xe chạy cao, thí dụ giữa các cảng, các nhà máy hoặc các trung tâm vận tải hàng hóa và các địa điểm bốc dỡ tập trung. Tuyến đường thử nghiệm hiện tại nối liền hai cảng lớn nhất của Mỹ là Los Angeles và Long Beach, nơi có lưu lượng xe chạy rất cao, khoảng 35.000 chuyến xe tải trong một ngày.  Siemens hy vọng sau giai đoạn chạy thử sẽ nhận được đơn hàng của các cảng lớn khác ở California. Đây là khu vực bị ô nhiễm không khí nặng nề nên người ta dự định kết nối các cảng biển ở khoảng cách 30 km với trung tâm trung chuyển đường sắt để tạo ra một “Zero Emission Corridor” (tạm dịch là Hành lang không phát thải).   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Siêu bão ở Sao Hỏa đe dọa xe tự hành của Nasa      Các chuyên gia không biết gì về cảnh quan Sao Hỏa hay xe tự hành Opportunity sẽ trông như thế nào sau cơn bão hoành hành trên 1/4 hành tinh Đỏ này.      Mô phỏng một cơ bão bụi trên Sao Hỏa. Nguồn: Todays Homepage  Xe tự hành Opportunity của Nasa trên Sao Hỏa đã bị tàn phá bởi cơn bão bụi khổng lồ bao phủ hành tinh đỏ và che phủ Mặt trời.  Vào thứ Tư vừa qua, các quan chức cho biết họ kỳ vọng chiếc xe này có thể chịu được sau cơn bão diễn ra trên ¼ diện tích Sao Hỏa và dự kiến sẽ còn đi vòng quanh hành tinh này trong vài ngày nữa. Dù thi thoảng mới diễn ra nhưng cơn bão có thể “gửi” những đám mây bụi dài hàng chục km vào khí quyển. Cơn bão có thể diễn ra trong vài tuần, thậm chí vài tháng, đến khi bầu trời đủ sạch để ánh sáng chiếu xuống mặt đất và nạp lại năng lượng cho Opportunity thông qua các tấm pin mặt trời.  Còn hiện tại, xe tự hành lâu đời nhất trên Sao Hỏa đang mắc kẹt giữa cơn bão dữ dội, trong bóng tối suốt ngày đêm. Các nhà khoa học không lo ngại về chiếc xe tự hành chạy bằng năng lượng hạt nhân Curiosity đang nằm ở nửa bên kia của Sao Hỏa nơi bầu trời đang bắt đầu tối dần. Tàu vũ trụ quay quanh Sao Hỏa thì quá cao để bị ảnh hưởng.  John Callas, quản lý dự án Opportunity tại phòng thí nghiệm động cơ phản lực của NASA tại Pasadena, California, nói: “Cơn bão này nguy hiểm, và chúng ta không biết nó sẽ kéo dài bao lâu và chúng ta cũng không biết môi trường sẽ như thế nào sau khi nó được làm sạch”. Cơn bão bắt đầu từ cuối tháng Năm với tốc độ phát triển nhanh chưa từng có.  Những người điều khiển không lưu đã cố gắng liên lạc với Opportunity vào thứ Ba vừa rồi, nhưng xe tự hành không phản hồi. Pin của xe tự hành đã xuống thấp đễn nỗi chỉ còn duy nhất một đồng hồ đang hoạt động, để đánh thức tàu vũ trụ cho việc kiểm tra mức công suất định kỳ – theo giới chức. Nếu đồng hồ cũng tắt, thì chiếc xe tự hành sẽ không biết thời gian nào để trở lại và có tểh gửi tín hiệu trở lại bất kỳ lúc nào.  Nasa đã khởi động hai xe tự hành Opportunity và Spirit vào năm 2003 để nghiên cứu đá và đất trên Sao Hỏa. Chúng đã đáp xuống vào năm 2004 nhưng Spirit đã dừng hoạt động trong vài năm qua, chỉ còn Opportunity tiếp tục việc khám phá dù đã vượt qua thời gian thực hiện nhiệm vụ dự kiến của nó.  Đây không phải lần đầu tiên Opportunity bị ảnh hưởng bởi các cơn bão bụi. Vào năm 2007, một cơn bão bụi khổng lồ đã khiến Opportunity im lặng trong vài ngày. Nó đã khôi phục trở lại sau khi bị đánh thức từ giấc ngủ sâu để tự bảo vệ của nó.  Tuy nhiên lần này, mức năng lượng của xe tự hành được cho là thấp hơn nhiều. Dù vậy, mùa hè trên Sao Hỏa đang đến gần, sẽ giúp giữ nhiệt độ vào ban đêm và bảo vệ pin và các phần khác không bị đóng băng. Bên cạnh lò sưởi nhiệt, Opportunity được trang bị 8 máy sưởi nhỏ chạy bằng plutonium.  Các nhà khoa học đang háo hức tìm hiểu càng nhiều về các cơn bão bụi càng tốt để trau dồi kỹ năng dự báo thời tiết của họ. Điều đó sẽ giúp ích các phi hành gia, chẳng hạn khi sống trên Sao Hỏa, họ sẽ phải vật lộn với thời tiết nếu bị mắc kẹt ngoài trời trong cơn bão bụi dữ dội, nơi gió có thể đạt tới 113 kph (70mph).  Opportunity nhiều năng lượng đáng kể trước chịu bão, chỉ có một chút vấn đề với khớp nối ở cánh tay robot của nó, Callas nói. Jim Watzin, giám đốc chương trình khám phá Sao Hỏa của Nasa nói: “Hãy nhớ rằng, chúng ta đang nói về chiếc xe tự hành đã hoạt động 15 năm trên Sao Hỏa, với thiết kế chỉ cho phép làm việc liên tục trong 90 ngày.”   Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2018/jun/14/mars-storm-nasa-rover-opportunity       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Siêu giấy” bền hơn cả gang      Mặc dù có độ bền cực lớn, song “giấy nano” của iáo sư Lars Berglund từ Viện Công nghệ hoàng gia Thụy Điển, lại được tạo ra từ một loại vật liệu sinh học rất thông dụng, vốn để làm giấy thông thường: cellulose.      Berglund và cộng sự đã phát triển một quá trình chế biến bảo tồn được sức mạnh của các sợi gỗ theo cách phân hủy bột giấy bằng enzyme và làm phân tách nó ra bằng một cái que cơ học. Quá trình này khiến cho cellulose tách ra nhẹ nhàng thành các sợi thành phần. Kết quả là những sợi cellulose nguyên vẹn lơ lửng trong nước. Khi tách hết nước đi, Berglund tìm thấy các sợi đã dính lại với nhau thành một mạng lưới, tạo ra những tấm phẳng gọi là “giấy nano”. Thử nghiệm cơ học cho thấy nó có độ bền kéo là 214 lần MPa, mạnh hơn cả gang (130 MPa) và gần như bằng cấu trúc thép (250 MPa).   T. An (Theo NewScientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Siêu rối lượng tử đóng gói 18 qubit trong 6 photon với 3 bậc tự do: Phá vỡ kỷ lục thế giới về rối lượng tử      Thành tựu này hứa hẹn mở đường cho những ứng dụng thực tiễn mới, như thực hiện các tính toán lượng tử phức tạp nhất định mà cho tới nay mới chỉ được thảo luận về mặt lý thuyết và chưa bao giờ được tiến hành trên thực tế.      Rối lượng tử (entanglement) là hiện tượng kỳ bí nhất trong thế giới vi mô và không hề có đối chiếu trong thế giới vĩ mô. Nếu 2 hệ lượng tử A và B rối với nhau thì trạng thái của hệ toàn phần AB là xác định, trong khi đó trạng thái của từng hệ riêng biệt, A hoặc B, lại là không xác định. Khi trạng thái của hệ A (B) được xác định bởi một phép đo lượng tử trên hệ A (B) thì trạng thái của hệ B (A) cũng lập tức được xác định mà không cần bất cứ một phép đo nào trên hệ B (A). Đáng ngạc nhiên hơn, mối tương quan tức thì như vừa nói lại không phụ thuộc vào khoảng cách giữa các hệ A và B! Sinh thời Einstein đã hoàn toàn không chấp nhận hiện tượng rối lượng tử và đã cho rằng đó là tác động ma quỷ bất chấp khoảng cách (“Spooky action at a distance”). Nhưng Einstein đã sai! Ngày nay người ta đã kiểm chứng chắc chắn được rằng rối lượng tử là có thật và sự hiển diện của các trạng thái rối lượng tử cho phép thực hiện một số giao thức toàn cầu chỉ bằng các thao tác địa phương kết hợp với truyền thông cổ điển, điều không thể thực hiện được trong thế giới vĩ mô. Rối lượng tử cũng cho phép thực hiện một số tính toán phức tạp một cách cực nhanh mà không một hệ siêu máy tính cổ điển nào có thể làm được.  Khác với tính toán trên máy tính thông thường là dựa trên các bit cổ điển “0” và “1”, tính toán trên máy tính lượng tử theo các thuật giải lượng tử lại sử dụng các bit lượng tử (qubit). Mỗi qubit có thể ở trong trạng thái không xác định, không phải “0”, cũng không phải “1”, mà là cả hai cùng một lúc, và các qubit có thể tồn tại trong các trạng thái rối khác nhau. Điều này, về lý thuyết, cho phép thực hiện tất cả các loại tính toán mà máy tính thông thường không thể thực hiện được. Tuy nhiên, về công nghệ, tính toán lượng tử hiện nay chỉ mới đang ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu.  Về nguyên tắc, bài toán càng phức tạp càng cần “đóng gói” nhiều qubit hơn trong một trạng thái rối. Thông thường mỗi photon (hay điện tử, nguyên tử hai mức, hạt có spin ½, …) được xem như một qubit.  Một cách tự nhiên nhất, muốn đóng gói N qubit trong một trạng thái, cần làm rối N photon với nhau. Hiện nay 10 qubit đã được đóng gói trong một trạng thái rối gồm 10 photon [1]. Tuy nhiên, để làm rối vài photon với nhau thôi đã phải mất vài hoặc vài chục giây, một khoảng thời gian quá quá dài đối với các tính toán lượng tử, chưa nói để thực hiện mỗi phép tính lại phải bắt đầu một quá trình tạo rối mới. Hơn nữa, việc làm rối thêm một photon vào nhóm các photon đã được làm rối trước đó sẽ còn mất nhiều thời gian hơn. Do vậy, làm rối nhiều photon theo cách làm rối lần lượt từng photon là cách làm hoàn toàn không tối ưu.  Mỗi photon (hay bất cứ một loại hạt vi mô nào khác) có thể ở trong các trạng thái khác nhau được đặc trưng bởi các bậc tự do (degree of freedom) khác nhau. Thí dụ, một photon có thể được đặc trưng bởi bậc tự do phân cực trong trạng thái có phân cực dọc hoặc phân cực ngang hoặc cả hai; nó cũng có thể được đặc trưng bởi bậc tự do lộ trình không gian (spatial path degree of freedom) là truyền theo hướng này hay hướng khác hoặc cả hai hướng; hoặc bậc tự do moment quỹ đạo (orbital angular moment), v.v. Thường thì  một thí nghiệm lượng tử chỉ khai thác một loại bậc tự do đối với tất cả các hạt trong thí nghiệm đó. Nếu khai thác cùng một lúc nhiều hơn một loại bậc tự do thì một hệ lượng tử có thể đóng gói N qubit trên M (M < N) hạt. Trạng thái rối sử dụng đồng thời nhiều bậc tự do, gọi là trạng thái siêu rối (hyperentanglement).  Các trạng thái siêu rối đã từng được tạo ra trước đây nhưng mới chỉ khai thác cùng lắm tới hai loại bậc tự do. Mới đây một kỷ lục đáng kinh ngạc về tạo siêu rối đã được thiết lập. Theo công bố ngày 28/6/2018 trên tạp chí Physical Review Letters [2], các nhà khoa học Trung Quốc vừa đóng gói thành công 18 qubit trên một trạng thái rối chỉ gồm 6 photon; có nghĩa là mỗi photon mang thông tin của 3 qubit. Mấu chốt là ở chỗ các nhà nghiên cứu đã lợi dụng thành công cùng lúc 3 bậc tự do của photon: bậc tự do phân cực, bậc tự do lộ trình không gian và bậc tự do moment quỹ đạo, điều chưa từng thấy từ trước tới nay. Điều này giống như bạn sử dụng sáu bit trong máy tính của bạn, nhưng mỗi bit lại có dung lượng thông tin nhiều gấp ba lần. Như vậy, cùng một lúc bạn có thể lưu trữ và xử lý tới 262144  dữ liệu khác nhau.    Hình 1. Sơ đồ thực nghiệm để tạo trạng thái rối 6 photon phân cực.  Sơ đồ thực nghiệm gồm 3 bước. Bước 1 khai thác bậc tự do phân cực của photon. Trong bước này (Hình 1) một chùm laser được chiếu lần lượt qua các cấu trúc gồm 1 đĩa bán sóng (ký hiệu là HWP) kẹp giữa 2 môi trường phi tuyến (ký hiệu là BBO) để tạo ra 3 cặp photon rối có dạng: , với  là trạng thái phân cực ngang (dọc). Sau đó, photon 1 được lần lượt kết hợp với photon 3 và photon 5 trên các bộ tách chùm phân cực (ký hiệu là PBS). Thời gian truyền của các photon được điều chỉnh sao cho chúng đến các PBS cùng một lúc. Khi một và chỉ một photon xuất hiện ở mỗi đầu ra thì 6 photon đã được rối với nhau trong một trạng thái rối đa hạt kiểu Greenberger–Horne–Zeilinger [3] có dạng   .    Hình 2. Sơ đồ thực nghiệm để tạo trạng thái siêu rối sử dụng cả bậc tự do lộ trình không gian (phía bên trái) và bậc tự do moment quỹ đạo (phía bên phải).  Để sử dụng bậc tự do lộ trình không gian, trong bước 2 từng photon được truyền qua một bộ tách chùm phân cực kép (Hình 2, phía bên trái). Mỗi photon trước đó đã cùng một lúc ở cả hai trạng thái phân cực và chỉ truyền theo một lộ trình không gian, nhưng sau khi đi qua bộ tách chùm phân cực kép thì bị tách ra thành hai lộ trình không gian: lộ trình trên (ký hiệu là U) ứng với phân cực ngang và lộ trình dưới (ký hiệu là D) ứng với phân cực dọc. Có nghĩa là trạng thái lúc đầu của photon  sẽ chuyển thành , một kiểu siêu rối theo cả phân cực và lộ trình.  Sau cùng, bậc tự do moment quỹ đạo sẽ được khai thác trong bước 3 bằng cách chèn hai đĩa pha xoắn ốc (ký hiệu là SPP) vào cả hai lộ trình của mỗi photon (Hình 2, phía bên phải): photon đi theo lộ trình U sẽ có moment quỹ đạo kiểu ‘thuận tay phải’  (ký hiệu R) còn photon đi theo lộ trình D sẽ có moment quỹ đạo kiểu ‘thuận tay trái’  (ký hiệu L). Như vậy, sau 3 bước, mỗi photon sẽ đồng thời ở trong trạng thái siêu rối theo cả phân cực, lộ trình không gian và moment quỹ đạo dưới dạng . Bằng cách làm như trong các bước 2 và 3 với mỗi photon, bắt đầu từ trạng thái 6 photon rối theo bậc tự do phân cực (Hình 1), 18 qubit đã được đóng gói trong một trạng thái siêu rối mà chỉ cần có 6 photon  , với  là ký hiệu gọn cho    Xác suất thành công để đóng gói 18 qubit trong 6 photon nhờ sử dụng cả 3 bậc tự do lớn hơn khoảng 13 bậc so với đóng gói cũng 18 qubit nhưng trong 18 photon khi chỉ sử dụng một bậc tự do.  Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra trạng thái siêu rối như thế này có thể thực hiện được đối với các photon nhưng đối với các dạng qubit khác, như các qubit trong các mạch siêu dẫn chẳng hạn, thì lại không hề dễ dàng. Chi tiết hơn có thể tham khảo thêm từ các trích dẫn trong [2] và [4].     —-  Tài liệu tham khảo  [1] L.K. Chen et al., Optica 4, 77 (2017)  [2] X.L. Wang et al., Physical Review Letters 120, 260503 (2018)  [3] https://en.wikipedia.org/wiki/Greenberger–Horne–Zeilinger_state  [4] https://www.scientificamerican.com/article/chinese-researchers-achieve-stunning-quantum-entanglement-record    Author                Nguyễn Bá Ân        
__label__tiasang Sinh con từ buồng trứng đông lạnh thuở thiếu nữ      Lần đầu tiên trên thế giới, một phụ nữ đã  sinh con thành công bằng phương pháp sử dụng mô buồng trứng đông lạnh để  dành từ thuở còn là thiếu nữ.    Người phụ nữ 27 tuổi này năm 13 tuổi, do được chẩn đoán là mắc chứng thiếu máu có tính tế bào hình lưỡi liềm (sickle cell anaemia) mà bị cắt mất một buồng trứng trong quá trình tiến hành hóa trị. Sau khi điều trị xong thì một buồng trứng còn lại cũng mất chức năng vốn có. Điều đó có nghĩa là bệnh nhân sẽ không thể nào sinh đẻ được nữa nếu không được cấy buồng trứng đông lạnh.   Các chuyên gia hy vọng nếu thí nghiệm này thành công thì họ sẽ có thể dùng phương pháp đó để giúp những thiếu nữ không may sớm mắc bệnh tương tự.  Người phụ nữ nói trên đã sinh một bé trai khỏe mạnh vào tháng 11/2014. Báo cáo chi tiết về thí nghiệm khoa học này được đăng trên tạp chí Human Reproduction số ra ngày 10/6 năm nay.  Người phụ nữ muốn giấu tên nói trên được chẩn đoán mắc bệnh thiếu máu hình lưỡi liềm khi mới lên năm. Đây là một loại bệnh mất cân đối máu rất nghiêm trọng. Sau đó cô được chuyển từ Congo đến định cư ở Bỉ. Các thầy thuốc ở đây cho rằng tình trạng thiếu máu của cô đã vô cùng nghiêm trọng, cần được lập tức cấy tủy, sử dụng mô hòa hợp (matching tissue) lấy từ người anh ruột.  Để đề phòng phản ứng thải loại, trước khi làm phẫu thuật ghép tủy, các bác sĩ sử dụng phương pháp hóa trị để ức chế hệ thống miễn dịch của bệnh nhân.    Vì hóa trị sẽ phá hỏng chức năng của buồng trứng nên các bác sĩ đã cắt buồng trứng bên phải của người bệnh và đem bảo quản đông lạnh một số mô của buồng trứng đó. Khi ấy bệnh nhân chưa có kinh nguyệt. Buồng trứng bên trái của người bệnh cũng bị hỏng chức năng từ năm 15 tuổi.  Mười năm sau, bệnh nhân nói trên nêu yêu cầu muốn sinh con. Thế là các bác sĩ đem rã đông các mô buồng trứng được bảo quản từ nhiều năm trước, lấy bốn mảnh mô này cấy vào buồng trứng bên trái, ngoài ra lại cấy 10 mảnh mô vào các bộ phận khác trên cơ thể của cô.   Năm tháng sau khi làm phẫu thuật cấy mô, bệnh nhân nói trên bỗng dưng bắt đầu thấy kinh, và có thai một cách tự nhiên ở tuổi 27.  Bác sĩ phụ khoa Isabelle Demeestere, người phụ trách việc điều trị kể trên, nói: trong quá trình điều trị, nữ bệnh nhân từng tỏ ra rất căng thẳng vì đây là lựa chọn duy nhất của cô để có một đứa con, nhưng bây giờ dĩ nhiên cô vô cùng vui mừng và đang tận hưởng cuộc sống mới của mình.   Bà Demeestere hy vọng quá trình điều trị này có thể hữu ích đối với những phụ nữ trẻ có rủi ro hỏng buồng trứng, đặc biệt khi giờ đây khả năng sống sót của số bệnh nhân mắc chứng thiếu máu ở thời thơ ấu đã tăng đáng kể. Bà cho biết, sau đây vẫn cần nghiên cứu về các em gái trước tuổi dậy thì, vì bệnh nhân được điều trị thành công nói trên trước khi bị cắt bỏ buồng trứng đã bắt đầu ở vào tuổi dậy thì, tuy chưa có kinh nguyệt.    Bà cảnh báo: ca điều trị nói trên chỉ thích hợp với các bệnh nhân có nguy cơ cao bị hỏng buồng trứng, bởi lẽ bản thân quá trình điều trị đó chứa đựng các rủi ro như có thể do bảo quản không tốt mà làm hỏng buồng trứng khỏe mạnh bị cắt bỏ, hoặc có thể lại đưa các tế bào xấu vào cơ thể khi cấy mô buồng trứng.  Trên thế giới hiện có 40 trẻ em được sinh ra bằng công nghệ sử dụng mô buồng trứng đông lạnh lấy từ các phụ nữ lớn tuổi hơn sản phụ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh ra cùng Viện Toán      Hôm nay tôi thật bất ngờ và thú vị khi được biết mình hóa ra có cùng tuổi với Viện Toán, tuổi “Tuất” (sinh năm 1970). Một số bạn bè đồng nghiệp  cũng cùng tuổi đó, như là GS. Vũ Hà Văn và GS. Phùng Hồ Hải. Tuổi Tuất đó có thể vất vả, bươn trải, nhưng giàu tinh thần, nghị lực, cũng như Viện Toán vậy.      Các giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Paul Embrechts, Ngô Việt Trung, Nguyễn Việt Dũng ở Viện Toán cuối năm 2011. Nguồn: NVCC  Các nhà toán học thường ít giàu về vật chất nhưng giàu về tinh thần. Đặc biệt là ở Viện Toán, có rất nhiều người uyên bác, sắc sảo, không chỉ về  toán học, mà còn về các mặt của xã hội, dám nói, dám làm, vì thế tôi rất kính trọng.  “Duyên nợ” của tôi với Viện Toán thì vô cùng nhiều. Các thành viên của Viện Toán, từ cố GS. Hoàng Tụy, đến GS. Hoàng Xuân Phú, GS. Ngô Việt Trung, PGS. Phan Hà Dương, và rất nhiều người khác, đối với tôi đều là những người thầy, người anh, người bạn thân thiết.    Trong suốt bốn năm làm việc tại Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế (ICTP) và Viện Nghiên cứu cao cấp quốc tế (SISSA-ISAS) ở Trieste (Italia) vào đầu thập kỷ 1990, tôi may mắn liên tục được gặp nhiều người từ Viện Toán (và Viện Vật lý) sang đó, như là GS. Hà Huy Vui, GS. Nguyễn Tự Cường, GS. Nguyễn Đông Yên, GS. Lê Tuấn Hoa,  PGS. Trương Xuân Đức Hà, v.v., và nhà tôi nhiều khi trở thành “bản doanh” của giới khoa học Toán – Lý người Việt thời đó. Nhiều người tôi quen từ thời còn là sinh viên ở Nga, như GS. Đỗ Ngọc Diệp, PGS. Nguyễn Việt Dũng, GS. Nguyễn Đình Công, GS. Đinh Nho Hào, GS. Nguyễn Minh Trí v.v. cũng là cán bộ của Viện Toán. Ngay từ thời còn là học sinh phổ thông ở Hà Nội, tôi cũng đã may mắn được PGS. Phan Huy Khải của Viện Toán kèm cặp.   Sau này, lần nào về Việt Nam, tôi cũng có dịp ghé qua Viện Toán, có khi chỉ là để thăm hỏi, nhưng nhiều lần cũng là để hợp tác, báo cáo khoa học, tổ chức hội nghị hay trường hè, tham dự ngày hội toán học cho các học sinh, v.v. Tủ sách Sputnik do tôi thành lập cùng một số đồng nghiệp, trong đó có GS. Hà Huy Khoái, cựu Viện trưởng Viện Toán, nhằm mục đích quảng bá kiến thức khoa học một cách gợi mở, khai phóng, cũng vinh dự được Viện Toán quan tâm và giúp phổ biến đi các nơi. Mỗi lần đi đến các trường phổ thông, GS. Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán, vẫn thường mang theo các cuốn trong Tủ sách Sputnik như một “món quà” toán học cho các em học sinh.   Những hoạt động đồng tổ chức với Viện Toán bao giờ cũng để lại ấn tượng khó quên với tôi, dù ở bất kỳ quy mô nào. Trong số đó, trường hè về toán tài chính vào năm 2011, do CNRS đồng tài trợ, kéo dài ba tuần với hơn 100 người tham dự. Không chỉ là trường hè lớn nhất mà tôi tổ chức cùng với Viện Toán, kỳ đó còn mời được cả những át chủ bài trong ngành như GS. Paul Embrechts, cố vấn của nhiều ngân hàng trung ương quốc tế, giảng bài về quản lý rủi ro tài chính. Trường hè đó hơi “đi trước thời đại” vì ở Việt Nam lúc đó, ngay các ngân hàng cũng còn rất ít quan tâm tới quản lý rủi ro tài chính định lượng. Gần chục năm sau, nhiều ngân hàng đã nhận thức rõ hơn về giá trị của toán học hiện đại trong quản lý tài chính.   Trong nhiều năm, tôi có tham gia phụ trách chương trình hợp tác toán học Pháp-Việt, và qua đó giúp sinh viên cao học quốc tế của Viện Toán và của trường ĐH Sư phạm Hà Nội sang Toulouse học tiếp cao học và tiến sĩ. Trong số đó có nhiều sinh viên nay đã trở thành các nhà khoa học xuất sắc, ví dụ như TS. Lữ Hoàng Chinh đã trở thành giảng viên tại ĐH Paris Sud, là trung tâm toán học xếp hạng nhất thế giới; hay như TS. Phạm Việt Hùng và TS. Lê Hải Yến có kết quả nghiên cứu rất tốt, có thể tìm được việc tốt ở Pháp nhưng đã chọn về Việt Nam làm việc tại Viện Toán. Một số bạn trẻ khác, cũng xuất phát từ cao học của Viện Toán, nay lại có duyên cơ làm việc tại một công ty về trí tuệ nhân tạo mang tên “Torus Actions” ở Pháp do tôi thành lập.   Nghề làm khoa học chân chính nói chung, và nghiên cứu toán học nói riêng, là một nghề khá vất vả, đặc biệt trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn của Việt Nam. Có một lần, GS. Nguyễn Xuân Tấn của Viện Toán kể cho tôi nghe câu chuyện sau về một nhà toán học Việt Nam. Thời kỳ bao cấp đói kém, nhà toán học đó vẫn miệt mài làm toán ở nhà, vẽ vẽ ghi ghi trên giấy nháp, không kiếm được tiền như ông thợ hàng xóm. Bà vợ một hôm tức giận giật giấy trên tay, hỏi “mấy cái định lý của anh có ra tiền không”. Sau đó, nhà toán học này nhận được học bổng Humboldt sang Đức mấy năm, trở nên khá giả so với người Việt Nam thời đó, và bà vợ hài lòng công nhận “mấy cái định lý của anh ra tiền thật”.  Làm toán lý thuyết để mà “ra tiền” thật là khó. Kể cả có được “đi Tây” thì thời nay cũng không phải là giàu, trong khi nhiều ngành khác với trình độ tương đương người ta kiếm tiền “như nước”. Tuy nhiên, tôi tin rằng Viện Toán sẽ không chỉ giàu có về tinh thần mà  cũng sẽ rất giàu có về mặt vật chất một cách chính đáng, trong thời đại của trí tuệ nhân tạo ngày nay. Bởi lẽ, trí tuệ nhân tạo chính là toán học chứ không là gì khác: toán hiện đại, cao cấp, áp dụng vào việc xử lý thông tin đưa ra quyết định. Vốn giàu có về toán học của Viện Toán cũng chính là vốn giàu có tiềm năng rất lớn, có thể chuyển hóa thành những trí tuệ có tầm ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hàng triệu người … □       Author                Nguyễn Tiến Dũng        
__label__tiasang Sinh thái học tư duy      C&#225;c nguy&#234;n tắc của &#8220;tư duy sinh th&#225;i&#8221; đ&#227; vượt ra ngo&#224;i c&#225;c vấn đề m&#244;i trường khi &#225;p dụng cho x&#227; hội v&#224; văn h&#243;a. Nghĩa th&#244;ng thường của c&#225;ch n&#243;i &#8220;sinh th&#225;i học văn h&#243;a&#8221; được d&#249;ng trong c&#225;c b&#224;i viết v&#224; b&#224;i n&#243;i của viện sĩ Dmitry Likhachev, nh&#224; thơ Andrei Voznesensky v&#224; c&#225;c t&#225;c giả nổi tiếng đ&#225;ng k&#237;nh kh&#225;c l&#224; sự bảo tồn những s&#225;ch vở, tranh tượng, nh&#224; cửa v&#224; c&#225;c c&#244;ng tr&#236;nh kiến tr&#250;c kh&#225;c của qu&#225; khứ.     Tuy nhiên, văn hóa không chỉ có sách vở đã viết ra và các tượng đài cổ xưa mà việc bảo tồn chúng hẳn nhiên là trách nhiệm của chúng ta. Mà còn có văn hóa của tư duy, của hoạt động trí tuệ. Đã đến lúc mở rộng các nguyên tắc của “tư duy sinh thái” sang lĩnh vực của chính tư duy chưa? Thế giới chúng ta đang sống không chỉ có môi trường sống mà còn có môi trường tư duy. Tuy nhiên, trí quyển[1] (không gian lý trí) đang bị ô nhiễm bởi rác thải của sự sản xuất trí tuệ và hoạt động tư tưởng y như sinh quyển bị ô nhiễm bởi rác thải công nghiệp vậy. Khi đó sinh thái học tư duy là gì?  Cách tiếp cận sinh thái đối lập với cách tiếp cận phương tiện, với sự thờ ơ của nó trước số phận của đối tượng và ý muốn hy sinh đối tượng nhân danh các mục đích thực lợi bên ngoài. Hàng thế kỷ nay tự nhiên chỉ được coi là phương tiện để phát triển công nghiệp, để làm giàu xã hội và để tự đề cao con người. Nhưng như chúng ta có thể thấy hiện nay, chính các mục đích đó đã được ghi vào trong tự nhiên và không thể đạt được bằng cách phá hủy nó, điều này hầu như sẽ tự động dẫn đến sự tự hủy hoại cuộc sống con người trên Trái đất. Tương tự, chúng ta đã quen cách đánh giá các quá trình trí tuệ gắn với mục đích và kết quả thực tế của chúng. “Cái này dẫn đến đâu?”, “Chúng ta sẽ đi đến kết luận gì?”, “Từ đây chúng ta sẽ đi đến đâu?”. Đấy là những tiêu chí được chấp nhận chung để đánh giá tư duy. Tư duy không được coi là có giá trị tự thân mà là như một hình thức hành động phụ trợ, cần phải được so sánh với cái gì đó có ích bắt nguồn từ bên ngoài. Từ đây có thói quen đi đến “những kết luận”, dẫn tới “những suy ra” và “những khái quát hóa” đóng đinh dưới dạng sản phẩm cuối cùng, tách khỏi bản thân quá trình tư duy.  Bên trong các hệ thống tư duy, nguyên tắc đồng nhất tính là nguyên tắc thống trị tối cao. Vô số các hiện tượng khác nhau đều được suy ra từ một định đề đơn nhất, từ ưu thế hàng đầu của “tư tưởng” hay “vấn đề”, từ “ý nghĩa” hay “lý do”, “ý muốn” hay “tri thức”, “cá nhân” hay “tập thể”. Trong các yếu tố đó, một cái luôn đóng vai trò chủ chốt như là ‘cơ sở”, “nguyên nhân đầu tiên”, còn những cái khác bị phụ thuộc, bị tán phá, bị thiếu thốn nghĩa và biến thành “thượng tầng cấu trúc” hoặc cột dựa, không có vị trí độc lập trong vũ trụ được dựng nên. Tư duy bị xem là phương tiện, và khi biến thành “các tư tưởng”, nó trở thành công cụ để nô dịch và điều khiển. Có lẽ thế kỷ 20 sẽ được nhớ đến như là thế kỷ của các “tư tưởng” bởi vì cái logic không lay chuyển của chúng đã thống trị trong tất cả các lĩnh vực đời sống, ăn vào các quan hệ nhân quả và được kiểm định bằng dây xích thép của các giả thuyết và kết luận. Các tư tưởng và con người trở thành công cụ của chúng phải chịu trách nhiệm về những bi kịch lớn lao của thế kỷ 20: các cuộc chiến tranh thế giới và nội chiến, các trại tập trung, các vụ nổ bom nguyên tử, các thảm họa sinh thái, sự khủng bố chính trị. Đấy là nguyên tắc bắt mặt này của tồn tại phụ thuộc vào mặt kia hay hủy diệt mặt này bằng mặt kia.  Tuy nhiên, khi thế kỷ đi dần về cuối, quyền lực của các “tư tưởng” ngày càng suy giảm. Loài người đang đi tới nhận thức rằng có những giá trị thậm chí còn quan trọng hơn sự bảo tồn và phát triển của loài người: đó là tình yêu, cuộc sống, tự nhiên, sự hấp dẫn của cái riêng biệt, cái không lặp lại. Các đặc tính (Idio-syncrasy) thay cho các hệ tư tưởng (Ideo-logy). Một lĩnh vực tinh thần mới hình thành, lĩnh vực của minh triết và tình yêu, của sự hiểu biết và hài hòa giữa tất cả các sinh vật trên Trái đất: đó là lĩnh vực của Tâm Linh Trắng (White Spirituality), nó tinh khiết nhưng bao trùm tất cả các sắc màu của quang phổ (Sophiosphere – Minh quyển)[2]  Các “tư tưởng” vậy là phải quay lại vị trí của tư duy tự nhiên và hòa tan vào thể hữu cơ của nó. Kiểu tư duy chúng tôi gọi là “tư duy essay” (essayism) xác nhận lại giá trị của nó ở đây. Về mặt ý hệ, nó “vô nhiễm” và “sạch rác” bởi vì nó không theo đuổi những mục đích nào ngoài chính nó. Có kiểu tư duy giống như đầu máy xe lửa hay người đi cắm cúi hướng tới một cái đích nhất định. Kiểu tư duy đó cứ cẫn mẫn nhằm tới kết luận, và “kết quả” là mục đích tối hậu của nó. Nhưng “mục đích” (“цель”) chỉ là một kiểu thoái hóa của “chỉnh thể” (“целое”), khi một mặt tách riêng của nó giữ lấy sự điều khiển tất cả các mặt khác. Tư duy tiểu luận là vô mục đích, nó không nhằm đến một cái đích nào cả, nó là chính thể luận (holistic).  Tư duy tiểu luận có thể so với việc thở: tư duy là thở Cái Tôi ra thế giới và thở thế giới vào Cái Tôi. Cái này hiển lộ trong cái kia chứ không phải suy ra từ cái kia như trong quan hệ nhân quả. Mỗi hiện tượng đều có tính tự trị và ý nghĩa của riêng nó, đồng thời nó lại là hình ảnh hay sự thể hiện của một hiện tượng khác. Không có quan hệ điều khiển được xác lập giữa chúng, mà là quan hệ tương ứng và phù hợp lẫn nhau. Tiểu luận cho thấy đối tượng tồn tại trong thế giới thế nào và thế giới tồn tại trong đối tượng thế nào. Phẩm chất thuận nghịch và hai chiều vốn có đối với việc thở đã được ghi ngay trong chính danh từ “tiểu luận”: nó là một từ mà trong tiếng Nga (эссе) đọc ngược đọc xuôi đều được.  Bằng chứng và phản luận (refutation) là xa lạ với tư duy essay, xem chúng là mang tính ý hướng và tư lợi về mặt trí tuệ. Nơi nào tư duy bị khai thác nhân danh “tư tưởng”, nơi nào nó sinh ra “giá trị thặng dư” dưới dạng ưu thế cứng nhắc của một quan niệm này đối với một quan niệm khác, nới đó tư duy essay vắng mặt. Giống như hơi thở, essay không thể là vô hướng. Nếu nó dừng lại khi hít vào hay thở ra với “Hoan hô…!” hay “Đả đảo…!”, cái chết sẽ đến ngay. Lão tử có nói rằng “những lời nói đúng giống với sự trái ngược của chúng”, còn Borges thì nói mọi cuốn sách hay cũng đồng thời là “phản sách”. Những nhận xét đó có thể áp dụng được cho essay, trong đó tư duy phát triển theo hướng đối lập, bao trùm toàn bộ trường những cái khả thể.  Do đó đã đến lúc phải thừa nhận rằng thái độ phương tiện đối với tư duy, cũng như đối với tự nhiên, là nguy cơ cho sự tồn tại của con người với tư cách là một hữu thể có tư duy, là homo sapiens. SINH THÁI HỌC TƯ DUY là một bộ môn nhân văn mới, sinh ra ở thời đại chín muồi của tư duy, trong đó tư duy không còn thỏa mãn với vai trò phương tiên trong sự xây dựng cuộc sống nữa mà tự biểu hiện như một chỉnh thể tự trị. Mục đích của tư duy là sự tiến triển của chính tư duy. Chỉ mới gần đây thôi, điều này nghe như là dị giáo. Nhưng bài học cay đắng của việc dùng tự nhiên “theo lối phương tiện” đã dạy cho chúng ta cách khác. Đâu là mục đích của cánh rừng này, dòng sông này, bãi cỏ này? Mục đích của nó y như của con người – nó là tận cùng trong chính nó. Bản thân tư duy tự biểu lộ như nhu cầu mang giá trị tự thân và như niềm vui thuần khiết của trí tuệ con người, bẩm sinh như hít thở vậy. Marcus Aurelius nhận xét đúng rằng: “Giống như sự hít thở của anh là hành động duy nhất hòa điệu với không khí vây quanh anh, hãy để trí óc anh bây giờ cũng hòa điệu với trí óc bao trùm vạn vật. Vì sức mạnh trí óc truyền ra khắp các hướng và lan tỏa đến mọi vật đối với kẻ muốn lôi kéo nó không kém sức mạnh không khí đối với kẻ có khả năng hô hấp nó”.  Vậy thì còn ai khác hơn chúng ta, công dân của Nhà nước ý hệ, những người đã nếm trải sức mạnh phá vỡ của những hình thức biến đổi, “bắt buộc” của ý thức, được chọn trở thành những nhà sinh thái tiên phong của trí quyển và những người bảo vệ sự tinh khiết của nó?  *Nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Nga, sống tại Mỹ  Moskva, 1982  —————————-  Ngân Xuyên dịch từ tiếng Anh  Trong sách: Russian Postmodernism: New Perspectives on Post-Soviet Culture (Chủ nghĩa hậu hiện đại Nga: những viễn cảnh mới về văn hóa hậu Xô Viết). New York, Oxford: Berghahn Books, 1999, tr. 158-162.                   [1] “Trí quyển” (Noosphere) là thuật ngữ do nhà tư tưởng Cơ đốc giáo Pháp Pierre Teilhard de Chardin (1881 – 1955) tạo ra và được dùng trong tư tưởng hiện đại để chỉ toàn bộ những cấu trúc và tiện nghi nhân tạo trên Trái Đất thể hiện khả năng của lý trí con người hoạt động như một yếu tố địa lý mới nhằm biến đổi hành tinh của chúng ta. Trí quyển bao gồm lý trí con người trong sự đa dạng của tất cả các chiều kích và sản phẩm vật chất và tinh thần của nó.     [2] Nếu “trí quyển” chỉ lý trí của Trái đất, thì “minh quyển” chỉ sự minh triết của Trái đất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh vật biển lạ ở Nam Cực      Các nhà khoa học nghiên cứu vùng nước băng giá của Nam Cực cho biết họ vừa phát hiện được những sinh vật bí ẩn nằm sâu dưới mặt băng, bao gồm loài nhện biển khổng lồ và những con sâu to lớn.      Một số loài sinh vật sống sâu dưới lòng đại dương phát triển ở những kích cỡ to lớn khác thường, các nhà khoa học gọi đó là tính khổng lồ và vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ hiện tượng này. Tính khổng lồ rất phổ biến ở vùng biển Nam Cực. Các nhà khoa học đã phát hiện được những con sâu kích cỡ lớn, những động vật giáp xác khổng lồ và nhện biển to bằng cái đĩa. Nhiều loài sinh vật phát hiện  có thể là những loài mới.   Theo National Geographic      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh vật giống tôm ở độ sâu 3000 mét      Các nhà khoa học đã khám phá ra những con nhuyễn thể đang sống và kiếm ăn ở độ sâu đến 3.000 mét trong các vùng nước quanh bán đảo Nam cực.      Cho đến nay, các sinh vật giống như tôm này vẫn được cho là chỉ tồn tại ở độ sâu vài trăm mét dưới mặt biển. Nhuyễn thể Nam cực ăn các loại tảo tí hon và sống theo bầy đàn, đôi khi lên tới 10.000 con. Là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn ở Nam cực, chúng có thể dài tối đa tới 6 cm, nặng 2 gram và có tuổi thọ 8-10 năm. Phát hiện mới đã làm thay đổi mạnh mẽ những quan điểm khoa học lâu nay về nguồn thức ăn của các sinh vật biển như cá, mực, chim cánh cụt, hải cẩu và cá voi.   T. An (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sinh viên giải quyết bí ẩn vật lý 100 năm tuổi      Một sinh viên Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ (EPFL) đã bất ngờ giải quyết được một bí ẩn đã thách thức các nhà nghiên cứu cả trăm năm. Anh đã khám phá ra tại sao các bong bóng khí trong các ống hình cầu nhỏ dường như bị giữ lại thay vì thoát lên.      Theo kết quả nghiên cứu của anh và các cuộc quan sát, một màng chất lỏng siêu mỏng hình thành quanh bong bóng này, ngăn cản nó thoát lên một cách tự do. Và anh tìm ra là trên thực tế, các bong bóng này không hề bị “kẹt’ – chúng chỉ chuyển động vô cùng chậm chạp.  Các bong bóng không khí trong một cốc nước trôi nổi một cách tự do trên bề mặt, và cơ chế bên trong được giải thích một cách dễ dàng bằng các quy luật cơ bản của khoa học. Dẫu sao, những quy luật tương tự không giải thích được tại sao các bong bóng khí trong một cái ống có độ dày vài milimet lại không hề thoát lên theo cách tương tự.  Các nhà vật lý quan sát hiện tượng này lần đầu vào khoảng một thế kỷ trước đây nhưng không thể đưa ra được một giải thích nào – trên lý thuyết, các bong bóng không thể gặp phải bất kỳ trở lực nào trừ phi chất lỏng đó đang chuyển động; như vậy một bong bóng bị kẹt lại không gặp phải trở lực.  Trở lại những năm 1960, một nhà khoa học tên là Bretherton đã phát triển một công thức được hình thành trên hình dạng của các bong bóng để giải thích hiện tượng này. Các nhà nghiên cứu khác từ đó đã mặc nhiên công nhận việc bong bóng không thoát lên phụ thuộc vào một màng mỏng của chất lỏng hình thành giữa các bong bóng và thành ống. Nhưng các lý thuyết không thể giải thích một cách tường tận tại sao các bong bóng lại hành xử như vậy.  Trong khi đó một sinh viên đại học tại Phòng thí nghiệm Cơ chế kỹ thuật và các giao diện mềm (EMSI) thuộc trường Kỹ thuật (EPFL) là Wassim Dhaouadi đã có thể không chỉ giải thích được lớp màng mỏng của chất lỏng mà còn đo đạc được nó và miêu tả các đặc tính của nó – những gì chưa từng được làm trước đây. Phát hiện của anh đã cho thấy các bong bóng không bị “kẹt” như các nhà khoa học từng nghĩ trước đây mà trên thực tế chuyển động hướng lên một cách vô cùng chậm chạp. Nghiên cứu của Dhaouadi mới xuất bản trên tạp chí Physical Review Fluids đã đánh dấu bằng chứng thực nghiệm đầu tiên để kiểm tra các lý thuyết đã có.  Dhaouadi và John Kolinski, người phụ trách phòng thí nghiệm EMSI đã dùng một phương pháp giao thoa quang học để đo đạc màng mỏng này và thấy nó dày chỉ vài chục nano mét (1 x 10-9 mét). Phương pháp này bao gồm ánh sáng chiếu thẳng vào một bong bóng khí bên trong một ống nhỏ và phân tích cường độ ánh sáng phản xạ. Việc sử dụng giao thoa ánh sáng phản chiếu từ bên trong thành ống và từ bề mặt của bong bóng, họ đã đo được độ dày của màng này một cách chính xác.  Dhaouadi cũng khám phá ra lớp màng thay đổi hình dạng nếu nhiệt độ truyền vào bong bóng tăng lên và bong bóng trở lại hình dạng ban đầu nếu nhiệt độ giảm đi. “Khám phá này bác bỏ các lý thuyết hiện nay là màng có thể bị tiêu hao đến mức có độ dày bằng không,” John Kolinski nói.  Các đo đạc này đã chứng tỏ rằng các bong bóng trên thực tế đã chuyển động, These measurements also show that the bubbles are actually moving, mặc dù quá đỗi chậm chạp đến mức không thể nhìn thấy bằng mắt thường. “Bởi vì màng giữa bong bóng và ống quá mỏng, nó tạo ra một trở lực mạnh khiến bong bóng chỉ có thể đi lên một cách chậm chạp”, Kolinski giải thích.  Các phát hiện này liên quan đến nghiên cứu cơ bản nhưng cũng có thể sử dụng để nghiên cứu về cơ học dòng chảy ở cấp độ nano, đặc biệt cho các hệ sinh học.  Dhaouadi tham gia phòng thí nghiệm này với tư cách là một nhân viên hỗ trợ nghiên cứu vào mùa hè trong thời kỳ học đại học. Anh đã hòa nhập một cách nhanh chóng và tiếp tục mong muốn công việc tại phòng thí nghiệm ngay cả khi đã tốt nghiệp đại học. “Cậu ấy quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu này, và có được một bài báo về bài toán tồn tại cả thế kỷ từ công việc đó”, Kolinski cho biết.  “Tôi rất vui khi đưa dự án nghiên cứu này vào hồ sơ của mình. Đây là một cách suy nghĩ và học hỏi mới, hoàn toàn khác biệt từ một bài tập về nhà, dẫu cho nó có thể rất khó để có được lời giải. Thoạt tiên, chúng ta không biết liệu đó có phải là giải pháp cho chính vấn đề này không”, Dhaouadi, hiện đang theo học cao học tại ETH Zurich, nói. Kolinski cho biết thêm: “Wassim đã tạo ra một khám phá nằm ngoài mong đợi trong phòng thí nghiệm của chúng tôi. Chúng tôi rất vui khi có cậu ta làm việc cùng mình”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-student-year-old-physics-enigma.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Smart Farming: Công nghệ số hóa đang thay đổi triệt để ngành nông nghiệp      Nhờ công nghệ số hóa&#160; thực phẩm sẽ sạch và lành mạnh hơn: Robot nhổ cỏ dại, vật&#160; bay không người lái (Drohnen) diệt sâu bệnh hại, Big Data giúp hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh. Tuy nhiên những tiến bộ trên đồng ruộng và chuồng trại cũng có cái giá của nó.       Khi trên cánh đồng dù chỉ mọc một vài cây dại ngay lập tức BoniRob xuất hiện. Đó là một cái xe bốn bánh màu xám trang bị một cây gậy sắt và vùi dập các cây dại với tốc độ cao. Thiết bị cực kỳ hiện đại này là sản phẩm của trường cao đẳng Osnabrück và Start-up Deepfield Robotics, một công ty con của tập đoàn Bosch và hãng sản xuất máy nông nghiệp Amazone. Nhờ loại robot này trong tương lai nhà nông không cần phải phun thuốc diệt cỏ nữa.    Hiện nay người nông dân ở vùng này cũng không cần phải phun thuốc trừ sâu hại ngô nữa. Khi chớm xuất hiện sâu hại, người ta huy động cả dàn Drohnen của một hợp tác xã gần đó. Vật thể bay này rải trứng của một loại ong ký sinh và loại ong này diệt côn trùng hại ngô.    Ngày nay nếu có con bò sữa trái gió trở trời, bác sỹ thú y thường dùng kháng sinh để trị bệnh, và điều này khiến nguy cơ vật gây bệnh sẽ nhờn thuốc. Khi đó những loại thuốc có chức năng cứu tính mạng con người cũng có thể bị vô hiệu hóa. Những con robot vắt sữa có thể giúp  phòng tránh tình trạng này: robot rửa sạch  và khử trùng  đầu vú và mỗi lần vắt sữa robot còn thu thập khoảng 100 dữ liệu khác nhau, từ hàm lượng chất béo, hàm lượng protein cho đến cả khả năng dẫn điện của sữa. Qua đó người ta có thể phát hiện sớm tình trạng bệnh tật của con vật, nguời nông dân nghiễm nhiên sẽ được báo động và từ đó có thể phản ứng kịp thời. Cạnh đó robot còn giúp cho đàn  bò được sống thoải mái hơn nhiều nhờ chúng có thể tự quyết định khi nào đi đến trạm vắt sữa.     Ngày nay nông nghiệp chịu sự tác động của công nghệ số hóa thậm chí còn nhiều hơn một số ngành khác: Các chương trình phần mềm và các cảm biến ở một máy nông nghiệp hiện đã chiếm tới 30% giá trị của cỗ máy trong khi đó trong ngành công nghiệp ô tô tỷ lệ này mới khoảng 10%.     Martin Schulze Rötering, chủ một trang trại khoảng 1000 ha ở  Münsterland chuyên trồng lúa mì, cải dầu và ngô nói: “Niềm đam mê của tôi là cây trồng”. Vì thế bất chấp mưa rét ông không ngày nào không lặn lội trên cánh đồng để theo giõi sự phát triển của cây trồng trên trang trại của mình.  Ông biết cặn kẽ về các loại cây trồng bao nhiêu thì chỉ lại biết mù mờ về đồng đất của mình bấy nhiêu. Mãi đến khi máy gặt đập liên hoàn của ông trong quá trình gặt hái đảm nhiệm thêm chức năng xác định  lượng lúa mì thu được trên từng mét vuông đất từ đó cấu trúc đồng đất không còn là điều bí ẩn đối với ông: một tấm bản đồ về năng xuất với mầu xanh và vàng thể hiện trên máy tính bảng của ông thể hiện rất rõ kết quả thu hoạch gắn chặt với chất đất. “Năng xuất giao động rất rõ trên từng mét vuông một” cho đến nay Schulze Rötering vẫn không dấu sự ngạc nhiên của mình về vấn đề này.    Sự hiểu biết đã thay đổi mạnh mẽ mọi công việc quen thuộc hàng ngày: người nông dân không còn sử dụng hạt giống và phân bón theo nguyên tắc dàn trải, mà xác định liều lượng dựa trên hàm lượng chất dinh dưỡng và độ phì của từng thửa đất.  Công việc này cũng do máy nông nghiệp điều khiển bằng máy tính đảm nhiệm.     Nền nông nghiệp chính xác mang lại hai điều lợi: một mặt giảm mức độ ô nhiễm đất ruộng, nước ngầm và không khí do bón phân quá nhiều, mặt khác người nông dân có thể giảm chi phí mua hạt giống và phân bón. Nhờ kiểu canh tác chính xác này  Schulze Rötering dù sao cũng tiết kiệm được 12% chi phí mua đạm, lân, kali và vôi  –  tương đương vài chục nghìn Euro mỗi năm.     Tương tự như vậy, công nghệ số hóa cũng giúp giảm lượng tiêu thụ hóa chất bảo vệ thực vật. Những tấm hình chụp từ vệ tinh phản ánh tình trạng cây trồng  ngũ cốc cộng với các số liệu về dự báo thời tiết được thể hiện trên máy tính  hoặc Smartphon có thể cảnh báo người nông dân về nguy cơ sâu bệnh hại. Nhờ đó  Schulze Rötering không còn phải phun tràn lan chống bệnh phấn trắng ở ngũ cốc như trước đây, mà chỉ dùng khoảng 5% thuốc trừ nấm so với phun đại trà. Hơn nữa việc phun phòng này diễn ra trước khi thu hoạch khá dài nhờ đó giảm đáng kể lượng tàn dư hóa chất độc hại trên sản phẩm nông nghiệp.     Tuy nhiên sự tiến bộ có cái giá của nó: Ngay cả người đi tiên phong như Schulze Rötering cũng phải thừa nhận để sử dụng các loại máy công nghệ cao trong nông nghiệp đòi hỏi các trang trại phải có diện tích lớn cùng những thiết bị máy móc đắt tiền thì mới có hiệu quả kinh tế. Còn với những doanh nghiệp nhỏ hầu như không thể mua nổi máy kéo công suất cao của Claas, John Deere vv… có giá tới 400.000 Euro, thiết bị lái tự động, thu thập dữ liệu và các cảm biến tốn thêm khoảng 40.000 Euro, robot vắt sữa khoảng 100.000 Euro. Từ đó thấy rõ, công nghệ  số hóa thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc trong nông nghiệp.   Xuân Hoài lược dịch từ “Tuần kinh tế” 19.1. 2016    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện tăng nhẹ      Năm 2012, số các lò phản ứng hạt nhân hoạt  động trên toàn thế giới đã tăng trở lại sau khi giảm nhẹ hồi năm 2011  sau sự cố tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 của Nhật Bản. Đây là  nội dung bản báo cáo mới nhất của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế  (IAEA).    Theo hãng tin Pháp AFP ngày 5/3, trong báo cáo này, IAEA cho biết tính đến cuối năm 2012, trên thế giới có tổng cộng 437 lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện hoạt động, nhiều hơn năm trước đó hai lò. Tổng sản lượng điện hạt nhân đã tăng 3,7 gigawatt lên con số 372,5 gigawatt, tăng nhẹ so với mức giảm sút 7 gigawatt của năm 2011.  Báo cáo Công nghệ hạt nhân của IAEA cho biết năm 2012 có 7 lò phản ứng hạt nhân mới đã được xây dựng và đi vào hoạt động tại Trung Quốc (4 lò), Hàn Quốc, Nga và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, mỗi nước 1 lò. Trong khi đó, chỉ có 3 lò phản ứng phải đóng cửa vĩnh viễn, một lò tại Canada và hai lò tại Anh đã hoạt động hơn 40 năm. Trong số 67 lò đang trong quá trình xây dựng có tới 47 lò đặt tại châu Á.  Các chuyên gia IAEA nhấn mạnh các nước đang chú trọng tới công nghệ kéo dài thời gian hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân và các lò phản ứng cỡ vừa và nhỏ, có chi phí đầu tư thấp.  Thảm họa kép động đất gây sóng thần tại Nhật Bản hồi tháng 3/2011 đã kéo theo một sự cố hạt nhân được giới chuyên gia đánh giá là tồi tệ nhất trong 25 năm qua. Sau sự kiện này, 13 lò phản ứng đã ngừng hoạt động vĩnh viễn, trong đó có 8 lò tại Đức và 4 lò tại Nhật Bản.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Số lượng bạch tuộc và mực trên thế giới đang gia tăng      Nghiên cứu mới cho thấy, sự thay đổi môi trường sống ở các đại dương – nhiệt độ tăng cao, số lượng đàn cá giảm, nguồn nước bị axit hóa do các hoạt động của con người – đang làm gia tăng dân số các loài chân đầu, tức các loài không xương sống như bạch tuộc, mực, mực ống.      Theo phân tích của các nhà khoa học đăng tải trên tạp chí Current Biology, sự “bùng nổ dân số” này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1950, và không chỉ giới hạn ở các loài sinh sống dưới biển sâu như loài mực Humboldt mà còn có ở các loài sống gần bờ như mực nang.  Tại sao loài chân đầu lại phát triển trong khi các loài hải sinh khác lại giảm đi? Theo các nhà nghiên cứu, tương tự như loài gặm nhấm, loài chân đầu có khả năng thích nghi cao đối với những thay đổi trong môi trường sống, nguyên nhân chính là do đa phần các loài này đều có tuổi thọ rất ngắn, chỉ 1-2 năm, và chết ngay sau khi sinh sản.   Tỉ lệ sinh sản gia tăng này đồng nghĩa với việc các loài chân đầu sẽ cần tiêu thụ thêm nhiều thức ăn, trong khi bản thân chúng là động vật rất phàm ăn (có những chi thuộc loài này tiêu thụ lượng thức ăn tới 30% trọng lượng cơ thể chúng khi vào tuổi trưởng thành).  Những diễn tiến tiếp theo của quá trình biển đổi khí hậu có thể tạo ra những tác động khó dự đoán hơn, làm giảm tuổi thọ của loài này xuống còn dưới một năm, từ đó gây xáo trộn thời điểm động dục hằng năm của chúng. Bên cạnh những hoạt động đánh bắt của con người, nhiều chi trong loài chân đầu cũng là động vật ăn thịt đồng loại. Vì những lý do này, các nhà nghiên cứu đặt ra giả định, để tạo sự cân bằng trong môi trường sống, có thể loài này sẽ quay sang ăn thịt lẫn nhau.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Số lượng hổ hoang dã tăng trở lại ở Châu Á      Sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước tại Ấn Độ, Thái Lan, và Nga đã giúp khôi phục phần nào số lượng loài mèo lớn, các nhà khoa học nhận định     Joe Walston, giám đốc Chương trình châu Á của Hội Bảo tồn Sinh vật Hoang dã (WSC) đã bày tỏ sự tuyên dương ba quốc gia nói trên vì đã hành động bảo vệ loài hổ vốn đang bị đe dọa trên toàn cầu. Ngày nay chỉ còn 6 loài hổ sống ở 13 nước châu Á – nghĩa là môi trường sống của chúng đã bị giảm tới 93% so với xưa kia.  “Cần một số điều kiện cần thiết để loài hổ có thể phục hồi, nhưng nếu không có sự cam kết thật sự của chính phủ thì sẽ không thể có thành công”, Walston nói.    Tiến hành các bước cứu loài hổ    Ở các khu bảo tồn quốc gia Nagarahole và Bandipur ở Ấn Độ, sự kết hợp của tuần tra giám sát chặt chẽ, tái định cư tự nguyện dân cư ra khỏi vùng hổ sinh sống, và giám sát bằng công nghệ đã giúp khôi phục số lượng loài mèo lớn trở về bằng với số lượng thời kỳ cao điểm trước đây của chúng tại hai khu bảo tồn quốc gia này. Có được thành công như vậy là nhờ bang Karnataka đã tận tâm cho mục tiêu bảo tồn loài hổ, Walston nới.  Ở Nga, nhà chức trách đang dự thảo một luật mới trong đó coi việc vận chuyển, mua bán, và sở hữu hổ là tội hình sự thay vì dân sự. Điều này giúp xóa bỏ kẽ hở của luật pháp, trong đó các tay săn trộm thường chối cãi rằng họ tìm thấy loài thú đang có nguy cơ bị tuyệt chủng này khi chúng đã bị giết chết từ trước.  Nga cũng gần đây tuyên bố rằng họ đang tạo một hành lang an toàn cho loài hổ ở khu vực được gọi là Vùng Cứu hộ Động vật hoang dã Miền Trung Ussuri, nơi sẽ kết hợp nhân giống hổ ở cả Nga và Trung Quốc.  Vùng an toàn này “cho phép” hổ di chuyển giữa các vùng khác nhau để giao phối và kết nối”, Walston giải thích. “Điều này tạo ra một quần thể [hổ] lớn hơn, ổn định hơn, và mạnh khỏe hơn về di truyền”.  Ở Thái Lan, những cuộc tuần tra chống săn trộm đã gia tăng tăng ở Khu Bảo tồn Động vật hoang dã Huai Kha Khaeng. Năm 2011, chính phủ đã phá vỡ một đường dây săn trộm lớn, và từ năm 2012, những kẻ cầm đầu bị kêt án tới 5 năm tù – hình phạt cao nhất cho tội săn trộm động vật hoang dã trong lịch sử Thái Lan. Kể từ khi những kẻ này bị bắt, trong khu bảo tồn không còn thấy hiện tượng săn trộm hổ và voi.  Không chỉ có vậy, “năm 2011 trong bối cảnh Thái Lan vẫn còn nạn săn trộm, thay vì bỏ qua, chính phủ đã nhìn nhận vấn đề và thuê 60 nhân viên kiểm lâm mới”, Walston cho biết.    Loài hổ vẫn có thể phục hồi  Nhưng những câu chuyện thành công này mới chỉ là những điểm sáng hiếm hoi, trong khi loài thú có nguy cơ tuyệt chủng này vẫn đang giảm về số lượng xuống mức thấp kỷ lục tính trên toàn thế giới, mà nguyên nhân thường là sự kết hợp của nạn săn trộm, sụt giảm lượng mồi, và môi trường sống bị hủy hoại. Các nhà bảo tồn ước tính rằng trên thế giới chỉ còn lại 3200 con hổ hoang dã.  Mặc dù vậy, Walston cho rằng thành công của Ấn Độ, Thái Lan, và Nga đã chứng minh rằng tương lai loài hổ không hoàn toàn tuyệt vọng, và ông hi vọng rằng các quốc gia khác sẽ lưu ý học tập.  “Đây không phải là giống loài không tránh khỏi suy vong… Chúng vẫn đang hồi phục ở một vài nơi”, ông nói.  Walston cũng chỉ ra rằng việc cứu loài hổ còn có những lợi ích khác. “Khi chúng ta bảo tồn loài hổ, thực ra chúng ta cũng góp phần bảo tồn những loài khác, tuy có thể không có sức cuốn hút và có tính biểu tượng như loài hổ, nhưng cũng không kém phần giá trị – và những loài này cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng tương đương”, ông nói.  Nguồn:  http://news.nationalgeographic.com/news/ 2012/12/ 121228-tigers-big-cats-animals-science-conservation-asia/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số lượng sinh vật biển giảm một nửa      Nghiên cứu mới nhất Quỹ Bảo vệ đời sống  thiên nhiên thế giới (World Wildlife Fund) và Hội Động vật London  (Zoological Society of London, ZSL) tiến hành cho biết cho biết: kể từ  năm 1970, số lượng các sinh vật biển đã giảm 49%; nguyên nhân chính là  do đánh bắt quá mức và biến đổi khí hậu.     Tình hình đối với những loài cá thường được dùng làm thực phẩm cho con người còn tệ hơn, thí dụ như số lượng cá ngừ và cá thu giảm 74%. Lượng hải sâm – một món ăn quý của người châu Á – cũng giảm mạnh; trong mấy năm qua, hải sâm ở Galapagos và Hồng Hải đã giảm 98% và 94%.    Theo nghiên cứu nói trên, “loài người đánh bắt sinh vật biển với tốc độ chẳng những vượt quá tốc độ sinh sản của chúng mà đồng thời còn phá hỏng môi trường nuôi dưỡng chúng”.    Môi trường sống của các loài sinh vật biển bị phá hoại nặng nề, phạm vi nương thân của các loài động vật có vú, loài cá, loài chim và loài bò sát bị thu hẹp. Thí dụ diện tích hải thảo (cỏ biển) và rừng đỏ bị thu hẹp, gây nguy hiểm cho sự sinh tồn của các sinh vật biển.     Hiện tượng biến đổi khí hậu là yếu tố quan trọng làm giảm số lượng sinh vật biển. Khí CO2 thải vào bầu khí quyển theo chu kỳ lại trở về biển, làm tăng tính a-xit của nước biển, khiến cho một số loài sinh vật biển khó có thể sống còn.     Các tác giả bản báo cáo đã phân tích tình hình của hơn 1.200 loài sinh vật biển trong 45 năm qua.    Ng.H tổng hợp từ Internet    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số người chết do mắc COVID ở Ấn Độ có thể lên tới gần 3 triệu      Nhiều hơn nhiều so với số liệu nửa triệu người như công bố chính thức trước đây.    Ngay từ những ngày đầu tiên của đại dịch, Ấn Độ đã báo cáo tỉ lệ ca tử vong do COVID-19 ít hơn nhiều so với mức dự báo thông thường ở những nơi khác. Một ước tính gần đây đăng trên tạp chí Science của Prabhat Jha, ĐH Toronto, Canada cho thấy có thể có tới gần 3 triệu người chết vì COVID, cao gấp hơn sáu lần so với mức mà chính phủ đã thông báo, và là con số lớn hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác.  Vào cuối năm 2021, Ấn Độ đã báo cáo khoảng 480.000 trường hợp tử vong do nhiễm SARS-CoV-2. Như vậy, có khoảng 340 trường hợp tử vong do COVID-19 trên mỗi triệu người — tương đương khoảng 1/7 tỷ lệ tử vong do COVID-19 ở Hoa Kỳ. Ban đầu, chính Jha cũng có phân tích cho rằng con số tỷ lệ tử vong thấp ở Ấn Độ là có lý, nhưng sau đó ông và các đồng nghiệp hiện đã khảo sát sâu hơn.  Họ khai thác dữ liệu từ một cơ quan khảo sát độc lập đã khảo sát gần 140.000 người trên cả nước qua điện thoại, hỏi liệu có ai trong gia đình đã chết vì COVID-19 không. Họ cũng phân tích các báo cáo của chính phủ từ các bệnh viện và các cơ sở chăm sóc tương tự và xem xét các trường hợp tử vong được đăng ký chính thức. Kết quả đưa đến một ước tính cao hơn nhiều — từ 2300 đến 2500 ca tử vong trên một triệu người, vào hồi tháng 9 năm 2021, tương đương với tỷ lệ ở Hoa Kỳ.  Jha cho biết ước tính ban đầu của mình cho thấy tỉ lệ thấp vì lúc đó dựa vào số của làn sóng lây nhiễm đầu tiên vào mùa thu năm 2020, có thể ít gây tử vong hơn so với biến thể Delta đã dẫn tới làn sóng lây nhiễm rộng lớn hơn nhiều kể từ mùa xuân 2021. Ông cũng tập trung vào các thành phố lớn, nơi tỷ lệ tử vong có thể thấp hơn  nông thôn. Và việc đăng ký khai tử ở nước này đã không thống nhất từ cả trước khi đại dịch xảy ra. Và có những vấn đề khác có thể còn chưa nắm được.   Theo ông, có thể chính phủ đã làm mờ bức tranh thực sự về đại dịch. Jha và những người khác đã chê trách chính phủ vì không công bố dữ liệu từ Hệ thống đăng ký mẫu (SRS), hệ thống thường xuyên khảo sát 1% dân số Ấn Độ để theo dõi sinh và tử. Còn Ramanan Laxminarayan, một nhà dịch tễ học và kinh tế học của Đại học Princeton, không nghĩ rằng việc tính toán và công bố con số tử vong thấp là hoàn toàn có chủ ý. Laxminarayan không quá ngạc nhiên trước những ước tính về tử vong ở Ấn Độ và cho rằng các chính phủ đều muốn giảm mức độ tử vong. “Khởi điểm (của giả định) là trừ khi bạn có thể lý giải tại sao Ấn Độ khác biệt, tôi sẽ giả định rằng Ấn Độ cũng giống như bất kỳ quốc gia nào khác,” ông nói. Tháng trước, nhóm của ông đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí The Lancet, tập trung vào huyện Chennai, Ấn Độ và kết luận rằng con số tử vong được báo cáo cho thấy tỉ lệ tử vong do đại dịch là thấp.   Nhà virus học Shahid Jameel của Đại học Ashoka cho biết ước tính trên toàn quốc của nhóm của Jha cũng phù hợp với kết quả của hai nghiên cứu độc lập khác khảo sát trong một khung thời gian tương tự. “Ấn Độ đã phải trả giá đắt vì không có dữ liệu thời gian thực tốt về các trường hợp tử vong trong làn sóng đầu tiên. Điều đó dẫn đến sự tự mãn và con số khủng khiếp trong làn sóng thứ hai”, Jameel nói.  Theo Samira Asma, trợ lý tổng giám đốc WHO, đánh giá công trình phân tích dữ liệu từ các nguồn khác nhau một cách độc đáo, mỗi nguồn có những hạn chế riêng, và “Các nước có thể học hỏi các tiếp cận này để… đưa ra các ước tính cụ thể cho từng quốc gia”. WHO đang cập nhật ước tính về số ca tử vong vượt mức (excess deaths) do COVID-19 và có kế hoạch sớm đưa ra các số liệu này.  Một so sánh trên toàn thế giới về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trước và trong đại dịch, được công bố trên eLife 6 tháng trước cho thấy tình trạng thống kê thấp hơn thực tế đang phổ biến.   Omicron đã bắt đầu hoành hành ở Ấn Độ và Jha cảnh báo không nên vội tin rằng nó gây ảnh hưởng nhẹ hơn các biến thể trước đó. “Tôi thực sự cẩn thận trước giả định đó vì số liệu cho đến nay đều được đưa ra từ những nước khác như Nam Phi, Anh hay Canada”.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: https://www.science.org/content/article/covid-19-may-have-killed-nearly-3-million-india-far-more-official-counts-show?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Số người chết vì sóng nhiệt sẽ tăng đến năm 2080      Theo một kết quả nghiên cứu mới do Đại học Monash chủ trì được công bố trên tạp chí PLOS Medicine ngày 31/7 vừa qua, nếu con người không thích nghi với nhiệt độ khí hậu trong tương lai, tỉ lệ tử vong do những cơn sóng nhiệt khắc nghiệt sẽ gia tăng nhanh chóng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; sau đó tới Úc, châu Âu và Hoa Kì.      Sóng nhiệt hoành hành ở Ấn Độ. Nguồn: The Hindu  Đây là nghiên cứu có quy mô toàn cầu đầu tiên dự báo tỉ lệ tử vong do sóng nhiệt trong tương lai. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, họ đã phát triển một mô hình tính toán số ca tử vong do sóng nhiệt ở 412 nhóm dân số trên 20 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2031 – 2080. Nghiên cứu dự đoán tỉ lệ tử vong do sóng nhiệt trong tương lai theo những kịch bản khác nhau về mức độ khí thải nhà kính, công tác chuẩn bị, chiến lược thích ứng và mật độ dân số trên các khu vực này.  Phó giáo sư Yuming Guo, trưởng nhóm nghiên cứu ở Đại học Monash cho biết thông tin về tình trạng tử vong do sóng nhiệt trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã làm nổi bật tầm quan trọng của nghiên cứu sóng nhiệt. Ông cũng đưa ra nhận định: “Đặc biệt, trong tương lai sóng nhiệt sẽ kéo dài thường xuyên hơn với cường độ mạnh hơn. Nếu không tìm cách giảm thiểu biến đổi khí hậu (giảm số ngày nắng nóng) và giúp người dân thích nghi với sóng nhiệt, tỉ lệ tử vong sẽ gia tăng đột biến, nhất là ở những nước nghèo gần xích đạo.  Nghiên cứu cũng đưa ra một dự đoán nghiêm trọng: tỉ lệ tử vong do sóng nhiệt ở 3 thành phố của Úc (Brisbane, Sydney and Melbourne) có thể sẽ tăng 471% so với giai đoạn 1971 – 2010. PGS Guo nhấn mạnh: “Số lượng người chết vì sóng nhiệt trong tương lai có thể sẽ nhiều hơn nếu chính phủ Úc không nỗ lực giảm thiểu tác động của sóng nhiệt”.  Nghiên cứu này diễn ra trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi sóng nhiệt, khiến hàng ngàn người chết và hàng chục nghìn người bị các bệnh do sốc nhiệt. Tổng số người chết ở Ấn Độ, Hy Lạp, Nhật Bản và Canada tiếp tục gia tăng khi tình trạng nắng nóng tiếp diễn với độ ẩm, nhiệt độ và cháy rừng đạt mức kỉ lục. Phó giáo sư Antonio Gasparrini ở Trường Vệ sinh dịch tễ và Y học nhiệt đới London và là đồng tác giả nghiên cứu, cho biết gần 20 năm trước, sóng nhiệt được cho là nguyên nhân gây ra hàng chục nghìn ca tử vong ở châu Âu và Nga. Ông khẳng định: “Thật đáng lo ngại, nghiên cứu cho thấy sóng nhiệt có nguy cơ gia tăng cả về tần suất và mức độ nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, tuy nhiên chưa có nhiều bằng chứng về tác động của sóng nhiệt tới tỉ lệ tử vong toàn cầu”.  PGS Gasparrini nhận xét: “Là nghiên cứu dịch tễ học lớn nhất từ trước đến nay về dự đoán tác động của sóng nhiệt trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, công trình này cho thấy, sóng nhiệt có thể làm gia tăng tỉ lệ tử vong, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tuy nhiên tác động này sẽ giảm bớt nếu chúng ta hạn chế phát thải khí nhà kính theo những kịch bản từ Thỏa thuận Paris”.  Ông cũng hy vọng, các dự đoán của nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đưa ra các chiến lược thích ứng và giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.  Để ngăn chặn tình trạng tử vong do sóng nhiệt ngày càng trở nên nghiêm trọng, nghiên cứu đề xuất sáu biện pháp thích ứng, đặc biệt cần thiết với các nước đang phát triển, các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó quan trọng là cung cấp và chia sẻ thông tin về sóng nhiệt và biến đổi khí hậu; xây dựng và phát triển các nhóm người dễ bị tổn thương; thiết lập các phương thức sinh kế; cải thiện các dịch vụ y tế; giảm nghèo; phân phối lại tài nguyên; giáo dục; thiết lập và vận hành hệ thống cảnh báo sóng nhiệt..  Thanh An dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2018-07-heatwave-deaths-steadily-globe.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Số phận các ngành khoa học do người Trung Quốc sáng lập      Trong số hơn 3000 ngành khoa học hiện có trên thế giới, chỉ có khoảng 30 là do người Trung Quốc sáng lập. Hầu hết các khoa học này xuất hiện trong thập niên 70-80 sau khi “Cách mạng văn hóa” kết thúc – một thời kỳ được ghi vào sử sách với cái tên “Mùa xuân khoa học”. Nhưng ngày nay, sau hơn 30 năm, những kết tinh trí tuệ do người TQ đóng góp cho thế giới ấy lại đang lâm vào cảnh ngộ trớ trêu: hoặc là mất dần theo thời gian, hoặc chỉ người sáng lập nắm giữ được, hoặc trở thành thứ vô bổ về học thuật, bị các lực lượng khoa học dòng chính xếp xó.    Ngày 21-7-1981 tại đại hội toàn quốc “Toán học Mờ” họp ở trường ĐH Bắc Kinh, ông Sái Văn (Cai Wen) 39 tuổi giảng viên toán ĐH Công nghiệp Quảng Đông giới thiệu lý thuyết “Phân tích Vật nguyên”. Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh tư duy sáng tạo của Sái Văn dùng ký hiệu hình thức hóa để giúp máy móc giải quyết vấn đề mâu thuẫn. Được nhà toán học Ngô Học Mưu giúp đỡ, hai năm sau, tạp chí “Học báo Khám phá khoa học” đăng bài báo của Sái Văn, tuyên cáo sự ra đời một ngành khoa học do người TQ sáng lập – “Khả Thác Học”.  Trên đây là một phác họa thời kỳ phục hưng khoa học TQ sau “Cách mạng Văn hóa”, khi tư tưởng con người được giải phóng. Thế nhưng lửa đom đóm rốt cuộc chưa thể đốt cháy cánh đồng. Ngày nay, sau bao năm chịu tác động liên tục của khoa học và hệ giá trị phương Tây, sự lấn lướt của làn sóng hàng hóa thị trường, phần lớn các kết tinh trí tuệ ấy của người TQ đang rơi vào cảnh ngộ trớ trêu: hoặc là mất dần theo thời gian, hoặc chỉ người sáng lập là còn nắm giữ được, hoặc trở thành thứ vô bổ về học thuật, bị các lực lượng khoa học dòng chính xếp xó.  Rõ ràng đây là một nghịch lý, một nan đề đối với một quốc gia đang nóng lòng tiến lên hàng ngũ cường quốc KHKT thế giới.  Nhà sáng lập cô đơn  Nhà toán học Ngô Học Mưu (Wu Xue-Mou) là người sáng lập học thuyết “Phân tích Phiếm hệ”. Hơn 30 năm nay, ông cố gắng dùng lý thuyết mạng ấy để thực hiện nghiên cứu liên ngành khoa học, thống nhất từ toán lý hóa tới văn sử triết … thậm chí vũ trụ bao la. Dự định quá ư hùng vĩ ấy quả là độc đáo ở một đất nước chủ yếu nghiên cứu theo kiểu thực dụng, khiến giới khoa học chính thống “kính nhi viễn chi”.  Thời kỳ “Chống phái hữu” và “Cách mạng Văn hóa”, họ Ngô bị đưa đi lao động cải tạo. Mỗi lần đi làm, ông giấu một cây bút trong người, lúc rảnh rỗi viết lên tay, lên đùi các công thức toán nghĩ ra. Đầu thập niên 70, trên cơ sở sáng lập thuyết chuyển hóa bức cận toán học và động lực học môi chất điện từ, ông bắt đầu suy nghĩ về biện pháp thống nhất toán học. Kết quả Ngô Học Mưu bị chụp mũ “Chỉ chuyên không hồng”, bị tống vào ở gian phòng cạnh nhà vệ sinh hôi thối. Năm 1976, ông sáng lập ba nguyên lý cơ bản “Hệ thống nghĩa rộng, chuyển hóa nghĩa rộng, đối xứng nghĩa rộng”, thực hiện nối liền, chuyển hóa và thống nhất liên chuyên đề trong lĩnh vực toán học. Tác phẩm “Lý thuyết Phiếm hệ và phương pháp toán học”, “Phiếm hệ xuân thu” và “Phiếm hệ sử ký” của ông được xuất bản, đánh dấu sự chín muồi của học thuyết Phiếm hệ. Song những cuốn sách ấy chỉ nằm yên trên tủ sách, chẳng mấy ai đọc. Năm 2000, Ngô Học Mưu về hưu. Phòng nghiên cứu Phiếm hệ nơi ông tận tụy làm việc 21 năm bị đóng cửa. Toàn bộ tài sản riêng của ông bây giờ là một máy tính cũ màn hình đã mờ, một chiếc kính lúp, một chiếc điện thoại, mấy giá sách và bộ bàn ghế cũ nhặt về. Song ông không để tâm tới chuyện đó.  Câu chuyện Ngô Học Mưu là hình ảnh thu nhỏ của một số sáng tạo hồi thập niên 70-80. Theo thống kê, trong số hơn 3000 ngành khoa học hiện có trên thế giới thì chỉ có 30 là do người TQ sáng lập, bao quát các lĩnh vực toán học, sinh vật, khí tượng, tin học v.v… Ngoài “Phân tích Phiếm hệ” và “Khả thác học” ra, đáng kể còn có: “Hệ thống màu xám” của Đặng Tụ Long, “Lý thuyết toàn tin tức” của Chung Nghĩa Tín, “Lý thuyết Giới xác” của Tào Hồng Hưng, “Phiếm Logic học” của Hà Hoa Sán, “Tổ thành luận” của Trương Học Văn.   Phần lớn các học thuyết và lý thuyết nói trên do cá nhân đề xuất; một số thậm chí còn chưa được các thế lực khoa học dòng chính của TQ thừa nhận, chẳng có ưu thế nào trong việc xin cấp kinh phí nghiên cứu, lập đề tài và cấp học vị. “Các bộ môn khoa học do học giả TQ sáng lập thật quá đáng thương, hơn nữa còn không được sự ủng hộ ngay trên đất nước mình.” – nhà tin học Chung Nghĩa Tín Tổng thư ký Hội Trí tuệ nhân tạo TQ nói.  Tác động của thị trường                 “Cơ chế khoa học của TQ là dinh lũy cuối cùng của nền kinh tế kế hoạch.” Sái Văn nói, “Phần lớn các dự án nghiên cứu khoa học hiện nay đều là nghiên cứu kiểu bám theo, không cung cấp đủ ô-xy cho các nghiên cứu có tính sáng tạo.”                                      Sái Văn          Sau lần gặp nhau năm 1981 tại Bắc Kinh, Sái Văn và Ngô Học Mưu trở thành bạn thân suốt đời. Ngô đưa ra yêu cầu nghiêm ngặt đối với bài báo của Sái. Trong hai năm, Sái sửa lại bài viết hơn hai chục lần. Năm 1983 Sái Văn đăng bài báo “Tập họp Khả Thác và vấn đề bất tương dung”, từ đó chính thức sáng lập “Khả Thác học”. Môn học này nghiên cứu việc xử lý trí tuệ hóa vấn đề mâu thuẫn. “Vật nguyên” là khái niệm quan trọng của Khả Thác học, tức là đơn nguyên để mô tả yếu tố cơ bản của sự vật; mà “Biến đổi vật nguyên” là then chốt giải quyết vấn đề mâu thuẫn.  Ông Lý Ấu Bình Viện sĩ Viện Công trình TQ đánh giá Khả Thác học là một khoa học giao thoa, có hy vọng trở thành mắt xích liên kết khoa học tự nhiên với khoa học xã hội. Hồi ấy Sái Văn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Vì là lý thuyết hoàn toàn mới nên không có thể tham khảo được gì từ công trình của người đi trước. Trong 7 năm ông chỉ viết được một bài báo; để tính ra một công thức toán phải mất một năm. Cuối thập niên 80 khi ông xin chức danh nghiên cứu viên, cả 6 nhóm bộ môn khoa học đều không muốn thừa nhận Khả Thác học.  Do suốt ngày mải suy nghĩ về đề tài nghiên cứu nên Sái Văn trở thành “quái nhân” nổi tiếng nhà trường: ăn mặc lôi thôi lếch thếch, đãng trí kinh  khủng … Năm 1990 ông suýt bị mù mắt do làm việc quá mệt. Tình cảnh của Ngô Học Mưu cũng rất lâm ly. Đầu thập niên 90, làn sóng kinh tế thị trường tràn ngập Trung Quốc, các học trò của ông lần lượt bỏ đi, người ra nước ngoài, người vào công ty … “Rất nhiều ngành khoa học mới chưa được trong nước thừa nhận, do đó bài báo khó được đăng, khi bình xét giải thưởng hoặc cấp chức danh khoa học đều trắc trở. Các chỉ tiêu cứng chẳng khác gì vòng kim cô thắt chặt trên đầu khiến nhiều người không thể kiên trì nghiên cứu tiếp.” – Sái Văn nói.  Cuối thập niên 80, một nhà khoa học Nhật đến gặp Sái Văn nói ông ta rất quan tâm đến Khả Thác học, hy vọng có thể áp dụng vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Sái Văn bèn giảng giải lý thuyết của mình cho khách nghe. Một năm sau khi quay lại, lúc này người Nhật kia đã có thể trình bày trơn tru Khả Thác học. Nghe nói sau khi về Nhật ông này đã nghiên cứu chế tạo thành công chip mờ và máy giặt mờ. “Người nước ngoài rất nhạy cảm với cái mới, còn chúng ta thì ngược lại.” – Sái Văn than thở.  Cơ chế lạc hậu  Năm 1986, tạp chí “Học báo Khám phá khoa học” do Ngô Học Mưu phụ trách phải đình bản vì nhà xuất bản không cấp tiếp kinh phí. Ý tưởng hùng vĩ ông đưa ra 6 năm trước – nâng đỡ mọi lý thuyết khoa học mới – tan thành mây khói. Những bài viết của ông gửi tới các tạp chí khoa học chủ yếu trong nước cũng bị từ chối đăng với lý do “đọc không hiểu” hoặc “viết dài quá”. Người ta lãnh đạm với Ngô Học Mưu, nhà toán học từng làm phó tổng biên tập hoặc biên tập viên của nhiều tạp chí khoa học quốc tế. Cho tới nay, chưa một quỹ khoa học nào tài trợ cho các nghiên cứu của ông.  “Đó là do tiêu chuẩn bình xét của chúng ta có vấn đề…Phần lớn là người ngoài ngành bình xét người trong ngành.” – Sái Văn nói. Một trong các tiêu chuẩn đó là số lượng nghiên cứu sinh tiến sĩ và người hướng dẫ . “Các lý thuyết khoa học mới không thể đạt được tiêu chuẩn ấy; hơn nữa rất có thể người bình xét chẳng hiểu gì về lý thuyết mới đó.” – ông nhận xét.  Hồi ấy ở Thượng Hải có tạp chí “Tiềm khoa học” là thiên đường của các học thuyết mới. Tiềm khoa học là thuật ngữ phổ biến hồi thập niên 80, dùng để gọi các học thuyết đang thai nghén. Trương Học Văn, nhà khí tượng học năm nay 73 tuổi, người sáng lập học thuyết “Tổ thành luận” rất ủng hộ tạp chí nói trên. Ông nói: Tạp chí “Tiềm khoa học là một loại tinh thần. Nó tin rằng bất cứ một thứ hiện nay không thuộc dòng chính trong tương lai không xa sẽ trở thành dòng chính. Không thể một gậy đập chết nó.” Nhưng Tiềm khoa học chỉ phát triển mạnh được vài năm rồi cũng xẹp xuống khi tạp chí nói trên bị đình bản.  Cuối thập niên 90, trong giới khoa học TQ xuất hiện 3 sự kiện tranh cãi có ảnh hưởng sâu xa: – “Toàn tức sinh vật học” của Trương Dĩnh Thanh ở ĐH Sơn Đông; – Đi-ốt không lệch của Từ Nghiệp Lâm; – Tưởng Xuân Huyên chứng minh được định lý lớn Fermat.  Ba cuộc tranh luận này cho tới nay vẫn chưa có hồi kết. Rốt cuộc người ta đều nhìn vào cơ chế khoa học.  “Cơ chế khoa học của TQ là dinh lũy cuối cùng của nền kinh tế kế hoạch.” Sái Văn nói, “Phần lớn các dự án nghiên cứu khoa học hiện nay đều là nghiên cứu kiểu bám theo, không cung cấp đủ ô-xy cho các nghiên cứu có tính sáng tạo.”  Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ KHKT Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Nghiêm Cốc Lương nói: “Lĩnh vực nghiên cứu khoa học chỉ biết cái thứ nhất, không biết cái thứ hai; nếu cứ mãi mãi lẽo đẽo đi sau phương Tây thì chúng ta sẽ không có duyên đạt được những thành quả thực sự mang tính cách mạng. Đây cũng là một trong các nguyên nhân tại sao TQ khó mà có các nhà khoa học lớn.”  Tín hiệu tốt lành  Viện sĩ Ngô Văn Tuấn, một đại gia toán học TQ phát biểu: “Năm xưa khi tôi sáng lập chứng minh máy móc, lúc đầu giới khoa học trong nước cũng ngạc nhiên cho rằng đây là lý thuyết quái gở. Mãi cho tới khi được nước ngoài coi trọng và căn cứ theo đó làm được thành tích nổi bật thì mới từ xuất khẩu chuyển sang tiêu thụ trong nước” “Mọi sáng tạo nguyên thủy thường bị người ta nghi ngờ; ở nước ngoài cũng thế, không có gì lạ cả” – ông nói khi trả lời phỏng vấn của báo “Phương Nam cuối tuần”.  Năm 2003, Bộ KHKT, Bộ Giáo dục, Viện Khoa học, Viện Công trình, Quỹ Khoa học tự nhiên nhà nước liên ngành ban hành “Quyết định cải tiến công tác đánh giá KHKT”, đưa ra nhận định: hiện nay “cơ chế lựa chọn thiếu sự hợp lý khoa học đối với các dự án ‘chưa có nhất trí chung’, không lợi cho việc lập một số dự án sáng tạo”, và quyết định “đối xử công bằng với các dự án ‘nhân vật nhỏ’ và ‘chưa có nhất trí chung’”. “Cung cấp cơ hội tài trợ ở mức nhỏ có tính thăm dò cho các dự án có tính sáng tạo nhưng ‘chưa được nhất trí chung’, xúc tiến người tài bộc lộ khả năng, khuyến khích cơ chế sáng tạo mới”.  Chính sách mới này đang dần dần có lợi cho những người sáng lập học thuyết mới. Tháng 2-2004, Ủy ban Giám định gồm 4 viện sĩ Ngô Văn Tuấn, Vương Tử Khôn, Lý Ấu Bình, Uông Húc Quang đã khẳng định công tác nghiên cứu hơn hai chục năm của “Khả Thác học” và gọi “đó là một khoa học có tính sáng tạo nguyên khai”. Thế là “Khả Thác học” bắt đầu từ chỗ “chưa được nhất trí chung” chuyển thành “có nhất trí chung”.Sái Văn đã xuất bản 11 trước tác, đã lập tiểu ban chuyên môn Khả Thác học, và định kỳ tổ chức họp hội nghị toàn quốc hằng năm về đề tài này.  Giờ đây phần lớn các ngành khoa học lần đầu sáng lập này đã có lịch sử khoảng ba chục năm, những người sáng lập chúng phần lớn đã sang tuổi 80-90, trải qua những số phận khác nhau. Đặng Tụ Long, Tào Hồng Hưng hiện nay ít ra khỏi nhà; Chung Nghĩa Tín, Sái Văn vẫn hoạt động sôi nổi; Trương Dĩnh Thanh thì đã qua đời sau một thời gian sống bằng nghề bán thuốc giảm béo; Ngô Học Mưu năm 2003 được đề cử viện sĩ Viện Công trình nhưng nhanh chóng bị gạt. Năm nay ông 73 tuổi, bệnh tật triền miên.  Điều đáng nói là Trương Học Văn, nhà sáng lập học thuyết “Tổ thành luận” bắt đầu sử dụng mạng Internet để trở lại tìm kiếm tinh thần “Tiềm khoa học” hồi thập niên 80. Website “Tiềm khoa học” của ông trở thành nơi các nhà khoa học tự do (nguyên văn dân gian) gặp nhau, tại đây các loại lý thuyết “cổ linh tinh quái” đều có thể tìm được sàn đối thoại. Trương Học Văn miễn phí công bố trên website này toàn bộ các công trình nghiên cứu của ông.  “Mong sao mảnh đất nho nhỏ này cuối cùng có thể mọc lên những cây đại thụ.” – ông nói.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch   ——————  *báo “Nam phương Châu mạt” ngày 18-9-2008    Author                Quản trị        
__label__tiasang Số phận của Diêm Vương      Các nhà khoa học đã tổ chức một cuộc họp ở Prague để quyết định xem có nên coi Diêm Vương (Pluto) là một hành tinh hay không. Lần này Hội Liên hiệp Thiên văn Quốc tế hy vọng là sẽ quyết định được \”số phận\” của Pluto.    Kể từ khi các nhà thiên văn Mỹ phát hiện thiên thể 2003 UB313 lớn hơn cả Pluto thì các nhà thiên văn trên thế giới khó có thể chấp nhận Pluto trên ngôi vị là một hành tinh. Gần đây, các nhà thiên văn ở Viện Công nghệ California cũng đã phát hiện thêm những đối tượng có dạng hành tinh nằm trong vành đai Kuiper ở rìa hệ Mặt trời. Chính vì vậy, hội nghị ở Prague lần này cũng có mục đích là để các nhà khoa học thống nhất một định nghĩa chính thức thế nào thì được gọi là một hành tinh. Cũng có khả năng, sau hội nghị này, thiên thể 2003 UB313 với cái tên Xena sẽ được gia nhập vào nhóm các hành tinh “chính thức”.      Được phát hiện từ năm 1930, Pluto chỉ có đường kính 2360 km, nhỏ hơn nhiều so với các hành tinh còn lại. Và kết quả đo của kính thiên văn Hubble đã cho thấy, 2003 UB313 có đường kính khoảng 3000 km, rõ ràng là lớn hơn Pluto. Có lẽ người ta sẽ phải xếp Pluto vàp một hệ thống phân loại mới.  Theo BBC News  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Số phận kỳ lạ của một mẫu bụi Mặt trăng      Mẫu bụi Mặt trăng do phi hành gia Neil Armstrong mang về vào năm 1969 mới đây đã được mang ra đấu giá tại New York. Bất chấp nỗ lực của NASA nhằm ngăn chặn “quốc bảo” rơi vào tay tư nhân, những mẫu bụi này cuối cùng đã thuộc về một chủ sở hữu mới với giá 500.000 USD. Sự cố hi hữu này đã mở ra rất nhiều cuộc thảo luận, đồng thời nêu bật lên một câu hỏi lớn: Liệu đây có phải là bước khởi đầu cho tiến trình thương mại hóa tài nguyên thiên nhiên ngoài không gian?    Edwin “Buzz” Aldrin, nhà phi hành của NASA di chuyển đến vị trí hai hợp phần của Gói thực nghiệm khoa học Apollo trên bề mặt mặt trăng trong Sứ mệnh Apollo 11 vào năm 1969. Một mẩu nhỏ của các mẫu đầu tiên của bụi Mặt trăng được phi hành đoàn Apollo 11 thu thập đã bị đưa ra bán đấu giá. Nguồn: NASA  Trước khi đặt những bước chân đầu tiên của loài người lên Mặt trăng, Neil Armstrong đã đứng trên bậc thang của mô-đun Mặt trăng và mô tả kết cấu đặc biệt của mặt đất. “Nó gần giống như một cục bột”, ông báo cáo với Trung tâm Kiểm soát Sứ mệnh Apollo ở Houston, Texas.  Mười phút sau, ông thu thập được một vài muỗng bụi Mặt trăng – mẫu bụi đầu tiên mà con người lấy về từ bề mặt của một hành tinh khác. Giờ đây, hơn 50 năm sau, một phần bụi trong số đó sẽ đến tay chủ sở hữu mới: một người mua ẩn danh đã trả hơn 500.000 USD tại phiên đấu giá để sở hữu hiện vật lịch sử này.  Từ lâu, NASA đã luôn khẳng định chắc nịch rằng đá và bụi Mặt trăng được thu thập trong các Sứ mệnh Apollo là tài sản của chính phủ chứ không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ cá nhân nào. Cơ quan vũ trụ đã bỏ nhiều công sức và thời gian để thu hồi những vật liệu Mặt trăng bị thất lạc, bao gồm cả một vụ “bẫy” tội phạm trong nhà hàng Denny’s vào năm 2011 hòng giành lại một viên đá Mặt trăng chỉ to bằng hạt gạo từ tay một người phụ nữ 74 tuổi.  Phần bụi Mặt trăng được đem ra đấu giá mới đây là một ngoại lệ hiếm hoi, một nỗi ê chề của NASA khi đã không bảo vệ được chứng tích lịch sử khỏi mưu đồ đánh cắp của một giám đốc bảo tàng cùng hàng loạt tranh chấp pháp lý. “Đây là một tình huống độc nhất vô nhị”, Adam Stackhouse, một chuyên gia tại nhà đấu giá của nhà Bonhams, cho biết.  Các nhà khoa học bày tỏ những ý kiến khác nhau về buổi đấu giá. Dù NASA đã từng phân tích qua những mẫu bụi này và họ cũng còn nhiều các mẫu bụi khác để tiến hành nghiên cứu, song theo Sara Mazrouei, một nhà khoa học hành tinh và là nhà phát triển giáo dục tại Đại học Ryerson ở Ontario, “các mẫu vật lấy từ Mặt trăng rất quý giá” và còn nhiều tiềm năng để khám phá thêm.    Trên Mặt trăng không có không khí, gió mặt trời liên tục thổi trên bề mặt, truyền tĩnh điện cho hạt bụi mịn – còn được gọi là regolith (lớp đất mặt). Hạt bụi mịn tích điện sẽ dính vào mọi thứ — ủng, găng tay, bộ quần áo, dây, dụng cụ và nhiều vật dụng khác của phi hành gia.    Mặt khác, các chuyên gia về luật không gian lại tỏ ra hào hứng với vụ mua bán này bởi nó sẽ là tiền đề cho các hoạt động kinh doanh vật liệu ngoài Trái đất trong tương lai, chẳng hạn như kim loại được khai thác từ các tiểu hành tinh. “Chúng ta đang tiến thêm một bước tới việc thương mại hóa tài nguyên thiên nhiên ngoài không gian”, Mark Sundahl, một chuyên gia về luật không gian quốc tế tại Đại học Luật Cleveland-Marshall ở Ohio, tỏ ra hào hứng.  Bụi “dính”  Bụi Mặt trăng trong phiên đấu giá lần này đã cập bến Trái đất nhờ một đặc tính: Nó “dính”.  Trên Mặt trăng không có không khí, gió mặt trời liên tục thổi trên bề mặt, truyền tĩnh điện cho hạt bụi mịn – còn được gọi là regolith (lớp đất mặt). Hạt bụi mịn tích điện sẽ dính vào mọi thứ — ủng, găng tay, bộ quần áo, dây, dụng cụ và nhiều vật dụng khác của phi hành gia.  “Ngay lập tức, các phi hành gia nhận ra đặc tính dính của lớp bụi”, Nicolle Zellner, nhà khoa học hành tinh tại Đại học Albion, cho biết. Bụi bám lởm chởm và rất nhám, nó nhanh chóng gây rắc rối cho các sứ mệnh của Apollo như làm tắc nghẽn thiết bị, mài mòn quần áo và vấy bẩn tàu đổ bộ. Các phi hành gia đã đập ủng của mình vào bậc thang ở lối vào mô-đun Mặt trăng nhằm loại bỏ càng nhiều bụi càng tốt sau chuyến khảo sát bề mặt Mặt trăng.  Khi Armstrong gom mẫu bụi đầu tiên vào trong túi Teflon, các hạt bụi mịn đã bám dính thành một lớp phủ bên ngoài túi. Để chuyển về Trái đất, các phi hành gia đã đặt toàn bộ túi mẫu vào bên trong một túi kéo khóa, phía trên có dòng chữ “Lunar Sample Return” (Trả lại mẫu vật Mặt trăng) bằng chữ in hoa vuông vức.  Nhìn lại chiếc túi chứa bụi, “bạn sẽ cảm thấy như mình đang ở rất gần thời khắc ấy”, Stackhouse thốt lên. “Nó hệt như một cỗ máy thời gian”.  Năm ống mẫu bằng nhôm được gắn một dây carbon dính một chút bụi được trích xuất từ mẫu đầu tiên từng được thu thập trên Mặt trăng. Ảnh: Bonhams  Hành trình của chiếc túi “Lunar Sample Return”  Con đường của mẫu bụi từ Mặt trăng đến buổi đấu giá rất lòng vòng. Cách đây vài thập kỷ, NASA đã cho bảo tàng bảo tàng vũ trụ Cosmosphere ở Hutchinson, Kansas mượn chiếc túi kéo khóa “Lunar Sample Return” rỗng cùng với các hiện vật khác. Không biết từ lúc nào, chiếc túi đã biến mất.  Sau khi giám đốc bảo tàng, Max Ary, nghỉ việc vào năm 2002, các nhà quản lý bắt đầu tiến hành điều tra một số hiện vật mất tích. Họ phát hiện ra rằng ông Ary đã bán hiện vật bảo tàng và bỏ túi số tiền bất chính. Ông ta bị kết án ba năm tù giam và phải nộp phạt 132.000 USD cho các tội danh lừa đảo, trộm cắp và rửa tiền.  Cảnh sát đã tìm ra một số hiện vật khi khám xét tài sản của ông Ary. Trong số đó có chiếc túi in dòng chữ “Lunar Sample Return”, nhưng do một số xáo trộn, các nhà quản lý lúc bấy giờ đã không nhận ra ý nghĩa của chiếc túi. Cảnh sát tư pháp Hoa Kỳ đã bán nó trong buổi đấu giá trực tuyến bộ sưu tập vũ trụ bị tịch thu của Ary để giúp ông ta trả khoản tiền phạt.  Nancy Lee Carlson ở Inverness, Illinois, đã giành được chiếc túi trắng – và bụi lẫn trong các sợi vải của nó – chỉ với 995 USD. Cô quyết định gửi chiếc túi đến Trung tâm Không gian Johnson thuộc NASA để nhờ xác minh xem liệu đây có phải hàng thật hay không, cô ngay lập tức choáng váng với câu trả lời của họ: Không chỉ chiếc túi là hàng thật mà lớp bụi bên trong cũng khớp với đặc điểm và thành phần của mẫu Mặt trăng đầu tiên do phi hành đoàn Apollo 11 mang về.  Trớ trêu thay, NASA sau đó từ chối trả lại chiếc túi, họ cho rằng đây là bảo vật quốc gia. “Hiện vật này không bao giờ thuộc quyền sở hữu của một cá nhân”, người phát ngôn của NASA, William Jeffs, cho biết trong một thông cáo vào năm 2017. Nó không chỉ mang giá trị khoa học mà còn “đại diện cho đỉnh cao của một nỗ lực mang tầm quốc gia và của cả một thế hệ người Mỹ”.  Ôm nỗi thất vọng, Carlson đã kiện cơ quan này để đòi lại chiếc túi, và cô ấy đã thắng. Sau đó, vào năm 2017, cô đã bán chiếc túi với giá 1,8 triệu USD trong một cuộc đấu giá của nhà Sotheby’s. NASA đã không đưa ra lời bình luận về sự kiện này.  Hai năm sau, Carlson lại một lần nữa kiện NASA, lần này vì họ đã làm hỏng chiếc túi trong quá trình kiểm tra và lấy đi phần bụi bám bên trong túi. Các nhà khoa học NASA đã sử dụng một mảnh băng dính carbon nhỏ để thu thập dấu vết của bụi Mặt trăng từ túi, sau đó dính băng vào một loạt đĩa nhôm nhỏ, và họ quyết định giữ lại chúng. Theo Carlson, điều này khiến cô không thể bán chiếc túi với đúng giá trị ước lượng ban đầu.  NASA cuối cùng đã thương lượng với Carlson, trả lại cho cô năm trong sáu đĩa nhôm chứa bụi Mặt trăng. Và đó chính là những mẫu bụi vừa được bán tại buổi đấu giá vừa rồi của nhà Bonhams.  Những vấn đề lớn hơn  Cuộc chiến kịch tính về mặt pháp lý trên liệu có ảnh hưởng nhiều đến nền khoa học? “Về lý thuyết, mọi mẫu vật đều quan trọng và có thể cung cấp điều gì đó mới mẻ”, Peter James, nhà địa vật lý hành tinh tại Đại học Baylor ở Texas, phân tích. Nhưng nhìn rộng ra, các mẫu được đấu giá chỉ là một phần nhỏ trong số 842 pound vật liệu Mặt trăng mà các phi hành gia đã mang về Trái đất sau sáu sứ mệnh của Apollo từ năm 1969 đến năm 1972. NASA đã phân tích rất kĩ phần bụi được thu thập cùng đợt với mẫu này. Xét về giá trị trong nghiên cứu, James không xem vụ mua bán lần này là một tổn thất lớn đối với các nhà khoa học.    Hai hạt bụi Mặt trăng được kính hiển vi điện tử quét phóng đại hàng nghìn lần. Ảnh: Bonhams  Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lưu ý, đã 50 năm kể từ lần cuối các phi hành gia mang về một mảnh vật liệu Mặt trăng mới, và mỗi mẫu bụi được phân tích đều cung cấp thêm thông tin về lịch sử hình thành và đặc điểm địa chất của Mặt trăng. Quá trình phân tích các loại đá, bụi trên Mặt trăng đã giúp các nhà khoa học đề xuất một giả thuyết về nguồn gốc của Mặt trăng: một vật thể có kích cỡ sao Hỏa va vào Trái đất, tạo ra hàng tỷ tấn vật chất nóng trong vũ trụ, sau đó chúng nguội đi và hình thành nên Mặt trăng có quỹ đạo quay quanh Trái đất.  Nghiên cứu các mẫu vật liệu cũng cho thấy rằng Mặt trăng chứa một lượng nước rất lớn. Các phân tích đầu tiên vào cuối những năm 1960 – đầu những năm 1970 đã bỏ qua các dấu vết lờ mờ của nước bị ‘nhốt’ trong đá. Nhưng tàu vũ trụ quay quanh quỹ đạo đã phát hiện ra dấu vết của nước trên Mặt trăng – nhóm nghiên cứu tại NASA sau đó đã chứng thực điều này bằng cách sử dụng các thiết bị siêu nhạy để phân tích lại các viên đá mà tàu Apollo mang về. Nguồn nước dự trữ này là chìa khóa để con người quay trở lại Mặt trăng, bởi chúng sẽ giúp những người du hành vũ trụ giảm tải vật dụng cần phải mang từ Trái đất.  Ngày nay, các nhà khoa học vẫn đang cặm cụi nghiên cứu các mẫu vật liệu mà tàu Apollo xưa kia đã mang về. Một số mẫu được đặt trong kho lưu trữ dài hạn “để các nhà khoa học trong tương lai có thể sử dụng công cụ tối tân sau này nhằm trả lời những câu hỏi hóc búa”, nhà thiên văn học NASA Jamie Elsila Cook chia sẻ với National Geographic vào năm 2019. Kho lưu trữ mới đây đã mở ra vào tháng ba nhằm chuẩn bị cho Sứ mệnh Artemis sắp tới – hòng đưa con người quay trở lại, đồng thời duy trì sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt trăng  Mazrouei tâm sự rằng các nhà khoa học đã viết đơn đề xuất với hy vọng xin được một ít bụi Mặt trăng nhỏ từ kho lưu trữ để nghiên cứu. “Vì vậy, việc chứng kiến chúng bị đem ra bán đấu giá… quả thật có một chút khó chịu”, cô thừa nhận.  Dù vậy cô vẫn nhìn thấy một mặt tích cực của việc mua bán: nó sẽ mở ra khả năng tiếp cận các mẫu đá, bụi mặt trăng cho mục đích giáo dục. “Có thể nó sẽ giúp nhiều người có cơ hội nghiên cứu các mẫu bụi này hơn trong tương lai, chứ không chỉ gói gọn trong nhóm các nhà khoa học tại NASA”, cô chia sẻ một góc nhìn mới.  Khai thác không gian  Các chuyên gia luật không gian nhìn nhận vụ mua bán qua một lăng kính có phần khác biệt. Khi ngày càng nhiều quốc gia ấp ủ tham vọng lên Mặt trăng hay thậm chí là các hành tinh xa hơn, việc khai thác và sử dụng tài nguyên từ không gian có thể sớm trở thành hiện thực. Những hoạt động như vậy đã được đề cập đến trong Hiệp ước Không gian Vũ trụ năm 1967 – nền tảng vững chắc cho tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật về khoảng không vũ trụ  Hiệp ước đề ra một số quy định như cấm các cuộc diễn tập quân sự trong không gian và ngăn chặn bất kỳ ai đòi quyền sở hữu các không gian khác nằm ngoài Trái đất, tuy nhiên nó vẫn còn rất nhiều lỗ hổng. Đầu tiên, “những người soạn thảo đã không hình dung đến việc sử dụng tài nguyên không gian”, Christopher Johnson, cố vấn luật không gian tại Quỹ An ninh Thế giới và là trợ lý giáo sư tại Đại học Georgetown ở Washington, D.C, cho biết.  Trong những năm qua, một số quốc gia, chẳng hạn như Hoa Kỳ và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, đã thông qua luật cho phép công dân sở hữu tài nguyên mà họ khai thác được từ các thiên thể. Ông cho biết sự kiện đấu giá mới đây đã củng cố thêm tính hợp pháp của việc sở hữu, sử dụng và mua bán các tài nguyên không gian.  Sundahl thuộc Đại học Luật Cleveland-Marshall lưu ý thêm rằng bất kỳ trường hợp nào giúp khơi mào trong công chúng những cuộc thảo luận về việc khai thác và bán các nguồn tài nguyên Mặt trăng đều hữu ích; nhiều cuộc tranh luận về việc cân bằng lợi ích công và tư liên tục diễn ra, nhất là khi chúng ta đang dần dần dấn vào công cuộc khai thác thiên thể. “Chúng ta chỉ mới đang ở điểm bắt đầu của hành trình này”, Sundahl kết luận.□  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/science/article/the-bizarre-drama-behind-a-pinch-of-moon-dust-that-just-sold-for-500000    Author                .        
__label__tiasang So sánh triệu chứng, truyền lây và khả năng đột biến giữa Corona và đậu mùa khỉ      Sau khi nỗi lo virus Corona vơi đi thì một loại mầm bệnh tiếp theo lại xuất hiện và lây lan, đó là bệnh đậu mùa ở khỉ. Hai loại virus này có giống nhau không? Sau đây là một cái nhìn tổng quan về triệu chứng, sự lây lan và tiêm phòng đối với hai virus này.      Hình ảnh virus Corona và đậu mùa khỉ     1. Về tình hình hiện nay  Bệnh đậu mùa khỉ: Trong tháng 5, ngày càng có nhiều quốc gia đề cập đến các trường hợp mắc bệnh đậu mùa ở khỉ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận vài trăm ca lây nhiễm. Giới quản lý y tế cho rằng không có dấu hiệu sẽ có đại dịch, tuy nhiên cần thận trọng và tiếp tục theo dõi.    Corona: Trong khi đó virus Corona tồn tại lâu dài ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đã có hơn nửa tỷ ca lây nhiễm đã được ghi nhận, thực tế có thể nhiều hơn. Nhiều triệu người đã chết. Ở nhiều nước, phần lớn dân số đã có một mức độ bảo vệ nhất định thông qua tiêm chủng hoặc lây nhiễm.    2. Lây nhiễm   Đậu mùa khỉ: Theo hiểu biết hiện nay, virus chủ yếu lan truyền từ người này sang người khác khi tiếp xúc gần gũi, bao gồm cả qua các chất chứa trong mụn nước và vảy. Điều này hạn chế đáng kể việc lây lan. Bất cứ ai có tiếp xúc thân thể với một  người bệnh đều có thể bị nhiễm bệnh.    Corona: Người bị lây nhiễm Sars-CoV-2 truyền tiếp virus sang người khác qua các hạt chứa virus phát sinh khi thở, ho và nói chuyện với nhau. Virus có trong giọt bắn, hạt sương có thể tồn tại trong không khí một thời gian dài. Virus có thể lây lan nhanh chóng do không nhất thiết phải có sự va chạm cơ thể.    3. Hình ảnh lâm sàng và các triệu chứng  Bệnh đậu mùa khỉ: Theo RKI, các triệu chứng đầu tiên là sốt, nhức đầu, đau cơ và lưng và sưng hạch bạch huyết. Một vài ngày sau bắt đầu sốt, các tổn thương da phát triển, cuối cùng đóng vảy và bong ra. Trong các tổn thương đậu mùa điển hình, nồng độ virus đặc biệt cao. Phát ban thường tập trung ở mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân, nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến miệng và bộ phận sinh dục. Diễn biến bệnh có thể nghiêm trọng, thậm chí tử vong.    Corona: Với Covid các biểu hiện phổ biến nhất là ho, sốt, sổ mũi, giảm sút khứu giác và vị giác. Diễn biến của bệnh rất khác nhau về các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng, nó có thể từ lây nhiễm không triệu chứng đến viêm phổi nặng,  suy phổi dẫn đến tử vong.    4. Thuốc chữa và tiêm chủng  Đậu mùa khỉ: Ngay cả trước khi bệnh đậu mùa khỉ xuất hiện ở châu Âu, đã có vaccine chống lại bệnh này. Mặc dù Imvanex cho đến nay mới chỉ được phê duyệt cho bệnh đậu mùa ở người ở Đức, nhưng các chuyên gia cũng cho rằng nó có hiệu quả chống lại bệnh đậu mùa ở khỉ. Tiêm phòng có thể hạn chế đáng kể bùng phát.  Ngoài ra còn có một loại thuốc được cấp phép ở EU.    Corona: Ban đầu không có thuốc hoặc vaccine nào chống lại loại coronavirus, virus này mới xuất hiện cách đây hơn hai năm. Hiện tại đã có một số loại vắc xin và các loại thuốc khác nhau trên thị trường.    5. Nguồn gốc  Bệnh đậu mùa ở khỉ: Đây thực sự là một bệnh của loài gặm nhấm ở Tây và Trung Phi. Đôi khi chúng lây lan sang khỉ và cả người, loại sau này được biết đến từ năm 1970. Việc trong thực tế virus có thể lây lan từ người sang người ở châu Âu là mới. Lý do cho điều này là chưa rõ ràng.    • Corona: Sars-CoV-2 lần đầu tiên được phát hiện cách đây khoảng hai năm rưỡi. Người ta tin rằng những người đầu tiên bị nhiễm bệnh tại một chợ động vật ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Một giả thuyết được nhiều người cho rằng mầm bệnh ban đầu đến từ loài dơi.    6. Nguy cơ đột biến  • Bệnh đậu mùa khỉ: Tác nhân gây bệnh là một loại virus DNA. Bộ gen của những virus này được coi là khá ổn định so với các virus RNA như virus corona. Điều này có nghĩa là: đột biến ít xảy ra thường xuyên hơn.    • Corona: Trong khi đó Sars-CoV-2 đã phát triển trong hai năm qua. Điều này làm cho virus dễ lây truyền hơn nhiều và một số loại vaccine kém hiệu quả hơn. Tuy nhiên, biến thể Omicron, thường lây bệnh hơn so với biến thể trước đó.     Hoài Nam dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.focus.de/gesundheit/news/corona-vs-affenpocken-symptome-ansteckung-und-mutationen-im-vergleich_id_105813893.html    Author                .        
__label__tiasang Social Life: Không gian của người trẻ nghiên cứu xã hội      Làm thế nào để một nhóm nghiên cứu KHXH&NV độc lập chỉ gồm những người trẻ mới ra trường có thể tổ chức nghiên cứu một cách căn cơ, bài bản về những khía cạnh khác nhau của đời sống đương đại? Trong khi, nguồn lực ban đầu hầu như chỉ là số không.      Nghiên cứu viên của Social Life khảo sát về đời sống công nhân ở đô thị.   “Nếu có dịp đi miền Nam, cháu phải tìm gặp nhóm nghiên cứu của anh Nguyễn Đức Lộc viện Social Life. Nhóm này đang tiếp cận những chủ đề nghiên cứu nhân học rất mới mẻ về xã hội đương đại”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói trong một lần tôi trao đổi cùng ông về các khoảng trống trong nghiên cứu tiểu sử học – phương pháp nghiên cứu tìm hiểu câu chuyện cuộc đời của các cá nhân để hiểu được dòng chảy của xã hội – vẫn còn ít được chú ý ở Việt Nam. Lời giới thiệu của nhà nghiên cứu dân tộc học uy tín khiến cho tôi đi tìm đọc tuyển tập về “Đời sống xã hội Việt Nam đương đại” của viện Social Life đọc và đặt mục tiêu phải tìm gặp PGS.TS Nguyễn Đức Lộc và nhóm của anh.  Tới 88 – 90 Ký Con, qua Nhà xuất bản Văn hóa văn nghệ TP HCM, văn phòng Social life ở lầu hai, chỉ có hai căn phòng chừng 30m2/phòng chứa đầy những sách và tài liệu, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc đang cùng cộng sự thảo luận về một chuyến khảo sát sắp tới. Ông dừng cuộc thảo luận để nói chuyện cùng chúng tôi, còn lại, chỉ toàn những gương mặt trẻ măng vẫn tiếp tục bàn thảo sôi nổi về các công cụ đánh giá nông thôn.   Khó khăn, thử thách là một loại vốn cho người trẻ  Chừng năm bảy trước, một số nòng cốt đang ngồi trong cuộc họp ấy cùng một nhóm gồm toàn các nhà nghiên cứu trẻ khác mới ra trường là cộng tác viên của Social Life, đã tham gia nghiên cứu về đời sống xã hội Việt Nam đương đại theo ba chủ đề về người công nhân, những người thiểu số trong đô thị và người trẻ trong xã hội hiện đại dưới sự dẫn dắt của PGS.TS Nguyễn Đức Lộc. PGS.TS Nguyễn Đức Lộc ra thông báo tới các bạn trẻ làm nghiên cứu KHXH&NV khắp trong Nam, ngoài Bắc về ý định thực hiện nghiên cứu của nhóm mình. Chủ đề nghiên cứu được đưa ra, nhưng không có tài trợ nghiên cứu, chỉ một điều kiện duy nhất: cam kết hướng dẫn bởi các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm. Thông điệp “chúng tôi không có gì ngoài thử thách bằng cái khó” đó lại hấp dẫn được nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên trẻ, sinh viên học viên mới ra trường. Bởi họ cũng chưa có gì ngoài sức trẻ và say mê nghiên cứu để hiểu về đời sống xã hội xung quanh mình và đang cần tìm một nơi để được thử sức, được rèn giũa, được lắng nghe ý tưởng nghiên cứu, được phản biện thực sự. Những người trẻ đang làm một số công việc khác nhau để có tiền nuôi dưỡng đam mê nghiên cứu, đã tự bỏ công sức điền dã và không cần thù lao. Còn PGS.TS Nguyễn Đức Lộc dành tiền lương giảng dạy (ở ĐH KHXH&NV TP.HCM và thỉnh giảng cho một số trường khác) để có tiền in sách cho cả nhóm và gửi bản thảo đến các nhà xuất bản đề nghị xuất bản theo hình thức cùng hợp tác, nhóm tác giả chỉ nhận nhuận bút 10% giá bìa.  Để có được bức tranh về xã hội đương đại, Social Life cũng áp dụng một phương pháp nghiên cứu mới, hiện còn chưa thực sự được chú ý ở Việt Nam – nghiên cứu về tiểu sử học (Biographical research), mà theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Viện là “nơi đầu tiên nghiên cứu về tiểu sử học ở Việt Nam”.   Kết quả, nhóm đã có được ba tập sách, mỗi tập vẽ nên một phần bức tranh của xã hội Việt Nam đương đại: Tập 1 về “Tình cảnh sống của người công nhân: Thân phận, rủi ro và chiến lược sống”; tập 2 với chủ đề “Những người thiểu số ở đô thị: Lựa chọn, trở thành, khác biệt” và tập 3 “Người trẻ trong xã hội hiện đại”. Các bài viết trong các tập sách đều qua nhiều vòng phản biện một cách nghiêm túc nên GS.TS Lương Văn Hy, Đại học Toronto nhận xét: “Tôi thực sự đánh giá cao về các tập sách đời sống xã hội Việt Nam đương đại của nhóm anh Lộc. Họ nắm vững lý thuyết, phương pháp và viết rất tốt. Nhất là khi họ rất trẻ, đa phần mới ra trường như vậy”.  Những vấn đề còn ít được đề cập tới trong nghiên cứu KHXH ở Việt Nam như đạo đức nghiên cứu đều được Social Life chú trọng và rèn cho các học viên một cách nghiêm ngặt. Gần đây, “có một bạn nghiên cứu trẻ muốn tham gia nghiên cứu với chúng tôi và thực hiện nghiên cứu về đề tài khá nhạy cảm liên quan đến đời sống tình dục của những người nữ trẻ tuổi. Đề tài hết sức thú vị, nhưng chưa đảm bảo các qui tắc bảo mật thông tin. Chính vì vậy, tôi đành thảo luận với bạn nghiên cứu viên này dừng lại và tìm kiếm giải pháp, đề tài khác phù hợp hơn, chứ không thể chấp nhận cho bạn ấy tiếp tục thực hiện để công bố được.”, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc kể. Để đảm bảo tính đạo đức khi nghiên cứu về các nhóm yếu thế, Social Life đang hướng tới tất cả đề tài của Social Life liên quan đến nhóm yếu thế sẽ phải chuẩn bị hồ sơ thẩm định để thông qua Hội đồng đạo đức học thuật tại Đại học Y Hà Nội (vì trường Đại học KHXH&NV TP HCM chưa có hội đồng đạo đức học thuật).  Tuy nhiên, nếu chỉ kiên trì, bền bỉ với cách làm nghiên cứu này, sẽ không thể lâu bền, bởi không ai có thể sống suông bằng đam mê. “Sau mỗi tập sách, mỗi bạn được trả có tám trăm nghìn tiền nhuận bút, vẫn rất hạnh phúc, nhưng không thể duy trì lâu như vậy được”, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc nói. Thực tế, tiến độ ban đầu của bộ sách là ba năm ra ba tập, nhưng nhịp độ xuất bản tập ba về người trẻ trong xã hội hiện đại cũng phải chững lại, muộn mất hai năm vì các thành viên cũng phải lo cơm áo.   Sau năm năm, cách làm nghiên cứu mang tính liên ngành – sử dụng cả các phương pháp định lượng và định tính trong xã hội học, nhân học, tiểu sử học, với sự cẩn trọng nghiêm túc mà Social Life thể hiện qua ba tập sách đó và một số khảo sát khác đã đem lại uy tín cho Viện. Nhiều doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, và các hội nghề nghiệp, tổ chức làm phát triển độc lập đã tìm đến Social Life để đặt hàng tiến hành các khảo sát tham vấn độc lập, thực hiện những cuốn sách về tiểu sử học. Chỉ vào một loạt bản thảo, ấn phẩm đã hoàn thành của Social Life, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc cho biết “nhiều nghiên cứu là do các khách hàng tự tìm tới đặt hàng thực hiện”. Dịch vụ khảo sát và tham vấn độc lập không chỉ giúp đem lại nguồn tài chính cho Social Life chi trả lương nhân viên toàn thời gian, cộng tác viên mà còn giúp Viện có được dữ liệu để tiếp tục nghiên cứu về xã hội đương đại. “Các đơn vị đặt hàng bên mình làm khảo sát, nhưng họ chỉ ‘xài’ hết khoảng 30% – 40% lượng thông tin đó để sớm áp dụng vào thực tiễn, giải quyết các vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải. Còn đối với mình, lượng dữ liệu thô đó là vô giá. Các bạn nghiên cứu viên trẻ có thể sử dụng để công bố bài tạp chí trong và ngoài nước. Một số thì có thể sử dụng làm luận văn, luận án”, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc nói.  Đồng hành – “Research together”  Giờ đây, đã có được uy tín nhất định, Social Life vẫn đặt mục tiêu tạo điều kiện cho những người trẻ, xây dựng một không gian thực sự cổ vũ đam mê, tình yêu khoa học, hướng tới xuất bản các công trình có chất lượng, dần đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.   “Mặc dù thời gian gần đây, chúng ta luôn hô hào phải thúc đẩy công bố quốc tế, nhưng việc đào tạo sinh viên hay các nhà nghiên cứu trẻ chưa từng công bố quốc tế lại không được chú ý”, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc nói. Quả thực, có một thực tế là số bài công bố quốc tế hiện nay vẫn chủ yếu khu trú, tập trung ở một số tác giả nhất định là những người đã từng được đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, phần đông thuộc nhóm tuổi từ 30 đến 50, và thường xuyên có bài công bố quốc tế, theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính, trường Đại học KHXH&NV Hà Nội.     Trại viết vào tháng 8/2018 của Social Life.   Vì thế, Social Life lại tiếp tục xây dựng chương trình “Research together” dành cho tất cả nghiên cứu viên trẻ, học viên sau đại học nộp hồ sơ, đề xuất đề cương nghiên cứu. Những người được duyệt hồ sơ sẽ được tham gia các lớp huấn luyện khoa học của Viện Social Life, được trực tiếp hướng dẫn bởi các cố vấn chuyên môn kì cựu trong KHXH ở khu vực phía Nam. Có cơ hội xuất bản ấn phẩm trong các bộ sách, bài đăng tạp chí khoa học trong nước hoặc quốc tế, được kết nối với các chuyên gia uy tín trong KHXH mở rộng mạng lưới trong chuyên môn. Kết thúc chương trình này, các học viên được tham gia các dự án của Viện Social Life và có thể sử dụng nguồn dữ liệu nghiên cứu tại Social Life để thực hiện luận văn, luận án. Mặc dù ứng viên phải đóng một khoản phí cam kết ban đầu, nhưng khi hoàn thành nội dung học tập, đáp ứng các tiêu chí (có bài đăng ở các tạp chí quốc tế hoặc tạp chí KHXH uy tín trong nước) thì sẽ được Viện hoàn trả phí cam kết. Các ứng viên sẽ không chỉ phải học phương pháp nghiên cứu KHXH tại văn phòng mà phải tham gia vào các “trại viết” – thực tế điền dã tại các địa phương. Sản phẩm nghiên cứu của từng người sẽ được “mổ xẻ” bởi các đồng sự là những người nghiên cứu trẻ trước, sau đó tới người hướng dẫn có kinh nghiệm. “Khi chưa thể công bố quốc tế ‘từ trong ra’ – tức là đăng bài trên các tạp chí uy tín quốc tế, thì chúng tôi yêu cầu học viên phải tuân thủ một quy trình quốc tế hóa ‘từ ngoài vào’ – từng bước thực hiện nghiên cứu đều phải theo các chuẩn mực quốc tế. Phải đúng từ trích dẫn trở đi”, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc nói.   Đối với những người trẻ, quá trình rèn luyện, mổ xẻ dưới sức ép của các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm ở Social Life đã giúp họ trưởng thành nhiều. “Nhìn lại quá trình thực hiện bài viết, trong hơn một năm tính từ ngày gửi bài lần đầu tiên đến nay tôi tự nhận thấy mình tiến bộ hơn rất nhiều về cả phương pháp tiếp cận lẫn kỹ năng trình bày nghiên cứu khoa học”, Bùi Quốc Linh, một trong những nghiên cứu viên trẻ nghiên cứu về cộng đồng tín đồ đạo Mẫu và xuất bản trong tập 3 Tuyển tập đời sống xã hội Việt Nam đương đại cho biết. Nguyễn Thị Nga, nghiên cứu về không gian sống đô thị của công nhân công giáo cũng cho rằng tham gia cùng Social Life là “cơ hội rất lớn cho tôi khi làm việc trong một môi trường học thuật thực sự”.  Không giữ “khư khư” những bí kíp đào tạo cho riêng mình, kinh nghiệm đúc rút được từ các khóa đào tạo học viên đều được PGS.TS Nguyễn Đức Lộc cùng đồng sự viết lại thành các bộ sách công cụ nhằm cung cấp kiến thức cho những học viên không có điều kiện tham gia cùng Social Life. Nhờ vậy, các tập sách “Giáo trình Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính”, “Giáo trình phương pháp đánh giá nhanh với sự tham gia của cộng đồng trong nghiên cứu khoa học xã hội” của PGS.TS Nguyễn Đức Lộc, “Tiểu sử học – những nguyên tắc thực hành” – TS Phạm Văn Quang lần lượt được xuất bản.  Con đường phía trước của Social Life còn rất dài, bởi nghiên cứu về xã hội đương đại thì cần “trở đi trở lại” các địa bàn nghiên cứu liên tục, cần có một database theo thời gian để có cái nhìn so sánh, trong 10 năm, 20 năm hoặc 30 năm. Nhưng hiện nay việc so sánh như vậy gần như là không thể, bởi không có các cơ sở dữ liệu, khảo sát được thiết kế chuẩn, hoặc nhóm nghiên cứu định tính của nhiều chục năm trước chưa có điều kiện để quay trở lại địa phương đó. Do vậy, việc thiết kế khảo sát, tạo ra một database ngay từ bây giờ là việc mà Social Life phải làm.□  Viện Social Life là tổ chức khoa học công nghệ độc lập, đặt mục tiêu nghiên cứu về các vấn đề xã hội Việt Nam đương đại và ứng dụng tri thức khoa học xã hội vào giải quyết các vấn đề thực tiễn phát triển của đời sống xã hội (nghiên cứu, khảo sát xã hội, tư vấn chính sách, dự  báo xã hội, v.v.) nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội ở Việt Nam. Tiền thân của Viện là Nhóm Nghiên cứu đời sống xã hội (trực thuộc Đại học KHXH&NV TP.HCM), ra đời khi PGS.TS Nguyễn Đức Lộc cùng một số nhà nghiên cứu muốn hình thành nên một nhóm nghiên cứu chỉ tập trung các nhà nghiên cứu trẻ, tìm hiểu và nghiên cứu về đời sống xã hội, ký ức xã hội.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Sofia Kovalevskaya: Nữ giáo sư đầu tiên trong lịch sử châu Âu      Vượt qua những rào cản của thời đại luôn cản trở nữ giới tham gia làm khoa học, Sofia Kovalevskayav đã nỗ lực trở thành tiến sĩ và giáo sư thực thụ đầu tiên trong lịch sử châu Âu. Tên tuổi của bà cũng được nhắc đến như là một trong những phụ nữ đi tiên phong trong phong trào đòi nữ quyền ở châu Âu.          Sofia Kovalevskaya (1850 – 1891), hình chụp năm 1880 (Sofia 30 tuổi). Tên đầy đủ thời còn con gái của bà: Sofia Vasilyevna Korvin-Krukovskaya (họ của cha bà là Krukovsky). Tên đầy đủ khi lập gia đình: Sofia Vasilyevna Kovalevskaya (họ của chồng bà là Kovalevsky), thường người ta gọi bà là Sofia Kovalevskaya, còn đôi khi trong bài viết bà để tên Sophie Kovalevsky hoặc Sonya Kovalevskaya.  Bộc lộ tiềm năng toán học từ sớm  Sofia sinh ngày 15 tháng 1 năm 1850 tại Moscow, là con thứ hai trong gia đình thượng lưu thuộc dòng họ Krukovsky. Từ nhỏ Sofia được nuôi dưỡng và giáo dục đầy đủ ở lãnh địa của dòng họ Krukovsky, một địa phương tên là Palibino gần biên giới với Lithuania. Vú nuôi của Sofia là một người Anh có học thức, biết nói tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Đức, cho nên ngoài tiếng Nga, Sofia học được nhiều thứ tiếng khác ngay nhỏ. Ngoài ra bà còn dạy cho Sofia nhiều kiến thức phổ thông khác, ngoại trừ Toán Cao cấp.  Một lần, người vú nuôi chưa tìm đủ giấy dán tường nên lấy tập bài giảng Calculus cũ (thời cha của Sofia đi học)1 đem dán tạm. Rồi bà vú quên thay giấy dán tường mới, nhưng cô bé Sofia khi ấy mới 8,9 tuổi “… hễ lúc nào rảnh lại nhìn chằm chặp vào những cái hình và công thức ‘kỳ lạ’ ấy,” chị của Sofia kể lại. Có phải đó là cái “điềm” báo trước cô bé sau này mê Toán không?  Nhà Vật lý Nikolai Nikanorovich Tyrtov, là chú họ của Sofia đã phát hiện ra khả năng học và hiểu nhanh môn học một cách khác thường khi thấy cô bé đọc và hiểu sách Vật lý của ông. Ông còn rất ấn tượng khi thấy cô “chế biến” một số công thức Lượng giác trong sách của ông nữa. Ông đặt tên cho Sofia là Pascal mới (New Pascal), và khuyên cha mẹ Sofia tìm giáo viên dạy thêm cho Sofia về môn Toán.  Mùa Đông năm 1866 – 1867, gia đình về nghỉ ở Saint-Petersburg. Dịp này cha mẹ Sofia mướn được một thầy giáo chuyên dạy Toán tại nhà tên là Alexander N. Strannolyubsky, ông này đang dạy Toán tại Học viện Hải quân Saint-Petersburg. Thầy giáo dạy cho Sofia môn Toán Cao cấp, và ông nhận ra ngay khả năng đặc biệt của cô học trò của mình, làm như cô đã biết trước môn Toán này từ lâu rồi. Cũng mùa Đông ấy, Sofia làm quen với chủ nghĩa Hư Vô (Nihilism) qua tài liệu sách báo của một người bạn của Anna (còn gọi là Anya), chị của Sofia. Tư tưởng này đang thịnh hành trong giới trẻ thành thị Nga.  Hết năm 1867, Sofia 17 tuổi, học hết trung học, mặc dù học giỏi nhưng Sofia không thể vào đại học. Thời ấy, ở nước Nga cũng như hầu hết các nước khác ở châu Âu, phụ nữ không được phép ghi tên vào trường đại học. Khi muốn đi ra nước ngoài (du lịch hoặc học tập), phụ nữ Nga không được phép đi một mình, mà phải đi cùng chồng hoặc có giấy cho phép của cha hoặc chồng. Năm 1868, Sofia 18 tuổi – trước ước muốn được ra nước ngoài tìm cơ hội học tập, gia đình phải sắp xếp một cuộc hôn nhân “giả” cho Sofia: Sofia kết hôn với Vladimir Kovalevsky2, một sinh viên chuyên ngành Sinh Vật học. Kovalevsky nghĩ rằng mới đầu có thể cuộc hôn nhân là “giả”, nhưng do yêu Sofia, Kovalevsky hy vọng cuộc hôn nhân sẽ trở thành thật. Sau khi lấy nhau, hai người rời Saint-Petersburg và qua Đức.  Nữ tiến sĩ đầu tiên ở châu Âu     Tháng 4 năm 1869, họ dừng lại tại Heidelburg, một thành phố ở miền Tây-Nam nước Đức để Sofia xin vào Đại học Heidelburg. Cũng như ở Nga, Sofia bị từ chối, tuy nhiên ở đây người ta cho Sofia ghi tên với tư cách sinh viên dự thính. Cô ghi tên học Vật lý và Toán học với nhiều giáo sư danh tiếng như Hermann von Helmholtz (1821 – 1894), Gustav Kirchhoff (1824 – 1887) và Robert Bunsen (1811 – 1899). Trong thời gian ấy, Vladimir lên Đại học Jena ở miền Đông-Bắc nước Đức để theo học lấy bằng Tiến sĩ Cổ Sinh Vật học.  Tháng 10 năm ấy, năm 1869, sau khi thủ tục ghi tên vào các lớp dự thính xong, Sofia theo Vladimir qua London để anh tiếp xúc, và học hỏi chuyên môn với các giáo sư hàng đầu cùng ngành ở Anh như Thomas Huxley (1825 – 1895) và nhất là Charles Darwin (1809 – 1882). Thời gian ở London, Sofia tham dự một số salon bàn luận về các vấn đề văn chương, nghệ thuật, trong đó có salon của nhà văn, nhà thơ nữ nổi tiếng George Eliot (1819 – 1880).  Tại đây, Sofia – năm ấy 19 tuổi – đăng đàn tranh luận (bằng tiếng Anh) với nhà Triết học, nhà Văn, nhà Sinh vật học Herbert Spencer (1820 – 1903) về đề tài “Woman’s capacity for abstract thought” (Khả năng của phụ nữ trong tư duy trừu tượng). Trở về lại Heidelburg, nàng kịp hoàn tất các lớp học (dự thính) tại đây.  Tháng 10 năm 1870, Sofia đến Berlin với mục đích tìm học Toán với giáo sư Karl Weierstrass (1815 – 1897), nhà Toán học Đức, được xem như “cha đẻ” của Giải tích hiện đại. Nhưng Đại học Berlin còn khắt khe hơn ở Đại học Heidelburg nữa: thậm chí người ta không cho Sofia ghi tên dự thính. Sofia xin được học tư với giáo sư Weierstrass. Có thể do sự quyết tâm và khả năng khác thường của nàng mà giáo sư Weierstrass nhận lời và dạy riêng cho nàng suốt trong gần 4 năm liền. (Xin được nói thêm một chút ở đây. Weierstrass lớn hơn Sofia 35 tuổi và có ba cô con gái cỡ tuổi với Sofia. Ông coi Sofia như con gái mình, thỉnh thoảng Sofia ở lại nhà Weierstrass, học với thầy và chơi với các cô con gái. Do đó có một số dư luận không hay về thành quả của Sofia, nhất là có người cho rằng có “bàn tay” của Weierstrass trong ba bài nghiên cứu tạo nên Luận án Tiến sĩ của Sofia. Ngay cả nhà viết sử nổi tiếng của thế kỷ 20 là E.T. Bell cũng có một vài nhận xét không chính xác về chuyện này3. Nhưng nhờ tài năng thật sự của Sofia mà những tiếng đồn không hay dần dần không còn nữa).  Năm 1874, Sofia Kovalevskaya trình luận án của mình đến trường Đại học Göttingen, dưới sự đỡ đầu của Giáo sư Weierstrass, để xin cấp bằng Tiến sĩ Toán. Luận án gồm 3 đề tài liên quan đến:  1. Lý thuyết phương trình đạo hàm riêng.  2. Kỹ thuật giản lược một loại tích phân Abel về tích phân elliptic.  3. Bổ sung những nghiên cứu của Laplace về vành đai của sao Thổ (Saturn’s ring).  Trường Đại học Göttingen đã chấp thuận và cấp cho Sofia Kovalevskaya văn bằng Tiến sĩ với hạng tối danh dự (summa cum laude) vì luận án xuất sắc, mặc dù không chính thức ghi danh học ở đó ( In absentia).  Sofia Kovalevskaya trở thành người phụ nữ đầu tiên được chính thức cấp bằng Tiến sĩ ở châu Âu.  Cuộc sống chật vật  Sau khi tốt nghiệp xong, Sofia và Vladimir trở về Nga. Cả hai đều không tìm được việc làm thích hợp. Về phần Sofia, xã hội Nga (thật ra là khắp châu Âu) thời ấy không cho phép phụ nữ chính thức có mặt trong các định chế Hàn lâm, còn Vladimir là do bị nghi ngờ có tư tưởng cấp tiến4 chống lại xã hội phong kiến Nga Hoàng.        Cặp vợ chồng “giả” khi mới cưới: Sofia 18 tuổi và Vladimir 26 tuổi.    Trong thời gian này, hai người chính thức sống chung với nhau. Họ làm cả những việc không thuộc chuyên môn của mình để kiếm sống. Sofia thì viết tin tức cho tờ New Time ở Saint Petersburg, còn Vladimir thì làm việc tạm thời cho một công ty bất động sản.  Năm 1878, Sofia sinh được một bé gái cũng đặt tên là Sofia (nhưng thường được gọi là Fufa), cuộc sống của hai vợ chồng càng khó khăn hơn. Sau hai năm ở nhà nuôi con, Sofia gửi Fufa cho bà con và bạn gái để trở lại công việc khoa học.  Vladimir rất bất mãn về quyết định này của Sofia.  Năm 1880, với sự giới thiệu của nhà Toán học P.L. Chebyshev (1821 -1894), Sofia Kovalevskaya trở thành hội viên Hội Toán học Moscow.  Trong những năm 1881 – 1883, bà liên tục di chuyển giữa Berlin và Paris để nghiên cứu vấn đề Toán học của hiện tượng khúc xạ ánh sáng qua môi trường tinh thể. Trong khi đó công việc làm ăn của Vladimir không có gì suôn sẻ, ông suy sụp tinh thần, bắt đầu có dấu hiệu của bệnh tâm thần, cuối cùng đi đến tự kết liễu đời mình vào tháng 4 năm 1883. Luôn suy nghĩ về trách nhiệm trong cái chết của chồng, Sofia cũng chán nản rời bỏ những hoạt động khoa học và xã hội.  Nhưng trong thời điểm bi đát nhất của cuộc sống, một phép lạ đã đến với bà. Gösta Mittag-Leffler (1846 – 1927), nhà Toán học nổi tiếng Thụy Điển được vua Thụy Điển tin cậy, người rất ngưỡng mộ Weierstrass, đã đưa bà về Thụy Điển và tìm cho bà một công việc phù hợp – đó là giảng viên không lương (Privatdozentin)5 tại trường Đại học Stockholm. Một năm sau (1884), do tài năng được thể hiện một cách rõ ràng, bà được ký hợp đồng 5 năm vào ngạch phụ tá giáo sư, và năm 1889 bà được phong giáo sư thực thụ.         Không thể là một nhà Toán học mà không có tâm hồn thi sĩ. Sofia Kovalevskaya      Như vậy Sofia Kovalevskaya là người phụ nữ đầu tiên trở thành giáo sư chính thức trong Lịch sử châu Âu. Kể từ đó bà có một địa vị được tôn kính trong giới thượng lưu trí thức Thụy Điển. Cũng cần nói thêm rằng, vào năm 1882, chính Mittag-Leffler là người sáng lập ra tờ báo Toán học Acta Mathematica, tờ báo nổi tiếng cho tới ngày hôm nay. Hai năm sau, năm 1884, Sofia Kovalevskaya trở thành viên Hội đồng Biên tập (Editorial Board) của tờ báo này.  Những hoạt động Khoa học, Toán học, và Văn học của bà hầu hết được diễn ra trong những năm 1884 – 1890  khi vị trí của bà trong xã hội, trong thế giới Khoa học được công nhận. Một số sự kiện và công trình nghiên cứu tiêu biểu của bà trong thời gian này – theo tài liệu của Dr. Elena N. Polyakhova, khoa Toán Đại học Saint-Petersburg, Nga gồm có:  ● Tháng 2 năm 1884 được bổ nhiệm vào Hội đồng Biên tập của tờ báo Toán học Acta Mathematica. Công bố đề tài thứ hai về Tích phân trong luận án Tiến sĩ trên tờ báo Acta Mathematica số tháng 4 năm 1884 bằng tiếng Đức Ueber die Reduktion einer bestimmten Klasse Abel’schen Integrale 3-en Ranges auf elliptische Integrale.  Cũng trong năm 1884, bà gửi đăng trong báo cáo hằng tuần của Viện Hàn lâm Khoa học Paris bài nghiên cứu về Toán-Vật lý: Sur la propagation de la lumière dans un milieu cristallisé (Sự truyền của ánh sáng trong môi trường tinh thể)6.  ● Năm 1885 công bố đề tài thứ ba về vành đai của sao Thổ (Thiên văn học)  của luận án Tiến sĩ bằng tiếng Đức Zusaetze und Bemerkungen zu Laplace’s Untersuchung ueber die Gestalt der Saturnringe trên tờ báo Thiên văn Astonomische Nachrichten, Kiel.  ● Năm 1886 công bố bài báo Remembrances of George Eliot (Hồi ức về thi sĩ G. Eliot) trên tờ báo Russia Though số tháng 6, 1886.  ● Năm 1887, cùng với nhà văn, nhà biên kịch Anna Charlotte Leffler-Edgren (em gái của nhà Toán học Mittag-Leffler) hoàn thành vở kịch Fight for Happiness (Đấu tranh cho Hạnh phúc).  ● Năm 1888 nghiên cứu về sự quay của một vật thể rắn (Cơ học cổ điển). Đề tài này được giải thưởng Bordin của Hàn lâm Viện Khoa học Paris (Prix Bordin de l’Académie des Sciences de Paris) với tựa đề Sur le problème de la rotation d’un corps solide autour d’un point fixe.  ● Năm 1889, cho công bố bài nghiên cứu nói trên trong số báo Acta Mathematica số tháng 12, bằng tiếng Anh dưới tựa đề Problem of rigid body rotation around a fixed point. Công bố một bài tiểu luận văn học về nhà văn M.E. Saltykov-Shchedrin (1826 – 1889) trên một tờ báo Pháp. Với sự giới thiệu của nhà Toán học Chebyshev, Sofia Kovalevskaya được bầu làm thành viên thông tấn (Correspondent member) của Hàn lâm Viện Khoa học Saint-Petersburg.  ● Năm 1890 khai triển tiếp về đề tài về sự quay của một vật thể rắn (Cơ học cổ điển), bà cho công bố bài nghiên cứu Sur la propriété du système d’équations différentielles qui définit la rotation d’un corps solide autour d’un point fixe (Về một tính chất của hệ phương trình vi phân xác định phép quay của một vật thể rắn chung quanh một điểm cố định) trên tờ Acta Mathematica 1890. Với nghiên cứu này bà được giải thưởng của Hàn lâm Viện Khoa học Thụy Điển.  Cũng trong năm 1890 bà cho xuất bản tập hồi ký A Russian Childhood (Thời ấu thơ của một đứa trẻ Nga) và vở kịch Nihilist Girl (Một phụ nữ theo thuyết hư vô). Bản dịch tiếng Nga Nihiliska bị nhà nước Xô viết cấm xuất bản ở Nga cho đến năm 1928.  Sophia Kovalevskaya bị bệnh sưng phổi và mất vào ngày 10 tháng 2 năm 1891 tại Stockholm, Thụy Điển, sau khi trở về từ một chuyến đi nghỉ ở Nice, Pháp. Khi ấy bà mới có 41 tuổi. Con gái duy nhất của bà, lúc ấy 12 tuổi, được nhà Thiên văn Gylden đem về nuôi sau này trở thành một Bác sĩ Y khoa, mất năm 1953, không lập gia đình.   ——  1 Đó là giáo trình in thạch bản của nhà Toán học Mikhail Ostrogradsky (1801 – 1862).  Nguồn: Best of Russia – Famous Russians. (https://web.archive.org).  2 Sau này, chính Kovalevsky là người đầu tiên dịch công trình của Charles Darwin sang tiếng Nga.  3 E.T. Bell. Men of Mathematics, chap 10.  4 Vladimir Kovalevsky từng tham gia Công xã Paris cùng với vợ chồng cô chị Anna của Sofia.  Hai vợ chồng cô chị sau đó bị bắt tại Pháp, rồi họ vượt ngục, trốn thoát được qua Anh.  5 Ở Đức cũng như một số nước khác ở châu Âu thời ấy, khi một tân Tiến sĩ được tuyển dụng vào đại học, người này sẽ bắt đầu bằng chức vụ Privatdozent (nam) hay Privatdozentin (nữ), giảng viên không lương nhưng có thể thu của sinh viên một ít học phí để đủ sống.  6 Ngay sau khi bài nghiên cứu được công bố, Vito Volterra (1860 – 1940), nhà Vật lý người Ý, khi ấy mới 24 tuổi, đã tìm thấy một vài sai sót.  Sau này Kovalevskaya không còn muốn đề cập tới nghiên cứu này nữa.  7 Hai người kia là Sphie Germain và Emmy Noether.  Tài liệu tham khảo chính  1. M. Aubin.  Remembering Kovalevskaya. Springer Verlag. 2011.  2. E.T. Bell.  Men of Mathematics. Simon and Schuster. New York. 1965.  3. R. Cooke.  The Mathematics of Sofia Kovalevskaya. Springer Verlag.  New York. 1984.  4. D.H. Kennedy.  Little Sparrow: A Portrait of Sophia Kovalevskaya.  Ohio University Press. 1983.  5. A. Munro.  Too Much Happiness.  McClelland and Stewart.  Toronto. 2009.  6. J. Spicci. Beyond the Limit: The Dream of Sofia Kovalevskaya. Tom Doherty Associates. 2002.  7. And Reviewed of this book by Ann Hibner Koblitz at https://www.ams.org/notices/200401/rev-annkoblitz.pdf.  8. https://www.britannica.com/topic/history-of-Europe/Realism-in-the-arts-and-philosophy#ref311206.  9. http://www.storyofmathematics.com/19th.html.  10. https://www.agnesscott.edu/lriddle/women/kova.htm.    Âm hưởng mang tên Kovalevskaya   Sofia Kovalevskaya không phải là nhà Toán học hàng đầu thế giới, nhưng bà là một trong ba nhà nữ Toán học tài năng nhất gần thời đại chúng ta (cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20). Tên của bà gắn liền với một định lý quan trọng của Giải tích học: Định lý Cauchy-Kovalevskaya. Ngoài ra tên tuổi của bà cũng được nhắc đến như là một trong những phụ nữ đi tiên phong trong phong trào đòi quyền phụ nữ ở châu Âu. Tài năng và cuộc đời của bà là nguồn cảm hứng cho một số cuốn tiểu thuyết tiểu sử và phim ảnh. Xin được liệt kê một số sự kiện và sách vở nói về bà hoặc có mang tên bà:  ● Sonya Kovalevskaya High School Mathematical Day (Ngày Sonya Kovalevskaya trong trường Trung học cấp ba): Đây là một quỹ do Hội các phụ nữ trong Toán học (AWM = Association for Women in Mathematics) thành lập trên khắp nước Mỹ, nhằm tài trợ cho các chương trình có mục đích khuyến khích tài năng Toán học trong các trường trung và đại học.  ● The Sonya Kovalevskaya Lecture (Bài giảng Sonya Kovalevskaya): Bài giảng xuất sắc hằng năm do hội AWM bảo trợ, nhằm mục đích đề cao sự đóng góp của phụ nữ trong lãnh vực Toán và Toán ứng dụng.  ● Kovalevskaya Fund (Quỹ Kovalevskaya): Thành lập vào năm 1985, nhằm hỗ trợ phụ nữ ở các nước đang phát triển trong nghiên cứu sáng tạo Khoa học.  ● Quỹ Alexander Von Humboldt ở Đức mỗi năm hai lần trao tặng giải thưởng Sofia Kovalevskaya cho những nữ khoa học gia trẻ.  ● Một miệng núi lửa trên Mặt trăng mang tên Kovalevskaya.  ● Ở Saint-Pertersburg và Moscow đều có con đường mang tên Sofia Kovalevskaya.  ● Sách Little Sparrow: A Portrait of Sophia Kovalevskaya (Chim sẻ bé nhỏ: Chân dung của S.K) của Don.H. Kennedy, Ohio University Press. 1983.  ● Sách Beyond the Limit: The Dream of Sofia Kovalevskaya (Bên kia giới hạn: Giấc mơ của S.K) của Joan Spicci, Tom Doherty Associates. 2002.  ● Sách Too Much Happiness (Quá nhiều hạnh phúc). Alice Munro. McClelland and Stewart. Toronto. 2009.  ● Phim Sofia Kovalevskaya, đạo diễn Losef Shapiro. Sản xuất năm 1956.  ● Phim TV Sofia Kovalevskaya, đạo diễn người Azerbaijan Ayan Shakhmaliyeva. Sản xuất năm 1985.    Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Soi mình giữa đồng bằng      Ở miền Tây Nam bộ, đa phần bà con nông dân quen gọi các nhà khoa học của Viện Lúa ĐBSCL là “thầy”; họ cũng thích kêu tên cái viện này là “Viện Lúa Ô Môn”…    Là vì Viện Lúa ĐBSCL ra đời trên một cánh đồng sâu thuộc huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ cách đây đã 29 năm (nay Viện thuộc huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ). Nơi đây, đang có hơn 300 “quân”, chuyên lo nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tiến bộ khoa học phục vụ phát triển kinh tế xã hội của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL và nhiều vùng khác, tất nhiên “mạnh” nhất là về cây lúa.  Theo thời vụ, hằng năm trên những cánh đồng thí nghiệm, Viện thường tổ chức những buổi giao lưu chọn tạo giống lúa mới hoặc mô hình nuôi trồng mới có lợi nhất. Khi ấy, thường ít khi vắng mặt những nông dân giỏi của miền Tây Nam bộ. Trước đây, chúng tôi hay gặp những “lão nông tri điền” như bác Hai Chung ở Tiền Giang, bác Hai Hữu ở Long An, ông Hai Triểm ở An Giang… Giờ thì đa phần là cánh nông dân trẻ đến với Viện Lúa Ô Môn.  Riêng với những “ngày đánh giá giống lúa” (mỗi năm làm hai lần nhằm vụ đông xuân và hè thu), thì không khí trên những cánh đồng này vui không khác những ngày lễ hội ở nông thôn. Mỗi lần như vậy, thường có khoảng 500 nông dân từ khắp miền Tây đổ đường tới dự. “Thầy ơi!”, “Cô ơi!”… bà con nông dân gọi các nhà khoa học ới ới, hỏi đủ thứ, xong rồi kéo nhau vào hội trường để… hỏi nữa. Miễn sao khi ra về, họ biết thêm được nên xài những giống lúa mới nào, rồi cách gieo sạ, chăm sóc ra sao cho có lợi nhất trong mùa này.          5 năm qua, Viện Lúa ĐBSCL đã góp sức chính làm cho sản lượng lúa ĐBSCL tăng từ 16 triệu tấn (năm 2002) lên 18,5 triệu tấn (năm 2004); riêng giống lúa mới đã giúp tăng thêm 0,8 triệu tấn, tương đương 1.600 tỉ đồng.      Riêng ở tỉnh An Giang, do áp dụng qui trình kỹ thuật mới, mỗi hecta, bà con nông dân tiết kiệm được 138.000 đồng về chi phí hạt giống, 363.000 đồng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, 183.000 đồng về công lao động; năng suất lúa tăng 437 kg/ha/vụ; giá thành giảm trung bình 249 đồng/kg lúa; lợi nhuận 1.853.000 đồng/ha/vụ.           Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang, Trưởng Bộ môn Di truyền giống của viện, kể: “Có những hội thảo, mình không mời, bà con cũng bao xe đi một lúc 50-60 người tới dự. Cái nết riêng của nông dân miền Tây, theo tôi là bà con rất mê và rất nhạy với những cái mới của khoa học kỹ thuật nông nghiệp”.  Hồi Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật còn làm viện trưởng, ông hay nói vui với cánh nhà báo rằng: “Các bạn có biết bà con nông dân miền Tây đặt tên cho những giống lúa thuộc dòng OMCS của Viện là gì không? Họ kêu là “ôm em cực sướng” đấy!”. Rồi ông lại cười, giải thích: “OM là để nhớ địa phương Ô Môn, còn CS là viết tắt của chữ “cực sớm”, vì đây là dòng lúa ngắn ngày, hợp với thời vụ, kể cả chuyện né lũ ở miền Tây”.  Giáo sư Luật hiện đã nghỉ hưu. Và ông đang có một lớp nhà khoa học trẻ tiếp nối công việc của mình với cái “máu” cũng văn nghệ và lãng mạn như ông. Lớp cán bộ này đa phần được ông gửi đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở Ấn Độ và nhiều nước khác, từ những năm Viện Lúa ĐBSCL còn “vùng vẫy” trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung và bao cấp của cả nước.            “Lão nông tri điền” tại Viện Lúa ĐBSCL.          Có thể kể tên một số nhà khoa học đi lên từ những năm tháng ấy, hiện đang ở lớp tuổi trên dưới 50,những người mà bà con nông dân vẫn thích gọi là “thầy” mỗi khi họ gặp nhau. Tiến sĩ Bùi Bá Bổng (nguyên là Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, giờ là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn); tiến sĩ Bùi Chí Bửu (đương kiêm Viện trưởng); tiến sĩ Lê Văn Bảnh (Viện phó kiêm Hiệu trưởng trường Trung học Cơ điện & kỹ thuật Nam bộ); tiến sĩ Phạm Sĩ Tân (Viện phó); tiến sĩ Dương Văn Chín (Trưởng Bộ môn Hệ thống nông nghiệp); tiến sĩ  Nguyễn Thị Lộc (Trưởng Bộ môn Sinh thái côn trùng & phòng trừ sinh học); tiến sĩ Lê Thị Dự (Trưởng Bộ môn Công nghệ hạt giống); tiến sĩ Lương Minh Châu (Trưởng Bộ môn Côn trùng); tiến sĩ Chu Văn Hách (Trưởng Bộ môn Phân bón & kỹ thuật canh tác); tiến sĩ Cao Văn Phượng (Trưởng Bộ môn Khoa học đất); tiến sĩ Phạm Văn Dư (Trưởng Bộ môn bệnh cây); thạc sĩ Nguyễn Xuân Lai (Trưởng phòng khoa học)…            Tại một “Ngày đánh giá giống lúa”.          Kể lại như vậy, càng hiểu thêm cái tiếng “thầy” của bà con nông dân, rằng đằng sau cái ánh vàng của bông lúa và cái vẻ trắng trong của hạt gạo Việt Nam, là những dòng “chất xám” thứ thiệt, mà nói như lời tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng: “Hầu hết cán bộ có trình độ cao của Viện đều được đào tạo từ những nước có nền giáo dục tiên tiến với nền khoa học phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Nhật, Ấn Độ, Philippines”.  Làm việc với các nhà khoa học ở Viện Lúa ĐBSCL, dù chỉ là một cú điện thoại ngắn hay gặp trực tiếp cả giờ đồng hồ, tôi thường cảm thấy nhẹ nhàng, vui và thu được nhiều thông tin. Tỉ như với Giáo sư tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng, một người đàn ông 53 tuổi, ánh mắt lúc nào cũng thấy sinh động. Xin được dẫn một lời “rủ rê lãng mạn” của anh gửi bạn đọc, để kết thúc bài này: “Ẩn mình sau những vườn cây xanh là các ngôi nhà xinh đẹp soi bóng dưới hồ nước xanh, các nhà khoa học Viện Lúa ĐBSCL cũng có thể tự soi mình hàng ngày, để khẳng định thế đứng của mình giữa đồng bằng này, giữa lòng người dân đang góp phần đổi mới đất nước”.  Huỳnh Kim      Nguồn tin: nguồn: Viện Lúa ĐBSCL         Author                Quản trị        
__label__tiasang Sống gần trục đường chính dễ bị suy giảm trí nhớ      Các nhà nghiên cứu Canada cho biết, những người sống trong vòng bán kính 50m quanh nơi có mật độ giao thông cao có nhiều nguy cơ mắc bệnh suy giảm trí nhớ cao hơn so với những người sống xa đường cao tốc.      Tình trạng khói mù bủa vây nhiều thành phố lớn ở Trung Quốc.   Theo công bố trên tạp chí y học The Lancet vào ngày 4/1 vừa qua, các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu các khoa học đánh giá lâm sàng Canada (ICES) đã tìm thấy bằng chứng những người sống trong vòng bán kính 50m gần đường có mật độ giao thông cao có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn 7% so với những người sống cách đó 300m.  Hong Chen (Cơ quan y tế công cộng Ontaria PHO), người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, “Nghiên cứu của chúng tôi đưa ra giả thiết, đường sá đông xe qua lại có thể là một nguồn tạo ra những tác nhân môi trường gây căng thẳng, dẫn đến số người mắc bệnh suy giảm trí nhớ tăng”.  Ông giải thích thêm, dân số gia tăng và đô thị hóa khiến nhiều người phải sống gần những nơi có mật độ giao thông cao, bởi vậy chỉ một tác động khiêm tốn của việc sống gần đường sá [với nguy cơ mắc bệnh] cũng có thể tạo ra gánh nặng lớn cho dịch vụ y tế công.  Bệnh suy giảm trí nhớ do nhiều chứng bệnh về não gây ra, trong đó phổ biến nhất là Alzheimer. Nguyên nhân là do các tế bào não bị mất đi, dẫn đến việc giảm khả năng lưu trữ ký ức, tư duy, thói quen, định vị không gian, và cả khả năng thực hiện các hành động đơn giản hằng ngày.  Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính trong năm 2015, trên khắp thế giới có 47,5 triệu mắc bệnh suy giảm trí nhớ, đồng thời cảnh báo con số này đang gia tăng vì tuổi thọ của con người cũng đang tăng lên. Do bệnh này không chữa được nên người bệnh sẽ thành tàn phế và phải sống phụ thuộc, cũng là khởi đầu dẫn đến bệnh tim, căn bệnh chết người ở một số quốc gia đang phát triển.  Phân tích dữ liệu hồ sơ sức khỏe  Các nhà nghiên cứu đã phân tích các hồ sơ sức khỏe của hơn 6,5 triệu cư dân Ontario (gần 50% dân số của vùng) trong độ tuổi từ 20 đến 85 và phát hiện 243.611 ca suy giảm trí nhớ trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2012.  Sau đó, họ lập sơ đồ cư dân sống gần những trục đường chính và nhận thấy, khi sống cách trục đường chính từ 50 đến 100m, số người bị mắc bệnh suy giảm trí nhớ giảm 4% so với người sống cách dưới 50 m và giảm thêm 2% nữa nếu sống ở khoảng cách 101 đến 200 m. Và nếu khoảng cách này trên 200 m thì có thể thấy rõ là gần như không có nguy cơ mắc bệnh.  Các nhà nghiên cứu cũng cố tìm kiếm bằng chứng liên hệ giữa việc ở gần các trục đường chính với nguy cơ mắc bệnh Parkinson và đa xơ cứng – hai loại bệnh về rối loạn hệ thần kinh trung ương khác nhưng không tìm thấy gì.  Các kết quả nghiên cứu này có thể hỗ trợ các nhà quy hoạch đô thị đưa các yếu tố về tình trạng giao thông, ô nhiễm không khí vào tính toán vì các khu vực đô thị ngày càng có xu hướng đông dân.  Các chuyên gia độc lập cho biết, nghiên cứu này có thể đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế công cộng thế giới.  Nhà nghiên cứu Tom Dening (Trung tâm nghiên cứu chứng suy giảm nhận thức, ĐH Nottingham, Anh) đã đánh giá những phát hiện này là “thú vị và gợi mở”. Ông nói: “Ontario không phải là nơi ô nhiễm không khí nhất thế giới [mà tình trạng mắc bệnh suy giảm trí nhớ còn xảy ra], vì vậy nguy cơ đó có thể lớn hơn với các thành phố thường xuyên bị khói mù”.  Nguồn: http://www.dw.com/en/study-links-heightened-dementia-risk-to-proximity-to-traffic/a-37018921    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Sóng hấp dẫn ban sơ của vũ trụ*      Làm sao con người có thể đứng trên quả đất bằng hạt bụi này giữa biển thiên hà trùng trùng điệp điệp lại có thể “nhìn thấy” những gì xảy ra ở lúc Big Bang cách đây 13.7 tỉ năm ánh sáng? Bức xạ của vũ trụ ban đầu, sau ngần ấy thời gian và khoảng đường, đã nhạt yếu đi nhiều và xoắn lại, nằm trong những mẫu vân bị phân cực của sóng vi ba vũ trụ, được biết dưới tên kiểu-B. Vậy mà con người vẫn còn nhận ra được.       ***  Chúng  ta đang sống trong thời của những ngọn gió vũ trụ thổi dồn dập vào hồn.  Bản giao hưởng vũ trụ do con người viết lấy có thêm những giai điệu  mới. Hai năm trước, lần đầu tiên boson Higgs đã được con người nhìn  thấy. Thế giới ăn mừng. Đó là hạt cơ bản cực kỳ nhỏ bé nhưng lại có  nhiệm vụ “gia trì” cho mọi thứ vật chất thấy được trong vũ trụ để tồn  tại, trong đó có bản thân chúng ta. Kỳ diệu thay !  Giai điệu đó chưa dứt thì ngày 17. 3.2014 vừa qua nhóm nghiên cứu BICEP2 dưới sự lãnh đạo của các giáo sư GS John Kovac, Clem Pryke, Jamie Bock và Chao-lin Kuo tuyên bố trong một cuộc họp báo tại Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithson rằng sóng hấp dẫn từ buổi ban sơ của lịch sử vũ trụ: từ thời điểm 10-34, tức là một phần tỉ tỉ tỉ tỉ giây giây sau Big Bang (hãy tưởng tượng giây phút vi phân này!), đã được con người nhìn thấy! Kinh ngạc và kỳ diệu thay! Đó là giai đoạn mà, theo thuyết Big Bang, vũ trụ từ một bào thai vô cùng nhỏ nhưng với một năng lượng cực lớn trong khoảnh khắc đã phát triển đột biến thành ‘lạm phát’- một phát kiến tình cờ nhưng vĩ đại của Alan Guth – và chuyển động với tốc độ hơn ánh sáng theo đủ mọi hướng. Đó là thời kỳ “chuyển dạ” và “đau đẻ” của tạo hóa.2 Thần Vệ nữ không còn giấu giếm được bí mật cuộc sinh nở của mình.            Ý tưởng lạm phát vũ trụ được Alan Guth phát minh năm 1979, khi đêm khuya trong căn hộ của ông làm việc trên các phương trình nhận thấy rằng còn thiếu một bước nhảy vọt của vũ trụ thì mới logic, với độ tăng trưởng hàm lũy thừa, mới giải thích được tại sao vũ trụ có quá ít một loại hạt lạ gọi là “đơn cực từ” trong một giai đoạn nhanh chóng của sự siêu lạnh. Từ đó ông đề nghị thuyết lạm phát. Thuyết này được Andrei Linde và nhiều tên tuổi khác hoàn thiện sau đó.            Tại buổi buổi họp báo ở Harvard các nhà khoa học hàng đầu nói lên sự đồng tình của mình: khám phá sóng hấp dẫn ban sơ của nhóm nghiên cứu BICEP2 (Background Imaging of Cosmic Extragalactic Polarization) rất xứng đáng với giải Nobel.   Làm sao con người có thể đứng trên quả đất bằng hạt bụi này giữa biển thiên hà trùng trùng điệp điệp lại có thể “nhìn thấy” những gì xảy ra ở lúc Big Bang cách đây 13.7 tỉ năm ánh sáng? Bức xạ của vũ trụ ban đầu, sau ngần ấy thời gian và khoảng đường, đã nhạt yếu đi nhiều và xoắn lại, nằm trong những mẫu vân bị phân cực của sóng vi ba vũ trụ, được biết dưới tên kiểu-B. Vậy mà con người vẫn còn nhận ra được. Điều đó giống như tìm được kim dưới đáy biển!   Cho đến nay, các nhà vật lý chỉ quan sát được bức xạ nền (cosmic microwave background radiation, đơn giản CMB) ở dạng sóng điện từ của vũ trụ từ thời điểm năm thứ 380.000, một trạng thái thực ra vẫn còn là “sơ sinh” của vũ trụ. Đó cũng chính là một dạng tàn dư của Big Bang. Vào thời điểm đó vũ trụ tiếp tục giãn nở nhưng nguội dần để cho các nguyên tử hydro và helium hình thành và vật chất kết tinh lại thành sao, thiên hà. Do sự kết tinh đó, các đám mây bức xạ trở thành ‘quang đãng’trong vũ trụ, ánh sáng mới truyền đi được không phải bị cản trở, người ta có thể quan sát dễ dàng hơn. Đi ngược về trước, người ta chỉ thấy “sương mù”. Bức xạ nền này được quan sát – hết sức tình cờ – bởi hai nhà vật lý Mỹ Arno Penzio và Robert Wilson của Bell Labs 50 năm trước. Dĩ nhiên, hai ông được tưởng thưởng giải Nobel sau đó.   Các nhà khoa học từng có ý nghĩ rằng bức xạ nền này có thể chứa đựng dấu vết của sóng hấp dẫn ban sơ. Vệ tinh COBE nhận thấy có những thăng giáng nhỏ xíu trong cái biển phẳng lặng của bức xạ nền. Martin White và Lawrence Krauss năm 1992 cho rằng các sóng hấp dẫn của Big Bang đã làm cho bức xạ nền “gợn sóng”. Chính sự gợn sóng đó sẽ cho thông tin về sóng hấp dẫn ban sơ. Đó là đầu mối của các sự khảo sát.             Bản đồ của bức xạ vũ trụ nền (CMB) từ thời gian năm 380.000 sau Big Bang. (Nguồn NASA) Sự biến thiên màu sắc tương ứng với biến thiên nhiệt độ của vũ trụ trẻ: đó là những hạt giống cho các vì sao và thiên hà ngày nay chúng ta quan sát. Các nhà thiên văn học nghi ngờ ẩn chứa trong bức tranh này là dấu ấn thứ hai có thể tiết lộ chúng ta sóng hấp dẫn ban sơ: ánh sáng bị phân cực. Một sóng hấp dẫn sẽ ép không-thời gian lại theo  một hướng (vũ trụ sẽ nóng hơn tí), và giản nó ra theo một hướng khác (vũ trụ nguội hơn tí). Các photon của ánh sáng sẽ tán xạ với một chiều ưa thích, để lại một dấu ấn chút ít phân cực trên CMB khi sóng hấp dẫn đi qua. Khám phá các mẫu phân cực còn có thể cung cấp một chứng cứ rằng ngay sau Big Bang, vũ trụ giản nở với tốc độ hàm mũ, do đó bị lạm phát, với một hệ số ít nhất 1025. Lạm phát là cơ chế duy nhất có khả năng phóng đại các sóng hấp dẫn sinh ra từ các thăng giáng lượng tử trong lực hấp dẫn thành các tín hiệu có thể dò ra.           Có thể nói, một trong những điều thú vị là với BICEP2 các nhà vật lý đã ‘xộc’ được vào vùng năng lượng cực kỳ cao của vũ trụ lúc lạm phát, 1016 gigaelectronvolt, vùng mơ ước của các máy gia tốc trên trái đất. Đấy cũng là vùng năng lượng mà ở đó theo thuyết Đại thống nhất (Grand Unified Theory, GUT) người ta tin rằng ba lực cơ bản của thế giới, điện từ, lực yếu và lực mạnh, trở thành một thể thống nhất không phân biệt được. Hơn nữa, nếu những sóng hấp dẫn diễn ra trong giai đoạn của các thăng giáng lượng tử của lạm phát, điều đó có nghĩa rằng, trong giai đoạn đó, hấp dẫn và lượng tử được thống nhất làm một, điều bao người đã mơ ước? Thuyết hấp dẫn lượng tử (quantum gravity) có cơ sở, cũng như việc lượng tử hóa hấp dẫn vào một cội nguồn.              Thí dụ sóng hấp dẫn như sóng gợn trong tấm vải không-thời gian (Courtesy of Brian Greene)                    Lịch trình các giai đoạn phát triển của vũ trụ. (1) là giai đoạn các sóng hấp dẫn được sinh ra trong những thăng giáng lượng tử ngay sau Big Bang. (2) Sóng được phóng đại lên bởi lạm phát thành những tín hiệu. (3) Sóng được in hằn thành những mẫu vân trên bức xạ nền của sóng vi ba vũ trụ. (Courtesy of Sean Carroll)           Ai phát hiện ra sóng hấp dẫn này đầu tiên? Đó là Albert Einstein. Ông đã nghiên cứu sóng này năm 1916 dựa trên các phương trình trường của thuyết tương đối rộng của ông vừa hoàn tất, được trình bày trước Viện hàn lâm Khoa học Phổ, và việc nghiên cứu kéo dài đến 1918. Theo ông, vật chất ở dạng khối lượng hay năng lượng gây ra độ cong của không-thời gian bốn chiều, làm cho nó không còn là hình học phẳng Euclid nữa, mà phi-Euclid cong. Nếu khối vật chất đó biến động, nó sẽ gây ra sóng của các độ cong và truyền đi trong không-thời gian, giãn ra và co lại.3(Khác với sóng điện từ truyền trong không gian 3 chiều) Sóng hấp dẫn giống như một cuộc động đất trong không-thời gian. Một supernova nổ cũng gây ra các sóng hấp dẫn. Có thể tưởng tượng một cô gái ngồi trên cầu đung đưa hai chân trên mặt nước gây ra các đợt sóng. Các sóng hấp dẫn sẽ tạo nên sự phân cực trong bức xạ nền, gây ra “gợn sóng” bức xạ nền, và nhóm BICEP2 đã tìm thấy dấu ấn của chúng trong đó. Sự quan sát này là cực kỳ khó khăn. Do năng lượng hấp dẫn truyền đi trong không gian ngày càng yếu đi, giống như ánh sáng. Einstein hoài nghi con người có thể quan sát được chúng.      Năm 1969, Joseph Weber tin rằng mình đã khám sóng hấp dẫn bằng cách sử dụng những thiết bị thô sơ gồm hai thanh aluminum treo trong chân không. Khi một sóng hấp dẫn đến, nó sẽ làm giãn chúng ra theo chiều thẳng góc với sóng và ép chúng lại. Stephen Hawking cũng muốn chế tạo thiết bị dò thử để kiểm tra kết quả ngạc nhiên của Weber. Nhưng dĩ nhiên tất cả không đơn giản như thế.              Khi hai sao neutron chuyển động quanh nhau, chúng sinh ra sóng hấp dẫn trong không-thời gian và sóng này truyền đi như sóng nước trong hồ. (Courtesy of Marcia Bartusiak)           Hai người khám phá đầu tiên sự tồn tại của sóng hấp dẫn (thông qua việc sử dụng kính thiên văn radio) là Joseph Taylor và Russell Hulse vào năm 1974 từ một cặp sao neutron (một trong đó là pulsar) có chuyển động quanh nhau.4 Trong khi đó, các thiết bị dò được chế tạo rất nhạy cảm từ những năm 1970, trong đó có các máy dò LIGO, nhạy cảm cả mười triệu lần hơn thiết bị thô sơ của Weber, nhưng cho đến 2013 vẫn chưa có sự phát hiện nào tin cậy về sóng hấp dẫn ban sơ. Nhưng sóng hấp dẫn ban sơ phải đợi đến BICEP2 mới giải quyết được, như được công bố ngày 17.3 vừa qua.             Thần Vệ nữ, Sinh nở. Tác phẩm của Sandro Botticelli (Wiki).     Viễn vọng kính BECIP2 ở phía trước, đón nhìn ‘sóng chuyễn dạ’ của vũ trụ. (Steffen Richter/Associated Press)           Lịch sử vũ trụ học có ba thuyết khác nhau. Thuyết đầu tiên là thuyết Big Bang của Georges Lemaître và George Gamov những năm 1920 thế kỷ trước dựa trên thuyết tương đối rộng Einstein. Thuyết thứ hai của Fred Hoyle về một thế giới ‘tĩnh’ (Steady State) mà TS Nguyễn Trọng Hiền gọi là “trạng thái vĩnh hằng”, không tiến hóa. Hoyle từ chối thuyết của Lemaître và Gamov mà ông gọi nó bằng cái tên “Big Bang”. Từ đó có cái tên lịch sử. Thuyết này chiếm được cảm tình của nhà thờ. Thuyết thứ ba của nhà vũ trụ học Cambridge Neil Turok là vũ trụ trải qua một chuỗi Big Bang không có khởi đầu và kết cục, do đó không có sóng ban sơ. Cho nên khám phá sóng hấp dẫn ban sơ là một chứng cứ mạnh mẽ nhất cho thuyết Big Bang. Với khám phá sóng hấp dẫn, Stephen Hawking cho rằng mình đã “thắng cược” trước Turok. Ông này vui và hồn nhiên thật. Mới năm rồi ông thua cược 100 USD vì hạt Higgs, bởi ông cá rằng không thể nào có cái gọi là hạt Higgs.              Diogenes với chiếc đèn lồng. Tác phẩm được cho là của J.H.W Tischbein (Wiki)     Galilei với chiếc kính viễn vọng trong tay. Tác phẩm của Giusto Sustermans. (Wiki)           Vật lý từ thế kỷ 20 đầy những điều kỳ diệu, và còn tiếp tục. Khoảng một thế kỷ trước (1919), thế giới kinh ngạc khi các đoàn thám hiểm Anh công bố ánh sáng trên trời bị lệch đi trong vùng mặt trời theo đúng góc lệch của tiên đoán Einstein bằng thuyết tương đối rộng! Tòa nhà vật lý Newton lung lay, và Einstein qua đêm đã trở thành người ‘anh hùng toàn cầu’. Khoa học đã lần lượt vén những bức màn huyền bí che mắt, từng lớp, lớp thô trước, lớp tinh sau, và tạo ra những ‘cảm xúc vũ trụ’ thi vị. “Chúng ta không là gì cả”, như nhà thơ Đức F. Hölderlin nói, “nhưng những gì chúng ta đi tìm là tất cả.” Michelangelo ơi, ông hãy sống lại mà tạc những cảm xúc vũ trụ này thành “tác phẩm thứ hai” của con người trong cuộc khám phá những kỳ bí của tạo hóa. Diogenes ơi, hậu sinh đã có cái đèn lồng mạnh mẽ có thể nhìn suốt đến cội nguồn rồi. Galilei ơi, cuộc cách mạng thiên văn bằng kính viễn vọng do ông gây ra hơn 400 năm trước gây chấn động châu Âu, giờ có năng lực nhìn thấy 13.7 tỉ năm ánh sáng về trước, gây chấn động thế giới. Chẳng phải là những điều kỳ diệu đầy chất thơ sao?  ***             TS Nguyễn Trọng Hiền và Jamie Bock (Caltech/JPL) trò chuyện với Robert Wilson (Harvard, phải), tại cuộc họp báo vừa qua. Wilson là một trong hai người phát hiện ra bức xạ nền 50 năm trước, thiết lập cơ sở thực nghiệm cho mô hình Big Bang. Wilson kể “Hoyle đến cuối đời vẫn không chấp nhận thuyết Big Bang.”           Khám phá sóng hấp dẫn diễn ra trước thềm kỷ niệm 100 năm thuyết tương đối rộng vào năm 2015 tới. Đối với cộng đồng Việt Nam, khám phá này càng làm tăng thêm cung bậc cảm hứng khi một thành viên của nhóm BICEP2 là người Việt Nam, TS Nguyễn Trọng Hiền của Đại học Caltech. Cũng khó tưởng tượng nổi về mặt con người, một thanh niên của khúc ruột miền Trung nghèo khó, tay trắng và ngơ ngác từ chiếc thuyền tị nạn được phép đặt chân lên nước Mỹ hoa lệ lại có cái đam mê thánh thiện như bẩm sinh của “ thánh hiền khoa học”, vượt mọi khó khăn từ khoảng cách hụt hẫng to lớn của hai nền văn hóa trong nỗi nhọc nhằn và nước mắt, can đảm chấp nhận mọi thử thách để làm một cuộc viễn du cô đơn vào những miền cội nguồn của vũ trụ. Và giờ đây Anh là một trong những người đầu tiên nhìn thấy ánh sáng của giây phút ban sơ, lúc thời gian, không gian và năng lượng quyện nhau trong một bào thai bắt đầu cuộc khởi động dữ dội như đau đẻ để tạo thành vũ trụ bình yên hôm nay. Những giây phút trải nghiệm đó, niềm vui đó, lên đến tột đỉnh, chắc chắn không gì quý hơn trong cuộc đời đối với Anh. Anh giống như một hậu duệ của Columbus, ngày nào bước lên chiếc thuyền ở bờ biển Việt Nam để làm cuộc hành trình định mệnh không biết về đâu nhưng để rồi cuối cùng, chung sức với các đồng đội mình trên con thuyền mạo hiểm BICEP2, khám phá cả một vương quốc mới trên trời cho nhân loại. Cuộc mạo hiểm Biển Đông đã biến thành cuộc mạo hiểm Vũ trụ-thắng lợi. Xin chúc mừng và có lời khâm phục Anh!   ————————  *  Một phần của bài này đã được đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 30-3-2014. Xin đọc thêm bài trả lời phỏng vấn chính thức (authentique) của TS Nguyễn Trọng Hiền trong số đó.  2 TS Hiền cho biết cuộc kiểm tra vừa qua diễn  ra ở băng tần 150 GHz. Sắp tới sẽ có thêm một cuộc kiểm tra ở băng tần 100 GHz. Lúc đó mới có kết luận chung cuộc.  3Henri Poincaré dường như đã đề cập sóng này năm 1908 lúc chưa có thuyết tương đối rộng của Einstein. Ông nói, trong một thuyết hấp lực tương đối tính, có thể có sự phát ra các “ondes d’acceleration” (sóng gia tốc).  4Điều thú vị là hai sao này ngày càng tiến gần nhau theo hình xoắn ốc, rất chậm, do chính các sóng hấp dẫn chúng phát ra liên tục tông (ngược) vào chúng;và mỗi năm chún gần nhau 2,7 phần tỉ khoảng cách chúng, đúng theo tiên đoán của định luật Einstein. “Khi các sóng hấp dẫn truyền vào không gian, chúng gây ra một phản lực lên các sao, như phản lực tác dụng lên cây súng khi súng vừa bắn ra”, Kip Thorne giải thích. “Phản lực của các sóng đẩy các sao vào gần nhau và ngày càng nhanh hơn, nghĩa là phản lực làm cho các sao chuyển động chầm chậm theo đường xoắn ốc vào nhau.” Không gì khác hơn có thể giải thích, ngoài các cú tông bằng sóng hấp dẫn khiến cho các sao này tiến gần nhau, như Kip Thorne viết. Taylor và Hulse nhận được giải Nobel năm 1994.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sóng hấp dẫn có thể giải thích được lý thuyết dây      Công bố mới “Các dấu hiệu của các chiều dư trên sóng hấp dẫn” (Signatures of extra dimensions in gravitational waves) đề xuất: có thể giải quyết luận điểm đã gây tranh cãi kịch liệt trong vật lý về sự tồn tại của sáu chiều dư, bằng các máy dò sử dụng laser dao cắt.      Nhân viên kỹ thuật tại Ligo đang kiểm tra căp máy dò của thiết bị. Nguồn: Theguardian.  Lý thuyết dây đã đưa ra kỳ vọng quan trọng về việc đan kết tất cả các lĩnh vực của vật lý vào cùng một khuôn khổ tuyệt vời. Điểm yếu duy nhất là các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra bất kỳ chứng cứ thực nghiệm nào chứng minh được là nó đúng – và câu hỏi phản đối là liệu có thể kiểm chứng được các tiên đoán của lý thuyết dây hay không.  Giờ đây một công bố mới đã tuyên bố các phép đo sóng hấp dẫn có thể là chìa khóa giải quyết có thật lý thuyết dây sẽ đạt được các mục tiêu to lớn của mình hay là sẽ bị coi là ý tưởng đáng loại bỏ. Nghiên cứu này đã nêu ra bằng chứng có thể quan sát được đầu tiên về sự tồn tại của các chiều dư, một trong những tiên đoán của lý thuyết dây, có thể đã ẩn trong những gợn lăn tăn của sóng hấp dẫn.    “Điều đó thật đáng kinh ngạc bởi vì thuyết tương đối lớn và Einstein đã không tiên đoán được tí nào”, David Andriot, nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Vật lý hấp dẫn Max Planck ở Potsdam và là đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.  Điểm cốt yếu của lý thuyết dây – mặc dù có nhiều phương án lý thuyết cạnh tranh khác nhau – là tất cả các hạt có thể được xem như là các dây một chiều, mà trên đó các lực cơ bản của tự nhiên lực hấp dẫn, lực điện từ và các lực khác tác động như các mốt (mode) dao động. Vì được giải thích bằng toán học hơn là bằng từ ngữ, lý thuyết này yêu cầu cần có ít nhất sáu chiều không gian dư, bên cạnh chiều thời gian và ba chiều không gian của đời sống hàng ngày.     Các nhà khoa học, nhất là những người đang làm việc tại Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC, đã tìm kiếm năng lượng triệt tiêu trong các chiều dư mang tính giả thuyết đó nhưng đến nay các cố gắng vẫn chưa đem lại kết quả cuối cùng. Một khả năng được đưa ra là các chiều này xoắn chặt đến mức không thể nhận thấy chúng; hoặc có khả năng khác là chúng hoàn toàn không có ở đó.    Andriot hy vọng là thí nghiệm tại Đài quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser (Ligo) có thể bắt đầu cho việc đi tìm câu trả lời cho vấn đề này.  Năm 2015, Ligo đã làm nên lịch sử khi lần đầu tiên quan sát được sóng hấp dẫn, sự co dãn của không gian mà Einstein đã tiên đoán, có thể xuất hiện khi một khối lượng [vật chất] chuyển động qua kết cấu vũ trụ. Trong trường hợp này, các máy dò của Ligo đã chọn được những gợn sóng lan truyền qua không – thời gian xuất hiện theo sự va chạm dữ dội của một cặp lỗ đen từ hơn một tỷ năm trước.  Lý thuyết dây dự đoán rằng, trong suốt các biến động lớn này của vũ trụ, các gợn sóng có thể truyền qua các chiều không gian dư và ở đó phải có tương tác một cách tinh tế giữa các sóng thông thườngvà những sóng ẩn ngoài tầm quan sát.  “Nghiên cứu của chúng tôi kết luận rằng nếu có các chiều dư thì có thể dẫn đến mốt (mode) khác của sự co dãn [của không-thời gian]”, Andriot cho biết.  Công bố “Các dấu hiệu của các chiều dư trên sóng hấp dẫn” đăng tải trên tạp chí Journal of Cosmology and Astroparticle Physics, kết luận điều đó tạo ra một hiệu ứng “hô hấp” chồng trên sóng hấp dẫn chính. Dạng thức này có thể đo được khi máy dò thứ ba có tên gọi là Virgo tham gia tập hợp dữ liệu về sóng hấp dẫn với cặp máy dò Ligo vào cuối năm 2018 hoặc đầu năm 2019, dẫu cho nhóm nghiên cứu không chắc là liệu hiệu ứng đó có đủ lớn để phát hiện ra hay không.  “Nếu có các chiều dư thì chúng ta có thể nhận ra được hiệu ứng này, nhưng những nguyên nhân khác cũng có thể dẫn đến hiệu ứng đó. Đây không phải là bằng chứng quyết định cho các chiều dư”, Andriot cho biết.  Christopher Berry, nhà khoa học đang làm việc cho Ligo tại đại học Birmingham (Anh), cho biết bài báo “Các dấu hiệu của các chiều dư trên sóng hấp dẫn” ưu tiên tìm kiếm các dạng biến đổi tinh tế đối với sóng hấp dẫn. “Đây là một trong những thí nghiệm kinh điển mà chúng tôi muốn làm”, ông nói.   Những quan sát như vậy có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi vì chúng không được thuyết tương đối lớn về hấp dẫn của Einstein tiên đoán, điều đó có nghĩa là hiểu biết của chúng ta về hấp dẫn hoạt động như thế nào cần thiết phải được chỉnh sửa lại. Lý thuyết dây là một chọn lựa nhưng bên cạnh nó vẫn còn có cáclý thuyết cạnh tranh khác. Sự vắng mặt của hiệu ứng “hô hấp”có thể giúp chúng ta loại trừ một vài lý thuyết, hoặc thu hẹp vùngmà chúng  có thể xảy ra.  “Chúng tôi chờ đợi bất kỳ sai lệch nào so với thuyết tương đối rộng có thể xảy ra trong những điều kiện tột bực nhất – đó là nơi anh có thể trông chờ lý thuyết bị phá vỡ. Nơi tốt nhất để kiểm nghiệm là sự va chạm của các lỗ đen”.  Bài báo này cũng tiên đoán sóng hấp dẫn phải gợn sóng qua chiều dư tại một tần số đặc trưng– tương tự cách cây đàn organ có các ống hơi với độ dài khác nhau tạo ra các nốt nhạc có cao độ khác nhau. Theo giả thuyết này, các chiều dư rất nhỏ, một chuỗi các sóng hấp dẫn ở tần số cao hơn có thể tiên đoán được, thậm chí có thể là tại tần số cao hơn cả tỷ lần so với giới hạn mà Ligo có thể dò được nhưng vẫn có thể kỳ vọng một ngày nào đó chúng quan sát được bằng máy dò của tương lai.  “Nếu điều đó quan sát được thì chúng ta có thể nói là đã có bằng chứng”, Andriot nói.  Tuy nhiên nhiều người khác vẫn còn hoài nghi vào việc các quan sát này có thể cung cấp được các bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy. Peter Woit, nhà vật lý lý thuyết tại trường đại học Columbia, New York và là người chỉ trích lý thuyết dây từ lâu, nói: “Vấn đề là lý thuyết dây không nói gì hết đến kích cỡ của các chiều dư đó, chúng có thể có bất kỳ kích cỡ nào, từ lớn vô hạn đến nhỏ vô cùng do đó không có bất kỳ một tiên đoán thực sự nào cả. Cho dù chúng ta có nhìn thấy các chiều dư đi nữa, thì vẫn không có lý do cụ thể nào để tin tưởng rằng những thứ đó có bất kỳ liên quan nào với lý thuyết dây”.  Thanh Nhàn dịch  PGS. TS Trần Minh Tiến (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2017/jul/05/gravitational-waves-string-theory    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sóng hấp dẫn đã được phát hiện ra như thế nào?      Trong thời gian gần đây, báo chí đều ưu tiên đăng tin về việc đài quan sát LIGO  phát hiện&#160; ra SHD (sóng hấp dẫn). Đây quả là một sự kiện vô cùng quan trọng, khẳng định một tiên đoán của Einstein trước đây 100 năm. Sự phát hiện SHD sẽ mở ra một trang mới trong vũ trụ học, thiên văn học và cho khoa học nói chung.       Một ít lịch sử   SHD là vấn đề cơ bản đã được giới vật lý quan tâm 100 năm nay từ khi thiên tài Einstein tiên đoán sự tồn tại của nó. Song chính Einstein cũng không tin lắm rằng chúng ta có thể ghi đo được tín hiệu  SHD. Tuy nhiên giới vật lý không ngừng suy nghĩ tìm cách ghi đo  SHD.   Trước hết phải kể đến các công trình lý thuyết của John Wheeler, người đầu tiên đưa ra danh từ lỗ đen, sau đó Robert Dicke đã thiết kế một số thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm GR (General Relativity – Lý thuyết tương đối tổng quát Einstein), nhiều cộng tác viên của Dicke hiện nay là lãnh đạo tại LIGO.   Sau đó trong những năm 1970 và 1980, Joseph Taylor (Princeton) và Russel Hulse phát hiện ra pulsar quay một sao neutron và chứng minh rằng pulsar mất dần năng lượng dưới dạng SHD. Hai nhà khoa học này được giải Nobel Vật lý năm 1993.  Người đầu tiên suy nghĩ đến vấn đề ghi đo SHD là GS Joe Weber (Đại học Maryland , College Park). Thiết bị của ông là một ăng-ten cộng hưởng (resonant bar antenna) có hình một hình trụ bằng nhôm (aluminium) hoạt động như một cái chuông có khả năng khuếch đại SHD. Khi SHD đi vào thiết bị thì thiết bị sẽ dao động và những sensor quanh thiết bị sẽ biến các dao động đó thành tín hiệu điện.  Tháng sáu năm 1969, Weber thông báo đã ghi đo được một tín hiệu nào đó song nhiều người nghi ngờ kết quả và đến năm 1974 thì các nhà vật lý đều kết luận là Weber không ghi đo được SHD.   Tiếp theo BICEP2 (Background Imaging of Cosmic Extragalactic Polarization) là thí nghiệm đặt tại Nam cực thực hiện với kỳ vọng tìm sóng hấp dẫn nguyên thủy.   Như chúng ta đã biết, Bicep2 đã thông báo ngày 17/tháng 3/2014 về việc tìm thấy những tín hiệu đầu tiên của sóng hấp dẫn SHD (và lạm phát vũ trụ). Song những dữ liệu do Planck cung cấp lại cho ta thấy rằng kết quả của Bicep2 đã gây nên nghi vấn liệu tín hiệu ghi đo bởi Bicep2 có thật sự thuộc về CMB (Cosmic Microwave Background) hay đó là thuộc bụi Thiên hà (Galaxy interstellar dust) nằm trên phông (foreground) tức là thuộc về những giai đoạn sau này trong lịch sử vũ trụ.   Sau đó, BICEP2 đã hợp tác cùng với PLANCK là dự án của ESA (European Space Agency) với thiết bị do hai tập đoàn của ESA và Đan mạch cung cấp, có sự tham gia của NASA để tiếp tục công việc nghiên cứu.  Giữa dòng lịch sử đó, năm 1994, người ta bắt đầu xây dựng đài quan sát LIGO (Laser Interferometer Gravitational-Wave Observatory – Đài quan sát SHD giao thoa kế laser), được tài trợ bởi Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (National Science Foundation).  LIGO là ý tưởng mới dựa trên các tính chất của ánh sáng và của bản thân không thời gian. Các tác giả có nhiều đóng góp nhất là:   Rainer Weiss (MIT – Massachusetts Institute of Technology), Kip Thorne (Caltech – California Institute of Technology) và Ronald Drever (Caltech).  Weiss (người đưa ra ý niệm về LIGO) và Drever là hai nhà vật lý thực nghiệm đã góp công sức nhiều trong những sáng chế tài tình làm giảm thiểu tiếng ồn và làm gia tăng độ nhạy của LIGO đưa LIGO đến mức hiện đại hiện nay.  Thorne là nhà vật lý lý thuyết nghiên cứu lỗ đen và cơ chế các lỗ sâu đục (wormhole) trong không thời gian mở đường cho du hành trong thời gian.  Theo giới vật lý, ba nhân vật này có hy vọng nhận giải Nobel Vật lý trong năm nay.  Tại LIGO còn có hơn 1.000 nhà khoa học làm việc.  2001 – LIGO bắt đầu hoạt động  2010 – LIGO ngừng hoạt động 5 năm để nâng cấp   2015 – LIGO khởi động lại ( dưới tên Advanced LIGO-aLIGO)   Cuối cùng ngày 11 tháng 2/2016 David Reitze, Giám đốc điều hành của LIGO công bố kết quả: “Chúng tôi đã ghi đo được SHD”.  Hai sự kiện cùng xảy ra tương quan với nhau: phát hiện lần đầu tiên SHD (sóng hấp dẫn) và việc quan sát sự va chạm rồi sau đó kết hợp hai lỗ đen thành một lỗ đen.  Sự cố mang tính tai biến gây nên tín hiệu SHD được đặt ký hiệu là GW150914 đã xảy ra ở một thiên hà xa xôi cách xa trái đất hơn 1 tỷ năm ánh sáng. Tín hiệu được ghi đo ngày 14 tháng 9/2015 bởi hai thiết bị LIGO   Hai thiết bị LIGO ước tính công suất bức xạ của SHD phát ra khi hai lỗ đen va chạm và kết hợp thành một là khoảng mười lần lớn hơn công suất các ánh sáng từ các sao và các thiên hà trong vùng quan sát được của vũ trụ.  Sự phát hiện SHD sẽ viết nên một trang sử mới thiên văn học: một cửa sổ mới là cửa sổ SHD ra vũ trụ đã được mở.   Lý thuyết Einstein   Trong GR của Einstein, trường hấp dẫn được biểu diễn bởi độ cong của không thời gian. Không thời gian được hình dung như một tấm lưới vải (fabric). Nếu đặt lên đó một vật có khối lượng thì tấm lưới sẽ bị lõm xuống (xem hình 1).    Hình 1. Hấp dẫn tạo nên bởi độ cong của không thời gian  SHD là những “vết nhăn” trong không thời gian tạo ra bởi những sự cố dữ dội trong vũ trụ, ví dụ va chạm và sáp nhập của những sao lớn. Sự tồn tại của SHD đã được Eintein tiên đoán năm 1916 khi ông chứng minh rằng  các vật thể có khối lượng và gia tốc đều làm rung chuyển không thời gian đến mức mà các sóng của không thời gian bị nhiễu loạn sẽ bức xạ từ nguồn đó.   Khi SHD đi qua một vùng nào đó thì không thời gian  sẽ bị kéo dài hay co lại  (xem hình 2).    Hình 2.  SDH phát sinh ví dụ từ vụ sáp nhập hai lỗ đen có thể ghi đo lại được nhờ hiệu ứng kéo dãn (bên trái) và co lại (bên phải) của không thời gian.  Những vết nhăn đó lan truyền với tốc độ ánh sáng trong vũ trụ mang theo thông tin về nguồn sự cố và đồng thời cho ta biết mối liên quan vô giá của hấp dẫn với vũ trụ.   Muốn thấy rằng vết nhăn đó lan truyền với tốc độ ánh sáng ta có thể nhìn lại các phương trình Einstein. Để đơn giản hóa vấn đề ta xuất phát từ phương trình Einstein (trong chân không):    với  =0  Bây giờ viết metric dưới dạng     trong đó   =nhiễu loạn nhỏ của metric. Từ đó các tác giả [2] chứng minh rằng     Đó là phương trình sóng. Vậy sóng hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc c.   Các nhà vật lý cho rằng hấp dẫn được chuyển tải bởi hạt graviton. Giống như photon graviton không có khối lượng tương hợp với điều SHD lan truyền với vận tốc ánh sáng.   Cùng năm khi Einstein tiên đoán SHD, nhà vật lý Karl Schwarzschild chứng minh rằng phương trình Einstein cho phép sự tồn tại của lỗ đen: những vật thể kỳ lạ có mật độ cao và côm-pắc đến nổi  ánh sáng cũng không thoát khỏi trọng trường của nó.  Làm sao ghi đo được SHD?   Để ghi đo được SHD, các nhà vật lý đưa ra ý tưởng sử dụng tính chất của ánh sáng và tính chất của bản thân không thời gian trong thiết kế các giao thoa kế laser.   LIGO là một đài quan sát SHD lớn nhất  và hiện đại nhất trên thế giới. LIGO gồm 2 cơ sở cách nhau hàng ngàn km, một được xây dựng tại Livingston, Louisiana, một tại Hanford, Washington. Đó là những giao thoa kế laser khổng lồ mà nhận thức thiết kế được hình thành  từ  những năm 1960 & 1970.   Nhiều giao thoa kế như thế cũng được xây dựng trên thế giới: KAGRA ở Nhật, GEO600 ở Đức, VIRGO ở Ý.   Mô tả LIGO    Hình 3. Sơ đồ đơn giản hóa của LIGO    Hình 4. LIGO chụp từ trên không   Một giao thoa kế như LIGO gồm hai “cánh tay”, mỗi cánh dài 4km và thẳng góc với nhau ( xem hình 3&4).Một thiết bị phân tách tia laser thành hai.Dọc theo mỗi cánh tay sẽ có một tia laser truyền đi rồi phản hồi về hộp ghi đo nhờ các gương phản chiếu đặt tại cuối cánh tay. Khi có một SHD đi qua thì sự kéo dãn và co lại của không thời gian sẽ làm cho một cánh tay của giao thoa kế  liên tiếp bị kéo dài ra rồi co ngắn lại còn cánh tay kia thì  ngược lại.  Bởi vì các cánh tay của giao thoa kế thay đổi độ dài cho nên tia laser cần những thời gian khác nhau để lan truyền qua các cánh tay –điều đó có nghĩa là các tia laser không còn đồng pha  và một bức tranh giao thoa được hình thành. Cũng vì thế mà ta gọi LIGO là những giao thoa kế.  Khi không có tín hiệu SHD hai cánh tay của LIGO có độ dài bằng nhau. Các tia laser phản hồi lại máy ghi đo đồng pha và triệt tiêu nhau: LIGO không ghi được tín hiệu nào (xem hình 5).     Hình 5. Trường hợp không có tín hiệu     1/ Một tia laser bị tách làm đôi, mỗi tia lan truyền trong một cánh tay (hai cánh tay thẳng góc với nhau – mỗi cánh dài 4km)       2/ Các gương phản chiếu tia laser về máy ghi đo      3/ Khi quay về máy ghi đo hai tia laser là đồng pha       4/ Các sóng triệt tiêu nhau và không có tín hiệu nào được ghi đo.  Lúc có SHD đi qua, hai cánh tay của LIGO bị kéo dài và co ngắn lại, tia laser phản hồi lại máy ghi đo không còn cùng pha nữa và LIGO ghi được tín hiệu giao thoa (xem hình 6)    Hình 6. Trường hợp có tín hiệu      1/ Khi có SHD đi qua một cánh tay dài ra và một cánh tay ngắn lại      2/ Vì độ dài các cánh tay khác nhau nên các tia laser phản hồi không còn đồng bộ      3/ Các sóng không triệt tiêu nhau và máy ghi đo ghi được tín hiệu giao thoa,  Hiệu số độ dài giữa hai cánh tay tỷ lệ với hiệu lộ trình (gravitational-wave strain ) của tia laser. Đối với SHD hiệu số này là một số rất nhỏ khoảng 1/10000 bề rộng của một proton.   Sở dĩ người ta cần đến hai LIGO (sau khi được nâng cấp thì LIGO có tên là aLIGO-Advanced LIGO) để loại đi các nhiễu loạn ngoại lai: chỉ có một tín hiệu SHD mới gây được hình ảnh giao thoa trên cả hai LIGO vốn cánh xa nhau hàng ngàn km, khoảng cách này SHD chỉ vượt qua trong vòng một phần ngàn giây.  Các tín hiệu ghi được     Hình 7. Phần trên hình vẽ biểu diễn hiệu lộ trình qua các giai đoạn khác nhau: hai lỗ den quay quanh nhau, đến gần nhau và cuối cùng kết hợp làm một.   Phần dưới biểu diễn vận tốc tương đối (đơn vị c) và khoảng cách giữa hai lỗ đen (đơn vị bán kính lỗ đen). Thời gian đo bằng giây.   Những kết quả của LIGO cho thấy rằng GW150914 đã được tạo nên bởi sự sáp nhập của hai lỗ đen với khối lượng 36 và 29 lần khối lượng mặt trời và lỗ đen tổng hợp cuối cùng có khối lượng khoảng 62 lần khối lượng mặt trời. Lỗ đen cuối cùng là một lỗ đen quay – những lỗ đen quay đã được tiên đoán bởi nhà toán học Roy Kerr năm 1963. Theo kết quả của LIGO thì GW150914 đã xảy ra ở khoảng cách hơn một tỷ năm ánh sáng.   Các tác giả LIGO sau khi so sánh khối lượng các lỗ đen trước sáp nhập và khối lượng lỗ đen cuối cùng đã ước tính sự sáp nhập này đã tạo nên một bức xạ SHD bằng ba lần khối lượng mặt trời (khoảng sáu triệu tỷ tỷ kg). Như vậy công suất bức xạ này là mười lần lớn hơn công suất bức xạ của các sao và thiên hà trong vùng quan sát được của vũ trụ  Độ chính xác    Độ chính xác của LIGO được đánh giá là hơn “5-sigma” (có nghĩa có ít 230 lỗi – hay sai só t- trên mỗi một triệu khả năng gây lỗi).                                                            Về mặt âm thanh   Các nhà khoa học đã nghe được âm thanh khi hai lỗ đen hợp nhất thành một trong khoảng thời gian 1/5 giây. Mặc dầu SHD không phải là sóng âm song  tần số xảy ra lúc va chạm ở những milli-giây cuối cùng khi hai lỗ đen cách nhau vài km rồi đến gần nhau là một tần số nghe được, vì vậy có thể biến (convert) sóng thành dạng âm thanh. Deirde Shoemaker cộng tác viên trong LIGO đã phát biểu như thế.   Như vậy các nhà khoa học vừa nghe được “âm thanh” của sự cố vừa nhìn được “ánh sáng” của sự cố.    Hình 8. Âm thanh chuyển biến (converted) của tín hiệu GW150914   Có chắc đây là sự hợp nhất của hai lỗ đen?  Tại sao ta có thể tin rằng tín hiệu LIGO đo được là do hai lỗ đen đến gần và sáp nhập với nhau?    Những sự cố khác trong vũ trụ cũng có thể gây nên SHD là [4]:    1/ Sự va chạm của hai dây vũ trụ   Dây vũ trụ là những khuếch tật topo hình thành lúc có chuyển pha phá vỡ đối xứng ở những thời kỳ sớm của vũ trụ khi topo của chân không gắn liền với đối xứng đó  không đơn liên (not simply connected). Người ta ước tính có một dây vũ trụ trong một thể tích Hubble. Người đưa ra lý thuyết đầu tiên về dây vũ trụ là Tom Kibble năm 1970.    Sự va chạm dây vũ trụ có thể làm phát sinh những vòng dây kín và quá trình này cũng phát ra SHD  2/ Sự hợp nhất của hai sao neutron   Hai sao neutron có thể quay quanh nhau và có thể hợp nhất. Song kịch bản này sẽ khác kịch bản hợp nhất của hai lỗ đen. Hai sao neutron có thể hợp nhất thành một sao neutron lớn hoặc tức thì co lại thành một lỗ đen.   3/ Sự bùng nổ của siêu tân tinh   Sự bùng nổ các siêu tân tinh (type II) cũng gây ra SHD.  LIGO đã loại tất cả các khả năng trên. LIGO ghi đo được SHD từ sự sáp nhập của hai lỗ đen và đồng thời cũng chứng minh được sự tồn tại của lỗ đen. Trước đây người ta chỉ ghi nhận được sự tồn tại của lỗ đen bằng cách nghiên cứu cách hành xử của những vật thể như sao và khí chung quanh lỗ đen mà chưa quan sát trực diện được lỗ đen.   LIGO khảo sát tỷ mỷ các khối lượng của hai đối tượng trước lúc xảy ra quá trình hợp nhất ,vận tốc các lỗ đen và khoảng cách giữa chúng trong các giai đoạn và cuối cùng có đủ cơ sở mạnh mẽ khẳng định rằng ở đây là trường hợp của hai lỗ đen. Kết quả được ghi trên hình 7.   Đơn vị vận tốc là vận tốc ánh sáng. Khoảng cách tính theo bán kính Schwarzschild – tức bán kính đặc trưng của lỗ đen. Hình 7 cho ta thấy hai lỗ đen cách nhau vài trăm km trước lúc hợp nhất và tần số SHD lúc bấy giờ là vào khoảng 150 Hz: chỉ có lỗ đen mới có thể đến gần nhau như thế mà chưa bị hợp nhất thành một. Nếu đó là một cặp sao neutron ta không có khối lượng lớn như vậy ngoài ra sự hợp nhất thành một lỗ đen của cặp sao neutron phải xảy ra ở tần số thấp hơn 150 Hz.   Ở đây phải nhắc đến một chìa khóa thành công của LIGO là các tính toán lý thuyết năm 2005 của Frans Pretorius (Đại học Princeton), khi giải những phương trình của Einstein để vẽ nên bức tranh điều gì sẽ xảy ra khi hai lỗ đen quay quanh nhau rồi hợp nhất với nhau thành một lỗ đen. Nhũng kết quả tính toán của Pretorius đã tạo nên một khuôn mẫu (template) để LIGO đoán nhận được chính xác các kết quả thực nghiệm.   Có thể nói những kết quả của LIGO thật sự ứng với trường hợp hợp nhất của hai lỗ đen sau khi quay quanh gần nhau.  Kết luận    Sự phát hiện SHD của LIGO là trang mở đầu của những chương thiên văn học sử dụng SHD. Những thập kỷ tiếp theo sẽ là thời gian để kiểm nghiệm lại kết quả bằng cách sư dụng các giao thoa kế khác: VIRGO ở Ý. KAGRA ở Nhật  và có thể LIGO thứ ba ở Ấn độ. Trước đây ta chỉ có một cửa sổ nhìn ra vũ trụ bằng ánh sáng giờ đây ta cso thêm một của sổ mới nhìn ra vũ trụ bằng sóng hấp dẫn!    Tương lai của ngành thiên văn học sử dụng SHD (gravitational-wave astronomy) hứa hẹn trở nên rực rỡ hơn bao giờ hết.    Tài liệu tham khảo  [1]B.P.Abbott et al.,Observation of Gravitational Waves from a Binary Black Hole Merger, PHYSICAL REVIEW LETTERS,12 FEBRUARY 2016.   https://physics.aps.org/featured-article-pdf/10.1103/PhysRevLett.116.061102    [2] L.D.Landau & E.M.Liftchitz , Field Theory   [3] Nicola Twilley, Gravitational Waves Exist: The Inside Story of How Scientists Finally Found Them   HTTP://WWW.NEWYORKER.COM/TECH/ELEMENTS/GRAVITATIONAL-WAVES-EXIST-HERES-HOW-SCIENTISTS-FINALLY-FOUND-THEM?MBID=NL_160211_DAILY&CNDID=25983753&SPMAILINGID=8536128&SPUSERID=MTA5MJQWNDE2MDG3S0&SPJOBID=861189416&SPREPORTID=ODYXMTG5NDE2S0    [4] Davide Castelvecchi,  The discovery of ripples in space-time has vindicated Einstein — but it can also do so much more.   http://www.nature.com/news/gravitational-waves-6-cosmic-questions-they-can-tackle-1.19337   [5] ndminhduc, Câu chuyện về SHD:100 năm đi tìm bằng chứng cho dự đoán “hoang đường” của Einstein, tinhte.vn   https://tinhte.vn/threads/cau-chuyen-ve-song-hap-dan-100-nam-di-tim-bang-chung-cho-du-doan-hoang-duong-cua-einstein.2550453/  Đọc thêm:  Khám phá sóng hấp dẫn có thể mở đường giải đáp 6 câu hỏi lớn về vũ trụ                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sông Mekong, đập Xayaboury và ĐBSCL ở nửa đầu mùa khô 2019-2020      Hiện nay đang là thời điểm giữa mùa khô 2019-2020. Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long được cho là có thể còn gay gắt hơn cả trong mùa khô “lịch sử” 2015-2016. Bài viết xem xét dòng chảy sông Mekong trong hạ lưu vực trong nửa đầu mùa khô năm nay, ngay sau khi đập thủy điện Xayaboury đi vào hoạt đông nhằm góp phần làm rõ vấn đề. Từ đó đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị. Số liệu là từ cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mekong.      Ảnh: The Laotian Times  Các trạm thủy văn trên dòng chính trong Hạ lưu vực sông Mekong  Mực nước ngày sông Mekong tại 13 trạm thủy văn trên dòng chính được Ủy hội sông Mekong cung cấp. Số liệu được bổ sung hàng tuần. Vị trí và một số thông tin về các trạm được trình bày trong Hình 1.    Hình 1.Vị trí các trạm thủy văn  Bảng 1.Thông tin về 13 trạm thủy văn trên sông Mekong1    Trong các hình sau đây, (Max), (Min) và (Avg) lần lượt là các đường mực nước ngày cao nhất, thấp nhất, và trung bình 2 3. Vùng nằm giữa đường Max và đường Min là miền biến động của mực nước trong các năm từ 1980 đến 2019.   Trên một số đồ thị còn có đường mực nước mùa khô năm 1992-1993 và đường mực nước mùa khô năm 2003-2004, lần lượt trước và sau khi đập thủy điện đầu tiên, đập Manwan, ở thượng lưu vực sông Mekong, đi vào hoạt động năm 1995.  I. Mực nước sông Mekong trong hạ lưu vực ở nửa đầu mùa khô 2019-2020    Hình 2. Đường mực nước tại trạm Chiang Saen  1. Tại trạm Chiang Saen. Đường mực nước khởi đầu mùa khô năm nay ngày 01.11.2019 rất thấp, bằng đường mực nước Min rồi tăng dần. Đến ngày 06.01.2020 mực nước rơi từ 2,89 mét ngày 04.01.2020 xuống 1,73 mét sau khi đập Jinghong giảm lượng nước tháo xuống hạ du từ ngày 01 đến ngày 04.01.2020, từ 1200 – 1,400 m³/s xuống 800 – 1,000m³/s, theo thông báo của MRC 4 5.  2. Tại các trạm Luang Prabang và Chiang Khan   Đập thủy điện Xayaboury ở giữa trạm Luang Prabang và trạm Chiang Khan, đi vào hoạt động ngày 31.10.2019. Mùa khô năm nay, mực nước ở trạm Luang Prabang khởi đầu ở mực nước trung bình Avg, thấp hơn các mùa khô trước nhưng sau đó tăng lên và cho đến ngày 24.02 ở 8 mét, thậm chí có lúc tiệm cận đường Max. Đập Xayaboury tích nước là một lý do. (Hình 3, trái).   Trong khi đó tại trạm Chiang Khan, mực nước khởi đầu gần bằng mực nước Min. Sau đó, tuy có lúc tăng lên 4,95 mét (08.01.2020) và 5,12 mét (21.12.2019) nhưng mực nước luôn thấp, nằm giữa đường Min và Avg, (Hình 3, phải).    Hình 3. Đường mực nước tại Luang Prabang và Chiang Khan năm đầu tiên đập Xayaboury đi vào hoạt động  Lưu vực giữa hai trạm khá rộng, ngoài lượng nước từ Luang Prabang chảy về, Chiang Khan còn nhận được lượng nước mưa trên lưu vực mà kể từ mùa khô năm nay, đập Xayaboury tích lại một phần quan trọng.   3. Tại các trạm Chiang Khan và Vientiane     Hình 4. Đường mực nước mùa khô một số năm tại hai trạm Chiang Khan và Vientiane  Khoảng cách ngắn, lưu vực khu giữa không rộng. Vào mùa khô không có dòng bổ sung ngang nên đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày. Mực nước đến giữa mùa khô năm nay nằm giữa đường Min và Avg.  4. Tại các trạm Nakhon Phanom và Mukdahan    Hình 5. Đường mực nước mùa khô một số năm tại Nakhon Phanom và Mukdahan    Hình 6. Sông Mekong tại Nakhon Phanom những ngày cuối tháng 10 và đầu tháng 12.2019  Mùa khô năm nay lượng nước bổ sung ngang không đáng kể vì ít mưa trên lưu vực. Do vậy, đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày (Hình 5) và gần với đường Min.  Mực nước sông Mekong tại trạm Nakhon Phanom ngày 27.11.2019 là 0,79 mét. Nhiều bãi cát ở đáy sông lộ thiên. Cũng trong những ngày này, nước sông từ màu vàng-nâu chuyển sang màu xanh lục-xanh. (Hình 6, tin ảnh từ Bangkok Post).  5. Tại các trạm Pakse, Stung Treng, Kratie và Kompong Cham  Trạm Pakse cách trạm Mukdahan 256 km với lưu vực gigue hai trạm rộng 154.000 km2. Do mùa khô năm nay ít mưa nên mực nước tại Pakse hầu như đồng dạng với đường mực nước tại Mukdahan, chỉ lệch về thời gian.    Hình 7. Đường mực nước tại trạm Pakse (trái) và tại trạm Stung Treng (phải)  Lưu vực giữa hai trạm Pakse và Stung Treng rộng 90.000 km2 có một phần nằm trên Tây Nguyên của Việt Nam. Tuy có dòng bổ sung ngang từ ba sông Sesan, Serepok và Sekong, nhưng cho đến ngày 24.2.2020, mực nước tại Stung Treng vẫn thấp, bắt đầu mùa khô ở mực nước Min và từ tuần đầu tháng 1 ở mực nước trung bình Avg. (Hình 7, phải).    Hình 8. Mực nước tại trạm Kratie (trái) và trạm Kompong Cham (phải)      Hạn hán, nguồn nước về giảm, khai thác cát không được quản lý tốt, mặt cắt sông rộng hơn, lòng sông sâu hơn, … không tác động riêng lẻ mà cùng lúc và liên hoàn với nhau.      Đầu mùa khô năm nay mực nước tại hai trạm Kratie và Kompong Cham hầu như trùng với đường mực nước Min cho đến ngày 24.12. Sau đó mực nước trạm Kratie tiến về mực nước Avg rồi từ đầu tháng 3.2020, giảm đáng kể, trong khi mực nước tại Kompong Cham thậm chí còn thấp hơn đường mực nước Min. (Hình 8).   6. Tại các trạm Phnom Penh Port và Phnom Penh trên Bassac  Sông Mekong chảy đến Phnom Penh và hợp lưu tại đây với sông Tonle Sap liên thông với Biển Hồ. Sông Bassac khởi nguồn từ Phnom Penh tại điểm hợp lưu. Tại Phnom Penh có hai trạm thủy văn Phnom Penh Port (PPP) và Phnom Penh Bassac (PPB). Ngay từ đầu mùa khô năm nay mực nước tại hai trạm này vừa thấp vừa dao động khác với các năm trước, nhất là với các năm 1992-1993, 2003-2004 (Hình 9).     Hình 9. Đường mực nước tại PPP (trái) và PPB (phải) đối chiếu với các năm 2017-2018, 2018-2019 (trên) và 1992-1993, 2003-2004 (dưới).     7. Tại các trạm Neak Luong và Koh Khel    Sau Phnom Penh, trên sông Mekong là trạm Neak Luong, trên sông Bassac là trạm Koh Khel. Mực nước đầu mùa khô năm nay rất thấp, gần như trùng với đường mực nước Min. Dao động của mực nước được nhận thấy tại cả hai trạm cũng như và rõ rệt hơn tại hai trạm Phnom Penh Port và Phnom Penh Bassac. Hình 10.       Hình 10. Đường mực nước tại Koh Khel (trái) và Neak Luong (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004  8. Tại các trạm Tân Châu và Châu Đốc  Mực nước tại Tân Châu và Châu Đốc cũng thấp và dao động mạnh (Hình 11). Dao động này cũng được nhận thấy, ở mức độ thấp hơn, tại Neak Lương (Mekong) và Koh Khel (Bassac) và tai hai trạm PPP và PPB tại các Hình 9 và 10.        Hình 11. Đường mực nước tại Châu Đốc (trái) và Tân Châu (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004.  9. Tại các trạm Prekdam và Kompong Luong trên sông Tonle Sap  Hình 12 (trái) cho thấy mực nước tại trạm Prekdam trên sông Tonle Sap năm nay thấp và có một giai đoạn dao động khá rõ từ 11.12.2019 đến 28.01.2020.   Đường mực nước trong 6 tháng mùa khô tại trạm Kompong Luong các năm lũ cao 1996-1997, 2000-2001, 2010-2011, và các năm hạn 2015-2016, 2019-2020 được trình bày trong Hình 12 (phải)       Hình 12. Mực nước tại các trạm Prekdam (trái) và Kompong Luong (phải) trên sông Tonle Sap    Nhận xét và bình luận   (1) Nhận xét bao trùm là mực nước tại các trạm trên dòng chính sông Mekong trong hạ lưu vực, trên sông Bassac và trên sông Tonle Sap rất thấp, rất gần, có nơi còn thấp hơn đường Min. Trừ tại trạm Luang Prabang.   (2) Yếu tố nền trên hạ lưu vực nửa đầu mùa khô năm nay là khô hạn. Lượng nước bổ sung ngang từ các lưu vực khu giữa rộng không đáng kể. Điều này góp phần làm rõ tác động của đập Xayaboury lên dòng chảy sông Mekong về phía hạ du.   (3) Đập thủy điện Xayaboury đã tạo ra bậc thang nhân tạo đầu tiên trên sông Mekong. Mực nước ở trạm Chiang Khan thấp đi hẵn. Sự khô hạn cho tới thời điểm này trong hạ lưu vực đã góp phần làm bộc lộ tác động của đập. Có hay không, và tại sao, lòng sông phơi đáy và sự đổi màu nước sông Mekong tại Nakhon Phanom?  (4) Việc cắt giảm lượng nước xả ra về hạ du từ đập Jinghong đầu năm 2019 minh chứng một lần nữa sự mẫn cảm, sự phụ thuộc cao độ của dòng chảy sông Mekong ở hạ lưu vực vào việc vận hành các đập thủy điện ở Trung Quốc.   Sự phụ thuộc này còn cần được đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu (mà sự khan hiếm nước ngọt ngày càng cao được dự báo) và chiến lược “Hưng thủy cường điền” đã và đang được thực thi ở Trung Quốc. Tại Vân Nam, với hơn 30 hồ nước và hơn 5500 “thủy khố”, dung lượng lưu giữ tăng thêm năm 2017 là 1,22 tỷ m3 6.       Tại sao không thể xây dựng một công ước như vậy cho sông Mekong, từ Tây Tạng ra đến Biển Đông ? Khó nhưng không phải không thể.      (5) Biển Hồ Tonle Sap (BH) đóng vai trò quan trọng trong việc làm chậm lũ về đồng bằng sông Cửu Long đầu mùa mưa, đồng thời cung cấp nước ngọt cho đồng bằng này vào đầu mùa khô thông qua sông Tonle Sap.   Nước chảy vào BH hay theo chiều ngược lại tùy thuộc vào chênh lệch mực nước giữa hai trạm Prekdam và Kompong Luong dương hay âm. Đường mực nước ngày trung bình nhiều năm tại Prekdam và tại Kompong Luong giao nhau ngày 25 tháng 3, ngày nước bắt đầu chảy vào Biển Hồ, và ngày 24 tháng 10, ngày nước chảy theo chiều ngược lại.      Hình 13. Mực nước ngày trung bình dài hạn tại các trạm Prekdam và Kompong Luong    Biển Hồ, Tonle Sap và châu thổ Mekong     Trên thực tế, qua số liệu thực đo việc nước đổi chiều chảy vào BH diễn ra trong một thời đoạn (T). Hình 14 thể hiện trường hợp hai năm hạn hán 2015, 2019.  Trong thời đoạn (T) phương trình  Hpkd – Hkpl = 0  có nhiều nghiệm và nước sông Tonle Sap luân phiên chảy vào Biển Hồ khi hàm Hpkd – Hkpl > 0, và chảy ra trong trường hợp ngược lai.  Mùa khô năm 2015-2016, (T) kéo dài từ 25.05 đến 12.07 và trong thời gian này chủ yếu nước từ Biển Hồ chảy ra. Từ ngày 13.07 nước từ Prekdam mới liên tục chảy vào Biển Hồ. Hình 14, trái.       Hình 14. Thời đoạn (T) đầu mùa khô năm 2015 và năm 2019    Nửa đầu mùa khô 2019-2020, nước luân phiên chảy vào và chảy ra từ 09.05 đến 29.07.2019. Chủ yếu chảy vào từ 09.09 đến 05.06 và sau đó chủ yếu chảy ra và liên tục chảy ra từ ngày 30.07.2019. (Hình 14, bên phải).  Ở những năm khác thời đoạn (T) ngắn hơn. (T) thậm chí chỉ trong một ngày, như trường hợp các năm lũ lớn 2000, và 2011. (Hình 15).       Hình 15. (T) chỉ trong một ngày như trường hợp các năm lũ lớn 2000, 2011     (6) Bảng 2 (dưới đây) ghi lại biên độ mực nước cao nhất tháng trong bốn tháng đầu mùa khô các năm 1992-1993, 2003-2004 và những năm gần đây tại các trạm Châu Đốc và Tân Châu.        Bảng 2 cho thấy triều Biển Đông truyền đến các trạm này ngày càng sớm hơn, với biên độ mực nước ngày càng rộng hơn. Những thay đổi này rõ nét hơn trên sông Bassac. Bảng 2 cùng với các Hình 9, 10, 11 còn cho thấy ở nửa đầu của mùa khô 2019 – 2020, triều truyền xa hơn trên sông Mekong, sông Bassac và ảnh hưởng của nó được nhận thấy tại trạm Prekdam.  Tình trạng này, và đi cùng với nó là xâm nhập mặn, có phải do biến đổi khi hậu, nước biển dâng? do lượng nước từ thượng nguồn về châu thổ ngày càng giảm? hay do khai thác cát quá mức và thiếu quản lý nên gây sạt lở bờ sông và lòng sông bị dào sâu, và do đó làm thay đổi mặt cắt các sông, đặc biệt về chiều sâu?   Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây cung cấp thông tin về việc khai thác cát trong hạ lưu vực, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long7, làm trầm trọng thêm cán cân trầm tích của sông Mekong, đã âm bởi các đập thủy điện ở Thượng lưu vực8; về việc lòng dẫn của sông Mekong và các nhánh cũng như của sông Bassac bị đào sâu tại rất nhiều vị trí9; và về truyền triều trong châu thổ sông Mekong10.   Trả lời cho câu hỏi, có cả ba lý do, nhưng ở thời điểm hiện tại, lý do thứ hai và thứ ba là chủ yếu, những lý do này đều là hậu quả của tác động từ con người.   (7) Các nhận xét trên đây có quan hệ với nhau. Hạn hán, nguồn nước về giảm, khai thác cát không được quản lý tốt, mặt cắt sông rộng hơn, lòng sông sâu hơn… không tác động riêng lẻ mà cùng lúc và liên hoàn với nhau.  Khuyến nghị  (1) Cần theo dõi sát sao tác động của đập Xayaboury ngay từ năm hoạt động đầu tiên. Từ những bài học rút ra đánh giá lại đầy đủ tác động của các đập thủy điện khác trên dòng chính sông Mekong, đặc biệt của đập Sambor đối với sinh thái của lưu vực Biển Hồ và của châu thổ sông Mekong từ bao đời nay gắn kết với nhau.  Trong nửa đầu mùa khô năm nay mực nước ở Tân Châu và Châu đốc thấp, truyền triều vào sớm hơn, xa hơn, vượt qua hai trạm. Do đó xâm nhập mặn không chỉ có nguyên nhân biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Còn có tác động từ con người từ thượng nguồn xuống đến châu thổ ra Biển Đông. Vì vậy,  (2) Khai thác nguồn nước sông Mekong không thể chỉ có quyền lợi mà còn có trách nhiệm của các quốc gia trong lưu vực. Vấn đề an ninh nguồn nước là một vấn đề xuyên biên giới không thể không giải quyết.   (3) Quản lý và quản trị cuả Nhà nước phải nghiêm và hiệu quả hơn nữa, nhất là đối với việc khai thác cát, sỏi, sạn trên các nhánh sông Mekong và sông Bassac.    (4) Ngoại giao về nước, trong nội khối ASEAN và giữa năm nước ASEAN với Trung Quốc cần được sớm đặt vào chương trình nghị sự của các quốc gia trong lưu vực và các thể chế có liên quan.   + Các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam cần đổi mới “Quy trình thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận” (PNPCA), một trong những quy định cơ bản của Hiệp định Mekong 1995, làm cho nó hiệu quả hơn.  + Sông Mekong, từ khởi nguồn ra đến biển là một con sông quốc tế, không thể chia cắt. Nó cần được quy định bởi một công ước quốc tế.   Sông Mekong không là trường hợp đơn lẻ. Các sông Nu-Salween, Indus, Brahmaputra… cũng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Nhiều sông quốc tế như sông Rhine, sông Danube, đã được các Công ước quốc tế điều chỉnh. Tại sao không thể xây dựng một công ước như vậy cho sông Mekong, từ Tây Tạng ra đến Biển Đông ?11 Khó nhưng không phải không thể.   Cảm ơn. Bài viết này đã sử dụng các cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mekong. Tác giả chân thành cảm ơn.  —  Chú thích:  * Giáo sư đại học, TSKH Chủ nhiêm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, Đại biểu Quốc hội (1992-2007). nntran2010@gmail.com.  ** Bài viết cập nhật, bổ sung một số thông tin và khuyến nghị so với bản tác giả công bố trên Đất Việt:    https://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/dap-xayaboury-dong-chay-mekong-nua-dau-mua-kho-2019-2020-3397698/    —  Tài liệu tham khảo  1 Các hệ số A và B đã được Trịnh Quang Hòa và Nguyễn Ngọc Trân sử dụng trong mô phỏng Dòng chảy của sông Mekong từ Chiang Saen đến Tân Châu và Châu Đốc (1993), in Kỷ yếu của Hội nghị khoa học tại Cuộc họp thường niên lần thứ 78 của Hội Quốc tế các Đập Lớn (ICOLD), Hanoi, 25-26 tháng 5, 2010.  2 Số liệu và đồ thị trong bài viết được trích xuất từ http://ffw.mrcmekong.org/stations.php  3 Max, Min và Avg dược MRC tính trên chuỗi số liệu (1980-2019).  4 Chế độ vận hành của tất cả các đập thủy điện trên thượng lưu vực không được thông báo cho MRC và các quốc gia thành viên. Phia Trung Quốc chỉ thông báo cho MRC những gì và vào lúc họ cho là cần.  5 Đập Jinghong hiện là đập sát biên giới hạ lưu vực. Trung Quốc có kế hoạch xây dựng hai đập thủy điện khác gần biên giới hơn nữa là Ganlanba và Mengsong.  6 Đỗ Tiến Sâm, Hợp tác phát triển bền vững Mekong-Lan Thương trong bối cảnh mới, báo cáo tại Hội thảo quốc tế “Hợp tác quản lý nguồn nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng” do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, và Konrad Adenauer Stiftung đồng tổ chức, tại Hà Nội ngày 16.10.2018.  7 Bravard, J.-P., Goichot, M. & Gaillot, S. 2013, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River. EchoGéo, 26, https://doi.org/10.4000/echogeo.13659.  8 Kondolf G. M. et al. 2017, Changing sediment budget of the Mekong: Cumulative threats and management strategies for a large river basin, Science of the Total Environment, Volume 625, 1 June 2018, Pages 114-134  https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0048969717334198?via%3Dihub  9 Anthony, E.J. et al, 2015. Linking rapid erosion of the Mekong River delta to human activities. Scientific Report 5, 14745. https://doi.org/10.1038/srep14745.  10 Eslami, S., Hoekstra, P., Nguyen Trung, N. et al. 2019, Tidal amplification and salt intrusion in the Mekong Delta driven by anthropogenic sediment starvation. Sci Rep 9, 18746, https://doi.org/10.1038/s41598-019-55018-9  11 Nguyễn Ngọc Trân, Mekong là một con sông quốc tế và không chia cắt, tham luận tại Hội thảo quốc tế “Hợp tác quản lý nguồn nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng”, do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, và Konrad Adenauer Stiftung đồng tổ chức tại Hà Nội, ngày 16.10.2018.    Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Sóng nhiệt biển tác động mạnh đến kinh tế xã hội      Một nghiên cứu mới trên tạp chí Science cho thấy, các đợt sóng nhiệt biển đã gây ra thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên toàn thế giới. Bởi vậy, các nhà khoa học cho rằng, chúng ta cần phải có các hành động toàn cầu để giảm nhẹ tác động của các hiện tượng cực đoan này ở đại dương.      Sóng nhiệt Ningaloo Niño đã phá hủy hàng loạt rừng tảo bẹ. Ảnh: Marine Biological Association  Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan trên toàn thế giới, và sóng nhiệt biển cũng không phải là ngoại lệ. Chúng ta đều đã biết rằng nhiệt độ nước biển cao bất thường sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái, nhưng còn những tác động khác và hiệu ứng kéo theo từ đó thì sao?  Mới đây, một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Science, do nhóm các nhà khoa học thuộc Hiệp hội Sinh học Biển (MBA) ở Anh và PGS Alex Sen Gupta ở Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu của UNSW thực hiện, đã cho thấy một bức tranh toàn cầu đầu tiên về ảnh hưởng của sóng nhiệt biển đến kinh tế xã hội.   “Số ngày có sóng nhiệt biển hằng năm trên toàn cầu đã tăng lên 54% so với thế kỷ trước, và 8/10 đợt sóng nhiệt cực đoan nhất từng được ghi nhận đã xảy ra sau năm 2010”, PGS. Sen Gupta cho biết. “Tuy nhiên, mới chỉ có rất ít nghiên cứu xem xét hậu quả của chúng đối với những tương tác giữa con người và đại dương”.  Để lấp đầy khoảng trống dữ liệu này, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra các phản ứng sinh học đối với 34 đợt sóng nhiệt biển xảy ra ở tất cả các lưu vực đại dương lớn và tìm hiểu các tác động kinh tế xã hội liên quan. Kết quả cho thấy, hầu hết các đợt sóng nhiệt đều dẫn đến việc mất nguồn lợi thủy sản, phá hủy các rừng tảo bẹ hoặc cỏ biển, giết chết hàng loạt động vật hoang dã, và những điều này thường gây ra thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho nhiều ngành công nghiệp.   “Chúng tôi phát hiện ra thiệt hại kinh tế của các đợt sóng nhiệt biển đơn lẻ đến nay đã vượt quá 800 triệu USD đối với thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp”, tiến sĩ Katie Smith ở MBA, tác giả chính của nghiên cứu cho biết. “Con số thiệt hại thực sự có khả năng sẽ còn cao hơn nữa bởi có nhiều tác động kinh tế xã hội vẫn chưa được biết đến và báo cáo, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp”.  Chẳng hạn, đợt sóng nhiệt Ningaloo Niño xảy ra ở bờ biển Tây Úc năm 2011 đã phá hủy hàng loạt rừng tảo bẹ, làm hạn chế việc đánh bắt thủy sản và gây ra sự xâm lấn của nhiều loài vật nhiệt đới vào vùng biển ôn đới.  Tiến sĩ Smith cũng cho biết, những ảnh hưởng kéo theo từ các đợt sóng nhiệt biển “có thể kéo dài hàng thập kỷ”. “Việc mất các môi trường sống ven biển như thảm cỏ biển hay rừng tảo bẹ sẽ tác động đến lĩnh vực ngư nghiệp, du lịch và khả năng dự trữ carbon tự nhiên. Trong suốt các đợt sóng nhiệt, nhiệt độ đại dương có thể tăng cao đến mức khiến cho một số loài vật bị ‘căng thẳng’ hoặc chết, và điều đó sẽ ảnh hưởng đến mạng lưới thức ăn và các loài vật săn mồi ở bậc cao hơn. Chẳng hạn, một sự thay đổi ở các loài động vật biển cực nhỏ có thể làm xáo trộn mạng lưới thức ăn, gây ra cái chết hàng loạt ở các loài thủy sản quan trọng, gây nguy hiểm cho sư tử biển và các loài chim biển cũng như dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho ngư nghiệp và du lịch”.  Mặc dù vậy, nghiên cứu cũng cho thấy một số lợi ích liên quan đến sóng nhiệt biển, chẳng hạn như tiềm năng về du lịch và thủy sản do một số loài quan trọng thay đổi phạm vi sinh sống của mình.  “Có một số loài hoặc quần thể ít bị ảnh hưởng bởi sóng nhiệt, thậm chí có loài còn phản ứng tích cực như mở rộng phạm vi sống hoặc sinh sôi nảy nở do điều kiện sống thuận lợi. Vì vậy việc đưa ra các quyết định quản lý tốt ngay từ bây giờ có thể giúp chúng ta thu được một số lợi ích kinh tế”. PGS. Sen Gupta nói.  Dù vậy, TS. Dan Smale, thành viên nghiên cứu của MBA, cho rằng “chúng ta cần có hành động toàn cầu để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và giảm thiểu tác động của các hiện tượng nóng lên cực đoan đối với các hệ sinh thái biển trong những thập kỷ tới”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-10-marine-heatwaves-dont-endanger-ecosystemsthey.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sóng Radar phát hiện chi tiết về thử nghiệm hạt nhân của Triều Tiên      Núi Mantap đã dịch chuyển hơn 3 mét, nhưng không có dấu hiệu của sự sụp đổ diện rộng.      Các sóng địa chấn từ một vụ thử vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên. Nguồn: Nature  Khi Triều Tiên phát nổ vũ khí hạt nhân gần đây nhất của họ ở sâu bên trong khu vực núi thử nghiệm, các sườn phía đỉnh núi đã bị căng lên và dời đi khoảng vài mét – theo một bản phân tích nhằm tái hiện một cách chi tiết sự kiện và hậu quả của nó.  Những phân tích này là sự kết hợp lần đầu giữa các hình ảnh radar vệ tinh với dữ liệu địa chấn để theo dõi tác động của vụ nổ vào ngày 3/9/2017 tại núi Mantap. Nó cho thấy vụ nổ, nguyên nhân tạo ra sự xáo trộn địa chấn ở mức 6,3 độ richer, đã khiến đỉnh núi bị lún khoảng nửa mét. Công trình này đã được công bố vào ngày 10/5/2018 trên Science.  Đồng tác giả của nghiên cứu – Teng Wang, nhà nghiên cứu viễn thám và trắc địa tại ĐH Công nghệ Nanyang (Singapore) chia sẻ: “Tôi đã từng lập bản đồ dịch chuyển bề mặt từ nhiều quá trình địa động lực như động đất, phun trào núi lửa, đất trượt nhưng tôi chưa từng nhìn thấy sự dịch chuyển lớn gây ra bởi hoạt động của con người.”  Mặc dù núi bị lắc lư dữ dội nhưng bản phân tích chỉ ra, không có miệng núi lửa nào trên  đỉnh. Điều này có thể làm giảm bớt lo ngại ngọn núi đã phải chịu sự sụp đổ đáng kể khiến cho nó dễ rơi vào cảnh rò rỉ bức xạ – theo nghiên cứu của các nhà địa chất Trung Quốc. Kể từ lần đầu vào năm 2006, đến nay, khu vực gần Punggye-ri này đã trải qua 6 vụ thử hạt nhân của Triều Tiên.  Các nhà nghiên cứu cho biết, công trình này là nghiên cứu ở mức chi tiết nhất về một vụ thử hạt nhân sử dụng kỹ thuật Radar có khẩu độ tổng hợp (synthetic aperture radar – SAR), thường dùng để tạo ra bản đồ địa hình 3D. Các nhà địa vật lý có thể sử dụng dữ liệu kiểu này để bổ sung cho các phương pháp địa chấn truyền thống khi theo dõi các vụ thử hạt nhân trong tương lai.  Matt Wei – nhà địa vật lý tại ĐH Rhode Island (Narragansett) nói: “Vào thời điểm này thì các vụ thử hạt nhân không phổ biến lắm nhưng kiểm soát chúng vẫn là một trong những công việc quan trọng nhất mà chúng tôi làm”.  Tăng, giảm và nén  Hầu hết các phát hiện và phân tích những vụ nổ hạt nhân đều dựa trên dữ liệu địa chấn từ các trạm quan sát trong khu vực. Tuy nhiên việc đo lường độ dịch chuyển thực sự của ngọn núi thực sự khó khăn nếu không vào được khu vực thử.  Nhóm nghiên cứu của Wang đã chuyển sang dùng SAR – kỹ thuật có khả năng tạo ra hình ảnh phân giải cao bằng cách quét chùm tia radar tới mục tiêu từ một nền tảng di chuyển với tốc độ cao. Wang và các đồng tác giả của anh đã so sánh dữ liệu do vệ tinh TerraSAR-X của Đức trước và sau vụ nổ thu thập được.  Họ thấy rằng, độ dốc của núi Mantap đã dịch chuyển theo chiều ngang tới 3,5m, với độ sự thay đổi nhiều nhất ở các sườn dốc phia tây và nam, nơi có địa hình dốc nhất.    Sử dụng thêm dữ liệu địa chấn và mô hình máy tính, họ đã tái tạo chuỗi các sự kiện để mô phỏng những gì xảy ra bên trong núi, điều chỉnh mô hình để phù hợp với những gì họ quan sát được. Phân tích đã chỉ ra, vụ nổ đã kéo theo sự sụp đổ một phần của tảng đá ngay phía trên khoang nổ, chỉ khoảng 1 giây sau đó.  Wang nói, sự kiện thứ hai, nhỏ hơn và diễn ra vào 8 phút rưỡi sau đó, vốn được nhiều người cho là sự sụp đổ của một số đường hầm trong khu vực thử nghiệm – có lẽ đã tác động một phần tới sự dịch chuyển của ngọn núi.  Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, trong khoảng hơn một tuần sau, phần còn lại tảng đá phía trên khoang đã tự rơi xuống tiếp– và khiến cho đỉnh núi chìm xuống nửa mét.  Các nhà nghiên cứu ước tính quả bom đó tương đương với 190 nghìn tấn TNT hay 13 lần sức mạnh của quả bom rơi xuống Hiroshima, Nhật Bản vào cuối Thế chiến 2. Tính toán này cao hơn đôi chút so với tính toán được thực hiện ngay sau vụ nổ.  Xác nhận và chứng thực  Theo Wei, nghiên cứu cho thấy quan sát từ không gian có thể đủ chính xác để thành công cụ độc lập để phân tích về các vụ nổ hạt nhân. Một nghiên cứu được ông công bố vào năm ngoái đã sử dụng kỹ thuật SAR tương tự để quan sát vụ thử hạt nhân thứ tư của Triều Tiên, vào tháng 1/2016, tuy nhiên lúc đóp nó chưa thể phân biệt giữa sự trượt đất và sự dịch chuyển thực sự của ngọn núi. Ông thừa nhận rằng phương pháp của mình ít nhạy cảm với các chuyển động theo chiều ngang. Nhưng kết quả của Wang chỉ ra, “sự dịch chuyển chắc chắn do vụ nổ hạt nhân gây ra”.  Vào tuần trước, tình trạng của khu vực thử nghiệm đã trở thành chủ đề gây suy đoán dữ dội. Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã cam kết sẽ đóng cửa khu vực vào cuối tháng 5/2018, một dấu hiệu khả dĩ về sự sẵn lòng đàm phán từ bỏ vũ khí hạt nhân của quốc gia này.  Trước đó, hai nghiên cứu địa chấn từ các nhà nghiên cứu Trung Quốc, công bố vào tháng 3 và tháng 4/2018, cũng đã dự đoán sự sụp đổ một phần của ngọn núi có thể dẫn tới rủi ro rò rỉ hạt nhân, khiến khu vực thử không còn sử dụng được nữa.  Won-Young Kim, nhà địa chấn học tại Đài Quan sát Trái đất Lamont-Doherty của ĐH Columbia (Palisades, New York) nói rằng, qua những báo cáo về sự dịch chuyển đã có, hạ tầng có thể bị tổn hại nhưng tình trạng cả ngọn núi không ổn định và có thể bị sụp đổ là “bị thổi phồng”.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05118-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sophus Lie: thiên tài bất hạnh      Cũng như bậc đàn anh Niel Abel, Sophus Lie (1842-1899) đã nổi lên như một hiện tượng ở các nước Bắc Âu trong bối cảnh nền khoa học lúc đó của khu vực này hầu như chưa được biết đến trên trường quốc tế. Suốt cuộc đời của mình, ông không ngừng đưa ra những ý tưởng cực kỳ táo bạo.    Sophus Lie là một trong những tên tuổi lớn trong lịch sử toán học, một trong những người có tầm nhìn xa trông rộng. Ông cũng đã tạo ra một môn mới: toán học nhóm Lie, môn toán giờ đã phát triển và bắt rễ trong hầu hết các ngành toán và toán-vật lý.  Jean Dieudonné, một trong những thành viên đặt nền móng của trường phái Bourbaki chắc hẳn không thể cho ra đời bất kỳ công trình có giá trị nào nếu không nhờ tới toán học nhóm Lie. Các công trình toán và vật lý sau này, đặc biệt là các công trình của Élie Cartan và Hermann Weyl có được thành công cũng là nhờ tới lý thuyết toán học của Lie.  Trong khoảng thời gian 30 năm nghiên cứu, Sophus Lie đã xuất bản các công trình dài cỡ 8.000 trang viết tay.  Khởi đầu không hoàn hảo  Sophus Lie sinh ngày 17/12/1842 ở Nordfjordeid, một thành phố nhỏ nằm phía Tây của Na Uy. Khi Sophus lên 9, cả gia đình cậu chuyển tới Moss, khu vực nằm ở phía Đông Nam của Oslo.  Một năm sau khi tới Moss, mẹ của Sophus qua đời. Bất hạnh này đã khiến Sophus lúc đó 10 tuổi hầu như đánh mất tuổi thơ và trở thành một đứa bé nghiêm nghị. Ngay từ đầu năm học đầu tiên, Sophus đã ham thích rất nhiều môn học. Do trường học ở Moss không cấp bằng tốt nghiệp cuối khóa cho nên khi 15 tuổi, Lie tới học ở trường Hartvig Nissen tại thủ đô của Na Uy. Ngôi trường nổi tiếng này do Nissen và Ole Jacob Broch lập ra có mục tiêu rất rõ ràng: sử dụng các phương pháp sư phạm và các ngôn ngữ hiện đại và dạy các ngành khoa học quan trọng.  Sophus cũng là người quan tâm nhiều tới tiến trình đổi mới giáo dục của Na Uy và luôn tham gia vào các cuộc tranh luận rộng rãi ngoài xã hội. Ông đã viết rất nhiều bài báo nêu rõ sự cần thiết phải đổi mới hệ thống giáo dục ở Na Uy và ông thường so sách với các nền giáo dục khác như Pháp, Đức. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục đại học. Mặc dù giáo dục khiến ông quan tâm nhưng cuối cùng ông lại chọn khoa học làm con đường lập nghiệp. Cần phải nhớ rằng lúc đó, trong số 560 sinh viên Đại học Oslo, chỉ có khoảng hơn chục người đi theo con đường khoa học.  Các nghiên cứu do Sophus Lie thực hiện nằm trong 3 lĩnh vực. Gian khổ nhất là lĩnh vực toán học trong đó có hình học, cơ học, thiết kế kỹ thuật… Trong lĩnh vực này, các giáo sư của Sophus Lie là Broch và Carl Anton Bjerknes, nhà toán học Lugwig Sylow.  Trong lớp học của Sylow thời kỳ 1862-1863, có 3 người được đánh giá cao trong đó có Sophus và lớp học này liên quan tới một môn học mới: thuyết các phương trình đại số của Abel và Galois. Môn học này cuốn hút Sophus đến nỗi ông sao nhãng các môn học khác như vật lý-hóa học và lịch sử tự nhiên. Chính vì vậy, bằng tốt nghiệp của ông không được xuất sắc như mong muốn. Những năm học cuối, tính cách của ông trở nên sầu muộn, kỳ quặc và thiếu niềm tin vào “khả năng trí tuệ” của chính mình. Sự nghiêm khắc trong giáo dục công giáo không cho phép người ta quá yếu kém. Chính sự cứng nhắc này đã khiến Sophus rơi vào chiều hướng trầm cảm.  Cũng may, ông có rất nhiều bạn bè và họ đã cùng chia sẻ tình cảm với ông trong những buổi đi dạo vào cuối tuần ở vịnh và các khu rừng ở Oslo. Ông cũng luyện tập thể thao, cưỡi ngựa. Vào mùa đông, ông chơi trượt tuyết và xe trượt. Lie là một người rất trung thành với bạn bè. Ernst Motzfeldt, người bạn cùng lớp với ông ở trường Nissen trở thành luật sư, rồi công chức cấp cao luôn là bạn của ông và bảo vệ ông.  Lie rất thích tham gia các buổi thảo luận về Hội Duy thực (Association réaliste) do các sinh viên ngành khoa học tổ chức. Lúc đó, ở mỗi khoa học trong đại học đều có một hội sinh viên liên quan tới ngành học của họ nhằm đưa ra các thảo luận có tính chuyên sâu để bổ túc cho các khóa học. Lie là một trong những thành viên tích cực nhất của Hội và đã thực hiện hàng loạt các cuộc nói chuyện về hình học tại đây.  Sau khi nhận bằng tốt nghiệp, Lie quan tâm nhiều tới thiên văn học, ông bắt đầu dạy và truyền bá ngành khoa học này. Ông tham gia giảng dạy tại một đài thiên văn nhưng không kiếm được một chân thiên văn như mong muốn. Để kiếm sống, ông đảm nhiệm vị trí dạy thay cho các giáo sư trong các buổi học toán, vật lý và thiên văn. Ông là một giáo sư được đánh giá rất cao.    Bước sang ngành toán  Phong trào thể dục, thể thao lúc đó rất phát triển và Sophus Lie là một nhà leo núi được nhiều người biết tiếng. Ông cũng là một tay đi bộ cừ khôi: ngày thường, ông đi bộ từ 30 đến 40 cây số, ngày luyện tập thể thao, ông đi tới 70-80 cây số. Người ta từng kể rằng có ngày ông để quên một cuốn sách ở Moss và thế là ông đã đi bộ một chuyến “khứ hồi” từ thủ đô tới Moss, tức là khoảng 100 cây số trong 1 ngày. Ông đi bộ nhanh tới mức nhiều người cứ tưởng ông là một… tên ăn trộm.  Dù vậy, khả năng hòa nhập xã hội của Sophus rất kém. Chính điều này đã khiến ông luôn day dứt và có một tâm hồn ít lúc bình yên. Vào tháng 3 năm 1968, ông đã viết một bức thư cho người bạn thân Motzfeldt: “Khi tôi chào từ biệt bạn vào ngày trước Noel, tôi cứ tưởng thế là xa bạn mãi mãi. Tôi luôn có ý muốn tự sát nhưng tôi không có đủ dũng cảm. Thế là tôi tìm mọi cách để cố mà sống”. Không biết được điều mình muốn trong cuộc sống quả thật là một khiếm khuyết lớn. Mãi tới năm 1868, Sophus Lie mới tìm thấy đúng nghề của mình khi anh 26 tuổi, sau lần gặp nhà toán học Đan Mạch Hyeronymus Zeuthen. Lúc đó Zeuthen đang học ở Paris dưới sự hướng dẫn của nhà hình học Michel Chasles. Nhờ Zeuthen mách bảo, Lie đã tìm và đọc say sưa cuốn Sách chuyên luận về các đặc tính xạ ảnh của các con số của Jean-Victor Poncelet. Một trong những phát minh của Poncelet lúc đó là giới thiệu và sử dụng các con số phức tạp trong hình học xạ ảnh. Bên cạnh chủ đề hấp dẫn này, Sophus cũng mê như điếu đổ các công trình của Allemand Julius Plucker.  Vào đầu những năm 1869, Lie hoàn thành cuốn sách đầu tiên của mình về miêu tả thực tế các con số tưởng tượng. Bài báo dài 8 trang này ngay lập tức đã được hai giáo sư toán học lừng danh Đan Mạnh thời đó là Broch và Bjerknes đón chào nồng nhiệt. Ngay trong năm đó, bài báo được xuất bản lại bằng tiếng Đức trên tờ báo nổi tiếng Journal de Crelle. Sophus Lie được rất nhiều người chú ý và dễ dàng xin được các học bổng học ở Berlin, Gottingen và Paris. Khi về nước, ông lập tức được bổ nhiệm làm thành viên của trường đại học và năm sau đó trở thành giáo sư của trường.  Chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với Lie. Ông đã được gặp những người bạn, đồng nghiệp-những người đánh giá rất cao công trình nghiên cứu của ông. Đặc biệt ở Berlin, ông đã gặp Felix Klein, Alfred Clebsch ở Gottingen và Gaston Darboux cùng Camille Jordan ở Paris. Lie nhanh chóng trở thành bạn thân của Klein và họ đã cùng nhau công bố 3 công trình nghiên cứu về hình học. Klein cũng hay tới thăm Lie và nhiều khi họ cùng tới thăm Darboux và Jordan.  Người hùng không mong muốn  Khi cuộc chiến Pháp-Phổ nổ ra vào tháng 7/1870, Klein rời Paris vì lời kêu gọi chống Pháp. Ông vượt biên giới nhưng bị ốm đột ngột và không thể tham gia chiến đấu. Lúc đó, Lie lại quyết định đi bộ từ Paris tới Milan để gặp nhà toán học Luigi Cremona. Nhưng vừa tới Fointainebleau, ông bị bắt giam vì bị tình nghi là gián điệp của Đức. Ngay lập tức, trên trang nhất một nhật báo Na Uy đã giật tít: Nhà khoa học Na Uy bị giam cầm vì nghi ngờ là gián điệp của Đức.  Sau này Lie kể lại: các tên cai tù lúc đó cho rằng các ký hiệu toán học trong sổ tay của Lie chính là các mật mã gián điệp. May mắn thay, Darboux có quan hệ với các nhân vật quân sự cấp cao và ông đã tìm cách giải thoát cho Lie. Nhiều năm sau đó, Lie vẫn cho rằng thời gian bị giam cầm ở Fontainebleau là thời kỳ bình lặng nhất và chính trong thời gian này, ông viết được phần chính của luận án tiến sĩ. Luận án này có tên “Một cách xếp hạng các biến đổi hình học” được ông bảo vệ năm sau đó ở Oslo. Theo lời của E. Holst, người bạn và là người viết tiểu sử đầu tiên của Lie, hội đồng giám khảo Na Uy lúc đó thực sự là những kẻ bất tài chẳng kém gì những tên cai ngục Pháp.  Tuy nhiên, ở phạm vi Châu Âu thì luận án này được đánh giá cao hơn nhiều. Darboux nhận xét rằng đây là một trong những khám phá thú vị nhất của hình học hiện đại. Chính quyền Na Uy dù vậy cũng tạo các điều kiện tốt nhất để Lie làm việc. Năm 1872, các nghị sĩ Thượng viện đã yêu cầu trao danh hiệu giáo sư đặc biệt cho Sophus Lie. Họ không muốn lặp lại sai lầm đã từng mắc phải với Abel. Như vậy, mới 30 tuổi Lie đã trở thành một giáo sư thực thụ.  Thời gian đó quả là hạnh phúc đối với Lie, ông gặp và ngay lập tức yêu Anna Birch, lúc đó 18 tuổi và là em họ của Motzeldt. Ông đã gửi thư tỏ tình với Anna. Bức thư này đã khiến không ít người bất ngờ vì ít ai nghĩ rằng ông có thể “dũng cảm” lập gia đình. Ông nội của Anna chính là chú ruột Abel và Sophus hy vọng đó là một điều tốt lành. Mặc dù Anna lúc đầu cũng chần chừ vì 30 tuổi của Lie lúc đó là “quá già” đối với cô nhưng đám cưới hai người vẫn diễn ra 20 tháng sau đó. Sau khi cưới, cuộc đời của Lie có tóm gọn trong 3 giai đoạn: những năm ở Oslo, rồi đến 12 năm kế tiếp ở Leipzig và một thời gian ngắn ngủi trở lại Na Uy trước khi ông qua đời.  Những năm ở Oslo, ông làm việc hùng hục nhưng hầu như không có nghiên cứu khoa học nào là đáng kể. Bù lại, cuộc sống gia đình của ông lại rất hạnh phúc: Sophus và Anna rất hợp nhau và họ đã có 3 đứa con.  Năm 1882, Lie làm việc với Klein và Adolph Mayer ở Leipzig và tới Paris 2 tháng liền để trao đổi với Darboux, Jordan, Hermite, Poincaré, Picard, Halphén và Lévy. Những người này hoàn toàn hiểu về tầm quan trọng của những nghiên cứu của Lie. Năm 1884, Klein và Mayer muốn giúp Lie cải thiện cuộc sống và họ gửi sinh viên Friedrich Engel tới để ông hướng dẫn và giúp ông hoàn thiện các ý tưởng của mình. Nghiên cứu chung của Engel và Lie được tập hợp lại thành một bộ sách 3 cuốn có tên Theorie der Transformationsgroppen (Lý thuyết của các nhóm biến đổi), lần lượt ra đời vào các năm 1888, 1890 và 1893 với độ dài tổng cộng hơn 2.000 trang giấy.  Năm 1886, Lie được phong chức giáo sư ở Leipzig và thay thế Klein, một vị trí khoa học rất quan trọng ở đó. Ông trở thành một gương mặt sáng giá trong cộng đồng toán học Châu Âu và rất nhiều sinh viên trong và ngoài nước đã tới làm học trò của ông. Tuy nhiên, công việc giảng dạy và hướng dẫn sinh viên đã chiếm đoạt hết thời gian của ông. Ông cũng cảm thấy chán nản khi luôn phải làm việc với nhiều sinh viên tầm thường. Leipzig dường như không phải là thiên đường như ông từng mong muốn. Việc Lie không hoàn toàn làm chủ được tiếng Đức và sân khấu chính trị cùng các xung đột cá nhân ngày càng làm ông mệt mỏi. Ông cũng nhớ tới những người bạn và đất nước quê hương Na Uy. Ông muốn được làm việc nơi nào đó yên bình nhưng công việc quan hệ lại luôn thúc ép ông. Dần dần, ông cảm thấy mình đã hiểu nhầm và bị lợi dụng quá nhiều. Các xung đột này khiến ông bị mất ngủ và lại rơi vào tình trạng trầm uất. Lúc này, ông cảm thấy thất vọng một cách não nề. Tháng 12 năm 1889, ông được chuyển tới một bệnh viện tâm thần gần Hanovre. Ông ở đó 7 tháng và được điều trị bằng nha phiến và các loại thuốc ngủ. Nhưng dường như chính cái thói quen đi bộ nhiều đã khiến ông bình phục trở lại. Dù vậy, ông hoàn toàn không thể trở lại hoàn toàn khỏe mạnh được như xưa. Ông trở lại khó tiếp xúc và luôn nghi ngờ người khác. Chính những điều này đã phá hoại tình bạn lâu năm của ông với những người tri kỷ. Ông mắc chứng cuồng ám và luôn tố cáo những người bạn đã đánh cắp ý tưởng của mình. Quan hệ của ông với Klein hoàn toàn đổ vỡ.  Thiên tài bất hạnh  Lie tiếp tục các nghiên cứu đầy sáng tạo của mình. Những gì ông công bố tiếp tục được truyền bá và đánh giá ngày càng cao. Năm 1892, ông gia nhập Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Năm 1893, Darboux và Tannery mời ông tới Paris và ông rất thích thú khi gặp Élie Cartan. Vào tháng 4.1893, người ta thấy Lie và Cartan thường lui tới ngồi ở quán Café de la Source. Lie cho rằng trước khi có thể sử dụng lý thuyết các nhóm biến đổi để giải quyết những phương trình vi phân thì cần phải sắp xếp các cấu trúc nhóm biến đổi có số chiều có hạn. Một năm sau đó, năm 1894, Élie Cartan xuất bản bài báo “Về cấu trúc các nhóm có hạn và không ngừng”. Những nghiên cứu của họ dường như có kết quả khá giống nhau.  Lie cũng được đáng giá rất cao ở Na Uy và năm 1905, Thượng viện nước này đã đổi danh hiệu của ông thành Giáo sư của lý thuyết các nhóm biến đổi. Ông cũng được hưởng một mức lương gần như gấp đôi với một giáo sư thông thường. Năm 1897, Lie nhận giải thưởng danh giá Lobatchevski vì những công trình đặc biệt xuất sắc về hình học, đặc biệt là hình học ngoài Ơclit.   Tiếc thay, khi ông trở về Na Uy vào mùa hè 1898, tất cả mọi người đều nhận thấy bệnh tình của ông đã nặng. Ông mắc chứng thiếu máu ác tính, một căn bệnh nan y lúc đó. Mùa thu năm đó, ông rất khó khăn để có thể lên lớp, thậm chí, có lúc ông phải giảng bài từ trên giường. Ngày 18 tháng 2 năm 1899, ông qua đời.  Rất nhiều người cho rằng cái chết đã khiến ông buộc phải giã từ rất nhiều công trình nghiên cứu còn dang dở. Ngày nay, công trình được thừa nhận nhiều nhất của ông chính là nghiên cứu về các phương trình vi phân và công trình này sau này đã trở thành một nhánh nghiên cứu toán học quan trọng: lý thuyết nhóm Lie và các đại số Lie.  * Arild Stubhaug là nhà viết sử khoa học và làm việc tại khoa toán, đại học Oslo  Arild Stubhaug*    Nguồn tin: Lược dịch từ Pour la Science, 10.2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Spasskij – người thiết kế tàu ngầm Kilo      Mùa hè vừa qua, trong chuyến du lịch nước Nga chúng tôi tìm đến các địa chỉ có liên quan tới việc chế tạo tàu ngầm Kilo của Việt Nam mang tên Kilo Hà Nội đã tắm sóng Biển Đông vào đầu mùa Xuân 2014 này.     Đó là xưởng đóng tàu Admiral Verft, và viện Rubin lừng  danh, nơi có các bộ óc tạo ra con tàu ngầm chạy diesel có độ “im hơi  lặng tiếng“ số một thế giới, tọa lạc ở con phố mang tên nhà cách mạng  Pháp Marat (1743-1793).  Viện Rubin          Viện Rubin (trong tiếng Nga, rubin có nghĩa là đá quý ruby tức ngọc đỏ), được thành lập từ năm 1901 là nơi quy tập những tinh hoa của ngành hàng hải nước Nga để sản sinh ra những con tàu tạo nên sức mạnh trên biển của cường quốc hàng hải này.      Ngược về phía Bắc thành phố, cách phố Marat 5 km theo đường chim bay là tòa nhà số 4 phố Shpaler. Không ai có thể tưởng tượng rằng, trong tòa nhà cao đẹp, cạnh công viên Mùa Hè ven sông Neva vào những năm 30 của thế kỷ trước có những tù nhân Gulag được gọi tắt là những “Shpalerka” đang thiết kế những tàu ngầm siêu nhỏ, những tàu tuần tra trong xiềng xích… Người ta thường kể lại trường hợp Bzhejinski V.L., người có họ hàng với cố vấn khét tiếng diều hâu của Nhà Trắng, một kỹ sư  đóng tàu Xô viết xuất sắc, người Nga gốc Ba Lan. Tốt nghiệp Trung cấp Kỹ thuật Hàng hải, sĩ quan hải quân Nga Hoàng. Dưới thời Xô viết đã đạt tới những chức vụ cao trong Hải Quân như Trưởng phòng Thiết kế số 4 vào năm 1933, trưởng nhóm nghiên cứu Viện Krylov và đã cho ra đời 3 mẫu  tàu ngầm siêu nhỏ (1934-1935). Trong các năm “khủng bố trắng” 1937-1938 dưới thời Stalin, đã bị bắt nhưng “được” hưởng chế độ lao động khổ sai trong tổ chức thiết kế đặc biệt có tên là Phòng thiết kế Đặc biệt Ostekbiuro. Tại đây, ông tiếp tục cho ra đời hai mẫu tàu ngầm tí hon khác và cùng với một bạn tù khác, một giáo sư, đảng viên nổi tiếng Ramdin  (bị quy kết trong vụ chống Đảng), đã cho ra đời bản thiết kế tàu phóng lôi “Thực Nghiệm”. Trường hợp của Bzhejinski không phải là đặc biệt. Hàng trăm nghìn trí thức hàng hải khác đã bị lao tù, bị bắn chết trong các thập kỷ 20-30. Ngay trong cái “phòng thiết kế đặc biệt Ostekbiuro” còn giam giữ và bắt phải tiếp tục sáng tạo những người như Startrik, một nhà phát minh người Nga gốc Tiệp, Bekauri người Grudi, Trusov, Sukin… tất cả đều là các chuyên gia thiết kế tàu chiến.      May mắn hơn các kỹ sư của cái gọi là “Phòng thiết kế Đặc biệt”, kỹ sư Malinin B.M, xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ opera Moskva, người tham gia “Phòng thiết kế số 4”, tiền thân của Rubin đã đi hết được chặng đường sáng tạo của mình. Ông là người thiết kế những chiếc tàu ngầm Xô viết đầu tiên thuộc các lớp Dekabrist, Leninets, Shiuka, Malyutka. Chúng ta có thể tới chiêm ngưỡng chiếc tàu ngầm đầu tiên ký hiệu D-2 thuộc lớp Dekabrist hiện nay đang trưng bày tại khu Triển làm quốc tế St. Petersburg. Vỏ tán đinh, các mối gò nham nhở, khi lặn sâu không ổn định,mặc dù mẫu này được Malinin nhái theo mẫu tàu ngầm của Ý, Đức và có cải biên.         Từ chiếc tàu ngầm đầu tiên đó, Rubin đã trưởng thành và trong số 1150 tàu ngầm đã tham gia vào lực lượng hải quân Nga Xô viết suốt trong thời gian qua thì đã có 919 chiếc (trong đó có 139 tàu ngầm nguyên tử) sinh ra từ  bản vẽ của Rubin. Tàu ngầm do Rubin thiết kế được dùng tại 14 nước trên thế giới. Sau Thế chiến II, Rubin đã tạo ra một loạt lớn nhất, tới 215 chiếc tàu ngầm nổi tiếng mang tên Whiskey theo thiết kế 613. Trong thời gian này Rubin tập trung xây dựng thế hệ tàu ngầm nguyên tử và tàu diesel kiểu mới trang bị đạn đạo và tên lửa có cánh, tạo ra một số kỷ lục:     – tàu ngầm nguyên tử lặn sâu nhất Komsomolets (NATO gọi là lớp tàu Mike);  – tàu ngầm nguyên tử nặng nhất thế giới, phòng thủ chiến lược, tàu Taifun (đã được ghi trong sách kỷ lục Guiness);  – tàu ngầm nguyên tử nhiều mục đích có hiệu quả nhất trên thế giới Antey (mà NATO gọi là Oscar -1);  – tàu ngầm diesel – điện chạy ít ồn nhất trên thế giới, thiết kế 613 (lớp Kilo).      Anh hùng lao động… tư bản chủ nghĩa      Tốt nghiệp trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải quân mang tên Dzerginskij, với tấm bằng kỹ sư cơ khí, kỹ sư Spasskij I.D thực tập trên tàu Frunze của Hạm đội Biển Đen sau đó lên bờ chuyên theo dõi việc đóng tàu ngầm. Đầu những năm 1950 ở độ tuổi xấp xỉ 30, ông được chuyển về Viện Rubin  lúc toàn Viện đang tập trung cho việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử. Spasskij đã có những đóng góp to lớn và trở thành kỹ sư trưởng của Viện vào năm 1968 và năm 1974 là Tổng giám đốc kỹ thuật, người trực tiếp thiết kế và chỉ huy thi công trên 200 tàu trong đó có nhiều tàu ngầm nguyên tử, đồng thời giành nhiều học vị khoa học cao như tiến sĩ vào năm 1973, tiến sĩ khoa học năm 1978, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga năm 1984.      Không có số liệu cụ thể nhưng chỉ cần vào trang chủ của Viện Rubin đọc những hàng chữ đầy kiêu hãnh “Sản phẩm của Viện là cơ sở cho việc xuất khẩu kỹ thuật hải quân và đảm bảo cho nước Nga có vị thế xứng đáng trên thị trường vũ khí toàn cầu” ta đủ biết vị trí Rubin ra sao với kinh tế- chính trị nước Nga. Một lần nữa, người ta lại thấy tài năng của Spasskij không phải chỉ là một Viện sĩ, một Công trình sư, một nhà tổ chức, mà còn là một doanh nhân. Dây chuyền công nghệ sản xuất tàu ngầm được thay đổi mạnh mẽ, áp dụng công nghệ nhóm, công nghệ module, được người Nga đề xuất từ những năm 1920 nhưng người sử dụng mạnh mẽ lại là Mỹ và các nước phương Tây. Quy trình thi công này đòi hỏi phải áp dụng nhuần nhuyễn các công cụ tin học, máy tính điện tử…      Trước đây, khoa học quân sự Nga là một vùng cấm, rất ít hoặc không có mối liên kết với sản xuất dân sự. Dưới sự lãnh đạo của Spasskij, Rubin đã hoạt động như các tổ hợp công nghiệp quân sự Âu Mỹ đã làm từ lâu, đó là hướng các kinh nghiệm, công nghệ tàu ngầm vào các chương trình phục vụ đời sống, công nghiệp dầu khí, chinh phục đại dương…, chế tạo từ tàu ngầm du lịch tới các yacht cao tốc, từ nhà máy điện hạt nhân nổi trên mặt nước tới các robot lặn sâu rất có hiệu quả, giúp cho doanh thu của các nhà máy sử dụng bộ não của mình giữ nguyên thậm chí còn tăng doanh thu. Nhà máy điện hạt nhân nổi trên mặt nước mang bằng sáng chế Nga, được thế giới quan tâm. Những đóng góp của doanh nhân Spasskij đã được nhìn nhận xứng đáng. Ngoài rất nhiều huân huy chương, anh hùng lao động XHCN, giải thưởng Lê Nin, thành phố St. Petersburg trân trọng cảm ơn con người đã mang lại  danh vọng và sự thịnh vượng bằng cách tôn vinh ông như một công dân ưu tú. Trong buổi lễ, Thị trưởng St. Peterburg Anatolij Sobtchak vui mừng đùa giỡn “Anh xứng đáng là Anh Hùng Lao Động… Tư bản Chủ nghĩa (Герой Капиталистического Труда) mới phải!”, một câu nói phổ biến ở nước Nga với người làm ăn giỏi thời kinh tế thị trường hậu Xô viết.                Putin giao nhiệm vụ cho Spasskij tổ chức giải cứu tàu Kursk           Đấng Cứu Thế!     Ngày 21/09/2006, tại nhà hát Capella St. Petersburg, một nhà hát cổ kính xây dựng từ thế kỷ 15, một buổi hòa nhạc đặc biệt đã được tổ chức nhằm kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Spasskij, một con người có tất cả các chức danh tiến sĩ, bác học, doanh nhân, với đủ các loại bằng khen mà nước Nga đã phong tặng. Vào tuổi tri thiên mệnh, hình như ông đã thấy tính phù du của mọi tiền tài danh vọng nên hướng tất cả hoạt động cho các công tác xã hội, dùng uy tín của mình vận động giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quyên góp xây dựng Nhà Thủy cung, ủng hộ các văn nghệ sĩ và đặc biệt là các hoạt động tôn giáo, xây dựng đền đài. Thời Nga Hoàng, hải quân treo cờ thánh Andreev, ngoài ra còn có một số thánh thuộc Chính thống giáo như thánh Nicholas, thánh Basil Cả (người Nga gọi là Vasilij Velikij), thánh Gioan Baotixta… được coi là những vị thánh bảo hộ cho người đi biển, cho lính thủy quân. Khi lá cờ hải quân Liên Xô với chiếc búa liềm truyền thống được dựng lên thay cho cờ Andreev, nhà thờ các vị thánh này nhiều cái bị phá hủy hoặc để trong hoang phế. Thời thế đổi thay, cờ Andreev hai vạch chéo xanh trên nền trắng lại được dựng lên, tên của vị đô đốc Bạch vệ khét tiếng chống cộng Koltrak lại được khôi phục với cái tên đặt cho chiếc chiến hạm hiện đại bậc nhất kèm theo một bộ phim “Người Tình” tốn kém tới 20 triệu USD, các đền thờ các thánh bảo hộ hải quân lại được khôi phục. Tại St. Petersburg, Spasskij là người đứng đầu cho việc tôn tạo nhà thờ thánh Nicholas nằm ở phía tây thành phố và đặt thêm tấm bia tưởng nhớ các chiến sỹ tàu ngầm Komsomolets và Kursk đã hy sinh trong thời bình bên cạnh tấm bia ghi nhớ trận Tsushima đại bại trước quân Nhật. Cũng như thế, tại nhà thờ thánh Basil Cả và nhà thờ thánh Gioan, nơi thờ cúng các chiến sĩ hải quân Nga hy sinh trong trận đánh với quân Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1770, ông cho đặt thêm bài vị của từng chiến sĩ đã chết trong hai chiếc tàu ngầm nguyên tử Komsomolets và Kursk, những tác phẩm của chính ông và ông cũng là người được chính Putin ra lệnh tìm cách giải cứu và trục vớt xác tàu cùng xác người. Có nhà báo bình luận là Spasskij đã trở về đúng là Đấng Cứu Thế (Bog Spastel), một tên gọi khác của Đức Giê su trong Chính thống giáo. Đó là một cách chơi chữ vì trong tiếng Nga Spasskij cùng gốc từ với Spasitel, đều từ động từ ‘spasat’ là cứu giúp!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sputnik, Eisenhower, và các nhà khoa học      Ngày 4 tháng 10 năm 1957, cách đây đúng nửa thế kỷ, tên lửa SS-6 của Liên Xô đã đưa được một quả cầu nặng 84 kg lên quỹ đạo Trái Đất. Đó chính là Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên, một tiến bộ khoa học kỹ thuật lớn lao của loài người. Nhưng không phải ai cũng biết rằng, chính sự kiện lịch sử này cũng đã làm thay đổi sâu sắc mối quan hệ giữa các nhà khoa học và chính phủ ở Mỹ.    Kể từ 1957, dưới thời của Dwight D. Eisenhower, các nhà khoa học Mỹ có thể đến gặp trực tiếp tổng thống hầu như vào bất cứ lúc nào. Và tổng thống cũng thường chủ động tìm đến sự cố vấn của các nhà khoa học. Trước đó, chưa bao giờ các nhà khoa học lại có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đối với giới quyền lực cũng như những chính sách của quốc gia như vậy.              Eisenhower, Rabi (giữa) và giáo sư khách mời Hideki Yukawa trong khu vực máy gia tốc ở Đại học Columbia.        Dưới thời của Harry Truman, ngay cả một nhà vật lý có ảnh hưởng lớn đến Thế chiến thứ II như Robert Oppenheimer cũng bị tổng thống khinh rẻ. Ngay sau một buổi gặp Oppenheimer trong văn phòng tổng thống, Truman đã quay sang nói với thư ký Dean Acheson rằng: “Tôi không muốn nhìn thấy tên khốn đó trong cái văn phòng này thêm một lần nào nữa.” Thực ra Oppenheimer đã quá ngây thơ và khờ dại khi đến thú nhận với một kẻ như Truman là ông rất ân hận về vai trò tội lỗi của mình đối với việc chế tạo vũ khí hạt nhân. Chính Truman là kẻ ra lệnh hủy diệt Hiroshima và Nagasaki chứ không phải Oppenheimer. Và đối với ông ta, Oppenheimer không là cái gì hết, bất kể tài năng và tầm ảnh hưởng của nhà vật lý trong giới khoa học và công chúng. Truman không chỉ coi thường Oppenheimer mà còn coi thường toàn bộ giới khoa học nói chung.   Trong khi đó, ở Liên Xô, bối cảnh hoàn toàn khác, các nhà khoa học làm bom hạt nhân có thể dễ dàng gặp trực tiếp giới lãnh đạo. Và quả bom nguyên tử đầu tiên của họ đã được cho nổ vào tháng 8 năm 1949, chỉ 5 năm sau vụ thử Trinity. “Các nhà khoa học Liên Xô,” nhà vật lý nổi tiếng người Mỹ gốc Áo Isaac Rabi kể, “có vị thế và ảnh hưởng đến giới cầm quyền lớn hơn chúng tôi. Họ có quyền đến gặp trực tiếp Stalin, trong khi đó không ai ở Mỹ có thể gặp Roosevelt hay Truman dễ dàng như vậy.”  Sự kiện Sputnik đã làm người Mỹ đã bị sốc thực sự. Nhiều người kết luận rằng, người Nga bây giờ đã kiểm soát được bầu trời. Một trong những “cha đẻ” của bom hydro, Edward Teller phát biểu trên truyền hình rằng “Nước Mỹ đã thua một trận chiến còn lớn hơn cả trận Chân Châu Cảng.” James Killian, người sau này trở thành cố vấn khoa học của Eisenhower đã mô tả phản ứng của công chúng trước Sputnik “giống như một trận cháy rừng.” Nhiều người tỏ ra băn khoăn rằng, nước Mỹ là một đất nước tự do mà sao khoa học lại thua Liên Xô như thế.  Eisenhower không phải là người dễ biểu lộ cảm xúc ra bên ngoài. Thái bộ bình tĩnh của ông khiến nhiều người Mỹ đặt câu hỏi: không hiểu ông tổng thống có nhận ra sự nghiêm trọng của Sputnik hay không? Thực ra thì Eisenhower cũng thừa hiểu được rằng, bản thân Sputnik thì không phải là nghiêm trọng, mà chính những ẩn ý đằng sau Sputnik mới gọi là đáng sợ. Việc phóng được một vật thể nặng 84 kg lên quỹ đạo cũng có nghĩa là tên lửa SS-6 của Liên Xô đủ khả năng để phóng những đầu đạn sang tận Tây Âu, thậm chí còn xa hơn nữa.  Hai tháng sau Sputnik, Mỹ cũng cố gắng “đua đòi” khi tìm cách phóng lên một vật nặng 2 kg bằng tên lửa Vanguard. Quả tên lửa đã nổ ngay trên bệ phóng. Lúc này, Eisenhower ở trong một tình thế vô cùng khó xử. Ông biết nhiều hơn những gì ông có thể nói, nhưng vẫn phải “áo gấm đi đêm.” Thực ra Mỹ có hai chương trình nghiên cứu được thực hiện song song nhau. Một là chương trình vệ tinh để kỷ niệm Năm Quốc tế về Địa vật lý, được quảng bá rộng khắp trong công chúng. Hai là chương trình tên lửa đạn đạo, được giữ tối mật và tách biệt hẳn với chương trình vệ tinh. Sự day dứt của Eisenhower là ở chỗ, nếu hai chương trình này mà được kết hợp với nhau thì có khi Mỹ đã phóng được vệ tinh trước cả Liên Xô.        Chính Sputnik đã khiến giới cầm quyền ở Washington nhận ra tầm quan trọng của các nhà khoa học. Mối quan hệ của chính phủ với giới khoa học đã được khởi đầu bởi sự hiểu nhau giữa Eisenhower và Rabi. Eisenhower không phải là Truman và Rabi không phải là Oppenheimer. Khi được giới thiệu với Rabi, Eisenhower đã nói: “Tôi luôn thấy rất vui khi được gặp một trong những cán bộ của trường đại học.” Rabi trả lời: “Thưa Tổng thống, các giáo sư không phải là những cán bộ của trường đại học. Họ chính là trường đại học.” Eisenhower rất ấn tượng với phong cách của Rabi và họ đã nhanh chóng trở thành những người bạn.  Ngay trong tháng 10 năm 1957, Eisenhower đã triệu tập một cuộc họp bất thường với Hội đồng Cố vấn Khoa học (SAC) để hỏi ý kiến của các nhà khoa học. Sau cuộc họp đó, một hội đồng mới đại được thành lập, gọi là Hội đồng Cố vấn Khoa học của Tổng thống (PSAC), với Killian là cố vấn khoa học thứ nhất.    Sputnik đã mở ra những cánh cửa mới cho các nhà khoa học. Một trong những vấn đề liên quan đến chính sách mà PSAC tham gia giải quyết là tính khả dĩ của một hiệp ước cấm thử nghiệm hạt nhân trong bầu khí quyển. Trong suốt nhiệm kỳ thứ hai của Eisenhower, PSAC đã thực hiện nhiều nghiên cứu nhằm cố vấn cho chính phủ, bao gồm các báo cáo như Ngăn chặn và Sống sót trong Thời đại Hạt nhân, Giới thiệu về Không gian ngoài vũ trụ, Củng cố nền Khoa học Mỹ, Vật lý Gia tốc Năng lượng Cao, Giáo dục trong Thời đại Khoa học, Tiến trình của Khoa học, các trường Đại học và Chính quyền Liên bang. PSAC đã thực sự tác động lên các chính sách quốc gia ở mức độ khá sâu sắc.   Đến thời tổng thống Kennedy, hệ thống cố vấn khoa học vẫn phát huy được hiệu quả, điều đó ít nhất cũng được thể hiện qua mối quan hệ gắn bó giữa tổng thống và người cố vấn khoa học Jerome Wiesner. Tuy nhiên, sau Kennedy, vai trò của cố vấn khoa học đối với chính sách quốc gia bắt đầu giảm sút. Việc kết nạp thêm các thành viên có chuyên môn về khoa học xã hội, y sinh và công nghiệp đã khiến PSAC mất đi tính gắn bó thống nhất mà nó từng có. Sự tan rã của PSAC xảy ra trong nhiệm kỳ của Richard Nixon. Những mâu thuẫn đỉnh điểm nảy sinh từ việc PSAC kịch liệt phản đối các chương trình chống tên lửa đạn đạo và vận tải siêu thanh của Nhà Trắng. Kết quả là đến đầu năm 1973, Nixon giải tán toàn bộ hệ thống cố vấn khoa học.  Vào tháng 5 năm 1976, Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ được thành lập tại phòng điều hành của tổng thống Gerard Ford. Chủ tịch của nó có vai trò như cố vấn khoa học của tổng thống. Mặc dù văn phòng này vẫn tiếp tục tồn tại qua các đời tổng thống Jimmi Carter, Ronald Reagan, George H. W. Bush, Bill Clinton, và George W. Bush nhưng tiếng nói của nó không mấy có trọng lượng và gần như bị “cho ra rìa.”  Theo Rabi, việc cố vấn khoa học không chỉ có ích, mà nó thực sự là một điều cần thiết. Nhưng các tổng thống nói chung là xa lạ với khoa học, xa lạ với các nhà khoa học và không hiểu gì về văn hóa khoa học. Họ thường “bỏ xó” các cố vấn khoa học của mình.  Eisenhower qua đời ngày 28 tháng 3 năm 1969. Một vài tháng trước đó, Killian đã đến thăm ông ở bệnh viện Walter Reed. Vị cựu tổng thống đã không ngừng nhắc đến những cố vấn khoa học và gọi họ bằng cụm từ “những nhà khoa học của tôi.” Ông nói với Killian: “Jim, ông biết đấy, những nhà khoa học của tôi bước vào Nhà Trắng là vì đất nước này chứ không phải vì bản thân họ đâu.”  Ít nhất là có hai lý do để lý giải cho ảnh hưởng lớn của các nhà khoa học Mỹ đối với chính sách quốc gia. Thứ nhất, các nhà khoa học không phải là những cá nhân tầm thường. Và thứ hai, quan trọng hơn, Eisenhower đã nhận ra được rằng ông cần lời khuyên của các nhà khoa học. Ông đã nghe họ và làm theo lời khuyên của họ. Ít vị tổng thống nào có tự tin để ngồi với các nhà khoa học – những cái đầu thông minh một cách đáng kính sợ, nhưng Eisenhower lại có được sự tự tin đó.       TT lược dịch    Ảnh trên cùng: Eisenhower và các thành viên PSAC  John Rigden      Author                Quản trị        
__label__tiasang Startup Việt trong  bất ổn đại dịch: Gọi vốn bằng sự uy tín cá nhân      Trong bối cảnh đại dịch, tình hình kinh doanh không mấy thuận lợi và các nhà đầu tư dè chừng hơn trước quyết định rót tiền thì các startup chỉ có thể dùng uy tín để “thế chấp” với nhà đầu tư khi gọi vốn.    Gọi vốn: giữa khó và dễ  Năm 2019, tổng lượng vốn đầu tư vào hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam là gần 900 triệu USD và giảm xuống còn một nửa vào năm 2020 do ảnh hưởng của COVID-19. Tuy nhiên theo chia sẻ của bà Lê Hoàng Uyên Vy – Giám đốc điều hành của Do Ventures tại buổi tọa đàm “Tìm nguồn vốn cho doanh nghiệp trong đại dịch” do Endeavor Việt Nam tổ chức mới đây thì thị trường đầu tư năm 2021 đã phục hồi trở lại.  Bằng chứng là theo thống kê chưa đầy đủ từ 100 quỹ đầu tư của DO Ventures và Trung tâm đổi mới sáng tạo (NIC), trong 9 tháng đầu năm, lượng vốn đổ vào các startup Việt Nam đạt khoảng 600 triệu USD.  Theo thông lệ, quý 4 là thời điểm nhà đầu tư mạnh tay nhất để hoàn tất việc giải ngân nên bà Lê Hoàng Uyên Vy dự báo, “có thể kết thúc năm 2021, tổng lượng tiền đổ vào Việt Nam sẽ đạt mức kỷ lục, ước chừng cán mốc 1 tỷ USD”. Con số này là thành quả từ năm 2020 khi Việt Nam trở thành quốc gia duy nhất trong khu vực tăng trưởng GDP dương.  Đại diện của Do Ventures cũng bày tỏ quan điểm rằng chưa nên vui vội mà cần hết sức cẩn trọng khi làn sóng thứ 4 đã ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam trong tháng 7 và 8 vừa qua. Các thương vụ được chốt trong quý 3 thực tế đều đã được chốt trong quý 2 – thời điểm mà tình hình kiểm soát dịch ở Việt Nam còn rất lạc quan. Do đó, rất có thể đỉnh dịch rơi vào những tháng của quý 3 sẽ tác động không nhỏ tới quý 4 và sang cả năm 2022. Bà Vy phân tích: “Việt Nam vốn là nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu và cả hàng hóa nhập khẩu. Khi nền kinh tế đóng lại đột ngột, chuỗi cung ứng bị đứt gãy sẽ ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp và startup”.  Giữa bất ổn của đại dịch và những lưu chấn ảnh hưởng sau các làn sóng lây nhiễm, đôi chỗ cũng có điểm sáng mà các startup có thể tận dụng, các chuyên gia nhấn mạnh trong cuộc hội thảo. Ví dụ như bất chấp việc nhiều lĩnh vực đi xuống thì cũng có những cơ hội lớn chưa từng có với công nghệ quản lý tài sản (weath management tech) trong 6 tháng đầu năm 2021. Một ứng dụng thuộc lĩnh vực này này đạt 600 nghìn tài khoản mở mới, trong khi đó, năm 2020 con số này mới là 400 nghìn và năm 2019 là 200 nghìn.  Một điểm sáng khác, dù không mới nhưng vẫn có vai trò quyết định trong việc ra quyết định rót vốn đầu tư, đó là căn cứ vào độ ổn định của môi trường chính trị. “Theo một số khảo sát của chúng tôi, nhiều nhà đầu tư đặt Việt Nam trong tầm ngắm do môi trường chính trị ổn định, kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực” – bà Lê Hoàng Uyên Vy cho biết. Ngày càng nhiều các quỹ lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang đang được để mắt tới và thấy đây là một thị trường quan trọng trong khu vực Đông Nam Á.  Có thể họ mong muốn thấy được sự thành công tương tự như năm 2016, khi bắt đầu chọn Singapore để thăm dò thị trường khu vực rồi tiếp đến là Indonesia. Thế nhưng, làm sao để Việt Nam giữ được sự thu hút này, bất chấp đại dịch? Lợi thế vẫn nằm ở startup bởi chỉ họ mới có khả năng đón nhận đầu tư rồi làm ra được sản phẩm, tạo doanh thu dài hạn… “Gọi được vốn chỉ là sự khởi đầu, quan trọng là startup dùng thế nào cho hiệu quả, điều đó rất quan trọng với Việt Nam giai đoạn này, khi mà nhà đầu tư vẫn còn đang lưỡng lự lựa chọn”, bà Vy nói.  Linh hoạt trong gọi vốn  Nhưng hầu như startup nào cũng mông lung với câu hỏi “gọi vốn thế nào trong giai đoạn thị trường đang có nhiều bất trắc do COVID-19”? Mục tiêu đặt ra ban đầu là phải sống sót. Là thế hệ khởi nghiệp đời đầu của Việt Nam, ông Phan Minh Tâm – Chủ tịch HĐQT Quỹ đầu tư STI tỏ ra đầy kinh nghiệm với việc ‘sống sót’ qua khủng hoảng khi nhận định, khủng hoảng mà COVID-19 mang lại không bằng năm 2011. Đây là thời điểm cho những người dám làm, dám thử có thể tạo ra đột phát và bứt tốc.  “COVID-19 gây nguy hiểm cho người có bệnh nền, doanh nghiệp cũng vậy. Các công ty có thể sụt giảm lợi nhuận nhưng thị phần sẽ khác đi. Nếu cả làng yếu mà mình yếu ít nhất tức là mình có cơ hội chiếm được thị phần, khi nhiều công ty đối thủ biến mất. Trong khủng hoảng nhiều doanh nghiệp vẫn sống tốt nghĩa là vẫn có cách, nên founder phải chủ động tìm ra”, ông gợi ý.  Ở quỹ đầu tư của mình, từ trước khủng hoảng ông Tâm đã quyết định chia các startup trực thuộc STI thành khoang riêng, không nhận tiền từ tập đoàn nữa theo kiểu “anh nào lo tiền anh đấy, nếu chết tự chịu”.“Dù tập đoàn có nhiều tiền, các công ty dưới có khó khăn cũng kệ. Sức ép đó là thử thách để nhà sáng lập phải linh hoạt” – ông Phan Minh Tâm lý giải.  Như vậy, áp lực phải sống sót khiến nhà sáng lập sáng tạo hơn trong việc huy động nguồn vốn, họ tìm đến các nhà đầu tư cũ, bạn bè, gia đình, vay từ ngân hàng, thậm chí, chấp nhận down round – trường hợp một công ty chào bán thêm cổ phiếu với mức giá thấp hơn so với mức giá đã được chào bán ở vòng trước đó. Ông Tâm nói: “Khi các chỉ số tăng trưởng thiếu thuyết phục, đội ngũ sáng lập phải dùng tới uy tín cá nhân để thế chấp với nhà đầu tư”. Tuy nhiên đây là thứ được xây dựng trong thời gian dài, tức là cả nhà đầu tư lẫn startup đã có hiểu biết lẫn nhau. “Bằng năng lực và uy tín cá nhân với mối quan hệ trong quá khứ, nhà lập lập phả làm cho nhà đầu tư tin vào startup của mình và lợi ích có thể mang lại. Điều này hoàn toàn không có công thức” – ông Tâm nói thêm.  Đồng tình với cách làm này, đại diện của Do Ventures bà Lê Hoàng Uyên Vy cho biết, việc tìm đến nhà đầu tư cũ, những người đã có hiểu biết về startup và đội ngũ thì khả năng được rót vốn sẽ cao hơn nhà đầu tư hoàn toàn mới. “Trong lúc khó khăn tìm được người tin vào khả năng của mình là tốt nhất”, bà nói. Các startup thường được Do Ventures tư vấn tìm đến nhà đầu tư cũ chưa vào được từ các vòng trước. Điều này là dễ dàng hơn cả nếu so với việc tìm đến nhà đầu tư mới, bởi họ đã tìm hiểu kỹ mới quyết định đầu tư ở vòng trước.  “Để thuyết phục nhà đầu tư cũ, hãy chủ động đưa ra KPI để có mức chuyển đổi giá trị cổ phần hợp lý. Điều này giúp startup không bị down round” – bà Vy nói thêm và khuyến cáo, startup phải rất thành thật và minh bạch không được ‘vẽ ra tương lai màu hồng” để rồi cuối cùng nếu không đạt được KPI sẽ mất uy tín.  Việc gọi vốn, tồn tại và sống sót qua khủng hoảng là điều các startup phải nỗ lực vượt qua. “Nếu bạn nhận tiền mà không làm được điều gì thì có nghĩa là bạn mất uy tín. Cộng đồng giới đầu tư ở Việt Nam nhỏ lắm nên startup nào mất uy tín là mất hết”, ông Phan Minh Tâm ngụ ý đến những hậu quả mà các startup không nỗ lực tận dụng cơ hội đến với mình sẽ gặp phải.     Bích Ngọc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Stephen Hawking công bố giả thuyết mới về lỗ đen      “Việc bảo toàn thông tin và dự báo thời tiết cho các&#160; lỗ đen”, công trình mới công bố của nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking, đang thách thức giới khoa học tư duy lại những kiến thức về vũ trụ.    Theo học thuyết cổ điển, và cũng là niềm tin bấy lâu nay của chúng ta, lỗ đen vũ trụ là điểm “một đi không trở lại” của tất cả các dạng vật chất khi bị hút vào đó, kể cả ánh sáng. Nhưng mới đây, thiên tài vật lý Stephen Hawking, một trong những người sáng lập ra thuyết lỗ đen hiện đại, đã công bố một phát hiện mới gây xôn xao giới khoa học, trong đó ông loại bỏ quan điểm về đường chân trời sự kiện, tức ranh giới vô hình được coi là bao bọc xung quanh các lỗ đen mà ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát ra được.  Thay vào đó, Hawking đưa ra một giả thuyết mới, nhẹ nhàng hơn mang tên “đường chân trời biểu kiến”. Đường chân trời này chỉ tạm thời giữ lại vật chất và năng lượng, sau đó sẽ giải phóng chúng, nhưng sẽ làm cho chúng trở nên biến dạng.  Hawking đăng tải công trình của mình – hiện vẫn chưa qua giai đoạn bình duyệt – trên website arXiv vào ngày 22/1 với tên gọi khá thú vị, “Việc bảo toàn thông tin và dự báo thời tiết cho các lỗ đen”. Đây là bài viết dựa theo một cuộc nói chuyện qua Skype của Hawking trong một cuộc họp tại Viện Vật lý lý thuyết Kavli tại thành phố Santa Barbara, California, diễn ra vào tháng 8/2013.  Dập tường lửa  Công trình mới của Hawking là một nỗ lực nhằm giải quyết nghịch lý bức tường lửa hố đen, một vấn đề đã và đang làm đau đầu giới vật lý học trong gần hai năm qua, sau khi nó được nhà vật lý lý thuyết Joseph Polchinski, Viện Kavli, và đồng nghiệp phát hiện ra.  Trong một thí nghiệm tưởng tượng, các nhà nghiên cứu tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra khi một nhà du hành vũ trụ chẳng may rơi vào lỗ đen. Trong một lá thư viết gửi Einstein cuối năm 1915, tức chưa đầy một tháng sau khi nhà bác học công bố thuyết tương đối rộng của mình, nhà thiên văn học người Đức Karl Schwarzchild đã chỉ ra rằng, về mặt toán học, đường chân trời sự kiện là những hệ quả tất yếu của thuyết tương đối rộng Einstein. Từ lâu các nhà vật lý học đều nhất trí cho rằng, khi bị rơi vào hố đen, nhà du hành sẽ an toàn vượt qua được đường chân trời sự kiện, nhưng sau đó anh ta lại bị hút dần vào bên trong, cơ thể bị kéo dài ra như sợi mỳ spaghetti vậy; và cuối cùng anh ta sẽ bị nghiền nát ở “điểm kỳ dị”, tâm của hố đen.  Nhưng khi phân tích kỹ tình huống trên, nhóm của Polchinski có một phát hiện sửng sốt là các định luật của cơ học lượng tử, vốn chi phối các hạt ở kích thước vi mô, đã làm đảo ngược hoàn toàn tình huống trên. Theo họ, thuyết lượng tử buộc rằng đường chân trời sự kiện phải bị biến đổi thành một khu vực có năng lượng cao, hay “tường lửa”, và nó sẽ đốt cháy nhà du hành vũ trụ thành than.  Sở dĩ phát hiện này gây ngạc nhiên là bởi vì mặc dù tường lửa tuân theo các nguyên tắc lượng tử nhưng nó lại vi phạm thuyết tương đối rộng của Einstein, theo đó, trong tình trạng rơi tự do, dù là rơi vào lỗ đen hay đang trôi nổi giữa không gian, người ta sẽ nhận ra rằng các định luật vật lý ở mọi nơi trong vũ trụ đều giống nhau. Với Einstein thì đường chân trời sự kiện cũng chỉ là một vùng không có gì đặc biệt.  Phía sau đường chân trời  Giờ đây Hawking đưa ra một phương án thứ ba, đơn giản một cách hấp dẫn. Cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng vẫn được bảo toàn, nhưng các lỗ đen không có đường chân trời sự kiện để bắt lửa. Điểm chính trong tuyên bố của ông là các hiệu ứng lượng tử xung quanh lỗ đen khiến không-thời gian thăng giáng mạnh, nên không thể tồn tại mặt biên được.  Thay vì đường chân trời sự kiện, Hawking đưa ra giả thuyết về “đường chân trời biểu kiến”, nơi giữ lại ánh sáng khi chúng tìm cách thoát ra khỏi tâm lỗ đen. Theo thuyết tương đối rộng, đối với một lỗ đen tĩnh, hai đường chân trời này phải giống hệt nhau, bởi ánh sáng khi tìm cách thoát ra khỏi lỗ đen cùng lắm chỉ có thể đi tới được đường chân trời sự kiện, và chúng sẽ bị giữ lại ở đó, như thể bị mắc kẹt trong một guồng cối xay vậy. Tuy nhiên, trên lý thuyết, hai đường chân trời này lại có thể phân biệt được. Nếu lỗ đen nuốt thêm ngày càng nhiều vật chất, thì đường chân trời sự kiện của nó sẽ bị phình to lên và phát triển lớn hơn đường chân trời biểu kiến.  Ngược lại, trong những năm 1970, Hawking cũng đã chỉ ra rằng lỗ đen có thể từ từ thu hẹp lại và phát ra “bức xạ Hawking”. Trong trường hợp đó, về nguyên tắc, đường chân trời sự kiện sẽ dần trở nên nhỏ hơn so với đường chân trời biểu kiến. Giả thuyết mới của Hawking là đường chân trời biểu kiến mới là ranh giới thực sự. “Không có đường chân trời sự kiện cũng tức là không có lỗ đen nào cả, nếu hiểu theo nghĩa lỗ đen là các cơ chế ánh sáng không thể lọt qua,” Hawking viết.  “Bức tranh mà Hawking vẽ ra có vẻ hợp lý,” Don Page, nhà vật lý học kiêm chuyên gia về lỗ đen tại trường Đại học Alberta, Edmonton, Canada, người từng hợp tác với Hawking trong thập niên 1970, đã phát biểu như vậy. “Có thể có người cho rằng việc đưa ra giả thuyết không có đường chân trời sự kiện là cực đoan, nhưng tất cả đều là các điều kiện lượng tử. Trong khi đó, chúng ta vẫn còn mơ hồ về định nghĩa không-thời gian, chưa kể đến việc chưa có ai chắc chắn rằng có tồn tại một vùng gọi là đường chân trời sự kiện”.  Dù đồng ý với giả thuyết của Hawking rằng lỗ  đen có thể tồn tại mà không cần có đường chân trời sự kiện, song Page vẫn đặt câu hỏi rằng liệu phát hiện đó có đủ để giải quyết nghịch lý bức tường lửa hay không. Ông cũng nhắc nhở rằng sự hiện diện của đường chân trời biểu kiến, dù mong manh, cũng có thể mang lại những rắc rối tương tự như đường chân trời sự kiện.  Khác với đường chân trời sự kiện, đường chân trời biểu kiến có thể biến mất. Page cho rằng Hawking đang mở ra một tình huống mới mang ý nghĩa thay đổi cơ bản, theo đó “về lý thuyết, bất kỳ thứ gì cũng có thể thoát ra khỏi lỗ đen.” Tuy trong bài viết của mình, Hawking không nêu cụ thể đường chân trời biểu kiến sẽ biến mất như thế nào, song Page cho rằng khi nó co hẹp lại tới một kích cỡ nào đó, thì các tác động của cả cơ học lượng tử và hấp dẫn sẽ đồng thời phát huy, nên dễ hiểu rằng nó có thể biến mất. Khi đó, những gì từng bị giữ trong lỗ đen sẽ được giải phóng ra ngoài (tuy rằng chúng sẽ không còn giữ được hình dạng ban đầu).  Nếu Hawking đúng, thì ngay cả điểm kỳ dị ở tâm lỗ đen cũng có thể không tồn tại. Thay vào đó, vật chất sẽ chỉ bị giữ lại tạm thời phía sau đường chân trời biểu kiến, và nó sẽ dần dần di chuyển vào phía trong do lực hút của lỗ đen, nhưng không bị nghiền nát ở tâm lỗ đen. Thông tin về vật chất này tuy không bị tiêu hủy nhưng lại bị nhiễu loạn tới mức khi vật chất được giải phóng qua bức xạ Hawking, nó sẽ có một hình dạng hết sức khác biệt, khiến ta không thể nhận ra vật chất đó trước khi bị nuốt vào lỗ đen là gì.  “Điều đó còn tồi tệ hơn việc tìm cách khôi phục lại nguyên trạng cuốn sách đã bị đốt thành tro,” Page nói. Trong bài viết của mình, Hawking so sánh điều đó với việc dự báo thời tiết: về lý thuyết là có thể, nhưng trên thực tế thì rất khó mà thực hiện cho chính xác.  Trong khi đó, Polchinski lại hồ nghi về việc có tồn tại lỗ đen không có đường chân trời sự kiện. Theo ông, những thăng giáng mạnh cần thiết để có thể xóa bỏ đường chân trời sự kiện là quá hiếm hoi trong vũ trụ. “Trong trường hấp dẫn của Einstein, đường chân trời của lỗ đen cũng không có quá nhiều khác biệt so với các vùng khác trong không gian. Trong vùng lân cận, chúng ta chưa từng chứng kiến không-thời gian thăng giáng, nên việc này khó mà xảy ra trên diện rộng được,” Polchinski nói.       Thu Trang dịch theo Nature  Cao Chi hiệu đính    Author                Quản trị        
__label__tiasang Stephen Hawking: Loài người không thể  cạnh tranh với robot      Mới đây, nhà khoa học nổi tiếng thế giới Stephen Hawking phát biểu với báo chí rằng các cố gắng của loài người nhằm tạo ra máy móc có trí tuệ sẽ đe dọa sự sống còn của chính mình, “Phát triển trí tuệ nhân tạo có thể dẫn đến sự hủy diệt loài người,” ông nói.    Lời cảnh báo của Hawking nhằm trả lời câu hỏi có nên sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo vào việc cải tiến hoàn thiện thiết bị thông tin mà ông đang dùng.   Giáo sư Hawking nói, hiện nay các dạng ban đầu của trí tuệ nhân tạo đã chứng tỏ nó rất hữu dụng, nhưng ông e ngại rằng việc sáng tạo ra những thứ ngang bằng, thậm chí vượt trí tuệ loài người, sẽ đem lại hậu quả tai hại. Ông nói: “Nó có thể tự khởi động và tự thiết kế lại với tốc độ không ngừng tăng lên. Còn con người thì bị hạn chế bởi quá trình tiến hóa sinh học chậm chạp, căn bản không thể cạnh tranh với nó và cuối cùng sẽ bị nó vượt qua”. Stephen Hawking còn cho rằng, về dài hạn, trí tuệ nhân tạo là “mối đe dọa lớn nhất đối với sự sinh tồn của loài người”.  Hawking mắc chứng xơ cứng teo cơ một bên (ALS), miệng méo nặng không nói được, buộc phải liên hệ với thế giới bên ngoài theo cách sử dụng một hệ thống thiết bị thông tin mới do công ty Intel nghiên cứu triển khai, có khả năng biến ý nghĩ của con người thành lời nói của máy. Tuy rằng trong mấy năm qua, trí tuệ nhân tạo phát triển rất nhanh nhưng bộ phận âm thanh trong thiết bị thông minh mà Hawking đang dùng vẫn chưa có sự thay đổi. Hawking thừa nhận tiếng nói của ông nghe vẫn là tiếng của máy móc, nhưng ông kiên trì ý kiến không muốn tiếng nói của ông được tự nhiên hơn, nghĩa là không cần cải tiến thiết bị ông đang dùng. “Giọng nói này đã trở thành biểu tượng của tôi, tôi không muốn nó biến thành tiếng nói với giọng English tự nhiên hơn.”   HH dịch theo bbc.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Stephen Hawking sẽ vào vũ trụ      Nhà toán học kiêm vật lý thiên tài người Anh, giáo sư Stephen Hawking, đang có kế hoạch bay vào vũ trụ. Theo tờ Daily Telegraph, chuyến bay của ông sẽ diễn ra vào năm 2009.    Chuyến bay vào không gian của Hawking phụ thuộc vào chương trình du lịch không gian của hãng Virgin Galactic của ông trùm tư bản người Anh Richard Branson. Chương trình này nhắm đến việc đưa nhiều du khách vào quỹ đạo Trái đất vào năm tới.  Tờ báo này cũng cho biết ông trùm Richard sẽ tài trợ cho chuyến đi của Hawking, với chi phí ước khoảng 100.000 bảng Anh (193.000 USD).  Giáo sư Hawking, 64 tuổi, mắc chứng bệnh thần kinh vận động từ năm 21 tuổi và phải ngồi trên chiếc xe lăn suốt đời, đã giành được nhiều vinh quang với những công trình nghiên cứu về không gian – thời gian, vụ nổ lớn, lỗ đen… Ông là tác giả cuốn sách Lược sử thời gian, bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới.  TƯỜNG VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Stephen Hawking: Tôi thua cược 100 USD      Năm 2008, nhà vật lý thiên thể người Anh  Stephen Hawking đánh cược với GS. Gordon Kane ở Đại học Michigan là giới  khoa học sẽ không thể nào tìm thấy Higgs boson, và chuyện cá cược này  làm Higgs bực mình.  &#160;    Từ năm 2010, sau khi Trung tâm Nghiên cứu  Hạt nhân châu Âu CERN lắp đặt xong máy gia tốc hạt lớn LHC, hai nhóm nhà  khoa học độc lập tiến hành hai thí nghiệm CMS và ATLAS liên tục dùng  LHC thực hiện các thí nghiệm để tìm kiếm hạt Higgs boson. Và cuối năm  2011 từ CERN đã rộ lên tin tức về khả năng thí nghiệm này sắp thành  công.     Ngày 4/7 vừa qua CERN chính thức công bố kết quả: cả hai nhóm nói trên đã tìm thấy một loại hạt hạ nguyên tử (tức nhỏ hơn nguyên tử) mới, có khối lượng khoảng 126 GeV, “phù hợp với các định dạng về hạt Higgs”. Kết quả này đạt được ở cấp độ thống kê 5 sigma, tức độ chính xác 99,99998%, mức được coi là một phát hiện.  Trước đó, ngày 2/7 Phòng Thí nghiệm Máy gia tốc hạt Quốc gia Fermi (Fermilab) của Bộ Năng lượng Mỹ đặt tại Batavia bang Illinois thông báo họ tiến gần tới kết quả chứng minh sự tồn tại của hạt Higgs. Nhưng Fermilab với máy gia tốc Tevatron (hoạt động từ năm 1985) công suất nhỏ hơn LHC, chỉ đạt được cấp độ thống kê 2,9 sigma, vì thế họ muốn chờ công bố từ CERN, nơi có máy gia tốc lớn nhất thế giới.           Năm 1964,  khi Peter Higgs đưa ra giả thiết về sự tồn tại hạt Higgs, nhiều nhà  khoa học nổi tiếng, kể cả Werner Heisenberg đáng kính chủ nhân giải  Nobel vật lý 1932, đã chê trách ông “thiếu hiểu biết về vật lý”. Một tạp  chí khoa học của CERN từ chối đăng bài viết của Higgs.         CERN và Fermilab đều tỏ ra cực kỳ thận trọng khi công bố kết quả nói trên; họ chỉ nói đã phát hiện ra một loại hạt mới có tính chất gần như hạt Higgs. Bản thân Peter Higgs cũng từ chối mọi lời phỏng vấn. Có lẽ phải chờ một thời gian nữa mới có thể kết luận đây chính là hạt Higgs. Nhưng Rolf Heuer Tổng Giám đốc CERN nói: “Nếu là người ngoài cuộc thì tôi sẽ nói đã tìm ra (hạt Higgs)”.   Dù sao kết quả do Fermilab và CERN công bố có lẽ đã làm Hawking thay đổi quan điểm, bởi năm 2008, nhà vật lý thiên thể người Anh Stephen Hawking đánh cược với GS. Gordon Kane ở Đại học Michigan là giới khoa học sẽ không thể nào tìm thấy Higgs boson, và chuyện cá cược này làm Higgs bực mình.  Hôm 4/7 trả lời nhà báo Pallab Ghosh của đài BBC [xem video phỏng vấn theo http://www.bbc.co.uk/ news/science-environment-18708626] về chuyện CERN công bố thông tin họ đã phát hiện ra một loại hạt giống như hạt Higgs, Hawking nói Peter Higgs xứng đáng nhận giải Nobel, và ông đã thua cược 100 USD; nhưng ông nói thêm là việc khám phá loại hạt mới này rất tốn kém.   Quả vậy, hạt được gọi là giống như hạt Higgs ấy chỉ lộ diện sau khi phân tích kết quả 500 triệu triệu vụ va chạm ngược chiều hai chùm proton trong cỗ máy LHC trị giá 10 tỷ USD. Đây là công sức làm việc cật lực mấy năm nay của hai nhóm thí nghiệm CMS và ATLAS với tổng số 5100 nhà khoa học đến từ khắp 5 châu, và mạng lưới gồm khoảng 1 triệu máy tính trên khắp thế giới cộng tác trong việc phân tích các số liệu thí nghiệm.  Vì chưa thể khẳng định đã tìm ra Higgs boson nên có lẽ Ủy ban xét giải Nobel đang đau đầu vì chuyện có nên trao giải thưởng cao quý này cho Peter Higgs và những người đã đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của hạt Higgs hay không. Nếu chờ sang năm hoặc sau nữa mới xét thì chắc gì các nhà khoa học này còn sống trên đời, mà giải Nobel lại không trao cho người đã quá cố. Hơn nữa giải chỉ trao cho tối đa 3 người, mà nhóm kể trên lại có những 5 người.                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Steven Weinberg, người đem đến đột phá trong vật lý qua đời ở tuổi 88      Những khám phá của ông đã đem lại những hiểu biết vô cùng sâu sắc về các lực cơ bản đóng vai trò quan trọng trong vũ trụ. Tác phẩm “The First Three Minutes: Modern View of the Origin of the Universe” (Ba phút đầu tiên: Cái nhìn hiện đại về nguồn gốc của vũ trụ) – một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất của ông cho độc giả đại chúng.      Steven Weinberg là nhà vật lý lý thuyết khám phá ra hai trong số bốn lực cơ bản của vũ trụ, được trao giải Nobel vật lý năm 1979 do hợp nhất tương tác yếu và tương tác điện từ giữa các hạt cơ bản. Ông cũng là người giúp đặt nền móng cho sự phát triển của Mô hình Chuẩn, một lý thuyết phân loại các hạt cơ bản đã biết trong vũ trụ, tạo ra một trong số những đột phá quan trọng của vật lý thế kỷ 20. Ông đã qua đời tại một bệnh viện tại Austin, Texas ở tuổi 88.  Trong sự nghiệp của mình, ông không chỉ nhận được sự kính trọng của đồng nghiệp về những năng lực và những hiểu biết sâu sắc về khoa học mà còn được ngưỡng mộ về khả năng hiếm có trong việc truyền đạt và giải thích với công chúng những khái niệm khoa học trừu tượng, khó hiểu. Ông đã viết nhiều cuốn sách phổ biến khoa học, trong đó nổi tiếng nhất là “The First Three Minutes: A Modern View of the Origin of the Universe” (xuất bản năm 1977).  Công trình mà ông được trao giải Nobel năm 1979 đã tạo ra một tác động lớn làm thay đổi vật lý, cụ thể là sự phát triển của cơ học lượng tử, vốn để hiểu và giải thích cái gì xảy ra trong thế giới hạ nguyên tử.  Có bốn lực đã biết trong vũ trụ của chúng ta: hấp dẫn; điện từ; tương tác mạnh liên kết các hạt nhân của các nguyên tử với nhau; và lực tương tác yếu, vốn là nguyên nhân dẫn đến phân rã phóng xạ. Hai lực đầu tiên đã được biết đến trong nhiều thế kỷ nhưng hai lực khác thì được khám phá chỉ trong hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20.  Trong những thập kỷ tiếp theo, các nhà vật lý đã rất khó khăn để tìm ra một lý thuyết có thể tập hợp tất cả các lực lại với nhau, hoặc điều mà Einstein gọi là lý thuyết cho tất cả. Dẫu đã có những khám phá quan trọng, cụ thể là các hạt mới với những cái tên lạ như các hạt quarks (những hợp phần cơ bản của các proton  and neutron trong các hạt nhân) và các lepton (vốn bao gồm cả các điện tử là các hạt đặc biệt mà người ta gọi là các muon và các tau), thì một lý thuyết hợp nhất hoặc một mô hình hợp nhất vẫn còn lảng tránh các nhà vật lý.  Vào năm 1967, tiến sĩ Weinberg bắt đầu sử dụng lý thuyết gauge để nghiên cứu về những tương tác trong lực yếu. Lý thuyết này được nhà vật lý người Anh James Clerk Maxwell phát triển trong thế kỷ 19 để giải thích hiện tượng điện từ. Trong những năm 1950, Robert Mills và Dương Chấn Ninh (giải Nobel vật lý năm 1957) đã dùng để hiểu về tương tác mạnh.  Nhưng ứng dụng của tiến sĩ Weinberg để hiểu về tương tác yếu sớm gặp phải một vấn đề. Điện từ là một lực tác động ở các khoảng cách lớn nhưng lực yếu chỉ tác động ở khoảng cách vô cùng nhỏ – nhỏ hơn hạt nhân của một nguyên tử. Trong điện từ, khi hai hạt như các electron va chạm, chung trao đổi một hạt trung tâm không khối lượng là photon, vốn được biết là gauge boson. INếu hai hạt va chạm do lực tương tác yếu, lý thuyết gauge đòi hỏi – bởi khoảng cách ngắn của tương tác- là các gauge boson trao đổi phải có khối lượng và mang điện tích.  Thật may mắn nhiều năm sau, các nhà vật lý đã tìm ra cách để tạo ra khối lượng cho gauge bosons gọi là cơ chế Higgs – mang tên Peter Higgs,  một nhà vật lý người Anh, dự đoán sự tồn tại của một hạt chưa biết phản hồi về việc trao cho các hạt khác khối lượng của chúng. Hạt này đã mang tên Higgs boson vào năm 2012, đem đến cho tiến sĩ Higgs và đồng nghiệp của ông là François Englert giải Nobel vật lý vào năm 2013.  Hướng về một lý thuyết thống nhất  Sử dụng ý tưởng mới, tiến sĩ Weinberg đã tạo ra một mô hình trong đó tương tác yếu đem lại khối lượng, ít nhất bằng các tiêu chuẩn nguyên tử, các hạt gauge boson. Ông gọi chúng là bosons W và Z.  Lý thuyết của ông cũng dự đoán được một số va chạm – ví dụ giữa hai hạt trung hòa điện tích là neutron và neutrino. Weinberg đã đưa ra lý thuyết có một mối liên kết giữa photon với boson W và Z, qua đó đề xuất chúng được tạo ra bằng cùng một lực. Kết luận này là tại những mức năng lực rất cao, lực điện từ và lực yếu đều là một. Đó là một bước tiến trên con đường tới lý thuyết thống nhất mà các nhà vật lý đang tìm kiếm.  Tiến sĩ Weinberg xuất bản phát hiện của mình vào năm 1967 trong một bài báo đột phá “A Model of Leptons” (Một mô hình của các hạt Lepton) trên Physical Review Letters. Đây là một trong những bài báo được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử.    Steven Weinberg, Abdus Salam và Sheldon Glashow cùng nhận giải Nobel năm 1979. Nguồn: Nobel Prize  Làm việc một cách riêng rẽ, tiến sĩ Abdus Salam, một nhà vật lý lý thuyết Pakistan, có cùng kết luận với tiến sĩ Weinberg. Mô hình của họ được biết đến với tên gọi Lý thuyết Weinberg-Salam. Đó là một cuộc cách mạng, không chỉ cho đề xuất sự thống nhất của lực điện từ và lực yếu mà còn tạo ra một hệ phân loại các khối lượng và điện tích cho mọi hạt cơ bản, do đó hình thành nền tảng cho Mô hình Chuẩn, vốn bao gồm tất cả các lực, trừ hấp dẫn.  Sự tồn tại của dòng trung hòa được xác nhận bằng thực nghiệm vào năm 1973, và phải mất cả thập kỷ nữa để xác nhận boson W và Z, với đóng góp của Carlo Rubbia và Simon van der Meer tại CERN, cuối cùng đem lại cho họ giải Nobel năm 1984.  Weinberg, Salam và Sheldon Lee Glashow – một người bạn học phổ thông của Weinberg đã giải được một vấn đề khó với mô hình Weinberg-Salam, đã cùng nhận giải Nobel năm 1979 “cho những đóng góp của họ với lý thuyết của tương tác yếu và điện từ giữa các hạt cơ bản”.  Sau khi biết tin tiến sĩ Weinberg qua đời, John Carlos Baez, một nhà vật lý lý thuyết tại trường California, Riverside, viết trên Twitter: “Chỉ có một vài ví dụ về sự hợp nhất. Newton hợp nhất sự hấp dẫn của trái đất và bầu trời — những quả táo và những hành tinh. Maxwell hợp nhất điện và từ. Weinberg, Glashow và Salam hợp nhất lực điện từ và lực yếu”.  Những đóng góp to lớn của tiến sĩ Weinberg còn vượt khỏi phạm vi hình thành Mô hình Chuẩn.  Trong những năm 1960, sau khi khám phá ra bức xạ nền vũ trụ, dấu hiệu nhiệt còn sót lại từ Big Bang ở buổi bình minh vũ trụ, tiến sĩ Weinberg bắt đầu nghiên cứu về vũ trụ, dẫn đến cuốn sách “Gravitation and Cosmology” năm 1972. Sau đó, ông được mời đến nói về chủ đề trên tại trung tâm khoa học tại Harvard. Trong bài giảng, ông miêu tả ba phút sau Big Bang, khi nhiệt độ giảm đủ để các hạt nhân nguyên tử liên kết với nhau và bình luận “Sau đó thì trong lịch sử vũ trụ, không có cái gì đáng quan tâm xảy ra nữa”.  Ông viết nhiều sách, bao gồm một trong những cuốn về lịch sử khoa học “To Explain the World: The Discovery of Modern Science” (2015), và ba tập dày 1.500 trang về lý thuyết trường lượng tử, trong đó sáp nhập vật lý cổ điển, thuyết tương đối hẹp và cơ học lượng tử. Bộ sách này được biết đến rộng rãi như một cuốn sách chính thức về chủ đề trường lượng tử.  Tiến sĩ Willy Fischler, một nhà lý thuyết được tiến sĩ Weinberg tuyển dụng vào khoa Vật lý ở trườn đại học Texas, Austin, vào năm 1982, nói công trình lớn lao nhất của ông có thể là việc phát triển lý thuyết trường hiệu dụng, vốn đem lại một phương pháp toán học để sử dụng cho các thực nghiệm năng lượng thấp để dò hiệu ứng của các hạt năng lượng cao không thể quan sát hoặc đo đạc một cách trực tiếp. Tiến sĩ Fischler gọi ông là cha đẻ của lý thuyết trường hiệu dụng.  Steven Weinberg sinh ra tại New York City vào ngày 3/5/1933, là con duy nhất của Frederick và Eva (Israel) Weinberg. Cha ông là một người viết tốc ký ở tòa án, mẹ làm nội trợ.  Trong một cuộc phỏng vấn năm 2001, điều khiến ông quan tâm đến khoa học là khi một người họ hàng đặt vào tay ông một bộ sách hóa học do quan tâm đến boxing. “Lẽ ra ông ấy phải ở lại với khoa học”, tiến sĩ Weinberg nói.  Ông học ở trường Bronx High School of Science, nơi gặp gỡ và kết bạn với Sheldon Lee Glashow. Sau khi tốt nghiệp trường Cornell vào năm 1954, ông đến Viện nghiên cứu lý thuyết ở Copenhagen,  sau đổi tên thành Viện Niels Bohr. Weinberg trở lại Mĩ năm 1955 để làm nghiên cứu sinh tại Princeton tại Sam Treiman, một nhà vật lý lý thuyết.  Tiến sĩ Weinberg cưới Louise Goldwasser năm 1954; họ gặp nhau tại Cornell. Vào năm 1980, bà Weinberg làm việc tại trường Texas, Austin với tư cách giáo sư luật. Weinberg cùng vợ làm việc tại Texas vào năm 1982, trở thành giáo sư vật lý và thiên văn.  Tiến sĩ Weinberg được quyền tạo ra một nhóm nghiên cứu vật lý lý thuyết ở Texas và tuyển dụng các giáo sư cho nhóm, với tám giáo sư và năm trợ lý giáo sư. Đây là một trong những trung tâm hàng đầu về nghiên cứu vật lý ở Mĩ. Tiến sĩ Fischler, người vẫn tiếp tục làm việc với nhóm lý thuyết, nói về Weinberg, “Ông ấy có tài khéo trong việc đánh giá những vấn đề quan trọng, không chỉ ở tầm quan trọng của nó mà cả những gì có thể giải quyết được”.  Tiến sĩ Weinberg không bao giờ nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục dạy cho đến mùa xuân năm nay.  Bên cạnh giải Nobel, ông nhận được rất nhiều giải thưởng khác. Năm ngoái, ông nhận được một giải thưởng Đột phá trị giá 3 triệu USD cùng nhiều người khác.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nytimes.com/2021/07/25/science/steven-weinberg-groundbreaking-nobelist-in-physics-dies-at-88.html  https://phys.org/news/2021-07-nobel-prize-winning-physicist-steven-weinberg.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Stress nhẹ cũng có thể gây chứng vô sinh ở phụ nữ      Các nghiên cứu gần đây cho thấy bất kỳ sức  ép nào cũng có thể trở thành nguyên nhân gây ra chứng vô sinh ở phụ nữ.  Điều này giải thích vì sao một số cặp vợ chồng tuy chẳng hề có nguyên  nhân nào rõ ràng mà vẫn không thể sinh con.     Trang mạng Newscientist (Anh) ngày 24/3/2014 đưa tin: từ lâu các nhà khoa học đã nghi ngờ về mối quan hệ giữa stress trong đời sống hằng ngày với chứng vô sinh ở phụ nữ nhưng họ chưa hề có chứng cớ xác đáng để liên hệ hai chuyện đó với nhau. Ước tính ở Anh có khoảng một phần bảy số cặp vợ chồng gặp khó khăn về sinh con, trong đó một phần tư không nhận được sự giải thích y học lý do họ không thể sinh con, mà chỉ nhận được lời chẩn đoán “chứng vô sinh không rõ nguyên nhân”.  Nhằm mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của stress đối với chứng vô sinh, bà Courtney Lynch ở Đại học bang Ohio và các đồng nghiệp đã thu thập mẫu nước bọt (saliva samples) của 373 phụ nữ Mỹ bắt đầu chuẩn bị thụ thai, đo mức độ alpha-amylase, là một chất enzyme gây ra chứng stress, vì thế còn gọi là stress enzyme, vì nó thể hiện mức độ cao thấp của sức ép đối với con người.  Sau một năm có quan hệ tình dục theo quy luật và không dùng biện pháp tránh thai, 13% số phụ nữ này không thể có thai; đây là mức chuẩn của chứng vô sinh [tương đương 1/7]. Khả năng vô sinh của 1/3 số phụ nữ có mức độ alpha-amylase cao nhất thì gấp đôi số 1/3 phụ nữ có mức độ alpha-amylase thấp nhất.  Trong các nghiên cứu trước đó, nhóm của Lynch từng phát hiện khả năng thụ thai của các phụ nữ có mức độ stress enzyme tương đối cao trong tháng đầu tiên muốn mang thai thì hơi thấp. Đây là lần đầu tiên nhóm nghiên cứu tìm ra được mối liên hệ giữa chất alpha-amylase với chứng vô sinh theo ý nghĩa lâm sàng.   Tuy vậy nghiên cứu đó chưa vạch ra cơ chế của mối quan hệ này, nhóm cũng chưa điều tra xem mức độ stress của người chồng có ảnh hưởng gì tới chứng vô sinh của người vợ. Bà Melanie Davies ở Bệnh viện trực thuộc University College London cho rằng có thể stress gây ảnh hưởng trực tiếp, đơn giản chỉ vì những người bị stress thì ít làm tình.  Trước đây Jacky Boivin ở Đại học Cardiff (Anh Quốc) từng chứng minh stress không ảnh hưởng gì tới chứng vô sinh ở các cặp vợ chồng chấp nhận thụ tinh nhân tạo (IVF); bà cảnh báo: các kết quả nghiên cứu mới đây sẽ làm tăng sức ép lên mọi người, “Có lẽ các cặp vợ chồng nên coi trọng những vấn đề khác, như tăng số lần quan hệ tình dục, bỏ thuốc lá v.v…”   Nhưng Lynch không nghĩ như vậy, bà cho rằng nếu đã biết một số ca vô sinh không rõ nguyên nhân là do stress gây ra thì các cặp vợ chồng nên có hành động tìm cách giảm sức ép.  “Nếu bạn khó thụ thai và tình trạng đó đã kéo dài năm sáu tháng rồi thì xem ra bạn nên nghĩ đến chuyện giảm stress,” Lynch nói. “Yoga, thiền hoặc tập thể dục hằng ngày đều có thể giảm được stress. Điều tốt nhất là tìm được một phương thức giảm stress thích hợp với lối sống của bạn”.    Nguyễn Hải Hoành dịch theo  http://www.newscientist.com/article/dn25274-even-low-levels-of-stress-could-cause-infertility.html#.Uzv04aIxiek    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự bất định của khoa học và các giá trị      Richard P. Feynman (1918-1988) là nhà vật lý lý thuyết người Mỹ được trao giải thưởng Nobel vì những cống hiến quan trọng trong việc xây dựng lý thuyết điện động lực học lượng tử. Tên của ông gắn với phương pháp giản đồ (Feynman diagrams) mà tất cả những người nghiên cứu vật lý lý thuyết đều biết. Feynman được tôn vinh với nhiều giải thưởng và danh hiệu. Ông là tác giả của bộ sách Những bài giảng vật lý của Feynman (Feynman Lectures on Phyics) rất nổi tiếng cũng như nhiều tác phẩm về khoa học dành cho những người bình thường. Một trong số đó là tác phẩm Ý nghĩa của tất cả mọi thứ (The meaning of it all) – ghi chép lại ba bài giảng tại Đại học Washington (Seattle) năm 1963. Ba bài giảng có nhan đề lần lượt là: Sự bất định của khoa học (The Uncertainty of Science), Sự bất định của các giá trị (The Uncertainty of Values), Cái thời đại không khoa học này (This Unscientific Age).  Dưới đây là một số trích đoạn của bài giảng thứ nhất và thứ hai.    Quy luật cũ có thể không đúng. Làm sao mà một quan sát lại có thể không đúng? Nếu nó đã được kiểm tra cẩn thận, làm sao lại có thể sai? Tại sao các nhà vật lý lại cứ luôn thay đổi các quy luật? Câu trả lời là: thứ nhất, các quy luật không phải là những quan sát, và thứ hai, các thí nghiệm luôn luôn không chính xác. Các quy luật là những quy luật được phỏng đoán, là những ngoại suy, chứ không phải là thứ gì đó mà các quan sát khẳng định. Những quy luật chính là những phỏng đoán tốt cho tới nay vẫn lọt qua được cái rây lọc. Và sau này lại xảy ra việc có được cái rây lọc có lỗ nhỏ hơn những rây lọc trước kia đã dùng, và lúc ấy thì định luật bị [rây lọc] mắc lại. Vậy những định luật là được phỏng đoán; chúng là những ngoại suy cho cái còn chưa biết. Anh không biết sẽ xảy ra điều gì, vậy nên anh đoán thử.  Thí dụ như người ta đã tin – người ta đã khám phá – là sự chuyển động không ảnh hưởng đến trọng lượng của một vật – là nếu anh quay con cù và cân nó, rồi sau lại cân nó khi nó đứng yên, trọng lượng của con cù vẫn như vậy. Đó là kết quả của một quan sát. Thế nhưng anh không thể cân một cái gì đó thật chính xác đến một phần tỷ. Song nay thì ta hiểu rằng một con cù đang quay cân nặng hơn con cù đứng yên một chút xíu, ít hơn một phần tỷ. Nếu con cù quay đủ nhanh sao cho tốc độ của mép ngoài con cù đạt tới 186.000 dặm (miles) một giây, thì trọng lượng của nó tăng đáng kể – nhưng phải tới mức đó mới được. Những thí nghiệm đầu tiên được thực hiện với những con cù quay chậm hơn tốc độ 186.000 dặm một giây rất nhiều. Lúc đó người ta tưởng rằng khối lượng của con cù đang quay và con cù đứng yên đích xác là như nhau, và ai đó đã phỏng đoán là khối lượng không bao giờ thay đổi [khi chuyển động].                     Sao mà ngớ ngẩn thế! Thật là ngốc nghếch! Đây chỉ là một quy luật được phỏng đoán, một sự ngoại suy. Sao anh ta lại làm một việc không khoa học đến thế? Ở đây không có gì là không khoa học cả; đó chỉ là sự bất định. Nếu không phỏng đoán thì mới là không khoa học. Cần phải phỏng đoán bởi vì chỉ có những ngoại suy mới có được giá trị thực nào đó. Đó là nguyên tắc duy nhất đáng nên biết về cái mà anh nghĩ sẽ xảy ra trong trường hợp anh chưa thử. Tri thức chẳng có chút giá trị thực nào, nếu tất cả những gì anh có thể nói cho tôi biết là cái đã xảy ra ngày hôm qua. Cần thiết là phải nói được cái gì sẽ xảy ra ngày mai, nếu anh làm một cái gì đó – đó không những là cần thiết mà còn thú vị nữa. Chỉ có điều anh phải thật mong muốn dính líu sâu vào việc này.  Mọi định luật khoa học, mọi nguyên lý khoa học, mọi phát ngôn kết quả của một quan sát đều là một thứ tổng kết nào đó đã bỏ qua những chi tiết, bởi vì không có cái gì có thể phát ngôn thật chính xác. Con người đơn giản là quên mất – lẽ ra anh ta phải phát ngôn định luật: “khối lượng không thay đổi nhiều khi tốc độ không cao lắm.” Trò chơi là phải tạo ra định luật đặc thù rồi sau đó xem thử nó có đi qua được cái rây lọc hay không. Cho nên sự phỏng đoán đặc thù là khối lượng không bao giờ thay đổi gì hết. Một khả năng đầy hứng thú! Không có hại gì hết nếu té ra không phải như thế. Đây chỉ là sự bất định, và chẳng có hại gì cả khi ở tình trạng bất định. Chẳng thà nói được điều gì đó mà mình chưa chắc chắn, còn hơn chẳng nói điều gì hết cả.  Tất cả mọi thứ chúng tôi nói trong khoa học đều là bất định, bởi vì chúng chỉ là những kết luận, đây là tất yếu và là sự thật. Chúng là những phỏng đoán xem cái gì sẽ xảy ra, và anh không thể biết được cái gì sẽ [thực sự] xảy ra, bởi vì chúng tôi còn chưa làm các thí nghiệm thật đầy đủ nhất.  Thật kỳ dị là hiệu ứng khối lượng của con cù đang quay quá nhỏ bé, anh có thể bảo rằng: ”Ồ, có khác biệt gì đâu”. Thế nhưng để có được một định luật đúng đắn, hay ít nhất cũng đi lọt qua được những rây lọc liên tiếp gắn với nhiều quan sát hơn nữa, lại đòi hỏi phải có trí tuệ và trí tưởng tượng phi thường, phải có sự đổi mới hoàn toàn triết học của chúng tôi, đổi mới sự hiểu biết của chúng tôi về không gian và thời gian. Tôi đang nói đến lý thuyết tương đối. Xảy ra việc để cho những hiệu ứng nhỏ bé trở nên đáng kể luôn luôn đòi hỏi phải có những cải biến ý tưởng mang tính cách mạng nhất.  Cho nên, các nhà khoa học thường phải quan hệ với hoài nghi và bất định. Tất cả tri thức khoa học là bất định. Trải nghiệm với hoài nghi và bất định như thế là điều thật quan trọng. Tôi tin rằng đó là giá trị rất lớn và là thứ được mở rộng vượt ra ngoài khoa học. Tôi tin rằng để giải quyết bất cứ vấn đề nào trước kia chưa từng được giải quyết, anh phải hé mở cánh cửa cho sự chưa biết. Anh phải cho phép có khả năng là anh không thật đúng lắm. Nếu không thế, mà anh cứ quyết định thì anh có thể không giải quyết được vấn đề ấy.  Khi một nhà khoa học bảo với anh rằng ông ta không biết lời giải đáp, ông ta là một người không hiểu biết. Khi ông ta bảo anh rằng ông ta có một linh cảm là có thể giải quyết thế nào, ông ta đang bất định về chuyện này. Khi ông ta khá chắc chắn là sẽ giải quyết thế nào và ông ta bảo anh rằng: “Theo cách này thì sẽ giải quyết được, tôi đánh cuộc với anh đó,” ông ta vẫn còn có đôi chút hoài nghi. Và điều cực kỳ quan trọng để đạt được tiến bộ là chúng tôi thừa nhận sự không hiểu biết ấy, nỗi hoài nghi ấy. Bởi vì khi chúng tôi có hoài nghi, chúng tôi sẽ đề xuất tìm kiếm những ý tưởng mới theo những phương hướng mới. Loại việc phát triển khoa học không phải là cái loại việc mà anh chỉ quan sát không thôi, nhưng quan trọng hơn nhiều là loại việc mà anh sáng tạo ra những thứ mới mẻ để thí nghiệm.  Nếu chúng tôi không có khả năng hay không mong muốn nhìn theo bất cứ phương hướng mới nào, nếu chúng tôi không có hoài nghi hay thừa nhận sự không hiểu biết, chúng tôi hẳn đã không có được một ý tưởng mới nào hết. Hẳn đã chẳng có cái gì đáng để kiểm tra lại, bởi vì chúng tôi hẳn đã biết rõ cái gì là đúng. Vậy nên ngày nay cái mà chúng tôi gọi là tri thức khoa học chính là một khối các phát ngôn của sự bất định ở những mức độ khác nhau. Một số phát ngôn là không chắc chắn nhiều nhất; một số khác là gần như chắc chắn; nhưng chẳng có phát ngôn nào là tuyệt đối chắc chắn cả. Các nhà khoa học quen thuộc với chuyện này. Chúng tôi biết rằng sống và không hiểu biết là chuyện phù hợp với nhau. Một số người bảo rằng: “Làm sao anh sống được mà không hiểu biết?” Tôi không hiểu họ muốn nói gì. Tôi luôn luôn sống mà không hiểu biết. Thật là dễ dàng. Làm cách nào mà anh hiểu biết, ấy chính là điều tôi muốn biết.  Quyền tự do được hoài nghi này là vấn đề quan trọng trong khoa học và tôi tin rằng [nó quan trọng] cả trong những lĩnh vực khác nữa. Quyền tự do ấy là thành quả của một cuộc đấu tranh. Đó là cuộc đấu tranh để được phép hoài nghi, để được cảm thấy không chắc chắn. Và tôi không muốn chúng ta quên đi tầm quan trọng của cuộc đấu tranh và để cho mọi thứ tiêu tan vì bỏ cuộc. Tôi cảm thấy có trách nhiệm với tư cách nhà khoa học, là người biết rõ giá trị to lớn của triết lý thật thỏa đáng của sự không hiểu biết, và sự tiến bộ trở thành khả dĩ là nhờ triết lý như thế, sự tiến bộ là kết quả của quyền tự do tư tưởng. Tôi cảm thấy có trách nhiệm phải tuyên bố giá trị của quyền tự do ấy, và dạy dỗ nỗi hoài nghi đó không phải là chuyện cần phải e ngại mà là chuyện cần phải hoan nghênh như một khả năng có tiềm lực mới mẻ cho loài người. Nếu anh biết là anh không chắc chắn lắm, anh có cơ hội để cải tiến tình hình. Tôi muốn yêu cầu quyền tự do ấy cho những thế hệ tương lai.  Hoài nghi rõ ràng là một giá trị trong khoa học. Liệu có phải như thế không trong các lĩnh vực khác là vấn đề còn để ngỏ và là chuyện còn bất định. Tôi dự tính trong những bài giảng tiếp theo sẽ thảo luận chính về điểm này và sẽ cố gắng chứng minh rằng hoài nghi là quan trọng và hoài nghi không phải là thứ đáng sợ mà là thứ có giá trị lớn.  ***  Chúng ta đều thấy buồn khi chúng ta nghĩ đến những tiềm lực thần kỳ mà con người hình như có được và khi chúng ta đối chiếu những tiềm lực ấy với những thành tựu thật nhỏ bé mà chúng ta đạt được. Hết lần này đến lần khác người ta đã nghĩ rằng chúng ta hẳn đã có thể làm tốt hơn nhiều. Trong quá khứ, vào những thời kỳ tăm tối đáng sợ, người ta đã có những giấc mơ về tương lai, chúng ta là những người ở trong tương lai của họ, dù nhiều giấc mơ đã được thực hiện vượt quá mong đợi, nhưng phần nhiều chúng ta cũng vẫn đang có cùng những giấc mơ ấy. Những hy vọng cho tương lai ngày nay phần lớn cũng vẫn là những hy vọng trước kia. Có những lúc nào đó người ta đã nghĩ rằng sở dĩ cái tiềm năng ấy đã không phát triển được là bởi vì mọi người đều không hiểu biết và nền giáo dục ắt là lời giải cho vấn đề, rằng nếu mọi người đều được giáo dục thì hẳn tất cả chúng ta đều thành những Voltaire hết. Nhưng té ra là những điều dối trá và xấu xa độc ác có thể được giảng dạy cũng dễ dàng như những điều tốt. Giáo dục là một sức mạnh to lớn, nhưng nó có thể hoạt động theo cách này hay cách kia. Tôi cũng đã nghe thấy người ta bảo là thông tin liên lạc giữa các quốc gia phải dẫn đến một sự hiểu biết lẫn nhau và như thế là lời giải cho vấn đề phát triển những tiềm lực của con người. Thế nhưng những phương tiện thông tin có thể thành kênh truyền định hướng và bị làm tắc nghẽn. Những gì được thông tin có thể là những lời nói dối cũng như là sự thật, là những lời tuyên truyền cũng như là thông tin thực sự và có giá trị. Thông tin liên lạc cũng là một sức mạnh, nhưng phục vụ hoặc cho thiện hoặc cho ác. Những khoa học ứng dụng cũng đã có lúc tưởng rằng sẽ giải phóng con người ít nhất cũng thoát khỏi những khó khăn vật chất, và cũng đã có những điều tốt đẹp được ghi nhận, đặc biệt là y học chẳng hạn. Mặt khác, nhiều nhà khoa học nay đang làm việc trong những phòng thí nghiệm bí mật để phát triển những bệnh tật đã từng được kiểm soát rất cẩn thận.  Mọi người đều không ưa thích chiến tranh. Ngày nay giấc mơ đang là: hòa bình sẽ là lời giải đáp. Không chi phí cho vũ trang, chúng ta có thể làm bất cứ cái gì chúng ta muốn. Nhưng ngay cả hòa bình cũng là sức mạnh lớn lao phục vụ cả cho cái thiện cũng như cái ác. Làm sao hòa bình lại phục vụ cho cái ác? Tôi không biết. Chúng ta rồi sẽ thấy, nếu như có khi nào đó chúng ta có được hòa bình. Rõ ràng chúng ta có hòa bình như là một sức mạnh to lớn, cũng như ta có sức mạnh vật chất, thông tin liên lạc, nền giáo dục, tính trung thực và những lý tưởng của rất nhiều những người mơ mộng. Ngày nay chúng ta có nhiều sức mạnh kiểu này để mà kiểm soát, nhiều hơn là những người cổ đại đã có. Và có thể là chúng ta đang làm chuyện này tốt hơn đôi chút so với phần lớn những người cổ đại. Thế nhưng những gì chúng ta lẽ ra phải có khả năng làm được hình như là quá to lớn so với những thành tựu lộn xộn đã hoàn thành của chúng ta. Tại sao lại như vậy? Tại sao chúng ta lại không chinh phục được bản thân mình? Bởi vì chúng ta đã phát hiện ra rằng ngay cả những sức mạnh và những tài năng lớn lao nhất cũng không đem theo bên mình bất cứ chỉ dẫn minh bạch nào về việc sử dụng chúng ra sao. Chẳng hạn như sự tích tụ to lớn của sự hiểu biết về hành vi của thế giới vật lý chỉ thuyết phục người ta rằng hành vi ấy có kiểu cách như vô ý nghĩa. Các khoa học không trực tiếp dạy bảo người ta điều tốt và điều xấu.  Qua tất cả mọi thời đại con người đã cố gắng để hiểu thấu đáo ý nghĩa của cuộc đời. Họ nhận ra rằng nếu có một định hướng nào đó hay một ý nghĩa nào đó có thể đưa ra cho toàn thể sự vật, cho các hành động của chúng ta, khi ấy các sức mạnh to lớn của con người sẽ được khai thông. Cho nên rất nhiều câu trả lời đã được đưa ra cho câu hỏi về ý nghĩa của mọi thứ. Song những câu trả lời này lại khác nhau đủ mọi loại. Và những người ủng hộ một ý tưởng này lại nhìn vào hành động của những người tin vào một ý tưởng khác với nỗi kinh hoàng – kinh hoàng bởi vì nhìn từ những quan điểm bất đồng thì tất cả tiềm lực của cuộc chạy đua là hướng vào một lối đi sai lầm và hạn chế mù quáng. Quả thực có điều đó trong lịch sử của những thứ quái đản vô bờ được tạo nên bởi niềm tin sai lầm mà các triết gia đã đi đến chỗ thực hiện những tiềm lực phi thường và những khả năng diệu kỳ của con người.  Giấc mơ là tìm được kênh truyền mở ngỏ. Vậy ý nghĩa của mọi thứ giờ đây là gì? Chúng ta ngày nay có thể nói gì để xua tan đi vẻ huyền bí của sự hiện hữu? Nếu ta tính đến tất cả mọi điều, không phải chỉ những gì mà người cổ đại đã biết, nhưng cả những thứ chúng ta đã tìm ra được cho đến hôm nay mà người cổ đại chưa biết, thì tôi nghĩ rằng chúng ta phải thành thật thú nhận là chúng ta không biết. Thế nhưng bằng cách thừa nhận điều này, có lẽ chúng ta đã tìm được kênh truyền mở ngỏ.                   Thú nhận rằng chúng ta không biết và duy trì mãi mãi thái độ cho rằng chúng ta không biết rõ phương hướng nhất thiết phải đi theo, điều này cho phép một khả năng được thay đổi, được suy tư, được có những đóng góp mới và những phát hiện mới cho vấn đề phát triển một cách thức để làm cái mà chúng ta mong muốn cuối cùng, ngay cả khi chúng ta không biết chúng ta muốn cái gì.  Nhìn lại những thời kỳ tồi tệ nhất, có vẻ như bao giờ cũng là những thời kỳ có những người tin vào cái gì đó với niềm tin tuyệt đối và tinh thần giáo điều tuyệt đối. Và họ thật chân thành trong chuyện này đến mức họ khăng khăng đòi tất cả phần còn lại của thế giới phải đồng ý với họ. Rồi thì họ có thể làm những điều mâu thuẫn trực tiếp với những niềm tin của chính họ nhằm mục đích duy trì cái mà họ bảo là đúng.  Cho nên cũng như tôi đã triển khai trong buổi nói chuyện lần trước và tôi muốn xác nhận ở đây, rằng chính là trong việc thú nhận không hiểu biết và việc thú nhận bất định mà có được hy vọng cho sự vận động liên tục của con người về một hướng nào đó không bị hạn chế, không bị thường xuyên ngăn chặn như đã từng bị như thế biết bao lần trong những thời kỳ trước đây của lịch sử con người. Tôi nói rằng chúng tôi không biết ý nghĩa cuộc đời là gì và những giá trị đạo đức đúng đắn là gì, rằng chúng tôi chẳng có cách thức nào để chọn lựa chúng và vân vân. Không thể thảo luận gì về những giá trị đạo đức, về ý nghĩa cuộc đời và những thứ tương tự mà lại không đi tới ngọn nguồn to lớn của hệ thống đạo đức và những mô tả ý nghĩa, là những thứ ở trong lĩnh vực tôn giáo.  Nguyễn Văn Trọng dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự cần thiết của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu      Khi một nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) có thể ảnh hưởng tới các nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội, thì đơn vị nào sẽ xét duyệt cũng như hướng dẫn nhà nghiên cứu tuân thủ đúng các nguyên tắc đạo đức? Theo PGS.TS Đặng Hoàng Minh và Vũ Hồng Vân, trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, hội đồng đạo đức sẽ đáp ứng vai trò này.      Ngành y đi tiên phong trong việc xây dựng các quy định và yêu cầu các trường phải thành lập hội đồng đạo đức. Ảnh: Trường Đại học Y Dược Hải Phòng phối hợp với Cục Khoa học công nghệ, Bộ Y tế tổ chức khóa Tập huấn về thực hành lâm sàng tốt và đạo đức trong nghiên cứu ngày 09/5/2018. Nguồn: http://hpmu.edu.vn.  Khi nói tới đạo đức học thuật, chúng ta nghĩ nhiều tới đạo văn, liêm chính, nhưng ít nói tới một chức năng quan trọng khác của đạo đức học thuật, nghiên cứu là bảo vệ quyền lợi của đối tượng tham gia nghiên cứu là con người. Một hội đồng có vị trí rất quan trọng để tư vấn, giám sát các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu này là hội đồng đạo đức nghiên cứu.   Trong lịch sử khoa học, đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên con người nhưng gây tác động xấu, chính vì vậy, đã có hàng loạt các quy định về đạo đức nghiên cứu trong khoa học. Thậm chí, gần đây nhất, trong những năm 2000 vẫn có những vi phạm về đạo đức nghiên cứu nghiêm trọng khiến người tham gia nghiên cứu bị tử vong do mâu thuẫn lợi ích trong nghiên cứu và chủ nhiệm đề tài không để ý đến các thông báo trước đây về rủi ro trong thí nghiệm. Và khi xã hội ngày càng phát triển, khi mà quyền của con người nhiều hơn, thì việc chúng ta đảm bảo quyền lợi của cả nhà nghiên cứu và những người sẽ khi tham gia vào các nghiên cứu là yêu cầu rất cần thiết.  Bảo vệ và quản lý rủi ro  Vì lẽ đó, rất cần các hội đồng đạo đức nghiên cứu nhằm bảo vệ và quản lý rủi ro cho những người tham gia vào nghiên cứu, khuyến khích an toàn, sự lành mạnh của người tham gia nghiên cứu, đảm bảo việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức do các ủy ban và thể chế đặt ra, và chỉ những nghiên cứu nào tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và có ý nghĩa khoa học mới được thực hiện. Tức là không thể để các nghiên cứu có nguy cơ gây rủi ro, ảnh hưởng, có tác động xấu tới con người được thực hiện. Bởi khi thực hiện rồi, ảnh hưởng đến con người rồi, tổn thương rồi thì làm sao có thể sửa sai?  Đối với các nước phát triển, tất cả các nghiên cứu được thực hiện với con người, đều phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức học thuật và thông qua hội đồng đạo đức. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, từ năm 1981, Bộ Sức khỏe và dịch vụ, Cục thuốc và thực phẩm và các bên khác cũng đã ra các quy định liên quan đến phúc lợi xã hội, bảo vệ con người. Đến năm 1991, Chính phủ liên bang đưa ra một chính sách, quy định tất cả các ngành (danh sách 17 ngành) phải thực hiện các nguyên tắc đạo đức. Ở châu Âu, ủy ban các tổ chức quốc tế liên quan đến khoa học y tế và tổ chức y tế thế giới cũng ký các cam kết, hướng dẫn về thực hành lâm sàng tốt của châu Âu.      Rất cần các hội đồng đạo đức nghiên cứu nhằm bảo vệ và quản lý rủi ro cho những người tham gia vào nghiên cứu, khuyến khích an toàn, sự lành mạnh của người tham gia nghiên cứu, đảm bảo việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức do các ủy ban và thể chế đặt ra, và đảm bảo là chỉ những nghiên cứu nào tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và có ý nghĩa khoa học mới được thực hiện.      Còn ở các nước đang phát triển, trong khoảng 20 năm lại đây, việc xây dựng hội đồng đạo đức cũng là một vấn đề được thảo luận nhiều, bởi rất nhiều nghiên cứu của các nước đang phát triển là hợp tác với các nước phát triển và bao giờ nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển cũng nhận được câu hỏi: “vấn đề đạo đức nghiên cứu được thông qua như thế nào? Xác nhận của hội đồng đạo đức nào?”. Một nghiên cứu gần đây vào năm 2004 và 2006 đặt ra câu hỏi “các nghiên cứu viên ở các nước đang phát triển (châu Á, châu Phi và Nam Mỹ) có thông báo cho những người tham gia vào nghiên cứu của mình về việc họ tham gia vào nghiên cứu không”, đã cho kết quả là chỉ có 68% nghiên cứu có gửi thư thông báo chấp nhận nghiên cứu cho các đối tượng nghiên cứu, đồng thời chỉ có 44% các nhà nghiên cứu cho biết họ cần phải thông qua hội đồng đạo đức hoặc là các bộ ngành liên quan về vấn đề đạo đức nghiên cứu ở nước của họ. Trong 44% này thì có 1/3 số nghiên cứu được tài trợ bởi Hoa Kỳ hoặc các nước phát triển. Như vậy, nhìn chung ở các nước đang phát triển, sự tồn tại của hội đồng đạo đức vẫn còn mờ nhạt.  Trách nhiệm của cơ sở nghiên cứu   Ở Việt Nam, chính các đơn vị nghiên cứu và đào tạo cần chịu trách nhiệm về việc phải thành lập hội đồng đạo đức để đảm bảo việc tuân thủ luật pháp và các quy định liên quan đến quyền lợi, an sinh, an toàn của con người tham gia vào nghiên cứu. Một phần nữa là chịu trách nhiệm hướng dẫn giảng viên, cán bộ các quy định về đạo đức nghiên cứu, sự thật về khoa học, phòng ngừa việc làm sai và mâu thuẫn lợi ích. Ví dụ như một trường đại học tài trợ cho một nghiên cứu nào đó liên quan đến một nhóm yếu thế và làm tổn thương nhóm đó, dẫn tới bị kiện thì tất nhiên chủ nhiệm đề tài phải chịu trách nhiệm nhưng trường cũng sẽ liên đới. Do đó, đại học sẽ phải xây dựng hội đồng đạo đức độc lập của mình để bảo vệ danh tiếng của mình.  Về mặt tổ chức, hội đồng đạo đức phải độc lập với hội đồng chuyên môn (của cơ sở nghiên cứu) cũng như cơ quan tài trợ. Khi đề tài được hội đồng chuyên môn đánh giá có thể thực hiện và được tài trợ thì hội đồng đạo đức mới bình duyệt (để thông qua được hội đồng đạo đức, các nhà nghiên cứu phải viết một bản báo cáo dưới dạng ngôn ngữ dễ hiểu hơn, để cho tất cả những người trong hội đồng đạo đức có thể hiểu).  Cơ sở pháp lý cho việc thành lập hội đồng đạo đức: Trên nguyên tắc Việt Nam đã tham gia vào tuyên bố Hensilki thì chúng ta phải tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có Bộ Y tế ra thông tư (số 45 năm 2017) quy định về việc thành lập hội đồng đạo đức, chức năng và quyền hạn của hội đồng trong nghiên cứu y sinh để đảm bảo đạo đức học thuật cho các nghiên cứu trong lĩnh vực y học, y sinh học, xã hội học, hành vi, dịch tễ học, các nghiên cứu khác liên quan đến sức khỏe mà đối tượng nghiên cứu là con người bị tác động. Bộ Y tế cũng yêu cầu tất cả các cơ quan y tế, bệnh viện, trường y phải thành lập hội đồng đạo đức. Hiện nay đã có 7 trường y, dược và bệnh viện Nhi thành lập hội đồng đạo đức.    Nghiên cứu về trẻ em, đặc biệt là các nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn cần phải được thông qua bởi hội đồng đạo đức. Ảnh: Trẻ em tại làng trẻ SOS.  Như vậy, các nghiên cứu xã hội học, tâm lý học cũng nằm trong phạm vi hướng dẫn của thông tư số 45 này. Nhưng cho đến nay các trường thuộc ngành dọc y tế đang thực hiện tốt hơn. Còn các cá nhân, đơn vị thực hiện các đề tài, đôi khi là của trường, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ KH&CN hoặc của Quỹ Nafosted, thì chịu những quy định nào? Trên thực tế là chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Còn các đề tài có hợp tác quốc tế với một số nước có quy định chặt chẽ về đạo đức nghiên cứu như Hoa Kỳ, Australia thì luôn nhận được yêu cầu: nghiên cứu được thực hiện ở nơi nào thì phải tuân thủ quy định đạo đức nghiên cứu ở nơi đó và phải được một hội đồng đạo đức thông qua.  Xây dựng hội đồng đạo đức ở ĐH Giáo dục  Để bảo vệ quyền lợi của người thực hiện nghiên cứu cũng như người tham gia nghiên cứu nên ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, đã tiên phong thành lập hội đồng đạo đức học thuật trong các ngành tâm lý học, giáo dục, xã hội học, nhân học.  Cơ sở để trường xây dựng hội đồng đạo đức học thuật là các thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế. Đồng thời, trường cũng tham khảo quy chế của các trường y, dược ở Việt Nam và quy chế hoạt động của Đại học Yale và Đại học Vanderbilt, Hoa Kỳ.  Hội đồng đạo đức sẽ gồm có thành viên là các nhà nghiên cứu có uy tín học thuật, ủy viên có chuyên môn về pháp luật, đạo đức và cả những người không có chuyên môn sâu. Về chức năng, hội đồng sẽ xem xét một cách độc lập, chính xác về mặt đạo đức sau khi đề tài đã được hội đồng chuyên môn phê duyệt. Hội đồng sẽ xét duyệt các nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là con người, được tổ chức với các thao tác quan sát, phỏng vấn, thu thập thông tin và các tương tác khác giữa người nghiên cứu và người được nghiên cứu hoặc có thể bị nhận dạng thông qua thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu. Phạm vi điều chỉnh của hướng dẫn này là tất cả các nghiên cứu với đối tượng là con người do trường Đại học Giáo dục chủ trì hoặc quản lý thực hiện hoặc hợp tác, được thực hiện bởi cán bộ trong trường, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên của trường đại học giáo dục, hoặc các nghiên cứu do các cơ quan tổ chức bên ngoài ĐH Giáo dục mà có yêu cầu trường ĐH Giáo dục xem xét.  Các đề tài sẽ thuộc một trong ba mức xét duyệt:  Miễn xét duyệt (vẫn phải nộp hồ sơ ngắn cho Hội đồng): ở các nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp; thông tin dữ liệu có sẵn; thông tin từ các nguồn tài liệu mở; nghiên cứu giáo dục mà chỉ quan sát mà không làm thay đổi phương pháp, chất lượng nội dung học tập, không liên quan đến chủ đề nhạy cảm và không tiết lộ thông tin thân nhân; các nghiên cứu sử dụng trắc nghiệm, điều tra và quan sát hành vi công cộng mà không có thông tin thân nhân; các nghiên cứu trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ trong nhóm có thể được miễn xét duyệt nếu được giảng viên hướng dẫn xác nhận và đảm bảo  các khía cạnh về đạo đức.  Xét duyệt rút gọn: Các nghiên cứu này nộp báo cáo đạo đức và chỉ cần chủ tịch hội đồng đạo đức hoặc ủy viên thực hiện xem xét mà không cần phải họp toàn bộ hội đồng đạo đức.  Xét duyệt đầy đủ: Các nghiên cứu không được miễn xét duyệt, không được xét duyệt rút gọn sẽ cần được xét đầy đủ – họp toàn bộ hội đồng đạo đức.  Các nghiên cứu không được xem xét miễn xét duyệt gồm các nghiên cứu y sinh liên quan đến thử nghiệm lâm sàng theo quy định của Bộ Y tế, các nghiên cứu liên quan đến trẻ em không được miễn xét duyệt trừ trường hợp đó là các nghiên cứu không liên quan đến cá nhân trẻ em (ví dụ như quan sát hành vi công cộng của trẻ em mà không nhận dạng), nghiên cứu trên tù nhân, nghiên cứu ở các nhóm yếu thế.  Tiêu chí xem xét: Việc thiết kế và tổ chức nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, nhóm chứng, việc tham gia và khả năng rút lui của khách thể nghiên cứu, các biện pháp hỗ trợ cấp cứu, quản lý rủi ro, quy trình chọn mẫu (đặc điểm mẫu, phương thức tiếp xúc với mẫu, cách thức tuyển chọn, cách thức thông báo về nghiên cứu đến khách thể, việc chấp nhận tự nguyện của khách thể, quy trình rút gọn của khách thể), các yếu tố về bảo mật.      Trong khi xây dựng hội đồng đạo đức, chúng tôi cũng gặp một số khó khăn như: Thiếu các văn bản quy định, hướng dẫn rõ ràng (dựa chủ yếu vào quy định của Bộ Y tế như đã nêu nhưng ĐH Giáo dục không chịu sự quản lý ngành dọc của Bộ Y tế); các nhà nghiên cứu chưa thấy được tầm quan trọng của hội đồng đạo đức (trong khi nộp hồ sơ lại mất thêm thời gian); thiếu nhân lực để tổ chức xét duyệt, thiếu kinh phí vận hành hội đồng (hiện nay chúng tôi đang nghiên cứu để học theo kinh nghiệm của nước ngoài là trích kinh phí từ phí quản lý đề tài để cho hội đồng đạo đức).  Tuy nhiên, dù gặp khó khăn thì việc đặt ra những quy định trên đây là rất cần thiết. Bởi vì, chưa nói đến những ý nghĩa sâu xa về việc bảo vệ con người của hội đồng đạo đức, thì vấn đề sát sườn là, chúng ta rất cần hội đồng đạo đức để có công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV.  Một thông tin nho nhỏ mà chúng ta cần biết: việc xây dựng các quy định về đạo đức nghiên cứu của Việt Nam vẫn chậm hơn các nước trong khu vực như Campuchia. Một nghiên cứu sinh của chúng tôi là người Campuchia đang học ở trường Đại học Giáo dục có đề tài luận án được phê duyệt ở ĐH Giáo dục và được triển khai tại Campuchia nhưng vẫn được yêu cầu phải thông qua bởi hội đồng đạo đức của Bộ Giáo dục Campuchia. ¨  Bảo Như lược ghi tại Hội thảo “Đạo đức nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV Việt Nam: Những cách tiếp cận và khả năng triển khai”, do ĐH KHXH&NV Hà Nội tổ chức ngày 29/12/2018.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự chuyển giao từ Nho học sang Tây học      Từ khi bỏ khoa cử trên toàn cõi Việt Nam (1919) đến nay tròn 100 năm. Khoảng cách này đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại những điểm được và không/chưa được của giáo dục Nho học và giáo dục Tây học. Qua đó làm cơ sở để đánh giá được nền giáo dục Việt Nam hiện nay.      Một lớp học chữ Nho vào khoảng năm 1895 ở Việt Nam.  1. Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, triều đại Lê Thánh Tông đánh dấu sự thay đổi hệ hình: từ văn hóa Phật giáo chuyển sang văn hóa Nho giáo. Và trong suốt sự tồn tại của nó, Nho giáo không ít lần rơi vào khủng hoảng, đặc biệt là giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn, khi tầng lớp quan binh nắm quyền, thương nghiệp phát triển và thị dân hình thành. Đạo lý suy đồi, thi cử gian lận, mua quan bán tước. Tuy vậy, nhà nho dù có rơi vào hoàn cảnh bi đát đến thế nào, thì họ vẫn có hy vọng. Họ tin vào vận động tuần hoàn của xã hội, của vũ trụ: bĩ cực thái lai, “hết mưa là nắng hửng lên thôi.” Hơn nữa, lịch sử Trung Quốc thịnh suy suy thịnh mà họ học làm lòng đã cho họ những minh chứng như vậy. Đây chẳng qua chỉ là sự khủng hoảng nội hệ hình. Nhưng cuối thế kỷ XIX đầu XX, khi xuất hiện văn hóa phương Tây, với vai trò ngày càng trở thành chủ đạo, thì Nho giáo rơi vào một khủng hoảng khác, khủng hoảng thay đổi hệ hình. Từ hệ hình Nho học chuyển sang hệ hình Tây học, rộng ra từ văn hóa cổ truyền sang văn hóa hiện đại. Các nhà nho lúc này đứng trước một lựa chọn: thay đổi hay là chết, dĩ nhiên chết cái tư cách một nhà nho. Những người chống Tây, biết đâu từ trong vô thức, lại chẳng là chống Tây học. Có thể thấy tâm trạng này của họ qua thơ Tú Xương, một nhà nho bình dân sống ở thành phố Nam Định, nơi hằng ngày chạm mặt với văn hóa phương Tây.  2. Trong một nền văn hóa Nho giáo thì giáo dục là yếu tố hàng đầu, nhất là khi Nho giáo trở thành quốc giáo, chiếm ngôi độc tôn, thì giáo dục là toàn – nho. Nho giáo đào tạo ra con người chức năng, nho sĩ, mà bộ phận ưu tú nhất của nó trở thành tầng lớp quan lại điều hành đất nước. Cơ chế để tuyển chọn nho sĩ thư lại này là thi cử. Có thể nói khoa cử là vũ môn để cho những con cá hóa rồng. Hôm qua còn là anh đồ hôm nay đã trở thành ông quan. Hôm qua còn bị chê là “dài lưng tốn vải” hôm nay đã được cả làng cả tổng đón rước, “võng anh đi trước võng nàng theo sau.” Biết bao người nhờ khoa cử mà đổi thay thân phận xã hội. Bởi thế lâu dần hình thành lối học khoa cử, tức học để đi thi, thi đỗ để làm quan. Với một mục đích rõ ràng như vậy nên người ta chỉ dạy/học những tri thức làm quan, bởi Nho giáo, xét cho cùng, là một học thuyết cai trị. Các kinh điển tứ thư ngũ kinh, hoặc các ngoại điển như các sách lịch sử Trung Quốc đều cấp đủ các bài học ứng xử trong mọi tình huống miễn là nhập tâm. Bởi vậy, cái được coi là khả năng của nho sinh là có trí nhớ tốt để học thuộc lòng. Đồng thời, lối học từ chương cũng quan trọng không kém vì một ông quan cần phải được người dân nể phục văn tài, phải viết được những bài văn hay làm cảm động quỷ thần hoặc thuyết phục lòng người. Tuy nhiên, bể học mênh mang làm sao mà học hết, thuộc hết, nên người ta chỉ học các sách tóm lược, hoặc các loại sách “bộ đề” như “Thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi.” Các nhà sư phạm đều là những bậc đại nho, dạn dày trường ốc, lăn lộn quan trường, sau khi tiến vi quan thì lui về đạt vi sư đã dày công tạo nên những bộ sách giáo khoa ấy. Và, với lối học thực dụng thì sách giáo khoa là quyết định. Các nhà nho xưa nổi tiếng hiếu học, nào là mang đèn xuống hầm để học, không có đèn thì bắt đom đóm để học, nhưng họ có thể hiếu học, nhưng chưa chắc đã hiếu tri, vì tri thức đóng gói dễ trở thành gánh nặng. Tuy nhiên, bất cứ một hệ thống nào cũng có ngoại lệ. Đó là những nhà nho vượt khỏi được cái lồng chật hẹp để tiếp xúc với các tư tưởng khác như Phật giáo, đạo gia, văn hóa dân gian và tư tưởng thịdân để có tư duy khác.      Hệ thống trường Pháp – Việt chủ yếu dạy/học bằng tiếng Pháp, một phần vì ý đồ đồng hóa, phần khác vì tiếng Việt chưa đủ từ ngữ và khả năng diễn đạt những tri thức mới. Các học sinh Việt Nam được tiếp cận và tiếp thu các tri thức hiện đạ, Từ đó dần dần hình thành tầng lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học.      3. Khi thực dân Pháp chiếm trọn cả nước, thì đầu tiên nó vẫn giữ chế độ khoa cử, hy vọng Nho giáo sẽ làm cho xã hội ổn định. Nhưng sau hai đợt khai thác thuộc địa cuối thế kỷ XIX và đầu XX, Pháp cần người Việt làm thông ngôn, ký lục, thông phán trong các cơ quan, xí nghiệp, nên mở trường Pháp – Việt để đào tạo. Đầu tiên chỉ có tiểu học, sau thành chung, tú tài rồi cao đẳng. Đồng thời con cái quan lại có công với Pháp, những học sinh xuất sắc được cấp học bổng đi Pháp học. Cũng không ít những nhà giàu bỏ tiền cho con đi du học. Như vậy, chế độ khoa cử dần trở thành một khúc ruột thừa, nên Pháp cắt bỏ. Tuy nhiên, để thanh niên khỏi hẫng hụt tâm lý, xã hội khỏi rối loạn, Pháp tạo dựng một số hình thức trung gian, như cho các ấm sinh học thêm tiếng Pháp và các tri thức hiện đại khác ở trường Hậu bổ, hoặc cho sang Pháp học tại Trường Thuộc địa.   Hệ thống trường Pháp – Việt chủ yếu dạy/học bằng tiếng Pháp, một phần vì ý đồ đồng hóa, phần khác vì tiếng Việt chưa đủ từ ngữ và khả năng diễn đạt những tri thức mới. Chương trình học thì mô phỏng các trường bên chính quốc. Ở các lớp trên thì có người Pháp trực tiếp giảng dạy. Các học sinh Việt Nam được tiếp cận và tiếp thu các tri thức hiện đại và qua đó là thế giới hiện đại. Từ đó dần dần hình thành tầng lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học. Trong đó đặc biệt phải kể đến những thanh niên đang học thành chung vào những năm 1925, 1926, họ vừa đông đảo về số lượng, đủ giỏi tiếng Pháp để vượt qua cái ngưỡng văn hóa thực dân, văn hóa chính quốc, đồng thời được bồi đắp tinh thần yêu nước qua phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Châu Trinh. Họ là tầng lớp trí thức Tây học bản địa. Sau này, khi học xong, một số làm công chức trong bộ máy chính quyền, số khác làm nghề tự do, tạo thành tầng lớp trí thức độc lập, trí thức không phải là quan/viên chức. Họ chính là chủ/khách thể của văn hóa đô thị hiện đại của/ở Việt Nam.    Học sinh tiểu học ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu  Tại sao một lớp trí thức Tây học của một của xã hội thuộc địa lại có thể làm được nhiều việc như vậy? Tôi nghĩ, trước hết, so với các nhà nho, họ đã đổi khác thái độ học tập. Họ không chỉ hiếu học để tìm cho mình một nghề nghiệp, mà chủ yếu còn hiếu tri, khao khát những tri thức mới, có ích, để tìm ra những con đường phục vụ cho việc cứu nước. Các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Quang phục hội của Phan Bội Châu đều đã bị thất bại, tiếp bước chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh, họ muốn xây dựng cho đất nước một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học, tức xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại. Đường lối thì ít nhiều có khác nhau: kết hợp Đông – Tây theo nguyên lý nội thể ngoại dụng, hay phương Tây thuần túy. Sự khác nhau này có thể do họ xuất thân khác nhau, được giáo dục khác nhau, hoặc xuất hiện ở những thời điểm khác nhau trong tiến trình của xã hội Việt Nam. Nhưng họ đều là những nhân vật văn hóa của thời đại.  4. Một nền văn hóa bất kỳ nào cũng ngưng kết ở những nhân vật của nó. Ở giai đoạn chuyển giao giữa Nho học và Tây học, giữa văn hóa cổ truyền và văn hóa hiện đại, hay còn gọi là sự chuyển đổi hệ hình, tôi muốn đưa ra một “loại hình học” các nhân vật thời đại:  1. Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế, nên đã rút lui về ngõ hẻm, hoặc thôn quê, nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây  2. Nhà nho duy tân. Do đọc Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch hoặc tân thư, nên ủng hộ hiện đại hóa theo phương Tây, hô hào học chữ quốc ngữ, cắt búi tó, vận âu phục, mở trường học, lập các hội buôn. Tiêu biểu là Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Khương… Chủ trương học thêm văn hóa phương Tây.  3. Nhà nho Tây học. Các nhà nho theo Tây học để làm các công việc xã hội – văn hóa, đặc biệt là làm báo. Tiêu biểu là Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng.  4. Nhà Tây học nho hóa. Là nhà Tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa, xã hội Việt Nam nên họ phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Chủ trương Đông Tây kết hợp, Đông học.  5. Nhà Tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.    Như vậy, trừ các nhà nho truyền thống, các loại hình nhân vật còn lại đều có những đóng góp xuất sắc cho văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, với buổi giao thời thì hai loại hình (3) và (4) căn bản hơn cả. Ở họ vừa giữ được cái nhân cách do nền giáo dục Nho học tạo thành, vừa tiếp nhận được ý thức cá nhân do giáo dục Tây học đưa lại. Nhân cách là một phạm trù mang tính tộc loại (cộng đồng, xã hội), còn ý thức cá nhân thuộc phạm trù cá nhân cá thể. Thiếu hoặc lệch lạc giữa hai cái này, con người không thể phát triển lành mạnh được. Còn nếu yếu cả hai cái này thì không phát triển được. Bởi vậy, đây chính là chiến lược của nền giáo dục của chúng ta hiện nay. □    Author                Đỗ Lai Thúy        
__label__tiasang Sử dụng động vật làm thí nghiệm: Một rắc rối thời đại      Trong lịch sử loài người những thí nghiệm sử dụng động vật đã có một đóng góp to lớn cho sự phát triển của nghiên cứu sinh học cơ bản và y học. Ngày nay, lĩnh vực thực hành này lại đang “có vấn đề”: tính chính xác của các kết quả thí nghiệm khi chuyển từ động vật sang người và những vấn đề đạo đức đặt ra khi sử dụng động vật làm đối tượng thí nghiệm. Phải chăng đã đến lúc chúng ta chấm dứt sử dụng động vật trong nghiên cứu?    Các thí nghiệm sử dụng động vật từng là một trong những cột trụ của thực nghiệm y học suốt từ thời cổ đại. Nó góp phần làm nên hàng loạt những khám phá quan trọng. Thế nhưng, ngày nay, khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, với tính chất phức tạp và tinh vi ngày càng tăng lên, khoa học ngày nay đang chạm đến những giới hạn của việc thí nghiệm trên động vật. Một hiện tượng phổ biến là nhiều thí nghiệm có kết quả tích cực trên động vật nhưng khi chuyển sang người lại gây nên những nguy cơ không thể lường trước được thậm chí, trong nhiều trường hợp, có thể gây nên tử vong. Điển hình là biến cố ngày 12.3.2006 ở Anh Quốc khi việc ứng dụng một phương pháp chữa bệnh đã từng cho kết quả tích cực trên động vật đã khiến cho những người tình nguyện suýt chết.  Sự khác biệt giữa các loài.  Biến cố năm 2006 đã bắt buộc giới nghiên cứu và quản lý buộc phải có ý thức rõ ràng hơn về những giới hạn của thử nghiệm trên động vật. Hiện nay, khi chuyển sang thí nghiệm trên người, người ta chỉ được phép thí nghiệm mỗi lần một người tình nguyện (thay vì một nhóm nhiều người trước đây) và phải dãn thời gian giữa các đợt điều trị đủ dài để theo dõi những biến chuyển nơi người bệnh. Dẫu vậy, giải pháp này cũng là chưa đủ để ngăn ngừa mọi nguy cơ. Dominique Masset, một nhân viên có thẩm quyền của Cơ quan an toàn dịch tễ của các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps) cho biết như vậy.                  Hơn thế nữa, chỉ riêng ở nước Pháp, hiện nay, có hàng chục thí nghiệm y học chống lại những căn bệnh cho đến nay vẫn là nan y như bệnh Alzheimer, các bệnh về hệ cơ hay các dạng ung thư vẫn đang chờ trong phòng thí nghiệm của các hãng dược. Tình hình giống như một dạng “ùn tắc giao thông” do tiến độ thí nghiệm trên người bị làm chậm lại bởi mối lo về các hiệu ứng phụ nguy hiểm. Phillipe Moullier, một chuyên gia về điều trị gene và tế bào tại viện Inserm, Nantes, Pháp, tiết lộ tình trạng trên. Vậy mà những mẫu động vật được dùng để thí nghiệm lại không có hiệu quả lắm trong việc giúp các nhà nghiên cứu xác định hiệu quả cũng như độc tính của các phương pháp điều trị, dẫu rằng những thí nghiệm này đều được tiến hành trên những mẫu động vật đã được biến đổi gene cho phù hợp với các dạng bệnh của người.          Biến cố năm 2006.      Trong lịch sử thí nghiệm sử dụng động vật, ngày 12.3.2006 đã trở thành một dấu mốc đen tối. Trong ngày này, ở một địa điểm tại Northwick Park Hospital, Luân Đôn, tám người tình nguyện trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo, lần lượt cách nhau 10 phút, được tiêm một liều siêu kháng thể chưa từng được thử nghiệm trên người. Trong số họ, có hai người được tiêm giả dược. Loại kháng thể này – TGN1412 – trước đó, theo đúng quy định của châu Âu về thí nghiệm trên động vật đã được thử trên các động vật gặm nhấm và không gặm nhấm và đều cho kết quả tích cực. Nếu thành công, nó hứa hẹn triển vọng chữa trị nhiều căn bệnh liên quan đến hệ thống miễn dịch trong đó có cả các dạng máu trắng. Một tiếng rưỡi sau khi hoàn tất quá trình tiêm, sáu người trong số họ đã suýt chết vì những biến chứng nghiêm trọng ở phủ tạng, chỉ có hai người vô sự và họ chính là những người đã được tiêm giả dược. Điều gì đã dẫn đến thảm họa này? Rất đơn giản: tác động của TGN1412 không diễn ra theo cùng một cơ chế ở người và động vật. Ở người, chất này gây ra một hiện tượng mà giới nghiên cứu gọi là “bão cytokine” – chỉ việc kích thích khiến cơ thể tiết ra một lượng quá lớn cytokine gây tổn thương các cơ quan nội tạng. Đối với những thí nghiệm trên động vật, điều này hoàn toàn không thấy xuất hiện.        Trường hợp các điều trị liên quan đến gene là một trường hợp điển hình. Người ta sử dụng một virus đã được biến đổi để đưa một gene vào trong bộ gene của tế bào bệnh. Cách điều trị này tỏ ra rất hữu hiệu trên động vật nhưng lại có thể gây ra những tai họa khôn lường nơi người. Điển hình là trường hợp những thử nghiệm điều trị cho các trẻ em bị mắc bệnh suy giảm bẩm sinh hệ miễn dịch. Ở một số em, phương pháp điều trị này tỏ ra rất hiệu quả nhưng ở một số em khác lại gây ra một dạng gần như bệnh bạch cầu. Chính Phillipe Moullier tiết lộ sự thật đáng sợ này. Một phương pháp điều trị có thể tỏ ra là “thần diệu” đối với các động vật nhưng lại không hề bảo đảm rằng sẽ cho kết quả tích cực nơi người. Cả giới nghiên cứu, bị trói buộc bởi nguyên tắc phòng ngừa lẫn giới tư bản, những người đã đầu tư hàng chục triệu Euro để thương mại hóa một loại dược phẩm đều cảm thấy lo ngại trước thực trạng này.  Đáng ngại hơn nữa là tình trạng này không chỉ diễn ra đối với các phương pháp điều trị mới mà còn với cả các phương pháp điều trị có tính “cổ điển”. Denis Corpet, một chuyên gia về ung thư ruột kết ở viện Inra, Toulouse, Pháp, đã kể lại một kinh nghiệm của ông về chuyện này. Người ta tìm ra phương pháp giúp các con chuột lớn chống lại ung thư kết tràng bằng cách sử dụng một liều lượng thuốc điều trị “cổ điển”. Để chắc chắn về kết quả điều trị, người ta áp dụng phương pháp điều trị này cho một loài chuột khác. Điều đáng sợ là kết quả hoàn toàn ngược lại. Điều này khiến cho các chuyên gia vô cùng lúng túng. Họ không biết phải tin theo kết quả thí nghiệm nào và loài thí nghiệm nào có khả năng báo trước những hiệu ứng phụ nơi người.  Hy vọng làm sáng tỏ điều này, bắt đầu từ năm 1990, tại Viện các khoa học về môi trường và sức khỏe (HESI), một tổ chức quốc tế tập hợp các giới có thẩm quyền trong lĩnh vực dịch tễ, khoa học và công nghiệp đã bắt đầu tiến hành theo dõi giá trị cảnh báo về độc tính của các thí nghiệm tiến hành trên động vật. Thực tế cho thấy rằng rất nhiều hiệu ứng nguy hiểm không hề lộ ra khi người ta tiến hành thí nghiệm trên động vật. Từ năm 1998, HESI bắt đầu lập một cơ sở dữ liệu để theo dõi một cách có hệ thống xem những thí nghiệm trên động vật có thể báo trước những hiệu ứng phụ nguy hiểm trên người hay không. Cho đến nay, việc theo dõi mới chỉ được tiến hành trên các dược phẩm truyền thống và cho kết quả là có từ 25 đến 30% các hiệu ứng phụ nguy hiểm khi áp dụng điều trị ở người không hề xuất hiện khi thử nghiệm trên động vật. Đi sâu hơn, tỉ lệ này cũng thay đổi tùy theo các loại bệnh. Tỷ lệ hiệu ứng phụ được báo trước khi thí nghiệm trên động vật ở các bệnh về máu là 91%, đối với các bệnh về tim mạch là 80% nhưng đối với các bệnh liên quan đến da và mắt chỉ là 35 cho đến 50% và thấp nhất là các bệnh liên quan đến gan.          “Người hóa” các mẫu động vật thí nghiệm bằng cách tạo nên các “đột biến”. Như đã biết, có một sự khác biệt về sinh học giữa người và động vật và chính điều đó đã khiến cho kết quả của các thí nghiệm sử dụng động vật không còn hiệu quả khi ứng dụng trên người. Làm thế nào để giảm thiểu khoảng cách này? Bằng cách “làm cho động vật người hơn”! Đó hoàn toàn không phải là một trò đùa cũng không phải là một truyện khoa học viễn tưởng. Và tất nhiên, đó cũng không phải là một lối nói theo kiểu triết học. Đó thuần túy là một kỹ thuật sinh học nhằm biến đổi một cách nhẹ nhàng di sản di truyền của một loài vật để tạo nên một hay nhiều cơ chế sinh học điển hình của người như là việc tạo nên các kháng thể, một protéin hay là một cơ chế thụ cảm tế bào đặc biệt (nghĩa là làm cho động vật có thể nhiễm một loại bệnh nhất định ở người mà ở tình trạng bình thường chúng sẽ miễn nhiễm). Nhờ các kỹ thuật cắt AND và nuôi cấy tế bào mầm mà những kỹ thuật này trở nên hoàn toàn hiện thực và phát triển rất mạnh trong những năm 1990. Thậm chí, ngoạn mục hơn nữa, một kỹ thuật gọi là “đột biến tiềm tàng” đã được tiến hành thành công. Người ta tiến hành làm đột biến gene của chuột để đến một độ tuổi trưởng thành nhất định, quá trình nhiễm bệnh mới bắt đầu. Đó chính là cơ chế mô phỏng bệnh Alzheimer của người. Dẫu vậy, kỹ thuật này có một hạn chế: nó chỉ hữu hiệu với … chuột. Rất nhiều loài khác (thỏ, mèo, chó, khỉ) đều chống lại quá trình biến đổi cưỡng bức từ bên ngoài này. Và tất nhiên, ngay cả ở chuột, các sản phẩm biến đổi gene cũng có những hạn chế nhất định. Dẫu vậy, tính hữu hiệu của nó cũng đã được xác nhận khi mà một “nền công nghiệp” sản xuất các mẫu vật chuột biến đổi gene đã được hình thành. Điển hình là Viện lâm sàng trên chuột (ICS) ở gần Strasbourg (Pháp). Ở đây, người ta “sản xuất” ra hàng loạt chuột biến đổi gene được theo dõi và chọn lọc kỹ lưỡng để phục vụ cho các thì nghiệm khoa học. Rõ ràng, với những “nhà máy” thế này, việc thử nghiệm trên động vật sẽ còn kéo dài.        Nhưng vậy thì liệu có thể bỏ qua việc thí nghiệm y học trên động vật? Chắc chắn là chưa trong một tương lai gần, Tại Mỹ, trong năm 1999, một số viện nghiên cứu đã thử thí nghiệm trực tiếp trên động vật và bỏ qua thí nghiệm trên người. Cuộc phiêu lưu này đã nhanh chóng phải dừng lại do tỷ lệ tử vong cao. Cho đến nay, dẫu vấp phải những khó khăn rất lớn nhưng những thí nghiệm sử dụng động vật vẫn đóng góp rất lớn vào việc thúc đẩy hiểu biết về bệnh tật cũng như tìm ra những phương pháp điều trị mới. Nói một cách công bằng thì nếu từ bỏ hình thức thí nghiệm này, con người sẽ mất nhiều hơn được, cả trong những nghiên cứu về độc tính cũng như những nghiên cứu về nguyên nhân và cách điều trị một số loại bệnh. Chẳng hạn, trong nghiên cứu bệnh tiểu đường típ 2, một căn bệnh mà giới nghiên cứu dịch tễ đang rất lo ngại. Nhờ có các nghiên cứu trên chuột mà người ta đang xác lập một giả thuyết mới về nguồn gốc từ trong giai đoạn bào thai của căn bệnh này để từ đó, xác định một phương pháp điều trị mới dựa trên một loại hoóc môn tự nhiên GLP-1.    Những giới hạn về đạo đức của thí nghiệm sử dụng động vật.  Nếu như trước đây, dựa trên nền tảng triết học của Descartes, người ta coi động vật là những sinh thể vô tri chẳng hơn gì các đồ vật thì ngày nay, người ta bắt đầu ý thức được rằng động vật cũng là những sinh thể có ý thức gần như con người. Sự thay đổi nhận thức này bắt đầu từ chính sự tiến triển của khoa học. Ngay từ những giai đoạn sơ khai của khoa học, người ta đã nhận thấy rằng giữa động vật và người, về mặt sinh học, có những tương đồng rất lớn. Điều này càng được củng cố khi các thành tựu của di truyền học hiện đại khẳng định sự tương đồng về cơ bản giữa bộ gene của động vật và người. Tiếp đó, học thuyết Darwin về sự tiến hóa củng cố ý niệm về tính liên tục giữa động vật và người. Cuối cùng, những quan sát đời sống động vật tiếp tục tấn công vào thành trì cuối cùng của sự phân biệt động vật – người: văn hóa. Người ta thấy rằng, ở động vật có mầm mống của mọi khái niệm văn hóa của người, dù là công cụ, ngôn ngữ, đạo đức hay thẩm mỹ. Ngay cả ý thức về bản thân cũng đã bắt đầu xuất hiện ở cá heo, tinh tinh và voi vì các động vật này có thể tự nhận ra mình trong gương. Những thay đổi về mặt nhận thức này đặt các nhà nghiên cứu trước một tình thế khó khăn về mặt đạo đức. Nói gì thì nói, ngày nay, người ta không còn có thể tùy tiện ứng xử với động vật như là hồi thế kỷ XIX. Khi chưa có ý thức rõ rệt, người ta có thể tự cho phép mình làm mọi điều đối với động vật nhưng khi ý thức về sự khác biệt bị mài mòn dần, người ta sẽ phải đứng trước một tình thế nan giải. Một mặt, để cho những thí nghiệm về y học được chấp nhận về tính chính xác khoa học, người ta phải thừa nhận việc giữa động vật và người có một sự tương đồng về hình thể cũng như về tâm lý thế nhưng, đồng thời, để cho những thí nghiệm đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức, người ta buộc phải tìm mọi cách chối bỏ sự tương đồng đó bởi lẽ chấp nhận nó thì khác gì con người đang thừa nhận làm một điều tàn ác trên chính đồng loại của mình hay ít nhất, một sinh thể rất gần với đồng loại của mình.  Đứng trước tình hình này, con người buộc phải có những thỏa hiệp giữa nhu cầu thực tế và đạo đức. Ngay từ cuối những năm 1950, một bộ nguyên tắc ứng xử đã được nhà động vật học William Russel và nhà vi sinh vật học Rex Burch đưa ra với ba điểm chính: thay thế, thu hẹp và giảm thiểu. Trước hết là nguyên tắc về sự thay thế. Khi người ta tìm ra một công nghệ cho phép thay thế thí nghiệm trên động vật, lập tức, nó sẽ được áp dụng. Bắt đầu từ năm 1950, công nghệ nuôi cấy tế bào đã cho phép đẩy mạnh hướng này. Nhiều phương pháp “trong ống nghiệm” (in vitro), hoặc thử nghiệm trên các mô hình máy tính đã cho phép bỏ qua việc thí nghiệm trên động vật trong một số trường hợp. Dẫu vậy, để những phương pháp thay thế này được chấp nhận, trước hết, người ta vẫn phải thử nghiệm trên động vật sống. Hơn nữa, trong nhiều thí nghiệm, một tế bào đơn lẻ không thể thay thế cho một bộ phận cơ thể được liên kết bởi vô số tế bào và chính sự khác biệt này sẽ làm vô hiệu hóa những kết quả thí nghiệm.        Người ta sử dụng động vật thí nghiệm để làm gì?   31% phục vụ các nghiên cứu và phát triển thuốc cho người và thuốc thú y.   30% phục vụ các nghiên cứu sinh học cơ bản.   11,8% phục vụ việc sản xuất và kiểm soát chất lượng thuốc cho người.   8% phục vụ việc đanh giá mức độ an toàn (độc tính và những vấn đề khác).   3,5% phục vụ việc sản xuất và kiểm soát chất lượng thuốc thú ý.   2% phục vụ việc chuẩn đoán các căn bệnh.   1,6% phục vụ giáo dục và đào tạo.   9,1% cho các mục đích khác   Trong vòng hơn một thế kỷ qua, thành công của 75 giải Nobel về y học đã ít nhiều có liên quan đến thí nghiệm sử dụng sinh vật.        Tiếp đến là nguyên tắc về việc thu hẹp số lượng động vật sử dụng trong các thí nghiệm. Tất nhiên, người ta không thể sử dụng một số lượng vô tội vạ động vật phục vụ cho các thí nghiệm như trước đây nhưng nguyên tắc về sự đảm bảo số lượng quyết định tính chính xác của kết quả thí nghiệm cũng làm cho việc thu hẹp số lượng động vật được sử dụng cũng phải có một ngưỡng. Cuối cùng là nguyên tắc về sự giảm thiểu. Ngày nay, người ta bắt buộc phải sử dụng thuốc giảm đau và thuốc gây mê cho các động vật thí nghiệm. Thế nhưng, điều này cũng có một giới hạn. Người ta không thể áp dụng điều này cho các nghiên cứu về cơn đau và điều trị giảm đau.  Trên đây mới chỉ là những nét lớn. Cần phải kể đến một khó khăn khác liên quan đến các loài khỉ. Một cách trực quan, người ta đã thấy có sự tương đồng rất lớn giữa khỉ và người. Kết quả của các nghiên cứu khoa học càng chứng tỏ điều này. Chính vì vậy nên việc sử dụng khỉ làm thí nghiệm đã gây ra những cuộc tranh cãi lớn và dẫn đến việc vào năm 2007, Nghị viện châu Âu đã phải ra một tuyên bố chấm dứt sử dụng các loài khỉ lớn trong nghiên cứu y sinh học. Tiến tới, tất cả các loài khỉ sẽ bị cấm sử dụng để làm thí nghiệm. Thế nhưng điều này cũng đặt ra một tình thế khó khăn. Nếu nó thực sự thành hiện thực thì hàng loạt các thí nghiệm liên quan đến bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, bệnh Aids sẽ bị treo lại. Đó thực sự là một lựa chọn khó khăn.  Qua những điều trên, có thể thấy rằng, với sự phát triển của nghiên cứu sinh học cơ bản và y học, ngày nay, người ta đã chạm đến một số giới hạn quan trọng của việc thí nghiệm sử dụng động vật. Nhiều nỗ lực giải quyết đã được thực hiện nhưng rõ ràng, chưa có một giải pháp nào thực sự hiệu quả để có thể dẫn tới việc chấm dứt hoàn toàn hình thức thực nghiệm khoa học này. Rõ ràng, trong một tương lai tới, người ta sẽ còn phải “chung sống” với tình trạng khó khăn này.  Tổng hợp từ Science et Vie, số 1078 năm 2008.      Lương Xuân Hà      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng ĐTDĐ ở bệnh viện không tác động đến thiết bị y khoa      Đó là kết quả kiểm tra của các nhà nghiên cứu Mỹ tại Mayo Clinic ở Richester, bang Minnesota và được công bố hôm 9/3 vừa qua.    Tiến sĩ David Hayes, người tham gia đợt kiểm tra này, cho biết họ đã thử nghiệm điện thoại cầm tay sử dụng hai công nghệ khác nhau và của nhiều hãng sản xuất khác nhau, đã thực hiện những cuộc gọi bằng điện thoại di động gần 192 thiết bị y khoa khác nhau. Qua 300 đợt thử nghiệm được tiến hành trong 5 tháng, đều không cho thấy một tác động nào của điện thoại di động đối với các thiết bị y khoa. Trong khi đó, hầu hết các bệnh viện đều cấm sử dụng điện thoại di động. Tuy nhiên, cũng qua đợt thử nghiệm này, các nhà nghiên cứu phát hiện một số thiết bị khác như máy báo động chống trộm có thể khiến máy điều hòa nhịp tim không hoạt động; máy nghe CD có thể khiến kết quả đọc điện tâm đồ (ECG) không chuẩn xác.  Hạnh Ngân (Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng học máy để hiểu cách nước hành xử      Nước đã làm các nhà khoa học bối rối hàng thập kỷ. Trong vòng 30 năm qua hoặc lâu hơn, họ đã tính toán trên lý thuyết là khi nào nhiệt độ hạ xuống mức thấp như 10 độ C, nước có thể có khả năng bị chia tách thành hai pha chất lỏng có tỷ trọng khác nhau. Như dầu và nước, hai pha không hề trộn lẫn và có thể giải thích một số hành xử kỳ lạ khác của nước, như cách nào để nước có tỉ trọng thấp hơn khi nhiệt độ hạ xuống thấp.    Hầu như là không thể để nghiên cứu hiện tượng này trong một phòng thí nghiệm, bởi vì nước bị tinh thể hóa thành băng một cách nhanh chóng trong những mức nhiệt độ thấp. Hiện tại, một nghiên cứu mới ở Viện Công nghệ Georgia đã sử dụng các mô hình học máy để hiểu tốt hơn những chuyển pha của nước, mở ra nhiều con đường đến việc hiểu sâu sắc hơn về vô số các chất trong tự nhiên. Với kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng bằng chứng tính toán thuyết phục về chuyển pha chất lỏng – chất lỏng, có thể được ứng dụng trong các hệ thống vẫn sử dụng nước để vận hành của thế giới thực.  “Chúng tôi đang làm điều này với các tính toán hóa lượng tử một cách chi tiết và cố gắng tiến tới càng gần càng tốt với nước ở thế giới thực và tính chất hóa lý của nó”, Thomas Gartner, một trợ lý giáo sư ở trường Kỹ thuật Hóa học và sinh học phân tử tại Viện Công nghệ Georgiam, nói. “Đây là lần đầu tiên có thể nghiên cứu về chuyển pha với mức độ chính xác cao như thế này”.  Nghiên cứu đã được trình bày trong bài báo, “Liquid-Liquid Transition in Water From First Principles” (Chuyển pha chất lỏng – chất lỏng trong nước từ những nguyên lý đầu tiên) trên tạp chí Physical Review Letters, cùng các đồng tác giả ở ĐH Princeton 1.  Mô phỏng nước  Để hiểu sâu hơn về cách nước tương tác, các nhà nghiên cứu đã chạy các mô phỏng phân tử trên siêu máy tính và được Gartner kiểm tra trên một kính hiển vi ảo.  “Nếu có một kính hiển vi có độ phân giải siêu cao, anh có thể phóng to để nhìn theo mọi cách đến mức đơn phân tử và xe, chúng chuyển động, tương tác theo thời gian thực”, anh nói. “Đó là những gì chúng tôi đang làm bằng việc tạo ra hầu như là một bộ phim trên máy tính”.  Các nhà nghiên cứu đã phân tích cách các phân tử chuyển động và phân tích đặc điểm của cấu trúc chất lỏng lại các mức nhiệt độ khác nhau của nước và các mức áp suất khác nhau, bắt chước sự tách pha giữa các chất lỏng mật độ cao và mật độ thấp. Họ thu thập được bộ dữ liệu – đủ để chạy một số mô phỏng trong vòng một năm – và tiếp tục tinh chỉnh các thuật toán cho các kết quả chính xác hơn.  Trong vòng một thập kỷ, việc chạy các mô phỏng trong thời gian dài hơn và chi tiết hơn là điều không thể nhưng học máy ngày nay để đề xuất một con đường tắt. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một thuật toán học máy có thể tính toán mức năng lượng mà các phân tử nước dùng để tương tác với nhau. Mô hình này đã biểu diễn các phép tính nhanh hơn đáng kể so với kỹ thuật truyền thống, qua đó cho phép các mô phỏng được tiến triển một cách hiệu quả hơn đáng kể.  Nhưng học máy vẫn không hoàn hảo, vì vậy những mô phỏng trong thời gian dài cần được cải thiện độ chính xác của các dự đoán. Các nhà nghiên cứu đã đã cẩn thận thử nghiệm các dự đoán của mình trên các dạng thuật toán mô phỏng khác nhau. Nếu các mô phỏng đa dạng đó đem lại các kết quả tương tự nhau thì sau đó, họ sẽ đánh giá sự chính xác của chúng.  “Một trong số các thách thức với công trình này là không có nhiều dữ liệu để chúng tôi có thể so sánh với nó với có một vấn đề là hầu như không thể nghiên cứu trên thực nghiệm”, Gartner nói. “Chúng tôi đã đẩy các biên giới hiểu biết đến được tới đây, vì vậy đó cũng là nguyên nhân khác lý giải tại sao nó lại quan trọng đến mức chúng tôi phải cố gắng dùng các kỹ thuật tính toán khác nhau cho bài toán này”.  Vượt ngoài phạm vi của nước  Một số các điều kiện mà các nhà nghiên cứu thử nghiệm đều rất cực đoan và chính xác là không tồn tại thực sự trên trái đất nhưng có tiềm năng tái hiện một số môi trường nước của hệ mặt trời, từ đại dương ở châu Âu đến nước ở trung tâm ở các sao chổi. Các phát hiện đó có thể giúp các nhà nghiên cứu hiểu tốt hơn và dự đoán trạng thái kỳ lạ và tính chất hóa lý phức tạp của nước, đem lại thông tin cho các quá trình xử lý nước trong công nghiệp, phát triển các mô hình khí hậu và nhiều hơn thế nữa.  Công trình này thậm chí còn mở rộng hơn, theo lời Gartner. Nước là một đối tượng được nghiên cứu nhiều nhưng phương pháp này có thể mở rộng cho các vật liệu khó được mô phỏng như các polymer, hoặc các hiện tượng phức tạp như các tương tác hóa học.  “Nước đóng vai trò trung tâm trong đời sống và công nghiệp, vì vậy câu hỏi cụ thể về việc liệu nước có phải trải qua sự chuyển pha đã là vấn đề tồn tại đã lâu, và liệu chúng ta có thể chuyển hướng tới câu hỏi khác”, ông nói “Nhưng giờ đây chúng ta thực sự có một kỹ thuật tính toán hiệu quả mới và chúng ta không biết rõ những biên giới của vấn đề gì là gì và có rất nhiều phạm vi để chuyển hướng lĩnh vực này”.  Thanh Hương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-12-machine.html  Scientists used machine learning to understand how water behaves    ———————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.129.255702    Author                .        
__label__tiasang Sử dụng học máy để “nhìn” về thời kỳ cổ đại      Một nhóm nghiên cứu bao gồm nhiều nhà khoa học tại các viện nghiên cứu của Mĩ và Trung Quốc đã phát triển một cách có thể sử dụng học máy để có được cái nhìn tốt hơn về quá khứ. Trong bài báo “A high-resolution summary of Cambrian to Early Triassic marine invertebrate biodiversity” xuất bản trên  tạp chí Science, họ đã miêu tả cách họ sử dụng học máy để phân tích các dữ liệu quá khứ.      Các nhà khoa học thường dùng hóa thạch để xác định tuổi của đá bởi vì họ không còn cách nào khác để kiểm tra trực tiếp tuổi của đá. Nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ phần lớn các loài chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, do đó nếu các nhà khoa học xác định được thời gian khi một con khủng long nhất định sống trong một khu vực nhất định, họ có thể sử dụng thông tin đó để xác định tuổi của các hòn đá ở địa phương đo bằng việc sử dụng các hóa thạch ở trong không gian đó. Một trở ngại lớn cho phương pháp xác định tuổi của đá là nó không trao cho nhà khoa học một khả năng lọc thông tin tốt khi nỗ lực tạo ra một mốc thời giann về các sự kiện lịch sử như các vụ tuyệt chủng lớn.  Một thập kỷ trước, một nhóm các nhà toán học đã phát triển một cách tiếp cận về mặt thống kê để tạo ra một mốc thời gian về đa dạng sinh học trên cơ sở phân tích hàng trăm nghìn hồ sơ các hóa thạch trên đất liền và đai dương. Phương pháp của họ có thể cho phép các nhà khoa học phân chia hàng trăm triệu năm trong quá khứ thành những giai đoạn nhỏ hơn. Nó có thể đem lại một cái nhìn tốt hơn về những gì đã diễn ra. Nhưng thật không may, phải mất hàng chục tháng để chạy các chương trình này – quá dài cho việc sử dụng. Trong nỗ lực mới, các nhà nghiên cứu đã phục hồi phương thức này bằng việc áp dụng học máy trên dữ liệu có sẵn và sau đó phân tích các kết quả trên siêu máy tính Tianhe-2.  Các nhà nghiên cứu đã nhập dữ liệu bao phủ xấp xỉ 300 triệu năm  – từ thời bắt đầu kỷ Cambri, khoảng 540 triệu năm trước, cho đến sau khi kỷ Tam Điệp bắt đầu, xấp xỉ 240 triệu năm trước. Chiếc máy tính này đã nhập các kết quả của các giai đoạn ngắn chừng 26.000 năm. Họ đã so sánh sự khác biệt trong độ phân giải thời gian này để xem xét trong vòng 6 tháng của con người sống trong suốt một thời kỳ cho trước với một thế kỷ. Cuối cùng họ đã tìm thấy một mốc thời gian do máy tính tạo ra khác biệt với nhiều cách có được theo mốc thời gian được tạo ra trước đât trong những khoảng thời gian dài hơn. Ví dụ,  một trong số 5 vụ tuyệt chủng lớn mà người ta tin là đã xảy ra trong quá khứ đã không xảy ra, thực chất đó chỉ là một sự thay đổi chậm chạp về đa dạng sinh học  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-machine-fine-tune-views-ancient.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng nấm men để tái tạo SARS-CoV-2: Thay đổi cách tiếp cận trong phân lập virus      NCS Trần Thị Như Thảo cùng các đồng sự ở Đại học Bern đã phát triển phương pháp mới giúp tái tạo SARS-CoV-2 từ các đoạn DNA tổng hợp chỉ trong vòng 1 tuần. Nghiên cứu này, công bố trên tạp chí Nature hôm 4/5, không chỉ hữu ích trong tình hình “nước sôi lửa bỏng” cần gấp mẫu SARS-CoV-2 mà còn mở ra một hướng mới trong việc tái tạo các loài virus khác.      Nấm men S. Cerevisiae chứa virus SARS-CoV-2. Nguồn: Viện virus và miễn dịch học, ĐH Bern.  “Hồi tháng 1, chúng tôi cần virus SARS-CoV-2 để nghiên cứu nhưng lúc đó không thể tiếp cận được nguồn virus lâm sàng từ bệnh phẩm, do hầu như không thể đưa các mẫu bệnh phẩm hoặc virus phân lập ra khỏi biên giới Trung Quốc, bởi vậy nhóm nghiên cứu phải chọn cách tổng hợp ra các DNA hóa học từ dữ liệu trên ngân hàng gene và tái tổ hợp nó thành virus thuần”, nghiên cứu sinh (NCS) Trần Thị Như Thảo, tác giả thứ nhất của công bố trên Natute nhớ lại.  Phương pháp hoàn toàn mới  Thông thường, các phòng thí nghiệm sử dụng phương pháp truyền thống là tổng hợp các đoạn DNA của virus rồi sau đó nuôi cấy trên vi khuẩn E. Coli. Các vi khuẩn có kích thước lớn gấp nhiều lần virus là môi trường thuận lợi cho các đoạn DNA virus cấy vào, “bắt rễ” để các nhà khoa học thao tác phát triển thành một bộ gene virus hoàn chỉnh.  Nhóm nghiên cứu đã đặt hàng GenScript, một công ty công nghệ sinh học nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực di truyền để tổng hợp các đoạn DNA của virus SARS-CoV-2 từ dữ liệu giải trình tự gene trên Genbank. Những đoạn DNA này sẽ là nguyên liệu đầu vào cho quá trình tái tổ hợp virus.  Nhưng họ nhận thấy phương pháp nhân virus SARS-CoV-2 chuẩn trên vi khuẩn E. Coli khó khăn hơn bình thường, bởi kích thước bộ gene của chúng gần như lớn nhất (lên tới 26 – 32 kilobase pair) trong các dòng virus RNA, gây cản trở quá trình nhân bản và thao tác trên vi khuẩn E. coli. Đôi khi quá trình này cũng không ổn định vì virus có thể tạo ra các phản ứng gây độc cho chính E. coli, dẫn đến mất đi các bản sao (clone) tạo ra. Trong khi đó thời gian là vàng bạc, nhà nghiên cứu phải chạy đua với tốc độ lây lan của virus theo cấp số nhân. Tình hình dịch bệnh của Trung Quốc càng trở nên nghiêm trọng, cứ mỗi ngày lại có hàng ngàn ca nhiễm mới và tỉ lệ tử vong tăng không có dấu hiệu dừng lại.  Lúc này, nhóm nghiên cứu của ĐH Bern quyết định mạo hiểm thực hiện một phương pháp mới – nuôi cấy các đoạn DNA tổng hợp của virus SARS-CoV-2 trên nấm men S. cerevisiae thay vì E.coli. Nấm men có kích thước lớn hơn vi khuẩn và có môi trường thao tác gene thuận lợi hơn. Ý tưởng này bắt nguồn từ cách đây vài năm, khi GS. Volker Thiel, Viện trưởng Viện virus và miễn dịch và GS. Joerg Jores, Viện trưởng Viện vi khuẩn thú y – hai đồng tác giả liên hệ của bài báo trên Nature – nảy ra ý định kết hợp hai lĩnh vực của mình. GS. Jores kể rằng hệ thống nấm men đã từng sử dụng ở Mỹ để nhân bản vi khuẩn, nhưng “tại sao chúng ta không dùng nó để nhân bản virus nhỉ?”. Sau đó, dưới sự dẫn dắt của hai thầy, trong hai năm qua, NCS Trần Thị Như Thảo đã tối ưu hóa và hoàn thiện các kỹ thuật liên quan để tái tạo virus trong môi trường nấm men.    GS. Volker Thiel (trái) và GS. Joerg Jores tiến hành nghiên cứu cơ bản về virus corona tại ĐH Bern. Ảnh: Franziska Rothenbühler     Nhưng họ chưa bao giờ thử nghiệm với virus corona trước thời điểm dịch bệnh nổ ra. “Giờ đây chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc sẵn sàng đem phương pháp này vào áp dụng”, chị Như Thảo nói. Tuy nhiên, thử nghiệm một phương pháp mới với virus mới nổi cũng là thách thức trong bối cảnh thời gian quá ngặt nghèo. Nếu thử nghiệm không thành công, họ sẽ bị bỏ lại phía sau những nhóm nghiên cứu khác tái tạo virus bằng E. coli truyền thống và vuột mất một cơ hội chứng minh ưu thế phương pháp của mình.  Các tế bào nấm men có khả năng tự nhiên là lắp ráp các đoạn DNA thành phân tử lớn. Điều này có nghĩa là thay vì phải tái cấu trúc DNA của virus trước khi đưa vào tế bào, thì họ chỉ cần đặt tất cả các mảnh vật liệu di truyền này trên nấm men bằng kĩ thuật tái tổ hợp liên kết-chuyển đổi (TAR) và nó sẽ tự động khớp lại với nhau một cách kì diệu thành bộ gene virus hoàn chỉnh.  Trong khi chờ đợi công ty cung cấp các đoạn DNA tổng hợp của SARS-CoV-2, nhóm đã tiến hành “tập dượt” phương pháp tái tạo virus hợp bào hô hấp RSV-B ở người trên môi trường nấm men S. cerevisiae và đã thành công. Việc tập dượt với virus này để đảm thao tác trên DNA của các họ corona virus (gồm cả những dòng nguy hiểm như MERS-CoV và SARS-CoV-2) “một lần được luôn”.  Sau đó, khi đến lượt tái tạo SARS-CoV-2, họ đã dùng 14 đoạn DNA, mỗi đoạn chia sẻ một vùng trùng lặp ngắn với đoạn tiếp theo để tế bào nấm nem có thể xác định đoạn nào sẽ đi với nhau. Hai đoạn DNA cuối của bộ gene cũng có phần trùng lặp với một vector plasmid, cho phép nó tạo thành nhiễm sắc thể nấm men nhân tạo. Khi các nhiễm sắc thể này nhân lên, các nhà nghiên cứu sử dụng enzym T7-RNA polymerase để cắt các đoạn đoạn RNA virus trong ống nghiệm, sau đó đưa các đoạn RNA này vào tế bào động vật, nhân ra các virus tổng hợp mới. Kết quả vô cùng ấn tượng, chỉ trong vòng một tuần từ ngày 5 đến 12/2, họ đã tái tạo thành công virus SARS-CoV-2.  Theo nhóm nghiên cứu, nền tảng nấm men S. cerevisiae cho phép họ có thể chỉnh sửa đồng thời các đoạn gene để xem những thay đổi trình tự nào gây ra biến đổi kiểu hình và đặc điểm của virus, trong khi điều chỉnh gene trên nền tảng E.coli sẽ khó khăn hơn vì gene đã lắp ráp thành một thể cố định. Trong giai đoạn đầu của dịch SARS-CoV-2, việc phân lập được virus và can thiệp vào gene là điều cực kì cần thiết để phát triển những phương pháp chẩn đoán bệnh, thuốc kháng virus hoặc vaccine; đồng thời để có thể thiết lập các mô hình bệnh phù hợp trên cơ thể sống.  Chia sẻ cho các phòng thí nghiệm  Quả thực, sử dụng nấm men với virus là một hướng đi rất mới, gần như đầu tiên trên thế giới. Bởi vậy, sau khi tái tạo thành công SARS-CoV-2, nhóm nghiên cứu đã nhanh chóng tóm tắt kỹ thuật tái tạo virus dựa trên nấm men và gửi kết quả đến tạp chí Nature. Bài báo khoa học còn cho biết có thể dùng bất kì nguồn nguyên liệu đầu vào nào – từ virus phân lập, DNA nhân bản, DNA tổng hợp hoặc các mẫu lâm sàng – để tái tạo các dòng phân tử vô tính của những loại virus RNA khác nhau.    NCS Trần Thị Như Thảo. Ảnh: Nhân vật cung cấp.  Chỉ sau hai tháng, bài báo đã được bình duyệt và xuất bản*. Đã có gần 100 yêu cầu từ nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới gửi đến nhóm nghiên cứu để xin các dòng vô tính SARS-CoV-2 tổng hợp phục vụ cho việc thử nghiệm các mẫu bệnh phẩm corona nhanh và chính xác hơn, bao gồm các trường hàng đầu đang quan tâm như ĐH Hamburg, ĐH Charité (Đức), ĐH Utrecht, ĐH Leiden (Hà Lan), ĐH Cambridge, ĐH Oxford (Anh), ĐH Yale, ĐH Boston, ĐH Rockefeller (Mỹ) cùng một số trường đại học tại Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Canada và dĩ nhiên, Thụy Sĩ. Các nhà nghiên cứu của ĐH Bern cũng ngập chìm trong một loạt yêu cầu từ phía công ty dược phẩm và đồng nghiệp để thử nghiệm các tác nhân chống virus tiềm năng trên những dòng vô tính đó.  Khi được hỏi khả năng áp dụng kỹ thuật mới để tự tái tạo virus trong các phòng thí nghiệm khác, chị Trần Thị Như Thảo cho biết “mặc dù quy trình nghe có vẻ phức tạp nhưng thiết lập lại thí nghiệm trong các lab mới tương đối dễ dàng, chỉ cần những hiểu biết căn bản về dòng hóa và hóa chất căn bản cho việc dòng hóa các virus khác nhau”. Tuy nhiên trong giai đoạn làm việc với virus, các nhà khoa học cần hết sức thận trọng và thực hiện đảm bảo an toàn sinh học tại những phòng thí nghiệm cấp độ cao.  —  Chú thích: *Thao, T.T.N., Labroussaa, F., Ebert, N. et al. Rapid reconstruction of SARS-CoV-2 using a synthetic genomics platform. Nature (2020). https://doi.org/10.1038/s41586-020-2294-9  Ngô Hà  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/su-dung-nam-men-de-tai-tao-sarscov2-thay-doi-cach-tiep-can-trong-phan-lap-virus/20200528094824224p1c160.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử dụng “trí nhớ” của vật liệu để giải mã các đặc tính vật lý độc đáo      “Directed aging, memory, and nature’s greed”, nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí “Science Advances” đã chỉ ra các loại vật liệu có “trí nhớ” về cách chúng được chế tạo, lưu trữ và điều khiển như thế nào.      Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ quá trình lão hóa tự nhiên của vật liệu có thể được khám phá với các đặc tính khác thường. Nguồn: Nidhi Pashine  Nhờ vậy, các nhà nghiên cứu đã có thể sử dụng chính trí nhớ này để kiểm soát cách một vật liệu lão hóa, giải mã những đặc tính cụ thể và cho phép chúng thể hiện những chức năng mới. Lối tiếp cận sáng tạo để thiết kế các vật liệu này là kết quả của một nhóm hợp tác giữa các nhà nghiên cứu Andrea Liu, Sidney R. Nagel, Nidhi Pashine của Penn và Daniel Hexner của trường đại học Chicago.  Liu và Nagel đã từng hợp tác với nhau nhiều năm về vật lý các hệ hỗn độn. Tương phản với các hệ trật tự, vốn có các mẫu lặp lại và mang tính hệ thống, các hệ hỗn độn được sắp xếp một cách ngẫu nhiên. Một ví dụ minh họa là một bức tường tự nhiên từ bùn nhão được nén chặt, nơi các thớ riêng biệt không được xếp chồng lên nhau mà được xếp đống lại với nhau theo hình thức một cấu trúc rắn. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến các hệ này bởi vì sự ngẫu nhiên của chúng cho phép họ dễ dàng chuyển đổi nó thành những siêu vật liệu cơ học mới với những đặc tính cơ học độc đáo.  Một đặc tính quan trọng là các nhà khoa học vật liệu có thể thích kiểm soát cách một vật liệu phản hồi khi có một ngoại lực tác động lên vật liệu đó. Khi phần lớn các vật liệu bị biến dạng theo một chiều, chúng thường co lại theo đường vuông góc và khi bị nén, chúng giãn nở cũng theo đường vuông góc như một sợi dây cao su – khi bị biến dạng thì trở nên mỏng hơn và khi bị giãn nở lại trở nên dày hơn.  Các vật liệu hành xử theo hướng ngược lại, một số co lại theo đường vuông góc khi bị nén và trở nên dày hơn khi biến dạng, vốn được gọi là auxetics. Những vật liệu này rất hiếm nhưng được cho là trở nên tốt hơn khi hấp thụ năng lượng và có độ bền – đứt gãy hơn (fracture-resistant). Các nhà nghiên cứu đang quan tâm đến việc tạo ra các vật liệu auxetic để giúp cải thiện chức năng này của vật liệu có thể giúp chúng chịu được va đập.  Trong nghiên cứu này, họ muốn tìm hiểu là liệu họ có thể dùng “trí nhớ” về những ứng suất mà một vật liệu hỗn độn đã gặp phải để chuyển đổi vật liệu đó thành một vật liệu mới hay không. Đầu tiên, họ chạy trên máy tính các mô phỏng của các vật liệu thông thường chịu ứng suất và thay đổi các liên kết nguyên tử một cách chọn lọc để xem những thay đổi nào có thể khiến nó trở thành vật liệu auxetic. Họ khám phá ra, bằng việc cắt bỏ các liên kết dọc theo các khu vực chịu ngoại ứng suất, họ có thể tạo ra một vật liệu auxetic phiên bản số hóa.  Sử dụng hiểu biết đó, nhóm nghiên cứu đã đặt một vật liệu kiểu Styron bọt và đưa thêm “trí nhớ” vào bằng việc cho phép vật liệu đó lão hóa chịu các ứng suất lý thuyết. Để tạo ra tính chất auxetic cho vật liệu đó, họ áp một ứng suất không đổi vào vật liệu này và để nó lão hóa một cách tự nhiên. “Dưới tác động của ứng suất trên toàn bộ vật liệu, nó tự điều chỉnh chính nó. Tự nó đã chuyển đổi thành một siêu vật liệu cơ học từ một vật liệu bình thường”, Liu nói.  Quá trình đơn giản và hiệu quả một cách đáng kinh ngạc này là một bước tiến gần đến một “chén thánh” của khoa học vật liệu về khả năng tạo ra các vật liệu với các cấu trúc ở cấp độ nguyên tử riêng biệt mà không cần đến các thiết bị có độ phân giải cao hoặc những biến đổi ở cấp độ nguyên tử. Thay vào đó, cách tiếp cận được miêu tả trong bài báo trên Science Advance này chỉ đòi hỏi một chút kiên nhẫn trong khi hệ này đạt được “trí nhớ” và sau đó lão hóa một cách tự nhiên.  Liu nói, đây là một cách “hoàn toàn khác biệt” để nghĩ về việc làm ra các vật liệu mới. “Anh khởi đầu với một hệ hỗn độn và sau đó nếu đặt vào  các ứng suất phù hợp, anh có thể làm cho nó có được những đặc tính mà anh muốn”, bà nói.  Công trình này có một kết nối chặt chẽ với các cấu trúc trong sinh học. Các nội quan, các enzyme, và các mạng lưới hình sợi là các ví dụ tự nhiên về hệ hỗn độn vốn khó mô phỏng nhân tạo bởi chúng hết sức phức tạp. Giờ đây, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng cách tiếp cận đơn giản hơn này như một điểm bắt đầu để tạo ra những cấu trúc phức tạp như của cơ thể con người từ những đặc tính phong phú của thế giới sinh học.  Nagel hết sức phấn khích về tương lai này. “Ngoài ra để tạo ra những vật liệu auxetic, chúng ta có thể sử dụng máy tính để thiết kế chính xác cơ chế kiểm soát các phần cách biệt của vật liệu bằng việc đặt vào các ứng suất cục bộ. Nó cũng được gợi ý từ các hoạt động sinh học. Hiện tại chúng tôi cần là xem nó có thể phù hợp với việc làm lão hóa một vật liệu thực tế trong phòng thí nghiệm hay không”.  “Những điều có thể xảy ra ở giai đoạn này vẫn được coi là vô hạn. Chỉ khi kết hợp được cả lý thuyết và thực nghiệm, chúng ta mới bắt đầu hiểu được những gì là giới hạn của ý tưởng thiết kế vật liệu mới”, Nagel nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-material-memory-encode-unique-physical.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sử gia Nguyễn Thế Anh với Việt học quốc tế      Trong hệ thống hành chính giáo dục Pháp quốc, Ông được vinh danh là Giáo sư ưu tú (Directeur d’études émérite) của Trường Cao học thực hành (EPHE), một cơ sở nghiên cứu uy tín của Pháp về khoa học cuộc sống-trái đất, khoa học lịch sử-ngữ văn và khoa học về các tôn giáo. Trong trật tự của đội ngũ chuyên gia Việt sử và lịch sử Á Đông, Ông được tin tưởng là sử gia hàng đầu. Có thể xác thực điều này ở nhiều nhà sử học đương thời như Philippe Papin (Pháp), Keith Weller Taylor, Olga Dror (Mỹ)…      Giáo sư Nguyễn Thế Anh tại Văn khố hải ngoại (ANOM), Aix-en-Provence, Pháp.  Đây là một trong những trung tâm lưu trữ mà ông đã miệt mài tham khảo để thực hiện rốt ráo các nghiên cứu sử học của mình.  Sinh năm 1936 trên xứ sở Vạn Tượng, Ông thân sinh quê gốc Hưng Yên và bà thân sinh quê gốc Nam Định, trong suốt thời thơ ấu, Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã chỉ có vài tháng dừng chân ở Việt Nam, cụ thể là ở Hà Nội khoảng năm 1941-1942, trong khi theo cha mẹ bôn ba nhiều hơn khắp đất Lào, đất Thái. Biến động xã hội toàn khu vực Á Đông khiến việc học bị gián đoạn một thời gian dài; sau khi từ Thái Lan trở lại Lào, Nguyễn Thế Anh vào trường Pháp học Pháp văn, Latin thay vì tiếng mẹ đẻ. Anh ngữ cũng được đồng hành sử dụng trong học thuật và đời riêng. Thế mà, sau 8 thập kỷ chừng như thiên di định số, tiếng Việt xứ Bắc vẫn nguyên vẹn trong giọng nói của Ông.  Năm 20 tuổi giành tài trợ tới du học Pháp, Ông từng muốn theo ngành hóa học là một mối say mê buổi đầu đời. Giáo sư Nguyễn Dương Đôn (1911-1999), Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo Dục của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đương thời, người bằng hữu với ông thân sinh của Nguyễn Thế Anh, đã có lời khuyên sâu sắc rằng, đương thời quá thiếu các giáo sư lịch sử. Thật may, Ông cũng có hứng thú với sử, và không riêng sử Việt, bởi Việt sử trong suốt hành trình của đời ông đã không bị tách rời khỏi khu vực, khỏi thế giới. Sử Việt với cách nghiên cứu của ông đã trở thành một điểm nhấn đáng giá trên bản đồ nghiên cứu lịch sử thế giới, được học giới Tây-Đông trân trọng công nhận.  Ấn phẩm sử học: Thành tựu toàn cầu của Việt sử  Năm 1967, Bibliographie critique sur les relations entre le VietNam et l’Occident [Thư mục phê bình về các mối quan hệ giữa Việt Nam và phương Tây][1], đã được Viện Hàn lâm khoa học hải ngoại Pháp quốc và học giới chào đón. Đây là quả ngọt của quá trình Nguyễn Thế Anh theo học nghiên cứu với sử gia kinh tế Frédéric Mauro (1921-2001). Nguyễn Thế Anh đã trải nhiều quốc gia và miệt mài trong nhiều thư khố Âu châu để biên soạn nên thư mục các tài liệu bằng văn tự latin phản ánh lịch sử quảng giao của Việt Nam. Hiện tại, có nơi muốn tái bản có bổ sung đối với thư mục đắc dụng cho nghiên cứu này, song còn bỏ ngỏ đáp án: ai là người đủ năng lực kế thừa để cập nhật thành quả của người tiền bối!  Công trình nghiên cứu Monarchie et fait colonial au Viêt-Nam (1875-1925). Le crépuscule d’un ordre traditionnel [Chế độ quân chủ và sự kiện thuộc địa ở Việt Nam (1875-1925): Buổi hoàng hôn của một trật tự truyền thống][2] là ấn phẩm tinh túy từ luận án tiến sĩ cấp nhà nước của Nguyễn Thế Anh được thực hiện tại Pháp. Sử gia người Canada về Trung Quốc và Đông Nam Á là Alecxandrer Wooside đánh giá đây là nghiên cứu xuất sắc về triều đại nhà Nguyễn ở Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trị vì của vua Tự Đức tới vua Khải Định, bắt đầu từ khi Việt Nam chính thức phụ thuộc cả chính trị vào người Pháp cho tới khi đến cả ngân sách chi tiêu hằng năm của Nam triều cũng phải thuộc quyền quyết định của nhà nước thuộc địa. Nghiên cứu này là sự nhất mực tiếp nối thái độ khách quan nhất có thể của nhà sử học đã được thể hiện từ hai thập kỷ trước, trong các công trình  Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn[3], Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ[4], Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân[5]. Thảng hoặc, có tiếng nói cho rằng Nguyễn Thế Anh quá lạnh lùng trong thể hiện sử kiện, song có lẽ chính nhận xét này vô tình thể hiện mong muốn phi chuyên nghiệp khi đòi hỏi dù chỉ nhỏ nhoi cảm xúc yêu ghét sân hận… của ngòi bút viết sử. Điều này là không thể, nhất là không thể trong tác phẩm của sử gia Nguyễn Thế Anh. Song, nếu đối thoại trực tiếp, người nghe sẽ thấy xúc động trước tấm lòng cảm thông, thấu hiểu của người hậu sinh đối với tình thế khó khăn không tiền khoáng hậu của những vị Hoàng đế năm xưa. Chỉ biết rằng, ba ấn phẩm được viết bằng Việt văn này tại Sài Gòn vẫn thường được độc giả nhiều lứa tuổi tìm đọc để nhận thức lịch sử và nương tựa để tiếp tục khảo cứu lịch sử.  Năm 2008, để vinh danh sử gia Nguyễn Thế Anh, đồng nghiệp và môn sinh của ông trên toàn cầu hợp sức góp bài nghiên cứu về Việt Nam từ nhiều góc cạnh, thành ấn phẩm Monde du Viêt Nam : Hommage à Nguyên Thế Anh[6]. Tác giả của các bài viết ấy, có người là học trò, có người ở cùng lứa, và có cả người tiền bối của Nguyễn Thế Anh – Giáo sư Léon Vandermeersch (1928-nay). Học giới bằng cách ấy để nhấn mạnh sự mở đường và tầm vóc đáng kể của những vấn đề sử học mà Ông đã khởi xướng và phát triển. Cùng năm, Parcours d’un historien du Viêt Nam : Recueil des articles écrits par Nguyễn Thế Anh [7] bao gồm 99 bài viết của Nguyễn Thế Anh, được chia thành 9 chủ đề lớn, bao quát nhiều vấn đề của Việt sử và lịch sử Đông Á được biên soạn bởi người học trò và cũng là người kế nhiệm ông ở EPHE – Giáo sư Philippe Papin. Trong hơn một ngàn trang sách tập đại thành này, thảng hoặc tìm được một vài bài viết bằng Việt văn giữa phần lớn các bài viết bằng Pháp ngữ và Anh ngữ được ông viết mới hoặc sưu tầm bài viết cũ từ những nguồn tư liệu hiếm ở Sài Gòn trước năm 1975. Tập san Nghiên cứu Huế do nhà trí thức ở Huế là Nguyễn Hữu Châu Phan thực hiện nhiều năm trước đã được dịch và công bố một số nghiên cứu hiện diện trong Recueil này. “Village versus State: The Evolution of State-Local Relations in Vietnam until 1945” [Làng đối diện Nhà nước: Tiến trình quan hệ Làng-Nước ở Việt Nam trước năm 1945] với giá trị là một nghiên cứu hệ thống về cách thức tồn tại cùng nhau của làng xã và quốc gia trong chiều dài lịch sử Việt Nam, « Japanese Food Policies and the 1945 Great Famine in Indochina » [Chính sách lương thực của Nhật Bản và nạn đói lớn năm 1945 tại Việt Nam] về nạn đói năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam trong tương quan với hiệu ứng của sự kiện 19 tháng Tám… là đơn cử một vài nghiên cứu đáng giá của Nguyễn Thế Anh trong đó.  Đã có sự nuối tiếc bởi rất nhiều nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh viết bằng ngôn ngữ nước ngoài chưa được học giới ở Việt Nam biết tới để tận dụng. Thực tế, chỉ đơn giản là tác phẩm vẫn đương chờ những dịch giả đủ tri thức Pháp văn, Anh văn và kiến thức sử học để thành tựu của Việt học, đã được công nhận nơi trời Âu-Mỹ, có thể đến được với người Việt mình.    Viện trưởng các Viện Đại học miền Nam Việt Nam gặp gỡ Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson năm 1967. Trong hình, hàng ngồi, từ trái qua phải: Ông Bùi Xuân Bào, GS Ban Pháp Văn (ĐH Văn Khoa Sài Gòn), Linh mục Nguyễn Văn Lập, Viện trưởng Viện ĐH Đà Lạt, Bác sĩ Trần Quang Đệ, Viện trưởng Viện ĐH Sài Gòn, Ông Lyndon Johnson, Tổng Thống Hoa kỳ, Thượng tọa Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện ĐH Vạn Hạnh, Ông Bùi Diễm, Đại sứ VNCH tại Washington. GS Nguyễn Thế Anh, Viện trưởng Viện ĐH Huế là người trẻ nhất, đeo kính, đứng ngay sau Tổng thống Hoa Kỳ.  Đại học phi chính trị: Phẩm cách nhà sử học  Là nhà giáo đồng thời là nhà khảo cứu sử Việt, Nguyễn Thế Anh từng trải những giai đoạn thăng trầm khốc liệt trong môi trường đại học ở Huế và Sài Gòn. Năm 1964, ông được bổ nhiệm Giáo sư sử học của Viện Đại học Huế. Việt sử và lịch sử Ấn Độ là chuyên môn của Ông giai đoạn này. Năm 1966, Ông trở thành Viện trưởng của cơ sở sư phạm này. Có lẽ, tuổi 30 của vị tân Viện trưởng đã gây không ít xao động trong học giới đất cố đô. Kiên định trước sức ép của quyền lực và dư luận, Ông đã chèo chống ngôi trường và bảo toàn được quan điểm «tự trị đại học » nhất quán trong giảng đường của mình. Hơn thế, nhà sử học đích thân trải nghiệm sự kiện lịch sử đã khiến ông trở thành nhân chứng đáng tin cậy hơn cả về nhiều nghi án năm xưa.  Năm 1969, ông trút bỏ gánh nặng ở Huế, vào Sài Gòn gây dựng nên thành tựu của Ban Sử thuộc Đại học Văn khoa Sài Gòn[8]. Tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thế Anh lại xa Việt Nam, tạo lập lại sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Việt Nam ở Pháp, cho đến khi ông chính thức trở thành Giám đốc nghiên cứu ở Trường Cao học thực hành (EPHE), Giáo sư giảng dạy ở Đại học Paris-Sorbonne, và từng là Giáo sư mời tại Đại học Harvard (Hoa Kỳ), Đại học Quốc gia Singapore…  Từ sau năm 1975, Ông có đôi lần về Việt Nam theo lời mời với nội dung trao đổi khoa học. Năm 2007, trong Hội thảo quốc tế về Nho giáo do Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) hợp tác cùng Viện Harvard-Yenching (Hoa Kỳ) tổ chức tại Hà Nội, bài viết của Giáo sư Nguyễn Thế Anh về những cố gắng cập nhật chính trị của vua Tự Đức hồi cuối thế kỷ XIX là một minh chứng cho thái độ khách quan của sử gia và tấm lòng tri ân của hậu thế với tiền nhân một thuở.  Năm 2013-2014, tại Paris diễn ra triển lãm quy mô lớn mang tên “Indochine: Des territoires et Des Hommes, 1856-1956” [Đông Dương: Đất và Người, 1856-1956]. Giáo sư Nguyễn Thế Anh được học giới Pháp quốc tín nhiệm là người đứng đầu hội đồng khoa học của sự kiện 100 năm Pháp-Việt này.  Đều đặn hằng tuần kể từ khi ông chính thức hồi hưu năm 2005, một nhóm độc giả thuộc nhiều quốc tịch, ở nhiều quốc gia, từ nhiều nghề nghiệp, mang nhiều số phận, nhận được từ ông, theo đường thư điện tử, những tư liệu Việt văn, Pháp văn, Anh văn về các vấn đề ở châu Á và nhất là Việt Nam. Đó là những bài viết khảo cứu, hoặc sáng tác, hoặc giải trí của nhiều thành phần tác giả mà ông cặm cụi góp nhặt hằng ngày, theo tiêu chí của nhà sử học, trước hết để đáp ứng nhu cầu cập nhật tin tức của bản thân, sau là chia sẻ với cộng đồng. Thế giới thông tin mênh mang dàn trải, nhãn quan của người làm sử thì nhạy bén và sâu lắng.              Bằng thiên bẩm nhạy cảm và sâu sắc, một người Việt sống xa đất Việt hai phần ba đời người đã trở thành sử gia hàng đầu về sử Việt trên tầm quốc tế.      “Với lòng biết ơn đối với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thế Anh, những khảo luận trong tập sách này là để dành tặng ông và vinh danh ông, với hy vọng rằng, chúng tôi, dù còn thiếu sót, song vẫn là những người được chứng kiến sự hiện diện của một học giả lớn trong thế hệ chúng tôi.” Keith Weller Taylor. Lời giới thiệu của sách Monde du Viêt Nam: Hommage à Nguyên Thê Anh. 2008. Paris: Les Indes Savantes. Tr.11.  ———————————-  [1] Paris : G.P Maisonneuve et Larose, 1967. 310 tr.  [2] [Paris; L’Harmattan, 1992].  [3] Sài Gòn : Trình Bày, 1968 ; Lửa Thiêng : 1970. Hà Nội : Văn học, 2008.  [4] Sài Gòn : Lửa Thiêng, 1970 ; Sài Gòn : Trung tâm học liệu : 1974. Hà Nội : Văn học, 2008.  [5] Sài Gòn : Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh Niên, 1973. Hà Nội : Văn học, 2008.  [6]Paris : Les Indes Savante  [7]Paris : Les Indes Savantes, 2008.  [8] Để được chứng thực khí tiết của nhà giáo lịch sử Nguyễn Thế Anh, xin tham khảo bài viết của Giáo sư sử học Trần Anh Tuấn:  http://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bienkhao/193-trananhtuan/3040-nguyentheanhvadhvk (Đăng ngày 12 tháng 04 năm 2016).    Author                Việt Anh        
__label__tiasang Sự giật mình của lý trí      Sự bất định và bất toàn về bản chất của tự nhiên, được kiểm chứng và đóng dấu xác nhận của những ngành khoa học được coi là chặt chẽ nhất, đã làm rúng động nhận thức của loài người mà biểu hiện quan trọng nhất là sự tỉnh ngộ của con người về giới hạn hiểu biết của mình; chấp nhận những ý kiến khác mình như một sự bổ sung cho hiểu biết. Nói cách khác, lý trí đã giật mình, con người đã biết khiêm tốn và chấp nhận những tri thức khác mình, thậm chí coi “đối lập như một sự bổ trợ” cần thiết.      Thời kỳ Khai sáng trong triết học châu Âu diễn ra từ nửa sau thế kỉ 17, khởi đầu bởi sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên tiên phong bởi Galileo, Newton, ban đầu ở Anh, sau đó lan sang Pháp, Đức, châu Âu nói chung, và sau đó ra khỏi châu Âu sang Mỹ, Nhật. Theo đó, lý trí được coi như ánh sáng đối chọi lại tăm tối của sự phi lý và u mê. Chính vì thế mà I. Kant đã định nghĩa: “Khai sáng là sự thoát khỏi tình trạng thiếu trưởng thành do chính mình gây ra. Sự thiếu trưởng thành này là thiếu khả năng sử dụng lý trí của mình mà không cần sự dẫn dắt của kẻ khác. Nguyên nhân của sự thiếu trưởng thành không phải là do thiếu tri thức, mà do thiếu sự quyết đoán và lòng dũng cảm để sử dụng lý trí của mình khi vắng mặt sự chỉ dẫn từ kẻ khác.”   Như thế, khai sáng chính là quá trình tự do sử dụng lý trí của mình để tư duy, để hiểu, để tin, để lựa chọn và để hành động.   Lý trí lên ngôi  Đặc trưng của Thời kỳ Khai sáng có thể khái quát thành sự đề cao của lý trí với khẩu hiệu nổi tiếng, cũng được giương cao bởi I. Kant: “Hãy dám biết!”  Như thế, có thể nói, với Thời kỳ Khai sáng, lý trí đã lên ngôi.   Sự lên ngôi của lý trí dẫn đến những ảnh hưởng to lớn, không chỉ trong khoa học và nghệ thuật, mà còn lan tràn ra mọi mặt của đời sống ngoài xã hội. Điển hình nhất là sự thiết lập tự do, bình đẳng và quyền lực tối thượng của quần chúng trong cuộc cách mạng Pháp.  Chính vì thế, trong những xã hội mà tự do, bình đẳng và quyền lực của số đông quần chúng còn bị bóp méo và chà đạp, thì khai sáng lại được gọi tên như một phép màu với hy vọng những tăm tối của phi lý, u mê sẽ bị xua tan.        Nếu khai sáng là sự lên ngôi của lý trí, thì xa hơn khai sáng chính là sự giật mình của lý trí.               Lý trí giật mình để lý trí được khai sáng thêm một lần nữa, được bổ sung những giá trị mới, được trở về với đúng vai trò của mình là thúc đẩy sự tiến bộ thông qua những nhận thức mới, thay vì bảo thủ trì trệ và tha hóa thành công cụ đàn áp sự tiến bộ, dù đã được khoác lên những lớp vỏ mỹ miều.              ——————-  Hoài nghi để hiểu được những khiếm khuyết về bản chất trong năng lực và tri thức của mình, để khiêm tốn với lý trí của mình và mở lòng thành tâm lắng nghe ý kiến của kẻ khác.            Nhưng bi kịch ở chỗ, trong những xã hội này, bản thân sự bóp méo và chà đạp lại thường nhân danh những giá trị của khai sáng như tự do, bình đẳng, ưu việt, tiến bộ, giải phóng… Chúng được vận hành bởi một cơ chế và định hướng bởi một thang giá trị được thiết kế nhân danh lý trí, nhân danh khai sáng. Vì thế, chúng có tính chính danh nhất định và rất khó bị loại bỏ, bất chấp những hậu quả xấu xa của chúng đã bày ra đầy rẫy ở ngoài xã hội.  Chúng như chiếc mặt nạ đã dính chặt vào da thịt không thể gỡ ra. Lý trí đã biến dạng trở thành lý trí giả tạo khô cứng, vô nhân bản. Mục đích tốt đẹp của những học thuyết nhân danh lý trí, nhân danh tiến bộ đã trở thành phương tiện thống trị và đàn áp con người.  Chúng trở thành những bất công, phi lý và u mê mới mà ban đầu, chúng có sứ mệnh cần phải loại bỏ.  Lý trí giật mình…  Nhận thức khoa học từ đầu thế kỉ XX đến nay có một bước dịch chuyển lớn. Đó là dịch chuyển từ sự chắc chắn tất định sang bất định trong giới hạn.  Sự dịch chuyển này ban đầu diễn ra trong các ngành khoa học tự nhiên như Vật lý, Toán học, sau đó lan sang các ngành khác và cuối cùng là nghệ thuật.  Nổi bật nhất trong dòng dịch chuyển này là sự ra đời của Nguyên lý bất định, Nguyên lý bổ sung trong Vật lý và Nguyên lý bất toàn của toán học. Những điều tưởng chừng là tất định thì nay trở nên bất định, mang tính xác suất. Những hệ thống được hy vọng là hoàn thiện thì nay được chứng minh là bất toàn về bản chất.  Sự ra đời của các trường phái hậu hiện đại trong nghệ thuật cũng có liên hệ sâu xa về bản chất với những bất định trong khoa học tự nhiên này.  Sự bất định và bất toàn về bản chất của tự nhiên, được kiểm chứng và đóng dấu xác nhận của những ngành khoa học được coi là chặt chẽ nhất, đã làm rúng động nhận thức của loài người.   Biểu hiện quan trọng nhất là sự tỉnh ngộ của con người về giới hạn hiểu biết của mình; chấp nhận những ý kiến khác mình như một sự bổ sung cho hiểu biết. Nói cách khác, lý trí đã giật mình, con người đã biết khiêm tốn và chấp nhận những tri thức khác mình, thậm chí coi “đối lập như một sự bổ trợ” cần thiết.  Nhà khoa học đã biết hoài nghi trước mỗi kết luận của mình, thay vì khăng khăng tất định nhân danh lý trí. Nhà lãnh đạo giỏi đã biết lắng nghe những ý kiến trái chiều. Vì họ biết, nhận thức của mình về tự nhiên, xã hội và con người là khiếm khuyết về bản chất.   Bất toàn, bất định, bổ sung trở thành những nguyên lý không thể chối cãi. Con người phải chấp nhận chúng và tôn trọng chúng, coi chúng là thuộc tính tất yếu của nhận thức.  … hoài nghi  Nếu khai sáng là sự lên ngôi của lý trí, thì xa hơn khai sáng chính là sự giật mình của lý trí.   Lý trí giật mình để lý trí được khai sáng thêm một lần nữa, được bổ sung những giá trị mới, được trở về với đúng vai trò của mình là thúc đẩy sự tiến bộ thông qua những nhận thức mới, thay vì bảo thủ trì trệ và tha hóa thành công cụ đàn áp sự tiến bộ, dù đã được khoác lên những lớp vỏ mỹ miều.  Nếu tinh thần chủ đạo của Khai sáng cổ điển là “Hãy dám biết!”, thì tinh thần mới của Khai sáng phải là “Hãy dám biết và hãy dám hoài nghi!”  Hoài nghi để không kẻ nào có thể nhân danh lý trí- thực chất là chiếc mặt nạ của lý trí; nhân danh sự hợp lý – thực chất là hợp lý giả tạo; nhân danh những giá trị tốt đẹp – thực chất là những xấu xa được trang điểm bởi các mỹ từ – có thể đàn áp sự tiến bộ.  Hoài nghi để hiểu được những khiếm khuyết về bản chất trong năng lực và tri thức của mình, để khiêm tốn với lý trí của mình và mở lòng thành tâm lắng nghe ý kiến của kẻ khác.  Hoài nghi để không u mê tôn vinh một hệ giá trị duy nhất, không tạo mầm cho độc đoán ra đời; để thấy rằng “đối lập là bổ trợ”, đa dạng và khác biệt là động lực của phát triển.  Hoài nghi để những mỹ từ sáo rỗng không tác oai tác quái sản sinh ra những giả dối, vô cảm, đọa đày.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự hài hòa giữa lý thuyết và thực nghiệm      Piotr Kapitsa (1894 – 1984) là nhà tư tưởng, nhà khoa học Xô viết lỗi lạc, giải Nobel Vật lí (1978). Tại khóa họp của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, ông đã đề cập đến sự mất cân đối trong các công trình lí thuyết và thực nghiệm, sự thiếu vắng mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành.     Mặc dù thời gian đã khá xa nhưng những nhận định của ông vẫn còn tính thời sự.    Dễ nhận thấy sự lạc hậu của chúng ta về vật lí thực nghiệm nếu so sánh với nước ngoài. Lấy vật lí hạt nhân làm ví dụ. Như đã biết mặc dù trang bị kĩ thuật trong lĩnh vực này của chúng ta rất tốt nhưng các kết quả thực nghiệm lại yếu hơn nhiều. Trên thực tế từ toàn bộ số lượng lớn các hạt cơ bản mới được tìm ra phần lớn thuộc về các nhà vật lí nước ngoài. Trong khi đó các công trình lí thuyết thì trong toán học cũng như trong vật lí, ở nhiều lĩnh vực cơ bản, rõ ràng chúng ta đang dẫn đầu và chiếm vị trí xứng đáng trong khoa học thế giới.  Sự lạc hậu trong vật lí thực nghiệm, sự tách rời giữa lí thuyết và thực hành, giữa lí thuyết và cuộc sống không chỉ xảy ra trong vật lý mà cả trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên khác, là yếu tố nghiêm trọng phá vỡ sự phát triển bình thường của khoa học. Vì vậy, chúng ta cần thực hiện các biện pháp để đẩy mạnh các công trình nghiên cứu thực nghiệm. Trước hết phải làm rõ nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của khoa học thực nghiệm và phá vỡ mối liên hệ bình thường giữa nhà khoa học lí thuyết với thực tiễn.          Trong các lĩnh vực lớn của vật lí thực  nghiệm như chinh phục vũ trụ, nghiên cứu plasma, nghiên cứu hạt nhân,  xây dựng máy gia tốc, với một đội ngũ các nhà kh oa học có qui mô rất  lớn và vai trò nhà lãnh đạo là quyết định. Chỉ có sự lựa chọn đúng đắn  những người này mới có thể đảm bảo thắng lợi.        Từ lịch sử phát triển vật lí thấy rõ rằng sự phân chia thành các nhà vật lí lí thuyết và thực nghiệm mới xảy ra cách đây chưa lâu. Trước đây không chỉ Newton và Huygens mà ngay những nhà lí thuyết như Maxwell cũng thường tự mình kiểm chứng các kết luận lí thuyết của mình. Ngày nay chỉ trong một số trường hợp hạn hữu nhà lí thuyết mới tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng lí thuyết của mình. Nguyên nhân chủ yếu là do kĩ thuật thử nghiệm đã trở nên phức tạp hơn, nó đòi hỏi cố gắng rất lớn, thường vượt quá sức của một người và đòi hỏi sự hợp tác của cả một tập thể các nhà khoa học.  Từ những điều vừa nói cho thấy tất yếu có sự chênh lệch giữa số lượng các công trình lí thuyết và khả năng kiểm nghiệm của chúng trên thực tế. Thật vậy, giả dụ nhà lí thuyết mỗi năm cho công bố 4 công trình, và để kiểm nghiệm cần một nhóm, chẳng hạn năm người tiến hành trong một năm hay năm rưỡi. Như vậy mỗi năm cần 20 -30 nhà thực nghiệm cho một nhà lí thuyết. Đây tất nhiên là một lược đồ thô thiển nhưng nó cho ta thấy sự tương quan giữa các nhà lí thuyết và thực nghiệm. Nhưng ngày nay số lượng các nhà vật lí lí thuyết và thực nghiệm là ngang nhau. Kết quả là phần lớn các kết luận lí thuyết không được kiểm chứng.  Để phát triển hài hòa khoa học tất nhiên phải làm sao để lí thuyết không tách rời thực nghiệm và điều đó chỉ có thể khi lí thuyết dựa trên cơ sở thực nghiệm đủ mạnh. Thế thì tại sao ở nước ta lại có ít người làm công việc thực nghiệm và công việc thực nghiệm lại không được tổ chức tốt ở nước ta?  Câu trả lời rất đơn giản: Trong điều kiện của chúng ta, công việc của nhà thực nghiệm nặng nhọc hơn nhiều nhà lí thuyết. Nhà thực nghiệm không chỉ phải hiểu lí thuyết mà còn phải có hàng loạt kĩ năng làm việc với thiết bị, lại cần lập được một tập thể làm việc thành thạo, thông thường công việc thực nghiệm đòi hỏi làm việc liên tục cả ngày lẫn đêm. Tất cả những điều đó dẫn đến một thực trạng là nhà thực nghiệm với tư cách nhà khoa học đạt được học vị chậm hơn nhiều so với nhà vật lí lí thuyết.          Sự phát triển hài hòa lí thuyết và thực  nghiệm là tuyệt đối cần thiết trong mọi lĩnh vực của khoa học tự nhiên  và chất lượng thực nghiệm tốt là điều kiện cần thiết để xây dựng lí  thuyết cũng như để thu được các kết quả thực tiễn.        Nhà lãnh đạo của các nhóm thực nghiệm cũng bị đặt vào những điều kiện rất khó khăn. Ông ta chịu trách nhiệm rất lớn trong toàn bộ công việc nhưng do trên thực tế thường không tham gia trực tiếp nên người ta vẫn cho là không nên có tên ông trong tập thể tác giả. Bởi vậy rất khó thu hút các cán bộ khoa học có năng lực để họ nhận các vị trí lãnh đạo phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu. Những vị trí này ở ta thường giao cho các cán bộ có kĩ năng hành chính, thiếu năng lực sáng tạo khoa học, kết quả là tập thể sẽ dần dần làm việc kém hiệu quả và chất lượng công trình thực nghiệm từ đó cũng giảm xuống.  Sự tách rời khỏi thực nghiệm và cuộc sống cũng đang diễn ra với các nhà triết học nghiên cứu các vấn đề triết học tự nhiên. Ví dụ điển hình nhất là thái độ của họ đối với ngành điều khiển học cuối những năm bốn mươi, năm mươi khi điều khiển học bị coi là phản động, ngụy khoa học. Nếu như các nhà khoa học của chúng ta khi đó chấp nhận quan điểm này như là kim chỉ nam đối với sự phát triển tương lai của khoa học thì có thể nói công cuộc chinh phục vũ trụ mà chúng ta rất tự hào và nhờ đó cả thế giới tôn trọng chúng ta, đã không thể thực hiện được bởi không thể điều khiển được các con tàu vũ trụ mà thiếu các máy móc điều khiển học.  Và đây là một ví dụ nữa. Rất nhiều người trong chúng ta còn nhớ, một loạt các nhà triết học vận dụng phương pháp biện chứng đã phê phán thuyết tương đối. Họ cho rằng năng lượng tương đương với khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng (E=mc2) là không đúng, mặc dù các nhà vật lí từ lâu đã kiểm chứng định luật này của Einstein trên thí nghiệm với các hạt cơ bản. Để hiểu các thí nghiệm này đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc vật lí hiện đại, điều mà các nhà triết học không có.   Các ví dụ này thể hiện rõ nhất sự tách rời khỏi thực tiễn của một số nhà triết học. Và còn nhiều ví dụ nữa: sự đánh giá không đúng nguyên lí bất định trong lí thuyết lượng tử, lí thuyết cộng hưởng trong nghiên cứu các mối quan hệ hóa học, những kết luận không đúng của các triết học trong lĩnh vực sinh học.  Điều đó nói lên rằng việc áp dụng phép biện chứng vào lĩnh vực khoa học tự nhiên đòi hỏi hiểu biết cực kì sâu sắc các bằng chứng thực nghiệm và sự khái quát về mặt lí luận. Thiếu điều này tự bản thân phép biện chứng không thể đưa ra lời giải cho vấn đề. Nó giống như chiếc vĩ cầm Stradivari mang tên người thợ Ý lừng danh, chiếc vĩ cầm hoàn mĩ nhất nhưng muốn chơi nó phải là nhạc công và hiểu biết âm nhạc. Nếu không thì nó cũng chẳng khác gì một chiếc vĩ cầm bình thường khác.  Công việc của các nhà khoa học-tự nhiên học đã từng có những đóng góp lớn cho sự phát triển tri thức tự nhiên hiện đại tất yếu đã phải diễn ra trong sự kết hợp chặt chẽ lí thuyết và thực hành. Bởi vậy để phát triển khoa học tự nhiên trên nền tảng duy vật lành mạnh bất kì một kết luận lí thuyết nào nhất định phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm.   Trần Đức Lịch lược dịch   Từ cuốn “Эксперимент, Теория, Практика” của P.Kapitsa, nhà xuất bản “Nauka”, Moscow 1981)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự hiệu quả đến khó hiểu của toán học trong khoa học tự nhiên      Có một câu chuyện giữa hai người bạn từng học cùng lớp thời phổ thông, nói về công việc hiện tại của họ. Một người trở thành nhà thống kê nghiên cứu về các xu hướng phát triển dân số. Anh ta đưa ra một dữ liệu được biểu diễn bằng phân bố Gaussian, và giải thích cho bạn về ý nghĩa của các ký hiệu phản ánh tình trạng dân số, dân số trung bình, v.v. Người bạn ngạc nhiên hỏi: “Làm sao cậu biết được điều đó, và ký hiệu này có ý nghĩa gì?” Nhà thống kê nói đó là số Pi, chính là tỉ số giữa chu vi đường tròn với đường kính của nó. “Thôi đi, cậu đùa quá mức rồi đấy”, người bạn phản đối. “Chắc chắn rằng dân số không liên quan gì đến cái chu vi của đường tròn”.      Eugene Wigner (1902 -1995) là nhà vật lý, toán học người Mỹ gốc Hungary. Ông được trao giải Nobel vật lý năm 1963 “cho những đóng góp về lý thuyết hạt nhân nguyên tử và các hạt cơ bản, đặc biệt thông qua khám phá và ứng dụng các nguyên lý đối xứng cơ bản”.   Một cách tự nhiên, chúng ta chỉ mỉm cười về cái nhìn đơn giản của người bạn nọ. Tuy nhiên, khi nghe câu chuyện này, tôi phải thừa nhận một cảm giác huyền hoặc bởi phản ứng của người bạn kia là điều rất bình thường. Tôi thậm chí bị rối khi một vài ngày sau đó, một người khác tình cờ nói với tôi sự khó hiểu của anh ta về thực tế là các nhà nghiên cứu thường chỉ chọn một số ít dữ liệu để kiểm chứng lý thuyết của mình đưa ra. “Khi chúng ta tạo ra một lý thuyết tập trung vào các hiện tượng chưa được quan sát đầy đủ, và bỏ sót các hiện tượng khác lẽ ra phải được quan tâm đến, vậy làm sao ta biết rằng mình không thể xây dựng một lý thuyết khác, không hề giống lý thuyết đang có, nhưng hoàn toàn có khả năng tương đương trong việc lý giải các hiện tượng?” Phải thừa nhận rằng chúng ta không có bằng chứng phủ định sự tồn tại của một lý thuyết như thế.  Hai câu chuyện trên minh chứng cho hai điểm sẽ được bàn trong bài viết này. Điều đầu tiên là giữa những khái niệm toán học hình thành các mối liên hệ có khả năng mô tả các hiện tượng tự nhiên một cách chính xác ngoài mong đợi của chúng ta. Điều thứ hai, do thực tế như vậy và do chúng ta vẫn chưa hiểu căn nguyên dẫn tới sự hữu ích này, chúng ta cũng không thể khẳng định rằng một lý thuyết được diễn tả bằng các khái niệm toán học là chân lý duy nhất. Để dễ hiểu, chúng ta có thể hình dung về một người được cấp một chùm chìa khóa để mở nhiều cánh cửa nối tiếp nhau, và anh ta luôn dùng đúng chìa khóa với mỗi cánh cửa chỉ sau một hoặc hai lần thử. Kết quả đó khiến anh ta trở nên hoài nghi, rằng liệu có đúng là mỗi cánh cửa chỉ có thể được mở bằng một chìa duy nhất.  Bài viết này sẽ tập trung bàn về hiệu quả thần bí của toán học trong khoa học tự nhiên, điều không thể có lời giải thích hợp lý; việc này dẫn tới nghi vấn về tính đúng đắn duy nhất ở các lý thuyết vật lý. Để thiết lập điểm thứ nhất, rằng toán học đóng vai trò quan trọng đến mức khó lí giải trong vật lý, ta cần nói vài lời để trả lời câu hỏi, Toán học là gì? Rồi Vật lý là gì?, sau đó là câu hỏi toán học được áp dụng trong lý thuyết vật lý như thế nào, cuối cùng tại sao sự thành công của toán học trong vật lý gợi lên cảm giác khó hiểu.  Toán học là gì?  Toán học là khoa học của những thao tác nhuần nhuyễn trên các khái niệm và quy luật, những thứ được tạo ra thuần túy cho mục đích tự thân của toán học. Toán học chủ yếu chú trọng việc tạo ra những khái niệm mới, bởi nếu chỉ dựa trên những khái niệm cũ của những tiên đề sẵn có thì sẽ chẳng mấy chốc toán học sẽ không còn định lý nào mới mẻ thú vị. Toán học sơ cấp, đặc biệt là hình học sơ cấp, được xây dựng nhằm mô tả những đối tượng trực tiếp liên quan tới thế giới tự nhiên, nhưng điều này không còn đúng với những khái niệm toán học cao cấp hơn, cụ thể là những khái niệm đóng vai trò quan trọng trong vật lý học.  Trong thực tế, các khái niệm toán học với cách định nghĩa cho phép mở ra những suy xét thú vị và đột phá, chính là minh chứng đầu tiên cho thiên tài của các nhà toán học xây dựng nên các định nghĩa đó. Chiều sâu tư duy ẩn sau quá trình xây dựng các khái niệm toán học được bộc lộ ra về sau, thông qua những kỹ năng thao tác trên các khái niệm này. Nhà toán học thiên tài là người khai thác triệt để, tới tận cùng địa phận có thể tư duy, và đi đường vòng né qua những lãnh địa nơi không thể tư duy. Thật kỳ diệu khi sự táo tợn ấy không khiến anh ta sa lầy trong những kết quả mâu thuẫn nhau.  Điểm chính yếu cần lưu ý ở đây là nhà toán học sẽ tạo ra rất ít các định lý nếu họ không vượt rào, xây dựng những khái niệm nằm ngoài các tiên đề, được định nghĩa với tầm nhìn hướng tới những thao tác logic thông minh phù hợp với cảm quan của nhà toán học, cho ra những kết quả có tính bao quát và minh giản một cách tuyệt vời. Một ví dụ rất điển hình là số phức. Chắc chắn rằng các nhà toán học đưa ra khái niệm này mà không hề dựa trên một kinh nghiệm đời thực nào.  Vật lý là gì?  Điều các nhà vật lý quan tâm là khám phá những quy luật của tự nhiên. Vậy trước hết, cần hiểu rõ thế nào là quy luật của tự nhiên.  Như Schrodinger đã nói, bất chấp sự phức tạp khôn lường của tự nhiên, thật kỳ diệu rằng chúng ta vẫn có thể khám phá ra một số quy luật từ các sự kiện. Một trong những quy luật đó, được khám phá bởi Galileo, là hai hòn đá được thả từ cùng một độ cao ở cùng một thời điểm thì chạm mặt đất cùng một thời điểm. Quy luật do Galileo khám phá là hình mẫu cho một nhóm lớn các quy luật, nó đáng kinh ngạc bởi ba lý do.  Lí do thứ nhất là nó đúng không chỉ ở tháp nghiêng Pisa trong thời đại của Galileo, mà nó đúng ở mọi nơi mọi lúc. Tính chất này được ghi nhận là tính bất biến, một điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của vật lý học.  Điều đáng kinh ngạc thứ hai là quy luật mà chúng ta đang bàn đến không phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện tưởng chừng có thể liên quan. Bất kể trời mưa hay không, được tiến hành trong phòng hay từ tháp nghiêng Pisa, và bất kể người thả hòn đá là đàn ông hay phụ nữ,… rõ ràng, có vô số những điều kiện tưởng chừng có thể can thiệp nhưng thực chất không hề gây ảnh hưởng gì tới quy luật khám phá bởi Galileo. Sự không chịu ảnh hưởng bởi nhiều hoàn cảnh khác nhau cũng được coi là tính bất biến. Việc tìm ra những yếu tố có ảnh hưởng hay không có ảnh hưởng đến hiện tượng là công việc sơ khởi của những thí nghiệm thực tế trên con đường khám phá một lĩnh vực. Chính là kỹ năng và tài cán của của người thực hiện thí nghiệm đã chỉ ra cho anh ta thấy những hiện tượng chịu phụ thuộc vào một số ít các điều kiện có tính lặp lại và cho phép tiến hành tái thí nghiệm được. Trong trường hợp Galileo, bước tiến quan trọng ông đạt được là giới hạn điều kiện tiến hành thí nghiệm với những vật thể nặng. Nhấn mạnh một lần nữa, nếu như không có hiện tượng nào chỉ phụ thuộc vào một số ít điều kiện và độc lập với tất cả những điều kiện khác thì vật lý sẽ không thể hình thành và tồn tại.  Quay lại với quy luật của tự nhiên mà Galileo tìm ra, rằng một vật nặng rơi từ một độ cao cho sẵn rơi xuống đất trong một lượng thời gian không phụ thuộc vào kích thước, loại vật liệu và hình thù của vật rơi đó. Trong khuôn khổ định luật II của Newton, nó tương đương với phát biểu rằng trọng lực tác động lên vật rơi tỉ lệ thuận với khối lượng nhưng không phụ thuộc vào kích thước, chất liệu, và hình thù của vật rơi.  Như vậy, những quy luật của tự nhiên thực ra không tồn tại một cách tự nhiên [bởi thực chất chúng đã lược bỏ đi vô vàn các điều kiện, hoàn cảnh có trong tự nhiên, chỉ tập trung vào một số ít điều kiện chọn lọc nhất định nào đó], và việc con người tìm ra chúng lại càng không thể coi là điều tự nhiên. Tất cả những quy luật tự nhiên này chứa đựng chỉ một phần nhỏ hiểu biết của chúng ta về thế giới xung quanh. Tất cả các quy luật của tự nhiên là những phát biểu có điều kiện, chúng cho phép dự đoán một vài sự kiện trong tương lai dựa trên những kiến thức có được ở hiện tại, song dự đoán đó lại không liên hệ gì với phần lớn những yếu tố và điều kiện của thế giới đang hiện hữu – sự không liên hệ được hiểu theo nghĩa đã thảo luận tại điểm đáng kinh ngạc thứ hai về định lý của Galileo.  Trong trạng thái hiện tại của thế giới, nơi tồn tại trái đất cùng sự sống của nhân loại, nơi trước đây Galileo từng tiến hành thí nghiệm, nơi tồn tại mặt trời cùng tất cả những gì xung quanh chúng ta, ở đó các quy luật của tự nhiên hoàn toàn im lặng. Chúng được dùng để tiên đoán các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai nhưng chỉ đúng với điều kiện hết sức đặc biệt – đó là các yếu tố quyết định đến trạng thái hiện tại của thế giới đều đã được biết trước. Tuy nhiên, nhờ kỳ tích vĩ đại của các nhà vật lý, con người chế tạo được những cỗ máy vận hành một cách chính xác, trong đó nhà vật lý tạo ra một hoàn cảnh đặc thù nơi tất cả các yếu tố liên đới được biết trước và cho phép hoạt động của cỗ máy có thể dự đoán được. Ra đa và lò phản ứng hạt nhân là những ví dụ.  Trên đây chúng ta đã khẳng định rằng tất cả các quy luật của tự nhiên là những phát biểu đúng với các điều kiện nhất định và chúng chỉ liên hệ đến một phần rất nhỏ kiến thức của chúng ta về thế giới. Cũng cần nói cho chính xác hơn rằng, chúng ta đã khám phá ra 30 năm về trước rằng ngay cả các phát biểu kèm theo điều kiện cũng không đảm bảo tính chính xác: chúng chỉ là quy luật mang tính xác suất, cho phép chúng ta đánh cược một cách thông minh khi nhận định về các tính chất của thế giới tương lai. Tính xác suất của quy luật tự nhiên được phản ánh rõ trong các cỗ máy do con người chế tạo, có thể kiểm chứng ít nhất với các lò hạt nhân khi chạy ở mức năng lượng thấp.  Vai trò của toán học trong các lý thuyết vật lý  Một cách tự nhiên, chúng ta sử dụng toán học trong vật lý thường ngày để đánh giá kết quả của những quy luật tự nhiên, áp dụng những phát biểu có điều kiện vào những hoàn cảnh cụ thể, hiện hữu một cách rõ rệt hoặc khiến chúng ta chú ý vì lý do nào đó. Muốn vậy, quy luật của tự nhiên cần được diễn tả bằng ngôn ngữ toán học. Tuy nhiên, đánh giá hệ quả của các lý thuyết đã được thiết lập sẵn không phải là vai trò quan trọng nhất của toán học trong vật lý, bởi ở đó toán học hay đúng hơn là toán ứng dụng chỉ đơn giản được sử dụng như là một công cụ. Vai trò quan trọng hơn của toán học trong vật lý chính là điều ta đã khẳng định phía trên, rằng quy luật của tự nhiên phải được thể hiện bằng ngôn ngữ toán để có thể được xem xét bằng toán ứng dụng.  Vật lý học đã chọn một số ít khái niệm trong toán học để biểu diễn quy luật tự nhiên. Trong nhiều trường hợp, nếu không muốn nói là đa số các trường hợp, các nhà vật lý lựa chọn các khái niệm một cách độc lập, sau đó họ mới nhận ra rằng các khái niệm này đã được các nhà toán học sáng tạo ra trước đó. Tuy nhiên, người ta thường ngộ nhận rằng các nhà vật lý lựa chọn các khái niệm toán học bởi tính minh giản của chúng. Như chúng ta thấy, các nhà toán học xây dựng các khái niệm toán học không phải vì chúng đơn giản, mà nhằm dễ vận dụng các thao tác, dẫn tới những lý luận đột phá. Đừng quên rằng không gian Hilbert trong cơ học lượng tử là không gian Hilbert phức, với tích vô hướng Hermitean (Hermitean scalar product) mà số phức thì chắc chắn không hề đơn giản và cũng không xuất phát từ các hiện tượng quan sát được trong tự nhiên. Hơn nữa, việc sử dụng số phức trong trường hợp này không xuất phát từ đòi hỏi kỹ năng tính toán, mà là một phần không thể thiếu khi thiết lập quy luật cơ học lượng tử.  Lý giải tốt nhất cho sự xuất hiện các khái niệm toán học trong vật lý có lẽ nằm trong phát biểu của Einstein, rằng chỉ những lý thuyết vật lý đẹp đẽ mới có thể được chúng ta sẵn sàng công nhận. Điều đó gián tiếp minh chứng cho vẻ đẹp của các khái niệm toán học. Tuy nhiên, phát hiện của Einstein chỉ cho thấy tính chất của các lý thuyết mà chúng ta sẵn sàng tin tưởng, nó không hề chứng minh các lý thuyết đó là đúng đắn.  Thành công của các lý thuyết vật lý thật đáng kinh ngạc?  Việc sử dụng toán học để xây dựng các quy luật của tự nhiên có thể được tạm lý giải là do nhà vật lý hơi thiếu trách nhiệm. Khi thấy một sự liên hệ nào đó giữa hai đại lượng khá giống với một liên hệ đã biết nào đó trong toán học, anh ta thường nhanh chóng kết luận rằng mối liên hệ giữa các đại lượng kia chính là sự liên hệ sẵn có trong toán học, đơn giản vì anh ta không hề biết một sự liên hệ tương đương nào khác. Tuy nhiên, cần thấy rằng việc sử dụng công thức toán học căn cứ trên kinh nghiệm thô sơ của các nhà vật lý thường dẫn tới những mô tả chính xác một cách đáng kinh ngạc các hiện tượng trong nhiều trường hợp. Điều này cho thấy rằng ngôn ngữ toán học xứng đáng được ca ngợi, hay thực sự có thể nói, đó là một ngôn ngữ chính xác. Hãy xem xét một vài ví dụ sau.  Đầu tiên là sự di chuyển của các hành tinh. Quy luật về sự rơi của vật thể được thiết lập nhờ những thí nghiệm được tiến hành chủ yếu ở Italy. Những thí nghiệm này không thể đạt được độ chính xác như hiểu biết của chúng ta ngày nay, đơn giản vì ảnh hưởng lực cản của không khí và vì thời đó người ta chưa có khả năng đo các khoảng thời gian ngắn. Tuy vậy, những nhà khoa học tự nhiên Italia, thông qua các thí nghiệm, đã đạt được một sự hiểu biết tương đối tốt về sự di chuyển của vật thể trong không khí. Sau này, chính Newton đã nhìn thấy mối quan hệ giữa sự rơi tự do của vật thể với sự di chuyển của mặt trăng, nhìn thấy rằng quỹ đạo của một viên đá khi ném vào không trung và đường cong di chuyển của mặt trăng trên bầu trời là những trường hợp cụ thể của một hình ellipse, và đưa ra giả thuyết về lực hấp dẫn phổ quát dựa trên nền tảng của một sự trùng hợp ngẫu nhiên về số học. Xét về lý luận, quy luật về lực hấp dẫn như được mô tả bởi Newton quá cấp tiến so với thời đại của Newton cũng như với chính bản thân ông ta. Xét về thực nghiệm, nó dựa trên một quan sát quá ít ỏi. Ngôn ngữ toán học được sử dụng ở đây bao hàm khái niệm về đạo hàm bậc hai, một khái niệm khá trừu tượng với ngay cả đa số mọi người bình thường ngày nay. Tuy nhiên, kết quả là định luật về lực hấp dẫn mà Newton xây dựng đã được ông tự kiểm chứng với độ chính xác sai lệch khoảng 4%, ngày nay đã được khoa học chứng minh với độ chính xác sai lệch dưới 0,0001%, xem như gần chính xác tuyệt đối (R.H. Dicke. Am. Sci. t.25, 1959).  Ví dụ thứ hai liên quan đến cơ học lượng tử cơ bản (elementary quantum mechanics). Điều này bắt nguồn từ phát hiện của Max Born rằng những phép tính mà Heisenberg đưa ra giống hệt phép tính ma trận từ lâu vẫn được các nhà toán học sử dụng. Born, Jordan và Heisenberg, sau đó, đề nghị dùng ma trận thay thế những biến số liên quan đến vị trí và động lượng của những phương trình cơ học cổ điển. Họ áp dụng phép tính ma trận này vào các trường hợp lý tưởng và đạt được kết quả như mong đợi. Tuy nhiên, thời điểm đó chưa có bằng chứng nào cho thấy phương pháp ma trận trong cơ học áp dụng được vào những điều kiện thực tế. Phải tới sau này, tính toán năng lượng thấp nhất của helium được thực hiện bởi Kinoshita ở Đại học Cornell và Bazley ở Cục Tiêu chuẩn mới cho thấy sự phù hợp với kết quả thực nghiệm chính xác tới 1/10 triệu. Rõ ràng, ở đây các nhà vật lý đã may mắn thu được một kết quả mà họ không ngờ tới. Đây là điều kỳ diệu điển hình nhất mà ta từng biết trong quá trình phát triển của cơ học lượng tử cơ bản, và nhờ có những thành công đặc biệt như vậy, chúng ta mới có thể tin rằng lý thuyết này là đúng đắn.  Ví dụ cuối cùng liên quan đến điện động lực học lượng tử (quantum electrodynamics), hay lý thuyết về sự dịch chuyển Lamb. Khác với lý thuyết về lực hấp dẫn của Newton vẫn có những liên hệ rõ ràng với thực nghiệm, những ma trận cơ học lượng tử được xây dựng một cách thuần túy trừu tượng theo mô tả của Heisenberg. Lý thuyết lượng tử về sự chuyển dịch Lamb, như đã được khái niệm hóa bởi Bethe và được thiết lập bởi Schwinger, là một lý thuyết thuần túy toán học. Thực nghiệm chỉ đóng vai trò khi kiểm chứng sự tồn tại của các thông số đo đạc, cho thấy độ chính xác đạt được tốt hơn một phần nghìn.  Có thể nêu ra vô vàn ví dụ khác ngoài ba trường hợp nêu trên, cho thấy các nhà vật lý đã lựa chọn các khái niệm một cách phù hợp trong quá trình xây dựng mô hình toán học cho các quy luật của tự nhiên, đạt được mức chính xác gần như kỳ diệu, tuy nhiên lại kèm theo những điều kiện ràng buộc hết sức ngặt nghèo. Những thí nghiệm này minh chứng cho điều mà chúng ta có thể gọi là quy tắc thực nghiệm của nhận thức. Cùng với những quy tắc về tính bất biến, nó tạo nên nền tảng không thể thay thế cho những lý thuyết vật lý. Nếu không có các quy tắc về tính bất biến, các định luật vật lý sẽ không có nền tảng thực nghiệm nào; nếu quy tắc thực nghiệm của nhận thức là không đúng, chúng ta sẽ thiếu động lực và niềm tin cần thiết, điều kiện tiên quyết dẫn tới khám phá thành công các quy luật của tự nhiên.  Những lý thuyết vật lý có phải không thể thay thế?  Rất có thể luôn tồn tại một số các quy luật của tự nhiên không hề gắn kết với nhau. Ở thời điểm hiện tại điều này là đúng, ví dụ giữa những quy luật di truyền và những quy luật của vật lý. Thậm chí có những quy luật tự nhiên mâu thuẫn với nhau, nhưng mỗi trong số chúng lại có sức thuyết phục trong từng lĩnh vực riêng. Chúng ta có thể phải bằng lòng thực tế ấy, hoặc là mong muốn xóa bỏ những mâu thuẫn đó của chúng ta sẽ ngày một phai nhạt, và không còn hứng thú tìm kiếm một chân lý bao trùm cuối cùng.  Toán học, nhìn một cách chính xác, không chỉ chứa đựng sự thật mà cả cái đẹp tối thượng, lạnh lùng và chính xác như những kiệt phẩm điêu khắc; nó không hề mơn trớn những bản ngã yếu đuối trong con người chúng ta, cũng không hề mang vẻ bề ngoài lộng lẫy như hội họa hay âm nhạc; toán học tinh khiết một cách cao cả và có khả năng thể hiện sự hoàn mỹ tuyệt đối mà chỉ thứ nghệ thuật cao nhất mới có thể làm được. Cảm xúc vui sướng chân thành, sự thăng hoa, vượt lên trên tầm vóc Con Người, đạt đến sự cao quý nhất, có thể được tìm thấy trong toán học cũng như trong thơ. Bertrand Russell, Nghiên cứu toán học    Một ví dụ điển hình trong vật lý là hai lý thuyết có sức mạnh to lớn được quan tâm hàng đầu, thuyết cơ học lượng tử và thuyết tương đối. Chúng có nguồn gốc từ hai nhóm hiện tượng độc lập. Thuyết tương đối áp dụng cho các vật thể vô cùng lớn, như các ngôi sao, tuy nhiên, khi xem xét đến tận cùng tại điểm khởi nguồn trong không – thời gian, tức là sự kiện cơ bản nhất trong thuyết tương đối, người ta phải tìm hiểu sự tương tác xảy ra cùng một lúc giữa các hạt ở quy mô vô cùng nhỏ. Thuyết cơ học lượng tử bắt nguồn từ thế giới vi mô, nhìn từ thuyết này thì sự va chạm, thậm chí nếu xảy ra giữa các hạt rất gần nhau trong không gian, không phải là nhỏ nhất và thậm chí không thể tách biệt trong không thời gian. Hai thuyết vận hành với các khái niệm toán học khác nhau – một thuyết sử dụng không gian 4 chiều Riemann, thuyết còn lại dùng không gian Hilbert (không xác định số chiều). Cho đến nay, hai thuyết này không thể hợp nhất, có nghĩa là chưa có mô hình toán học nào cho phép hợp nhất hai thuyết này để đạt đến một mô hình gần đúng cho cả hai. Tất cả các nhà vật lý đều tin rằng việc hợp nhất hai lý thuyết đó là có thể và chúng ta sẽ tìm ra cách. Tuy vậy, cũng hoàn toàn có thể chúng ta sẽ không bao giờ hợp nhất được hai thuyết trên.  Một nghịch lý khác là một số thuyết vật lý mà chúng ta biết là sai nhưng lại cho những kết quả đúng đến kinh ngạc. Nếu sự hiểu biết của chúng ta ít hơn, căn cứ trên một lượng hữu hạn những kết quả đúng từ các lý thuyết “sai” này cũng đủ làm cho chúng ta tin rằng các thuyết đó là đúng và đã được chứng minh. Tuy nhiên, chúng bị coi là sai sau khi chúng ta thực hiện các phân tích trên một bình diện bao quát hơn và dẫn tới những kết quả không tương thích. Khi các lý thuyết sai đạt tới một số lượng đủ lớn, sẽ xuất hiện tình trạng mâu thuẫn nhau. Tương tự như vậy, các lý thuyết ngày nay được coi là đúng nhờ các căn cứ số liệu mà chúng ta cho rằng đã đủ thỏa mãn, nhưng chúng cũng hoàn toàn có thể mâu thuẫn với một lý thuyết tổng quát hơn nào đó ở một tầm mức mà năng lực hiểu biết và khám phá ngày nay của con người chưa đạt tới. Nếu điều này là đúng, sự mâu thuẫn giữa các lý thuyết sẽ đến lúc xuất hiện ngày càng nhiều, trở thành cơn ác mộng cho các nhà lý thuyết.  Hãy nhìn lại một số lý thuyết “sai” nhưng lại mô tả đúng nhiều nhóm các hiện tượng. Ví dụ như thuyết electron tự do (free-electron theory) mà ngày nay chỉ được coi là sự mô tả gần đúng các hiện tượng liên quan đến chất rắn, cần được thay thế bằng một lý thuyết khác chính xác hơn. Tuy nhiên, thuyết electron tự do vẫn có khả năng mô tả vô cùng chính xác nhiều tính chất của kim loại, chất bán dẫn, và chất cách điện. Đặc biệt nó có thể giải thích hiện tượng chất cách điện có điện trở riêng đạt tới 226 lần lớn hơn kim loại, điều không thể lý giải bởi bất kỳ thuyết nào khác được biết đến. Thực tế đó quả là gây phiền lòng, khiến chúng ta nghi ngờ về sự phù hợp số học giữa lý thuyết với thực nghiệm, rằng liệu đó có thể coi như bằng chứng cho sự đúng đắn của một lý thuyết?  Sẽ còn nan giải và khó hiểu hơn nếu một ngày nào đó chúng ta có thể thiết lập được lý thuyết về các hiện tượng của nhận thức, hay của sinh vật học, đạt đến mức độ thống nhất và đáng tin cậy như các lý thuyết vật lý. Quy luật của Mendel về sự di truyền và những nghiên cứu về sau liên quan đến gene có thể cung cấp một sự khởi đầu cho một lý thuyết như vậy. Hơn nữa, rất có thể người ta tìm ra sự mâu thuẫn giữa một lý thuyết như vậy với các nguyên lý đã được thừa nhận của vật lý. Lý luận đó có thể trừu tượng tới mức mâu thuẫn giữa hai bên là không thể hóa giải hoặc phân xử thông qua thí nghiệm. Điều ấy sẽ ảnh hưởng mạnh đến lòng tin dành cho các lý thuyết của chúng ta cũng như cho cách thức hình thành các khái niệm mà chúng ta vẫn tiến hành trong thực tế, và khiến chúng ta nản lòng một cách sâu sắc trong cuộc truy tìm một chân lý bao trùm cuối cùng.  Một kịch bản như vậy là điều chúng ta không thể bác bỏ, chủ yếu bởi ta không hề biết vì sao các lý thuyết con người xây dựng được lại chính xác đến vậy nên sự chính xác ấy chưa hẳn đã minh chứng cho chân lý và cũng không chắc sẽ đảm bảo nhất quán xuyên suốt. Người viết tin rằng một hiện tượng như vậy hoàn toàn có thể xảy ra nếu ta đem những quy luật di truyền trong sinh học đối mặt với những quy luật trong vật lý.  Tóm lại, sự diệu kỳ của ngôn ngữ toán học trong việc biểu diễn các quy luật trong vật lý là một món quà tuyệt vời mà con người không thể lý giải, và cũng không thể coi đó là phần thưởng mà chúng ta xứng đáng được nhận. Vì vậy, hãy biết ơn điều đó, và hy vọng rằng nó sẽ tiếp tục kéo dài trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của chúng ta trên mọi lĩnh vực.  Lê Quốc Chơn dịch từ bài viết The Unreasonable Effectiveness of Mathematics in the Natural Sciences của Eugene Wigner,  Thanh Xuân lược và hiệu đính  Nguồn: https://www.dartmouth.edu/~matc/MathDrama/reading/Wigner.html       Author                Eugene Wigner        
__label__tiasang Sự hình thành đường biên giới Việt Nam – Campuchia thời Nguyễn      Bài viết này phản bác lại luận điểm rằng đường biên giới Việt Nam-Campuchia là sáng tạo của người Pháp. Trái lại, nó là sản phẩm của các nỗ lực của nhà Nguyễn ở đầu thế kỷ XIX trong việc hoạch định biên giới, tổ chức lãnh thổ, và xác lập các hệ thống phòng thủ, cũng như bố trí dân cư dọc theo đường ranh giới mà theo đó sẽ định hình nên đường biên hiện đại giữa hai quốc gia.      Đường ranh giới Việt Nam-Cao Miên trên bản đồ tỉnh An Giang. Nguồn: “Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ” (1861, EFEO microfilm, A.1600, 76a).  Các lập luận về lãnh thổ và biên giới của Campuchia từ giữa thế kỷ XX liên quan đến hai vấn đề lớn: thứ nhất là vùng hạ lưu sông Mekong thuộc về ai? Và đường biên giới ngày nay hình thành như thế nào? Cả hai đều liên quan đến một diễn trình lịch sử lâu dài và cực kỳ phức tạp trong suốt hai nghìn năm qua mà nhiều câu hỏi trong số đó vẫn chưa được giải đáp một cách thỏa đáng. Vấn đề thứ nhất là rất nan giải, có thể được bắt đầu từ vương quốc Phù Nam. Liệu những người Phù Nam này là các cư dân nói tiếng Nam Á hay Nam Đảo? Quan hệ giữa Phù Nam với các vương quốc người Khmer là như thế nào? Khi “Tân Đường Thư” nói rằng Chân Lạp của người Khmer đã xâm lược Phù Nam vào thế kỷ thứ VII và sau đó phân chia thành “Thủy Chân Lạp” và “Lục Chân Lạp” thì điều đó có ý nghĩa gì về mặt lãnh thổ? Những người Khmer sau đó đã cư trú ở vùng hạ lưu Mekong như thế nào từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII? Chúng ta cũng biết khi phái đoàn nhà Nguyên do Chu Đạt Quan dẫn đầu đến Angkor vào cuối thế kỷ XIII đã mô tả các vùng đất dọc theo sông Mekong không hề có cư dân mà chủ yếu là rừng rậm và các bầy trâu nước. Sử gia Nhật Bản Yumio Sakurai thì lập luận rằng người Khmer đã bỏ hoang nhiều khu vực ở hạ lưu sông Mekong như vùng Đồng Tháp Mười trong hơn một nghìn năm. Vượt qua các vấn đề về chủng tộc và ngôn ngữ, chúng ta vẫn chưa rõ về mối quan hệ giữa các trung tâm chính trị vùng hạ lưu sông Mekong trước thế kỷ XVII cũng như sự ràng buộc của các thủ lĩnh Khmer hạ lưu (Okna) với triều đình Campuchia vùng thượng lưu cho đến khi hình thành các nhà nước tập quyền sơ kỳ hiện đại. Liệu mối quan hệ này nằm trong cấu trúc lỏng lẻo như mô tả ở Đông Nam Á truyền thống như các chính thể theo giải ngân hà hay mạng lưới mandala (galactic polities or mandala systems – đề cập đến mối quan hệ lỏng lẻo giữa các trung tâm quyền lực với các thế lực địa phương).  Vấn đề xác định lịch sử đường biên cũng không dễ dàng vì những biến động lịch sử ở cả Việt Nam và Campuchia trong suốt 200 năm qua, kể từ khi Việt Nam được thống nhất vào năm 1802 và chính thức xác lập quyền kiểm soát đầy đủ và có hệ thống ở hạ lưu sông Mekong. Mặc dù người Pháp vẽ các bản đồ mà từ đó đường biên giới này được quốc tế công nhận, và sau này cả Việt Nam và Campuchia dựa vào đó để hoạch định đường biên, thực tế là nó dựa trên cơ sở của đường biên xác lập bởi nhà Nguyễn và các vương triều Campuchia từ 1755 đến 1847, thông qua chiến tranh, mở rộng lãnh thổ, cắt nhượng đất đai, di cư, xây dựng hệ thống thủy lợi, và các tuyến phòng thủ. Nhà Nguyễn đã sử dụng các yếu tố địa lý tự nhiên như phương tiện xây dựng hệ thống quân sự, bố trí dân cư và từng bước tổ chức hệ thống hành chính nhằm “lãnh thổ hóa” vùng hạ lưu Mekong. Đến giữa thế kỷ XIX thì về cơ bản đường ranh giới này đã được định hình và được công nhận bởi cả Huế, Phnom Penh và Bangkok. Điều này chống lại hoàn toàn lập luận từng rất phổ biến của Campuchia là người Pháp lấy sáu tỉnh Nam Kỳ trong tay Campuchia vì thế cần phải trả lại cho Campuchia trong quá trình phi thực dân hóa.    Bản đồ tỉnh Hà Tiên. Nguồn: “Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ” (1861, EFEO microfilm, A. 68, 170b).  Dự án lãnh thổ hóa hạ lưu Mekong và thiết lập đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia được thực hiện dưới ba triều vua là Gia Long (1802-1820), Minh Mệnh (1820-1841), và Thiệu Trị (1841-1847). Một trong những giai đoạn đỉnh cao của nó chính là việc Minh Mệnh can dự trực tiếp vào Campuchia trong những năm 1830s, thiết lập nền cai trị trực tiếp và chia lãnh thổ của vương quốc này thành 11 phủ và 25 huyện. Tuy nhiên cuộc xâm lược của Bangkok và nổi dậy của người Khmer dưới sự giúp sức của người Thái đã nhanh chóng làm thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực dẫn đến việc Thiệu Trị rút quân về nước, công nhận vua Campuchia là Ang Duong với tư cách đồng thời là chư hầu của Bangkok và Huế. Sự kiện này chấm dứt tham vọng của triều Nguyễn ở Campuchia, đồng thời cũng củng cố các nỗ lực nhằm xác lập đường biên giới Việt Nam-Campuchia dựa trên các đường gianh giới tự nhiên, quân sự, và dân cư.  Nguyễn Ánh, người sáng lập vương triều Nguyễn cũng chính là người đầu tiên nhận thức được vai trò chiến lược của hạ lưu sông Mekong và biến nó thành sức mạnh trong cuộc tranh chấp quyền lực ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Sau gần ba thập kỷ tiến hành chiến tranh, chiến thắng của ông vào năm 1802 trước Tây Sơn đã lần đầu tiên hình thành một Việt Nam thống nhất từ biên giới Việt-Trung đến bờ vịnh Thái Lan. Tuy nhiên, dù Huế kiểm soát các khu vực quan trọng như Quang Hóa (Tây Ninh), và các khu dân cư dọc theo Châu Đốc, Hà Tiên và các hòn đảo trong Vịnh Thái Lan như Phú Quốc, chưa có một đường ranh giới thống nhất và được hoạch định rõ ràng giữa Việt Nam và Campuchia. Thực tế là Hà Tiên vẫn nằm dưới sự kiểm soát của họ Mạc (dù họ được bổ nhiệm bởi Huế). Ớ phía tây Hà Tiên vẫn còn tình trạng xen lẫn các nhóm quân sự Việt Nam và Thái. Một số trong các đạo quân này được cử đến chiếm đóng từ thời vua Taksin của vương triều Thonburi (1767-1782). Chính Gia Long viết thư yêu cầu Bangkok rút các lực lượng này về, theo ghi chép cả cả biên niên sử hoàng gia Thái Lan và ghi chép của sứ đoàn triều Nguyễn năm 1810 (xem Xiêm La Quốc Lộ Trình Tạp Lục).      Mặc dù người Pháp vẽ các bản đồ mà từ đó đường biên giới này được quốc tế công nhận, và sau này cả Việt Nam và Campuchia dựa vào đó để hoạch định đường biên, thực tế là nó dựa trên cơ sở của đường biên xác lập bởi nhà Nguyễn và các vương triều Campuchia từ 1755 đến 1847, thông qua chiến tranh, mở rộng lãnh thổ, cắt nhượng đất đai, di cư, xây dựng hệ thống thủy lợi, và các tuyến phòng thủ.      Sự thay đổi mạnh mẽ về cấu trúc chính trị, phân chia địa lý và tổ chức dân cư dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia được định hình về cơ bản dưới thời Minh Mệnh (1820-1841). Quá trình này là hệ quả của nhiều nhân tố, bao gồm có sự gia tăng xung đột giữa Huế và Bangkok xung quanh vấn đề Campuchia. Năm 1813, nhà Nguyễn phái 13,000 đưa vua Campuchia là Ang Chan về nước, đồng thời gia tăng quyền lực cho viên quan bảo hộ Chân Lạp trong việc kết nối tình hình ở Campuchia với thành Gia Định. Điều này thúc đẩy các tranh chấp quân sự và lãnh thổ giữa Bangkok và Huế trong ba thập kỷ sau đó dẫn đến việc các hệ thống phòng thủ quân sự được xây dựng quy mô dọc theo Tây Ninh, Châu Đốc, Tân Châu, Hà Tiên, Phú Quốc và sự gia tăng của binh lính đồn trú. Yếu tố thứ hai chính là sự gia tăng của các di dân người Việt và người Hoa dưới sự bảo trợ của hệ thống hành chính và quân sự triều Nguyễn thiết lập làng xóm, đồn điền dọc theo các kênh đào, thành lũy quân sự và đường mới xây dựng.  Các kênh đào và hệ thống đường bộ được xây dựng với quy mô lớn thời Minh Mệnh giúp người Việt củng cố việc kiểm soát lãnh thổ, di cư, và xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc chống lại các cuộc tấn công xâm lược của người Thái và nổi dậy của người Khmer. Kênh Vĩnh Tế dài 87 km nối liền Hà Tiên với Châu Đốc đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong dự án chính trị và lãnh thổ của người Việt nửa đầu thế kỷ XIX. Hàng vạn người Việt và Khmer được huy động xây dựng các hệ thống thủy lợi, kênh rạch, đường xá đã làm thay đổi phân bố dân cư, thiết lập các cấu trúc mới về không gian lãnh thổ và quan hệ chính trị ở hạ lưu sông Mekong. Hệ quả của nó là sự mở rộng của không gian hành chính và lãnh thổ của nhà Nguyễn. Khi kênh Vĩnh Tế được hình thành, có khoảng 20 làng mới được thiết lập dọc theo bờ đông. Các con đường mới cũng được xây dựng ở Châu Đốc và vùng núi Sam nhằm kết nối các khu dân cư mới với các thành lũy quân sự dọc theo con kênh mới. Vào năm 1819, Hà Tiên có số nhân khẩu khoảng 1,500 đinh và đội lính 250 người. Dự án tập quyền hóa của Minh Mệnh đã loại bỏ những tàn tích tự trị cuối cùng của họ Mạc và đưa vùng đất này dưới sự kiểm soát trực tiếp của Huế. Năm 1822, Hà Tiên được bổ nhiệm thêm chức quan đốc học, một dấu hiệu cho thấy vùng biên cương này được kết nối văn hóa và giáo dục với trung tâm. Năm 1826, Hà Tiên cùng với Long Xuyên và Kiên Giang được sáp nhập để thành phủ An Biên – mà ý nghĩa của vùng lãnh thổ như tên gọi của nó, “biên cương an bình”.    Bản đồ Châu thổ Mekong và đường biên giới hiện đại Việtnam –Campuchia. Nguồn: Li Tana và Nola Cooke. Water Frontier, 2004, tr. 136  Các chiến dịch quân sự trong những năm 1830 giúp hoạch định rõ hơn đường biên này. Phú Quốc, Châu Đốc, An Giang, Tân Châu trở thành các thành lũy quân sự quan trọng chống lại cuộc xâm lược của Bangkok (1833-1834), cũng như làm bàn đạp củng cố sự hiện diện quân sự của Việt Nam ở Campuchia. Phú Quốc đóng vai trò đặc biệt quan trọng kiểm soát giao thương hàng hải và thủy quân ở phía đông Vịnh Thái Lan. Năm 1832, Minh Mệnh cho xây dựng pháo đài trên đảo Phú Quốc. Năm sau, tuần phủ Hà Tiên yêu cầu sáp nhập 13 hòn đảo vào địa hạt của mình, bao gồm Thổ Chu và Phú Quốc. Đến năm 1837, Minh Mệnh yêu cầu các quan chức đo đạc khoảng cách và vẽ bản đồ các hòn đảo dâng trình. Hà Tiên và Châu Đốc trở thành cửa ngõ kiểm soát Vĩnh Tế, trong khi con kênh này trở thành tuyến giao thương chiến lược cho thủy quân và các hệ thống quân sự nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân Xiêm xuống hạ lưu sông Mekong. Họ đã nhiều lần dự định lấp kênh Vĩnh Tế nhưng thất bại. Viên tướng chỉ huy là Chao Phraya Bodindecha từng yêu cầu quân lính ở Hà Tiên, Kampot và Kampong Som “bắt dân di cư, đốt hết nhà cửa ở tất cả các làng mạc và hủy hoại các thành phố, chỉ để lại rừng rậm và sông ngòi mà thôi.” Điều này thúc đẩy nỗ lực của nhà Nguyễn nhằm củng cố hệ thống phòng ngự dọc theo kênh Vĩnh Tế. Nguyễn Tri Phương đã xây một loạt đồn bảo ở Tiên Nông, Vĩnh Thông, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều dọc theo kênh Vĩnh Tế.  Cùng với sự hiện diện quân sự và cấu trúc hành chính của triều Nguyễn được xác lập vững chắc dọc theo đường biên. Một trong những trung tâm chính trị và quân sự quan trọng nhất được mở rộng là Châu Đốc. Năm 1832, tỉnh An Giang được thành lập. Đến năm 1836, Huế đã có thể tiến hành đo đạc ruộng đất, xác lập địa bạ và hệ thống quản lí đất đai ở khu vực này. Điều này dẫn đến sự gia tăng dân số đáng kể. Năm 1838, Hà Tiên và An Giang đã có số đinh lên đến 23,000, dựa theo thống kê từ Đại Nam Thực Lục. Rõ ràng sau ba thập kỷ tăng cường hiện diện quân sự, xây dựng hệ thống kênh đào, đường sá, thông tin liên lạc, và các khu dân cư dọc theo biên giới, hình hài của đường biên giữa Việt Nam và Campuchia đã từng bước được định hình.  Rõ ràng là trước khi có người Pháp đến, đường biên giới giữa Việt Nam với Campuchia đã từng bước được định hình thông qua tương tác quân sự, di dân, và các dự án chính trị. Cũng dọc theo kênh Vĩnh Tế trong những năm 1840s, Nguyễn Tri Phương đã yêu cầu thành lập thêm nhiều đồn bảo để ngăn chặn sự xâm nhập của người Khmer, đặc biệt là ở các khu vực thuộc Đồng Tháp và Thất Sơn. Với việc Việt Nam và Xiêm rút quân khỏi Phnom Penh và cả hai công nhận địa vị chư hầu của Campuchia cuối những năm 1840s, thực tế cho thấy Huế, Bangkok, và Phnom Penh đã đi đến công nhận hiện trạng của đường biên này, ít nhất như chúng ta có thể phác thảo: từ Hà Tiên dọc theo kênh Vĩnh Tế, qua Châu Đốc và kéo dài lên Tây Ninh. Một trong những biểu hiện của sự ghi nhận này chính là việc các tập bản đồ của triều Nguyễn giữa thế kỷ XIX đã bắt đầu đề cập đến đường biên này (xem bản đồ minh họa). Như thế, sự hình thành của đường biên này là sản phẩm tương tác của chính các cư dân khu vực chứ không phải là sáng tạo của chủ nghĩa thực dân Phương Tây.  Các nguồn sử liệu về đường biên giới Việt Nam – Campuchia:   Hiện nay có các tư liệu sử quan phương cũng như ghi chép cá nhân đầu thế kỷ XIX cung cấp hệ thống chỉ dẫn phong phú về sự hình thành của đường biên này từ thời Gia Long đến Tự Đức. Hơn 400 tập Châu bản triều Nguyễn liên quan đến giai đoạn này (lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc Gia I) cung cấp nhiều tư liệu quý giá về sự can dự của triều Nguyễn vào Cambodia và các vấn đề dân sự-quân sự liên quan đến vùng biên. Một phần trong các văn bản tấu sớ chỉ dụ này được biên soạn thành các bộ sách như Đại Nam Thực Lục, Khâm Định Tiễu Bình Nam Kỳ Nghịch Phỉ Phương Lược Chính Biên, Khâm định tiễu bình Xiêm khấu phương lược chính biên… Các sách địa lý, nhật ký hành trình, tập bản đồ và ghi chép địa phương có số lượng tương đối phong phú, nhưng hầu như vẫn chưa được các nhà nghiên cứu Việt Nam khai thác đúng mức. Gần đây tập sách “Xiêm La Quốc Lộ trình tập lục” (1810) của Tống Phước Ngoạn và Dương Văn châu mới được giới thiệu đến độc giả. Ngoài ra có thể kể đến Mạc Thị gia phả (Vũ Thế Dinh, 1818), Trấn Tây Phong Thổ Ký (1836?), Trấn Tây Ký Lược (Doãn Uẩn, 1848), Cao Miên – Xiêm La sự tích (Cơ mật viện, 1853)… Các tập bản đồ và địa lý liên quan đến Nam Kỳ và Đại Nam thời Nguyễn: Bản Quốc Dư Đồ (EFEO: A.1106), Đại Nam Nhất thống dư đồ (EFEO: A.68, 1861), Đại Nam Toàn Đồ (EFEO: A.1600, 1861), Nam Bắc Kỳ họa đồ (EFEO: A.95)… ghi chép địa giới hành chính dân cư dọc vùng biên. Các bản đồ được giới thiệu thời Nguyễn rất quan trọng trong việc xác lập tuyên bố lãnh thổ của người Việt một cách liên tục trên vùng đất Nam Bộ. Đến giữa thế kỷ XIX, sự xác lập này đã được thể chế hóa thông qua hệ thống hành chính nhà nước. Sự thực hành lãnh thổ này sau đó nằm trong tay người Pháp với tư cách là người “bảo hộ”. Dù là kẻ xâm lược và cai trị cưỡng bức, tư liệu địa lý-hành chính của người Pháp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định sự hiện diện liên tục về chủ quyền của người Việt/và chính phủ đại diện (một cách cưỡng bức) cho người Việt. Trên cơ sở đó, từ các tập địa lý về Nam Bộ biên soạn bởi người Pháp từ những năm 1860s cho đến biên khảo địa lý Hà Tiên, An Giang đầu thế kỷ XX đều cho thấy sự hiện diện liên tục và thống nhất của đường biên giới này. Sự phong phú tư liệu về vùng biên này dưới thời Bảo Đại, thời Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cung cấp khối lượng tư liệu dồi dào cho các nhà nghiên cứu giúp phác thảo lại lịch sử phức tạp của vùng đất này.  Tham khảo  Vũ Đức Liêm. 2017. “Borderlands (Border Making in Vietnamese-Campuchian Frontier, 1802-1847).” Mekong Review 2 (2): 13–14.  Vũ Đức Liêm. 2016. “Vietnam at the Khmer Frontier: Boundary Politics, 1802–1847.” Cross-Currents: East Asian History and Culture Review 5 (2): 534–64.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Sự kết nối bộ phận nhân tạo với hệ thống thần kinh của con người      Con người với cánh tay robot, cặp mắt nhân tạo và đôi chân cơ học giờ đây không còn là mơ ước xa vời nữa. Các nhà y học và các chuyên gia kỹ thuật phối hợp ngày càng nhuần nhuyễn hơn trong việc chắp nối các bộ phận giả của cơ thể (prothese) với hệ thống thần kinh của con người – và biến chúng thành một bộ phận mới của cơ thể.    Cô bảo mẫu Amanda Kitts đi vào căn phòng tại một nhà trẻ ở Knoxville thuộc  bang Texas. Ngay lập tức mấy đứa trẻ bốn năm tuổi ào tới vây quanh cô. Cô bảo mẫu đặt hai bàn tay lên đầu gối và quay lại phía một trong số bé gái. Một vài đứa trẻ hét rõ to: “ô, cánh tay Robot!” Cô bảo mẫu đáp lại “Các con nhận ra nó rồi hả?”, rồi cô duỗi cánh tay trái. Cô lật ngửa bàn tay. Một tiếng động khe khẽ rung lên nhưng nếu không chú ý lắng nghe thì không ai nhận ra tiếng rung đó. Khi cô co tay, tiếng rung lại phát ra. Một cháu trai thận trọng sờ nhẹ  cánh tay cô. Chỗ mà cậu bé đụng tay vào là một loại chất dẻo có màu như màu da người. Chất dẻo này che những ngón tay hơi khum về phía trong. Bên dưới là ba cái động cơ, một cấu trúc bằng kim loại và một chùm điện tử có trình độ phát triển cao. Cánh tay giả này kết thúc ở gần đoạn trên cùng của cánh tay: Một miếng chất dẻo trùm lên đoạn còn sót lại ở trên cùng của cánh tay. Toàn bộ phần dưới của cánh tay đã bị mất trong một vụ tai nạn giao thông.   Nhưng thực ra mọi sự lại không phải hoàn toàn như vậy.  Trong bộ não của cô vẫn tồn tại hình ảnh của một cánh tay hoàn chỉnh –  đó là một cánh tay ma. Khi cô Kitts  tưởng tượng cô đang co cánh tay lại, thì trong não cô vẫn tạo ra những xung thần kinh, chúng được các sensor điện ở trong miếng phủ  bằng chất dẻo tiếp nhận và biến thành những tín hiệu điều khiển các động cơ. Từ đó khuỷu tay nhân tạo của cô cũng tự co lại.  Kitts thuộc về  nhóm  “những con người của ngày mai”, đó là các bộ phận của cơ thể bị thiếu hoặc bị hư hỏng và chúng được thay thế bằng những thiết bị kỹ thuật. Những thiết bị này được gắn kết với hệ thần kinh, và biết nhận lệnh điều khiển phát đi từ bộ não. Những thiết bị này là bộ phận cơ thể giả có thần kinh (neuronale Prothesen). Khái niệm Bionic cũng được xử dụng ngày càng nhiều hơn – đây chính là sự kết hợp giữa sinh học và điện tử.    Cánh tay bionic của cô Amanda Kitts được điều khiển trực tiếp từ bộ não. Cơ sở cho phương pháp này có tên là “tái kích thích thần kinh có mục đích cho cơ bắp”. Ở đây những dây thần kinh còn tồn tại sau khi bị cắt cụt vẫn có thể điều khiển sự hoạt động của prothese. Phương pháp này được thử nghiệm lần đầu tiên vào năm 2002 ở người bệnh. Năm 2006 ông Tommy Kitts, chồng của cô Amanda, đã được  đọc ít nhiều về vấn đề này. Khi đó vợ ông đang nằm viện. Một chiếc xe tải không những đã nghiền nát chiếc xe ô tô con của cô mà cả cánh tay trái  của cô, từ khuỷu tay, cẳng tay cho đến cả bàn tay đã bị dập nát hoàn toàn.  Ông Todd Kuiken vừa là bác sỹ vừa là kỹ thuật viên y học làm việc tại  Viện phục hồi chức năng ở Chicago chịu trách nhiệm về cánh tay bionic. Ông biết rõ thần kinh ở mấu lồi ở phần còn lại của cánh tay vẫn còn khả năng truyền dẫn tín hiệu từ bộ não. Ông cũng biết một máy tính đặt trong  prothese có thể làm cho các chi vận động thông qua các động cơ điện. Vấn đề là chỗ kết nối. Các dây thần kinh có thể dẫn dòng điện, nhưng người ta không thể đấu chúng một cách đơn giản vào cáp của máy tính. dây thần kinh và những sợi dây kim loại không thể kết nối với nhau. Vả lại đưa một sợi cáp qua vết thương mở vào cơ thể rất dễ gây nhiễm trùng.  Như thế có nghĩa là ông Kuiken cần một cái gì đó có khả năng truyền tín hiệu từ dây thần kinh vào hệ thống cáp của prothese. Giải pháp của ông là dựa vào bắp thịt. Khi cơ bắp co lại chúng tạo nên xung điện. Người ta có thể đặt một điện cực trên da để tiếp thu những xung đó. Ông Kuiken đã phát triển phương pháp lái dây thần kinh từ vị trí bị cắt cụt tới chỗ cơ bắp còn nguyên vẹn. Chúng sẽ truyền tín hiệu để điều khiển prothese.    Amanda Kitts  với cánh tay trái nhân tạo.  Dây thần kinh phát triển và kết nối với môi trường mới  Trong trường hợp của Amanda Kitts trước hết ông Kuiken tìm cách cứu mút cuối cùng của dây thần kinh,  trong điều kiện thông thường dây thần kinh này chạy qua toàn bộ cánh tay. Ông Kuiken cho hay  “vốn dĩ những dây thần kinh này có chức năng làm cho cánh tay và bàn tay cử động. Một nhà phẫu thuật đã nối những dây thần kinh đó với bốn vùng cơ bắp trong phần còn lại ở trên đầu cánh tay”. Và những sợi dây thần kinh này đã phát triển từng milimét một vào môi trường sống mới của chúng. Cô Kitts kể lại  “Sau ba tháng tôi có cảm giác thấy ngứa và nhột. Sau bốn tháng tôi cảm nhận được các phần của bàn tay bị cắt cụt   mỗi khi chạm vào phần còn lại trên cùng của cánh tay.  Tùy nơi tôi chạm vào, tôi như cảm thấy từng ngón tay một của mình.” Cái mà cô Kitts cảm nhận được chính là các phần của cánh tay ma còn tồn tại trong bộ não của cô mà nay nối liền với cơ bắp mới.  Khi cô Kitts tưởng tượng cô đang cử động những ngón tay của mình, nhưng thực sự từ lâu những ngón tay đó đã không còn tồn tại,  thực ra các cơ bắp ở phần trên bắp tay đã có sự co lại. Một tháng sau cô nhận được cánh tay bionic đầu tiên của mình.  Trên tấm  phủ che mút đầu cánh tay gắn điện cực có khả năng thu nhận các tín hiệu từ cơ bắp.  Những tín hiệu này được chuyển thành lệnh để cử động khuỷu  và bàn tay. Để thực hiện điều này cần có một microchip ở trong prothese có khả năng nhận đúng tín hiệu và chuyền các tín hiệu đó đến động cơ tương ứng. Nhưng vấn đề là ở chỗ lệnh nào có nghĩa là  “duỗi khuỷu tay” hay “vặn cổ tay”? Cánh tay ma của cô Kitts phải giúp vào việc tìm ra điều đó.   Computer sẽ nhớ những tín hiệu từ cơ bắp dẫn đến từng cử  động nhất định  qua prothese đã được lập trình. Trong tương lai khi Amanda Kitts tưởng tượng đến một cử động nhất định thì những tín hiệu này sẽ đưa các động cơ tương ứng vào hoạt  động.  Trường hợp của bệnh nhân  Eric Schremp lại khác, ông không cần các bàn tay nhân tạo. Điều ông mong muốn là bàn tay của ông phát huy được các chức năng vốn có của  nó. Schremp năm nay 40 tuổi. Năm 1992 ông bị gãy cổ; sau đó bị liệt ngang lưng. Thế nhưng gần đây ông  lại có thể sử dụng dao, nĩa. Được như vậy là nhờ một thiết bị cấy ghép (Implantat) mà kỹ thuật viên y học  Hunter Peckham đã phát triển, ông này làm việc tại trường đại học tư nhân ở Cleveland.  Đối với bệnh nhân  Schremp thì hệ cơ bắp ở ngón tay và dây thần kinh để điều khiển chúng vẫn còn hoạt động, nhưng những tín hiệu phát đi từ não bị chặn lại trong tủy cột sống ở cổ. Chuyên gia Peckham đặt tám điện cực mảnh như sợi tóc từ lồng ngực bệnh nhân Schremp chạy dưới da cánh tay trái cho tới tận các cơ bắp ở ngón tay. Khi một cơ bắp trong lồng ngực bệnh nhân Schremp co giật ngay lập tức một tín hiệu điện được phát đi. Tín hiệu này truyền đến Computer gắn trên chiếc xe lăn của người bệnh. Computer diễn giải tín hiệu và truyền trở lại tới máy thu nhận đặt trong lồng ngực người bệnh. Từ đây phát lệnh qua dây luồn trong cánh tay, qua bàn tay tới các ngón tay từ đó các ngón tay thi hành lệnh co, duỗi –  những lệnh này diễn ra với tốc độ một phần nghìn giây. Bệnh nhân Schremp kể  “Giờ đây tôi đã có thể cầm dĩa và tự ăn, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với tôi”. Cho đến nay đã có 250 bệnh nhân được thụ hưởng kỹ thuật đang được thử nghiệm này.  Tai điện tử  Một loại thiết bị bionic khác đã chứng minh sự kết nối giữa con người với máy móc có thể phát huy tác dụng lâu dài. Thiết bị này chính là ốc tai cấy  hay còn gọi là tai điện tử. Trên thế giới hiện có khoảng 200.000 người sử dụng loại tai điện tử này. Một trong những bệnh nhân ít tuổi nhất xử dụng tai điện tử là chú bé Aiden Kenny chưa đầy  hai năm tuổi. Cách đây một năm mẹ em là chị  Tammy phát hiện máy trợ thính không giúp ích gì cho con trai mình. Chị kể “thậm chí có lần chồng tôi lấy cả xoong nồi đập vào nhau cật lực mà cháu cũng không hề phản ứng”.  Hồi đó Aiden hoàn toàn không nghe thấy tiếng động ầm ĩ , nhưng hiện nay cháu đã nghe được. Tháng hai 2009 các chuyên gia phẫu thuật thuộc Johns-Hopkins-Hospital đã đưa 22 dây điện cực rất nhỏ tới tai hay nói chính xác hơn là đến tận ốc tai (Cochlea) của cháu. Ốc tai là một bộ phận ở tai trong nơi giao động âm thanh được truyền  dẫn đến thần kinh thính giác. Trong trường hợp của Aiden một microphone thu nhận âm thanh và phát tín hiệu thu được dưới dạng xung điện tới các điện cực từ đó kích thích thính giác thần kinh. Chị Tammy kể: “Khi các bác sỹ cho máy chạy chúng tôi cảm nhận ngay lập tức con chúng tôi đã có phản xạ với âm thanh”. Do Aiden đã nghe được nên cháu đã có thể học nói và chỉ ít lâu nữa cháu sẽ đuổi kịp các bạn cùng trang lứa.   Mắt bionic chưa có bước tiến xa như tai bionic. Tuy nhiên ở đây cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Các chuyên gia đã cấy những tấm chip lên võng mạc người mù tạo nên kích thích thị giác từ đó giúp người mù khôi phục được phần nào thị lực của mình. Sau khi cấy những tấm chip người mù có thể nhìn thấy các mảng hình khối ở xung quanh họ. Các nhà khoa học tin rằng nếu tăng số lượng điện cực tác động vào  những tấm chip thì thị lực của người bệnh sẽ còn tăng nhiều hơn nữa.  Xuân Hoài dịch (theo Spiegel)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sứ mệnh khai hóa: Nguồn gốc và những ngụy biện phân biệt chủng tộc      Lời tòa soạn: Giới học thuật trong nước vừa dấy lên cuộc tranh luận xung quanh cuốn sách ‘Tâm lý dân tộc An Nam’, mới được tái bản của Paul Giran, giữa một bên cho rằng cần phải chấp nhận, biết ơn những nhận xét thẳng thắn của tác giả để hiểu thêm về tâm lý dân tộc An Nam, với một bên phản đối những phê phán sự hèn kém của một dân tộc này so với dân tộc khác và cái gọi là trách nhiệm đi khai sáng, dựa trên tiến hóa luận và phân biệt chủng tộc sâu sắc. Để có một điểm tựa cho thảo luận, cần phải nhìn lại tường tận gốc rễ vấn đề này, hiểu rõ quan điểm của Paul Giran xuất phát từ nền tảng nào. Do đó, cùng thảo luận lại luận thuyết ‘sứ mệnh khai hóa’ đã được hình thành, xây đắp, biện hộ và sử dụng cho công cuộc khai thác thuộc địa trong suốt thế kỷ 19 ra sao, là điều cần thiết.           ‘Văn minh’ đẩy lùi ‘man rợ’. Nguồn: Library of Congress.  Khái niệm ‘sứ mệnh khai hóa’ được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật trước và sau cuộc Cách mạng Pháp 1789 nhưng thực sự phát triển vào thế kỷ 19 cùng lúc với công cuộc khai thác thuộc địa để biện minh cho chính hành động thực dân. ‘Sứ mệnh khai hóa’ được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học, chính trị gia, các thương nhân Pháp. Bằng cái gọi là ‘xác tín chính trị’ hoặc ‘thực chứng’ khoa học, họ đã tự khẳng định và thực thi ‘sứ mệnh cao cả’ này như một bổn phận của những dân tộc văn minh thượng đẳng đưa những tộc người hèn kém hạ đẳng thoát ra khỏi man rợ. ‘Sứ mệnh khai hóa’ là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa thực dân Pháp mà các nhà lý luận thực dân Pháp đề cao để phân biệt với kiểu thực dân ‘con buôn’ của Anh hay Hà Lan.     Thuyết cứu thế Pháp     Khái niệm sứ mệnh khai hóa dựa trên thuyết cứu thế của Pháp với niềm xác tín rằng Pháp quốc có sứ mệnh truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và có nghĩa vụ giải thoát các tộc người khỏi những bạo ngược của thiên tai, bệnh tật, dốt nát và sự chuyên chế bằng cách đem lại cho họ kỹ thuật, y tế, giáo dục và một nền quản trị trong sạch. Như vậy, Pháp quốc sẽ biến đổi các tộc người cả về thể chất lẫn tinh thần. Thuyết cứu thế có thể được định nghĩa là một loạt các huyền thuyết và ý tưởng chủ đạo, nó chi phối mạnh mẽ hoạt động văn hóa của Pháp trên thế giới.  Thuyết cứu thế này gắn liền của thuyết cứu thế của Thiên chúa giáo. Từ thế kỷ 17, trở thành ‘con cả của Giáo hội’, Pháp tiến hành một cuộc bành trướng văn hóa và kinh tế. Sự sắp đặt của lịch sử này tạo nên mối giao hòa giữa cái phổ quát của văn minh Pháp và cái phổ độ của Thiên chúa giáo. Nước Pháp trở thành ‘cường quốc cứu thế quan trọng bảo trợ trí tuệ và tinh thần bên ngoài biên giới Pháp và bên trong các đế chế và cường quốc khác’. Lúc đó, Pháp xuất khẩu những mẫu hình văn hóa và ngôn ngữ của mình dưới bức bình phong là thuyết thế giới đại đồng. Những kiểu mẫu này là công cụ hữu hiệu để ‘mua chuộc’ hay ‘lấy lòng’ giới tinh hoa Âu châu. Cuộc chinh phục văn hóa này thể hiện thứ logic của quyền lực, tiến bộ kỹ nghệ, khoa học và khái niệm hơn là mục đích thống trị của đế quốc.  Hai thứ thuyết cứu thế này đồng thuận bên ngoài lãnh thổ Pháp để truyền tải những giá trị quốc gia thông qua việc giảng dạy kiến thức cổ học nhân văn. Mặc cho cuộc bại trận của Pháp năm 1870 trong cuộc chiến Pháp – Phổ, thuyết cứu thế của Pháp tiếp tục phát huy ảnh hưởng và chỉ đạo hoạt động đối ngoại văn hóa của nước Pháp. Thậm chí hoạt động đối ngoại văn hóa này vẫn liên tục phát triển bất kể dưới nhiều thể chế chính trị khác nhau của Pháp về sau này.  Văn minh chống lại man rợ     Trong cuốn Sơ thảo phác đồ lịch sử các tiến bộ nhân loại, Condorcet, triết gia và chính trị gia, đại diện tiêu biểu của tư tưởng Khai sáng, đã miêu tả chín nấc thang của quá trình tiến hóa của nhân loại: cấp thấp nhất là bộ tộc và cấp cao nhất là chính thể Cộng hòa Pháp. Những giá trị tinh thần mới của châu Âu được coi là những giá trị phổ quát cho toàn nhân loại. Condorcet hình dung ra một tương lai mà ở đó: Thương điếm của những kẻ bất lương sẽ trở thành thuộc địa của những công dân, họ sẽ truyền bá sang tận châu Phi và châu Á những nguyên tắc và mẫu mực của tự do, tư tưởng ánh sáng và lý trí của châu Âu. Condorcet còn dự kiến tiêu diệt những tộc người quá xa cách hay quá hung bạo bằng hình thức diệt chủng hay đồng hóa. Tiêu trừ tối đa, đến mức chúng bị đẩy lùi bởi những dân tộc văn minh, chúng sẽ biến mất dần dần hoặc chính chúng tự lụi tàn trong cộng đồng của chúng.  Để biện minh cho công cuộc thuộc địa bằng lập luận là những dân tộc khai sáng có nghĩa vụ khai hóa những tộc người bị rớt lại phía sau, Condorcet nêu ra những lý lẽ và luận chứng căn bản và làm nên định nghĩa của ‘sứ mạng khai hóa’.  Đầu thập niên 1830, giáo sư triết học Jean-Philibert Damiron giải thích cho học sinh ở Trung học Louis-Le-Grand và sinh viên Trường Sư phạm Paris (phố Ulm), hai cái nôi đào tạo nên giới tinh hoa trí tuệ Pháp, rằng ‘mọi thứ luôn được phân ra thành thượng đẳng và hạ đẳng’ hay ‘những tộc người đã được khai hóa và những tộc người không được khai hóa’. Bản thân bên trong những tộc người văn minh thì ‘những người văn minh và đi khai hóa còn được xếp ở thứ hạng cao hơn những người chỉ được khai hóa’. Tộc người thứ hai phải xếp dưới sự giám hộ của tộc người thứ nhất.  ‘Khi đó, tộc người mạnh không chỉ bảo vệ và giải thoát cho tộc người kém, đem lại giàu có và sung túc, mà còn cố gắng khai sáng, gọt giũa, hoàn thiện và tu dưỡng tộc người kia’.  Như vậy, khái niệm về một sứ mệnh khai hóa chế ngự và thuần hóa thiên nhiên của người văn minh ăn sâu vào triết lý đạo đức ở nửa đầu thế kỷ 19. Năm 1841, Victor Hugo đã hào hứng biết bao trước cuộc chinh phục Algérie của tướng Bugeaud, với biệt danh (mỉa mai) sau này là ‘người hùng hun khói’- chuyện làm chết ngạt kẻ thù bằng khói : Văn minh đang đẩy lùi mông muội. Một dân tộc khai sáng sẽ tìm đến một dân tộc khác đang chìm trong bóng đêm. Chúng ta là những người Hy Lạp của thế giới; chính chúng ta sẽ thắp sáng thế giới. Sứ mệnh của chúng ta đang hoàn thành, ta chỉ còn biết mừng ca.  Triết thuyết văn minh chống lại mông muội được tung hô như vậy vì mục đích khai hóa.     Những học giả `lãnh sứ mệnh’     Vào nửa sau thế kỷ 19, lập luận đạo đức càng được củng cố bởi chủ nghĩa duy lý. Địa lý, sinh học, sinh lý học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và xã hội học đều được đem ra phụng sự cho sứ mệnh khai hóa. Đầu thế kỷ 19, sự phân loại chủng tộc được dựa vào ngành ngôn ngữ học thì đến nửa sau thế kỷ 19, các học giả Pháp chuyển hướng phân loại dựa vào sinh học. Trường Nhân loại học Paris, dưới sự dẫn dắt của Paul Broca, đưa ra định nghĩa về ‘hệ hình chủng tộc’, chia loài người thành các cấp bậc giống nòi. Khái niệm này là sự kết nối giữa thuyết tiến hóa của những nhà triết học Khai sáng – sự tiến bộ sẽ đưa người mông muội trở thành người văn minh, với thuyết biến hình của Lamarck và Darwin – phân loại các sinh vật theo trục tiến hóa. Khái niệm giống nòi thượng đẳng và hạ đẳng được cổ súy qua vô vàn các công trình pha trộn giữa giai thoại sử học, quan sát dân tộc học và đo lường nhân trắc học. Thử đơn cử nhận xét về loài người của Gustave Le Bon, bác sỹ, nhà nhân chủng học, tâm lý học và xã hội học, đại diện tinh túy của trí tuệ Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Một bài báo khoa học của ông nghiên cứu mối liên hệ giữa kích thước của não và trí thông minh thế này: ở trên cao là những giống nòi thượng đẳng như các nhà bác học hay dân tư sản Paris, và dưới thấp là giống nòi hạ đẳng như người giúp việc, nông dân, và phụ nữ cũng nằm trong số này! Nhóm hạ đẳng này ‘đại diện cho những hình thái thấp kém nhất trong sự tiến hóa của nhân loại, nó gần với trẻ con và người hoang dã hơn là với người văn minh’ !      Thi hào Victor Hugo đã hào hứng biết bao trước cuộc chinh phục Algérie của tướng Bugeaud, với biệt danh (mỉa mai) sau này là ‘người hùng hun khói’. Tranh tướng Thomas Robert Bugeaud. Nguồn: wikipedia.     Từ những năm 1870, những nhà khoa học, Gustave Le Bon, nhà lý luận thuộc địa Jules Harmand hay nhà toán học Léopold de Saussure giữ nguyên quan điểm cố định luận về nòi giống loài người nhưng có tiết chế bớt bởi thuyết Tân Lamarck. Họ cho rằng nhờ cải thiện điều kiện sống (vệ sinh, y tế, sức khỏe sinh sản…), nhờ giáo dục và nhờ việc định hình các thói quen cần thiết để thụ đắc các đặc tính lành mạnh thì chúng ta có thể cải thiện được các giống người.  Thuyết Tân Lamarck đã tìm thấy tính ứng dụng cũng như tác dụng của mình trong sứ mệnh khai hóa, vì sứ mệnh này kết hợp giữa tiến bộ vật chất và tinh thần và mang mục đích ‘cải thiện’ giống nòi hạ đẳng. Paul Bert, Thống sứ Trung kỳ và Bắc kỳ (1886) và Lanessan, Toàn quyền Đông Dương (1891-1894), tiến hành thực hiện sứ mạng khai hóa với mục đích cải tổ xã hội.  Khái niệm ‘sứ mệnh khai hóa’ tìm được đất phát triển thông qua các hiệp hội học giả từ những năm 1870 trở đi (Conklin 1997: 11-13). Thành viên các hiệp hội là những nhà khoa học, giảng viên, nhà báo, nhà chính trị, quan chức cao cấp, quân nhân, nhà ngoại giao, nhà thám hiểm, thương nhân. Rất nhiều các hiệp hội như vậy, được thành lập ngay tại các xứ thuộc địa, trở thành ‘nơi tiếp vận và mắt xích trong bộ máy hành chính thuộc địa hơn là những tổ chức học giả uyên bác độc lập’.     Bổn phận khai hóa     Sứ mệnh khai hóa ở cuối thế kỷ 19 được coi như là một trong những nền tảng trụ cột của công cuộc thực dân Pháp. Đối với người Pháp thời đó, lập luận khai hóa này cũng giúp cho người Pháp phản bác lại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc bình đẳng, tự do bắt nguồn từ Cách mạng Pháp với sự phục tùng của các dân tộc bị trị.  Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, người đề xướng công cuộc thực dân ‘khai hóa’ , viết năm 1931 rằng đối lập với ‘giáo lý khắt khe mặc định sự hạ đẳng vĩnh viễn của một vài giống nòi’, sứ mạng khai hóa của Pháp ‘nặn đắp nên, một cách kiên trì, diện mạo của một giống người mới’ trong ‘thứ đất sét vô dạng của vô vàn những nhân tố nguyên thủy’. Sứ mạng này giúp nền Cộng hòa Pháp thoát khỏi cuộc tranh luận cũ kỹ về cuộc xâm chiếm thuộc địa và sự hung bạo của nó.  Trong khi giáo dục đại diện khía cạnh tinh thần của sứ mệnh khai hóa thì y tế (vệ sinh, tiêm chủng…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, đường sắt, thủy lợi…) và an ninh (chống trộm cắp, sự bành trướng của những nước láng giềng) là khía cạnh vật chất. Khi đến Bắc kỳ vào năm 1886 nhậm chức Thống sứ Bắc và Trung kỳ, Paul Bert tuyên bố đến dân bị trị: Giống như người Trung Hoa trước kia đã cải thiện hiện trạng xã hội của các người bằng cách đem văn minh đến, khai tâm các người qua vị trí nước lập pháp, thì người Pháp cũng vậy, người Pháp hôm nay đến nhà các người để cải thiện nền nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế, và còn để nâng cao dân trí thông qua giáo dưỡng.   Chúng ta có thể dẫn chứng ra vô khối những ví dụ của thể loại diễn văn này, chúng mô tả làm thế nào mà ‘hình ảnh truyền thống của nước Pháp nhân nghĩa’đang nỗ lực thực hiện để đem lại ‘sự hài hòa giữa mục tiêu tinh thần và sự kiếm tìm phồn thịnh vật chất’. Số lượng trường lớp và học sinh tăng lên được đưa lên hàng đầu như khẩu hiệu tuyên truyền.  Tuy nhiên, giáo dục chỉ là công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị và kinh tế của công cuộc thuộc địa. Đối với những quan chức thuộc địa, từ nhà Việt Nam học, người sáng lập Tham hiện Hậu bổ Sài Gòn Éliacin Luro đến Paul Bert đều cho rằng ‘Trường học là công cụ hữu hiệu nhất, chắc chắn nhất nằm trong tay kẻ đi chinh phục’.  Sau công cuộc chinh phục lãnh thổ là đến cuộc ‘chinh phục tinh thần’ mà Georges Hardy, nhà lý luận về giáo dục thuộc địa, hiệu trưởng Trường Thuộc địa (1926-1937), đã định nghĩa như thế này vào năm 1917: Chúng ta cũng muốn nắm giữ đến tận con tim của người bản xứ và xóa bỏ mọi hiểu nhầm giữa họ và ta […] Đề cao xứ sở của họ, giúp họ gắn bó với sự nghiệp của chúng ta, đó là mục đích của cuộc chinh phục tinh thần. Cuộc chinh phục này lâu hơn và sáng láng hơn cuộc trước, nhưng cũng phong phú và đáng ngợi ca. Công cụ để thực hiện không thể là gì khác ngoài trường học.     Hiểu kỹ để trị tốt     Những thực tế trên lãnh thổ Đông Dương khiến cho nhà cầm quyền thuộc địa phải hiện thực hóa và cụ thể hóa sứ mạng khai hóa trên phương diện giáo dục bằng hai mô hình đồng hóa và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ. Đồng hóa tức là Pháp hóa con dân bị trị để đưa họ đến gần với văn minh. Ví dụ, dân Nam kỳ ‘hiền lành, ôn hòa và dễ dàng cai trị’ thì dễ đồng hóa và sớm trở thành những người Pháp thứ thiệt ! Nhưng một hiểm họa và ám ảnh rình rập người Pháp, đó là đến thời điểm nào đó, dân bản xứ, sau một quá trình ‘tiến hóa’ sẽ đòi hỏi bình đẳng với kẻ đi chinh phục. Hợp tác thực chất là một ‘khế ước’, theo Jules Harmand, giữa kẻ thống trị và bị trị. Thay vì san phẳng truyền thống, văn hóa hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời ‘độc đáo và khá phát triển’của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng ‘trì trệ’. Kẻ bị trị phải chấp nhận sự thống trị thực dân, bù vào, họ được hưởng những lợi ích (trật tự xã hội, tiến bộ kỹ nghệ, an ninh, giáo dục, y tế…). Vì thế, vẫn nên hiểu sự hợp tác phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đô hộ.  Paul Giran với cuốn “Tâm lý dân tộc An Nam” của mình đại diện cho chính sách hợp tác của nhà cầm quyền thuộc địa. Ngoài ra, vị quan chức này cùng với những đồng sự như Louis Brunot hay Robert Delavignette là những người khai mở ngành “tâm lý học thuộc địa”. Một “ngành nghiên cứu” dao động giữa kiến thức giảng đường với khoa học của giới không chuyên (amateur), giữa diễn ngôn chính trị và văn chương, giữa tâm lý học, địa lý, xã hội học và dân tộc học.  Hiển nhiên là sứ mệnh khai hóa này mâu thuẫn trực tiếp với lợi ích thống trị, vì lẽ, về bản chất nó mâu thuẫn với chính Tuyên ngôn Nhân quyền và nó cũng phản ánh tính hai mặt của tư tưởng Khai sáng. Các nhà Khai sáng tin tưởng rằng con người sẽ tự tìm ra cho mình sự giải thoát và đấng cứu tinh thay vì ngồi chờ đợi Chúa và Thiên hựu. Họ đề cao lẽ phải và tuyên ngôn các lý tưởng cao đẹp như bình đẳng, bác ái nhưng hành động thực hiện không tương ứng với tuyên ngôn. Quân đội của Napoléon Đệ nhất xâm chiếm Tây Ban Nha, Ai Cập, Ý hay Áo bằng chiến tranh, bạo lực, trấn áp nhưng vẫn giương cao ngọn cờ phần phật những lý tưởng Khai sáng và tuyên ngôn Cách mạng Pháp 1789. Nhưng công luận và trí thức Pháp chỉ thất vọng về mặt trái của Khai sáng khoảng 30 đến 40 năm sau khi những sự kiện này diễn ra..  Thời đại chúng ta sống, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, đang chứng kiến một thứ thuyết cứu thế kiểu mới, như triết gia và nhà phê bình văn học Tzvetan Todorov phát biểu chống lại cuộc chiến ở Libye: ‘Từ 20 năm trở lại đây, chúng ta bị cuốn vào một đòn bẩy cứu thế với niềm tin rằng chúng ta có thể mang lại dân chủ và nhân quyền bằng vũ lực!’  ‘Để giết người thì nhân danh nhân quyền cũng như nhân danh Chúa đều dễ như nhau!’   Không lẽ lịch sử là một vòng xoáy trôn ốc kiểu này? □  ‘Sứ mệnh khai hóa’ được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật, được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học và chính trị gia. Tuy nhiên, có những nhân vật, như Jules Harmand không tin vào sứ mệnh khai hóa, bằng những lý lẽ thẳng thừng: ‘Tốt hơn hết là hãy cố mà điều chỉnh các hành động của chúng ta sao cho phù hợp với hoàn cảnh thống trị, sự thống trị bằng chinh phục này bản thân nó đã không dân chủ, và đừng có lạm dụng những trò đạo đức giả nhỏ mọn và cả những trò ‘bịp bợm về văn minh’ vì nó chẳng đánh lừa được ai sất. Hãy cố mà tìm cách biện minh cho sự thống trị vì lợi ích chung của cả kẻ thống trị và bị trị’.    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Sự ngẫu nhiên chi phối cuộc sống của chúng ta như thế nào?      Bộ não của chúng ta, cho dù có nạp được vào  bao nhiêu kiến thức đi chăng nữa, cũng vô cùng kém cỏi trong việc giải  thích những sự kiện mang tính ngẫu nhiên và xác suất.      Nhiều khi chúng ta có vẻ không bao giờ thắc mắc hay băn khoăn về những sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong cuộc sống, rằng tại sao bạn của chúng ta đạt được điểm 10 trong môn Toán thời Phổ thông hay xa hơn là trường hợp một người có thể “mang cả Las Vegas về nhà”. Câu trả lời thường chỉ là: Có thể anh ta học giỏi, có thể anh ta may mắn. Và có những lúc, sự tình cờ luôn gắn liền với sự may rủi trong cách suy nghĩ của mỗi người. Bởi vì:  Bộ não của chúng ta, cho dù có nạp được vào bao nhiêu kiến thức đi chăng nữa, cũng vô cùng kém cỏi trong việc giải thích những sự kiện mang tính ngẫu nhiên và xác suất. Khi phải đối mặt với các tình huống đòi hỏi phải có khả năng nắm bắt trực quan các sự kiện mang tính tỷ lệ, ngay cả các nhà khoa học hay toán học lừng danh nhất cũng cảm thấy lúng túng.  Giả sử, bạn muốn tính toán xác suất khi tung một đồng xu, bạn có thể nhận được câu trả lời xác đáng từ nhà toán học vĩ đại thế kỷ XVIII, Jean Le Rond d’Alembert, đó là: có ba khả năng, 0, 1 hoặc 2 ngửa. Vậy tỷ lệ cho các trường hợp tương tự là 1 ăn 3. Nhưng Leonard Mlodinow lại có cách diễn giải khác.           Leonard Mlodinow: sinh trưởng tại Chicago, bang Illinois, có cha mẹ là  người nhập cư gốc Do Thái. Ông nhận bằng tiến sĩ vật lý lý thuyết trường  Đại học Carlifornia ở Berkeley.         Trong tác phẩm Drunkard Walk – Khôn ngoan không lại với giời*, ông cho rằng trên thực tế, phải có bốn khả năng, đó là: ngửa-ngửa, ngửa-sấp, sấp ngửa và sấp-sấp. Như vậy, xác suất sẽ là, 25% cho 0 và 2, 50% cho 1. Mlodinow kết luận rằng, bất cứ ai tham gia cá cược tung đồng xu sẽ bị lột sạch nếu cứ ngang bướng tin vào lý thuyết của d’Alembert.   Ví dụ trên chỉ là một trong rất nhiều những ví dụ được Leonard Mlodinow đưa ra để giải thích cho chúng ta thấy cách mà những hiện tượng mang tính ngẫu nhiên, thay đổi cũng như xác suất có thể ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra nguyên nhân vì sao chúng ta lại hiểu sai ý nghĩa của mọi thứ, từ một cuộc trò chuyện bình thường cho tới những trở ngại tài chính lớn. Bằng ngôn ngữ đơn giản và sống động, Mlodinow đã chỉ ra một loạt những sự việc thường nhật mà mỗi người trong chúng ta ai cũng bắt gặp trên thực tế lại không đáng tin cậy như chúng ta vẫn nghĩ, chẳng hạn như tiêu chuẩn đánh giá các loại rượu, các cuộc thăm dò chính trị hay hệ thống cho điểm tại các trường học. v.v… Dưới ngòi bút của ông, người đọc có điều kiện nhìn nhận bản chất thực của sự thay đổi và vén bức màn tâm lý ảo ảnh đang che khuất tâm trí chúng ta cũng như khiến chúng ta đánh giá sai thế giới xung quanh. Mlodinow cũng mang đến một cái nhìn tươi mới hơn về ý nghĩa thực sự ẩn giấu đằng sau mỗi sự việc cũng như cách thức đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên bản chất thực sự của vấn đề. Từ lớp học tới phòng xử án, từ thị trường tài chính cho tới các siêu thị, từ phòng khám đa khoa tới phòng Bầu dục, những kiến thức mà Mlodonow mang đến cho chúng ta chắc chắn sẽ vô cũng hấp dẫn, tuyệt diệu và đầy cảm hứng.  Drunkard Walk – Khôn ngoan không lại với giời là một trong những tác phẩm Bestseller theo bình chọn hàng năm của tạp chí New York Times:   AlphaBooks  * Tác giả: Leonard Mlodinow, NXB Lao động và AlphaBooks, Số trang: 380; Giá bìa: 89.000 đồng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự nóng lên toàn cầu và tia vũ trụ      Mặc dù sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu có tác động lớn và sâu sắc đến sự sống của muôn loài trên hành tinh, nhưng xét trong khoảng thời gian hàng thế kỷ thì hiện tượng đó không có gì đặc biệt: trong ba thiên niên kỷ vừa qua biến động nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã nhiều lần đạt đến mức thăng giáng như vậy (0,74 ± 0,18°C).     Trong thế kỷ trước, Trái đất của chúng ta đã phải hứng chịu nhiều sự thay đổi bất thường về thời tiết do tình trạng nóng lên toàn cầu gây ra. Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã tăng 0,74 ± 0,18°C. Đó là thực tế không chối cãi được. Tất cả các phép đo sử dụng nhiều phương pháp và công cụ khác nhau đều khẳng định điều đó.  Trong thế kỷ hai mươi, sự nóng lên toàn cầu đã làm cho băng ở các địa cực cũng như trên các dòng sông tan chảy nhanh chóng dẫn đến mực nước biển tăng khoảng 17 cm. Biến đổi khí hậu chắc chắn sẽ kéo theo nhiều hậu quả về kinh tế cũng như xã hội. Người dân ở những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất đang thực sự lo lắng cho tương lai và vận mệnh của mình. Điều đáng tiếc là cho đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu rõ cơ chế chi phối sự biến đổi khí hậu, do đó công việc dự báo trong lĩnh vực này thường xuyên mắc phải sai số lớn.    Hình 1. Nhiệt độ trái đất (hình trên bên trái), mực nước biển (hình trên bên phải) và hàm lượng các khí gây hiệu ứng nhà kính (hình giữa bên trái) tăng theo thời gian trong thế kỷ 20. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất tương quan với biến đổi chu kỳ mặt trời rõ ràng hơn so với sự gia tăng nồng độ CO2 trong không khí (hình giữa bên phải). Các giai đoạn nhiệt độ trái đất tăng trong ba nghìn năm gần đây cũng tương đương như sự gia tăng nhiệt độ trong thế kỷ 20 (hình dưới).  Đâu là nguyên nhân chính?  Trong nhiều thập niên qua, người ta cho rằng sự gia tăng hàm lượng các khí gây hiệu ứng nhà kính từ thời đại công nghiệp cho đến nay là nguyên nhân chính làm cho Trái đất nóng lên. Mặc          Vẫn chưa có bằng chứng trực tiếp nào chứng minh lượng khí cacbonic thải vào khí quyển từ thời đại công nghiệp là nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên toàn cầu, nhưng cũng không tồn tại bằng chứng nào phủ nhận điều đó          dù khí cacbonic chỉ đóng góp khoảng 20% vào hiệu ứng nhà kính (hơi nước đóng góp hơn 50%) nhưng nó là yếu tố gây nên hiện tượng tăng nhiệt độ toàn cầu: lượng CO2 thải vào không khí tăng thêm một phần ba trong nửa sau thế kỷ XX. Như vậy, cũng như sự gia tăng nhiệt độ trái đất, sự gia tăng lượng khí cacbonic trong khí quyển là điều không thể phủ nhận.   Một vấn đề quan trọng cần phải chú ý là ta chưa thể xác định được chính xác mức độ liên hệ giữa sự gia tăng nồng độ khí cacbonic trong khí quyển và sự gia tăng nhiệt độ của Trái đất. Mức độ gia tăng nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ qua vẫn nằm trong khoảng thăng giáng nhiệt độ quan sát được trong các thời kỳ trước thời đại công nghiệp. Đánh giá ảnh hưởng của lượng CO2 phát thải vào bầu khí quyển lên khí hậu trái đất rất khó. Những hiệu ứng sơ cấp (độ truyền qua của khí quyển) càng dễ dàng đánh giá bao nhiêu thì những hiệu ứng thứ cấp (hiệu ứng phản hồi) lại phức tạp, khó hiểu và khó nhận biết bấy nhiêu. Một ví dụ về hiệu ứng phản hồi: khi nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên 1oC thì lượng nước bốc hơi từ các đại dương sẽ nhiều hơn, sẽ có nhiều mây hơn và nhiệt độ sẽ giảm. Có nhiều yếu tố phản hồi phải tính đến như các loại mây khác nhau có tác động khác nhau, sự tồn tại của hệ thực vật, v.v… Khi tính đến tất cả các hiệu ứng đó thì việc đánh giá trở nên rất phức tạp chứ không đơn giản là tăng lượng CO2 thì nhiệt độ sẽ tăng. Vấn đề ở chỗ mức độ ảnh hưởng của các hiệu ứng thứ cấp này có thể tương đương với hiệu ứng sơ cấp. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng trực tiếp nào chứng minh lượng khí cacbonic thải vào khí quyển từ thời đại công nghiệp là nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên toàn cầu trong thế kỷ XX, nhưng cũng không tồn tại bằng chứng nào phủ nhận điều đó.  Qua các nghiên cứu về khí hậu trong các thế kỷ trước thế kỷ XX, người ta tìm ra mối tương quan lớn giữa hoạt động của Mặt trời và nhiệt độ của Trái đất. Rõ ràng, biến đổi về độ sáng của Mặt trời không thể tạo nên mối tương quan này vì sự biến đổi đó rất nhỏ. Trên thực tế, để đánh giá mức độ hoạt động của Mặt trời người ta sử dụng một thông số hết sức quan trọng là số lượng vết đen mặt trời – các khu vực tối trên bề mặt mặt trời do nhiệt độ ở đó thấp hơn so với các vùng xung quanh do sự biến đổi từ trường mạnh trên Mặt trời gây ra. Số lượng các vết đen dao động theo chu kỳ 11 năm (chu kỳ mặt trời). Tuy nhiên, dường như tia vũ trụ lại có thể đưa ra lời giải thích phù hợp cho mối liên hệ này. Sự phát xạ từ Mặt trời (gió mặt trời và các tai lửa) biến đổi rất mạnh trong suốt chu kỳ mặt trời nhưng năng lượng của chúng không đủ để vượt qua lá chắn do từ trường trái đất tạo nên, và do đó không thể đóng vai trò trực tiếp chi phối khí hậu trái đất. Mặc dù vậy, chúng lại mang theo từ trường mạnh hơn nhiều so với từ trường của lưỡng cực từ mặt trời, làm ảnh hưởng đến từ trường trong Thái dương hệ và do đó ảnh hưởng đến quỹ đạo của các tia vũ trụ tới Trái đất. Tia vũ trụ, thành phần chủ yếu là proton, có phân bố năng lượng tuân theo quy luật hàm mũ ~ E2,7 và phổ năng lượng của chúng bị cắt tại các vùng năng lượng thấp bởi hiệu ứng chắn do từ trường trái đất gây ra. Do đó, chỉ những tia vũ trụ có năng lượng đủ lớn mới có khả năng đi sâu vào bên trong bầu khí quyển. Ngưỡng cắt này thay đổi theo vĩ độ, đạt giá trị cực đại 17 GeV tại Việt Nam và khoảng 4 GeV ở châu Âu và Bắc Mỹ. Hoạt động của Mặt trời thay đổi sẽ trực tiếp dẫn đến sự thăng giáng ngưỡng cắt năng lượng tia vũ trụ, kết quả là luôn tồn tại một mối tương quan giữa tỷ lệ các tia vũ trụ đo được trên mặt đất và mức độ hoạt động của Mặt trời. Vậy các tia vũ trụ ảnh hưởng đến khí hậu trái đất như thế nào?   Vai trò của tia vũ trụ?     Hình 2. Mức độ hoạt động của Mặt trời trong bốn thế kỷ gần đây. Chu kỳ hoạt động của Mặt trời trung bình là 11 năm nhưng có hai thời kỳ (Cực tiểu Maunder và Cực tiểu Dalton) hoạt động biến đổi khá chậm chưa rõ nguyên nhân (hình trên). Mối tương quan giữa thông lượng tia vũ trụ với thăng giáng nhiệt độ (hình dưới bên phải) và với lớp mây tầng thấp (hình dưới bên trái).  Nghiên cứu quá trình hình thành mây trong khí quyển giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về vai trò của tia vũ trụ đối với khí hậu trái đất. Khi tia vũ trụ đi vào bầu khí quyển chúng tương tác với các nguyên tử, phân tử và tạo ra vô số các hạt tích điện thứ cấp – hiện tượng này được gọi là mưa rào khí quyển. Các hạt này tác động đến gần như toàn bộ quá trình ion hóa trong khí quyển. Sự hình thành mây chính là sự ngưng tụ một phần hơi nước có trong khí quyển ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thích hợp. Quá trình ngưng tụ muốn xảy ra nhanh chóng và thuận lợi thì trong không khí cần phải có các hạt nhân ngưng tụ để các phân tử nước bám vào. Trong thực tế, các phân tử hoạt động và các gốc tự do (kích thước cỡ 10−9m – nanomet) nhóm lại với nhau tạo thành các hạt nhân ngưng tụ. Ở giai đoạn đầu chúng lớn dần lên (đường kính cỡ hàng chục nanomet) chủ yếu do sự bồi đắp từ các phân tử khác và quá trình phát triển sau đó lại nhờ sự kết tụ để tạo thành các hạt có kích thước lớn hơn (đường kính cỡ hàng trăm nanomet đến micromet – 10−6m). Khi chúng đạt đến kích thước này, các phân tử nước tiếp tục bám vào và giọt nước được hình thành, quá trình này cứ tiếp diễn cho đến khi các giọt nước đạt đến đường kính từ 10 đến 100 micromet: chúng tạo thành những đám mây. Nếu tiếp tục phát triển để đạt tới đường kính khoảng 1-2 mm, chúng sẽ rơi xuống mặt đất và tạo thành mưa. Như vậy, tất cả các giai đoạn của quá trình hình thành mây đều được đặc trưng bởi hiện tượng bồi đắp. Quá trình ion hóa do tia vũ trụ gây ra trong không khí bổ sung lực hút tĩnh điện có cường độ lớn hơn nhiều so với lực tương tác giữa các phân tử (lực Van Der Waals) giúp cho quá trình bồi đắp diễn ra thuận lợi hơn. Thật đáng tiếc kiến thức về các hiện tượng nêu trên còn hạn chế không cho phép chúng ta đánh giá chính xác vai trò của tia vũ trụ trong quá trình hình thành mây. Hiện nay, trên thế giới nhiều thí nghiệm đang được tiến hành nhằm tìm hiểu cơ chế chi phối khí hậu trái đất. Nếu xác định được rằng, sự gia tăng hoạt động của Mặt trời làm cho thông lượng tia vũ trụ có nguồn gốc Thiên hà đến Trái đất giảm, dẫn đến lớp mây tầng thấp giảm thì mối tương quan của nó với sự gia tăng nhiệt độ trái đất sẽ được chứng minh. Nhưng với những kiến thức hiện nay, không có cơ sở nào cho phép khẳng định điều đó.  Cần thêm nhiều thời gian  Gần đây, sự nóng lên toàn cầu đã trở thành một vấn đề chính trị mang tính thời sự hàng đầu. Song các cuộc tranh luận bắt nguồn từ chủ đề nóng bỏng này thường diễn ra trong không khí tranh cãi căng thẳng không có lợi cho thảo luận khoa học, chúng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi mâu thuẫn về lợi ích tài chính, kinh tế – xã hội của các quốc gia. Tuy vậy, hơn bốn mươi năm sau những lời cảnh báo đầu tiên của Câu lạc bộ Rome một kết quả đáng khích lệ đã đạt được là người dân trên hành tinh đang dần nhận thức được sự bất ổn trong việc cân bằng các điều kiện cho phép loài người tồn tại. Rõ ràng, cần phải mất thêm nhiều thời gian nữa con người mới có thể nhận thức được tường tận toàn bộ hệ thống khí hậu trên Trái đất.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự ổn định của khí hậu Trái đất phụ thuộc vào rừng Amazon      Là nơi có rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới, lưu vực sông Amazon đóng vai trò thiết yếu trong việc điều hòa khí hậu khu vực và thậm chí toàn cầu. Vậy nó thực sự ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu như thế nào? Chúng ta hãy cùng xem một số nhận định khoa học.         Đã có nhiều cảnh báo về tốc độ phá rừng đáng báo động ở Amazon.  Bao phủ hơn năm triệu km2 (hai triệu dặm vuông), tán nhiệt đới rậm rạp của Amazon lưu trữ lượng carbon lớn tương đương với 10 lần lượng carbon nhân loại thải vào khí quyển mỗi năm. Khoảng 20% rừng nhiệt đới Amazon đã biến mất trong nửa thế kỷ qua. Các vùng rừng bao phủ rộng lớn đã bị xóa sổ, chủ yếu để sản xuất gỗ, đậu nành, dầu cọ, nhiên liệu sinh học hoặc nuôi bò lấy thịt.  Việc phá hủy liên tục các khu rừng nhiệt đới làm mất đi hàng chục nghìn km2 mỗi năm có thể biến phần lớn khu vực Amazon thành thảo nguyên khô cằn, kéo theo những tác động lớn đến khí hậu và đa dạng sinh học trên toàn thế giới, các chuyên gia cảnh báo.    Bể chứa carbon  Khi một cây bị chặt, carbon lưu trữ trong cây sẽ rò rỉ vào khí quyển dần dần còn khi cây bị đốt cháy, tất cả carbon lưu trữ thoát ra cùng một lúc. Dù theo cách nào, lượng carbon này cũng góp phần vào sự nóng lên toàn cầu.  Các khu rừng trên toàn cầu, và đặc biệt là rừng nhiệt đới, đã hấp thụ 25 đến 30% lượng khí carbon dioxide mà nhân loại thải vào khí quyển (các đại dương hấp thụ thêm 20%).  Nếu không có các “bể” CO2 này, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ nóng hơn và nguy cơ nóng lên toàn cầu sẽ cao hơn nhiều.  Trong số khoảng 160.000 km2 cây che phủ nhiệt đới bị mất trên toàn thế giới vào năm 2017, 35% là ở Amazon và hơn 25% là ở Brazil, theo Viện Tài nguyên Thế giới (WRI), một nhóm chuyên gia về chính sách môi trường.  “Các khu rừng nhiệt đới trên thế giới hiện đang trong tình trạng nguy kịch”, Frances Seymour, một thành viên quan trọng của WRI, nói với AFP vào đầu năm nay.  “Sức sống của hành tinh đang bị đe dọa. Với mỗi hecta bị mất, chúng ta ngày càng đến gần với những kịch bản biến đổi khí hậu nguy kịch hơn”.    “Lá phổi của Trái đất” ?  Ngoài Brazil, có bảy quốc gia nằm trên lưu vực sông Amazon là Peru, Ecuador, Colombia, Venezuela, Guyana, Suriname và lãnh thổ hải ngoại Guiana thuộc Pháp. Rừng Amazon thường được mô tả là “lá phổi của hành tinh” và tạo ra một tỷ lệ oxy đáng kể trên thế giới, nhưng điều này không chính xác.   Ngoài việc thu giữ và lưu trữ carbon, rừng còn ảnh hưởng đến tốc độ gió, lượng mưa và sự hòa trộn của các hợp chất trong khí quyển. Nhà khoa học môi trường Jonathan Foley, giám đốc điều hành của Project Drawdown cho biết: “Có rất nhiều nguyên nhân khiến mọi người lo lắng về những vấn đề liên quan đến nạn phá rừng ở Amazon như khí hậu, nước, đa dạng sinh học và cuộc sống của con người, tuy nhiên oxy không phải là vấn đề chúng ta cần lo lắng”.    Mùa cháy  Trong nhiều thập kỷ qua, số lượng lớn các vụ hỏa hoạn trên khắp miền đông nam Brazil đã khiến các nhà lãnh đạo thế giới phải đối phó với tình trạng khẩn cấp thường kỳ vào thời điểm này trong năm.  Con số gần 150.000 vụ cháy ở Brazil tính đến năm 2019 vẫn ít hơn so với năm 2016. Từ năm 2002 đến 2010 có 5 năm số vụ cháy tháng 8 lên tới 200.000 vụ. Đỉnh điểm của “mùa cháy” là tháng 9, khi số lượng vụ cháy còn tăng hơn nữa.  “Có vẻ như nhiều vụ hỏa hoạn ở Amazon đang xảy ra trên vùng đất từng bị phá rừng”, Mikaela Weisse và Sarah Ruiz, tổ chức Bảo vệ rừng toàn cầu (Global Forest Watch) có trụ sở tại Washington DC, lưu ý trong một bài đăng trên blog trong tuần này.  Amazon cũng là nơi có một trong những quần xã đa dạng sinh vật và rộng lớn nhất của Trái đất, với hàng trăm loại thực vật được sử dụng trong các loại thuốc truyền thống và hiện đại. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-08-stability-earth-climate-amazonia.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự rối lượng tử ở kích thước vĩ mĩ      Dựa trên những nghiên cứu gần đây về sự rối cơ quang học, một nhóm các nhà khoa học đã phát triển một mô hình lý thuyết làm rối hai dao động tử cơ học có kích thước micro. Khả năng này có thể dẫn đến những tiến bộ trong việc xử lý thông tin cũng như các ứng dụng khác sử dụng các bộ cộng hưởng cơ học micro, chẳng hạn như các điện kế, máy đo độ dịch chuyển và các bộ xử lý tín hiệu vô tuyến. Các tác giả của nghiên cứu, Stefano Pirandola và các cộng sự đã viết như vậy trên Physical Review Letters số ra gần đây.    “Cho đến giờ, sự rối mới chỉ được quan sát ở những đối tượng quan học, ở đây là các photon (không có khối lượng nghỉ). Ý nghĩa của sự rối cơ học là ở chỗ, nó liên quan đến những vật thể có khối lượng – các dao động tử cơ học (những dao động nhỏ trên một tấm gương,” Pirandola nói. Mặc dù khối lượng của các dao động tử chỉ nhỏ cỡ microgram và  chiều dài chỉ cỡ micromet nhưng kích thước của chúng vẫn là “vĩ mô” so với các đối tượng của cơ học lượng tử”  Ngoài việc mở ra cánh cửa cho những ứng dụng tương lai, sự rối vĩ mô cơ học cũng cho thấy rằng, các hệ cơ học được tạo bởi các nguyên tử cũng có thể biểu hiện những đặc trưng lượng tử. Những tính toán của nhóm Pirandola về sự rối lượng tử ở kích thước vĩ mô đã cho thấy rằng, về mặt toán học thuần tuý, những hiện tượng lượng tử có thể không bị giới hạn chỉ trong thế giới lượng tử như các khoa học vẫn nghĩ.  “Kết quả này liệu có loại bỏ sự khác nhau giữa các thế giới lượng tử và vĩ mô hay không? Đây là một vấn đề cơ bản của cơ học lượng tử,” Pirandola nói. “Chúng tôi hiện vẫn chưa biết được liệu có một kích thước giới hạn cho sự rối của các dao động tử hay không…Những người lạc quan thì tin rằng, đây là một tiến bộ trong công nghệ lượng tử.”       Theo Pirandola, Stefano, Vitali, David, Tombesi, Paolo, and Lloyd, Seth. “Macroscopic Entanglement by Entanglement Swapping.” Physical Review Letters. 97, 150403 (2006).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sáng lập cơ học lượng tử      Nhân dịp nhận giải thưởng Nobel ngày 11 tháng 12 năm 1933, Werner Heisenberg đã đọc một bài giảng, tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của cơ học lượng tử. Là một trong những người tiên phong và chủ chốt nhất sáng lập nên học thuyết này, Heisenberg đã thể hiện trong bài giảng của ông những tư tưởng rất sâu sắc và nguyên bản. Dưới đây là phần lược thuật lại bài giảng đó.    Câu chuyện được bắt đầu từ năm 1900, khi Planck phát hiện ra hiện tượng gián đoạn trong các quá trình quang học, điều chưa từng được biết đến trong vật lý cổ điển. Chỉ một vài năm sau, Einstein đã diễn tả chính xác hiện tượng này trong giả thuyết của ông về các lượng tử ánh sáng. Sự không thể hòa hợp lý thuyết Maxwell với giả thuyết này đã buộc các nhà nghiên cứu đi đến kết luật rằng, các hiện tượng bức xạ chỉ có thể hiểu được bằng việc dứt khoát từ bỏ sự trực quan hóa về chúng.  Được tìm ra bởi Planck, được nối tiếp bởi Einstein và Debye, lý thuyết lượng tử tiếp tục tiến thêm một bước nữa khi được diễn tả một cách hệ thống trong các định đề cơ bản của Bohr. Các định đề này, cùng với điều kiện lượng tử Bohr-Sommerfeld đã dẫn đến một sự diễn giải định lượng về các tính chất hóa học và quang học của nguyên tử. Các định đề của Bohr đối lập một cách không khoan nhượng với cơ học cổ điển, tuy nhiên, theo các kết quả định lượng, chúng lại có vẻ như vô cùng cần thiết cho việc tìm hiểu các tính chất của nguyên tử.  Vật lý cổ điển dường như là trường hợp giới hạn được trực quan hóa đối với một lĩnh vực vật lý vi mô về cơ bản là không thể trực quan hóa được. Sự trực quan hóa mà càng tốt thì hằng số Planck-đặc trưng của vật lý lượng tử càng bị triệt tiêu. Sự tiếp cận đó đã dẫn đến nguyên lý tương ứng Bohr, chính nguyên lý này đã chuyển một số đáng kể các kết luận được xây dựng trong cơ học cổ điển sang cơ học lượng tử. (CHLT)  Nội dung chủ yếu của cơ học lượng tử xuất phát từ những nỗ lực mở rộng nguyên lý tương ứng của Bohr thành một hệ thống toán học hoàn chỉnh, với những hiệu chỉnh cần thiết. Trong mối liên hệ với nguyên lý tương ứng, vấn đề được đặt ra với các định luật của CHLT là liệu về nguyên tắc, chúng có thể có bản chất thống kê hay không. Theo quan điểm thống kê, mỗi trạng thái dừng của một nguyên tử sẽ ứng với cả một tập hợp các tham số phức tạp, xác định xác suất chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái khác. Và nguyên lý tương ứng cho phép một sự khai triển Fourier đặc biệt, theo phương cách cổ điển, gắn với mỗi sự chuyển dịch của nguyên tử. Khi đó, xác suất cho sự chuyển dịch tuân theo các định luật định lượng tương tự như độ lớn của các thành phần Fourier này.  Tương ứng với lý thuyết cổ điển, Trong CHLT, tuy không còn khái niệm về đường đi của electron và sự mô tả trực quan về nguyên tử, nhưng bức xạ được phát ra bởi nguyên tử cũng được gắn với một tập hợp phức tạp các biên độ và pha, nó được xem như một sự mô tả đầy đủ về hệ nguyên tử, mặc dù sự diễn giải của nó theo ý nghĩa một quỹ đạo electron là không thể được. Tập hợp này, trong mỗi trường hợp, được gắn liền với hai trạng thái dừng của nguyên tử và là thước đo cho xác suất chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái kia. Và điều quan trọng là, một tập hợp các tham số kiểu như vậy có thể so sánh được với một ma trận nào đó tồn tại trong đại số tuyến tính. Cũng theo cách đó, mỗi tham số của cơ học cổ điển, ví dụ như xung lượng hay năng lượng có thể được quy về một ma trận tương ứng trong CHLT. Cũng theo nguyên lý tương ứng, có thể đơn giản mà chấp nhận rằng, các phương trình của vật lý cổ điển được coi như sự liên hệ giữa các ma trận biểu diễn các biến cổ điển.  Born, Jordan và Dirac đã đóng góp những công lao cho việc xây dựng nên một lý thuyết hợp logic và có thể sử dụng trên thực tế. Các nhà khoa học này lần đầu tiên đã nhận ra rằng, các điều kiện lượng tử hóa có thể được viết như những hệ thức giao hoán giữa các ma trận biểu diễn xung lượng và tọa độ của electron, và từ đó họ đã tìm lại được trong CHLT những định luật đã là nền tảng của cơ học cổ điển : sự bất biến theo thời gian của năng lượng, xung lượng và xung lượng góc. Hệ thống toán học được hình thành như vậy mang một sự tương đồng toàn diện về hình thức so với hệ thống toán của lý thuyết cổ điển, sự khác nhau chính là ở các hệ thức giao hoán. Tuy nhiên, về các hệ quả vật lý, có những khác nhau rất sâu sắc giữa CHLT và cơ học cổ điển, điều đó đòi hỏi ở CHLT một sự diễn giải thật thấu đáo.  Trong cơ học sóng của Schrödinger, việc xác định các giá trị năng lượng của một nguyên tử trở thành việc tính trị riêng của của một bài toán biên trong không gian tọa độ của nguyên tử biệt lập đó. Sau khi Schödinger chứng minh sự tương đương toán học giữa cơ học sóng với CHLT, sự kết hợp đầy hiệu quả giữa hai dòng chảy tư tưởng vật lý này đã dẫn đến một sự phong phú và mở rộng đáng kinh ngạc hình thức luận của lý thuyết lượng tử. Thứ nhất, chỉ cơ học sóng mới có khả năng xử lý toán học đối với các hệ nguyên tử phức tạp. Thứ hai, việc phân tích mối liên hệ giữa hai lý thuyết đã dẫn đến cái gọi là lý thuyết về phép biến đổi, được phát triển bởi Dirac và Jordan.  Với việc chấp nhận các nguyên lý của CHLT trong hình thức luận được mở rộng của nó, lý thuyết về phép biến đổi có khả năng tính toán tổng quát cho các hệ nguyên tử xác suất xảy ra một hiện tượng nhất định, có thể thấy rõ bằng thực nghiệm với những điều kiện thực nghiệm đã cho. Một giả thuyết được phỏng đoán trong các nghiên cứu về lý thuyết bức xạ đã được phát biểu một cách rõ rằng trong các lý thuyết va chạm của Born, đó là, chính hàm sóng chi phối xác suất có mặt của một hạt, đây dường như là một trường hợp đặc biệt của một hệ thống các định luật tổng quát và là một hệ quả tự nhiên, xuất phát từ những giả thiết nền tảng của CHLT.  Một thời gian dài trước khi CHLT được phát triển, Pauli đã luận ra từ các quy luật của Hệ thống Tuần hoàn các nguyên tố một nguyên lý nổi tiếng, đó là, trong một trạng thái lượng tử riêng biệt, ở mọi thời điểm, chỉ có thể bị chiếm bởi duy nhất một electron. Khả năng đưa nguyên lý loại trừ Pauli này vào CHLT đã được chứng minh, trên cơ sở của cái mà thoạt nhìn có vẻ như là một kết quả ngạc nhiên : toàn bộ tập hợp các trạng thái dừng mà một hệ nguyên tử có khả năng chấp nhận đều thuộc về các lớp xác định, sao cho một nguyên tử trong một trạng thái thuộc về một lớp không bao giờ có thể chuyển sang trạng thái thuộc về một lớp khác dưới tác động của bất cứ nhiễu loạn nào. Nguyên lý Pauli và thống kê Fermi-Dirac dẫn ra từ nó là tương đương với giả thiết rằng, chỉ có lớp các trạng thái dừng mà hàm riêng đổi dấu khi hoán vị hai electron là tồn tại trong tự nhiên. Theo Dirac, việc chọn hệ đối xứng sẽ không dẫn đến nguyên lý Pauli, mà dẫn đến thống kê Bose-Einstein.      Giữa các lớp trạng thái dừng thuộc về nguyên lý Pauli và khái niệm về sóng vật chất của de Broglie có một mối liên hệ khác thường. Một hiện tượng sóng trong không gian có thể được xem xét theo các nguyên lý của lý thuyết lượng tử bằng việc phân tích nó sử dụng công thức Fourier và rồi áp dụng các định luật thông thường của cơ học lượng tử cho từng thành phần Fourier của chuyển động sóng, khi hệ có một bậc tự do. Sự áp dụng phương pháp này cho việc xem xét các hiện tượng sóng bằng lý thuyết lượng tử, một phương pháp mà cũng đã từng được chứng minh là rất hiệu quả trong các nghiên cứu của Dirac về lý thuyết bức xạ cho các sóng vật chất của de Broglie, đã thu được một cách chính xác những kết quả giống như khi xem xét một hệ các hạt vật chất theo cơ học lượng tử với việc chọn sự đối xứng cần thiết. Jordan và Klein khẳng định rằng hai phương pháp là tương đương về mặt toán học ngay cả trong trường hợp tương tác của các electron. Các nghiên cứu của Jordan và Wigner chỉ ra rằng việc điều chỉnh các hệ thức giao hoán làm nền móng cho lý thuyết lượng tử đối với các sóng này sẽ dẫn đến một hình thức luận tương đương với hình thức luận của cơ học lượng tử dựa trên giả thiết của nguyên lý loại trừ Pauli.  Sự nhiễu loạn đối với hệ được quan sát bị gây ra bởi sự quan sát cũng là một nhân tố quan trọng trong việc xác định những giới hạn mà trong đó một sự mô tả trực quan về các hiện tượng nguyên tử là được phép. Nếu giả dụ có các thí nghiệm cho phép việc đo đạc chính xác tất cả các đặc trưng của một hệ nguyên tử, chẳng hạn như, các giá trị chính xác cho vị trí và vận tốc của mỗi electron trong hệ ở một thời điểm nhất định, thì kết quả của những thí nghiệm này không những hoàn toàn không thể sử dụng được trong hình thức luận, mà nó còn mâu thuẫn trực tiếp với hình thức luận. Rõ ràng là, sự nhiễu loạn về cơ bản không thể xác minh được của bản thân phép đo không cho phép việc xác định chính xác các đặc trưng cổ điển, và như vậy đòi hỏi phải sử dụng đến CHLT. Hình thức luận CHLT chỉ ra rằng, giữa độ chính xác trong việc xác định vị trí của một hạt và độ chính xác khi đồng thời xác định xung lượng của nó có một hệ thức mà theo đó tích của các sai số có thể trong phép đo vị trí và xung lượng luôn luôn ít nhất cũng lớn bằng hằng số Planck chia cho 4π.  Bohr đã chỉ ra trong một loạt ví dụ sự nhiễu loạn nhất thiết phải gắn liền với mỗi quan sát như thế nào, trong đó đảm bảo rằng ta không thể đi bên dưới cái giới hạn được thiết lập bởi các hệ thức bất định. Ông khẳng định rằng, đối với một sự bất định được đưa vào bằng khái niệm về phép đo, bản thân nó phải chịu trách nhiệm đối với phần nhiễu loạn về cơ bản vẫn còn chưa được biết đó.  Các định luật của CHLT về cơ bản đều mang tính chất thống kê. Mặc dù các tham số của một hệ nguyên tử đều được xác định hoàn toàn bằng một thí nghiệm, nhưng nói chung là không thể tiên đoán chính xác được kết quả của một quan sát tương lai đối với hệ.  Độ bất định gắn liền với các định luật của cơ học lượng tử liên quan đến một thực tế là các nguyên lý bảo toàn năng lượng và xung lượng vẫn luôn luôn đúng một cách nghiêm ngặt. Chúng có thể được kiểm tra với bất kỳ độ chính xác mong muốn nào và sẽ đúng theo độ chính xác được đặt ra khi kiểm tra chúng. Tuy nhiên, đặc trưng thống kê của các định luật cơ học lượng tử trở nên rõ ràng ở chỗ, một sự khảo sát chính xác về những điều kiện năng lượng lại khiến cho nó không thể kiểm soát được cùng một lúc với một sự kiện biệt lập nào đó trong không gian và thời gian.  Chúng ta phải biết ơn Bohr vì sự phân tích rõ ràng của ông về các nguyên lý mang tính khái niệm của cơ học lượng tử, chính ông đã áp dụng khái niệm về tính bổ sung để diễn giải sự đúng đắn của các định luật cơ học lượng tử. Chỉ riêng các hệ thức bất định đã có thể đưa ra một ví dụ xem làm thế nào mà trong cơ học lượng tử, sự hiểu biết chính xác về một biến lại có thể loại trừ đi sự hiểu biết chính xác về một biến khác. Mối quan hệ bổ sung giữa hai khía cạnh khác nhau của cùng một quá trình vật lý này quả thực là đặc trưng cho cấu trúc toàn thể của cơ học lượng tử. Chẳng hạn, như vừa đề cập, việc xác định các hệ thức năng lượng dẫn đến loại bỏ sự mô tả chi tiết các quá trình không-thời gian. Tương tự, việc nghiên cứu các tính chất hóa học của một phân tử là bổ sung cho việc nghiên cứu về chuyển động của các electron cá biệt trong phân tử, hay, việc quan sát các hiện tượng giao thoa là bổ sung cho việc quan sát các lượng tử ánh sáng riêng biệt.  Sự phát triển của CHLT vẫn được tiếp tục, dựa trên tất cả các nghiên cứu của de Broglie, Schrödinger, Born, Jordan, và Dirac. Ở đây, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu chủ yếu được tập chung đến vấn đề dung hòa những nguyên lý của lý thuyết tương đối đặc biệt với những nguyên lý của lý thuyết lượng tử. Những tiến bộ quá sức tưởng tượng đã được thực hiện trong lĩnh vực này bởi Dirac, đồng thời một vấn đề cũng được đặt ra là liệu có thể thỏa mãn các nguyên lý  của hai lý thuyết mà không phải cùng một lúc xác định hằng số cấu trúc tinh tế Sommerfeld hay không. Những nỗ lực được thực hiện cho đến nay nhằm đạt được đặc trưng tương đối tính cho lý thuyết lượng tử đều dựa trên các khái niệm trực quan gần gũi với các khái niệm trong vật lý cổ điển, thành thử, dường như không thể xác định được hằng số cấu trúc tinh tế trong hệ thống các khai niệm như vậy được.  Những gợi ý quan trọng cho sự phát triển tiếp theo của cơ học lượng tử cũng nổi lên từ các thí nghiệm liên quan đến cấu trúc của hạt nhân nguyên tử. Từ sự phân tích chúng theo lý thuyết Gamow, có vẻ như là, các lực giữa các hạt cơ bản tạo thành hạt nhân nguyên tử, ở mức độ nào đó thuộc một loại khác với các lực xác định nên các lớp nguyên tử; hơn nữa, các thí nghiệm của Stem dường như chỉ ra rằng, đặc tính của những hạt cơ bản nặng không thể được diễn tả bằng hình thức luận của lý thuyết Dirac về electron. Việc nghiên cứu trong tương lai, do đó sẽ phải sẵn sàng chuẩn bị để đón nhận những bất ngờ, có thể đến cả từ lĩnh vực nghiên cứu hạt nhân cũng như lĩnh vực nghiên cứu bức xạ vũ trụ. Tuy nhiên, quá trình phát triển về chi tiết theo một lộ trình dài được vạch ra bởi lý thuyết lượng tử đã chỉ ra rằng, cho đến nay, những hiểu biết này vẫn còn chưa làm rõ được các đặc tính của vật lý nguyên tử mà chỉ có thể thu được bằng việc trực quan hóa và khách quan hóa tới một phạm vi mở rộng hơn thông thường mà thôi. Chúng ta, có lẽ, chẳng có lý do gì để phải nuối tiếc về điều này, bởi vì, có thể hy vọng rằng, một vật lý học nguyên tử trừu tượng đang được phát triển hiện nay, một ngày nào đó sẽ trở nên hòa hợp hơn trong cái lâu đài vĩ đại của Khoa học.    Trần Trung Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sinh sản kỳ lạ của rồng Komodo      Các nhà khoa học đang tìm cách giải thích việc một con rồng Komodo cái mang thai tại một vườn thú ở Anh. Rồng Komodo là một loại bò sát lớn có thể dài tới 3 mét. Mặc dù không có con đực ở bên nhưng con Komodo này đã đẻ một ổ trứng đã thụ tinh được cho là sẽ nở sau dịp Giáng sinh.    Các nhà nghiên cứu viết báo cáo trên tạp chí Nature nói rằng đây là hiện tượng vô cùng bất thường ở rồng Komodo và có thể là một biến dị mới. Sống tại vườn thú Chester tại Anh, con Komodo mang tên Flora là một trong hai con Komodo cái tại đây.  Hồi tháng năm, Flora đã đẻ 15 quả trứng đã thụ tinh. Một vài trứng trong số đó bị hỏng và các xét nghiệm DNA cho thấy phôi trong những quả trứng này chỉ có nguồn gốc từ Flora.  Các chuyên gia vườn thú đoán rằng Flora đã tự thụ tinh cho trứng của mình qua một quá trình đơn tính, tức là trứng trở thành phôi mà không có tinh trùng của con đực. Hiện tượng này có xảy ra đối với một số loài bò sát và cá.  Tám quả trứng mà con Flora đẻ theo tính toán sẽ nở vào đầu tháng một. Trong khi đó một con Komodo sống trong vườn thú London mang tên Sungai trong năm nay cũng đã đẻ bốn con, và cũng không hề có sự can thiệp của con đực.  Về sau con Sungai cũng đã có quan hệ với một con kỳ đà đực và sinh con theo cách thông thường. Điều này cho thấy những con rồng Komodo cái có thể chuyển từ dạng sinh sản này sang dạng khác tùy thuộc vào việc có con đực hay không.  Các nhà khoa học không hoàn toàn chắc rằng liệu những con kỳ đà Komodo vốn có khả năng này hay đây là một phát triển mới. Thằn lằn Komodo là những con kỳ đà lớn nhất thế giới. Mặc dù không hề có đối thủ ăn thịt, trên thế giới cũng chỉ có 4000 con kỳ đà này.  Theo BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sống có nguồn gốc ngoài Trái đất      Các nhà khoa học đã lần đầu tiên chứng minh rằng hai mẩu nhỏ của mã gene, gọi là cơ sở nhân (nucleobases), trong thiên thạch Murchison thật sự hiện diện ngoài Trái đất.      Kết luận này khác với các nghiên cứu trước đây cho rằng các mảnh thiên thạch, rơi xuống gần Murchison (Úc), vào năm 1969 có thể bị ô nhiễm khi va chạm Trái đất. Theo TS Zita Martins, Viện Hoàng gia London (Anh), hai phân tử được xác định của nghiên cứu, mang tên uracil và xanthine, đã hiện diện trong DNA và RNA của con người chúng ta. RNA, là phần chính của mã gene hình thành cơ thể con người. Các giả thiết trước đây gợi ý là cơ sở nhân có thể đã được tổng hợp gần Trái đất, nhưng TS Martins cho rằng điều kiện khí hậu của Trái đất ban sơ đã làm tiến trình tổng hợp này không thể xảy ra. Nhóm nghiên cứu chứng minh rằng hai loại phân tử trong thiên thạch Murchison ở Úc chứa một dạng nặng của carbon – carbon 13 – vốn chỉ có thể hình thành trong không gian.   N.T.ĐA      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sống hình thành khi nước gặp sắt trong lòng Trái đất?      Nghiên cứu gần đây của một nhóm các nhà khoa học cho thấy trữ lượng sắt lớn giàu oxy bên trong phần lõi (core) và lớp phủ của Trái đất có thể đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với lịch sử hành tinh, bao gồm sự chia tách của Siêu Lục địa (supercontinentent), những biến đổi khí hậu, và cả nguồn gốc hình thành sự sống… Kết quả trên đã được công bố trên National Science Review.      Minh họa oxy và hydro chuyển động sâu bên trong vỏ Trái đất. Nguồn: Viện Khoa học Carnegie.  Nhóm nghiên cứu – gồm các nhà khoa học tới từ Viện Carnegie (Carnegie Institute for Science), Đại học Stanford, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Áp suất cao và Công nghệ tiên tiến Trung Quốc (Center for High Pressure Science and Technology Advanced Research), và Đại học Chicago đã thực hiện những thí nghiệm về hóa học của sắt và nước ở dưới phần ranh giới lớp lõi – lớp phủ Trái đất (core-mantle boundary)1, nơi có nhiệt độ và áp suất cực lớn.     Những chuyển động kiến tạo mảng (plate tectonics) đã hút những khoáng chất chứa nước ở độ sâu cần thiết và gặp lõi sắt của Trái đất, những điều kiện khắc nghiệt ở đây là nguyên nhân dẫn đến sắt dễ dàng kết hợp với những nguyên tử oxy trong các phân tử nước và hình thành các nguyên tử hydro tự do. Khí hydro sinh ra sau đó có thể thoát lên trên bề mặt Trái đất, nhưng oxy vẫn bị giữ lại ở dạng tinh thể dioxide sắt – chỉ hình thành trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cực cao.    Sử dụng các tính toán lý thuyết cũng như thí nghiệm trong phòng thí nghiệm để tái tạo điều kiện nhiệt độ và áp suất như tại ranh giới lớp vỏ – lớp phủ Trái đất, nhóm nghiên cứu đã xác định có thể tạo ra dioxide sắt bằng cách sử dụng buồng đốt nóng bằng laser có đầu đo kim cương, để đưa các vật liệu này vào trong điều kiện áp suất lớn hơn 950 – 1 triệu lần so với áp suất thông thường2 và nhiệt độ hơn 3.5000 F (khoảng 19260 C).  Trưởng nhóm nghiên cứu, TS. Ho-kwang Mao (Viện Carnegie) cho biết, “dựa trên những hiểu biết về sự hình thành và cấu tạo hóa học ở những vỉa sâu bên trong các lớp kiến tạo mảng Trái đất, chúng tôi nghĩ cần khoảng 300 tấn nước được đưa xuống sâu để gặp sắt tại phần lõi, tạo ra một lượng đá chứa dioxide sắt khổng lồ mỗi năm”.  Những lớp đá giàu oxy này lại tích tụ nhanh chóng theo thời gian, phía trên phần lõi, cuối cùng trở thành những khối có kích thước lớn như lục địa. Một hiện tượng địa chất nào đó có thể đã xảy ra khiến lớp đá này bị nung nóng, đột ngột gây nên một đợt phun trào dữ dội, giải phóng lượng oxy lớn lên trên bề mặt.  Các tác giả cũng đưa ra giả thuyết rằng, sự phun trào oxy lớn như vậy cũng giải phóng lượng khí gas khổng lồ vào trong bầu khí quyền, đủ lớn để gây ra Hiện tượng Oxy hóa vĩ đại (Great Oxygenation Event) diễn ra 2.5 tỷ năm trước đã tạo ra bầu khí quyển giàu oxy của chúng ta, điều kiện để khởi động sự sống độc lập (cần oxy để duy trì) trên Trái đất như chúng ta đã biết.  “Phản ứng tách nước trong điều kiện nhiệt độ và áp suất lớn mới được phát hiện này ảnh hưởng tới các hoạt động địa hóa học, ở cả những lớp sâu bên trong vỏ cho tới tầng khí quyển của Trái đất” – Mao nhận định, và ông cũng tin rằng rất nhiều lý thuyết trước đó cần phải được xem xét lại.   —————  Chú thích:  1) Ranh giới lõi – vỏ (core-mantle boundary), hay còn gọi là vùng gián đoạn Gutenberg, nằm sâu 2891 km bên dưới bề mặt Trái đất, có áp suất trong khoảng 330 đến 360 GPa (tương đương 3.000.000 atm), nhiệt độ khoảng 5700 độ K (khoảng 5426 độ C)  2) Áp suất khí quyển: thông thường là 1 atm ở mực nước biển. Càng lên cao áp suất càng giảm. Áp suất trong lòng Trái đất là cực kỳ lớn.    Hải Đăng dịch theo Phys.org https://phys.org/news/2017-11-met-iron-deep-earth-conditions.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sống trên Trái Đất có nguồn gốc từ Sao Hỏa      Ngày càng có nhiều chứng cớ cho thấy sự sống  trên Trái Đất có thể bắt nguồn từ Sao Hỏa. Nguyên do ở chỗ: chỉ trên  hành tinh Đỏ mới có một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc khởi  đầu sự sống; Trái Đất thuở xưa không có yếu tố này.       Cuối tháng 8 vừa qua, nhà hóa học địa cầu Steven Benner [1] chính thức công bố giả thuyết khoa học: đầu tiên “hạt giống” của sự sống thì ở trong đất đá trên Sao Hỏa; sau đó do bị ngoại lực tác động hoặc do núi lửa phun trào mà đất đá ấy biến thành thiên thạch rời khỏi Sao Hỏa rồi rơi xuống Trái Đất [2]. Chỉ trên Sao Hỏa mới có chất ôxyt Môlipđen [3], một vật chất được coi là chất xúc tác có thể giúp các phân tử hữu cơ phát triển trở thành hình thức ban đầu của sự sống.   Tại Hội thảo Hóa học địa cầu Goldschmidt 2013 [4], Giáo sư Benner nói: “Chỉ khi nào nguyên tố Môlipđen được ôxy hóa ở mức độ cao thì nó mới ảnh hưởng tới việc hình thành sự sống thời kỳ đầu.”  “Khi sự sống bắt đầu hình thành, trên Trái Đất không tồn tại Môlipđen ở dạng ôxyt như vậy, bởi lẽ cách đây 3 tỷ năm bề mặt Trái Đất có rất ít khí ôxy, nhưng trên Sao Hỏa lại có ôxy. Đây là một chứng cớ chứng minh khi các thiên thạch rơi từ Sao Hỏa xuống Trái Đất, chúng mang theo mầm mống của sự sống, chứ không phải sự sống bắt nguồn trên Trái Đất.”  GS Benner nói, tất cả mọi sinh vật đều cấu tạo bởi các chất hữu cơ, nhưng nếu chỉ dựa vào cách bổ sung thêm năng lượng (như nhiệt năng hoặc quang năng) cho các phân tử hữu cơ thì chưa đủ để chúng tạo ra sự sống. Ngược lại, các phân tử hữu cơ tự nó sẽ biến ra thành những thứ như hắc ín (tar) hoặc nhựa đường (asphalt).  Ông nói: “Một số nguyên tố dường như có thể khống chế chất hữu cơ biến thành hắc ín, đặc biệt là nguyên tố Boron [5] và Môlipđen; vì thế chúng tôi cho rằng khoáng chất chứa hai loại nguyên tố này là cơ sở để hình thành trạng thái sơ khai của sự sống.”  “Mới đây, một kết quả phân tích thiên thạch Sao Hỏa cho thấy trên Sao Hỏa có Bo. Hiện nay chúng tôi tin rằng trên Sao Hỏa cũng tồn tại hình thức ôxyt Môlipđen.” — ông nói.  GS Benner cho biết, có một lý do khác khiến cho sự sống rất khó có thể ra đời trên Trái Đất thời kỳ sơ khai; đó là do thời ấy toàn bộ bề mặt Trái Đất rất có thể hoàn toàn bị ngập trong nước. Nước ngăn cản sự hình thành chất Bo nồng độ cao và nước có tính xâm thực RNA — tức Ribonucleic acid, một chất được coi là anh em họ của DNA, là phân tử gene xuất hiện sớm nhất.   Ông cho rằng Sao Hỏa thời kỳ đầu cũng có tồn tại nước, nhưng nước chỉ phủ trên một phần cực nhỏ bề mặt hành tinh này.  GS Benner nói: “Chứng cớ dường như cho thấy thực ra tất cả chúng ta đều là người Sao Hỏa. Nghĩa là sự sống bắt đầu trên Sao Hỏa rồi đi trên một tảng đá mà đến Trái Đất.”  “Dù thế nào đi nữa, các thiên thạch đó rơi xuống đây là điều rất may mắn cho chúng ta. Hiển nhiên, trong hai hành tinh này thì nơi có điều kiện tốt hơn để duy trì sự sống là Trái Đất chứ không phải Sao Hỏa. Giả thử tổ tiên Sao Hỏa mà chúng ta phỏng đoán hãy còn ở trên hành tinh đỏ thì có lẽ chúng ta chẳng có chuyện gì để nói.”    Nguyễn Hải Hoành lược thuật  Ghi chú của người dịch:  [1] Steven A.Benner là giáo sư Khoa Hóa, đồng thời là thành viên Khoa Sinh học tế bào phân tử Đại học Florida, làm việc ở Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ Westheimer (Mỹ).  [2] Hiện nay có khoảng 1 tỷ tấn nham thạch tồn tại giữa Sao Hỏa với Trái Đất; khi bị các tiểu hành tinh va chạm, chúng sẽ vỡ thành các tảng thiên thạch và rơi xuống Trái Đất.  [3] Molybdenum là nguyên tố hóa học ký hiệu Mo, số nguyên tử 42, tiếng Việt gọi là Mô-lip-đen, được phát hiện năm 1778.   [4] Hội thảo Hóa học địa cầu Goldschmidt 2013 do European Association of Geochemistry and the Geochemical Society tổ chức tại Florence, Italy, từ 25 đến 30/8. Goldschmidt là tên nhà khoáng vật học Victor Goldschmidt (1888-1947), người sáng lập ngành hóa học địa cầu và hóa học tinh thể hiện đại.   [5] Boron là nguyên tố hóa học ký hiệu B, số nguyên tử 5, tiếng Việt gọi là Bo, được phát hiện năm 1808.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sống trước khi có protein      Bằng cách tạo ra màng nhân tạo từ các hợp chất phân tử chất béo khác nhau từ màng của tế bào hiện đại, các nhà khoa học phát hiện ra công thức mà các màng cho phép dinh dưỡng đi vào tế bào, và cho thấy các tế bào sơ khai nhận chất dinh dưỡng từ môi trường mà không cần sự giúp đỡ của protein.      Các nhà nghiên cứu vừa công bố trên tờ Nature tháng 06. Theo nhà khoa học chính Jack Szostak, Bệnh viện đa khoa Massachusett ở Boston, “Tôi không nghĩ rằng có bất kỳ công trình nào trước đây chứng minh rằng bạn có thể thu được chất dinh dưỡng qua lớp màng. Đây là cái nhìn cận cảnh đầu tiên vào việc làm thế nào khiến nó hoạt động.” Trong khi các lớp màng, gồm axit béo và glycerol monoester thay vì phospholipids tìm thấy trong tế bào ngày nay, cho phép các chất dinh dưỡng bé lọt qua, những phân tử tương tự như DNA lớn hơn bị giữ lại bên trong quả cầu. Vì vậy tế bào tạo từ loại màng này có thể giữ lại mã di truyền của chúng. Mục tiêu cuối cùng của Szotak là tạo ra được dạng sống đơn giản của sự sống nhân tạo bằng cách gói những phân tử tương tự DNA, tự nhân bên trong những lớp màng như thế và cung cấp dinh dưỡng để các “tiền tế bào” có thể phát triển và phân chia.   Tuệ Minh (Theo Science News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự sụp đổ của tòa tháp đôi      Tòa nhà trung tâm thương mại thế giới (WTC) đã sụp đổ như thế nào? Liệu thảm kịch có thể giảm nhẹ? Theo yêu cầu của Quốc hội Mĩ, một cuộc nghiên cứu lớn của Viện Tiêu chuẩn và Kĩ thuật được tiến hành để tìm lời giải cho những câu hỏi trên.    Sáng 11-9-2001, hai chiếc máy bay với vận tốc 700 km/h và chứa gần 37.000 lít nhiên liệu đã đâm vào hai tòa nhà của Trung tâm thương mại thế giới ở New York. Không đầy hai giờ sau, hai tòa nhà biến mất trong đám tro bụi khổng lồ.  Vụ khủng bố làm chết gần 2.800 người, và hình ảnh của vụ sụp đổ vẫn còn lưu dấu ấn mãi. Khi đống tro tàn của hai tòa nhà vẫn còn ngổn ngang, các chuyên gia của Hội kỹ sư xây dựng dân dụng Hoa Kỳ (ASCE) đã được phái gấp đến hiện trường. Họ kết luận, đám cháy của vụ đâm máy bay đã làm mềm cấu trúc kim loại của WTC, gây nên sự sụp đổ tuần tự từ tấm sàn này đến tấm sàn khác.             Tòa tháp Nam, sụp đổ sau 56 phút xảy ra vụ va chạm (tòa tháp Bắc sụp đổ sau 102 phút)         Muốn có một nghiên cứu nghiêm túc ở mức cao nhất, năm 2002, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu Viện Tiêu chuẩn và Kỹ thuật Hoa Kỳ (NIST) mở một cuộc điều tra khoa học. Trong 3 năm, gần 200 chuyên gia của NIST đã được huy động, thêm cả sự cộng tác của khoảng 100 nhà công nghiệp và trường đại học. Họ đã thu thập chứng cứ từ lời kể của 1000 nhân chứng, khoảng 10.000 trang tài liệu và nhiều cuộc thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu gần đây của NIST xác định được cơ chế sụp đổ tuần tự của các tấm sàn và qua đó giải thích cách sụp đổ khác nhau của mỗi tòa nhà.  Cấu trúc tòa tháp  Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là liệu kiến trúc của WTC có vấn đề? Được xây dựng trong vòng 2 năm (từ 1968 đến 1970), tòa tháp Bắc (WTC 1) và tòa tháp Nam (WTC 2) là những bộ phận chính của tổng thể kiến trúc gồm 7 tòa nhà. Dù hình dáng bên ngoài (hình hộp cao 415m và bề ngang 64m) nhìn bình thường, song cấu trúc của nó rất độc đáo: tiết kiệm các cột vốn được dùng để chống đỡ các tòa nhà lớn để có khoảng không gian làm việc rộng lớn hơn. Kiến trúc của WTC được xây dựng trên cơ sở một ống thép (mặt ngoài) bao gồm 236 cột ngoại vi. 40 cột thép trong trung  tâm cấu trúc để thang máy và cầu thang men vào. Một hệ thống giảm xóc được đặt giữa mặt tiền và các tấm sàn cho phép giảm xóc do sự dao động tự nhiên của một tòa nhà khổng lồ. Cuối cùng, những khung kim loại bao trùm mỗi tòa nhà. Chúng được xây dựng để chống đỡ 2 ăng-ten cao khoảng 100m, đồng thời chúng cũng nối tâm của tòa nhà với mặt ngoài. Vì vậy một sự phân bố lại tải trọng được đảm bảo.    Cách nhiệt đúng tiêu chuẩn  NIST đã xác nhận chất lượng của thép là rất tốt và tải trọng mà các tháp chịu đựng nằm trong khoảng tiêu chuẩn cho phép. Vì hỏa hoạn bùng phát sau vụ đâm máy bay nên NIST quan tâm đến sự phù hợp của việc cách nhiệt – vốn đóng vai trò cần thiết trong việc làm giảm tác nhân phá hủy của nhiệt lên cấu trúc. Những cột trung tâm được phủ thạch cao, trong khi những cột ở vòng ngoài và sườn của tấm sàn được che bằng một lớp tráng cách nhiệt làm bằng xi-măng và sợi thủy tinh. Bề dày của lớp này đủ để làm chậm sự nóng lên theo tiêu chuẩn hiện hành. Qua thí nghiệm, NIST nhận thấy những tấm sàn có khả năng chịu đựng một trận hỏa hoạn trong vòng 2 giờ. Tuy nhiên khi thiết kế WTC, người ta không tính đến những rủi ro như các vụ va chạm của những chiếc máy bay cũng như những trận hỏa hoạn như đã từng xảy ra. Một trường hợp tương tự như WTC đã diễn ra năm 1945, khi một chiếc B25 đã đâm vào tòa nhà Empire State do mất phương hướng trong sương mù dày đặc. Cũng đã có một tài liệu nghiên cứu chuyện gì sẽ xảy ra nếu một chiếc Boeing 747 đâm vào WTC, theo đó vụ va chạm sẽ chỉ gây hư hại cục bộ chứ không làm sụp đổ hoàn toàn tòa nhà.  Tám tầng ảo  Để hiểu nguyên nhân của vụ sụp đổ này, các chuyên gia của NIST đã tái lập thảm kịch trên máy tính, từ lúc xảy ra va chạm cho đến khi tòa nhà sụp đổ hoàn toàn. Để mô hình hóa, người ta đã xây dựng “ảo” 8 tầng của 2 tòa tháp. Một loạt mô phỏng được tiến hành để tìm hiểu tại sao những khoang kim loại của máy bay cũng như của 2 tòa tháp lại bị chia cắt thành từng mảnh.                  Người ta đã dùng đến 2 triệu dữ liệu và 2 tuần tính toán với những máy tính có tốc độ tính toán cỡ 1 triệu phép tính mỗi giây để mô phỏng diễn biến của vụ sụp đổ. Qua mô hình này, người ta có thể hiểu làm thế nào mà các cánh máy bay bằng nhôm có thể cắt ngang dễ dàng các cột thép. Mô phỏng đã chỉ ra rằng những cánh máy bay không thể xuyên qua những cột này nếu chúng không chứa đầy nhiên liệu. Số lượng các cột ở vòng ngoài bị phá hủy là khoảng 20 cột cho mỗi tháp. Ngoài ra, những mô phỏng đã cung cấp những thông tin về thiệt hại ở phần phía trong của tháp: do ảnh hưởng của vụ va chạm, một phần của các tấm sàn bị phá hủy, nhiều cột ở trung tâm bị hư hỏng nặng nề, các cột bị kéo dài ra và bị “xé rách” do hấp thụ một phần động năng của các chiếc máy bay.                   Ngoài ra có những yếu tố khác gây nên sự sụp đổ của WTC. Trước hết, vụ va chạm làm phân tán nhiên liệu và gây nên vụ hỏa hoạn trên những vùng rộng. Vụ va chạm cũng làm vỡ nhiều cửa kính ở mặt ngoài, do đó tạo nên một luồng khí vào tòa nhà làm ngọn lửa càng bùng to. Đặc biệt những mảnh vỡ (như cánh, động cơ…) bị bắn ra với vận tốc lớn đã làm hư hại nặng nề những tấm cách nhiệt quanh các cột, do đó sức nóng dễ tỏa ra hơn. Những tấm trần nhà xuống cấp cũng góp phần dẫn nhiệt nhanh, thêm vào đó các vật dụng văn phòng đa số là các vật dễ cháy.     Những thử nghiệm về nhiệt độ  Dựa vào dữ liệu, người ta đã phác họa ra sự khác biệt lớn giữa các trận hỏa hoạn của 2 tòa tháp. Ở WTC 1, sự lan truyền ngọn lửa bị hạn chế bởi thiếu khí, đám cháy di chuyển từ hướng Bắc (gần nơi xảy ra vụ va chạm) về hướng Nam, dẫn đến nhiệt thiêu rụi các cửa sổ. Ở WTC 2, hướng đâm của máy bay đã gây nên sự tích tụ của rất nhiều mảnh vỡ dễ cháy ở góc Đông-Bắc của tòa nhà, vì vậy những đám cháy dữ dội và mạnh mẽ hơn. Tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt, các chuyên gia phải kết hợp mô hình hóa trận hỏa hoạn với việc phân tích cấu trúc của tòa tháp. Họ làm mô phỏng cho những cột thép của WTC chịu nhiệt độ ngày càng cao dần.            Một không gian làm việc của tòa tháp được tạo dựng lại để tìm hiểu sự tàn phá của ngọn lửa đối với cấu trúc của tòa nhà        Những thử nghiệm này được tiến hành với những cột được bao phủ bởi một lớp không cháy và với những cột khác. Qua đó cho thấy nhiệt thoát qua những lỗ cách nhiệt ngày càng lan truyền rộng. 5 phút sau khi bùng phát hỏa hoạn, một cột được cách nhiệt tốt đã đạt đến nhiệt độ 3000C. Cũng trong khoảng thời gian này, nhiệt độ của một phần của những tấm sàn và các cột ở vùng trung tâm đã gần 5000C. Cấu trúc vi mô của thép thay đổi theo nhiệt độ. Ở 5000C, những cột ở trung tâm của WTC bắt đầu ngắn lại trong một quá trình gọi là sự rão (fluage), dẫn đến sự chống đỡ yếu ớt của thép khiến các tấm sàn đổ sụp xuống. Tuy nhiên ở vùng ngoài hình ảnh lại trái ngược, việc kết nối giữa các cột thép vẫn được giữ vững và các tấm sàn không đổ xuống.  Việc phân phối lại tải trọng  Do những kết nối ở khung của mái và sự yếu đi của các cột vùng trung tâm dẫn đến sự phân bố lại tải trọng ra các cột ở vùng ngoài, điều này làm các mặt ngoài yếu đi và gây nên sự mất ổn định lớn. Theo những dữ liệu về thời gian (56 phút đối với WTC 2 và 102 phút đối với WTC 1), những cột này trở nên không có khả năng chống đỡ tải trọng của phần trên. Năng lượng được giải phóng do sự chuyển động của phần trên cũng như phần dưới được giữ nguyên. Nhưng vì sao tòa nhà WTC 2 sụp đổ nhanh hơn tòa nhà WTC 1? Vì đường đi của máy bay nên các cột ở vùng trung tâm của WTC 2 chịu ảnh hưởng nhiều hơn. Đường đi của máy bay lúc va chạm lệch so với tâm của mặt ngoài, điều đó dẫn đến những đám cháy cục bộ hơn và mạnh mẽ hơn. Hậu quả là các cột mất khả năng chống đỡ tải trọng một cách nhanh chóng.  Bài học từ thảm kịch  NIST đã nhấn mạnh rằng tòa tháp đôi có thể không bị đổ sụp nếu các lớp cách nhiệt không bị tác động mạnh bởi các vụ va chạm. Theo NIST, bài học lớn nhất là việc đặt cách nhiệt một cách phù hợp và các yếu tố của việc chia thành các khoang lớn đặc biệt là đối với các căn hộ nơi mà các yếu tố về kết cấu phụ thuộc lẫn nhau, giống như trong trường hợp của tòa tháp đôi. Bên cạnh đó, NIST cũng khuyến cáo việc lắp đặt các cửa sổ  cách nhiệt để làm giảm hàm lượng oxy tham gia sự cháy. NIST cũng đề cập đến khả năng cứu hộ của các thang thoát hiểm của WTC, chúng không đủ cho dòng người ùn ùn tìm đường thoát hiểm.      Trí Nguyên (Theo La Recherche)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật nằm ở… dạ dày?      Khi nói dối, mũi người ta thường nở ra. Đó là điều chúng ta biết từ lâu nhưng đối với Pankai Pasricha và các cộng sự thuộc Đại học Texas thì chính dạ dày mới là nơi người ta có thể xác định chính xác lời nói thật, giả.    Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một chương trình đo xung điện ở dạ dày để theo dõi xem người tình nguyện có nói dối hay không. Họ nhận thấy trong các trường hợp nói dối, dạ dày thường phát xung điện mạnh hơn bình thường. “Dạ dày dường như có một “thần kinh” riêng của nó mà không bị ảnh hưởng của não bộ trung ương”, Pankai Pasricha nói trên tờ New Scientist.  P.V    Nguồn tin: www.hon.ch/News/HSN/528816.ht      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật toán học      Có một kết luận không dễ bắt bẻ là: những sự thật toán học là có thật và tồn tại độc lập với đầu óc con người, trong một thế giới riêng của nó. Chúng có đời sống và những mối liên hệ tự thân mà con người không thể thay đổi được.    Từ một cuộc gặp  Câu chuyện này bắt đầu từ một buổi gặp mặt và tán gẫu giữa hai người bạn, tuy ở xa nhưng lại gặp nhau trong một quán café ở Hà Nội, về một trong những chủ đề muôn thuở của con người: Triết học. Đó là Hoàng Hồng Minh (Minh) – ở Paris, Pháp và Giáp Văn Dương (Dương)– khi đó mới ở Liverpool, Anh – về chơi. Đến giờ, không ai nhớ được chi tiết cả hai đã nói những gì trong buổi gặp đó. Nhưng có một thứ chắc chắn là anh Minh nói về khái niệm “tha hóa” và cho rằng, việc hiểu “tha hóa” như cách hiểu hiện giờ là không chính xác, còn Dương thì nói về các “dạng thức ” (forms) của Plato trong liên hệ với khái niệm tha hóa mà anh Minh đề cập. Kết thúc buổi trò chuyện, Dương cho rằng, nếu có một nhà toán học nữa tham gia thảo luận thì thật thú vị, vì các hệ thức toán học, có thể coi như một “dạng thức” của Plato.  Năm tháng sau, câu chuyện trở lại, với sự tham gia của một nhà toán học, đó là Ngô Bảo Châu (Châu), lúc này đang ở Chicago, Mỹ. Tuy là tán gẫu qua mạng, lại từ ba nước khác nhau và lệch múi giờ nhau hoàn toàn, nhưng vẫn không kém phần thú vị so với những cuộc tán gẫu thực ở ngoài đời, bên ấm trà hay tách café nóng.  Chủ đề của cuộc tán gẫu là Sự thật toán học. Cách xưng hô được giữ nguyên như nó vốn có trong giao tiếp hằng ngày, lấy sự thân quen và tuổi tác làm cơ sở.  Dẫn chuyện  Galileo – cha đẻ của khoa học hiện đại – cho rằng “Tự nhiên là cuốn sách được viết bởi ngôn ngữ Toán học”. Tất cả những định luật của khoa học tự nhiên đều được phát biểu dưới dạng những biểu diễn toán học như các phương trình, các bất đẳng thức.  Tính đúng đắn của các phương trình, rộng hơn là các quan hệ toán học, trong điều kiện biên xác định, được thừa nhận là bất biến. Vì thế, chúng được gọi là những sự thật toán học. Điều này đôi khi dẫn đến ngộ nhận: chân lý khoa học là bất biến vì các sự thật toán học là bất biến.  Chính tính bất biến của các sự thật toán học là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng tòa lâu đài tri thức của con người về giới tự nhiên. Nếu tính bất biến của các sự thật toán học không còn nữa, thì tòa lâu đài tri thức này không có cách nào đứng vững được.  Vì thế, tìm hiểu về bản chất của sự thật toán học chính là tìm hiểu bản chất tri thức của con người.  Sự thật toán học chỉ có được khi xuất phát từ những sự thật toán học đã biết hoặc những tiên đề được cho rằng hiển nhiên đúng, thông qua một quá trình suy luận logic chặt chẽ.  Sự tiến bộ của Toán học, vì thế trong một chừng mực nào đó có thể nói là chậm hơn so với những tiến bộ mang tính cách mạng của những ngành khoa học khác như Vật lý, Sinh học, Tin học… Nhưng đổi lại, những tri thức mà nó thu được có tính bền vững đến độ vĩnh cửu. Không ai có thể nghi ngờ rằng Định lý Pythagoras lại không đúng trong một triệu năm sau nữa. Còn những lý thuyết của các ngành khoa học khác rất dễ bị thay thế bởi những lý thuyết khác đúng đắn hơn sau đó, có thể trong khoảng thời gian của một đời người hoặc thậm chí chỉ trong vài năm.  Đó cũng là một phần của lý do vì sao các nhà toán học thường kiên trì giải những bài toán có khi ra đời từ hàng trăm năm về trước. Khi làm những việc đó, họ biết rằng đó là những vấn đề vĩnh cửu và tri thức họ thu được cũng sẽ là vĩnh cửu.  Chính tính vĩnh cửu của những sự thật toán học đã làm cho công việc của các nhà toán học đặc thù hơn so với công việc của các nhà khoa học khác. Họ phải tuân thủ một qui trình suy luận logic nghiêm ngặt, thay vì thiết kế thí nghiệm, quan sát, đo đạc và so sánh kết quả với tính toán như các nhà khoa học khác thường làm.  Chỉ những kết quả thu được từ quá trình suy luận logic nghiêm ngặt này mới được coi là sự thật toán học và đúng mãi với thời gian: từ lúc người ta tìm ra chúng và mãi sau này.  Nhưng trước khi người ta tìm ra những sự thật toán học này thì sao? Chẳng hạn, trước khi có con người thì định lý Pythagoras có tồn tại không?  Dù không có số liệu thông kê chính thức, nhưng rất nhiều nhà toán học tin một phần hoặc toàn bộ vào sự tồn tại của thế giới những sự thật toán học. Để minh họa điều này, hãy xem xét hai ví dụ: Định lý Fermat lớn và Tập hợp Mandelbrot.  Định lý Fermat lớn được Fermat (1601-1665) ghi trên lề của một cuốn sách Arithmetica gần 400 năm về trước, đại ý: phương trình xn+yn=zn không có nghiệm nguyên khác không với n>2. Ở bên lề của cuốn sách, ông có ghi thêm rằng: tôi đã tìm ra cách chứng minh rất tuyệt. Nhưng vì lề sách quá hẹp nên không thể viết ra đây! Nhưng phải mất 358 năm, và làm đau đầu biết bao thế hệ toán học tài năng, định lý này mới được chứng minh bởi Wiles, nhà toán học Anh, năm 1994.  Vậy trước khi Wiles chứng minh được định lý này, thì nó có đúng không? Thậm chí giả sử Fermat không viết ra lề sách định lý đó, hoặc bản thân Fermat không được sinh ra ở trên đời, thì định lý đó có tồn tại không?  Tập hợp Mandelbrot cũng là một minh chứng rõ ràng cho sự tồn tại độc lập của những sự thật toán học. Được phát hiện bởi Mandelbrot năm 1980 nhưng ban đầu bản thân Mandelbrot cũng không ý thức được hết sự phức tạp của nó. Vậy thì, sự tồn tại của nó có phải là độc lập, khách quan với đầu óc con người?     Hai ví dụ này, và vô số những ví dụ khác, dẫn đến một kết luận không dễ bắt bẻ là: những sự thật toán học là có thật và tồn tại độc lập với đầu óc con người, trong một thế giới riêng của nó. Chúng có đời sống và những mối liên hệ tự thân mà con người không thể thay đổi được.    Nhưng những kí hiệu toán học chỉ được phát minh trong khoảng vài trăm năm trở lại đây, ví dụ dấu bằng (=) không tồn tại trước thế kỉ 16. Vậy là những phương trình toán học như ta vẫn thấy không thể tồn tại trước thế kỉ 16, do đó, sự tồn tại khách quan của thế giới những sự thật toán học như nhiều nhà toán học nhận định là không có thật. Đó cũng là một lập luận không dễ bắt bẻ.  Tán gẫu qua mạng  Dương – Như vậy, sự thật toán học liệu có tồn tại độc lập với đầu óc con người?  Châu – Câu hỏi mà Dương đặt ra là một câu hỏi dằn vặt nhiều nhà toán học. Làm toán là một quá trình khám phá (discovery) hay là một quá trình sáng tạo (invention)? Phần đông các nhà toán học nghiêng về câu trả lời thứ nhất: làm toán là một quá trình khám phá. Con người không sáng tạo ra sự thật toán học, mà chỉ khám phá ra nó thôi. Tức là cái sự thật đó đã tồn tại ở đâu đó rồi, chỉ đợi con người đến khám phá.  Lập luận của phe “khám phá” là dựa vào sự “đồng thuận” cao trong toán học. Một định lý đã được chứng minh thì không thể phủ nhận được nữa. Vì toán học không phụ thuộc vào một cá nhân cụ thể của một nhà toán học nào, nên có nhiều khả năng, nó có sự tồn tại độc lập.  Phe “sáng tạo” thì cho rằng toán học cũng chỉ là sản phẩm của bộ não người mà thôi.  Phe “ba phải”, trong đó có mình, thì cho rằng (định nghĩa) toán học là công cụ (ngôn ngữ) để bộ não người nắm bắt thế giới bên ngoài một cách có hệ thống. Suy từ định nghĩa ra thì nó không thể tồn tại nếu không tồn tại bộ não người (mệnh đề này là rỗng vì giả thiết sai), nhưng nó lại phải chịu thuộc tính của cái nằm ngoài bộ não người.  Nói thế cũng có lý, nhưng người nghe vẫn chưa thấy thích.  Thực ra đây vấn chỉ là cách xê dịch vấn đề, và phủ thêm một lớp lý luận. Nhưng nó dẫn dắt ta đến một câu hỏi thực sự thú vị, theo mình thì thú vị hơn câu hỏi “khám phá” hay “sáng tạo”: đó là tại sao toán học lại phát triển phần lớn bởi cái logic nội tai của nó, tại sao nó lại tỏ ra hữu hiệu đến thế trong việc mô tả thiên nhiên. Vậy thì cái logic là cái con người lựa chọn hay là cái bị thiên nhiên áp đặt ?  Minh – Đây là câu chuyện rất thú vị trong Triết học, câu chuyện “tri thức khách quan”. Thiền án đặt ra là con nhện cứ tưởng mình dệt lưới theo ý mình thích, hóa ra lại theo “tri thức khách quan”. Con người tưởng nói năng lung tung được, hóa ra lại theo “ngữ pháp”, thực chất là một trong các dạng biểu đạt của cấu trúc logic khách quan?  Dương – Em cũng nghiêng về cách nhìn “ba phải”, nên mới có câu hỏi là trước khi các kí hiệu toán học (ngôn ngữ toán học) ra đời thì sao. Có lẽ các sự thật toán học chỉ là các mô hình của thực tại. Nhưng cách thức tồn tại và phát triển của toán học làm người ta nghi ngại nhận định này.  Về sự phát triển theo logic nội tại của Toán học, liệu có sự tương đồng với một quá trình tự diễn biến nào trong giới tự nhiên không? Nếu có thì có thể dùng một mô hình Vật lý nào đó để khảo sát? Còn nữa, liệu bản chất của việc tìm kiếm các sự thật toán học có thể giải thích theo kiểu “phép đo” trong cơ học lượng tử?  Trong Cơ học lượng tử, trạng thái của một hệ vi mô được mô tả bởi hàm sóng là chồng chập của tất các các trạng thái khả dĩ. Khi phép đo được tiến hành, hệ co về một trạng thái duy nhất ứng với kết quả của phép đo. Điều này liệu có điểm gì tương đồng với các sự thật toán học trong giả thiết sau: trước khi được khám phá ra thì thế giới các sự thật toán học ở trạng thái chồng chập đúng-sai, bất định-xác định… cho đến khi được một nhà toán học tiến hành “đo đạc” bằng cách tiến hành những thao tác suy luận logic để chứng minh hoặc phủ nhận một giả thiết toán học nào đó. Trạng thái của sự thật toán học khi đó sẽ co sập lại về tương ứng với kết quả của chứng minh giống như trạng thái của hệ vi mô co sập lại về tương ứng với phép đo trong cơ học lượng tử? Nói cách khác: chính tư duy của nhà toán học đã tạo ra sự thật toán học, giống như phép đo trong cơ học lượng tử đã tạo ra tính chất của hệ vi mô dưới dạng mô tả được?  Như thế, một sự thật toán học được tìm ra cũng giống như kết quả của phép đo: vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan, biểu hiện ở chỗ: sự thật toán học là sản phẩm của quá trình tư duy của nhà toán học, nhưng lại nghiệm đúng một cách khách quan và vĩnh viễn sau khi đã được tìm ra? Câu hỏi còn lại là liệu sự thật toán học có mang tính xác suất – bất định như trong cơ học lượng tử?  Và hơn nữa, là vì sao bằng tư duy – “phép đo” của mình – con người lại có thể tìm ra những sự thật toán học này?  Em có linh cảm là việc tìm kiếm các sự thật toán học và phép đo trong cơ học lượng tử rất gần nhau. Nhưng chỉ là linh cảm thôi, chưa có bằng chứng gì cả.  Còn về câu chuyện “tri thức khách quan”, thì đó không chỉ là tri thức có khách quan, mà còn là bản chất của tri thức, nguồn gốc và mối liên hệ của nó với thực tại. Tất nhiên điều này cũng sẽ dẫn đến câu hỏi thực tại là gì và mối liên hệ của nó với tri thức như thế nào, làm sao mà con người lại có thể nhận thức được chúng, nhận thức đó liệu có khách quan hay hoàn toàn chủ quan hay là hỗn hợp của hai thứ đó.  Rõ ràng cuộc đối thoại này đã bước ra khỏi phạm vi của các sự thật toán học và tiến tới một lĩnh vực khác: bản chất của thực tại và mối liên hệ của nó với các biểu diễn toán học. Trước khi những kí hiệu và khái niệm toán học được phát minh ra thì các hệ thức toán học như chúng ta thấy bây giờ không tồn tại, nhưng các mối liên hệ của tự nhiên, như trái đất quay xung quanh mặt trời một vòng hết 365 ngày, vẫn tồn tại dù không được biểu diễn bởi các phương trình. Vấn đề đặt ra – hóc búa– là mối quan hệ của thực tại với các mô hình toán học thực sự là gì?  Trong trường hợp này, sự thật toán học được chọn như một ví dụ của tri thức. Ngôn ngữ cũng là một ví dụ tốt để xem xét.  Minh – Anh nhìn nhận Logos là cái tính năng tràn khắp vũ trụ, cho nên ta và con mèo hiểu nhau rất dễ, và cái trái cây khi chưa sẵn sàng để phát tán hạt thì vẫn giữ màu lá cây để tự vệ và khuyên nhủ các loài “hãy kệ tôi đã”.  Riêng xem trong thế giới thực vật và sinh vật muôn loài, ta đã thấy muôn vàn các quá trình trao đổi thông tin, anh từng đặt chữ là “giao tin”, thực hiện được, vậy là dựa vào đâu? Vào tính logos phổ quát.  “Sự thật toán học” được Dương nói đến ở trên đây như những kết quả được xây dựng từ những tiên đề toán học “qua một quá trình suy luận logic chặt chẽ”. Như thế chính ở đây ta thừa nhận hệ thống các thuộc tính-quan hệ logic như một hệ thống công cụ có tính tiền đề.   “Sự thật logic” như vậy còn tồn tại “trước” cả “sự thật toán học”. “Trước” không phải về không gian, thời gian vật lý, mà về mặt.. logic!  Chuyện vui, nếu nhà toán học lạc vào trong rừng mà gặp phải con hổ, con hổ sẽ hiểu nhà toán học hơn cả nhà toán học hiểu chính mình trong địa hạt này… Con hổ sẽ lừa cho nhà toán học toát mồ hôi, toát ngu muội, và nhà toán học chỉ còn biết trông chờ vào may mắn! Tại sao? Vì cả hai cùng với giới tự nhiên đều cùng chia sẻ cái logos phổ quát về không gian, thời gian, về nhân quả, về luận lý, và cả về tâm lý! Và con hổ thì hiểu logos của thánh địa của nó hơn nhà toán học, hiểu cả rằng nó nhanh nhẹn, mạnh mẽ, và khôn ngoan trong săn bắt hơn chính nhà toán học!  Ý niệm về “Đạo” của Lão, Trang có gần gũi với Logos. Nhưng yếu kém của “Đạo” là chưa ý thức được cái năng lực siêu phàm trong cái thần của Logos, là dạng thức (forms) – ở ta hay dịch là “hình thức”, cái chữ dễ bị hiểu nhầm nôm na thành như “bề ngoài”. Nhờ hiểu biết về tầm quan trọng vô cùng của dạng thức mà các hiểu biết về logic và toán học phát triển được lên.  Nghiên cứu về logic, theo mình thì không có cái gọi là môn “logic nội dung” chọi với “logic hình thức”! Đó chỉ là sự diễn nôm hời hợt. Chỉ có một môn logic, và đó chính là logic dạng thức. Các bộ môn nghiên cứu ứng dụng logic không phải là “logic khác”, mà là các nghiên cứu ứng dụng logic mở ra trong các miền tri thức, các ứng dụng này không phải là các lựa chọn khả thay thế. Ví dụ như “modal logic” là môn nghiên cứu ứng dụng về tình thái ngữ nghĩa trong ngôn ngữ…  Phát hiện về dạng thức là nền tảng cho sự phát triển có tính xây dựng được của nền văn minh tinh thần! Khi bạn đang đọc bài trao đổi này, bạn không “đọc” một cuộc thảo luận nguyên trạng, mà đọc cái đã dạng thức hóa của nó qua các “nguyên tử” ký tự (chữ cái, gồm cả các dấu nghỉ, cảm thán, khoảng trắng, cùng “dấu xuống dòng”, dấu chuyển hồi đoạn, dấu chấm hết … gọi chúng là “nguyên tử” vì các nhân tố này là nhỏ nhất trong hệ thống, không còn chẻ ra tiếp được nữa) đã được cấu trúc hóa theo các qui tắc ngữ pháp. Nói theo logic, các ký tự hợp thành hệ thống các ký hiệu, và việc áp dụng hệ các qui tắc nối kết vào các ký hiệu làm nên các công thức (từ, liên từ, đoạn, câu…), chúng được cắt nghĩa và vận động trong một hệ thống luận suy. Xa xôi hơn, bạn đang đọc được một dãy mã hóa “sắc không”, “âm dương”, “0 và 1”, được đại diện bởi các xung điện. Và cuối cùng, chính bạn phải làm cả một cuộc cắt nghĩa toàn bộ dãy mã này trong văn hóa khoa học tiếng Việt để “cảm hiểu” bài trao đổi.  Cũng cần nói rõ là cái ý niệm “sắc không”, “âm dương” trong triết học cổ phương Đông chỉ là một khởi điểm của ý tưởng về các đối cực, chứ không hề liên quan gì đến việc phát triển của khoa máy tính sau này. Vì để có ý tưởng mã hóa tất thảy các hiện tượng chỉ từ hai trạng thái để lợi dụng được các xung điện, phải hiểu ra và phát triển được cái logos “dạng thức”, phát triển logic, toán học để xây dựng nên được ngôn ngữ dạng thức và hệ thống các thuật toán, để rồi có thể công nghệ hóa, tự động hóa chúng. Dãy các trạng thái “0 và 1” còn phải chứa hệ thống các cấu trúc để cho phép gắn kết chúng như thế nào trong quá trình vào mã và giải mã các thông tin. Các nhà Đông học tuyệt đối không có gì để vơ quàng sĩ diện ở đây.  Cái tiếp theo của câu chuyện nói ở trên là cái nhìn triết học về “khách quan- chủ quan”, “vật chất- tinh thần”.  Ở ta lâu nay người ta nhìn vấn đề này không theo tầng tinh thần triết học, mà theo cảm hứng dân dã, “lập trường”. Nên nhìn nhận rất chân thành rằng ở ta không có căn bản truyền thống về tinh thần văn hóa triết học – logic.  Câu chuyện vật chất – tinh thần, cái nào “có trước”, cần nói rõ là “có trước về mặt triết học-logic”, là vấn đề lựa chọn.  Ví dụ khi bạn chấp nhận “vật chất có trước tinh thần”, bạn dùng cái gì để “xác nhận” nó ? Bạn dùng chính tinh thần bạn!  Nếu bạn không dùng tinh thần của bạn để công nhận “vật chất có trước tinh thần”, thì bạn quả là siêu nhiên! Bạn lại dùng “tinh thần vũ trụ” chăng?  Như vậy sự công nhận về sự tồn tại của thế giới bên ngoài, “có trước”, độc lập với tinh thần con người, là vấn đề phương pháp, vấn đề lựa chọn tiên đề, chứ không có và không thể có vấn đề “đúng sai” theo nghĩa triết học ở đây.  Cái rắc rối tiếp theo là liệu có một cái “logos phổ quát bên ngoài tinh thần con người” hay không?  Cái này cũng thuộc về tiên đề triết học nốt. Phải lựa chọn.  Và nếu bạn muốn hiểu “sự thật logic”, “sự thật toán học” như một “tri thức khách quan” thì đó cũng là một lựa chọn.  Tri thức tiến lên nhiều khi không phải chỉ do “lập luận thông minh đơn thuần”. Lập luận không làm tiến hóa hệ thống. Lập luận chỉ củng cố hoặc mở rộng hệ thống, nếu hệ thống tỏ ra vẫn chuẩn xác (chưa bị rơi vào tự mâu thuẫn), hoặc ngược lại làm nó lụi tàn, nếu hệ thống không chịu nổi các thử thách về logic. Tri thức tiến lên còn do sự quyết đoán lựa chọn, tiêu biểu là việc lựa chọn các tiên đề. Người biết lựa chọn các tiên đề tất nhiên không phải người tầm thường. Sự lựa chọn là một cách mở rộng hoặc đổi thay hệ thống với những rủi ro và đột biến tiến hóa.  Einstein đã lựa chọn tiên đề tốc độ ánh sáng là tốc độ cực đại trong vũ trụ chẳng hạn, điều vượt quá đa phần các bộ óc con người (trong đó tất nhiên có mình ! 😉 ).  Sự lựa chọn việc tồn tại “logos khách quan” cũng có những cơ sở của nó. Giản đơn nếu như nhà toán học mà quên cho con mèo ăn, thì con mèo sẽ biết làm cho nhà toán học phải hiểu ra bằng được điều đó và cho nó ăn mà thôi.  Lựa chọn sự tồn tại “tri thức khách quan” không có nghĩa là bạn đã có nó! Mà bạn hy vọng có thể phát hiện ra nó, đạt được nó như những tri thức cơ sở. Hơn thế nữa, từ những tri thức cơ sở đó bạn có thể xây dựng những tri thức mới trong khi tuân thủ những “tri thức khách quan về logic” – những tri thức chưa bị bác bỏ được. Nhìn chung tri thức luôn có cả hai mặt phát hiện và sáng chế. Như cái công nghệ thông tin phục vụ bạn đây là thuộc về sáng chế, có thế ta mới xem được những bức ảnh chụp bề mặt sao Hỏa rõ mồn một.  Tất nhiên bạn có thể chọn tiên đề “không có tri thức khách quan”.  Lựa chọn chỉ là phương pháp. Bạn “tự do” trong lựa chọn. Vấn đề là sự lựa chọn đó đưa bạn đi đến đâu, bạn phải đảm trách sự lựa chọn của mình. Cho nên ý thức triết học nhắn ta phải luôn luôn sẵn sàng nhìn lại những tiên đề của mình.  Tam giác triết học – logic – toán học thật hấp dẫn và trong tầng sâu thẳm chúng trộn vào nhau. Hãy xem vài trường hợp sau:  Lý thuyết tập hợp hình thành là một sự cộng sinh tuyệt đẹp của triết học, logic và toán học.  Tỉ như dãy số tự nhiên 0,1,2…n… thực ra không hề “tự nhiên”, mà lần đầu tiên được xây dựng và cắt nghĩa hoàn chỉnh qua các khái niệm triết học-logic-toán học trong lý thuyết tập hợp.  Tập rỗng là tập không chứa phần tử nào, ký hiệu “tập 0”. Đây là một tiên đề có tính triết học về mối tương sinh của tồn tại-hư vô, về “khởi thủy”. Không thể tranh luận gì được ở đây.  Tập chứa đơn thuần tập rỗng, kí hiệu “tập 1”.  Tập chứa “tập 0” và “tập 1”, ký hiệu “tập 2”, v.v.  Và như thế ta có một dãy trật tự hóa, mỗi yếu tố trong dãy này là một tập hợp mà các phần tử của mình chính là tất cả các yếu tố- tập hợp đứng trước nó.  Vui chuyện, ta có thể tự an ủi rằng cái ý thức của cá nhân mình khi chưa hình thành thì là một tập rỗng. Dần dà nó phát triển lên thật phong phú. Còn khi ta ra đi, ý thức của ta lại trở về là tập rỗng.  Hay lấy một ví dụ khác, một quan hệ logic thuần, đơn giản hóa.  Cho A, B, C,…Z là những thành tố của một tập hợp “đồng chất” (cùng một lĩnh vực).  “Tính bắc cầu” là một quan hệ logic, ký hiệu R, được hiểu: R(A, B) & R(B, C) à R(A, C). Nghĩa là nếu quan hệ bắc cầu tồn tại giữa A và B, và nếu quan hệ bắc cầu đó cũng tồn tại giữa B và C thì ta có quan hệ bắc cầu này giữa A và C.  Bây giờ nếu ta có thêm R(C, D) thì ta sẽ có R(A, D), vì ở trên ta đã có R(A,C). Phép chứng minh là một phép co rút hay quy giản tìm được khi áp dụng liên tục các quy tắc suy luận xác thực trên dãy các tiên đề và công thức đã được chứng minh: R(A, B) & R(B, C) à R(A, C); R(A, C) & R(C,D) à R(A, D).  Vậy khi phải tính toán, nếu có R(A,B) & R(B,C) & R(C,D) & … & R(Y,Z) thì R(A,Z) có tồn tại hay không, công việc logic này đã thành công việc của toán học. Để gửi cái e-mail từ Chử Đồng Tử tới Tiên Dung, tri thức logic-toán học đã khách quan hóa trong các phần mềm ở các máy chủ sẽ tính xem gửi các gói thông tin này qua các nút máy nào để tính bắc cầu được thực hiện hiệu quả nhất.  Và ở chỗ này, bằng chứng của sự lựa chọn “tri thức khách quan” là sức mạnh hiển nhiên: tri thức logic-toán học ở con người đã được chuyển ra ngoài, đây chính là nội dung của khái niệm “tha hóa” mà mình đã từng nói tới, chuyển thành “tri thức khách quan”, hoạt động tự động trong các máy tính! Đó chính là giá trị của sự lựa chọn triết học! Ngày mai bạn có thể được phẫu thuật bằng máy móc điều khiển do một bác sĩ ở phần bên kia địa cầu thông qua internet, và bạn đành phải tin vào tri thức khách quan nằm giữa bạn và ông bác sĩ!  Cũng từ đây cho ta thấy cải cách và tiến bộ xã hội là có thể, vì tri thức, trong đó có các lý tưởng nhân văn xác quyết, có thể dần chuyển được ra “xã hội bên ngoài”, làm nên nền văn minh. Và kết thúc được cái xã hội chủ quan luẩn quẩn “con rắn cắn đuôi”, mãi mãi làm lại từ đầu!  “Sự thật” hay “chân lý” về mặt triết học-logic là như sau: một biểu đạt, một hệ thống các biểu đạt (hay công thức), rộng nữa là một lý thuyết, có thỏa mãn bảng giá trị chân lý hay không.  Nhưng bản thân cái bảng giá trị này, sâu xa về triết học-logic, thì lại không liên quan gì đến chân lý! Nó có đó do sự lựa chọn. Giống như các tiên đề vậy. Như thế chính triết học luôn cảnh tỉnh ta về sự lựa chọn của mình, thay vì băn khoăn và mắc tóc trong chính sự không ý thức về những lựa chọn đã được thực hiện.  Về văn hóa thì chuyện này lại càng thú vị nữa. Con người lớn lên và được tắm trong cả “một biển các giá trị chân lý mẹ truyền”! Không có tư duy triết học, con người loay hoay mắc tóc trong đó đời này sang đời khác, đặt những câu hỏi không vào sâu được hơn cái lớp bao bì chân lý mẹ truyền này, và như ta thường hay thấy, người ta tấm tắc “các cụ nói cấm câu nào sai”! Nếu bạn để ý một chút thôi, thì cái biển chân lý này bao giờ cũng chứa tất cả các mệnh đề trái ngược nhau, tỉ như “một giọt máu đào, hơn một ao nước lã” chọi với “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Các lý thuyết cai trị cổ hủ cũng thường rơi vào tình huống này, do vừa cố mở rộng độ biên của ứng dụng, vì đời sống phong phú lên, lại vừa cố bảo trì các tiền đề cũ kĩ. Một cộng đồng muốn tiến lên, phải làm một cuộc tổng kiểm kê về cái bảng các giá trị này, để mà mình ý thức về chúng, để mà mình sẵn sàng được cảnh tỉnh về chúng, để mà mình có thể thay đổi chúng. Việc này không hề dễ tí nào, tương tự như việc quả táo rơi xuống đất tưởng đã hiển nhiên là chân lý, mà hóa ra lại chỉ là một nửa chân lý như Newton đã nhìn ra!  Trong tương quan với các lĩnh vực cụ thể, các quan hệ logic như thế nằm ở tầm “cao hơn chân lý”, “trước chân lý” của những lĩnh vực đó… luôn luôn về mặt logic thôi. Về hình ảnh các quan hệ logic đã dạng thức hóa này tồn tại “trước” khi bị “nhúng vào” trong “các trường nhất định”, “các cư dân nhất định”. Ta tạm gọi các quan hệ này «ở ngoài vật thể” hay “trước vật thể”, chú ý, theo nghĩa… logic!  Ví dụ quan hệ logic bắc cầu đã nói trên kia R: R(A, B) & R(B, C) à R(A, C) là một dạng thức quan hệ logic thuần.  Chỉ khi “nhúng” quan hệ này vào các “trường sự vật» cụ thể, ở đó mới đẻ ra vấn đề chân lý cụ thể, hay gọi là vấn đề cắt nghĩa trên “một trường sự vật”.  Trong cái thế giới sự vật “hệ thống tàu điện”, tính bắc cầu này thỏa mãn chân lý.  Trong lĩnh vực “yêu mến”, tính bắc cầu không bắt buộc thỏa mãn chân lý. A yêu mến B, B yêu mến C, không tất yếu A yêu mến C. Ở đây việc triển khai tính bắc cầu mang tính bất định, “có thể bị bác bỏ”.  Lưu ý rằng tính bắc cầu không nhất thiết thỏa mãn chân lý trong lĩnh vực “yêu mến”, không có nghĩa là tính bắc cầu “sai” về logic thuần túy. Chuyện đó không có nghĩa. Nói thế để ta thấy rõ hơn tầng logic nằm “trước và ngoài” tầng các sự vật cụ thể.  Nói chuyện nhiều khi một xã hội Á Đông cứ loay hoay tranh cãi hàng ngàn năm rằng cái “mô hình” xã hội Nghiêu Thuấn “vua sáng tôi hiền, nhà nhà đi ngủ không phải đóng cửa, người người ra đường không ai nhặt của rơi” tự nó đúng hay sai? Câu hỏi đó vô nghĩa và vô ích về mặt vận hành xã hội. Hãy gác việc phân tích kinh viện cái “mô hình” siêu giản siêu thuần túy đó sang một bên, chưa cần thiết. Hãy cắt nghĩa khi áp dụng cái mô hình “logic” đó vào xã hội ở thời điểm lịch sử nhất định, ta đã có tư liệu lịch sử hàng ngàn năm rồi, xem nó có đảm bảo đưa lại thái bình no đủ vui tươi bền vững hay không ? Nếu là “không”, thì nó là sai theo bảng giá trị được chờ đợi trong cái trường lịch sử đó, và ta không phải lo lựa chọn nó.  Vấn đề Dương có thể đẩy lên thú vị hơn nữa, là Logos có tồn tại độc lập được với vật thể không? Ví dụ với các lực hấp dẫn đã được tính toán đó, sự tồn tại của bản thân các vật thể có còn là bắt buộc không, hay các vật thể chỉ còn là sự thể hiện và mách bảo cho ta cái Logos. Các công thức tính toán theo nghĩa nào đó đã được “phi vật thể hóa”. Nhà thiết kế một tòa nhà nay có các tri thức khách quan đã được “tha hóa”, chuyển hóa ra và nằm sẵn trong phần mềm máy tính, và anh ta có thể chọn vật liệu xây dựng sau cùng cũng được, miễn là các vật liệu đó thỏa mãn mô hình logic-toán đã được xác quyết bằng các công thức đã được cài đặt trong phần mềm, chúng cho thấy thỏa mãn các tiêu chí được chờ đợi (bảng các giá trị) về độ bền vững, an toàn, giá trị thẩm mỹ, tiện nghi, môi trường, bảo trì, thương mại…  Trong lập trình công nghệ tin học, một chương trình được viết thông minh là chương trình độc lập cao với dữ liệu, và nó chứa đựng hệ thống xử lý thông minh và khả năng giao tiếp phong phú. Khi phải ứng dụng cho các hoạt động khác nhau, ta mới cho nó giao tiếp với hệ thống các thông số của các lĩnh vực hoạt động liên quan, để nó tìm ra các ứng xử thích hợp cho các đối tượng của các lĩnh vực đó…  Châu – Mình đồng ý là đem cọ sát các cách suy nghĩ khác nhau từ Triết, Toán đến Vật lý có thể đưa ta đi xa. Nhưng theo kinh nghiệm, ánh sáng không lóe ra từ cái cách áp đặt máy móc mô hình suy nghĩ của bên này qua bên kia. Ánh sáng luôn lóe ra từ những sự tương đồng tinh tế, mà mình phải thực sự tìm thì mới thấy. Những điểm tinh tế đó thường là nằm ở dưới lớp vỏ của ngôn ngữ.  Sự hình thành của khái niệm nhóm trong toán rất đáng để suy nghĩ từ quan điểm Triết học. Mình có viết nhiều mẩu trên blog về chuyện này nhưng ít ai để ý.  Định nghĩa của nhóm đơn giản đến mức có thể làm những người tò mò thất vọng. Nó mô phỏng các biến đổi nội tại của một đối tượng. Hai biến đổi có thể “hợp thành với nhau”, nhưng biến đổi A xảy ra trước biến đổi B kết hợp lại sẽ khác với khi biến đổi B xảy ra trước biến đổi A. Ngoài ra thì mọi biến đổi đểu nghịch đảo được, tức là có một biến đổi theo chiều ngược lại. Các tiên đề về nhóm đại khái chỉ có vậy.  Ví dụ cơ bản là các thao tác trên khối rubik. Có thao tác A là quay mặt bên trái một góc 90 độ, có một thao tác B là quay mặt trên một góc 90 độ. Có hai thao tác hợp thành A rồi B và B rồi A. Ngoài ra thì có thao tác nghịch đảo của A, nghĩa là quay mặt bên trái một góc 90 độ theo chiều ngược lại so với A.  Nhóm các thao tác trên rubik là một nhóm hữu hạn nhưng có rất nhiều phần tử và khá phức tạp. Vì thế mà khi ta xem hướng dẫn cách quay rubik, nói chung mình chỉ biết chấp hành thôi, còn không hiểu tại sao phải làm như thế. Muốn hiểu phải nghiên cứu tường tận cấu trúc của nhóm này.  Bên cạnh các nhóm hữu hạn, rộng hơn là các nhóm rời rạc, ta còn có các nhóm liên tục.  Điển hình là nhóm các phép dời trong không gian. Hình học cổ điển có thể biên soạn lại dưới ngôn ngữ của nhóm các phép dời hình trong mặt phẳng hoặc trong không gian. Đó chính là quan điểm của hình học hiện đại. Lý thuyết phương trình đại số một ẩn số được Galois giải thích một cách thấu đáo bằng lý thuyết nhóm Galois. Một trong những cố gắng chính của lý thuyết số hiện đại là mở rộng lý thuyết Galois ra hệ phương trình đại số nhiều ẩn số. Langlands tiên đoán một sự liên quan mật thiết đến các dạng automorphic mà khởi thủy là một nhóm con rời rạc trong một nhóm liên tục. Trong vật lý lý thuyết, Gell-Mann tiên đoán sự tồn tại của một hạt cơ bản dựa vào danh sách các biểu diễn của nhóm Lie.  Khái niệm nhóm có vẻ như một cấu trúc đại số đơn giản thuận tiện, rất khó lý giải ảnh hưởng sâu rộng của nó đến hiểu biết chung của con người.  Minh – Nhân Châu nói đến vụ cái rubik thấy hấp dẫn quá, nên bàn thêm mấy câu thế này:  Tư duy là quá trình Lập Luận, Lập và Luận. Lập Luận xoay vòng nối tiếp nhau. Lập là lựa chọn, là quyết định, là hướng định. Lập khởi thủy là hệ thống các tiên đề, các ký hiệu, các qui tắc kết nối, các quy tắc thao tác, cùng một hệ thống ngữ nghĩa, làm nên một lý thuyết. Luận là quá trình thao tác kết nối, chuyển tải, sinh thành các Lập mới sao cho hợp thức (“không vi hiến”). Toàn bộ dòng này chảy dẫn từ Tiên đề đến Kết luận (Kết luận là một Lập đạt được cuối cùng của một chu trình). Dòng chảy này đa trị, nên có phép chứng minh hay thì có thể rất ngắn, hoặc phép chứng minh kém hay thì có thể siêu dài. Ví dụ về tập hợp các thao tác trên khối rubik của Châu rất hay cho trường hợp này: có người xoay rất nhanh ăn, người khác lâu ăn, riêng mình có thể xoay rubik cả đời không đi đến đâu cả, nhưng không hề phạm một lỗi logic nào! ;-).  Trong một lĩnh vực tri thức cụ thể, xuất phát từ Hệ tiên đề mà đạt đến Kết luận mang tính bất định (ví dụ lý thuyết «tính bắc cầu của lòng yêu mến” đưa đến các kết quả “lúc có, lúc nhất định không»), thậm chí mâu thuẫn, sẽ buộc ta phải xem xét lại, bổ sung hoặc thay đổi lý thuyết trong lĩnh vực tri thức đó. Logic chỉ đóng vai trò tư pháp, đảm nhiệm tính hợp pháp của quá trình Luận và của các Lập được sinh thành (ví dụ một công thức mới thu được như kết quả chứng minh hợp pháp thu được từ quá trình Luận). Còn tính chân lý nằm ở trong nội dung các Lập, được cắt nghĩa bởi bảng các giá trị chân lý có được do các kinh nghiệm, thực nghiệm, kiến thức khoa học đã xác tín (tương đối) và/hay các lựa chọn lý tưởng nhân văn xác quyết. Tính chân lý trong trường hợp khối rubik trên kia có thể được định nghĩa trong bảng giá trị như sau: “ở mọi trạng thái ban đầu, ta luôn luôn sẽ có cách đưa khối rubik về trạng thái mà mỗi mặt chỉ có một màu, bằng cách chỉ áp dụng các thao tác cho phép”, như Châu đã nói ở trên.  Dương – Như vậy là ở đây có một số vấn đề cần làm rõ hơn:  1. Một lý thuyết mô tả những biến đổi nội tại trở nên rất mạnh khi mô tả thực tại (reality), nên thực tại phải có cấu trúc nội tại và sự biến đổi của thực tại là do những biến đổi nội tại gây ra?  2. Không thể có một kết cục tất yếu cho sự vận động của một thực tại, vì kết cục phụ thuộc vào cách thức và thứ tự của từng biến đổi riêng rẽ. Phán đoán ở mức tốt nhất chỉ là phán đoán thống kê, không thể là phán đoán tất định?  3. Cơ sở cho những tiên đoán như của Gell-Mann là gì? Có phải đó chỉ là sự tự hoàn thiện, đối xứng, tao nhã…, những tiêu chí của cái Đẹp. Như vậy cái Đẹp (Beauty) và cái Thật (Truth) có quan hệ gì? Một lý thuyết đẹp và mô tả xác thực thường được coi là tốt. Vậy Đẹp, Thật, Tốt (Chân-Thiện-Mỹ) có quan hệ gì với nhau? Hay ba cái này là một.Và như thế, có tồn tại một bộ quy luật chung cho Mỹ học và Đạo đức như cho Khoa học? Thực ra, đây là một câu hỏi rất cũ, nhưng đến giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.  Châu – Mình có một lý thuyết như thế này, có thể là hơi hàm hồ.  Có rất nhiều yếu tố khác nhau để tạo nên cái đẹp. Một yếu tố là tính vừa đủ: không thiếu, đặc biệt là không thừa.  Phải chăng thiên nhiên tuân theo nguyên tắc tiết kiệm, không chỉ tiết kiệm năng lượng, mà còn tiết kiệm cả thông tin nữa. Vì thế ngôn ngữ để mô tả nó cũng phải thỏa mãn tính tiết kiệm thông tin.  Cái đẹp có một lợi thế khác nữa trong quá trình phát triển của tri thức, cái đẹp dễ được tiếp thu hơn. Cái gì xấu xí, nhưng có giá trị, thường sẽ được con người gọt rũa cho đến khi nó trở thành đẹp. Cái gì giữ mãi cái vỏ xấu xí của mình sẽ có nhiều cơ hội để rơi vào lãng quên.    Dương – Lý thuyết của anh không “hàm hồ” chút nào, mà ngược lại, “cực kỳ tao nhã” (cười).  Chẳng phải Einstein từng nói: một lý thuyết cần “simple, but not simpler” thì cũng hàm ý không thiếu không thừa.  Nhân vật Hòa Thân trong phim Tể tướng Lưu gù một thời làm mưa làm gió trên phim truyền hình (Việt Nam, còn ở Trung Quốc thì không rõ) miêu tả một cô gái đẹp cho vua Càn Long như sau: cô ấy đẹp đến nỗi nếu bớt một chút thì thiếu, mà thêm một chút thì thừa. Càn Long (tay chơi có số) nghe đến đó thì cười tít mắt. Theo lý thuyết này, giám khảo của các cuộc thi sắc đẹp bây giờ, nếu thấy thí sinh có sẹo ở chân chẳng hạn, có lẽ nên nói cái sẹo ở đó là thừa thay vì thay vì chê bai thí sinh.  Như vậy xem ra nhận định của Đông Tây kim cổ đều có nét tương đồng.  Giờ nghiêm túc hơn một chút nhé:  Trong vật lý cổ điển, khi năng lượng có vai trò chủ đạo thì Nguyên tắc hoạt động tối thiểu (Principle of least action) có vai trò quan trọng tương ứng. Vậy nếu coi tự nhiên (universe), ở mức cơ bản nhất, được tạo bởi thông tin (hiện có rất nhiều nhà vật lý theo giả thiết này) thì Nguyên tắc tiết kiệm thông tin (Principle of least information – PLI) cũng sẽ có vai trò tương tự. Liệu có thể tìm cách kiểm chứng PLI ở những chỗ này chăng (với sự dè dặt rất lớn)? Trường hấp hẫn: theo cách giải thích thường thấy thì vật chất làm cong không gian, độ cong đó chính là hấp dẫn. Vậy có thể nhìn cách khác: không gian là lưới thông tin; độ cong của không gian chính là mật độ thông tin. Như vậy, ở mức cơ bản nhất, không gian, và rộng ra là cả vũ trụ, được cấu tạo bởi thông tin. Chỗ nào có mật độ thông tin lớn thì vật chất tụ lại tương ứng. Ánh sáng cũng như mọi vật chuyển động theo đường trắc địa không phải vì hấp dẫn mà đơn giản là dòng chảy tự nhiên của thông tin theo cách tương thích nhất với thông tin nền mà nó tiếp xúc (không gian). Sự lượng tử hóa không gian sẽ là một hệ quả tất yếu. Nhưng thời gian thì sao? Hoặc trong Vật lý lỗ đen, khi các bit thông tin phủ kín chân trời lỗ đen chứ không phải là toàn bộ thể tích lỗ đen thì đây có thể coi là hệ quả của nguyên tắc “không thiếu không thừa”? Vậy liệu có thể dùng PLI để đạt lại những kết quả như của họ? Tiếc là không có một nhà Vật lý lý thuyết ở đây để thảo luận vấn đề này.  Minh – Anh chen một tý vào chuyện cái đẹp thế này.  Cái đẹp có một khía cạnh đặc biệt, là nó liên quan đến cảm xúc của con người.  “Tri thức khách quan” không thể thống trị ở đây hoàn toàn được.  Cái đẹp của mối tình mới chớm đến, khác với cái đẹp của mối tình dứt áo ra đi.  Cái đẹp của quảng trường Times Square ở New York, cả quảng trường là một sân khấu vĩ đại tuyệt vời mà mỗi người có mặt tự mình thành một nhân vật sống, khác với cái đẹp của một bãi biển đìu hiu nắng chiều đỏ ối ở Dauvine, Châu hát, Minh gảy đàn. Mà cũng lại khác nữa với một vẻ chiều cuối Xuân đường Nguyễn Du, Dương với Minh gặp nhau lần đầu trong đời thực bên tách café để rồi bắt đầu câu chuyện dài ở đây…  Ở đây không đơn thuần là “tiết kiệm năng lượng” nữa, mà là các thẩm mỹ biểu đạt các dòng chảy của năng lượng.  Châu – Có rất nhiều điều thú vị trong câu chuyện này. Nhưng có lẽ, mình đã đi quá xa so với chủ đề ban đầu.  Dương – Em cũng thấy vậy, nên sẽ tổng kết lại ở đây. Những phần mở rộng sẽ được thảo luận tiếp trong một dịp khác.  Thay lời kết  Sự thật Toán học, với những đặc tính như khách quan, bền vững, duy lý… có thể được coi là một trong những đặc sản của nền văn minh phương Tây. Sự phát triển của khoa học kĩ nghệ hiện đại trước hết khởi đầu bởi sự tìm ra những sự thật toán học này.  Chính là chúng – dù bản chất tồn tại vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ – đã tạo ra cơ sở vững chắc cho kho tri thức của nhân loại. Không có chúng, khoa học và kĩ nghệ không thể ra đời, nền văn minh kĩ nghệ hiện đại không thể phát triển.  Cuộc thảo luận về sự thật toán học ở đây tuy chưa dài, nhưng đã gợi mở rất nhiều vấn đề của Triết học, Toán học và Vật lý… Hy vọng rằng, chúng sẽ được làm sáng tỏ phần nào trong những thảo luận tiếp theo.  —  * Giáp Văn Dương dẫn chuyện và biên tập.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự thật về công nghệ và quy trình vận hành “lò đốt rác phát điện” ở Thái Bình      Vừa qua, một số tờ báo đưa tin: “nông dân Thái Bình làm “nhà máy điện” cạnh tranh với EVN, mô hình đủ sức đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của 20 hộ dân với giá bằng 1/5 giá ngành điện đang bán; các doanh nghiệp, thậm chí có doanh nghiệp Nhật Bản cũng tới tham quan mô hình và muốn mua công nghệ… gây nên cơn sốt trong dư luận và sự hiểu nhầm không đúng về mô hình này. Là người trực tiếp tiếp cận mô hình “lò đốt rác phát điện” và làm việc với tác giả Bùi Khắc Kiên ngay từ ngày đầu, tôi xin nêu sự thật về công nghệ, quy trình “lò đốt rác phát điện” của tác giả Bùi Khắc Kiên tại Thái Bình để bạn đọc cùng tìm hiểu.    1.  Về Ý tưởng. Ý tưởng “lò đốt rác phát điện” của ông Kiên không mới. Có mới chăng chỉ đối với người ngoại đạo, không có thông tin về khoa học và công nghệ mà thôi.     Việc sử dụng  rác thải sinh hoạt phục vụ cho đun nấu, cấp nước nóng và điện thắp sáng đã có từ rất lâu trên thế giới và ở Việt Nam. Xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu có 3 phương thức: Chôn lấp, ủ sản xuất phân vi sinh và đốt phát điện. So sánh ba phương thức, đốt phát điện chiếm ưu thế nổi bật. Tại Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc rác thải sinh hoạt đô thị cơ bản được xử lý bằng phương thức đốt phát điện. Từ năm 1987, Trung Quốc đã có nhà máy đốt rác phát điện đầu tiên, đến cuối năm 2012, Trung Quốc đã có 142 nhà máy đốt rác thải sinh hoạt phát điện với tổng quy mô xử lý là 124 nghìn tấn rác, tổng công suất lắp đặt khoảng 2.600 MW…     Ở Việt Nam, từ năm 1996, Viện Cơ điện Nông nghiệp (chủ trì dự án là GS. Phạm Văn Lang) thực hiện dự án xây dựng dây chuyền công nghệ phát điện sử dụng nhiên liệu từ trấu, với công suất 50kw phục vụ cho sấy sản phẩm nông, lâm nghiệp. Đến nay, đã có trên 70 hệ thống lò hơi đốt đa nhiên liệu kiểu tầng sôi được bán cho các doanh nghiệp. Có 20 hệ thống được bán trọn gói và chuyển giao cho doanh nghiệp vận hành. 50 hệ thống khác được lắp đặt tại doanh nghiệp và bán hơi cho doanh nghiệp sử dụng..  Từ thành công này, Dự án Nhà máy nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu đầu tiên ở Việt Nam được khởi công vào cuối tháng 12/2013, trên diện tích 9 ha tại thị trấn Long Mỹ, Hậu Giang với tổng vốn đầu tư khoảng 31 triệu USD, do Ngân hàng EximBank Malaysia và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hỗ trợ. Đây là nhà máy đầu tiên trong dự án xây dựng 20 nhà máy nhiệt điện đốt bằng vỏ trấu tại Việt Nam. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long được đầu tư xây dựng tại 5 tỉnh gồm: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ với tổng công suất 200MW.     Hiện nay ở Thái Bình cũng như các địa phương khác trong toàn quốc, lò đốt rác theo công nghệ Nhật Bản (lò NFI- 05) đã được nhiều địa phương lắp đặt; Thiết kế lò gọn(dài: 2,56m; rộng: 1,405m, cao: 2,0m, nặng: 8,5 tấn), đốt 450kg rác/giờ. Lò đốt không cần điện, dầu, hoàn toàn bằng khí tự nhiên; không gây ô nhiễm môi trường.. để xử lý rác thải sinh hoạt ở các vùng nông thôn và thị trấn đông người mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao, được xã hội chấp nhận.      2. Về thiết kế. ” Lò đốt rác phát điện” của ông Kiên hoàn toàn không có thiết kế chi tiết, chỉ có một bản vẽ tay trên 1 trang giấy, không có chú thích…(ảnh), nên rất khó góp ý vì không có cơ sở khoa học.                        3. Về lò đốt. Thực chất là từ “lò rèn” cải tiến mà thành, giống như bao “lò rèn” khác. Có khác chăng “lò rèn ” này được làm lớn hơn, với kích thước đường kính khoảng 50cm, bên trong được xây bằng gạch chịu lửa, bên ngoài được bọc bằng vỏ thùng phi. Phía ngoài cùng, miệng lò được tách thành 2 cửa(đều có thể đưa rác vào), riêng cửa dưới có thêm hệ thống thanh ghi để tro than ra phía dưới cùng. Muốn đốt lò và trong quá trình đốt thường xuyên phải có 2 quạt điện công xuất lớn quạt liên tục thổi không khí vào lò…nhưng lửa vẫn “phì “ra ngoài miệng lò. Thực chất đây là kiểu đốt ‘cưỡng bức liên tục’, trong quá trình đốt, nếu không quạt liên tục lò sẽ tắt. Do dùng quạt công suất lớn, liên tục, nên trong quá trình đốt, khói, bụi, than, khí độc hại….bay mù mịt xung quanh…      4. Về nồi hơi. Với phương châm nghĩ đến đâu, làm đến đấy, Nên ban đầu tại chợ Thái Giang, nồi hơi là “một thùng phi” được hàn kín và bọc kín xung quang bằng bao tải, rẻ, quần áo rách…Sau khi kiểm tra, thấy không an toàn, chúng tôi đã yêu cầu ông Kiên không được thử nghiệm mô hình ở chợ vì dễ gây nguy hiểm cho nhiều người.     Sau đó ông Kiên chuyển mô hình về nhà và có mua nồi hơi của Công ty CP nồi hơi và thiết bị áp lực Đông Anh, mã hiệu LHT D0,05/15, công xuất sản xuất hơi 50kg/giờ, áp suất định mức 15bar hơi bão hòa.                        5. Về tua bin phát điện. Là một tầng cánh quạt được hàn thủ công và được bọc kín nên không thể xem được bên trong. Khi ông Kiên tháo dỡ ra chúng tôi mới thấy cụ thể. Tua bin là một tầng cánh quay theo kiểu guồng nước bọc trong thùng tôn hàn kín, không có điều chỉnh tốc độ. Tua bin được nối với máy phát 3kw của Trung Quốc thông qua bộ đai truyền. Điện sinh ra từ máy phát được đưa tới một số bóng điện 100W làm mẫu.                         6. Về phát điện.  Cả 3 lần ông Kiên vận hành “lò đốt rác phát điện” thì chỉ có 01 lần thành công, thắp sáng “nhấp nháy” 7-10 bóng điện 100W trong khoảng thời gian 2-3 phút. Như vậy, không có việc “lò đốt rác” đã phát điện đủ để cho gia đình ông Kiên và 20 hộ dân xung quanh sử dụng; Thực chất lượng điện được sản xuất từ “lò đốt rác phát điện” chỉ “nhấp nháy” vài bóng điện mà thôi. Lượng điện để làm quay 2 quạt công xuất lớn đang thổi gió vào lò mỗi khi đốt là đang lấy từ EVN..     Ngày 26/7/2012, đoàn chuyên gia của Bộ KH&CN, Đại học Bách khoa HN, Cục An toàn (Bộ LĐ&TBXH), Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn Đo lường chất lượng (Khu vực I – Bộ KH&CN) cùng các chuyên gia ở Thái Bình đã không dám cho ông Kiên phát điện thử vì sợ không an toàn cho nhiều người..      7. Hiệu quả kinh tế. Không có việc “lò đốt rác phát điện” đã phát được điện để gia đình ông Kiên và 20 hộ dân xung quanh sử dụng và cũng không thể nói giá thành điện chỉ bằng 1/5 so với EVN. Hàng tháng gia đình ông Kiên và 20 hộ xung quanh vẫn trả tiền sử dụng điện cho EVN tại xã, vì “lò đốt rác phát điện” khi hoạt động mới chỉ “nhấp nháy” được vài bóng điện mà thôi.       8. Hiệu quả môi trường. Do không có quy trình thu hồi và xử lý khói bụi…nên mỗi khi ” lò đốt rác phát điện” đốt thử nghiệm, toàn bộ môi trường xung quanh bị khói bụi mù mịt bao phủ. Trong khói bụi mù mịt đó có cả khói bụi của vỏ bao thuốc trừ sâu nhựa vô cơ, hợp chất benzen…cháy thải vào không khí… gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường xung quanh.                         9. An toàn cháy nổ. Do tự thiết kế, tự thi công bằng nguyên liệu ‘ nhặt nhạnh” quanh nhà và cùng với thiếu hiểu biết về kỹ thuật nồi hơi, kỹ thuật phát điện…nên an toàn cháy nổ có thể sảy ra bất cứ lúc nào. Vì vậy, ngày 26/7/2012, đoàn chuyên gia của Bộ KH&CN, Đại học Bách khoa HN, Cục An toàn (Bộ LĐ&TBXH), Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn Đo lường chất lượng (Khu vực I – Bộ KH&CN) cùng các chuyên gia ở Thái Bình đã không dám cho ông Kiên phát diện thử vì sợ không an toàn cho nhiều người..      10. Chất lượng thông tin. Do ‘ý tưởng” và “ước mơ” nên tác giả đã đưa ra những thông tin không chuẩn xác( chưa nói là thiếu hiểu biết) gây hiểu lầm trong dư luận:      – Nhiệt độ lò từ 1600-2000độC. Thực tế Sở KH&CN Thái Bình đo ở 5 điểm trong mấy tiếng tại buổi thực nghiệm (tháng 8/2012) cho kết quả: Nhiệt độ cửa nhập nguyên liệu trung bình 631,85độC, nhiệt độ thân lò 30cm trung bình 902độC. Các lò đốt rác của Nhật, Thái Lan…hiện đang sử dụng ở Việt Nam, nhiệt độ cháy tối đa  khoảng 850-1000độC (nếu lò đốt rác của ông Kiên nhiệt độ tới 2000độC thì phải trao giải Nobel… Chắc vì thông tin này nên người Nhật vội đến để mua bản quyền???).     – Đưa áp suất nồi hơi lên 75bar… Trong khí thiết kế nồi hơi tối đa cho phép 15bar.     – ” Lò đốt rác phát điện ” có thể cung cấp điện cho 20 hộ gia đình? Từ khi mô hình “lò đốt rác phát điện” vận hành, gia đình ông Kiên và 20 hộ dân xung quanh vẫn trả tiền điện tiêu thụ như bao hộ dân khác ở Thái Bình. Vậy điện ông Kiên sản xuất cung cấp đi đâu?? (hóa đơn tiền điện hàng tháng tại xã Thái Giang cho thấy rõ điều này).         Tất cả các thông tin trên chỉ từ “trí tưởng tượng” mà ra. Từ những thông tin tưởng tượng đã tạo ra cơn sóng dư luận hiểu lầm không cần thiết, tốn thời gian..      11. Kết luận.  Có thể khẳng định: Mô hình ” lò đốt rác phát điện” của ông Kiên không mới, không thành công; Mới thành công ở mức “ý tưởng”. Từ ý tưởng đến thực tiễn là cả một chặng đường dài, gian khó, bởi ý tưởng không phải phép màu.     Đọc thêm:  Mô hình sản xuất điện từ rác thải sinh hoạt: Một số sự cố có thể xảy ra  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=7684&CategoryID=2  —  * Tiến sỹ. Ủy viên HĐTW Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự tích võ sĩ giác đấu tại ngôi biệt thự La Mã      Một bức tranh khảm mới được phát hiện miêu tả hình ảnh một võ sĩ giác đấu nổi tiếng đã chinh phục được trái tim của nhiều người dân La Mã, giống như nhân vật Maximus do diễn viên Russell Crowe đóng trong bộ phim Gladiator của Mỹ vào năm 2000.    Các nhà khoa học đã phát hiện thấy hình ảnh vị anh hùng này ở ngoại ô thành Rome, tại nơi ở của Hoàng đế Commodus. Các nhà nghiên cứu cho rằng vị chiến binh trong tranh có thể là một anh hùng giác đấu mà Commodus rất ngưỡng mộ.  Nhà khảo cổ Riccardo Frontoni đã tình cờ phát hiện ra bức tranh khi đang khai quật tại khu biệt thự Villa dei Quintili, nơi nghỉ mát ở ngoại ô của Commodus. Khu vực nằm dọc theo con đường Via Appia Antica nối liền thành Rome với phía nam Italy.  “Về mặt lịch sử bức tranh rất giá trị bởi nó không miêu tả một cảnh hoang đường hay tưởng tượng, mà là người thực việc thực: một võ sĩ giác đấu và vị trọng tài đang tuyên bố anh ta là người chiến thắng”, Frontoni nói.  “Chữ khắc trong tranh cho thấy vị chiến binh tên là Montanus, có thể là biệt danh, và vị trọng tài có tên là Antonius”.  Võ sĩ mặc áo giáp bằng da nhẹ bao trùm cánh tay, bờ vai trái, cổ và đằng sau đầu. Anh cầm trên tay một đinh ba và một cái lưới.  “Đó là vũ khí quen thuộc của những chiến binh gọi là retiarii. Trong các cuộc thi đấu, retiarii thường đấu với secutor – chiến binh mang gươm và khiên”, Frontoni cho biết.  “Sự xuất hiện của chữ khắc với tên – một chi tiết bất thường – cho thấy Montanus là một chiến binh nổi tiếng được người dân La Mã yêu mến, giống như các danh thủ bóng đá ngày nay”.  “Võ sĩ giác đấu là một kiểu mâu thuẫn trong xã hội. Họ phải làm một công việc nguy hiểm và mua vui cho kẻ khác, nhưng mặt khác họ lại là những vị anh hùng trong mắt người dân La Mã”, Luciano Canfora, lịch sử gia tại Đại học Bari của Italy nhận định.  Commodus, trị vì đế chế La Mã từ năm 180 đến 192, cũng là một fan cuồng nhiệt của các cuộc chiến võ sĩ giác đấu. Bản thân ông cũng thích chiến đấu với tư cách là một secutor.  “Các thành viên của vương triều La Mã không chấp nhận việc ông có hành vi phi truyền thống như vậy. Trong khi đó, những người dân thường lại rất ngưỡng mộ sở thích độc đáo của vị hoàng đế và thích xem ông chiến đấu”.  Cũng vì vị thế của ngài mà các đối thủ thường chịu thua Commodus. Nhưng ông vẫn tự hào về thể lực của mình và tự coi mình là hóa thân của Hercules. Tuy nhiên, vị hoàng đế hiếu chiến này lại không phải là nhân vật trong bức khảm tranh.  “Commodus được sinh vào năm 161. Còn bức tranh nằm trên sàn của một phòng tắm được xây vào năm 130, cùng niên đại với tòa nhà, nên nó ra đời trước khi Commodus được sinh ra”, Frontoni nói. “Vào thời điểm đó gia đình Quintilii sở hữu ngôi biệt thự. Họ là bạn của hoàng đế Marcus Aurelius, cha của Commodus”.  “Tôi cho rằng Commodus khi còn là đứa trẻ thường xuyên đến chơi nhà Quintilii để chiêm ngưỡng bức tranh Montanus. Có thể ông cũng biết và ngưỡng mộ vị anh hùng này”.  Sau đó vào năm 182, Commodus đã tịch thu ngôi biệt thự sau khi hành quyết nhà Quintilii vì tội mưu phản. Điều trớ trêu là vị hoàng đế qua đời vào năm 192 do bị bóp cổ trong phòng tắm bởi chính thầy dạy võ Narcissus của mình. Kẻ phản bội này đã được một nhóm các viên quan thuê để ám sát vua.  M.T. (theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự tiến hóa sinh học và lý thuyết tai biến      Lý thuyết tai biến (catastrophe theory) nghiên cứu và xếp loại các hiện tượng đột biến của một hệ động học do những nhiễu loạn ngoài gây nên. Với sự phát triển của khoa học phức hợp (complexity science) hiện đại trong thế kỷ 21, Lý thuyết tai biến hội nhập như một cách tiếp cận độc đáo, sáng tạo.      Hình ảnh một tế bào trong quá trình tự sửa chữa sau khi bị tổn thương. Nguồn: cedars-sinai.org    Lý thuyết lượng tử và vũ trụ học với sinh học     Nhiều thế kỷ trước các cơ thể sống được xem như là một loại vật chất có ma thuật (magic matter), song có thể đó chỉ là vật chất như mọi vật chất với những tính chất đột sinh mà chúng ta chưa nắm được quá trình phát triển.    Những hiện tượng lượng tử: tính gián đoạn, hiện tượng đường hầm (tunnelling), tính chồng chất (superposition), hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement) đã dẫn đến những kết quả quan trọng (ví dụ đã được ứng dụng trong các máy tính lượng tử) đã và sẽ phải được ứng dụng vào sinh học. Sự sống đã để gần 3,5 tỷ năm để tiến đến hiện trạng ngày nay chắc đã phải trải nghiệm qua những hệ quả tinh diệu của lượng tử.    Hiện nay sinh học đang phát triển ở mức phân tử cho nên lý thuyết lượng tử không thể không đóng vai trò quan trọng vào sinh học. Viên gạch cơ bản trong sinh học là acid nucleic DNA gồm hai dãy polynucleotide xoắn quanh nhau và nối liền nhau bởi các cặp cơ sở (base pairs): A(Adenine), T (Thymine), G (Guanine), C (Cytosine),  T đi cặp với A còn G đi cặp với C (hình 4a).      Hình 7. Mô hình cấu trúc DNA    Nhờ hiệu ứng đường hầm trong lý thuyết lượng tử mà có thể xảy ra trường hợp T không đi cặp với A mà có thể đi cặp với G, điều này  dẫn đến hiện tượng  đột biến (mutation), như vậy thuyết lượng tử chắc chắn có đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa sinh học.    Alexei Kornyshev (College Hoàng gia Anh) nghĩ rằng trong thế kỷ XXI nhiều điều kỳ diệu trong sinh học có thể chờ đón từ vật lý (lượng tử và cổ điển). Tuy nhiên Adrian Parsegian, một nhà lý-sinh học Mỹ cho rằng hiện nay cũng còn nhiều chướng ngại trong việc kết hợp vật lý học với sinh học thứ nhất vì độ phức tạp lớn của các cơ thể sống và thứ hai vì quan điểm và công cụ khác nhau từ hai phía nên khó lặp lại được một cộng tác hữu hiệu giữa nhà vật lý và nhà sinh học như trong trường hợp James D.Watson (sinh học) và Francis Crick (vật lý) khi đưa ra mô hình cấu trúc DNA. Tuy nhiên cũng cần nhắc đến trường hợp dưới đây của Roger Penrose và Stuart Hameroff.    Một đột sinh quan trọng: đột sinh ý thức (consciousness) từ hệ tế bào thần kinh. Lý thuyết lượng tử có thể có khả năng tìm ra mối liên quan giữa tinh thần (mind) và  não bộ (brain) và nói riêng là tìm hiểu sự đột sinh của ý thức. Một trong nhiều mô hình đã được Roger Penrose và Stuart Hameroff xây dựng để giải thích sự đột sinh của ý thức bằng một hiện tượng có tác động  vĩ mô lên não bộ.    Sau đây là sơ đồ đơn giản hóa mô hình ORCH-OR (Orchestrated Objective Reduction) của Roger Penrose và Stuart Hameroff. Như chúng ta biết khi tiến hành một phép đo thì hàm sóng của hạt lượng tử  chịu một phép co (collapse) gọi là SR (Subjective Reduction). Năm 1993, Henry Stapp đưa ra giả thuyết là nếu có những phép co lượng tử  trong não bộ thì đó là  một ví dụ của ý thức. Roger Penrose (một nhà vật lý lý thuyết) giả định một loại lượng tử trong não bộ, cô lập với môi trường, không co lại vì một phép đo nào cả mà tự co lại, phép co đó được gọi là OR (Objective Reduction). Song Penrose chưa làm sáng tỏ một điều là giá đỡ (support) của quá trình này là vật gì trong não bộ.    Stuart Hamaroff (một nhà gây mê) đã gợi ý về một số cấu trúc trong tế bào có thể đảm đương nhiệm vụ đó. Đó là các microtubules (thành phần quan trọng của cytoskeleton). Microtubule là những ống hình trụ rỗng trong tế bào nối liền với nhau bằng những protein liên kết (MAP-Microtubule Associated Proteins). Hameroff cho rằng các electron tồn tại trong các tubulin (protein cấu tạo nên microtubule) có thể liên kết với nhau trong trạng thái một ngưng tụ Bose-Einstein (Bose-Einstein condensate), các ngưng tụ trong những microtubules của một neuron có thể nối liền với các neuron khác nhờ hiệu ứng đường hầm. Hameroff giả định rằng hiệu ứng đường hầm cho phép một thực thể lượng tử như các condensate nói trên lan truyền đến nhiều neuron khác và trải rộng trong một vùng lớn của não bộ như một thực thể lưọng tử thống nhất. Chính hiện tương OR của thực thể lượng tử kết hợp này được chỉ huy hiệp đồng như trong một bản hòa tấu nhờ các MAP sẽ tạo ra ý thức. Vì thế mô hình của Penrose – Hameroff được đặt tên là ORC-OR (Orchestrated Objective Reduction – Phép co Khách quan hiệp tấu). Mô hình của Penrose và Hameroff là một gợi ý dùng lý thuyết lượng tử vào sinh học cụ thể là tiếp cận một trong những vấn đề lớn của sinh học: sự đột sinh của ý thức từ hệ tế bào thần kinh. Mô hình ORC-OR của Penrose & Hameroff là một mô hình được nhiều nhà vật lý chú ý song cũng là một mô hình chưa có được một kiểm nghiệm thực tế nào và chịu nhiều sự phê phán từ phía các nhà triết học và khoa học khác.      Hình 8 . Sơ đồ vùng trung tâm của neuron cho ta thấy những microtubule nối liền với nhau bởi các MAP.     Tự tổ chức (self-organization) trong vũ trụ     Các tác giả Jerzy Jurkiewicz, Renate Loll and Jan Ambjorn đã công bố một bài viết lý thú lấy tên là“Vũ trụ lượng tử tự tổ chức” (The Self- organizing Quantum Universe). Lẽ dĩ nhiên ở đây các tác giả không dùng lý thuyết động học vi mô (kinetics theory) để xây dựng nên vũ trụ lượng tử tự tổ chức mà phải sử dụng thuyết lượng tử và hấp dẫn. Song điều đáng nói ở đây là ý tưởng về hiện tượng tự tổ chức của vũ trụ được lấy từ ý tưởng về hiện tượng tự tổ chức trong sinh học, từ ý tưởng đột sinh trong lý thuyết phức hợp (complexity).    Các tác giả đã lấy các “tế bào” cơ bản là những đơn hình (simplex) thỏa mãn điều kiện nhân quả tương tác với nhau qua hấp dẫn và lượng tử. Các tế bào này sẽ tự sắp xếp (tự tổ chức) để tạo nên vũ trụ mà chúng ta quan sát được. Những tế bào hay “nguyên tử” mà các tác giả sử dụng là những tam giác suy rộng bốn chiều. Các tác giả đã gán cho mỗi đơn hình một mũi tên thời gian hướng từ quá khứ đến tương lai sau đó dán dính chúng với nhau sao cho mũi tên thời gian chung không thay đổi hướng  nhằm bảo đảm tính nhân quả của vũ trụ tạo thành. Lý thuyết này được các tác giả gọi là Tam giác hóa Động học Nhân quả (Causal Dynamical Triangulations – Tam giác hóa Động học Nhân quả). Lý thuyết Tam giác hóa Động học Nhân quả có nội dung tương đồng với Hấp dẫn Lượng tử  Vòng (Loop Quantum Gravity) của Lee Smolin. Có thể nói các tam giác suy rộng 4 chiều này cũng  là một loại phân tử “DNA” của vũ trụ. Một chi tiết đáng chú ý là Jurkiewicz, một trong ba tác giả, là Giám đốc bộ môn lý thuyết các hệ phức hợp tại Viện Vật lý thuộc Đại học Jagiellonian ở Krak.      Hình 9.  Các tế bào đơn hình thỏa mãn điều kiện nhân quả tự tổ chức thành vũ trụ  Theo Leonard Susskind, những biến đổi sinh học sẽ khó lòng tạo nên một cơ thể sống như con người nếu không có yếu tố quan trọng sau này: đó là con số khổng lồ trong phong cảnh các thiết kế sinh học (the enormity of the landscape of biological designs). Danh từ phong cảnh (landscape) lấy từ lý thuyết dây (string theory).    Các thiết kế sinh học được mã hóa trong các phân tử DNA, gồm hai dãy polynucleotide xoắn quanh nhau và nối liền nhau bởi các cặp cơ sở A, G, C & T. Trong một cơ thể mỗi phân tử DNA có thể chứa nhiều triệu cặp cơ sở. Số khả năng chọn cặp cơ sở xác định nên phong cảnh sinh học và số khả năng đó vô cùng lớn. Một trăm triệu cặp cơ sở có thể cho ta 4100000000 cách sắp xếp.    Giả sử ta chỉ có một nghìn thậm chí một triệu thiết kế thử hỏi xác suất để một thiết kế đó tạo nên một cơ thể có trí tuệ là bao nhiêu? Hoàn toàn không đáng kể. Song nếu số thiết kế đó là 4100 000 000 tổ hợp thì tình huống đã khác vì xác suất đó đã trở lớn hơn nhiều. Như vậy nguyên lý đầu tiên của tiến hóa sinh học – thậm chí còn cơ bản hơn cả nguyên lý chọn lọc tự nhiên – đó là quy mô khổng lồ của phong cảnh các thiết kế sinh học, theo ý kiến của Leonard Susskind, một nhà vật lý lý thuyết dây.    Ta quay trở lại các “DNA” của vũ trụ. Theo lý thuyết dây (string theory), không thời gian ngoài bốn chiều thông thường còn có 6 hoặc 7 chiều dư (extra dimensions).    Như vậy ngoài 4 chiều không thời gian những chiều dư (10 – 4 = 6 chiều) đã cuộn lại (compắc hóa) thành một đa tạp 6D có cấu trúc nhất định mang tên đa tạp Calabi-Yau do đòi hỏi bởi một số điều kiện vật lý.      Hình 10. Trên hình là bức tranh phong cảnh biểu diễn năng lượng theo 2 thông số. Đa tạp các chiều dư (đa tạp Calabi-Yau) được biểu diễn tại đáy các thung lũng ứng với một chân không bền (ổn định) tương đối.  Không gian các chiều dư (extra dimensions) có thể có nhiều dạng (nhiều tôpô): hình cầu, hình xuyến, hai hình xuyến giao nhau tạo nên những tay quai (handles), và v.v… Ngoài ra phải kể đến những thông số như độ dài tay quai, tiết diện tay quai, vị trí các màng, số thông lượng quấn quanh các vòng… (xem hình 10).    Các kiểu compắc hóa dẫn đến 10 500 phương án, số phương án này còn lớn hơn cả số nguyên tử trong toàn vũ trụ! Điều này dẫn đến một phong cảnh (danh từ của Leonard Susskind) có đồi núi với 10 500 thung lũng ứng với chân không.    Đa tạp Calabi-Yau giống như cột sống của phân tử DNA và các thông số nói trên được sắp xếp theo vô số khả năng (tương tự như trong một phân tử sinh học DNA).    Nếu  các chi tiết của DNA xác định các tính chất sinh học của một cơ thể sống, thì các thông số nói trên (và các yếu tố khác) xác định các tính chất của vũ trụ.    Khi bàn đến mối tương đồng với tái sinh (reproduction) và đột biến (mutation), thì lý thuyết lạm phát vũ trụ sẽ vào cuộc. Trong quá trình lạm phát  nhiều vũ trụ sẽ được tạo ra với những định luật vật lý, những hằng số khác nhau giống như cây rẽ nhánh của sự sống (tree of life). Như vậy thuyết lạm phát trong vũ trụ chính là hiện tượng tương tự của tái sinh và đột biến trong sinh học.     Kết luận     Dường như việc nghiên cứu tách rời hai vương quốc sống và không sống chỉ là một biểu hiện của sự hạn chế nhận thức của chúng ta trong một giai đoạn của lịch sử khoa học. Tuy rằng hiện nay chúng ta chưa đủ khả năng để hiểu hết bí mật lớn của sự sống song những cơ sở ban đầu dựa trên lý thuyết động học vi mô (kinetics theory), lý thuyết phức hợp (complexity theory), lý thuyết tai biến (catastrophe theory), lý thuyết lượng tử để nghiên cứu các cấu trúc phát tán (dissipative), các quá trình tự tổ chức (self-organization) cũng cho phép chúng ta có được những tiếp cận ban đầu từ nhiều phía hoặc định tính hoặc ít nhiều định lượng đến bí mật lớn này.    Hơn nữa như chúng ta thấy theo quan điểm vũ trụ toàn ảnh của Bohm và Pribram thì hai vương quốc của vật chất sống và không sống liên thông với nhau.  Tất cả những điều nói trên cho phép chúng ta kết luận rằng giữa hai vương quốc của vật chất sống và không sống dường như không tồn tại một ma lực nào ngoại trừ những đột sinh (emergences) mà chúng ta chưa tìm ra được các quy luật hình thành.    Dường ý đồ của Chúa tuy vẫn là một “bông hoa còn phong nhị nhưng đã hé một phần sắc hương”.□    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Sử Việt nhìn từ phận đàn bà: Những tiếng nói vô thanh (Trường hợp thái hậu Dương Vân Nga)      Lịch sử Việt Nam nếu nhìn từ thân phận đàn bà thì đó là những tiếng nói vô thanh, tức là không có (hoặc rất ít) giọng nói cất lên từ phía phụ nữ, mà chỉ là những tiếng lồng đa thanh của những kẻ đàn ông cho những khuôn mặt đàn bà đã phôi pha theo dòng chảy thời gian. Hình tượng Thái hậu Dương Vân Nga trong lịch sử là một trong những điển hình cho điều đó. Trong khi Đinh Tiên Hoàng hiện lên như là một biểu tượng đa năng, như là câu chuyện của những đại tự sự với những xu hướng chính trị cùng chiều; thì Dương hậu được kiến tạo như là một hình ảnh phụ bị cuốn theo và phụ họa cho những giọng nói của đàn ông. Trong khi, các sử gia Nho giáo chỉ coi Dương hậu như là một bài học cho sự vi phạm đạo vợ chồng, phê phán để làm gương cho các bậc hoàng đế và vương hậu đời sau; thì các nghiên cứu trong thế kỷ 20 lại lấy bà như là một biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam biết hy sinh hạnh phúc cá nhân để giữ gìn sự thống nhất và bảo vệ nền độc lập dân tộc.      Nghệ sĩ Bạch Tuyết trong vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga trong vở kịch cùng tên.   Sử liệu về Dương Vân Nga  Dương hậu hay Dương Vân Nga, được biết đến nhiều vì liên quan một lúc đến cả ba họ Ngô- Đinh- Lê. Cho đến nay, người ta vẫn không hết tranh luận bà là một người hai hay người. Nhưng dù là một hay hai người thì đây vẫn gương mặt phụ nữ kỳ lạ nhất của thế kỷ X, và cũng là một/ hai người phụ nữ đáng nhớ nhất trong lịch sử Việt Nam trung đại. Nếu bà là một người, thì bà vừa là cháu của một ông Tiết độ sứ (Dương Đình Nghệ) và một ông vua (Bình Vương), là vợ của 3 vị vua (Ngô Xương Văn, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn), là mẹ của 2 ông vua nữa (An Vương Ngô Nhật Khánh, và Vệ Vương Đinh Toàn), cuối cùng bà còn là mẹ vợ của hoàng đế Lý Công Uẩn (như truyền thuyết). Nếu quả như thế thật thì sử liệu nào cho phép suy luận và vẽ ra một nhân vật tầm cỡ – thú vị đến như vậy?  Sử liệu 1: ghi chép sự kiện tháng 10 âm năm 979, sau khi Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị ám sát. “Khi ấy Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, cùng Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn gọi vua là Tiên Hoàng Đế, tôn mẹ đẻ [vua mới] là Dương thị làm Hoàng thái hậu. Rước linh cữu Tiên Hoàng Đế về táng ở sơn lăng Trường Yên”1.  Sử liệu 2: chép ở mục Phế Đế: “Vua nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc, ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thủy bộ, muốn tiến về kinh đô giết Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị giết. Trước đó khi Điền và Bặc cất quân, Thái hậu nghe tin, lo sợ bảo Hoàn rằng: “Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà ta. Vua còn nhỏ yếu chưa kham nổi nhiều nạn, các ông nên liệu tính đi chớ để tai họa về sau”. Hoàn nói: “Thần ở chức Phó Vương nhiếp chính, dù sống chết biến họa thế nào, đều phải đảm đương trách nhiệm”.  Sử liệu 3: Chép sự kiện cuối năm 979 về Ngô Nhật Khánh: “Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư, theo hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang, qua một đêm, gặp gió bão nổi lên, thuyền đều lật đắm, Nhật Khánh cùng bọn người Chiêm đều chết đuối, chỉ có thuyền của vua Chiêm thoát trở về nước. Nhật Khánh là con cháu của Ngô Tiên chúa Quyền, trước xưng là An Vương, cùng 12 sứ quân mỗi người chiếm giữ một vùng. Tiên Hoàng dẹp yên, lấy mẹ Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái Khánh làm vợ Nam Việt Vương Liễn, còn lo sinh biến, lại đem công chúa gả cho Khánh, ý muốn dập hết lòng oán vọng của hắn. Nhật Khánh bề ngoài cười nói như không, nhưng trong lòng vẫn bất bình, bèn đem cả vợ chạy sang Chiêm Thành, đến cửa biển Nam Giới rút đao ngắn xẻo má vợ kể tội rằng: “Cha mày lừa dối ức hiếp mẹ con ta, lẽ nào ta vì mày mà quên tội ác của cha mày hay sao? Cho mày trở về, ta đi đằng khác tìm kẻ có thể cứu ta”. Nói xong bèn đi. Đến đây nghe tin Tiên Hoàng băng, Khánh dẫn người Chiêm vào cướp.”2  Sử liệu 4: tháng 7 âm năm 980, nhà Tống nghe nói nhà Đinh có biến, bèn sai Hầu Nhân Bảo sang đánh Đại Cồ Việt. “Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm Đại tướng quân. Khi [triều đình] đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho ? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế!”. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu [980], giáng phong vua làm Vệ Vương.”3  Sử liệu 5: Sau chiến thắng Nam Hán, năm 980, Lê Hoàn được bề tôi tôn xưng là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí nhân quảng Hiếu Hoàng Đế. Năm 981, “Lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Hậu là vợ của Tiên Hoàng, mẹ đẻ của Vệ Vương Toàn. Khi vua lấy được nước, đem vào cung, đến đây lập làm Hoàng hậu, cùng với Phụng Càn Chí Lý Hoàng Hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu, Trịnh Quấc Hoàng Hậu, Phạm Hoàng Hậu là 5 hoàng hậu (về sau, tục dân lập đền thờ, tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi, hồi quốc sơ [đầu thời Lê] vẫn còn như thế. Sau An Phủ Sứ Lê Thúc Hiển mới bỏ)”.4  Các sử liệu trên trình bày rõ một hiện trường phong phú về bà trong bối cảnh chính trị cung đình thế kỷ X. Chúng ta thấy, lần đầu tiên trong lịch sử thế kỷ X, một người phụ nữ đã lên tiếng và được ghi vào chính sử, hoặc ít ra lần đầu tiên các sử quan để cho phái yếu được phát ngôn.  Dương Thái Hậu bảo Hoàn mà cũng là bảo cả những người theo phe mình: vua còn nhỏ dại, các ông cứ liệu tính chớ để di họa. Hoàn tự đáp với tư cách Phó vương, đương nhiên đó là trách nhiệm của mình. Một kịch bản mà có lẽ cả hai người đã tính toán rất kĩ trước khi ra chầu trước bách quan. Rồi trước nguy cơ chiến tranh với nhà Tống, trong thế “trứng đặt đầu đẳng”, lần thứ hai, người đàn bà quyền lực lên tiếng. Toàn thư ghi, Thái Hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đánh giặc, chọn được Phạm Cự Lạng ở Nam Sách Giang5 làm Đại tướng quân. Cự Lạng về Hoa Lư chuẩn bị kế hoạch chống giặc. Nhưng trước tiên là phải ổn định triều chính. Thái Hậu và Lê Hoàn chọn Phạm Cự Lạng làm Đại Tướng Quân. Đại Tướng họ Phạm liền tấu thẳng giữa triều đình về việc tôn Hoàn làm Hoàng Đế. Ba lý do được đưa ra: Hoàng Đế thì trẻ mỏ; giặc Tống đã đến gần; xuất quận ra trận, nếu thắng thì ai biết cho mà ghi công. Hai ý cuối cùng đã đánh trúng tâm lý của tất cả những người đang ăn lộc triều đình. Điểm tinh tế ở chỗ, sử mô tả Đại Tướng Quân Phạm Cự Lạng vào triều lại “mặc nguyên giáp trụ đi thẳng vào Nội phủ” để bàn kế hoạch tôn Hoàn làm Thiên tử trước khi đánh giặc. Lạng nói xong thì quân sĩ đều hô vạn tuế. Vậy thì hiển nhiên, việc triều đình Hoa Lư đồng ý Lê Hoàn lên ngôi còn vì phải chịu dưới sức ép của lực lượng quân sự. Vở kịch diễn ra đúng như dự toán của đạo diễn Dương Thái Hậu, lúc này bà mới sai người mang áo long cổn đến khoác lên mình Lê Hoàn, mời ông lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc, và giáng ông con ruột 6 tuổi xuống làm Vệ Vương.  Dương Hậu – từ tấm gương “tày liếp” của đạo đức Nho giáo  Trong suốt chiều dài lịch sử sau này, chúng ta hãy cùng xem Ngô Hậu – Dương Hậu đã được hiện lên như thế nào dưới ngòi bút của các sử thần Nho gia.  Về Dương Hậu thời Đinh- Lê, Ngô Sĩ Liên đã phê bình từ góc độ đạo đức rằng: “Đạo vợ chồng là đứng đầu nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sau?”6 Ngô Thì Sĩ bàn thêm: “Đại Thắng Minh là tôn hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành dùng tôn hiệu của vua đã mất, làm tên hiệu cho Hoàng hậu của mình, không còn kiêng kị gì nữa. Thật là quá quắt”7. Ngô Sĩ Liên đã phê bình Dương Hậu và Lê Hoàn từ một bối cảnh thời đại mà Nho giáo đậm đặc hơn rất nhiều so với 500 năm trước đó. Ông phê phán Thập đạo Tướng quân lợi dụng chức vụ (ra vào cung cấm) thông dâm với vợ vua cũ và là mẹ vua mới (lại trong lúc tang gia bối rối, mẹ góa con côi), là không biết đến liêm sỉ, rồi “dâm dật đến nỗi mất nước”, đó là truyền lại cho con cháu cái thói dâm dật ấy. Mặc dầu, đây là một lối sử bình của một ông Nho thần dành cho một ông vua Nho giáo, nhưng ta vẫn thấy, thân phận người phụ nữ họ Dương!  Những phê phán ấy, từ chính sử, đi vào trong dân gian nhiều đời, với nhiều mức độ khác nhau. Nó trở thành một diễn ngôn sống động mà các sử thần đời sau, núp bóng quyền uy của ông vua đương thời, để mắng mỏ hoàng đế vương hậu triều trước như là các “tấm gương tày liếp” cho việc lỗi đạo vợ chồng, loạn mối nhân luân, đầu têu cho con cái và bách tính làm chuyện phản loạn. Toàn thư ghi việc thờ cúng ba vị Đinh Hoàng Đế – Dương Hậu – Lê Hoàng Đế đã tồn tại từ thời Lê sơ8. Sử quan cho rằng, đó là do tục lệ dân gian tự thờ cúng nên mới có sự “ngồi chung” bất chính như thế! Việc An phủ sứ Lê Thúc Hiển9 bãi bỏ việc thờ cúng theo kiểu “dâm từ” cho thấy quyền lực “vương hóa” của triều đình.      Đinh Tiên Hoàng hiện lên như là một biểu tượng đa năng như là câu chuyện của những đại tự sự với những xu hướng chính trị cùng chiều; thì Dương hậu được kiến tạo như là một hình ảnh phụ bị cuốn theo và phụ họa cho những giọng nói của đàn ông.      Ở một chiều hướng ngược lại, đầu thế kỷ 17, triều đình Lê – Trịnh (chính xác là Trịnh Kiểm) đã sai Quận công Bùi Thời Tung và bộ Công dốc tiền làm lại miếu thờ và tô tượng ba vị, nhưng tác làm hai đền thờ khác nhau. Bia Tạo tác Thánh tượng tiền triều Lê Đại Hành Hoàng đế bi ký tịnh minh (1611) ghi việc tạo 3 tượng thờ ở đền vua Lê gồm có: Lê triều Đại Hành Hoàng đế, Bảo Quang Hoàng thái hậu và Ngọa triều Hoàng đế10. Bảo Quang Hoàng Thái Hậu có lẽ chính là thụy hiệu/ miếu điều tra văn hóa từ những năm 1980, mỗi khi đến ngày kị Đinh Tiên Hoàng dân làng có làm nghi lễ rước tượng, tượng Dương Hậu được rước từ đền thờ vua Lê sang đền thờ vua Đinh rồi cúng xong lại trả “Bà” về. Nhưng có chi tiết quan trọng nhất của nghi lễ là lật đít tượng lên đánh mười roi trước khi cho về với ông chồng cũ11.  Nhân dân trước nay (trong cuối thế kỷ XX) vẫn coi tượng này là “Dương Vân Nga”. Tượng này có đặc điểm là tô mặt đỏ (một thủ pháp mới lạ so với các hệ thống tượng vương hậu thời này), mặt xoay về hướng đền thờ Đinh Tiên Hoàng, hàm ý biểu thị sự hổ thẹn vì đã thất tiết với chồng cũ12.  Rõ ràng, triều đình Lê Trịnh, trong quá trình xây dựng các thần điện cho các vua triều trước (như tiền lệ cho tính chính thống của triều đại mình), đã tái sử dụng “lưỡng triều Hoàng hậu” Dương thị để tiếp dục giáo dục xã hội về đạo đức của người phụ nữ. Cùng một biểu tượng, nhưng mỗi thời có cách xử lý khác nhau. Đầu thế kỷ XV, ba vị được thờ theo kiểu “táo công” dân gian, để người đời sau giễu nhại, một bà hai ông ngồi chung một bệ: miếu đông thẹn ngắm duyên bà già (Đông miếu tu khan lão phụ duyên”13. Sau năm 1436, Lê Thúc Hiển coi Dương Hậu không đủ tư cách ngồi chung với hai ông Hoàng đế vì chuyện mất đức làm vợ, và gạt bà ra khỏi thần điện của nước Đại Việt. Đến đầu thế kỷ XVII, triều đình lại đưa bà vào thờ nhưng có “siêu chỉnh” về cách thức tô tượng và hướng thờ. Việc nêu gương thất tiết không còn chỉ nằm trong chính sử mà lại được đưa vào trong tự điển quốc gia.  Sách Đại Nam quốc sử diễn ca ghi:  Nối sau Thiếu Đế thơ ngây,  Lê Hoàn tiếp chính từ rày dọc ngang.  Tiếm xưng là Phó quốc vương,  Ra vào cùng ả họ Dương chung tình.14  Cuối thế kỷ 19, các huyền thoại đã phủ khắp dân gian, rồi lại tiếp tục đi ngược vào chính sử và quốc chí. Đại Nam nhất thống chí khi ghi về trấn cũ Vân Sàng thì có giải thích từ nguyên rằng: “tục truyền là cái giường (sàng) mây nước (vân) giao nhau vì Dương Hậu (bà phi của Đinh Tiên Hoàng) đặt giường trên sông để đón Lê Hoàn. Khi vua đến có mây ngũ sắc xuất hiện nên gọi là vân sàng”15.  … bị dân gian biếm họa  Trong khi các bộ sử quan phương và điển lễ triều đình nhấn mạnh về sự bất chính của Dương Hậu từ góc độ chính trị, thì dân gian lại xoáy thêm vào mặt tính dục của bà hoàng này. Sách Hoàn Vương ca tích sưu tầm ở đất Hà Nam mô tả vẻ đẹp của Dương Hậu như sau:    “Môi son rừng rực, mặt hoa rờn rờn  Mắt kia sao mọc cờn cờn  Cổ kia đã trắng lại tròn hân hân”…  Ðồi đông điểm ngọc, đồi tây mây vàng  Suối trong tựa ánh nguyệt tràn  Mây ngồi xổm, cá lượn đàn lên mây  Chim kề mỏ, bướm xỏ mày  Bao nhiêu suối chảy thành cây đàn cầm.16  Các ngữ liệu văn học vừa nêu trên trình bày một hiện trường hiển minh về quyền lực kiến tạo tri thức lịch sử của triều đình Nho giáo. Các tri thức lịch sử, và tính chất của các sự kiện đã hiện rõ chính – ngụy, thông qua các lời bao biếm của các sử quan, từ đó hệ tư tưởng Nho giáo lan tỏa đến các tầng lớp khác nhau. Những người biên soạn các tác phẩm văn học có chủ đề lịch sử (từ các nhà Nho vô danh, khuyết danh, cho đến các ông đồ làng xã, các vị quan lại lịch triều, các vị thân vương, đại thần), trên một hệ tư tưởng thống nhất về đạo đức, trinh tiết của phụ nữ, đã tiếp tục lan tỏa quan điểm của mình đến nhiều tầng lớp xã hội thông qua các tác phẩm văn học Nôm diễn ca lịch sử, các tác phẩm này là để cho phụ nữ (phần lớn là mù chữ) học thuộc lòng. Dung mạo của Dương Thái Hậu được mô tả với hình ảnh đầy chất đa tình. Tức là lý giải mối quan hệ bất chính của Dương Hậu có thể xuất phát từ góc độ sinh lý. Các loại động vật cũng được huy động để mô tả hành động: chim thì kề mỏ, bướm thì xỏ mày, mây thì ngồi xổm, cá thì lượn thành đàn trên mây. Rõ ràng ở đây, một tác giả dân gian (vô danh) đã không hề có một ý niệm về sự tôn kính đối với một vị Hoàng hậu- Hoàng Thái Hậu trong quá khứ đã xa. Ông (có lẽ vẫn là đàn ông) chỉ nhìn thấy hình tượng một người đàn bà quyền lực với câu chuyện tình sống động qua lời bình của sử sách.  Cho đến một Dương Thái Hậu – có huân lao với quốc dân  Sang đến đầu thế kỷ XX, khi hệ hình tư tưởng thay đổi, biểu tượng Dương Thái Hậu đã bắt đầu có những chuyển biến quan trọng, nhưng không ít trường hợp vẫn bảo lưu nội hàm Nho giáo xưa cũ. Những tranh luận, đối thoại trực tiếp giữa các tác giả cho thấy sự chuyển đổi ít nhiều về tư tưởng sử ngay trong tầng lớp trí thức nửa phong kiến nửa thực dân. Đến nửa sau thế kỷ XX, cùng với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, và hệ tư tưởng mới, Dương Thái Hậu đã được cởi bỏ diễn ngôn đạo đức Nho giáo và khoác lên mình màu áo vàng son mới với các thuật ngữ mới về “quốc gia”, “dân tộc” và “chủ nghĩa yêu nước”.  Năm 1942, Tạp chí Tri Tân đã ra riêng một số chuyên đề về Đinh Tiên Hoàng, trong đó có bài của Song Cối với nhan đề “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, ông mở đầu như sau: “nói đến Dương thị, một vị Hoàng hậu trước đã đẹp duyên với Đinh Tiên Hoàng Đế, sau lại nối dây cầm sắt với vua Lê Đại Hành, nhiều người tin trí rằng bà là một gái phụ tình, một nàng dâm phụ; rồi vì thành kiến đã in sâu hàng nghìn năm nay, người ta vội cho ngay là một vết nhơ trên lịch sử. Cái án ấy quả có đúng không, công bằng không, ta nay cần phải lập một “tòa án công luận”, xét lại hồ sơ mà phúc xử mới được…”17. Tác giả đã giũ bỏ hoàn toàn quan niệm về Trung – Trinh, về tiết hạnh, về đạo phu phụ (nhân luân) của Nho giáo. Đàn bà (dù là Hoàng hậu) thì không nhất thiết phải thủ tiết với một đời chồng, nhất là khi chồng đã chết. Ông đã tiếp thu các tư tưởng duy vật của phương Tây để lý giải chuyện nam – nữ cũng chỉ là vấn đề sinh lý tự nhiên18, là nhu cầu tối thiểu như cơm ăn nước uống mà “thánh nhân” Nho giáo ngày xưa ai cũng có. Ông cho rằng nhu cầu tình dục (của đàn bà) cũng là “một quyền tự tồn của cá nhân”. Như thế, tác giả đã sử dụng “nhân quyền” để lên tiếng bảo vệ cho Dương Thái Hậu, với tư cách một người phụ nữ cũng có quyền tồn tại như những người đàn ông (ít nhất về thiên tính). Chẳng những thế, khi so sánh với “tình trạng hôn nhân của Đinh Tiên Hoàng”, ông cho rằng, đàn ông được đa thê, thế thì làm sao mà phụ nữ không được quyền tái giá. Ông đòi bình quyền cho nữ giới, và yêu cầu xã hội phải cải chính danh dự cho Dương Hậu.  Một biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc  Các bộ sử được viết trong nửa sau thế kỷ XX, thường chỉ nhấn mạnh đến vai trò của Lê Hoàn, và bỏ qua chi tiết Dương Thái Hậu khoác long bào cho Lê Hoàn, cũng như chuyện tình cảm cá nhân giữa hai người19. Cuốn Lịch sử Việt Nam mô tả “vận mệnh của cả dân tộc đang bị nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng. Chính quyền độc lập non trẻ đang đứng trước một thử thách lớn. Trong lúc đó, vua Đinh còn ít tuổi chưa đủ khả năng và uy tín để tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến. Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, quân sĩ và một số quan lại liền suy tôn Lê Hoàn lên làm vua…”20  Sự biến mất của Dương Thái Hậu cũng là một chỉ số cho thấy, các sử gia chỉ quan tâm đến các đại tự sự, các biến cố lớn trên chính trường, và không quan tâm đến các chuyện cá nhân đan xen với chính trị, nhất là chuyện liên quan đến phụ nữ và tình cảm.  Cho đến năm 1971, Văn Tân là người đầu tiên trong giai đoạn mới, đã lên tiếng về Dương Thái hậu trong bài “Nhân dịp kỷ niệm 900 năm chiến thắng Chi Lăng lần thứ nhất (981), Thử tìm hiểu cống hiến của Lê Hoàn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ X”. Ông đã mô tả lại việc sử dụng lực lượng quân sự của Lê Hoàn và Phạm Cự Lạng để thực hiện cuộc chuyển ngôi từ Đinh sang Lê. Trong khi “triều đình còn đang lúng túng chưa biết xử trí ra sao, thì bà Dương Vân Nga tức Dương Thái Hậu, mẹ Đinh Toàn, lấy áo hoàng bào khoác vào Lê Hoàn và mời ông lên ngôi vua. Hành động mạnh dạn và sáng suốt của bà Dương Vân Nga mở một lối thoát cho triều đình, tạo cơ sở pháp lý cho Lê Hoàn để ông này có thể lên thay nhà Đinh mà vẫn không mang tiếng là cướp ngôi của vua nhà Đinh”21. Văn Tân đã lược bỏ các chi tiết tình ái đời tư giữa Dương Thái Hậu và Lê Hoàn, cũng như bỏ qua toàn bộ các kiểu phê phán của sử thần phong kiến. Ông cô lập hóa sự kiện để việc chuyển ngôi mang sắc thái trung tính và khách quan. Sự tái mô tả của Văn Tân là một hiện trường hiển minh cho quá trình con người chính trị (phe đàn ông) đã tái sử dụng hình ảnh của phụ nữ cho những gì mà thời đại mong muốn.  Năm 1981, Văn Tân tiếp tục phát biểu về Dương Thái Hậu với những ý vị mới. Ông viết: “tiếng nói của quân đội lúc này là tiếng nói của cả dân tộc trong lúc thế nước gặp gian nguy… Truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng đã làm cho Dương Thái Hậu nhanh chóng tìm ra một lối đi phù hợp với lợi ích của dân tộc… Việc chủ động chuyển quyền hành của bản thân mình và của con mình cho Lê Hoàn, Dương Thái Hậu tỏ ra là một phụ nữ khôn ngoan, sáng suốt, dám lựa chọn sự hy sinh lớn khi cần phải lựa chọn. Hành động của bà rất đẹp đẽ, nó có tác dụng hàn gắn mọi rạn nứt trong lực lượng dân tộc nảy sinh ra từ cái chết đột ngột của Đinh Tiên Hoàng và con trai trưởng là Đinh Liễn.”22 Cách đánh giá về sự kiện Dương Thái Hậu như trên có một bước ngoặt quan trọng về hệ hình viết sử. Văn Tân đã đưa “dân tộc”- khái niệm quan trọng nhất của bối cảnh chính trị đương thời, vào trong hoạt động nghiên cứu lịch sử. “Dân tộc” là vấn đề trung tâm, “đoàn kết dân tộc” là hoạt động thiết thực của người làm chính trị, các “rạn nứt trong lực lượng dân tộc” là nguy cơ của việc phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, dẫn đến việc giặc xâm lược, đe dọa đến độc lập dân tộc. Mà Độc lập là lợi ích sống còn của dân tộc. Dương Thái Hậu đã được đặt vào khung lý thuyết mới, hệ tư tưởng mới. Bà được đánh giá là người đã biết hy sinh lợi ích cá nhân để hàn gắn rạn nứt dân tộc, là người đã khôn ngoan tiến hành công tác đoàn kết dân tộc, thể hiện ý chí của toàn thể dân tộc.      Đến nửa sau thế kỷ XX, Dương Thái Hậu đã được cởi bỏ diễn ngôn đạo đức Nho giáo và khoác lên mình màu áo vàng son mới với các thuật ngữ mới về “quốc gia”, “dân tộc” và “chủ nghĩa yêu nước”.      Nhiều tác giả ở thời điểm này như Nguyễn Danh Phiệt, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huệ Chi cũng có  những tiếng nói tương đồng với Văn Tân trong việc đánh giá vai trò của Dương Thái Hậu. Sau này, có những nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử nữ phân tích hình tượng Dương Thái Hậu, nhưng việc phân tích từ quan điểm, giọng nói của phụ nữ vẫn còn khá hiếm hoi. Đến Lee Seon Hee là người phụ nữ đầu tiên phân tích về hình ảnh Dương Thái Hậu góc độ “phê bình nữ quyền” (Feminist Narratology)23, từ quan điểm và giọng nói của phụ nữ. Lee Seon Hee đã sử dụng các khái niệm như “nữ tính”, “quyền tự do yêu đương”, “quyền tự do hôn nhân”,… trong lập luận của mình. Hành động Dương Thái Hậu yêu Lê Hoàn, trao ngôi cho Lê Hoàn, làm Hoàng hậu của Lê Hoàn được nhận định như là chuỗi hành động thuộc về “tính nhân bản”. Theo Lee Seon Hee, Thái hậu đã “chứng minh giá trị lớn lao của người phụ nữ không chỉ ở sự giác ngộ tự thân về quyền lợi về địa vị của mình phải gắn liền với quyền lợi và địa vị của quốc gia dân tộc mà còn ở cả trí thông minh, tầm nhìn chiến lược đồng thời lại cũng rất nữ tính nữa”24. Dương Vân Nga là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đã nêu một tấm gương sáng về quyền tự quyết định vận mệnh của bản thân mình – quyền tự do yêu đương, tự do hôn nhân mà không bị lệ thuộc vào giáo lý phong kiến, cũng như thói thường của dư luận”25. Giá trị cuối cùng là bà đã được nhân dân thờ ở vị trí trung tâm, coi bà như một biểu tượng “của một tinh thần xả thần vì cộng đồng,…, của một trái tim phụ nữ tha thiết yêu đương, nhưng cũng vô cùng dũng cảm để tự quyết định tình yêu của mình”. Lee Seon Hee đứng hẳn về phía phụ nữ, muốn phá bỏ sự bất bình đẳng giới đối với Dương Thái Hậu, phản đối cách nhìn của đàn ông (nhất là đàn ông Nho giáo) đã áp đặt lên. Lee Seon Hee đã khước từ giọng nói của phía đàn ông bằng những biện luận về căn tính nữ của chủ thể lịch sử.     Nhìn chung, hình tượng Dương Hậu là một kết quả của cả quá trình tái tạo tri thức lịch sử bằng cả khoa học và nghệ thuật. Về cơ bản, dù bị mắng nhiếc hay minh oan, hay xuất hiện ảo mờ – khuất lấp, bà (và các bà hoàng hậu khác) vẫn chỉ là các nhân vật phụ được tạo dựng dưới nhãn quan của nhiều lớp đàn ông với hệ tư tưởng hiện dụng của thời đại. Các bà hoàng hậu hiện lên dưới ngòi bút của cánh đàn ông, không phải vì bản thân họ (với tư cách là phụ nữ) mà vì đàn ông vì các lợi ích gia tộc – phe nhóm – lợi ích chính trị xã hội của đàn ông, họ là tệp đính kèm, tệp phụ, minh họa cho hoạt động chính trị của đàn ông, và thể hiện các diễn ngôn chính trị mà đàn ông đã tạo nghĩa lên hình ảnh của họ.  —  Chú thích:  1,2,3,4,6 Ngô Sĩ Liên, 1479, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, 1998.  5 Có lẽ là Lạng là Thứ sử châu Nam Sách Giang (xem thêm phần viết về “Có hay không loạn 12 sứ quân?”  7 Đặng Xuân Bảng, 1905, <越史綱目節要> Việt sử cương mục tiết yếu, Ký hiệu: A.1592/1 – 2: 609 tr., 31 x 20, VNCHN, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2000. Tr.69.  8 [Ngô Sĩ Liên, 1479, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, 1998, tr.221-2]. Tạ Chí Đại Trường cho là việc thờ cúng này đến Lê sơ đã qua vài trăm năm.  9 Toàn thư ghi Năm 1436, Lê Thúc Hiển được làm “An phủ sứ lộ Trường yên. Hiển người thôn Hồn, thuộc Hồng Châu, có tài về chính sự, được mọi người khâm phục”.  10 Nguyễn Lễ soạn, 1611, Tạo tác Thánh tượng tiền triều Lê Đại Hành Hoàng đế bi ký tịnh minh, Văn bia đền thờ Vua Lê, Ninh Bình.  11 Trần Hậu Yên Thế, 2013, bđd, tr.715. Xem thêm Nhị Hà, 2009, Có nên duy trì tên đường Dương Vân Nga, Tạp chí Hồn Việt, Nguồn: http://www.honvietquochoc.com. vn/bai-viet/3068-co-nen-duy-tri-ten-duong-duong-van-nga.aspx. Ngày đăng: 06 Tháng Mười 2009.  12 Trần Hậu Yên Thế, 2013, Bảo Quang Hoàng Hậu là ai? Tại sao lại có danh hiệu này? Trong “Thông báo Hán Nôm học 2012”, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr.713-718.  13 Song Cối, “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, Tạp chí Tri Tân, số 41, thứ 3, 7 Avril 1942, tr. 18.  14 Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, 1870,  <大南国使演歌> Đại Nam quốc sử diễn ca, Trí Trung Đường in năm Tự Đức 23. VNv. 118, Lã Minh Hằng khảo cứu phiên âm chú thích, Nxb Văn học, Hà Nội, 2008. Tr.92.  15 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1910,  Đại Nam nhất thống chí, T2. Hoàng Văn Lậu dịch, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2012. Tr.1044. Nguyễn Tử Mẫn 阮 子忞, 1862, <寧平全省地誌考辨> Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện, A.922, VNCHN, Nguyễn Mạnh Duân dịch, Nguyễn Thụy Ứng hiệu đính, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.126  16 Hoàn vương ca tích, Bùi Văn Cường, Nguyễn Tế Nhị, Nguyễn Văn Điềm sưu tầm, giới thiệu, Lao động, Hà Nội, 2011. Đền thờ ở đình Bách Cốc, xã Thành Lợi, Vụ Bản, Nam Định.  17 Song Cối (Hoàng Thúc Trâm), “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, Tạp chí Tri Tân, số 41, thứ 3, 7 Avril 1942, tr. 18.  18 Đầu thế kỷ 20, các sách về tình dục của phương Tây đã được dịch sang tiếng Hán và tiếng Việt.  19 Ví dụ Đào Duy Anh (Lịch sử Việt Nam, sđd,), hay bộ Lịch sử Việt Nam của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.  20 Ủy  ban Khoa học Xã hội, 1971, Lịch sử Việt Nam, T.1, Nxb.KHXH. Hà Nội, tr.145.  21 Văn Tân, Nhân dịp kỷ niệm 900 năm chiến thắng Chi Lăng lần thứ nhất (981), Thử tìm hiểu cống hiến của Lê Hoàn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ X, NCLS, 1971, số 140, tr.2.  22 Văn Tân, Vai trò của Lê Hoàn hồi thế kỷ X đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, NCLS, 1981, số 2 (197), tr.7.  23 Susan Lanser, “Toward a Feminist Narratology”, in Feminisms: An Anthology of Literary Theory and Criticism, Robyn Warhol & Diane Price Herndl, Rutgers University Press, New Brunswick & New Jersey, tr.674-693.  24 Lee Seon Hee, Thái hậu Dương Vân Nga và vai trò của người phụ nữ Việt Nam hồi thế kỷ X , NCLS, 2000, số 5 (312), tr.52.  25 Lee Seon Hee, bđd, 2000, số 5 (312), tr.53.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Sự vươn lên của Châu Á-Thái Bình Dương và Nhật Bản      Châu Á/Thái Bình Dương (CA/TBD) và Nhật Bản đang chuyển mình với những chính sách đổi mới. Ngày càng có nhiều tập đoàn quốc tế thiết lập những trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) ở khu vực này. Lợi thế ở đây là chi phí nhân công khá thấp và một nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng.    Không như Bắc Mỹ, châu Mỹ Latinh hay Châu Âu, CA/TBD có hàng tá những quốc gia với những đặc điểm khá là khác nhau. Ngoài sự gần gũi về địa lý thì các quốc gia này không có nhiều điểm chung lắm. Khu vực này cũng chứa đựng nhiều thái cực trong nhiều lĩnh vực, như lịch sử (có nền văn hoá vào loại lâu đời nhất thế giới [Trung Quốc] và có cả nền văn hoá vào loại trẻ nhất thế giới [Australia]), ngôn ngữ, tôn giáo, các hệ thống chính trị và chủng tộc. Ở đây có những nơi giàu bậc nhất thế giới và cũng có nhiều nơi nghèo nhất thế giới. Nếu ngày nay, người ta chú trọng nhiều đến nguồn nhân lực thì cũng cần chú ý rằng: CA/TBD và Nhật Bản là ngôi nhà cho hai phần ba dân số thế giới.  Nhật Bản mạnh hơn bất cứ thị trường công nghệ thông tin (IT) nào ở CA/TBD. Nó là nhà sản xuất chính của mọi loại hình công nghệ phổ biến trên toàn cầu. Tuy nhiên, để được như vậy, Nhật Bản đã phải vật lộn rất nhiều để xây dựng danh tiếng trong lĩnh vực IT. Chính phủ Nhật Bản nhận ra rằng, họ luôn cần vượt lên trên trình độ IT hiện nay để tìm kiếm những làn sóng mới của sự đột phá công nghệ. Và thế là, họ bỏ ra những đầu tư khổng lồ vào các lĩnh vực công nghệ nano, công nghệ sinh học và tự động hoá.  Trung Quốc là thị trường IT lớn nhất CA/TBD và là nhà sản xuất lớn nhất thế giới với một danh mục dài các sản phẩm điện tử và hàng tiêu dùng. Nước này cũng đang là nhà xuất khẩu các sản phẩm IT lớn nhất thế giới. Bất kể bạn mua hàng gì hay xem xét bất cứ một đồ điện nào trong nhà, bạn đều có nhiều khả năng tìm thấy những thứ được làm từ Trung Quốc. Không ai có thể xem nhẹ Trung Quốc, một đất nước với nguồn nhân lực bằng cả Bắc Mỹ và Châu Âu cộng lại.  Thị trường IT lớn thứ hai ở CA/TBD là Australia. Mặc dù có dân số nhỏ (21 triệu, chỉ bằng một nửa Hàn Quốc) nhưng đất nước này có nền kinh tế phát triển toàn diện và một môi trường thương mại tiên tiến, thúc đẩy mạnh mẽ khả năng trao đổi, buôn bán công nghệ. Trên thực tế, những thị trường IT của Australia và New Zealand (tổng dân số hai nước này là 24,5 triệu) cộng lại đã gần như lớn bằng 10 quốc gia ASEAN (có tổng dân số 520 triệu).  Thị trường IT nội địa phát triển nhanh nhất trong hai năm vừa qua chính là Ấn Độ. Xuất phát điểm kém hơn Nhật Bản và Trung Quốc nhưng Ấn Độ đã có một sự bùng nổ công nghệ khó tin. Mặc dù còn nhỏ bé hơn so với Australia và Hàn Quốc, IT của Ấn Độ đã tương tác rất tích cực với thế giới với sự thành công trong xuất khẩu phần mềm và gần đây là những chương trình liên doanh hợp tác. Các công ty công nghệ trên thế giới thường nhắm vào Trung Quốc để tận dụng những nguồn lao động có chất lượng và giá rẻ, nhưng người ta cũng đang nhận thấy ở Ấn Độ những lợi thế về nguồn lao động nói tiếng Anh và được đào tạo IT bài bản.  CA/TBD đang cho thấy hình ảnh tương lai của các nhà cung cấp IT trên thế giới. Đây là khu vực có đầu tư lớn nhất và là phần phát triển nhanh nhất của thị trường toàn cầu. Nguồn nhân lực với chất xám cao đang quay trở về một số nước CA/TBD. Các thành phố như Sydney (Australia), Mumbai (Ấn Độ), Seoul (Hàn Quốc) và Đại Liên (Trung Quốc) đang đạt đến mức độ cao của sự tập trung chất xám. Những nhà chiến lược công nghệ sẽ phải mở rộng tầm nhìn cũng như để mắt tới CA/TBD và Nhật Bản như một tâm hấp dẫn của nền công nghiệp IT toàn cầu.          T. T. D (theo Bob M. Hayward, www.gartner.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sự xuất sắc trong công trình của ba nhà khoa học Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018      Từ 9 hồ sơ vào chung kết, Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018 đã lựa chọn TS. Trần Đình Phong (Khoa Các khoa học cơ bản và ứng dụng, trường đại học KH&CN Hà Nội, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – vật lý, TS. Phạm Văn Hùng (Khoa Công nghệ sinh học, trường đại học Quốc tế TPHCM, ĐHQGTPHCM) – sinh học nông nghiệp và TS. Đỗ Quốc Tuấn (Khoa Vật lý, trường đại học KHTN, ĐHQGHN) – vật lý là những gương mặt xứng đáng để trao giải thưởng năm nay. Vậy công trình nghiên cứu của họ có gì đặc biệt và thuyết phục được Hội đồng Giải thưởng?      Sản phẩm lá nhân tạo của TS. Trần Đình Phong đang trong quá trình tách nước tạo hydro.   Tại phiên họp xét chọn ngày 25/4 vừa qua, Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018 gồm giáo sư Ngô Việt Trung (chủ tịch), giáo sư Pierre Darriulat, giáo sư Nguyễn Đức Chiến (phó chủ tịch), giáo sư Nguyễn Thục Quyên (tham gia họp trực tuyến từ California), giáo sư Hồ Tú Bảo, giáo sư Phan Văn Tân và hai phó giáo sư Nguyễn Lĩnh Toàn, Nguyễn Quốc Hưng, đã đánh giá một cách nghiêm cẩn và khách quan cả 9 hồ sơ đề cử. Hội đồng đánh giá, các công trình năm nay đều có chất lượng tốt, được xuất bản trên các tạp chí tốt và một vài trong số đó có tiềm năng ứng dụng cao trong thực tiễn. Trên cái nền chung đó, Hội đồng đặc biệt đánh giá cao công trình của TS. Trần Đình Phong, TS. Phạm Văn Hùng và TS. Đỗ Quốc Tuấn.  Cơ chế quyết định sự hình thành lá nhân tạo (artificial leaf)  Công trình “Cấu trúc polymer và cơ chế hoạt động xúc tác tạo H2 của molybdenum sulfide vô định hình” (Coordination polymer structure and revisited hydrogen evolution catalytic mechanism for amorphous molybdenum sulfide) của TS. Trần Đình Phong và cộng sự xuất bản trên Nature Materials năm 2016, một tạp chí hàng đầu về khoa học vật liệu và kỹ thuật với chỉ số ảnh hưởng (Impact factor) năm 2016 là 39.737 1. Theo số liệu của Nature thì đến nay, công trình đã có 87 trích dẫn (theo trang https://www.ncbi.nlm.nih.gov thì công trình được trích dẫn 92 lần).  Trong công trình này, bằng các phương pháp phân tích quang phổ (Raman, EPR, XPS), các phương pháp phân tích với kính hiển vi điện tử (SEM, STEM), HRTEM) cùng các phương pháp phân tích hóa học và điện hóa, TS. Trần Đình Phong và cộng sự đã chỉ ra những khác biệt cơ bản về cấu trúc và cơ chế hoạt động của vật liệu xúc tác vô định hình a-MoSx so với MoS2, đồng thời quan trọng hơn là chỉ ra các sai hỏng cấu trúc Mo-vacant, Mo=O mới thực sự là trung tâm xúc tác, qua đó gợi ý các phương pháp làm tăng hoạt tính xúc tác của vật liệu a-MoSx thông qua việc tạo ra nhiều sai hỏng cấu trúc. Với kết quả nghiên cứu này, TS. Trần Đình Phong đã sử dụng a-MoSx cùng với một xúc tác ô xi hóa nước tạo ô xi cùng một tấm pin mặt trời để chế tạo thành công một lá nhân tạo hoàn thiện có hiệu suất tách nước từ năng lượng mặt trời tạo hydro là 3%.  Công trình trên Nature Materials này là một công trình lớn, thu hút nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế tham gia, trong đó TS. Trần Đình Phong là người xây dựng ý tưởng nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm và trực tiếp tiến hành thí nghiệm tổng hợp a-MoSx cấu trúc hạt nano và màng mỏng, tiến hành các thí nghiệm phân tích điện hóa, phân tích dộng học phản ứng, phân tích hóa học, đồng thời liên hệ và thiết kế các thí nghiệm phân tích liên quan. Anh cũng là tác giả liên hệ của bài báo và trao đổi với các nhà phản biện.  Cơ chế kháng thủy phân chuyển hóa thành đường của các loại tinh bột gạo   Công trình “Khả năng tiêu hóa in vitro và sinh đường in vivo của các loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose khác nhau và tinh bột gạo biến đổi bằng phương pháp vật lý” (In vitro digestibility and in vivo glucose response of native and physically modified rice starches varying amylose contents) của PGS. TS Phạm Văn Hùng và cộng sự được xuất bản trên Food Chemistry, một tạp chí uy tín thuộc nhóm Q1 của Scimago với chỉ số ảnh hưởng là 4,529. Đến nay, theo Google Scholar, công trình được trích dẫn 21 lần 2.  Đây là một phần kết quả mà PGS. TS Phạm Văn Hùng và cộng sự thu được khi thực hiện đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ “Nghiên cứu cơ chế hình thành dạng tinh bột không bị thủy phân ứng dụng trong phòng chống các bệnh tiểu đường và béo phì” (2013-2015). Trong công trình này, các tác giả đã lựa chọn khảo sát 5 loại gạo phổ biến của Việt Nam (gạo Hàm Trâu, gạo 504, gạo 64, gạo Hương Lài và gạo nếp cái hoa vàng). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose cao chứa hàm lượng tinh bột tiêu hóa nhanh cao hơn so với loại tinh bột gạo có hàm lượng amylose thấp. Về khả năng sinh đường, nhóm nghiên cứu nhận thấy khi tinh bột bị hồ hóa, cấu trúc tinh thể của tinh bột bị phá vỡ, dẫn đến việc thúc đẩy enzyme thủy phân thành đường. Qua đó, các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng amylose và cấu trúc phân tử của tinh bột, tính chất hóa lý; cơ chế kháng thủy phân của các enzyme có trong hệ tiêu hóa của con người; các phương pháp xử lý hữu hiệu để giảm chỉ số đường huyết (GI) của các loại tinh bột gạo.  Trao đổi với Tia Sáng, PGS. TS Phạm Văn Hùng cho biết, các kết quả nghiên cứu sẽ là tiền đề cho những ứng dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm, thực phẩm chứng năng để sản xuất những sản phẩm có khả năng sinh đường thấp cho bệnh nhân tiểu đường, béo phì hay phòng chống một số bệnh mãn tính khác…  Mở rộng lý thuyết hấp dẫn phi tuyến có khối lượng lên vô số chiều  Công trình “Lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng” (Higher dimensional nonlinear massive gravity) của TS. Đỗ Quốc Tuấn xuất bản trên Physical Review D, một tạp chí chuyên về vật lý hạt, vật lý trường lượng tử, lực hấp dẫn và vũ trụ học thuộc nhóm Q 1 của Scimago 3.  TS. Đỗ Quốc Tuấn đã độc lập lên ý tưởng và giải quyết vấn đề mà các bậc tiền bối đặt ra. Dựa trên ý tưởng về không thời gian nhiều chiều trong Lý thuyết Kaluza-Klein, Lý thuyết dây và Lý thuyết siêu hấp dẫn, anh cho rằng, việc mở rộng lý thuyết lên nhiều chiều (số chiều lớn hơn 4) là cần thiết. Anh đã xây dựng số hạng graviton (hạt tương tác hấp dẫn) không có mode “ma” (ghost) trong không thời gian vô số chiều dựa trên phương trình đặc trưng của ma trận vuông, đồng thời dẫn giải chi tiết các phương trình trường lượng tử Einstein của metric vật lý và phương trình trường của metric tham chiếu. Kết quả là TS. Đỗ Quốc Tuấn chỉ ra, các số hạng graviton trở thành hằng số vũ trụ – vấn đề liên quan đến sự giãn nở gia tốc của vũ trụ và năng lượng tối, qua đó có thể giải thích từ lý thuyết hấp dẫn có khối lượng trong không thời gian vô số chiều.    Cũng trong công trình, TS. Đỗ Quốc Tuấn cũng đã tìm được một số nghiệm vũ trụ điển hình như Friedmann-Lemaitre-Robertson-Walke, Byanchi loại 1, hố đen Schwarschild-Tanghelini và giá trị cụ thể của hằng số vũ trụ hiệu dụng trong mô hình hấp dẫn phi tuyến năm chiều có khối lượng – những nhiệm đầu tiên tìm được trong lý thuyết hấp dẫn phi tuyến nhiều chiều có khối lượng.  Tia Sáng sẽ tiếp tục đăng tải những bài viết phân tích chuyên sâu về công trình nghiên cứu của các nhà nhà khoa học đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018.  —–    https://www.nature.com/articles/nmat4588  https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S030881461500309X  https://arxiv.org/abs/1602.05672        Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Sức khỏe sinh thái: Có đáng để quan tâm?      Đại dịch COVID-19 cho thấy, trong tương lai gần, chúng ta không thể bỏ qua sức khỏe sinh thái (ecological health) – mối liên hệ giữa sức khỏe con người và các điều kiện môi trường, nếu muốn có một cuộc sống khỏe mạnh.      Một cây gỗ lớn nằm trong vùng lõi Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa bị đốn hạ còn trơ gốc. Nguồn: Báo Lao động  Một thế giới nhiều rủi ro      Mặc dù đến thời điểm này, chưa nhóm nghiên cứu nào trên thế giới xác quyết về nguồn gốc của virus nhưng sự tương đồng về trình tự hệ gene giữa SARS-CoV-2 và nhóm virus họ corona đã gợi mở về khả năng dơi có thể là ổ bệnh tự nhiên của SARS-CoV-2. Tuy còn chưa rõ vật chủ trung gian nào bắc cầu cho virus từ dơi lây truyền sang người nhưng đây cũng là gợi ý để các nhà nghiên cứu khám phá về loài dơi tại một số địa điểm phân bố loài dơi lá mũi ở miền Nam Trung Quốc và một số quốc gia xung quanh, đặc biệt là Đông Nam Á bởi độ đa dạng sinh học ở khu vực này có nhiều liên quan đến các loài virus.    Câu chuyện về nguồn gốc đại dịch hé mở cho chúng ta một điều: thế giới tự nhiên còn quá nhiều bí ẩn mà chúng ta chưa thể khám phá hết. Trong quá trình sống và tương tác qua lại, thế giới tự nhiên có thể một tay hào phóng ban tặng con người nhiều món quà nhưng tay khác cũng có thể mang đến những tai ương dịch bệnh. Tại sao người ta có thể nghĩ đến những điều tồi tệ như vậy? Theo báo cáo công bố vào tháng 7/2020 của Tổ chức Nền tảng chính sách khoa học liên chính phủ về đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái (IPBES)1, ước tính có 1,7 triệu virus xuất hiện trên động vật (những vật chủ được nhận diện là nguồn gốc của những bệnh dịch mới), trong số đó có khoảng 631.000 đến 827.000 virus có khả năng lây nhiễm lên người. Trong lịch sử, 70% các dịch bệnh mới nổi và hầu hết các đại dịch đều là bệnh từ virus trên động vật. Những ổ chứa các mầm bệnh với nhiều khả năng gây đại dịch đáng chú ý nhất là động vật có vú (cụ thể là dơi, họ gặm nhấm, động vật linh trưởng), một số loài chim nước cũng như gia súc, vật nuôi (lợn, lạc đà, gà).       Ở quy mô toàn cầu, sự xuất hiện của những bệnh lây truyền từ động vật mới nổi có mối tương quan với sự đa dạng của động vật hoang dã, mật độ dân số và sự thay đổi về môi trường do con người gây ra.      Ở quy mô toàn cầu, sự xuất hiện của những bệnh lây truyền từ động vật mới nổi có mối tương quan với sự đa dạng của động vật hoang dã, mật độ dân số và sự thay đổi về môi trường do con người gây ra. Theo đánh giá của các chuyên gia IPBES, có nhiều bằng chứng chứng minh sự mất mát đa dạng sinh học  – do biến đổi khí hậu, ô nhiễm, phá hủy nơi cư trú, sự xâm lấn của các loài ngoại lai, sự khai thác các nguồn tài nguyên quá mức, chuyển đổi mục tiêu sử dụng đất đai, thị trường ngầm buôn bán động vật hoang dã… – làm gia tăng khả năng lây truyền của vi sinh vật từ động vật lên con người trong những điều kiện nhất định. Những cơ chế lây truyền hết sức phức tạp và khó xác định, ví dụ có một số vi sinh vật xuất hiện trên nhiều loài vật chủ, trong đó có những vật chủ đóng vai trò quan trọng hơn vật chủ khác.    Dưới sự thúc đẩy của biến đổi khí hậu và sự thuận tiện của các đầu mối giao thông, nguy cơ của đại dịch tiềm năng đang ngày một gia tăng. Các chuyên gia IPBES cho rằng, hằng năm có hơn năm loại dịch bệnh mới nổi rình rập và bất cứ bệnh nào cũng có khả năng lan truyền thành đại dịch. Cũng có quan điểm đổ lỗi cho thế giới tự nhiên về điều này nhưng theo báo cáo của IPBES, nhu cầu hằng ngày của gần 8 tỉ người về thịt, gỗ, lúa mì, ngô, cá, dầu cọ cũng như nhiều sản phẩm tự nhiên khác khiến chúng ta xâm lấn và khai thác thiên nhiên nhiều hơn. Ví dụ, nhu cầu về dầu cọ dẫn đến việc phá rừng và thay đổi mục tiêu sử dụng đất ở nhiều quốc gia đang phát triển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Có rất nhiều nguy cơ xảy ra từ đó, tuy nhiên không phải hậu quả nào cũng đến ngay nhãn tiền như sự gia tăng của các đàn muỗi trong các vùng đất bị khai phá và làm tăng các ca bệnh sốt rét (nên nhớ đến tháng 7/2021, WHO mới phê duyệt vaccine sốt rét đầu tiên) mà có thể phải mất một thời gian dài chúng ta mới ngấm nó một cách thực sự.     Các nhà khoa học âu lo về những rủi ro dịch bệnh liên quan đến suy thoái rừng, phá rừng bởi nó sẽ dẫn đến việc mất đi nơi cư ngụ của động vật hoang dã, qua đó khiến lan truyền các tác nhân trung gian gây bệnh, dẫn đến sự gia tăng tiếp xúc giữa động vật hoang  dã – con người – vật nuôi đồng thời tạo ra những ngả đường cho các bệnh dịch mới xâm nhập vào cộng đồng.       Lực lượng chức năng Vườn Quốc gia Cúc Phương đã tái thả hàng nghìn cá thể động vật hoang dã về tự nhiên. Ảnh: danviet.vn  Việt Nam trước nhiều nguy cơ dịch bệnh      Trong một thế giới toàn cầu hóa, những vấn đề xảy ra ở nhiều vùng đất cũng hiện hữu ở Việt Nam, một đất nước nhiệt đới ẩm gió mùa và độ đa dạng sinh học cao. Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam đang đứng trước một loạt vấn đề về môi trường sinh thái, trải dài từ nông thôn miền núi đến đồng bằng đô thị như phá rừng, suy thoái rừng, ô nhiễm nước ngầm/nước mặt, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm vi nhựa… Tất cả những điều đó khiến có thể bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể đứng trước nguy cơ rủi ro của bệnh dịch.    Có quá bi quan khi nghĩ về điều đó? Có lẽ, khi nhìn vào thực tế, hẳn nhiều người sẽ cảm thấy bất ngờ. Trong hơn thập kỷ qua, các phong trào, kế hoạch rầm rộ “phủ xanh đất trống, đồi núi trọc” đã góp phần đem lại màu xanh cho những cánh rừng bị phá, và thời gian gần đây, những vùng đất nuôi tôm ven biển đã bắt đầu biết nương vào thiên nhiên để có được sản phẩm “tôm sinh thái” nhưng ngần ấy vẫn còn chưa đủ. “Quãng thời gian những năm 1990 đến bây giờ thì độ che phủ rừng của Việt Nam đã được tăng lên với tỉ lệ từ hơn 30% lên 42%, trong đó chủ yếu là rừng trồng. Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở đây là việc gia tăng diện tích đó không song hành với việc cải thiện chất lượng rừng, thậm chí việc duy trì chất lượng rừng thực sự là thách thức”, TS. Phạm Thị Thu Thủy, trưởng đại diện Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) tại Việt Nam, một tổ chức khoa học nghiên cứu về chính sách và kĩ thuật quản lý rừng bền vững, trao đổi với Tia Sáng vào năm 2020. Chị còn cho biết thêm thông tin về một thực tại đáng lo ngại: “Trong khi diện tích rừng trồng tăng thì diện tích rừng tự nhiên lại giảm hoặc suy thoái nặng nề. Theo nhiều báo cáo khoa học, diện tích rừng tự nhiên được phân loại là rừng giàu giảm 10,2% trong khoảng thời gian sáu năm từ 1999 đến 2005 và lượng rừng chất lượng trung bình giảm 13,4% so với cùng kỳ. Đến năm 2012, rừng giàu đóng tán chỉ còn chiếm 4,6% tổng độ che phủ rừng. Trên thực tế, các rừng giàu đa dạng sinh học trên đất thấp hầu như không còn, nhất là rừng ngập mặn”.    Vào những ngày đầu năm 2022, tình huống này lại tiếp tục với một sự việc buồn: 16 ha rừng đặc dụng ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk) đã bị đơn vị thi công san ủi khi triển khai Dự án đường Trường Sơn Đông đi qua vườn quốc gia. Sau đó, trên Tuổi trẻ ngày 13/2, cán bộ Ban quản lý dự án 46 – Bộ Tổng tham mưu (Bộ Quốc phòng) thừa nhận, thêm nhiều diện tích rừng thuộc dự án đường Trường Sơn Đông qua Vườn quốc gia Chư Yang Sin và Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) chưa chuyển đổi đã bị ủi trắng2.     Có lẽ, ai cũng hiểu rằng, những cánh rừng là nơi giữ cho đất không bị xói mòn, điều hòa không khí, đảm bảo nguồn nước và nhiều giá trị khác “Việt Nam có ít nhất 25 triệu người sống phụ thuộc vào rừng, trung bình khoảng 20% thu nhập (bằng tiền và hiện vật) của những người này là từ rừng” như nhận xét của TS. Phạm Thị Thu Thủy. Mặt khác, rừng còn có những giá trị mà không phải thực thể tự nhiên nào cũng có được, đó là chức năng “gánh gồng”, góp phần giảm tải ô nhiễm không khí, một hiện trạng đang diễn ra khắp từ Bắc vào Nam trong những năm gần đây – “nếu như chúng ta so sánh giá trị trung bình của bụi PM2.5 hằng năm của các tỉnh với mức khuyến nghị của WHO (năm 2005 là 10µg/m3) thì sẽ thấy tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều vượt mức đó”, theo PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN).  Ở Việt Nam, thách thức lớn trong việc ngăn ngừa các bệnh lây truyền từ động vật sang người là chưa ưu tiên nghiên cứu về các loại bệnh này (chỉ ưu tiên nghiên cứu 5 trong số 60 bệnh từ động vật). Quan trọng hơn, phần lớn những bệnh từ động vật hoang dã có tiềm năng thành đại dịch lại không được ưu tiên, theo công bố “Hàng thập kỷ đối phó bệnh truyền nhiễm mới nổi, an ninh lương thực và kháng kháng sinh ở Việt Nam: Vai trò của Một sức khỏe” xuất bản trên tạp chí One Health.    Nhưng trước mắt, khi mọi ảnh hưởng diễn ra chưa quá tồi tệ thì vai trò của rừng và sự đa dạng sinh học ở những cánh rừng này vẫn còn chưa được quan tâm một cách thực sự. “Đến khi có chuyện xảy ra thì người ta mới bắt đầu tính đến bài toán về rừng và nhận thấy những mất mát khi không có rừng”, TS. Phạm Thị Thu Thủy nói.    Về lâu dài, theo kinh nghiệm quốc tế, quá trình phá rừng, suy thoái rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng sẽ mang con người – vật nuôi và động vật hoang dã lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, quá trình này còn được thúc đẩy nhiều hơn với một hiện trạng khác: tình trạng buôn bán động vật hoang dã. Theo báo cáo mới của Trịnh Thị Mai (Tổ chức Save Vietnam’s Wildlife SVW) và cộng sự ở CIFOR, Đại học KHXH và Nhân văn, Học viện Ngoại giao và ĐH Nông Lâm TPHCM3, “các nước châu Á là trung tâm buôn bán động vật hoang dã trên toàn cầu. Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam và Indonesia là những nước xuất khẩu động vật hoang dã lớn, trong khi Liên minh châu Âu và Nhật Bản là những thị trường nhập khẩu lớn nhất”. Vậy trong thời kỳ diễn ra COVID, tình trạng này có giảm đi? Báo cáo cho thấy, “mặc dù việc đóng cửa biên giới đã phần nào giảm số lượng buôn bán động vật xuyên quốc gia, có những bằng chứng cho thấy nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp vẫn còn rất phổ biến trên khắp Việt Nam trong thời gian COVID”: từ Sơn La, Lạng Sơn đến TPHCM, Long An.    Mặt khác, Việt Nam không chỉ là nơi xuất khẩu động vật hoang dã mà còn là thị trường buôn bán động vật hoang dã làm thú nuôi hoặc thực phẩm. “Chỉ tính riêng trong năm 2019, đã có tối thiểu hơn 2.400 trường hợp quảng cáo động vật hoang dã trên Facebook, YouTube, Zalo, Tiktok và các trang web điện tử khác. Con số này vẫn chưa có dấu hiệu giảm trong những tháng đầu năm 2020, với 424 vụ vi phạm tính đến cuối tháng 4… Hơn nữa, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng quy mô và tần suất buôn bán động vật sẽ tăng trở lại trạng thái như trước COVID-19 khi các hạn chế được dỡ bỏ, cũng như bối cảnh sau đại dịch SARS vào đầu những năm 2000”, theo báo cáo.   ***  Vào thời Đồ Đá mới, những cánh rừng trên núi đá vôi hay khu vực ven biển Ninh Bình chính là nơi đùm bọc, chở che và đem lại nguồn sống cho tổ tiên của người Việt. Thế nhưng giờ đây, chính chúng ta đang tự tay làm mất dần đi sự bảo bọc ấy. Điều đó khiến trong tương lai, chỉ thật sự may mắn, chúng ta mới có thể thoát khỏi nguy cơ dịch bệnh.□  ————–  1. https://ipbes.net/sites/default/files/2020-12/IPBES%20Workshop%20on%20Biodiversity%20and%20Pandemics%20Report_0.pdf  2.https://tuoitre.vn/chua-duoc-phe-duyet-ngang-nhien-ui-gan-16ha-rung-dac-dung-20220211111646318.htm; https://tuoitre.vn/vu-ngang-nhien-ui-gan-16ha-rung-them-nhieu-dien-tich-rung-bi-pha-khi-chua-duoc-duyet-20220213133330846.htm  3. https://www.cifor.org/publications/pdf_files/WPapers/WP277Trinh.pdf    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Sức mạnh vô hình và sự bất lực của khoa học đầu thế kỷ XX      Những chiếc bàn bay lên khỏi mặt đất, bóng ma xuất hiện, dịch chuyển đồ vật từ xa…đầu thế kỷ XX, khả năng “kỳ diệu” còn được gọi là thuật thông linh này cuốn hút cả Châu Âu. Nhiều nhà bác học như Pierre Curie, Camille Flammarion và Édouard Branly đã nhập cuộc để tìm ra cơ sở khoa học của các khả năng này.    Cuối thế kỷ XIX, sự hâm mộ của người Mỹ đối với thuật thông linh đã lan sang Châu Âu. Tại Luân Đôn, Paris, nhiều nhiếp ảnh gia “thông linh” làm xuất hiện các hình ảnh ma quái. Người dân đổ xô đi xem, còn các nhà bác học bắt đầu bán tín bán nghi. Nhà thiên văn học Camille Flammarion tin rằng “thuật thông linh không phải là một tôn giáo mà là một khoa học, khoa học mà chúng ta mới chỉ biết rất ít”. Còn Pierre Curie năm 1894 đã viết cho vợ mình là Marie Curie như thế này: “Anh phải thú nhận rằng các hiện tượng này kích thích anh rất nhiều. Anh tin rằng trong đó có các vấn đề liên quan chặt chẽ đến vật lý. Có một tác nhân vô hình chưa biết trong các hiện tượng này”.            Sự xuất hiện dải sáng giữa tay của Eva C có thể là kết quả của một kỹ xảo nhiếp ảnh.          Để phân biệt những người tham gia và những đồ vật trong bóng tối, nhiếp ảnh gia Sven Turck, tại Đan Mạch, đã dán các dải lân quang lên trán và cổ tay của người điều khiển cũng như lên bàn.            Pierre Curie không phải là người duy nhất đặt ra câu hỏi. Năm 1905, ông tham gia Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm thần, do Émile Duclaux, giám đốc Viện Pasteur, đứng đầu. Nhóm này tập hợp Arsène d’Arsonval và Étienne Jules Marey (các thành viên của Viện hàn lâm khoa học), triết gia Henri Bergson, và cả nhà vật lý học Édouard Branly. Mục đích của nhóm nghiên cứu là “khám phá cái vùng nằm ở rìa của tâm lý, sinh lý, vật lý, ở đó người ta đã tin là đã nhận thấy các biểu hiện sức mạnh còn chưa được xác định”, trong khuôn khổ một “nghiên cứu hoàn toàn khoa học, không có định kiến khẳng định hay phủ định”.  Các nhà khoa học Pháp đặc biệt quan tâm đến các hiện tượng vật lý của thuật thông linh: các đồ vật được nhấc bổng khỏi mặt đất và chuyển động, những ánh sáng lờ mờ và những bàn tay xuất hiện… Người ta có thể ngạc nhiên về sự quan tâm này. Trên thực tế, vào thời kỳ đó có rất nhiều hiện tượng vật lý mà khoa học chưa giải thích nổi. Ống catot cho thấy một “vật chất bức xạ” không nhận dạng được. Một muối rađi bức xạ liên tục một ánh sáng mạnh mà không mất vật chất. Các tia X cho phép cái mà thời đó người ta gọi là “ảnh của vô hình” nhưng bản chất của chúng vẫn chưa được làm sáng tỏ… Các bức xạ này phá vỡ tất cả các nguyên tắc bất di bất dịch điều chỉnh vật chất và năng lượng.  Lật tẩy các trò bịp  Để có thể tìm ra cơ sở khoa học hoặc lật tẩy được các trò lừa bịp, nhà vật lý học người Anh Oliver Lodge đã nghĩ đến một loạt các dụng cụ đo đếm nhằm “vật hóa” các hiện tượng dùng ý chí để điều khiển đồ vật: cân, máy ghi, bàn có chân được kiểm soát bằng điện, máy chụp ảnh điều khiển từ xa, nguồn phát tia cực tím… Việc sử dụng chúng được cụ thể hóa tại Pháp, trong khuôn khổ của Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Các nhà tổ chức đã xây dựng một “kế hoạch nghiên cứu tổng quát” nhằm làm sáng tỏ các tác dụng cơ học, nhiệt học, điện hoặc từ tính… có khả năng được sinh ra. Các công tắc điện, nằm dưới bàn, ngăn không cho người điều khiển dùng chân mình đẩy vào chân bàn. Tất cả các hiệu ứng ánh sáng đều được máy ảnh ghi lại. Cuối cùng, bản thân người điều khiển đồ vật cũng được nghiên cứu trên góc độ tâm sinh lý: tuần hoàn máu và huyết áp, thế điện… tất cả đều được ghi lại cẩn thận.           Eusapia Palladino trong một lần điều khiển đồ vật trong phòng của Camille Flammarion, có sự tham dự của Charles Richet và Paul Sabatier.     Các dụng cụ đo đếm được các nhà khoa học sử dụng để đo các hiện tượng do những người dùng ý chí điều khiển đồ vật tạo ra.     Một trong những biện pháp để kiểm tra sức mạnh tinh thần là cấm mọi tiếp xúc giữa người điều khiển và chiếc bàn được điều khiển.          Tuy nhiên, phương pháp khoa học này đã không được áp dụng đầy đủ. Bởi theo những người dùng ý chí điều khiển đồ vật, để điều khiển từ xa các vật bay lên và chuyển động, cần phải rất thận trọng: tuân thủ các điều kiện vật chất (như bóng tối) và tâm lý (sự thành tâm của những người quan sát). Hơn nữa, các hiệu ứng không phải lúc nào cũng xảy ra, ngay cả khi các điều kiện là đồng nhất và thuận lợi. Cuối cùng, các hiệu ứng này có thể chỉ thoáng qua, cần phải bắt giữ chúng ngay khi chúng thoáng xuất hiện, và phải chấp nhận tính “đồng bóng” của chúng.  Theo nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli, không thể áp dụng phương pháp khoa học, vì những người điều khiển nhất định khăng khăng với các điều kiện của mình. “Cần phải sử dụng một phương pháp khác táo bạo hơn, giống như phương pháp điều tra của cảnh sát”. Đó là điều mà các nhà sử học hiện nay gọi là “phương pháp dấu hiệu”. Phương pháp này dựa trên không phải một biến thiên các điều kiện của thực nghiệm mà dựa trên quan sát, phân tích các dấu hiệu và đối chiếu lời khai. Vậy là Nhóm nghiên cứu lại áp dụng phương pháp mới đòi hỏi khả năng tốc ký chính xác và các kỹ thuật đo đếm hiện đại. Các nhà khoa học dần dần nhận thấy rằng họ phải có các dụng cụ mới. Vì thiếu thực nghiệm, họ phải chấp nhận quay trở lại quan sát, nhân chứng và lời khia, nền tảng của bằng chứng khoa học thế kỷ XVII.  Không thể nghi ngờ được nữa  Từ 1905-1907, Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm lý tổ chức hơn bốn mươi cuộc nghiên cứu với Eusapia Palladino, một phụ nữ nổi tiếng sống ở miền Nam nước Ý. “Dù bị trói chặt trên một chiếc ghế hoặc bị những người tham dự giữ chặt, nhưng Eusapia vẫn hút được về phía mình các đồ vật xung quanh, nhấc chúng lên và giữ chúng lơ lửng trên không”. Chứng kiến khả năng của Eusapia, nhà tâm thần học người Ý Cesare Lombroso, mặc dù ban đầu rất hoài nghi đã thừa nhận khả năng điều khiển đồ vật bằng ý chí.  Vài ngày trước khi đột ngột qua đời, Pierre Curie còn ghi trong cuốn sổ tay của mình: “Kết quả, đó là các hiện tượng tồn tại thật và tôi giờ không thể nghi ngờ được nữa”. Trên thực tế, hầu hết những người tham gia vào các buổi thực nghiệm, dù họ có là nhà khoa học hay không, đều tin vào cái họ nhìn thấy. Tuy nhiên, báo cáo cuối cùng được công bố năm 1908 lại tỏ ra thận trọng hơn nhiều. Báo cáo thừa nhận không thể giải thích một số hiện tượng và yêu cầu tiến hành các thực nghiệm mới. Sau đó vì những lý do huyền bí như chính những hiện tượng này, các nghiên cứu đã rơi vào quên lãng và dần biến khỏi sân khấu khoa học.  Phước Vĩnh    Nguồn tin: Theo La Recherche      Author                Quản trị        
__label__tiasang Sụt lún ở ĐBSCL: Chọn nước ngầm hay đất ?      Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể trở thành một phiên bản châu Á của Hà Lan – vùng đất thấp hơn mực nước biển, nếu không có các biện pháp hạn chế tình trạng khai thác nước ngầm quá mức.      Sụt lún ven sông ở ĐBSCL. Nguồn: baocantho.com  “Toàn bộ tỉnh Cà Mau có thể biến mất hoàn toàn trong vài thập niên tới.” – Đây là những lời cảnh báo của Viện Địa kỹ thuật hoàng gia Na Uy (NGI) cho Việt Nam hồi năm 2013, trong hội thảo công bố giai đoạn 1 dự án “Sự sụt lún đất của bán đảo Cà Mau” phối hợp với Bộ NN-PTNT. Dữ liệu vệ tinh của họ cho thấy trong 20 năm qua, bờ biển, đặc biệt là bờ Đông Cà Mau đã bị lùi vào từ 100 – 1.400m. Đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ rộng thứ ba thế giới, đóng góp đến hơn 50% sản lượng gạo và thủy sản toàn quốc, đang chìm dần và trở thành nơi khó sinh sống hơn, do tình trạng sụt lún đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Theo nghiên cứu của NGI, chỉ riêng tại Cà Mau, độ sụt lún đã lên đến 70cm ở nhiều nơi và có có thể đạt từ 80 tới 150cm trong vòng hai thập kỷ tới. Và vì chỉ cao hơn mực nước biển từ 1 đến 1,5m, Cà Mau hoàn toàn có khả năng bị xóa sổ, kế đến là các tỉnh ven biển lân cận.  Tại hội nghị Khoa học và Công nghệ chuyên ngành Thủy lợi và Phòng chống thiên tai (24/8/2018) GS.Tăng Đức Thắng Phó giám đốc Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam, nhận xét các hệ thống đồng bằng thấp như ĐBSCL được bồi đắp từ trầm tích của các con sông nên đất mềm yếu, dễ bị xói, sạt, trượt và tan rã. Chỉ trong thập kỷ qua, 85% các đồng bằng châu thổ lớn trên thế giới đã phải hứng chịu lũ lụt nghiêm trọng, khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng. Và dù các nhà nghiên cứu đã ghi nhận sự sụt lún ở nhiều đồng bằng rộng lớn, mãi đến năm 2014, mới có duy nhất một công bố về những bằng chứng ít ỏi đầu tiên rằng ĐBSCL, nơi có diện tích khoảng 55.000 km2, đang chìm. Sử dụng công nghệ InSAR (Radar khẩu độ tổng hợp giao thoa ), nhóm nghiên cứu do nhà địa chất thủy văn Laura Erban tại ĐH Stanford (California) dẫn dắt, đã đo đạc được tốc độ sụt lún trung bình từ 1 – 4,7cm/năm, và công bố trên Environmental Research Letters.  Mỗi năm lún 1cm do khai thác nước ngầm  Để hiểu hơn về tình trạng sụt lún ở ĐBSCL, năm 2015 trường Đại học Cần Thơ đã cùng với Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, Liên Đoàn Địa chất Thủy văn và Khoa Khoa học Trái đất, thuộc ĐH Utretch (Hà Lan) bắt tay thực hiện “Chiến lược thích ứng với sụt lún và đô thị hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam nhằm ứng phó với tình trạng xâm nhập mặn gia tăng” (RISE&FALL) – một dự án có tổng ngân sách 1 triệu USD và kéo dài trong 5 năm.  Chỉ sau gần một năm điều tra, các nhà khoa học nhận thấy có hai tác nhân chính gây ra tình trạng sụt lún: những đê bao sông – đã ngăn chặn trầm tích từ sông vào bồi đắp cho đồng bằng; và hơn một triệu giếng khoan nước ngầm được khai thác từ những năm 1980, làm giảm áp lực nước lỗ rỗng và gây nén lớp trầm tích ở hệ thống tầng ngậm nước, thể hiện dưới dạng lún đất của bề mặt đồng bằng. Trả lời phỏng vấn tạp chí Science trong buổi họp khởi động dự án Rise & Fall tại Cần Thơ, nhà nghiên cứu địa chất Esther Stouthamer (ĐH Utrecht) cho biết dù còn ảnh hưởng từ một số yếu tố khác như nền đất bị nén do sức nặng từ các công trình hạ tầng, xâm nhập mặn làm suy yếu liên kết hóa học giữa các hạt đất, làm cho các lớp đất dễ bị nén hơn; nhưng “nước ngầm có lẽ là nguyên nhân chính”. Điều này phù hợp với các kết quả nghiên cứu về sụt lún tại nhiều đồng bằng châu thổ khác như sông Hoàng Hà, Chao Phraya, Tô Châu, Thượng Hải, Jakarta: khai thác nước ngầm là tác nhân chính.  Ý tưởng “nước ngầm là thủ phạm chính gây ra tình trạng sụt lún” rất nhạy cảm, bởi nó động chạm đến một trong những yếu tố sống còn ở vùng đồng bằng có tới 65% diện tích được sử dụng cho nông nghiệp. Tại ĐBSCL, nước ngầm đang là nguồn cung chính cho nhu cầu về nước ngọt ngày càng gia tăng nhanh chóng sau Đổi mới, nhờ vào kích thích canh tác, đô thị hóa và công nghiệp hóa, cùng với việc nước mặt thường bị ô nhiễm hoặc nhiễm mặn. Ngày nay hơn một triệu giếng nước ngầm đã được khoan nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Ngoài ra, việc phát triển nuôi thủy sản cũng góp phần đáng kể khi chủ trang trại bơm nước ngầm để làm ngọt ao, khử mặn. Trong 27 năm qua, do khai thác tăng mạnh, tài nguyên nước ngầm ở ĐBSCL giảm 26cm/năm. Tốc độ suy giảm các đầu thủy lực (tức mực nước ngầm) là khoảng 30m/năm, dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian từ 79 giếng giám sát tại 18 địa điểm. Sự nén chặt của các lớp trầm tích ở các vị trí này được tính toán là gây lún đất với tốc độ trung bình 1,6cm/năm.    Độ cao so với mặt nước biển của đồng bằng sông Cửu Long so với sụt lún lũy tích mô phỏng qua 25 năm. Nguồn: Miderhoud và các cộng sự.  Bằng chứng về giảm mực nước ngầm gây sụt lún ở các điểm quan sát đã rõ ràng, tuy nhiên, để có thể khẳng định trên quy mô toàn bộ vùng ĐBSCL lại không đơn giản. Vì các phương pháp đo lường truyền thống như InSAR gặp nhiều hạn chế, các nhà nghiên cứu của Rise & Fall phải sử dụng một cách tiếp cận hoàn toàn mới – mô hình số liệu thủy văn và lún đồng bằng 3D đầu tiên của ĐBSCL, để so sánh sụt lún liên quan đến khai thác nước ngầm và tổng sụt lún InSAR. Với mô hình mới, nhóm ước lượng rằng hiện tốc độ sụt lún trung bình liên quan đến nước ngầm ở ĐBSCL nằm trong khoảng 1,1cm/năm, có những địa phương lên tới hơn 2,5cm/năm. Tại TP HCM, tốc độ sụt lún là khoảng 7cm/năm. Như vậy, khai thác nước ngầm đã khiến ĐBSCL chìm trung bình khoảng 18cm trong hơn 25 năm qua. Nếu tiếp tục khai thác với tốc độ hiện tại, đất sẽ lún khoảng từ 35 đến 140cm vào năm 2050, cộng với mực nước biển dâng khoảng 10cm/năm sẽ tăng rủi ro ngập lụt, bão dâng. Nhiều chuyên gia cho rằng, ĐBSCL có thể trở thành một phiên bản châu Á của Hà Lan – vùng đất thấp hơn mực nước biển, được bảo vệ bởi những con đê cao.  Nước ngầm không thể miễn phí  Các kết quả đo đạc này nghiêm trọng hơn nhiều so với dự tính ban đầu của nhóm nghiên cứu dự án Rise&Fall. Tốc độ sụt lún lên tới 1-3cm/năm và tiếp tục tăng, khiến ĐBSC – mảnh đất màu mỡ là nơi ở của hơn 20 triệu người và sản xuất lương thực cho gần 200 triệu người khác, vốn chỉ cao hơn 1-2m so với mực nước biển, phải đối mặt với thảm họa lớn, nếu không có các biện pháp ngăn chặn. Vì lý do này, sụt lún đồng bằng nên là một vấn đề ưu tiên khi hoạch định chính sách phát triển tổng thể, đặc biệt là các chiến lược chính sách nhằm hạn chế sụt lún do khai thác nước ngầm.  Thực tế, dự báo về việc khai thác nước ngầm quá mức đã diễn ra từ lâu. Ngay từ năm 2008, báo cáo của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước cho miền Nam Việt Nam (DWPRIS) đã chỉ ra là nhu cầu về nước ngầm đang tăng khoảng 10%/năm. Dự kiến đến năm 2020, tổng nhu cầu nước ngầm cho tất cả các hạng mục dự kiến là khoảng 5 triệu m3. Tuy nhiên, tổng dự trữ nước ngầm ước tính hằng năm chỉ là 4,5 triệu m3, tương đướng 88% nhu cầu dự kiến. Điều này nhanh chóng dẫn đến việc khai thác nước ngầm quá mức.  “Việt Nam nên ngừng khai thác nước ngầm càng sớm càng tốt,” ông Tom Kompier, Bí thư thứ nhất về Nước và Khí hậu của Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan đề xuất, trong buổi công bố báo cáo Tác động của 25 năm khai thác nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long  (2/6/2017) – “Thay vì sử dụng nước ngầm, cần đầu tư nhiều hơn vào việc cải tạo kênh để giúp nông dân có nước sạch để canh tác.”  Khuyến nghị của ông Kompier dựa trên cơ sở rằng nước dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp ở các vùng nông thôn ở ĐBSCL chiếm đến gần 80% khối lượng nước ngầm được khai thác. Trong khi nước cho các đô thị và khu công nghiệp phải có giấy phép khai thác, các giếng khoan nhỏ ở nông thôn, do các hộ tự quản lý và khai thác lại đang diễn ra một cách tự phát, khó quản lý. Do vậy, tình trạng khai thác nước ngầm quá mức thường diễn ra ở nhóm đối tượng này, người dân khai thác ồ ạt, không kiểm soát khối lượng do Chính phủ Việt Nam không tính phí cho lượng nước sử dụng.  Hiện tại việc hạn chế việc khai thác nước ngầm tự phát của hộ gia đình vẫn chưa được chú trọng. Trong 13 tỉnh, thành phố trực thuộc và tính thêm cả TP HCM, mới chỉ mới có TP HCM ra Quyết định số 69/QĐ-UBND nhằm hạn chế và cấm khai thác nước dưới đất ở một số khu vực trên địa bàn thành phố vào năm 2007. Tuy nhiên, các quy đình này vẫn không được tuân thủ chặt chẽ, tình trạng khai thác nước ngầm trái phép vẫn diễn ra phổ biến; dù quy định rất cụ thể về khu vực nào hạn chế, cấm và ở mức độ nào. Luật Tài nguyên nước 2010 cung cấp khung pháp lý để tính phí sử dụng nước ngầm cho mục đích thương mại, nhưng các công ty chỉ phải trả tiền một lần cho phí đăng ký và đánh giá. Họ không phải trả tiền cho khối lượng nước ngầm sử dụng, trong khi chi phí xử lý nước ngầm trung bình khoảng 600VNĐ/m3, so với 11.265VNĐ/m3 của nước máy bơm. Chi phí sử dụng quá thấp, thậm chí là bằng không như vậy dẫn đến tình trạng người dùng không có động lực để sử dụng nước ngầm hiệu quả.  Để đối phó với tình trạng này, trong hội nghị Động lực tăng trưởng kinh tế bền vững và bao trùm của Việt Nam (29/8/2018), TS Lê Việt Phú, ĐH Fulbright Việt Nam đề xuất cần phải coi nước là hàng hóa khan hiếm và người dùng phải trả giá để được sử dụng nước, theo đúng giá trị gia tăng mà nó tạo ra cho xã hội. Tính phí sử dụng nước ngầm sẽ là biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế tình trạng khai thác, sử dụng nước ngầm bừa bãi, lãng phí. Nghiên cứu của TS. Phú về Giá trị của nước ngầm phục vụ tưới tiêu ở Việt Nam đã ước tính ra mỗi hectare tiêu tốn khối lượng nước ngầm có giá trị là 6,32 triệu VNĐ/năm, tương đương khoảng 1/3 thu nhập ròng trên mỗi ha đất. Như vậy, tổng giá trị của nước ngầm cho tưới tiêu nông nghiệp không thấp hơn 1.200 tỷ VNĐ trong năm 2010. Điều này là những cơ sở vững chắc ban đầu cho việc đề xuất thu phí sử dụng nước ngầm. Tuy nhiên, điều này sẽ đòi hỏi nhiều nguồn lực, thời gian và phải đối mặt với nhiều thách thức – đặc biệt là sự phản đối từ người dân. Vì thế, việc tuyên truyền, giáo dục về các tác hại của việc sử dụng nước ngầm cũng như phát triển các giải pháp tiết kiệm nước sạch, xử lý nước mặt cũng cần được tiến hành đồng thời và song song.  Phép đo đầu tiên cho các khu vực chịu đa ảnh hưởng  Công cụ InSAR, được dùng phổ biến để đo biến dạng bề mặt đất trên khu vực rộng, lại đặc biệt khó dùng ở ĐBSCL, bởi các đặc tính tán xạ thay đổi suốt cả năm ở phần lớn khu vực, do sự thay thế của vựa lúa – vùng ngập. Các nhà nghiên cứu thuộc dự án Rise&Fall đã sử dụng mô hình tính toán dòng nước ngầm 3D ở mặt dưới bề mặt, từ đó mô phỏng mức sụt giảm nước ngầm dựa trên chuỗi thời gian đo được của đầu thủy lực và ước tính lịch sử khai thác. Sau đó, họ tính toán hệ thống tầng ngậm nước hợp nhất tương ứng bằng cách sử dụng module lún kép 1 chiều. Cách tiếp cận này cho phép đánh giá sự sụt lún do khai thác nước ngầm ở quy mô toàn đồng bằng, và tạo điều kiện cho việc phân tích sự suy giảm đầu thủy lực và sụt lún tương ứng trong giai đoạn mô hình hóa, từ đó phục vụ cho điều tra lún ở các khu vực tương tự như ĐBSCL – đồng thời bị đe dọa bởi cả sụt lún và nước biển dâng.  Nguồn:  Laura E Erban et al (2014), Groundwater extraction, land subsidence and sea-level reise in the Mekong Delta, Vietnam; Enviromental Research Letters  P.S.J Minderhoud et al (2017), Impacts of 25 years of groundwater ectraction on subsidence in the Mekong Delta, Vietnam  Le Viet Phu (2017), Hidden in Plain Sight: The Value of Groundwater Irrigation in Vietnam  http://science.sciencemag.org/content/348/6237/845  https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/ca-mau-se-bien-mat-25387.html  http://www.futureearth.org/blog/2014-apr-4/quiet-sinking-worlds-deltas    Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Suy nghĩ về vai trò của  toán học trong xã hội      Dù hơn hai ngàn năm nay toán học đã chứng tỏ mình như một đỉnh cao trí tuệ của con người, xâm nhập vào hầu hết các ngành khoa học và là nền tảng của nhiều lí thuyết khoa học quan trọng, nhưng với không ít người, vai trò của “nữ hoàng khoa học” trong đời sống xã hội vẫn còn là đối tượng tranh luận.    Trong cuộc tranh luận đó luôn có hai luồng. Một luồng đánh giá cao vai trò của toán học, trong khi luồng khác nghi ngờ vai trò của nó, thậm chí phủ định[1]. Thực tế này khiến chúng ta phải đặt lại câu hỏi: toán học có vai trò đến đâu trong xã hội chúng ta (trong khoa học tự  nhiên vai trò của toán học không cần bàn cãi) và vì sao xã hội chưa thấy hết vai trò của toán học.   Vì sao xã hội không thấy hết vai trò của Toán học?  Từ thế kỷ mười chín trở về trước, một  nhà toán học có thể vừa là nhà vật lí, nhà triết học hay nhà tự nhiên học. Sang thế kỷ hai mươi khi toán học đã trở thành một ngành độc lập, phần lớn các nhà toán học cũng trở thành những nhà toán học thuần túy, xa rời và ít quan tâm đến những vấn đề thực tế. Phần lớn thời gian của họ được dành để giải quyết các vấn đề phát triển nội tại của toán học vốn ngày càng phức tạp hay các vấn đề khoa học hàn lâm khác theo kiểu “toán học vị toán học”, tương tự như trào lưu “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Hiện tượng này thực ra không có gì lạ, vì như lời một học giả, mỗi khi một sự vật nào đó đã tích lũy được một lượng tri thức nhất định, nó sẽ bắt đầu sống đời sống riêng của nó, ngoại trừ một phần tri thức sẽ ra phục vụ bên ngoài còn phần lớn là đời sống nội tại của chính nó. Toán học cũng không nằm ngoài qui luật này. Nội tại của nó phong phú tới mức “thậm chí ngay một bộ phận nào đó của toán học thuần túy đã rộng lớn đến mức vượt qua khả năng thấu hiểu của con người”[2].   Thế nên dù vai trò của toán học trong các ngành khoa học tự nhiên là vô cùng to lớn, trong con mắt xã hội hình ảnh các nhà toán học cùng những lý thuyết toán học của họ trở nên xa lạ. Năm 1980 tại Warszawa tác giả bài viết này đã chứng kiến cuộc chia tay với Kazimierz Kuradowski, nhà toán học lớn của thế giới, một chuyên gia hàng đầu về Topo: Chỉ một thông báo nhỏ trên báo Đảng và một đoàn người không đông gồm đồng nghiệp và học trò đưa tiến ông đến nới an nghỉ cuối cùng. Cùng thời gian đó có hàng vạn người hâm mộ theo sau đám tang của một vận động viên thể thao nổi tiếng. Những người làm toán chắc không tránh khỏi chạnh lòng dẫu họ rất hiểu nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn (như cụ Nguyễn Du đã từng viết trong Truyện Kiều: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”).  Sự thật là toán học có vai trò rất to lớn trong đời sống thường ngày nhưng không dễ nhìn thấy. Nó có mặt trong các thiết bị được sử dụng rộng rãi nhưng thường bị che lấp bởi công nghệ. Liệu có bao nhiêu khách hàng thuê bao điện thoại biết được để mạng điện thoại vận hành thông suốt có sự đóng góp không nhỏ của thuật toán đơn hình – một thuật toán cơ bản của lí thuyết qui hoạch toán học. Hàng loạt các thiết bị gia dụng thông minh ngày nay được tích hợp các phương pháp của logic mờ. Những người làm công ăn lương vẫn nhận tiền qua các máy ATM nhưng mấy ai biết nếu không có các thuật toán an toàn trong đó thì số tiền của họ sẽ không cánh mà chui vào túi của đạo chích. Và đó cũng chỉ là một số ví dụ đơn cử.  Nhiều tri thức toán học, ngay cả toán học đơn giản ở bậc phổ thông, có thể ứng dựng hiệu quả vào đời sống nhưng đòi hỏi những kĩ năng nhất định và một thói quen nhất định. Trang bị những kĩ năng này là công việc của nhà  trường và sự rèn luyện của bản thân mỗi người. Nhưng trên thực tế, rất ít người, kể cả những người có học vấn tương đối, thực hiện những kỹ năng này. Không chỉ ở những nước còn lạc hậu mà ngay tại những nước tiên tiến như Hoa Kỳ, theo nhận xét của Andrei Okunkov, nhà toán học Nga đoạt giải Fields, giáo sư  Đại học Princeton, người Mỹ đều mong muốn trở nên giàu có khi về già nhưng không mấy ai biết vận dụng một số kĩ năng của lí thuyết xác suất khả dĩ có thể giúp họ đưa ra những quyết định có lợi cho việc thực hiện giấc mơ của mình [2].  Vài suy nghĩ về vai trò của toán học trong  xã hội    Hơn một trăm năm trước Karl Marx đã nói rằng một ngành khoa học chỉ trở nên hoàn thiện khi nó sử dụng được ngành khoa học định lượng-đó là toán học. Lịch sử phát triển các ngành khoa học tự nhiên đã hoàn toàn khẳng định luận điểm này của Marx. Nhưng luận điểm đó còn đúng cả với nhiều lĩnh vực xã hội.   Được thôi thúc bởi khát vọng tìm kiếm và sáng tạo, các nhà toán học đã không dừng lại ở các ngành khoa học tự nhiên mà chuyển sang cả các lĩnh vực xã hội. Trong nửa đầu thế kỷ hai mươi họ đã cho ra đời không ít công cụ toán học có thể áp dụng để phân tích bản chất các quá trình xã hội: các phương pháp thống kê xã hội, lí thuyết toán học các xung đột và hợp tác(lí thuyết trò chơi), các mô hình toán học trong kinh tế, phương pháp phân tích hệ thống, lí thuyết các hệ động lực. Một số nhà toán học đã giành được giải Nobel, một giải thưởng khoa học danh giá vốn không dành cho các nhà toán học, như Kantorovich – Nhà toán học Nga, “vì những đóng góp vào lí thuyết phân bố tối ưu tài nguyên” và John Nash – nhà toán học Mỹ, “vì các công trình về lí thuyết trò chơi”.   Từ đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước sự ra đời của máy tính điện tử đã tạo ra một bước ngoặt mới cho việc áp dụng toán học vào xã hội, và ở chừng mực nào có thể nói từ đây toán học cũng đã trở thành một ngành khoa học thực nghiệm giống như vật lí, hóa học, sinh học và một số ngành khác. Nghĩa là ban đầu các quá trình xã hội được mô hình hóa dưới dạng ngôn ngữ toán học (gọi là mô hình toán học-hệ thống các tương quan toán học mô tả dưới dạng thu gọn quá trình xã hội), sau đó chúng được chạy trên máy tính điện tử và có thể được thử đi thử lại nhiều lần. Trên cơ sở đó, người ta đã thu được nhiều kết quả quan trọng.   Các nhà toán học còn tiến xa hơn, họ đã không dừng lại ở việc mô phỏng các quá trình xã hội ở qui mô nhỏ, vừa, mà thậm chí còn mô phỏng cả những vấn đề ở tầm hành tinh. Từ đây đã ra đời một lĩnh vực liên ngành rộng lớn: mô hình hóa toàn cầu (global modeling) và nhiều hướng mới trong khoa học: lí thuyết toán học về phát triển, lí thuyết các hệ sinh thái, lí thuyết quyết định v.v. Qua đó con người đã thu được rất nhiều thành tựu cho phép phát hiện ra bản chất của các quá trình chính trị-xã hội.    Toán học không chỉ góp phần vào phân tích và khám phá những bí mật của các quá trình xã hội, toán học còn là bộ phận cấu thành không thể thiếu của những sản phẩm phục vụ đời sống hằng ngày: các hàm băm toán học (hash functions) trong các cấu trúc an ninh của hệ điều hành máy tính, các thuật toán bảo vệ dữ liệu cá nhân và xác thực danh tính  trong các thẻ giao dịch tài chính, ngân hàng, các thuật toán tạo chữ kí điện tử thay thế chữ kí tay, tổ hợp các thuật toán trong chứng thư điện tử được sử dụng trong giao dịch điện tử, công nghệ toán học mờ (Fuzzy Mathematics) trong các thiết bị điều khiển và các thiết bị gia dụng. Có vô vàn những ví dụ khác mà người ta có thể kể ra.              Những hạn chế  Tuy nhiên theo ý kiến của  nhiều nhà khoa học, những thành tựu của việc áp dụng toán học vào khoa học xã hội còn rất hạn chế, và rất khiêm tốn so với những thành tựu của nó trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Ví như trong kinh tế học, nơi toán học được áp dụng sớm nhất và đạt nhiều thành tựu nhất, nhưng trên thực tế vẫn chưa thể phán ánh hết được những hiện tượng quan trọng nhất của kinh tế [5].   Việc ứng dụng toán học vào xã hội có những đặc thù riêng là nguyên nhân của hạn chế nói trên. Muốn áp dụng toán học nhà toán học phải xây dựng được mô hình toán học – tập hợp các quan hệ toán học phán ảnh những khía cạnh định  lượng của các quá trình xã hội. Đây được coi là khâu khó nhất; thứ đến mới là công việc giải mô hình, tức là giải các vấn đề toán học trên đó. Nhưng khi xây dựng mô hình các nhà toán học phải làm việc với đối tượng có bản chất hoàn khác với các đối tượng của tự nhiên, tính bất định cao hơn, nhiều yếu tố ngẫu nhiên hơn, và nếu mô hình muốn tính đến cả hành vi xã hội bao gồm hành vi của tổ chức và con người thì có lẽ như Andrei Okunkov đã nói “ở đây toán học chạm vào ranh giới của cái không thể ”[2].   Hơn nữa muốn xây dựng được mô hình toán học phản ánh được các quá trình xã hội đòi hỏi các nhà  toán học phải  xâm nhập sâu vào các quá trình đó và hợp tác chặt  chẽ với các nhà nghiên cứu xã hội. Điều này không phải nhà  toán học nào cũng sẵn sàng hoặc không phải lúc nào cũng có điều kiện. Nikita Moiseev – người có cống hiến to lớn trong ứng dụng toán học vào xã hội, cho biết để xây dựng  các mô hình kinh tế ông đã phải vừa học vừa làm trong hơn mười năm. Paul Embrechts, người đã cảnh báo về khủng hoảng tài chính thế năm 2008, là một nhà toán học đã dành nhiều năm làm việc cho giới tài chính.    Trong sự hợp tác giữa toán học và các ngành xã hội, tất nhiên sẽ có sự đụng độ giữa  hai lối tiếp cận, hai kiểu tư duy: với các nhà toán học là sự chặt chẽ, chính xác; với các nhà xã hội là tính khuynh hướng, sự ước lệ trong ngôn ngữ. Vì vậy chỉ có thể xây dựng được mô hình toán học cho các quá trình xã hội khi biết kết hợp các phương pháp của toán học với kĩ thuật phân tích của xã hội học, một việc mà trong thực tế không phải lúc nào cũng làm được. Hơn nữa kết quả thu được bao giờ cũng là phương án thỏa hiệp. Do đó dù mô hình toán học tốt đến đâu cũng  chỉ là phương án thu gọn thực tiễn, và chỉ phán ánh một số khía cạnh nào đó của sự vật, khiến những kết luận mà chúng đem lại thường là  đối tượng gây tranh cãi và không được xem là “các định lí về xã hội”. Một đặc điểm nổi bật nữa của một mô hình toán học trong xã hội là việc thử nghiệm trên thực tế đòi hỏi đầu tư tốn kém nhân lực và vật lực, hơn nữa lại không thể lặp đi lặp lại nhiều lần như ở các thí nghiệm vật lí hoặc hóa học.    “Hãy đo, dù không phải lúc nào cũng đo được”           Quá trình sản xuất và đời sống ngày càng được tự động hóa thì xã hội ngày càng trở nên nhân tạo và vai trò của toán học ngày càng lớn. Dĩ nhiên không phải hiện tượng xã hội nào cũng có thể được mô phỏng qua mô hình toán học, nhưng không gì có thể ngăn cản sự tò mò, sáng tạo và khát khao chinh phục những vùng đất mới của các nhà toán học. Hàng ngàn năm trước nhà triết học Socrates đã nói  “Hãy đo, hãy đo, dù không phải lúc nào cũng đo được”. Các nhà toán học một cách ý thức hay vô thức hình như đang đi theo lời kêu gọi đó. Họ trở thành một lực lượng đông đảo, có đóng góp lan tỏa rộng khắp trong đời sống. Toán học ngày nay đã trở thành một nghề nghiệp, đảm bảo việc làm cho hàng chục vạn người làm toán trên thế giới, góp phần phát triển và ổn định xã hội. Chỉ ngần ấy đủ cho thấy vai trò không thể phủ định của toán học trong xã hội.   ———————  Tài liệu tham khảo  [1] Người làm toán giỏi: Rất lãng phí –Vietbao.vn 21/2/2006  [2] Anerei Okunkov nói về toán học– Tia sáng 20/11/2011  [3] Nguyễn Tiến Dũng: Nhà toán học đã cảnh báo khủng hoảng tài chính.Zung.Zetamu.net 8/10/2011  [4] John Forber Nash: Wikipedia  [5] Nikita Moiseev- Chia tay với sự giản đơn (Bản tiếng nga).Moskva 1998  [6] Dennis Meadows,Donella Meadows,Jorgen Renders: The Limits to growth  [7] Jorgen Stig Norgard, John Peet: The  History  Limit to Growth  [8] N.Moiseev, V Alexandrov, A. Tarko: Con người và sinh quyển (Tiếng Nga)-Moskva 1985    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác động của khoa học và công nghệ đến phát triển kinh tế: Cần cẩn thận trong cách diễn giải kết quả      Trong một phân tích về mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và năng lực công nghệ gần đây [1], hai tác giả kết luận rằng “khi chỉ số năng lực công nghệ chung tăng 1% thì chỉ số phát triển kinh tế sẽ tăng thêm được 1,2298%; sự phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 có liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ là 73,52%.” Tuy nhiên, đọc kĩ bản phân tích, tôi nghĩ cách diễn giải trên có lẽ không phù hợp với số liệu, và quan trọng hơn có vài vấn đề về phương pháp phân tích có thể ảnh hưởng đến sự hợp lí của kết luận này. Bài viết ngắn này sẽ bàn qua ba vấn đề chính: diễn giải kết quả phân tích, mô hình phân tích, và vấn đề logic trong suy luận quần thể.      Tóm lược kết quả phân tích      Để đánh giá mức độ tác động của khoa học và công nghệ đến phát triển kinh tế, các tác giả đã tiến hành một công trình nghiên cứu có thể nói là “tham vọng”, bằng cách điều tra và thu thập dữ liệu từ 34 tỉnh / thành (tôi sẽ gọi tắt là “địa phương” cho tiện) trên bình diện toàn quốc. Các dữ liệu chính liên quan đến bài viết gồm 4 chỉ số sau đây:          *  chỉ số phát triển kinh tế, là hàm số của tốc độ tăng GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ giá trị xuất khẩu, thu ngân sách so với GDP. Để tiện cho việc phân tích, chúng ta tạm gọi chỉ số này là kinhte;      * chỉ số đổi mới công nghệ (doimoi);      * chỉ số chuyển giao công nghệ (chuyengiao); và      * chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông (cntt).  Ngoài 3 chỉ số doimoi, chuyengiao, và cntt, một chỉ số khác có tên là “năng lực công nghệ” (nangluc) được tính toán theo công thức sau:   nangluc = doimoi/8 + chuyengiao*3/8 + cntt/2   Các chỉ số kinhte, doimoi, chuyengiao và cntt được thu thập trong thời gian 5 năm (từ 2001 đến 2005). Sau đó, các tác giả tính trung bình của 5 năm cho 4 chỉ số trên cho từng địa phương, và kết quả có thể tóm lược trong bảng số liệu dưới đây (xem Bảng 1).  Do đó, nangluc thực chất là trung bình của nhiều số trung bình.     Hai tác giả tiến hành phân tích mối liên hệ giữa kinhte và nangluc qua mô hình hồi qui tuyến tính như sau:  kinhte = a + b×nangluc + e                   [1]  Mô hình có hai thông số: a phản ảnh chỉ số kinh tế trung bình khi nangluc=0 (còn gọi là intercept), và b là hệ số liên quan đến chỉ số năng lực (còn gọi là gradient). Do đó, a+b×nangluc chính là giá trị kì vọng hay chỉ số phát triển kinh tế trung bình với một chỉ số năng lực công nghệ trung bình. Mô hình còn có e là phần dư (residuals), tức là phần không thể giải thích bằng a + b×nangluc. Qua phân tích số liệu thực tế, các tác giả có được phương trình như sau:  kinhte = -0,1023 + 1,1298×nangluc  và diễn giải rằng “khi chỉ số năng lực công nghệ tăng lên 1% thì chỉ số phát triển kinh tế sẽ tăng thêm được 1,2298%”, và “với hệ số xác định R2 = 0,7352. Nghĩa là, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, sự tăng lên của phát triển kinh tế trong giai đoạn 2001-2005 được giải thích liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ là 73,52%.”  Xin mở ngoặc ở đây để nói thêm rằng có lẽ các tác giả viết nhầm 1,1298 thành 1,2298.  Tuy nhiên, tôi e rằng cách diễn giải này không phù hợp với số liệu thực tế (vì thông số liên quan đến nangluc là 1,1298) và quan trọng hơn là phương pháp phân tích có thể có vấn đề về logic. Do đó, ở đây, tôi chỉ bàn đến ba vấn đề chính: diễn giải, mô hình phân tích, và logic.   Vấn đề diễn giải      Trước hết, khi phân tích bằng mô hình hồi qui tuyến tính giữa giữa kinhte và nangluc, tôi không có cùng kết quả với các tác giả. Thật ra, ngay cả các phương trình trong bài báo tôi đều có kết quả khác với hai tác giả, nhưng đây là một lĩnh vực khác và tôi không muốn bàn sâu trong bài viết này [2]. Các thông số mà tôi có được là (bạn đọc có thể kiểm tra bằng máy tính dễ dàng):  kinhte = -10,23 + 1,13×nangluc  Rất có thể các tác giả đã lấy thông số đầu chia cho 100 để có được hằng số -0,1023. Nhưng chúng ta không rõ tại sao lại chia hằng số (intercept) này cho 100, và cách tính như thế có ý nghĩa gì.  Để thấy cách diễn giải của các tác giả không đúng với thực tế, chúng ta có thể lấy hai địa phương với nangluc là 40 và 41, và theo phương trình trên, chỉ số kinhte dự đoán là:  kinhte = -10,23 + 1,13×40 = 34,97  và  kinhte = -10,23 + 1,13×41 = 36,10  như vậy, địa phương có chỉ số năng lực cao hơn 1 đơn vị có chỉ số (dự đoán) phát triển kinh tế cao hơn 3,2% (lấy 36,10 chia cho 34,97 và nhân cho 100).   Nhưng nếu hai địa phương khác có chỉ số nangluc là 60 và 61, thì chỉ số kinhte dự đoán lần lược là 57,57 và 58,70, tức độ khác biệt khoảng 1,9%.  Qua cách tính đơn giản trên, chúng ta thấy không thể nào diễn giải như tác giả được, bởi vì: (a) đơn vị của chỉ số phát triển kinh tế không phải là số phần trăm, (b) đơn vị của chỉ số năng lực công nghệ cũng không phải là số phần trăm, và (c) không có thông số nào liên quan đến thời gian trong mô hình để phát biểu rằng “sẽ tăng thêm được 1,2298%”. Xin nhấn mạnh rằng các số liệu này được thu thập trong quá khứ (2001 – 2005) và thông số được ước tính từ số liệu trong quá khứ, nên không thể diễn giải về tương lai (“sẽ”) được.  Thật ra, mô hình kinhte = -10,23 + 1,13×nangluc phải được hiểu như sau: nếu chỉ số bình quân về năng lực công nghệ giữa bất cứ hai địa phương nào khác nhau 1 đơn vị thì chỉ số bình quân về phát triển kinh tế giữa hai địa phương khác nhau 1,13 đơn vị. Cụm từ “khác nhau” ở đây có nghĩa là cao hay thấp, chứ không hẳn có nghĩa là “tăng”, bởi vì không có yếu tố thời gian trong phương trình trên, mà chỉ có khác biệt giữa các địa phương. Ngoài ra, chúng ta chưa biết chính xác đơn vị đo lường của hai chỉ số kinhte và nangluc là gì, nên chỉ có thể diễn giải chung là “đơn vị”, chứ không thể phần trăm.  Để biết được mức độ hữu dụng của phương trình (hay mô hình) chúng ta có thể so sánh phương sai (variance) trước và sau khi mô hình hóa. Phương sai gốc của chỉ số kinhte là 180,37. Sau khi điều chỉnh cho ảnh hưởng của chỉ số nangluc qua mô hình [1], phương sai của kinhte là 49,26, tức giảm khoảng 73% so với phương sai trước khi mô hình hóa. Nói cách khác, cách diễn giải hệ số này là: những khác biệt về chỉ số năng lực kinh tế giữa các địa phương có thể giải thích khoảng 73% độ dao động (variation) của chỉ số phát triển kinh tế (chứ không phải “sự tăng lên của phát triển kinh tế”) giữa các địa phương.  Hệ số 73% là một ảnh hưởng rất lớn. Và, điều này làm cho chúng ta phải suy nghĩ: có phải năng lực công nghệ giải thích đến 73% những khác biệt về phát triển kinh tế giữa các địa phương, hay đây chỉ là một sai lầm trong mô hình phân tích?  Vấn đề mô hình dựa vào số trung bình  Như đề cập trên, các tác giả tiến hành phân tích dữ liệu bằng hai bước: bước 1 là tính toán bình quân cho mỗi chỉ số trong thời gian 2001 đến 2005, và bước hai là ứng dụng mô hình hồi qui tuyến tính cho các chỉ số bình quân. Cách phân tích này nảy sinh một vấn đề nghiêm trọng: đó là vấn đề dựa vào số trung bình.  Phân tích dựa vào chỉ số bình quân rất dễ dẫn đến kết luận sai lầm và lạc quan. Có khi trong thực tế không có mối liên hệ nào giữa hai chỉ số ở mỗi địa phương, nhưng khi phân tích dựa vào số trung bình cho các địa phương thì lại có mối liên hệ! Nói cách khác, phân tích dựa vào chỉ số trung bình có thể dẫn đến kết luận sai lầm và thiếu khách quan như giải thích trong phần chú thích 3 dưới đây [3].   Để hiểu thêm vấn đề, chúng ta cần lưu ý đơn vị phân tích và câu hỏi nghiên cứu ở đây.  Theo tôi, câu hỏi nghiên cứu thật sự là: ở một địa phương, nếu chỉ số năng lực công nghệ gia tăng giữa các năm 2001, 2002, 2003, 2004, và 2005 có tác động đến chỉ số phát triển kinh tế hay không.   Qua câu hỏi trên, chúng ta thấy đơn vị phân tích là chỉ số qua 5 năm cho từng địa phương. Nói cách khác, chỉ khi nào mối liên hệ giữa năng lực công nghệ và phát triển kinh tế được quan sát ở tất cả (hay phần lớn) địa phương thì chúng ta mới có thể nói rằng khi chỉ số năng lực công nghệ tăng thì chỉ số phát triển kinh tế cũng tăng theo. Vì phân tích theo thời gian, chúng ta có thể sử dụng động từ “tăng” ở đây.  (Ở đây xin mở ngoặc để chú ý rằng cách phân tích của các tác giả, vì phân tích trên số trung bình giữa các địa phương nên không thể dùng từ “tăng” mà chỉ có thể nói là “cao” hay “thấp”).   Nhưng rất tiếc các tác giả đã dựa vào các chỉ số trung bình (tính trong vòng 5 năm) cho từng địa phương để suy luận. Và, qua phân phân tích “mô phỏng” mà tôi vừa trình bày [3], kết luận rút ra từ một phân tích dựa vào chỉ số trung bình như thế rất dễ đi đến kết luận sai. Xin nhấn mạnh: tôi không nói rằng không có mối liên hệ giữa năng lực công nghệ và phát triển kinh tế; trong thực tế có thể mối liên hệ đó có thật nhưng tôi chỉ lưu ý về phương pháp phân tích không thích hợp và do đó kết quả từ phân tích cũng không phù hợp với thực tế.   Vấn đề logic  Vấn đề thứ nhất là một mối tương quan thống kê không hẳn phản ảnh một mối liên hệ nhân quả (cause-effect relationship). Địa phương có chỉ số phát triển kinh tế cao thường có chỉ số năng lực công nghệ cao. Nhưng điều đó không có nghĩa là năng lực công nghệ là nguyên nhân phát triển kinh tế (hay ngược lại). Có thể địa phương có thu nhập cao và chịu đầu tư vào khoa học và công nghệ, nhưng cũng có thể gia tăng đầu tư vàp công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong thực tế, rất khó mà phân biệt được con gà hay quả trứng có trước, và phân tích thống kê không cho phép một suy luận nhân quả. Dựa vào dữ liệu hiện nay, chúng ta chỉ có thể phát biểu rằng có một mối tương tác giữa phát triển kinh tế và năng lực công nghệ, nhưng kết quả phân tích không cho chúng ta biết cái nào là động lực và cái nào là hệ quả.  Một vấn đề logic khác liên quan đến khái niệm “ecologic fallacy” trong suy luận khoa học (tạm dịch là “sai lầm suy luận tổng quan”). Sai lầm suy luận tổng quan có nghĩa là sử dụng mối tương quan từ các quần thể để suy luận cho mối tương quan giữa các cá thể. Chẳng hạn như dựa vào quan sát rằng những nước tiêu thụ nhiều thực phẩm chứa chất béo có tỉ lệ ung thư vú cao, rồi suy luận rằng phụ nữ ăn nhiều thực phẩm chứa chất béo có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao [4]. Đây là một sai lầm suy luận tổng quan khá tiêu biểu. Trong thực tế suy luận này có thể đúng, nhưng dựa vào số liệu trung bình từ các nước để làm cơ sở cho suy luận liên quan đến cá nhân là một suy luận yếu, một loại ngụy biện.  Liên quan đến suy luận tổng quan là khái niệm tương quan quần thể (ecologic correlation). Một trong những sai lầm tiêu biểu (và sau này trở thành một trường hợp trong sách giáo khoa về logic và thống kê học) là công trình nghiên cứu vào thập niên 1930s ở Mĩ về mối liên hệ giữa mù chữ và di dân. Trong nghiên cứu này các nhà nghiên cứu tính phần trăm dân số sinh đẻ ở nước ngoài, và phần trăm dân số biết đọc biết viết cho 48 tiểu bang [5]. Khi ứng dụng mô hình hồi qui tuyến tính, họ tìm thấy hệ số tương quan giữa hai chỉ số này là 0.53. Dựa vào hệ số tương quan này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng người sinh đẻ ở nước ngoài có tỉ lệ biết chữ cao. Nhưng đây là một dạng tương quan quần thể, bởi vì đơn vị của phân tích không phải là những cá nhân mà là một quần thể. Sau này, các nhà thống kê phân tích lại dữ liệu, và phát hiện một mối tương quan nghịch đảo, với hệ số tương quan là −0.11; nói cách khác trong thực tế, người sinh đẻ ở nước ngoài có tỉ lệ mù chữ cao! Sở dĩ các nhà nghiên cứu có kết quả 0.53 là vì những người sinh đẻ ở nước ngoài thường định cư ở những tiểu bang mà người dân bản xứ có trình độ học vấn cao. Phân tích và suy luận dựa vào tương quan quần thể rất … nguy hiểm!  Quay trở lại với nghiên cứu về mối liên hệ giữa năng lực công nghệ và phát triển kinh tế, chúng ta thấy mối liên hệ mà các nhà nghiên cứu quan sát với hệ số tương quan R2 = 0,73 (hay hệ số tương quan là  = 0,85). Nhưng đây là mối tương quan quần thể, chứ không phải cá thể. Chúng ta vẫn chưa biết nếu phân tích một cách thích hợp, hệ số tương quan này là bao nhiêu, nhưng dựa vào lí thuyết thống kê, rất dễ dàng thấy hệ số tương quan thật sẽ thấp hơn 0,85 rất nhiều.  Kết luận  Nói tóm lại, mối tương tác giữa năng lực công nghệ và phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian qua là một mối liên hệ phức tạp, nhưng những phân tích của các tác giả chưa đào sâu hay chưa “lột trần” được sự phức tạp của mối liên hệ đó. Vì chưa xem xét đến sự dao động trong từng địa phương nên tôi e rằng kết luận của các tác giả quá lạc quan so với thực tế.  Như vừa trình bày trên, các tác giả quyết định tập trung vào phân tích các chỉ số bình quân giữa các địa phương là một cách đơn giả hóa vấn đề, và vì tính đơn giản như thế tôi nghĩ mô hình của các tác giả chưa phản ảnh đúng thực tế. Đứng trên quan điểm phương pháp học mà nói, dựa vào các chỉ số bình quân thường dẫn đến các ước số thiếu tính khách quan (biased) và thiếu nhất quán (inconsistency), hai đặc tính rất quan trọng trong phân tích thống kê. Sở dĩ có tình trạng này là vì chỉ số trung bình “che đậy” những dao động chung quanh con số trung bình. Chẳng hạn như chỉ số phát triển kinh tế của địa phương 1 là 65,81 (xem bảng 1), nhưng hai dãy số sau đây đều có thể cho ra một số trung bình như thế:  (a) 63,1  60,9  66,5  68,8  và 69,8                   trung bình: 68,81  (b) 50,9  61,8  81,2  100,5  và 34,6                 trung bình: 68,81  Giả dụ như (a) và (b) là chỉ số phát triển kinh tế của hai địa phương, chúng ta không thể nào kết luận rằng hai địa phương này có chỉ số phát triển tương đương nhau. Do đó, nếu chỉ tóm lược quá trình phát triển bằng chỉ số trung bình thì không thể nào phản ảnh được sự dao động (thậm chí khó so sánh được) chỉ số phát triển kinh tế của hai địa phương một cách khách quan. Đây cũng chính là một sai lầm cơ bản nhất của hệ số tương quan quần thể.  Một mô hình phân tích thích hợp phải sử dụng tất cả các số liệu cho từng năm và từng địa phương (chứ không phải chỉ đơn giản sử dụng số trung bình). Một trong những mô hình đó là mô hình phân tích đa tầng (multilevel analysis) [6]. Trong thời gian hai thập niên qua, với sự tiến bộ vượt bực của công suất máy tính, mô hình phân tích đa tầng có thể ứng dụng vào việc đánh giá những mối tương quan phức tạp và đa tầng một cách chính xác hơn. Hi vọng rằng bài viết ngắn này có thể giúp cho các tác giả có một cái nhìn mới hơn về dữ liệu mà các tác giả đã thu thập một cách công phu trong thời gian qua để đi đến một kết luận phù hợp với thực tế hơn.  Chú thích và tài liệu tham khảo:  Xin nói thêm rằng vì người viết không phải là nhà thống kê chuyên nghiệp nên một số thuật ngữ sử dụng trong bài viết có thể không chính xác, và những mô hình phân tích có thể có chỗ chưa hoàn chỉnh.  [1] Xem bài “Ứng dụng phương pháp kinh tế lượng trong đánh giá tác động của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế” của Giáo sư Tăng Văn Khiên và Tiến sĩ Tạ Doãn Trịnh, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 2 năm 2008.  Có thể xem toàn văn bài viết tại đây.                   [2] Trong bài báo, các tác giả cho báo cáo các ước số của mô hình hồi qui tuyến tính [1] trong Bảng 2 (của bài báo), nhưng khi phân tích lại số liệu tôi không có cùng kết quả về thông số a (intercept) như sau:  Trong bài báo các tác giả lí giải rằng vì 3 chỉ số doimoi (đổi mới công nghệ), chuyengiao (chuyển giao công nghệ) và cntt (công nghệ thông tin và truyền thông) tương quan với nhau (còn gọi là multicollinearity hay tương quan đa tuyến tính), nên họ phải phân tích riêng lẻ từng biến một. Tôi không đồng ý với nhận xét này. Sự hiện diện của tương quan đa tuyến tính có thể gây khó khăn cho việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng chỉ số, nhưng “khó khăn” còn tùy thuộc vào hệ số tương quan giữa 3 chỉ số trên. Trước hết, chúng ta thử xem qua hệ số tương quan giữa 3 yếu tố doimoi, chuyengiao và cntt qua biểu đồ sau đây:               Biểu đồ chỉ mối tương quan đa chiều giữa chỉ số phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ và công nghệ thông tin.  Số liệu tính toán từ 34 địa phương.  Đây là các hệ số tương quan quần thể (ecologic correlation) do đó cần phải cẩn thận trong diễn giải ý nghĩa của chúng.  Các dấu đỏ chỉ ý nghĩa thống kê.             Qua biểu đồ trên chúng ta thấy hệ số tương quan giữ doimoi vs chuyengiao = 0,67; giữa doimoi vs cntt = 0,74; và chuyengiao vs cntt = 0,65. Có thể nói đây là những hệ số tương quan khá cao. Nhưng chúng ảnh hưởng như thế nào đến mô hình hồi qui tuyến tính? Ảnh hưởng của mối tương quan đa chiều như thế thường thấy qua các ước số. Một trong những cách để xem xét ảnh hưởng của tương quan đa tuyến tính là ước tính hệ số lạm phát phương sai (variance inflation factor hay VIF). Theo thông lệ chung trong thống kê học, một yếu tố với VIF cao hơn 10 hay thấp hơn 0,1 được xem là có gây “khó khăn” cho mô hình. Do đó yếu tố nào có VIF từ 0,1 đến 10 có thể xem là chấp nhận được.  Tôi đã tiến hành phân tích mô hình đa biến sau đây: giả thiết chỉ số phát triển kinh tế là hàm số của 3 yếu tố doimoi, chuyengiao và cntt như sau:     kinhte = a + b×doimoi + c×chuyengiao + d×cntt + e    Kết quả ước tính các thông số a, b, c và d có thể xem trong bảng sau đây. Không có yếu tố nào có hệ số VIF cao hơn 10. Tất cả các yếu tố đều có ước số đúng với mối tương quan đơn biến (tức tất cả đều dương tính). Do đó, chúng ta có thể sử dụng mô hình hồi qui đa biến để phân tích. Tuy nhiên, qua phân tích trong bảng dưới đây, chúng ta dễ dàng thấy ảnh hưởng của đổi mới công nghệ không có ý nghĩa thống kê; chỉ có chuyển giao công nghệ và công nghệ thông tin và truyền thông có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế giữa các địa phương.                   Mô hình đa biến này giải thích khoảng 75% khác biệt về chỉ số phát triển kinh tế giữa các địa phương.  Qua ước số của các thông số trong bảng trên, chúng ta còn thấy ảnh hưởng của doimoi không có ý nghĩa thống kê một khi xem xét ảnh hưởng của chuyengiao và cntt trong mô hình. Do đó, chúng ta có thể loại bỏ yếu tố doimoi, và mô hình trở thành đơn giản hơn như sau:  kinhte = -21,25 + 0,38×chuyengiao + 0,91×cntt  mô hình này “giải thích” 74% những khác biệt về chỉ số phát triển kinh tế giữa các địa phương. Nói cách khác, như chúng ta kì vọng, loại bỏ doimoi không có ảnh hưởng gì đến độ chính xác của mô hình. Tính theo hệ số xác định này, mô hình 2 biến là mô hình tối ưu nhất.  Câu hỏi đặt ra là giữa hai yếu tố này, yếu tố nào quan trọng hơn? Vì hai yếu tố có hai đơn vị đo lường khác nhau, nên không thể sử dụng thông số 0,38 để nói rằng chuyengiao kém quan trọng hơn cntt (0,91). Có thể sử dụng một số tính toán theo phương pháp “bootstrap” và thấy rằng trong tổng số R2 (74%), yếu tố chuyengiao giải thích 39% và cntt 35%. Như vậy, số liệu hiện nay cho thấy chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế lớn hơn ảnh hưởng của công nghệ thông tin. (Về phương pháp tính toán này có thể xem bài History and Use of Relative Importance Indices in Organizational Research của Johnson JW, và Lebreton JM, tập san Organizational Research Methods 2004; 7, 238–257)  Ngoài ra, không nhất thiết chúng ta phải tuân thủ theo phương trình về năng lực công nghệ mà các nước khác sử dụng, như  nangluc = doimoi/8 + chuyengiao*3/8 + cntt/2  mà có thể phát triển riêng một phương trình cho nước ta. Việc phát triển mô hình (hay phương trình) mới này cũng không khó khăn, nếu ứng dụng mô hình phân tích mà giới di truyền học hay gọi là principal component model.  Nhưng đây là một lĩnh vực thú vị khác mà tôi chưa muốn bàn sâu thêm ở đây.  [3] Để chứng minh việc diễn giải từ phân tích dựa vào chỉ số trung bình có thể sai lầm, chúng ta tưởng tượng một nghiên cứu gồm 6 địa phương được thu thập qua năm năm. Số liệu về chỉ số phát triển kinh tế và năng lực công nghệ của 6 địa phương như sau (đây là số liệu do tôi “mô phỏng” thủ công):                   Vấn đề tương đối phức tạp hơn ở đây là chúng ta có số liệu 5 năm cho từng địa phương, và vì thế, chúng ta cần kí hiệu để chỉ các số liệu này. Gọi j là địa phương (j = 1, 2, …, 6), và t là năm (t = 2001, 2002, …, 2005).  Chỉ số năng lực công nghệ và phát triển kinh tế cho từng địa phương j và năm t có thể kí hiệu bằng nanglucjt và kinhtejt.  Với các kí hiệu này, chúng ta có thể phân tích cho từng địa phương qua mô mô hình hồi qui tuyến tính như sau:    kinhtejt = aj + bj×nanglucjt + ejt      Trong đó, aj và bj là hai thông số của mô hình cho từng địa phương j, và ejt là phần dư (residual). Mô hình trên còn có nghĩa là chúng ta phải phân tích mô hình 6 lần (cho 6 địa phương) để có được những thông số cần thiết. Kết quả phân tích như sau:                  Tức là, ở mỗi địa phương, không có mối liên hệ nào giữa nangluc và kinhte! Nói cách khác, năng lực công nghệ không có tác động gì đến phát triển kinh tế, và đây là kết luận đúng với thực tế.  Nhưng giả dụ rằng chúng ta bỏ qua sự dao động giữa các năm trong từng địa phương, mà chỉ tập trung vào chỉ số trung bình cho từng địa phương, và phân tích hai chỉ số này (cột sau cùng của bảng số liệu trên) thì kết quả sẽ ra sao? Biểu đồ sau đây sẽ cho thấy có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa chỉ số bình quân nangluc và kinhte.  Thật vậy, nếu ứng dụng mô hình hồi qui tuyến tính cho hai chỉ số trung bình trên, chúng ta sẽ có phương trình kinhte = -2,09 + 1,35×nangluc, với hệ số xác định R2 = 0,90! Nhưng chúng ta biết rằng trong thực tế thì khi chỉ số năng lực công nghệ tăng hay giảm chẳng có liên quan gì đến chỉ số phát triển kinh tế. Do đó, phân tích dựa vào các chỉ số quân bình cho chúng ta một kết quả rất sai lầm, và kết luận cũng rất sai lầm.                Biểu đồ 1: Mối liên hệ giữa chỉ số quân bình về năng lực công nghệ và phát triển kinh tế (số liệu mô phỏng).             [4] Carroll K 1975 Experimental evidence of dietary factors and hormone-dependent cancers. Cancer Research 35: 3374–83  [5] Robinson W S 1950. Ecological correlations and the behavior of individuals. American Sociological Review 15: 351–57.   [6]  Mô hình đa tầng có thể mô tả đơn giản như sau: Gọi j là địa phương (j = 1, 2, …, 6), và t là năm (t = 2001, 2002, …, 2005).  Chỉ số năng lực công nghệ và phát triển kinh tế cho từng địa phương j và năm t có thể kí hiệu bằng nanglucjt và kinhtejt. Mô hình hồi qui đa tầng phát biểu như sau: chỉ số kinh tế của một địa phương của bất cứ năm nào bao gồm mức khởi đầu (tạm kí hiệu aj) và tỉ lệ tăng trưởng theo từng năm (kí hiệu là bt).  Nói cách khác:  kinhtejt = aj + bj×nanglucjt + ejt  Mô hình trên cho từng địa phương j.  Nói cách khác, mỗi địa phương khởi đầu với aj khác nhau và tỉ lệ tăng trưởng bj cũng khác nhau.  Ngoài ra, giả thiết rằng aj bao gồm một chỉ số trung bình cho tất cả các địa phương (kí hiệu là a0) cộng/trừ cho ảnh hưởng của từng địa phương (dj0):  aj =  a0 + dj0  Tương tự, tỉ lệ tăng trưởng bj bao gồm một chỉ số tăng trưởng trung bình cho tất cả các địa phương (kí hiệu là b0)cộng/trừ cho ảnh hưởng của từng địa phương (dj1):  bj =  b0 + dj1  Thay thế hai phương trình này vào mô hình [2], chúng ta có:  kinhtejt =  (a0 + b0×nanglucjt) + (dj0 + dj1×nanglucjt + ejt)  Chú ý trong mô hình trên có hai phần: phần đầu (a0 + b0×nanglucjt) còn được gọi là phần “fixed effects” (ảnh hưởng bất biến), và phần hai (dj0 + dj1×nanglucjt + ejt) là phần “random effects” (ảnh hưởng ngẫu nhiên). Có thể ước tính các thông số trong mô hình trên một cách dễ dàng bằng các phần mềm mới như R (xem “Phân tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R” của Nguyễn Văn Tuấn, do Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật phát hành năm 2007.   Bảng 1. Chỉ số bình quân về phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, và công nghệ thông tin của 34 tỉnh / thành trong thời gian 2001 – 2005.                                             Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác động môi trường từ hệ thống thủy lợi ĐBSCL      Phát triển hệ thống thủy lợi lâu nay là một tác nhân đáng kể giúp Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Nhưng một số chuyên gia quốc tế cảnh báo rằng việc đầu tư cho các dự án hạ tầng lớn theo xu hướng hiện nay đi kèm với những hậu quả sinh thái không nhỏ.    Tại An Giang, một thành trì quan trọng của ngành công nghiệp lúa gạo Việt Nam, năng suất thu hoạch đã tăng gấp bốn lần so với bốn thập kỷ trước. Ngoài sự phát triển của những giống lúa năng suất cao, nguyên nhân hàng đầu của thành tựu này là do hệ thống “đê bao tháng Tám” giúp kéo dài thời gian cho phép trồng lúa từ tháng 6 tới tháng 8, để người nông dân có thể trồng thêm một vụ lúa thứ hai. Sau đó, những hệ thống đê lớn hơn được xây dựng trong thập kỷ 1990 và 2000, cho phép bà con trồng thêm một vụ lúa thứ ba trên cùng một diện tích. Kết quả là chỉ trong vòng một thế hệ, Việt Nam chuyển mình từ một nước nghèo, nơi Nhà nước phải chia khẩu phần gạo và nhiều mặt hàng khác theo nhân khẩu, trở thành một nước thu nhập trung bình thấp, và là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới.  Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng việc tiếp tục xây dựng đê kè, kênh mương thủy lợi trên khắp đồng bằng sông Cửu Long và dọc ven biển Đông đang tác động tiêu cực tới hệ thống cân bằng sinh thái phức tạp của dòng sông. Ví dụ ở các vùng thượng lưu, đê ngăn các dòng lũ thượng nguồn, khiến các vùng canh tác và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản bị mất đi nguồn dinh dưỡng quan trọng cho đất. Các hóa chất dùng trong nông nghiệp làm ô nhiễm kênh mương thủy lợi, gây axit hóa nước và đất, điều mà các nhà khoa học coi là một trong những nguyên nhân giảm lượng thủy sản, và nhìn chung làm mất đi tính đa dạng sinh học trong tự nhiên.  Dọc ven biển phía Nam, hệ thống đê và các cửa xả – được xây dựng nhằm giúp nông dân trồng lúa trong nước ngọt, hạn chế nước mặn trào ngược trong mùa khô – đã gây hạn chế sự trao đổi chất hữu cơ giữa môi trường nước ngọt và nước mặn, làm chết nhiều dừa nước, loài cây có nhiều chức năng hữu ích ở địa phương. Đồng thời, những con đê ven biển gây ảnh hưởng tới sự cân bằng dinh dưỡng từ các dòng nước ngọt và nước mặn, gây nguy cơ lớn cho những cánh rừng đước. Các nhà khoa học cho rằng nếu những cánh rừng đước chết, Việt Nam sẽ càng bị đe dọa bởi các trận bão và nước biển dâng do biến đổi khí hậu.   Các vấn đề môi trường to lớn này đã thúc đẩy các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế kêu gọi Chính phủ thực hiện các biện pháp giúp hài hòa lợi ích kinh tế và môi trường trong dài hạn. Đã có ý kiến đề xuất các giải pháp như loại bỏ vụ lúa thứ ba, tháo ngập nước một cách có kiểm soát ở những châu thổ thượng lưu nhằm thúc đẩy sự bồi lắng phù sa, đồng thời di chuyển các con đê biển vào sâu hơn trong đất liền nhằm duy trì những cánh rừng đước, và tạo ra “những đường bờ di động” (“dynamic shorelines”) cho phép trao đổi tốt hơn giữa các hệ thống nước ngọt và nước mặn. Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn khó khăn: tiếp tục thúc đẩy sản lượng lúa gạo và chịu những hậu quả môi trường và xã hội do suy thoái đất màu và hệ sinh thái, hay chấp nhận loại trừ vụ lúa thứ ba và hạn chế ham muốn đầu tư xây dựng thêm nhiều hệ thống hạ tầng thủy lợi.  Có nhiều lý do khiến Việt Nam có thể lựa chọn tiếp tục duy trì chính sách thúc đẩy sản lượng lúa gạo, như nhu cầu từ dân số gia tăng và sức ép từ nền kinh tế đòi hỏi gia tăng xuất khẩu. Trong khi đó, các doanh nghiệp Nhà nước có quyền lợi gắn với xuất khẩu gạo cũng có tiếng nói ảnh hưởng mạnh mẽ tới chính sách nông nghiệp của Nhà nước.  “Mấu chốt là trả lời câu hỏi: ai sẽ chịu các thiệt hại”và “liệu Việt Nam còn muốn là nhà xuất khẩu gạo hàng đầu, hay quyết định tập trung đối diện với các vấn đề khác”, nhận định từ Martijn van de Groep, nhà kinh tế người Hà Lan đang quản lý dự án Quy hoạch Châu thổ Sông Cửu Long (Mekong Delta Plan) có sự hợp tác giữa Hà Lan và Việt Nam nhằm xây dựng một lộ trình phát triển vùng trong 100 năm.  Châu thổ sông Mekong nằm trên đất Cambodia và Việt Nam có diện tích tương đương nước Thụy Sĩ, là một hệ thống thủy văn phức tạp. Con sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc và Lào trước khi tách thành chín nhánh đổ ra Biển Đông. Vào mỗi mùa thu, nước ngập bờ và bồi lắng phù sa tạo nguồn dinh dưỡng dồi dào cho đất. Trong khoảng từ tháng 10 tới tháng 4 hằng năm, nước biển trào ngược vào sâu trong đất liền tới gần 30 km.  Cuối thập kỷ 1960, Mỹ và Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế đã đưa vào miền Nam Việt Nam những giống lúa lai và xây dựng một số kênh và đê thủy lợi. Những giống lúa mới giúp tăng năng suất đáng kể, trong khi các con đê cho phép nông dân ngăn giữ nước lụt vào mùa mưa, hoặc bơm nước vào đồng trong mùa hạn.  Chương trình kiểm soát thủy văn được Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ trong thập kỷ 1990, khi Chính phủ xây dựng một hệ thống những con đê cao hơn che chắn các cánh đồng, và xây dựng những cửa xả ở các cửa sông và kênh. Những cửa ngăn ở cả thượng lưu và hạ lưu cho phép kiểm soát lượng nước chảy sang từ Cambodia. Trên khắp vùng châu thổ, những con đê được xây cao trên mực nước lũ trung bình, giúp giảm thiểu tác động của nước lũ và nước mặn đối với hoa màu, đồng thời cho phép trồng trọt quanh năm trong điều kiện khí hậu gió mùa.      Tuy nhiên, tổn thất cho môi trường đang gia tăng, theo lời Jake Brunner, người điều phối chương trình sông Mekong của tổ chức International Union for Conservation of Nature. Sự suy thoái chất lượng nước mang tính lâu dài đã hủy hoại một số loài cá bản địa, ông nói. Trong khi đó, do nước chảy từ thượng lưu suy giảm, nước mặn xâm ngược từ hạ lưu tăng lên.  Việc xây dựng những con đê cao ở các vùng trồng hoa màu gây trở ngại cho việc trao đổi chất dinh dưỡng trong đất. Những cánh đồng nằm sâu trong đê càng khó nhận được những chất hữu cơ cần thiết từ nguồn nước, lý giải từ Charles Howie, nhà sinh học của Đại học Nông nghiệp Hoàng gia Anh hiện đang làm việc tại Đại học An Giang. Howie cho biết với việc canh tác ba vụ, năng suất lúa ở An Giang trung bình trên mỗi hecta ngày nay đạt tới 22 tấn/năm, nhưng lượng hóa chất phải sử dụng ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, thiếu phù sa bồi đắp không chỉ hủy hoại chất lượng đất mà còn gây lún nền.  Dọc bờ biển, việc xây dựng những con đê cho phép nông dân chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm, vốn đòi hỏi môi trường nước lợ. Hiện nay, hai loại hình này vẫn khó cùng tồn tại hài hòa: việc nuôi tôm bên trong đê khiến chất thải ngày càng tích tụ thay vì được thải ra biển. Theo một đề tài nghiên cứu của Lê Anh Tuấn từ Đại học Cần Thơ và một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, việc nước lợ được bơm ngày càng nhiều vào đất liền đã khiến nước mặn chảy ngược vào hệ thống kênh mương thủy lợi, làm ô nhiễm các cánh đồng lúa, giếng, và ngấm sâu xuống các mạch nước ngầm của châu thổ.    Trước tình trạng các cánh rừng đước ven biển bị hủy hoại, chính phủ của Đức và Úc – hợp tác với Bộ NN&PTNT Việt Nam – đã cam kết tài trợ tới 28 triệu Euro (36,2 triệu USD) cho các dự án thích nghi với biến đổi khí hậu. Trong đó có một dự án nhằm xây những hàng rào tự nhiên làm từ thân cây, nhằm chắn sóng chống xói mòn và giúp những cây đước non bén rễ để tồn tại trong điều kiện bão biển gia tăng. Tuy nhiên, việc chính quyền gần đây xây ngày càng nhiều những con đê bê tông chống xói mòn sẽ gây nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng hệ sinh thái của những cánh rừng đước, theo lời Andrew Wyatt, một nhà nghiên cứu tại Viện Sinh học Nhiệt đới ở TP. HCM.  Hiện nay sự can thiệp của con người vào châu thổ sông Mekong chưa phải là quá nhiều nếu so với châu thổ sông Mississippi và một số châu thổ khác trên thế giới, nơi những hệ thống hạ tầng lớn đã làm sụt nền đất và nhiều vấn đề môi trường khác. Nhưng các nhà khoa học lo ngại rằng châu thổ sông Mekong đã bắt đầu có xu hướng giống với các châu thổ ở Mỹ và Hà Lan, nơi các nhà quản lý đến nay mới nhận ra hậu quả từ việc xây dựng quá nhiều hệ thống hạ tầng cho mục tiêu ngăn lũ và thủy lợi.   Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng điều nghịch lý là người nông dân ở châu thổ sông Mekong không được hưởng lợi ích đáng kể từ việc canh tác tăng vụ. Theo Ngân hàng Thế giới, hiệu quả sản xuất giảm khi tăng từ 2 vụ lên 3 vụ mỗi năm. Lúa gạo sản xuất ra với chất lượng thấp, chỉ bán được ở giá 16 cent/kg, và phần doanh thu tăng thường chỉ đủ bù phần chi phí mua thêm thuốc trừ sâu và phân bón. Chuyên gia Brunner nhận định, “chính sách ưu tiên hàng đầu cho lúa gạo chính là hi sinh quyền lợi người nghèo vì người giàu. Nó hoàn toàn không hợp lý dưới góc độ công bằng xã hội. Thế nhưng tư duy trồng lúa vì mọi giá này đã bắt rễ quá sâu, và gắn với những quyền lợi thương mại rất lớn”.    Thanh Xuân lược dịch từ bài viết của Mike Ives đăng trên chuyên trang Yale Environment 360 về môi trường của Đại học Yale http://e360.yale.edu/content/feature.msp?id=2670    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tác giả của phương pháp chế tạo tế bào gốc đa năng STAP xin thôi việc      Haruko Obokata, nhà sinh học tế bào gốc, tác giả của công bố làm dậy sóng dư luận hồi đầu năm nay, đã xin thôi việc ở Trung tâm phát triển sinh học RIKEN, Kobe, Nhật Bản.  &#160;      Bức thư xin thôi việc mang nhiều cảm xúc của Obokata đã được đưa lên website của RIKEN vào ngày 19-12, bên cạnh kết quả điều tra của RIKEN, xác nhận thất bại trong kiểm chứng những tuyên bố của Obokata về phương pháp chế tạo tế bào gốc đa năng hết sức đơn giản của cô.   Các tế bào gốc đa năng có giá trị rất lớn về mặt khoa học bởi chúng có thể phát triển thành nhiều loại tế bào khác, từ tế bào não đến cơ. Hiển nhiên, không dễ gì mà chế tạo được những tế bào như vậy.           Tại  buổi  họp báo ngày 19-12 vừa qua, nhóm nghiên cứu RIKEN cho biết họ  không thể lặp lại những kết quả thí nghiệm gây tranh cãi của  Obokata.        Phương pháp STAP (stimulus-triggered acquisition of pluripotency – tế bào gốc đa năng được tạo bởi sự kích thích) của Obokata được công bố trên tạp chí Nature vào tháng 1-2014. Tuy nhiên, công bố này ngay lập tức bị nghi ngờ và bài báo đã bị rút vào tháng 7. Vài tuần sau, một trong những đồng tác giả của công trình, ông Yoshiki Sasai, đã tự sát.   Trong bức thư của mình, Obokata viết rằng, cô không “đủ lời để xin lỗi… bởi đã gây rắc rối cho nhiều người ở RIKEN và những nơi khác”.   Trong một tuyên bố đi kèm lá thư của Obokata, ông Ryoji Noyori, Chủ tịch RIKEN, viết, Obokata phải chịu đựng sức ép rất lớn từ sự việc này, và ông hy vọng rằng, việc chấp thuận đơn xin thôi việc của Obokata sẽ giúp cô bớt đi phần nào “gánh nặng tinh thần”.  —  Nguồn:  http://www.nature.com/news/japanese-scientist-resigns-as-stap-stem-cell-method-fails-1.16631   —    Đọc thêm:  Có hay không tế bào gốc đa năng STAP?  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=2&News=7741       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái cấu trúc 11 tỷ năm lịch sử vũ trụ bằng bản đồ vật chất tối      Một kính viễn vọng ở Arizona sẽ trực tiếp thực hiện một nghiên cứu lớn nhất về quang phổ của các thiên hà.         Các nhà thiên văn học đã bắt tay vào một trong những dự án vẽ bản đồ thiên hà tham vọng nhất của mình. Trong 5 năm tới, họ sẽ dùng một kính viễn vọng ở Arizona — được trang bị hàng trăm cánh tay robot — để bắt được các phổ ánh sáng từ 35 triệu thiên hà và tái cấu trúc lịch sử giãn nở của vũ trụ. Mục tiêu chính của họ là: để giải thích bản chất tự nhiên của vật chất tối, nguồn lực bí ẩn đang đẩy vũ trụ giãn nở gia tốc với một tốc độ nhanh hơn trước đây.  Thiết bị kính quang phổ năng lượng tối (DESI) được lắp đặt để nhìn thấy “ánh sáng đầu tiên” trong tháng 9. Sau một thời kỳ ủy thác, cuộc điều tra về bầy trời phương bắc – sử dụng kính viễn vọng Mayall 4-meter tại Đài quan sát quốc gia Kitt Peak gần Tucson — có thể khởi động sớm vào tháng 1/2020. Khoảng ¾ trong tổng số 75 triệu USD ngân quỹ của DESI do Bộ Năng lượng Mỹ (DOE) tài trợ, cùng với sự đóng góp quan trọng của Anh và Pháp.  DESI là một trong những thực nghiệm thế hệ mới nghiên cứu về quá trình giãn nở của vũ trụ, vốn đến sau hai thập kỷ phát hiện ra bằng chứng đầu tiên về năng lượng tối vào năm 1998. Những thực nghiệm thế hệ mới khác thực hiện ở các đài quan sát mặt đất và vũ trụ sẽ bắt đầu khởi động vào khoảng những năm 2020.  Nghiên cứu này sẽ tái cấu trúc 11 tỷ năm lịch sử vũ trụ. Nó có thể trả lời câu hỏi đầu tiên và cơ bản bậc nhất về năng lượng tối: có phải nguồn lực không thay đổi trên khắp vũ trụ và thời gian, hoặc chứa đựng sức mạnh làm vũ trụ tiến hóa vĩnh viễn?  Nghiên cứu này cũng sẽ dò theo sự tiến hóa trong vũ trụ bằng việc đo đạc những đặc điểm của vũ trụ sớm, vốn được biết như những dao động baryon tựa âm thanh (baryon acoustic oscillations BAOs). Những dao động này là các gợn sóng trong mật độ vật chất để lại vết tích hình cầu trong không gian quanh cụm các thiên hà. Sự phân bố của các thiên hà này ở mức cao hơn so với vùng trung tâm vết tích, một khu vực vẫn được gọi là siêu cụm sao, và ở rìa của nó – với những khoảng trống khổng lồ ở giữa các khu vực.  Mẫu hình nguyên thủy  Các siêu cụm thiên hà hình thành trong những vùng nơi vật chất tối  – thứ vật chất không thể thấy nhưng lại đem đến việc tạo ra các cấu trúc ở quy mô lớn – đã tập trung lại do tác động của lực hấp dẫn từ chúng.  Mẫu hình nguyên thủy của cụm thiên hà vẫn còn tồn tại kể từ 1 triệu năm sau Big Bang. Vì vũ trụ đã giãn nở, BAOs được các nhà nghiên cứu dùng để dò sự giãn nở của vũ trụ; chúng hiện rộng khoảng 320 megaparsecs (tương đương 1 tỷ năm ánh sáng). Các nhà vũ trụ học thường dùng khoảng cách này như một thước đo; bằng việc dò kích thước của BAOs theo thời gian, họ có thể tái cấu trúc cách vũ trụ tự giãn nở như thế nào.  “Về cơ bản, mẫu hình trên bản đồ này không đổi; nó chỉ tăng lên về quy mô”, Daniel Eisenstein, một nhà vật lý tại trường đại học Harvard ở Cambridge và là người phát ngôn của DESI.  Việc dò theo BAOs đòi hỏi một bản đồ 3D các thiên hà được đo đạc bằng các dịch chuyển về phía đỏ – sự nối dài của các sóng điện từ trong các phổ ánh sáng. Các dịch chuyển về phía đỏ đo được cách một thiên hà đang lùi xa khỏi dải Ngân hà nhanh như thế nào.  Những dịch chuyển về phía đỏ nhiều hơn đã được đo đạc, việc dò BAO nhiều chính xác hơn. Eisenstein và những người khác đã tìm thấy tín hiệu BAO đáng tin cậy trong những cuộc nghiên cứu thiên hà trước đây, trong dó có nghiên cứu Điều tra kính quang phổ Dao động Baryon (Baryon Oscillation Spectroscopic Survey BOSS) tại Mỹ đã kết thúc vào năm 2014, và Điều tra dịch chuyển đỏ thiên hà 2dF ở Australia (Two-degree-Field Galaxy Redshift Surveya) đã kết thúc vào năm 2002. Các cuộc nghiên cứu này đã vẽ bản đồ của gần 2,4 triệu thiên hà.  Số lượng các thiên hà mà DESI sẽ dò có thể làm lu mờ cả các cuộc nghiên cứu trước đó về quy mô. “Trong vòng vài tháng, chúng tôi sẽ vượt trội hơn những gì chúng tôi có từ BOSS,” Michael Levi, một nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley tại California và giám đốc DESI, nói.  Trang bị thêm robot  DESI sẽ đạt tới một tốc độ mới nhờ thiết kế khác biệt một cách cơ bản. Các cuộc điều tra tại BOSS bằng việc sử dụng những sợi quang học, đặt vào các lỗ được khoan trong các tấm kim loại tùy chỉnh để thu được ánh sáng của mỗi thiên hà và chuyển nó tới một máy quang phổ để đo độ dịch chuyển đỏ. Nhưng mỗi tấm kim loại cần được thay đổi để đo đạc được mỗi phần khác nhau của bầu trời, vốn rất chậm chạp và cồng kềnh.  DESI sẽ tăng tốc quá trình này bằng việc thay thế các tấm kim loại bằng 5.000 cánh tay robot tí hon, sắp xếp theo cách gần như với mẫu hình tổ ong. Một khi các bức ảnh của các thiên hà được đặt vào mặt phẳng trung tâm của kĩnh viễn vọng – mỗi mặt phẳng rộng 100 micrometre chiều rộng – các cánh tay robot sẽ nhanh chóng xác định vị trí các sợi quang trong vòng 10 micrometres ở trung tâm mỗi bức ảnh, Joseph Silber, một kỹ sư cơ học tại LBNL và phụ trách nhóm thiết kế và lắp đặt hệ thống robot, nói.  Một số thí nghiệm vật lý thiên văn, bao gồm Kính viễn vọng LAMOS tại Trạm Hưng Long tại Trung Quốc, đã sử dụng các bộ định vị robot nhưng theo Silber, “DESI là thiết bị lớn nhất trong số này.”  Để tăng cường khả năng tìm vật chất tối, DESI sẽ nghiên cứu vai trò của vật chất tối đối với sự giãn nở của vũ trụ và các cụm thiên hà bằng việc đo đạc chuyển động của các cụm thiên hà, người phát ngôn DESI Nathalie Palanque-Delabrouille, một nhà vũ trụ học tại Ủy ban Năng lượng hạt nhân và các năng lượng thay thế Pháp (CEA), Trung tâm nghiên cứu Saclay Paris, nói. Nó sẽ đem lại “những thí nghiệm tuyệt đẹp” của những mô hình hiện nay như vật chất tối điều khiển sự tăng trưởng của cấu  cấu trúc vũ trụ lớn như thế nào, so với những lựa chọn giải thích sự hình thành của các cấu trúc đó bằng việc chỉnh sửa thuyết tương đối của Albert Einstein.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02424-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái khởi động lò phản ứng nghiên cứu của Hàn Quốc      Tin tốt cho các nhà vật lý neutron khu vực Đông Á.      Các kỹ sư kiểm tra lại lò phản ứng nghiên cứu HANARO tại Daejeon trước khi tái khởi động lò vào ngày 4/12/2017  Sau ba năm rưỡi gián đoạn, lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân của Hàn Quốc được tái khởi động vào tháng 12/2017. Các nhà khoa học vật liệu và các sinh viên rất háo hức chuẩn bị cho công việc sau một thời gian dài lò phản ứng bị đóng cửa để đánh giá lại các vấn đề an toàn được đặt ra khi thảm họa Fukushima xảy ra.      “Từ lâu, các sinh viên đã rất mong muốn có nguồn neutronđể nghiên cứu. Vì thế họ rất phấn khích với việc lập kế hoạch và chuẩn bị cho những thực nghiệm”, Sung-Min Choi, nhà khoa học vật liệu và chuyên gia về tán xạ neutron tại Viện KH&CN tiên tiến Hàn Quốc ở Daejeon cho biết.  Sau khi lò phản ứng ứng dụng neutron tiên tiến thông lượng cao (HARANO) 1 Daejeon được đóng lại đểsửa chữa quy mô nhỏ vào tháng 7/2014, cơ quan pháp quy hạt nhân của Hàn Quốc đã đặt ra câu hỏi là liệu lò hạt nhân nghiên cứu có thể chịu đựng đượccác tác động địa chấn hay không, trước khi lò phản ứng khởi động lại. Sau trận động đất xảy ra tại vùng ven biển Nhật Bản vào tháng 3/2011, nguyên nhân dẫn đến sóng thần tràn vào nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, nhiều chính phủ – trong đó có Hàn Quốc, đã kiên quyết đòi hỏi các lò phản ứng cần có khả năng chống chịu lại các trận động đất có cường độ lớn hoặc những thảm họa [thiên nhiên] khác.  Một nguồn neutron khác trong khu vực Đông Á, lò phản ứng nghiên cứu JRR-3 ở Tokai, Nhật Bản, cũng bị đóng lại vào tháng 3/2011. Một số tòa nhà không bị ảnh hưởnglớn trong suốt thời gian diễn ra trận động đất 2011. Tuy nhiên ngay cả khi các việc sửa chữa hoàn tất, thì sau sáu năm ngừng hoạt động, tương lai của cơ sở hạt nhân này vẫn có thể bị lãng quên.  Theo các nhà nghiên cứu, những người vẫn thường làm việc tại cơ sở hạt nhân này để nghiên cứu về những hoạt động bên trong của các loại vật liệu, họ phải nỗ lực “đấu tranh” để tiếp tục thực hiện dự án nghiên cứu của mình ngay cả khi các cơ sở hạt nhân bị đóng cửa. Với cộng đồng nghiên cứu Nhật Bản và Hàn Quốc, việc thiếu hụt các nguồn neutron đã ảnh hưởng trầm trọng đến việc nghiên cứu, Sungil Park – nhà vật lý các chất đậm đặc tại Viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử Hàn Quốc (Daejeon, Hàn Quốc) cho biết.  Việc củng cố lò phản ứng HANARO để cải tiến khả năng chống chịu hoạt động địa chấn, bao gồm cả tăng cường sức chống chịu của vách lò phản ứng đã hoàn tất vào tháng 4/2017. Nhưng mãi đến tháng 9/2017 vừa qua, Viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử Hàn Quốc mới đạt được thỏa thuận với chính quyền địa phương, trong đó cho phép nhóm giám sát dân sự được quyền thẩm định sự an toàn của cơ sở hạt nhân ở Daejeon. Các nhà khoa học cho rằng, đây là việc làm thận trọng để ngăn ngừa tai nạn của lò phản ứng nhưng quãng thời gian chờ đợi lò phản ứng mở cửa lại kéo dài 3,5 năm “quá dài và khổ ải” như nhận xét của Sungil Park.     Ảnh hưởng đến sự nghiệp nghiên cứu  Việc đóng cửa lò phản ứng không chỉ làm ngắt quãng các dự án của các nhà khoa học mà thậm chí còn làm thay đổi hoặc kết thúc sự nghiệp nghiên cứu của họ, Sungil Park cho biết. Khi lò phản ứng HANARO ngừng hoạt động, anh đã hoàn tất đề tài về thiết bị do anh thiết kế để nghiên cứu các hệ thống từ tính có khả năng cho thấy các diễn biến mới có thểápdụng trong tính toán. Nhưng việc đóng cửa lò phản ứng cũng đặt dấu chấm hết cho các thí nghiệm của anh và anh mất dần kinh phí nghiên cứu. Do đó, Sungil Park đã quyết định chuyển sang một vị trí quản lý – giám đốc Phòng Khoa học neutron (Neutron Science D﻿ivision) của Viện Năng lượng hạt nhân Hàn Quốc KAERI. “Tôi không nghĩ là mình có thể quay lại làm nghiên cứu từ vị trí này”, Sungil Park thổ lộ. Anh đã phải chuyển công việc của mình cho một nhà khoa học khác.   Việc lò phản ứng HANARO bị đóng cửa ảnh hưởng nặng nề đến các nhà khoa học trẻ mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp, thông thường họ chờ đợi có được một bài báo trong vòng ba năm, cũng như những sinh viên vừa tốt nghiệp, nhiều người trong số họ phải hoàn tất chương trình đại học của mình mà không cần phải trải qua thực tập hoặc phải chuyển sang lĩnh vực khác. Hậu quả là “chúng tôi đã mất cả một thế hệ những nhà nghiên cứu về tán xạ neutron”, Sungil Park nói.  Một vài nhà nghiên cứu đã tìm cách cứu vãn sự nghiệp bằng cách chuyển sang làm việc tại một số cơ sở có nguồn neutron khác. Chính quyền Hàn Quốc đã lập một chương trình với kinh phí 100.000 USD để hỗ trợ các nhà khoa học ra nước ngoài thực hiện phần công việc thực nghiệm. “Các thí nghiệm về tán xạ neutron diễn ra trong thời gian tương đối ngắn và thường xuyên, do đó việc chuẩn bị, thao tác phải rất tỉ mỉ, trừ khi bạn làm việc ở một nơi có sẵn nguồn neutron”, Sungil Park giải thích. Các nhà nghiên cứu cũng gặp khó khăn trong việc điều chỉnh các thiết bị nước ngoài cho phù hợp với yêu cầu của mình.  Nhật Bản đã lập ra một quỹ cho phép họ gửi các nhà nghiên cứu ra nước ngoài nhưng chỉ một số lượng nhỏ khoảng 13% trong số 1.381 thí nghiệm dự định thực hiện tại lò phản ứng JRR-3 trong thời gian từ 2011 đến 2017 được tiếp tục làm ở nước ngoài.  Cơ quan năng lượng nguyên tử Nhật Bản thông báo vào tháng 6/2016 là sẽ khởi động lại JRR-3 vào tháng 3/2018 nhưng tiến trình này vẫn bị trì hoãn và không thể ước tính được khi nào có thể khởi động lại, theo người phát ngôn của tổ chức này.  Các nhà khoa học Nhật Bản đang tìm cách thúc đẩy nghiên cứu. Mitsuhiro Shibayama, nhà vật lý các vật chất đậm đặc tại đại học Tokyo, đã đổi các dự án nghiên cứu của mình từ tán xạ neutron sang tán xạ tia X và tán xạ ánh sáng để sinh viên của anh có thể vẫn thực hiện được nghiên cứu. Ông kể: “Số lượng các chuyên gia về tán xạ neutron đang sụt giảm một cách đột ngột. Nhiều sinh viên tốt nghiệp mà không có bất cứ kinh nghiệm về các thí nghiệm chùm tia neutron và nhiều giáo sư phải thay đổi chủ đề nghiên cứu và chuyên ngành của mình”.  Tại Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đang bắt đầu xây dựng lại cộng đồng nghiên cứu của họ vì lò phản ứng HARANO vẫn phải trải qua những đợt điều chỉnh cuối cùng trước khi các thí nghiệm có thể bắt đầu. “Đây sẽ là một tuần đầy ắp công việc nhưng cũng là một tuần hạnh phúc cho tất cả chúng tôi, những người làm việc tại HARANO”, Sungil Park vui mừng cho biết.  “Việc đưa lò phản ứng HARANO hoạt động trở lại sẽ đem lại cơ hội cho KAERI tiếp tục sản xuất đồng vị phóng xạ, khai thác nguồn neutron cho công tác R&D và đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp, đặc biệt việc sản xuất các đồng vị phóng xạ tại đây sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu điều trị cho các bệnh nhân nhi ung thư cũng như phục vụ công tác thanh tra không phá hủy” (Viện Năng lượng nguyên tử Hàn Quốc)  Thanh Nhàn dịch  TS. Trần Chí Thành (VIện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-017-08476-y  —————-  1. Lò phản ứng HARANO do Hàn Quốc xây dựng, được thiết kế trên cơ sở công nghệ Canada, và bắt đầu hoạt động từ năm 1995.      Đọc thêm: http://www.world-nuclear-news.org/C-Korean-research-reactor-resumes-operation-1212174.htm           Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao con người hay chú ý đọc tin tiêu cực hơn tích cực?      Tại sao xung quanh chúng ta có quá nhiều tin tiêu cực? Có lẽ con người hứng thú với tin xấu hơn tin tốt?    Để trả lời câu hỏi này, một nhóm nghiên cứu do nhà khoa học chính trị Stuart Soroka, tại Đại học Michigan (Mỹ) dẫn đầu đã khảo sát trên 1,100 người tại 17 quốc gia ở mọi châu lục trừ Nam Cực. Stuart Soroka cho biết ông và các đồng nghiệp của mình quan tâm đến khía cạnh tâm lý của sự thiên vị các tin tiêu cực và vai trò của nó trong việc định hình tin tức. Kết quả nghiên cứu được công bố trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ.   Trong thời kì tin tức trên toàn thế giới đặc biệt chú trọng vào những tin tiêu cực thì chủ đề nghiên cứu này rất có ý nghĩa, nhằm tạo ra những khuyến nghị cho giới báo chí và giới chính trị.   Trước đây, khi phân tích nguyên nhân của sự bùng nổ tin tiêu cực và người đọc “thiên vị” dòng tin này, có xu hướng giải thích rằng “các nhà báo tức giận, hoài nghi và họ tạo ra một loạt các nội dung tiêu cực. Điều này ảnh hưởng không tốt đối với nền dân chủ và gây hại cho cả những người đọc tin”, Soroka cho biết. Tuy nhiên ông và đồng sự cũng nghi ngờ “tin tức biểu hiện như thế không hoàn toàn là do những gì nhà báo cảm nhận mà có lẽ phần nhiều nhằm đáp ứng độc giả”.  Có một vài nguyên nhân tiến hóa giải thích cho việc tại sao người đọc dễ thiên vị những tin tiêu cực lại tồn tại. Chẳng hạn, việc lờ đi những thông tin tiêu cực như cơn bão đang đến sẽ nguy hiểm hơn việc bỏ qua những tin tốt như một chú chó giải cứu cậu bé mắc kẹt trên cây. Các nhà khoa học cho rằng việc chú ý đến tin tiêu cực nói chung là một chiến lược sinh tồn hiệu quả.  Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về hành vi thiên vị tin tiêu cực chủ yếu tập trung khảo sát thanh niên da trắng người Mỹ, ở độ tuổi đại học nên khó đưa ra câu trả lời toàn diện và chính xác. Nghiên cứu này của nhóm Soroka muốn kiểm chứng các giả thiết trước đây và tìm ra những kết luận khái quát hơn. Để có cái nhìn toàn diện, nhóm của Soraka đã chọn mẫu là 1,156 người tại 17 quốc gia: Brazil, Canada, Chile, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Ghana, Ấn Độ, Israel, Ý, Nhật Bản, New Zealand, Nga, Senegal, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Các nhà khoa học đã cố gắng mở rộng phạm vi nghiên cứu và chọn mẫu đa dạng. Họ tìm đến cả những khu chợ ở Ghana hay đến một khu tổ hợp xây dựng ở Ấn Độ.  Mỗi người tham gia được cho xem 7 bản tin bất kì – cả tiêu cực và tích cực – trên kênh truyền hình BBC World News. Khi người tham gia xem tin tức, các nhà nghiên cứu theo dõi nhịp tim và độ dẫn điện trên da họ. Về cơ bản, những dao động nhỏ và các mức độ mồ hôi có thể chỉ ra mức phản ứng sinh lý “chiến-hay-chạy” của một người.  Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, trung bình, hơn quá nửa người xem thể hiện sự thiên vị với các tin tiêu cực. Soroka cho biết biểu hiện này thể hiện ở tất cả các quốc gia và nền văn hóa.  Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng ở cấp độ cá nhân, dường như có mức biến đổi khá cao trong các phản ứng. Có khoảng 2/5 người tham gia cho thấy họ không có sự thiên vị nào đối với tin tiêu cực hoặc tin tích cực.  Richard Lau, nhà tâm lý học chính trị tại Đại học Rutgers (Mỹ) không tham gia vào nghiên cứu này, nhận xét điều này có nghĩa là câu cách ngôn “If it bleeds, it leads” (càng máu me càng tốt) có thể không nên được áp dụng cho mọi trường hợp nữa. “Một trong những điểm rất đáng chú ý của nghiên cứu này chính là việc có rất nhiều biến thiên trong con người. Điều này đúng trên mọi nền văn hóa”, Lau nói.  Soroka cho rằng điều đó cũng có nghĩa là đơn vị báo chí có thể chuyển tỷ lệ tin xấu sang tin tốt mà vẫn duy trì được sự chú ý của từng độc giả. “Không phải là hầu hết mọi người đều muốn có tin tiêu cực mọi lúc mọi nơi. Hiểu được điều đó có thể mở ra những khả năng mới cho tin tức”.¨  Ngô Hà lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-news-negative-human-attention-blame.html?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao coronavirus lan nhanh dễ dàng giữa người với người?      Các nhà nghiên cứu nhận ra các đặc điểm cực nhỏ có thể giúp cho mầm bệnh này dễ lây nhiễm hơn với virus SARS – và bảo vệ khi có thuốc nhắm đích.      Khi số lượng người bị nhiễm coronavirus lên tới 100.000 người trên khắp thế giới, các nhà nghiên cứu chạy đua để hiểu điều gì khiến cho nó lây lan nhanh một cách dễ dàng như vậy.  Một số lượng lớn phân tích cấu trúc và di truyền đã nhận ra một đặc điểm quan trọng của virus này  – một protein trên bề mặt của chúng – có thể giải thích tại sao nó lây nhiễm trên các tế bào người một cách nhanh chóng.  Các nhóm nghiên cứu đang điều tra con đường mà coronavirus xâm nhập vào các mô của người – một thụ thể trên các màng tế bào. Cả thụ thể tế bào và protein của virus có thể là đích đến tiềm năng cho thuốc ngăn mầm bệnh phát triển, nhưng theo các nhà nghiên cứu, còn quá sớm để đảm bảo được điều đó.  “Hiểu về việc truyền lây của virus là điều chính yếu để có thể ngăn chặn nó cũng như phòng ngừa trong tương lai”, David Veesler, một chuyên gia virus học cấu trúc tại trường đại học Washington ở Seattle, người đăng phát hiện của nhóm nghiên cứu do mình dẫn dắt về protein của virus này lên trang bioRxiv nói.  Chủng virus mới này lây lan nhanh hơn nhiều so với những loài khác cùng gây ra dịch viêm phổi cấp như SARS (cùng họ hàng Corona), và lây nhiễm cho số người lớn gấn 10 lần SARS.  Kẻ xâm nhập lợi hại  Để lây nhiễm cho một tế bào, corona virus sử dụng một protein “sắc nhọn” liên kết với màng tế bào đó, một quá trình được các enzyme cụ thể của tế bào kích hoạt. Phân tích hệ gene của coronavirus mới cho thấy, protein lợi hại của virus hoàn toàn khác biệt với những virus cùng họ, và trên protein có một vị trí được enzyme của tế bào vật chủ kích hoạt – gọi là furin.  Đây là một thông tin đầy ý nghĩa bởi furin được tìm thấy trong rất nhiều mô người, bao gồm phổi, gan và ruột non, nghĩa là virus này có tiềm năng tấn công nhiều nội quan cơ thể người, Li Hua, một nhà sinh học cấu trúc tại trường đại học KH&CN Hoa Trung ở Vũ Hán, Trung Quốc cho biết. Phát hiện này có thể giải thích một số triệu chứng được quan sát ở người nhiễm virus, như làm suy gan, Li nhận xét. Ông là đồng tác giả một phân tích di truyền của coronavirus được đưa lên trang ChinaXiv vào ngày 23/2/2020.  SARS và các corona virus khác không có các điểm kích hoạt furin. Vị trí kích hoạt furin “tạo cho virus này sự khác biệt hoàn toàn với SARS ở cách nó xâm nhập các tế bào, và có thể dẫn đến những ảnh hưởng bền vững của virus và sự lây nhiễm của nó”, Gary Whittaker, một nhà virus học tại trường đại học Cornell ở Ithaca, New York, nói. Nhóm nghiên cứu của ông đã xuất bản một phân tích cấu trúc protein tấn công của coronavirus trên bioRxiv vào ngày 18/2/2020.  Nhiều nhóm nghiên cứu khác đã nhận diện được điểm kích hoạt như tăng cường khả năng của virus để lây lan giữa người với người. Họ lưu ý các điểm này đã được tìm thấy ở nhiều virus khác cũng dễ dàng lây lan theo cách như vậy. Nhưng trên các virus cúm khác, điểm kích hoạt được tìm thấy trên một protein gọi là haemagglutinin, không phải trên protein đặc biệt này.  Cần thận trọng  Nhưng một số nhà khoa học cảnh báo về việc phóng đại vai trò của vị trí kích hoạt khiến coronavirus có khả năng lây lan một cách dễ dàng này. “Chúng tôi không biết liệu điều này sẽ là một vấn đề lớn hay không,” Jason McLellan, một nhà sinh học cấu trúc tại trường đại học Texas at Austin nói. Ông là đồng tác giả một phân tích cấu trúc khác của coronavirus, mới xuất bản trên Science vào ngày 20/2/2020.  Các nhà khoa học khác thận trọng trong so sánh các điểm kích hoạt furin trên virus cúm với những con coronavirus mới. Protein haemagglutinin trên bề mặt của virus cúm không giống hay liên quan đến protein “tấn công” của coronaviruse, Peter White, một nhà virus học tại trường đại học New South Wales ở Sydney, Australia, nhận xét.  Và virus cúm là nguyên nhân dẫn đến bệnh dịch chết chóc lớn bậc nhất lịch sử loài người, cúm Tây Ban Nha năm 1918, thậm chí còn không có điểm kích hoạt furin, theo Lijun Rong, một nhà virus học  tại trường đại học Illinois ở Chicago.  Whittaker nói rất cần tiến hành các nghiên cứu trên tế bào hoặc các mô hình động vật để kiểm nghiệm chức năng của điểm kích hoạt. “Không thể dự đoán trước về coronavirus này được và các giả thiết tốt có khi lại thành sai,” ông nói. Nhóm nghiên cứu của ông đang kiểm nghiệm cách loại bỏ hoặc biến đổi vị trí ảnh hưởng đến chức năng của protein “tấn công”.  Thuốc nhắm đích  Nhóm nghiên cứu của Li đang tìm kiếm các phân tử có thể loại bỏ được furin, vốn có thể được coi như các liệu pháp điều trị tiềm năng. Nhưng tiến trình nghiên cứu của họ rất chậm chạp bởi chính dịch bệnh. Li sống ở trong trường và hiện chỉ có thành viên của nhóm mới có thể vào được phòng thí nghiệm của ông.  Nhóm nghiên cứu của McLellan ở Texas cũng đã nhận diện được đặc điểm khác thể giúp giải thích tại sao coronavirus mới lây nhiễm cho các tế bào người nhanh đến vậy. Các thí nghiệm của họ chứng tỏ protein “tấn công” của virus liên kết với một thụ thể trên các tế bào người, vẫn được gọi là enzyme chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2) – liên kết chặt, ít nhất gấp 10 lần so với protein “tấn công” trên virus SARS. Nhóm nghiên cứu của Veesler đã tìm thấy điều này, và có thể nó cho thấy thụ thể đó là đích tiềm năng khác cho các loại vaccine hoặc các liệu pháp điều trị, ví dụ một loại thuốc có khả năng ngăn chặn thụ thể này, từ đó có thể khiến coronavirus khó xâm nhập các tế bào hơn.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00660-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao đêm tối?      Các quan trắc thiên văn chỉ nhằm miêu tả ba điều cơ bản: một là, vật thể ở đâu? hai là, vật thể sáng cỡ bao nhiêu? ba là, vật thể có màu gì? Thật vậy, gần hết tri thức về thiên văn học mà loài người đã nhọc nhằn thu lượm được suốt mấy ngàn năm văn minh là chỉ dựa trên cơ sở của ba quan sát đơn giản này .       Tôi xin đi thẳng vào vấn đề. Thiên văn hay Vũ trụ học thường bị xem như là một chủ đề xa xôi, khó hiểu và thiếu tính thực tiễn. Và hình ảnh các nhà thiên văn như những anh chàng dở hơi tối ngày chăm chú nhìn lên trời mà quên bẵng những việc dưới đất cũng không làm cho bộ môn này hấp dẫn thêm bao nhiêu.  Suốt nửa thế kỷ trước, khi mà nền giáo dục và khoa học nước ta đi từ con số không đến những phát triển vượt bậc, với số lượng cán bộ có năng lực chuyên môn đủ để lo cho việc học hành và đào tạo của bao thế hệ người dân. Từ trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, Viện Khoa Học Việt nam đã được hình thành (1968), điều này cho thấy đội ngũ các nhà khoa học Việt nam đã trưởng thành rất nhanh và đầy hứa hẹn. Ngoài những đóng góp mang tính cơ bản trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, những nhà khoa học thuộc thế hệ tiên phong ở nước ta còn chăm lo việc giáo dục và cập nhật những phát triển khoa học cho quảng đại quần chúng. Vậy mà với một số đáng kể của thành phần có giáo dục trong nước, thiên văn học trong giai đoạn này vẫn còn bị nhầm lẫn với ngành khí tượng hay chuyện chiêm tinh tướng số (!). Tháng 12 năm 1993, GS Trần Thanh Vân tổ chức chương trình hội thảo Vật lý Rencontres du Vietnam (Gặp gỡ Việt Nam) lần đầu tiên tại Hà nội, có sự tham gia đông đảo của các nhà vật lý thiên văn quốc tế. Báo chí và những người yêu thiên văn  trong nước bắt đầu lạc quan về một tương lai sáng sủa hơn của một nền thiên văn học cho nước nhà. Năm 2000 đã đi qua khá lâu, và cho đến thời điểm này, trong các chương trình học ở nước ta, bộ môn này vẫn chưa được dạy và học rộng rãi. Đây là một thiếu sót đáng tiếc. Sẽ còn lâu mới cải thiện được tình cảnh này, và người viết bài này thật tâm cũng không có tham vọng là trong chốc lát sẽ thay đổi được cách nhìn về thiên văn/vũ trụ học đã có trong số đông bạn đọc chúng ta. Những điều mà tôi muốn kể lại với bạn đọc dưới đây chỉ liên hệ đến một số cá nhân, hay chính xác hơn là những ý tưởng của họ, đã góp phần thúc đẩy và dẫn đến những thay đổi mang tính quyết định trong đời sống cũng như trong cách suy nghĩ của con người hay của số đông chúng ta ở thế giới ngày nay. Đây là những tên tuổi đã đi vào lịch sử mà ta thường gọi là thiên tài, những cá nhân siêu việt. Nhưng đáng kể hơn là những gì họ đã để lại đến hôm nay và liên quan thiết thực đến bạn và tôi, ấy là những đóng góp hay những ý tưởng khoa học của họ. Mà phải nói ngay là một số những ý tưởng chủ đạo của những nhà khoa học này thường là chẳng cao siêu hay cách biệt gì mấy, mà cũng không quá phức tạp. Nhiều khi chúng như là những điều hiển nhiên.  Có một thực tại hiển nhiên trong thiên văn mà ít khi ta nói đến. Đó là trời thì cao, cho nên hầu như tất cả những gì con người có thể làm được là chỉ có ngước mắt nhìn mà thôi. Công việc nhìn này, còn gọi là quan trắc bởi vì phải vừa nhìn vừa ghi chép tỉ mỉ, có khi cũng bị cản trở vì mây mù hay vì vật thể cần quan sát hơi mờ. Mọi cố gắng, như làm kính thiên văn lớn rồi mang lên núi cao, hay vượt lên bầu khí quyển bằng bóng thám không, hay đem thiết bị quan trắc ra khỏi vùng hấp dẫn của trái đất bằng phi thuyền không gian, cùng những phát triển kỹ thuật hiện đại và tốn kém khác, hết thảy cũng chỉ để vượt qua những trở ngại này để nhìn thấy cho tốt hơn mà thôi. Có nghĩa là làm gì thì làm, các quan trắc thiên văn chỉ nhằm miêu tả ba điều cơ bản: một là, vật thể ở đâu? hai là, vật thể sáng cỡ bao nhiêu? ba là, vật thể có màu gì?  Thật vậy, gần hết tri thức về thiên văn học mà loài người đã nhọc nhằn thu lượm được suốt mấy ngàn năm văn minh là chỉ dựa trên cơ sở của ba quan sát đơn giản này[1].  1.  Chuyện ngày xưa  Ý tưởng đầu tiên tôi muốn đề cập đến là chuyện trái đất xoay chung quanh mặt trời. Có lẽ với số đông chúng ta đây là vấn đề dễ hiểu, hay ít ra cũng khá quen thuộc. Quả là tôi muốn lạm dụng sự quen thuộc này để mong cầm chân bạn đọc lâu hơn một chút.  Sự chuyển động của trái đất vốn liên quan mật thiết đến câu hỏi đầu bài. “Tại sao ban đêm trời tối?” Câu trả lời đã có từ gần năm trăm năm trước mà mỗi học sinh cấp một ngày nay đều thuộc lòng: do trái đất xoay quanh trục của nó – một nửa về phía mặt trời là ban ngày, và nửa kia bị khuất mặt trời là ban đêm.  Đây là một câu hỏi cũ rích. Nhưng câu trả lời đúng đắn, hay nói chính xác hơn, câu trả lời nghiêm túc chỉ thật sự được trình bày cách đây chưa đầy năm trăm năm.  Trong cái bể văn minh của nhân loại, Kim Tự Tháp năm ngàn năm hay Vạn lý trường thành ba ngàn năm, thì bốn năm trăm năm trước đây, lúc nhà toán học người Ba Lan Copernicus công bố công trình kinh điển của mình, chỉ là con số lẻ thời gian và vẫn còn tương đối mới. Nói như thế để thấy rằng câu hỏi đầu bài đặt ra quả thực là câu hỏi khó, các bậc cha ông đã không quản mày mò. Trước Copernicus gần hai ngàn năm, Aristotle và các bậc thánh hiền khác cũng đã mày mò như thế. Họ, cũng như ông bà mình, cho rằng đêm tối là do mặt trời lặn. Vũ trụ quan của họ bao gồm trái đất là trung tâm, và mọi thiên thể, bao gồm mặt trời, các hành tinh và những vì sao đều xoay quanh trái đất 24 giờ một ngày; toàn là những điều mà ta chỉ cần ngước lên nhìn là thấy.    Viết đến đây tôi thấy băn khoăn. Lỡ mà có bạn dọc than phiền: “Ôi dào! Vũ trụ quan với nhân sinh quan… Biết đâu là đúng, đâu là sai. Đúng bây giờ mà ngàn năm sau sai thì cũng vô nghĩa. Điều khác biệt giữa trái đất xoay quanh mặt trời hay mặt trời xoay quanh trái đất thì liên quan gì đến thế giới này?” Bản thân tác giả cũng thông cảm với những phản ứng như vậy. Quả thực với nhiều người trong chúng ta, chuyện đúng sai rất là vô chừng, nhiều khi cũng vô thưởng vô phạt. Nhưng bảo rằng điều này vô nghĩa, hay không liên quan đến thế giới này, không có mang lại ích lợi thiết thực đến cho cá nhân bạn đang đọc bài viết này thì người viết không đồng ý. Ta sẽ bàn tiếp vấn đề này, nhưng bây giờ thì hãy trở lại câu chuyện của đầu bài. Hệ địa tâm, tức là mô hình mà mọi thiên thể xoay quanh trái đất, dựa trên một dữ kiện thiên văn quan trọng: có ngày và có đêm trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Mặt trời xoay quanh trái đất thì mới có ngày có đêm. Nếu bảo là trái đất xoay quanh mặt trời, thì dường như hệ quả trực tiếp mà ta buộc phải lựa chọn cho thế giới này là, một nửa sẽ là sáng lòa thiên thâu, nửa còn lại là triền miên đêm tối – chứ không có nối tiếp hết ngày rồi đêm như ta thấy. “Không nhất thiết phải như thế,” Copernicus đã ôn tồn chỉ ra từ gần năm trăm năm trước. Để cho ngày và đêm vẫn thay phiên nhau hiện diện trên mặt đất, Copernicus đã làm một chuyện không ôn tồn chút nào, một chuyện “động địa”: ông bắt trái đất xoay quanh chính nó.  Dĩ nhiên đám hậu sinh chúng ta đã “biết” được câu trả lời này. Nhưng đây không phải là điều dễ hiểu, hay dễ chấp nhận đối với những người đương thời của Copernicus, chưa kể tới áp lực từ tòa thánh La Mã vốn cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Thời kỳ này Columbus vừa mới tìm thấy châu Mỹ, con người bắt đầu nhận ra là trái đất tròn. Dù sao, trong kinh nghiệm thường nhật của chúng ta, trái đất vẫn là bất di bất dịch.  Nếu mà trái đất xoay quanh chính nó hay di chuyển quanh mặt trời, tại sao ta không cảm thấy chuyển động này? Còn nữa, cái gì làm trái đất phải xoay vần như con vụ thế? Cứ thử tưởng tượng, ông bà chúng ta thời ấy – cũng sống trong cảnh đất nước thái bình như bây giờ, cuộc chiến tranh gần họ nhất đã chấm dứt hơn một trăm năm, cái thời kháng chiến mười năm chống quân Minh của Lê Lợi Nguyễn Trãi – mà nghe lời đề nghị của Copernicus, rằng những lời dạy của các bậc thánh hiền về một trái đất trung tâm vũ trụ là không đúng, và hãy để cho trái đất quay mà tạo ra ngày và đêm, thì họ sẽ phản ứng ra làm sao? Tôi e rằng ông bà ta sẽ phì cười. Người dễ dãi hơn trong số họ sẽ bảo: “Sao mà chẳng được.” Đa phần chúng ta có lẽ cũng sẽ phản ứng lấy lệ như thế; cuộc sống còn bề bộn biết bao nhiêu điều thiết thực hơn để lo (những người ham mê thiên văn trong nước ngày nay khi đề cập đến việc phát triển ngành này cũng nhận được phản ứng tương tự từ cấp lãnh đạo khoa học …).  Vào thời điểm ấy số người tin vào những đề xuất của Copernicus có thể kể trên đầu ngón tay. Sự phủ nhận của Tòa Thánh Vatican về hệ nhật tâm ngự trị rất lâu trong suy nghĩ của con người trong xã hội châu Âu suốt thời kỳ phục hưng. Tycho Brahe, nhà thiên văn người Đan mạch cùng thời của Copernicus, cũng không tin vào mô hình Nhật tâm. Nhưng ông cũng không đồng ý với việc Tòa Thánh dùng quyền lực của Giáo hội để áp đặt lên quá trình nhận thức của con người về bản chất của tự nhiên. Tưởng cũng nên nhắc lại, ý tưởng trái đất đi quanh mặt trời không phải là một nổi loạn tư duy vô cớ, mà chính là xuất phát từ thực tiễn quan sát. Các nhà thiên văn thời ấy đã bắt đầu phát hiện một chi tiết lạ: sao Hỏa trong quá trình dịch chuyển trên bầu trời (hay là xoay quanh trái đất theo cách suy nghĩ cũ), thỉnh thoảng lại đi giật lùi một chút trước khi quay trở lại để đi theo hướng cũ. Đây là chi tiết quyết định khiến Copernicus cho rằng trái đất, sao Hỏa và các hành tinh khác cùng xoay quanh mặt trời. Và việc sao Hỏa xuất hiện như đi giật lùi chỉ là do chuyển động của trái đất, vốn nằm gần mặt trời hơn. Nghĩa là nhìn từ hướng mặt trời ra, viêc sao Hỏa xuất hiện như đi giật lùi sẽ xảy ra khi trái đất  đi từ phía sau mà vượt lên trước sao Hỏa, vốn nằm ở quĩ đạo bên ngoài. Xét ra thì ý tưởng của Copernicus đâu có gì là phức tạp quá đâu. Brahe hiểu mô hình hệ nhật tâm của Copernicus. Từ khi còn rất trẻ, Brahe đã nhận ra rằng đa số những dữ liệu thiên văn là không chính xác, và ông tin rằng những luận cứ của Copernicus có thể bác bỏ được nếu dựa trên những dữ liệu thiên văn đáng tin cậy hơn. Dữ liệu thiên văn ở đây chỉ bao gồm vị trí của các hành tinh trên bầu trời theo thời gian (câu hỏi “vật thể ở đâu?” đóng vai trò quyết định). Brahe dành gần hai mươi năm thu thập những dữ liệu này. Ông muốn xét lại, có thực là sao Hoả và các hành tinh khác đã đi lùi một chút hay chỉ là sai lầm trong việc quan sát. Hãy nhớ rằng là cho đến thời điểm này, người ta vẫn chưa biết đến kính thiên văn.   Brahe và những nhà thiên văn khác phải dựa trên các loại thước lượng giác đinh hướng thô sơ để đo đạc vị trí của các thiên thể. Brahe nghi là những dữ liệu mà Copernicus dùng có mức sai số khá lớn, chừng 10’ hay là 1/6 độ. Các đo đạc thiên văn của Brahe chính xác hơn hai chục lần, với sai số chưa đây 0,5’, con số này tương đương với góc chắn của một hạt cát khi để cách một sải tay. Có trong tay những dữ liệu quí báu hơn hai mươi năm, nhưng Tycho Brahe không biết làm sao để diễn dịch chúng. Ông giao việc phân tích những dữ kiện này cho Kepler, một nhà toán học trẻ người Đức. Trớ trêu thay, Kepler chỉ ra rằng những dữ kiện của Brahe cho thấy là Sao Hỏa đã có những bước đi giật lùi rất rõ rệt và xác nhận Copernicus đã đúng một cách xuất sắc[2].             Quĩ đạo của sao Hỏa, nhìn từ Mặt Đất.  Khi trái đất và sao Hỏa gần đối nghịch nhau (nhìn từ mặt trời), sao Hỏa sẽ xuất hiện như đi ngược lại so với hướng trước đó.           Cuốn sách De Revolutionibus Orbium Coelestium (Về Những Vòng Xoay của Các Thiên thể) của Copernicus, công bố vào năm 1543 trong lúc ông đang hấp hối trên giường bệnh, chính là tảng đá đặt nền móng cho khoa học hiện đại.  Từ Revolutionibus trong tiếng La tinh (hay Revolution trong tiếng Anh) vốn có nghĩa là Vòng Xoay, từ sau Copernicus đã mang một ý nghĩa mới, xứng đáng hơn: Cách mạng. Dĩ nhiên sự việc không đơn giản là nhân loại bỗng một hôm đọc “Vòng Xoay”rồi bừng sáng trong tim với một “mặt trời chân lý,” và người người đua nhau làm thí nghiệm ngay sau đó. Cuộc cách mạng khoa học diễn ra thầm lặng hơn, rời rạc và dai dẳng hơn, nhưng cũng không kém phần khốc liệt. Những kẻ trong nhóm đổi mới đã phải trả một giá đắt: gần sáu mươi năm sau ngày Copernicus mất và chỉ vài năm trước khi Kepler công bố kết quả phân tích về quỹ đạo sao Hỏa, Giordano Bruno đã phải lên dàn hoả thiêu vì cổ xuý cho mô hình nhật tâm. Gần ba mươi năm sau còn xảy ra vụ án Galileo, người đầu tiên dùng thấu kính mà sau này ta gọi là kính thiên văn để quan sát và phát hiện ra các vệ tinh của sao Mộc cũng có  những chuyển động tương tự. Để tránh giàn hỏa thiêu, Galileo phải tự phê bình và kiểm điểm trước Tòa án Giáo đình (The Inquisisiton) về việc rao dạy tư tuởng thiên văn mới.              Tác giả phía trước Nhà thờ Týn trong Phố cổ, Praha, Czech.  Phần mộ của Tycho Brahe (1546-1601) nằm trong nhà thờ cổ xưa này, vốn đuợc xây từ trước thế kỷ 13.             Trên đây là những chuyện cũ mà nhiều bạn đọc đã biết hết rồi. Người viết muốn nhắc lại những sự kiện liên quan đến Tycho Brahe và Johannes Kepler là để nhấn mạnh một điều: tính đúng đắn của hệ nhật tâm, mà suy rộng hơn là bản chất của tự nhiên nói chung, phải được kiểm chứng bằng thực tiễn quan sát, chứ không bởi lòng tin mù quáng vào một lời sấm truyền của một bậc thánh nhân hay suy luận của một kẻ xuất chúng nào đấy. Đây có lẽ là một trong những bài học đầu tiên trong lịch sử về phương thức khoa hoc. Và họ cũng cho thấy là ngay cả với lý thuyết thành công nhất của những thiên tài cũng có những thiếu sót hay sai lầm nhất định. Từ những đo đạc chính xác của Brahe, Kepler còn chỉ ra thêm là quĩ đạo của các hành tinh chung quanh mặt trời không phải là đường tròn như Copernicus đã nghĩ, mà là đường bầu dục và mặt trời nằm ở một trong hai điểm hội tụ.  Đây là định luật đầu trong ba định luật của Kepler mà chúng ta đã học qua ở các lớp vật lý đại cương. Ba định luật này của Kepler trở nên cơ sở thực nghiệm để năm mươi năm sau Newton xây dựng lý thuyết vạn vật hấp dẫn, đặt nền tảng vững chải cho loài người đi vào kỷ nguyên khoa học mà ta đã biết.  Trong khoa học tính đúng đắn của một ý tưởng là quan trọng, nhưng bài học ở trên chứng tỏ việc xác định tiêu chí này không nhất thiết phải là điều cấp bách hàng đầu. Kinh nghiệm để lại của loài người với gần năm trăm năm làm khoa học đã cho thấy, đúng hay sai có khi sẽ biết ngay, nhưng nhiều khi cũng là chuyện “hạ hồi phân giải”. Quá trình chứng minh ý tưởng khoa học mới thực là nảy sinh và có lợi cho người khác; nghĩ lại xem, việc kiểm chứng hệ nhật tâm chưa xong mà đã dẫn đến việc hoàn thành lý thuyết vạn vật hấp dẫn, không phải là bội thu sao? Ta thấy là mục tiêu tối hậu của phương thức khoa học thực ra không nhằm mục đích để chứng minh sự thật; sự thật hay là thực tại vật lý nếu có, sẽ đến như một hệ quả tự nhiên của quá trình kiểm chứng bằng tính toán (hay tư duy) và thực nghiệm mà thôi. Tiêu chí hàng đầu mà phương thức khoa hoc hướng tới, theo thiển ý của người viết, là việc bảo đảm tính thống nhất trong mọi sự việc nếu được. Lấy ví dụ, sự thật có đúng là trái đất có xoay quanh chính nó và quanh mặt trời hay không? Hãy nhớ rằng tới thời điểm này, thời đại con người đã phóng hàng trăm phi thuyền không gian các loại, chiếc đi xa nhất, Voyaer, đã ra khỏi hệ măt trời, vẫn chưa có bức ảnh nào cho thấy Trái đất với 7 hành tinh còn lại xoay quanh mặt trời cả.  Những tấm hình mà ta thấy nhan nhản trong sách giáo khoa, các hành tinh với những đường cong quĩ đạo, chỉ là những tranh vẽ minh họa. Dẫu chưa có ai chính mắt trông thấy, nhưng chúng ta đã kết luận từ lâu là bức tranh hệ mặt trời của Copernicus, không phải của Aristotle, mới là phù hơp với thực tại. Chúng ta kết luận được điều này là nhờ bởi tính thống nhất của vấn đề: so sánh sự tuần hoàn của mùa màng trên trái đất, so sánh với sự chuyển động của các mặt trăng chung quanh sao Hỏa, các mặt trăng chung quanh sao Mộc, hay các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực…  Một trong những điều thiết thực cho bạn và cho tôi mà phương thức khoa học đã mang lại, ngoài những thuốc men, xe cộ, máy bay, điện thoại di động… nghĩa là những thứ mà người đời dè bỉu là tiện nghi vật chất, là chúng ta đã bớt sợ. Ông bà mình ngày trước sợ thiên nhiên, sợ đủ thứ. Mà không phải chỉ có loài người chúng ta mới biết sợ: muôn vật sống trong nỗi sợ hãi triền miên. Dường như sợ là một phần của bản năng sinh tồn – sợ để tránh, sợ để giữ mình. Nhưng sợ lung tung cũng khó sống. Khoa học khiến ta tự tin hơn trong nhiều tình huống. Tôi không có ý lạc quan theo kiểu anh cán bộ cách mạng với người nông dân: ‘Từ nay con người sẽ làm chủ đời mình’. Nhưng kinh nghiệm của phương thức khoa học cho thấy tự nhiên không đến nỗi quá bí ẩn, và có thể ước đoán được. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là khoa học sẽ giải thích mọi chuyện trên đời này; hình như chẳng có gì giải thích được mọi chuyện trên đời này.  2. Chuyên hôm qua  Lời giải thích nào cũng có những ngõ ngách riêng của nó. Tôi muốn quay trở lại với câu hỏi đầu bài thêm một lần nữa. Đêm hay ngày là do trái đất xoay. Thì đã đành. Nhưng hãy ngẫm lại xem. Ngoài mặt trời ra, còn hằng hà sa số các vì sao khác vốn cũng sáng như mặt trời vậy nhưng vì chúng ở rất xa ta nên xuất hiện lu mờ hơn. Và nếu vũ trụ là hằng hữu và mật độ vì sao khắp mọi chỗ là như nhau, thì lượng ánh sáng lu mờ từ những vì sao này cộng lại cũng đủ làm cho cái nền trời lúc nào cũng phải sáng trưng mà không cần đến mặt trời, nghĩa là quanh năm suốt tháng không thể có đêm tối! Thật quả là “nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong”.  Cơ sự này không phải là do người viết vặn vẹo nên, mà do chính ông Heinrich Olbers, một nhà thiên văn người Đức chỉ ra (1826). Cái gọi là nghịch lý Olbers này thực ra phải mang một tên khác, bởi trước Olbers một nguời cùng thời với Copernicus là Thomas Digges đã thắc mắc chuyện này (1573). Để không mất thêm thì giờ của bạn đọc đáng kính, tôi xin nói ngay lý do đêm vẫn tối: vũ trụ mà ta quan sát được không phải là hằng hữu. Bởi vì tốc độ ánh sáng là hữu hạn, nhìn ra xa cũng có nghĩa là nhìn về quá khứ – mặt trời ta nhìn thấy là của 8 phút trước đấy. Và vì sao xa nhất chỉ xuất hiện sau khi vũ trụ hình thành, tức là mật độ vì sao mọi nơi không phải như nhau mà giảm xuống zero khi ta về gần vô cực.                Các vạch đen, còn gọi là vạch hấp thụ, trong phổ thấy được chụp từ một nhóm ngân hà (phải), đồng loạt lệch về phía màu đỏ so với vạch phổ từ mặt trời (trái).          Ai mà chẳng bị khớp vía đứng trước những bí ẩn của vũ trụ bao la? Các vạch đen, còn gọi là vạch hấp thụ, trong phổ thấy được chụp từ một nhóm ngân hà (phải), đồng loạt lệch về phía màu đỏ so với vạch phổ từ mặt trời (trái).Có lẽ màn bí mật đến choáng ngợp này khiến nhiều người trong chúng ta bỏ cuộc rất sớm trong chuyến đi tìm hiểu về vũ trụ. Quả thực là bài toán vũ trụ học phức tạp, nhưng nó không phức tạp hơn hay khó hơn bài toán về hệ nhật tâm hay những vấn đề khác mà tổ tiên ta đã đối đầu, nó chỉ ít quen thuộc hơn với ta mà thôi. Những người khôn ngoan như Digges hay Olbers nhận ra rất sớm điều này, và cách đặt vấn đề hợp lý của họ – dựa trên cơ sở của những tư duy khoa học đã có sẵn – mang tính dẫn dắt rất cao. Nghịch lý Olbers đặt một nghi vấn về bức tranh cố hữu của vũ trụ, vốn hiện diện như một cõi vô lượng vô biên bất di bất dịch. Nó cho thấy có điều gì không ổn trong cái giả định thụ động của chúng ta về tính hằng hữu đời đời của vũ trụ. Câu hỏi đơn giản về bức màn tối của vũ trụ mà Olbers và những người đi trước ông đã nêu lên đặt vũ trụ học của thế kỷ 19 vào thế bí, và câu trả lời thỏa đáng đã phải để ngõ trong một thời gian dài.   Cho đến một trăm năm sau, khi mà những tiến triển kỹ thuật bắt đầu cho phép các nhà thiên văn nhìn ra bên ngoài hệ ngân hà của chúng ta, và đặc biệt là khi mà nhận thức về vũ trụ bắt đầu có những chuyển biến cơ bản nhờ những bước nhảy vọt trong vật lý lý thuyết đầu hồi thế kỷ 20. Người đặt nền tảng cho nhận thức mới này, chẳng ai khác hơn, là Einstein và lý thuyết tương đối rộng của ông (1916). Các phương trình trường Einstein cho phép các nhà nghiên cứu xác định cụ thể đặc tính không thời gian của vũ trụ, dẫn đến khái niệm về một vũ trụ giản nở theo thời gian (Friedman 1922, Lemaitre 1927). Điều này đã mau chóng được kiểm chứng bằng việc Hubble công bố kết quả quan sát các vạch phổ từ các hệ ngân hà (1924). Vạch phổ chỉ là từ chuyên môn để miêu tả cường độ ánh sáng biến thiên theo bước sóng. Giai đoạn này các nhà thiên văn đã được trang bị thêm vật lý lượng tử, và người ta biết là mỗi vạch phổ đều phải đứng ở một bước sóng hay tần số nhất định, tức là có màu nhất định (trường hợp này câu hỏi: “Vật thể màu gì?” đóng vai trò quyết định). Hubble chỉ cho thấy so với các vạch phổ đã chụp được trong hệ ngân hà chúng ta, đa số các vạch phổ từ những hệ ngân hà khác đồng loạt lệch về phía bước sóng dài hơn[3]!  Tức là các dãy ngân hà này xuất hiện đỏ hơn so với bình thường. Điều này được cắt nghĩa là do vũ trụ giản nở, vạch phổ được phát ra trong lúc vũ trụ còn trẻ và kích thước còn nhỏ hơn, lúc đến kính thiên văn của chúng ta thì cũng đã mất thêm mấy tỉ năm, kích thước của vũ trụ dài thêm ra, và kết qủa là độ dài bước sóng phải nới thêm ra để tỉ lệ với mực tăng trưởng kích thước của vũ trụ.     Không biết là câu cắt nghĩa ở trên có làm cho người đọc thấy rối trí hay không. Về phần người viết thì thấy khá là lủng củng, dầu tác giả đã muốn tránh những vết xe đã đổ: suốt cả bài viết cứ bàn những chuyện mà người đọc đã quá hiểu rõ, đến khi đụng vấn đề gai góc cần phải giải mã thì lại lướt qua rất nhanh vì đã vượt quá thời gian hay số trang qui định (mà quả thực là bài viết này cũng sắp vượt quá số trang qui định). Bạn đọc rộng lượng có thể bỏ qua cho sự lủng củng ở trên. Vậy thì, có thêm hệ quả nào khác – hy vọng ít rối trí hơn – từ sự giãn nở của vũ trụ không?   Hãy nhớ là Planck đã chứng tỏ năng lượng của ánh sáng (hay sóng điện từ) tỉ lệ thuận với tần số hay tỉ lệ nghịch với bước sóng. Bước sóng càng ngắn thì năng lượng càng cao. Có nghĩa là càng trở về trước, vũ trụ càng nóng hơn. Thực ra điều này liên hệ với chuyện lệch về đỏ của các vạch phổ, cho nên có thể nói đây không phải là một hệ quả khác từ sự giãn nở của vũ trụ.  Nhưng thực ra, đây là một nhận thức cực kỳ quan trọng.     Gamow, nhà vật lý lưu vong người  Nga, là người trước tiên áp dụng mỹ mãn nhận thức trên (1948). Câu hỏi ông đặt ra là, vật chất trong thế giới này từ đâu mà ra? Các nhà vật lý có thói quen dùng từ làm ta phải giật mình. Khi họ nói vật chất, họ không có ý nói những thực thể như là con người hay chiếc điện thoại di động. Các nhà vật lý nhắm đến những nguyên tử hay phân tử làm nên những thực thể ấy. Phương trình Einstein, E = mc2, cho thấy sự chuyển đồi giữa năng lượng E và khối lượng m, hay còn gọi là vật chất.  Bom nguyên tử là một bằng chứng dữ dội cho thấy việc chuyển đổi từ vật chất sang năng lượng. Đi theo quá trình ngược lại, Gamow đoán rằng vật chất ban đầu có lẽ đã được tạo thành từ nguồn năng lượng có nhiệt độ rất cao – nóng hơn hàng triệu lần so với nhiệt độ ở trung tâm mặt trời.  Đây chính là hệ quả quan trọng bậc nhất của vũ trụ giãn nở và mô hình Big Bang. Theo mô hình này thì vào thưở ban sơ, vũ trụ chỉ có thuần một thứ là bức xạ điện từ ở nhiệt độ rất cao. Theo thời gian, vũ trụ giãn nở và nguội đi, rồi các electrons, protons lần lượt được tạo thành, và dần dà kết cấu để tạo nên các vì sao, lỗ đen, các dãy ngân hà và thế giới ngày nay.         Mặc dầu ngày nay các nhà vũ trụ học đã công nhận bức tranh vũ trụ ở trên, nhưng ban đầu mô hình Big Bang đã gây ra những phản ứng trái ngược trong dư luận. Có sự phản đối gay gắt từ các nhà vũ trụ học hàng đầu mà Hoyle là đại diện tiêu biểu, lại có sự ủng hộ nhiệt thành từ Đức Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican. Chính Hoyle, một trong những người sáng lập và cổ vũ cho thuyết Steady State, hay Trạng thái vĩnh hằng, đã gọi mỉa mai mô hình của Lemaitre và Gamow khởi xướng bằng hai từ Big Bang, để ví sự giãn nở dữ dội vào thời kỳ đầu của vũ trụ như một vụ nổ tung. Có lẽ Hoyle cũng không ngờ là danh từ này nhanh chóng trở nên thuật ngữ khoa học phổ biến. Cũng hơi oái ăm bởi mô hình lại mang cái tên do chính kẻ phản đối chứ không phải người sáng lập nó đặt ra.   3.  Chuyện ngày nay  Gamow tiên đoán một nền bức xạ đồng nhất ban đầu đã nguội đi và sẽ còn lại đến ngày nay. Nhưng ông không chỉ rõ là cường độ bức xạ còn lại ngày nay là bao nhiêu (trường hợp này dữ liệu để trả lời câu hỏi: “vật thể sáng cỡ nào?” đóng vai trò quyết định). Có lẽ do những chỉ trích về mô hình Big Bang và những khó khăn nhất thời của mô hình này[4], lời tiên đoán của Gamow, rủi thay, đã không được các nhà vật lý tiếp nhận nghiêm túc: không có một thí nghiệm nào để kiểm chứng di chỉ của bức xạ nền suốt hơn 15 năm. Sự phát hiện của bức xạ nền đã phải đến từ tình huống ngẫu nhiên, vốn cũng là điều thường tình trong lịch sử.  Mãi đến giữa thập niên 60, Penzias và Wilson của Bell Lab, trong lúc đo đạt bức xạ nhiệt của tầng khí quyển ở bước sóng viba (sóng dài ~ 1 mm), họ phát hiện là bầu khí quyển có vẻ như nóng hơn chừng 3 độ.   Lúc ấy cách Bell Labs chưa đầy 70 cây số, một nhóm các nhà vật lý do Dicke dẫn đầu tại Princeton đang gấp rút tiến hành việc đo đạt cường độ của bức xạ nền (BXN). Họ lập tức nhận ra 3 độ trội dư đo đuợc của nhóm Bell Labs chính là xuất phát từ BXN mà họ đã tìm kiếm. Sự tồn tại của BXN chính là bằng chứng thực nghiệm xác nhận tính đúng đắn của mô hình Big Bang (Penzias & Wilson 1965, Dicke et al. 1965).  Xác nhận mô hình Big Bang, cũng là đồng nghĩa với việc phủ nhận tính hằng hữu đời đời của vũ trụ. Hay nói như ông bà ta, vũ trụ là một cõi vô thường. Có nghĩa là, cũng như bao hữu thể khác, vũ trụ cũng hình thành và phát triển. Vũ trụ cũng có tuổi, ngày nay các nhà thiên văn xác định là tuổi vũ trụ không già hơn 13,7 tỉ năm! Vì sao đầu tiên ra đời cũng chỉ từ 13,2 tỉ năm trở lại đây. Từ 13,2 tỉ năm trở về trước là giai đoạn mà các nhà vũ trụ học gọi là “thời kỳ đen tối”, bởi vật chất (dưới dạng các phân tử hydrogen và helium) tuy là đã tồn tại, nhưng chưa có đủ thời gian kết cấu và tạo ra những vì sao để thắp sáng vũ trụ.  Thời kỳ đen tối kéo dài gần năm trăm triệu năm, về đến khoảng 380.000 năm sau Big Bang. Rồi từ đấy về đến 3 phút sau Big Bang là khi mà vật chất được tạo thành, còn được gọi là thời kỳ tổng hợp hạt nhân. Từ 3 phút về Big Bang thì như đã trình bày ở trên, trong toàn cõi vũ trụ chỉ có BXN.   Và như người đàng trong chúng tôi hay nói, “đã trót thì cho trét.” Dẫu biết trí tuệ loài người là có hạn nhưng đã về tới đây rồi thì không thể không hỏi luôn. Vậy thì trước Big Bang vũ trụ là cái gì?   Ta phải xác định cho rõ, vũ trụ ở đây là vũ trụ quan sát được, tức là có thể kiểm chứng bằng các phương thức thực nghiệm. Nếu chỉ dựa đơn thuần vào suy luận hay niềm tin, mà bỏ đi phần kiểm chứng của thực tiễn thì công việc của chúng ta có lẽ gần với triết học hay thần học hơn. Cho tới thời điểm này, chúng ta không có bằng chứng thực nghiệm nào cả để nói một cách đáng tin cậy về những gì xảy ra trước Big Bang.  Điều này không ngăn cản các nhà vật lý lý thuyết phỏng đoán. Họ đoán rằng, trước khi Big Bang xảy ra, vũ trụ có lẽ là … không có gì! Cả vũ trụ bao la, phức tạp, bí ẩn mênh mông, hàng tỉ năm biến động khốc liệt, hàng tỉ năm thinh lặng, tất cả có lẽ đã bắt nguồn từ hư không!  “Hết thảy đều là hư không”. Như lời một thiền sư nào đã vang vọng từ ngàn năm trước.    Các nhà lý thuyết cho rằng năng lượng ban đầu được tạo ra từ sự nhiễu loạn của chân không và tuân thủ nguyên lý bất định của vật lý lượng tử, rồi chỉ sau một khoảng thời gian cực ngắn, ~ 10-32 giây, nguồn năng lượng ban đầu trải qua một quá trình giãn nở vượt tốc độ ánh sáng, còn gọi là giai đoạn lạm phát. Ta không biết chuyện này có thực xảy ra hay không, nhưng điều kỳ diệu là những gì xảy ra sau đó có thể tính toán và kiểm chứng được. Cũng như các ý tưởng đã nảy sinh trước đó, cơ chế lạm phát cũng chứa đầy những trái khoáy, cũng có “vấn đề”. Nhưng trước mắt lạm phát giải quyết được bài toán đau đầu mà các quan sát BXN đã mang lại: cường độ nền bức xạ mọi hướng đều giống nhau.   Sự đồng nhất này là do việc cân bằng nhiệt đã xảy ra trước lạm phát.   Thêm nữa, cơ chế này sẽ làm nảy sinh bức xạ sóng hấp dẫn (khác với bức xạ sóng điện từ mà ta gọi là BXN).  Biển sóng hấp dẫn này sẽ tương tác với bức xạ điện từ, và các tính toán cho thấy sự tương tác này sẽ để lại trong BXN ngày nay một mức độ phân cực nhất định. Đây chính là di chỉ đặc thù, là dấu chỉ tay của lạm phát.     Tín hiệu phân cực được xác định là vô cùng nhỏ, xuống đến hàng tỉ lần nhỏ hơn cường độ BXN. Mức tương phản này là một khó khăn cơ bản trong việc đo đạt. Tốc độ phát triển nhanh của kỹ thuật cảm biến vi ba trong mấy năm qua cho phép các nhóm nghiên cứu lạc quan về khả năng phát hiện mức phân cực của BXN trong một tương lai rất gần. Hàng loạt những nỗ lực thực nghiệm đang được tiến hành, với sự góp mặt của nhiều viện nghiên cứu từ nhiều nước khác nhau. Người ta thử mọi cách có thể được nhằm giảm bớt mực tương phản giữa tín hiệu lạm phát và bức xạ nhiệt từ môi trường, cơ bản là hơi nước trong bầu khí quyển. Họ lặn lội lên đến đỉnh khô ráo nhất ở Nam Mỹ, nếu chưa đủ thì dùng bóng thám không, hay ra hẳn ngoài không gian bằng tàu vũ trụ. Có nhóm mang thiết bị xuống Nam Cực, nơi khô lạnh nhất địa cầu. BICEP là một thí nghiệm như vậy. BICEP đi vào hoạt động từ đầu năm 2006, và đáng kể là đến nay đã vượt lên WMAP trên chặng đường về đích (WMAP vốn là một đài quan sát thiên văn không gian của NASA đặt biệt chế tạo cho mục đích khảo sát BXN).     4. Và ngày mai  Trong vài năm nữa, một thế hệ thiết bị mới (còn gọi là BICEP2 hay SPUD) sẽ xuống Nam Cực để tiếp tục cuộc chạy đua vào giai đoạn nước rút. Ta không biết những gì sẽ chờ đợi họ ở lằn về đích. Rất có thể chặng đường sắp đến sẽ dài hơn, rất có thể sẽ chẳng có gì chờ đợi họ ở cuối đường. Dẫu thế nào, chúng ta cũng khó mà thờ ơ trước những phát triển vượt bậc đạt được gần đây trong kỹ thuật, đưa lại khối lương dữ liệu lớn lao về bầu trời. Những kết nối của thông tin qua mạng ảo sẽ cho phép nhiều người được tham gia vào cuộc phát triển vũ trụ học đầy sôi nổi này. Và biết đâu nhiều người nước Việt mình cũng sẽ được góp phần…  Đài Thiên Văn Caltech Submillimeter Observatory, Mauna Kea    [1] Có thể kể thêm hai điều cơ bản nữa: đó là tính phân cực của ánh sáng phát ra từ vật thể, và hình dạng của vật thể ấy.  Hai điều này, dầu rất quan trọng, nhưng cho đến ngày hôm nay chỉ đóng một phần nhỏ trong các dữ liệu thiên văn.  Dĩ nhiên là tất cả những quan trắc này cần phải kết hợp với yếu tố thời gian.  [2] Bằng chứng độc lập về việc trái đất xoay quanh trục của nó đến muộn hơn: phải chờ đến giữa thế kỷ 19 Léon Foucault, nhà vật lý người Pháp, mới chứng tỏ điều này bằng chuyển động quay của con lắc, còn gọi là con lắc Foucault.  [3] hiện tượng này còn gọi là lệch về đỏ (redshift), bởi màu đỏ có bước sóng dài hơn màu xanh.  [4] như câu hỏi các nguyên tố nặng từ đâu mà ra? Câu trả lời sau này được đưa ra bởi Hoyle – chính là từ siêu sao mới (supernovae) hay còn gọi là sao khách; đây lại là  một vụ nổ khá to khác.    Nguyễn Trọng Hiền*       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao khủng hoảng giấy vệ sinh trong dịch COVID-19?      COVID-19 đang khiến người dân ở nhiều quốc gia cảm thấy lo lắng và hốt hoảng. Họ đổ đến các siêu thị để mua giấy vệ sinh, gây ra cuộc khủng hoảng giấy vệ sinh (toilet paper crisis) do thiếu hụt nguồn cung tạm thời ở một số khu vực[1]. Tâm lý hoảng loạn trước dịch bệnh này là không cần thiết, bởi việc tích trữ giấy vệ sinh, từ góc độ khoa học, không giúp gì cho mọi người trong việc phòng chống những loại dịch bệnh như COVID-19[2].  Song, khủng hoảng giấy vệ sinh là một thực tế. Vậy đâu là căn nguyên của cuộc khủng hoảng này?    Giấy vệ sinh được tạo ra để thoả mãn một nhu cầu ưa chuộng sự khô ráo, ghét ẩm ướt sâu xa trong thực hành vệ sinh của người châu Âu trước thế kỷ 19. Cuộc khủng hoảng giấy vệ sinh là hệ quả tâm lý xã hội của nhiều cộng đồng người, những người đã phải trải qua một lịch sử vô cùng bạo lực của việc thực hành phòng và chữa bệnh truyền nhiễm ở châu Âu trong suốt 5 thế kỷ trở lại đây.   Từ tâm lý sợ hãi nước và ẩm ướt ….  Sử gia Georges Vigarello (1985), trong quyển sách Sự sạch sẽ và sự bẩn thỉu (Le propre et le sale) cho rằng người dân của nhiều xã hội Châu Âu sợ hãi cảm giác ẩm ướt trong thời gian phòng bệnh hoặc chữa bệnh. Ông cho rằng điều này có căn nguyên lịch sử của nó. Vào thế kỷ 16 và thế kỷ 17, nhiều xã hội ở châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề của dịch hạch và nhiều loại bệnh tật truyền nhiễm khác. Các bác sĩ vào thời đó khuyên bệnh nhân không nên tắm bằng nước. Vì theo nhận thức khoa học vào thời đó, nước và hơi nước làm giãn các lỗ chân lông, tạo điều kiện cho bệnh tật xâm nhập cơ thể.   Tin tưởng vậy, người châu Âu thời đó khi dịch bệnh bùng phát, thường không tắm bằng nước mà “tắm khô”. Tắm khô ở đây nghĩa là họ sẽ thay đổi quần áo liên tục. Quần áo bẩn được thay ra và người ta mặc ngay quần áo sạch vào, không để nước chạm vào bề mặt da của cơ thể, trong thời gian dịch bệnh. Quan niệm về vệ sinh và chăm sóc thân thể trong suốt hai thế kỷ của Châu Âu hoàn toàn tách biệt khỏi việc sử dụng nước để gột rửa cơ thể [3].    Tranh vẽ về việc vệ sinh bằng chậu nhỏ đựng ít nước ở Pháp, thế kỷ 18. Willem Joseph Laquy, 1771. Nguồn: https://plume-dhistoire.fr/  Thực hành vệ sinh, chăm sóc thân thể này khiến hình thành tâm lý ngại nước, lười và ngại tắm trong văn hoá của nhiều cộng đồng Âu – Mỹ về sau. Nó phổ biến đến mức nhà nghiên cứu sử học người Ý Piero Camporesi gọi nó là một kiểu ý thức hệ bài trừ việc tắm rửa thân thể[4]. Vì lí do đó, thế kỷ 18 và 19, khi những người Âu – Mỹ tiếp xúc với người dân ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Nhật Bản, họ thường bị người bản địa kỳ thị vì bốc mùi và “bẩn thỉu”. Cho đến cuối thế kỷ 19, người Châu Âu mới bắt đầu coi trọng việc tắm rửa cơ thể, gắn việc thực hành tắm rửa cơ thể với sự sạch sẽ và vệ sinh như chúng ta vẫn hiểu bây giờ. Còn trước đó, hành vi tắm gội thường chỉ gắn với ngữ cảnh nghi lễ xã hội hoặc tôn giáo[5].   Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, kỹ thuật làm sạch nước thời kỳ đó còn rất yếu kém, không có khả năng cung ứng hiệu quả để phục vụ dân số lên đến hàng triệu người sống chen chúc trong các đô thị bẩn thỉu. Phải đến 1908, thành phố đầu tiên ở Hoa Kỳ là Jersey City, New Jersey mới có đường nước được xử lý (chứ không phải đường dẫn nước tự nhiên chưa qua xử lý) đầu tiên chạy đến từng nhà[6]. Điều này đã khiến cho nước trở thành một nguyên nhân gây ra bệnh truyền nhiễm. Song do bởi phải đến cuối thế kỷ XIX, khoa học mới tìm ra vi khuẩn và virus là nguyên nhân gây bệnh cho con người, trong đó nhiều loại vi khuẩn và virus truyền nhiễm qua đường nước[7].   Vì vậy, tâm lý sợ nước, sợ bị ốm khi chạm vào nước trong thời gian diễn ra dịch bệnh của người phương Tây là hoàn toàn có cơ sở.  Cho đến thế kỷ XX, tâm lý coi trọng khô ráo, tránh ẩm ướt khó chịu trong hoạt động vệ sinh cơ thể vẫn còn tồn tại ở nhiều xã hội phương Tây. Nó ảnh hưởng đến cách người dân xây dựng nhà vệ sinh trong gia đình mình. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, người dân không thích nhà vệ sinh của họ có thể gây cảm giác ẩm ướt cho người sử dụng. Họ muốn nhà vệ sinh phải khô ráo, và tạo cảm giác mềm mại và ấm áp. Nhiều gia đình trải thảm trên sàn vệ sinh và tìm mọi cách để không cho nước từ bồn tắm tràn ra ngoài.   Trong trường hợp bùng phát dịch bệnh COVID-19, dĩ nhiên trong nhiều lựa chọn làm sạch cơ thể sau khi đi vệ sinh, người dân đương nhiên sẽ lựa chọn những giải pháp đem đến “cảm giác” khô ráo, sạch sẽ nhất cho họ. Chính vì vậy, họ sẽ có xu hướng không lựa chọn vòi xịt, hay dùng nước rửa trực tiếp vì cảm giác ướt át mà vòi xịt đem lại. Họ sẽ lựa chọn giấy vệ sinh, vật liệu vệ sinh gần gũi nhất, khô ráo nhất mà họ phát minh ra và đã quen dùng trong suốt thế kỷ XX và XXI.  … đến sự sợ hãi về cơ thể bị “nhiễm bẩn” trong thời gian dịch bệnh.  Như đã đề cập ở phần trước, trước thế kỷ XIX, nhân loại coi việc làm sạch và vệ sinh cơ thể, tránh những thứ được coi là “bẩn thỉu” là những thực hành mang tính nghi lễ xã hội, chính trị, và tôn giáo, chứ không phải là vì nhu cầu giữ vệ sinh theo cách chúng ta hiểu về vệ sinh như bây giờ[8]. Bệnh tật, trong quan niệm của nhiều xã hội là tình trạng cơ thể bị “nhiễm bẩn”. Những người bị “nhiễm bẩn” vì bệnh tật thường được coi là những người bị nguyền rủa hay bị trừng phạt. Bệnh nhân bị coi là những người “có vấn đề về đạo đức”[9]. Bản thân bệnh nhân cũng cảm thấy ghê sợ khi cơ thể mình mang bệnh.       Trong thời kỳ dịch bệnh lan rộng, người dân đi mua giấy vệ sinh là để thoả mãn cảm giác về “sự sạch sẽ” “thuần khiết” của cơ thể. Sự thoả mãn cảm giác “được sạch sẽ” quan trọng hơn sự sạch sẽ từ góc độ khoa học khách quan.      Thực hành chữa bệnh trước thế kỷ XIX dựa trên niềm tin rằng, bằng thuốc, bùa chú, phép thuật, cầu nguyện và nghi lễ, thầy thuốc có thể giúp bệnh nhân “thanh lọc cơ thể” của mình. Hình thức “thanh lọc” nhiều khi hết sức cực đoan, như đốt, cắt hay khoét những chỗ bị tổn thương đi. Trong một số trường hợp, thầy thuốc (thông thường cũng là tu sĩ) sẽ thiêu sống bệnh nhân để chữa trị và cứu vãn sự sạch sẽ tinh thần của người bệnh[10]. Những nhà nhân học đã chứng minh rằng, thực hành chữa trị, làm sạch này tồn tại ở mọi nền văn hoá trên thế giới với những cách thực hành khác nhau, trong đó đôi khi đồng nghĩa với việc phải giết chết người bệnh để bảo vệ họ[11]. Ở Châu Âu thời kỳ cận đại và hiện đại, quan niệm này đã từng dẫn đến nhiều hoạt động tôn giáo, chính trị, y tế hết sức đáng sợ trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát: như quây người bệnh vào một nơi, gọi họ là phù thuỷ, và thiêu sống họ bằng lửa hoặc bằng bom cháy[12].  Trong xã hội hiện đại của thế kỷ XXI, bệnh tật vẫn còn ám ảnh tâm lý mọi người như là một thứ gì đó “bẩn thỉu”, “có lỗi”, “có tội”[13]. Những căn bệnh có thể lây lan mạnh như COVID-19 khiến bệnh nhân cảm thấy hết sức ghê sợ, hoảng loạn khi cơ thể mình có thể bị “nhiễm bẩn” và bị những người xung quanh coi là “bẩn thỉu”[14]. Điều này khiến cho nhu cầu được coi là “sạch sẽ”, được cảm thấy rằng mình “sạch sẽ” trong suốt thời gian bị bệnh và phòng tránh bệnh trở thành một tâm lý hết sức phổ biến trong nhiều cộng đồng hiện đại. Điều này lý giải vì sao ngay khi dịch bệnh bắt đầu bùng phát, người dân đổ xô đi mua giấy vệ sinh để tìm kiếm cảm giác an tâm về sự sạch sẽ trong bối cảnh dịch bệnh hoành hành.    Người dân ùn ùn đi thu gom giấy vệ sinh ở các siêu thị.   Sạch sẽ không quan trọng bằng cảm giác về “sự sạch sẽ”  Người dân trong thời kỳ dịch bệnh lan rộng, đi mua giấy vệ sinh là để thoả mãn cảm giác về “sự sạch sẽ” “thuần khiết” của cơ thể. Sự thoả mãn cảm giác “được sạch sẽ” quan trọng hơn sự sạch sẽ từ góc độ khoa học khách quan. Nhà nhân học Sherry B. Ortner chỉ ra rằng nhiều thực hành vệ sinh cơ thể hiện giờ không phải thuần tuý lý tính và khách quan về mặt khoa học mà vẫn chủ yếu dựa vào niềm tin và quan niệm về thế nào là sạch sẽ và thuần khiết[15].  Điều đó không có nghĩa rằng, không có “tiêu chuẩn khoa học” cho hoạt động vệ sinh cơ thể của con người. Chúng tôi muốn nói rằng, thực hành vệ sinh cơ thể của con người hàng ngày không phải lúc nào cũng dựa trên lí trí và khoa học khách quan.   Thử lấy một ví dụ, từ góc độ khoa học hiện đại và khách quan, khi chúng ta tiếp xúc với mầm bệnh, chúng ta sẽ phải rửa tay bằng xà phòng hết sức kỹ, từ khuỷu tay cho đến từng đầu ngón tay liên tục trong vòng 20 giây. Sau đó chúng ta phải làm khô tay chúng ta. Thực hành đó là để đảm bảo rằng, vi khuẩn và virus sẽ không thể gây bệnh và truyền nhiễm cho chúng ta. Song đương nhiên, chúng ta sau khi đi nặng, sẽ không rửa hậu môn bằng xà phòng liên tục trong vòng 20 giây rồi sau đó sấy khô để phòng ngừa bệnh tật. Cách đơn giản nhất, đó là dùng giấy vệ sinh để tạo cảm giác khô, thoáng và sạch sẽ, dù từ góc độ khoa học, giấy vệ sinh không thực sự sạch như chúng ta nghĩ[16], thậm chí, nó còn không thể chùi sạch được chất thải[17].   Dù rằng nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng: dùng vòi xịt sạch hơn và thân thiện hơn[18] với môi trường hơn là dùng giấy vệ sinh, tâm lý và thực hành văn hoá vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc định hành vi của con người, đặc biệt là khi mọi người cảm thấy hoảng sợ trước bệnh tật. Chỉ thông qua việc tìm hiểu về lịch sử bệnh truyền nhiễm và lịch sử tâm lý, xã hội, chúng ta mới có thể lý giải được những thói quen mang tính vô thức, được thực hành qua nhiều thế kỷ mà không phải người Âu – Mỹ hiện đại nào cũng có thể nhận ra được.   Chú thích:  1) https://www.nytimes.com/2020/03/13/business/toilet-paper-shortage.html  2) https://www.nytimes.com/2020/03/13/business/toilet-paper-shortage.html  3) Georges Vigarello (1985), Le propre et le sale, Paris: Editions du Seuil.  4) Camporesi, P. (1995), Il governo del corpo (Sự quản trị đối với cơ thể), Milano: Garzanti.  5) Camporesi, P. (1995), Il governo del corpo (Sự quản trị đối với cơ thể), Milano: Garzanti.  6) https://www.cdc.gov/healthywater/drinking/history.html  7) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6501942/  8) Speltini, Giuseppina, and Stefano Passini (2014) “Cleanliness/dirtiness, purity/impurity as social and psychological issues.” Culture & Psychology 20.2, trang 203-219.  9) https://www.britannica.com/topic/purification-rite/The-transformation-of-pollution-into-purity  10) https://www.britannica.com/topic/purification-rite/Types-of-purification-rites  11) https://www.britannica.com/topic/purification-rite/Types-of-purification-rites  12)https://www.jstor.org/stable/2778849?seq=1 và  https://qz.com/1183992/why-europe-was-overrun-by-witch-hunts-in-early-modern-history/ và  https://www.faculty.umb.edu/gary_zabel/Courses/Phil%20281b/Philosophy%20of%20Magic/Arcana/Witchcraft%20and%20Grimoires/case_witchhunts.html?fbclid=IwAR1xtiV0vp2Yh1lJ1V9FYKafeZLBd3Dqj6saaHRkrVSfdQ2Y9znKFB5bpg  13) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3189352/  14) https://journalofethics.ama-assn.org/article/stigmatization-complicates-infectious-disease-management/2010-03  15) https://www.britannica.com/topic/purification-rite/Pollution-beliefs-in-modern-society  16) https://www.independent.co.uk/life-style/toilet-paper-stop-use-wet-wipes-doctor-health-problems-bidets-a8028906.html  17) https://www.dailymail.co.uk/health/article-5025367/Doctors-warn-toilet-paper-does-little-remove-feces.html  18) https://www.scientificamerican.com/article/earth-talks-bidets    Author                Sarah Jo Bregman, Nguyễn Phúc Anh        
__label__tiasang Tại sao loài Homo Sapiens sống sót đến kỷ nguyên hiện đại? Những người trụ lại cuối cùng      Ở thuở bình minh của loài HOMO SAPIENS, tổ tiên của chúng ta đã được sinh ra trong một thế giới vô cùng siêu thực. Không hẳn vì khí hậu, mực nước biển, thực vật và động vật thời đó rất khác với hiện tại, mặc dù dĩ nhiên là như vậy – mà bởi vì có những loài người khác nhau sinh sống cùng một thời điểm.      Những mảnh tước được làm ra theo phong cách Acheulean. Nguồn ảnh : Bảo tàng Met, New York.  Trong phần lớn thời gian tồn tại của H.sapiens, thực tế, đều chứng kiến dấu ấn của các loài người khác trên Trái đất này. Ở châu Phi, nơi khởi sinh những giống loài của chúng ta, cũng là điểm dừng chân cho Homo heidelbergensis não lớn và Homo naledi não nhỏ. Ở châu Á, có Homo erectus, một nhóm bí ẩn được gán tên là Denisovan và, sau này, Homo florensiensis – một tạo vật giống hobbit, vì vóc dáng nhỏ bé nhưng có bàn chân to. Người Neandertal với vóc dáng bè bè, lông mày rậm, đã thống trị châu Âu và Tây Á. Và có lẽ còn có nhiều loài khác nữa, chưa được khám phá.  Khoảng 40.000 năm trước, dựa vào những bằng chứng hiện tại, H.sapiens nhận ra mình hoàn toàn đơn độc, là giống loài duy nhất còn lại của nhóm thuộc họ linh trưởng đi bằng hai chân từng rất đa dạng, có tên gọi là hominin. (trong bài này, thuật ngữ ‘loài người’ và ‘hominin’ đều nói về H.sapiens và họ hàng đã tuyệt chủng của nó). Làm thế nà̀o mà loài của chúng ta là loài cuối cùng còn trụ lại?  Lý thuyết bị đe dọa  Những tranh luận về nguồn gốc giống loài của chúng ta thường tập trung vào hai mô hình có xu hướng đối lập nhau. Một bên là giả thuyết Nguồn gốc châu Phi Gần đây, được khởi xướng bởi nhà nhân loại học tiền sử Christopher Stringer, lập luận rằng H.sapiens khởi sinh từ phía đông hoặc tây của châu Phi trong vòng 200.000 năm trước và, bởi vì bản chất vượt trội, nên đã thay thế các giống người trên khắp thế giới mà không có giao phối với họ ở mức đáng kể nào. Một bên là mô hình Tiến hóa Đa vùng, được các nhà nhân loại học cổ đại Milford Wolpoff, Xinzhi Wu và Alan Thorne quá cố, thiết lập, giữ quan điểm rằng H.sapiens hiện đại đã tiến hóa từ Neandertal và những loài người cổ đại khác xuyên suốt Cựu Thế giới, kết nối với nhau nhờ di cư và ghép đôi. Dưới góc nhìn thứ hai này, H.sapiens có nguồn gốc xa hơn rất nhiều, tới gần 2 triệu năm trước. Cho tới đầu những năm 2000, mô hình Nguồn gốc châu Phi Gần đây vẫn có rất nhiều bằng chứng ủng hộ. Những phân tích ADN của người đang sống chỉ ra rằng giống loài nguồn gốc của chúng ta xuất hiện không vượt quá 200.000 năm trước. Những hóa thạch sớm nhất được biết đến gắn với giống loài chúng ta được phát hiện ở hai địa điểm ở Ethiopia, Omo và Herto, có niên đại khoảng 195.000 và 160.000 năm, tương ứng. Và các chuỗi ty thể ADN (những vòng li ti của các vật liệu di truyền tìm thấy trong nhiên liệu của tế bào, khác với ADN chứa trong nhân tế bào) được tái tạo từ hóa thạch của Neanderthal thì khác với ty thể ADN của con người ngày nay – chính xác là điều mà người ta tìm kiếm để chứng minh H.sapiens thay thế loài người cổ đại mà không ghép đôi với họ.  Tuy nhiên, không phải tất cả các bằng chứng đều tương thích với câu chuyện gọn ghẽ này. Nhiều nhà khảo cổ học tin rằng sự khởi đầu của một pha văn hóa có tên gọi Thời kỳ Đồ đá giữa (MSA) đã báo trước cho sự trỗi dậy của loài người bắt đầu biết tư duy như chúng ta. Trước sự đột phá công nghệ này, loài người cổ đại trên khắp Cựu Thế giới đã tạo ra kha khá các công cụ đồ đá rất giống với phong cách Acheulean. Nền công nghệ Acheulean đặt trọng tâm vào việc sản xuất những rìu cầm tay lớn, được tạo ra bằng cách lấy một khoanh đá nặng và đẽo cho đến khi nó có hình dạng mong muốn. Với sự khởi đầu của MSA, các tổ tiên của chúng ta đã chọn một cách tiếp cận mới cho việc chế tạo công cụ, đảo ngược quá trình đẽo, đập nói trên bằng cách tập trung vào việc tách những lớp đá nhỏ, sắc khỏi lõi của viên đá – một cách sử dụng vật liệu thô hiệu quả hơn, đòi hỏi người thợ phải có những tính toán phức tạp. Và họ bắt đầu gắn những tấm đá sắc này với cán để tạo ra lao và những vũ khí ném khác. Hơn thế nữa, vài người đã tạo ra công cụ thời MSA cũng làm ra những sản phẩm gắn liền với những hành vi biểu tượng của con người như chuỗi hạt trang sức bằng vỏ sò và màu để vẽ. Việc họ có những hành vi biểu tượng, bao gồm sử dụng ngôn ngữ, được coi là một trong những dấu mốc của trí tuệ hiện đại.      ADN của Neanderthal chiếm 2% gen của người Âu-Á; ADN của Denisovan chiếm 5% ADN của người Melanesia. 8% gene tổ tiên của cư dân Yoruba Tây Phi có nguồn từ một loài cổ đại chưa được biết đến.      Vấn đề là, những ngày sớm nhất của MSA cũng là hơn 250.000 năm trước, xa xưa hơn rất nhiều so với những hóa thạch sớm nhất của H.sapiens, chỉ có niên đại là 200.000 năm. Liệu có phải một loài người khác đã sáng tạo ra MSA, hay H.sapiens đã xuất hiện từ rất lâu trước khi các hóa thạch có vẻ như đã chỉ ra?  Năm 2010 một vấn đề nho nhỏ khác nổi lên. Các nhà di truyền học thông báo rằng họ đã khám phá ra ADN nhân từ hóa thạch của người Neanderthal và giải trình tự của nó. ADN nhân cấu tạo nên vật liệu di truyền của chúng ta. So sánh ADN nhân của Neanderthal và người hiện đại hé lộ rằng những con người không có nguồn gốc từ châu Phi đều mang ADN của Neanderthal. Điều này cho thấy H.sapiens và Neanderthal đã thực sự giao phối với nhau, chí ít là thỉnh thoảng.    Gene của người Neanderthal chiếm 2% gene của người châu Á. Ảnh : Một bức tranh vẽ đồ họa người phụ nữ Neanderthal. Nguồn ảnh: eartharchives.org   Những nghiên cứu về gene cổ đại sau đó đã xác nhận rằng Neanderthal đã đóng góp vào vốn gene của người hiện đại, cũng như các tông người cổ đại khác. Hơn thế nữa, đối lập với khái niệm rằng H.sapiens đã xuất hiện từ 200.000 năm trước, ADN cổ đại đã gợi ý rằng Neanderthal và H.sapiens rẽ nhánh từ một tổ tiên chung của họ và như vậy xuất hiện sớm hơn đáng kể, có lẽ hơn cả nửa triệu năm. Nếu như thế, H.sapiens có lẽ đã xuất hiện sớm hơn hai lần so với thời điểm hóa thạch đã chỉ ra.  Nguồn gốc cổ đại  Những khám phá gần đây ở khu vực Jebel Irhoud, Ma-rốc đã giúp khâu nối tốt hơn những bằng chứng hóa thạch, văn hóa và gene – và mở đường cho một cách nhìn mới về nguồn gốc của chúng ta. Khi những người thợ mỏ bari khám phá ra hóa thạch ở khu vực này vào năm 1961, các nhà khảo cổ học đã nghĩ rằng các xương khoảng 40.000 năm tuổi, và thuộc về Neanderthal. Nhưng sau nhiều năm tiếp tục khai quật và phân tích, các nhà nghiên cứu xem lại tính toán đó. Tháng 6 năm 2017, nhà nhân loại học cổ đại Jean-Jacques Hublin ở viện Nhân loại học Tiến hóa Max Planck ở Leipzig, Đức, và các đồng nghiệp của ông đã thông báo rằng họ đã tìm ra những hóa thạch khác ở khu vực này, cùng với các công cụ thời MSA. Sử dụng hai kỹ thuật xác định tuổi, họ đã ước lượng được rằng phần hóa thạch còn lại khoảng 350.000 tuổi. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy dấu vết cổ xưa nhất của H.sapiens cho tới nay, cũng như dấu vết xưa nhất của văn hóa MSA,  – đẩy tuổi của các bằng chứng hóa thạch về H.sapiens thêm 100.000 năm và kết nối nó với diện mạo được biết đến sớm nhất của MSA. Nếu Hublin và các đồng nghiệp của ông chính xác trong việc giám định xương, thì ban đầu, cấu trúc hộp sọ của H.sapiens chẳng có gì nổi trội so với các loài người khác như những người ủng hộ thuyết Nguồn gốc châu Phi gần đây đã giả định. Các hóa thạch này chỉ giống người hiện đại ở vẻ ngoài, như có gương mặt nhỏ chẳng hạn. Nhưng não của họ có hình dạng dài giống như những loài người cổ đại khác thay vì tròn như kiểu mái vòm của chúng ta.  Những gì còn lại ở Jebel Irhoud cũng không thể hiện sự bổ sung đầy đủ cho các đặc trưng của MSA. Con người thời đó tạo ra các công cụ MSA bằng đá để săn bắn và giết mổ linh dương trên đồng cỏ xanh mướt ở những nơi đã trở thành sa mạc ngày nay. Và họ tạo ra lửa, có lẽ là để nấu chín thức ăn và sưởi ấm cho mình trước cái lạnh giá của đêm tối. Nhưng họ không để lại dấu vết của bất cứ hành vi biểu tượng nào vào thời đó. Thực tế, nói chung, người H.sapien không đặc biệt phát triển hơn người Neanderthal hay H. heidelbergensis. Nếu có thể du hành ngược thời gian tới lúc giống loài chúng ta xuất hiện, bạn không nhất thiết phải có những đặc trưng đó để giành chiến thắng tổng thể trò chơi tiến hóa. Mặc dù những H.sapiens đầu tiên đã có vài tiến bộ, “nhưng không có bất cứ thay đổi lớn nào ở vào khoảng 300.000 năm trước để chỉ ra rằng họ đã được định mệnh chọn để chiến thắng”, nhà khảo cổ học Michael Petraglia ở Viện Nhân Sử học Max Planck Institute ở Jena, Germany nhận xét. “Khởi đầu với sapiens cũng giống như với bất kì loài nào khác”.  Vườn địa đàng  Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng, toàn bộ nhóm H.sapiens đã không trở thành một cộng đồng thống nhất cho tới một thời điểm giữa 100.000 và 40.000 năm trước. Vậy chuyện gì đã xảy ra trong thời khắc 200.000 năm hay hơn thế để biến đổi giống loài của chúng ta từ loài người thông thường tới một lực lượng thống trị thế giới của tự nhiên? Các nhà khoa học ngày càng nghĩ tới việc kích thước và cấu trúc cộng đồng của người H.sapiens ban sơ có thể ảnh hưởng thế nào đến sự biến đổi đó. Trong một bài báo công bố trực tuyến tháng 7 này trên tờ Trends in Ecology & Evolution (Xu hướng Sinh thái và Tiến hóa), nhà khảo cổ học Eleanor Scerri ở Đại học Oxford và một nhóm đồng tác giả đa ngành lớn, có cả Stringer, đã đưa ra một trường hợp mà họ gọi là mô hình Chủ nghĩa Đa vùng châu Phi về sự tiến hóa của H.sapiens. Các nhà khoa học nhận xét rằng các thành viên được giả định là đầu tiên của giống loài chúng ta – các hóa thạch Jebel Irhoud ở Ma-rốc, và Herto, Omo Kibish ở Ethiopia, và một phần hộp sọ ở Florisbad, Nam Phi – tất cả trông đều khác xa với con người ngày nay. Khác biệt quá lớn đến mức vài nhà nghiên cứu đã lập luận rằng chúng thuộc về loài hoặc phụ loài khác. “Nhưng có lẽ đơn giản là ban đầu H.sapiens cũng đa dạng đến buồn cười”, Scerri đề xuất. Và có thể việc tìm kiếm một điểm độc nhất về nguồn gốc cho giống loài chúng ta, như nhiều nhà nghiên cứu đang làm, là một “cuộc tìm kiếm trong vô vọng”, cô nói.  Khi Scerri và các đồng nghiệp của cô kiểm định những dữ liệu mới nhất từ các hóa thạch, ADN và khảo cổ học, sự phát triển của H.sapiens càng ít giống một câu chuyện về nguồn gốc đơn nhất và giống như một hiện tượng liên-phi hơn. Họ giả thiết rằng, thay vì tiến hóa từ một cộng đồng nhỏ ở một vùng đặc thù ở châu Phi, loài chúng ta phát triển từ một cộng đồng lớn được chia thành những nhóm nhỏ hơn phân bố khắp lục địa châu Phi mênh mông, họ thường bị “bán cô lập” bởi khoảng cách và những hàng rào tự nhiên như các sa mạc. Những cuộc chiến sinh tồn trong đơn độc này cho phép mỗi nhóm phát triển sự thích nghi sinh học và kỹ nghệ riêng phù hợp với môi trường sống của họ, đó có thể là miền rừng cằn cỗi hay xavan (đồng cỏ), hay một rừng mưa nhiệt đới hay bờ biển. Tuy nhiên, đôi khi, các nhóm này có cơ hội tiếp xúc với nhau, cho phép trao đổi di truyền và văn hóa nuôi dưỡng sự tiến hóa của giống loài chúng ta.  Sự thay đổi khí hậu có thể gây ra đứt gãy rồi tái kết nối của những nhóm cư dân nói trên. Chẳng hạn các dữ liệu môi trường cổ đại đã chỉ ra rằng, cứ khoảng 100.000 năm, châu Phi lại bước vào một đợt biến đổi sa mạc Sahara thành một khu vực xanh mênh mông với những cây cỏ và hồ nước. Thời kỳ Sahara xanh này, như chúng đã được biết đến, sẽ cho phép các cộng đồng trước đó bị cô lập vì sa mạc kết nối với nhau. Khi Sahara lại khô cạn, các cộng đồng có thể lại bị cô lập và trải qua những thử nghiệm tiến hóa của riêng mình trong một quãng thời gian cho tới đợt xanh tươi tiếp theo.    Một công trình của người Neanderthal trong hang động ở Pháp cách đây 175.000 năm. Nguồn ảnh : Etienne FABRE – SSAC.  Một cộng đồng được chia nhỏ thành các nhóm mà mỗi nhóm thích nghi với đặc điểm sinh thái thích hợp của riêng mình (mặc dù thi thoảng họ cũng di cư và kết nối với nhau), sẽ giải thích không chỉ sự tiến hóa không đồng nhất (mosaic1) thể hiện trong giải phẫu của H.sapiens mà còn cả những mảnh ghép rời rạc về đặc trưng của MSA. Không giống như các công cụ Acheulean, vốn hầu hết giống y như nhau ở khắp nơi mà chúng xuất hiện trên Cựu Thế giới, các công cụ MSA thể hiện sự biến đổi theo vùng khá rõ rệt. Chẳng hạn, các khu vực nằm giữa các thời điểm 130.000 năm và 60.000 năm trước ở Bắc Phi có chứa các kiểu công cụ không tìm thấy ở Nam Phi trong cùng thời điểm, bao gồm cả những mẩu đá rất đặc biệt dùng để làm móc treo đồ thay cho những mấu trên thân cây. Tương tự như vậy, các địa điểm ở Nam Phi có các công cụ bằng đá hình chiếc lá được nung lên để tăng độ bền– không công cụ nào như vậy xuất hiện ở Bắc Phi. Các công nghệ phức tạp và những biểu tượng ngày càng hơn trở nên phổ biến hơn trên khắp châu lục, nhưng mỗi nhóm lại hành động theo cách của riêng mình, điều chỉnh văn hóa thành thứ thích hợp và phong tục cụ thể của mình.  Tuy nhiên H.sapiens không phải là hominin duy nhất tiến hóa với não lớn hơn và các biểu cảm phức tạp hơn. Hublin lưu ý rằng các hóa thạch người ở Trung Quốc có tuổi từ 300.000 năm tới 50.000 năm trước mà ông ngờ rằng thuộc về Denisovan, thể hiện sự tăng trưởng của kích thước não. Và Neandertal đã sáng chế ra các công cụ phức tạp, cũng như có các hành vi biểu tượng và sự kết nối xã hội, trong thời đại thịnh trị rất dài của họ. Nhưng những hành vi như vậy không có vẻ được phát triển đến mức tinh vi hay trở thành một phần thiết yếu trong lối sống của họ giống như chúng ta, nhà khảo cổ học John Shea của Đại học Stony Brook nhận xét. Anh nghĩ rằng những kỹ năng ngôn ngữ cấp cao giúp H.sapiens thắng thế.  “Tất cả những nhóm này đều tiến hóa theo cùng một hướng”, Hublin nói. “Nhưng giống loài chúng ta đã vượt qua ngưỡng trước các loài khác, về khả năng nhận thức, sự phức tạp của xã hội và thành công trong việc sinh sản”. Và như vậy – khoảng 50.000 năm trước, theo đánh giá của Hublin – “giọt nước đã tràn ly”. Được rèn luyện và mài dũa ở châu Phi, giờ đây H.sapiens đã có thể thực sự bước vào bất cứ môi trường nào trên Trái đất và phát triển thịnh vượng. Chuyện đó diễn ra không thể ngăn cản.  Những gặp gỡ thân mật  Hàng trăm nghìn năm hợp rồi lại tan với các thành viên của cùng giống loài, điều đó có thể đã mang lại cho H.sapiens một sự vượt trội so với các thành viên khác trong họ người. Nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất trong sự trỗi dậy để thống trị thế giới của chúng ta. Có thể thực sự chúng ta vĩnh viễn nợ các họ hàng đã tuyệt chủng một món nợ về lòng biết ơn vì những đóng góp của họ trong thành công của chúng ta. Các loài người cổ đại mà H.sapiens đã gặp khi di cư trong châu Phi và bên ngoài biên giới của nó không hoàn toàn là những kẻ cạnh tranh – họ cũng là những bạn bè. Bằng chứng nằm trong ADN của con người ngày nay: ADN của Neanderthal chiếm 2% gene của người Âu-Á; ADN của Denisovan chiếm 5% ADN của người Melanesia. Và một nghiên cứu gần đây của Arun Durvasula và Sriram Sankararaman, đều ở Đại học California, Los Angeles, công bố trên trang tiền ấn phẩm bioRxiv vào tháng 3, đã phát hiện ra 8% gene tổ tiên của cư dân Yoruba Tây Phi có nguồn từ một loài cổ đại chưa được biết đến. Một vài ADN mà H.sapiens có được từ các hominin cổ đại có thể đã giúp giống loài chúng ta thích nghi với các môi trường sống mới mà nó bước vào khi đi khắp thế giới. Khi nhà di truyền học Joshua Akey của Đại học Princeton và các đồng nghiệp nghiên cứu sự sắp xếp của các chuỗi nucleotide trong ADN của loài người hiện đại, họ tìm thấy 15 chuỗi có tần suất xuất hiện cao, một dấu hiệu cho thấy rằng họ có những hệ quả hữu ích. Những chuỗi tần suất cao này tụm lại thành hai nhóm. Một nửa trong số đó ảnh hưởng lên hệ miễn dịch. “Khi loài người hiện đại phân tán vào những môi trường mới, họ bị phơi nhiễm trước các vi khuẩn và vi-rút mới”, Akey nói. Qua quá trình giao phối, “họ có thể đã nhận được các điều kiện thích nghi từ Neanderthal, loài người có khả năng mạnh hơn đánh bại các vi khuẩn mới này”, anh giải thích.  Nửa còn lại của chuỗi Neanderthal mà nhóm của Akey tìm thấy với tần suất cao ở loài người hiện đại liên quan tới da, bao gồm các gene có ảnh hưởng ở những mức độ màu da. Trước đây các nhà nghiên cứu đã từng nghĩ rằng các cá thể H.sapiens từ châu Phi, những người giả định rằng có da tối màu hơn để bảo vệ khỏi những bức xạ cực tím từ Mặt trời, đã phải tiến hóa lên màu da sáng hơn khi họ tiến về các vĩ độ bắc để có đủ vitamin D, mà cơ thể người thu được chủ yếu qua việc phơi nắng. Các gene về da của Neanderthal có thể đã trợ giúp cho các tổ tiên của chúng ta chính trong chuyện đó.  Neanderthal không phải loài người cổ đại duy nhất cho chúng ta các nguồn gen hữu ích. Chẳng hạn, người Tây Tạng hiện đại có gene Denisovan nhờ một sự biến đổi về gene đã giúp họ đương đầu với môi trường ôxy thấp ở cao nguyên Tây Tạng. Và cư dân châu Phi hiện đại đã thừa hưởng từ tổ tiên cổ đại chưa được biết đến một biến thể gene mà có thể đã giúp họ đẩy lùi những vi khuẩn có hại trong miệng. Việc có con lai với người cổ đại khác vốn có hàng thiên niên kỷ để tiến hóa thích nghi với những điều kiện dịa phương khác nhau có thể đã cho phép những người di cư H.sapiens thích nghi các môi trường mới nhanh hơn là việc chờ đợi những đột biến có lợi nổi lên trong bể gene của mình. Nhưng điều đó không chỉ có những mặt tích cực. Một vài gene chúng ta có được từ Neanderthal gắn với chứng trầm cảm và các bệnh khác. Có thể những gene này trong quá khứ thì có lợi nhưng trong bối cảnh đời sống hiện đại mới bắt đầu bộc lộ vấn đề. Hoặc có lẽ, như Akey gợi ý, đó cái giá không quá đắt để trả cho lợi ích mà những gene này ban tặng.  Những loài người cổ đại có thể đã đóng góp nhiều hơn ngoài ADN cho giống loài của chúng ta. Các nhà nghiên cứu đã lập luận rằng sự tiếp xúc giữa những nhóm loài người khác nhau có lẽ đã dẫn tới những giao lưu về văn hóa và có thể là khích lệ những đổi mới nữa. Chẳng hạn, việc H.sapiens đến Tây Âu, nơi Neandertal cư ngụ từ lâu trùng khớp với sự bùng nổ không đặc trưng của sự sáng tạo trong công nghệ và nghệ thuật của cả hai nhóm loài. Trước đây các nhà khoa học đã đề xuất rằng Neanderthal đơn giản đã bắt chước theo những kẻ mới đến đầy sáng tạo. Nhưng có thể đó là sự tương tác giữa hai nhóm đã khích thích sự bùng nổ về mặt văn hóa ở cả hai phía.  Theo một nghĩa nào đó, thực tế rằng sự hòa trộn của H.sapiens với các giống người khác không nên được coi là một điều ngạc nhiên. “Chúng ta biết từ nhiều động vật lai vai trò quan trọng trong tiến hóa”, nhà sinh-nhân loại học Rebecca Rogers Ackermann ở Đại học Cape Town, Nam Phi, nhận xét. “Trong một số trường hợp, nó có thể tạo ra một cộng đồng riêng, hay thậm chí là loài mới, thích nghi với sự đổi thay của môi trường tốt hơn hơn là cha mẹ của họ, nhờ những tính trạng mới hay tổ hợp những tính trạng mới” Tổ tiên của loài người cũng ra đời dưới hình thức tương tự: sự pha trộn của các nhóm loài khác nhau hình thành nên loài người hiện nay, thích nghi tốt hơn và đa dạng hơn. “Homo sapiens là kết quả của sự tác động lẫn nhau phức tạp giữa các nhóm loài”, Ackermann khẳng định, và loài này đã phát triển rực rỡ bởi vì sự biến đổi nảy sinh từ tương tác qua lại này. “Không có nó” cô nói, “đơn giản là chúng ta không thể thành công như vậy”.  Sự pha trộn như vậy xảy ra thường xuyên thế nào và nó có thể đã giúp dẫn dắt quá trình tiến hóa ở H.sapiens và các hominin khác tiến hóa ở mức nào vẫn cần được xác định. Nhưng chính môi trường sống và điều kiện phân bố khiến giống loài chúng ta xuất hiện ở châu Phi và chu du đến nhiều nơi khác đã tạo cho chúng ta nhiều cơ hội để trao đổi gene và văn hóa nhiều hơn so với trải nghiệm của những hominin đồng loại. Chúng ta may mắn – và khó có thể dùng từ nào để mô tả điều đó ngoài phi thường.  Hoàng Mai dịch  Nguồn :https://www.scientificamerican.com/article/why-is-homo-sapiens-the-sole-surviving-member-of-the-human-family/  ——-  1Nguyên văn: mosaic evolution, sự tiến hóa xảy ra ở một số bộ phận của cơ thể mà không kèm theo sự thay đổi đồng nhât ở các bộ phận khác – ND.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao người cao tuổi ngủ và nhớ kém?      Vùng vỏ não bị thu hẹp có liên quan đến rối loạn giấc ngủ và suy giảm trí nhớ.    Suy thoái của một vùng não cụ thể làm suy yếu chất lượng giấc ngủ khi con người có tuổi, dẫn đến nghèo trí nhớ, theo nghiên cứu được công bố trên Nature Neuroscience.  Lão hóa có liên quan đến sự mất dần các tế bào não, rối loạn giấc ngủ và suy giảm chức năng bộ nhớ, nhưng những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào thì đến nay người ta vẫn chưa được rõ.  Nhà thần kinh học Bryce Mander tại Đại học California, Berkeley, và các đồng nghiệp của ông đã mời 33 người lớn khỏe mạnh – gồm 18 người độ tuổi 20, và 15 người khác nhau từ độ tuổi cuối sáu mươi tới cuối bảy mươi – tất cả đều có chức năng tâm thần bình thường, và yêu cầu họ ghi nhớ một danh sách các cặp từ.  Mười phút sau những người tham gia được yêu cầu nhớ lại một số cặp từ, còn lại họ được để cho ngủ qua đêm trong khi các nhà nghiên cứu ghi lại hoạt động điện của não. Sáng hôm sau, các tình nguyện viên được yêu cầu nhớ lại những từ được lựa chọn từ danh sách một lần nữa trong khi bộ não của họ được quét kiểm tra bằng máy.  Tương tự như kết quả các nghiên cứu trước đó, những người trưởng thành lớn tuổi ghi điểm kém hơn so với những người trẻ trong phần kiểm tra bộ nhớ, và cho thấy sự giảm đáng kể các sóng não chậm liên quan đến giấc ngủ sâu.  Mức độ của sự gián đoạn giấc ngủ sâu liên quan đến mức độ suy giảm trí nhớ, khi những người ít có các hoạt động sóng chậm ghi điểm kém nhất. Những sự khác biệt này cũng liên quan tới việc giảm chất xám trong một phần của não được gọi là vỏ não trước trán trung gian.  “Chúng tôi đã biết từ nhiều thập kỷ rằng giấc ngủ bị gián đoạn ở người lớn tuổi, nhưng chúng tôi không biết tại sao”, ông Mander nói. “Phát hiện của chúng tôi cho thấy não suy giảm, trí nhớ kém và ngủ kém không phải là độc lập, trái lại lại liên quan đến nhau một cách đáng kể.”  Sóng bộ nhớ   Từ lâu người ta biết rằng giấc ngủ làm tăng cường những trí nhớ mới được tạo lập, và sóng não chậm được cho là tăng cường việc chuyển giao thông tin từ vùng hippocampus, một cấu trúc não rất quan trọng trong việc hình thành bộ nhớ, các phần khác của bộ não dành cho lưu trữ lâu dài.  Phát hiện của Mander và đồng nghiệp cho thấy suy thoái của vỏ não trước vùng giữa trán làm giảm các sóng chậm xảy ra trong giấc ngủ sâu. Hậu quả là, những người tham gia lớn tuổi có năng lực kém hơn so với những người trẻ trong việc củng cố trí nhớ của họ về các cặp từ.  Roxanne Sterniczuk, một nhà thần kinh-sinh lý học (neurophysiologist) tại Đại học Dalhousie ở Halifax, Canada, cho biết: “Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị về mối quan hệ giữa giấc ngủ và nhận thức”. Tuy nhiên, cô kêu gọi thận trọng bởi vì nhũng sự khác biệt quan sát được mang tính giải phẫu có thể là dấu hiệu của thoái hóa thần kinh sớm, chứ không thuần túy là sự suy giảm khối lượng một cách tự nhiên.  “Việc không có khả năng để kiểm tra bệnh lý não của những người tham gia là một hạn chế lớn,” bà nói thêm. “sẽ rất thú vị nếu tiếp tục theo dõi sự biến đổi ở những người lớn tuổi qua thời gian, hoặc thêm một nhóm bị chứng mất trí và so sánh sự khác biệt.”  Năm ngoái, Sterniczuk và đồng nghiệp đã trình bày những phát hiện sơ bộ cho thấy rối loạn giấc ngủ dự đoán chính xác chẩn đoán tiếp theo về Alzheimer.  “Gián đoạn giấc ngủ thậm chí còn rõ rệt hơn ở bệnh Alzheimer,” Mander nói “, do đó, một nghiên cứu nên triền khai tiếp theo sẽ là tìm hiểu xem liệu giấc ngủ bị gián đoạn trong số những người tham gia thử nghiệm này có liên quan với các triệu chứng bộ nhớ của họ không. Nếu có, việc chủ động thúc đẩy giấc ngủ có thể làm giảm sự suy giảm thể chất ở họ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao Pfizer lại muốn tiêm chủng cho cả một thành phố?      Đây là nghiên cứu đầu tiên của Pfizer thuộc loại này: họ muốn kiểm tra cách thức hoạt động của coronavirus trong đời thực ở thành phố Toledo của Brazil – nơi dân số đã được tiêm chủng 100%.    Thành phố Toledo ở tây nam Brazil đang trở thành một phòng thí nghiệm cho cả thế giới. Mục đích của thí nghiệm này là để điều tra điều gì sẽ xảy ra khi toàn bộ người dân đã được miễn dịch. Thử nghiệm kéo dài khoảng một năm. Tập đoàn dược phẩm Pfizer hy vọng qua thử nghiệm này, họ sẽ có được những hiểu biết mới về hiệu quả và thời gian bảo vệ nhờ tiêm chủng đối với vaccine của mình. Thí nghiệm sẽ bắt đầu triển khai vào những ngày tới.  Toledo có khoảng 143.000 dân và hầu như không có bất kỳ sự hoài nghi nào của người dân đối với tiêm chủng. Khoảng 99% người trên 12 tuổi trong thành phố đã tiêm vaccine đầu tiên, hầu hết là của Biontech/Pfizer.  Nhìn về tổng thể, với hơn 600.000 người qua đời vì COVID, Brazil là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch. Tổng thống Jair Bolsonaro ngay từ đầu đã coi thường đại dịch này khi phản đối tiêm chủng. Gần đây nhất, các thượng nghị sĩ Brazil đã buộc ông tội chống lại loài người. Nhiều tháng liền tổng thống đã trì hoãn việc đặt mua vaccine, mặc dù đã được các nhà sản xuất chào hàng.  Thí nghiệm Toledo không phải là nghiên cứu đại trà đầu tiên thuộc loại này ở Brazil. Tại thành phố Serrana, tất cả người lớn đều được tiêm chủng bằng vaccine của nhà sản xuất Trung Quốc Sinovac vào mùa đông và mùa xuân. Thí nghiệm đã thành công rực rỡ: trong khi đại dịch hoành hành ở phần còn lại của Brazil, số ca lây nhiễm, bị bệnh nặng và tử vong do corona giảm mạnh ở Serrana. Bà Gabriela Kucharski, giám đốc sở Y tế thành phố Toledo, hy vọng sẽ có kết quả tốt hơn nữa nhờ tiêm chủng Biontech/Pfizer.    Thưa bà Kucharski, thành phố của bà đã được tập đoàn dược Pfizer chọn để nghiên cứu về vaccine. Bà có thể cho biết vì sao thành phố được chọn?  Pfizer đã tìm kiếm một thành phố ở Brasil đã hoàn thành tiêm chủng cho 100% dân số. Có nhiều thành phố đăng ký, họ đã chọn Toledo. Chúng tôi là thành phố duy nhất ở một đất nước đang phát triển được Pfizer chọn để làm thí nghiệm này, có lẽ cũng một phần về cung cách chống đại dịch của chúng tôi. Ngay từ đầu, chúng tôi đã giám sát virus và ghi chép lại đầy đủ. Chúng tôi biết rõ về vụ đầu tiên cũng như về quá trình tiến triển của sự lây nhiễm bệnh. Chúng tôi hợp tác với trường đại học của nhà nước và thành công trong việc kiểm soát dịch bệnh cũng như thực hiện công khai về vấn đề này.  Phải chăng nhờ thế mà đại dịch không hoành hành ở Toledo?  Trước tiên chúng tôi có ít ca lây nhiễm cũng như các ca tử vong, tuy nhiên tình hình thay đổi với biến thể P1 hồi tháng hai, thành phố chúng tôi cũng bị thiệt hại nặng nề. Nhưng nhìn chung so với phần còn lại của cả nước, chúng tôi ở tong tình trạng không đến nỗi nào.  Brasil hiện đã tạo được một sự đảo ngược: tiến độ tiêm chủng đã được thúc đẩy nhanh hơn. Bên cạnh vaccine của Sinovac và AstraZeneca tới đây vaccine của Biontech/Pfizer sẽ được sản xuất trong nước. Hiện nay đã có bao nhiêu công dân ở Toledo đã tiêm chủng?  Chúng tôi đã tiêm chủng cho 99% dân số từ 12 tuổi trở lên và trên 60% đã tiêm mũi thứ hai. Nhân viên y tế và nhóm nguy cơ đã được tiêm bổ sung bằng vaccine của Pfizer. Lúc đầu chúng tôi còn tiêm các loại vaccine của Sinovac, AstraZeneca và Johnson & Johnson. Giờ đây chúng tôi chỉ dùng vaccine Biontech/Pfizer, khoảng một nửa số dân ở đây đã được dùng loại vaccine này.  Ở châu Âu, các nhà sản xuất cũng gặp khó khăn để đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao như vậy. Vì sao thành phố này lại đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao như thế bất chấp sự phân cực chính trị liên quan đến coronavirus và vaccine. Hầu như không có sự nghi ngờ đối với tiêm chủng?   Dân chúng tôi tìm hiểu kỹ về vấn đề này và họ hiểu được rằng, lối thoát đại dịch là tiêm chủng. Điều này đã được chứng minh trong thực tế, tiêm chủng thực sự có hiệu quả. Với tiến trình phát triển chiến dịch tiêm chủng thì số ca bị bệnh nặng giảm rõ rệt. Điều này đã thuyết phục được đông đảo người dân chúng tôi. Từ khi chúng tôi được chọn làm địa bàn nghiên cứu, số người muốn tiêm chủng tăng rõ rệt bởi sản phẩm của Biontech/Pfizer đạt được độ tin cậy rất cao.  Đã có hàng loạt nghiên cứu về hiệu quả và độ an toàn của vaccine. Vậy người ta trông đợi gì ở loại nghiên cứu này?  Điều chúng tôi đang làm hiện nay vượt ra khỏi khuôn khổ một nghiên cứu lâm sàng. Mục tiêu là Pfizer muốn tìm hiểu trong cuộc sống thực con virus corona này hoạt động như thế nào trong bối cảnh 100% dân số đã tiêm chủng. Thành phố chúng tôi sẽ được theo dõi trong suốt một năm. Mọi người vẫn đi làm bình thường, gặp gỡ bạn bè bình thường và cả tham gia các cuộc sinh hoạt thu hút đông đảo người tham gia. Tất nhiên chúng tôi vẫn tiếp tục thực hiện giữ khoảng cách theo quy định và thực hiện đeo khẩu trang. Liệu có phát triển các biến thể virus mới có khả năng đột phá sự bảo vệ của tiêm chủng hay không? Liệu có xẩy ra các ca bị bệnh nặng hay không ? Thời gian bảo vệ của vaccine là bao lâu ? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi muốn làm rõ.  Vậy đã thu được thông tin đầu tiên chưa?  Điều mà chúng tôi ngay từ lúc này đã có thể nhận định là, do tỷ lệ tiêm chủng cao nên số các ca lây nhiễm corona và tử vong vì corona đã giảm đáng kể. Trong thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày chúng tôi có tới 150 ca lây nhiễm mới. Nay giảm xuống chỉ còn từ 7 đến 10 ca. Tuy là có các ca đột phá tiêm chủng nhưng chúng tôi không phát hiện được các ca bị bệnh nặng.    Xuân Hoài dịch  Nguồn: Corona in Brasilien: Warum Pfizer eine ganze Stadt impfen lassen will – DER SPIEGEL    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao tim phụ nữ “dễ vỡ” hơn đàn ông?      Bệnh tim và hiện tượng đau tim tấn công đàn ông nhiều hơn và sớm hơn phụ nữ, nhưng vỡ tim lại là một hội chứng mà tỷ lệ phụ nữ mắc phải cao hơn đàn ông đến bảy lần.       Trong một nghiên cứu có quy mô quốc gia đầu tiên về vấn đề này, các nhà nghiên cứu tại Đại học Arkansas đã xem xét tỷ lệ của “hội chứng vỡ tim” (“broken heart syndrome”) và thấy rằng nó ảnh hưởng nhiều nhất tới phụ nữ. Hội chứng này xảy ra khi có một cú “sốc” bất ngờ hoặc căng thẳng kéo dài dẫn đến các triệu chứng giống như đau tim hay suy tim.  Theo dữ liệu được trình bày tại hội nghị của Hiệp hội Tim nước Mỹ diễn ra tại Orlando hôm 16/11, phụ nữ có nguy cơ mắc hội chứng này cao gấp bảy lần đàn ông và phụ nữ tuổi càng cao càng có nguy cơ mắc hội chứng này.   “Đó là hội chứng về tim duy nhất mà phụ nữ có tỷ lệ vượt trội” – Tiến sĩ Abhiram Prasad, bác sĩ chuyên khoa tim của Mayo Clinic – người không tham gia vào nghiên cứu này – chia sẻ với AP. Tất nhiên là bệnh tim và hiện tượng đau tim tấn công đàn ông nhiều hơn và sớm hơn phụ nữ.  Hội chứng “vỡ tim” có thể xảy ra khi một người gặp phải những sự việc gây sốc hoặc gây cảm xúc bất ngờ – bao gồm cả những sự việc tích cực như trúng xổ số hay những sự việc tiêu cực như tai nạn xe hơi hay có người thân ra đi đột ngột. Việc có nhiều hoóc-môn căng thẳng hay hoóc-môn adrenaline có thể khiến một phần não mở rộng ra tạm thời và gây ra những triệu chứng giống như một cơn đau tim, gồm các triệu chứng như: đau ngực, khó thở, nhịp tim không đều. Sự khác biệt giữa hai hiện tượng này là hội chứng “vỡ tim” không có biểu hiện tắc động mạch.  Hầu hết những người mắc phải hội chứng này sẽ phục hồi trong khoảng 1, 2 tuần, nhưng trong một số trường hợp hi hữu, có khoảng 1% tử vong.  Từ lâu các bác sĩ đã biết về hội chứng “vỡ tim”. Lần đầu tiên nó được nói đến là từ cách đây hai thập kỉ bởi các nhà nghiên cứu Nhật Bản và có vẻ như nó xảy ra chủ yếu ở phụ nữ. Vì thế, Tiến sĩ Abhishek Deshmukh, một chuyên gia tim mạch của ĐH Arkansas – người đã điều trị cho những phụ nữ mắc hội chứng “vỡ tim” – đã rất tò mò về việc hội chứng này ảnh hưởng khác nhau theo giới tính như thế nào.   Bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu liên bang từ khoảng 1.000 bệnh viện, ông Deshmukh đã phát hiện ra có 6.229 trường hợp mắc hội chứng “trái tim tan vỡ” vào năm 2007. Trong số này, chỉ có 671 trường hợp – chiếm chưa đến 1% – là đàn ông. Ông cũng phát hiện ra rằng phụ nữ có nguy cơ mắc hội chứng này cao gấp 7,5 lần đàn ông. Với đối tượng dưới 55 tuổi, phụ nữ có nguy cơ mắc cao hơn 9,5 lần đàn ông. Phụ nữ trên 55 tuổi có nguy cơ mắc hội chứng này cao hơn 3 lần so với phụ nữ trẻ.  Các nhà nghiên cứu không biết điều gì đã gây ra sự chênh lệch giới tính này, tuy nhiên họ đã đưa ra một số giả thuyết.  Giả thuyết đầu tiên cho rằng hoóc-môn đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra sự chênh lệch giới tính ở hội chứng này. Một giả thuyết khác thì cho rằng đàn ông có nhiều thụ thể hoóc-môn adrenaline ở các tế bào tim hơn phụ nữ, “vì thế có thể đàn ông có khả năng xử lý căng thẳng tốt hơn”, trong đó vai trò của hóa chất là giúp giải tỏa căng thẳng – Tiến sĩ Deshmukh cho hay khi trả lời phỏng vấn từ AP.  Khoảng 10% người mắc hội chứng này sau khi bộc phát lần đầu sẽ mắc lại ở một thời điểm khác, tuy nhiên hầu hết đều trở lại chức năng đầy đủ của tim mà không có những tổn thương vĩnh viễn hoặc cần điều trị tiếp. Vì thế, có vẻ như cách để hàn gắn một trái tim tan vỡ là điều mà các bà mẹ vẫn thường nói: hãy cho nó thời gian.   Nguyễn Thảo dịch theo:  http://healthland.time.com/2011/11/17/study-women-are-more-vulnerable-to-broken-hearts/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao tổ tiên xa xưa của  loài người đi bằng hai chân?      Các nhà khảo cổ học tại Đại học York, Anh, mới đây cho biết dáng đi hai chân của chúng ta có thể có nguồn gốc từ quang cảnh gồ ghề ở khu vực phía Đông và Nam châu Phi, được định hình trong suốt kỉ nguyên Pliocene do những ngọn núi lửa và sự chuyển dịch của các mảng kiến tạo (tectonic plate).    Chủng hominin, tổ tiên xa xưa của ta, ắt bị thu hút bởi vùng địa hình có những lớp đất đá trồi lên và những hẻm núi do địa hình này cho họ nơi trú ẩn và nhiều cơ hội để đánh bẫy con mồi. Nhưng địa hình đó cần tổ tiên ta phải có dáng thẳng đứng khi trườn bò và leo trèo, điều này khiến cho loài hai chân bắt đầu xuất hiện.  Nghiên cứu “Complex Topography and Human Evolution: the Missing Link” (Địa thế phức tạp và tiến hóa loài người: Loài chuyển tiếp) của Đại học York thách thức những giả thuyết truyền thống cho rằng tổ tiên xa xưa của ta bị buộc phải rời khỏi cây cối và đi xuống đất bằng hai chân khi môi trường thay đổi làm giảm chỗ trú ngụ trên cây cối. Nghiên cứu này được phát triển cùng với đội ngũ nghiên cứu của Viện Vật lí học Trái đất (Institut de Physique du Globe) ở Paris.   TS Isabelle Winder, Khoa Khảo cổ học thuộc Đại học York, một trong những người thuộc nhóm nghiên cứu, cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi chứng tỏ rằng loài hai chân có lẽ phát triển như để đáp ứng lại vùng địa hình đó, thay vì đáp ứng lại những thay đổi thực vật do môi trường gây ra.  “Địa hình gãy khúc, đứt đoạn đã đưa ra nhiều lợi ích cho chủng hominin xét về mặt an toàn và thực phẩm, nhưng nó cũng cho thấy động cơ cải thiện các kĩ năng vận động bằng cách leo trèo, giữ thăng bằng, bò trườn và di chuyển nhanh nhẹn trên những vùng đất gãy khúc ấy – đó là những loại vận động khuyến khích dáng đứng ngày càng thẳng đứng hơn.”   Nghiên cứu cho biết đôi bàn tay và đôi cánh tay của chủng hominin thẳng đứng được thả tự do để phát triển thêm khả năng khéo léo ở đôi tay và khả năng dùng công cụ, điều này hỗ trợ cho giai đoạn then chốt trong câu chuyện tiến hóa.  Việc phát triển những thích nghi của khung xương và bàn chân đối với vận động chạy có lẽ là kết quả từ những chuyến đi vào khu vực đồng bằng phẳng lì xung quanh nhằm tìm kiếm con mồi và những vùng săn bắt hái lượm mới.  TS Winder cho biết thêm: “Địa hình đa dạng có lẽ cũng góp phần cho việc cải thiện những kĩ năng tri nhận như định hướng và những khả năng giao tiếp, điều này giải thích cho quá trình tiến hóa tiếp diễn của não bộ chúng ta và những chức năng xã hội như hợp tác và làm việc nhóm.  “Chúng tôi đưa ra những giả thuyết mới mẻ, khả thi thay thế cho những giả thuyết truyền thống về thực vật hay sự thay đổi môi trường. Nó giải thích toàn bộ những quá trình then chốt trong sự tiến hóa của chủng hominin và đưa ra bối cảnh thuyết phục hơn so với các giả thuyết truyền thống”.        Đoàn Khương Duy dịch   Nguồn: http://www.sciencedaily.com/releases/2013/05/1305 24104041.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao Trái đất sơ khai không bị băng phủ?      Nghiên cứu mới do nhóm chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu hành tinh và Trung tâm Du lịch hàng không và không gian Đức đã khiến giới khoa học phải xem xét lại vai trò của CO2 trong việc làm ấm Trái đất vào buổi đầu tiên.     Nhóm nhà khoa học này đã thiết lập một mô hình mới về khí quyển của trái đất trẻ, trong đó bao gồm các thông tin mới cập nhật về cách phóng xạ có thể được hấp thụ để gây sức nóng. Mô hình này được dùng để kiểm tra những thời điểm thú vị về lịch sử quả địa cầu, như là sự chấm dứt của thời kỳ Late Heavy Bombardment. Kết quả cho thấy lượng khí CO2 cách đây hơn 3 tỉ năm trước chỉ bằng 10% so với dự đoán trước đó nhưng vẫn mang lại hiệu quả cho Trái đất khi mặt trời vẫn còn yếu ớt và không làm cho bị băng bao phủ. Điều này giúp giới khoa học hiểu rõ hơn ảnh hưởng khủng khiếp của CO2 đối với khí hậu Trái đất và hệ sinh thái toàn cầu. T.M    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tại sao vụ nổ ammonium nitrate ở Beirut tại có sức phá hủy lớn?      Thảm kịch này là một trong những tai nạn hóa chất lớn nhất thế giới và cùng với đại dịch coronavirus lẫn khủng hoảng kinh tế, nó khiến tình cảnh của Lebanon càng thêm trầm trọng.    Vào ngày 4/8/2020, Pierre Khoueiry đang lên kế hoạch tổ chức sinh nhật với vợ và con trai hai tuổi thì   một tiếng nổ làm cửa sổ căn hộ ở Beirut vỡ vụn. Cách đó 2,5 ki lô mét, trong bến cảng thành phố, một vụ nổ cực mạnh đã gây ra một quả bóng lửa màu cam trên bầu trời, tiếp theo là một làn sóng sốc cực lớn  đủ sức làm lật ô tô, phá hủy các tòa nhà cao tầng và làm mặt đất khắp thủ đô Beirut rung chuyển. “Đó là một khoảnh khắc gây sợ hãi khủng khiếp,” Khoueiry, một nhà nghiên cứu hệ gene tại trường đại học Mỹ Beirut, nói.    Chính quyền Libanon nói rằng vụ nổ khiến ít nhất 220 người chết, khoảng 5.000 người bị thương và ước tính khiến cho 300.000 người bị mất nhà cửa này có nguyên nhân là 2.750 tấn ammonium nitrate – một loại hợp chất hóa học thường được sử dụng phổ biến như một loại phân bón. Đống hóa chất này đã tồn tại ở kho cảng tới sáu năm. Một cuộc điều tra vào nguyên nhân nào kích hoạt vụ nổ đàn được tiến hành và những thông tin sớm được báo cáo thì có lẽ là ở gần một nguồn lửa.  Vụ nổ này là một trong những vụ nổ từ ammonium nitrate lớn nhất được ghi nhận – quá lớn bởi ở đảo Cyprus cách đó 200 ki lô mét người ta còn nghe thấy tiếng nổ. Lượng ammonium nitrate đó nhiều tới mức “khổng lồ, điên rồ”, Andrea Sella, một nhà hóa học ở trường đại học College London, nhắc đi nhắc lại.  Hóa chất này là nguyên nhân dẫn đến nhiều thảm họa công nghiệp trong quá khứ. Vào năm 1921, một vụ nổ tại nhà máy ammonium nitrate ở Oppau, Đức, làm chết 561 người và có thể nghe thấy tiếng nổ ở cách đó hàng trăm ki lô mét. Và năm 2015, một vụ nổ với 800 tấn ammonium nitrate trong cảng Thiên Tân, Trung Quốc làm 173 người chết.  Được tạo ra dưới hình thức các hạt nhỏ giống như muối ăn, amoni nitrat có giá thành rẻ và thường rất an toàn nhưng việc bảo quản nó lại là vấn đề. Theo thời gian, hợp chất này hấp thụ hơi nước, vốn có thể khiến cho các hạt nhỏ đó dính lại với nhau thành một khối lớn, Sella nói. Khi đạt đến một khối lượng đủ lớn thì khối ammonium nitrate rắn chắc này sẽ có khả năng phơi lộ trước nhiệt độ cao – ví dụ một ngọn lửa vô tình bùng lên, có thể kích hoạt thành một vụ nổ. Làn sóng sốc tiếp theo vụ nổ có thể rất nguy hiểm. Vụ nổ sẽ tạo ra một vùng áp suất cao di chuyển nhanh hơn tốc độ âm thanh, làm vỡ vụn kính và khiến con người bị thương.    Ở Beirut, thảm họa này là hậu quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân không liên quan trực tiếp. Những người bị thương đã được chuyển tới điều trị tại các bệnh viện gần đó, nơi đang phải căng sức trước đại dịch coronavirus. Nếu không được hỗ trợ y tế đầy đủ, những người bị thương có thể bị để lại di chứng suốt cuộc đời, Paul Gardner-Stephen, người nghiên cứu về công nghệ liên quan đến thảm họa – di cư tại trường đại học Flinders ở Adelaide, Australia. nói. “Nhiều sự sống và sinh kế sẽ mất đi, bởi vì năng lực phản hồi có giới hạn,” ông nói.  Lebanon đang chịu cảnh khủng hoảng kinh tế được khơi ngòi từ những người chống đối chính phủ, bắt đầu từ tháng 10/2019, khi tiền tệ mất giá trước đồng đô la, Charlotte Karam, một nhà khoa học xã hội tại trường đại học Mỹ Beirut, cho biết. Kể từ đó, giá cả lương thực đã tăng lên và cứ ba người thì có một người rơi vào cảnh không việc làm.  Hiện tại, với việc khu cảng ở Beirut và kho chứa bột của đất nước – vốn ở gần kho trữ ammonium nitrate, bị phá hủy, Karam cho rằng những hậu quả của vụ nổ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quốc gia này. “Đó là khủng hoảng trùm khủng hoảng – một khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị và khủng hoảng y tế”, chị nói. “Chúng tôi cần làm việc bên nhau để tái thiết Lebanon.”  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-02361-x       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tái tạo virus H1N1 để tìm hiểu H5N1      Các nhà khoa học tại Đại học Washington (Mỹ) vừa tái tạo dòng virus cúm H1N1 (còn gọi là cúm Tây Ban Nha) nhằm nghiên cứu cơ chế lây nhiễm của loại virus này.  H1N1 là virus từng giết hơn 50 triệu người trong đại dịch cúm toàn cầu giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918-1919).    Thông thường khi bị lây nhiễm cúm, hệ miễn dịch cơ thể sẽ tiêu diệt các tế bào bị nhiễm virus. Tuy nhiên, thí nghiệm trên chuột cho thấy hệ miễn dịch phản ứng quá mạnh đối với virus H1N1 đến mức cơ chế tự phòng vệ sinh học này tiêu diệt quá nhiều tế bào cơ thể, trong khi đó lại không thể ngăn chặn sự phát triển của virus cúm. Chính phản ứng này của cơ thể càng làm sức tàn phá của H1N1 trở nên mạnh mẽ hơn.  Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục các thí nghiệm tương tự để tìm hiểu xem tại sao hệ miễn dịch lại có phản ứng như vậy. Các nhà khoa học khẳng định qua nghiên cứu H1N1, họ có thể hiểu sâu hơn về cơ chế hoạt động của virus cúm gia cầm H5N1.    (Theo BBC)  HIẾU TRUNG       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tài trợ cho nghiên cứu về những “căn bệnh bị lãng quên” tăng cao kỷ lục      Những nỗ lực nghiên cứu và vận động chính sách đã được đền đáp khi những phương pháp điều trị mới đã được phê duyệt.    Theo một báo cáo mới công bố của Policy Cures Research – một tổ chức nghiên cứu về sức khỏe toàn cầu ở Sydney, Australia, tài trợ cho nghiên cứu về những căn bệnh ảnh hưởng chủ yếu tới người nghèo đã đạt mức kỷ lục vào năm 2017.  Với 3.6 tỷ USD, các khoản đầu tư cho những “căn bệnh bị lãng quên” – những căn bệnh bị lãng quên là những căn bệnh nhiễm trùng nhiệt đới do virus… gây ra, chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển – đang ở mức cao hơn kể từ năm 2007. Từ năm 2016-2017, các khoản tài trợ cho nghiên cứu những “căn bệnh bị lãng quên” nói chung đã tăng lên.    Anna Doublell, giám đốc nghiên cứu ở cơ quan Nghiên cứu chính sách điều trị, cho biết việc thiết lập các ca thử nghiệm một số loại thuốc điều trị, phương pháp chẩn đoán và vaccine Ebola mới nhằm chặn đứng dịch bệnh Ebola bùng phát ở Tây Phi trong khoảng thời gian 2014-2016 có thể khiến các các nhà đầu tư nghĩ rằng tài trợ cho những “căn bệnh bị lãng quên” như thế là đủ. Nhưng theo Doubell: “Một số tiến bộ đạt được trong khoảng thời gian ngắn sau khi dịch Ebola bùng phát có thể mang lại sự lạc quan về tương lai”.  Tuy nhiên, các tác giả của báo cáo – hay còn gọi là khảo sát G_FINDER, cho biết tổng kinh phí tài trợ không đạt mức mong muốn 8 tỷ USD – một mục tiêu ước tính hàng năm, vừa đủ để phát triển các giải pháp khắc phục tình trạng tử vong và ốm yếu ở người do hàng chục “căn bệnh bị lãng quên” gây ra. Con số này có thể đạt được nếu các quốc gia có thu nhập cao phân bổ ít nhất 0.01% GDP cho nghiên cứu các vấn đề cần thiết về y tế ở các nước có thu nhập thấp. Hiện tại, chỉ có Hoa Kỳ và Vương quốc Anh thực hiện điều này thông qua “Chiến lược và kế hoạch hành động về sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo và y tế công cộng trên toàn cầu” của WHO.  Những chiến thắng sớm  Trong hơn một thập kỷ, WHO đã thúc đẩy các chính phủ, các tổ chức và doanh nghiệp đầu tư vào những “căn bệnh bị lãng quên” – đang ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của khoảng 1 tỷ người hiện nay, chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Báo cáo cho thấy một số nỗ lực đã mang lại kết quả.  Thay đổi lớn nhất trong năm 2017 là các nhà tài trợ đã đầu tư nhiều hơn vào các nghiên cứu về thuốc, vaccine và những các công nghệ khác nhằm chống lại nhiều loại bệnh cùng một lúc, bao gồm các nền tảng chẩn đoán phát hiện nhiều loại virus gây sốt khác nhau; đầu tư cho những hoạt động quan trọng ở các tổ chức phát triển, chẳng hạn như sáng kiến “Thuốc cho những căn bệnh bị lãng quên” (DNDi) ở Geneva, Thụy Sĩ. Các nhà tài trợ đã đầu tư 382 tỷ USD cho các hoạt động này – tăng 51% so với năm 2016, chủ yếu là từ Quỹ Bill & Melinda Gates ở Seattle, Washington.  Tài trợ cho nghiên cứu HIV, sốt rét và bệnh lao cũng tăng nhẹ, chiếm khoảng 70% (2.5 tỷ USD) tổng số tiền tài trợ. Và tài trợ nghiên cứu các dịch bệnh tiêu chảy, bao gồm dịch tả và nhiễm khuẩn giardia cũng tăng 6.3%.  Tăng thêm sự chấp thuận  Tuy nhiên, mức đầu tư cho nghiên cứu một số căn bệnh đã giảm, mặc dù tổng số tài trợ tăng lên. Tài trợ cho nghiên cứu bệnh sốt xuất huyết đã bị giảm 32 triệu USD, một phần là do sự giảm tài trợ của Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ và hết hạn tài trợ của Quỹ Gates.  Và khoản đầu tư cho 3 loại nhiễm viêm gan C không có tác động đáng kể tới người dân ở các quốc gia có thu nhập thấp – đã bị giảm 13 triệu USD, giảm gần 50% so với năm 2016. Theo các tác giả của báo cáo, nguyên nhân dẫn đến thay đổi về tính chất của các khoản đầu tư cho nghiên cứu dịch bệnh là do đã có quyết định phê duyệt các loại thuốc mới hiệu quả hơn trong điều trị viêm gan C. Doubell cho biết hiện nay các quỹ đang chuyển hướng, từ phát triển thuốc sang nghiên cứu giải pháp giúp người dân ở những cộng đồng có thu nhập thấp dễ dàng tiếp cận các loại thuốc.  Gần 2/3 tổng số tiền tài trợ đến từ khu vực công, tăng 181 triệu USD so với năm 2016 – nhờ vào sự tăng cường đầu tư của chính phủ Anh, Đức, Ấn Độ, Nam Phi và Ủy ban châu Âu. Trong khi đó, tài trợ của những công ty dược phẩm đa quốc gia đã giảm 1,5% so với năm 2016 và các công ty vừa và nhỏ giảm 3,9%.  Các tác gả của báo cáo cho biết, sự gia tăng đầu tư vào nghiên cứu những “căn bệnh bị lãng quên” đang bắt đầu mang lại những kết quả cụ thể. Năm 2018, Cơ quan dược phẩm châu  Âu đã phê duyệt phương pháp điều trị bằng đường uống đầu tiên cho giai đoạn sớm và giai đoạn muộn của bệnh ngủ châu Phi – fexinidazole, đồng thời Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt moxidectin – loại thuốc mới đầu tiên trong 20 năm nay để điều trị bệnh mù do giun chỉ Onchocerca gây ra.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00244-4    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tấm huy chương hay “đồ trang sức”?      Kỳ thi Olympic Toán quốc tế là một kỳ thi dành cho cá nhân chứ không phải cho các quốc gia, chỉ có giải thưởng cho cá nhân mà không có giải đồng đội. Bảng thành tích của các đội chỉ mang tính chất tham khảo. Hãy hướng vào tinh thần biến những kỳ thi HSG quốc gia thành ngày hội cho những học sinh yêu toán, nhằm thực hiện một cách tốt nhất yêu cầu phát hiện HSG toán.    Năm nay, kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Như vậy là sau hơn 30 năm, kể từ khi tham gia lần đầu tiên tại kỳ thi lần thứ 16 được tổ chức tại CHDC Đức năm 1974, Việt Nam của chúng ta đã có dịp trả nợ bạn bè quốc tế.  Nhìn lại một kỳ thi              PGS.Phùng Hồ Hải, Viện Toán học và ĐH Essen-CHLB Đức           Trong tất cả các kỳ thi, đáng nhớ nhất chính là kỳ thi lần thứ 16, kỳ thi mà đội tuyển Việt Nam lần đầu tiên tham gia.  Năm 1974 chiến tranh vẫn chưa chấm dứt mặc dù quân Mỹ đã rút và hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Các học sinh trong đội tuyển thi Olympic Toán năm đó đã từng nhiều năm trời phải đi học ở những khu sơ tán để tránh máy bay Mỹ đánh phá. Với những thiếu thốn và khó khăn bộn bề của cuộc chiến, mục tiêu đặt ra cho đội tuyển Việt Nam rất khiêm tốn: chỉ cần có giải. Nhưng vươn lên trong khó khăn, các học sinh của chúng ta đã làm nên kỳ tích: 1 giải nhất (Hoàng Lê Minh), 1 giải nhì (Vũ Đình Hòa), 2 giải ba (Tạ Hồng Quảng, Đặng Hoàng Trung).  Có thể nói, kết quả xuất sắc mà các học sinh Việt Nam đạt được trong lần tham dự đầu tiên còn nhiều bỡ ngỡ này không phải là do may mắn. Tại miền Bắc Việt Nam, việc đầu tư phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt là môn toán, đã được quan tâm từ rất sớm. Ngay từ đầu những năm 60, các kỳ thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc đã được tổ chức. Năm 1965, lớp chuyên toán đầu tiên được mở ra tại trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, năm sau là các lớp ở ĐHSP Hà Nội và ĐH Vinh. Rồi sau đó, mô hình này tiếp tục được nhân rộng ra các tỉnh. Năm 1965, báo Toán học và Tuổi trẻ ra số đầu tiên. Cần nhắc lại rằng, năm 1965-1968 là những năm Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc để thấy sự quan tâm cũng như cố gắng của Chính phủ trong việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.  Có thể nói, các kỳ thi học sinh toán và hệ thống các lớp bồi dưỡng HSG toán, đặc biệt là các thập kỷ 60, 70 đã rất thành công trong việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ góp một phần vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học của Việt Nam ngày nay.  “Bồi dưỡng nhầm”?  Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 đánh dấu “sự thoái trào” của Toán học Việt Nam. Với những khó khăn về kinh tế sau chiến tranh, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, việc chọn ngành toán trở nên quá xa vời đối với đa số sinh viên thời kỳ này, mặc dù toán vẫn là môn học chính trong nhà trường, vẫn là “cửa ải” quan trọng nhất phải qua hòng bước chân vào cánh của đại học, và mặc dù, việc dạy thêm, học thêm vẫn phát triển một cách chóng mặt. Không chỉ đối với học sinh thường mà ngay cả đối với những học sinh chuyên toán, “học toán” và “thi toán” trở thành phương tiện để đạt được những mục đích khác, thậm chí đôi khi rất “phi toán”. Chẳng hạn, có những năm đa số học sinh của một lớp chuyên toán có tiếng đăng ký thi ngành Ngoại thương hoặc Ngoại giao. Tình hình trở nên “nổi cộm” tới mức bộ GD-ĐT phải đóng cửa các lớp chuyên toán tại cấp trung học cơ sở theo đúng nguyên tắc “không quản được thì dẹp”. Thống kê theo những thông tin có được, trong số 76 học sinh Việt Nam tham gia thi Olympic Toán quốc tế từ 1982-1995 thì chỉ có khoảng 20 học sinh tiếp tục con đường học toán và làm toán. Dù chúng ta hiểu rằng, một học sinh thi toán quốc tế không nhất thiết phải trở thành một nhà toán học, thì một tỷ lệ thấp như vậy trên tinh thần “phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi toán” vẫn gây cảm giác, dường như ta đã “bồi dưỡng  nhầm”?  Nhìn vấn đề ở góc độ khác thì thấy rằng, mặc dù trải qua thời kỳ “thoái trào”, phong trào thi HSG toán trong thời kỳ này vẫn tìm ra được một số học sinh mà nay đã trở thành những nhà khoa học xuất sắc như Lê Tự Quốc Thắng, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Hà Văn, Ngô Bảo Châu, Đinh Tiến Cường với thành tích đã dần vượt các thế hệ đàn anh. Rất tiếc, thực tế là danh sách những người này không nhiều và đều đang làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, sự thành công của những người này chỉ phụ thuộc một phần nhỏ vào kết quả của họ tại các kỳ thi HSG. Điều quan trọng hơn cả chính là niềm đam mê toán học cũng như  quyết tâm “dấn thân” vào con đường khoa học đầy chông gai của họ. Trường hợp Vũ Hà Văn là một điển hình. Hai năm “thi trượt” vào đội tuyển thi Olympic Toán quốc tế, thi đỗ đại học với số điểm cao anh được gửi sang Hungary học về Điện tử. Tuy nhiên, không dứt được niềm say mê toán học, Vũ Hà Văn đã trở thành giáo sư Toán tại một trường đại học hàng đầu Hoa Kỳ ở độ tuổi chỉ mới ngoài 30.    Huy chương không phải “tấm bình phong”  Trong những năm từ 1995 tới nay, đội tuyển thi Olympic Toán quốc tế của Việt Nam tiếp tục gặt hái thành công. Mặc dù số các nước tham gia tăng theo từng năm, đội tuyển Việt Nam vẫn thường xuyên giành vị trí rất cao trong bảng xếp hạng, đồng thời cũng đánh dấu sự xuống dốc “không phanh” của chất lượng giáo dục nước nhà. Với những điều kiện mới, chúng ta có nhiều trường đại học hơn, nhiều sinh viên hơn. Nhưng nếu đánh giá tổng thể, chúng ta hoàn toàn đánh mất “chất lượng”. Trong khung cảnh đó, thành tích của những cá nhân và đội tuyển HSG tại các kỳ thi quốc tế hay khu vực môn toán cũng như các môn khác luôn được dùng làm bình phong để che đậy yếu kém của ngành. Có vị lãnh đạo của một trường đại học lớn, khi phát biểu (trên vô tuyến) về thành tích của khoa học Việt Nam, đã nhắc tới thành tích thi Olympic Toán quốc tế. Những học sinh tham dự thi Olympic Toán quốc tế được gọi là “những nhà toán học trẻ”. Ở cấp thấp hơn, kết quả của các kỳ thi HSG toàn quốc được các sở giáo dục dùng để báo cáo thành tích. Nhiều học sinh, dù không muốn, vẫn phải đi thi vì thành tích của trường, sở. Cũng vì chạy theo thành tích nên đã xảy ra những chuyện tiêu cực rất đáng lên án trong các kỳ thi HSG. Chẳng hạn, các em HSG làm bài tập thể, dẫn đến gần như toàn bộ đội tuyển của một tỉnh bị hủy kết quả thi.  Xin được nhắc lại tiêu chí kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Đó là phát hiện, động viên và khuyến khích HSG toán đồng thời quảng bá Toán học, tạo điều kiện cho học sinh các nước gặp gỡ trao đổi để tăng cường tình đoàn kết hữu nghị. Cũng xin nói thêm là kỳ thi Olympic Toán quốc tế là một kỳ thi dành cho cá nhân chứ không phải cho các quốc gia, chỉ có giải thưởng cho cá nhân mà không có giải đồng đội. Bảng thành tích của các đội chỉ mang tính chất tham khảo. Hãy hướng vào tinh thần biến những kỳ thi HSG quốc gia thành ngày hội cho những học sinh yêu toán, nhằm thực hiện một cách tốt nhất yêu cầu phát hiện HSG toán. Để làm được điều đó, quan trọng hơn cả, hãy coi thành tích trong các kỳ thi chính là bản thân những học sinh chứ không phải là của trường, của sở. Và nếu bỏ qua được những “gánh nặng thành tích” đó, các trường năng khiếu sẽ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ “bồi dưỡng năng khiếu “của mình, vì chắc chắn rằng “bồi dưỡng năng khiếu không phải là luyện thi”.  Phùng Hồ Hải      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tâm lý sống còn của đội bóng Thái Lan      “Nếu bạn thức dậy vào ngày thứ tư trong chuỗi ngày sinh tồn mà vẫn còn sống, bạn đã đạt được một cột mốc quan trọng về mặt tâm lí”.      Các thành viên đội bóng bày tỏ thương tiếc với người thợ lặn hi sinh trong cuộc giải cứu. Ảnh: bbc.com  Sinh tồn là một chuỗi các thành công nhỏ  Vào ngày 23 tháng 6, 12 cậu bé và huấn luyện viên bóng đá của họ bước vào một hang động sau khi kết thúc việc tập luyện bóng đá ở miền Bắc Thái Lan. Những cậu bé đã bị mắc kẹt khi mưa lớn tràn ngập hang Tham Luang và cắt đứt lối thoát. Sau nỗ lực giải cứu kéo dài hàng tuần liền, tất cả 12 cậu bé và huấn luyện viên của họ đã được giải phóng khỏi hang động.  Bị kẹt dưới lòng đất trong mười một ngày, không biết liệu có bị chết đói hay chết đuối ngày hôm sau không… Đó chính là hoàn cảnh của đội bóng trẻ của Thái Lan mắc kẹt trong hệ thống hang động như một mê cung ở miền Bắc nước này. Tuy nhiên, không thể phủ nhận họ gặp may mắn ở một điểm: đó là các thành viên đã được tổ chức sẵn thành một khối thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau. Sự sống còn của nhóm trong môi trường khắc nghiệt đòi hỏi sự lãnh đạo, tinh thần đồng đội và phân chia công việc, đó đều là những yêu cầu đương nhiên với một đội bóng đá, chưa kể đến sự hiện diện của một huấn luyện viên 25 tuổi.  Giống như các thợ mỏ Chile bị kẹt trong một mỏ đồng đúng mười tuần vào năm 2010, các cậu bé ở Thái Lan đã từng làm việc cùng nhau trong một thời gian dài và có một hệ thống phân cấp vai trò cho phép phân công và chia sẻ các nhiệm vụ trong cuộc chiến sinh tồn. “Sinh tồn chỉ là chuyện đưa ra một loạt các mục tiêu nhỏ, một loạt các nhiệm vụ có thể đạt được, bởi vậy chúng phải khả thi, phải hỗ trợ việc sinh tồn và phải được sắp xếp theo một trình tự đúng đắn”, nhà sinh lý học sinh tồn Mike Tipton, hiện đang nghiên cứu tại Khoa Thể dục Thể thao tại Đại học Portsmouth cho biết.  “Bạn được phép nghĩ rằng, Nếu tôi vẫn ở đây trong hai tuần thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi vẫn còn ở đây trong hai tháng?” Bạn cần phải nghĩ rằng, “Một giờ nữa, tôi cần phải làm điều này”. “Rồi cứ thể đưa ra nhiều mục tiêu ngắn hạn mà bạn có thể thực hiện thành công. Vấn đề mà rất nhiều người sống sót sau thảm kịch hoặc đã bỏ mạng từng phải đối mặt, đó là họ cảm thấy bị choáng ngợp bởi việc phải tiếp tục tồn tại, nên họ không bao giờ bắt đầu với bất cứ mục tiêu gì. Họ bỏ cuộc”.  Chìa khóa cho sự sống sót của thợ mỏ Chile chính là việc ngay lập tức quyết định sẽ tiếp tục hoạt động, tự nghĩ ra một loạt các hoạt động hằng ngày để biến sự chờ đợi vô tận trở thành một loạt các nhiệm vụ. Nói cách khác, họ tạo ra một ý thức trách nhiệm và cùng nhau chia sẻ số phận cũng như các khó khăn phải đương đầu trước mắt. “Có ba cách để phản ứng trong tình huống này”, Tipton, người đã trải qua nhiều thập kỷ điều tra sự sống còn trong môi trường khắc nghiệt cho biết, “Bạn có thể đóng băng và không làm gì cả, hoặc bạn có thể hoạt động rất năng nổ rồi làm hỏng bét hết cả, nhưng bạn cũng có thể trở nên năng động và làm những điều đúng đắn”. Và rõ ràng điều chúng ta cần làm chính là hướng thứ ba.  Đội bóng Thái Lan đã vượt qua thử thách khó khăn đầu tiên trong bất cứ một cuộc chiến sinh tồn nào: ba ngày đầu tiên, khoảng thời gian mà nhiều nạn nhân đã đầu hàng. “Nếu bạn thức dậy vào ngày thứ tư trong chuỗi ngày sinh tồn mà vẫn còn sống, bạn đã đạt được một cột mốc quan trọng về mặt tâm lí” – John Leach, một nghiên cứu viên cao cấp tại Đại học Portsmouth nói. “Nhưng sau khoảng ba tuần, nhiều người sẽ có xu hướng sụp đổ. Họ đột nhiên cảm thấy chán nản, họ muốn bỏ cuộc.”  Khiếu hài hước là chìa khóa giúp cho các chàng trai của đội bóng đoàn kết và vững tâm, Leach, người làm việc rất nhiều với những người sống sót, bao gồm cả con tin, tù nhân và nạn nhân bắt cóc cho biết: “Sự hài hước là một hành vi đặc trưng mang tính quyết định đối với sự sống còn. Và trong khi con người đang chiến đấu với sự sống còn, đó là thứ đầu tiên bị ảnh hưởng: nếu có ai đó “thất bại trong việc phản ứng với sự hài hước”, có nghĩa là họ đang có vấn đề không hề nhỏ về mặt tâm lý. Khiếu hài hước là thứ đầu tiên bỏ chúng ta mà đi, và nó cũng là điều cuối cùng quay trở lại.  Chữa lành tâm lý sau khủng hoảng  Trước đó, khi mà các nhân viên y tế và thợ lặn cứu hộ vạch ra kế hoạch đưa các chàng trai qua lòng hang bị ngập lụt, các nhà tâm lý học và các chuyên gia về trẻ em đã tiến hành xem xét các cách phục hồi chấn thương tâm lý sau sự việc này. Mặc dù phần khó khăn nhất trong thử thách đã được hoàn thành với việc cả đội bóng được đưa khỏi hang nguyên vẹn, việc xử lý các chấn thương tấm lý là điều không hề dễ dàng. Peter Levine, tác giả của “Waking the Tiger, Healing Trauma” (Đánh thức hổ, lành vết thương tâm lý”) cho biết: “Đôi khi việc điều trị có thể tồi tệ hơn là không điều trị”. “Đôi khi việc điều trị khiến người bệnh sống lại sự đau đớn, trầm cảm và tuyệt vọng. Điều đó không hiệu quả. Những gì bạn cần làm là giúp cơ thể họ hồi phục như trước và hòa nhập vào cuộc sống thực tại. Đôi khi bạn gợi lại những kỉ niệm. Nhưng nếu chỉ khiến các kí ức sống lại thì thậm chí còn gây tác hai lớn hơn. Một số biện pháp có thể có ích, nhưng rất hạn chế sử dụng biện pháp “nói chuyện”, hoặc biện pháp “tiếp xúc”, bởi có thể khiến nạn nhân tái hiện lại sự khủng hoảng tâm lý của họ. “  Tipton cũng cảnh báo rằng một số người có thể tử vong trong vài giờ ngay sau khi giải cứu. “Chúng tôi biết rằng có một tình huống đã từng xảy ra như sau: tình trạng của người đang mắc kẹt xấu đi đến mức họ chết ngay trước khi được giải cứu. Bao giờ cũng có hai mặt của đồng xu. Từ tình huống đang phải tranh giành sự sống, rồi khi nhìn thấy chiếc thuyền cứu hộ tới, họ thả lỏng và thư giãn tới mức sụp đổ… và tình trạng của họ suy giảm nghiêm trọng. Một vài trường hợp đã được ghi lại từ thời Chiến tranh Thế giới thứ hai”.  Leach nói rằng các biện pháp chăm sóc sức khỏe tâm lý sau chấn thương thường quá đơn giản và bị hiểu lầm. “Những ngày này, người ta nói rất nhiều về một thứ gọi là khả năng hồi phục của con người sau chấn thương”, Leach cho biết. “Tôi nghĩ rằng nếu bạn đã trải qua cuộc chiến giành giật sự sống, như là tù binh chiến tranh, bắt làm con tin, hoặc lênh đênh hàng tuần liền trên biển…, bạn sẽ không còn như trước. Bạn không còn là con người đó, bạn đã thay đổi. Khi bạn trở lại, bạn sẽ thấy thế giới xung quanh thay đổi. Điều nguy hiểm ở chỗ nhiều người kì vọng thế giới vẫn vậy sau khi họ trở về, và họ sẽ quay lại là con người cũ trước khi thảm họa xảy ra”.  Trở về với cuộc sống trên mặt đất sau mười tuần, một trong những thợ mỏ Chile nhớ lại cảm giác khi nhìn vào mình trong gương. “Khi tôi nhìn vào gương”, Samuel Avalos nói, “đôi mắt đang nhìn lại không phải là đôi mắt của tôi.”  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: http://www.wired.co.uk/article/thai-cave-rescue-psychology  Tít bài là do tòa soạn đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tân Bộ trưởng nghiên cứu Đức không phải nhà khoa học      Thủ tướng Đức Angela Merkel trong tuần vừa qua đã tạo ra bất ngờ khi lựa chọn Anja Karliczek – nhà lập pháp 46 tuổi – ít được biết đến với người ngoài ngành, trở thành tân Bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu của Đức.      Karliczek – một người ít tên tuổi, người từng học về ngân hàng và làm quản lý khách sạn trước khi được bầu vào Quốc hội Đức vào năm 2013.  Ngay cả những người nhiều năm theo dõi tình trạng khoa học của Đức cũng đang tự hỏi: Anja là ai?  Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo (CDU) của bà Merkel và chính phủ liên minh với Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) đã chọn ra 6 bộ trưởng mới. Bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu đương nhiệm – Johanna Wanka, vào tháng trước đã tuyên bố bà sẽ rời chức vụ. Hermann Gröhe – nguyên Bộ trưởng Y tế, ứng viên sáng giá cho chức vụ quản lý nghiên cứu, cũng không tiếp tục đảm nhiệm vị trí bộ trưởng trong Nội các thứ tư của bà Merkel.  Thay vào đó, bà Thủ tướng lựa chọn Karliczek – một người ít tên tuổi, người từng học về ngân hàng và làm quản lý khách sạn trước khi được bầu vào Quốc hội Đức vào năm 2013. Ở đó, bà chủ yếu giải quyết các vấn đề tài chính. Ba bộ trưởng Bộ Giáo dục và  nghiên cứu trước cũng đều là nữ, nhưng khác họ, trước khi được bổ nhiệm, Karliczek ít có hoạt động liên quan đến chính sách đối với nghiên cứu hay giáo dục, cũng như không có bằng tiến sĩ.  Đã có nhiều phản ứng khác nhau. Nhật báo Süddeutsche Zeitung gọi đây này là “một dấu hiệu sai lầm… Với sự lãnh đạo của Karliczek, người ta tự hỏi liệu khoa học và nghiên cứu có còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị Đức như người ta vẫn nghĩ – và như nó nên như thế, hay không?”  Nhưng những người khác nghĩ rằng một người ngoại đạo như bà vẫn có thể tạo nên giá trị. Phóng viên và bình luận viên Jan-Martin Wiarad viết trên trang Spektrum.de: “Có thể điều cần thiết với một bộ trưởng nghiên cứu lúc này là, khi gặp gỡ các nhà quản lý khoa học, hỏi họ tại sao có những điều được hoàn tất theo cách này và liệu có thể làm theo cách hoàn toàn khác được không.”  Việc lựa chọn Karliczek nhìn rộng ra hơn có thể coi là tín hiệu chính trị của Merkel. Những tân bộ trưởng đều trẻ hơn so với những người tiền nhiệm trong Nội các cũ và tỷ lệ nam – nữ được cân bằng. Karliczek thuộc cánh báo thủ của Đảng CDU Bắc Rhine-Westphalia hùng mạnh.  Merkel nhấn mạnh, Karrliczek đã hai lần trải qua đào tạo nghề – một trụ cột quan trọng trong hệ thống giáo dục Đức. Bà cũng có bằng MBA đào tạo từ xa. Merkel nói rằng: “Tôi chắc chắn bà ấy sẽ dành nhiều tình yêu cho nghiên cứu”.  Dự kiến, Karliczek sẽ quản lý phần ngân sách dành cho nghiên cứu lớn hơn trước – thỏa thuận liên minh [giữa hai Đảng CDU và SPD] hứa hẹn sẽ tăng 3% kinh phí mỗi năm cho các tổ chức nghiên cứu như Hiệp hội Helmholtz, Hiệp hội Max Planck cũng như tăng chi cho khoa học từ 2,9% GDP lên mức 3,5% GDP. Nhưng trước tiên, thỏa thuận liên minh này cần được gần 460.000 thành viên của Đảng SPD thông qua. Các thành viên có thể bỏ phiếu cho các ứng viên bộ trưởng do bà Merkel lựa chọn qua bưu tín tới ngày 2/3/2018.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/02/merkel-makes-surprise-pick-german-research-minister    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tản mạn về khoa học      Cội rễ của khoa học  Cội rễ của khoa học, có lẽ bắt đầu bởi chính sự tò mò của con người về thế giới này qua những câu hỏi vì sao, như thế nào, để làm gì? Chẳng hạn: Vì sao có ngày và đêm? Vì sao có gió, bão, mây, mưa, sấm, chớp?  Cách dễ nhất để trả lời những câu hỏi này là gán cho mỗi câu hỏi trên cho một vị thần. Vì thế các Thần Ngày, Thần Đêm, Thần Mây, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Bão, Thần Yêu, Thần Ghét, Thần Thiện, Thần Ác…, và nhiều thần khác nữa lần lượt ra đời.      Thậm chí, để cho tiện lợi hơn nữa, có thể qui tất cả các câu hỏi trên cho một vị Thần Vạn Năng duy nhất – một đấng siêu nhiên, làm ra tất cả, chịu trách nhiệm tất cả. Để làm gì ư? Để đạt được một mục đích cao cả. Và thật trùng hợp, một trong những khát vọng cơ bản nhất của con người là khát vọng vươn đến những điều cao cả, nên hầu như không ai thắc mắc. Đơn giản, tiện lợi và cao cả: Quá đỗi hài lòng!  Nhưng một số người có đầu óc tò mò hơn mức bình thường, không hài lòng với cách giải thích  đó, nên bắt đầu hoài nghi và quan sát. Họ thấy các  hiện tượng tự nhiên lặp đi lặp lại một cách chính xác: Hết ngày thì đến đêm, thủy triều lên rồi lại xuống, trăng khuyết rồi lại tròn,  bốn mùa luân phiên lặp lại… Sự sinh sôi của cỏ cây hoa lá, thậm chí tâm trạng con người cũng không ngoại lệ, như đã viết bởi Nguyễn Du:   Sen tàn cúc lại nở hoa   Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân  Như thế, nếu thế giới này được ngự trị bởi các vị thần, thì các vị thần này phải tuân thủ những quy tắc rất chính xác. Thậm chí, những quy tắc này có thể viết được dưới dạng những phương trình toán học. Sử dụng các phương trình này, con người có thể tiên đoán được ngày giờ, vị trí của những sự kiện thuộc phạm vi cai quản của các vị thần, như việc tính được chính xác ngày giờ của hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, thủy triều, sự chuyển động của các hành tinh…  Do đó, thay vì trông cậy vào các vị thần, một số người bắt đầu chủ động đi tìm những định luật điều khiển thế giới này.   Một trong những người tiên phong trong việc đó là Gagileo (1654-1642), nhà Vật lý, Toán học, Thiên văn học và Triết học người Ý. Qua thí nghiệm thả vật rơi từ tháp nghiêng Pisa, ông đã hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại thông qua ba bước: thiết kế thí nghiệm; quan sát và đo đạ;, so sánh kết quả với tính toán. Chính nhờ đó mà ông được coi là cha đẻ của khoa học hiện đại.   Ông có lẽ cũng là người đầu tiên cho rằng các quy luật của tự nhiên phải được biểu diễn bởi Toán học qua câu nói nổi tiếng: Thiên nhiên là một cuốn sách viết bằng ngôn ngữ toán học.  Qua đó, ông cũng như hầu hết các nhà khoa học sau này, đã cho rằng chính các quy luật có thể biểu diễn bởi ngôn ngữ Toán học đã thay thế các vị thần điều khiển sự vận hành của thế giới này.  Do đó, thay vì trông cậy hoặc tìm cách tiếp xúc với các vị thần bằng cách này hoặc cách khác, như cầu xin hay tu luyện, các nhà khoa học chủ động tiến hành những nghiên cứu để tìm hiểu tự nhiên, thậm chí mở rộng sang cả con người, theo cách mà Gagileo đã làm.  Các định luật khoa học  Nhiệm vụ của khoa học tự nhiên khi đó không là gì khác ngoài việc đi tìm những định luật chi phối sự vận hành của thế giới, được phát biểu bởi ngôn ngữ Toán học.  Nhưng rắc rối lại nảy sinh ở đúng chỗ này: Trước khi người ta tìm ra những định luật này thì chúng ở đâu?  Cụ thể hơn, trước khi Newton tìm ra định luật hấp dẫn thì định luật này có tồn tại? Và sau khi Einstein tìm ra thuyết tương đối mô tả hấp dẫn chính xác hơn Newton thì định luật của Newton có biến mất?  Rõ ràng là không, vì trước khi Newton tìm ra định luật đó thì trái đất vẫn quay xung quanh mặt trời. Và sau khi Einstein tìm ra định luật hấp dẫn mới thì học sinh vẫn sử dụng định luật cũ của Newton để làm bài tập hàng ngày, và các nhà khoa học vẫn sử dụng định luật hấp dẫn của Newton để tính toán trong trong công việc của mình.  Như thế, các định luật khoa học dường như tồn tại trong một thế giới riêng, độc lập với ý thức con người. Một người nào đó, tìm ra một định luật khoa học, đôi khi chỉ là may mắn hoặc vô tình, như chính Newton từng nói: nhặt được một vỏ sò trên bãi biển.  Plato (429–347.Tr.CN), nhà triết học Hy lạp cổ đại cho rằng, tồn tại một thế giới bất biến, vĩnh cửu, hoàn hảo tồn tại độc lập với ý thức con người. Còn thế giới thực của chúng ta chỉ là những biểu hiện xấp xỉ gần đúng của thế giới vĩnh cửu đó mà thôi.  Do đó, nếu tồn tại một thế giới của các định luật khoa học thì thế giới này chính là một dạng của thế giới mà Plato đã đề cập.  Nhưng thế giới của Plato có tồn tại thực hay không? Không ai chứng minh được. Chỉ biết rằng, con người tìm thấy các định luật khoa học bằng chính quá trình tư duy của mình.  Như thế, các định luật khoa học dường như là sản phẩm của quá trình tư duy tư biện. Nói cách khác, nó tồn tại trong thế giới tư niệm của con người và phụ thuộc hoàn toàn vào đầu óc chủ quan của con người.  Như thế, nó sẽ không thể ra đời trước con người và sẽ biến mất khi con người biến mất. Trái đất không quay xung quanh mặt trời trước khi ai đó chứng minh như vậy và ngừng quay khi con người biến mất khỏi thế giới này… Một điều quá ư vô lý!  Vậy hợp lý hơn cả là các định luật khoa học có một thế giới của riêng mình, độc lập với con người. Và bằng cách nào đó, có thể chỉ là hoàn toàn vô tình, có thể do kiên trì đi theo những chỉ dấu thực nghiệm,  con người tìm ra chúng, như trẻ em tìm thấy vỏ sò trên bãi biển.  Đến đây lại xuất hiện một câu hỏi khác: Vậy cách làm nghiên cứu theo phương pháp mà Gagileo đã khởi xướng: thiết kế thí nghiệm, quan sát và đo đạc, so sánh kết quả với tính toán, có phải là cách tốt nhất để đi tìm những định luật này? Vai trò của những thực nghiệm khoa học là gì ngoài việc cung cấp những chỉ dấu để tìm kiếm những định luật này?  Và những câu hỏi khác lớn hơn: Nếu các định luật khoa học tồn tại trong thế giới của riêng mình thì chúng có liên hệ gì với thế giới thực này và với con người? Vì sao chúng lại có thể mô tả chính xác thế giới này? Liệu chúng có thể mô tả đầy đủ thế giới này? Vì sao con người lại có thể tìm ra và nhận thức được chúng? Liệu có tồn tại một giới hạn nào đó cho lý tính của con người?  Câu trả lời còn bỏ ngỏ, mà những câu hỏi đã quá xa điểm xuất phát ban đầu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tan nát cõi lòng      Trong khi nhiều tổ chức Y tế trên thế giới đang lên tiếng báo động về tầm nguy hại khó lường, như trái bom nổ chậm, của bệnh tiểu đường ở Châu Á, thì các bác sỹ phương Tây hiện phải trăn trở với căn bệnh chẳng khác nào cơn đại dịch âm thầm phủ màu xám thê lương trên khắp Châu Âu: Bệnh trầm uất!    Điều đáng nói đầu tiên về căn bệnh này chính là tính chất “nghịch lý”. Trái với lý luận thông thường, bệnh trầm uất không gắn liền với nghèo đói, với cơ cực. Thống kê ở nhiều quốc gia, đặc biệt trong hai cuộc thế chiến vừa qua, cho thấy trầm uất chiếm tỷ lệ không đáng kể khi con người phải tập trung đối đầu với chiến tranh, thiên tai… Trầm uất rõ ràng không có chỗ đứng khi mục tiêu sống còn được đặt lên hàng đầu. Ngược lại, trầm uất, khác với loại bệnh dịch như H5N1, tuy âm thầm nhưng có thể đốn ngã từng người một trên các quốc gia phát triển với cuộc sống rõ ràng đã đi vào ổn định. Nhận định nào cũng có giá trị tương đối, nhưng một số nhà phân tâm đã không quá lời khi xếp loại trầm uất vào nhóm “bệnh chứng thời đại”, khi khoảng cách giữa “no cơm ấm áo” và “no cơm rửng mỡ” càng lúc càng được thu ngắn.  Kế  đến, trầm uất có mối liên hệ hai chiều vô cùng mật thiết với bệnh tim. Phía sau của không dưới 1/3 số bệnh nhân rõ ràng có vấn đề với huyết áp, với nhịp tim, với triệu chứng hụt hơi, choáng váng, thậm chí đột quỵ khi gắng sức là chiếc bóng lảng vảng của căn bệnh trầm uất. Vấn đề chỉ là vì nhiều thầy thuốc dễ chú ý đến điểm nghẽn nào đó trên mạch vành hơn điểm kẹt trong tâm tư của người bệnh.  Con đường từ trầm uất sang bệnh tim không có gì khúc khuỷu khi:   Người phải sống trong cảnh trầm uất chẳng khác gì người chịu áp lực liên tục của stress. Huyết áp vì thế dễ dao động với khuynh hướng tăng dần để cuối cùng khó trở lại định mức bình thường.   Người trầm uất lâu ngày dễ mất khả năng bù trừ của trái tim. Suy tim vì thế là hậu quả khó tránh ở người trầm uất dù là cơ tim, màng tim, van tim không bị thương tổn trước đó.   Người đã đi vào cảnh trầm uất thì hệ thần kinh thực vật khó ổn định chức năng. Hồi hộp, rối loạn nhịp tim, không sớm thì muộn cũng là bạn đồng hành của người lỡ mất niềm vui trên đường đời.   Người đã bị trầm uất rất dễ uống rượu, hút thuốc để giải sầu. Thêm vào đó, lại ít vận động nên có khuynh hướng trở nên béo phì. Càng sầu càng mập là thế. Thể trạng của người trầm uất, vì thế, là môi trường lý tưởng cho bệnh tim mạch.  Do đó, không lạ gì khi con số người bệnh trầm uất vướng thêm bệnh tim cao gấp đôi số người đau tim nhưng không biết buồn. Không dừng lại ở đó, bệnh trầm uất rõ ràng trầm trọng hơn nhiều về mặt tiên lượng khi đi kèm với bệnh tim, theo kết quả nghiên cứu trên 2847 người bệnh ở Hoa Kỳ. Tệ hơn nữa, tỷ lệ nhồi máu cơ tim trên người trầm uất bao giờ cũng cao hơn nhóm chưa chịu gục đầu trước cuộc sống. Ngay cả tỷ lệ tử vong cũng thế. Theo thống kê mới nhất ở Hoa Kỳ, số người mất mạng vì bệnh tim do trầm uất đã qua mặt con số tử vong vì xơ vữa mạch máu do rối loạn biến dưỡng chất béo. Chưa hết, 25% số người đã bị nhồi máu cơ tim sau đó bị trầm uất vì không thích ứng với cuộc sống mới với đủ loại giới hạn, từ chế độ ăn uống cho đến hình thức sinh hoạt. Vòng luẩn quẩn cứ thế mà xoay tròn trên nỗi đau của người bệnh.  Điểm éo le chính là ở chỗ trầm uất không phải là bệnh nan y. Trái lại là khác. Trầm uất là bệnh trị được với tỷ lệ thành công rất cao. Tuy vậy số người bệnh vẫn rất đông và sẽ tiếp tục tăng cao theo nhịp văn minh của thế kỷ 21, vì chỉ 1/5 số người bệnh chịu đến thầy thuốc. Lý do không chỉ vì người bệnh ngại nói sự thật. Nhiều bệnh nhân cho dù biết rõ vấn đề của chính mình, vẫn không dám đối đầu với sự thật vì ngại tiếng thị phi, vì sợ phản ứng phụ của thuốc an thần. Nguyên nhân cũng không vì thầy thuốc quá bận rộn nên bỏ sót. Trầm uất sở dĩ phức tạp vì bệnh núp kín rất kỹ dưới nhiều thể dạng trung gian như mệt mỏi, mất ngủ, nhức đầu, biếng ăn, suy sinh dục… trước khi lộ diện rõ rệt vào một thời điểm quá muộn cho cả người bệnh lẫn thầy thuốc.   Trầm uất là căn bệnh hiện không hiếm thấy ở nước ta. Trầm uất cần được nhận diện thật sớm, không chỉ vì bản thân căn bệnh, mà còn để phòng ngừa bệnh tim, nguyên nhân đã và đang tiếp tục đứng đầu về tỷ lệ tử vong. Tuy biết rõ về cơ chế bệnh lý của chứng trầm uất nhưng khi bước vào điều trị thì lại không đơn giản chút nào khi con người là một tổng thể quá đỗi phức tạp về tâm sinh lý. Chọn phương pháp nào là quyết định tùy thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm cá biệt của thầy thuốc. Nhưng có một điều chắc chắn: Không thể điều trị trầm uất với vài viên thuốc gọi là an thần hay chống trầm uất một khi người bệnh còn tiếp tục lẫn lộn về mục tiêu của cuộc sống.  Khách bộ hành thường quan niệm mục tiêu là điểm đến cuối đường. Không, mục tiêu chính là niềm vui khi cất bước lên đường.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tận thu tro xỉ nhiệt điện – một bài toán cấp bách      Ngoài việc gây tốn hàng nghìn ha đất để chứa và chôn lấp thì tro xỉ nhiệt điện còn là nguồn gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng cho đất, nước và không khí. Tìm kiếm giải pháp tận thu tro xỉ nhiệt điện, biến loại phế thải này thành nguồn nguyên liệu có giá trị đang là bài toán được các nhà khoa học đặt ra cấp bách.     Mỗi năm, các nhà máy nhiệt điện Việt Nam tiêu thụ gần 14 triệu tấn than và thải ra khoảng 4,5 triệu tấn tro xỉ phế thải. Đến năm 2020, lượng tro xỉ thải lên đến 16 triệu tấn/năm.  Đến năm 2030 tổng công suất nhiệt điện đốt than là 77.000 MW thì lượng than tiêu thụ khoảng 176 triệu tấn. Lúc này, lượng tro xỉ thải sẽ đạt 35 triệu tấn/năm và thải ra bầu khí quyển một lượng khí SOx khổng lồ, ước tính khoảng 5 triệu tấn/năm.  Ô nhiễm lớn  TS Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho biết trong quá trình đốt cháy than để sản xuất điện, khoảng 20% chất vô cơ không cháy bị dính vón thành các hạt lớn và rơi xuống đáy lò gọi là xỉ than và 80% chất vô cơ không cháy còn lại sẽ bay theo khói lò thoát ra ngoài thành tro bay với khối lượng hàng triệu tấn mỗi năm, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người.  Ngoài tro xỉ than gây ô nhiễm môi trường thải ra từ các nhà máy nhiệt điên thì còn một khối lượng lớn chất thải rắn sinh ra trong quá trình đốt than của các nhà máy sản xuất xi măng, hóa chất- phân bón, luyện kim, công nghiệp giấy và sấy nông nghiệp thực phẩm.  Theo TS Nguyễn Đức Quý, hội Tuyển khoáng Việt Nam, ngoài việc gây tốn hàng nghìn ha đất để chứa và chôn lấp thì tro xỉ than còn là nguồn gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng cho đất, nước và không khí.  Tìm kiếm giải pháp tận thu tro xỉ than, biến loại phế thải này thành nguồn nguyên liệu có giá trị đang là bài toán được các nhà quản lý, các nhà khoa học đặt ra cấp bách. Thế nhưng, việc thu hồi không hề đơn giản bởi phần lớn các nhà máy nhiệt điện đang hoạt động tại Việt Nam đều chưa có hệ thống thu hồi chất thải, hoặc có nhưng hiệu quả thấp và không đồng đều.  Thậm chí, còn rất nhiều nhà máy nhiệt điện được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước như Nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, Phả Lại I, Uông Bí. Các nhà máy này sản xuất theo công nghệ đốt than phun PCC, chất thải, khí SOx phần lớn thoát ra môi trường.  Công nghệ lạc hậu  Ngoài ra, nguồn cung cấp than nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện thường sử dụng là loại than chất lượng thấp, có độ tro lớn hơn 32%, thậm chí đến 45% nên các nhà máy nhiệt điện thải ra một lượng tro xỉ khá lớn, có thể từ 20-30% lượng than sử dụng.  Ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, việc phát triển, đổi mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để thu gom tái chế và sử dụng các phế thải có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giảm thiểu khối lượng chất thải mà còn có thể thu hồi thêm được một số nguyên vật liệu thứ sinh và giảm nguồn gây ô nhiễm môi trường.  Các nhà khoa học đều cho rằng, để giải quyết bài toán tro xỉ than, các nhà máy nhiệt điện cần sử dụng các loại than có chất lượng cao, cải tiến công nghệ và thiết bị của các nhà máy nhiệt điện hiện đang hoạt động để nâng cao hiệu quả thu gom và tái chế các phế thải. Khuyến khích nghiên cứu triển khai, đầu tư xây dựng tái chế và sử dụng tro xỉ than nguyên liệu để sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ và các vật liệu cách nhiệt, cách âm…  “Nguồn tài nguyên là có hạn, nếu không chú trọng đến tái chế và sử dụng phế thải thì trong tương lai, con người sẽ phải trả giá đắt. Ngay từ bây giờ, rất cần một chương trình khai thác, chế biến hợp lý, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên, trong đó có than và phế thải từ than” – TS Huynh nhận định.  Theo TS Nguyễn Đức Quý, Hội Tuyển khoáng Việt Nam, chỉ tính riêng ngành sản xuất xi măng, đến năm 2020 nhu cầu xi măng cả nước đạt khoảng 95 triệu tấn, sẽ phải cần đến 10 triệu tấn tro xỉ làm chất phụ gia, đến năm 2030 nhu cầu xi măng là 115 triệu tấn thì nhu cầu tro xỉ sẽ là 12 triệu tấn.  Ngoài ra, tro xỉ còn được sử dụng để sản xuất bê tông, làm chất liên kết gia cố các công trình giao thông, sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ, làm tấm trần, tường thạch cao, gốm sứ rất hiệu quả với tổng mức tiêu thụ hàng chục triệu tấn/năm.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng biến đổi khí hậu do gió mùa vận chuyển chất ô nhiễm      Gió mùa châu Á mang đến những cơn mưa – điều này tác động tích cực đến nền kinh tế nông nghiệp, nhưng nó cũng hút các chất ô nhiễm hóa học trên bầu khí quyển dẫn đến tăng tốc độ biến đổi khí hậu.    Các nhà khoa học đang mong chờ kết quả của một dự án quốc tế do Hoa Kỳ dẫn đầu nhằm xác nhận những phát hiện được công bố trên tạp chí Science rằng các chất ô nhiễm do con người tạo ra được hệ thống gió mùa vận chuyển vào khí quyển và tác động đến hóa học khí quyển, dẫn đến biến đổi khí hậu.  Hóa học khí quyển nghiên cứu về các thành phần của khí quyển hành tinh, bao gồm tầng đối lưu – lớp khí quyển gần Trái đất nhất – tầng bình lưu và các lớp khí quyển khác trên cao.  Laura Pan là nhà điều tra chính của dự án và là nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu khí quyển quốc gia Hoa Kỳ, nơi đang dẫn đầu Dự án Tác động khí hậu và hóa học gió mùa châu Á (ACCLIP) cùng Cơ quan Hàng không và vũ trụ quốc gia (NASA). ACCLIP đang điều tra việc phát thải khí và sol khí ảnh hưởng như thế nào đến hóa học và khí hậu toàn cầu. Pan cho biết: “Trong những thập kỷ gần đây, các vệ tinh đã cho thấy gió mùa tạo ra một lớp hóa chất tách biệt cách Trái đất khoảng 16 km, nhưng chúng ta biết rất ít về thành phần và sự tiến hóa của nó.  “ACCLIP sẽ cho chúng tôi cơ hội để lấy mẫu những thứ ở đó, nhưng chúng tôi biết rằng bất kể chứa thành phần gì, nó đều liên quan đến khí hậu”.  Dự án kéo dài hàng tháng với sự tham gia của các nhà khoa học từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Ý và Đức. Họ sẽ tập trung vào sự lưu thông của gió mùa và lấy mẫu các chất ô nhiễm hóa học được đưa lên các tầng khí quyển cao hơn, nơi chúng ảnh hưởng đến lượng mưa ở châu Á theo nhiều cách khác nhau – dẫn đến cả lũ lụt và hạn hán.  Các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng máy bay đặt tại căn cứ không quân Hoa Kỳ ở Hàn Quốc để bay qua các khu vực có chất lượng không khí tồi tệ nhất — nơi có gió mùa châu Á. Các nhà khoa học cho biết khi trời mưa, một loạt các chất ô nhiễm hóa học sẽ bị các hệ thống gió hút vào tầng cao khí quyển và những phản ứng của chúng liên quan đến biến đổi khí hậu.  Bằng chứng cho thấy gió mùa Nam Á vận chuyển các chất ô nhiễm tới những tầng khí quyển cao như tầng bình lưu lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2015, trong một thí nghiệm tương tự do Viện Hóa học Max Planck (Đức), Viện Công nghệ Karlsruhe và Trung tâm Hàng không Vũ trụ Đức thực hiện.  “Nghiên cứu được thực hiện cho đến nay cho thấy gió mùa mùa hè châu Á mang các khí và sol khí ô nhiễm từ lớp ranh giới của châu Á lên tầng cao khí quyển. Một phần các chất ô nhiễm này được vận chuyển cao hơn vào tầng bình lưu và theo chiều ngang đến Tây Thái Bình Dương và Tây Phi dưới dạng dòng xoáy (eddies), “Suvarna Fadnavis ở Viện Khí tượng nhiệt đới Ấn Độ cho biết.  “Những chất khí và sol khí ô nhiễm này ảnh hưởng đến sự cân bằng bức xạ và thành phần hóa học của tầng đối lưu trên và tầng bình lưu dưới (thượng khí quyển)”.  Theo một nghiên cứu của Environmental Research Letters năm 2021, chính sách phong tỏa trong đại dịch COVID-19 đã khiến giao thông đường bộ và công nghiệp tạm thời ngừng hoạt động, giảm thiểu việc tạo ra các chất ô nhiễm và ảnh hưởng đến gió mùa. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng lượng mưa gia tăng ở Nam Á, nơi đang đối mặt với tình trạng khan hiếm nước trong những thập kỷ gần đây.  Fadnavis nói rằng dự án ACCLIP có thể giúp khám phá “mối liên hệ chưa biết giữa gió mùa mùa hè châu Á với những thay đổi hóa học xảy ra ở độ cao lớn hơn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và những tác động với lượng mưa gió mùa, thời tiết cực đoan hoặc hạn hán, mây băng, thay đổi nhiệt độ,…”  Jayanarayanan Kuttippurath, nhà khoa học khí hậu tại Viện Công nghệ Ấn Độ, cho biết việc thực hiện các phép đo đáng tin cậy từ tầng đối lưu trên và tầng bình lưu vốn khó khăn, và “dự án này chắc chắn sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về hóa học và động lực học của khu vực”.□  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-08-monsoon-impact-climate-pollutants-upper.html    Author                .        
__label__tiasang Tăng bồi thường cho thảm họa điện hạt nhân Fukushima      Chính phủ Nhật vừa chuẩn y tăng số tiền bồi thường đối với thảm họa Fukushima lên 7,07 nghìn tỉ yen (57,18 tỉ USD).       Công ty điện lực Tokyo Electric Power Co (Tepco), chủ quản lý nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, sẽ nhận được 950 tỉ yên cùng với số tiền khoảng 6.125 nghìn tỉ yen trước đó đã được Chính phủ đồng ý. Khoản tiền hỗ trợ trên được tăng theo yêu cầu của Tepco.     Hóa đơn điện của các gia đình Nhật Bản đã tăng 25% từ sau thảm họa do nước này phải nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch để chạy các nhà máy nhiệt điện, trong bối cảnh các lò phản ứng hạt nhân đang dần dần bị ngừng hoạt động để phục vụ công việc kiểm tra và nâng cấp.    Chính phủ và công ty Tepco đang thực hiện một chiến dịch dọn dẹp quy mô chưa từng thấy để giảm mức phóng xạ tại các thị trấn ở sát nhà máy, thậm chí cả những khu vực nằm ngoài vùng nguy hiểm.    Tepco sẽ cố gắng kiểm soát tình hình bên trong khu vực nhà máy điện nguyên tử. Quy trình rút nhiên liệu bị tan chảy ra khỏi các lò phản ứng bị hỏng và dọn sạch khu vực ước tính tốn hàng nghìn tỉ yen (khoảng 10 tỉ USD) và cần vài thập niên để hoàn thành.    Chính phủ có kế hoạch thu hồi lệnh sơ tán đối với hầu hết những người buộc phải rời bỏ nhà cửa do thiên tai trong vòng hai năm như là một phần của kế hoạch xác định mức trần thanh toán bồi thường và tăng tốc độ tái thiết.  Ng.H tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầng công nghệ và chu kỳ phát triển kinh tế – kỹ thuật      Mọi công nghệ đều tồn tại và phát triển theo qui luật tiến hóa (chu kỳ sống): hình thành, phát triển, chín muồi và suy thoái. Các chu kỳ công nghệ phát triển nối tiếp nhau, công nghệ sau hiệu quả hơn công nghệ trước, tạo nên động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhiều công nghệ cùng trình độ phát triển liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành tầng công nghệ. Qui luật phát triển của tầng công nghệ cũng chính là qui luật phát triển của kinh tế xã hội loài người. Bài viết này sẽ đi sâu tìm hiểu về sự hình thành, xu thế phát triển và vai trò của tầng công nghệ.     1. Đặt vấn đề  Điều dễ nhận thấy là ở bất kỳ quốc gia nào, khoa học và công nghệ đều được xem là lĩnh vực tối quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Nhưng vấn đề cơ bản và luôn làm các nhà hoạch định chính sách đau đầu là phải chọn chiến lược phát triển thế nào để cho phù hợp? Làm sao vừa hiệu quả, khả thi mà lại phát huy tốt nhất nguồn lực có giới hạn của quốc gia mình? Có hai chiến lược cần lựa chọn. Một, phát triển đồng đều, đầu tư mỗi ngành một ít – ngành nào cũng quan trọng như nhau. Hai, phát triển trọng tâm, lựa chọn công nghệ đột phá để đầu tư. Làm theo cách thứ nhất, cách mà chúng ta đang làm, có cái lợi là không mất lòng ai, ít mạo hiểm đối với nhà hoạch định chính sách. Còn làm theo cách thứ hai, thì hiện chúng ta chưa biết dựa vào cơ sở nào để xác định công nghệ mũi nhọn để đầu tư? Chúng ta biết công nghệ có chu kỳ sống, có nghĩa bất kỳ một công nghệ nào cũng phát triển theo qui luật tiến hóa. Nhiều công nghệ cùng trình độ liên kết với nhau tạo thành tầng công nghệ và chính sự chuyển dịch của các tầng công nghệ này quyết định sự phát triển kinh tế xã hội. Sẽ vô cùng hoang phí nếu chúng ta chia đều hay tập trung nguồn lực đầu tư vào tầng công nghệ đang ở kỳ suy thoái. Vấn đề là nhận và lựa chọn tầng công nghệ mới này thế nào? Trong bài viết này, tác giả thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên thông qua việc đi sâu phân tích lịch sử hình thành các học thuyết về chu kỳ kinh tế, nền tảng để hình thành lý thuyết về tầng công nghệ, giới thiệu các tầng công nghệ cơ bản trong lịch sử phát triển khoa học kỹ thuật, đồng thời đưa ra các dự báo về tầng công nghệ của tương lai cùng với các khuyến nghị bước đầu giúp chúng ta có cách nhìn và định hướng phát triển đúng đắn.  2. Đôi điều về lịch sử  Vào những năm đầu thế kỷ 20, nhà kinh tế học người Mỹ J. Kitchin là người đầu tiên đưa ra khái niệm về những chu kỳ kinh tế ngắn với độ dài trung bình 3 – 5 năm và đã minh chứng sự tồn tại của chúng trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Cũng vào thời điểm này, tại nước Nga – Xô Viết, nhà kinh tế học lỗi lạc Kondratieff, bằng phương pháp thực chứng, đã chứng minh được sự tồn tại của các chu kỳ kinh tế lớn. Kondratieff đã dùng các công cụ thống kê để nghiên cứu chỉ số kinh tế vĩ mô của 4 nền kinh tế lớn nhất thế giới lúc đó là: Mỹ, Anh, Pháp và Đức trong khoảng thời gian 1,5 thế kỷ (tính từ khi cuộc cách mạng công nghiệp Anh bùng nổ đến đầu thế kỷ 20). Kết quả, ông đã tìm thấy 3 chu kỳ thay đổi lớn – hai chu kỳ hoàn chỉnh và một chu kỳ đang tiếp diễn:  –       chu kỳ thứ nhất – từ cuối thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19;  –       chu kỳ thứ hai – từ giữa đến cuối thế kỷ 19;  –       chu kỳ thứ ba – từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20.  Trên cơ sở phân tích này, Kondratieff đã đưa ra dự báo về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào những năm 1930. Và thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Theo Kondratieff, nguyên nhân chính tạo nên các chu kỳ kinh tế là do nhu cầu cập nhật nguồn vốn tư bản với khoảng cách trung bình 55 năm một lần1.   Sự xuất hiện của thuyết “Chu kỳ lớn” đã tạo động lực thúc đẩy việc nghiên cứu quá trình đổi mới (công nghệ) và xác định vị trí của nó trong sự phát triển của kinh tế quốc gia. Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nhà kinh tế học người Áo Schumpeter, dựa trên nền tảng thuyết “Chu kỳ lớn”, đã khẳng định động lực chính tạo ra các dao động kinh tế chính là quá trình đổi mới. Việc ra đời các công nghệ mới được J. Schumpeter mô tả như là xung lực cơ bản tạo nên sóng đổi mới (xem Hình 1).2             Hình 1. Chu kỳ đổi mới của Schumpeter                          Có thể thấy các làn sóng đổi mới của Schumpeter dao động trong khoảng 30-60 năm. Mỗi làn sóng như vậy đều xuất phát trên một nền tảng công nghệ mới, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử kinh tế nhân loại và tuân thủ theo qui luật tiến hóa: hình thành – tăng trưởng – chín muồi và suy thoái. Cứ sau một làn sóng như thế – nền kinh tế sẽ được nâng lên một tầm phát triển mới: năng động và giàu có hơn. Cụ thể, ta thấy, làn sóng đổi mới thứ nhất gắn liền với sự xuất hiện máy móc dựa vào sức nước và sự phát triển các ngành công nghiệp dệt, luyện kim, kéo dài từ năm 1780 đến 1840. Làn sóng thứ hai, liên quan tới sự xuất hiện máy hơi nước, sự phát triển của đường sắt và công nghiệp cán thép, kéo dài trong 50 năm, kết thúc vào năm 1900. Làn sóng thứ ba, kéo dài gần 50 năm và liên quan đến sự phát triển của điện năng và động cơ đốt trong. Làn sóng thứ tư, bắt đầu vào đầu những năm 1950 và kết thúc vào năm 1980, kéo dài trong gần 35 năm. Động lực cơ bản quyết định làn sóng phát triển này là các thành tựu của công nghiệp hóa học, điện tử và công nghiệp vũ trụ. Làn sóng thứ năm, bắt đầu từ những năm 1990, gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của mạng máy tính, Internet, công nghệ thông tin, phương tiện nghe nhìn (multimedia) và phương tiện truyền thông. Làn sóng này vẫn tiếp tục phát triển tại thời điểm hiện nay, kéo dài trong vòng 25-30 năm và dự báo sẽ kết thúc vào năm 2020.  Tuy nhiên, suốt 30 năm sau kể từ khi xuất hiện, học lý thuyết của Kondratieff và Schumpeterdường như bị lãng quên. Nó chỉ thực sự được nhớ đến vào năm 1970, khi kinh tế thế giới bước vào một chu kỳ suy thoái mới. Lúc này, nhiều nhà khoa học từ các quốc gia khác nhau đã tập trung nghiên cứu làm phong phú, hoàn thiện thêm hai lý thuyết trên. Có thể liệt kê ra đây một vài tên tuổi nổi danh: G. Mensh (Đức),  J. Kitchin (Mỹ), C.Juglar (Pháp), S.Kuznets). Kết quả, ngày hôm nay ta có lý thuyết về bốn chu kỳ kinh tế cơ bản:  (Mỹ  – chu kỳ lớn của D. Kondratieff (kéo dài 50-60 năm) gắn liền với sự xuất hiện các ngành và công nghệ mới;  – chu kỳ nhỡ của S. Kuznets (18-25 năm) gắn liền với qui luật xây dựng cơ bản hay chu kỳ phát triển dân số;  – chu kỳ nhỡ C.Juglar (kéo dài 7-11 năm) gắn liền với sự đầu tư vào máy móc, thiết bị;  – chu kỳ nhỏ J. Kitchin (40 tháng) gắn liền với những dao động ngắn hạn của thị trường.  Như vậy, rõ ràng thuyết “Chu kỳ lớn” của Kondratieff là nền tảng làm xuất hiện nhiều lý thuyết khác về các chu kỳ và qui luật kinh tế trong thế kỷ 20, với đại diện chính là các lý thuyết sau:  –             lý thuyết đổi mới, với quan điểm cho rằng chính đổi mới công nghệ là động lực để tạo nên các chu kỳ kinh tế. Đại diện tiêu biểu: J.Schumpeter, S.Kuznets, G. Mensh;  –            lý thuyết về sự dư thừa vốn tích lũy (mô hình chuyển động hệ thống của J. Forrester);   –             lý thuyết về dư thừa sức lao động K. Fridman;   –             lý thuyết về giá của Y. Rostow và R.Berry;   –             khuynh hướng trọng tiền D. Delbeck, P. Karpinen, R. Batra, К.Fridman;  –             lý thuyết về các chu kỳ chiến tranh của J. Goldstien;  –             lý thuyết về tầng công nghệ của S. Glaziev;  –             lý thuyết về kinh tế học tiến hóa của R. Nelson và G. Winter, Maevski.3  Tất cả các lý thuyết này hiện đang là cội rễ nuôi dưỡng kinh tế học hiện đại và là chiếc chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa đầy bí ẩn của thế kỷ 21. Nổi bật trong đó là Lý thuyết về tầng công nghệ của nhà kinh tế học Nga S. Glaziev, ra đời vào những năm 1993 [5].  3. Tầng công nghệ là gì?  Tầng công nghệ được hiểu là tập hợp các công nghệ và phương thức sản xuất có cùng trình độ. Mỗi tầng công nghệ được chia làm hai phần: hạt nhân và vỏ bọc. Hạt nhân bao gồm những công nghệ cốt lõi – quyết định sự tồn tại và phát triển của tầng công nghệ đó. Vỏ bọc là các công nghệ phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ lõi. Điều đáng lưu ý là S. Glaziev, tác giả của học thuyết này, bằng phương pháp thực chứng đã chứng minh được – tầng công nghệ chính là động lực cơ bản quyết định sự phát triển kinh tế xã hội, tạo nên các chu kỳ kinh tế lớn. Hay nói cách khác, quá trình phát triển kinh tế xã hội loài người chính là quá trình phát triển nối tiếp nhau liên tục của các tầng công nghệ. Chúng ta chứng kiến loài người đã trải qua 3 phương thức sản xuất cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp (thông tin). Trong đó có thể thấy phương thức sản xuất công nghiệp được hình thành và phát triển bởi các tầng công nghệ cơ bản nối tiếp nhau: công nghệ máy móc thô sơ – công nghệ máy hơi nước – công nghệ dựa trên năng lượng điện – công nghệ dựa trên năng lượng điện hạt nhân. Như vậy, rõ ràng biên độ dao động của tầng công nghệ sẽ quyết định mức thăng trầm của nền kinh tế. Mà tầng công nghệ là tập hợp của nhiều công nghệ, nên tầng công nghệ cũng phát triển theo chu kỳ: hình thành – tăng trưởng – chín muồi và suy thoái (xem Hình 2).4 Do đó, nếu ta dự đoán được chu kỳ phát triển của các tầng công nghệ – thì ta hoàn toàn có thể dự đoán được tình trạng phát triển kinh tế xã hội trong tương lai (Hình 3)5. Đây chính là điểm mấu chốt tạo nên giá trị khoa học và sức hấp dẫn thực tiễn của học thuyết này. Tất nhiên, khi đi vào ứng dụng cụ thể các nhà nghiên cứu sẽ có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Điều này phụ thuộc vào tiêu chí cũng như bối cảnh kinh tế của quốc gia mà họ lựa chọn để phân tích.              Hình 2. Sự phát triển giữa hai tầng công nghệ                     Hình 3. Sự phát triển của nhiều tầng công nghệ thay thế nhau        Hiện tại, các nhà khoa học nhìn chung đều thống nhất với quan điểm cho rằng kể từ khi cuộc cách mạng công nghiệp Anh bùng nổ cho tới nay, kinh tế thế giới đã trải qua trọn vẹn 5 tầng công nghệ, tầng công nghệ thứ 6 đang được hình thành và phát triển những pha đầu tiên tại các nước phát triển. Tóm tắt về lộ trình phát triển của 6 tầng công nghệ này được mô tả trong Bảng 1.  Dưới đây, chúng tôi xin mô tả ngắn gọn đặc trưng chính của mỗi tầng công nghệ để bạn đọc tiện theo dõi.  Tầng công nghệ thứ 1. Công nghệ dệt đóng vai trò cơ bản. Sự ra đời của máy dệt, máy cuốn sợi đã tạo ra cuộc cách mạng cơ giới hóa công nghiệp dệt thủ công. Động lực này đã thúc đẩy ngành công nghiệp chế tạo máy. Ngành luyện thép cũng diễn ra hiện tượng tương tự. Tầng công nghệ thứ nhất hình thành và phát triển trước tại Anh, sau đó lan tỏa sang các nước châu Âu: Nga, Pháp, Đức. Và từ năm 1790 quá trình này đã sang đến Mỹ. Ở những nước trên, tầng công nghệ này tồn tại trong vòng 30-50 năm.    Tầng công thứ Khoảng từ năm 1820, tầng công nghệ thứ 2 bắt đầu được hình thành. 20 năm sau đó (1845-1850) tầng công nghệ này đã thống lĩnh nền sản xuất ở các nước phát triển. Đặc điểm nổi bật của tầng công nghệ này là quá trình cơ giới hóa sản xuất phát triển tới đỉnh điểm, đặc biệt là công nghệ sản xuất máy cái. Thời kỳ này, giao thương quốc tế bắt đầu phát triển mạnh và một trong những trở lực lớn nhất chính là giao thông. Chính vì vậy công nghiệp đường sắt và công nghệ chế tạo phương tiện vận tải trở thành một trong những tâm điểm của tầng công nghệ thứ 2. Tuy nhiên, vào thời điểm những năm 1850-1860, nền sản xuất và phương tiện giao thông dựa trên máy hơi nước đã bắt đầu bộc lộ yếu kém – năng lực không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển, nên đây cũng chính là giai đoạn manh nha ra đời một tầng công nghệ mới với trình độ cao hơn. nghệ 2.  Tầng công nghệ thứ 3. Đặc điểm cơ bản của tầng công nghệ thứ 3 là việc ứng dụng rộng rãi động cơ và thiết bị điện. Với sự xuất hiện của dòng điện xoay chiều và các nhà máy phát điện công suất lớn – trình độ phát triển kinh tế, đặc biệt là vấn đề năng suất, thực sự được nâng lên một bước. Nguồn nhiên liệu để sản xuất điện năng chính trong giai đoạn này là than đá. Dầu mỏ cũng đã bắt đầu được chú ý, nhưng phải đợi đến tầng công nghệ thứ 4, người ta mới thấy hết giá trị của thứ vàng đen quí hiếm này. Ngành công nghiệp hóa học thời kỳ này cũng gặt hái được nhiều thành công với sự ra đời của nhiều công nghệ ứng dụng như: CN điều chế natri cacbonat bằng phương pháp amoniac, điều chế axit sulphuric bằng phương pháp tiếp xúc, CN điện hóa.  Tầng công nghệ thứ 4. Đến thời điểm những năm 1940, tầng công nghệ thứ 3 có dấu hiệu phát triển tới điểm giới hạn trên về năng lực. Sự phát triển của động cơ đốt trong chạy bằng nhiên liệu dầu thực sự tạo được sự chuyển dịch công nghệ mới. Công nghiệp ô-tô phát triển mạnh mẽ cùng với việc hình thành các tuyến đường bộ xuyên lục địa, mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp, CN tìm kiếm và khai thác dầu cũng như CN luyện kim màu…tất cả đã tạo nên cốt lõi của tầng công nghệ thứ 4. Bốn ngành công nghiệp chính phát triển mạnh mẽ nhất thời kỳ này là: CN ô-tô, CN hóa học, CN quốc phòng. Năng lượng điện vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ chốt nhưng nguồn nhiên liệu chính đã thay đổi – lúc này là dầu mỏ. Dầu mỏ cũng trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa dầu phát triển. Trên nền tảng tầng công nghệ thứ 4 bắt đầu hình thành thông tin liên lạc dựa bằng điện thoại và sóng radio.   Tầng công nghệ thứ 5. Đến những năm 1980, tại các nước phát triển, tầng công nghệ thứ 4 đã bắt đầu có dấu hiệu phát triển đến tới hạn. Tầng công nghệ mới bắt đầu phát triển lấy công nghệ thông tin và truyền thông làm cơ sở dựa vào sự phát triển vượt bậc của vi mạch điện tử và phần mềm ứng dụng. Hai ngành phát triển mạnh mẽ nhất của tầng công nghệ thứ 5 là tự động hóa và bưu chính viễn thông. Cần phải nhấn mạnh rằng hầu hết các hạt nhân của một tầng công nghệ mới đều xuất hiện dưới thời tầng công nghệ cũ, thậm chí có nhiều công nghệ hạt nhân đã xuất hiện từ rất lâu. Ví dụ, 80% hạt nhân của tầng công nghệ số 5 được hình thành từ trước năm 1984. Transistor ra đời năm 1947. Máy tính điện tử đầu tiên xuất hiện năm 1949, chất bán dẫn – 1950, hệ điều hành – năm 1954. Sự xuất hiện của bộ vi xử lý vào năm 1971 được xem là xung động chính hình thành tầng công nghệ thứ 5. Kéo theo đó là sự ra đời của hàng loạt các công nghệ cốt lõi: kỹ thuật số, công nghệ truyền thông, công nghệ thông tin, công nghệ gene. Đặc biệt với sự xuất hiện của mạng toàn cầu đã thúc đẩy một loạt các ngành công nghệ khác phát triển: CN hệ thống thông tin toàn cầu, CN vận chuyển đa phương tiện, CN tự động hóa sản xuất, CN sản xuất sạch.  Tầng công nghệ thứ 6. Vào đầu những năm 1990, bắt đầu xuất hiện một số khuynh hướng hình thành tầng công nghệ tiếp theo. Công nghệ cốt lõi của tầng thứ 6 bao gồm: CN sinh học, CN trí tuệ nhân tạo, CN mạng thông tin toàn cầu, phương thức vận tải tích hợp đa chức năng, công nghệ nano, CN sản xuất tự động linh hoạt, CN vũ trụ, điện nguyên tử, CN nhiên liệu mới.  4. Tầng công nghệ và cơ hội phát triển  Nếu có điều kiện phân tích sâu hơn về tính chất, đặc điểm của tầng công nghệ, chúng ta sẽ có thêm nhiều kết luận thú vị. Trước hết, ta dễ dàng nhận thấy chu kỳ phát triển của các tầng công nghệ đang ngày một rút ngắn, từ 45-50 năm thời kỳ đầu xuống chỉ còn 25-30 năm ở thời hiện tại. Tiếp đến, điều thú vị nhất nằm chính ở giai đoạn giao thời giữa hai tầng công nghệ. Vấn đề này chúng tôi đã có dịp bàn đến trong một số bài viết gần đây7. Ở đây, chỉ xin lưu ý thêm một điểm quan trọng, đó là vào lúc giao thời giữa hai tầng công nghệ thường xảy ra một số hiện tượng đặc trưng. Trước hết, tổng giá trị sản lượng sản xuất theo công nghệ cũ sẽ đột ngột giảm, kéo theo sự thuyên giảm lợi nhuận. Một lượng vốn tự do lớn được giải phóng mà chưa biết đầu tư vào đâu (vì đầu tư vào sản xuất ở tầng công nghệ cũ không còn hiệu quả nữa). Lúc này, tốc độ phát triển nhìn chung sẽ chững lại và xuất hiện nhu cầu khách quan đòi hỏi phải tái cấu trúc lại nền kinh tế sao cho phù hợp với tầng công nghệ mới. Nền kinh tế thừa vốn tự do, sản xuất – về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của tầng công nghệ cũ – không còn hiệu quả, tầng công nghệ mới đang hình thành, kinh tế tăng trưởng chậm, lợi nhuận thấp, thị trường đầu tư hỗn loạn, đầu cơ tài chính gia tăng… Có thể thấy đây chính là tiền đề của một cuộc khủng hoảng. Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới ta thấy, quá trình chuyển giao giữa các tầng công nghệ đều được đánh dấu bằng những cuộc khủng hoảng trầm trọng. Gần đây nhất là vào những năm 30 và 70 của thế kỷ 20 và những cuộc khủng hoảng này đều bắt đầu với sự đột biến của giá nhiên liệu, như là tín hiệu thông báo về sự bất ổn trong cấu trúc của nền kinh tế.  Tình hình gần đây cho thấy, ngày hôm nay, rõ ràng nền kinh tế thế giới đang đứng trước bậc thềm của một chu kỳ chuyển giao tầng công nghệ mới – từ thứ 5 sang thứ 6. Tốc độ phát  triển kinh tế ở các nước tiên tiến đang chững lại, giá dầu mỏ biến động thất thường, lợi nhuận trong sản xuất cũng như trong đầu tư liên tục giảm, trong khi nguồn vốn tự do ngày càng tăng, vì đầu tư vào các ngành công nghiệp truyền thống không còn hiệu quả… Có vẻ như không cần phải đợi đến năm 2020, tầng công nghệ thứ 6 đã bắt đầu đi vào hoạt động ngay bây giờ. Và nếu quả thật như vậy thì đây là thời cơ vàng cho những quyết định đầu tư đúng đắn. Lúc này, nước nào đầu tư đúng, tiến tới làm chủ được tầng công nghệ mới, nước đó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối trong cạnh tranh toàn cầu. Lịch sử cũng đã chứng minh, vào những lúc giao thời như thế, thường xảy ra sự thay đổi vị trí trong nền kinh tế thế giới. Các nước dẫn đầu về tổng thu nhập GDP sẽ gặp phải những khó khăn lớn gắn liền với sự mất giá tài sản cũng như khả năng khó phát triển sản xuất trên cơ sở tầng công nghệ cũ. Và ngược lại, các nước kém phát triển hơn, nhưng không phải chịu gánh nặng của tầng công cũ, biết nắm bắt thời cơ, đầu tư đúng vào trọng tâm phát triển của tầng công nghệ, sẽ nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế thế giới. Điều này cũng giải thích cho “điều kỳ diệu” của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh và sự hình thành các con Rồng công nghiệp trẻ châu Á vào những năm cuối của thế kỷ 20. Họ đã đầu tư đúng hướng vào trọng tâm của tầng công nghệ thứ 5 là CN thông tin. Còn chúng ta? Chúng ta sẽ lựa chọn và đầu tư mũi nhọn vào công nghệ nào của tầng công nghệ thứ 6 – tầng công nghệ của tương lai, hay vẫn chia đều và chờ đợi như mọi khi? nghệ mới   ***      Rõ ràng, câu hỏi đặt ra lúc này là phải làm sao để xác định được chính xác trong số các công nghệ cốt lõi của tầng công nghệ 6 (công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, công nghệ mạng thông tin toàn cầu, công nghệ giao thông vận tải siêu tốc toàn cầu, công nghệ siêu nhỏ; công nghệ sản xuất tự động linh hoạt, công nghệ vũ trụ, điện nguyên tử, nhiên liệu mới…), công nghệ nào phù hợp với năng lực và trình độ phát triển của nước ta, công nghệ nào xứng đáng để đầu tư?   Hơn ai hết Bộ Khoa học và Công nghệ nên chủ động tổ chức, tập hợp các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu nghiêm túc vấn đề này càng sớm càng tốt đừng để cơ hội vàng đi qua?   ———  [1] Kondratieff N. (1935). The Long Waves in Economic Life. // Review  of Economic Statistics, 1935, 17, pp 105-115.  2 Schumpeter J.A (1939). Business Cycles. – N.Y., 1939.; Глазьев С.Ю (1993). “Теория долгосрочного технико-экономического развития”. М.:ВлаДар, 1993 г.  3 Xem thêm: Nguyễn Văn Minh (2008). Kinh tế học tiến hóa: chìa khóa để dự báo sự phát triển kinh tế – kỹ thuật. TẠP CHÍ Phát triển kinh tế, SỐ 205, THÁNG 11.2007. TR. 20-21.  4 Nguyễn Văn Minh (2008). Chu kỳ sống của công nghệ. TẠP CHÍ PTKT, SỐ 209, THÁNG 03.2008.   5 Глазьев С.Ю. (2004).Обучение рынку/Под ред. С.Ю. Глазьева. М.: Экономика, 2004 – c. 50.  6 Глазьев С.Ю (1993). “Теория долгосрочного технико-экономического развития”. М.:ВлаДар, 1993 г.  7 Nguyễn Văn Minh (2007). Tầng công nghệ và chiến lược phát triển công nghệ Việt Nam. Tia Sáng số 1 ngày 05.01.2007, tr. 40-42.  Tài liệu tham khảo  Mensh G., Cohtino C., Kaasch K. (1981). Changing capital values and the propensity to innavative. // Futures, 1981, vol.13, №4 67.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin      Mặc dù đạt được nhiều kết quả trong 45 năm phát triển song ngành thông tin KH&amp;CN vẫn còn những bất cập như:    nguồn lực thông tin còn hạn chế, tản mạn; việc liên kết, chia sẻ nguồn tin còn yếu; ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông còn yếu; cơ sở vật chất – kỹ thuật còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ mỏng. Đây là những nhận định chính được đưa ra trong Hội nghị ngành Thông tin KH&CN được tổ chức trong hai ngày 25-26/11. Để các hoạt động thông tin hiệu quả hơn, yêu cầu thông tin trong thời đại mới phải gắn chặt với các nhu cầu mới của sự phát triển kinh tế – xã hội, các dịch vụ thông tin phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường KH&CN …  PV    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng độ dài của telomere để cải lão hoàn đồng      Mới đây, một nhóm nhà khoa học ở Học viện Y  khoa, ĐH Stanford, dưới sự chỉ đạo của TS John Ramunas và TS  Eduard Yakubov đã sáng chế ra một phương pháp làm tăng độ dài của  telomere, qua đó có thể biến đổi các tế bào già lão trở thành tế bào non  trẻ, thực hiện được mục đích “cải lão hoàn đồng” cho cơ thể con người.&#160;    Thành tựu nghiên cứu nói trên đã được công bố trên tạp chí The FASEB  Journal.  Telomere là những đoạn trình tự lặp lại (của DNA) có chiều dài nhất định ở các đầu mút của nhiễm sắc thể (chromosome); có thể đơn giản gọi telomere là đầu mút của nhiễm sắc thể. Nó được coi là chiếc “mũ bảo vệ” phần đầu của nhiễm sắc thể; chiếc “mũ” này càng dài thì nhiễm sắc thể càng được bảo vệ tốt. Người ta thường mô tả telomere là chiếc “mũ plastic ở đầu cuối sợi dây buộc giày”. Nó có chức năng duy trì tuổi thọ của tế bào, giữ cho phân tử DNA được khỏe mạnh. Mỗi lần DNA được sao chép (replication) thì chiều dài của telomere lại bị ngắn đi một chút, cuối cùng ngắn tới mức không thể bảo vệ DNA khỏi bị tổn thương và đột biến, dẫn đến hậu quả làm cho cơ thể trở nên già yếu và sinh ra bệnh tật ở tuổi già.   Các nghiên cứu mới đây cho thấy tăng chiều dài của telomere thì sẽ giữ cho tế bào được khỏe mạnh, đạt được mục đích trẻ hóa người già. Nhưng vấn đề khó nhất làm cách nào để tăng được chiều dài của telomere.  Trong cơ thể người trẻ tuổi, telomere có chiều dài vào khoảng 8.000~10.000 lần độ dài của một nucleotide [đơn vị cấu trúc của DNA và RNA]. TS Helen Blau, thành viên nhóm nghiên cứu, nói: “Hiện nay chúng tôi tìm ra được một phương pháp có thể tăng độ dài của telomere trong cơ thể con người, cụ thể là tăng thêm được một chiều dài bằng 1.000 lần độ dài của nucleotide, qua đó quay ngược được chiếc kim đồng hồ bên trong tế bào cơ thể, tương đương như phục hồi được sức sống thời trẻ một số năm trước đây.” Những tế bào có đầu mút nhiễm sắc thể (tức telomere) đã được kéo dài sẽ có biểu hiện như tế bào khi cơ thể còn trẻ, chúng có thể nhanh chóng sinh sôi nảy nở chứ không bị già hóa.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng RNA (ribonucleic acid) đã qua cải tạo để kéo dài telomere. RNA mang theo mệnh lệnh của gene DNA tới “nhà máy chế tạo protein” của tế bào. RNA chứa trình tự mã hóa của telomerase sao chép ngược (Telomerase Reverse Transcriptase TERT), một thành phần hoạt tính thiên nhiên.  TS Helen Blau cho biết: trong tương lai, các nhà khoa học sẽ đưa ra phương án mới điều trị tế bào gốc của cơ bắp bệnh nhân mắc chứng loạn dưỡng cơ Duchenne (Duchenne muscular dystrophy, DMD, tức chứng teo cơ); thí dụ kéo dài telomere của tế bào gốc. Đồng thời nghiên cứu này cũng có thể dùng để điều trị các loại bệnh của người già như bệnh tiểu đường và tim mạch. Các nhà nghiên cứu tin rằng sử dụng phương pháp tăng độ dài telomere, người ta sẽ làm được những loại thuốc chống già hóa bằng cách tăng số lượng tế bào do cơ thể sinh ra.  Tuy vậy, tạp chí Medical News Today số tháng 6/2014 có đăng một nghiên cứu của Đại học California-San Francisco cho rằng tăng chiều dài telomere có thể làm tăng nguy cơ ung thư não.  Nguyên Hải tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tầng ozone có dấu hiệu hồi phục      Các nhà khoa học ở Đại học Công nghệ Massachusetts (MIT) vừa công bố trên tạp chí Science phát hiện: lỗ thủng ở tầng ozone đã giảm đi 4 triệu km2 kể từ năm 2000, thời điểm sự suy giảm tầng ozone đạt tới đỉnh điểm.    Tầng ozone có dấu hiệu hồi phục  Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu trên, sự thu hẹp này phù hợp với kết quả mô hình dự đoán đã được xây dựng trước đó. Như vậy, hơn một nửa sự hồi phục này là kết quả của sự cắt giảm khí chlorofluorocarbons (CFCs) trong khí quyển.  Nhóm nghiên cứu đã theo dõi sự thay đổi của tầng ozone theo mùa và theo độ cao để đánh giá sự hồi phục của tầng ozone từ năm 2000 cho tới nay vào tháng 9 hằng năm vì đây là thời điểm các yếu tố khí tượng thường diễn biến ổn định. Từ đó, họ so sánh lượng ozone với các mô hình mô phỏng dự đoán nồng độ ozone dựa trên lượng khí chlorine ước tính có trong bầu khí quyển.  Vào năm 2015, lỗ hổng tầng ozone có xu hướng phình ra trong khi lượng khí chlorine trong khí quyển liên tục giảm. Sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy nguyên nhân là do vụ phun trào của núi lửa ở Chile, qua đó làm gia tăng các phân tử nhỏ, khiến tăng sự phân cực ở tầng bình lưu, tạo điều kiện cho phản ứng hóa học của clo xảy ra làm mật độ khí ozone giảm mạnh.  Từ kết luận trên, nhóm nghiên cứu cho rằng nếu có thể hạn chế các vụ phun trào núi lửa trong tương lai, lỗ hổng tầng ozone có thể được đóng lại vĩnh viễn.  Phương Thảo dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng trưởng và cái giá của môi trường      Một trong những vấn đề thu h&#250;t sự quan t&#226;m của dư luận trong năm 2008 l&#224; thảm hoạ m&#244;i trường. Thật vậy, chưa bao giờ vấn đề m&#244;i trường trở th&#224;nh t&#226;m điểm được đ&#244;ng đảo c&#244;ng ch&#250;ng quan t&#226;m như l&#250;c n&#224;y. Ngo&#224;i những trận lũ lụt kỷ lục do thi&#234;n nhi&#234;n g&#226;y ra (thực ra nguy&#234;n nh&#226;n s&#226;u xa cũng l&#224; do con người), th&#236; kh&#244;ng &#237;t thảm hoạ m&#244;i trường lại do ch&#250;ng ta đ&#227; v&#224; đang trực tiếp tạo ra. Ch&#237;nh v&#236; vậy m&#224; mối quan hệ giữa tăng trưởng v&#224; c&#225;i gi&#225; của m&#244;i trường l&#224; vấn đề cần được ch&#250;ng ta quan t&#226;m h&#224;ng đầu trong chiến lược ph&#225;t triển.      Bài toán môi trường – được và mất  Việc quyết định cho Vedan tồn tại và tiếp tục sản xuất với “lý do nhân đạo” có liên quan đến công ăn việc làm của hàng ngàn công nhân trực tiếp sản xuất và người dân đang trồng sắn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy của Vedan, chắc chắn các nhà quản lý tầm vĩ mô chưa tính được những cái được và mất từ quyết định nhẹ tay này.   Thật vậy, nếu thử tính cái được từ thu nhập của vài ngàn công nhân và người trồng sắn cộng với cái được từ tiền thuế của Vedan và những cái mất do môi trường bị hủy hoại, mất nguồn tài nguyên nước sạch cung cấp cho sản xuất và đời sống, mất nguồn tài nguyên sinh vật tự nhiên, mất nguồn lợi nuôi trồng thủy sản và liên quan đến mất công ăn việc làm của hàng vạn hộ dân sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản dọc theo lưu vực sông và cái mất lớn hơn nhiều đó là sức khỏe cộng đồng hàng triệu người bị ảnh hưởng do ô nhiễm nguồn nước thì không khó để thấy những cái mất là quá lớn so với cái được.  Đó là chưa nói đến những cái mất do người dân phá rừng trồng sắn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy của Vedan. Sẽ không ai phản đối cái lợi nhỏ trước mắt của trồng sắn là xóa đói cho một bộ phận người dân, nhưng chắc chắn cái lợi này chẳng thấm vào đâu so với cái hại của việc phá rừng trồng sắn, cái hại nhỡn tiền của việc phá rừng không những gây hậu quả môi trường lớn mà còn làm mất nguồn lợi tự nhiên mà rừng mang lại. Thật vậy, ngoài lợi ích môi trường mà rừng mang lại như giữ nước mưa, chống lũ lụt, chống xói mòn vv.. mỗi năm rừng có thể cho thu nhập khoảng 2.500 USD từ nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.            Ở Indonesia Nhà nước phải vay đến 3,5 tỷ USD của Ngân hàng Á Châu để làm sạch sông Citarum.  Ở Châu Âu, trong vòng 30 năm từ năm 1972 đến năm 2000 nước Đức và châu Âu đã phải chi nhiều chục tỷ USD để làm sạch và phục hồi trạng thái ban đầu của sông Rhein. Còn ở Trung Quốc, sau 20 năm tăng trưởng kinh tế một cách ấn tượng, nhưng nay cũng đang đối mặt với các vấn đề môi trường, đến mức năm 2006 Chính phủ đã thông qua một kế hoạch tốn kém chi tới 175 tỷ USD, tương đương khoảng 1,5% GDP để khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí tại các thành phố và ngăn chặn nạn xói mòn tài nguyên đất.          Như vậy, chắc chắn còn lâu chúng ta mới tính hết được các thiệt hại mà Vedan gây ra cho môi trường và sức khỏe cộng đồng.  Để phục hồi trạng thái ban đầu sẽ cần số tiền vô cùng tốn kém và cần thời gian lâu dài, có khi tính bằng cả thế hệ. Một vài bài học gần đây ở một số nước cho thấy cái giá của môi trường không hề rẻ chút nào. Ví dụ như ở Indonesia nhà nước phải vay đến 3,5 tỷ USD của Ngân hàng Á Châu để làm sạch sông Citarum. Ở Châu Âu, trong vòng 30 năm từ năm 1972 đến năm 2000 nước Đức và châu Âu đã phải chi nhiều chục tỷ USD để làm sạch và phục hồi trạng thái ban đầu của sông Rhein. Còn ở Trung Quốc, sau 20 năm tăng trưởng kinh tế một cách ấn tượng, nhưng nay cũng đang đối mặt với các vấn đề môi trường, đến mức năm 2006 Chính phủ đã thông qua một kế hoạch tốn kém chi tới 175 tỷ USD, tương đương khoảng 1,5% GDP để khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí tại các thành phố và ngăn chặn nạn xói mòn tài nguyên đất.  Khi Việt Nam gia nhập quá trình toàn cầu hóa thì đồng thời chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có vấn đề môi trường do làn sóng đầu tư đổ vào. Đây là dịp để các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan… tăng cường “thanh lý” và “chuyển giao” những công nghệ không còn phù hợp với họ sang các nước đang phát triển để có tiền đầu tư công nghệ sạch. Quá trình này tạo thành một vòng chu chuyển công nghệ lạc hậu: những công nghệ nào không còn đáp ứng tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sẽ được chuyển dần từ những nước có tiêu chuẩn bảo vệ cao nhất đến những nước có tiêu chuẩn thấp hơn. Các nước đang phát triển khác lại đẩy công nghệ lạc hậu của mình sang các nước kém phát triển hơn.   Vì vậy các nhà quản lý cần đủ khôn ngoan và tỉnh táo để nhận biết các hậu quả môi trường khi mà Việt Nam đang hào hứng với hàng loạt dự án đầu tư là những lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường như sản xuất chế biến công nghiêp như luyện sắt thép, sản xuất nhôm, sản xuất giấy, hóa chất, chế biến thực phẩm, v.v. Đây là những ngành sản xuất không những cần nhiều lao động mà còn tiêu thụ nhiều năng lượng, nhiều nước và gây tổn hại lớn đến môi trường mà nhiều nước mới công nghiệp hoá không khuyến khích duy trì những lĩnh vực này ở chính quốc.     Khái niệm tăng trưởng mới theo GDP xanh  Gần đây nhiều nước, trong đó Trung Quốc là một trong những quốc gia tiên phong đã đưa ra khái niệm “GDP xanh” là hệ thống đánh giá GDP theo tiêu chuẩn mới trong đó số liệu thống kê GDP thông thường được chỉnh lý bằng cách khấu trừ chi phí về môi trường trong các hoạt động kinh tế. Cụ thể là: GDP xanh = GDP – chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế.   Lần đầu tiên, Hội thảo quốc tế về GDP xanh đã được tổ chức lại Bắc Kinh, Trung Quốc trong tháng 6/2004, với sự tham gia của chuyên gia kinh tế nhiều nước nhằm chính thức xác lập hệ thống thống kê theo tiêu chí GDP xanh này. Mặc dù việc thực hiện GDP xanh hiện tại còn một số khó khăn về kỹ thuật như việc xác định giá trị của các yếu tố môi trường. Tuy nhiên các chuyên gia đã đưa ra một số cách ước tính cho vấn đề này. Mặc dù không tính được mất mát khi một con sông bị ô nhiễm, nhưng chúng ta có thể tính được số tiền cần thiết phải chi tiêu để xử lý nó thông qua chi phí môi trường của một dự án xử lý làm sạch môi trường cụ thể. Chẳng hạn ở Vân Nam Trung Quốc, các nhà máy hoá chất và việc khai thác trang trại đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho hồ Dianchi. Nếu cố gắng làm sạch hồ, chi phí tốn gấp 10 lần lợi nhuận các nhà sản xuất hoá chất và nông dân tạo ra. Ước tính theo cách này có thể kết luận rằng các hoạt động kinh tế quanh hồ đã gây ra những tổn thất lớn, chưa tính đến mất đi các loại cá và các cây trong hồ và sự thay đổi khí hậu ở địa bàn xung quanh. Các cách ước tính như vậy cần hoàn thiện thêm trong thực tế.  Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một vùng sẽ thay đổi khi thực hiện tính GDP xanh. Trước đây sự tăng trưởng thuần tuý về kinh tế là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá thành tựu kinh tế. Còn GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Số liệu thống kê theo tiêu chí GDP xanh, vì vậy chắc chắn không chỉ phản ánh thực chất sự tăng trưởng của kinh tế mà còn chỉ ra các tổn thất môi trường mà sự tăng trưởng kinh tế có thể gây ra.     Bảo vệ môi trường cần hệ thống luật pháp đủ mạnh và minh bạch  Quay lại câu chuyện Vedan để thấy răng Luật môi trường của ta còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được hoàn thiện. Nếu chỉ căn cứ Luật bảo vệ môi trường hiện tại và nghị định 81 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính để xử Vedan thì chưa đủ, vì Luật môi trường của ta chỉ mang tính chất xử phạt hành chính và mức xử phạt cùng còn quá nhẹ. Hầu hết luật môi trường ở các nước phát triển qui định rất rõ đối với người vi phạm là ngoài những chế tài xử phạt, người gây hậu quả môi trường còn phải “chịu trách nhiệm tái tạo môi trường như tình trạng trước khi có hành vi vi phạm”. Luật của ta cũng có điều khoản “khắc phục hậu quả”, nhưng khắc phục đến đâu và như thế nào thì lại không quy định cụ thể.  Là một doanh nghiệp kinh tế, nên ngoài luật môi trường, rõ ràng Vedan còn phải chịu điều chỉnh bởi các luật khác như Luật đầu tư và cả Luật hình sự nữa. Trong trường hợp doanh nghiệp không tuân thủ luật pháp hiện hành ở Việt Nam (trong trường hợp này là Luật bảo vệ môi trường) thì doanh nghiệp đó có thể bị rút giấy phép đầu tư. Thậm chí trường hợp vi phạm của Vedan là hành vi có chủ mưu, được tính toán tinh vi từ khâu thiết kế thi công hệ thống thải ngầm, ngoài hệ thống nổi để che mắt cơ quan pháp luật, vi pham của Vedan là có tổ chức (hành vi được phân công, chỉ đạo và tính toán) và vi phạm trong thời gian dài nên đủ căn cứ để áp dụng xử lý phạm tội hình sự chứ không chỉ xử phạt hành chính bình thường được.  Ngoài ra, nếu ở nước ngoài chắc chắn Vedan còn bị kết tội vi phạm Luật cạnh tranh do hành vi cố tình tạo lợi thế cạnh tranh bằng việc xả chất thải không qua hệ thống lọc để giảm chi phí sản xuất nhằm tạo lợi thế cạnh tranh. Tiếc là Luật cạnh tranh của ta chưa có quy định này, chứ nếu có như ở các nước thì có thể áp dụng hình phạt này cũng đủ để kết tội rất nặng Vedan mà không cần các thủ tục phức tạp nào khác nữa.            Đã đến lúc cần phải xem xét, bổ sung và hoàn thiện toàn bộ Luật bảo vệ môi trường, cần hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường và nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp mới, để Luật môi trường của ta không những đủ sức răn đe mà cần phải tương hợp với Luật môi trường quốc tế.          Qua vụ việc Vedan cũng cho thấy hệ thống tiêu chuẩn môi trường của VN hiện nay rõ ràng vừa thiếu, vừa thấp, hàng loạt chỉ tiêu môi trường có liên quan đến chất lượng nguồn nước, khí và sức khoẻ cộng đồng đã không được xác lập. Hàng loạt quy định về đánh giá chất lượng nguồn nước trước và sau khi nhà máy hoạt động cũng không được cập nhật rõ ràng và minh bạch. Khi xảy ra sự cố, thay bằng các bằng chứng chỉ ra chất lượng nguồn nước thải chúng ta phải mai phục, tìm kiếm các bằng chứng ẩn sâu trong lòng đất hoặc dưới tầng nước sâu vừa vất vả, tốn kém lại ít thuyết phục hơn so với các chỉ tiêu chất lượng nguồn nước được thiết bị do đạc trực tiếp. Vì vậy, đã đến lúc cần phải xem xét, bổ sung và hoàn thiện toàn bộ Luật bảo vệ môi trường, cần hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường và nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp mới, để Luật môi trường của ta không những đủ sức răn đe mà cần phải tương hợp với Luật môi trường quốc tế. Để giải quyết triệt để vấn đề Môi trường thì ngoài luật môi trường cũng cần bổ sung hoàn thiện các Luật khác có liên quan đến môi trường như luật cạnh tranh, luật đầu tư và cả luật hình sự nữa. Luật hình sự có thể cho phép bất cứ công dân hay hiệp hội, không nhất thiết là người bị hại trực tiếp, khởi kiện các hành vi hủy hoại môi trường.  Tóm lại, môi trường là tài sản quý giá nhất của quốc gia, môi trường sạch đẹp không những duy trì cuộc sống tốt cho chúng ta hôm nay mà nó còn là di sản vô giá để lại cho các thế hệ mai sau. Mọi hành vi huỷ hoại môi trường, đặc biệt là trục lợi cá nhân hoặc nhóm lợi ích nào đó cũng cần phải lên án và ngăn chặn. Để làm được điều này hệ thống luật pháp về môi trường phải đủ mạnh và đủ sức răn đe bất kỳ ai dù vô tình hay cố ý huỷ hoại môi trường.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tăng tuổi hưu phải gắn với  thị trường lao động      Tăng tuổi hưu không chỉ để cân đối quỹ hưu trí mà còn liên quan đến điều tiết thị trường lao động. Mặc dù vậy, tới nay các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam vẫn chưa có câu trả lời cho những vấn đề then chốt liên quan đến thị trường lao động.      Cần có sự điều chỉnh cơ cấu lao động giữa lao động lớn tuổi và trẻ. Nguồn: laodong.vn  Với việc già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, Việt Nam không chỉ đứng trước áp lực chuẩn bị đầy đủ cho nhu cầu của xã hội “già” mà còn phải tìm cách  tiếp tục phát triển kinh tế sau khi không còn lợi thế “cơ cấu dân số vàng”. Theo dự kiến, tỷ lệ lao động lớn tuổi/tổng lực lượng lao động tăng tới gần 10% vào năm 2050 và tăng trưởng kinh tế sẽ giảm 0,2 điểm phần trăm mỗi năm. Trong trường hợp này, việc tăng tuổi hưu là tất yếu để có thể đảm bảo năng suất lao động, giải quyết tình trạng xói mòn lực lượng lao động và duy trì đà phát triển kinh tế – bởi nếu lực lượng lao động của Việt Nam tăng thêm 1% sẽ giúp tăng trưởng kinh tế tăng thêm 0,5% (theo nghiên cứu của UNFPA – Quỹ dân số Liên Hợp Quốc).  Rõ ràng, việc tăng tuổi hưu là cần thiết nhưng việc tăng bao nhiêu và tăng như thế nào vẫn đang là một vấn đề gây tranh luận. Theo PGS.TS Giang Thanh Long (Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân): “Hiện nay việc điều chỉnh lương hưu vẫn được làm “rất cơ học”, cứ bảo nâng là nâng, chỉ ước lượng mà chưa trả lời các câu hỏi quan trọng liên quan đến thị trường lao động.”  Các phương án tăng tuổi hưu vẫn chỉ… áng chừng  Trong khi những lợi ích về mặt kinh tế của tăng tuổi hưu đã được thống kê như cứ tăng 1% dân số trên 60 tuổi có việc làm sẽ giúp GDP tăng tương ứng 0,32%1, những tác động về xã hội của lao động cao tuổi lại chưa thực sự được quan tâm. Khi tiếp tục làm việc, người cao tuổi không chỉ có thêm thu nhập mà còn giảm bớt được nhiều bệnh tật – cả về thể chất và tâm thần nhờ thường xuyên vận động, giúp xã hội giảm gánh nặng trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Bên cạnh đó, dù thu nhập ít nhưng tạo cảm giác cho người cao tuổi là họ sống độc lập, khiến họ tự tin trước cộng đồng, gia đình, năng động và cống hiến nhiều hơn. “Đây là những lợi ích quan trọng mà không phải ai cũng nhìn thấy, và vẫn chưa được lượng hóa” – PGS. Long chia sẻ.  Tăng tuổi hưu có nhiều lợi ích, tuy nhiên việc điều chỉnh này không phải không tốn chi phí. Tăng tuổi hưu đồng nghĩa là chúng ta sử dụng những người đang ở bên kia sườn núi của sức khỏe –  nhiều người không đủ sức khỏe để tiếp tục các công việc đang làm với cường độ làm việc như lúc còn trẻ, điều đó đòi hỏi xã hội phải điều chỉnh môi trường làm việc “thân thiện hơn” với lao động lớn tuổi và tổ chức đào tạo lại với những người chuyển sang các công việc khác phù hợp với tình trạng sức khỏe tuổi già. Những chi phí này cũng cần được phân tích, tính toán cụ thể, bởi nếu chi phí này vượt quá lợi ích nhận lại, xã hội không còn được hưởng lợi từ việc sử dụng người cao tuổi.      Hiện nay có nhiều phương án khác nhau về mức tăng tuổi hưu, tuy nhiên các con số đưa ra như 58–62, 65-65, 62-65,… đều chỉ là mức áng chừng dựa trên tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam, nhưng chưa có nghiên cứu đến độ tuổi 62 hay 65 thì đa số người dân còn đủ sức để lao động hay không? PGS. Giang Thanh Long        Trong khi lợi ích và chi phí của tăng tuổi hưu vẫn chưa được thống kê đầy đủ, thì việc nâng tuổi hưu đến mức nào đang là vấn đề gây tranh cãi. Hiện nay về mức tăng tuổi hưu có nhiều phương án khác nhau, tuy nhiên các con số đưa ra như 58-62, 65-65, 62-65,… đều chỉ là mức áng chừng dựa trên tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam, nhưng chưa có nghiên cứu đến độ tuổi 62 hay 65 thì đa số người dân còn đủ sức để lao động hay không? Sai lầm phổ biến ở nhiều nước trên thế giới là sử dụng tuổi thọ trung bình để tính tuổi nghỉ hưu. Chính phủ Anh đã bị chỉ trích khi quyết định nâng tuổi hưu lên mức 68 tuổi, mà không tính đến là đến năm 68 tuổi, 60% người dân Anh mất khả năng lao động. Việt Nam rất có thể sẽ đi vào “vết xe đổ” này khi chúng ta mới chỉ quan tâm đến tuổi thọ trung bình, ngay cả chỉ số “tuổi thọ khỏe mạnh” – do WHO xây dựng, đo lường quãng thời gian con người sống khỏe mạnh, không bệnh tật – cũng còn khá xa lạ ở Việt Nam. Theo dữ liệu của WHO, đến năm 2015, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam là khoảng 76 tuổi nhưng “tuổi thọ khỏe mạnh” chỉ là 66,7 tuổi2. Với tuổi nghỉ hưu hiện nay thì người cao tuổi có trung bình 7 đến 12 năm để tận hưởng tuổi già trước khi sức khỏe bị suy giảm, đây là con số vừa phải hiện nay (so với Nhật có 9 năm, Pháp 11 năm, riêng Mỹ 5 năm). Nếu chúng ta tăng tuổi nghỉ hưu mà không tính đến những thông số này, thì sẽ là bất công đối với người cao tuổi bởi thời gian lao động quá dài mà thời gian hưởng thụ quá ngắn. Nhìn chung, để xác định được tuổi hưu phù hợp nhất, “sẽ cần những nghiên cứu liên ngành giữa y tế, kinh tế, nhân khẩu học,… Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu như vậy.” – PGS. Long nhận xét.  Tìm điểm cân bằng của thị trường lao động  Đặc thù của lao động lớn tuổi là năng suất lao động giảm, nếu vẫn giữ nguyên mức lương như thời kỳ họ còn sung mãn thì xã hội sẽ chịu thiệt. PGS Giang Thanh Long nhận xét: “Năng suất lao động mà không bằng tiền lương thì xã hội bị thiệt, doanh nghiệp bị thiệt. Như vậy thì doanh nghiệp không bao giờ chấp nhận giữ người cao tuổi lại làm việc.” Giải pháp ở đây là đảm bảo sự cân bằng giữa tiền lương và năng suất lao động, thông qua chuyển sang tính lương dựa trên năng suất lao động, trả lương theo hiệu quả công việc thay vì tính trên thâm niên công tác (khu vực công) như hiện nay. Sự chuyển đổi này không chỉ đảm bảo không thất thoát nguồn lực xã hội mà còn tạo ra sự công bằng giữa mọi người.  Việc điều chỉnh lương theo năng suất lao động chỉ có thể có hiệu quả nếu như có sự chuyển đổi song hành của hệ thống lương hưu. Bởi kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy nếu lương hưu được tính căn cứ vào mức tiền lương trước khi nghỉ, người lao động sẽ có xu hướng nghỉ sớm vào thời điểm năng suất lao động đang cao – để được tính lương hưu cao hơn3. Trùng hợp là Việt Nam đang thay đổi cách tính lương hưu phù hợp với xu thế tính lương hưu trên tổng quá trình đóng bảo hiểm xã hội – thay vì chỉ dựa vào những năm cuối cho những người tham gia thị trường lao động từ năm 2025 trở đi. Đây sẽ là một khởi đầu tốt để chuyển đổi sang cơ chế tính lương theo hiệu quả công việc, tuy nhiên vẫn cần thực hiện thêm các nghiên cứu về năng suất lao động của các nhóm tuổi lao động khác nhau, trong đó có lao động lớn tuổi.  Cùng với việc tăng tuổi hưu, Chính phủ cũng phải có những kế hoạch cụ thể để tăng quy mô nền kinh tế, nhằm tạo ra nhiều việc làm hơn. Bởi nếu không có sự tăng trưởng, với số lượng việc làm hạn hữu, thêm một lao động cao tuổi nghĩa là giảm đi một vị trí việc làm cho lao động trẻ, điều này không chỉ tạo ra mâu thuẫn giữa hai nhóm lao động mà còn làm trầm trọng hơn tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. PGS Long khẳng định việc có hay không mâu thuẫn giữa công việc cho người cao tuổi và lao động trẻ phụ thuộc vào khả năng tạo việc làm của nền kinh tế. Trong trường hợp tăng trưởng tốt, sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn, không chỉ giúp giảm thất nghiệp như hiện nay mà doanh nghiệp còn muốn lôi kéo những người cao tuổi tiếp tục đóng góp vì lúc này họ đang thiếu người. Ngược lại, nếu nền kinh tế trì trệ, không đủ sức tạo việc làm, thì dù không tăng tuổi hưu, tình trạng thất nghiệp của thanh niên vẫn diễn ra.  Hiệu quả truyền thông còn yếu  PGS. Giang Thanh Long nhận xét: “Tôi nghĩ về mặt quan điểm thì những đề xuất tăng tuổi hưu đến giờ là đúng thời điểm – Việt Nam không thể trì hoãn thêm nữa. Thứ hai là mình đề xuất lộ trình rất phù hợp – khi bước vào cao điểm của già hóa thì mình đã chuyển đổi xong tuổi hưu.” Có thể thấy rằng, Chính phủ Việt Nam nhận thức được tình trạng già hóa dân số và những ảnh hưởng của nó đối với phát triển, đồng thời đã lên kế hoạch để đối phó, trong đó có tăng tuổi hưu.  Vậy vì sao một chính sách tốt, cần thiết như tăng tuổi hưu lại ít được cộng đồng hoan nghênh? Dự thảo kể từ khi được ban hành đến nay đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Theo khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn trên 5000 lao động, 90% phản đối tăng tuổi hưu vì muốn được nghỉ đúng tuổi hoặc sớm hơn và cho rằng mình không đủ sức khỏe. Nhiều người cho rằng tăng tuổi hưu có nghĩa là họ bị bắt buộc phải làm thêm đến 62, 65 tuổi, dù sức khỏe không cho phép. Tuy nhiên điều này là không đúng, luật hiện nay phân chia khá rõ ràng các nhóm đối tượng, ứng với các quy định nghỉ hưu khác nhau. Những người làm trong môi trường độc hại, có ảnh hưởng đến sức khỏe thì luật quy định cụ thể rằng không cần chờ đến 62 tuổi mới nghỉ hưu, thậm chí 58 tuổi cũng có thể nghỉ. Vấn đề là công tác truyền thông quá yếu, khiến người dân hiểu lầm về chính sách tăng tuổi hưu. Ví dụ, “Sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông rất quan trọng, chẳng hạn như nâng tuổi hưu mục đích không phải chỉ để cân đối quỹ mà còn liên quan đến điều tiết thị trường lao động. Không phải ai cũng hiểu hết hệ thống hưu trí Việt Nam, về mặt tài chính, thiết kế, xu hướng nhân khẩu học nên nếu phát ngôn không đúng sẽ làm lệch lạc hoàn toàn nhận thức của xã hội” PGS. Long nhận xét.  Chính sách chỉ có thể “sống” nếu có sự phối hợp từ cả hai phía – người dân và Chính phủ. Vì thế, Chính phủ cần có chiến lược truyền thông cụ thể, hiệu quả, để người dân hiểu đúng về tăng tuổi hưu và những lợi ích mà họ nhận được, thì người dân mới có thể đón nhận và tích cực thực hiện. Quan trọng hơn, từ bây giờ, chúng ta đã phải nghĩ đến và thiết kế một xã hội với lao động lớn tuổi ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, và chuẩn bị sẵn sàng cho một xã hội như vậy.  ——-  Chú thích:  1UNFPA(2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách  2www.who.int/gho/mortality_burden_disease/life_tables/hale/en/  3OECD Economic Outlook;Dec2002, Vol. 2002          Author                Thanh Trúc        
__label__tiasang Tạo chủng muỗi mang gene chống ký sinh trùng sốt rét      Các nhà khoa học tại ĐH California ở Irvine  vừa tạo ra một chủng muỗi mang các gene có thể ngăn chặn việc lây truyền  bệnh sốt rét. Không những thế, chủng muỗi này còn có thể truyền lại  gene đó cho các thế hệ sau trong môi trường tự nhiên – điều mà các  nghiên cứu trước đây chưa làm được.    Các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene trên Anopheles stephensi, chủng muỗi lây truyền bệnh sốt rét ở các khu vực thành thị Ấn Độ. Theo đó, họ đưa DNA vào tế bào gốc của chủng muỗi này, biến chúng trở thành loài muỗi mang các gene có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh sốt rét bằng cách tạo ra các loại kháng sinh chống sốt rét. Tỉ lệ truyền lại các gene này cho thế hệ sau lên tới 99,5% qua 10 thế hệ.   Như vậy, các nhà khoa học đã đạt được mục tiêu là tạo ra được chủng muỗi biến đổi gene có thể giao phối với muỗi trong tự nhiên, qua đó truyền lại các gene chống sốt rét vào đàn muỗi, làm giảm khả năng lây truyền ký sinh trùng sốt rét sang người.    Theo trưởng nhóm nghiên cứu Anthony James, sử dụng muỗi biến đổi gene không phải là chiến lược duy nhất để loại bỏ bệnh sốt rét, nhưng nếu kết hợp với việc điều trị và các loại thuốc phòng ngừa, các loại vaccine trong tương lai, màn chống muỗi, diệt muỗi… thì cuộc chiến chống sốt rét sẽ trở nên toàn diện và hiệu quả hơn nhiều.   Trang Bùi dịch    Nguồn:  http://www.nature.com/news/gene-drive-mosquitoes-engineered-to-fight-malaria-1.18858    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo cơ chế gắn giáo dục đại học với nghiên cứu khoa học      Năm nay chắc không ít các nhà khoa học Việt Nam đã không khỏi bàng hoàng khi đọc về 10 sự kiện khoa học (KH) nổi bật nhất của Việt Nam trong năm 2007 theo bình chọn của giới báo chí (1) Theo danh sách này thì ngoài việc triển khai nghiên cứu tế bào gốc, các sự kiện nối bật nhất khác của KH nước ta trong năm vừa qua thực tế lại liên quan rất ít tới KH.    Thí dụ như 3 sự kiện quan trọng nhất là việc luật hiến ghép mô tạng bắt đầu có hiệu lực, việc phát hiện thực phẩm và mỹ phẩm có chứa chất nhuộm Sudan và dự án thành phố Sông Hồng được công bố rộng rãi; tiếp đó là vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ, sự bùng nổ blog Việt… Nếu như 10 sự kiện quan trọng nhất của KH thế giới thực sự là những thành tựu nghiên cứu quan trọng có tính đột phá của KH quốc tế (2), thì 10 sự kiện được bình chọn là nối bật nhất của KH Việt Nam (mong rằng chưa hẳn đã chính xác) đang một lần nữa rung hồi chuông cảnh báo về thực trạng đáng buồn của phát triển KH nước nhà. Đây là việc cũng đã được bàn đến rất nhiều trong diễn đàn gần đây của tạp chí Tia Sáng về thực trạng và giải pháp cho nghiên cứu KH ở Việt Nam. Điều đáng lo là những hồi chuông cảnh báo tương tự đã được nhiều nhà KH có tâm huyết rung mạnh từ nhiều năm nay, hiện trạng nghiên cứu KH không hiệu quả vẫn tiếp diễn năm này sang năm khác trong một cơ chế quản lý đầy bất cập, mặc dù đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu KH vẫn tăng đều cùng với sự tăng trưởng GDP của đất nước. Khác với ngành giáo dục và đào tạo với những bất cập thường xuyên được đưa công khai chỉ trích trên báo chí và truyền thanh, xã hội ta còn tương đối “khoan dung” với cộng đồng KH nước nhà (và thật sự là khá thờ ơ như bà Phạm Chi Lan đã nhận xét chính xác trong bài phỏng vấn gần đây của bà với tạp chí Tia Sáng) nên đã “chấp nhận” hiện trạng yếu kém của nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ (KHCN) trong một giai đoạn dài như vậy.  Nhiều ý kiến phân tích nguyên nhân của hiện trạng ỳ trệ của KH nước nhà cũng như nhiều giải pháp cấp bách đã được các nhà KH đề nghị trên diễn đàn của Tia Sáng trong những tháng cuối năm 2007. Vì vậy tôi chỉ muốn chia sẻ thêm với các đồng nghiệp suy nghĩ của mình về sự gắn kết hữu cơ giữa giáo dục đại học và nghiên cứu triển khai KHCN. Tuy là hai lĩnh vực hoạt động xã hội do hai Bộ khác nhau quản lý, nhưng sự thành công trong các hoạt động nghiên cứu KH lại phụ thuộc rất nhiều vào sự thành công trong việc nâng cấp các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) của đất nước. Nền GDĐH nước ta hiện đang đứng trước những thách thức rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và đặc biệt là chất lượng nghiên cứu KH trong các cơ sở GDĐH. Với một đội ngũ giáo viên đã nhiều năm chỉ cặm cụi dạy “chay”, nay yêu cầu phải có nghiên cứu KH đẳng cấp cao (với công trình đăng tải trên các tạp chí quốc tế) để hướng nghề được những tài năng trẻ của nước nhà vào công cuộc phát triển KHCN là một việc thực sự là quá khó nếu không là bất khả thi trên một hạ tầng cơ sở KH vô cùng nghèo nàn (phòng thí nghiệm, thư viện KH, cơ sở tính toán…) của đa số những trường ĐH trong nước. Rõ ràng đây là một vấn đề không dễ giải quyết được, ngay cả khi nhà nước sẵn sang chi ngay nhiều trăm tỷ đồng để rót vào các cơ sở GDĐH yếu kém.  Khác với phát triển trong sản xuất kinh doanh khi mà một doanh nghiệp có thể khởi sắc nhanh chóng nếu như có nguồn vốn dồi dào và kinh doanh hợp lý, việc nâng cấp GDĐH là một quá trình phức tạp hơn rất nhiều vì đó là việc xây dựng và phát triển tri thức và trí tuệ (hay như ta thường nói là nguyên khí quốc gia) và chỉ có thể thành công với sự tham gia tích cực nhất của cộng đồng KH nước nhà cùng sự giúp đỡ, hợp tác đến từ các quốc gia phát triển. Trong khung cảnh hiện tại, các cơ sở nghiên cứu KHCN trong nước (như các Viện và trung tâm thuộc Bộ KHCN hay Viện KHCN Việt Nam) và các trường ĐH vẫn đang vận hành trong hai cơ chế khá riêng biệt, thiếu sự hợp tác đồng bộ và tích cực của hai phía trong các dự án nghiên cứu KHCN lớn của đất nước. Nếu như ở Viện nghiên cứu vẫn có thể gặp những nhà KH thế hệ 5X cặm cụi làm nghiên cứu một mình hoặc với một vài đồng nghiệp cùng tuổi, thiếu các học trò trẻ, thì ở các trường ĐH các em sinh viên giỏi thường chỉ tham gia nghiên cứu “đơn giản” với các thày ở trường và sau khi tốt nghiệp những tài năng trẻ đó cũng mau chóng bị “hấp thụ” bởi nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước. Các hội thảo, seminar KH tổ chức tại các Viện nghiên cứu KH thường rất ít có sự tham gia của các GS, sinh viên từ các trường ĐH và ngược lại. Với một cách làm việc manh mún như vậy, lại thiếu một hạ tầng cơ sở cần thiết về nhân lực, điều kiện và thiết bị nghiên cứu, hiện trạng yếu kém trong nghiên cứu KH cũng như đẳng cấp thấp kém của GDĐH Việt Nam là những hậu quả tất yếu.  Cùng với sự hợp tác hài hòa như vậy, việc quản lý vĩ mô từ phia nhà nước cũng thường tập trung thống nhất trong một bộ máy, thí dụ như trong những năm 90 của thế kỷ trước, Bộ Nghiên Cứu và Công Nghệ của CHLB Đức (viết tắt là BMFT) đã được cơ cấu lại sau khi thống nhất nước Đức thành Bộ Giáo Dục và Nghiên Cứu (viết tắt là BMBF) để đảm bảo quá trình phát triển tối ưu và duy trì GDĐH và KHCN của Đức trong tầm cao nhất của thế giới. Nhìn sang Nhật Bản thì ta thấy nước bạn đã hợp nhất quản lý giáo dục, khoa học, văn hóa và thể thao trong một Bộ duy nhất từ nhiều năm nay. Phải chăng đã đến lúc Việt Nam nên hội nhập và xây dựng một bộ máy quản lý GDĐH và KHCN tối ưu hơn cho quốc gia (Bộ Đại Học và Khoa Học Công Nghệ ?). GDĐH và KHCN có vai trò tương hỗ vô cùng quan trọng như hai cánh tay của một cơ thể trong sự nghiệp phát triển khoa học và tri thức quốc gia. Tiếp tục để hai cánh tay đó bị điều khiển bởi hai “bộ não” khác nhau thì sự nghiệp xây dựng nguyên khí quốc gia khó tránh khỏi những bất cập và yếu kém mà sẽ rất khó khắc phục trong điều kiện phát triển hiện nay của đất nước.       1. Theo Vnn ( http://www2.vietnamnet.vn/khoahoc/2008/01/762066/)  2. Theo Tia Sáng số 1/2008 ( http://www.tiasang.com.vn/news?id=2322)  Đến nay chúng ta vẫn chưa có một cơ chế nào để đảm bảo cho sinh viên các trường ĐH được tiếp xúc và tham gia nghiên cứu KH tại các cơ sở KHCN quốc gia cũng như để các nhà KH đầu ngành ở các cơ sở KHCN tham gia trực tiếp vào công việc đào tạo và nghiên cứu tại các trường ĐH. Trong khi đó, trên thế giới, ngay các cơ sở GDĐH ở các nước phát triển thường gắn với những phòng thí nghiệm tầm cỡ lớn, nơi mà các sinh viên phải bắt buộc tham gia các hoạt động nghiên cứu KH từ năm thứ 3 và dần tiếp tục làm luận văn tốt nghiệp, luận án Thạc Sỹ, Tiến Sỹ tại đó (sự gắn kết giữa Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge và Trường ĐHTH Tennessee, hay việc tồn tại trung tâm gia tốc hạt nhân quốc gia NSCL ngay trong khuôn viên của Trường ĐHTH quốc gia Michigan là những thí dụ điển hình trong lĩnh vực khoa học hạt nhân của Hoa Kỳ). Các nhà KH đầu ngành ở các phòng thí nghiệm quốc gia, viện nghiên cứu lớn cũng thường là các GS kiêm chủ nhiệm bộ môn, tham gia tích cực vào giảng dạy và nghiên cứu tại các trường ĐH và ngược lại các GS có trình độ cao từ các trường ĐH cũng luôn là những đối tác quan trọng  của các cơ sở nghiên cứu (một việc hiển nhiên nhưng vẫn chưa làm được ở Việt Nam).  ————-  Đào Tiến Khoa      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo dòng chảy không hao tán từ liên kết của các hạt lượng tử kết cặp      Khi các electron di chuyển qua các dòng điện và máy tính, chúng đều gặp phải các lực cản; khi chúng di chuyển chúng sẽ mất đi một phần năng lượng do bị tiêu tán dưới dạng tỏa nhiệt. Điều này giải thích tại sao các máy tính xách tay lại nóng lên sau khi chạy trong thời gian dài và tại sao máy chủ cấp điện cho các đám mây dữ liệu lại đòi hỏi phải có điều hòa nhiệt độ để giữ máy khỏi nóng chảy.      Tương tự như thế, bất kỳ hạt nào mang năng lượng đều có xu hướng mất năng lượng khi chúng di chuyển trong một dạng môi trường cụ thể. Có một số ngoại lệ, vốn thường xuất hiện ở một số mức nhiệt độ vô cùng thấp khi các hạt hình thành các cặp mà người ta gọi là những ngưng tụ lượng tử. Điều này dẫn đến hiện tượng siêu dẫn, với việc triệt tiêu trở lực, trong một số kim lại như nhôm, và siêu lỏng như heli lỏng, vốn có thể di chuyển mà không hề bị hao tán năng lượng.  Rất nhiều ứng dụng, từ truyền dẫn điện không hao tán năng lượng đến tính toán lượng tử, đã được phát triển dựa trên các vật liệu siêu dẫn cho thấy những trạng thái ngưng tự lượng tử đó. Nhưng các vật liệu siêu dẫn được biết cần được giữ ở mức nhiệt độ thấp – vi vậy thường không thực tế lắm. Để tăng nhiệt độ của các thiết bị không bị mất năng lượng, các nhà nghiên cứu cần hiểu sâu sắc hơn những gì điều khiển quá trình hình thành của các ngưng tụ lượng tử ở thời điểm ban đầu.  Về lý thuyết, siêu dẫn là kết quả của các electron kết cặp. Trong phần lớn các vật liệu, tuy nhiên việc kết cặp lại yếu – hai hạt tích điện âm thường không kết cặp với nhau – và chỉ có việc kết cặp mạnh là thành công. Trong bài báo mới xuất bản trên Science, Cory Dean và James Hone ở Columbia, Xiaomeng Liu, Philip Kim, và Bert Halperin ở Harvard, Jia Li tại Brown, và Kenji Watanabe và Takashi Taniguchi ở NIMS (Nhật Bản) đã miêu tả một nền tảng dựa trên graphene có thể điều hướng đã được dùng để cho các điện tích trái dấu – electron và các lỗ – hình thành các cặp hạt lượng tử dưới tác động của từ trường mạnh 1. Sức mạnh của việc kết cặp đó có thể biến thiên theo một miền liên tục, cho phép nhóm nghiên cứu này thử nghiệm các dự đoán lý thuyết về nguồn gốc của các ngưng tự và cách chúng có thể gia tăng trong những giới hạn nhiệt độ của siêu dẫn.  Thiết kế một nền tảng có điều hướng  Lý thuyết đằng sau thử nghiệm này quá đơn giản. “Nếu anh có thể nhận các electron để hình thành cặp, chúng có thể trở thành siêu dẫn”, Dean giải thích.  Theo lý thuyết Bardeen-Cooper-Schrieffer (BCS), một lực hấp dẫn giữa các electron – không bị ảnh hưởng ngay, kể cả khi nó là lực yếu – sẽ là nguyên nhân khiến các electron kết cặp để hình thành một dạng mới của hạt gọi là một “cặp Cooper”. Chúng hành xử như các hạt mà chúng ta gọi là các boson và, tại các mức nhiệt độ đủ thấp, có thể chuyển vào một trạng thái thu thập và chuyển sang một loại vật liệu tự do bởi sự mất trật tự – một đặc điểm mà một đơn electron tự nó không thể đạt được.  Nhưng có một vấn đề ở đây. “Các electron không muốn kết cặp”, Dean nói. Giống như những kẻ nổi loạn vậy. Thay vì cố gắng “ép” một liên kết giữa hai electron mang điện tích âm, nhóm nghiên cứu đã khám phá cách những electron trái đấu có thể bị thu hút để tạo ra một boson kết cặp tương đương.  Ý tưởng cơ bản, do các nhà lý thuyết đề xuất đầu tiên, giờ đã thành hiện thực bằng việc nhóm nghiên cứu này tạo ra một tám graphene có độ dày một nguyên tử, một loại vật liệu có tính chất độc đáo mà họ đã nghiên cứu nhiều năm. Phụ thuộc vào điện áp và từ trường, các tấm graphene có thể được tạo ra với các electron điện tích âm hoặc với những lỗ tích điện dương. Khi hai tấm đặt cạnh nhau, các electron trên một tấm sẽ muốn kết cặp với những lỗ tích điện trái dấu của tấm khác, hình thành các cặp boson.    Tuy nhiên cần tính đến khoảng cách. “Những người đầu tiên thử kết cặp các electron và các lỗ trong một đơn vật liệu và đành rằng có sự hấp dẫn giữa chúng nhưng theo nghĩa là lực hấp dẫn lúc đó quá lớn”, Liu nói. Nếu cả hai ở quá gần nhau, chúng sẽ kết hợp và biến mất. Sử dụng một kỹ thuật được phát triển ở Columbia để tạo ra các tấm vật liệu có độ dày một nguyên tử xếp lớp lên nhau, nhóm nghiên cứu đã cho thêm vào tấm cách điện boron nitride giữa graphene. Điều này giúp tạo ra một khoảng cách vật lý giữa các electron của một tấm graphenevới lỗ của tấm khác, vốn ảnh hưởng lên cường độ của tương tác: nhiều lớp cách điện dẫn đến một liên kết yếu hơn; ít các lớp thì mang hơn. “Bằng sự khác nhau về độ dày của lớp phân tách, chúng tôi đã kiểm soát điều hướng một cách trực tiếp lên cường độ tương tác”, Li nói.  Các electron và koox không cần tương tác với nhau; các cặp boson hình thành cần tương tác với những cặp khác để đạt đến trạng thái ngưng tụ lượng tử thu thập. Bằng việc chỉnh sửa số lượng các lớp cách điện, nhóm nghiên cứu có thể kiểm soát cường độ liên kết giữa các electron và các lỗ, trong khi thay đổi từ trường bên ngoài áp dụng vào sự tương tác giữa các cặp boson.  Vượt qua để tăng nhiệt độ   Phần lớn các vật liệu siêu dẫn có thể chỉ tồn tại ở mức nhiệt độ cực thấp, cụ thể là ít hơn 10 Kelvin (hoặc -441 độ F). Tuy nhiên trong những vật liệu nhất định, gọi là siêu dẫn nhiệt độ cao, trạng thái kết cặp chỉ tồn tại ở những mức nhiệt độ cao khoảng 200K (-100 độ F). Dẫu vẫn còn rất thấp, sự tồn tại của các siêu dẫn nhiệt độ cao cho thấy ngưng tụ lượng tử có thể xuất hiện ở nhiệt độ phòng. Dẫu đã qua hàng thập kỷ nghiên cứu, nhưng quá trình mà các ngưng tụ lượng tử nhiệt độ cao sử dụng các cặp electron-electron hay các cặp electron-lỗ vẫn diễn ra rất chậm chạp.  Một lý thuyết là các siêu dẫn nhiệt độ cao không chỉ là kết quả của sự kết cặp electron, dẫu lực hút là “mạnh” hay “yếu” mà còn là sự tồn tại ở sự giao giữa hai trạng thái đó. Nghiên cứu sự kết cặp boson mạnh – do thuyết ngưng tụ Bose-Einstein (BEC) miêu tả – đã là một thách thức lớn của các siêu dẫn nhiệt độ cao, vì các electron đẩy nhau một cách tự nhiên và vô cùng khó kiểm soát sự tương tác giữa chúng. Với nền tảng graphene có diều hướng kết hợp các electron với lỗ hơn là các cặp electron-electron, nhóm nghiên cứu đã có thể vẽ được sơ đồ thời điểm đầu tiên siêu dẫn thay đổi khi cường độ kết cặp chuyển đổi giữa các thái cực ngưng tự Bose Einstein và Bardeen-Cooper-Schrieffer.  Tại đây, thực nghiệm đặt vào nhiệt độ heli lỏng – mức âm 450 độ F –  và đặt một nam châm 10 Tesla (lớn hơn 100 lần một nam châm tủ lạnh); điều kiện không thực tế để tạo ra những thiết bị vận hành trên một con chip bên trong một máy tính. Nhưng Dean cho rằng, công trình này mở ra những con đường mới cho nghiên cứu. “bởi vì tính điều hướng của nền tảng này mà chúng tôi có thể kiểm tra những dự đoán lý thuyết theo các cách mà từ trước đến nay chưa từng thử nghiệm”.  Với các vật liệu khác, có thể nó làm ảnh hưởng cả nam châm, vốn cần thiết để đưa các electron của graphene vốn thông thường không tương tác thành tương tác. Ví dụ, các chất bán dẫn có thể được điều khiển thành toàn bộ các electron và/hoặc các lỗ. Việc có thêm nhiều các tấm graphene để hình thành các cặp electron-hole bền sẽ giảm thiểu các vấn đề kỹ thuật, như cách các vật liệu ‘sạch’ và không biến dạng như thế nào và liệu có thể tạo ra mối quan hệ giữa chúng? “Nếu có nhiều ngưng tụ cặp electron-lỗ – cũng gọi là các ngưng tụ kích thích – có thể bền ở các mức nhiệt độ cao và không cần một từ trường, điều này có thể dẫn đến những ứng dụng trong thực tế”, Halperin, một nhà vật lý ở Harvard nói.  “Những gì chúng tôi đang hình thành với nền tảng graphene này cho thấy ý tưởng này hoàn toàn đúng đắn”, Dean nói. “Nó không còn là hoang đường nữa, nó đã trở thành thực tế. Giờ đây nó đã hiển hiện theo nghĩa, thuần túy là một thách thức về mặt kỹ thuật”.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-tuning-bonds-paired-quantum-particles.html  https://www.brown.edu/news/2022-01-13/condensate  ————————–  1. https://www.science.org/doi/10.1126/science.abg1110    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo được bộ óc hoàn chỉnh của thai nhi năm tuần tuổi      Báo Anh The Guardian ngày 19/8 cho biết, các nhà khoa học ở Đại học Bang Ohio (Mỹ) tuyên bố lần đầu tiên họ đã tạo ra trong phòng thí nghiệm một bộ óc gần hoàn chỉnh của loài người. Nhóm nghiên cứu giành được thành tựu quan trọng này hy vọng bộ não đó sẽ có thể làm thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về các loại bệnh thuộc hệ thần kinh.       Cho dù bộ não tí hon tương đương não của một thai nhi năm tuần tuổi này còn chưa có ý thức, nhưng nó có tác dụng tiềm tàng đối với các nhà khoa học muốn nghiên cứu quá trình phát triển bệnh tật. Có thể dùng nó để xem xét hiệu quả của các loại thuốc điều trị bệnh Alzheimer và Parkinson.  Ông Rene Anand ở ĐH Ohio nói, bộ não to khoảng bằng cục tẩy bút chì này được nuôi tạo từ một mô da người trưởng thành là tiêu bản não người hoàn chỉnh nhất cho tới nay đã tạo ra được. Ông giới thiệu thành tựu nghiên cứu nói trên tại cuộc Hội thảo Hệ thống Y tế quân đội ở Lauderdale, bang Florida.  Trước đây từng có người làm các thí nghiệm nuôi tạo bộ não hoàn chỉnh, trong trường hợp tốt nhất đã từng tạo được cơ quan mini (mini-organs) tương đương não thai nhi chín tuần tuổi, nhưng các “tế bào não (cerebral organoids)” này chưa hoàn chỉnh và chỉ bao gồm một số khía cạnh nào đó của bộ não.  Anand và các đồng nghiệp nói họ đã tái tạo được 99% các loại tế bào và gene của não. Ông cho biết ở đây căn bản không tồn tại sự lo ngại về mặt luân lý đạo đức, “Chúng tôi không đưa vào bộ não này bất cứ sự kích thích cảm giác (sensory stimuli) nào. Nó không tiến hành suy nghĩ bằng bất kỳ phương thức nào”.  Anand nói nhóm nghiên cứu đã biến đổi tế bào da người lớn thành tế bào gốc đa năng (pluripotent cells): các tế bào gốc có thể được lập trình để trở thành bất kỳ mô nào trong cơ thể con người. Sau đó đặt các tế bào gốc đa năng đó vào trong môi trường nuôi dưỡng đặc biệt, môi trường này giúp chúng phát triển thành tất cả các thành phần khác nhau của não và hệ thần kinh trung ương.  Theo Anand, cần khoảng 12 tuần để nuôi tạo được một bộ não có độ chín muồi bằng thai nhi năm tuổi. Để nuôi tạo bộ não chín muồi hơn thì phải tạo được mạng mạch máu, nhưng hiện nay nhóm nghiên cứu chưa có khả năng làm việc đó. Anand nói: “Chúng tôi cần một trái tim nhân tạo để giúp bộ não này phát triển.”  Một số nhà khoa học được báo The Guardian phỏng vấn nói rằng trong tình hình chưa thể có thêm những số liệu khác thì khó mà đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu kể trên. Anand hiện chưa công bố các số liệu đó vì nhóm nghiên cứu còn đang chờ được cấp bằng sáng chế cho công nghệ này. Nhiều người tỏ ra không hài lòng với việc nhóm nghiên cứu đã công bố thông tin kể trên trước khi kết quả nghiên cứu của họ được các nhà khoa học khác thẩm định.  Hiện nay nhóm nghiên cứu nói họ chủ yếu sử dụng bộ não nhân tạo này để phục vụ các nghiên cứu về quân sự, nhằm tìm hiểu tác dụng của rối loạn stress (chấn thương tâm lý) và chấn thương não sau khi bị thương.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo được tuyến ức hoàn chỉnh trong cơ thể động vật      Trong một bài viết đăng trên tạp chí Sinh  vật học tế bào tự nhiên (Nature Cell Biology, Anh Quốc) số mới đây, các  nhà nghiên cứu ở Trung tâm Y học Tái sinh (Đại học Edinburgh) thuộc Hội  đồng Nghiên cứu Y học tuyên bố lần đầu tiên trên thế giới đã tạo ra được  một cơ quan nội tạng hoàn chỉnh và có đầy đủ chức năng trong cơ thể  động vật.     Nhóm nghiên cứu cấy một nhóm tế bào vào trong con chuột và tế bào đó phát triển thành tuyến ức – một bộ phận quan trong trong hệ miễn dịch của cơ thể động vật. Kết quả nghiên cứu khoa học này có thể dọn đường thay thế cho việc cấy ghép nội tạng cơ thể.  Tuyến ức gồm hai thùy nằm ở phía dưới cổ và phía trên ngực, có nhiệm vụ sản xuất ra một chất của hệ miễn dịch gọi là tế bào T (T-cells) nhằm chống lại sự lây nhiễm; nó có kích thước lớn ở cá thể non và tiêu giảm sau khi động vật thành thục về sinh dục.  Các nhà khoa học bắt đầu từ tế bào phôi thai (embryo) chuột. Sau khi được “tái lập trình” gien, các tế bào phôi thai bắt đầu biến chuyển thành một loại tế bào được phát hiện thấy trong tuyến ức. Họ đem các tế bào đó hỗn hợp với các tế bào khác có tác dụng hỗ trợ rồi cấy vào trong cơ thể chuột để chúng phát triển thành tuyến ức có chức năng hoàn chỉnh.  Nghiên cứu nói trên tương tự với một thành công khoa học nổi tiếng năm ngoái, khi các nhà khoa học tạo ra được não người trong phòng thí nghiệm, đạt trình độ tương đương não của thai nhi chín tuần tuổi. Tuy nhiên so với não thì tuyến ức là một cơ quan đơn giản hơn gồm hai vùng chính: vỏ (cortex) và tủy (medulla).   Giáo sư Clare Blackburn, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết khi hiểu được ý nghĩa thành tựu công trình của mình, cả nhóm đều vô cùng phấn khởi. Bà nói: “Đây là một niềm vui lớn đáng ngạc nhiên. Thực sự là chúng tôi có thể dùng một phương pháp rất đơn giản, bắt đầu từ tế bào được tái lập trình để sinh ra một bộ phận cơ thể có chức năng hoàn chỉnh.” Bà còn nói đây là một bước tiến làm nức lòng người, có triển vọng rất hấp dẫn xét từ mặt rộng hơn của lĩnh vực y học tái sinh.  Các bệnh nhân cần cấy tủy xương hoặc trẻ em bẩm sinh không có tuyến ức vận hành bình thường sẽ được hưởng lợi từ thành tựu nghiên cứu này. Tăng cường chức năng của tuyến ức cũng có lợi cho những người già. Cùng với tuổi tác, tuyến ức bắt đầu teo lại, làm suy yếu hệ miễn dịch.   Nhưng còn nhiều trở ngại cần vượt qua khi áp dụng thành tựu nghiên cứu này vào điều trị lâm sàng cho con người. Công nghệ nghiên cứu hiện có sử dụng phôi thai, điều đó nghĩa là tuyến ức tạo ra chưa phải là một tổ chức thích hợp với bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu còn cần bảo đảm tế bào bị cấy ghép sẽ không tạo nên nguy cơ ung thư do chúng không được kiểm soát.  Lĩnh vực y học tái sinh đang phát triển rất nhanh, hiện nay đã có bệnh nhân được cấy ghép mạch máu, khí quản và bàng quang.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo giống lúa cho tương lai      Bộ KH&amp;CN vừa ký biên bản ghi nhớ với Hội đồng nghiên cứu sinh học và công nghệ sinh học của Anh (BBSRC ) về hợp tác giải mã gene của 30 giống lúa, trong đó, BBSRC sẽ đầu tư 250.000 bảng Anh, phía Việt Nam là 100.000 bảng Anh.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp – một trong những viện nghiên cứu của Việt Nam được lựa chọn để triển khai dự án này.      Xin ông cho biết mục tiêu của dự án hợp tác này là gì?   Lúa là cây lương thực số một ở Việt Nam. Lúa đóng góp tới trên 90% sản lượng lương thực của cả nước. Vì vậy chúng ta phải hiểu biết rất tường tận về bộ máy di truyền của cây lúa, trước hết là về các gene chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường. Các hiểu biết này cho phép chúng ta khai thác có hiệu quả tài nguyên di truyền cây lúa cho các mục đích nghiên cứu và chọn tạo giống. Mục tiêu ngắn hạn của hợp tác này là trên cơ sở các thông tin về genome (hệ gene) xây dựng nên các dấu chuẩn phân tử dựa trên đa hình đơn nucleotid sử dụng cho chọn tạo các giống lúa kháng rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, bạc lá, chịu ngập, chịu mặn… Mục tiêu dài hạn của dự án là tiếp thu công nghệ, đào tạo cán bộ cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu của các giống lúa bản địa để phục vụ cho nghiên cứu và chọn giống của cả nước.     Đối với Viện Di truyền nông nghiệp, dự án hợp tác với Anh này có ý nghĩa như thế nào?   Hiện nay chúng ta chưa có năng lực tự phát triển các công cụ genome cho chọn tạo giống cây trồng. Dự án này là dự án đầu tiên ở Việt Nam cho phép chúng ta tiếp cận từng bước với các công cụ genome học và tin sinh học, sử dụng cho chọn tạo giống cây trồng. Thông qua hợp tác với bạn, chúng ta tiếp cận với công nghệ, đào tạo cán bộ trong các lĩnh vực này và sẽ từng bước phát triển lĩnh vực genome học trong nước, không chỉ với cây lúa mà với các cây trồng quan trọng của Việt Nam. Biến genome học thành công cụ hiệu quả cho nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng mới có các đặc tính cần thiết giúp chúng ta ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho đất nước. Dự án là một bước phát triển rất quan trọng của Viện trên con đường làm chủ các công cụ hiện đại phục vụ cho mục đích nghiên cứu và ứng dụng của mình.      Theo ông với trình độ KH&CN và ngân sách dành cho nghiên cứu của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu các giống lúa mới thích ứng với những thay đổi của môi trường, khí hậu cần được tổ chức như thế nào?                 Đây là vấn đề rất quan trọng. Hiện nay hằng năm chúng ta chọn tạo ra nhiều giống lúa mới, giống sau tốt hơn giống trước, nhưng chúng ta vẫn thiếu các giống lúa đỉnh cao. Đó là các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu với các tác nhân gây hại chính như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, chịu ngập, chịu mặn. Do vậy, trong điều kiện cho phép của các công cụ công nghệ sinh học mới như hiện nay, cần điều chỉnh lại chiến lược chọn tạo giống. Trước hết mỗi vùng cần xác định một số giống lúa có các đặc điểm năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng tốt với vùng sản xuất, được nông dân và người tiêu dùng chấp nhận. Trên cơ sở các nền di truyền này, liên tục cải tạo làm cho các giống này chống chịu hơn với các tác nhân bất lợi như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, mặn, lạnh…đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng và năng suất. Công nghệ mới hiện nay cho phép trong khoảng 2 năm có thể chuyển 1 gene mới vào cây lúa đồng thời giữ nguyên các đặc tính tốt khác của giống. Như vậy trong một thời gian chúng ta sẽ có siêu lúa có năng suất cao, chất lượng tốt lại chống chịu với phần lớn các điều kiện bất lợi của môi trường. Các giống lúa này khi đưa vào sản xuất dễ được nông dân và người tiêu dùng chấp nhận hơn do đã quen với giống. Đây là cách đi của nhiều nước.      Ông có thể cho biết các quốc gia lân cận đang nỗ lực nghiên cứu các giống lúa mới thích ứng với biến đổi khí hậu như thế nào không?  Chúng ta tiếp cận với chọn tạo giống ứng phó với biến đổi khí hậu muộn hơn so với các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines… Tại các nước này, giống lúa chịu mặn để ứng phó với nước biển dâng, giống lúa chịu ngập để trồng trong vùng hay xảy ra lũ lụt đã được tạo ra và đưa vào sản xuất từ những năm trước. Thậm chí Indonesia đã tạo giống lúa siêu ngắn ngày (80-85 ngày) để có thể sản xuất 4 vụ/năm nhằm ứng phó với việc mất đất trồng lúa do phát triển đô thị và nước biển dâng. Thái Lan đã có những giống siêu lúa, chịu được phần lớn các tác nhân bất lợi của môi trường. Việt Nam mới bắt đầu từ năm 2010.   Biến đổi khí hậu làm tăng hiện tượng cực đoan của thời tiết, như quá nóng, quá lạnh, lũ, hạn, nước biển dâng gây nhiễm mặn, các bệnh mới xuất hiện, như virus, rầy….biến đổi khí hậu cũng tăng mức độ thiệt hại do các bệnh cũ gây ra. Vì vậy, cần chọn tạo giống cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu thành chiến lược lớn của ngành nông nghiệp Việt Nam.   Ngọc Tú thực hiện     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo màu cho tơ lụa mà không cần nhuộm      Tại sao lại phải mất công nhuộm tơ lụa khi các con tằm có thể được biến đổi gene để tạo bất cứ màu nào trong bảy sắc cầu vồng? Đó là mục tiêu của các nhà khoa học Nhật Bản khi vừa biến đổi gene của chúng để tằm sản xuất ra sợi tơ có màu nhất định. Tác giả nghiên cứu Takashi Sakudoh tại Đại học Tokyo cho biết hiểu được cơ cấu vận chuyển sắc tố của tằm có thể mở ra con đường biến đổi màu của tơ thông qua gene.    Trong tự nhiên, kén tằm có các màu như trắng, vàng nhạt, vàng rơm, hồng cam, hồng và xanh lá. Màu của sợi tơ đến từ các sắc tố tự nhiên được hấp thu khi con tằm ăn lá dâu.  Các nhà nghiên cứu Nhật Bản quan sát thấy gene Y của tằm tạo ra protein CPB – protein giúp chúng lấy sắc tố từ tự nhiên và mang lại màu vàng cho kén. Khi gene Y bị đột biến, các CPB được tạo ra không còn chức năng hoạt động khiến chúng không thể chiết xuất được hợp chất màu vàng từ lá dâu tằm và từ đó tạo ra tơ màu trắng.  Sử dụng các kỹ thuật biến đổi gene, các nhà nghiên cứu đưa gene Y nguyên vẹn vào những con côn trùng bị đột biến. Những con sâu này tạo ra CBP hoạt động và các kén có màu vàng. Màu vàng này sẽ trở nên sặc sỡ hơn sau vài lần lai giống.  Các nhà nghiên cứu cho biết còn có thể biến đổi để các sợi tơ mang cả màu đỏ tươi hoặc đỏ nhạt.  M.T. (theo AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo năng lượng mặt trời từ công nghệ tách phân tử nước      Các nhà khoa học thuộc Đại học Rice, Mỹ, vừa  tìm ra một phương pháp hiệu quả giúp thu năng lượng mặt trời bằng cách  tách các phân tử nước.     Công nghệ này dựa trên cấu hình của các hạt nano vàng được kích hoạt bởi ánh sáng; các hạt nano này thu ánh sáng mặt trời và chuyển năng lượng mặt trời thành các electron ở trạng thái bị kích thích cao độ, thường được gọi là các “electron nóng”.    Isabell Thomann, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Electron nóng có khả năng tạo nên những phản ứng hóa học rất hữu ích, nhưng năng lượng của chúng lại bị phân rã nhanh chóng nên việc kiểm soát năng lượng của chúng là rất khó khăn. Chẳng hạn, nguyên nhân chính dẫn đến tổn thất năng lượng ở các tấm pin quang điện mặt trời hiện nay là do các electron nóng nguội đi chỉ trong vòng vài phần nghìn tỷ giây, khiến năng lượng của chúng bị giải phóng ra ngoài.”    Do vậy, việc thu những electron năng lượng cao này trước khi chúng nguội đi có thể giúp các nhà cung cấp năng lượng mặt trời nâng cao đáng kể hiệu suất chuyển năng lượng mặt trời thành năng lượng điện.     Trong các hạt nano được kích hoạt bởi ánh sáng do nhóm nghiên cứu của Thomann thực hiện, ánh sáng được thu lại và chuyển thành các plasmon, tức các dao động của electron vận động như một chất lỏng ngang qua bề mặt kim loại của hạt nano. Plasmon là trạng thái năng lượng cao có thời gian tồn tại ngắn song các nhà khoa học ở Rice và một số nơi khác trên thế giới đã tìm ra cách thu năng lượng plasmon để chuyển hóa thành điện năng hoặc quang năng hữu dụng. Hạt nano plasmon cũng là một phương tiện hứa hẹn kiểm soát năng lượng của các electron nóng.    Nhóm nghiên cứu của Thomann đã tạo ra được một hệ thống sử dụng năng lượng từ electron nóng để tách các phân tử nước thành Oxy và Hydro. Đây là một kết quả quan trọng bởi Oxy và Hydro là nguyên liệu cơ bản của các tế bào nhiên liệu, tức các thiết bị điện hóa học giúp tạo ra nguồn điện năng sạch và hiệu quả.     Để sử dụng được electron nóng, trước tiên nhóm nghiên cứu phải tìm cách tách chúng khỏi các “lỗ electron”, tức các trạng thái năng lượng thấp mà chúng đã rời khỏi khi nhận được nguồn năng lượng kích thích. Một lý do khiến electron nóng có thời gian tồn tại ngắn là chúng có xu hướng giải phóng nguồn năng lượng mới nhận được để quay trở lại trạng thái năng lượng thấp. Cách duy nhất để ngăn chặn xu hướng này xảy ra là tạo ra một hệ thống có thể nhanh chóng tách electron nóng khỏi các lỗ electron. Thông thường, các nhà khoa học sẽ đẩy electron nóng qua một hàng rào năng lượng có vai trò như một chiếc van một chiều. Theo Thomann, phương pháp này có nhiều điểm không hiệu quả song vẫn được các nhà khoa học quan tâm bởi nó áp dụng một công nghệ đã được kiểm chứng gọi là hàng rào Schottky. Nhóm của bà, thay vì đẩy electron nóng đi, lại tạo ra một hệ thống để đẩy các lỗ electron đi. Hệ thống này đóng vai trò giống một cái rây hoặc màng chắn: các lỗ electron có thể lọt qua đó nhưng electron nóng thì không, và do đó chúng được duy trì ở trên bề mặt các hạt nano plasmon.    Thomann cho biết: “Khi sử dụng công nghệ tách nước bằng electron nóng để tạo năng lượng mặt trời, chúng tôi thấy dòng quang điện có hiệu suất tương đương với những hệ thống khác phức tạp hơn và sử dụng những thành phần đắt tiền hơn. Chúng tôi tự tin cho rằng mình có thể tối ưu hóa hệ thống này để cải thiện đáng kể những kết quả hiện nay.”  Trang Bùi dịch theo sciencedaily.com            Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo năng lượng từ loài cọ đường      Là một nhà khoa học nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới, sau hơn 30 năm nghiên cứu về những hệ sinh thái mỏng manh tại những hòn đảo tại khu vực Đông Nam Á, Willie Smits đã quyết định thu hút sự quan tâm của thế giới vào tiềm năng năng lượng to lớn của một loài thực vật có tên là cây cọ đường Arenga (1).    Đó là loài cọ có rễ sâu và lá hình quạt  này có thể đóng vai trò chủ đạo của một hệ sinh thái không có chất thải; vừa có thể cho chiết xuất đường hữu cơ thượng hạng, vừa cho ra cồn nhiên liệu, ethano, vừa cung cấp lương thực và tạo công ăn việc làm cho dân làng, đồng thời còn giúp bảo tồn rừng mưa nhiệt đới tại địa phương nữa.   Các nhà khoa học đã nghiên cứu quy trình thu hoạch và sản xuất nhiên liệu từ cây cọ đường độc đáo của ông Smits và công ty Taperie đều công nhận rằng hệ sinh thái này sẽ giúp bảo vệ môi trường toàn cầu thay vì góp phần làm tăng nồng độ CO2 đang ngày càng gia tăng hiện nay.  Hiểm họa nhiên liệu đối với các khu rừng  Cơ sở sản xuất nhiên liệu từ cây cọ đường của công ty Tapergie được thành lập vào năm ngoái tại Tomohon, tỉnh Bắc Sulawesi, Indonesia, cũng như những cơ sở sản xuất quy mô nhỏ mang tên Village Hubs mà ông Smits dự định sẽ phát triển tại những hòn đảo lân cận, hoàn toàn khác biệt với những nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học từ cây cọ dầu vốn đã và đang tàn phá nặng nề những rừng mưa nhiệt đới trên thế giới.  Nhu cầu về nhiên liệu lấy từ lõi và hạt cây cọ dầu tại khu vực Đông Nam Á đã leo thang khi các quốc gia châu Âu tìm cách thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng nhiên liệu sinh học trong thập niên vừa qua. Nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới đã bị đốn hạ, và nhiều mảnh đất bùn lầy đã được nạo vét, đốt cháy trên diện rộng chỉ để thực hiện đơn canh cây cọ dầu. Sự gia tăng lượng khí thải CO2 do hoạt động tàn phá những cánh rừng mưa nhiệt đới đã khiến Indonesia nhảy lên vị trí những quốc gia đi đầu về lượng khí thải nhà kính, chỉ xếp sau những cường quốc về tiêu thụ năng lượng như Trung Quốc và Hoa Kỳ.  Ông Smits, người được phong tước hiệp sĩ tại Hà Lan, nơi ông sinh ra, là một trong những người ủng hộ việc gióng lên hồi chuông cảnh báo trên toàn thế giới về tác động của việc sản xuất nhiên liệu sinh học trên quy mô lớn từ cây cọ dầu tại Indonesia, quê hương thứ hai của ông.  Đồng thời, ông cho rằng nỗ lực phục hồi rừng mưa nhiệt đới của ông có thể được đẩy mạnh hơn nữa bằng việc phát triển một loài thực vật có giá trị đã từng thu hút ông lần đầu tiên vào cách đây 31 năm, khi đó ông đang theo đuổi một phụ nữ Indonesia bản địa thuộc một bộ tộc vùng núi tại tỉnh Sulawesi, người mà sau này trở thành vợ của ông. (Bà đã được bầu làm trưởng bộ tộc vì những công lao của mình).  Theo thông lệ, trước khi tiến hành đám cưới, ông Smits được yêu cầu phải sắm sính lễ dưới dạng là 6 cây cọ đường. Sính lễ ấy trông có vẻ nghèo nàn, nhưng đó là trước khi ông thật sự nhận ra tiềm năng to lớn của cây cọ đường.  Trái của cây cọ đường có thể được thu hoạch và đem bán như một món ăn quý. Thân cây có thể trích ra được tinh bột. Và gỗ của cây thì chắc hơn cả gỗ sồi. Quan trọng nhất là loại cây này cho ra một loại nhựa rất đặc biệt có thể được chiết suất ra si-rô như ta chiết suất si-rô từ nhựa cây thích, nhưng đặc biệt là nó cho nhựa quanh năm và với sản lượng khổng lồ. Dung dịch giàu chất đường bột từ cây cọ đường có thể được dùng làm loại đường ăn an toàn cho sức khỏe hơn cả đường mía. Ông Smits ước lượng là có ít nhất 60 loại thành phẩm khác nhau có thể thu được từ cây cọ đường Arenga.  Ông cho biết: “Như thế là quá đủ để nuôi sống một gia đình mới cưới”, “Vì vậy, tôi hoàn toàn bị thu hút vào việc nghiên cứu kỹ hơn về loại cây cọ đường này”.  “Loại cây đáng kinh ngạc”  Ông Smits đã nhận ra rằng cây cọ đường Arenga có nhiều đặc điểm khiến nó trở thành người bảo vệ cho cả khu rừng. Nó có rễ sâu, có nghĩa là nó có thể mọc ở những triền dốc, thậm chí dốc thẳng đứng– vì thế giúp chống xói mòn. Nó cần rất ít nước và hoàn toàn có thể chống hạn hán và chống cháy, hai yếu tố quan trọng tại những đảo núi lửa. Nó hoàn toàn không bị sâu bọ xâm phạm và không cần phân bón để phát triển; thậm chí sự hiện diện của cây cọ đường trong khu rừng lại góp phần làm màu mỡ đất đai.  Theo ông Amory Lovins, chủ tịch và là trưởng nhóm nghiên cứu tại Học viện Rocky Mountain tại Snowmass, Colorado, đồng thời là một thành viên của hội đồng giám sát chương trình Thách thức lớn về năng lượng của tạp chí National Geographic, “Cây cọ đường Arenga đúng là phản hạt của cây cọ dầu… là loại cây tuyệt vời nhất mà tôi từng gặp”.  Và ông Smits cho biết ông đã khám phá ra rằng nhờ vào cấu trúc lá đặc biệt của cây cọ đường, sản lượng quanh năm và khả năng quang hợp cực kỳ hiệu quả của nó nên sản lượng ethanol làm từ dung dịch nước đường của cây cọ đường nhiều hơn hẳn lượng nhiên liệu sinh học từ các nguyên liêu khác trên khắp thế giới. Ông cho biết quy trình của ông có thể sản xuất ra 19 tấn (6.300gallon/ 24.000 lít) ethanol/hecta/năm. Đó quả là một tỉ lệ sản lượng/ diện tích canh tác thật đáng kinh ngạc nếu so với cây bắp, loại hoa màu dùng sản xuất ethanol được ưa thích tại Hoa Kỳ với tỉ lệ chỉ là 3,3 tấn ethanol (1.100 gallon/ 4.200 lít)/ hecta, đó là số liệu về sản lượng mới nhất lấy từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Cây cọ đường cũng hoàn toàn vượt xa cây mía đường của Brazil, với sản lượng ethanol thu được từ loại cây này là 4,5 tấn ethanol (1.500 gallon/ 5.700 lít)/ hecta, chiếu theo phân tích vòng đời những loại nhiên liệu phục hồi của Cơ quan bảo vệ môi trường. (1 hecta = 2,5 mẫu).  Tuy nhiên, có một vấn đề tồn tại. Đó là cây cọ đường sinh trưởng tốt nhất trong hệ sinh thái đa dạng trong rừng chứ không ở môi trường độc canh. Và quan trọng là, mỗi cây cọ đường cần được chăm sóc thường xuyên. Để thu được sản lượng tối ưu, mỗi cây phải được trích lấy nhựa 2 lần mỗi ngày bởi những công nhân được huấn luyện, thực hiện bằng cách cắt một lớp mỏng tại ngọn cây, nơi mà hoa đực mọc lên. Nếu được làm đúng cách, việc trích nhựa sẽ kéo dài tuổi thọ của cây – thông qua việc lấy đi một ít sức sống của cây vốn được dự trữ cho các hạt giống của cây. (Vì thế trái cây sẽ lâu chín hơn). Tuy nhiên, chất dịch có chứa năng lượng của cây phải được bảo quản ngay tại chỗ, nếu không nó sẽ bị hư do ảnh hưởng của quá trình lên men không kiểm soát. Ông Smits cho biết quá trình trích nhựa cây không thể được cơ giới hóa.  Một đóng góp vào công tác  bảo vệ rừng  Nhà máy của công ty Tapergie được thành lập cách đây 3 năm tại Tomohon, đây là nhà máy sản xuất đường cọ Arenga đầu tiên trên thế giới với 6.285 nhân công.  Nhà máy được vận hành từ năng lượng địa nhiệt (năng lượng thừa lấy từ công ty năng lượng thuộc Nhà nước), thay thế những cách làm truyền thống trước đây, đó là đốn hạ hàng ngàn cây chỉ để đun sôi nhựa cây cọ đường để trích lấy đường. Ngoài ra, năng lượng sinh học được tạo ra tại chỗ từ cây cọ đường sẽ được dùng để thay thế xăng dầu sử dụng cho xe máy, những phương tiện vận chuyển nhỏ, những máy móc và máy phát điện, đồng thời cũng được dùng làm nhiên liệu cho các bếp lò đặc biệt dùng để nấu ăn.   Ý tưởng về các Village Hubs mà ông Smits đang thử nghiệm, các nhà máy sản xuất nhiên liệu từ cây cọ đường quy mô nhỏ với hình thức chìa khóa trao tay sẽ đem lại nhiều cơ hội việc làm và lợi ích về năng lượng cho những khu vực hẻo lánh tại trên hơn 3.000 hòn đảo tại vùng phía Tây tỉnh Sulawesi, nơi người dân sống hoàn toàn thiếu thốn, không có điện, nhiên liệu, không liên lạc, giáo dục, dịch vụ y tế hoặc cả nước uống.  Ông Smits cho rằng: một khi dân làng thấy được nguồn lợi vô tận từ cây cọ đường Arenga thì họ sẽ cùng nhau đầu tư vào việc bảo vệ và trồng trọt loại cây này cũng như duy trì sự đa dạng thực vật xung quanh khu rừng. Như vậy hệ thống nhà máy sản xuất đường từ cây cọ Arenga, với sự tham gia của dân địa phương sẽ bảo tồn thiên nhiên vừa phát triển kinh tế địa phương.  Theo ông Smits thì: “Chúng tôi gọi đó là phát triển bền vững”.   Kim Khôi lược dịch      ————-  1 “Cọ đường” là từ chúng tôi sử dụng để dịch từ “sugar palm” trong tiếng Anh. Cọ đường có nhiều loại, trong đó có loại Arenga pinnata được đề cập trong bài này. Theo Wikipedia, cây Arenga pinnata ở Việt Nam gọi là cây đoát/ đoác, cây báng/ búng báng, cây Tà vạt… – Nguồn : http://vi.wikipedia. org/wiki/B%C3%A1ng), nhưng trong bài này chúng tôi sẽ để nguyên tên khoa học bằng tiếng Anh mà không dịch ra tiếng Việt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo nước ngọt từ nước biển bằng cối xay gió      Ngoài nhiệm vụ tạo chuyển động cho bơm nước, cối xay gió truyền thống có thể kết hợp với thiết bị thẩm thấu ngược để tạo ra nước sạch trực tiếp từ nước biển. Đây là một sản phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học tại ĐH công nghệ Delft (Hà Lan).      Quạt gió sẽ tạo chuyển động cho máy bơm đẩy nước qua một màng với áp suất khoảng 60 bar để tạo nước ngọt từ nước biển trực tiếp. Thiết bị này thích hợp cho những ngôi làng nhỏ ở những vùng biển khô và cách biệt với khu dân cư. Thiết bị hoàn toàn không sử dụng điện này có thể cung cấp từ 5-10 m3 nước sạch mỗi ngày, lượng nước đủ cho một làng nhỏ khoảng 500 dân cư.   Trường Thịnh (Theo Physorg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo phân tử nano vàng      Các nhà khoa học tại đại học ĐH Missouri (Mỹ) đã tạo các phân tử nano vàng bằng cách sử dụng muối vàng, đậu nành và nước. Phân tử nano vàng là những phần tử rất nhỏ của vàng không thể nhìn thấy bằng mắt thường.      Các phân tử nano vàng thường được các nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phát hiện và điều trị ung thư, điều trị các bệnh về mắt liên quan đến di truyền, phát triển thế hệ xe ôtô xanh, các sản phẩm điện tử thông minh…Nghiên cứu này đã gây sự chú ý của giới khoa học trên khắp thế giới vì hiệu quả, tính thân thiện với môi trường và có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau do sử dụng những gì có sẵn trong tự nhiên.   Trường Thịnh (Theo newscientist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo phôi lai giữa người và bò      Lần đầu tiên các nhà khoa học tại ĐH Newcastle (Anh) đã bơm DNA lấy từ các tế bào trên da người vào trứng được lấy từ bò cái. Trứng bò đã bị bỏ đi tất cả các gen. Những phôi này được để cho sống 3 ngày trong phòng thí nghiệm.      Chính phủ tuyên bố rằng việc cho phép tạo ra phôi giữa người và động vật vì mục đích nghiên cứu có thể dẫn đến những tiến bộ khoa học giúp chữa trị cho hàng triệu người đang mắc phải những căn bệnh khó chữa. Nhưng không ít người, nhất là các lãnh đạo tôn giáo, lại chỉ trích vì vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, giá trị của con người. Hiện tại các nhà nghiên cứu phải xin phép Cơ quan thụ thai và phôi người và những phôi lai tạo ra phải được hủy bỏ trong vòng 14 ngày.    Đoan Nhật      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra các trạng thái lượng tử trong các thiết bị điện tử thông thường      Sau hàng thập kỷ tiểu hình hóa, các cấu phần điện tử mà chúng ta vẫn dùng để lắp đặt các máy tính và các công nghệ hiện đại đều đã chạm đến những giới hạn cơ bản. Đối mặt với những thách thức đó, các nhà khoa học và kỹ sư trên khắp thế giới đã chuyển hướng tới một mẫu hình hoàn toàn mới: các công nghệ thông tin lượng tử.      Công nghệ lượng tử, vốn vận hành dựa trên các quy luật kỳ lạ chi phối các hạt ở mức độ nguyên tử, thường được nghĩ là quá tinh tế để cùng tồn tại trên các thiết bị điện tử mà chúng ta sử dụng hàng ngày như điện thoại, máy tính xách tay và ô tô. Dẫu vây, các nhà khoa học ở trường Kỹ thuật sinh tử Pritzker của trường đại học Chicago mới loan báo một đột phá đầy ý nghĩa: các trạng thái lượng tử có thể được tương hợp và kiểm soát trong các thiết bị điện tử được làm từ silic cacbua (silicon carbide SIC).  “Năng lực để tạo ra và kiểm soát các bit lượng tử hiệu naqng cao trong các thiết bị điện tử thương mại là một điều hết sức ngạc nhiên”, David Awschalom, giáo sư Liew Family tại trường và là nhà tiên phong về công nghệ lượng tử, đánh giá. “Những khám phá này đã thay đổi cách chúng tôi nghĩ về việc phát triển các công nghệ lượng tử – có lẽ chúng tôi có thể tìm được cách sử các thiết bị điện tử ngày nay để tạo ra các thiết bị lượng tử”.  Trong hai bài báo xuất bản trên Science và Science Advances, nhóm nghiên cứu Awschalom đã chứng minh họ có thể kiểm soát các trạng thái lượng tử được làm từ silic cacbua. Đột phá này có thể hứa hẹn khiến cho việc thiết kế và chế tạo các thiết bị điện tử lượng tử dễ dàng hơn – khác bệt với việc sử dụng những  vật liệu lạ mà các nhà khoa học cần dùng cho các thí nghiệm lượng tử như các kim loại siêu dẫn, các nguyên tử nhẹ hay kim cương.  Những trạng thái lượng tử trong silic cacbua đem lại thêm lợi ích là có thể phát ra các hạt ánh sáng đơn lẻ với một bước sóng gần với dải tần số viễn thông. “Điều này khiến chúng phù hợp hơn với việc truyền thông ở khoảng cách lớn thông qua mạng cáp quang hiện đang truyền đi tới 90% dữ liệu quốc tế đi khắp thế giới”, Awschalom, một nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne và giám đốc Chicago Quantum Exchange.  Do đó, những hạt ánh sáng có thể tăng thêm những đặc tính mới thú vị khi kết hợp với các thiết bị điện tử đang có. Ví dụ, trong bài báo đăng trên Science Advances, nhóm nghiên cứu đã có thê tạo ra những gì mà Awschalom gọi là “radio FM lượng tử” theo cùng cách âm nhạc được truyền qua radio trên ô tô của bạn, thông tin lượng tử cũng có thể được gửi đi  trên những khoảng cách dài.  “Lý thuyết đều nói, để đạt tới việc kiểm soát lượng tử tốt trong một vật liệu, nó phải trong các trường dao động tự do và thuần khiết”, Kevin Miao, tác giả thứ nhất của bài báo, nói. “Kết quả của chúng tôi cho thấy với thiết kế đúng đắn, một thiết bị không chỉ làm giảm bớt tạp chất mà còn tạo được ra các hình thức kiểm soát mà trước đây không thể thực hiện được”.  Trong bài báo trên Science, họ miêu tả đột phá thứ hai nhằm giải quyết ,ppyk vấn đề chung của công nghệ lượng tử: nhiễu.  “Các tạp chất có mặt ở trong tất cả các thiết bị bán dẫn, và tại mức lượng tử, các tạp chất này có thể dẫn đến việc thông tin lượng tử được tạo ra trong một môi trường điện tử nhiễu”, Chris Anderson, một đồng tác giả của bài báo này, cho biết. “Đây là một vấn đề gần như phổ quát với các công nghệ lượng tử”.  Nhưng bằng việc sử dụng một trong những thành phần cơ bản của điện tử— diode, một loại linh kiện chỉ cho phép dòng điện đi qua nó theo một chiều – nhóm nghiên cứu đã khám phá ra một kết quả không ngờ tới khác: tín hiệu lượng tử đột ngột trở nên phi nhiễu và hầu như giữ điều đó ở mức hoàn hảo.  “Trong các thí nghiệm của mình, chúng tôi cần sử dụng các tia laser, vốn đẩy các điện tích đi vòng quanh. Nó giống như một cuộc chơi ghế âm nhạc với các điện tích; khi ánh sáng chiếu đến các điểm dừng thì một  hình dạng khác xuất hiện”, Alexandre Bourassa, một đồng tác giả thứ nhât của bài báo, giải thích. “Vấn đề là hình dạng ngẫu nhiên của các điện tích ảnh hưởng đến trạng thái lượng tử của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã tìm thấy cách áp những điện trường để loại các điện tích từ hệ này và làm cho nó trở nên bền vững hơn”.  Bằng việc tương hợp cơ chế lượng tử kỳ lạ của vật lý với công nghệ bán dẫn cổ điển được phát triển rất hoàn hảo, Awschalom và nhóm nghiên cứu của mình đã tiến thêm một bước trên con đường tiến tới cách mạng hóa công nghệ lượng tử.  “Công trình này đã đưa chúng tôi tiến một bước gần hơn tới việc hiện thực hóa các hệ có năng lực lưu trư và phân phối thông tin lượng tử khắp các mạng lưới cáp quang của thế giới”, Awschalom nói. “Nhiều mạng lượng tử có thể mang đến một lớp công nghệ mới cho phép chúng ta tạo ra các kênh truyền thông không thể bị tấn công, viễn tải các trạng thái đơn lẻ và hiện thực hóa một internet lượng tử”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-breakthrough-scientists-quantum-states-everyday.htmla    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạo ra hình ảnh “4D” của cơ thể người      Các nhà khoa học Canada đã sử dụng vi tính để tạo ra hình ảnh bốn chiều của cơ thể người. Kỹ thuật này cho phép bệnh nhân xem bản đồ cơ thể của chính mình trước khi được phẫu thuật.    Được đặt tên là CAVEman, hình ảnh được chiếu vào trong một phòng thực tế ảo có dạng khối.  Những người xem mang kính đen lớn để quan sát bên trong cơ thể, giống như cơ thể trôi nổi ngay trước mắt họ, theo một báo cáo của đài truyền hình Canada ngày 23-5.  “Nếu bạn sắp trải qua phẫu thuật ghép động mạch vành, bạn có thể nhìn vào (phòng) và nhìn vào trong chính trái tim của bạn”, theo nhà toán học Andrei Turinsky. “Bạn có thể nhìn thấy tất cả các tâm thất, và bác sĩ sẽ giải thích cho bạn. Hơi mỏng chỗ này, và đây là nơi các dụng cụ sẽ đi qua’”.  Các nhà phát minh ra CAVEman gọi hình ảnh này là “4D” (bốn chiều) – nó có chiều cao, chiều rộng và chiều sâu, nhưng cũng phô bày tác dụng của thời gian lên cơ thể nữa. Hình ảnh có độ nét cao này cũng có thể thu nhỏ và xoay, hoặc người xem có thể cô lập chỉ một trong 3.000 phần của cơ thể bằng cách sử dụng một cái cần điều khiểu mà thôi.  Các nhà khoa học tại ĐH Calgary đã bỏ ra sáu năm để phát triển kỹ thuật tạo ra cơ thể ảo này, thứ cũng giúp các nhà chuyên môn và các bác sĩ nghiên cứu các bệnh di truyền cũng như rèn luyện các phương pháp phẫu thuật. Nhà phát minh Christoph Sensen nói kỹ thuật này sẽ cải thiện việc săn sóc các bệnh phức tạp như ung thư chẳng hạn.  Q.HƯƠNG (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tảo sản sinh ra điện      Từ tảo và vi khuẩn ngày nay con người có thể sản xuất dầu, hydro và điện. Vi sinh vật biến đổi gene có thể trở thành một giải pháp thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch. Một cuộc chạy đua đã bắt đầu.      Cho đến nay để laptop hoạt động được người ta phải nạp điện lưới vào bình ác-quy. Theo Sven Kerzenmacher và Johannes Gescher thì chỉ vài năm nữa điều này sẽ là không cần thiết. Khi đó mỗi laptop chứa một tế bào nhiên liệu để sản sinh ra điện với sự hỗ trợ của hàng triệu triệu vi sinh vật bơi lội trong một bể dung dịch dinh dưỡng sinh học.  Chuyên gia vi hệ thống (Mikrosystem) Kerzenmacher và nhà sinh vật học Gescher thuộc Đại học Freiburg (Đức) đã 3 năm nung nấu ý tưởng  tạo ra điện sinh học. Đối tượng nghiên cứu là vi khuẩn Shewanella có thể  sống và phát triển trong nước biển, nước ngọt và nước lợ. Điều mấu chốt là trong quá trình tiêu hóa chất đường hoặc rác thải sinh học vi khuẩn thải ra những điện cực dư thừa từ cơ thể đơn bào của chúng. Những điện cực này có thể thu lại nếu ta cho hai điện cực ở hai đầu một sợi dây dẫn, từ đó điện cực có thể dịch chuyển trên sợi dây này. Hai nhà khoa học hy vọng thông qua nguyên tắc này phát triển một loại pin xanh mới. Bộ Nghiên cứu Liên bang Đức rất tâm đắc với ý tưởng về loại nhà máy điện xanh mini này và hỗ trợ dự án 1,3 triệu Euro.  Nguồn năng lượng xanh trong tương lai  Hai nhà khoa học trên dự kiến trong 3 năm tới sẽ trình diễn một nhà máy điện xanh với công xuất từ 5 đến 10 Watt, lượng điện này đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng điện của một hộ gia đình 4 người. Nhà máy này có dung tích tương đương một cái tủ lạnh.  Nguồn năng lượng xanh trong tương lai có sức lôi cuốn mạnh mẽ các nhà nghiên cứu cũng như nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Loại vi sinh vật đơn bào này không những có thể sản xuất ra điện mà tùy theo cách nuôi chúng, như cho ăn loại thức ăn gì, chiếu sáng như thế nào, độ thông khí ra sao một số loại có thể sản sinh ra một khối lượng lớn dầu đốt, cồn và hydro, những chất rất cần cho hoạt động giao thông trong tương lai.   Tế bào quang điện trong tương lai  Ưu điểm chính của loại vi sinh vật này là rất dễ nuôi, có thể phát triển trong các bồn nước mặn ở ven biển hoặc nuôi trong một hệ thống ống ở vùng bán sa mạc nhiều nắng gió. Khác với các loại cây trồng như ngô, mía, cải dầu hay cọ dầu, khi dùng để sản xuất nhiên liệu thường gây áp lực cạnh tranh đối với ngành sản xuất lương thực, thực phẩm, vi sinh vật không cạnh tranh với bất cứ loại cây trồng nào.   Hiện nay hàm lượng dầu được chiết lọc từ tảo cao hơn nhiều so với các loại cây có dầu truyền thống như cải dầu hoặc cọ dầu. Kết quả nghiên cứu của  Thomas Renaud, nhà phân tích thuộc New Yorker Research-Unternehmen Arrowhead BID, thì một ha trồng  ngô trong 1 năm sản xuất được 170 lít dầu,  cải dầu 1200 lít và cọ dầu gần 6000 lít. Trong khi đó, cũng theo Renaud, 1 ha tảo có thể sản sinh từ 47.000 đến 140.000 lít dầu.  Ông Renaud dự báo thị trường tảo sẽ phát triển mang tính bùng nổ như thời kỳ đầu của ngành công nghiệp diesen-sinh học: Thị trường dầu tảo trên thế giới đến năm 2020 sẽ đạt doanh số 970 triệu Euro “Con số này cho thấy mức tăng trưởng hằng năm là 72 %”.  Một loạt doanh nghiệp tảo đã hình thành trên khắp thế giới đều đang tìm những giải pháp kỹ thuật tối ưu để khai thác tối đa công suất của loài vi sinh vật này. Tảo cũng thuộc diện trung tính về khí hậu. Lượng khí carbondioxyd (CO2) mà chúng tích lũy tương ứng với lượng CO2 được giải phóng khi nhiên liệu tảo đốt động cơ hay turbin.  Tảo tận dụng sự trao đổi chất sinh học  Nguyên nhân ở đây chính là cơ chế sinh học đã diễn ra từ hàng triệu năm, cơ chế đó cho phép vi sinh vật có thể hấp thu ánh sáng biến thành năng lượng, đó là quá trình quang hợp  (Fotosynthese).  Cũng như các loài thực vật khác, tảo cũng tận dụng sự trao đổi chất sinh học này: dùng chất diệp lục để hấp thụ ánh sáng mặt trời và biến thành dạng có thể lưu giữ được. Ngoài ánh sáng Mặt trời tảo cần có nước và một lượng lớn CO2, thủ phạm chính gây hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu.  Nuôi tảo trong bể nhựa   Dùng vi khuẩn triệt tiêu khí thải CO2 hiệu quả hơn so với biện pháp bơm CO2 vào trong lòng đất. Nhiều nhà quản lý nhà máy nhiệt điện đã ý thức được vấn đề này.  Hãng cung cấp điện khổng lồ của Thụy Điển Vattenfall hơn một năm nay phối hợp với nhà máy nhiệt điện Senftenberg của Đức thử nghiệm nuôi loại tảo xanh Scenedesmus obliquus trong lò phản ứng sinh học làm bằng chất dẻo trong suốt. Người ta thu hoạch sinh khối tảo này để tiếp tục chế biến thành nhiên liệu sinh học hay khí sinh học (biogas).  Tập đoàn cung cấp điện  RWE hợp tác với nhà máy nhiệt điện chạy bằng than nâu ở gần Koeln và hãng công nghệ sinh học Brain tiến hành thí nghiệm nuôi tảo bằng  CO2.   Mục tiêu của dự án là dùng vi sinh vật tạo ra nhiên liệu sinh học, nhiên liệu này có thể tích chứa trong tế bào của chúng hoặc tốt hơn là chứa ngay trong nước nơi tảo sinh sống. So với dự án Vattenfall dự án RWE có cái hay là khi thu hoạch không cần thu gom tảo để đưa ra khỏi lò phản ứng để nghiền nát chúng. Chúng trực tiếp sản sinh ra nhiên liệu.   Tuy nhiên cái khó ở đây là phải tìm ra loại vi sinh vật có thể chịu được loại khí thải chưa xử lý của các nhà máy điện. Vì bên cạnh khí CO2 là thức ăn cho tảo còn lẫn một số loại khí độc hại khác như sulfua- và nitơ-oxyd.   Hãng công nghệ sinh học Brain ở Đức nghiên cứu sâu về vấn đề này. Giám đốc hãng là Holger Zinke từ nhiều năm nay chuyên nghiên cứu về các loại vi sinh vật có những tính chất đặc biệt như: các loại vi sinh vật sống trong điều kiện cực kỳ khắc nghiệt như ở vùng biển sâu có núi lửa, vùng biển có băng hà hay trong nước thải của hầm mỏ chứa lưu huỳnh vv…Zinke và cộng sự đã tận dụng các đặc tính di truyền của những loại vi khuẩn này biến chúng thành những cái gọi  là  Designer-Organismen để nuôi chúng trong các bể tảo, từ đó tạo ra dầu, cồn sinh học (Bioalkohole Ethanol hay Methanol). .  Nhà khoa học và là chủ doanh nghiệp người Mỹ Craig Venter cũng nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Cách đây hơn 10 năm nhà khoa học này đã thành công xuất sắc trong việc giải mã gene ở người và thành lập hãng Synthetic Genomics ở La Jolla ở California.  Các tập đoàn dầu mỏ cũng đặc biệt quan tâm  Theo Venter tảo và vi khuẩn là nguồn tạo ra loại nhiên liệu sinh học có thể thay thế dầu mỏ và than. Venter thậm chí còn thuyết phục tập đoàn dầu mỏ BP của Anh làm nhà đầu tư nghiên cứu. Cách đây 2 năm ông cũng ký thỏa thuận hợp tác nghiên cứu nhiều năm với tập đoàn năng lượng ExxonMobil. Mục tiêu của Venter là cùng với đội ngũ 400 nhà nghiên cứu phát triển thế hệ tiếp theo về nhiên liệu sinh học trên cơ sở loại tảo quang hợp.   Tuy nhiên, ngày nay Venter hay Zinke không còn là những nhà nghiên cứu duy nhất về  nhiên liệu sinh học. Riêng ở Mỹ đã  có hàng chục doanh nghiệp cung cấp nhiên liệu-Mặt trời. Thí dụ hãng Algenol ở Florida nuôi tảo trong những hệ thống ống khổng lồ chứa nước biển, loại tảo này sản sinh Ethanol nguyên chất và thải chúng thẳng vào nước.   Sapphire Energy ở San Diego nuôi tảo tạo ra dầu trong những bể mở cỡ lớn ở vùng sa mạc. Chúng được thu hoạch để ép lấy dầu chế biến thành xăng thông thường hay nhiên liệu cho máy bay. Vào mùa thu 2009 Sapphire đã dùng nhiên liệu tảo của mình là Algenol cho chiếc xe Toyota Prius chạy xuyên Mỹ. Nhà sáng lập hãng Microsoft tỷ phú Bill Gates cũng tham gia đầu tư vào doanh nghiệp này.  Theo chuyên gia Denis thuộc hãng tư vấn McKinsey thì vị trí lý tưởng để sản xuất năng lượng từ tảo là những vùng khô hạn đến mức các loại cây trồng thông thường không thể sống nổi. Đây là lí do nhiều doanh nghiệp còn non trẻ  nhưng phát triển mạnh mẽ ở vùng Địa trung hải như Bio Fuel Systems ở Tây Ban Nha hay UniVerve Biofuel ở Israel.  Tại Trung và Đông Âu trong điều kiện số giờ có ánh sáng Mặt trời không nhiều, các nhà nghiên cứu Đức tìm cách tách chiết từ tảo để lấy các loại chất béo và protein quý hiếm phục vụ ngành công nghiệp dược phẩm hoặc công nghiệp hóa chất sau đó tiến hành lên men lấy biogas. Họ còn nghiên cứu các giải pháp hoàn toàn mới để khai thác vi sinh vật một cách hiệu quả nhất, thí dụ sử dụng Modul-solar-hai ngăn, nuôi hai loại vi sinh vật hoàn toàn khác nhau, và kết quả cuối cùng là chế tạo ra khí methanol.  Quang hợp để tạo ra hydro  Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc đại học Bielefeld (Đức) đối với tảo xanh Chlamydomonas reinhardtii cho thấy thông qua quang hợp nó có thể sản sinh ra khí hydro. Loại khí này được coi là nguồn năng lượng trong tương lai vì quá trình đốt hydro tạo ra điện mà không hình thành CO2 và Hydro không có trong tự nhiên. Thường để điều chế hydro phải tiêu hao một lượng năng lượng rất lớn. Tuy nhiên, đối với tảo thì hydro lại là khí thải tự nhiên.  Tế bào nhiên liệu sống  Sẽ đơn giản hơn nếu tảo hoặc vi khuẩn trực tiếp sản sinh ra điện, tương tự như những tế bào nhiên liệu sống của các nhà nghiên cứu  Kerzenmacher và Gescher. Nhưng điều này thật không đơn giản. Từ năm 1912 người ta đã biết về một vài loại vi sinh vật có thể sản sinh ra điện. Nhưng ngoài việc thử ứng dụng trong ngành nghiên cứu vũ trụ những năm 70 cho đến nay chưa có ai tiến hành nghiên cứu nghiêm túc để tận dụng nguồn điện này. Đây chính là điều mà hai nhà khoa học Kerzenmacher và Gescher muốn thay đổi.  Điều tuyệt vời trong ý tưởng là: những loại vi khuẩn có khả năng tung điện cực từ tế bào của chúng ra môi trường bên ngoài không phải là hiếm, đặc biệt trong các loại nước thải sinh học. Theo Kerzenmacher thì: “về nguyên tắc chỉ cần thò hai thanh grafit vào những vị trí khác nhau trong bể nước thải, một lúc sau sẽ xuất hiện các loại vi khuẩn khác nhau, lúc đó người ta có thể biến nước thải này thành điện”.   XH  Theo Wiwo 27.07.2011                                                                         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt nỗ lực quốc tế hóa      Những năm gần đây, quốc tế hóa các tạp chí trong nước hầu như chỉ là “cuộc đua” của những tạp chí thuộc các cơ sở nghiên cứu mạnh, nhiều tiềm lực tài chính. Từ rất sớm, tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt đã nỗ lực quốc tế hóa bằng việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế mặc dù tiềm lực tài chính hạn chế.      Đại học Đà Lạt.   Từ hội nhập khu vực tới quốc tế: Một chiến lược rõ ràng  Theo nhiều nhà khoa học, thì việc theo đuổi mục tiêu quốc tế hóa các tạp chí trong nước không phải là khó, mà là… rất khó, bởi nhìn vào tất cả các yếu tố để đạt chuẩn quốc tế, sẽ thấy dường như đều… chỉ dành cho những đơn vị mạnh và có uy tín quốc tế từ lâu (mà thậm chí nhiều cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học lớn ở Việt Nam chưa chắc đã thực hiện được). Ý thức rõ ràng về điều đó, Tạp chí Khoa học Đại học (KH ĐH) Đà Lạt đã đặt ra chiến lược rõ ràng, bền bỉ, kiên trì trong việc theo đuổi, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế cũng như xây dựng uy tín “từng bước một”. PGS.TS Nguyễn Đức Hòa, Hiệu trưởng trường Đại học Đà Lạt, Tổng biên tập Tạp chí KH ĐH Đà Lạt cho biết: “Sau khi được chỉ mục vào ASEAN Citation Index (ACI)1, trong thời gian tới, chúng tôi đặt mục tiêu được chấp thuận vào Thư mục các tạp chí truy cập mở (Directory of Open Access Journals – DOAJ)2”. Hiện nay Tạp chí KH ĐH Đà Lạt đã đạt được phần lớn các tiêu chí của DOAJ đưa ra, chỉ còn một số tiêu chuẩn rất đặc thù tạp chí đang nỗ lực đạt tới, gồm: chính sách và quy trình phát hiện và xử lý đạo văn; phải có mã số định danh cho các công trình công bố; là thành viên của Ủy ban đạo đức xuất bản quốc tế (COPE). Cụ thể, để đưa ra quy trình xử lý đạo văn, Tạp chí KH ĐH Đà Lạt đã vạch rõ các tiêu chí cụ thể về nguyên tắc minh bạch trong xuất bản, nguyên tắc đạo đức dành cho các thành viên ban biên tập tạp chí để được chấp nhận là thành viên của COPE, đồng thời mua phần mềm phát hiện đạo văn iThenticate để sàng lọc mức độ trùng lặp của các bản thảo (chỉ những bản thảo có tỉ lệ trùng lặp nội dung thấp hơn 30% mới được xem xét đưa vào quy trình bình duyệt của tạp chí).  Và việc lọt vào ACI hay tới đây là DOAJ chưa phải là mục tiêu cuối cùng của Tạp chí KH ĐH Đà Lạt, mà chỉ là những bước đi đầu tiên cho một chiến lược nâng cấp tạp chí đạt chuẩn của SCOPUS dựa trên một lộ trình bốn bước, theo chu trình PDCA: Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Hành động để cải tiến liên tục. (Xem hình 1).    Hình 1: Lộ trình quốc tế hóa của Tạp chí KH ĐH Đà Lạt. Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn.  Những nỗ lực trên không chỉ đáp ứng việc gây dựng, bồi đắp uy tín, “chỗ đứng” cho tạp chí mà còn là một phần trong chiến lược khẳng định vị thế của nhà trường. “Đại học là phải truyền bá tri thức thông qua các ấn phẩm xuất bản, các hội thảo, mà việc xuất bản đó phải được công nhận đạt chuẩn quốc tế chứ không thể ‘con hát mẹ khen hay’, chỉ đăng các bài của ‘người nhà’ được. Tới đây, việc nâng cấp tạp chí tiếp cận chuẩn Scopus không chỉ phù hợp với xu thế hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam, mà còn góp phần đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ mới trong giai đoạn phát triển, quốc tế hóa trường Đại học Đà Lạt, trở thành một trường đại học mang tầm khu vực Đông Nam Á”, PGS.TS Nguyễn Đức Hòa nói.      “Những gì chúng tôi đang nỗ lực, giống như chạy bộ trên quãng đường marathon vậy”, TS. Nguyễn Văn Tuấn.      Chạy bộ hay đi xe máy?  Dù có ý tưởng, có quy trình, nhưng tạp chí vẫn đứng trước rất nhiều thách thức. Trong đó, khó khăn lớn nhất chính là gây dựng uy tín quốc tế và kêu gọi được nhiều nhà khoa học tham gia viết bài cho tạp chí. “Thông thường các nhà khoa học lớn sẽ chọn tạp chí top đầu để đăng các bài tốt nhất của họ, mà ít khi chú ý đến các tạp chí chưa có tên tuổi. Mà một khi chưa có bài tốt để đăng thì tạp chí khó có uy tín, vòng luẩn quẩn sẽ lại tiếp diễn”, TS. Nguyễn Việt Cường, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận xét.  Trong bối cảnh đó, trước hết, tạp chí “tận dụng” các hội thảo quốc tế do trường Đại học Đà Lạt phối hợp với các đối tác quốc tế tổ chức, để tuyển chọn các báo cáo có chất lượng từ trong hội thảo và tiếp tục mời các nhà khoa học đã tham gia hội thảo đó tiếp tục viết bài cho tạp chí. Đây cũng là cách làm thông thường của nhiều đại học ở nước ngoài, tức là, sau khi tổ chức hội thảo quốc tế, đơn vị tổ chức hội thảo có thể sẽ công bố các bài viết trên tạp chí của đơn vị đó hoặc xuất bản một cuốn sách, in ở một nhà xuất bản uy tín, theo GS.TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. Thông qua nhiều hội thảo, cũng như mối quan hệ quen biết này, tạp chí và nhà trường sẽ gây dựng được mạng lưới quốc tế dày dặn, quảng bá được hình ảnh của mình tốt hơn. Đầu năm 2018, Tạp chí KH ĐH Đà Lạt đã xuất bản được số Kinh tế và quản lý bằng tiếng Anh vào quý I, với sự hỗ trợ của hai biên tập viên khách mời đến từ Seattle University và Colorado State University, Hoa Kỳ.  Công việc tiếp theo, “nâng chuẩn hội đồng của tạp chí”, mà theo tiêu chí của Scopus “Hội đồng biên tập phải là các nhà khoa học có uy tín quốc tế và thẩm quyền học thuật quốc tế” cũng không dễ dàng. Đến nay, Tạp chí KH ĐH Đà Lạt có bảy thành viên là nhà khoa học Hội đồng Khoa học ngành/liên ngành của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Nafosted và năm nhà Khoa học nước ngoài tham gia vào hội đồng biên tập của các chuyên san. Các thành viên Hội đồng biên tập của Tạp chí tham gia vào quy trình thẩm định và bình duyệt bài cho tạp chí một cách thực chất chứ không chỉ là “góp mặt đặt tên”. Nhưng mở rộng hội đồng này là không dễ dàng, nên TS. Nguyễn Văn Tuấn, phụ trách văn phòng tạp chí đã đi gặp những nhà khoa học trẻ có nhiều công bố trên các tạp chí hàng đầu và có mối quan hệ quốc tế như TS. Nguyễn Việt Cường, TS. Trần Quang Tuyến, (ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) ở phía Bắc hoặc TS. Võ Xuân Vinh, ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh tham gia biên tập, phản biện, từ đó tạo mạng lưới, mời các nhà khoa học nước ngoài có uy tín cùng viết bài hoặc phản biện cho chuyên san Kinh tế và Quản lý (Chuyên san này cùng với Chuyên san Khoa học Tự nhiên và Công nghệ được Tạp chí “nhắm” đưa vào Scopus trước, vì không thể phân tán nguồn lực đưa cả ba chuyên san “cùng tiến”, mà chỉ có thể tập trung vào hai chuyên san đang có thế mạnh).      Để khuyến khích các tạp chí Việt Nam phấn đấu từng bước nâng cao chất lượng theo chuẩn quốc tế, cần có sự phân biệt rõ ràng về hệ số điểm quy đổi cho các bài báo công bố trên các tạp chí được chỉ mục trong các hệ thống trích dẫn khoa học uy tín khác ngoài ISI và Scopus, như ACI, DOAJ hay Hệ thống VCI (Vietnam Citation Index) mà Việt Nam đang xây dựng.      “Những gì chúng tôi đang nỗ lực, giống như chạy bộ trên quãng đường marathon vậy”, TS. Nguyễn Văn Tuấn nhìn nhận về quá trình xây dựng tạp chí định hướng chuẩn quốc tế. Quả thật, Tạp chí KH ĐH Đà Lạt dám bước chân vào “cuộc chơi” quốc tế hóa bằng “chân đất” bởi nguồn tài chính của Nhà trường rất hạn chế. Nguồn nhân lực của Văn phòng tạp chí chỉ vỏn vẹn có hai giảng viên kiêm nhiệm và phòng làm việc được bố trí từ năm 2017. Trong năm 2018, Nhà trường đã cố gắng thu xếp để cấp kinh phí mua phần mềm iThenticate cho Tạp chí, nhưng cũng là “gói” nhỏ nhất, kiểm tra được chưa đầy 200 bài báo.    Ba chuyên san của Tạp chí KH ĐH Đà Lạt.  Đích đến trên con đường chạy marathon này sẽ được kéo lại gần hơn nếu có phương tiện – mà TS. Tuấn ví như có thêm xe máy – tức là kết nối và hợp tác được với những nhà xuất bản có uy tín như Wiley, Elsevier, hoặc Spinger, từ đó được phía đối tác hỗ trợ công đoạn biên tập và xuất bản trên các cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế như sciencedirect. “Cách làm này sẽ rút ngắn thời gian vào Scopus. Nhưng chúng tôi không có khả năng tài chính, mà chỉ có hai cách: một là xây dựng đề án xin ngân sách, hai là kêu gọi xã hội hóa. Chúng tôi cũng đang nỗ lực kêu gọi. Nhưng dù có đi bộ hay được sử dụng phương tiện xe máy thì chúng tôi vẫn sẽ đi và tới đích. Vấn đề là nhanh hay chậm mà thôi”, TS. Nguyễn Văn Tuấn nói.  Những quy định “cào bằng”  Quốc tế hóa không phải chỉ là nỗ lực đơn lẻ của Tạp chí KH ĐH Đà Lạt, hiện nay Bộ GD&ĐT và Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) đã có định hướng về mặt quản lý. Ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã kết luận tại Kỳ họp thứ V HĐCDGSNN, “cần tiếp tục chú ý việc nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học để có nhiều tạp chí khoa học của Việt Nam có tên trong các hệ thống ISI, Scopus, ACI”. Nhưng các quy định hiện hành trong việc đánh giá, tính điểm các tạp chí vẫn còn ở tình trạng “cào bằng” chứ chưa tạo ra được cơ chế khuyến khích “cạnh tranh”. Cụ thể, theo các quy định về tính điểm công trình khoa học quy đổi hiện hành và kể cả dự thảo mới nhất về tiêu chuẩn chức danh GS, PGS, những bài báo được đăng trên các tạp chí chỉ mục trong Hệ thống ISI được tính từ 2,0 đến 3,0 điểm; chỉ mục trong Scopus được tính từ 1,0 đến 2,0 điểm, các tạp chí còn lại được tính tối đa 1,0 điểm. Quy định này, vô hình trung, đã đánh đồng tất cả các tạp chí còn lại và triệt tiêu động lực của các tạp chí khoa học Việt Nam trong việc đổi mới và từng bước nâng cao chất lượng theo hướng tiệm cận các chuẩn mực của hệ thống trích dẫn khu vực (như ACI) và quốc tế (như DOAJ hay IEExplore…), trước khi hội đủ các tiêu chuẩn lọt vào ISI và Scopus.  Do vậy, có giải pháp nào có thể hỗ trợ các tạp chí một cách thiết thực? “Để khuyến khích các tạp chí Việt Nam phấn đấu từng bước nâng cao chất lượng theo chuẩn quốc tế, thiết nghĩ cũng cần có sự phân biệt rõ ràng về hệ số điểm quy đổi cho các bài báo công bố trên các tạp chí được chỉ mục trong các hệ thống trích dẫn khoa học uy tín khác ngoài ISI và Scopus, như ACI, DOAJ hay Hệ thống VCI (Vietnam Citation Index) mà Việt Nam đang xây dựng”, TS. Nguyễn Văn Tuấn kiến nghị.  —  Chú thích:  1 ACI là một cơ sở dữ liệu các tạp chí khoa học cho toàn bộ khu vực ASEAN, làm cầu nối giữa các trung tâm trích dẫn quốc gia của các nước thành viên ASEAN với các hệ thống trích dẫn khoa học quốc tế như ISI hay SCOPUS. ACI có chức năng lưu trữ, tìm kiếm bài báo và trích dẫn, giúp phân loại và đánh giá chất lượng tạp chí khoa học của các nước ASEAN. Để được chấp thuận chỉ mục trong cơ sở dữ liệu này, các tạp chí khoa học cần phải đạt được bốn tiêu chuẩn sơ loại và mười tiêu chuẩn xét duyệt, tiệm cận với các tiêu chuẩn của hệ thống Scopus.  2 DOAJ được thành lập vào năm 2003 với khoảng 10.000 tạp chí (truy cập mở) có uy tín trên thế giới, thuộc tất cả các lĩnh vực khoa học tự nghiên và công nghệ, y học, khoa học xã hội và nhân văn. DOAJ có các yêu cầu nghiêm ngặt về quy trình nhận bài, bình duyệt, biên tập, xuất bản, và vấn đề đạo đức trong xuất bản các công trình khoa học.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Tắt tiếng khi hội ngộ      Không nói nên lời trong giây phút đoàn viên không hẳn lúc nào cũng vì xúc động. Đau họng hay khản tiếng sau chuyến bay là điều không mấy xa lạ với nhiều hành khách. Lý do không có gì khó hiểu. Độ ẩm trong máy bay rất thấp, thường không đến 10% (trong khi bầu không khí trên mặt đất có độ ẩm trung bình là 45-60%).    Không nói nên lời trong giây phút đoàn viên không hẳn lúc nào cũng vì xúc động. Đau họng hay khản tiếng sau chuyến bay là điều không mấy xa lạ với nhiều hành khách. Lý do không có gì khó hiểu. Độ ẩm trong máy bay rất thấp, thường không đến 10% (trong khi bầu không khí trên mặt đất có độ ẩm trung bình là 45-60%). Hậu quả là niêm mạc cổ họng dễ bị khô. Thêm vào đó là lượng vi khuẩn chực chờ trong môi trường đông đúc hành khách, hay đám vi trùng núp kín trong lưới lọc của hệ thống máy lạnh. Chuyến bay càng dài thì xác suất viêm họng càng cao. Đáng tiếc là chưa thấy công ty du lịch nào phát kẹo ngậm trị đau cổ cho khách hàng.  Thay vì trông mong vào thái độ biết điều của họ, khách du hành có thể tự bảo vệ sức khỏe nếu quán triệt một số biện pháp tương đối đơn giản, như:      *        Uống nước nhiều hơn bình thường, thậm chí đến 3 lít trong suốt chuyến bay kéo dài hơn 8 giờ. Nếu được nước trái cây pha loãng là tốt nhất. Nhưng cũng đừng quên đi tiểu để tránh gánh nặng cho trái tim, đặc biệt ở người có vấn đề với tĩnh mạch chi dưới.      *        Uống nhiều nước nhưng không nên dùng nước có ga để tránh trường hợp đầy hơi vốn dễ bộc phát khi ở trên cao. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa cho người có đường tiêu hóa quá nhạy cảm và tất nhiên cũng không lấy gì làm thoải mái cho người lân cận.      *        Mang theo chai xịt có chứa nước muối pha loãng 5%. Xịt vào cổ họng mỗi giờ, hay thậm chí mỗi nửa giờ, một lần.      *        Tránh ngậm kẹo thông cổ mà không uống ly nước lớn sau đó, vì chính hoạt chất trong kẹo sẽ làm khô cổ họng.      *        Cố gắng ngủ nhiều trong chuyến bay vì giấc ngủ chính là nhân tố lý tưởng để cơ thể tổng hợp kháng thể trong môi trường dễ bội nhiễm.      *        Nếu dùng thuốc chống say thì đừng uống rượu, dù không dễ cầm lòng trên máy bay, vì tình trạng “lơ tơ mơ” lại là điều kiện thuận lợi cho hoạt tính của vi khuẩn.   Lạc giọng khi hạ cánh cũng có thể không vì đau họng mà do nhăn nhó sau cơn chuột rút. Kinh nghiệm đau thương này không hiếm thấy ở người có vấn đề với mạch máu chi dưới mà phải bó gối quá lâu.  Bệnh nào cũng có thuốc. Muốn tránh cảnh “muốn bước tới mà chân cứ như không nỡ rời mặt đất” thì đừng quên:      *        Chọn khẩu phần có nhiều rau quả trước và trong chuyến bay để dự trữ khoáng tố vôi, kalium, magnesium…      *        Tránh mặc quần áo quá chật trong suốt chuyến du hành. Cơ thể cần thở cho dễ trong môi trường vốn thiếu dưỡng khí.      *        Cởi giày, kê chân cao, thể dục ngón chân, xoa bóp bàn chân, đặc biệt là lòng bàn chân, đi lại ít bước mỗi giờ khi máy bay còn trên mây.      *        Dùng thuốc có sinh tố E, thí dụ 400mg mỗi ngày trong 3 ngày liên tục, trước, trong và sau chuyến đi để giữ độ loãng lý tưởng cho dòng máu.   Thói quen thoa dầu (như dầu bạc hà…) trên lòng bàn chân, nơi có nhiều huyệt đạo với tác dụng hưng phấn sức đề kháng, theo các nhà nghiên cứu về Y tế du lịch, còn có lợi điểm là giúp hành khách tự điều trị tình trạng mệt mỏi, bứt rứt, nặng đầu, khó ngủ… do khác biệt về giờ giấc khi đến nơi.  Các biện pháp vừa kể chỉ không hữu ích trong một trường hợp. Đó là khi khách viễn du bỗng buồn chán vì… nhớ nhà!  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu chạy bằng năng lượng mặt trời      Ngày 8-5, tàu Sun21 của Thụy Sĩ đã hoàn tất cuộc hành trình đầu tiên vượt Đại Tây Dương hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời.  Khởi hành từ cảng Chipiona, Tây Ban Nha, tàu Sun21 đã trải qua cuộc hành trình kéo dài 6 tháng, vượt qua chặng đường dài 13.000 km, qua đảo Martinique thuộc vịnh Caribbean, sau đó chạy dọc theo bờ biển phía Đông của Mỹ trước khi kết thúc cuộc hành trình tại cảng North Cove Marina, thành phố New York, Mỹ.    Công ty Xuyên Đại Tây Dương 21, đơn vị quản lý tàu Sun21, cho biết trong suốt hành trình, tàu đã sản xuất được 2.000 kW năng lượng mặt trời nhờ các tấm quang điện được lắp trên nóc tàu. Nguồn năng lượng này được sử dụng để cung cấp điện cho các động cơ chạy tàu. Phần còn thừa được nạp vào pin dự trữ, nhờ đó tàu duy trì được vận tốc liên tục khoảng 10-12km/giờ.  Thuyền trưởng Michael Thonney cho biết cuộc hành trình vượt Đại Tây Dương của tàu Sun21 đã kết thúc tốt đẹp. Điều này cho thấy con người có thể đi du lịch vòng quanh thế giới bằng tàu thủy không tốn kém và an toàn cho môi trường.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu con thoi Atlantis hạ cánh an toàn tại bang California      Phi thuyền Atlantis mang theo 7 phi hành gia đã hạ cánh an toàn tại bang California vào lúc 3 giờ 49 phút chiếu theo giờ địa phương ngày hôm qua 22.6 sau khi bộ phận kiểm soát dưới mặt đất thay đổi địa điểm đáp vì lý do mây mù và mưa dông tại Trung tâm không gian Kennedy ở bang Florida.    Phi hành gia Rick Sturckow, chỉ huy chuyến bay cùng toàn thể phi hành đoàn trong bộ đồng phục màu cam xuất hiện sau cánh cửa của tàu Atlantis với vẻ mặt hân hoan trong ngày trở về tuy có hơi mệt. Trong số họ có nữ phi hành gia Sunita “Sunni” Williams, người đã đạt kỷ lục 195 ngày trên trạm không gian.   Tàu Atlantis đã có 3 cơ hội để hạ cánh tại căn cứ không quân Edwards, bang California vào ngày hôm qua 22.6 với lần cuối là vào lúc 6 giờ 59 phút tối. Nếu vì lý do thời tiết mà tàu Atlantis không thể hạ cánh được, nhóm chỉ huy mặt đất sẽ thực hiện lại vào ngày hôm nay 23.6 với phương án hạ cánh dự phòng tại bang New Mexico. Theo kế hoạch ban đầu, địa điểm hạ cánh là Trung tâm không gian Kennedy với chi phí rẻ hơn và dể dàng hơn để đưa tàu Atlantis vào nhà sửa chữa và bảo trì để chuẩn bị cho chuyến bay kế tiếp vào tháng 12 sắp tới. Việc hạ cánh tại California làm tăng chi phí thêm 1,7 triệu USD và mất thêm 10 ngày để thuê một chiếc Boeing 747 “cõng” nó về nhà ở Florida.  Thời gian dự định cho hành trình lần này của phi thuyền Atlantis là 11 ngày nhưng sau đó được kéo dài thêm 2 ngày để các phi hành gia có thời gian sửa chữa một chiếc mền cách nhiệt đã bị hỏng vào thời điểm xuất phát hôm 8.6. Phi hành gia Danny Olivas đã đóng nó lại và đưa về vị trí cũ trong buổi đi bộ ngoài không gian. Một ngày nữa đã được bổ sung vào quỹ đạo của tàu Atlantis sau khi thời tiết tại Florida làm thay đổi kế hoạch hạ cánh tại đây.     Vĩnh Bảo (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu con thoi đầu tiên khởi hành trong năm      7 nhà du hành đã lên đường cùng tàu Atlantis tới Trạm vũ trụ quốc tế, đang nằm trên quỹ đạo trái đất, để tiếp tục việc lắp đặt trạm.    Tàu con thoi Atlantis xuất phát từ trung tâm vũ trụ Kennedy ở Florida, Mỹ, là tàu con thoi đầu tiên được NASA phóng trong năm nay. Chuyến trước đó là vào tháng 12 năm ngoái.  Nhiệm vụ của các thành viên Atlantis là đặt nền và đường dây điện cho mô đun Columbus của châu Âu, dự kiến lắp vào Trạm cuối năm nay. Họ cũng sẽ lắp 2 tấm pin mặt trời mới.  NASA dự kiến sẽ bay thêm 15 chuyến tàu con thoi nữa tới Trạm quốc tế, cung cấp các thiết bị lớn cũng như đồ tiếp tế. Họ hy vọng sẽ hoàn tất việc lắp đặt trạm trước thời hạn nghỉ hưu của loạt tàu con thoi, vào năm 2010.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu con thoi Discovery bay đêm      8 giờ 47 phút sáng qua (8 giờ 47 phút tối 9.12, giờ Mỹ), tàu vũ trụ Discovery đã được phóng thành công từ Trung tâm không gian Kennedy, mũi Canaveral, Florida (ảnh). Đây là lần đầu tiên NASA phóng tàu con thoi vào ban đêm kể từ 4 năm trở lại đây.    Phi hành đoàn trên tàu Discovery bao gồm 7 thành viên, sẽ làm việc 12 ngày trên quỹ đạo. Nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là kết nối tàu với hệ thống phát điện của Trạm không gian quốc tế (ISS) để thay thế một hệ thống năng lượng hoạt động từ năm 1998.  Dự kiến các phi hành gia sẽ có 2 lần ra ngoài tàu để thực hiện các thao tác kiểm tra. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên, một công dân Bắc Âu (quốc tịch Thụy Điển) – Christer Fugelsang, bay vào không gian. Kết thúc chuyến công tác này, theo nguyên tắc luân phiên, phi hành gia Mỹ Sunita Williams sẽ ở lại ISS để tàu Discovery đưa về trái đất phi hành gia người Đức Thomas Reiter, đã sống trên quỹ đạo 5 tháng rưỡi cùng 2 đồng nghiệp khác.   Vạn Lý (theo DPA)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu đệm từ Nhật lập kỷ lục vận tốc      Thông báo của Công ty Đường sắt Trung ương Nhật Bản (Central Japan Railway Co., JR Central) cho biết: Ngày 16/4 vừa qua, một đoàn tàu đệm từ của công ty khi thử chạy có chở khách trên đoạn đường thí nghiệm đã đạt vận tốc 590 km/h, phá kỷ lục thế giới 581 km/h do chính đoàn tàu này lập năm 2003.  &#160;    Đoàn tàu đệm từ gồm bảy toa chạy thử trên đoạn đường sắt ở huyện Yamanashi, trên tàu chở 29 cán bộ kỹ thuật, trong quá trình chạy đã giữ được vận tốc tối đa trong thời gian 19 giây.   Chưa đầy một tuần sau, ngày 21/4, tàu ðệm từ bảy toa nói trên lại tiếp tục chạy thử và đạt vận tốc kỷ lục mới là 603 km/h – tức nhanh hơn vận tốc của một số máy bay thương mại – và duy trì được vận tốc đó trong gần 11 giây. Khi chạy, ðoàn tàu được nâng lên cách mặt đường 10 cm.   Hiện nay JR Central đang gấp rút chuẩn bị để từ năm 2027 bắt đầu vận hành tàu đệm từ chở khách trên tuyến đường sắt dài 286 km nối Tokyo với Nagoya. Chi phí xây dựng tuyến đường này lên tới 5.520 tỷ Yen (47 tỷ USD); phí tổn cao chủ yếu là do 80% chiều dài tuyến đường phải đi trong hầm. Hai kỷ lục kể trên đều đạt được trong quá trình chuẩn bị này. Khi tuyến đường hoàn thành, các đoàn tàu sẽ chạy với vận tốc tối đa 505 km/h trong thời gian 40 phút, so với 95 phút đi tàu cao tốc chạy điện hiện nay.   JR Central cũng hy vọng nãm 2045 sẽ chạy tàu đệm từ trên tuyến Tokyo-Osaka với thời gian chỉ còn 1 giờ và 7 phút, bớt được nửa thời gian so với tàu cao tốc Shinkansen hiện nay.              Ngày 14/4, JR Central còn lập kỷ lục thế  giới về hành trình chạy được trong một ngày của tàu đệm từ là 4.064 km,  vượt xa kỷ lục 2.876 km do JR Central lập năm 2003.            Tàu đệm từ (Maglev trains) dựa trên công nghệ nâng-nổi (levitation technology), sử dụng lực từ trường nâng đoàn tàu lên cách mặt đường ray một cự ly nhỏ (1-10 cm), và di chuyển tàu chạy trên tuyến đường dẫn hướng (guideway track). Do không có ma sát với mặt đường nên tàu có thể chạy rất nhanh và êm. Nước Đức đi đầu thế giới về nghiên cứu tàu đệm từ nhưng chưa đưa vào khai thác. Trung Quốc đã nhập từ Đức một tàu đệm từ năm toa và khai thác từ tháng 1/2003 tới nay trên đoạn đường đôi trên cao dài 33 km nối thành phố Thượng Hải với sân bay Phố Đông. Đoàn tàu này chở được 240 khách, vận tốc tối đa từng đạt 430 km/h, hành trình tám phút (đi taxi mất 30 phút), giá vé 50 NDT (8 USD). Đây là tàu đệm từ đầu tiên và duy nhất đã khai thác trên thế giới. Tuy nhiên, tuyến đường này đang bị lỗ (đầu tư 480 triệu USD) và bị dư luận Trung Quốc lên án vì bức xạ điện từ và tiếng ồn lớn ảnh hưởng tới sức khỏe dân hai bên đường.  Hiện Mỹ đang thi công một tuyến đường sắt cao tốc nối San Francisco với Los Angeles và dự kiến bắt đầu khai thác chạy tàu với vận tốc 320 km/h từ năm 2029. JR Central hy vọng sẽ xuất khẩu được công nghệ tàu đệm từ của mình cho tuyến đường này.  N.H tổng hợp        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu Discovery hạ cánh an toàn      Hôm qua, tàu không gian Discovery mang 7 phi hành gia đã hạ cánh an toàn xuống Trung tâm Không gian Kennedy tại Florida (Mỹ). Lẽ ra, tàu Discovery đã hạ cánh sớm hơn dự kiến nhưng thời tiết xấu đã khiến các nhà điều hành mặt đất không xác định được thời điểm cũng như địa điểm hạ cánh thích hợp.    Cuối cùng, chỉ mất không đầy 1 giờ đồng hồ từ lúc Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) ra lệnh đến lúc Discovery thực sự đáp xuống Florida. Sở dĩ các nhà điều hành ở NASA phải ra quyết định vội vã như thế vì tàu Discovery buộc phải trở về trái đất vào hôm qua, nếu không nhiên liệu sẽ cạn. Lẽ ra tàu Discovery có nhiều thời gian để hạ cánh nhưng vì các phi hành gia đã thực hiện thêm một cuộc đi bộ ngoài không gian để gỡ thiết bị năng lượng mặt trời bị kẹt trên Trạm không gian quốc tế (ISS). Sự trở về của tàu Discovery đánh dấu một năm nỗ lực của NASA nhằm đưa kế hoạch xây dựng ISS đúng tiến độ. Sau chuyến đi thành công này, NASA lên kế hoạch phóng 5 phi thuyền vào năm 2007, trong đó sớm nhất là chuyến đi của tàu Atlantis vào tháng 3 năm tới.  T.M (BBC, AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu hỏa đầu tiên chạy bằng diesel sinh học      Chiếc tàu đầu tiên của châu Âu này sẽ hoạt động ở Dorset (Anh) trong nỗ lực giúp ngành đường sắt thân thiện hơn với môi trường.    Tàu hỏa mang tên Virgin Voyager sẽ được sử dụng trên tuyến Weymouth tới Waterloo trong thử nghiệm kéo dài 6 tháng, và hành khách sẽ không thấy có gì khác biệt so với tàu hỏa thông thường.  Virgin sử dụng nhiên liệu hỗn hợp chứa 20% diesel sinh học, là sản phẩm hợp tác giữa Hiệp hội các công ty đường sắt và Uỷ ban tiêu chuẩn và an toàn đường sắt Anh.  Nếu thành công, chiếc tàu sẽ chuyển sang sử dụng 100% nhiên liệu mới, giúp cắt giảm 14% lượng khí nhà kính CO2.  Chủ tàu, ông Richard Branson, cho biết sự hoán cải sang Voyager, nếu thử nghiệm thành công, sẽ tương đương với việc rút 23.000 chiếc xe hơi ra khỏi đường phố một năm.  T. An (theo thisisdorset.net)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu lửa tốc hành chỉ nên đạt tốc độ tối đa 250 km/giờ      Cơn sốt tốc độ cao đối với loại phương tiện  vận tải đường sắt đã qua: ngành đường sắt Đức giờ đây hài lòng khi thế  hệ tầu tốc hành mới ICE đạt tốc độ cao nhất là 250 km/h, một xu hướng  chung đang diễn ra trong lĩnh vực giao thông đường sắt trên thế giới.    Các hãng sản xuất ô tô hạng sang của Đức đã làm gương trên lĩnh vực tốc độ: xe ô tô chạy trên đường cao tốc chỉ cần đạt tốc độ tối đa 250 km/h, vượt quá tốc độ này sẽ bị xử lý bằng điện tử. Giờ đây mức 250 km/h cũng được coi là tốc độ tối đa cần đạt của ngành giao thông đường sắt, chí ít là đối với các hãng chế tạo đầu tàu ở Châu Âu như Siemens và Bombadier.  Trong bảng xếp hạng về sự kết nối giữa các thành phố với nhau bằng đường sắt thì năm 2005, với hệ thống tầu ICE chạy với tốc độ bình quân là 230 km/h, Đức xếp hạng thứ 4 và sau 8 năm tụt xuống hạng thứ 8 xét về tốc độ chạy tàu. Tàu TGV cải tiến của Pháp năm 2007 đã đạt tốc độ kỷ lục thế giới là 575 km/h. Từ năm 2010, Trung Quốc có siêu tàu hoả chạy thường xuyên trên tuyến đường Thượng Hải – Hàng Châu đạt tốc độ 486 km/h.   Tuy nhiên sự xếp hạng kiểu này thực chất chỉ có ý nghĩa về thể diện chứ không có ý nghĩa đáng kể trong việc vận chuyển hành khách hàng ngày. Riêng với nước Đức thì các tàu ICE thường chỉ chạy độ 70 đến 75 km/h là đến nhà ga kế tiếp, vì thế chi phí để đạt được tốc độ kỷ lục hoàn toàn không cân xứng với việc tiết kiệm được thời gian.   Theo phát ngôn viên của ngành đường sắt, ở Đức việc đạt tốc độ tối đa giữa hai lần dừng tàu hầu như không giảm được thời gian bao nhiêu. Khi đóng tàu mới, ngành đường sắt Đức quan tâm nhiều hơn tới việc tăng tốc khi tầu xuất phát, vì qua đó tiết kiệm được nhiều thời gian hơn. Hơn nữa, giảm tốc độ đồng nghĩa với giảm mạnh tiêu hao năng lượng- đồng thời giảm sự ăn mòn hệ thống bánh xe, đường ray, cũng như đường dây trên cao.  Ngay cả ông Lutz Breitling, giám đốc kỹ thuật của Bombardier, cũng tìm cách thay đổi sự sùng tốc độ của Châu Á. Hiện nay ở Châu Á, tốc độ 330 km/h được coi là có hiệu quả kinh tế và là giới hạn hợp lý.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu New Horizons quan sát những tia chớp trên bề mặt sao Mộc      Tàu thăm dò New Horizons của NASA đã ghi nhận những tia chớp trên bề mặt sao Mộc trong khi quan sát bầu khí quyển rối loạn trên hành tinh lớn nhất của hệ Mặt Trời này.      Tàu New Horizons cũng đã chụp ảnh những vành đai nhỏ của sao Mộc và một cơn bão lớn khi đang lướt qua hành tinh này trước khi tiến đến sao Diêm Vương. Các bức ảnh đặc biệt tiết lộ 6 tia chớp ở vùng cực Bắc của sao Mộc và 7 tia chớp ở vùng cực Nam. Những tia chớp này mạnh gấp 10 lần so với ở Trái Đất.   V.S (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu Phoenix hé lộ những bí mật trên sao Hỏa      Sau 3 tuần hạ cánh xuống cực Bắc sao Hỏa, tàu thăm dò Phoenix của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã thu thập và phân tích các mẫu đất, đá mà kết quả có thể hé mở phần nào về hàng triệu năm tồn tại của hành tinh đỏ.    Các nhà khoa học cho biết có khả năng tàu Phoenix cũng đã định vị được lớp băng mà họ nghi ngờ đóng vĩnh cửu bên dưới lớp đất bề mặt sao Hỏa và đang trong quá trình ghi lại và truyền về Trái đất toàn cảnh khu vực xung quanh vị trí tàu hạ cánh. Qua các hình ảnh đó, người ta có thể nhìn thấy đá và những ngọn đồi bị bụi che mờ. Cánh tay máy dài 2 mét của tàu Phoenix đã khoan sâu xuống vùng đất xung quanh nhằm lấy các mẫu đất để phân tích và đã phát hiện ra một bề mặt sáng với độ dày từ 5 đến 6 cm dưới lòng đất mà các nhà khoa học NASA nghi là băng. Các nhà khoa học đang khảo sát khả năng có thể có lớp muối trên mặt lớp băng vì bề mặt sao Hỏa quan sát từ mặt đất rất trắng và sáng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu sân bay trên trời      Mạng spacenews.com ngày 6/8/2015 đưa tin:  tại cuộc hội thảo NewSpace 2015, Chuck Beames, Chủ tịch công ty Vulcan  Aerospace, cho biết công ty ông đang nghiên cứu những phương tiện có khả  năng phóng được một chiếc máy thuộc loại máy bay lớn chưa từng thấy.      Chiếc máy bay nói trên có tên là Tàu sân bay Stratolaunch (Stratolaunch Carrier), nó đang được lắp ráp tại Cảng Hàng không vũ trụ Mojave ở California và dự kiến sẽ bay thử nghiệm lần đầu vào năm 2016. Sải cánh của nó dài 117 m, tức hơn 37 m so với sải cánh của chiếc Airbus A380, máy bay chở khách lớn nhất thế giới hiện nay. Nếu đặt nó lên một sân bóng đá thì đầu và cánh của nó sẽ vượt qua ngoài ranh giới sân bóng khoảng gần 5m mỗi bên.    Dự án nói trên dựa trên ý tưởng dùng chiếc máy bay này làm thành một tấm đệm khí khổng lồ trên bầu trời, từ đó phóng các vật thể vào không gian vũ trụ với tốc độ nhanh hơn và chi phí thấp hơn so với công nghệ hiện có (là phóng từ mặt đất).    Máy bay Stratolaunch là đứa con tinh thần của tỷ phú Paul Allen, đồng sáng lập Microsoft, Giám đốc Vulcan Aerospace, và Burt Rutan, nhà sáng lập Composites Scaled. Năm 2011, Allen cùng với một số đối tác, trong đó có Elon Musk, lên kế hoạch chế tạo loại máy bay khổng lồ nói trên.    “Mọi việc đang tiến triển đúng hướng,” Beames nói. Công ty dự kiến đầu năm 2016 sẽ trình làng chiếc Stratolaunch Carrier đầu tiên và từ giữa năm sẽ bắt đầu bay thử nghiệm.  Ông bác bỏ những lo ngại cho rằng Stratolaunch có kích thước quá lớn để phóng những vệ tinh nhỏ. “Mặt tốt của việc có một chiếc máy bay như giai đoạn đầu tiên [của quá trình phóng tên lửa] là ở chỗ nó rẻ hơn nhiều so với tầng đầu tiên của chiếc tên lửa mà bạn vứt đi,” ông nói. “Thật ngu ngốc khi nghĩ rằng chúng tôi đã chế tạo chiếc máy bay lớn quá mức.”    Paul Allen giải thích, việc chế tạo máy bay Stratolaunch không nhằm mục đích được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness. Mục tiêu chính của nó là thực hiện sứ mạng đem những tên lửa có chứa vệ tinh lên bầu trời rồi thả chúng ra để chúng tự động bay vào quỹ đạo, thay vì phải phóng chúng từ mặt đất. Máy bay Stratolaunch có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Nó sẽ làm cho việc mang vệ tinh lên quỹ đạo trở nên khá dễ dàng và ít tốn kém. Allen phê bình chương trình thám hiểm vũ trụ do Chính phủ Mỹ cấp kinh phí đang bị sút giảm.     Tàu sân bay Stratolaunch được chạy bằng sáu động cơ loại 747. Nó có thể bay lên tới độ cao 30.000 feet (tương đương 9,14 km) và từ đó phóng một tên lửa, nhờ thế đỡ phải tiêu hao một lượng nhiên liệu lớn rất tốn kém khi phóng tên tửa từ mặt đất. Stratolaunch có thể phóng vệ tinh nặng tới 6.124 kg lên quỹ đạo có độ cao từ 180 đến 2000 km vòng quanh trái đất. Nó cũng có thể phóng được tàu vũ trụ Dream Chaser.    Stratolaunch Systems lấy cảm hứng từ tàu vũ trụ SpaceShipOne từng giành giải thưởng Ansari X trị giá 10 triệu USD (năm 2004), là giải dành cho tàu vũ trụ có người lái do tư nhân tài trợ đầu tiên lên được vũ trụ.    Ng.H tổng hợp    Nguồn:    – http://spacenews.com/stratolaunch-plans-fall-decision-on-launch-vehicle/  -http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3184219/World-s-biggest-plane-launch-2016-Designers-reveal-megaplane-send-astronauts-orbit-using-mini-shuttle.html  -http://www.engadget.com/2015/08/04/largest-plane-in-the-world-stratolaunch-test-flights-2016/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu thăm dò sao Thổ tiếp tục phục vụ thêm 2 năm      Sức hấp dẫn của sao Thổ và các vệ tinh của nó đã “buộc” các nhà thiên văn học phải kéo dài sứ mạng của tàu thăm dò mang tên Quỹ đạo Cassini thêm hai năm nữa.    Thay vì kết thúc sứ mạng vào năm 2008 như kế hoạch ban đầu, tàu Quỹ đạo Cassini sẽ tiếp tục thực hiện “chuyến du hành” trong vũ trụ đến năm 2010.  Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) mới đây cho biết trong hai năm từ 2008-2010, tàu Quỹ đạo Cassini sẽ bay 45 vòng quanh sao Thổ, 26 lần bay phía trên bề mặt vệ tinh lớn nhất của sao Thổ là Titan và 6 lần bay bên trên một vệ tinh nhỏ khác mang tên Encelade.  Tàu Quỹ đạo Cassini thuộc Dự án Cassini-Huygens, là chương tình hợp tác giữa Mỹ và châu Âu nghiên cứu sao Thổ, hành tinh thứ sáu trong Hệ mặt trời, và các vệ tinh của nó. Chương trình này bao gồm tàu Quỹ đạo Cassini do Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) lắp đặt và được phóng lên vũ trụ năm 1997, mang theo máy thăm dò Huygens của Cơ quan vũ trụ châu Âu.  Nhiệm vụ của tàu là chụp ảnh không gian ba chiều của sao Thổ và vệ tinh Titan, xác định thành phần và cấu tạo vật chất của hành tinh, đo từ trường và nghiên cứu sự vận chuyển của bầu khí quyển sao Thổ cũng như bản chất của những đám mây mù xung quanh vệ tinh Titan.  Đầu năm 2005, máy thăm dò Huygens đã hạ cánh xuống bề mặt vệ tinh Titan và truyền về Trái đất những hình ảnh đầu tiên của bề mặt hành tinh này.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu treo đệm từ: Thuốc chữa bệnh ùn tắc cho đô thị?      Hãng SkyTran của Mỹ đề xuất một phương tiện  giao thông theo kiểu tàu treo đệm từ để giảm tải  và thích hợp đối với các thành phố lớn. Hệ thống này gồm nhiều khoang chở hành khách cỡ nhỏ, treo trên một thanh  ray và trượt nhẹ nhàng, hầu như không có ma sát.     Cách đây không lâu, ông Elon Musk, giám đốc điều hành hãng Tesla, đã đề xuất một phương án giao thông mới gây xôn xao dư luận. Ông đưa ra ý tưởng về những cái ống chân không có tên là  “Hyperloops” và hành khách ngồi trong những khoang nhỏ của nó để di chuyển. Theo Musk, đi lại bằng phương tiện này nhanh hơn và xanh hơn so với các phương tiện giao thông hiện nay.   Giờ đây hãng SkyTran của Mỹ đề xuất một phương tiện giao thông theo kiểu tàu treo đệm từ (magnetic levitation) để giảm tải giao thông cho các thành phố lớn. SkyTran gồm nhiều khoang nhỏ chứa hành khách trông như những “viên nang” treo bên dưới đường ray.   Nhờ công nghệ từ tính, SkyTran vận hành nhanh hơn và tiết kiệm năng lượng hơn so với các phương tiện giao thông hiện nay. Hãng chế tạo SkyTran thuộc Cơ quan nghiên cứu vũ trụ của Mỹ NASA, toạ lạc trên khuôn viên của cơ quan này ở Mountain View, California.     Dự kiến khởi công xây dựng tại Tel Aviv vào năm 2016  Sau một số năm phát triển, SkyTran cách đây vài ngày đã công bố về quan hệ đối tác với Israel Aerospace Industries (IAI), công ty sản xuất máy bay của Israel.  Giờ đây SkyTran và IAI dự định xây dựng thí nghiệm tàu treo trên khuôn viên của IAI ở Israel. Nếu thử nghiệm này thành công thì sẽ sớm tiến hành xây dựng một tuyến giao thông công cộng đầu tiên nối vùng ven biển phía tây với điểm tận cùng ở vùng ven biển phía đông của Tel Aviv. SkyTran dự định khởi công vào cuối năm 2016 và sau 24 tháng sẽ hoàn thành tuyến đường dài khoảng 12 km.   Tuy nhiên nhà sản xuất giải thích trên Homepage của mình, trong tương lai gần, SkyTran có thể phủ kín miền trung Israel với tổng chiều dài của mạng lưới đường ray khoảng 200 km.     Mỗi khoang có chỗ cho hai người, và có thể dùng Smartphone để gọi một cách dễ dàng. Khoang tàu sẽ đợi sẵn ở trạm mà hành khách yêu cầu và có thể di chuyển hành khách với tốc độ 70 km/giờ.  Các chuyên gia phát triển cho hay, nếu tuyến đường dài hơn thì khoang có thể chạy với tốc độ cao hơn.   Vậy phương án này được đánh giá như thế nào? Trước hết nghe ra có nhiều triển vọng vì SkyTran được xây dựng dựa trên một công nghệ đã có sẵn. Tuy nhiên ở đây có thể lấy trường hợp tàu đệm từ Transrapid làm gương – tính khả thi kỹ thuật không bảo đảm cho sự thành công của một phương án giao thông.  Ngoài ra còn một vấn đề đang được đặt ra là mỗi khoang tương đối nhỏ của SkyTran chỉ chứa tối đa hai người vậy thì vào giờ cao điểm, vấn đề giao thông sẽ được xử lý ra sao. Một vấn đề nữa còn bỏ ngỏ là các khoang chở người có thể vượt nhau được không.  Rẻ hơn tàu điện ngầm  Nếu như các nhà chế tạo tìm ra các giải pháp cho những vấn đề nói trên thì tàu treo đệm từ có thể khá hấp dẫn, đặc biệt đối với Tel Aviv, nơi nạn ùn tắc giao thông là căn bệnh kinh niên.  Hơn nữa, theo các nhà phát triển thì phương tiện giao thông mới này tiết kiệm năng lượng hơn so với các phương tiện giao thông công cộng khác vì công nghệ đệm từ về nguyên tắc không có ma sát cho nên năng lượng không bị thất thoát.  Nếu các nhà phát triển thực hiện được dự án theo dự toán thì có thể nói dự án này tương đối thuận lợi về giá thành. Dự toán cho tuyến đường SkyTran 12 km khoảng 60 triệu Euro trong khi các nhà quy hoạch giao thông ở Hamburg dự toán chi phí xây dựng mới 1 km đường tàu điện ngầm khoảng 100 triệu Euro – tuy nhiên năng lực vận chuyển của tàu điện ngầm lớn hơn nhiều.   Một khi tuyến đường dầu tiên ở Tel Aviv tỏ ra có hiệu quả đối với việc giảm tải cho giao thông nội đô thì sẽ có một loạt thành phố ở Ấn Độ, Pháp hay Mỹ lên kế hoạch xây dựng tàu treo đệm từ. Tầu treo đệm từ còn một đối thủ cạnh tranh, ít hiện đại hơn về mặt kỹ thuật, đó là các tuyến cáp treo đang được nhiều thành phố trên thế giới lên kế hoạch xây dựng. Đây là đối thủ mà nó phải vượt qua.  Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu tự nghiêng: Lựa chọn tối ưu cho đường sắt khổ hẹp?      Tàu đường sắt khổ hẹp không thể chạy nhanh như tàu đường sắt khổ tiêu chuẩn. Để nâng tốc độ chạy tàu ở những đoạn cong trên đường sắt khổ hẹp, từ những năm 60 người ta đã nghiên cứu công nghệ đóng loại toa tàu có thể nghiêng được (tilt train car). Công nghệ này rất phức tạp nhưng giúp tiết kiệm chi phí cải tạo đường sắt mà vẫn thỏa mãn yêu cầu tốc độ.    Trở ngại đường cong  Đường cong là trở ngại lớn nhất hạn chế tốc độ chạy tàu trên đường sắt, dù là đường sắt khổ hẹp hoặc khổ tiêu chuẩn 1.435 mm. Nhưng một tuyến đường sắt dài thì không thể tránh khỏi có những đoạn cong, nhất là khi đi qua vùng núi hoặc đô thị.   Tàu chạy vào đường cong buộc phải giảm tốc độ, không được vượt quá tốc độ tối đa cho phép xét theo điều kiện an toàn qua đoạn đường cong đó, tức tốc độ hạn chế qua đường cong Vh (speed restricted at curve), nếu không sẽ trật bánh đổ tàu. Trị số Vh tỷ lệ với căn bậc hai bán kính R của đường cong, nghĩa là R càng nhỏ thì Vh càng thấp. Bởi vậy nếu muốn rút ngắn hành trình chạy tàu thì phải hoặc là nắn các đoạn đường cong cho bớt cong (tức tăng R – công trình này cực kỳ tốn kém thậm chí bất khả thi), hoặc là tìm cách nâng cao tốc độ chạy tàu qua đường cong.   Tuyến đường sắt khổ hẹp 1.000 mm Hà Nội-Sài Gòn dài 1.726 km có 1.760 đoạn đường cong với tổng chiều dài 395 km (23%), trong đó hơn 900 chỗ có R<600 m, một số chỗ R<100 m. Dù tàu có chạy hết tốc lực trên các đoạn đường thẳng nhưng do 1.760 lần phải chạy chậm khi qua 395 km đường cong nên tốc độ trung bình toàn tuyến vẫn rất thấp.   Trên đường sắt khổ tiêu chuẩn, tốc độ 80 km/h yêu cầu R ≥ 500 m; tốc độ 100 km/h yêu cầu R ≥ 800 m; tốc độ 120 km/h yêu cầu R ≥ 1.200 m. Bởi vậy nếu muốn cải tạo tuyến Hà Nội-Sài Gòn thành đường sắt khổ 1.435 mm thì phải nới rộng R cho rất nhiều đoạn đường cong, công trình đó cực kỳ tốn kém và nhiều đoạn không thể làm được.   Khi chạy trên đường cong, tàu có xu hướng chạy theo phương tiếp tuyến của đường cong, sinh ra lực ly tâm. Nó làm cho bánh xe áp vào má trong ray lưng, đè lên ray lưng một lực đẩy ngang rất mạnh có thể làm ray bị bung ra khỏi tà vẹt, bánh xe nhảy ra khỏi đường ray, gây trật bánh đổ tàu về phía ngoài ray lưng. Nó gây ra trở lực đường cong làm giảm tốc độ chạy tàu. Hình vẽ cho thấy vec-tơ trọng lực thẳng góc với mặt đất và vuông góc với vec-tơ lực ly tâm; lực ly tâm và trọng lực làm thành một hợp lực tác động vào trọng tâm toa tàu. Vì thế khi tốc độ tàu càng cao và bán kính đường cong càng nhỏ thì vec-tơ lực ly tâm càng lớn khiến cho hợp lực càng hướng ra phía ngoài ray lưng, càng dễ gây nguy hiểm lật tàu. Gia tốc ly tâm còn làm cho khách đi tàu cảm thấy khó chịu; người ngồi bị ép về phía lưng đường cong; người đang đi, đứng có thể vì mất trọng tâm mà bị xô ngã.   Để khử tác hại đó, người ta đã nâng ray lưng cao hơn ray bụng một độ cao gọi là siêu cao (superelevation hoặc cant, ký hiệu ha); như vậy khi chạy qua đường cong, thân tàu sẽ nghiêng về phía trong; tương tự như khi đi xe máy qua đường cong thì người và xe phải nghiêng vào phía trong. Siêu cao của ray lưng sinh ra lực hướng tâm; nó triệt tiêu được một phần lực ly tâm, giảm được cảm giác khó chịu của hành khách và nâng cao an toàn chạy tàu.   Siêu cao góp phần làm tăng V qua đường cong, nhưng siêu cao quá lớn sẽ gây nguy hiểm đổ tàu khi tàu chạy quá chậm (tàu hàng thường chạy chậm hơn tàu khách). Vì thế đường sắt đơn khổ tiêu chuẩn chỉ cho phép siêu cao tối đa bằng 125 mm. Do đó hãy còn một phần lực ly tâm chưa bị triệt tiêu; phần này không được vượt quá giới hạn cho phép về độ thoải mái đi tàu của hành khách. Bởi vậy dù đã có siêu cao đi nữa thì khi chạy vào đường cong, tất cả các loại tàu đều phải giảm tốc độ xuống mức không quá trị số Vh.   Khi thiết kế đường sắt phải căn cứ vào tốc độ yêu cầu mà xác định hợp lý bán kính R của đường cong và siêu cao.  Bán kính đường cong được xác định theo công thức R=k V2, trong đó hệ số k bằng 11,8/(ha + hb) [có tài liệu nói bằng G/g(ha + hb)]. Ở đây ha là siêu cao; hb  là siêu cao thiếu hụt (cant deficiency), đơn vị mm; g là gia tốc trọng trường (9,8 m/s2); G là khổ đường sắt (mm); đơn vị R là m; V là km/h. Vì R tỷ lệ với V2, do đó để tăng V một chút thôi thì đã đòi hỏi phải nới rộng R rất nhiều, tức yêu cầu công trình cải tuyến cực kỳ tốn kém, có trường hợp không khả thi, như khi qua vùng đồi núi hoặc đô thị. đường sắt cao tốc (250-350 km/h) yêu cầu R tối thiểu bằng 2500 – 4000 m, tức đường gần như thẳng; muốn vậy chỉ có cách cho đường sắt đi trên cầu cạn hoặc chui hầm.   Đường sắt khổ hẹp tính ha theo công thức ha = 6,6 V2/R (thí dụ khi V= 40, R=200 thì ha = 55 mm); đường sắt khổ tiêu chuẩn dùng công thức ha= 7,6 V2/R.  Công nghệ tàu tự nghiêng: Phức tạp nhưng hiệu quả  Để nâng tốc độ chạy tàu qua đường cong mà không phải cải tạo đường, từ những năm 60 người ta đã nghiên cứu công nghệ đóng loại toa tàu có thể nghiêng được (tilt train car). Công nghệ này rất phức tạp nhưng tiết kiệm được chi phí cải tạo đường sắt mà vẫn thỏa mãn yêu cầu tốc độ.   Nguyên lý tác dụng của tàu tự nghiêng rất đơn giản. Từ công thức ha suy ra V tỷ lệ với căn bậc hai của ha. Tàu tự nghiêng có tác dụng như tăng thêm một lượng siêu cao phụ gia ∆h, làm cho tổng siêu cao bằng (ha+∆h); như vậy tăng được tốc độ hạn chế qua đường cong Vh.  Theo tính toán, khi tàu nghiêng 8 độ thì gia tốc nghiêng mà hành khách cảm nhận được chỉ có 0,65 m/s2, hoàn toàn trong giới hạn cho phép về độ thoải mái (phạm vi 0,8–1,2 m/s2 chưa cảm thấy khó chịu). Như vậy vừa có thể tăng được tốc độ chạy qua đường cong, lại vừa không ảnh hưởng đến độ thoải mái đi tàu của hành khách.           Việc cải tạo đường sắt khổ hẹp thành khổ tiêu chuẩn đòi hỏi vốn đầu tư cực lớn, lại vô cùng lãng phí và bắt buộc phải ngừng chạy tàu trong thời gian cải tạo. Thiết nghĩ để rút ngắn hành trình chạy tàu tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn, chúng ta nên đi theo con đường mà đường sắt khổ hẹp các nước khác đã đi.           Toa xe nghiêng được có hai loại: loại nghiêng tự nhiên và loại nghiêng theo điều khiển. Loại nghiêng tự nhiên sử dụng quán tính đưa lực ly tâm vào hệ thống cơ khí khiến toa tàu tự động nghiêng khi chạy vào đường cong. Toa tàu loại này làm cho hành khách có cảm giác khó chịu kiểu như bị say xe, do sau khi ra khỏi đường cong, hệ thống cơ khí lúc trở lại bình thường làm thân xe lắc đi lắc lại. Để khắc phục, phải tăng thêm thiết bị ức chế hiệu ứng con lắc (như dùng con quay hồi chuyển) và thiết bị tự động kiểm tra lắp trên tàu. Thiết bị này sớm nhận được thông báo về số liệu đoạn đường cong phía trước và nó điều khiển hệ thống cơ khí từ từ làm nghiêng toa tàu một góc thích hợp ngay từ khi sắp chạy vào đường cong; khi ra khỏi đường cong, nó lại nhanh chóng đưa toa tàu trở về trạng thái bình thường. đường sắt khổ hẹp ở Nhật Bản dùng phổ biến loại toa nghiêng tự nhiên theo điều khiển. Khi đó hệ thống máy tính đặt trên tàu căn cứ vào các số liệu như tốc độ tàu tức thời, bán kính đoạn đường cong sắp chạy tới, lực tác dụng của bánh xe… để phát lệnh cho hệ thống cơ khí làm cho tàu nghiêng đúng theo số liệu đã tính toán về góc độ và thời điểm bắt đầu nghiêng, cũng như ra làm cho tàu trở về trạng thái bình thường khi ra khỏi đường cong.   Được Nhật Bản và Australia chú trọng  Tàu đường sắt khổ hẹp không thể chạy nhanh như tàu đường sắt khổ tiêu chuẩn, vì thế các nước có nhiều đường sắt khổ hẹp như Nhật Bản (22.301 km), Australia (13.304 km)… rất chú trọng nghiên cứu thiết kế chế tạo và sử dụng tàu tự nghiêng.  Tại Australia, toàn bộ tuyến đường sắt của Cục đường sắt Queensland Rail là khổ hẹp 1.067 mm, từ năm 2003 đã chạy loại tàu tự nghiêng QR Tilt Train sức kéo diesel do Australia chế tạo có tốc độ tối đa 165 km/h, nhanh hơn xe bus và rẻ hơn đi máy bay. Hành trình 1.681 km đường sắt vùng núi Brisbane-Cairns tuy có nhiều đường cong và dốc nhưng tàu chạy hết có 24 giờ 55 phút, giảm được 7 giờ so trước kia. QR Tilting train car có sáu toa kiểu hiện đại, cộng 310 ghế. Máy tính điều khiển độ nghiêng, nhiều nhất nghiêng 8-15 độ.   Công nghệ Tilting train rất phát triển ở Nhật Bản. Đoàn toa tự chạy diesel (DMU) Kiha 283 do Fuji Heavy Industries chế tạo là tàu tự nghiêng tiên tiến nhất. Trên đường sắt khổ hẹp 1.067 mm vùng núi giữa Sapporo với Kushiro (đảo Hokkaido) từ năm 1997 mỗi ngày chạy bảy đôi tàu Super Ozora, hành trình 348 km hết 3 giờ 35 phút, giá vé 8.610 Yen (tương đương gần 86 USD); tàu chạy qua đường cong với tốc độ 100-110 km/h. Mỗi tàu có sáu toa, trang bị hiện đại; ghế đệm da, có cung cấp báo chí, nước ngọt, có ổ cắm điện ở ghế ngồi để hành khách nạp điện cho điện thoại di động và chạy laptop… Mỗi toa lắp hai động cơ diesel 355 mã lực.   Đài Loan có 1.085 km đường sắt khổ 1.067 mm. Do địa hình nhiều núi, đường sắt có nhiều đường cong và đường dốc, tàu chạy rất chậm. Năm 2007 Cục đường sắt Đài Loan đã nhập từ Nhật Bản 48 toa tàu tự nghiêng khổ hẹp chạy điện kiểu TEMU 1.000 do hãng Hitachi chế tạo, tốc độ thiết kế 150 km/h. Họ dùng loại toa này lập các đoàn tàu Taroko Express chạy tuyến Hoa Liên-Đài Bắc, so với trước bớt được 45 phút hành trình. Năm 2012 lại mua thêm 136 toa tự nghiêng chạy điện kiểu TEMU 2.000, tốc độ thiết kế 160 km/h, dùng để lập các đoàn tàu Puyuma Express, mỗi tàu tám toa, hai toa đầu và cuối có động cơ làm nhiệm vụ kéo và đẩy khi lên dốc. Loại tàu bắt đầu khai thác từ ngày 6/2/2013. Toa tàu rất sang trọng; ghế lót nhung kiểu ngả được như ghế máy bay, chỗ ngồi rộng thoáng, có ngăn để hành lý cồng kềnh (như xe đạp gấp, xe lăn, va-li to…), có phòng con mọn, nhà vệ sinh rộng như ở khách sạn, có tủ bán cơm tự động, mỗi chỗ ngồi đều có màn hình LED chỉ dẫn ga đến (station indicator), báo thời tiết các nơi v.v…  Tàu tự nghiêng được sử dụng khá phổ biến và có kết quả tốt như trên cho thấy đây là một hướng phát triển mà các nước có đường sắt khổ hẹp muốn tăng tốc độ chạy tàu nên quan tâm nghiên cứu áp dụng. Việc cải tạo đường sắt khổ hẹp thành khổ tiêu chuẩn đòi hỏi vốn đầu tư cực lớn, lại vô cùng lãng phí và bắt buộc phải ngừng chạy tàu trong thời gian cải tạo; bởi vậy trên thế giới chưa có nước nào dại dột làm việc đó. Thiết nghĩ để rút ngắn hành trình chạy tàu tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn, chúng ta nên đi theo con đường mà đường sắt khổ hẹp các nước khác đã đi.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu vũ trụ của công ty tư nhân sẽ đổ bộ sao Hỏa      Trang space.com ngày 7/3 mới đây đưa tin:  Công ty Công nghệ Thăm dò vũ trụ SpaceX (Space Exploration Technologies)  đã lên kế hoạch đưa tàu vũ trụ Red Dragon (Rồng Đỏ) do họ thiết kế chế  tạo bay lên sao Hỏa vào thập niên 2020.     Red Dragon là tên gọi của tàu vũ trụ Dragon loại đã cải tiến. Dragon nguyên là tàu chuyên dùng để chở hàng đi lại giữa Trái Đất với Trạm Không gian quốc tế ISS đang bay trên quỹ đạo Trái Đất; SpaceX sẽ nghiên cứu cải tiến chuyển nó thành tàu chở được người và lên được tới sao Hỏa rồi trở về.  Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ NASA đã lập thời gian biểu thực hiện các chuyến bay giá thành thấp chở người lên thám hiểm sao Hỏa, nhưng trước đó NASA phải hoàn thành các chuyến bay không chở người nhưng sẽ cho hạ cánh xuống sao Hỏa một khoang loại chở người nặng vài tấn. Red Dragon và loại tên lửa Falcon Heavy của công ty SpaceX được NASA chọn để hạ cánh mềm xuống hành tinh Đỏ. Falcon Heavy là hệ thống tên lửa mới, công suất đẩy lớn, giá thành phóng tương đối thấp.  Cho đến nay, nơi xa nhất con người tới được chỉ mới là Mặt Trăng cách chúng ta chưa đầy 0,4 triệu km; khoảng không gian bên ngoài hệ Trái Đất-Mặt Trăng hãy còn biết bao bí ẩn. Sao Hỏa cách Trái Đất 55 ~ 400 triệu km, khi đưa con người bay lên một hành tinh xa như vậy chúng ta sẽ gặp nhiều thách thức mới thuộc về lĩnh vực không gian giữa các vì sao, như bức xạ vũ trụ, gió Mặt Trời, mảnh vụn thiên thể, sự thay đổi tâm lý của nhà du hành vũ trụ khi phải sống hàng năm trời trong tình trạng cô đơn và im lặng tuyệt đối…   Dĩ nhiên, chuyến bay đưa các nhà du hành vũ trụ lên sao Hỏa phải có đi có về, cho nên đòi hỏi kinh phí lớn gấp không biết bao nhiêu lần kinh phí đã chi cho dự án Apollo lên Mặt Trăng – một dự án vĩ đại buộc phải ngừng vì quá tốn kém. Vì thế vấn đề đầu tiên cần giải quyết là hạ giá thành chuyến bay. Các tàu vũ trụ của các công ty tư nhân có ưu thế lớn về mặt này.   Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Ames thuộc NASA trình bày tại Hội thảo 2014 của Viện Kỹ sư Điện và Điện tử IEEE hồi đầu tháng 3, trong mấy năm qua, một nhóm hơn chục chuyên gia của họ đã nghiên cứu vấn đề đưa người lên sao Hỏa trên cơ sở sử dụng tàu vũ trụ kiểu mới và tên lửa công suất lớn.  Trung tâm nghiên cứu đặc biệt chú ý nghiên cứu môi trường ở bên dưới bề mặt sao Hỏa, họ cho rằng ở độ sâu 2 mét hoặc hơn dưới đó có những điều kiện thích hợp tồn tại sự sống trong quá khứ và hiện tại, xét về mức độ bức xạ. Bởi vậy họ yêu cầu tàu đổ bộ sao Hỏa phải lắp được máy khoan công suất lớn rất to và nặng (xe-robot Curiosity đang làm việc trên sao Hỏa từng khoan được một lỗ sâu 6,6 cm, đường kính 1,6 cm trên đá). Red Dragon có khả năng chở nặng, hạ cánh mềm rồi thu thập các mẫu đất đá và chở về Trái Đất. Trọng lượng hạ cánh của nó bằng 2 tấn (so với 1 tấn của Curiosity). Để hạ cánh mềm một vật nặng như vậy, đòi hỏi tên lửa đẩy ngược (tên lửa tạo ra sức đẩy ngược chiều để giảm tốc độ hạ cánh của tàu đổ bộ) phải có công suất lớn và an toàn hơn.   SpaceX là công ty tư nhân Mỹ nổi tiếng nhất thế giới hiện nay về thám hiểm vũ trụ. Tháng 12/2010, họ từng thành công phóng một tàu vũ trụ không người lái lên Trạm ISS rồi trở về Trái Đất và do đó nhận được giải thưởng của NASA là khoản tài trợ 75 triệu USD để cải tiến Dragon sao cho có thể chở được người. SpaceX cũng từng thành công phóng vệ tinh thuê cho một số nước.  Sau khi cho tàu con thoi cuối cùng nghỉ hưu (7/2011), NASA phải thuê tàu Soyuz của Nga chở hàng tiếp tế cho trạm ISS, tuy khá phiền phức vì Soyuz không chở được hàng từ ISS về Trái Đất và lại phóng từ sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan. Về sau, NASA đã ký với SpaceX một hợp đồng trị giá 1,6 tỷ USD thuê 12 chuyến chở hàng hai chiều tới ISS, nhờ đó chấm dứt việc thuê tàu Nga. Cho tới nay, SpaceX đã thực hiện hai chuyến theo hợp đồng. Chuyến đầu tiên hoàn tất vào tháng 10/2012, khoang tàu Dragon được phóng bằng tên lửa Falcon9 đã chở 400 kg hàng tiếp tế cho ISS, sau đó lại chở 758 kg hàng từ ISS về Trái Đất. Nếu chi phí cho một chuyến bay của tàu con thoi lên ISS và trở về là 450 triệu USD thì SpaceX chỉ cần 133 triệu USD (tất nhiên tàu con thoi còn có những giá trị khác, như về quân sự).   Giờ đây SpaceX đang chuẩn bị phóng tàu vũ trụ có người lái lên trạm ISS. Ngay từ năm 2011, Elon Musk Tổng Giám đốc SpaceX đã tuyên bố: “Với sự hỗ trợ của NASA, SpaceX sẽ sẵn sàng thực hiện chuyến bay có người lái đầu tiên trong năm 2014.” Ông cũng nói SpaceX sẽ “cố gắng” đưa người lên sao Hỏa vào năm 2020.       Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tàu vũ trụ của NASA làm nên lịch sử khi tiến vào quỹ đạo Mộc tinh thành công      Sau năm năm và một cuộc hành trình dài hơn 2.7 tỉ km bắt đầu từ mũi Canaveral, Florida, Mỹ, con tàu vũ trụ Juno, được đặt theo tên người vợ của thần Jupiter (có vai trò như thần Zeus trong thần thoại Hy Lạp) trong thần thoại La Mã của NASA đã tiến vào quỹ đạo của Mộc tinh – hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời vào khoảng 11h trưa ngày 5/7 (giờ Việt Nam).    Tàu vũ trụ Juno. Ảnh: NASA  Những chặng đường cuối cùng của Juno là lúc khó khăn nhất mà phòng thí nghiệm động lực học của Nasa nín thở chờ đợi. Không ai biết rằng liệu nó có thể sống sót trước bức xạ và sự rung lắc vì ở quá gần Mộc tinh. “Mộc tinh quay quá nhanh. Trọng lực của nó cứ như một sung bắt cao su khổng lồ, quăng đá, bụi, electron, cả tá sao chối. Cái gì ở gần nó cũng đều trở thành vũ khí của nó hết” – Scott Bolton, giám đốc nghiên cứu Juno cho biết. Con tàu vụ trũ sẽ đốt cháy động cơ chính của nó trong 35 phút và giữ cho độ cao của nó chỉ vào khoảng 4000 km ở tầng mây trên cùng của hành tinh này.  Tàu vũ trụ Juno đang bay gần hơn 6000 km bề mặt Mộc tinh so với tất cả những con tàu vụ trũ khác trước đây. Nasa hi vọng rằng, con tàu vũ trụ này sẽ ở vị trí có thể chụp được cận cảnh Mộc tinh vào ngày 27/8, cũng là thời điểm các thiết bị bên trong con tàu được bật và chạy thử lần đầu tiên. Khi đó, nhiệm vụ cụ thể của Juno sẽ là: Xác định cụ thể lượng nước trong khí quyển của Mộc tinh, điều này sẽ giúp xác minh giả thuyết hình thành Mộc tinh (hoặc đi tìm một giả thuyết khác); Phân tích sâu khí quyển của Mộc tinh để đo đạc thành phần, nhiệt độ, mức độ di chuyển của mây và các thành tố khác; Sơ đồ hóa từ trường và trọng trường của Mộc tinh, hé lộ cấu trúc sâu hơn của hành tinh này; Khám phá và nghiên cứu từ quyển của Mộc tinh, đặc biệt là các cực quang – Những ánh sáng phát ra từ phía bác và phía nam của Mộc tinh, đưa ra những phân tích mới về từ trường của hành tinh này ảnh hưởng đến khí quyển của nó ra sao. Ngoài ra, Juno cũng kỳ vọng có thể khám phá ra những mặt trăng mới quanh nó. Đã có 67 mặt trăng của hành tinh này được phát hiện nhưng rất có thể sẽ còn nhiều hơn nữa. Và tại sao điều này lại thú vị? Europa, một trong những mặt trăng lớn nhất của Mộc tinh có thể chứa sự sống. Dưới lớp vỏ băng giá của nó có thể ẩn chứa cả một đại dương, vì thế, những mặt trăng khác cũng có thể chứa nước và những sinh vật ngoài hành tinh. Giám đốc nghiên cứu Juno Scott Bloton nói: “Chắc chắn là chúng ta sẽ khám phá ra những mặt trăng mới của Mộc tinh”.  Juno là tàu vũ trụ được cung cấp năng lượng từ vị trí xa nhất so với Mặt Trời từ trước đến giờ. Tấm thân hình lục giác của con tàu liên tục quay vòng trong vũ trụ được gắn ba tấm pin năng lượng mặt trời cỡ lớn để thu những tia sáng yếu ớt từ hệ Mặt Trời bên ngoài. Máy tính và những thiết bị khoa học của Juno được đặt bên trong một khoang bảo vệ bằng titanium nặng khoảng 180 kg và cố định giữa những tấm pin mặt trời để không bị khuất tầm nhìn. Juno được xây dựng bởi tập đoàn công nghệ Lockheed Martin (Mỹ), có thể vận hành tối đa trong 20 tháng và sẽ bay quanh quỹ đạo của Mộc tinh 37 vòng. Trong vòng cuối cùng, nó sẽ xuyên qua bầu khí quyển của Mộc tinh, trước khi nó bị nghiến vụn và bốc hơi.  Hảo Linh tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tây Ban Nha: Sau Omicron, COVID-19 sẽ chỉ giống như bệnh cúm thông thường      Trong khi Omicron đang lây lan nhanh chóng trên cả nước thì chính phủ Tây Ban Nha lại đang thảo luận về việc thay đổi cơ bản chiến lược phòng chống dịch. Sau làn sóng dịch lần thứ năm, quốc gia này sẽ ứng phó với virus corona tương tự như virus cúm, và đất nước sẽ trở về trạng thái bình thường.      Một người đàn ông đang đi bộ ở Barcelona, Tây Ban Nha vào ngày 14/3/2020. Ảnh: Reuters/Nacho Doce  Hiện tại, tỷ lệ mắc bệnh trong 14 ngày ở Tây Ban Nha là 2989 trường hợp trên 100.000 dân. Số liệu chính thức cho thấy, chỉ tính riêng từ cuối tháng 12, ba phần trăm dân số Tây Ban Nha đã bị nhiễm virus corona. Tuy vậy, các nhà chức trách ở quốc gia này không quá hoang mang, lo lắng. Vừa qua, khi trả lời phỏng vấn của đài phát thanh Cadena Ser, thủ tướng Pedro Sánchez đã đề cập đến một sự thay đổi cơ bản về chính sách chống dịch. Ông nói về việc “các thông số khác” sẽ được áp dụng “dần dần” và giải thích: “Chúng ta đang đi theo hướng không còn coi bệnh này là đại dịch như hiện nay nữa”.  Tóm lại, COVID-19 sẽ được Tây Ban Nha coi như bệnh cúm thông thường. Nói cách khác, quốc gia này cho rằng, không còn cần thiết phải ghi lại, kiểm tra và theo dõi từng trường hợp nhiễm virus nữa, mà thay vào đó kiểm soát quá trình lây nhiễm trong xã hội bằng cách sử dụng một hệ thống cảnh báo sớm có tính đại diện. Đối với những bệnh nhân không có triệu chứng nghiêm trọng, COVID-19 cuối cùng sẽ trở thành một loại bệnh không còn cần phải có các xét nghiệm, yêu cầu báo cáo, cách ly hoặc cấm tiếp xúc.  Có 5 trong tổng số 17 tỉnh trên toàn Tây Ban Nha đang áp dụng các dự án thí điểm chiến lược mới. Quốc gia này cũng đang trao đổi với các nước thành viên EU về những thay đổi cơ bản trong việc ứng phó với virus corona.  Tuy nhiên, Lorenzo Armenteros, phát ngôn viên của Hiệp hội các bác sĩ đa khoa và gia đình (SEMG) cho rằng: “Chúng ta không được tầm thường hóa đại dịch”. Hans Kluge, Giám đốc Châu Âu của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, cũng cảnh báo: “Cần hết sức thận trọng với những tiên lượng về (đại dịch) trong tương lai”.  Chính phủ Tây Ban Nha cũng tuyên bố, sớm nhất thì việc chuyển đổi chiến lược ứng phó với COVID-19 cũng chỉ diễn ra sau khi làn sóng dịch hiện tại kết thúc.   Hoài Nam lược dịch  Nguồn: Nach Omikron: Spanien will Corona wie Grippe behandeln    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào autômát lượng tử – QCA      Liệu vũ trụ có phải là một máy tính lượng tử khổng lồ hay không ? Có thể đúng như vậy: đây là&#160; quan điểm hiện nay của một số nhà khoa học uy tín trên thế giới như Seth Lloyd ( Massachusetts Institute of Technology, Mỹ) và Lee Smolin (Institut Perimeter, Canada). Công cụ để mô tả vũ trụ dưới quan điểm đó là QCA (Quantum cellular Automaton-Tế bào autômát lượng tử). Trước đây Stephen Wolfram năm 2002 đã công bố lý thuyết về CA (Cellular Automaton-Tế bào autômát). Song lý thuyết này chưa thể mô tả đầy đủ vũ trụ được vì CA không bao gồm lý thuyết lượng tử. Có thể nói QCA là kết quả của việc “lượng tử hóa”&#160; CA và là một hướng đi triển vọng nhằm tìm ra một lý thuyết thống nhất tối hậu cho vật lý.      Lý thuyết tế bào autômát CA của Stephen Wolfram  (Một loại hình khoa học mới NKS: 256 quy tắc để hiểu toàn bộ thế giới thực tại).  Một hiện tượng đã không ngớt gây sự chú ý và nhiều tranh cãi trong giới khoa học là sự xuất hiện cuốn sách: Một loại hình khoa học mới (A New Kind of Science – viết tắt là NKS) của Stephen Wolfram vào năm 2002, xem hình 1. Tác giả Wolfram cho rằng mọi hiện tượng trong vạn vật từ vũ trụ đến thị trường chứng khoán đều có thể quy về những chương trình tin học đơn giản và mọi hiện tượng phức tạp đều là kết quả phát triển của những tế bào ban đầu gọi là các tế bào autômát (viết tắt là CA-Cellular automaton).             Hình 1 . Stephen Wolfram và cuốn sách đồ sộ dày 1280 trang: Một loại hình khoa học mới (NKS)          Stephen Wolfram là một nhà khoa học xuất sắc, nghiên cứu nhiều lĩnh vực (vật lý các hạt cơ bản, vũ trụ, toán học, tin học,…), tác giả của Mathematica, một phần mềm nổi tiếng được sử dụng trên toàn thế giới. Wolfram sáng lập tập đoàn phần mềm hàng đầu Wolfram Research,Tnc. Có trên 2 triệu người sử dụng Mathematica, nhiều phiên bản mới của Mathematica liên tục bảo đảm cuộc sống của hơn 300 người trong công ty Wolfram Research,Tn.  Wolfram nhiều năm suy nghĩ về một câu hỏi lớn: mọi cấu trúc phức hợp và đa dạng trong thế giới thực tại đã hình thành như thế nào? Liệu thiên nhiên có sử dụng một số quy tắc nào trong khi sáng tạo ra mọi vật, liệu có một khoa học lý thuyết nào để mô tả những quy tắc này? Trong thời gian sau này Wolfram rời quản lý công ty để chuyên nghiên cứu CA và năm 2002 công bố cuốn sách Một loại hình khoa học mới (A New Kind of Science viết tắt là NKS )[1]  (dày 1280 trang); cuốn sách sớm trở thành hiện tượng trong giới khoa học. Khi nói đến cuốn sách này người ta không thể không nói đến quyển Mathematica, cơ sở tính toán cho NKS.  Wolfram tin rằng tồn tại một chương trình rất đơn giản, nếu chạy trong một thời gian rất dài sẽ dẫn đến mọi phức hợp (complexity) trong vũ trụ: các sao, mặt trời, khí hậu, các sinh vật, các dòng chảy của chất lỏng, thị trường chứng khoán,…Và chương trình đó chính là   lý thuyết tối hậu của vật lý.  Vũ trụ là một máy tính khổng lồ. Số phép tính mà vũ trụ thực hiện trong suốt lịch sử có thể lên đến 10120 trên lượng thông tin bằng 1090 bit. Vũ trụ tính điều gì? Vũ trụ tính quá trình tiến triển động học của chính mình!  Trong lý thuyết CA của mình, Wolfram muốn chứng minh rằng với những quy tắc đơn giản chúng ta có thể thu được những hình thái rất phức tạp. Gregory Chaitin, một nhà toán học lớn đã phát biểu một cách ngưỡng mộ: Stephen Wolfram muốn phát hiện những viên gạch đầu tiên mà Chúa đã đặt xuống để xây dựng vũ trụ.  Tế bào autômát (CA) cơ bản   Tế bào autômát là đơn vị nằm trong một ô mạng gián đoạn sử dụng cho tính toán. CA cơ bản có một chiều (dimension), mỗi tế bào có 2 trạng thái: 1 & 0 hay đen & trắng, mỗi tế bào có 2 tế bào lân cận nằm hai bên. Sở dĩ các tế bào này được gọi là autômát vì chúng tự động phát triển trong thời gian theo những quy tắc nhất định.  Như vậy với các CA cơ bản ta có một tập gồm 3 tế bào vậy có 23 = 8 cấu hình cho một tập như thế. Trên hình 2 là 8 cấu hình của các tập 3 tế bào (ở hàng một ta dùng số 1 & 0 để chỉ trạng thái, ở hàng dưới ta dùng màu đen & trắng để chỉ trạng thái):          Hình 2.  Trên hình ta có 8 cấu hình của tập 3 tế bào          Sự phát triển của CA theo thời gian  Lấy một tế bào đen trên hàng thứ nhất. Trên hàng thứ hai (ứng với thời điểm tiếp theo, như thế không gian và thời gian quyện với nhau) ta lấy thêm một tế bào bên trái, vậy ta có hai tế bào, chúng có màu đen hay màu trắng? Trạng thái mới của tế bào phụ thuộc vào trạng thái trước của nó và của hai tế bào lân cận. Ta phải lấy một quy tắc nào đó để gán màu cho chúng. Sau đây ta dùng quy tắc gọi là quy tắc 110  biểu diễn ở hình 3. (vì sao gọi là quy tắc 110, xin xem chú thích [2]).          Hình 3. Quy tắc 110,trạng thái biểu diễn bằng màu: đen (ứng với số1)& trắng (ứng với số 0)          Màu của tế bào nằm ở hàng tiếp theo tùy thuộc vào các màu của 3 tế bào nằm đúng trên nó một hàng (tế bào nằm dưới ở ngay vị trí giữa của 3 tế bào nằm trên). Theo quy tắc nêu ở hình 3: ví dụ 3 tế bào nằm trên có cấu hình 111 thì tế bào nằm dưới sẽ là tế bào 0 tức là tế bào trắng, nếu trên có cấu hình 110 thì tế bào dưới sẽ là tế bào đen và v.v. …  Ta có thể biểu diễn quy tắc 110 tường minh hơn như sau (xem hình 4).          Hình 4. Quy tắc 110          Sau 10 lần lặp (lấy liên tiếp 10 hàng) ta có hình 5a, sau 700 lần lặp ta có hình 5b.          Hình 5. Kết quả áp dụng 110 sau 10 lần và 700 lần lặp           Sau đây là một số hình thái thu đươc nhờ sử dụng CA (hình 6).          Hình 6 .CA tái tạo một nhánh cây, CA mô tả tương tác của các hạt cơ bản(b), CA trong 3D (3 chiều) tạo nên bởi CA trong 2D phát triển trong thời gian.           Sau nhiều lần lặp với nhiều quy tắc khác nhau người ta thu được nhiều hình thái mô tả nhiều đối tượng phức hợp trong vũ trụ.  Có bao nhiêu quy tắc như quy tắc 110 mà chúng ta nói trên đây? Vì mỗi tế bào có hai trạng thái cho nên đối với một tập 8 tế bào (xem hàng thứ hai ở hình 2) số cấu hình khác nhau sẽ cho ta số quy tắc bằng:  28  = 256  quy tắc.  Wolfram cho rằng sử dụng 256 quy tắc cho sự phát triển của CA, chúng ta có thể tái tạo mọi  sự phức hợp (complexity) trong vạn vật. Trong 256 quy tắc đó, quy tắc 110 (và quy tắc 30 ) là lý thú nhất.  Trong những năm 70 Fredkin đã đưa ra ý tưởng vũ trụ chúng ta là một CA (Cellular automaton-tế bào autômát) và cho rằng các đại lượng vật lý được xem là những bó thông tin nằm trong CA.  Sự ứng dụng CA bao trùm nhiều lĩnh vực: phép tính song song, sự sống nhân tạo (artificial life), xử lý và tạo hình ảnh, mô hình các hệ sinh học, mô phỏng trong hóa học, trong vật lý, chảy cuộn xoáy (turbulence), đồ họa và nghệ thuật…   Cơ học lượng tử và các cổng    Lý thuyết tế bào autômát của Wolfram là lý thuyết cổ điển. Trong lý thuyết của Wolfram các tế bào autômát là những máy tính đơn giản chứa dữ liệu trên một băng và cập nhật từng tế bào trên băng nhờ một quy tắc cập nhật (update rule) định xứ (như quy tắc 110 nói trên đây).  Đơn vị thông tin cổ điển là bit có khả năng lấy hai trị số 0 và 1. Trong lý thuyết lượng tử đơn vị thông tin là qubit (quantum bit-bit lượng tử). Về mặt vật lý một qubit được biểu diễn bởi một hệ lượng tử có hai trạng thái. Ví dụ photon (với phân cực thẳng đứng và nằm ngang), electron hoặc các hạt spin ½ (với spin up và down) hoặc một hệ lượng tử như nguyên tử hoặc ion với hai mức năng lượng.  Người ta dùng hai ký hiệu   và  để chỉ hai trạng thái của một bit cổ điển. Với lý thuyết lượng tử thì qubit lại có thể nằm trong trạng thái chồng chất của hai trạng thái đó tức trạng thái   Nếu thực hiện một phép đo trong trạng thái chồng chất đó thì ta sẽ thu được kết quả  với xác suất |a|2 và kết quả  với xác suất |ß|2.  Khi ta có hai qubit thì xuất hiện hiện tượng gọi là liên đới lượng tử (quantum entanglement). Đó là lúc hàm sóng của hai qubit không thể viết dưới dạng tích trực tiếp của hai hàm sóng riêng lẻ của từng qubit mà có dạng ví dụ như |00> + |11>. Có thể so sánh dạng này với dạng |00> + |01>, dạng sau không mô tả liên đới lượng tử được vì rằng ta có thể viết nó dưới dạng |0 > (| 0>+| 1>) nghĩa là dưới dạng tích trực tiếp của hai hàm sóng.  Các trạng thái liên đới lượng tử còn được gọi là các trạng thái Bell, hoặc trạng thái EPR hoặc cặp EPR, đặt theo chữ cái đầu tiên của tên các tác giả Einstein, Podolsky & Rosen là những người đầu tiên phát hiện ra các tính chất kỳ lạ của những trạng thái đó: khi hai hạt liên đới lượng tử thì chúng tiếp tục tương tác với nhau mặc dầu khoảng cách giữa chúng trở nên vô cùng.  Trong mạch lượng tử người ta cấy vào những cổng (gate) để thực hiện các phép tính. Các cổng quan trọng là:  * Cổng Hadamard (cổng H) , cổng này tác động trên  qubit theo công thức trong đó x=0,1.  Ví dụ nếu trạng thái là     thì cổng H biến trạng thái đó thành +    .  Còn nếu trạng thái là    thì cổng H biến trạng thái đó thành   –   .  Cổng Hadamard cho phép chuyển một qubit  thành một chồng chất của 0 và 1.  Cổng T: e ix Φ với x= 0,1.  Cổng Pauli X: biến |0> ↔  |1>.  Cổng CNOT:    biến |00>→|00>,|01>→|01> và |10>→|11> và |11>→ |10>.   Trong từ CNOT, chữ C=control. Qubit thứ nhất đóng vai trò điều khiển (control). Ta thấy lúc qubit thứ nhất có trị số 0 thì qubit thứ hai không thay đổi gì cả khi qua cổng CNOT, nhưng nếu qubit thứ nhất bằng 1 thì trị số của qubit thứ hai thay đổi 0 thành 1 và ngược lại.    Tập các cổng H,T,X và CNOT trên làm thành một tập toán tử phổ quát (điều đó có nghĩa là tập toán tử này cho phép thực hiện được mọi phép toán). Ví dụ xem hình 7.          Hình 7 .Trạng thái 0 biến đổi sau khi đi qua các cổng H và T          Máy tính lượng tử theo như ý tưởng ban đầu của Feynman là một máy tính có khả năng mô phỏng các quá trình vật lý và hoạt động theo những định luật của lý thuyết lượng tử .  Tiến đến QCA  Phải chăng Vũ trụ của chúng ta có thể biểu diễn thành một máy tính song song khổng lồ? Có lẽ đúng vậy nếu như máy tính này tuân theo những định luật của Vật lý lượng tử. Trong bài báo [3] Pablo Arrighi, Jonathan Grattage (hình 8) đã trình bày tổng quan ý tưởng này.           Hình 8. Từ trái sang phải: Pablo Arrighi, Jonathan Grattage          Đây là lĩnh vực nghiên cứu của những nhà vật lý thuộc thế hệ thông tin lượng tử, một lĩnh vực tích hợp lý thuyết thông tin (informatics), vật lý và toán học.  Một số nhà khoa học hàng đầu như Seth Lloyd (Massachusetts Institute of Technology, Mỹ) và Lee Smolin (Institut Perimeter, Canada) đã có nhiều đóng góp cho lĩnh vực này. Các tác giả này ủng hộ ý tưởng rằng vật lý lý thuyết không tập trung vào khái niệm vật chất mà cần phải tập trung vào khái niệm “thông tin-information”. Theo các tác giả này khi nghiên cứu những hạt đang chuyển động và tương tác với nhau cần phải nghiên cứu đại lượng entropie (vốn là một hàm đo thông tin) và sự trao đổi thông tin giữa những hệ.  Thật ra ý tưởng không mới. Entropie là đại lượng cơ bản trong nhiệt động học. Và nhận thức của những người quan sát ( người nhận thông tin) và các phép đo (những phương thức để thu nhận thông tin) chiếm một vị trí trung tâm trong lý thuyết tương đối và lý thuyết lượng tử. Hơn nữa lý thuyết thông tin đã giúp chúng ta nhiều tiến bộ trong việc tìm hiểu các hiện tượng lượng tử cơ bản. Ví dụ như hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement) nói trên đây.   Vật lý thông tin  Vật lý thông tin (information physics) cho phép chúng ta mô tả quá trình mất kết hợp lượng tử (quantum decoherence) giải thích được vì sao nguyên lý chồng chất, một nguyên lý cơ bản của lý thuyết lượng tử, không thể nào quan sát được ở kích thước vĩ mô. Năm 1935 Schrodinger đã đưa ra nghịch lý con mèo để làm ví dụ cho nghịch lý này.  Vật lý lý thuyết thực tế đã từ lâu là một lý thuyết “thông tin”. Điều chúng ta muốn phát triển xa hơn là vật lý thực chất trong tương lai có thể là một lý thuyết “tính toán” (computational). Để hiểu vấn đề này ta trở lại những năm 1970. Tại Mỹ những nhà khoa học như Edward Fredkin (Đại học Carnegie Mellon, và Tommaso Toffoli (Đại học Boston) đã đưa ra ý tưởng Vũ trụ là một máy tính song song khổng lồ. Trong khuôn khổ lý thuyết đó những hạt được xem như những bó thông tin chuyển động trong một mạng lưới khổng lồ của các microprocessor hơn là những thực thể vật chất chuyển động rồi va chạm và phân rã.  Từ những ý tưởng đó Robin Gandy một nhà toán học và logic học Anh đã đề xuất ý tưởng năm 1980: Vũ trụ có thể mô hình hóa bằng một máy tính cổ điển với bộ nhớ lớn vô cùng. Trong khuôn khổ ý tưởng này người ta thống nhất dùng những nguyên tắc sau đây:  * Các định luật vật lý là đồng nhất (có hiệu lực ở mọi nơi mọi thời điểm),  * Thông tin không thể truyền nhanh hơn vận tốc ánh sáng c,  * Robin Gandy đưa ra nguyên tắc cho rằng một thể tích hữu hạn của không gian chỉ chứa một lượng thông tin hữu hạn.   Như vậy nếu phân không gian thành những khối lập phương nhỏ thì trạng thái của mỗi hình lập phương ở thời điểm  t+1 sẽ là hàm số của trạng thái các hình lập phương lân cận ở thời điểm t. Các nhà lý thuyết thông tin gọi đây là quy tắc định xứ (local rule). Và như thế trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t+1 có thể tính được từ trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t bằng cách sử dụng quy tắc định xứ.  Tiến hành như vậy Gandy đi đến kết luận Vũ trụ là một máy tính khổng lồ song song hay nói cách khác cơ bản là một tế bào autômát.  Ý tưởng thông tin lượng tử của Feynman đầu năm 1980 mở ra hướng đi cho máy tính lượng tử. Phải nhờ máy tính lượng tử để tính toán những bài toán lượng tử, máy tính cổ điển không làm được việc này.  Tương tự như những máy tính cổ điển những máy tính lượng tử cũng được tổ chức thành mạng chuyển tải thông tin. Song bây giờ đơn vị thông tin không phải là những bit với các trạng thái 0 và 1 mà bây giờ là những qubit với trạng thái chồng chất của 0 và 1.  Để xử lý thông tin một máy tính lượng tử sử dụng những cổng logic (logical gates) nói ở phần trên.  Người ta có thể tạo nên một hạt có cùng một lúc 2 trạng thái: kích thích và không kích thích. Trong những thập kỷ cuối này nhiều nhóm thực nghiệm trên thế giới đã thực hiện nhiều mạng  lượng tử với những cổng cho một qubit như cổng Hadamard. Điều khó khăn là thực hiện các cổng cho hai qubit như cổng CNOT và những mạng  lượng tử với số lượng lớn.  Nhưng các khó khăn thực nghiệm không ngăn cản các phát triển lý thuyết. Người ta đã thay nguyên tắc mật độ thông tin hữu hạn của Gandy bằng giả thuyết cho rằng một thể tích không gian hữu hạn chỉ có thể chứa một số hữu hạn các qubit. Điều này dẫn đến một phiên bản mới của lý thuyết Gandy: đây là phiên bản lượng tử của tế bào autômát.  Trong phiên bản lượng tử này quá trình tiến triển (evolution) theo thời gian từ t đến  t+1  sẽ thực hiện được nếu sử dụng liên tiếp trong không gian một số cổng lượng tử lên các nhóm tế bào lân cận. Song những tế bào autômát lượng tử có những đặc tính nội tại (inherent) của lý thuyết lượng tử. Các tế bào này có thể nằm trong trạng thái chồng chất. Theo thời gian chúng có thể liên đới lượng tử với những tế bào khác nằm xa chúng.  Có thể xem ví dụ tế bào autômát lượng tử trong mô hình trò chơi lượng tử của sự sống[4]. Trong mô hình này mỗi tế bào có thể hoặc “sống” hoặc “chết” hoặc nằm trong trạng thái chồng chất của hai trạng thái đó. Sự biến đổi của mạng sẽ thu được bằng cách áp dụng một cổng lượng tử lên những khối lập phương của hai tế bào bên cạnh. Nếu ý tưởng ban đầu của Gandy là đúng thì về mặt lý thuyết chúng ta có thể nghĩ rằng có thể miêu tả vũ trụ như một tế bào autômát lượng tử rất lớn. Trong quan điểm đó thì vật lý có cứu cánh là suy ra “chương trình” của máy tính khổng lồ lượng tử này.  Những quy tắc phổ quát  Mục đích của vật lý sẽ là dò tìm các quy tắc cập nhật nhờ các thí nghiệm càng ngày càng chính xác tựa như những thí nghiệm thực hiện tại LHC, Geneve. Như vậy chắc là quy tắc tìm ra có lẽ không quá đơn giản vì vũ trụ vốn phức tạp mà phải đủ phức tạp để bao trùm những quy tắc khác: tính chất đó gọi là “tính phổ quát nội tại” (intrinsic universality). Trước mắt QCA còn lại nhiều chướng ngại vật.  Bài toán lan truyền tín hiệu và lý thuyết tương đối  Một chướng ngại đối với các mô hình tế bào autômát lượng tử QCA là các mô hình này không đẳng hướng; khi chúng ta sử dụng một mạng vuông, những tín hiệu lan truyền nói chung theo bốn hướng tọa độ nhanh hơn là theo hướng đường chéo. Như vậy các mô hình sử dụng mạng vuông như thế để làm hệ quy chiếu khó lòng mô phỏng được sự lan truyền sóng mặc dầu có thể mô phỏng gần đúng.   Một chướng ngại tiếp theo là vật lý số lượng tử chưa tích hợp được lý thuyết tương đối rộng (giống như những lý thuyết số cổ điển trước đây chưa tích hợp được lý thuyết lượng tử). Như vậy cần phát triển thêm lý thuyết tế bào autômát lượng tử để vượt qua các chướng ngại trên.  Đối với chướng ngại thứ hai các tác giả về hấp dẫn lượng tử như Tomasz Konopka, Fotini Markopoulou và Lee Smolin[5] đã nêu lên hướng giải quyết ban đầu. Chúng ta có thể hy vọng một phiên bản vật lý số lượng tử tương đối tính sẽ xuất hiện trong các thập kỷ sắp đến. Trong lý thuyết mới tế bào autômát lượng tử với tính phổ quát nội tại sẽ đóng vai trò quan trọng.  Các nhà vật lý cần “lượng tử hóa” máy tính. Vậy thay vì CA (Cellular automaton) chúng ta sẽ có QCA (quantum cellular automaton). QCA sẽ mô tả được lối hành xử của những hệ lượng tử. Như vậy QCA bao trùm mọi lĩnh vực tính toán lượng tử.  Chú ý các quy tắc cập nhật (update rule) là định xứ (local) và đồng nhất ( homogenous) như các định luật vật lý. Vì lý do đó người ta mô hình các hệ vật lý nhờ CA. Ngược lại nếu chúng ta có thể tìm được một cơ chế vật lý thực hiện quy tắc cập nhật thì chúng ta có thể dùng cơ chế đó để đưa CA vào thế giới khách quan và thực hiện các phép tính.  Song vấn đề là cần phải lượng tử hóa CA thành QCA vì thế giới khách quan vốn phải tuân theo lý thuyết lượng tử.  QCA là kết quả “ lượng tử hóa” CA  Câu chuyên bắt đầu từ công trình nổi tiếng của Feynman năm 1982 “ Mô phỏng vật lý bằng máy tính”. Phải nhiều năm trôi qua thì khái niệm đó của Feynman mới định dạng được .  Người có công lớn là John Watrous nhờ công trình năm 1995. Ý tưởng chính của tác giả này là thay các quy tắc cập nhật cổ điển, tất định luận bằng các quy tắc cập nhật lượng tử. Ý tưởng này được Horowitz trình bày ngắn gọn dưới dạng sơ đồ sau đây[6].  Như ta thấy trong quy tắc 110 của CA ta có quy tắc (xem hình 9).            Hình 9. Một quy tắc trong 110             Bây giờ muốn lượng tử hóa CA ta phải thay những quy tắc cổ điển trên bằng những quy tắc cập nhật lượng tử như quy tắc ở hình 10.           Hình 10. Quy tắc cập nhật lượng tử          Như vậy trước đây quy tắc cập nhật có thể xem như một ánh xạ các trạng thái của các tế bào bên trái (left), bên phải (right) và bản thân tế bào cũ (old) nằm ở giữa hai tế bào trên thành trạng thái của một tế bào mới (new).                  Trong đó Q = tập các trạng thái của tế bào. Nay quy tắc cập nhật lượng tử sẽ có dạng mới xác định biên độ của sự chuyển tiếp từ tế bào cũ và các lân cận thành một biên độ (amplitude).                  Xuất phát từ các quá trình chuyển biên độ định xứ (local) đó chúng ta có thể tính được sự chuyển biên độ toàn xứ (global) quét mọi tế bào đánh dấu i .                  Như thế ta có một toán tử xác định quá trình tiến triển của mạng tế bào (evolution operator) trong không gian Hilbert:                  Toán tử U phải là một toán tử unita. Nhờ toán tử này chúng ta có thể  thực hiện được quá trình lượng tử hóa CA hay nói cách khác chuyển CA thành QCA là đối tượng cuối cùng chúng ta quan tâm.   Kết luận   Như vậy người ta có thể xây dựng được QCA, một công cụ lượng tử cần thiết để mô tả vũ trụ. Xem vũ trụ là một máy tính lượng tử khổng lồ như nói ở trên là một quan điểm nhằm tiến đến một lý thuyết thống nhất tối hậu của vật lý. Quan điểm này dẫn đến một hình hệ  (paradigm) mới dựa trên thực thể cơ bản là thông tin chứ không phải là vật chất. Đây là một hướng nghiên cứu mở ra nhiều triển vọng, một hướng nghiên cứu tích hợp lý thuyết thông tin (informatics),vật lý và toán học.   ———–  Tài liệu tham khảo   [1]   Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS | ON LINE, 2007  [2]   Tại sao quy tắc này có tên là quy tắc 110?  Hãy nhìn dãy số ứng với trạng thái của tế bào nằm giữa trên hàng dưới (hình 3):   01101110= trong hệ nhị phân dãy số này bằng =  0.2 7 + 1.2 6+ 1.2 5 + 0.2 4 + 1.2 3 + 1.2 2 +1.2 1 + 0.2 0 =  64+32+8+4+2 =110. Vì thế quy tắc này gọi là quy tắc 110.  Nếu dãy số ứng với trạng thái của tế bào nằm giữa trên hàng dưới của hình 2 lại là : 00011110 thì chúng  ta có quy tắc 30.  [3] Pablo Arrighi, Jonathan Grattage, Le monde est un ordinateur quantique La recherche , Sept.2012 p.72  [4] P. Arrighi et J. Grattage,Proceedings of JAC 2010,2010.  [5]  Tomasz Konopka, Fotini Markopoulou and Lee Smolin,Quantum Graphity,arXiv:hep-th/0611187v, 17 November 2006  [6] Joshua Horowitz, An Introduction to Quantum Cellular Automata  web.mit.edu/joshuah/www/projects/qca.pdf      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào gốc sẽ “thay đổi cuộc chơi” trong chữa trị bệnh tật      Nhiều quốc gia, khu vực đang phát triển cũng đã sử dụng các liệu pháp chữa trị bằng tế bào gốc.              Sử dụng liệu pháp chữa trị bằng tế bào gốc ở Nam Phi. Ảnh: theconversation.com  Những quan điểm dưới đây của bác sĩ Deepak Srivastava, nhà nghiên cứu uy tín về tế bào gốc, hiện là Chủ tịch Viện Nghiên cứu Gladstone và sẽ là Chủ tịch của Hiệp hội Nghiên cứu tế bào gốc quốc tế nhiệm kỳ tới, tại hội thảo quốc tế (thường niên) về nghiên cứu tế bào gốc 2019 trong tuần trước cho chúng ta thấy tại sao tế bào gốc lại là một yếu tố giúp “thay đổi cuộc chơi” trong triển vọng chữa trị bệnh tật.  Giúp tái tạo và thay thế  Trước đây, các bác sĩ thường cho rằng con người sẽ mắc các bệnh do cơ quan trong cơ thể bị mất tế bào (do tổn thương hoặc lão hóa). Khi số lượng tế bào bị mất nhiều tới mức tế bào không có hoặc ít có khả năng tái tạo đủ dẫn đến chức năng của cơ quan bị suy yếu.  Vì vậy trong lĩnh vực y tế, các bác sĩ chỉ có thể cố gắng tìm ra các liệu pháp để giúp khắc phục các ảnh hưởng của bệnh. Nhưng với các tế bào gốc, các nhà nghiên cứu đã không còn chấp nhận ý tưởng này rằng mọi người bị bệnh do các tế bào bị mất và rằng y tế chỉ có thể khắc phục được ảnh hưởng của bệnh. Trong cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu, các mô tổn thương có thể được khắc phục, khôi phục hoặc tái tạo. Vì vậy, Tế bào gốc trở thành một yếu tố “thay đổi cuộc chơi” trong trị liệu bệnh của con người.  Đối với các bệnh lý về di truyền, ví dụ như bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, các nhà nghiên cứu có thể lấy máu từ bất kỳ người trưởng thành nào bị mắc bệnh, sau đó làm cho tế bào đó trở thành tế bào gốc giống tế bào gốc phôi. Tiếp theo, họ sử dụng các công cụ điều chỉnh gene để sửa chữa các đột biến gây ra bệnh, làm cho các tế bào gốc đã được chỉnh sửa này có thể biệt hóa để tạo thành tế bào trưởng thành không bị bệnh và đưa tế bào đã được chỉnh sửa gene (không đột biến) trở lại bệnh nhân thông qua truyền máu đơn giản.  Điều tương tự cũng đúng đối với các tế bào miễn dịch trong hội chứng “cậu bé bong bóng xà phòng (bubble boy)” – một dạng suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng, trong đó trẻ em thiếu hệ thống miễn dịch hoạt động và các loại khác.  Giúp tìm ra các loại thuốc đột phá  Nghiên cứu tế bào gốc không chỉ để tái tạo và thay thế, mà còn để khám phá ra các loại thuốc thích hợp cho một loạt bệnh. Khi các nhà nghiên cứu hoặc các bác sĩ xác định được nguyên nhân di truyền của bệnh ở người, thách thức của họ là tìm ra liệu pháp điều trị căn bệnh di truyền này. Ví dụ: khi họ biết về một đột biến gene gây ra bệnh Alzheimer và muốn sàng lọc các loại thuốc có thể khắc phục vấn đề trong các tế bào não từ một bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer, không thể làm điều đó bởi vì họ chắc chắn không thể sinh thiết não.  Với các công cụ chỉnh sửa gene cho tế bào gốc, các nhà nghiên cứu có thể biến tế bào gốc thành các tế bào não với sự đột biến gây ra bệnh Alzheimer. Sau đó họ đưa các loại thuốc cần thử nghiệm lên loại tế bào này để sàng lọc các loại thuốc có thể hỗ trợ điều trị bệnh Alzheimer.  Khi các nhà nghiên cứu biến tế bào gốc thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể chúng ta, họ thường thực hiện nuôi cấy tế bào ở dạng 2D (nuôi cấy lớp đơn). Nhưng trong thực tế, các cơ quan lại tồn tại ở dạng ba chiều với một cấu trúc gồm nhiều loại tế bào khác nhau để tạo thành môt cơ quan có chức năng hoàn chỉnh. Để hiểu chính xác hơn các quá trình bệnh, các tế bào nên được đặt trong một cấu trúc 3D như trong chính cơ thể của chúng ta chứ không phải chỉ được nuôi trong một đĩa nuôi 2D.  Bước đột phá nằm trong nghiên cứu liên quan đến việc tạo ra một dạng cơ quan (organoids) với sự phối hợp của nhiều loại tế bào. Organoids không phải là các cơ quan đầy đủ nhưng chúng mô phỏng được phần lớn sự phức tạp của một cơ quan.  Việc tạo ra organoids có giá trị lớn trong y học bởi vì, khi chúng ta cố gắng tạo ra các organoids có chứa đột biến gây bệnh, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của thuốc. Thay vì sàng lọc các loại thuốc trong hệ thống 2D, chúng ta có thể làm điều đó với các organoids để đưa ra một dự đoán tốt hơn về cách thức mà một cơ quan với chức năng hoàn thiện sẽ hoạt động.  Organoids là sự hội tụ của nhiều công nghệ giúp chúng ta điều trị bệnh ở người theo một cách rất khác so với trước đây. Chúng ta đã đạt đến một bước ngoặt thực sự trong việc đưa các nghiên cứu trong lĩnh vực y học tái tạo đến với người bệnh. Hiện tại, nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành, ví dụ các thử nghiệm trong chấn thương cột sống, bệnh Parkinson và bệnh mù lòa. Xét ở góc độ các nguyên nhân gây ra bệnh là do các tế bào ở vùng tổn thương bị chết đi, các điều trị đơn giản là biến các tế bào gốc thành các tế bào bị thiếu và cấy chúng trở lại vị trí tổn thương.  Tế bào gốc có thể giúp thay đổi cục diện điều trị bệnh tại Việt Nam?  Tế bào gốc đang trở thành một lĩnh vực với doanh thu ngày một tăng nhanh ở các nước có sự đầu tư lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Canada… Tại Việt Nam, các đơn vị đầu tư cho tế bào gốc, đặc biệt là một số bệnh viện cũng đang hưởng lợi lớn từ hoạt động ứng dụng công nghệ này trong điều trị bệnh và làm đẹp. Các nghiên cứu cơ bản về gene, tế bào gốc, kỹ nghệ mô đã và đang được thực hiện với quy mô ngày một lớn với định hướng ứng dụng vào thực tế. Các động vật chuyển gene như cá phát sáng, chuột phát sáng hay một số sản phẩm chuyển gene khác đã được tạo ra tại các phòng thí nghiệm của Trung tâm Công nghệ sinh học TP-HCM, Viện Tế bào gốc, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trường Đại học Quốc tế, ĐHQG-HCM… Các mô hình organoids từ tế bào ung thư, tế bào gốc utrung mô… cũng đã được xây dựng thành công và đang áp dụng trong các thử nghiệm sàng lọc thuốc.  Tiềm năng cho nghiên cứu tế bào gốc là rất lớn, bởi hiện nay các doanh nghiệp nước ngoài cũng đã tham gia vào thị trường sản xuất và chuyển giao công nghệ thuốc tế bào gốc.  Tiềm năng là thế, nhưng cũng giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam vẫn chưa có các chính sách về tế bào gốc. Mặc dù đã được dự thảo từ năm 2015 nhưng đến nay, sau gần bốn năm, luật về máu và tế bào gốc vẫn chưa được ban hành, cũng như chưa có thêm các hướng dẫn khác về việc triển khai nghiên cứu, khai thác, ứng dụng hay các hoạch định chiến lược cho lĩnh vực nghiên cứu này. Các đề tài dự án về tế bào gốc chưa được định hướng và quy hoạch một cách rõ ràng. Các dự án đầu tư về sản xuất và ứng dụng tế bào gốc trong y học vẫn đang được các đơn vị mà chủ yếu là tư nhân thực hiện nhưng mạnh ai nấy đi. Đó cũng là lí do khiến cho việc khởi động một nền công công nghiệp đầy tiềm năng – công nghiệp tế bào gốc tại Việt Nam đến nay vẫn đang manh mún và chưa thể nhìn thấy được cụ thể hiệu quả đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội của lĩnh vực này.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/te-bao-goc-se-thay-doi-cuoc-choi-trong-chua-tri-benh-tat/20190704022928716p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào gốc từ tinh hoàn thay tế bào từ phôi người      Các nhà khoa học thuộc Trung tâm sinh học tái sinh và y học tại Tuebingene (Đức) đã chứng minh được rằng tế bào gốc lấy từ tinh hoàn ở nam giới có thể thay thế tế bào gốc lấy từ phôi người, mở ra triển vọng mới cho việc phát triển các mô thay thế ở người.    Theo Nature, các nhà nghiên cứu đã lấy tế bào gốc từ các mô tinh hoàn đã được sinh thiết của 22 nam giới trong độ tuổi từ 17 đến 81. Sau vài tuần, những tế bào trên đã phát triển thành những tế bào khác nhau tương tự như những tế bào được hình thành từ tế bào gốc lấy từ phôi người. Phát hiện mới này sẽ giúp các nhà khoa học tránh được các vấn đề liên quan đến đạo đức và tín ngưỡng trong quá trình nghiên cứu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào thần kinh có thể học tập dự đoán các hoạt động tương lai      Suốt nhiều thế kỷ, con người đã cố gắng tìm hiểu cách não bộ hoạt động và thu thập thông tin. Mặc dù các nhà thần kinh học đã có hiểu biết khá tốt về cách hoạt động và chức năng của các phần não bộ khác nhau song vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp. Do vậy, chúng ta vẫn đang thiếu một lý thuyết khoa học thần kinh thống nhất.      Những năm gần đây, các nhà khoa học máy tính đã cố gắng tạo ra nhiều công cụ tính toán bắt chước chức năng và quy trình vận hành của não bộ. Những lý thuyết mới về khoa học thần kinh làm rõ cách bộ não đưa ra dự đoán có thể tăng cường đáng kể các công cụ này – giúp chúng tái tạo các chức năng thần kinh theo nhiều cách thực tế.   Gần đây, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học thần kinh hành vi ở Đại học Lethbridge (Canada) đã thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu cách học tập và đưa ra dự đoán tương lai của từng tế bào thần kinh riêng lẻ. Kết quả đã được công bố trên tạp chí Nature Machine Intelligence.  “Về giai đoạn sinh học, khoa học thần kinh hiện đang ở trước thời Darwin. Nó có vô số quan sát chi tiết, nhưng không có một lý thuyết duy nhất nào giải thích mối liên hệ giữa chúng. Do đó, nhiệm vụ lớn trong khoa học thần kinh là tìm ra các nguyên tắc thống nhất để giải thích cách bộ não hoạt động. Công trình của chúng tôi nhằm đóng góp cho nhiệm vụ này”. Artur Luczak, thành viên nhóm nghiên cứu, giải thích.   Bằng cách sử dụng các phương trình toán học, Luczak và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng khả năng dự đoán của từng tế bào thần kinh riêng lẻ có thể cung cấp một cơ chế học tập mới có khả năng nhân rộng trong máy móc. Theo các nhà nghiên cứu, quá trình học tập này có thể bắt nguồn từ sự trao đổi chất vì các tế bào thần kinh cần giảm thiểu vận động của synap đồng thời tối đa hóa tác động của chúng đối với nguồn cung máu cục bộ thông qua việc tuyển mộ các tế bào thần kinh khác.  “Chúng ta học được rằng những đám mây đen xuất hiện báo hiệu trời sẽ mưa, dự đoán sẽ giúp bạn giữ khô ráo và do đó tiết kiệm nhiệt lượng. Tương tự, các tế bào thần kinh có thể biết rằng một X lượng hoạt động đầu vào sẽ thường theo sau bởi Y lượng hoạt động đầu ra. Bằng cách điều chỉnh các synap thần kinh để giảm thiểu chênh lệch bất ngờ giữa hoạt động thực tế và dự kiến, tế bào sẽ tiết kiệm được năng lượng nhờ việc chỉ hoạt động khi cần thiết. Chúng tôi đã chỉ ra rằng quy tắc học tập dự đoán phát sinh một cách tự nhiên, là kết quả của việc tối đa hóa năng lượng trao đổi chất của một tế bào thần kinh”, Luczak giải thích.   Trong bài báo của họ, Luczak gọi cơ chế học tập này là “nguyên tắc thần kinh lười biếng”. Nhóm nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn về cơ chế chính xác cho phép một tế bào thần kinh đơn lẻ đưa ra dự đoán, nhưng họ tin rằng chúng có thể liên quan đến tín hiệu canxi (một quá trình sử dụng các ion canxi để giao tiếp và thúc đẩy những quá trình liên tế bào).   “Điều thú vị là kết quả của chúng tôi cũng cho thấy hoạt động tự phát của não (ví dụ, trong khi ngủ) cung cấp ‘dữ liệu đào tạo’ cho các tế bào thần kinh để học cách dự đoán X từ giá trị Y”, Luczak nói.  Kết quả nghiên cứu có thể đem lại nhiều ý nghĩa thú vị với cả lĩnh vực khoa học thần kinh và học máy. Nhìn chung, những phát hiện của họ cho thấy một cơ chế dự đoán làm nền tảng cho hoạt động của từng tế bào thần kinh riêng lẻ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc học tập.  “Trong tương lai, ý tưởng này cũng có thể giúp tạo ra các mạng lưới thần kinh nhân tạo mạnh hơn để giải quyết các vấn đề thực tế đầy thách thức”, Luczak nói. “Tôi tin rằng quy tắc học tập dự đoán mà chúng tôi đã khám phá là một bước quan trọng để tìm ra một lý thuyết thống nhất về bộ não. Tuy nhiên, cần nhiều bước hơn nữa để đạt được điều này và chúng tôi rất vui mừng được tiếp tục hành trình này”. □  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2022-02-individual-neurons-future.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào thần kinh nhân tạo nhanh hơn não người      Michael Schneider, nhà vật lý tại Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST), cùng các cộng sự chế tạo thành công chip máy tính siêu dẫn mô phỏng theo tế bào neuron thần kinh có thể xử lý thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn so với não người.      Nơron thần kinh có chức năng lưu trữ và truyền tải thông tin trong não. Ảnh: CNRI/SPL.  Đây là một dấu ấn quan trọng trong sự phát triển của thiết bị máy tính hiện đại có khả năng bắt chước các hệ thống sinh học, đồng thời mở ra cánh cửa để chế tạo phần mềm học học (machine-learning software) hoạt động tự nhiên hơn. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science Advances hôm 26/1.  Phần mềm trí tuệ nhân tạo đang ngày càng bắt chước não nhiều hơn. Các thuật toán như phân loại hình ảnh tự động và chương trình học ngôn ngữ của Google sử dụng mạng lưới neuron nhân tạo để thực hiện nhiệm vụ phức tạp. Tuy nhiên, do phần cứng của máy tính thông thường không được thiết kế để chạy thuật toán mô phỏng cách thức hoạt động não nên các nhiệm vụ học máy (machine-learning task) đòi hỏi sức mạnh tính toán lớn hơn so với não người.  NIST là một trong số ít các nhóm nghiên cứu đang cố gắng phát triển phần cứng bắt chước bộ não con người, hay chip neuromorphic, với hy vọng nó sẽ chạy phần mềm mô phỏng não hiệu quả hơn. Trong hệ thống điện tử thông thường, bóng bán dẫn xử lý thông tin ở những khoảng thời gian đều nhau với giá trị chính xác (bit 1 hoặc 0) nhưng thiết bị neuromorphic có thể lưu trữ một lượng nhỏ thông tin từ nhiều nguồn, biển đổi nó để tạo ra một loại tín hiệu khác và chỉ phát ra xung điện khi cần thiết, giống như neuron sinh học. Kết quả là các thiết bị neuromorphic đòi hỏi ít năng lượng hơn để vận hành.  Tuy nhiên, những thiết bị này vẫn không hiệu quả, đặc biệt là khi chúng truyền tải thông tin qua khoảng trống, hay khớp thần kinh (synapse), giữa các bóng bán dẫn. Vì vậy, nhóm nghiên cứu của Schneider đã tạo ra khớp thần kinh nhân tạo bao gồm các điện cực được làm bằng niobium (Nb) siêu dẫn – dẫn điện mà không có điện trở. Họ lấp đầy khoảng trống giữa các điện cực bằng hàng nghìn cụm hạt nano (nanocluster) của mangan (Mn) có từ tính.  Bằng cách thay đổi từ trường trong khớp thần kinh nói trên, các cụm hạt nano Mn có thể được định hướng theo các hướng khác nhau. Điều này cho phép hệ thống mã hóa thông tin ở cả hai mức độ điện và theo hướng từ tính, tạo ra sức mạnh tính toán lớn hơn nhiều so với các hệ thống neuromorphic khác mà không chiếm thêm không gian vật lý.  Các khớp thần kinh nhân tạo có thể truyền tín hiệu điện nhanh hơn tế bào neuron thần kinh của con người, nhưng chỉ sử dụng 1/10.000 mức năng lượng so với một khớp thần kinh sinh học.  Vấn đề đặt ra là các khớp thần kinh chỉ có thể hoạt động ở nhiệt độ gần với độ không tuyệt đối và cần được làm mát bằng heli lỏng. Steven Furber – kỹ sư máy tính tại Đại học Manchester (Anh) – cho biết, điều này là không khả thi nếu sử dụng các con chip trong thiết bị nhỏ. Tuy nhiên, Schneider nói rằng việc làm mát các thiết bị này đòi hỏi năng lượng ít hơn nhiều so với vận hành một hệ thống điện tử thông thường với khả năng tính toán tương đương.  “Phải mất một thời gian dài trước khi những con chip có thể áp dụng cho máy tính thực. Ngoài ra, chúng cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều thiết bị tính toán mô phỏng não người khác đang được phát triển”, Carver Mead, kỹ sư điện tại Viện Công nghệ California (Mỹ), nói.  Quốc Hùng lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-01290-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào từ mắt người chết có thể mang lại ánh sáng cho người mù      Các nhà nghiên cứu Anh Quốc mới đây nói có  khả năng khôi phục thị lực cho người mù bằng cách sử dụng tế bào lấy từ  mắt người đã chết hiến tặng.     Tạp chí Y học chuyển hóa tế bào gốc (Stem Cells Translational Medicine) số ra gần đây đưa tin các thí nghiệm thực hiện trên loài chuột chứng tỏ có thể sử dụng tế bào của con người để phục hồi một phần thị lực của những con chuột bị mù 100%.  Theo nhóm nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu nhãn khoa (Institute for Ophthalmology) thuộc Học viện Đại học London (University College London – UCL), kết quả tương tự tiến hành trên cơ thể người sẽ có thể cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của những người mù, tuy rằng chưa đủ để giúp họ phục hồi năng lực đọc chữ viết.   Từ lâu ngành y nhiều nước đã sử dụng giác mạc mắt hiến tặng để cải thiện thị lực cho một số người mù. Nhưng để thực hiện cùng mục đích đó, Viện Nghiên cứu nhãn khoa không dùng giác mạc mà chỉ dùng một loại tế bào đặc biệt chiết xuất từ phần sau của mắt người đã chết hiến tặng. Tế bào chất keo Muller (Muller glia cells) này là một loại tế bào gốc của người đã trưởng thành, có thể dùng để chữa trị một loạt bệnh có trở ngại về thị lực.  Trong phòng thí nghiệm, dưới tác động kích thích của hóa chất, những tế bào chất keo sẽ chuyển hóa thành tế bào thị lực dạng que (rod cells) tạo ra cảm giác ánh sáng trên võng mạc. Các nhà nghiên cứu tiêm hàng chục nghìn tế bào đó vào phía sau mắt những con chuột thí nghiệm mù 100%; kết quả đã phục hồi được một phần thị lực của một số chuột. Nhưng hiệu quả của công nghệ mới này chưa cao: trong số hơn 200 nghìn tế bào gốc đã tiêm chỉ có khoảng 1.000 tế bào kết hợp được với kết cấu của mắt. Ảnh chụp scan não các trường hợp này cho thấy 50% tín hiệu điện giữa mắt và não đã được phục hồi sau khi điều trị theo cách nói trên.   Một trong số các nhà nghiên cứu là GS Astrid Limb nói với hãng tin BBC rằng sự biến đổi đó có thể có ý nghĩa đối với những người mù được điều trị theo biện pháp tương tự, đem lại kết quả cải thiện thị lực ở mức độ nhất định. “Có lẽ họ chưa đọc được sách báo nhưng có thể đi vòng tránh cái bàn trong phòng. Họ có thể nhận ra bình nước và tách chén để pha trà. Chất lượng cuộc sống của họ sẽ tốt hơn trước nhiều, cho dù chưa đọc được sách báo và chưa xem được truyền hình,” ông nói.  Tế bào gốc còn có thể giúp cho việc điều trị những người mắc các bệnh như thoái hóa điểm vàng (macular degeneration) hoặc biến tính sắc tố thị võng mạc (retinitis pigmentosa). Thí nghiệm tế bào gốc nói trên sử dụng vật liệu lấy từ bào thai, nhưng đòi hỏi thời gian vài tháng để chuẩn bị nguyên liệu, trong khi các tế bào Muller có thể chuẩn bị xong trong vòng một tuần.  GS Limb bình luận: “Nguồn vật liệu ấy dễ kiếm hơn và rất dễ xử lý trong phòng thí nghiệm, vì thế chúng có triển vọng hơn, nhưng chúng cũng thể hiện các kháng nguyên có thể dẫn đến phản ứng miễn dịch.”  Nghĩa là tế bào được hiến tặng có thể bị đào thải như khi cấy ghép nội tạng.  Nhóm nghiên cứu tin rằng các thí nghiệm lâm sàng liên quan có thể bắt đầu trong vòng ba năm tới.   Ngay từ giữa năm 2013, các nhà khoa học Anh đã cho biết liệu pháp tế bào gốc sẽ giúp cho việc phục hồi thị lực của người mù có tiến triển lớn. Kết luận này được đưa ra sau khi Bệnh viện nhãn khoa Moorfields và UCL đã tiến hành thí nghiệm trên động vật trong thời gian 5 năm. Các chuyên gia đánh giá đây là một đột phá quan trọng, bước tiến lớn có ý nghĩa hiện thực trong lĩnh vực nghiên cứu thực tế việc khôi phục thị lực cho người khiếm thị.  Nguyễn Hải Hoành dịch theo BBC    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tế bào tua – phương pháp trị liệu ung thư mới      TS Nguyễn Đức Thái – cố vấn khoa học và giảng viên Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM, trò chuyện với Tia Sáng về tiềm năng ứng dụng tế bào tua, một thành tựu đã được khẳng định của y học thế giới, vào điều trị ung thư ở Việt Nam.    Ông có thể cho biết tế bào tua có ý nghĩa quan trọng gì?  Từ khám phá đầu tiên của Ralph Steinman năm 1973 cho tới nay, đã có gần 100.000 báo cáo khoa học về tế bào tua (Dendritic Cell – DC) với những kết quả có ý nghĩa quan trọng về nghiên cứu và ứng dụng trị liệu; có thể tóm lược như sau:  – Về nghiên cứu chức năng, DC có khả năng tóm bắt và trình diện các kháng nguyên của vi, siêu vi và quan trọng là cho các kháng nguyên của tế bào ung thư rất cao và mạnh hơn những tế bào miễn dịch thông thường khác như đại thực bào hoặc tế bào lympho B. Ngoài ra, DC có tính di động rất cao, DC có thể đi nhiều nơi trong cơ thể để bắt và mang các kháng nguyên lên tuyến T. Tại đây, DC sẽ đào tạo một số lượng lớn tế bào T [một trong ba loại tế bào chuyên biệt của hệ miễn dịch] có khả năng tới khắp mọi vùng trong cơ thể để nhận diện và tiêu diệt các tế bào ung bướu. Ngoài ra, DC có khả năng nhận diện một số lớn vi khuẩn của cả hai loại gram (+) và (-), và điều này cho thấy DC đóng một vai trò rất quan trọng về phòng chống các bệnh nhiễm trùng.  – Về trị liệu, phương pháp ngoại vi (ex-vivo) thường được áp dụng qua việc nuôi cấy tế bào DC từ máu bệnh nhân và cho tiếp cận với kháng nguyên cũng từ ung bướu của người bệnh với những yếu tố tăng sinh tế bào, sau đó là kích hoạt để tạo thành nhóm DC có hoạt tính chống ung thư mạnh. Các DC hoạt tính này được truyền trở lại cho bệnh nhân để gây hiệu ứng miễn dịch trị liệu. Phương pháp ngoại vi dùng đơn bào từ máu cuống rốn, hoặc máu bệnh nhân để sản xuất DC; hoặc tế bào gốc tạo máu; hoặc có thể dùng tế bào máu DC ngoại biên của bệnh nhân, tuy nhiên số lượng tế bào thu được thường rất nhỏ. Hình 1 mô tả qui trình dùng phương pháp ngoại vi.         Tương tự, kháng nguyên của virus gây bệnh AIDS đã được dùng để kích hoạt DC ngoại vi và truyền lại để chủng ngừa cho bệnh nhân.   Gần đây, phương pháp nội vi (in-vivo) không ly trích DC mà dùng các kháng thể chuyên biệt của DC mang kháng nguyên ung bướu để truyền thẳng cho bệnh nhân. Cả hai phương pháp đều đang được nghiên cứu sâu rộng để hoàn chỉnh cho ứng dụng trị liệu.  Thưa ông, hướng dùng tế bào gốc (TBG) để nhân lượng tế bào tua có những khó khăn gì và mức độ an toàn ra sao?  Như nói trên, có những phương pháp khác nhau để tạo DC. Phương pháp dùng TBG cần dùng những dụng cụ và kỹ thuật phức tạp hơn so với một số phương pháp khác, và việc sản xuất DC có thể không thuần chủng. Việc sản xuất thuần chủng rất quan trọng cho trị liệu. Hãng Dendreon đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống nuôi cấy tự động để có thể sản xuất một số lớn lượng tế bào DC thuần chủng. Về lợi điểm, theo báo cáo khoa học, phương pháp TBG tạo DC có đặc tính trình diện kháng nguyên tốt hơn, thêm vào đó có khả năng kích hoạt tế bào sát thủ Tcyt mạnh hơn nên khả năng trị liệu cao. Cho đến nay, theo chúng tôi được biết thì chưa có báo cáo về những vi phạm an toàn của DC tạo từ TBG.   Vì sao ông cho rằng hiện nay nếu dùng tế bào miễn dịch trị liệu ung thư thì tế bào tua là tiềm năng và giá trị nhất?  Với đà phát triển của ngành miễn dịch học, có rất nhiều ứng dụng trị liệu cho ung thư. Trong đó có ứng dụng tế bào trị liệu gồm tế bào gốc, tế bào Tcyt độc tính, Treg điều hoà, NK sát thủ và DC. Hiện nay, DC được coi là giá trị nhất vì như nói trên, DC nắm vai trò điều hòa toàn thể các tế bào của hệ miễn dịch. Trong thực hành, trị liệu DC có độ an toàn cao so với các trị liệu ung thư khác. Đây chính là yếu tố nổi trội của DC khi chúng ta phải chọn lựa giải pháp an toàn cho bệnh nhân, vì các trị liệu ung bướu như hóa và xạ trị thường gây những phản ứng phụ nguy hại. So với việc dùng tế bào gốc, DC là loại tế bào đã biệt hóa ổn định nên việc kiểm soát chức năng và hiệu quả trị liệu đơn giản và an toàn hơn. Cho tới nay đã có trên 1.000 thử nghiệm lâm sàng dùng DC và chưa có tai nạn đáng kể nào xảy ra (với trên 150 ca vào giai đoạn 3 và gần 600 ca trong giai đoạn 2); các thử nghiệm DC để trị liệu nhiều loại ung bướu gồm u ác tính, u tuyến tiền liệt, ung thư thận di căn, ung thư ngực, ruột, não bộ và một số bệnh ung thư máu.  Tuy nhiên trong trào lưu tiến triển rất nhanh và đa dạng của ngành miễn dịch học hiện đại, chúng ta cần tiếp cận nhanh chóng những thay đổi và đánh giá xác đáng để cập nhật thích hợp cho những ứng dụng cần thiết và tốt đẹp. Gần đây, song song với DC, các kết hợp với kháng thể đơn dòng, các phương pháp sinh học hỗ trợ dùng CpG, cytokines đang mang lại định hướng mới cho trị liệu DC. Nhìn xa hơn, những tiến triển mới về tế bào T gồm Tcyt chuyển gene, hoặc TBG chuyển gene đang dẫn đến những thử nghiệm lâm sàng cho trị liệu ung thư cũng rất phấn khởi.      Vậy các lợi điểm và hạn chế của tế bào tua hiện nay là gì, thưa ông? Và những cải tiến cần thiết?          Chúng tôi tin tưởng rằng với năng lực của  các nhà khoa học Việt Nam và điều kiện vật chất sẵn có, việc triển khai  DC ở trong nước là khả thi và có nhiều tiềm năng thành công, mang lại cơ  hội mới cần thiết để hỗ trợ việc trị liệu căn bệnh ung thư đang bùng  phát ở nước ta.   TS Nguyễn Đức Thái        Trong thử nghiệm ở mô hình súc vật, DC có khả năng tạo miễn dịch rất cao đối với các khối u và ứng dụng trị liệu của DC cho các bệnh nhân ung bướu đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Một số nghiên cứu lâm sàng ở người cho thấy DC có thể loại trừ các tế bào ung bướu, kể cả ở giai đoạn đề kháng hoặc đã lan truyền và đạt kết quả trên 80% như cho bệnh u ác tính melanoma dù ở giai đoạn 4. Tuy nhiên, hiệu năng DC thay đổi tùy loại bệnh, điều kiện sinh lý của bệnh nhân và còn ở mức thấp (khoảng 10%). Các chuyên gia tin tưởng rằng ứng dụng của DC sẽ rộng lớn và quan trọng cho nhiều bệnh ung bướu khi liệu pháp DC được cải tiến từ những nghiên cứu chuyên sâu, và hiện đã có rất nhiều trung tâm nghiên cứu sinh học uy tín quốc tế triển khai các chủ đề về DC. Ngoài các công ty biotech chuyên về DC, một số công ty dược lớn cũng đã tham gia nghiên cứu DC cho trị liệu ung bướu.  Vì tính đa dạng và vai trò phức tạp của DC, hiện đang có rất nhiều nghiên cứu nhằm cải tiến hiệu năng trị liệu DC như: Cải tiến kỹ thuật tạo DC và tìm kiếm những chủng loại (subtype) DC có đặc tính kích hoạt tế bào T và B [cũng là một loại tế bào chuyên biệt của hệ miễn dịch] mạnh nhất; kết hợp với các loại cytokine (như GM-CSF, IFN) và tá dược đặc hiệu (như CpG, LPS) để hỗ trợ DC trong chức năng kích hoạt hệ miễn dịch; nghiên cứu về tương tác của DC và tế bào T điều hòa đang đóng góp những dữ kiện quan trọng trong mục tiêu tối ưu hóa chức năng của DC; tránh các điều kiện khiến DC trở thành tế bào đối kháng (toleronic DC) có thể gây hiệu ứng tự nhiễm và đào thải trong cơ thể…  Được biết, kết quả ban đầu của Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc (gọi tắt Phòng thí nghiệm TBG) thuộc ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM là đã tạo ra dòng tế bào tua và nghiên cứu với mục tiêu đưa vào thử nghiệm lâm sàng. Ông đánh giá gì về kết quả ban đầu này?   Về phương diện khoa học và kỹ thuật, trong những năm qua, các nhà nghiên cứu sinh học ở trong nước đã đạt được những tiến bộ cần thiết về tế bào học, sinh học phân tử có tiềm năng ứng dụng công nghệ DC. Việt Nam đã có một số cơ sở có điều kiện làm việc theo tiêu chuẩn GMP, ISO; đặc biệt là những phòng thí nghiệm tế bào gốc đã được Nhà nước đầu tư khá đầy đủ, có thể dùng để triển khai liệu pháp DC vì cả hai công nghệ tế bào gốc và DC có nhiều điểm và điều kiện kỹ thuật tương đương.  Hiện nay, chi phí trị liệu DC ở Hoa Kỳ rất cao (giá trị liệu một năm là trên 90.000 USD), trong đó phần lớn dùng để trả cho phục vụ y tế ở phòng mạch và bệnh viện. Lợi điểm chúng ta có là giá dịch vụ y tế thấp, tuy nhiên, các phí tổn dùng cytokines (như IL-4, GM-CSF, TNF) cho liệu pháp DC thường rất đắt vì phải nhập khẩu từ nước ngoài. Chúng ta cần tự chủ trong việc tạo các cytokine này bằng phương pháp nhân bản, thì có thể hạ giá thành xuống cho phù hợp với điều kiện kinh tế của bệnh nhân ở Việt Nam. Ngoài ra, việc liên kết để học hỏi và trao đổi kỹ thuật với thế giới và các hội đoàn trong nước là rất cần thiết, đặc biệt vì công nghệ DC còn mới mẻ, và phức tạp về mặt học thuật và kỹ thuật.   Một thực tế ít ai lưu tâm đó là ứng dụng DC trị liệu sẽ tránh cho chúng ta không bị cạnh tranh từ bên ngoài như các trị liệu khác. Trong trị liệu DC, chúng ta dùng tế bào của chính bệnh nhân để chữa trị cho họ, nên không bị tùy thuộc vào sản phẩm nội hay ngoại nhập như dùng dược liệu. Công nghệ dược phẩm của chúng ta hiện rất giới hạn và tốn kém vì bị lệ thuộc vào các hoạt chất hóa dược (API – Active Pharmaceutical Ingredient) của nước ngoài. Trong công nghệ sinh học, các hoạt chất chính là tế bào và gene trong cơ thể chúng ta và động vật. Trị liệu dùng tế bào gốc cũng bao gồm những lợi điểm này.   Chúng tôi tin tưởng rằng với năng lực của các nhà khoa học Việt Nam và điều kiện vật chất sẵn có, việc triển khai DC ở trong nước là khả thi và có nhiều tiềm năng thành công, mang lại cơ hội mới cần thiết để hỗ trợ việc trị liệu căn bệnh ung thư đang bùng phát ở nước ta.      Theo ông, nghiên cứu khoa học tế bào gốc nói chung, tế bào tua nói riêng hiện nay ở Việt Nam nên đi theo hướng nào?  Điều chúng ta cần làm là thiết lập một số kỹ thuật nền tảng của công nghệ sinh học (như nhân bản gene, nhân bản tế bào, sinh vật, động vật; tạo kháng thể đơn dòng; công nghệ protein, vaccine thế hệ mới; giải mã gene bằng điện toán sinh học; công nghệ tế bào gốc, DC, tế bào miễn dịch v.v.) và từ đó mang vào ứng dụng cho các chủ đề đặc thù về y tế, dược liệu, canh nông, môi trường của Việt Nam.   Chúng ta cần mau chóng triển khai những mũi nhọn công nghệ này cho ứng dụng trị liệu như nghiên cứu dùng DC trị liệu ung thư ngực ở phụ nữ của Phòng thí nghiệm TBG hay dùng TBG trị liệu ung thư máu với nhiều thành quả tốt đẹp ở Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM từ bấy lâu nay. Tôi cho rằng, ứng dụng TBG ở Việt Nam đang mở ra nguồn hy vọng mới cho các bệnh hiểm nghèo mà các phương pháp dược liệu và giải phẫu đều không hiệu quả.    Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!              Author                Quản trị        
__label__tiasang Techmart 2005: Lượng và chất đều tăng      Cũng có những giao dịch được xác lập ngay tại hội chợ. Chiều ngày 13.10, sau khi ký hợp đồng trị giá 100 triệu đồng để chuyển giao dây chuyền sản xuất chất bột nền trong xây dựng, đại diện công ty Hồng Lĩnh (Hà Nội) và nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Nông Lâm cho biết, nhờ có chợ công nghệ như thế này mà họ có thể gặp được nhau. Giữa hàng trăm gian hàng trưng bày vài trăm sản phẩm, thiết bị, công nghệ chào bán, từng dòng người hết xuôi, lại ngược tham quan, thu lượm thông tin. Chưa có thống kê về doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hội chợ, nhưng quan sát kỹ, có thể thấy khá nhiều. Tham quan các gian hàng chế biến thực phẩm một hồi, ông bà Hạnh (Công ty Hồng Đức, Q.6) dừng khá lâu tại gian trưng bày của công ty Anh Dũng (TP Hồ Chí Minh). Xem dây chuyền chiết rót tự động của công ty này hoạt động, ông bà Đức lại đưa ra yêu cầu dùng nó cho nước tương. Sau một hồi giải thích, kỹ sư Trần Ban, người phụ trách gian hàng, liền mời ông bà Đức về xưởng của công ty để xem xét và có thể trình bày kỹ hơn về tính năng, thông tin kỹ thuật.  &#160;    Nếu không có thị trường công nghệ trong nước thì đơn vị chúng tôi đã chết đói từ lâu” – Tiến sĩ Lê Thượng Mãn, Giám đốc Trung tâm Công nghệ mới (ALFA) cười nói. Minh chứng cho phát biểu của mình, ông Mãn giới thiệu một loạt công trình do đơn vị ông thiết kế, thi công. “Chúng tôi còn xuất khẩu dây chuyền sang Campuchia” – ông nói thêm. Tham gia Chợ côngnghệ và thiết bị 2005, gian hàng của ALFA được xếp vào khu trưng bày của các đơn vị tham gia chương trình 04: hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ bằng kinh phí thấp    Từ 1.000 tỷ  Tổng trị giá hợp đồng ký tại Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart 2003) lần đầu tiên diễn ra tại Hà Nội là 1.000 tỷ đồng. Hai năm sau, 160 hợp đồng ký tại chợ có giá trị  lên tới 1.600 tỷ đồng. Xét về số lượng, con số này cho thấy giá trị chuyển giao công nghệ đang có xu hướng tăng dần. Những gương mặt lúc đặt bút ký cả bên mua, lẫn bên bán đều nở nụ cười tươi. Người mua tìm được công nghệ hay thiết bị đang cần, còn người bán đã tìm được lối ra cho sản phẩm nghiên cứu.  Trong số những người tham gia mua, bán tại đây, có những mối quan hệ được xác lập trước, thông qua sự giới thiệu của người trong ngành, thông qua các cuộc hội thảo khoa học hay qua chợ ảo www.techmart.com.vn.     Bà Đức cho biết, trong hai năm qua, cơ sở của vợ chồng bà phải nhập một máy vô nhãn của Trung Quốc. “Chúng tôi cũng có nghe trong nước sản xuất được. Nhưng không biết tìm đâu” – bà nói. Mà nhu cầu sản xuất không cho phép chờ đợi, nên đành mua của nước ngoài. Theo ông bà Đức, dây chuyền của Việt Nam có giá thấp hơn, chất lượng tương đối được và việc bảo hành thuận tiện hơn. Không nói nhiều đến nhược điểm, nhưng bà Đức nhận xét qua, mẫu mã không bắt mắt.   Chiếc áo may vụng  Bên cạnh số sản phẩm, thiết bị giới thiệu được làm khá tinh xảo, một số có vỏ kim loại được sơn thô ráp. Có cảm giác như công nghệ, thiết bị trong nước như một người được khoác trên mình chiếc áo được may vụng về, theo kiểu con nhà nghèo. Do thiếu kinh phí, nên các  cơ sở không thể đầu tư quá nhiều cho sản phẩm trưng bày. Qua lời giới thiệu của kỹ sư Trần Ban (Công ty Anh Dũng), hệ thống chiết rót trưng bày tại đây vốn từ thời chợ công nghệ lần trước. Một số linh kiện inox đã được lắp ráp cho một dây chuyền khác, nên khi tham dự chợ lần này, đơn vị mới đầu tư làm mới.      Nguyên nhân sâu xa là mối quan hệ giữa đơn vị nghiên cứu và chuyển giao vẫn chưa được hình thành. Nghiên cứu xong, nếu có kinh phí thì sản xuất thử, làm sản phẩm demo, không thì đút hộc bàn. Các mẫu trưng bày đẹp, có tính thẩm mỹ cao thường xuất hiện ở các trung tâm nghiên cứu có kết hợp được với doanh nghiệp chuyển giao. Tuy khoác chiếc áo vụng về ấy, nhưng công nghệ trong nước đang có bước chuyển tốt, theo đánh giá của các đơn vị tổ chức. Tiến sĩ Tạ Bá Hưng, giám đốc trung tâm thông tin khoa học công nghệ quốc gia cho biết, so với chợ lần trước, chợ lần này có quy mô hơn, số công nghệ, dây chuyền chào bán nhiều hơn. “ Các đơn vị cũng đã có ý thức hơn về việc đưa sản phẩm ra giới thiệu” – ông nhận xét.  Bao giờ chất đổi  Đằng sau con số 1.000 tỷ đồng của chợ công nghệ 2003 là  một thực tế khác. Chỉ có 1/3 số hợp đồng được thực hiện. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng chung quy là thiếu kinh phí. Đơn vị nghiên cứu thiếu vốn để sản xuất thiết bị, dây chuyền. Bên mua, nếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng không dồi dào kinh phí để ứng trước.     Có trường hợp, người bán phải lấy linh kiện, thiết bị trong sản phẩm mẫu để lắp vào dây chuyền giao cho khách. Bài toán khó này sẽ được giải trong tương lai, theo tiến sĩ Tạ Bá Hưng. Cơ sở của nó, ông Hưng giải thích là việc hình thành liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất chuyển giao qua các mô hình doanh nghiệp spin-off. “Mạnh thì cơ sở nghiên cứu tự hình thành doanh nghiệp trực thuộc. Nếu không thì kết hợp với doanh nghiệp khác để chuyển giao công nghệ” – ông Hưng nói. Ông Hưng cũng xem mô hình vườn ươm doanh nghiệp là một cách hay để giải bài toán trên. Theo ông Hưng, đã vào vườn ươm thì phải ươm cho công nghệ cứng, nghĩa là phải có công nghệ hoàn chỉnh và cũng phải ươm về kỹ năng quản lý, tiếp thị. Có vườn ươm, có giống cây, thì cũng phải có chợ cho thị trường vận hành. Ông Hưng cho biết, trong tương lai sẽ có hai chợ công nghệ tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. “Đúng nghĩa là chợ Đồng Xuân – Bắc Qua và chợ Bến Thành dành cho công nghệ” – ông Hưng ví von.                     Hải Đăng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Techmart Hòa Bình 2006:      Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) với chủ đề “Liên kết cùng phát triển” do Bộ KH&amp;CN, UBND tỉnh Hòa Bình, UBND TP Hà Nội tổ chức đã diễn ra từ 18- 20/5 tại tỉnh Hòa Bình. Đây là Techmart đầu tiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc và được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành thị trường KH&amp;CN ở khu vực này.    Mua công nghệ giúp nhà sản xuất  “Đến tận TP Hồ Chí Minh để dự Techmart lần trước, chủ một doanh nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hòa Bình mới ngạc nhiên khi thấy công nghệ mà ông ta đang tìm kiếm hóa ra lại có cơ sở ở ngay gần tỉnh mình” – Ông Nguyễn Hữu Duyệt, phó chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình, Trưởng ban chỉ đạo Techmart Hòa Bình 2006 kể. Thiếu công nghệ và thiếu cả thông tin về công nghệ, đó là tình trạng không chỉ riêng của tỉnh Hòa Bình mà còn của nhiều tỉnh miền núi khác. Vì thế, bên cạnh những mục đích “thường kì” như gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất; thúc đẩy chuyển giao tiến bộ kĩ thuật vào đời sống; tôn vinh năng lực KH&CN nghệ “nội”, thì một nội dung rất quan trọng nữa của Techmart Hòa Bình là “xúc tiến hoạt động thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, tạo lập và phát triển thị trường KH&CN ở khu vực miền núi phía Bắc”.           Gian hàng vắng vẻ của Sở KH&CN Hà Nội        Dù gần Hà Nội, nhưng trình độ tiếp nhận khoa học của tỉnh Hòa Bình vẫn yếu, vì thế ngoài chức năng như một “chợ phiên”, có thể nói Techmart Hòa Bình còn là một cuộc triển lãm công nghệ và thiết bị cho người dân toàn tỉnh. Trước ngày tổ chức Techmart, ban chỉ đạo Chợ công nghệ của tỉnh đã tuyên truyền khá rầm rộ, hỗ trợ mỗi huyện 15 triệu đồng và gửi công văn tới từng xã để các các cấp dưới cử người đến “xem Techmart”, mục đích là thu hút càng nhiều người trong tỉnh biết đến công nghệ càng tốt. Ông Duyệt cho biết: “Người miền núi rất khó thay đổi tập quán sản xuất, chỉ khi tận mắt thấy một cách làm tốt như thế, một thiết bị có lợi như thế, họ mới có thể thay đổi”.  So với gần 600 gian hàng của 470 đơn vị của Techmart tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh lần trước thì Techmart Hòa Bình lần này có quy mô khiêm tốn hơn hẳn: chỉ có 225 gian hàng của hơn 140 đơn vị. Tuy nhiên các đơn vị tham gia cũng đã chú trọng chào bán những công nghệ dễ triển khai, dễ tiếp nhận đối với các tỉnh miền núi. Điều này có thể thấy qua tỉ lệ công nghệ – thiết bị thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp và chế biến nông – lâm sản chiếm tới gần 30%, trong khi ở lĩnh vực “công nghệ cao” như điện tử – viễn thông chỉ chiếm hơn 8%. Những công nghệ tạo ra sản phẩm dễ tiêu thụ được đặc biệt hoan nghênh. Tỉnh Hòa Bình còn tự làm “khách hàng” mua công nghệ, như công nghệ lò gạch liên tục kiểu đứng của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, quy trình sản xuất giống lúa siêu nguyên chủng của công ty Giống cây trồng Quảng Ninh… Đây là một cách chuyển giao công nghệ khá hiệu quả khi năng lực sản xuất của các cơ sở tư nhân ở các tỉnh miền núi đang còn thấp.    Một vòng quanh “Chợ”  Các gian hàng nằm chật kín trong và ngoài 100 m2 sân Cung văn hóa tỉnh Hòa Bình, dầu vậy vẫn có cảm giác không có tới 225 gian hàng như ban tổ chức thông báo. Đẹp và thu hút nhiều người xem nhất có lẽ là gian hàng công nghệ trồng rau an toàn không dùng đất của tiến sĩ Hồ Hữu An thuộc Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Đó là một “vườn treo” thu nhỏ với đủ loại cà chua, dưa chuột, xà-lách… Cây được trồng trên giá thể có sẵn nước, hệ thống tưới nhỏ giọt theo thời gian và lưu lượng cung cấp đủ loại phân bón khiến cây lớn nhanh mà không sợ bị sâu bệnh phá hại. TS An cho biết, không một Techmart nào mà ông không tham gia; và ngay trong ngày đầu tiên của Techmart này, ông đã kí được ba bản ghi nhớ chuyển giao công nghệ trị giá 5,5 tỷ đồng.                  Chúng tôi để ý tới một gian hàng giản dị trong sân Cung văn hóa: không màn hình lớn, không projector, thậm chí không có cả tờ rơi giới thiệu sản phẩm như hầu hết các gian hàng khác. Tuy nhiên hàng chồng dưa hấu lạ mắt xếp ngay ngắn trên quầy lại hấp dẫn khá nhiều người xem. Đó là gian hàng của Sở KH&CN tỉnh Bắc Kạn. Anh Lê Văn Thế, người đang “đứng quầy” cho biết: loại dưa hấu lạ mắt đó là dưa hấu Thailand “Hắc mỹ nhân” mới được Sở KH&CN Bắc Kạn trồng thử nghiệm thành công. Song do có giá khá đắt, đến dưa còn không bán được, chưa nói đến chuyển giao công nghệ trồng. “Lần đầu tiên tham gia Techmart, bán được là thành công, nhưng không bán được cũng là kinh nghiệm.” – Anh Thế nói.  Có lẽ vì là “chủ nhà” của Techmart tiếp theo nên Sở KH&CN Hà Nội được “ưu ái” một gian hàng khá rộng, song đây lại là gian hàng hút ít người xem nhất. Trên quầy hàng chỉ có lèo tèo vài sản phẩm đóng hộp, những tấm biển giới thiệu đặt xa tới mức người xem phải căng mắt ra cũng… chưa chắc nhìn thấy. Đáng tiếc khi gian hàng của một đơn vị khoa học lớn của Thủ đô lại “kém thân thiện” với cả người mua lẫn người xem đến vậy.  Một điều đáng nói là chất lượng các gian hàng. Mặc dù các nhà tổ chức đã đề ra tiêu chí “công nghệ/thiết bị đã hoàn thiện, tiên tiến, đã được kiểm nghiệm thực tế, sẵn sàng chuyển giao” và “công nghệ/thiết bị chất lượng cao, giá thành thấp hơn nhập ngoại”, song có những gian hàng gần như chỉ bày bán ti-vi và máy tính. Một tiến sĩ sinh học đến “xem chợ” đã rất ngạc nhiên khi thấy có công ty chào bán công nghệ nuôi yến trong nhà “một năm cho thu lãi từ 50.000 đến 100.000 USD”, vì theo bà biết, công nghệ này ở Việt Nam mới đang trong giai đoạn thử nghiệm. Dầu sao, đây mới là lần đầu tiên một tỉnh miền núi đứng ra “làm” Techmart, và kết quả của Chợ công nghệ cũng đã nói lên cố gắng của những nhà tổ chức.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Techmart Nha Trang 2006      Techmart Nha Trang 2006 từ 10-12/08/2006 nhằm bước đầu tạo thị trường công nghệ tại Khánh Hòa, thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất tại địa phương và các tỉnh lân cận.    Tham gia có 68 gian hàng của 56 đơn vị đăng ký tham gia với tổng số là 439 sản phẩm. Ngay sau lễ khai mạc, đã có 4 hợp đồng cung cấp thiết bị, chuyển giao công nghệ được ký kết với tổng giá trị  5,9 tỉ đồng. Đây là Chợ công nghệ đầu tiên được tổ chức tại tỉnh Khánh Hoà, chủ yếu chào bán các công nghệ thuộc  lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, v.v.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Techmart Thái Nguyên: Công nghệ thích hợp cho các tỉnh miền núi      Chợ Công nghệ và thiết bị (Techmart) vùng núi phía Bắc tổ chức tại Thái Nguyên từ 26 đến 29/12. Trong dịp này, Bộ trưởng KH&amp;CN Hoàng Văn Phong đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên nhằm thúc đẩy hơn nữa quá trình áp dụng các ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt ở mảng kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp, cải tạo môi trường ở các tỉnh miền núi phía Bắc…    Dù xuất phát điểm là sự kiện có quy mô khu vực nhưng Techmart có sự tham gia của gần 200 doanh nghiệp, tổ chức KH&CN và cá nhân thuộc 14 tỉnh, thành, nhiều bộ ngành trung ương, trường đại học và tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học và 50 doanh nghiệp nước ngoài như Malaysia, Thái Lan… góp mặt. Qua 220 gian hàng, Techmart đã giới thiệu 800 công nghệ và thiết bị thuộc nhóm mặt hàng đang nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp trong và ngoài nước ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt phù hợp với yêu cầu sản xuất của địa phương, như công nghệ sản xuất chế biến nông – lâm – thủy sản; công nghệ phục vụ nông thôn miền núi; công nghệ canh tác trên đất dốc; giống cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế phù hợp với hệ sinh thái các tỉnh miền núi phía Bắc; khai thác chế biến khoáng sản; cơ khí chế tạo máy – tự động hóa; dược liệu; công nghệ thông tin và điện tử viễn thông; dệt may, giầy da; du lịch, dịch vụ, y tế, giáo dục… Việc xác định đúng đối tượng và nhóm sản phẩm đã đem lại kết quả ngoài mong đợi của các nhà tổ chức. Sau 4 ngày mở cửa, Techmart đã ghi nhận 115 biên bản ghi nhớ với tổng trị giá trên 90 tỷ đồng giữa các đối tác được ký kết. Trong số này, có nhiều bản hợp đồng có giá trị kinh tế cao và đóng vai trò lớn về phát triển sản xuất như chuyển giao công nghệ, thiết kế, chế tạo, hướng dẫn vận hành hệ thống lọc bụi túi cho lò luyện thép giữa Viện Công nghệ môi trường thuộc Viện Khoa học – Công nghệ Việt Nam và công ty cổ phần Kim khí Hưng Yên – Bắc Ninh;  Cung cấp thiết bị tổng đài điện thoại, bộ đàm và các thiết bị an ninh giám sát giữa công ty TNHH Điện thoại Vân Chung và công ty cổ phần Phát triển công nghệ Thành Vương…  Nằm trong chương trình hoạt động của Techmart, hội thảo “Công nghệ thích hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong thời kỳ hội nhập” do Cục Sở hữu trí tuệ và Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên tổ chức. Hội thảo tập trung vào việc giải quyết các vấn đề có tầm quan trọng hiện nay như xúc tiến chuyển giao công nghệ và tư vấn, lựa chọn công nghệ thích hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc; cách chọn cây giống và công nghệ trồng cây ăn quả, công nghệ bảo quản và chế biến rau quả… Tại hội thảo, lãnh đạo Cục Sở hữu trí tuệ cũng tham gia tư vấn và hướng dẫn các doanh nghiệp địa phương nắm rõ hơn các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký, bảo hộ, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể… Đây là những vấn đề các doanh nghiệp gặp phải trong quá trình tham gia sản xuất và tiếp cận thị trường, đặc biệt là thị trường khoa học công nghệ.  Thanh Nhàn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Telegram chống Facebook thế nào? (Kỳ 1)      Có hàng trăm triệu người dùng. Không thuật toán. Không quảng cáo. Dũng cảm đối mặt với quyền lực. Tin được không? Hãy cẩn thận với điều ước của bạn.      Telegram, một ứng dụng nhắn tin và mạng xã hội với hàng trăm triệu người dùng toàn cầu. Nguồn: Forbes.  Vào ngày 6/1/2021 khi đám đông ủng hộ Tổng thống Donald Trump bắt đầu tụ tập biểu tình gần tượng đài Washington thì Elies Campo ngồi buồn bã cả buổi chiều ở nhà của bố mẹ tại Tortosa, Tây Ban Nha. Ngày 6 tháng Giêng cũng là ngày lễ Hiển linh, hay Ngày Ba Vua – là lúc cao điểm của mùa lễ khi họ hàng thường đến thăm nhau và trẻ em thì mở quà của mình. Campo là một kỹ sư người Tây Ban Nha 38 tuổi sống ở Thung lũng Silicon nhưng hầu như bị chôn chân ở nhà kể từ khi bắt đầu đại dịch coronavirus. Khi đi lại trong nhà, bao quanh anh là cô bác và các anh chị em họ và lần đầu tiên anh được bế những đứa trẻ của họ. Nước Mỹ đã rời khỏi tâm trí anh xa nhất có thể.   Điều đó bỗng thay đổi vào khoảng 8 giờ tối, khi một người bạn ở Mỹ gọi điện hỏi Campo đã xem tin tức ở thủ đô Washington chưa. Sau đó thì tràn ngập những tin nhắn tương tự về đám đông vừa xông vào tòa nhà Capitol. Khi Campo xem những cảnh bạo lực vẫn đang trên điện thoại, một câu hỏi bắt đầu gặm nhấm suy nghĩ của anh: điều đó sẽ ảnh hưởng đến công ty của anh như thế nào?   Campo khi đó làm việc cho Telegram, một ứng dụng nhắn tin và mạng xã hội với hàng trăm triệu người dùng toàn cầu. Khi anh nhìn sang một loạt nền tảng mạng xã hội khác, anh ấy nhận thấy, trên những trang đó, các nhân vật cực hữu đang đăng đường link dẫn tới các kênh Telegram công khai của họ và kêu gọi những người theo dõi họ tham gia ứng dụng.   Đầu óc quay cuồng, Campo cáo lui lên phòng trên lầu và tiếp tục theo dõi các mạng xã hội trên máy tính xách tay và điện thoại. Trong vòng sáu giờ, cả Facebook và Twitter đều chặn các bài đăng của Trump, và Campo chứng kiến ngày càng nhiều các nhân vật ủng hộ Trump, vì lo sợ rằng họ cũng sẽ bị khóa tài khoản, tràn lên Telegram, cùng lúc lôi kéo theo độc giả của họ. “Déu meu”, anh tự lẩm bẩm một mình bằng tiếng Catalan –  Chúa ơi.  Trong thế giới của các mạng xã hội thì Telegram là một sự khác biệt kỳ lạ. Nó nằm trong danh sách 10 mạng xã hội lớn nhất thế giới nhưng chỉ có khoảng 30 nhân viên cốt lõi, không có nguồn doanh thu liên tục cho đến rất gần đây. Và trong thời đại mà các công ty công nghệ phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng trong việc loại bỏ những phát ngôn thù ghét và thông tin sai lệch thì Telegram hầu như không kiểm soát nội dung, ngoại trừ gỡ bỏ những nội dung khiêu dâm bất hợp pháp và kích động bạo lực. Tại Telegram, đó là một tôn chỉ và cũng là một chiêu marketing, đó là nền tảng này sẽ luôn mở cho tất cả mọi người, bất kể quan điểm chính trị hay hệ tư tưởng. “Đối với chúng tôi, Telegram bắt nguồn từ ý tưởng tất cả mọi người trên hành tinh này đều có quyền được tự do”, Pavel Durov, một người Nga sáng lập Telegram đã nói.     Pavel Durov, nhà sáng lập và CEO của Telegram’s. Ảnh: Wire  Campo chia sẻ niềm tin đó nhưng với tư cách là người đứng đầu bộ phận tăng trưởng, kinh doanh và quan hệ đối tác thì anh ấy cũng phải gánh chịu những hệ quả phức tạp của nó. Vào giữa những năm 2010, khi các phương tiện truyền thông bắt đầu cho rằng Telegram là “ứng dụng được lựa chọn” bởi các đội quân thánh chiến thì Campo là người băn khoăn nhất về việc ISIS sử dụng nền tảng này. Campo nói anh thấy mình giống như một người mẹ lo xa khi nhắn tin cho Durov – “Tôi như một kẻ khó ưa” – Campo nói. Điều khiến anh lo lắng là anh sẽ phải đối mặt với làn sóng người Mỹ hùa theo những kẻ nổi loạn chống chính quyền xuất hiện trên các phương tiện truyền thông và thao túng các đối tác kinh doanh như thế nào.  Và rồi anh viết một tin nhắn dài cho Durov. “Chào buổi tối Pavel,” Campo nhớ lại mở đầu của nó. “Anh đã xem những gì đang xảy ra ở Mỹ chưa? Anh đã thấy các mạng xã hội khác chặn tài khoản của Trump chưa?” Campo cảnh báo rằng việc phe cực hữu ở Mỹ đón nhận Telegram không phải là chuyện vui vì nền tảng có nhiều người dùng hơn mà có thể là một điều tồi tệ.        Trong những năm qua Telegram đã trở thành sự kết hợp có chủ ý giữa dịch vụ nhắn tin và nền tảng truyền thông xã hội — đối thủ không chỉ của WhatsApp, Signal mà càng ngày càng trở thành đối thủ của chính Facebook.      Cũng trong tuần đó thì đối thủ lớn hơn nhiều của Telegram, WhatsApp, đã cập nhật lại các điều khoản cá nhân và điều khoản sử dụng. Nhưng những ngôn từ mù mờ lại khiến cho người dùng lầm tưởng rằng họ sẽ phải chia sẻ nhiều thông tin cá nhân hơn cho Facebook – công ty mẹ của WhatsApp vốn đang bị mất lòng tin từ người dùng. Các điều khoản mới thực chất không hề yêu cầu người dùng chia sẻ gì nhiều hơn những gì họ đã chia sẻ từ trước (như số điện thoại, tên, một số thông tin nhất định). Nhưng đã có nhiều triệu trong số hơn 2 tỷ người dùng WhatsApp lo sợ và rời bỏ ứng dụng này, rất nhiều người trong số họ chạy thẳng qua Telegram.  Campo kể, Durov đã dội một gáo nước lạnh vào những lo ngại của anh về những người ủng hộ Trump. “So với sự tăng trưởng người dùng mà chúng ta có được từ sự thay đổi điều khoản dịch vụ của WhatsApp thì điều này là không đáng kể và chỉ xảy ra trong phạm vi Hoa Kỳ mà thôi.” Campo nhớ lại câu trả lời của Durov. Nếu cần thiết, người CEO này nói có thể sẽ đăng nội dung gì đó trên kênh công khai của riêng mình trên Telegram. Những lo lắng không giải tỏa được làm cho Campo thức đến đầu giờ sáng để nhìn chằm chằm vào màn hình của mình.  Dĩ nhiên, vào những ngày sau đó, Campo nhận được rất nhiều câu hỏi từ các nhà báo về việc hàng loạt người Mỹ theo cánh hữu chuyển sang dùng Telegram. Anh chuyển những câu hỏi này cho Durov và khuyên anh ta nên chia sẻ với giới truyền thông. Và ngày 8/1, Durov đã đăng trên kênh công khai của mình – nhưng anh ta chỉ ca ngợi về sự phát triển vượt bậc của Telegram trên toàn cầu và còn chê bai Facebook lập ra cả một nhóm để tìm hiểu “tại sao Telegram lại tăng trưởng như vậy”. Vào ngày 12/1, Durov đã đăng một lần nữa để chào mừng sự xuất hiện của 25 triệu người dùng mới chỉ trong 72 giờ trước đó. Anh ta nói Telegram hiện có dân số hơn nửa tỷ người. “Trước đây chúng tôi đã có lượng tải ứng dụng tăng vọt nhưng lần này thì rất khác.” Hai ngày sau, anh ta tuyên bố, “Chúng ta có thể đang chứng kiến cuộc di cư kỹ thuật số lớn nhất trong lịch sử loài người”.  Và khi Durov ca ngợi các số liệu thống kê trên toàn cầu – 38% trong số người dùng mới đến từ châu Á, 27% đến từ châu Âu, 21% từ châu Mỹ Latinh và 8% từ Trung Đông – anh ta không đề cập đến bất kỳ sự tăng trưởng nào ở Bắc Mỹ. Cho đến ngày 18 tháng 1, Durov mới đăng rằng nhóm của anh đã “theo dõi chặt chẽ tình hình” ở Mỹ và bộ phận kiểm duyệt của Telegram đã chặn hàng trăm cuộc gọi công khai về bạo lực. Nhưng anh ta đã xoa dịu rằng số người dùng Telegram ở Mỹ chỉ chiếm chưa đến 2%.  Còn với Campo thì những bài đăng này được viết một cách khó hiểu. Durov dường như đã phớt lờ lời khuyên của anh và từ chối đăng tải bất kỳ tuyên bố công khai của Campo. Hơn nữa, mặc dù là người đứng đầu bộ phận tăng trưởng của Telegram – một vai trò quan trọng của các công ty truyền thông xã hội – Campo chỉ mới biết các số liệu thống kê này từ kênh công khai của Durov giống như bất kỳ người dùng nào khác.  Đây là một điều hết sức bất thường nữa của Telegram: Campo không bao giờ xem trực tiếp dữ liệu người dùng dạng thô. “Tôi không thể thấy bất kỳ trang tổng quan nội bộ nào có tất cả các con số,” anh ấy nói với tôi vào tháng 5 năm ngoái. Điều này hoàn toàn trái ngược với quy trình hoạt động chuẩn tại nơi làm việc trước của Campo: WhatsApp.  Trở lại năm 2014 sau khi Facebook mua lại WhatsApp, Campo đã nghỉ việc để phản đối các thuật toán “gây nghiện” của gã khổng lồ truyền thông xã hội và “tác động của chúng đối với nhân loại”. Tuy nhiên tại WhatsApp, mọi nhân viên đều có quyền truy cập vào dữ liệu về số lượng người dùng ở các thị trường khác nhau, Campo nói. Tại Telegram, nếu Campo muốn có số liệu thống kê, anh ta sẽ phải giải thích lý do với sếp của mình. Campo nói rằng Durov “rất, rất, rất chặt chẽ”. “Mọi thứ đều phải thông qua anh ấy”.  “Nếu CEO nói rằng những hành vi của nhóm cực hữu ở Mỹ chỉ là một đốm lửa nhỏ, thì, dĩ nhiên Campo phải tin theo.” Và tại Telegram thì đó còn xa mới là điều duy nhất mọi người phải tuân theo lời Pavel Durov.  II  Những năm qua, thế giới đang phải lo lắng về sự thống trị dường như không thể thay đổi của Facebook – nay đổi tên thành Meta: như cách họ không ngừng vô hiệu hóa của các đối thủ cạnh tranh bằng mua lại hoặc loại bỏ; nó kiểm soát về chính trị, văn hóa và mọi khía cạnh của cuộc sống riêng tư của chúng ta để ưu tiên cho thuật toán được viết ra nhằm bán quảng cáo; các vụ bê bối quyền riêng tư không ngừng tăng lên liên tiếp; cho đến kỷ lục về những lời xin lỗi giả hiệu khi bị phát giác. Nhưng trong khoảng hơn một năm trở lại đây, đế chế của Mark Zuckerberg đã bắt đầu có vẻ ít bất khả xâm phạm hơn một chút. Các nhà lập pháp đã ngày càng tỏ ra chống lại nó hơn, và trong những thời điểm ngắn như “cuộc di cư hàng loạt vào tháng 1/2021 khỏi WhatsApp” hay khi Facebook bị sập vào tháng 10 – thì những hiệu ứng mạnh mẽ của mạng mạng xã hội, cái đã mang lại quyền lực tối cao cho Meta, dường như có lúc đã quay lại hạ bệ nó. Bằng cách nào đó Telegram, với một đội ngũ nhân viên nhỏ bé đã trở thành một trong những người hưởng lợi lớn nhất từ những vấp ngã đó.  Liệu đây có phải là điều tốt cho thế giới hay không lại là một câu hỏi khác, người ta bối rối bởi Telegram lại ít được biết đến đặc biệt là ở Mỹ. Phần lớn các nhà báo vẫn gọi nó là một “ứng dụng nhắn tin được mã hóa”. Mô tả này khiến nhiều chuyên gia bảo mật ngạc nhiên, họ cảnh báo rằng không giống như Signal hoặc WhatsApp, Telegram không được mã hóa end-to-end (một dạng mã hóa chỉ người gửi và người nhận mới hiểu được thông tin) một cách mặc định; người dùng cần phải bật chức năng “trò chuyện bí mật” mới đảm bảo điều này (mà thực sự là rất ít người làm thế); và cũng chỉ có thể bảo mật end-to-end các cuộc trò chuyện cá nhân chứ không thể làm được với các cuộc trò chuyện nhóm. Các chuyên gia nói rằng đối với hàng triệu người sử dụng Telegram ở các chế độ toàn trị thì việc nhầm lẫn này có thể phải trả giá đắt.  Nhưng bản thân thuật ngữ “ứng dụng nhắn tin” có thể khiến nhiều người đánh giá thấp Telegram. Thực tế là trong những năm qua Telegram đã trở thành sự kết hợp có chủ ý giữa dịch vụ nhắn tin và nền tảng truyền thông xã hội — đối thủ không chỉ của WhatsApp, Signal mà càng ngày càng trở thành đối thủ của chính Facebook. Người dùng có thể tham gia các kênh công khai hoặc riêng tư với số lượng người theo dõi không giới hạn, nơi ai cũng có thể thích, chia sẻ hoặc bình luận. Họ cũng có thể tham gia các nhóm riêng tư với tối đa 200.000 thành viên — một quy mô vượt quá giới hạn 256 thành viên của WhatsApp. Nhưng không giống như Facebook, tại Telegram không có quảng cáo hướng đích và không có thuật toán điều khiển những gì người dùng nhìn thấy.  Mặc dù Telegram có nhiều kênh và nhóm dành riêng cho các chủ đề phi chính trị như phim Bollywood và bối cảnh công nghệ của Miami nhưng nó đã được chứng minh là rất phù hợp cho những nhà hoạt động xã hội. Sự pha trộn giữa nhắn tin riêng tư và các kênh công khai làm cho nó trở thành một công cụ hoàn hảo để tổ chức: lý tưởng để truyền bá nơi công cộng và sau đó mưu đồ một cách bí mật. Megan Squire, giáo sư khoa học máy tính tại Đại học Elon ở Bắc Carolina, người nghiên cứu Telegram cho biết: “Tôi gọi đó là cú đấm có một không hai. Bạn có thể thực hiện cả tuyên truyền và lập kế hoạch trên cùng một ứng dụng”.  Nó rất quan trọng cho những người biểu tình ủng hộ dân chủ từ Belarus đến Hồng Kông, nhưng những nhóm cực tả toàn cầu có vẻ mới là tín đồ của Telegram. Ở Đức, một phong trào chống lại các quy định giãn cách để phòng chống dịch Covid đã sử dụng ứng dụng này để tổ chức các cuộc biểu tình lớn ở trung tâm Berlin vào năm 2020, dẫn đến một đám đông cực đoan tràn vào bậc thềm của tòa nhà Quốc hội, như là một điềm báo ma quỷ cho ngày 6/ 1. (Mục đích mà một số người biểu tình nêu ra là để cho Tổng thống Trump thấy rằng họ đã sẵn sàng cùng ông giải phóng nước Đức khỏi một âm mưu thâm độc của một tổ chức ngầm). Tại Brazil, Tổng thống cực hữu Jair Bolsonaro cũng đón nhận Telegram, vốn đã được cài trên hơn một nửa số lượng điện thoại di động của nước này. Các nhà phân tích thông tin sai lệch đã cảnh báo sự nguy hiểm của việc này đối với cuộc bầu cử tổng thống sắp tới năm 2022 mà ông Bolsonaro đã đe dọa sẽ phản đối kết quả.    Pavel Durov khiến người ta liên tưởng đến nhân vật Neo trong phim “Ma trận” (The Matrix). Nguồn: Moscow Times.  Tại Hoa Kỳ các ứng dụng nội địa như Parler và Gab cũng thu hút người dùng cực hữu sau ngày 6/1, nhưng cả hai đều nhanh chóng tàn lụi bởi gặp phải các vụ hack thảm khốc. Trong trường hợp của Parler là mất đi cả dữ liệu của dịch vụ lưu trữ trên đám mây của Amazon. Không ứng dụng nào có quyền lực lâu dài của Telegram. Ngay sau đó Donald Trump Jr. (con) đã dùng Telegram để ‘nắn gân’ người tổng thống thân thiện mới nhậm chức. “Sự kiểm duyệt của những gã Big Tech ngày càng trở nên tồi tệ và nếu những tên bạo chúa này cấm cha tôi, Tổng thống Hoa Kỳ, thì còn ai mà họ không thể cấm?” – anh này tweet. Phong trào ủng hộ Trump cần một nơi “tôn trọng” quyền tự do ngôn luận, ông nói: “Đó là lý do tại sao tôi tham gia Telegram”.  Tháng sau, kênh công khai của Donald Trump Jr. đạt một triệu người đăng ký. Một kênh có tên @ real_DonaldJTrump – “Dành riêng cho Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ” và xuất bản “Các bài đăng không kiểm duyệt từ Văn phòng Donald J. Trump” cũng nhanh chóng nhận được sự chú ý. Nó nhanh chóng nhận được hơn một triệu người theo dõi. Các đồng minh nổi tiếng khác của Trump đã làm theo và các kênh của họ tăng trưởng nhanh chóng, trong khi các nhóm cực đoan Proud Boys, Boogaloo Boys và QAnon cũng phát triển mạnh mẽ. Theo Squire, người đã theo dõi hoạt động cực hữu trên Telegram kể từ năm 2019, số lượng người dùng cực hữu Mỹ trên nền tảng này dễ là vào khoảng 10 triệu, đó cũng chính là tổng số người dùng Hoa Kỳ trên ứng dụng mà Durov cho biết. Tuy nhiên, Squire thừa nhận rằng sự thiếu minh bạch về số lượng người dùng của nền tảng khiến rất khó để biết chắc chắn con số thống kê này.  Campo dường như rất đau buồn về Telegram. Anh ấy vẫn cảm thấy một sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với Durov và coi sự gia tăng của người dùng mới là minh chứng cho việc từ bỏ công việc cũ của mình tại WhatsApp là đúng đắn. Nhưng anh bắt đầu băn khoăn về sự thiếu minh bạch và văn hóa cô lập xung quanh người sếp của mình – một người mà những ý tưởng bất chợt có thể ngày càng ảnh hưởng đến số phận của nền dân chủ trên toàn thế giới.  Durov, 37 tuổi, đã trở thành một trong những ông trùm công nghệ quyền lực và bí ẩn nhất thế giới. Sau nhiều năm sống du mục, ông và Telegram hiện có trụ sở chính thức tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Một bài đăng trên Instagram gần đây cho thấy Durov đang ngồi vắt chéo chân, cởi trần với gương mặt nhẵn nhụi trên sân thượng nhìn ra đường chân trời của Dubai. Khi không khoe thân hình ấn tượng của mình thì Durov luôn mặc đồ đen, điều mà báo chí hiếm khi không so sánh với nhân vật Neo trong phim Ma trận. Anh này tương tác với công chúng gần như hoàn toàn thông qua kênh Telegram của mình, nơi anh ấy đóng vai một nhà tư tưởng và CEO trong các vấn đề tự do ngôn luận, kiến ​​trúc hệ thống và phẩm hạnh của chế độ ăn kiêng chỉ toàn cá, không uống rượu và ngủ một mình. Bên trong Telegram, Campo nói, vòng trong của công ty chủ yếu là các lập trình viên người Nga ngưỡng mộ lãnh đạo của họ “gần giống như một nhân vật thần thánh”, xưng hô với sếp của họ bằng “người anh em” một cách trang trọng và không bao giờ mâu thuẫn với ông ấy. Theo lời của một cựu nhân viên tên là Anton Rozenberg: “Đó như là một giáo phái”.  Trong khi các giáo phái trên nó phát triển thì Telegram là một tổ chức đóng một cách ngạc nhiên. Bất chấp những khuyến nghị của Campo, Durov đã không phỏng vấn hay nói chuyện trước công chúng trong nhiều năm và các nhân viên cũng vô cùng bí mật. Tôi đã liên hệ với hơn 40 người gần gũi với công ty về câu chuyện này và cuối cùng đã có thể nói chuyện với 9 cộng sự cũ và 3 cộng sự hiện tại của Durov. Để hiểu được tác động tiềm tàng ứng dụng của anh ấy khi nó nhanh chóng trở thành một trong những nền tảng lớn nhất thế giới, bạn phải hiểu một thứ thậm chí còn mờ mịt hơn cả thuật toán của Facebook: thế giới bên trong Telegram.□  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/how-telegram-became-anti-facebook/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Telegram chống Facebook thế nào? (Kỳ 2)      Ở kỳ trước, theo lời kể của Elies Campo, trưởng bộ phận tăng trưởng của Telegram, mạng xã hội này không phải là “thiên đường” như nhiều người nghĩ. Đúng, Telegram không có thuật toán điều khiển người dùng, không quảng cáo, hầu như không kiểm duyệt bất kì bài đăng nào, tưởng như là nơi vun trồng cho những nhóm hoạt động tiến bộ nhưng hóa ra nó là nơi trú ẩn của hàng loạt các tổ chức cực đoan thiên tả, lan truyền những thông tin kích động bạo lực và các thuyết âm mưu. Nhưng những ngộ nhận của chúng ta về mạng xã hội bí ẩn này vẫn chưa dừng ở đó.      Logo của Telegram là một chiếc máy bay giấy gợi nhớ một trò chơi ném tiền kì quặc của Pavel Durov.  Ảnh: Wired.com  Nếu nguồn gốc của Facebook là một loạt các mối quan hệ gắn kết trong một dãy phòng ký túc xá Harvard và rồi rạn nứt theo thời gian, câu chuyện nguồn gốc của Telegram dựa trên một loạt các mối quan hệ giữa những người còn biết nhau sớm hơn thế: trong phòng ngủ thời thơ ấu, các cuộc thi toán ở phổ thông, hay trong phòng máy tính của trường đại học. Và khi nhiều mối liên kết trong số đó cũng tan vỡ sau nhiều năm, một mối quan hệ vẫn luôn là trung tâm của Telegram: mối quan hệ giữa Pavel Durov và người anh trai lớn hơn bốn tuổi, Nikolai.  Khi Pavel được sinh ra, Nikolai đã thể hiện sự khác biệt rõ rệt so với những đứa trẻ cùng trang lứa. Năm 3 tuổi, anh ta được cho là đọc gần giống như một người lớn; lên 8, biết giải các phương trình bậc ba; và khi còn là một thiếu niên, đã đại diện cho Nga tại các kỳ Olympic quốc tế ở cả hai môn toán và tin học. Và rồi anh ấy hai lần trở thành nhà vô địch lập trình thế giới. Pavel cũng rất ấn tượng – bắt đầu lập trình ở tuổi lên 10 dưới sự dạy dỗ của Nikolai – nhưng anh cả của Durov là một “thiên tài trong số các thiên tài,” Anton Rozenberg, người đã gặp Nikolai trong câu lạc bộ toán học khi còn là một cậu bé, cho biết.  Tuy nhiên Nikolai cũng là một cậu trai trẻ gượng gạo đến khổ sở và mãi chưa trưởng thành. Rozenberg nói trong nhiều năm anh ấy vẫn dựa dẫm vào mẹ một cách bất thường. “Bà ấy kiểm soát gần như mọi bước đi của anh ta,” Rozenberg viết. “ăn ở đâu, đi đâu, đi bộ bao nhiêu bước từ nhà ga và đi taxi nào”. Còn Pavel gần gũi với mẹ theo một cách khác. Anh đã viết trên kênh Telegram công khai của mình: “Tôi là một đứa trẻ cứng đầu và thường xuyên xung đột với giáo viên. Mẹ tôi luôn ủng hộ tôi — bà không bao giờ đứng về phía ai ngoài các con trai của bà.” Như lời kể của Andrei Lopatin, người đã gặp các anh em họ trong các cuộc thi câu lạc bộ toán khi anh 11 tuổi, Pavel “có vẻ như là một cậu bé muốn mọi thứ phải theo ý mình”.  Cả hai anh em đều theo học Đại học Quốc gia Saint Petersburg, nơi cha họ là giáo sư ngữ văn, một ngành học bao gồm nghiên cứu ngôn ngữ và văn học. Nikolai học toán. Pavel học ngữ văn, làm thơ, và nói chung là định nối gót cha cho đến khi anh ấy bắt đầu lập trình các trang web. Theo Ilya Perekopsky, một sinh viên ngữ văn đồng thời là bạn của Pavel, anh đã tạo ra một thư viện trực tuyến nơi sinh viên trong khoa của anh có thể chia sẻ ghi chú và các tài liệu học tập khác. Nó trở nên nổi tiếng đến mức nhiều sinh viên bỏ lớp và chỉ học thuộc đáp án trong kho các bài kiểm tra cũ trên thư viện là đủ, Ilya Perekopsky, một sinh viên triết học và bạn của Pavel kể lại.     Nikolai Durov, anh của Pavel Durov, người đứng sau ít được biết đến của Telegram. Nikolai được bạn bè nhận định là “thiên tài trong số các thiên tài”. Trong ảnh là anh ta vào năm 1998 trước kì thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 39. Ảnh: Anton RosenbergTelegram  Sau đó, Pavel tạo ra một diễn đàn trực tuyến nơi anh ta tự gọi mình là “Tổng công trình sư” và tổ chức các buổi giới thiệu về các chủ đề khác nhau, từ chủ nghĩa tự do – bản thân anh ta luôn phản đối “các chế độ xã hội chủ nghĩa chuyên chính” và là một người ủng hộ thị trường tự do – đến các chủ đề như liệu nam và nữ có thể là bạn thuần túy được không. Perekopsky nói: “Anh ấy cố tình kích động các cuộc thảo luận về các chủ đề rất khác nhau. Theo Perekopsky, Pavel cũng tạo ra các tài khoản giả để gây tranh cãi và lôi kéo người dùng. “Đó là một loại tiếp thị, phải không?” Diễn đàn cuốn hút cả trường như một cơn bão. Và Pavel nhận thấy mình ngày càng dành nhiều thời gian hơn cho các trang web của mình.  Cổng thông tin đại học của Pavel cuối cùng đã thu hút sự chú ý của Vyacheslav Mirilashvili, một bạn học cũ. Mirilashvili, người đã chuyển đến Mỹ, vừa chứng kiến Facebook phất lên ở đó và nghĩ rằng có thể làm một sản phẩm tương tự ở Nga. Với số tiền mà Mirilashvili kiếm được khi làm việc cho cha mình, một ông trùm bất động sản giàu có người Israel gốc Georgia, anh và Pavel đã tưởng tượng lại trang web của trường đại học như một công cụ để tìm bạn học và bạn bè thời thơ ấu. Mirilashvili cũng lôi kéo một người bạn Israel gốc nga tên Lev Leviev vào nhóm. Vào mùa thu năm 2006, bộ ba này trở thành đồng sáng lập của VKontakte – tiếng Nga có nghĩa là “liên lạc”. Ban đầu, Pavel Durov tự viết mã trang web. Với thiết kế đơn giản và phối màu trắng xanh, VKontakte trông giống như một trong những sản phẩm nhái Facebook mọc lên trên khắp thế giới.  Mạng xã hội VK nhanh chóng được biết đến và trở nên nổi tiếng. Nhưng lỗi trên trang cũng nhân lên khi người dùng càng tăng, kể cả sau khi Nikolai Durov hoàn tất bảo vệ tiến sĩ ở Đức và bắt đầu về giúp em trai mình. Khi Rozenberg tự nguyện gửi một danh sách lỗi cho anh em Durov, Pavel đã cảm ơn và mời Rozenberg gia nhập công ty với tư cách là quản trị viên hệ thống, dưới quyền của Nikolai. Pavel bây giờ tập trung vào quản lý và thiết kế. Ilya Perekopsky, bạn của Pavel từ khoa ngữ văn, cũng tham gia với tư cách là phó giám đốc điều hành. Làm tròn đội là Andrei Lopatin, người bạn đồng hành cũ của Nikolai từ các cuộc thi toán thời thơ ấu, người đã đến làm việc trong nhóm kỹ thuật của VK.  Đó là một khoảng thời gian thú vị, “Trong những năm đầu tiên tôi làm việc không ngày nghỉ từ sáng đến tối muộn,” Rozenberg nói. Mặc dù nhóm chủ yếu làm việc từ xa, một số cuộc họp tại nhà của Durov, Rozenberg nhớ lại. Hai anh em vẫn sống với bố mẹ. Căn hộ của họ nằm trong một tòa nhà kiểu Liên Xô điển hình ở rìa phía Bắc của St.Petersburg, một khu vực đặc trưng bởi các tòa nhà cao tầng, gần như y chang nhau. Thường thì họ làm việc đến khuya. Và khi Rozenberg bắt chuyến tàu điện ngầm cuối cùng về nhà, mẹ của Durov sẽ ra lệnh cho Pavel và Nikolai đưa anh ta đến ga tàu điện ngầm. Như Rozenberg kể, đó là cách duy nhất để bà dứt hai đứa con ra khỏi màn hình.    VKontakte – mạng xã hội đang phổ biến hơn cả Facebook ở Nga. Ảnh: Pavel Golovkin/Associated Press.     K sớm lọt vào tầm ngắm của các mạng xã hội phổ biến khác trên thế giới. Năm 2009, một phái đoàn nhỏ từ VK đã đến thăm trụ sở chính của Facebook tại Palo Alto. Theo Andrew Rogozov, khi đó là giám đốc phát triển của VK, chuyến đi được sắp xếp bởi quỹ đầu tư của nhà đầu tư mạo hiểm Nga-Israel Yuri Milner, giữ cổ phần trong cả hai công ty. Như Rogozov nhớ lại, Pavel Durov không quan tâm lắm đến Sheryl Sandberg, COO của Facebook, hay Chris Cox, giám đốc sản phẩm của nó, cả hai đều có vẻ không quan tâm đến một cuộc đối thoại dài với nhóm VK. Nhưng Zuckerberg đã mời Durov đến nhà anh ăn tối vào tối hôm đó, Durov cho rằng đây là một cử chỉ tốt bụng. Cả hai đều hiểu “bản chất lỗi thời của Nhà nước”, Durov đã kể lại như vậy trong cuốn sách “Mật mã Durov” năm 2012 của Nickolay Kononov, một nhà báo và cựu biên tập viên tại ấn bản Forbes của Nga.  Theo ghi nhận của Kononov, Durov và Zuckerberg đều coi mạng xã hội như một cấu trúc thượng tầng đối với nhân loại, cho phép thông tin lan truyền vượt ra ngoài tầm kiểm soát tập trung của các chính phủ và Nhà nước. Nhưng Durov cảm thấy rằng Zuckerberg đã phải chấp nhận cả áp lực thương mại và từ các chính quyền. “DNA của công ty được xác định bởi Sheryl Sandberg, một cựu nhà vận động hành lang của Washington,” anh chế giễu. Đối với Rogozov, người cũng tham dự bữa tối và cảm thấy kinh ngạc trước biểu cảm gần như vô hồn giống robot của Zuckerberg, cho rằng trải nghiệm “ở trong lãnh thổ của đối thủ” đã tạo cho họ một thiên hướng hành động khác: “Rằng chúng tôi có thể cạnh tranh với những người này, phải không? Bởi vì họ có một nguồn lực khổng lồ mà họ vẫn phải hỏi chúng tôi cách chúng tôi làm mọi thứ”. Ví dụ, Zuckerberg rất muốn tìm hiểu cách VK tải nhanh như vậy, mặc dù chỉ có một đội ngũ kỹ sư ít hơn 20 người, trong khi Facebook có hơn 1.000 kỹ sư. Cả hai bên cũng có câu hỏi về việc mở rộng ở các thị trường mới — Rogozov cười thích chí và nói rằng, không lâu sau cuộc gặp đó, Facebook bắt đầu phục vụ thị trường Nga, trong khi VK tung ra phiên bản quốc tế bằng một số ngôn ngữ khác nhau.  Năm 2010, VK chuyển đến một địa chỉ nổi tiếng trên đại lộ trung tâm ở St.Petersburg. Trụ sở mới của công ty nằm ở Singer House, một tòa nhà nổi bật với mặt tiền theo trường phái tân nghệ thuật và các tác phẩm điêu khắc khổng lồ hình người có cánh phía trên các lối vào, một tháp bằng đồng và thủy tinh có mái vòm, và đèn chùm trang trí trên trần nhà. Lopatin nói: “Chúng tôi rất tự hào khi được làm việc ở một nơi như thế. “Tuy nhiên, có vẻ như công ty bắt đầu phát triển quá mức”.  Từ khi VK trở thành mạng xã hội lớn nhất ở Nga cho đến nay, người dùng đã lách luật bản quyền một cách trắng trợn, tải lên và chia sẻ nhạc và phim lậu. Nhưng Durov không quan tâm lắm. “Điều tuyệt vời nhất về nước Nga vào thời điểm đó là mạng Internet hoàn toàn không bị quản lý,” sau đó ông nói với The New York Times. “Về mặt nào đó, nó tự do hơn Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau việc kinh doanh ở Nga trở nên khó khăn – khiến cho Durov phải vất vả đấu tranh.   Tháng 12/2011, đảng Nước Nga Thống nhất của Vladimir Putin chiếm ưu thế trong các cuộc bầu cử Quốc hội trong bối cảnh các tuyên bố gian lận tràn lan. Các cuộc biểu tình lớn nổ ra trong cái lạnh mùa đông và nhà hoạt động Alexei Navalny nằm trong số hàng trăm người bị bắt. Khi quản trị viên của một nhóm VK hơn 80.000 người ủng hộ Navalny phàn nàn trên Twitter rằng họ bị chặn đăng bài trên VK, Durov đã trả lời để đảm bảo với họ rằng nhóm của anh ấy đã khắc phục được sự cố. “Mọi thứ đều ổn,” anh nói rõ trong một tin nhắn riêng. “Trong những ngày gần đây, FSB” –  kế nhiệm KGB – “đã yêu cầu chúng tôi chặn các nhóm đối lập, bao gồm cả các nhóm của bạn. Về mặt nguyên tắc chúng tôi không làm điều này. Tôi không biết điều này có thể dẫn đến kết cục như thế nào đối với chúng tôi nhưng chúng tôi đang đứng vững”. Sau đó, anh ta đã đi một bước lì lợm khi công khai xung đột của mình với các cơ quan an ninh, đăng bức thư mà FSB đã gửi cho VK cùng với “phản hồi chính thức” của anh ta với tư cách là Giám đốc điều hành: một bức ảnh về một con chó mắt xanh mặc áo hoodie màu xanh đang thè lưỡi ra.  Một số người ca ngợi Durov như một anh hùng, nhưng một nguồn tin làm việc cho VK tiết lộ rằng vào thời điểm đó vị giám đốc điều hành này nhanh chóng nhận ra một điều: “Nếu để cho truyền thông biến anh ấy trở thành một người đứng đầu phe đối lập thì anh ấy sẽ không tồn tại được lâu”. Trước khi đối mặt với Điện Kremlin anh ta đã gần như vô danh, nhưng giờ thì tên tuổi bỗng trở nên nổi tiếng. Trong một lá thư gửi cho một tờ báo điện tử, anh tự nhận mình là người phi chính trị và nói đùa rằng bản thân không thực sự ủng hộ nền dân chủ. Tháng 5/2012, vào một ngày lễ hội lớn của thành phố St. Petersburg, tên của Durov lại lên báo khi anh ta và người phó giám đốc điều hành, Perekopsky gấp tờ 5000 rúp (khoảng 155USD) thành máy bay giấy và ném qua cửa sổ vào đám đông lễ hội bên dưới. Rozenberg nhớ lại mình đã thấy Durov và Perekopsky cười phá lên khi mọi người tranh giành tờ tiền đó ngoài đường.    Tòa nhà Singer House nổi tiếng, nơi đặt trụ sở làm việc của VKontakte.  Mối quan hệ của Durov với Điện Kremlin còn mơ hồ hơn người ta tưởng. Hơn một năm sau các cuộc biểu tình, tờ Novaya Gazeta của Nga đã đăng một bức thư được cho là bị rò rỉ của Durov gửi cho Vladislav Surkov, phó chánh văn phòng thứ nhất của Putin vào thời điểm đó và người được cho là người đã định hình chiến lược truyền thông của Tổng thống Nga. Durov hẳn đã đảm bảo với Surkov rằng VK đã “tích cực cung cấp thông tin về hàng nghìn người dùng trang web của chúng tôi dưới dạng địa chỉ IP, số điện thoại di động và các thông tin khác cần thiết để xác định danh tính họ”. Anh cũng cảnh báo Điện Kremlin rằng việc ngăn chặn các nhóm đối lập sẽ chỉ khiến họ đến với Facebook, ngoài tầm với của chính phủ. Mặc dù phủ nhận bức thư là thật, nhưng Durov sau đó thừa nhận rằng anh và Surkov đã gặp nhau tại văn phòng của VK nhiều lần trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2011.  Chỉ vài ngày sau tin tức trên Novaya Gazeta, Durov được cho là có liên quan tới một vụ đâm xe rồi bỏ chạy với một cảnh sát. Durov phủ nhận rằng anh đã lái xe nhưng nói đùa về sự cố trên VK: “Khi bạn đâm vào một cảnh sát, điều quan trọng là phải lăn xe qua lại – để tất cả ruột gan phòi ra.” Ngay sau đó, cảnh sát Nga ập vào các văn phòng của VK. Nikolai Durov đăng trên trang cá nhân: “Đột nhiên 20 người đàn ông mặc áo khoác da lừ lừ xuất hiện”.  Ngày hôm sau, có thông tin cho rằng hai nhà đồng sáng lập khác của VK đã bán cổ phần của họ trong công ty cho một quỹ đầu tư tài chính của Nga có tên United Capital Partners. Pavel Durov miêu tả tất cả đó là một cuộc tấn công được sắp đặt có liên quan tới Điện Kremlin, và truyền thông phương Tây ngay lập tức hớp lấy câu chuyện – không hề quan tâm đến việc chính Durov vướng vào xung đột công khai với những người đồng sáng lập của mình trong nhiều tháng kể từ khi biết các cộng sự của mình đang đàm phán bán cổ phần của họ sau lưng anh. Khi Durov bỏ lỡ phiên điều trần liên quan đến vụ tông xe rồi bỏ trốn, có tin rằng anh ta đã rời Nga và đang ở Mỹ — cụ thể là tại văn phòng của một công ty có tên Digital Fortress ở Buffalo, New York. Tin đồn nổi lên rằng Durov đang tạo ra một mạng xã hội hoàn toàn mới ở Mỹ. Và sau đó, vào ngày 14/8/2013, một ứng dụng mới đã xuất hiện trên iTunes Store: Telegram.  Logo của Telegram là một chiếc máy bay giấy làm gợi nhớ những đồng rúp đang bay của Pavel trên đám đông tại tòa nhà văn phòng “Ngôi nhà Ca sĩ” (Singer House). Tên công ty phát triển ứng dụng này là Digital Fortress, chủ sở hữu danh nghĩa của nó là Axel Neff, một người Mỹ đã gặp Perekopsky ở Mỹ những năm trước đó. Và kiến trúc của nó dựa trên một giao thức dữ liệu tùy chỉnh có tên là MTProto, được phát triển bởi Nikolai Durov. Andrei Lopatin cho biết anh đã bắt đầu giúp Nikolai viết giao thức vào năm 2012. Giờ đây, khi Telegram chính thức ra mắt, Pavel Durov đã đề nghị Lopatin trở thành CEO của một công ty mẹ của Nga có tên là Telegraph, “nơi tất cả các lập trình viên Telegram làm việc”, theo Lopatin. Trong khi đó, Pavel vẫn là Giám đốc điều hành của VK.  Trên thực tế, hai công ty đã vướng vào nhau một cách vô vọng. Nikolai đã rời bỏ vị trí của mình tại VK để tập trung vào Telegram, nhưng Rozenberg nói rằng anh ấy thậm chí không chịu rời khỏi văn phòng VK ở Singer House. Theo Rozenberg, người tiếp quản Nikolai với vai trò lãnh đạo kỹ thuật mới tại VK, một số nhân viên đã bối rối không biết không gian nào thuộc về công ty nào.  Trong những mô tả ban đầu của mình về Telegram, Pavel Durov thường trích dẫn những tiết lộ của Edward Snowden về phần mềm gián điệp của chính phủ và tuyên bố rằng anh ta và Nikolai đã thiết lập ứng dụng này vì lo lắng về sự giám sát của chính phủ ở Nga. Ngoài các cuộc trò chuyện thông thường, chức năng “trò chuyện bí mật” sẽ sử dụng mã hóa đầu cuối và lưu trữ cục bộ tin nhắn trên thiết bị của người dùng. Các máy chủ đám mây của ứng dụng, nơi lưu trữ tất cả các tin nhắn khác, sẽ nằm rải rác khắp các khu vực pháp lý khác nhau để gây khó khăn cho bất kỳ chính phủ nào muốn Telegram phải tiết lộ bất kỳ dữ liệu nào; quyền sở hữu của công ty cũng sẽ nằm trong một nhóm các công ty vỏ bọc. Tuy nhiên Durov cũng tuyên bố rằng Telegram vẫn là tổ chức phi lợi nhuận để tránh áp lực pháp lý và thương mại.    Pavel Durov (bìa trái) thời còn là sinh viên. Anh ta có thể nói được gần chục ngoại ngữ.   Khi Telegram nhanh chóng bắt đầu phát triển ở mọi lục địa, cổ đông lớn mới của VK, United Capital Partners, dường như đang để mắt đến ứng dụng mới một cách ghen tị. Công ty cáo buộc Durov chi tiêu bất thường và phát triển Telegram bằng cách sử dụng tài nguyên của VK. Đến lượt mình, Durov bắt đầu tập hợp đội ngũ phát triển cốt lõi trung thành, và gọi chủ sở hữu mới của VK là “công ty Kremlin” và là kẻ thù. Tháng 1/2014, Perekopsky rời khỏi vị trí của mình tại VK sau khi xích mích với Durov. (Perekopsky nói rằng ông không thể thảo luận về những gì đã xảy ra, vì lý do pháp lý, nhưng thừa nhận rằng đã có xung đột và họ “bất đồng”).  Một cuộc chiến pháp lý kéo dài để giành quyền kiểm soát VK và Telegram đã xảy ra sau đó. Trong một canh bạc để có được Telegram, United Capital Partners đã mua lại ba công ty vỏ bọc có liên quan đến ứng dụng mới từ Neff, người bạn Mỹ của Perekopsky. Durov nói rằng Neff đã “phản bội” anh ta. (Neff đã từ chối yêu cầu bình luận từ tờ WIRED).  Khi quyền kiểm soát Telegram bị đe dọa, Durov đã có một hành động quyết liệt. Tháng 4/2014, anh ta và nhóm của mình đã lên một loạt máy bay và bay từ St.Petersburg đến Amsterdam, thành phố New York, Buffalo, Washington, DC và Boston để đích thân đến thăm các trung tâm dữ liệu có máy chủ của Telegram và đảm bảo rằng United Capital Partners không thể truy cập vào chúng. Lopatin nhớ lại đó là một chuyến đi điên cuồng, và kết thúc nó chỉ trong chớp mắt: Sau khi chuyến bay cuối cùng của họ hạ cánh, Durov biết rằng cuối cùng anh ta đã bị VK sa thải.  Sau đó Durov đã cho rằng đối thủ của mình không phải là một công ty đầu tư đơn thuần mà thực chất là một chế độ. “Tôi đã rời Nga và không có kế hoạch quay trở lại,” anh ấy nói với TechCrunch từ Dubai. “Thật không may, quốc gia này không tương thích với kinh doanh Internet vào lúc này.” Anh ta quyết đoán đến mức nhập tịch vào một hòn đảo nhỏ bé ở Caribbe là Saint Kitts và Nevis. Nhưng trong khi Durov tuyên bố với truyền thông rằng Điện Kremlin đã buộc anh ta rời VK và sống lưu vong, nhiều nguồn tin quen thuộc với Durov sau khi rời VK nói với WIRED rằng bằng chứng về sự liên quan của United Capital Partners với Kremlin là không đáng kể. “Hầu hết các công ty vừa và lớn đều ủng hộ Điện Kremlin : điều đó không phải bàn”; Steve Korshakov, một lập trình viên và doanh nhân đã tham gia Telegram vào năm 2013, cho biết.  Cuối cùng Durov đã có được những gì anh ta muốn từ thỏa thuận – sự kiểm soát toàn bộ Telegram – một phần thông qua sự can thiệp của một đồng minh thậm chí còn mạnh hơn của Điện Kremlin. Vào tháng 1/2014, Durov đã bán cổ phần của mình trong VK cho một doanh nhân tên là Ivan Tavrin, người này sau đó bán số cổ phần đó cho một gã khổng lồ Internet có tên là Mail.ru Group, công ty đã mua lại hợp pháp United Capital Partners vào mùa thu năm 2014 với giá 1,5 tỷ USD. Là một phần của thỏa thuận, công ty đầu tư đã đồng ý từ bỏ các tuyên bố của mình với Telegram. Theo Tavrin, điều này phần lớn nhờ vào một trong những cổ đông kiểm soát của Mail.ru, Alisher Usmanov, một trong những doanh nhân giàu có nhất ở Nga, một người cũng giống như nhiều nhà tài phiệt Nga ở chỗ đều có mối liên hệ với Điện Kremlin.  Tavrin nói: “Nếu không có sự giúp đỡ của Usmanov, Durov sẽ không sở hữu Telegram ngày hôm nay,” người khẳng định việc Durov rời VK hoàn toàn là vì kinh doanh, không phải chính trị. “Pavel là vua của PR và marketing, có lẽ là một trong những người làm tốt nhất trên thế giới. Tôi nghĩ anh ấy muốn tỏ ra lịch thiệp trong mắt phương Tây”.  Nếu cộng sự của Durov tại Telegram hy vọng vào một con tàu vững chắc hơn, ở nơi anh ta có quyền kiểm soát tuyệt đối, thì họ đã nhầm. Mối quan hệ của người sáng lập với một số nhân viên của mình tiếp tục xấu đi. Vào tháng 10/2014, Andrei Lopatin, người đã biết đến Durov từ khi mới 11 tuổi, đã bị loại khỏi vai trò Giám đốc điều hành của Telegraph, công ty mẹ của Telegram. Vì lý do nào đó, Lopatin nói, Durov đã bắt đầu bắt nạt anh ta. “Tôi vẫn không hiểu tại sao,” Lopatin nói. Và Korshakov, người đã tham gia Telegram để phát triển phiên bản Android của ứng dụng, nhận thấy rằng mình bị Durov cho ra rìa sau chưa đầy một năm làm việc. Korshakov cuối cùng nhận định là do phong cách lãnh đạo của người sáng lập, giải thích rằng Durov về cơ bản chỉ muốn nhân viên của mình tập trung vào việc chiều lòng anh ta: “Bạn phải tìm ra những gì anh ta thích”.□  (Còn tiếp)  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/how-telegram-became-anti-facebook/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Telegram chống Facebook thế nào? (Kỳ 3)      Các phần trước đã tiết lộ những bí ẩn đằng sau người dùng và những người sáng lập mạng xã hội Telegram. Người dùng của Telegram không chỉ là những nhóm cấp tiến vận động xã hội mà nhiều hơn là các tổ chức cực đoan kích động bạo lực. Những người sáng lập Telegram không phải là những cậu chàng hoài bão ngây thơ khi ở giảng đường mà là những thiên tài với đầy toan tính, bao bọc quanh mình đầy những huyền thoại kì bí.  Đến phần này, mời các bạn đi sâu hơn vào các tranh chấp giữa nhân viên trong Telegram.      Minh họa: Wired.com/Xemrind  Trong khi đó, trên phạm vi thế giới nói chung thì huyền thoại về sự sáng tạo của Telegram lại sắc nét và nhiều màu sắc hơn. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12/2014 với tờ Thời báo New York, Durov tuyên bố rằng nguồn cảm hứng cho Telegram đến khi một “nhóm SWAT” (đội cảnh sát đặc nhiệm) đến điều tra căn hộ của anh ta sau khi anh ta có những hành động chống lại Cơ quan An ninh Liên bang của Nga (FSB) vào tháng 12/2011. Khi nhìn thấy nhiều người có vũ trang ẩn nấp bên ngoài cửa nhà, anh ta gọi cho anh trai của mình. “Nhưng rồi tôi nhận ra rằng mình không có cách nào an toàn để liên lạc với anh ấy,” Durov nói với tờ Times. “Đó là lý do vì sao Telegram bắt đầu”.  Trong các cuộc phỏng vấn, Durov miêu tả Telegram là một công ty phân tán, không nằm dưới quyền tài phán hay bộ máy an ninh của bất kỳ quốc gia nào — và nhất là nằm ngoài tầm kiểm soát của nước Nga của Putin. Anh ta tự họa mình là một “kẻ lưu đày” với tờ New York Times, một mô tả mà sau đó tiếp tục được nhắc đi nhắc lại trên vô số tờ báo khác. Bài báo trên New York Times mô tả anh ta là một “người du mục, cứ vài tuần lại cùng một nhóm nhỏ các kĩ sư lập trình máy tính chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác”. Nhìn vào tài khoản Instagram của Durov điều đó quá rõ ràng với những bức hình khách sạn hào nhoáng nơi anh ta lưu trú – tại Beverly Hills, Paris, London, Rome, Venice, Bali, Helsinki.      Telegram là một công ty phân tán, không nằm dưới quyền tài phán hay bộ máy an ninh của bất kỳ quốc gia nào – và nhất là nằm ngoài tầm kiểm soát của nước Nga của Putin.      Nhưng việc vận hành hằng ngày của Telegram trên thực tế còn trần tục hơn nhiều: Durov vẫn giữ hợp đồng thuê nhà tại Singer House. Lopatin, cựu Giám đốc điều hành của Telegraph, nói rằng người sáng lập đã trở lại Nga vào mùa thu năm 2014: “Khi tôi rời Telegram, anh ta vẫn tới văn phòng Singer House tất cả những ngày làm việc. Mọi thành viên khác của đội cũng đã Nga.” Các nhân viên khác của VK và Telegram cũng đồng tình rằng Pavel Durov thường xuyên có mặt tại Singer House. Anton Rozenberg, người đã giúp anh trang bị nhà mới cho biết Nikolai, cuối cùng đã dọn ra khỏi căn hộ của mẹ mình, đang làm việc từ một căn hộ gần đó. Rozenberg, người đã làm một số công việc khác sau khi từ chức khỏi VK để ủng hộ Pavel cho biết anh thường gặp Nikolai trong thời gian này để xem phim hoặc chơi cờ. Lopatin nói rằng trước khi anh ta bị sa thải, cả nhóm đã cùng nhau đi du lịch nước ngoài, phần lớn là đến St.Petersburg.  Nếu đúng như vậy, chính những huyền thoại được thêu dệt nên đã giúp đưa Telegram nổi tiếng ra thị trường thế giới. Đến đầu năm 2016, ứng dụng đã tiếp cận 100 triệu người dùng. Và đội ngũ chủ chốt của Telegram đã liên tục bổ sung các bản cập nhật mới để lôi kéo nhiều người dùng hơn từ các ứng dụng nhắn tin khác. Đôi khi công việc của họ cũng thu hút các doanh nhân công nghệ khác. Elies Campo gia nhập công ty vào đầu năm 2015 sau khi thu xếp một cuộc gặp với Pavel Durov ở Palo Alto thông qua một người bạn chung. (“Thật khó để gặp anh ta,” Campo nhớ lại đã tự hỏi liệu Durov có nghi ngờ mình là gián điệp WhatsApp hay không.) Ngay từ đầu, Campo đã coi ông chủ mới của mình là một “người có tầm nhìn xa”, anh nói. “Tôi nghĩ anh ấy là nhà chiến lược sản phẩm tinh vi nhất mà tôi từng gặp”.    Elies Campo, cựu giám đốc bộ phận tăng trưởng, kinh doanh và hợp tác của Telegram.  Campo nói “rất thú vị khi thấy Pavel phản ứng về chức năng nhắn tin và tất cả các tính năng khác mà anh ấy dự định triển khai”. Chỉ trong năm 2015, nhóm chủ chốt của Telegram đã tạo ra một nền tảng để người dùng tự tạo và phát hành các chatbot của riêng họ; Telegram thêm các chức năng trả lời, chức năng đề cập và chức năng hastag trong các cuộc trò chuyện nhóm; Telegram đã thêm tính năng phát lại video trong ứng dụng và trình chỉnh sửa ảnh mới; và lần đầu tiên họ giới thiệu các kênh công khai cho những người muốn phát sóng cho số lượng người theo dõi không giới hạn. Chỉ có Facebook mới có thể thêm các tính năng với tốc độ tương đương như vậy, nhưng Facebook có số lượng nhân viên đông hơn nhiều lần.  Campo nhớ lại đó là một khoảng thời gian rất nhiều năng lượng. Anh ấy tiếp tục sống ở Palo Alto, tham gia cùng các lập trình viên phần lớn là người Nga trong các thăm thú của họ trên khắp thế giới, bao gồm cả ở quê hương Barcelona của anh. “Toàn đội đã đi du lịch cùng nhau,” anh ấy nói. Nói cách khác, đối với Campo, huyền thoại là có thật. Nhắc lại lời hùng biện của sếp, anh ấy sẽ nói rằng Telegram “không thuộc về một quốc gia, mà là một sản phẩm toàn cầu”.  Năm 2016, Rozenberg cũng tham gia Telegram với nhiệm vụ chống lại các tin nhắn, bình luận rác. Rozenberg nói rằng không hề có xung đột nào giữa cổ đông như những dày vò thời VK, đây là một “công việc mơ ước”. Nhưng vào tháng 1/2017 anh ấy đã chia tay với người bạn cũ Nikolai. Rozenberg cho rằng đó là một xung đột về mặt tình cảm và Nikolai muốn anh ta đi. (Nikolai đã không trả lời yêu cầu bình luận).    Phó chủ tịch Telegram Ilya Perekopsky, Một người bạn của Durov thời sinh viên. Ảnh:Wired.com/Anna Huix  Rozenberg nói rằng Pavel bày tỏ sự đồng cảm với tình cảnh của anh ta. Nhưng vị giám đốc điều hành này không định đứng ở chiến tuyến đối lập với anh trai mình. Vào tháng tư, sau khi từ chối từ chức, Rozenberg đã bị sa thải vì cáo buộc “vắng mặt” và một đồng nghiệp và là bạn lâu năm khác của anh em Durov cũng bị loại. Nhưng Rozenberg không lặng lẽ ra đi. Vào tháng 9/2017, anh đã xuất bản câu chuyện về thời gian của mình với anh em nhà Durov trên Medium vạch trần một số mâu thuẫn được cho là của Telegram, bắt đầu bằng địa chỉ của nó: Tại sao các nhân viên của công ty phi tập trung của một người Nga bị lưu đày lại có trụ sở ở Nga?  Đáp lại, Durov nói với truyền thông Nga rằng Rozenberg trên thực tế đã làm việc cho Telegraph, công ty mà anh ta mô tả là hoàn toàn tách biệt do Telegram thuê ngoài. Durov cho biết lần cuối cùng nhóm Telegram gặp nhau tại Singer House là vào đầu năm 2015 và anh ấy nói bóng gió rằng Rozenberg “đang có vấn đề về tâm thần”. Tuy nhiên, trong trận chiến với United Capital Partners vào năm 2014, chính Durov đã tiết lộ mối liên hệ của mình với Telegraph LLC có trụ sở tại Nga trong các tài liệu của tòa án. Rozenberg cũng chia sẻ các tin nhắn với WIRED cho thấy có vẻ Durov coi Rozenberg như một nhân viên.  Tuy nhiên, có lẽ rắc rối nhất là việc Rozenberg cáo buộc rằng dữ liệu lịch sử trò chuyện Telegram của anh ta đã biến mất một cách bí ẩn trong cuộc xung đột của anh ta với anh em nhà Durov. Và rồi các cuộc trò chuyện đã được khôi phục một cách kỳ diệu vào sáng hôm sau, và Pavel coi đây là một lỗi kỹ thuật nhỏ. Nhưng Rozenberg tự hỏi liệu Nikolai có đứng sau việc xóa dữ liệu không. Telegram có thể thực sự an toàn đến mức nào nếu một tranh chấp nhỏ đủ để gây nguy hiểm cho thông tin của người dùng? “Tất cả các cuộc trò chuyện của bạn, ngoại trừ các cuộc trò chuyện bí mật,” Rozenberg nói, “tất cả các nhóm, tất cả các kênh, đều được lưu trữ trên các máy chủ Telegram. Vì vậy, Telegram có quyền truy cập vào thông tin đó”.  Khi Telegram trở nên cực kỳ phổ biến ở những nơi dưới chế độ khắc nghiệt như Iran, các chuyên gia bảo mật cũng bắt đầu đặt vấn đề về kiến ​​trúc quyền riêng tư của Telegram. “Telegram sẽ phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng theo thời gian để hợp tác với các yêu cầu của Chính phủ Iran,” Edward Snowden đã tweet vào cuối năm 2017 rằng cam kết đạo đức của Pavel Durov trong việc bảo vệ người dùng là không đủ để chống lại loại áp lực này. Bắt chước giọng điệu của người sáng lập Telegram, thần tượng một thời của Durov đã tweet: “Hãy tin tưởng chúng tôi không chuyển dữ liệu. Tin tưởng chúng tôi không đọc tin nhắn của bạn. Tin tưởng chúng tôi không đóng kênh của bạn. Có lẽ @Durov là một thiên thần. Tôi cũng mong là như vậy! Nhưng trước đây đã có nhiều thiên thần sa ngã”.    Edward Snowden từng nói rằng cam kết đạo đức của những người sáng lập không đủ để Telegram trở nên đáng tin. “Nhiều thiên thần trước đây đã sa ngã”.    Trong khoảng thời gian này, Durov chuyển trụ sở chính thức của Telegram đến Dubai, cuối cùng cũng cắt đứt mối quan hệ lâu dài của hai anh em với tòa nhà Singer House và giải quyết những mâu thuẫn hiển nhiên của cả team trong mối quan hệ với Nga. Nhưng nếu những tranh cãi được đưa ra bởi Snowden hoặc bài đăng của Rozenberg có ảnh hưởng đến sự phát triển của Telegram hay không thì thật khó để nói. Ứng dụng hiện đã có gần 200 triệu người dùng, gửi 70 tỷ tin nhắn mỗi ngày. Telegram rất phổ biến ở châu Á, châu Mỹ Latinh và ngày càng tăng ở châu Âu. Nó vẫn miễn phí cho người dùng, không có quảng cáo. Nhưng hỗ trợ 200 triệu người dùng không hề rẻ. Durov được cho là rời VK với số tiền 300 triệu USD và anh ta vẫn đang tự chi cho ứng dụng 4 năm tuổi của mình. Telegram rồi cũng phải tìm cách tạo nguồn thu cho những chi phí máy chủ ngày càng cao. Bán vốn cổ phần và mạo hiểm với các cuộc chiến với cổ đông khác có vẻ là không hấp dẫn. Nhưng Durov không thể tiếp tục tài trợ cho Telegram mãi mãi. Và vì vậy, anh ta bắt đầu nghĩ ra một kế hoạch mới đầy táo bạo.  ***  Tháng 6/2017, lúc Ilya Perekopsky đang lái chiếc Mercedes mui trần trên một con đường ngoằn ngoèo khi đi nghỉ ở miền Nam nước Pháp thì thấy một tin nhắn bật ra trên điện thoại của mình. Đó là Pavel Durov. Người bạn cũ, ông chủ và kình địch một thời của anh ta đã đề nghị họ có một cuộc gặp chính thức. Trong những năm gần đây Perekopsky chuyển sang hướng thị trường tiền mã hóa. Thỉnh thoảng, anh ấy gửi link cho Durov: “Tôi như một nhà truyền đạo cho món này,” Perekopsky nói. Và giờ thì anh ấy rất vui khi đọc được tin nhắn của Durov muốn gặp mặt để thảo luận về một liên doanh tiền điện tử mới.      Họ sẽ xây dựng một nền tảng blockchain mới được gọi là Telegram Open Network (Mạng lưới mở Telegram), cùng với một loại tiền điện tử gốc gọi là gram.      Họ hẹn gặp nhau ở Paris, nơi Perekopsky nói Durov thường đi nghỉ hè. Ngay từ lần gặp đầu tiên Perekopsky đã nhận ra dự án của Durov có quy mô lớn chưa từng có. Perekopsky nói: “Anh ấy chỉ thực sự tin tưởng vào ý tưởng tạo ra một loại tiền điện tử cho thị trường đại chúng mà mọi người có thể giao dịch không cần qua các ngân hàng”. Trong những tháng tiếp theo họ gặp nhau nhiều lần nữa ở Paris và Dubai để tinh chỉnh kế hoạch của Durov. Và tháng 10/2017, Durov đã chính thức mời Perekopsky trở lại nhóm để “hỗ trợ đắc lực” cho dự án mới.  Perekopsky mới huy động được 30 triệu USD cho một nền tảng giao dịch tiền điện tử có tên là Blackmoon; anh ta giới thiệu Durov với John Hyman, một chuyên gia ngân hàng đầu tư kỳ cựu người Anh. Hyman sẽ tham gia ban điều hành phụ trách kinh doanh của dự án mới, và trở thành cố vấn đầu tư chính của Telegram. Vào giữa tháng 12, Durov đã bay đến London để gặp gỡ hai người và hoàn thiện chi tiết dự án, và Hyman bắt đầu sắp xếp các cuộc gặp với các nhà đầu tư tiềm năng trong chuyến thăm của anh ta. Ngay sau đó, kế hoạch của họ được công bố.  Họ sẽ xây dựng một nền tảng blockchain mới được gọi là Telegram Open Network (Mạng lưới mở Telegram), cùng với một loại tiền điện tử gốc gọi là gram. Bộ não đằng sau TON, Nikolai Durov, đã được mô tả trong tài liệu sơ lược của TON như một “bậc thầy trong các hệ thống phân tán”. Hệ thống mà Nikolai thiết kế hứa hẹn sẽ nhanh hơn công nghệ blockchain hiện tại; trong khi Bitcoin và Ethereum lần lượt bị giới hạn ở 7 và 15 giao dịch mỗi giây, sách trắng của TON hứa hẹn hàng triệu giao dịch mỗi giây. Kế hoạch đầy tham vọng sẽ kiểm tra giới hạn của các nhà phát triển Telegram.    Telegram đã định vươn ra lĩnh vực tiền điện tử.   Ý tưởng của họ là tận dụng lượng người dùng khổng lồ của Telegram để đạt được “điểm tới hạn thúc đẩy việc áp dụng tiền điện tử một cách rộng rãi”. Cho đến nay, tiền điện tử chỉ giới hạn trong những người có đủ kiên nhẫn và kĩ năng thiết lập ví kỹ thuật số và đăng ký với các sàn giao dịch tiền điện tử. Nhưng với các ví kỹ thuật số được tích hợp trực tiếp vào ứng dụng Telegram — như Facebook Pay, chỉ với tiền điện tử — TON sẽ ngay lập tức kết nối hàng triệu người dùng thông thường với blockchain và biến tiền điện tử trở thành xu hướng chủ đạo trong một thời gian ngắn. TON cuối cùng sẽ trở thành “một giải pháp thay thế thẻ Visa / Mastercard cho nền kinh tế phi tập trung mới.” Để thể hiện thông tin đăng nhập được phân phối của Telegram, người khai thác đã ca ngợi các cụm máy chủ độc lập của công ty nằm rải rác trên các lục địa và khu vực pháp lý. Cuối cùng, mục tiêu là để TON vượt qua tầm tay của Telegram cho “cộng đồng nguồn mở toàn cầu”.  Nghe có vẻ như một kế hoạch không tưởng sẽ cách mạng hóa cách thức hoạt động của chính đồng tiền. Perekopsky nói: “Nó thực sự được cho là sẽ thay đổi thế giới. Nó cũng sẽ giải quyết câu hỏi hóc búa lớn nhất của Telegram: làm thế nào để huy động tiền mà không phải từ bỏ quyền kiểm soát. Thay vì bán cổ phần cho các nhà đầu tư, Durov sẽ tạo ra tiền tệ của riêng mình — hay đúng hơn là một nền kinh tế tích hợp hoàn toàn mới xoay quanh Telegram.  Hyman ngạc nhiên về cách thức hoạt động của nhóm Telegram. Anh ấy chưa bao giờ thấy bất cứ thứ gì giống như vậy, anh ấy nói. Tại Morgan Stanley, nơi Hyman đã có 17 năm đảm nhiệm các vai trò cấp cao, số người làm một dự án có quy mô tương tự có lẽ phải gấp 40 lần. “Và họ cũng không thể làm tốt hơn nhóm Telegram này,” ông nói. Các nhà đầu tư ngất ngây. Họ “rất thích bản chất tập trung của dự án này,” Hyman nói. “Nó có hiệu quả rất cao – chúng tôi có thể phát triển và đưa ra quyết định nhanh hơn.” Đối với Hyman đó là một ví dụ về niềm đam mê của Durov trong việc phá vỡ các bộ máy quan liêu truyền thống đang làm tắc dòng thông tin và tài chính.  Các loại tiền điện tử mới thường được tung ra bằng cách chào bán một số lượng đồng nhất định, đổi lại người mua sẽ nhận một loại chứng nhận gọi là token, giống như cổ phiếu của một công ty ra công chúng. Telegram cuối cùng đã kiếm được 1,7 tỷ USD từ 175 nhà đầu tư – là ICO lớn nhất trong lịch sử ở thời điểm đó. Nhưng đã có những vấn đề ngay từ đầu. Mặc dù ban đầu công ty đã nói về một ICO trước công chúng, nhưng cuối cùng việc chào bán lại chỉ giữ trong một nhóm bí mật. Có rất ít cách để biết các nhà đầu tư tư nhân là ai hoặc tiền đến từ đâu. Khi trả lời một đồng nghiệp kinh doanh chỉ hỏi câu hỏi này, Hyman đã viết: Nga, Israel và “câu lạc bộ người hâm mộ Pavel”.  Sau đó, các mục tiêu cho dự án tiếp tục bị bỏ lỡ. Durov nói với một người bạn và nhà đầu tư rằng đội ngũ công nghệ của Telegram đang phải chia lửa giữa công việc trên ứng dụng và trên TON, nên phải “căng mình ra mà làm”, nói như vậy là còn nhẹ. Thực ra ở thời điểm đó Telegram đang phải đối mặt với lệnh cấm bên trong Nga vì công ty đã từ chối giao các khóa mã hóa của mình cho cơ quan an ninh. Trong một trò chơi mèo vờn chuột kịch tính, cơ quan quản lý viễn thông của Nga kết cục chặn mất phần lớn mạng Internet của Nga trong một vụ “chiến tranh” dân sự. Nhưng Telegram – thông qua một kỹ thuật gọi là “ngụy trang tên miền” (fronting domain), ẩn nguồn lưu lượng truy cập web – đã giữ cho nền tảng của mình vẫn truy cập được mà hầu như không bị gián đoạn đối với người Nga. (Một thời gian sau, khi sự “lên ngôi” của Alexander Lukashenko ở Belarus thiết lập chế độ ngắt kết nối internet vào ngày bầu cử, Telegram đã sử dụng các kỹ thuật “chống kiểm duyệt” tương tự để duy trì sự trực tuyến – và cuối cùng trở thành phương tiện liên lạc chính trong thời kỳ bất ổn quốc gia).  Mạng thử nghiệm của TON cuối cùng đã trực tuyến vào tháng 1/2019, chậm nửa năm. Nhưng khi sắp ra mắt chính thức – nghĩa là các nhà đầu tư sẽ được phép bán số tiền của họ – Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ đã khiến mọi thứ đột ngột dừng lại.  Ủy ban chứng khoán và giao dịch Mỹ – SEC tuyên bố rằng việc bán lại gam sẽ điều chỉnh việc phân phối những cổ phiếu chưa đăng ký. SEC cũng chỉ trích TON vì sẽ phục vụ cho những động cơ gây quỹ bí mật. SEC tuyên bố rằng công ty đã chi 90% trong số 1,7 tỷ USD ICO của mình để thanh toán các chi phí của Telegram mà không phân biệt giữa số tiền đã chi cho ứng dụng và trên TON. Các email cho thấy Hyman cũng biết rằng đã có thị trường chợ đen để bán lại gam trước khi ra mắt, mặc dù điều này bị cấm theo thỏa thuận mà các nhà đầu tư đã ký kết.  “Đó là một cú sốc toàn tập,” Perekopsky nói về vụ kiện của SEC. “Đó là một trong những ngày đáng thất vọng nhất trong cuộc đời tôi”. Perekopsky tuyên bố rằng họ đã liên lạc với SEC trong suốt quá trình và Telegram đã thuê “các công ty luật tốt nhất trên thế giới” để đảm bảo rằng họ tuân thủ. Perekopsky cũng bác bỏ ý kiến ​​cho rằng TON chỉ đơn thuần là một phương tiện gây quỹ cho Telegram, nói rằng có nhiều cách “dễ dàng hơn” để huy động tiền hơn là xây dựng một chuỗi khối hoàn toàn mới.  Pavel Cherkashin, một người Nga ở San Francisco, người đã đầu tư vào TON, là một trong số nhiều người cảm thấy bị phản bội. “Điều khiến tôi tức giận là khi hiểu rằng Durov đã lấy tiền từ những gì anh ấy đáng lẽ huy động cho TON nhưng lại để phục vụ Telegram, điều này sẽ không mang lại bất kỳ giá trị nào cho các nhà đầu tư,” anh nói. Theo quan điểm của Cherkashin, Durov có bí quyết kỹ thuật và tầm nhìn sản phẩm để làm cho TON hoạt động, nhưng ông đã thất bại trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh doanh cần thiết khiến nó thành công – vì ông không muốn từ bỏ quyền kiểm soát.  Về phần Perekopsky, ông lại không thấy vấn đề gì với việc sử dụng tiền mặt TON để thanh toán chi phí hoạt động của Telegram. “Thành thật mà nói, chúng tôi chưa bao giờ che giấu thực tế rằng số tiền sẽ được sử dụng cho Telegram và cho blockchain,” ông nói.  Ban đầu, Perekopsky nói, Durov không sẵn sàng từ bỏ. “Chúng tôi đã nghĩ nếu ra tòa, chúng tôi có thể chiến đấu và có thể giành chiến thắng, vì chúng tôi đúng 100%,” Perekopsky nhớ lại. Nhưng sau khi SEC thẩm vấn Durov trong hai ngày ở Dubai, rõ ràng là kế hoạch làm TON đã đi tong. “Mỹ có thể sử dụng quyền kiểm soát của mình đối với đồng USD và hệ thống tài chính toàn cầu để đóng cửa bất kỳ ngân hàng hoặc tài khoản ngân hàng nào trên thế giới”, Durov viết sau đó và nói thêm rằng “các quốc gia khác không hề có toàn quyền đối với những gì được phép trên lãnh thổ của họ”. Ông đổ lỗi cho sự thất bại của TON là do “một thế giới quá tập trung”. Không có một chút lời xin lỗi nào.  Hyman cho rằng các cơ quan quản lý có thể đã để ý đến TON chỉ vì nó thực sự là “một loại mối đe dọa đột phá” đối với các tổ chức tài chính truyền thống. Trên thực tế, SEC đã đàn áp các ICO nói chung kể từ năm 2017, phạt tiền đối với một số và đóng cửa đối với những người khác. Nhưng không có công ty nào thu hút được nhiều khoản đầu tư như TON, vốn đã cho phép hàng triệu người dùng Telegram thông thường dễ dàng tiếp cận tiền điện tử. Cherkashin tin rằng không phải ngẫu nhiên mà Facebook bắt đầu nghiên cứu tiền điện tử và blockchain của riêng mình một cách nghiêm túc cùng thời điểm với Telegram – ông nghe tin đồn rằng Zuckerberg đã rất tức giận khi lần đầu tiên đọc về TON. Bằng cách phát hành tiền tệ, một nền tảng truyền thông xã hội có thể phá vỡ một trong những chức năng quan trọng nhất của quốc gia-nhà nước. Cả Durov và Zuckerberg đều nhận thức sâu sắc về điều này.  Sau thất bại của TON, Perekopsky ở lại Telegram với tư cách là phó chủ tịch. Vào tháng 3/2021, ông đã giúp huy động được hơn 1 tỷ USD thông qua việc bán trái phiếu 5 năm trên Telegram, một phần trong số đó được trả lại cho các nhà đầu tư TON – mặc dù các nhà đầu tư Mỹ, bao gồm Cherkashin, chỉ nhận lại được 72% những gì họ đầu tư. Khi bắt đầu dự án TON, những người sáng lập đã tràn ngập chủ nghĩa lý tưởng. “Telegram được thành lập vào năm 2013 bởi những người theo chủ nghĩa tự do để bảo vệ quyền tự do thông qua mã hóa”, nó giải thích, xác nhận Wikipedia là “một hình mẫu cho những người sáng lập Telegram.” Nhưng trường hợp của SEC khiến TON nghe giống một cỗ máy kiếm tiền phức tạp hơn. □ (Còn tiếp)  Nguyễn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/how-telegram-became-anti-facebook/     Author                Quản trị        
__label__tiasang Telegram chống Facebook thế nào? (Kỳ cuối)      Ở các kì trước, chúng ta được biết về sự ra đời li kì cũng như sự mâu thuẫn nội bộ ngấm ngầm bên trong Telegram, sự khéo léo trong việc ngấm ngầm vừa chống đối vừa làm thân với Nga và phương Tây của người sáng lập, những hứa hẹn dễ đổ vỡ với người dùng của mạng xã hội này. Vậy những lời hứa như “tự do”, “phi tập trung”, “đảm bảo quyền riêng tư” của Telegram có đáng tin không? Hay hóa ra chúng chỉ là một cơn ác mộng?      Ảnh: wired.com  Vào tháng 7/2021, Dự án Pegasus — một dự án báo chí điều tra quốc tế về cách thức mà các chính phủ sử dụng phần mềm gián điệp mua từ NSO Group, một công ty công nghệ của Israel — đã chỉ ra một trong những số điện thoại của Durov là mục tiêu theo dõi của công cụ nghe lén từ công ty này. Cuộc điều tra cho thấy, khách hàng đưa ra mục tiêu này khả năng cao chính là lãnh đạo của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.  Durov không hề nao núng trước việc này. Kể từ năm 2011 khi sống ở Nga, anh ta nói rằng điện thoại của mình đã bị “xâm phạm” và đã có các biện pháp phòng ngừa cho điều đó.  Khi những cuộc đối đầu của Durov với Điện Kremlin đã lùi vào dĩ vãng, Durov ngày càng lái nền tảng của mình theo hướng trở thành một đối trọng chống lại Facebook, Apple và Google. (Facebook vì đó là đối thủ cạnh tranh chính của anh ta; còn với Apple và Google vì Telegram phải tuân thủ các quy tắc của họ để duy trì trên các cửa hàng ứng dụng.) Trong một bài đăng trên trang của anh ta vào đầu năm ngoái, Durov tuyên bố rằng anh ta cuối cùng đã từ bỏ quan điểm lỗi thời của mình về sự đối lập giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Anh ta viết: “Tôi thích nghĩ theo hướng nó là sự đối lập giữa “tập trung và phi tập trung hơn”.   Trong cuộc chiến để Telegram bắt kịp các tập đoàn tư bản độc quyền ở Thung lũng Silicon, việc các Big Tech phải thắt chặt các tiêu chuẩn kiểm duyệt nội dung, đã mở ra cơ hội thị trường rộng lớn để Telegram đón lấy. Khắp thế giới hằng ngày đều tràn ngập tin tức nói về các kênh và nhóm Telegram đầy những người antivaxx, phủ nhận COVID và những kẻ cực hữu quá khích sử dụng ứng dụng này để truyền bá thông tin sai lệch và tổ chức các cuộc biểu tình – đặc biệt là kể từ khi Facebook, Twitter và YouTube bắt đầu đẩy lùi những nội dung như vậy vào năm ngoái. “Trong 20 năm quản lý các nền tảng của tôi,” Durov viết vào năm 2021, “tôi nhận thấy rằng càng kiểm duyệt thì các thuyết âm mưu càng tăng lên”. Vào tháng sáu, Chính phủ Đức đã kiện Telegram vì không tuân thủ các quy tắc yêu cầu các mạng xã hội phải xử lý các khiếu nại và phải có đầu mối liên hệ tại nước này. Khi Đức đã áp dụng các quy trình sức khỏe nghiêm ngặt hơn để đối phó với biến thể Omicron, phản ứng trên Telegram lại càng trở nên cực đoan hơn.  Trong khi đó kể từ ngày 6/1/2021, vị trí của ứng dụng trong phong trào ủng hộ Trump tiếp tục được củng cố. Các kênh thuộc sở hữu của các nhân vật cực hữu đang mọc lên như nấm: kênh của Lin Wood, cựu luật sư của tổng thống Trump giờ trở thành tác giả của các thuyết âm mưu về bầu cử đang đạt gần một triệu người đăng ký; kênh của Ron Watkins – cựu quản trị viên 8chan (một trang nổi tiếng chứa chấp những nội dung ủng hộ thuyết da trắng thượng đẳng, tân phát xít, phân biệt chủng tộc, phát ngôn thù ghét, bắn người hàng loạt…) có gần nửa triệu người theo dõi. Trong số các chính trị gia đắc cử được Trump hậu thuẫn, những người đã mở ra các kênh đang phất lên trên Telegram là các đại biểu Quốc hội cực hữu như Marjorie Taylor Greene, Madison Cawthorn và Lauren Boebert.    Kênh Telegram của Lin Wood, cựu luật sư của Tổng thống Trump giờ trở thành tác giả của các thuyết âm mưu về bầu cử đang đạt gần một triệu người đăng ký. Ảnh: TheDailyBeast.com  Vào tháng 8/2021, Telegram đạt tổng số 1 tỷ lượt tải xuống. Theo lời Durov, trong sáu tiếng thảm họa mà Facebook bị sập trên toàn cầu do lỗi kĩ thuật vào tháng 10 năm đó, Telegram này đã chào đón 70 triệu “người tị nạn” mới chỉ trong một ngày, theo Durov.  Nhưng khi Telegram càng tiến gần hơn tới đích đến của mình và bắt kịp với WhatsApp, Elies Campo tiếp tục nghiền ngẫm. “Chúng tôi thể hiện mình là một công ty cởi mở, nhằm ủng hộ quyền tự do trao đổi và minh bạch giữa những người dùng, “anh ấy nói trong một cuộc gặp với chúng tôi ở Ciutadella, một công viên trang nghiêm rải rác với các tượng đài, ở rìa khu phố cổ của Barcelona. “Và mặt khác, chúng tôi hoàn toàn mơ hồ về cách mình làm việc”. Anh tự hỏi liệu những gì anh coi là văn hóa công ty thiếu gắn kết, thậm chí thiếu tin cậy giữa các thành viên của Telegram có đang kìm hãm nó hay không.      Thật buồn cười khi họ không tìm thấy một nền tảng tốt hơn ở chính Hoa Kỳ để bày tỏ ý kiến ​​của mình.      Anh ấy càng nói, tôi càng thấy rằng văn hóa công ty này cũng đã tệ bạc với cả Campo. Campo nhớ lại, tại kỳ nghỉ cuối cùng của công ty trước đại dịch vào mùa hè năm 2019, Durov đã thuê một ngôi nhà lớn ở một thị trấn nhỏ ở Phần Lan bao quanh bởi những hồ nước và rừng thông. Khi cả nhóm cùng nhau dùng bữa, cuộc trò chuyện bằng tiếng Nga. Campo nói: “Tôi là người duy nhất nói tiếng Anh với Pavel. Một sự nứt gãy đã hình thành một cách tự nhiên.” Anh cũng cảm thấy rằng cả nhóm đã không tin tưởng mình vì sống ở Thung lũng Silicon và được cho là có tư duy kiểu Mỹ. Một lần trong khi Campo đang cố gắng thiết lập quan hệ đối tác kinh doanh giữa Telegram và các công ty Hoa Kỳ, Campo nói rằng Durov đã lớn giọng tự hỏi liệu Campo có “lợi ích kinh tế” gì trong các công ty này hay không mà muốn “làm việc với họ quá như vậy”.  Trong suốt năm đó Campo bắt đầu chuẩn bị rời khỏi Telegram. Anh ấy đã dành cả mùa thu cho dự án lớn cuối cùng của mình ở đó, giúp tung ra các tính năng mới nhằm mục đích cuối cùng là kiếm tiền từ ứng dụng. Theo kế hoạch mới, chủ sở hữu những kênh lớn sẽ có thể xuất bản các tin quảng cáo và yêu cầu người đọc trả phí, từ đó Telegram sẽ cắt lại một phần doanh thu. (Telegram tuyên bố sẽ không bao giờ cung cấp các quảng cáo hướng đích dựa trên dữ liệu của người dùng).  Trước cuộc gọi cuối cùng của chúng tôi vào cuối tháng 10, Campo đã làm một điều thật bất thường. Cho đến lúc đó, chúng tôi chủ yếu giao tiếp trên Telegram, sử dụng nó cho cả tin nhắn và cuộc gọi. Nhưng lần này anh ấy viết, “Tôi sẽ nhắn anh trên một nền tảng khác.” Và rồi anh ấy đã thêm tôi trên Signal. Gọi cho anh ấy ở đó, tôi hỏi tại sao anh ấy không muốn nói chuyện trên Telegram. Anh ấy nói, “Bởi vì, ai mà biết được (biết đâu bị theo dõi thì sao)?”    Người biểu tình ở Nga phản đối nước này chặn Telegram. Ảnh: Associated Press  Có cơ hội nào mà Telegram có thể giám sát cuộc trò chuyện riêng tư của ai đó không? Campo nói: “Về mặt kỹ thuật, điều đó là có thể.” Anh nói, để làm như vậy trên quy mô lớn sẽ rất khó, nhưng trên một tài khoản nhất định, việc mã hóa giữa người dùng và máy chủ có thể bị vô hiệu hóa. “Tôi không biết nó có đang xảy ra hay không.”  Khi tôi chuẩn bị kết thúc bài báo của mình vào tháng sau đó, tôi đã cố gắng nói chuyện với một giám đốc điều hành Telegram cấp cao khác: Ilya Perekopsky. Vào tháng 11, tôi đã viết thư cho anh ấy lần thứ chín, nhưng chưa bao giờ nhận được phản hồi có nội dung gì đáng kể. Lần này Perekopsky đáp lại tôi ngay sau 20 phút và hỏi tôi có ở Barcelona không. Anh ấy nói rằng thật trùng hợp khi anh vừa hạ cánh từ Dubai. Hai ngày sau, chúng tôi gặp nhau tại một nhà hàng trang nhã bên bờ biển ở phía Nam Barcelona, ​​gần nơi bố mẹ Perekopsky có nhà. Với mái tóc vàng sẫm và gò má cao, Perekopsky khiến tôi liên tưởng đến David Bowie người Nga trong chiếc áo sơ mi ca rô bên dưới chiếc áo vest phồng màu vàng.  Bên món cá vược nướng dưới cái nóng nực trái mùa, Perekopsky xin lỗi vì đã không trả lời sớm hơn. Anh ta giải thích rằng anh ta đã cho Durov xem email của tôi vì lo ngại rằng tôi đang viết một bài báo “một chiều”. “Tôi nghĩ tốt hơn là nên trả lời trực tiếp,” Perekopsky nói với sếp của mình, người mà ông cho biết đã nhanh chóng chấp thuận cuộc gặp mặt. Perekopsky nói: “Chúng tôi thực sự không quan tâm quá nhiều đến việc giao tiếp với thế giới bên ngoài, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ làm chúng tôi mất tập trung.” Anh ấy nói Durov thích sử dụng kênh của mình, nơi mà những lời nói của anh ấy không thể bị bóp méo hoặc bị “kiểm duyệt” bởi một nhà báo.  Tuy nhiên, Perekopsky rất háo hức được thảo luận về điều mà ông gọi là “kiểm duyệt” từ Google và Apple, mà ông cho biết gần đây cả hai đều yêu cầu Telegram chặn các kênh công khai đang ủng hộ những luận điệu chống vaccine và thông tin sai lệch về coronavirus. “Ý tôi là, Covid này là một thứ rất vui nhộn,” anh ấy nói. “Cái mà những công ty này đang làm, 100% là kiểm duyệt.” Anh ấy có vẻ thực sự ngạc nhiên về điều này. “Chúng tôi chỉ nghĩ rằng mọi người nên có ý kiến ​​của họ, phải không? Nếu họ không đồng ý, họ có thể không đồng ý,” ông nói. “Họ có thể sử dụng Telegram để bày tỏ ý kiến ​​của mình. Từ phía chúng tôi, chúng tôi luôn giữ thái độ trung lập”.  Về phần Trump, Perekopsky tuyên bố rằng công ty không quan tâm nhiều đến phong trào ủng hộ người này đang tràn lên Telegram. Ông mô tả cuộc tấn công vào tháng Giêng năm 2021 của các cánh hữu Mỹ là cả bất ngờ và thú vị. “Thật buồn cười khi họ không tìm thấy một nền tảng tốt hơn ở chính Hoa Kỳ để bày tỏ ý kiến ​​của mình,” Perekopsky nói. “Đó có lẽ chỉ là bằng chứng cho thấy chúng tôi là nền tảng độc lập duy nhất không có kiểm duyệt và là nơi bạn có thể bày tỏ ý kiến ​​của mình”. Cuối cùng, ông thừa nhận rằng dòng người Mỹ chuyển lên Telegram không chỉ là điều thú vị. “Chúng tôi đã cảm thấy tự hào, một chút,” anh nói. Anh ta nhớ lại cuộc trò chuyện với Durov vào tuần đó vào tháng Giêng. “Đó là một nhãn hiệu chất lượng cho thấy chúng tôi là một nền tảng trung lập,” ông nói đó là điều người sáng lập nói với mình.         Cả Pavel Durov và Mark Zuckerberg đều coi các mạng xã hội non trẻ của mình là các cấu trúc siêu việt giúp truyền thông thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước.      Khi mặt trời bắt đầu lặn và không khí lạnh dần, Perekopsky lại vội vàng đính chính – như Durov vẫn thường làm trên kênh công khai của mình – rằng công ty quan tâm nghiêm túc đến các lời kêu gọi bạo lực đồng thời hành động nhanh chóng và nhất quán để loại bỏ nội dung bất hợp pháp. Các chuyên gia lại không thấy vậy. Megan Squire, nhà nghiên cứu, đã phát hiện ra nhiều bài viết cực hữu kêu gọi bạo lực vẫn tồn tại trong nhiều tháng. Thông tin cá nhân của Anthony Fauci, cố vấn y tế chính của Tổng thống Hoa Kỳ và các con gái của ông gần đây đều bị tung lên trên kênh Telegram và địa chỉ riêng của Squire đã cũng bị tiết lộ trên kênh của nhóm cực hữu Proud Boy vào tháng Một vừa qua và hiện ở đó trong nhiều tháng, mặc dù cô đã liên tục khiếu nại điều đó. Perekopsky cho biết Telegram đã cập nhật các điều khoản của mình để cấm tiết lộ thông tin cá nhân vào đầu năm 2021 và hứa sẽ xem xét trường hợp của Squire. (Địa chỉ của cô ấy cuối cùng đã bị xóa một tháng sau đó, sau khi tôi đề cập với anh ấy).  Cuối cùng, tôi muốn hỏi về văn hóa của chính Telegram. Campo và Rozenberg không phải là những người duy nhất ám chỉ rằng có một bầu không khí tôn thờ bao quanh Durov. Andrei Lopatin đã nói với tôi: “Làm việc trong nhóm đó khiến bạn không còn nhận thức được thế nào là đời thực. Tôi thực sự may mắn vì đã rời đi”. Nhưng Perekopsky không đồng ý với quan điểm cho rằng Durov đã tạo ra một nền văn hóa của sự trung thành và vâng lời tuyệt đối, hoặc chưa có ai dám bất đồng với anh ta. Ông nhấn mạnh rằng có rất ít thứ bậc bên trong công ty, mô tả cấu trúc của Telegram là “theo chiều ngang”. Thay vì chỉ huy, Durov thích thuyết phục mọi người “chia sẻ tầm nhìn của mình”, Perekopsky nói. “Anh ấy rất thuyết phục! Có sức thuyết phục vô cùng”.  Hyman — người đã đồng ý nói chuyện với tôi sau khi tôi nói chuyện với Perekopsky và người vẫn tư vấn tài chính cho Telegram với tư cách là một cố vấn — cũng đã sử dụng từ “cơ cấu ngang” để mô tả Telegram và nói với tôi rằng thật vô lý khi cho rằng có một văn hóa của sự ngờ vực và lòng trung thành mãnh liệt đối với Durov: “Đó là một công ty yêu cầu rất cao, theo chủ nghĩa chọn lọc tự nhiên Darwin. Và tôi tưởng tượng không phải ai cũng thành công được như vậy”. Durov đã không phản hồi lại các yêu cầu của tôi về việc phỏng vấn anh hoặc các câu hỏi về kiểm chứng lại những chi tiết trong bài báo. Anh trai Nikolai và bộ phận truyền thông của Telegram cũng không bao giờ phản hồi WIRED.  Trong bài đăng hồi tháng Hai về “tập trung và phân quyền”, chính Durov cho rằng Facebook đã mất vị thế trước Telegram vì tính chất nhỏ gọn của nhóm phát triển ứng dụng của ông giúp tránh tính tập quyền và phân cấp quá mức. Tất nhiên, điều này bật ra một câu hỏi: Chính xác thì một nhóm mơ hồ gồm 30 lập trình viên, tập hợp vây quanh một nhà lãnh đạo lôi cuốn ở Dubai, thì tính tập quyền khác gì với một công ty lớn? Durov ngụ ý câu trả lời trong bài đăng của mình. Ông viết: “Con người đã tiến hóa để hoạt động tốt nhất trong các nhóm nhỏ dưới 150 người. Trong môi trường tự nhiên, mỗi cộng đồng nhỏ đều có thể tạo ra một nhà lãnh đạo vượt trội”.  Nếu Durov là nhà lãnh đạo bẩm sinh trong Telegram thì vẫn còn phải xem liệu Telegram có thể tiếp tục leo lên để trở thành nhà lãnh đạo tự nhiên trong số các nền tảng hay không. Phác thảo chiến lược kiếm tiền từ nền tảng của công ty vẫn còn đang vô cùng sơ sài. Và trên khắp thế giới, nền tảng này dường như đang vấp phải một loạt sự phản đối. Kể từ đầu năm 2022, các quan chức ở Đức và Brazil đã đe dọa cấm Telegram vì lượng truy cập Telegram tới các thông tin sai lệch không được kiểm soát; Ở Brazil, các nhà chức trách đang nghĩ đến việc chặn ứng dụng này trong thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 10. Nhưng tất nhiên, Telegram đã vượt qua các rào cản chính phủ trước đây.  Cả hai vấn đề này đều không xảy ra vào thời điểm tôi ăn trưa với Perekopsky, nhưng quá dễ để đoán trước. Khi ngồi với anh ta, tôi nghĩ lại cuộc trò chuyện giữa Zuckerberg và Durov được cho là diễn ra vào khoảng một thập kỉ trước. Cả hai người đều coi các mạng xã hội non trẻ của mình là các cấu trúc siêu việt giúp truyền thông thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước: các chính phủ và các nhà làm luật dần vô nghĩa, trở nên lỗi thời trước sức mạnh giải phóng của một nền tảng. Nghĩ đến điều này dưới ánh nắng mùa đông tàn lụi khi cuộc trò chuyện của tôi với phó chủ tịch của Telegram kết thúc, tôi cảm thấy ớn lạnh.□  Nguyễn Quang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tem có mùi… thịt lợn      Bạn đã bao giờ thấy tem thư có mùi vị thực sự? Chắc hẳn, nhiều người sẽ trả lời là “Chưa”. Thế nhưng mới đây, Trung Quốc đã phát hành những con tem có mùi vị chua và mặn của thịt lợn để chào đón năm mới Đinh Hợi.    Vậy bạn sẽ thắc mắc mùi vị ấy sẽ tự toả ra từ con tem hay cần phải có sự tác động? Khi bạn cào nhẹ lên mặt trước hay liếm vào mặt sau của con tem, bạn sẽ ngửi thấy hoặc cảm nhận được mùi của những món ăn phổ biến tại Trung Hoa.   Trước thềm năm mới, khoảng ngày 18/2, những con tem có mùi vị chua mặn sẽ được bán rộng rãi trên đất nước này.  Trước đây, tem có mùi vị lần đầu tiên được Bưu điện Hoàng gia Anh phát hành vào năm 2001 với mùi hương khuynh diệp.   (Theo VTV.vn, Ananova)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Testosterone ảnh hưởng đến tuổi thọ nam giới      Một nghiên cứu mới phân tích tuổi thọ của hoạn quan đã cho thấy rằng  testosterone có thể đóng một vai trò trong việc rút ngắn tuổi thọ của  nam giới.    Trong thế giới công nghiệp hóa, trung bình phụ nữ sống lâu hơn ít nhất 5 năm so với nam giới. Các nhà khoa học cho rằng sự khác biệt này do nhiều yếu tố, từ mức độ lành mạnh trong thói quen sống của các cá nhân cho tới thể chất của các tế bào. Nhưng hiện nay, một nghiên cứu mới phân tích tuổi thọ của hoạn quan đã cho thấy rằng testosterone có thể đóng một vai trò trong việc rút ngắn tuổi thọ của nam giới.   Ý tưởng cho rằng testosterone – hormone sinh dục nam, ảnh hưởng đến tuổi thọ không phải là mới. Chó bị thiến và các loài động vật khi bị bỏ nguồn testosterone thường sống lâu hơn so với các cá thể khác còn nguyên vẹn những thành phần đó. Tuy nhiên, hiếm có các nghiên cứu về mối liên quan giữa việc thiến và tuổi thọ ở người, và kết quả của chúng cũng không rõ ràng. Một nghiên cứu thực hiện năm 1969 trên các bệnh nhân nhập viện lâu dài ở Kansas (Mỹ) cho thấy những người đàn ông bị thiến trung bình sống lâu hơn tới 14 năm so với người đàn ông khác trong cùng một cơ sở, nhưng một nghiên cứu năm 1993 về các castrati người Italia (những ca sĩ nam bị thiến từ nhỏ để giữ giọng cao) lại thấy tuổi thọ của họ không có gì bất thường.    Gần 5 năm trước đây, nhà sinh vật học Kyung-Jin Min của Đại học Inha ở Incheon, Hàn Quốc, tình cờ quan tâm tới việc thiếu dữ liệu về vấn đề này khi xem một bộ phim truyền hình Hàn Quốc về các hoạn quan. Min bắt đầu tự hỏi rằng liệu những ghi chép lịch sử phong phú của Hàn Quốc có thể làm sáng tỏ mối liên hệ giữa việc bị thiến và tuổi thọ ở người hay không.    Cho đến cuối thế kỷ 19, các vị vua Hàn Quốc vẫn tuyển hoạn quan để phục vụ triều đình. Những hoạn quan này được phép kết hôn và nhận các bé trai bị thiến làm con nuôi. Tài liệu Yang-Se-Gye-Bo vẫn còn tồn tại đến ngày nay là một bộ phả hệ về các gia đình hoạn quan, trong đó ghi lại ngày tháng năm sinh, ngày chết và các thông tin cá nhân khác của 385 hoạn quan sống trong giai đoạn giữa thế kỷ 16 và thế kỷ 19.    Ông Min và các đồng sự thuộc Viện Lịch sử quốc gia Hàn Quốc và Đại học Hàn Quốc đã tiến hành nghiên cứu tài liệu Yang-Se-Gye-Bo. đối chiếu nội dung dữ liệu của nó với các sử liệu khác. Qua đó, nhóm nghiên cứu đã xác định và kiểm tra tuổi thọ của 81 thái giám. Để loại bỏ sai lệch do điều kiện sống của từng thời kỳ, nhóm nghiên cứu chỉ so sánh tuổi thọ các thái giám với những người bình thường ở cùng thời và sống trong điều kiện sinh hoạt tương đương. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người bị hoạn sống lâu hơn từ 14 đến 19 năm so với người cùng thời, theo báo cáo trên trang Sinh học ngày nay (Current Biology).    Trong số 81 thái giám có 3 người sống thọ hơn 100 tuổi, một con số bất thường nếu so với dữ liệu hiện tại về tỉ lệ người sống trên một trăm tuổi là 1/3.500 người ở Nhật Bản và 1/4.400 người ở Mỹ. “Tôi đã nghĩ là dữ liệu có sai sót và đã tiến hành rà soát một lần nữa,” ông Min nói. “Tôi đã khá ngạc nhiên trước sự khác biệt lớn về tuổi thọ và số người sống thọ trên trăm tuổi”.    Nghiên cứu này không trực tiếp giải thích lý do tại sao các hoạn quan sống lâu như vậy, nhưng nó cung cấp bằng chứng thuyết phục nhất từ trước tới nay cho giả thuyết rằng testosterone – khác biệt cơ bản giữa các hoạn quan và những người khác sống cùng thời trong nghiên cứu này, và là đối tượng có tính liên hệ với sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới – đóng một vai trò nhất định, theo nhận xét của Steven Austad, một nhà sinh học lão khoa tại trường học viện thuộc Trung tâm Khoa học Y tế Texas, San Antonio, người không tham gia trong nghiên cứu của Min.    “Đây là nghiên cứu được kiểm soát tốt và toàn diện nhất trong vấn đề này”, Austad nói. “Mối liên hệ giữa giới tính với quá trình lão hóa và tuổi thọ là một đề tài hầu như chưa được khám phá, và nghiên cứu này nhấn mạnh testosterone là một phần của vấn đề”.    Việc xác định tất cả các yếu tố góp phần vào sự khác biệt tuổi thọ giữa nam giới và phụ nữ có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm ra cách làm giảm bớt tác động của các yếu tố này, Austad nói. Việc đó có thể giúp đàn ông sống lâu hơn mà không bị mất bất kỳ bộ phận nào của cơ thể.   Thu Quỳnh dịch    Nguồn: http://news.sciencemag.org/sciencenow/2012/09/korean-eunuchs-outlived-uncastra.html?ref=hp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thả cá hồi nuôi ra tự nhiên: Nguy cơ ảnh hưởng đến đa dạng hệ gene      Môi trường ô nhiễm, đánh bắt quá mức và do xây dựng quá nhiều đập thủy điện đã làm cho đàn cá hồi suy giảm mạnh. Từ đó người ta thử nghiệm nuôi, thả cá hồi non để bù đắp sự giảm sút ngoài tự nhiên. Tuy nhiên việc làm tưởng như tốt đẹp này lại gây ra hệ quả về di truyền của cá hồi.      Việc thả cá hồi nuôi ra môi trường tự nhiên từ nhiều năm nay làm thay đổi cấu trúc gene di truyền của cá. Trong ảnh: trứng cá hồi nuôi.  Trong thế kỷ qua, quần thể cá hồi ở biển Baltic ngày càng giống nhau về di truyền. Nguyên nhân có nhiều khả năng do áp dụng việc thả bổ sung cá hồi con để bù đắp những tổn hại do hủy hoại môi trường, xây dựng các đập thủy điện làm giảm đàn cá trong tự nhiên. Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu quốc tế Royal Society, sự đồng nhất di truyền đàn cá hồi làm giảm khả năng thích ứng của cá đối với việc thay đổi môi trường. Nghiên cứu này cho thấy tác động lâu dài của việc thực hiện một thói quen phổ biến trên thế giới.  Cá hồi Đại tây dương (Salmo salar) khi trưởng thành sống chủ yếu trên biển Đại Tây Dương. Một loài phụ sinh sống ở vùng biển Baltic. Để đẻ trứng, cá hồi di chuyển tới thượng nguồn các con sông ở châu Âu và Bắc Mỹ. Cá con khi lớn lên, sau hai năm tuổi, quay về với biển cả, để rồi sau đó ít năm chúng lại di cư về nơi chúng ra đời để đẻ trứng.  Trong thế kỷ qua đàn cá hồi bị giảm sút. Đánh bắt quá mức và ô nhiễm môi trường đe dọa đàn cá, đặc biệt tai hại là các đập thủy điện cản trở sự di chuyển tự nhiên của cá hồi về các dòng sông.  Nguyên thủy, cá hồi từ ít nhất 80 dòng sông di cư ra biển Baltic, theo các nhà khoa học thuộc nhóm của Johan Östergren, ở Swedish University of Agricultural Sciences. Hiện chỉ còn 28. Trong đó có 16 dòng sông thuộc Thụy Điển. 90% cá hồi Baltic xuất sứ từ đây. Để bù đắp sự giảm sút mỗi năm người ta thả khoảng 5 triệu cá hồi giống, chiếm 60 lượng cá con tại vùng biển này. Theo các nhà nghiên cứu thì việc làm này là “thí nghiệm tăng đàn lớn nhất và lâu nhất đã diễn ra trên thế giới”.  “Các cơ sở vận hành nhà máy thủy điện, theo quy định của pháp luật, có nghĩa vụ duy trì, quản lý các cơ sở tạo cá giống”, theo Harry Vincent Strehlow thuộc Viện Thủy sản Thünen ở Rostock, người không tham gia nghiên cứu này. “Cá hồi khi rẽ sóng về sông đầu nguồn sẽ bị bắt lại để nặn lấy trứng sau đó để trứng nở và nuôi cá con”. Quá trình này kéo dài khoảng  hai năm, sau đó cá giống sẽ được thả ra vùng cửa sông để chúng về với biển cả.  Cùng với Östergren, các nhà khoa học muốn làm rõ, liệu với việc nuôi thả trong nhiều năm thì gene di truyền của đàn cá hồi có thay đổi hay không. Để làm điều này họ đã phân tích các vùng gene đặc trưng của 1680 con cá hồi từ 13 con sông ở Thụy Điển. Trong đó, ở 8 vùng nước cá hồi sinh sản tự nhiên, còn 5 vùng nước còn lại thì không sinh sản tự nhiên nào cả. Để so sánh đặc điểm di truyền trong quá khứ và hiện nay, một mặt các nhà nghiên cứu thu vật liệu di truyền từ vảy khô trong các viện bảo tàng từ năm 1920, mặt khác từ động vật đánh bắt trên sông hiện nay.     Cá hồi Đại tây dương bơi ngược dòng về nguồn ở Fotlandsfossen, Na Uy.  Kết quả cho thấy sau nhiều thập niên đặc tính di truyền của các quần thể được nghiên cứu ngày càng giống nhau nhiều hơn. Giải thích về hiện tượng này các nhà khoa học cho rằng đã có sự pha trộn giữa các quần thể do con người nuôi và thả ra ngoài tự nhiên. Thay đổi diễn ra ít hơn đối với những đàn cá lớn có lẽ do đàn tăng lên dựa vào đàn cá con của chính chúng.  Các nhà khoa học cho hay, khi bắt đầu nuôi cá hồi người ta dùng cá bản địa làm cá giống. Sau này tất cả các trạm nuôi cá giống không dùng cá giống bản địa nữa, để đảm bảo có đàn cá con đáng tin cậy để tiếp tục phát triển. Chính điều này đã dẫn đến sự đồng nhất gene.  Nếu thả cá hồi giống thẳng ra biển – chứ không phải ra sông –  sẽ phát sinh một vấn đề mới: những con cá này mất khả năng xác định nơi sinh của chúng để sau này chúng tự tìm về để đẻ trứng. Vì thế những con cá này “trôi nổi” dẫn đến việc pha trộn đặc tính gene. Theo các nhà nghiên cứu tình trạng này diễn ra trong những năm 80 và 90.  Việc đồng nhất đặc tính di truyền ảnh hưởng đến sức khỏe của cá thể cũng như quần thể cá. Các biến thể di truyền địa phương, ít nhất là trong ngắn hạn đến trung hạn, sẽ được thay thế bằng các biến thể di truyền không thích nghi, điều này sẽ làm giảm khả năng chống chịu với những thay đổi của môi trường trong tương lai.  Có thể hình dung rằng sự thích nghi di truyền của giống địa phương với nhiệt độ nước cao hơn, vốn có thể hữu ích trong thời kỳ biến đổi khí hậu, có thể bị mất đi. Các nhà nghiên cứu kết luận: Đối với các quần thể cá hồi ở Biển Baltic, sự đồng nhất về gene có lẽ đã dẫn đến những hậu quả sinh học tiêu cực.  Theo Östergren, để giải quyết vấn đề này cần có một chiến lược chung có căn cứ khoa học về ấp nở, nuôi và thả cá ra tự nhiên ở vùng biển Baltic. “Nếu chiến lược này phù hợp với điều kiện của ngành thủy sản, bắt lại được phần lớn số cá đã thả ra thì vấn đề này không còn quan trọng nữa”. Do những con sông lớn hoặc các quần thể lớn có một sự đề kháng nhất định chống lại sự chuyển gene nên điều quan trọng là  giữ được quần thể cá hồi tự nhiên càng lớn càng tốt. Khi gene di truyền bị nghèo đi có thể dẫn đến sự giảm sút tính đa dạng và cả khả năng thích nghi của các quần thể sinh vật tại đây.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/article230543829/Genetische-Verarmung-Der-Aerger-mit-den-Zuchtlachsen.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thạch Chính Lệ và nguồn gốc COVID-19 (Kỳ 2)      LTS: Ở phần trước, chúng ta đã theo chân Jane Qiu – một phóng viên hiếm hoi trên thế giới có thể tiếp cận Thạch Chính Lệ nhiều lần trong thời kì đại dịch COVID-19, khi bà liên tục bị nghi ngờ là đã che giấu nguồn gốc của virus này. Phần này, từng chút một, với những mô tả chi tiết và kĩ lưỡng từng góc phòng thí nghiệm của bà, Jane Qiu đã lần lượt “lật tẩy” những tin đồn nhắm vào nữ “người dơi” của Trung Quốc.      Minh họa về Thạch Chính Lệ. Ảnh: MIT Technology reviews  Điều thật sự  Một cách quan trọng để kiểm chứng liệu một loài virus corona có thể tiến hóa thành chủng đe dọa hay không chính là xem xét vũ khí xâm nhập của nó – những chiếc protein gai của virus. Protein gai khiến virus có hình dáng giống chiếc vương miện, giúp virus có thể gắn kết với thụ thể ACE2 (hay còn gọi là men chuyển angiotensin 2, ở người, men này có nhiều ở tim, thận – liên quan đến vấn đề tăng huyết áp, hệ tiêu hóa và tế bào biểu mô phế nang ở phổi, bình thường enzyme này có chức năng bảo vệ tế bào biểu mô phế nang, ngăn ngừa tổn thương phổi  – ND). Đây là loại enzyme có mặt trên bề mặt hầu hết các tế bào ở các động vật có vú. Để tìm hiểu xem tiềm năng lây nhiễm của một virus sang cơ thể người, đội của Shi sẽ giải trình tự gene của gai protein từ con virus đó, đem đi so sánh với trình tự gene của gai trên virus SARS-CoV-1, và nghiên cứu trên máy tính cấu trúc cùng khả năng gắn thụ thể ACE2 của virus này.  Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng virus giả (pseudovirus)- những virus mà khả năng nhân lên bị bất hoạt, nhằm kiểm chứng liệu những chiếc gai của các virus giả có giúp chúng xâm nhập vào tế bào của nhiều loài động vật khác nhau hay không. Các nhà khoa học trên thế giới sử dụng cách tiếp cận này để nghiên cứu tác nhân gây bệnh mới mà không cần phải thu thập nhiều virus sống. Điều này có thể được thực hiện trong môi trường tủ an toàn sinh học cấp 2: những nhà nghiên cứu mang găng tay và áo blouse, làm việc trong buồng có bộ phận lọc khí và dưới áp suất âm để giữ các mầm bệnh bên trong buồng đó, nhằm bảo vệ người làm nghiên cứu, môi trường bên ngoài cũng như vật liệu trên bề mặt làm việc khỏi không khí trong phòng chứa tác nhân lây nhiễm.  Bước đầu tiên cho công việc này là chiết xuất vật liệu di truyền cho việc giải trình tự bộ gene, từ đó làm bất hoạt mọi vi sinh vật trong mẫu bệnh phẩm. (Chú thích thêm: pseudovirus – virus giả có đặc tính nhân lên chỉ một lần nên nghiên cứu virus có hại sẽ không ảnh hưởng vì hạn chế sự sinh sôi nảy nở phát tán ra ngoài. Trong trường hợp nghiên cứu về covid-19, nhà nghiên cứu cắt ghép những đoạn gene mang đặc tính của covid-19 cần nghiên cứu vào gene của “virus giả”. Với covid-19, S-gene là đối tượng cần nghiên cứu, do gene này sản xuất ra protein gai – Protein Spike bám chặt vào tế bào người và khác biệt so với chủng gây dịch SARS hay MERS Trung Đông. Nhà nghiên cứu sẽ cắt đoạn gene sản xuất protein gai và gắn vào các virus bất hoạt.) Những nghiên cứu về cách thức xâm nhập tế bào của virus giả và việc sử dụng virus nó là các phương pháp đã được kiểm chứng và an toàn.  Tuy nhiên, trong khi loại virus giả được coi là công cụ tốt, các gai protein ngày càng cho thấy đây không phải là yếu tố duy nhất quyết định khả năng gây bệnh của virus đối với tế bào. Cách tiếp cận này không thể cho thấy ví dụ như, cách chính xác mà một virus khiến tế bào bị bệnh, cách virus phát tán từ tế bào này sang tế bào khác, hay cách một tác nhân gây bệnh (cụ thể là virus) có thể né tránh đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Những câu hỏi trên lại cần thiết cho việc phát triển thuốc và vaccine, và chỉ có thể được trả lời bằng cách sử dụng “hàng thật” – một virus nguyên vẹn chức năng hoạt động. Và đây là công việc còn nguy hiểm hơn khi trở thành tâm điểm của cuộc tranh cãi xoay quanh Thạch Chính Lệ.    Ngày 5/1/2020 đánh dấu lần đầu tiên Hưng Lâu thành công trong việc phân lập SARS-CoV-2 từ bệnh phẩm của bệnh nhân.    Phân lập virus corona sống từ mẫu dơi vốn dĩ đã khó khăn, vì chỉ một phần nhỏ từ mẫu vật chỉ chứa một ít virus (trong khi tiêu bản từ người nhiễm SARS hay covid-19 thường xuyên đậm đặc virus corona). Quá trình nuôi cấy virus bao gồm việc cung cấp cho virus các tế bào mà chúng có thể gây bệnh. Hàng loạt các phòng thí nghiệm khắp thế giới đã cố gắng để có được virus corona sống từ dơi nhưng thất bại. Mãi đến tháng 1/2021, phòng thí nghiệm Vũ Hán là nơi duy nhất có được thành tựu này, theo Stephen Goldstein – chuyên gia virus corona tại Đại học Utah ở Salt Lake City. Và người có khả năng thần kỳ ấy chính là Dương Hưng Lâu – nhà nghiên cứu khoa học cấp cao trong đội ngũ của Lệ.  Tôi gặp Dương Hưng Lâu tại khuôn viên của khu khép kín an toàn sinh học tối đa của viện ở vùng ngoại thành Vũ Hán trong một buổi chiều oi bức tháng năm năm ngoái. Anh đến đón tôi ở cổng chính, mặc một chiếc áo thun màu xanh lam và quần jeans. Ở độ tuổi giữa 30, Hưng Lâu có vóc người săn gọn và chiều cao trung bình. Tóc anh được cắt gọn gàng, nhưng chỉ cần một cơn gió thoảng qua, phần tóc mái sẽ che vầng trán nổi bật với cặp lông mày rộng. Tôi điền phiếu đăng ký và đưa bảo vệ căn cước công dân quốc gia, sau đó đi bộ cùng Hưng Lâu đến văn phòng men theo khuôn viên với cây cối được cắt tỉa gọn ghẽ.  Chung Nam Sơn từng là người đóng vai trò chủ chốt trong chiến dịch phòng chống dịch Sars ở Trung Quốc trước đây.  Thay vì đi bộ dọc theo đoạn đường lái xe ngoằn ngoèo, trải dài camera cho xe hơi, chúng tôi chọn con lối hẹp chạy dọc theo một con thác nhỏ. Xa xa, tôi có thể thấy một tòa nhà giản dị, khoảng bốn lầu, vững chãi, với lớp ốp bạc và rất ít cửa sổ. Trong đó là phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 4 trọng điểm của Trung Quốc – vương miện quý báu của công trình vi sinh quốc gia.  Tôi không đi vào trong cơ sở an toàn sinh học cấp 4: ai vào đây cũng khó khăn bởi phải tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt, không phải chỉ riêng báo chí. Thay vào đó, tôi ghé vào phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3 gần đó, vốn xử lý các tác nhân gây bệnh ít gây chết người hơn. Sau khi trải qua kiểm tra an ninh, chúng tôi đi vào phòng kiểm soát, nơi những tấm màn hình lớn cho thấy điều gì đang diễn ra bên trong: một phòng chuẩn bị mẫu, ba phòng dùng để nuôi cấy tế bào, một phòng để làm việc với những động vật nhỏ như chuột, một nơi không gian dành riêng cho việc diệt khuẩn, lối vào phòng thí nghiệm và phòng kiểm soát. Trong lúc tôi quan sát trên màn hình, một nhà nghiên cứu bỏ vật liệu vào trong buồng khử khuẩn và hai nhà khoa học trong bộ đồ bảo hộ toàn thân màu trắng ngồi trước buồng an toàn sinh học đang làm việc với hàng ống nghiệm nhỏ phía sau tấm kính. Một ống đen phía sau bộ bảo hộ đưa không khí được lọc đến lớp khẩu trang che mặt.  Ngày 5/1/2020 đánh dấu lần đầu tiên Hưng Lâu thành công trong việc phân lập SARS-CoV-2 từ bệnh phẩm của bệnh nhân: việc phân lập đầu tiên của virus corona mới. “Anh đã sử dụng phòng nào?”, tôi hỏi. “Phòng nuôi cấy tế bào số 3”, Lâu trả lời và chỉ tay vào một trong những màn hình. “Nó nằm trong buồng cabinet”.    Chỉ là một cabinet (buồng) bình thường trong một căn phòng thông thường, với hai chai sát khuẩn và hai thùng rác thải sinh học độc hại phía sau tấm kính. Nhưng bây giờ, đây lại là dấu mốc cho cuộc chiến chống lại đại dịch lớn nhất trong thế kỷ.    Đó chỉ là một cabinet (buồng) bình thường trong một căn phòng thông thường, với hai chai sát khuẩn và hai thùng rác thải sinh học độc hại phía sau tấm kính. Nhưng bây giờ, đây lại là dấu mốc cho cuộc chiến chống lại đại dịch lớn nhất trong thế kỷ.  Từ năm 2008, Lâu đã làm việc tại viện với tác nhân gây bệnh ở dơi và động vật gặm nhấm, phát triển và làm tinh gọn công nghệ bắt giữ virus. Có rất nhiều thất bại trong suốt quá trình đó, nhưng năm 2012 anh đã thành công. Một mẫu phẩm mà đội anh thu được từ hang động dơi gần Côn Minh đã lây thành công cho loại tế bào thận khỉ tên Vero E6, có mật độ ACE2 cao trên bề mặt của chúng. Một khi virus sống nằm trong tầm tay của các nhà khoa học, họ có khả năng kiểm chứng trực tiếp xem liệu nó có cho thấy một mối đe dọa tiềm năng.  Đây là bước đột phá lớn: lần đầu tiên các nhà nghiên cứu diễn giải được virus corona từ con dơi trong đĩa petri cũng có thể gây bệnh qua việc cách gắn kết với các thụ thể ACE2 cho tế bào của loài động vật khác, trong đó có lợn và người. Virus có sự tương đồng đến 95% với chủng SARS-CoV-1. Cả đội đã đặt tên cho nó là WIV1 để cho biết rằng loài virus được phân lập từ Viện Virus Vũ Hán (WIV – Wuhan Institute of Virology). Nghiên cứu của họ, xuất bản trên Nature năm 2013, cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng SARS-CoV-1 khởi nguồn từ loài dơi.  Bìa luận án Tiến sĩ của Xán Bình Hoàng có trích dẫn nguồn từ Viện Vũ Hán rằng những người thợ mỏ ở Côn Minh có chứa kháng thể Sars-CoV-1.  Suốt những năm làm việc, Lâu cố gắng phân lập ba loại virus corona từ dơi – tất cả đều là họ hàng thân thiết với chủng SARS-CoV-1. Gần đây, cả đội nỗ lực tổng hợp thêm ba virus corona từ giải trình tự bộ gene. Cả sáu chủng đều có họ hàng thân thiết với SARS-CoV-1. Tuy nhiên, những nhà virus học nhận định với tạp chí MIT Technology Review rằng không virus nào có thể là nguồn gốc của SARS-CoV-2: chúng quá khác biệt so với virus hiện tại.  Tuy nhiên, một virus khác trong mẫu dơi có mối liên hệ gần gũi hơn rất nhiều với SARS-CoV-2 khi đạt độ tương đồng 96%. Nó có câu chuyện gốc gác kỳ thú riêng, và không chỉ dừng lại ở một nhóm thuộc cộng đồng khoa học, nhân vật này trở thành “nghi can chính trong cuộc săn lùng nguồn gốc của đại dịch. Virus mang tên RaTG13.  Bí mật từ hầm mỏ  Cuối tháng 4/2012, một căn bệnh mới nổi từ một mỏ đồng bị bỏ quên gần thị trấn Đông Quản huyện tự trị Mặc Giang, thuộc tỉnh phía Tây Nam của Vân Nam. Sáu người dọn dẹp bãi phân dơi trong mỏ cảm thấy mệt mỏi kèm xuất hiện triệu chứng như viêm phổi – ho, đau đầu, sốt và đau nhức tay chân được chuyển lên một bệnh viện ở Côn Minh, một thành phố trực thuộc tỉnh Vân Nam. Một người qua đời trong 12 ngày, hai người phục hồi trong vòng một tháng, theo sau là một cái chết khác vào ngày 12/6 năm ấy.  Một tuần sau, chuyên gia hô hấp đầu ngành của Trung Quốc, Chung Nam Sơn tham dự hội chẩn từ xa với hai đồng nghiệp tại bệnh viện Côn Minh để quyết định cách để điều trị hai bệnh nhân Mặc Giang còn lại. Nam Sơn là cựu giám đốc Viện Bệnh lý Hô hấp Quảng Châu và đóng một vai trò chủ chốt trong cuộc chiến với dịch SARS. Ông lưu ý rằng những kết quả xét nghiệm và chụp cắt lớp vi tính của các bệnh nhân này giống một cách lạ kỳ với trường hợp những bệnh nhân bệnh SARS – vốn không còn thấy kể từ năm 2004. Ông kể với tôi rằng những nhà lâm sàng ở Côn Minh đã nghi ngờ về một loại nấm đã gây ra căn bệnh này – vì nhiễm trùng do nấm liên quan đến hang động ở Vân Nam thi thoảng cũng xuất hiện – nhưng Nam Sơn nghĩ cũng không loại trừ khả năng những trường hợp này liên quan đến virus.  Ông hỏi đội của Thạch Chính Lệ kiểm tra bệnh phẩm để truy tìm tác nhân virus gây nhiễm, nhưng họ không thể tìm thấy bằng chứng cho thấy các bệnh nhân này bị nhiễm virus corona hay các loại virus khác được biết trước đó.  Năm 2020, khi đại dịch nổi lên, một số nhà khoa học trong đó có Relman đến từ Đại học Stanford – thắc mắc rằng liệu Thạch Chính Lệ có phải đã sai lầm. Họ nói, có thể rằng, một loại virus corona giống SARS là nguyên nhân cho đại dịch này. Có thể đã có mối liên hệ giữa căn bệnh tác động đến những người thợ mỏ ở Mặc Giang năm 2012 và Covid-19.    Trong những nỗ lực ghép lại toàn bộ hệ gene của các họ hàng virus Covid trước đây, các nhà khoa học đã sử dụng hết mọi mẫu đến từ loài dơi.    Hoài nghi càng được củng cố vào tháng 5/2020, khi một tài khoản Twitter nặc danh @TheSeeker268 nhắn tin trên Twitter cho tôi. Anh bảo mình là người đàn ông 30 tuổi được đào tạo về kiến trúc và làm phim, hiện đang sống ở thành phố Bhubaneswar của Ấn Độ, và đào lại luận văn tiến sĩ của Xán Bình Hoàng từ mạng internet của Trung Quốc. Hoàng là học trò của George Gao, Tổng Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Phòng ngừa Bệnh tật Trung Quốc tại Bắc Kinh. Luận văn của Hoàng có trích dẫn từ Viện Virus Vũ Hán rằng bốn người thợ mỏ Mặc Giang trong đợt bệnh năm 2012 có kháng thể chống lại chủng SARS-CoV-1. Những nhà khoa học như Monali Rahalhar, một nhà sinh thái học vi khuẩn ở Viện Nghiên cứu MACS Aghakar tại Pune, Ấn Độ, cũng là người ủng hộ mạnh cho thuyết rò rỉ virus trong phòng thí nghiệm. Ông cho rằng điều này cho thấy những người thợ mỏ bị lây nhiễm bởi một loại virus corona giống SARS. Mạng xã hội cùng với giới truyền thông cùng dấy lên nỗi ngờ vực rằng Lệ cố gắng giấu thông tin này.  Những nhà khoa học trực tiếp liên quan tới công trình đó phủ nhận tin đồn này. Lệ chia sẻ rằng đội của bà không tìm thấy những kháng thể như vậy, dù bà nói rằng những xét nghiệm đầu tiên có tạo ra kết quả dương tính giả đã được hiệu chỉnh sau khi kiểm tra lại quy trình phân tích. Tạp chí MIT Technology Review không biết được Bình ở đâu, nhưng Gao nói rằng phòng thí nghiệm của ông chưa bao giờ phân tích trạng thái kháng thể của những người thợ mỏ, và lập luận của Bình – có khả năng dựa trên những kết quả dương tính giả mà Lệ đã thảo luận ở một cuộc họp nội bộ năm 2012 là không chính xác. Sau đợt tấn công của covid-19, đội của Lệ trở về vùng mỏ Mặc Giang để truy tìm dấu vết của protein SARS-CoV-2, nhưng không thấy tung tích.  “Nhiều tác nhân gây bệnh có thể gây triệu chứng như viêm phổi tương tự với SARS và covid-19”, Nam Sơn bảo tôi. Ông nói thêm một số nhà lâm sàng địa phương vẫn nghi ngờ việc một loại nấm nào đó gây bệnh cho những người thợ mỏ. “Đây vẫn là một bí ẩn đến ngày hôm nay”.  Mô hình protein gai của virus corona RaTG13 trên dơi.  Chuyện một bệnh lý hô hấp không rõ nguyên nhân vốn không hiếm. Nhưng kể cả khi Shi không thể tìm ra điều gì đã khiến những người thợ mỏ Mặc Giang đổ bệnh, trực giác của bà mách bảo rằng điều gì đó thú vị vẫn đang tiếp diễn. “Virus nào đang ẩn nấp trong hang động này?”, bà nhớ lại lúc mình hoài nghi. Từ năm 2012 đến 2015, đội của bà thực hiện hơn sáu chuyến đi đến giếng mỏ, khoảng 1100 dặm so với Vũ Hán, và thu thập 1322 mẫu dơi.  Họ tìm kiếm gene RdRp đặc trưng của virus corona, và khi tìm thấy nó, họ nghiên cứu sâu hơn. Rốt cục, những mẫu dơi đó hóa ra chứa đến gần 300 virus corona. Chín loại thuộc chung nhóm virus như SARS-CoV-1- được biết với cái tên beta- coronavirus – dù gene RdRp khá khác nhau: chúng là “những họ hàng xa”, Lệ bảo tôi.  Tám trong chín mẫu có mối liên hệ thân thiết với nhau, nhưng cái còn lại từ một mẫu phân được đánh dấu “4991” – có một hệ gene đặc trưng cực kỳ khác biệt. “Tại sao nó lại khác biệt đến vậy?”, Lệ tò mò, nhưng cuối cùng bà bỏ mẫu phẩm lại vào tủ đông. Công việc của bà là tìm kiếm ra virus từ dơi có tiềm năng gây bệnh dịch như SARS, và không có trình tự virus nào từ Mặc Giang có vẻ “liên quan trực tiếp đến yêu cầu của chúng tôi”, bà bảo tôi. “Nên chúng không phải mục tiêu cho nghiên cứu”.  Tuy vậy vào năm 2018, “4991” được đem ra lại làm đề tài nghiên cứu. Viện Virus Vũ Hán đã mua một chiếc máy tính giải trình tự gene, khiến việc có một góc nhìn toàn diện về những bí mật của hệ gene virus trở nên nhanh hơn và rẻ hơn, và 4991 nằm trong số những mẫu phẩm nuôi cấy đầu tiên được giải trình tự bằng thiết bị này. Phân tích khẳng định rằng loại virus trong mẫu bệnh phẩm rất khác biệt với SARS-CoV-1 khi hệ gene của chúng chỉ  tương đồng có 80%. (Hệ gene của tám virus từ Mặc Giang khác được giải trình tự sau đại dịch, cho thấy sự tương đồng là khoảng 75% cho cả virus SARS và covid-19 dựa trên hệ gene.) Thật sự việc tìm kiếm virus mới luôn thú vị, nhưng có vẻ công việc lần này không có gì đặc biệt đến mức các nhà nghiên cứu phải viết ra bài báo mới. Lệ nói: “Nó không có vẻ là một virus đặc sắc”.  Đó là điều không hề ngoạn mục, thậm chí, đó là sự thừa thãi: Trong những nỗ lực ghép lại toàn bộ hệ gene của các họ hàng virus Covid trước đây, các nhà khoa học đã sử dụng hết mọi mẫu đến từ loài dơi. Năm 2018, virus chỉ tồn tại như một trình tự trong database (kho dữ liệu) trong Viện Virus Vũ Hán.  Ở đa số trường hợp, đó có thể là hồi kết của câu chuyện: loại virus mơ hồ, không liên quan sẽ chìm vào lãng quên. Nhưng đó lại không phải là trường hợp này.□ (Còn tiếp)  Phạm Vĩnh Anh dịch  Nguồn: https://www.technologyreview.com/2022/02/09/1044985/shi-zhengli-covid-lab-leak-wuhan/?fbclid=IwAR0uvGZfOAMyXpBWkid7JXrAm4P9RZzf3vuuyMyZ5RHpNpZkWnbGQ5qSK3U    Author                Jane Qiu        
__label__tiasang Thạch Chính Lệ và nguồn gốc của Covid-19 (phần 4)      Tóm tắt kì trước: Kể cả nhóm nghiên cứu của Thạch Chính Lệ đã từng tìm ra một virus corona RaTG19 có hệ gene giống SARS-CoV-2 tới 96% vào năm 2018, đó vẫn không phải là nguyên nhân gây ra đại dịch COVID-19. Vậy còn lí do nào nữa khiến thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm đứng vững chắc trong thời gian dài như vậy? Ở kì này, chúng ta sẽ bàn đến khía cạnh định kiến cố hữu của phương Tây với Trung Quốc cũng như những toan tính chính trị đã gia cố cho thuyết sai lầm này ra sao.     Eco Health Aliance đã hợp tác với nhóm của Thạch Chính Lệ để nghiên cứu về virus trên dơi có thể gây ra đại dịch kể từ năm 2014.  Với các phòng thí nghiệm khắp thế giới, việc nuôi cấy virus động vật chưa rõ đặc tính ở các cơ sở có độ an toàn sinh học cấp 2 là điều hoàn toàn bình thường. Trong một email, Ebright kể tôi nghe rằng những hướng dẫn gần đây của Mỹ chỉ đưa ra ba loại coronavirus trong thực hành quy chuẩn an toàn sinh học cấp 3 – SARS-CoV-1, SARS-CoV-2 và MERS-CoV. Một số coronavirus trên động vật có thể lây lan và có khả năng lây nhiễm cho tế bào người trong môi trường đĩa petri, bao gồm những virus gây tử vong ở lợn có nguồn gốc từ dơi giống như virus của Thạch Chính Lệ – được xác định là triển khai ở phòng an toàn sinh học cấp hai là đủ. (Ở Mỹ, nuôi cấy virus dại, một tác nhân gây bệnh chết người khác thường sinh sống ở dơi, cũng chỉ yêu cầu thực hiện trong yêu cầu an toàn sinh học cấp 2, dù virus này có tỉ lệ tử vong gần như 100% ở con người).  Rasmussen nói với tôi rằng sự bùng nổ của đại dịch COVID-19 đồng nghĩa với việc chúng ta cần phải đánh giá lại những quy chuẩn an toàn sinh học cho những virus chưa rõ nguy cơ. “Tôi nghĩ đại dịch đã thay đổi vấn đề cân bằng rủi ro – lợi ích trước đây”, bà nói.  Bên cạnh khó khăn phải tự mình siết chặt các quy tắc an toàn sinh học, những phòng thí nghiệm cấp cao của Trung Quốc đối diện những thử thách khác. Kinh phí là một vấn đề lớn. Trong khi thừa đầu tư để mua thiết bị hiện đại nhất hay xây dựng phòng thí nghiệm tối tân như cơ sở an toàn sinh học cấp 4 của Viện Vũ Hán, thì các nhà khoa học rất chật vật trong việc xin tài trợ để đào tạo nhân viên hoặc để lo chi phí điều hành các cơ sở này.  Những khó khăn trên thì chẳng có gì là bí mật. Khi Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh cử một đoàn đại biểu đến Viện Virus Vũ Hán đầu năm 2018, những quản lý của Viện đã trần tình về những khó khăn trên với nhân viên đại sứ quán. Và, Yuan Zhiming, người điều hành cơ sở an toàn sinh học cấp 4, đã trình bày chi tiết về những thử thách của các phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp cao Trung Quốc trong một nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2019.  Một số bài viết đã mô tả những thách thức này là chỉ dấu rõ ràng của việc buông lỏng các tiêu chuẩn. Trong một bài viết thể hiện ý kiến cá nhân đăng tải vào tháng 4/2020, nhà báo Josh Rogin đến từ báo Washington Post viết rằng, sau chuyến ghé thăm của quan chức Hoa Kỳ đến viện Vũ Hán năm 2018, họ “đã gửi hai cảnh báo chính thức tới Washington về sự thiếu an toàn ở phòng thí nghiệm.” Theo Rogin, những nguồn tin không nêu tên có hiểu biết về tuyên bố từ sứ quán “nói rằng mục đích của hai cảnh báo này nhằm báo động về những quan ngại an toàn nghiêm trọng”, và một đại diện ẩn danh từ cơ quan quản lý nhà nước của Trump nói với Rogin rằng các tuyên bố của sứ quán đã “cung cấp thêm một phần bằng chứng để ủng hộ khả năng rằng đại dịch là kết quả của tai nạn thí nghiệm ở Vũ Hán”.  Bài báo đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc tranh cãi về nguồn gốc covid-19, phát tán thuyết rò rỉ càng thêm sâu rộng trong cộng đồng. Nhiều phương tiện truyền thông chính thống khác đã sử dụng niềm tin mù quáng trong bài báo như bằng chứng cho thấy rằng Viện Vũ Hán có một lịch sử “vết nhơ” hay sự kém cỏi trong thực hành an toàn sinh học.  Vào ngày 26/1/2020, người đứng đầu Trung tâm phòng chống dịch bệnh Trung Quốc, Gao Fu trả lời báo chí sau cuộc họp báo về dịch COVID-19 tại Văn phòng thông tin Hội đồng nhà nước tại Bắc Kinh. Ảnh: AP/Mark Schiefelbein.  Bản thân chính các tuyên bố của sứ quán nhiều tháng sau đó (kèm một số phần đã đính chính lại) cảnh báo về tình trạng thiếu hụt nhân lực trong phòng thí nghiệm nhưng cũng không phát hiện bất kỳ thực hành an toàn sinh học nguy hiểm đặc trưng nào. Một tuyên bố phát vào ngày 19/1/2018, đề cập đến sự thiếu hụt các nhân viên được đào tạo “để vận hành phòng thí nghiệm có nguy cơ cao” trong một mục nhằm thảo luận rằng liệu điều đó có “cản trở nghiên cứu” hay không. Ba tháng sau đó, một tuyên bố thứ hai lại cho rằng điều này “mở ra nhiều cơ hội hơn cho việc trao đổi các chuyên gia”. Tuyên bố tháng một cũng lưu ý rằng khả năng của Viện Vũ Hán trong việc “thực hiện nghiên cứu năng suất bất chấp những hạn chế trước mắt” và nói rằng công việc của họ “khiến việc tiếp tục tầm soát các virus corona giống SARS ở dơi và nghiên cứu về sự lây truyền giữa người và động vật là cần thiết cho dự đoán và phòng ngừa bùng nổ dịch coronavirus trong tương lai.”  Một số nhà khoa học cảm thấy bức xúc bởi những gì họ đọc từ trước đến nay là sự diễn giải sai lệch từ các tuyên bố của Đại sứ quán Mỹ. “Những quan ngại dấy lên từ các thông báo có vẻ không tập trung vào mối nguy nào cụ thể hay những vi phạm nghiêm trọng của nhân viên trong phòng thí nghiệm hiện tại,” Jason Kindrachuk, một chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada trả lời tôi trong một email. Ông bổ sung thêm rằng, những tuyên bố từ đại sứ quán còn nhấn mạnh “những hạn chế hiện tại có thể được giải quyết nhờ” sự tiếp sức từ cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ. Dù thế nào chăng nữa, Bill Hanage, một chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Harvard, kể cho tôi trong một email rằng ông không nghĩ những tin từ đại sứ quán có ích trong việc làm sáng tỏ cuộc tranh cãi về nguồn gốc của covid-19.  Rogin nói với MIT Technology Review trong một email rằng ông vẫn giữ nguyên lập trường với bài báo năm 2020 của mình.  Thạch Chính Lệ bảo rằng sự thiếu hụt nhân viên được huấn luyện đồng nghĩa rằng Trung Quốc không thể tận dụng tối đa cơ sở vật chất, nhưng điều đó không có nghĩa rằng đất nước đang sử dụng nhân lực nghiệp dư để làm việc trong phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3 hay cấp độ 4.  “RaTG13 là họ hàng gần nhất với SARS-CoV-2 mà chúng ta có được,” bà nói. “Chúng tôi không thể để rò rỉ ra ngoài thứ mà chúng tôi không có”.  Bà cũng phủ nhận những nghi vấn cho rằng quá trình lây nhiễm sang người đầu tiên có thể dính dáng đến một ai đó trong đội của mình – người đã dính phải virus trong phòng thí nghiệm hay trên thực địa. Thạch Chính Lệ bảo tôi, trong khoảng thời gian từ lúc khởi đầu của đại dịch ở Vũ Hán đến những mũi vaccine đầu tiên, mọi thành viên trong đội bà được xét nghiệm tìm kiếm acid nucleic của virus rất nhiều lần nhằm kiểm tra liệu họ có đang bị nhiễm bệnh và xét nghiệm kháng thể để xác định liệu họ có từng bị nhiễm trước đó. “Không ai trong đội có kết quả dương tính”, bà bảo. “Không ai trong chúng tôi bị lây nhiễm coronavirus dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả lúc thu thập mẫu dơi trong khu vực”.  Chính trị của sự bất tín  Nhiều nhà khoa học rất khó chịu về cách truyền thông phương Tây khắc họa Thạch Chính Lệ và Viện Virus Vũ Hán. Ngay cả khi chưa từng liên lạc với Thạch Chính Lệ hay viện Vũ Hán, hai nhà khoa học Robertson từ Đại học Glasgow và Rasmussen từ Đại học Saskatchewan vẫn gọi đây là thiên kiến gây sốc và nhận định điều này được điều hướng một phần bởi động cơ địa chính trị và những định kiến thâm căn cố đế.  Thạch Chính Lệ trong buồng an toàn sinh học cấp cao của Viện Virus Vũ Hán. Ảnh: Chinatopix/AP  Với những chuyên gia người Trung Quốc như Joy Zhang, nhà xã hội học tại Đại học Kent ở Cantebury, Anh, người chuyên nghiên cứu về quản trị khoa học ở Trung Quốc, thật khó để tách biệt những cáo buộc cụ thể chống lại Lệ khỏi những nghi ngờ nói chung về Trung Quốc. “Thạch Chính Lệ là nạn nhân của sự mất tin tưởng của phương Tây về Trung Quốc và khoa học của nước này”, bà nói.  Trong sự mất lòng tin đó, sự mất niềm tin vào thực hành khoa học Trung Quốc là hiển nhiên hơn cả. Filippa Lentzos, một chuyên viên an ninh sinh học tại King’s College London, chia sẻ với tôi vào tháng hai năm ngoái rằng “chỉ đơn giản là quá trễ” để tìm hiểu điều gì đã xảy ra vì “mọi thứ, ví dụ, tủ đông ở Viện Virus Vũ Hán có thể đã được dọn dẹp sạch sẽ. Dữ liệu có khi đã bị sửa chữa hay tô vẽ.” Đến hiện nay, đây vẫn là quan điểm của bà. Thạch Chính Lệ nhìn thấy những cáo buộc của Lentzos cho rằng phòng thí nghiệm của mình có thể đã hủy những thông tin cần thiết là “thiếu cơ sở và đáng sợ”.  “Nếu đó là điều họ nghĩ, thì không có cách gì chúng tôi có thể làm để thuyết phục họ”, bà bảo tôi. “Ngay cả khi chúng tôi đưa ra mọi chứng cứ, họ vẫn sẽ nói nhóm đã che đậy điều gì đó hay chúng tôi đã xóa bỏ các bằng chứng”.  Một số người phương Tây đồng tình với nhận định này. “Tôi khá thất vọng về cách người ta lan truyền những cáo buộc cực kỳ nghiêm trọng kiểu này,” Nancy Connell, một nhà vi sinh học và thành viên của Bộ phận cố vấn khoa học quốc gia về An toàn sinh học của Viện Y tế quốc tế chia sẻ với tôi vào tháng hai năm ngoái khi bà đang làm việc cùng với Trung tâm Johns Hopkins về An ninh Sức khỏe. “Điều này vô cùng thiếu trách nhiệm.”  Nhưng kể cả sự thiếu niềm tin của quốc tế với Trung Quốc chỉ là một phần lí do châm ngòi cho thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm, lịch sử hành động bất tín và những bước đi sai lầm của nước này càng khiến điều đó trầm trọng hơn.  Không phải đến dịch SARS-CoV-2, Chính phủ Trung Quốc mới bưng bít thông tin. Dịch SARS năm 2002-2003, nước này cũng che giấu cho đến khi một bác sĩ nổi tiếng của quân đội là jiang yanyong lên tiếng.  Trong đợt bùng nổ dịch SARS từ năm 2002 đến năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã cố hạ thấp quy mô lây lan trong nhiều tháng trời cho đến khi một phẫu thuật viên quân đội có tiếng tăm quyết định tiết lộ sự thật. Ở thời điểm mới khởi đầu đại dịch COVID-19, Trung Quốc đã mập mờ thông tin về những ca bệnh đầu tiên và dập tắt tranh luận trong nước. Điều này còn trở nên tồi tệ hơn khi vào tháng 3/2020, một loạt các bộ, ngành Trung Quốc yêu cầu các nhà khoa học phải xin phép cơ quan chức năng khi công bố các nghiên cứu liên quan đến COVID-19.  Trong khi đó, nhiều cơ quan học thuật Trung Quốc, bao gồm Viện Virus Vũ Hán, chỉ đạo các nhà khoa học – trừ một số trường hợp hiếm hoi – không được nói chuyện với báo chí. Với một vài người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm. Việc trả lời những phỏng vấn về chủ đề nhạy cảm chính trị bằng tiếng Anh là cực kì đáng sợ với nhiều người nói tiếng Trung, vì bất kì lỗi ngôn ngữ nào, đặc biệt về ngữ pháp (hiện tại, quá khứ) và trợ động từ, vốn nhiều khả năng bị dùng sai – sẽ dẫn tới hậu quả khủng khiếp. Cùng thời điểm đó, nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã trở nên ngần ngại khi nói chuyện với những nhà báo phương Tây vì những nguyên do thẳng thừng: đại đa số các phóng viên đã liên hệ với họ dường như không hiểu rõ vấn đề phức tạp của khoa học và cho thấy những thành kiến mạnh mẽ.  “Tôi chỉ muốn dồn sức tập trung vào công việc của mình,” Thạch Chính Lệ bảo tôi. “Tôi nghĩ cơn bão rồi sẽ dịu xuống sau một thời gian”.  Một số hành vi của viện Vũ Hán chắc chắn đã gây ra báo động đỏ. Ví dụ, vào tháng 2/2020, Viện tự nhiên ngắt kết nối trực tuyến cơ sở dữ liệu virus, và đến giờ người ngoài viện vẫn chưa được tiếp cận – khiến một số người nghi ngờ rằng các dữ liệu này có thể chứa thông tin mật thiết với nguồn gốc của COVID-19. Thạch Chính Lệ bảo tôi rằng một phần dữ liệu đã được công khai trước đại dịch chỉ chứa những thông tin đã được xuất bản; Viện Vũ Hán, như những tổ chức nghiên cứu ở các nơi khác trên thế giới, có cả dữ liệu chưa được xuất bản nhưng vẫn có thể chia sẻ theo yêu cầu thông qua các cổng thông tin dành cho hợp tác học thuật. Bà bảo, viện để dữ liệu ngoại tuyến vì những mối lo ngại về bảo mật; bởi đã có hàng nghìn nỗ lực hack dữ liệu từ khi bắt đầu đại dịch. “Những người phụ trách công nghệ thông tin thực sự lo lắng rằng có ai đó có thể phá hủy cơ sở dữ liệu, hay tệ hơn, cài cắm trình tự virus từ ngoài vào với mục đích xấu,” bà nói.  Đến hiện tại, Zhang từ Đại học Kent nhận định, hành vi của Trung Quốc phải được đặt trong ở bối cảnh lớn hơn liên quan chính trị, truyền thống và văn hóa của quốc gia này. Sở hữu truyền thống truyền thông hoàn toàn khác biệt, Trung Quốc “không có cả vốn từ lẫn ngữ pháp của truyền thông phương Tây để đối phó với một khủng hoảng đại chúng,” bà bảo tôi. “Linh tính đầu tiên của Chính phủ Trung Quốc là luôn luôn đóng cửa các kênh truyền thông.” Bà chia sẻ thêm, với họ, điều này thường có vẻ an toàn hơn là chủ động đối mặt với tình huống. Hàng loạt nhà khoa học hàng đầu, những người yêu cầu không nêu rõ tên do sợ bị trù dập chính trị, nói với tôi rằng điều này cũng phản ánh việc thiếu sự tự tin ở các nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc. “Trong khi thể hiện bản thân như một thế lực ảnh hưởng toàn cầu, Trung Quốc vẫn cực kỳ bất an”, một trong số họ nhận định.  Thay vì thẳng thừng đối diện với khủng hoảng đại chúng, Trung Quốc lại càng tô đậm tính bất tín của mình bằng việc tự triển khai chiến dịch truyền thông mơ hồ và sai lệch. Ví dụ, phía Bộ Ngoại giao đã ám chỉ rằng những phòng thí nghiệm y sinh tại căn cứ quân sử ở Maryland, Mỹ mới là nơi có thể tạo ra con SARS-CoV-2 và làm rò rỉ ra ngoài. Rồi có một loạt các tin bịa đặt khác. Những thành viên Trung Quốc trong nhóm làm việc của WHO nhấn mạnh trong báo cáo của mình rằng “không tìm thấy thông tin được kiểm chứng nào khẳng định động vật có vú bị bán (ở chợ Hải Nam) ở thời điểm năm 2019”. Tuy nhiên vào tháng 6/2021, một bài báo đăng tải trên Scientific Reports nói rằng rất nhiều tiểu thương đã bán động vật có vú sống bất hợp pháp tại nhiều chợ ở Vũ Hán, bao gồm chợ Hải Nam trước khi có đại dịch.  Nhiều nhà khoa học phương Tây cảm thấy thất vọng bởi sự mơ hồ này. Ngay cả những người nhìn nhận giả thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm cực kỳ khó xảy ra, họ cũng quả quyết rằng những động thái của chính phủ thật khó chấp nhận. “Nếu Trung Quốc đang không trung thực vì điều này, vậy đất nước này còn nói dối điều gì khác nữa?” một nhà virus học ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết COVID-19 có nguồn gốc tự nhiên phát biểu.  Wu Zhiqiang – một nhà virus học tại Viện Sinh học Mầm bệnh tại Học viện Y khoa Trung Quốc, đặt tại Bắc Kinh và là một thành viên trong đội đặc nhiệm của WHO phủ định về việc nhóm của anh đã nói dối. Anh cho hay việc truy vết việc kinh doanh động vật hoang dã trái phép đã nằm quá phạm vi của nhiệm vụ nghiên cứu. “Chúng tôi chỉ có thể làm việc với những thông tin đươc cung cấp từ nhiều bộ, ban ngành và không có khả năng xác minh việc buôn bán những động vật sống có vú tại chợ Hải Nam.” Anh bổ sung thêm, các nghiên cứu về nguồn gốc của bệnh dịch luôn dựa vào dữ liệu không hoàn thiện, nhưng các nhà khoa học Trung Quốc đang lần theo các manh mối để dò ra được mối liên kết các chợ: “Mất thời gian và sự kiên nhẫn để hiểu được sự thật khoa học”.  Tuy nhiên, xoáy sâu thêm vào sự thiếu tin tưởng Trung Quốc là vai trò của Daszak đến từ EcoHealth Alliance. Mối quan hệ chặt chẽ của ông với Thạch Chính Lệ và vai trò thành viên của ông trong nhóm quốc tế của đội đặc nhiệm WHO có thể mâu thuẫn. Những người chỉ trích cũng nói rằng ông sẽ không dám nói một cách thẳng thắn. Ví dụ, vào tháng hai, ông trả lời nhiều tờ báo rằng ông ấn tượng bởi sự cởi mở của Trung Quốc – tại thời điểm mà cả đội đang bị đặt dưới áp lực khủng khiếp bị buộc phải chấp nhận lời kể của chính phủ nước này. Trong khi tỏ ra rằng mình hiểu rất rõ điều gì đang diễn ra ở Viện Vũ Hán, Daszak và tổ chức của ông đồng thời cũng đưa ra những phát ngôn không chính xác về các hoạt động nghiên cứu của viện này.  Những người chỉ trích cho hay những sự kiện như thế này đã dấy lên câu hỏi liệu Daszak có một vai trò lấn át hay thậm chí là đánh lạc hướng trong ủy ban WHO. Nhưng những nhà khoa học như Goldstein từ Đại học Utah, người không cộng tác với Daszak chia sẻ với tôi rằng không có bằng chứng nào cho thấy Daszak “đã sử dụng sức ảnh hưởng lấn át” trong nhóm 11 thành viên.  “Giờ đây đã hơn hai năm trôi qua kể từ khi những âm mưu đầu tiên xuất hiện nhằm cố tình chính trị hóa nguồn gốc đại dịch, và hạ thấp khoa học cũng như nghiên cứu mà những nhà khoa học thực hiện trong những tình huống vốn đã khó khăn.” theo lời Daszak. “Tất cả chúng ta đều phải chịu mất mát trước sự chính trị hóa này. Khi chúng ta trộn lẫn chính trị với khoa học, thứ có được chỉ là chính trị”. □ (Còn tiếp)  Phạm Vĩnh Anh dịch  Nguồn: https://www.technologyreview.com/2022/02/09/ 1044985/shi-zhengli-covid-lab-leak-wuhan/    Author                Jane Qiu        
__label__tiasang Thách đố về giả thuyết  số nguyên tố sinh đôi      Những nỗ lực và suy nghĩ khác biệt của hai nhà toán học, một người hầu như không có tên tuổi, người kia vừa mới bảo vệ luận án tiến sỹ, đã mở ra một cuộc chạy đua trực tuyến giữa các nhóm nghiên cứu trên toàn cầu đi tìm lời giải cho giả thuyết số nguyên tố sinh đôi – một thách đố trí tuệ loài người đã tồn tại từ nhiều thế kỷ.    Số nguyên tố sinh đôi là một cặp số nguyên tố́ liền nhau có dạng (n, n+2), bắt đầu từ (3,5), sau đó là (5,7), (11,13), v.v. Số nguyên tố sinh đôi cực hiếm, nhưng cứ sau vài năm người ta lại tìm thấy một cặp số sinh đôi lớn hơn. Từ thời Hy Lạp cổ đại Ơclit (Euclide) đã tin rằng có vô số các số nguyên tố sinh đôi. Tuy nhiên, sau nhiều thế kỷ vẫn chưa có ai chứng minh được điều này, và cho tới nay người ta vẫn coi đây là một điều bí hiểm.   Ngày nay người ta gọi điều này là giả thuyết số nguyên tố sinh đôi. Cái khó ở đây là không có công thức mô tả số nguyên tố. Để tìm các số nguyên tố trong một bảng số thì người ta thường loại bỏ dần các hợp số của các số nguyên tố trước đó. Phương pháp này được gọi là sàng Ơ-ra-tô-xten (Erathostenes) theo tên một nhà toán học Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên phương pháp này chỉ hiệu quả khi tìm các số nguyên tố nhỏ hơn hàng chục triệu.    Năm 1849, nhà toán học Pháp de Polignac đưa ra giả thuyết tổng quát hơn là với mọi số chẵn k ≥ 2 tồn tại vô hạn các cặp số nguyên tố m, n sao cho m – n = k. Nhưng giả thuyết này cũng chưa được giải quyết cho bất kỳ một số k nào. Thậm chí một giả thuyết yếu hơn là tồn tại vô hạn cặp số nguyên tố m, n sao cho m – n ≤ ki, cũng bị nhiều nhà khoa học cho rằng chưa thể giải quyết bằng các phương pháp nghiên cứu hiện có. Nhà số học Goldston cho rằng “đây là một trong những vấn đề mà ta không chắc loài người có thể giải được”.  Nhưng vào ngày 17/4/2013, tòa soạn tạp chí Annals of Mathematics nhận được bản thảo của một nhà toán học vô danh là Yitang Zhang khẳng định đã giải quyết được giả thuyết yếu trên cho k = 70 triệu. Tuy k = 70 triệu còn xa với mục tiêu k = 2, nhưng đây có thể coi là bước đi đột phá về giả thuyết số nguyên tố sinh đôi. Khoảng cách giữa 2 và 70 triệu tuy lớn nhưng vẫn không thấm thoát gì so với khoảng cách giữa 70 triệu và vô hạn!         Nhà toán học vô danh “lấy nghề làm niềm vui”          Yitang Zhang         Yitang Zhang sinh năm 1955 tại Trung Quốc. Năm 1985, ông sang Mỹ làm nghiên cứu sinh sau khi tham dự lớp cao học được tổ chức bởi nhà toán học nổi tiếng Shiing-Shen Chern ở Bắc Kinh. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1991 sau 7 năm làm nghiên cứu sinh tại Đại học Purdue dưới sự hướng dẫn của Tzuong-Tsieng Moh. Đề tài luận án do ông chọn là về giả thuyết Jacobi. Đây là một giả thuyết lâu đời được nhà toán học Stefen Smale (giải thưởng Fields năm 1966) coi là một trong 18 bài toán của thế kỷ 21. Zhang tưởng rằng mình đã chứng minh được giả thuyết này, nhưng sau đó người ta phát hiện ra một kết quả của Moh được Zhang dùng trong chứng minh của mình có vấn đề.  Cho đến nay, Zhang mới công bố hai công trình toán học vào các năm 1985 (năm bảo vệ luận án thạc sĩ) và 2001. Ông là dạng nhà toán học chỉ chuyên tâm giải quyết các vấn đề khó. Cuộc đời của Zhang có nhiều gian truân. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, ông không xin được việc làm ở các trường đại học và đã phải làm nhiều việc thời vụ như dọn bàn, đưa đồ ăn,  trực khách sạn, kế toán, v.v. Mãi đến năm 1999, ông mới được nhận vào làm giảng viên ở Đại học New Hampshire nhưng không có chức danh chính thức và làm việc ở đó cho đến ngày nay. Andrew Granville, một nhà số học có tiếng, nhận xét về Zhang: “Không ai biết anh ta là ai. Vậy mà bỗng nhiên anh ta chứng minh được một trong những kết quả lớn nhất trong lịch sử lý thuyết số.”              Tự nhận mình là một người rụt rè, nhưng Zhang nói: “khi làm báo cáo và tập trung vào toán học, tôi quên mất sự  rụt rè của tôi”. Có người hỏi ông có cảm thấy cay đắng về số phận long đong của mình không thì ông trả lời “Cái đầu của tôi luôn bình thản. Tôi không quan tâm nhiều lắm đến tiền tài hay  danh vọng. Tôi thích giữ im lặng và tiếp tục làm những gì mà tôi quan tâm”. Lại có người hỏi liệu ông có khuyên người khác làm theo ông không thì ông trả lời “khó nói lắm” và “tôi chọn đường đi của mình và đó là con đường của riêng tôi”.               Ngay sau khi công bố kết quả mới liên quan đến giả thuyết yếu về số nguyên tố sinh đôi, Zhang nhận được nhiều giải thưởng danh giá và được nhiều trường đại học danh tiếng mời đến làm việc. Tuy nhiên ông vẫn quyết định ở lại Đại học New Hampshire. Tại Đại hội Toán học thế giới năm nay ở Seoul, ông được mời làm báo cáo toàn thể đặc biệt ngang hàng với các báo cáo giải thưởng Fields.              Gần đây ông bắt đầu nghiên cứu một đề tài khác và không muốn thổ lộ cho người khác biết. Ông chỉ nói, “Hy vọng nó sẽ cho một kết quả tốt”. Theo Tzuong-Tsieng Moh, thầy của Zhang, thì ông thích câu nói của Khổng Tử rằng “người biết nghề không sánh được với người yêu nghề, người yêu nghề không sánh được với người lấy nghề làm niềm vui”.        Cái sàng của Zhang    Công trình của Zhang đã được thẩm định và được công bố vào tháng 3 năm 2014, có xuất xứ từ một bài báo của Goldston, Pintz và Yildirim (GPY) công bố năm 2005. Bài báo này chứng minh rằng luôn tồn tại các cặp nguyên tố liền nhau mà khoảng cách giữa chúng nhỏ hơn rất nhiều so với độ lớn của chúng. Để có được kết quả này GPY đã đưa ra một phương pháp để lọc các cặp nguyên tố liền nhau giống như cái sàng Ơ-ra-tô-xten.  Ngoài ra, họ còn dùng một tham số gọi là mức phân bố số nguyên tố. Người ta biết rằng tham số này lớn hơn hoặc bằng ½ và điều này đủ để chứng minh kết quả của GPY. Họ cũng nhận xét rằng nếu tham số này lớn hơn ½ thì dùng cái sàng của họ sẽ chứng minh được tồn tại vô hạn cặp số nguyên tố liền nhau bị chặn bởi một số k nào đó. Trong bài báo của mình, GPY viết rằng kết quả của họ “chỉ cách bề dày một sợi tóc đến kết quả đó”.   Zhang từng nghiên cứu lý thuyết số trong luận án cao học nên ông để ý đến bài báo của GPI. “Câu văn này lập tức gây ấn tượng với tôi”, ông hồi tưởng lại. Sau đó ông bắt đầu tìm cách mở rộng kết quả của GPY. Trong ba năm sau đó, ông không tiến thêm được một bước nào. “Tôi quá mỏi mệt”, ông nói. Hè năm 2012, ông quyết định nghỉ một chút và đi thăm một người bạn ở Colorado mà không mang bất kỳ tài liệu toán học nào theo mình. Tuy nhiên ông vẫn bị ám ảnh bởi giả thuyết chặn trên cho khoảng cách các số nguyên tố. Trong một lúc mơ màng ngoài vườn của bạn, ông chợt tìm ra ý tưởng cho lời giải. “Tôi lập tức tin nó đúng”. Để giải quyết giả thuyết ông thấy không cần thiết phải lọc tất cả các số mà chỉ cần lọc các số có thừa số nguyên tố không lớn lắm. Như vậy là cái sàng của ông tuy không tốt bằng cái sàng của GPI nhưng lại có độ linh hoạt đủ để giải quyết vấn đề. Theo ông, “có rất nhiều cơ may trong sự nghiệp của bạn nhưng quan trọng là bạn phải luôn luôn suy nghĩ”.     Kết quả của Zhang lập tức dẫn đến câu hỏi tại sao tồn tại vô số cặp số nguyên tố liền nhau có khoảng cách nhỏ hơn 70 triệu mà không bị chặn bởi một số nhỏ hơn. Thực ra, Zhang dùng chặn 70 triệu chỉ để làm cho chứng minh đơn giản hơn. Đến cuối tháng 5/2013, các nhà toán học đã cải thiện chặn trên của Zhang xuống còn 60 triệu. Tháng 6/2013 nhà toán học Terence Tao (giải thưởng Fields năm 2006) lập một đề án trực tuyến Polymath để mọi người có thể hợp tác nghiên cứu qua mạng để tìm các chặn trên nhỏ hơn nữa. Trong vài tuần sau đó, tình hình cải thiện theo một tốc độ chóng mặt, “cứ khoảng nửa tiếng lại có một chặn trên tốt hơn”, Tao hồi tưởng lại. Đến cuối tháng 7/2013, người ta đã đưa con số 70 triệu trong chứng minh của Zhang xuống còn 4680. Đề án Polymath này hiện đang được tập trung vào việc viết một bài báo tập thể về kết quả này. Bản thảo hiện nay đã dài hơn 150 trang, dự kiến sẽ công bố trong tạp chí “Algebra and Number Theory”.  Phương pháp của Maynard và cuộc chạy đua trực tuyến            James Maynard hiện đang làm hậu tiến sỹ tại Đại học Montreal.        Câu chuyện vẫn chưa dừng lại ở đây vì đến ngày 19/11/2013, có một nhà toán học trẻ tên là James Maynard đưa ra chặn trên mới là 600 trên ArXiv với một chứng minh hoàn toàn độc lập với chứng minh của Zhang. Đặc biệt hơn, phương pháp của Maynard còn cho phép nghiên cứu không chỉ các cặp số nguyên tố mà còn cả các bộ số nguyên tố liền nhau. Maynard vừa mới bảo vệ luận án tiến sĩ về sàng số nguyên tố và hiện đang làm việc sau tiến sĩ tại Đại học Montreal.   Công trình của Maynard, theo một nghĩa nào đó, cũng khởi thủy từ bài báo của GPY. Trước đó, hai tác giả Goldston va Yildirim đã từng công bố một phương pháp lọc các cặp số nguyên tố liền nhau. Ngay sau đấy người ta phát hiện ra phương pháp này có lỗi. Sau khi GPY thay đổi phương pháp lọc để tránh lỗi trên thì mọi người đổ xô vào nghiên cứu bài báo mới mà quên hẳn mất phương pháp lọc cũ. Cách đây hơn một năm, Maynard quyết định xem lại bài báo của Goldston và Yildirim. Anh phát hiện thấy có thể sửa lỗi để có một phương pháp lọc hiệu quả hơn là cách GPY đã làm. Ý tưởng của Maynard rất đơn giản. Người hướng dẫn sau tiến sĩ của Maynard là Granville nhận xét rằng “Đó là một điều mà những người như tôi sẽ gõ vào trán và tự nhủ ta có thể chứng minh cái này bảy năm trước đây”.   Ngay sau công bố của Maynard, một đề án trực tuyến Polymath khác được lập ra nhằm sử dụng phương pháp của Maynard để đưa ra các chặn trên nhỏ hơn nữa. Khi bài báo này được viết, người ta đã giảm chặn trên xuống còn 252. Các đề án Polymath thu hút được rất nhiều chuyên gia từ các hướng nghiên cứu khác nhau tham gia. Họ có thể giải quyết các bước khác nhau trong kỹ thuật chứng minh của Zhang và Maynar để tìm các chặn trên nhỏ hơn. Công việc của họ hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau. Nếu một người tìm ra kết quả hay ý tưởng mới thì người khác cũng phải thay đổi tương ứng các dữ kiện nghiên cứu của mình. Chuyên gia tính toán Andrew Sutherland của Viện công nghệ Massachusetts nói rằng “Luật chơi thay đổi hằng ngày”, “trong lúc tôi đang ngủ thì các đồng nghiệp ở châu Âu đã tìm thấy một chặn trên mới. Nhiều khi, tôi thức đến 2 giờ sáng để thông báo một ý tưởng mới”.   Trong khi Zhang và Maynard là dạng những nhà toán học tài năng nghiên cứu một mình vài năm cho đến khi đạt được một kết quả làm chấn động mọi người thì các đề án Polymath khác hẳn. Chúng cần một sự hợp tác toàn diện từ nhiều người nhằm giải quyết những vấn đề toán học phức tạp và thường có kết quả rất nhanh. Tuy nhiên, không phải vấn đề toán học nào cũng phù hợp với cách nghiên cứu tập thể. Theo Tao thì “cần có những người sẵn sàng làm việc đơn độc và vượt qua những cách suy nghĩ thông thường”.   Thách đố vẫn tiếp tục            Không  phải vấn đề toán học nào cũng phù hợp  với cách nghiên cứu tập thể, mà  cần có những người sẵn sàng làm việc đơn  độc và vượt qua những cách suy  nghĩ thông thường.  Terence Tao        Chúng ta có thể hy vọng gì từ các kỹ thuật chứng minh của Zhang và Maynard cho việc giải quyết giả thuyết số nguyên tố sinh đôi? Phương pháp của Zhang chỉ có thể dẫn đến chặn trên 16 nếu giải quyết được hết các vướng mắc còn tồn tại. Còn phương pháp của Maynard cũng chỉ có thể giảm chặn trên xuống đến 12 là cùng. Tao cho biết nếu dùng thêm một giả thuyết của Elliot-Halberstam thì có thể đưa chặn trên xuống còn 6. Theo Maynard thì khó có thể cải tiến các phương pháp quen biết để nhận được chặn trên cuối cùng là 2. Anh nhận xét “Tôi cảm thấy chúng ta cần phải có đột phá về cách tiếp cận thì mới giải được giả thuyết số nguyên tố sinh đôi”. Như vậy là chưa có gì đảm bảo trong một tương lai gần người ta sẽ giải quyết được giả thuyết này. Đây vẫn tiếp tục là một thách thức đối với trí tuệ  con người.     Tài liệu tham khảo  Kenneth Chang, Solving a Riddle of Primes, http://www.nytimes.com/2013/05/21/ science/solving-a-riddle-of-primes.html?_r=0  Erica Klareich, Sudden Progress on Prime Number Problem Has Mathematicians Buzzing, http://www.wired.com/wiredscience/2013/11/prime/all/  Erica Klareich, Unheralded Mathematician Bridges the Prime Gap, https://www.simonsfoundation.org/quanta/20130519-unheralded-mathematician-bridges-the-prime-gap/  Leslie Katz, Yitang Zhang: A prime-number proof and a world of persistence, http://news.cnet.com/8301-17938_105-57618696-1/yitang-zhang-a-prime-number-proof-and-a-world-of-persistence/  Maggie McKee, First proof that infinitely many prime numbers come in pairs, http://www.nature.com/news/first-proof-that-infinitely-many-prime-numbers-come-in-pairs-1.12989  Tzuong-Tsieng Moh, “Zhang, Yitang’s life at Purdue, http://www.math.purdue.edu /~ttm/ZhangYt.pdf  i Giả thuyết yếu này được gọi là chặn trên cho khoảng cách các số nguyên tố, tuy nó không tương đương với giả thuyết của de Polignac, nhưng trong trường hợp k = 2 thì nó chính là giả thuyết số nguyên tố sinh đôi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thách thức những quan niệm về thiên tai và thảm họa      LTS: Việt Nam là vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và năm nào cũng có những thảm họa diễn ra, gây tổn thất nặng nề hàng nghìn tỉ đồng. Từ trước đến nay, chúng ta vẫn luôn bị động trước những tai họa. Chuỗi bài tới đây của chuyên gia về thảm họa và rủi ro Jason von Meding, Đại học Newcastle, Úc, gợi ý cho chúng ta một cách nhìn khác về cái gọi là “thiên tai”.      Mưa lớn tại Sơn La, QL 279 đoạn qua huyện Mường La bị ách tắc nghiêm trọng. Nguồn ảnh: duongbo.vn  Trong tiếng Việt, rất nhiều khi chúng ta dùng từ “thiên tai” để nói về một thảm họa. Nhưng có một sự khác biệt quan trọng giữa hai khái niệm này. Nếu không phân biệt đúng sẽ đưa chúng ta đến những thảo luận về nỗi mất mát, chịu đựng và đau khổ của con người một cách hạn hẹp. Thông thường, người ta coi đó là kết quả của “sự phẫn nộ của Mẹ thiên nhiên”. Có khi còn gọi nó là “ý Trời”.  Khi chúng ta quá tập trung vào chữ “thiên”, chúng ta thường bỏ qua những khía cạnh xã hội, kinh tế và chính trị của thảm họa. Nghề nghiệp điều tra căn nguyên của những thảm họa đã khiến tôi phải nói rằng chúng thực ra không diễn ra một cách tự nhiên. Chúng là kết quả từ những quyết định của con người trong việc xác định nguy cơ rủi ro trong xã hội, về mức độ tiêu thụ, về quyền và về sự sở hữu mà con người đưa ra. Đáng buồn là, những thảm họa là điều không thể tránh khỏi trong một thế giới mà sự bất bình đẳng ngày càng dâng cao.  Khi “thiên tai” không phải tại “thiên”  Ý tưởng cho rằng “thiên tai” không phải tại “thiên” không còn mới. Jean Jacques Rousseau là người đầu tiên được lịch sử ghi lại đã quan sát thấy điều này vào năm 1756, sau một trận động đất và sóng thần thảm khốc tại Lisbon, Bồ Đào Nha. Ông biện luận rằng sự tổn hại sau đó là do những quyết định và hành xử của con người chứ không phải là do tự nhiên. Tuy nhiên, trong hơn 200 năm sau đó, thảm họa vẫn được cho là xuất phát từ tự nhiên hoặc là hành động của Chúa trời. Đến những năm 1970, những nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực mới thách thức lại cách diễn giải chính thống. Dẫu rằng kể từ đó, vị thế áp đảo của quan niệm “thiên tai” là tại thiên liên tục bị lung lay, các thuật ngữ sử dụng vẫn không hề suy chuyển. Vẫn có hàng trăm nghìn dẫn chiếu đến từ “thiên tai” trong các văn bản khoa học.  Vậy, điều gì tạo nên một thảm họa? Các thảm họa luôn có những yếu tố tự nhiên, và chính điều đó khiến cho chúng bị gán cho tên gọi “thiên tai”. Những tai họa như sóng thần, bão, cháy rừng và động đất dĩ nhiên có phần tự nhiên trong đó. Nhưng nguy cơ biến nó thảm họa được quyết định bởi hai điều: 1) Tai họa 2) Khả năng bị tổn thương của con người khi gặp nguy hiểm. Sự thật là trên khắp thế giới, những nạn nhân của các thảm họa thường là thiểu số nghèo khổ, sống trong những đất nước có thu nhập thấp và thường bị lề hóa dựa trên tầng lớp xã hội, giới tính, tôn giáo, dân tộc và sự khuyết tật. Đó là cách người ta thiết kế xã hội hiện nay.  Nhóm dễ bị tổn thương nhất phải chịu đựng nhiều nhất  Tác động của một thảm họa được đo bằng mức độ bị tổn thương của con người. Con người dễ bị tổn thương vì rất nhiều lí do, nhưng không phải vì họ lựa chọn như vậy. Phần lớn mức độ rủi ro mà họ phải gánh chịu được quyết định bởi những người khác. Sự bất công vốn được xác lập trong xã hội của chúng ta. Ở Việt Nam, điều đó có thể thấy ở việc những người dân tộc thiểu số chịu tác động sâu sắc như thế nào sau những thảm họa. Lũ lụt và sạt lở đất là những hiện tượng diễn ra định kì trên khắp các tỉnh vùng núi phía Bắc và những nơi nghèo nhất và tập trung đông đồng bào dân tộc nhất luôn chịu tổn thương nặng nề nhất. Sự kiện diễn ra gần đây gây ra sự mất mát nghiêm trọng trên khắp các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Yên Bái và Lai Châu, những nơi mà 80% dân số là người dân tộc thiểu số. Tỉ lệ nghèo đói của người dân tộc thiểu số trong vùng cao một cách bất thường (73% – so với tỉ lệ người nghèo trên cả nước mà người Kinh chiếm đa số là 2.9%). Thảm họa tuần trước khiến 20 người bị thiệt mạng còn thảm họa diễn ra vào tháng 8 năm 2017, hàng chục người chết.    Sau trận bão Katrina lịch sử ở New Orleans năm 2005, Mỹ, truyền thông khiến công chúng sợ hãi về những người da đen và cho rằng cưỡng hiếp và cướp bóc đang diễn ra (trong khi thực tế không phải). Điều này thúc đẩy tinh thần thù địch của người da trắng, họ mang sung và bắn những người da đen. Ảnh: Hai người đàn ông chèo thuyền trên đường bị ngập nước. Mario Tama/Getty Images  Đây là ví dụ cho thấy các nguy cơ thảm họa phần lớn được gây ra bởi con người như thế nào. Cộng đồng các dân tộc thiểu số là những người bị lãng quên ở Việt Nam. Những nỗ lực của chính phủ trong việc hoạch định và đưa ra chính sách giúp cải thiện điều kiện sống của người dân đều chưa đáp ứng đủ tình hình phát triển xã hội và kinh tế đa dạng của người dân tộc thiểu số. Rất nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số được hưởng lợi từ sự phát triển, nhưng so với số đông người Kinh, họ vẫn tụt lại đằng sau rất xa.  Các chính sách bởi vậy phải tinh tế hơn và trúng đích hơn, hướng tới những nhu cầu kinh tế xã hội cụ thể của từng cộng đồng. Chỉ khi đó, họ mới mới có thể bắt tay vào giải quyết những khoảng trống trong việc tiếp cận giáo dục, cơ sở vật chất, phương tiện giao thông, y tế và các dịch vụ xã hội khác của người dân. Cách tiếp cận chính sách xơ cứng, hoặc đơn giản, quan liêu từ trên xuống sẽ để lại những hậu quả khó lường. Điều này chính là dẫn chứng của việc con người là nhân tố tạo ra thảm hoạ. Mỗi khi một thảm họa diễn ra, rất ít người phân tích về vai trò của nghèo đói, của sự lề hóa, suy thoái môi trường sống hoặc những quyết định liên quan đến việc sử dụng đất. Điều này cần phải thay đổi.  Hãy cẩn trọng với cách dùng từ  Cách dùng từ ngữ của chúng ta rất quan trọng. Nếu gọi một thảm họa là “thiên tai” thì chẳng ai phải chịu trách nhiệm và rồi chúng ta khỏi phải nghĩ đến những căn nguyên đau đầu. Lý giải những thảm họa là do thiên nhiên thực ra là để trốn tránh việc xác định những nguyên nhân thực sự về xã hội, chính trị và kinh tế.  Ở Việt Nam, ai là người sẽ được hưởng lợi từ cách dùng từ “thiên tai”? Thế lực nào sẽ không hài lòng nếu chúng ta nói nhiều hơn về những nguyên nhân gốc rễ của thảm hoạ thay vì bàn luận nó là do tác động của thiên nhiên? Không ít những người dân Việt Nam không nhận được lợi ích một cách công bằng từ sự phát triển thần kì của đất nước. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng, kéo theo đó là sự rạn nứt trong xã hội, trong khi những tác động môi trường của việc phát triển nóng ngày càng sâu sắc. Những thảm họa thường là kết quả của những quyết sách phiến diện về phát triển kinh tế.  Một cách để quy trách nhiệm cho những nhà hoạch định chính sách là phản ứng với những cách diễn giải và cách dùng từ “thiên tai” đang áp đảo hiện nay. Bất kì khi nào chúng ta nói về thảm họa, chúng ta phải nói về sự dễ bị tổn thương, về sự bất công, về quyền lợi. Nếu cứ tiếp tục sử dụng từ “thiên tai”, chúng ta khó mà có thể làm được điều đó.  Dĩ nhiên, sẽ luôn luôn có sự phản đối cho bất kì gợi ý nào muốn thay đổi quan niệm chính thống. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, sự phản đối việc chấm dứt quan niệm sai lầm về “thiên tai” thường đến từ những người có quyền lực và đặc quyền. Một vài người (chẳng hạn như giới học thuật và báo chí) cảm thấy lợi ích từ việc duy trì cách gọi cũ vì đó là ngôn ngữ của họ và họ cho rằng công chúng không thể hiểu được nếu thay đổi cách gọi. Những người khác (như chính trị gia) là bởi họ cảm thấy có thể bị quy trách nhiệm bởi bất kì những thảo luận nào xoay quanh đến căn nguyên của thảm họa.  Mặc dù công chúng sử dụng khái niệm “thiên tai” này một cách rộng rãi, họ không thực sự bị bó buộc tư duy vào nó. Hầu hết mọi người đều khá hứng thú trong việc thảo luận tại sao những thảm họa không hề tự nhiên và họ hiểu điều đó một cách nhanh chóng.  Những ngộ nhận về thảm họa rất phổ biến  Vấn đề cách dùng từ “thiên tai” không phải là điều duy nhất chúng ta phải đối mặt trong cách công chúng hiểu về thảm họa. Xã hội được hình thành bởi những ngộ nhận mà mọi người đều thừa nhận nhưng thường rất sai lệch.  Những ngộ nhận thường được công nhận là sự thật một cách rộng rãi. Sau đây là một ví dụ điển hình. Khắp nơi trên thế giới, người ta tin rằng trong khủng hoảng, con người cư xử một cách tiêu cực, ích kỉ, vô cảm, phi lí và hoảng loạn. Tuy nhiên, nó không hề khớp với những bằng chứng hiện tại. Những nhà xã hội học về thảm họa đã cho chúng ta thấy hàng thập kỉ nay rằng chúng ta luôn nhìn thấy những nghĩa cử cao đẹp nhất của con người trong những thời điểm đen tối đó. Thực tế cho thấy, cộng đồng đoàn kết với nhau trong một thảm họa.  Giữa thời khắc đau thương, chúng ta chứng kiến điều tốt đẹp nhất trong bản chất con người. Con người thể hiện một ý chí thống nhất. Họ cho đi một cách hào phóng. Họ đối đãi với nhau tử tế. Họ xả thân không chỉ vì gia đình và bạn bè mà còn vì những người hoàn toàn xa lạ. Sau một thảm họa, tỉ lệ tội phạm thường sụt giảm. Những nạn nhân không cướp bóc, chém giết, cưỡng hiếp nhau. Họ đến với nhau.  Chính vùng lân cận nơi thảm họa là những người cứu trợ đầu tiên – điều gần như không bao giờ được nhắc đến bởi truyền thông bởi họ mải chạy theo những đội cứu hộ. Những cộng đồng tự tổ chức và huy động sức người, tạo nên một khả năng mạnh mẽ để bảo vệ, hỗ trợ và phục vụ lẫn nhau.  Nhiều khi chính quyền và những người coi là “chuyên gia” đặt chân đến vùng thảm họa, họ thực sự làm gián đoạn quá trình phục hồi vốn đã rất hoàn chỉnh. Họ thường coi nhẹ sự quan trọng của năng lực tự thân của địa phương.  Vai trò của truyền thông khoa học và phương tiện thông tin đại chúng  Vậy, tại sao chúng ta luôn bị thông tin sai về những thảm họa ? Ngôn ngữ rất quan trọng, nhưng đó mới là một yếu tố. Truyền thông cũng rất hứng thú với những câu chuyện ủy mị và những tiêu đề giật gân. Những thảm họa hiếm khi trở thành tin tức trừ phi số lượng người chết rất lớn. Những thông tin về các quốc gia giàu có thì được ưu tiên hơn là các quốc gia nghèo. Hãy xem số lượng đưa tin về ảnh hưởng của mùa bão Đại Tây Dương tới Mỹ vào năm 2017 với những tác động của nó tới hiện tượng gió mùa trên khắp Nam Á. Hầu hết báo chí đều tập trung đưa tin về nước Mỹ.  Hollywood minh họa mối quan hệ giữa nạn nhân và người cứu hộ trong các câu chuyện về thảm họa và tập trung vào nhu cầu cần phải siết chặt kỉ luật. Hãy nghĩ về bất kì những bộ phim thảm họa nào mà bạn đã từng xem. Những con người chịu tác động thì hoảng sợ, ích kỉ, hành xử phi lý và khao khát sự giúp đỡ. Nó có thể khác xa với thực tế – nhưng nó phục vụ cho mục đích kể chuyện của họ.  Những người có quyền hưởng lợi rất nhiều từ việc phát tán đi những huyền thoại này. Nếu như công chúng tin tưởng một cách rộng rãi rằng những người bị ảnh hưởng bởi các thảm họa sẽ hành xử một cách phi lí, tất cả mọi người đều sẽ không phản ứng gì khi có một lực lượng ra tay để “gìn giữ trật tự”. Đặc biệt là ở Mỹ, có hẳn một lịch sử về việc những hành động bạo lực diễn ra sau các thảm họa là do chính quyền dẫn dắt. Sự sợ hãi sau những thảm họa – thường đến từ những người sợ hãi sẽ bị mất quyền lực và sự kiểm soát, hơn là từ những cộng đồng bị ảnh hưởng.  Cuối cùng, những gì khoa học về thảm họa chỉ ra không giống như những gì truyền thông hay Hollywood mô tả về các thảm họa. Những nhà làm chính sách biết điều đó nhưng họ không quan tâm. Bởi vậy, tất cả chúng ta phải đòi hỏi những gì tốt hơn thế.  Vậy nên, nếu sau đây khi nào nghe thấy ai đó nói đến “thiên tai”, hãy hỏi lại họ căn nguyên của những thiên tai là gì. Nếu bạn nhìn thấy trong bài viết, hãy thách thức lại tác giả. Chúng ta đều có thể là một phần của những gì tích cực và đem lại sự chuyển đổi trong nhận thức của cộng đồng.  Trên tất cả, quan trọng nhất, chúng ta phải có một cuộc đối thoại đúng vấn đề, đi vào những nguyên nhân thực sự và dám rung động những cơ quan quyền lực.  Hảo Linh dịch, Thái Minh Hằng hiệu đính   Nguyên gốc bản Tiếng Anh:   Challenging disaster myths and destructive narratives  In the Vietnamese language, when we talk about a “disaster” we generally refer to it as a “natural disaster”. But there is an important distinction between the two. A failure to differentiate leaves us discussing people’s loss, pain and suffering in a certain way. Often, we think of it as a result of the “wrath of Mother nature”. Perhaps we even call it “the will of God”.    When we focus on the “natural” we often neglect to discuss the social, economic and political parts of disasters.   My work investigating the root causes of disasters has led me to argue that they are actually quite unnatural. They are the result of human decisions about risk in society, about consumption, about rights and about ownership.   Sadly, disasters are inevitable in a world of increasing inequality.   Disasters aren’t natural  It is not a new concept to say that disasters are not natural. Jean-Jacques Rousseau was the first person on record to make this observation in 1756, after an earthquake and tsunami devastated Lisbon, Portugal. He argued that the casualties were due to the decisions and behaviours of people rather than nature.   Over the next 200 years, disasters were nevertheless discussed as natural or as acts of God. In the 1970s, scientists in various fields began to challenge this orthodox narrative. Since then, there have been constant challenges to the dominant position, but the terminology has only become more entrenched. There are now hundreds of thousands of references to “natural disaster” in the scientific literature.   So, what does make a disaster? Disasters often have natural triggers, and that is where we get this popular phrase “Natural disaster”. Hazards such as tsunamis, typhoons, bushfires and earthquakes do of course occur naturally. But disaster risk is determined by a combination of 2 things – 1) the hazard and 2) the vulnerability of the people in harm’s way.   The truth is that around the world the victims of disasters are disproportionately impoverished, live in low-income countries and are marginalised in their society based on class, gender, religion, ethnicity and disability. And this is the way that societies are designed.   The most vulnerable suffer  Disaster impact is shaped by levels of human vulnerability. People are vulnerable for many reasons, but not because they choose to be. More often than not, someone else has made the decisions that determine their level of risk.   Injustice is built into our societies. In Vietnam we have only to look at how profoundly disasters impact on ethnic minorities. Flooding and landslides affect northwestern Vietnam periodically. In the past week, more than 20 people lost their lives, while in August 2017 dozens were killed.   These disasters cause severe hardship across provinces like Son La, Dien Bien, Yen Bai and Lai Chau. 80% of the population there belong to ethnic minorities. The poverty rate among ethnic minorities is unusually high in the region (73% – compared to a nationwide 2.9% for Kinh majority).   This is an example of how disaster risk is largely man-made. Ethnic minorities are often forgotten people in Vietnam. Attempts by the government to design policy measures to improve living standards often fail to recognise the diverse socio-economic development experience of ethnic minorities. Many ethnic minority communities have indeed benefited from development, but compared to the Kinh majority they have overwhelmingly been left behind.  Policy must therefore become more nuanced and targeted towards the specific socio-economic needs of each ethnic minority. Only then can the government start to address deficiencies in access to education, infrastructure, transportation, health care and other services. Inaction, or a simplistic and bureaucratic approach, has consequences. It is people that create disasters.   Every time a disaster occur, few people look into the role of poverty, marginalisation, environmental degradation or land use decisions in their analysis. This needs to change.   The injustices that people face define their day to day living conditions. This is how they end up living with a high level of risk. If we really want to understand the root causes of disaster, our starting point needs to be this – political, social and economic disadvantage.   These conditions are imposed on the vulnerable. It’s as simple as that. And this is where calling disasters “Natural” can be so dishonest and misleading.   Myths about disaster are commonplace  The “natural disaster” issue is not the only problem that we are facing in terms of how the public understands disasters. Society is shaped by certain prevailing narratives that are so often misleading.   Myths are widely accepted as truth. Here is a prime example. Around the world it is widely held that people behave negatively in crisis; selfishly, without compassion, irrationally and in panic. However, this simply does not fit with the available evidence. Disaster sociologists have been telling us for decades that we always see the best of human behaviour in such times. The reality is that communities come together in a disaster.   In the midst of trauma, we see the best of human “nature”. People demonstrate solidarity. They give generously. They serve each other. They sacrifice not only for their family and friends, but for complete strangers. After a disaster there is a decline in crime. Victims do not loot, rape and murder. They come together.   Neighbours become first responders – something almost never picked up by the media as their stories follow international rescue teams. Communities organise and mobilise and utilise their incredible capacity to protect and assist and serve.   Sometimes when the authorities and so-called “experts” finally arrive, they actually disrupt a recovery process that is already well advanced. They often fail to recognise the importance of local capacity.   Importance of language  The words that we use are important. If a disaster is “natural” then nobody is accountable. We don’t have to think about uncomfortable root causes. Explaining disasters away as “natural” can actually prevent action to address the real root social, political and economic root causes.   In Vietnam, who benefits from this language? Which powerful interests would be unhappy if we were to speak more about the root causes of disaster rather than “nature”? Vietnam’s rapid development is not benefiting everyone equally. Inequality is growing, causing fractures in society, while the ecological impacts of rapid growth are profound. Disasters are often preceded by poor development decision-making.   One way to keep decision-makers accountable is to question the dominant narrative and language. Every time that we talk about any disaster we should be talking about vulnerability and injustice and rights. This rarely happens when we use the language of “natural disasters”.  Of course, there is always opposition to any suggestion to change the status quo. But in my experience, the opposition to abandoning the falsehood of “natural disaster” comes from those in positions of power and privilege. Some (for example academics and journalists) derive benefit from maintaining the language, because it is central to their vocabulary and they claim that it is all that the public understand. Others (for example politicians), because they might be challenged by any discussion of disaster root causes.   Although the public also commonly use this language, they are not invested in it. Most people are actually quite interested to discuss why disasters are not natural and they understand quickly.   Role of science communication and the media  So why are we so misinformed about disasters? The language is important, but it is only one factor. The media are also out for sensational stories and headlines. Disasters rarely make the news unless there is a large death toll. Rich countries are prioritised over poor ones. Consider the relative coverage of the impact of the Atlantic hurricane season on the United States to the 2017 monsoon impacts across South-Asia. Most of the media focused on the U.S.   Hollywood depicts a rescuer/victim dynamic in disaster narratives and focuses on the need to maintain law and order. Think of any disaster movie that you have watched. The people affected are panicking, selfish, irrational, helpless. This couldn’t be further from reality – but it serves a purpose to sell such a story.   Those in power have a lot to gain from perpetuating these myths. If the wider public believes that communities affected by disaster are behaving antisocially, they will not complain when force is used to “keep the law”. In the U.S. in particular, there is a history of authority-led violence after disasters. There is panic after disasters – but it comes from those afraid to lose power and control, rather than from affected communities.   Ultimately, what disaster science tells us just doesn’t square with the way that disasters are portrayed in the media or by Hollywood. Policy-makers know this and are not concerned. Therefore the rest of us must demand better.   So the next time you hear someone say “natural disaster”, inquire as to what the real cause of the disaster might be. If you see it in writing, challenge the author. We can all be a part of something positive here and shift the public discourse.   Most important of all, we need to be having the right conversation; one that is about root causes and shakes the halls of power.        Author                Jason von Meding        
0.38095238095238093
__label__tiasang   Lê Hoàng Lan      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thách thức về khả năng tái lập nghiên cứu      Công khai và minh bạch dữ liệu sẽ là chìa khóa để gia tăng khả năng tái lập nghiên cứu khoa học.      Khủng hoảng về khả năng tái lập  Công bố mới đây của nhà tâm lý học xã hội Brian Nosek (ĐH Virginia, Charlottesille) trên tạp chí Nature Human Behaviour (27/8) vừa tạo ra một cơn chấn động trong giới khoa học khi hé lộ: chỉ 62% trong 21 nghiên cứu về khoa học xã hội được công bố trên 2 tạp chí uy tín Nature và Science trong giai đoạn 2010-2015 có thể được tái lập (reproducibility – khả năng thực hiện lại nghiên cứu đã công bố). Để tái lập nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành lại thí nghiệm với cùng một giao thức như trong nghiên cứu gốc để xác minh phát hiện chính của công bố đó. Và dù đã tăng kích cỡ mẫu nghiên cứu lên gấp 5 lần so với cỡ mẫu nguyên bản – để tăng độ tin cậy của hiệu ứng, nhưng độ mạnh của hiệu ứng lại chỉ bằng 50% so với nghiên cứu gốc.  Đây không phải lần đầu tiên Brian Nosek nỗ lực kiểm tra tính khả lặp (khả năng tái lập) của các công bố – năm  2015, nhóm các nhà khoa học thuộc nhóm Cộng tác Khoa học Mở (Open Science Collaboration), do Nosek điều phối, đã thử tái lập 100 thí nghiệm công bố trên 3 tạp chí tâm lý học hàng đầu – Psychological Science, Journal of Personality and Social Psychology và Journal of Experimental Psychology: Learning, Memory and Cognition. Kết quả cho thấy, trong khi 97% kết quả nghiên cứu ban đầu có ý nghĩa về mặt thống kê thì tỷ lệ này ở các thí nghiệm tái lập chỉ là 36%. Gần nhất, năm 2016, công bố của Colin F. Camerer trên Science (Vol 351) chỉ ra 2/3 trong số 18 nghiên cứu kinh tế được công bố trên 2 tạp chí – American Economic Review và Quarterly Journal of Economics từ năm 2011 đến 2014, có thể được tái lập.  Khả năng tái lập được cho là yếu tố cần thiết để xây dựng độ tin cậy của nghiên cứu, thì dường như đang có “một cơn khủng hoảng” về tính khả lặp của các nghiên cứu khoa học” – theo ý kiến của 90% trong số 1.576 nhà khoa học được Nature khảo sát vào năm 2016. 70% trong số này đã thất bại khi thử lặp lại thí nghiệm của một nhà khoa học khác, và có đến 50% thậm chí không thể tái dựng lại thí nghiệm của chính họ. Điều này đặt ra câu hỏi về tính chính xác của các nghiên cứu gốc, đặc biệt khi chúng đều được công bố trên các tạp chí khoa học hàng đầu – tương đương một dấu chứng nhận về độ chính xác, và được các nhà khoa học khác trích dẫn mà không chút hoài nghi.  Chi phí để tái lập  Khảo sát của Nature cũng tìm cách lý giải vì sao tính khả lặp của các nghiên cứu khoa học lại thấp ở mức độ đáng báo động như vậy. Một câu trả lời phổ biến là vì việc tự kiểm tra tính khả lặp tốn quá nhiều thời gian và tiền bạc. Irakli Loladze , một nhà sinh toán học (mathematical biologist) tại Đại học Khoa học  tế Bryan ở Lincoln, Nebraska, ước tính rằng những nỗ lực để đảm bảo tính khả lặp có thể làm tăng thời gian của dự án lên 30%, ngay cả đối với các nghiên cứu lý thuyết của ông. Bởi Irakli phải kiểm tra tất cả các bước, từ dữ liệu thô đến các con số cuối cùng. Trong nhiều trường hợp, thời gian phải tiêu tốn thêm là gần như gấp đôi và các phòng tiết kiệm có xu hướng tiết kiệm ngân sách bằng cách lờ đi bước này. Chỉ những dự án thực sự đột phá hoặc có kết quả không như kỳ vọng, các nhà khoa học mới thực hiện tái lập thí nghiệm để đảm bảo độ tin cậy của kết quả.  Cũng trong khảo sát của Nature, hơn 60% các nhà khoa học được phỏng vấn cho rằng áp lực để có công bố và việc chỉ lựa chọn một số bằng chứng thay vì tất cả có ảnh hưởng mạnh đến khả năng tái lập thấp hiện nay. Cùng với đó, là ảnh hưởng từ việc tái lập thất bại ngay trong thí nghiệm, giám sát kém hoặc sức mạnh thống kê thấp. Một số ít cho rằng việc thay đổi thuốc thử và sử dụng các kỹ thuật chuyên biệt khó lặp lại cũng có thể gây nên tình trạng này. Áp lực từ việc chạy đua với thời gian cho các khoản tài trợ và công bố, và gánh nặng từ bộ máy quan liêu đã khiến các nhà khoa học không có đủ thời gian dành cho nghiên cứu, vì thế mà việc kiểm tra tính khả lặp dễ dàng bị bỏ qua.  Định kiến “bới lông tìm vết”  Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất của tình trạng này là vì cộng đồng khoa học dường như chưa có một thái độ thiện cảm đối với các nghiên cứu tái lập [nghiên cứu lặp lại thử nghiệm của nghiên cứu gốc] vì cho rằng chúng được tạo ra chỉ nhằm bác bỏ nghiên cứu gốc, thậm chí là hạ thấp uy tín của tác giả nghiên cứu gốc. Một số nhà khoa học được phỏng vấn nói rằng họ đã thất bại khi muốn xuất bản một nghiên cứu tái lập vì các biên tập viên và người bình duyệt yêu cầu họ phải so sánh nghiên cứu của họ với nghiên cứu gốc. Paul Gertler của Nature đã khảo sát 11 tạp chí kinh tế hàng đầu thế giới và thấy rằng, từ năm 2011 đến nay, mới chỉ có 11 nghiên cứu tái lập [sử dụng bộ dữ liệu của nghiên cứu gốc] được công bố, và tất cả đều bác bỏ kết luận cũ. Cũng với 11 tạp chí này, Paul đã khảo sát 35 biên tập viên và đồng biên tập viên đều trả lời rằng về nguyên tắc, họ chỉ xuất bản một nghiên cứu tái lập nếu nó lật ngược lại kết quả của nghiên cứu gốc.  Một cuộc công kích cá nhân giữa những người tái lập và tác giả gốc đã diễn ra khi tổ chức Sáng kiến Quốc tế về Đánh giá Tác động (3ie) chủ động tài trợ cho việc tái lập mã phần mềm. Về cơ bản, chương trình này hoạt động như sau: 3ie lựa chọn các công bố có ảnh hưởng để tái lập và tổ chức một cuộc thi mở, trao giải thưởng trị giá 25.000 USD cho việc tái lập từng nghiên cứu. 3ie cũng cung cấp cơ hội cho các tác giả gốc xem xét và bình luận về các bản tái lập. Trong 27 nghiên cứu được lựa chọn, có 21 bản tái lập đã được hoàn thành và 7 trường hợp báo rằng họ không thể tái dựng đầy đủ kết quả của nghiên cứu gốc. Bản tái lập duy nhất được xuất bản trên tạp chí có bình duyệt là nghiên cứu tuyên bố bác bỏ kết quả của nghiên cứu gốc. Sau cuộc thi, hai phe nhà nghiên cứu gốc và bên tái lập bắt đầu có những chỉ trích nhau trước công chúng, mở đầu cho một cuộc tranh luận gay gắt được gọi là Worm Wars. Các tác giả của 5 trong số 27 nghiên cứu gốc đã viết công khai rằng các bản tái lập có chủ đích bác bỏ các kết quả của họ và đã đánh lừa công chúng.  ***  Trên thực tế, các nỗ lực tái lập nghiên cứu đã cung cấp những xác minh về độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu ban đầu, từ đó góp phần mang đến một nền khoa học chính xác hơn. Bên cạnh đó, việc các nhà khoa học khác “thực hiện lại” các thí nghiệm của mình sẽ tạo ra áp lực buộc các nhà khoa học phải chịu trách nhiệm cao hơn đối với nghiên cứu của mình – bằng việc đảm bảo rằng thử nghiệm tương tự cũng cho ra kết quả tương tự. Vì thế, việc nhân rộng các nỗ lực tái lập sẽ là bước tiến quan trọng để đưa khả năng tái lập thành yếu tố bắt buộc đối với các nghiên cứu. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện khi các bên liên quan như nhà xuất bản, nhà tài trợ hành động, thông qua việc yêu cầu các tác giả công khai dữ liệu, mô hình và thông số cần thiết để phục vụ cho tái lập nghiên cứu một cách chính xác. Hiện nay, chỉ có một số ít các tạp chí khoa học uy tín yêu cầu các tác giả cung cấp các dữ liệu kiểu này trước khi xuất bản, trong khi các tạp chí hạng hai hoặc ở các lĩnh vực như xã hội học hay tâm lý học thì trường hợp như vậy rất hiếm. Người phát ngôn của Nature và Science thông báo cả 2 tạp chí đang cố gắng khuyến khích các tác giả giải thích đầy đủ hơn về các phương pháp của họ, để hỗ trợ cho việc đánh giá và tái lập. Những người tiên phong thúc đẩy nghiên cứu khả lặp đều đồng ý rằng cần hành động ngay lúc này trước khi vấn nạn về khả năng tái lập  trở nên nghiêm trọng hơn và bước đầu tiên là tạo ra sự công khai và minh bạch trong khoa học.  Minh Thuận tổng hợp   Nguồn:  https://www.nature.com/articles/d41586-018-06075-z  https://www.nature.com/news/1-500-scientists-lift-the-lid-on-reproducibility-1.19970  https://www.nature.com/articles/d41586-018-02108-9       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thăm các công ty công nghệ cao tại thung lũng Silicon      Giống như mọi năm, nhân dịp đầu năm 2006, các trường đào tạo Thạc sĩ Quản trị kinh doanh hàng đầu đều tổ chức các chuyến thực địa đến thăm các công ty lớn của Mỹ để sinh viên có điều kiện học hỏi, trao đổi, giao lưu, và tìm kiếm cơ hội thực tập và việc làm. Dưới đây là một vài cảm nhận sau chuyến đi đầu năm của chúng tôi    Bốn công ty được lựa chọn trong lịch trình là Ofoto (công ty thuộc hãng máy ảnh và phim ảnh Kodak), Cisco Systems (hãng hàng đầu thế giới về mạng máy tính), Guidant (chuyên về các thiết bị và sản phẩm y khoa), và Hewlett Packard (máy tính, máy in…)  Có thể thấy tình hình kinh doanh và tài chính của các công ty này phản ánh rất rõ xu thế phát triển của các lĩnh vực công nghệ cao tại nước Mỹ nói riêng và có thể coi là trên thế giới nói chung.  Công ty đầu tiên là Ofoto thuộc Kokak. Vốn từ một hãng hàng đầu trên thế giới về máy ảnh và phim ảnh, do không kịp chuyển từ kỹ thuật analog sang kỹ thuật số, thị trường của Kodak sụt giảm mạnh khi các hãng như Canon, Olympus… tung ra thị trường những loại máy ảnh và máy quay phim ngày càng hiện đại gọn nhẹ. Kodak đang phải tìm hướng đi mới bằng cách tập trung vào dịch vụ.  Ofoto là công ty con phụ trách mảng dịch vụ mạng, cung cấp các giải pháp để các cá nhân và tổ chức tải ảnh lên mạng và chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp và gia đình của Kodak (KodakEasyShare Gallery) Hiện nay với sự phát triển phổ biến của máy ảnh và máy quay kỹ thuật số, số lượng ảnh chụp và phim quay của mỗi người ngày càng tăng, nhu cầu lưu trữ và chia sẻ với người khác cũng tăng lên. Nắm bắt hiện tượng này, Ofoto tiếp cận khách hàng bằng cách trước tiên cho dùng miễn phí dịch vụ tải ảnh cơ bản nhất, sau đó thuyết phục khách hàng chuyển sang đăng ký sử dụng dịch vụ ở cấp độ cao hơn với nhiều dịnh vụ tiện lợi khác như khả năng kết nối và in ảnh tại các điểm in ảnh của Kodak, hoặc dung lượng lưu trữ cao hơn… Theo ý kiến của ban quản lý, công ty hiện rất cần những ý tưởng sáng tạo mới có thể giúp duy trì vị trí của công ty trên thị trường cạnh tranh ngày càng trở nên khắc nghiệt, đặc biệt trong mảng dịch vụ rất dễ bắt chước này.  Công ty thứ hai chúng tôi có dịp tới thăm là Cisco Systems. Là một công trẻ hơn rất nhiều so với Kodak, (Cisco thành lập  năm 1984, tới nay được 22 năm, còn Kodak thành lập từ 1888, tới nay đã được 118 năm), Cisco nhanh chóng trở thành công ty lớn nhất thế giới về công nghệ mạng. Hãng tự hào giới thiệu “nói đến Internet là nói đến Cisco. Đi đầu trong kết nối mạng cả về phần cứng lẫn phần mềm, Cisco đã trở thành một trong những công ty giàu có nhất của Mỹ với trụ sở ở 152 nước trên thế giới. Trụ sở chính của hãng nằm tại đường Cisco (Cisco Way), thành phố San Jose, gồm hơn hai chục tòa nhà sáu bảy tầng, mỗi tòa nhà có diện tích rộng còn hơn Nhà hát Lớn ở Hà Nội, mỗi tòa nhà đều được trang bị các hệ thống camera an ninh dày đặc.           Anh 2: Hàng ngàn công ty công nghệ cao hiện đang hoạt động tại thung lũng Silicon        Nhờ lãi cao và cũng một phần lớn để quảng cáo cho công nghệ và sản phẩm mạng, hãng đã xây dựng một môi trường làm việc tiên tiến nhất thế giới được gọi là Cisco Connected Workplace (Môi trường làm việc kết nối toàn diện của Cisco). Trong môi trường này, các máy tính, điện thoại, máy in… đều kết nối mạng không dây với nhau. Nhân viên có thể tùy ý chọn chỗ ngồi của mình và tùy ý đăng ký các phòng họp có thiết bị hội thảo camera để tiến hành các cuộc họp với đồng nghiệp ở nửa bên kia của quả đất. Tính linh hoạt của môi trường làm việc cho phép nhân viên thấy thoải mái hơn, bàn ghế và các vách ngăn cũng được thiết kế hết sức linh hoạt có thể nâng cao, hạ thấp, di chuyển dễ dàng. Thậm chí nêu ai đó hơi mệt có thể di chuyển các vách ngăn để tạo thành một buồng ngủ riêng mà không sợ gì cấp trên hay đồng nghiệp nhòm ngó. Theo lời ông Llewellyn G. Thorne, phụ trách các dự án toàn cầu (Global Project Manager, Cisco on Cisco), môi trường làm việc như vậy không chỉ giúp các nhân viên tiết kiệm được thời gian, tăng hiệu suất lao động, mà còn tạo cơ hội gặp mặt các đồng nghiệp khác ngoài nhóm, hoặc các khách hàng nội bộ của mình, tăng cường hiểu biết về công việc và tính liên kết của các hoạt động trong nội bộ công ty.  Công ty tiếp theo là Guidant, nổi tiếng với các sản phẩm phục vụ y khoa và dược phẩm. Tuy đang trong quá trình chuyển giao chuẩn bị quyết định sát nhập với một trong hai tập đoàn lớn nhất nước Mỹ (Johnson & Johnson hoặc Boston Scientific), Guidant vẫn tổ chức các hoạt động để tuyển chọn các sinh viên MBA vào thực tập và làm việc hết sức quy củ. Các giám đốc phụ trách Marketing, Tài chính, Nhân lực và Chiến lược của công ty đều đến tham dự, trình bày về tình hình công ty và những thành tựu cũng như những thách thức trước mắt, đồng thời trả lời chi tiết các câu hỏi của sinh viên.  Sau đó là phần trình bày sản phẩm do chính các nhân viên phụ trách Marketing và bán hàng trước  kia đã từng là sinh viên MBA thực hiện. Các sản phẩm đều được trình bày hết sức thực tế và sinh động như trình bày cho các khách hàng. Sở dĩ các hãng Johnson & Johnson hay Boston Scientific muốn mua bằng được Guidant là vì Guidant có các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, ví dụ như sản phẩm phục vụ các thao tác mổ tim, mổ não, với những thiết bị tinh vi và nhỏ xíu có thể làm giảm thời gian mổ, thời gian hồi phục tới ba phần tư so với các thiết bị tương tự của các hãng khác.  Phương thức tiếp thị của hãng cũng rất linh hoạt và đặc thù cho ngành y tế của Mỹ, với hệ thống bảo hiểm y tế đa phần do nhà nước và các tập đoàn lớn thanh toán, người lao động là người hưởng lợi, còn người dùng thực tế là các bác sỹ, phẫu thuật gia, y tá, kỹ thuật viên. Tùy từng loại sản phẩm, các phưong pháp tiếp cận thị trường sẽ khác nhau; ví dụ sản phẩm sử dụng để mổ lấy mạch máu trên chân hoặc tay của bệnh nhân dùng thay cho mạch máu gần tim, bệnh nhân có thể trực tiếp thấy được sự khác biệt của các sản phẩm, Guidant sẽ phải tiếp thị khác với sản phẩm dùng để phá khối mỡ và tế bào mang bệnh trong tim, vì khi đó bệnh nhân không thấy rõ được công dụng sản phẩm.  Công ty cuối cùng là Hewlett Packard (HP). Tự hào là một trong những hãng có công nghệ tiên tiến nhất thế giới về máy in, máy photo copy, máy tính… (khẩu hiệu đi liền với tên gọi HP là Invent, có nghĩa là phát minh), hiện nay HP cũng đang gặp phải thách thức lớn là liên tục giữ đà đổi mới và phát triển đó để theo kịp với thị trường và các đối thủ cạnh tranh. Cũng như các hãng công nghệ cao khác, HP dành nhiều tiền đầu tư vào nghiên cứu phát triển công nghệ và thành lập một số phòng nghiên cứu thí nghiệm (HP lab) chính trên thế giới tại những trung tâm công nghệ cao lớn nhất của thế giới: Palo Alto- Mỹ, Tokyo – Nhật, Bristol – Anh, Bangalore – Ấn Độ, Haifa-Israel.  Tại HP lab ở Palo Alto-Mỹ, người phụ trách các chuyến thăm quan lab giới thiệu về công nghệ streaming (truyền) hình ảnh trên Internet, công nghệ nano, công nghệ sử dụng nhiều máy ảnh cao cấp để khôi phục các đường nét của một cổ vật hoặc các vết hằn trên các trang nhật ký, mới được thử nghiệm tại các bảo tàng tại một số nước trên thế giới và phòng nghiên cứu tội phạm của Cục Điều tra Liên bang Mỹ, công nghệ điều hòa nhiệt trên các con chip vi tính và sử dụng máy điều khiển và cảm ứng nhiệt tự động cho các phòng máy tính chủ và mạng có công suất lớn… Một thách thức đối với các nhà khoa học tại phòng lab là làm thế nào để cho ra đời những công nghệ có tính ứng dụng cao, có thể thương mại hóa đem lại lợi nhuận cho công ty. Khi được hỏi về điều này, bà Rachel Vaughan, người phụ trách các chương trình thăm quan của HP lab cho biết, để bảo mật bà không thể cung cấp con số chính xác về tỷ lệ thành công cũng như phương pháp đo lường hiệu quả đầu tư lại các phòng thí nghiệm này, và mỗi một sản phẩm đều khác nhau. Chẳng hạn hiện nay họ hoàn toàn có thể cho ra đời loại sách điện tử mỏng cỡ một cuốn tạp chí dày nửa centimét, với dung lượng cỡ khoảng 250 quyển sách bình thường, nhưng cũng chưa rõ vì lý do gì mà vẫn chưa đưa ra thị trường.  Có thể thấy dù khác nhau về sản phẩm và xu thế phát triển của thị trường, mỗi một công ty nói trên đều hết sức chú trọng vào việc tuyển và sử dụng những người giỏi nhất họ có thể tìm được, dù là các kỹ thuật viên trong các công nghệ mũi nhọn trọng yếu hay các nhà quản lý được đào tạo từ các trường quản lý hàng đầu, hay chính các nhân viên phụ trách quan hệ đối ngoại với các trường cung cấp nguồn nhân lực cho các công ty. Việc tạo điều kiện cho các sinh viên chưa ra trường học hỏi và tìm hiểu về các chuyên ngành, các bộ phận trong công ty cũng như môi trường làm việc, tình hình thị trường, đối tượng khách hàng của công ty… là công tác được đặt lên tầm quan trọng ngang hàng với việc phục vụ tốt khác hàng. Nước Mỹ hàng năm thu hút hàng sinh viên theo học các bậc học thạc sỹ và tiến sỹ từ khắp nơi trên thế giới, từ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, cho tới Iran, Irắc, Êtiopia, Nicaragoa… và cho phép những ai có sức cạnh tranh trong các ngành công nghệ mũi nhọn có thể tìm và làm việc cho các công ty Mỹ. Nhờ thế, các hãng công nghệ cao của Mỹ vẫn luôn đứng đầu trên thế giới và liên tục phát triển tạo ra những sản phẩm mới làm thay đổi thế giới.  Thanh Phương      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thăm khám bệnh cho startup      Điều để startup thuyết phục nhà đầu tư là các con số, hiểu biết của nhà sáng lập về thị trường, định vị sản phẩm và kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu cùng một bản kế hoạch tài chính có tầm nhìn dài hạn cho thấy, số tiền đầu tư có thể mang lại lợi nhuận xứng đáng.    Gọi vốn là câu chuyện muôn thuở của startup. Mỗi startup với mô hình kinh doanh, đội ngũ nhà sáng lập và kinh nghiệm, lĩnh vực hoạt động khác nhau sẽ có những cách gọi vốn khác nhau và không có công thức chung.      Xuất hiện tại Sự kiện Thăm khám bắt bệnh cho startup được Viettel tổ chức trong khuôn khổ sự kiện cuộc thi Viet Solutions 2022, nhà sáng lập của startup anyLEARN, là nền tảng giúp phụ huynh, học sinh và người dùng tìm kiếm trường học, chuyên gia, để học chính quy và ngoại khóa với nhiều hình thức học offline và cả online một cách tối ưu cùng nhiều lợi ích nhất. Hoài Trinh đề nghị các nhà tư vấn cho lời khuyên: “Cần phải làm gì để gọi vốn?”.    Hiện nay, anyLEARN đang mắc kẹt ở chỗ chưa đẩy mạnh được marketing, phát triển người dùng để chuyển đổi thành doanh thu. Do vậy, “Chúng tôi cần 400.000 USD để làm điều đó, với kế hoạch sau một năm nhà đầu tư có thể thu hồi vốn” – chị Hoài Trinh chia sẻ.    Bước ra từ SharkTank, bị từ chối đầu tư và đối mặt với cả khủng hoảng truyền thông, chị Hoài Trinh vẫn đang loay hoay không tìm được lời giải trong việc tiếp cận được quỹ VIISA – một venture capital ở giai đoạn rất sớm, nhà sáng lập này vẫn chần chừ, vì không biết phải bắt đầu từ đâu.        Câu hỏi này của chị Hoài Trinh là vấn đề nhiều startup gặp phải, nhất là những người lần đầu khởi nghiệp, chưa có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư. Anh Võ Trần Đình Hiếu – Giám đốc tài chính của Vietnam Innovative Startups Accelerator (VIISA) cho biết: “Yêu cầu này quỹ nào cũng như quỹ nào, tức là quan tâm tới việc startup cần gọi vốn để làm gì, những kế hoạch cụ thể trong tương lai. Nếu dùng hết tiền mà không đạt được hiệu quả, startup sẽ làm gì và cần thời gian bao lâu để đạt được, kế hoạch tăng trưởng, phát triển thị trường”.    Đại diện của VIISA cũng tiết lộ nguyên tắc cá nhân “50-50”, tức là yêu cầu về sự cân bằng của nhà sáng lập. Theo đó, nhà sáng lập cần sử dụng 50% tâm huyết để công ty có đủ lợi nhuận trả lương cho nhân viên. Phần còn lại, startup cần dồn hết lực để thử sức mình, trải nghiệm những điều mới giúp công ty khác biệt và đạt được thành tựu.    “Nếu bây giờ mình hỏi, bạn muốn làm cái gì, thì hãy mang sự tham vọng ra để trả lời. Đừng e dè, lo sợ, bởi chúng tôi sẽ bị hấp dẫn bởi mong muốn được thử sức, dấn thân. Khi nhà đầu tư sẽ xem xét sâu hơn về số liệu, dòng tiền, lúc này, sự cẩn trọng cần được mang ra. Chúng tôi quan tâm tới sự cẩn thận, chi tiết của kế hoạch kinh doanh tới mức nào. Mỗi ngày sự cân bằng luôn dao động, bởi startup bữa hết sức cẩn trọng, bữa lại chọn sống theo đam mê” – ông Hiếu nói.            Trong khi đó, chị Lê Huỳnh Kim Ngân – đại diện ThinkZone lại “bắt bệnh” của anyLEARN nằm ở chỗ “chưa có được kế hoạch tài chính đủ hấp dẫn với nhà đầu tư”. Một căn bệnh chung của hầu hết các startup.    Khi đầu tư, điều các VC mong muốn không phải việc được hoàn tiền sau một năm mà là sự tăng trưởng giá trị của công ty sau vài năm. Khi đó, khoản đầu tư sẽ được tăng nhiều lần giá trị. Tư duy thông thường của startup như anyLEARN là đi gọi số tiền còn thiếu chứ không dựa vào một chiến lược kinh doanh dài hạn.    “Chúng tôi mong muốn nhìn thấy một kế hoạch dài hạn hơn với tính toán cụ thể hơn. Nếu không có 400.000 USD thì đội ngũ founder có những phương án nào để đạt được mục tiêu 50.000 người dùng sau một năm. Hầu hết nhà sáng lập đang rất ít kinh nghiệm về kế hoạch tài chính (financial planning)” – ”- chị Lê Huỳnh Kim Ngân nói.    Ở góc của người tư vấn chiến lược, chị Nguyễn Thị Hiệp, quản lý cấp cao Công ty Tư vấn Deloitte cho rằng anyLEARN chưa đủ khác biệt để hấp dẫn nhà đầu tư phải rót vốn. Thêm vào đó, nhà sáng lập cũng “dường như chưa nhận thấy rõ vấn đề của startup đang nằm ở đâu”.    “Cái khó của anyLEARN là thúc đẩy tăng trưởng chuyển đổi thành doanh thu. Vậy vấn đề đến từ đội sale hay mạng lưới kết nối chưa tốt, sản phẩm chưa đủ tốt để người dùng phải chi tiền”. Đây là điều chị cần xác định rõ. Bởi thiếu tiền và thiếu năng lực là hai câu chuyện khác nhau” – chị Hiệp nói.    Ba bài học cho startup    Là quỹ đầu tư nội địa đang sở hữu nguồn vốn 60 triệu USD, quy mô đầu tư 3 triệu USD mỗi thương vụ, ThinkZone đã gặp gỡ rất nhiều startup và nhận thấy, điểm chung “nhà sáng lập thường đi bán tầm nhìn, tham vọng lớn lao với những câu chuyện vĩ mô về thị trường”.  Theo chị Kim Ngân, “ThinkZone và Ngân đều nghiên cứu rất kỹ các lĩnh vực. Chúng tôi sẽ quan tâm đến khả năng thực thi những tham vọng của founder bằng cách đặt ra những câu hỏi rất chi tiết. Đó là bí quyết, dù nhiều khi, câu hỏi nghe có vẻ vô thưởng vô phạt. Chỉ những người thực sự nhúng tay vào làm thật thì mới có thể trả lời. Đây là cách ThinkZone bí mật đánh giá tiềm năng của một founder”.    Tầm nhìn cởi mở, sẵn sàng đổi mới cũng là vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm khi trò chuyện với các founder. Lê Huỳnh Kim Ngân tiết lộ, trong các câu chuyện ngoài lề giữa các quỹ đầu tư, thường có cuộc so sánh ngầm giữa nhà sáng lập Việt Nam và quốc gia. Điểm chung được kết luận là nhà sáng lập Việt Nam làm việc chăm chỉ, siêng năng nhưng tính bảo thủ cao. Trong khi đó, các founder nước ngoài có tư duy mở, sẵn sàng chấp nhận cái mới.    “Yếu tố này rất quan trọng. Nếu cứ trung thành với quan điểm của mình thì việc nhìn nhận đánh giá vấn đề sẽ bị bó hẹp, khó tạo đột phá” – chị Lê Huỳnh Kim Ngân nói.    Cũng so sánh về nhà sáng lập Việt và nước ngoài, anh Võ Trần Đình lại đánh giá cao founder người Việt ở ở khả năng thực chiến, sự bền bỉ và cách chắt chiu cơ hội. Từng đầu tư vào nhiều startup nước ngoài, nhà đầu tư này nhận ra, dù mô hình kinh doanh, ý tưởng sản phẩm rất hay, nhưng sự thiện chiến, kiên trì lại không được như kỳ vọng. Trong khi đó founder người Việt sẵn sàng ‘bấu víu’ từng cơ hội có được.    “Khi được giới thiệu một khách hàng, founder người Việt cho thấy, họ rất quý trọng và sẵn sàng làm mọi cách để biến cơ hội thành sự thật” – anh Hiếu nói và nhấn mạnh, founder Việt cần phải giữ lấy tố chất quan trọng này.    Các nhà đầu tư cũng cho biết, họ muốn rót tiền vào những nhà sáng lập cho thấy, sẵn sàng chiến đấu hết mình với sản phẩm chứ không phải người luôn để lại một đường lùi. “Một founder sẵn sàng bất chấp tất cả để đặt cược vào ván bài liên quan đến công ty sẽ có sức hấp dẫn rất lớn. Nếu ngay cả nhà sáng lập cũng không dám đặt cược thì chẳng nhà đầu tư nào dám mạo hiểm cùng họ”, chị Lê Huỳnh Kim Ngân cho biết.    Theo chị, ba yếu tố trên được xem là những điều quan trọng để xem xét để đưa ra quyết định có đầu tư hay không? Thực tế, quỹ đầu tư cũng phải gọi vốn từ các ‘cá mập” khác và cũng phải chịu những chi tiêu lợi nhuận. Vì thế, họ thường khắt khe, tỉnh táo trước mỗi thương vụ để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cao nhất.    Nhiều năm kinh nghiệm trong đầu tư và khởi nghiệp, chị Lê Huỳnh Kim Ngân cũng chia sẻ một góc nhìn cá nhân rằng, chị đánh giá cao một nhà sáng lập đam mê lĩnh vực họ khởi nghiệp hơn các chuyên gia trong lĩnh vực đó.Trong đó, chuyên gia được hiểu là những người có hàng chục năm làm việc tại các tập đoàn lớn. Người đam mê chỉ làm ở công ty nhỏ trong vài năm, còn thiếu nhiều kinh nghiệm. Sự khác biệt ở chỗ, người đam mê sẽ tìm hiểu ngóc ngách của từng vấn đề để tìm ra sản phẩm mang tính đột phá, còn chuyên gia, chỉ là người làm việc lâu năm hiểu về quy trình vận hành, các vấn đề của ngành.    Một ví dụ điển hình như trường hợp của Tony Fernandes – ông chủ của Air Asian. Xuất thân từ nhà sản xuất âm nhạc nhưng đam mê lĩnh vực hàng không, Tony đã tìm hiểu từng vấn đề của ngành để đưa ra mô hình hoạt động khác biệt trong việc điều hành hãng bay giá rẻ lớn nhất châu Á. Khi khởi đầu, Tony nhận ra, chỉ cần giảm giá vé máy bay xuống một nửa, chắc hẳn sẽ thu về một khoản lớn từ thị trường chưa ai khai thác. Bí quyết kinh doanh của nhà sáng lập gói gọn trong cụm từ “tiết kiệm tối đa chi phí”. Hình thức đặt vé qua mạng, bán thức ăn và đồ uống trên máy bay, tập trung cho các chuyến bay tầm ngắn… đã giúp Air Asia có chi phí quản lý thấp nhất thế giới.    “Chỉ những người đam mê mới tạo ra sự khác biệt. Để giải nghĩa về sự thực chiến của một nhà sáng lập thì câu chuyện của Air Asian chính là ví dụ điển hình. Đó là hình mẫu về những founder mà nhà đầu tư luôn tìm kiếm.”- chị Lê Huỳnh Kim Ngân giãi bày.      Nguyễn Hậu          Author                .        
__label__tiasang Tháng 3-2008, nhiệt độ toàn cầu tăng kỷ lục      Các nhà khoa học Mỹ thông báo như vậy khi nhiệt độ mặt đất toàn cầu tăng 1,83 độ C so với thế kỷ 20. Đây là tháng 3 ấm thứ hai trong lịch sử kể từ khi nhiệt độ trung bình toàn cầu được ghi nhận từ năm 1880.      Trong khi đó, nhiệt độ bề mặt đại dương toàn cầu tháng 3-2008 cũng ấm nhất trong bối cảnh ảnh hưởng làm lạnh của hiện tượng La Nina ở Thái Bình Dương nhiệt đới vẫn đang tiếp tục. Theo các nhà khoa học thuộc Cơ quan Khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ, kết hợp nhiệt độ mặt đất và nhiệt độ đại dương, nhìn chung nhiệt độ toàn cầu trong tháng 3-2008 khá cao. Họ cũng cho biết tháng 3 vừa qua, nhiệt độ tại hầu hết các khu vực ở châu Á đã tăng 4 độ C so với nhiệt độ trung bình. Việc gia tăng bất thường này đã khiến băng tuyết tan chảy nhanh hơn, dẫn đến lượng tuyết phủ ở lục địa Âu – Á xuống thấp nhất từ trước tới nay.   Minh Anh (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thăng trầm của một kẻ gian lận trong khoa học      M&#249;a xu&#226;n năm 2002, Jan Hendrik Sch&#246;n 31 tuổi, l&#224; nh&#224; vật l&#253; nổi tiếng ở Ph&#242;ng th&#237; nghiệm Bell, bang New Jersey, Mỹ. Chỉ t&#237;nh ri&#234;ng tr&#234;n tr&#234;n tạp ch&#237; Nature v&#224; Science, Jan Hendrik Sch&#246;n đ&#227; c&#243; tới 8 b&#224;i b&#225;o. Uy t&#237;n của anh phất l&#234;n với tốc độ ch&#243;ng mặt, trở th&#224;nh một v&#236; sao mới của c&#225;c lĩnh vực vật l&#253;, khoa học vật liệu, v&#224; c&#244;ng nghệ nano. Nhưng v&#224;o th&#225;ng 9 năm 2002, c&#225;c nh&#224; quản l&#253; của Ph&#242;ng th&#237; nghiệm Bell c&#244;ng bố một bản b&#225;o c&#225;o được thực thi bởi một hội đồng c&#225;c nh&#224; khoa học từ b&#234;n ngo&#224;i (chủ tọa l&#224; nh&#224; vật l&#253; Malcolm Beasley từ Đại học Stanford), chứng minh r&#245; r&#224;ng rằng đa số c&#225;c dữ liệu của Sch&#246;n l&#224; giả tạo. Những kh&#225;m ph&#225; của anh ta l&#224; dối tr&#225;.     Sự gian lận này ở quy mô lớn chưa từng có và rất nhiều nhà khoa học đã bị lừa dối hoặc làm cho ngộ nhận. Schön đã khiến những nhà khoa học ở ít nhất hàng tá các phòng thí nghiệm khác lãng phí thời gian và tiền của để đuổi theo bong bóng. Đồng thời, nhiều triệu USD từ Chính phủ đã bị tiêu phí để tiến hành các nghiên cứu kế thừa từ những kết quả gian lận.  Trong những cuộc phỏng vấn tại thời điểm đó, các nhà khoa học yêu cầu làm rõ tại sao sự việc có thể được đẩy đi quá xa một cách trót lọt như thế. Làm cách nào mà một cá nhân – những cuộc điều tra cho thấy không một ai khác có biểu hiện gian lận – có thể thành công trong việc thuyết phục các nhà quản lý ở một viện nghiên cứu hàng đầu của Mỹ hỗ trợ và thúc đẩy cho những nghiên cứu giả tạo ở quy mô lớn như vậy? Tại sao những tạp chí vốn được tin tưởng trong việc cung cấp thông tin khoa học lại công bố những bài báo gian lận? Và tại sao tính chính xác, công minh, vốn được tôn vinh ở khoa học, đã không giúp đem những gian lận này ra ánh sáng sớm hơn? Trong ngày bản báo cáo được công bố, Schön bị sa thải và rời bỏ nước Mỹ đến một nơi không rõ. Lời giải đáp cho những câu hỏi này dường như cùng với anh ta tan vào không khí.   Những kỳ vọng lớn  Schön bắt đầu làm postdoc tại Phòng nghiên cứu Bell ở Murray Hill năm 1998 dưới sự quản lý và hướng dẫn postdoc của Bertram Batlogg, sau này là Trưởng Phòng Vật lý Vật liệu. Trước đó, với vai trò là nghiên cứu sinh tại Đại học Konstanz ở Đức, Schön đã từng bắt đầu làm dữ liệu giả. Nhưng trong năm đầu tiên làm postdoc, với những tham vọng lớn và trong điều kiện tương đối tự do ở Phòng thí nghiệm Bell, sự gian lận của anh ta bắt đầu leo thang đáng kể. Schön giữ những mối quan hệ với phòng thí nghiệm ở Konstanz, nơi anh tốt nghiệp PhD, và vào tháng 9 năm 1999, sau khi quay lại nơi này anh ta khẳng định đã tạo được transitơ trường ứng (field – effect transitor) từ những tinh thể bán dẫn hữu cơ pentacene – một hợp chất hydrocarbon có năm vòng benzen – cấy tạo bởi nhà hóa học Christian Kloc ở Phòng thí nghiệm Bell.  Để có những dữ liệu này một cách chính tắc, Schön sẽ phải dùng tới vài phát kiến công nghệ. Thứ nhất, anh ta phải tạo được các transitơ trường ứng bằng một thiết bị để thổi hoặc làm lắng lớp nhôm oxit trên bề mặt các tinh thể pentacene. Thứ hai, anh ta phải tạo ra một điện áp trên các điện cực gắn với lớp màng này, qua đó chuyển hóa pentacene giữa hai trạng thái: cách điện và truyền điện. Mặc dù pentacene thường là một vật liệu loại p (điện tích dương), Schön nói rằng anh ta đã chuyển được chất liệu này tùy ý thành loại p hay n (điện tích âm), bằng cách thay đổi điện áp trên cổng điện cực từ âm sang dương. Kết quả này, gọi là ambipolarity, có thể làm cho dễ dàng hơn trong việc nối các transitơ với các máy đổi điện. Thứ ba, Schön phải nối các máy đổi điện để tạo ra một mạng điện xoay chiều phức tạp. Như vậy là anh ta không chỉ nghiên cứu các tính chất của vật liệu sinh học, mà rõ ràng còn đi tiên phong trong việc tạo ra điện từ tinh thể sinh học.  Ba năm sau, 2002, Schön đã thú nhận trước các nhà điều tra tiến trình thực sự mà anh ta thực hiện. Anh ta làm khoa học theo cách lộn đuôi lên đầu. Bắt đầu từ kết luận mà anh ta muốn có, để rồi thiết kế các dữ liệu chứng minh cho nó. Tuy Schön có tạo ra vài tinh thể pentacene kết nối trong phòng thí nghiệm ở Murray Hill và Konstanz, những ghi chép cho thấy thực ra mạch suy luận đa phần dựa vào đánh giá của anh ta đối với các kỳ vọng mà các nhà khoa học ước đoán.  Sau khi giả tạo ra các transitơ trường ứng mà giới khoa học tưởng là hoạt động được, Schön bắt đầu đưa ra các khẳng định ở tầm xa hơn, và luôn dựa trên ước đoán và kỳ vọng. Khi các đồng nghiệp đề xuất rằng có thể chuyển các tinh thể vào trạng thái siêu dẫn, Schön đồng ý, và lại sản xuất ra dữ liệu.    Các biểu đồ kết quả dữ liệu của Schön không hề giống loại kết quả dữ liệu từ những thí nghiệm vụng về. Chúng biểu lộ sự chuẩn mực siêu việt, với khả năng dập tắt mọi ngờ vực. Sau này, anh ta khai với các nhà điều tra rằng tự mình đã tạo ra một phương trình để tính toán, cho ra các dữ liệu gần như hoàn toàn trơn tru, nhằm tránh sự ngờ vực mà anh ta đã lường trước.   Nhưng không phải lúc nào mọi việc cũng trơn tru như vậy. Trong một trường hợp, Schön hiểu sai một số dự đoán lý thuyết. Anh ta khớp một số dữ liệu vào lý thuyết chuyển điện trên vật liệu hữu cơ, lý thuyết được dự đoán theo nhà vật lý Theodore Holstein vào khoảng giữa thế kỷ 20, vốn xuất hiện trong cuốn sách giáo khoa mà Schön từng sử dụng. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, Schön đã từng khớp dữ liệu gần hơn với dự đoán dựa trên các phát kiến vận dụng vào một số loại vật liệu thông thường, chẳng hạn như silicon. Như vậy là qua việc dựa theo hai lý thuyết – một cái có tính giả tưởng, một cái có tính thông dụng – Schön bắt đầu tạo ra sự mâu thuẫn trong cốt lõi dữ liệu của mình, và điều này chẳng bao lâu đã bị các nhà vật lý lý thuyết lưu ý tới.   Trước sự việc rắc rối trên, Schön đã tiếp tục lừa đối bằng cách tạo ra dữ liệu để thuyết phục các nhà lý thuyết. Anh ta bắt đầu dựa dẫm nhiều hơn vào các dữ liệu đã từng được chấp nhận trước đây, trích dẫn lại nhiều bài báo có tính cách mạng của mình với những sơ đồ mô tả nhiều loại vật liệu và thí nghiệm, nhưng thực chất cái này là bản sao của cái kia.   Ngõ cụt cho các nhà khoa học  Những năm đầu thế kỷ 21, khi tin tức về những transitơ kỳ diệu của Phòng thí nghiệm Bell được lan truyền, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm cách tái hiện lại các thí nghiệm. Trong đó có nhóm nghiên cứu dẫn dắt bởi nhà kỹ nghệ hóa học Dan Frisbie và nhà vật lý Allen Goldman của Đại học Minnesota. Tới khoảng giữa hoặc cuối năm 2000, các phòng thí nghiệm của Frisbie và Goldman đã sẵn sàng cho cái mà Anand Bhattacharya gọi là nỗ lực kép nhằm trở thành nhóm đầu tiên tái hiện thành công, thậm chí vượt mặt Phòng thí nghiệm Bell.  Frisbe quyết định để nghiên cứu sinh Reid Chesterfield, tái hiện một số thí nghiệm của Schön. Bước đầu tiên là tạo ra transitơ trường ứng (FET). Dựa theo bài báo của Kloc, Chesterfield tạo ra thiết bị nuôi tinh thể hữu cơ trong phòng thí nghiệm của Frisbie và tự dạy mình cách nuôi tinh thể hữu cơ. Anh ta cũng học được cách gắn điểm đấu kim loại với các tinh thể, và tiến hành một số đo lường căn bản về khả năng truyền điện qua chúng. Anh nhận thấy mỗi tinh thể cho một kết quả đo lường khác biệt, và khả năng truyền điện qua các tinh thể chưa bao giờ quá một phần mười con số mà Schön công bố, ngoại trừ trên một số mẫu tetracene – một loại hydrocarbon chứa 4 vòng benzene nối với nhau – một số lần anh ta cảm thấy sự nhảy vọt của cường độ dòng điện, dấu hiệu cho sự truyền điện thông thoáng mà Schön từng công bố hồi cuối năm 1998.   Các phòng thí nghiệm làm việc theo một sự phân công tuần tự. Chesterfield nuôi tinh thể và gắn điểm đấu kim loại trên chúng. Các mẫu được đưa cho Bhattacharya để thổi nhôm ôxit lên chúng. Nếu tiến trình diễn ra êm đẹp, Chesterfield cho chạy dòng điện và đo lường trường ứng. Nhưng họ chẳng bao giờ đi xa hơn được thế.   Sau khoảng 6 tháng tới một năm thất bại, Bhattacharya quyết định trực tiếp viết cho Schön. Schön tỏ ra khá nhiệt tình, thân thiện, và đầy khích lệ. Anh ta kêu gọi nhóm nghiên cứu từ Minnesota không bỏ cuộc. Schön hứa hẹn rằng chỉ cần họ kiên nhẫn thì sẽ thành công trong việc tái thử nghiệm lại kết quả của anh ta. Và hứa hẹn sẽ trả lời bất cứ câu hỏi nào họ đặt ra.   Nhóm nghiên cứu đã hỏi Schön rất nhiều và đã thực thi chính xác điều này tại Minnesota. Nhưng tất cả đều không đem lại thành công. Cuối cùng, Frisbe và Chesterfield quyết định bỏ cuộc và khởi động một kế hoạch khác không liên quan gì tới công nghệ của Schön. Họ nhanh chóng gặt hái kết quả.   Cho đến khi tin tức về sự gian lận của Schön lan truyền, Chesterfield hầu như không để tâm. Phải tới khi gặp gỡ các đồng nghiệp trong một hội nghị vào 2003, Chesterfield về nhà, lấy ra một mẫu tinh thể cũ, và đo lường thêm một lần cuối. “Tôi kết luận đúng là Schön đã lừa dối”, anh nói.  Cùng thời gian đó, Bhattacharya gạt nghiên cứu của mình sang một bên sau năm năm làm postdoc. Anh nói rằng đã học được rất nhiều về cách làm khoa học, về việc đi theo con đường của mình thay vì chạy theo cuộc rượt đuổi truy tìm báu vật. Sau khi làm việc chung với ba nhà nghiên cứu khác trong nhóm của Goldman, Bhattacharya đã làm được transitơ trường ứng bằng vận dụng loại cách điện mà anh ta tạo ra khi cố gắng tái hiện kết quả của Schön. Loại vật liệu mà nhóm nghiên cứu thí nghiệm thành công là bitmut chứ không phải là tinh thể hữu cơ. “Tôi sẽ chẳng bao giờ được trải nghiệm sự thỏa mãn nhiều hơn thế trong cuộc đời”, Bhattacharya nói.     Nhưng việc một số nhà nghiên cứu gặt hái vài thành quả tốt không đủ bù đắp thời gian lãng phí của họ. Chẳng hạn như Jochen Ulrich, một nghiên cứu sinh của Đại học Columbia. Đáng tiếc cho anh, sau nhiều tháng trời cố gắng tái tạo các transitơ trường ứng của Schön, anh chẳng bao giờ được khám phá hiệu ứng lượng tử trên các tinh thể hữu cơ như dự định.   “Tôi rất buồn”, anh nói, “không tới mức là tôi nói rằng mình rời bỏ khoa học vì chuyện này, nhưng nó thay đổi cách tôi nghĩ về khoa học. Tôi từng có cách nhìn tươi sáng: Các nhà khoa học đi tìm kiếm chân lý. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy”.    Những người điều tra về sự gian dối trong các kết luận của Schön đã thành công nhờ vào sự linh động của mình. Họ dựa nhiều vào kinh nghiệm thực tế của mình trong phòng thí nghiệm chứ không bị mờ mắt bởi uy tín của các viện nghiên cứu danh tiếng. Như vậy, quá trình tự sửa sai trong khoa học đã có diễn ra, nhưng giống như một cuộc chiến tranh du kích đầy ngẫu nhiên và thiếu tính hệ thống với rất nhiều sự phân vân nghi vấn. Nó tương phản với những gì người ta thường hình dung, trong đó các nhà khoa học giống như một đội quân chỉnh tề, luôn sửa sai một cách có hệ thống để tiến đến chân lý.     Những dấu vết hé lộ  Năm 2001, khi kinh tế bắt đầu đi xuống, các ngân quỹ dành cho khoa học cũng bị ảnh hưởng, và các nhà khoa học chịu sức ép phải cho ra những thành quả đẳng cấp quốc tế. Một cách ngoan ngoãn, Schön tự động chuyển từ các tinh thể hữu cơ sang công nghệ nano. Anh ta khẳng định đã kiểm soát được vật liệu hữu cơ ở quy mô phân tử, tạo ra được transitơ từ các lớp phân tử, và cuối cùng đã làm được ở quy mô từng phân tử riêng biệt. Một số nhà khoa học và nhà quản lý bắt đầu đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về thiết bị dùng cho lý thuyết này.   Tháng 11, 2001, khoảng sáu tháng trước khi Schön chính thức bị kết tội gian dối, hai lãnh đạo của Phòng thí nghiệm Lab, một người là Federico Capasso, Phó Giám đốc Phòng Thí nghiệm Vật lý, và John Rogers, Giám đốc Phòng nghiên cứu Công nghệ Nano, đã lưu tâm đến một số cáo buộc về việc Schön cố tình bóp méo dữ liệu. Schön bị đặt các câu hỏi, nhưng thay vì bị điều tra toàn diện, anh ta được cho phép có thời gian để phản hồi. Các cáo buộc tạm thời dừng lại, nhưng vẫn tiếp diễn cuộc tranh luận trong giới khoa học về các kết quả, và tới tháng 4/2002, đã xuất hiện các bằng chứng khởi đầu cho sự kết thúc của Schön.   Julia Hsu và Lynn Loo là hai nhà khoa học thuộc Phòng nghiên cứu của Rogers. Cả hai người vốn đều không có ý định điều tra Schön. Nhưng vào tháng 3 năm 2002, khi họ thảo luận với nhau về công trình mà Loo và Rogers đang tiến hành xung quanh vấn đề quang khắc mềm (soft lithography), một phương pháp in các mạch điện vào nhựa và một số loại vật liệu hữu cơ khác, Hsu đã đặt vấn đề liệu phương pháp quang khắc mềm có thể làm cho mềm mại và tinh tế hơn nữa, ở cấp độ phân tử hữu cơ, theo cách Schön khẳng định đã từng làm. Sau khi trở về Phòng thí nghiệm Bell, Loo và Hsu tiến hành một số thí nghiệm, và vào 19 tháng 4, họ đã sẵn sàng để đăng ký bản quyền phát kiến.  Để viết đơn đăng ký bản quyền, họ cần đối chiếu công trình của mình với các lý thuyết đã từng được biết đến. Trong số các công trình được điểm qua có các bài báo của Schön đăng trên các tờ tạp chí Nature và Science về transitơ cỡ phân tử. Tình cờ lúc lật giở các trang được in ra, Loo nhận thấy sự giống nhau nguyên xi của của một số dữ liệu. Cô đưa chúng cho Hsu xem, và cả hai cùng đồng tình rằng hai biểu đồ dữ liệu từ hai thí nghiệm quá trùng khớp nhau.   Hạ màn  Các biểu đồ được chuyển tới các nhà nghiên cứu khác. Họ chất vấn Schön và thông báo cho Rogers. Schön thừa nhận rằng một biểu đồ của anh ta đã bị in nhầm, và hứa sẽ gửi bản đính chính tới tạp chí từng đăng bài báo. Trong khi đó, Lydia Sohn, một nhà vật lý của Đại học Princeton, sau khi được thông báo về sự việc này đã tự kiểm tra lại một cách độc lập và trao đổi với một đồng nghiệp khác, Paul McEuen của Đại học Cornell. Ông này tìm ra thêm một số ví dụ khác. Sohn đã thông báo cho các tạp chí mà Schön từng công bố, còn McEuen gửi bản khuyến nghị tới các nhà quản lý Phòng thí nghiệm Bell. Những người này yêu cầu một hội đồng độc lập vào tháng 5 nhằm điều tra những cáo buộc nối tiếp nhau.  Kết quả điều tra được công bố vào 25 tháng 9, 2002. Sau đó, Schön bị sa thải, bình tĩnh rời Phòng thí nghiệm Bell với sự áp tải của hai bảo vệ. Một năm sau đó, tại Đức, Đại học Konstanz nơi Schön tốt nghiệp PhD, kết luận rằng Schön không vi phạm gì trong quá trình làm nghiên cứu sinh tại trường và bảo vệ luận án PhD, tuy nhiên vẫn quyết định thu hồi bằng PhD của anh ta. Tổ chức Nghiên cứu Đức thống nhất rằng Schön đã sai phạm và tuyên án phạt 8 năm cấm Schön tiếp nhận kinh phí nghiên cứu.  Liệu có thể tái diễn?  Tấn kịch của Schön khiến chúng ta không khỏi đặt ra câu hỏi, rằng liệu khoa học có thể tự nó phát hiện gian dối? Trong trường hợp của Schön, khoa học đã phát hiện và sửa sai, nhưng là do sự ngẫu nhiên của một số cá nhân. Quá trình sửa sai xảy ra tình cờ, phụ thuộc vào một số người cụ thể và hoàn toàn thiếu tính hệ thống nếu so với quy trình công bố dữ liệu giả của Schön.  Vấn đề là, một khi dữ liệu đã bị cố tình làm giả, chúng sẽ được tạo ra theo cách chống lại mọi quy trình kiểm duyệt tự động trong khoa học. Với phương châm này, Schön đã điều chỉnh để dữ liệu của mình vượt qua các quy trình kiểm soát, và đáp ứng các dự đoán trong giới khoa học. Sự gian dối này giúp anh ta né tránh những câu hỏi về kỹ thuật làm thí nghiệm mà lẽ ra đã phải được đặt ra. Sự kiểm duyệt của hội đồng các tạp chí lại trở thành việc chứng nhận hợp lệ hóa các kết quả gian lận, tạo điều kiện cho những lần gian dối tiếp theo. Thế nhưng người ta vẫn phải chấp nhận tin tưởng vào ý kiến của những người đánh giá. Và truyền thống này vẫn sẽ tiếp tục được bảo vệ trong khoa học.    Đây chính là mấu chốt của hiểm họa. Ở nơi đâu đó trong giới khoa học sẽ vẫn có chỗ cho kẻ thông minh, tỉ mẩn, nhưng chẳng phải thiên tài. Tài năng của Schön đơn giản là ở khả năng đồng tình với bất cứ quan điểm nào người khác muốn nghe, mạnh dạn chiều theo nhu cầu thông tin ở bất kỳ môi trường nào, và sao chụp những kết quả có bề ngoài xác thực, hợp lý, và thân thiện, như chính chủ nhân của chúng. Vài năm nữa lệnh trừng phạt của Tổ chức Nghiên cứu Đức sẽ hết hạn, và Schön có thể sẽ tìm thấy cơ hội khác. Nếu không phải anh ta thì rất có thể là người khác. Cung cách gian lận có thể sẽ bớt liều lĩnh hơn, bớt sao chụp nguyên văn hơn, bớt ngoạn mục vô tiền khoáng hậu hơn. Nhưng có phải vì thế mà mức độ nguy hiểm sẽ giảm đi, hay thậm chí nó còn tăng lên?   Để biết ở chỗ nào một kẻ như Schön có thể sẽ xuất hiện, có lẽ cần đặt ra một số câu hỏi. Các nhà khoa học mong chờ điều gì? Kết quả khoa học nào sẽ giúp một phòng thí nghiệm tránh bị cắt kinh phí? Điều gì tác động tới tâm trí những người thẩm định? Điều gì chúng ta muốn có ngay, để “đứng trên vai người khổng lồ”, vượt qua những kỹ thuật thô sơ, chậm chạp, tới được “chân trời mới”? Chúng ta đang mong chờ điều sẽ mang đến thành công cho mình. Và đó, hắn ta xuất hiện, tóc nâu, cười nửa miệng, khẽ nhún vai, tay cầm lời giải đáp được in ra từ nơi nào không ai rõ, và hỏi trong chúng ta xem ai có thể giúp vận dụng món quà trên vào những “nghiên cứu hữu ích” tiếp theo?!   Trần Lê  (Lược dịch từ bài The rise and fall of a physics fraudster của Eugenie Samuel Reich đăng trên physicsworld.com ngày 01/05/09)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thăng trầm R&D      Các công ty công nghệ chỉ chú trọng “triển khai” mà xem nhẹ “nghiên cứu”, nhất là nghiên cứu đột phá. Thời hoàng kim của các phòng thí nghiệm công ty (corporate raboratory) như Bell Labs, PARC của Xerox đã qua?    Những ngày cuối cuộc Đại chiến thế giới II, Vannevar Bush, cố vấn khoa học của tổng thống Rosevelt đã viết một bản báo cáo, sau này được xem là bộ khung tạo nên những thành công rực rỡ của nền công nghiệp công nghệ thông tin của nửa sau thế kỷ 20. Dưới đầu đề hoành tráng “Khoa học, biên giới bất tận”, Bush (không có họ gì với tổng thống Mỹ hiện nay) đưa ra viễn cảnh nền khoa học công nghệ do nhà nước tài trợ sẽ gắn kết giới nghiên cứu, doanh nghiệp và quân đội (trong thời chiến). Để đạt được điều này, trên thực tế, lại phải tạo một khoảng cách giữa ba khối.  Theo kế hoạch của Bush, trường đại học sẽ nghiên cứu cơ bản, sau đó doanh nghiệp sẽ triển khai những gì mà họ thấy có thể sinh lời. Khái niệm R&D như là hai hoạt động riêng biệt ra đời. Các doanh nghiệp nhanh chóng tổ chức lại theo mô hình tách biệt này. Vì thế mà các nhà nghiên cứu của công ty “thoát khỏi” đám kỹ sư lem luốc.  Mô hình này thành công bất ngờ. Bell Labs của AT&T đoạt 6 giải Nobel cho những phát minh như laser và bán dẫn. IBM đoạt 3 giải, trong đó 2 từ Phòng thí nghiệm Zurich. Và Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto của Xerox (PARC) phát minh ra những thành phần cơ bản của máy tính cá nhân như chuột, giao diện đồ họa và mạng máy tính giao thức Ethernet (mặc dù bị chỉ trích vì thất bại trong thương mại hóa một bước nhảy vọt như vậy).  Nay các phòng thí nghiệm công ty lớn đều chỉ còn cái tiếng do lãnh đạo công ty thích “cải tiến” sản phẩm hơn là đầu tư để có những ý tưởng lớn. Công ty nào cần sản phẩm sáng tạo sẽ sáp nhập với công ty sở hữu sáng tạo, liên kết với trường đại học hay tiếp quản những công ty khởi nghiệp được quỹ mạo hiểm tài trợ. Sự tách biệt truyền thống giữa nghiên cứu và phát triển được Bush minh tạc từ năm 1945 nhanh chóng biến mất, đặc biệt trong ngành công nghệ thông tin.  Phải chăng thời các công ty nổi lên bằng phát minh đột phá đã qua? Không hẳn vậy. Chỉ có cách thức R&D đang thay đổi. Thời hoàng kim, những công ty lớn thống lĩnh thị trường. AT&T bá chủ mạng điện thoại, IBM thống trị ngành kinh doanh máy tính lớn (mainframe-computer) và Xerox đồng nghĩa với máy photocopy. Các công ty đó xem khoản chi cho nghiên cứu cơ bản là chuyện nhỏ để đạt được sức mạnh như vậy.  Ngày nay, công ty công nghệ lớn thích sử dụng mạng các nhà cung cấp và lắp ráp bên ngoài. Bộ phận nghiên cứu dần thành thừa. Và dù các công ty lớn của Mỹ vẫn đang tiêu hàng tỷ cho R&D, thì cũng không có bất kỳ ý định nào lấp chỗ trống mà Bell Labs hay Xerox PARC bỏ lại. Nghiên cứu và phát triển từng được Bush tách ra, nay lại bện chặt. R&D giờ đã mất dấu “&”.               “Khi Bill Gates lẻn vào PARC Xerox thì Steve Jobs đã ở đó” – Nhiều phát minh quan trọng của PARC Xerox “bị” cả 2 công ty khổng lồ Microsoft và Apple “đánh cắp”.          “Bài học rút ra là đừng tách biệt các nhà nghiên cứu”- Eric Schmidt – nhà lãnh đạo của Google, từng là nhà khoa học nghiên cứu máy tính ở Bell Labs và sau đó là Xerox PARC- nói. Phương pháp “người thông minh đơn độc” không còn tác dụng, Schmidt bổ sung. Thay vào đó, nhà nghiên cứu trở thành “trí thức đánh thuê” (intellectual mercenary) cho bộ phận kinh doanh: họ đến để giải quyết yêu cầu cấp bách.  Quan điểm đó được John Seely Brown, giám đốc của Xerox PARC hơn 1 thập kỷ, cho tới tận năm 2000, chia sẻ: “Những phòng thí nghiệm công ty kiểu cũ sẽ không đáng kể nữa”  Bề ngoài, chưa bao giờ đầu tư cho sáng tạo ở Mỹ lại mạnh như hiện nay. Các công ty Mỹ tiêu khoảng 200 tỷ USD/năm cho R&D, phần lớn cho tính toán và truyền thông. Như năm qua, Microsoft chi 6,6 tỷ USD, IBM và Intel đều chi khoảng 6 tỷ; Cisco System và Hewlett-Packard (HP), mỗi công ty khoảng 4 tỷ. Phần lớn đầu tư này để cải tiến nhỏ và nhanh chóng thương mại hoá ý tưởng mới.  Ví dụ, IBM có 8 phòng thí nghiệm ở 3 châu lục. Mới vài năm trước, công bố hay đăng ký phát minh của họ còn được coi là nghiên cứu cơ bản. Nhưng ngày nay, họ xắn tay áo và làm việc cùng các nhà tư vấn của công ty – Douglas Dykeman, một trong những nhà quản lý của Phòng thí nghiệm IBM diễn giải. Điều này phản ánh triết lý chuyển dịch sang “khoa học dịch vụ” (services science) của IBM. Kinh doanh dịch vụ đang được “hàng hóa hóa” (commoditised), giống như phần cứng máy tính trước đây, và IBM biết phải gia tăng chất xám vào đó. Trong trường hợp này, sự xuất hiện của các nhà khoa học là một cách để khách hàng phải trả thêm khoản phụ trội.  “Thỉnh thoảng tôi nghĩ: có còn ai thực sự quan tâm?”- Dykeman nhắc lại vài dự án cũ. Giờ đây, phòng thí nghiệm phải gắn khoa học với “thực tại” và “lập tức”. Điểm khác biệt giữa “R” và “D” bị xóa mờ. Ví dụ, một công bố mới đây của Phòng thí nghiệm IBM về liên kết nguyên tử vàng nghe như khoa học thuần túy. Nhưng khi bán dẫn nhỏ tới tầm nguyên tử thì nghiên cứu kiểu đó sẽ giải quyết được vấn đề về chế tạo suốt 10 năm qua.  Ở Redmond, Washington, trung tâm Nghiên cứu Microsoft có tới 400 nhà nghiên cứu thường trực, thêm 300 nữa từ khắp thế giới. Hầu hết ngân sách dành cho các dự án hướng ra thị trường. Trong phòng làm việc kín nhỏ xíu, chuyên viên nghiên cứu ứng dụng truyền thông Steven Drucker vạch ra một thế giới mà người ta có thể gọi điện thoại qua ti-vi, tương tác với nội dung trực tuyến và nhận những quảng cáo thích hợp. Về kỹ thuật, thực hiện điều đó rất khó. Giới hàn lâm- Drucker nói- không thể thực hiện được vì phải vật lộn xin tài trợ. Điều đó buộc họ vào những dự án nghiên cứu chỉ 1 hay 2 năm, thậm chí ngắn hơn cả những dự án trong khu vực doanh nghiệp. “Đúng là điên”- Drucker ám chỉ các dự án nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp đang có tầm nhìn xa hơn, làm lớn hơn, mạo hiểm nhiều tiền hơn để có được kết quả vĩ đại.  Sự khác biệt giữa nghiên cứu và phát triển cũng bị xóa mờ ở HP, một công ty điển hình về khuynh hướng nghiên cứu. Trong số các nhà khoa học cao cấp của HP, có Bernado Huberman từng là nhà vật lý tại PARC, giờ làm việc kết nối khoa học với kinh tế, xã hội. Thay vì những câu hỏi cơ bản về vũ trụ, một loạt những nghiên cứu của Huberman là về “dự đoán thị trường” thế nào để xác định các dự án của công ty; về giá của một máy tính toán lưới (grid-computing) và về giành giật sự chú ý người dùng internet. Mô hình nghiên cứu cũ “đi mây về gió” đã hết thời –  Huberman nói. Phần hấp dẫn nhất của nghiên cứu giờ đây là “công nghệ tìm đường đến với con người bằng cách nào”.  Khi nhà nghiên cứu tiếp cận khách hàng thì còn phát sinh nhiều lợi ích khác. Ví dụ, hãng phim hoạt hình Dream Work đặt  HP làm hệ thống hội nghị qua video rất phức tạp để các thành viên ban quản trị có thể thường xuyên trao đổi mặt đối mặt mà không cần lên máy bay. Sau đo, phòng thí nghiệm HP đáp ứng thành công đến mức công ty đã thương mại hóa hệ thống đó thành một sản phẩm có tên Halo. Giờ Halo được nhiều công ty sử dụng, trong đó có công ty Pepsi và công ty sản xuất bộ vi xử lý AMD.  Sự hòa trộn giữa nghiên cứu và phát triển còn bổ khuyết cho kế hoạch của Bush: làm thế nào để biến ý tưởng thành sáng tạo thương mại. Một ý tưởng lớn có thể vỡ vụn trong quá trình triển khai. Ở Mỹ, mối liên kết giữa doanh nghiệp và nghiên cứu do nhà nước tài trợ được thắt chặt bằng Đạo luật Bayh – Dole. Đạo luật này khuyến khích những cơ sở nghiên cứu của doanh nghiệp nhận tài trợ của liên bang đăng ký sáng chế, xem đó như một động cơ để các kết quả nghiên cứu rời khỏi phòng thí nghiệm. Nhưng trong các công ty lớn, sự chuyển giao khó đến mức cần động lực lớn để kéo hai pháo đài “R” và “D” xích gần nhau.  “Ý tưởng sẽ mất giá nếu anh không nhanh chóng đưa nó ra thị trường” – Paul Horn, giám sát nghiên cứu của IBM nói. “Tất cả những gì chúng tôi làm là tránh “chuyền tay”. Không có cái gọi là “chuyển giao công nghệ”. Đó là cụm từ xấu ở IBM”. Các nhóm nghiên cứu đi cùng ý tưởng của mình cho tới tận khi nó tới xưởng sản xuất.  Một thí dụ điển hình nữa là Intel. Phần lớn nghiên cứu cơ bản của nhà sản xuất chip này là từ các trường đại học, Intel áp dụng những nguyên tắc ngặt nghèo khi lựa chọn và giám sát các dự án mà họ tài trợ. Các nhà khoa học gắn chặt với khâu sản xuất. Nhiều đăng ký bản quyền của Intel là về chế tạo chip, không phải khoa học cơ bản. Nghiên cứu càng “ứng dụng được trong thị trường nghiệt ngã” càng chất lượng – Sean Maloney, một uỷ viên quản trị Intel nói. “Người của chúng tôi khắc cốt ghi tâm điều đó”.  Một lý do để nghiên cứu của các công ty công nghệ ngày càng mang khuynh hướng thương mại là nền công nghệ thông tin đã thay đổi quá nhiều. Thời Vannervar Bush viết báo cáo, tin học là khoa học cơ bản. Cũng nhờ đó mà nhiều câu hỏi lớn về tin học đã được trả lời, ít nhất đủ cho các công ty hiện nay khỏi phải tiền mua phát minh mới. Phát minh của Dell là mô hình kinh doanh tận dụng tối đa  hiệu quả của chuỗi cung cấp để sản xuất máy tính giá thành hợp lý nhất. Tương tự, Ipod của Apple chỉ là đỉnh cao về giao diện.  Đề xuất của Bush dựa trên giả định rằng nghiên cứu sẽ tốn kém chỉ bởi vì các cỗ máy tính sẽ to lớn và đắt đỏ. Hơn nữa, Bush giả định thời gian triển khai sẽ lâu dài. Ngày nay, phát minh về phần mềm nhiều hơn phần cứng, giá máy tính cực rẻ và thời gian triển khai rất nhanh – gần như lập tức, khi mà internet được sử dụng để phân phối. Điều đó giải thích tạo sao ranh giới giữa nghiên cứu và triển khai bị xóa mờ ở hầu hết các công ty tin học, nơi có sự cạnh tranh gay gắt và thời gian sản phẩm ra thị trường có thể trong nháy mắt.  Phương thức của Google là: Các nhà nghiên cứu là một phần của hoạt động triển khai- Shmidt nói. Công ty thuê những nhóm rất nhỏ để thực hiện một số ý tưởng nhỏ, vài ý tưởng có thể sẽ gây tác động lớn. Thất bại là thành phần không thể thiếu của tiến trình đó. “Có thể nói thế này: Làm ơn hãy thất bại nhanh lên để còn thử lại”. Các nhà nghiên cứu ở Yahoo cũng đặc biệt gần gũi với kinh doanh. Ngày khai trương trung tâm nghiên cứu mới ở Barcelona tháng 10 vừa qua, người ta thấy phòng thí nghiệm chiếm ngay vị trí trung tâm, giữa hai bộ phận kinh doanh và tiếp thị.  Mô hình R&D thời hậu chiến cần được làm mới không chỉ bởi sự sáng tạo kiểu mới, mà còn bởi các công ty giờ đã có rất nhiều nơi mua ý tưởng. “Nếu quay lại thời AT&T, sẽ không có kiểu tiếp cận các trường đại học như ngày nay, và Bell Labs không thể dựa vào lực lượng ngoài cho nghiên cứu của họ. Họ thực sự phải tự lực” – Charles Giancarlo của Cisco nói.  Thừa nhận công ty của mình từ lâu bị xem là “Nghiên cứu và triển khai bằng mua đi bán lại” (R&D by M&A), song Giancarlo không thấy có vấn đề gì. Cùng với việc khai thác các công ty khởi nghiệp đang dùng vốn từ quỹ mạo hiểm, mỗi năm Cisco chi 4,3 tỷ USD để thuê hơn 16.000 kỹ sư trên khắp thế giới. Theo ông, trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, các công ty không thể nghiên cứu cơ bản. “Chúng ta có thể trách móc chính sách thỏa mãn cộng đồng, nhưng ít nhất thị trường cũng giống môi trường đấu tranh sinh tồn của Darwin: Vì nó mà bạn sống hay chết”.  Mô hình R&D mới biến các nhà nghiên cứu thành đội lính sáng tạo đột kích (shock-troops of innovation). Bell Labs, giờ là một phần của công ty Pháp Alcatel – Lucent, đang tập trung tất cả vào khâu triển khai. Năm 2003, Bell Labs chỉ còn 1.000 nhà nghiên cứu với ngân sách 115 triệu USD. Nửa thế kỷ trước, nó có tới 25.000 nhà nghiên cứu và có phòng thí nghiệm vật lý riêng. Năm 2002, Xerox PARC trở thành một công ty con độc lập chuyên cung cấp dịch vụ nghiên cứu và bản quyền cho các khách hàng bên ngoài, không chỉ cho công ty mẹ như trước.  Một vài viện nghiên cứu tư nhân đã tìm đường vào lĩnh vực theo như họ nói, là “nghiên cứu cơ bản kết hợp kinh doanh”. Nhưng thành công còn phải chờ. Những năm 90, Paul Allen, nhà đồng sáng lập Microsoft đã đánh trống mở cờ dựng nên trung tâm Nghiên cứu Interval, rồi đóng cửa sau khi nó tiêu tốn 100 triệu USD với rất ít kết quả. Gần đây, Nathan Myhrold, cựu lãnh đạo kỹ thuật của Microsoft đã lập nên Intellectual Ventures để nghiên cứu các công nghệ cho tương lai và cấp phép rộng rãi, song không có sáng tạo lớn nào được công bố.  Thực tế này có lẽ khiến Bush phải khóc. “Giới kinh doanh thường bị giới hạn bởi các mục đích định trước, các chuẩn mực rõ ràng và sức ép thị trường liên tục”- Bush viết như vậy từ năm 1945. “Nghiên cứu cơ bản được tiến hành mà không có ý nghĩ phải áp dụng kết quả”.  Song thông điệp từ giới công nghiệp lại khác hẳn. “Khi bắt đầu điều hành PARC, tôi nghĩ 99,9% công việc sẽ là phát minh, sau đó ném qua cửa sổ để bọn doanh nhân ngu ngốc tìm cách đưa ra thị trường” -ông Brown nói. “Và giờ tôi nhận ra, ngay sau khi ý tưởng xuất hiện là có các sáng tạo, không ít thì nhiều, để tìm cách đưa ý tưởng đó ra thị trường. Tôi đã không lãng phí thời gian nếu sớm nhận ra điều đó”.  Việt Anh dịch (The Economist. 3,2007).      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành cổ Luy Lâu: Gần hơn tới hiện thực      Luy Lâu có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử Việt Nam, là một trong những “mắt xích” quan trọng để hiểu được về thời kỳ Bắc thuộc, cũng như đem lại lát cắt lịch sử – văn hóa nền tảng chứng minh cho sức sống bền bỉ của văn hóa Đông Sơn. Nhưng hiểu biết về Luy Lâu thực sự vẫn còn nhiều khoảng trống để ngỏ cho nhiều tranh luận. Hành trình khai quật khảo cổ học về Luy Lâu góp phần trả lời những câu hỏi đó.       PGS.TS. Đặng Hồng Sơn cùng đoàn khai quật của trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN tại Luy Lâu vào tháng 12/2018 . Ảnh: Thanh An.  Những kết quả mới nhất từ Luy Lâu   Hội trường xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh hôm 15/1 chật kín người dân, quan chức địa phương và các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế. Mọi sự chú ý hướng đến bục phát biểu, nơi PGS.TS. Đặng Hồng Sơn và TS. Vi Vĩ Yến đang thuyết trình về các phát hiện mà đoàn khảo cổ từ trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN và trường Đại học Trung Sơn (Quảng Châu, Trung Quốc) đã thực hiện trong suốt tháng 12 năm 2018. Trên mặt bàn lớn, các hiện vật gạch, ngói, bình gốm, dọi xe chỉ, xương động vật… được trưng bày – chúng thuộc về một di tích lâu đời hơn Hoàng thành Thăng Long nghìn năm tuổi, mà đến nay vẫn còn là bí ẩn: Thành cổ Luy Lâu.  Luy Lâu là cái tên sử sách chép lại về một thành cổ có lịch sử trên 2000 năm tuổi, được xây dựng từ thời Đông Hán. Ở vị trí ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, trong khoảng hơn 800 năm (từ thế kỷ II đến thời Đường ở đầu thế kỷ IX sau CN, khi trị sở của chính quyền An Nam đô hộ chuyển về Tống Bình – Đại La) Luy Lâu vừa là trị sở của chính quyền đô hộ phương Bắc, vừa là một trung tâm kinh tế, văn hóa, tôn giáo quan trọng tại Giao Chỉ, nay là miền Bắc Việt Nam và một phần Nam Trung Hoa.   Nhưng thành Luy Lâu ngày nay nằm tại đâu? Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu coi phế tích thành cổ đắp đất tại thôn Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh – nằm trên khúc giao giữa sông Dâu và sông Đuống, đối diện với chùa Dâu và di tích đền thờ Sĩ Nhiếp (117-226) – Thái thú Giao Chỉ thời Hán được nhân dân tôn làm “Nam Giao học tổ” nhờ công lao của ông trong việc phổ biến Nho học tại nước ta.  Nhưng cũng tương tự như cách cuộc tranh luận trước đây về vị trí thật của Hoàng thành Thăng Long (vốn chỉ chấm dứt sau phát hiện lịch sử tại khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu năm 2002), nhiều quan điểm đã được đưa ra về tòa thành cổ này. Quan điểm của học giả Pháp Claudius Madrolle (1937), GS. Đào Duy Anh (1964) và GS. Trần Quốc Vượng (1996) dựa vào Đại Việt Sử ký Toàn thư để cho rằng đây chính là thành Luy Lâu. Nhưng cũng có các quan điểm khác cho đây có thể là thành Long Biên.   Bởi vậy, một bằng chứng khảo cổ giúp xác nhận một trong các giả thuyết trên là rất cần thiết. “Đoàn nào cũng mong là đào được một viên gạch trên có ghi chữ “Long Biên thành” hay “Luy Lâu thành”, coi như là xong việc!”, PGS.TS. Đặng Hồng Sơn nói vui. Nhưng, cho đến trước khi đạt được phát hiện như vậy, giới nghiên cứu tạm thời chấp nhận một cách gọi trung tính hơn – dựa theo địa danh nơi có thành cổ – là “thành Lũng Khê”.  Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ bắt đầu có các hiểu biết rõ ràng hơn về Luy Lâu. Cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên tại Luy Lâu diễn ra vào năm 1969-1970, do Viện Khảo cổ học và tỉnh Hà Bắc cũ thực hiện. Sau đó là cuộc khai quật năm 1986 do Viện và Khoa Sử trường ĐH Tổng hợp tổ chức. Các cuộc khai quật từ năm 1999-2001 của trường ĐH KHXH&NV đã bắt đầu đem lại một hình dung về tổ chức không gian của tòa thành.    Một số hiện vật được phát hiện tại cuộc khai quật di tích Luy Lâu 2018. Ảnh: Thanh An.  Lần khai quật gần đây của trường ĐH KHXH&NV– dẫn đầu bởi PGS.TS Đặng Hồng Sơn cùng với một nhóm từ Khoa Nhân loại học, Đại học Trung Sơn (Quảng Đông, Trung Quốc) được tổ chức tại khu vực thành Nội từ năm 2014 đến 2018. Mục tiêu của đoàn là bước đầu khai quật khu vực thành Nội và tìm hiểu về đời sống của cư dân ở trong thành. Kết quả khai quật mới nhất (năm 2018) của đoàn, như kỳ vọng, đã phát hiện ra nhiều dấu tích kiến trúc trải dọc trong nhiều thế kỷ của thời kỳ Bắc thuộc. Bản báo cáo khảo cổ của đoàn đã đưa ra một mô tả đa sắc về các dấu tích và hiện vật khai quật được:   Các tầng hiện vật trải dài trong thời gian hơn 1000 năm, bao gồm 4 giai đoạn, thời Đông Hán, Lục Triều, Tùy-Đường và nhà Trần. Ở lớp văn hóa thuộc thời Đường, phát hiện các kiến trúc móng tường và cống nước. Đồng thời phát hiện được các vật liệu kiến trúc như gạch, ngói và các đồ dùng sinh hoạt như bát, âu, nồi, vò… bằng gốm, cùng công cụ như chì lưới, dọi xe chỉ, đá mài… có niên đại kéo dài từ thời Đông Hán suốt đến đầu thế kỷ IX. Dù chưa tìm thấy dấu tích kiến trúc cụ thể của thời kỳ Đông Hán, các dấu vết tìm thấy chứng tỏ quy mô đáng kể của các dinh thự của quan cai trị và một đời sống thị dân năng động.   Kết hợp cùng kết quả các cuộc khai quật trước đây cũng đem lại nhiều hiểu biết thú vị: một số địa điểm có các lớp than tro, điều có thể gợi ý đến các cuộc đốt phá hay sự biến chính trị – hay là liên quan đến các nghề thủ công. Một phát hiện thú vị khác là một đầu ngói ống in chữ “Vạn tuế”. Việc các đầu ngói ống in các chữ với hàm ý cầu phúc cho chủ nhà không phải chuyện lạ, theo PGS.TS. Sơn, nhưng ngói “Vạn tuế” nổi bật hơn cả vì chữ này – theo điển chế triều đình Trung Hoa – vốn chỉ được dùng cho Hoàng đế. Thế nghĩa là gì? – Điều đó biểu hiện sự lấn vượt của các quan cai trị tại Giao Chỉ: “Nó phù hợp với các nguồn sử liệu Việt Nam (như Đại Việt Sử ký Toàn thư) hay sử Trung Quốc (như Tam Quốc Chí) về Sĩ Nhiếp – đều nói về việc ông sử dụng những nghi thức… vốn chỉ dành cho thiên tử. Đấy là một trong những biểu hiện tiếm quyền của Sĩ Nhiếp.” Nó phù hợp với xu hướng trỗi dậy thường thấy của thế lực địa phương khi chính quyền trung ương suy yếu – “giống như trường hợp ở Liêu Đông, khi một quan cai trị nhân sự suy yếu của nhà Hán tự xưng là Lưu Đông Hầu.”  Cuộc khai quật năm nay chỉ được thực hiện trên một hố diện tích 16 m2, là một quy mô rất nhỏ với một cuộc khai quật ở một địa điểm như Luy Lâu. Nguyên nhân đến từ việc thiếu kinh phí và thời gian để thực hiện khai quật, khiến đây mới chỉ là “phát hiện nhỏ trên một không gian lớn” mà thôi, theo ông Sơn: “Chúng tôi đang dần dần kết nối các dấu vết kiến trúc này lại với nhau, từ thời Lục Triều đến thời Đường, nhưng vì không gian quá nhỏ nên vẫn chưa có được cái nhìn toàn cảnh về hệ thống kiến trúc ở đây.”  Mắt xích quan trọng để hiểu về thời Bắc thuộc  Các nhà nghiên cứu coi việc nghiên cứu về Luy Lâu là một đối tượng quan trọng hàng đầu với nghiên cứu về lịch sử giai đoạn 10 thế kỷ đầu Công nguyên – giai đoạn được cho là quan trọng nhưng còn mờ tỏ của dân tộc, giai đoạn vốn không chỉ có những cuộc kháng chiến giành độc lập mà còn có những bước phát triển mới về kinh tế và văn hóa, giai đoạn ‘chuẩn bị những điều kiện tiền đề cho bước phát triển huy hoàng của văn hóa, văn minh Đại Việt’.  Tuy nhiên, cho đến nay, khi nghiên cứu về thời kỳ Bắc thuộc ở Việt Nam, các nhà sử học thường phải dựa vào nguồn sử liệu cổ thành văn của Trung Quốc hay của Việt Nam. Nhưng theo PGS.TS. Sơn: “Các tư liệu thành văn rất hạn chế, trong khi các di tích thì ít được khai quật.” Những phát hiện khảo cổ về giai đoạn này rất thiếu. Các di tích được nghiên cứu sâu như Cổ Loa chỉ phản ánh giai đoạn đầu Bắc thuộc, trong khi nghiên cứu về hoàng thành Thăng Long thời Đại La chỉ có thể phản ánh lịch sử của 2 thế kỷ Bắc thuộc cuối cùng dưới triều nhà Đường (sớm nhất từ năm 767, khi Trương Bá Nghi cho đắp thành Đại La lần đầu tiên). Một phần đáng kể sử liệu về thời kỳ Bắc thuộc do vậy sẽ phải đến từ việc nghiên cứu ở các trung tâm như Bắc Ninh hay cụ thể là Luy Lâu. Bởi vậy, “Luy Lâu là di tích quan trọng bậc nhất của thời kỳ Bắc thuộc ở Việt Nam”, theo ông Sơn.  Ông cũng giải thích: “Để chứng minh vai trò [của Luy Lâu] là trung tâm Phật giáo, các nhà khảo cổ đã phát hiện các đầu ngói ống trên đó trang trí hoa sen, hay mặt người, mà có người cho rằng đây là các biểu tượng văn hóa Phật giáo truyền bá trực tiếp vào Việt Nam.” Các hiện vật như gạch ngói, hay hàng trăm khu mộ gạch chứng minh cho đời sống của quan lại cai trị nhà Hán ở Giao Chỉ”.  Luy Lâu cũng là địa điểm quan trọng vì một phát hiện khác. Năm 1999, nhóm khảo cổ của trường ĐH KHXH&NV và nhà khảo cổ Nhật Bản Nishimura đã phát hiện ra 2 mảnh khuôn đúc trống đồng ở địa điểm Luy Lâu. Phát hiện khi đó đã gây chấn động giới nghiên cứu.  Vì sao? Đó là mảnh khuôn đúc trống duy nhất được tìm thấy ở thời điểm đó trên toàn thế giới. Các cuộc tranh luận gay gắt đã diễn ra nhiều năm qua giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc về nguồn gốc của trống đồng. Câu hỏi lớn xoay quanh vấn đề: Trống đồng bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam hay là từ vùng Nam Trung Hoa? Dù cuộc tranh luận đó đến nay chưa ngã ngũ, nhưng việc phát hiện khuôn đúc trống đồng là bằng chứng mạnh mẽ cho lập luận bên phía Việt Nam: “Ở khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Hoa, trống đồng thì nhiều, nhưng phát hiện khuôn đúc thì chỉ một ở Việt Nam, hai là Indonesia. Ngoài ra theo tôi biết thì không có nơi nào khác, đặc biệt ở Nam Trung Quốc,” PGS.TS Sơn nhấn mạnh.    Hố khai quật của đoàn. Trong ảnh là móng tường và cống nước thời Đường, dưới mảng tường  là một mảnh ngói hoa sen. Ảnh: Tuấn Quang.   Một phát hiện lớn hơn từ cuộc khai quật năm 2014 của Bảo tàng Lịch sử (tại khu vực gần với vị trí tìm thấy mảnh khuôn đúc đầu tiên của GS. Nishimura) về một “tổ” khuôn đúc trống đồng – gồm 800-900 mảnh khuôn đủ kích cỡ trên một hố khai quật nhỏ – đi đến một vấn đề mới: tầng niên đại của các hiện vật ở thời Lục Triều, tức là khoảng thế kỷ IV – V sau CN. “Như vậy, giới cầm quyền phương Bắc tại thành Luy Lâu vẫn tiếp tục cho đúc trống đồng,” ông Sơn nói thêm: “Đó là bằng chứng cho thấy sức sống Đông Sơn của người Việt Nam không bị triệt tiêu, vẫn tiếp tục tồn tại, thậm chí là song hành với văn hóa Hán.” Bởi vì vậy, nên đến sau khi giành được độc lập, trống đồng tiếp tục là một biểu tượng trong văn hóa Việt – thể hiện ở việc các triều nhà Lý, Trần đều cho đúc trống đồng và thờ thần Đồng Cổ ở kinh đô Thăng Long.  Những vấn đề đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của di tích Luy Lâu. Nhưng di tích này đang đứng trước những nguy cơ lớn bị xóa sổ bởi tốc độ của nhu cầu kinh tế và làn sóng đô thị hóa. Các mộ gạch người Hán ở bên ngoài thành đang bị phá hủy đi một phần do việc xây dựng các khu công nghiệp – như KCN Khai Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh). “Những khảo sát của nhóm BTLSQG và Đại học Đông Á (Nhật Bản) thống kê thì còn khoảng hơn 30 ngôi mộ.” – và chúng đang càng mất dần theo từng năm. Ngay trong khu vực thành Nội, người dân vẫn xây cất nhà cửa, dựng đặt mồ mả, hay đào ao thả cá ở khu di chỉ – do đó đã “ảnh hưởng tương đối mạnh đến khu vực thành Luy Lâu”.  Mặt khác, người dân và chính quyền địa phương vẫn coi Luy Lâu là một di tích của thời kỳ Bắc thuộc, của người Trung Quốc. “Nhưng trong thời Bắc thuộc đấy vẫn có giá trị của văn hóa Việt,” ông giải thích: “Người Việt chúng ta không phải ngẫu nhiên sau một nghìn năm mà khôi phục lại được độc lập. Rõ ràng, trong thể chế chính trị của người phương Bắc, ông cha ta vẫn âm thầm nuôi dưỡng, bền bỉ kéo dài sức sống Đông Sơn, lấy đó là nền tảng truyền từ đời này sang đời khác. Để rồi ta vẫn liên tục khởi nghĩa, và rồi cuối cùng giành độc lập dân tộc, tiếp tục khôi phục văn hóa Đông Sơn. Tôi rất tâm đắc với điều mà GS Phạm Huy Thông trước đây đã đề cập đến: “Chính nhờ chống Hán-Đường mà ta mới là ta”.”   Hiện tại, chính quyền tỉnh Bắc Ninh đang xây dựng một chiến lược tổng thể để nghiên cứu và bảo tồn cho di tích Luy Lâu. Tuy nhiên, một chiến lược như vậy sẽ đòi hỏi một nguồn kinh phí rất lớn, bởi vậy dù các lãnh đạo địa phương rất quan tâm, nhưng đến nay mới tạm dừng ở mặt ý tưởng. Các nhà khoa học, tuy vậy, vẫn có hi vọng dù mong manh để có thể nghiên cứu những bí ẩn mà Luy Lâu để lại: “Chúng tôi đang chạy đua với thời gian”, PGS.TS. Sơn tâm sự: “Qua mỗi một mùa khai quật, có một nhận thức sâu hơn, gần hơn tới mục tiêu khôi phục phần nào bối cảnh xã hội thành Luy Lâu thời Hán-Đường.”□  ——-  Thư mục tham khảo:  Claude Madrolle, “Le Tonkin ancien. Lei-leou 羸(音連)𨻻 et les districts chinois de l’époque des Han. La population. Yue-chang,” BEFEO 37 (1937): 267–271.  Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời. Huế: NXB Thuận Hóa, 1997.  Trần Quốc Vượng. Theo dòng Lịch sử – Những Vùng đất, Thần và Tâm thức Người Việt. Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin, 1996.  Nishimura Masanari. “Reexamnination of the Lũng Khê Citadel in the Red River Delta”, Southeast Asia – History and Culture, 2001 (30): 46-71.  Đặng Hồng Sơn, Lâm Thị Mỹ Dung, Vi Vĩ Yến & nnc. “Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật di tích Luy Lâu năm 2018”. Thanh Khương, Bắc Ninh: 2019.  Nghiên cứu Luy Lâu cũng trở thành chủ đề hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu các nước Đông Á. Ở thời điểm hiện tại, cùng đoàn Đại học Trung Sơn tham gia từ năm 2016, từ năm 2014 cũng có sự tham gia của phía Đại học Đông Á (Nhật Bản) với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (BTLSQG); và từ năm 2019 có Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) hợp tác cùng Hội Khảo cổ học Việt Nam. Theo ông Sơn, các chuyên gia các nước và Việt Nam chia sẻ mối quan tâm học thuật chung về Luy Lâu: “Họ tiến hành nghiên cứu để so sánh với nước sở tại của họ (…) vốn cùng là các khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của nhà Hán lúc bấy giờ. Tất cả cùng có quan tâm nghiên cứu về tiếp xúc và giao lưu văn hóa Hán, với các khu vực văn hóa lân cận, trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.” Các nhóm khai quật này sẽ tiếp tục hợp tác trong tương lai.    Author                Tuấn Quang – Thanh An        
__label__tiasang Thành công nhờ bám sát cuộc sống      Đi về giữa Viện Di truyền Nông nghiệp và Trạm thực nghiệm Văn Giang cách nhau vài chục km, chị Phạm Thị Liên cho rằng “Tách rời thực tế, nhà nghiên cứu nông nghiệp vừa thua thế giới vừa thua cả chính người nông dân.”      Gắn bó với giống lan Hoàng thảo  Chị Liên gắn bó với hoa lan từ những năm 90 khi làm nghiên cứu sinh tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam. Thông qua những chương trình hợp tác theo Nghị định thư, chị Liên có điều kiện sang Thái Lan – nơi đi trước Việt Nam rất xa về nghiên cứu hoa lan – học tập kinh nghiệm. Ở Thái Lan, các công ty kinh doanh trong lĩnh vực hoa cây cảnh phát triển rất mạnh, thường đặt hàng cho các Viện nghiên cứu. Còn ở Việt Nam, “cơ sở vật chất của các phòng thí nghiệm tại Việt Nam đang dần được cải thiện. Nhưng đến nay việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu nông nghiệp còn nhiều vướng mắc”, chị Liên nói.         Phạm Thị Liên, tiến sĩ nông nghiệp, phó giám đốc Trung tâm thực nghiệm sinh học Nông nghiệp công nghệ cao đồng thời là trạm trưởng Trạm thực nghiệm Văn Giang.         Năm 2006, chị làm chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KC.06/06-10 Nghiên cứu quy trình công nghệ phát triển một số giống lan Hoàng thảo tại miền Bắc, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giống hoa Hoàng thảo của Thái Lan rất phong phú tuy nhiên bài toán đặt ra là phải cho hoa nở được vào mùa lạnh để có thể trồng được trong điều kiện thời tiết lạnh của miền Bắc. Sau 4 năm nghiên cứu, nhóm của chị đã chọn được 3 giống HT1, HT2, HT3 có nguồn gốc từ Thái Lan, và chị đã thuyết phục được Bộ KH&CN đưa vào sản xuất thử nghiệm.   Nếu không bám sát thực tế sẽ bị nhà nông bỏ xa  Hiện nay, điều kiện cơ sở vật chất tại các Viện nghiên cứu đã được cải thiện rất nhiều. Nhưng theo chị Liên, bên cạnh việc dành thời gian làm việc trong phòng thí nghiệm, nhà nghiên cứu phải bám sát cuộc sống mới biết được người nông dân cần gì để giúp họ có hiệu quả nhất. Nhiều khi giống mình làm ra nhưng vì lý do nào đó người nông dân không sử dụng thì cũng không thể gọi là thành công.   Theo chị Liên, làm nghiên cứu trong nông nghiệp không thể thiếu kinh nghiệm thực tế. Phải gần với nông dân, xem họ có vướng mắc gì để tìm cách giải quyết. Hiện nay, những công việc như nhập giống, ra nước ngoài tìm kiếm cơ hội hợp tác… nhiều hộ nông dân có thể làm được nhưng để đánh giá, lượng hóa cụ thể thì họ chưa làm được. Người làm nghiên cứu nông nghiệp gần nông dân, nghiên cứu càng sát, và nông dân gần nhà khoa học cũng đúc rút kinh nghiệm càng nhanh.   Chị vẫn nhớ câu chuyện về nhà khoa học Lương Định Của tại Viện cây lương thực và thực phẩm Hải Dương nơi chị từng làm việc. GS. Lương Định Của từng nói với các cán bộ nghiên cứu ở đây, “làm nghiên cứu nông nghiệp trước hết phải biết trồng cái cây cho sống đã. Nếu không biết trồng cây cho sống thì phải học nông dân”. Mặc dù là Viện trưởng nhưng mỗi lần đi thực tế ông vẫn xắn quần lội hết các cánh đồng của Viện để xem xét, nắm rõ mọi thứ. Còn các kỹ sư của Viện thì phải đi thực tế 3 năm, ông mới cho vào làm việc ở phòng thí nghiệm.   Đợt Tết vừa rồi chị thực sự ngỡ ngàng khi nhìn thấy cây cảnh ghép ba vòng của các hộ nông dân trồng cây cảnh ở Văn Giang: vòng dưới cùng là bưởi, vòng trên cam, vòng trên nữa quất. Đó thực sự là một cách ghép cành hết sức độc đáo mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng có thể làm được. “Tách rời thực tế, nhà nghiên cứu nông nghiệp vừa thua thế giới vừa thua cả chính người nông dân nước mình”, chị Liên khẳng định.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành La Mã ảo      Các chuyên gia vi tính hôm 11-6 công bố kỳ công tái tạo thành La Mã cổ đại trong khoảng thời kỳ thịnh vượng nhất (năm 320 sau Công Nguyên). Họ gọi đây là công trình mô phỏng hoàn hảo nhất từ trước đến nay.    Du khách thăm thành Rome ảo có thể làm những việc mà ở thế giới thực không làm được. Ví dụ có thể bò qua các hành lang trong lòng đấu trường Colosseum nổi tiếng đầy những sư tử và hệ thống thang máy đơn sơ, và bay lên cao để ngắm kỹ hơn các bức phù điêu và những dòng chữ khắc trên đỉnh của khải hoàn môn.  Nhờ vào kỹ thuật quét laser thành Roma ngày nay và cố vấn của các chuyên gia khảo cổ học, các chuyên gia vi tính đã tái tạo lại gần như toàn bộ thành phố bên trong thành lũy dài 13 dặm nguyên thủy, gồm cả Viện nguyên lão, đấu trường Colosseum và tòa pháp đình (basilica) do hoàng đế Maxentius xây dựng – đủ cả các bích họa và trang trí.  Bên cạnh đó còn là những di tích đã gần như bị hư hại hoàn toàn ngày nay như: đền thờ các nữ thần Venus và Roma và Meta Sudans, một vòi phun ở gần đấu trường Colosseum.  “Đây là bước đầu tiên trong việc tạo nên cỗ máy thời gian ảo, thông qua đó các thế hệ con cháu của chúng ta sẽ dùng để học tập và nghiên cứu về lịch sử của Rome và nhiều thành phố vĩ đại khác trên thế giới,” Bernard Frischer, chủ nhiệm dự án, thuộc ĐH Virginia nói.  Công trình giả lập trị giá 2 triệu USD này sẽ được các nhà khoa học tiến hành thực nghiệm – chẳng hạn như tìm ra sức chứa của các tòa nhà thời cổ – và có chức năng của một tập san mang tính học thuật (scholarly journal) được cập nhật khi có khám phá mới về những điều kỳ diệu của thành La Mã.  Frischer cũng cho biết các sinh viên và khách du lịch có thể dùng chương trình để tìm hiểu thêm về thành Rome thời xưa.  Công trình giả lập đã tái xây dựng gần 7.000 tòa nhà, dinh thự thuộc thời gian trị vì của hoàng đế Constantine, vào thời điểm ấy Rome là một thành phố quốc tế thu hút gần 1 triệu người.  Chương trình giả lập đã mất hơn 10 năm để hoàn thành bởi một nhóm các nhà khảo cổ, kiến trúc sư và những chuyên gia vi tính quốc tế đến từ ĐH Virginia và UCLA, cùng các viện nghiên cứu của Ý, Đức và Anh.  BÙI NGUYỄN QUÝ ANH (theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố Hồ Chí Minh: Giữa vòng vây biến đổi khí hậu      Tương lai của các siêu đô thị châu thổ châu Á, trong đó có TP.HCM, sẽ ra sao trước tác động của biến đổi khí hậu?      Vào mỗi mùa mưa, TPHCM đều rơi vào cảnh lụt lội. Ảnh: laodong.con.vn  Hãy thử hình dung tương lai của những thành phố trù phú bên bờ sông, bờ biển này như Tokyo nằm bên sông Sumida, phía Đông Nam của đảo chính Honshu; Jakarta bên sông Ci Liwung, Tây Bắc đảo Java; Manila cạnh bờ biển phía Đông vịnh Manila và sông Pasig, sông Marikina chảy qua thành phố, chia cắt nó thành vùng phía Bắc và Nam; cuối cùng TP.HCM là nơi chứng kiến dòng Mekong đổ ra biển Đông – mái nhà của hơn 10 triệu con người sẽ như thế nào, nếu nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 1,10C như kịch bản mà các chuyên gia của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP) đưa ra. Điều này có thể hiểu được khi đặt vị trí địa lý của các siêu đô thị này vào kịch bản đó.    Biến đổi khí hậu có một phạm vi ảnh hưởng quá rộng và vô cùng phức tạp với rất nhiều biểu hiện như hiện tượng ấm lên toàn cầu, nước biển dâng, băng tan, sự biến động về lượng mưa, tần suất bão, cường độ bão, giải phóng khí… nên khi đi tìm câu trả lời cho những vấn đề trên, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam tại trường ĐH Công nghệ TP.HCM và ĐH Tokyo, ĐH Công nghệ Tokyo, ĐH Waseda Nhật Bản đã quyết định “đóng khung” biến đổi khí hậu ở các thành phố này với hai yếu tố, đó là nước biển dâng và sụt lún đất. Các nhà khoa học cho rằng, cả nước biển dâng và sụt lún đều dẫn đến lụt lội, hiện tượng đang có nhiều tác động đến các siêu đô thị này. Nghiên cứu mới của họ “Future of Asian Deltaic Megacities under sea level rise and land subsidence: current adaptation pathways for Tokyo, Jakarta, Manila, and Ho Chi Minh City” (Tương lai của các siêu đô thị châu thổ châu Á dưới ảnh hưởng của nước biển dâng và sụt lún đất: các cách thích nghi hiện tại của Tokyo, Jakarta, Manila và TP.HCM) xuất bản trên tạp chí Current Opinion in Environmental Sustainability1 cho chúng ta thấy một bức tranh tương đối rõ nét về những gì sẽ đón chờ trong tương lai ở bốn thành phố.      Các siêu đô thị phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước ngầm khai thác, cả cho sinh hoạt lẫn sản xuất công nghiệp, do lượng nước mặt không đủ đáp ứng nhu cầu. Việc khai thác nước ngầm ảnh hưởng đến kết cấu đất và đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sụt lún đất – vốn liên quan chặt chẽ đến tình trạng nước biển dâng.      Khi lợi thế đi kèm tai ương     Trong báo cáo “Tăng cường khả năng chống chịu: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam – Cơ hội và rủi ro thiên tai” do World Bank công bố vào năm 2020, các tác giả đã đưa ra một nghịch lý “Tài nguyên dồi dào và vẻ đẹp tự nhiên của khu vực duyên hải là cơ hội phát triển kinh tế cho hơn 47 triệu cư dân các tỉnh ven biển…” nhưng “Đi kèm với vẻ đẹp tự nhiên của vùng biển Việt Nam là các rủi ro…” như hạn hán, xâm nhập mặn, triều cường, lũ lụt, sạt lở bờ biển và “Các khu vực ven biển có môi trường phát triển năng động sẽ là tác nhân chính dẫn đến việc sạt lở bờ biển”2.    Có thể điều này cũng trùng hợp với hoàn cảnh của bốn siêu đô thị châu thổ Tokyo, Jakarta, Manila và TP.HCM bởi các hệ thống châu thổ châu Á đóng một vai trò then chốt trong sự phát triển của các hệ thống kinh tế – xã hội, khi đem lại nguồn nước tưới tiêu, nguồn phù sa màu mỡ cho trồng trọt chăn nuôi, hệ thống giao thông đường thủy linh hoạt để cuối cùng dẫn đến việc tạo dựng những thành phố lớn và đặt nó vào trung tâm của các mạng lưới thương mại hàng hải.    Hiện tại, tốc độ đô thị hóa nhanh và sự gia tăng mật độ dân số ở các siêu đô thị này đã đặt chúng vào những rủi ro mới, đó là nhu cầu về nước. Các siêu đô thị phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước ngầm khai thác, cả cho sinh hoạt lẫn sản xuất công nghiệp, do lượng nước mặt không đủ đáp ứng nhu cầu. Việc khai thác nước ngầm ảnh hưởng đến kết cấu đất và đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sụt lún đất – vốn liên quan chặt chẽ đến tình trạng nước biển dâng.      Sụt lún do khai thác nước ngầm ở Jakarta là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cảnh lụt lội. Ảnh: Bangkokpost.    Tình trạng sụt lún đất diễn ra khá phổ biến ở các siêu đô thị, ví dụ như TP.HCM, Jakarta. Chưa cần đến biến đổi khí hậu thì Jakarta đã nổi tiếng với danh hiệu thành phố sụt lún nhanh nhất thế giới. 40% diện tích Jakarta nằm dưới mực nước biển do cơn khát nước sạch của con người. Chưa đến một nửa dân số Jakarta được sử dụng nước máy nên người ta đua nhau khoan giếng, thông thường là khoan trộm. Cần nước để sống sót rút cục đã dẫn họ đến việc phải đối mặt với hiểm nguy mới. Hàng thập kỷ qua, tầng ngậm nước bên dưới thành phố đã cạn kiệt nước, dẫn đến sụt lún đất3. Tương tự như vậy, TP.HCM, nơi cùng với Hà Nội chiếm 17% dân số Việt Nam2, cũng lâm vào tình trạng khai thác nước ngầm quá mức. Qua hội thảo “Sụt lún đất tại ĐBSCL”, do Bộ Xây dựng phối hợp cùng Tổ chức Hợp tác phát triển Đức GIZ (Đức), vào tháng 11/2019, người ta mới biết là TP.HCM có khoảng 1.920 giếng, lưu lượng khai thác 520.000 m3/ngày (tổng lưu lượng khi thác ở ĐBSCL vào khoảng 1,97 triệu m3/ngày), chưa kể  còn khoảng trên một triệu giếng khai thác lẻ quy mô hộ gia đình, với lưu lượng khai thác khoảng 840.000 m3/ngày. Kết quả quan trắc thực hiện 10 năm qua của Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) cho thấy, TP.HCM và ĐBSCL lún từ 0,1 đến 81 cm, nơi lún nhiều nhất là phường An Lạc, quận Bình Tân (TP.HCM) với 81cm4.      Trong chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu hiện tại của các thành phố, người dân thường bị loại khỏi quá trình lập kế hoạch và ra chính sách.      Nếu ảnh hưởng từ sụt lún đến rủi ro ngập lụt có thể thấy ở dạng nhãn tiền, nhất là khi các thành phố châu thổ châu Á cùng bước vào mùa mưa hằng năm, thì từ sụt lún đến mực nước biển dâng là câu chuyện dài hạn. TS. Lưu Quang Hưng, một nhà nghiên cứu về nước biển dâng tại Australia, từng nhận xét vào năm 2020 trên Tia Sáng rằng, nước biển dâng thường diễn ra một cách âm thầm và thường rất nhỏ, chỉ vài milimet mỗi năm. Do đó, rất khó nhận biết nó trực tiếp bằng mắt thường mà phải dựa trên đo đạc và quan trắc.    Dẫu sao, những thay đổi chậm chạp trong tương lai này sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của các siêu đô thị châu thổ châu Á và đưa chúng vào danh sách những đô thị bị ảnh hưởng bậc nhất thế giới, nghiên cứu sinh Cao Vũ Quỳnh Anh và các tác giả của nghiên cứu về tương lai siêu đô thị châu thổ châu Á nhận định trong công bố của mình. Dẫu còn quá sớm để quan sát được các tác động của nước biển dâng lên những vùng duyên hải nhưng những kinh nghiệm rút ra từ thực tế cho thấy, khi nước biển dâng tăng thì tần suất và cường độ của các hiểm họa vùng duyên hải sẽ tăng theo. “Việc lựa chọn các thành phố này là do chúng đã trải qua tình trạng sụt lún đất và theo nghĩa này thì sụt lún đất cũng có thể được dùng để thực hiện nghiên cứu về nước biển dâng trong tương lai”, các tác giả viết.     Những kế hoạch ứng phó     Các vấn đề của hiện tại buộc các thành phố có nhiều nguy cơ rủi ro của sụt lún đất và nước biển dâng phải nghĩ đến sự thích ứng trong tương lai của mình. Các lộ trình thích ứng liên quan trực tiếp đến chuỗi đo đạc và quan trắc liên tục của sụt lún, vốn đã được bốn thành phố này áp dụng nhưng trên thực tế, họ lại thường bỏ qua tác động kép của nước biển dâng và sụt lún đất. Do đó, Cao Vũ Quỳnh Anh và cộng sự đã đi tìm câu trả lời tương lai của các siêu đô thị này là gì khi chịu ảnh hưởng của tác động kép đó và phân tích những lộ trình thích ứng hiện tại cần thiết cho chúng.      Chưa chắc đến năm 2025 có thể hoàn toàn xóa bỏ giếng khoan tại TPHCM. Nguồn: plo.  Trong số bốn thành phố, Tokyo là nơi chuẩn bị tốt nhất. Nằm trên vùng đồng bằng chịu lũ của bốn con sông Arakawa, Edogawa, Nakagawa và Sumida, Tokyo đã xây dựng được một hệ thống đường thủy phức hợp để kiểm soát rủi ro về nước. Tình trạng ngập lụt do sụt lún đất (xuất phát từ việc khai thác nước ngọt quá mức vào những năm 1910 -1970) đã được vãn hồi bằng việc xây đê và tường chắn sóng (có nơi cao tới 5,1m) cùng với một hệ thống thoát nước rộng khắp, bao gồm đường dẫn nước, trạm bơm và cửa xả lũ. Hiện tại, 1,6 triệu người đang sống dưới mực nước biển có thể sẽ gặp nguy hiểm nếu các cấu trúc bảo vệ này bị vỡ, không có nơi trú nạn nào đủ cho số lượng người như vậy. Do đó, chính phủ đang thực hiện dự án xây siêu đê với việc xây các cấu trúc bê tông và đất có chiều rộng gấp 30 lần chiều cao, đưa khu vực cao nhất của nó thành một trung tâm sơ tán nếu bị lụt.    Trong khi đó, ở Jakarta, Manila, hay TP.HCM, tình trạng rắc rối hơn một chút trong ứng phó, về cả cách làm cộng đồng và chính quyền. Nếu xét về phía cộng đồng, dù cách biệt về khoảng cách địa lý, thì giải pháp của nhiều cư dân ở ba thành phố này lại hoàn toàn giống nhau khi ứng phó với lũ lụt như sắm máy bơm, nâng nền, tăng tầng cho nhà cửa của mình hoặc xây các bức tường bằng gạch, gỗ để ngăn nước lũ vào nhà.    Cách ứng phó của chính quyền đều ở các mức độ khác nhau. Tại Indonesia, một con đê đã được chính phủ xây vào đầu những năm 2000 và được gia cố, tăng thêm chiều cao định kỳ và cuối những năm 2021 là một con đê khác, hiện đại hơn. Nhưng về tương lai, tình trạng này còn xấu hơn bởi ngập lụt dự đoán ở Bắc Jakarta có thể mở rộng khoảng 110,5 km2 vào năm 2050, chủ yếu là do hậu quả của sụt lún. Để phản hồi, một kế hoạch tổng thể mang tên Phát triển duyên hải tích hợp vốn quốc gia (NCICD) với sự tham gia của nhiều cơ quan Chính phủ Indonesia và Hà Lan khởi động vào năm 2014 không chỉ giải quyết vấn đề sụt lún mà còn hình thành Bức tường biển vĩ đại, một con đê vành đai ngoài khơi trị giá 40 tỷ USD. Tuy nhiên nhiều ý kiến chỉ trích là con đê cao ba mét này chỉ phù hợp với thách thức hiện tại và sẽ mất tác dụng vào năm 2040, trừ khi chặn đứng được sụt lún.    Vào tháng 4/2019, Tổng thống Indonesia đã loan báo thủ đô quốc gia này sẽ chuyển từ Jakarta tới Đông Kalimantan trên đảo Borneo. Sụt lún và lụt lội là hai trong số những nguyên nhân dẫn đến quyết định dời đô của chính phủ.    Ở Philippines, chính phủ cũng xây đê và bờ kè sông cùng với 21 đường dẫn nước lớn đi kèm với 21 trạm bơm, các kênh dẫn nước và một hồ trữ nước. Tuy chính phủ luôn nhấn mạnh vào sự kết hợp giữa chính phủ và cộng đồng để giảm thiểu rủi ro nhưng chủ yếu họ áp dụng cách dựng các con đê, bức tường chắn sóng và coi đó là biểu tượng của phát triển. Khuynh hướng dựa vào giải pháp kỹ thuật và chính sách tái định cư như chiến lược thích ứng của Philippines đã không tính đến độ phức tạp của đô thị hóa và thảm họa ngày nay, khiến việc áp dụng này như một cách để ‘xua đuổi’ người nghèo khỏi đô thị, ví dụ trường hợp 6.000 hộ bị dời chỗ đến vùng đất cao hơn nhưng thiếu các điều kiện sinh sống cơ bản, khiến nơi ở mới thành khu ổ chuột mới.  TP.HCM cũng không may mắn bởi phải chịu triều cường, lũ lụt nhiều lần trong năm, khi 65% diện tích thấp hơn mực nước biển 1,5 m và hằng tháng, triều cường cao khoảng 1,4 và 1,7 m. Nếu mực nước biển dâng là 2 mét thì 45% diện tích có thể bị ngập, trong đó 15,7% thuộc diện tích sản xuất công nghiệp (số liệu năm 2015. Hiện các chuyên gia coi nơi này là một trong những thành phố bị ảnh hưởng nhiều nhất của nước biển dâng.    Chính quyền TP.HCM cũng theo đuổi các biện pháp thích ứng thông thường, một kế hoạch thoát nước do JICA tài trợ từ năm 2001 nhưng đến thời điểm công trình của Cao Quỳnh Anh và cộng sự kết thúc thì 50% kế hoạch mới hoàn tất. Bộ NN&PTNT đã đề xuất một kế hoạch kiểm soát lũ có tính đến nước biển dâng với mục tiêu đảm bảo sự an toàn cho 570 km2 vùng lõi đô thị (6,5 triệu người sinh sống), bao gồm xây các đê vành đai, cửa cắt lũ, và bơm kiểm sót mực nước nội đô. Như một cách tiếp cận ngắn hạn, nhiều con đường nội đô được nâng mặt đường để chống lũ, nhưng lại làm trầm trọng tình trạng ngập lụt ở khu vực xung quanh.    Các nhà nghiên cứu nhận xét, nhiều cư dân ở một số khu vực đã bị loại khỏi quá trình lên kế hoạch thích ứng và chính sách. Do mặt đường được nâng lên, nhiều lối vào các ngôi nhà xung quanh bị thấp xuống, khiến báo chí gọi là hiện tượng “đường cao hơn nhà”, ví dụ câu chuyện nâng đường Nguyễn Đức Cảnh. Thậm chí, tại một số khu vực, nhiều cư dân giàu có còn nâng nền sân, nhà của mình cao hơn với mặt đường, khiến cho cảnh quan trở nên lộn xộn.     Cách nào để thích ứng?     Trong tương lai, những gì diễn ra ở bốn siêu đô thị này có thể tái lặp ở rất nhiều thành phố ven biển khác, dưới tác động của mực nước biển dâng và sụt lún đất. Vì thế, những biện pháp thích ứng và lộ trình thích ứng của bốn thành phố này sẽ là bài học cho những người đến sau.    Nhìn vào giải pháp của cả bốn thành phố, người ta thấy chủ yếu là dựa vào hệ thống cơ sở hạ tầng với các kiến trúc cứng như đê, cửa cắt lũ, cửa triều, nâng đường…, vốn bộc lộ một số hạn chế là tốn kém về chi phí và không tận dụng được sức mạnh của cộng đồng.    Về dài hạn, trong kế hoạch của chính quyền phải hướng đến mục tiêu là đưa người dân vào quá trình làm chính sách để tránh xảy ra mâu thuẫn và tạo thêm các vấn dề có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các thành phố duyên hải.    Để tránh làm trầm trọng hơn tình trạng sụt lún đất do khai thác nước ngầm thì Jakarta, Manila, TP.HCM có thể học hỏi cách làm của Tokyo, đó là thực hiện một số quy định nghiêm ngặt về cấm khai thác nước ngầm và thành công ngay vào những năm 1970. Trong tương lai, ba thành phố này cần có nhiều chính sách hơn để có thể ngăn chặn tình trạng sụt lún, đặc biệt là với Jakarta. Có vẻ như trên thực tế thì Jakarta và TP.HCM bắt đầu chương trình lấp giếng khoan từ một vài năm nay nhưng cần phải mất khá nhiều thời gian và tiền bạc mới đạt được hiệu quả – chi phí lấp giếng khoan tại TP.HCM vào khoảng 1,2 triệu đồng/giếng và chưa chắc đến năm 2025 có thể hoàn toàn xóa bỏ giếng khoan. Đi kèm với việc vận động người dân bỏ giếng khoan sẽ phải là việc đảm bảo cung cấp nước sạch, tuy nhiên có một điểm chưa dễ giải quyết là ngay cả đơn vị cung cấp nước sạch ở đây là tổng công ty Sawaco vẫn còn khai thác nước ngầm – lộ trình họ cam kết là đến năm 2025 sẽ giảm lượng khai thác nước ngầm còn 1/3 so với hiện nay5.        Đáng tiếc là hiện tại không có giải pháp nào là hoàn hảo. Tuy vượt trội so với ba thành phố còn lạ nhưng Tokyo – thành phố duy nhất trong số bốn siêu đô thị ngăn được sụt lún – hiện tại đang phải đối mặt với chi phí duy trì đắt đỏ các kiến trúc bê tông kiên số để ngăn ngừa tình trạng lão hóa. Bên cạnh đó, việc bảo vệ thành phố bằng các kiến trúc quy mô lớn như tường chắn sóng đã bị chỉ trích là tác động đến hệ sinh thái của vịnh, đồng thời việc làm đê cũng buộc nhiều cộng đồng phải di dời – chuyện xảy ra ở Manila còn dẫn đến việc hình thành khu ổ chuột mới.    Dẫu trong nghiên cứu này, các tác giả còn chưa đặt mục tiêu tìm đến các giải pháp “xanh” cho các thành phố châu thổ ven biển thì một số đồng nghiệp của họ ở trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM), ĐH Giao thông, ĐH Duy Tân, Viện Sinh học nhiệt đới (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã nghĩ đến điều này. Tìm hiểu sự khác biệt giữa các giải pháp cứng và “xanh” đang áp dụng tại Việt Nam, họ phát hiện ra, các kiến trúc cứng mà các địa phương vẫn sử dụng như đê chắn sóng, bờ kè chỉ có tác dụng tức thời và không đạt được hiệu quả dài hạn như các “khiên chắn sinh học” – các khu rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển và các rạn san hô ở gần bờ cùng các đầm lầy ven biển. Do đó, họ đề xuất một cách tiếp cận mới là kết hợp các hệ sinh thái với với kiến trúc cứng để tạo ra hiệu quả trước mắt và dài hạn một cách hiệu quả và bền vững. Việc áp dụng các giải pháp xanh cũng cần tính đến đặc điểm địa lý và hệ sinh thái tại chỗ nhưng về lâu dài, ngoài làm sinh động cảnh quan và làm giảm tác động môi trường của các kiến trúc cứng, “khiên chắn sinh học” có thể đem lại những dịch vụ đáng giá, ví dụ như du lịch sinh thái.□  —  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1877343521000361  2. https://openknowledge.worldbank.org/handle/10986/34639  3. https://news.mongabay.com/2020/04/a-watery-onslaught-from-sea-sky-and-land-in-the-worlds-fastest-sinking-city/  4. https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/dbscl-tphcm-co-noi-sut-lun-81-cm-trong-10-nam-qua-1151143.html  5. https://tuoitre.vn/dat-lun-qua-tp-hcm-lap-100-000-gieng-khoan-20190628081400735.htm    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Thành phố Hồ Chí Minh kêu gọi đầu tư cho khu công nghệ cao      “Các đơn vị đầu tư vào cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phụ trợ cho khu công nghệ cao (khu CNC) của TP HCM sẽ được ưu đãi tối đa”, ông Phạm Chánh Trực, Trưởng ban Quản lý khu CNC đã cam kết như vậy trong diễn đàn đầu tư tại khu Công nghệ cao của TP HCM ngày 24/10.    Các ưu đãi đầu tư vào khu CNC TP.HCM cụ thể là: áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án; miễn thuế bốn năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế; giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo.Bên cạnh đó, chủ đầu tư vào khu CNC được hưởng ưu đãi của Nhà nước về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu khi trực tiếp xuất khẩu sản phẩm và được áp dụng qui chế thưởng xuất khẩu theo qui định của pháp luật.  Người nước ngoài, người VN định cư ở nước ngoài làm việc cho các dự án đầu tư tại khu CNC và các thành viên của gia đình họ được cấp thị thực xuất nhập cảnh có giá trị sử dụng nhiều lần với thời hạn phù hợp với thời gian làm việc, hoạt động tại khu CNC… 8 dự án cơ sở hạ tầng và các loại hình dịch vụ trong khu công nghệ trong đó có một số dự án lớn trị giá từ 80-110 triệu USD đã được giới thiệu tại diễn đàn đầu tư.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành phố kỳ bí tiền Inca lộ diện tại Peru      Các nhà khoa học làm việc tại miền bắc Peru đã phát hiện ra một khu mộ hoành tráng khoảng 1.000 năm tuổi nằm trong thành phố Sican nổi tiếng thời tiền Inca.    Nền văn hoá Sican hưng thịnh vào khoảng năm 800-1300, là một trong số ít xã hội chế tạo kim loại. Sau này nó đã bị diệt vong bởi hạn hán và các cuộc xâm lược. Những phát hiện mới sẽ giúp các nhà khoa học hiểu hơn về nền văn hoá này.  “Đó là một thành phố tôn giáo, một nơi ngự trị linh thiêng của các nghĩa trang thần bí”, Izumi Shimada tại Đại học Southern Illinois, Mỹ cho biết. “Điều này cho thấy Sican là một xã hội rất có tổ chức”.  Khu vực chôn cất nằm ở bờ biển phía bắc của Peru, gần thị trấn Ferrenafe. Nó chứa ít nhất 20 ngôi mộ. Trong số những phát hiện có 12 con dao tumi – vật trang trí dùng trong nghi lễ làm từ hợp chất vàng, bạc, đồng, cùng các đồ gốm, mặt nạ, giáp che ngực.  Được chôn trong một kim tự tháp dài 30 m, các nhà khảo cổ còn tìm thấy bộ xương của một người phụ nữ ngoài 20 tuổi, được vây quanh bởi các bức tượng nhỏ hình chúa Sican, đồ gốm và các vật thể bằng đồng và vàng.  Một bộ xương của một người có vị thế được tìm thấy trong tư thế ngồi, đi kèm theo một vương miện bằng kim loại, một con hàu có nhiều gai và một chiếc lọ bằng gốm.  Những con dao tumi là một phát hiện quý giá, bởi đến nay các nhà khoa học mới chỉ biết đến tumi qua những kẻ cướp mộ. Việc phát hiện ra những con dao này trong mộ sẽ giúp họ hiểu hơn về vai trò của tumi trong văn hoá Sican.  Một trong các tumi có hình tượng trưng của Naylamp, người sáng lập ra nền văn hóa Sican mà theo truyền thuyết xuất hiện từ biển và biến thành một vị thần.  Người Sican được biết đến với khả năng sản xuất ra vàng, bạc và đồng với số lượng có giá trị trong giai đoạn đó. Họ buôn bán các vỏ sò và đá quý với các xã hội khác mà nay là Ecuador, Chile và Colombia. Nền văn hoá Sican đã suy yếu khi mà nền văn hoá mạnh mẽ nhất Peru là Inca trỗi dậy vào khoảng năm 1200.  M.T. (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thánh sống của nông nghiệp hữu cơ Ấn Độ      Đến với nông nghiệp hữu cơ từ việc sớm nhận ra cái vòng luẩn quẩn của việc sử dụng phân hóa học, Bhaskar Save ngày nay nổi tiếng khắp thế giới bởi những triết lý canh tác hài hòa với thiên nhiên và hoàn toàn không cần đến sự can thiệp của hóa chất.    Bhaskar Save sinh năm 1922 trong một gia đình có truyền thống làm nghề nông ở một ngôi làng xinh đẹp thuộc Dihri, bang Gujarat, tây bắc Ấn Độ. Ông có tuổi thơ hạnh phúc và khi nhớ về những năm tháng trưởng thành của mình, ông nói: “Trồng trọt là một phần tự nhiên, thuộc về văn hóa của cuộc sống, và thay đổi tùy theo mùa. Nó là một nghề đẹp đẽ, chứ không phải một cuộc vật lộn đầy những khổ sở và lo lắng mà các phương thức canh tác hiện đại đã biến nó thành như vậy.” Bhaskar Save lớn lên trên đồng ruộng của gia đình, trồng những nông sản truyền thống như lúa, đậu và rau. Trong hơn 10 năm là nhà giáo, ông vẫn thường xuyên làm việc ngoài đồng tất cả các ngày từ 6 giờ đến 10 giờ.  Giã từ hóa chất  Năm 1951, cùng với việc làm hệ thống tưới tiêu, ông trở thành người đầu tiên ở làng sử dụng phân bón hóa học. Ông bắt đầu có những vụ mùa bội thu tới mức giám đốc một công ty phân bón đã trao cho ông quyền đại diện để tiếp thị sản phẩm! Ông đã bị thuyết phục, cũng như đi thuyết phục người khác về hình thức trồng trọt mới và trở thành “người nông dân kiểu mẫu” trong những ngày đầu của “cuộc cách mạng Xanh”. Giữa những năm 1950, ông mua một héc-ta đất thích hợp cho việc trồng lúa. Đây chính là nền tảng cho nông trại Kalpavruksha hiện nay của ông. Nhưng Save sớm nhận ra rằng, ông đã đi vào vòng luẩn quẩn với việc sử dụng phân hóa học. Để tránh giảm sản lượng, ông phải sử dụng ngày càng nhiều phân bón vô cơ.  Mahatma Gandhi có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Bhaskar Save từ rất sớm. Những ý tưởng của Gandhi đã tạo cảm hứng cho “thí nghiệm hữu cơ với sự thật” của Save – như cách ông gọi sự chuyển đổi của mình sang canh tác hữu cơ.   Ban đầu, năng suất cây trồng giảm đáng kể. Nhưng – cũng chính lúc đó – ông nhận ra rằng, ông đã được hưởng lợi từ việc giảm chi phí sản xuất, khiến ông thu lợi nhuận ngay trong năm đầu tiên chuyển hướng canh tác (Ông không chuyển đổi toàn bộ trang trại sang canh tác hữu cơ ngay. Trước hết, với những sản phẩm rau để bán, ông vẫn tiếp tục sử dụng phân bón hóa học). Kết quả, ông đã gần như nhân đôi số ruộng và xây được một căn nhà nhỏ cho gia đình mình. Đối mặt với những khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm rau (do thừa cung), ông chuyển sang trồng cây ăn quả và cây lấy hạt. Cuối cùng, ông chấm dứt sử dụng mọi chất hóa học trên nông trại. Ngày càng có những phát triển đa dạng trên cánh đồng của ông: không chỉ có chuối, ông còn trồng cả dừa và đu đủ. Ông đã xây dựng hệ thống luống đánh cao, được ngăn cách bởi các rãnh tưới tiêu, để trồng cây. Dần dần, hình thức canh tác hữu cơ đem lại năng suất cao hơn (trong khi chi phí lao động đầu vào giảm đáng kể), dẫn đến thu nhập tăng.   Save chia sẻ kiến thức sâu rộng của mình đến những người khác bằng cách viết báo và góp phần vào việc xuất bản các ấn phẩm được tài trợ bởi Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Trong ba thập kỉ qua, hàng chục bài báo đã viết về Bhaskar Save và phương thức canh tác hữu cơ của ông – không chỉ bằng tiếng Anh mà còn bằng tiếng Marahati, Gujarati, Hindi và một số thứ tiếng khác.     Triết lý của Save  Nói về phương pháp canh tác của mình, Bhaskar Save cho rằng trồng trọt phải đáp ứng các nhu cầu của mọi sinh vật sống bởi bản thân tự nhiên đã luôn luôn tự cung cấp mọi thứ chúng ta cần.  Canh tác hữu cơ dựa trên sáu yến tố cơ bản Đất- Nước – Không khí – Giống thực vật – Côn trùng và vi sinh vật – Các giống động vật, mà trong đó con người là một phần. Mục tiêu là để con người được sống hạnh phúc mà không phải ăn bữa trước lo bữa sau. Sự tương tác của sáu yếu tố tạo nên một hệ thống ổn định, có thể tự sinh sản.           Tôi tin tưởng rằng chỉ bằng cách canh tác hữu cơ trong sự hài hòa với thiên nhiên thì Ấn Độ mới có thể cung cấp được nguồn thực phẩm phong phú và lành mạnh một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người – đó là được sống khỏe mạnh, có nhân phẩm và hòa bình.   Bhaskar Save        Save cho rằng, điều đầu tiên cần phải hiểu là không được làm gì ảnh hưởng đến sáu yếu tố của cuộc sống và không can thiệp vào các nguyên tắc sau:   1. Không có sinh vật nào là kẻ thù của nhau.  2. Về bản chất, không có gì là vô dụng – tất cả mọi vật đều đóng một vai trò riêng, kể cả cỏ dại!   3. Hoa lợi của tự nhiên không giống như việc sản xuất một sản phẩm. Tất cả các phần của hoa lợi đều có thể sử dụng được, ví dụ như năng lượng sinh khối, sau khi chúng ta đã dùng các loại quả và hạt của cây, sinh khối có thể được sử dụng để tái tạo đất.  4. Con người có quyền gieo hạt và quả, nhưng chỉ có khoảng 10 – 15% những gì được gieo sẽ phát triển. Còn lại 85 – 90% có thể được sử dụng để tái tạo độ màu mỡ của đất.  5. Phần còn lại của cây trồng, các sinh vật sống của lòng đất có quyền sử dụng.  6. Nông nghiệp là một hoạt động thiêng liêng, và vì nó chăm sóc cho trái đất của chúng ta, nó khác biệt với các ngành kinh doanh khác. Tất cả hoa lợi của bạn đều là lợi nhuận.  Bhaskar Save đã nhận được nhiều danh hiệu và giải thưởng khác nhau, trong đó phải kể đến giải thưởng “Nông dân trồng dừa giỏi nhất” của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ấn Độ. Ông thường xuyên được mời tham gia tư vấn và giảng dạy. Nhưng việc ông thích nhất là nói chuyện với những người nông dân tập sự. Mỗi thứ bảy, lại có rất đông người đến gặp Save và thăm nông trại của ông để học hỏi những kiến thức về canh tác hữu cơ.  Những kiến thức, kinh nghiệm của Bhaskar Save đều được ghi lại Bharat Mansata – một nhà khoa học tình nguyện đi theo Bhaskar Save từ hơn 30 năm nay- ghi lại. Bharat Mansata cũng là người đứng tên xuất bản mọi ấn phẩm của người nông dân tài hoa này.  Năm 2006, Bhaskar Save đã viết và xuất bản một loạt bức thư ngỏ với các chứng cớ mạnh mẽ gửi đến M.S. Swanimathan, người được coi là cha đẻ của “cuộc cách mạng Xanh” Ấn Độ và cũng là Chủ tịch Ủy ban Nông dân Quốc gia. Sự phê phán của Save dành cho Swanimathan rất dữ dội và… dũng cảm: “Ngài là cha đẻ của “cuộc cách mạng Xanh” Ấn Độ, cái đã mở tung cửa cho các chất độc từ hóa chất nông nghiệp, tàn phá các mảnh đất và cuộc sống của hàng triệu người nông dân Ấn Độ trong suốt 40 năm qua.”  Mặc dù lên tiếng chỉ trích, nhưng Save vẫn giành được sự kính trọng của Swanimathan. Swanimathan đã viết thư trả lời Save: “Tôi ngưỡng mộ công việc của ông từ lâu và tôi rất biết ơn về những gợi ý chi tiết, […] những nhận xét và kiến nghị có giá trị. Chúng tôi sẽ xem xét chúng.” Những bức thư của họ sau này được xuất bản dưới tên gọi “The great agricultural challenge” (Thách thức lớn về nông nghiệp) và được dịch ra nhiều thứ tiếng.  Giải thưởng One World Award của IFOAM1 tôn vinh Bhaskar Save như một trong những người tiên phong và có ảnh hưởng nhất trong phong trào canh tác hữu cơ. Với bề dày sáu mươi năm kinh nghiệm, ông đã truyền cảm hứng và động viên ba thế hệ nông dân Ấn Độ đi theo hình thức canh tác này. Save là minh họa cho sức mạnh của việc giáo dục theo hướng “từ nông dân đến nông dân” và thật không có gì quá khi người ta ca ngợi ông như “Gandhi của nền nông nghiệp hữu cơ Ấn Độ”.         Đất: Đất đang sống và những người theo đạo Jain đều có ý thức sâu sắc về điều này. Hàng triệu vi sinh vật tồn tại trong lòng đất. Mỗi sinh vật đều có quyền được  sống, vì thế chúng không nên bị tiêu diệt bởi thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ.              Chúng tôi chủ trương canh tác một cách tối thiểu trên mảnh đất đã được phát triển để sử dụng từ khi chúng tôi mới bắt đầu, không nên sử dụng đất quá mức (mặc dù rất khó để có thể đạt được điều này!)              Hãy nghĩ đến những cánh rừng, chúng tự tái sinh và tạo ra bầu không khí trong lành và có thể tự bảo vệ mình khỏi những xáo trộn mà con người gây nên. Đây là một ví dụ của việc thiên nhiên tự bảo vệ mình. Trong rừng có hổ và rắn như những người bảo vệ nhưng hãy nghĩ đến cả những chú voi và bàn chân to lớn của chúng đã giúp làm đất trở nên tơi xốp. Thiên nhiên tự vệ và thiên nhiên bảo vệ.   Cỏ dại: Cỏ dại là một phước lành. Chúng có thể bảo vệ mặt đất khỏi bị xói mòn do nắng mặt trời, mưa và gió. Hãy quản lý và kiểm soát cỏ dại, chứ không phải tiêu diệt chúng. Hãy xem cỏ dại là lớp mùn cho mặt đất, sẽ là đất trọc nếu bạn diệt trừ cỏ dại. Như cái đầu của một người hói, tóc/cây sẽ không mọc trở lại. Cỏ dại sẽ không gây hại nếu như nó không cao hơn cây trồng của bạn.   Các công đoạn của trồng trọt              Hoạt động trồng trọt gồm năm công đoạn: Làm đất – Bón phân – Tưới nước – Bảo vệ cây trồng – Làm cỏ. Người nông dân có thể cần nước để tưới nhưng thường thì tự nhiên sẽ tự chăm sóc tất cả những mảng được đề cập phía trên. Với phương thức canh tác hữu cơ, bạn chỉ cần 10 – 15% nước so với các cách thức trồng trọt truyền thống.   Làm đất: Giun đất thật tuyệt vời! Một ngày, chúng trở lên mặt đất 10 – 15 lần để hít thở và chính nhờ vậy mà chúng đã giúp đất thông khí. Giun đất tiêu thụ một lượng vi sinh vật bằng 1.5 lần trọng lượng cơ thể chúng mỗi ngày và khi tiêu thụ các vi sinh vật,               chúng giải phóng vào lòng đất các khoáng chất cần thiết như ni tơ, ma giê, v.v. Thông qua sự bài tiết của giun đất, mặt đất trở nên màu mỡ và nhờ quá trình hô hấp của loài vật này mà mặt đất được cung cấp đủ ô xi và độ ẩm.   Bón phân: Các chất phân hủy rất quan trọng cho sự màu mỡ và độ ẩm của đất. Chất hữu cơ không phải là thức ăn cho đất nhưng là thức ăn cho các loài động vật, mà phân của chúng giúp nuôi dưỡng đất.   Tưới tiêu: Đất cần ít nước hơn bạn tưởng. Ta cần độ ẩm, chứ không phải lũ lụt, ngập úng hay tưới quá nhiều. Đất cần đá để thông khí và tiếp nhận nước một cách vừa phải. Bạn không nên tưới quá nhiều, vì như thế đất sẽ mất ô xi và cây trồng sinh trưởng không tốt.              Rễ cây sẽ vươn dài tương ứng với độ rộng của tán lá phía trên mặt đất. Nên tưới nước dưới bóng râm và tưới ở vị trí tương ứng với mép của tán lá, để kích thích rễ cây phát triển.   Bảo vệ cây trồng: Trong số 1,25 triệu loài côn trùng thì chỉ có 1% tấn công thực vật. Thuốc trừ sâu có khả năng diệt trừ các loài côn trùng gây hại, nhưng không loại bỏ được trứng của những loài này, cho nên cũng không đạt hiệu quả cao. Thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu không được khuyến khích trong canh tác hữu cơ.              Xen canh là cách thức tốt hơn để bảo vệ cây trồng bằng việc trồng những giống cây thu hút sâu bọ ra khỏi các cây trồng chính. Những giống cây có thể sử dụng cho mục đích này có cây Neem (có vị chát) và cúc vạn thọ (khiến côn trùng vô sinh).   Bhaskar Save          Minh Trang tổng hợp   —-  1 IFOAM (International Federation of Organic Agriculture Movements – Liên đoàn Quốc tế của các Phong trào Nông nghiệp hữu cơ) là tổ chức hàng đầu thế giới về nông nghiệp hữu cơ với 750 thành viên ở 108 nước. IFOAM  được thành lập năm 1972 và có trụ sở ở Bonn, Đức. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là sản xuất theo nguyên tắc được quy định trong tiêu chuẩn quốc tế IFOAM.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tựu của người Việt ở nước ngoài trong khoa học thống kê      Những người Việt ở nước ngoài làm khoa học thống kê không nhiều, nếu không muốn nói là “đếm trên đầu ngón tay”. Và họ cũng là những nhà khoa học “trầm lặng”, bởi vì những công trình nghiên cứu của họ khó có thể trở thành một bản tin, một câu chuyện trên báo chí hay hệ thống truyền thông đại chúng. Phát triển một phương pháp xử lí số liệu, tuy có thể có ảnh hưởng cơ bản đến tất cả các ngành khoa học hàng trăm năm, nhưng khó mà hấp dẫn so với một khám phá về gen liên quan đến bệnh tật.    Tuy số nhà khoa học thống kê gốc Việt trên thế giới không nhiều, nhưng họ có nhiều đóng góp quan trọng (có khi rất quan trọng) cho khoa học thống kê. Trong số những người có những cống hiến quan trọng đó, phải kể đến giáo sư Phạm Gia Thụ tại Đại học Moncton ở Canada (mà Người viễn xứ có một bài viết về ông) và giáo sư Huỳnh Huynh, thuộc Đại học South Carolina (Mĩ). Có lẽ nhiều người Việt Nam ở trong nước, kể cả giới khoa học, ít biết đến hai người này, nhưng trong giới thống kê học, họ là hai nhà khoa học có tiếng và có ảnh hưởng quan trọng. Ông Huỳnh Huynh thuộc trường phái tần số và ông Phạm Gia Thụ thuộc trường phái Bayes.  Trong các nghiên cứu khoa học, việc xác định số lượng đối tượng cần thiết cho công trình nghiên cứu cực kì quan trọng, vì nó chẳng những là vấn đề khoa học mà còn là vấn đề đạo đức khoa học. Đóng góp quan trọng của ông Phạm Gia Thụ trong lĩnh vực này xác định số lượng đối tượng nghiên cứu (hay xác định cỡ mẫu – sample size determination) theo lí thuyết của trường phái Bayes có thể nói là cơ bản. Trong một bài báo đăng trên tập san The Statistican năm 1992(1) giáo sư Thụ đã mở ra một hướng đi cho lĩnh vực này. Tiếp tục công trình năm 1992, ông Thụ còn cho xuất bản một số công trình có giá trị trên các tập san có uy tín cao trong khoa học thống kê như Journal of the Royal Statistical Society (Anh), Statistics, Communications in Statistics-Theory and Methods, Mathematical and Computer Modelling… Kể từ khi công trình nghiên cứu năm 1992, cho đến nay không một bài báo khoa học nào về xác định cỡ mẫu theo trường phái Bayes mà không nhắc đến bài báo của tác giả “Pham-Gia T” (tức ông Phạm Gia Thụ).   Trong khoa học, có một công trình nghiên cứu chẳng những được nhiều đồng nghiệp trên thế giới tham khảo, mà còn được đồng nghiệp tham gia bình luận, khen ngợi là một vinh dự lớn.  Công trình của giáo sư Thụ là một công trình như thế: được tham khảo rất nhiều lần, và được ban biên tập tập san mời đồng nghiệp trên thế giới tham gia bình luận.  Cho đến nay, nếu một nhà khoa học nào mới bước vào nghiên cứu về lĩnh vực này mà “quên” không nhắc đến tác giả Pham-Gia thì chắc chắn sẽ bị người bình duyệt nhắc nhở ngay: đề nghị tác giả tham khảo công trình của Pham-Gia! Khi một công trình khoa học về lĩnh vực xác định cở mẫu theo trường phái Bayes, ông còn được ban biên tập tập san mời bình luận (2).   Trong nhiều nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải so sánh nhiều nhóm đối tượng, và mỗi nhóm thường được thẩm định (đo lường) nhiều lần. Chẳng hạn như trong nghiên cứu về hiệu quả của hai loại thuốc trong việc điều trị loãng xương, nhà nghiên cứu phải có hai nhóm bệnh nhân, mỗi bệnh nhân sẽ được mời tái khám nhiều lần để nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu. Trong thuật ngữ thống kê, người ta gọi đó là nghiên cứu dạng repeated measure design (thiết kế tái đo lường). Một trong những khó khăn trong việc phân tích các dữ liệu thu thập từ những nghiên cứu này là có nhiều giá trị cho mỗi bệnh nhân. Vào đầu thế kỉ 20, giáo sư Ronald Fisher, nhà thống kê học người Anh và cũng là “cha đẻ” của khoa học thống kê ứng dụng, có đề xuất một phương pháp phân tích có tên là phân tích phương sai (analysis of variance) cho các thí nghiệm có nhiều nhóm đối tượng, mà sau này sách giáo khoa gọi là kiểm định F (lấy chữ cái của tên ông Fisher đặt tên cho phương pháp). Nhưng phương pháp của ông Fisher có vấn đề khi ứng dụng vào nghiên cứu tái đo lường vì sự tương quan giữa các giá trị đo lường trong mỗi đối tượng nghiên cứu không được điều chỉnh thỏa đáng. Vấn đề này kéo dài mãi đến năm 1970, đến khi công trình của ông Huynh và đồng tác giả Feldt.  Trong một bài báo chỉ 7 trang nhưng rất quan trọng đăng trên tập san số 1 của khoa học thống kê, Journal of the American Statistical Association hay JASA (3), hai ông Huynh và Feldt đã giải quyết vấn đề này bằng cách chỉ ra điều kiện cần thiết để kiểm định F có ý nghĩa thống kê.  Công trình của ông Huynh và Feldt gây một tiếng vang cực kì lớn trong khoa học thống kê, đến nỗi bất cứ phần mềm máy tính nào, bất cứ sách giáo khoa nào, bất cứ bài báo nào về phân tích phương sai tái đo lường cũng tham khảo hay nhắc đến bài báo năm 1970 của hai ông.  Rất ít công trình nghiên cứu trong thống kê học lại có ảnh hưởng sâu rộng như thế, và cái tên Huynh và Feldt nay đã trở thành những cái tên quen thuộc: “The Huynh-Feldt epsilon” hay “Two-factorial Huynh-Feldt test”. Bạn đọc có thể gõ “Huynh-Feldt” trên Google sẽ thấy bao nhiêu bài báo nói về phương pháp này!  Đến năm 1976, hai ông Huynh và Feldt lại công bố một công trình nghiên cứu chỉ 13 trang gây thêm tiếng vang trong ngành mà sau này người ta hay nhắc đến với thuật ngữ “The Huynh-Feld correction”(4). Ngoài hai công trình tiêu biểu này, ông Huynh còn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thẩm định giáo dục bằng phân tích thống kê được công bố trên các tập san số 1 trong ngành tâm lí học và thống kê tâm lí học như Psychometrika, Psychological Bulletin, hay nghiên cứu thống kê giáo dục (Journal of Educational Statistics, Journal of Educational Measurement).    Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tựu khoa học, công nghệ đóng góp cho phát triển KT-XH      Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ có đóng góp đáng kể cho sự phát triển KT-XH tại Việt Nam trong thời gian qua vừa được giới thiệu tại “Triển lãm giới thiệu thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội” mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long.        Ngành Khoa học Xã hội giới thiệu và trưng bày 21 công trình nghiên cứu khoa học lớn về khoa học xã hội và nhân văn của 17 nhà khoa học nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đã công bố và xuất bản từ năm 2001 đến nay; Bên cạnh đó là 16 công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ do hàng trăm các nhà khoa học với 162 tên sách; Hơn 200 đầu sách khoa học chuyên ngành về triết học, lịch sử, văn học, văn hóa học, kinh tế học, xã hội học, khảo cổ, pháp luật, ngôn ngữ, tôn giáo,… Trong đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Sử thi Tây Nguyên (với hơn 70 tập, hàng trăm vạn trang ấn phẩm). Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng tập truyện thơ Nôm, Thác bản Việt Nam, Tổng tập văn học Nôm, Văn bia Việt Nam …  Lĩnh vực khoa học công nghệ có nhiều đóng góp tới sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta, dưới đây là một số thành tựu tiêu biểu.  Nông nghiệp:  Chiếc nôi của những giống lúa mới                  Chỉ riêng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 114 giống lúa, trong đó 45 giống được công nhận chính thức. Ngoài ra, hàng năm có hàng chục giống mới triển vọng được đưa vào sản xuất thử nghiệm ở hầu khắp các địa phương trong vùng. Hầu hết các giống lúa do Viện chọn tạo đều có thời gian sinh trưởng ngắn từ 90-100 ngày, đã giúp nông dân trong vùng có điều kiện thâm canh, tăng vụ, né tránh lũ, tăng năng suất và sản lượng. Viện cũng đã kịp thời chọn tạo và phóng thích các giống lúa mới có khả năng chống chịu với rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn đã đáp ứng nhu cầu của sản xuất và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bệnh dịch gây ra. Hiện nay diện tích sử dụng giống lúa do Viện Lúa ĐBSCL chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,87% diện tích giống lúa của cả nước.  Ngoài ra, Viện còn xây dựng được 11 quy trình kỹ thuật được công nhận ở cấp Quốc gia, trong đó có 5 quy trình kỹ thuật canh tác lúa, 2 quy trình kỹ thuật canh tác cây trồng cạn luân canh với lúa và 4 quy trình phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Các tiến bộ kỹ thuật do Viện phát triển là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp kỹ thuật “Ba giảm, ba tăng” đang được nông dân trồng lúa áp dụng rộng rãi hiện nay…  Y học  Nghiên cứu và sản xuất thành công văcxin phòng bệnh cho trẻ em  Văcxin “ Rotavin-M1” là vắc xin sống giảm độc lực, uống phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi, được sản xuất từ chủng virut rota G1P trên tế bào Vero tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP thuộc Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế – Bộ Y tế.                  Chủng virut rota G1P được nghiên cứu, sản xuất tại phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn GLP của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật CDC-Atlanta-Hoa Kỳ và phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm y tế – Bộ Y tế . Chủng này đã được kiểm định chất lượng theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới tại phòng thí nghiệm chuẩn thuộc Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm y tế- Bộ Y tế. Chủng G1P đã được Viện Kiểm định Quốc gia vắc xin và Sinh phẩm y tế phê chuẩn sử dụng cho sản xuất vắc xin vào năm 2007.  Thành công trong ghép tạng người  Tiếp theo những thành công trong ghép thận, ghép gan của các nhà khoa học Việt Nam, Học viện Quân y đang chinh phục những đỉnh cao mới trong một lĩnh vực rất khó – ghép tim. Tháng 11.2007, Bộ KH&CN đã phê duyệt đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu một số vấn đề về ghép tim thực nghiệm trên động vật để tiến tới ghép tim trên người ở Việt Nam”, mã số ĐTĐL.2007 G/22, do PGS. Đặng Ngọc Hùng (Học viện Quân y) làm chủ nhiệm.                  Trên cơ sở những thành công của ghép thận, ghép gan và ghép tim trên thực nghiệm, tháng 7.2009, Bộ KH&CN đã phê duyệt đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu triển khai ghép tim trên người lấy từ người cho chết não” thuộc chương trình “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng” do GS. TS. Nguyễn Tiến Bình (Giám đốc Học viện Quân y) làm chủ nhiệm.  Vào ngày 17 tháng 6 năm 2010, tại Bệnh Viện 103, Học Viện Quân y, Bộ Quốc phòng đã thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam cho bệnh nhân Bùi Văn Nam 48 tuổi, quê quán: Thôn 4, đội 4, xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với chẩn đoán: Bệnh cơ tim thể giãn, suy tim toàn bộ độ IV.  Cho đến nay, sau gần 4 tháng phẫu thuật ghép tim, tình trạng sức khoẻ của anh Nam tiến triển tốt, tự vận động, sinh hoạt bình thường.  Thiết bị cơ khí công nghệ cao  Sản xuất và ứng dụng công nghệ mới tại Nhà máy thủy điện Sơn La  Công trình nhà máy thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, gồm 6 tổ máy, công suất lắp máy 2400MW, sản lượng điện bình quân hàng năm 9,4kWh. Đây là công trình có khối lượng công việc lớn nhất từ trước đến nay do Việt Nam tự đảm nhận.  Nhiều công nghệ, giải pháp kỹ thuật mới, tiên tiến do các đơn vị tư vấn, thiết kế, sản xuất thiết bị, thi công Việt Nam làm chủ và ứng dụng thành công.  Khoa học và công nghệ Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc đưa công trình vào vận hành sớm hơn 2 năm so với dự kiến, tận dụng nguyên vật liệu trong nước, hạ giá thành sản phẩm, làm lợi cho đất nước trên 24.000 tỷ đồng. Một số công nghệ có thể kể ra là: chế biến và sản xuất tro bay tử tro xỉ của Công ty Cổ phần Sông Đà 12-Cao Cường phối hợp với Viện Khoa học vật liệu; Ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn trong thi công; Thiết kế, chế tạo các thiết bị cơ khí thủy công (các đơn vị trong nước đảm nhận hơn 27.000 tấn, chiếm 62% thiết bị siêu trường, siêu trọng, tải trọng lớn, chịu áp lực lớn, hệ thống thủy lực điều khiển với tải trọng nâng đến 700 tấn/cửa van…); Sản xuất hệ thống các thiết bị nâng hạ lớn (cẩu trục gian máy 1120 tấn, cẩu chân què 350 tấn, cẩu chân xích sức nâng 100-600 tấn), với tỉ lệ nội địa hóa trên 90% với giá thành hạ (bằng 50% giá sản phẩm tương đương của Châu Âu và 75% giá sản phẩm của Trung Quốc); Đây là những sản phẩm của Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung, được sản xuất với sự hỗ trợ của Bộ KH&CN.  Sản xuất các sản phẩm cơ điện tử made in Vietnam  Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI) đã tạo dựng được nền móng để phát triển một ngành cơ khí mới (ngành cơ điện tử), có khả năng cạnh tranh và có hiệu quả kinh tế cao. IMI đã sáng tạo kết hợp cơ khí với tự động hóa, điện tử, công nghệ thông tin, để tạo ra các sản phẩm cơ khí mới có tính linh hoạt cao (sản phẩm cơ điện tử), qua đó nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm, chiếm lĩnh thị phần trong nước, tạo giá trị gia tăng lớn cho sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế. 51 sản phẩm cơ khí mới của IMI thuộc cụm công trình “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo cụm sản phẩm cơ điện tử trong công nghiệp” đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.                  Các sản phẩm công nghệ cao của Viện chiếm lĩnh hầu hết thị trường trong nước, giá thấp hơn 30-40% so với nhập ngoại, giúp tiết kiệm mỗi năm hàng chục triệu USD do thay thế hàng nhập khẩu.  Trong 10 năm gần đây, các cán bộ khoa học của Viện đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thành công cụm sản phẩm cơ điện tử, với hơn 100 sản phẩm công nghệ cao, được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp trên khắp mọi miền đất nước, mang lại giá trị doanh thu 1.000 tỷ đồng mỗi năm.  Máy công cụ điều khiển số (CNC) do Việt Nam chế tạo  Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, Nhà nước đã cấp kinh phí cho nhiều dự án, đề tài nghiên cứu để chế tạo máy CNC. Các cơ sở nghiên cứu và sản xuất ở Hà Nội như Viện IMI, công ty Cơ khí Hà Nội (Hameco) đã những thành công bước đầu như: chế tạo được máy phay CNC 3 trục, máy tiện băng nghiêng CNC. Các kết quả trên mới chỉ dừng ở mức chế thử do điều kiện trong nước lúc bấy giờ còn gặp nhiều khó khăn nên chưa thương mại được. Năm 2000, có một loạt đề tài, dự án mới đã có kết quả bước đầu trong việc thương mại hoá sản phẩm máy CNC ở thị trường trong nước.                  Với vai trò đối tác triển khai trực tiếp hoặc chủ trì các đề tài và dự án nêu trên, công ty TNHH Cơ Điện tử Bách Khoa (BKMech) đã góp phần đưa sản phẩm tới thị trường và củng cố mô hình nghiên cứu phát triển sản phẩm, xây dựng mạng lưới các nhà cung cấp phụ trợ trong nước và nước ngoài. Công ty đã thành công khi áp dụng một số nghiên cứu mới trong thiết kế máy công cụ như kỹ thuật tối ưu hóa kết cấu giúp giảm khối lượng lên đến 30% trong khi vẫn giữ nguyên đặc tính độ cứng, tần số tự nhiên, các kỹ thuật kiểm nghiệm FEA như kiểm nghiệm độ cứng, kiểm nghiệm động học, kiểm nghiệm biến thiên nhiệt..  Nhờ các chi tiết nội địa hóa trong nước, sản phẩm máy CNC có giá thành giảm tới 30% so với sản phẩm nhập ngoại.  Năng lượng nguyên tử  Ứng dụng đồng vị phóng xạ phục vụ kinh tế-xã hội  Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, với ưu thế về thiết bị hiện đại và đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao, là cơ quan đầu ngành trong nghiên cứu, ứng dụng đồng vị phóng xạ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.                  Trong y tế, Viện đã sản xuất và cung cấp hầu hết các dược chất phóng xạ cần thiết quan trọng của y học hạt nhân như I-131, Tc-99m, P-32…góp phần duy trì và phát triển mạng lưới y học hạt nhân trên cả nước.  Trong công nghiệp dầu khí, Viện đã thành công trong nghiên cứu di chuyển của nước bơm ép trong mỏ dầu nhằm kiểm soát công nghệ khai thác, nâng cao hệ số khai thác, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm khối lượng nước bơm vào và nâng cao hệ số quét đẩy dầu mỏ.  Trong nghiên cứu môi trường, địa chất, thủy văn,  Viện đã thành công trong việc ứng dụng đồng vị phóng xạ đánh dấu để nghiên cứu quá trình quá trình xói mòn đất, quá trình thấm qua thân đập thủy điện, đê điều, quá trình bồi lắng lòng hồ, khu vực bến cảnh. Các công trình nghiên cứu sa bồi ở cửa Năm Triệu, cảng Hải Phòng có ý nghĩa đặc biết quan trọng đối với hoạt động của các hải cảng này.  Công nghệ thông tin  Phần mềm đánh giá rủi ro động đất  Công nghệ GIS được áp dụng để xây dựng công cụ phần mềm có tên gọi là ArcRisk phục vụ đánh giá độ rủi ro động đất và ước lượng thiệt hại ở phạm vi đô thị. Ngoài chức năng là một công cụ mạnh trong việc đánh giá độ nguy hiểm và rủi ro động đất bằng công nghệ GIS, ArcRisk còn được thiết kể để có thể sử dụng như một hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong công tác phòng ngừa, ứng cứu và giảm nhẹ thiệt hại do động đất gây ra đối với cộng đồng đô thị tại Việt Nam.                  Đối với mỗi kịch bản động đất, ArcRisk tự động tính toán và hiển thị các kết quả cho khu vực nghiên cứu, thiết lập bản đồ rung động nền biểu thị phân bố gia tốc cực đại nền, các bản đồ chuyên đề biểu thị khả năng phá hủy nền do các hiện tượng trượt lở nền và hóa lỏng nền do động đất gây ra và tập bản đồ thiệt hại nhà cửa do động đất ở 4 mức độ thiệt hại khác nhau: nhẹ, trung bình, nặng, hoàn toàn.  Sản phẩm của Viện Vật lý địa cầu – Viện KH&CN Việt Nam.  Hệ thống tự động hóa quản lý, giám sát và điều khiển tàu thuyền  Hệ thống tự động hóa quản lý, giám sát, điều khiển các tàu thuyền của các biên đội tàu hoạt động trên biển cho phép quản lý gần như đồng thời tình hình cơ động (và tĩnh tại) của các tàu cấp dưới; đơn vị đang ra vào, số lượng biên đội, tàu, số hiệu từng tàu; biểu thị tình hình hoạt động trong không gian rộng trên nền hải đồ số về vị trí, nhiệm vụ, tình trạng hoạt động của từng tàu; hành trình các tàu đi; Phân phối liên kết và trao đổi thông tin động một cách linh hoạt giữa các tàu và cụm tàu dưới quyền…                  Đây là hệ thống sử dụng công nghệ hiện đại, hoàn toàn chưa được nghiên cứu ở Việt Nam, ứng dụng trong quản lý, giám sát, điều khiển các tàu thuyền, biên đội tàu hoạt động trên biển của các lực lượng Biên phòng, Cảnh sát biển, các cụm tàu khai thác kinh tế biển và hỗ trợ quản lý khai thác biển và phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn.  Hệ thống là sản phẩm của Viện Điện tử – Viện KH&CN quân sự, Bộ Quốc phòng.  Công nghệ vệ tinh  Vệ tinh siêu nhỏ Pico-Dragon  Là kết quả của đề tài “Mô phỏng, thiết kế và chế tạo vệ tinh pico” cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và là vệ tinh pico đầu tiên do Việt Nam tự nghiên cứu, thiết kế và chế tạo (Phòng Động lực học vũ trũ và cơ điện tử chính xác – Viện Công nghệ Vũ trụ – Viện KH&CN Việt Nam).                  Vệ tinh có thể ứng dụng trong các lĩnh vực như: liên lạc và nhận lệnh điều khiển từ trạm mặt đất; Gửi các dữ liệu về thu thập được từ vệ tinh về trái đất; Chụp ảnh trái đất với độ phân giải thấp; Gửi dữ liệu ảnh về trạm mặt đất.  Vệ tinh Pico-Dragon siêu nhỏ chủ yếu nhằm phục vụ công tác đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, từ việc tạo điều kiện học tập, nghiên cứu các quy trình từ thiết kế, chế tạo đến thử nghiệm, phóng lên quỹ đạo và cuối cùng là điều khiển được vệ tinh.  Việc nghiên cứu, chế tạo vệ tinh siêu nhỏ Pico-Dragon hướng tới việc xây dựng đội ngũ kỹ sư làm chủ quy trình, công nghệ chế tạo vệ tinh siêu nhỏ, phục vụ cho định hướng phát triển công nghệ vệ tinh của Việt Nam trong tương lai.  Vật liệu  Cụm sản phẩm vật liệu từ  Sản phẩm nam châm đất hiếm Nd-Fe-B có từ tính siêu mạnh, vượt xa các loại nam châm thông thường, có thể so sánh với nam châm vĩnh cửu trên thế giới. Sản phẩm được ứng dụng trong chế tạo máy tuyển từ để tuyển sa khoáng titan, với giá thành chỉ bằng 20-25% so với công nghệ nhập ngoại. Sản phẩm nam châm đất hiếm Nd-Fe-B còn được ứng dụng có hiệu quả trong một số hoạt động khác như loại sắt ra khỏi nguyên liệu cho ngành gốm sứ, khai thác chế biến nguyên liệu cho ngành thủy tinh cao cấp, vật liệu chịu lửa có chất lượng cao.                  Từ năm 2002 đến nay, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng nam châm đất hiếm Nd-Fe-B vào sản xuất, trong đó có công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh giúp tiết kiệm chi phí, điện năng và tăng được giá trị sản phẩm đầu ra so với công nghệ cũ. Công ty đã tiết kiệm được 1,8 tỷ đồng/năm chi phí điện năng và gia tăng giá trị sản phẩm đầu ra so với các doanh nghiệp khác.  Sản phẩm vật liệu từ Nd-Fe-B đã được Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quyền, Viện Khoa học Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và các cộng sự  nghiên cứu chế tạo và ứng dụng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thành tựu và thách thức trong khám phá vũ trụ      Cuộc cách mạng trong thiên văn học bắt đầu từ đầu thế kỷ 17, khi Galilei tiên phong sử dụng kính thiên văn để quan sát bầu trời. Lần đầu tiên, con người cảm thấy kinh ngạc trước cảnh tượng một thế giới tràn đầy những hiện tượng kỳ lạ. Tuy nhiên, tầm quan sát của Galilei chỉ hạn chế trong những vùng lân cậ̣n cuả hệ mặt trời, bởi kính thiên văn hồi đó có kích cỡ hãy còn khiêm tốn. Trong những thế kỷ sau, những lý thuyết độc đáo, đặc biệt là thuyết tương đối cuả Einstein, cùng những kết quả quan sát bằng kính thiên văn ngày càng lớn, đã giúp các nhà thiên văn quan sát thật sâu trong vũ trụ.    Trong những thập kỷ vừa qua, những phát triển về mặt kỹ thuật và lý thuyết đã đưa đến những khám phá cơ bản trong lĩnh vực vũ trụ học. Sự huy động nhiều nhà thiên văn cộng tác với nhau và sử dụng đủ các loại thiết bị để cùng nghiên cứu một đề tài cũng là điều cần thiết để đạt được những thành tựu khoa học quan trọng. Một nhóm các nhà thiên văn đã kiên trì tìm kiếm và quan sát những “sao siêu mới” bùng nổ trong những thiên hà. “Sao siêu mới” là những ngôi sao phù du chỉ sáng chói trong một thời gian và được dùng làm chuẩn để đo khoảng cách cuả các thiên hà xa xôi và độ dãn nở cuả vũ trụ. Theo dự đoán, vũ trụ phải dãn nở chậm dần do sức hút của trường hấp dẫn cuả vật chất. Nhưng kết quả quan sát lại cho thấy vũ trụ dãn nở ngày càng nhanh. Lý do là vũ trụ chủ yếu chứa nhiều năng lượng tối. Các nhà vũ trụ học cho rằng chính năng lượng tối đã làm gia tăng tốc độ dãn nở cuả vũ trụ. Đây là một kết quả thật là bất ngờ đối với các nhà khoa học.  Những thiên thể không những phát ra ánh sáng mà còn phát ra bức xạ gamma, X, tử ngoại, hồng ngọai và vô tuyến trên toàn bộ phổ điện từ. Cơ chế phát những bức xạ tùy thuộc vào điều kiện lý-hóa trong thiên thể như nhiệt độ và mật độ cuả vật chất và từ trường. Do đó, các nhà thiên văn phải sử dụng nhiều loại kính thiên văn hoạt động trên những miền phổ khác nhau để nghiên cứu những bức xạ vũ trụ.   Vô số hệ sao trong vũ trụ có hành tinh quay xung quanh. Chúng ta tự hỏi, liệu có hành tinh nào chứa sự sống, thậm chí cả một nền văn minh siêu việt như nhân loại trên trái đất không? Phát hiện sự sống trong vũ trụ là một vấn đề nan giải và phải bắt đầu từ sự tìm kiếm những hành tinh có khí quyển và nhiệt độ thích hợp để sự sống có thể tồn tại. Tới nay, các nhà thiên văn đã tìm thấy hàng trăm hành tinh ở bên ngoài hệ mặt trời, nhưng đa số là những hành tinh khổng lồ ở dạng khí. Họ đang xúc tiến công việc tìm kiếm những siêu địa cầu có vỏ rắn tương tự như trái đất và có điều kiện thích hợp cho sự sống. Phát hiện các phân tử sinh học trong Dải Ngân hà, tiền thân cuả phân tử amino-acid thành phần cơ bản cuả protein, cũng là bước đầu trong công việc tìm kiếm sự sống.   Kính thiên văn khổng lồ tương lai E-ELT (European – Extrenely Large Telescope) có đường kính 42 m và hệ kính giao thoa vô tuyến ALMA (Atacama Large Millimeter Telescope) gồm 66 ăngten 12 m có độ nhạy và độ phân giải rất cao sẽ là những công cụ tối tân để nghiên cứu toàn thể vũ trụ trong những thập kỷ sắp tới. Năm 2009, hai kính thiên văn Planck và Herschel được phóng vào không gian để quan sát bức xạ hồng ngoại và vô tuyến phát ra từ những thiên hà và những ngôi sao đang còn ở trạng thái phôi thai, nhằm khám phá những vùng vũ trụ lạnh lẽo và chưa phát ra ánh sáng. Hệ̣ giao thoa vô tuyến Allen của đề án SETI (Search for Extra-Terrestrial Intelligence) và của Đại học Berkeley gồm 350 ăngten sẽ được dùng để phát hiện tín hiệu phát ra bởi những nền văn minh ngoài trái đất. Sự quan sát ngày càng sâu trong vũ trụ để đi ngược dòng thời gian nhằm nghiên cứu những sự kiện xẩy ra gần thời điểm Big Bang và sự phát hiện những siêu địa cầu cùng những phân tử sinh học liên quan đến sự sống ngoài trái đất là những thách thức đối với các nhà thiên văn trong thế kỷ 21.  ————  *Nguyên Giám đốc Nghiên cứu tại Đài Thiên văn Paris    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tháo dỡ nhà máy Fukushima,  một núi công việc đang chờ      Những dữ liệu mới nhất cho thấy lượng công việc sẽ tương tự như ở Chernobyl.    Trong khi những mối nguy hiểm từ các lò phản ứng hạt nhân của nhà máy Fukushima Dai-ichi đã giảm xuống, các chuyên gia và nhà khoa học đang phải đối diện với một quá trình dọn dẹp kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí cả một thể kỷ.    Những chuyên gia về các tai nạn hạt nhân trước đây cho rằng khối lượng lớn nguyên vật liệu hạt nhân cần thu dọn từ hiện trường, và mức độ hư hại, khiến cho Fukushima trở thành một thách thức chưa từng gặp. Các lò phản ứng bị hư hại của nhà máy này là nơi chứa tới gần 1000 tấn nhiên liệu hạt nhân và hàng nghìn tấn nước nhiễm phóng xạ (xem hình).   Hồi đầu tháng 4, Tập đoàn the Toshiba đã đưa ra đề xuất sơ bộ về việc dọn dẹp hiện trường trong vòng một thập kỷ. Nhưng các chuyên gia cao cấp về tổ chức dọn dẹp những vụ như Three Mile Island ở Pennsylvania cho rằng sẽ cần thêm thời gian hơn rất nhiều. Việc thu dọn nguyên vật liệu nhiễm phóng xạ đòi hỏi một chương trình được xây dựng vô cùng cẩn thận và trình độ công nghệ rất cao, và thách thức ở Fukushima lại càng lớn hơn sau những hư hại do các vụ nổ và tình trạng nóng chảy một phần.    Việc dọn dẹp chưa thể bắt đầu chừng nào các lò phản ứng chưa được ổn định. Mức phóng xạ xung quanh nhà máy đã bắt đầu giảm, nhưng vẫn còn nguy cơ phóng xạ tiếp tục thoát ra ngoài. Những dư chấn lân cận vẫn xảy ra gần đây, làm tăng nỗi lo rằng 3 lò phản ứng bị hỏng sẽ càng hư hại hơn. Công ty Điện lực Tokyo, chịu trách nhiệm quản lý nhà máy, khẳng định rằng chưa phát hiện có thêm hư hại.   Một báo cáo hôm 26/3 từ Ủy ban Quản lý Hạt nhân Mỹ (NRC) đã tiết lộ với tạp chí The New York Times rằng những vụ nổ lớn hồi tháng 3 đã làm vương vãi nhiên liệu đã qua sử dụng xung quanh địa điểm hiện trường. Các quan chức của NRC cũng tin rằng một phần nhiên liệu uranium trong lò phản ứng số 2 có thể đã thoát ra khỏi lớp vỏ thép không gỉ của lò và rơi xuống sàn bê tông bên dưới, tuy nhiên Chính phủ Nhật không xác nhận điều này. Bên cạnh đó, báo cáo của NRC cũng khẳng định nước trong lõi các lò phản ứng không lưu thông một cách phù hợp, vì vậy sẽ vẫn phải tiếp tục làm ngập các lò này, theo lời Richard Lahey, giáo sư danh dự về kỹ thuật nguyên tử của Viện Bách khoa Rensselaer tại Troy, New York.   Cách làm này gây ra vấn đề. Hệ thống làm mát lò thường là một mạng lưới khép kín. Nếu làm ngập lõi lò từ bên ngoài thì nước bị nhiễm phóng xạ sẽ tiếp tục tràn ra ngoài môi trường. Công ty Điện lực Tokyo cũng đã công bố về nước nhiễm phóng xạ ở mức cao trong các tòa nhà và mương rãnh xung quanh hiện trường.    Xử lý nước nhiễm xạ là ưu tiên hàng đầu của mọi kế hoạch thu đọn, theo nhận định của Jack DeVine, một nhà tư vấn hạt nhân độc lập từng làm việc trong 6 năm để tháo dỡ lò phản ứng số 2 tại Three Mile Island sau khi nó bị nóng chảy một phần vào năm 1979. Tai nạn này đã làm hàng nghìn tấn nước nhiễm phóng xạ caesium-137 ngập trong tầng hầm lò phản ứng. Sau vài tháng, một nhóm chuyên trách của Mỹ đã xây dựng một hệ thống hút lượng nước này ra ngoài để lọc phóng xạ qua lưới zeolit. Zeolit giúp tẩy caesium và những đồng vị khác, làm cho nước gần như sạch trở lại trước khi được bốc hơi qua một cơ sở thiết bị tại hiện trường.   Một quy trình tương tự cũng có thể khả thi tại Fukushima, DeVine nói, tuy nhiên hiện tượng rò liên tục từ các lõi lò phản ứng khiến việc thu dọn là một cuộc chạy đua với thời gian. Hơn 1000 tấn nhiễm phóng xạ ở mức thấp đã phải đổ từ các thùng chứa ra Thái Bình Dương để lấy chỗ chứa cho lượng nước nhiễm xạ ở mức cao hơn.   Làm sạch các lò phản ứng là việc còn khó khăn hơn. Những mảnh đổ nát và mức phóng xạ cao khiến hầu như không thể tiến hành kiểm tra mức thiệt hại một cách hợp lý. Trong thời gian trước mắt, các robot sẽ phải được dùng để kiểm tra các nhà chứa lò phản ứng và xác định bản đồ nhiễm phóng xạ bên trong, nhận định từ Red Whittaker, một chuyên gia về robot của trường Carnegie Mellon University ở Pittsburgh, Pennsylvania, người chuyên thiết kế chương trình thu dọn sau các tai nạn hạt nhân.   Sẽ mất vài năm trước khi con người có thể tự mình vào xem bên trong các lõi lò phản ứng. Tại Three Mile Island, các kỹ sư phải chờ 3 năm trước khi mức phóng xạ giảm xuống mức độ cho phép họ có thể hạ camera xuống qua một ống điều khiển để soi vào trung tâm lò phản ứng. Tại Fukushima, có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn. Thiết kế lò phản ứng đun nước sôi (BWR) ở đây được bịt bằng một nắp thép không gỉ cứng, chỉ có thể cạy được bằng một cần trục chạy xăng loại nặng được đặt ngay bên trên lò phản ứng. Những vụ nổ tại các lõi lò phản ứng trong tình trạng có nhiên liệu khiến “những cần trục này chắc chắn đã bị cháy”, DeVine nhận định. Vì vậy, các chuyên gia sẽ phải tìm đường vào khác.   Thiết kế của lò phản ứng cũng gây ra những vấn đề khác. “Lò phản ứng đun nước sôi này chỉ là một ổ chuột chật hẹp với đầy những ống và van”, DeVine nói. Để lấy được nhiên liệu ra, DeVine cho rằng cần có một hoặc vài công trình được xây dựng xung quanh mỗi lò phản ứng, với các cần trục hoạt động thường xuyên. “Việc này không thể xong trước 1 hoặc 2 tháng”, ông nói. Whittaker cũng cho rằng robot và con người sẽ phải cùng tham gia công việc một cách có phương pháp và phối hợp chính xác. “Bản chất của công việc này đòi hỏi sự kiên nhẫn và bền bỉ”, ông nói.    Thật vậy, những nỗ lực cần tiến hành có lẽ sẽ giống như ở Chernobyl hơn là Three Mile Island. Vào lúc này, các kỹ sư ở Chernobyl mới đang bắt đầu làm móng xây công trình làm vỏ bọc khổng lồ trị giá 1 tỷ Euro (1,4 tỷ USD), được hoàn tất bằng những cần trục tự động, sau này sẽ có chức năng nâng rời chiếc quách làm bằng thép và bê tông bị hất tung lên sau vụ nổ năm 1986. Công trình được xây mới theo kế hoạch sẽ tồn tại trong vòng 1 thế kỷ, được đồng ý về chủ trương từ năm 2001, nhưng sẽ không thể hoàn thành trước năm 2015. Công việc thu dọn hiện trường theo kế hoạch sẽ kéo dài tới năm 2065 – gần 80 năm sau thảm họa.    Công ty Điện lực Tokyo gần như chắc chắn không đủ sức thanh toán cho việc thu dọn ở quy mô này. “Tôi nghĩ rằng, cuối cùng thì Chính phủ phải trả cho việc này”, nhận định từ Robert Alvarez từ Viện Nghiên cứu Chính sách tại Washington DC, người theo dõi việc thu dọn tại các nhà máy sản xuất vũ khí hạt nhân dưới thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton. Chính phủ dường như đang cân nhắc việc tiếp quản cơ sở nhà máy, trong bối cảnh cổ phần đã lao dốc sau vụ tai nạn.    Do tính phức tạp của công việc sắp tới, một số người cho rằng tốt hơn là nên bỏ hoang toàn bộ nhà máy Fukushima – ít nhất là vào lúc này. “Đề xuất của tôi là: hàn kín nó lại và hãy chờ thêm 100 năm”, nhận xét từ Alan Johnson, nhà vật lý hạt nhân đã nghỉ hưu từng điều hành hiện trường tại cơ sở hạt nhân Sellafield của Anh hồi cuối thập niên 1980.   Sellafield, từng có tên là Windscale, nằm trong hiện trường vụ tai nạn hạt nhân tồi tệ nhất của Anh năm 1957, khi lõi than chì của một lò phản ứng bị bốc cháy. Những công việc tháo dỡ cuối cùng tại lò phản ứng này tới nay vẫn còn tiếp tục thêm 20 năm nữa, nhưng những khoảng thời gian ngắt quãng cho phép các nguyên liệu hạt nhân phân rã, và giúp các chuyên gia xây dựng được chiến lược dọn dẹp tối ưu nhất. “Đâu có lý do gì buộc chúng ta phải cố gắng làm nhanh?”, Johnson nói.   Nhưng những thảm họa tự nhiên hiếm khi xảy ra ở Anh. Còn ở Nhật, những thập kỷ tới sẽ tiếp tục thường trực mối nguy từ động đất, sóng thần, và bão lớn. DeVine không nghĩ là chiến lược tương tự ở Anh sẽ được áp dụng ở Nhật. “Hàn kín lại rồi bỏ mặc đấy là lựa chọn rất không hay”, ông nói.   (Geoff Brumfiel, Nature News)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thảo luận luật sở hữu trí tuệ      Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ là một trong những chủ đề nóng trong phiên thảo luận của Quốc hội (QH) vào những ngày cuối tháng 10 vừa qua. Dự thảo Luật, theo nhiều đại biểu QH còn mang nhiều hướng sao chép của nước ngoài, chưa có những qui định phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện đặc thù của Việt Nam.    Vấn đề bản quyền tác phẩm văn học, ghi âm, ghi hình, giống cây nông nghiệp… được thảo luận sôi nổi nhất.Theo đó, hướng làm luật phải tính thực tế sử dụng của tác phẩm trong điều kiện của Việt Nam nhưng vẫn phù hợp với thông lệ quốc tế, chứ không phải “bê” các điều khoản luật của nước ngoài để áp dụng cho trong nước.  Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong cho rằng: “Yêu cầu hội nhập buộc chúng ta phải tuân thủ các công ước quốc tế nhưng tuân thủ thế nào để khỏi ảnh hưởng tới nền kinh tế là điều đáng bàn”. Trong khi đó, Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin Phạm Quang Nghị cũng nhấn mạnh: “Cần tôn trọng và đảm bảo tối đa quyền lợi của tác giả nhưng cũng phải tôn trọng quyền của công chúng”. Dự kiến, dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp này vào khoảng trung tuần tháng 11.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thất bại là chuyện thường trong toán học      Trả lời phỏng vấn sau khi được trao giải Abel 2012, nhà toán học Mỹ gốc Hungary Endre Szemeredi, cho biết ông suy nghĩ chậm chạp và thường là thất bại, “nhưng đây cũng là chuyện thường trong toán học”.    Năm 2008, khi ông đưọc giải thưởng Shock của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển, ông nói rằng giải Fields, giải Wolf, và giải Abel là ba giải quan trọng nhất trong toán học. Khi đó ông có nghĩ ông sẽ được một trong những giải này không?  Tôi muốn sửa lại ý kiến của mình: bây giờ tôi chỉ nghĩ giải Fields và giải Wolf là hai giải quan trọng nhất thôi. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên về giải Abel. Giải thưởng này được tuyên bố đúng trưa ngày thứ tư, và tôi được gọi diện lúc 11 giờ kém năm. Đúng trưa thì ông trưởng ban giải thưởng tuyên bố tôi được giải và một người khác đọc một bài phát biểu về các công trình của tôi. Ông này được thông báo bốn ngày trước đó, tức là ông ấy biết trước tôi.   Người đó là ông Gowers, người đã đưa ra một cách chứng minh khác cho định lý Szemeredi.   Ông Gowers đã chứng minh một kết quả mạnh hơn, và phương pháp của ông ấy, chẳng hạn như Gowers norm, hiện nay trở thành rất quan trọng trong một số lĩnh vực của toán học.     Giải thưởng được tặng cho những công trình của ông trong toán rời rạc (tổ hợp) và lý thuyết tính toán. Ông có thể giải thích một cách đơn giản toán rời rạc là gì không?  Toán rời rạc nghiên cứu cấu tạo của những tập hữu hạn. Một ví dụ rất đơn giản là sổ xố: Có bao nhiêu cách đế lấy ra 5 số từ một tập 90 số. Trong câu hỏi này các dữ liệu đều là hữu hạn. Tất nhiên sự phân biệt này giữa toán rời rạc và liên tục cũng đã được đơn giản hoá rất nhiều. Giữa hai lĩnh vực luôn có sự hợp tác, tương trợ lẫn nhau. Ý tưởng từ lĩnh vực nọ co thể dùng trong lĩnh vực kia và ngược lại.   Trong các tập rời rạc, ta thường quan tâm tới những cấu trúc đẹp. Câu hỏi có tầm quan trọng đặc biệt là trong những điều kiện nào thì những cấu trúc này sẽ tồn tại. Một phenomenon thường thấy ở đây là ta có thể tìm được cấu trúc đẹp trong một hệ thống hoàn toàn hỗn loạn.    Ông có thể cho một ví dụ?  Chẳng hạn bạn lấy 6 điểm và nối chúng với nhau bằng những đoạn thẳng đỏ hoặc xanh. Dù cho bạn có tô mầu kiểu gì đi chăng nữa, bao giờ bạn cũng tìm được một tam giác có ba cạnh cùng màu. Trường hợp tổng quát của hiện tượng này, được gọi là bài toán Ramsey, đã tồn tại hơn 80 năm, nhưng lời giải của nó còn rất xa chúng ta.   Phương pháp nghiên cứu của ông như thế nào?  Tôi thường tìm một vấn đề và suy nghĩ về nó trong một thời gian dài. Tôi suy nghĩ chậm chạp và thường là thất bại, thỉnh thoảng mới có một thành công. Nhưng đây cũng là chuyện thường trong toán học. Phần lớn các nhà toán học biết những vấn đề quan trọng là vấn đề nào, và thường nhiều người suy nghĩ trên cùng một vấn đề, nhưng số vấn đề chưa được giải quyết vẫn còn rất nhiều.   Tất nhiên trong toán học bây giờ, 2, 3,4 người có thể cùng làm việc với nhau trên cùng một câu hỏi. Gần đây, có một phong cách mới, khởi đầu bởi Gowers, là Polymath. Ông ấy post một số bài toán nổi tiếng trên internet, sau đó tất cả những ai quan tâm có thể tham gia nghiên cứu và trao đổi online. Chương trình này đã có một vài thành công đánh kể. Trong hai tháng, họ đã tìm được lời giải tương đối đơn giản cho một bài toán nổi tiếng mà ông Furstenberg (giải thưởng Wolf) đã nghiên cứu trong vòng 30 năm. Polymath có thể là phương pháp nghiên cứu của tương lai, nhưng không phải ai cũng ủng hộ nó. Người ta rất khó chấp nhận khi lao động cả đời trên một vấn đề, và tự nhiên hàng trăm nhà toán học cùng đổ tới một lúc và giải quyết nó nhanh gọn. Ngoài ra, trong những trường hợp nhiều người như vậy, authorship cũng là một vấn đề cần bàn cãi.   Ông có liên quan gì đến project Polymath này không?  Không. Thường tôi làm việc với một hai người, hoặc một mình. Ngoải ra tôi không biết dùng máy tính, mặc dù theo biên chế tôi là giáo sư ở khoa máy tính (tại Rutgers) chứ không phải khoa toán. Tôi có thể chứng minh được là vợ tôi trả lời tất cả các email của tôi. Tôi có đọc chúng, nhưng không biết sử dụng máy tính thế nào cả1.   Tạo sao ông không học dùng máy tính? Ông không thích nó à?  Không. Đơn giản chỉ là tôi quá ngốc thôi. Tôi chẳng hiểu nó hoạt động thể nào cả. Tôi có thể hiểu được internet, vì ta có thể model nó như một cái đồ thị. Nhưng máy tính, ngôn ngữ lập trình, search internet, tôi chẳng biết gì hết. Ngoài ra tôi hoàn toàn bất lực với camera, chưa bao giờ tôi biết chụp ảnh như thế nào. Tôi không biết bật DVD, nếu bà vợ tôi không bật phim cho tôi hay bọn cháu không sang giúp thì tôi chỉ có ngồi nhìn thôi.   Ông có theo dõi những lý thuyết được xây dựng từ những kết quả của ông?  Có một phần. Tôi rất vui mừng khi thấy nhiều hướng nghiên cứu được nảy sinh từ một số công trình tôi viết cách đây 30-40 năm, trong đó có những lý thuyết mà tôi hoàn toàn không hiểu, như lý thuyết ergodic. Tôi không nghĩ rằng những công trình của tôi trở nên quan trọng đến thế. Chẳng hạn gần đây Green và Tao chứng minh một định lý lớn về sự tồn tại của cấp số cộng có độ dài bất kỳ trong dãy số nguyên tố. Thường những vấn đề như vậy được nghiên cứu bởi nhưng chuyên gia về giải tích số, một lĩnh vực rất xa chuyên môn của tôi. Tôi rất ngạc nhiên là vấn đề này lại được giải quyết bằng số học tổ hợp, và tôi không cảm thấy mình có vai trò lớn trong việc này. Phần lớn những định lý như vậy được chứng minh vì những người nghiên cứu nó thông minh hơn tôi rất nhiều. Nó cũng như việc xây dựng một lâu đài. Những người ở dưới xây lên một vài bức tường đơn giản, và bên trên nó những cấu trúc lộng lẫy sẽ mọc lên. Tôi chỉ dựng một vài bức tường mà thôi2.   Ngoải ra người ta cũng viết rằng có nhiều ứng dụng, thuật toán liên quan tới nghiên cứu của tôi. Tôi có làm việc trong lý thuyết đồ thị ngẫu nhiên (random graph theory), và một số nhà khoa học nổi tiếng, Bollobass, Lovasz, Szegedi, chỉ nói tới những người Hung thôi, đã phát triển thêm kết quả của tôi, và tiến tới những câu hỏi rất sâu về cấu tạo của những đồ thị rất phức tạp, chẳng hạn như mạng internet. Tôi cũng muốn nhắc tới ở đây một người gốc Hung khác, ông Barabasi, người đã làm lĩnh vực nghiên cứu này trở nên đại chúng.     Ông chỉ bắt đầu nghiên cứu toán vào tuổi 22, tại sao?    Nghe lời bố, tôi theo ngành y đầu tiên. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn tôi nhận thấy nó không thích hợp với tôi. Tôi không chắc là tôi có thể làm được một công việc mang tính trách nhiệm cao như vậy. Và ngoài ra còn phải học nhiều nữa, mà cái này thì tôi rất kém. Tôi bỏ học sau một học kỳ và đi làm ở một nhà máy. Sau đó, qua lời khuyên của một người bạn, tôi vào trường Etvos Lorand học toán. Tôi cũng không tha thiết lắm cho đến cuối năm thứ hai, khi Turan có một loạt bài giảng tuyệt vời về lý thuyết số. Sau đó tôi gặp các giáo sư Erdos và Hajnal, là những chuyên gia hàng đầu về toán rời rạc.    GS Erdos là một trong những người có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực của ông. Ông có cảm giác như thế nào khi làm học trò của ông ấy?  Ông Erdos không phải giáo sư của tôi theo kiểu ông Turan, người giảng bài và mang sách cho tôi đọc. Ông Erdos đặt câu hỏi. Thường thì những câu hỏi của ông ấy không cần nhiều kiến thức để hiểu và để giải. Nhưng bạn cần phải suy nghĩ rất sâu và rất lâu, và tìm ra những ý tưởng mới. Ông ấy quả là một người rất có tài năng trong việc mang tới những vấn đề mới đầy thú vị. Có rất nhiều giả thuyết Erdos nổi tiếng.  Từ năm 1967 đến 1970, ông là nghiên cứu sinh ở Moscow dưới sự hướng dẫn của ông Gelfand. Nhưng thật ra ông muốn làm việc với ông Gelfond. Tại sao lại có sự thay đổi này?  Tôi nhầm hai chữ cái (tiếng Nga) “o” và “a”. Tôi muốn học với ông Gelfond vì ông ấy cùng hướng với ông Turan. Nhưng khi tôi nhận ra sự nhầm lẫn thì đã quá muộn. Ở thời đó, chuyển người hướng dẫn là rất khó, nhất là khi hai ông này làm việc ở hai viện nghiên cứu khác nhau. Thật thà mà nói, tôi chẳng hiểu gì những cái ông Gelfand và nhóm của ông ấy làm cả, đó là một kiểu toán khác hẳn, ngay cả những sinh viên 20 tuổi của ông ấy cũng biết hơn tôi nhiều.   Thế tại sao ông vẫn ở chỗ ông Gelfand hơn hai năm?   Tại vì hồi đó người ta qui định phải làm nghiên cứu sinh trong 3 năm, mà tôi thì lúc nào cũng theo luật. Cuối cùng tôi cũng viết một luận án, về toán rời rạc. Ông Gelfand cho phép tôi không tham gia gì đến những cái ông và học trò ông ấy làm, và muốn viết gì thì viết. Trong con mắt ông ấy tôi là một cậu học trò người Hung với những ý định tốt nhưng không có khả năng hiểu toán học hiện đại3.   Cuối năm thứ nhất của tôi thì ông Gelfond (với chữ “o”) đến Hung dự một hội nghị tại Debrecen và tôi được chỉ định đi theo ông ấy như một sinh viên biết nói tiếng Nga. Nhưng tiếng Nga thì tôi thi trượt ở đại học hai lần. Tôi chẳng có chủt năng khiếu về ngoại ngữ nào hết. Lần thi thứ ba, tôi pass với điểm vớt (D), nhưng sự thật là chỉ vì tôi đã mua một bó hoa hồng ở chợ trời tặng bà giáo sư hỏi thi mà thôi.   Cuối cùng tôi cũng gặp Gelfond, với cái vốn tiếng Nga không khá khẩm gì của mình. Ông gíáo sư đáng kính ấy được giao một nhiệm vụ vinh quang và cay đắng là mua quần áo và giầy cho vợ và con gái. Tôi giúp ông ấy, mặc dầu kiến thức về giầy cao gót của tôi cũng rất hạn chế, và chúng tôi trở thành bạn tốt. Ông ấy hứa sẽ giúp tôi học dưới sự hướng dẫn của ông ấy khi quay trở lại Moscow. Nhưng thật đáng tiếc, ông ấy mất hai tháng sau vì bệnh tim, và thế là tôi đành ở lại với ông Gelfand.   Ông đã ở nước ngoài khá lâu. Trong 20 năm gần đây ông là GS ở Rutgers, trước đó ông cũng là visiting prof. ở ĐH Nam Carolina. Ông có nghĩ làm toán tại Mỹ thì dễ hơn ở Hungary?    Đối với sự nghiên cứu của tôi, thì chỗ tốt nhất là trường Etvos và Viện Toán học Rényi ở Budapest. Nnưng tôi có năm con, và nói thật với bạn, lý do duy nhất tôi ra nước ngoài là thu nhập. Sẽ có nhiều người không thích điều tôi nói, hoặc là họ nghĩ rằng tôi phải nói một lý do gì đó hay ho hơn, nhưng sự thật là tôi đi chỉ vì tiền thôi.   Tất nhiên là có những lĩnh vực của toán học mà chỉ có thể học được ở nước ngoài vào lúc đó. Tôi rất vui khi thấy nhiều bạn trẻ hôm nay đi vào những lĩnh vực quan trọng mà trong thời của Erdos còn chưa tồn tại. Có thể nửa trong số họ sẽ tiếp tục ở lại nước ngoài, nhưng nửa còn lại sẽ quay lại Hung. Chúng tôi có rất nhiều sinh viên có năng khiếu, và về mặt chuyên môn thì ở Mỹ cũng không hơn ở Hung bao nhiêu.     Ông có hài lòng về nguồn lực mới của toán học Hungary?  Tôi rất hài lòng, mặc dầu tôi không phải chuyên gia về sư phạm. Khi tôi đi nghe một bài giảng, nhiều khi tôi chẳng hiểu hết, nhưng có những sinh viên, mà qua những câu hỏi của họ, tôi có thể thấy họ nắm vấn đề một cách chắc chắn.   Ông nói rằng ông đã nghỉ hưu ở đây (Budapest) rồi, vậy ông thư giãn như thế nào?  Tôi rất thích đi dạo, nhưng gần đây hông tôi có vấn đề, nên việc này cũng hơi khó. Tôi chơi quần vợt tuần một lần, ông coach thường đánh bóng ngay trước người để tôi không phải di chuyển. Cách đây hai tháng tôi bắt đầu tập chơi ping-pong. Tôi xem nhiều phim với gia đình, hoặc đi rạp hát. Trên TV có loại thể thao gì tôi đều xem hết, tôi đã làm thế từ rất nhiều năm nay. Tôi xem bóng đá, Formula 1, bóng rổ, rồi cả những môn được coi là chán như là bóng chày. Quần vợt thì tất nhiên rồi. Tôi đánh không hay, nhưng khi xem tôi có thể biết ngay Nadal sẽ dùng đấu pháp nào. Cái này thì bạn chẳng cần là nhà toán học đâu, chỉ là một người mê thể thao là đủ4.  —  Chú thích của người dịch:  1. Ngoài ra ông Endre không  biết dùng text, và thường gọi computer là calculator. Nếu bà Anna không  trả lời email thì là một trong các học trò của ông ấy.  2. Bức tường của Szemeredi nói  vậy không đơn giản chút nào, chứng minh của nó hơn 50 trang và chỉ co  ít người hiểu thôi; sau đó có những chứng minh khác dễ hiểu hơn như của  Furstenberg. Định lý Szemeredi là Lemma chủ chốt trong chứng minh của  Green và Tao.  3. Gelfand sau đó tái ngộ  Szemeredi tại Rutgers. Khi đã ngoài 70, Gelfand rời Nga và nhận một  position tại Rutgers. Tại sao lại có cái position này cũng là chuyện rất  ly kỳ, nhưng xin kể ở nơi khác. Chuyện Gelfand seminar cũng rất hay.  4. Ông Endre rất có năng khiếu  thể thao, lại thuận bên trái. Ông rất thích kể chuyện khi còn thiếu  niên thi đấu bóng đá đã được Kocsis–thành viên của đội tuyển vàng  Hungary những năm 50–đến xem và khen ngợi.    Theo Vuhavan’s Blog       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thấu đáo hơn khi nghĩ bằng tiếng nước ngoài      Một loạt các thí nghiệm trên 300 người Mỹ và  Hàn Quốc cho thấy suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài giúp người ta giảm  được những sai lầm cố hữu trong tư duy, vốn ảnh hưởng rất nhiều tới  những đánh giá về mặt lợi và mặt hại trong nhận thức của con người.    “Khi suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài, liệu bạn có đưa ra cùng một quyết định như khi suy nghĩ bằng tiếng mẹ đẻ?” là câu hỏi được đặt ra bởi các nhà tâm lý đứng đầu là Boaz Keysar từ Đại học Chicago, trong một nghiên cứu công cố ngày 18/4 trên tạp chí Psychological Science.   “Theo trực quan, người ta cứ nghĩ là con người sẽ đưa ra cùng một lựa chọn, cho dù suy nghĩ theo ngôn ngữ nào, hoặc chúng ta sẽ cho là những khó khăn khi phải nghĩ bằng tiếng nước ngoài sẽ khiến các lựa chọn đưa ra một cách thiếu chặt chẽ. Nhưng kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, điều ngược lại mới đúng: suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài giúp giảm bớt những thiên lệch”, nhóm nghiên cứu của Keysar viết trong báo cáo.  Các nhà tâm lý cho rằng tư duy của con người được định hình bởi hai trạng thức tư duy: một trạng thức thiên về tính hệ thống, phân tích, có tính lý trí cao; còn trạng thức thứ hai thì nhanh hơn, mang tính vô thức, và bị ảnh hưởng bởi tình cảm.  Với cơ sở như vậy, sẽ hợp lý nếu chúng ta cho rằng việc suy nghĩ bằng lý trí trên một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ mẹ đẻ sẽ làm tốn năng lượng tinh thần hơn, khiến người ta tăng sự phụ thuộc vào những suy nghĩ nhanh chóng và cảm tính.   Nhưng ngược lại, cũng có thể việc tư duy bằng ngôn ngữ của nước ngoài khiến người ta càng phải suy nghĩ một cách thận trọng, qua đó giảm bớt vai trò của những bản năng cảm tính. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng trước những ngôn từ có tính tình cảm, cảm xúc của con người bị triệt tiêu nếu đó là những ngôn từ không phải tiếng mẹ đẻ, qua đó càng giúp người ta suy nghĩ được chín chắn hơn.   Để điều tra những khả năng trên, nhóm nghiên cứu của Keysar đã xây dựng vài thí nghiệm dựa trên các kịch bản của Daniel Kahneman, người dành giải Nobel về kinh tế năm 2002 nhờ công trình lý thuyết về viễn cảnh, trong đó mô tả nhận thức trực quan của con người về các rủi ro.  Trong một thí nghiệm nổi tiếng, Kahneman cho thấy, khi đặt ra lựa chọn có tính giả định, giữa một bên là chắc chắn cứu được 200 trong số 600 người, bên kia là một cơ hội để hoặc là cứu 600 người, hoặc là không cứu được ai, con người thường có xu hướng theo lựa chọn thứ nhất, đó là chắc chắn cứu 200 người – tuy nhiên, khi thay đổi cách diễn đạt cho lựa chọn thứ nhất, đó là chắc chắn để mất 400 người, thì đa số lại muốn đi theo lựa chọn thứ hai, cứu 600 người, hoặc là để mất tất cả.  Con người nhìn chung đều có bản năng chọn giải pháp có vẻ ít rủi ro hơn khi cân nhắc lợi và hại trước một nguy cơ mất mát. Điều này thuần túy mang tính cảm tính. Vậy thì nếu suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài khiến người ta tư duy kém chặt chẽ hơn, nhóm nghiên cứu Keysar đặt ra giả thuyết là những yếu tố cảm tính sẽ càng gia tăng ảnh hưởng. Ngược lại, nếu suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài khiến người ta suy nghĩ thận trọng hơn, những yếu tố cảm tính sẽ bị giảm bớt.  Thí nghiệm đầu tiên bao gồm 121 sinh viên Mỹ đã được học tiếng Nhật. Một số người được giao cho một đề bài bằng tiếng Anh: để chống lại một bệnh dịch sẽ làm chết 600 nghìn người, các bác sĩ phải chọn giữa hai loại thuốc: loại thứ nhất có khả năng cứu 200 nghìn người; loại thứ hai có 33,3% cơ hội cứu được 600 nghìn người, và 66,6% không cứu được ai.  Có tới 80% số sinh viên chọn giải pháp thứ nhất. Nhưng khi vấn đề được diễn đạt theo cách khác, khi phương thuốc cứu được 200 nghìn người được diễn đạt thành để mất 400 nghìn người, số người chọn giải pháp thức nhất rơi xuống chỉ còn 47%.  Tuy nhiên, với cùng một vấn đề khi được đặt ra bằng tiếng Nhật, số lượng người chọn giải pháp thứ nhất là 40% cho cả hai cách diễn đạt. Như vậy, yếu tố cảm tính đã được giảm bớt.  Hai thí nghiệm tiếp theo được đặt ra trong tình huống giả định về khả năng con người bị mất việc thay vì bị chết, được đưa ra bằng tiếng Hàn cho 144 sinh viên Hàn Quốc ở Đại học Quốc gia Chung Nam, và bằng tiếng Anh cho 103 sinh viên Hàn Quốc du học ở Paris, người ta nhận được cùng một xu hướng kết quả. “Đứng trước một vấn đề bằng tiếng nước ngoài, tính cảm tính trong suy nghĩ của con người được giảm bớt”, viết trong bài báo của nhóm Keysar.   Các nhà nghiên cứu tiếp tục kiểm tra tác động của ngôn ngữ tới những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích cá nhân của chủ thể. Theo lý thuyết viễn cảnh, người ta không muốn bị mất mát nhỏ, dù là có khả năng được lợi lớn hơn. Hiện tượng này được gọi là thận trọng cận thị, có bản chất xuất xứ từ những cảm xúc về sự mất mát.    Người ta đặt ra cho cùng một nhóm sinh viên Hàn Quốc nói trên, một loạt những khoản cá cược mang tính giả định, trong đó khoản mất đi khi thua cược là nhỏ, còn khoản thắng cược là rất lớn. Khi khoản cá cược được diễn đạt bằng tiếng Hàn Quốc, chỉ 57% sinh viên theo cược. Nhưng khi được diễn đạt bằng tiếng Anh, con số tăng lên thành 67%, càng cho thấy con người tư duy kỹ càng hơn khi suy nghĩ bằng tiếng nước ngoài.    Để kiểm tra xem quy luật trên có đúng trong đời thực không, nhóm nghiên cứu của Keysar đã làm thí nghiệm trên 54 sinh viên Đại học Chicago, những người coi tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ thứ hai. Mỗi người được nhận 15 tờ 1 USD. Họ được quyền giữ lại, hoặc đem đặt cược cho một vụ cược tung đồng xu. Nếu thua cược, họ bị mất 1 USD. Nhưng nếu thắng họ được nhận lại tờ 1 USD, và được thêm 1,5 USD – một đề xuất có vẻ là sẽ đem lại lợi nhuận nếu người ta đặt cược nhiều lần.  Khi các vụ cá cược này được diễn đạt bằng tiếng Anh, có 54% sinh viên tham gia đặt cược. Nhưng khi diễn đạt bằng tiếng Tây Ban Nha, số người đặt cược tăng thành 71%. “Khi được thông tin bằng tiếng nước ngoài, họ đặt cược nhiều hơn vì tư duy thấy rằng nhiều khả năng sẽ dành được lợi hơn là thiệt, và những ấn tượng cảm tính về nguy cơ mất mát ít gây tác động hơn”, viết trong bài báo của Keysar và các cộng sự.   Các nhà nghiên cứu tin rằng nguy nghĩ bằng tiếng nước ngoài sẽ tạo ra một khoảng cách ly hữu ích giữa nhận thức với những tiến trình vô thức, thúc đẩy suy nghĩ duy lý, giảm bớt những phản ứng cảm tính.   “Trong bối cảnh ngày càng nhiều người sử dụng một ngôn ngữ thứ hai trong công việc và đời sống hằng ngày, khám phá của chúng tôi có những ý nghĩa lâu dài”, nhóm nghiên cứu viết. Họ cho rằng những người biết tiếng nước ngoài nên sử dụng chúng khi cân nhắc các quyết định về tài chính. “Về lâu dài, điều này rất có thể sẽ hữu ích”.  TS dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thầy của chúng tôi – GS. Trần Quốc Vượng      GS. Trần Quốc Vượng sinh ngày 12/12/1934 tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Quê gốc của ông ở xã Lê Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, một làng quê “bên bờ sông nhỏ, dưới chân một trái núi nho nhỏ miệt đồng chiêm trũng xứ Nam…”. Là con trai út của một gia đình có nhiều người sớm được giác ngộ và đi theo cách mạng, theo kháng chiến, theo Đảng. Ngay từ nhỏ, ông đã được sống “trong không khí một gia đình“ có học” (và chỉ biết có học)”. Niềm đam mê văn sử của ông, lòng tâm thành với lịch sử và văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ truyền thống yêu nước, ham học, hiếu học ấy của gia đình.        Ông tự bạch: “Tôi sinh vào 9 giờ kém 10 phút tối, ngày 12/12/1934, tức là vào giờ con chó (Tuất), ngày Sáu tháng Một năm Giáp Tuất tại Hải Dương, là dòng dõi con cháu nhà Trần. Theo khoa tử vi học phương Đông cổ truyền, số phận của tôi là ngọn lửa đầu non (Sơn đầu hoả) và thân phận của tôi là dịch chuyển (Thân cư thiên di). Nay vào tuổi bảy mươi, diễn biến của đời tôi đúng là như vậy. Dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng một năm tôi chỉ ở Hà Nội khoảng 100 ngày, những ngày còn lại là đi khắp chốn cùng quê, đào bới, phát hiện những “tầng” văn hoá…”  Từ giữa năm 1956, sau khi tốt nghiệp thủ khoa ngành Sử – Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông trở thành thầy giáo của Khoa Lịch sử, Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Suốt cả cuộc đời, GS. Trần Quốc Vượng gắn bó thuỷ chung, dốc một lòng, trông một đạo cho Khoa Lịch sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐHQGHN.   Trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng là người đã góp phần xây dựng Bộ môn Khảo cổ học, có công gây dựng Trung tâm Nghiên cứu Liên Văn hoá-Lịch sử, Bộ môn Văn hoá Du lịch, Bộ môn Lịch sử Văn hoá Việt Nam và môn Địa lý Nhân văn… Ông là một trong những người khơi mở và đi đầu trong hướng tiếp cận liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu các ngành sử học, văn hoá học…  Ngoài công tác đào tạo, nghiên cứu ở Khoa Lịch sử,  ông còn giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội. Ông liên tục được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn hoá-Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Chủ nhiệm CLB Văn hoá Ẩm thực Việt Nam, Phó chủ nhiệm CLB Nghề truyền thống Việt Nam… Với ngành Sử học, GS. Trần Quốc Vượng là Chủ tịch Hội sử học Hà Nội khoá II và là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khoá IV, khoá V.  Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đơn vị Anh hùng không thể có được những thành tựu và kết quả nghiên cứu, đào tạo nổi bật như hiện nay, nếu không có sự đóng góp công sức và trí tuệ của những người thầy, những nhà khoa học gắn bó, say mê, yêu nghề, yêu người như GS. Trần Quốc Vượng.  Do có nhiều cống hiến nổi bật, năm 1980, ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sư và đến năm 1990, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Bên cạnh những huy chương Vì thế hệ trẻ, Vì sự nghiệp Giáo dục, Vì sự nghiệp Khoa học-Công nghệ, Vì sự nghiệp Văn hoá – Nghệ thuật, Vì sự nghiệp Văn hoá Dân gian, Vì sự nghiệp Biên phòng… GS. Trần Quốc Vượng đã được Đảng và Nhà nước trao tặng các huân chương cao quý: Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhất.  Là một trong bốn người được các thế hệ học trò Khoa Lịch sử tôn vinh là ”tứ trụ“ của khoa, tên tuổi của GS. Trần Quốc Vượng đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ sinh viên. Trong lòng mỗi học trò, GS. Trần Quốc Vượng là người THẦY đúng nghĩa, người THẦY viết hoa. Lối ứng xử chân tình, dân dã và tri thức uyên bác của ông đã trở thành một nét rất riêng Trần Quốc Vượng, lôi cuốn và làm say biết bao nhiêu người rong ruổi theo ông trên hành trình “vừa làm vừa học, vừa học vừa làm…” của mình.  Đối với giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của khu vực Đông Nam Á và thế giới, GS. Trần Quốc Vượng được đánh giá cao bởi những đóng góp và ý tưởng khoa học mới lạ, độc và sắc của mình ở bất kỳ lĩnh vực nào mà ông quan tâm. Ông tham gia, chủ trì và đồng chủ trì nhiều Hội thảo khoa học trong nước và quốc tế (Nga, Mỹ, Nhật, Hàn, Thái, Malaysia, Philippines…). Một số công trình nghiên cứu của ông đã được công bố ở nước ngoài như “Việt Nam khảo cổ học-tiếng Nhật”, “Vietnam Folklore and History”, “Some aspects of Vietnam Culture”, “ Confucianism in East Asia”… Ông đã góp công gây dựng, thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác quốc tế cho một số ngành đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, qua đó bước đầu tạo điều kiện để hội nhập với môi trường học thuật khu vực và quốc tế.  Cả cuộc đời, GS. Trần Quốc Vượng đau thiết cho sự nghiệp trồng người.        Trong suốt cuộc đời dạy học của mình, bất kỳ ở đâu, với đối tượng nào, cái mà ông đau đáu chính là tạo cho sinh viên một phương pháp tư duy đại học, biến quá trình Đại học thành quá trình Tự học mà trong đó, điều quan trọng bậc nhất là dám đặt lại vấn đề, dám nghĩ khác và dám dấn thân vào những góc khuất, những gai góc, những nẻo đường chưa hoặc ít được khai phá của khoa học.        GS. Trần Quốc Vượng là một trong những nhà khảo cổ học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giảng dạy môn Khảo cổ học ở khoa Lịch sử. Cùng với GS. Hà Văn Tấn, GS. Trần Quốc Vượng là những người khởi thuỷ của ngành Khảo cổ học của nước Việt Nam độc lập, “bởi khi người Pháp ra đi khỏi miền Bắc vào trước ngày 10/10/1954, họ đã không để lại một nhà khảo cổ học Việt Nam nào”. Có thể nói một cách không ngoa rằng, hầu hết những người làm khảo cổ ở Việt Nam hiện nay là học trò của ông (họ thường trìu mến gọi ông là Thầy Vượng/ Cụ Vượng và xưng con). Biết bao thế hệ học trò của Khoa Sử đã chọn Khảo cổ làm lẽ sống và sự nghiệp cho mình bởi một lý do rất đơn giản vì say ông, say những bài giảng của ông, những bài giảng được thể hiện bằng một cách rất riêng, rất Trần Quốc Vượng. Không mạch lạc theo lối trường quy, không dễ ghi chép nhưng đầy ắp ý tưởng, buộc người học phải suy ngẫm, phải đau đầu. Những ý tưởng khoa học mới, độc đáo của ông không phải đã được học trò hiểu và tiếp nhận ngay trong lúc học nhưng mãi theo họ trong quá trình “nghiệm sinh” của cuộc đời. Một học trò của ông nay đã thành danh tâm sự: Ngày ấy, nhiều thầy giảng rất có phương pháp sư phạm và khoa học. Đầy đủ các đề mục Một La-mã, Một Ả-rập… rất dễ ghi chép, nhưng bây giờ tôi quên sạch. Còn thầy Vượng giảng chẳng ghi được mấy, nhưng những lúc cần nhớ tôi nhớ hết. Ông luôn là tấm gương mà nhờ đó lớp học trò của ông sớm trưởng thành. Những ngưòi học trò của GS. Trần Quốc Vượng không chỉ được ông truyền nghề mà còn được truyền cả cách sống nữa. Với tính cách của mình, ông để lại dấu ấn rất sâu đậm trong các thế hệ học trò. Có lẽ hiếm người thầy nào đi suốt dọc từ Nam chí Bắc đều có học trò như ông, học trò của ông ở nhiều độ tuổi khác nhau, không ít người giữ cương vị cao trong chính quyền, có người tuổi cũng đã thất thập, nhưng tất thảy đều giữ chữ “kính” và tình cảm say mê đến mức “đam mê” đối với ông. Có lẽ đối với một người thầy, thì tình cảm của học trò còn hơn bất kỳ một phần thưởng, một danh hiệu nào.  Trong suốt cuộc đời dạy học của mình, bất kỳ ở đâu, với đối tượng nào, cái mà ông đau đáu chính là tạo cho sinh viên một phương pháp tư duy đại học, biến quá trình Đại học thành quá trình Tự học mà trong đó, điều quan trọng bậc nhất là dám đặt lại vấn đề, dám nghĩ khác và dám dấn thân vào những góc khuất, những gai góc, những nẻo đường chưa hoặc ít được khai phá của khoa học.  Đối với ông, người thầy phải làm sao để sinh viên trở thành chủ thể của quá trình đào tạo, tự mình khám phá và quyết định cách học cho riêng mình. Trong những bài nhập môn khảo cổ học, văn hoá học, bao giờ ông cũng bắt đầu bằng những khái niệm, mà theo ông đó là những khái niệm công cụ, khái niệm chìa khoá dẫn dắt sinh viên trên con đường khám phá chân lý khách quan và khái quát của lịch sử, văn hoá dân tộc. Ông là người dẫn đường cho bao thế hệ những người làm khảo cổ, văn hoá ở Việt Nam. Nghiêm khắc với học trò nhưng ông luôn dành cho họ tình yêu thương đằm thắm, tôn trọng cá tính, tin tưởng, kích lệ cổ vũ họ trong những bước đi chập chững ban đầu nghiên cứu khoa học. Với học trò, không chỉ dạy, ông còn học từ họ “Học thầy không tày học trò”, hơn thế nữa Ông là người sòng phẳng và tôn trọng học trò. Lấy của ai một câu, một chữ đều có nêu “xuất xứ” đàng hoàng. Câu nối thêm một thành ngữ cổ của ông “Con hơn cha, nhà có phúc, trò hơn thầy, đức nước dày” thường được mọi người tâm niệm như một lời nhắc nhở về trách nhiệm làm thầy, trách nhiệm làm người giữa các thế hệ.  Người khai phá, gieo mầm những ý tưởng mới, nêu cao lời thề trung thực, dũng cảm cho các nhà sử học. Người đã vượt qua phong ba bão táp để làm một cánh đại bàng trong làng sử học, văn hoá học Việt Nam.        Mỗi trang viết của ông là kết quả của quá trình tìm tòi suy ngẫm và nghiệm sinh lâu dài, hiện đại về tư liệu, xử lý tài tình mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ – Bảo tồn – Sáng tạo và đặc biệt ông cố gắng hết mức để gọi sự vật bằng chính cái tên của nó. Đối với những nhà nghiên cứu lịch sử, theo ông có một nguyên tắc tối thượng, đó là “Nghiêm thay sử bút”.        Mới ngoài 20 tuổi, được sự kích lệ động viên của các GS. Trần Văn Giàu, GS. Đào Duy Anh, ông đã dịch và chú giải “Việt sử lược”, để làm được điều đó, ông đã phải tham khảo rất nhiều sách chữ Hán của Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói vốn ngoại ngữ đã giúp ông rất nhiều trong những bước đi khoa học ban đầu. Cách học và dùng ngoại ngữ của ông cũng thật lạ , thật riêng. Phát âm không thật chuẩn, ngữ pháp không thật xịn, nhưng ngoại ngữ trong tay ông đã được biến hoá một cách tài tình, ông có tài “bịa chữ” cả với tiếng mẹ đẻ, cả với tiếng nước ngoài. Những bài viết của ông đầy chặt những khái niệm, thuật ngữ nước ngoài, kết quả của một sự nghiền ngẫm lâu dài, cốt chuyển tải sát đúng nhất tư duy của ông và thực sự hữu ích đối với độc giả. Ông băn khoăn, trăn trở khi chuyển nghĩa những thuật ngữ khoa học nước ngoài sang tiếng Việt, với ông đấy cũng là công việc nghiên cứu chứ không đơn thuần chỉ là dịch chữ. Cùng với “Dư địa chí” do GS. Hà Văn Tấn hiệu đính, cuốn “Việt sử lược” do ông dịch và chú giải vẫn là những cuốn sách tham khảo không thể thiếu được của những người học và làm sử Việt Nam Cổ, Trung đại. Trong hơn 40 năm qua, ông đã viết hàng trăm bài nghiên cứu in ở các báo và tạp chí ở trong và ngoài nước; là tác giả, đồng tác giả và chủ biên của hàng chục cuốn sách từ giáo khoa đến sách chuyên môn. Mỗi trang viết của ông là kết quả của quá trình tìm tòi suy ngẫm và nghiệm sinh lâu dài, hiện đại về tư liệu, xử lý tài tình mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ – Bảo tồn – Sáng tạo và đặc biệt ông cố gắng hết mức để gọi sự vật bằng chính cái tên của nó. Đối với những nhà nghiên cứu lịch sử, theo ông có một nguyên tắc tối thượng, đó là “Nghiêm thay sử bút”.          Ngày 20 tháng 01 năm 2012, Chủ tịch nước đã quyết định tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình: Văn hóa Việt Nam – truyền thống và hiện đại, bao gồm các công trình:              – Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và Suy ngẫm;              – Việt Nam cái nhìn địa-văn hóa;              – Trên mảnh đất ngàn năm văn vật.              Tác giả: Cố GS. Trần Quốc Vượng          Với Thăng Long-Hà Nội nơi lắng hồn núi sông ngàn năm, bước chân của ông đã in dấu khắp góc phố, nẻo đường. GS. Đinh Xuân Lâm cho rằng : “Hơn 40 năm qua, GS. Trần Quốc Vượng vẫn miệt mài nghiên cứu về Hà Nội và có những công trình khoa học đặc sắc về Hà Nội, ông cũng là người có công đầu trong việc xây dựng ngành Hà Nội học. Nếu có một danh hiệu “nhà Hà Nội học” thì người đầu tiên và xứng đáng nhất để nhận danh hiệu là GS. Trần Quốc Vượng”. Những tác phẩm về Hà Nội của ông thực sự là những công trình nghiên cứu uyên bác mà trong đó tập hợp đầy đủ những tri thức, những kinh nghiệm, những phương pháp ông tích luỹ được trong các địa hạt Khảo cổ học, Cổ sử học, Văn hoá dân gian…  GS. Trần Quốc Vượng là người có nhiều tiếng nói. Ông thuộc típ bác học quảng văn. Tiếng nói của ông cất lên trong nhiều lĩnh vực Khảo cổ học, Cổ sử học, Dân tộc học, Tâm lý học, kể cả Tâm lý học các chiều sâu, Nghệ thuật học, Văn hoá học… Nhưng không ở đâu, tiếng nói Trần Quốc Vượng chiếm vị trí chủ đạo, nếu không nói là duy nhất, thể hiện toàn bộ con người ông như ở lĩnh vực Địa – Văn hoá.  Những thành công của ông trong lĩnh vực Địa-Văn hoá và trong những lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn khác không đơn thuần là kết quả nghiên cứu khoa học mà là kết quả của cái Tâm, cái Tình đối với đất nước và con người Việt Nam. Mở ra một ngành học mới bao giờ cũng là công sức của nhiều người, nhưng để định hướng và phát triển ngành đó không thể thiếu được vai trò tiên quyết của người đầu ngành. Dưới sự dẫn dắt của ông, nhiều cán bộ giảng dạy của Khoa Lịch sử và của một số khoa khác trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã trở thành những người nghiên cứu và giảng dạy môn Cơ sở Văn hoá Việt Nam có uy tín, được xã hội thừa nhận. Công lao lớn nhất của ông là đào tạo lớp học trò – thầy giáo kế cận bằng cách cung cấp cho họ Phương pháp luận và Phương pháp Suy luận cùng Thực tiễn điền dã. Điều quan trọng là ông hiểu và tôn trọng cá tính, nắm bắt khả năng của mỗi học trò, của mỗi cán bộ trẻ để phát huy sức tự lực, tính năng động của họ trong cả hai lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu. Phương pháp truyền nghề này của GS. Trần Quốc Vượng cũng chính là sự chiêm nghiệm tuyệt vời thái độ tôn trọng sự đa dạng và khoan dung văn hoá mà ông luôn xem là lối sống, lối ứng xử của mình.   Người mang ”Tính trời, Nết đất”,người luôn tìm đọc cuộc sống qua những cuộc lang thang dông dài khắp đất nước, trung thực với chính mình, biết trước được số phận của mình, dám đón nhận và chịu nổi chìm cùng các dòng tư tưởng của thời đại, dám sống tới tận cùng với những đam mê.  Suốt đời mình, GS. Trần Quốc Vượng ngang dọc khắp mọi miền đất nước, cùng những người học trò của mình ông vừa đi, vừa dạy, vừa học, vừa chiêm nghiệm, thực sự dấn thân vào con đường khoa học đầy gian lao. Ông là một tấm gương thuyết phục nhất về lòng tận tuỵ trong nghề nghiệp và sự chịu đựng. Chịu đựng những nỗi cực nhọc trong các chuyến đi điền dã và cả với sự không đồng thuận lúc này, lúc kia của giới học thuật về quan điểm khoa học của mình. Từ năm 1959 đến nay, hầu như không có một di chỉ, một phát hiện khảo cổ quan trọng nào trên đất nước ta lại không gắn liền với công lao phát hiện hoặc tham gia của ông. Là một trong những nhà khảo cổ học đầu ngành, cùng với các đồng nghiệp, GS. Trần Quốc Vượng đã góp phần định danh, làm rõ những đóng góp và giá trị tiêu biểu của các nền văn hoá, các thời đại văn hoá Việt Nam trong mối liên hệ và tương quan với môi trường văn hoá của khu vực và thế giới. Những nghiên cứu lý thuyết, điền dã của ông về khảo cổ học Việt Nam là kết quả của quá trình từ nhận thức- nhận định lại – tái nhận thức đến nhận thức, nghiên cứu khoa học đối với ông không bao giờ có điểm đóng, kết cuối của mỗi công trình nghiên cứu theo ông cũng chính là MỞ ĐẦU cuộc tìm kiếm, chiêm nghiệm mới và cứ như thế…  Lối đi điền dã của ông cũng khác người, cực nhọc, vất vả và có phần nguy hiểm, ngay cả người trẻ nhiều khi còn thấy nản. Ông thường chọn “vùng sâu, vùng xa, vùng biên”… để dong duổi cùng đồng nghiệp và học trò. Khi tìm nơi đi khảo sát, điền dã, ông không chỉ chọn lựa theo hiểu biết và kinh nghiệm của mình và của người khác mà còn theo trực giác, cái trực giác quá nhạy bén làm nhiều người quanh ông kinh ngạc và được coi là khả năng ngoại cảm để nhìn xuyên qua lòng đất. Nhiều học trò khi chứng kiến những phán đoán “như thần” của ông đã đi từ ngạc nhiên, băn khoăn đến “tâm phục, khẩu phục” để rồi gật gù với nhau rằng nếu Thầy đã bảo đi thì cứ đi, nếu Thầy đã chọn ngày, chọn giờ, chọn nơi rồi thì cứ yên tâm, thể nào cũng khối cái hay và “chắc chắn chỉ có hay trở lên”. Kết quả của những đợt điền dã như thế hầu như không bao giờ chệch khỏi những tiên nghiệm khoa học của ông.  Cuộc đời của ông, sự nghiệp của ông đa chiều kích, dung hoà giữa các mối quan hệ giữa Cá nhân- Tôi và Cộng đồng- Chúng Tôi, nhưng dù ở đâu, trong bất kỳ tình huống nào, cá tính Trần Quốc Vượng vẫn in dấu ấn, bởi cá tính đó xuất phát từ bản lĩnh cá nhân, từ ý thức về bản thân và chịu trách nhiệm về hành động của chính mình.  Ở ông không có sự tách biệt giữa tâm hồn lãng du của người nghệ sĩ với sự thâm trầm uyên bác của nhà khoa học và cả hai đã tạo nên một diện mạo kỳ nhân Trần Quốc Vượng. Một người nghệ sĩ không hình thức, một người của dân gian, hoà nhập trên đường tre, ngõ trúc, gập ghềnh trên lối sống trâu mà nhẹ tênh hơn là phăng phăng giữa mặt nhựa, mà nặng nề… Có lẽ ít người thành công như ông khi cả đời dong duổi trong mê lộ của lôgích và trực giác để tìm tòi và suy ngẫm và nghiệm sinh những ý tưởng mới, kỳ lạ và như “ngọn lửa đầu non” toả sáng, dẫn dắt. Ngạo nghễ mà dân dã, ông đã khẳng định một lý thuyết Folklore học của chính mình “Cái “bác học” và cái “dân gian” ở Việt Nam là rất gần nhau và rất dễ chuyển hoá cho nhau”.   HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH là NGUYÊN TẮC và PHƯƠNG PHÁP DẠY/HỌC VÀ NGHIÊN CỨU của GS. Trần Quốc Vượng. Ông đã đắc đạo trong quá trình đọc-đi-chơi-học hỏi không bao giờ ngừng của mình.  Cuộc đời và sự nghiệp của GS. Trần Quốc Vượng thực sự là tấm gương sáng cho những thế hệ học trò. Những khai phá, mở đường cho những cái nhìn mới về Văn hoá- Sử – Địa học… Việt Nam của GS. Trần Quốc Vượng đã, đang và sẽ được các thế hệ mai sau tiếp bước. Ánh lửa trong các công trình nghiên cứu và quan điểm học thuật sâu sắc của Thầy vẫn còn đang toả sáng. Những thông tin khoa học quý giá và những ý tưởng khoa học mới mẻ của Thầy vẫn đang chờ chắp cách bay lên.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thầy đã nghỉ ngơi      Gần 4 giờ chiều, nhận dòng tin ngắn ngủi của anh Văn Thành từ Tia Sáng: “Thầy Tụy ra đi rồi”.    Không hiểu sao, trong tôi lúc đó không phải là tâm trạng bàng hoàng, buồn đau như mỗi lần nghe tin dữ, mà lại hiện lên hình ảnh Thầy đang cười rất tươi, với ánh mắt thông minh, sắc sảo, như mỗi lần Thầy nói chuyện với chúng tôi.   Sau sự ra đi vĩnh viễn của Cô Ngọc Anh, người bạn đã cùng Thầy đi suốt cuộc đời, sức khoẻ của Thầy giảm đi nhanh chóng. Hơn một năm nay, chúng tôi, những học trò và đồng nghiệp của Thầy, tuy không ai dám nói ra nhưng đều đã nghĩ sẽ có ngày Thầy ra đi. Tôi chợt nhận ra, dường như Thầy đã cố tình yếu đi như thế trong những tháng cuối đời. Để con cháu được chăm sóc, để học trò không bị đột ngột. Nhưng trong cuộc đời 92 năm, Thầy cũng chỉ dành hơn một năm để người ta được chăm sóc Thầy. Vẫn là Thầy, trước lúc đi xa đã kịp chuẩn bị chu đáo cho người khác, như thường lệ!  Thầy đã sống trọn đời mình với Khoa học và Giáo dục Việt Nam, sống trọn đời mình vì đất nước. Đã đến lúc Thầy được nghỉ ngơi. Với chúng tôi, “Thầy nghỉ ngơi” vẫn là cái gì đó có phần lạ lẫm, vì nói đến Thầy Hoàng Tụy là nói đến một người lao động miệt mài, không phút nào ngừng trăn trở vì đất nước.  Nhưng, chúng tôi không thể đòi hỏi gì hơn nữa ở Thầy, Cuộc đời này cũng không thể đòi hỏi gì hơn được nữa ở Thầy.  Một người Thầy lớn đã nghỉ ngơi, sau khi kịp kèm cặp, đào tạo nên những thế hệ học trò để họ nối bước Thầy.  Một Sĩ phu đã không còn cất lên tiếng nói. Nhưng cuộc đời này sẽ vẫn vang lên dõng dạc tiếng nói cương trực của Thầy, vì những điều Thầy nói đến từ lâu vẫn còn hiện hữu. Là “Sĩ phu thời nay”, như tên một cuốn sách viết về Thầy, Thầy đã không ngần ngại nói thẳng, dù biết tiếng nói của mình có được chấp nhận hay không. Kẻ sĩ có thể chết vì sự thật.   Khi một ai đó ra đi, người ta thường nói “đã đi vào Lịch sử”. Thầy Tụy từ lâu đã là một phần của Lịch sử Toán học Việt Nam.   Nay đã đến lúc Thầy được nghỉ ngơi. Những học trò của Thầy phải tiếp tục gánh vác việc Thầy còn dang dở.□    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Thay đổi khí hậu dẫn tới làn sóng “di dân môi trường”      Theo dự báo của Asian Development Bank  (ADB), các nước cần phải chuẩn bị cho làn sóng di dân vì tình trạng biến  đổi khí hậu dẫn tới mực nước biển dâng cao, lũ lụt, và thổ nhưỡng bị  thoái hoá.     Theo Nhóm nghiên cứu thay đổi khí hậu quốc tế của Liên hiệp quốc (IPCC) thì nhiệt độ gia tăng sẽ tạo nên rất nhiều ảnh hưởng đối với môi trường. Châu Á Thái Bình Dương là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất, như việc đối diện với lượng mưa thay đổi, khí hậu thay đổi thất thường, nước biển dâng cao, lũ lụt, cho tới những cơn bão nhiệt đới lớn. Trong số 10 quốc gia dễ chịu ảnh hưởng nhất của sự thay đổi môi trường thì có 6 quốc gia thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương.  Theo báo cáo này thì Đông Nam Á có 1/3 dân cư ở trong khu vực nguy hiểm, bao gồm Indonesia, Miến Điện, Philippines, Thái Lan, Việt Nam.   Báo cáo cũng cho biết, từ năm 2010 tới năm 2011, thiên tai đã làm cho 42 triệu người phải rời khỏi nơi cư trú.” Hoàn cảnh môi trường thay đổi có khả năng phát sinh một cách đột ngột, cũng có khả năng hình thành từ từ. Biến đổi khí hậu càng gây ảnh hưởng lớn tới môi trường sống thì lượng di dân môi trường cũng càng nhiều, nhưng để dự đoán số lượng di dân là một việc vô cùng khó khăn.   Các nhà khoa học của tổ chức này cho biết, phát điện và khí thải xe hơi từ nhiên liệu hoá thạch sẽ làm hiệu ứng nhà kính càng gia tăng, dẫn tới nhiệt độ trái đất cũng tăng cao, các hiện tượng tự nhiên cũng tăng theo.   Châu Á là khu vực đông dân cư, thêm đường bờ biển dài, rất dễ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu. Một số đảo nhỏ ở Papua New Guinea do khí hậu thay đổi dẫn tới mặt nước biển dâng cao, các cư dân phải di dời đến nơi khác.Năm 2010 ở Pakistan phát sinh lũ lụt, lưu vực sông Ấn Độ bị nước nhấn chìm, dẫn tới hơn 10 triệu người phải di rời, đồng thời bão lớn ở Philipines khiến hơn 300.000 người gặp tai nạn.  Nhị Giang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thay đổi toàn cầu và các vấn đề của toàn cầu hóa      Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Trường Đại học Tri thức (Université de tous les savoirs) phối hợp với tạp chí Tia Sáng tổ chức một loạt sáu buổi thuyết trình đặc sắc dành cho “ các thay đổi toàn cầu và các vấn đề của toàn cầu hoá” để hưởng ứng Năm quốc tế hành tinh trái đất 2008 do Liên Hiệp quốc lựa chọn    Những khái niệm về phát triển bền vững, sự thay đổi khí hậu, bảo vệ môi trường đã trở thành quen thuộc đối với công chúng rộng rãi. Chúng đã nằm ở tâm điểm của các cuộc tranh luận trong công chúng và ở Pháp cũng như ở Việt Nam, nhiều đạo luật đang được soạn thảo về đề tài này.  Những đe doạ mà sự phát triển của các hoạt động của con người tạo ra đối với môi trường và sự bảo tồn các mối cân bằng tự nhiên của hành tinh chúng ta lâu nay đã bị coi nhẹ, thậm chí không được biết đến. Ngày nay mỗi người đều cảm nhận những mối đe doạ đó một cách mơ hồ. Những hiện tượng thiên nhiên với quy mô chưa từng thấy như các thảm hoạ lụt lội gần đây ở châu Á và châu Âu, hay sự xuất hiện những dịch bệnh mới như cúm gia cầm, hoặc nguy cơ của sự tăng giá dầu, xăng được xem là chứng cứ xác thực của những sự thay đổi đang diễn ra. Tuy nhiên những nguyên nhân và động lực của những sự phá vỡ cân bằng ấy còn chưa được hiểu biết một cách đúng đắn và mối đe doạ toàn cầu hình như còn được cảm nhận một cách mơ hồ.        TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÍ THỨC     Trường Đại học Tri thức – Université de tous les savoirs  được thành lập ngày 01 tháng 1 năm 2000 dựa trên ý tưởng ban đầu của Jean -Jacques Aillagon đã trở thành nơi gặp gỡ thường xuyên của nhiều nhà khoa học, văn hóa nổi tiếng trong đó có những người được giải thưởng Nobel và đông đảo công chúng yêu văn hóa, khoa học hiện đại.    Mở đầu năm 2000 bằng bài thuyết trình của Francois Jacob nhan đề “Sự sống là gì”, Trường Đại học Tri thức cho đến nay đã tổ chức được 650 buổi thuyết trình khoa học với sự tham dự của hơn 400.000 thính giả. Trường cũng đã trở thành sự kiện văn hóa và khoa học được truyền bá đa phương tiện đầu tiên: trên internet, trên đài phát thanh (France Culture), trên đài truyền hình (France 5), trên báo chí (Le Monde, Libération).    Từ năm 2000 cho đến năm 2005, nhà xuất bản Odile Jacob đã xuất bản toàn bộ các bài thuyết trình của trường Đại học Tri thức, và được xem như là bộ Bách Khoa toàn thư đầu tiên của thế kỷ 21.          Tại các buổi thuyết trình, những nhà bác học Pháp nổi tiếng đã giải thích về những sự thay đổi đó và làm chúng ta hiểu rõ những hậu quả có thể xảy ra đối với cuộc sống hàng ngày của chúng ta, trong một tương lai gần đây. “Bốn yếu tố” được xem là sợi chỉ xuyên suốt các buổi thuyết trình này: cái lý thuyết của thời Cổ đại kinh điển ấy là một cách để mô tả và phân tích thế giới; ở châu á nó tương đương với bốn yếu tố trong đạo Phật hay “Ngũ hành” trong thuật chiêm tinh của Trung Quốc”. Điều lạ lùng là ngày nay thuyết này tìm lại được tính thời sự.  Ông Hervé le Treut đề cập đến vấn đề thay đổi khí hậu tạo ra bởi sự thải khí hiệu ứng nhà kính và xem xét nhiều giả thiết về các “ngưỡng nguy hiểm” không được vượt qua (Không khí). Ông Jean Franỗois Donzier trình bày làm thế nào mà từ nay đến năm 2030 nước có nguy cơ lớn trở thành thách thức chủ yếu cho sự phát triển kinh tế và xã hội của nhân loại (Nước). Ông Franỗois Bricaire phát triển chủ đề về nguy cơ dịch bệnh, mối đe doạ đáng sợ đối với nhân loại (Lửa). Ông Marcel Mazoyer xem xét dưới những điều kiện nào mà các nền nông nghiệp trên thế giới có thể nuôi sống đầy đủ những cư dân tương lai của hành tinh (Trái đất).  Trong lý thuyết cổ điển, còn có một yếu tố thứ năm, một nguyên lý thống nhất và cân bằng của cả bốn yếu tố: tinh thần. Hai bài thuyết trình của nhà Triết học Yves Michaud và ông Philippe Meyer được coi yếu tố thứ năm đó! Nhà Triết học Yves Michaud trình bày về “người toàn cầu” mà biểu tượng là Nhà du lịch của thế kỷ 21 và về những hậu quả của ngành du lịch của số đông đối với những nền văn hoá bản địa và đối với môi trường. Ông Philippe Meyer sẽ đưa ra một trường hợp thực tế và tự hỏi về những mối đe doạ của sự phát triển của một nền văn hoá đơn độc đối với tiếng hát Pháp, một “di sản quốc gia ca hát”.  Những bài thuyết trình có đông đảo công chúng cũng là cơ hội để trao đổi ý tưởng và suy nghĩ được chia sẻ xung quanh những thách thức lớn của nghiên cứu khoa học. Những đề tài ấy bao quát nhiều ưu tiên trọng hợp tác của Pháp đối với Việt Nam.  ————-  * Tham tán Hợp tác và Hoạt động Văn hóa  Michel Flesch*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thấy gì từ Báo cáo Môi trường Quốc gia 2010      Báo cáo môi trường Quốc gia 2010 đã đưa ra một số đánh giá thiệt  hại đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên phần đánh giá về các thiệt hại kinh  tế nhìn chung chỉ mới mang tính định tính, thiếu các lập luận định lượng  và thiếu cả cơ sở dữ liệu.       Bộ Tài nguyên và Môi  trường đã cho công bố Báo cáo môi trường Quốc gia 2010 – Tổng quan Môi  trường Việt Nam. Xây dựng các báo cáo môi trường quốc gia mang tính tổng  quan là hoạt động mang tính định kỳ được thực hiện 5 năm một lần theo  Luật Bảo vệ môi trường 2005 (kèm theo các báo cáo môi trường quốc gia  mang hàng năm mang tính chuyến đề), khớp nối với kế hoạch phát triển  kinh tế – xã hội của Chính phủ trình Quốc hội.   Báo cáo tập trung chủ yếu vào hiện trạng môi trường Việt Nam dưới tác động của phát triển kinh tế – xã hội, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, trên các lĩnh vực môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải rắn, và đa dạng sinh học.   Đây là phần nội dung được soạn thảo tương đối công phu, với nhiều đánh giá, biện luận, dựa trên cơ sở số liệu quan trắc cụ thể.  Về đánh giá tác động do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, báo cáo cũng đưa ra một số đánh giá thiệt hại đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên trong phần này, chỉ có phần đánh về thiệt hại đối với sức khỏe cộng đồng là căn cứ trên số liệu cụ thể. Phần đánh giá về các thiệt hại kinh tế nhìn chung chỉ mới mang tính định tính, thiếu các lập luận định lượng và thiếu cả cơ sở dữ liệu.   Năm vấn đề bức xúc chính về môi trường được báo cáo tổng kết là: ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng; đa dạng sinh học suy giảm; an ninh môi trường bị đe dọa; quản lý môi trường còn nhiều bất cập; và vai trò cộng đồng chưa được phát huy đầy đủ.   Để đối phó và giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc trên đây, báo cáo đề ra nhiệm vụ xây dựng và thực hiện các đề án bảo vệ môi trường quốc gia, là một trong số các mục tiêu trong định hướng bảo vệ môi trường của 5 năm tới. Định hướng này cũng đề ra các mục tiêu khác, bao gồm hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật, hoàn thiện hệ thống tổ chức, nâng cao hiệu quả các công cụ quản lý môi trường hiện có, tăng cường đầu tư tài chính, xã hội hóa và nâng cao nhận thức cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế, và một số mục tiêu giải pháp cụ thể đối với các ngành liên quan.   Đối với giải pháp về khoa học và công nghệ, báo báo xác định cần đổi mới công nghệ để đẩy nhanh và nâng cao chất lượng công tác quan trắc môi trường và điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường. Đồng thời tăng cường hiệu quả ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường và phát triển công nghệ xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải   Các góp ý cho báo cáo  Nhiều chuyên gia và đại diện các Bộ, ngành đã góp ý kiến cho báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường.   Về cơ sở dữ liệu quan trắc, đại biểu Lưu Đức Hải của Đại học KH Tự nhiên nhận định rằng có những số liệu quan trắc được sử dụng cho báo cáo còn nhiều hạn chế, thiếu tính đại diện, không có ý nghĩa thống kê. Đại biểu Phạm Công Tuấn của Đại học Y tế Công cộng cho rằng cơ sở dữ liệu của báo cáo cần được công khai hơn nữa, cả về phương pháp quan trắc, phương pháp lấy mẫu, qua đó thì báo cáo mới thực sự hữu ích cho nghiên cứu và giáo dục. Đại biểu này nhấn mạnh, cơ sở dữ liệu về môi trường thu thập được là nhờ tiền thuế của nhân dân, vì vậy nhân dân phải được tạo điều kiện khai thác sử dụng.          Cơ sở dữ liệu về môi trường thu thập được là  nhờ tiền thuế của nhân dân, vì vậy nhân dân phải được tạo điều kiện  khai thác sử dụng        Về việc thiếu các đánh giá định lượng, đại biểu Hoàng Xuân Cơ, Đại học KH Tự nhiên góp ý rằng báo cáo chưa tính toán được các thiệt hại hay lợi ích cụ thể của các hoạt động và chính sách môi trường. Liên quan tới vấn đề này, đại biểu Vũ Xuân Nguyệt Hồng của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, Bộ Kế hoạch Đầu tư cho rằng căn cứ vào báo cáo, Chính phủ và Quốc hội chưa nhận thức được khả năng kiểm soát môi trường của Nhà nước đang ở mức độ nào, và chưa thấy được hiệu quả của việc tăng đầu tư cho môi trường từ 1% Ngân sách Nhà nước lên 2% như Bộ Tài nguyên Môi trường đề xuất.   Các ý kiến khác đề nghị báo cáo bổ sung cho một số lĩnh vực cụ thể. Môi trường nước là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm. Đại biểu Nguyễn Đình Hòe của Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam đề nghị bổ sung đánh giá tác động của việc con người can thiệp vào hệ thống dòng chảy, tự ý chuyển đổi dòng chảy từ sông này qua sông khác. Đại biểu Nguyễn Viết Mạnh của Bộ Tài nguyên Môi trường đề nghị bổ sung đánh giá tác động từ biến đổi khí hậu – nước biển dâng và hành vi và chính sách của các nước ở thượng nguồn tới hạ lưu sông Mekong.   Quan điểm người trong cuộc  Trả lời các ý kiến góp ý, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên của Bộ TNMT ghi nhận rằng báo cáo cần được bổ sung thêm nội dung. Về số liệu quan trắc, ông nhận định, so với khu vực, Việt Nam nằm trong số những nước có hệ thống quan trắc yếu nhất và mỏng nhất. Vì vậy, trong thời gian trước khi trình Chính phủ, đề nghị các ngành chức năng, các chuyên gia tiếp tục bổ sung và góp ý về số liệu. Về mức chi đầu tư cho môi trường, ông cho rằng mức chi 1% Ngân sách Nhà nước như hiện nay là không đủ, nhưng nếu sử dụng có hiệu quả trong thời gian tới thì 1% cũng có thể làm được nhiều việc lớn.          Mức chi 1% Ngân sách Nhà nước như hiện nay  là không đủ, nhưng nếu sử dụng có hiệu quả trong thời gian tới thì 1%  cũng có thể làm được nhiều việc lớn        Ông Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ TNMT kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, cho rằng trong định hướng giải pháp môi trường, Việt Nam cần đặc biệt chú trọng thực hiện những giải pháp ít tốn kém tiền của nhưng dễ đạt hiệu quả ngay, đặc biệt là là công tác giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng. Ông cũng nhận định rằng để tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội, Việt Nam tất yếu phải trải qua những hệ lụy về môi trường. Ông cho rằng các quốc gia đều phải trải qua giai đoạn phát triển hình parabol ngược, trong đó mức độ tác động tiêu cực tới môi trường ngày càng tăng song hành theo mức độ phát triển, cho tới một mức độ nhất định thì sẽ giảm dần. Việt Nam chỉ có thể cố gắng làm sao để sớm vượt sang phíabên kia đỉnh của hình parabol ngược này.   Báo cáo Môi trường Quốc gia 2010 có thể được tải online tại:  http://www.vea.gov.vn/VN/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/B%C3%A1oc%C3%A1om%C3%B4itr%C6%B0%E1%BB%9Dngqu%E1%BB%91cgian%C4%83m2010T%E1%BB%95ngquanm%C3%B4itr%C6%B0%E1%BB%9DngVi%E1%BB%87tNam.aspx            Author                Quản trị        
__label__tiasang Thầy Lê Văn Thiêm      Giáo sư Lê Văn Thiêm hình như chưa bao giờ tự nói về mình. Những người khác cũng chỉ viết về Ông từ sau khi Ông mất, ngày 3 tháng 7 năm 1991. Nhưng cả lúc Ông còn sống cũng như khi Ông đã ra đi, người ta thường nhắc tên Ông trong những câu chuyện hằng ngày, kể cho nhau nghe những giai thoại về Ông.      Những điều tốt đẹp nhất của cuộc sống bao giờ cũng rất giản dị. Thầy Thiêm giản dị như những câu chuyện giản dị nhất của đời thường. Bởi thế, viết về Ông thật là khó. Lúc này đây, tôi như thấy Ông với ánh mắt thật hiền lành nhưng có pha chút giễu cợt khi thấy tôi định liệt kê những công việc Ông đã làm, những chức vụ Ông từng đảm nhiệm, như lệ thường khi viết về một vĩ nhân. Không dám trái ý Thầy, tôi xin được bắt đầu từ một kỷ niệm.    Đó là năm 1966, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang ở thời kì ác liệt nhất. Các trục giao thông chính, đường bộ, đường sắt bị phá hoại nghiêm trọng. Kênh Nhà Lê (con kênh được đào từ thời Lê, chạy gần song song với quốc lộ 1) được sử dụng để chuyên chở hàng hóa, vũ khí. Lòng kênh đã cạn, nhưng không thể dùng một lực lượng quá lớn để nạo vét dưới bom đạn suốt ngày đêm. Giáo sư Lê Văn Thiêm đã đề xuất dùng phương pháp nổ định hướng, tức là dùng mìn nổ dưới lòng kênh, nhưng bố trí sao cho hầu hết đất đá sau khi nổ rơi lên bờ kênh, chứ không phải rơi lại xuống lòng kênh. Ông đã dạy cho chúng tôi lý thuyết nổ định hướng, mà tư tưởng chủ đạo có thể tóm tắt như sau: Khi có một vụ nổ lớn, những vật chất gần tâm nổ chuyển động theo quy luật của chất lỏng lý tưởng (không nhớt, không nén được). Có thể mô tả chuyển động này nhờ lý thuyết hàm biến phức, là chuyên ngành toán học mà giáo sư nghiên cứu từ nhiều năm. Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể điều khiển hoàn toàn vụ nổ, tức là sắp xếp sao cho vật chất quanh tâm nổ chuyển động theo một quỹ đạo định sẵn. Chúng tôi, một nhóm gồm bốn sinh viên toán năm thứ ba của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hăm hở lên đường vào Nghệ An để cùng một đơn vị thanh niên xung phong thực hiện công việc đó. Ai cũng biết là chuyến đi đầy nguy hiểm, nên nhóm chúng tôi được bạn bè và bà con nơi trường sơ tán tiễn đưa khá “long trọng”. Nhưng kỷ niệm mà chúng tôi  không bao giờ quên là, trước lúc chuyến xe phía Nam gần chuyển bánh, Thầy Thiêm hớt hải đạp xe tới, gọi tôi xuống dặn dò đôi lời và đưa cho tôi 72 đồng. Hồi đó, 72 đồng lớn lắm, bằng hai phần ba số tiền lương giáo sư mà Thầy vừa nhận xong. Chúng tôi hết sức cảm động, vì biết Thầy chỉ giữ cho mình số tiền tạm đủ sống đến kỳ lương sau. Chuyến đi đó đã để lại nhiều bài học lớn cho đời làm toán của chúng tôi, mà trước hết là bài học về việc đưa những kiến thức ở nhà trường vào phục vụ sản xuất và chiến đấu. Bài học đó, Thầy Thiêm dạy cho chúng tôi bằng chính cuộc đời làm toán của Thầy. Từ một chuyên gia hàng đầu trong một lĩnh vực toán học lý thuyết đang được xem là mốt nhất thời đó, giáo sư Lê Văn Thiêm đã chuyển hẳn sang nghiên cứu những vấn đề toán học đặt ra từ thực tiễn Việt Nam, mà một trong những vấn đề đó chính là nổ định hướng để nạo vét lòng kênh mà tôi vừa nhắc đến trên đây. Khi học năm thứ tư ở trường, chúng tôi lại được cùng một đơn vị thanh niên xung phong áp dụng phương pháp này để làm đường chiến lược trong rừng sâu. Giáo sư Lê Văn Thiêm đã biên soạn thành giáo trình hoàn chỉnh để hướng dẫn cho những người không có chuyên môn toán học sử dụng phương pháp đó.       Các giáo sư Frédéric Phạm, Lê Văn Thiêm và Phòng Tô pô – Hình học (khoảng năm 1981).     Giáo sư Lê Văn Thiêm là người như thế: Ông làm toán không phải vì danh vọng, tiền tài, mà chỉ đơn giản, đó là cách mà Ông có thể đóng góp phần mình cho đất nước. Giáo sư không bao giờ nhắc đến những đóng góp của mình trong nghiên cứu lý thuyết. Tôi là một trong những học trò trực tiếp của Ông từ khi còn là sinh viên năm thứ ba cho đến mãi sau này, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe Ông kể về những công trình của chính Ông. Tôi chỉ biết về những công trình đó khi tôi đi sâu nghiên cứu hướng chuyên môn mà Ông là một trong những người có công khai phá. Đó là lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình (hay còn gọi là lý thuyết Nevanlinna, theo tên của người khai sinh ra nó, nhà toán học Phần Lan đã một thời là chủ tịch Hội Toán học quốc tế). Trong nhiều hội nghị gần đây về lịch sử toán học, lý thuyết Nevanlinna được đánh giá là một trong những lý thuyết đẹp nhất của toán học thế kỷ 20. Giáo sư Lê Văn Thiêm chính là một học trò của Nevanlinna, và Ông là một trong những người đầu tiên cho lời giải của “bài toán ngược của lý thuyết Nevanlinna”. Công trình của Ông không chỉ được quan tâm vì đã chứng minh sự tồn tại nghiệm của bài toán đó, mà còn vì Ông đã đưa ra một phương pháp hoàn toàn mới để nghiên cứu vấn đề đặt ra. Trong những công trình khoa học và sách chuyên khảo gần đây trên thế giới, người ta vẫn còn nhắc công trình của Ông viết cách đây hơn nửa thế kỷ, và nhắc đến Ông như là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:                                Bất tri tam bách dư niên hậu  Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như  Những ai đã từng được làm quen với Ông đều không thể quên con người nhân hậu, trung thực tới mức ngây thơ, tin tất cả mọi người như tin chính bản thân mình. Điếu đó đã gây cho Ông không ít khó khăn khi Ông còn sống (và đảm nhận những chức vụ lãnh đạo), nhưng đã làm cho hình ảnh Ông để lại trong lòng học trò, đồng nghiệp mãi mãi là hình ảnh về một nhân cách lớn, không chút bụi mờ.    Để đời sau còn nhắc đến mình, khó lắm! Vậy mà giáo sư Lê Văn Thiêm hầu như không quan tâm gì đến điều đó. Sau khi viết vẻn vẹn có 5, 6 công trình (mà về sau trở thành nổi tiếng như đã nói trên), năm 1949, Ông từ bỏ chức giáo sư ở trường Đại học Zurich (Thụy Sĩ) để trở về với Tổ quốc Việt Nam đang kháng chiến. Với Ông, điều đó cũng thật là tự nhiên, như người ta phải thở hít khí trời.    Rời phương Tây, Ông đi máy bay về BangKok, rồi từ đó đi bộ về miền bưng biền Đồng Tháp. Từ Nam Bộ, Ông phải mất sáu tháng lặn lội trên những con đường rừng mới ra được đến chiến khu Việt Bắc. Những điều này tôi chỉ tình cờ được biết khi hỏi vì sao Ông có thói quen hút sáu điếu thuốc lào một lúc, và Ông giải thích rằng, vì đi bộ lâu trong rừng buồn quá, chẳng có thú gì hơn!      Nhóm nghiên cứu Toán (chụp trên sân thượng nhà 39 Trần Hưng Đạo, tháng 1/1969).   Ở Việt Bắc, giáo sư Lê Văn Thiêm đã cùng những nhà trí thức hàng đầu như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào nhiệm vụ xây dựng nền khoa học và giáo dục đại học của nước Việt Nam mới. Trong tay họ, hầu như chẳng có cuốn giáo trình bậc đại học nào, ngoài vài cuốn sách mà họ đã cố gắng mang theo mình khi rời nước Pháp. Vậy mà họ, thế hệ trí thức đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã làm nên một kỳ tích khiến thế giới phải kinh ngạc: ngay sau khi hòa bình lập lại, các trường đại học Việt Nam đều do cán bộ người Việt Nam giảng dạy, và họ dạy tất cả các giáo trình bằng tiếng Việt! Trong công lao chung ấy, giáo sư Lê Văn Thiêm, người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Khoa học cơ bản và Trường Cao đẳng sư phạm ở chiến khu Việt Bắc đã góp phần không nhỏ.    Tên tuổi giáo sư Lê Văn Thiêm có thể gắn với  rất nhiều chữ “đầu tiên”. Ông, cùng với giáo sư Phạm Tỉnh Quát (thân sinh giáo sư Frédéric Phạm) là những người đầu tiên  mà vào năm 1941 thi đỗ vào trường École Normale Supérieure (phố d’Ulm, Paris), trường hàng đầu của Pháp trong việc đào tạo các nhà khoa học. Họ cũng là những người Việt Nam đầu tiên nhận được học vị Tiến sỹ quốc gia của Pháp năm 1948. Ông là tác giả của công trình toán học đầu tiên của người Việt Nam  công bố trên tạp chí quốc tế, là người Việt Nam đầu tiên trở thành giáo sư toán học tại một trường đại học châu Âu (Zurich, 1949). Giáo sư Lê Văn Thiêm là Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học Việt Nam, Tổng biên tập đầu tiên của hai tờ báo toán học của Việt Nam  (Vietnam Journal of Mathematics và Acta Mathematica Vietnamica).    Có thể còn nhiều cái “đầu tiên” nữa, mà vì Ông không bao giờ nhắc tới nên ta cũng quên đi. Chỉ có một điều không ai quên được, đó là những gì Ông để lại cho nền khoa học Việt Nam. Chúng tôi, những học trò của Ông, luôn tự biết là mình đã có hạnh phúc lớn được học tập và làm việc với Ông. Không phải trong thời kỳ lịch sử nào cũng xuất hiện lớp người như Ông. Họ thường có mặt ở buổi đầu của cách mạng, khi mà niềm say mê lý tưởng đã vượt lên những toan tính cá nhân. Có lẽ vì thế mà cho đến tận cuối đời mình, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ. □  GIÁO SƯ THIÊM CHỌN NGƯỜI VỀ VIỆN  Tiêu chuẩn duy nhất để GS. Lê Văn Thiêm chọn người về Viện là “giỏi”! Không kể người đó được đào tạo chuyên môn sâu nào trong Toán. Theo GS. Thiêm, người giỏi thì có thể bố trí vào phòng nào cũng được. Chỉ có điều, chẳng ai biết chắc tiêu chuẩn “giỏi” của GS. Thiêm là gì.  THẦY THIÊM MỜI UỐNG NƯỚC GS.  Hà Huy Khoái kể, nghe Thầy Thiêm đãng trí đã nhiều, nhưng chỉ nửa tin nửa ngờ.  Một lần, ông đến làm việc với Thầy. Ra về, đi được chừng 10 mét thì nghe tiếng Thầy gọi rất to phía sau:  – Ông Khoái ơi!  Giật mình, nghĩ có việc gì quan trọng.  Thầy nói: – Ông uống nước không? Lúc nãy làm việc mình quên chưa mời ông uống nước!  THẦY THIÊM ĐƯỢC MỜI ĐÁM CƯỚI  Thầy Thiêm nhà ở số 16 phố Hàng Chuối. Một hôm thầy nhận được giấy mời dự đám cưới của học trò, cũng là cán bộ tại Viện Toán học. Đám cưới được tổ chức ngay gần nhà thầy, số 18 phố Hàng Chuối. Khi Thầy đọc giấy mời mọi người nghe thầy lẩm bẩm:  – Cái cậu này lạ thật, mượn nhà mình làm đám cưới mà không nói với mình một câu. Mà thôi cũng được.  ĐƯỢC THẦY HOÀNG TỤY CHO TIỀN!  Cuối năm 1987, tôi được giấy mời làm việc ở IHES (Institut des Hautes Etudes Scientifiques, Bures-sur-Yvette) một năm. Trước ngày đi, thầy Tụy đến gửi bài báo, thư mang đi, rồi hỏi tôi:  – Khoái đã có tiền mang theo chưa?  – Chưa ạ.  Hồi đó, làm gì có quyền mang theo ngoại tệ, ngay cả khi đi nước ngoài! Đến nơi, phải chờ hoặc là “ta”, hoặc là “bạn” ra đón. Không có ai thì là “vấn đề lớn”, tự lo thôi.  Nghe thế, thầy móc túi đưa cho tôi 9 Fr và một vé tàu RER 2 zones để “phòng thân”.  Tôi đi tàu hỏa từ Moscow đến Paris, gare de l’Est, sáng 2/1/1988. Tất nhiên là ta và bạn đều không thấy ai đón mình! Cầm 9 Fr. mua vé về Bures, không đủ! Sực nhớ còn cái vé tàu, biết đâu đi hết thì vừa đủ tiền về Bures. Quả thật, đến ga Denfert Rochereau, mua vé về Bures thì vừa đúng 9 FR. May thế, không thì biết làm sao.  Sau này tôi nghĩ, thầy Tụy mang theo trong người 9 Fr và cái vé không phải là ngẫu nhiên. Chắc thầy đoán được người ít kinh nghiệm như tôi, thế nào cũng cần đến.  Ngày thường, thấy Thầy nghiêm khắc, chắc ít ai biết Thầy chu đáo, lo cho người khác tỉ mỉ đến thế.    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Thấy sao ghi vậy      Trong một lần khảo hạch, vị giáo sư già hỏi cô nữ sinh viên năm cuối: “Cô hãy cho biết cơ quan nào trong cơ thể có khả năng co nhỏ rồi nở lớn cả trăm lần trong ngày?” Nàng thầy thuốc sắp ra trường suy nghĩ hồi lâu rồi bỗng đỏ mặt mím môi xẵng giọng: “Thưa thầy, em xin phép không trả lời câu hỏi thiếu nghiêm trang”. Ông thầy thở dài rồi nhỏ nhẹ: “Trong nghề y không được phép có định kiến. Cô về xem lại sách cơ thể học. Đó là đồng tử của con mắt, chứ không phải cơ quan cô vừa nghĩ đến”.    Cả trăm lần hãy còn quá ít. Đồng tử phải điều tiết liên tục để làm tròn chức năng tiếp nhận hình ảnh sao cho trung thực, nghĩa là co giãn không ngừng tùy theo khoảng cách và cường độ của kích ứng quang học. Nếu sức người có hạn thì lực làm việc của đôi mắt cũng không thể vô tận. Thần kinh thị giác, vì thế, là thành phần đang chịu áp lực ghê gớm từ cuộc sống căng thẳng của thế kỷ 21, khi kích ứng dồn dập từ bốn phương tám hướng, từ trụ đèn giao thông thay đổi liên hồi, tấm quảng cáo lập lòe, màn ảnh truyền hình lúc sáng lúc tối và nhất là từ màn hình máy vi tính nhấp nháy không ngừng.  Theo dữ liệu thống kê gần đây ở các phòng khám mắt thuộc khối EU, đa số người bệnh hiện tốn nhiều giờ trước màn hình máy vi tính hơn trước màn ảnh máy truyền hình. Dĩ nhiên không ai trong số người bệnh ghi nhận mức độ mỏi mệt của đôi mắt phải điều tiết liên tục trước kích ứng chớp sáng của màn hình. Tình trạng nhiễm bệnh đến lúc nào không hay càng lúc càng trầm trọng do mức độ tinh xảo của các trò chơi vi tính, do tính hấp dẫn của khối tin tức trên mạng… khiến người ngồi trước máy vi tính quên hết mọi chuyện. Nhiều thầy thuốc đã không quá lời khi đặt tên cho hội chứng bệnh lý do rối loạn chức năng của thần kinh thị giác là “bệnh computer”, qua đó người bệnh:   Thuờng xuyên đau mắt và đỏ mắt.            – Nhức đầu, thường ở thái dương hay một bên ót lan dọc đến khóe mắt.            – Đãng trí và mất khả năng tập trung trong công việc.            – Mất ngủ dưới dạng thức giấc sau vài giờ ngủ sâu rồi thức trắng thâu đêm.            – Mệt mỏi chán chường buổi sáng sớm.            – Đau cột sống cổ với khuynh hướng chóng mặt khi thay đổi tư thế.  Biết rõ cơ chế nhưng bệnh lý nhưng không dễ điều trị căn bệnh do máy vi tính vì nhiều lý do:           –  Bệnh nhân khó chấp nhận nguyên nhân gây bệnh khi máy vi tính vận hành không khác gì một loại ma túy.           –  Bệnh nhân khó tránh xa nguồn bệnh trong lúc điều trị do tật cũ khó chừa.           – Bệnh nhân có khuynh hướng “ngựa quen đường cũ” ngay cả trong trường hợp được điều trị khả quan vì máy vi tính trong thời buổi bây giờ còn hơn cả thuốc lào. Có “chôn máy xuống” thì sớm muộn cũng “đào máy lên”.  Không chữa nổi thì chỉ còn tìm cách phòng ngừa, hay nói đúng hơn, giới hạn tầm tai hại của kích ứng từ màn hình máy vi tính bằng một số biện pháp như:           – Đừng đặt máy vi tính song song với một nguồn sáng khác để vừa giảm cường độ kích thích do ánh sáng, vừa tránh cho mắt phải điều tiết từ hai nguồn kích ứng.             – Cạnh trên của màn hình không nên cao hơn tầm mắt để tránh phải ngước lên trong suốt thời gian làm việc. (Cũng như trong cuộc sống, nhìn xuống bao giờ cũng tốt hơn!)            – Khoảng cách giữa đôi mắt và màn hình tối thiểu không dưới 50 cm.            – Đôi mắt cần được tạm nghỉ 10 phút sau mỗi giờ làm việc.            – Không nên làm việc hơn 4 giờ liên tục trước máy vi tính.           – Chú trọng vào chế độ dinh dưỡng cung ứng nhiều tiền sinh tố A và sinh tố A, thường có trong rau quả có màu vàng cam hay xanh thẫm.          –  Bổ sung cho cơ thể khoáng tố Magnesium, ngay cả dưới hình thức dùng thuốc khi áp lực của công việc gia tăng.          – Tuyệt đối không nên xem truyền hình ngay sau giờ làm việc với máy vi tính. Thói quen vừa đánh máy vi tính, vừa xem truyền hình chắc chắn rất có lợi cho… thầy thuốc nhãn khoa!          – Cài đặt chương trình để máy báo giờ tạm nghỉ cho ít phút thể dục cột sống. Đừng quên cột sống cổ là điểm dễ bị tấn công trong hội chứng “bệnh computer”          – Đôi mắt đã được thi vị hóa như cửa sổ của tâm hồn. Khung cửa đó quả thật quá đỗi mong manh trong cuộc sống hiện nay, khi thần kinh thị giác dường như không có phút nào bình yên, kể cả trong giấc ngủ. Có câu “thấy sao ghi vậy”, muốn đừng ghi chỉ còn nước đừng thấy. Không lạ gì khi người học Thiền phải tập sao cho nhìn mà không thấy. Đúng là chỉ có thế thì thần kinh thị giác mới có cơ hội nghỉ ngơi. Tưởng khó nhưng với một số người lại quá dễ. Bằng chứng là không thiếu gì quan lớn trong ngành thanh tra vẫn nhìn chăm chăm mà có thấy gì đâu! Y học bao giờ cũng có giá trị tương đối.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế bất lực của Ủy hội sông Mekong      Ngày 16/10/2018, tại tọa đàm khoa học “Hợp tác quản lý nguồn nước tiểu vùng sông Mekong mở rộng” do trường ĐH KHXH&NV (ĐHQGHN) phối hợp với Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (Đức) tổ chức, việc củng cố vai trò Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission – MRC) đã được nêu là yếu tố quan trọng trong quản lý nguồn nước và môi trường con sông có lưu lượng nước lớn thứ 10 thế giới này.      Mô hình đập thủy điện Pak Beng, Lào. Nguồn: The Nation   Đề cập đến vai trò là nguồn cung cấp nước chính cho hơn 60 triệu người dân của sông Mekong, GS. Detlef Briesen (ĐH Giessen, Đức) cho biết, việc kiểm soát nguồn cung này trở thành vấn đề trọng tâm trong thảo luận chính sách của các quốc gia trong lưu vực, đặc biệt là các quốc gia vùng hạ nguồn – chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ các hành vi gây ô nhiễm ở các quốc gia thượng nguồn. Điều đó được thể hiện qua nghiên cứu của GS. Win Maung (Viện Môi trường Myanmar) về hoạt động đào vàng ở sông Chindwin  – dòng chính của sông Mekong trên đất Myanmar, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước ở khu vực hạ lưu như làm tăng độ pH, nitrogen, phosphorus, sắt…  Nhận thức được ảnh hưởng này, ngay từ những năm 1957, bốn quốc gia hạ nguồn gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam đã xây dựng các ủy ban hợp tác quản lý nguồn nước, và đến năm 1995, Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission – MRC) được thành lập với tư cách là một cơ quan liên chính phủ “phối hợp quản lý và phát triển tài nguyên nước cũng như tài nguyên có liên quan bằng cách triển khai những hoạt động và chương trình, cung cấp thông tin khoa học và cố vấn chính sách”, theo trang web của Ủy hội. TS. Trần Diệp Thành (ĐH KHXH&NV) đánh giá: “Dù đã hoạt động 23 năm nhưng MRC vẫn chưa triển khai hết các chức năng cũng như chưa đạt được các nhiệm vụ đề ra.” Ngay từ đầu những năm 2010, hàng loạt các đập thủy điện vẫn được xây dựng ồ ạt trên dòng chính Mekong – hiện tại có đến 11 đập đang triển khai xây dựng ở Lào và Campuchia. Thậm chí, không có sự đồng ý của MRC thì các dự án như Pak Beng, Pak Lay của Lào vẫn được thực hiện mà không phải chịu bất kỳ chế tài xử phạt nào.  Lý giải cho sự yếu kém trong quản lý và đảm bảo sự phát triển bền vững của sông Mekong của MRC, TS Thành cho rằng, MRC là một thể chế khu vực nhưng bị giới hạn ở quyền hạn. Và một hạn chế lớn của MRRC là hoạt động dựa vào nguồn tài trợ từ các quốc gia phát triển như Úc, Bỉ, EU, Nhật Bản, Mỹ…, nên thay vì thực hiện đúng chức năng, MRC đang “bằng mọi giá” đáp ứng các lợi ích cho những nhà tài trợ, ví dụ như thông qua các dự án hợp tác dù chưa đánh giá được đầy đủ những tác động của nó.  Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác khiến MRC bị giảm sút sức mạnh là sự thiếu vắng Trung Quốc và Myanmar trong Ủy hội, qua đó tổ chức này thiếu tính đại diện trên trường quốc tế. Nhiều năm qua, Trung Quốc đã “bỏ lơ” MRC và xây dựng hơn 10 đập thủy điện trên dòng chính Lan Thương – tên gọi của sông Mekong trên đất Trung Quốc, thậm chí họ còn đang đầu tư cho Lào để quốc gia này tiếp tục xây dựng nhiều đập thủy điện khổng lồ. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn khiến MRC không thể thực hiện đầy đủ các chức năng của mình là các quốc gia trong Ủy hội chưa thực sự quan tâm giải quyết một cách thỏa đáng giữa “lợi ích quốc gia” và “lợi ích khu vực” – ông Chheang Vannrith (Viện Hợp tác và Hòa bình Campuchia), nêu nhận xét.  Để giải quyết những hạn chế này, các chuyên gia đều nhất trí: điều cần thiết trước mắt là gia tăng quyền lực cho MRC để tổ chức này thực hiện đúng các chức năng và nhiệm vụ đã được đặt ra, cũng như thực thi các chế tài xử phạt khi cần thiết. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi MRC mở rộng hợp tác để tăng tính đại diện toàn cầu.       Author                Minh Thuận        
__label__tiasang Thể chế hóa quyền được Thông tin      Chính phủ trước kỳ họp thứ 8 của Quốc hội “Các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng quyền được thông tin của dân, bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của mình. Việc thực hiện điều này không thể tùy thích mà phải coi là một nghĩa vụ thể hiện tính chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Những quy định cụ thể về quyền được thông tin của dân cần được thể chế hóa” đánh dấu một bước phát triển mới đáng mừng trong việc “Mở rộng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền” đúng như chủ đề của phần cuối bản Báo cáo của Chính phủ.    Trong xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức hiện nay thì thông tin cần cho con người hiện đại như ần không khí để thở vậy. Đành rằng thông tin chưa phải là tri thức. Chẳng thế mà có nhà khoa học đã than rằng chúng ta đang chết ngộp trong thông tin song vẫn đang đói tri thức đó sao! Song nếu không có thông tin thì không sao có tri thức. Cho nên, quyền được thông tin, quyền được tự do tiếp nhận thông tin, tự mình phân tích thông tin để chuyển thành tri thức là chỉ báo của trình độ phát triển của một quốc gia. Khái niệm những nước “đã phát triển”, “đang phát triển” và “chậm phát triển” trong thế giới chúng ta đang sống tùy thuộc vào nhiều dữ kiện, trong đó các quyền nói trên giữ vị trí rất quan trọng và không kém phần quyết định. Và, bưng bít thông tin là một thảm hoạ cho con người trong thế giới hiện đại, cũng là thảm họa cho một dân tộc đang tìm đường phát triển cùng nhịp với thế giới. Chúng ta đã có bài học cay đắng về hệ lụy khủng khiếp của tệ bưng bít thông tin trong đại dịch SARS cách đây không lâu. Xuất phát từ một bệnh nhân là người bán gia cầm ở một thị trấn nhỏ của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, thông tin bị ém nhẹm.Phải mất gần 4 tháng, tức là từ tháng 11.2002 đến tháng 2.2003, thông tin về hiểm họa SARS mới đến được với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), rồi mãi đến 2.4.2003, tức là phải mất gần 2 tháng, những chuyên gia của WHO mới đến được Quảng Đông để khởi đầu được cuộc điều tra về dịch bệnh này, để rồi đến 20 ngày sau đó dịch bệnh đã lan ra 25 nước. Hàng chục tỷ đôla thua thiệt từ ngành du lịch Trung Quốc hồi ấy, đi liền với những phản ứng dây chuyền khác là cái giá mà con người đang sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện bưng bít thông tin! Ấy thế mà câu chuyện bưng bít thông tin vẫn lại đang gây hiểm họa cho con người trong cơn đại dịch cúm gia cầm hiện nay do “Indonesia giấu thông tin dịch cúm gia cầm từ hai năm nay”. Đây là một cách làm cho khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” không chỉ là lời kêu gọi suông mà phải biến thành sức mạnh hành động. Thể chế hóa quyền được thông tin là căn cứ pháp lý để mọi công dân thực thi nội dung của khẩu hiệu đã hàm chứa nội dung sức mạnh của xã hội dân sự hỗ trợ cho nhà nước pháp quyền vốn gắn với nhau như bóng với hình. Thật ra thì chuyện này không mới mà đã được thực hiện từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới vốn có bề dày hoạt động của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Vì “quyền được thông tin” là một thành tựu của văn minh mà loài người đã đạt được trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của con người, cho con người. Đó là một minh chứng của trình độ phát triển của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.  Vì nền tảng của nhà nước ấy là trình độ dân trí được nâng cao.   Chẳng hạn như, ở Thụy Điển, quyền được thông tin của người dân là một quyền được Hiến pháp quy định. Trong “Quyền được tiếp cận với các văn bản chính thức ở Thụy Điển” do Bộ Tư pháp Thụy Điển xuất bản năm 1996 có ghi rõ điều này: “Nguyên tắc về việc công chúng được quyền tiếp cận với các văn bản chính thức được nói đến lần đầu tiên trong luật về tự do báo chí năm 1766. Luật đó giờ đây là một phần của Bộ luật tự do báo chí hiện tại, và là một đạo luật có tính hiến định của Thụy Điển”.    Virút cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Java năm 2003. Khi được hỏi về vấn đề này, Bộ trưởng Nông nghiệp nước này cho biết: “Vấn đề là chúng tôi không muốn công bố chuyện này quá nhiều vì nó sẽ ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi gia cầm của chúng tôi. Vì sợ “Giá gia cầm sẽ bị rớt thảm hại”…”(Tuổi Trẻ 21.10.05) mà người ta bưng bít thông tin. Nhưng cái giá mà tất cả những quốc gia sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện đó thì khó mà tính ra được! Vì cho đến khi ông Chairul Nidom, nhà vi sinh học đầu tiên phát hiện virus gây bệnh cúm gia cầm ở đảo Java có mã gen giống virus cúm gia cầm Trung Quốc, bất chấp sự “vận động” và ngăn cản, đã đưa thông tin cho báo chí vào cuối tháng 1.2004 thì dịch đã vượt khỏi ranh giới đảo Java sang Bali và Sumatra và đến nay thì đại dịch đó đang là mối đe doạ toàn hành tinh! Có lẽ đây cũng là bằng chứng hiển nhiên, dễ nhận biết về tính bất định và không dự đoán được của thế giới mà chúng ta đang sống đã trở nên phức tạp khó lường và phụ thuộc lẫn nhau quyết liệt đến thế nào! Chính trong bối cảnh đó mà người ta cảm nhận thật  thấm thía cái giá phải trả cho những hệ lụy của một tập quán bưng bít thông tin trong nhịp sống của hành tinh này.   Chỉ bằng những kinh nghiệm cũ, cách tư duy cũ, nhất là với sức ép nặng nề của những tập quán cũ, chúng ta sẽ không thể đối phó được với tính bất định của thế giới mà chúng ta đang sống, ví như việc chim di trú mang bệnh cúm gia cầm đi khắp nơi trên hành tinh, vượt qua mọi biên giới lãnh thổ quốc gia! Dù có bị cầm tù bởi những tập quán đã ăn sâu vào tâm thức của cả một dân tộc, sự nghiệt ngã của thực tế cuộc sống buộc người ta phải quyết liệt thanh toán nó.  Quả thật, tìm kiếm thông tin, thu nhận thông tin, phân tích và xử lý thông tin một cách nghiêm cẩn, độc lập và trung  thực để rồi từ đó mà biết đưa ra những quyết định phù hợp là điều có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với con người sống trong thế giới hiện nay.Bởi vậy, “quyền được thông tin”, “thể chế hóa” quyền đó của người dân và bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của các cơ quan nhà nước có ý nghĩa nhiều mặt cho sự phát triển đất nước, chứ không riêng đối với tác động trực tiếp của việc phòng chống tham nhũng mà Luật này sẽ được Quốc hội kỳ này xem xét thông qua.   Đương nhiên, với nạn tham nhũng đang được gọi là giặc nội xâm thì thể chế hóa hai vấn đề nói trên chính là một vũ khí tinh nhuệ. Chính ở trong “Văn bản của Thụy Điển” trích dẫn ở trên, tôi cũng đã đọc thấy nội dung đó: “Mọi công chức đều biết một nguyên  tắc rằng mọi người đều có thể tiếp cận các hồ sơ và các tài liệu. Điều đó làm giảm nguy cơ có những hành động tùy tiện. Bên cạnh đó, người ta cũng thường nói rằng việc tiếp cận được với các thông tin chính thức cũng đóng góp vào việc làm cho hiện tượng tham nhũng trong chính quyền Thụy Điển trở thành một hiện tượng hiếm hoi”.   Càng ngẫm nghĩ, càng nhận rõ thông tin là một loại sản phẩm độc đáo. Độc đáo ở chỗ, nếu anh cung cấp cho người khác thì nó không mất đi mà lại tăng lên. Đây là lúc mà ý tưởng tuyệt vời được phát ra từ thế kỷ trước về sức mạnh của kiến thức và thông tin ngời ngợi tỏa sáng trước mắt chúng ta: “anh ta thắp sáng ngọn nến của tôi và nhận ánh sáng mà không hề làm cho tôi bị tối đi”.      Hãy tự thắp sáng ngọn nến trí tuệ của chính mình bằng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được thu nhận và xử lý một cách thông minh, độc lập, trung thực, có chủ định và sáng tạo. Đó là cách tồn tại và phát triển thông minh trong một thế giới đầy biến động bất ngờ mà chúng ta đang sống. Đó cũng là đòi hỏi hàng đầu của quá trình hội nhập quốc tế.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới cà phê mới ở Việt Nam      Giữa không gian đất đỏ bazan Tây Nguyên, ngôi nhà dài truyền thống của người Ê đê mang trong lòng nó một thế giới cà phê mới mẻ và gợi nhiều suy tưởng về việc lưu giữ ký ức và sự giao hòa của văn hóa bản địa với thế giới. Từ nơi này, cà phê Việt Nam đã trở thành một phần của cộng đồng cà phê thế giới…      Bảo tàng Thế giới cà phê nằm giữa không gian nhiều suy tưởng của đất đỏ Cao nguyên.       Bảo tàng Thế giới cà phê nằm giữa không gian nhiều suy tưởng của đất đỏ Cao nguyên.   Bảo tàng Thế giới Cà phê tọa lạc tại TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk được Tập đoàn Trung Nguyên Legend đầu tư xây dựng và chính thức mở cửa đón khách vào tháng 11/2018. Dù mới đi vào hoạt động chưa đầy hai tháng nhưng bảo tàng đã thu hút hàng chục nghìn lượt khách thăm quan và trở thành một điểm đến mới của Cao nguyên, vùng đất của những bản trường ca đại ngàn và nay khởi nguồn cho những dòng chảy cà phê lan tỏa khắp thế giới.  Đưa cà phê thế giới tới Việt Nam  Rất nhiều người tới Bảo tàng Thế giới cà phê và hy vọng sẽ được chìm ngập trong bộ sưu tập hơn 10 nghìn hiện vật từ nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều người đã hơi hẫng hụt vì hiện vật được trưng bày lần đầu không nhiều như mong đợi. Đó chính là vấn đề của hầu hết người Việt Nam; là khi họ vội vàng chụp hết các góc cạnh, các hiện vật, đưa lên mạng xã hội và nói rằng đã xem xong bảo tàng. Vấn đề này gợi nhớ đến câu chuyện của một du học sinh chia sẻ: người Việt đến thăm bảo tàng Louvre chỉ ba tiếng đã ra về còn người Pháp mất tới vài tuần, thậm chí phải xem đi xem lại rất nhiều lần. Bạn đã tóm lược những cảm nhận đó thông qua trải nghiệm thực tế của mình: “Trước khi đến Pháp, hình ảnh ‘bảo tàng’ trong đầu tôi là những căn phòng rộng lớn, vắng lạnh, toát ra mùi ẩm mốc vì thiếu ánh sáng tự nhiên, là ‘lịch sử’ nằm ngủ quên trong những góc tối, là dấu vết thời gian bị hóa thạch. Nhưng với người dân Paris và cả châu Âu, bảo tàng là cái gốc của hiểu biết và đương nhiên, của sự phát triển. Bản thân các bảo tàng ở Paris hay ở châu Âu cũng được phát triển không ngừng. Và lạ chưa, với người châu Âu, bảo tàng còn là nơi đem lại tình yêu: yêu nghề, yêu cuộc sống, yêu nhau” 1.  Vì thế, ở trong lòng thế giới cà phê mới này, bước chân chậm hơn và cặp mắt nhìn cũng chăm chú hơn, người ta sẽ cảm nhận được cái hồn một bảo tàng, cái vẻ đẹp tĩnh lặng mà sống động trong từng đồ vật, rồi cảm thấy cái sức hút thiết thân của một điểm quần tụ ấm áp và không ngần ngại đưa cả trẻ nhỏ, người già tới…  Phải chăng ấn tượng đầu tiên là sự dễ chịu khi được bước đi bằng đôi dép vải? Hay sự sắp đặt có ý đồ “khoa học, đơn giản” giúp mỗi hiện vật được nhìn bằng nhiều khía cạnh khác nhau, trong không gian sâu hút và luồng ánh sáng thay đổi theo từng thời khắc trong ngày? Mỗi hiện vật đều mang lại trải nghiệm sống động, tha thiết được nhìn ngắm, suy ngẫm về quá khứ của nó, về cách cà phê đã dịch chuyển qua thời gian. Từ những dụng cụ trồng trọt, thu hái ở những vùng đất Nam Mỹ, Đông Nam Á, Việt Nam…; cách chế biến, máy rang, xay ra đời trong cách mạng công nghiệp ở châu Âu ở Đức, Ý, Pháp, Anh,… tới những dụng cụ thưởng lãm cầu kỳ, tinh xảo tích tụ những đổi mới sáng tạo của hàng trăm năm.  “Lần đầu tiên đến Bảo tàng Thế giới Cà phê tôi đã nhìn thấy nguồn cảm hứng mạnh mẽ của người nghĩ ra dự án tuyệt vời này. Với bộ sưu tập rất phong phú trong văn hóa thưởng thức, chế biến, trồng trọt cà phê của nhiều nơi trên thế giới mà tôi được xem, tôi cho rằng cần làm cho nó thật đơn giản và tinh tế để có thể giữ nguyên vẹn cảm xúc của tất cả hiện vật. Chính vì vậy tôi đã đề xuất với các bạn rằng: vấn đề không phải là nhiều mà là đủ để làm nổi bật những điều mà các bạn muốn nhắm đến”, Chiara, cố vấn sắp đặt hiện vật của Bảo tàng Thế giới Cà phê – chuyên gia đến từ Current Corporate, một công ty của Italia hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật bảo tàng – chia sẻ.  Ý tưởng thành lập Bảo tàng là của vua cà phê Việt, Nhà sáng lập – Chủ tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ. Năm 2007, ông đã ghé thăm bảo tàng Jens Burg ở Đức – được biết đến là một bảo tàng được hoàn thiện trong suốt hơn 20 năm. Với 3 năm quyết tâm theo đuổi, tâm huyết của ông Đặng Lê Nguyên Vũ đã khiến Jens Burg tin tưởng việc gặp đúng người “sống vì cà phê” để kế tục bảo tàng. Tháng 9/2010, hơn 10.000 hiện vật do Jens Burg thu thập đã về đến Việt Nam cùng tâm tình của ông: “Tôi hoàn toàn tin tưởng khi chuyển giao lại đứa con của mình cho Trung Nguyên vì tôi muốn đóng góp một phần của mình vào việc xây dựng và hình thành nên một Thủ phủ Cà phê Toàn cầu tại Việt Nam”.  Nơi giao hòa văn hóa bản địa và thế giới  Câu chuyện về cà phê thế giới được kể trong không gian đất đỏ bazan nên mang một ý nghĩa đặc biệt. Được truyền cảm hứng từ hình ảnh ngôi nhà dài của người Ê đê cũng như những tiếng chiêng vang vọng trong sử thi Đăm San “…nhà dài như tiếng chiêng ngân…”, Bảo tàng thế giới Cà phê giúp người chiêm ngưỡng nó có thể nhìn lại hình ảnh ngôi nhà dài trên kiến trúc của những khối nhà nối nhau, tiếp biến trong không gian và thời gian. Mái nhà rông của cộng đồng các dân tộc: J’rai, Bana, Mơ Nông… thường khiến người khác có cảm hứng đặc biệt khi nhìn vào. “Những ngôi nhà rông cao lớn và đẹp đẽ, toàn thân như một nét nhạc, như một tiếng chim vút lên giữa rừng, chỉ chực bay lên, uy nghi mà nhẹ nhõm, trang nghiêm mà thân tình”2. Cảm hứng từ mái nhà rông đã đưa vào kiến trúc bảo tàng với những bức tường nghiêng kéo dài từ nền lên đến đỉnh làm xóa nhòa ranh giới giữa tường và mái. Bản thân Bảo tàng Thế giới Cà phê là được nhìn dưới góc độ của một phần trong hệ sinh thái cà phê tinh thần, gắn kết với quê hương cà phê Việt Nam qua hình thái, phương thức xây dựng. Các phiến đá bazan núi lửa tích tụ qua hàng triệu năm, được lựa chọn làm vật liệu hoàn thiện cho công trình. Hiệu ứng kết hợp chất liệu đá bazan và mảng khối, đường cong khiến tòa nhà như thể đang chuyển động.      Không nhiều bảo tàng tại Việt Nam có thể biến bảo tàng thành “ngày hội” dành cho tất cả mọi người để trải nghiệm, để học hỏi. Bảo tàng Thế giới Cà phê nằm trong số ít đó. Ngay từ khi có ý tưởng hình thành, Bảo tàng Thế giới Cà phê đã có định vị là một bảo tàng của tương lai, sống động trong cách trưng bày triển lãm, có không gian tương tác với khách tham quan cùng những trải nghiệm. Là nơi thẩm thấu các giá trị đương đại và tiếp biến của đời sống, không đóng mình vào với khái niệm “bảo tàng” theo cách tư duy cũ. Không gian triển lãm mang tính mở: mở rộng cho các hoạt động về Thân – Tâm – Trí, mở mang tư tưởng, tri thức và tầm nhìn.  Do đó, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm được diễn ra thường xuyên dành cho nhiều đối tượng với nhiều chủ đề khác nhau. Từ việc đưa triển lãm nghệ thuật kỹ thuật số của Teamlab hàng đầu thế giới về đây đến những chương trình rất đời thường như hội thi ủ rượu của cộng đồng Ê-đê; từ việc giúp người dệt thổ cẩm hiểu được, vải có thể góp phần tạo nên một nền văn hóa riêng, đại diện cho cả một quốc gia đến việc tạo không gian học tập vui chơi cho trẻ nhỏ. Những hoạt động không chỉ giúp khách du lịch trải nghiệm về văn hóa bản địa mà còn giúp cộng đồng địa phương có cơ hội tìm hiểu về nhiều quốc gia trên thế giới, khẳng định tầm nhìn về một trung tâm giáo giục, đào tạo kiến thức nền tảng, nâng cao hiểu biết đồng thời tạo cảm hứng sáng tạo. Thư viện Ánh sáng với tủ sách Tây Nguyên với các chủ đề về kiến trúc, văn hóa của các cộng đồng dân tộc bản địa như Ê-đê, Jrai, Bana, Mơ Nông…; Tủ sách Nền tảng Đổi đời được chọn lọc từ kho tàng kiến thức của nhân loại được đặt trong thư viện góp phần đưa người đọc đi đến tương lai bằng tinh thần thượng tôn tri thức.  Nghĩ về Bảo tàng Thế giới cà phê, có thể thấy vị trí đắc địa có thể khiến người ta tò mò mà đến nhưng những điều mang sức khơi gợi và truyền tải nhiều ý nghĩa mới là điều quan trọng để níu chân họ trở lại. □  Bài: Huyền Thanh. Ảnh: Châu Anh  1. “Tôi và Paris – Câu chuyện một dòng sông”, Hoàng Long, NXB Thế giới 2016.  2. 27. Tr 11 “Tản mạn nhớ và quên”, Nguyên Ngọc, NXB Văn nghệ 2017.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới các nhà khoa học trẻ      Nhiều năm qua trên thế giới, có nhiều tổ chức khoa học được thành lập nhằm tập hợp các nhà khoa học trẻ từ các quốc gia và nền văn hoá khác nhau để họ có thể trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tầm nhìn về tương lai một cách dễ dàng hơn. Tôi sẽ tóm lược hoàn cảnh và lịch sử phát triển những nỗ lực trên, qua đó xem xét vị trí phù hợp của Việt Nam trong bức tranh này.      Hiệp hội các Nhà khoa học trẻ Thế giới (WAYS)  Hội đồng Khoa học Quốc tế (ICSU, trước đây là Hội đồng các Hiệp hội Khoa học Quốc tế) là một tổ chức thúc đẩy phát triển hợp tác quốc tế cho sự tiến bộ khoa học. Tên mới của tổ chức được đổi vào năm 1998 nhưng hoạt động của nó vẫn trong phạm vi của Hiệp hội các Viện Hàn lâm Quốc tế (1899-1914) và Hội đồng Nghiên cứu Quốc tế (1919-1931). Thành viên của ICSU là các cơ quan khoa học quốc gia và các hiệp hội khoa học quốc tế. Tính đến năm 2017, nó có 122 Thành viên Khoa học Quốc gia đa ngành, các Cộng tác viên và Quan sát viên đại diện cho 142 quốc gia và 31 Liên hiệp Khoa học Quốc tế. Trong đó có Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) của Việt Nam. Các thành viên của ICSU hoạt động với phương châm “Tự do và trách nhiệm của khoa học là nền tảng của tiến bộ khoa học và hạnh phúc của cộng đồng. Các nhà khoa học cần được tự do đi lại, tự do hội họp, phát biểu và được truy cập dữ liệu, thông tin và các nguồn tài nguyên khác một cách công bằng trong nghiên cứu. Tất cả các cấp phải có trách nhiệm thực hiện và truyền đạt các nghiên cứu khoa học một cách toàn vẹn, với tinh thần tôn trọng, công bằng, trung thực và minh bạch, thừa nhận những lợi ích và những thiệt hại có thể xảy ra. ICSU khuyến khích công bằng trong cơ hội tiếp cận khoa học và lợi ích của nó, chống kỳ thị sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, ngôn ngữ, chính kiến ​​hoặc quan điểm khác, giới tính, xu hướng tình dục, khuyết tật hoặc tuổi tác.”  Vào ngày 23 và 24 tháng 6 năm 1999, 150 nhà khoa học trẻ có độ tuổi trung bình 25 đến từ 57 quốc gia đã họp tại Viện Hàn lâm Khoa học Hungary trong khuôn khổ Diễn đàn các Nhà khoa học trẻ Quốc tế, một hội nghị vệ tinh của Hội nghị UNESCO-ICSU về Khoa học. Họ thành lập Diễn đàn các Nhà khoa học trẻ Quốc tế để thảo luận về trách nhiệm của các nhà khoa học. Họ cho rằng “Các nhà khoa học nâng cao trách nhiệm của mình trong việc chia sẻ với công chúng về kết quả nghiên cứu của mình và ý nghĩa của nó và nhờ đó, học được kỹ năng giao tiếp; thúc đẩy giáo dục khoa học ở tất cả các cấp học và nhà khoa học cần cộng tác nhà giáo dục; giáo dục cần trình bày về khoa học một cách liên ngành; khía cạnh đạo đức phải là một phần của tất cả các nhiệm vụ khoa học và tất cả các chương trình giáo dục phải chú trọng đặc biệt đến các vấn đề đạo đức; các nhà khoa học chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc giúp đỡ các cộng đồng khoa học ở các nước kém phát triển hơn và hối thúc chính phủ hỗ trợ họ qua các khoản tài trợ dài hạn cho nghiên cứu cơ bản để duy trì mức tăng trưởng bền vững; các nhà khoa học đảm đương trách nhiệm ngày càng lớn với các chương trình về môi trường và phát triển; các nhà khoa học trẻ cần tham gia vào các quyết định về khoa học”.      Đặc điểm chung của những tổ chức này có thể dễ dàng được xác định: sự cống hiến vô điều kiện cho tiến bộ của khoa học không biên giới, những giá trị tri thức và sự nghiêm ngặt đạo đức mà nó mang theo cùng với thiện chí của các nước phát triển để giúp các nước đang phát triển trên con đường đạt được tiến bộ như vậy.        Tiếp theo đó, với sự giúp đỡ, đặc biệt từ TWAS (xem dưới đây), UNESCO sáng lập nên Viện Hàn lâm các Nhà khoa học trẻ Thế giới (WAYS) nhằm tăng cường sức mạnh cho các nhà khoa học trẻ (dưới 40 tuổi) trên thế giới. Sau một thời gian, cái tên ‘Viện Hàn lâm’ rõ ràng đã gây hiểu nhầm, vì nó gây ấn tượng rằng thành viên của Viện được lựa chọn một cách nghiêm ngặt, và do đó vào tháng 4 năm 2008, nó đã được đổi tên từ ‘Viện Hàn lâm’ thành ‘Hiệp hội’ để phản ánh đúng hơn bản chất xã hội của mạng lưới. Phiên họp đầu tiên của WAYS diễn ra tại Marrakech vào ngày 11-13 tháng 12 năm 2004, thu hút khoảng 150 nhà khoa học trẻ đến từ 87 quốc gia. Hiện nay, WAYS có hơn 3.000 thành viên đến từ hơn 120 quốc gia, tuy nhiên, thành viên gốc Phi chiếm ưu thế vì đó là mạng lưới các nhà khoa học trẻ đầu tiên của lục địa này. WAYS hoạt động như một mạng xã hội khoa học. Sau khi đăng ký trực tuyến, mỗi thành viên mới được cung cấp một không gian mạng để đưa lý lịch và quan tâm hiện tại của mình lên đó, các thành viên cũng có một trang blog cá nhân để thể hiện bản thân mình. Nhiều công cụ hỗ trợ cho việc cộng tác, phối hợp khác cho phép họ chia sẻ thông tin, đăng và tìm kiếm công việc và hội thảo, tìm kiếm lời khuyên, gặp gỡ những người có cùng quan điểm và nhiều thứ khác.  Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS)  Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS), được thành lập năm 1983 bởi Abdus Salam, người nhận giải thưởng Nobel cùng với Shelly Glashow và Steven Weinberg bốn năm trước đó cho nghiên cứu về thống nhất tương tác điện từ và tương tác yếu. Những năm đầu của TWAS có sự tham gia của các nhà khoa học đoạt giải Nobel vật lý như T.D. Lee, C.N. Yang và S.C.C. Ting; A. Zichichi và C. Rubbia. Thật thú vị khi trích dẫn phát biểu của những người sáng lập TWAS năm 1983: “Mặc dù các nước đang phát triển chiếm 80% dân số thế giới, nhưng chỉ có 28% các nhà khoa học đến từ các nước này. […] Sự thiếu hụt kinh phí nghiên cứu thường khiến các nhà khoa học ở các nước đang phát triển bị cô lập về tri thức, gây nguy hại cho sự nghiệp, tổ chức, và cuối cùng là quốc gia của họ. Các nhà khoa học ở các nước đang phát triển có xu hướng bị trả lương thấp và công việc của họ không được tôn trọng vì vai trò của nghiên cứu khoa học với phát triển ở những nước này bị đánh giá thấp. Điều này dẫn đến việc chất xám chảy tới các nước phát triển và làm nghèo thêm các nước đang phát triển. Các viện nghiên cứu và các trường đại học ở các nước đang phát triển không được tài trợ đầy đủ, buộc các nhà khoa học phải làm việc trong những điều kiện khó khăn và thường với các thiết bị lỗi thời”. Đáng buồn, ba mươi lăm năm sau, những lời này vẫn phần nào đúng với nền khoa học Việt Nam. Sau Đổi Mới, trong khi một số nhà toán học Việt được bầu làm thành viên của TWAS (Ngô Việt Trung năm 2000, Hà Huy Khoái năm 2004, Đào Trọng Thi năm 2006, Lê Tuấn Hoa năm 2011, Hoàng Xuân Phú và Phan Quốc Khánh năm 2013), không có nhà khoa học Việt ở ngành nào khác được bầu chọn, nhất là ngành vật lý. Thành viên mới của TWAS được bầu trên cơ sở duy nhất là sự xuất sắc trong khoa học. Nhiệm vụ của họ là “công nhận, hỗ trợ và thúc đẩy sự xuất sắc trong nghiên cứu khoa học ở các nước đang phát triển; đáp ứng nhu cầu của các nhà khoa học trẻ ở các nước tụt hậu về khoa học và công nghệ; thúc đẩy hợp tác, ở các nước đang phát triển cũng như giữa các nước phát triển và đang phát triển, về khoa học, công nghệ và đổi mới; khuyến khích nghiên cứu khoa học và chia sẻ kinh nghiệm trong việc giải quyết những vấn đề lớn mà các nước đang phát triển đang phải đối mặt”. TWAS hỗ trợ tài chính cho các nhà khoa học và hội thảo khoa học, trao học bổng, kinh phí cho nghiên cứu và giải thưởng, đặc biệt Giải thưởng TWAS dành cho các nhà khoa học trẻ, trong đó Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (VAST) chịu trách nhiệm gửi các đề cử từ Việt Nam. TWAS là thành viên của Hiệp hội các Viện Hàn lâm và các Hội Khoa học châu Á (AASSA), một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế về khoa học và công nghệ mà VAST là đại diện của Việt Nam.  Viện Hàn lâm Khoa học trẻ Toàn cầu (GYA)  GYA được thành lập năm 2010 tại Berlin sau cuộc họp trù bị thứ nhất năm 2008 do Hội đồng Liên Viện Hàn lâm về Các Vấn đề Quốc tế và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (Mùa hè Davos) tài trợ và một cuộc họp thứ hai được tổ chức năm 2009 tại Đại Liên, Trung Quốc.    Đoàn đại biểu đại diện Campuchia, Nhật Bản, Malaysia, Philipines, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam đến dự hội nghị thường niên của Viện Hàn lâm Khoa học trẻ Toàn cầu.  Ý tưởng về GYA được ra đời từ cuộc thảo luận giữa những nhà khoa học hàng đầu thế giới tại Hội nghị thường niên về Những thắng lợi mới (Annual Meeting of New Champions) do Diễn đàn kinh tế thế giới tổ chức*. Viện Hàn lâm này hợp tác chặt chẽ với hầu hết các tổ chức khoa học lớn trên thế giới, như UNESCO, ICSU, IAP và TWAS. Mục đích của nó nhằm trở thành “tiếng nói của các nhà khoa học trẻ”, để “khuyến khích hợp tác và đối thoại quốc tế, giữa các thế hệ và liên ngành; tập hợp các nhà khoa học trẻ để cùng nhau giải quyết các vấn đề toàn cầu và các vấn đề chính sách đòi hỏi chuyên môn liên ngành; khuyến khích các bạn trẻ đi theo sự nghiệp khoa học; thúc đẩy văn hoá khoa học, ở đó sự xuất sắc trong nghiên cứu được đánh giá cao hơn thâm niên; cải thiện nền tảng khoa học trên toàn thế giới bằng việc khuyến khích và công nhận các nhà nghiên cứu ở các nước có các chương trình khoa học quốc gia kém phát triển”. Viện Hàn lâm Khoa học trẻ Toàn cầu có các nhóm làm việc về giáo dục khoa học, khoa học và xã hội, phát triển sự nghiệp sớm và các vấn đề liên ngành. Tuổi trung bình của các thành viên là khoảng 35, một vài năm sau khi nhận bằng tiến sĩ. Số thành viên của GYA được giới hạn là 200, và giới hạn của một nhiệm kỳ là bốn năm. Một thành viên được công nhận dựa trên sự xuất sắc khoa học qua đề cử của các nhà khoa học có thâm niên, các hội nghề nghiệp và qua tự đề cử, cùng với đánh giá của chính các thành viên của GYA và các nhà khoa học có thâm niên. Tính đến năm 2014, GYA đã đạt lượng thành viên tối đa, 200 thành viên. Có hơn 70 quốc gia có đại diện tại GYA. Trong năm 2014, sáu Viện Hàn lâm trẻ quốc gia đã được thành lập ở Canada, Ai Cập, Ấn Độ, Ghana, Kenya và Việt Nam.  Viện Hàn lâm Trẻ Việt Nam (VYA)  Viện Hàn lâm Trẻ Việt Nam được thành lập tháng 11 năm 2014 bởi Nguyễn Thi Kim Thanh, một trong những thành viên sáng lập của Viện Hàn lâm trẻ Toàn cầu. Cách đây 30 năm, cô bắt đầu học đại học tại ĐHQGHN, nơi cô tốt nghiệp chuyên ngành hóa học năm 1992; sau đó cô đi du học và bắt đầu một sự nghiệp nghiên cứu quốc tế có uy tín tại Hà Lan, Hoa Kỳ và Anh quốc, nơi cô lấy bằng tiến sĩ năm 1998. Từ năm 2013, cô đảm nhận vị trí giáo sư tại Đại học College London (UCL), nơi cô dẫn đầu một nhóm nghiên cứu thực hiện nghiên cứu liên ngành tiên tiến về thiết kế và tổng hợp vật liệu nano cho ứng dụng y sinh. Từ khi thành lập VYA cho đến nay, cô đã là động lực của tổ chức này, nỗ lực không mệt mỏi cho sự thành công của nó, với hy vọng giúp đỡ quê hương trên con đường tiến tới một nền khoa học tốt hơn. Cô hiện đang là chủ tịch Hội đồng Cố vấn của VYA.  VYA là một tổ chức phi lợi nhuận độc lập và trung lập về chính trị, có mục đích:  – “Hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tăng cường năng lực, phát triển cá nhân và chuyên môn thông qua các mạng lưới quốc gia và toàn cầu, và cuối cùng tạo điều kiện cho họ có nhiều đóng góp có giá trị hơn cho xã hội;  – Nâng cao truyền thông học thuật, giáo dục và tạo nên tác động đến đổi mới và phát triển chính sách ở Việt Nam dựa trên sự đa dạng về chuyên môn của Viện Hàn lâm;  – Xây dựng nền tảng phát triển tri thức và cộng đồng cho sự nghiệp mới của các học giả trong mối liên hệ với Việt Nam để họ có thể cùng hợp tác, mở rộng cơ hội nghiên cứu và nghề nghiệp, thảo luận về những thách thức và nâng cao năng lực, tạo cầu nối giữa các lĩnh vực trong khoa học, nghệ thuật và nhân văn. Viện Hàn lâm nhận lợi ích từ kinh nghiệm bổ sung của các thành viên ở Việt Nam, những người biết rõ về nhu cầu và những vấn đề trong nước, và những thành viên ở nước ngoài được tiếp cận với môi trường nghiên cứu thuận lợi, được tiếp xúc với thực hành dân chủ cũng như cách suy nghĩ khác”.    Chị Nguyễn Thị Kim Thanh, sáng lập viên của Viện Hàn lâm Trẻ Việt Nam. Ảnh: http://www.ntk-thanh.co.uk  Hiện nay, VYA, với số thành viên là người Việt ở nước ngoài chiếm ưu thế, tập trung đặc biệt vào vai trò là cầu nối giữa học giả Việt ở trong nước và nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi kiến ​​thức và thực tiễn làm việc giữa họ trong khi tích cực duy trì liên hệ với các tổ chức khoa học trong nước và quốc tế.  Các thành viên của VYA được lựa chọn dựa trên sự phù hợp của họ trong việc đảm nhận vai trò tích cực thực hiện các mục tiêu của Viện Hàn lâm. Nhiệm kỳ thành viên ban đầu là 1 năm và chỉ có thể được kéo dài thêm một lần trong 4 năm, tùy thuộc vào kết quả tích cực của lần nộp đơn sau đó. Số lượng thành viên của VYA không vượt quá 120 người; thành viên được lựa chọn theo thứ tự xếp hạng từ trên xuống bởi một Hội đồng tuyển chọn bao gồm ít nhất năm người là thành viên của VYA, cựu thành viên hoặc cố vấn của VYA. Thành viên có thể tự đề cử hoặc do thành viên khác đề cử với sự đồng ý của người được đề cử. Các thành viên bầu Chủ tịch và Ban Điều hành. Viện Hàn lâm được sự trợ giúp của một Ban Cố vấn.  Trong số các hoạt động của mình, VYA phát hành Bản tin hằng tháng do TS. Lâm Hạnh, Chủ tịch VYA đến từ Cornell, TS. Bùi Thanh Duyên từ San Francisco và TS. Lê Hoàng Sinh từ Đà Nẵng, cùng với GS. Nguyễn Thi Kim Thanh biên tập.  Việt Nam có thể thu được lợi ích gì từ những cơ hội mà các hội này mang lại?  Bức tranh mà tôi phác họa trên có thể mang lại ấn tượng cho người đọc về một sự hỗn loạn, với các tổ chức thường xuyên đổi tên, được tạo mới hoặc sáp nhập. Đặc điểm chung của những tổ chức này có thể dễ dàng được xác định: sự cống hiến vô điều kiện cho tiến bộ của khoa học không biên giới, những giá trị tri thức và sự nghiêm ngặt đạo đức mà nó mang theo cùng với thiện chí của các nước phát triển để giúp các nước đang phát triển trên con đường đạt được tiến bộ như vậy.  Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng có thể tận dụng các tổ chức khoa học quốc tế như WAYS và GYA/VYA để cộng đồng khoa học Việt tiếp cận với những điều kiện giúp chúng ta phát triển. Đó là lý do tại sao, khi tôi được mời tham gia Ban Cố vấn của VYA, tôi đồng ý ngay lập tức.  Tôi nghĩ rằng mình có thể giúp VYA cân bằng số thành viên trong nước và nước ngoài, giữa các ngành khác nhau và lựa chọn thành viên kỹ càng hơn dựa trên thành tích khoa học. Tôi hoàn toàn tin rằng khuyến khích giao lưu giữa các nhà khoa học trẻ trong và ngoài nước là điều rất tốt: điều đó cho phép các nhà khoa học trẻ trong nước cơ hội học hỏi từ những kỹ năng củanhững nhà khoa học ở nước ngoài; đồng thời nó cũng giúp những nhà khoa học ở nước ngoài hiểu rõ hơn về những điều kiện ở trong nước và là một nhà khoa học ở Việt Nam có nghĩa là như thế nào; Tôi phải thú nhận rằng điều thứ hai này, ít nhất đối với tôi, cũng quan trọng như điều thứ nhất, nếu không muốn nói là quan trọng hơn, và tôi cảm thấy không thoải mái khi thấy các nhà khoa học Việt ở nước ngoài nhân danh và đại diện khoa học Việt Nam trước các tổ chức quốc tế. Tôi biết từ kinh nghiệm rằng khoa học là một nền tảng tuyệt vời để quảng bá các giá trị về nhân phẩm, xóa bỏ biên giới giữa các quốc gia và sự khác biệt văn hoá và tôi nghĩ rằng cộng đồng chúng ta nên tham gia mạnh mẽ hơn vào VYA để phát triển đúng hướng.  Để làm sáng tỏ cái nhìn của mình về tăng cường và cải thiện sự tham gia của các nhà khoa học trẻ ở Việt Nam vào VYA, đầu tiên tôi đến gặp một nhà khoa học, người là nguyên chủ tịch VYA năm 2017. Tôi được nghe anh nói về những khó khăn mà anh phải đối mặt trong vai trò chủ tịch của mình, về cơ bản những khó khăn này cản trở việc phát triển hiệu quả. Sau đó tôi xin gặp GS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (VAST), Ủy viên Trung ương Đảng, người mà Nguyễn Thi Kim Thanh đã gặp vào tháng Giêng năm nay. Ông ấy đã vui lòng dành thời gian lắng nghe và cho tôi biết quan điểm của ông về vấn đề này. Trong khi cá nhân ông rất ủng hộ tất cả sáng kiến giúp các nhà khoa học trẻ Việt ở trong và ngoài nước tiếp xúc gần gũi hơn, ông giải thích với tôi rằng bất kỳ tổ chức hoặc hiệp hội quốc tế nào cũng cần phải được chính thức công nhận bởi một tổ chức trong nước như Bộ Ngoại giao hay Trung ương Đoàn trước khi được coi là tồn tại ở Việt Nam. Do đó, đối với ông, VYA đơn giản chưa được công nhận và trong quyền hạn của mình, ông không thể giúp VYA được. Ông đề nghị có thể thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Anh như một cơ quan trung gian để VYA được công nhận, có vẻ đối với tôi, một người tin tưởng mạnh mẽ vào khoa học không biên giới, đây là một ý tưởng khá lạ; Tôi đã hỏi liệu VUSTA có thể giúp được không, nhưng câu trả lời là không. Thật ra, sau khi nghe động cơ của tôi, ông nói rõ rằng ông không có quyền, và không thể giúp VYA được công nhận. Do đó, tôi đã quyết định rút khỏi Ban Cố vấn của VYA và một điều trở nên rõ ràng với tôi, rằng còn quá sớm để hy vọng vào một sự thay đổi phong cách mà tôi vẫn thường kêu gọi trong bài báo trên Tia Sáng trước đó.     Khi một nhà khoa học Việt đọc những lời phát biểu của những nhà sáng lập TWAS hoặc tuyên bố của Diễn đàn các Nhà khoa học trẻ Quốc tế năm 1999, ta không thể không hy vọng những lời đó sẽ trở thành phương châm và hành động của Khoa học Việt Nam. Chúng ta biết rất rõ rằng vẫn còn nhiều việc cần phải được cải thiện để các hội ngành của chúng ta trở nên chủ động hơn và ít phụ thuộc hơn vào các quy tắc của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam như không cho phép các nhà khoa học nước ngoài làm việc trong nước trong hơn một thập niên (gần hai thập niên trong trường hợp cá nhân của tôi …) trở thành thành viên; thực hiện những hành động để loại bỏ hoàn toàn các hành vi phi đạo đức như đạo văn, loại bỏ việc giám đốc của một viện ký một cách có hệ thống tất cả các công trình khoa học của viện, loại bỏ việc những tấmbằng được trao một cách gian lận, các luận án được mua với giá cao; hành động để khuyến khích các nhà khoa học trẻ nói lên suy nghĩ của mình; hành động để có những hội đồng công minh và trung lập quyết định việc thăng tiến và giải thưởng dựa hoàn toàn vào sự xuất sắc khoa học; hành động để tham nhũng và chủ nghĩa thân quen đứng ngoài bức tường của các trường đại học và các viện nghiên cứu; hành động để các nhà nghiên cứu và các giảng viên được tôn trọng đối với công việc của họ và để họ có mức lương xứng đáng; hành động để họ có thể được truy cập tới những thiết bị khoa học hiện đại; hành động để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám; hành động để các kiểm duyệt viên của chúng ta học được cách phân biệt giữa những người háo hức muốn giúp đỡ khoa học và đất nước phát triển và những blogger có mục đích lật đổ, gây hại cho chính phủ.  Phạm Ngọc Điệp dịch  *Sửa lại so với bản in   —————-  Tài liệu tham khảo  Tôi liệt kê dưới đây một vài trang mạng liên quan, dựa vào đó mà bài bào này được viết nên:  Về ICSU: https://www.icsu.org/https:// en.wikipedia.org/wiki/International_Council_for_Science  Về VUSTA: www.vusta.vn/en/  Về cuộc họp Budapest năm 1999 của Diễn đàn các Nhà khoa học Trẻ Quốc tế: http://www.unesco.org/science/wcs/youth/young.htm  Về TWAS: www.vusta.vn/en/  Về WAYS: https://en.wikipedia.org/wiki/ World_Association_of_Young_Scientists  www.unesco.org/…/global…/young-scientists/world-association-of-young-scientists-w…  Về Erice (ICSC, WFS, World Lab): www.federationofscientists.org/WfsWorldLab.php  Về VAST: www.vast.ac.vn/en/  Về AASSA: aassa.asia/  Về IAP: http://www.interacademies.org/ 31840/About  Về GYA: https://www.globalyoungacademy.org/  https://en.wikipedia.org/wiki/Global_Young_Academy  Về VYA: vietnamyoungacademy.org/  Về GS. Nguyen T.K. Thanh: http://www.ntk-thanh.co.uk/       Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Thế giới chỉ còn vài chục chú báo Amur      Theo Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF), một cuộc điều tra “dân số” mới đây về báo Amur – loài báo hiếm nhất trong họ mèo trên thế giới – cho thấy hiện chỉ còn khoảng 25-34 con trong thế giới tự nhiên.    Cuộc khảo sát được WWF, Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WCS) và Viện địa lý Thái Bình Dương (thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga) thực hiện trong tháng 2 và tháng 3 vừa qua.  Pavel Fomenko, điều phối viên chương trình bảo tồn đa dạng sinh học tại chi nhánh Viễn Đông của WWF ở Nga cho biết sự xâm chiếm của con người, nạn săn bắn trộm, khai thác rừng và thay đổi khí hậu đã dẫn đến sự suy giảm số lượng của loài báo quý hiếm này.  Theo tiến sĩ Dmitry Pikunov, điều phối viên chương trình điều tra, một con báo Amur trưởng thành cần một môi trường sống rộng 500 km2 với những khu rừng có đủ thực phẩm cho nó sinh sống, trong đó có nai. Trung bình, 2-4 con báo cái sẽ sống trên cùng một diện tích như thế để sinh sản và nuôi các chú báo con.  T.VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới chưa sẵn sàng đối mặt vụ phun trào núi lửa lớn sắp tới      Một vụ phun trào lớn có thể ảnh hưởng đến hệ thống thương mại, truyền thông và tài chính toàn cầu.      Sự phun trào cấp 5 ở núi St Helens vào năm 1980 khiến 57 người thiệt mạng  Nhóm các nhà khoa học hàng đầu về núi lửa cảnh báo: Thế giới sẽ cần chuẩn bị nhiều hơn cho vụ phun trào lớn sắp tới.  Sóng thần Ấn Độ Dương vào năm 2004 và động đất Tōhoku ở Nhật năm 2011 là một trong những thảm kịch tự nhiên tồi tệ nhất. Nhưng loài người đã không phải đối mặt với thảm họa núi lửa khốc liệt kể từ năm 1815, khi vụ phun trào ở Tambora (Indonesia) đã dẫn đến cái chết của 10.000 người và dẫn tới “năm không mùa hè” ở châu Âu và Nam Mỹ. Những vụ phun trào núi lửa chấn động thế giới như thế này được xếp cấp 7 hoặc cao hơn trên thang Chỉ số phun trào núi lửa (Volcanic Explosivity Index – VEI) – mức cao nhất là 8.  Chris Newhall – nhà khoa học núi lửa thuộc Mirisbiris Garden and Nature Center (Santo Domingo, Philippines) nói: “Một vụ phun trào cấp 7 VEI tiếp theo có thể xảy ra trong thời đại của chúng ta hoặc hàng trăm năm nữa.” Tuy nhiên giờ là lúc để thảo luận và các nhà nghiên cứu cùng chính phủ cần lập kế hoạch cũng như chuẩn bị phòng ngừa tình huống tê liệt khẩn cấp có thể xảy ra.  Newhall là tác giả chính của một công bố trên Geoshpere, khảo sát các hậu quả tiềm tàng của một vụ phun trào cấp 7 VEI tiếp theo. Đồng tác giả của công bố này là Stephen Self (trường đại học California ở Berkeley) – người đã cùng ông đưa ra VEI vào năm 1982, và Alan Robock – nhà khoa học nhiệt đới tại trường đại học Rutgers (New Brunswick, New Jersey). Cả ba đã nghiên cứu vụ phun trào cấp 5 VEI tại núi St Helens (bang Washington, 1980) và cấp 6 VEI tại núi Pinatubo (Philippines, 1991).  Những sự kiện này đã khiến hàng trăm người thiệt mạng và phá vỡ toàn bộ vùng xung quanh. Núi Pinatubo thậm chí còn phun một lượng lớn SO2 vào tầng bình lưu, dẫn đến việc giảm nhiệt độ toàn cầu. Nhưng một vụ phun trào cấp 7 VEI cũng có thể diễn ra quy mô hoàn toàn khác. Năm 1257, vụ phun trào cấp 7 VEI ở khu vực mà nay là Indonesia đã kéo nhiệt độ hành tinh xuống đến mức bắt đầu một đợt lạnh kéo dài hàng thế kỷ – Kỷ băng hà nhỏ. Robock nói: “Những điều này rất quan trọng với hành tinh, nhưng vụ kế tiếp có thể sẽ diễn ra trong môi trường khá khác biệt.”  Toàn cầu hóa chuẩn bị cho thảm họa  Các nhà nghiên cứu nhận xét, hệ thống nông nghiệp, y tế, tài chính và những khía cạnh khác của cuộc sống hiện đại đã được kết nối toàn cầu hơn nhiều so với cách đây vài thập kỷ. Tám năm trước, một vụ phun trào cấp 3 VEI – Eyjafjallajökull (Iceland) đã làm tê liệt giao thông hàng không châu Âu do máy bay có thể lâm vào nguy hiểm khi bay qua đám tro bụi núi lửa, dẫn đến thiệt hại kinh tế khoảng 5 tỷ USD.  Nhóm của Newhall nói rằng các nhà nghiên cứu nên bắt đầu chuẩn bị cho một vụ phun trào cấp 7 VEI trong tương lai bằng cách nghiên cứu các ảnh hưởng tiềm ẩn đối với kết nối truyền thông trọng yếu, như cách độ ẩm khí quyển và tro núi lửa có thể gây nhiễu tín hiệu hệ thống định vị toàn cầu; tìm hiểu thêm về cách lượng lớn magma tích trữ và phun trào nhằm giúp dự đoán nơi có thể xảy ra vụ phun trào 7 VEI kế tiếp.  Các nhà nghiên cứu đã có một danh sách dài cái núi lửa có thể là nơi xảy ra một vụ nổ 7 VEI, bao gồm: Taupo (New Zealand) – địa điểm diễn ra vụ phun trào cấp 8 VEI vào 26.500 năm trước, và núi Damavand (Iran), cách Tehran chỉ 50 km.  Janine Krippner, nhà nghiên cứu về núi lửa thuộc trường đại học Concord (Athens, West Virginia), nói: việc chuẩn bị cho vụ phun trào hiếm gặp nhưng nguy hiểm cũng quan trọng như đối phó với các vụ có tần suất thường xuyên và quy mô nhỏ hơn – “Ngay cả đối với những trường hợp có xác suất thấp hơn thì khi chúng xảy ra, mọi người sẽ nhìn vào các nhà khoa học, các nhà quản lý tình huống khẩn cấp, chính phủ và những người khác và kỳ vọng rằng họ đã chuẩn bị trước. Chúng tôi nợ cộng đồng việc nghiên cứu những vụ phun trào nguy hiểm tiềm ẩn, vì thế chúng tôi cần hướng dẫn mọi người những việc cần làm lúc xảy ra thảm họa.”  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-02784-7    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới có ba nghìn tỷ cây      Theo điều tra mới nhất của nhóm các nhà khoa học quốc tế do nhà sinh thái học Thomas Crowther thuộc Viện Sinh thái học Hà Lan đứng đầu, Trái đất hiện có khoảng ba nghìn tỷ cây, nhiều gấp bảy lần so với con số được ước tính trước đó dựa trên các hình ảnh chụp từ vệ tinh.     Cũng theo kết quả này, mỗi năm có khoảng 15  tỷ cây bị chặt hạ và tính từ thời điểm khởi đầu của nền nông nghiệp cách  đây 12.000 năm đến nay, số lượng cây toàn cầu đã giảm 46%.  Trong  điều tra mới này, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp kết hợp ảnh  chụp vệ tinh và số liệu báo cáo thực hiện trên mặt đất. Trước tiên, họ  thu thập dữ liệu về số cây ở từng lục địa (ngoại trừ Nam Cực) với tổng  diện tích được bao quát là 430.000 ha. Những số liệu tính toán trên mặt  đất cho phép họ nâng cao độ chính xác trong các ước tính về mật độ cây  trong các ảnh chụp vệ tinh. Sau đó, họ chiếu số liệu ước tính này vào  các khu vực không có số liệu đếm tin cậy.   Kết  quả cho thấy nơi có mật độ cây lớn nhất là các khu rừng ở Bắc Mỹ,  Scandinavia và Nga. Rừng ở các khu vực này thường có nhiều cây lá kim  mọc san sát nhau gồm khoảng 750 tỷ cây, chiếm 24% tổng lượng cây toàn  cầu. Các khu vừng nhiệt đới và cận nhiệt đới có 1,3 nghìn tỷ cây, chiếm  43% tổng lượng cây toàn cầu.  Trang Bùi lược dịch theo nature.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới năm 2050 sẽ ra sao?      Trang mạng báo Newsweek mới đây đăng bài  “Hãy quên năm 2015 đi – Năm 2050 mới đáng để dự báo”. Bài báo viết:  Chính phủ Mỹ và các cơ quan nghiên cứu đã chọn năm 2050 là năm để dự  báo. Kết quả dự báo cho thấy thế giới năm đó khác xa thế giới chúng ta  đang sống hiện nay.    1. Số dân tăng mạnh  Thế giới hiện nay có khoảng 7 tỷ người; Liên Hợp Quốc dự báo năm 2050 sẽ có gần 9,6 tỷ người, tức tăng 30%, tương đương Trái đất có thêm một Ấn Độ và một Trung Quốc. Hiện nay chúng ta có nhiều việc cần làm như cung cấp phương tiện hạn chế sinh đẻ cho bất cứ người nào có nhu cầu trên khắp thế giới.    2. Tiến sang xã hội già hóa  Cùng với sự tăng tuổi thọ và hạ tỷ suất sinh đẻ, số người già sẽ tăng mạnh vào giữa thế kỷ này. Dự báo đến năm 2050, trên thế giới cứ sáu người thì sẽ có một người ngoài 65 tuổi. Chính phủ các nước đang vắt óc tìm cách chăm sóc số người già này. Cùng với xã hội già hóa, sẽ xuất hiện nhiều loại bệnh tật của người già.  May mắn là đến năm 2050, ngành y dược học cũng sẽ có tiến bộ lớn, làm được nhiều loại vaccine ngừa các bệnh như sốt rét, HIV và phân phối rộng rãi các vaccine ấy.     3. Máy tính sẽ mạnh gấp 1.000 lần và rẻ hơn nhiều  Theo Ulrich Eberl, tác giả cuốn Đời sống năm 2050: hiện nay chúng ta nên tạo dựng tương lai như thế nào (xuất bản năm 2011), trong khoảng 25 năm qua, công nghệ thông tin đã phát triển gấp gần 1.000 lần, và ông dự tính, trong 25 năm tới, sự phát triển đó sẽ được lặp lại.  “Đến lúc ấy những loại máy tính mạnh gấp 1.000 lần về năng lực tính toán và tốc độ truyền số liệu sẽ chỉ có giá cả như hiện nay,” Elberl nói khi trả lời phỏng vấn của tờ Newsweek, “Nếu hiện nay chúng ta bỏ ra 500 USD mua một chiếc laptop thì khi ấy một con chip có cùng tính năng sẽ chỉ giá 50 xu mà thôi.”   4. Cần nghiêm chỉnh xem xét vấn đề thu hồi   Elberl nói phần lớn các sáng tạo về công nghệ máy tính được thực hiện xong trước năm 2035. Đến năm 2050, tốc độ đổi mới công nghệ sẽ chậm lại. Lúc ấy vấn đề tài nguyên trên Trái đất với 9,6 tỷ người sẽ trở nên hết sức căng thẳng.  Elberl tin rằng tình hình đó sẽ thúc đẩy sự phát triển “lành mạnh toàn diện” của xã hội – tức mối quan hệ tương tác giữa sự lành mạnh của loài người với sự lành mạnh của môi trường.   Tại những quốc gia mà số người thuộc tầng lớp trung lưu tăng liên tục như Trung Quốc, Brazil, Nga và Ấn Độ sẽ có thêm rất nhiều người tiêu dùng và xuất hiện những “nhu cầu cực lớn” về kim loại đồng, về dầu mỏ và những nguyên vật liệu hữu hạn khác. “Chúng ta không có đủ nguồn tài nguyên để cung cấp cho 9,6 tỷ người ngày càng giàu lên. Vì thế cần có phương thức thu hồi mới, tức tái sử dụng phân tử,” Elberl nói.    5. Năng lượng Mặt trời sẽ là nguồn năng lượng lớn nhất trên thế giới   Hiện nay giá thành chuyển hóa năng lượng Mặt trời đang ngày càng hạ thấp. Thống kê của nguyệt san Mother Jones cho thấy năm 1972, giá thành chuyển hóa mỗi một watt năng lượng Mặt trời là 75 USD, nhưng hiện nay chỉ còn 1 USD, hơn nữa giá thành các sản phẩm liên quan cũng đang hạ thấp. Theo nghiên cứu mới đây của Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA, đến năm 2050, năng lượng Mặt trời có thể cung cấp 27% tổng nhu cầu năng lượng toàn thế giới cần dùng, nghĩa là điện Mặt trời trở thành nguồn điện lớn nhất toàn thế giới.   6. Nếu không giải quyết hợp lý thì chúng ta sẽ có thể thiếu lương thực  Năm ngoái Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc FAO cho biết để nuôi nổi 9 tỷ người vào năm 2050, sản lượng lương thực toàn thế giới khi ấy cần tăng 60% so với hiện nay. Nếu không, có thể xảy ra tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, từ đó dẫn đến xáo trộn xã hội, xung đột và nội chiến. Để so sánh, nên nhớ rằng trong 20 năm qua, sản lượng lúa mỳ và gạo chỉ tăng chưa đầy 1%.  Nhưng ông Kostas Stamoulis, Giám đốc Ban Kinh tế phát triển nông nghiệp của FAO vẫn tỏ ra lạc quan. Ông nói, những phương pháp như luân canh “hai vụ” và “ba vụ” hiện đang áp dụng tại Ấn Độ và Trung Quốc đã thu được kết quả đáng mừng. Vấn đề hiện nay là làm thế nào đưa công nghệ trồng trọt đến tay người cần dùng.  “Tương lai của chúng ta sẽ tốt đẹp hơn trước đây, tôi rất lạc quan. Thế giới mà ta đang sống có khả năng ứng phó với mọi vấn đề,” Stamoulis nói.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới năm 2052      Câu lạc bộ Roma (Club of Rome) vừa công bố một nghiên cứu cho biết thế giới sẽ ra sao vào năm 2052. WIWO (Tuần Kinh tế) của Đức đã phỏng vấn nhà khoa học người Na Uy Jorgen Randers-tác giả công trình nghiên cứu có tên “2052” này.    WirtschaftsWoche Online: Thưa ông, thế giới sẽ ra sao vào năm 2052?  Jorgen Randers: Thế giới đang đi trên con đường dẫn đến sự suy sụp khí hậu. Nếu mọi sự hoàn toàn không thay đổi thì lượng khí thải – CO2 sẽ tiếp tục tăng lên và đến năm 2052 nhiệt độ sẽ tăng thêm  2° Celsius, điều đó sẽ làm cho biến đổi khí hậu diễn ra mạnh mẽ hơn và không có gì là khả quan cả.     Theo ông thì nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng đó?   Nguyên nhân là do những quyết sách thiển cận về chính trị và kinh tế, nhất là ở các nền dân chủ tư bản chủ nghĩa phương Tây. Nhiều cấp, nhiều người có quyền quyết định lại tư duy theo kiểu thiển cận không đánh giá hết những hệ quả lâu dài đối với những quyết sách và hành động của mình.    Suy nghĩ chính xác của giáo sư về điều đó là gì?  Ở đây tôi muốn đề cập đến những quy định cơ bản của mô hình phát triển phương Tây: Sự ra quyết định  “Decision-Making” ở nhiều lĩnh vực thường gắn với lợi ích một cách ngắn hạn  –  trong kinh tế thì chỉ nhìn vào lợi nhuận, trong chính trị thì trông vào cuộc bầu cử tới. Với cách làm đó người ta có thể thu được kết quả tốt đẹp trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng những điều đó không thể chặn đứng được tình trạng khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn.     Vậy các giải pháp mà ông muốn đưa ra là gì?   Về mặt chính sách cần loại bỏ quan niệm lợi nhuận đơn thuần và phải hướng các dòng tiền đầu tư vào các lĩnh vực thực sự thiết yếu. Như người Đức đang thực hiện việc phát triển, mở rộng năng lượng gió.   Có nước nào giải quyết vấn đề này tốt hơn các quốc gia phương Tây?   Có đấy. Thí dụ như Trung Quốc chẳng hạn. Ở Trung Quốc thị trường là để thực thi các quyết định chính trị chứ không phải ngược lại. Do đó các vấn đề về kinh tế, chính trị sẽ được giải quyết trên cơ sở những giải pháp dài dạn. Người Trung Quốc rất ý thức về sự khan hiếm tài nguyên và ngay từ bây giờ họ đã đưa ô tô chạy điện vào sử dụng. Ngược lại người tiêu dùng phương Tây thì lại chờ đợi cho đến khi xe này mang lại đủ lợi nhuận. Nhưng chờ đợi như vậy có khi là quá muộn. Các quốc gia phương Tây có khả năng dự báo về những sai lầm, thiếu sót, nhưng lại không có khả năng giải quyết những sai lầm thiếu sót đó.      Vậy phải chăng người Trung Quốc sẽ là “nhân vật chính” giải quyết những vấn đề của biến đổi khí hậu?   Tôi xin nói rất rõ là: Chính phủ Trung Quốc, chứ không phải các chính thể dân chủ ở phương Tây, sẽ giải quyết được những vấn đề về biến đổi khí hậu. Người Trung Quốc đang đi trên con đường đó, họ chủ động trong cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu đồng thời tiến hành cuộc chiến chống nghèo đói ngay trong đất nước mình. Hai cuộc chiến đấu này diễn ra song song và có hiệu quả. Xã hội phương Tây mất 50 năm để tạo nên sự phồn vinh, thịnh vượng và mãi đến bây giờ mới bắt đầu cuộc chiến chống lại hệ quả của sự tàn phá môi trường.   Xin ông cho biết chúng ta cần làm gì để cùng Trung Quốc giải quyết tình trạng này?  Thứ nhất, các nước giàu phải thay đổi dòng chảy của tư bản vào những chương trình phát triển nguồn năng lượng tái tạo.    Thứ hai, từng cá nhân ngay từ bây giờ có thể ra những quyết định hữu ích như mua ô tô điện, làm nhà cách âm, cách nhiệt tốt hơn, giảm tiêu thụ dầu và khí đốt…  Và thứ ba là, phải ủng hộ một chính phủ mạnh. Một chính phủ mà trong một thời gian ngắn có thể chuyển những đầu tư ngắn hạn vào những dự án dài hơi và chính phủ đó không những nhận biết được những vấn đề cơ bản mà còn phải biết giải quyết những vấn đề đó.   Làm được như vậy không chỉ có lợi cho chúng ta mà còn có lợi cho cả con, cháu chúng ta mai sau.         Jorgen Randers, sinh năm 1945, là giáo sư về chiến lược khí hậu thuộc Norwegian School of Management. Ông nghiên cứu sự phát triển bền vững trên thế giới, ở trong và ngoài doanh nghiệp trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề khí hậu.               Randers có vị trí trong nhiều Hội đồng giám sát thuộc các doanh nghiệp Na Uy và là tác giả của nhiều cuốn sách  như “The Limits to Growth” (1972) và  “Limits to Growth– The 30 Year Update” (2004).           Hoài Trang  dịch theo Wiwo     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới “phẳng” và doanh nghiệp công nghệ      Những thành tựu khoa học-công nghệ, bối cảnh địa chính trị trên thế giới hiện nay cũng như những định chế, pháp lý và chuẩn mực quốc tế đang đưa loài người đến những mô hình sản xuất-kinh doanh và quan niệm hoàn toàn mới về phát triển.    Công nghệ và các định chế toàn cầu giảm thiểu ngăn cách về địa lý, sự khác biệt giữa các vùng, quốc gia và các châu lục. Dòng vốn, tri thức và công nghệ được luân chuyển đến mọi nơi trên thế giới với rất ít trở ngại để đem lại giá trị gia tăng lớn nhất cho con người. Thế giới trở nên “phẳng” hơn như T. Friedman đề cập trong tác phẩm “Thế giới phẳng”. Với công nghệ, vận mệnh của các quốc gia ngày càng ít phụ thuộc vào khí hậu, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên mà phụ thuộc vào Hệ thống giáo dục, ý chí vươn lên, doanh trí của doanh nghiệp và của mỗi người dân. Với sự phát triển của công nghệ, mối tương tác giữa Nhà nước và Doanh nghiệp cũng thay đổi từ chỗ kiểm tra, mệnh lệnh, bao cấp trở thành hỗ trợ, tạo dựng “sân chơi” bình đẳng mang tính thị trường. Nếu như chỉ một thập kỷ trước, các quốc gia luôn giữ vai trò chủ đạo, thì ngày nay các doanh nghiệp trở thành động lực chính trong sự phát triển. Quan hệ giữa các đối tác chuyển từ cạnh tranh sang “cộng tranh” (Co-opetition) – khi mà các doanh nghiệp vừa “cộng tác” (Co-opetition) vừa “cạnh tranh” (competion) theo hướng “cùng có lợi” (Win-Win-Situation) làm cho “chiếc bánh” lợi nhuận của Nhân loại ngày càng lớn ra chứ không là một hằng số như quan niệm theo kiểu “Tổng bằng không” (Zero-Sum-Behaviour).  Vì công nghệ tạo ra những phương thức sản xuất-kinh doanh mới, nhân loại đang giải lại bài toán tối ưu hóa sản xuất và kinh doanh trên quy mô toàn cầu. Theo J. Welch, Giám đốc General Electric, “Người thành công trong cuộc chơi toàn cầu là người tập hợp được những tối ưu của thế giới trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinh doanh với quy mô lớn nhất. Và rất hiếm khi tất cả các yếu tố này tồn tại ở trong một nước hay một châu lục”. Nói cách khác, sản phẩm được tạo ra bởi chuỗi cung cấp quy mô nhỏ của quốc gia sẽ không thể cạnh tranh được với sản phẩm của chuỗi kinh doanh quy mô châu lục, toàn cầu. Thay vì quy hoạch sản xuất kinh doanh trong phạm vi quốc gia, những  chuỗi cung cấp đang trải dài liên lục địa, vượt qua biên giới các quốc gia, mang tính vượt trội về so sánh cạnh tranh. Các phát minh của khoa học cơ bản và khoa học công nghệ trong vài thập kỷ trước đã hội tụ đến ngưỡng mà việc ứng dụng và kết hợp chúng với nhau mang lại lợi nhuận to lớn. Đây là cơ hội cho những nước có tiềm năng sáng tạo công nghệ chưa cao và “đi sau” về công nghệ nhưng có tính thực tế cao, khả năng đổi mới linh hoạt và nhạy bén với thị trường. Thay vì chỉ sản xuất kinh doanh các sản phẩm trong nước, ngày nay người ta tham gia vào các chuỗi cung cấp cho các sản phẩm trên toàn thế giới. Đầu tư để sản xuất phần mềm lớn gấp 7.500 lần so với đầu tư để gia công một (những) công đoạn nhất định. Các nước nhỏ hầu như không thể thực hiện cả quy trình sản phẩm để bán trên toàn thế giới (từ thiết kế, sản xuất đến bán hàng) nhưng các doanh nghiệp nhỏ có thể tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra sản phẩm đó.  Bên cạnh “phần cứng” hữu hình còn cả một hệ thống các “phần mềm” vô hình ràng buộc, điều chỉnh “cuộc chơi” như luật lệ, chuỗi cung cấp, cụm công nghiệp, liên minh chiến lược, cơ chế hoạt động, văn hóa kinh doanh,… mà nhiều khi các nước đang phát triển chưa nhận thức đầy đủ.  Nếu kinh doanh lành mạnh, tư duy thực tiễn, không dựa vào bảo hộ, bao cấp, những biện pháp hành chính phi thị trường, chủ nghĩa thân quen (crony capitalism) thì công nghệ, tri thức và toàn cầu hóa mang lại cho tất cả các nước, các doanh nghiệp, mọi cá nhân những cơ hội chưa từng có.  Hiện nay, chần chừ, lập những rào cản bảo hộ, dựa vào bao cấp hoặc theo định hướng quốc gia bó hẹp, một mặt, không nắm bắt các cơ hội chưa từng có, mặt khác, cuối cùng cũng không thể ngăn nổi được dòng công nghệ, dòng vốn từ bên ngoài tràn vào.  Muốn tồn tại trong hội nhập, cách hiệu quả nhất là thông qua khoa học-công nghệ. Việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ (technology-based firms) và gia tăng ứng dụng khoa học-công nghệ trong sản xuất kinh doanh là con đường ngắn nhất dẫn đến phát triển kinh tế. Để làm được như vậy, các khâu nghiên cứu-đào tạo-sản xuất-kinh doanh phải gắn kết với nhau.  Nền kinh tế nhân tài đang phát sinh và lớn mạnh với tốc độ kinh khủng đưa tri thức trở thành nguồn tài nguyên lớn nhất, một đơn vị tiền tệ mới mà các quốc gia, công ty đang tranh giành nhau. Trong thế giới “phẳng”, các công ty chiêu nạp nhân tài từ mọi nước, mọi ngành. B. Gates không sợ các công ty CNTT mà các ngân hàng đầu tư như Morgan Stanley, Goldman Sachs,… vì “hút” hết nhân tài trên thế giới. Thuê khoán ngoài trong sản xuất-kinh doanh (Business Process Outsourcing-BPO) và trong nghiên cứu-thiết kế (Knowledge Process Outsourcing-KPO) đang biến đổi phương thức kinh doanh trên thế giới, làm mờ dần xuất sứ quốc gia của sản phẩm và thay vào đó là tính quốc tế. Các nước phát triển đang bị thách thức và bị thúc ép phải bước lên những bậc thang cao hơn, đem lại những công nghệ, mô hình, quan niệm, triết lý hoàn toàn mới về phát triển cho nhân loại.  Các quốc gia đang khẩn trương thành lập Quốc-Gia-Canh-Tân-Hệ (National Innovation System – NIS) như một hành trang bắt buộc cho thế kỷ 21 như Dự án Thiên niên kỷ do LHQ nêu ra. Chương trình đổi mới bao gồm đổi mới từ công nghệ và việc áp dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh, quản lý, vận hành đến đổi mới tư duy, văn hóa làm việc, văn hóa tồn tại của mỗi người và mỗi doanh nghiệp. Động lực của quá trình đổi mới là các doanh nghiệp công nghệ nhưng Nhà nước luôn là tổng chỉ huy của NIS.  Ở nước ta hiện nay, thành phần quan trọng của NIS là Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (technology business incubator). Đó là nơi đào tạo, hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập. Việc hướng doanh nghiệp vào áp dụng công nghệ không những là nhân tố hiệu quả nhất để tồn tại trong cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa mà còn giúp các doanh nghiệp hòa vào trong các chuỗi cung cấp trên thế giới. Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ, tư vấn chuyên sâu cho doanh nghiệp về công nghệ, trong việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất-kinh doanh, ví dụ: các hiểu biết về chuỗi cung cấp, công nghiệp phụ trợ, mạng lưới hậu cần toàn cầu, mạng lưới cung cấp toàn cầu, thuê khoán ngoài, quy trình sản phẩm từ ý tưởng, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, tiếp thị, kinh doanh, tìm lợi thế cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, liên minh chiến lược, quy luật, phương thức và xu thế vận hành của các dòng công nghệ, vốn trong thời gian tới… Như vậy, các doanh nghiệp công nghệ được hỗ trợ để phát triển thuận với thị trường, đặc biệt trong thời kỳ bắt đầu của hội nhập.        Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới phi hạt nhân, một ảo tưởng? *      Những nghiên cứu thuần túy cơ bản “trong tháp ngà” về hạt nhân nguyên tử hồi đầu thế kỷ 20 đã vĩnh viễn làm thay đổi thế giới, đưa thế giới bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác, khi vũ khí hạt nhân và điện hạt nhân trở thành tiêu điểm chi phối cục diện thế giới và quan hệ quốc tế trong hơn bảy thập kỷ qua.       Sau khi phát xít Đức đầu hàng đồng minh ngày 9 tháng 5 năm 1945, ở mặt trận Thái Bình Dương, Nhật Bản gần như tuyệt vọng, chỉ chờ ngày hạ vũ khí. Trong những ngày này đã diễn ra nhiều cuộc thương lượng để Nhật đầu hàng vô điều kiện. Trong thế vô vọng không có gì để mặc cả, phía Nhật chỉ yêu cầu Nhật hoàng được tại vị. Mỹ không chấp thuận, nhưng không vội thúc ép.     Sáng 17 tháng 6, các nhà khoa học Mỹ đã cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên làm bằng plutonium lấy từ lò phản ứng. Sức công phá đã vượt quá mọi tưởng tượng của chính những nhà khoa học chế tạo ra nó.    Ngày 6 và 9 tháng 8 hai quả bom nguyên tử làm bằng plutonium và uranium giàu với sức công phá gần 20 nghìn kiloton TNT mỗi quả đã hủy diệt hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, giết chết thê thảm hơn 225 nghìn người dân vô tội bằng sức nổ, bỏng nhiệt và tia phóng xạ. Ngày 15/8, Nhật hoàng Hirohito tuyên bố đầu hàng. Mỹ và phe đồng minh chấp thuận, đồng thời chấp thuận cả sự tại vị của Nhật hoàng sau chiến tranh.  Không có bất cứ lý do nào biện minh cho ba tháng kéo dài chiến tranh để cuối cùng phải nhận lấy thảm cảnh ở Hiroshima và Nagasaki. Ngược lại, cũng không có bất cứ lý do nào biện minh cho hành động hủy diệt bằng bom nguyên tử của Mỹ. Ngay đến những tướng lĩnh chủ chốt, trong đó có D. MacArthur, tư lệnh lực lượng đồng minh ở Thái Bình Dương cũng hồi tưởng rằng thảm họa nguyên tử này không phải là không thể tránh được. Các nhà khoa học thai nghén ra bom nguyên tử càng không muốn nhìn thấy thành quả lao động của mình giết chết những người dân vô tội. Đối với Einstein, đây là nỗi dằn vặt không nguôi trong những năm cuối đời. Năm tháng trước khi qua đời (1955), Eisntein còn kịp trăn trối đã phạm sai lầm lớn nhất trong đời khi viết thư đề nghị Tổng thống Mỹ Roosevelt làm bom nguyên tử.  Những gì diễn ra ở Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945 đã cảnh báo nhân loại về một nguy cơ hủy diệt mới.     Hiệp ước Giảm khả năng Tấn công Chiến lược (Strategic Offensive Reductions Treaty, SORT) ký năm 2002 giữa hai tổng thống George W. Bush và Vladimir Putin  Sau chiến tranh lạnh, kho vũ khí của hai siêu cường đã giảm đi nhiều.Với hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược SORT có hiệu lực từ năm 2003, hai nước Mỹ và Nga chỉ còn để lại khoảng 4000 đầu đạn hạt nhân trong trạng thái sẵn sàng. Hàng chục nghìn đầu đạn còn lại được tháo gỡ, nhiên liệu được tái sinh theo một thỏa thuận “chuyển megaton thành megawatt” để sử dụng trong các nhà máy điện hạt nhân.  Nhưng với ngần ấy đầu đạn nằm trên bệ phóng, Trái Đất này vẫn còn quá mong manh. Một thế giới phi hạt nhân là ước mong của mọi người, song giờ đây vẫn còn là ảo tưởng.    ————————————————  * Trích từ cuốn sách “An toàn điện hạt nhân” (Phạm Duy Hiển), NXB Khoa học kỹ thuật ấn hành tháng 5/2015. Tít bài do Tia Sáng đặt.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới sẽ không còn san hô?      Thế giới có thể sẽ mất hơn 1/2 dải san hô ngầm trong vòng chưa đầy 25 năm tới do nhiệt độ nước biển gia tăng, do tảo và các thành phần độc hại khác, các nhà khoa học cảnh báo.  Theo nhà nghiên cứu Tyler Smith tại Trường ĐH Virgin Islands, số san hô bị mất tại vùng Caribbean trong năm ngoái càng củng cố thêm các dự báo rằng 60% san hô còn sống trên thế giới hiện nay có thể sẽ chết trong vòng 1/4 thế kỷ.    Các dải san hô ngầm – nơi sinh sống của vô số động thực vật biển – rất dễ bị tổn hại và chết sớm sau khi nhiệt độ nước biển vượt quá mức bình thường trong gần 3 tháng trong năm ngoái.  Theo các nhà khoa học, nhiệt độ nước biển và tình trạng ô nhiễm tăng – như chất thải từ các con tàu, cặn từ các công trình xây dựng – đã ngăn cản quá trình hồi phục của san hô, và cuối cùng đẩy chúng vào chỗ chết.  Smith cho biết hơn 30% dải san hô ngầm trên thế giới đã chết trong vòng 50 năm qua, và 30% khác đã bị phá hoại nghiêm trọng, và “số san hô ở Virgin Islands của Mỹ hiện đang ở mức thấp nhất trong lịch sử”.   Trước thực trạng này, hôm qua, 24-10, gần 200 nhà nghiên cứu tư nhân và thuộc chính phủ từ Caribbean, Florida và các đảo Thái Bình Dương của Mỹ đã nhóm họp để bàn cách giải quyết. Theo họ, cùng với các yếu tố khác, “thay đổi khí hậu là nhân tố quan trọng đang gây ảnh hưởng đến các dải san hô ngầm trên toàn thế giới”.  TƯỜNG VY (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới sẽ thiệt hại 7.000 tỷ USD do Trái Đất ấm lên      7.000 tỷ USD là con số thiệt hại mà toàn thế giới sẽ phải gánh chịu trong 10 năm tới do Trái Đất ấm lên, nếu các chính phủ không nhanh chóng và kiên quyết thực hiện một cách hiệu quả những biện pháp căn bản nhằm ngăn chặn hiện tượng này.    Đây là kết luận của một công trình nghiên cứu do tiến sĩ Nicholas Stern, từng là chuyên gia kinh tế hàng đầu tại Ngân hàng Thế giới, thực hiện. Nghiên cứu này, được tiến hành theo “đơn đặt hàng” của Bộ Kinh tế Anh, sẽ được chính thức công bố trong báo cáo 700 trang vào ngày 30/10. Tuần báo “Người quan sát” ngày 29/10 đã trích dẫn những nội dung chính của công trình nghiên cứu quan trọng này.  Nghiên cứu của tiến sĩ Stern được xem là đóng góp đầu tiên có sức nặng về lĩnh vực kinh tế, của một chuyên gia kinh tế về hiện tượng khoa học này. Tiến sĩ Stern còn cảnh báo rằng những biến đổi khí hậu do Trái Đất ấm lên gây ra có thể làm suy giảm kinh tế toàn cầu.  Một ngày trước khi báo cáo trên được công bố chính thức, một nhóm các tổ chức môi trường và phát triển ở Anh ngày 29/10 đã lên tiếng cảnh báo rằng châu Phi sẽ phải đương đầu với những thảm hoạ nghiêm trọng xuất phát từ biến đổi khí hậu, nếu cộng đồng quốc tế không hành động nhanh chóng.  Ông Ducan Green, người đứng đầu nhóm nghiên cứu thuộc tổ chức Oxfam (trụ ở tại London) nhấn mạnh rằng thời tiết của châu Phi vốn đã thất thường, thêm vào đó là sự nghèo đói và trình độ khoa học thấp, sẽ khiến châu lục này trở nên dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu. Người dân châu Phi đang phải vật lộn để sinh tồn khi mà những đợt hạn hán, lũ lụt, bão tố xảy ra ngày càng thường xuyên hơn.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế giới xa nhất hệ mặt trời có hình dáng giống củ lạc      Những bức ảnh mới nhất do tàu vũ trụ New Horizons của NASA tiết lộ những điều xảy ra với thiên thạch Ultima Thule.      Thiên thạch MU69 theo hình dung của NASA. Nguồn: NASA/JHUAPL/SWRI  Vào ngày 1/1/2019, tàu vũ trụ New Horizons của NASA đã bay qua thiên thạch MU69, cách trái đất gần 6,5 tỷ km – vật thể có khoảng cách xa nhất trong hệ mặt trời. Những bức ảnh về thiên thạch được chụp trước khi con tàu này tiến gần nhất đến nó vào lúc 12h33 (theo múi giờ Đông Mỹ) cho thấy thiên thạch là một vật thể tròn được kéo dài giống như một cái ky bowling có khả năng quay tròn. MU69 dài khoảng 32 km và rộng 16 km. Những hình ảnh có thể cho thấy một vật thể hình củ lạc hay hai vật thể nhỏ có quỹ đạo quay quanh nhau. Thiên thạch này dường như quay hướng bề mặt về phía trái đất theo chu kỳ 15 giờ hoặc 30 giờ.  “Nó toàn toàn giống như một mái chèo”, theo Hal Weaver – một thành viên của nhóm nghiên cứu và nhà khoa học nghiên cứu về hành tinh tại Phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng, trường đại học Johns Hopkins tại Laurel, Maryland, nơi chủ yếu đảm trách nhiệm vụ này. Trước khi những bức ảnh được gửi về trái đất, các nhà khoa học có nhiều lo ngại về nhiệm vụ này của New Horizons, con tàu vũ trụ không thể liên lạc với phòng điều hành nhiệm vụ dưới mặt đất vào thời điểm đó bởi thời gian bay qua MU69 quá nhanh trong khi mất 6 giờ truyền thông tin qua sóng vô tuyến với tốc độ ánh sáng xuống trái đất.  Tàu vũ trụ New Horizons hiện đang gửi số lượng lớn dữ liệu và ảnh thu thập được về trái đất. Con tàu đang trong tình trạng an toàn để thu thập tất cả dữ liệu đúng kế hoạch khi nó bay qua bề mặt thiên thạch MU69 với khoảng cách 3.500 km. Các nhà khoa học dự định công bố những hình ảnh có độ phân giải cao hơn vào ngày 2/2/2018.  “Ngày 2/2 chúng tôi có cả một thế giới thông tin về địa chất học”, Heidi Hammel – một nhà thiên văn hành tinh và phó chủ tịch ban điều hành Hội các trường đại học nghiên cứu về thiên văn tại Washington DC, cho biết. “Đây thực sự là một điều lý thú.”  ﻿Các nhà khoa học sẽ tìm hiểu những đặc điểm như các miệng núi lửa hoặc các đứt gẫy trên bề mặt của MU69, vốn được họ đặt tên là Ultima Thule – tên một địa danh xa nhất ở phía bắc của Hy Lạp cổ đại. Do ở khoảng cách quá xa và tín hiệu quá mờ nhạt mà những kính viễn vọng mặt đất chỉ có thể thấy nó ở kích cỡ một hay hai điểm ảnh. Thậm chí cả kính viễn vọng không gian Hubble Space Telescope cũng từng mất thời gian khám khá vào năm 2014 mà không chắc chắn về dữ liệu rhu được. Các nhà khoa học của New Horizons đã phải nỗ lực rất nhiều để thu thập thông tin về thiên thạch này mà họ có thể trước khi tàu vũ trụ được phóng đi.  Trước đây, ba lần vào năm 2017 và một lần vào năm 2018, các nhà khoa học đã nỗ lực có mặt khắp toàn cầu để “bắt” được bóng tối xuất hiện tạm thời khi thiên thạch MU69 lướt qua phía trước bề mặt một ngôi sao xa xôi. Bằng việc phân tích ánh sáng của ngôi sao này bị triệt tiêu tại các thời điểm khác nhau trong những địa điểm khác nhau, các nhà khoa học mới có thể bắt đầu phác thảo được hình dáng của MU69.  “Chúng tôi sẽ bắt đầu viết công trình khoa học đầu tiên của chúng tôi về khám phá này vào tuần tới”, Alan Stern – một nhà khoa học hành tinh tại Viện nghiên cứu Southwest tại Boulder, Colorado và là nhà nghiên cứu chính của nhiệm vụ, nói.  New Horizons từng bay đến sao Diêm vương vào tháng 7/2015. Chuyến đi tới thiên thạch MU69 này là chuyến khám phá một vật thể từ Vành đai Kuiper – một tập hợp những mảnh thiên thạch ở phía xa của Hệ Mặt trời và về cơ bản là không bị xáo trộn kể từ khi hệ mặt trời hình thành vào hơn 4,5 tỷ năm trước. Chúng nằm ngoài quỹ đạo Pluto và được hình dung là có một số vật chất nguyên thủy nhất của hệ mặt trời. “Nó có thể trở thành mẫu vật cổ xưa mà chúng tôi từng chờ đợi”, Hammel nhận xét.  Anh Vũ tổng hợp từ Nature  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07909-6  https://www.nature.com/articles/d41586-018-07827-7       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế hệ nhà máy hạt nhân mới ?      Thế giới ngày nay đang sắp sửa chứng kiến sự phổ biến hàng loạt các nhà máy điện hạt nhân. Câu hỏi quan trọng được đặt ra sau thảm họa tại nhà máy Fukushima Dai-ichi là: liệu thế hệ lò phản ứng mới đang được xây dựng hiện nay có chống chịu tốt hơn so với loại lò phản ứng thế hệ cũ của Nhật khi trong tình trạng mất điện khiến hệ thống làm mát ngừng hoạt động?  Câu trả lời có lẽ là: chưa chắc.      Ngành công nghiệp hạt nhân đã phát triển được các lò phản ứng dựa trên các hệ thống “an toàn thụ động” giúp xử lý được tình trạng như đã xảy ra ở Nhật – mất điện khiến không thể bơm được nước làm mát nhiên liệu phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng. Nhưng những thiết kế mới nhất này chỉ mới có ở 4 trong số 65 nhà máy điện hạt nhân đang được xây trên toàn thế giới. (Nếu tính thêm 4 lò phản ứng đang trong giai đoạn sửa soạn mặt bằng và vẫn đang chờ nhà chức trách phê duyệt ở các bang Georgia và South Carolina của Mỹ thì trên toàn cầu đang xây dựng 8 trong số 69 nhà máy).   Đại đa số các nhà máy đang được xây dựng trên thế giới, tổng cộng là 47 chiếc, có thiết kế được coi là thuộc thế hệ thứ II – cùng loại với các lò được xây từ thập kỷ 1970 tại Fukushima Dai-ichi, và không có hệ thống kết nối an toàn thụ động.  Các chuyên gia vận hành nhà máy hạt nhân sẽ nhanh chóng chỉ ra rằng dù không được kết nối với hệ thống an toàn thụ động, nhưng các nhà máy mới đã được thiết kế với các cải tiến khác. Ví dụ như ở nhà máy điện hạt nhân San Onofre trên bờ biển phía Nam California, những cải tiến đã giúp nhà máy có thể sử dụng một hệ thống đường nước chảy theo nguyên tắc vận dụng trọng lực để làm mát lò trong một khoảng thời gian nhất định khi lò bị mất điện. Nhưng bản thân những cải tiến này cũng có hạn chế. “Hệ thống này cần rất nhiều nước”, nhận xét từ Adrian Heymer, giám đốc điều hành các chương trình chiến lược của Viện Năng lượng Hạt nhân (NEI), một tổ chức thương mại công nghiệp ở Mỹ. “Điều gì sẽ xảy ra cho bể chứa nước khi động đất xảy ra?” Đây chính là lý do người ta cố gắng kết nối lò phản ứng với một hệ thống an toàn hoàn toàn thụ động ngay từ khâu thiết kế đầu tiên, ông nói.           Sơ đồ thiết kế AP1000 của Westinghouse                 1. Lõi lò              4. Bể nước làm mát thụ động               2. Máy phát hơi nước     5. Vỏ lò bằng thép              3. Điều áp                      6. Tuốc bin               Loại lò: đun nước sôi              Công suất: 1.117 MW              Tuổi thọ thiết kế: 60 năm              Thời gian xây dựng: 36 tháng              Nhà sản xuất: Westinghouse, trụ sở tại Mỹ          Hiện nay người ta vẫn chưa có một danh sách đầy đủ các nhà máy trên thế giới đã được điều chỉnh để có hệ thống an toàn theo cơ chế trọng lực hay cơ chế nào khác. Còn với các nhà máy được thiết kế kết nối với hệ thống an toàn thụ động, tính phổ biến hóa chưa cao. Các nhà máy điện hạt nhân cần nhiều thời gian để được Chính phủ phê duyệt, tìm nguồn vốn vay, thiết kế và xây dựng – khiến chúng không bắt kịp với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Rất nhiều trường hợp các nhà máy đang được xây hiện nay sử dụng công nghệ cơ bản của 3, 4 thập kỷ trước.   Khác biệt giữa các thế hệ  Tại nhà máy Fukushima Daiichi, trong 6 lò phản ứng thì 5 chiếc sử dụng kiểu thiết kế General Electric (GE), loại BWR-3 (lò phản ứng đun nước sôi), với hệ thống vỏ bọc Mark 1. Trên toàn cầu có tất cả 92 nhà máy đang hoạt động với thiết kế GE đun nước sôi, trong đó có 32 là sử dụng loại vỏ bọc Mark 1.   Các lò phản ứng tại Fukushima, giống như các lò phản ứng ở 2 cường quốc dẫn đầu về hạt nhân – Mỹ và Pháp – được các chuyên gia trong ngành xem là “thế hệ thứ II”, theo những tiêu chí không hoàn toàn tuyệt đối chính tắc. Thế hệ lò phản ứng thứ nhất được phát triển từ thập kỷ 1950 và 1960, theo xếp loại của Tổ chức Hạt nhân Thế giới (WNA), một tổ chức công nghiệp có trụ sở tại London. Vương Quốc Anh là nơi duy nhất vẫn duy trì vận hành các lò loại này; Nhà máy Điện Hạt nhân Wylfa tại North Wales là một ví dụ.           Sơ đồ ESBWR              1. Lõi lò                4. Buồng áp               2. Hệ thống làm mát thụ động        5. Gian chứa lò              3. Hệ thống làm mát dùng trọng lực                  6. Bộ điều khiển thanh nhiên liệu  7. Tuốc bin máy phát điện                                                                                                                    Loại lò: đun nước sôi                      Công suất: 1.560 MW               Tuổi thọ thiết kế: 60 năm               Thời gian xây dựng: 36 tháng               Nhà sản xuất: General Electric/Hitachi, cơ sở tại Mỹ           Heymer nói rằng thảm họa hạt nhân năm 1979 tại Three Mile Island buộc người ta phải đánh giá lại về độ rủi ro và tính an toàn của các thiết kế nhà máy hạt nhân. “Người ta phải tính xem điều gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ điện vận hành nhà máy bị mất”. “Chúng ta muốn luôn có khả năng hồi phục nguồn điện trước khi nhiên liệu trong lò bị tổn hại”.    Vận dụng trọng lực để chuyển nước làm mát vào lò là một cách làm đáng xem xét, sau những gì đã xảy ra đối với hệ thống làm mát tại Fukushima Dai-ichi. Khi hệ thống làm mát theo thiết kế kiểu cũ ở Fukushima không hoạt động do mất điện, “mọi thứ từ từ ngừng lại”, Heymer nói. Trong điều kiện đó, một hệ thống làm mát thụ động sẽ giúp người ta có thêm thời gian để “tìm được một máy phát đủ lớn giúp sạc lại các ắc quy, và bơm nước vào trong bể”.    Cải tiến công nghệ còn chậm chạp  Nhưng chỉ có 15 trong số 442 lò phản ứng đang vận hành trên thế giới được xếp vào Thế hệ 3 – là loại thiết kế kết nối lò với các hệ thống an toàn thụ động. (Nhật và Hàn Quốc mỗi nước có 4;  Canada, Trung Quốc, và Rumany mỗi nước có 2; và Argentina có 1.) 14 lò phản ứng Thế hệ 3 khác đang được xây dựng tại Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Phần Lan, Pháp, và Nga. Với các lò phản ứng Thế hệ 3 đang trong vận hành kể từ các năm 1982 – 2007 tới nay, công nghệ hạt nhân của chúng cũng chưa phải là tiên tiến nhất.   Thiết kế loại hiện đại hơn là Thế hệ 3+, loại nhà máy hoàn toàn dựa vào các hệ thống an toàn thụ động mỗi khi xảy ra tai nạn, theo phân loại của Cục Năng lượng Mỹ.        Bài học rút ra?              Theo Ellen Vancko, người quản lý dự án về năng lượng hạt nhân và biến đổi khí hậu của tổ chức Union of Concerned Scientists, “nhiều bài học mà chúng ta phải rút ra [từ thảm họa Fukushima]. Nhưng chúng ta còn chưa biết hết chúng”.               Liệu có phải các quy trình an toàn đã không được tuân thủ tại Fukushima, hay là chúng đã được tuân thủ nhưng vẫn không ăn thua, “dù thế nào, chúng ta sẽ phải tăng cường thêm các quy trình … để con người chọn được lối đi đúng khi gặp các ngã rẽ, hoặc là phát triển ra các ngã rẽ để dẫn tới phương hướng đúng”.        Công nghệ sử dụng trọng lực, đối lưu tự nhiên, và truyền dẫn, thay vì chạy bằng điện lưới, dầu diesel, hay ắc quy dự phòng, là những phương pháp cơ bản mà người ta sử dụng để giải quyết nhu cầu làm mát thường trực ở các nhà máy điện hạt nhân. Thay vì đòi hỏi sự vận hành hợp lý của các nhân tố kỹ thuật, năng lượng phụ trợ, và người vận hành, các hệ thống thụ động chỉ dựa vào “các hiện tượng vật lý thuần túy”, theo lý giải từ Tổ chức Hạt nhân Thế giới.     “Có những thiết kế cho phép các hệ thống an toàn thụ động vận hành đầy đủ trong vòng tối thiểu 72 tiếng mà không cần nguồn điện phụ trợ hoặc nước làm mát bổ sung từ bên ngoài”, Heymer cho biết.  4 lò phản ứng Thế hệ 3+ đầu tiên trên thế giới đang được xây dựng tại Trung Quốc, với lò phản ứng tại nhà máy hạt nhân Sanmen ở phía Đông tỉnh Chiết Giang dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2013. 4 lò phản ứng Thế hệ 3+ khác đang trong quá trình chuẩn bị mặt bằng ở Mỹ: 2 lò thuộc Nhà máy Vogtle của Công ty Southern ở gần Waynesboro, bang Georgia, và 2 lò tại các nhà máy South Carolina Electric và Virgil C. Summer ở gần Jenkinsville, bang South Carolina.   Cả 8 lò Thế hệ 3+ này đều dùng thiết kế AP1000 của công ty Westinghouse, với công nghệ thổi khí mát xung quanh vỏ lò bằng thép, và hút nước bằng trọng lực từ bể chứa bên trên vỏ lò. Hệ thống này cho phép làm mát trong vòng 72 tiếng, theo phát ngôn viên Scott Shaw của Westinghouse.  Sau đó, một máy phát chạy diesel sẽ phải cung cấp điện để bơm nước từ một bể chứa gần đó đưa vào lõi lò và bể chứa nhiên liệu đã qua sử dụng với tốc độ 100 gallon (xấp xỉ 379 lít) mỗi phút trong vòng 4 ngày. Theo lời Shaw, công nghệ AP1000 của công ty Westinghouse giúp nâng cấp thiết kế Thế hệ 2 lên Thế hệ 3+.   Dự phòng cho mất điện  David Lochbaum, người điều hành Dự án An toàn Hạt nhân của tổ chức Union of Concerned Scientists, nhất trí rằng các hệ thống an toàn thụ động “có thể cung cấp thêm thời gian cho các kỹ sư xử lý tình hình, và thường thì, nhiều thời gian hơn đồng nghĩa với thành công cao hơn khi giải quyết các thách thức khó khăn”. Nhưng tổ chức có tính phản biện của ông này vẫn quan ngại về tình huống khi hệ thống làm mát thông thường bị trục trặc lâu hơn 72 tiếng: “khi đó chúng ta vẫn phải gặp lại kịch bản cũ là làm sao đưa được nước bổ sung vào bể chứa”. Ông lưu ý, tại Fukushima 72 tiếng có thể là đã cung cấp thêm thời gian cho các kỹ sư, “nhưng có lẽ như vậy vẫn chưa đủ thời gian”.   Tuy nhiên Heymer cho rằng hệ thống làm mát thụ động kiểu này có thể tiếp tục được bổ sung nước bằng các xe cứu hỏa và máy bơm. (Cách làm này không hiệu quả đối với nhà máy Fukushima Dai-ichi thuộc Thế hệ 2, vì cách làm mát ở nhà máy này vẫn phải dựa vào các hoạt động bơm mang tính chủ động.) Một kiểu thiết kế lò phản ứng Thế hệ 3+ khác là ESBWR (viết tắt của Lò phản ứng Đun nước sôi Kinh tế và đơn giản) của hãng GE-Hitachi, có trang bị một hệ thống vận dụng trọng lực để phủ nước lạnh lên lõi lò phản ứng, Heymer nói.           Các nhà máy hạt nhân Thế hệ 3 đang được xây dựng  Địa điểm            Năm bắt đầu xây              Argentina              Embaise                          1983  Canada              Gentilly-2                         1982              Point Lepreau                1982              Trung Quốc                Qinshan 3-1                   2002              Qinshan 3-2                   2003              Nhật              Hamaoka-5                     2004              Kashiwazaki Kariwa-6  1996              Kashiwazaki Kariwa-7  1996              Shika-2                           2005              Hàn Quốc              Wolsong-1                      1982              Wolsong-2                      1997              Wolsong-3                      1998              Wolsong-4                      1999              Rumani              Cernavoda-1                   1996              Cernavoda-2                   2007               Nguồn: IAEA, Viện Năng lượng Hạt nhân Mỹ cung cấp          Trước khi xảy ra động đất và sóng thần tại Nhật, ông nói, thiết kế này “chuẩn bị được cấp bằng tại Mỹ trong vòng 9 tháng.” Tới ngày 9 tháng 3, hai ngày trước khi Nhật gặp thảm họa – Ủy ban Quản lý Hạt nhân Mỹ đã có bản đánh giá an toàn cuối cùng đối với ESBWR. Nhưng kết luận chính thức sẽ chưa có hiệu lực cho tới sau mùa thu. Và với thảm họa vẫn đang diễn ra tại Fukushima Dai-ichi, rất khó dự đoán khung thời gian sắp tới, Heymer nói. Người phát ngôn Michael Tetuan của hãng GE-Hitachi Nuclear Energy dự kiến rằng giấy chứng nhận cuối cùng từ Ủy ban Quản lý Hạt nhân sẽ được cấp trong mùa thu. Đây là thiết kế đầu tiên của công ty cho một hệ thống an toàn thụ động, ông nói.  Theo Tetuan, công nghệ ESBWR cũng đang chờ được hoàn tất phê duyệt tại Ấn Độ, nơi Chính phủ đã lựa chọn 2 địa điểm cho các công nghệ hạt nhân mới. “Chúng tôi sẽ được cấp 1 địa điểm, Westinghouse được cấp địa điểm còn lại”, ông nói. Ở Mỹ, nhà máy năng lượng Detroit Edison đã ngắm chọn công nghệ ESBWR từ hồi năm 2008 cho lò phản ứng hạt nhân mới tại Nhà máy Năng lượng Fermi 2 trên bờ Hồ Erie.    Hệ thống dự phòng của Fukushima không hoạt động được sau trận sóng thần, nhưng các lò phản ứng mới theo công nghệ ESBWR hay Westinghouse AP1000 có thể giúp chống chịu được tốt hơn những tình huống như thế, Heymer nhận định. “Chúng không dựa vào các động cơ cần ai đó khởi động.” Và trong khi các kỹ sư tại Fukushima “quản lý rất nhiều van”, thì một số hệ thống mới có thể chỉ phải dùng tới 2 hoặc 3 van, Heymer nói.  Những thiết kế thụ động tiên tiến (sau khi đã được các nhà quản lý kiểm định) có thể giúp các lò phản ứng đun nước sôi an toàn hơn từ 10 tới 100 lần so với các thế hệ lò trước đây, Heymer nói, căn cứ theo ma trận tần số hư hại lõi lò, một phương pháp tính khả năng nóng chảy nhiên liệu lò phản ứng khi một tai nạn xảy ra.  Các lỗ thông cứng   Nhưng với quá nhiều các lò phản ứng Thế hệ 2 đang vận hành và được xây dựng, các nhà quản lý và vận hành nhà máy nay chủ yếu tập trung tìm cách bổ sung trang thiết bị để tăng tính an toàn của những thiết kế cũ. Trong buổi điều trần trước Ủy ban Environment and Public Works của Thượng viện Mỹ, Chủ tịch Ủy ban An toàn Hạt nhân Gregory B. Jaczko đã so sánh quá trình duy tu các lò phản ứng hạt nhân với việc “nâng cấp và điều chỉnh các động cơ máy bay 20 năm tuổi, và nói rằng “tốt nhất là chúng ta tìm hiểu kỹ xem trục trặc có thể đến từ đâu”.   Ví dụ, tất cả các lò phản ứng đun nước sôi ở Mỹ dùng thiết kế tương tự như các lò Fukushima Dai-ichi kể từ thập kỷ 1990 đã được trang bị thêm một thiết bị gọi là lỗ thông cứng (harden vent), Heymer nói. Lỗ thông cứng cho phép hơi nước và áp suất thoát ra từ các lỗ thông bay thẳng lên trời”, kèm theo một màng lọc giúp giữ lại phóng xạ. Trong các thiết kế cũ, lối thoát này vẫn nằm trong nhà chứa lò phản ứng, khiến khí hydro có thể tích tụ lại gây nổ.   Tới nay, Viện Năng lượng Hạt nhân vẫn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm câu trả lời chắc chắn từ các quan chức Nhật về việc liệu các lò phản ứng tại Fukushima có được trang bị lỗ thông cứng, Heymer nói. “Họ có quá nhiều điều phải đương đầu lúc này, có lẽ họ sẽ không cung cấp thông tin cho chúng ta”. Nhưng các vụ nổ tại 4 trong 6 lò phản ứng tại Fukushima cho thấy khí hydro đúng là đã tích tụ trong gian chứa lò, ông nói.  Quencher, Deflector, và Saddle  Dưới sự lưu tâm ngày càng gia tăng về tính an toàn của hệ thống vỏ lò công nghệ Mark 1, hãng General Electric đã công bố một tài liệu vào hôm 16 tháng 3, nhấn mạnh rằng công nghệ 40 năm tuổi này “vẫn tiếp tục phát triển”.   Ví dụ, công ty đã thiết kế một hệ thống “làm nguội” (“quencher”), giúp giảm áp suất từ buồng áp lực hình khuyên (gọi là “torus”) bao quanh chân lõi lò trong lò phản ứng đun nước sôi. Bọt khí chìm trong torus giúp làm giảm nhiệt độ. Theo General Electric, hệ thống làm nguội các bọt khí lớn thành nhiều bọt nhỏ hơn, làm tăng mật độ và giảm áp nhanh hơn.  Cũng trong torus, General Electric đã lắp đặt các thiết bị deflector, được thiết kế để phá vỡ sóng áp lực tạo ra khi hơi nước tràn vào trong bể khiến mực nước dâng lên. General Electric khẳng định họ cũng kiên cố hóa các saddle – bệ đỡ các torus.  Ủy ban Quản lý Hạt nhân Mỹ yêu cầu tất cả những cải tiến này cho torus, cũng như hệ thống thông hơi mới, phải được đưa vào mọi nhà máy hạt nhân công nghệ GE Mark 1. “Chúng tôi chia sẻ công nghệ với các khách hàng ở bên ngoài nước Mỹ”, Tetuan nói trong một bản tin đăng trên AFP, “nhưng tôi không thể nói với bạn liệu họ có sử dụng chúng hay không”.    (National Geographic)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh      Mỗi thời đại tạo ra thế hệ trí thức của riêng mình. Tầm nhìn, phẩm chất và vai trò của họ được đo bằng đóng góp cho sự phát triển của xã hội và các giá trị nhân văn.    Ảnh: Lăng mộ vua Khải Định. Nguồn: Shutterstock.  Đánh giá tầm vóc thời đại chính là việc đánh giá tầm cỡ, bản lĩnh, trí tuệ, khả năng sáng tạo của người trí thức và độ dấn thân của họ, nhằm mang tri thức của mình phục vụ cho sự phát triển xã hội. Vì thế, sứ mệnh cốt lõi của mỗi thế hệ trí thức là xác định và giải quyết vấn đề của thời đại mình. Việc không nhận thức được câu hỏi cốt lõi của thời đại, né tránh hay thất bại trong việc trả lời câu hỏi này hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của thế hệ trí thức đó đối với thời đại của mình. Họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và hậu thế.  Bài viết này đề cập đến thế hệ trí thức xuất hiện dưới thời kỳ Minh Mệnh (1820-1841), cách họ xác định câu hỏi của thời đại mình và nỗ lực trả lời nó trong thực tiễn. Cũng như cách thức họ trưởng thành và phát triển với tinh thần “đổi mới sáng tạo” trong thời đại mình. Thành công cốt lõi của nhóm trí thức tiên phong trong những năm 1820-1841 là việc tham gia vào tổ chức lại hệ thống chính trị trung ương, xác lập thống nhất lãnh thổ và hành chính ở Việt Nam. Họ xứng đáng được gọi là “trí thức thời đại Minh Mệnh”, với các đại diện như Phan Huy Chú, Trương Đăng Quế, Hà Tông Quyền, Thân Văn Quyền, Phan Bá Đạt, Phan Huy Thực, Nguyễn Khoa Minh, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Đăng Tuân, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quýnh… Họ định hình nền chính trị, xác lập tri thức thời đại và dấn thân nhằm duy trì trật tự và sự vận hành chính trị, thế hệ tinh hoa đầu tiên của Việt Nam ở thế kỷ XIX là nòng cốt của một dự án xây dựng nước Việt Nam hiện đại và để lại dấu ấn cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.  Tuổi đời rất trẻ và lương bổng thấp  Xuất thân của họ rất đa dạng, từ những người có cha làm quan cho Tây Sơn như Trương Đăng Quế, những người thi đỗ hương cống trong khoa cuối thời Gia Long (1819) và các tiến sĩ, phó bảng thời Minh Mệnh. Họ là sản phẩm của một hệ thống đào tạo chặt chẽ, nghiêm ngặt. Khoa thi đình đầu tiên năm 1822, có 164 người tham dự, lấy đỗ 8 tiến sĩ. Họ tham gia vào một nền hành chính có sự cạnh tranh rất cao và tìm cách thăng tiến chủ yếu thông qua thể hiện năng lực của bản thân. Tất cả đều phải trải qua thử thách từ các vị trí bậc trung như tri huyện, tri phủ, làm việc tại Hàn Lâm Viện, các bộ hay trở thành thầy dạy cho các hoàng tử trong nhiều năm trước khi được Minh Mệnh cất nhắc lên các chức vụ cao hơn.    Bảng 1: Thống kê Tiến sĩ và phó bảng theo vùng trong ba thập kỷ (1820, 1830, 1840).  Cơ cấu theo vùng miền của các tiến sĩ thời kỳ Minh Mệnh cho thấy phần lớn những người “khoa cử” trong giai đoạn 1820-1841 xuất thân từ miền Bắc và miền Trung. Số liệu:  Nola Cooke 1995.  Sau khi thi đỗ, các viên tiến sĩ sẽ được thử thách trong thời gian 2-8 năm, làm tri phủ ở các địa phương hay viên chức bậc trung tại các bộ. Hà Tông Quyền đỗ tiến sĩ 1822 (lúc 24 tuổi). Được cử đi làm tri phủ Tân Bình, tham hiệp Quảng Trị trước khi rút về làm việc tại các bộ và sau đó là Nội các. Sau sáu năm, đến 1828, Hà Quyền lên Hữu Thị lang Lễ bộ kiêm lĩnh Thái thường tự; năm 32 tuổi làm thự Hữu tham tri Công bộ (hàm 2B). Phan Bá Đạt đỗ tiến sĩ năm 1822 (lúc 29 tuổi), lên hàm 2B (tòng nhị phẩm) với chức Tham tri Hình bộ (38 tuổi) và Tả phó đô ngự sử (39 tuổi). Trong khi Trương Đăng Quế mất 8 năm đi dạy dỗ các hoàng tử (trong đó có nhà vua Thiệu Trị tương lai). Đến năm 1828, ông được bổ nhiệm làm quản lí Văn thư phòng, Tả thị lang Công bộ (1830), thự Thượng thư Binh bộ (1833). Như vậy trong vòng 14 năm, Trương Đăng Quế từ một hương cống lên đến hàm thượng thư (2A). Sự thăng tiến này chắc chắn xuất phát từ thành tích của ông trong việc đào tạo các hoàng tử và giúp ông lên chức thượng thư lúc 40 tuổi.  Vào năm 1839, các quan chức cấp cao như Đăng Quế, Duy Phiên, Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Đặng Văn Thiêm, Lê Đăng Doanh dâng tấu nói rằng lương bổng của quan lại cấp cao thì đủ chi tiêu, nhưng từ ngũ phẩm trở xuống thì còn thiếu thốn, vì thế, xin được cắt giảm lương bổng của quan chức cấp cao để san xẻ cho quan chức cấp dưới. Minh Mệnh cho thực thi theo lời tấu. (ĐNTL, II, q. 207).  Theo đó, một trong gần 300 viên tri huyện của Đại Nam, một năm nhận được 820 kg gạo. Thượng cấp của ông ta là quan tri phủ nhận được 984 kg, trong khi quan Tham tri (hàm thứ trưởng), một năm nhận được 4,9 tấn gạo. Nếu một gia đình bình thường gồm 4 người với mức tiêu thụ tối thiểu 1 kg gạo một người/ ngày thì con số này trong 1 năm là khoảng 1,5 tấn. Điều này cho thấy kể cả các viên tri phủ và huyện trở xuống thì hệ thống lương bổng này khá eo hẹp.    Bảng 2: Đồ thị lương của quan lại triều Nguyễn trước năm 1839.  Chú giải:  Đơn vị: quan tiền/ phương gạo trên 1 năm.  1 phương: 38,11 l. 1 l gạo tương đương khoảng 0.86 kg (Emmanuel Poisson, 2004).  Hệ thống hàm quan chức có sự khác biệt giữa 1804, 1827, 1831.  1A: chánh nhất phẩm; 1B: tòng nhất phẩm; 8A: chánh bát phẩm…  Nguồn: Đại Nam Thực Lục, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ.  Nếu so sánh bảng lương này với tiền hồi môn của trưởng công chúa là 30,000 và tiền cấp hàng năm cho hoàng tử tước công: 2.500 quan và 1.500 phương gạo (1818), hay tiền sắm lễ cưới cho con gái trưởng của hoàng tử tước công là 5,000 quan (1827), thì quả thực thu nhập hằng năm của quan lại là rất khiêm tốn. Mặc dù có thêm bổng và tiền dưỡng liêm, tuy nhiên thực tế cũng không giúp cải thiện điều kiện kinh tế của họ. Hoàng Quýnh, một người thân cận của Minh Mệnh từ lúc còn đang là hoàng tử, khi làm Tả thị lang bộ Lại (hàm 3A), được đưa vào làm Bố Chính Gia Định (1836), ông tâu nói: “Thần làm quan ở ngoài, nhà nghèo, con nhỏ, không trông vào đâu để có ăn. Vậy xin lưu số gạo lương ở nhà để nhà lĩnh dùng”. Minh Mệnh phê rằng: “Thưởng cho tiền 100 quan, gạo 100 phương, để cho con cái ăn. Trẫm vốn biết ngươi nghèo, cũng không trừ vào lương bổng của ngươi. Tính ngươi hấp tấp. Từ nay cần nên cẩn thận cho khỏi lỗi” (ĐNTL, II, q. 172).  Quá trình thử thách nghiêm ngặt  Các viên chức trong triều đình Minh Mệnh được thăng cấp lên hàm 3B đến 2A trong thời gian tương đối nhanh, khoảng 9 -15 năm và trở thành nòng cốt của triều đình khoảng từ 30 đến 40 tuổi. Hà Quyền trong vòng 10 năm được thăng từ 7A lên 2B (9 bậc). Trương Đăng Quế, từ 1819 đến 1833 tăng 12 bậc và Phan Bá Đạt thăng từ 7A lên 2B giữa 1822 -1831.  Tuy nhiên quá trình cất nhắc và thăng chức này được giám sát chặt chẽ. Bản thân Minh Mệnh chú ý chặt chẽ đến học vấn, năng lực, và khả năng làm việc thực chất của viên chức. Khi bổ nhiệm Hà Quyền đi nhậm chức ở Quảng Trị, Minh Mệnh nói rằng: “Quyền, cùng Lê Quang đều là Tiến sĩ có tiếng giỏi, trẫm muốn dùng đã lâu, vì Quyền ốm mà chưa dùng. Nay tạm lấy chức tư mục thử xem đấy thôi” (DNTL, II.q. 42). Khi bổ nhiệm Vũ Xuân Cẩn, Minh Mệnh dụ rằng: “Ngươi ở Bình Định 8 năm, chính sự mau chóng, trẫm vẫn để ý chọn. Mới rồi triệu về muốn bổ cho ở kinh. Nhưng dinh Quảng Trị đã điêu hao lắm, phiền ngươi vì trẫm vỗ về” (ĐNTL, II, q.4). Những người này không chỉ phải chứng minh năng lực với nhà vua mà còn phải cho thấy sự vượt trội và khéo léo của họ trong hệ thống quan trường nhiều cạnh tranh.  Vai trò của Minh Mệnh còn ở chỗ ông xây dựng một hệ thống giám sát quan lại cực kỳ chặt chẽ. Ông sử dụng một số viên chức thân tín, từng theo mình khi còn là hoàng tử (như Hoàng Quýnh, Lê Đăng Doanh) nhưng không đưa lên quá cao và thường xuyên cảnh cáo họ không được ỷ lại vào quan hệ cũ với vua mà làm càn. Điều này khác với các vua nhà Thanh (Khang Hy, Ung Chính, Càn Long) – những người mà Minh Mệnh đã “nghiên cứu” kỹ lưỡng – đều dựa vào hệ thống quan chức thân cận để kiểm soát triều chính. Ví dụ Ung Chính dựa vào những người từng là hầu cận cũ như Điền Văn Kính, Lý Vệ, Niên Canh Nghiêu. Còn Minh Mệnh chủ yếu dựa vào sự giám sát lẫn nhau của hệ thống quan lại để quản lí vương triều. Ông đặc biệt ghét tham nhũng và bè phái. Nhà vua cũng thích các viên chức dám dấn thân và có khả năng làm việc. Khi Hà Quyền xin đi tiễu phỉ ở Quảng Trị (vì đó là khu vực mà ông từng làm quan, thông thuộc địa hình), Minh Mệnh đã rất “hào hứng” và coi đó là tấm gương cho các quan văn khác. Ông cũng từng “thách thức” khả năng thực tiễn của một vị tiến sĩ khác là Phan Thanh Giản khi yêu cầu ông này đi tổ chức khai mỏ.  Đóng góp cho vương triều và Đại Nam  Có thể nói các trí thức thời đại Minh Mệnh chính là những người thực hiện giấc mơ “đế chế” của Minh Mệnh, giúp định hình nên thể chế chính trị và sự thống nhất lãnh thổ của nước ta.Ảnh: Bản đồ Đại Nam thời Minh mệnh, năm 1835. Nguồn: Alexander B. Woodside 1988.  Đây là thế hệ trí thức được đào tạo bài bản đầu tiên của thế kỷ XIX, cũng là thế hệ trí thức thời hậu chiến (sau 1802), chính vì thế, họ có vai trò đặc biệt trong việc định hình nên nền chính trị, thiết chế, cấu trúc xã hội và văn hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ.  Họ làm việc với tinh thần nghiêm túc, dưới sự dẫn dắt của một ông vua cương nghị, mạnh mẽ, có ý chí thực thi một dự án nhà nước tập quyền quy mô lớn sẽ làm thay đổi diện mạo của Việt Nam, và như ông từng hy vọng, giúp tạo ra thể chế cho muôn đời sau. Giống như sự chuyển giao chính quyền đầu nhà Lê ở thế kỷ XV, nhà Nguyễn đã thành công trong việc chuyển đổi từ hình thái chiến tranh sang hòa bình và quan liêu hóa hệ thống hành chính trong vòng 30 năm. Đây là đóng góp lớn của vương triều mà ở trung tâm của quá trình này chính là lớp trí thức mới được hình thành.  Họ chính là người thực hiện giấc mơ “đế chế” của Minh Mệnh. Ông lên cầm quyền trong bối cảnh đặc biệt của tranh giành ngai vàng. Ông là con thứ, trong khi nhiều đại thần và người phương Tây phục vụ ở Huế lúc đó muốn đưa cháu đích tôn của Gia Long lên nối ngôi. Việc tranh giành này là diễn biến chính trị quan trọng ở Việt Nam và sẽ ảnh hưởng lớn đến việc định vị vai trò của lớp trí thức. Họ là “công cụ” trong tay Minh Mệnh để từng bước thay thế dần lớp tướng lĩnh quân sự công thần như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Lê Chất, Lê Văn Duyệt, Huỳnh Công Lý… những người khuynh đảo nền chính trị và quân sự cuối thời Gia Long và đầu thời Minh Mệnh.  Nếu chúng ta coi mô hình, thiết chế, luật pháp của nhà Minh, Thanh là “khuôn mẫu” phức tạp và tiên tiến nhất trong hệ thống hành chính Đông Á đương thời thì rõ ràng là các nhà trí thức Việt Nam trong những năm 1820-1830 đã có thành tựu lớn trong việc tiếp cận “đỉnh cao tri thức” thời đại và đưa nó vào vận hành một cách vững chắc ở Việt Nam.  Thế hệ trí thức này là những người dấn thân thực sự không chỉ vì sự nghiệp của cá nhân họ mà còn mong muốn đóng góp cho vương triều, vương quốc và người dân mà họ phụng sự. Nhiều văn quan đã xông pha chốn trận mạc để bảo vệ bờ cõi và ổn định trật tự xã hội cũng như giúp phòng chống thiên tai, khai hoang… như Nguyễn Công Trứ, Lê Đại Cương, Doãn Uẩn, Nguyễn Tri Phương… Cùng với những chuyến ra nước ngoài thường xuyên như của Nguyễn Tri Phương, Phan Huy Chú, Lý Văn Phức, Hà Quyền… những người này cũng có một tri thức sâu sắc về thế giới bên ngoài, đặc biệt là về phương Tây, mà nhiều sử gia cho rằng tri thức của họ về thế giới phương Tây thậm chí còn thực tế hơn cả của các trí thức nhà Thanh đương thời.  Tất cả quá trình này phải đề cập đến vai trò của Minh Mệnh, người nhạc trưởng và giữ nhịp cho toàn bộ dự án chính trị trong thời đại của ông, kéo dài hai thập kỷ. Hai mươi năm giúp định hình nên thể chế chính trị và sự thống nhất lãnh thổ của nước Việt Nam. Dù trải qua thách thức với các trận dịch lớn (như năm 1820) làm chết hàng trăm nghìn người, sự gia tăng thiên tai ở châu thổ Sông Hồng (xem Tia Sáng số 24, ngày 20/12/2017), chống lại cuộc xâm lược của Bangkok (1833-1834), và nhiều cuộc nổi dậy trong nước, hệ thống quan liêu được tổ chức chặt chẽ trong những năm cuối 1820 và đầu 1830 đã giúp duy trì sự ổn định của hệ thống chính trị, tổ chức nhà nước, lãnh thổ, quân sự và kinh tế. Thành tựu của nó đối với sự phát triển của Đại Nam là không thể phủ nhận. Vào năm 1813, thống kê kho tàng trong cả nước cho thấy lượng dự trữ là 1.203.532 quan tiền, số bạc là 180.222 lạng, số thóc là 6.847.687 phương. Đến năm 1835, con số dự trữ bạc đã gia tăng đáng kể, cho phép Huế xây một hầm chứa 800.000 lượng. Sang 1836, dự trữ ngân khố được Minh Mệnh thông báo là 4 triệu hộc thóc và 14 triệu quan tiền (ĐNTL, II, q. 169).  Dĩ nhiên, không phải tất cả trí thức của thời đại họ đều lỗi lạc và hệ thống mà họ tạo ra là hoàn hảo. Việc xây dựng một chính thể tập quyền mạnh đã thúc đẩy xung đột với các địa phương, và gây bất ổn tại nhiều khu vực. Nỗ lực can thiệp vào Cambodia cũng tạo ra xung đột kéo dài với người Thái. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là họ đã nhận thức được câu hỏi của thời đại mình nhằm xây dựng một nước Việt Nam thống nhất thời hậu chiến và quyết tâm thực hiện thành công dự án đó. Họ đã thực hiện được điều mà lịch sử giao phó. Điều đáng tiếc nhất là một vài người trong số họ cùng với tầng lớp tinh hoa xuất hiện trong những năm 1840-1850 đã không thành công trong sứ mệnh lịch sử tiếp theo nhằm đưa Việt Nam ra khỏi làn sóng thực dân hóa của phương Tây, cũng như thất bại trong việc cải cách hệ thống chính trị theo hướng hiện đại.  Cuối cùng, lịch sử không chỉ có vai trò của vua chúa hay những người anh hùng mà cộng sự của họ là một hệ thống đông đảo giới tri thức tinh hoa giúp định hình nên cấu trúc chính trị và nền tảng tri thức của xã hội. Chúng ta đánh giá thành công hay thất bại của mỗi thế hệ không phải theo chuẩn mực của hiện tại mà dựa trên việc họ đã trả lời thách thức của thời đại của mình, trong khuôn khổ tư duy cũng như điều kiện mà họ có. Các trí thức thời đại Minh Mệnh đã thành công trong việc xác lập một nước Việt Nam thống nhất thời hậu chiến, củng cố sự xác lập lãnh thổ và quan hệ kinh tế, chính trị với tư cách là một quốc gia có ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Thiết chế mà họ xác lập sẽ được duy trì gần như trong suốt thế kỷ XIX. Thành công này, đáng tiếc là đã không được phát huy trong hai thập kỷ sau đó, khi Việt Nam đương đầu với những câu hỏi mới của thời đại, yêu cầu một thế hệ trí thức mới với các tri thức mới từ góc độ địa chính trị toàn cầu, kỹ thuật, quân sự và quản trị kinh tế mới. Hệ thống hành chính mất đi tính năng động và quan liêu hóa cùng với một nhà cầm quyền yếu ớt đã thất bại trong việc trả lời câu hỏi này.  Tầng lớp tinh hoa được đào tạo qua khoa cử đầu thế kỷ XIX là nòng cốt của xây dựng một hệ thống nhà nước phức tạp bậc nhất ở Đông Á với việc cải tổ lại hệ thống Lục Bộ từ mô hình phân tán Lê-Trịnh, xây dựng lại hệ thống thông tin liên lạc trong cả nước với hệ thống Thông chính và Bưu chính, xác lập trường học và hệ thống giáo dục khoa cử, xây dựng cơ quan văn thư phòng và Nội các nhằm thống nhất các đầu mối của quyền lực Trung ương, cải tổ lại hệ thống văn bản hành chính, con dấu, luật lệ, lưu trữ, đồng thời xác lập sự thống nhất nền quản trị quốc gia với lãnh thổ chia làm các tỉnh và xây dựng cơ cấu quản lí trực tiếp đối với vùng núi và vùng biên. Di sản này đến này nay vẫn là một phần giá trị thiêng liêng mà người Việt đang bảo vệ và phát huy.  ———  Tham khảo  Alexander B. Woodside. Vietnam and the Chinese model. C.A: MA, Harvard University Press, 1988.  Đại Nam Thực Lục (ĐNTL): bản Hán: Tokyo, 1977, bản dịch, Hà Nội: Giáo dục, 2004.  Đại Nam liệt truyện: bản Hán, Tokyo: 1977, bản dịch, Huế: Thuận Hóa, 1993.  Emmanuel Poisson, Mandarins et subalternes au nord du Viêt Nam: Une bureaucratie à l’épreuve (1820–1918). Paris: maisonneuve & Larose, 2004.  Nola Cooke. “The Composition of the Nineteenth-Century Political Elite of Pre-Colonial Nguyen Vietnam (1802–1883),” Modern Asian Studies 29, no. 4 (1995): 741–64.    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Thể thao giúp xương vững chắc trở lại      Một nghiên cứu mới được công bố cho thấy, luyện tập thể thao có thể giúp chống lại tình trạng mất xương.    Khoảng 212 cái xương giúp cho cơ thể con người đứng vững và chịu được tải trọng lớn. Tuy nhiên khối lượng xương vững chắc bắt đầu suy giảm từ tuổi 40, nhanh hay chậm tuỳ theo từng người.   Trong một thời gian dài, người ta luôn cho rằng xương có cấu trúc cứng nhắc. Phát hiện của nhà phẫu thuật Julius Wolff và kỹ sư xây dựng Karl Culmann năm 1871 là một bước tiến vượt bậc trong nghiên cứu về xương. Họ kết luận rằng, trong thực tế bộ xương có khả năng thích nghi cao hơn người ta tưởng.   Ngày nay chúng ta đã biết, trong bộ xương luôn có sự cân bằng giữa chất tạo xương (osteoblasts) và chất làm tiêu biến xương (osteoclasts). Các tế bào cảm biến nhất định (osteocytes) ở trong xương đo các lực tác động xương từ các hướng để điều chỉnh hai chất này. Nếu các lực đó thấp thì cơ thể trút bỏ bớt các chất độn để giảm khối lượng xương. Ngược lại khi chịu áp lực lớn, các chất tạo xương sẽ tăng cường hoạt động.   Jon Tobias, giáo sư về bệnh thấp học thuộc ĐH Bristol (Anh Quốc), cho rằng, chỉ khi nào tải trọng lớn gấp bốn lần gia tốc trọng trường (4 g) thì khối lượng xương mới được bồi đắp. Ngược lại, trường hợp dưới 3 g thì sẽ dẫn đến mất dần khối lượng xương và dưới 2 g thì coi như bị mất hẳn xương.  Tuy nhiên, theo Georg Duda, Giám đốc Viện Julius Wolff ở Berlin, cần thận trọng với những con số cụ thể: “Vì ở đây có sự khác nhau giữa các cá nhân.” Điều thú vị ở chỗ, dường như lực tuyệt đối lại không có ý nghĩa quyết định. “Quan trọng hơn nhiều”, Duda nói, “là sự thay đổi tải trọng đột ngột.”  Một nghiên cứu cách đây khoảng mươi năm đã đề cập vấn đề này. Mật độ xương của 255 nữ vận động viên điền kinh trước thời kỳ mãn kinh đã được đem ra so sánh. Bất ngờ là, không phải các nữ vận động viên cử tạ mà là các nữ vận động viên bóng chuyền có xương vững chắc nhất. Một nghiên cứu được công bố đầu năm 2014, cho biết, 60 phụ nữ ở độ tuổi từ 25 đến 50 đã tham gia một thí nghiệm khá nặng nhọc – luyện nhảy trong 16 tuần. Một nhóm người tham gia luyện nhảy hai lần mỗi ngày, mỗi lần mười cú nhảy với khoảng cách là 30 giây, một nhóm khác cũng thực hiện nội dung nói trên nhưng với 20 cú nhảy và có lực tải lớn nhất trên 7 g. So với nhóm đối chứng không nhảy thì mật độ xương ở những người tập nhảy cao hơn rõ rệt.  Chuyên gia Duda cho rằng, khác với chuột, bộ xương ở người, ngay cả khi cao tuổi, vẫn có thể kích thích để kiến tạo mà luyện tập là một yếu tố có tác động rõ rệt.   “Khi già thì xương ngày càng giòn hơn và các tế bào cảm biến ngày càng kém nhạy cảm hơn đối với tải cơ học,” Duda nói. Hơn nữa, tuổi càng cao, người ta càng ít vận động, do đó lực tác động vào tế bào ngày càng giảm. “Từ đó thiếu các tín hiệu quan trọng để duy trì và kiến tạo xương,” nhà nghiên cứu về xương nói.   Vì thế Duda khuyên mọi người tăng cường hoạt động cơ thể càng nhiều càng tốt: “Điều quan trọng là cần chủ động vận động khi đã cao tuổi, đặc biệt là chạy bộ hay tập thể lực ở mức độ vừa phải. Khi luyện tập thể lực và vận động thì cơ và xương được duy trì một cách tốt nhất.”   Tuy nhiên, những người bắt đầu có dấu hiệu bị loãng xương thì không nên tập những bài tập quá nặng vì có thể dẫn đến nguy cơ gẫy xương, chuyên gia Duda cảnh báo.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả của vaccine Sputnik V      Sputnik V, với tên gọi khác là Gam-COVID-Vac được Nga phê duyệt sử dụng, sau đó dần được phê duyệt tại hơn 70 nước khác.      Dây chuyền sản xuất vaccine COVID -19 tại nhà máy gần St. Petersburg, Nga. Ảnh: Olga Maltseva/AFP/Getty.  Truy cập dữ liệu đầy đủ  Vaccine Sputnik của Nga trở thành chủ đề gây tranh cãi kể từ khi chính phủ Nga cấp phép sử dụng loại vaccine này trước khi kết quả thử nghiệm giai đoạn ba được công bố. Hiện nay, số liệu sau tiêm từ Nga và nhiều nước khác cho thấy nó an toàn và hiệu quả, nhưng vẫn câu hỏi về quá trình giám sát các tác dụng phụ hiếm gặp có thể xảy ra.  Sputnik V, với tên gọi khác là Gam-COVID-Vac, là vaccine đầu tiên trên thế giới được đăng ký sử dụng tại một quốc gia, và sau đó dần được phê duyệt tại nhiều nước, bao gồm Brazil, Hungary, Ấn Độ, Philippines. Nhưng nó vẫn chưa được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng như Cơ quan Y tế Châu Âu (EMA) phê duyệt sử dụng khẩn cấp. Khi có sự phê duyệt của WHO thì Sputnik V sẽ có thể được phân phối rộng rãi đến các quốc gia thu nhập thấp thông qua Sáng kiến Tiếp cận vaccine COVID-19 Toàn cầu (COVAX).  Vaccine Sputnik V được Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Gamaleya về Dịch tễ học và Vi sinh tại thủ đô Moskva phát triển, được bộ y tế Nga cấp phép sử dụng ngày 11/8/2020, tức là hơn một tháng trước khi kết quả thử nghiệm giai đoạn I và II được công bố, và trước khi bắt đầu giai đoạn III. Hồi đó cộng đồng khoa học [thế giới] đã bất bình trước thông báo chính thức từ tổng thống Putin. “Nếu chính phủ phê duyệt một loại vaccine trước khi biết kết quả thử nghiệm, điều này không tạo được niềm tin,” nhà dịch tễ học Michael Toole của Viện Burnet, Melbourne, nói.  Sau đó thì quan ngại của các nhà khoa học đã đã lắng dịu sau kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III được công bố hồi tháng 2, cho thấy hiệu quả 91.6% trong việc ngăn ngừa nhiễm COVID-19 có triệu chứng và 100% trong việc ngăn ngừa triệu chứng nặng. Tuy nhiên, một số các nhà khoa học cũng vẫn chỉ trích vì nhóm tác giả công bố kết quả đã không cung cấp quyền truy cập vào toàn bộ dữ liệu thô trong thử nghiệm giai đoạn đầu, đồng thời bày tỏ lo ngại về sự điều chỉnh quy trình quản lý vaccine và sự thiếu nhất quán của dữ liệu.  Các tác giả đáp báo cáo trả rằng họ đã cung cấp tất cả các dữ liệu cần thiết để các cơ quan quản lý phê duyệt và dữ liệu trên là đủ để xác thực hiệu quả của vaccine. Họ cũng đưa ra giải thích về quy trình và nói mình đơn giản chỉ sửa lại cho đúng các lỗi đánh máy trong dữ liệu.  Một số quốc gia, gồm Hàn Quốc, Argentina, Ấn Độ, đã sản xuất Sputnik V. Riêng Ấn Độ có kế hoạch sản xuất ít nhất 850 triệu liều để đẩy nhanh tốc độ tiêm chủng. Các quốc gia khác, như Iran và Hungary đang nhập khẩu Sputnik V và coi đây là chìa khóa để đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng của họ.  Nhưng không hẳn mọi thứ đều thuận lợi. Cơ quan quản lý y tế Brazil đã từ chối đơn đăng ký nhập khẩu của Sputnik V vì thiếu dữ liệu về an toàn, chất lượng và hiệu quả. Sau đó Brazil đã thay đổi quyết định đồng ý nhập nhưng vaccine này chỉ được chấp thuận sử dụng trên người lớn khỏe mạnh.   Hai vector virus liệu có tốt hơn một?  Sputnik V sử dụng phiên bản adenovirus là một họ virus gây cảm cúm nhẹ để làm vector mang gen mã hóa protein gai (spike) của SARS-CoV-2.   Công nghệ này tương tự với vaccine Oxford-AstraZeneca và Johnson & Johnson. Nhưng thay vì chỉ dùng một loại adenovirus tái tổ hợp duy nhất (rAd26), Sputnik V dùng hai loại adenovirus khác nhau là rA26 và rAd5, lần lượt trong liều thứ nhất và thứ hai.  Dmitry Kulish, nhà nghiên cứu công nghệ sinh học tại Viện Khoa học và Công nghệ Skolkovo, Moskva, người không tham gia quá trình phát triển Sputnik V, nói rằng điều này giúp tăng hiệu quả. Hai adenovirus có cách thức đưa vật liệu di truyền vào tế bào vật chủ hơi khác nhau, nên về mặt lý thuyết sẽ cải thiện tỷ lệ thành công.  Hai nghiên cứu của nhóm phát triển vaccine Sputnik trên 76 người lớn khỏe mạnh được tiêm hai liều với các loại vector khác nhau các nhau 3 tuần đã được công bố vào tháng 9/2020. Tất cả họ đều tạo được kháng thể đối với protein gai của SARS-CoV-2, với các tác dụng phụ chủ yếu là đau nhẹ tại chỗ tiêm, sốt, nhức đầu, mệt mỏi và đau cơ – chính là các tác dụng phụ điển hình của các loại vaccine COVID-19 khác.  Thử nghiệm giai đoạn III trên 14,964 người trưởng thành được tiêm đủ hai liều vaccine và 5,476 người được tiêm giả dược đã được công bố hồi tháng 2. Kết quả cho thấy chỉ 16 người trong nhóm được tiêm vaccine mắc COVID-19 có triệu chứng, so với 62 người ở nhóm đối chứng, cho thấy hiệu quả của vaccine đạt 91.6%. Không có trường hợp mắc bệnh trung bình đến nặng trong nhóm được tiêm vaccine, so với 20 người ở nhóm dùng giả dược.  Một thông cáo báo chí của Viện Gamaleya hồi tháng 4 về 3.8 triệu người Nga được tiêm đủ hai liều cũng cho thấy hiệu quả 97.6% (dữ liệu này chưa được xuất bản). Số liệu của Bộ y tế Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất UAE trên khoảng 81,000 người được tiêm đủ 2 liều cho thấy hiệu quả 97.8% trong việc ngăn ngừa COVID-19 có triệu chứng và 100% trong việc ngăn ngừa bệnh nặng.  Nghiên cứu giai đoạn III của Nga cũng cho thấy ngay cả liều đầu tiên cũng mang lại hiệu quả 73.6% trong việc ngăn ngừa bệnh trung bình đến nặng. Điều này khiến các cơ quan y tế Nga phê duyệt Sputnik Light một liều duy nhất, sử dụng vector rAd26, từ tháng 5. Dữ liệu từ chương trình tiêm chủng của chính phủ Nga cho thấy nó có hiệu quả 79.4% trong việc ngăn ngừa bệnh có triệu chứng.  Một nghiên cứu khác chưa được xuất bản, do Sở y tế Buenos Aires, Argentina thực hiện trên 40,387 người được tiêm vaccine và 146,194 người chưa được tiêm vaccine trong độ tuổi 60-79, cho thấy Spuknik Light liều duy nhất giúp làm giảm 78.6% bệnh có triệu chứng, 87.6% bệnh nhân nhập viện và 84.7% trường hợp tử vong.    Người cao tuổi được tiêm vaccine Sputnik V tại Caracas, Venexuela. Ảnh: Federico Parra/AFP/Getty.  Vẫn còn câu hỏi về tác dụng phụ  Các tác dụng phụ của Sputnik cũng trở nên rõ ràng hơn. Các nghiên cứu đến nay đều cho thấy các tác dụng phụ của Sputnik tương tự với các loại vaccine adenovirus khác, ngoại trừ tình trạng đông máu hiếm gặp. Khác với vaccine Oxford-AstraZeneca và Johnson & Johnson, không có báo cáo nào về tình trạng này từ cơ quan y tế Nga hoặc các quốc gia khác sử dụng Sputnik V.  Một bản thảo tiền xuất bản của của một bệnh viện tại Buenos Aires cho thấy không có trường hợp rối loạn đông máu hoặc biến cố bất lợi nào cần chú ý đặc biệt trong số 683 nhân viên y tế được tiêm Sputnik V. Một phân tích 2.8 triệu liều Sputnik được sử dụng tại Argentina cũng không cho thấy trường hợp tử vong nào liên quan đến vaccine, và hầu hết các tác dụng phụ đều nhẹ. Một nghiên cứu khác từ tháng 5 tại San Marino cũng cho thấy không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào trên 2,558 người lớn được tiên một liều Sputnik V và 1,288 người được tiêm liều hai liều.  Tuy nhiên nhà virus học Alyson Kelvin từ đại học Daihousie, Canada lưu ý giả thuyết rối loạn đông máu liên quan đến vaccine dùng vector virus vẫn chưa xác định được, không rõ nguyên nhân chính xác do thành phần nào của vaccine gây ra. Sputnik có thể bị ảnh hưởng hoặc không. Giai đoạn III của Sputnik chỉ tiến hành trên 21,977 người, cỡ mẫu còn nhỏ để nhận biết các tác dụng phụ hiếm gặp. Tới đây khi vaccine được sử dụng rộng rãi toàn cầu, có thể sẽ có báo cáo đầy đủ hơn.  Không rõ liệu Nga có phải đối mặt với các tình huống bất lợi như vậy hay không. Trong khi đó, vaccine của Oxford-AstraZeneca đã bị hệ thống giám sát tác dụng phụ tại Áo cảnh báo, và EMA cũng đánh giá lại tính an toàn của vaccine này.  Còn các nhà khoa học phương Tây thì cho rằng hệ thống giám sát của Nga kém hiệu quả hơn, một phần có thể là do văn hóa ít khi gọi sự trợ giúp y tế, theo Kulish. “Hầu hết người dân Nga chỉ gọi bác sĩ khi họ không thể thở nổi,” ông châm biếm. Thêm nữa, có thể các bác sĩ ở các vùng xa xôi của Nga [không đủ trang bị cần thiết] để kết luận cục máu đông do tiêm vaccine gây ra đột quỵ.  Mặc dù vậy, Argentina không báo cáo bất kỳ trường hợp đông máu nào, dù đã tiêm hơn 4 triệu liều vaccine. Serbia, quốc gia đang sử dụng rộng rãi Sputnik V, cho đến nay cũng chưa ghi nhận trường hợp nào.  WHO và EMA chờ phê duyệt Sputnik  Các nhà khoa học cho rằng lo ngại về quy trình giám sát tác dụng phụ có thể là lý do WHO và EMA vẫn chưa phê duyệt sử dụng khẩn cấp cho Sputnik. WHO đã yêu cầu thêm dữ liệu từ viện Gamaleya và kiểm tra các cơ sở sản xuất và các thử nghiệm lâm sàng vaccine đang diễn ra của Nga. Cho đến nay, 9 địa điểm sản xuất vaccine đã được kiểm tra, trong số đó WHO đã đưa ra quan ngại về một cơ sở sản xuất. Tương tự, EMA cũng đưa Sputnik vào diện ưu tiên theo dõi, đánh giá liên tục.  Các nhà phát triển Sputnik cho rằng Liên minh Châu Âu có thành kiến với các sản phẩm từ Nga, vì hồi tháng 3 cao ủy thị trường nội khối Thierry Breton tuyên bố “hoàn toàn không có nhu cầu Sputniik V” tại châu Âu.  Kulish cho rằng lập trường “ủng hộ Pfizer” trong EMA đang cản trở sự cấp phép cho Sputnik. Người phát ngôn của EMA phản hồi rằng họ áp dụng các tiêu chuẩn giống nhau cho tất cả các đơn xin chấp thuận vaccine COVID “bất kể họ ở đâu trên thế giới”.   Ngay tại nước Nga, tỷ lệ người dân do dự tiêm vaccine vẫn còn cao. Một khảo sát vào tháng 3 cho thấy 62% người Nga không dự định đi tiêm chủng và Nga hiện đang áp dụng các hình thức tiêm chủng bắt buộc đối với viên chức chính phủ và một số đối tượng khác nhằm thúc đẩy tỷ lệ chủng ngừa. Tính đến ngày 28/6, chỉ 15% trong số 140 triệu công dân Nga đã tiêm một liều vaccine.  Một số nghiên cứu khác hiện đang được tiến hành ở các quốc gia đã phê duyệt Sputnik, bao gồm Argentina, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, điều này giúp xây dựng một bức tranh chính xác hơn về tính an toàn và hiệu quả của vaccine này.  Cao Hồng Chiến dịch  Nature/ DOI 10.1038/d41586-021-01813-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm một giải Nobel trong ngành Vật lý thiên văn      Giải Nobel Vật lý năm nay được trao cho Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne cho những “đóng góp mang tính quyết định cho Trạm quan sát sóng hấp dẫn bằng Giao thoa kế laser – LIGO”. Hơn một năm trước, nhân dịp LIGO lần đầu tiên dò được sóng hấp dẫn phát ra từ sự sáp nhập của hai hố đen có kích thước hẹp, tôi đã bình luận về vai trò của lực hấp dẫn đối với vật lý hiện đại nên ở bài viết này tôi chỉ bổ sung một vài ý kiến nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề.    Cấu tạo của Giao thoa kế Laser – LIGO  Công cuộc tìm kiếm sóng hấp dẫn đã bắt đầu cách đây nửa thế kỷ. Người ta không hề hoài nghi sự tồn tại của chúng, nhưng việc dò tìm ra chúng là cả một thách thức đã thôi thúc các nhà vật lý đầu tư rất nhiều tâm huyết.  Cách thức vận chuyển lực hấp dẫn trong không gian luôn là một câu hỏi lớn trong tâm trí những nhà vật lý nhiều thế hệ; ba thế kỷ trước đây khi Newton được đề nghị phát biểu về chủ đề này, ông đã lảng tránh nó khi nói rằng không thể dựng lên những giả thuyết không có căn cứ (hypotheses non fingo). Cuối thế kỷ XIX, sau khi Hertz phát hiện ra sóng điện từ (1887), một số nhà vật lý đã suy đoán về sự tồn tại của sóng hấp dẫn, như Heaviside (1893), Lorentz (1900) và Poincaré (1905). Nhưng chính xác mới chỉ một thế kỷ trước, Einstein đã đưa ra khái niệm về sóng hấp dẫn trong khuôn khổ thuyết tương đối rộng; tuy nhiên, suốt nửa đầu thế kỷ 20 đã tồn tại những mối nghi ngờ về “tính thực tế” của sóng hấp dẫn: liệu chúng mang theo năng lượng hay đơn giản chỉ là những “giả lập” toán học. Chỉ tới năm 1957, vấn đề mới được hoàn toàn giải quyết, đặc biệt nhờ công của Feynman; sau đó những tiến bộ trong hiểu biết của chúng ta về vật lý hiện đại đã giải phóng những nghi hoặc ban đầu.  Khi không ai nghi ngờ sự tồn tại của sóng hấp dẫn nữa, vấn đề được quan tâm tiếp theo là tìm cách phát hiện ra chúng. Joseph Weber là người đầu tiên dành nhiều tâm huyết theo đuổi mục tiêu này. Là một sĩ quan hải quân trong Thế chiến II, một kỹ sư điện tử xuất sắc, ông cũng đồng thời là một nhạc công và có những đóng góp thiết yếu cho sự phát triển của laser. Các máy dò đầu tiên của ông gồm những xilanh bằng nhôm dài 2m, đường kính 1m, dò được những dao động mà ông nghĩ đó là sóng hấp dẫn với tần suất một lần mỗi ngày; điều này nếu đúng thì vũ trụ sẽ chuyển hóa toàn bộ năng lượng của nó sang dạng hạt graviton trong khoảng 50 triệu năm, như Dick Garwin nhận xét. Weber mất năm 2000 trong lúc những tuyên bố của ông về việc tìm ra sóng hấp dẫn được chứng minh là sai bởi một loạt những thí nghiệm khác, di sản của ông là khởi nguồn cho một hướng nghiên cứu mà nhiều người sau đó đã thất bại trong vô vọng. Tôi vẫn nhớ đã tham dự các Ủy ban cố vấn khoa học trong thập niên 1980, khi hai dự án (cho các trạm thăm dò hiện tại) LIGO và VIRGO đề nghị xin tài trợ: giới vật lý hạt và vật lý thiên văn đều tuyên bố đó không phải việc của họ, và cùng tìm cách chuyển gánh nặng về phía nhau.  Sau những máy dò đầu tiên của Weber, các ăng-ten liên tục được cải tiến, ngày càng tinh xảo và nhạy hơn, được xây dựng và vận hành khắp nơi trên thế giới. Còn nhớ năm 1972, khi còn là điều phối viên PS, tôi đã tham gia trong một hoạt động như vậy. Điều phối viên PS (PS là viết tắt của synchrotron proton – thiết bị gia tốc đồng bộ hạt nhân, nhiệm vụ được giao cho các nhà vật lý thực nghiệm trong một năm) hoạt động như cầu nối giữa người phụ trách hoạt động của máy gia tốc với những người sử dụng.  Khi ấy, Edoardo Amaldi và những đồng nghiệp người Ý đã mang một ăng-ten đến CERN nơi helium lỏng có sẵn để sử dụng chất làm lạnh sâu (cryogeny); và vì họ không có sẵn người ở CERN để theo dõi, nhiệm vụ của tôi khi đó đơn giản chỉ là đảm bảo rằng helium Dewar sẽ không hết. Nhớ lại thời kỳ ấy, có thể chúng ta sẽ ngạc nhiên bởi sự trung thực vô tư của những người đi tiên phong, khi đó độ nhạy của những ăng-ten đầu tiên kém xa so với yêu cầu cần thiết mà phải 50 năm sau mới có thể đạt được. Việc đánh giá về thành tựu của tiến bộ kỹ thuật này sẽ vượt ra ngoài khuôn khổ của bài viết1, ở đây chúng ta chỉ cần lưu ý rằng việc phát hiện những chuyển động ở cấp độ hạt nhân, chứ không phải ở quy mô nguyên tử: sự kiện LIGO phát hiện các chuyển động nhỏ hơn 1% đường kính proton.        Việc phát hiện ra sóng hấp dẫn không tới một cách đột ngột, nó là phần thưởng sau những nỗ lực sáng tạo và bền bỉ trong suốt 50 năm, và là một thành công lớn của vật lý thực nghiệm hiện đại. Đây là một chương trong vật lý đương đại mà cộng đồng khoa học có thể tự hào, trong đó chứa đựng nhiều ví dụ về các thành tựu xuất sắc. Quy định không trao giải cho quá ba người đủ điều kiện hàng năm khiến việc lựa chọn luôn luôn rất khó khăn, thậm chí bất khả thi trong một vài trường hợp, chẳng hạn như việc tìm ra hạt quark top và Higgs boson. Với sóng hấp dẫn, đã có hơn 1200 nhà khoa học trên khắp thế giới tham gia dự án Hợp tác khoa học LIGO.  Dẫu vậy, lựa chọn trao giải năm nay vinh danh những con người đầy tài năng mà chúng ta có thể tự hào, là tấm gương cho thế hệ trẻ, và đó cũng chính là lợi ích của giải thưởng Nobel. Chúng tôi chắc chắn sẽ rất tự hào treo ảnh những người đoạt giải năm nay trên tường ở phòng làm việc tại Bộ môn Vật lý Thiên văn – Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VAST), bên cạnh 19 người nhận giải trước đó. Rainer Weiss đã tham gia nghiên cứu về sóng hấp dẫn ngay từ những ngày đầu, và là người thúc đẩy sự phổ biến của kỹ thuật giao thoa kế, đã được chứng tỏ rất thành công. Ông cũng đóng góp vào những nghiên cứu đầu tiên với COBE. Kip Thorne – một nhà lý thuyết, bậc thầy trong lĩnh vực này; là một sinh viên của John Archibald Wheeler, ông đã bắt đầu quan tâm tới thuyết tương đối rộng từ rất sớm và giữ liên hệ gần gũi với các nhà thực nghiệm, đóng vai trò then chốt trong việc làm sáng tỏ những vấn đề phức tạp của lý thuyết và tham vấn trong việc thiết kế và tận dụng máy dò LIGO. Barry Barish dành phần lớn sự nghiệp của mình cho vật lý hạt, đã có nhiều đóng góp cho các thí nghiệm hạt neutrino để tìm kiếm các dòng trung tính và trải qua những thí nghiệm tìm kiếm các hạt và những khả năng bên ngoài; ông đã gia nhập dự án LIGO ngay từ những ngày đầu, giữa những năm 1990, nơi mà ông phát huy tối đa các kinh nghiệm của mình trong vai trò một nhà lãnh đạo xuất sắc.   Hiện nay, lĩnh vực này đang phát triển và đạt nhiều tiến bộ, với các ăng-ten ngày càng nhạy cùng sự ra đời của nhiều máy thăm dò mới, không chỉ VIGRO và LIGO còn có KAGRA (Nhật Bản), và vài năm nữa sẽ là LISA trong không gian. Một ví dụ ngoạn mục mà chúng ta vừa chứng kiến cách đây ít ngày là khi chúng ta biết được rằng sự sát nhập của hai sao neutron quan sát được bởi LIGO và Virgo nhưng đồng thời cũng được phát hiện trong không gian bởi kính thiên văn HUBBLE, Phòng thí nghiệm vũ trụ quốc tế tia Gamma INTEGRAL và nhiều thiết bị khác2. Không còn nghi ngờ gì nữa, những bước tiến này đang mở ra một cánh cửa mới về vật lý thiên văn, giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về các hố đen và sao Neutron trong vũ trụ. Còn chưa rõ liệu chúng có thể chạm tới Big Bang từ những ngày đầu, và cũng không rõ còn bao nhiêu điều cần phải làm sáng tỏ trong hiểu biết của chúng ta về sự hấp dẫn. Hiện nay, minh chứng rõ nhất cho tính đúng đắn của Thuyết tương đối là phát hiện của Hulse và Taylor về sự suy tàn của một quỹ đạo nhị phân của sao ẩn pulsar do sự phát xạ sóng hấp dẫn nhưng độ chính xác của việc xác minh lý thuyết này còn khá thấp so với những gì chúng ta đã làm được với thuyết tương đối đặc biệt và vật lý nguyên tử.  Thật vậy, chúng ta biết rằng cặp đôi Thuyết lượng tử – Thuyết tương đối tổng hợp không còn đứng vững khi chúng ta tiếp cận dựa trên thang đo Planck, đây có thể coi là một trong những vấn đề cần giải mã của vật lý đương đại. Trong nửa thế kỷ, cách tiếp cận của chúng ta về vấn đề này là Lý thuyết siêu dây (Superstring Theory), bao gồm bổ sung thêm những chiều không gian cong. Mặc dù đã có những bước tiến ngoạn mục, dẫn tới khái niệm thuyết M (M-theory), tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn nhiều người. Cụ thể, chúng ta vẫn chưa hiểu rõ sự không thống nhất giữa hấp dẫn và vật lý lượng tử, điều này, gần đây đã khiến một số nhà lý thuyết thử xem xét lại vấn đề dưới cách tiếp cận mới, như bằng cách tìm hiểu hành vi của một lỗ đen ở quy mô lượng tử và phát triển những ý tưởng mới mẻ như “emergent gravity”.Tuy nhiên, câu chuyện này nằm ngoài khuôn khổ bài viết, có thể sẽ được bàn kỹ hơn ở một bài khác trong tương lai.  * * *  Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là khi nào chúng ta mới thức tỉnh trước thực tiễn của vật lý hiện đại? Có đáng buồn không khi chứng kiến vật lý thiên văn, có lẽ là lĩnh vực sôi động nhất trong vật lý hiện đại, phần lớn bị bỏ quên ở các trường đại học Việt Nam? Gần đây, một nhà thiên văn học trẻ Việt Nam đề nghị đưa lĩnh vực này vào ít nhất một chương trình đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam nhưng đề xuất ấy đã bị bác bỏ. Ngày nay, những sinh viên cao học hay tiến sĩ của chúng tôi, đã phải làm việc núp bóng dưới những chuyên ngành như “vật lý nguyên tử” hay “vật lý hạt nhân”, như thể “vật lý thiên văn” là một từ bị cấm kỵ không được phép phát âm. Lập luận người ta đưa ra để phản bác đề xuất nói trên là không có đủ nhà thiên văn học ở đất nước này. Năm 1944, khi Võ Nguyên Giáp được bổ nhiệm là người đứng đầu Quân đội Giải phóng Việt Nam, ông không hề có kinh nghiệm quân sự và quân đội trước đó cũng không tồn tại. Chúng ta sống ở một xứ sở mà sự can đảm, lòng quyết tâm và sự táo bạo đã viết nên những trang sử vinh quang nhất của cả dân tộc. Vậy tại sao hôm nay, sự bảo thủ và những quan điểm chống lại đổi mới có thể chiếm ưu thế? Tại sao chúng ta vẫn hành xử theo cách như thể muốn ngăn cản tiến bộ?     Thế Hải dịch  Thanh Xuân hiệu đính  ———  1 Xem bình luận của Aguiar tại: https://arxiv.org/pdf/1009.1138v1.pdf  2 Được chỉnh sửa theo yêu cầu của Pierre Darriulat, khác với phiên bản trên báo in ra ngày 20/10/2017  http://sci.esa.int/hubble/59672-hubble-observes-source-of-gravitational-waves-for-the-first-time-heic1717/  http://sci.esa.int/integral/59664-integral-sees-blast-travelling-with-gravitational-waves/  https://www.darkenergysurvey.org/des-gravitational-waves-papers/       Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Thêm một phương thức điều trị cúm A – H5N1 ở người?      Giới truyền thông trên thế giới lại vừa dấy lên một niềm tin mới là đã có thể chiết tách được kháng thể kháng lại vi-rút A-H5N1 ở người và có hiệu quả bảo vệ chuột thí nghiệm cho nhiễm H5N1 không bị bệnh. Thậm chí một tờ báo trong nước còn khẳng định: Bệnh viện Bệnh nhiệt đới: tìm ra vũ khí diệt H5N1.  Vậy giá trị ứng dụng đích thực của công trình này như thế nào?    Bối cảnh ra đời của nghiên cứu  Nghiên cứu này dựa trên nền tảng nguyên lý kháng nguyên-kháng thể và quan trọng hơn là dựa trên một quan sát thực nghiệm ở kỳ đại dịch cúm Tây Ban Nha 1918. Sau một thời gian ngắn diễn ra, hàng triệu triệu bệnh nhân bị chết nhanh chóng, giới bác sĩ bằng mọi nỗ lực để cứu chữa những người còn lại; một trong các nỗ lực đó là sử dụng máu và huyết thanh của những người vừa bị cúm và bình phục để truyền cho bệnh nhân mới. Và theo một nghiên cứu tổng hợp, hồi cứu lại các y văn của những năm 1920 thế kỷ trước, các khoa học gia nhận thấy tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân được truyền máu thấp hơn so với những bệnh nhân không truyền. Mặc dù nghiên cứu y học vào những thời sơ khai đó có nhiều hạn chế về giá trị khoa học, nhưng cũng lóe lên một dấu hiệu là biết đâu, có thể sử dụng phương pháp trung hòa này, áp dụng được trên bệnh cúm A-H5N1.  Nghiên cứu này làm gì, kết quả ra sao?            Vi-rút H5N1 (màu xanh) dưới kính hiển vi điện tử  trong mô (tissue) tổn thương, nguồn trích www.theage.com.au        Nghiên cứu mới này vừa mới được đăng tải trên một tập san y khoa trực tuyến, Public Library of Science (PloS) (Medicine) có tiêu đề: “Hiệu quả điều trị và phòng ngừa của Kháng thể Đơn dòng ở người đối với vi-rút cúm H5N1” của một nhóm tác giả kết hợp giữa Trung tâm nghiên cứu Y học Lâm sàng của Viện đại học Oxford-Bệnh viện Y học Nhiệt đới thành phố HCM, Viện nghiên cứu Y sinh Bellizona, Thụy Sĩ và Phòng thí nghiệm bệnh Truyền nhiễm của Viện quốc gia về bệnh Truyền nhiễm và Dị ứng, Bethesda, Maryland, Mỹ.  Cách tiến hành: các tác giả sử dụng 4 mẫu máu của 4 bệnh nhân đã được chẩn đoán bị nhiễm H5N1 (tại bệnh viện Y học Nhiệt đới TP HCM), sau đó dùng các biện pháp kỹ thuật để tách lấy kháng thể. Các kháng thể này được sàng lọc hiệu quả bằng cách cho tiếp xúc với mẫu các vi-rút H5N1 (được lưu trữ từ các chủng phân lập được ở Hồng Kông và Việt Nam từ 1997-2005). Một trong số các kháng thể đó đã có thể trung hoà được với dòng H5N1 chính là loại mà các bệnh nhân cho máu đó đã bị nhiễm.  Trong ống nghiệm, loại kháng thể này có thể trung hòa được vi-rút H5N1 tương đối gần (nên hiểu là chìa khớp với khoá, hay tương đối đặc hiệu, nên gọi là kháng thể đơn dòng) và lại có tác dụng chéo đối với một dòng H5N1 khác (cũng gây bệnh cho người).  Tiến hành nghiên cứu trên chuột thực nghiệm (mỗi lô 4-8 con chuột, không nêu cụ thể bao nhiêu lô), các tác giả nhận thấy một số các kháng thể có tác dụng bảo vệ chuột thông qua các hoạt động: làm giảm khả năng tăng sinh vi-rút trong chuột, giảm hoạt động huỷ hoại của vi-rút trong phổi, và ngăn cản sự lan toả của vi-rút trong phổi.             Mô phỏng cấu trúc 3 chiều của vi-rút A-H5N1          Dựa vào đó, nhóm nghiên cứu lạc quan cho thấy kết quả này có thể ứng dụng trong điều trị bệnh cho người, nhất là khi có đại dịch và hiệu quả điều trị đạt được cần phải dùng trước 72 giờ (sau nhiễm bệnh); hơn nữa kỹ thuật chế tạo kháng thể của nhóm nghiên cứu này là dễ dàng và nhanh.  Nhận xét  Như mọi nghiên cứu khoa học, việc xếp loại giá trị nghiên cứu trong bậc thang giá trị thì nghiên cứu này chỉ mới ở bậc thấp của nghiên cứu dịch tễ lâm sàng, có nghĩa là chỉ còn mới trong phòng thí nghiệm. Hay cụ thể hơn, nghiên cứu này là một tiền đề, một cuộc thực tập dọn đường để có hướng nghiên cứu trên người, mà trước hết là nghiên cứu trên tế bào, mô người biệt lập. Về ý tưởng, thì đây không phải là một nghiên cứu gốc (original study) mà chỉ là một kế thừa nguyên lý, lần đầu tiên tìm được trên loại vi-rút mới: H5N1.  Còn hiệu quả để có thể chế tạo và sử dụng có hiệu quả trên người đưọc hay không? Chắc chắn là chưa thể biết, và để có câu trả lời là cần phải có một thời gian rất dài nữa.  Lý do thứ nhất, hiện nay bệnh cúm gia cầm A-H5N1 ở người vẫn là lẻ tẻ, và rải rác, mặc dầu tỷ lệ tử vong cao. Lý do thứ hai quan trọng hơn là như đã đề cập ở phần nguyên lý, vi-rút cúm A là không đặc hiệu và không ổn định về cấu trúc kháng nguyên. Rồi để đến bước vi-rút H5N1 có thể lây lan giữa người và người thì cấu trúc nó có như hiện nay không? Hẳn là không, nhưng như thế nào chúng ta cũng chưa biết. Một lý do khác không thiếu phần quan trọng nữa là hiệu quả điều trị của việc sử dụng kháng thể từ trước đến nay thường chỉ đạt được trong giai đoạn còn ủ bệnh, và mầm bệnh còn lưu hành trong máu, chưa đến giai đoạn xâm nhập vào tế bào và tăng sinh. Cũng như các tác giả nhận định là cần phải dùng sớm trước 72 giờ sau khi nhiễm. Đối với cúm thì việc phát hiện được thời gian nhiễm bệnh có lẽ là chuyện không tưởng, và nếu có thì bệnh nhân có đến được với bác sĩ thì cũng đã muộn hơn. Họa may chỉ có thể nghi ngờ sớm khi đã có… dịch. Đối với các bệnh khác như chó dại cắn hoặc dẫm phải đinh gai, chúng ta mới có thể dễ dàng xác định được thời gian phơi nhiễm rõ ràng và chính xác mà thôi.  Đó mới chỉ là các điểm về mặt nguyên lý, còn về mặt kỹ thuật và quan trọng nhất là đáp ứng của cơ thể bệnh nhân đối với việc sử dụng kháng thể điều trị như thế nào, mới là mấu chốt.  Để có được có câu trả lời đó, đường đi từ nghiên cứu tiền trạm này đến đích còn khá xa, và chúng ta chỉ nên đón nhận thông tin này ở mức độ vừa phải, và chờ xem các nhà khoa học đi các bước tiếp theo như thế nào, chứ chưa phải là chúng ta đã tìm ra được một phương tiện cứu cánh. Và chắc chắn một điều để đánh giá được hiệu quả thực thụ của việc sử dụng kháng thể để điều trị cho người bệnh bị nhiễm H5N1 chỉ có thể thực hiện được khi bệnh cúm loại A-H5N1 đã trở nên tương đối phổ biến ở người, và biết đâu, biết đâu lúc đó nó lại biến đổi trở nên là một loại cúm A như bao loại cúm A khác đang lưu hành hiện nay. Cũng nên hy vọng theo chiều hướng đó.  Tham khảo  [1] Couch, R. B., and Kasel, J. A. Immunity to influenza in man. Annu Rev Microbiol 1983; 37:529-49.  [2] Duke University Medical Center Library and Health Sciences Library  UNC-Chapel Hill Introduction to Evidence-based Medicine. Available at http://www.hsl.unc.edu/Services/Tutorials/EBM/Supplements/QuestionSupplement.htm. Accessed 30/05/2007. 2007.  [3] Luke, T. C., Kilbane, E. M., Jackson, J. L., and Hoffman, S. L. Meta-analysis: convalescent blood products for Spanish influenza pneumonia: a future H5N1 treatment? Ann Intern Med 2006; 145:599-609.  [4] Simmons, C. P., Bernasconi, N. L., Suguitan, A. L., Mills, K., Ward, J. M., Chau, N. V., Hien, T. T., Sallusto, F., Ha do, Q., Farrar, J., de Jong, M. D., Lanzavecchia, A., and Subbarao, K. Prophylactic and therapeutic efficacy of human monoclonal antibodies against H5N1 influenza. PLoS Med 2007; 4:e178.  [5] Simonsen, L., Clarke, M. J., Williamson, G. D., Stroup, D. F., Arden, N. H., and Schonberger, L. B. The impact of influenza epidemics on mortality: introducing a severity index. Am J Public Health 1997; 87:1944-50.  [6] Webby, R. J., and Webster, R. G. Are we ready for pandemic influenza? Science 2003; 302:1519-22.  [7] WHO Avian influenza (” bird flu”) – Fact sheet. Available at: http://www.who.int/mediacentre/factsheets/avian_influenza/en/print.html. 2006.  [8] WHO Cumulative Number of Confirmed Human Cases of Avian Influenza A/(H5N1) Reported to WHO. Available at: http://www.who.int/csr/disease/avian_influenza/country/cases_table_2007_06_06/en/print.html. 2007.  Để sử dụng kháng nguyên (vaccine) hay kháng thể cho người để phòng chống lại bệnh tật có hiệu quả, cần phải dựa trên một số tiền đề:  – Cấu trúc di truyền kháng nguyên của mầm bệnh phải tương đối ổn định theo thời gian.  – Mầm bệnh đó phải có đủ điều kiện để tạo ra chuỗi phản ứng kháng nguyên-kháng thể, có nghĩa là cho cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên này, thì cơ thể phải tạo được kháng thể.  – Đối với kháng thể, thì kháng thể đó phải có hoạt tính trong môi trường cơ thể sống (in vivo) và có khả năng trung hòa được mầm bệnh hữu hiệu mà không gây hại cho cơ thể người sử dụng.  – Hoạt động của kháng thể chỉ hữu hiệu một khi mầm bệnh còn lưu hành trong máu, trước khi xâm nhập hay định cư vào tế bào của cơ thể người bệnh.  Vi-rút cúm A -H5N1?  Cho đến hiện nay, những chủng loại vi-rút H5N1 là đặc hiệu gây bệnh cho người, chúng ta chưa biết được. Chỉ biết rằng có sự vượt rào cản chủng loại, lây trực tiếp từ vật sang người tiếp xúc, nhưng theo cơ chế nào cũng không rõ (vì không phải nhiều người mắc phải trong khi hàng triệu triệu con gia cầm bị bệnh dịch và cũng không ít người tiếp xúc). Đối với những người mắc bệnh trong mấy năm qua, thì phân lập vi-rút H5N1 ở các bệnh nhân này cũng không thuần nhất về mặt cấu trúc, mặc dù vẫn xếp chúng và nhóm H5N1.   Một điều chắc chắn mà chúng ta có thể biết được là vi rút A-H5N1 là vi-rút được xếp và vi-rút cúm nhóm A, một loại vi-rút gây bệnh nặng ở người và thường bắt nguồn từ động vật. Một đặc điểm nổi bật của vi-rút cúm A là không ổn định về mặt cấu trúc kháng nguyên bề mặt, dễ thay đổi, đột biến, tích hợp, chuyển dạng. Vì lẽ đó mà chúng ta chưa bao giờ có thể đối trị được với loại vi-rút cúm này cả. Năm nào cũng phải tiêm vaccine, nhưng hàng năm trên toàn cầu vẫn có hàng triệu triệu người bị nhiễm cúm từ nhẹ đến nặng, và hàng năm vẫn có đến 1/4 triệu người chết vì cúm hay hậu quả của cúm thông thường chứ chẳng cần gì đến A-H5N1.   Đến thời điểm này, một điều may mắn là vi-rút A-H5N1 vẫn chỉ mới lưu hành rộng rãi trong loài lông vũ, gây bệnh thành dịch ở gia cầm, và chỉ tản mác lây trực tiêp sang người và dừng ở đó. Chưa có một bằng chứng nào cho thấy A(H5N1) có thể lây lan trực tiếp giữa người với người, và nếu có thì một trong những điều kiện đủ là vi-rút này phải có một sự đột biết mới, vượt rào cản chủng loại theo cách thức chuyển dạng kháng nguyên (shift antigen) thì mới có khả năng lây lan giữa người với người, hay nói cách khác đi là vi-rút A-H5N1 đó có khả năng không phải là A(H5N1) mà chúng ta đã và đang phân lập được hiện nay ở người bệnh.  Nguyễn Đình Nguyên      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm nhiều thuốc mới chống sốt rét      Một loại nấm bản địa tại Đông Phi có thể được sử dụng làm công cụ mới chống lại căn bệnh sốt rét, đó là kết quả một nghiên cứu mới đây của nhóm khoa học quốc tế Hà Lan, Tanzania và Anh.    Nghiên cứu này chỉ ra rằng loại nấm bản địa ở Đông Phi vừa ngăn chặn muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét sang người, vừa có thể lây nhiễm sang muỗi khiến chúng chết sớm hơn.  Bên cạnh đó, một tổ chức sản xuất thuốc phi lợi nhuận cho biết họ đã phát triển được hai loại thuốc hiệu quả chống sốt rét với giá rẻ. Các loại thuốc này được sản xuất dựa trên các lá thuốc đông y của Trung Quốc.  Những loại thuốc mới này sẽ giúp điều trị tích cực cho các bệnh nhân sốt rét trong điều kiện các loại thuốc thông thường đã bị nhờn và các loại thuốc mới phát triển có giá rất đắt đỏ.     P.V    Nguồn tin: BBC và VOA News    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thêm những góc khuất của lịch sử được soi sáng      Năm nay, chúng ta kỉ niệm đúng một thế kỉ, trường Đông kinh Nghĩa thục, một trong những hình mẫu tiêu biểu cho sự dấn thân của giới trí thức yêu nước trong những tình thế khó khăn của lịch sử.  Vị trí quan trọng của Đông Kinh nghĩa thục trong lịch sử Việt Nam là không còn cần phải bàn cãi. Dẫu vậy, nhận diện ra cả một phong trào xã hội rộng lớn mà trong đó Đông kinh nghĩa thục là một trong những chủ lưu đồng thời đánh giá lại di sản lịch sử của phong trào này, rút ra những bài học lịch sử từ nó vẫn còn là việc cần phải làm.    Năm 1908 đánh dấu một mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Đó là năm diễn ra cao trào biểu tình chống thuế của nông dân Trung bộ Việt Nam đòi giảm tô thuế và vụ án đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội. Những sự kiện này khiến cho người Pháp phát động một làn sóng đàn áp với nhiều nạn nhân là những thành phần tinh hoa của giới trí thức khoa bảng và Khổng giáo, những người đã lãnh đạo các phong trào phản kháng hồi đầu thế kỉ và được gọi là những Nhà nho chí sĩ (trong thế phân biệt với những sĩ phu văn thân hồi cuối thế kỉ XIX). Nhà ngục Côn Đảo chật ních những ông Nghè, ông Phó bảng, những nhà Nho đồng môn và đồng chí. Những sự kiện năm 1908 là hệ quả trực tiếp của một phong trào đấu tranh diễn ra trong những năm 1905-1908 do các nhà Nho chí sĩ lãnh đạo mà một trong những khuynh hướng chủ đạo của phong trào này là dùng các biện pháp vũ lực để dành độc lập mà một trong những lãnh tụ của khuynh hướng này là Phan Bội Châu. Tuy vậy, cũng không thể quên được là trong làn sóng yêu nước ấy, cũng còn một khuynh hướng khác đó chính là khuynh hướng hiện đại hóa mà hình ảnh đại diện là trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập cách đây đúng 100 năm ở Hà Nội và bản luận văn của Phan Châu Trinh gửi toàn quyền Đông Dương năm 1906. Như vậy, rõ ràng phong trào đấu tranh yêu nước những năm 1905-1908 là một phong trào với hai bộ mặt: hiện đại hóa và đấu tranh đòi độc lập.  Dẫu hai bộ mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng từ trước đến nay, vấn đề hiện đại hóa vẫn còn chưa được giới sử gia đặt ra đúng mức. Và đó chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc hội thảo thảo mang tên Việt Nam, một khoảnh khắc hiện đại hóa. Phản ứng của một xã hội trước một tiến trình hiện đại hóa ngoại lai (1905-1908) được tổ chức tại Cộng hòa Pháp do Đại học Provence, Trung tâm lưu trữ hải ngoại, Viện nghiên cứu Đông Nam Á (thuộc Đại học Provence và Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp) đồng tổ chức với sự tài trợ của nhiều tổ chức có uy tín về học thuật và ngoại giao như Cơ quan đại học Pháp ngữ, Bộ ngoại giao Pháp, Trường Viễn Đông bác cổ Pháp, Sứ quán Pháp tại Việt Nam và chính quyền vùng Provence. Cuộc hội Cuộc hội thảo đã có sự góp mặt của đông đảo các nhà nghiên cứu Việt Nam học có uy tín ở châu Âu và ở Việt Nam: Charles Fourniau, Daniel Hemery, Pierre Brocheux, Trịnh Văn Thảo, Nguyễn Thế Anh, John Kleinen, Nguyễn Văn Khánh, Chương Thâu, Phan Thị Minh, Nguyễn Văn Hoàn, Bùi Trần Phượng, Emmanuel Poisson, Giles de Gantes, Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Phương Ngọc, Emanuelle Affidi1…  1. Duy tân không phải là một chủ đề mới. Trước đây, ở miền Nam đã có những công trình nghiên cứu về phong trào này như Đông kinh Nghĩa thục của Nguyễn Hiến Lê hay Phong trào Duy tân của Nguyễn Văn Xuân. Ở miền Bắc, chủ đề này cũng đã được đề cập đến trong nhiều công trình có tính thông sử, trong tuyển tập Văn thơ yêu nước đầu thế kỉ XX của Đặng Thai Mai hay các bài viết trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Tuy vậy, những công trình này chủ yếu chỉ tập trung vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của người Việt Nam chống Pháp với gương mặt tiêu biểu là Phan Bội Châu. Sau 1990, tình hình đã có sự thay đổi với hai công trình quan trọng: Văn thơ Đông kinh Nghĩa thục và Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Tất nhiên, cũng cần phải kể đến những công trình như Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại của ông của Georges Boudarel, Giới tinh hoa Việt Nam đối diện với Liên bang Đông Dương của Nguyễn Thế Anh hay Việt Nam, từ Khổng giáo đến Chủ nghĩa Mác của Trịnh Văn Thảo. Qua những công trình này, có thể thấy những cội nguồn của phong trào Duy tân hồi đầu thế kỉ đã được làm rõ, đặc biệt là trong các tác động của Trung Hoa và Nhật Bản. Trong hội thảo lần này, việc phân tích những ảnh hưởng của hai nước Đông Á này với Việt Nam vẫn được tiếp tục và đào sâu, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa phong trào Tân Khổng giáo ở Trung Quốc và những nhà Nho duy tân ở Việt Nam (Van My Huong, học viện INALCO).  2. Hình dung cơ bản từ trước đến nay của chúng ta về phong trào Duy tân vẫn là một phong trào của các nhà Nho chí sĩ li khai với quan trường với những gương mặt tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… Hình ảnh tiêu biểu cho các hoạt động của họ là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và trường Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc kỳ. Sự xuất sắc và vai trò nòng cốt của những nhân vật nói trên là không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, qua hội thảo, những “gương mặt” mới làm nên phong trào Duy tân cũng đã từng bước được “đưa ra ánh sáng”. Một trong những chủ đề đáng lưu tâm là sự bổ sung những hiểu biết về phong trào Duy tân ở miền Nam Việt Nam với cái tên là Phong trào Minh Tân. Bản báo cáo của Pierre Brocheux viết về Gilbert Trần Chánh Chiếu, một trong những gương mặt nổi bật của phong trào Minh Tân ở miền Nam và Phan Văn Trường, một nhân vật rất gần gũi với Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc. Qua hai nhân vật này, ông cho thấy sức sống mạnh mẽ của phong trào Duy tân ở vùng đất Nam Kỳ, kể cả sau giai đoạn 1945. Qua các báo cáo của Michel Dolinski và Trần Thị Liên người ta cũng biết rằng Hoa kiều và những người Thiên chúa giáo tiến bộ cũng có một vai trò tích cực trong việc môi giới truyền bá các tư tưởng tiến bộ đến với giới tinh hoa ở Việt Nam lúc bấy giờ. Một điểm đặc sắc nữa của Hội thảo là các học giả đã có một tinh thần khách quan và sòng phẳng để phân tích lại vai trò và sự góp sức của không ít nhân vật cộng tác với Pháp. Duy tân cũng là động lực giúp những người này từng bước tách dần ra khỏi bộ máy hành chính Pháp và trở thành một trí thức độc lập. Tất nhiên, trò chơi nguy hiểm với quyền lực đã khiến những người này phải trả giá đắt nhưng rõ ràng khuynh hướng này là có thật. Điển hình cho khuynh hướng này là trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh (phân tích trong báo cáo của Phạm Xuân Thạch). Trong phong trào Duy tân, giói quan lại là đối tượg bị chỉ trích mạnh mẽ, thế nhưng, không phải những người này không có những sáng kiến tích cực đóng góp vào quá trình đổi mới văn hóa và xã hội Việt Nam. Các bài viết của Đinh Xuân Lâm và Emmanuel Poisson đã phân tích vấn đề này. Trong bài viết của mình, Đinh Xuân Lâm đã phân tích trường hợp của Đoàn Triển, người từng giữ chức Tuần phủ Ninh Bình, để thấy được những nỗ lực của giới quan lại trong việc tìm một con đường “thể hiện tinh thần dân tộc bằng văn hóa”.  3. Phong trào Duy tân chỉ lóe lên trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, thế nhưng, nó đã để lại một di sản hết sức to lớn trong lịch sử Việt Nam. Tinh thần đổi mới, cách mạng văn hóa của Duy tân đã truyền cảm hứng cho những phong trào cải cách tôn giáo hồi đầu thế kỉ mà điển hình là phong trào Chấn hưng Phật giáo (nghiên cứu của Đỗ Quang Hưng). Duy Tân đã khởi đầu cho phong trào nữ quyền ở Việt Nam với sự thay đổi sâu sắc thân phận xã hội của người phụ nữ (bài của Bùi Trân Phượng). Nó đã góp phần làm nên sự hình thành của giới trí thức với một trong những đặc điểm quan trọng là tính độc lập với hệ thống hành chính. Duy tân là bước trung gian từ Khổng giáo đến Chủ nghĩa Mác ở Việt Nam mà điển hình là mối quan hệ giữa các nhà Nho tham gia Duy tân và những nhà cách mạng Mác xít thể hiện qua trường hợp của Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc (bài của Phan Thị Minh). Cảm hứng tự phê phán và hướng tới thế giới hiện đại cũng đựơc thể hiện qua báo chí và văn chương sau năm 1908. Một trong những ví dụ sinh động là tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (được phân tích trong nghiên cứu của Emmanuelle Affidi).  Như vậy, qua hội thảo, có thể nói, tập hồ sơ về Duy tân vẫn chưa thể đóng lại. Còn nhiều mảng khuất của lịch sử còn tiếp tục được soi sáng và qua Duy tân, một khoảnh khắc trong quá trình hiện đại hóa, nhiều vấn đề của xã hội đương đại vẫn còn có thể được gợi ý2.  ————–  1 Vì một số lí do nhất định, một số học giả đã không thể tham gia trực tiếp Hội thảo.  2 Để có thêm thông tin về hội thảo, xin liên hệ với bà Nguyễn Phương Ngọc, một thành viên trong ban tổ chức, theo địa chỉ thư điện tử : nguyenpngoc@yahoo.fr. Trong năm tới, các bài viết tham gia hội thảo sẽ được in trong một kỉ yếu xuất bản tại Pháp.    P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Theo dấu mê cung từ trang trại gia cầm đến chợ      Các nhà khoa học tại Việt Nam đang từng bước hé mở con đường lây lan của vi khuẩn từ gà sang người – một con đường quá đỗi phức tạp với những mạng lưới chằng chịt.      Trong 10 tháng đầu năm 2022, cả nước đã ghi nhận 34 ổ dịch cúm gia cầm tại 19 tỉnh, thành phố. Ảnh: Báo Chính phủ  Trong một khu chợ ở Hải Dương, giữa những sọt rau quả, lồng vịt, giữa những tiếng hỏi han, mặc cả, các nhà khoa học tại Viện Thú y Quốc gia (NIVR) đang tiến hành lấy mẫu của những con gà công nghiệp trắng và gà lông màu. Họ sẽ làm gì với những mẫu này? Thực chất đây là một phần trong hành trình gian nan của các nhà khoa học – không chỉ tại Việt Nam mà là cả một mạng lưới nghiên cứu giữa nhiều nước – có thể cùng nhau tìm về con đường dịch chuyển của vi khuẩn, từ đó phần nào giải đáp một vấn đề lớn đã tồn tại từ lâu: các nguy cơ sức khỏe nảy sinh từ quá trình chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gia cầm.  Sự tồn tại của virus, vi khuẩn trong gia cầm  Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về protein động vật như thịt và trứng, số lượng gia cầm ở Việt Nam hiện đã lên đến hơn 500 triệu con, và dự kiến sẽ tăng mỗi năm khoảng 4% cho đến 2030. Trong khi đó, khoảng 70% số gia cầm thuộc về các hộ nuôi nhỏ lẻ với tình trạng sử dụng con giống không rõ nguồn gốc và thiếu thực hành các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. Nghịch lý này đặt ra những rủi ro thường trực về lan truyền bệnh từ gia cầm sang người và sự tích lũy kháng kháng sinh.  Điều này lại càng trở nên bứt thiết hơn khi sau tám năm không ghi nhận ca dương tính cúm gia cầm nào ở người, vào tháng 10/2022, báo cáo của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm đã phát hiện một bé gái 5 tuổi có kết quả xét nghiệm dương tính với cúm A(H5). Nguy cơ bùng phát đại dịch từ những virus có khả năng lan truyền từ động vật sang người lúc nào cũng chờ chực. Vì vậy, khoa học cần phải đi trước một bước để sẵn sàng ứng phó dịch bệnh.  Từ năm 2019, Dự án Gia cầm Một Sức khỏe do Đại học Thú y Hoàng gia (Vương quốc Anh) chủ trì với sự đồng hành của Viện Thú y, Viện Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Cục Thú y – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Pháp (CIRAD) đã bắt đầu hóa giải một phần nỗi lo trên. Với tư duy “Một sức khỏe” – một cách tiếp cận xuyên ngành để đạt được sức khỏe tối ưu cho con người, động vật và môi trường xung quanh – dự án rà soát tổng thể những rủi ro sức khỏe trong chuỗi sản xuất gia cầm và nguyên nhân của chúng.  “Chúng tôi tập trung vào ba khía cạnh chính: nguy cơ về cúm gia cầm, nguy cơ về kháng kháng sinh và nguy cơ về các mầm bệnh có thể gây ngộ độc thực phẩm” – chị Phạm Thanh Hoa, điều phối viên dự án tại Việt Nam chia sẻ. “Nếu muốn xác định đâu là mắt xích có nguy cơ cao trong chuỗi sản xuất, phân phối gia cầm, chúng tôi phải truy dấu đường dịch chuyển của gia cầm – từ chợ, lò mổ, lần về nơi cung cấp gà”. Đây là bước đầu tiên và là cơ sở để nhóm tìm ra những khâu tạo điều kiện để virus, vi khuẩn nảy sinh và sinh sôi trên gà.  Chị tiết lộ công việc này đã giúp mình nhận ra mạng lưới phân phối gà sống – chưa nói đến gà đã qua chế biến – phức tạp đến nhường nào. Đó là một mạng lưới chằng chịt đầy sôi động, từ lò mổ đến người buôn bán lẻ, biết bao thương lái nhỏ, thương lái lớn, mới có thể tìm về đến trang trại.  Sau ba năm (từ năm 2019), Viện Chăn nuôi (NIAS) và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) đã lập thành công bản đồ, cấu trúc mạng lưới chằng chịt – từ lò mổ đến người buôn bán lẻ – tại Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Dương. Dựa trên bản đồ này, Viện Thú y đã lấy mẫu sinh học của khoảng 1700 gà thịt và môi trường từ 103 điểm lấy mẫu (trang trại, chợ và cơ sở giết mổ); sau đó phối hợp với các phòng lab quốc tế tiến hành xét nghiệm về vi sinh vật gây ngộ độc thực phẩm (như vi khuẩn Campylobacter coli, Campylobacter jejuni, Salmonella), virus cúm gia cầm, dư lượng kháng sinh và kháng kháng sinh.    Các nhà nghiên cứu từ Viện Thú y Quốc gia (NIVR) đã thu thập các mẫu sinh học của gà tại chợ gia cầm sống, cơ sở giết mổ và trang trại gà. Trong hình, một nhà nghiên cứu đang lấy mẫu tại một điểm giết mổ gần chợ gia cầm sống ở Hà Nội. Ảnh: Hoàng Thị Thủy, NIVR  Từ đây, nhóm nghiên cứu đã xác định được virus cúm gia cầm độc lực thấp H9N2 với tỷ lệ 1:25 con gà tại các trang trại gia cầm. Mức độ H9N2 tăng lên ở những con gia cầm được lấy mẫu ở chợ và cơ sở giết mổ. Mặc dù các chủng cúm H9N2 đang lưu hành ở Việt Nam trong những năm gần đây vẫn là dạng có độc lực thấp nhưng nhiều nông dân cho biết chủng cúm này tồn tại song song với những chủng cúm gia cầm độc lực cao như A/H5N1 và gây ra các thiệt hại đáng kể.  Bên cạnh đó, nhóm cũng xác định được ba loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm, gồm Campylobacter coli (xuất hiện với tỷ lệ 1:3 con gia cầm được lấy mẫu tại các trang trại và cơ sở giết mổ, 1:6 con gia cầm được lấy mẫu tại các chợ), Campylobacter jejuni (1:8 con gia cầm tại các cơ sở giết mổ, 1:6 con gia cầm ở chợ và 1:5 tại các trang trại), Salmonella không thương hàn (xuất hiện tại 1:5 trong các mẫu môi trường được lấy tại trang trại và 1:2 tại các chợ và cơ sở giết mổ). Các dữ liệu sâu hơn như di truyền phân tử của mầm bệnh, phân tích gene đột biến hay tiến hóa của mầm bệnh, di truyền phân tử của các vi sinh vật có chứa gene kháng kháng sinh, giải trình tự gene, phân tích cây phả hệ của virus cúm gia cầm phân lập ở chợ và trại nuôi gia cầm sẽ được tiến hành trong năm tới.  Lây truyền từ gà sang người  “Vẫn còn rất nhiều việc phải làm”, chị Phạm Thanh Hoa trả lời ngắn gọn khi được hỏi về dự định sắp tới của các nhà khoa học. Mặc dù dự án hiện đã có được những kết quả rõ ràng, nhưng với chị đó mới chỉ là một cánh cửa để nhóm nghiên cứu có thể hiểu rõ về các nguy cơ sức khỏe nảy sinh từ quá trình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gia cầm.  Bước tiếp theo, lại lần theo mạng lưới này, nhóm nghiên cứu cần lý giải quá trình lây truyền và động lực tiến hóa của các vi sinh vật từ gà sang người. Trong năm 2022, Viện Thú y và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã phối hợp thu thập mẫu trên gà và mẫu của những người thường xuyên tiếp xúc với gia cầm trong môi trường trang trại để đánh giá xem các chủng mầm bệnh được phân lập từ người có giống về mặt di truyền/kiểu hình với các chủng lưu hành trong quần thể gà hay không. Khi đã xác định được mối liên hệ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam sẽ triển khai các nghiên cứu xã hội học và nhân chủng học để xác định các hành vi, tập quán và môi trường làm tăng nguy cơ mắc bệnh lây truyền từ động vật sang người, từ đó sẽ đề xuất giải pháp tại các trang trại nhằm nâng cao tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và chất lượng gà thịt, hạn chế ô nhiễm môi trường, tránh lây lan dịch bệnh.  Tùy thuộc vào phân tích các sản phẩm từ nghiên cứu thực địa, các biện pháp can thiệp tiên tiến trong quản lí chăn nuôi và sức khỏe đàn gia cầm có thể được thử nghiệm và đánh giá bởi Cục Thú y trong năm tới để hạn chế các nguy cơ sức khỏe cho người và gia cầm.  Bên cạnh những nghiên cứu hàn lâm, dự án còn có riêng một hợp phần để hỗ trợ trực tiếp cho cộng đồng một cách linh hoạt, tùy theo nhu cầu cụ thể được phát hiện trong quá trình triển khai dự án. Dự án đã tổ chức những buổi tập huấn cho người chăn nuôi và cán bộ thú y địa phương về các biện pháp an toàn sinh học và sử dụng kháng sinh hợp lý trong chăn nuôi. Vì tính chất phức tạp của chuỗi sản xuất, dự án cũng chú trọng việc tổ chức các buổi tọa đàm để chia sẻ và thảo luận kết quả nghiên cứu với các bên liên quan như cán bộ quản lý địa phương, các doanh nghiệp, các đại học, viện nghiên cứu quốc tế khác để có thể đưa ra những khuyến nghị chính sách khả thi.  Để làm được tất cả những điều trên, có thể nhận thấy sự phối hợp đồng đều giữa rất nhiều tổ chức, cá nhân trong dự án này, như Viện Thú y, Viện Chăn nuôi, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Học viện Nông nghiệp Việt Nam – và đó cũng là một trong những đặc điểm cốt lõi của phương pháp “Một sức khỏe”. Phương pháp tiếp cận này đòi hỏi sự hợp tác liên ngành, đa ngành, với nhiều cấp độ từ địa phương, khu vực, quốc gia và toàn cầu. Đó là lý do dù “Một sức khỏe” là xu hướng chung đã xuất hiện nhiều tại các diễn đàn học thuật, nhưng nó vẫn chưa được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam.  Song đó mới chỉ là một phần của câu chuyện, dự án hoá ra không chỉ gói gọn tại Việt Nam. Là một trong 12 dự án trọng điểm của Quỹ Nghiên cứu Thách thức toàn cầu, dự án Gia cầm Một sức khỏe còn được thực hiện tại ba điểm nóng khác về các dịch bệnh mới nổi là Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka. Để dự án thành công, phải kể đến vai trò của Đại học Thú y Hoàng gia – cơ sở đào tạo và nghiên cứu lâu đời về thú y tại Vương quốc Anh – tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt và thiết kế toàn bộ nghiên cứu.  Điểm chung giữa các điểm nóng này đó là đều là những quốc gia nhiệt đới đang chịu cảnh ô nhiễm môi trường, mất mát đa dạng sinh học và tình trạng quản lý, kiểm soát gia cầm, vật nuôi vẫn còn nhiều hạn chế. Nguy cơ bùng phát đại dịch từ những virus có khả năng lan truyền từ động vật sang người lúc nào cũng chờ chực. Từ đây, những phát hiện của các nhà khoa học tại Việt Nam sẽ là các mảnh ghép hoàn thiện nên bức tranh kiến thức về nguy cơ về cúm gia cầm, nguy cơ về kháng kháng sinh và nguy cơ về các mầm bệnh có thể gây ngộ độc thực phẩm – chứ không dừng lại là những kiến thức phân mảnh, rời rạc.  Dự án sẽ tiếp tục được thực hiện đến năm 2024, với kì vọng đưa ra những bằng chứng và khuyến nghị rõ ràng để thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm, tăng thu nhập cho nông dân nhưng không tăng những rủi ro bệnh tật cho mọi người.  Theo Khoa học và Phát triển (https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/theo-dau-me-cung-tu-trang-trai-gia-cam-den-cho/20230223104425231p1c160.htm)    Author                Anh Thư        
__label__tiasang Theo dõi Gấu Trúc bằng vệ tinh      Các nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ đang sử dụng Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) từ vệ tinh để theo dõi các tập tính sinh hoạt tình dục của những chú gấu trúc khổng lồ sống trên các dãy núi cao.      Chương trình theo dõi loài gấu trúc khổng lồ trị giá 660.000 đô la này kéo dài trong 3 năm và được Viện Động vật Trung Quốc và Tổ chức Nghiên cứu động vật San Diego của Mỹ phối hợp thực hiện.  “Các loài gấu trúc khổng lồ thường sống ở các khu vực núi cao rất khó tiếp cận và quan sát bằng các phương pháp nghiên cứu thông thường. Do vậy, các công nghệ hiện đại sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ các tập tính sinh học của loài gấu trúc này”, Wei Fuwen-nhà nghiên cứu chính của Viện Động vật Trung Quốc cho biết.   (Tân hoa xã và AFP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Theophrastus – người hùng thầm lặng của nền khoa học cổ đại      Theophrastus là người kế tục và là cộng sự thân thiết của Aristotle trong suốt 26 năm, nhưng dường như những dấu ấn mà Theophrastus để lại trong nền khoa học và triết học cổ đại mờ nhạt hơn rất nhiều so với Aristotle. Thực tế, khoa học hiện đại đã chưa đánh giá đúng về những đóng góp của ông.      Theophrastus – cha đẻ của ngành sinh vật học cổ đại  Aristotle (Aristoteles (cổ hy lạp: Ἀριστοτέλης Aristotélēs, tiếng latinh và tiếng Đức: Aristóteles) cùng với Plato và Socrates được coi là ba trụ cột của văn minh Hy Lạp cổ đại. Các ông đã để lại cho nhân loại một di sản nghiên cứu đồ sộ trên nhiều lĩnh vực bao gồm: vật lý, siêu hình học, thi văn, kịch nghệ, âm nhạc, luân lý học, tu từ học, ngôn ngữ học, kinh tế học… Tuy nhiên ít ai biết đến, trong những thành tựu rực rỡ của các ông có sự đóng góp đáng kể của người đồng hành Theophrastus. Theophrastus là người kế tục và là cộng sự thân thiết của Aristotle trong suốt 26 năm, nhưng dường như những dấu ấn mà Theophrastus để lại trong nền khoa học và triết học cổ đại mờ nhạt hơn rất nhiều so với Aristotle. Thực tế, khoa học hiện đại đã chưa đánh giá đúng về những đóng góp của ông. Theophrastus đã có những cống hiến trên nhiều lĩnh vực khoa học cổ đại có thể sánh với thầy mình, thậm chí ở một số lĩnh vực ông còn có những dấu ấn nổi bật hơn Aristole.  Các học giả ngày nay đã cố gắng nghiên cứu, ráp nối và diễn giải lại một cách có hệ thống một số các công trình của Theophrastus và trên cơ sở những dữ liệu lịch sử còn gìn giữ được đến nay, từ đó họ đưa ra một số lý do cho sự mờ nhạt của Theophrastus trước cái bóng vĩ đại của Aristotle. Thực ra, những công trình hai người cùng thực hiện có thể đã bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ thầy trò. Theophrastus chưa bao giờ gọi Aristole bằng tên riêng kể cả khi giữa họ có những bất đồng. Đồng thời các ghi chép của Theophrastus đã nhiều lần được sử dụng trong những nghiên cứu cá nhân của Aristotle. Những công trình đề tên hai người thì các nghiên cứu của ông chỉ đóng vai trò bổ trợ cho Aristotle, điều này không chỉ thể hiện sự tôn trọng mà còn cho thấy ông đã nhún nhường, tôn kính và dành cho Aristotle vị trí cao hơn trong toàn bộ công việc nghiên cứu. Tuy nhiên, chính điều đó đã tạo ấn tượng rằng vai trò của ông chỉ dừng lại là người giúp phát triển những triết học của Aristotle và không thoát ra ngoài những dấu ấn của thầy mình. Bên cạnh đó, những tài liệu còn lại quá ít ỏi và thiếu độ tin cậy cũng khiến cho chúng ta không thể đánh giá chính xác những thành tựu khoa học của Theophrastus. Nếu như Aristotle viết khoảng 400 đến 1000 cuốn sách và đến nay vẫn lưu giữ được với số lượng khá lớn đủ để làm một tủ sách thì chúng ta chỉ còn lại một vài cuốn của Theophrastus cùng một vài đoạn còn sót lại trong cuốn Vật lý học và Siêu hình học.  Những nghiên cứu gần đây của các học giả đã chứng minh được những cống hiến của Theophrastus thể hiện mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, đáng lưu ý là những hoạt động mang lại nền móng đầu tiên trong ngành sinh vật học của ông đã khiến nền khoa học hiện đại thừa nhận ông là ‘cha đẻ của ngành sinh thái học thực vật’. Ông là một trong số những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại có những phác họa chi tiết về giống và loài. Đặc biệt, trong khi Aristotle tin rằng các loài động vật và thực vật được tạo ra “đơn thuần để phục vụ nhu cầu của con người.”, chúng chỉ để làm thực phẩm, vật liệu xây dựng hoặc đồ dùng cho đời sống con người thì Theophrastus có những suy nghĩ tiến bộ hơn so với thầy của mình theo quan điểm của khoa học hiện đại. Ông nhấn mạnh rằng thực vật có mục đích tồn tại riêng và chúng tồn tại không chỉ để phục vụ và nuôi sống con người.  Lĩnh vực sinh vật học ra đời tại Hy Lạp năm 345 trước Công Nguyên bằng những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên của Theophastus và Aristotle. Vào thời kỳ đó, dù Plato đã mất nhưng triết học duy tâm của ông vẫn thống trị Hy Lạp trong một thời gian dài, chủ nghĩa lý tưởng của ông khẳng định vai trò tuyệt đối của thế giới ý niệm. Ông cho rằng các sự vật, thiên nhiên xung quanh ta là không chân thực, liên tục sinh ra và mất đi, không bền vững và ổn định, thế giới ý niệm có trước và quyết định thế giới cảm biết.Vì vậy thời đó không ai quan tâm đến thế giới tự nhiên, tự nhiên được xếp vào vị trí thứ yếu so với thế giới ý niệm của con người và những vị thần. Không đồng tình với chủ nghĩa của Plato, cả Aristole và Theophrastus đều tin rằng việc nghiên cứu tự nhiên cũng quan trọng như nghiên cứu siêu hình học, chính trị, hay toán học. “Không có gì là quá nhỏ hay không đáng kể. Có gì đó thật đáng ngạc nhiên trong mọi sự sống.” Aristole nói, “trong mỗi sinh vật đều có những nét thật tự nhiên và xinh đẹp.” Theophrastus và Aristotle đã tiến hành một công việc được coi là khác thường vào thời bấy giờ làm thay đổi cách chúng ta nhìn nhận thế giới tự nhiên. Họ trực tiếp tiến hành khảo sát những sinh vật sống trên đảo Lesbos thuộc Hy Lạp để thiết lập những tri thức nền tảng về trật tự của thế giới tự nhiên.  Rừng Lesbos rất đa dạng và phong phú với hơn 1400 loài và nằm tiếp giáp với khu vực Tiểu Á. Biển ăn sâu vào đất liền, còn gọi là đầm, phá xuyên qua đảo có nhiều loại sinh vật biển. Theophrastus quan sát tất cả và ghi lại một cách tỉ mỉ, cẩn thận. Từ quá trình nghiên cứu, ông đặt ra những câu hỏi mang tính hệ thống như: điểm tương tự là gì? Khác biệt nằm ở đâu? Cái gì nằm bên trong? Chúng được tạo ra như thế nào?  Theophrastus sử dụng những quan sát của bản thân và thu thập thêm thông tin từ những vùng khác. Ông cũng dựa trên những báo cáo ghi chép của Alexander Đại Đế, vị vua vĩ đại trở về từ cuộc chiến tại Ấn Độ để nghiên cứu về các giống cây nhiệt đới như: bông, hạt tiêu, quế, trầm hương, cây đa… Ông mô tả hơn 500 loài cây một cách chi tiết nhất và nghĩ cách để phân loại chúng. Nhưng phân loại theo cách nào? Chia ra theo cây trồng và thực vật hoang dã? Hay các loài cây dưới nước và trên cạn giống như Aristotle đã phân chia vương quốc của các loài động vật? “Các loài cây rất phong phú và đa dạng, nhưng thật khó để có thể miêu tả chúng một cách có hệ thống,” từ nhận định này ông đi đến kết luận: “phân loại chính là mấu chốt trong nghiên cứu.” Cuối cùng, ông phân chia thế giới thực vật theo 4 nhóm dựa theo sự phát triển của chúng gồm: nhóm cây thẳng, cây bụi, cây bụi thấp và cây thân thảo. Ông là người đầu tiên nghĩ đến việc phân loại các loài cây. Và cách phân loại dựa trên sự sinh trưởng của thực vật do ông đề xướng cũng là cách được các nhà sinh vật học hiện đại áp dụng.  Theophrastus cũng nhận ra mối quan hệ giữa thực vật và môi trường sống của chúng. Ông viết: “Môi trường sống là rất quan trọng, bởi vì thực vật bị ràng buộc với môi trường”. Chúng không thể “tự do rời khỏi địa điểm sinh sống giống như động vật.” Ông giải thích rằng một loài cây sẽ sinh trưởng tốt nhất khi phát triển trong “môi trường thuận lợi.” Theophrastus cũng nghiên cứu về đất, độ ẩm, nhiệt độ, gió và ánh sáng. Theophrastus quan tâm đến sự tương tác giữa các loài cây và nhận thấy cây ô liu, cây mía, và cây thông phát triển mạnh khi trồng cùng nhau nhưng cây hạnh nhân thì lại chậm lớn. Ông để ý rằng cây cối thường cao và thẳng  khi chúng đứng cạnh nhau. Ông ghi chép về hiện tượng chim giẻ cùi chôn hạt dẻ, giúp hạt nảy mầm và cây tầm gửi “sống phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng từ các loài cây khác.”  Những công trình của Theophrastus có một ý nghĩa lớn lao vào thời kỳ bấy giờ, ông đi tiên phong trong lĩnh vực sinh vật học dựa trên khoa học thực nghiệm, những kiến thức của ông đã hỗ trợ và mang lại những hiệu quả rõ rệt cho nông nghiệp và mùa màng bằng những cơ sở khoa học thay vì thói quen trông chờ vào những vị thần trên đỉnh Olympus của người Hy Lạp cổ đại. Theophrastus đã cố gắng gạt bỏ tấm màn mê tín dị đoan để hiểu về thế giới tự nhiên. Ông ra sức phản đối việc con người cầu xin hướng dẫn từ thần thánh và các vì tinh tú khi mùa màng thất bát: “Con người không nên nhận lệnh từ những vì sao mà nên tìm hiểu từ những loài cây, cành ghép và hạt giống” ông cũng bác bỏ những truyền thuyết được coi như là “chân lý tuyệt đối.”  Khi Theophrastus qua đời ở tuổi 85, bằng những đóng góp của mình, ông đã khiến người dân Athens vô cùng thương tiếc, họ đã cùng nhau tổ chức tang lễ để đưa tiễn ông. Suốt cuộc đời mình, Theophrastus tin rằng thiên nhiên và những khu vườn là vị thầy của con người. Khi mất đi, ông để lại khu vườn của mình cho bạn bè với hi vọng “họ sẽ sử dụng nó như một vùng đất thiêng liêng để nghiên cứu mở mang kiến thức và giữ gìn tinh thần học hỏi.”  Theophrastus – một trong những nhà tư tưởng của Hy Lạp cổ đại, sinh năm 372 trước Công Nguyên ở Eresos, một thị trấn nằm trên bờ biển phía tây nam của Lesbos. Thời trẻ, ông theo học tại học viện của Plato ở Athen, sau khi Plato mất, ông gắn bó và thân thiết với Aristotle – người thầy vĩ đại hơn ông 13 tuổi. Họ làm việc cùng nhau trong suốt nhiều năm cho đến khi Aristotle mất vào năm 322 trước Công nguyên. Sau đó, Theophrastus kế nhiệm Aristotle, điều hành trường học Lyceum ở Athen do Aristotle thành lập – ngôi trường sở hữu thư viện sách khổng lồ của thế giới. Theophrastus đã thành công trong việc thay thế người bạn, người thầy Aristotle để dẫn dắt Lyceum, ông đã dạy học trong hơn ba thập kỷ. Các tiết học của Theophrastus thường có đến 2000 học trò tham gia. Theo những ghi chép lịch sử, Theophrastus đã viết khoảng 300 cuốn sách và khảo luận về các lĩnh vực từ chính trị, đạo đức học và luật pháp cho đến động vật học, tình yêu, lịch sử và thiên văn học, nhưng hiện tại chỉ còn rất ít công trình nghiên cứu của ông còn lưu giữ được. Đến nay, còn hai cuốn Khảo sát về thực vật và Bàn về nguồn gốc của thực vật – đây là những cuốn sách về sinh vật học duy nhất còn nguyên vẹn của ông, hai cuốn sách này là khởi thủy của những kiến thức thực vật học dựa trên phương pháp thực nghiệm có hệ thống.  Phương Thảo tổng hợp.  Xuân Hoài hiệu đính.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm đầu tiên về phản lực hấp dẫn      Trong tiến trình giải thích các bí ẩn của vũ  trụ, mới đây lần đầu tiên các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu hạt  nhân châu Âu CERN đã dùng một phương pháp mới để tìm hiểu phải chăng  phản vật chất (antimatter) là nguồn gốc của một loại lực gọi là phản lực  hấp dẫn (antigravity).     Phản vật chất là “hình ảnh trong gương” của vật chất, chúng mang tính chất điện trái ngược nhau. Phản vật chất sẽ phản ứng ra sao với lực hấp dẫn? Đây là một bí ẩn chưa có lời giải, nhưng theo tờ Nature Communications thì khoa học đã tiến một bước lớn trên con đường tìm kiếm đáp án.  Phản vật chất là một trong những bí ẩn lớn nhất của vật lý học. Khi vũ trụ vừa mới hình thành, đã hình thành phản vật chất có số lượng bằng với vật chất. Khi vật chất và phản vật chất gặp nhau thì chúng sẽ tiêu diệt nhau và chuyển thành ánh sáng [tức năng lượng] – quá trình đó được gọi là hủy diệt (annihilation). Nhưng vì sao trong vũ trụ mà chúng ta nhìn thấy thì vật chất chiếm tuyệt đại đa số, còn phản vật chất lại chỉ chiếm phần rất nhỏ?   Để trả lời câu hỏi này, người ta đã nghiên cứu tìm kiếm sự khác biệt giữa vật chất với phản vật chất. Thí dụ lâu nay nhóm thí nghiệm LHCb của CERN kiên trì chứng minh các hạt đặc biệt (exotic particles – Hạt đặc biệt là loại hạt giả thiết trên lý luận, có một số tính chất đặc biệt; nổi tiếng nhất là hạt tachyon; về lý thuyết, nó được giả thiết là có vận tốc chuyển động nhanh hơn ánh sáng) thường suy biến (decay) thành vật chất nhiều hơn thành phản vật chất. Vừa qua nhóm LHCb đã báo cáo về sự khác biệt rất nhỏ tồn tại trong quá trình suy biến của các hạt meson Bs, nhưng điều đó còn chưa đủ để giải thích được các bí ẩn của vật chất.  Giải mã phản lực hấp dẫn  Một khác biệt rõ rệt nhất giữa vật chất và phản vật chất có thể là ở tương tác giữa chúng với lực hấp dẫn: [khi ấy] phản vật chất có thể bị vật chất đẩy xa chứ không phải là bị hút vào. Nhưng trước khi xuất hiện thí nghiệm ALPHA tại CERN thì chưa thể nào kiểm chứng được sự khác biệt đó.   ALPHA là viết tắt từ tiếng Anh Antihydrogen Laser Physics Apparatus, tức thiết bị vật lý laser phản nguyên tử hydrogen. Thiết bị này có công dụng chế tạo và bắt giữ các “nguyên tử” phản vật chất. Nguyên tử hydrogen gồm một proton và một electron; phản nguyên tử hydrogen (antihydrogen atom) gồm phản hạt của proton và electron – tức phản proton (antiproton) và phản electron (còn gọi positron, điện tử dương). Điểm quan trọng của thí nghiệm không chỉ là chế tạo phản vật chất mà còn ở chỗ trước khi vật chất và phản vật chất gặp nhau và hủy diệt nhau, phải tìm cách duy trì được phản vật chất trong một thời gian tương đối lâu để có thể tiến hành nghiên cứu. Đây chính là công việc nhóm ALPHA đã thực hiện trong năm 2010. Đến năm 2011, nhóm tuyên bố có thể bắt giữ được phản nguyên tử hydrogen lâu tới 1.000 giây.   Giờ đây, khi trở lại với các số liệu đã lấy được từ 434 phản nguyên tử hydrogen, nhóm thí nghiệm đã đặt ra vấn đề nghiên cứu phản lực hấp dẫn. Nhóm thí nghiệm đã thống kê phân tích hướng chuyển động của phản nguyên tử hydrogen – đi lên hay đi xuống, – và xác định mối quan hệ ràng buộc nhóm thứ nhất của nguyên tử phản vật chất chịu tác dụng của lực hấp dẫn. Phạm vi ràng buộc tốt nhất mà họ thu được là: so với nguyên tử vật chất, độ nhạy cảm của nguyên tử phản vật chất đối với lực hấp dẫn thì nhỏ hơn 100 lần, cường độ nhỏ hơn 65 lần. Thế nhưng phương hướng tác dụng của lực hấp dẫn đối với phản vật chất thì ngược lại: đó là phương hướng của phản lực hấp dẫn. Nói tóm lại, vẫn chưa giải quyết được vấn đề lực hấp dẫn của phản vật chất.   “Tuy rằng kết quả đó chưa có ý nghĩa lớn nhưng đây là lần đầu tiên con người đã nghiên cứu biểu hiện của phản vật chất dưới tác dụng của lực hấp dẫn,” GS Hangst, người phát ngôn của nhóm, nói.   Nhiệm vụ chủ yếu của thí nghiệm ALPHA là nghiên cứu cấp năng lượng (energy levels) của phản nguyên tử hydrogen và tìm ra sự khác biệt giữa chúng với nguyên tử hydrogen mà các nhà khoa học đã nắm rõ. GS Hangst cho biết, việc đo lường phản lực hấp dẫn chỉ là một “màn trình diễn phụ” trong thí nghiệm này.   Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo bbc.co.uk    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm lớn nhất thế giới về Neutrino      Vừa qua, các nhà khoa học Mỹ bắt đầu tiến  hành một thí nghiệm quy mô lớn chưa từng thấy trong lịch sử về hạt  Neutrino – một trong các hạt Hạ nguyên tử (subatomic) khó nắm bắt nhất  trong thiên nhiên – với hệ thống thiết bị NOvA (NuMI Off-Axis Neutrino  Appearance) gồm hai bộ thiết bị thăm dò (detector) khổng lồ đặt cách  nhau 800 km – khoảng cách xa nhất trong lịch sử các thí nghiệm cùng  loại.    Thí nghiệm này sử dụng chùm hạt Neutrino mạnh nhất thế giới được hình thành trong Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia Fermi (Fermi National Accelerator Laboratory, Fermilab). 208 nhà khoa học từ 38 cơ quan nghiên cứu ở Mỹ, Brazil, Czech, Hy Lạp, Ấn Độ, Nga và Anh tham gia nhóm hợp tác nghiên cứu NOvA.   Neutrino là một loại hạt cơ bản có vai trò cực kỳ quan trọng trong vật lý vi mô cũng như trong quá trình khởi đầu và quá trình diễn biến của vũ trụ vĩ mô. Nó cực kỳ nhỏ, hầu như không có khối lượng và có mặt ở khắp mọi chỗ. Mỗi giây có khoảng 65 tỷ Neutrino đi qua mỗi một xăngtimet vuông của Trái đất; hoặc mỗi giây có 100 nghìn tỷ Neutrino xuyên qua cơ thể chúng ta nhưng chúng không gây ra bất cứ tác dụng nào.  Neutrino được tạo ra trong vụ nổ Big Bang; chúng cũng có thể được hình thành ở bên trong Mặt trời và trong cơ thể chúng ta. Vì chúng chuyển động quá nhanh và khối lượng quá nhỏ, lại không tương tác với mọi dạng vật chất nên các nhà khoa học có nhiều khó khăn trong việc tóm bắt chúng.   Nhóm hạt Neutrino gồm ba hương vị (flavor): electron, muon và tau (tức ve, vμ, vτ) và chúng có thể chuyển hoán giữa các flavor đó; hiện nay còn chưa rõ tại sao lại có sự chuyển hoán này. Neutrino được giả định là một thành phần của vật chất tối (chiếm 22% vũ trụ) – một trong những bí ẩn lớn nhất của vũ trụ.  Thiết bị NOvA đặt trên tuyến chuyển động của chùm Neutrino phát ra từ Fermilab ở Batavia, Illinois. Thiết bị thăm dò đầu gần (near detector) nặng 300 tấn đặt dưới tầng ngầm Fermilab sẽ tiến hành quan trắc khi chùm hạt Neutrino đạt vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Thiết bị thăm dò đầu xa (far detector) nặng 14 nghìn tấn đặt tại một nơi hẻo lánh ở Ash River, Minnesota gần biên giới Mỹ-Canada sẽ tóm bắt các hạt Neutrino sau khi chúng vượt hành trình 800 km xuyên qua lòng đất với tốc độ của ánh sáng, nhờ đó các nhà khoa học có thể phân tích chúng đã biến đổi ra sao trên quãng đường chuyển động xa như vậy. Thiết bị này là kết cấu plastic lớn nhất thế giới hiện nay: dài 60 m, cao 15 m, rộng 15 m. Hai thiết bị phải đặt cách nhau xa như vậy là để Neutrino có đủ thời gian chuyển hoán từ flavor này sang flavor khác.  Hai thiết bị nói trên chứa đầy một thứ chất lỏng nhấp nháy (scintillating liquid), nó sẽ phát sáng khi một neutrino tương tác với chất lỏng này. Cáp quang chuyển ánh sáng đó tới máy tính, máy tính sẽ tạo ra các hình ảnh 3D của tương tác này, qua phân tích hình ảnh đó các nhà khoa học sẽ có những hiểu biết mới về Neutrino.   Trong sáu năm tới, máy gia tốc vào loại lớn nhất thế giới của Fermilab sẽ phóng các chùm hạt Neutrino với tần suất mỗi giây vài chục nghìn tỷ hạt về phía hai thiết bị nói trên. Do hạt Neutrino hầu như không tương tác với mọi loại vật chất nên dự kiến mỗi ngày thiết bị thăm dò đầu xa chỉ có thể tóm bắt được một vài hạt Neutrino.   “NOvA đại diện cho một thế hệ mới các thí nghiệm về Neutrino. Chúng tôi tự hào vì đã tiến tới cột mốc quan trọng này trên con đường tìm hiểu hơn nữa về các hạt cơ bản,” – Nigel Lockyer, Giám đốc Fermilab, nói.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp và dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm rửa không khí lớn nhất trong lịch sử      Thành phố Bắc Kinh đang oằn mình dưới cái nóng oi bức, trong màn sương mù xám, những tòa nhà chọc trời chỉ còn là những bóng đen mờ ảo.      Để có không khí trong lành trong giờ phút trước Thế Vận Hội, TQ đã cho ngưng hoạt động hàng chục nhà máy và cấm lái ôtô nghiêm ngặt, trục xuất phân nửa của 3,3 triệu ôtô Bắc Kinh ra khỏi đường phố. Mặc dù nhìn chung có xu hướng giảm, nhưng đến nay người ta có thể thấy một điều là, quyết định cuối cùng lại do thời tiết. Và việc này thì các nhà tổ chức gần như không kiểm soát được. Ngay khi họ đã đưa pháo vào vị trí để sẵn sàng tạo mưa. Các nhà khoa học hy vọng rằng chiến dịch sinh thái của TQ sẽ thành công. Vì sau đó có thể là các quốc gia khác sẽ suy nghĩ về những biện pháp tương tự.   Phan Ba (Theo Spiegel Online)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm tại máy gia tốc hạt Pháp chứng tỏ các đặc tính của siêu tân tinh      Cho đến hiện nay, người ta còn hiểu rất ít về hành xử của các hạt neutrino trong các siêu tân tinh. Khi lõi của một ngôi sao có khối lượng lớn ở giai đoạn cuối đời tự suy sụp dưới tác động của lực hấp dẫn, các điện tích trong những nguyên tử kết hợp các proton trong hạt nhân của chúng, qua đó tạo ra các proton cùng với các hạt neutrino.      Các hạt neutrino được tạo ra với số lượng lớn, sau đó chúng thoát khỏi ngôi sao neutron được hình thành với tốc độ thậm chí còn nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng. Nó nhiều đến mức 99% mức năng lượng phát xạ của một siêu tân tinh là từ quá trình hình thành của các neutrino! Đặc tính phát nổ của siêu tân tinh trong giai đoạn này là do chính các neutrino tạo ra.  Tuy vậy, khi lõi của ngôi sao suy sụp, các neutrino có thể bị các neutron tự do hoặc neutron trong những kết hợp (hạt nhân nhẹ) – một quá trình có khả năng ảnh hưởng đến quá trình tiến hóa của siêu tân tinh. Các nhà vật lý hạt nhân muốn nhìn sâu hơn vào vật thể này bằng việc nghiên cứu về sự tập trung của các neutron ở vật chất hạt nhân bị kích thích, sử dụng các va chạm ion nặng ở Grand Accélérateur National d’Ions Lourds (GANIL) tại Caen.  Các hạt nhân nhẹ (deuteron, triton, đồng vị helium-3…) đều được tạo ra với sự kết hợp của các proton và neutron trong suốt quá trình va chạm giữa các nguyên tử phóng ra và nguyên tử đích. Mục tiêu của các nhà nghiên cứu là tập hợp các đặc tính nhiệt động lực học kiểm soát sự kết hợp của các neutron và proton trong vật chất hạt nhân với độ đậm đặc tương tự các siêu tân tinh tự suy sụp trong lõi.  Để làm điều này, họ sử dụng phân tích Bayes để tính toán các xác suất của những giả thiết về nguyên nhân – sự kiểm soát “có thể quan sát được” nhiệt động học sự hình thành của những kết hợp – trên cơ sở quan sát những hiện tượng đã biết (sự hình thành của các nguyên tố nhẹ).  Việc sử dụng máy dò Nhận diện hạt nhân và độ phân giải cao INDRA tại GANIL, các nhà nghiên cứu đã xác định được các hằng số cân bằng hóa học của những kết hợp neutron và proton như một chức năng của sự đậm đặc vật chất hạt nhân, sử dụng các đo lường trên sáu hạt nhân nhẹ. Các giá trị đó, khó tránh khỏi sự bất định cao, được so sánh với một tính toán lý thuyết.  Để cải thiện độ chính xác, các nhà nghiên cứu lên kế hoạch cho những thực nghiệm khác trên các nguyên tố nặng, sử dụng máy dò FAZIA kết hợp với INDRA, qua đó nâng cao khả năng nhận diện đồng vị của các hạt nhân nặng hơn một cách đáng kể.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-11-french-particle-probe-properties-supernovae.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm tái tạo Big Bang      Các nhà nghiên cứu quốc tế đã khởi động một cuộc thí nghiệm vật lý với mục đích tái tạo sự kiện khai sinh vũ trụ nhằm tìm câu giải thích về nguồn gốc vũ trụ và cách mà nó nuôi dưỡng sự sống.     Cỗ máy khổng lồ Large Hadron Collider (LHC) sử dụng các nam châm cực lớn để phóng các tia nguyên tử xung quanh đường ống dài 27 km, nơi mà chúng sẽ va chạm nhau với tốc độ gần với tốc độ ánh sáng. Vụ va chạm tức khắc tạo ra nhiệt độ nóng gấp 100.000 lần Mặt trời, tạo ra các điều kiện giống như vào thời khắc khoảng 1 phần tỉ giây sau Big Bang được cho là điểm khởi đầu tạo nên vũ trụ cách đây 13,7 tỉ năm. Hệ thống máy tính sẽ ghi lại những gì xảy ra trong mỗi thời điểm và khoảng 10.000 nhà khoa học trên khắp thế giới sẽ phân tích vật chất thu được sau phản ứng. Các chuyên gia hy vọng sẽ khám phá thêm nhiều bí mật về những khái niệm như vật chất tối, năng lượng tối… đặc biệt là xác định liệu có sự tồn tại của hạt Higgs hay không để giải mã được bí mật về cách vật chất có được khối lượng.     T.M    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thí nghiệm xác nhận sự dị thường, có thể chỉ ra một hạt cơ bản mới      Những kết quả khoa học mới xác nhận một dị thường xảy ra trong các thực nghiệm trước đây. Điều này có thể chỉ ra một hạt cơ bản chưa từng được công nhận, hạt neutrino trơ, hoặc biểu thị sự cần thiết cần phải có một diễn giải mới về một khía cạnh của vật lý mô hình chuẩn, như mặt cắt neutrino từng được đo đạc lần đầu tiên vào 60 năm trước đây.       Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Mỹ), nơi dẫn dắt sự hợp tác của các phòng thí nghiệm khác nhau thực hiện Thực nghiệm về những chuyển pha trơ Baksan (BEST).  Kết quả của nó mới được công bố trên hai tạp chí Physical Review Letters và Physical Review C 1.  “Chúng tôi vô cùng bị kích thích bởi kết quả này”, Steve Elliott, nhà phân tích dẫn dắt một trong những nhóm nghiên cứu đánh giá dữ liệu và là thành viên của Bộ phận Vật lý Los Alamos. “Đây là việc tái xác nhận một cách dứt khoát dị thường mà chúng ta đã từng thấy trong những thực nghiệm trước đây. Nhưng thực ra điều này cũng vẫn chưa rõ ràng. Hiện tại có những mâu thuẫn trong các kết quả về hạt neutrino trơ. Nếu các kết quả này chỉ dấu vật lý hạt nhân cơ bản hay vật lý nguyên tử đang bị hiểu sai thì bản thân điều đó cũng hết sức thú vị phải không”.  Những thành viên khác của nhóm nghiên cứu Los Alamos còn có Ralph Massarczyk và Inwook Kim.  Sâu dưới hơn một dặm dưới đài quan sát Neutrino Baksan đặt dưới chân dãy núi Caucasus của Nga, BEST sử dụng 26 chiếc đĩa làm bằng chromium 51 đã được chiếu xạ, một đồng vị phóng xạ tổng hợp của chromium và nguồn electron neutrinos 3,4 megacurie, để chiếu xạ bên trong và bên ngoài bể gallium, một kim loại mềm màu bạc từng được sử dụng trong vài thực nghiệm trước. Sự tương tác giữa các neutrino electron từ chromium 51 và gallium tạo ra đồng vị germanium 71.  Tỉ lệ germanium 71 được tạo ra thấp hơn 20 đến 24% mức các nhà nghiên cứu tính toán trên mô hình lý thuyết. Sự thiếu nhất quán này nối tiếp với sự bất thường mà họ đã quan sát trên những thực nghiệm trước.  BEST được xây dựng trên cơ sở một thực nghiệm solar neutrino, Thực nghiệm Gallium Xô Mỹ (SAGE), trong đó Phòng thí nghiệm quốc gia Mĩ Los Alamos đóng vai trò chính, đã được khởi nguồn từ những năm 1980. Nó sử dụng gallium và các nguồn neutrino mật độ cao. Kết quả từ thực nghiệm này và một số thực nghiệm khác chỉ dấu một sự thiếu hụt electron neutrino – một sự thiếu nhất quán giữa dự đoán và kết quả thực tế mà các nhà khoa học vẫn thường nhắc đến với tên gọi “dị thường gallium”. “Một diễn giải về sự thiếu hụt có thể là bằng chứng cho những dao động giữa electron neutrino và các trạng thái của neutrino trơ.    Dị thường tương tự tái xuất hiện trong thực nghiệm BEST. Những giải thích có thể một lần nữa là dao động trong một hạt neutrino trơ. Hạt giả thuyết có thể tạo thành một phần quan trọng của vật chất tối, một hình thức tương lai của vật chất qua đó tạo ra phần lớn vũ trụ vật chất này. Dẫu vậy thì diễn dịch này có thể cần được kiểm nghiệm thêm bởi vì sự đo đạc cho mỗi bể thường khó mà cho kết quả giống nhau, thậm chí thấp hơn mức người ta có thể chờ đợi.  Những diễn giải khác về sự dị thường bao gồm khả năng có thể là sự hiểu lầm về thông tin lý thuyết đầu vào cho thực nghiệm này – bản thân vật lý mô hình chuẩn đòi hỏi phải được xử lý lại. Elliott chỉ ra, chưa bao giờ mặt cắt của electron neutrino được đo đạc ở các mức năng lượng đó. Ví dụ một thông tin lý thuyết để đo đạc mặtt cắt rất khó để xác nhận, là mật độ electron tại các hạt nhân nguyên tử.  Phương pháp thực hiện thực nghiệm này được xem xét lại để đảm bảo không có nhiễu nào xuất hiện trong từng khía cạnh của nghiên cứu, như nơi đặt nguồn phóng xạ hay sự vận hành của hệ đếm. Những lặp lại của thực nghiệm trong tương lai, nếu được tiếp tục thực hiện, có thể bổ sung thêm một nguồn phóng xạ khác với mức năng lượng cao hơn, chu kỳ bán rã dài hơn và độ nhạy lớn hơn để có thể đo được dao động ngắn hơn của các bước sóng dài hơn.  Anh Vũ  tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-06-results-anomaly-elementary-particle.html  ——————————————  1. “Results from the Baksan Experiment on Sterile Transitions (BEST)”, Physical Review Letters (2022).  https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.128.232501  “Search for electron-neutrino transitions to sterile states in the BEST experiment”, Physical Review C (2022)  https://journals.aps.org/prc/abstract/10.1103/PhysRevC.105.065502    Author                .        
__label__tiasang Thiên đường của sáng tạo      Nước Mỹ c&#243; những ph&#225;t minh th&#224;nh c&#244;ng nhất, nhiều c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu khoa học được c&#244;ng bố nhất, nhiều trường đại học danh tiếng nhất v&#224; kh&#244;ng phải chỉ từ khi đặt được ch&#226;n l&#234;n Mặt trăng, từ thời c&#243; Monsanto hay Microsoft người Mỹ mới coi ph&#225;t minh, ph&#225;t huy s&#225;ng kiến cải tiến l&#224; một m&#244;n thể thao đại ch&#250;ng. Để giải th&#237;ch hiện tượng khao kh&#225;t hướng tới tương lai n&#224;y, h&#227;y lần theo dấu vết từ ph&#242;ng nghi&#234;n cứu của Benjamin Franklin.    Những đám mây đen vần vũ trên bầu trời Pennsylvania, sấm sét rền vang xé toạc bầu trời. Bất chấp sự hung dữ của tự nhiên một người đàn ông lặng lẽ điều khiển một cái diều bay lên giữa vùng trời dông bão. Một cái chìa khóa buộc vào sợi dây diều. Người đàn ông chạm tay vào mẩu kim loại, một tia lửa điện nhỏ hiện lên trên đầu ngón tay ông. Thí nghiệm thành công: người đàn ông này đã tóm được sét trên trời cao.   Benjamin Franklin tiến hành thí nghiệm này năm 1752 và từ đó tên tuổi ông nổi tiếng như cồn. Cuộc “Thử nghiệm – Philadelphia” đã trở thành một huyền thoại mang tầm cỡ quốc gia ở Mỹ. Nhà triết học người Đức Immanuel Kant ca ngợi Franklin như một “Prometheus thời hiện đại”.  Cho đến nay thiên hạ thường dùng huyền thoại phi thường này để lý giải câu hỏi: vì sao nước Mỹ vốn là một xứ thuộc địa lạc hậu lại có thể vươn lên trở thành một quốc gia công nghệ hàng đầu thế giới? Và bài học gì được rút ra từ nước Mỹ?  Nguyên nhân dẫn đến sự thành công to lớn   Người Mỹ thường được coi là những  “yankee ingenuity” (người Mỹ ngây thơ)  nhưng có đầu óc sáng tạo, luôn nỗ lực tìm tòi cái mới, không ngừng tạo ra những sản phẩm mới hết sức nổi bật từ thang máy, bom nguyên tử, máy chụp ảnh lấy ngay, dây kẽm gai, máy tính cho đến súng ngắn?   Có thể nêu lên nhiều nguyên nhân khác nhau cho thành tựu này. Phải chăng người Mỹ có gene di truyền về tính năng nổ, tinh thần khai phá, tìm tòi cái mới; phải chăng hậu duệ của những người theo Thanh giáo và những người khác muốn chứng minh sự hăng say làm việc theo giáo lý Tin lành và họ là những người được Chúa trời đặc biệt ân sủng; phải chăng người Mỹ đã vô tình tạo dựng được hình thức sơ khai về một xã hội tri thức khi nước Mỹ ban hành luật giáo dục bắt buộc từ năm 1647? Và cũng có thể sự thần kỳ về khoa học của nước Mỹ đơn giản chỉ vì hiệu ứng Robinson-Crusoe, nghĩa là người Mỹ buộc phải vượt qua những khó khăn, trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển bằng những công cụ đơn giản mà họ có trong tay. Điều này đúng đối với phương pháp mà Franklin áp dụng, vì thực ra ông cũng không thể có một lựa chọn nào khác.  Benjamin Franklin sinh ra trong một gia đình nhập cư nghèo khó với 17 người con. Ông chỉ được đi học 2 năm sau đó học nghề và bị bóc lột tàn nhẫn như một nô lệ. Đến tuổi 17 ông thay tên đổi họ trốn xuống tàu kiếm kế sinh nhai và ông đã được một chủ nhà in ở Philadelphia nhận vào làm việc.   Là người luôn nung nấu ý chí tự lực, tự cường quyết chí vươn lên, quyết tâm thay đổi cuộc sống nghèo khổ của mình. Mới 24 tuổi ông đã trở thành chủ một cơ sở in ấn. Cuốn “Poor Richard’s Almanack” của ông trở thành một cuốn sách bán chạy nhất thời bấy giờ. Cuốn sách như một nhà tư vấn, giúp con người vượt qua những cảnh ngộ khó khăn của mình. Với phương châm “hãy tự cứu mình, trước khi trời cứu’’, ông thường xuyên đổi mới bản thân mình, số lượng sách của ông phát hành ngày càng nhiều với nhiều bút danh khác nhau. Khi gần đến tuổi 30 Franklin khao khát bổ sung, hoàn thiện  vốn kiến thức còn khá lỗ mỗ của mình. Ông thành lập câu lạc bộ bạn đọc sách, lập thư viện và chỉ sau ít năm ông bắt tay vào việc làm sáng tỏ một vấn đề về vật lý được coi là hóc búa nhất thời đó: Điện năng là gì?  Những bộ óc siêu việt nhất thời đó như các thành viên danh tiếng thuộc “Royal Society’’ ở Anh đều thất bại khi tìm lời giải cho câu hỏi này. Còn các nhà nghiên cứu tự nhiên người Đức như Albrecht von Haller và Johann Heinrich Winkler thì đưa ra một mớ lý thuyết về điện còn phức tạp, rối rắm.   Franklin hoàn toàn không hiểu mô tê gì về các vấn đề lý thuyết đó vì thế ông tự mày mò tìm lời giải cho mình. Ông mua các thiết bị nghiên cứu từ châu Âu cũng như tự tạo những dụng cụ hết sức thô sơ, đơn giản để làm thí nghiệm.   Lý thuyết của ông về “american electricity” vô cùng đơn giản. Dựa trên cơ sở làm sổ sách của cô gái bán sữa: có khoản thu và chi, cộng và trừ, ông mô tả dòng chảy của các điện cực mà cho đến tận ngày nay cách giải thích này vẫn còn có giá trị, mặc dù phải rất lâu sau đó điều này mới được chứng minh một cách cụ thể.          Nước Mỹ hiện có 38/50 cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu thế giới. 1/3 các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học tự nhiên uy tín bậc nhất thế giới, có sự tham gia của các tác giả người Mỹ. Tuy chỉ chiếm 5% dân số thế giới nhưng đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển của Mỹ chiếm 40%, gần 1/3 các nhà khoa học tự nhiên và các nhà kỹ thuật trên thế giới là người Mỹ.           Franklin luôn có xu hướng đơn giản hóa mọi sự việc và có ý thức rất cao về việc áp dụng những ý tưởng của mình vào thực tiễn. Với ông một khi điện có sức mạnh toàn năng thì người ta ắt có thể lấy được điện từ các cơn dông đầy sấm sét thông qua cái diều. Ông quan sát thấy không ít nhà kho bốc cháy vì sét đánh, từ đó ông sáng kiến dùng một thanh kim loại để chống sét. Từ ý tưởng này ông đề cập đến cột thu lôi trong cuốn sách “Poor Richard’s Almanack” và vận động mọi người cùng làm theo.   Cuộc thử nghiệm bằng cái diều là một kết quả nghiên cứu ứng dụng: Franklin đã làm cho bầu trời không còn là một sự bí ẩn. Vị “triết gia điện” trở nên nổi tiếng, nhà văn Pháp  Honoré de Balzac tấm tắc ca ngợi : “Benjamin Franklin người phát minh cột thu lôi, kẻ có những câu chuyện cổ tích trí trá và là người dựng xây nền Cộng hòa.”  Franklin và sự liên quan đến nền Cộng hòa              Đi lên tầng cao mà không cần cầu thang: Năm 1854 Elisha Otis trình diễn tại Crystal Palace ở New York trước công chúng cách phanh khẩn cấp ở chiếc thang máy của ông.        Khi mảnh đất thuộc địa ở châu Mỹ phát động cuộc chiến tranh giành độc lập chống lại đế quốc Anh thì đế chế Anh đang là một thế lực quân sự hùng mạnh nhất thế giới. Franklin tham gia phong trào đấu tranh giành độc lập. Khi đó ở Anh lan truyền tin đồn “thần Prometheus thời hiện đại” đang nghiên cứu một loại vũ khí có sức công phá kinh khủng, “kích cỡ chỉ bằng hộp diêm nhưng có những loại nhiên liệu có thể biến nhà thờ St. Paul’s  thành tro bụi”.  Benjamin Franklin cần những tin đồn phóng đại đó. Thời đó lực lượng nổi dậy đang đứng trước tình cảnh hết sức khó khăn, nguồn tài chính của họ đang bị cạn dần. Năm 1776 dù đã ngoài 70 tuổi nhưng Franklin vẫn cất công sang Pháp để cầu viện nhà vua Pháp.    Nước Pháp hạ cố đón tiếp Franklin, một mặt triều đình Pháp chỉ coi ông là một gã nhà quê lên tỉnh nhưng không giấu nổi sự khâm phục đối với ông, kẻ dám cả gan thâu tóm cả sấm sét trên bầu trời. Giới có học trong triều đình Pháp thì coi Benjamin Franklin là một “kẻ man rợ cao quý”. Franklin chấp nhận hình ảnh này và tìm mọi cách thuyết phục nhà vua Pháp ủng hộ phong trào nổi dậy ở quê nhà. Cuối cùng nước Pháp đã dành cho quân đội nổi dậy một khoản tiền khá lớn vì dù sao nước Anh cũng bị coi là kẻ thù chung. Sự hợp tác này đã ảnh hưởng rất lớn đến cả hai bờ Đại Tây Dương : chỉ ít năm sau nước Pháp lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất và một cuộc cách mạng đã bùng nổ ngay trong lòng nước Pháp trong khi một Nhà nước độc lập non trẻ hình thành ở Mỹ. Một Nhà nước được tạo dựng bởi huyền thoại về nhà phát minh lỗi lạc: thần Prometheus châu Mỹ.  Các thế hệ tiếp theo noi gương “thần Prometheus thời hiện đại” và những nhà sáng chế phát minh thời kỳ này là những người đã có công biến sáng chế, phát minh thành một môn thể thao đại chúng được cả nước ngưỡng mộ. Công nghệ cao đã góp phần chinh phục vùng viễn tây xa xôi, hoang vu: Robert Fulton là người đã đóng con tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên (1807), Samuel Colt là cha đẻ của khẩu súng lục hiện đại (1836), Samuel Morse phát minh máy đánh moóc (1838), Lucien Smith chế tạo dây kẽm gai  (1867) và  Alexander Bell là người đã làm ra loại máy điện thoại được phổ cập rộng rãi (1876).  Nhiều nhà sáng chế, phát minh cho rằng nguyên nhân dẫn đến thành công của Franklin chính là sự đơn giản, tính nhanh nhạy với thị trường kể cả sự áp dụng linh hoạt các mẹo vặt ở chợ phiên. Thí dụ nhà sáng chế thang máy Elisha Otis đã phải dùng kiếm chặt đứt dây cáp kéo thang máy làm cho thang máy rơi tự do trước sự chứng kiến của mọi người cho đến khi thiết bị an toàn hoạt động. Nhờ chiêu quảng cáo này ngành kinh doanh của ông trở nên rất phát đạt. Garrett Morgan lúc đầu cũng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm mới của mình – loại mặt nạ lọc khí. Ông bèn ăn mặc như một tù trưởng Da đỏ, đeo mặt nạ, ngồi thu lu gần 30 phút trong căn lều mù mịt khói. Sau chiêu quảng cáo này sản phẩm của ông bán chạy như tôm tươi.  Trong khi đó châu Âu già nua, không khỏi ghen ăn tức ở khi thấy nước Mỹ đầy sức sáng tạo liên tục gặt hái vô vàn thành công, vì thế châu Âu không thể không thán phục nhưng cũng không giấu vẻ coi thường những kẻ vô học ở bên kia đại dương. Năm 1810 Wilhelm von Humboldt xây dựng ở Đức hệ thống trường đại học tổng hợp trên cơ sở một nền giáo dục kinh điển và coi các ngành kỹ thuật chỉ thuộc diện bách nghệ. Trong khi đó quan niệm của người Mỹ lại hoàn toàn trái ngược, họ khát khao xây dựng tương lai bằng sự “lãng mạn sắt thép” rung động thực sự trước những công trình kỹ thuật hoành tráng.   Người Mỹ không đề cao những bậc hiền triết hay các nhà văn, nhà thơ, mà tôn vinh các nhà sáng chế, phát minh, coi họ mới thực sự là những tấm gương sáng đáng noi theo. Đối với người Mỹ thì chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước cũng là một bản anh hùng ca có khi còn hấp dẫn hơn cả trường ca ‘Ilias’.  Rất nhiều người Mỹ noi gương Benjamin Franklin mày mò nghiên cứu, họ thích cặm cụi ngày đêm trong những căn phòng chật hẹp, trong nhà kho, nhà để xe để thiết kế, phát triển một cái gì đó hơn là rung đùi nghiền ngẫm tác phẩm của nhà thơ vĩ đại Horaz. Hồi giữa thế kỷ 19 Tạp chí Scientific American từng viết “những người đàn ông cặm cụi làm việc trong các nhà xưởng đã làm đảo lộn thế giới thông qua những sáng chế phát minh của họ. Trong khi đó các bậc trí giả ở Oxford và Cambridge quá lắm cũng chỉ nêu lên được vài ba học thuyết mới để bổ sung cho những “nguyên tắc“ nào đó.”               Năm 1807 xuất hiện tàu thủy chạy bằng máy hơi nước đầu tiên trên sông Hudson. Robert Fulton kỹ sư người Mỹ là cha đẻ của con tàu này và cũng là người phát triển tàu ngầm “Nautilus”.        Ở một đất nước mà tàu thủy chạy bằng hơi nước có thể thay thế “Ilias”, đương nhiên đất nước đó phải có một Homer cho ngành cơ khí chế tạo máy; vị anh hùng dân tộc này chính là Thomas Alva Edison. Ông là người sáng chế máy hát (Phonografen) (1877), đèn điện có sợi đốt bằng than (1879) và máy Kinetografen, một dạng máy quay phim (1891). Hằng năm người Mỹ lấy ngày sinh của Edison, ngày 11. 2, làm ngày quốc lễ để “tôn vinh các nhà  sáng chế phát minh”. Edison trước tiên cũng phải tự phát hiện chính mình. Khi còn là một cậu bé, ông từng phải bán báo trên những chuyến tàu hỏa để kiếm sống, khi rảnh rỗi ông làm thí nghiệm hóa học ngay trong toa tàu chở hành lý. Ông là người hay xem thường cấp lãnh đạo nên liên tục bị đuổi việc. Ngay từ năm 1869, ông đã sáng chế một bảng thông báo chứng khoán mới. Ở tuổi 23, ông đã trở thành một người khá giàu có.  Thay vì hưởng thụ sự giàu sang của mình Edison lại đầu tư toàn bộ tiền bạc vào một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ: “nhà máy phát minh sáng chế”, sản phẩm của nhà máy này là các ý tưởng. Ông tuyển mộ những người thích mày mò, nghiên cứu tài ba nhất ở khắp nơi trên thế giới, cộng sự thân cận nhất của ông là một nhà kỹ thuật người Anh và một người thợ làm đồng hồ người Thụy Sỹ. Edison làm việc miệt mài không biết mệt mỏi, ông đã có tới hàng nghìn bằng sáng chế và là người tham gia xây dựng khoảng 200 doanh nghiệp khác nhau.   Không ít lần ông ngủ luôn trong xưởng thí nghiệm sau khi làm việc gần như thâu đêm. Ông thường nói: “thiên tài là 99% đổ mồ hôi sôi nước mắt và 1% cảm hứng.”  Nhưng Edison cố tình quên một thành phần quan trọng của công thức này, đó là sự ăn cắp ý tưởng, một việc làm rất phổ biến thời bấy giờ. Edison là một trong những tay ăn cắp ý tưởng nhanh nhậy nhất và bản thân ông cũng thừa nhận: “Tôi biết phải ăn cắp như thế nào.”  Một nguyên tắc nữa mà ông thường đề cập là: “trial and error”, thử nghiệm và nhầm lẫn. Trong những ghi chép của ông người ta thấy đầy rẫy ghi chú “T. A.”-“Try Again”, thử lại một lần nữa. Năm 1877 khi thử chiếc máy quay đĩa và nghe thấy giọng nói của mình, ông tỏ ra lúng túng, lo lắng: “Tôi luôn thấy sợ khi công việc diễn ra quá trôi chảy”.  Edison thường có thái độ coi thường, miệt thị các nhà trí thức, thậm chí ông không ngần ngại chế giễu ngay cả những nhà toán học làm việc cho mình. Hồi đó mọi người gọi ông là   “The wizard of Menlo Park”: gã phù thủy ở New Jersey.  ***  Jules Verne được coi là cha đẻ của khoa học viễn tưởng hiện đại, nhưng chỉ có ở Mỹ thì những câu chuyện cổ tích tương lai của ông xuất phát từ châu Âu mới có thể trở thành một ngành công nghiệp tiền tỉ dựa trên nguyên tắc khoa học không phải là tháp ngà mà là một sân chơi đầy mạo hiểm.  Tương tự như Franklin đánh cắp sét trên bầu trời, nay các vị giáo sư, các nhà kỹ nghệ châu Âu cũng bị “nẫng tay trên ” các  show diễn. Viên kỹ sư người Đức Konrad Zuse có thể là người đầu tiên làm ra máy vi tính có khả năng lập trình từ năm 1936, nhưng người đặt nền móng cho Silicon Valley lại là Bill Hewlett và Dave Packard, từ năm 1939 họ từng mày mò nghiên cứu một công trình nổi tiếng trong nhà để xe ở California; Karlheinz Brandenburg, người Đức, có thể là người đầu tiên làm ra máy nghe nhạc MP3 vào năm 1990, nhưng người thu được thành công trên thương trường lại là một nhà nghiên cứu người Mỹ từng mày mò trong gara ô tô có tên là Steve Jobs, ông ta là người có năng khiếu tổ chức các show diễn và từng giới thiệu với công chúng loại máy iPod của hãng Apple.   Người Mỹ rút ra bài học gì từ những thành công?  Ngày nay trong điều kiện xã hội trí thức toàn cầu hóa có sự phân công lao động rất cao thì huyền thoại về người hùng phát minh Prometheus liệu có còn mang lại lợi thế cho nước Mỹ? Sự thực là hiện nay quốc gia phát minh sáng chế hàng đầu thế giới đang trải qua một thời kỳ bi đát chưa từng có: đó là nỗi lo sợ trước một tương lai ảm đạm.          Những nước như Ấn Độ đang nỗ lực  bành trướng bằng chính những công thức mà Franklin và Edison từng áp dụng rất thành công, đó là sự thực dụng, cần cù chăm chỉ, ăn cắp ý tưởng, khao khát quyết tâm xây dựng một tương lai huy hoàng.          Ngay từ năm 2005 báo “New York Times” đã đặt câu hỏi “Phải chăng các nhà sáng chế phát minh Mỹ đang bị tụt hậu ?”. Một bản báo cáo của National Academies từng cảnh báo : “Ủy ban rất lấy làm lo lắng vì nền tảng khoa học và công nghệ đang bị xói mòn, những nền tảng đó không thể thiếu một khi nước Mỹ muốn duy trì vai trò lãnh đạo kinh tế trên toàn thế giới.” Bản báo cáo “Rising Above the Gathering Storm” – dịch nôm na là: làm sao để có thể thoát khỏi cơn dông tố đang đe dọa chúng ta, cho rằng hiện đang có nhiều dấu hiệu về cơn bão đó: Thí dụ từ lâu Nhật Bản đã vượt nước Mỹ về số lượng bằng sáng chế phát minh và số tiền mà ngành công nghiệp Mỹ phải chi cho các vụ kiện tụng đòi bồi thường tổn thất đã cao hơn số tiền mà nước này đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu, phát triển. Gần đây Trung Quốc xuất khẩu ngày càng nhiều công nghệ cao. Trong khi đó, các công thức cũ của nước Mỹ, quốc gia luôn đi tiên phong dường như không còn phát huy hiệu lực. Khoảng 1/3 kỹ sư và các nhà tin học ở các trường đại học Mỹ đều có xuất xứ nước ngoài, đây là nguồn bổ sung nhân tài mới rất quan trọng, tuy nhiên dòng người nhập cư này ngày một giảm, một phần do điều kiện xin thị thực nhập cảnh vào nước Mỹ ngày càng khó hơn sau khi xảy ra vụ khủng bố ngày 11.9. 2001.  Thậm chí Bill Gates, người đồng sáng lập hãng Microsoft, trong một bài báo đăng trên tờ  “Washington Post” cũng phải thừa nhận “vấn đề này đang có biểu hiện của một cuộc khủng hoảng “. Ông yêu cầu  “chúng ta phải gây dựng một bầu không khí giúp thế hệ mới dám mơ ước sáng tạo, bất chấp họ sinh ra ở đâu. Đất nước ta không thiếu người tài – cái thiếu chính là sự quyết tâm về chính trị”.   Xuân Hoài  Theo Spiegel 21.10      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên kiến trong môi trường nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn      Né tránh tranh luận, không công bố quốc tế, ưu tiên những người có chức vụ thực hiện các đề tài lớn thay vì những người trẻ tuổi khiến môi trường KHXH&NV của Việt Nam kìm hãm những tài năng khoa học trẻ.      Gần đây, ISEE (Viện nghiên cứu Chính sách Kinh tế – Xã hội và Môi trường) trở thành một cái tên đáng chú ý với các nghiên cứu có tác động tích cực tới nhận thức xã hội, phản biện chính sách. Họ lựa chọn những vấn đề nghiên cứu mới mẻ ở Việt Nam (đây là nơi duy nhất cung cấp nghiên cứu về giới tính thứ ba (LGBT) ở Việt Nam cho các nhà làm luật về hôn nhân và gia đình). Họ cũng tạo ra một môi trường cởi mở tranh luận, không có sự phân biệt giữa viện trưởng và nghiên cứu viên. Chính vì thế,  ISEE thu hút được nhiều nhà nghiên cứu được đào tạo bài bản ở Mỹ và châu Âu đến cộng tác. Tuy nhiên, với đa số các nhà khoa học, ISEE chỉ dừng lại ở mức độ cộng tác. Kết thúc dự án, các nhà khoa học lại trở về với công việc chính của mình ở các viện nghiên cứu công lập và các trường đại học – một môi trường khá giới hạn với các nhà nghiên cứu trẻ, đặc biệt là những người trở về từ các nước phương Tây.  An toàn là trên hết  Một trong những vấn đề của ngành Xã hội và Nhân văn (XH&NV) của Việt Nam là né tránh các cuộc tranh luận giữa các tư tưởng, quan điểm khác biệt, đặc biệt là giữa những quan điểm cũ của những người được đào tạo ở Liên Xô cũ và của những người trẻ được tiếp xúc với các cuộc tranh luận và môi trường học thuật mới mẻ của phương Tây. Nhiều nhà khoa học XH&NV cho rằng rất hiếm có các cuộc tranh luận học thuật thật sự ở Việt Nam. “Về đây, ban đầu rất hăng hái nhưng một thời gian sau, […] sự tranh luận về học thuật không có nên tự nhiên mình bị đuối, bị mất đi “nhuệ khí”, sự hăng hái lúc ban đầu.” – Chị Quỳnh Phương, từng có thời gian học Tiến sĩ ở Úc và làm post-doc ở Singapore, chia sẻ.   “Có lẽ là do người ta thường đánh đồng sự khác biệt với sự đối lập loại trừ và triệt tiêu nhau. Người ta hiếm khi chấp nhận sự phản biệt hay phê bình thẳng thắn, nghiêm ngặt. Người ta có vẻ thích sự giống nhau và khen nhau, dù rất hình thức và không thực. Người ta ngại va chạm, cọ xát quan điểm khoa học. Và nếu có sự va chạm hay cọ xát thì đó là sự va chạm dẫn đến đổ vỡ và không dung hoà nhau.” – Anh Phạm Văn Lam, Viện Ngôn ngữ học chia sẻ. Khác với khoa học tự nhiên, các cuộc tranh luận về khoa học xã hội ở Việt Nam dễ dẫn đến sự quy chụp về mặt chính trị, tôn giáo, tự hào dân tộc… Chính vì vậy, môi trường KHXH ở Việt Nam cứ “tròn trịa” vì né tránh các cuộc thảo luận, tránh các ý kiến, quan điểm xung đột. “Nguyên tắc ‘say safety first’ là nguyên tắc đầu tiên” – PGS. Nguyễn Văn Chính, chủ nhiệm bộ môn Nhân học Phát triển, Đại học KHXH&NV nói.   Các nhà khoa học dám công bố những nghiên cứu khác biệt thường cô đơn. Một sự kiện gần đây nhất, khi nhà nghiên cứu Tạ Đức xuất bản cuốn Người Việt – người Mường đưa ra nhiều phát hiện “lạc dòng” (lời của TS. Trần Trọng Dương) và thay vì phản biện về phương pháp nghiên cứu, tính xác tín của các tư liệu tham khảo, có nhà khoa học chống đối kịch liệt sách của nhà nghiên cứu Tạ Đức, đòi hủy buổi hội thảo ra mắt sách, “Tranh luận về KHXH của Việt Nam dễ đi vào ngõ cụt. Nó không đi vào bản chất vấn đề. Người ta không hiểu nhau. Tôi nghĩ là người ta phải thay đổi.” – PGS. Nguyễn Văn Chính chia sẻ.   Không chỉ không dám đưa ra những quan điểm trái chiều, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu cũng rất dè dặt. ISEE đã từng ngỏ ý hợp tác với các viện nghiên cứu công lập nhưng không khả thi. “Chúng tôi rất muốn kết hợp với các viện của nhà nước […] nhưng qua hợp tác với một – hai viện thì mọi người rất cẩn trọng trong việc chọn đề tài nghiên cứu gì, có nhạy cảm quá không” – Anh Lê Quang Bình kể lại.  Ngại công bố quốc tế  Ngại “va chạm” với sự khác biệt trong nước nên trông đợi vào việc “va chạm” của các cơ quan KHXH&NV công lập và các trường đại học của Việt Nam với quốc tế lại càng khó khăn. Trong các viện nghiên cứu công lập, nếu không phải từ mối quan hệ cá nhân từ khi còn học tập và làm việc ở nước ngoài, các cán bộ nghiên cứu khó có thể đi dự các hội thảo quốc tế để cập nhật các tranh luận mới.   Rất nhiều viện nghiên cứu không đề cao công bố quốc tế hay coi đây là yêu cầu bắt buộc và cũng không phải là tiêu chí đánh giá năng lực của các nhà khoa học. Mới đây, dự án Scientometrics for Vietnam (Trắc lượng Khoa học Việt Nam) đưa ra công bố cho thấy, chỉ có 22 công bố ISI của Viện Hàn lâm KHXH trong vòng năm năm (2011 – 2015). Tháng 12/2015, khi NAFOSTED họp tổng kết năm, ban quản lý quỹ cho biết, năm nay số lượng hồ sơ nộp cho khối ngành KHXH giảm mạnh vì quỹ nâng cao yêu cầu về sản phẩm đầu ra: phải có ít nhất một công bố trên tạp chí quốc tế. Một thành viên Hội đồng KHXH của NAFOSTED, PGS. Trần Đức Cường (Viện Sử học) đưa ra ý kiến: “trong trường hợp bài không đủ điều kiện đăng tải ở tạp chí quốc tế, có thể chuyển sang tạp chí trong nước, có thể yêu cầu tăng số lượng bài báo đăng ở tạp chí trong nước lên”.   Tuy nhiên, việc hạ thấp tiêu chuẩn như vậy càng khiến cho môi trường KHXHVN càng khó cởi mở, tiếp cận đến tiêu chuẩn thế giới, những nhà khoa học trẻ càng khó có cơ hội khẳng định mình. “Có thể nói nghiên cứu của mình chưa tiếp xúc được với các nghiên cứu trên thế giới, chưa va chạm nhưng ở trong khoa học thì va chạm là bắt buộc, tôi phải đưa ra tính mới trong nghiên cứu của mình so với người khác. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu không quan tâm đến điều đó mà chỉ quan tâm đến ý kiến của mình (bất kể mới hay không). Họ không va chạm, họ rất sợ va chạm.”  – PGS. Nguyễn Văn Chính nói.  Phân chia đề tài bất hợp lí  Nhiều ý kiến cho rằng một trong những cơ hội để thay đổi bộ mặt của ngành KHXH của Việt Nam là tạo điều kiện cho những tiến sĩ trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài nhưng những quy tắc “bất thành văn” trong phân bổ đề tài dường như chưa cho phép điều đó.   Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân từng trao đổi với Tia Sáng: “Đa số các đề tài dự án lớn chỉ được trao cho những nhà khoa học “cây đa cây đề” về lĩnh vực ấy, dù trong số các đề tài, dự án đó, nhiều nhà khoa học trẻ hoàn toàn có đủ điều kiện làm chủ nhiệm. Ngoài ra, không ít nhà quản lý khoa học vẫn quan niệm nhà khoa học trẻ là “trẻ người non dạ” nên chưa tin tưởng trao cho họ thực hiện những nhiệm vụ KH&CN trọng điểm do nhà nước tài trợ. Các hạn chế này khiến các nhà khoa học trẻ khó thể hiện được tài năng của mình.”  Anh Phạm Văn Lam cho rằng, điều này càng thể hiện rõ trong ngành KHXH&NV: “Trong KHXH&NV người ta thường chú ý hay quy gán đến một điều được gọi là độ chín của nhà nghiên cứu, “gừng càng già càng cay”, “sống lâu lên lão làng”. KHXH thường cho rằng các nhà nghiên cứu trẻ cần phải có thời gian, tích luỹ và trải nghiệm thực tiễn để “chín”. Vì thế, có những nhà khoa học trẻ dù có năng lực nhưng cũng rất khó tiếp cận các đề tài lớn. Thêm vào đó, những quy định hay yêu cầu khoa học rất hình thức hiện nay cũng góp phần tăng thêm cho cái sự khó này. Người ta thường đòi hỏi bằng cấp, tích luỹ hay kinh nghiệm nghiên cứu, hạng nghiên cứu (nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp), tư cách pháp nhân khoa học (làm gì và làm việc ở đâu) khi tiếp cận các đề tài lớn. Đôi khi, người ta không chú ý lắm đến thực lực nghiên cứu của nhà khoa học.”  Bên cạnh đó, theo TS. Nguyễn Công Thảo (Viện Hàn lâm KHXH&NV) cho biết, trong ngành Nhân học của anh, các tiến sĩ trẻ hiếm khi được mời vào hội đồng xét duyệt hoặc chấm luận văn, luận án và được mời giảng dạy sau đại học. Lí do, theo anh Thảo là việc mời người quen vào hội đồng và tâm lí ngại thay đổi dường như trở thành thói quen của nhiều giáo sư.  Việc trao cơ hội cho các nhà khoa học trẻ phụ thuộc vào tinh thần cởi mở, sẵn sàng hỗ trợ thế hệ kế tiếp của những người đi trước. “Có thể nói là cung cấp kinh phí cho các đề tài khoa học chưa quan tâm nhiều đến những người trẻ, đặc biệt là những người vừa hoàn thành luận án tiến sĩ, đang dồi dào sức sáng tạo nhất, cái lúc tư tưởng sáng tạo mạnh mẽ nhất thì mình không cấp. Lương tiến sĩ đã thấp rồi mà mình còn không cấp đề tài thì giống như búp măng vừa trồi lên rất mạnh thì đã bị thui chột đi. Trong khi đó thì mình bồi dưỡng cho những gốc cây già nua, không còn mọc lá được nữa.” – PGS. Nguyễn Văn Chính nói thêm.   Trở lại với viện ISEE, khi phóng viên Tia Sáng hỏi, bí quyết nào để tạo ra một môi trường cởi mở, để những cuộc tranh luận không đi vào ngõ cụt – một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để các nhà khoa học trẻ phát huy năng lực sáng tạo. Câu trả lời là, mỗi nhà khoa học phải thay đổi quan điểm, phải chấp nhận sự khác biệt: “Đừng coi nó là ngõ, hãy coi nó là đại lộ đi” – Anh Lê Quang Bình nói.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Thiền nhiều có lợi cho não      Các nhà khoa học cho biết việc thiền định sẽ giúp não hoạt động tốt hơn. Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng thiền sẽ giúp cho các bán cầu não hoạt động thường trực hơn và đặc biệt là khiến một số khu vực quan trọng ở não phát triển tốt hơn.    Các hình ảnh nghiên cứu não những người thiền thường xuyên cho thấy khu vực vỏ não liên quan tới cảm nhận, nghe và nhìn cũng như các cảm nhận nội tâm hoạt động tốt hơn lên nhiều. Nghiên cứu cũng cho thấy việc thiền đều đặn sẽ ngăn chặn sự già đi của phần võ não phía trước. “Thú thị nhất là việc thiền định sẽ giúp người ta gia tăng lượng “chất xám” của chính mình, với liều lượng khoảng 40 phút mỗi ngày”, Jeremy Gray, giáo sư tâm lý của Đại học Yale cho biết.    Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu đứng đầu là Sara Lazar, cố vấn tâm lý tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, được đăng tải trên tạp chí NeuroReport tháng 11.2005.  (Live Science-MSNBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên tài toán học Srinivasa Ramanujan: Một công thức lạ      Với Hardy, toán học đòi hỏi nhiều ở tính chính xác và tính hệ thống chặt chẽ thì Toán học của Ramanujan dựa trên trực giác và đôi khi mang tính thần bí khó giải thích.          Tượng nhà toán học Ramanujan. Nguồn ảnh: The Hindu  Một bức thư lạ lùng     Ngày 31 tháng 1 năm 1913, nhà Toán học G.H. Hardy1, giáo sư tại trường Đại học Cambridge, London, nhận được một phong thư khá dày, từ một địa chỉ nào đó ở tận miền Nam Ấn-Độ xa xôi. Tác giả bức thư tự giới thiệu như sau:  “Thưa ông,  Tôi xin phép được tự giới thiệu tôi là thư ký kế toán hãng Port Trust ở bến cảng Madras, lương 20 bảng Anh một năm. Bây giờ tôi được 23 tuổi,…”.  Tiếp theo là 9 trang với hàng trăm công thức Toán, có công thức nhà Toán học Hardy biết là đúng, có công thức nhà Toán học chưa thấy bao giờ, không có một lời chứng minh hoặc giải thích nào đi kèm cả. Cuối thư có những hàng sau đây:  “Tôi nghèo, nếu ông tin tưởng ở giá trị những gì tôi viết ở đây, tôi muốn nhờ ông cho công bố chúng. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở những lời hướng dẫn của ông.  Tôi xin lỗi đã làm phiền ông.”  Có quá nhiều công thức lạ, nhưng đáng ngạc nhiên nhất là khởi đầu mấy trang Toán có công thức: 1 + 2 + 3 + 4 +….=  – 1/12 )  Ai cũng biết tổng các số dương không thể là một số âm, tổng của các số nguyên không thể là một phân số được.  Hơn nữa tổng của chuỗi số này bằng vô cực, sao bằng một số hữu hạn được? Có gì lầm lẫn ở đây không? Nhìn qua một số công thức phức tạp nhưng chính xác trong phần sau, nhà toán học Hardy không thể giải thích cái sai ở công thức đầu tiên này.   Thì ra nhà toán học được xem là “người ngoài hành tinh” Ramanujan ấy đã đi trước chúng ta gần 100 năm khi đưa ra công thức ấy, không một lời giải thích. Ngày nay ta gọi công thức ấy được gọi là tổng Ramanujan và đã được dùng trong lý thuyết dây (string theory), đặc biệt để giải nghĩa hiện tượng được gọi là hiệu ứng Casimir (Casimir Effect) trong cơ học lượng tử. Về phía Ramanujan, mãi về sau ông mới nói với Hardy rằng cố tình đưa ra công thức này lên đầu để gây sự chú ý cho Hardy.      Từ một vùng trời xa lạ, thiếu vắng môi trường khoa học     Srinivasa Ramanujan (1887 – 1920) sinh tại làng Erode, phía Nam thành phố Tamil Nadu, miền Nam Ấn Độ trong một gia đình nghèo khó. Cha ông làm việc trong một cửa hàng buôn bán nhỏ, mẹ hát trong một ngôi đền. Lên 5 tuổi, Ramanujan được cho đi học tại trường Kumbakonam, một thị trấn gần Madras, nơi gia đình đang sinh sống. Mặc dầu không được học một cách có hệ thống, nhưng Ramanujan sớm thể hiện một khả năng về toán một cách kỳ lạ: Khi mới 12 tuổi cậu có thể giải được nhiều bài toán về Lý thuyết số và Giải tích và có thể nghĩ ra những ý tưởng toán học trong một khung cảnh hoàn toàn không được kết nối với cộng đồng khoa học xung quanh.  Năm 1902 (15 tuổi), học được từ trong sách phương pháp giải phương trình bậc ba của các nhà Toán học Ý thế kỷ 16, Ramanujan tìm ra được cách giải phương trình bậc bốn theo cách riêng của mình. Rồi cậu lao vào giải phương trình bậc năm nhưng không có kết quả, vì đâu biết rằng phương trình bậc năm không thể giải được bằng căn thức (Abel, Galois).  Tốt nghiệp trung học vào năm 1904, Ramanujan được tặng thưởng giải Rao cho học sinh có kết quả xuất sắc trong việc học toán và nhận được học bổng để vào học Đại học Công lập Kumbakonam, ở đó Ramanujan đạt kết quả kỳ diệu về toán học, nhưng tỏ ra không có năng lực gì ở các môn học còn lại, vì vậy Ramanujan mất học bổng. Chàng tự ý bỏ đi sang một thị trấn khác và sau đó xin vào học tại Đại học Pachaiyappa ở Madras. Cũng như ở trường trước, kết quả ở các môn học khác quá kém và cũng vì sức khỏe có vấn đề, chàng rớt trong kỳ tốt nghiệp và đã trình cho một số giáo sư ở trường đại học địa phương một vài kết quả của công trình nghiên cứu của mình để có được thư giới thiệu cần thiết khi đi xin việc. Công trình của chàng làm các giáo sư quá đỗi ngạc nhiên tới mức lúc đầu không tin là nghiên cứu độc lập của chàng. Cho đến khi chàng chỉ cho họ thấy làm thế nào chàng có được các kết quả ấy, thì họ mới hiểu rằng chàng không phải là người giả mạo, và họ viết cho chàng những thư giới thiệu nồng nhiệt, đôi khi có kèm thêm một chút tiền trợ giúp để cho chàng có thể tiếp tục nghiên cứu toán học.  Ramanujan cho đăng trên tờ Journal of Indian Mathematical Society (Báo của Hội Toán học Ấn Độ) một bài toán thách đố các nhà Toán học tìm ra cách giải. Câu hỏi là tìm kết quả của chuỗi diễn tả bởi các căn thức lồng vào nhau sau đây:       Sáu tháng trôi qua, không có một lời giải nào được gửi tới, vì vậy Ramanujan phải tiết lộ đáp số: Đó là số 3.  Mãi tới năm 1912, cuối cùng thì Ramanujan cũng tìm được việc làm, một chân thư ký ở công ty Madras Port Trust.  Chàng làm việc hiệu quả tới mức còn dư thời gian để nghiên cứu thêm toán và công bố thêm một số bài báo trên tờ báo Toán học địa phương. Nhìn thấy tài năng sáng chói của chàng, một số bạn và những người cộng tác đem công trình của chàng gửi cho một số nhà Toán học người Anh xem, hy vọng tìm được sự ủng hộ cho người bạn trẻ của họ. Bất hạnh thay, mọi nỗ lực đều không có hồi âm.  Tháng 1 năm 1913, Ramanujan viết một bức thư cho G.H. Hardy kèm theo một bài dài 9 trang, nội dung là hơn 100 công thức lấy từ công trình của mình.  Hardy sau khi xem xong bức thư đã nghĩ rằng ai đó chép lại một bài báo của một nhà Toán học nào đó trong một tạp chí Toán học mà không ghi nguồn. Ông nhận ra một vài kết quả như là hệ quả đã được người khác tìm ra và được phổ biến ở phương Tây. Còn một số công thức hoặc định lý khác ông chưa hề thấy bao giờ. Khi đọc lại mấy trang này một lần nữa, ông nhận ra có một số kết quả ông không hiểu, dẫn xuất từ việc khảo sát chuỗi số siêu bội (hyper-geometric series) mà trước đây Euler và Gauss có nghiên cứu.  Hardy quá ấn tượng và ngạc nhiên, sau này ông kể lại: “Những định lý này chinh phục tôi hoàn toàn. Từ trước tới giờ tôi chưa thấy những điều như thế này bao giờ cả.”.  Những định lý này phải đúng thôi, ông kết luận: “Bởi vì nếu chúng không đúng, thì không một ai có đủ trí tưởng tượng để phát minh ra chúng.”  Hardy đem những gì Ramanujan đã viết cho các đồng nghiệp của ông xem, và họ cũng ngạc nhiên không kém. Rồi ông viết thư hồi âm cho Ramanujan, nói rằng ông rất quan tâm đến công trình của chàng và yêu cầu tác giả bổ sung chứng minh cho một vài định lý trong bảng công thức ấy. Ramanujan như nổ tung vì vui sướng khi nhận được thư trả lời, rồi ông viết cho Hardy: “Tôi như tìm được tình bạn ở nơi ông, vì ông là người đã đọc những điều tôi viết một cách có thiện cảm.”  Sau cùng thì Hardy mời Ramanujan tới Đại học Cambridge. Trước lời mời của Hardy (nhân danh Đại học Cambridge), Hội đồng Giáo Dục địa phương quyết định tài trợ cho Ramanujan một ngân khoản để ông làm việc tại Đại học Madras, hy vọng giữ ông ở lại Ấn Độ.  Cha mẹ của Ramanujan cũng lại chống đối việc ông đi Anh, cho nên ông buồn bã từ chối lời mời của Hardy. Hardy thất vọng, quan hệ giữa ông và Ramanujan nguội đi. Một thời gian sau, Hardy cố thử mời Ramanujan một lần nữa. Lần này thì Ramanujan sẵn sàng bởi vì mẹ của Ramanujan nằm mộng thấy một vị thần linh nói rằng nên cho con trai bà rời khỏi nhà.     Sự va chạm giữa hai thế giới     Ngày 17 tháng 3 năm 1914, Ramanujan lên chiếc tàu thủy mang tên Nevasa rời Madras. Tàu đến London sau gần một tháng. Tại Cambridge, ông ở gần phòng của Hardy. Hai người gặp nhau hằng ngày đàm đạo về những định lý thú vị của Ramanujan. Trước đó, Hardy nhận được từ Ramanujan hơn 100 công thức, nay Ramanujan lại mang qua thêm nhiều công thức mới nữa. Nhìn qua tất cả, Hardy có thể nhận thấy một số định lý đã được biết rồi, một vài định lý thì ông cho là sai, nhưng có nhiều định lý quả là những phát hiện mới.      Căn nhà nhỏ nơi Ramanujan sống cùng cha mẹ ở Kumbakonam, Ấn Độ. Ảnh: Deccan Herald.    Hardy và người đồng nghiệp lâu năm John Edensor Littlewood  hết sức ngạc nhiên trước những công thức “đột phá” của chàng thanh niên đến từ một vùng trời xa lạ, thiếu hoàn toàn môi trường khoa học.  Littlewood và Hardy cùng so sánh chàng thanh niên thiên tài này với Euler và Jacobi2. Tuy nhiên cả hai nhận ra rằng, có thể do tự học, chàng tỏ ra thiếu kiến thức nền tảng ở một số lĩnh vực. “Có nên chăng khi phải dạy cho chàng thanh niên này một số phần Toán hiện đại.  Sự giới hạn kiến thức của chàng ở một số nơi cũng đáng ngạc nhiên như sự phong phú và sâu rộng kiến thức ở một số nơi khác”, Hardy nói. Littlewood được giao công việc hướng dẫn Ramanujan học tập, bổ sung kiến thức nền tảng mới, cũng như cách thức trình bày lý luận Toán học chặt chẽ hơn.  Littlewood viết: “Công việc này thật sự khó bởi vì mỗi khi tôi trình bày một vấn đề gì cho Ramanujan mà tôi nghĩ là cần, thì chính tôi bị anh đưa đi xa, ra khỏi dự tính ban đầu của tôi.” Ramanujan cùng làm việc với Hardy và Littlewood ở Cambridge trong 5 năm. Ông đã công bố một phần của những khám phá mới của ông trong thời gian này.  Tuy nhiên, cuộc sống và cách thức làm việc của Hardy và Ramanujan hoàn toàn khác nhau nếu không muốn nói là đối chọi nhau. Họ cộng tác với nhau trong sự va chạm của hai nền văn hóa và hai cá tính khác nhau. Trong khi Hardy là người vô thần thì Ramanujan chìm đắm trong tôn giáo (đạo Hindu), từ tư tưởng cho đến cuộc sống hằng ngày. Trong khi với Hardy, toán học đòi hỏi nhiều ở tính chính xác và tính hệ thống chặt chẽ, thì toán học của Ramanujan dựa trên trực giác và đôi khi mang tính thần bí khó giải thích. Trong thời gian này, Littlewood, người phụ trách hướng dẫn cho Ramanujan, phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung” do Thế chiến Thứ nhất đã đến giai đoạn gay gắt nhất, Hardy thay thế vai trò của Littlewood trong việc hướng dẫn Ramanujan đi đúng đường (tính chính xác, tính hệ thống), thay vì triển khai Toán học chỉ dựa trên trực giác và cảm hứng (inspiration) mà Ramanujan vẫn thường làm.  Tháng 3 năm 1916, Ramanujan được trường Đại học Cambridge trao bằng Tiến sĩ Toán vì những thành quả trong nghiên cứu về Lý thuyết số. Một phần của nghiên cứu này là một bài báo dài khoảng 50 trang được đăng trong Proceedings of the London Mathematical Society (Kỷ yếu của Hội Toán học London). Hardy và một số nhà Toán học đương thời nhận xét rằng bài báo về Lý thuyết số này quá độc đáo. Qua đó, người ta xác nhận thêm một lần nữa tài năng thiên phú đặc biệt của Ramanujan.  Cuối năm 1917, ông được bầu làm thành viên của Hội Toán học London.  Năm 1918, ông được vinh dự trở thành thành viên của Hội đồng Hoàng gia Anh (Fellow of The Royal Society), năm ấy ông 31 tuổi và là thành viên trẻ nhất kể từ ngày Hội đồng được thành lập vào năm 1660.  Suốt cuộc đời ngắn ngủi, Ramanujan luôn luôn bị phiền nhiễu vì vấn đề sức khỏe của mình, nhất là trong thời gian 5 năm sống tại Anh. Ở đây khí hậu ẩm và lạnh khác với khí hậu nóng và khô ở quê hương ông miền Nam Ấn Độ. Thêm vào đó là chế độ ăn uống không đầy đủ. Thời kỳ này là thời kỳ của Thế chiến Thứ nhất 1914 – 1918, thực phẩm không những khan hiếm mà còn không đầy đủ cho chế độ ăn uống kiêng khem của ông (ông tự đi mua thực phẩm và tự nấu ăn ở nhà theo chế độ riêng, phù hợp với tôn giáo của mình). Sức khỏe ông xấu dần. Cuối năm 1918, người ta phải đưa ông vào bệnh viện với chẩn đoán là kiệt sức vì thiếu dinh dưỡng. Ngoài ra, ông có dấu hiệu bệnh lao đang trên đà phát triển. Tháng 2 năm 1919, ông được đưa về quê hương.  Một năm sau, năm 1920 ông qua đời, khi ấy ông mới vừa bước qua tuổi 33.  Ramanujan được mô tả như là con người trầm lặng, nghiêm trang nhưng vui tính. Ông theo hệ phái Ấn Độ giáo chính thống, nữ thần Namagiri Thayar là nữ thần của gia đình ông.  Ông tin rằng chính vị nữ thần này đem lại niềm cảm hứng cho ông trong khi nghiên cứu Toán học Ông nói: “Đối với tôi, một phương trình chỉ có ý nghĩa khi nó phản ảnh một ý tưởng của Thượng đế.” □     Theo giáo sư Bruce C. Berndt, trường Đại học Illinois, Ramanujan đã công bố 37 bài báo và rất nhiều công thức được ông ghi chép trong bốn cuốn sổ mà một cuốn nay đã thất lạc. Ước chừng trong những sổ ghi chép ấy có khoảng 4000 công thức (hoặc định lý), hầu hết không chứng minh. Từ đó đến nay một số lớn công thức đó đã được chứng minh, tạo hứng thú tìm hiểu cho một số nhà Toán học thế hệ sau.  ———  Chú thích:  1 Hardy là tác giả cuốn sách giáo khoa nổi tiếng thời ấy:  cuốn A Course of Pure Mathematics. Ngoài ra ông còn cộng tác với nhà Toán học tài năng John Littlewood nghiên cứu nhiều đề tài về tính toán, lý luận, và giải tích thuần lý.  2 Carl Gustave Jacobi (1804- 1851), một nhà Toán học người Đức, có nhiều đóng góp quan trọng nhiều lãnh vực: Hàm số elliptic, Phương trình vi phân, Lý thuyết số,…  Tài liệu tham khảo  1. Aczel, Amir.  A Strange Wilderness. Sterling New York.  2011.  2. Chaitin, Gregory. Less proof, more truth. New Scientist (2614).  3. Kanigel, Robert.  The Man Who Knew Infinity: A Life of the Genius Ramanujan.  Simon and Schuster.  2016.  4. Ramanujan, Srinivasa (1887–1920), mathematician.   Oxford Dictionary of National Biography, September 2004 (Oxford University Press).  5. Neville, Eric Harold. Srinivasa Ramanujan. Nature. 149. 1942.  6. Ono, Ken; Aczel, Amir D.  My Search for Ramanujan: How I Learned to Count. Springer. 2016.  7. https://en.wikipedia.org/wiki/Srinivasa_Ramanujan  8. https://medium.com/cantors-paradise/the-ramanujan-summation-1-2-3-1-12-a8cc23dea793    Author                Lê Quang Ánh        
__label__tiasang Thiên văn học Dải Gaza: Ngẩng đầu ngắm sao giữa trời bom đạn      Trong ngành thiên văn, khu vực Trung Đông-Bắc Phi nổi tiếng với truyền thống quan sát và nghiên cứu lâu đời dưới sự ảnh hưởng của các triết lý Islam. Tuy nhiên, tại khu vực Dải Gaza, ngành thiên văn học vẫn còn mới chớm, và cả các nhà nghiên cứu lẫn những người đam mê thiên văn ở nơi đây đều đang phải đối mặt với những rào cản lớn từ cuộc xung đột Israel-Palestine.    Ibrahim Saad, Mohammed Baraka và các đồng nghiệp quan sát thiên văn từ Đại học al-Aqsa tại thành phố Gaza ngày 11/12/2019. Ảnh: Heidi Levine/Undark  Vào một buổi tối thứ tư của tháng 12, bốn người đàn ông trẻ tuổi – bao gồm sinh viên và nhà nghiên cứu tại Đại học al-Aqsa – khéo léo vác những chiếc kính thiên văn trên lưng và bước về phía một tòa nhà đại học năm tầng có nóc lên được. Với hy vọng được thấy những ngôi sao xa xôi, họ rảo bước qua một khu dân cư của thành phố Gaza, cách biên giới với Israel chưa đầy 6.5km đi bộ. Bầu trời chằng chịt dây điện, và bay xoẹt qua là những máy bay không người lái mà Israel sử dụng để do thám và tấn công. Khi nhóm của họ đến được đích, một nhân viên an ninh mở cửa cho lên mái. Cái mái trống không, chỉ trừ những thùng nhựa lớn chứa thứ nước sinh hoạt mà đi qua ống thì trở nên lờ lợ và không uống nổi.  Trên mái, các nhà quan sát mở những chiếc đế ba chân rồi đặt kính hướng lên trời. Ibrahim Saad, người đã tốt nghiệp bằng Cử nhân ngành Hóa học và hiện đang giảng dạy tại Trung tâm Thiên văn và Khoa học Vũ trụ của Đại học al-Aqsa, đưa mắt nhìn qua chiếc kính thiên văn. “Nhìn qua kính thấy những ngôi sao cách bao nhiêu năm ánh sáng làm ta cảm nhận Trái đất thật nhỏ bé làm sao”, anh trầm ngâm. “Sự chán chường, cuộc phong tỏa, và mọi vấn đề ở đây đều chẳng sánh bằng một thứ đẹp đẽ như là một ngôi sao lơ lửng trong vũ trụ”.  Thiên văn học thường được coi là một trong những ngành khoa học cổ nhất. Các nền văn hóa trên khắp thế giới đã sử dụng chuyển động và vị trí của sao và các thiên thể khác để định hướng, xác định các mùa trồng trọt hái lượm, cũng như là lên kế hoạch cho các nghi lễ. Nhưng rất ít nền văn hóa quan sát thiên tượng một cách đầy sự ám ảnh như là những người theo đạo Islam. Thiên văn học được sử dụng để quyết định mọi thứ từ hướng cầu nguyện cho đến khoảnh khắc chính xác đánh dấu lúc bắt đầu kỳ ăn chay. Ở đỉnh cao của Thời đại Hoàng kim Islam vào thế kỷ XIII, các thánh đường tuyển dụng các muwaqqit – những nhà thiên văn học chuyên theo dõi chuyển động chính xác của Mặt trời và các vì sao. Dù các học giả hãy còn tranh cãi về khả năng và mức độ ảnh hưởng của khoa học thiên văn Islam và Ả Rập đối với khoa học thiên văn ngày nay, nhiều ngôi sao trên bầu trời đêm của chúng ta vẫn giữ tên từ tiếng Ả Rập.    “Kính thiên văn là thứ bạn có thể ra cửa hàng quang học mà mua như mua kem. Nhưng ở đây, thiên văn học cũng là cửa sổ để thổi vào ngọn gió tự do mà chúng tôi đã bị khước từ suốt cuộc đời mình”. Baraka    Tuy nhiên, sự trỗi dậy của thiên văn và khoa học vũ trụ ở Dải Gaza – một mảnh đất 365 km2 bị ép dọc giữa Israel và Địa Trung Hải – có thể sẽ khiến nhiều người ngạc nhiên. Xét cho cùng, khu vực này đã bị phong tỏa từ 2007, khi Hamas lên nắm quyền và Israel tuyên bố gọi Dải Gaza là một thực thể thù địch. Giao thương bị thu hẹp, và hai triệu cư dân của vùng này chỉ được di chuyển có giới hạn. Bất chấp tình cảnh đó, Gaza trong thập kỷ vừa rồi đã chứng kiến sự chào đời của các nhóm đam mê thiên văn học (chẳng hạn, nhóm Facebook mang tên “علم الفلك – Astronomy Science” có hơn 180,000 người theo dõi), và sau đó là sự thành lập Hội Thiên văn học Palestine. Năm 2012, Đại học Islam tại Gaza đã giữ Ghế chủ tọa UNESCO (UNESCO Chair) về Thiên văn, Vật lý thiên văn và Khoa học vũ trụ.  Một điểm chung trong tất cả các nỗ lực này là nhà vật lý thiên văn Suleiman Baraka, người có sự nghiệp mà – tương tự như sự nghiệp của các sinh viên được ông dạy và cố vấn – có thể làm minh họa cho sự hứa hẹn và các thử thách của thiên văn học tại Gaza.  Baraka nghiên cứu plasma vũ trụ – một hỗn độn có điện tích chứa các hạt ion và electron cấu tạo nên phần lớn vũ trụ. Ông chế tạo các mô hình động học có tác dụng mô phỏng cách các hạt tích điện như vậy đến Trái đất trong gió mặt trời (solar wind) và tương tác với từ quyển của Trái đất. Hiện tại, ông vừa giữ chức vụ bán thời gian ở Viện Hàng không vũ trụ Quốc gia tại Virginia, Mỹ, vừa giảng dạy tại Đại học al-Aqsa ở Gaza. Đồng nghiệp trên khắp thế giới đã ca ngợi nỗ lực của ông trong việc mang thiên văn học đến Gaza.  Nhà vật lý thiên văn Suleiman Baraka trong buổi diễn thuyết tại Viện Đại học Sophia, Ý. Ảnh: loppiano.it  “Suleiman Baraka đang làm một việc phi thường”, Mario Martone nói. Mario Martone là một nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ ở Đại học Texas tại Austin, cũng là đồng lãnh đạo của Scientists for Palestine, một tổ chức gồm các nhà khoa học kêu gọi giúp người Palestine hòa nhập tốt hơn trong cộng đồng khoa học. “Sinh ra và lớn lên ở Gaza, rồi làm nghiên cứu khoa học ở cấp cao nhất, rồi lại trở về Palestine để trả ơn bằng khoa học… Nhiều người chắc đã bỏ đi biệt xứ rồi. Song thay vào đó, ông đã quyết định trở về, rồi dùng thiên văn và vật lý thiên văn để trao hy vọng cho mọi người”.  Dẫu vậy, hành trình của Baraka không hề thẳng tắp. Dù đồng nghiệp quốc tế thường ca ngợi nỗ lực tiếp cận cộng đồng của ông ở Gaza, ít ai không nhận thức được rằng tình thế ở nơi đó vẫn còn khó xoay sở, nhất là với những người muốn theo đuổi khoa học vũ trụ để đặt vào các vì sao một niềm hy vọng về tương lai tốt hơn.  Baraka sinh ra vào năm 1965 tại thị trấn Bani Suhaila gần biên giới Ai Cập. Là anh cả trong gia đình 14 người con, ông truy nguồn khát vọng hiểu biết về nơi cha mình, người chỉ đủ tiền đi học hai năm – vừa đủ để biết đọc biết viết. Theo lời Baraka, cha ông là người “có tri thức cao, nhưng không được giáo dục”. Giữa những lúc giết mổ gia súc, cha ông ham học đến mức để lại cả những dấu vân tay đỏ trên các cuốn sách mà ông truyền lại cho con trai.    “Kính thiên văn là thứ bạn có thể ra cửa hàng quang học mà mua như mua kem. Nhưng ở đây, thiên văn học cũng là cửa sổ để thổi vào ngọn gió tự do mà chúng tôi đã bị khước từ suốt cuộc đời mình”. Baraka    Vào năm 1969, Baraka – lúc ấy mới bốn tuổi – chăm chú nhìn màn hình TV đầy nhiễu để xem Hoa Kỳ đưa người lên Mặt trăng. Sự kiện ấy, cùng với cuộc chạy đua vào vũ trụ theo sau, đã khơi dậy tình yêu của ông dành cho vũ trụ và vật lý thiên văn. Ông biết rằng mình muốn được làm việc cho NASA trong tương lai. Sau này, khi ông nhận ra rằng một trong các kỹ sư Hoa Kỳ đã giúp đưa tên lửa lên Mặt trăng chính là chuyên gia tên lửa người Palestine Issam el-Nemer, ông đã cảm thấy thật hạnh phúc. Ông nói: “Việc có một người Palestine có liên hệ với sự kiện này càng khiến ước mơ của tôi khả thi hơn”.  Baraka tốt nghiệp từ Đại học al-Quds ở Đông Jerusalem vào năm 1987, với một luận án cử nhân về quá trình kiến tạo hố đen, cùng một lời mời đi học vật lý thiên văn tại Đại học Quốc gia Úc tại Canberra. Để nộp hồ sơ xin visa Úc, ông phải sang nước láng giềng Jordan. Hồ sơ visa của ông không được xử lý kịp, và bởi Baraka đã ở quá visa Jordan chỉ có thời hạn 45 ngày, ông không thể trở về Israel ngay lập tức. Thay vào đó, ông sang Libya, một trong các quốc gia duy nhất chấp nhận người Palestine mà không cần visa. Khi đó, ông đã 22 tuổi, và ông phải chờ đến chín tháng để được phép trở về Gaza.  Ông không bao giờ tới được Úc, dù đây cũng chẳng phải chuyện bất thường. Các nhà khoa học ở Gaza “về cơ bản là bị cô lập”, trích lời Robert Williams, một nhà thiên văn học và cựu chủ tịch Liên đoàn Thiên văn Quốc tế. Năm 2010, Williams cố gắng vào Dải Gaza để tham dự một sự kiện thiên văn, nhưng không được phép nhập cảnh. Thậm chí bên trong Bờ Tây – lãnh thổ Palestine không chịu sự phong tỏa của Israel, các nhà khoa học cũng thật khó mà đi lại từ nơi này sang nơi khác, do các chốt kiểm soát và sự thắt chặt về đi lại.  Khi Baraka trở về Gaza, ông làm nghề phiên dịch và nhân viên quan hệ công chúng tại Phòng Thương mại Palestine. Đây là lúc đỉnh điểm của Phong trào Intifada lần thứ nhất – một thời kỳ nổi dậy chống lại Israel, và cũng là lúc hơn một nghìn người Palestine bị giết và hàng vạn người Palestine khác bị bắt giữ. Trong thời điểm này, Israel đóng cửa các đại học, trường học, và nhìn chung thì giáo dục đã bị hình sự hóa. Bản thân Baraka cũng bị bắt giữ hai lần – một lần là vì giúp các nhà báo nước ngoài làm phóng sự về địa phương, một lần là do ông bí mật giảng dạy sinh viên Palestine. Ông kết hôn năm 1994, và con trai đầu lòng của ông chào đời năm sau đó.  Mirna al-Sabbah – một nhà vật lý thiên văn trẻ được Suleimain Baraka cố vấn – chụp trong phòng ngủ tại Deir al-Balah, Gaza. Ảnh: Heidi Levine/Undark  Baraka làm việc cho Phòng Thương mại trong hơn một thập kỷ. Nhưng ông cứ nhớ mãi vật lý thiên văn. Ông vẫn không quên sự bối rối của nhiều đồng nghiệp khi ông cuối cùng cũng bỏ công việc ổn định của mình và theo học bằng Thạc sĩ ngành Vật lý tại một đại học địa phương. Đại học này không có chuyên ngành vật lý thiên văn, nên ông học lập trình tại Viện Vật lý thiên văn Paris, nơi ông cuối cùng cũng nhận được bằng Tiến sĩ. Vào năm 2008, gần bốn thập kỷ sau lần đầu chứng kiến Neil Armstrong bước đi trên Mặt trăng, Baraka bắt đầu theo một chương trình học bổng với vai trò là nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ cho Viện Hàng không vũ trụ Quốc gia – chức vụ gần NASA nhất mà một người ngoại quốc có thể đạt được.  Tuy nhiên, ông vừa mới bắt đầu làm được ba tháng thì một quả tên lửa xé tan căn nhà của ông tại Gaza, hủy hoại hết sách vở của cha ông và khiến cho con trai 11 tuổi của ông là Ibrahim bị trọng thương. Cậu bé được chở tới một bệnh viện Ai Cập, nơi các bác sĩ chăm sóc cho các vết thương do vỏ bom đạn gây ra ở nửa trái của não bộ cậu bé. Theo lời kể của Baraka, ông bay từ Virginia về Ai Cập và ngồi cạnh giường bệnh của con trai mình, cho tới khi thi thể cậu bé được gửi về Gaza trong một chiếc quan tài. Bởi biên giới Gaza-Ai Cập đã bị đóng cửa, Baraka không được phép về Gaza với con, nên ông trở lại Hoa Kỳ với một nhiệm vụ mới. “Đào thoát không phải là câu trả lời,” ông nói. “Tôi quyết định chiến đấu chống lại sự tàn sát con trẻ bằng việc giáo dục con trẻ”.  Năm 2009, sau khi chương trình học bổng kết thúc, Baraka trở lại Gaza. Ông nhận chức vụ tại Đại học al-Aqsa, nơi ông thành lập Trung tâm Thiên văn và Khoa học vũ trụ, trung tâm đầu tiên ở các vùng lãnh thổ Palestine với mục tiêu xúc tiến khoa học vũ trụ thông qua các buổi diễn thuyết, các hoạt động tiếp cận cộng đồng và sự phát triển chương trình giảng dạy. Theo lời ông, Baraka ao ước tổ chức một sự kiện ngắm sao nơi mà công chúng có thể được truyền cảm hứng bởi cái bao la của vũ trụ.  Trước tiên, thử thách nằm ở việc mang đến Gaza một chiếc kính thiên văn dành cho mục đích nghiên cứu. Liên đoàn Thiên văn Quốc tế đã ủng hộ chiếc kính đầu tiên, song do sự thắt chặt an ninh, phải mất bốn tháng trời thì chiếc kính mới tới nơi, sau khi qua tay bao nhiêu người và được vận chuyển thành nhiều phần. Thậm chí sau khi kính đã đến nơi, Baraka cũng lo ngại rằng hệ thống do thám của Israel sẽ tưởng nhầm rằng đó là một thứ vũ khí. Theo ông giải thích, khi lắp kính lên thì “trông nó như một quả tên lửa”. Để tránh bị các lực lượng Israel nhắm tới, trung tâm của ông đã thực hiện buổi quan sát đầu tiên vào năm 2010, dưới sự bảo vệ của Đại sứ quán Pháp và mời cả tổng cố vấn Israel lẫn cánh truyền thông.  Hơn một trăm người đã đến tham dự buổi ngắm sao đầu tiên đó. Theo lời Baraka kể: “Người ở Gaza không có cơ hội đi lại. Họ biết mọi thứ từ mạng Internet. Vậy nên nếu bạn cho họ xem một chiếc kính thiên văn, bạn đưa họ ra khỏi cái kén đó, và bạn trao cho họ một cảm giác về thời gian, không gian và khoảng cách”. Trung tâm của ông ngày nay tổ chức các sự kiện ngắm sao cho công chúng từ một đến bốn lần mỗi tháng, tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau như vị trí của các ngôi sao, sự sẵn nguồn lực của trung tâm, và quan trọng nhất là tình hình an ninh địa phương – thứ có thể dao động từ ngày này qua ngày khác.  Năm 2012, UNESCO trao Ghế chủ tọa về Thiên văn, Vật lý thiên văn và Khoa học vũ trụ cho Đại học Islam tại Gaza, và Baraka hiện đang giữ vị trí này. Mirna al-Sabbah – người đã lấy bằng Cử nhân ngành Vật lý và hiện đang làm trợ giảng – đã được câu chuyện của Baraka truyền cho cảm hứng và đã tham dự nhiều buổi diễn thuyết của ông. Giờ đây, cô là một trong những sinh viên được ông cố vấn. Al-Sabbah kể, Baraka đã “thúc đẩy tôi khám phá óc sáng tạo và tình yêu khoa học của mình”. Phòng ngủ của cô ở Deir al-Balah – một khu dân cư tại trung tâm thành phố Gaza – chứa đầy thú bông đặt tên theo các hành tinh. Các công thức vật lý thiên văn được viết ngay ngắn trên các tờ giấy trang trí tấm gương của cô. Al-Sabbah có nói về chuyện theo đuổi bằng Thạc sĩ với sự hướng dẫn của nhà vật lý lý thuyết Leonard Susskind, một giáo sư tại Đại học Stanford ở California. Đến nay, cô đã theo học vài khóa trực tuyến miễn phí của Stanford.  Tuy nhiên, cho dù thiên văn học đã khơi gợi trí tưởng tượng của nhiều học sinh, sinh viên và người trong công chúng tại Gaza, làm nghiên cứu là một cuộc vật lộn. “Về cơ bản, họ bị cô lập; gần như không thể làm được nghiên cứu cấp cao tại đó,” Robert Williams nói. “Hầu hết khoa học diễn ra trong các nhóm lớn, và với nguồn lực cần thiết”.  Điều đó không có nghĩa là các sinh viên của trung tâm không cố gắng. Các bức tường phòng làm việc của Ibrahim Saad tại Đại học al-Aqsa treo đầy những áp phích miêu tả các Mặt trăng của sao Thổ, sóng điện từ, kính thiên văn và những hành tinh xa xăm. Saad nhận xét một cách đầy tự hào rằng các hình ảnh thiên văn mà trung tâm cho ra sau khi quan sát Tinh vân Lạp Hộ (Orion Nebula) có chất lượng sánh ngang với các đài quan sát thiên văn khác trên thế giới. Theo lời kể của Saad, trung tâm “đã tổ chức một sự kiện thiên văn để theo dõi sao Thủy đi qua trước Mặt trời”. Được biết, sao Thủy chỉ làm vậy 13 lần mỗi thế kỷ. Saad kể tiếp: “Khi sao Thủy bắt đầu đi vào đĩa Mặt trời lúc 2h37 phút chiều, nó hiện ra như một chấm nhỏ di chuyển ngang qua Mặt trời”.  Saad đã tìm thấy niềm đam mê ở khía cạnh hóa học cần thiết cho việc thám hiểm vũ trụ. Nhưng cho dù anh cảm kích trước những kinh nghiệm mà Baraka đã truyền cho sinh viên, anh vẫn còn bức bối trước tình trạng thiếu hụt các thiết bị cần thiết, bởi nhiều thiết bị trong số đó không thể nào nhập cảnh được vào Gaza vì bị xếp vào nhóm vật liệu chiến tranh. Theo lời Saad: “Các thiết bị ở đây chỉ có giới hạn, nhưng ở nước ngoài, họ có các trung tâm nghiên cứu khổng lồ chu cấp mọi thứ cần thiết để phát triển tài năng của tôi và để cải thiện các dự án khoa học thực thụ có lợi ích cho thế giới”.  Con trai cả của Baraka là Mohammed đang hoàn tất bằng Thạc sĩ ngành Vật lý tại Trung tâm Thiên văn và Khoa học vũ trụ. Giống như cha mình, anh có đam mê khám phá vật lý thiên văn, và kể rằng anh muốn biết thêm về mối quan hệ giữa Mặt trời với Trái đất, về các cơn bão Mặt trời, và về sự tương tác giữa gió Mặt trời và từ trường của Trái đất. Năm 2019, một trong các sinh viên của Baraka đã bắt đầu học Tiến sĩ ngành Vật lý thiên văn tại Phòng thí nghiệm Vật lý Plasma ở Paris.  Baraka tự hào về tất cả các thành tựu này, song vẫn lo ngại rằng cái chết dường như luôn lảng vảng trong bóng tối. Tháng 11/2018, một người em trai của ông đã bị các lực lượng Israel giết chết ngay bên ngoài nhà riêng ở Gaza. Sự kiện này xảy ra vào đúng năm Baraka thắng Giải thưởng Renata Borlone năm 2018 từ Viện Đại học Sophia tại Ý. Khi trao giải cho Baraka, giáo sư tri thức luận và vũ trụ học Sergio Rondinara đã dẫn lý do trao giải là “dành cho nhiệt huyết của ông trong nghiên cứu khoa học, dành cho đạo đức của ông trong các việc làm hướng tới các thế hệ trẻ của dân tộc ông, cũng như là trong việc chứng kiến sự thật rằng kiến thức khoa học và nghiên cứu có đạo đức đều có tính thích đáng và cần thiết chung đối với cuộc sống con người”.  Khi được hỏi về dự định cho tương lai, Baraka nói rằng ông muốn xây dựng một đài thiên văn, hoặc là ở Gaza, hoặc là trên những ngọn núi xung quanh thành phố Hebron ở khu vực Bờ Tây. Ông tin chắc rằng ông sẽ tìm được người làm việc cho đài thiên văn này.  “Trong mọi quốc gia trừ Gaza”, ông nói, “kính thiên văn là thứ bạn có thể ra cửa hàng quang học mà mua như mua kem. Nhưng ở đây, thiên văn học cũng là cửa sổ để thổi vào ngọn gió tự do mà chúng tôi đã bị khước từ suốt cuộc đời mình”.□  Nguyễn Bình dịch  Nguyên gốc: “In Gaza, Scanning the Sky for Stars, Not Drones”, Undark. undark.org/2020/03/02/gaza-astronomy    Author                .        
__label__tiasang Thiên văn học gần với cuộc sống hơn chúng ta nghĩ!      GS. Masatoshi Ohishi, giám đốc Trung tâm Dữ liệu Thiên văn học thuộc Đài quan sát Thiên văn Quốc gia Nhật Bản (NAOJ) sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ đầu tháng 12 và có một chuỗi bài giảng miễn phí tại một số viện nghiên cứu, trường đại học như Trung tâm Vệ tinh Quốc gia, Viện Vật lý thiên văn, Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Đại học Tây Nguyên… Ông đã dành cho Tia Sáng một buổi trao đổi về nhiệm vụ của các nhà khoa học trong việc đem những kiến thức thiên văn học đến với đại chúng.      GS.TS Masatoshi Ohishi     Tia Sáng: Đa số công chúng Việt Nam vẫn luôn thấy thiên văn học quả là rất xa xôi với đời sống thường ngày. GS có thể nói rõ hơn vai trò của thiên văn học trong đời sống của chúng ta không?  GS. Ohishi: Thiên văn học giúp trả lời những vấn đề hết sức cơ bản trong cuộc sống. Tất cả mọi người đều có những câu hỏi rất tự nhiên như “chúng ta sinh ra từ đâu?”, tất nhiên là cha mẹ sinh ra chúng ta, rồi ông bà tổ tiên sinh ra cha mẹ ta,… nhưng từ khởi thuỷ thì sao? Khi lần lại lịch sử, chúng ta sẽ nhìn thấy vai trò của ngành vật lý thiên văn trong việc trả lời những câu hỏi hết sức cơ bản về nguồn gốc con người như vừa nêu ra. Mọi người sẽ thấy rất thú vị khi biết về mối liên hệ giữa con người, giữa đời sống của chúng ta với vũ trụ. Ví dụ, cơ thể của chúng ta có 60 – 70% là nước, trong nước có phân tử hydro, và 100% phân tử hydro đó được hình thành từ tám tỉ năm trước, trong vụ nổ big bang. Mọi người hẳn sẽ rất ngạc nhiên về điều đó, đúng không? Và tôi có thể nói với họ rằng “bạn đang giữ trong mình vết tích của vụ nổ big bang đó”. Tương tự, tất cả các thành phần như protein, carbon, ni-tơ hay ô-xi… những yếu tố cơ bản này đều được tạo ra ở trên các hành tinh, các ngôi sao từ những phản ứng hạt nhân. Như vậy là cơ thể chúng ta đều được cấu thành từ vũ trụ, nhưng đa số chúng không biết điều đó, nên mọi người rất ngạc nhiên: “woa, chúng ta đều được hình thành từ vũ trụ”. Vì thế, sẽ rất thú vị khi đem những thông tin đó đến cho số đông công chúng. Và thực sự là, rất nhiều người muốn hiểu rõ mối liên hệ giữa vũ trụ và khởi thuỷ của cuộc sống chúng ta.  Nhưng cũng nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam khó có thể phát triển ngành thiên văn học bởi vì ngành này luôn đòi hỏi những thiết bị rất đắt tiền.  Không hoàn toàn là vậy. Trong điều kiện tài chính hạn hẹp, các bạn vẫn có thể phát triển thiên văn học theo cách riêng của mình mà không cần tới các trang thiết bị đắt đỏ. Ví dụ như dùng các loại kính thiên văn nhỏ. Hẳn các bạn đều biết cách đây hơn hai mươi năm, Đại học Geneva phát hiện ra các ngoại hành tinh (exoplanet) chỉ bằng loại kính thiên văn nhỏ có đường kính 1 mét. Việt Nam có một lợi thế là nằm gần đường xích đạo nên chỉ với kính thiên văn vô tuyến nhỏ, các bạn vẫn quan sát được hầu hết các khu vực trên bầu trời, nó chỉ phụ thuộc vào vị trí bạn đặt các kính này thôi. Ngoài ra, hiện nay các bạn có cơ hội rất lớn để tiếp cận với nhiều nguồn cơ sở dữ liệu mở, như Trung tâm Dữ liệu của chúng tôi.  Tiếp xúc với một số nhà khoa học trẻ của Việt Nam, tôi thấy các bạn có tiềm năng rất lớn trong nghiên cứu thiên văn học. Vấn đề là các nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm cần hỗ trợ rất nhiều cho các nhà nghiên cứu trẻ và có trách nhiệm mang khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng tới đại chúng để thu hút người học.  GS vừa nói rằng các nhà nghiên cứu phải có trách nhiệm đem khoa học đến đại chúng. Vậy GS và các đồng nghiệp đã đem kiến thức ngành thiên văn học đến công chúng ở Nhật Bản như thế nào?  Hằng năm chúng tôi có ngày hội mở (open day) và mỗi tháng đều có sự kiện khoa học dành cho công chúng ngay tại trụ sở của mình. Tại các sự kiện này, người yêu thích thiên văn học có thể nghe các bài nói chuyện dành cho đại chúng và đặt câu hỏi trực tiếp cho chúng tôi. Ngoài ra, chính các nhà nghiên cứu thiên văn học cũng đến giảng ở tất cả các cấp học, từ trẻ mẫu giáo tới bậc phổ thông trung học. Ngành thiên văn học được đánh giá là ngành học mang kiến thức phổ thông đến số đông đại chúng tốt nhất ở Nhật Bản.  Tôi thật sự ngạc nhiên khi nghe GS vừa nói rằng những nhà nghiên cứu cũng đến nói chuyện về thiên văn học cho trẻ nhỏ, thậm chí là trẻ mẫu giáo. Tại sao như vậy?  Rất có thể những bạn nhỏ đó sẽ trở thành các nhà thiên văn học trong tương lai đúng không? Có thể là chỉ 1% thôi, nhưng 1% của 1 triệu người thì cũng là 10.000 nhà thiên văn học trong tương lai. Vì vậy cần nuôi dưỡng mầm khoa học ở trẻ ngay từ sớm. Bản thân tôi dạy khoảng sáu buổi miễn phí mỗi năm cho trẻ em bậc tiểu học. Dạy cho bọn trẻ luôn đem lại những ấn tượng khó quên với chúng tôi. Chúng luôn rất hào hứng, thậm chí còn đặt nhiều câu hỏi vượt cả sự mong đợi của chúng tôi. Các buổi trao đổi kiến thức như thế cũng mang lại cơ hội cho giáo viên để họ hiểu thêm về thiên văn học.  Ông có thể cho biết làm thế nào để buổi nói chuyện khoa học hấp dẫn các bé cũng như người lớn?  Tại mỗi sự kiện khoa học dành cho công chúng, chúng tôi chuẩn bị các bài nói chuyện đơn giản, dễ hiểu. Chẳng hạn như, hết sức tránh dùng các thuật ngữ chuyên ngành khiến người nghe không thể hiểu nổi. Các chủ đề đưa ra thường là chủ đề được mọi người quan tâm, như chủ đề về lỗ đen, có gì trong các lỗ đen? Hay tuổi của vũ trụ, hoặc những thông tin cơ bản về các hành tinh và ngôi sao. Nhiều người cũng quan tâm đến UFO hoặc người ngoài hành tinh.  Còn đối với các bé, chúng tôi chỉ giảng với những bức tranh, ảnh kèm theo chú thích thật đơn giản. Chúng tôi cũng áp dụng cách làm tương tự khi làm sách khoa học về thiên văn học cho trẻ em. Ở Trung tâm của tôi, có một bộ phận làm truyền thông khoa học cho đại chúng phụ trách vấn đề này, và các sách cho thiếu nhi luôn rất dễ hiểu, dễ dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau. Có thể dịch sang tiếng Việt chẳng hạn.  Để biết được phản ứng của công chúng với các bài nói chuyện, chúng tôi đề nghị người nghe phản hồi thông tin. Nhờ đó, kịp thời điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tương tác với họ. Tôi nghĩ, thông thường, với các bài nói chuyện khoa học, người nghe phổ thông hiểu được 70% đã là thành công (rất khó để họ hiểu được 100%).  Thực ra chúng tôi cũng có “chiêu” của mình để hấp dẫn mọi người đến các buổi nói chuyện. Thi thoảng chúng tôi mời những người nổi tiếng như Nhật hoàng và các nghệ sĩ lớn tham gia cùng. Điều đó mang lại hiệu ứng truyền thông rất tốt.  GS Pierre Darriulat đã từng nói rằng các nhà khoa học phải có trách nhiệm giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học của mình đến công chúng. GS có nghĩ như vậy không?  Đương nhiên. Nhà khoa học bắt buộc phải [nhấn mạnh] cung cấp các thông tin và những thành tựu khoa học mới nhất đến công chúng. Ở Nhật Bản, người làm nghiên cứu chúng tôi ý thức rất rõ về điều này bởi vì nếu muốn xin đầu tư cho nghiên cứu từ nhà nước hoặc từ các quỹ nghiên cứu, thì yêu cầu trước tiên mà họ đặt ra là công chúng – xã hội quan tâm đến vấn đề đó như thế nào. Ngoài ra, các nhà khoa học sẽ nhận được rất nhiều thông tin từ các buổi nói chuyện khoa học cho đại chúng như thế. Riêng tôi, tôi thấy rất thú vị, thật sự hạnh phúc khi giảng bài cho trẻ em.  Giới truyền thông góp phần hỗ trợ Trung tâm của GS và giới nghiên cứu nói chung như thế nào trong việc đem thông tin khoa học tới đại chúng?  Giới truyền thông có khả năng rất tốt trong việc đơn giản hoá các thông tin khoa học và giới thiệu đến công chúng. Họ chính là cầu nối khoa học với đại chúng. Nhưng nhiều khi những người làm truyền thông không đủ kiến thức để viết về các kết quả nghiên cứu khoa học. Do đó, Trung tâm của chúng tôi mời những người làm truyền thông đến để giảng giải về những vấn đề cơ bản (không phải các buổi công bố kết quả nghiên cứu – các buổi này riêng). Lần gần đây nhất, Trung tâm của chúng tôi mời khoảng 40 người làm truyền thông đến để giảng bốn bài về thiên văn học. Các buổi giảng này hoàn toàn miễn phí. Sau mỗi buổi giảng, các nhà nghiên cứu và giới truyền thông lại tham gia những buổi tiệc nho nhỏ cùng nhau để trao đổi tiếp, những buổi gặp gỡ nhỏ như thế gắn kết mọi người hơn rất nhiều.  Trong tương lai GS có dự định hợp tác nghiên cứu nào cùng với Việt Nam?  Có chứ, nhưng các đơn vị nghiên cứu thiên văn học của các bạn phải tự viết đề xuất hợp tác nghiên cứu. Còn chúng tôi sẽ hợp tác cùng các bạn. Hãy bắt đầu và nhớ rằng, không thể thành công ngay từ bước đầu tiên mà cần phải có một hành trình dài, rất dài mới có thành công.  Xin cảm ơn GS đã chia sẻ!   Thu Quỳnh thực hiện!     NAOJ – Đài quan sát Thiên văn Quốc gia Nhật Bản – với sáu campus (cơ sở) nằm rải rác ở khắp đất nước và đón công chúng tới thăm quan định kì vào các ngày nghỉ, ngày lễ tết hằng năm. Hai campus nổi bật là Mitaka ở Tokyo và Mizusawa ở Oshu, Iwate (phía Bắc Nhật Bản) với những công trình đánh dấu sự phát triển của ngành thiên văn học của Nhật Bản được bảo tồn từ những năm 1920 đến nay và bảo tàng về những nhà khoa học Nhật Bản đi đầu trong lĩnh vực này. Hai campus này còn có những công trình đưa công chúng tiếp cận gần gũi hơn với thiên văn học như Con đường Hệ Mặt trời (The Solar System Walk tại Mikata Campus) có kích thước và vị trí của các hành tinh theo tỉ lệ 1/14 tỉ và bảo tàng khoa học vũ trụ và thiên văn Oshu (tại Mizusawa Campus) với hình ảnh vũ trụ được chiếu 4D và người tham quan được trực tiếp tham gia làm các thí nghiệm thiên văn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiên văn học Marxist: Dải Ngân hà trong mắt Anton Pannekoek      Đối diện với các bức vẽ của nhà thiên văn học, nhà tư tưởng Marxist kiêm nhà chủ nghĩa cộng sản hội đồng người Hà Lan Anton Pannekoek (1873-1960), chúng ta sẽ không nhận ra được ngay rằng Pannekoek đang vẽ dải Ngân hà. Dải sao này hiện lên như một khúc xương sống lờ mờ, lúc thì với “màu thực” (sao trắng trên nền đen), lúc thì dưới dạng ảnh ngược, trong đó các ngôi sao là các đốm sẫm màu, còn phần “ngân” của dải Ngân hà thì được tô đen như mực. Những bức vẽ ấy cùng một lúc vừa mơ hồ vừa chính xác; chúng là bước chuyển tiếp giữa tranh mài than củi và ảnh chụp bằng tia X.     Một bức vẽ dải Ngân hà của Anton Pannekoek. Ảnh: The Public Domain Review.  Trên thực tế, những bức tranh này không thực sự vẽ dải Ngân hà, bởi theo Pannekoek, không thể tiếp cận được một thứ như vậy dưới dạng thực thể khách quan thuần túy. Quả thật, ở thời Pannekoek, phần nhiều các nhà thiên văn cũng đã hiểu được rằng ngay cả những người có trình độ cao cũng có thiên kiến khi quan sát sao (một hiện tượng được gọi là “phương trình cá nhân” – personal equation). Tuy nhiên, Pannekoek đi xa hơn thế: ông lý luận thứ mà chúng ta nhận thức là dải Ngân hà thực ra là ảo ảnh thị giác xuất phát từ cả các vì sao lẫn những người quan sát chúng trên Trái đất. Trong bài báo xuất bản năm 1897 trên tờ Popular Astronomy, Pannekoek thảo luận về sự thiếu nhất quán mang tính trực quan của dải Ngân hà, rồi tự hỏi liệu “đặc tính của hiện tượng thiên hà này có ngăn chặn việc khắc họa nó một cách cố định hay không”. Đây không chỉ là một thất bại trong khoa học quan sát đương thời; nó còn phản ánh đúng rằng dải Ngân hà vào thời điểm đó chỉ là một dạng ảo giác, thay đổi hình thù tùy theo trải nghiệm sống và thời đại lịch sử của quan sát viên, cũng như là cách mà trải nghiệm sống truyền cho tâm trí tạo ra các mẫu hình từ bản chất linh hoạt của hiện thực. Theo đó, tranh của Pannekoek vẽ chính quá trình tri giác – một hướng đi xuất phát từ tư tưởng chính trị của ông.  Giống như Marx và Engels – những người tiếp nhận Feuerbach, Hegel và Heraclitus – Pannekoek hiểu hiện thực vật chất như một “luồng liên tục, không bị giới hạn, luôn chuyển động không ngừng”. Ông tin rằng từ sự linh hoạt này, trí não con người có thiên hướng tạo dựng các mẫu hình cố định và trừu tượng – các mẫu hình mà lúc nào cũng tùy thuộc vào xã hội và lịch sử. Do đó, mọi quang cảnh – kể cả cảnh sao trời – luôn tự tạo và tự tái tạo trong tâm trí quan sát viên dựa trên sinh lý, tâm lý cá nhân, cùng với các điều kiện vật chất đặc trưng ở vị trí và thời điểm của họ.  Với sự tiến bộ của công nghệ tạo ảnh – trong đó phải kể đến các kính viễn vọng radio và thiết bị tia gamma được huấn luyện theo dải Ngân hà, tính khách quan cơ học không thực sự đi đôi với sự đáng tin cậy. Theo Anya Ventura, “lịch sử thiên văn học thường được tường thuật qua tiến trình cải thiện tầm nhìn với sự quyết định của công nghệ”. Song, bởi công nghệ này phụ thuộc vào một kiểu thu thập dữ liệu vượt quá năng lực của giác quan con người, nó luôn đòi hỏi các công đoạn bổ sung để chuyển hóa các phát hiện thành một thứ mà con người trải nghiệm được. Các công đoạn này thường được tua qua dựa vào các quyết định chủ quan và bị loại bỏ khỏi bản tường thuật trước công chúng. Chẳng hạn, khung cảnh ngập tràn màu trắng sữa và sặc sỡ các sắc xanh đỏ tím trong loạt ảnh đầu tiên của kính thiên văn Hubble đều là màu nhân tạo, khiến cho công chúng thất vọng và cảm thấy bị lừa. Website của Hubble đã phản hồi rằng các màu nhân tạo cho phép người xem “hình dung những thứ mà thông thường mắt người không bao giờ thấy được”. Theo Lorraine J. Daston và Peter Galison, tính khách quan của quá trình tạo ảnh khoa học dựa trên sự kiến tạo rằng mắt thường không đáng tin cậy.    Dải Ngân hà là một bóng ma dồi dào những cấu trúc và hình thể, những dạng hình sáng tối. Ánh sáng của nó chỉ có thể được quan sát bằng các tế bào que, nghĩa là chỉ được trông thấy bằng tầm nhìn không trực tiếp. Song, khi vắng các ánh sáng chói, nó tạo ấn tượng như một vẻ đẹp rực rỡ    Ngược lại, các bức vẽ của Pannekoek – được chế tác vào thời con mắt cơ học đang bắt đầu vượt trội so với vai trò truyền thống của thủ công – lại tượng trưng cho một xu thế khác trong việc tạo ảnh thiên văn, một xu thế không những chẳng rụt rè trước bản tính cá nhân gây ngờ vực của sự nhìn vũ trụ, mà còn sáp nhập chính sự ngờ vực này vào phương pháp của nó. Cách triển khai khoa học này không phủ nhận sự ràng buộc của nó vào các điều kiện vật chất và lịch sử của hành động sống trên Trái đất.  Chào đời ở Hà Lan năm 1873 – hai mươi lăm năm sau khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được xuất bản, Pannekoek học Toán và Vật lý tại Đại học Leiden, nơi ông xuất bản nghiên cứu đầu tiên của mình về dải Ngân hà khi vẫn còn là sinh viên. Sau khi đọc cuốn tiểu thuyết không tưởng Bình đẳng (Equality) in năm 1897 của Edward Bellamy, ông bắt đầu đam mê chủ nghĩa xã hội, rồi tìm đọc triết của Karl Marx và Joseph Dietzgen. Càng dần, ông càng khó điều hòa hai sự nghiệp khoa học và chính trị song song, để rồi sau khi ủng hộ một cuộc bãi công, ông bị khiển trách và sa thải khỏi đài quan sát. Quyết tâm cống hiến đời mình cho chính trị cách mạng, ông chuyển đến Berlin rồi sau đó là Bremen, nơi ông xuất bản rộng rãi – phần nhiều là dưới bút danh – và dạy chủ nghĩa duy vật lịch sử tại các trường học do Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) thành lập.  Tầm với của ông từng ở mức liên lục địa: theo Theodore Draper, trong những năm trước Thế chiến thứ nhất, tên của Pannekoek đã trở nên quen thuộc “với nhiều nhà xã hội chủ nghĩa Hoa Kỳ trong khi Lenin và Trotsky thì gần như không được biết đến”. Sau Thế chiến thứ hai, vỡ mộng trước các nhà nước cộng sản, ông trở thành một trong những nhân vật chính đề xướng chủ nghĩa cộng sản hội đồng (council communism), một luồng tư tưởng phản đối chủ nghĩa xã hội nhà nước và thay vào đó ủng hộ một cuộc cách mạng do các hội đồng công nhân lãnh đạo. Dù được Lenin bàn luận đầy thiện chí trong cuốn Nhà nước và cách mạng (1917), có lẽ Pannekoek được nhớ đến nhiều nhất trong chính trị nhờ cuốn Lenin als Philosoph (Lenin như một nhà triết học) in năm 1938, nơi ông phê phán niềm tin của Lenin vào “hiện thực của những sự trừu tượng hóa”.  Pannekoek. Ảnh chụp năm 1908 tại Berlin.Ảnh: The Public Domain Review  Pannekoek từ Đức trở về Hà Lan vào đầu Thế chiến thứ nhất, rồi nhận lại chức vụ giảng dạy ở Đại học Leiden. Sau khi giám đốc đại học thay đổi, Pannekoek cũng được đề cử làm Phó Giám đốc đài thiên văn. Tuy nhiên, các hoạt động cộng sản lừng lẫy của ông khiến chính phủ Hà Lan – vốn đã lo sợ làn sóng cách mạng cộng sản đang ngập tràn châu Âu – buộc phải phủ quyết cuộc bổ nhiệm này. Năm 1921, Pannekoek thành lập Viện Thiên văn học tại trường Đại học Amsterdam. Ngày nay, Viện Thiên văn học này mang tên ông.  Ngay từ lần đầu mất việc, Pannekoek đã miêu tả các phương pháp của trường đại học là tẻ nhạt và lỗi thời. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thiên văn học đang ra sức “phục trang bản ngã” (self-fashioning) thành một “ngành khoa học chính xác” (precision science), đồng thời khắc phục vấn đề “phương trình cá nhân” bằng cách biến sự cảnh giác, sự giám sát và công việc ghi sổ thành các phương pháp. Ngược lại, Pannekoek cho rằng dải Ngân hà được tạo ra ở giao điểm giữa hiện thực vật chất, mắt của quan sát viên, và cách mà trí óc quan sát viên luận giải sự tương giao này. Trong cuốn Một lịch sử thiên văn học (A History of Astronomy) in năm 1951, Pannekoek chất vấn:  Rốt cuộc dải Ngân hà là cái gì? Nói chính xác thì nó là một bóng ma – một bóng ma dồi dào những cấu trúc và hình thể, những dạng hình sáng tối. Trong đêm hè, nó là một trong những quang cảnh đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng cho mắt người. Quả thật, ánh sáng của nó yếu ớt đến mức nó biến mất ngay tại chỗ con mắt cố chăm chăm nhìn vào; nó chỉ có thể được quan sát bằng các tế bào que chứ không phải tế bào nón, nghĩa là chỉ được trông thấy bằng tầm nhìn không trực tiếp. Song, khi vắng các ánh sáng chói, nó tạo ấn tượng như một vẻ đẹp rực rỡ. Do một số ngôi sao trong dải Ngân hà vốn đã tối, và mắt người cũng tiếp nhận ánh sáng của chúng một cách khó đoán, Pannekoek tin rằng não bộ đã tìm ra các mẫu hình riêng trong sự tương giao giữa sáng và tối, và các mẫu hình này sẽ khác biệt tùy theo trải nghiệm sống của từng quan sát viên.  Pannekoek đã thiết kế phương pháp tạo ra thứ mà ông gọi là “ảnh chủ quan trung bình” của dải Ngân hà, gồm nhiều phối cảnh tầng tầng lớp lớp. Trước tiên, ông thu thập các miêu tả dải Ngân hà dưới dạng chữ viết của nhiều nhà quan sát khác nhau (ông tin rằng quá trình vẽ phác họa dễ làm mất độ chính xác), rồi sau đó là dưới dạng ảnh ngoại tiêu (extra-focal), được chụp bằng cách cố ý đặt kính ảnh bên ngoài tiêu diện để ánh sáng được phân bố đầy đủ hơn, nhằm bắt chước cách ánh sáng thiên văn được mắt người tiếp nhận. Cả miêu tả viết tay lẫn ảnh ngoại tiêu đều được dịch thành “bản đồ đẳng quang” (isophotic map) dựa trên cường độ ánh sáng. Giống như cách bản đồ địa hình khắc họa độ cao, mỗi đường trên bản đồ đẳng quang lại được vẽ quanh một vùng có cùng cường độ ánh sáng. Sau đó, mỗi đường này được trao cho một giá trị. Ảnh chủ quan trung bình được tạo ra bằng cách tính trung bình số của từng đường bóng mờ. Một khi đã tính trung bình, đích thân Pannekoek biến các bản đồ thành các bức vẽ.  Từ góc nhìn của ngày nay, các bản đồ dải Ngân hà của Pannekoek có gì đó thật xa lạ. Cùng một lúc, phần bóng tối vừa mơ hồ, vừa được tô cẩn thận như những vết hằn của chiếc chăn nhăn nhúm trên da người mới thức dậy buổi sáng. Những tấm bản đồ có tính tự nhiên nhưng thiếu tính tả thực, bởi phương pháp chế tác chúng đi kèm ngờ vực về độ khách quan của con mắt hình ảnh. Chúng gợi suy nghĩ đến một ý tưởng hết sức hóc búa về cái “trung bình” của tầm nhìn con người và cơ học, song chúng làm được như vậy là nhờ sự thận trọng và tính chặt chẽ cao.  Làm việc ở thời đại khi mà các ngành công nghiệp ngày càng được cơ hóa, Pannekoek không thực sự đi tiên phong cho việc thay thế báo cáo viết tay bằng các phương pháp tri giác dựa vào máy móc. Thay vào đó, ông kiếm tìm một sự khách quan chung thông qua việc kết hợp các cách thấy (way of seeing) hữu cơ và cơ học khác nhau. Nếu đa phần lịch sử khoa học công nghệ sau Thời kỳ Khai sáng có thể được giải thích như công cuộc cơ hóa tầm nhìn để tăng độ đúng và độ chụm, thì Pannekoek lại đang di chuyển theo hướng ngược lại: bóp méo cái nhìn của máy ảnh để đưa nó tới gần nhãn quan con người hơn.    Các bức vẽ dải Ngân hà của Pannekoek không phải là các hình ảnh bầu trời, mà là những tấm gương có tầm vóc vũ trụ dành cho con người, làm lộ ra sự tương giao giữa cá nhân và tập thể, giữa suy tư và vật chất, cũng như là sự tương ứng giữa nghệ thuật, khoa học và chính trị.    Dù Pannekoek cố gắng tách biệt sự nghiệp chính trị và khoa học, những người nghiên cứu tỉ mỉ các công trình của ông – bao gồm cả Omar Nasim và Đới Thiếu Khang (Chaokang Tai) – đã quan sát thấy cách tư tưởng chính trị ảnh hưởng đến các niềm tin và phương pháp khoa học của Pannekoek. Về bản chất, quan niệm của Pannekoek về dải Ngân hà là quan niệm Marxist. Chẳng hạn, trong cuốn “Đấu tranh giai cấp và dân tộc” (1912), ông miêu tả một phiên bản chủ nghĩa duy vật lịch sử chịu ảnh hưởng của Dietzgen, trong đó tri giác đóng vai trò hệ trọng: “Thế giới bên ngoài chảy trước tâm trí như một dòng sông vô tận, thay đổi không ngừng. Những ảnh hưởng của nó được tâm trí ghi lại và hợp nhất, rồi thêm vào đó những cái vốn có trong tâm trí trước khi kết hợp tất cả các yếu tố này với nhau.” Viết về một chủ đề tương tự năm 1944, Pannekoek cho rằng suy nghĩ “không phải các thực thể độc lập”, mà là “các sự kết nối, các quan hệ qua lại” được định nghĩa bởi một quá trình chuyển dịch có động lực, và bị vướng vào các điều kiện vật chất. Vì vậy, đối với Pannekoek, “ảnh chủ quan trung bình” của dải Ngân hà phần ít là một ước tính trung bình tĩnh, phần nhiều là một quá trình khắc họa bản chất động của suy nghĩ trong mối quan hệ với quan sát theo thời gian. Nó là một khoảnh khắc, một tấm ảnh chụp nhanh của dòng chảy rộng lớn hơn mà trong đó chứa tất cả hiện thực.  Bản đồ đẳng quang (bên trái) được tạo từ ảnh chủ quan trung bình (bên phải), miêu tả một khoảng phía Bắc của dải Ngân hà. Ảnh: Pannekoek (1920)  Trong cuốn Nguồn gốc nhân loại, Pannekoek thảo luận khả năng phát hiện các khuôn mẫu của con người dưới dạng một “ước lượng trung bình được làm mịn” (smoothed average) – một quá trình sắp xếp tự động trong đó các xúc cảm ảnh hưởng tới suy nghĩ có ý thức bằng cách “xếp chồng dưới vực sâu tăm tối, dần dần trở nên mịn và hợp nhất với nhau”. Theo đó, một người càng được rèn luyện trong một lĩnh vực cụ thể thì các khuôn mẫu mà họ nhận thấy sẽ càng tương ứng với điều họ đã được học. Ngày nay, thứ được Pannekoek thảo luận có thể được gọi là “thiên kiến xác nhận” (confirmation bias), dù trong ngữ cảnh niềm tin bao quát hơn về nguồn gốc vật chất của suy nghĩ, Pannekoek không nói tới một khả năng sai lầm đáng tiếc của con người, mà là một khía cạnh cơ bản trong quan hệ của ta với thế giới. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực hành khoa học phần lớn vẫn được tài trợ bằng vốn tư nhân, và một dòng chảy ngầm của chủ nghĩa Darwin xã hội (social Darwinism) liên hệ xuất thân tư sản với tài năng khoa học bẩm sinh. Trong cuốn Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Darwin (1909), Pannekoek phản đối ý niệm này: ông cố gắng chứng minh rằng cho dù chủ nghĩa Darwin “có tác dụng như một công cụ cho giai cấp tư sản đấu tranh chống lại tầng lớp phong kiến”, trên thực tế thì chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Darwin “tạo thành một thể thống nhất”. Theo Đới Thiếu Khang, Pannekoek cũng bác bỏ quan niệm phổ biến ở thế kỷ XIX rằng các nhà khoa học sở hữu “tầm nhìn vượt trội” (một năng khiếu bẩm sinh cho phép họ quan sát vạn vật theo đúng cách chúng tồn tại ở thế giới thực). Việc Pannekoek tin vào cơ sở vật chất của các ý tưởng nghĩa là theo ông, người nào cũng có thể thực hành khoa học. Nếu các công cụ thực hành khoa học được tầng lớp vô sản sở hữu chứ không phải các viện khoa học khai phóng, thì khoa học sẽ không còn bị giới tư sản thống trị nữa. Ông viết: “Trong một xã hội tư bản, khoa học là đặc quyền và đặc sản của một tầng lớp riêng biệt – tầng lớp trí thức trung lưu. [Tuy nhiên] trong một xã hội cộng sản, tất cả sẽ cùng hưởng kiến thức khoa học.”  Logo kỷ niệm 100 năm thành lập Viện Thiên văn học Anton Pannekoek (1921-2021). Ảnh: api.uva.nl  Thiên văn học hiện đại không phải là một cuộc theo đuổi lành tính về mặt chính trị. Sự phát triển của nó ở châu Âu có liên hệ chặt chẽ với sự trỗi dậy của các hệ thống thu thập dữ liệu toàn cầu, vẽ bản đồ và chuẩn hóa đóng vai trò bóc lột tài nguyên vật chất từ khắp hành tinh, song lại đặt châu Âu ở trung tâm tri thức của thế giới. Theo Alex Soojung-Kim Pang lý luận trong Đế quốc và Mặt Trời (2002), nghiên cứu khoa học trở thành một cách để các nước châu Âu áp đặt các tiêu chuẩn và tư tưởng khoa học Tây phương như thể chúng là sự thật tuyệt đối. Vào thời điểm đó, các trường đại học châu Âu cũng thường xuyên xây dựng các đài thiên văn ở bán cầu Nam, mở ra một góc nhìn mới về bầu trời đêm. Bản thân Pannekoek cũng đã được hưởng lợi một cách đặc biệt từ cơ sở hạ tầng thuộc địa ở Java và Sumatra – hai hòn đảo khi đó thuộc Công ty Đông Ấn Hà Lan. Tuy nhiên, có thể nói, triết lý làm nền tảng cho các công trình của Pannekoek, dưới sự xem xét có tính phê phán của ngày nay, cũng đóng góp vào một dòng chảy tư duy khoa học đã ngấm ngầm làm hao mòn sự áp đặt đầy vũ lực những thế giới quan nhất định – một phần không nhỏ trong hệ quả của quá trình sản xuất kiến thức thuộc địa.  Một góc nhìn biện chứng về bầu trời đêm mở ra một con đường đi xa hơn mọi hệ nhị nguyên tuyệt đối giữa sự đúng và sự sai, khơi dậy một sự nghiêm ngặt, một sự chính xác khoa học không cố gắng tỏ ra là hoàn chỉnh, là không thể chối cãi. Do đó, các bức vẽ của Pannekoek gợi nhắc lại một phiên bản có từ trước của thiên văn học, với “một hướng tiếp cận định tính, có phần văn chương và thẩm mỹ, chứ không phải một hướng tiếp cận định lượng, có phần toán học đối với các hiện tượng”, theo lời của Charlotte Bigg. Bằng việc làm nổi bật sự đa dạng về phép luận giải, Pannekoek hướng tới một cách làm khoa học phi tập trung từ dưới lên, có tiềm năng bổ trợ cho các phương pháp luận chống thực dân, chống tư bản. □  Nguyễn Bình dịch  Nguyên gốc: “Marxist Astronomy The Milky Way According to Anton Pannekoek”, The Public Domain Review. publicdomainreview.org/essay/marxist-astronomy-the-milky-way-according-to-anton-pannekoek=    Author                .        
__label__tiasang Thiên văn trên mảnh đất bị chiếm đoạt: Khu vườn trên núi Que Đỏ      Thiên văn học thường được nhìn nhận như một ngành khoa học mang tính khai phóng, truyền cảm hứng cho ước mơ khám phá vượt xa khỏi giới hạn của bầu trời. Tuy nhiên trên thực tế, lịch sử, hiện tại và tương lai của thiên văn học hoàn toàn nằm lọt thỏm trong dòng chảy thời gian dưới mặt đất, nghĩa là vẫn chịu ảnh hưởng, nếu không nói là ảnh hưởng đến các biến động và bi kịch lịch sử của con người nói chung.      Đài quan sát quốc gia Đỉnh Kitt. Ảnh: Marilyn Chung/Lawrence Berkeley National Lab/KPNO/NOIRLab/NSF/AURA  Đài quan sát quốc gia đầu tiên  Cách thành phố Tucson, Arizona 90km về phía Tây Nam, sừng sững giữa vùng sa mạc lấm tấm xương rồng là một ngọn núi cao 2,098m. Ngọn núi này nằm trong biệt khu của người Tohono O’odham (gọi tắt là O’odham), một tộc người Mỹ bản địa đã sinh sống tại vùng đất này hàng trăm năm nay và gọi ngọn núi là Iolkam Do’ag (núi Que Đỏ), xuất phát từ các bụi cây manzanita màu đỏ mọc dày đặc tại đây. Trong thần thoại của người O’odham, núi Que Đỏ là khu vườn của I’itoi, vị nam thần đã có công sáng tạo ra thế giới và mang tổ tiên của người O’odham đến miền Tây Nam nước Mỹ ngày nay. Người O’odham sống tập trung quanh vùng đất quê hương của họ, cho đến khi hai nhà nước thực dân định cư là Hoa Kỳ và Mexico được thành lập và tranh giành quyền kiểm soát đất đai. Ngày nay, biệt khu Tohono O’odham bị xẻ đôi bởi biên giới Mỹ-Mexico, gây ra nhiều khó khăn trong việc đi lại của cộng đồng, đặc biệt là sau các chính sách thắt chặt biên giới của Tổng thống Donald Trump.  Trong tiếng Anh-Mỹ, tên gọi chính thức của núi Que Đỏ là Đỉnh Kitt (Kitt Peak), và cộng đồng thiên văn học ngày nay biết đến ngọn núi như nơi đặt Đài quan sát quốc gia Đỉnh Kitt (Kitt Peak National Observatory, viết tắt là KPNO) dưới sự quản lý của Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. KPNO được xây dựng trong bối cảnh Hoa Kỳ sau Thế chiến thứ hai, khi một lượng đông đảo các nhà thiên văn học kêu gọi “dân chủ hóa” (democratize) các đài quan sát – những địa điểm xưa nay vốn dĩ được xây dựng và quản lý bởi các đại học và nhà thầu tư nhân không ngừng cạnh tranh với nhau. Vào năm 1954, các nhà thiên văn từ khắp nước Mỹ đã thành lập một ủy ban riêng để thảo luận kế hoạch xây dựng một “đài quan sát thiên văn quốc gia.” Nhận được sự đồng thuận và hỗ trợ tài chính của Quỹ Khoa học Quốc gia, ủy ban này bắt đầu tìm kiếm một địa điểm lý tưởng cho đài quan sát nói trên, một địa điểm mà vừa phải tránh được ô nhiễm ánh sáng từ các thành phố, vừa đủ cao và khô hạn để giảm thiểu ảnh hưởng của bầu khí quyển. Những tiêu chí như vậy nhanh chóng đưa các nhà thiên văn học tới Đỉnh Kitt ở Arizona.  Năm 1955, hai nhà thiên văn học Helmut Abt và Aden Meinel đặt chân đến biệt khu Tohono O’odham và xin phép được lên Đỉnh Kitt khảo sát. Đi cùng các nhà nhân chủng học từ trường Đại học Arizona lân cận, Meinel đã gặp mặt Chủ tịch Hội đồng Bộ lạc Mark Manuel, và sau đó là các trưởng lão Quận Schuk Toak, khu vực trực tiếp quản lý Đỉnh Kitt. Trong cuộc trò chuyện với người O’odham, Meinel nói chuyện bằng tiếng Anh với sự giúp đỡ của các thông dịch viên, những người đã dịch từ “nhà thiên văn học” thành “O’odham mo g cew wu:pui” (những người mắt dài). Về phía Meinel, ông giải thích lý do “những người mắt dài” như ông coi Đỉnh Kitt là một ngọn núi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quan sát thiên văn, đồng thời giải thích ngắn gọn công việc của ngành thiên văn học nói chung. Còn về phần các trưởng lão, họ kể về ý nghĩa thiêng liêng của ngọn núi này và bày tỏ sự quan ngại trước việc ngọn núi bị sử dụng cho mục đích không phải tâm linh. Sau khi gặp mặt các trưởng lão O’odham, Meinel tin rằng hai bên đã hiểu nhau hơn và mọi chuyện đã êm xuôi, song vài tuần sau đó, Chủ tịch Manuel và các trưởng lão Quận Schuk Toak quyết định từ chối không cho khảo sát Đỉnh Kitt. Các nhà thiên văn học cố gắng giải trình và đưa ra một lời đề nghị khác, nhưng các trưởng lão chỉ từ chối một lần nữa.  Lo ngại về tương lai của dự án, các nhà thiên văn học nhanh chóng gặp mặt Chủ tịch trường Đại học Arizona và các nhà nhân chủng học để tìm cách thuyết phục chính quyền Tohono O’odham. Họ cho rằng người O’odham từ chối là bởi họ chưa biết rõ công việc của nhà thiên văn học là thế nào, nghĩa là nếu các nhà thiên văn học cho các trưởng lão O’odham tham quan một đài thiên văn và quan sát các vì sao qua chiếc kính viễn vọng, có thể các trưởng lão sẽ hiểu hơn và chấp nhận kế hoạch đài quan sát. Theo đó, ngày 28/10/1955, vào một buổi tối có trăng thượng huyền, các trưởng lão O’odham được mời đến Đài thiên văn Steward trong khuôn viên trường Đại học Arizona để quan sát Mặt trăng và các vì sao. Theo lời kể của Helmut Abt, các trưởng lão nhanh chóng nhận ra rằng công việc này “chỉ để học thêm về những thứ trên trời, và dĩ nhiên, bản thân họ cũng quan tâm đến bầu trời”, và từ đó, các trưởng lão đồng ý rằng đài quan sát quốc gia sẽ không ảnh hưởng gì đến ngọn núi. Sáu tuần sau, hội đồng trưởng lão O’odham chính thức cho phép các nhà thiên văn lên khảo sát ngọn núi. Theo lời kể của nhà thiên văn học Frank Edmondson, một đại diện của Quỹ Khoa học Quốc gia trong dự án đài thiên văn Đỉnh Kitt, các bước tiếp theo chỉ là “một chuyện đơn giản” (a simple matter).  Ai sống, ai chết, ai kể chuyện?  Theo nhà sử học khoa học Leandra Swanner, thật khó để kiểm chứng tự sự của các nhà thiên văn học, bởi cho dù các trưởng lão Tohono O’odham thường để lại các bản tường thuật buổi họp bằng tiếng Anh, một số cuộc gặp mặt như tại Đài thiên văn Steward ngày 28/10/1955 không hề được họ tường thuật lại. Tuy nhiên, nhận định “một chuyện đơn giản” có thể được bác bỏ dễ dàng: sau ngày 28/10/1955, các cuộc phỏng vấn các nhà thiên văn học, cũng như là thư từ giữa họ và giới chức trách biệt khu vẫn còn cho thấy sự phản đối từ phía người O’odham. Điều này khác hẳn với tự sự của các nhà thiên văn học, trong đó các trưởng lão bị khoa học “cảm hóa” nên đã đồng ý cho xây đài thiên văn để đem lại “sự tiến bộ” mà chẳng cần cân nhắc thêm về ý nghĩa tâm linh của ngọn núi. Theo Leandra Swanner, phiên bản lịch sử của các nhà thiên văn học – thứ mà đến nay được lan truyền khắp mọi nơi, ngay cả trên tờ thông tin dành cho khách tham quan Đài quan sát quốc gia Đỉnh Kitt – thực chất là một “câu chuyện phiên lưu khoa học” (scientific adventure story) trong đó nhà thiên văn học đã chinh phục cái khó (ở đây là sự phản đối của người O’odham) để đưa nhân loại đến một kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, khác với các diễn ngôn “khai hóa văn minh” thuở trước, có thể thấy rằng những người bản địa đứng sau “cái khó” không bị miêu tả là những kẻ “lạc hậu”, “chậm tiến”, mà thay vào đó là những người trong thâm tâm cũng say mê bầu trời và chỉ cần thuyết phục để “nhường đường cho khoa học”.    Mặt tiền trung tâm thông tin của KPNO, với tranh tường theo phong cách của người Tohono O’odham. Ảnh: NOIRLab/NSF/AURA  Trên thực tế, tình thế của người Tohono O’odham không hề đơn giản như vậy, và chúng ta cần phải biết lịch sử của người Tohono O’odham dưới chế độ thực dân định cư để hiểu được suy nghĩ từ phía họ. Khi các nhà thiên văn học tiếp cận vùng đất này, bản thân biệt khu Tohono O’odham mới được thành lập cách đó hai thập kỷ, và người O’odham mới bắt đầu nắm quyền kiểm soát đất đai quê hương họ sau một thời gian dài bị đồng hóa, trong đó nhiều thế hệ trẻ em bị ép phải học tại các trường nội trú (boarding school) để các nhà giáo dục da trắng có thể “giết phần Anh-điêng, cứu phần người” (“kill the Indian, save the man”). Ngoài ra, kể từ thời Tổng thống Eisenhower, Chính phủ Hoa Kỳ đã thực hiện các chính sách chấm dứt (termination policy) với niềm tin rằng những người Mỹ bản địa phải nhanh chóng từ bỏ bộ lạc của mình để sống “như những người Mỹ.” Do đó, dù có quyền hành tại biệt khu, các bộ lạc hoàn toàn không được hỗ trợ và không thể yêu cầu sự xem xét đặc biệt từ chính quyền liên bang. Vào giữa thế kỷ XX, người Tohono O’odham quản lý một trong những biệt khu rộng lớn nhất, song lại là một trong những cộng đồng Mỹ bản địa nghèo nhất. Với gần 500 người O’odham trở về từ Thế chiến thứ hai, cả cộng đồng bắt đầu đấu tranh mãnh liệt vì quyền dân sự, đòi chính quyền liên bang trả lại cho họ các quyền lợi về đất đai và khoáng sản vốn đã bị tước khỏi tay họ từ bấy lâu nay. Sau nhiều năm đấu tranh, người Tohono O’odham đã thắng một số vụ kiện, song vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ từ cấp liên bang. Năm 1955, Chủ tịch Manuel cố gắng thuyết phục Quốc hội thông qua dự thảo luật phục hồi kinh tế 23 triệu USD để trợ giúp cư dân biệt khu Tohono O’odham, nhưng nỗ lực của ông hoàn toàn thất bại. Khi các nhà thiên văn học đề xuất xây đài thiên văn, một số nhà chức trách O’odham – bao gồm cả Chủ tịch Manuel – nhìn thấy tiềm năng kinh tế ở kế hoạch này, nhưng không dễ dàng nhượng bộ bởi núi Que Đỏ là vùng đất thiêng.  Từ 1956 đến 1958, giới chức trách O’odham đã từ chối hai bản hợp đồng khác nhau của các nhà thiên văn học. Bản hợp đồng cuối cùng được toàn bộ 15 người trong hội đồng bộ lạc chấp nhận, song theo Leandra Swanner, việc toàn bộ hội đồng này chấp nhận cũng không phản ánh bất cứ điều gì về người O’odham nói chung, bởi cả cộng đồng đã bị chia cắt về tư tưởng và khoảng cách địa lý sau nhiều thập kỷ bị đàn áp, và phải đến Phong trào Mỹ Anh-điêng (American Indian Movement) vào những năm 1960 thì mới đoàn kết và có tiếng nói về chính trị. Từ góc nhìn đó, Chủ tịch Manuel và các trưởng lão Quận Schuk Toak đều đã chấp nhận kế hoạch đài thiên văn dựa trên quan điểm của họ và những người họ biết, chứ không phải của cả bộ lạc như một thể thống nhất. Cá nhân Chủ tịch Manuel ủng hộ kế hoạch đài quan sát bởi ông tin rằng lượng du khách lên núi sẽ giúp người O’odham lập các doanh nghiệp nhỏ. Trả lời báo Tucson Daily Citizen, ông nói thêm: “Tôi hy vọng vài cậu trai trẻ của chúng tôi cũng sẽ trở thành nhà thiên văn.” Hơn nửa thế kỷ sau, ước mơ của Chủ tịch Manuel vẫn chưa trở thành hiện thực.  Rạn nứt và nỗ lực hàn gắn  Sau Phong trào Dân quyền cuối thập niên 1960, chính quyền Hoa Kỳ buộc phải thừa nhận và ủng hộ quyền lợi của các cộng đồng thiểu số, bao gồm cả người Mỹ bản địa. Năm 1970, Tổng thống Nixon lên án chính sách chấm dứt của Eisenhower và kêu gọi ủng hộ quyền tự chủ của các bộ lạc Mỹ bản địa. Ở miền Nam bang Arizona, cộng đồng Tohono O’odham nay đã có tiếng nói hơn bao giờ hết, và vào năm 1986, vùng lãnh thổ tự trị của bộ lạc này đưa ra hiến pháp riêng. Tại Đài quan sát quốc gia Đỉnh Kitt (KPNO), các nhân viên người O’odham đã đệ đơn khiếu nại một số trường hợp kỳ thị trong đội ngũ trực trên đỉnh núi, đồng thời chỉ trích việc ban quản lý đài thiên văn ưa tuyển dụng người không có gốc gác O’odham hơn và không cho nhân viên người O’odham cơ hội thăng chức hay tăng lương. Tuy nhiên, ra khỏi phạm vi của KPNO, mối quan hệ giữa các nhà thiên văn học và người O’odham lại hoàn toàn không có xích mích. Sự hòa hợp này là nhờ vào duy nhất một nhân viên KPNO tên là Elizabeth Estrada, người tự mình đi đến từng hộ gia đình O’odham làm nghề thủ công để mua và xin phép bán sản phẩm của họ tại trung tâm thông tin của KPNO.  Năm 1985, Elizabeth Estrada qua đời. Không lâu sau, một số thay đổi về mặt kinh tế-chính trị khiến mối quan hệ giữa KPNO và cộng đồng O’odham bắt đầu rạn nứt. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1990 đã dẫn đến sự cắt giảm ngân sách hỗ trợ người Tohono O’odham, còn ở bên KPNO là cắt giảm nguồn tài trợ nghiên cứu thiên văn học từ Quỹ Khoa học Quốc gia để nhường chỗ cho khu vực tư nhân, bởi giờ đây ý tưởng “đài quan sát quốc gia” không còn có sức hút với giới cầm quyền như trước nữa. Vừa chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế, vừa chứng kiến thời hoàng kim của đài thiên văn trên núi Que Đỏ chấm dứt, nhóm người O’odham bất đồng với hợp đồng thuê đất xây đài thiên văn bắt đầu trở nên lớn mạnh. Trả lời phỏng vấn báo Tucson Citizen, Chủ tịch Hội đồng Quận Schuk Toak là Frances Francisco cho biết: “Chúng tôi chưa từng được hưởng bất kỳ lợi ích nào từ đài quan sát.” Bà chỉ đến hai vấn đề chính: thứ nhất là tiền thuê đất quá ít ỏi so với việc sử dụng và xây dựng thường xuyên các cơ sở trên núi Que Đỏ; thứ hai là đài thiên văn không mang lại thêm cơ hội gì cho cộng đồng O’odham. Bà yêu cầu đánh giá lại hợp đồng thuê đất, đồng thời kêu gọi đội ngũ KPNO tích cực tuyển người O’odham và thực hiện công tác truyền thông khoa học (science communication) tại các trường trong biệt khu để trẻ em O’odham có thêm cơ hội học hỏi về thiên văn.  Yêu cầu của Francisco và các hội đồng O’odham vẫn còn chưa được đáp ứng thì vào năm 2004, các thiết bị thi công lại đổ xô lên núi Que Đỏ một lần nữa. Một năm trước đó, Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) đã cho Đài quan sát vật lý thiên văn Smithsonian và nhiều viện nghiên cứu khác thuê lại một phần đất trên núi Que Đỏ nhằm phục vụ dự án VERITAS, một tổ hợp bảy chiếc kính thiên văn được thiết kế để đo tia gamma. Khác với những năm 1950, giờ đây nước Mỹ đã có các đạo luật bảo vệ những địa điểm linh thiêng của người Anh-điêng, và yêu cầu các cơ quan liên bang phải nhận được sự đồng thuận của bộ lạc sở hữu một mảnh đất thiêng nhất định trước khi có thể làm bất cứ điều gì. Theo khuôn khổ đó, hành động của NSF vi phạm pháp luật, và vào tháng 3/2005, giới chức tránh Tohono O’odham đệ đơn kiện NSF, KPNO và Viện Smithsonian, đồng thời đòi chính quyền liên bang chấm dứt hợp đồng thuê núi Que Đỏ. Theo Chủ tịch Vivian Juan-Saunders đại diện cho người O’odham, hợp đồng thuê núi Que Đỏ ngày trước “cách xa tiêu chuẩn chấp nhận được ngày nay.” Bà cho rằng các trưởng lão thuở trước đã chịu ảnh hưởng của lời hứa hẹn về lợi ích và cơ hội việc làm, trong bối cảnh bộ lạc vẫn còn thiếu khả năng tự chủ và quyền lợi riêng. Tuy nhiên, ở năm 2005, người O’odham giờ đây đã có được sự tự chủ, và họ quan ngại rằng quyền lợi của họ đang bị xâm phạm. Tuyên bố của Chủ tịch Juan-Saunders đã thay đổi hoàn toàn cục diện mối quan hệ giữa người O’odham và KPNO: giờ đây người O’odham sẵn sàng và có sự bảo hộ về pháp lý để ngăn chặn bằng mọi giá sự xâm phạm đất đai từ phía các nhà thiên văn. Với sự ủng hộ của các cơ quan như Hội đồng Cố vấn về Bảo tồn Lịch sử (ACHP), cuối cùng các nhà lãnh đạo người O’odham đã thành công, và đầu năm 2007, NSF buộc phải di dời toàn bộ dự án VERITAS đến một ngọn núi khác ở phía Nam Arizona.  Kể từ 2007 đến nay, chưa có thêm một xung đột nào giữa KPNO và cộng đồng Tohono O’odham. Điều kiện sống ở biệt khu O’odham vẫn chưa được cải thiện, song các nhà khoa học và ban quản lý truyền thông của KPNO cũng đã cố gắng vinh danh văn hóa của người O’odham. Mặt tiền trung tâm thông tin của KPNO ngày nay có vẽ tranh theo phong cách truyền thống của người O’odham, và tấm biển chào mừng đến cơ sở thiên văn này cũng sơn lá cờ chính thức của bộ tộc. Trong trung tâm thông tin, đồ thủ công do các nghệ nhân O’odham chế tạo vẫn tiếp tục được bày bán, dù chúng không được thu thập trực tiếp bởi đội ngũ nhân viên KPNO như thời Elizabeth Estrada mà phải thông qua trung gian. Tuy nhiên, việc trưng bày và tôn vinh nghệ thuật O’odham cũng không thể hàn gắn được mối quan hệ giữa cộng đồng bản địa và các nhà thiên văn, đặc biệt là khi KPNO nói chung và các nhà thiên văn nói riêng vẫn còn lan truyền câu chuyện ngụy tạo rằng các trưởng lão O’odham đã “nhường đường cho khoa học” hồi thập niên 1950. Núi Que Đỏ/Đỉnh Kitt sẽ còn là một trường hợp cần được quan sát và xem xét kỹ lưỡng nhằm thấu hiểu và đảm bảo quyền lợi của những người bản địa vốn đã coi nơi này là núi thiêng.□  —  Swanner, L.A. (2013), Mountains of Controversy: Narrative and the Making of Contested Landscapes in Postwar American Astronomy. PhD thesis, Harvard University.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Thiết bị cảm biến linh hoạt      Giờ đây các bác sĩ có thể giám sát điều trị bệnh tim mạch và các vận động viên tự theo dõi quá trình tập luyện của mình tốt hơn nhờ một thiết bị cảm biến linh hoạt thu thập được cả hai tín hiệu sinh hóa và tín hiệu điện, gắn được lên cơ thể người, có thể truyền dữ liệu không dây tới các thiết bị di động thông minh hoặc máy tính xách tay.    Thiết bị cảm biến sinh học linh hoạt thu được cả tín hiệu điện và sinh hóa  Thiết bị này do các nhà nghiên cứu tại Đại học California, San Diego chế tạo, có một bộ cảm biến linh hoạt và một bảng điện tử nhỏ ghi lại các tín hiệu của biểu đồ điện tim (EKG) và theo dõi nồng độ lactate, một dấu hiệu sinh hoá về các nỗ lực vận động thể chất. Để tạo ra được thiết bị này, các nhà nghiên cứu về kỹ thuật nano do giáo sư Joseph Wang làm trưởng nhóm phụ trách, nghiên cứu về các cảm biến và tính chất hoá học của các bản vá (patch) tạo nên thiết bị, nhóm kỹ thuật điện do giáo sư Patrick Mercier dẫn đầu nghiên cứu về điện tử và truyền dữ liệu. Nghiên cứu này đã được công bố trên Nature vào ngày 23 tháng 5 vừa qua.  “Mục tiêu tổng quát của chúng tôi là phát triển một thiết bị có thể gắn lên người và giám sát đầy đủ các tín hiệu hoá, lý, sinh học của cơ thể con người liên tục trong ngày”, Mercier nói. Thiết bị này khắc phục được nhược điểm của các thiết bị đo lường bỏ túi hiện nay, vốn chỉ đo được một tín hiệu, chẳng hạn như nhịp tim, hầu như không có thiết bị nào đồng thời đo được các chỉ số hoá học, ví dụ như lactate.   Đánh giá về thiết bị này, tiến sĩ Kevin Patrick tại Đại học California, San Diego nói: “Khả năng cảm biến đo lường được cả EKG và lactate trong một thiết bị nhỏ có thể đem lại lợi ích ở nhiều lĩnh vực. Nghiên cứu này sẽ giúp ngành y học thể thao tối ưu hoá chế độ đào tạo các vận động viên ưu tú, đồng thời cũng mở ra một số cơ hội mới trong việc phòng ngừa và quản lý điều trị bệnh tim mạch”.  Chế tạo  Các nhà nghiên cứu sử dụng kỹ thuật in lưới (screen printing) tạo ra bản vá trên một tấm polyeste mỏng, linh hoạt để có thể dán trực tiếp lên da. Một điện cực để cảm nhận được lactate được in ở chính giữa bản vá với hai điện cực đo điện tâm đồ EKG ở bên trái và bên phải (khoảng cách tối ưu giữa hai điện cực này là 1.5 inches). Họ cũng đảm bảo các cảm biến đo điện tâm đồ phải phân lập với các cảm biến đo lactate. Các cảm biến được phủ một lớp silicone để giữ cho mồ hôi trên cơ thể người không thấm vào. Sau đó, các cảm biến này được kết nối với một bảng mạch in tuỳ chỉnh nhỏ có trang bị một vi điều khiển và một chip Bluetooth năng lượng thấp để truyền dữ liệu thu thập được tới một điện thoại thông minh hoặc máy tính.  Thử nghiệm  Để thử nghiệm, một người đeo thiết bị này trên ngực đồng thời cũng đeo một dây đeo đo nhịp tim và tập luyện cường độ cao khoảng 15 – 30 phút. Các dữ liệu thiết bị cảm biến sinh hoá mới này đo được trùng khít với dữ liệu của dây đeo đo nhịp tim. Đồng thời, các dữ liệu từ cảm biến sinh học cũng tương tự với các dữ liệu thu thập được khi cơ thể người vận động cường độ cao trong các nghiên cứu khác.  Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục cải thiện khả năng kết nối của thiết bị này và nâng cấp nó bằng cách thêm vào các đo lường các chỉ số hoá học khác như kali, magie cũng như các dấu hiệu khác trong cơ thể người.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị chiếu sáng cho nông nghiệp công nghệ cao      Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đã nắm bắt rất nhạy bén chủ trương phát triển nông nghiệp công nghệ cao để mở một hướng đi mới, từ chỗ chỉ sản xuất các sản phẩm phục vụ cho dân sinh sang hướng chế tạo các thiết bị chiếu sáng phục vụ sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có giá trị hàng hóa cao.    Việc làm này vừa góp phần phát triển Công ty vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao, qua đó mở rộng ảnh hưởng của Công ty đến một thành phần xã hội rất lớn, đó là những người nông dân.      Ý tưởng khoa học và đổi mới     Ánh sáng là yếu tố quyết định đến sự sống, sinh trưởng, phát triển hình thành năng suất và phẩm chất của cây trồng. Nếu không có ánh sáng thì không thể có sự sống trên trái đất bởi vì toàn bộ các sản phẩm mà con người sử dụng: lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, vải vóc,… tất cả đều là sản phẩm bắt nguồn từ quang hợp của cây xanh. Qua quá trình quang hợp, cây đã biến đổi năng lượng của mặt trời thành năng lượng hóa năng cho con người sử dụng. Thông qua sự thay đổi chế độ chiếu sáng cho cây trồng chúng ta có thể làm thay đổi sự sinh trưởng, phát triển của cây, điều khiển sự phát sinh hình thái, sự ra hoa, năng suất và phẩm chất của cây. Trong nông nghiệp công nghệ cao đối với cây rau và hoa hầu như cây giống được nhân trong điều kiện nhân tạo (nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô), được trồng trọt trong các nhà có mái che (nhà lưới, nhà kính). Trong môi trường ấy việc chiếu sáng cho phòng thí nghiệm nuôi cấy mô, cho cây sinh trưởng trong nhà kính, nhà lưới là yêu cầu bắt buộc. Mặt khác, có thể sử dụng ánh sáng để điều khiển tạo sản phẩm trái vụ, nâng cao giá trị hàng hóa, đặc biệt ở các sản phẩm xuất khẩu. Chính vì những lẽ đó Công ty Rạng đông đã tập trung cải tiến, chế tạo những thiết bị chiếu sáng vào những hướng ứng dụng chủ yếu sau:     Thiết bị chiếu sáng cho các phòng nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô  Thiết bị chiếu sáng chuyên dụng nhằm xử lý điều khiển ra hoa trái vụ   Thiết bị chiếu sáng phục vụ sản xuất rau, hoa an toàn trong nhà mái che (đang bắt đầu triển khai)      Sự cải tiến thiết bị chiếu sáng cho phòng nuôi cấy mô     Hiện nay ở Việt Nam có hàng trăm phòng thí nghiệm nuôi cấy mô để sản xuất cây giống bao gồm cây hoa cảnh, cây lâm nghiệp, cây nông nghiệp. Riêng tại tỉnh Lâm Đồng đã có tới gần 60 phòng nuôi cấy mô hằng năm cung cấp hàng triệu cây giống cho sản xuất và xuất khẩu. Công ty Công nghệ Sinh học Rừng Hoa Đà Lạt có 2 nhà nuôi cấy mô lớn, hiện đại với trên 500 giá nuôi cây (2500 tầng) mỗi đợt cung cấp 20-30 triệu cây giống. Vấn đề rất bức xúc của lĩnh vực nhân giống bằng nuôi cấy mô là chi phí về năng lượng phục vụ cho quá trình thắp sáng chiếm đến 65% và làm mát chiếm đến 25% tổng năng lượng của một quy trình nhân giống. Do vậy, việc chế tạo được các thiết bị chiếu sáng có chi phí điện năng thấp, ít tỏa nhiệt nhưng vẫn đảm bảo được sự sinh trưởng, phát triển và hệ số nhân của cây được nhân giống là mục tiêu của các nhà nghiên cứu chế tạo ra thiết bị ánh sáng phù hợp ở công ty Rạng Đông.      Như ta đã biết, ánh sáng là  bức xạ điện từ của năng lượng mặt trời có bước sóng từ khoảng 390-750 nm bao gồm các loại ánh sáng đơn sắc: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím  hợp lại. Trong khi đó cây chỉ hấp thụ được ánh sáng dùng cho quang hợp qua sắc tố diệp lục ở hai vùng chủ yếu là vùng ánh sáng xanh lơ (blue có bước sóng ~ 430nm) và vùng ánh sáng đỏ (có bước sóng ~ 660nm). Việc chế tạo đèn phát ra những tia sáng phù hợp với phổ hấp thụ của diệp lục sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng ánh sáng của cây và làm giảm năng lượng chi phí của năng lượng phát ra ngoài bước sóng mà cây cần. Các nhà nghiên cứu khoa học của Rạng Đông đã nghiên cứu các phổ chiếu sáng của nhiều loại đèn khác nhau qua đó đã phát hiện: đèn huỳnh quang thường sử dụng trong các phòng nuôi cấy mô chỉ phù hợp cho mục đích chiếu sáng thông thường (theo mắt người có bước sóng tập trung trong khoảng 500-600nm), trong khi vùng ánh sáng đỏ (~660nm) là vùng diệp lục hấp thụ dùng cho quang hợp thì hầu như bị thiếu. Đèn compact cũng thiếu vùng ánh sáng đỏ cho cây, đèn thủy ngân có ánh sáng đỏ nhưng hiệu suất thấp, đèn natri lại thiếu vùng ánh sáng xanh. Cũng phải nói thêm, ánh sáng đỏ có hiệu quả quang hợp rất cao. Ở cùng một cường độ chiếu sáng, nếu là ánh sáng đỏ thì hiệu quả quang hợp có thể tăng gấp đôi so với ánh sáng xanh (blue).      Thông qua việc giải mã các loại đèn chuyên dụng trong nuôi cấy mô của các nước tiên tiến, thông qua việc sử dụng các lớp bột phủ bên trong ống đèn cho phát huỳnh quang ra các tia có bước sóng mong muốn, các tác giả của Rạng Đông đã chế tạo ra được đèn có nguồn sáng với phổ thích hợp cho cây nuôi cấy mô. Tỷ lệ dải bước sóng xanh và đỏ so vơi công suất tiêu thụ cao hơn đèn chiếu sáng thông thường hay sử dụng. Các thí nghiệm được tiến hành ở phòng thí nghiệm nuôi cấy mô của Viện Sinh học Nông nghiệp-Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội và một số cơ sở nghiên cứu khác đều đã khẳng định sử dụng loại đèn mới chế tạo T8 36W B/R. Rạng Đông đã cho sinh trưởng phát triển của cây nuôi cấy mô tốt hơn. Năng lượng tiêu tốn giảm được khoảng 60%. Do phản ứng với ánh sáng của các nhóm cây (nhóm ưa sáng, nhóm ưa bóng và nhóm trung tính) có khác nhau nên các nghiên cứu sử dụng đèn sao cho tối ưu với từng nhóm cây hiện đang được tiến hành. Việc xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu giữa ánh sáng xanh lơ và ánh sáng đỏ cũng cần được nghiên cứu tiếp tục để nâng cao hiệu quả sử dụng tối đa.     Một vấn đề khác trong nuôi cấy mô là phải giảm được lượng điện tiêu hao thông qua sử dụng thiết bị chiếu sáng có hiệu suất cao, tổn hao điện thấp, phân bố ánh sáng đều. Công ty đã chế tạo được ra các ballas điện tử thay thế cho ballast sắt từ đã giảm tổn hao nhiệt điện trên ballas từ 13w xuống còn 3w, giảm được năng lượng  làm mát bằng điều hòa nhiệt độ. Việc thiết kế các chao chụp đèn cũng giúp tập trung bức xạ tối đa vào đối tượng cần chiếu sáng, tạo độ đồng đều chiếu sáng cao cũng đã được tiến hành và thu được kết quả bước đầu: ánh sáng tập trung lên bình nuôi cấy mô đạt 70-75%.       Nghiên cứu chế tạo thiết bị chiếu sáng nhằm xử lý điều khiển ra hoa trái vụ     Quá trình ra hoa của thực vật là một quá trình sinh lý phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động. Tuy nhiên, hai yếu tố ngoại cảnh cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây trồng đó là nhiệt độ và ánh sáng. Theo nhiều công trình nghiên cứu khoa học, ( Viện Sinh học Nông nghiệp-Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, Viện Nghiên cứu rau quả Trung ương), người ta đã phân loại các nhóm cây theo ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra hoa thành 3 nhóm: Nhóm cây ngày dài (chính xác hơn gọi là nhóm cây đêm ngắn); nhóm cây ngày ngắn (chính xác hơn gọi là nhóm cây đêm dài); nhóm cây trung tính: cây có thể ra hoa được trong cả điều kiện ngày ngắn lẫn ngày dài miễn là cây có đủ độ sinh trưởng nhất định.      Điều thú vị là trong mối quan hệ giữa thời gian chiếu sáng ngày/đêm thì thời gian đêm là thời gian quyết định đến phản ứng ra hoa của cây. Chính vì thế, cây ngày dài thực chất là cây đêm ngắn và cây ngày ngắn thực chất là cây đêm dài. Trong điều kiện mùa đông của Việt Nam, thời gian ngày ngắn còn thời gian đêm dài (trên 12 tiếng). Để điều khiển cây ra hoa có thể kéo dài ngày bằng cách chiếu sáng bổ sung nhưng cũng có thể có biện pháp xử lý đêm dài thành đêm ngắn bằng cách chiếu sáng vào giữa đêm (xem như đã cắt một đêm dài thành 2 đêm ngắn). Cả hai cách xử lý này đều làm cho cây ra hoa. Cũng tương tự như vậy, đối với cây ngày ngắn thực chất là cây đêm dài. Cây này sẽ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn (đêm dài), nếu chiếu sáng bổ sung làm ngày dài ra, hoặc chiếu sáng ban đêm làm đêm ngắn lại sẽ làm cây không thể ra hoa. Trong thực tiễn sản xuất một số cây hoa (hoa cúc) và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao (cây thanh long) của Việt Nam, biện pháp chiếu sáng đã được sử dụng để điều khiển sự ra hoa kết quả của cây vào đúng thời điểm có nhu cầu của thị trường. Việc làm này đã làm tăng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất các sản phẩm này.      Tuy nhiên quy trình điều khiển ra hoa theo ý muốn cho các cây trên đang được diễn ra một cách tùy tiện, rất lãng phí năng lượng, thậm chí không có đủ điện để phục vụ sản xuất thanh long xuất khẩu trong tình trạng bùng phát phát triển thanh long hiện nay. Trước bối cảnh ấy các nhà khoa học Nông-Sinh học cũng như các nhà khoa học chế tạo thiết bị chiếu sáng của Rạng Đông đã rất hứng khởi vào cuộc nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của thực tiễn nêu trên.     *Về cây thanh long  Tổng diện tích trồng thanh long ở Việt Nam khoảng 25000ha, trong đó ở Bình Thuận thanh long trở thành ngành trồng trọt mũi nhọn, xuất khẩu thanh long chiếm 1/3 GDP nông nghiệp, tỉnh có tới 18.616 ha (số liệu cuối 2011), Tiền Giang 3000ha, Tây Ninh, Long An và đang trồng ở Thanh Hóa, Hải Dương, Hà Nội,…     Thanh long là cây ngày dài, chỉ ra hoa trong điều kiện ngày dài (vụ xuân-hè). Từ tháng 9 đến tháng 2 (vụ thu đông) là giai đoạn ngày ngắn các vùng trồng đều phải chiếu sáng bổ sung tạo thanh long trái vụ phục vụ thị trường tết có giá bán cao hơn nhiều lần so với chính vụ. Tùy theo giống và tùy vào tuổi của cây, thời gian chiếu sáng cho cây có thể kéo dài từ 15-21 ngày mỗi đợt, trung bình là 3 đợt/năm. Thời gian chiếu sáng mỗi đêm là 7-8 tiếng (từ 21-22h đến 5-6h sáng hôm sau). Mỗi hecta thanh long dùng 1200 bóng, công suất 60w thì lượng điện năng tiêu thụ trong một đợt chiếu sáng như sau: 1200 bóng x 60w x 8 giờ x 15 đêm = 8.640Kwh/đợt, tương ứng với 26.000KWh/năm (3 đợt). Tổng lượng điện năng tiêu thụ cho chiếu sáng cây thanh long nói riêng tại tỉnh Bình Thuận cho mỗi đợt chiếu sáng là 6.000ha x 8.640 KWh = 51.840.000 KWh (51.840 MWh) và xấp xỉ 155.000 MWh/năm. Đây là số điện năng khổng lồ vượt qua khả năng cung ứng điện năng của ngành điện lực Bình Thuận. Hiện tượng này cũng xảy ra ở các vùng trồng thanh long khác như Tiền Giang, Tây Ninh, Long An.      Qua nghiên cứu, các chuyên gia phát hiện thấy điều bất hợp lý là thời gian chiếu sáng trong ngày chỉ giảm đi một hai tiếng khi vào mùa đông so với mùa hè tại sao lại phải chiếu ánh sáng bổ sung tới 7-8 tiếng? đồng thời nhận thấy cơ chế điều khiển sự ra hoa thông qua ánh sáng thực chất là phản ứng của một phức hợp sắc tố – protein gọi là phytochrom. Sắc tố này sẽ hấp phụ những ánh sáng rất chuyên biệt ở bước sóng rất cụ thể thuộc vùng đỏ (R) và đỏ xa (FR) và tồn tại ở hai dạng có thể chuyển hóa sang nhau. Phytochrom R sẽ nhận ánh sáng đỏ có trong ánh sáng mặt trời chuyển hóa nhanh thành Pfr. Còn Pfr sẽ nhận ánh sáng đỏ xa (FR) để chuyển thành Pr. Thời gian đêm sẽ thúc đẩy sự phân hủy Pfr thành Pr. Đêm dài sẽ giúp phân hủy Pfr triệt để.     Để cây ngày dài (cây thanh long) ra hoa được thì cần phải tích lũy được một lượng Pfr nhất định cho nên cần thời gian ngày dài và thời gian đêm ngắn để có đủ lượng Pfr thúc đẩy sự ra hoa. Như vậy, nếu chế tạo được thiết bị chiếu ánh sáng phù hợp với phổ hấp phụ của Pr để thúc đẩy hình thành Pfr thì việc xử lý thanh long ra hoa chắc chắn sẽ hiệu quả hơn các loại đèn khác, thời gian chiếu sáng sẽ ngắn đi, năng lượng chiếu sáng sẽ được tiết kiệm hơn. Mặt khác, theo học thuyết quang chu kỳ, sự chiếu sáng nếu đúng phổ hấp phụ của phytocrom vào thời gian đêm sẽ có tác dụng rất mạnh mẽ đến sự thúc đẩy ra hoa, thời gian chiếu sáng quang gián đoạn giữa đêm theo lý thuyết là rất ngắn.      Dựa trên cơ sở khoa học này các nhà khoa học Nông–Sinh học cùng các nhà chế tạo thiết bị chiếu sáng Rạng Đông đang tiến hành nhiều thực nghiệm ở nhiều vùng từ Bình Thuận cho đến Tây Ninh để tìm ra được loại đèn chiếu sáng chuyên dụng sử dụng trong điều khiển thanh long trái vụ trong một ngày không xa.     *Về cây hoa cúc  Như chúng ta đều biết, thị trường hoa của Việt Nam chủ yếu sôi động vào dịp tết. Khác với thanh long, cây hoa cúc là cây ngày ngắn tức là cây dễ dàng ra hoa khi trồng trong vụ đông. Điều này gây ra những khó khăn cho cả việc nhân giống lẫn sản xuất hoa cúc thương phẩm. Bởi vì, hoa cúc nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Ngọn cúc được lấy từ cây mẹ để giâm, nếu ngọn cây mẹ có nụ thì không thể sử dụng làm cành giâm phục vụ nhân giống. Mặt khác, trong sản xuất hoa cúc thương phẩm phục vụ tết cây cúc được trồng vào vụ đông là vụ có thời gian chiếu sáng ngày ngắn. Cây giống vừa trồng xuống chưa kịp sinh trưởng đủ chiều cao đã gặp điều kiện thích hợp cho ra hoa. Cây sẽ cho cành hoa không đủ tiêu chuẩn thương mại. Chính vì thế trong sản xuất hoa cúc người dân thường phải chiếu đèn cho cả cây dùng để lấy ngọn nhân giống cũng như cây trồng để lấy hoa thương phẩm. Thường ở vườn ươm cây giống phải chiếu đèn liên tục còn ở vườn trồng phải chiếu đèn mỗi đêm từ 4 đến 6 tiếng kể từ ngày trồng cho đến khi kết thúc khoảng 40 đến 60 ngày tùy giống. Sau khi ngắt chiếu sáng, lúc này cây đã sinh trưởng đủ chiều cao và thân lá, cây sẽ hình thành nụ và cho hoa.      Với mong muốn hoàn thiện qui trình chiếu sáng cho cây hoa cúc, nhóm các nhà khoa học của Rạng Đông đã khảo sát các loại đèn đang sử dụng trong sản xuất hoa cúc là đèn sợi đốt và đèn compact có tỷ lệ năng lượng của vùng phát sáng, có khả năng điều khiển ra hoa chỉ chiếm từ 1,73 đến 2,13% tổng năng lượng. Như vậy đã lãng phí rất nhiều năng lượng. Trên cơ sở đó đã chế tạo ra loại đèn CFL NN-R có phổ ánh sáng mới hoàn toàn phù hợp cho điều khiển ra hoa có thể tiết kiệm được 50% thời gian chiếu sáng mà phẩm chất hoa không thay đổi có thể làm tăng hiệu quả nhân giống, thời gian cắt ngọn làm cành giâm giảm từ 10 ngày xuống 7 ngày.      Hàng loạt ý tưởng mới đang được thai nghén trong hướng đi mới mẻ này: Nghiên cứu khắc phục hiện tượng ra hoa sớm của thuốc lá qua xử lý cây giống bằng chiếu sáng đèn chuyên dụng, nghiên cứu chiếu sáng bổ sung để tạo hoa khoai tây phục vụ lai tạo ở đồng bằng Bắc bộ…  Một triển vọng mới đầy hứa hẹn như vừng đông đang rạng…  —  * Viện Sinh học Nông nghiệp-Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị dò sóng hấp dẫn hướng vào vật chất tối      Các công nghệ đằng sau một trong những đột phá khoa học lớn nhất thế kỷ – việc dò các sóng hấp dẫn – đang được sử dụng trong cuộc tìm kiếm vật chất tối dài hơi.      Được cho là chiếm khoảng 85% lượng vật chất làm nên vũ trụ, vật chất tối chưa từng được quan sát một cách trực tiếp và vẫn còn là một trong những bí ẩn lớn nhất chưa từng được khám phá của vật lý hiện đại.   Với những máy dò siêu nhạy được lắp đặt, các nhà khoa học đã có được nhiều phát hiện đáng chú ý và họ tin rằng công nghệ dò sóng hấp dẫn hiện tại có tiềm năng thực sự để cuối cùng có thể tìm ra vật chất lạ này và thậm chí cả thành phần của nó.  Trong nghiên cứu mới xuất bản trên Nature, một nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu Thăm dò hấp dẫn của trường đại học Cardiff đã đặt được bước chân đầu tiên về phía mục tiêu này thông qua việc sử dụng các thiết bị dò sóng hấp dẫn, vẫn được biết như các giao thoa kế laser, để lần đầu tìm kiếm một dạng mới của vật chất tối 1.  Cho đến gần đây, người ta vẫn tin là vật chất tối được tạo ra từ các hạt cơ bản nặng. Tuy nhiên, bất chấp vô số nỗ lực, vẫn chưa có khám phá nào, và các nhà khoa học giờ đang chuyển sang các lý thuyết mang tính thay thế để giải thích về vật chất tối.  Một lý thuyết gần đây cho rằng vật chất tối trên thực tế là thứ mà người ta có thể gọi là trường vô hướng, vốn hành xử như những sóng ‘ẩn’ dao động quanh các thiên hà, trong đó có cả dải Ngân hà của chúng ta.  “Chúng tôi nhận thấy thiết bị của chúng tôi có thể dùng để săn tìm dạng vật chất tối mới, dẫu cho chúng ban đầu được thiết kế để dò sóng hấp dẫn”, giáo sư Hartmut Grote, Viện nghiên cứu Thăm dò hấp dẫn và là người tham gia nghiên cứu này.  Trong một giao thoa kế, hai chùm tia ánh sáng nẩy chồng giữa các tấm gương trước khi hội tụ trong một máy dò. Từ đó, các nhà khoa học có thể đo với độ chính xác cực lớn cách đồng bộ các chùm tia ánh sáng với nhau, vốn tự nó đã chứng tỏ xuất hiện sự nhiễu loạn nào mà các chùm tia có thể gặp.  Đài quan sát sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser (LIGO) có hai giao thoa kế tại Mĩ, mỗi thiết bị có hai cánh tay dài 4 km được sắp xếp theo hình chữ L, vốn phát hiện ra sóng hấp dẫn lần đầu tiên vào năm 2015, và sau đó là nhiều lần khác nữa.  Thiết bị dò GEO 600 detector của Anh và Đức hợp tác được đặt tại Đức, nơi Grote là nhà khoa học dẫn dắt nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2017, là một giao thoa kế siêu nhạy và được sử dụng để phát triển kỹ thuật cần thiết để dò sóng hấp dẫn.  Máy dò GE0600 đã được sử dụng cho lần đầu tiên, trong nghiên cứu này để giúp tìm kiếm vật chất tối.  “Các sóng vật chất tối trường vô hướng có thể truyền qua trái đất và thiết bị của chúng tôi nhưng khi làm theo cách đó, nó có thể là nguyên nhân dẫn đến các vật thể như những tấm gương dao động, dù rất khó nhận biết”, Sander Vermeulen, người dẫn dắt nghiên cứu này, cũng từ Viện nghiên cứu Thăm dò hấp dẫn.  “Những dao động của gương có thể làm nhiễu loạn các chùm tia ánh sáng trong các thiết bị như GEO600 hoặc các máy dò LIGO theo một cách cụ thể các đặc điểm của vật chất, vốn là những thứ mà chúng tôi phải dò, phụ thuộc vào những thuộc tính lấy được từ vật chất tối”.   Ngay cả khi chưa khi nào dò được vật chất tối một cách trực tiếp, các nhà khoa học vẫn nghĩ về sự tồn tại của nó do hiệu ứng hấp dẫn của nó lên các vật thể khắp vũ trụ. Ví dụ, một lượng lớn vật chất chưa thấy có thể giải thích tại sao các thiên hà lại quay như chúng vẫn thế và việc chúng được hình thành như thế nào ở chính thời điểm ban đầu.    Dẫu nhóm nghiên cứu này chưa thành công trong việc dò được bất cứ tín hiệu nào trong nỗ lực mới thì họ vẫn cho rằng mình đang tạo ra một bước tiến dài trong việc giới thiệu công nghệ này vào cuộc truy tìm vật chất tối và đã sẵn sàng tạo ra chuyển biến trong việc cụ thể hơn các tham số cho những nghiên cứu tương lai.  “Tôi rất ngạc nhiên về độ nhạy của một thiết bị có thể được dùng để săn tìm vật chất tối, dẫu nó được thiết kế cho một mục tiêu hoàn toàn khác”, giáo sư Grote nói.  “Chúng tôi đã loại bỏ một cách dứt khoát một vài lý thuyết cho rằng vật chất tối có các đặc tính nhất định, vì vậy các cuộc kiếm tìm trong tương lai hiện giờ có một ý tưởng tốt hơn cho việc kiếm tìm”, Vermeulen cho biết. “Chúng tôi tin tưởng là những kỹ thuật mới có tiềm năng thực sự để khám phá vật chất tối trong một số thời điểm trong tương lai”.   Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-12-gravitational-scientists-sights-dark.html  https://phys.org/news/2021-12-mysterious-clouds-clues-dark.html  —————————–  1. https://www.nature.com/articles/s41586-021-04031-y       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị giúp các nhà sản xuất ô tô kiểm tra mức độ an toàn của sản phẩm      Vào nửa cuối thế kỷ 20, nhà phát minh người Mỹ Samuel Alderson đã sáng chế ra hình nộm thử nghiệm va chạm, một thiết bị giúp các nhà sản xuất ô tô kiểm tra mức độ an toàn của sản phẩm mới đối với người sử dụng khi xảy ra tai nạn.    Năm 1899, Henry Bliss trở thành người Mỹ đầu tiên bị tai nạn ô tô và tử vong ở thành phố New York. Hơn 20 triệu người đã thiệt mạng do các vụ tai nạn xe hơi kể từ đó, và con số này có thể sẽ cao hơn nếu không có sáng chế của nhà vật lý Samuel Alderson, người đã tạo ra hình nộm thử nghiệm va chạm.  Alderson sinh ra tại Cleveland, bang Ohio (Mỹ) vào ngày 21/10/1914 và lớn lên ở California. Cha của ông là chủ một cửa hàng kinh doanh bảng hiệu và sản xuất các tấm tôn kim loại theo đơn đặt hàng.    Sau khi tốt nghiệp trung học năm 15 tuổi, Alderson tiếp tục theo học không liên tục tại các trường Đại học Reed, Học viện Công nghệ California và Đại học California – Berkeley. Việc ông thường xuyên bị gián đoạn do phải giúp đỡ công việc kinh doanh của gia đình. Ông cũng đặt mục tiêu hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ vật lý tại Đại học California–Berkeley dưới sự hướng dẫn của J. Robert Oppenheimer và E.O. Lawrence, nhưng đáng tiếc là ông chưa bao giờ làm xong luận án của mình.    Thay vào đó, Alderson dành thời gian phát triển động cơ điện nhỏ cho các hệ thống dẫn đường tên lửa trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Không lâu sau, ông làm việc cho công ty IBM, nơi ông thiết kế một cánh tay giả chạy bằng động cơ. Dựa trên công trình nghiên cứu này, ông đã thành lập công ty của riêng mình vào năm 1952 và nhanh chóng nhận được hợp đồng thiết kế một hình nộm có vẻ bề ngoài giống con người để kiểm tra mức độ an toàn của ghế phóng dùng trong máy bay.    Ngành công nghiệp ô tô cũng quan tâm đến một hình nộm thử nghiệm như vậy, vì số người tử vong do giao thông tiếp tục tăng lên.    Lúc bấy giờ, lĩnh vực cơ sinh học (biomechanic) vẫn còn khá mới mẻ. Giới khoa học không có dữ liệu đáng tin cậy về tác động của các lực quá mạnh lên cơ thể người một cách đột ngột, và họ cũng không có công cụ tốt đo lường những tác động này. Để khắc phục vấn đề trên, giáo sư Lawrence Patrick và cộng sự tại Trường Y khoa thuộc Đại học bang Wayne ở Detroit đã tiến hành thử nghiệm bằng cách sử dụng các tử thi, thường là những người đàn ông da trắng cao tuổi. Họ đặt máy đo gia tốc trên tử thi ngồi trên ô tô để nghiên cứu tác động của những vụ va chạm trực diện lên cơ thể.        Một số ít tình nguyện viên gan dạ bao gồm đại tá Không quân Hoa Kỳ John Stapp đã tham gia vào các thử nghiệm va chạm đối với người thật bằng cách tự buộc mình vào xe trượt hỏa tiễn (rocket sled) nhằm kiểm tra tác động của việc giảm tốc độ đột ngột đến cơ thể. Họ cũng trải qua những mô phỏng khác, chẳng hạn như bị vật nặng và mảnh kính vỡ đè vào ngực.    Do việc tiến hành các thử nghiệm trên cơ thể người khá nguy hiểm, nên nhóm nghiên cứu chuyển sang sử dụng động vật sống để thu thập dữ liệu về khả năng sống sót sau các vụ tai nạn. Lợn là loài động vật thích hợp nhất, bởi vì cấu tạo bên trong cơ thể của chúng tương tự như cấu tạo của con người và người ta có thể đặt chúng ở tư thế ngồi trên xe.    Những thử nghiệm này, trong khi vẫn còn gây nhiều tranh cãi, đã cung cấp các thông tin cần thiết để Alderson thiết kế hình nộm thử nghiệm va chạm đầu tiên, từ đó dẫn đến việc thay đổi thiết kế trên các phương tiện giao thông và khiến chúng trở nên an toàn hơn.    Trong một bài báo được công bố trên tạp chí Journal of Trauma vào năm 1995, tác giả Albert King ước tính rằng kết quả của những nghiên cứu như vậy đã giúp giảm khoảng 8.500 ca tử vong mỗi năm do tai nạn xe.    Thí nghiệm của Patrick và cộng sự đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các mô hình toán học đầu tiên nhằm mô phỏng tác động của các vụ va chạm. Tuy nhiên, những mô hình này không hoàn hảo, một phần là do họ không thể tìm thấy hai tử thi, động vật hoặc đối tượng thí nghiệm hoàn toàn giống nhau, gây khó khăn cho việc thu thập dữ liệu so sánh đáng tin cậy. Một hình nộm thử nghiệm giống con người (ATD) có thể được sản xuất hàng loạt, thử nghiệm và kiểm tra lại, sẽ khắc phục thiếu sót cơ bản này.    Đó là mục tiêu của Alderson khi ông thành lập công ty của mình. Năm 1949, ông đã sáng chế hình nộm thử nghiệm va chạm đầu tiên mang tên “Sierra Sam” để kiểm tra mức độ an toàn của ghế phóng máy bay, mũ bảo hiểm hàng không và dây an toàn cho phi công. Ghế phóng là một hệ thống được thiết kế để cứu phi công hoặc các thành viên phi hành đoàn khác trong tình huống khẩn cấp. Ở đa phần mẫu thiết kế, ghế được phóng ra khỏi máy bay nhờ một động cơ tên lửa, mang theo phi công. Khi đã ra khỏi máy bay, ghế thoát hiểm sẽ bung dù và hạ cánh an toàn xuống mặt đất.    Năm 1968, Alderson sản xuất hình nộm V.I.P với các thiết kế dùng cho thử nghiệm ô tô. Nó có khối lượng bằng một người đàn ông trưởng thành với khung sườn bằng thép, các khớp nối và cổ linh hoạt, có khoang chứa để đặt thiết bị đo.    Đầu thập niên 1970, các nhà khoa học tại công ty sản xuất ô tô General Motors đã giới thiệu hình nộm Hybrid I, kết hợp các thiết kế ban đầu của Alderson và thiết kế của đối thủ cạnh tranh Sierra Engineering. Không lâu sau đó là sự ra đời của hình nộm Hybrid II và Hybrid III vào năm 1977 với sự cải thiện tính linh hoạt của cổ cũng như khả năng xoay đầu để mô phỏng cơ thể người chính xác hơn. Chúng có thêm các cảm biến đặt tại các vị trí quan trọng trên cơ thể để đo những thông số như mô men xoắn trên cổ khi va chạm, hoặc mức độ nén ép của dây an toàn vào ngực. Hybrid II và Hybrid III dần trở thành tiêu chuẩn công nghiệp khi các hãng sản xuất ô tô muốn thử nghiệm độ bền và mức độ an toàn của các sản phẩm mới.    Các thế hệ hình nộm Hybrid ban đầu được thiết kế để thử nghiệm những vụ va chạm trực diện lên cơ thể. Tuy nhiên, hiện nay người ta đã phát triển thêm nhiều mẫu hình nộm mới để đo tác động từ những tình huống va chạm khác. Chúng bao gồm hình nộm thử nghiệm va chạm mặt bên (SID) giúp mô phỏng những gì xảy ra với xương sườn, cột sống và các cơ quan nội tạng khi xe bị đâm từ hai bên hông; hình nộm BioRID giúp nghiên cứu tác động của các vụ va chạm từ phía sau; và hình nộm CRABI chủ yếu dùng để thử nghiệm tính hiệu quả của dây an toàn và túi khí đối với trẻ em.    Một trong những hình nộm thử nghiệm va chạm tiên tiến nhất hiện nay là WorldSID. Nó có khả năng thực hiện 258 phép đo riêng biệt trong một thử nghiệm va chạm duy nhất.    Không chỉ quan tâm đến việc thử nghiệm va chạm ô tô, Alderson tiếp tục phát triển các hình nộm mới dùng để đo mức độ phơi nhiễm phóng xạ, cũng như phỏng đoán những vết thương mà binh sĩ có thể gặp phải trong các bài tập huấn luyện. Điều đặc biệt là chúng có khả năng rỉ máu giống như người thật.    Quỳnh Ngọc    Author                .        
__label__tiasang Thiết bị hủy và tái kết cặp electron siêu dẫn      Một thiết bị có thể hủy cặp và tái kết hợp các cặp electron có thể đưa ra một cách mới để nghiên cứu về một hình thức khác thường của chất siêu dẫn, theo các nhà vật lý RIKEN. Trạng thái siêu dẫn này có thể đưa vào các hạt “lạ” mang tên các fermion Majorana, vốn có thể chứng minh là hữu dụng trong việc phát triển các máy tính lượng tử.      Trong các siêu dẫn thông thường, dòng điện tích di chuyển mà không gặp phải điện trở do các electron có xu hướng kết lại thành các cặp Cooper. Việc một siêu dẫn tiếp xúc với một chất dẫn điện thông thường đôi khi có thể dẫn đến sự hình thành tính siêu dẫn trong chất dẫn điện thông thường đó thông qua sự thâm nhập của các cặp Cooper từ chất siêu dẫn.  Hiện tại, Sadashige Matsuo của Trung tâm Khoa học vật chất mới nổi của RIKEN và đồng nghiệp đã tạo ra một thiết bị gọi là hợp lưu Josephson, vốn có thể hủy các cặp Cooper đó một cách hiệu quả khi chúng di chuyển từ một siêu dẫn vào hai chất dẫn điện một chiều. Trước đây, phần lớn các thí nghiệm về hủy cặp Cooper đều được thực hiện với các “chấm lượng tử” không chiều kết nối bằng các chất siêu dẫn.  Thiết bị này có hai điện cực bằng nhôm, trở thành siêu dẫn khi được làm lạnh với 1/20 của một độ trên động không tuyệt đối. Các điện cực này được nối bằng hai sợi dây ở kích thước nano bán dẫn. Nhóm nghiên cứu đã có thể đạ được sự hủy cặp Cooper hiệu quả khi các electron di chuyển qua dây nano mà không bị phân tán bởi các vật thể như các chấm lượng tử. Điều này hoàn toàn trái ngược với các nghiên cứu trước đó.  Khi các cặp Cooper di chuyển giữa các điện cực siêu dẫn, chúng có thể dính lại với nhau và di chuyển dọc theo một dây dẫn nano đơn lẻ, một hiệu ứng mà người ta gọi là đường hầm kết cặp cục bộ (local pair tunneling) hoặc chúng có thể tách để mỗi electron có thể di chuyển thông qua một dây dẫn nano khác nhau. Bất chấp sự phân tách vật lý, hai điện cực vẫn được kết nối thông qua một hiệu ứng gọi là rối lượng tử.  Bằng việc đặt một điện áp để kiểm soát dòng chảy các electron, nhóm nghiên cứu đã đảm bảo hơn một nửa các cặp Cooper bị phân chia khi chúng đi qua dây dẫn nano, chứng tỏ thiết bị này có thể khử hiệu ứng đường hầm kết cặp cục bộ (do các tương tác electron–electron trong các day dẫn nano). Khi gặp lại nhau, các electron có thể tái hợp trở lại thành các cặp Cooper. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy điều này bằng việc đưa một từ trường uốn sự tách cặp Cooper.  Các kết quả này cho thấy thiết bị đó có thể được dùng để tạo ra những gì mà chúng ta vẫn biết là trạng thái siêu dẫn topo, trong đó sự chồng chập của một electron và một hố sinh ra các fermion Majorana, một loại hạt khác thường tương đương với phản hạt của chính nó. Các fermion Majorana được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi chúng có thể được dùng như các “bit” lượng tử mang thông tin trong những dạng máy tính lượng tử, những thiết bị có khả năng xử lý dữ liệu cực lớn một cách hiệu quả hơn bất kỳ máy tính hiện nay.  “Bước tiếp theo của chúng tôi là tìm kiếm vết tích của các fermion Majorana trong các khớp nối siêu dẫn của một dây dẫn nano kép”, Matsuo nói.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-device-recombines-superconducting-electron-pairs.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị mới mở rộng tầm với của LIGO      Mới một năm trước đây, Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế (LIGO) do Quỹ Khoa học Mỹ tài trợ đã phát hiện ra các sóng hấp dẫn hàng tháng. Hiện tại, một bổ sung mới khiến hệ thống này có khả năng dò được những gợn sóng trong không – thời gian hàng tuần.      Các nhà nghiên cứu lắp đặt một thiết bị ép lượng tử vào trong một trong nhưng máy dò sóng hấp dẫn của LIGO. Nguồn: Lisa Barsotti  Kể từ khởi động kỳ vận hành thứ ba của LIGO vào tháng 4/2019, một thiết bị mới được biến đến như một “máy ép” chân không lượng tử (quantum vacuum squeezer) có thể hỗ trợ các nhà khoa học lựa chọn được hàng tá tín hiệu sóng hấp dẫn, bao gồm cả sóng hấp dẫn được sinh ra từ việc sáp nhập hai sao neutron.  Máy ép này, như các nhà khoa học vẫn gọi nó, được các nhà khoa học của MIT hợp tác với đồng nghiệp ở Viện Công nghệ Caltech và trường đại học quốc gia Australia, thiết kế và ghép nối với các máy dò của LIGO rồi miêu tả nó trong một bài báo xuất bản trên Physical Review Letters.  Những gì thiết bị này ‘ép’ là nhiễu lượng tử – những dao động nhỏ tí xíu trong buồng chân không của không gian được lắp trong các máy dò. Những tín hiệu mà LIGO dò được quá mờ nhạt mà các lượng tử, nói theo cách khác là các dao động nhỏ có thể có ảnh hưởng pha tạp, có tiềm năng làm đục hoặc hoàn toàn che mất các tín hiệu đến của sóng hấp dẫn.  “Cơ chế lượng tử liên quan đến thực tế là tia laser của LIGO được tạo ra từ các photon,” Maggie Tse,tác giả thứ nhất của công bố và là sinh viên của MIT, giải thích. “Thay vì một dòng chảy liên tụ của ánh sáng laser, nếu nhìn đủ gần anh có thể thấy mỗi photon đều có nhiễu và mỗi photon đều chiu ảnh hưởng của các dao động chân không. Nhưng ngược lại một dòng chảy liên tục của ánh sáng có thể tạo ra một thứ nhiễu không đổi trong máy dò, mỗi photon đơn lẻ đến trong máy dò với một ít ‘nhạc’”.  “Nhiễu lượng tử này giống như tiếng lách tách của ngô rang trên nền chung, nó ảnh hưởng đến giao thoa kế của chúng tôi, và thật khó khăn để đo đạc”, Nergis Mavalvala, giáo sư Marble vật lý thiên văn và phó khoa Vật lý tại MIT, bổ sung thêm.  Với công nghệ ép mới, LIGO đã có thể giảm tiến ồn lượng tử này xuống, qua đó mở rộng phạm vi của các máy dò 15%. Kết hợp với hiệu quả tăng thêm của laser trong LIGO, điều này nghĩa là các máy dò có thể tuyển được sóng hấp dẫn được sinh ra từ một nguồn phát trong vũ trụ ở cách xa 140 megaparsec, hay lớn hơn 400 triệu năm ánh sáng. Sự nâng cấp này khiến cho LIGO  có khả năng dò được các sóng hấp dẫn hàng tuần.  “Khi tỉ lệ của việc dò được gia tăng, chúng tôi không chỉ hiểu được rõ hơn về các nguồn phát đã biết thông qua quá trình nghiên cứu trước đây mà còn có được tiềm năng khám khá những điều cùng đến nhưng còn chưa rõ”, Mavalvala, một thành viên lâu năm của nhóm các nhà khoa học tại LIGO, nói. “Chúng tôi đang tuyển một mạng lưới rộng hơn”.  Các tác giả thứ nhất của bài báo là Maggie Tse, Haocun Yu và Lisa Barsotti, một nhà nghiên cứu chính ltaij Viện nghiên cứu vật lý thiên văn và vũ trụ Kavli của MIT, cùng với nhiều người khác của nhóm hợp tác LIGO.  Giới hạn lượng tử  LIGO bao gồm hai máy dò gống hệt nhau, một cái đặt tại Hanford, Washington, và cái còn lại tại Livingston, Louisiana. Mỗi máy dò có hai đường hầm dài 4 km, hay còn gọi là những cánh tay, mỗi cánh tay duỗi rộng và cùng với cái còn lại định hình thành chữ “L”.  Để dò sóng hấp dẫn, các nhà khoa học gửi một chùm tia laser từ góc của máy dò hình chữ L, đến tưng cánh tay và tại điểm cuối của nó tia laser bị một tấm gương chặn lại. Mỗi tia laser bật nhảy đến từng tấm gương tương ứng và đi qua từng cánh tay để trở lại điểm bắt đầu. Nếu có một sóng hấp dẫn đi qua máy dò này, nó có thể chuyển vị trí của một hoặc cả hai tấm gương, có thể lần lượt ảnh hưởng đến thời gian mỗi lần trở lại vị trí ban đầu của từng tia laser. Đây là thời điểm các nhà khoa học có thể đo đạc để nhận diện tín hiệu sóng hấp dẫn.  Nguồn chính của tính bất định trong các đo đạc của LIGO là do nhiễu lượng tử trong nền chân không laser. Trong khi một buồng chân không vẫn được nghĩ là rỗng không, không ó gì trong không gian của nó, các nhà vật lý nghĩ rằng nó như một trạng thái trong đó các hạt hạ nguyên tử (trong trường hợp này là các photon) đang được hình thành thông qua việc tạo ra và phá hủy một cách bền vững, xuất hiện rồi biến bất một cách nhanh chóng nên rất khó dò được chúng. Cả hai thời điểm đến (pha) và số lượng (biên độ) của những hạt photon này hoàn toàn còn chưa được biết đến, và hoàn toàn bất định, khiến cho các nhà khoa học trở nên khó khăn hơn trong việc tìm thấy các tín hiệu sóng hấp dẫn từ những kết quả trên nền nhiễu lượng tử.  Và do chính nhiễu lượng tử này là bền vững và khi LIGO tìm thấy các tín hiệu mở nhạt, nhiễu lượng tử này trở thành yếu tố giới hạn của việc dò.  “Đo đạc mà chúng tôi thực hiện quá nhạy khiến chân không lượng tử trở thành vấn đề lớn”, Barsotti lưu ý.  Đặt máy ép lên nhiễu    Một thiết bị ép lượng tử được hi vọng làm máy dò của LIGO nhạy thêm 50%. Nguồn: Maggie Tse  Nhóm nghiên cứu của MIT đã mất 15 năm để thiết kế một thiết bị có thể giảm yếu tố bất định trong nhiễu lượng tử xuống, để họ có thể tìm thấy những tín hiệu mờ hơn và xa hơn của tín hiệu sóng hấp dẫn, vốn có thể bị nhiễu lượng tử át đi.  Ép lượng tử là một lý thuyết đã được đề xuất lần đầu vào những năm 1980, việc hình thành ý tưởng là nhiễu chân không lượng tử có thể được tái hiện như một mạt cầu của tính bất định dọc theo hai trục: pha và biên độ. Nếu hình cầu này bị ép giống như một quả bóng bị nén theo cách hình cầu dọc theo trục biên độ, nó có thể ảnh hưởng đến sự co rút của tính bất định trong trạng thái biên độ của chân không (phần bị nén của quả bóng căng), trong khi tính bất định của trạng thái pha (thay đổi vị trí và làm phồng quả bóng).  Kể từ khi pha bất định này chủ yếu đem lại nhiễu cho LIGO, độ co ngót có thể khiến máy dò trở nên nhạy hơn với các tín hiệu vật lý thiên văn.  Khi lý thuyết này được đề xuất lần đầu vào thời điểm 40 năm trước, một nhóm các nhà khoa học đã cố gắng xây dựng những thiết bị ép lượng tử trong phòng thí nghiệm.  “Sau những lần trình diễn ban đầu, điều này trở nên toàn toàn có thể”, Mavalvala nói.  “Thách thức với việc chế tạo các máy nén là trạng thái chân không bị nén rất mỏng manh”, Tse cho biết. “Đón một quả bóng bị ép, từ nơi nó được tạo ra đến nơi nó được đo đạc là một nỗ lực đáng ngạc nhiên. Bất cứ sai lầm nào cũng khiến quả bóng đó có thể nẩy trở lại trạng thái chưa bị ép”.  Sau đó, khoảng năm 2002, chỉ các máy dò của LIGO phát hiện ra sóng hấp dẫn nên các nhà nghiên cứu tại MIT bắt đầu nghĩ rằng ép lượng tử là mọt cách để giảm bớt nhiễu, vốn có thể che giấu những tín hiệu sóng hấp dẫn mở nhạt Họ đã phát triển một thiết kế mang tính sơ khởi cho một máy ép chân không và thử nghiệm vào năm 2010 tại máy dò của đặt ở Hanford. Kết quả thật đáng khích lệ: thiết bị này có thể thúc đẩy tỉ lệ tín hiệu bắt được khỏi nhiễu – cường độ của tín hiệu hứa hẹn trên nền nhiễu.  Kể từ đó nhóm nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của Tse và Barsotti, đã tinh chỉnh thiết kế của mình, chế tạo và kết nối vào các máy dò của LIGO. Phần trung tâm của máy ép là một dao động than số quang học OPO – một thiết bị hình nút có gắn một tinh thể nhỏ bên trong một cấu hình của những tấm gương. Khi các nhà nghiên cứu trực tiếp truyền một chùm tia laser vào tinh thể này, các nguyên tử của nó trở nên dễ dàng thực hiện các tương tác bên trong laser và chân không lượng tử theo một cách tái sắp xếp các đặc tính của pha với biên độ, tạo ra một chân không “bị nén” mới để sau dó tiếp tục chạy trong mỗi cánh tay của máy dò như bình thường. Chân không bị nén này có pha các dao động nhỏ hơn chân không thông thường nên cho phép các nhà nghiên cứu dò được sóng hấp dẫn tốt hơn.  Trong việc tăng thêm năng lực dò sóng hấp dẫn của LIGO, máy ép lượng tử mới cũng có thể giúp các nhà khoa học phân tách thông tin tốt hơn về các nguồn tạo ra các sóng hấp dẫn đó.  “Chúng tôi có chân không lượng tử mà chúng tôi có thể điều khiển mà không cần phải xâm phạm đến các luật tự nhiên, và chúng tôi có thể thực hiện được phép đo đạc ngày một cải thiện độ chính xác hơn”, Mavalvala nói. “Nó nói với chúng tôi rằng thi thoảng, chúng tôi có thể thực hiện được điều gì đó theo một trật tự nhất định, dù không phải lúc nào cũng vậy”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-12-instrument-ligo.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị mới ngăn chặn tai nạn giao thông      Hãng sản xuất ô tô Nissan (Nhật Bản) tuyên bố sẽ ứng dụng kỹ thuật tiên tiến mới nhất nhằm ngăn chặn các tai nạn giao thông có thể xảy ra thông qua việc trang bị thiết bị hệ thống định vị dẫn đường (NS) gắn trong ô tô.    Đây là lần đầu tiên Nissan nghiên cứu phát triển NS kèm theo chức năng giảm tốc độ tự động nhằm bảo đảm an toàn khi lái xe.  Theo đó, lái xe sẽ được cảnh báo sớm những chướng ngại vật phía trước để điều chỉnh giảm tốc độ thông qua thông tin bản đồ của NS. Thiết bị sẽ tự động phân tích tình trạng tốc độ của xe đã được người lái giảm xuống đủ hay chưa, nếu chưa sẽ phát ra tín hiệu âm thanh cảnh báo và biểu thị những hình ảnh khuyến cáo hạn chế tốc độ trên màn hình của thiết bị dẫn đường. Nếu người lái vẫn không giảm tốc độ, thiết bị sẽ tự động cho xe dừng lại.  Nissan cho biết hãng sẽ lắp đặt hệ thống thiết bị mới này cho các dòng xe mới ngay trong năm nay, sau khi kiểm tra các tính năng kỹ thuật và sẽ được tung ra thị trường từ mùa xuân tới. Mục đích của việc sử dụng hệ thống thiết bị mới trên là nhằm đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng về việc sử dụng kỹ thuật tiên tiến hơn trong việc bảo đảm an toàn khi lái xe.  Hiện các ô tô của Nhật Bản đều được trang bị NS, nhằm giúp lái xe có thể tìm được điểm đến một cách hiệu quả nhất và giúp lái xe phát hiện được những đoạn đường đang xảy ra ùn tắc để lựa chọn các con đường khác thuận tiện hơn.  TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết bị tự động ngăn chặn  người say rượu lái xe      Báo Washington Post mới đây đưa tin Mỹ đang tiến hành chương trình chế tạo hệ thống phát hiện độ cồn ở lái xe (DADSS) bao gồm máy kiểm tra độ cồn lắp ngay trên vô lăng để kiểm tra độ cồn trong máu có vượt quá mức 0,08% hay không và nút khởi động xe có sử dụng tia hồng ngoại để quét bên dưới ngón tay người cầm vô lăng, nếu độ cồn trong máu bị xác định là cao hơn mức quy định thì lái xe không thể khởi động được máy.    Nhưng không phải mọi người đều ủng hộ ý tưởng nói trên. Báo The Detroit News cho biết Viện Đồ uống Mỹ (American Beverage Institute) đang vận động hành lang chống lại việc cấm lái xe sau khi ruống bia rượu với độ cồn khác nhau. Họ nói kể từ ngày có lệnh cấm này, DADSS đã bắt giữ cả những người chỉ uống một cốc vang trong bữa tối.   Bản tin cho biết thiết bị nói trên không cần yêu cầu lái xe phải thổi vào ống kiểm tra độ cồn như hiện nay vẫn làm mà sử dụng bộ cảm biến hô hấp kiểu bị động và theo các nhà nghiên cứu dự kiến việc này cần thời gian từ năm đến tám năm.  Cho dù các cơ quan liên quan chưa đưa ra dự đoán về giá thành thiết bị nói trên nhưng có ý kiến cho rằng khi được sản xuất hàng loạt thì thiết bị này sẽ có giá thành tương đương dây an toàn hoặc túi khí, tức khoảng 150-200 USD cho mỗi xe.  Theo Cục An toàn giao thông đường cao tốc Quốc gia (NHTSA), năm 2013, nước Mỹ có 10.706 người chết vì tai nạn giao thông gây ra bởi tình trạng lái xe uống rượu, chiếm 31% tổng số người chết vì tai nạn giao thông trong năm. 1  Ng.H tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiết kế và chế tạo máy phân tử giành giải Nobel Hóa học      Giải thưởng ghi nhận thành công của ba nhà nghiên cứu người Pháp, Mỹ và Hà Lan trong việc kết nối phân tử với nhau để thiết kế mọi thứ từ động cơ đến xe hơi và cơ bắp với tỷ lệ siêu nhỏ.      Ba nhà khoa học đoạt giải Nobel (từ trái sang): Jean-Pierre Sauvage, Sir J. Fraser Stoddart, và Bernard L. Feringa  Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển vừa công bố giải Nobel Hóa học 2016 thuộc về ba nhà khoa học: Jean-Pierre Sauvage, Đại học Strasbourg, Pháp; Sir J. Fraser Stoddart, Đại học Northwestern, Evanston, IL, Mỹ; và Bernard L. Feringa, Đại học Groningen, Hà Lan với “thiết kế và chế tạo máy phân tử”. Ba người sẽ chia nhau giải thưởng trị giá 925.000 USD.  Việc phát triển công nghệ để thu nhỏ các thiết bị, có thể dẫn tới một cuộc cách mạng công nghiệp, công trình được trao giải năm nay thu nhỏ máy và đưa về hóa học theo một chiều hướng mới.  Giải thưởng ghi nhận thành công của các nhà nghiên cứu trong việc kết nối phân tử với nhau để thiết kế mọi thứ từ động cơ đến xe hơi và cơ bắp với tỷ lệ siêu nhỏ. “Họ là bậc thầy kiểm soát chuyển động ở cấp phân tử”, Olof Ramstrom, thành viên Hội đồng Nobel, nhận xét.  Các bước đầu tiên hướng tới một máy phân tử đã được thực hiện bởi Jean-Pierre Sauvage vào năm 1983, khi ông thành công trong việc kết nối hai phân tử hình vòng với nhau để tạo thành một chuỗi, được gọi là một catenane. Thông thường, các phân tử được liên kết liên kết hóa trị trong đó các nguyên tử chia sẻ các electron. Đối với một máy tính, để có thể thực hiện một nhiệm vụ, nó phải bao gồm các bộ phận mà có thể tương tác một cách tương đối với nhau. Hai vòng đan cài hoàn thành chính xác yêu cầu này.  Bước thứ hai được Fraser Stoddart tiến hành vào năm 1991, khi ông đã phát triển một rotaxane. Ông luồn một vòng phân tử trên một trục phân tử mỏng và chứng minh rằng chiếc nhẫn đã có thể di chuyển dọc theo trục. Trong sự phát triển của mình dựa trên rotaxanes là một máy phân tử, một cơ phân tử và một con chip máy tính phân tử.  Còn Bernard Feringa là người đầu tiên phát triển một động cơ phân tử; vào năm 1999, ông đã chế tạo được một cánh quạt rotor phân tử có thể quay liên tục cùng hướng. Bằng các động cơ phân tử, ông đã quay một xi lanh thủy tinh có kích thước lớn hơn động cơ 10.000 lần và ông cũng đã thiết kế được một nanocar.  Đức Hưng lược dịch.    Author                Đức Hưng        
__label__tiasang Thiếu minh bạch trong quản lý an toàn hạt nhân Trung Quốc      Trong bối cảnh sắp tròn 2 năm kể từ lần xảy ra thảm họa Fukushima, người ta sẽ đặt câu hỏi liệu Trung Quốc đã rút ra bài học gì từ Nhật Bản. Liệu 28 lò phản ứng mà nước này đang xây dựng có được vận hành và kiểm soát một cách phù hợp? Liệu chúng có an toàn? Hiện nay, có rất ít thông tin để có thể đưa ra câu trả lời tích cực cho những câu hỏi này.    Trung Quốc đã khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân đầy tham vọng sau 19 tháng treo lại kể từ vụ tai nạn Fukushima ở Nhật Bản. Gần một nửa các lò phản ứng nguyên tử đang được xây dựng trên khắp Trung Quốc, và quốc gia này muốn tăng gấp 3 lần sản lượng điện hạt nhân chỉ trong vòng 4 năm, từ 12,5 gigawatt của năm 2011 lên thành 40 gigawatt vào năm 2015 – một kết quả khó đạt được ở bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.  Các lò phản ứng mà Trung Quốc đang xây dựng thuộc thế hệ lò phản ứng thứ 3, như lò Westinghouse AP1000, hay Areva European Pressurized Reactor (EPR). Ngành công nghiệp điện hạt nhân Trung Quốc cam kết rằng những lò mới này sẽ an toàn hơn vì chúng dựa nhiều hơn vào những biện pháp an toàn “cố hữu” – ví dụ, chúng sẽ không cần những máy bơm bên ngoài để bảo đảm vận hành an toàn khi có sự cố – nhưng đó mới chỉ là lời nói. Điều người ta lo ngại hơn là liệu các công ty Trung Quốc và hệ thống xây dựng – vốn bị mang tiếng về nạn tham nhũng, chất lượng thấp, và bớt xén chi phí – sẽ chấp nhận đánh đổi tốc độ lấy an toàn cho công trình.  Trung Quốc cần tránh lặp lại tình huống năm 1998, khi lò phản ứng CNP-300 theo công nghệ nội địa tại Qinshan phải xây lại vì những sai sót ở mối hàn trên khoang thép chứa lò.  Tập đoàn Areva khẳng định rằng lò EPR có thể được xây dựng ở Trung Quốc với mức chi phí là 4 tỷ USD – 40% thấp hơn chi phí nếu xây dựng ở châu Âu – trong thời gian 46 tháng, nhanh hơn so với thời gian 71 tháng nếu làm ở châu Âu. Đây cũng là lò phản ứng đã gặp chi phí phát sinh khổng lồ và trì hoãn đáng kể khi thi công ở Phần Lan và Pháp.  Đến nay, chỉ có các lò AP1000 ở các tỉnh Zhejiang và Shandong là loại lò đã được thương mại hóa phổ biến trên thế giới. Trong số 4 lò EPR đang được xây dựng trên thế giới, có 2 lò đang được xây ở tỉnh Guangdong của Trung Quốc. Vì vậy, có thể coi Trung Quốc là phòng thí nghiệm sống cho các thiết kế và vận hành lò phản ứng hạt nhân thế hệ III.   Điều này có nghĩa là Trung Quốc cần phải có một hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt nhất trên thế giới. Tuy nhiên, những quy định và hướng dẫn của Trung Quốc đã lạc hậu cả thập kỷ, và không có một hệ thống pháp lý sáng sủa giúp quản lý việc sử dụng năng lượng hạt nhân. Bên cạnh đó, sau thảm họa Fukushima, Trung Quốc vẫn chưa có những hành động hiệu quả trong cải cách và tăng cường cho các cơ quan chức năng và hoạt động kiểm soát hạt nhân, trong khi hệ thống kiểm soát của Trung Quốc không hề tốt hơn hệ thống đã gây ra thảm họa ở Nhật Bản, nếu không muốn nói là tệ hơn.     Cũng như Nhật Bản, ở Trung Quốc khả năng giám sát và đảm bảo an toàn hạt nhân bị tác động bởi mối quan hệ quá thân tình giữa các cơ quan quản lý của Nhà nước và các công ty vận hành cũng do Nhà nước sở hữu – thường xuyên có sự luân chuyển cán bộ làm việc trong bộ máy hành chính Nhà nước và các công ty này. Trách nhiệm quản lý năng lượng hạt nhân của Trung Quốc bị phân tán và phân chia ra nhiều cơ quan. Và tệ hơn nữa là các nhà quản lý lại có thứ bậc hành chính thấp hơn những người phụ trách vận hành nhà máy.  Hai cơ quan quản lý ở Trung Quốc là Ban An toàn Hạt nhân Quốc gia và Ban Năng lượng Quốc gia có thứ bậc thấp hơn nhiều so với Hội đồng Nhà nước, trong khi các công ty năng lượng hạt nhân – Tập đoàn Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc, Tập đoàn Năng lượng Quảng Đông Trung Quốc, hay Tập đoàn Công nghệ Năng lượng Hạt nhân Nhà nước – chỉ phải báo cáo trực tiếp lên Hội đồng Nhà nước. Như vậy, các nhà vận hành sẽ được cấp cao nhất lắng nghe nhiều hơn so với các nhà quản lý khi có sự cố khẩn cấp xảy ra.  Thiếu minh bạch và thiếu sự tham gia tiếng nói của công chúng đã tạo ra môi trường đóng kín thông tin trong ngành công nghiệp hạt nhân Nhật Bản, một yếu tố gây ra tai nạn Fukushima. Còn ở Trung Quốc, môi trường quản lý và hoạt động làm chính sách trong ngành công nghiệp hạt nhân cũng không có gì khả quan hơn. Các chính sách hạt nhân dựa quá nhiều vào những hội đồng chuyên gia khép kín. Và vì đa số các viện nghiên cứu hạt nhân ở Trung Quốc là các đơn vị sự nghiệp của các nhà máy điện hạt nhân, hầu hết các chuyên gia chịu trách nhiệm thẩm định đề án xây dựng lò phản ứng mới đều có mối liên quan đến chủ đầu tư.    Cũng như Nhật Bản, Trung Quốc vẫn chưa thúc đẩy tính minh bạch và sự tham gia tiếng nói người dân trong các vấn đề hạt nhân. Công chúng được mời tới nhận xét về đánh giá tác động môi trường của các dự án, nhưng chỉ được phép làm vậy trong vòng 10 ngày, khiến không thể có được những thẩm định an toàn hạt nhân một cách toàn diện và độc lập.   Trung Quốc cần năng lượng hạt nhân để đáp ứng nhu cầu năng lượng và các mục tiêu cắt giảm khí thải carbon. Nhưng quốc gia này cần cải cách và tăng cường hệ thống kiểm soát an toàn hạt nhân. Cần hướng tới tăng cường minh bạch và sự tham gia của công chúng, và thành lập những viện nghiên cứu hạt nhân độc lập, cung cấp cho những viện này nguồn ngân sách dài hạn để họ có thể tiến hành những nghiên cứu độc lập, đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm kiểm soát an toàn hạt nhân.  Nhưng điều cấp thiết nhất là xây dựng một cơ sở pháp lý toàn diện trong quản lý năng lượng hạt nhân, trao trách nhiệm an toàn lò phản ứng cho những cơ quan độc lập, đáng tin cậy, và có đủ thẩm quyền.   http://www.nature.com/news/nuclear-safety-lies-in-greater-transparency-1.12493    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thiếu một sức ép khoa học      Theo tôi cái mà chúng ta, các nhà khoa học, thiếu chính là sức ép khoa học. Đầu thập kỷ 80, kinh tế của ta bị những sức ép lớn, buộc chúng ta phải tìm lối thoát. Trong khi đó khoa học cũng như giáo dục vẫn cứ làng nhàng “ngang tầm khu vực”. Trong khi các nhà kinh doanh phải lựa chọn hoặc có lãi hoặc phá sản thì các nhà khoa học vẫn có thể tranh thủ “đi buôn”, “buôn” không được nữa thì lại về làm khoa học. Sự nhập nhằng đó đã biến một số nhà khoa học thành “nhà buôn”, nhưng vì kém nên chỉ “buôn” được khoa học.     Nếu nhìn vào hàng ngũ các nhà quản lý khoa học, có thể thấy rằng tất cả họ đều từng là các nhà khoa học, không có ai xuất thân là các nhà cách mạng hay chính trị chuyên nghiệp cả. Vậy nếu đổ lỗi cho cơ chế hay do quản lý thì cũng là chúng ta, các nhà khoa học cả thôi.  Bắt đầu từ so sánh mô hình giáo dục Việt Nam và Đức, ta có thể dễ thấy một số khác biệt như sau: Hệ thống giáo dục phổ thông của Đức không có những chương trình đào tạo nhân tài kiểu trường chuyên như ta. Từ cấp 2 trở đi, học sinh được chia thành 3 nhóm, học sinh có khả năng hơn cả vào học Gymnasium, loại giữa vào Realschule và loại kém vào Hauptschule. Mục đích của việc phân loại trường này là hướng nghiệp cho học sinh. Tất nhiên các nhà khoa học tương lai của Đức đều học ở Gymnasium. Các học sinh chọn học Realschule hay Hauptschule đều đã xác định mình sẽ không làm những việc liên quan tới lao động trí óc. Như vậy các Gymnasium có vẻ giống các trường chuyên của ta. Thực tế không hẳn như vậy. Trường chuyên của ta nặng về đầu vào, thi rất khó, nhưng lại có nhiều suất “đối tác”. Vì thế nói học sinh trường chuyên giỏi hơn học sinh trường thường là không đúng. Trái lại, trình độ học sinh ở Gymnasium so với hai loại trường kia là khác hẳn, càng lên lớp cao chênh lệch càng lớn, chênh lệch ngay từ chương trình học. Mặt khác, chất lượng của các trường Gymnasium trong toàn quốc tương đối đồng đều. Nó đảm bảo học sinh giỏi ở bất kỳ đâu cũng có điều kiện để phát triển. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng mà giáo dục nước ta chưa đạt được. Một khác biệt nữa, theo tôi, là khác biệt cơ bản nhất trong tư duy giáo dục cũng như đào tạo xuyên suốt từ phổ thông tới tiến sĩ là các trường của Đức không quản lý chặt đầu vào mà chỉ làm chặt đầu ra. Về nguyên tắc tất cả học sinh cấp I đều có thể được vào học Gymnasium, tuy nhiên học sinh không theo được chương trình sẽ phải chuyển trường.  Học sinh tốt nghiệp Gymnasium sẽ được nhận vào đại học, không qua một kỳ thi nào cả. Tuy nhiên việc chọn trường và chọn ngành phụ thuộc vào kết quả tốt nghiệp phổ thông. Tùy vào khả năng kinh tế của gia đình mình, sinh viên có thể vay tiền của nhà nước để đi học). Đây là mô hình mà chúng ta cũng đang thực hiện (nhưng không có chuyện sổ nợ sẽ được ghi vào bằng tốt nghiệp. Sau khi ra trường sinh viên sẽ phải trả nợ cho Nhà nước bằng cách trừ vào lương (nếu họ xin được việc làm). Tuy nhiên Nhà nước sẽ xóa nợ cho sinh viên học tốt nghiệp trước thời hạn hay tốt nghiệp xuất sắc.  Chất lượng giảng viên đại học ở Đức cũng khá đồng đều, ở bất kỳ một trường đại học nào cũng có một số nhóm nghiên cứu mạnh. Chất lượng sinh viên nói chung cũng khác nhau, phụ thuộc phần nào vào môi trường xung quanh của từng trường đại học. Chẳng hạn các đại học ở Munich nổi tiếng hơn vì ở đó có lượng người khá giả cao hơn, trong khi các đại học ở vùng Ruhr nằm “cuối bảng” vì đây vốn là vùng mỏ. Dù vậy, chất lượng sinh viên nói chung không liên quan tới chất lượng nghiên cứu của một trường đại học.  Thông thường chỉ có khoảng 50% số sinh viên nhập học sẽ tốt nghiệp đại học (các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật). Phần lớn sinh viên tốt nghiệp sẽ đi tìm việc làm trong các ngành công nghiệp, hoặc đi dạy học nếu họ học theo chuyên ngành sư phạm. Chỉ khoảng một phần năm trong số này, tức là 10% của tổng số sinh viên vào đại học, có ý định học tiếp nghiên cứu sinh (NCS). Phần lớn NCS nhận được học bổng của Nhà nước, hoặc được trường hỗ trợ tài chính qua vị trí trợ giảng. Về nguyên tắc, người nước nào cũng đều có thể đăng ký học bổng NCS của Đức, miễn là đáp ứng các điều kiện về chuyên môn và ngoại ngữ. Ở Đức người ta không xét lý lịch.  Không phải ai đăng ký NCS đều thành tiến sĩ, dù tỷ lệ “rơi rụng” ở bậc NCS thấp hơn ở bậc đại học, có lẽ khoảng 10-20%. Cũng không phải tất cả các tiến sĩ ra lò sẽ trở thành các nhà khoa học. Phần lớn trong số họ lại đi tìm việc trong các ngành công nghiệp, ngân hàng… Chỉ một bộ phận nhỏ những người kiên trì nhất và có khả năng nhất tìm được những chỗ nghiên cứu hoặc giảng dạy tạm thời trong các trường đại học. Có lẽ chỉ khoảng một phần năm của số tiến sĩ ra lò tiếp tục làm khoa học. Trong vòng 6 năm tiếp theo những người này phải tiếp tục khẳng định được mình trong nghiên cứu khoa học cũng như phải tích lũy kinh nghiệm giảng dạy. Họ phải hoàn thành một bản luận văn khoa học thứ hai để đạt được Giấy phép Giảng dạy đại học. Chỉ khi đó họ mới đạt được các điều kiện cần để đăng ký làm Giáo sư – chức danh duy nhất ở trong biên chế tại các trường đại học, hiểu theo nghĩa của Việt Nam. Lương khởi điểm của Giáo sư ở Đức khoảng 50 ngàn Euro/năm, thuộc loại trung bình khá ở Đức.  Trong khi đó, con đường của một nhà khoa học Việt Nam “bằng phẳng” hơn nhiều. Sau khi tốt nghiệp đại học, việc đầu tiên là phải xin được vào một cơ sở khoa học hay đào tạo. Đây gần như là điều kiện tiên quyết để tiếp tục làm khoa học. Chỉ có biên chế, “nhà khoa học trẻ” mới có điều kiện xin học bổng nhà nước đi học tiếp. Mặt khác, đây cũng gần như là điều kiện đủ. Khi đã trở thành một công chức khoa học thì sớm hay muộn anh cũng sẽ trở thành nhà khoa học. Có thể nói đây là điểm khác nhau then chốt giữa Việt Nam và Đức. Cũng giống như kỳ thi vào các trường chuyên hay các kỳ thi đại học, công chức khoa học của ta được chọn thông qua một kỳ thi chứ không phải thông qua quá trình nghiên cứu. Nhưng để trở thành một nhà khoa học ở Đức là cả một chặng đường gian nan, đòi hỏi không chỉ khả năng mà cả tính kiên trì, lòng yêu khoa học của các ứng viên. Rất nhiều ứng viên sẽ rơi rụng trên con đường gian nan đó, chỉ những người ưu tú nhất mới được chọn vào biên chế khoa học. Chính sức ép khoa học đó đã tạo nên một không khí làm việc hết sức tích cực tại các cơ sở nghiên cứu của Đức.  Không chỉ riêng ở Đức mà ở tất cả các nước có một nên khoa học tiên tiến không ở đâu có chuyện sinh viên vừa tốt nghiệp đại học được nhận ngay vào biên chế dài hạn tại các cơ sở nghiên cứu hay các trường đại học như ở Việt Nam ta. Ngoài ra chính kẽ hở này cũng nảy sinh ra tình trạng “cha truyền con nối” trong khoa học Việt Nam. Cha làm Toán thì con cũng làm Toán, cha là nhà Vật lý thì con cũng là nhà Vật lý… Tại các trường đại học của ta, việc con thế chỗ sau khi cha/mẹ về hưu là đang là một trào lưu. Nghe nói “một nửa trường đại học Bách khoa là con em của nửa còn lại”. Đây là một điều chưa từng có trong lịch sử học thuật Việt Nam cũng như trên thế giới. Nho học Việt Nam, ngay cả trong những thời kỳ suy thoái nhất cũng vẫn duy trì được những kỳ thì nghiêm túc.  Trở lại với các nhà khoa học trẻ của ta. Sau khi trở thành công chức khoa học các nhà khoa học trẻ tương lai (theo tiêu chuẩn của khoa học thế giới thì một sinh viên mới tốt nghiệp đại học chưa thể gọi là nhà khoa học được), bắt đầu phải tìm cách xin xỏ để được đi học tiếp. Tôi khẳng định là phải xin xỏ, vì về nguyên tắc cơ quan chủ quản của họ không muốn họ đi học tiếp – nếu tất cả các cán bộ trẻ đều đi học thì lấy ai làm việc (tất nhiên là ngoại trừ đi học tại chức). Và khi đã phải xin, phải xét thì trong điều kiện của ta hiện nay, những thủ tục đầu tiên là không thể thiếu được, những tiêu chuẩn lý lịch “con ông Sáu, cháu ông Ba” cũng được xem xét kèm. Gần đây tôi nghe nói trong các kỳ thi tuyển NCS theo dự án 322, hay cho học bổng VEF, nhiều ứng viên trượt ngay ở môn chuyên ngành của mình. Phải chăng vì những thí sinh giỏi nhất đã trượt từ vòng sơ tuyển lý lịch – không có hợp đồng với cơ quan nhà nước.  Lại quay sang nước Đức. Bước ngoặt quan trọng nhất đối với một nhà khoa học Đức là tìm được một chân Giáo sư. Người Đức chủ trương phi tập trung hóa. Ở Đức không có những thành phố thật lớn, chất lượng các trường phổ thông khá đồng đều trên toàn quốc, chất lượng các trường đại học cũng vậy. Nói chung các nhà khoa học không quan tâm lắm tới việc họ sẽ giảng dạy ở trường nào, miễn là có một chỗ làm việc lâu dài, nghĩa làm một chân Giáo sư. Trong một khoa của một trường đại học, số các giáo sư được ấn định trên cơ sở số sinh viên theo học, khi một giáo sư về hưu nhà trường sẽ thành lập một hội đồng xét tuyển giáo sư mới. Thông thường có thể có tới vài chục ứng viên đăng ký cho một chân Giáo sư. Chính vì quá trình chọn lọc có thể nói là khốc liệt như đã nói ở trên, một giáo sư ở Đức luôn là một nhà khoa học vững vàng trong chuyên môn của mình. Sau khi đã trở thành Giáo sư thì nhiệm vụ chính của một nhà khoa học vẫn là nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu. Thông thường, các giáo sư ở Đức dạy không quá 10 tiết một tuần, tức chỉ khoảng 1/5 thời gian làm việc.  Có lẽ không thể kể ra ở đây các công việc của một Giáo sư ở ta vì nó quá đa dạng. Nhưng chúng ta cũng có thể kết luận rằng quá trình đào tạo, phấn đấu của một nhà khoa học Việt Nam khác xa so với các đồng nghiệp ở Đức. Điều khác biệt cơ bản nhất theo tôi là các nhà khoa học của ta thiếu một “sức ép khoa học”.  ————-  Con đường của một nhà khoa học Việt Nam “bằng phẳng” hơn nhiều. Sau khi tốt nghiệp đại học, việc đầu tiên là phải xin được vào một cơ sở khoa học hay đào tạo. Đây gần như là điều kiện tiên quyết để tiếp tục làm khoa học. Chỉ có biên chế, “nhà khoa học trẻ” mới có điều kiện xin học bổng nhà nước đi học tiếp. Mặt khác, đây cũng gần như là điều kiện đủ. Khi đã trở thành một công chức khoa học thì sớm hay muộn anh cũng sẽ trở thành nhà khoa học.  PGS PHÙNG HỒ HẢI, ĐH Essen, Đức      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thỏa thuận hạt nhân của Iran tăng hy vọng cho khoa học      Các nhà vật lý Iran tỏ ra phấn khích trước  viễn cảnh về một phòng thí nghiệm vật lý mới và khả năng phối hợp hiệu  quả hơn trong nghiên cứu khoa học với phần còn lại của thế giới.  &#160;    Thỏa thuận sơ bộ (khung) đã được chấp thuận giữa Iran và sáu cường quốc thế giới về chương trình hạt nhân của nước này đã được coi như cơ hội để chấm dứt quãng thời gian căng thẳng trên toàn cầu, góp phần ngăn chặn chạy đua vũ khí hạt nhân ở khu vực Trung Đông và làm giảm đi tác động của các lệnh trừng phạt đã làm cho nền kinh tế Iran tê liệt. Một thắng lợi khác cũng tới với nền khoa học Iran thông qua thỏa thuận này.  Dù các nhà đàm phán vẫn còn phải giải quyết nhiều vấn đề nổi cộm trước thời hạn ngày 30/6 cho một thỏa thuận chính thức nhưng các nhà nghiên cứu trong và ngoài Iran vẫn lạc quan về hiệu quả thiết thực của bản thỏa thuận này – một đề xuất chuyển đổi nhà máy làm giàu uranium Fordow thành phòng thí nghiệm vật lý quốc tế cũng như gia tăng các cơ hội hợp tác nếu các hình thức trừng phạt được nới lỏng.  “Việc chuyển Fordow thành cơ sở nghiên cứu vật lý chắc chắn sẽ thu hút cộng đồng nghiên cứu vật lý của Iran,” Shahin Rouhani, nhà vật lý tại Viện Nghiên cứu Khoa học cơ bản (IPM) ở Tehran và chủ tịch của Hiệp Vật lý Iran, đánh giá. “Tuy vậy điều gì sẽ thực sự xảy ra còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận cuối cùng trong hai tháng tới cũng như tính chất hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có tại Fordow,” ông Shahin Rouhani cho biết thêm.  Được xây dựng ngầm dưới chân một ngọn núi, nhà máy Fordow gây lo ngại đối với Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh vì rất khó để xử lý hiệu quả vấn đề mà không ảnh hưởng đến môi trưởng, do đó đề xuất biến nó thành phòng thí nghiệm đã trở thành sự lựa chọn tối ưu hơn hẳn những biện pháp ngoại giao. Frank von Hippel, một  nhà vật lý không phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hạt nhân tại trường Đại học Princeton ở New Jersey, nói: “Tôi nghĩ rằng cơ bản đây là cách vừa thỏa mãn yêu cầu không có cơ sở hạt nhân của Iran bị đóng cửa của Ayatollah (Đại giáo chủ Iran – ND), vừa đáp ứng yêu cầu phải dừng ngay việc làm giàu uranium ở đó của Mỹ”.  Theo thỏa thuận khung, một số các máy  ly tâm làm giàu uranium tại nhà máy Fordow sẽ được chuyển sang sử dụng để sản xuất các đồng vị như là molybdenum-99, đang được sử dụng rộng rãi cho chụp ảnh y tế. Rüdiger Voss, giám đốc đối ngoại của CERN (Phòng thí nghiệm vật lí hạt Châu Âu gần Geneva, Thụy Sĩ) cho biết rằng khả năng chuyển đổi mục đích sản xuất ở Fordow có thể giúp ngăn chặn sự thiếu hụt những đồng vị này trên toàn cầu.  Những thông tin khác  “Các khu vực khác thuộc địa điểm ngầm Fordow sẽ là nơi đặt các thiết bị vật lý thực nghiệm; khả năng tận dụng nó sẽ còn phụ thuộc rất lớn vào chức năng của các thiết bị sẽ lắp đặt, tuy vậy đến bây giờ việc lựa chọn thiết bị vẫn chưa có kế hoạch cụ thể,” Voss cho hay. Còn nhà vật lý Ernest Moniz, thành viên Bộ Năng lượng Mỹ và là nhà thương thuyết hàng đầu về khoa học trong thỏa thuận này, đã đề cập đến khả năng lắp đặt của một máy gia tốc hạt ở đó. “Các nhà vật lý của Iran cũng đã tính đến trường hợp đó,” Reza Mansouri, nhà thiên văn học tại Viện nghiên cứu các ngành khoa học cơ bản Iran (IPM) và là cựu thứ trưởng Bộ Khoa học Iran, cho biết như vậy. Hiệp hội Vật lý Iran có ý định gửi thư cho các chính trị gia yêu cầu được tham gia vào việc lựa chọn bất kỳ dự án nào trong tương lai, ông nói, và Rouhani (Tổng thống Iran – ND) nêu kế hoạch cho Hiệp hội thành lập một nhóm xem xét tính khả thi trong việc khai thác Fordow. Ông dẫn ra khả năng xây dựng một đầu dò neutrino; Mansour gợi ý về việc nghiên cứu tia vũ trụ.   Iran có một cộng đồng vật lý năng động và đã có các thiết bị sẵn sàng sử dụng, như thiết bị nguồn tia của Iran ở Qazvin, phía tây bắc của Tehran, cung cấp chùm tia X-quang cường độ mạnh phục vụ nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực. Các nhà vật lý của Iran cũng có nhiều hợp tác quốc tế, ví dụ thông qua sự tham gia của các nước này trong các thí nghiệm tại CERN, và họ cũng sẵn sàng để thảo luận về bất kỳ kế hoạch nào với các đồng nghiệp nước ngoài. “Tôi chỉ có thể chờ mở ra cho sáng kiến đó,” ông Patrick Fassnacht, người phụ trách về đối ngoại với Iran tại CERN nói.  “Các cuộc đàm phán cũng bao gồm việc làm giảm bớt lệnh trừng phạt liên quan đến vũ khí hạt nhân, vốn đã ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu và hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài của Iran,” ông Hamid Javad nói. Ông là một thành viên của Hội đồng Các nhà vật lý Mỹ gốc Iran, một tổ chức được thành lập vào năm 2007 để đại diện cho các thành viên người Iran thuộc Hiệp hội Vật lý Mỹ. Các nhà khoa học nước ngoài thường tránh tiếp xúc với những đồng nghiệp Iran vì e ngại động chạm tới các điều luật cứng rắn trừng phạt Iran. Còn bản thân các nhà khoa học Iran có nguyện vọng đi ra nước ngoài nghiên cứu cũng gặp rất khó khăn khi xin visa.    Một thanh tra của IAEA thanh sát trở lại tại điểm làm giàu uranium Isfahan của Iran.  “Hơn nữa, các lệnh trừng phạt đã làm các nhà nghiên cứu Iran vất vả và tốn kém rất nhiều khi đặt mua thiết bị thí nghiệm và tạp chí khoa học,” ông Warren Pickett, nhà vật lý tại trường Đại học California, nói. Ông cũng là người đã thúc đẩy tiến trình ngoại giao khoa học với Iran thông qua các chuyến thăm và làm việc. Năm ngoái, trường đại học của ông đã đồng ý hợp tác với trường đại học Công nghệ Sharif ở Tehran. Theo quan điểm của ông, sẽ nguy hại hơn nhiều khi những căng thẳng quốc tế tạo nên sự e ngại giữa các nhà nghiên cứu nước ngoài và Iran, ông nói thêm: “Khi tôi kể về chuyến thăm của tôi đến Iran, một số đồng nghiệp của tôi tỏ ra rất sửng sốt ‘Tại sao ông đến đó?’.”   Các hình thức trừng phạt được nới lỏng được hy vọng sẽ giải phóng cho các mối quan hệ hợp tác hiện tại của Iran. “Cuộc sống không phải hề dễ dàng cho những người bạn Iran,” Fassnacht nói. Bản thân CERN đã phải rất thận trọng trong hợp tác với Iran để tránh làm trái các điều luật trừng phạt của quốc tế, ông nói, đặc biệt khi làm việc với những người nằm trong danh sách đen do họ có liên hệ với chương trình hạt nhân của nước này. Các ngân hàng Thụy Sĩ cũng miễn cưỡng chấp nhận việc thanh toán phí của Iran cho CERN, mặc dù CERN cuối cùng đã tìm thấy một ngân hàng sẵn sàng đứng ra đảm nhiệm việc này, ông cho biết thêm.  “Máy gia tốc synchrotron SESAME đang được xây dựng gần Amman, Jordan với mục đích thúc đẩy hòa bình giữa các quốc gia Trung Đông cũng như vật lý hạt, hiện đối mặt với các vấn đề tương tự về vấn đề ngân hàng,” ông Christopher Llewellyn-Smith, giám đốc nghiên cứu năng lượng tại Đại học Oxford, Vương quốc Anh và là chủ tịch của Hội đồng SESAME nói. “Nguồn đóng góp nằm trong tầm tay của SESAME, nó sẽ cho phép Iran bắt đầu chi trả trở lại và trả những món nợ đã tích lũy kể từ khi các lệnh trừng phạt bắt đầu”.   Ở tầm nhìn rộng mở hơn, các cuộc đàm phán cho thấy dấu hiệu sẵn sàng đối thoại. “Điều này là vô cùng quan trọng,” ông Mansouri cho biết, “bởi Iran, Mỹ và các nước khác đã tìm ra cách thức để đối thoại với nhau một cách hợp lý “.            Những thách thức đối với một thỏa thuận chính thức  Trước  đây, các nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Xô tin tưởng vào các nhà vật lý sẽ tìm  ra giải pháp giảm vũ khí hạt nhân và thủ tục xác minh trong cuộc chiến  tranh lạnh. Tương tự như vậy, các nhà đàm phán đang tiếp tục làm việc  với bản thỏa thuận chính thức về chương trình hạt nhân của Iran đật kỳ  vọng các nhà khoa học tạo ra những nền tảng kỹ thuật đáng tin cậy. Dưới  đây là ba khả năng (vấn đề) mà bản thỏa thuận cuối cùng cần phải giải  quyết.  Vi phạm  toàn diện (Central Breakout): Đối với thỏa thuận, lo ngại chính là việc  Iran nhanh chóng chuyển hướng chương trình hạt nhân – mà nước này vẫn  tuyên bố là vì mục đích hòa bình – để sản xuất uranium được làm giàu cao  hoặc plutonium cấp độ vũ khí cần thiết để tạo một quả bom, một sự kiện  được gọi là “Sự vi phạm”.  Thỏa thuận sơ bộ đòi hỏi Iran giảm số máy ly  tâm đang hoạt động từ 19.000 xuống còn 5060 và kho dự trữ của uranium  được làm giàu mức thấp từ 10.000 kg xuống còn 300 kg. Theo kịch bản này,  sẽ mất ít nhất một năm sau khi xảy ra vi phạm mới sản xuất lượng  uranium cần thiết cho một quả bom, và như vậy cộng đồng quốc tế sẽ có đủ  thời gian để can thiệp. Hiệp định khung cũng quy định rằng vùng hoạt  của lò phản ứng hạt nhân nước nặng ở Arak được thay thế bằng một thiết  bị tạo ra ít plutonium trong nhiên liệu đã cháy – và tất cả các thanh  nhiên liệu đã cháy đó sẽ được gửi ra nước ngoài.   Hoạt  động lén lút (Sneak-out): Theo thỏa thuận khung, trong 25 năm tới, Cơ  quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), có trụ sở tại Vienna, được  trao quyền chưa từng có trước đây để  kiểm tra một khâu bất kỳ nằm trong  chu trình nhiên liệu hạt nhân của Iran. IAEA cũng sẽ có quyền điều tra  khả năng “hoạt động lén lút” – các địa điểm làm giàu uranium không khai  báo  hoặc các hoạt động khác mà có thể tạo ra vũ khí hạt nhân. Các cơ  quan giám sát có thể sử dụng hình ảnh vệ tinh, quá trình kiểm tra các  mẫu môi trường và thiết bị để kiểm tra xem liệu uranium được làm giàu  cao đã được sử dụng tại một địa điểm nào hay không. Nhưng thỏa thuận  hiện tại chưa chi tiết hóa vấn đề khi nào “hoạt động lén lút” chưa tới  mức “vi phạm”, và trong quá khứ Iran đã từng che giấu IAEA về các nhà  máy làm giàu uranium.  Nghiên cứu vũ khí (Weapon Research): Có lẽ vấn đề gai góc nhất hiện nay là việc nghiên cứu hạt nhân quân sự. Nếu như các thanh tra viên có quyền tới địa điểm quân sự quốc gia Parchin, nơi bị cáo buộc đang tiến hành phát triển vũ khí hạt nhân, thì họ có thể tìm kiếm bằng chứng việc thử nghiệm các thành phần vũ khí hạt nhân. Nhưng bản thỏa thuận sơ bộ không đề cập đến quyền hạn mà IAEA phải có để thanh tra các địa điểm quân sự. Không hề ngạc nhiên về vấn đề này bởi trong quá khứ, Iran đã từ chối sự tiếp cận của IAEA đến Parchin. Những hình ảnh vệ tinh cho thấy trước đây Iran đã từng cố gắng che giấu việc nghiên cứu vũ khí hạt nhân tại địa điểm này trước bất kỳ hoạt động thanh tra nào của IAEA.          Nguyễn Thị Thu Hà     Nguồn: http://www.nature.com/news/iran-nuclear-deal-raises-hopes-for-science-1.17321    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời của Dữ liệu Lớn      Giống như Internet đã từng thay đổi cuộc sống con người một cách toàn diện, ngày nay ‘Dữ liệu Lớn’ cũng có ảnh hưởng mang tính cách mạng tương tự, dù chưa lộ rõ hết hình hài. Nắm giữ trong tay lượng thông tin lớn hơn rất nhiều so với trước đây, con người đang dùng dữ liệu lớn cho những mục đích hoàn toàn mới.      Từ thế kỷ thứ 3 trước CN, Thư viện Alexandria được coi là nơi chứa đựng toàn bộ kiến thức của loài người. Ngày nay, tổng lượng thông tin trên toàn thế giới đủ để chia đều cho mỗi đầu người một lượng nhiều gấp 320 lần lượng thông tin mà các sử gia tin rằng Thư viện Alexandria từng lưu trữ – ước tính vào khoảng 120 exabyte. Nếu tất cả những thông tin này được ghi lại vào đĩa CD và chúng ta xếp chồng các đĩa CD này lên nhau, sẽ có tới 5 chồng đĩa mà mỗi chồng đều vươn dài chạm tới mặt trăng.  Sự bùng nổ dữ liệu này chỉ mới xuất hiện gần đây. Cách đây không lâu, vào năm 2000, chỉ mới có một phần tư lượng thông tin lưu trữ trên toàn thế giới ở dạng kỹ thuật số. Ba phần tư còn lại được người ta lưu trên giấy tờ, phim, và các phương tiện analog khác. Nhưng do lượng dữ liệu kỹ thuật số bùng nổ quá nhanh – cứ 3 năm lại tăng gấp đôi – cục diện trên nhanh chóng đảo ngược. Ngày nay, chỉ dưới 2% tổng lượng thông tin chưa được chuyển sang lưu trữ ở dạng kỹ thuật số.  Với quy mô khổng lồ như vậy, chúng ta dễ hiểu rằng dữ liệu lớn thuần túy chỉ là vấn đề về kích cỡ. Nhưng nghĩ vậy là lầm lẫn. Dữ liệu lớn còn được biết đến với khả năng chuyển hóa thành dữ liệu từ nhiều khía cạnh của đời sống mà trước đây chưa từng được lượng hóa; ta gọi hiện tượng này là “dữ liệu hóa”. Ví dụ, các địa điểm ngày nay đều được dữ liệu hóa, đầu tiên là bằng kinh độ và vĩ độ, và gần đây là qua các hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS). Chữ viết cũng được coi như dữ liệu khi sách vở của nhân loại qua nhiều thế kỷ được lưu trữ trong máy tính. Kể cả tình bạn và những sự “ưa thích” (“likes”) cũng được dữ liệu hóa qua mạng xã hội Facebook.  Những loại dữ liệu này được sử dụng vào những chức năng phi thường nhờ vào sự hỗ trợ của những bộ nhớ máy tính có chi phí rất thấp, những bộ xử lý cực mạnh, những phép toán thông minh, các phần mềm khôn ngoan, dựa trên những kiến thức toán được vay mượn từ kiến thức thống kê đơn giản. Thay vì cố gắng “dạy” máy tính cách làm một việc gì đó, chẳng hạn như lái xe hơi hay làm phiên dịch ngôn ngữ, điều mà các chuyên gia trí tuệ thông minh nhân tạo đã cố gắng bất thành qua hàng thập kỷ, cách tiếp cận ngày nay đơn giản chỉ là cung cấp đủ dữ liệu cho một máy tính để nó có thể tính ra xác suất của tất cả mọi thứ mà người ta muốn tính toán, từ xác suất người đi đường gặp đèn giao thông màu xanh, hay xác suất chuyển ngữ từ ánh sáng trong một câu văn thành từ lumière hay từ léger (cả hai từ đều có nghĩa là ánh sáng trong tiếng Pháp) thì chuẩn xác hơn.   Việc sử dụng những khối lượng thông tin theo cách này đòi hỏi ba sự thay đổi sâu sắc trong cách chúng ta tiếp cận dữ liệu. Một là thu thập và sử dụng thật nhiều dữ liệu thay vì chấp nhận lấy những mẫu thống kê với số lượng nhỏ như các nhà thống kê vẫn làm từ hơn một thế kỷ nay. Hai là không nhất thiết phải kén chọn sàng lọc ra dữ liệu sạch, vì kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng một chút sai lệch trong thông tin vẫn có thể chấp nhận được, và việc sử dụng một lượng khổng lồ những dữ liệu ô hợp đem lại nhiều ích lợi hơn là cố gắng sàng lọc ra những dữ liệu tuy chính xác nhưng quá ít ỏi về dung lượng. Ba là trong nhiều trường hợp, chúng ta không nhất thiết phải cố tìm ra nguyên nhân đằng sau các hiện tượng. Ví dụ, không cần phải cố tìm hiểu chính xác vì sao một cỗ máy bị hỏng, hay vì sao tác dụng phụ của một loại thuốc bỗng nhiên biến mất, thay vào đó các nhà nghiên cứu có thể thu thập và phân tích thật nhiều dữ liệu về chúng cùng tất cả mọi thứ liên quan, từ đó rút ra quy luật làm cơ sở dự đoán các sự vật trong tương lai.   Càng nhiều càng tốt  Xuyên suốt lịch sử, con người làm việc với những lượng dữ liệu tương đối nhỏ vì thiếu công cụ để thu thập, tổ chức, lưu trữ, và phân tích thông tin. Người ta sàng lọc thông tin một cách tối đa nhằm thu được mẫu dữ liệu có kích cỡ tối thiểu để có thể dễ phân tích hơn. Đó là thời hoàng kim của toán thống kê hiện đại, được xuất hiện lần đầu từ cuối thế kỷ 19 và đã trở thành công cụ giúp con người thấu hiểu những vấn đề phức tạp kể cả khi có trong tay rất ít dữ liệu.   Thời đó, việc thu thập thông tin khá tốn kém và mất thời gian, nên người ta khắc phục bằng cách lấy những mẫu điều tra quy mô nhỏ, dựa trên nguyên lý là, trong phạm vi sai số nào đó, người ta có thể dùng một nhóm nhỏ để suy luận ra đặc thù của một tập hợp lớn, miễn là nhóm nhỏ đó được thu thập một cách ngẫu nhiên. Ví dụ, người ta có thể phỏng vấn ngẫu nhiên khoảng vài trăm người đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử, từ đó dự đoán kết quả bầu cử của cả một tiểu bang.   Tuy nhiên, cách làm này chỉ hiệu quả khi người ta cần đưa ra những ước đoán đơn giản, và dễ thất bại khi cần giải đáp những thắc mắc chi tiết và phức tạp, kiểu như làm sao biết được tỷ lệ phiếu bầu của những phụ nữ độc thân dưới 30 tuổi, hay tỷ lệ phiếu bầu của những phụ nữ người Mỹ gốc Á và có bằng đại học dưới 30 tuổi. Với những thắc mắc kiểu như vậy, việc thu thập mẫu điều tra một cách ngẫu nhiên trở nên vô dụng, vì có thể trong mẫu điều tra người ta chỉ thu được một vài người phù hợp với tiêu chí điều tra, quá ít ỏi để có thể rút ra được kết luận có tính đại diện cho toàn thể những đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, vướng mắc này sẽ được hóa giải nếu chúng ta thu thập được toàn bộ dữ liệu.  Một hạn chế khác của việc sử dụng một lượng nhỏ dữ liệu là người ta phải quyết định ngay từ đầu sẽ thu thập những dự liệu gì và cách thức sử dụng như thế nào. Còn ngày nay, khi chúng ta thu thập được tất cả mọi dữ liệu mình muốn, ta không cần phải biết trước mình sẽ sử dụng chúng ra sao. Tất nhiên, không phải khi nào ta cũng thu được mọi dữ liệu, nhưng ngày nay việc thu thập một lượng dữ liệu khổng lồ còn dễ hơn là phải tính toán cân nhắc tỉ mỉ để thu về một lượng dữ liệu nhỏ.    Đổi lại, khi tăng quy mô dữ liệu, chúng ta phải chấp nhận rằng dữ liệu không được sạch và không được tổng hợp một cách cẩn thận. Quan điểm này trái nghịch với cách thức con người làm việc với dữ liệu từ nhiều thế kỷ qua trong môi trường thông tin bị hạn chế và không thể thu thập được nhiều dữ liệu, đó là cố gắng sàng lọc tối đa nhằm đảm bảo mọi dữ liệu thu thập được là chính xác. Còn ngày nay, với khả năng dễ dàng thu thập một lượng dữ liệu khổng lồ, ta hoàn toàn có thể cho phép sai lệch ở đâu đó.  Ví dụ như trong dịch thuật, lĩnh vực mà các máy tính có thể làm rất tốt khi phải dịch từng từ đơn (do khả năng lưu trữ lớn trong bộ nhớ và tìm thông tin nhanh chóng tức thời) nhưng lại vô cùng vụng về nếu phải dịch cả một đoạn văn. Trong thập kỷ 1990 hãng IBM đã có một đột phá trong công nghệ dịch thuật cả một đoạn văn bằng máy tính dựa trên kỹ thuật thống kê. Người ta tải vào máy tính một tài liệu có nội dung là biên bản họp của Nghị viện của Canada, bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp, và lấy tài liệu này làm cơ sở để giúp lập trình cho máy tính nhận biết một từ ở ngôn ngữ này được dịch sang từ nào của ngôn ngữ kia thì đạt xác suất dịch đúng là cao nhất. Cách thức dịch thuật như vậy thuần túy dựa trên toán học và thống kê. Tuy nhiên, sau bước phát triển này, IBM không đi tiếp được xa hơn.  Đó chính là lúc Google nhảy vào cuộc. Thay vì dùng một lượng tài liệu nhỏ được dịch thuật thật chuẩn xác, Google dùng rất nhiều dữ liệu được thu thập một cách ‘thô sơ’ trên Internet. Đó là những bản dịch từ trang web của các doanh nghiệp ở mọi thể loại ngôn ngữ, thậm chí cả những bản scan các cuốn sách trong dự án khổng lồ mà Google đang theo đuổi. Số lượng trang tài liệu không chỉ lên tới hàng triệu, mà là hàng tỷ. Kết quả dịch thuật theo cách này có thể nói là khá tốt – còn tốt hơn cả công nghệ của IBM – và không chỉ giới hạn ở 2 ngôn ngữ mà có tới 65 ngôn ngữ có thể được dịch thuật chéo qua nhau. Vậy là, một lượng nhỏ dữ liệu tinh đã bại trận trước một lượng khổng lồ dữ liệu thô.   Tìm kiếm sự trùng hợp thay vì tìm nguyên nhân   Hai xu hướng thay đổi trong cách nghĩ của chúng ta về dữ liệu – từ một nhóm sang toàn bộ và từ tinh sang thô – đưa đến thay đổi thứ ba: từ tìm kiếm nguyên nhân chuyển sang tìm kiếm sự trùng hợp. Đó là khi người ta không cần phải cố gắng tìm ra những nguyên nhân sâu xa về sự vận hành của các sự vật trên thế giới, mà đơn giản chỉ cần tìm hiểu sự trùng hợp giữa các hiện tượng và dùng thông tin này để giải quyết vấn đề.  Ví dụ như ở UPS, một công ty vận chuyển hàng. Người ta cài cảm biến trong các bộ phận xe tải nhằm phát hiện ra hiện tượng tăng nhiệt và những nhịp rung lắc mà trước đây thường bị quy kết là nguyên nhân dẫn tới trục trặc. Công ty định dùng cách này để dự đoán được các xe có vấn đề từ trước khi xảy ra hỏng hóc, và thay thế các bộ phận ngay khi có điều kiện phù hợp thay vì phải xử lý trong điều kiện khó khăn nếu bị hỏng dọc đường. Thế nhưng dữ liệu mà họ thu được không cho thấy có sự trùng hợp rõ ràng giữa những trục trặc máy móc với mức độ tăng nhiệt hay nhịp rung lắc. Đây là một kết quả có ý nghĩa, mặc dù nó không giúp chỉ ra nguyên nhân khiến máy móc bị hỏng, nhưng ít ra cũng giúp công ty biết cần phải làm gì trước mắt, làm cơ sở để họ tiếp tục mở rộng điều tra.    Cũng với nguyên tắc của dữ liệu lớn là đi tìm sự trùng hợp thay vì tìm cách lý giải căn nguyên, các nhà nghiên cứu ở Canada đã nghiên cứu về điều trị những viêm nhiễm trong cơ thể con người, nhằm can thiệp điều trị viêm nhiễm ở trẻ sơ sinh từ trước khi các triệu chứng lộ rõ. Bằng cách chuyển hóa 16 thông tin cơ bản, trong đó có nhịp tim, huyết áp, hơi thở, và mức oxy trong máu, thành một dòng dữ liệu với 1000 điểm dữ liệu/giây, họ đã tìm ra sự trùng hợp giữa những biến đổi rất nhỏ trong cơ thể với những vấn đề sức khỏe cần xử lý và điều trị, từ đó giúp các bác sỹ có thể can thiệp và chữa trị kịp thời hơn. Qua thời gian, việc ghi lại những quan sát này sẽ cho phép các bác sỹ hiểu rõ nguyên nhân gây ra các vấn đề này, nhưng trước mắt, khi sức khỏe của trẻ sơ sinh đang bị đe dọa, việc phát hiện sớm các vấn đề còn hữu ích hơn so với biết chính xác căn nguyên của chúng.    Một ví dụ nữa là tháng 2 năm 2009, các nhà nghiên cứu của Google đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Nature cho thấy khả năng theo dõi sự bùng phát của dịch cúm, đơn giản chỉ dựa trên những hồ sơ tìm kiếm mà Google lưu lại. Hằng ngày Google giúp người sử dụng thực hiện hơn một tỷ cuộc tìm kiếm thông tin trên mạng và lưu trữ tất cả mọi kết quả thu được. Công ty đã chọn ra 50 triệu cụm từ khóa phổ biến nhất trong khoảng 2003 tới 2008, và so sánh chúng với dữ liệu về dịch cúm từ Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Bệnh dịch (CDC) của Mỹ. Ý tưởng ở đây là nhằm tìm hiểu, liệu có sự trùng hợp giữa việc gia tăng tần số của một nhóm từ khóa được tra cứu bởi những cư dân ở một địa phương, với những dữ liệu của CDC về các đợt bùng phát dịch cúm ở cùng địa phương đó. Trên thực tế, CDC hằng ngày vẫn theo dõi số lượng bệnh nhân tới phòng khám trên khắp đất nước, nhưng thông tin của CDC có độ trễ báo cáo trong khoảng 1 tới 2 tuần – quá lâu để có thể kịp thời ngăn chặn một trận dịch bệnh bùng phát. Trái lại, hệ thống của Google hoạt động rất nhanh, cho kết quả dữ liệu gần như tức thời bất kỳ khi nào người ta cần đến.    Cách làm của Google là rà soát tất cả mọi từ khóa qua một thuật toán nhằm xếp hạng mức độ trùng khớp giữa chúng và các đợt dịch cúm. Sau đó hệ thống sẽ thử kết hợp các từ khóa này với nhau và kiểm tra xem tần số trùng khớp có nhờ thế mà tăng cao hơn không. Cuối cùng, sau khi tiến hành gần nửa tỷ phép tính trên dữ liệu có trong tay, Google nhặt ra được 45 cụm từ khóa – kiểu như “đau đầu” hay “ngạt mũi” – có mức trùng khớp cao nhất với dữ liệu của CDC về các đợt dịch cúm.   Tất nhiên, một người bất kỳ có thể tiến hành tra cứu về dịch cúm dù bản thân người đó và những người xung quanh vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, đơn giản chỉ vì nghe tiếng hắt hơi ở nhà bên cạnh, hay bỗng nhiên phát sinh lo lắng sau khi đọc tin tức. Hệ thống của Google hoàn toàn không thể nhận biết được nguyên nhân thực sự đằng sau các cuộc tra cứu của người sử dụng, và nó cũng chẳng bận tâm tới điều này. Do vậy mà tháng 12 vừa qua, hệ thống của Google đã ước tính quá cao số lượng các ca bệnh cúm ở Mỹ. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng các dự đoán kiểu như vậy thuần túy mang tính xác suất và không phải khi nào cũng chính xác, đặc biệt là khi người ta đưa ra ước đoán dựa theo số lượng tra cứu trên Internet. Dạng căn cứ như vậy thường xuyên thay đổi và dễ bị tác động bởi những ảnh hưởng bên ngoài, ví dụ như tin tức truyền thông.     Thu lợi từ dữ liệu hóa  Giáo sư Shigeomi Koshimizu của Viện Công nghệ Công nghiệp Tiên tiến ở Tokyo là một chuyên gia về khai thác thông tin từ tư thế ngồi của mọi người. Từ đường nét cơ thể, dáng ngồi, sự phân bổ trọng lượng, tất cả đều có thể được lượng hóa và xếp thành cột dữ liệu. Koshimizu và nhóm nghiên cứu của ông đối chiếu những dữ liệu này với áp lực được đo từ 360 điểm khác nhau mà các cảm biến trên ghế xe hơi thu được, mỗi điểm có mức áp lực được xếp từ 0 tới 256. Kết quả thu được là một mật mã kỹ thuật số riêng biệt cho mỗi cá nhân. Trong một thử nghiệm, hệ thống đã phân biệt được từng cá nhân trong một nhóm người, với độ chính xác là 98%.  Nghiên cứu này không phải chỉ để làm cho vui. Koshimizu có kế hoạch ứng dụng nó thành một công nghệ giúp chống trộm cho xe hơi. Xe hơi được trang bị công nghệ này sẽ nhận biết được người lạ ngồi sau vô lăng và sẽ đòi người đó cung cấp mật khẩu trước khi cho phép xe hoạt động.   Việc chuyển hóa tư thế ngồi thành dữ liệu như vậy rất hữu ích, và hứa hẹn một triển vọng kinh doanh tiềm năng. Không chỉ giúp chống trộm ô tô, nó còn có thể giúp nhận biết nguy hiểm trên đường giao thông dựa theo tư thế của tài xế, chẳng hạn như một sự thay đổi đặc biệt trong tư thế người lái ngay trước khi xảy ra tai nạn. Hệ thống cũng có thể nhận biết khi nào tài xế hơi sụp người xuống do mệt mỏi và chuyển tín hiệu khẩn cấp tự động giúp xe phanh lại.    Điều đáng nói ở đây là Koshimizu đã chuyển hóa một thứ chưa từng được coi là dữ liệu – thậm chí chưa từng được coi là thông tin đáng quan tâm – thành một định dạng có thể lượng hóa. Ta tạm gọi sự chuyển hóa này là ‘dữ liệu hóa’. Khác với số hóa là sự chuyển hóa những nội dung analog như sách, phim, ảnh thành thông tin số gồm một chuỗi những ký tự 0 và 1 mà máy tính có thể đọc được, dữ liệu hóa là một hoạt động rộng hơn, cho phép chuyển hóa một sự vật bất kỳ trong đời sống thành dữ liệu: ví dụ như thiết bị kính đeo mắt chuyên dụng của Google dữ liệu hóa tia nhìn của người đeo, Twitter dữ liệu hóa những suy nghĩ tản mạn, LinkedIn dữ liệu hóa mạng lưới công việc của người sử dụng.  Sau khi dữ liệu hóa sự vật, chúng ta có thể chuyển hóa mục đích của chúng, và chuyển thông tin thu được thành một dạng giá trị mới. Ví dụ, IBM được cấp bằng sáng chế của Mỹ năm 2012 cho phương thức “thâu tóm ích lợi từ công nghệ tính toán trên nền bề mặt” (“securing premises using surface-based computing technology”) – một dạng công nghệ dựa trên dữ liệu hóa sàn nhà. Sàn nhà có thể nhận dạng các sự vật bên trên nó, từ đó có thể bật sáng đèn hoặc mở cửa phòng khi có người bước vào. Hơn thế, nó còn nhận dạng được từng cá nhân dựa trên cân nặng hoặc cách thức người đó đứng và đi lại. Nó cũng biết được khi ai đó ngã xuống mà không đứng lên, công năng rất hữu ích khi phục vụ người lớn tuổi. Khi ứng dụng tại các cửa hàng, công nghệ này còn có thể giúp người quản lý nắm bắt được luồng di chuyển của khách hàng qua từng quầy bán.   Việc chuyển hóa tất cả mọi sự vật thành dạng dữ liệu có thể lưu trữ và phân tích được sẽ cho phép con người hiểu rõ hơn về thế giới. Điều này cho phép chúng ta, với khả năng đo lường một cách dễ dàng và rẻ tiền như ngày nay, khám phá ra những điều trước đây chưa từng biết đến.  Dữ liệu lớn với quản lý Nhà nước  Dữ liệu sẽ được ứng dụng không chỉ trong lĩnh vực y tế và thương mại, mà sẽ thay đổi sâu sắc cách thức vận hành của các chính phủ cũng như bản chất của chính trị. Những người khai thác được dữ liệu lớn sẽ có lợi thế đáng kể trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cung cấp dịch vụ công, hay tiến hành chiến tranh. Cho đến nay, có thể thấy những minh chứng thú vị nhất ở một số chính quyền địa phương, nơi có thể truy cập dữ liệu và làm thí nghiệm với thông tin một cách dễ dàng hơn.   Từ nỗ lực mang tính tiên phong của Michael Bloomber, Thị trưởng thành phố New York – người kiếm được bộn tiền từ hoạt động kinh doanh thông tin – thành phố này đang sử dụng dữ liệu lớn nhằm cải thiện dịch vụ công và giảm chi phí, ví dụ như trong lĩnh vực phòng cháy.  Thường thì các tòa nhà bị cư trú quá tải bất hợp pháp dễ cháy hơn các tòa nhà khác. Hằng năm thành phố nhận được 25 nghìn khiếu nại về các tòa nhà bị cư trú quá tải, trong khi lực lượng thanh tra viên chỉ có 200 người. Một nhóm chuyên gia phân tích tại văn phòng thị trưởng nhận thấy rằng dữ liệu lớn có thể giúp giải quyết vấn đề nan giải này. Họ tạo ra một kho dữ liệu của tất cả 900 nghìn tòa nhà trong thành phố và bổ sung thêm bằng những dữ liệu thu được từ 19 cơ quan chức năng: những hồ sơ nợ thuế, bất thường trong hóa đơn điện nước, các trường hợp bị cắt dịch vụ, hóa đơn chậm trả, số lần gọi xe cứu thương, tỷ lệ tội phạm địa phương, khiếu nại chuột bọ, v.v.   Tiếp theo, họ so sánh cơ sở dữ liệu này với các hồ sơ về những vụ cháy nhà trong vòng 5 năm qua, được xếp hạng tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhằm tạo ra một công cụ cho phép xác định đặc thù nào của các tòa nhà có sự trùng hợp cao nhất với các vụ cháy, từ đó nhận biết được loại hình khiếu nại quá tải cư trú cần được quan tâm hơn cả. Thực tế đã chứng minh giá trị của nghiên cứu này: trước đây, chỉ 13% trong số các căn hộ bị thanh tra được phát hiện là có vấn đề về phòng cháy cần được xử lý, ngày nay con số tăng thành 70% – một sự gia tăng vượt bậc về tính hiệu quả.  Các công ty bảo hiểm từ lâu đã dùng phương pháp tương tự để đánh giá nguy cơ cháy, nhưng họ chủ yếu chỉ khảo sát trên một nhóm nhỏ các yếu tố, thường là những tác nhân có sự liên quan một cách trực quan. Trái lại, cách tiếp cận bằng dữ liệu lớn của thành phố New York đã tiến hành khảo sát trên rất nhiều yếu tố, bao gồm cả những yếu tố nghe qua tưởng như chẳng liên quan gì tới nguy cơ cháy nổ. Kết quả thực tiễn đã cho thấy cách khảo sát này của thành phố vừa rẻ và nhanh hơn, đồng thời kết quả đạt được cũng cao hơn.  Dữ liệu lớn có thể giúp tăng mức độ minh bạch và dân chủ trong quản lý Nhà nước. Trên thế giới đang có một phong trào dần lớn mạnh, xoay quanh ý tưởng “dữ liệu mở”, đi xa hơn cả những quy định pháp lý về tự do thông tin mà ngày nay đã trở nên phổ biến ở các nước dân chủ phát triển. Những người ủng hộ phong trào mới đang kêu gọi các chính phủ công khai hóa cho công chúng lượng dữ liệu vô hại mà chính quyền đang lưu giữ. Chính phủ Mỹ đang đi đầu trong xu thế này, mở ra trang web Data.gov, trong khi nhiều nước khác cũng đang làm theo.   Không chỉ khuyến khích sử dụng dữ liệu lớn, các chính phủ cũng cần bảo vệ công dân trước những thế lực độc quyền trên thị trường. Các công ty như Google, Amazon, hay Facebook – cùng với những nhà ‘môi giới dữ liệu’ ít tên tuổi hơn, như Acxiom ahy Experian – đang tích lũy những lượng thông tin khổng lồ về tất cả mọi người và mọi thứ. Luật chống độc quyền có thể áp dụng được với các thị trường hàng hóa và dịch vụ vì không khó để ước tính thị phần ở những thị trường này. Nhưng liệu các chính phủ có nên áp dụng luật chống độc quyền về dữ liệu lớn, một thị trường rất khó xác định và liên tục thay đổi hình thái? Bên cạnh đó, điều khiến người ta lo ngại hơn nữa là nguy cơ bị xâm phạm thông tin đời tư, mặt trái của dữ liệu lớn mà những công cụ công nghệ và luật pháp hiện hành đều khó ngăn chặn.    Quy định về quản lý dữ liệu lớn có thể sẽ trở thành một trận chiến giữa các quốc gia. Các nước châu Âu đã sẵn sàng điều tra Google do những lo ngại về độc quyền và xâm phạm đời tư, tương tự như những biện pháp cứng rắn chống độc quyền mà Ủy ban châu Âu áp dụng với Microsoft từ một thập kỷ trước. Facebook cũng có thể là đối tượng tiếp theo ở nhiều nơi trên thế giới, vì họ nắm giữ quá nhiều dữ liệu về các cá nhân. Các nhà ngoại giao cần sẵn sàng cho cuộc đấu khẩu giữa các nước về việc liệu có nên áp dụng nguyên tắc thương mại tự do đối với dòng chảy thông tin: trong tương lai, việc Trung Quốc kiểm duyệt hoạt động tra cứu thông tin có thể sẽ bị khiếu nại không chỉ với lý do là kiềm chế tự do ngôn luận, mà còn vì tạo rào cản thương mại một cách bất công.    Nguy cơ con người bị áp đặt bởi Dữ liệu Lớn?  Một nguy cơ tiềm ẩn lớn khác là: con người bị áp đặt bởi dữ liệu lớn. Ở mọi quốc gia, đặc biệt là những nước phi dân chủ, dữ liệu lớn làm trầm trọng hóa chênh lệch cán cân quyền lực giữa chính quyền và nhân dân.  Sự chênh lệch có thể trở thành quá lớn, dẫn tới chủ nghĩa toàn trị dữ liệu lớn. Năm 2007, Cục An ninh Nội địa của Mỹ phát động một dự án nghiên cứu mang tên FAST, với mục tiêu là xác định ra những tội phạm khủng bố tiềm năng, bằng cách phân tích dữ liệu về các cá nhân, từ những đặc điểm cơ bản tới cử chỉ và những đặc thù bề ngoài khác. Lực lượng cảnh sát ở nhiều thành phố như Los Angeles, Memphis, Richmond, và Santa Cruz, đã áp dụng các phần mềm ‘trị an mang tính phòng ngừa’, trong đó phân tích các dữ liệu về những vụ án, nhằm dự đoán nơi nào và khi nào thì vụ án tiếp theo sẽ xảy ra.  Cho đến nay, những hệ thống trên không chỉ ra cá nhân nào là nghi phạm, nhưng dường như đó là xu thế đang được hướng đến. Người ta sẽ tìm ra thanh niên nào có xác suất cao nhất là kẻ ăn trộm. Điều này sẽ khiến người đó bị mang tiếng xấu trong mắt mọi người. Vô hình trung đó là một hình phạt cho đối tượng, cho dù chưa làm điều gì sai trái, và đây sẽ là sự xâm phạm tới quyền tự do cá nhân thiêng liêng.  Một lo ngại khác là các chính quyền có thể quá tin vào sức mạnh của dữ liệu mà đưa ra những chính sách sai lầm. Cuốn sách năm 1999 mang tựa đề Dưới góc nhìn của chính quyền (Seeing Like a State), nhà nhân chủng học James Scott đã ghi lại những trường hợp các chính phủ, do quá hăng say thu thập dữ liệu để dữ liệu hóa, nhiều khi đã đẩy cuộc sống người dân vào tình cảnh khốn khổ. Họ dựa trên bản đồ để tái định cư các cộng đồng mà không hề hỏi ý kiến người dân sinh sống ở đó. Họ dùng những bảng dữ liệu lớn về các vụ mùa để quyết định tiến hành hợp tác xã hóa, dù người làm chính sách chẳng am hiểu gì về trồng trọt. Họ biến đổi những tập quán bao đời của người dân, đôi khi chỉ đề nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết lập trật tự theo bảng dữ liệu của người quản lý.    Các tổ chức có thể bị lừa dối bởi vẻ hào nhoáng của các con số, hoặc gán cho con số những ý nghĩa không tồn tại trong thực tế. Đó là một trong những bài học từ cuộc Chiến tranh Việt Nam, khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara quá tin tưởng vào các con số thống kê khi đánh giá tiến trình ngoài mặt trận, như số lượng đối phương bị tiêu diệt, cho dù con số không thể phản ánh sự phức tạp của cuộc xung đột, chưa kể chúng thường không chính xác, và rất ít giá trị khi dùng để đo lường thành công.        Yếu tố ảnh hưởng của con người  Như vậy, dữ liệu lớn là một tài nguyên và một công cụ có giá trị tham khảo, giúp ta hướng tới sự hiểu biết, nhưng cũng có thể dẫn tới nhầm lẫn, tùy thuộc vào cách sử dụng của con người.   Tuy nhiên, với xu thế khai thác dữ liệu lớn một cách phổ biến, một câu hỏi đặt ra là: trong một thế giới mà các vấn đề ngày càng được định đoạt bởi dữ liệu và công cụ máy móc thì mục đích còn lại của con người là gì, đâu còn giá trị của trực quan hay sự mạo hiểm? Khi mà tất cả mọi người ai cũng giống nhau, đều bị quyến rũ bởi sức mạnh của dữ liệu và những công cụ khai thác, có lẽ chúng ta sẽ cần giữ riêng một nơi để bảo tồn cho những yếu tố như trực quan, tư duy thực tiễn, duyên may, nhằm đảm bảo rằng chúng không bị xâm lấn bởi dữ liệu và những câu trả lời do máy móc cung cấp.   Điều này rất quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Dữ liệu lớn cho phép chúng ta tiến hành các thử nghiệm nhanh hơn, khám phá nhiều manh mối hơn. Những lợi thế ấy cần được phục vụ cho tiến trình sáng tạo, và nhiều khi sự sáng tạo sẽ đem lại kết quả bất ngờ mà không dữ liệu nào có thể tiên đoán, vì nó chưa từng có trước đấy.   Thanh Xuân lược dịch theo Forein Affairs  http://www.foreignaffairs.com/articles/139104/kenneth-neil-cukier-and-viktor-mayer-schoenberger/the-rise-of-big-data    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời đại đồ sắt và nghề luyện sắt của tổ tiên người Việt      LTS: Cho đến nay, các nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử cho thấy người Việt cổ luyện kim thành thạo từ sớm, với những dấu vết của luyện kim đồng thau ngay từ giai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên (niên đại 4000-3500 năm cách ngày nay). Đối với đồ sắt, các phát hiện khảo cổ học gần đây cũng cho thấy dấu hiệu của nghề luyện sắt từ thế kỷ 2-3 trước Công nguyên với những vết tích lò luyện sắt, hòn quặng sắt, xỉ sắt hình giọt nước tại di chỉ Đồng Mỏm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Các hiện vật sắt, gỉ sắt không rõ hình dạng, chức năng cũng được phát hiện tại di chỉ Đường Mây, Cổ Loa, Hà Nội. Các nhà khảo cổ học, lịch sử vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những minh chứng mới về nghề luyện sắt của người Việt cổ.  Bài viết dưới đây của tác giả Trần Gia Ninh, tập hợp từ những tài liệu thành văn, bước đầu đưa ra một góc nhìn về lịch sử nghề luyện sắt của người Việt cũng như vị trí của nó trong bối cảnh khu vực.    Lịch sử văn minh nhân loại khởi đầu từ thời đồ đá, chuyển lên đồ đồng và tiếp nối là đồ sắt cho đến tận ngày nay, chưa có thêm thời đại nào mới nữa. Điều đó cho thấy kim loại sắt và các biến thể của nó quan trọng tới mức nào đối với văn minh nhân loại.   Sơ lược lịch sử phát triển đồ sắt    Hình 1: Cảnh luyện sắt ở vùng Nam Âu.    Hình 2: Cấu trúc lò Bloomery ở Nam Âu    Hình 2: Cấu trúc lò Bloomery ở Nam Âu  Thời đại đồ sắt bắt đầu vào thế kỷ 12 trước Công nguyên (TCN) tại Trung Đông cổ đại, Ấn Độ cổ đại  và Hy Lạp cổ đại. Vào thế kỷ 8 TCN tại Trung Âu và vào thế kỷ 6 TCN tại Bắc Âu thì thời đại đồ sắt mới bắt đầu xuất hiện. Việc sử dụng sắt, để nấu chảy và rèn thành các công cụ, đã xuất hiện tại nền văn minh Nok ở Tây Phi vào khoảng năm 1200 TCN. Theo cổ sử Trung Hoa thì có lẽ từ đầu đời Chu (TK 10 TCN) ở Trung Hoa bắt đầu có nghề luyện sắt. Không có những bằng chứng khảo cổ chắc chắn, nhưng những gì còn thu thập được người ta dự đoán rằng người cổ đại sử dụng công nghệ lò bloomery (tạm dịch: lò nở xỉ) để luyện sắt. Lò này là một hốc rỗng hay một kiểu ống khói, tường được đắp bằng đất sét chịu lửa. Phía dưới có một cửa xuất liệu và một hay nhiều tuy-e để thổi gió vào (Hình 1,2,3). Nhập liệu từ phía trên xuống gồm quặng sắt nghiền nhỏ, trộn với than gỗ, có thể không có hoặc có cho thêm vôi tôi hoặc các chất trợ dung… Hỗn hợp này sẽ bị nung chảy ở khoảng 1250oC thấp hơn nhiều so với nhiệt độ nóng chảy của sắt (1558oC). Kết quả sẽ thu được một chất lỏng gồm sắt và xỉ (cái tên Bloomery-nở ra xỉ là bắt nguồn từ đó) và đóng rắn thành cục sắt-xỉ ở dạng xốp tại đáy lò. Từ sắt xỉ xốp gia công cơ nhiệt thành ra sắt rèn (Wrought Iron) hoặc sắt (gang) luyện (pig iron-Sinh thiết)… (ví dụ sắt rèn là sắt xây tháp Effel, cầu Long Biên…). Kể từ thế kỷ 18 khi có lò cao Bessemer, lò Martin… thì kỹ thuật này không phổ biến nữa, (nhưng hiện lại có xu hướng quay lại công nghệ cổ xưa này với tên gọi là DRI (Direct Reduction Iron) chế tạo ra sắt xốp). Kỹ thuật lò Bloomery có thể là công nghệ luyện sắt cổ xưa nhất, và ở các vùng trên thế giới ngày xưa không khác nhau là mấy, chỉ hơn nhau ở chất lượng quặng, chất lượng than gỗ và kỹ thuật thổi gió. Có nhiều kiểu kết cấu bễ thổi gió, dạng ống thụt (piston- Hình 5) hoăc dạng quả bóng ép bằng da thú (Hình 4). Lúc đầu thì đều dùng sức người, về sau dùng sức nước (hình 7). Thời cận hiện đại thì dùng máy hơi nước, điện… Bức tranh khắc đá tìm thấy trên vách các mộ cổ ở Sơn Đông Trung Quốc cho ta thấy hình ảnh luyện sắt và chế tác sắt ở Trung Hoa dùng bễ thổi khí kiểu quả bóng ép, khoảng thế kỷ 2 thứ 3 TCN (Hình 6). Ngày nay chúng ta vẫn còn thấy cách chế tác sắt thủ công dùng bễ ống thụt của người Hmông ở miền núi phía Bắc nước ta.  Tổ tiên người Việt có biết nghề luyện và chế tác sắt?  Hiện nay nhiều người cho rằng tổ tiên nước ta không biết nghề luyện sắt và sản phẩm này là do văn minh Trung Hoa trong quá trình ngàn năm Bắc thuộc truyền sang.  Theo truyền thuyết Thánh Gióng thì tổ tiên ta đã biết dùng sắt rèn ngựa cho Thánh Gióng đánh giặc Ân, (khoảng 1000 năm TCN). Truyền thuyết thì khó tin. Lịch sử thành văn của nước ta thì lúc đó chưa có. Nhưng có thể là nghề luyện sắt của ta có từ trước thời Bắc thuộc. Thời đó dân ta chưa biết dùng chữ Hán. Trong chữ Hán sắt gọi là thiết 鐵, thép gọi là cương 鋼, nếu sắt thép là do người Trung Hoa truyền vào sau thời Bắc thuộc thì tất nhiên dân ta phải gọi như là chữ Hán là Thiết, Cương 鐵鋼. Nhưng người Việt lại gọi là sắt thép. Sắt là một chữ thuần Việt, 𨫊 đọc là sắt theo chữ nôm, chữ này ngay từ điển Khang Hy cũng không có, mặc dù chữ Hán cũng có chữ đọc là sắt 瑟 nhưng để chỉ cây đàn sắt có 50 dây (Mang tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ – Truyện Kiều Nguyễn Du). Thép cũng là một từ thuần Việt, chữ nôm viết 𨨧 đọc là thép, chữ này hoàn toàn không có âm và chữ tương tự trong Hán ngữ. Như vậy, người Việt phải biết đến kỹ thuật sắt thép (và có thể các kỹ thuật luyện kim khác, như vàng, bạc, chì kẽm) trước thời Bắc thuộc và vẫn tiếp nối phát triển, nên mới có tên gọi riêng của mình như vậy. Có ý kiến dựa trên Sử ký của Tư Mã Thiên, Nam Việt liệt truyện 南越列傳, có chép “… 與長沙接境, 高后時, 有司請禁南越關市鐵器, [Nam Việt] giáp giới với quận Trường Sa ,Thời Cao Hậu [Lã Hậu 241 TCN – 180 TCN], quan đương sự xin cấm không cho người Nam Việt vào mua đồ sắt.” để nói rằng Nam Việt không tự chế được sắt1. Thời Cao Hậu Nam Việt vương Triệu Đà mới chỉ chiếm được Phiên Ngung (vùng Quảng Đông). Sau khi Cao Hậu chết (180 TCN) mới chiếm được Mân Việt và Tây Âu Lạc nên không có sắt là tất nhiên, điều đó không chứng minh là Âu Lạc không luyện được sắt. Có người lấy lý do không tìm thấy di tích khảo cổ về sắt trên đất nước ta để kết luận rằng cha ông ta không biết chế tạo sắt thép. Nên nhớ rằng, khác với đồ đá và đồ đồng, đồ sắt để lại rất ít trong các di tích khảo cổ trên thế giới. May chăng còn có cột sắt ngàn năm ở gần Dehli Ấn Độ là còn tồn tại đến ngày nay, mà các nhà khoa học hiện đại cũng chưa giải mã được bí mật. Bởi chưng kim loại sắt bị oxy hóa mạnh, dù có bị chôn vùi dưới bao lớp đất cũng bị hủy hoại. Ngay cả ở nước ta, Đại Việt sử ký toàn thư chép Ngô Quyền (và Trần Hưng Đạo sau đó) đóng cọc gỗ nhọn bịt sắt cắm xuống sông Bạch Đằng thì các cọc đó ngày nay phát hiện được cũng không thấy có sắt nữa. Sử sách của nước ta bị quân Minh cướp và đốt hết từ năm 1407 nên không có cơ sở nào biết được trước đó có chép gì không. Nhưng sau khi quân Minh chiếm nước ta, lập thành quận huyện của Trung Hoa thì người Minh đã có ghi chép nhiều chi tiết về tổ chức kinh tế, xã hội, địa chí, sản vật của Giao Chỉ. Trong quyển An Nam Chí Nguyên (Hình 8) 安南志原 của Cao Hùng Trưng 高熊徵 đời Minh đã ghi chép khá tỉ mỉ như Nhà Minh đã lập ra 6 Cục Kim Trường 金場局 để lo về việc luyên kim ở Giao chỉ. Về sắt sách này chép “义安府 : 礦山在土黃縣‮٢#‬鐵… 鐵山在東城縣‮٢#‬鐵 Phủ Nghệ An, tại huyện Thổ Hoàng2 [tỉnh Hà Tĩnh ngày nay] có núi Quặng (Khoáng Sơn) là nơi sản xuất sắt… tại huyện Đông Thành [có lẽ là vùng Núi Thiên Nhận-Hồng Lĩnh ven sông Lam ngày nay] có núi Sắt (thiết sơn) cũng là nơi sản xuất sắt”3. Những ghi chép này cho ta thấy, ít nhất từ thời Trần nghề luyện sắt của người Việt đã khá phát triển. Chẳng những là luyện sắt, mà việc chế tác sắt (làm vũ khí) thời bấy giờ đã đạt được trình độ cao, có thể vượt cả kỹ thuật của phương Bắc.    Hình 4: Bễ thổi khí bằng quả bóng da;    Hình 5: Lò chế tác sắt dùng bễ ống thụt của người Hmông.  Trong bộ Chính sử Trung Hoa, như Minh Sử (Lịch sử Triều Minh)chép: “明史·兵志四):明成祖平交趾,得神机枪炮法. 特置神机营肄习。制用生熟赤铜相间。建铁柔为最， 西铁次之。大小不等。 大者发用车。 次及小者用架，用桩， 用托。 大利于守， 小利于战。 随宜而用为行军 要器 , quyển 92, Binh Chí Tứ chép: Minh Thành Tổ đánh Giao Chỉ, lấy được phép Thần Cơ Thương Pháo, đặt riêng Thần Cơ Doanh luyện tập. Chế tạo cần dùng đồng đỏ nguyên chất, cần nhất sắt dẻo, thứ cần nữa là sắt Tây Vực. To nhỏ các loại, loại to dùng xe, nhỏ dùng giá, dùng cọc, tay nâng. Lợi lớn khi giữ, lợi nhỏ khi đánh, tùy mà dùng như vũ khí quan trọng khi cầm quân”. Chuyện cướp công nghệ luyện và chế tác sắt làm vũ khí của nhà Minh còn được ghi chép trong Minh Thực Lục, lúc cha con Hồ Quý Ly bị điệu về Yên Kinh thì Vĩnh Lạc đã tống giam ngay cha con Quý Ly- Hán Thương nhưng lại ra lệnh thả ngay tại chỗ Tả tướng Hồ Nguyên Trừng, vì nhà Minh đã do thám biết Trừng là nhà kỹ thuật đại tài của nước Việt. Sách chép: Vào năm Vĩnh Lạc năm thứ 5, ngày 5 tháng 9 (tức 5 tháng 10/1407): “Hoàng đế cùng bá quan văn võ nhận lễ hiến tù tại cửa Phụng Thiên. Binh bộ thị lang Phương Tân tuyên đọc bản hạch tội […]. Sau khi Tân đọc xong […] Hoàng đế ra lệnh đem Quí Ly, con y là Hồ Hán Thương, tướng giặc Hồ Đỗ cùng tất cả đồng bọn tống giam vào đại lao. Lệnh thả ngay cho con trai của y là Trừng cùng bọn cháu là Nhuế và ban cho họ lương thực và y phục”4. Ngay sau đó thì Trừng được bổ nhiệm chủ sự Binh Trượng Cục, chuyên chế tác Thần cơ thương pháo và các loại súng. Về sau Trừng làm đến Thượng thư Bộ Công (Hàm như Bộ trưởng ngày nay). Sách “Dã Ký: 今凡祭兵器並祭澄也 [Quân Minh] nay phàm khi tế súng thì phải tế Trừng”5. Thực ra thì những tuyệt kỹ chế hỏa súng nòng dài (về sau nhà Minh gọi là Thần cơ thương pháo) đã có từ đời Trần, Hồ Nguyên Trừng thời Hồ Quý Ly-Hồ Hán Thương là phát triển tiếp mà thôi. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tả trận đánh năm Canh Ngọ 1390 đời Trần: “Trần Khát Chân liền ra lệnh các Hỏa súng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Chế Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết”. Những địa điểm luyện sắt như trong Nam Việt Chí Nguyên đã chép ở trên tập trung chủ yếu ở vùng Hà Tĩnh6. Đặc biệt là vùng thung lũng sông Ngàn Sâu thuộc Huyện Thổ Hoàng ngày xưa vốn nổi tiếng với nghề luyện sắt ít nhất từ đời Trần và cho đến trước khi có kỹ thuật phương Tây, như sách “同 慶 地 輿 志 Đồng Khánh địa dư chí”7 (Hình 9) (1886 – 1887) đã viết rõ, rằng sản vật đặc sắc của Hương Khê8 là Sắt: “周禮總 之周禮,春 隴, 福 祿總之都 溪, 福 澤, 河 東 等 社 山 分 多 有 生 鐵, 但 鐵 質 剛 脆, 惟河 東社隴山鐵 質 堅軟 爲勝 Ở sơn phận các xã Chu Lễ, Xuân Lũng tổng Chu Lễ, Đô Khê, Phúc Trạch, Hà Đông tổng Phúc Lộc nhiều nơi có sắt luyên (sinh thiết). Nhưng chất sắt giòn cứng. Riêng sắt ở núi Lũng xã Hà Đông là thứ sắt cứng mà dẻo (nhuyễn)”. Như vậy là hai quyển sách cách nhau hơn năm trăm năm, một của Trung Hoa, một của Đại Việt, đều chép giống nhau về cùng một địa danh chuyên về luyện sắt (và là sắt chất lượng cao, cứng mà dẻo) là vùng Hương Khê Hà Tĩnh. Chẳng những vậy mà thực sự lịch sử cận đại của nước Việt có sự kiện trong cuộc khởi nghĩa Cần Vương của Phan Đình Phùng, tại cứ điểm trong vùng rừng núi Hương Khê bị quân Pháp bao vây tứ bề mà Tướng Cao Thắng năm 1895 vẫn tự luyện được sắt, đúc súng trường tinh xảo không thua kém gì súng của Pháp khiến các kỹ sư Pháp kinh ngạc. Một viên võ quan Pháp, Đại úy Ch.Gosselin, từng tham gia đánh dẹp tại Nghệ Tĩnh, viết cuốn sách có giá trị tựa đề là Nước Nam [Empire d’Annam]9 trang 313, có đoạn nói về súng của Cao Thắng như sau:    Hình 6: Tranh đá ở mộ cổ Sơn Đông, Trung Quốc, vẽ cảnh luyện sắt.    Hình 7: Thổi khí bằng sức nước.  “Tôi có đem nhiều khẩu súng đó về tận bên Pháp; xem nó giống đủ mọi vẻ như súng của các xưởng binh khí nước ta chế tạo, đến nỗi tôi đưa cho các quan binh pháo thủ ta xem, các ông phải sửng sốt lạ lùng, […] những súng đó đã từng bắn chết ít nhiều lính Khố Xanh, Cai đội Pháp, lính tập…”  Thay lời kết  Tuy bằng chứng còn ít ỏi, nhưng từ truyền thuyết, đến ngôn ngữ, sử sách Đông Tây và của cha ông ta, đã cho thấy rằng không còn nghi ngờ gì nữa, quả thật là tổ tiên, ông cha dân Việt chúng ta đã đồng hành cùng nhân loại trong lịch sử thời đại đồ sắt, biết chế tạo, chế tác sắt thép từ ngàn xưa với chất lượng cao. Cũng không phải là ngẫu nhiên mà sử sách lại ghi chép vùng Nghệ Tĩnh là cái nôi của nghề luyện sắt và chế tác sắt thép của người Việt từ thuở xưa đến nay. Mỏ sắt Thạch Khê Hà Tĩnh hiện là mỏ sắt có trữ lượng 550 triệu tấn trong nhóm những mỏ lớn trên thế giới. Quặng sắt Thạch Khê nằm sâu dưới mực nước biển khó khai thác và chất lượng còn có vấn đề. Nhưng phía tây mỏ Thạch khê quặng lại trồi lên cùng vùng núi cao ở huyện Hương Khê thì chất lượng tốt và dễ khai thác, đó là vùng Thổ Hoàng xưa, chính là nơi sử sách ghi chép có nghề luyện sắt. Ngày nay mỏ sắt Vụ Quang là nơi có quặng sắt chất lượng rất cao mà Hà Tĩnh dành quyền khai thác riêng cho địa phương, không cho bán ra ngoài. Nhưng tiếc thay nhà máy tuyển quặng sắt Vũ Quang được xây dựng từ 2008 với bao kỳ vọng luyện sắt thép chất lượng cao do Công ty TNHH MTV Sắt Vũ Quang (thuộc Công ty cổ phần Gang thép Hà Tĩnh) làm chủ đầu tư thì nay cả mẹ lẫn con đều đã tan tác, dừng hoạt động10. Nhà máy thép Vạn Lợi Hà Tĩnh11 của người Việt đầu tư hàng ngàn tỷ nay cũng bán thành sắt vụn.        Hình 8: Sách An Nam Chí Nguyên ghi các địa chỉ luyện sắt ở Nghệ Tĩnh.          Hình 9.    Hình 10  Nhưng Hà Tĩnh đã và vẫn trở thành cái nôi của sắt thép trên đất Việt chúng ta, oái oăm thay, nó lại nằm trong tay nước ngoài, đó là khu liên hợp gang thép của Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, chẳng những là lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á mà là một trong những nơi luyện Gang Thép có số má trên thế giới! Người Việt tài năng từ ngàn xưa đâu rồi? Vài trăm năm sau, giới khảo cổ và viết sử Việt sẽ không khó khăn như bây giờ để có thể phát hiện ra chứng tích lừng lẫy thời đại đồ sắt của người Việt ở mảnh đất Hà Tĩnh, và vẫn có quyền tự hào chứ sao không !!!□  ——-  Chú thích:  1 https://ctext.org/shiji/nan-yue-lie-zhuan/zh  2 Huyện Thổ Hoàng xưa là vùng đất rừng núi và thung lũng từ bến Tam Soa, tả ngạn Ngàn Phố trở về nam gồm toàn bộ lưu vực sông Ngàn sâu. Nay là huyện Hương Khê, một phần Hương Sơn và miền thượng Đức Thọ.  3 An Nam Chí Nguyên安南志原;Hoa Bằng dịch chú, in Roneo 1961 lưu hành nội bô. NXB Đại Học Sư phạm xuất bản 2017, trang 470-471.  4 Nguyên văn trong Minh Thực Lục, Minh Thái Tông , Quyển 71 ,mục 5:  明实录太宗实录 -> 太宗文皇帝实录卷七十一 :上御奉天门受之文武群臣皆侍兵部侍郎方宾读露布至弑王؟y国僭号纪元等语 上使问季牦父子曰此为人臣之道乎季牦父子不能对宾读毕诏以季牦父子苍及其伪将相胡柱等悉付狱而赦其子孙澄芮等命有司给衣食.  5 ‮٣‬٪‮٠‬O Chúc Duẩn Minh (1460-1526) ‮/‬،‮$٩)‬ڑ quyển 2, mục 45.  6 Nghệ An từ đời Lý là tên vùng đất Nghệ-Tĩnh ngày nay. Mãi cho đến năm 1831 Minh Mệnh mới tách một phần phía nam ra khỏi Nghệ An, đặt tên là tỉnh Hà Tĩnh.  7 Đồng Khánh Địa Dư Chí, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2003 (trang 1304). Bản dịch này dịch nhầm chữ ٪ح‭ ‬إK sinh thiết nghĩa là sắt luyện thành ra “quặng sắt”.  8 Xưa thuộc huyện Thổ Hoàng, tên Hương Khê mới đặt từ cuối đời vua Tự Đức (1868).  9 Capitaine Ch. GOSSELIN -L’EMPIRE D’ANNAM ,PARIS ,LIBRAIRIE ACADÉMIQUE DIDIER ,PERRIN ET Cie, LIBRAIRES-ÉDITEURS ,35, QUAI DES GRANDS-AUGUSTINS, 35 ,1904.  10 https://dantri.com.vn/xa-hoi/thu-hoi-giay-phep-du-an-hon-9-nam-lam-kho-dan-20170813162540794.htm  11 https://baomoi.com/sieu-du-an-thep-van-loi-ha-tinh-mua-ba-van-ban-ba-dong/c/30294518.epi    Author                Trần Xuân Hoài        
__label__tiasang Thời đại vàng của dữ liệu gene      Y học chính xác và những công nghệ, thiết bị hỗ trợ tiên tiến đã đem lại một khối lượng dữ liệu lớn về gene với quy mô ngày càng mở rộng, hứa hẹn cho chúng ta cơ hội khám phá những bí ẩn còn ẩn giấu trong bộ gene người. Tuy nhiên để làm được điều đó, chúng ta cần phải vượt qua rất nhiều rào cản trong khai thác và xử lý dữ liệu.      Việc giải trình tự gene đem lại cho con người kho dữ liệu gene lớn. Nguồn: amWINS.com  Điều đầu tiên có thể thấy, để giải trình tự được một hệ gene hoàn chỉnh thông qua dự án Giải trình tự hệ gene người (Human Genome Project), người ta đã phải đầu tư cho nghiên cứu 2,7 tỷ USD và chờ đợi 15 năm. Tuy nhiên quá trình thương mại hóa thì không chậm như vậy. Nắm ngay lấy lợi ích mà dự án đem lại, nhiều công ty sản xuất thiết bị hoặc phát triển các kỹ thuật về giải trình tự gene đã chạy đua trong việc rút ngắn thời gian và giảm giá thành dịch vụ giải trình tự gene. Nhờ vậy giá thành loại dịch vụ đặc biệt này đã xuống tới mức “dễ chịu”: nếu năm 2006, ca giải trình tự gene thương mại đầu tiên của Illumina – công ty dẫn đầu thị trường thế giới về sản xuất máy giải trình tự gene là 300.000 USD, tới năm 2017, mức giá giải trình tự gene và phân tích chỉ còn khoảng 1.400 USD, đi kèm là thời gian chạy dữ liệu cũng chỉ diễn ra vài ngày và việc phân tích đòi hỏi chừng vài tuần, theo nhận định của TS. Doug Schenkel – người phụ trách nhóm nghiên cứu về công nghệ y tế, đặc biệt là các công cụ về khoa học sự sống, của tập đoàn dịch vụ tài chính Cowen Group. Hiện giờ, tùy theo từng nấc dịch vụ mà giá cả cũng ở mức chênh lệch, ví dụ có những nơi như 23andMe – công ty chuyên về phân tích và giải trình tự gene có trụ sở ở California, Mỹ, đưa ra mức giá xét nghiệm gene khoảng 150 bảng (tương đương khoảng 213 USD). Vì thế, không chỉ những người mắc những căn bệnh hiểm di truyền hiểm nghèo mà số lượng người khỏe mạnh tham gia xét nghiệm gene cũng tăng lên. Các chuyên gia dự đoán, vào năm 2022, số lượng hệ gene người được giải trình tự trên thế giới sẽ tăng lên 50 triệu.  Không phải chờ đến năm 2022, nguồn dữ liệu về gene người mà chúng ta hiện có trong tay đã ở mức rất lớn. Tuy nhiên, khai thác tốt những dữ liệu quý này để phục vụ cho điều trị và chăm sóc sức khỏe con người không phải là chuyện dễ, nó liên quan mật thiết đến việc quản lý, khai thác và xử lý dữ kiệu gene – phần lớn những công việc này phụ thuộc vào năng lực con người hơn là máy móc, thiết bị.  Thứ nhất, dù kỹ thuật giải trình tự gene của các nhà nghiên cứu đã được cải thiện với sự hỗ trợ của các cỗ máy giải trình tự gene thế hệ mới như NovaSeq 5000, NovaSeq 6000 của Illumina nhưng đó mới chỉ là phần việc ban đầu cho ra các dữ liệu thô. Để biến các dữ liệu thô này thành thông tin hữu ích có thể áp dụng  trong y tế, cần sự kết hợp của những người có khả năng hiểu dữ liệu để phân tích và chú giải – những chuyên gia tin sinh học, thống kê học, di truyền học… Bản thân hiểu biết về hệ gene của những nhà nghiên cứu này vẫn còn hạn chế trong khi con đường từ kiểu gene đến kiểu hình vẫn còn chưa thật rõ ràng và ranh giới giữa kiểu hình và đột biến rất mong manh. Đây mới là trở ngại đáng kể.      Các chuyên gia dự đoán, vào năm 2022, số lượng hệ gene người được giải trình tự trên thế giới sẽ tăng lên 50 triệu. Việc khai thác tốt dữ liệu này để phục vụ cho điều trị và chăm sóc sức khỏe con người phụ thuộc vào năng lực của con người hơn là máy móc, thiết bị.        Ngoài ra, hiện người ta đã biết đến sự tồn tại của 5.000 căn bệnh di truyền hiếm gặp, mỗi loại bệnh lại có những biểu hiện lâm sàng khác nhau. Do đó việc khai thác dữ liệu về gene để xác định được nguyên nhân dẫn đến bệnh tật sẽ là chủ đề lớn cần giải quyết của y học chính xác.    Thứ hai, do dữ liệu về gene người rất lớn nên cần có những công cụ đặc biệt để khai thác và xử lý dữ liệu. Một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu phát triển một số kỹ thuật trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (machine learning) tuy nhiên các nhà di truyền học vẫn còn nghi ngờ về khả năng ứng dụng của chúng trong việc phân lập và sàng lọc những mẫu cần tìm trong kho dữ liệu gene người. Vì thế, để thuyết phục được các nhà di truyền học, miễn dịch học tin dùng và sử dụng những công cụ mới này, các nhà sinh học máy tính cần hoàn thiện bằng việc đem lại cho nó những tính năng rõ ràng hơn.  Nhiều khả năng là vấn đề này sẽ sớm được giải quyết. Theo nghiên cứu công bố ngày 6/3/2018 của GenomeWeb – một tổ chức dịch vụ toàn cầu về KH&CN, hiện các tổ chức và các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu hoặc áp dụng y tế chính xác đã bắt đầu quan tâm đến trí tuệ nhân tạo và học máy: 77% những người được điều tra cho biết họ bắt đầu có những lựa chọn về việc kết hợp trí tuệ nhân tạo và học máy vào những nghiên cứu của mình; gần 80% chờ đợi AI và học máy sẽ giúp họ tận dụng tối đa dữ liệu để có cái nhìn mới về bệnh tật và phát triển những đề xuất điều trị bằng cách triển khai các công nghệ này trong tương lai.  Thứ ba, những dữ liệu về gene chỉ thực sự có ý nghĩa khi được kết nối với các loại dữ liệu y tế như dữ liệu lâm sàng trong khám bệnh, dữ liệu về thói quen sống của con người và nhiều dữ liệu sức khỏe khác ngành Y có được từ công cuộc số hóa. Nếu liên kết được các bộ dữ liệu này được với nhau, chúng ta có thể bắt đầu xây dựng được một bức tranh toàn cảnh về cơ thể con người và có được những hiểu biết sâu sắc hơn về những yếu tố quan trọng dẫn đến bệnh tật, không riêng gì các bệnh ung thư.    Đây là một vấn đề hết sức phức tạp bởi mỗi bộ dữ liệu lại có một kiểu dữ liệu khác nhau. TS Lưu Vĩnh Toàn (Công ty chuyên về xử lý dữ liệu Squirro, Thụy Sĩ) nhận xét, việc tập hợp thành một bộ dữ liệu lớn như vậy tiềm ẩn nhiều thách thức: có quá nhiều dữ liệu, nhiều khuôn dạng và những dữ liệu này lại nằm ở nhiều nơi, trải dài theo thời gian, ví dụ dữ liệu của riêng một bệnh nhân có thể là hình ảnh, video soi chụp, ghi chép của bác sĩ, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các chỉ số cơ thể…; dữ liệu khó chuẩn hóa vì có thể thuộc dạng có cấu trúc như các chỉ số xét nghiệm, tên thuốc v.v.. và phi cấu trúc như hình ảnh, âm thanh, văn bản ghi chép…; cách định nghĩa dữ liệu không đồng nhất và luôn thay đổi vì các nhà nghiên cứu luôn có các nghiên cứu mới, và phát hiện loại bệnh mới…; dữ liệu phức tạp vì vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến cơ thể con người chưa được định nghĩa về cấu trúc dữ liệu để lưu trữ và phân tích cho hiệu quả, ví dụ dữ liệu liên quan đến cấu trúc não, thần kinh, di truyền…; dữ liệu không đầy đủ và thiếu khách quan do sự thay đổi về các quy định và yêu cầu trong cách thức khám chữa ở mỗi bệnh viện và trong mỗi thời kỳ rất khác nhau, ngay cả việc thiếu thiết bị đo khám cũng ảnh hưởng đến sự đầy đủ và khách quan của dữ liệu.  Hiện nay các nhà khoa học và các chuyên gia ngành y thế giới đang kêu gọi chuẩn hóa dữ liệu để đảm bảo khả năng kết nối các bộ dữ liệu và biến nó thành một nguồn lực có thể được mở rộng, phân tích để có được cái nhìn sâu hơn và chính xác hơn về cơ chế của sự sống, qua đó có thêm nhiều cơ hội nâng cao điều kiện chăm sóc sức khỏe con người.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: healthitanalytics.com, pmlive.com, forbes.com, nature.com…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời gian có thực sự trôi? (Phần 1)      Các định luật vật lý dẫn tới hệ quả rằng sự trôi đi của thời gian là một ảo giác. Để tránh khỏi kết luận này, chúng ta có thể phải xem xét lại sự tồn tại của những con số có độ chính xác vô hạn.      Thật lạ làm sao, mặc dù chúng ta có cảm giác thời gian lướt qua trên ranh giới mong manh giữa quá khứ không thể thay đổi và tương lai rộng mở, ranh giới đó – chính là hiện tại – không hề tồn tại trong các định luật vật lý hiện có.  Trong thuyết tương đối của Albert Einstein chẳng hạn, thời gian gắn liền với ba chiều không gian, tạo thành một không-thời gian cong bốn chiều liên tục, một “vũ trụ liền khối” chứa đựng cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Các phương trình của Einstein nói rằng mọi thứ trong vũ trụ khối được xác định ngay từ đầu, nghĩa là các điều kiện ban đầu của vũ trụ quyết định những gì diễn ra sau đó, không thể xảy ra bất ngờ. “Với chúng ta, những người tin vào các nhà vật lý, sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo giác dai dẳng cứng đầu,” Einstein viết năm 1955, vài tuần trước khi qua đời.  Quan điểm của Einstein về thực tại tiên định, vĩnh cửu ngày nay vẫn phổ biến. “Hầu hết các nhà vật lý tin vào quan điểm vũ trụ khối, vì nó được dự đoán bởi thuyết tương đối rộng,” Marina Cortês, nhà vật lý vũ trụ tại Đại học Lisbon, cho biết. Tuy nhiên, bà cũng cho rằng, “nếu ai đó được yêu cầu ngẫm nghĩ sâu hơn một chút về ý nghĩa của vũ trụ khối, họ bắt đầu đặt câu hỏi và phân vân vì những hệ quả của nó”.  Những nhà vật lý suy nghĩ kỹ về thời gian viện dẫn các vấn đề của cơ học lượng tử, gồm các định luật mô tả hành vi ngẫu nhiên của các hạt. Ở quy mô lượng tử diễn ra những thay đổi bất khả nghịch phân biệt quá khứ với tương lai: một hạt đồng thời mang nhiều trạng thái lượng tử cho đến khi ta thực hiện một phép đo, sau đó nó nhận một trong các trạng thái đó. Và thật bí ẩn, kết quả của các phép đo riêng lẻ là ngẫu nhiên và không thể đoán trước, trong khi hành vi tổng thể của các hạt lại tuân theo các quy luật thống kê. Mâu thuẫn hiển nhiên này về bản chất của thời gian trong cơ học lượng tử và chức năng của nó trong thuyết tương đối gây ra những sự bất định và bối rối.  Trong hai năm 2019 và 2020, nhà vật lý người Thụy Sĩ Nicolas Gisin công bố bốn bài báo với mục đích xua tan màn sương bao phủ khái niệm thời gian trong vật lý. Theo nhận định của ông, đó là vấn đề của toán học. Ông lập luận rằng thời gian nói chung và thời gian mà ta gọi là hiện tại có thể dễ dàng được biểu diễn trong một ngôn ngữ toán học có từ một thế kỷ trước – toán học trực giác – trong đó sự tồn tại của các con số với vô hạn chữ số không được thừa nhận. Theo Gisin, khi toán học trực giác được dùng để mô tả sự vận động của các hệ vật chất, nó cho thấy rõ ràng là “thời gian thực sự trôi đi và thông tin mới được tạo ra”. Hơn nữa, trong cách xây dựng này, sự tất định chặt chẽ được suy ra từ các phương trình của Einstein nhường chỗ cho sự bất định kiểu lượng tử. Nếu các con số là hữu hạn và có độ chính xác hữu hạn thì thiên nhiên về bản chất là không chính xác, do đó không thể dự đoán.  Các nhà vật lý vẫn đang “tiêu hóa” công trình của Gisin – chẳng mấy khi có người cố gắng xây dựng lại các định luật của vật lý trong một ngôn ngữ toán học mới – nhưng trong số những người đọc kỹ các lập luận của ông, nhiều người nghĩ rằng chúng có thể lấp được sự chia rẽ về mặt khái niệm giữa tính tất định của thuyết tương đối rộng và bản chất ngẫu nhiên ở quy mô lượng tử.  “Tôi thấy nó hấp dẫn,” Nicole Yunger Halpern, nhà tin học lượng tử tại Đại học Harvard nhận xét về bài báo của Gisin được đăng trên Nature Physics. “Tôi sẵn sàng thử với toán học trực giác”.  Cortês gọi cách tiếp cận của Gisin là “cực kỳ thú vị” và các hệ quả của nó là “gây sốc và khiêu khích”. “Đó là một cách xây dựng rất thú vị, nó giải quyết vấn đề độ chính xác hữu hạn trong tự nhiên,” bà nói.  Gisin nói về tầm quan trọng của việc xây dựng những định luật vật lý mà theo đó tương lai là mở và hiện tại là có thực, vì đó là điều chúng ta trải nghiệm. “Tôi là một nhà vật lý có đôi chân trên mặt đất,” ông nói. “Thời gian trôi đi; tất cả chúng ta đều biết thế”.  Thông tin và thời gian  Gisin, sinh năm 1952, chủ yếu làm thực nghiệm. Ông phụ trách một phòng thí nghiệm tại Đại học Geneva, nơi đã tiến hành những thí nghiệm đột phá trong truyền thông lượng tử và mật mã lượng tử. Nhưng ông cũng là một nhà vật lý đa năng hiếm hoi, nổi tiếng vì những hiểu biết lý thuyết quan trọng, đặc biệt là về sự ngẫu nhiên và tính không định xứ lượng tử.  Sáng chủ nhật, thay vì đi nhà thờ, Gisin có thói quen ở nhà, ngồi yên lặng trên ghế với cốc trà ô long và suy tư về những câu hỏi khái niệm sâu sắc. Chính vào một ngày chủ nhật cách đây khoảng ba năm rưỡi, ông nhận ra rằng bức tranh tất định của thời gian trong thuyết tương đối của Einstein và phần còn lại của vật lý “cổ điển” ngầm thừa nhận sự tồn tại của vô hạn thông tin.    Nhà vật lý người Thụy Sĩ Nicolas Gisin công bố bốn bài báo về khái niệm thời gian trong vật lý. Nguồn: Quanta magazine.  Lấy thí dụ thời tiết. Vì nó hỗn loạn, nghĩa là cực kỳ nhạy cảm với những thay đổi nhỏ, chúng ta không thể dự đoán chính xác được thời tiết một tuần sau. Nhưng vì nó là một hệ cổ điển, sách giáo khoa bảo rằng về mặt nguyên tắc, chúng ta có thể dự đoán được thời tiết tuần sau nếu chúng ta biết được thông số đủ chính xác của mọi đám mây, mọi cơn gió hay mọi cánh bướm. Là thiếu sót của chính chúng ta khi không đo được các điều kiện chi tiết với đủ nhiều chữ số thập phân để có thể ngoại suy cho tương lai và đưa ra những dự báo chính xác hoàn hảo, vì vật lý của thời tiết diễn ra chính xác như máy.  Bây giờ hãy mở rộng ý tưởng này cho cả vũ trụ. Trong một thế giới tiên định mà thời gian trôi qua chỉ là ảo giác, những gì xảy ra tại mỗi thời điểm phải được xác định chính xác ngay từ đầu, ở đó trạng thái ban đầu của từng hạt được lưu với độ chính xác vô hạn chữ số. Bằng không, tại một thời điểm xa xôi nào đó trong tương lai, cỗ máy vũ trụ sẽ ngừng chạy.  Nhưng thông tin là vật chất. Khoa học hiện đại chỉ ra rằng nó cần năng lượng và chiếm không gian. Ta biết rằng mọi thể tích không gian hữu hạn chỉ chứa được một lượng thông tin hữu hạn (nơi lưu giữ được thông tin với mật độ lớn nhất là bên trong các lỗ đen). Gisin nhận ra rằng trạng thái ban đầu của vũ trụ sẽ cần quá nhiều thông tin nhồi trong một không gian quá nhỏ bé. “Một số thực với vô hạn chữ số không thể có ý nghĩa vật lý,” ông nói. Vũ trụ khối, trong đó sự tồn tại của vô hạn thông tin được ngầm thừa nhận, sẽ sụp đổ.  Ông tìm kiếm một cách khác để mô tả thời gian trong vật lý mà không cần đến giả định về tri thức chính xác vô hạn về trạng thái ban đầu.  Logic của thời gian  Ngày nay, sự thừa nhận đối với sự tồn tại của tập hợp số thực, hầu hết có vô hạn chữ số thập phân, không còn nhiều dấu vết của cuộc tranh luận nảy lửa xung quanh nó trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Nhà toán học vĩ đại người Đức David Hilbert đã lựa chọn quan điểm, khi đó chưa phải chuẩn mực, rằng các số thực tồn tại và có thể được sử dụng như các thực thể hoàn chỉnh. Đối nghịch với quan điểm này là các nhà toán học theo “chủ nghĩa trực giác”, tiêu biểu là nhà tô-pô học nổi tiếng người Hà Lan L. E. J. Brouwer, người coi toán học là xây dựng. Brouwer nhấn mạnh rằng các con số cần phải xây dựng được, tức là các chữ số của chúng cần được tính, được chọn hoặc được xác định một cách ngẫu nhiên từng chữ số một. Các con số là hữu hạn, Brouwer khẳng định, và chúng cũng là những quá trình: chúng có thể trở nên ngày càng chính xác hơn khi có thêm các chữ số hiện ra trong cái mà ông gọi là một dãy lựa chọn – một hàm tạo ra các giá trị với độ chính xác ngày càng cao.  Bằng cách giới hạn toán học trong những gì xây dựng được, chủ nghĩa trực giác có những hệ quả sâu xa đối với toán học và đối với việc xác định tính đúng sai của các mệnh đề. Sự ly khai căn bản nhất khỏi toán học thông thường nằm ở việc luật loại trừ cái thứ ba, nguyên lý được đề cao từ thời Aristotle, không còn đúng. Luật loại trừ cái thứ ba nói rằng với mọi mệnh đề, hoặc là nó đúng, hoặc là phủ định của nó đúng – chỉ có thể có hai khả năng, từ đó cung cấp một phương thức lập luận mạnh. Nhưng trong khuôn khổ do Brouwer thiết lập, các mệnh đề về các con số có thể không đúng mà cũng không sai tại một thời điểm xác định, vì giá trị chính xác của số đó vẫn chưa được biết.  So với toán học thông thường, không có khác biệt gì khi ta xét các số như 4, ½ hay p, tỷ lệ giữa chu vi và đường kính của một hình tròn. Mặc dù pi là một số vô tỷ, không có biểu diễn thập phân hữu hạn, tồn tại thuật toán để tính biểu diễn thập phân của nó, do đó p là một số được xác định hoàn toàn, giống như ½. Nhưng hãy xét một số x gần với ½.   Giả sử x là 0,4999, trong đó các chữ số tiếp theo dần hé lộ trong một dãy lựa chọn. Có thể dãy các chữ số 9 sẽ lặp lại vô hạn, khi đó x hội tụ đến ½ (trong toán học thông thường ta cũng có 0,4999… = 0,5 vì khi đó sai khác giữa x và  ½ nhỏ hơn nhỏ hơn mọi số dương).  Nhưng nếu tại một thời điểm tương lai nào đó trong dãy lựa chọn, một chữ số khác 9 xuất hiện, chẳng hạn x trở thành 4,9999999999997…, thì bất kể điều gì xảy ra sau đó, x luôn nhỏ hơn ½. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, khi tất cả những gì ta biết là 0,4999, “chúng ta không biết liệu một chữ số khác 9 có xuất hiện không,” Carl Posy, nhà triết học toán tại Đại học Hebrew tại Jerusalem, một chuyên gia hàng đầu về toán học trực giác, giải thích. “Tại thời điểm ta xem xét x, ta không thể nói x bé hơn ½, cũng không thể nói x bằng ½.” Cả mệnh đề “x bằng ½” và phủ định của nó đều không đúng. Luật loại trừ cái thứ ba không còn đúng.  Hơn nữa, tập hợp số thực không thể được chia thành hai phần tách biệt, một phần gồm tất cả các số bé hơn ½, một phần gồm tất cả các số lớn hơn hoặc bằng ½. “Nếu ta thử cắt đôi tập hợp số thực, số x này sẽ bị dính ở lưỡi dao, nó không ở bên trái cũng không ở bên phải,” Posy nói. “Tập hợp số thực nhớt và dính”.  Hilbert so sánh việc bỏ luật loại trừ cái thứ ba khỏi toán học với “cấm võ sỹ đấm bốc dùng nắm đấm”, vì nguyên lý này là nền tảng của hầu hết mọi suy luận toán học. Mặc dù khuôn khổ toán học trực giác của Brouwer cuốn hút những tên tuổi như Kurt Gödel và Hermann Weyl, toán học thông thường và các số thực của nó chiếm ưu thế vì tiện lợi hơn.  Sự hé mở của thời gian  Gisin tiếp xúc với toán học trực giác lần đầu tiên tại một hội nghị vào tháng 5/2019, mà Posy cũng tham dự. Khi hai người trò chuyện với nhau, Gisin nhanh chóng nhận ra mối liên hệ giữa những chữ số thập phân chưa hé lộ trong loại toán học này với khái niệm vật lý về thời gian trong vũ trụ. Một cách tự nhiên, những chữ số dần hiện ra dường như tương ứng với dãy các khoảnh khắc tạo nên hiện tại, khi tương lai bất định trở thành thực tế vững chắc. Sự thiếu vắng luật loại trừ cái thứ ba giống với những mệnh đề ngẫu nhiên về tương lai.  Trong một bài báo đăng tháng 12/2019 trên tạp chí Physical Review A, Gisin và đồng nghiệp Flavio Del Santo sử dụng toán học trực giác để xây dựng một phiên bản khác của cơ học cổ điển, với những dự đoán giống với các phương trình chuẩn nhưng các sự kiện là ngẫu nhiên, qua đó tạo bức tranh về một vũ trụ trong đó xảy ra những điều không được dự đoán trước và thời gian hé mở dần dần.  Nó cũng giống như thời tiết. Nhắc lại rằng chúng ta không thể dự báo chính xác thời tiết vì chúng ta không biết trạng thái ban đầu của mọi nguyên tử trên Trái đất với độ chính xác tùy ý. Nhưng trong phiên bản ngẫu nhiên của Gisin, những con số chính xác đó không tồn tại. Toán học trực giác nắm bắt được điều này: những chữ số mô tả chính xác trạng thái của thời tiết và quyết định diễn biến của nó trong tương lai được lựa chọn trong thời gian thực, đồng thời với tương lai được mở ra, trong một dãy lựa chọn. Renato Renner, nhà vật lý lượng tử tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Zurich (ETH Zurich), nhận xét rằng lập luận của Gisin “gợi ý rằng nói chung những dự đoán tất định về cơ bản là không thể”.  Nói cách khác, thế giới là ngẫu nhiên, tương lai là mở. Thời gian, theo lời Gisin, “không hé mở như một bộ phim chiếu trong rạp. Nó là một sự hé mở kiến tạo. Những chữ số mới thực sự được tạo ra khi thời gian trôi qua”.  Fay Dowker, nhà nghiên cứu lý thuyết hấp dẫn lượng tử tại Imperial College London, nói rằng bà “rất đồng tình” với lập luận của Gisin, vì “ông ấy cùng phe với chúng tôi, những người cho rằng vật lý không khớp với trải nghiệm và do đó bị thiếu cái gì đó.” Dowker đồng ý rằng ngôn ngữ toán học định hình hiểu biết về thời gian trong vật lý, và toán học Hilbert thông thường trong đó số thực là các thực thể hoàn chỉnh “chắc chắn là tĩnh. Nó có tính vĩnh cửu, và đó rõ ràng là một giới hạn đối với những người làm vật lý chúng tôi, nếu chúng tôi muốn đưa vào một thứ động như trải nghiệm về sự trôi đi của thời gian”.  Với những nhà vật lý quan tâm đến những mối liên hệ giữa lực hấp dẫn và cơ học lượng tử như Dowker, một trong những hệ quả quan trọng nhất của quan điểm mới về thời gian này là cách nó bắt đầu kết nối hai cách nhìn nhận về thế giới vốn từ lâu được coi là không tương thích. “Với tôi, một trong những hệ quả của nó là theo một cách nào đó, cơ học cổ điển gần với cơ học lượng tử hơn chúng ta nghĩ,” Renner nói.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: https://www.quantamagazine.org/does-time-really-flow-new-clues-come-from-a-century-old-approach-to-math-20200407/     Author                Natalie Wolchover        
__label__tiasang Thời gian có thực sự trôi? (Phần 2)      Nếu các nhà vật lý muốn giải đáp bí ẩn về thời gian, họ không chỉ phải vật lộn với không-thời gian liên tục của Einstein, mà cả với tri thức rằng vũ trụ về cơ bản là lượng tử, được quy định bởi sự ngẫu nhiên và bất định.      Bất định lượng tử và thời gian     Bức tranh thời gian trong lý thuyết lượng tử rất khác với trong lý thuyết của Einstein. “Hai lý thuyết vật lý lớn nhất của chúng ta, thuyết lượng tử và thuyết tương đối rộng, đưa ra những khẳng định khác nhau,” Renner nói. Ông cùng một số nhà vật lý khác nói rằng đây là mâu thuẫn cơ bản trong công cuộc tìm kiếm một lý thuyết lượng tử về lực hấp dẫn – một mô tả bằng ngôn ngữ lượng tử về nguồn gốc của không-thời gian – và hiểu vì sao Vụ Nổ Big Bang lại xảy ra. “Nếu tôi nhìn vào những chỗ có nghịch lý và những vấn đề chúng ta phải đối mặt, rốt cuộc chúng luôn đưa đến khái niệm thời gian này”.Thời gian trong cơ học lượng tử cứng nhắc, không cong và xoắn bện với các chiều không gian như trong thuyết tương đối. Hơn nữa, việc đo các hệ lượng tử “khiến thời gian trong cơ học lượng tử bất khả nghịch, trong khi ngoài điều đó ra cả lý thuyết hoàn toàn khả nghịch,” Renner nói. “Bởi vậy thời gian có một vai trò ở đây mà chúng ta vẫn chưa hiểu”.    Nhiều nhà vật lý giải thích rằng vật lý lượng tử cho chúng ta biết vũ trụ là bất định. “Ta có hai nguyên tử uranium: một phân rã sau 500 năm, một phân rã sau 1000 năm, thế mà chúng hoàn toàn giống nhau về mọi mặt,” Nima Arkani-Hamed, nhà vật lý tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, nói. “Theo mọi nghĩa, vũ trụ không tất định”.    Tuy nhiên, những cách giải thích phổ biến khác về cơ học lượng tử, trong đó có thuyết đa vũ trụ, giữ được khái niệm thời gian tất định cổ điển. Các lý thuyết này coi các sự kiện lượng tử như sự diễn ra của một hiện thực tiên định. Thí dụ, thuyết nhiều thế giới nói rằng mỗi phép đo lượng tử phân thế giới thành nhiều nhánh, mỗi nhánh hiện thực hóa một khả năng, và tất cả các khả năng đều đã được xác định trước.    Ý tưởng của Gisin đi theo hướng ngược lại. Thay vì biến cơ học lượng tử thành một lý thuyết tất định, ông hy vọng đưa ra một ngôn ngữ bất định chung cho cả cơ học cổ điển lẫn cơ học lượng tử. Nhưng cách tiếp cận của ông tách khỏi cơ học lượng tử thông thường ở một điểm quan trọng.    Trong cơ học lượng tử, thông tin có thể được sắp xếp lại hoặc trộn lẫn, nhưng không bao giờ được tạo ra hoặc bị phá hủy. Nhưng nếu các chữ số của các con số xác định trạng thái của vũ trụ tăng lên theo thời gian như Gisin đề xuất, thì có thông tin mới được tạo ra. Gisin nói rằng ông “tuyệt đối” phủ nhận ý tưởng rằng thông tin được bảo toàn trong tự nhiên, chủ yếu bởi “rõ ràng có thông tin mới được tạo ra trong quá trình thực hiện một phép đo.” Ông nói thêm: “Tôi nói rằng chúng ta cần một cách nhìn nhận khác về toàn bộ các ý tưởng này”.    Cách nghĩ mới này về thông tin có thể gợi ý một câu trả lời cho nghịch lý thông tin của lỗ đen, câu hỏi về điều gì xảy ra với thông tin bị nuốt vào lỗ đen. Theo thuyết tương đối rộng thì thông tin bị phá hủy, theo thuyết lượng tử thì nó được bảo toàn. Bởi vậy thành nghịch lý. Nếu một phiên bản khác của cơ học lượng tử dưới ngôn ngữ toán học trực giác cho phép thông tin được tạo ra từ các phép đo lượng tử, biết đâu nó cũng cho phép thông tin bị phá hủy.  Jonathan Oppenheim, nhà vật lý lý thuyết tại Đại học London (UCL), tin rằng thông tin thực sự biến mất trong lỗ đen. Ông không biết liệu chủ nghĩa trực giác của Brouwer có phải chìa khóa để chứng minh điều này, như Gisin biện luận, hay không, nhưng ông nói rằng có lý do để nghĩ rằng sự hình thành và phá hủy của thông tin có thể liên quan sâu sắc đến thời gian. “Thông tin bị phá hủy khi ta đi về phía trước theo trục thời gian, nó không bị phá hủy khi ta di chuyển trong không gian,” Oppenheim nói. Các chiều tạo nên vũ trụ khối của Einstein rất khác biệt nhau.    Không chỉ ủng hộ ý tưởng về thời gian khởi tạo (và có thể phá hủy), toán học trực giác còn cung cấp một cách giải thích mới về trải nghiệm nhận thức được của chúng ta về thời gian. Nhớ rằng trong toán học trực giác, tập hợp số thực nhớt dính, không thể bị cắt đôi. Gisin gắn sự dính này với cảm giác của chúng ta về hiện tại “có độ dày” – một khoảnh khắc có thật chứ không phải một điểm không có kích thước ngăn tách rõ ràng quá khứ với tương lai. Trong vật lý thông thường, dựa trên toán học thông thường, thời gian là một đại lượng liên tục có thể nhận mọi giá trị trên đường thẳng thực. “Tuy nhiên,” Gisin nói, “nếu tập hợp số thực được biểu diễn bằng toán học trực giác, thời gian không thể bị cắt đôi.” Nó đặc quánh, ông nói, “theo nghĩa đặc quánh của mật ong”.    Cho tới đây, đó mới chỉ là sự so sánh. Oppenheim nói rằng ông “cảm nhận rõ được ý tưởng hiện tại có độ dày. [Ông] không chắc vì sao chúng ta có cảm giác đó”.     Tương lai của thời gian     Những ý tưởng của Gisin nhận được nhiều phản hồi khác nhau từ các nhà vật lý lý thuyết khác, mỗi người đều có những thí nghiệm tưởng tượng và trực giác riêng về thời gian.    Một số chuyên gia đồng ý rằng số thực có vẻ không có thực, và các nhà vật lý cần một cách diễn đạt mới không phụ thuộc vào chúng. Ahmed Almheiri, nhà vật lý lý thuyết nghiên cứu hố đen và lý thuyết hấp dẫn lượng tử tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, nói rằng cơ học lượng tử “loại trừ sự tồn tại của tập số thực”. Các tính toán lượng tử gộp năng lượng và các đại lượng khác thành từng gói, giống với tập hợp số nguyên hơn là tập hợp số thực. Và các số vô hạn bị cắt cụt bên trong các hố đen. “Một hố đen có thể có vẻ chứa một số vô hạn liên tục các trạng thái nội tại, nhưng [chúng bị] cắt cụt,” ông nói, do các hiệu ứng hấp dẫn lượng tử. “Số thực không thể tồn tại, vì ta không thể giấu chúng bên trong các hố đen. Bằng không chúng có thể chứa một lượng thông tin vô hạn”.    Sandu Popescu, nhà vật lý tại Đại học Bristol thường xuyên trao đổi với Gisin, đồng ý với quan điểm thế giới bất định của người đồng nghiệp, nhưng nói rằng ông không tin phải cần đến toán học trực giác. Popescu phản đối ý tưởng rằng các chữ số của số thực được tính là thông tin.    Arkani-Hamed nhận thấy cách sử dụng toán học trực giác của Gisin là thú vị và có thể thích hợp cho những trường hợp như hố đen và Vụ Nổ Lớn, khi lực hấp dẫn và cơ học lượng tử rõ ràng xung đột với nhau. “Những câu hỏi này – về các số như những thứ hữu hạn tồn tại, hay có vô hạn chữ số, hay những chữ số được tạo ra dần dần,” ông nói, “có thể liên quan đến cách chúng ta rốt cuộc nên nghĩ về vũ trụ học trong những tình huống mà ta không biết áp dụng cơ học lượng tử như thế nào.” Ông cũng nhìn thấy nhu cầu có một ngôn ngữ toán học mới để “giải phóng” các nhà vật lý khỏi sự chính xác vô hạn và cho phép họ “nói về những thứ lúc nào cũng có chút mơ hồ”.    Ý tưởng của Gisin gây tiếng vang ở nhiều nơi nhưng vẫn cần được hoàn thiện. Tiếp theo, ông hy vọng tìm ra cách diễn đạt lại thuyết tương đối và cơ học lượng tử theo ngôn ngữ hữu hạn, mơ hồ của toán học trực giác, giống như đã làm với cơ học cổ điển, qua đó có thể đưa các lý thuyết lại gần nhau hơn. Ông có một số ý tưởng về cách tiếp cận với phần lượng tử.    Một cách để sự vô hạn thiết lập vị trí của nó trong cơ học lượng tử là thông qua “bài toán đuôi”: thử định xứ hóa một hệ lượng tử, chẳng hạn một electron trên Mặt trăng, và “nếu dùng toán học thông thường, ta phải chấp nhận rằng electron trên Mặt trăng cũng có thể được phát hiện trên Trái đất với một xác suất cực nhỏ,” Gisin nói. “Cái đuôi” của hàm toán học biểu diễn vị trí của electron “giảm theo hàm mũ nhưng luôn khác không”.    Nhưng Gisin tự hỏi: “Thực tế nào có thể được gán cho một số cực nhỏ? Hầu hết các nhà thực nghiệm sẽ bảo ‘Cho nó bằng không và ngừng thắc mắc.’ Nhưng có thể những người thiên về lý thuyết hơn sẽ nói ‘Cũng được thôi, nhưng theo toán thì phải có cái gì đó’.    “Nhưng giờ đây nó sẽ phụ thuộc vào theo loại toán nào,” ông tiếp tục. “Theo toán cổ điển thì có cái gì đó. Theo toán trực giác thì không. Không có gì cả.” Electron ở trên Mặt trăng, và xác suất để nó xuất hiện trên Trái đất chắc chắn thực sự bằng không.    Kể từ khi Gisin công bố công trình của ông, tương lai trở nên ngày càng bất định. Giờ đây với ông ngày nào cũng như chủ nhật, trong khi khủng hoảng bao trùm thế giới 1. Phải rời xa phòng thí nghiệm và chỉ được gặp cháu gái qua màn hình, ông dự định tiếp tục suy nghĩ, ở nhà với cốc trà và nhìn ra vườn.□     TS. Nguyễn Hoàng Thạch dịch  TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) hiệu đính  Nguồn: Tạp chí Quanta  ————————–  1. Bài viết này được đăng trên tạp chí Quanta Magazine vào tháng 4/2020, khi dịch bệnh đang bùng phá khắp thế giới và nhiều quốc gia ban hành việc hạn chế đi lại.    Author                Natalie Wolchover        
__label__tiasang Thời gian phải chăng chỉ là một ảo tưởng?      Nhiều thập kỷ qua, các nhà vật lý và các triết gia không ngừng suy nghĩ về vấn đề thời gian. Thời gian có tồn tại độc lập hay không? Tại sao thời gian lại phải có nhiều tính chất khác nhau thay đổi từ cơ học cổ điển Newton đến lý thuyết tương đối Einstein rồi lý thuyết lượng tử.        Giáo sư triết gia Craig Callender trình bày một cách nhìn mới mẻ về thời gian: thời gian chỉ là một phương thức thuận tiện để đo đạc các quá trình trong vũ trụ. Thời gian không tồn tại độc lập, chúng ta chỉ cảm nhận được thời gian vì chúng ta là một hệ con bị ràng buộc với các hệ con khác trong vũ trụ bởi nhiều mối liên quan. Thời gian được ví như tiền tệ vốn chỉ là một phương tiện giao dịch, thuận tiện hơn phương thức trao đổi trực tiếp bằng hiện vật. Bài báo của Craig Callender 1 có thể đem lại nhiều tia sáng mới cho vật lý và triết học trong vấn đề thời gian.  Các khái niệm về thời gian và sự thay đổi của thời gian có thể đột sinh từ một vũ trụ mà về cơ bản là phi thời gian tính. Thời diểm hiện tại được cảm nhận là đặc biệt, hiện tại là hiện thực. Song khi bạn hồi tưởng lại quá khứ hay suy tưởng về tương lai, bạn vẫn đang sống trong hiện tại. Lẽ dĩ nhiên, thời quãng bạn đọc những dòng chữ này không kéo dài lâu. Nói cách khác, ta cảm thấy thời gian đang chảy nhưng thực tế là hiện tại đang liên tục cập nhật.  Chúng ta có một cảm nhận trực giác về sự định hình của quá khứ và sự hình thành của tương lai chỉ khi nào hiện tại xuất hiện. Các phương trình vật lý không nói cho chúng ta biết những sự  kiện nào đang xảy (điều này trông giống một bản đồ mà không ghi rõ “bạn đang ở nơi nào”). Như vậy, thời gian hiện tại không có mặt trong các phương trình do đó cũng không có dòng chảy của thời gian.      Thời gian không tồn tại độc lập song là một phương thức mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng. Ý tưởng đó đã dẫn họa sĩ Keith Peters đến bức tranh trên trong đó nhiều đường vòng chạy quấn quanh đối tượng này sang đối tượng khác.      Sự cách biệt trong suy nghĩ thông thường của chúng ta và cách hiểu thời gian trong khoa học đã làm bối rối nhiều nhà tư tưởng suốt thời gian lịch sử.  Nhiều nhà vật lý lý thuyết tin rằng thời gian không tồn tại.  Ý tưởng thời gian không tồn tại quả là rất khó hiểu đối với trực giác. Mọi việc chúng ta làm dường như đều thực hiện trong thời gian. Một lý thuyết không có thời gian phải đương đầu với việc giải thích vì sao chúng ta thấy mọi sự thay đổi nếu quả thật trong vũ trụ không có thời gian.    Mặc dầu thời gian không tồn tại ở mức cơ bản song thời gian có thể xuất hiện ở những mức cao hơn – hoàn toàn giống như một cái bàn trông như một vật  rắn mặc dầu được cấu tạo bởi một tập các hạt kết với nhau trong một không gian gần như trống rỗng. Như vậy, tính rắn là một tính tập thể, nói cách khác là một sự đột sinh (emergent) từ tập của các hạt. Tương tự như vậy, thời gian chính là một tính chất đột sinh bất kể đối với các thành phần nào của vũ trụ.  Khái niệm về sự đột sinh của thời gian là một thế cách mạng biểu diễn sự phát triển của lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Các nhà vật lý lý thuyết khi đeo đuổi mộng tưởng thống nhất đều xem vấn đề thời gian là vấn đề cơ bản. Họ nghĩ rằng, một lý thuyết thống nhất phải là một lý thuyết không có thời gian, và cho rằng nếu không đi sâu vào tìm hiểu thời gian thì khó lòng xây dựng được lý thuyết thống nhất.  Sự xuất hiện và  biến đi của thời gian  Thời gian đã đảm đương nhiều công việc trong vật lý song các công việc đó có thể càng ngày càng biến mất đi.|  Thời gian cổ điển  Chúng ta sẽ lấy làm lạ khi các định luật chuyển động của Isaac Newton đòi hỏi thời gian phải có nhiều tính chất rất đặc biệt. Mọi người quan sát đều công nhận tính kế tiếp của nhiều sự kiện, trong vật lý cổ điển, chúng ta có thể nói rằng một sự kiện này xảy ra trước, sau hay đồng thời với một sự kiện khác. Như thế, thời gian cung cấp một phương tiện để xếp đặt thứ tự của các sự kiện. Tính đồng thời của hai sự kiện là một điều tuyệt đối độc lập với mọi người quan sát. Hơn nữa, thời gian phải liên tục bởi vì có như thế thì chúng ta mới định nghĩa được vận tốc và gia tốc. Thời gian cổ điển đòi hỏi khái niệm thời quãng (duration)-mà các nhà vật lý gọi là metric-như thế chúng ta có thể xác định được khoảng cách giữa hai sự kiện trong thời gian. Cũng giống như thứ tự các sự kiện, thời quãng giữa hai sự kiện là một yếu tố độc lập với mọi người quan sát.  Như vậy, về thực chất, Newton đòi hỏi rằng vũ trụ song hành với sự tồn tại một đồng hồ chủ (master clock). Chiếc đồng hồ này phân vũ trụ thành nhiều thời điểm và vật lý Newton chỉ lắng nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ này mà thôi. Newton cảm nhận dòng chảy thời gian và đồng thời cảm nhận hướng chảy của thời gian đó về tương lai, mặc dầu những tính chất bổ sung này của thời gian không bị đòi hỏi bởi các định luật Newton.  Thời gian Newton giống như chiếc mũ cũ của chúng ta song một phút suy nghĩ cho chúng ta thấy những điều lạ lùng. Các tính chất của thời gian: thứ tự (order), liên tục (continuity), thời quãng (duration), tính đồng thời (simultaneity), dòng chảy (flow) và mũi tên thời gian (arrow of the time) đều kết dính với đồng hồ chủ mà Newton gọi là “thời gian”. Toàn thể những tính chất này không thay đổi suốt trong gần hai thế kỷ.  Mũi tên thời gian  Sau đó, những tính chất này bị nhiều cuộc tấn công vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế ký 20. Cuộc tấn công đầu tiên là từ phía nhà vật lý người Áo Ludwig Boltzman: nếu các định luật Newton là đúng cho cả hai chiều của thời gian thì sẽ không có mũi tên thời gian (luôn hướng về tương lai). Thay vì vào đó Boltzman cho rằng hướng mũi tên thời gian không phải là một tính chất nội tại của thời gian mà xuất phát từ tính bất đối xứng của vật chất hình thành trong vũ trụ. Boltzman đã loại được một tính chất của thời gian Newton một cách thuyết phục.  Thời gian trong lý thuyết tương đối  Tiếp theo là cuộc tấn công của Einstein về ý tưởng đồng thời (simultaneity) tuyệt đối: theo lý thuyết tương đối thì sự đồng thời còn phụ thuộc vào chúng ta chuyển động như thế nào.  Sân khấu chính thức của các sự kiện không phải là thời gian mà cũng không phải là không gian mà là đa tạp tích hợp: không-thời gian. Hai quan sát viên chuyển động với hai vận tốc khác nhau không thể đồng ý với nhau rằng một sự cố nào đó xảy ra lúc nào và ở đâu song họ có thể đồng ý với nhau rằng sự cố đó đã xảy ra tại tọa độ nào trong không-thời gian.  Một điều tồi tệ nữa lại xảy ra năm 1915 khi Einstein xây dựng xong lý thuyết tương đối tổng quát, thống nhất lý thuyết tương đối hẹp với lực hấp dẫn. Hấp dẫn đã làm cong thời gian và như thế thời quãng một giây ở đây không giống thời quãng một giây ở nơi khác. Ta khó lòng nói được một sự kiện này xảy ra trước hay sau một sự kiện khác. Mặc dầu nhiều nhà vật lý cho rằng, một lý thuyết thống nhất sẽ có thể loại thời gian, thực tế thời gian đã mất đi từ năm 1915.  Cắt lát không-thời gian để thấy thời gian có điểm khác biệt với không gian  Chúng ta có thể nghĩ rằng sự khác biệt giữa không gian và thời gian gần như biến mất và kịch trường chính thức của các sự kiện là một đa tạp bốn chiều. Lý thuyết tương đối dường như không gian hóa (spatialize) thời gian: biến thời gian thành một chiều của đa tạp đó. Không-thời gian giống như một ổ bánh mì mà chúng ta có thể cắt lát theo nhiều chiều (Hình 1).  Ngay cả trong lý thuyết tương đối tổng quát, thời gian vẫn giữ một nhiệm vụ khác biệt để giúp phân biệt hai khái niệm “đồng dạng thời gian” (timelike) và “đồng dạng không gian” (spacelike). Các sự kiện đồng dạng thời gian là những sự kiện nối liền nhau bởi nguyên lý nhân quả: tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi từ sự kiện này đến sự kiện kia để gây nên nhân quả. Các sự kiện đồng dạng không gian là những sự kiện không có dính dáng gì với nhau về nhân quả: không tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi kịp từ sự kiện này đến sự kiện kia để đảm bảo được nguyên lý nhân quả.    Hình 1. Một quả bóng chuyển động và đập vào một bức tường nằm trong một khối tạo nên  một không-thời gian. Có hai cách cắt lát không-thời gian.  A /  Trong cách thứ nhất (cách thông thường) ta cắt không- thời gian (cắt ngang ) theo từng thời điểm tạo nên một cuốn phim mô tả chuyển động của quả bóng  Mỗi khung ảnh dẫn đến khung ảnh tiếp sau theo đúng các định luật vật lý.  B /  Nếu dùng phép cắt lát thứ hai (cắt dọc) không theo hướng quá khứ tương lai mà theo hướng từ trái sang phải.  Mỗi lát cắt vừa là một phần không gian vừa là một phần thời gian. Bên trái bức tường quả bóng xuất hiện ở hai vị trí còn bên phải bức tường quả bóng không xuất hiện.  A/ Hãy cắt lát không thời gian thành từng lát cắt từ quá khứ đến tương lai: mỗi lát cắt là một không gian ba chiều tại một thời điểm. Tổng các lát cắt đó  làm thành không-thời gian bốn chiều.  B/ Song nếu ta cắt theo một kiểu khác theo hướng Đông Tây thì mỗi lát cắt ba chiều lại là một hỗn hợp lạ lùng của các sự kiện đồng dạng không gian và các sự kiện đồng dạng thời gian.  Hai cách cắt lát này giống như cách ta cắt một ổ bánh mì theo chiều thẳng đứng hoặc theo chiều nằm ngang.  Cách cắt lát thứ nhất cho những hình ảnh không gian tại những thời điểm kế tiếp của thời gian.  Cách cắt lát thứ hai không có một hình ảnh tương tự nào: nó tương ứng với cách cắt không thời gian không phải từ quá khứ đến tương lai mà từ phía Đông sang phía Tây. Ví dụ của một lát cắt này là bức tường phía bắc của nhà bạn cộng với những điều gì sẽ xảy ra trong tương lai trên bức tường đó và từ phép cắt đó bạn có thể áp dụng những quy luật vật lý để tái lập các phần còn lại của cái nhà.  Thời gian lượng tử  Một mục đích tối thượng của vật lý là thống nhất lý thuyết tương đối rộng với lý thuyết lượng tử để tạo nên một lý thuyết duy nhất: lý thuyết lượng tử của hấp dẫn.  Ta gặp thêm nhiều rắc rối: lý thuyết lượng tử nói rằng các vật thể có nhiều cách hành xử khác với trong vật lý cổ điển ví như vận tốc và vị trí. Sự mô tả của một vật thể phải được thực hiện nhờ một hàm sóng biểu diễn trạng thái. Trạng thái này tiến triển liên tục theo thời gian và nhờ đó các nhà vật lý có thể tính được xác suất của điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Những điều này lại cho phép thời gian có những tính chất mới 2.  Thứ nhất, thời gian lại cho phép những nghịch lý xảy ra với những xác suất nhất định. Vậy thời gian cho phép sự tồn tại các nghịch lý.  Thứ hai, tùy theo thứ tự các phép đo mà chúng ta có thể thu được những kết quả khác nhau.  Thứ ba, cơ học lượng tử dẫn đến hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement). Từ đó có hiện tượng ma quái tác dụng từ xa (“spooky action at a distance”) trong nghịch lý ERP (Einstein, Rosen & Podolsky). Như vậy, theo Einstein phải tồn tại đồng hồ chủ mà chính lý thuyết tương đối của ông ngăn cấm.  Các nhà lý thuyết mong muốn loại bỏ thời gian khi xây dựng một lý thuyết thống nhất nhưng lại bối rối vì vai trò quan trọng của thời gian trong lý thuyết lượng tử: đó chính là nguồn gốc khó khăn trong quá trình hình thành một lý thuyết thống nhất.  Vậy thời gian đi đâu?  Như chúng ta biết, có nhiều phương án thống nhất lý thuyết hấp dẫn với lý thuyết lượng tử: Lý thuyết Dây (String theory), CDT (Causal Dynamical Triangulation ), Hình học không Giao hoán (Non Commutative geometry), LQG (Loop Quantum Gravity)…3.  Các phương án này được phân chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất lấy lượng tử làm cơ sở như trong lý thuyết dây Lý thuyết Dây (còn có thời gian), nhóm thứ hai muốn xuất phát từ lý thuyết hấp dẫn (có thể thời gian bị loại). Thực tế sự khác biệt giữa hai nhóm này rất mờ. Các nhà Lý thuyết Dây đang tìm cách loại bỏ thời gian.    Hình 2a. Bên trái hình vẽ ta dùng thời gian để đo tốc độ ánh sáng, nhịp đập của quả tim và vận tốc quay của một hành tinh và thu được theo thứ tự: 300.000 km/giây,73 nhịp đập/phút, 1vòng quay/ngày. Bên phải hình vẽ ta không dùng đến thời gian nữa và lấy một nhịp đập của trái tim làm đơn vị thì thu được theo thứ tự: 240.000 km/nhịp đập, 1 nhịp đập và 108.000 nhịp đập/1 vòng quay.     Hình 2b. Bên trái hình vẽ ta dùng đồng USD để tính giá trị của một cốc cà phê, 1 đôi giày và một chiếc ô tô đã qua sử dụng và thu được theo thứ tự: 2USD, 100USD và 2000 USD. Bên phải hình vẽ lấy giá trị một cốc cà phê làm đơn vị ta thu được theo thứ tự: 1 cốc cà phê,50 cốc cà phê / 1 đôi giày và 1000 cốc cà phê/một chiếc ô tô đã qua sử dụng.  Vào những năm 1950, 1960 khi John Wheeler và Bryce DeWitt tìm cách viết những phương trình Einstein dưới dạng giống như những phương trình của QED (Quantum Electrodynamics – Điện động lực học Lượng tử) cốt để sử dụng những phương pháp lượng tử hóa quen thuộc của QED  thì họ đã đi đến một kết quả hết sức bất ngờ: phương trình bây giờ được gọi là phương trình Wheeler – DeWitt hoàn toàn không chứa thời gian. Ký hiệu t biểu diễn thời gian đã bị loại mất. Điều này đã làm bối rối các nhà vật lý trong nhiều thập kỷ. Sao mà thời gian lại biến mất? Song nhìn lại ta thấy điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Như đã nói ở trên thời gian đã gần như biến mất từ lý thuyết tương đối tổng quát trước cả lúc các nhà vật lý có ý định thống nhất với lý thuyết lượng tử. Nếu nói một cách tường minh hơn thì thời gian không tồn tại. Carlo Rovelli (Đại học Marseille, Pháp) cùng với nhà vật lý người Anh Julian Barbour đã tìm cách viết lại lý thuyết lượng tử trong một khuôn khổ không chứa thời gian như lý thuyết tương đối đòi hỏi. Ý tưởng chính của hai tác giả là: nếu không tồn tại một thời gian tổng thể (global time) thì chúng ta cần nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác. Thay vì theo dõi tóc trên đầu bạn đã bạc đi như thế nào theo thời gian, bạn có thể nối liền quá trình bạc tóc của bạn với quỹ đạo của vệ tinh. Thời gian trở nên thừa. Mọi sự thay đổi có thể mô tả không cần thời gian. (xem hình 2a,2b). Tương tự như vậy, tiền tệ thuận tiện hơn là trao đổi  hiện vật khi phải thanh toán một cốc cà phê: thời gian thuận tiện trong việc nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác ví như quá trình bạc tóc với quỹ đạo vệ tinh. Và thời gian quả là một ảo giác thuận tiện hơn bất cứ điều gì trong vũ trụ như đồng tiền trong cuộc sống thường nhật. Song nếu loại bỏ thời gian thì chúng ta phải tư duy lại lý thuyết lượng tử.  Phục hồi thời gian  Một câu hỏi cấp bách là nếu chấp nhận hấp dẫn lượng tử thì phải giải thích vì sao vũ trụ dường như có thời gian? Ngay lý thuyết tương đối rộng khi hấp dẫn yếu và vận tốc nhỏ cũng có nhiều mẫu con thời gian mà tổng thể là một thời gian tựa Newton. Barbour & Rovelli còn gợi ý rằng thời gian (hay ít nhất ảo tưởng về thời gian) có thể xuất hiện từ điều không có gì cả (nothingness).  Năm 1931, nhà vật lý người Anh Nevill F.Mott xét sự va chạm của một hạt nhân helium với một nguyên tử. Ông phân hệ thành hai hệ con và sử dụng hạt nhân helium như một “đồng hồ” đối với nguyên tử còn lại. Điều đáng chú ý là nguyên tử xét tương đối với hạt nhân helium tuân theo một phương trình chuẩn phụ thuộc thời gian của lý thuyết lượng tử song ở đây một hàm số của không gian đóng vai trò của thời gian. Tuy rằng toàn hệ là không phụ thuộc thời gian song các hệ con lại phụ thuộc. Như vậy, trong toàn hệ thời gian đã ẩn núp trong các hệ con (Hình 2a,2b).  Toàn vũ trụ có thể không có thời gian song hãy tưởng tượng vũ trụ bị phân chia thành nhiều hệ con thì một số hệ con lại đóng vai trò “đồng hồ” cho các hệ con khác. Chúng ta cảm nhận thời gian chỉ vì chúng ta theo bản chất là một hệ con.  Nhà triết học Pháp Maurice Merleau-Ponty nói rằng, thời gian bản thân thực tế không chảy và sở dĩ ta cảm nhận dòng chảy của thời gian vì “ta đã lén đặt vào dòng sông một chứng nhân của dòng chảy”. Như vậy, khuynh hướng tin rằng thời gian đang chảy là hệ quả của việc quên mất rằng chúng ta là một hệ con với các mối liên hệ với vũ trụ trong bức tranh chung. Merleau-Ponty đã nói về những trải nghiệm chủ quan của chúng ta về thời gian và đến bây giờ thì chúng ta phải đoán nhận được rằng thời gian khách quan có thể giải thích được như là hệ quả của những mối quan hệ giữa các hệ con của vũ trụ. Thời gian chỉ tồn tại bằng cách phân chia vũ trụ thành những hệ con và tìm ra các mối quan hệ giữa chúng.  Trong bức tranh đó, thời gian vật lý đột sinh từ việc chúng ta nhận thức bản thân như một hệ tách rời với mọi thực thể khác.  Kết luận  Vậy thời gian là không tồn tại độc lập. Ta cảm nhận dòng chảy của thời gian chỉ vì ta là một hệ con có nhiều mối quan hệ với các hệ con khác trong vũ trụ. Cách nhìn mới mẻ này có thể giúp các nhà vật lý trong việc xây dựng một lý thuyết thống nhất hấp dẫn và lượng tử và các nhà triết học trong việc xây dựng một nhận thức luận mới đối với không-thời gian và vật chất của thế giới khách quan.  Cao Chi biên dịch  ———  Tài liệu tham khảo  [1]  Craig Callender, Is time an illusion? Scientific American, tháng 6/ 2010.  [2]  Cao Chi, Cơ Học Lượng Tử: từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan, KHTQ số tháng 9 / 2008.  [3]  Bạn đọc có thể tìm thấy các lý thuyết này trong “Kỷ yếu Max Planck 2009 (Cao Chi , Tồn tại chăng một lý thuyết của tất cả)”      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thổi hồn vào các con số để chúng biết nói      Các lò phản ứng thế hệ thứ hai được nội địa hóa từ công nghệ phương Tây trong chiến lược công nghiệp hóa hối hả của Trung Quốc đã đi vào hoạt động. Miền Bắc nước ta chịu tác động trực tiếp phát thải của chúng do các khối khí gió mùa luôn ập đến về mùa đông. Quan trắc và cảnh báo phóng xạ như thế nào, không lo sao được!    GS. Phạm Duy Hiển  Những số liệu câm  Phóng xạ môi trường (PXMT) là hướng nghiên cứu truyền thống, luôn khẳng định chỗ đứng của VINATOM trên mặt tiền khoa học. Kỹ thuật đo đạc từ lâu đã thành bài bản, nên năm nào hai Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và Viện Khoa học Kỹ thuật hạt nhân Hà Nội đều có đề tài quan trắc PXMT, tích lũy lại hàng nghìn số liệu. Nhưng chúng lặng câm, nằm yên trong các tủ hồ sơ Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT). Nộp xong kết quả là quân ta yên tâm, xem như hoàn thành nhiệm vụ. Rồi lặn lội đi thu góp mẫu cho nhiệm vụ quan trắc năm tới. Ngần ấy con số, tạo nên từ biết bao công sức chưa bao giờ được đúc kết lại thành công trình khoa học. Song nếu ai đó “hack” được vào các tủ hồ sơ Bộ TN&MT, lôi chúng ra, cho lên EXCEL, … thì cuối cùng cũng đành phải “bó tay chấm côm”. Bởi từ đầu, quân ta  không quan tâm liệu có ai dùng các con số do mình quan trắc được, và dùng vào việc gì.   Phải chăng với hơn 30 năm trưởng thành như VINATOM mà cứ đẻ ra các con số câm lặng, vô hồn, hết năm này sang năm khác, là nghiên cứu khoa học? Khi chưa trả lời được câu hỏi này, quân ta đừng vội xây những trạm quan trắc mới, kết nối thành mạng lưới dày đặc, xây những trung tâm xử lý số liệu hoành tráng, để cảnh báo phóng xạ, những mong một này nào đó báo chí sẽ rộn lên vì ma phóng xạ từ bên kia biên giới được các nhà hạt nhân ta phát hiện.  Quan trắc PXMT chỉ mới tạo ra số liệu thô (raw data). Chúng câm, vô hồn. Phải biết cách gạn lọc để biến chúng thành thông tin (information). Thông tin có thể truyền đạt được, số liệu thô thì không. Lại tiếp tục gạn lọc để từ thông tin có được tri thức (knowledge) ở nấc thang cao hơn, mô tả hiện trạng môi trường theo ngôn ngữ khoa học. Đường nền phóng xạ có được từ quan trắc PXMT chính là một dạng tri thức dùng làm căn cứ khi ứng phó sự cố. Từ số liệu thô đến tri thức là quãng đường dài, trên đó nhà khoa học phải thổi hồn vào các con số để chúng biết nói.  Hồn đến từ đâu?  Trước hết, từ khoa học môi trường. Có lần một bạn mô phỏng phát tán phóng xạ theo phần mềm nước ngoài, vẽ ra bản đồ phát tán với thang màu sặc sỡ, nhưng lại đứng lặng khi tôi tò mò hỏi “bạn luôn nói về tính ổn định của khí quyển, nó là gì vậy?”. Mà đây lại chính là khái niệm cơ bản nhất về vật lý khí quyển.   Thứ hai là kỹ thuật thống kê với nhiều công cụ mới được phát triển trong những năm gần đây. Chúng ta đang ở thời đại “big data”, ai không chịu rèn luyện kỹ thuật thống kê sẽ phải chào thua. Đó là công cụ làm bật ra thông tin và tri thức ẩn sau các con số. Tư duy thống kê hình thành từ đây, nó khác với tư duy cơ giới thông thường. Với tư duy cơ giới, năm ắt phải bé hơn sáu, nhưng theo tư duy thống kê, năm có thể có xác suất lớn hơn sáu, tùy theo độ bất định trong kết quả quan trắc. Độ bất định càng cao, xác suất ấy càng lớn. Song độ bất định cao chưa hẳn đã tồi. “Roughly right is better than exactly wrong”. Trong nghiên cứu khoa học, hơn nhau ở chỗ ý tưởng. Khi có ý tưởng đúng, chỉ cần kết quả thực nghiệm gần đúng cũng hay hơn kết quả rất chính xác dựa trên ý tưởng sai. Nghĩa là phải thổi hồn ngay từ đầu, khi thiết kế mạng lưới và chương trình quan trắc.  Trong thiết kế quan trắc PXMT, hồn chính là dự báo phóng xạ đến từ đâu, bao giờ, và bao nhiêu. Thiếu phần hồn này nên chúng ta đã từng có dự án xây dựng mạng lưới quan trắc hoành tráng, bao phủ khắp các tỉnh thành, kết nối qua các “trung tâm điều hành vùng và toàn quốc” để có hàng nghìn số liệu sản sinh ra mỗi ngày. Song nhà thiết kế không có phương án thổi hồn vào để chúng biết nói. May mà dự án không thành.        Một thí dụ khác. Ngay sau tai nạn Fukushima, các vị lãnh đạo VINATOM và VARANS đã hối thúc quân ta quan trắc phóng xạ và đăng đàn tuyên bố với báo chí “chúng tôi đã quan trắc liên tục từ hai hôm nay, nhưng chưa thấy gì”. Không thấy được là đúng. Mây phóng xạ vận chuyển theo các khối khí, từ Fukushima đến Việt Nam nhanh nhất phải mất bảy ngày. Trên thực tế, sau khi xảy ra sự cố, mây phóng xạ lại luôn bay ra Thái Bình Dương quay vòng quanh Bắc bán cầu sang Bắc Mỹ theo đường vĩ tuyến, xuyên qua Đại Tây Dương rồi tìm đường đổ bộ lên châu Âu, bảy ngày sau mới có luồng khí bay theo hướng Tây Nam, qua Đài Loan, Philippines, đến Việt Nam. Cho nên phải hai tuần sau sự cố, tín hiệu i ốt và xê si mới nhú lên trên phổ phóng xạ ở nước ta.      Phải nói, ba chuỗi số liệu I-131, Cs-137, Cs-134 quan trắc được ở cả Hà Nội, Đà Lạt và Tp Hồ Chí Minh trong hơn một tháng trời sau Fukushima là bộ số liệu tuyệt vời, độc nhất vô nhị ở Đông Nam Á. Nhưng thật đáng tiếc, quân ta lại thiếu tự tin, chỉ dám kết luận trong một báo cáo ở hội nghị ngành rằng “kết quả quan trắc phù hợp với mô phỏng của Tổ chức Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBTO)”. Ít lâu sau, nhờ dùng kỹ thuật thống kê đơn giản kết hợp với vật lý khí quyển để phân tích bộ số liệu quan trắc trên, chúng ta đã phát hiện ra nhiều hiện tượng mới lạ liên quan đến phát thải Fukushima. Đặc biệt đã phát hiện ra sự chuyển hóa i-ốt phóng xạ từ pha hơi sang pha hạt khi đám mây phóng xạ lan truyền trên cao trước khi bay đến Đà Lạt, và quy luật giảm theo hàm mũ nồng độ phóng xạ theo khoảng cách lan truyền. Chính hai điểm nhấn này làm cho bài báo đăng trên JENR (2012) được download và trích dẫn khá nhiều.  Đo đạc phóng xạ trong môi trường không khó. Nhưng đo để làm gì và xử lý kết quả như thế nào lại là nội dung khoa học khá phức tạp. Hãy nên nghiên cứu kỹ kết quả trong những năm gần đây trên thế giới và ngay của chúng ta trước khi thiết kế mạng lưới quan trắc.    Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Thời khắc quyết định      Đi từ Hoài nghi đến Lựa chọn thường là một quá trình gian khó. Quá trình này được đánh dấu bởi một mốc quan trọng: Thời khắc quyết định – tức thời khắc chủ thể thực hiện hành vi lựa chọn mà họ cho là gần với chân lý nhất. Kể từ đây, hành trình nhận thức của chủ thể không còn diễn ra trong phạm vi tư duy tư biện nữa, mà đã biểu hiện ra ngoài dưới dạng hành động.      Thời khắc thực hiện lựa chọn, nói gọn là thời khắc quyết định, có vai trò cách mạng trong hành trình nhận thức của chủ thể. Tại thời khắc đó, chủ thể đã thực hiện một bước nhảy đột biến về chất trong hành trình nhận thức của mình. Vì thế, phân tích diễn trình đi đến thời khắc quyết định này sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất của hành trình nhận thức, hay con đường đi đến chân lý của chủ thể.   Về đại thể, có thể chia các bước nhảy tại thời khắc quyết định trong hành trình nhận thức này thành hai loại: Một bước nhảy lớn duy nhất xảy ra tại thời khắc quyết định hoặc một chuỗi các bước nhảy nhỏ liên tiếp trước và tại thời khắc quyết định. Trường hợp thứ nhất thường đạt được thông qua trực giác, qua việc ngộ ra chân lý. Còn trường hợp thứ hai thường thấy trong các quá trình phân tích khoa học để tiệm cận đến chân lý.  Vậy điểm khác biệt của hai quá trình này là gì?  Để trả lời câu hỏi này, cần xét đến yếu tố hiện gắn liền với thời khắc quyết định:   Cách ứng xử của chủ thể với các hệ quả diễn ra sau thời khắc này;  Cảm thức chủ đạo của chủ thể ngay sau thời khắc này;  Khả năng kiểm chứng của người ngoài đối với chủ thể sau thời khắc này.        Nếu cộng đồng thiếu tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật thì quá trình nhận thức khi đó sẽ giậm chân tại chỗ mà biểu hiện cụ thể là nhận thức của cả cộng đồng bị kẹt cứng vào các giáo điều.        Với quá trình ngộ ra chân lý, thời khắc quyết định là thời khắc mà chủ thể của lựa chọn thoát khỏi mọi ràng buộc của hệ quả, nói cách khác, được giải phóng về mặt tinh thần đối với các hệ quả có thể xảy đến. Vì thế, một trong những đặc trưng chính của quá trình ngộ ra chân lý là sự Vô Úy, tức là không sợ. Không sợ không phải vì không biết các hệ quả của lựa chọn, mà vì được giải phóng ra khỏi ràng buộc của các hệ quả đó. Cảm thức chủ đạo của chủ thể khi đó là cảm giác tự do, được giải phóng khỏi mọi ràng buộc và đạt đến trạng thái bình an nội tâm, an nhiên tự tại. Thật đáng tiếc là điều này rất khó kiểm chứng bởi người ngoài, hoặc bởi các tiêu chí có tính khoa học.  Với quá trình tiệm cận chân lý, thời khắc quyết định là thời khắc mà chủ thể hình dung ra tất cả các hệ quả có thể xảy đến đối với lựa chọn của mình và chấp nhận những hệ quả đó, hoặc có phương án để đương đầu với chúng. Nói cách khác, chủ thể của lựa chọn có một cam kết về trách nhiệm và cách thức phản ứng với các hệ quả có thể xảy đến. Vì thế, một trong những đặc trưng chính của quá trình tiệm tiến chân lý là sẵn sàng các giải pháp ứng phó. Cảm thức chủ đạo của chủ thể trong quá trình này là làm chủ tình hình. Thật may mắn là điều này có thể kiểm chứng bởi người ngoài, hoặc bởi các tiêu chí có tính khoa học.  Với một cá nhân, bước nhảy trong thời khắc quyết định có thể diễn ra theo một trong hai cách đã nêu trên, hoặc sự kết hợp tương hỗ của cả hai cách đó. Có thể quan sát điều này ở những người tu tập Thiền khi họ cố gắng đạt được chân lý bằng cách giác ngộ, hoặc ở những nhà khoa học khi họ tìm cách đến gần chân lý bằng cách hoàn thiện các lý thuyết khoa học của mình.  Những người tu tập Thiền thường có xu hướng đạt đến chân lý qua cách thứ nhất: Ngộ ra chân lý. Tuy nhiên, việc này không phải dễ, nên các thiền sư giàu kinh nghiệm thường có nhiều phương pháp khác nhau, như các công án thiền, những qui trình tu tập đặc biệt, thậm chí cả tiếng la hét, đánh… để hỗ trợ các thiền sinh giác ngộ. Nghịch lý thường xảy ra ở chỗ: Có sự mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện. Tuy mục đích tối hậu của việc giác ngộ là đạt đến Tự do, nhưng phần lớn các thiền sinh sẽ vướng mắc vào chính các phương tiện này, như việc chấp sư, chấp pháp, chấp ngã, chấp thị phi… trong quá trình vươn tới mục đích. Do đó họ thường rất khó khăn trong việc đạt được mục đích Tự do bởi phương tiện họ sử dụng đã ràng buộc làm mất tự do của chính họ. Chính vì thế, tu tập để giác ngộ là một việc vô cùng khó, và sẽ ngày càng khó vì số lượng các bẫy phương tiện này sẽ ngày càng nhiều.   Vì việc ngộ ra chân lý với một cá nhân đã khó như vậy, nên với một cộng đồng, việc ngộ ra chân lý là điều bất khả. Do vậy tiệm tiến chân lý qua một chuỗi liên tiếp các bước nhảy nhỏ trong hành trình nhận thức là lựa chọn khả thi nhất đối với một cộng đồng.        Việc ngộ ra chân lý của cả một cộng đồng là điều vô cùng khó. Nên trong trường hợp đó, người ta thường hài lòng với cách đơn giản nhất: “ngộ” ra chân lý theo kiểu a-dua hoặc thụ động chấp nhận “chân lý” do kẻ khác mang đến. Điều này sẽ biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng mê tín dị đoan, sùng bái cá nhân, sùng bái sự bất thường, huyền thoại hóa các sự kiện…        Với lựa chọn này, hành trình nhận thức của một cộng đồng không bao giờ là một quá trình trơn tru tuyến tính, mà là một quá trình vòng vo khúc khuỷu qua nhiều bước ngoặt, nhiều thác ghềnh. Tại mỗi bước ngoặt này, chủ thể phải thực hiện một bước nhảy nhỏ để đạt đến trình độ cao hơn, gần chân lý hơn của nhận thức. Chính chuỗi các bước nhảy này sẽ đưa chủ thể đến gần thời khắc quyết định, khi họ tin rằng họ đã đạt được gần chân lý nhất trong khả năng của mình.  Đây là một quá trình biện chứng của nhận thức, trong đó các giai đoạn nhận thức kế tiếp nhau sẽ phủ định lẫn nhau để đạt đến trình độ mới cao hơn, gần chân lý hơn. Tuy nhiên, cũng như mọi quá trình biện chứng khác, quá trình này chỉ có thể diễn ra nếu có sự xuất hiện của kẻ trung gian môi giới – hay có thể gọi là môi trường – để qua đó quá trình này có thể được thực hiện.  Nếu chỉ xét riêng quá trình nhận thức của một cộng đồng, thì kẻ trung gian môi giới này chính là tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật của cộng đồng đó, vì nó giúp hình dung ra các hệ quả có thể xảy đến sau thời khắc quyết định, do đó tạo ra động lực trong quá trình tiệm tiến chân lý. Nếu thiếu kẻ trung gian môi giới này thì quá trình biện chứng này không thể diễn ra. Quá trình nhận thức khi đó sẽ giậm chân tại chỗ mà biểu hiện cụ thể là nhận thức của cả cộng đồng bị kẹt cứng vào các giáo điều.  Rõ ràng, nếu việc Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật được mở càng rộng thì tốc độ tiệm cận được chân lý càng nhanh, khả năng đến gần hoặc đạt được chân lý càng cao. Còn ngược lại, nếu tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật bị bóp nghẹt thì sẽ không có cách nào để đạt được chân lý theo cách tiệm cận này.   Khi đó, cả cộng đồng sẽ có xu hướng quay trở lại cách nhận thức thứ nhất: Tìm cách dạt được chân lý thông qua một bước nhảy lớn. Tuy nhiên, như đã trình bày, việc ngộ ra chân lý của cả một cộng đồng là điều vô cùng khó. Nên trong trường hợp đó, người ta thường hài lòng với cách đơn giản nhất: “ngộ” ra chân lý theo kiểu a-dua hoặc thụ động chấp nhận “chân lý” do kẻ khác mang đến. Điều này sẽ biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng mê tín dị đoan, sùng bái cá nhân, sùng bái sự bất thường, huyền thoại hóa các sự kiện…  Như thế, những nơi thiếu vắng tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật chính là mảnh đất màu mỡ cho những kẻ mị dân phát tài. Điều này giải thích tại sao ở những nơi như thế, tệ mê tín dị đoan, sùng bái cá nhân, huyền thoại hóa các sự kiện…thường rất phát triển. Điều này cũng giải thích vì sao trong các xã hội mà tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật bị bóp nghẹt bởi thần quyền hoặc một ý thức hệ duy nhất, như phần lớn các xã hội phong kiến phương Đông hoặc châu Âu trung cổ, xã hội hầu như giậm chân tại chỗ trong suốt cả nghìn năm.  Hệ quả là con người trong các xã hội đó sẽ bị suy thoái trở thành những đứa trẻ to xác, theo nghĩa không thể sử dụng được lý trí của mình để đạt đến chân lý, vì bị áp đặt hoặc phụ thuộc một cách vô thức vào tư duy của kẻ khác. Xã hội khi ấy sẽ giậm chân ở trạng thái chậm phát triển và bất ổn định triền miên, vì quá trình biện chứng của phát triển không thể thực hiện được.  Tóm lại, thông qua viêc phân tích bản chất của quá trình tiến tới thời khắc quyết định – thời khắc chủ thể thực hiện hành vi lựa chọn mà họ cho là gần với chân lý nhất, có thể rút ra kết luận: Với mỗi cá nhân, việc đạt được chân lý có thể được tiến hành thông qua một trong hai cách: ngộ ra chân lý bởi một bước nhảy lớn hoặc tiệm tiến chân lý qua một chuỗi các bước nhảy nhỏ liên tiếp. Còn với cộng đồng, cách duy nhất để đến gần chân lý là tiệm tiến qua một chuỗi các bước nhảy nhỏ, một quá trình biện chứng của nhận thức. Tuy nhiên, quá trình này chỉ có thể thực hiện được nếu có sự tham gia của tinh thần Tự do tư tưởng – Tự do thảo luận – Tự do học thuật như một yếu tố trung gian môi giới. Thiếu yếu tố này, không có cách nào một cộng đồng có thể tiệm cận chân lý, do đó không thể có các quyết định chính xác và lựa chọn hiệu quả. Xã hội khi đó sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn giậm chân tại chỗ vì quá trình phát triển biện chứng bị chặn lại. Mê tín dị đoan, sùng bái cá nhân, sùng bái sự bất thường, huyền thoại hóa các sự kiện… sẽ lên ngôi như một hệ quả tất yếu.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thời kỳ “tiểu Băng hà” tác động đến  lịch sử Việt Nam?      Do các yếu tố đặc trưng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái nên Việt Nam cũng là quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Vậy, khí hậu đã viết lịch sử như thế nào hay lịch sử khí hậu học của các triều đại Việt Nam đã diễn tiến ra sao? Dẫn chứng về tác động của thời kỳ “Tiểu Băng hà” tới lịch sử Việt Nam sẽ góp phần làm rõ vấn đề này.      Tranh vẽ “Sông Thames đóng băng” năm 1677 của họa sĩ Abraham Hondius (1631-1691) Ảnh: Science.org  Được nhà địa chất học người Mỹ François E. Matthes (1874-1948) nêu lên lần đầu vào năm 1939 trong công trình Report of Committee on Glaciers, “Tiểu Băng hà” (Little Ice Age) được biết tới là thời kỳ khí hậu lạnh ẩm kéo dài bất thường từ những năm 1300 đến những năm 1850.    Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện của “Tiểu Băng hà”: một là do sự suy giảm hoạt động của bức xạ Mặt trời và hai là do hoạt động mạnh mẽ của các núi lửa đã làm cho bầu không khí bị thay đổi, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của không khí lạnh. Bức xạ Mặt trời đã rơi xuống mức cực tiểu ít nhất ba lần là Spörer Minimum (1420-1570), Maunder Minimum (1645-1715) và Dalton Minimum (1795-1823). Hoạt động phun trào núi lửa cũng xảy ra thường xuyên trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”. Giai đoạn giữa các năm 1580-1694 có tổng cộng 32 đợt phun trào núi lửa lớn. Các đợt phun trào của núi lửa Kuwae ở Vanuatu năm 1452, núi lửa Billy Mitchell ở Papua New Guinea năm 1580, núi lửa Huaynaputina ở Peru năm 1600, núi lửa “Long Island” ở Papua New Guinea và núi lửa Laki ở Iceland được xem là những đợt phun trào núi lửa lớn nhất trong giai đoạn này. Một trong số đó, đợt phun trào của núi lửa Laki ở Iceland đã ảnh hưởng rộng khắp đến toàn bộ châu Âu và đế chế Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ).      Do vị trí địa lý Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên sự suy giảm nhiệt độ và gia tăng giá rét bởi tác động của “Tiểu Băng hà” không mạnh mẽ và rõ rệt bằng lục địa Trung Hoa. Mặc dù vậy, hiện tượng đóng băng vẫn được sử sách ghi chép.      Tác nhân làm sụp đổ các đế chế trên thế giới     Vào thời kỳ “Tiểu Băng hà”, Trái đất trở thành một hành tinh lạnh hơn bình thường. Nền nhiệt trung bình của Trái đất đã giảm thấp hơn so với ngày nay, đạt mức thấp nhất lần đầu tiên vào khoảng năm 1370, lần kế tiếp vào năm 1630 và lần sau cùng khoảng năm 1645 kéo dài đến năm 1715. Do sự suy giảm đáng kể của nhiệt độ cùng với biến đổi của các mùa và sự gia tăng của những hiện tượng thời tiết bất thường đã kéo theo nhiều thiên tai xuất hiện. Dựa theo các dữ liệu phân tích ENSO (El Nino dao động phương Nam) trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”, nhất là vào thế kỷ XVII-XVIII hiện tượng El Nino xuất hiện rất thường xuyên. Những năm 1610, 1650, 1660, 1680, 1710, 1720, 1730 và 1770 đều ghi nhận El Nino với mức độ nghiêm trọng. Hiện tượng El Nino là nguyên nhân khiến cho hạn hán và bão lũ xảy ra thất thường. Chịu ảnh hưởng đáng kể bởi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan là các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Từ đó dẫn đến mất mùa và nạn đói với hệ quả sâu xa hơn là khủng hoảng kinh tế – xã hội. Những năm ghi nhận hiện tượng El Nino đều phát sinh nạn đói với tỷ lệ tử vong cao, làm gián đoạn hoạt động kinh tế, qua đó gián tiếp gây ra bất ổn xã hội, nổi loạn, tình trạng di cư và xung đột quân sự.      “Thiệp thủy phản gia đồ” (Returning Home Through the Snow) vẽ khoảng năm 1455 của họa sĩ Đới Tiến (1388-1462) thời Minh.  “Tiểu Băng hà” lần đầu tiên được nói đến không chỉ như một hiện tượng khí hậu mà còn như một biến cố lịch sử là bởi nhà sử học người Pháp Emmanuel Le Roy Ladurie vào thập niên 1960. Sau đó, nhiều nhà sử học như Fernand Braudel và Gustaf Utterström đã nỗ lực chứng minh sự liên hệ giữa giai đoạn khí hậu này với sự phát triển của các xã hội ở Địa Trung Hải. Vào năm 1980, nhà sử học William J. Griswold đã chỉ ra tác động của “Tiểu Băng hà” tới sự khủng hoảng của đế chế Ottoman vào thế kỉ XVII. Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng “Tiểu Băng Hà” có mối liên hệ với tình trạng khủng hoảng xảy ra đồng thời và rộng khắp thế giới kéo dài từ thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII. Các biến cố lịch sử như sự sụp đổ của triều đại Stuart và nội chiến Anh (1642-1660); nội chiến Fronde ở Pháp (1648-1653); chiến tranh Reaper – cuộc nổi dậy của người Catalan ở Tây Ban Nha (1640-1659); bạo loạn ở Moscow (Nga) năm 1648; các cuộc chính biến liên tiếp ở Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) vào năm 1622, 1648, 1651, 1687, 1703, 1730; nội chiến ở Mughal (Ấn Độ) năm 1658; cuộc khởi nghĩa Lý Tự Thành, sự sụp đổ của nhà Minh và việc người Mãn Thanh tiến vào Trung Nguyên (Trung Quốc) giữa thế kỷ XVII là những dẫn chứng điển hình về tình hình khủng hoảng chính trị – xã hội rộng khắp trên thế giới thời đó. Trên cơ sở này, các nhà sử học Eric Hobsbawm, Hugh Trevor-Roper, Trevor Aston, Geoffrey Parker và Lesley M. Smith đã đưa ra ý tưởng cho rằng xã hội thời bấy giờ trải qua “sự khủng hoảng chung” (The general crisis), trong đó các yếu tố khí hậu, nông nghiệp, kinh tế, nhân khẩu, chính trị và quân sự có sự liên đới với nhau. Với cách tiếp cận này, “Tiểu Băng Hà” được xem là yếu tố đã ảnh hưởng tới tình hình thiên tai, dịch bệnh, suy giảm dân số và khủng hoảng chính trị – xã hội ở nhiều nơi trên thế giới.    Sự khủng hoảng chung dưới tác động của “Tiểu Băng hà” cũng được biết tới ở khu vực Đông Nam Á. Vấn đề này đã được nhà sử học Anthony Reid đề cập trong bài viết xuất bản năm 1990. Tác động của “Tiểu Băng hà” tới khu vực Đông Nam Á được biểu hiện rõ rệt nhất qua sự suy giảm lượng mưa và gia tăng tần suất hạn hán. Cùng với sự khởi đầu của “Tiểu Băng hà”, từ cuối thế kỷ XIII đến giữa thế kỷ XV, khí hậu ở Đông Nam Á dần trở nên khô hạn hơn. Sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên chí tuyến (ITCZ) lên phía Bắc do “Tiểu Băng hà” khiến khu vực này phải hứng chịu những đợt hạn hán kéo dài và vô cùng khắc nghiệt từ thế kỷ XIV. Dựa theo phân tích chỉ số hạn hán Palmer (PDSI), các đợt hạn hán nghiêm trọng đầu tiên xảy ra vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Đáng chú ý, bán đảo Đông Dương thời kỳ này đã trải qua sự thay đổi lớn về khí hậu được gọi là “sự khô hạn chung của bán đảo Đông Dương” bắt đầu từ cuối thế kỷ XIII kéo dài đến cuối thế kỷ XV hoặc thế kỷ XVI.      Angor Wat – nơi thờ Ấn Độ giáo của đế chế Khmer tại Campuchia. Ảnh: Mike Fuchslocher / Alamy    Chịu tác động đáng kể nhất bởi các biến động khí hậu này có lẽ là nền văn minh Angkor. Những đợt hạn hán nghiêm trọng xảy ra vào thế kỷ XIV cùng với tác động của gió mùa đã làm gián đoạn hoạt động trồng trọt và đánh bắt cá của người Khmer. Hạn hán kéo dài còn làm tê liệt hệ thống thủy lợi baray, bởi hạn hán khiến nước cạn kiệt từ đó dẫn tới quá trình acid hóa và nhiễm sắt, làm hệ thống baray hoạt động không còn hiệu quả. Các thay đổi này nghiêm trọng tới mức không thể nào phục hồi được. Sự sụp đổ của mạng lưới thủy lợi dưới tác động của hạn hán kéo dài kết hợp với căng thẳng môi trường sinh thái do khai thác tài nguyên quá mức đã góp phần dẫn tới sự tàn lụi của nền văn minh Angkor. Đây là dẫn chứng điển hình cho thấy sự tàn lụi của một nền văn minh nhiệt đới dưới tác động của biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á lục địa.     Cơn ác mộng về khí hậu ở Đại Việt     “Tiểu Băng hà” cũng tác động đáng kể đến đặc điểm khí hậu và tình hình thiên tai ở Đại Việt. “Sự khô hạn chung của bán đảo Đông Dương” rất có thể đã được biểu hiện qua các đợt hạn hán xảy ra từ cuối thời Trần kéo dài đến thời Lê sơ được ghi chép trong chính sử.      Trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”, khí hậu đã tác động thường xuyên và liên tục đến các triều đại Việt Nam. Từ thời Trần đến thời Lê sơ và Lê-Trịnh, các thời điểm tuy khác nhau nhưng cách thức tác động của khí hậu có thể thấy là giống nhau: biến đổi khí hậu -> thiên tai -> nạn đói -> khủng hoảng kinh tế -> khủng hoảng chính trị – xã hội.      Từ giữa thế kỷ XIV trở đi, thời tiết Đại Việt dường như trở nên khắc nghiệt hơn và thiên tai như hạn hán bắt đầu xảy ra thường xuyên hơn. Đại Việt Sử ký Toàn thư (Toàn thư) ghi chép về hạn hán xảy ra liên tiếp trong các năm 1343, 1345, 1348, 1355, 1358, 1362, 1374, 1379, 1392 và 1393. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (Cương mục) cũng đề cập đến các đợt hạn hán xảy ra cuối thời Trần vào các năm 1355, 1358, 1362, 1374, 1379. Nếu đối chiếu với giai đoạn trước đó vào thời Lý và nửa đầu thời Trần, điều kiện tự nhiên nhìn chung tương đối thuận lợi. Trong giai đoạn 950-1300 do tác động của thời kỳ “Ấm Trung cổ” (Medieval Climate Anomaly hoặc Medieval Warm Period) lượng mưa cao đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng của nền nông nghiệp và dân số. Đối với các nền văn minh nông nghiệp lúa nước như Đại Việt, lượng mưa cao và thường xuyên là yếu tố quyết định đối với hoạt động trồng trọt, giúp cho mùa màng bội thu, góp phần dẫn tới sự cường thịnh của Đại Việt thời Lý-Trần. Giai đoạn này tuy cũng có hạn hán, nhưng tần suất không thường xuyên. Theo ghi chép của Toàn thư trong thế kỷ XI chỉ có ba lần hạn hán vào các năm 1027, 1070 và 1095, tức hạn hán xảy ra khoảng 30 đến 40 năm/lần. Tới thế kỷ XII, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn vào những năm 1120-1130 (10 lần) nhưng nửa cuối thế kỷ XII chỉ ghi nhận bốn lần hạn hán vào các năm 1150, 1165, 1188 và 1197 (tần suất hạn hán khoảng 10-20 năm/lần). Còn trong thế kỷ XIII ghi nhận sáu lần hạn hán vào các năm 1223, 1241-1242, 1268-1269 và 1289 (tần suất 20-30 năm/lần). Đầu thế kỷ XIV cũng chỉ có ba lần hạn hán vào các năm 1301, 1315 và 1324, tần suất hạn hán 10-15 năm/lần. Điều này cho thấy từ giữa thế kỷ XIV trở đi do ảnh hưởng của thời kỳ “Tiểu Băng hà”, thiên tai như hạn hán mới xảy ra thường xuyên hơn. Cương mục chép lời bàn của Ngô Thì Sĩ về tình hình thiên tai liên tiếp đời Trần Dụ Tông như sau: “Trần Dụ Tông lên ngôi đến đây mới 15 năm, đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán, một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém” (Cương mục, Chính biên, quyển X, 8). Hạn hán xảy ra thường xuyên đã góp phần dẫn tới tình trạng mất mùa và đói kém được Toàn thư và Cương mục chép vào các năm 1343, 1344, 1354, 1357, 1362 và 1379. Trong đó có thể kể tới nạn đói lớn năm 1357: “Liền mấy năm nay luôn bị mất mùa, đói kém, một thưng gạo trị giá một tiền” (Cương mục, Chính biên, quyển X, 11). Có thể nói rằng, hạn hán và nạn đói đã góp phần phác họa bức tranh khủng hoảng cuối thời Trần. Điều kiện khí hậu bất lợi và thiên tai xảy ra liên tiếp ắt hẳn đã góp phần tác động đến sự suy vong của nhà Trần.    Đến thời Lê sơ, ngay cả những năm được xem là thịnh trị nhất dưới triều vua Lê Thái Tông và Lê Thánh Tông cũng ghi nhận các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai thất thường xảy ra. Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục, trong khoảng 100 năm thời Lê sơ có 22 lần xảy ra hạn hán. Trong đó, đời Lê Thái Tông có hai lần hạn hán (các năm 1434, 1437), đời Lê Nhân Tông có ba lần hạn hán (các năm 1448, 1449, 1451), riêng đời Lê Thánh Tông có tới 12 lần hạn hán (các năm 1460, 1463, 1466, 1467, 1468, 1473, 1476, 1480, 1488, 1489, 1496 và 1497). Như vậy chỉ trong ba đời vua Lê nói trên hạn hán đã xảy ra 17/22 lần. Có thể kể tới hạn hán năm 1466-1467 kéo dài từ mùa thu đến mùa đông, khi ấy vua Lê Thánh Tông đã tự thán “Năm ngoái, từ mùa thu đến mùa đông, trời mãi không mưa, người mất hy vọng được mùa, dân lo khó khăn đói kém” (Toàn thư, Quyển XII, 26b). Hạn hán nghiêm trọng lại xảy ra thường xuyên nên đã dẫn tới mất mùa đói kém khiến đời sống người dân lầm than, khốn khổ. Thực trạng nạn đói thời Lê sơ cũng được chính sử ghi chép lại. Chẳng hạn nạn đói năm 1447 đời Lê Nhân Tông: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, thiên tai xảy ra luôn, dân chúng rất đói kém” (Toàn thư, Quyển XI, 62b). Ngoài ra còn có nạn đói các năm 1448, 1467, 1479, 1484-1485, 1490, 1492, 1512 và 1517. Trong đó có những lần xảy ra nạn đói lớn như tháng 12 năm 1492: “đói lớn, dân có người phải ăn củ nâu” (Toàn thư, Quyển XIII, 68b); năm 1517: “Năm ấy trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau” (Toàn thư, Quyển XV, 41b).      Thăng Long – Kẻ Chợ thế kỷ XVII. Thương điếm của người Anh và người Hà Lan nằm ở phía bên phải ảnh.  Do vị trí địa lý Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên sự suy giảm nhiệt độ và gia tăng giá rét bởi tác động của “Tiểu Băng hà” không mạnh mẽ và rõ rệt bằng lục địa Trung Hoa. Mặc dù vậy, hiện tượng đóng băng vẫn được sử sách ghi chép. Ngoài Toàn thư, Cương mục cũng chép: “Có băng. Rét quá, mặt đất đóng băng, cây cối trên núi héo chết” với lời phê “Lạ!” (Cương mục, Chính biên, quyển XVI, 20). Đối với các quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa như Việt Nam sương giá hay băng tuyết có thể xuất hiện vào mùa đông ở những khu vực núi cao, tuy nhiên nước đóng băng lại là hiện tượng rất hiếm gặp. Do vậy, lời phê của Cương mục về hiện tượng này là lạ cho thấy rằng đó là hiện tượng chưa từng xảy ra hoặc không được biết tới và ghi chép trước đó. Theo ghi chép của Cương mục trong năm 1434 còn xuất hiện sương sa và mù sa dày đặc (Cương mục, Chính biên, XVI, 11-12). Các hiện tượng thời tiết bất thường xảy ra vào năm 1434 cũng trùng hợp với thời gian khởi đầu của cực tiểu Spörer trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”. Niên giám về khí tượng thủy văn cho biết vào đời Lê Nhân Tông, ngay ở kinh thành Thăng Long (Đông Kinh) mặt nước ao hồ đều đóng băng, hồ Hoàn Kiếm cũng phủ một lớp băng. Đó là hiện tượng chưa từng có trong nhiều thế kỷ gần đây (Nguyễn Xuân Tửu, 1983: 62). Trên cơ sở này có thể suy đoán được tác động đáng kể của “Tiểu Băng hà” đối với Đại Việt thời Lê sơ. Áp lực thiên tai do biến đổi khí hậu dưới tác động của “Tiểu Băng hà” đã bao trùm và góp phần làm suy giảm sự hưng thịnh của triều Lê sơ.    Sang thời Lê-Trịnh, những tác động diễn tiếp của “Tiểu Băng hà” và hiện tượng El Nino đã gây ra cơn ác mộng về khí hậu mà Đàng Ngoài phải hứng chịu trong suốt ba thế kỷ, kéo dài từ những năm 1500 đến những năm 1700. Dựa theo chỉ số hạn hán Palmer (PDSI), trong tám thế kỷ có 40 năm khô hạn nhất thì thời Lê-Trịnh có tới 10 năm. Dữ liệu khí hậu thủy văn trong 650 năm dựa trên phân tích giá trị δ18O của carbonate nước hồ Ao Tiên, Bắc Việt Nam cũng xác định các đợt hạn hán nghiêm trọng xảy ra lần lượt vào nửa đầu thế kỷ XVII, cuối thế kỷ XVII và nửa sau thế kỷ XVIII. Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục vào thời Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài có 32 lần xảy ra hạn hán, trong đó chỉ riêng thế kỷ XVIII ghi nhận tới 19 trận hạn hán. Những năm 1598-1599, 1668-1669, 1670, 1712-1713, 1714, 1758-1759, 1761, 1767-1768 và 1776-1778 đều liên tiếp xảy ra hạn hán. Đáng kể vào thế kỷ XVIII, Đại Việt trải qua các đợt “hạn hán đa tầng” kéo dài cùng lúc với “hạn hán song song dị thường” xảy ra ở các nước láng giềng. Các đợt siêu hạn hán xảy ra đồng thời đã góp phần dẫn tới sự khủng hoảng và sụp đổ của một loạt nhà nước Đông Nam Á lục địa vào cuối thế kỷ XVIII gồm Ayutthaya (1767), Nguyễn Đàng Trong (1777) và Trịnh Đàng Ngoài (1786). Ở Đàng Ngoài, các đợt “hạn hán đa tầng” bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1745 và kéo dài trong gần 30 năm.  Cương mục đã phản ánh tình trạng hạn hán nghiêm trọng vào nửa sau thế kỷ XVIII với 12 trận hạn hán liên tiếp được ghi nhận vào các năm 1753, 1755, 1758, 1759, 1761, 1764, 1765, 1767, 1768, 1773, 1776 và 1778. Bên cạnh hạn hán, thiên tai thời Lê-Trịnh còn bao gồm bão lụt (thủy tai). Thời Lê-Trịnh ghi nhận 9/40 năm ẩm ướt nhất, trong đó chủ yếu là vào thế kỷ XVII. Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục trong hai thế kỷ XVII và XVIII có 30 lần xảy ra bão lụt, riêng thế kỷ XVII có tới 20 lần.    Các thiên tai như hạn hán và bão lụt xảy ra thường xuyên dẫn tới nạn đói nghiêm trọng. Theo ghi chép của Toàn thư và Cương mục trong hai thế kỷ XVII và XVIII có 29 lần xảy ra nạn đói, riêng thế kỷ XVIII có tới 21 lần. Đáng kể, từ giữa thế kỷ XVIII trở đi cùng với tác động của các đợt hạn hán đa tầng thì tần suất xảy ra nạn đói cũng thường xuyên hơn, cứ 2-3 năm lại có nạn đói. Lại có những năm nạn đói liên tiếp xảy ra như nạn đói các năm 1741-1742, 1753-1754, 1776-1777 và 1778. Mất mùa đói kém và các nguyên nhân khác như tình trạng chiếm đoạt ruộng đất, sưu cao thuế nặng đã góp phần dẫn tới hiện tượng làng xã phiêu tán. Vào khoảng năm 1750, ở bốn trấn Đàng Ngoài có 1076/9668 xã phiêu tán (tỷ lệ 11,1%), ở trấn Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) có 297/1393 xã phiêu tán (tỷ lệ 21,3%) còn ở trấn Nghệ An có 115/706 xã phiêu tán (tỷ lệ 16,3%). Hệ lụy tiếp theo là hàng loạt các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy diễn ra ở khắp Đàng Ngoài kéo dài suốt 40 năm của thế kỷ XVIII khiến tình hình xã hội Đàng Ngoài càng trở nên rối ren khủng hoảng. Thiên tai do biến đổi khí hậu đã lấn át cả hệ thống xã hội ở Đàng Ngoài.     Bàn tay thúc đẩy các triều đại suy vong?     Những phân tích nêu trên chỉ là góc nhìn nhỏ trong lăng kính lớn hơn về tác động của khí hậu tới các xã hội và các nền văn minh trong lịch sử. Mặc dù chỉ là yếu tố bên ngoài đóng vai trò hoàn cảnh nhưng khí hậu đã không ngừng tác động tới xã hội loài người bằng những cách thức khác nhau hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong thời kỳ “Tiểu Băng hà”, khí hậu đã tác động thường xuyên và liên tục đến các triều đại Việt Nam. Từ thời Trần đến thời Lê sơ và Lê-Trịnh, các thời điểm tuy khác nhau nhưng cách thức tác động của khí hậu có thể thấy là giống nhau: biến đổi khí hậu -> thiên tai -> nạn đói -> khủng hoảng kinh tế -> khủng hoảng chính trị – xã hội. Với cách tiếp cận của lịch sử khí hậu học có thể thấy sự hưng thịnh và suy vong của các triều đại trong lịch sử không chỉ nằm ở “mệnh trời” mà còn nằm ở khía cạnh khí hậu. Sự hưng suy của các triều đại theo đó cũng nằm trong quy luật diễn tiến của khí hậu. Hẳn nhiên khí hậu không thể là yếu tố duy nhất có thể quyết định đến vận mệnh của các xã hội và các triều đại, song có thể làm cho khủng hoảng diễn ra trầm trọng hơn. Thông thường, vào lúc các triều đại cường thịnh tuy biến đổi khí hậu và thiên tai xảy ra nhưng với chính sách quản lý và ứng phó thiên tai hiệu quả thì các triều đại vẫn có thể duy trì được sự ổn định. Đến khi triều đại suy vong, đồng thời trùng hợp với thời kỳ thiên tai và khí hậu bất thường xảy ra thì nền tảng của các triều đại ắt hẳn bị lung lay. Vào cuối mỗi triều đại, chính sự thường trở nên suy thoái và đổ nát, bộ máy hành chính quan liêu, vua quan lơ là và xem thường kỷ cương phép nước, lại xảy ra tình trạng tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị. Trong bối cảnh này, khi thiên tai xảy ra nhưng năng lực quản trị và ứng phó với thiên tai của triều đình kém hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai thì tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và thiên tai đối với xã hội càng rõ rệt. Cùng với xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì ứng phó thiên tai cũng là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước và các triều đại trong lịch sử. Khi các triều đại thất bại trong ứng phó thiên tai, không thích nghi với điều kiện khí hậu và thiên tai khắc nghiệt, tức mất đi chức năng cơ bản vốn có thì vai trò lịch sử của triều đại đó cũng không còn phù hợp nữa. Đó là lúc yếu tố khí hậu và thiên tai cộng hợp với những yếu tố nội sinh nêu trên góp phần làm cho khủng hoảng diễn ra trầm trọng hơn, dẫn tới sự diệt vong của các triều đại. Quy luật này được phản ánh khá rõ nét qua quá trình tác động của khí hậu và thiên tai tới các triều đại trong lịch sử Việt Nam. Đầu thời Lê sơ, vào những năm trị vì của Lê Thái Tông và Lê Thánh Tông, tuy thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra liên tiếp nhưng nhờ các biện pháp ứng phó hiệu quả nên tác động tiêu cực của thiên tai đã được giảm bớt, đất nước vì vậy vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển.  Trong khi đó vào cuối thời nhà Trần, cuối thời Lê sơ cũng như cuối thời Lê-Trịnh khi thiên tai liên tiếp xảy ra nhưng triều đình lại không có những biện pháp khắc phục hậu quả kịp thời và phòng chống thiên tai hiệu quả thì sự khủng hoảng dẫn tới sụp đổ diễn ra rất nhanh chóng. Như vào cuối thời Trần, từ khi thiên tai liên tiếp xảy ra giữa thế kỷ XIV đến lúc triều đại này diệt vong khoảng 50 năm. Còn với thời Lê sơ và Lê-Trịnh thì quá trình sụp đổ còn nhanh hơn nữa, chỉ mất khoảng 30-40 năm. Tóm lại, sự phát triển cũng như suy vong và sụp đổ của các xã hội, các nền văn minh và các triều đại trong lịch sử đều ít nhiều có sự liên hệ với yếu tố khí hậu. Do đó, “khí hậu thường được các nhà sử học sử dụng như là cách để giải thích những hiện tượng mà họ không thể lý giải được bằng các cách khác”. □  —-  Tài liệu tham khảo:  1. Anthony Reid (1990), “The Seventeenth-Century Crisis in Southeast Asia”, Modern Asian Studies, 24:4, 639-659.  2. Barbaros Gönençgil – Güneyi Vural (2016), “Çevre Tarihi Açısından Küçük Buzul Çağı ve Sosyal Etkileri”, TÜCAUM Uluslararası Coğrafya Sempozyumu, Ankara, 10-25.  3. François E. Matthes (1939), “Report of the Committee on Glaciers”, Transactions of the American Geophysical Uninon 20, 518-523.  4. Geoffrey Parker (2013), Global Crisis: War, Climate Change and Catastrophe in the Seventeenth Century, New Heaven and London: Yale University Press.  5. Jeffrey Mazo (2009), “Climate and History”, The Adelphi Papers, 49:409, 43-72.  6. Joëlle Gergis – Anthony M. Fowler (2009), “A History of ENSO Events since A.D. 1525: Implications for Future Climate Change”, Climatic Change, 92, 343-378.  7. Lora R. Stevens – Brendan M. Buckley – Sung Kim – Pam Hill – Kelsey Doiron (2018), “Increased Effective Moisure in Northern Vietnam during the Little Ice Age”, Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology, Vol. 511, 449-461.  8. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt Sử ký Toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  9. Nguyễn Xuân Tửu (1983), “Bước đầu tìm hiểu về biến động khí hậu ở nước ta trong lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 6 (213), 60-63.  10. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  11. Victor Lieberman – Brendan Buckley (2012), “The Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-1820: New Findings”, Modern Asian Studies, 46:5, 1049-1096.  12. Victor Lieberman (2003), Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, Vol. 1, New York: Cambridge University Press.  13. William S. Atwell (2001), “Volcanism and Short-Term Climate Change in East Asian and World History, c. 1200-1699”, Journal of World History, 12:1, 29-98.    Author                Lư Vĩ An        
__label__tiasang Thói quen hình thành như thế nào?      Tất cả những sự th&#224;nh thạo trong cuộc sống m&#224; ch&#250;ng ta c&#243; được l&#224; từ đ&#226;u? Việc x&#225;c định được nguồn gốc của c&#225;c th&#243;i quen cho ph&#233;p ch&#250;ng ta ph&#225;t triển những&nbsp; kỹ thuật học tập mới cho bệnh nh&#226;n về tr&#237; nhớ.    Một ngày dài trôi qua, với những công việc mệt mỏi. Chiều tối, chiếc xe của bạn lại đưa bạn trở lại con đường về nhà. Và bạn lái xe về nhà trên con đường quen thuộc như để ở chế độ lái tự động. Bạn chẳng hề nhớ những lúc bạn mới học lái xe, càng không nhớ tới thời điểm đầu tiên bạn đã đi trên con đường này. Nhưng việc lái xe của bạn hoàn toàn chẳng có khó khăn gì.Những cơ chế tự động như vật thường được chi phối bởi một trí nhớ gọi là “trí nhớ tiến trình” do các dây thần kinh tạo ra. Hiện, trí nhớ này đang là đối tượng của nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau. Những nghiên cứu cho con người hiểu biết hơn về các cơ chế liên quan tới chức năng của trí nhớ tiến trình, và biết thêm nhiều hơn nữa cả các loại trí nhớ khác, thí dụ trí nhớ sự kiện hoặc trí nhớ tình huống.  Bergson, người khởi xướng               Trong thí nghiệm “Hành trình Toronto” được thực hiện tại Đại học Caen, những người tham gia đã phát hiện và tạo ra được cơ chế tự động nhờ việc thực hành rất nhiều.         Trí nhớ tiến trình thực ra đã là đề tài của các nhà triết học, trong đó phải kể đến Henri Bergson, người đã nhắc tới tên của loại trí nhớ này trong tác phẩm “Chất liệu và Trí nhớ”, xuất bản từ năm 1896. Bergson không chỉ là người đầu tiên quan tâm tới trí nhớ dưới hình thức tạo ra các lý thuyết nhận thức hiện đại. René Descartes, Pierre Maine de Biran và Théodule Ribot là những người đề cập tới nó trước cả ông. Nhưng, đối với tất cả các nhà tâm lý học quan tâm tới chức năng tâm lý này, việc đọc tác phẩm “Chất liệu và Trí nhớ” luôn là một điều thú vị.“Quá khứ biểu hiện ở hai hình dạng khác nhau: Trong các cơ chế thúc đẩy và trong các kỷ niệm độc lập”. Cái định đề mà Bergson đưa ra đã cho thấy có hai loại trí nhớ với đặc tính tự nhiên khác nhau và hoàn toàn phù hợp với các mô hình hiện nay trong cấu trúc trí nhớ của con người. Cái khác biệt này thực ra lại liên quan tới một khác biệt khác được hình thành từ năm 1980, đã được Neal Cohen và Larry Squire (ĐH California) tìm ra. Trong khi chỉ ra rằng các bệnh nhân về trí nhớ có thể học một cách đọc mới mà không cần nhớ tới các buổi học ra sao, các nhà nghiên cứu đã phân biệt được giữa trí nhớ tuyên bố – loại trí nhớ về “hiểu tại sao” với trí nhớ tiến trình – trí nhớ về cách “hiểu thế nào”.Trí nhớ tuyên bố cho phép chúng ta nhận biết các chi tiết – một loại trí nhớ tình tiết và những sự kiện-trí nhớ ngữ nghĩa. Trí nhớ tình tiết bao gồm những kỷ niệm về cuộc đời của chúng ta, thí dụ một tai nạn ô tô, những lần hẹn hò đầu tiên với người yêu… Còn trí nhớ ngữ nghĩa lại lưu trữ tất cả những gì chúng ta đã học trong suốt cuộc đời: Một thực đơn làm bếp, một trận chiến ác liệt…Trí nhớ tiến trình tương ứng với việc lưu trữ tất cả những gì mà chúng ta đã làm và trở nên thành thạo, biểu hiện bởi các tiến trình nhận thức và động cơ được mã hóa trong tâm trí. Chúng không thể tiếp cận bằng sự nhận thức và khó có thể nói ra được bằng lời. Nó cho phép chúng ta hoàn thành một cách tự động các công việc liên quan tới những hoạt động của thân thể, lời nói hoặc thói quen hằng ngày. Đó là một dạng trí nhớ được biểu đạt bằng hành động.Khả năng học được các cơ chế tự động mới của những người bệnh về trí nhớ cũng đã được kiểm nghiệm qua các công việc có động cơ khác nhau. Bên cạnh việc học các cơ chế tự động mới, các bệnh nhân về trí nhớ cũng thường vẫn giữ được tất cả các cơ chế tự động cũ mà họ đã có: Thí dụ như lái xe, các bài tập thể dục, các phép tính hoặc chơi các trò quen thuộc.Tuy vậy, dường như việc học các cơ chế tự động mới khó hơn đối với các bệnh nhân bị bệnh liên quan tới trí nhớ phụ. Điều này đã được các nhà khoa học Alan Baddeley và Barbara Wilson (ĐH Cambridge) phát hiện ra vào năm 1994 [1].Họ đã đề nghị hai bệnh nhân về trí nhớ học cách sử dụng một cuốn lịch điện tử để giúp họ lấp đầy các khoảng trống ký ức trong quá khứ, hướng về quá khứ và quản lý tốt hơn các lịch hẹn của họ trong tương lai. Ngược lại với kỳ vọng, hai bệnh nhân trên không có khả năng học cơ chế tự động mới này. Họ luôn phạm phải những sai lầm ngay từ những bước đầu tiên của tiến trình. Thậm chí ngay trong lần thử sau đó, họ vẫn tiếp tục mắc những sai lầm như cũ. Thực tế là cả hai bệnh nhân đều quên đi những lỗi mà họ mắc phải và quên cả những giải pháp để sửa những lỗi lầm đó mà các nhà khoa học đã đưa ra giúp họ. Quan sát này đã dẫn tới việc xem xét lại vai trò của trí nhớ phụ trong việc học các thói quen mới cho nhận thức.  Giai đoạn quá độNhững công trình được tiến hành trong năm 2006 trong phòng thí nghiệm của chúng tôi trên một số người trẻ tuổi không mắc bệnh gì về trí nhớ đã chỉ ra rằng việc học một thói quen nhận thức mới có tính chất hấp thụ theo từng đợt [2].Mục tiêu của chúng tôi là nghiên cứu vai trò của một số chức năng nhận thức trong quá trình giải mã một hành động trong trí nhớ tiến trình, nhờ một loại các kinh nghiệm thu được trên những người khỏe mạnh mà chúng tôi đã đề nghị tự động hóa cách lời giải bài toán “Hành trình Toronto”.                Học đi xe đạp là cả một tiến trình tuần tự     Câu chuyện đi xe đạpTừ khi còn là đứa trẻ, chúng ta học đi xe đạp theo một tiến trình: Đầu tiên là đi xe đạp trẻ con 3 bánh, rồi đi xe đạp hai bánh với sự giúp đỡ của người lớn, rồi mới tự đi được (sau những cú ngã trầy xước chân tay).Sau một thời gian tích lũy khá dài những kinh nghiệm, chúng ta trở thành các “chuyên gia”. Việc thu nạp kinh nghiệm này chắc chắn chẳng được ghi nhớ trong trí nhớ tiến trình của chúng ta. Nhưng quá trình tự động hóa liên quan tới việc đi xe đạp này nhanh chóng sẽ được tái khởi động khi chúng ta leo lên chiếc xe đạp, cho dù bạn đã không đi xe vài năm liền. Việc học các tiến trình động cơ này diễn ra trong 3 giai đoạn (nhận thức, kết hợp và tự động). Chỉ có giai đoạn sau cùng được ghi nhận trong trí nhớ tiến trình của bạn. Vì vậy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể leo lên xe đạp và đi nếu trước đó chúng ta chưa làm chủ được chiếc xe đạp, hay nói một cách khác là chưa lưu trữ các thông tin cần thiết trong trí nhớ tiến trình để giải mã chúng sau này khi cần sử dụng đến.          Ba chiếc cọc được đặt trên một nền hình chữ nhật. Trên chiếc cọc phía trái, người ta đặt chồng lên nhau 4 chiếc đĩa có màu sắc khác nhau: 1 màu đỏ, 1 màu đen, 1 màu vàng và 1 màu trắng. Chiếc đĩa màu sẫm nhất được đặt ở dưới cùng, và chiếc màu nhạt nhất đặt ở trên. Bài tập là cách làm y hệt đối với chiếc cọc bên phải trong khi phải theo hai nguyên tắc: Chỉ được thay đổi vị trí mỗi chiếc đĩa một lần và không bao giờ được đặt 1 chiếc đĩa sẫm màu lên trên chiếc đĩa sáng màu. Mục tiêu: Với đối tượng thử nghiệm là khám phá và tự động hóa tiến trình giải quyết bài toán bằng cách khám phá và tự động hóa tiến trình bài giải nhờ bằng việc thực hành. Chúng tôi cũng đã chứng minh được rằng việc học được mỗi tiến trình thường phải qua 3 giai đoạn khác nhau: Một giai đoạn nhận thức, một giai đoạn kết hợp và một giai đoạn tự đánh giá.Trong giai đoạn đầu tiên, người tham gia khám phá ra rằng họ cần phải học: Anh ta mò mẫm và mắc phải những lỗi. Rồi đến giai đoạn kết hợp, giai đoạn quá độ trong đó anh ta bắt đầu làm chủ được nhiệm vụ phải thực hiện, nhưng đây cũng chưa phải là lúc lời giải đã được tự động hóa. Cuối cùng, trong giai đoạn thứ ba, những động tác thực hiện đã dẫn tới sự tự động hóa và đạt tới mức độ hiệu quả tối đa.  Những lỗi lầm đã quaKiểm tra sự tương quan giữa trình độ hiệu năng của những người tham dự thí nghiệm qua các giai đoạn khác nhau của bài toán “Hành trình Toronto” và kết quả thu được từ nhiều thực nghiệm khác nhau cho phép xác định sự đóng góp của mỗi một chức năng này qua việc học tiến trình. Các phân tích này chỉ ra rằng những người tham gia thí nghiệm đưa ra tiến trình tự động hóa lời giải một cách nhanh nhất cũng chính là những người có trí nhớ phụ tốt nhất.Chúng tôi cũng đã nhận thấy rằng trí nhớ tiến trình chỉ tự hoạt động khi có một tiến trình thực sự đã được tự động hóa. Ngược lại, hai giai đoạn đầu tiên của quá trình học hỏi đã đòi hỏi sự can thiệp của các hình thức trí nhớ khác: Trí nhớ phụ và trí nhớ làm việc. Việc cầu viện tới trí nhớ phụ cho phép nhớ tới các lỗi lầm trong quá khứ nhưng bản thân trí nhớ phụ không thể tái tạo lại được nguyên nhân tại sao gây ra những lỗi lầm đó. Còn trí nhớ làm việc thì lại là một ghi nhận ngắn hạn cho phép người ta nhìn lại toàn bộ tiến trình trong đó có mỗi công đoạn cần thực hiện.Trước một máy rút tiền tự động, tâm thức của người sử dụng tùy thuộc vào việc rút tiền như thế nào trong lần đầu tiên, với một mã số. Lúc đó, chúng ta rất tập trung. Chúng ta phải nhờ tới bộ nhớ phụ để ghi nhớ mã số thẻ tín dụng và cố tránh mắc phải những sai lầm, nếu không chiếc thẻ tín dụng sẽ bị chiếc máy rút tiền nuốt mất. Nhờ việc sử dụng  thẻ ngày càng nhiều, chúng ta ngày càng dễ nhớ tới mã số của thẻ. Rồi chúng ta sẽ tới giai đoạn tự động, trong đó việc bấm mã số là một hành động gần như bản năng, theo cơ chế tự động. Chúng ta chẳng cần phải tập trung nhiều để nhớ tới mã số của thẻ tín dụng nữa bởi vì các ngón tay của chúng ta sẽ làm thay việc này, theo một cơ chế tự động.  Thùy não trướcSự năng động này liên quan tới một thực thể của não bộ. Năm 2007, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng mỗi một giai đoạn trong ba giai đoạn liên quan tới khu vực não đặc trưng [3]. Giai đoạn đầu tiên được hình thành bởi sự hoạt động của thùy não trước, liên quan tới chức năng của trí nhớ phụ và khả năng giải quyết các vấn đề nảy sinh của chúng ta. Người ta quan sát một sự thay đổi tịnh tiến của tiến trình này về các khu vực phía trước: Tiểu não, hạch thần kinh** và đồi não. Sự mất thăng bằng giải thích tại sao các cơ chế tự động của chúng ta lại khó có thể diễn tả được bằng lời đến thế. Trở lại thí dụ về chiếc máy rút tiền tự động. Lúc đầu, chúng ta ghi nhớ mã số bằng trí nhớ phụ để có thể bấm các nút tương ứng với mã số khi rút tiền. Nhưng sau do sử dụng nhiều, các thông tin này được chuyển thành một chương trình có động cơ, và lần này được nhớ trong bộ nhớ tiến trình. Nói một cách khác, các khu vực phía trước não của chúng ta sẽ làm việc ngày càng ít đi trong khi các bộ phận não phía sau lại tiếp nhận nhiệm vụ này. Nhưng điều này sẽ lại làm khó cho chúng ta nếu khi nào đó buộc phải nhớ tới mã số: Một khi thông tin được chuyển hóa và lưu trữ trong các cấu trúc não, dấu vết lưu trong vùng não trước ít được tiếp cận bởi nó được cho là ít quan trọng. Chúng ta biết được mã số nhưng lại khó có thể diễn đạt thành lời… Tất cả đơn giản bởi thông tin dễ tiếp cận nhất lại không nằm ở chỗ chúng ta tìm kiếm: Nó được lưu ở khu vực não không cho phép biến chuyển thành lời. Rất may, chỉ cần tập trung một chút, chúng ta sẽ huy động được thùy não trước để có thể “đọc” lại được các số mật mã nhờ các thao tác bấm mà chúng ta đã quá quen, và như vậy, chúng ta lại tiếp cận được mã số bí mật được giấu trong một xó xỉnh nào đó của trí nhớ phụ.  Học không mắc lỗi         Trí nhớ phụ lưu trữ mã số thẻ tín dụng nhưng các thao tác hằng ngày lại được lưu bởi trí nhớ tiến trình  Những bài thử cho trí nhớTốt nhất là qua một kỳ thi hơn là cứ miệt mài học mãi. Theo một nghiên cứu ở Mỹ được tiến hành trong năm 2006*, việc đánh giá các kiến thức sau một khóa học bằng cách yêu cầu trả lời các câu hỏi có một tác động kép rất rõ ràng. Khi phải trải qua kỳ thi lần thứ 2, người ta cảm thấy thu nhận được tốt hơn các thông tin không chỉ từ các câu hỏi đã đưa ra trong kỳ thi thứ nhất, mà ít nhất trong cả các thông tin (kiến thức) không được đề cập tới trong các câu hỏi. Để có được nhận định này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thực nghiệm bằng cách đưa cho các sinh viên tâm lý một bài khóa trong một lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với họ, thí dụ về Vụ nổ lớn chẳng hạn. Họ chia số sinh viên ra làm ba nhóm: một nhóm cho làm ngay bài test về chủ đề đó, nhóm thứ hai được cung cấp các thông tin phụ liên quan tới chủ đề và nhóm thứ ba cho tự do tìm hiểu. Sáng hôm sau, cả ba nhóm phải làm bài kiểm tra. Kết quả là những sinh viên ở nhóm thứ nhất (trước đó đã phải làm bài kiểm tra về chủ đề này) có kết quả điểm kiểm tra trung bình khá hơn so với các sinh viên khác.* C. K. Chan et al., Journal of Experimental Psychology: General, 135, 553, 2006.        Vai trò của trí nhớ phụ cũng như khu vực não phía trước giữ trong giai đoạn ghi nhận thông tin đầu tiên giải thích tại sao một số bệnh nhân về trí nhớ cũng như bất cứ người nào có trục trặc về trí nhớ phụ lại thường gặp những khó khăn trong việc học hành. Những khó khăn này dẫn tới việc học theo tiến trình chậm hơn như điều mà các nghiên cứu gần đây về người già [4] hoặc những người nghiện rượu [5] đã chứng minh được. Đó là việc không thể áp dụng các cơ chế tự động mới về mặt nhận thức cho một số bệnh nhân về trí nhớ [6].Do việc học đối với các bệnh nhân về trí nhớ là rất khó khăn cũng như những người này chỉ có thể ghi nhận thông tin bằng trí nhớ tiến trình, người ta đã nghĩ ra và thử nghiệm nhiều phương pháp ghi nhận thông tin mới cho phù hợp hơn với các bệnh nhân. Trong số đó, kỹ thuật học mà không mắc lỗi tỏ ra hiệu quả nhất [7]. Nguyên lý của kỹ thuật này cũng khá đơn giản: Nếu những bệnh nhân, do thiếu hụt về khả năng nhớ phụ, mà không thể sửa được những lỗi mắc phải trong quá trình học, họ sẽ được học trong những điều kiện mà chắc chắn họ sẽ không mắc phải các lỗi như thế.Thí dụ, để giúp đỡ một bệnh nhân mắc bệnh về trí nhớ nhớ được mã PIN (mã số bí mật cá nhân) điện thoại di động của anh ta, cần có người luôn nhắc anh ta mã PIN này trong 50 lần sử dụng đầu tiên. Nhờ sử dụng nhiều lần, ta sẽ nhớ được mã PIN này trên các phím bấm của điện thoại. Ngược lại, anh ta chắc chắn sẽ không nhớ được mã PIN đó nếu không sử dụng bằng cách bấm các phím trên điện thoại. Kỹ thuật này chắc chắn sẽ còn phải được phát triển và nhân rộng nhưng nó đã chứng tỏ hiệu quả ở cả những người học cách sử dụng các lịch điện tử cá nhân ở những người bị chấn thương sọ não [8] cũng như việc tái khởi động lại các thói quen cũ vốn bị rơi rụng đi ở các bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer (thoái hóa não gây suy giảm trí nhớ) [9].    Hoàng An dịch———–* Hélène Beaunieux làm việc tại Bộ phận nghiên cứu tâm lý học thần kinh và phẫu thuật thần kinh chức năng thuộc Inserm, Caen (Pháp). helene.beaunieux@unicaen.fr** Hạch thần kinh cơ bản được hình thành từ một tập hợp các cấu trúc thần kinh nằm sâu dưới lớp vỏ não.  1 A. Baddeleyand B. Wilson, Neutropsychologia, 32, 53, 19942 H. Beaunieux et al., Memory, 14, 521, 20063 V. Hubert et al., Human Brain Mapping, 28, 1415, 20074 V. Hubert et al., Human Brain Mapping , 30, 1374, 20095 A. Pitel et al., Alcoholism, Clinical an Experimental Reseach, 31, 238, 20076 B. Wilson et al., Neuropsychological Rahabilitation, 4, 307, 1994; A. Pitel et al, Brain Injury, 20, 1099, 20067 B. Wilson et al., Neuropsychological Rahabilitation, 4, 307, 19948 A. Pitel et al, Brain Injury, 20, 1099, 20069 S. Adam et al. (dir.), La Rééducation neuropsychologique en 2008, Solal 2009      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông điệp từ cánh rừng trong “thung sụt”      Từ hàng ngàn năm trước, rừng ngập mặn ở những “thung sụt” (doline) tại Ninh Bình đã là nơi chở che, bao bọc những cư dân của nền văn hóa Đa Bút. Nếu thiếu đi tuyến phòng hộ tự nhiên vững chắc và độc đáo ấy, ắt hẳn họ sẽ buộc phải đấu tranh sinh tồn theo cách khác và có thể, lịch sử sẽ được ghi theo những dòng khác…       Các nhà khảo cổ lấy mẫu. Nguồn: T. Kahlert/SUNASIA.  Đó là câu chuyện xảy ra trong thời đại Đồ Đá mới, khi những tổ tiên tiền sử của chúng ta lựa chọn cuộc sống nơi hang động và khám phá thế giới tự nhiên cũng như tìm nguồn sống cho mình bằng những hiểu biết hết sức sơ khai. Lúc đó, những cánh rừng xung quanh những hang động này như thế nào? Họ có dễ dàng tìm được thức ăn? Họ đã phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt như hạn hán, lụt lội như thế nào? Nếu thử suy ra từ những hiện tượng khí hậu cực đoan mà chúng ta vẫn phải chứng kiến ngày nay, chắc hẳn chúng ta thấy choáng váng cho sức chống chịu của một cộng đồng… Hàng ngàn năm đã trôi qua, tất cả sẽ chỉ là suy đoán vu vơ, nếu không dựa vào bằng chứng khoa học.  Với câu hỏi như vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hương (Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) và các đồng nghiệp Việt Nam, quốc tế đã áp dụng những kỹ thuật phân tích phấn hoa học (Pollen analysis) – một phương pháp khoa học có thể tiết lộ bằng chứng về những biến đổi sinh thái và khí hậu trong quá khứ từ những mẫu vật siêu nhỏ như bụi, phấn hoa, bào tử… trong trầm tích, phân tích mẫu vật hóa thạch trong hang động cùng những trầm tích khác. Kết hợp với thông tin từ những vết thủy triều ăn mòn trên đá vôi ở khu vực xung quanh, họ đã phục dựng được phần nào bối cảnh thiên nhiên thời kỳ Holocene và cách cư dân tiền sử tận dụng món quà trời ban này để sinh tồn. Kết quả được các nhà khoa học công bố trong “Holocene development and human use of mangroves and limestone forest at an ancient hong lagoon in the Tràng An karst, Ninh Binh, Vietnam” (Sự phát triển của Thế Holocene và việc sử dụng các cây ngập mặn và rừng trên núi đá vôi của con người tại một vũng sụt cổ đại của hang karst Tràng An, Ninh Bình, Việt Nam) xuất bản trên tạp chí Quaternary Science Reviews.   Hình thành rừng ngập mặn   Nếu nói về thời kỳ Holocene sớm, thời kỳ khởi nguồn của tất cả các nền văn minh trên Trái đất này, thì các nhà khảo cổ thường nói đến sự hình thành của những cánh đồng ven biển và sự trải rộng của những cánh rừng ngập mặn. Điều đó cũng đúng với nơi mà ngày nay chúng ta gọi là đồng bằng sông Hồng và cụ thể là Ninh Bình, nơi những nhân vật chính của câu chuyện huyền thoại này sinh sống.       Những kết quả thu được từ phân tích hóa thạch cho thấy, người tiền sử ở Hang Mòi không chỉ tận dụng các loài cây làm lương thực và chất đốt mà còn những sản vật khác của tự nhiên ở rừng và vùng đất ngập nước ở Vụng Thắm. Từ đó, các nhà nghiên cứu cho rằng, những người sống ở Hang Mòi thuộc về văn hóa Đa Bút.      Địa điểm mà các nhà nghiên cứu lựa chọn để tìm hiểu mối quan hệ giữa những người tiền sử và thiên nhiên là Vụng Thắm, một “thung sụt” ngập nước rộng hơn 20 ha, và Hang Mòi, hang động duy nhất trong 30 di chỉ khảo cổ ở Tràng An nằm trong khuôn viên Vụng Thắm. Tại sao lại hang karst và thung sụt? Điểm khác biệt của Ninh Bình so với nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Hồng chính là ở chỗ nó có một hệ thống núi đá vôi và một hệ thống hang động karst (kết quả của hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị xói mòn do khí carbon dioxide trong không khí hòa tan vào nước, cộng với các ion dương của hydro tạo thành acid carbonic). Theo thời gian, sự tương tác của tự nhiên không chỉ có các hang karst hình thành mà còn có cả các thung sụt (doline karst) – những thung lũng kín mà đáy có đường dẫn đến các hang karst ngầm dẫn nước dưới mặt đất.  Hang Mòi và Vụng Thắm nằm ở giữa những khối núi đá vôi. Bản chất của những khối núi này là bị cô lập như những hòn đảo, thường có lớp đất mỏng, nghèo dinh dưỡng và những phiến đá tạo ra một chuỗi những vi môi trường phù hợp cho sự sống của đông đảo các loại thực vật có hoa. Ở phía dưới các thung lũng và các sườn dốc thoải là nơi của những khu rừng lá rộng, chủ yếu là cây họ nhiệt đới. Chúng bao gồm các cây họ đậu, dâu tằm, bầu bí, đào lộn hột, xoan, bồ hòn, cẩm quỳ, thị, hồng xiêm… Ngược lại, ở những rìa sườn núi dốc, nơi không gian thông thoáng hơn, thường có kiểu rừng đan xen với những cây có khả năng thích nghi với hạn hán và lá rụng như cây thuộc lớp tuế, họ thông tre cũng như thảo mộc họ lan, họ tầm ma, họ thượng tiễn, thu hải đường và họ ráy…    Vào thời kỳ giữa Holocene, những kết quả phân tích phấn hoa học cho thấy những thảm rừng ngập mặn ven biển phát triển, xâm chiếm phần lớn diện tích thung sụt do sự biến động của mực nước biển. Các nhà nghiên cứu phán đoán là có khả năng là chúng xuất phát từ hạt giống ở những khu rừng ngập mặn rộng lớn hơn trên các bãi triều bên ngoài theo triều cường. Sự biến động của mực nước biển, hiện tượng bồi lắng của các bãi triều khiến Vụng Thắm hoàn toàn tách biệt với biển và làm thảm thực vật rừng nơi này cũng phát triển cách biệt với bên ngoài. Dữ liệu thu được từ các vết để lại cho thấy toàn bộ thung sụt này từng ngập khoảng 3,3 mét nước. Có thể, đó là nước từ các đường nước ngầm kết nối với tầng ngậm nước bên dưới. Bằng chứng vi hóa thạch cho thấy sự hiện diện trong quá khứ của rừng ngập mặn ngụ ý về mối liên hệ thủy văn của ở Vụng Thắm với biển trong thời gian mực nước biển cao hơn từ trước đó.    Vị trí của Hang Mòi và Vụng Thắm ở Tràng An, Ninh Bình. Nguồn: T. Kahlert/SUNASIA.  Các cư dân chọn Hang Mòi làm điểm định cư đã biết dùng lá và cành khô để đốt lửa và duy trì sự sống. Việc phân tích hóa thạch còn lại của bếp lửa trong hang cho thấy dấu vết của các cây họ na, họ cau, họ cúc, cơm nguội, hòa thảo… , cũng như các loài thực vật hai lá mầm thân gỗ (cây, bụi) chưa được xác định được. Chưa rõ đó là những loại cây gì vì các dấu vết này quá mờ nhạt, tuy nhiên, theo thông tin công bố trước đây về than tại Hang Mòi vào năm 2012 thì có cây họ Dầu (chò chỉ thuộc họ này) và họ Hồng xiêm – những đại diện của rừng núi đá vôi và đất thấp. Có khả năng, chúng là nguồn chất đốt của người tiền sử.  Nếu đặt người định cư ở Hang Mòi với những người cùng thời ở Đông Nam Á, có thể thấy điểm chung là họ đều dùng một số thực vật để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hằng ngày. Ví dụ cây họ cau, ở đây là cọ, được tận dụng triệt để làm củi, vật liệu xây dựng, dệt vải, gói đồ và thực phẩm… Quả cọ được chất trong Hang Mòi cho thấy những người sống ở đây thời kỳ Holocene giữa đã nhận ra cọ quan trọng trong chiến lược sinh tồn của mình nên ưu tiên chọn nó để bảo quản, phòng khi mưa lớn, thời tiết lạnh giá không ra ngoài được.   Những kết quả thu được từ phân tích hóa thạch cho thấy, người tiền sử ở Hang Mòi không chỉ tận dụng các loài cây làm lương thực và chất đốt mà còn những sản vật khác của tự nhiên ở rừng và vùng đất ngập nước ở Vụng Thắm. Đó là các loài động vật có vú như sơn dương Đông dương, cheo cheo, hươu, lửng lợn và chim chóc như cú cá, cao cát phương Đông (loài cú cá hiện nay được biết đến ở vùng này có thói quen sống ở gần nước còn cao cát phương Đông thì hay cư ngụ tại các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt và rừng ở đất thấp hiện vẫn còn nhiều ở Tràng An). Ngoài ra, họ đã bắt đầu ăn các loài sò ốc như ốc len, ốc đụn, ngao, hàu cùng một số loại ốc biển, ốc nước ngọt và động vật hai mảnh vỏ nhỏ khác. Nó phản ánh việc khai thác sản vật ở rừng ngập mặn của người Hang Mòi, trong đó sự nổi trội của các loài khai thác ở rừng ngập mặn (chiếm khoảng 90% trong tổng lượng mẫu) nhấn mạnh vào sự phụ thuộc của con người vào rừng ngập mặn. Ngày nay, ốc len vẫn hợp khẩu vị với người Việt Nam và được mua bán ngoài chợ nhưng với kích thước lớn hơn gấp rưỡi tổ tiên của mình.  Với tất cả những đặc điểm trên, các nhà nghiên cứu cho rằng, những người sống ở Hang Mòi thuộc về văn hóa Đa Bút.  Thích ứng với những đổi thay  Hàng ngàn năm trôi qua, những đổi thay về môi trường đã khiến cho khung cảnh quanh Hang Mòi và Vụng Thắm khác trước. Không rõ nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng nào nhưng biển ngày một lùi ra xa khỏi Tràng An, “bỏ rơi” những cánh rừng ngập mặn lẻ loi cách bờ biển hàng chục km trong đất liền, thậm chí sống hoàn toàn bằng nước ngọt, trong khi thảm thực vật trên núi đá vôi trong thời kỳ Holocene muộn và ngày một mở rộng. Bằng chứng là dương xỉ và cỏ hiện diện cùng với những đại diện của rừng trên núi đá vôi: cây họ thông tre, côm, tầm ma/dâu tằm, sồi… Những thay đổi này trùng hợp với một dị thường khí hậu thời Trung Cổ là hiện tượng ấm lên Trung Cổ, vốn có tác động khắp châu Á với khoảng thời gian 300 ấm, riêng vùng Quan Lạn ở Quảng Ninh rơi vào khô cằn và hạn hán. Nhiều khả năng, nó làm thay đổi môi trường ở Tràng An cũng như liên quan đến chế độ thủy văn trên khắp các mạng lưới sông ngòi trong vùng.  Kể từ năm 968, Hoa Lư được chọn làm kinh đô của Việt Nam. Theo sử sách ghi lại, vua Đinh đã ra xây tường thành, kênh mương và cung điện…, trong đó bức thành phía Bắc bảo vệ hoàng thành và ngăn chặn lũ lụt và bồi tụ của sông Hoàng Long và sông Vân, một tuyến đường thủy quan trọng từ phía Nam và Đông Nam để bảo vệ hoàng thành. Sự hình thành kinh đô theo cách này cũng có tác động đáng kể đến môi trường trong quần thể núi Tràng An và thảm thực vật của quần thể núi đá vôi…  Nhưng rút cục, lội dòng lịch sử hàng ngàn năm, ngoài việc hình dung ra bối cảnh tồn tại và chiến lược tồn tại của các cư dân Hang Mòi, các nhà nghiên cứu rút ra được điều gì? Xâu lại cả một chuỗi sự kiện xảy ra ở thời kỳ Holocene, những điều đọng lại là sự thích ứng của con người với những đổi thay của hoàn cảnh và sự thích ứng của tự nhiên trước những điều kiện môi trường và khí hậu mới. Nhưng điều gì khiến các tác giả quan tâm hơn cả, thiên nhiên hay con người? Ở đây, điểm hấp dẫn họ không chỉ là sự sẵn sàng của con người, từ những cư dân Hang Mòi hay triều đại nhà Đinh, trong việc mở rộng môi trường sống mà là hệ sinh thái nơi họ sống. Hệ sinh thái ấy đã uyển chuyển nương theo những điều kiện khí hậu và môi trường mới để phát triển một cách bền vững.  Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, bất luận trong quá khứ hay tương lai, sự thích ứng của cả hệ sinh thái vô cùng có ý nghĩa. Nếu theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu thì rất có khả năng, vào năm 2100, mực nước biển dâng sẽ lên tới một mét. Khi ấy vùng đồng bằng sông Hồng sẽ lâm vào nguy cơ rủi ro và một trong những vũ khí giúp tăng cường sức chống chịu là rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển. Trong trường hợp của Ninh Bình, sự tồn tại lâu dài của rừng ngập mặn ở thung sụt Vụng Thắm đưa ra một khả năng phục hồi khu vực này cũng như trong nhiều khu vực khác của Tràng An cũng như các nơi khác ở ven đồng bằng sông Hồng. Các tác giả cho rằng, dẫu cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn, ví dụ như sự tương tác giữa rừng ngập mặn và sự hình thành của các cánh rừng trên núi đá vôi và lợi ích kinh tế xã hội của các cộng đồng địa phương thì nghiên cứu về cổ môi trường này cũng cho thấy những địa điểm như Vụng Thắm có tiềm năng hình thành các trung tâm bền vững cho phục hồi rừng ngập mặn, qua đó có thể giúp giảm thiểu những tác động và tối ưu những phản hồi về kinh tế xã hội – môi trường với nước biển dâng trong tương lai. □    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Thông điệp từ Nature về các bản đồ khu vực đang có tranh chấp      Không thể đưa vào các bài báo khoa học những bản đồ mang tính chính trị nhằm hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở những khu vực còn đang tranh chấp. Các nhà nghiên cứu nên giữ sự hòa hiếu bằng cách tránh đưa chính trị vào công việc khoa học của mình.      Xưa kia, Muhammad Ali – một nhà quân sự am hiểu về chiến tranh – từng nói rằng chiến tranh giữa các quốc gia là nhằm thay đổi bản đồ. Nhưng ngày nay, có những cách thay đổi các bản đồ một cách kín đáo hơn. Ví dụ như đối với Biển Đông, nơi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên một phần lớn diện tích mặt nước, dù không căn cứ vào bất kỳ thỏa thuận quốc tế nào, và điều này gây xung đột với tuyên bố chủ quyền của các nước khác.   Điều này thì liên quan gì tới khoa học và những tạp chí như Nature? Không hề – ngoại trừ rằng những xung đột lãnh thổ trong đó có Biển Đông, đang rò rỉ vào các trang tạp chí khoa học. Theo một xu hướng đáng lo ngại, ngày càng có nhiều các bản đồ đi kèm với các bài báo khoa học của các nhà nghiên cứu Trung Quốc trong đó mô tả một đường đứt khúc trùm lên đa số Biển Đông nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Có thể hiểu được sự giận dữ từ các nhà khoa học và công dân những nước láng giềng liên quan đối với các bản đồ này, và đa phần là chúng không hề liên quan tới đề tài bài nghiên cứu được công bố. Việc đưa vào đường đứt khúc này không thể là một thông điệp mang tính khoa học, mà hẳn là một thông điệp mang tính chính trị, được gửi theo yêu cầu từ chính phủ Trung Quốc. Đây là một tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, được đưa vào không đúng chỗ.    Khi có sự pha trộn giữa nghiên cứu và chính trị, thì khoa học nên là một công cụ để cải thiện quan hệ, thay vì nhằm bành trướng lãnh thổ. Ngay cả trong những môi trường nặng tính thù địch chính trị thì khoa học vẫn có thể nuôi dưỡng được sự hợp tác. Ngày càng nhiều nhà nghiên cứu từ Đài Loan tham gia nghiên cứu cùng các đồng nghiệp từ Trung Quốc, cho dù Bắc Kinh và Đài Bắc vẫn tiếp tục có những bất đồng cơ bản. Theo số liệu từ Lou-Chuang Lee, trưởng Hội đồng Khoa học Đài Loan, số lượng các bài nghiên cứu là kết quả của sự hợp tác như vậy tăng từ 521 năm 2005 lên 1.207 vào năm ngoái.  Những quan hệ hợp tác như vậy tạo cơ sở để cùng đạt được những lợi ích chung, và như chúng ta mong muốn, giúp phần nào hòa giải những khác biệt về chính trị. Ít nhất thì chúng cũng giúp giảm bớt sự căng thẳng.   Tuy nhiên, chính trị vẫn thường tìm ra cách thâm nhập. Ví dụ như tháng 8 vừa rồi, Ann-Shyn Chiang, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Não tại trường đại học Tsing Hua ở Hsinchu, Đài Loan, đã bị bất ngờ khi nhận được yêu cầu từ Yi Rao, một nhà khoa học thần kinh từ đại học Bắc Kinh, người cùng ông viết một bài báo khoa học. Rao muốn phần thân thế quốc tịch của Chiang là “Đài Loan, Trung Quốc”, cách gọi theo đúng ý của chính quyền Trung Quốc. Chiang đã đáp lại Rao rằng, hoặc là dùng Đài Loan, hay Cộng hòa Đài Loan, hoặc là gỡ tên mình khỏi danh sách tên tác giả. Cuối cùng, họ tìm ra một giải pháp thỏa hiệp, với cách ghi là “Đài Loan, Cộng hòa Trung Hoa”.  Nhưng đối với Biển Đông, nơi có những nguồn tài nguyên và lợi thế địa chính trị đáng kể, vấn đề không dễ giải quyết như vậy.  Liên quan tới vấn đề này và các xung đột chính trị khác, quan điểm của Nature là các nhà khoa học nên tập trung vào chuyên môn khoa học. Các tác giả nên tối đa tránh đưa chính trị vào các bài báo khoa học của mình, bằng cách tránh những nhận xét kích động, những thông điệp và những bản đồ gây tranh cãi. Trong trường hợp những điều này là bất khả kháng, ví dụ như khi một nghiên cứu về tài nguyên của một quốc gia đòi hỏi phải tính đến sự hiện hữu hay không hiện hữu chủ quyền của quốc gia này đối với một hòn đảo nào đó, thì bản đồ này nên chú thích kèm là “đang tranh chấp”, hoặc chú thích bằng nội dung nào khác tương tự. Nếu các tác giả không làm như vậy cho các bài báo đăng trên Nature, thì tòa soạn sẽ bảo lưu quyền bổ sung vào những chú thích cần thiết.  Bằng cách tránh xung đột, các nhà nghiên cứu tránh được để cho chính trị làm ô nhiễm khoa học của họ, giúp cơ hội hợp tác được mở rộng, từ đó các nghiên cứu của họ sẽ được hưởng lợi. Các nhà nghiên cứu cũng có thể, [thông qua khoa học] giúp làm giảm bớt những căng thẳng chính trị, tìm ra con đường đạt được những lợi ích chung, và thực hiện được việc cải thiện quan hệ.  Các nhà nghiên cứu từ các phía đều có nhiều lợi ích chung, những điều cũng được trân trọng chia sẻ từ nhiều nhà khoa học từ các nơi khác đang bất ổn vì những cuộc xung đột. Thật không hợp lý nếu người ta hủy hoại tình đoàn kết này bằng [việc đưa vào khoa học] những vấn đề chính trị và lãnh thổ không liên quan.    Dịch theo: http://www.nature.com/nature/journal/v478/n7369/full/478285a.html         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thông điệp từ Nibiru      Là một nhà vật lý thiên văn, người ta thường hỏi tôi về hành tinh Nibiru và lời tiên tri của người Maya rằng hành tinh này sẽ va chạm với Trái Đất vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 dẫn đến Ngày tận thế. Ban đầu, tôi không để ý đến những câu hỏi như vậy, nhưng bị các nhà báo cho là không để ý đến những mối quan tâm của đồng bào nên tôi quyết định tìm hiểu sự việc.      Hướng kính thiên văn vô tuyến mới được trang bị tại phòng thí nghiệm của chúng tôi ở Hà Nội về hướng Nibiru, sau khi loại bỏ can nhiễu gây ra do các tài xế lái xe taxi sử dụng tần số liên lạc gần với tần số hoạt động của kính, tôi ghi lại được một bức thư với nội dung như sau:  Bác Pierre kính mến,  Trước hết cháu xin được tự giới thiệu về mình: Cháu là một cô gái trẻ Maya sống trên Nibiru đã được gần năm thế kỷ, tính theo thời gian trên Trái đất. Cháu di cư đến đây cùng với gia đình và một số bạn bè do sự xâm lược và diệt chủng của người Tây Ban Nha. Hàng triệu người, chủ yếu là người Aztec và Inca, đã bị giết, do đó các vị thần đã quyết định đem một số người Maya đến Nibiru để bảo tồn nền văn hóa của chúng cháu. Cháu may mắn là một trong những người được chọn. Họ dùng lốc xoáy nâng chúng cháu lên và những con phượng hoàng màu sắc rực rỡ đem chúng cháu đến vùng đồng bằng màu mỡ trên Nibiru. Ở đây, chúng cháu đã sống hạnh phúc và bình an cho đến giờ. Như bác biết, thời gian trên Nibiru trôi chậm hơn rất nhiều so với thời gian trên Trái đất, vì vậy khi đến đây cháu mới mười tuổi và bây giờ cháu cũng chỉ mới mười lăm tuổi thôi.  Trái với những điều mọi người nói trên Trái đất − ở đây chúng cháu có thể truy cập Internet và biết đầy đủ thông tin về Trái đất − hành tinh của chúng cháu sẽ không va chạm với Trái đất vào năm 2012 hay bất cứ thời điểm nào khác. Người ta đã hiểu sai các văn bản cổ đại của người Maya và điều này đã gây nên một sự hiểu lầm tai hại. Những điều được nói trong những văn bản này là: bắt đầu từ tháng 12 năm 2012 ảnh hưởng của Nibiru lên Trái đất sẽ ngày một gia tăng. Điều xấu sẽ dần dần biến mất khỏi Trái đất nhường chỗ cho những điều tốt đẹp hơn, tương tự như các tập tục đã tồn tại từ nhiều thế kỷ qua trên Nibiru. Cháu chắc rằng Trái đất sẽ tốt đẹp hơn nhiều từ cuộc hội ngộ văn hóa này.  Sẽ không còn cảnh người ta đem quân đội đi xâm lược một quốc gia khác, với lý do được ngụy biện rằng quốc gia đó tàng trữ vũ khí nguy hiểm và có kế hoạch hủy diệt quy mô lớn;  Sẽ không còn cảnh xâm lược quốc gia khác để lấy của cải, quặng, dầu lửa hoặc những thứ khác, với lý do bảo vệ người dân quốc gia đó khỏi một số điều bị cho là xấu, chẳng hạn như không có tôn giáo “đúng”, không có hệ thống chính trị“đúng”( từ “đúng” ở đây được hiểu là “giống như của chúng ta”);  Sẽ không còn việc một đất nước chiếm đoạt đất của nước khác đơn giản bằng cách vẽ lên bản đồ một đường theo hình dạng mình muốn;  Thật ra thì ở Nibiru không còn quân đội; từ cách đây rất lâu, những người lính đã được đào tạo trở thành các nghệ sĩ, như các nhà thơ hay họa sĩ, những người mà hành tinh này rất cần;  Tiền sẽ không còn thống trị trên hành tinh các bạn; Sẽ không còn có chuyện người giàu càng giàu hơn còn người nghèo càng nghèo đi;  Sẽ không còn cảnh đầu cơ, thứ chủ nghĩa tư bản hoang dã, và những tác nhân xấu xa khác trong kinh tế khiến hàng triệu trẻ em chết đói trên khắp hành tinh;  Thật vậy, ở Nibiru, không có một nhân viên ngân hàng nào cả; từ cách đây rất lâu, họ đã được đào tạo thành các nghệ sĩ như ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công, những người mà hành tinh này rất cần;  Sẽ không còn bất kỳ ai, bất kỳ Anh Cả1 nào, toàn quyền quyết định điều gì là tốt cho bạn;  Sẽ không còn việc phụ nữ bị áp bức và làm khổ bởi đàn ông; sẽ không còn cảnh người lớn lợi dụng và khai thác trẻ em;  Quan hệ giữa con người với nhau sẽ không còn bị thoái hóa bởi nạn tham nhũng, xin cho, và chủ nghĩa gia đình trị; sẽ không còn các chính trị gia nói dối, nói một đằng làm một nẻo, lợi dụng lòng tin và sự vô tư của người dân; chính trường sẽ không còn bị thống trị bởi lòng ham muốn quyền lực;  Thật vậy, ở Nibiru, những người xưa kia từng có quyền lực, nay đã được đào tạo thành các anh hề phục vụ giải trí cho những người họ từng cai trị trước đây.  Thông điệp sau đó đã bị mờ đi bởi nhiễu. Sau đó, tôi cố thử thiết lập lại liên lạc với người bạn trẻ Maya của mình, nhưng chỉ thành công một lần và chỉ kịp hỏi: “Làm sao tôi có thể tin được nhiều điều tốt đẹp như thế lại có thể xảy ra trên Trái đất?”, cô trả lời một cách đơn giản “Nếu bạn đã tin có Nibiru, tại sao lại không tin vào những điều khác?”. Cô bật cười vui vẻ và chúc tôi một Năm mới Hạnh phúc. Từ đó liên lạc giữa chúng tôi bị cắt, và tôi e rằng có lẽ là mãi mãi.   PHẠM NGỌC ĐIỆP dịch  —————  1 Big Brother, một nhân vật trong tiểu thuyết của George Orwell      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thống kê có thể và không thể nói gì về chúng ta?      Harold Eddleston, người đàn ông 77 tuổi ở Greater Manchester, vẫn đang quay cuồng với chẩn đoán ung thư vừa được biết thì vào một sáng thứ Bảy tháng Hai năm 1998, nhận được tin tồi tệ nhất: người vợ yêu quý của ông đã mất bất ngờ, sau một cơn đau tim.      Thí nghiệm đồng xu ưa thích của các nhà thống kê.   Con gái của Eddleston, đã gọi bác sĩ của gia đình, một người đàn ông được kính trọng tại địa phương có tên là Harold Shipman. Shipman đến khám và trò chuyện ân cần riêng với Eddleston, nhưng khi gia đình người bệnh lo lắng hỏi về kết quả chẩn đoán, ông ta thông báo với vẻ nghiêm trọng: “năm nay sẽ không cần phải mua cho ông ấy trứng Phục sinh”. Tới thứ Tư, Eddleston chết; bác sĩ Shipman đã giết ông ấy.   Harold Shipman là một trong những kẻ giết người hàng loạt nhiều nhất trong lịch sử. Trong 23 năm, y đã tiêm cho ít nhất 215 bệnh nhân những liều chế phẩm có chứa thuốc phiện (opiate) chết chóc. Y bị bắt vào tháng 9/1998, sáu tháng sau khi Eddleston mất.    Gói những điều bất định vào các con số đơn lẻ   David Spielgelhalter, tác giả của cuốn sách “The Art of Statistics” (Nghệ thuật của thống kê), là một trong những nhà thống kê được giao nhiệm vụ xác định xem liệu tỉ lệ tử vong của các bệnh nhân của Shipman có gợi lên nghi ngờ từ trước đó hay không. Spiegelhalter đã nhận ra số lượng bệnh nhân của Shipman tử vong quá nhiều so với những bác sĩ thông thường– 174 nữ và 59 nam.   Nhưng về mặt thống kê, tới ngưỡng nào thì nhiều cái chết chuyển thành quá nhiều cái chết? làm thế nào để phân biệt một sự kiện bất thường đáng ngờ với một chuỗi những điều không may? Cũng như vậy, làm sao chúng ta có thể dự đoán số người sẽ tử vong? Mỗi cái chết đều liên quan tình cảnh của mỗi cá nhân, chuyện riêng, và nhiều nguyên do; gói gọn tất cả những điều bất định đó vào trong một con số đơn lẻ thì có nghĩa lý gì?   Năm 1825, Bộ Tư pháp Pháp đã yêu cầu tạo ra một tuyển tập hồ sơ tội phạm quốc gia. Dường như đó là kiểu tuyển tập hồ sơ đầu tiên trên thế giới – thống kê mọi vụ bắt bớ và kết án trên khắp đất nước, theo vùng miền, được tổng hợp lại và sẵn sàng để phân tích. Đó là ví dụ sơ khai về Dữ liệu Lớn – lần đầu tiên phân tích toán học được áp dụng vào dự đoán địa hạt rối rắm và khó lường của hành vi con người.   Đầu những năm 1830, một nhà thiên văn học, toán học người Bỉ, Adolphe Quetelet đã phân tích những con số và nhận ra một hình mẫu đáng chú ý. Hồ sơ tội phạm cho thấy một quy luật đáng chú ý: số lượng các vụ tội phạm qua các năm đều nhất quán đến sửng sốt.   Quetelet phát triển ý tưởng về lý thuyết “Cơ chế xã hội” (Social Physics), và bắt đầu khám phá khả năng về một cơ chế, quỹ đạo ẩn sau đời sống con người: ở mức nào đó, có thể dự đoán và lượng hóa đời sống con người. Giờ đây chúng ta có thể dự đoán, với độ chính xác ấn tượng, số phụ nữ ở Đức sẽ lựa chọn mang bầu mỗi năm, số vụ tai nạn ôtô ở Canada, số vụ tai nạn máy bay ở khắp Nam bán cầu, thậm chí số người sẽ tới phòng cấp cứu của thành phố New York vào một buổi tối thứ Sáu nữa.   Dự đoán về cá nhân từ đặc tính tập thể có thể sẽ sai?  Tuy nhiên, đưa ra các dự đoán về cá nhân từ đặc tính tập thể có thể sẽ sai. Có thể nhìn vào ví dụ của luật sư người Pháp  André-François Raffray năm 1965. Ông đồng ý trả một cụ bà 90 tuổi 25 franc mỗi tháng cho tới khi bà cụ mất, đổi lại ông sẽ sở hữu căn hộ của bà ở Arles. Vào thời điểm đó, tuổi thọ trung bình kỳ vọng của phụ nữ Pháp là 74,5, và không nghi ngờ gì, Raffray, khi đó 54 tuổi, nghĩ rằng mình đã điều đình được một hợp đồng có lợi. Không may cho ông, cụ bà đó là Jeanne Calment đã sống tiếp 32 năm sau khi hợp đồng của họ được ký kết, còn lâu hơn Raffray, người mất ở tuổi 77. Tính tới khi đó, ông đã trả gấp đôi giá thị trường cho một căn hộ mà ông chưa từng sống trong đó.       Các nhà nghiên cứu nên tuyên bố giả thuyết của mình từ trước khi tiến hành một nghiên cứu để hạn chế cách làm khoa học theo lối mò mẫm lựa chọn giả thuyết sao cho khớp nhất với kết quả thống kê. Đa số cũng cho rằng cần chú trọng hơn nữa các nghiên cứu được thiết kế để kiểm chứng công trình của người khác.      Raffray đã mắc sai lầm khi tưởng rằng có thể dự đoán về tương lai một ai đó dựa trên dữ liệu trung bình của cả cộng đồng. Như nhà toán học Ian Stewart đã chỉ ra trong cuốn “Do Dice Play God?”, căn cứ theo số liệu trung bình thì mỗi người đều có một vú và một tinh hoàn. Trong các nhóm lớn, sự biến thiên tự nhiên giữa các cá thể tự động trung hòa nhau, nhưng sự biến thiên này khiến chúng ta không thể nói chắc chắn về từng cá nhân – một sự thực với nhiều hệ quả sâu rộng.   David Spiegelhalter bàn thêm là mỗi ngày hàng triệu người nuốt một viên statin nhỏ màu trắng để giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ. Nếu bạn là một trong số những người đó, và tiếp tục sống thọ và vui vẻ  mà không bị đau tim bao giờ, bạn sẽ không bao giờ biết liệu viên statin của bạn đã có hiệu quả hay ngay từ đầu bạn không bao giờ bị đau tim. Với một nghìn người uống statin trong vòng 5 năm, thuốc sẽ chỉ giúp 18 người tránh khỏi một cơn trụy tim hay đột quỵ. Và nếu thấy mình bị đau tim thì bạn cũng không bao giờ biết được có phải nó bị statin làm chậm lại hay không.   Đó là quy tắc với các thuốc phòng ngừa: với hầu hết các cá nhân, phần lớn những thuốc này không có tác dụng gì cả. Thực tế rằng lý do chúng đáng được dùng là chúng tạo ra một ích lợi tổng thể cho cả cộng đồng.  Có quá nhiều điều chúng ta không biết, ở mức cá nhân: tại sao một số người có thể hút thuốc mà không bị ung thư phổi; tại sao một trong hai người sinh đôi vẫn khỏe mạnh trong khi người còn lại lại mắc chứng ALS (xơ cứng teo cơ một bên); tại sao một số trẻ em giống nhau lại xuất sắc ở trường học trong khi số khác chuệch choạc. Mặc cho những hứa hẹn lớn lao về khả năng khai thác Dữ liệu lớn để đưa ra các dự đoán thì đời sống của một con người cụ thể vẫn vô cùng khó lường.   Tuy nhiên, các nhà thống kê đã tìm được con đường dẫn tới sự chắc chắn tối đa trong một thế giới bất định. Có lẽ chúng ta không thể trả lời những câu hỏi dớ dẩn gây lúng túng, như “Tôi sẽ thọ bao nhiêu tuổi?”, nhưng người ta có thể giải quyết những câu hỏi như “Bao nhiêu bệnh nhân chết thì là quá nhiều?”.  Trong quá trình này, một ý tưởng mạnh mẽ đã nảy sinh để tạo thành cơ sở của nghiên cứu khoa học hiện đại.   Một người lạ đưa cho bạn một đồng xu. Bạn ngờ rằng nó đã bị sửa đi thế nào đó, có lẽ là để mặt ngửa xuất hiện nhiều hơn. Bạn tung đồng xu hai lần và nhận được hai mặt ngửa liên tiếp. Một đồng xu chuẩn hoàn hảo sẽ cho kết quả hai mặt ngửa liên tiếp với tỉ lệ 25% – một xác suất được biết đến dưới tên gọi giá trị p. Bạn tiếp tục tung và lại nhận được mặt ngửa tiếp. Và lại một lần nữa. Chuyện dần có vẻ ám muội, nhưng ngay cả khi bạn tung đồng xu 1000 lần, hay 1 triệu lần, trên lý thuyết bạn không bao giờ tuyệt đối chắc rằng nó đã bị sửa. Xác suất có thể rất nhỏ, nhưng về lý thuyết, một đồng xu chuẩn có thể tạo ra một tổ hợp mặt ngửa bất kỳ.     Bức tranh Cái chết của thần Baldur [The Death of Baldur], Christoffer Wilhelm Eckersberg, 1817. Trong thần thoại Bắc Âu, thần Baldur nằm mộng thấy mình bị giết, Frigg mẹ của thần Baldur liền yêu cầu mọi loài sinh vật phải thề không được làm hại con bà nhưng không nghĩ một cây tầm gửi vô hại mọc trên cây sồi có thể làm hại con mình nên không bắt cây tầm gửi phải thề. Cuối cùng, Baldur bị chết bởi một mũi tên tầm gửi. Nguồn: Vox.   Ngưỡng đáng để nghi ngờ – khái niệm “ý nghĩa thống kê” được thiết lập  Các nhà khoa học đã chọn một lối đi giữa tất cả những bất định này bằng cách đặt ra một ngưỡng tùy ý, và chấp thuận rằng bất cứ thứ gì vượt ngưỡng đó sẽ cho bạn các lý do để nghi ngờ. Kể từ năm 1925, khi nhà thống kê người Anh Ronald Fisher lần đầu tiên đề xuất quy ước này, ngưỡng kia thường được đặt ở mức 5%. Bạn đang thấy một số lượng mặt ngửa đáng ngờ, và một khi xác suất một đồng xu chuẩn hiện ít nhất cũng nhiều mặt ngửa như bạn từng thấy dưới 5%, bạn có thể bỏ thái độ vô tư của mình cho tới khi chứng minh được tội lỗi. Trong trường hợp này, 5 mặt ngửa liên tiếp, với giá trị p là 3,125%, sẽ cho thấy điều đó.   Đây là nguyên lý nền tảng để khoa học hiện đại đưa ra các kết luận của mình. Khi chúng ta chỉ ra bằng chứng về biến đổi khí hậu hay khi quyết định xem liệu một loại thuốc có tác dụng hay không thì đều cùng áp dụng theo một nguyên lý. Nếu các kết quả là quá bất thường để xảy ra nhờ ngẫu nhiên – chí ít, không hơn một trong 20 lần – bạn có lý do để nghĩ rằng giả thuyết của mình đã được chứng minh. Khái niệm “Ý nghĩa thống kê” đã được thiết lập.   Có thể ví dụ bằng cách xem lại một thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của aspirin trong việc chữa đau tim, do nhà dịch tễ học ở Oxford Richard Peto thực hiện năm 1988.   Thử nghiệm của họ có tới 17.187 người tham gia và đã cho thấy hiệu quả đáng chú ý. Trong một nhóm được dùng giả dược, 1016 bệnh nhân chết; với những người được dùng aspirin, chỉ có 804 người chết. Con số này vượt ngưỡng; nhóm nghiên cứu đã kết luận rằng aspirin có tác dụng.   Những phương pháp thống kê như vậy đã trở thành công cụ phổ biến trong nghiên cứu hiện đại. Chúng giúp chúng ta tiến những bước dài, để tìm kiếm các tín hiệu trong dữ liệu đầy nhiễu loạn. Nhưng, trừ phi bạn cực kỳ thận trọng, việc thử xóa bỏ những yếu tố tất định cũng có các điểm bất lợi. Nhóm của Peto đã gửi những kết quả thử nghiệm của mình cho một tạp chí y học có tiếng, và nhận lại một yêu cầu từ người bình duyệt: có thể chia những kết quả này thành các nhóm không? có bao nhiêu người phụ nữ đã được aspirin cứu, bao nhiêu đàn ông, bao nhiêu người mắc tiểu đường, bao nhiêu người ở độ tuổi này hay kia, v.v.     Cuốn sách “The Art of Statistics” (Nghệ thuật của thống kê).  Peto phản đối. Bằng cách chia nhỏ bức tranh toàn cảnh, bạn đưa tất cả những kiểu bất định vào kết quả, ông lập luận. Một lý do là, kích thước của nhóm thử nghiệm càng nhỏ, xác suất may mắn càng lớn. Sẽ thật “ngu ngốc về mặt khoa học”, khi đưa ra những kết luận từ bất cứ thứ gì khác ngoài bức tranh toàn cảnh, ông nhận xét. Tạp chí cứ khăng khăng, nên Peto đã dao động. Ông gửi lại bài báo với tất cả những nhóm nhỏ mà người bình duyệt yêu cầu, nhưng với một sự bổ sung ranh mãnh. Ông cũng chia nhỏ các kết quả theo các cung hoàng đạo. Thật tình cờ, aspirin có tác dụng ở một số nhóm lớn hơn ở các nhóm còn lại: trong nghiên cứu này, dường như aspirin không có tác dụng với cung Thiên Bình và Song Tử, nhưng làm giảm nguy cơ tử vong của bạn xuống một nửa nếu bạn thuộc cung Ma Kết.   Sử dụng các nhóm đủ lớn có thể giúp đảm bảo không tình cờ gặp may, nhưng còn có một cạm bẫy khác trực chờ các nhà khoa học thiếu hoài nghi. Đó là điều mà thử nghiệm của Peto cũng nhấn mạnh, và là cái dẫn đến một cuộc khủng hoảng ở cốt lõi của khoa học.   Cẩn thận với “những thất thường của sự ngẫu nhiên”  Cách dễ nhất để hiểu vấn đề là trở lại với nan đề về đồng xu không chuẩn (đồng xu luôn là ví dụ ưa thích của các nhà thống kê). Giả như bạn đặc biệt không thích đưa ra một kết luận sai, và quyết định tin vào giả thuyết đồng xu là chuẩn trừ phi bạn nhận được mặt ngửa 20 lần liên tiếp. Một đồng xu chuẩn sẽ chỉ làm được như vậy một trong một triệu lần, nên đây là mức yêu cầu chứng minh cực kỳ cao – vượt rất xa ngưỡng 5% mà nhiều khoa học sử dụng.  Như vậy, nếu bạn đưa các đồng xu bình thường cho ba trăm triệu người Mỹ tung lên, thì chúng ta dự kiến sẽ có khoảng ba trăm người nhận được 20 mặt ngửa liên tiếp, và họ buộc phải căn cứ theo luật chơi của bạn để kết luận rằng đồng xu bạn đưa là không chuẩn. Có nghĩa là, dù ngưỡng bạn đặt ra có khắt khe tới đâu thì cuối cùng vẫn có thể xảy ra trường hợp cực đoan nếu bạn lặp lại thí nghiệm rất nhiều lần.  Apple đã học được điều này không lâu sau khi iPod Shuffle được ra mắt. Chiếc máy này sẽ chơi ngẫu nhiên các bản nhạc từ thư viện của người dùng, nhưng Apple nhận thấy nó phải chịu đầy những lời phàn nàn của người dùng, rằng họ nhận thấy chiếc Shuffle của mình chơi các bản nhạc theo một quy luật nào đó. Các quy luật xảy ra thường xuyên hơn chúng ta nghĩ rất nhiều, nhưng ngay cả nếu vài bản nhạc của cùng một nghệ sĩ, hay các bản nhạc liên tiếp từ một album chỉ có xác suất xuất hiện liên tiếp trong danh sách rất nhỏ, thì vẫn có quá nhiều người nghe iPod tới mức không thể tránh khỏi những trùng hợp lạ lùng xảy ra.   Trong khoa học, các tình huống trở nên gay cấn hơn, và những gì được mất cũng lớn hơn. Với một ngưỡng chỉ 5%, một trong 20 nghiên cứu sẽ tìm thấy bằng chứng về những hiện tượng không tồn tại trong dữ liệu của nó. Đó là một lý do khác mà Peto đã chống lại đề xuất rằng ông phải chia ra nhiều nhóm nhỏ: số lượng nhóm bạn chia ra quan sát càng nhiều, khả năng nhìn thấy những hiệu ứng giả càng cao. Đây không chỉ là mối quan ngại lý thuyết. Trong y học, một nghiên cứu về 49 công bố y học được trích dẫn nhiều nhất từ 1990 tới 2003 phát hiện ra rằng 16% các kết luận trong đó mâu thuẫn với các nghiên cứu sau này. Tâm lý học là lĩnh vực tệ nhất trong những khảo sát này (có thể là vì tái kiểm chứng những nghiên cứu này rẻ hơn). Một nghiên cứu năm 2015 phát hiện ra rằng tái kiểm chứng 100 thử nghiệm tâm lý học thì chỉ 36 thử nghiệm cho các kết quả nhất quán với kết quả nghiên cứu ban đầu, mặc dù 97% các nghiên cứu ban đầu đã báo cáo một giá trị p dưới ngưỡng 5%.   Giờ đây người ta nhận ra nhiều nghiên cứu nổi tiếng đã dựa trên những kết quả sai lệch một cách tình cờ như thế. Điển hình như nghiên cứu về tạo dáng mạnh mẽ (power posing), vốn đặt ra giả thuyết rằng việc đứng theo một tư thế mạnh mẽ sẽ giúp giảm hoóc-môn căng thẳng trong cơ thể. Nghiên cứu này được trích dẫn một nghìn lần, và bài nói chuyện về nó trên TED talk có hơn 50 triệu lượt xem, nhưng nghiên cứu đó lại không tái kiểm chứng được và giờ đây được coi là một ví dụ nổi bật cho các sai sót trong các phương pháp của Fisher.   Vấn đề này bị trầm trọng thêm trong kỷ nguyên Dữ liệu lớn. Dữ liệu càng được thu thập, tham chiếu chéo, và nghiên cứu nhiều để tìm các mối tương quan, càng dễ để đưa ra những kết luận sai lầm. Để minh họa cho quan điểm này, Spiegelhalter đã kể thêm về một nghiên cứu thực hiện năm 2009 trong đó các nhà nghiên cứu đưa một đối tượng vào máy chụp cộng hưởng từ chức năng và phân tích phản ứng ở 8064 khu vực trong não trong khi trình chiếu một loạt các bức ảnh về biểu hiện khác nhau của con người. Các nhà khoa học muốn xem vùng não nào sáng lên khi phản ứng với các bức ảnh và sử dụng một ngưỡng 0,01% cho thí nghiệm của mình. “Điểm lắt léo là ‘đối tượng’ ở đây là một con cá hồi Đại Tây Dương nặng 1,6kg vốn ‘đã không còn sống sót tại thời điểm chụp,’” Spiegelhalter lưu ý.   Nhưng thậm chí ở ngưỡng đó, việc chạy đủ các thí nghiệm cuối cùng vẫn khiến bạn có cảm giác vượt ngưỡng. Với hơn 8000 khu vực trong não của một con cá chết các nhà nghiên cứu đang xét, 16 khu vực cho thấy phản ứng có ý nghĩa thống kê. Điều này có nghĩa là, nếu cứ yên tâm dựa vào “ý nghĩa thống kê”, người ta có thể ngộ nhận tin vào những kết quả khoa học vô căn cứ tương tự như vậy. Khoa học luôn là đối tượng cho sự kiểm chứng kỹ lưỡng, nhưng cuộc khủng hoảng giá trị p cho thấy các phương thức kiểm chứng hiện hành vẫn cần phải được cải thiện.     Trong các nền văn minh, con người hay sợ những “điềm gở” như gặp mèo đen, gương vỡ, thứ sáu ngày 13… Nó chỉ là ngẫu nhiên hay có “ý nghĩa thống kê”?  Giờ đây các nhà khoa học nói rằng các nhà nghiên cứu nên tuyên bố giả thuyết của mình từ trước khi tiến hành một nghiên cứu để hạn chế cách làm khoa học theo lối mò mẫm lựa chọn giả thuyết sao cho khớp nhất với kết quả thống kê. Đa số cũng cho rằng cần chú trọng hơn nữa các nghiên cứu được thiết kế để kiểm chứng công trình của người khác. Nhiều người cho rằng khoa học nên quan tâm đến mức độ ảnh hưởng – chẳng hạn như bao nhiêu sinh mạng được một loại thuốc cứu – thay vì chỉ chú trọng xem dữ liệu do một hiệu ứng nào đó có vượt một ngưỡng thống kê nào đấy hay không. Như với ví dụ về aspirin. Một nghiên cứu khổng lồ –theo dõi 22.000 cá nhân trong vòng 5 năm – đã chứng minh rằng việc dùng một lượng thuốc nhỏ mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ đau tim. Giá trị p, xác suất của việc vẫn để xảy ra đau tim hay hệ lụy ngẫu nhiên nào đó cực đoan hơn xảy ra, là cực kỳ nhỏ: 0,001%. Nhưng mức độ ảnh hưởng tích cực của thuốc thực ra cũng rất khiêm tốn. Với quy mô mẫu như vậy, sẽ có một trăm ba mươi cá nhân vốn dĩ khỏe mạnh sẽ phải dùng thuốc để phòng ngừa một cơn đau tim, và trong suốt một thời gian mỗi người sẽ chịu thêm nguy cơ về tác dụng phụ có hại của thuốc. Đó là nguy cơ mà giờ đây được coi là vượt quá lợi ích cho hầu hết mọi người, và lời khuyên những người lớn sử dụng một viên aspirin của trẻ con mỗi ngày đã bị rút lại một cách công khai.   Nhưng có lẽ vấn đề thực sự là việc chúng ta thấy khó nắm bắt sự bất định đến thế nào. Đầu năm 2019, 850 nhà nghiên cứu nổi tiếng, bao gồm cả David Spiegelhalter, đã ký một thư thỉnh nguyện gửi lên tạp chí Nature lập luận rằng vấn đề không thể giải quyết được bằng một giải pháp kỹ thuật tạm thời. Giá trị p không phải vấn đề; vấn đề là nỗi ám ảnh của chúng ta với việc đặt ra một ngưỡng an toàn.   Việc vạch ra một ranh giới tùy ý tạo ra một ảo tưởng rằng chúng ta có thể biệt giữa đúng và sai. Nhưng các kết quả của một thí nghiệm phức tạp không thể được rút gọn về một câu trả lời có-hay-không. Quay trở lại khi Spiegelhalter được yêu cầu xác định xem liệu có nên nghi vấn về bác sĩ Harold Shipman từ sớm hơn căn cứ trên tỉ lệ bệnh nhân tử vong, ông đã nhanh chóng quyết định rằng phép kiểm định độ tin cậy thống kê sẽ là cách “cực kỳ không phù hợp” để giám sát các bác sĩ. Ngành y tế sẽ quy kết oan các bác sĩ vô tội với tỉ lệ 1/20 – nghĩa là ảnh hưởng tới hàng nghìn thầy thuốc lâm sàng ở Anh. Các bác sĩ sẽ bị quy kết oan chỉ vì họ điều trị cho các bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao.   Thay vào đó, Spiegelhalter và các đồng nghiệp đề xuất một phép thử khác, chú ý tới cái chết của nạn nhân khi chúng xảy ra, đối chiếu số lượng tử vong tích lũy qua các năm so với một con số trung bình dự kiến. Năm này qua năm khác, nó so sánh khả năng tỉ lệ tử vong cao của bệnh nhân của một bác sĩ như một chuỗi rủi ro với khả năng do nguyên nhân nào đó đáng ngờ hơn, và cảnh báo khi các bằng chứng bắt đầu xuất hiện. Nhưng ngay cả phương pháp rất phức tạp này cũng sẽ, do những thất thường của sự ngẫu nhiên, cuối cùng hướng sự nghi ngờ tới người vô tội. Thật vậy, ngay khi một hệ thống giám sát những người thầy thuốc được triển khai, nó “ngay lập tức phát hiện một thầy thuốc với tỉ lệ tử vong cao hơn Shipman,” Spiegelhalter viết. Đó là người bác sĩ thiếu may mắn làm việc ở một thành phố ven biển với cộng đồng dân cư lớn tuổi. Kết quả này làm nổi bật sự thận trọng bạn cần phải có ngay cả đối với những phương pháp thống kê tốt nhất. Nói như Spiegelhalter, trong khi thống kê có thể tìm ra những yếu tố ngoại lệ, thì nó lại “không thể cung cấp các lý do tại sao những điều này lại xảy ra, nên cần được bổ sung cẩn thận để tránh những cáo buộc sai lầm.”□  Hoàng Mai lược dịch  https://www.newyorker.com/magazine/2019/09/09/what-statistics-can-and-cant-tell-us-about-ourselves    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thứ bậc của Trí tuệ Việt Nam trong bảng xếp hạng toàn cầu      Từ năm 2007, Tổ chức sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization (WIPO) thuộc LHQ)) đã cùng một số đại công ty, Tổ chức phi chính phủ cho ra đời hệ thống Chỉ số Đổi mới/Sáng tạo toàn cầu- Global Innovation Index (GII) và lập ra bảng xếp hạng hằng năm của các quốc gia trên thế giới.      Có nhiều lý do để làm việc này:  Thông thường người ta quen đánh giá sự đổi mới/sáng tạo theo các chỉ số truyền thống chẳng hạn như số lượng tiến sĩ, bao nhiêu bài báo nghiên cứu khoa học được công bố, số trung tâm nghiên cứu được thành lập, số bằng sáng chế được cấp, và kinh phí dành cho R&D là bao nhiêu % GDP.    Rõ ràng là những tiêu chí đó chỉ phản ánh phần nào về đổi mới/sáng tạo mà thôi. Cần phải có một chỉ số tổng quát hơn, một cách tiếp cận tốt hơn để phản ánh sự phong phú của sự đổi mới/sáng tạo của một xã hội.   Định nghĩa của sự đổi mới/sáng tạo nay đã mở rộng, nó không còn giới hạn với các phòng thí nghiệm R&D hoặc với  việc xuất bản các bài báo khoa học, mà còn bao gồm cả những đổi mới/sáng tạo về xã hội cũng như đổi mới/sáng tạo mô hình kinh doanh.  Đổi mới/sáng tạo là động lực quan trọng cho sự tiến bộ kinh tế và sức cạnh tranh đối với các nước đã phát triển cũng như đang phát triển. Nhiều Chính phủ đang đặt sự đổi mới/sáng tạo thành trung tâm của chiến lược phát triển.   Phương pháp và kỹ thuật đánh giá  Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII- Global Innovation Index) được tính theo  hai nhóm chỉ số con là, nhóm các chỉ số đổi mới/sáng tạo đầu vào và nhóm các chỉ số đầu ra, mỗi nhóm này được xây dựng trên các tiêu chí (gốc) cơ bản.   Năm tiêu chí gốc đầu vào gắn chặt với các yếu tố kinh tế quốc dân, tạo tiền đề cho các hoạt động đổi mới/sáng tạo. Đó là: (1) Tổ chức, (2) Nguồn lực con người và nghiên cứu, (3) Cơ sở hạ tầng, (4) Độ chín của thị trường, và (5)  Mức hoàn thiện của kinh doanh.  Hai tiêu chí đầu ra là minh chứng cho kết quả đầu ra của  đổi mới/sáng tạo: (6) Kết quả khoa học, (7) Thành quả sáng tạo.   Mỗi tiêu chí gốc này lại được chia thành các tiêu chí nhánh và mỗi tiêu chí nhánh được tạo bởi một loạt các chỉ dấu riêng (Indicator). Điểm số của tiêu chí nhánh là trung bình theo trọng số của các chỉ dấu. Điểm số của tiêu chí gốc là trung bình cộng của điểm số các tiêu chí nhánh. Ví dụ tiêu chí gốc Tổ chức thì chia ra làm 3 tiêu chí nhánh: Môi trường chính trị, Môi trường điều hành, Môi trường kinh doanh. Trong tiêu chí nhánh như Môi trường chính trị thì đánh giá cho điểm hoặc phỏng vấn theo ba chỉ dấu: Độ ổn định chính trị, Hiệu lực chính quyền, Tự do báo chí. Tổng hợp lại, cần phải đánh giá khoảng 70 chỉ dấu (Indicator) thì mới có được chỉ số đổi mới/sáng tạo cho một quốc gia.            NHÓM ĐÂU VÀO 1-5      NHÓM ĐẦU RA 6-7                  1-Tổ chức      2-Nguồn lực con người và nghiên cứu      3-Cơ sở hạ tầng      4-Độ chín của thị trường,      5-Mức hoàn thiện của kinh doanh      6-Kết quả khoa học      7-Thành quả   Sáng tạo          Môi trương Chính trị         Giáo dục         Thông tin Truyền   thông         Tín dụng         Nhân lực có kiến thức         Sự sáng chế kiến thức         Tài sản sáng tạo vô hình             Môi trường điều hành         Đào tạo Đại học         Năng lượng         Đầu tư         Các liên kết sáng tạo/đổi   mới         Sự tác động của kiến   thức         Hàng hóa và dịch   vụ sáng tạo          Môi trường kinh   doanh         Nghiên cứu và Triển khai         Hạ tầng cơ sở tổng thể         Thương mại và cạnh tranh         Mức hấp thụ kiến thức         Sự lan tỏa kiến thức                      Thứ bậc của Việt Nam trong bảng xếp hạng toàn cầu thường niên  Đầu tháng 7/2011 Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization (WIPO)) cùng các đối tác đã công bố bảng xếp hạng toàn cầu năm 2011. Trong đó Việt Nam được xếp thứ 51/125, như vậy là ở mức trên trung bình của Thế giới, cũng đáng để tạm vui. So sánh trong ba năm và với các nước lân bang, ta thấy VN vượt lên đứng thứ tư trong ASEAN và tăng 20 bậc so với 2010, còn các nước như Indonesia và Philippines thì tụt xuống đứng sau Việt Nam. Các nước trên Việt Nam đều giữ được vị trí cao như cũ, đặc biệt Singapore, lọt vào top 10 thế giới:            Quốc gia      2011      2010      2009          Singapo     Trung quốc  Malaxia  Thái Lan  Việt nam  Philippin  Indonesia     Nga      3  29  31  48  51  91  99     56      3  43  28  60  71  72  75     64      5  27  25  44  64  63  49     68            Tìm hiểu về xếp hạng theo tiêu chí năm 2011 thì ta thấy Việt Nam có tiêu chí đầu vào thấp nhưng đầu ra lại cao, theo một nghĩa tương đối thì hiệu suất đổi mới/sáng tạo của Việt Nam cao. Có thể tin vào điều này được không?            Quốc gia      Nhóm đầu   vào      Nhóm đầu   ra       Thu nhập          Singapo     Trung quốc  Malaxia  Thái Lan  Việt nam  Philippin  Indonesia     Nga       1  43  27  48  63  93  95     59      17  14  35  46  42  84  97     50      HI –Cao  LM-Trung bình Thấp  UM-Trung bình cao  LM  LM  LM  LM     UM          Tuy nhiên, cũng có thể có sự hoài nghi nào đó về bảng xếp hạng, chẳng hạn như năm nay Việt Nam lại đứng trên cả Nga, có lẽ là phi lý chăng ? Cũng không loại trừ số liệu thống kê mà Việt Nam công bố có thể có chỗ đáng ngờ.   Dù có vài điều nghi ngờ, nhưng Chỉ số Đổi mới/Sáng tạo này thực sự là một công trình công phu, toàn diện và khoa học hơn các cách đánh giá trước đây rất nhiều. Nó có thể làm căn cứ cho các quốc gia cũng như các tổ chức kinh tế, khoa học quốc tế lấy đó làm một cơ sở để hoạch định chính sách.  ——————  *)Lược trích theo tài liệu   The Global Innovation Index 2011:Accelerating Growth and Development  ISBN: 978-2-9522210-1-6  Printed and bound in France by INSEAD, Fontainebleau    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu nhập bình quân toàn cầu có thể giảm 23% do nhiệt độ tăng      Dựa trên dữ liệu lịch sử từ các nước trên khắp thế giới về tác động của biến đổi nhiệt độ đối với năng suất lao động, nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc ĐH Stanford và ĐH California đi đến kết luận, nhiệt độ tăng do biến đổi khí hậu có thể làm cho GDP toàn cầu tính trên đầu người giảm 23% vào năm 2100.     Marshall Burke, thành viên nhóm nghiên cứu, cho rằng: “Có thể coi nghiên cứu của chúng tôi là dữ liệu tham chiếu để tính toán những lợi ích của việc cắt giảm các loại khí thải.”  Nhóm nghiên cứu này cũng cho rằng, tác động đến kinh tế toàn cầu của biến đổi khí hậu có thể còn tồi tệ hơn so với những gì bản nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature này chỉ ra, bởi nó mới chỉ phân tích tác động của sự thay đổi nhiệt độ đối với năng suất lao động, chứ chưa tính đến tác động của các yếu tố khác như mực nước biển dâng cao, bão, hay các hiệu ứng khác phát sinh từ biến đổi khí hậu.     Nghiên cứu này chia năng suất lao động thành hai nhóm nông nghiệp và phi nông nghiệp, tuy nhiên chưa giải thích được tại sao nhiệt độ ấm lại làm giảm năng suất lao động ở các lĩnh vực phi nông nghiệp.     Cũng theo nghiên cứu này, tác động của sự tăng nhiệt độ không xảy ra đồng đều trên toàn cầu. Năng suất lao động đạt mức cao nhất khi nhiệt độ trung bình là 13ºC. Như vậy, nhiệt độ tăng có thể giúp nâng cao năng suất ở các quốc gia vùng lạnh phía bắc và gây thiệt hại cho các vùng nhiệt đới. Điều này cũng đồng nghĩa với tình trạng cách biệt trên toàn cầu sẽ diễn biến theo chiều hướng ngày càng tệ hơn, bởi các quốc gia phía bắc vốn đã có nền kinh tế phát triển hơn các quốc gia nhiệt đới.       Trang Bùi dịch  Nguồn: http://time.com/4082328/climate-change-economic-impact/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thu nhỏ kích cỡ máy gia tốc      Những cỗ máy gia tốc phục vụ các thí nghiệm vật lý lượng tử thường đòi hỏi nhiều không gian như: máy gia tốc hạt lớn LHC (Large Hadron Collider) có đường kính hơn 8km, đủ để khoanh tròn vài thị trấn. Máy gia tốc tuyến tính của Đại học Stanford cũng dài tới hơn 3 km. Tuy nhiên trong tương lai, người ta kỳ vọng có thể thu nhỏ máy gia tốc xuống kích cỡ một chiếc bàn mà không hề làm mất đi khả năng gia tốc mạnh mẽ của chúng.    Thí nghiệm của máy gia tốc LHC có kích thước rất lớn  Mới đây các nhà khoa học tại CERN đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên trong thí nghiệm AWAKE (hay còn gọi là thí nghiệm Proton Driven Plasma Wakefield Acceleration Experiment – Thí nghiệm Máy gia tốc Sử dụng Trường Plasma để điều khiển Proton) theo một phương pháp hoàn toàn mới khiến các hạt di chuyển nhanh hơn rất nhiều trong một quãng thời gian ngắn hơn, qua đó trên lý thuyết có thể giảm kích thước của những thí nghiệm vật lý hạt xuống hàng trăm lần, hoặc thậm chí nhiều hơn. Thí nghiệm này được thực hiện trên máy gia tốc Wakefield (máy gia tốc hoạt động dựa vào điện trường tạo ra bởi sóng radio) và đã từng được lên kế hoạch tiến hành vào năm 1970 nhưng do gặp quá nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật nên không thể triển khai.  Phương pháp hoạt động của loại máy này như sau: đầu tiên, một bó proton từ máy gia tốc proton Super Proton Synchrotron của CERN sẽ đi qua trường plasma. Chùm electron trong plasma được tích điện âm, phóng về phía các hạt proton mang điện dương. Tại thời điểm này, mặc dù chùm proton đã phóng về phía trước, nhưng chùm electron vẫn tiếp tục chuyển động. Khi bị mất electron, trường plasma tích điện dương tạo lực kéo chùm hạt quay lại. Quá trình diễn ra tạo thành một sóng. Nếu ta đưa một chùm hạt electron khác rơi vào trong sóng, chùm cũ sẽ lướt theo chiều dọc để tránh các chùm electron âm rơi vào, khiến chùm hạt được gia tốc nhanh chóng trong Wakefield, nhanh hơn so với phương pháp truyền thống một ngàn lần.  “Điều này cho phép thu nhỏ các máy gia tốc rất nhiều,” Edda Gshwendtner, lãnh đạo dự án cho biết.  Ngày nay, các nhà vật lý chỉ sử dụng chùm proton như chùm tia chính trong phương pháp tiến hành thí nghiệm và vẫn chưa hề có plasma hay gia tốc electron – điều này có lẽ sẽ không xảy ra cho đến năm 2018 – và AWAKE mới là sự kiểm chứng về khái niệm, một nỗ lực ban đầu để chế tạo loại máy gia tốc Wakefield. Tuy nhiên, đó là bước tiến quan trọng đầu tiên mở ra những triển vọng mới.  Theo một thông cáo báo chí của CERN, một ngày nào đó, chúng ta thậm chí sẽ trông thấy những máy gia tốc hạt năng lượng cao có kích cỡ bằng chiếc bàn, nhưng có thể chúng sẽ không sử dụng proton để tạo sóng, bởi các máy gia tốc dựa trên proton thường dùng cho các thí nghiệm lớn.  Vì mới chỉ có những kết quả ban đầu, nên chúng ta sẽ chưa thể có những loại máy gia tốc này cho các thí nghiệm vật lý hạt trong vài thập kỷ tới, Gschwendtner cho biết. Nhưng ý tưởng về thí nghiệm vật lý hạt có kích cỡ như chiếc bàn sẽ luôn thu hút sự chú ý của chúng ta.  Phương Thảo dịch theo Popsci    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thử sức đầu năm      Nhức đầu, sỗ mũi, đau họng, ho húng hắng… là chuyện thường tình mỗi khi thay đổi thời tiết. Không đơn giản như thế. Bằng chứng là không phải ai ai cũng ê mình lúc trở trời. Tình trạng nay cảm, mai cúm, đặc biệt vào thời điểm giao mùa, nếu xảy ra quá thường là dấu hiệu cho thấy sức đề kháng khó còn nguyên vẹn như mong muốn của gia chủ.        Từ 20 đến 26 điểm: Bạn đang thuộc nhóm “khó chịu” đối với vi khuẩn. Cố tiếp tục như thế nhưng đừng quên kiểm lại bản trắc nghiệm mỗi 3 tháng để đừng quá chủ quan.      Từ 10 đến 19 điểm: Bạn vẫn còn thủ hòa với cảm cúm trong điều kiện bình thường. Nhưng chỉ cần một yếu tố thuận lợi nào đó, chẳng hạn stress, thì vi khuẩn sẽ chiếm phần ưu thế. Bạn phải nhanh chóng chuyển sang thế công vì đó là cách phòng thủ tốt nhất.      Dưới 9 điểm: Bạn, nói đúng hơn là nếp sinh hoạt và chế độ dinh dưỡng của bạn, đang góp phần đục khoét khả năng phòng bệnh. Nếu chính gậy ông đập lưng ông thì vi khuẩn cảm cúm còn đợi gì mà không xoa tay mãn nguyện!            Mẹo vặt chống cảm cúm      1. Giảm ngay lượng mỡ động vật trong khẩu phần thường ngày khi phát hiện triệu chứng mỏi mệt. Ngược lại, tăng thu nhập nguồn sinh tố, như tiền sinh tố A, sinh tố C, E và khoáng tố vi lượng, như kẽm, selen, crôm, mangan, vào những ngày căng thẳng, hay gặp lúc thay đổi thời tiết.              2. Giảm tối đa rượu bia, thuốc lá khi vừa bắt đầu đau họng để cơ thể tận dụng nguồn dự trữ sinh – khoáng tố cho hoạt động kháng khuẩn, thay vì hao hụt cho chức năng giải độc của lá gan.              3. Chọn quần áo thích hợp với thời tiết. Đừng quên, áo quần ướt đẫm là một trong các yếu tố thuận lợi cho bội nhiểm đường hô hấp.              4. Chơi thể thao nhưng đừng để kiệt sức. Cũng đừng chọn môn đòi hỏi ăn thua tới cùng trong những ngày căng thẳng vì công việc.              5. Ngủ cho đủ giấc vì giấc ngủ chính là khoảng thời gian lý tưởng chẳng những cho tiến trình phục hồi tế bào mà đồng thời cho quy trình tổng hợp kháng thể, theo như kết quả nghiên cứu gần đây của đại học Leipzig về tiềm năng của giấc ngủ.              6. Giữ chân, nói đúng hơn, giữ lòng bàn chân cho ấm, vì đó là yếu điểm dẫn đến viêm họng, viêm bàng quang…              7. Tập dượt hệ thống miễn nhiểm bằng cách tắm nước nóng/nước lạnh mỗi sáng để đánh thức sức kháng bệnh thông qua kích ứng do khác biệt về nhiệt độ giữa nước lạnh và nước nóng              8. Giữ phòng cho thoáng khí và tránh khác biệt nhiệt độ thái quá. Không lạ gì khi đa số người phải làm việc nhiều giờ trong phòng có máy điều hòa không khí lại là nạn nhân quen mặt của cảm cúm.              9. Ưu tiên cho phương pháp không dùng thuốc, như xông hơi, thay vì tập cho cơ thể lệ thuộc qua thói quen nốc thuốc cảm khi mới ớn lạnh.              10. Cười nhiều, cười lớn, cười hả hê không chỉ để tăng thu nạp dưỡng khí mà đồng thời hưng phấn chức năng kháng bệnh thông qua phản xạ trên trục thần kinh – nội tiết. Cơ thể càng có nhiều endorphine, nội tiết tố của cảm giác sảng khoái, thì vi khuẩn càng ít có hy vọng tác yêu tác quái.              Phương Trâm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thú tiêu khiển: Năng lượng cho các thiên tài ?      Từ hội họa, đấm bốc, cho đến nhảy dù, những thú vui cá nhân giúp nhà khoa học giải tỏa căng thẳng sau những giờ làm việc miệt mài trong phòng thí nghiệm.    Albert Einstein là tay chơi violin cự phách. Richard Feynman gõ trống bongo. Giờ đây, tiếp nối truyền thống của các nhà vật lí đa tài tiền bối, Federica Bianco cũng có một sở thích riêng trong những giờ nghỉ ngơi: đấm bốc. Nhà vật lí học thiên thể này hiện đang làm việc tại Đại học New York, nhưng tháng Tư vừa rồi, cô đã bay tới Richmond, California, để tham gia trận đấu quyền Anh nhà nghề đầu tiên của mình. Đối thủ của cô hôm ấy đã không gặp may. Bianco dồn đối thủ vào dây võ đài bằng hàng loạt cú đấm liên tiếp và chỉ dừng lại khi trọng tài ngưng trận đấu. Mọi chuyện diễn ra trong vẻn vẹn 1 phút 20 giây. Bianco kể lại: “Tôi còn muốn đấu tiếp, nhưng chị ấy bị dính đòn nhiều quá nên trọng tài cho ngừng lại.”    Đối với Bianco, đấm bốc không chỉ là một sở thích đơn thuần mà còn là cách giúp cô giải phóng hoàn toàn cả đầu óc và cơ thể khỏi công việc. Cô chia sẻ: “Là nhà khoa học, lúc nào đầu óc tôi cũng chộn rộn nghĩ ngợi đủ thứ. Nhưng võ đài thì lại hết sức yên ắng. Trước mắt tôi chỉ còn một mục tiêu thôi. Đối thủ đang nhăm nhe muốn hạ gục tôi, và tôi phải đối phó với điều đó.”    Hiện nay, cuộc cạnh tranh giành nguồn tài trợ nghiên cứu và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp đôi khi cũng gay gắt không kém một trận quyền Anh, vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu chỉ cắm cúi trong phòng thí nghiệm, không hình dung nổi cuộc sống năng động bên ngoài là như thế nào. Có rất nhiều áp lực khiến họ phải hi sinh thời gian nghỉ ngơi và gạt qua một bên những thú vui để chuẩn bị cho cuộc thí nghiệm tiếp theo, viết công trình nghiên cứu, hay tham gia các hội thảo khoa học. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho biết, chính nhờ có thời gian nghỉ ngơi mà hoạt động chuyên môn của họ được cải thiện bởi qua đó, tâm trí họ trở nên nhạy bén hơn, lòng tự tin được củng cố thêm, và stress giảm đi. Đây có thể là thông tin khích lệ những nhà khoa học đang chịu nhiều áp lực trong công việc.     Dĩ nhiên, một số nhà nghiên cứu vẫn còn giữ thái độ hoài nghi đối với vai trò của các thú vui và hoạt động tiêu khiển trong giới học thuật. Ryan Raver, quản lí sản phẩm của Công ty Công nghệ sinh học Sigma-Aldrich ở St Louis, Missouri, có một kỉ niệm khó quên thời anh theo học tiến sĩ ở Đại học Wisconsin-Madison. Khi đó, một người trong hội đồng chấm luận văn tiến sĩ không muốn để anh tốt nghiệp vì cho rằng anh đã dành quá nhiều thời gian viết blog và còn chơi solo guitar cho một ban nhạc rock nặng nữa. Raver kể: “Thầy ấy nói lẽ ra tôi nên tập trung hơn vào công việc mới phải. Nhưng chính việc chơi nhạc đã giúp tôi vượt qua giai đoạn sau đại học. Nhờ nó mà tôi duy trì được sự hứng khởi và động lực làm việc.” Theo Raver, phần lớn giới học thuật vẫn cho rằng càng dành nhiều thời gian cho khoa học, bạn càng thu về được những kết quả nghiên cứu có chất lượng, nhưng những người như anh lại suy nghĩ hoàn toàn khác: “Con người đâu phải cỗ máy, họ cũng cần phải nghỉ ngơi và thư giãn đầu óc khi công việc căng thẳng chứ!”    Sean Carroll, nhà vật lí học thuộc Viện Công nghệ California ở Pasadena, từng đăng tải một bài viết trên blog, trong đó anh khuyên các nhà khoa học hãy lựa chọn sở thích thật cẩn thận, nhất là những người muốn tìm được một nơi làm việc chính thức. Cụ thể, anh khuyên họ tránh xa những thú vui có thể khiến họ xao nhãng khoa học. Anh viết: “Những thú vui chấp nhận được là nhảy dù, chơi guitar, hay nấu ăn. Không nên tìm đến những thú vui như viết lách (viết tiểu thuyết, viết báo, viết blog), lập trình hay những gì liên quan đến mạng interenet, thành lập công ty riêng,… vì người ngoài sẽ nghĩ rằng lẽ ra bạn nên dành thời gian cho những thú chơi đó vào công việc nghiên cứu”.    Có rất nhiều bằng chứng chứng minh rằng hoạt động khoa học và hoạt động giải trí có thể cùng tồn tại song song với nhau. Theo một nghiên cứu công bố năm 2008, chủ nhân các giải Nobel có xu hướng duy trì những sở thích lâu năm nhiều hơn so với các nhà khoa học khác. Đáng chú ý, so với các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, tỉ lệ chủ động theo đuổi các hoạt động nghệ thuật ở những người được giải Nobel cao hơn khoảng 1,5 lần. Như vậy, xét trong quy mô mẫu của nghiên cứu này thì sở thích cá nhân lại là chỉ số thể hiện năng lực khoa học tốt hơn so với chỉ số IQ, vốn không thể hiện nhiều khác biệt giữa những nhà khoa học “tốp trên” và “tốp dưới”.    Robert Root-Bernstein, nhà vật lí học của Đại học Bang Michigan, East Lansing, đồng thời cũng là tác giả chính của nghiên cứu nói trên, cho hay khó có thể khẳng định được rằng bản thân sở thích riêng đã tiếp thêm năng lượng cho các thiên tài, hay thiên tài có xu hướng theo đuổi sở thích riêng. Ông kết luận: “Có lẽ đó là sự kết hợp của cả hai.” Ông cũng lưu ý rằng, trái với quan điểm phổ biến, những thiên tài khoa học lại thường có tinh thần phiêu lưu mạo hiểm và khỏe mạnh hơn người bình thường. Ông nói: “Thật ngạc nhiên, rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel tham gia vào trào lưu lướt sóng khi thú vui này thịnh hành vào những năm 1960.”    Cũng có một số người trong giới học thuật đánh giá cao vai trò của các sở thích và thú tiêu khiển đối với nhà nghiên cứu trẻ, có lẽ vì bản thân họ đã nghiệm ra được giá trị của chúng. Tony Ryan, nhà hóa học kiêm phó hiệu trưởng phụ trách khoa học ở Đại học Sheffield, Anh, trong nhiều năm qua đã tuyển dụng nhiều nhà khoa học, và cho biết ông luôn do dự khi tuyển dụng những người mải tập trung vào nghiên cứu đến nỗi không còn thời gian dành cho bất kì điều gì khác. Ông giải thích: “Chúng tôi cần những nhà khoa học xuất sắc, nhưng chúng tôi cũng cần một con người toàn diện mang lại cảm giác gần gũi cho các sinh viên.”    Bản thân Ryan cũng có thú vui riêng. Tuy công việc bận rộn nhưng ông vẫn đạp xe đi làm và đi dã ngoại; tổng đoạn đường ông đạp mỗi năm lên tới khoảng 8.000km. Mỗi sáng thứ Bảy, ông tham gia vào một nhóm thích đạp xe, và thú vui của ông là vừa đạp xe vừa đàm luận về số nguyên tố với một nhà khoa học máy tính, mặc dù việc này vẫn bị phản đối từ các thành viên khác trong nhóm, gồm một chuyên gia bảo vệ thực vật, một thợ sửa ống nước, và một bác sĩ.    Ryan thậm chí còn thường xuyên mang xe đạp tới tham dự các hội thảo quốc tế, dù chúng được tổ chức ở những nơi xa như London hay Hong Kong. Ông phân bua: “Tôi có thể gấp xe đạp lại và nhét nó vào trong vali. Cũng có nhiều người mang xe đạp đi như vậy mà. Thời nay người ta không chơi golf nữa, đạp xe mới là mốt thời thượng.”    Tương tự, Alexander Suh, nhà sinh học tiến hóa ở Đại học Uppsala, Thụy Điển, cũng mang theo đồ leo núi mỗi khi anh đi dự bất kì hội thảo nào được tổ chức ở gần núi hay địa điểm có thể leo trèo. Suh bắt đầu leo núi từ khoảng ba năm nay, và theo anh, sở thích này hóa ra lại rất hữu ích cho anh trong việc giao lưu gặp gỡ đồng nghiệp. Anh nói: “Số lượng nhà sinh học thích leo núi nhiều tới nỗi đi đâu cũng gặp họ. Chúng tôi nói chuyện về khoa học, và về leo núi.” Khi ở trường, Suh cố gắng dành ra khoảng một tiếng để leo trèo “mỗi khi công việc chất chồng lên nhau”. Hoạt động này giúp anh giải tỏa đầu óc, đồng thời cũng làm nhẹ đi những căng thẳng khi nghiên cứu gene.     Maria Sapar, một nữ nghiên cứu sinh chuyên ngành sinh học phân tử ở Đại học Cornell, Ithaca, New York, lại có một thú vui khác là nhảy dù. Tính đến nay, Sapar đã thực hiện được 147 cú nhảy dù và dự định còn thực hiện thêm nhiều cú nữa – một thành tích không tồi đối với người vốn sợ độ cao như cô. Trò vui này mang lại cho cô cảm giác liều lĩnh và hứng khởi, đồng thời mang lại cái nhìn hài hòa trong mọi vấn đề của cuộc sống, đặc biệt trong công việc nghiên cứu. Mỗi khi cảm thấy sợ hãi hay lo lắng trước áp lực công việc, cô lại tự nhủ mình rằng: “Này Maria, mày đã từng nhảy ra khỏi máy bay cơ mà. Chuyện này mày cũng sẽ làm được thôi.”    Adam Ruben, một nhà nghiên cứu vaccine phòng sốt rét ở Công ty Công nghệ sinh học Sanaria Rockville, Maryland, không có thú vui nhảy dù, nhưng lại có một sở thích không kém phần “kịch tính”: biểu diễn độc tấu hài kịch. Khi còn là sinh viên sau đại học ở Đại học Baltimore, Maryland, anh thường tới các câu lạc bộ và quán bar trong thành phố để biểu diễn tài kể chuyện hài, nhưng không gặt hái được mấy thành công, bởi đó chỉ là những buổi “open-mic” (bất kỳ ai cũng có thể lên sân khấu trình diễn) với rất nhiều người lên biểu diễn trong khi lượng khán giả rất ít. Sau khi chuyển về gần Washington DC, Ruben bắt đầu biểu diễn cho nhiều khán giả hơn, và họ cũng cởi mở tiếp nhận những chuyện hài hước trong khoa học mà thi thoảng anh có nhắc đến.    Hiện Ruben vẫn dành thời gian để diễn tập và tham gia vào các chương trình trực tiếp. Bên cạnh những câu chuyện hài ngắn, anh còn kể về thời gian theo học tiến sĩ, một chủ đề mà anh đã khai thác triệt để khi viết cuốn sách Sống sót sau quyết định ngu xuẩn là học cao học xuất bản năm 2010. Chẳng hạn, anh nói về thời gian làm việc liên tục 21 giờ mỗi ngày để xuất dữ liệu phục vụ cho bài thuyết trình của một chuyên gia tư vấn. Cái tréo ngoe ở đây – mà nhiều nhà khoa học ngồi ở hàng ghế khán giả trong các chương trình của anh chắc đều cũng đoán được – là những dữ liệu đó rốt cuộc lại không được dùng đến. Ruben chia sẻ, anh rất vui vì mình đã được học hành nghiêm chỉnh và có sự nghiệp trong ngành khoa học, song anh cũng lấy làm may mắn vì anh có nơi để cười đùa về những thực trạng tồn tại trong ngành. Anh nói: “Giới học thuật nên sử dụng khiếu hài hước của họ nhiều hơn nữa, thậm chí vận dụng sự hài hước để phê phán, bởi chỉ thông qua phê phán người ta mới có thể khắc phục những mặt trái”.      Bùi Thu Trang lược dịch   Nguồn: ttp://www.nature.com/naturejobs/science/articles/10.1038/nj7558-117a.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủ tướng thị sát công nghệ điện rác đầu tiên của Việt Nam      Thị sát công nghệ điện rác đầu tiên của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng công nghệ này mở ra tương lai đầy hứa hẹn, mang lại lợi ích rất lớn, đặc biệt là trong xử lý chất thải rắn – bài toán khó chưa có lời giải ở nước ta.      Thủ tướng thị sát công nghệ điện rác của công ty HMC. Ảnh: VGP/Quang Hiếu  Sáng 18/3, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo một số bộ, ngành đã đến thị sát công nghệ điện rác của Công ty TNHH Thủy lực máy HMC tại Khu công nghiệp Đồng Văn 2, tỉnh Hà Nam.  Báo cáo với Thủ tướng và đoàn công tác, ông Nguyễn Gia Long, Giám đốc Công ty cho biết công nghệ xử lý rác thải rắn bằng phương pháp khí hóa thiếu oxy tạo ra khí tổng hợp (syngas) làm nhiên liệu chạy máy phát điện (gọi tắt là công nghệ điện rác – WTE) đã được khảo nghiệm thành công.  Trong đợt chạy khảo nghiệm này, nhà máy đã xử lý sạch 208 tấn rác thải rắn không phân loại do Công ty Môi trường đô thị Hà Nam cung cấp; phát điện thắp sáng cho toàn bộ hệ thống chiếu sáng của Khu công nghiệp Đồng Văn 2.  Theo ông Nguyễn Gia Long, đặc điểm của công nghệ điện rác WTE là không cần phân loại rác từ đầu nguồn, không tốn quỹ đất để chôn lấp, không phát thải thứ cấp. “Dây chuyền khép kín, không ống khói, không gây ô nhiễm không khí”, ông Long nói.  Lắng nghe ý kiến các bộ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tỉnh Hà Nam về công nghệ này, Thủ tướng đánh giá cao cá nhân ông Nguyễn Gia Long và tập thể cán bộ, kỹ sư của Công ty đã dành nhiều công sức nghiên cứu công trình và bước đầu thực nghiệm thành công, mở ra tương lai đầy hứa hẹn về việc áp dụng rộng rãi.  Thủ tướng nhìn nhận, đây là công trình sáng tạo của trí tuệ Việt Nam, lần đầu tiên áp dụng ở nước ta khi mà hiện nay, xử lý rác thải chủ yếu bằng cách chôn lấp.  “Đối với các cán bộ khoa học thì đây là bài học kinh nghiệm tốt giữa lý thuyết và cuộc sống. Đừng để tình trạng chúng ta bỏ ra hàng trăm, hàng ngàn tỷ để nghiên cứu nhưng đề tài đó nằm ở hộc bàn mà chưa đưa vào sản xuất”, Thủ tướng nói.  Khích lệ tinh thần sáng tạo, nghiên cứu gắn liền với thực tiễn, Thủ tướng cho rằng công trình này cũng đặt vấn đề về việc không tạo ra độc quyền, có thể so sánh công nghệ, “cái nào sạch hơn, rẻ hơn, có tính cạnh tranh hơn thì chúng ta hoan nghênh”. “Điều đó mang lại lợi ích cho đất nước, cho xã hội rất lớn, đặc biệt là vấn đề nóng bỏng hiện là xử lý chất thải rắn, kể cả hữu cơ và vô cơ, một bài toán chưa có lời giải ở Việt Nam”.  Nhấn mạnh tinh thần bảo đảm cuộc sống bình yên của người dân thông qua bảo vệ môi trường, sử dụng tiền thuế của người dân hiệu quả nhất, đừng để tình trạng ngân sách Nhà nước tốn kém nhưng vấn đề chôn lấp rác gây bức xúc cho người dân ở một số địa phương trên cả nước, Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương để thúc đẩy, sớm đưa công nghệ vào cuộc sống.  Các bộ, ngành, tỉnh Hà Nam cần tích cực hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để công ty tiếp tục hoàn chỉnh công nghệ, vận hành thử nghiệm thành công, đưa công nghệ vào sản xuất thương mại, góp phần giảm ô nhiễm môi trường và phát triển kinh tế.  Thủ tướng gợi ý trước mắt tỉnh Hà Nam có thể xem xét, giao cho Công ty xử lý thử nghiệm một phần số lượng rác thải hiện có của tỉnh trong 1 tháng, các bộ, tỉnh Hà Nam có thể cử cán bộ theo dõi thường xuyên tại đây để thẩm định hiệu quả thực tế công nghệ này.  Bộ KH&CN tiếp tục hướng dẫn Công ty hoàn thành thủ tục để được cấp giấy chứng nhận bản quyền sở hữu trí tuệ công nghệ điện rác và chứng chỉ công bố tiêu chuẩn công nghệ điện rác theo đúng quy định.  Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Công ty lập hồ sơ cấp chứng chỉ công nhận đạt tiêu chuẩn môi trường cho công nghệ điện rác.  Bộ Công Thương và đặc biệt là EVN thẩm định cụ thể về kỹ thuật, khả năng kết nối lưới điện, sự ổn định. “Với người tiêu dùng thì không chỉ cần số lượng điện năng mà cả chất lượng điện năng nữa. Ông sản xuất lúc được lúc không thì làm được”, Thủ tướng nói. “Nếu khả thi về mặt kỹ thuật thì hướng dẫn Công ty lập hồ sơ, thủ tục hợp đồng mua bán điện, thủ tục đấu nối thuận lợi vào lưới điện quốc gia theo quy định, hướng dẫn hồ sơ, thủ tục để đưa vào danh mục hàng trong nước đã sản xuất được”.  Thủ tướng cũng lưu ý xem xét vấn đề giá điện với tinh thần ủng hộ dự án bảo vệ môi trường.  Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội trong việc ứng dụng công nghệ điện rác, từ đó đề xuất các chính sách hỗ trợ đối với đơn vị nghiên cứu, ứng dụng sản xuất, xử lý chất thải rắn bằng công nghệ này.  “Tôi thấy còn rất nhiều công việc sắp tới, các bộ, ngành Trung ương và đặc biệt tỉnh Hà Nam cũng như Công ty HMC phải tập trung để hoàn thành công nghệ, thiết bị, các hồ sơ liên quan để sản xuất ổn định, chất lượng, số lượng cao hơn thực nghiệm”, Thủ tướng nói. “Cái chúng tôi nhìn thấy hôm nay thì mới đạt công suất khiêm tốn, 0,5 MW. Từ mô hình thử nghiệm này đến sản xuất hàng hóa là cả quá trình”.  Thủ tướng kỳ vọng trong tương lai gần, công trình này thành công trên phạm vi lớn hơn, áp dụng rộng rãi hơn.  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Thoi-su/Thu-tuong-Cong-nghe-dien-rac-dau-tien-tai-Viet-Nam-day-hua-hen/301050.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thư viện của kỷ nguyên thông tin      “Thư viện không chỉ là nơi những cuốn sách được lưu trữ mà còn là nơi những ý tưởng được chia sẻ”.  Geneva Henry, Giám đốc thư viện ĐH Rice, Houston    Thư viện số là dịch vụ có chức năng phân loại, lưu trữ, bảo vệ, tìm kiếm và truy xuất thông tin dưới dạng số và được truy cập thông qua máy tính. Những thông tin số có thể được lưu trữ tại chỗ hoặc cập nhật từ xa thông qua mạng máy tính. Ban đầu, thuật ngữ “thư viện số” thường được gọi là “thư viện điện tử” hay “thư viện ảo”. Để được coi là thư viện số thì việc sưu tập thông tin trực tuyến phải được quản lý và tạo khả năng truy cập cho cộng đồng người sử dụng. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, có thể hiểu website cũng là một thư viện số. Có rất nhiều thư viện số nổi tiếng lâu đời hơn cả những trang web như Project Perseus, Project Gutenberg và Ibiblio. Một số thư viện vừa có chức năng thu thập và lưu trữ những bài báo, sách vừa có chức năng của một thư viện số và được gọi và “thư viện lai”.  Tiện ích  Những thư viện truyền thống bị giới hạn bởi không gian lưu trữ. Nhưng thư viện số có khả năng lưu trữ nhiều thông tin hơn bởi vì những thông tin số cần rất ít không gian để lưu trữ. Mặt khác, chi phí để duy trì một thư viện số thấp hơn nhiều so với thư viện truyền thống. Một thư viện truyền thống phải chi tiêu một khoản tiền lớn để trả lương cho nhân viên, bảo quản sách, mua sách mới. Thư viện số có thể áp dụng trực tiếp những phát minh công nghệ cung cấp cho người sử dụng những khả năng tiếp cận mới trong công nghệ sách điện tử và sách tiếng, cũng như những khả năng hiển thị thông tin mới như wiki, blog.  Chúng ta có thể nhận thấy nhiều tiện ích mà thư viện số có thể mang lại. Những người sử dụng thư viện số ở vòng quanh thế giới có thể truy cập cùng một thông tin thông qua mạng internet mà không cần phải đi đến thư viện; Mọi người có thể truy cập thông tin ở bất cứ thời điểm nào bất kể ban đêm hay ngày; Người sử dụng có thể truy xuất tài liệu cần tìm nhanh chóng thông qua cấu trúc và giao diện thiết kế của thư viện số; Một thư viện số có thể cung cấp đường dẫn tới bất cứ một nguồn tài liệu, thông tin nào của một thư viện số khác. Trong tương lai thư viện số sẽ trở thành công cụ hữu hiệu đưa loài người tiến bộ.    Bản quyền trong kỷ nguyên số   Khái niệm về đối tượng tài liệu rất mơ hồ. Đối với thư viện truyền thống, đối tượng đó có thể là những cuốn sách, tạp chí, băng video, những cái mà chúng ta có thể cầm nắm và trao đổi. Sự xuất hiện “tài liệu số” đã làm nổ tung quan niệm cũ. Thư viện số liên quan đến những đối tượng tài liệu mà ta không thể “sờ” thấy.  Những bản sao số dễ dàng được tạo ra, sửa đổi và phát tán rộng rãi trong hệ thống mạng máy tính. Từ đó, những người nắm giữ bản quyền sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý và làm chủ những bản sao số đó. Thậm chí, những bản sao số này cũng có thể được tạo ra một cách tình cờ khi một cá nhân truy cập vào những website, “những bản sao tình cờ” tự động được tạo ra ở bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên RAM trong máy tính của họ. Hơn nữa, những bản sao số có tính chất nhất thời. Không giống như một cuốn sách bạn có thể mua và sở hữu. Đối với những tài liệu của thư viện số, ngày hôm nay bạn có thể truy cập nhưng ngày mai có thể không. Do vậy, thư viện số gặp vấn đề về bản quyền. Trong những năm gần đây, cuộc chiến pháp lý về bản quyền giữa một bên là người nắm giữ bản quyền (nhà xuất bản, công ty giải trí, công nghiệp kinh doanh phần mềm) và bên kia những người sử dụng. Thư viện số là người trung gian điều hòa sự cân bằng giữa hai bên. Một số thư viện số như Project Gutenberg cung cấp nguồn tài liệu miễn phí cho cộng đồng.  Thông tin là một hàng hóa?  Chúng ta có phải trả tiền khi khai thác tài liệu trong một thư viện số? Liệu quan niệm thông tin là một hàng hóa có phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta trong thế giới online? Thành công nổi bật của WWW lại dựa trên một quan điểm hoàn toàn khác biệt: truy cập thông tin mở. Trên trang web, những người xây dựng web “xuất” thông tin. Họ đầu tư thời gian và sức lực để tạo ra những “vật liệu” có sẵn và hy vọng rằng, mọi người có thể đọc chúng. Trong xã hội của chúng ta, thông tin quá tải là một vấn đề chung. Những người xây dựng và cung cấp thông tin phải cạnh tranh để dành được sự quan tâm của độc giả, vì thế những thông tin miễn phí được khuyến khích có sẵn cho mọi người. Nhưng trong thế giới sách, chúng ta phải trả tiền để có được thông tin. Liệu chúng ta có nên dừng việc tìm kiếm những mô hình thư viện số mà người độc giả phải trả phí, và tập trung vào mô hình mà ở đó nhà xuất bản hay nhà cung cấp thông tin phải chi trả?  Người thủ thư  Sự xuất hiện của thư viện số làm cho chúng ta có suy nghĩ rằng, nhiều thủ thư sẽ bị mất việc. Trên thực tế thì không hoàn toàn như vậy. Một thư viện số hiệu quả sẽ phải cần nhiều nhân lực hơn. Nhưng những người thủ thư này sẽ phải có được những kỹ năng chuyên môn sâu hơn và rộng hơn về công nghệ. Một thư viện số thực sự phải có một hệ thống nhân lực có thể ra quyết định, phân loại nội dung đối tượng tài liệu, thiết kế và điều chỉnh cơ cấu tổ chức, cung cấp dịch vụ và cải tiến công nghệ. Kể cả thư viện truyền thống và thư viện số đều phải cần 5 yếu tố: nội dung, tổ chức, dịch vụ, công nghệ và con người. Không có hội đủ những yếu tố này thì một thư viện số không phải là một thư viện.  THƯ VIỆN SỐ Ở PAKISTAN  Chỉ với kinh phí cho năm đầu tiên (2003 – 2004) là 313.000 USD và lên đến 2,2 triệu USD trong năm 2005  -2006, Chương trình thư viện số của Pakistan đã có tác động rõ rệt đến nghiên cứu và triển khai của Pakistan.  Chương trình Thư viện số của Ủy ban Giáo dục bậc cao (HEC – Higher Education Commission) là công cụ quan trọng để cung cấp thông tin khoa học chất lượng cao cho giới nghiên cứu Pakistan. Mục tiêu của chương trình này gồm nâng cao nhận thức của người dùng về tài nguyên thư viện số; đào tạo kỹ năng cho người dùng thư viện số; xây dựng cộng đồng nghiên cứu và những người sử dụng thư viện số trên quy mô quốc gia.  Khởi đầu của Chương trình Thư viện số là Dự án Tăng cường thông tin nghiên cứu (PERI – Programme for the Enhancement of Research Information) hợp tác của dự án Mạng công bố khoa học quốc tế (INASP – International Network for the Availability of Scientific Publications) có trụ sở ở Anh. Với PERI, những người được cho phép có thể truy cập vào hơn 20.000 ấn bản khoa học, cả phổ thông lẫn chuyên ngành cao cấp. Với những ấn bản bị hạn chế truy cập đầy đủ, HEC sẽ thỏa thuận với Thư viện Anh (British Library) để thỏa thuận nhận từng bài báo từ bất kỳ tạp chí nào để chuyển trực tiếp tới những nhà khoa học đã đăng ký. 75% ngân sách của Chương trình dành cho phát triển nội dung nên các trường đại học, viện nghiên cứu của Pakistan có thể truy cập vào nhiều tạp chí khoa học “thoải mái” hơn hầu hết các trường đại học ở châu Âu hay Mỹ.  Với các trường đại học công lập, HEC sẽ chi trả toàn bộ cho việc khai thác tài liệu từ thư viện số. Còn các trường đại học tư phải trả 50% phí, phần còn lại sẽ do HEC tài trợ. Kinh phí của Chương trình được phân bổ theo những hạng mục: Nội dung; đào tạo; trợ giúp kỹ thuật; quảng bá tài nguyên số (Xem ảnh). Kinh phí năm 2006 cho Chương trình này vào khoảng 2,2 triệu USD.                  Chương trình bắt đầu hoạt động từ 2003, chỉ 1 năm sau, số lượng tải về đã lên tới xấp xỉ 100.000 trang văn bản; đến năm 2005, con số này đã lên gấp 10: 1 triệu trang văn bản. Số viện, trường đăng ký tham gia Chương trình lên tới 250.  Một loạt chỉ số được dùng để đánh giá hiệu quả của chương trình thư viện số. Tất nhiên có nhiều yếu tố tác động đến chỉ số này, song tính toán khối lượng vẫn là yếu tố cơ bản để đánh giá “đầu ra” của nền khoa học.  Số lượng công bố từ 2001 – 2004  Năm Số lượng công bố      Phần trăm tăng        Tổng cộng  2001        513                           —                          513  2002        576                          12                          1,089  2003        639                          10                           1,728  2004         781                          22                          2,509  Bảng trên cho thấy số lượng nghiên cứu đã tăng đều đặn; nhưng từ 2003 đến 2004, tỷ lệ phần trăm tăng đã lên gấp đôi. Rõ ràng thư viện số đã có vai trò trong việc tăng vọt số lượng công bố nghiên cứu.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thư viện nguồn mở: một tất yếu đối với khoa học hiện đại?      Song song với phương thức thông tin khoa học truyền thống, in trên giấy hay điện tử, muốn đọc phải trả tiền hoặc miễn phí là một phương thức thông tin khoa học mới gọi là “thông tin khoa học trực tiếp”, dựa trên sự tự lưu trữ, bởi chính các nhà nghiên cứu, các sản phẩm của họ trong các “thư viện nguồn mở”, từ đó ra đời khái niệm tự do công bố.  Vậy lợi ích của các thư viện mở được các nhà nghiên cứu sử dụng là gì? Đâu là cơ hội và thách thức của nó?    Một phương thức thông tin khoa học mới  Các tài liệu lưu trữ mở là các cơ sở dữ liệu ở đó các tác giả có thể tự công bố trên internet các kết quả nghiên cứu khoa học của mình, giúp các đồng nghiệp của họ trên toàn thế giới có thể tiếp cận chúng trực tiếp và miễn phí. Người ta còn gọi đây là phương thức “thông tin khoa học trực tiếp” để nhấn mạnh rằng, ngược với các tạp chí khoa học truyền thống, không có một trung gian nào tham gia vào, không có ban biên tập cũng chẳng có nhà xuất bản thương mại. Đúng là các quản trị mạng phải thực hiện việc kiểm tra sơ đẳng nội dung trước khi đưa lên mạng, nhưng sự kiểm tra này chỉ kéo dài vài phút đối với mỗi bài; đơn giản chỉ là nhằm mục đích loại các bài rõ ràng không phù hợp.  Không giống như việc đưa lên mạng một văn bản trên các trang cá nhân hay các blog, các tài liệu lưu trữ mở đòi hỏi một sự tổ chức nhất định được thực hiện ở cấp độ cơ quan (trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm…). Những cơ quan này dành riêng một máy chủ để lưu trữ các kết quả khoa học của các thành viên của mình, thuộc tất cả các chuyên ngành – đó là cách được ưa chuộng của một số chuyên gia Anh-Mỹ. Đôi khi các thông tin được lưu trữ theo chủ đề, như ArXiv chẳng hạn, trang này tập trung vào vật lý và toán học. Ở Pháp, nhiều cơ quan đã quyết định nhóm nhau lại và thành lập một dữ liệu mở chung. Năm 2004, INRIA đã nối với thư viện nguồn mở được triển khai bởi CNRS năm 2001. Mới đây, rất nhiều cơ quan khác (các trường ĐH, các trường lớn, các tổ chức nghiên cứu như INRA và INSERM) đã ký một thỏa thuận chung và đã bắt đầu xây dựng một mã nguồn mở phỏng theo ArXiv, nhưng chặt chẽ hơn và đặc biệt là rộng hơn về số các chuyên ngành: tại đây có các kết quả nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên (toán, vật lý, hóa học…), mà còn cả trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Cơ sở của các tài liệu tương tác, được gọi tắt là HAL (http://hal.archives-ouvertes.fr), đã nhận được khoảng 2000 văn bản mỗi tháng. Sáng kiến này đã được Viện hàn lâm khoa học Pháp chính thức ủng hộ ngay từ năm 2005. Ở một số nước khác trên thế giới, các cơ quan như NIH (Viện quốc gia về sức khỏe) ở Mỹ, Hội đồng nghiên cứu Anh, các trường đại học, các hiệp hội (Wellcome Trust) cũng ủng hộ chính sách thư viện điện tử nguồn mở.                Nhà toán học Nga Grigory Perelman, người đã chứng minh được giả thuyết thế kỷ của Pointcaré (“Nếu một đa tạp ba chiều compắc không có biên là đơn liên, thì nó đồng phôi với mặt cầu ba chiều”), đã không công bố các công trình nghiên cứu của mình trên các tạp chí quốc tế, như thói quen từ lâu của các nhà khoa học. Ông đã đưa các kết quả của mình lên mạng Internet trên một địa chỉ được thành lập năm 1991 theo sáng kiến của nhà vật lý học người Mỹ Paul Ginsparrg mà tất cả mọi người đều có thể truy cập miễn phí (http://arxiv.org).           Các cơ sở dữ liệu này bao gồm: Mọi loại văn bản mà nhà nghiên cứu muốn cho cộng đồng khoa học biết: các bản thảo của các bài báo đang trong quá trình biên tập để được đăng tải, góp ý cho một tác phẩm khoa học, luận văn hay luận án, báo cáo khoa học hoặc các bài báo đã được đăng trên tạp chí truyền thống (với điều kiện tạp chí này đồng ý) và cả dữ liệu liên quan, như tên của tác giả, cơ quan công tác, ngày, các tài liệu tham khảo… (điều này làm cho việc tìm kiếm tài liệu tham khảo và lập danh mục các tác phẩm đã công bố trở nên dễ dàng hơn).   Ưu điểm và nhược điểm  Việc triển khai và duy trì các dữ liệu mở có một chi phí rất thấp so với số tiền mà các cơ sở nghiên cứu chi cho việc mua tài liệu khoa học tăng rất nhanh trong vòng hai mươi năm trở lại đây và làm cho rất nhiều phòng thí nghiệm và tổ chức nghiên cứu lo lắng. Tại Pháp, các chi tiêu cho việc mua tạp chí khoa học lên tới vài trăm triệu euro mỗi năm. Trong khi đó, chi phí cho thư viện điện tử nguồn mở thấp hơn từ 500 đến 1000 lần, vì chỉ phải trả lương cho một vài kỹ sư tin học.  Với nhà khoa học, việc công bố công trình nghiên cứu trên thư viện nguồn mở nhanh hơn rất nhiều so với đôi khi mất hơn một năm của việc công bố một bài báo trong một tạp chí khoa học. Còn đối với độc giả thì một tập hợp các thông tin trong một số lĩnh vực khoa học ở một lưu trữ duy nhất, giúp việc tìm kiếm các tài liệu trở nên dễ dàng hơn.  Thư viện điện tử nguồn mở còn cung cấp một truy cập miễn phí cho tất cả các nhà khoa học trên toàn thế giới, (sau khi Liên Xô tan rã, rất nhiều thành viên của trường phái vật lý lý thuyết xuất sắc của Nga đã có thể tiếp tục con đường trí tuệ trong chuyên ngành của mình bằng cách truy cập miễn phí vào các công trình mới nhất nhờ có ArXiv). Hơn nữa, việc truy cập tự do và từ xa sẽ đi theo hướng dân chủ hóa tri thức, trong chừng mực nó làm cho việc tham khảo các bài báo khoa học chuyên ngành trở nên dễ dàng hơn đối với tất cả người dân.  Ngoài ra, thư viện điện tử nguồn mở còn cho phép giải phóng khỏi khái niệm tài liệu cố định mãi mãi trong một công bố khoa học trên giấy. Trên thực tế, một tác giả có thể đặt bài trong cùng một “hộp” các phiên bản kế tiếp nhau – có ghi ngày tháng cập nhật – của cùng một bài. Như vậy người ta sẽ có thể thấy trên thư viện điện tử nguồn mở phiên bản của tác giả đã đăng trên tạp chí truyền thống, phiên bản được sửa đổi và chấp nhận (với đường dẫn tới bài báo đã được đăng tải), và cả các phiên bản trước ở đó, chẳng hạn, các lỗi chính tả trong các dữ liệu hay các phương trình được sửa lại cho đúng. Điều này đặc biệt hữu ích cho các tác giả của các bài báo tổng hợp, họ có thể thực hiện việc cập nhật sau khi đăng tải, tính đến đồng thời các phản ứng của độc giả và các phát triển khoa học mới nhất. Cuối cùng, trong trường hợp có sai sót, tác giả có thể rút lại bài báo và nói rõ lý do. Tất cả những điều này không thể xảy ra đối với bài báo khoa học đăng trên tạp chí giấy.  Một khó khăn về kỹ thuật của thư viện nguồn mở đó là đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các dữ liệu lưu trữ. Các địa chỉ điện tử của các tài liệu phải rất ổn định để các tài liệu này có thể dùng làm quy chiếu trong các nghiên cứu khoa học sau. Các di chuyển phần mềm và máy móc phải được thực hiện rất nhanh để tập dữ liệu lưu trữ vẫn có khả năng truy cập được trong nhiều thập kỷ sau. Trong các điều kiện này, người ta có thể hy vọng rằng tuổi thọ của các tài liệu điện tử chí ít cũng dài như tuổi thọ của các tài liệu in trên giấy (thường là vài thế kỷ). Nhưng để đạt được mục đích này, cần phải thiết lập một sự quản lý tập trung tài liệu lưu trữ ở tầm quốc gia.  Ngoài ra việc duyệt một bài báo bởi một ban biên tập gồm các chuyên gia là một quá trình lâu dài và tốn kém. Do vậy việc đặt một bài báo trong thư viện điện tử nguồn mở thường xảy ra đồng thời với việc bài báo đó được các tạp chí khoa học chấp nhận đăng tải nó; người đặt bài khi đó ghi rõ nguồn của bài báo đã công bố, tạo thành một dạng đảm bảo khoa học.   Thư viện nguồn mở và tạp chí truyền thống: chung sống hòa bình  Các thư viện điện tử nguồn mở liệu có làm phá sản các nhà xuất bản tạp chí truyền thông không?  Kinh nghiệm với ArXiv, hiện đã 15 tuổi, chứng tỏ rằng không. Trên thực tế, hai phương thức thông tin này không loại trừ nhau. Người ta thậm chí còn nhận thấy một hiệu ứng hợp tác giữa các hệ lưu trữ mở và hoạt động của các tạp chí truyền thống. Một số tác giả, trước khi gửi bài đăng trên một tạp chí, thường bắt đầu bằng việc đưa lên một thư viện nguồn mở, để tận dụng các phản ứng tức thì của các đồng nghiệp; các phản ứng này đôi khi giúp tác giả chỉnh sửa nội dung của bài báo, cho ra đời một phiên bản thứ hai – và chính phiên bản tốt hơn này sẽ được gửi đăng trên tạp chí giấy.  Trên một khía cạnh khác, nhà xuất bản khoa học có thể tra cứu trên thư viện nguồn mở tập hợp các tác phẩm của tác giả, để có một ý tưởng về con người khoa học của anh ta. Sự lựa chọn những người viết tóm tắt bài báo khoa học cũng trở nên dễ dàng hơn vì thư viện nguồn mờ giúp ban biên tập dễ dàng biết nhà khoa học nào hiện đang quan tâm đến lĩnh vực của bài báo, và như vậy có khả năng chấp nhận viết tóm tắt bài báo.  Phần lớn các báo khoa học hiện nay đã chấp nhận việc đưa phiên bản một bài báo của tác giả lên thư viện nguồn mở của một cơ quan nghiên cứu khoa học nào đó, với các phương thưc đa dạng. Tuy nhiên, một số nhà xuất bản lại qui định chỉ được đưa lên thư viện nguồn mở bài báo khoa học đã được đăng ở tạp chí từ vài tháng đến một năm.  Rõ ràng là thư viện nguồn mở không phải là một dạng mới của tạp chí truyền thống, hay đơn giản là một sự kết tụ vào trong cùng một cổng điện tử nội dung của rất nhiều tạp chí. Đó là một công cụ nghiên cứu mới, với các quy luật trí tuệ riêng của nó. Với công cụ này, sự tham khảo duy nhất trong thông tin giữa các nhà khoa học không còn là một bài báo được ấn bản nữa, và tài liệu khoa học có thể có một đời sống thú vị trước và sau khi được công bố.  Các thư viện nguồn mở đưa chúng ta trở lại một truyền thống cũ, truyền thống về trao đổi trực tiếp các thư từ khoa học giữa các nhà bác học. Phương thức thông tin đầu tiên này đã kéo dài vài thế kỷ. Nó đã không mất đi với sự ra đời ngay từ thế kỷ XVII, dưới sự che chở của các viện hàn lâm và các hội bác học, các ấn bản như Philosophical Transactions of the Royal Society ở Anh hay Journal des Sçavants ở Pháp, và các xuất bản khoa học như chúng ta biết ngày nay kể từ cuối thế kỷ XIX. Xuất bản khoa học, đến lượt nó, cũng sẽ không biến mất, mà sẽ chung sống với các thư viện nguồn mở. Nhưng đâu sẽ là điểm cân bằng? Tương lai sẽ nói cho chúng ta biết.  Quốc Chiến  Theo Pour la Science số 352    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuật toán phán quyết tự do hay tù đầy      Một cô bé 14 tuổi từng ăn cắp một chiếc xe đạp trẻ em, nhưng nhiều năm sau một phần mềm máy tính của cơ quan tư pháp Hoa Kỳ vẫn buộc cô là một tên tội phạm. Giới chuyên gia đã gióng lên hồi chuông báo động vì trí tuệ nhân tạo đang được sử dụng để phán quyết về số phận của một con người ngày càng nhiều.      Steven Spielberg là người có linh cảm nhạy bén, thường phát hiện được những câu chuyện hay, thú vị. Năm 2002 ông đã làm bộ phim “Minority Report”, kể về một gã đàn ông làm việc trong cơ quan tiền tội phạm, ở đây có nhiều người có năng lực tiên đoán những kẻ có thể gây tội ác trong tương lai. Nhân vật chính trong phim đã phát hiện tên tội phạm tiềm năng kịp thời, y đã bị tóm trước khi có hành vi phạm tội. Trong thực tế, ở ngoài đời thực, truyện trong phim Hollywood đã được áp dụng từ lâu rồi: Khoảng mươi năm nay cơ quan tư pháp ở Hoa Kỳ đã áp dụng kỹ thuật tiên đoán để ngăn tội ác không diễn ra  trong tương lai. Phần mềm Compas giúp cơ quan tư pháp tạo hồ sơ tội phạm và xem xét liệu trong tương lai tên tội phạm đó có gây ra tội ác mới hay không.   Từ nhiều năm nay trí tuệ nhân tạo đã can dự vào nhiều lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày. Nó quyết định về độ tin cậy đối với vay tín dụng, về đầu tư cổ phiếu, thậm chí cả về chuyện mua gì tặng nhân dịp tết. Sức mạnh của trí tuệ nhân tạo tăng lên rất nhanh: máy tính được sử dụng ngày càng nhiều vào việc xem xét các vấn đề có thể có tác động quyết định đến cuộc đời mai sau của con người ta như thế nào. Thí dụ nó khuyến nghị về việc có nên đăng ký tham gia phỏng vấn xin việc hay không hay ai đó có khả năng theo học đại học không. Vấn đề cần hỏi là dùng máy tính để phán xét những vấn đề như thế này có phải là một ý tưởng tốt đẹp hay không?  Các nhà khoa học và nhiều tổ chức ở Đức đang nghên cứu về vấn đề này. “Chúng ta phải quy trách nhiệm cho trí tuệ nhân tạo (AI) và đặt những câu hỏi về nó“, nhà nghiên cứu Katharina Zweig, tại Đại học Kỹ thuật Kaiserslautern nói. Bà quan sát ảnh hưởng của phần mềm từ góc độ đặc biệt: đó là tin học xã hội. Cùng với các chuyên gia tâm lý học, các luật sư và các nhà khoa học xã hội khác, bà tập trung nghiên cứu máy tính có thể giúp hiểu xã hội đầy phức tạp này một cách đầy đủ hơn không. Kết quả cho thấy, phần mềm Compas không giúp ích gì nhiều.  Thuật toán với những định kiến   Máy tính có thể xử lý một số việc tốt hơn nhiều so với con người: chúng có thể lưu, phân tích và phân loại dữ liệu với một khối lượng lớn mà con người khó có thể kham nổi. Máy tính còn có ưu điểm là không có cảm giác bị tổn thương, cũng không biết bực tức.   Phần mềm Compas của hãng Northpointe được cho là sẽ giúp hệ thống tư pháp tránh được định kiến trước khi kết án. Đó là lý do vì sao mọi tính toán đều dựa trên cơ sở truy vấn dữ liệu hết sức trung lập. Thí dụ khi đánh giá lý lịch của tội phạm AI có khi còn xem xét cả tiền án nếu có của những người họ hàng gần. Ngân hàng dữ liệu cũng tự động bị truy vấn về các dữ liệu liên quan đến lạm dụng ma túy hay rượu  bia đối với những người trong gia đình, liệu có nợ nần hay không, có hay nhảy việc và thay đổi chỗ ở hay không.   Bên cạnh đó phần mềm còn nêu 137 câu hỏi đối với đương sự như: trong tình huống như thế nào thì đương sự cho rằng việc ăn cắp là đúng? Tình trạng hôn nhân của bố mẹ đương sự ? Trên cơ sở các câu trả lời phần mềm lập dự báo về tội phạm và xã hội, nhằm cung cấp cho các thẩm phán thông tin cơ bản  về nguy cơ tái phạm của tội phạm. Các yếu tố như mầu da hay nguồn gốc xuất  thân không được đề cập  – Compas giúp ra phán quyết hợp lý và không phân biệt mầu da.   Tuy nhiên điều ngược lại đã xảy ra, theo nghiên cứu của Propublica, một tổ chức của Hoa Kỳ về điều tra của báo chí. Sau đây là một ví dụ, cô Brisha Borden, năm nay 18 tuổi, năm 2014 đã ăn cắp một xe đạp trẻ em trên đường phố có giá 80 đôla. Compas đánh giá cô ta 8 điểm –  và cho rằng cô này có nhiều khả năng tái phạm. Cũng trong năm đó, môt người đàn ông 41 tuổi, tên là Vernon Prater đã ăn cắp trong cửa hàng một thiết bị điện có giá 87 đôla. Prater từng bị tù 5 năm vì tội cướp có vũ trang và có liên quan đến một số tội phạm khác. Tuy nhiên gã này lại chỉ bị Compas đánh giá 3 điểm.   Tại sao Compas lại có sự đánh giá khác nhau đến như vậy đối với hai kẻ phạm tội coi như tương đương nhau? Brisha Borden thì da đen còn Vernon Prater da trắng. Trong năm 2016 Propublica đã kiểm tra hàng nghìn trường hợp khác và so sánh với những gì đã diễn ra trong thực tế. Một điều nổi bật là Compas thường dự đoán những người phạm tội da đen sẽ tái phạm tuy nhiên trong thực tế dự báo đó lại thường không đúng.    Zweig giải thích “Có giả định rằng một cái máy bao giờ cũng ra quyết định hợp lý hơn và không có định kiến như con người”. Nhiều người cho rằng trí tuệ nhân tạo có một loại ma lực, có sức hiểu biết hơn hẳn bộ óc con người  – và do đó về cơ bản có sự đánh giá hơn hẳn khả năng của con người. Thậm chí còn có cả một thuật ngữ về điều này: chủ nghĩa xô vanh kỹ trị (Technochauvinismus).   Nhưng nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Máy tính cũng hoàn toàn không ít định kiến hơn con người. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo tuy xử lý các vấn đề thông qua tự học từ các tập dữ liệu. Nhưng con người lập trình cho máy tính, con người quyết định dùng tập dữ liệu nào làm tài liệu học tập. Do những người hoạt động trong lĩnh vực tin học và công nghệ chủ yếu da trắng và là nam giới cho nên AI thường “tư duy” như một người đàn ông da trắng.   Tuy nhiên Compas không hỏi về mầu da – vậy tại sao hệ thống lại biết Brisha Borden là người da đen? “Nghiêm túc mà nói thì Compas thật sự không biết, nhưng mầu da của cô bé này được thể hiện ở nhiều đặc tính khác mà Compas đã từng thu thập”, Dietmar Hübner nói. Vị giáo sư triết học thuộc Đại học Hannover này cùng với các nhà tin học và luật học nghiên cứu về phân biệt đối xử thông qua máy tính. Hệ thống thu hút nhiều yếu tố để đánh giá: tình hình nhà ở, học vấn, tình trạng gia đình. “Những yếu tố này quan trọng đối với dự báo về tội phạm. Nhưng ở Hoa Kỳ những yếu tố này cũng liên quan nhiều đến mầu da – và nhiều khi hậu quả xã hội của nó là phân biệt chủng tộc và sự tách biệt.”  Nói một cách khác: thực tế xã hội cho thấy, khi nói đến người da đen ở Hoa Kỳ thường có xu hướng nghĩ ngay tới những người có những đặc điểm tiêu cực, xấu xa. “Thuật toán không làm mất đi những định kiến này, chúng thậm chí còn bảo tồn và duy trì các định kiến”, Hübner nói. “Thêm vào đó là có tình trạng người Mỹ gốc Phi thường bị theo dõi, giám sát nhiều hơn và dễ dàng bị bắt giữ hơn so với người da trắng”. Điều này làm cho dữ liệu bị biến dạng, mà các hệ thống tựa như Compas lại học từ các dữ liệu này – do đó các hệ thống này lại tiếp tục đẻ ra các dự báo sai lệch, méo mó.  Cho đến nay Northpointe, hãng chế tạo ra Compas chưa đưa ra được bằng chứng rằng phần mềm này ổn. Nhà nghiên cứu người Đức, bà Zweig đã làm công việc này: “Về các loại tội phạm nghiêm trọng, Compas đánh giá sai tới 75%”. Điều này có nghĩa là, trong số những kẻ bị thuật toán xếp vào loại nhóm có nguy cơ cao phạm tội nghiêm trọng, thì chỉ có một phần tư số người thực sự phạm loại tội này. Với tỷ lệ này thì độ chính xác của phần mềm hầu như không chính xác hơn dự đoán của những người được tuyển chọn ngẫu nhiên và có hiểu biết về thống kê tái phạm.    Cạm bẫy của lập trình  Điều này làm nổi bật lên những vấn đề cơ bản, có tính pháp lý: Làm sao để thuật toán phục vụ nhân loại được tốt hơn?  “Điều quan trọng là, người sử dụng phải hiểu rõ về các hệ thống“, Kathrin Hartmann nói. Nhà khoa học chính trị thuộc Đại học Kỹ thuật Kaiserslautern đi đến Quận Eau Claire County thuộc địa phận Wisconsin (Hoa Kỳ), đây là nơi cơ quan tư pháp đã sử dụng Compas từ mười năm nay.   Nhà khoa học này đã phỏng vấn các thẩm phán, luật sư và các nhà quản lý. “Ấn tượng của tôi là, nhiều người không nhận thức được rằng, Compas chỉ là một phương tiện hỗ trợ để ra quyết định”, bà nói.   Vì về cơ bản phần mềm được thiết kế để có được một dự báo xã hội về bị can. Các thẩm phán cũng như nhân viên tư pháp thuộc các vị trí khác nhau thuộc ngành tư pháp có thể sử dụng dự báo này như một thiết chế để ra quyết định. Ví dụ nếu khả năng rủi ro cao, thẩm phán sẽ không tán thành quyết định cho bị cáo tạm tha mà sẽ thiên về quyết định tống giam  để phòng ngừa.     Tuy nhiên theo Hartmann thì có nguy cơ các thẩm phán không coi các dự báo này là một lời khuyên mà coi đây là một bản án được chuẩn bị sẵn. Không có các cuộc tập huấn thường xuyên hay định kỳ.   Tổ chức AlgorithmWatch có thông tin về các hệ thống ra quyết định trên cơ sở thuật toán cũng yêu cầu tăng cường tính minh bạch. “Các doanh nghiệp tư nhân thì muốn bán phần mềm của họ và các tổ chức nhà nước thì sử dụng chúng mà không có bất kỳ một sự can thiệp nào“, người phát ngôn Matthias Spielkamp nói. Điều này chứa đựng nhiều nguy cơ to lớn – và xét cho cùng thì là một sự mê hoặc. Cần có các quá trình dân chủ: “Chúng ta phải quyết định dành bao nhiêu tự do của chúng ta cho các hệ thống”.   Trong nghiên cứu của mình Katharina Zweig cũng gặp phải một vấn đề bất ngờ, “khi chúng ta muốn đánh giá các quyết định tự động, thì phải biết rõ về các tiêu chuẩn đối với con người”. Ai chê trách thuật toán không khách quan, thì cũng phải kiểm tra các quyết định của con người.   Thí dụ một nghiên cứu ở Israel cho thấy: sau một bữa ăn trưa các thẩm phán tuyên án thường nhẹ nhàng hơn so với trước đó. “Có lẽ đây là thời điểm tốt hơn để nêu câu hỏi, quyết định của con người thực ra tốt đến mức độ nào? Và chúng ta có thể làm thế nào để các quyết định đó được tốt hơn?” Có lẽ máy móc sẽ là tấm gương tốt đẹp hơn cho chúng ta.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus219024580/Kuenstliche-Intelligenz-Dieser-Algorithmus-entscheidet-ueber-Freiheit-oder-Knast.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thúc đẩy can thiệp sớm với các nguy cơ dịch bệnh do khí hậu      Thời tiết cực đoan cùng những tác động môi trường khác của biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến gia tăng nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm – việc dự đoán được thời gian và địa điểm bùng phát có thể giúp nhân viên y tế công cộng phản ứng sớm và hiệu quả hơn nhằm kiểm soát sự lây lan và giảm thiểu số ca mắc.    Giáo sư William Pan của Đại học Duke gặp gỡ các nhà lãnh đạo của một cộng đồng địa phương ở Peru.  Trong những năm gần đây, các hệ thống cảnh báo sớm nhắm tới mục tiêu này đã được phát triển để kiểm soát dịch sốt rét, sốt xuất huyết và những dịch bệnh khác ở vùng nhiệt đới. Nhưng việc triển khai các hệ thống này lại kém hiệu quả do những bấp bênh về kinh phí, hệ thống y tế địa phương quá tải, các kỹ thuật viên y tế địa phương không được đào tạo đầy đủ, và thiếu sự ủng hộ từ những người nắm quyền quyết định trong chính quyền.  Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế từ 15 tổ chức đã đánh giá những rào cản trong triển khai các hệ thống này, đồng thời đề xuất những giải pháp trong bài báo mới công bố ngày 9/11 trên tạp chí The Lancet Planetary Health.  Họ cho biết điểm then chốt là người ra quyết định quan trọng cần tham gia từ sớm. “Chúng tôi đã xem xét năm nghiên cứu điển hình, và hầu hết rào cản có thể được giải quyết bằng cách mời các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo địa phương tham gia ngay từ đầu”, William Pan, phó giáo sư về nghiên cứu dân số tại Đại học Duke, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.  Trong các nghiên cứu điển hình, các nhà khoa học thường ưu tiên áp dụng các hệ thống giám sát, các phác đồ kiểm soát dịch bệnh cùng đối tác địa phương, trước khi chuyển sang hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách khu vực hay quốc gia. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, những đối tác địa phương – những người được cho là sẽ tiếp quản việc điều hành hệ thống sau khi thiết lập, không phải lúc nào cũng là người nắm quyền quyết định, có quyền hạn hỗ trợ về tài chính hay chính trị liên tục cho việc triển khai.  “Bạn cần bắt tay với những người ra quyết định chủ chốt ngay lập tức, để họ hiểu và tin tưởng vào lợi ích của hệ thống này”, ông nói. Nếu không, việc mở rộng quy mô hệ thống lên cấp khu vực hoặc quốc gia có thể không bao giờ trở thành hiện thực.  Ngoài ra, nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần tập trung đào tạo nhân viên y tế và kỹ thuật viên địa phương về khoa học môi trường. Các hệ thống y tế địa phương, nhất là ở những khu vực nghèo hay vùng sâu vùng xa, thường thiếu hụt nhân lực, và những người giám sát bệnh dịch tại hiện trường thường không được đào tạo nhiều về khoa học môi trường hay dịch tễ học môi trường, Pan cho biết. Do vậy, họ không biết phải tìm kiếm cái gì, làm sao để dự đoán những tác động của nắng nóng, hạn hán, ngập lụt… tới dịch bệnh trong tương lai, cũng như điều chỉnh các biện pháp can thiệp.  “Hiện nay, chưa có nơi nào trên thế giới có hệ thống cảnh báo sớm các bệnh truyền nhiễm tích hợp dữ liệu khí hậu và môi trường với dữ liệu giám sát dịch bệnh. Các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa chú ý tới điều này, tuy giới khoa học vẫn nhấn mạnh đây là việc cần làm. Điều này giống như nướng bánh mà chỉ có một nửa nguyên liệu vậy”, Pan cho biết.  Trong bài báo mới, nhóm tác giả đã đề xuất bốn bước vượt qua những rào cản này và nâng cao hiệu quả của các hệ thống cảnh báo sớm. Đầu tiên, chúng ta cần hiểu rõ và lường trước những rào cản tiềm tàng. Thứ hai, cần mời các bên liên quan quan trọng tham gia ngay từ đầu và cùng nhau xây dựng hệ thống. Thứ ba, chúng ta cần xác định những chiến lược hứa hẹn để vượt qua các rào cản, và kiểm tra hoạt động của chúng trong các nghiên cứu thử nghiệm dưới nhiều điều kiện khác nhau, sử dụng cả dữ liệu định lượng và các biện pháp định tính, chẳng hạn như phỏng vấn các bên liên quan để thu thập thông tin. Thứ tư, sau khi triển khai các chiến lược, chúng ta cần đánh giá kết quả triển khai này dựa trên một loạt yếu tố, bao gồm khả năng chấp nhận, tính khả thi, tính bền vững và hiệu quả chi phí. □  Phương Anh dịch  Nguồn: https://medicalxpress.com/news/2022-11-boost-early-intervention-climate-related-health.html    Author                .        
__label__tiasang Thúc đẩy sáng tạo cho Việt Nam      Lần đầu tiên, “Sáng tạo” được nâng lên thành chủ đề chính trong một hội nghị mang tầm cỡ quốc gia do VCCI phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ KH&amp;CN, Bộ Bưu chính – Viễn thông đồng tổ chức tại Hà Nội ngày 24/8.    Hội nghị xoay quanh các chủ đề về kinh nghiệm thúc đẩy sáng tạo, sáng tạo cho phát triển, xây dựng năng lực sáng tạo, v.v.  Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong cho rằng chủ đề đổi mới và sáng tạo thực sự đã đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ cho điều kiện Việt Nam, đặc biệt là khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực hiện NĐ 115: Lại xin thêm thời gian      Sau hai năm Nghị định 115 được ban hành, mới chỉ có một nửa các tổ chức KH&amp;CN có đề án chuyển đổi được phê duyệt, tiến độ thực hiện so với quy định còn chậm. Để “tăng tốc”, Bộ KH&amp;CN đã cử các đoàn công tác liên ngành tới các tổ chức KH&amp;CN cùng tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh việc thực hiện Nghị định này.    Chậm vì… chưa thông  Trong tổng số 569 tổ chức KH&CN thuộc Bộ, ngành, địa phương, có 161 tổ chức KH&CN có đề án được phê duyệt (chiếm 25%), 142 tổ chức KH&CN có đề án trình phê duyệt (chiếm 21%) và 313 tổ chức KH&CN đang xây dựng đề án. Ông Trần Văn Tùng, Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ KH&CN), cho biết, “Các tổ chức KH&CN trực thuộc các Bộ, ngành việc triển khai Nghị định 115 có phần nhanh hơn các tổ chức KH&CN địa phương, nhưng nhìn chung vẫn còn chậm so với yêu cầu”.  Lý giải tại sao, theo ông Tùng, các tổ chức KH&CN thuộc Bộ, ngành có phần tích cực hơn là vì những nơi này có sẵn nguồn nhân lực có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề, có cơ sở hạ tầng có thể bắt tay vào sản xuất cho ra ngay sản phẩm, có vốn quay vòng. Tuy nhiên, không phải lãnh đạo tổ chức KH&CN thuộc Bộ, ngành nào cũng hồ hởi đón nhận Nghị định 115 như một thời cơ ngàn vàng để “lột xác”. Bên cạnh những tổ chức sẵn sàng chuyển đổi sang doanh nghiệp KH&CN như Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI), Viện Vật lý ứng dụng và Thiết bị khoa học… thì cũng có những nơi vẫn còn tiến thoái lưỡng nan vì không biết sẽ ra sao sau khi chuyển đổi. Chẳng hạn, Bộ GD&ĐT có khoảng 194 viện, trung tâm KH&CN nhưng mới chỉ báo cáo có 7 tổ chức KH&CN và hơn nữa, lại xin đề nghị áp dụng cơ chế tự chủ của Nghị định 43. Viện KHXH Việt Nam và Bộ Y tế có một lượng lớn các viện nghiên cứu cơ bản nhưng cũng chỉ trong giai đoạn… khởi động. Hỏi sao lại chậm trễ như vậy, thì một số lãnh đạo Viện KHXH Việt Nam đưa ra lý do: “Chức năng của Viện là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý Nhà nước”.  Theo ông Tùng, đến nay vẫn còn có lãnh đạo các tổ chức KH&CN nhận thức chưa đúng và chưa đủ về Nghị định 115, không nhận thấy thực chất của Nghị định 115 là rà soát, thay đổi cách thức tổ chức hoạt động sao cho hiệu quả. Tổ chức KH&CN tự điều chỉnh cơ cấu, xác định mức độ đầu tư đúng mức, và “loại bỏ” những bộ phận không cần thiết, tránh tình trạng “đánh trống ghi tên”, “ăn không ngồi rồi”. Tuy Bộ KH&CN và các Bộ ngành liên quan đã có nhiều cố gắng, nhưng do một khối lượng lớn các văn bản hướng dẫn và cần thời gian xin ý kiến tham khảo nên việc ban hành các văn bản hướng dẫn còn chậm, chưa kịp thời. Do vậy, khi tư tưởng người quản lý các tổ chức KH&CN chưa thông, thì Nghị định 115 vẫn trở thành một thách thức lớn.  Ngoài nguyên nhân chủ quan thì cũng tồn tại những lý do “bất khả kháng”, đó là các Bộ và một số Viện nghiên cứu như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện KH&CN Việt Nam… gồm một số lượng lớn các tổ chức KH&CN trực thuộc. Theo ông Tùng, những nơi này cần có thời gian để phân loại, sắp xếp các tổ chức KH&CN, thẩm định các đề án chuyển đổi. Tuy nhiên, không vì lý do này mà biện minh cho sự trì trệ.    Dò đá qua… sông  Tình hình triển khai Nghị định 115 ở các địa phương gặp khó khăn ngay từ đầu. Một số lãnh đạo trung tâm KH&CN trở nên lo ngại khi phải đối mặt với cơ chế tự chủ, tự trang trải. Ở địa phương, tổ chức KH&CN chủ yếu là các Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến lâm với quy mô nhỏ, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu máy móc. TS.Nguyễn Văn Liễu-Bộ KH&CN, cho biết, “Nhiều tỉnh, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN còn chưa có trụ sở, chưa có phòng thí nghiệm và thiếu các chính sách đồng bộ về cơ chế quản lý”. Bên cạnh đó là việc “cháy” nhân lực, nếu có thì trình độ còn hạn chế, thiếu kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm bươn chải thị trường. TS. Hồ Ngọc Luật, Vụ KHTN-CN-MT, Ban Tuyên giáo Trung ương, nhấn mạnh, “Ở các địa phương thiếu các cán bộ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật theo phương thức “cầm tay chỉ việc” về đến từng hộ nông dân”. Mặt khác, nguồn tài chính yếu, cơ chế tài chính không rõ ràng và ổn định nên các tổ chức KH&CN địa phương còn lúng túng trong việc chọn hướng ưu tiên đầu tư. Ông Tùng cho biết, “Tuy các Sở, Trung tâm KH&CN cần tiền nhưng lại không xây dựng được đề án do thiếu cơ sở vật chất và nhân lực”.  Việc nhiều địa phương còn lúng túng trong việc xác định đối tượng điều chỉnh của Nghị định 115 và Nghị định 43, theo ông Tùng, là do công tác tuyên truyền của Bộ KH&CN và các Bộ, ngành về Nghị định 115 còn nhiều bất cập. Mặt khác, theo ông Liễu, “Các cấp quản lý địa phương (trong đó có lãnh đạo nhiều sở KH&CN) còn xem nhẹ vai trò của công tác thông tin KH&CN”.  Không thể bỏ qua một nguyên nhân nữa khiến tiến độ thực hiện Nghị định 115 ở các địa phương chậm là do nhu cầu ứng dụng các tiến bộ KH&CN thấp, thị trường KH&CN ở các địa phương còn manh mún, dịch vụ KH&CN chưa định hình rõ nét. Nhiều địa phương thậm chí chưa hình thành thị trường KH&CN. Nhiều nơi, sau khi nhận được quyết định chuyển đổi, vẫn “phớt lờ” chỉ đạo của cấp trên. Còn với một số tổ chức KH&CN khác nuôi hy vọng “sống” được bằng Nghị định 115 thì vẫn làm theo kiểu “dò đá qua… sông”.  Cần thêm thời gian  Đến cuối 12/2009, tất cả các tổ chức KH&CN công lập thuộc đối tượng cần chuyển đổi sẽ phải chuyển đổi hoặc thành tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí, hoặc thành doanh nghiệp KH&CN, đối với nhiều tổ chức KH&CN thì… “gấp” quá. Những tổ chức KH&CN quy mô lớn thuộc Bộ, ngành với cơ cấu phức tạp gồm nhiều viện nghiên cứu như Bộ Y tế, Viện KH&CN Việt Nam, Viện KHXH Việt Nam, và cả những trung tâm KH&CN địa phương mới thành lập cần phải có thêm thời gian để chuẩn bị, phân loại tiến hành chuyển đổi. Ông Tùng cho biết, “Tính đến nay có 20 Bộ, ngành, địa phương kiến nghị Chính phủ cho phép kéo dài thời gian phê duyệt đề án chuyển đổi”. Chính vì vậy, sau khi xem xét, Bộ KH&CN kiến nghị Chính phủ cho phép lùi thời gian phê duyệt đề án chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập và thời gian chuẩn bị chuyển đổi (đối với các tổ chức KH&CN địa phương) đến hết năm 2011.  Bên cạnh việc gia hạn thời gian, để các tổ chức KH&CN địa phương có thể tiến hành việc chuyển đổi, thì ngay trong giai đoạn chuẩn bị, các tỉnh cần phải tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo bổ sung và nâng cao nguồn nhân lực. Đồng thời, theo TS.Luật,  các sở KH&CN cần phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng đề án quy hoạch, chuyển đổi tổng thể, có lộ trình hợp lý. Ông cũng nhấn mạnh, “Không vì các tổ chức KH&CN còn nhỏ lẻ, manh mún mà chần chừ trong hành động. Thêm vài năm nữa các tổ chức hoạt động theo kiểu “bao cấp”, “chờ đợi, xin cho” cũng không tiến bộ bao nhiêu”.    Viện KHXH Việt Nam có 29 tổ chức KH&CN trực thuộc, nhưng chưa có tổ chức nào có “động thái” chuyển đổi. Chức năng của các tổ chức KH&CN này là nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý Nhà nước, khác với các khối ngành tự nhiên có những nghiên cứu ứng dụng tạo ra sản phẩm “bán” ngay được. Mặc dù đã tổ chức tập huấn và tuyên truyền nhưng lãnh đạo các tổ chức KH&CN này vẫn nhận thức chưa đúng về Nghị định 115 nên còn dè dặt, e ngại. Viện KHXH Việt Nam rất mong Bộ KH&CN ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, có thời hạn rõ ràng đối với những tổ chức KH&CN vẫn còn “im lơi lặng tiếng”, các mẫu đề án chuyển đổi cho khối KHXH.  Bà Lê Thu Hằng-Ban tổ chức cán bộ, Viện KHXH Việt Nam.  Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực nghiệm lớn của Lavoisier      Bất kỳ ai trong chúng ra hiện nay đều hiểu rằng nước được kết hợp từ oxy va hiđro. Thế nhưng ở thế kỷ 18, người ta còn hoàn toàn chưa biết điều này. Chỉ tới năm 1785 , khi Antoine Lavoisier chứng minh bằng thực nghiệm rằng nước là một hợp chất được tạo thành từ hai loại khí: oxy và hiđro thì lịch sử hóa học có thêm một cột mốc mới.    “Nước không phải là đơn chất[…]. Nó có khả năng phân rã cũng như tái tạo lại”. Antoine Lavoisier đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu vào ngày 12 tháng 11 năm 1783 trước phiên họp toàn thể của Viện Hàn lâm khoa học Paris. Lời khẳng định này được đưa ra sau khi Antoine Lavoisier tiến hành các thực nghiệm rất tốn kém kéo dài trong nhiều tháng trời và nó hoàn toàn ngược lại với quan niệm của nhiều nhà hóa học thời đó khi cho rằng nước là một đơn chất. Vào tháng 4 năm 1784, Lavoisier tiếp tục đưa ra các kết quả nghiên cứu mới trước Viện Hàn lầm để khẳng định tuyên bố của mình nhưng cộng đồng khoa học lúc đó vẫn tiếp tục nghi ngờ. Không nản lòng, Lavoisier tiếp tục một đợt thực nghiệm lớn diễn ra từ ngày 27/2 cho tới 1/3/1785 trước sự chứng kiến của một hội đồng các nhà khoa học gồm các nhà hóa học lớn của Viện Hàn lâm và nhiều khách mời quan trọng.  Các thực nghiệm này đã chứng minh được rằng nước có thể phân thành hai chất khác nhau sau đó hai chất này với cùng tỉ lệ kết hợp lại với nhau để trở thành nước như ban đầu. Nhằm mục đích khẳng định và củng cố giả thiết đưa ra ban đầu, các thực nghiệm này thực sự đã trở thành một sự kiện, một cột mốc quan trọng trong lịch sử của ngành hóa học. Chúng đã phá vỡ bức màn bao phủ về thành phần tự nhiên của nước và cung cấp các bằng chứng có tính chất quyết định cho quan niệm hóa học của Lavoisier, chống lại lý thuyết nhiên tố vốn rất thịnh hành lúc bấy giờ.  Những thực nghiệm của Lavoisier đã chứng tỏ được rằng tổng khối lượng của các chất khí sử dụng tương                  đương với khối lượng của toàn bộ số nước thu được. “Người ta có thể áp dụng nguyên tắc này cho tất cả các hoạt động khác: luôn có một khối lượng giống nhau về chất liệu trước và sau một phản ứng hóa học và tính chất cũng như trọng lượng của các chất này là như nhau và chỉ có sự thay đổi hoặc biến đổi (tính chất) của chất được tạo thành mà thôi”, ông đã viết như vậy trong cuốn Chuyên luận cơ bản về hóa học (Traité élémentaire de chimie) vào năm 1789.  Lúc mới bắt đầu nghiên cứu khoa học, Lavoisier quan sát các chất cháy trong không khí, thí dụ như phốt pho, lưu huỳnh, cacbon, kim loại dễ nóng chảy như chì, thiếc và ông nhận thấy khối lượng của các chất này tăng lên. Điều này chứng tỏ có một cái gì đó trong không khí đã được thêm vào chất đang cháy. Ông tiến hành các thực nghiệm theo giả thiết đó và viết kết quả vào một cuốn sách có tên Cẩm nang về vật lý và hóa học (Opuscule physiques et chimies), xuất bản năm 1774.  “Khí cơ bản” hay oxy  Dù vậy thì Lavoisier vẫn chưa thể xác định, nói cụ thể hơn là cô lập và đặt tên được cái chất có trong không khí thường xuất hiện trong mỗi lần cháy. Mà nó lại được Joseph Priestley, một nhà hóa học tên tuổi người Anh xác định ra vào ngày 1/8/1774 và ông này đặt tên là khí ngược nhiên tố (air déphlogistiqué). Nhiên tố, hay còn gọi là thành phần cơ bản của tính gây cháy là một nguyên lý chi phối sự cháy của các chất. Theo cách lý giải như vậy, không khí chứa một phần khí ngược nhiên tố và đa phần khí nhiên tố. Cách lý giải này dường như phù hợp với các quan niệm của các nhà hóa học lúc đó.  Lavoisier lặp lại các thí nghiệm của Priesley nhưng áp dụng nguyên tắc bảo toàn khối lượng. Bằng việc chấp nhận về mặt chất lượng quan sát của nhà hóa học người Anh, ông nhấn mạnh tới sự không tương thích về trọng lượng mà người ta thấy rất rõ. Ông xác định phần khí tham gia vào sự cháy là phần khí lành nhất hoặc có thể hít được. Ông đặt tên nó là khí cơ bản vào năm 1775 nhưng ông vẫn thường dùng từ khí ngược nhiên tố như cách gọi thông dụng của các nhà hóa học thời bấy giờ.  Nhưng quan niệm của Lavoisier về sự cháy là như thế nào? Theo ông, một chất khí được tạo lên từ một thành phần cơ bản (mà giờ chúng ta gọi là một nguyên tố hóa học) cùng với một chất liệu tạo cháy (matière de chaleur) mà sau này ông đặt tên là chất dinh dưỡng. Như vậy, trên nền của chất tạo cháy này, vào năm 1777, nhà hóa học đặt tên nó là oxygine, một từ có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “chất tạo axit). Thực tế phải tới năm 1787, ông mới sử dụng chính thức cái tên này. Nguyên lý axit đã giúp Lavoisier tạo ra một lý thuyết về hóa học mới và suốt nửa cuối cuộc đời, ông giành thời gian để chứng minh điều này.  Với việc tiến hành ngày càng nhiều thực nghiệm hơn, Lavoisier buộc phải cần làm việc nhóm để tiến hành các thí nghiệm trên những máy móc ngày càng phức tạp và đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Ông hợp tác với Pierre Simon Laplace và nhà quân nhân kiêm kỹ sư Bastiste Meusnier vào đầu những năm 1780.  Lúc này, Lavoisier đã đưa ra giả thiết rằng nước được tạo thành từ hai chất: oxy và hiđro. Sau một thực nghiệm phân tách các thành phần của nước vào năm 1784, công việc còn lại của ông là chứng minh giả thiết của mình cùng bằng thực nghiệm tương tự nhưng có thêm phần tái tạo lại nước từ chính các chất vừa phân tách được ra. Đây là một thực nghiệm lớn được tiến hành năm 1785.    Sản xuất hiđro cho khinh khí cầu  Nhưng tại sao Lavoisier lại có được ý tưởng này? Khí hiđro lúc đầu được đặt tên là khí dễ cháy và do nhà hóa học người Anh Henry Cavendish phát hiện ra vào năm 1766. Do có khối lượng cực nhẹ và dễ cháy, người ta đã từng cho rằng hiđro là một thiên tố thuần túy. Rất có khả năng kể từ năm 1781, Cavendish là người đầu tiên thừa nhận rằng nước là sản phẩm duy nhất của khí dễ cháy có trong khí cơ bản mà Friestley đã khẳng định vào năm 1783. Cả hai nhà bác học này giả định rằng khí dễ cháy được tạo thành từ nước và thiên tố, dù nó có là thiên tố thuần túy hay không. Chính vì vậy, họ cho rằng nước được tạo thành khi người ta kết hợp hai chất khí này lại. Vào mùa hè năm 1783, cả Gaspard Monge và Lavoisier đều nhận thấy chỉ có nước được tạo ra từ hỗn hợp của hai loại khí này.                Trong phòng thí nghiệm, người ta tạo ra được khí hiđro từ việc kết hợp axit sulfuric với sắt hoặc kẽm. Nhưng giá của loại axit này khá đắt trong khi người ta cần tới rất nhiều khí hiđro để sử dụng các khinh khí cầu vừa được ra đời. Anh em nhà Montgolfier đã chế tạo ra một quả khinh khí cầu làm từ giấy và được bơm đầy không khí nóng để bay lên không trung Annonay vào ngày 4/6/1783, trước sự chứng kiến của quan khách Vivarais. Sau đó ít lâu, vào ngày 27/8, nhà vật lý Jacques Charles và anh em nhà Robert đã sản xuất được các khí cụ để có thể đưa khinh khí cầu hiđro bay lên không trung khu vực Champ-de-Mars. Lúc đó người ta rất hoan hỉ vì chế tạo được khinh khí cầu và các quả bóng khí cầu được sử dụng rộng rãi trong trang trí và nhà hát như là một mốt thịnh hành. Trước tình hình này, Viện Hàn lâm khoa học đã thành lập liên tiếp hai ủy ban trong đó có sự tham gia của Lavoisier. Với sự giới thiệu của Lavoisier, Meusnier cũng tham gia các ủy ban này và hai nhà khoa học đã chứng minh được rằng khi phun khí nóng vào sắt thì sẽ tạo ra được rất nhiều khí dễ cháy. Quan sát này đã khiến Lavoisier nghĩ tới việc tiến hành thực nhiệm chi tiết hơn trên nước nhằm mục đích phân tích và tổng hợp nước.  Mục tiêu của thực nghiệm lớn chưa từng thấy này lúc đầu là phân tích thành phần của nước khi tác động với sắt-thực chất là hơi nước nóng tác động với sắt tạo ra oxit sắt và giải phóng khí hiđro. Sau đó, đốt khí hiđro trong oxy để tổng hợp nước trở lại. Khối lượng của các chất tham gia phản ứng và chất tạo thành phải tương đương với nhau trong hai thực nhiệm. Từ thực nghiệm này, Lavoisier khẳng định rằng nước không phải là một sản phẩm đơn chất.  Biên bản sơ sài và người vô danh  Meusnier là người được giao nhiệm vụ viết biên bản chi tiết của hai cuộc thực nghiệm nhưng vì là quân nhân, vào cùng thời điểm đó, ông nhận lệnh dẫn quân đi bảo vệ khu vực công trình cảng Cherbourg. Thời gian quá gấp gáp khiến ông không hoàn thành được biên bản hai cuộc thực nghiệm như Lavoisier mong muốn. Tuy nhiên, một bản báo cáo khác xuất hiện vào ngày 27/2/1786 trong một tạp chí khoa học mới ra đời, tờ báo Journal polytype. Biên bản này, rất có khả năng do Lavoisier viết, mở đầu bằng việc nhận định phương pháp tiến hành thực nghiệm khoa học, sau đó nhắc tới các khám phá của Cavendish, Monge và các nhà khoa học khác. Tác giả của báo cáo cũng miêu tả chi tiết việc phân tách nước, việc tiến hành đốt khí hiđro, các dụng cụ thí nghiệm, các biện pháp an toàn, các nghiên cứu tiến hành trước thực nghiệm và kết quả cũng như bình luận các kết quả này.  Biên bản này chắc hẳn đã được đánh máy rất vội vã do vậy có rất nhiều lỗi in ấn và nó sau này được viết lại rõ ràng hơn vào năm 1892 trong quyển V của bộ sách Các tác phẩm của Lavoisier. Trong lần tái bản này, nhiều thuật ngữ như oxy, hiđro, oxy hóa… đã được sử dụng và chúng hoàn toàn khác lạ so với bản gốc. Tuy nhiên, chúng lại là tất cả những gì mà Lavoisier muốn đưa ra giúp các nhà khoa học thời đó hiểu rõ hơn về các công việc mà ông đã thực hiện.  Chính vì vậy, rất nhiều nhà hóa học lúc đó đã nhanh chóng theo và bảo vệ học thuyết của Lavoisier, thí dụ như Claude Berthollet, Louis Guyton de Morveau, Antoine de Fourcroy..  Hoàng An    Nguồn tin: Lược dịch từ Pour la Science No 336-10/2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực phẩm chức năng từ tảo suối      TS Lại Minh Hiền, Giám đốc Trung tâm  Bảo tồn đa dạng sinh học, cho biết Trung tâm đã sản xuất được viên thực  phẩm chức năng bào chế dưới dạng viên nang từ một loại tảo lục sợi dài&#160; có tên địa phương là “Tò cày”.    Lô thực phẩm chức năng đầu tiên được chế biến dưới dạng viên nén gần 5.000 viên có thành phần chính là tảo lục ở Cao Bằng, do Trung tâm Kiểm nghiệm nghiên cứu Dược Quân đội bào chế, đang được thử nghiệm tại Học viện Quân y với nhiều tín hiệu khả quan.  Từ xa xưa, người dân Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã biết sử dụng các loài tảo làm thức ăn. Những năm gần đây tảo được chế biến thành thực phẩm chức năng để bổ sung dinh dưỡng, hỗ trợ sức khỏe và tăng cường miễn dịch cho con người.  Những năm 70 của thế kỷ 20, khi còn công tác tại Trung tâm Kiểm nghiệm Dược Quân đội (Cục Quân y), TS Lại Minh Hiền đã nghiên cứu song mới chỉ dừng lại ở việc xác định thành phần loài, thành phần hóa học của chúng, sau này mới đi sâu nghiên cứu bào chế thành thực phẩm chức năng để phát triển loài tảo này và biến chúng thành hàng hóa có giá trị cao, phục vụ thiết thực đời sống xã hội và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương.  Thực phẩm chức năng mà Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học nghiên cứu chế biến khác với thực phẩm mà đồng bào đã từng chế biến ở chỗ là được bổ sung một số thành phần có lợi hoặc loại bớt một số thành phần bất lợi.  Theo kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học của “Tò cày” – tảo lục Cao Bằng của Trung tâm Kiểm nghiệm nghiên cứu Dược Quân đội, đạm chiếm từ 35-40%, trong đó có 14 loại axit amin là Acid Glutamic, Serin, Alanin, Arginin, Tyrosin, Tryptophan, Threonin, Histidin, Valin, Lysin, Methionin, Isoleucin, Phenylalanin và Leucin và đặc biệt có 8 loại axit amin không thay thế là Threonin, Histidin, Valin, Lysin, Methionin, Isoleucin, Phenylalanin và Leucin có trong mẫu tảo chiếm 21,43% trọng lượng khô.  Về nguyên tố vi lượng có mặt 12 nguyên tố, trong đó quan trọng là nguyên tố Mangan (Mn), sắt (Fe), kẽm ( Zn), selen (Se). Hàm lượng Gluxit trung bình là 13,74%. Lipid là 5,68%. Trong thành phần tảo có các vitamin A,D, E, C, B1, B2, B6, PP và có mặt của sắc tố chlorophyll.  Nguồn:   http://www.vietnamplus.vn/Home/San-xuat-thuc-pham-chuc-nang-tu-mot-loai-tao-suoi/20139/213972.vnplus    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực phẩm có formol tác hại thế nào?      Formol là chất không được dùng trong chế biến thực phẩm. Sử dụng bất cứ liều lượng nào đều vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, WHO nhấn mạnh, formol không phải là chất gây ung thư qua đường tiêu hóa (ăn uống).    Năm 2003, sự cố formol (formaldehyde), mà báo chí thời đó gọi là “chất ướp xác” được dùng trong bánh phở, gây hoang mang trong xã hội. Nhiều người không dám ăn phở, mà đâu chỉ có quán phở đìu hiu, những người làm tương đỏ, tương đen, giá sống, rau thơm, thịt bò, ớt, tiêu, hành,…cũng lâm cảnh ế ẩm. Chỉ có phòng thí nghiệm là làm không hết việc (hồi đó trong nước chỉ có vài phòng TN có khả năng định lượng formol).   Vậy thực chất thực phẩm có forrmol tác hại thế nào?  Đa số thực phẩm đều có formol  Formol là sản phẩm trong quá trình chuyển hóa ở sinh vật, do đó được tìm thấy tự nhiên trong nhiều loại thực phẩm: rau củ, trái cây, nấm khô, thịt cá, và ngay cả trong nước uống. Hàm lượng formol tự nhiên trong thực phẩm có từ 3-23mg/kg, tùy loại thực phẩm (IARC, 1982 – International Agency for Research on Cancer).  Hàm lượng formol tự nhiên trong thực phẩm (mg/kg)              Thực phẩm      Hàm lượng formol (mg/kg)             Trái cây và rau củ       Táo       6,3 – 22,3          Chuối      16,3          Súp lơ      26,9          Lê       38,7 – 60          Nấm Shiitake (khô / tươi)       100- 406 / 6-54,4          Thịt và sản phẩm thịt       Thịt bò, heo,cừu và thịt gia cầm       2,5 – 20          Thủy sản       Cá Tuyết (Cod)      4,6 – 34          Cá viên       6,8          Tôm, cua, ghẹ,..       1- 98          Cá Bombay-duck (tươi)       ≤140              (Nguồn : Food Safety Focus (6th Issue, January 2007) – Centre for Food Safety, The Government of the Hong Kong Specia Administrative )  Trong nước uống cũng tìm thấy formol, nhất là nước được sát khuẩn bằng ozone hoặc chlorine, với nồng độ formol lên tới 30 µg/lít (Krasner et al., 1989; Tomkins et al., 1989). Nước đóng chai, đóng thùng ở Đài Loan ở mức cao hơn, tới 129 µg/lít (Chia- Fen et al., 2003). Trích dẫn này lấy từ WHO Guidelines for Drinking-water Quality, 2005.  Formol trong thủy sản là trường hợp khá đặc biệt, vì ngư dân đánh bắt xa bờ thường dùng formol để bảo quản cá. Sự cố formol trong cá cũng một thời ồn ào ở Thái Lan, Bangladesh, Trung Quốc,…, nhưng không dữ dội như “chất ướp xác” trong bánh phở ở Việt Nam.  Nguồn gốc của formol trong thủy sản có thể giải thích thế này. Chất Trimethylamine oxide (TMAO) hiện diện khá nhiều trong thủy sản bị phân giải dưới tác động của enzyme để tạo thành Dimethylamine (DMA) và formol với số lượng mol bằng nhau. Người ta có thể định lượng DMA để xác định độ biến tính protein (thịt cá bị dai do formol) của thủy sản, đồng thời suy ra lượng formol tự nhiên hay thêm vào cố ý. Việc suy diễn này chỉ có tính tương đối vì một phần formol bị kết dính vào mô, khó chiết xuất để định lượng chính xác.  Lượng formol tự nhiên nhiều ít tùy thuộc chủng loại cá, và chênh lệch đáng kể, chẳng hạn formol trong cá thu (King Mackerel) chứa 1,1 mg/kg, còn cá Bombay Duck có tới 140 mg/kg.   Thủy sản đông lạnh chứa nhiều formol hơn thủy sản tươi, vì quá trình phân giải TMAO vẫn tiếp tục xảy ra trong quá trình trữ đông. Thời gian trữ đông càng lâu, lượng formol càng nhiều. Cá lizard chứa 17mg/kg, sau 24 tuần trữ đông formol lên tới 42 mg/kg (Dusadee Tunhun et al, 1996).  Thực phẩm có formol tác hại thế nào?  Một bài báo của tác giả BTT bằng tiếng Việt trên mạng, trích dẫn một câu xanh rờn thế này: “…Theo sự nghiên cứu của Stanley (1992) thì con người nếu uống formaldehyde, vào khoảng 60-90ml formalin, thì chết ngay”. Tìm trong phần tham khảo, thì trích từ sách Toxicology Chemistry của Stanley E.M. Tôi không có quyển sách này, nhưng với một quyển sách chuyên ngành như thế, nên chỉ đoán Stanley trích lại từ đâu đó, chứ không phải đích thân làm nghiên cứu này. Vài thắc mắc được nêu ra:  •    Formol có mùi hăng, khó chịu vô cùng. Chỉ cần mở nắp thùng là đủ chảy nước mắt, hắt hơi. 60-90 ml formalin tương đương với 22 -33 gr formol (formaline thương phẩm có nồng độ 37%). Chán sống thì chơi thuốc rầy coi bộ còn dễ chịu hơn, chứ nốc cả chén formalin thế này, thì…sặc ngay.  •    Con người chứ có phải khỉ hay chuột đâu mà mang ra thí nghiệm ngọt sớt thế này.  •    Hay tác giả có cách tính toán gián tiếp nào chăng?  Dọa nhau kiểu này thì… hãi quá. Thôi quay trở lại với WHO cho chắc ăn. Tổ chức này tập hợp những nghiên cứu có độ tin cậy cao và đưa ra hướng dẫn cho công chúng.   WHO đưa ra những thí nghiệm trên động vật ỏ 3 mức: cấp tính, ngắn hạn và dài hạn.  •    Ở mức cấp tính: Liều LD50 là 800 mg cho chuột và 260 mg cho heo guinea tính trên mỗi kg thể trọng (Smyth et al, 1941) – LD 50 là liều lượng formol làm chết 50% động vật thí nghiệm, thí dụ, nếu bạn là…chuột và nặng 60 kg, và uống 800 mg x 60 = 4.600 mg formol, thì bạn có 50% cơ may lìa…đời   •    Ở mức ngắn hạn: Thử nghiệm kéo dài 4 tuần trên chuột Wistar (uống hàng ngày) cho thấy, ở liều 125 mg / kg thể trọng, chuột có những biến đổi về mô bệnh học ở bao tử. Còn liều 25mg/kg không thấy dấu hiệu bệnh tật (Til et al., 1988; IPCS, 1989).  •    Ở mức dài hạn: Thử nghiệm kéo dài 2 năm trên chuột Wistar (uống hàng ngày) cho thấy, ở liều 82 mg / kg thể trọng chuột có những biến đổi về mô bệnh học ở bao tử, kém ăn,… Còn dưới 15mg/kg không thấy dấu hiệu bệnh (Til et al., 1989).  Cơ quan Nghiên cứu Ung thư của WHO đưa formol vào danh sách chất có khả năng gây ung thư cho người (carcinogenic to humans), nhưng chỉ có bằng chứng đủ mạnh để nói formol có thể gây ung thư mũi thanh quản (nasopharyngeal), còn bệnh bạch cầu và nghề nghiệp thì chưa đủ chứng cớ. Nói cách khác formol chỉ có thể gây ung thư qua đường hô hấp.  WHO cũng nhấn mạnh, formol không phải là chất gây ung thư qua đường tiêu hóa (ăn uống).  Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) xác định nước uống có 1 ppm formol không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của người lớn. Tương tự, 10 ppm trong một ngày hoặc 5 ppm trong suốt 10 ngày ở trẻ em. Cũng nên biết, mỗi ngày con người uống khoảng 2 lít nước.  Trung tâm An toàn Thực phẩm (Hồng Công) cho rằng, ăn thực phẩm có lượng nhỏ formol không gây hiệu ứng cấp tính, nhưng với lượng lớn, có thể gây đau bụng, nôn mửa, hôn mê, đau thận, và có thể chết. Nhưng lại không xác định lượng nhỏ là bao nhiêu, lượng lớn là bao nhiêu.   Rút ra được điều gì?  Lượng formol phát hiện trong bánh phở chỉ có từ vài ppm đến 10 ppm (ppm = mg/lít), quá nhỏ so với các thực phẩm khác (cá, nấm,…), nhưng một thời lại gây hoang mang qúa lớn. Hiện nay, thỉnh thoảng báo chí vẫn đưa tin, kiểm tra phát hiện có khi 30%, có khi 40% bánh phở có formol,… Người tiêu dùng đọc cũng thấy… nhột.  Cho dù thế nào đi nữa, formol là chất không được dùng trong chế biến thực phẩm. Sử dụng bất cứ liều lượng nào đều vi phạm pháp luật. Các nước trên thế giới cũng cấm như thế. Ở Mỹ, năm 1986, FDA mới cho phép dùng formol làm chất diệt khuẩn trong chế biến thức ăn gia súc.   Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận. Rất nhiều bài báo đang nói về formol trong bánh phở, lại trích dẫn bên cạnh phát biểu của các vị giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ rằng, formol gây ung thư thanh quản, đột biến gen,… Đặt mũi thay miệng như thế thì…ngượng chết. Lại có tờ báo “máu” lên: “ Tai sao lại cho phép tự do bày bán những chất độc như thế? Phải quản lý chặt ”. Trời đất ! Formol nhập về cả 40-50 ngàn tấn/năm, hơn 90% được dùng công nghiệp keo, làm nhựa, dệt,…, chỉ có vài phần trăm là vô ngành y tế để bảo quản xác và bệnh phẩm. Quản lý chặt một nguyên liệu phổ biến như thế thì mua ở đâu, và sẽ phát sinh cái gì?  Còn nhiều sự cố nữa liên quan đến an toàn thực phẩm, như thủy ngân trong cá, chất tẩy màu sulfite, hàn the, 3-MCPD trong nước tương, quinine trong cà phê, phẩm màu Tartrazin trong mì gói,… từ từ sẽ được bóc tách một cách sòng phẳng, đặt đúng mức độ tác hại của chúng. Dư luận phát hoảng hay không, phần lớn là do truyền thông, phần còn lại là kiến thức và lương tâm của người phát biểu.   Cảnh báo an toàn thực phẩm là điều cần thiết, nhưng đừng làm người tiêu dùng…sợ.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực vật học dưới góc nhìn nghệ sĩ      Nhà minh họa thực vật đầu tiên và duy nhất mang đến sức sống cho những mẫu vật thiên nhiên, khiến những đặc điểm sinh học của chúng tỏa sáng.      Alice Tangerini trong phòng làm việc. Ảnh: AARP Bulletin.  Alice Tangerini là hoạ sĩ minh hoạ thực vật đầu tiên và duy nhất tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Smithsonian, nơi bà đã đặt dấu ấn của mình trong ngành khoa học thực vật suốt 46 năm. Trong sự nghiệp của mình, Tangerini đã tạo ra hàng trăm hình minh họa từ hơn 1.000 loài thực vật khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Tác phẩm nghệ thuật của bà đã xuất hiện trong các cuốn sách, tạp chí khoa học có bình duyệt và các cuộc triển lãm trong bảo tàng. Nhà thực vật học nổi tiếng Warren H. Wagner gọi Tangerini là người “không thể thay thế” trong lĩnh vực minh họa thực vật. Hơn nữa, bà đã thổi hồn vào cho khoa học thực vật, đem lại cho nó một cuộc sống mới.  Các hình minh họa thực vật của Tangerini bắt đầu theo cùng một cách: đầu tiên là một bản vẽ đơn giản giúp bà khám phá các bộ phận của cây: lá, hạt, thân, có thể một hoặc hai bông hoa. Tiếp theo, bà sử dụng kính hiển vi để nghiên cứu các sợi lông tí hon và đường gân của mẫu vật, sau đó tái hiện chúng bằng các nét vẽ cực mảnh được tạo ra bằng bút với độ nhạy áp lực rất cao vốn hay được sử dụng bởi các  kiến trúc sư hoặc kỹ sư. Tangerini đã kết hợp các công cụ và cả tầm nhìn của người nghệ sĩ và nhà khoa học để hoàn thành công việc mà, theo như bà mô tả, chính là “nghệ thuật phụng sự khoa học.”  Mặc dù hiện nay, một số trường đại học đã có chương trình đào tạo cho ngành minh họa khoa học- chẳng hạn như chương trình Minh họa Sinh học và tiền Y khoa của Đại học Iowa và chương trình Minh họa Y khoa của Đại học Chicago. Nhưng khi Tangineri bước chân vào lĩnh vực này cuối những năm 1960, không hề có khóa học nào tương tự. Con đường đến với minh họa khoa học của bà dựa vào một chút may mắn (và rất nhiều kỹ năng), và nó là quá trình truyền nghề giữa một sư phụ và đệ tử hơn là quá trình đào tạo bài bản trong trường đại học một cách chính thức.  Họa sĩ bất đắc dĩ  “Vẽ luôn là một niềm yêu thích của tôi, thậm chí từ thời thơ ấu,” Tangerini nhớ lại. “Tôi lớn lên trong một khu phố nơi ngay cả những người hàng xóm cũng biết tôi là một cô gái thích vẽ. Thế rồi một mùa hè khi cô đang theo học tại trường cao đẳng ở Kensington Maryland, Tangerini quyết tình tìm việc làm thêm và được một người hàng xóm gợi ý tìm đến Lyman Smith, một nhà thực vật học tại viện thực vật (Herbarium) của Smithsonian, người tình cờ sống trong cùng khu phố với cô và đang tìm một người vẽ tranh minh họa.  Khi Tangerini gặp Smith lần đầu tiên, cô đưa cho ông xem một tập các bản vẽ ngựa và chó từ thời trung học. Điều gần nhất với cây mà Tangerini đã từng vẽ cho đến thời điểm đó là cỏ dưới móng chân của con ngựa. “Ông nhướn mày và nói ‘Tôi sẽ để cô thử’” Bà nhớ lại “Và đó chính xác là cách mọi thứ bắt đầu.”    Minh họa cây Cornus kousa của Alice Tangerini, còn có tên gọi khác là sơn thù du Nhật Bản, một loài cây rụng lá nhỏ cao tối đa là 12 m, hoa trắng và quả giống như quả mâm xôi. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia Smithsonian  Tuần sau Tangerini gặp Lyman tại bảo tàng để thử việc. Lyman đặt một mẫu thực vật khô, một cây chổi lông, một chiếc bút chì, một chai mực và một cây bút máy. Rồi ông rời đi, và vài giờ sau, ông quay trở lại để xem Tangerini đã làm gì. “Tôi đã vẽ một cái cây chết trông như một cái cây đã chết. Chính xác nó trông giống hệt cái cây đó (mà Lyman đã đưa)”. Lyman nhắc nhở lần sau bà nên mở lá ra (để vẽ) và đó chính là bài học đầu tiên của bà.  Bà tiếp tục làm việc cho Lyman vào những ngày cuối tuần và trong mùa hè, và chính sự huấn luyện đó đã giúp bà trở thành một nhà minh họa thực vật thực thụ.  Nhiều thập kỷ sau cái ngày bắt đầu làm việc tại Smithsonian vào năm 1972, Tangerini vẫn tiếp tục vẽ nhiều mẫu thực vật khô từ khắp nơi trên thế giới, có những mẫu đã hơn 200 năm tuổi. Nhưng bà đã biết làm thế nào để thổi vào chúng một sự sống mới. Các nét vẽ của bà, chăm chú và cẩn trọng, uyển chuyển từ dày đến mỏng, tạo ra một hiệu ứng như hoạt hình. Và dẫu rằng quy ước trong minh họa thực vật là dựa theo một nguồn sáng tưởng tượng từ phía trên bên trái của bản vẽ, nhưng phong cách dùng nét đậm để đánh bóng mẫu vật của bà khiến chúng như tỏa ra ánh sáng của riêng mình trong bức tranh.      Tangerini vẫn thích dùng bút, bút chì và giấy. Sau nhiều năm, bà nhận ra rằng tay bà chỉ quen với làm việc theo cách đó. Nhưng còn một lý do khác khiến bà thích những công cụ truyền thống này: chúng giúp bảo tồn lịch sử lâu dài nghề thủ công của bà.      Tangerini không tự coi mình là một nghệ sĩ, mặc dù bà tốt nghiệp ngành mỹ thuật từ Đại học Virginia Commonwealth. “Minh họa khoa học thường được định hướng bởi khán giả. Bạn đang vẽ cho những người trong lĩnh vực khoa học, ”cô giải thích. “Tôi nghĩ mỹ thuật là thứ mà bạn vẽ cho bản thân. Bạn tự quyết định mình đang làm gì, mình đang thể hiện điều gì với đối tượng khán giả do bạn quyết định”.  Sự phân chia rõ ràng giữa thẩm mỹ (tranh thực vật) và hướng dẫn (hình minh họa thực vật) đã xuất hiện từ lâu. Minh họa thực vật nhằm mục đích hướng dẫn đã xuất hiện từ thời cổ đại và trung cổ, trong những cuốn sách về thảo dược được sử dụng bởi thầy thuốc và người bào chế thuốc. Chúng chứa thông tin về tính chất dược liệu của cây và mô tả cách thức chuẩn bị cho cây thuốc. Kèm theo văn bản là hình minh họa thực vật đủ chi tiết để người đọc xác định được loại thực vật đó trong tự nhiên, bao gồm thể hiện chính xác tỷ lệ, đặc trưng của cây, màu sắc của tán lá và hoa hoặc quả. Áp lực phải thể hiện chính xác những điều này trên vai người vẽ minh họa càng lớn, nếu độc giả của họ là những thầy thuốc và những nhà dược học: dùng sai cây thuốc, hoặc bào chế sai cách đều có thể dẫn đến tử vong.  Tangerini theo sát truyền thống cổ xưa này, nhưng với một ngoại lệ: màu sắc không phải là một điều nổi bật trong các tác phẩm của cô. Hầu hết các mô hình của Tangerini là mẫu vật khô, chúng không còn giữ được nhiều màu sắc khi đến tay họa sĩ. “Màu sắc thậm chí không cần thiết … nó không phải là một đặc điểm phân loại, nó không giúp tách biệt các loài với nhau”, cô giải thích. Sự diễn giải màu sắc còn mang tính chủ quan của người vẽ. Do đó, các đặc điểm của thực vật có thể được các nhà thực vật học công nhận ở bất kỳ nơi nào trên thế giới phải là những đặc điểm có ý nghĩa về mặt phân loại: hình thái thực vật, cấu trúc và các bộ phận bên trong của cây.  Một sự khác biệt nữa là vào thời của các nhà minh họa thời trung cổ và cổ đại, ngành phân loại sinh học vẫn chưa tồn tại như một hệ thống chuẩn hóa để nhận diện các loài. Phải đến thế kỷ 18 và 19, khi nhà tự nhiên học và nhà di truyền học Ernst Haeckel mới bắt đầu phổ biến lĩnh vực minh họa khoa học thông qua hàng trăm tác phẩm của các loài thực vật và động vật có kích thước siêu nhỏ, thì sự chính xác về mặt thực vật mà Tangerini tìm kiếm mới trở thành một phần không thể thiếu của việc vẽ minh họa.  Sự sáng tạo trong khuôn khổ  Các nhà sử học khoa học như Ann Shteir, Barbara Gates và Sally Kohlstedt đã chỉ ra rằng minh họa thực vật trong giai đoạn này cung cấp cho phụ nữ một con đường khác để vào với thế giới khoa học. Họ có thể là những người minh họa độc lập, hoặc những người minh họa vô danh làm cho những người thân là nam giới của họ. Hàng trăm nữ họa sĩ minh họa đóng một vai trò trung tâm trong việc minh họa trực quan cho ngôn ngữ của ngành phân loại học manh nha của những nhà thực vật nam. Mặc dù tên tuổi của rất nhiều người giờ đã chìm vào quên lãng, công việc của họ đã thiết lập nên nền tảng cho  minh hoạ thực vật hiện đại.  Tuy nhiên, việc lấy tính chính xác khoa học làm mục tiêu không có nghĩa là tất cả các hình minh họa đều giống nhau, hoặc các họa sĩ không hề đặt trí tưởng tượng và sự sáng tạo vào công việc của họ. Tangerini vẫn là một nghệ sĩ đúng nghĩa, và bà sở hữu quyền kiểm soát phương thức cũng như cách áp dụng chúng trong việc minh họa. Bà coi từng bức tranh là một thử thách, bởi vì mỗi lần bà đặt bút là mỗi lần bà phải xác định sẽ đặt các đường thằng, bóng, điểm hoặc màu sắc ở đâu để thể hiện những gì mà nhà khoa học đã đưa cho bà.  Khi Tangerini bắt đầu công việc minh họa của mình, số lượng các nhà minh họa khoa học quá nhỏ để có một ngành công nghiệp cung cấp các dụng cụ mà họ cần. (Thực chất ngành này vẫn khá nhỏ, do hạn chế về mặt tài chính, nhiều viện bảo tàng và vườn thực vật thường chỉ có thể thuê một hoặc hai người minh họa.) Do đó, bà phải sử dụng các công cụ của kiến trúc sư, kỹ sư phát triển sản phẩm và người viết thư pháp.  Tương tự như vậy, các họa sĩ minh họa ngày nay đã áp dụng các công cụ từ lĩnh vực thiết kế đồ họa, lựa chọn bút cảm ứng và máy tính bảng chuyên cho đồ họa thay vì bút và giấy thông thường, và sử dụng phần mềm sáng tạo như Adobe Photoshop. “Ngay cả khi bạn có thể vẽ và tô màu, bạn vẫn cần phải có  khả năng sử dụng tất cả các phần mềm này,” Autumn von Plinsky, một nhà minh hoạ trước đây từng làm cho Vườn Bách thảo New York cho biết. “Một trong những điều giúp mở rộng cơ hội nghề nghiệp và năng lực thực hiện dự án của bạn chính là tìm hiểu các công cụ này về cả khía cạnh thiết kế và minh hoạ.”  Tuy nhiên, Tangerini vẫn thích dùng bút, bút chì và giấy. Sau nhiều năm, bà nhận ra rằng tay bà chỉ quen với làm việc theo cách đó. Nhưng còn một lý do khác khiến bà thích những công cụ truyền thống này: chúng giúp bảo tồn lịch sử lâu dài nghề thủ công của bà. Nhưng công cụ truyền thống này có sự linh hoạt giúp bà đạt được phong cách mà bà đã luôn muốn đi theo từ thuở ban đầu: tranh in khắc gỗ.  Tôi vẫn nhìn vào những mộc bản cổ để ngắm nhìn các đường nét uốn lượn trên đó. – chúng thật quá đẹp. Bà mua lại rất nhiều công công cụ vẽ từ các nhà minh họa khác mà bây giờ không còn tìm thấy trên thị trường nữa. “Tôi mua lại những công cụ này vì đối với tôi, chúng là lịch sử. Một phần của lịch sử hội họa đang dần dần biến mất.”  Ngoài nhiệm vụ minh họa của mình, Tangerini hiện đang quản lý bộ sưu tập nghệ thuật thực vật trong Bảo tàng quốc gia về lịch sử tự nhiên và Catalogue về minh họa thực vật của Smithsonian. Nhưng những gì bà yêu thích nhất về công việc của mình vẫn là quá trình tái tạo một mẫu vật khô trên giấy. “Việc tìm ra làm thế nào để tái tạo lại mẫu thực vật khô này khiến chúng đẹp đầy nghệ thuật trên trang sách mà tôi tự dàn trang… quả thật vô cùng thỏa mãn.” Bà nói. Đôi khi trong quá trình này, bà tìm thấy những chi tiết rất nhỏ mà kể cả các nhà thực vật học cũng không phát hiện ra. “Tôi nhìn dưới kinh hiển vi để vẽ lại chúng, tôi thực sự phải nhìn rất kĩ, bởi vì tôi phải tái hiện lại một mẫu vật khô và cố gắng làm cho nó trông như đang sống”  Chính nhờ công việc “thổi hồn này” – nhìn ra những chi tiết chưa được khám phá của một loài thực vật và xác định cách thức tốt nhất để diễn tả chúng trên giấy – mà Tangerini tìm thấy chất thơ trong khoa học. Bà nói: “đây là cách tôi thể hiện bản thân mình”.  Hạnh Duyên dịch     Nguồn: https://www.smithsonianmag.com/science-nature/meet-woman-who-meticulously-illustrates-plants-name-science-180969544/  Các tít phụ trong bài là do tòa soạn đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực vật “nhìn” thế giới thế nào?      Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, thực  vật có cả xúc giác, thính giác, khi gặp phải khó khăn chúng đều “nghĩ”  ra cách để phòng ngự, còn có thể nhắc nhở các thực vật xung quanh, thậm  chí còn có những dạng ký ức khác nhau.     Nhiều nhà khoa học cho rằng, thực vật cũng là một sinh vật phức tạp, có đời sống tình cảm phong phú.  Con người có thể tính toán được tương lai để tiến hành hoạch định những kế hoạch của mình không? Câu trả lời là không chắc chắn. Thế nhưng có một loài thực vật sống ở Tây bắc nước Mỹ có thể căn cứ theo đặc trưng của thời tiết để tiến hành tính toán việc sinh trưởng trong vòng hai năm nữa.   Những sự sống nhỏ bé đó lại chứa trong mình một sức mạnh và dự cảm lớn như vậy, thực sự làm cho người ta phải sửng sốt! Có nhà khoa học cho rằng người ta không nhìn thấy thực vật di chuyển, nhưng điều đó không có nghĩa rằng trong cơ thể thực vật không có một thế giới đa nguyên, một thế giới đầy động thái. Có chăng những sự sống “yên lặng” đó có một phương thức biểu đạt của riêng mình, mà chúng ta chưa hề biết được hay chăng?  Tư duy năng động của thực vật.  Nhà di truyền học thực vật Barbara McClintock, người từng đoạt giải Nobel, coi tế bào thực vật “có tư tưởng”, Darwin cũng đã có những quan điểm liên quan đến nhận định này. Xem ra thực vật có “ý thức” hay không đã là một vấn đề sớm được các nhà khoa học quan tâm và đề xuất, nhưng thực vật liệu có tồn tại “ý thức” thực sự hay không? Chúng ta phải hiểu như thế nào về điều đó?  Chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu gene trọng điểm quốc gia của Trung Quốc, ông Tạ Kỳ, nói rằng: Thực vật và động vật khác biệt nhau rất lớn, động vật chủ yếu thông qua tế bào thần kinh, còn trong cơ thể thực vật thì không hề có tổ chức thần kinh, nên không có ý thức giống như động vật. Tuy nhiên thực vật có đầy đủ những điểm tương đồng về đặc trưng sống, ví dụ như tìm lợi, tránh hại. Đặc trưng này có thể làm cho thực vật phản ứng được với các hoàn cảnh tự nhiên thay đổi, nhưng những phản ứng này thường mang tính ổn định nên không dễ phát hiện ra được.   Nhắc đến các “hành vi ý thức” của động vật, chúng ta có thể nghĩ ngay tới cây xấu hổ. Khi chịu tác động của bên ngoài thì chúng lập tức thu cánh của mình lại, hình thức gần như là “ý thức” của động vật thì chúng ta phải giải thích như thế nào?  Nguyên nhân chủ yếu là do sự cân bằng trong tế bào của lá bị phá vỡ, dẫn tới nước ở trong lá đi xuống phía cành và gốc, các tế bào tổ chức sức ép giảm xuống làm cho lá co lại. Những phản ứng tức thì này của thực vật so với phản xạ thần kinh của động vật hoàn toàn khác biệt, chúng ta có thể coi phản ứng tức thì này của thực vật là một phản ứng máy móc mà thực vật có được trong quá trình tiến hóa của mình, giống như một cái lẫy, chỉ cần chạm vào chúng lập tức sẽ kẹp lại. Người ta gọi đây là việc truyền dẫn tín hiệu. Tín hiệu truyền dẫn có hai cách, trong đó một loại là chịu tác động của ngoại cảnh, các tế bào lập tức đưa ra phản ứng, còn loại thứ hai chính là do biểu hiện của DNA và protein sản sinh các phản ứng, phản ứng này cần thời gian dài hơn. Chúng ta nên phân tách suy nghĩ và phản ứng tín hiệu chứ không thể đánh đồng.   “Tính tình” thực vật  Có nhà khoa học đã từng thí nghiệm từ một cây mẹ cắt lấy hai nhánh, hoặc từ một cây mẹ mà nhân bản thành hai cây nhỏ khác nhau, trong cùng một điều kiện sinh trưởng thế nhưng biểu hiện của chúng cũng không hề giống nhau. Đối với sự sinh trưởng khác biệt này, Tạ Kỳ nói “Điều này phải nhắc tới Di truyền học biểu hiện. Trong đó thực vật có thể tùy vào hoàn cảnh mà điều chỉnh bản thân mình. Giống như chúng ta đem trồng một cây ở nam, một cây ở bắc, thì sinh trưởng của chúng sẽ khác biệt, hoàn cảnh bên ngoài sẽ điều chỉnh sự biểu hiện trong DNA của thực vật, từ đó sản sinh ra protein khác nhau, tuổi thọ và hình dáng khác nhau.”  Thực vật sinh trưởng khác biệt còn phụ thuộc vào nhiệt độ, ánh sáng, thời gian và thổ nhưỡng sinh trưởng. Tạ Kỳ nói, “Ánh sáng là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến thực vật và là yếu tố chính ảnh hưởng tới sản lượng. Thực vật dường như có khả năng cảm nhận các tầng ánh sáng, bao gồm phương hướng, thời gian chiếu, ánh sáng, và cả sóng ánh sáng. Sự sinh trưởng và phát triển của thực vật phải tiến hành trong một phạm vi nhiệt độ nhất định. Vượt qua nhiệt độ cao nhất hay thấp nhất đều dễ dàng dẫn tới thực vật bị chết, nhiệt độ khác nhau sẽ dẫn tới sự khác biệt về hình thái, ngoài ra tính chất thổ nhưỡng khác biệt cũng dẫn tới việc phát dục của thực vật thay đổi.   Trí nhớ phong phú  Chuyên gia kiểm tra nói dối Cleve Backster đã từng làm một thực nghiệm, trên lá của thực vật đặt một điện cực của máy kiểm tra nói dối. Để chứng minh thực vật có đầy đủ trí nhớ, Backster đặt hai cây vào trong cùng một phòng. Sau đó cho sáu người mặc đồng phục, đeo khẩu trang, đi ngang qua các cây. Trong đó có một người phá cây. Tiếp theo, cho cùng số người đó đi ngang qua cây một lần nữa, khi người phá hoại cây đi ngang qua thì số liệu đo đạc được cho thấy xuất hiện các phản ứng rất mạnh mẽ trong cây.   Thực vật sao có được hệ thống thần kinh mẫn cảm và phản ứng phức tạp như vậy? Phải chăng chúng có một kho dữ liệu?  Thông qua thực nghiệm của Backster, các nhà khoa học cho biết đây là do chất acid jasmonic ở trong thực vật tạo nên. Kích tố này làm trong thân thể của thực vật chuyển hóa từ acid linolenic thành acid jasmonic, một loại tương tự chất trong tuyến tiền liệt của động vật.   Thực vật khi nhận được tác động của thế giới bên ngoài sẽ sản sinh ra nhiều loại kích tố, đồng thời bên ngoài cũng có những biến hóa hóa học, sau đó thực vật sẽ tự sản sinh một dạng hóa hợp các hương vị, những mùi này có trong không gian, và là một thứ tín hiệu có thể liên lạc được với nhau.   Mạng xã hội thực vật   Đại học Washington của Mỹ phát hiện, trong một rừng cây liễu, khi một cây nào đó gặp phải sâu hại, thì trong lá mới của cây sẽ có một lượng lớn các kích tố kháng thể được tiết ra, để bảo hộ chính mình, giảm thiểu sâu hại, và xung quanh phạm vi 70m của cây liễu bị sâu hại thì nồng độ đó cũng tăng lên khác nhau, những cành lá gần cây bị hại thì nồng độ lên cao nhất.   Một hạng mục nghiên cứu gần đây cho thấy, mối quan hệ giữa thực vật với nhau có thể thông qua việc giao tiếp giữa rễ và rễ để truyền phát tín hiệu. Ngoài ra còn có một số hình thức giao lưu khác nhau. Về cơ bản thì nguyên nhân chính là do các kích tố trong thực vật kích thích hoặc do những ảnh hưởng mà chúng nhận và đã sản sinh ở lần chịu tác động trước.  Giao lưu giữa thực vật chủ yếu vẫn là do kích tố hoặc do những tiết tố được phát tán trong không gian, kích tố thực vật được phát tán dẫn tới thực vật lân cận cũng sản sinh những kính tố tương ứng. Cùng một loài thực vật sau khi trải qua một lần bị hạn, chúng sẽ tự động sản sinh ra một loại kích tố thích ứng với hạn hán, để dự phòng cho lần hạn hán tiếp theo. Nói một cách đơn giản tức là gene của thực vật sẽ có những biểu hiện tăng tốc hay giảm tốc cho việc thích ứng. Cũng giống như hiện nay chúng ta sử dụng ethylene chính là căn cứ theo việc cách tác động vào làm cho protein trong thực vật thay đổi để đạt được hiệu quả cần thiết.   Nhị Giang dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thực vật phát điện      Các nhà khoa học Hà Lan đang nghiên cứu triển khai một hệ thống sản xuất điện từ các loại cây đang sống.     Nếu pin mặt trời dùng ánh mặt trời để phát điện thì các loài thực vật dùng ánh mặt trời để cung cấp năng lượng phục vụ sự sinh trưởng của chúng. Hiện nay pin mặt trời có giá thành quá cao và hiệu suất thấp, nói chung chỉ ở mức 12 đến 17%, vì vậy khó phát triển. Nhưng người ta có thể dùng thực vật sống để phát điện.     Các nhà khoa học Hà Lan đang nghiên cứu triển khai một hệ thống sản xuất điện từ các loại cây đang sống. Hiện nay công ty Plant-e có trụ sở tại Wageningen (phía đông Hà Lan) đã sử dụng điện năng lấy từ cây sống để nạp điện thoại di động, cấp điện cho các điểm phát Wi-Fi và thắp hơn 300 ngọn đèn LED chiếu sáng đường phố tại hai vùng ở Hà Lan. Tháng 11/2014, công ty đưa ra dự án “Starry Sky” thực thi tại một địa điểm gần Amsterdam và điện năng thực vật cũng được sử dụng tại gần trụ sở công ty.     Công ty Plant-e do tiến sĩ Marjolein Helder và Phó Giáo sư David Strik thành lập tháng 9/2009, là một đơn vị sinh ra từ Khoa Công nghệ môi trường Đại học Wageningen. Bà Helder làm CEO. David là cầu nối giữa các nghiên cứu ở nhà trường với công tác R&D ở công ty. Plant-e chuyên kinh doanh và hoàn thiện hệ thống điện thực vật trên cơ sở ý tưởng được đăng ký bản quyền năm 2007 của các nhà khoa học ở ĐH Wageningen.    Hệ thống này cho phép sản xuất ra điện nếu như cây trồng trên diện tích lớn và trong môi trường bão hòa nước, như đầm lầy, cánh đồng, thậm chí chậu cây, vườn cây. Điện năng lấy từ phần rễ cây ngâm trong nước có thể đủ dùng cho một gia đình.    Giám đốc Marjolein Helder giải thích: “Cây cối tạo ra năng lượng nhiều hơn mức nó cần. So với điện gió hoặc điện mặt trời thì hệ thống này có ưu điểm là hoạt động được kể cả trong đêm và khi không có gió”.    Bình thường, trong quá trình quang hợp, khi biến ánh mặt trời thành năng lượng, cây cối sẽ sản xuất ra chất hữu cơ. Cây sẽ hấp thụ chất này để sinh trưởng, nhưng một số chất đó không được cây sử dụng mà bị thải xuống đất thông qua rễ cây và sẽ bị vi sinh vật phân hủy. Quá trình phân hủy này sản xuất ra các electron. Dùng một điện cực carbon cắm xuống chỗ gần rễ cây sẽ tóm bắt được số electron này, rồi dùng dây dẫn đưa dòng electron – tức dòng điện ra, hình thành một chiếc pin hữu cơ để cấp điện.     Plant-e gần đây đã thí điểm tạo được hai hệ thống diện tích 100 mét vuông có mái che ở gần trụ sở công ty để chứng minh công nghệ của họ. Bước sau sẽ xây dựng một “nhà máy điện” ở vùng đầm lầy. Bà Helder nói hệ thống này sẽ hoạt động tốt với bất cứ loại thực vật nào sống trong nước, kể cả cỏ, lúa nước, và các loại cây ngập mặn. Bà dự định đầu năm 2015 sẽ thí nghiệm ở hiện trường, hy vọng năm 2017 có thể đưa ra thị trường. Trên trang web Plant-e có trình bày hệ thống đã tạo dựng xong.    Lượng điện do hệ thống thí điểm hiện có làm ra chỉ đủ để nạp điện thoại di động. Nhưng Helder nói sẽ nâng lên mức 28 kWH trên mỗi mét vuông mỗi năm. Như vậy một mảnh đất 120 mét vuông có mái che là đủ để cấp điện cho nhu cầu của một căn nhà loại vừa ở Hà Lan. Nói cách khác, có thể hy vọng bất cứ thôn xóm hẻo lánh nào cũng đều sẽ được cánh đồng của mình cung cấp đủ điện cho nhu cầu sinh hoạt. Thật là một viễn cảnh sáng sủa tươi đẹp ai cũng mơ ước.     Bà Jacqueline Cramer, giáo sư đại học Utrecht, nguyên Bộ trưởng Môi trường Hà Lan nói: “Hệ thống này hiện nay chỉ mới ở giai đoạn đầu, còn nhiều việc phải hoàn thiện, nhưng có tiềm năng rất lớn. Nếu hệ thống được hoàn thiện, chúng ta có thể nghĩ tới việc cung cấp điện cho các vùng xa xôi hẻo lánh hoặc thậm chí lắp đặt nó ở các đô thị và nông thôn để sản xuất năng lượng xanh”.    Ng.H. tổng hợp    Nguồn :    – http://www.fastcoexist.com/3039194/these-green-roofs-are-more-than-just-a-garden-theyre-also-a-power-plant   These Green Roofs Are More Than Just A Garden, They’re Also A Power Plant    – http://plant-e.com/ (có video)    – http://inhabitat.com/plant-power-dutch-company-harvests-electricity-from-living-plants/   Plant Power: Dutch company harvests electricity from living plants to power streetlights, Wi-Fi, and cell phones    – http://www.greenoptimistic.com/plant-e/#.VaMUq1_tmko Plant-e Produces Electricity from Green Plants    – http://revolution-green.com/plant-e-plants-generating-electricity/ Plant-e : Plants Generating Electricity    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc Avifavir chữa Covid-19 của Nga được sử dụng ở 15 nước      Mới đây Nga cho biết đã bán thuốc Avifavir chữa Corona cho 15 quốc gia. Thuốc này hữu hiệu thế nào?      “Chúng tôi thu được kết quả tốt đẹp: thuốc này đã được xuất khẩu cho 15 nước”, mới đây ông Kirill Dmitrijew, giám đốc Quỹ Đầu tư trực tiếp của Nga (RDIF), đã phát biểu trên đài truyền hình Nga. Cho đến nay mới chỉ có hai loại thuốc chống Covid-19 được xuất khẩu sang một số nước, bao gồm thuốc Remdesivir của Hoa Kỳ và Avifavir của Nga.   “Hoa kỳ đã mua 90% lượng thuốc Remdesivir. Vì vậy chúng tôi không ngạc nhiên khi có tới 15 nước mua loại thuốc này của chúng tôi”, Dmitrijew nói. Trong đó có 7 nước ở Mỹ La tinh và Nam Mỹ.  Cuối tháng 5 vừa Nga đã cấp phép lưu hành cho thuốc mang tên Favipiravir. Dược phẩm này do RDIF cùng với doanh nghiệp Khimrar ở thành phố Khimki của Nga phát triển. Công thức của dược phẩm này dựa vào công thức của loại thuốc chống bệnh cúm cùng tên của Nhật là Favipiravir, tên thương mại là Avigan.  Ở Nga loại thuốc của Nhật này đã được “thay đổi đôi chút”, như Dmitrijew từng báo cáo với tổng thống Wladimir Putin trong một cuộc gặp gỡ. Tháng sáu vừa rồi lần đầu tiên các bệnh viện ở Nga dùng loại thuốc này do Nga sản xuất để điều trị  Covid-19, tên thương mai là Avifavir. Các phương tiện truyền thông thì đây là  “thuốc chữa virus corona của Nga”.  Công thức của Nhật bản  Favipiravir (Avigan) được phê chuẩn ở Nhật Bản vào năm 2014 để chữa bệnh cúm, tuy nhiên thuốc này có một số hạn chế. Thuốc được sử dụng để chống lại các chủng virus cúm mới khi các loại thuốc khác không đem lại hiệu quả tốt. Theo một số báo chí phương Tây, quá trình phê duyệt loại thuốc mới này khá trầy trật, kéo dài tới ba năm – do thuốc có tác động phụ là gây dị tật ở trẻ sơ sinh. Do đó phụ nữ mang thai và bà mẹ cho con bú không được dùng thuốc này.   Favipiravir cản trở quá trình phát triển của một loạt virus. Người ta cũng đã dùng loại thuốc này để chống virus ebola ở Châu Phi.    Trước khi có dịch Covid-19 thì ở Nhật bản, Avigan không phải là đối thủ cạnh tranh với các loại thuốc chống chống cúm khác. Thuốc này không được bán tự do trên thị trường mà chỉ được sản xuất theo đơn đặt hàng của chính phủ để làm thuốc dự phòng trong trường hợp có đại dịch. Từ tháng 2.2020 thuốc được dùng trong các bệnh viện để điều trị bệnh nhân mắc virus corona. Theo truyền thông Nhật thuốc phát huy hiệu quả nếu diễn biến bệnh Covid-19 vừa phải, còn trong trường hợp bị nặng, thuốc hầu như không phát huy tác dụng.  Nhật không phải là nước duy nhất dùng Avigan để điều trị Corona. Từ tháng tư có khoảng 40 nước, trong đó có Đức, đã thử nghiệm lâm sàng thuốc này kết hợp với nhiều loại thuốc có triển vọng chống lại Covid-19. Trả lời hãng thông tấn DW, bộ Y tế Liên bang Đức cho hay Đức đã nhập khoảng 260.000 viên Avigan để điều trị Covid-19, số thuốc trên đã được phân bổ cho một số cơ sở điều trị nhất định. Hoặc Trung Quốc cũng sản xuất Favipiravir và thử nghiệm lâm sàng thuốc để điều trị virus corona.     Phun khử khuẩn ở Moscow vào đầu xuân 2020  Lạc quan thận trọng  Favipiravir có nhiều triển vọng  đối với Covid-19 và có thể so sánh [hiệu quả] với  Remdesivir, theo đánh giá Helmut Hahn, Chủ tịch diễn đàn Đức– Nga, Koch-Metschnikow. “Có thuốc này thật là may, tuy nhiên không có bằng chứng chính thức về hiệu quả của nó theo các tiêu chuẩn của chúng tôi”, Helmut Hahn này nhấn mạnh.  Theo Hahn, một loại thuốc có chất hữu hiệu loại này đối với Đức, thì chưa thể đưa vào sử dụng rộng rãi, vì còn thiếu nhiều dữ liệu nghiên cứu. “Việc nước Nga dùng thuốc này điều trị cho một số lượng lớn người bệnh cũng có thể hiểu được”, Hahn nói. Ơ Nga các vấn đề về “kiểm tra cũng như các quy định y tế đều không ngặt nghèo” như ở Đức. Điều này thể hiện cả trong nghiên cứu lâm sàng cũng như trong việc cấp giấy phép lưu hành các loại dược phẩm.   Gerd Glaeske, ở đại học Bremen thì cho rằng  Favipiravir có thể “so sánh với  Remdesivir, nó có thể giảm nhẹ diễn biến của bệnh”. Về những điều chỉnh mới của Nga, Glaeske khuyên nên chú ý đọc hướng dẫn sử dụng thuốc.  Trong giấy phép lưu hành Favipiravir (Avifavir) của Bộ Y tế Nga có nói “loại thuốc tác động trực tiếp diệt virus”. Trên trang Web của Cơ quan đăng ký thuốc của nhà nước thì dùng thuật ngữ chung “dược phẩm chống virus”, và chỉ được dùng trong các bệnh viện. Khi sử dụng phải có đăng ký và ghi chép đầy đủ. Bên cạnh đó phải có “báo cáo về thí nghiệm lâm sàng đã được thực hiện” trong khuôn khổ điều trị Covid-19.  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.dw.com/de/made-in-moskau-das-corona-mittel-avifavir/a-5443538       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc chống ung thư từ dược liệu dân gian      Sự phát triển của ngành Dược liệu học đã đưa nhiều cây thuốc dân gian vào phòng thí nghiệm, qua đó có cơ hội trở thành thuốc chống ung thư phổ biến trên thị trường.      Từ phải sang: Cây Táo gai và Cây Dừa cạn. Nguồn: Nature.com  Mọc trong những khu rừng ẩm ướt, đặc biệt là từ Quebec đến Florida, miền Tây Texas và Minnesota, Táo ma – Podophyllum peltatum từ lâu đã được người da đỏ Mỹ sử dụng để  tẩy giun, làm thuốc xổ. Sang thế kỷ 19, nhiều nhà khoa học đã biết chiết tách các chất trong cây Táo ma để điều trị sùi mào gà, ung thư da,… Tuy nhiên phải đến năm 1952 khi Jonathan Hartwell – Trưởng bộ phận nghiên cứu sản phẩm thiên nhiên của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI) thực hiện phân tích cấu trúc hóa học của dịch chiết từ cây và thử nghiệm trên mô hình khối u của chuột, thì Podophyllotoxic – thành phần chính của cây Táo ma, mới được biết đến rộng rãi về khả năng chống ung thư. Podophyllotoxin là tiền thân của nhóm hợp chất điều trị ung thư Podophyllins, trong đó có Etoposide – thuốc điều trị ung thư tinh hoàn, ung thư phổi tế bào nhỏ, bệnh bạch cầu không dòng lympho và u lympho không Hodgkin. Hiện nay Etoposide vẫn là một trong những thuốc phổ biến nhất trong điều trị ung thư di căn trên thị trường và được WHO liệt vào danh sách những thuốc an toàn và hiệu quả nhất dành cho sức khỏe.  Cuộc tổng sàng lọc của NCI  Cùng thời điểm đó, các nhà nghiên cứu ở Canada và Mỹ làm việc độc lập đã tìm hiểu về cây Dừa cạn – Catharanthus roseus ở Madagascar dựa trên tác dụng dân gian trong điều trị tiểu đường. Khi thử nghiệm trên động vật, họ đã phát hiện và phân lập hơn 70 loại alkaloid (hợp chất thiên nhiên gốc Nito) khác nhau, nhiều trong số đó có hoạt tính ngăn chặn sự phân chia tế bào ung thư. Hai loại tốt nhất – vinblastine và vincristine đã được phát triển trở thành thuốc hóa trị và đưa ra thị trường vào những năm 1960. Kết hợp với các thuốc khác, vinblastine được sử dụng để điều trị bệnh Hodgkin và một số loại ung thư khác. Vincristine điều trị bệnh bạch cầu cấp tính.  Những thành công trong nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên đã thúc đẩy NCI mở rộng Trung tâm Dịch vụ Quốc gia Hóa trị Ung thư – vốn đang chỉ phân tích các hợp chất đã được biết đến, khởi động dự án quy mô lớn chưa từng có nhằm sàng lọc hợp chất thiên nhiên trong điều trị ung thư vào năm 1960. Trong 22 năm, các mẫu thực vật đã được Bộ Nông nghiệp Mỹ thu thập theo thỏa thuận với NCI, bao gồm cả việc thu thập có chủ đích và ngẫu nhiên – 35.000 loại thực vật, 114.000 dịch chiết đã được sàng lọc hoạt tính chống khối u và thử nghiệm tác dụng trên tế bào ung thư dòng L1210 và P388 của chuột.  Dấu ấn đáng kể nhất trong cuộc tổng sàng lọc này đến vào năm 1962, khi nhà thực vật học người Mỹ Arthur Barclay đã thu thập vỏ cây và các mẫu khác từ cây thủy tùng Thái Bình Dương. TS. Monroe E.Wall và Mansukh Wani (người trước đó đã tìm thấy Camptothecin – hợp chất điều trị ung thư có trong rễ và vỏ cây hỷ thụ – Camptotheca acuminate từ Trung Quốc), theo hợp đồng với NCI với Research Triangle Institute tại Bắc California, đã phát hiện dịch chiết từ cây này có độc đối với tế bào và phân lập được hợp chất hoạt tính này từ vỏ cây, đặt tên là Paclitaxel (thường được biết đến với tên thương mại là Taxol). Những thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ tác dụng tích cực của Taxol lên các loại ung thư vú di căn, ung thư buồng trứng, ung thư phổi tiến triển, u ác tính và u lympho,… Năm 1993, Taxol đã được phê duyệt trong điều trị ung thư và đến nay, khoảng 55% bệnh nhân ung thư buồng trứng ở Mỹ đang điều trị bằng Taxol. Ngoài Taxol, từ năm 1961 đến 2014, có 12 hợp chất khác từ thực vật được cấp phép như thuốc điều trị ung thư. Nhờ vậy, sau khi chương trình kết thúc, NCI đã khởi động một chương trình sàng lọc mới, tìm kiếm dịch chiết ở cả thực vật, động vật và vi sinh vật; đồng thời thử nghiệm tác động lên 60 dòng tế bào ung thư ở người.  Mô hình tiếp cận liên ngành dược liệu học  Hầu hết các hợp chất điều trị ung thư đều xuất phát từ các loại thực vật từ lâu đã được biết đến với công dụng chữa bệnh trong y học cổ truyền. Tỷ lệ 25 – 28% các loại thuốc tây y có nguồn gốc trực tiếp và gián tiếp từ thực vật đã chứng tỏ tiềm năng dược liệu khổng lồ của thực vật, vốn đã được biết đến hơn 5.000 năm nay.  Kho tàng y học cổ truyền phong phú của các nước trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Quốc đã lưu trữ nhiều bài thuốc dân gian dưới dạng sắc, ngâm, bột, đắp,… có hiệu quả thực sự. Nhưng phải sang đầu thế kỷ 19, sau khi phụ tá dược sĩ người Đức Friedrich Sertürner lần đầu tiên phân lập được morphine từ cây thuốc phiện thì chúng ta mới biết được rằng các hợp chất hoạt tính trong thực vật mới là tác nhân chữa bệnh thực sự, từ đây dẫn đến xu hướng phân lập codeine từ thuốc phiện, cocaine từ Coca, digitoxin được chiết tách từ Digitalis purpurea và Digitalis lanata để điều trị bệnh tim và chống ung thư,…  Phát hiện các chất có nguồn gốc thực vật đã được phát triển trong suốt 200 năm qua nhờ những tiến bộ về chuyên môn và kỹ thuật đa dạng để xác định các hợp chất hoạt tính. Quá trình thường bắt đầu với việc một nhà thực vật học, thực vật dân tộc học, dược lý dân tộc học hoặc sinh thái học thu thập và xác định các thực vật mà họ quan tâm, thường là các loại từng được biết đến với công dụng chữa bệnh nhưng chưa được phân lập các hợp chất hoạt tính, và bao gồm cả việc thu thập ngẫu nhiên cho một chương trình sàng lọc lớn như của NCI.  Sau đó, nhà hóa thực vật sẽ thực hiện chiết tách dịch từ thực vật, đưa chất chiết này trải qua quá trình sàng lọc sinh học và bắt đầu cô lập, đặc tính hóa các hợp chất hoạt tính. Sinh học phân tử trở nên rất quan trọng trong khám phá cây thuốc thông qua việc xác định và thực hiện các xét nghiệm sàng lọc thích hợp hướng tới mục tiêu phân tử có liên quan đến dược lý. Như đối với trường hợp của Taxol, các nhà khoa học đã phát hiện được cơ chế Taxol tác động lên tế bào ung thư thông qua cách bám vào ống vi thể, ức chế quá trình depolyme hóa, bền hóa ống vi thể. Kết quả, ống vi thể không thể thực hiện được chức năng sinh học dẫn đến tế bào không thể tiến vào kỳ giữa của nguyên phân, kéo dài quá trình phân bào, và dẫn đến cái chết chết theo kiểu hiệu ứng domino của tế bào.  Sự kết hợp các lĩnh vực này đã tạo ra cách tiếp cận liên ngành được gọi là dược liệu học –– ngành khoa học nghiên cứu các phân tử hợp chất tự nhiên có thể dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc cải thiện các chức năng khác.  Tuy vậy, việc chuyển đổi từ hợp chất tự nhiên thành thuốc chữa bệnh chưa bao giờ là dễ dàng. Quá trình khám phá và phát triển thuốc có nguồn gốc tự nhiên ước tính mất trung bình 10 năm và chi phí hơn 800 triệu USD, phần lớn thời gian và tiền bạc bị lãng phí cho các ứng viên tiềm năng đã bị loại trong quá trình thực hiện. Trong thực tế, người ta ước tính chỉ 1/5.000 chất dẫn (lead compound) có thể thành công vượt qua vòng thử nghiệm lâm sàng và được chấp thuận sử dụng.  Xác định chất dẫn chỉ là bước đầu tiên trong quá trình phát triển thuốc. Tối ưu hóa – tổng hợp các dẫn chất từ chất khởi nguồn với sự thay đổi ở cấu trúc nhằm cải thiện hoạt tính, chọn lọc và ít độc tính, phát triển – tối ưu hóa con đường tổng hợp ở quy mô lớn, thay đổi các tính chất dược động học và bào chế với mục đích thích hợp dùng làm thuốc; và thử nghiệm lâm sàng sẽ tốn thời gian đáng kể. Sự phức tạp hơn so với các phương pháp phát triển thuốc khác đã khiến nhiều công ty dược phẩm loại bỏ hoặc thu hẹp quy mô nghiên cứu này. Thậm chí ngay tại NCI, quỹ tài trợ đã được tái phân bổ cho các sáng kiến mới về cải thiện chẩn đoán và phòng ngừa, đồng thời đình chỉ các hợp đồng thu thập thực vật – vốn hoạt động 20 năm nay ở châu Mỹ, Phi, Madagascar và Đông Nam Á.  ***  Các nhà dược liệu học, hóa thực vật và các nhà khoa học nghiên cứu sản phẩm thiên nhiên khác sẽ cần cố gắng hơn nữa để cải thiện chất lượng và số lượng các hợp chất, đưa nó bước vào vòng phát triển thuốc và đuổi kịp tốc độ khám phá của các cách tiếp cận khác. Bởi các sản phẩm tự nhiên vẫn là nguồn cung dồi dào với sự đa dạng hóa học, làm cơ sở cho việc thiết kế thuốc hợp lý. Với ưu điểm này, dược liệu học sẽ tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong ngành khoa học dược phẩm hiện đại.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn:  John Mann (2002) Natural product in cancer chemotheraphy: past, present and future.  Abhishek Bhanot (2011) Natural sources as potential anti-cancer agents: A review.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuộc da không xả nước thải      Công nghệ thuộc da mới do Viện Fraunhofer về Công nghệ môi trường, an toàn và năng lượng (UMSICHT) ở Oberhausen (Đức) nghiên cứu ra sẽ chấm dứt hoàn toàn việc xả nước thải và giảm mức độ tiêu thụ chrome của ngành này đến 40%.    Ngành công nghiệp thời trang hiện tiêu thụ khoảng 65% lượng da được sử dụng trên thế giới. Ở nhiều nơi, thuộc da là ngành gây ô nhiễm nặng nề nhất. Ngay từ thời Trung cổ, các cơ sở chế biến da bao giờ cũng bị đẩy ra khỏi cửa ngõ các đô thị – điều này cũng dễ hiểu vì nước giải là thành phần quan trọng nhất để thuộc da. Ngày nay, ngành thuộc da dùng chrome, nhờ thế có phần sạch sẽ hơn, nhưng chrome là một kim loại nặng, độc hại với môi trường. Mỗi năm người ta phải dùng khoảng 200.000 tấn chrome để thuộc da, nhưng chỉ 60 % trong số đó được hấp thụ, phần còn lại nằm trong nước, theo ông Manfred Renner thuộc Viện Fraunhofer về Công nghệ môi trường, an toàn và năng lượng (UMSICHT) ở Oberhausen, Đức.  Theo các nhà nghiên cứu của Viện Fraunhofer, những năm tới lượng tiêu thụ chrome sẽ giảm mạnh nhờ việc sử dụng chất bổ trợ là khí CO2. Có thể mô tả ngắn gọn công nghệ thuộc da mới như sau: khí CO2 được nén trong bình nén áp lực cao, trở nên có tính hòa tan; da cũng được xoay tròn trong cái bình đó và khí CO2 sẽ làm cho chrome ngấm sâu vào các lớp da. So với cách thuộc da thông thường, chất lượng da thuộc theo kiểu này không hề thua kém, đồng thời lại giảm mức độ tiêu thụ chrome đến 40% và hoàn toàn không phải dùng đến nước và muối, theo ông Renner.  Phương pháp này cũng có thể áp dụng cho quá trình thuộc da bằng các chất từ quả, vỏ cây, chất tổng hợp – vốn mới chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 15% lượng chất thuộc da. Các nhà nghiên cứu Viện Fraunhofer cho biết: “Nhu cầu đối với công nghệ mới của chúng tôi khá cao và đã có nhiều nơi ngỏ ý sẵn sàng áp dụng phương pháp này.”  Dự kiến trong năm 2014, cơ sở thuộc da công nghiệp kiểu mới đầu tiên sẽ được xây dựng.  Dùng khí CO2 để nhuộm vải   Cách đây 15 năm một bằng sáng chế về việc nhuộm vải bằng khí CO2 đã được đăng ký. Tương tự như ở thuộc da, ở phương pháp này, CO2 được sử dụng thay cho nước trong quá trình nhuộm: CO2 tiếp nhận phân tử chất màu và làm cho chất màu ngấm vào vải.   Phương pháp nhuộm này nhanh hơn, tiết kiệm nước và 90% khí CO2 dùng trong quá trình nhuộm có thể được tái chế.   Hiện đã có một số doanh nghiệp áp dụng phương pháp nhuộm khô: khoảng gần một năm nay, hãng sản xuất đồ dùng thể thao ADIDAS đã quảng cáo về dòng sản phẩm Drydry. Theo trang web của hãng, với việc sản xuất lô hàng đầu tiên 50.000 Drydye T-Shirts, hãng đã tiết kiệm được 1.250.000 lít nước.   Cũng cần nói thêm, ở hai phương pháp thuộc da và nhuộm vải nói trên, CO2 được lấy từ khí thải công nghiệp.   Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc điều trị ung thư từ cây bông vải      Nhóm nghiên cứu của trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (ĐH KHTN  HN) đã xây dựng thành công quy trình chiết xuất và tách đồng phân quang học (-)-gossypol từ loài bông vải trồng ở Việt Nam để thử các tác dụng sinh học  trên mô hình in vitro theo định hướng làm thuốc điều trị bệnh ung thư.    Xuất phát từ thực tiễn      Theo thống kê của Bộ Y tế, hàng năm nước ta có hàng trăm đến hàng nghìn bệnh nhân ung thư. Trong khi đó, giá thành thuốc điều trị ung thư lại rất đắt và thường phải điều trị trong thời gian dài nên chi phí để có thuốc điều trị hàng năm rất lớn. Chỉ tính riêng lượng thuốc trúng thầu chính thức tại Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh năm 2009 đã lên tới trên 110 tỷ đồng. Nhu cầu thuốc chữa bệnh của nước ta rất lớn (khoảng 1,75 tỷ USD/năm 2009) và tăng mạnh hàng năm (trên 20%/năm).     Trong số các loại thuốc điều trị ung thư đang được sử dụng ở Việt Nam hiện nay, hầu như chúng ta chưa sản xuất được loại nguyên liệu nào. Trong khi trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm nguyên liệu làm thuốc chống ung thư, trong đó có gossypol từ cây bông, thuộc chi Gossypium, họ Malvaceae. Hiện có khoảng 40 loài khác nhau trên thế giới và nhiều loài có giá trị thương phẩm cao. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về độc tính, tác dụng chống ung thư của gossypol trên in vitro, in vivo, cơ chế tác dụng của gossypol, tác dụng của gossypol trên lâm sàng.     Theo nghiên cứu, trong hạt bông, gossypol là hợp chất chiếm 90% lượng sắc tố tại các tuyến, chiếm 39-50% tổng khối lượng của tuyến, 0,4-1,7% khối lượng của nhân hạt. Ngoài ra, gossypol còn có trong vỏ rễ, lá, vỏ hạt, hoa của cây. Gossypol đã được biết đến với tác dụng chống oxy hóa, tránh thai nam, chống ký sinh trùng, chống HIV, là hoạt tính kháng các tế bào ung thư invitro, in vivo cũng như trên lâm sàng.     Việt Nam hiện có 5 loài bông với diện tích trồng khoảng 8.500 ha, dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng tới 76.000ha. Mỗi ha có thể cung cấp khoảng một tấn hạt bông. Lượng hạt bông nguyên liệu rất dồi dào trong khi nhu cầu dùng làm nguyên liệu chiết xuất gossypol chỉ khoảng vài tấn mỗi năm. Đặc biệt, hạt bông sau khi ép lấy dầu có thể dùng bã hạt bông làm nguyên liệu để chiết xuất gossypol.     Thấy rõ những tác dụng của gossypol từ loài bông vải và nguồn dược liệu dồi dào và sẵn có của Việt Nam, trước đề tài này, một số tác giả trong nước đã từng chiết xuất (+-)-gossypol từ hạt một số loài bông của Việt Nam. Tuy nhiên, quy trình sử dụng rất nhiều dung môi, hiệu suất thấp hoặc tốn nhiều thời gian và phải sử dụng dụng cụ chiết soxhlet, đặc biệt không có khả năng áp dụng ở quy mô lớn.     Khai thác dược liệu quý      Xuất phát từ thực tế nguồn nguyên liệu hạt bông vô cùng dồi dào, hàm lượng gossypol trong hạt bông khá lớn, và (-)-gossypol đang là một trong những đối tượng có triển vọng trở thành thuốc chống ung thư thế hệ mới tác dụng tại đích trong khi Việt Nam còn rất ít nghiên cứu về lĩnh vực này, nhóm nghiên cứu của trường ĐH KHTN HN do TS. Đoàn Duy Tiên làm trưởng nhóm đã đề xuất thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình chiết xuất và tách đồng phân quang học (-)-gossypol từ loài bông vải thuộc chi Gossypium trồng ở Việt Nam”.     Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đã khảo sát hàm lượng (+)-gossypol trong hạt của một số giống bông thuộc loài G.hirsutum và loài bông G.barbadense (thuộc chi Gossypium) tại 2 khu vực biên giới phía Bắc và Bắc Trung Bộ; nghiên cứu quy trình chiết (+-)-gossypol từ hạt bông, quy mô 300 – 500g/mẻ;  nghiên cứu quy trình tách và tinh chế (-)-gossypol acid acetic từ hỗn hợp (+-)-gossypol ở quy mô phòng thí nghiệm, quy mô 10g/mẻ; xác định cấu trúc hóa học các sản phẩm trung gian và (-)-gossypol acid acetic và độ tinh khiết của acid acetic; xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho (-)-gossypol acid acetic độ tinh khiết > 95%, độ tinh khiết quang học > 95% để có cơ sở đưa (-)-gossypol acid acetic vào thử nghiệm in vitro và trên lâm sàng ở giai đoạn sau; điều chế 50g (-)-gossypol acid acetic theo quy trình xây dựng được ở quy mô 10g/mẻ và kiểm nghiệm; thử tác dụng chống ung thư của (-)-gossypol acid acetic trên in vitro; nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của (-)-gossypol acid acetic.     Kế thừa những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước đó, với đề tài này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra quy trình chiết xuất (+-)-gossypol với hiệu suất cao hơn, thời gian ngắn và tốn ít dung môi hơn so với các công trình đã công bố ở Việt Nam. Đặc biệt, quy trình này sử dụng các dung môi có giá thành hạ, thao tác đơn giản và dễ áp dụng ở quy mô lớn. Điểm độc đáo trong sản phẩm của đề tài là đưa ra quy trình tách đồng phân quang học (-)-gossypol với độ tinh khiết cao để hạn chế tác dụng không mong muốn của đồng phân (+)-gossypol và làm tăng hiệu quả của (-)-gossypol. Việc thực hiện đề tài cũng sẽ cung cấp những số liệu mới về hàm lượng gossypol trong một số giống và loài bông ở các địa điểm khác nhau tại Việt Nam.     Hiện gossypol là hóa chất nghiên cứu cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì thế, sản phẩm của đề tài có tiềm năng lớn trong tương lai và sẽ trở thành hoạt chất chữa trị ung thư theo cơ chế tác dụng đến đích. Quy trình tách chiết gossypol theo định hướng sản xuất nên kết quả của đề tài sẽ là nền tảng để áp dụng ở quy mô lớn. Kết quả này sẽ được đưa vào sản xuất tại Khoa Hóa – ĐH KHTN, liên kết sản xuất, chuyển giao sản phẩm, quy trình công nghệ cho các viện dược liệu, công ty dược để sản xuất hoặc tiếp tục nghiên cứu bào chế tiến tới đề tài nghiên cứu và phát triển thuốc chống ung thư ở giai đoạn sau.     Được biết, nếu tiếp tục phát triển sản phẩm này ở giai đoạn sau sẽ đem lại hiệu quả kinh tế lớn vì nguồn nguyên liệu hạt bông ở nước ta rất dồi dào, giá thành hạ mà sản phẩm cuối cùng là thuốc điều trị ung thư có giá rất cao. Chỉ tính riêng nguyên liệu (-)-gossypol hiện trên thế giới đã có giá trên 7.000 USD/kg.     Với số lượng bệnh nhân ung thư như hiện nay và nhu cầu thuốc chữa bệnh hàng năm rất lớn (khoảng 1,75 tỷ USD/năm 2009) và tăng mạnh hàng năm (trên 20%/năm) trong khi nguồn nguyên liệu phục vụ bào chế thuốc chữa bệnh hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn, việc tự sản xuất trong nước một sản phẩm thuốc như trên sẽ có giá trị rất lớn về mặt kinh tế xã hội. Việc thực hiện thành công đề tài này sẽ góp phần phát triển KH&CN trong lĩnh vực y dược, làm chủ được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, tiến tới thử nghiệm lâm sàng để đưa vào sử dụng phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thước đo mới cho hệ mặt trời      Theo Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU), đơn vị đo khoảng cách chính xác từ mặt trời tới trái đất đã thay đổi.      Tại buổi họp gần đây nhất của IAU tại Bắc Kinh, các thành viên của hội đã biểu quyết nhất trí việc xác định lại giá trị của đơn vị thiên văn (austronomical unit – viết tắt là AU) bấy lâu nay vẫn được coi là đơn vị cơ bản để đo lường khoảng cách giữa các vật thể trong hệ mặt trời. Theo các thành viên của hội, giá trị chính xác của AU hiện giờ là 149.597.870.700 m.  Trước đây, việc tính toán đơn vị này dựa trên khoảng cách trung bình giữa trái đất và mặt trời là 149.597.870.691 m. Từ năm 1976, người ta đã gắn đơn vị này với khối lượng của mặt trời. Nhà nghiên cứu Sergei Klioner ở trường Đại học Dresden, Đức, người kêu gọi thay đổi cách tính giá trị AU từ năm 2005, cho biết “khi chúng ta chưa thể đo được khoảng cách chính xác giữa các vật thể trong hệ mặt trời thì giá trị cũ của đơn vị như vậy là tốt rồi”.  Với sự phát triển của công nghệ và khoa học hiện đại, các nhà thiên văn học có thể đo được khoảng cách trực tiếp bằng laze và thăm dò không gian, nên hoàn toàn có khả năng đưa ra giá trị chính xác của đơn vị thiên văn học.  Trong vòng 36 năm qua, đơn vị AU vẫn được tính toán bằng việc sử dụng hằng số hấp dẫn Gaussian mà hằng số này lại phụ thuộc vào khối lượng của mặt trời. Tuy nhiên các nhà thiên văn học thấy rằng mặt trời đang mất dần khối lượng của mình trong quá trình bức xạ năng lượng, và điều này thay đổi giá trị của AU theo thời gian.  Klioner cho biết, việc xác định giá trị mới của đơn vị này phù hợp với thuyết tương đối của Einstein. Dưới quan điểm của Einstein về vũ trụ, mọi khoảng cách đều tương đối, phụ thuộc vào nơi bạn đang đứng, nghĩa là phải xác định được hệ quy chiếu hiện tại mới biết được khoảng cách Mặt trời – Trái đất. “Bạn cũng cần biết giá trị của đơn vị AU cũ nằm ở hệ quy chiếu nào.” Sergei Klioner cũng cho hay, “giá trị cũ của AU được hình thành trong vật lý Newton”.  Thêm vào đó, đơn vị m được định nghĩa là khoảng cách ánh sáng đi được trong chân không trong 1/299.792.458 giây. Vận tốc ánh sáng là như nhau ở mọi hệ quy chiếu và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của khối lượng mặt trời, do đó, đơn vị thiên văn học được tính bằng m sẽ không bao giờ bị dao động.  Hoàng Nhu dịch theo Newscientist.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc giả khiến hơn 250 000 trẻ em tử vong mỗi năm      Mực in, sơn và asen được tìm thấy trong một số loại thuốc điều trị những căn bệnh hiểm nghèo. Do đó, các bác sĩ kêu gọi một nỗ lực quốc tế khẩn cấp nhằm chống lại một “đại dịch thuốc giả” đã giết chết hàng trăm ngàn người trên toàn cầu mỗi năm.    Họ cũng cảnh báo, sự gia tăng của thuốc giả và thuốc kém chất lượng đã khiến 250.000 trẻ em tử vong sau khi tiếp nhận các loại thuốc này để điều trị bệnh sốt rét và viêm phổi.  Nhiều người đã chết vì các loại vaccine và thuốc kháng sinh giả, kém chất lượng được sử dụng để điều trị hoặc ngăn ngừa nhiễm trùng cấp tính cũng như các bệnh viêm gan, sốt vàng da và viêm màng não.   Hầu hết các trường hợp tử vong đều thuộc các quốc gia có nhu cầu dược phẩm cao trong khi các quy định, hoạt động giám sát, kiểm soát chất lượng kém khiến các băng đảng tội phạm và các nhóm độc quyền dễ dàng xâm nhập thị trường. Thông thường, khi bị bắt họ chỉ bị khép vào những tội danh nhỏ hoặc bị phạt tiền. Joel Breman, một nhà nghiên cứu tại Viện Y tế Mỹ, nhận xét: “Chúng ta đang nói về tội giết người bằng thuốc giả, nhưng các hình phạt lại quá nhẹ.   Các thử nghiệm về thuốc đã xác định được một loạt các loại thuốc giả và kém hiệu quả, bao gồm thuốc chống sốt rét, thuốc kháng sinh, thuốc tim mạch và ung thư. Nhiều loại thuốc giả có nguồn gốc từ Trung Quốc và Ấn Độ, trong đó có chứa mọi thứ từ mực in, sơn cho đến asen. Các loại thuốc chức năng như Viagra cũng chiếm lĩnh thị trường thuốc giả.   Bên cạnh những loại thuốc giả do các băng đảng tội phạm sản xuất và phân phối là những loại thuốc kém chất lượng, không đủ hoạt chất để phát huy công dụng, hoặc không tan khi sử dụng. Các vấn đề này thường bị đổ cho lỗi sản xuất, nhưng nhiều loại thuốc quá hạn sử dụng hoặc biến chất do điều kiện bảo quản kém cũng được bán ra thị trường.  Trong một bài viết trên tạp chí American Journal of Tropical Medicine and Hygiene, các bác sĩ ở các cơ quan chính phủ, các trường đại học, bệnh viện Mỹ và công ty dược phẩm Pfizer đã cảnh báo về sự gia tăng của “các loại thuốc giả và không đạt tiêu chuẩn” dẫn đến “tình trạng đáng báo động đối với sức khỏe cộng đồng”. Ngoài tác hại trực tiếp mà chúng gây ra, các loại thuốc kém chất lượng là nhân tố chính thúc đẩy nguy cơ kháng kháng sinh, vốn tiếp tay cho siêu khuẩn gia tăng.   Báo cáo nêu, tỷ lệ các loại thuốc giả và kém chất lượng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình là 10%, gây thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 10 – 200 tỷ USD mỗi năm, và vấn đề còn đang trở nên tồi tệ hơn. Năm 2018, Pfizer đã xác định có 95 loại thuốc giả tại 113 quốc gia trong khi năm 2008 con số này mới là 29 sản phẩm tại 75 quốc gia.   Trong một loạt các khuyến nghị, các bác sĩ kêu gọi hỗ trợ nhiều hơn cho chương trình giám sát thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và cập nhật các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, trong đó các chính phủ sẽ đảm bảo ít nhất 90% thuốc trong quốc gia có chất lượng cao. Họ cho rằng cần công khai thông tin các loại thuốc giả với công chúng.   Một khuyến nghị khác dành cho một hiệp ước toàn cầu về chất lượng thuốc là xây dựng các biện pháp thu thập bằng chứng về các hoạt động liên quan đến thuốc giả và đưa ra các thỏa thuận dẫn độ để nghi phạm có thể bị xét xử tại các quốc gia mà chúng nhắm tới. Hiệp ước bao gồm cả những hiệu thuốc trực tuyến bất hợp pháp mà theo các bác sĩ, đang ngày càng gia tăng.   Cộng đồng quốc tế và các công ty dược phẩm cần cải thiện tính bảo mật của chuỗi cung ứng thuốc ở tất cả các quốc gia từ điểm sản xuất đến bệnh nhân, trước mắt phải có những công cụ kiểm tra đơn giản và nhanh chóng để các bác sĩ có thể xác định được chất lượng thuốc.   Tháng trước, WHO đã đưa ra một cảnh báo toàn cầu về một loại thuốc ung thư giả ở châu Âu và châu Mỹ. Thuốc giả được đóng gói trông giống như Iclusig, một loại thuốc ung thư dùng để điều trị cho người trưởng thành mắc bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy (CML) và bệnh bạch cầu nguyên tủy bào cấp tính (AML).  WHO cho biết loại thuốc này không chứa gì ngoài paracetamol.   Michael Deats, người dẫn đầu nhóm Cảnh giác giả dược tại WHO ở Geneva, nói rằng “cần có quyết tâm chính trị cao nhất” để đảm bảo hiệu quả của các chính sách toàn cầu về thuốc giả. Hơn 110 quốc gia đã báo cáo hơn 2.000 vụ thuốc giả qua hệ thống giám sát và kiểm soát toàn cầu của WHO, và mỗi ngày lại có thêm những vụ mới. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2019/mar/11/fake-drugs-kill-more-than-250000-children-a-year-doctors-warn?fbclid=IwAR305iB7JPoI6psgYZKTL5UrdluyZNj8-WF1KYVhwQwjx34IP4lseNaAkok    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc giảm đau có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim      Theo các nhà nghiên cứu, nguy cơ nhồi máu cơ tim trở nên cao nhất trong tháng đầu tiên dùng thuốc kháng viêm không steroid, nếu dùng liều cao.      Nguy cơ nhồi máu cơ tim là lớn nhất trong tháng đầu tiên dùng thuốc giảm đau không steroid.  Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) là loại thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm không có cấu trúc steroids.  Tất cả năm loại thuốc kháng viêm không steroid được khảo sát đều cho thấy có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim ngay từ tuần đầu sử dụng, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế phát hiện.  Họ kết luận, xác suất trên 90% tất cả các loại thuốc NSAID mà họ nghiên cứu đều liên quan đến gia tăng nguy cơ gây nhồi máu cơ tim.  Nhìn chung, tỉ lệ bị nhồi máu cơ tim tăng khoảng 20% đến 50% nếu sử dụng NSAID so với không sử dụng, mặc dù nó khác nhau đối với từng loại thuốc được đánh giá, bao gồm naproxen, diclofenac, celecoxib và rofecoxib.  Vì đó là một nghiên cứu quan sát nên không thể chứng minh nguyên nhân và kết quả một cách chắc chắn.  Tuy nhiên, các tác giả, đứng đầu là Michèle Bally ở Trung tâm Nghiên cứu Bệnh viện thuộc Đại học Montreal, viết: “Do nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp tính xuất hiện ngay trong tuần đầu tiên và lên cao nhất trong tháng điều trị đầu tiên với liều cao, bác sĩ kê đơn nên cân nhắc những rủi ro và lợi ích của NSAID trước khi tiến hành điều trị, đặc biệt với những liều cao hơn”.  Theo bài báo, được công bố trên Tạp chí Y khoa Anh quốc (BMJ), các nhà nghiên cứu đã phân tích kết quả trên 446.763 người trong cơ sở dữ liệu y tế ở các nước Canada, Phần Lan và Anh, trong đó 61.460 người bị một cơn nhồi máu cơ tim.  Kết quả cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim liên quan đến việc sử dụng NSAID là lớn nhất với liều dùng cao và trong tháng đầu dùng thuốc. Với thời gian điều trị dài hơn, nguy cơ dường như không tăng nữa nhưng vì các nhà khoa học đã không nghiên cứu các cơn nhồi máu cơ tim tái phát, nên họ khuyên rằng sẽ là khôn ngoan nếu sử dụng NSAID trong thời gian càng ngắn càng tốt.  Họ cho biết mức rủi ro nhồi máu cơ tim sẽ tăng lên 75% đối với thuốc ibuprofen và naproxen, và hơn 100% đối với thuốc rofecoxib nhưng mức tăng rủi ro do ibuprofen và naproxen lại không chắc chắn nhất.  “Cho dù bạn được kê đơn thuốc giảm đau như ibuprofen, hay mua chúng ở quầy thuốc, thì cũng phải nhận thức được nguy cơ này và xem xét các loại thuốc thay thế nếu phù hợp”, TS Mike Knapton, Phó giám đốc y học của Quỹ Tim Anh, nói sau khi đọc bài báo.  Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về nguy cơ tuyệt đối (nguy cơ một người bất kỳ bị mắc bệnh) đối với bệnh nhồi máu cơ tim – cả ở những người sử dụng và không sử dụng NSAID – trong bài báo, và thực tế là các nhà nghiên cứu không thể loại trừ các yếu tố ảnh hưởng khác, dẫn đến một số nhà bình luận độc lập kết luận rằng thật khó để đánh giá ý nghĩa của bài báo.  Stephen Evans, giáo sư dịch tễ dược học tại Trường Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London, nói đây là nghiên cứu quan sát có chất lượng tốt, song ông cũng nói thêm: “Nghiên cứu này cho thấy việc dùng thuốc chỉ vài ngày cũng làm tăng nguy cơ, nhưng điều này có thể còn chưa rõ rệt như các tác giả khuyến cáo. Hai vấn đề chính ở đây là nguy cơ tương đối nhỏ, và đối với hầu hết những người không có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim thì những phát hiện này có ý nghĩa rất nhỏ.”  Ông kết luận nghiên cứu không cung cấp “lí do nào khiến hầu hết những người dùng các loại thuốc [giảm đau] này phải lo lắng”.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2017/may/09/common-painkillers-ibuprofen-nsaids-raise-risk-heart-attack-study       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc kháng sinh phát sáng hiển thị ổ viêm nhiễm      Khi bề mặt của của khớp nhân tạo bị viêm  nhiễm, trong trường hợp xấu nhất sẽ phải tháo ra để thay thế. Các nhà  nghiên cứu đang tìm cách phát hiện nhanh những trường hợp viêm nhiễm với  sự hỗ trợ của kháng sinh có khả năng phát sáng nhờ huỳnh quang.    Vi khuẩn có thể tụ tập ở các khớp nhân tạo hay những vật cấy ghép khác – chúng có thể gây hệ lụy nghiêm trọng đối với người bệnh. Những loại viêm nhiễm này khó phát hiện để điều trị kịp thời, như một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã đăng tải trên tạp chí chuyên đề “Nature Communications” và họ muốn cải thiện việc chẩn đoán bệnh.   Đồng tác giả của bài báo, nhà nghiên cứu Knut Ohlsen thuộc Viện phân tử sinh vật học truyền nhiễm thuộc Đại học Würzburg, giải thích, “khi sự viêm nhiễm này phát tán thì có khi phải phẫu thuật, tháo bỏ những vật cấy ghép”. Việc xử lý thay thế thường khó khăn, phức tạp và mất nhiều thời gian bởi vậy các nhà nghiên cứu muốn phát hiện sớm mầm mống vi khuẩn gây viêm nhiễm bằng cách sử dụng thuốc kháng sinh huỳnh quang.   Loại kháng sinh gắn kết với một chất tạo mầu đánh dấu vi khuẩn và với một máy chụp ảnh chuyên dụng mà người ta có thể nhận biết chúng từ bên ngoài, theo trình bầy của nhóm nghiên cứu do nhà nghiên cứu Maarten van Dijl thuộc Đại học Groningen (Hà Lan) phụ trách. Trong các thí nghiệm với chuột thì những mô bị viêm nhiễm hiển thị rõ mầu vàng cam khác với những chỗ không bị viêm nhiễm.   Các nhà khoa học đã dùng thuốc kháng sinh Vancomycin, đã được thử nghiệm có kết quả tốt đối với sự nhiễm khuẩn ở các mô mềm. Họ gắn thuốc với chất mầu phản quang. Sau đó, người ta tiêm vào chuột các loại vi khuẩn khác nhau chuyên gây viêm nhiễm cơ bắp. Hai ngày sau khi bị nhiễm bệnh, những con chuột thí nghiệm được tiêm một lượng nhỏ thuốc kháng sinh phát quang. 24 tiếng đồng hồ sau đó, trên cơ thể xuất hiện những vùng có mầu vàng cam, là nơi thuốc kháng sinh tiếp xúc với vi khuẩn – tuy nhiên sự hiển thị này ở các vật gây bệnh khác nhau cũng khác nhau, chẳng hạn các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus thì phát hiện rất rõ nhưng ở các loại vi khuẩn có cấu trúc khác như Escherichia coli thì sự hiển thị không tốt.  Sự phát huỳnh quang kéo dài ít nhất khoảng 24 tiếng đồng hồ, vì lượng kháng sinh thấp và các vi khuẩn không bị tiêu diệt, theo nhà khoa học Jan Maarten van Dijl. Những tín hiệu mầu đầu tiên xuất hiện vài tiếng đồng hồ sau khi tiêm vi khuẩn.   Sự kết hợp giữa phương pháp hiện hình ảnh và huỳnh quang ở tầng mô trên cùng ở con người đã có kết quả, điều này được tập thể các nhà nghiên cứu chứng minh qua thử nghiệm trên xác người. Vật cấy ghép bị viêm nhiễm và phủ một lớp kháng sinh đã hiện hình nhờ mầu sắc. Qua nghiên cứu lâm sàng lần đầu tiên ở người, chất này sẽ được tiếp tục phát triển.   Nhà nghiên cứu van Dijl nhấn mạnh, cho đến nay chưa thể nhìn sâu vào lớp mô ở sâu bên dưới, và cần nghiên cứu về tính tương thích của chất cản quang. Điều tích cực, theo đánh giá của các chuyên gia, là phương pháp này không cần can thiệp về phẫu thuật và cũng không bị tác động của tia xạ – và những hình ảnh mà phương pháp này hiển thị là hình ảnh thật diễn ra đúng thời điểm đó.  Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc kháng sinh: phổ tác dụng càng rộng, tác dụng phụ càng nhiều      Nhà sinh học người Mỹ Martin Blaser cảnh báo  phổ tác dụng của thuốc kháng sinh càng rộng bao nhiêu thì nguy cơ bị  những tác dụng phụ càng nhiều bấy nhiêu.     Thưa giáo sư Blaser, đa số các nhà nghiên cứu lo ngại về việc thuốc kháng sinh không còn tác động hữu hiệu đến những căn bệnh nguy hiểm chết người. Trong khi đó, giáo sư lại cảnh báo về việc chúng gây tổn hại đến vi khuẩn đường ruột.   Tôi không nói về bệnh tiêu chảy mà quý vị bị sau khi dùng một loại kháng sinh. Ở đây tôi muốn nói đến số lượng vi sinh vật lên đến con số hàng tỷ trong cơ thể chúng ta chứ không phải chỉ có loài vi khuẩn trong đường ruột và chúng vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của mỗi chúng ta. Chúng giúp quá trình tiêu hoá thức ăn, tạo ra các loại Vitamin, bảo vệ chúng ta trước các tác nhân gây bệnh, huấn luyện hệ miễn dịch của chúng ta. Tổng thể vi sinh vật hữu ích này vô cùng đa dạng, phong phú như một cánh rừng nhiệt đới. Tuy nhiên sinh cảnh này đang có những thay đổi.  Và những đổi thay này là do con người tạo ra?    Đúng thế. Tôi cho rằng, những sự thay đổi này là hệ quả không cố ý của một điều rất tích cực – đó là chất kháng sinh. Chúng tiêu diệt những vi sinh vật gây bệnh thậm chí có thể gây chết người. Nhưng dần dà chúng ta cũng nhận ra những hậu quả tiêu cực của các chất kháng sinh: chúng cũng tiêu diệt cả những vi sinh vật hữu ích. Đó là một dạng tổn hại phụ. Và cho đến nay chúng ta chưa chú ý tới cái hậu quả này.  Không thấy giáo sư đề cập tới sự kháng thuốc?  Không, việc tác nhân gây bệnh nhờn thuốc kháng sinh là một chủ đề hoàn toàn khác. Sự nhờn thuốc cũng gây ra những tổn thất về sau, vì trong tương lai thuốc sẽ mất hiệu lực buộc phải phát triển những chất hữu hiệu mới. Nhưng những phí tổn này xã hội phải gánh chịu. Còn hậu quả mà tôi đề cập ở đây là điều mà từng người chúng ta phải gánh chịu khi tổng thể vi sinh vật hữu ích bị rối loạn.  Thưa giáo sư, vậy phải làm gì để tránh các hậu quả tiêu cực, mà không phải tránh dùng kháng sinh để bảo vệ mình?  Điều này liên quan đến việc chúng ta ứng xử như thế nào đối với thuốc kháng sinh. Cho đến nay chủ yếu các bác sỹ kê đơn về các loại kháng sinh-phổ rộng, cùng một lúc diệt được nhiều loại vi khuẩn. Vì các thầy thuốc muốn chắc ăn, bằng cách đó chắc chắn sẽ diệt được tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên phổ tác dụng càng rộng bao nhiêu thì nguy cơ bị những tác động phụ xấu nhiều bấy nhiêu. Sẽ ý nghĩa hơn nhiều nếu dùng đúng loại kháng sinh tiêu diệt đúng tác nhân gây bệnh.   Thưa giáo sư, hiện đã có những loại thuốc đó chưa?   Không có đủ để đáp ứng nhu cầu. Tuy nhiên hiện đã có một loạt doanh nghiệp trẻ có xu hướng thiên về nghiên cứu đang phát triển những loại thuốc kháng sinh kiểu này. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải có những phương pháp chẩn đoán thích hợp. Vì chỉ khi nào người thầy thuốc trước đó có thể kiểm tra xem loại tác nhân nào gây viêm phổi hay viêm màng não ở bệnh nhân của mình thì bác sỹ mới có thể chọn ra loại thuốc trị bệnh phù hợp. Nếu không thì sẽ là một sự bất hạnh.   Các nhà sản xuất thuốc kháng sinh thường sản xuất loại phổ rộng để có thể tiếp cận nhiều loại người bệnh là khách hàng  Đúng thế. Nhà sản xuất muốn kê đơn càng nhiều thuốc kháng sinh càng tốt, điều này có thể hiểu được. Tuy nhiên hậu quả sẽ khôn lường và vô cùng tốn kém. Vì vậy chúng ta phải có sự hỗ trợ công đối với việc phát triển các loại thuốc kháng sinh chuyên biệt, kể cả về phương pháp chẩn đoán. Đây là điều không thể thực hiện trong một vài năm, nhưng tôi cho rằng mười năm là một mục tiêu thực tế.   Vậy thưa giáo sư, từ nay đến lúc đó, phải làm gì?  Chúng ta phải giảm mạnh việc tiêu thụ thuốc kháng sinh. Việc thuốc kháng sinh được dùng làm chất tăng trọng trong nông nghiệp quả là một sự hổ thẹn. Nhưng mỗi người chúng ta cũng có thể đóng góp vào việc này. Thí dụ ta không nên ép thầy thuốc kê đơn thuốc kháng sinh, khi dùng thuốc kháng sinh hoàn toàn vô bổ, thí dụ khi bị nhiễm bệnh virus chẳng hạn. Ngay ở Mỹ vẫn còn khá nhiều người coi thuốc kháng sinh là thuốc chữa bách bệnh. Ở Trung Quốc, tình hình còn nghiêm trọng hơn: ở đó mức tiêu thụ kháng sinh tính theo đầu người cao gấp hai đến bốn lần.   Về nhân vật:  Martin Blaser, 65 tuổi, là giáo sư về vi sinh vật học thuộc ĐH New York, chuyên nghiên cứu về những loại vi khuẩn hữu ích sinh sống trong cơ thể con người. Về nguy cơ tổng thể vi sinh vật hữu ích trong cơ thể con người bị các loại thuốc kháng sinh đe doạ, mới đây ông đã viết một cuốn sách có tựa đề “Missing Microbes” .    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuốc viên “chống ngu ngốc”!      “Chuyện đùa!”, nhiều người đã thốt lên như thế khi nghe qua cái tên “thuốc viên chống ngu ngốc”. Tuy nhiên đó lại là công trình nghiên cứu nghiêm túc của một nhà khoa học Đức. Ông đã bào chế và đang thử nghiệm loại thuốc viên này với các kết quả ban đầu rất đáng khích lệ ở chuột và ruồi giấm.    Hans-Hilger Ropers, giám đốc Viện Max-Planck về di truyền học phân tử tại Berlin đã thử cho loại thuốc viên này cản trở sự hoạt động thái quá ở một số tế bào thần kinh, giúp ổn định trí nhớ trong thời gian ngắn và tăng cường khả năng tập trung.  “Với chuột và ruồi giấm, thuốc viên của chúng tôi có thể loại trừ được mất trí nhớ trong giai đoạn ngắn”, Ropers nói.  Đây được xem là “thuốc viên chống ngu ngốc” đầu tiên trên thế giới.  (Theo Reuters)  TƯỜNG VY       Author                Quản trị        
__label__tiasang Thưởng 10 triệu USD cho công thức lập nhanh bản đồ gien người      Quỹ Giải thưởng X (X Pride Foundation), nổi tiếng với giải thưởng Ansari năm 2004 nhằm khuyến khích du lịch vũ trụ tư nhân, đã treo thưởng 10 triệu USD cho nhóm nghiên cứu nào có thể phát triển công nghệ lập bản đồ 100 gien người chỉ trong 10 ngày.    Mục đích của việc treo thưởng này là nhằm khuyến khích các nhà khoa học tìm ra cách thức không tốn kém để giải mã gien người và phòng ngừa bệnh tật.  Các nhà khoa học đã giải mã được bộ gien người, song tiến trình này rất tốn kém và mới chỉ được thực hiện ở dạng thí nghiệm. Theo Quỹ Giải thưởng X, “lập bản đồ gen nhanh đang được xem như là một thách thức lớn đối với giới khoa học và cuối cùng sẽ cho phép các bác sĩ xác định tính nhạy cảm của cá nhân con người đối với bệnh tật và thậm chí xác định được các mối liên hệ về gen đối với bệnh ung thư”.  Năm 2004, Quỹ Giải thưởng X từng treo một giải thưởng trị giá 10 triệu USD để khuyến khích cá nhân du lịch và thăm dò vũ trụ. Người trúng thưởng là ông Burt Rutan – người đã cùng con tàu SpaceShipOne của mình thực hiện hai chuyến bay có người điều khiển vào vũ trụ trong một tuần.   P.V (Theo TTXVN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thưởng khuyến khích bài báo khoa học      Hình thức thưởng tiền mặt cho các bài báo khoa học trình độ cao đang được mở rộng. Các nhà khoa học Hàn Quốc được nhận 3000USD từ chính phủ khi họ công bố trên các tạp chí uy tín. Con số đó vẫn là nhỏ so với Trung Quốc, nơi mà một số nhà khoa học có thể nhận được mười lần nhiều hơn thế.    Khi các cơ quan nghiên cứu và các quốc gia phấn đấu để có được uy tín quốc tế, người ta hy vọng rằng phần thưởng công bố sẽ giúp ích. Tuy vậy cũng có những lo ngại đối với việc dùng chỉ một vài tiêu chí để đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.  Bộ KH&CN Hàn Quốc thưởng 3000USD cho tác giả chính bài báo đăng ở một tạp chí hàng đầu. Kế hoạch là nhằm nâng cao tinh thần các nhà khoa học, giúp thúc đẩy phát triển khu vực KHCN của đất nước – Young Nam Lin, phó giám đốc Vụ khoa học cơ bản của Bộ cho biết. Một ủy ban 10 người gồm cả các quan chức của Bộ và các nhà khoa học chọn ra danh sách các tạp chí.  Các việc làm tương tự cũng đã có ở các nước khác. Ở Pakistan, từ năm 2002, các nhà khoa học có thể nhận từ 1.000 tới 20.000USD theo chỉ số trích dẫn của các công bố. Một nửa số tiền thưởng phục vụ cho công tác nghiên cứu, một nửa là cho thu nhập cá nhân.  Ở Trung Quốc việc thưởng được giành cho quyền chủ động của các cơ quan khoa học. Chẳng hạn ĐH Nông nghiệp Bắc kinh có thể thưởng tới 50.000USD cho bài báo có chỉ số trích dẫn cao. Đối với Viện Lý-Sinh thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh, tác giả có công bố ở các tạp chí có chỉ số trích dẫn từ 3-5 được thưởng 250USD /điểm, và ở tạp chí có chỉ số trích dẫn cao hơn 10 được 875USD/điểm. Bài báo đăng ở Nature, Science, hay Cell được thưởng 31.000USD – Viện cũng đã có được một số bài báo đăng ở các tạp chí đó trong vài năm gần đây.  Những người ủng hộ việc thưởng cho rằng điều đó giúp bù cho lương thấp của các nhà khoa học trong nước họ. Mức thưởng 1000USD chẳng hạn bằng 3 tháng lương của một giảng viên Đại học Pakistan. Nhờ sáng kiến thưởng, số các bài báo khoa học đã tăng mạnh – Atta ur-Rahman, Chủ tịch Ủy ban chính phủ Pakistan về đào tạo Đại học cho biết.  Những người phê bình thì nói rằng tăng số bài báo chưa hẳn đã tốt hơn. Một nhà vật lý ở ĐH Islamabad phát biểu: Các nhà nghiên cứu ở các ĐH vội vã công bố, và trong khi vội vã thì bỏ qua đạo đức khoa học. Ông nghi ngờ rằng điều đó có thể làm tăng số bài chất lượng thấp: ngụy tạo kết quả và bịa đặt số liệu như dư luận đã biết. Một số khác cho rằng hệ thống thưởng làm giảm giá trị công việc của họ. Những bào báo tốt là sản phẩm của cả mồ hôi, niềm vui, và cả đau xót –  một nhà sinh học ở ĐH quốc gia Seoul phát biểu. Nếu việc đó được tính bằng 3000USD – tôi cảm thấy bị xúc phạm. Yuan Tseh Lee, nhà hóa học giải thưởng Nobel và là Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Đài Loan cũng đồng ý như vậy: Có rất nhiều áp lực lên các nhà khoa học để được biết đến ở Trung Quốc. Nếu bạn chỉ nhằm có nhiều tiền và nổi tiếng, bạn sẽ làm bản thân và các sinh viên của bạn khốn khó.  Một phần vì các lo ngại đó, Viện sinh học Thượng Hải tạm ngừng chương trình thưởng. Tuy nhiên chủ tịch ĐH Nông nghiệp Bắc Kinh lập luận rằng hiện nay phần thưởng là cần thiết, đặc biệt ở Trung Quốc hệ thống XHCN làm cho rất khó có cách khác để khuyến khích cho lao động khoa học nỗ lực lớn, tuy 10 năm nữa tình hình có thể sẽ khác.  Peter Cotgreave, Giám đốc một Viện nghiên cứu ở London cho rằng, hệ thống thưởng là có ưu điểm, ít nhất cũng vì rằng những người trên thực tế xét thưởng là các phản biện khuyết danh của các bài báo khoa học – độc lập đối với phần thưởng. Có thể một số nhà khoa học bị bỏ qua khi bài báo chất luợng tốt của họ bị từ chối bởi các tạp chí có uy tín, nhưng thật khó mà tin rằng công việc chất lượng tồi mà lại được thưởng. Nhà khoa học chỉ có chiến thắng khi họ phải đủ mạnh để công bố được ở các tạp chí khoa học có uy tín, như Science và Nature.  PDC, theo Nature, N. 441, tr. 792, 2006      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại hóa hoạt động KH&CN: Bài toán nhiều tham số      Đổi mới – sáng tạo công nghệ thực chất là thương mại hóa hoạt động hoạt động KH&amp;CN. Điều này đòi hỏi KH&amp;CN phải là bài toán nhiều tham số, gồm cả sản xuất, kinh doanh, quản lý, xã hội học… Vì vậy, đổi mới – sáng tạo đòi hỏi một tư duy liên ngành, theo định hướng thị trường và sự tâm huyết, dám phá bỏ các trì trệ, quan liêu của từng Bộ, Ngành riêng lẻ.    Đề tài KH&CN phải xuất phát từ thị trường (bottom-up) thay vì do nhà nước “đặt” ra (top-down)  Ở IBM, đề tài R&D chủ yếu đến từ khách hàng, bộ phận bán hàng của công ty (nơi tiếp xúc nhiều với khách hàng) thay vì do lãnh đạo công ty “đặt ra” (Xem thêm “Thăng trầm R&D”. Tia Sáng số ra 15/4/07). Một trong những mục đích của phòng thí nghiệm “mở” (open lab) đang được áp dụng ở các nước tiên tiến là để khách hàng tham gia vào việc thiết kế sản phẩm, nhằm lấy được ý kiến, ý tưởng, mong muốn của khách hàng thay vì theo ý chủ quan của công ty. Qua đó, vừa tăng khả năng bán hàng, vừa tận dụng được chất xám của khách hàng. Đó là R&D mang định hướng thị trường (market-oriented R&D).  Ưu tiên “ứng dụng công nghệ” thay vì “phát minh công nghệ”  Ứng dụng công nghệ ít tốn tiền đầu tư so với sáng tạo và có khi không cần bản quyền vì công nghệ đã hết thời gian bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tính “ứng dụng” thể hiện ở 2 mặt: Các viện khoa học tăng cường nghiên cứu ứng dụng thay vì nghiên cứu phát minh; Các công ty, cơ quan tăng ứng dụng công nghệ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất-kinh doanh-quản lý.    Áp dụng mô hình “nghiên cứu toàn phần” (full-research)  Đây là mô hình đang được áp dụng tại Viện Khoa học-Công nghệ tiên tiến của Nhật (JAIST). Theo đó, sản phẩm của các dự án của Viện không dừng lại ở thiết kế cái máy hay quy trình công nghệ mà là phải bao gồm cả việc thương mại hóa chúng. Như vậy, việc “nghiên cứu” mới được quan niệm là “toàn phần”.  Cũng cần quan niệm lại về khái niệm “KH&CN”. Đề án KH&CN phải bao gồm khả năng “bán được kết quả nghiên cứu”. “Công nghệ” không chỉ là “kỹ thuật” mà là “kỹ thuật có-thể-bán được”. Để làm được như vậy, các bộ phận liên quan đến sản xuất, kinh doanh, KH&CN… phải cùng nhau để lập các dự án.    Triển khai SSME  Muốn thương mại hoá công nghệ, cần phát triển các dịch vụ công nghệ. Đây là công cụ giúp đem công nghệ đến với người mua công nghệ. Tỷ lệ các công ty dịch vụ trong công nghệ TT ngày càng tăng so với các công ty trực tiếp làm công nghệ TT. Ngành dịch vụ đã rất phát triển nhưng ngành Khoa học dịch vụ (service science) còn chưa phát triển tương xứng. Ngoài ra, công nghệ không thể thương mại hóa hiệu quả khi chưa cùng lúc giải quyết vấn đề liên quan về quản lý, kỹ nghệ. IBM đề xuất SSME (service science, management, engineering -khoa học dịch vụ, quản lý, kỹ nghệ) thành một ngành trong trường đại học. Cần nghiên cứu công nghệ theo phạm vi của SSME. Không nghiên cứu công nghệ đơn lẻ mà trong một tổng thể các giao diện của công nghệ nhằm mục đích để bán được công nghệ. Công nghệ không tách rời mà luôn gắn với quản trị sản xuất- kinh doanh của công nghệ đó.    Phát triển các khu công nghệ  Tiêu chí “công nghệ có tính thương mại hóa cao” cần thay cho “công nghệ cao”. Khu công nghệ hướng mạnh tới ứng dụng công nghệ trong sản xuất-kinh doanh. Không nên qúa câu nệ về tên gọi mà lấy nội dung hoạt động làm trọng. Khu công nghệ cần gần trường đại học, viện nghiên cứu, nơi tập trung nhiều công ty, thường là khu dân cư, đô thị. Khu công nghệ là nơi thuận tiện để tạo ra các cụm công nghệ, công nghiệp. Khu công nghệ thực chất cũng mang chức năng ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (technology business incubator), ươm tạo công nghệ (technology incubator), hỗ trợ công nghệ, dịch vụ công nghệ, phát huy tính cộng năng (synergy), nơi thuận tiện cho các hoạt động của SSME, thúc đẩy (thậm chí là điều kiện cho) đầu tư nước ngoài. Ưu tiên các khu có quy mô nhỏ, thuộc các trường đại học, viện, địa phương, công ty (để gắn với hiệu quả, tiết kiệm đầu tư, trong tầm quản lý) thay vì khu có quy mô quá to, cần vốn đầu tư lớn, quản lý khó, với chiến lược được hoạch định “từ trên xuống”, mang nặng tính hình thức hay chỉ để “chiếm” đất.  Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ chủ yếu cho xã hội, cho khu vực tư nhân, cho thị trường thay vì cho các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Thực tế cho thấy, khu vực tư nhân mới bảo đảm hiệu quả kinh tế của công nghệ.  Ưu tiên nghiên cứu “giải mã” công nghệ  Thực chất của “giải mã” công nghệ là xem thế giới họ làm gì, làm như thế nào, từ đó mới tính ta nên làm cái gì. Muốn vào “chợ” thì cần biết trong chợ người ta bán cái gì, sản xuất sản phẩm đó thế nào, bằng công nghệ gì… để biết thế giới, khu vực có các sản phẩm gì tương tự, nó hơn kém gì sản phẩm của ta, giá bán thế nào. Nếu ta làm để bán được thì cần đầu tư thêm bao nhiêu, khi nào thì cần có sản phẩm mới, quy chế hoạt động của chợ thế nào, ta có thể gia công gì cho sản phẩm của họ (nếu không cạnh tranh được, v.v…  Mở rộng hơn, ta có thể thay đổi thiết kế thế nào để sản phẩm không vi phạm về luật sở hữu trí tuệ. Có biết vị trí của ta so với thế giới mới có thể đề ra một “lộ trình” (road map) về công nghệ (technology map). Đó là: các bước để ta nâng cấp công nghệ, cái gì ta tự làm lấy, cái gì ta nên mua bản quyền, bộ phận nào của cái máy ta mua bản quyền, bộ phận nào ta tự nghiên cứu hoặc thay thế bằng bộ phận khác,…Không chỉ giải mã công nghệ đơn lẻ (từng cái máy) mà cả các giao diện của công nghệ với chuỗi giá trị chứa công nghệ đó, với thị trường, với hiệu quả kinh tế. Giải mã công nghệ có thể do nhà nước hay tư nhân làm.    Chọn “công nghệ cao” hay “ứng dụng cao”, “hiệu quả kinh tế cao”?  “Công nghệ mới”, “phải có cái mới” có thể nói lên khả năng phát minh, tính thông minh nhưng chưa chắc gắn với tính lợi nhuận. Hiện vẫn còn nhiều ưu tiên cho tiêu chí “công nghệ mới” (thậm chí là điều kiện) để cấp phát kinh phí KH&CN, để chọn vào khu công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, vv…Công nghệ cao nhưng khả năng ứng dụng thấp, diện ứng dụng hẹp thì chưa chắc đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với công nghệ “thấp” nhưng bán được nhiều hơn.  Chú trọng đến cả nghiên cứu để giải quyết vấn đề công nghệ nước ngoài  Vấn đề là: nghiên cứu cái gì đem lại lợi nhuận cao hơn. Chưa chắc nghiên cứu công nghệ để giải quyết vấn đề thực tế trong nước là có hiệu quả hơn so với nghiên cứu để giải quyết vấn đề công nghệ nước ngoài. Cũng giống như: hàng cơm thường nấu nồi cơm khách ngon hơn là nồi cơm nhà (vì, trong một mức độ nào đó, mâm cơm khách mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn). Ấn Độ, Trung Quốc đang tiến rất nhanh để thành các địa chỉ out-sourcing về R&D của thế giới. Các trường đại học, viện nghiên cứu nên có các TT ứng dụng, hỗ trợ công nghệ, tăng cường chế độ thỉnh giảng viên, giáo sư mời, vv để tăng cường khả năng “nhận đặt hàng” nghiên cứu công nghệ của nước ngoài.  Đào tạo đại học cũng gắn với nhu cầu chất xám của thế giới, khu vực. Cái khó là nhắm vào thị trường nào (từ đó, đào tạo theo chuẩn nào)? Cần nghiên cứu kỹ về thị trường và khả năng đáp ứng của ta.  Ưu tiên các dự án “cầu nối” giữa “sản xuất thử” (pilot project) với “sản xuất hàng loạt” (industrial production), giữa “công nghệ” với “thương mại hóa công nghệ đó”  Giai đoạn “giữa” này thường ít khi tìm được vốn vì đây thường là nơi giới công nghệ “dùng tay” và cũng là nơi giới kinh doanh chưa đầu tư vì chưa thấy khả năng sinh lời. Ở đây, rất cần sự tham gia của vườn ươm, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hỗ trợ công nghệ, vv. Rất nên áp dụng mô hình đồng tài trợ (giữa công ty, bên công nghệ, bên hỗ trợ công nghệ) cho giai đoạn này.  Tiêu chí “Có bài đăng trên tạp chí quốc tế” để đánh giá người làm công nghệ?  Muốn đăng bài trên các tạp chí quốc tế nổi tiếng về KH&CN thường cần nêu ra các vấn đề mới, có các phát minh. Các nỗ lực về ứng dụng công nghệ có thể khó đăng được trên các tạp chí này, nhưng vẫn có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một bản quyền về phát minh, sáng chế (có thể đăng trên một tạp chí nổi tiếng thế giới của ngành đó) nhưng chưa chắc mang lại hiệu quả kinh tế bằng một nghiên cứu ứng dụng rộng rãi về công nghệ.    Chính sách KH&CN chủ yếu cho thị trường  Quản lý nhà nước ở nền kinh tế tập trung khác với ở nền kinh tế thị trường. Chính sách nhà nước chủ yếu để tạo ra “sân chơi” bình đẳng, tạo điều kiện và phục vụ cho thị trường.Chính sách cần hướng tới thị trường thay vì hướng tới khu vực nhà nước. Khu vực tư nhân sẽ chiếm thị phần lớn và ngày càng tăng trong thị trường công nghệ. Thị trường là người đặt hàng, là “Bên A”, cho KH&CN. Cơ chế cấp phát, quản lý kinh phí nhà nước cho KH&CN cần thích hợp với cơ chế hoạt động của doanh nghiệp thay vì cho cơ quan KH&CN của nhà nước. Nhà nước không nên cấp kinh phí đơn lẻ mà nên đồng tài trợ (với khu vực tư nhân) cho các nghiên cứu KH&CN. Như vậy, chỉ khi khu vực tư nhân tham gia vào làm KH&CN thì nhà nước mới hỗ trợ. Qua đó, bảo đảm rằng: kết quả nghiên cứu KH&CN đã có người “mua”.  Thành lập “Hệ thống quốc gia về sáng tạo-đổi mới” (National Innovation System – NIS)  Tất cả những điều nêu trên cần nằm trong một chương trình nhà nước và do một tổ chức điều phối. Đó là “Hệ thống quốc gia về sáng tạo- đổi mới”, tổ chức đã được thành lập ở hầu hết các nước. Để tiến tới NIS, cần thành lập tổ công tác (taskforce) về NIS. NIS mang tính liên ngành cao (như SSME) và trước mắt, nên bao gồm: KH&CN, công thương, đầu tư nước ngoài, đào tạo đại học.      Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thương mại Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất qua tư liệu của người Anh      Nếu chỉ coi giai đoạn Pháp thuộc gắn liền với sự bóc lột tàn nhẫn, hà khắc của tư bản nhằm phục vụ chính quốc cũng như nhu cầu của chính quyền thuộc địa thì người ta đã hạn chế khá nhiều những cách tiếp cận mới, hoặc vô hình trung ngả theo một chiều hướng phân tích, lập luận về “tội ác” thực dân mà bỏ qua sự phát triển thực tế của Việt Nam. Do đó, khi sử dụng tài liệu từ góc nhìn bên ngoài – nước Anh, để cố gắng đưa ra một cách tiếp cận khách quan và nhiều chiều về kinh tế Việt Nam thuộc Pháp, cụ thể là thương mại trong giai đoạn 1897-1914, chúng ta có thể thấy một điểm mới: bên cạnh những đặc điểm của nền kinh tế thuộc địa, Việt Nam đã phát triển tương đối dưới sự khai thác của Pháp và tham gia vào hệ thống thương mại quốc tế với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các thương nhân Âu Mỹ.      Hội chợ đầu tiên mở tại Nhà đấu xảo Hà Nội vào năm 1902 (Exposition 1902). Sau hội chợ, tòa nhà chính trở thành Bảo tàng Maurice Long – viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương. Nguồn: Wikipedia    Thuộc địa tiềm năng của Pháp     Không phải ngẫu nhiên, Việt Nam – một phần của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan) được Pháp ưu ái đầu tư bậc nhất trong công cuộc khai thác thuộc địa. Với ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ “rừng vàng, biển bạc”, nhiều tiềm năng khoáng sản và thuận lợi thông thương, Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ, được đánh giá là khu vực có tiềm năng khai thác và phát triển kinh tế nhất Liên bang. Tư liệu của người Anh vẫn còn ghi lại rành rẽ: năm 1900, tổng kinh phí của Chính phủ Pháp cho toàn Đông Dương là 20,8 triệu dollar; trong đó ngoài các phần chi chung thì Bắc Kỳ và Nam Kỳ được đầu tư lớn nhất với 4,0 và 4,4 triệu dollar; Trung Kỳ và Campuchia được hơn 2 triệu còn Lào chỉ có 739.000 dollar. Dòng ngoại tệ đầu tư từ Pháp quốc vào Đông Dương tiếp tục tăng theo thời gian, ví dụ chỉ ba năm sau, con số này đã là 31,5 triệu dollar, trong đó Việt Nam vẫn được chú trọng nhất với 12,7 triệu, gần gấp 6 lần Campuchia và 12 lần Lào1.  Chúng ta hãy thử đoán xem người Pháp dùng số tiền trên vào việc gì? Trước hết muốn khai thác tài nguyên sản vật, cần hệ thống giao thông đủ tốt và thuận lợi, phù hợp với điều kiện thông thổ Việt Nam. Đó chính là những gì họ đã làm trên thực tế. Họ chủ yếu dùng số tiền trên để phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông, bao gồm đường bộ, đường sắt và đường thủy, những con đường huyết mạch kết nối các khu vực kinh tế. Ví dụ, trong vòng hai năm (1901-1902), một mạng lưới đường bộ xuyên suốt xứ Bắc Kỳ như Hải Phòng – Việt Trì (158km), Hà Nội – Ninh Bình (118km) và ở Nam Kỳ với Sài Gòn – Tanlinh? (132km). Vào những năm tiếp theo, mạng lưới này không ngừng được mở rộng với một số tuyến đường mới, không chỉ ở Bắc Kỳ như Việt Trì – Lào Cai (225km), Ninh Bình – Vinh (215km) hay Trung Kỳ với Đà Nẵng – Huế (105km), Panlinh- Lam-Biang – Khánh Hòa (468km), Huế – Quảng Trị (85km) mà còn mang tính quốc tế với tuyến Lào Cai – Vân Nam (460km). Đến năm 1908, về cơ bản hệ thống đường xe lửa đã hình thành với chiều dài 789,5 dặm (1256km) nối Hà Nội với Hải Phòng, Lào Cai, Lạng Sơn – Quảng Tây, Vinh, nối Đà Nẵng – Quảng Trị, Sài Gòn – Mỹ Tho và một đường ray dài chạy dọc Trung Kỳ2.      Các thương cảng Việt Nam không chỉ mở cửa đón các đội tàu Pháp và Anh mà còn mở với các tàu buôn Mỹ, Đức, Đan Mạch, Na Uy, Nga, Hà Lan và một số nước châu Âu khác… Nó đem lại một hình ảnh tương phản với những gì diễn ra chính các thương cảng này vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi những thương nhân người Hoa gần như chiếm thế “độc quyền”. Với xu hướng “tự do thương mại” đầy cởi mở này, Việt Nam đã từng bước trở thành một phần của hệ thống thương mại toàn cầu trong quá trình Pháp khai thác thuộc địa, do đó làm thay đổi cơ cấu thương mại của Việt Nam.      Riêng ở Nam Kỳ, dựa trên địa hình sẵn có, ngoài đường bộ, người Pháp còn tập trung phát triển hệ thống kênh rạch nhằm hai mục đích phục vụ nông nghiệp và vận chuyển. Nhờ vậy trên bản đồ Nam Kỳ đã xuất hiện hàng loạt kênh mới như Trà Ôn (Vĩnh Long, 1876), Chợ Gạo (Duperre-Tiền Giang, 1877), Set Say? (1878), Phụ Tục (1878), Saintard (kênh Phú Hữu-Sóc Trăng, 1879) và Mirador (1879), Xà No (1903), Ô Môn (1908), Bassac-Cải Lởn (1908), Tẽ/Tẻ (Derivation – Sài Gòn) và Đôi (Canal de Doublement). Đến năm 1930, nơi đây đã có thêm mới 1.300 km kênh mương lớn (rộng 22m và sâu 2m).     Tăng trưởng của thương mại Việt Nam     Chính hệ thống giao thông vận tải mới cùng việc đầu tư khai thác có trọng điểm vào từng khu vực (khai mỏ ở Bắc Kỳ, nông nghiệp ở Nam Kỳ) đã phần nào thúc đẩy kinh tế, cụ thể là thương mại Việt Nam phát triển. Chúng ta có thể thấy điều đó qua biểu đồ dưới đây.  Mặc dù những dữ liệu về trao đổi thương mại được ghi trong báo cáo của người Anh đều dưới cái danh Đông Dương nhưng thực tế thì các đóng góp chính vào danh mục này đều thuộc về Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ. Hai địa danh Lào và Quảng Châu không được nhắc đến còn giá trị thương mại của Campuchia thì luôn ở vị trí thấp nhất, ví dụ năm 1905, Campuchia chỉ chiếm 2,98% giá trị thương mại Đông Dương và năm 1908 thậm chí còn thấp hơn với 1,24%. Từ 1896 (trước khai thác thuộc địa) đến 1909, giá trị thương mại của Việt Nam đã tăng 4 lần từ 5 triệu bảng lên hơn 20 triệu mặc dù mới được Pháp tiến hành đầu tư khai thác trong thời gian ngắn. Tuy nhiên điều đáng chú ý là hoạt động thương mại ở Việt Nam trên thực tế nhộn nhịp và không đơn thuần là xuất nhập khẩu mà bao hàm cả việc tái xuất khẩu, thương mại trung chuyển với Vân Nam, Quảng Tây, Hong Kong, Xiêm, Bantam, dẫu cho tỉ lệ xuất nhập khẩu không chênh lệch quá lớn.  Về tổng thể, bức tranh thương mại ở Việt Nam hấp dẫn không chỉ ở những dòng vận chuyển xuôi ngược mà còn ở sự phong phú của hàng hóa. Các mặt hàng nhập khẩu bao gồm máy móc, kim loại (sắt, thép, kẽm, đồng), vật liệu xây dựng, dầu khoáng, đồ uống (bia, rượu vang, rượu nặng, nước khoáng), cafe, thuốc lá, bột mỳ, sữa đặc, đồ may mặc (lụa, len dạ, sợi đay, vải), vũ khí, đồ trang sức, đồng hồ, đồ da, hàng chế biến và thuốc phiện,… với tổng khoảng 50 sản phẩm các loại. Nguồn gốc của chúng cũng đa dạng như lụa, thuốc phiện đến từ Trung Quốc, bao vải gai đựng gạo từ Ấn Độ (nhưng nhập khẩu qua Singapore), bột mỳ từ Pháp, Mỹ, vũ khí từ Hong Kong trong khi máy móc đến chủ yếu từ châu Âu (Pháp, Anh, Đức) và Mỹ, vàng, bạc, tiền hầu hết từ Pháp. Hàng dệt may chiếm vị trí và vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động nhập khẩu của Việt Nam mặc dù các hàng hóa khác đều tăng trưởng mạnh. Năm 1884, hàng dệt may đã chiếm gần 50% giá trị hàng nhập khẩu (5,6 triệu dollar), đến năm 1910 là ¼ (15,9 triệu dollar). Đáng chú ý, máy móc và các thiết bị công nghiệp ngày càng tăng giá trị và tỉ trọng do Pháp phải đầu tư khai thác thuộc địa. Từ năm 1903 đến 1907, nhập khẩu máy móc đã tăng hơn 14 lần và năm 1908 đã lớn hơn giá trị hàng dệt may. Chỉ nhìn vào hai sản phẩm tiêu biểu trên, chúng ta dễ dàng hình dung được cơ cấu kinh tế thuộc địa khi Việt Nam vẫn luôn là thị trường tiêu thụ của chính quốc Pháp, nhưng không thể phủ nhận việc Pháp đã đầu tư vào hệ thống máy móc cho các hoạt động kinh tế ở Việt Nam.     Bên cạnh đó, những mặt hàng rời Việt Nam chủ yếu là các sản vật đặc trưng với khoảng 33-35 mặt hàng khác nhau, bao gồm sản phẩm nông nghiệp (thóc gạo, cau, sản phẩm từ dừa và lạc, bông, sen, ngô – bắt đầu từ năm 1906, rau quả khô, hồ tiêu, thịt lợn), sản phẩm ngư nghiệp (cá khô, bong bóng cá, mỡ cá, tôm khô), các sản vật tự nhiên (ngà voi, sừng trâu, cánh kiến), than đá, và một số sản phẩm khác. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp, cụ thể là thóc gạo từ Nam Kỳ đóng vai trò quan trọng nhất, khoảng 50% đến 65% giá trị xuất khẩu. Ngược lại, Bắc Kỳ xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm than và khoáng sản khác. Các đồn điền cao su, cafe ở Trung Kỳ thì phải đến gần trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất mới bắt đầu khai thác và xuất khẩu.        Biểu đồ 1: Giá trị xuất nhập khẩu của Đông Dương (1896-1909) (bảng Anh)  Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo về ngoại giao, thương mại của Anh về thuộc địa Đông Dương của Pháp qua các năm: No. 2276 (Saigon, 1898), p.5; No. 3626 (Cochin-China, 1905), p.580; No. 4028 (Cochin-China, 1907), p.511; No. 4596 (Indo-China, 1909), p.291.       Như vậy, ở thời kỳ đó thì hoạt động xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp và các sản phẩm thô và chưa thấy bóng dáng sản phẩm công nghiệp, qua đây ta cũng hình dung được bóng dáng của nền kinh tế Việt Nam đương thời.     Việt Nam trong hệ thống thương mại quốc tế     Quá trình khai thác thuộc địa của Pháp gắn liền với sự mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác và tham gia sâu rộng của Việt Nam vào hệ thống thương mại toàn cầu, khác hoàn toàn so với tình hình buôn bán của Việt Nam trong thế kỷ XIX khi bạn hàng và thị trường chỉ bó hẹp ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Nhật Bản, Hong Kong, Singapore, Xiêm. Các tuyến đường thương mại quan trọng mà Việt Nam tham gia năm 1906 là Sài Gòn – Thượng Hải, Sài Gòn – Singapore – Batavia – Noumea – Brisbane – Sydney, Lyons – Marseilles – Thượng Hải – Quảng Đông – Sài Gòn. Ngoài ra còn có các tuyến khác nối Hải Phòng – Marseilles, Đà Nẵng – Manila, Osaka, Yokohama, Sán Đầu, Thượng Hải, hoặc các tuyến nội địa nối Sài Gòn – Đà Nẵng – Hải Phòng.      Biểu đồ 2: Xuất khẩu gạo của Nam Kỳ (1884-1914)  Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hằng năm của Anh về Nam Kỳ và Đông Dương; cụ thể là các tập: Report for the year (1886-1887) on the Trade of Saigon and Cochin-China. No.90 & 280; Report for the year (1903-1904-1905-1906-1907-1911) on the Trade, Commerce and Navigation of Cochin-China. No.3181-3378-3628-3886-4028-4883.    Những con số này cho chúng ta thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường Việt Nam đối với các tàu buôn quốc tế. Nếu như giai đoạn trước khai thác thuộc địa, số tàu ra chỉ khoảng 500 chiếc thì đến đầu thế kỷ XX đã dao động khoảng 2000 chiếc, số lượng tàu buôn cập bến cũng có giá trị tương đương mặc dù trong biểu đồ phía trên không biểu thị được số liệu chính xác. Như vậy, thương mại quốc tế của Việt Nam qua số tàu buôn cũng tăng 4 lần như giá trị xuất nhập khẩu, trong đó, đương nhiên các tàu buôn của Pháp, bao gồm tàu từ chính quốc và tàu thuộc 4 công ty hoạt động trực tiếp ở Việt Nam (Mesageries Maritimes, Compagnie Nationale, Bangkok steamer of the Messageries Fluviales, và Chargeurs Réunls) chiếm số lượng lớn nhất. Xếp vị trí thứ hai là các tàu buôn thuộc sở hữu của người Anh.  Các thương cảng Việt Nam không chỉ mở cửa đón các đội tàu Pháp và Anh mà còn mở với các tàu buôn Mỹ, Đức, Đan Mạch, Na Uy, Nga, Hà Lan và một số nước châu Âu khác… Nó đem lại một hình ảnh tương phản với những gì diễn ra chính các thương cảng này vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi gần như những thương nhân người Hoa chiếm thế “độc quyền”. Với xu hướng “tự do thương mại” đầy cởi mở này, Việt Nam đã từng bước trở thành một phần của hệ thống thương mại toàn cầu trong quá trình Pháp khai thác thuộc địa, do đó làm thay đổi cơ cấu thương mại của Việt Nam.  Tuy nhiên, sự xuất hiện ngày càng nhiều của các thương nhân Âu Mỹ không đồng nghĩa với việc thị trường Âu – Mỹ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu thương mại Việt Nam. Là quốc gia nông nghiệp còn nhiều lạc hậu, các sản phẩm truyền thống hầu như chỉ phù hợp với thị trường khu vực, sự xuất hiện và đầu tư khai thác của Pháp không thể ngay lập tức biến Việt Nam thành “điểm đến” của thương mại Âu Mỹ.  Trong cơ cấu hàng nhập khẩu, không ngạc nhiên khi Pháp có địa vị “độc quyền” với gần 50% tổng giá trị nhập khẩu (năm 1912 còn trên 51%) với các mặt hàng chính là hàng dệt may, hàng chế biến và máy móc. Ngược lại, Pháp và thuộc địa của Pháp lại không phải là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam khi chỉ chiếm khoảng 1/5-1/3 giá trị xuất khẩu. Thay vào đó, Hong Kong – thuộc địa của Anh, có thể được coi là thị trường quan trọng bậc nhất cả về xuất nhập khẩu. Thị trường Hong Kong chiếm khoảng 1/3 giá trị xuất khẩu của Việt Nam, đỉnh cao là năm 1907 với hơn 40%. Đáng chú ý hơn, bên cạnh Hong Kong thì sự phát triển của các thị trường Nhật Bản, Xiêm, Singapore, Ấn Độ, Malay đã biến châu Á (đặc biệt là Đông Á) trở thành thị trường thương mại quan trọng nhất của Việt Nam với gần 50% giá trị nhập khẩu và hơn 60% giá trị xuất khẩu. Các quốc gia Âu Mỹ khác (ngoài Pháp) chiếm tỉ lệ vô cùng khiêm tốn khi không có sự tương thích cần thiết giữa nhu cầu các nước và sản phẩm của Việt Nam, trong đó, Anh và Đức là hai quốc gia tham gia trao đổi thương mại với Việt Nam tích cực hơn cả với xu hướng ngày càng tăng, có lẽ là do thương nhân Âu Mỹ không chỉ phát triển thương mại ở chính quốc mà hoạt động chủ yếu ở thuộc địa, dẫn đến sự tăng trưởng về giao lưu kinh tế giữa các thuộc địa hay, cụ thể là giữa Việt Nam với các nước Đông Á. Một mặt, điều này từng bước nâng cao khả năng giao lưu quốc tế của thương mại Việt Nam, nhưng mặt khác phản ánh thực tế về tính hạn chế trong các mặt hàng của Việt Nam, dẫn đến việc thị trường Âu Mỹ vẫn chiếm tỉ lệ khá nhỏ (dưới 10%) mặc dù có xu hướng tăng lên.      Biểu đồ 3: Số lượng tàu buôn các nước ra vào Việt Nam giai đoạn 1886-1914  Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Anh về thương mại Đông Dương và Nam Kỳ. Mã số cụ thể như sau: Nam Kỳ: No. 90 (Cochin-China, 1886), p. 2; No. 3181 (Cochin-China, 1903), pp. 445-447. Đông Dương: No. 280 (Indo-China, 1887), p. 3; No. 2485 (Indo-China, 1899), pp. 438-39; No. 2618 (Indo-China, 1900), p. 299; No. 2843 (Indo-China, 1901), pp. 6-7; No. 2966 (Indo-China, 1902), pp. 6-7; No. 3707 (Indo-China, 1905), p. 771; No. 4117 (Indo-China, 1907), p. 844; No. 4377 (Indo-China, 1908), pp. 875, 885; No. 4596 (Indo-China, 1909), p. 310.     Qua các báo cáo chi tiết của người Anh về kinh tế Việt Nam thuộc Pháp trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chúng ta có thể nhìn thấy sự tăng trưởng thương mại nước ta qua các năm, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX. Sự tăng trưởng đó không chỉ đến từ một phía mà là sự tổng hợp của cả hai hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy vậy trong phần lớn thời gian, giá trị nhập khẩu luôn cao hơn hàng xuất khẩu do cơ cấu kinh tế thiên về nông nghiệp, trình độ phát triển còn khá hạn chế và Pháp mới bắt đầu tiến hành đầu tư, khai thác thuộc địa lần thứ nhất.      Biểu đồ 4: Thị trường xuất khẩu của Việt Nam (1898-1914)  Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo hàng năm của người Anh về thương mại Nam Kỳ và Đông Dương. Mã số: No. 2485 (Indo-China, 1899), p. 440; No. 3707 (Indo-China, 1905), p. 754; No. 1 (French Colonies, 1908), p. 728; No. 4596 (Indo-China, 1909), pp. 292-3; No. 5538 (Cochin-China, 1914), pp. 600-02; No. 4377 (Indo-China, 1908), pp. 867-870; No. 4117 (Indo-China, 1907), pp. 826-830.    Mặc dù có nhiều bất cập trong cơ cấu xuất nhập khẩu, Việt Nam đã bước đầu tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu qua nhiều kênh khác nhau. Tuy vậy, ngoài nước Pháp và hệ thống thuộc địa rộng khắp ở châu Á, châu Phi, thị trường chính của thương mại Việt Nam vẫn là các quốc gia Đông Á. Thậm chí thương nhân châu Âu (Anh, Đức, Mỹ) cũng chỉ trao đổi trực tiếp một phần thương mại với Việt Nam, còn phần lớn họ thực hiện trao đổi thương mại với Việt Nam từ Hong Kong, Singapore, Philippines, đảo Java. Điều đó càng khẳng định rõ hơn tính hạn chế trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam khi các sản phẩm nông-lâm-ngư nghiệp chỉ đáp ứng chủ yếu nhu cầu khu vực và Việt Nam chưa có được những sản phẩm chế biến hay hàng công nghiệp phục vụ nhu cầu quốc tế.□  —  1. Diplomatic and Consular Reports, No. 2618, Report for the year 1900 on the Trade of French Indo-China (London, 1901), p. 286; No.3528, Report for the years 1903-04 on the Trade of Indo-China (London, 1906), p. 255.  2. Diplomatic and Consular Reports, No. 4377, Report for the year 1908 on the Trade of French Indo-China (London, 1909), p. 877.    Author                Trần Ngọc Dũng        
__label__tiasang Thưởng tiền cho tác giả có công bố khoa học: Những hệ lụy      Hai tuần trước, Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên (Sichuan Agricultural University), trong một buổi lễ vinh danh hoành tráng, đã tuyên bố thưởng 13,5 triệu NDT (2 triệu USD) cho một nhóm nghiên cứu có công trình khoa học được công bố trên tạp chí Cell.      Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên, nơi vừa tuyên bố khoản thưởng lên đến 13,5 triệu NDT (2 triệu USD) cho một nhóm nghiên cứu có công trình khoa học được công bố trên tạp chí Cell.   Sự kiện này đã làm dấy lên những tranh cãi trên mạng xã hội về hình thức thưởng tiền cho những cá nhân hay nhóm nghiên cứu có thành tựu trong việc công bố, rằng thưởng bao nhiêu là đủ. Nhà nghiên cứu Lý Bình, giám đốc Viện nghiên cứu lúa gạo, trường Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên, đồng tác giả của bài công bố, chịu sức ép dẫn tới phải viết giải thích rõ ràng trên blog cá nhân rằng phần lớn số tiền thưởng – 13 triệu NDT sẽ được sử dụng làm tài trợ cho những nghiên cứu trong tương lai. Chỉ phần còn dư – 0,5 triệu NDT sẽ được 27 người trong nhóm nghiên cứu chia nhau, như vậy sẽ chẳng khiến ai đột nhiên biến thành giàu có. Ông Lý tiếp tục thanh minh cho giải thưởng, rằng những nhà nghiên cứu tại các đại học nhỏ, ít danh tiếng ở Trung Quốc thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận những nguồn tài trợ lớn, ổn định, do đó, ngân khoản được trường đại học cung cấp là vô cùng thiết yếu cho những nhóm nghiên cứu như của ông để tiếp tục những dự án được cho là hứa hẹn.  Có thể, phát hiện của Lý và nhóm nghiên cứu về một loại gene có khả năng kháng bệnh sẽ giúp cho nhiều quốc gia đảm bảo an ninh lương thực. Trường của họ rõ ràng có quyền để tự hào và phấn khích về điều đó. Tuy nhiên, trao thưởng bằng việc bơm một khoản tiền mặt ngay sau khi bài báo được công bố vào hôm 30/6 liệu có phải là cách vinh danh đúng mực.  Hầu hết các đại học Trung Quốc hiện nay đang tư duy theo lối như vậy. Truyền thống thưởng tiền cho những nghiên cứu khoa học được công bố từ lâu đã ăn sâu bám rễ tại các viện nghiên cứu khoa học Trung Quốc. Ở nhiều nơi, đó còn là chủ trương chính thức và được viết thành quy định. Chẳng hạn, Đại học Nông Lâm Triết Giang tại Lâm An có chính sách thưởng đều 500.000 NDT cho những bài báo được công bố trên Cell, Science hay Nature. Họ sử dụng một công thức để tính thưởng cho những công bố tại các tạp chí khác. Cụ thể, với những bài trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng (impact factors – IF) cao hơn 10, tiền thưởng sẽ được tính bằng IF × 1.5 × 10.000 NDT. Theo câu chuyện trên Nhân dân nhật báo, năm 2016, khoảng 90% số đại học ở Trung Quốc có chính sách thưởng tiền cho những công bố khoa học. Thực tế đó không chỉ tồn tại duy nhất ở mỗi Trung Quốc, mà còn ở nhiều nơi trên thế giới như Qatar hay Arab Saudi, nơi những nhà khoa học cũng được hưởng chính sách tương tự.  Đây có thể là điều tốt cho cá nhân những nhà nghiên cứu và cũng là cách giúp các trường đại học quảng bá về thành tựu của họ. Tuy nhiên liệu điều đó có tốt cho khoa học, đặc biệt trong dài hạn, là một câu hỏi khó. Câu trả lời có lẽ là không.  Trước hết, chính sách thưởng tiền sẽ góp phần tạo nên một thứ văn hóa coi các nghiên cứu như một thứ phương tiện để nhà khoa học nhanh chóng kiếm được nhiều tiền. Hệ quả là, thay vì tiếp tục theo đuổi và tìm cách mở rộng những nghiên cứu tiềm năng trong quá trình thực nghiệm, họ sẽ chỉ tập trung công bố kết quả.    Họ quá chú trọng vào chỉ số IF, thứ được nhắc đi nhắc lại và thổi phồng một cách quá đáng. Chính thước đo đó đã gây ảnh hưởng không mong muốn khi được sử dụng trong các quy trình xét duyệt tài trợ, tuyển dụng, bổ nhiệm và thăng tiến trong khoa học. Các giải thưởng bằng tiền bạc sẽ càng khiến người ta coi trọng IF một cách thái quá hơn, mà không quan tâm tới giá trị khoa học đạt được thực sự qua những nghiên cứu này.  Hơn nữa, điều quan trọng hơn ở đây là việc vội vàng trao giải thưởng cho nghiên cứu ngay sau khi được công bố cũng đồng nghĩa với việc tôn vinh một kết quả khoa học cho dù nó chưa được hoàn toàn chứng minh. Chưa có cơ sở nào để nói rằng những nhà khoa học Tứ Xuyên về loại gene kháng bệnh nấm ở lúa gạo sẽ bị bác bỏ sau khi có sự mổ xẻ tỷ mỉ của giới khoa học trong giai đoạn hậu công bố. Nhưng nếu chẳng may nó bị bác bỏ thì sao? Có nhiều kết quả nghiên cứu không hẳn là sai, song tầm quan trọng của chúng có thể đã bị phóng đại.  Lý giải của ông Lý rằng khoản tiền cho nhóm nghiên cứu chủ yếu mang tính chất tài trợ cho nghiên cứu tương lai chứ không chỉ thuần túy là giải thưởng, tuy nhiên điều này cũng chỉ ra một vấn đề căn bản ở Trung Quốc, cũng như các quốc gia khác – đó là xu thế cấp ngân sách nghiên cứu dựa trên thành tích quá khứ hơn là tiềm năng hay triển vọng trong tương lai. Hiện tại, những nghiên cứu về loại gene kháng bệnh đang rất hứa hẹn, và những nhà khoa học tại Tứ Xuyên có thể là đối tượng phù hợp để được giao nhiệm vụ khai thác xu hướng này. Tuy nhiên, họ cũng có thể tiếp tục đi theo những hướng tiếp cận khác, không liên quan tới những gene này trong tương lai. Trong bất cứ trường hợp nào, để đánh giá đúng mực liệu nhóm nghiên cứu có xứng đáng với khoản tiền tài trợ lớn hơn hay không, cần thông qua đề cương nghiên cứu, trong đó đặt ra mục tiêu rõ ràng, làm căn cứ để có sự đánh giá so sánh công bằng với những đề án khác trong việc cạnh tranh giành ngân sách tài trợ.    Sự kiện này cũng gợi ra câu hỏi mang tính cấp thiết trong việc sử dụng ngân sách khoa học như thế nào ở Trung Quốc. Ông Lý nói bóng gió trên blog cá nhân rằng, những nhà khoa học tại các trường đại học lớn dễ được nhận nguồn tài trợ ổn định và có lợi thế hơn hẳn so với các đồng nghiệp ở các trung tâm nghiên cứu ít danh tiếng hơn, những người phải trở nên phụ thuộc vào những giải thưởng bằng tiền do trường của họ cấp như là những chiếc phao cứu sinh. Nhận định này cho thấy một hiện tượng, và ở khía cạnh nào đó cũng là vấn đề lớn, tại nhiều nơi trên thế giới, khi mà nhiều nguồn lực chỉ được ưu tiên tập trung cho những viện nghiên cứu hàng đầu. Trước thực trạng này, cộng đồng khoa học cần phải đấu tranh để có sự điều chỉnh. Tuy vậy, dù trong hoàn cảnh nào, tiêu chí xét duyệt công bằng và nghiêm ngặt là điều quan trọng nhất trong khoa học.    Văn Hải dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/don-t-pay-prizes-for-published-science-1.22å275    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thủy chung với khoa học      Có thể có người hỏi: “nhà khoa học không thuỷ chung với khoa học thì thuỷ chung… với cái gì?” Đó không phải là câu hỏi khó trả lời hiện nay. Song với GS Phạm Lợi Vũ, dù không thực sự hiểu lắm về những nghiên cứu của ông, vẫn có thể thấy rõ tình yêu rất “chân thành” của ông dành cho Vật lý Toán phi tuyến.    Bảy năm cho một bài báo  Đó là bài “Initial boundary-value problem for Korteweg–de Vries equation on the positive quarter–plane” (Bài toán biên đối với phương trình Korteweg–de Vries trên phần tư mặt phẳng dương) đăng ngày 1/3/2007 trên tạp chí “Journal of Nonlinear Mathematical Physics” của nhà xuất bản khoa học rất có uy tín Atlantis.  Bài báo trên nghiên cứu vấn đề do ông tự đặt ra trong một công bố khác của ông từ năm 2000. Năm 2003, thấy nghiên cứu “có thêm chút kết quả”, ông gửi đăng, song phản biện nhận xét còn một số khía cạnh của bài toán chưa giải quyết được nên chưa chấp nhận công bố. Năm 2006, sau khi vượt qua được những khó khăn có tính nguyên tắc, ông lại tiếp tục gửi đăng. Phản biện yêu cầu tiếp tục sửa chữa một vài thiếu sót. Tháng 8/2006, bài báo được chấp nhận. “Công bố ở nước ngoài chỉ khác thế thôi…”, ông vừa nói vừa giở ra cho tôi xem tập thư từ trao đổi giữa ông với ban biên tập.  “ Mình nhận được ý kiến của những chuyên gia hàng đầu trên cùng lĩnh vực. Bình thường mỗi bài báo được hai phản biện không nêu danh người kiểm tra và đánh giá. Nếu ý kiến trái ngược nhau thì ban biên tập mời phản biện thứ ba (adjudicator). Không nghiêm túc không được. Nếu gửi đăng trong nước, hầu như không thể nhận được ý kiến nhận xét xác đáng”, ông nói.              Bản thảo bài báo sắp đăng        Tôi đọc lướt báo cáo của một phản biện gửi Ban biên tập: “This problem is difficult and has been open for a long time. In recent years there has been a lot of interesting in solving it . . . However the method used by the author in this paper is different, and it appears to be correct . . .I think this paper would be of interest to anybody studying boundary value problems for intergral PDE’s, and that it should be published after the revisions proposed above.” (Bài toán này khó và để ngỏ từ lâu. Mấy năm gần đây, nó thu hút rất nhiều người  giải… Tuy nhiên phương pháp được tác giả sử dụng ở đây là khác và thể hiện đúng đắn. Tôi nghĩ bài báo này sẽ rất thú vị cho những ai nghiên cứu bài toán biên đối với  phương trình tích phân-đạo hàm riêng, và nó nên được đăng sau quá trình duyệt lại như đề nghị ở trên).  “Bài báo nào không đạt tiến bộ so với các tác giả khác, nghĩa là không có kết quả khoa học mới thì họ từ chối đăng. Bài báo nào thấy có thể đăng nhưng chứng minh chưa chặt chẽ, thì họ góp ý phải sửa chỗ này, phải sửa chỗ kia, cho đến khi được sửa xong mới chấp nhận đăng. Phản biện của họ đều đang nghiên cứu có kết quả. Họ không sử dụng phản biện không có kết quả nghiên cứu công bố trong những năm gần nhất. Ở ta rất nhiều thành viên trong ban biên tập tạp chí khoa học cả chục năm rồi không có kết quả nghiên cứu nghiêm chỉnh”.  “Anh xem, người ta in chỉ số tác động ISI mới nhất (the lastest ISI Impact factor) ở ngay bìa Tạp chí để đánh giá chất lượng tạp chí… , và chỉ số trích dẫn (Science Citation Index) bài báo của tác giả…”,  rồi ông tiếp, “so với đồng nghiệp cùng chuyên ngành trên thế giới, tôi ở mức “trung bình khá”.  Không có đường tắt              Những bài báo công bố QT của GS Vũ xếp thành chồng        Nhà khoa học “trung bình khá” Phạm Lợi Vũ hiện vẫn là “kiện tướng công bố quốc tế”, đứng thứ hai trong ngành Cơ học ở Việt Nam (theo TSKH Phạm đức Chính ở Viện Cơ học).  ” Tiêu chuẩn quốc tế của ISI (có chỉ số trích dẫn (Science Citation Index) hoặc chỉ số trích dẫn mở rộng( Science Citation Index Expanded) về bài báo nghiên cứu cơ bản chưa được chấp nhận ở Việt Nam. Nhiều “quyền chức khoa học” (từ của ông) từ lâu không nghiên cứu, không công bố trên các tạp chí có uy tín mà vẫn hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đề tài nghiên cứu cơ bản của họ khi nghiệm thu đều xếp loại từ khá đến xuất sắc mà không có, hoặc có rất ít bài công bố quốc tế…”  Tôi cho ông biết, tới đây Quỹ KH&CN sẽ ưu tiên tài trợ cho những đề tài theo chuẩn mực quốc tế chứ không theo kiểu “phân bổ kinh phí” nữa. Ông vẫn không dứt khỏi mạch chuyện:  “Làm luận án tiến sĩ ở Hàn Quốc tối thiểu phải có hai, ở Philippines phải có một bài báo công bố quốc tế. Với chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ, chỉ cần mỗi người có một bài báo quốc tế, khoa học Việt Nam sẽ mạnh. Nhưng nếu vẫn giữ tiêu chuẩn như hiện nay thì chúng ta chỉ sản xuất ra một lượng tiến sĩ giấy khổng lồ”.  “Không hiểu sao tiêu chuẩn tính điểm để phong giáo sư và phó giáo sư ở ta lại cộng điểm công bố quốc tế với công bố trong nước? So sánh hai đại lượng không cùng “thứ nguyên” – nghĩa là so sánh một sản phẩm khoa học đích thực với một sản phẩm chưa biết chất lượng thế nào là vô nghĩa!”  Không còn lo phong giáo sư, làm tiến sĩ (vì ông đã có các học hàm học vị đó từ hàng chục năm nay rồi!), động lực nào thúc đẩy một người ngoại 70 vẫn cặm cụi với công việc vừa lao tâm khổ tứ, vừa… không có tiền (hiện ông không nhận “tiền đề tài” nữa) như vậy?  “Vui buồn của người làm khoa học là do cái hay dở lao động nghề nghiệp tạo ra” – Ông đáp. Trên bàn ông là bản thảo bài báo sắp gửi đăng tạp chí quốc tế nữa của ông, đó là  tập vở nháp, dày, nhằng nhịt công thức.  “Cũng có thời gian tôi nghiên cứu ứng dụng để “kiếm tiền cho vợ đi chợ”. Nhưng cả đời tôi đeo đuổi nghiên cứu cơ bản. Tôi đi từng bước và đi không nghỉ để tìm ra cái mới. Tôi quan niệm: không có “đi tắt đón đầu” trong việc nghiên cứu.  “Điều kiện nghiên cứu và gửi đăng quốc tế bây giờ tốt hơn xưa rất nhiều. Thời trước, muốn gửi bài ra nước ngoài thì phải gửi cho Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước duyệt đã. Có ai đi Liên Xô là lại nhờ họ “xách tay” bài báo đi. Bây giờ gửi bài dễ dàng, tài liệu cũng sẵn, ở trong nước thiếu tài liệu tham khảo thì nhờ Thư viện ở phố Lý Thường Kiệt tìm kiếm mua hộ ở nước ngoài . . .”  Tự học, tự nghiên cứu  Tình cờ tôi được biết ông Nguyễn Đình Thư, người bạn của ông từ khi còn trẻ. Ông Thư là người cùng trải nghiệm cơn khát vọng học tập với ông Vũ: “Hồi mới giải phóng miền Bắc, hai đứa đi qua cổng trường cấp ba, thấy thèm quá, thế là mua sách giáo khoa. Ban ngày đi làm, tối cả hai lại cùng về giải bài tập. Mà sách vở hồi ấy hiếm lắm”. Năm 1959, họ tốt nghiệp lớp 10 phổ thông theo diện thí sinh tự do”, ông Thư kể. Ông Vũ sinh năm 1934, nhà nghèo, hồi nhỏ học ở Hương Canh quê mẹ, sau tản cư, 16 tuổi tòng quân, làm liên lạc cho phòng quân y. Ở bộ đội, ông Vũ được học đến lớp 6, sau đó được học 9 tháng  ở khu học xá Việt Nam tại Nam Ninh. Học chưa hết lớp 7, cấp trên điều ông về Ty Giáo dục Hà Đông làm công tác xóa mù chữ. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, năm 1961, ông được cử đi học trường Bổ túc ngoại ngữ Gia Lâm, sau đó được đi học ở Liên Xô, đến năm 1966 mới về nước. (Lẽ ra ông Thư cũng cùng đi Liên Xô với ông Vũ, nhưng bị “ách” lại chỉ vì mẹ từng cho thuê một gian nhà, trở thành “thành phần bóc lột”. “Mà tính ra tiền thuê chưa bằng 50.000 đồng/tháng bây giờ”).  Bài báo quốc tế đầu tiên được đăng khi ông Vũ đang sơ tán trong rừng. Đó là quãng năm 1966 – 1970, khi ông là giáo viên ĐH Sư phạm Việt Bắc, tờ Journal Referativ của Liên Xô đăng  tóm tắt kết quả nghiên cứu mới của ông đã đăng trong trong Tập san Toán – Lý. Ông bảo vệ luận án Tiến sĩ ở Viện Toán Kiep (Ukraine).Trong luận án của ông có những dòng nhận xét như sau: “…Luận án đã sáng tạo ra một phương hướng nghiên cứu mới trong lý thuyết những bài toánngược hai chiều, đã phát triển những phương pháp về bài toán ngược. Đây là một công trình hiếm có, là một tấm gương đối với những người làm toán trẻ tuổi. Đề tài nghiên cứu hiện đại, những kết quả của luận án có thể sử dụng và phát triển ở các lĩnh vực vật lý lý thuyết, toán ứng dụng…”. Nhận xét trên sẽ là hoàn toàn sáo rỗng cho bao “tiến sĩ hữu nghị” khác nếu như ông cũng “bỏ ngang”. Nhưng nó sẽ hoàn toàn xác đáng nếu ông vẫn tiếp tục đi theo con đường nghiên cứu tự vạch ra.  Làm việc ở các Viện nghiên cứu chuyên ngành ông đều có kết quả nghiên cứu công bố Quốc tế. Khi là cán bộ Viện các khoa về Trái đất kết quả nhiên cứu của ông đăng ở  Selected works of Geophysics 59 Publishing House Nauka Dumka Ukraine (1974),  Acta Geophysica Polonica 26 (1978), . . .  Khi là cán bộ Viện Cơ học kết quả nghiên cứu của ông đăng ở Acta Geophysica Polonica 35 (1987), J. Mathematische Nachrichten 127 (1986), 141 (1989), J. Inverse Problems 7 (1991), 10 (1994), Bollettino dell UnioneMatematica Italiana (7) 7-B (1993), Southeast Asian Bulletin of Mathematics 19 (1995), Vietnam Journal of  Mathematics 23 (1995), Acta Applicandae Mathematicae 40 (1995), 49 (1997), Rendiconti dell Istituto Lombardo  A 129 (1996) , . . .  Kết quả nghiên cứu  của ông từ khi về hưu (năm 2000) được công bố trên Vietnam Journal of Mathematics 28 (2000), Southeast Asian Bulletin of Mathematics 24 (2000), J. Inverse Problems 17 (2001), 21 (2005), Acta Applicandae Mathematicae 84 (2004), Journal of nonlinear Mathematical Physics 14 (2007).    Ông còn phải thực hiện một bài báo nữa để khép kín chuỗi những kết quả khoa học. Tiếp đến ông phải làm việc với Nhà xuất bản khoa học Quốc tế về việc xuất bản cuốn sách về Lý thuyết Soliton thuộcVật lý–Toán phi tuyến hiện đại trên cơ sở những kết quả khoa học đã công bố trên các Tạp chí có đầy đủ  Impact factor và Science Citation Index.  Nguyễn Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Thụy Điển muốn mua hai lò phản ứng hạt nhân mới của Pháp      Mong muốn này được đưa ra trong chuyến đi đầu tiên của Thủ tướng Thụy Điển tới một thủ đô của châu Âu kể từ khi quốc gia Bắc Âu này đảm nhận chức Chủ tịch luân phiên Hội đồng EU kéo dài sáu tháng vào ngày 1 tháng Giêng vừa qua.    Thủ tướng Ulf Kristersson đã vạch ra một số triển vọng hợp tác, trong đó Thụy Điển và Pháp có thể hợp tác xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới trên đất nước ông, nhằm thúc đẩy sản xuất điện trong nước và đảm bảo an ninh nguồn cung.  Tại Điện Elysée, ông bày tỏ tin tưởng vào tiềm năng của mối quan hệ đối tác giữa hai nước về năng lượng hạt nhân. Ông cho hay, chính phủ mới của Thụy Điển quyết tâm xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới và rất ấn tượng với kinh nghiệm của Pháp trong lĩnh vực này.  Thủ tướng Kristersson lên nắm quyền vào giữa tháng 10. Mặc dù Đảng của ông chỉ xếp thứ ba trong danh sách các Đảng được đại chúng quan tâm xuyên suốt cuộc tổng tuyển cử, nhưng ông đã thành lập được một liên minh với Đảng Dân chủ Thụy Điển cực hữu, tập hợp những người có sức ảnh hưởng to lớn đối với tất cả các khía cạnh của chương trình chính sách chính phủ do ông chủ trì.  Trao đổi với các nhà báo Thụy Điển trong chuyến thăm Paris, ông Ulf Kristersson cho biết Thụy Điển cần mua hai lò phản ứng hạt nhân, và ông hoàn toàn công khai việc Pháp là một trong những quốc gia sẽ đảm bảo cho đất nước ông sản xuất được nhiều năng lượng hạt nhân hơn.  Thụy Điển hiện có sáu lò phản ứng đang hoạt động tại ba nhà máy khác nhau, được đưa vào hoạt động từ năm 1975 đến năm 1985. Một số lò phản ứng khác đã ngừng hoạt động từ năm 1999.  Các nước Bắc Âu từ lâu đã là một trong những tia hy vọng của ngành công nghiệp hạt nhân Pháp cho sự hồi sinh năng lượng nguyên tử ở châu Âu.  Sau 17 năm bị chậm tại dự án tại Olkiluoto-3, tập đoàn điện hạt nhân Areva của Pháp đã xây dựng thành công và đưa vào hoạt động lò phản ứng nước áp lực EPR đầu tiên châu Âu ở Phần Lan – nước láng giềng của Thụy Điển.   Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/thuy-dien-chuan-bi-mua-hai-lo-phan-ung-hat-nhan-moi-cua-phap/      Author                .        
__label__tiasang Thủy quân và ngai vàng ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII: Kỷ nguyên của những con cắt biển      Mùa hè năm 1786, hơn nghìn chiến thuyền từ Phú Xuân tiến ra Bắc, điểm đến là kinh thành Thăng Long của nhà Lê-Trịnh. Tham gia trực tiếp đồng thời  ‘’đạo diễn’’ cuộc tấn công này là Nguyễn Hữu Chỉnh – một trong những người Nghệ An có ảnh hưởng nhất ở thế kỷ XVIII. Người đương thời gọi ông là con ‘’cắt nước’’, một nhà vô địch thủy chiến (Hoàng Lê Nhất thống chí). Sự kiện này chỉ là một chi tiết trong câu chuyện về thủy quân và ngai vàng ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII.      Mô hình chiến thuyền Tây Sơn (Bảo tàng Tây Sơn, Bình  Định).  Bắc Hà sẽ giao hết sức mạnh thủy quân cho viên danh tướng Hàm Giang lừng danh Đinh Tích Nhưỡng nhằm tổ chức một trận quyết chiến ở cửa Luộc. Nhưỡng lấy hết tàu thuyền chặn ngang cửa sông thành hình chữ nhất, sau đó dùng pháo bắn vào thuyền Tây Sơn. Hoàng Lê Nhất thống chí chép, quân Bắc Hà “bắn một tiếng đầu, thuyền giặc [Tây Sơn] đứng yên không động. Nhưỡng sai bắn phát thứ hai, bên thuyền giặc buồm đều cuộn lại. Chư quân đều mừng, cho là giặc có ý sợ. Nhưỡng sai bắn luôn ba phát nữa, bấy giờ bên giặc mới nổ một phát đại bác tiếng to như sét, một chồi cổ thụ trúng đạn, bị gãy làm đôi.” Quân Lê-Trịnh, cả thủy bộ, sợ hãi, tan vỡ. Thư cấp báo về tới triều đình, quan lại chỉ lo chạy vợ con, cất giấu của cải, không ai dám nhận việc đánh giặc.  Cánh cửa thành Thăng Long mở toang.  Trong một tháng, đạo quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy sẽ làm sụp đổ di sản 253 năm của chính quyền Lê-Trịnh.   Truyền thống thủy quân của người Việt  Người Việt có lịch sử thủy chiến lâu dài với truyền thống thủy quân sử dụng các thuyền nhỏ, cơ động, đưa các hạm thuyền lớn của kẻ thù vào những khu vực nước nông, không gian chặt hẹp hoặc địa hình phức tạp mà chúng không thông thuộc. Tại đó, thủy quân tổ chức mai phục dựa địa hình và tận dụng lợi thế cơ động của thuyền nhỏ khi các tàu lớn của địch mất khả năng linh hoạt tại vùng nước nông hay lòng sông hẹp.   Sông Bạch Đằng là một cái bẫy hoàn hảo như thế. Đó là tuyến đường thủy tối ưu cho một cuộc tiếp cận đường sông vào lãnh thổ Đại Việt. Thực tế, nếu bạn muốn kéo quân từ phía Bắc xuống thì đây cũng là đường vận tải lương thực hoàn hảo. Nhưng đó cũng là một nơi  hoàn hảo để tiến hành chặn đánh du kích trên sông, điều người Việt đã làm vào năm 938, 981, 1075-77, và 1288. Sau đó, nhà Minh và nhà Thanh đã phải thay đổi chiến lược, tập trung tiến quân đường bộ.   Vào cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ cũng sẽ đẩy quân Siam vào tình thế tương tự khi chọn khúc sông Rạch Gầm-Xoài Mút, nơi có nhiều Cù Lao và nhánh rẽ, nơi ông sẽ đặt phục binh cả trên bờ, trên các doi đất và trên sông nhánh để diệt gọn toàn bộ hạm đội của người Thái.   Chiến thuật này cũng giúp người Việt giành thắng lợi trước hạm đội 3 tàu của người Hà Lan năm 1643, trong một diễn biến quân sự ít người biết tới. Hè năm 1642, các con tàu này đánh chiếm duyên hải Quảng Ngãi, đốt 500-600 ngôi nhà và bắt đi 38 người. Tuy nhiên có vẻ như người Hà Lan đã chọn nhầm đối thủ. Vào lúc đó, thủy quân của chúa Nguyễn có khoảng 230-240 tàu được trang bị vũ khí. Mùa hè năm 1643, hạm đội Hà Lan quay lại và nhanh chóng bị 60 tàu của chúa Nguyễn vây đánh tại cửa sông Gianh, làm cho một chiếc bị nổ tung, giết chết toàn bộ thủy thủ và hai chiếc còn lại hư hỏng nặng (Hoang Anh Tuan, Silk for Silver, 2007).  Chúng ta sẽ không biết điều gì xảy ra nếu như các hạm thuyền phương Bắc “chịu khó” đi xa hơn về phía Nam và tiếp cận Thăng Long bằng đường sông Hồng. Lịch sử có thể đã diễn biến khác. Đó cũng là cách các hạm đội Champa trở thành nỗi “khiếp đảm” của nhà Trần vào thế kỷ XIV. Thủy quân của Chế Bồng Nga đã hơn một lần đốt cháy Thăng Long và khiến vua quan nhà Trần tháo chạy qua bên kia sông Hồng (Đại Việt sử ký toàn thư). Cuối cùng thì người Việt vẫn giỏi đánh du kích, dù là trên bộ hay trên sông.  Chuyển dịch sân khấu chiến tranh cuối thế kỷ XVIII  Sau ba thế kỷ mở rộng lãnh thổ về phía Nam, sân khấu chiến tranh ở Việt Nam cũng dịch chuyển theo:          Chiến tranh      Địa bàn chủ yếu          Chiến tranh Nam-Bắc triều, 1533-1593      Từ Nghệ An tới thăng Long          Chiến tranh Trịnh-Nguyễn, 1627-1672      Nghệ An, Quảng Bình          Chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn 1771-1802      Hạ lưu Mekong  Duyên hải Quy Nhơn tới Quảng Bình          Từ thế kỷ XVII, thủy quân đã lên ngôi khi trung tâm của chiến tranh chính là mặt nước sông Gianh. Chúa Nguyễn sẽ phải thúc đẩy hàng hải và thủy quân, không chỉ chống lại phía Bắc mà còn thúc đẩy việc mở rộng ảnh hưởng vào phía Nam, và tiến hành các chiến dịch quân sự vùng hạ lưu Mekong.  Tới cuộc chiến Tây Sơn-Nguyễn, thủy quân trở thành lực lượng chính và có ý nghĩa chiến lược tới toàn bộ cuộc chiến. Đó là cuộc chiến giữa hai vùng biên mới được khai mở của không gian người Việt. Sân khấu chính là một vùng duyên hải trải dài từ Quảng Bình tới Phú Quốc với nhiều cửa sông, vũng vịnh, đầm phá, hải cảng và căn cứ quân sự ven biển. Từ sau khi Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định thì hành lang từ Nha Trang tới Nghệ An đóng vai trò quyết định tới vận mệnh của một Việt Nam thống nhất. Chạy dọc theo dãy Trường Sơn gần 1000 km, khu vực này có chiều ngang hẹp, từ 40 tới 120 km và các con sông nhỏ chảy từ Tây sang Đông. Dọc duyên hải có nhiều vũng, vịnh, đầm phá ăn sâu vào đất liền… Ở đó, có thể dùng thủy quân để khống chế, chia cắt, tập kích quân bộ. Và chúng ta sẽ thấy dưới đây, Nguyễn Phúc Ánh đã dùng thủy quân để tiêu diệt nhà Tây Sơn.   Thủy quân Tây Sơn  Thành công của Tây Sơn không chỉ tới từ tài năng của các chỉ huy quân sự, khả năng di chuyển thần tốc, tính năng động của một đạo quân đa dạng, voi chiến và các khẩu pháo mới mà còn từ việc tổ chức thủy quân và kết hợp các cuộc tiến công thủy bộ.   Nguyễn Huệ tận dụng ưu thế của hai lực lượng hàng hải người Chăm và người Hoa, trong đó có hai viên chỉ huy Lí Tài và Tập Đình, những người được cho là góp một nửa thủy quân Tây Sơn. Ở giai đoạn đầu, họ cắt Phú Xuân ra khỏi các vùng cung cấp lương thực phía Nam, như ghi chép của các giáo sĩ, cho tới khi chúa Nguyễn chạy vào Gia Định. Nguyễn Huệ sẽ tiến hành một loạt chiến dịch truy kích ở hạ lưu Mekong, tiêu diệt các chúa Nguyễn và đẩy Nguyễn Phúc Ánh cùng một nhóm tùy tùng ra các hòn đảo trong vịnh Thailand.     Tàu chiến Đàng Ngoài thế  kỷ XVIII (bức vẽ của Samuel Baron, khoảng 1680).  Quy mô hạm thuyền và kỹ thuật trên các thuyền chiến Tây Sơn là rất đáng chú ý. Sử nhà Nguyễn ghi chép rằng các con tàu Tây Sơn án ngữ tại Thị Nại trang bị 35 đến 40 khẩu pháo.  Chiến dịch Rạch Gầm-Xoài Mút và chiến dịch Bắc Hà năm 1786 cho thấy khả năng điều phối thủy bộ của Nguyễn Huệ, một viên tướng có tầm nhìn bao quát và khả năng điều phối chiến lược trên một không gian địa lý rộng, tác chiến phức tạp. Khi phạm vi của triều Quang Trung được mở rộng, một lực lượng mới gia nhập, góp phần quan trọng vào sức mạnh của Tây Sơn là hải tặc Trung Quốc. Các sử gia George Dutton, Dian Murray và Robert Antony đã trình bày nhiều nghiên cứu công phu về vai trò của ‘hải tặc Trung Quốc’ trong quân Tây Sơn. Bản dụ của vua Gia Khánh nhà Thanh ngày 5/2/1797 gợi ý về quy mô của các nhóm này: “Nay theo lời khai của bọn phỉ là di là La Á Tam: Tàu Ô An Nam có 12 tổng binh, hơn 100 hiệu thuyền, và căn cứ vào giấy tờ bắt được có ấn triện, thì bọn cướp Tàu Ô đều nhận hiệu phong của quốc vương.” (Minh Thực lục, Hồ Bạch Thảo dịch, 2019).   Bốn năm sau, khi nhà Tây Sơn bị truy kích, nhiều người trong số họ đầu hàng nhà Thanh. Một trong số đó là Trần Thiêm Bảo. Lời dụ ngày 19/12/1801 của Gia Khánh: “Theo lời tâu của bọn Cát Khánh, tên cướp biển Trần Thiêm Bảo mang cả gia quyến nội phục, và trình nạp sắc ấn của An Nam cấp cho. Tờ tâu nói: “Trần Thiêm Bảo đánh cá gặp bão vào năm Càn Long 48 [1783] bị Nguyễn Quang Bình [Nguyễn Huệ] bắt được, phong chức tổng binh’’. Có thể thấy trong nhiều năm hải tặc quấy phá đều do An Nam chứa chấp gây ra. Lúc Nguyễn Quang Bình còn sống, bắt người của nội địa [Trung Quốc], gia phong ngụy tước hiệu, rồi tung ra biển cướp phá.” (Thanh thực lục).   Trước khi qua đời, Quang Trung còn dự định tổ chức một cuộc viễn chinh lớn vào vùng hạ lưu Mekong. Tuy nhiên không chỉ kế hoạch này bất thành mà triều đại của ông cũng sụp đổ bởi sự tan vỡ của hệ thống tổ chức quân sự Tây Sơn. Nguyên nhân tới từ việc họ để mất sức mạnh thủy quân.  Sự chia rẽ của Tây Sơn là một thảm họa, không chỉ từ góc độ chính trị mà còn từ khung cảnh chiến lược và chiến thuật quân sự. Nếu Nguyễn Huệ có thể tự do điều hành hệ thống quân sự từ Gia Định tới Thăng Long ở buổi đầu thì việc chia ba vương quốc: Hạ lưu Mekong (Nguyễn Lữ), Bình Thuận tới Quảng Nam (Nguyễn Nhạc), từ Quảng Nam ra Bắc (Nguyễn Huệ) đã phá vỡ không gian tác chiến này, khiến cho việc phối hợp, yểm trợ lẫn nhau của quân thủy dọc theo hơn 3000 km bờ biển hầu như không thể thực hiện được.   Sự phối hợp tác chiến giữa Quy Nhơn, Quảng Nam và Phú Xuân là ví dụ. Chúng từng tạo ra một tuyến phòng thủ nhiều lớp vững chắc, bảo vệ lẫn nhau cả đường bộ và đường biển, nơi mà các trung tâm quân sự, thành trì đều gần biển, cảng và dễ dàng tiếp cận từ cửa sông. Tuy nhiên việc chia cắt này đã đặt Quy Nhơn thành một “tiền đồn chơ vơ” ở phía Nam. Đặc biệt là khi Nguyễn Phúc Ánh, dựa vào hệ thống phòng thủ tự nhiên của vịnh Cam Ranh, chiếm Diên Khánh (1793), Quy Nhơn đã nằm trong tầm ngắm thường trực. Thị Nại là một căn cứ mạnh, nhưng giờ đây trở nên đơn độc. Chính vào lúc đó, Nguyễn Nhạc đã không còn cách nào khác là cầu cứu cháu mình, Quang Toản. Toản sẽ giải cứu Quy Nhơn, nhưng chiếm luôn thành trì và Nguyễn Nhạc tức giận đến chết.     Tàu chiến Mông Đồng, hình khắc trên cửu đỉnh (Huế).  Với ý nghĩa đó, thất bại lớn nhất của Tây Sơn là chưa tạo ra một bản đồ tác chiến, một bản đồ chiến lược, và một bản đồ hậu cần thống nhất cho toàn Việt Nam. Để có được và vận hành một nước Việt Nam hình chữ S là không hề đơn giản.   Các cuộc viễn chinh gió mùa  Các cuộc viễn chinh theo mùa gió đã mang về cho Nguyễn Phúc Ánh ngai vàng của nước Việt Nam hiện đại. Ông là người đầu tiên gắn kết hạ lưu Mekong vào cuộc tranh giành địa chính trị trên lãnh thổ Việt Nam, và đã thành công. Thủy quân sẽ giúp ông biến dự án chính trị đó trở thành hiện thực.   Vùng đất mà ông chiếm giữ là một trong những trung tâm đóng tàu lớn nhất của Đông Nam Á lục địa thế kỷ XVIII. Gỗ từ vùng thượng nguồn Tây Ninh và truyền thống sông nước, hàng hải nhanh chóng đưa thủy quân thành trụ cột của các chiến dịch quân sự của Gia Định. Nói cách khác, hệ thống quân sự của Nguyễn Phúc Ánh vận hành dựa trên thủy quân.   Hà Tiên, Phú Quốc, Long Xuyên, An Giang, và xưởng đóng tàu ở Gia Định được cho là kéo dài tới 1,5km dọc bờ sông, là những nguồn cung cấp tàu thuyền quan trọng nhất. Từ năm 1789, Đại Nam thực lục thường xuyên ghi chép về các yêu cầu đóng tàu của vị chúa Nguyễn, mỗi năm vài trăm chiếc. Từ những năm 1790 đến 1821, tổng số tàu thuyền được đóng là 3.190 chiếc lớn nhỏ. Một thống kê khác của Thực lục cũng cho biết riêng thời Nguyễn Phúc Ánh (1778-1820), đã có 235 ghe bàu, 460 thuyền sai, 490 thuyền chiến, 77 thuyền chiến lớn, 60 thuyền buồm kiểu ây, 100 thuyền Ô, 60 thuyền Lê được đóng, trong tổng số 1482 thuyền (Li Tana, Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền, 2002).   Con số tàu thuyền này phong phú tới mức Nguyễn Phúc Ánh không chỉ cung cấp cho quân đội mà còn gửi tặng vua Siam (đổi sắt, thuốc súng, súng), hay bán cho Macao và Manila.   Nguyễn Phúc Ánh cũng chú trọng cải tiến kỹ thuật đóng thuyền theo mô hình tàu chiến phương Tây. John Barrow nói rằng nhà vua có 300 tàu chiến, 5 thuyền buồm và một tàu chiến kiểu phương Tây (1792-1793).    Và đó là lúc cuộc chiến giành ngai vàng ở Việt Nam bước vào giai đoạn quyết định.  Sẽ mất 7 năm để các chiến dịch gió mùa (1792-1799) làm thay đổi cục diện chiến trường bằng cách bao vây, cô lập và tiêu hao các căn cứ quân sự Tây Sơn dọc theo duyên hải. Việc chiếm thành Diên Khánh, cách Thị Nại 200 km, là một bước ngoặt vì nó đặt các cửa sông, cảng biển Tây Sơn vào tầm ngắm thường trực của Gia Định, nơi họ có thể khai thác điểm yếu hậu cần, phân tán địa hình, và khoảng trống giữa quân bộ và quân thủy Tây Sơn.       Kỷ nguyên của những con cắt biển là một dấu ấn của lịch sử Việt Nam, giai đoạn sẽ thai nghén nên hình hài của nước Việt Nam hiện đại và một chứng nhân cho những lao tâm khổ tứ, máu và nước mắt của tiền nhân để tạo ra dân tộc này.      Hệ quả là Tây Sơn buộc phải dồn lực lượng hải quân vào Thị Nại, nơi họ bị tấn công và phá hủy nhiều lần. Thực tế, Nguyễn Phúc Ánh đã lấy sự cơ động của thủy quân để đánh lại quân bộ Tây Sơn giờ đây buộc phải vận động chiến dọc theo một miền duyên hải có địa hình phức tạp. Từ sau 1795, Nguyễn Phúc Ánh mở rộng hoạt động thủy quân, yểm trợ và kết hợp với quân bộ và quân tượng vây đánh Quy Nhơn. Chiến dịch năm 1796 chẳng hạn, huy động 600 thuyền, vận chuyển cả một đạo quân 40.000 binh lính trên hải trình 1000 km.   Khả năng điều phối thủy quân của quân Nguyễn nhanh chóng áp đảo quân Tây Sơn vốn dựa trên sự kết hợp của nhiều nhóm khác nhau. Các tướng lĩnh giỏi nhất của họ như Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Tuyết, Bùi Thị Xuân… đều tập trung cho bộ binh và tượng binh. Trong khi họ bị cầm chân bởi Lê Chất, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đức  Xuyên, Nguyễn Văn Thành thì Nguyễn Văn Trương, Võ Di Nguy, Võ Tánh… chia cắt và cô lập hệ thống phòng thủ Tây Sơn bằng cách đánh phá và kiểm soát cửa biển và sông ngòi, đặc biệt là giữa Quy Nhơn và Phú Xuân.   Tây Sơn bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Không có đủ thuyền, không có khả năng kiểm soát và giữ liên lạc thủy bộ dọc theo duyên hải. Vận tải và hành quân đường bộ giữa Phú Xuân-Quy Nhơn là một quãng đường khó khăn, dễ dàng bị tập kích ở các cửa sông và cảng biển. Nỗ lực cuối cùng của họ giúp hậu cần cho Quy Nhơn bằng đường biển là vào năm 1800, khi mà 150 tàu vận tải bị quân Nguyễn đánh tan.   Không còn cách nào khác, Tây Sơn dồn toàn lực biến Thị Nại thành cánh cổng sắt phía Nam của vương triều nhằm chặn đứng quân Gia Định.  Đó là một canh bạc nguy hiểm.  Vùng đầm phá rộng 5000 ha này từng bị quân Nguyễn tấn công vào năm 1792, 1793, 1796, 1799. Tuy nhiên, Thị Nại và thành Quy Nhơn là một hệ thống không thể tách rời, và nó không thể bị mất. Tư liệu phương Tây cho biết Diệu và Dũng sẽ đưa về đây 500 chiến thuyền và 50.000 lính. Họ dùng 100 chiến thuyền để án ngữ cửa vào vịnh. Sử nhà Nguyễn nói Tây Sơn có 1.800 thuyền và 6.000 khẩu pháo ở Thị Nại. Sau trận đánh kéo dài 16 giờ (27 đến 28/02/1802), “pháo nổ rung trời, đạn bay như mưa,” quân Tây Sơn bỏ lại 20.000 người chết. Toàn bộ căn cứ thủy quân lớn nhất của họ bị phá hủy. Quân Gia Định trả giá cho chiến thắng với 4000 lính.   Một ngày nào đó, có lẽ các nhà làm phim Việt Nam sẽ chú ý tới trận đánh này: một trang sử sẽ không bao giờ bị người Việt lãng quên.   Trận Thị Nại đưa lịch sử Việt Nam sang chương mới. Tây Sơn hoàn toàn mất quyền kiểm soát thủy quân và hệ thống quân sự bị cắt làm nhiều mảnh nhỏ. Ngay lập tức, Phú Xuân bị đe dọa và điều duy nhất Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng có thể làm là rút lên vùng thượng đạo và chạy ra Bắc.   Lịch sử sẽ không cho họ cơ hội thứ hai.   Cuối cùng, các học giả Việt Nam chú ý nhiều tới các cuộc chiến tranh chống xâm lược mà ít chú ý tới nội chiến. Tuy nhiên hình thái chiến tranh và các vấn đề liên quan trong giai đoạn 1770-1802 có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì chúng phản ánh những thách thức và các thể nghiệm của người Việt trong việc tổ chức chiến tranh thời sơ kỳ hiện đại. Kỷ nguyên của những con cắt biển là một dấu ấn của lịch sử Việt Nam, giai đoạn sẽ thai nghén nên hình hài của nước Việt Nam hiện đại và một chứng nhân cho những lao tâm khổ tứ, máu và nước mắt của tiền nhân để tạo ra dân tộc này. □    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Thuyết phục  doanh nghiệp  bằng công nghệ thật      Gần 20 năm qua, PGS Tăng Thị Chính (Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam) theo đuổi nghiên cứu việc xử lý chất thải môi trường bằng các chủng vi sinh vật hữu ích. Và một trong những thành tựu gần đây của chị là chuyển giao thành công ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý rác thải sinh hoạt và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh cho Công ty Quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh.    Thương mại hóa 20 năm kết quả nghiên cứu   Từ các chủng giống vi khuẩn và xạ khuẩn như Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, nấm men Saccharomyces… đã được tuyển chọn, PGS Chính đã sản xuất được chế phẩm vi sinh xử lý môi trường Sagi bio và ứng dụng tại Nhà máy Xử lý và Chế biến chất thải Phú Thọ, Công ty cổ phần phát triển công nghệ môi trường Bình Phước… “Vào thời điểm đó, chúng tôi vẫn chưa hoàn thiện được quy trình nên việc ứng dụng chỉ ở mức độ hạn chế”, PGS Chính cho biết.  Những thành công đó là cơ sở để PGS Tăng Thị Chính chọn hướng nghiên cứu sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ chất thải sinh hoạt. Đây cũng là mục đích theo đuổi của nhiều nhà máy xử lý chất thải Việt Nam như Cầu Diễn (Hà Nội), Thủy Phương (Huế), Nam Định… hơn mười năm qua nhưng chưa thành công vì “sản phẩm không đạt chất lượng do chưa phải là phân hữu cơ vi sinh, hàm lượng hữu cơ thấp cũng như không đạt tiêu chuẩn khác”.    Theo PGS Chính, để xử lý thành công rác thải sinh hoạt thành phân bón hữu cơ cần phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn một dùng chế phẩm vi sinh với các loại vi khuẩn ưa nhiệt có hoạt lực enzym amylaza, proteaza cao và các xạ khuẩn ưa nhiệt sinh xenlulaza amylaza cao để ủ nóng và ủ chín nhằm phân giải chất thải hữu cơ thành mùn hữu cơ; ở giai đoạn hai, mùn hữu cơ được tinh lọc, tiếp tục được phối trộn với nhóm vi khuẩn hữu ích như cố định nitơ tự do, cố định ni tơ cộng sinh, phân giải lân, sinh chất kích thích sinh trưởng cũng như các chất dinh dưỡng khác để “biến” nó thành phân hữu cơ vi sinh.   Quy trình này được nhiều quốc gia áp dụng thành công từ vài chục năm nay như ở Nhật Bản, Bỉ… nhưng lại khó bê nguyên mẫu mô hình sang áp dụng ở Việt Nam, “bởi chất thải rắn sinh hoạt ở các nước này đã tiến hành phân loại rác từ đầu nguồn còn Việt Nam chưa thể thực hiện được”, theo PGS Chính. Trong rác thải đô thị Việt Nam, tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, từ 46 đến 60%, nhưng lại nằm lẫn với các loại khác như chất dẻo, nhựa, xốp (6 đến 12%), kim loại chứa sắt (0,1 đến 0,5%), xương động vật (0,5 đến 1,5%), phế thải xây dựng (3 đến 8,5%)… Nếu không phân loại rác trước khi xử lý thì khó có thể tiến hành được quy trình chế biến thành phân bón hữu cơ, hoặc nếu tiến hành thì hiệu quả cũng không cao, như trường hợp nhà máy ở Hà Nam và Quy Nhơn, Bình Định.   Trong lúc tìm cách tối ưu hóa quy trình xử lý và chế biến chất thải sinh hoạt thành phân bón hữu cơ phù hợp với điều kiện Việt Nam, PGS Chính đã được Bộ KH&CN giao dự án sản xuất thử nghiệm độc lập cấp Nhà nước “Hoàn thiện công nghệ sản xuất và triển khai ứng dụng chế phẩm vi sinh vật ưa nhiệt để xử lý rác thải sinh hoạt và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh tại các nhà máy xử lý rác thải” (2012-2014) với tổng kinh phí 4,5 tỷ đồng. “Đây là cơ hội quá tốt để chúng tôi thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình, chuyển giao những gì đã làm được trong suốt 20 năm qua đến các doanh nghiệp Việt Nam”.   Khó khăn mà PGS Chính gặp phải khi nhận dự án này là cần liên kết với doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu như cung cấp vốn đối ứng, đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị để có thể triển khai sản xuất ngay tại nhà máy. Việt Nam không thiếu các doanh nghiệp đủ tiềm lực kinh tế nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ can đảm bỏ hàng chục tỉ cùng các nhà nghiên cứu theo đuổi một dự án chưa từng có tiền lệ thành công ở trong nước. Vậy đâu là ứng viên phù hợp với dự án?         “Sản phẩm thật” từ hợp tác với doanh nghiệp  Vào thời điểm đó, ứng viên lý tưởng của dự án, Công ty TNHH một thành viên Quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh, xuất hiện và đề nghị được tham gia, theo lời giới thiệu của một “bạn hàng” quen thuộc, bởi tỉnh này cũng “ấp ủ ý định tận thu rác thải sinh hoạt thành phân bón hữu cơ ngay ở giai đoạn đầu xây dựng nhà máy” như lời bộc bạch của giám đốc Lê Quang Đức.    Đề cập trường hợp có được “đối tác vàng”, PGS Chính chia sẻ: “Nhiều người nói chúng tôi may mắn nhận được cơ hội ‘từ trên trời rơi xuống’ nhưng quả thật nó không đến một cách ngẫu nhiên. Vì tín nhiệm ‘một nhà nghiên cứu vào tận nơi ủ rác, thò tay bốc rác để kiểm tra lượng mùn hữu cơ phân hủy’, ông giám đốc Công ty cổ phần Phát triển công nghệ môi trường Bình Phước đã giới thiệu tôi với Hà Tĩnh. Khi ấy dù có nhiều lời mời chào hợp tác hấp dẫn nhưng Hà Tĩnh vẫn quyết định chọn tôi”.               “Thay vì bắt ép doanh nghiệp phải mua sản phẩm của mình, PGS Tăng Thị Chính đã tạo điều kiện chuyển giao kết quả nghiên cứu cho họ với giá rẻ”.   (Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường Trịnh Văn Tuyên)          Bản thân công ty Hà Tĩnh cũng là doanh nghiệp hết sức năng động, chịu khó tìm tòi cải tiến. Họ đã cùng với công ty Bình Phước và chuyên gia hãng Menart.sprl (Bỉ) cải tạo, lắp đặt thêm một số bộ phận để hệ thống này phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nhờ vậy, Hà Tĩnh đã khắc phục được hạn chế của dây chuyền công nghệ Bỉ, vốn được thiết kế phù hợp với rác thải đã được phân loại đầu nguồn và độ ẩm không cao, trong khi hai nhà máy rác ở Quy Nhơn, Phủ Lý, cũng sử dụng dây chuyền của hãng Menart.sprl nhưng không cải tiến nên chỉ đạt kết quả xử lý 20 đến 30%. Hà Tĩnh còn lắp đặt thêm dây chuyền sản xuất gạch không nung từ tro xỉ, sản phẩm thu được sau khi đốt rác thải rắn.  Giai đoạn một của dự án diễn ra suôn sẻ khi chế phẩm Sagi bio được áp dụng thành công. Nó đã thuyết phục giám đốc Lê Quang Đức đầu tư thêm hai tỷ đồng xây dựng phòng thí nghiệm và mua sắm thêm các trang thiết bị như tủ lưu trữ chủng giống vi sinh, máy nghiền nguyên liệu, tủ sấy dụng cụ, máy đo pH để bàn, thiết bị lên men vi sinh… bởi đã thực sự “đặt niềm tin vào tri thức khoa học trong công tác xử lý rác. Ngoài phân giải chất hữu cơ, chế phẩm của chị Chính còn có tác dụng hạn chế mùi, ngăn chặn quá trình sinh trưởng của các ổ ấu trùng ruồi, muỗi, qua đó giảm thiểu hóa chất diệt ruồi. Về lâu dài, việc xử lý toàn bộ lượng rác thải đưa về nhà máy đã đạt tới 97% đã góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư dài hạn, tiết kiệm quỹ đất chôn lấp chất thải”.   Ở góc độ kinh doanh, việc mua toàn bộ chế phẩm không chỉ khiến nhà máy thiếu chủ động trong sản xuất mà còn gia tăng thêm chi phí đầu vào. Vấn đề này chỉ được giải quyết khi nhà máy làm chủ quy trình xử lý và tự sản xuất chế phẩm.    Quyết tâm của đối tác cũng góp phần thúc đẩy PGS Chính hoàn thiện quy trình để “đem lại sản phẩm thật chứ không phải sản phẩm mang tính đối phó” đồng thời giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian ủ từ 50 ngày xuống còn 30-35 ngày. PGS Chính đã đào tạo, nâng cao chuyên môn cho các cán bộ phòng thí nghiệm nhà máy về kỹ thuật phân tích chất lượng môi trường và nuôi cấy vi sinh vật. Như vậy, thay vì cung cấp toàn bộ chế phẩm thì PGS Chính chỉ còn cung cấp giống sản xuất để các cán bộ ở đây tự sản xuất chế phẩm vi sinh, qua đó giảm tới 50% giá thành sản phẩm so với trước đây.   Từ mẻ phân bón hữu cơ vi sinh đầu tiên, PGS Chính đem trồng khảo nghiệm ngay trong nhà máy, trên các loại đất cát bạc màu mang từ nhiều nơi về với các loại rau màu phổ biến như ngô, dưa hấu, cải xanh… Sau khi thu hoạch, sản phẩm đều được gửi đến các đơn vị có chức năng phân tích để đánh giá dư lượng của các kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh. “Kết quả cho thấy hàm lượng chì trong bắp ngô của chúng tôi thấp hơn bắp ngô bán ngoài chợ”, theo PGS Chính. Để có được kết quả xác thực hơn, sản phẩm đã được gửi đi xét nghiệm tại Trung tâm chứng nhận phù hợp (Quacert) và Công ty cổ phần Chứng nhận và kiểm định (Vinacontrol). Một lần nữa, các kim loại nặng như asen, chì, thủy ngân, cadmi cũng như những vi khuẩn có hại trong sản phẩm đều không có, hoặc nếu có thì ở dưới mức cho phép. Bên cạnh đó, đất trồng các loại rau màu này đã trở nên tơi xốp, cải thiện được tính chất đất.   Điều đáng mừng với cả nhà nghiên cứu và doanh nghiệp là Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp giấy phép sử dụng chế phẩm Sagi bio trong lĩnh vực xử lý môi trường và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa các sản phẩm phân bón sản xuất từ chất thải rắn sinh hoạt của công ty Quản lý Công trình đô thị Hà Tĩnh vào danh mục phân bón được cấp giấy phép lưu hành. PGS Chính cũng đã đăng ký bảo hộ độc quyền quy trình sản xuất với Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN.  Với thành công này, giám đốc Lê Quang Đức đã đề nghị và được lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh cho phép sử dụng toàn bộ lượng phân bón khảo nghiệm cải tạo 200 ha đất cát bạc màu do khai thác titan ở huyện Thạch Hà. Sau một năm dùng mùn hữu cơ và phân bón hữu cơ vi sinh cải tạo đất, khu vực hoang hóa đã trở thành vùng rau xanh bạt ngàn. Vì vậy, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt quy hoạch đưa vùng đất này trở thành vùng chuyên canh rau củ quả đến năm 2020. “Với chúng tôi, điều lớn nhất mà dự án mang lại là kết quả nghiên cứu đã được chứng thực”, PGS Chính vui mừng cho biết.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyết phục Science đăng thư phản đối đường lưỡi bò thế nào?      Trong năm 2011, có một sự kiện đáng chú ý  là nỗ  lực của giới khoa học Việt Nam nhằm “lật tẩy” đường lưỡi bò trên tạp chí khoa  học hàng đầu thế giới là Science. Họ đã góp phần làm cho  giới khoa học thế giới hiểu thêm về vấn đề phức tạp và có phần nhạy cảm  này, đồng thời cũng tạo nên những cứ liệu khoa học chất lượng phản  bác lại hiện trạng áp đảo các công trình khoa học có dùng “bản đồ lưỡi  bò” minh họa.     Dưới đây là bài  trao đổi của TS Lê Văn Út, ĐH Oulu, Phần Lan với GS Phạm Quang Tuấn, ĐH New South Wales, Australia – người đã kiên trì tranh luận với BTV tạp chí Science để cuối cùng tạp chí này đăng thư phản đối của giới khoa học Việt Nam dưới bài báo chèn đường lưỡi bò phi lý của tác giả Trung Quốc.     Việt Nam vẫn bất lợi vì thực lực khoa học kém Trung Quốc  TS Lê Văn Út: Giáo sư đã nghĩ gì khi Science đã im lặng trước thư phản đối mà ông gửi cho họ, sau khi họ  cho đăng “Thông báo của tổng biên tập” có phần lấp liếm?    GS. Phạm Quang Tuấn: Tôi không nghĩ họ cố ý “lấp liếm” mà là không đủ quan tâm về vấn đề, nên không đọc kỹ mọi lá thư mà cho rằng chỉ cần một trả lời chung chung. Tuy nhiên, tôi nghĩ là phản ứng này khá đáng thất vọng. Họ là một trong hai tờ báo khoa học đa ngành nổi danh nhất mà phản ứng yếu xìu và có vẻ không quan tâm về vụ xâm phạm đạo đức khoa học trên tờ báo của họ.  TS Lê Văn Út: “Thông báo của tổng biên tập” có làm giáo sư nản chí? Ông có nghĩ câu chuyện đã kết thúc ở đó không?    GS. Phạm Quang Tuấn: Dĩ nhiên là không, nhưng tôi khá ngạc nhiên khi họ không trả lời thẳng câu hỏi của mình là có định đăng bài hay không.        TS Lê Văn Út: Có thể nói bức thư ông phản ứng về việc họ trưng ra “thông báo của tổng biên tập” đã chuyển câu chuyện theo hướng tích cực? Xin ông vui lòng cho biết những điểm nhấn trong bức thư này là gì?    GS. Phạm Quang Tuấn: Căn bản là chỉ ra cho họ rằng nội dung bản thông báo của họ không áp dụng cho thư của chúng tôi, và yêu cầu họ xử lý lá thư theo thủ tục thông thường.  TS Lê Văn Út: Tại sao họ lại im lặng sau khi giáo sư phản ứng việc họ dùng “Thông báo của tổng biên tập” để hồi đáp lá thư phản đối của ông?      GS. Phạm Quang Tuấn: Tôi không biết tại sao. Tuy nhiên, trong việc gửi bài đăng báo khoa học, việc trì trệ, không được trả lời cả tuần hay cả tháng là thường. Việc phải viết thư nhắc nhở cũng rất thường.   TS Lê Văn Út: Science chưa in lá thư phản đối trên báo giấy. Ông có đang tiếp tục yêu cầu họ về vấn đề này?          Lược thuật quá trình tranh luận của GS Phạm Quang Tuấn với BTV tạp chí Science              Bài báo “Lịch sử nhân khẩu học của Trung Quốc và thách thức trong tương lai” của Xizhe Peng, đăng trên Science vào ngày 29 tháng 7 năm 2011, số trang 1581-587, với các bản đồ Trung Quốc có chèn đường lưỡi bò phi pháp, đã bị nhiều tri thức Việt phản đối. Do Science nhận thức được sự vô lí của đường lưỡi bò trong bài báo của Xizhe Peng nên họ đã đăng cho đăng một thông báo của tổng biên tập. Tuy nhiên thông báo đó chỉ đề cập “có thể đã có sự hiểu nhầm”, “Science không đứng về bên nào” hay “chúng tôi sẽ xem lại quy trình … để tránh lặp lại…”.              Không bằng lòng với sự không rõ ràng của Science, nhiều tri thức Việt đã tiếp tục gửi thư phản đối đến Science.              GS Phạm Quang Tuấn cùng nhiều tri thức Việt đã gửi một lá thư cho Science (mã số: 177180) giải thích rõ về tính phi pháp của đường lưỡi bò, và đề nghị Science xét đăng lá thư này.              Tuy nhiên, Jennifer Sills, phó ban biên tập trang thư của Science, đã hồi đáp rằng họ đã đăng thông báo của ban biên tập. Không đồng ý với câu trả lời của bà Jennifer Sills, GS. Phạm Quang Tuấn đã phản ứng: “Bà đã không nói rõ liệu lá thư của chúng tôi sẽ được công bố hay không. Thông báo của tổng biên tập viên về các bản đồ Trung Quốc đề cập đến một vấn đề hoàn toàn khác với lá thư của chúng tôi. Tôi biết rằng đã có nhiều thư phản đối đưa đến việc Science đã ra một thông báo như vậy, nhưng lá thư của chúng tôi là về một vấn đề hoàn toàn khác. Chúng tôi không đặt vấn đề liệu các bản đồ có phản ánh một lập trường của Science hay không. Vấn đề mà lá thư của chúng tôi đề cập là tính khoa học và tính hợp pháp của các tài liệu trong một bài báo được xuất bản trên Science. Như vậy, nó cần phải được xem xét theo thủ tục bình thường dành cho các thư phản hồi, điều đó có nghĩa rằng nó phải được chuyển đến tác giả bài báo gốc để lấy ý kiến, và sau đó tổng biên tập sẽ quyết định có công bố lá thư hay không, dựa trên giá trị khoa học của nội dung. Tóm lại, tôi kính xin quý báo áp dụng một quy trình khoa học bình thường cho lá thư của chúng tôi. Tôi mong đợi thư trả lời của bà.”              Trước sự phản hồi nhẹ nhàng, khoa học, và thẳng thắn của GS. Phạm Quang Tuấn, bà Jennifer Sills và Science đã phải im lặng. Một tuần sau đó, GS. Phạm Quang Tuấn đã gửi cho bà Jennifer Sills một bức thư quyết định: “Tôi đã gửi bà bức thư đính kèm một tuần trước đây, nhưng vẫn chưa nhận được trả lời của bà. Chắc chắn thật là một vấn đề đơn giản để cho tôi biết liệu lá thư của chúng tôi có đang được xem xét để xuất bản hay không, và nếu nó đã bị bác thì dựa trên những căn cứ gì. Như bà phải biết, chúng tôi cần biết điều này để chúng tôi có thể sắp xếp cách khác, chẳng hạn như tìm kiếm một nơi thích hợp cho bức thư của chúng tôi. Tôi mong nhận được trả lời sớm của bà.”              Lần này, bà Jennifer Sills đã lập tức đưa ra giải pháp mà tri thức Việt đang mong đợi: “Chúng tôi có thể đăng lá thư của ông trên trang web của Science. Xin vui lòng cho tôi biết liệu ông muốn chúng tôi thực hiện giải pháp này, hay ông muốn tìm một giải pháp khác như ông đã đề cập“.              Theo người viết được biết, ngoài việc GS. Phạm Quang Tuấn hồi đáp bà Jennifer Sills rằng ông hài lòng với quyết định của bà, ông còn yêu cầu Science phải đăng lá thư trên báo giấy của Science. Nhưng Science đã từ chối đề nghị này này. Tuy nhiên, việc Science buộc phải cho công bố lá thư phản đối trên trang web của họ ngay sau bài báo của Xizhe Peng cũng đã là một thành công to lớn.        GS. Phạm Quang Tuấn: Họ đã ra quyết định tối hậu là chỉ đăng trên trang điện tử, đó là quyền của họ, mình chỉ đòi hỏi được đến mức đó. Tôi không hiểu thái độ của họ, nhưng có thể là những người trong ban biên tập – đều là khoa học gia – có quá nhiều nối kết khoa học với Trung Quốc– đồng nghiệp, sinh viên, hợp tác khoa học….  Đây là một điều vô cùng bất lợi cho Việt Nam, vì thực lực của chúng ta trong trường khoa học quốc tế rất kém cỏi, chưa bằng thể so sánh với Trung Quốc. Một phần vì dân số mình ít, nhưng một phần lớn hơn là vì sự phát triển khoa học kỹ thuật của Việt Nam thua Trung Quốc quá xa. Họ có quá nhiều khoa học gia tầm cỡ, nằm trong ban biên tập các tập san khoa học quốc tế, các hội khoa học, các đại học quốc tế.  Trình độ nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu của họ lên đến tầm cỡ cao trên thế giới, có những công trình cộng tác với Tây phương ở tư cách ngang hàng (chứ không phải chỉ là xin tiền hay được giúp đỡ). Trừ phi Việt Nam có chính sách phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ đàng hoàng, tiếng nói của chúng ta sẽ càng ngày càng yếu ớt.  Nhưng quyết tâm theo đuổi sẽ thành công  TS Lê Văn Út: Giáo sư nghĩ gì về quá trình tranh luận giữa ông và vị đại diện của Science, và sự thắng lợi vừa qua? Những kinh nghiệm gì mà ông muốn chia sẻ với những người gửi thư phản đối các tạp chí khoa học có đăng bài dính đường lưỡi bò?  GS. Phạm Quang Tuấn: Thư phải đi thẳng vào vấn đề, xác thực, dẫn chứng đầy đủ. Nên viết với tư cách một nhà khoa học hay ít ra một người khách quan, chứ đừng viết trên cương vị của một người Việt Nam, vì độc giả không phải chỉ có người Việt Nam. Nếu không được đăng ngay thì cần phải để tâm theo đuổi.   TS Lê Văn Út: Các tạp chí bị phản đối về đường lưỡi bò thường trả lời rất chung chung “đó trách nhiệm của tác giả” hay “chúng tôi không quan tâm chính trị”. Giáo sư nghĩ sao về vấn đề này?  GS. Phạm Quang Tuấn: Tôi nghĩ là các báo khoa học cũng rất lúng túng về vấn đề các tác giả Trung Quốc đưa bản đồ lưỡi bò vào công trình nghiên cứu. Người chịu trách nhiệm đăng bài là tổng biên tập, nhưng thường thường tổng biên tập không có thì giờ đọc kỹ hết các bài gửi đến mà dựa lên các người bình duyệt (reviewers). Người bình duyệt thì rất đông, trên nguyên tắc toàn thể các nhà khoa học trên thế giới ai cũng có thể được chọn để bình duyệt nếu thông thạo đề tài. Vì không tìm được biện pháp cụ thể, họ phản ứng lập lờ và lúng túng. Có lẽ chúng ta phải tìm cách giúp họ bằng cách đưa tra những đề nghị cụ thể và khả thi  TS Lê Văn Út: Được biết giáo sư đang tham gia ban biên tập của hai tạp chí quốc tế và đã công bố hàng trăm công trình khoa học, có phải chỉ những kinh nghiệm này làm nên thắng lợi vừa qua hay không? Những người không có thành tích khoa học như giáo sư có thể làm nên những thắng lợi tương tự hay không?     GS. Phạm Quang Tuấn: Mỗi người chúng ta đều có thể làm theo cách của mình. Chẳng hạn, thư phản đối gửi cho các báo của các cựu sinh viên New Zealand, tuy không theo quy củ hàn lâm, nhưng đã đưa tới hai bài viết rất mạnh trên báo Nature. Tuy nhiên, với những người không thông thạo tiếng Anh và văn hóa Tây phương thì việc này rất khó và cần sự cộng tác của những người đã ở ngoại quốc lâu năm.  —  * ĐH Oulu, Phần Lan    Author                Quản trị        
__label__tiasang Thuyết Sáng thế và Tiến hóa      Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.  Hồ Chí Minh                    Bức tranh Bản điếu văn của Pericles. Philipp Foltz (1852).    Gần đây, tôi thật sự sửng sốt về mức độ thất học và sự lạc hậu đến thảm hại khi đọc được rằng cứ 10 người Mỹ thì có 4 người tin rằng Chúa đã tạo ra Trái đất cách đây mười nghìn năm. Tôi vẫn biết rằng thuyết sáng thế [niềm tin cho rằng vũ trụ và sự sống do thần thánh tạo nên] còn tồn tại ở Mỹ, và thậm chí nó còn được dạy ở một số trường học ở miền Nam nước này.   Theo các nhà phân tích, những người theo thuyết sáng thế Mỹ không muốn con cái của họ học về thuyết tiến hóa vì họ sợ rằng nếu học, chúng sẽ không còn tin vào Chúa nữa. Tôi thấy không thể hiểu nổi, tại sao ở thế kỷ 21 mà một quan điểm tuyên truyền ngu dân như vậy vẫn còn tồn tại.   Điều mà tôi thấy đặc biệt bị xúc phạm là sự thiếu tôn trọng của những người cha, người mẹ theo thuyết sáng thế với những đứa trẻ: Họ nghĩ rằng chúng quá ngờ nghệch để có những quan điểm riêng, họ cố tình duy trì tình trạng ngu xuẩn như vậy của con mình để niềm tin của chúng vào thánh thần luôn được đảm bảo. Thần thánh nào mà lại ép buộc tín đồ tôn thờ mình? Ngược lại, tôn trọng giới trẻ đồng nghĩa với việc mở mang đầu óc của chúng tới những cái nhìn khác để chúng có thể chấp nhận bất cứ niềm tin nào mà chúng thấy thuyết phục nhất.   Tôn giáo thuộc về đức tin, nhưng điều đó không có nghĩa rằng tôn giáo nên xây dựng dựa trên nền tảng của sự vô minh và các tín đồ tôn giáo lại không nên học về các giáo lý của tôn giáo khác. Hoàn toàn ngược lại. Hồi còn là sinh viên, ngay sau Thế chiến thứ II, khi những nguy hại của chủ nghĩa phát xít đã trở nên rõ ràng, tôi nhớ đã tìm đọc bản tuyên ngôn của Hitler, cuốn Cuộc tranh đấu của tôi (Mein Kampf). Tôi làm như vậy vì tò mò muốn hiểu tại sao một quốc gia văn minh, nhân ái, với nền văn hóa phong phú như vậy lại có thể rơi vào tình trạng đê hèn đến như vậy. Khi đó rất khó để có thể tìm được một bản sao của cuốn sách vì nó được coi là “nhạy cảm” và đọc cuốn sách đó bị cho là phạm tội. Nhưng ngược lại, tôi đọc thấy Mein Kampf thực ra là liều thuốc giải độc, càng khiến người ta thêm chống lại chủ nghĩa phát xít mà Hitler và Mussolini đã áp đặt lên người dân bằng việc tẩy não họ và xây dựng nó trên nền tảng của sự thiếu hiểu biết2.      Khoa học không chấp nhận những lập luận dựa vào quyền thế, những lập luận mập mờ, được che đậy, mâu thuẫn với chính lý thuyết của nó.      Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiều lần nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo nói chung và của KH&CN nói riêng trong sự nghiệp phát triển đất nước: Việt Nam cần chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa vào lao động giá rẻ sang một nền kinh tế tri thức. Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đào tạo nên một thế hệ công dân có trách nhiệm, có tư duy mở và có nhận định phản biện cho phép họ quyết định con đường mang lại lợi ích tốt nhất cho đất nước.  Khoa học là một công cụ tuyệt vời để tôi luyện những phẩm chất như vậy: khoa học không chấp nhận những lập luận dựa vào quyền thế, những lập luận mập mờ, được che đậy, mâu thuẫn với chính lý thuyết của nó. Khoa học không phải là tôn giáo. Người không làm khoa học thường nghĩ rằng lý thuyết khoa học là một thứ gì đó có thể tin hoặc không; họ nghĩ như thể có người ủng hộ hay phản đối thuyết tương đối hẹp và tương đối rộng, có người ủng hộ hay phản đối cơ học lượng tử, sinh học phân tử và thuyết tiến hóa. Thực ra, khoa học không dựa vào niềm tin, lý thuyết hiện tại chỉ là lý thuyết tốt nhất cho đến thời điểm đó và nó sẽ được thay thế trong tương lai bởi một lý thuyết tốt hơn, chính xác hơn và tổng quát hơn: khoa học không có tham vọng đạt đến chân lý tuyệt đối.    Là nhà khoa học, chúng ta phải có trách nhiệm đề cao tính “phản biện” của lý luận, theo cái nghĩa mà Kant sử dụng từ này khi viết cuốn Phê phán lý tính thuần túy. Chúng ta cần dạy cho thế hệ trẻ cách nhìn thế giới xung quanh với con mắt và tư duy mở; họ cần phải tìm hiểu quan điểm của người khác để làm giàu thêm quan điểm của chính mình và để có thể phản bác một cách có lý. Giữa tri thức và sự ngu dốt, ta chọn tri ​​thức; giữa tiến hóa và chủ nghĩa sáng thế, ta chọn tiến hóa. □  ————-  1  http://hrlibrary.umn.edu/education/thucydides.html   2 https://www.dw.com/en/cultural-incineration-80-years-since-nazi-book-burnings/a-16798958      Đã hai mươi lăm thế kỷ kể từ khi Khổng Tử ca ngợi vai trò của giáo dục và tri thức trong việc đạt tới sự thông tuệ: “Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi”. Đã hai mươi lăm thế kỷ kể từ khi Pericles dạy con người cách chung sống; thế nhưng khi so sánh bản điếu văn nổi tiếng1 của Pericles với những đoạn tweet của Donald Trump, tôi không khỏi bị mất tinh thần bởi sự suy thoái mà nó hiển hiện. Hai mươi lăm thế kỷ nhưng chúng ta không thực sự vượt trội; sự ngu muội vẫn tiếp tục tàn phá thế giới này. Làn sóng chủ nghĩa dân túy đang làm rung chuyển thế giới phương Tây, từ Mỹ của Donald Trump đến Anh của Nigel Farage; chủ nghĩa dân túy xây dựng dựa trên sự thiếu hiểu biết của những người ủng hộ: thiếu hiểu biết về toàn cầu hóa, thiếu hiểu biết về lịch sử thế giới hiện đại, về các cuộc chiến tranh thế giới, và về những bài học từ những chính thể mà thế giới đã trải qua.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Tỉ lệ tử vong vì ô nhiễm không khí có thể tăng gấp đôi      Theo một nghiên cứu mới do Viện Max Planck,  Đức, thực hiện, số người tử vong hằng năm do ô nhiễm không khí ngoài  trời có thể tăng từ 3,5 triệu người hiện nay (theo ước tính của Tổ chức Y  tế Thế giới – WHO) lên 6,6 triệu người trên toàn cầu vào năm 2050.     Theo nghiên cứu này, nguồn ô nhiễm môi trường ngoài trời mang lại hệ quả nghiêm trọng nhất (chiếm 31% trong tổng số 3,3 triệu ca tử vong vì ô nhiễm môi trường năm 2010) là hoạt động tạo năng lượng tại nơi sinh hoạt, chẳng hạn như dùng các loại bếp lò. Nghiên cứu cho biết phần lớn ca tử vong vì nguyên nhân trên xảy ra ở các quốc gia châu Á như Ấn Độ và Trung Quốc, nơi các hộ gia đình thường dùng các loại bếp tạo muội lò và lò đốt củi. Rất khó để kiểm soát lượng khí thải do các loại bếp lò này gây ra. Chẳng hạn, Ấn Độ đã cố gắng nhưng vẫn chưa thể thuyết phục được người dân chuyển sang sử dụng các công nghệ sạch hơn, mà nguyên nhân chủ yếu là do truyền thống văn hóa và gia đình.    Nguồn ô nhiễm nghiêm trọng thứ hai trong năm 2010 là từ các hoạt động nông nghiệp (khoảng 20%) như nuôi động vật và sử dụng phân bón tạo amoniac. Tỉ lệ tử vong vì lý do này xảy ra nhiều nhất ở miền đông nước Mỹ, châu Âu và các quốc gia khác như Nga, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ.    Các nguồn ô nhiễm khác – bao gồm lĩnh vực điện, công nghiệp, hoạt động đốt sinh khối, và khí thải từ các phương tiện giao thông – chiếm tỉ trọng nhỏ hơn trong tổng số các ca tử vong.    Trang Bùi dịch theo sciencemag.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tích tụ công nghệ là con đường khả thi duy nhất      Làm thể nào để đưa khoa học công nghệ vào đời sống là vấn đề được nhiều nhà khoa học bày tỏ sự trăn trở tại cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Bộ KH&CN sáng ngày 16/12. Sự kiện do Tạp chí Tia Sáng tổ chức với mục đích tạo cơ hội cho các nhà khoa học được trực tiếp thảo luận với Bộ trưởng về các giải pháp thiết thực cần triển khai để cải thiện sự phát triển ngành KH&CN trong giai đoạn tới.      Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh (giữa) trao đổi với các nhà khoa học trong buổi gặp mặt   Trong bối cảnh Việt Nam không thể tiếp tục phát triển theo cách chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ nữa vì tài nguyên đang dần cạn kiệt và tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định rằng, cách duy nhất để phát triển kinh tế là khối doanh nghiệp phải đi lên bằng cách tích tụ công nghệ chứ không phải là tận dụng tài nguyên sẵn có, phải dựa vào “know-how” thay vì “know-who”.  Để đẩy nhanh quá trình tích tụ công nghệ, GS. Đào Tiến Khoa nhận định một trong những vai trò quan trọng của khoa học công nghệ Việt Nam là đưa các công nghệ tiên tiến trên thế giới phục vụ cho nhu cầu quốc kế dân sinh. Ông lấy ví dụ về công nghệ chụp cắt lớp PET CT hoàn thiện từ những năm 90 và có thể áp dụng tại Việt Nam cuối những năm này thay vì phải chờ đến năm 2009. Ông so sánh một cách tương đối rằng Việt Nam chỉ có thể tham gia sáng tạo 1/1000 công nghệ của thế giới, còn 99,9% công nghệ còn lại cần phải được tìm cách đưa vào Việt Nam một cách hiệu quả.  Tuy nhiên, quá trình đưa các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học và doanh nghiệp không hề đơn giản. Những nhà khoa học trẻ có mặt trong buổi gặp gỡ chia sẻ thẳng thắn quá trình họ thực hiện công đoạn phát triển sản phẩm thử (prototype) và…không thể đi tiếp được nữa.  PGS. Đỗ Thị Hương Giang, Phó Chủ nhiệm Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ Nano, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội kể rằng, nhóm nghiên cứu của chị đã phát triển các hệ thống cảm biến, hệ thống thu phát tín hiệu vệ tinh cho tàu thuyền đi biển, đã được thử nghiệm thành công và thậm chí được đánh giá cao bởi Hải quân của Mỹ nhưng mới chỉ dừng lại ở sản phẩm thử, còn chưa biết làm gì tiếp. Chị đã từng gặp gỡ doanh nghiệp và nhận ra rằng mình có thể giúp đỡ họ nhận ra những chỗ bất hợp lí trong quy trình sản xuất với thời gian ngắn hơn rất nhiều so với để doanh nghiệp tự loay hoay “thử và sai” như hiện nay. Nhưng để làm được hai điều này rất khó vì nhà khoa học không có thông tin về thị trường, cũng không lo được một nguồn vốn lớn để sản xuất thử nghiệm.  Đồng tình với PGS. Hương Giang, GS. Vũ Thị Thu Hà, giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm lọc hóa dầu, nơi đã đưa được các nghiên cứu ứng dụng của mình vào doanh nghiệp, nói rằng, mỗi khi thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm với doanh nghiệp, chị phải đi vay từ các cá nhân với lãi suất 12%/năm để thực hiện trước khi có kinh phí hỗ trợ của nhà nước.  PGS. Tạ Hải Tùng, Giám đốc Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh, đã thương mại hóa được một phần kết quả nghiên cứu của mình, nhưng phải “mất quá nhiều công sức vào những việc mình không giỏi” (phải chuyển từ nghiên cứu cơ bản sang ứng dụng, rồi lập ra một công ty spin-off để nghiên cứu thị trường, hoàn thiện, phát triển và sản xuất sản phẩm, tìm kiếm khách hàng).  Các nhà khoa học có mặt tại buổi hội thảo có chia sẻ một số giải pháp để có thể kéo gần doanh nghiệp với các nhà khoa học, trong đó chuyên gia Phạm Chi Lan và PGS. Đỗ Thị Hương Giang đề xuất cần thúc đẩy nhiều diễn đàn giao lưu giữa các nhà khoa học, công nghệ và các doanh nghiệp. GS.Trần Đức Viên (Học viện Nông nghiệp) và TS. Phạm Thành Huy (Viện Tiên tiến KH&CN, Đại học Bách khoa Hà Nội) gợi ý một cơ chế tài trợ cho các nhóm liên kết (doanh nghiệp, viện trường) một cách minh bạch và quản lý dựa trên sản phẩm cuối cùng giống như dự án FIRST.  Đáp lại các thắc mắc của những nhà khoa học, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đồng tình với ý kiến của các nhà khoa học và ông đưa ra một số kế hoạch mà Bộ sẽ thực hiện để giải quyết những vấn đề trên. Bộ trưởng cho rằng, các sản phẩm khoa học đưa vào cuộc sống gặp nhiều khó khăn là do phải “đi theo dự án đầu tư, vào các ngành hàng cụ thể, bị chi phối bởi các luật khác” [nằm ngoài phạm vi quản lý của Bộ KH&CN). Để tháo gỡ vướng mắc này, Bộ trưởng cho biết sẽ phải nâng cao tiếng nói của Bộ KH&CN, ví dụ bằng cách tham gia tích cực vào các diễn đàn cấp cao như tham mưu cho Chính phủ về những thách thức của cuộc cách mạng KH&CN lần thứ tư, và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ sẽ hoàn thiện Luật chuyển giao công nghệ để liên kết các Bộ khác một cách chặt chẽ, tham gia vào việc thẩm định và đầu tư cho KH&CN.   Bộ trưởng cũng đồng tình với quan điểm cho rằng Bộ KH&CN cần thúc đẩy hơn nữa những diễn đàn trao đổi với các nhà khoa học trong quá trình hoạch định, triển khai chính sách. Chia sẻ tại sự kiện, GS. Hoàng Tụy nhận định trong thời gian qua Chính phủ đã có sự tham vấn các nhà khoa học, nhưng chủ yếu mới tập trung trong phạm vi các nhà kinh tế; trong giai đoạn tới, đứng trước những thách thức không nhỏ của đất nước, công tác tham vấn các nhà khoa học (không chỉ là các nhà kinh tế) cần được tăng cường, tạo điều kiện cho các nhà khoa học được bày tỏ tiếng nói một cách thẳng thắn nhằm giúp nhận diện những trở ngại cốt lõi và đưa ra các phương hướng giải pháp có tính gốc rễ nhất.      Cuộc gặp mặt Bộ trưởng lần này đã quy tụ các nhà khoa học đầu ngành như GS.Hoàng Tụy, GS.Trần Xuân Hoài (nguyên viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng), GS. Đào Tiến Khoa (Viện kỹ thuật hạt nhân, Viện Năng lượng Nguyên tử), GS. Phùng Hồ Hải (Phó viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam), GS. Phạm Quang Minh (Hiệu trưởng ĐH KHXH&NV)…các chuyên gia kinh tế như bà Phạm Chi Lan, TS. Lê Đăng Doanh, và một số nhà khoa học trẻ.         Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Tiếc thương giáo sư Hoàng Tụy      Cho đến tận cuối đời điều khiến GS Hoàng Tụy canh cánh bận tâm không phải là những vinh quang quá khứ, mà là vận mệnh của đất nước. Trọn vẹn cuộc đời ông dành một tấm lòng thiết tha, với nhiều nỗ lực miệt mài đấu tranh vì sự phát triển tiến bộ của cộng đồng xã hội, đặc biệt là lĩnh vực cải cách giáo dục, vấn đề sẽ định đoạt tương lai của thế hệ trẻ.      GS Hoàng Tụy tại buổi lễ mừng sinh nhật lần thứ 90 tại Viện Toán học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), ngày 14/12/2017. Ảnh: Thanh Nhàn.   GS Hoàng Tụy đã qua đời ngày 14/7/2019 tại Hà Nội, để lại niềm tiếc thương sâu sắc không chỉ từ bạn bè, đồng nghiệp, người thân thiết, mà cả đông đảo công chúng, những người yêu quý và kính trọng một tài năng lớn, một tấm gương về nhân cách, đạo đức người trí thức.  Ra đi ở tuổi 92, GS Hoàng Tụy đã trải qua một cuộc đời đầy ắp những vinh quang và thăng trầm. Là một trong những người tiên phong xây dựng ngành Toán học Việt Nam, nhưng tên tuổi ông mang ý nghĩa lớn hơn ở tầm quốc tế. Cái tên Hoàng Tụy không chỉ xuất hiện cùng hàng trăm công trình công bố quốc tế, mà đặc biệt gắn liền với Tối ưu toàn cục, lĩnh vực toán học ông đã tự mình dựng nên những nền móng quan trọng khởi đầu. Phương pháp “lát cắt Tụy” đã đưa ông vào hàng ngũ những nhà toán học có cống hiến cho toán học thế giới ở tầm tư tưởng, những con người tự khai phá ra lối đi độc đáo riêng mang tên mình – có thể coi Hoàng Tụy là người Việt Nam đầu tiên đạt được vinh dự này, và càng hi hữu hơn khi quá trình trưởng thành của ông phần lớn không qua trường lớp, chủ yếu tự học mà nên.   Thành tựu đặc biệt ấy đã mang lại vinh quang không riêng cho cá nhân ông, nó cho thấy Việt Nam từ một xứ thuộc địa nghèo đói, trải qua vô vàn khó khăn của chiến tranh, vẫn hun đúc, nuôi dưỡng nên những tài năng dám khát vọng vươn lên chinh phục đỉnh cao học thuật của nhân loại.   Tuy nhiên, cho đến tận cuối đời điều khiến GS Hoàng Tụy canh cánh bận tâm không phải là những vinh quang quá khứ, mà là vận mệnh của đất nước. Trọn vẹn cuộc đời ông dành một tấm lòng thiết tha, với nhiều nỗ lực miệt mài đấu tranh vì sự phát triển tiến bộ của cộng đồng xã hội, đặc biệt là lĩnh vực cải cách giáo dục, vấn đề sẽ định đoạt tương lai của thế hệ trẻ.   Tầm nhìn của GS Hoàng Tụy luôn là sự gắn kết khăng khít giữa trái tim nóng của một nhà yêu nước đầy lý tưởng không biết thỏa hiệp, với sự uyên bác, lý trí tỉnh táo, khách quan của một nhà khoa học. Từ những năm trước thời kỳ Đổi mới, khi tư duy kế hoạch hóa tập trung quan liêu còn thống trị, ông đã thẳng thắn phê phán, góp ý về những bất cập của mô hình hợp tác xã khi được Tổng bí thư Lê Duẩn hỏi ý kiến. Hay cho đến nay, những ý kiến thẳng thắn và đầy trí tuệ của ông trong rất nhiều bài viết từ cách đây hàng thập kỷ vẫn còn nguyên giá trị sâu sắc và ý nghĩa thời sự.   Với tất cả những thành quả mà GS.Hoàng Tụy đã cống hiến, Nhà nước cùng giới khoa học trong nước và quốc tế đã dành cho ông nhiều sự ghi nhận cùng những giải thưởng danh giá: tiến sĩ danh dự Trường ĐH Linköping, Thụy Điển (1995), Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), Giải thưởng Phan Châu Trinh (2010), Giải thưởng Constantin Carathéodory (2011). Đó là những danh hiệu xứng đáng cho một con người suốt đời theo đuổi sự nghiệp khoa học và phụng sự lợi ích cộng đồng, không màng đến những cương vị quyền lực – hai cương vị được biết đến nhiều nhất của GS Hoàng Tụy là Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam (1980-1989) và Chủ tịch Hội đồng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (2007).  Trái tim nóng của một người yêu nước, trí tuệ vừa uyên thâm vừa giản dị của một nhà khoa học lớn, nhân cách mẫu mực, khiêm nhường của một sỹ phu, và tựu chung lại một nhân chứng đặc biệt của lịch sử. Một con người hội tụ tất cả những phẩm chất hi hữu như thế sống cùng thời với chúng ta đã ra đi.  Tang lễ giáo sư Hoàng Tụy được tổ chức vào hồi 7h30 ngày 19/7/2019 tại Nhà tang lễ Bệnh viện Trung ương quân đội 108, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu đưa tang vào hồi 9h. Lễ hỏa táng cùng ngày tại nghĩa trang công viên Thiên Đức, huyện Phù Ninh, Phú Thọ.    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Tiềm năng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam rất lớn      Giá xăng dầu tăng vọt, không khí đô thị ngày một ô nhiễm, điều đó khiến xu hướng sử dụng nhiên liệu sinh học ngày càng tăng. Ở Việt Nam đã có những cơ sở sản xuất nhiên liệu sinh học, tuy nhiên đều ở quy mô nhỏ lẻ. Cần làm gì để phát triển nhiên liệu sinh học ở quy mô công nghiệp? Tia Sáng đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Xuân Quang, hiện đang nghiên cứu về nhiên liệu sinh học ở Viện Công nghệ Hóa học, trường ĐH Công nghệ Viên – Áo (Institute of Chemical Engineering, Vienna University of Technology), về vấn đề này.    Là người nghiên cứu về nhiên liệu sinh học đã lâu, xin ông cho biết tiềm năng của nhiên liệu sinh học ở Việt Nam?  Trước hết ta phải hiểu một cách rõ ràng về nhiên liệu sinh học (biofuel). Nó là những nhiên liệu có nguồn gốc từ các vật liệu sinh khối (biomass) như củi, gỗ, rơm, trấu, phân và mỡ động vật… nhưng đây chỉ là những dạng nhiên liệu thô. Nhiên liệu sinh khối vẫn được sử dụng ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới từ ngàn xưa nhưng chỉ với quy mô nhỏ, mang tính chất gia đình cho các hoạt động đun nấu hoặc cũng có thể có trong sản xuất nhỏ. Việc sử dụng nhiên liệu sinh khối dạng thô trong quy mô công nghiệp là khó khăn và ít hiệu quả kinh tế do nhiệt trị nhiên liệu thấp (15-18 MJ/kg đối với củi, gỗ và 12-15MJ/kg đối với rơm, trấu), khối lượng riêng thấp, nguồn cung cấp thiếu tập trung dẫn đến việc vận chuyển, khai thác và công nghệ sử dụng tương đối khó khăn. Ở Việt Nam, việc sử dụng nhiên liệu sinh khối trên quy mô công nghiệp có lẽ chỉ phổ biến ở các nhà máy đường, nơi sản phẩm phế thải bã mía được sử dụng làm nhiên liệu cho việc phát nhiệt và điện tại nhà máy, hoặc ở một số nhà máy giấy khi phế thải dịch đen trong quá trình sản xuất cũng được sử dụng làm nhiên liệu cho lò hơi thu hồi nhiệt. Là  một nước nông nghiệp, tất nhiên tiềm năng của nhiên liệu sinh học ở Việt Nam rất lớn, song đến nay các hoạt động sản xuất cồn từ mía, tổng hợp diesel từ dầu cây công nghiệp hoặc từ mỡ động vật vẫn chỉ dừng ở quy mô phòng thí nghiệm.     Các thử nghiệm chiết xuất dầu diesel sinh học từ cây dầu mè của TS Thái Xuân Du, từ cây diesel của TS Lê Võ Định Tường, từ mỡ cá basa của công ti AGIFISH… gần đây đều cho kết quả khả quan. Vậy theo ông, nguyên nhân nào khiến Việt Nam “chậm chân”trong sản xuất nhiên liệu sinh học trên quy mô công nghiệp, không chỉ so với các nước phát triển mà với cả các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia?  Nguyên nhân có nhiều, nhưng có lẽ một điểm quan trọng là thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng cũng như một chiến lược quy hoạch năng lượng tầm cỡ quốc gia. Hiện nay ở các nước phát triển những chính sách năng lượng của họ hỗ trợ rất nhiều cho việc ứng dụng những công nghệ sử dụng năng lượng tái tạo bằng chính sách đánh thuế môi trường, những dự án hỗ trợ nghiên cứu thử nghiệm của chính phủ… giúp cho việc ứng dụng nhiên liệu sinh học phần nào có khả năng cạnh tranh với nhiên liệu hóa thạch truyền thống.  Với tình hình nguồn cung cấp các loại nhiên liệu hoá thạch ngày càng hạn chế, giá dầu mỏ tăng cao thì an toàn năng lượng trở nên cấp bách đối với tất cả các nước trên thế giới. Việc nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học trên thế giới cũng có những bước phát triển rất lớn. Na Uy vốn là một nước xuất khẩu dầu mỏ cũng có tới 50% năng lượng được cung cấp từ nguồn nhiên liệu sinh học. Mỹ cũng đặt ra kế hoạch làm giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ. Bởi vậy việc nghiên cứu, ứng dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam cũng là vấn đề cần được chú trọng, tuy nhiên việc phát triển như thế nào phải do khả năng công nghệ trong nước.     Với trình độ công nghệ hiện nay, liệu các nhà đầu tư có sẵn sàng chi tiền để sản xuất nhiên liệu sinh học trên quy mô công nghiệp?  Giải bài toán kinh tế – công nghệ cũng là vấn đề lớn nữa. Để sản xuất được ở quy mô công nghiệp thì hiển nhiên là cần một nguồn cung cấp ổn định ở quy mô công nghiệp. Ví dụ như đối với nhiên liệu trấu. Chúng ta có quá nhiều các nhà máy xay xát với quy mô nhỏ và việc sử dụng các loại hình công nghệ sử dụng nhiên liệu trấu đối với các nhà máy như vậy là không khả thi. Cũng vậy đối với sản phẩm diesel từ mỡ cá chẳng hạn. Liệu có đảm bảo được nguồn cung cấp ổn định hay không? Maylaysia và Indonesia rất thành công với cây cọ, ở TP Hồ Chí Minh, người ta đã thử nghiệm trồng cọ để lấy dầu, song năng suất không khả quan. Cây dầu mè cũng đáng chú ý, nhưng trồng thử nghiệm là một chuyện, phát triển thành vùng nguyên liệu lại là một chuyện. Tiếp nữa là vấn đề tương thích giữa diesel sinh học với các loại động cơ hiện hành. Theo nghiên cứu, diesel sinh học sẽ làm hư hại nhanh các vòng đệm cao su  trong động cơ và gây vón cho dầu nhớt. Một số loại động cơ hiện đại đã khắc phục được nhược điểm này, tuy nhiên với phần lớn động cơ đang sử dụng thì chưa. Chính vì thế mà cần phải đề ra một lộ trình đưa nhiên liệu sinh học vào sử dụng. Từ năm 2004, các trạm xăng ở Đức phải thực hiện tiêu chuẩn 2003/30/EC, theo đó phải tăng mức trộn diesel sinh học từ mức 2% lên 5%; còn ở Áo, người ta chỉ cho phép bán loại xăng trộn 5% diesel sinh học.  Hiện nay tôi đang nghiên cứu khí hóa sinh khối (biomass), cụ thể là khí hóa với nhiên liệu trấu và vụn gỗ theo công nghệ tầng sôi. Mục đích của công nghệ này là phân hủy nhiệt nhiên liệu sinh khối rắn để tạo ra nhiên liệu khí. Khí sản xuất ra từ công nghệ này có thể sử dụng để sản xuất điện, hoặc tổng hợp thành các nhiên liệu lỏng như xăng, dầu, diesel. Công nghệ khí hóa tầng sôi hai công đoạn (fast internally circulating fluidized bed gasifier) sử dụng hơi nước làm môi chất sôi của có thể sản xuất ra nhiên liệu khí với hàm lượng Hydro tới 40% và nhiệt trị lên tới 15 MJ/Nm3 khí. Trấu ở Việt Nam rất nhiều, hy vọng với công nghệ này, nó sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả.     Xin cảm ơn ông.        TS Đỗ Huy Định, giám đốc Công ty Phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ: Có thể có thời điểm nhà nước phải bù lỗ, nhưng xét lợi ích tổng thể thì dùng nhiên liệu sinh học có lợi. Cần đề ra một lộ trình với những mục tiêu cụ thể để đưa nhiên liệu sinh học vào sử dụng, không thể nói “cứ làm đi rồi có chính sách”, mà nhà nước phải định chính sách để nhà đầu tư vào nhiên liệu sinh học có được hiệu quả. Như Thái Lan, họ đặt ra mục tiêu một lít biodiesl phải rẻ hơn xăng 0,5 bạt.          VIỆT ANH thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiềm năng y học của Enzim thiết kế      Các nhà hóa học thuộc đại học California tại Los Angeles (UCLA) và đại học Washington mới đây đã chế tạo thành công “enzim thiết kế” đánh dấu một bước tiến lớn trong ngành hóa học điện toán và kỹ thuật protein.      Các enzim thiết kế sẽ không chỉ được ứng dụng trong việc phòng chống những cuộc chiến tranh vi trùng, bằng cách ức chế các tác nhân sinh học gây bệnh mà còn được ứng dụng để chế tạo thêm nhiều loại dược phẩm có công dụng cao. Mục tiêu của nghiên cứu là sử dụng các phương pháp điện toán để thiết kế vị trí sắp xếp của các nhóm hóa học trong phân tử protein; từ đó tạo cơ sở cho các phản ứng như mong muốn xảy ra.   Trà Mi (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêm vaccine cúm gia cầm ở Việt Nam: Trước ngã ba đường      Liệu Việt Nam có thể tiếp tục tiêm vaccine cúm gia cầm đại trà?       Chuyện đã xảy ra từ năm 2003 nhưng nhắc đến thời điểm cúm gia cầm bùng phát ở Việt Nam, nhiều người vẫn còn ký ức về bối cảnh người dân thì lo sợ, chính quyền thì bất ngờ, bỡ ngỡ và lúng túng trước một căn bệnh “từ trên trời rơi xuống”, càn quét qua đàn gia cầm trên cả nước một cách hủy diệt, chưa từng có tiền lệ.   Lúc bấy giờ, mỗi tỉnh có một cách đối phó với dịch bệnh khác nhau. Ông Nguyễn Quốc Vinh, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố Cần Thơ mô tả lại quá trình xử lý một ổ dịch phải huy động không chỉ cán bộ thú y mà còn cả lực lượng chính quyền địa phương tham gia. Có hộ dân khi biết kết quả xét nghiệm đàn gia cầm của mình nhiễm cúm còn sợ hãi bỏ chạy, để mặc gia cầm cho nhà nước xử lý.  Còn ở Tiền Giang, anh Nguyễn Công Thịnh, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Chợ Gạo, chia sẻ rằng những tháng đầu dịch bùng phát, toàn bộ các trang trại trong vòng bán kính 3km từ ổ dịch đều phải tiêu hủy, dù đàn gia cầm không bị nhiễm bệnh. Nhưng kể cả những hộ nằm ngoài bán kính đó cũng chịu ảnh hưởng, tới mức họ tự nguyện đăng ký hủy toàn bộ đàn gà, vịt vẫn đang khỏe mạnh. Họ không có tiền mua thức ăn cho chúng vì các đại lý không chấp nhận bán chịu như thường lệ, e sợ dịch cúm có thể trút xuống đầu bất cứ hộ nuôi nào.   Hai năm sau đó, dịch cúm này vẫn không thuyên giảm mà tiếp tục giáng những đòn chí mạng vào ngành chăn nuôi của Việt Nam. Vì chính sách tiêu hủy, số lượng gia cầm trong thời kì này giảm một phần tư so với 2003. Đáng ngại hơn, những trường hợp bị mắc trên người cũng tăng lên, trong khi năm 2003 chỉ có ba trường hợp (và đều tử vong) thì đến năm 2004 và 2005 lần lượt có 29 và 61 trường hợp với tỉ lệ tử vong khoảng 50%.   Tình hình nguy cấp khiến Việt Nam đồng ý với đề xuất của Tổ chức Nông lương thế giới tiêm vaccine đại trà cho đàn gia cầm trên cả nước với hi vọng sẽ giảm nồng độ virus trong môi trường, từ đó giảm số ca mắc trên người. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng quyết định lúc đó đúng đắn. Nhưng giờ đây thì sao?   Điều cấm kị của việc tiêm vaccine  Thủ phạm gây ra dịch bệnh cách đây 20 năm đó là virus cúm A/H5N1. Từ 2003 đến 2006, nó đã lây lan trên hơn 50 quốc gia ở châu Á, Trung Đông, châu Âu, châu Phi.     Nếu hàng rào bảo vệ không đủ cao, vaccine sẽ chỉ thúc đẩy virus tiến hóa nhanh hơn và dịch bệnh vẫn tiếp tục.    Virus cúm type A nói chung thường được kí hiệu dựa trên hai protein trên bề mặt là H (hay còn gọi là HA) – giúp virus bám dính vào tế bào vật chủ và N (hay NA) – giúp virus giải phóng khỏi tế bào vật chủ. Hiện nay có 18 loại protein H (đánh số từ 1 đến18) và 11 loại protein N (đánh số từ 1 đến 11). Các chủng có chứa H5 và H7 thường có độc lực cao. Virus cúm A có mặt trên cơ thể nhiều loài động vật, trong đó có con người và những loài động vật thường xuyên tiếp xúc với người như gà, lợn.   Cúm A được giới khoa học quan tâm đặc biệt (so với cúm B, C, D) vì chúng có khả năng tiến hóa nhanh, lây lan nhanh và cũng là loại virus cúm duy nhất đến nay đã từng và sẽ gây ra đại dịch. Thông thường, virus cúm A ở loài này không tự nhiên nhiễm sang loài khác. Cụ thể hơn, chủng cúm A trên gia cầm thường chỉ tồn tại trên gia cầm, thủy cầm và chim hoang dã; chủng cúm A trên người thường chỉ lây nhiễm trên người. Nhưng trong quá trình tiến hóa của virus, sẽ có những chủng phá vỡ được hàng rào loài và điều đó tiềm ẩn một mối nguy hại toàn cầu. Ba đại dịch cúm chết chóc nhất lịch sử loài người đều do virus cúm A xuất phát từ gia cầm: đại dịch cúm Tây Ban Nha (1918-1919), tấn công ít nhất 1/5 dân số thế giới do virus H1N1; đại dịch cúm châu Á (1957-1958) do virus H2N2; đại dịch cúm Hong Kong (1968) virus H3N2 gây ra.   Có hai cách chính để cúm A tiến hóa, gọi là “đổi kháng nguyên” (antigenic shift) và “trôi kháng nguyên” (antigenic drift). Đổi kháng nguyên là khi một cơ thể cùng bị nhiễm hai chủng virus và chúng “đổi” gene cho nhau. Chẳng hạn, H1N1 và H3N2 sẽ sinh ra các tổ hợp chủng mới như H3N1, H1N2. Sự kết hợp ngẫu nhiên giữa các loại H và N như vậy đã phát sinh khoảng 130 chủng virus cúm A trong tự nhiên và “hứa hẹn” sẽ còn nhiều chủng mới khác sẽ xuất hiện. Trôi kháng nguyên là hiện tượng xảy ra thường xuyên hơn, khi trong quá trình nhân bản, virus sinh ra các bản sao lỗi – các đột biến. Trong hàng loạt các “bản lỗi” không có ý nghĩa gì đáng kể, sẽ xuất hiện những đột biến chiếm ưu thế, giúp virus thích nghi với điều kiện môi trường tốt hơn, lây lan nhanh hơn. Chỉ cần thay đổi cấu trúc di truyền trên gene H sẽ tạo ra các nhánh mới (gọi là clade) còn trên những vị trí khác trên hệ gene sẽ hình thành các kiểu gene (gọi là genetype) mới. Theo một nghiên cứu của TS. Nguyễn Thanh Lãm, Đại học Cần Thơ, mỗi năm trung bình, riêng chủng virus H5N1 có thể sản sinh ra một đến hai genotype và clade mới.   Từ 2004-2007, số gia cầm giảm ¼ so với năm 2003. Đơn vị ở trục tung là nghìn con. Ảnh: FAO.  “Virus cúm còn thay đổi nhanh hơn Sars-CoV-2” – TS. Nguyễn Thanh Lãm cho biết. Với tốc độ tiến hóa như vũ bão, virus cúm có vị trí “tách biệt” với các virus gây bệnh trên động vật khác, chẳng hạn như virus dại – hầu như không có gì thay đổi đáng kể sau hàng thập kỉ, thậm chí là hàng thế kỉ qua. Bởi thế, thành phần kháng nguyên của vaccine dại không cần cập nhật mà vẫn giữ hiệu quả bảo vệ tuyệt đối 100%. Trong khi đó, với virus cúm, không cần “đợi” đến khi chủng mới ra đời, vaccine dành cho genotype và clade cũ vừa xuất xưởng mấy tháng trước có thể đã giảm hiệu lực với genotype và clade vừa xuất hiện.   “Tiêm hay không tiêm đại trà cho gia cầm?” – Đó là câu hỏi gây không ít chia rẽ trong giới khoa học. “Những người ủng hộ vaccine muốn ngay lập tức giải quyết vấn đề, muốn giảm số ca nhiễm trên người ngay lập tức. Trong khi những người phản đối nhìn vào ảnh hưởng trong dài hạn” – TS. Ken Inui, nguyên chuyên gia của FAO, người đã cố vấn cho Chính phủ Việt Nam trong vòng 20 năm trong việc kiểm soát dịch cúm gia cầm cho biết. Phe phản đối có lí do của họ: Nếu hàng rào bảo vệ không đủ cao, vaccine sẽ chỉ thúc đẩy virus tiến hóa nhanh hơn và dịch bệnh vẫn tiếp tục. “Nếu bạn nhìn vào Trung Quốc, Việt Nam, Ai Cập – ba đại diện nổi bật trên thế giới đang theo đuổi chính sách tiêm vaccine đại trà để chống lại cúm gia cầm, đây cũng chính là những nơi virus biến đổi rất nhiều và các chủng mới liên tục xuất hiện” – ông nói. Các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật coi tiêm vaccine gia cầm như một điều cấm kị và từ chối nhập khẩu các sản phẩm đã tiêm vaccine cúm gia cầm.   Tự nhận mình là người ủng hộ tiêm vaccine nhưng TS. Ken Inui không cho rằng đó là cây đũa thần. Đúng là sau khi Việt Nam triển khai tiêm đại trà vào năm 2005, số ca nhiễm cúm gia cầm trên người giảm nhanh chóng, chỉ còn đếm trên đầu một bàn tay vào những năm sau đó như một sự tán thưởng cho chính sách này. Nhưng biết đâu, đó chỉ là sự trùng hợp? “Khi con người cố gắng can thiệp và thay đổi những gì đang xảy ra trong tự nhiên, quyền năng của chúng ta thực ra vô cùng nhỏ bé. Bởi vậy, một lời giải thích khác đó là dịch bệnh lúc đó tự nhiên dừng lại” – TS. Ken Inui chia sẻ.   Ai đó có thể tranh biện rằng, chẳng phải chính con người chúng ta cũng tiêm cúm A hằng năm hay sao? Nhưng đó là hai phạm trù đạo đức khác nhau. “Cúm gia cầm rất dễ thanh toán, khi con gà mắc bệnh thì nó dễ biểu hiện triệu chứng, mình có thể phát hiện ổ dịch và loại khỏi quần thể. Con gia cầm có thể thanh toán được, con người thì bắt buộc phải tiêm vaccine.” – TS. Lãm nhấn mạnh. Trên thực tế, trong một nghiên cứu vào năm 2012 của David Swayne, cựu chuyên gia của Tổ chức sức khỏe động vật thế giới (OIE), gần 80% trong 65 quốc gia từng trải qua dịch cúm gia cầm không sử dụng chính sách tiêm phòng đại trà. Họ chỉ tiêu hủy đàn gia cầm mắc bệnh và hầu hết về sau đều không thấy bóng dáng virus trên đàn vật nuôi nữa.   Bà Kim Xuyến ở Tân Phú, Cái Răng, Cần Thơ đứng trước trang trại gia cầm từng bị cúm năm 2017. Bà đã ngừng nuôi gà, vịt để bán từ năm 2018. Ảnh: Hảo Linh  Trận chiến không cân sức  Năm 2017, toàn bộ gà của gia đình ông Thân và bà Kim Xuyến ở Tân Phú, Cái Răng, Cần Thơ phải tiêu hủy vì bị cúm gia cầm. “Trong vòng một đêm mà đã quất mấy trăm con” – ông Thân kể lại.   Hai ông bà nuôi hơn 4000 con gà, chia làm ba đàn. Vì một đàn bị bệnh, hai đàn còn lại dù cách đó mấy thước, khỏe mạnh, thậm chí có đàn nuôi được hai tháng, phổng phao “đạt dữ lắm là đạt” và đang bán được giá cũng phải ngậm ngùi đem bỏ. Từ lúc báo cho cơ quan chức năng tới khi biết kết quả xét nghiệm là bốn ngày. Gà được nhét vào từng túi bao tải một, buộc chặt lại, cán bộ của chi cục thú y thành phố đem lên xe tải mang đi chôn. “Đứt ruột không dám dòm” – Bà Xuyến kể lại.   Hai ông bà bắt đầu nuôi gà từ năm 2015, năm nào cũng trúng lớn. Giờ nghĩ lại trận dịch năm đó, bà vẫn thấy tiếc nuối: “Nuôi đang có lời mừng chứ, tự nhiên cắt ngang, lúc nghỉ dịch không nuôi lại được mà vốn cũng không còn hết trơn, cũng buồn”.   Điều đáng nói là trước đó, gia đình ông bà đã tiêm vaccine cúm gia cầm cho cả đàn. Ông bà không lạ gì H5N1 qua những đợt vận động rầm rộ tiêm ngừa của thành phố Cần Thơ và qua hàng loạt buổi tập huấn chăn nuôi của trung tâm thú y của phường quận. “Người ta có nói là bệnh độc hại đó, phải ngừa trước. Mình ngừa hoài luôn mà cũng vẫn bị à” – ông Thân nói.   Một trong những điều kiện đi kèm với chương trình tiêm chủng đại trà cúm gia cầm đó là hằng năm phải đánh giá hiệu lực của vaccine với virus đang lưu hành. Như vậy, toàn bộ hệ thống thú ý phải chạy đuổi theo sự tiến hóa của virus. Và đó là một cuộc đua không cân sức: “Thấy rất là rõ con người không thể nào theo kịp sự thay đổi kháng nguyên của con virus. Mình luôn luôn đi phía sau” – TS. Lãm cho biết.   Vợ chồng ông Lâm ở Chợ Gạo, Tiền Giang đứng trước hố tiêu hủy đàn gà 2600 con vào tháng 10/2022. Ảnh: Hảo Linh  Cơ quan chịu trách nhiệm trong việc thực hiện kiểm tra hiệu lực vaccine của Việt Nam là Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương (NCVD). Theo đó, các chi cục vùng sẽ có trách nhiệm thu thập và lưu giữ mẫu virus từ các ổ dịch mới xảy ra tại địa phương và gửi về NCVD. Sau khi lựa chọn một vài loại virus đại diện từ các mẫu gửi về, NCVD sẽ tiến hành đánh giá hiệu lực vaccine đang lưu hành bằng phương pháp công cường độc. Hiểu một cách nôm na, một nhóm, chẳng hạn 10 con gà, sau khi tiêm vaccine 21 ngày sẽ được nhiễm virus cúm gia cầm, nếu sau đó tất cả đều sống sót thì vaccine vẫn còn hiệu lực tốt, nếu chỉ bốn con sống sót thì vaccine không còn hiệu quả lắm và nếu tất cả đều chết thì vaccine hoàn toàn mất hiệu lực. Đây được coi là phương pháp chính xác nhất để đánh giá hiệu lực vaccine nhưng điểm yếu của nó là nguy hiểm. Từ trước đến nay, chỉ duy nhất NCVD được thực hiện phương pháp này trong phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 2+ (gần đây mới có điều kiện để thực hiện ở cấp 3).   Theo TS. Ken Inui, lý tưởng nhất là quá trình này chỉ diễn ra trong vòng ba tháng. Nhưng trên thực tế “nó diễn ra có lẽ là hơn một năm sau khi dòng virus mới xuất hiện. Thế là đã quá muộn.” Một năm là đủ để virus có thể dễ dàng lây lan khắp cả nước, trước khi những cảnh báo về việc vaccine giảm hiệu lực thực sự có ý nghĩa. Sự chậm trễ này chủ yếu đến từ sự đứt gãy trong trao đổi giữa các cơ quan: những lọ virus chờ đợi trong tủ đông của các chi cục thú y vùng hàng tháng trời trước khi có yêu cầu chuyển tới NCVD, đến lượt NCVD cũng chờ đợi hàng tháng trời trước khi có yêu cầu của Cục Thú y để bắt đầu thí nghiệm, và bản thân thí nghiệm cũng mất hàng tháng trời để chuẩn bị và tiến hành. “Có lẽ là bởi người ta không thấy nó nghiêm trọng và cần phải làm gấp” – TS. Ken Inui nói thêm.   Nhưng vấn đề không chỉ là thời gian, vấn đề còn là chất lượng của quy trình thí nghiệm. TS. Ken Inui cho rằng, thí nghiệm ở NCVD có độ chính xác khoảng 70%. “Đôi khi làm một thí nghiệm hai lần, họ nhận được hai kết quả khác nhau. Điều đó không thuyết phục bạn rằng [những] kết quả đó là đúng” – TS. Ken Inui chia sẻ.     “Vaccine là cách duy nhất để phòng chống mọi dịch bệnh bùng phát hoặc trở thành đại dịch ở Việt Nam”. TS. Ken Inui    Ngoài NCVD, một số chi cục thú y các vùng (toàn Việt Nam có bảy chi cục thú y vùng) cũng tham gia đánh giá hiệu lực vaccine. Mỗi năm họ đều lấy mẫu máu từ khoảng 1000 mẫu vật nuôi đã tiêm để đánh giá hiệu quả bảo hộ của vaccine cúm gia cầm bằng phương pháp ngưng kết hồng cầu. Về cơ bản, phương pháp này dựa trên hiện tượng virus cúm thường ngăn cản không cho các tế bào hồng cầu ngưng kết với nhau. Người ta sẽ pha loãng huyết thanh của động vật đã tiêm vaccine, trộn với hồng cầu và virus. Ở một tỉ lệ pha loãng nhất định, nếu huyết thanh vẫn có thể trung hòa virus, cho phép hồng cầu ngưng kết thì tức là vaccine có tác dụng bảo hộ tốt. Phương pháp này được đánh giá là đơn giản, tương đối chính xác và đặc biệt là nhanh, nhưng có một cái khó khăn là làm sao có được virus dùng cho thí nghiệm? Đúng ra là phải tự nuôi cấy virus cúm gia cầm đang lưu hành, nhưng đây là virus nguy hiểm, đòi hỏi phải nuôi cấy trong điều kiện phòng thí nghiệm/xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3. Trong khi, phòng xét nghiệm và thí nghiệm của các chi cục vùng đều chưa đạt mức này. Ở Việt Nam, chỉ có bốn phòng thí nghiệm/xét nghiệm được chứng nhận mức an toàn sinh học cấp 3 và trong đó chỉ duy nhất một nơi là dành cho lĩnh vực nông nghiệp, thú y. Thành ra, virus được sử dụng sẽ là virus bất hoạt mua sẵn và là các chủng đã cũ.   Theo TS. Nguyễn Thanh Lãm, cần phải có đánh giá hiệu quả vaccine một cách toàn diện hơn. Hiệu quả bảo hộ của vaccine có thể thấp hơn nhiều so những gì người ta vẫn tưởng. Anh cho thấy tác dụng bảo hộ của vaccine thấp hơn nhiều so với những gì người ta vẫn tưởng. Năm 2017, anh đã gửi mẫu huyết thanh của 44 con vịt và gà đã tiêm ở Việt Nam sang phòng thí nghiệm của Nhật để kiểm tra mức độ bảo hộ của vaccine trước các chủng virus đang lưu hành, cũng bằng phương pháp ngưng kết hồng cầu. Kết quả cho thấy với những dòng virus ở năm 2017, hiệu lực của vaccine đã giảm hẳn, tác dụng không đáng kể so với những dòng virus xuất hiện từ năm 2016 trở về trước. Cũng cần nói thêm rằng, có những dòng virus xuất hiện từ năm 2016 trở về trước cùng chủng, cùng clade với dòng năm 2017, chỉ khác genotype.   TS. Ken Inui cho biết, Navetco năng lực quản lý và sản xuất vaccine tốt nhưng tốc độ cập nhật vaccine cúm gia cầm quá chậm. Ảnh: vast.gov.vn  Tấm bùa hộ mệnh  Sau khi trải qua dịch cúm gia cầm vào năm 2017 lần đó, ông Thân và bà Xuyến vẫn không mất niềm tin vào vaccine cúm gia cầm. Về sau, với mỗi lứa mới, họ còn tiêm hai lần cho chắc ăn. Ông Nguyễn Quốc Vinh, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Thú y thành phố Cần Thơ chia sẻ với phóng viên Tia Sáng rằng, cho đến nay, tiêm phòng vẫn là “biện pháp tương đối hữu hiệu nhất” trong tất cả các phương pháp phòng chống dịch cúm gia cầm.   TS. Thái Quốc Hiếu, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Thú Y tỉnh Tiền Giang cũng chia sẻ suy nghĩ đó: “Nói chung làm gì thì làm nhưng chủ lực vẫn là tiêm phòng”. Hằng năm, các nông hộ ở Tiền Giang đều được hỗ trợ vaccine cúm và tiền công tiêm phòng cho vịt, ngan. Theo chính sách này, liên tục trong ba năm gần đây, số ca bệnh cúm trên gia cầm ở Tiền Giang năm 2020, 2021, 2022 lần lượt là 4 ca, 3 ca và 2 ca. Ca bệnh này chủ yếu là trên gà chưa được tiêm phòng, hoặc đã tiêm phòng nhưng không đúng loại vaccine và quy trình theo khuyến cáo, hoặc đàn gà đã được tiêm phòng nhưng đã hết thời gian bảo hộ. Anh Nguyễn Công Thịnh, Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Chợ Gạo còn chia sẻ rằng, một phần nhờ đạt tỉ lệ tiêm phòng hơn 80%, huyện Chợ Gạo, nơi chiếm gần một nửa số gia cầm của cả Tiền Giang, từ năm 2005 đến nay, chỉ có duy nhất một ổ dịch xảy ra vào tháng 9/2022 – mà cũng rơi vào hộ chưa kịp tiêm phòng.   Tôi tới thăm hộ chăn nuôi đó ở xã Hòa Định, huyện Chợ Gạo, cùng với các cán bộ thú y của huyện và tỉnh. Ông Lâm, chủ hộ, đặt khu nuôi gà ngay trong vườn, cách nơi gia đình ông ở chỉ bằng một tấm lưới sắt. Giữa vườn vẫn còn một hố đen lớn – dấu vết của việc tiêu hủy 2600 con gà bị nhiễm cúm cách đó vài tháng. Tỉnh Tiền Giang khuyến khích tiêu hủy (đốt) vật nuôi bị bệnh thay vì chôn lấp.   Ông Lâm bắt đầu nuôi gà từ năm 2007 và đây là lần đầu tiên gặp phải dịch cúm gia cầm. Chưa bao giờ ông nghĩ đến việc một ngày đàn gà của mình có thể mắc thứ bệnh “gà chết không thể tả” này. Ông quả quyết rằng, đây chỉ là do ông không may, khi đàn gà phát bệnh ở 13 ngày tuổi, chưa đủ tuổi để tiêm phòng cúm gia cầm: “Mình mà làm vaccine đầy đủ cho nó là nó mạnh khỏe, bình thường à”.   Vaccine giống như một tấm bùa hộ mệnh cho những hộ chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam. Sau cú sốc của đợt dịch năm 2003, “Bây giờ là có vaccine người ta tiêm người ta mới nuôi chứ không người ta đâu dám nuôi” – anh Thịnh chia sẻ. Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh cúm gia cầm giai đoạn 2019-2025 của Việt Nam cũng đề cao tiêm phòng. Một trong những mục tiêu của kế hoạch là: “Tổ chức tiêm phòng đạt tỉ lệ tối thiểu 80% tổng đàn thuộc diện tiêm”.       Tuy nhiên, mối tương quan giữa tỉ lệ tiêm vaccine và số ổ dịch không phải là cách đánh giá tin cậy về chất lượng vaccine. Việt Nam dường như đang lạc lối trong việc đánh giá vaccine, không biết chính xác hiệu quả thực sự của nó với những chủng đang lưu hành. Còn thực tế, vaccine sẽ không chấm dứt mà còn kéo dài dịch bệnh. Liệu tiếp tục chính sách tiêm vaccine đại trà có phải là theo đuổi một niềm tin mù quáng?     Nếu Việt Nam không tự chủ được việc sản xuất và cập nhật vaccine thì vaccine nhập ngoại khó mà phù hợp với virus lưu hành trong nước và như vậy, hệ thống đánh giá hiệu lực vaccine hằng năm có tốc độ và chính xác đến cỡ nào cũng không có mấy ý nghĩa.    Câu trả lời như một bước ngoặt trong câu chuyện, khiến người ta bối rối: “Vaccine là cách duy nhất để phòng chống mọi dịch bệnh bùng phát hoặc trở thành đại dịch ở Việt Nam” – TS. Ken Inui khẳng định trong cuối buổi trò chuyện với tôi. Thời điểm tôi đang thực hiện bài viết này là lúc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang vật lộn với dịch tả lợn châu Phi (ASF). Căn bệnh này xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2019 và đến nay vẫn chưa có vaccine. Vào năm 2019, từ lúc phát hiện ổ dịch đầu tiên, chỉ sau năm tháng, đã lan ra 62/63 tỉnh thành và làm hao hụt hơn 20% tổng số lợn trên cả nước. “Dịch tả lợn châu Phi là một ví dụ rõ ràng rằng Việt Nam phụ thuộc vào vaccine đến mức nào. Dịch bệnh này đã càn quét khắp cả nước, kể cả những trang trại sản xuất lớn và những trang trại ở thành phố (được coi là có mức an toàn sinh học cao)” – ông nói thêm.   Những nước đã thanh toán dịch cúm gia cầm và không sử dụng vaccine vì họ có điều kiện mà Việt Nam chưa đạt được: an toàn sinh học và loại bỏ tất cả các ổ dịch. Theo một báo cáo của FAO vào năm 2016, 50% gia cầm ở Việt Nam thuộc về những hộ nuôi dưới 50 con. Giờ đây, có lẽ thực tế đó không có nhiều thay đổi. “Phần lớn người dân nông thôn ở khu vực Nam Bộ là nuôi thả lang, chuồng trại tạm bợ.” – Ông Nguyễn Quốc Vinh kể. Những cán bộ thú y trên địa bàn của ông cùng chủ nhà vẫn thường xuyên phải vật lộn để bắt những con gà đang ngủ trên cây xuống để tiêm. Những con gia cầm được thả lang ngoài ruộng, vườn mở ra nguy cơ nhiễm virus môi trường bên ngoài, từ những trại khác và chim hoang dã.     Cách nuôi đó không thể đáp ứng an toàn sinh học – ba không gian từ ngoài trại đi vào, trong trại, từ trong trại đi ra đều phải được kiểm soát mầm bệnh và tiêu độc khử trùng đúng quy cách đồng thời. Nhưng không chỉ vậy, các hộ đó cũng không có nhiều động cơ để báo với cơ quan chức năng mỗi khi có dịch bệnh. Mỗi năm, Cục Thú y thống kê trung bình có khoảng 50 ổ dịch cúm gia cầm trên cả nước. “Số ổ dịch trên thực tế có thể cao hơn rất nhiều do người nuôi không nhận biết bệnh hoặc không báo cáo đến cơ quan thú y” – TS. Nguyễn Thanh Lãm nói.   Vào tháng 10/2022 vừa qua, lần đầu tiên trong tám năm, Việt Nam lại có người mắc cúm gia cầm. Trước đó, thấy gà, vịt bị ốm bệnh, gia đình người này đã đem ra giết mổ để ăn. TS. Ken Inui không ngạc nhiên: “Tôi khá chắc là rất nhiều người, có thể họ không ăn gà chết, nhưng vẫn tiêu thụ gà ốm”.  Đứng trước lựa chọn báo cho chính quyền hay gọi cho thương lái để bán rẻ đàn gà, nhiều hộ nuôi sẽ chọn phương án hai. Với phương án một, toàn bộ đàn gia cầm sẽ bị tiêu hủy và phải chờ đợi không biết đến bao giờ tiền đền bù mới đến tay họ, nhưng với phương án hai, họ sẽ lấy lại được một phần vốn đầu tư ngay lập tức.  Nếu việc kiểm soát dịch bệnh cần hai điều cốt lõi: năng lực của cơ quan chức năng và hành động của các hộ chăn nuôi, thì trong hai mươi năm qua, theo TS. Ken Inui, yếu tố đầu tiên ngày càng trở nên chuyên nghiệp một cách nhanh chóng, từ trung ương đến địa phương, từ việc tầm soát, xét nghiệm cho đến xử lý ổ dịch nhưng yếu tố còn lại thì dậm chân tại chỗ. “Có lẽ chúng ta phải chờ đợi đến khi mặt bằng kinh tế và xã hội của tất cả người dân trên cả nước cao hơn. Nếu người ta cần tiền ngay để sống qua ngày thì người ta không thể nghĩ nhiều cho cộng đồng được” – ông nói.   Nhưng không chỉ có người chủ nuôi, còn có thương lái và những người bán buôn ở chợ. TS. Nguyễn Thanh Lãm từng lấy mẫu gia cầm sống ở các chợ một số tỉnh phía Bắc và phía Nam, cho thấy có khoảng 20-30% mẫu nhiễm cúm gia cầm độc lực thấp (H9N2 – nhưng có thể lây sang người) và khoảng 5-10% nhiễm cúm gia cầm độc lực cao (ví dụ H5N1, H5N6), chủ yếu ở thủy cầm. Dù đã có nhiều quy định cấm giết mổ gà tại nơi đông dân cư, nhưng việc bắt gặp người chở gà sống đi giữa phố phường, gà vịt ngan ngỗng nhốt chung không phải là chuyện hiếm gặp. Thay vì đi thẳng từ hộ chăn nuôi vào lò mổ, virus được thể “chu du” từ hộ chăn nuôi này đến hộ chăn nuôi khác, vào chợ, bám trên xe, trên người của thương lái, tiểu thương… Và nếu gia cầm hôm trước vẫn chưa bán hết, thì hôm sau lại được nhốt chung những con mới, “virus” lại tiếp tục lại có một chuyến “chu du” khác.  “Vào năm 2004, chúng tôi xác định chợ là một trong những nguồn lây virus từ gà sang người và cố gắng để thay đổi các thực hành ở chợ, từ chợ đầu mối cho đến chợ bán lẻ. Nhưng giờ đây khi ra chợ, tôi thấy chính xác những gì diễn ra vào năm 2004. Cơ sở vật chất có thể hiện đại hơn nhiều nhưng hành vi của con người vẫn y hệt”. – TS. Ken Inui cho biết.   Chướng ngại vật  Nếu quả thật vaccine là lựa chọn duy nhất của Việt Nam, thì ngoài việc nâng cấp quy trình đánh giá vaccine hằng năm, còn một chướng ngại vật không hề đơn giản mà Việt Nam phải vượt qua: cập nhật vaccine nhanh nhất có thể. TS. Ken Inui cho biết: “Một vấn đề lớn hiện nay là không có một vaccine tương ứng hoàn hảo với dòng virus cúm gia cầm đang lưu hành ở Việt Nam”.  Hai nguồn vaccine chính của Việt Nam là từ Trung Quốc và từ Công ty Navetco, một doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp. Vaccine thế hệ đầu tiên của Trung Quốc, gọi là RE-1, ra đời vào năm 2003. Hiện nay, nước này đã cập nhật đến RE-14 vào năm 2021. Mặc dù có sự “trao đổi” nhưng virus ở Trung Quốc không trùng với Việt Nam. Việt Nam hiện chủ yếu sử dụng RE-6, và sắp tới sẽ nhập khẩu RE-7 và 8 – những lựa chọn khả dĩ gần nhất với dòng virus cúm gia cầm đang lưu hành hiện tại trong nước. Còn vaccine của Navetco ra đời vào năm 2009 và đến năm 2020 vừa qua mới cập nhật lần thứ nhất.   “Trái tim” của vaccine cúm gia cầm là một giống virus được bất hoạt. Nhưng đây không phải là virus cúm trong tự nhiên mà là một virus “nhân tạo” từ kĩ thuật “chuyển gene ngược”. Gene H và N của virus cúm A, sau khi được loại bỏ các đoạn mã độc sao cho không gây hại nhưng vẫn đủ kích thích phản ứng miễn dịch ở vật chủ, được chuyển vào một bộ khung của virus khác có cấu trúc gene ổn định, ít thay đổi hơn (thường là virus Puerto Rico).   Đây không phải là một kĩ thuật mới mà đã được phát minh cách đây hơn 20 năm bởi Bệnh viện Nhi St. Jude, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, năm 2016, trong một nhiệm vụ “Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vaccine cúm A/H5N1”, một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ, mới có cơ hội sang đây để học kĩ thuật chuyển gene ngược. Đến nay, đây vẫn là nhóm duy nhất của Việt Nam có thể chuyển gene ngược thành công. Kết quả của nhóm – giống virus vaccine cúm gia cầm, tạo ra dựa trên một biến chủng phổ biến năm 2016, đã được chuyển giao cho Navetco. Tuy nhiên, vaccine mới nhất của Navetco, thay vì sử dụng kết quả này, lại sử dụng chủng virus của CDC Hoa Kỳ, được tạo ra dựa trên gene H và N của virus cúm gia cầm đã lưu hành từ năm 2010! (trong công bố kết quả bảo hộ về vaccine này, nhà sản xuất chỉ tiết lộ clade và chủng của virus mà không tiết lộ genotype). Cũng nên nói thêm rằng, vaccine của Navetco mới chỉ phòng ngừa virus H5N1, H5N6 nhưng ở Việt Nam đã tồn tại các chủng H5 khác và dĩ nhiên có khả năng lây sang người.   Quá trình cập nhật vaccine của Việt Nam là một dây chuyền mà các mắt xích của nó đang…tách rời nhau. Theo TS. Nguyễn Trung Nam, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học, cũng là người đứng đầu nhiệm vụ nghiên cứu năm 2016, quá trình tạo ra giống virus mới để làm vaccine có thể kéo dài từ ba đến sáu tháng, thậm chí lâu hơn. “Nếu virus biến đổi quá nhiều thì coi như mình nghiên cứu từ đầu” – Anh nói. Tuy nhiên, nhóm của anh không thể nào tạo ra giống virus nếu Cục Thú y – nơi duy nhất có cơ sở thí nghiệm đủ điều kiện an toàn sinh học để nuôi cấy virus cúm gia cầm, không thông báo và gửi bộ gene (hay ít nhất là gene H và N) của những virus đang lưu hành. Và kể cả sau khi đã sàng lọc và tuyển chọn được một giống virus tốt trong phòng thí nghiệm, nó cũng sẽ chỉ dừng lại ở đó nếu Navetco hoặc công ty khác sản xuất vaccine trong nước không sẵn lòng tiếp nhận để sản xuất và thử nghiệm trên thực địa. Tia Sáng đã liên hệ với Navetco nhưng không nhận được phản hồi.   Nếu Việt Nam không tự chủ được việc sản xuất và cập nhật vaccine thì vaccine nhập ngoại khó mà phù hợp với virus lưu hành trong nước và như vậy, hệ thống đánh giá hiệu lực vaccine hằng năm có tốc độ và chính xác đến cỡ nào cũng không có mấy ý nghĩa. Điều này đã xảy ra trong thực tế. Vào năm 2011, 2012, kết quả đánh giá cho thấy vaccine hiện tại không có tác dụng trên dòng virus đang lưu hành. 100% gà đã tiêm vaccine sau khi bị công cường độc trong phòng thí nghiệm đều chết. Không còn cách nào khác, Việt Nam đã ngừng chương trình tiêm phòng cúm gia cầm trên hàng chục tỉnh thành (trừ Đồng bằng sông Cửu Long).   ***  Dù lựa chọn tiêm hay không tiêm thì Việt Nam cũng vẫn đang đứng trước những ngã ba đường. Nếu dừng tiêm, Việt Nam có cơ hội thanh toán dịch bệnh. Tuy nhiên, để làm việc đó, Việt Nam liệu có thể thay đổi toàn bộ diện mạo ngành chăn nuôi, đảm bảo tất cả các trang trại đáp ứng an toàn sinh học? Nếu tiếp tục tiêm như chính sách hiện nay tức là sẽ chấp nhận sống chung với dịch bệnh. Nhưng như vậy, Việt Nam có thể giảm thiệt hại nhỏ nhất cho hộ nuôi bằng cách tự sản xuất, cập nhật và đánh giá vaccine trong vòng một năm? □  —–  *Bài viết có sự hỗ trợ của dự án STOP Spillover 2022, đứng dầu bởi USAID (https://earthjournalism.net/opportunities/stop-spillover-media-grants-2022)    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Tiến bộ mới của khoa học thần kinh      Nguyệt san tiếng Pháp La Recherche trong số kỉ niệm 40 năm ngày thành lập (5.1970-5.2010) có nhiều bài ôn lại những tiến bộ khoa học đáng chú ý trong 4 thập kỉ vừa qua. Jean-Pierre Changeux, Giáo sư danh dự ở Collège de France, đã trao đổi với La Recherche về các bước tiến quan trọng trong nghiên cứu bộ não con người ở thập niên 2000-2010.     Tiến bộ chính của các khoa học thần kinh trong thập kỷ 2000-2010 là gì?  Nét chính của các khoa học về bộ não trong thập kỷ này là chúng đã phát triển đồng thời trên nhiều mặt, từ sinh học phân tử cho tới khoa học xã hội, qua các nghiên cứu về thần kinh và về quá trình nhận thức, với kỹ thuật ảnh não. Song thay đổi thực sự có tính cách mạng là ở chỗ các chuyên ngành này đã liên kết với nhau để hình thành một khoa học thống nhất về trí óc, Khoa học thần kinh.   Trước kia, mỗi ngành tham gia khảo sát bộ óc một cách riêng rẽ (giải phẫu, sinh lý, hoá sinh, dược học, tâm lý học v.v.). Đầu thế kỉ 21, liên kết này mới bắt đầu được thực hiện, trước hết là do sự phát triển của sinh học phân tử: theo tôi, chuyên ngành này có vai trò chất men vì một bản chất của sinh học phân tử chính là nỗ lực thiết lập các mối tương quan nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức.     Ông có thể cho một ví dụ về vai trò xúc tác của sinh học phân tử?  Hãy xem xét quan niệm của chúng ta về các bệnh tâm thần. Cho tới gần đây, các chứng bệnh như tâm thần phân lập, tự kỷ hay trầm uất chủ yếu vẫn được mô tả bằng các triệu chứng gây ra bởi các yếu tố tâm lý và môi trường. Những dược chất hữu hiệu thực ra là tác động vào mục tiêu nào, người ta không biết rõ. Và người ta đổ lỗi cho tác nhân gây bệnh chính là gia đình và hoàn cảnh xung quanh những người bệnh.   Năm 2001, Daniel Weiberger và nhóm nghiên cứu của ông ở NIH (National Institutes of Health –Viện quốc gia Y học Hoa Kỳ, gồm 20 viện và 7 trung tâm nghiên cứu liên quan đến sức khoẻ con người) đã khám phá ra các gien có thiên hướng dẫn tới bệnh tâm thần phân lập. Năm 2003, một ê-kíp quốc tế trong đó có Thomas Bourgeron ở Viện Pasteur tham gia, đã xác định được những gien đầu tiên liên quan đến chứng tự kỷ. Những gien này có vai trò quyết định trong sự phát triển của các khớp thần kinh, là những nối kết giữa các nơ-rôn (tế bào thần kinh).   Cùng năm ấy, một nhóm nghiên cứu ở Phần Lan đã xác định một gien có trách nhiệm gây ra chứng khó đọc.   Tiếp đó, nhiều gien tương tự được khám phá. Và bây giờ, nhiều bệnh tâm thần được coi là có nguồn gốc di truyền, tức là có một thay đổi rất lớn về quan niệm. Không những gia đình và người bệnh trút bỏ được mặc cảm tội lỗi, mà thay đổi đó còn mở ra những cánh cửa mới trong việc tìm hiểu cơ chế của các bệnh ấy và tìm ra những phương pháp điều trị mới.   Những khám phá này sẽ dẫn tới điều gì?  Một trong những khám phá quan trọng mới đây là sự sinh sôi thường xuyên các tế bào mới thần kinh trong một bộ óc người lớn. Trước đây, người ta tưởng rằng chúng ta sinh ra với một số nơ-rôn nhất định.   Nhưng vào năm 2003, Pierre-Marie Lledo và ê-kíp của ông ở Viện Pasteur đã hiểu được sự phát sinh các nơ-rôn ở cấp tế bào. Họ đã chứng minh được rằng vài loại tế bào thần kinh đệm được biến đổi thành nơ-rôn và những nơ-rôn này phát triển rồi kết nối được không những với những nơ-rôn gần chúng mà với cả một hệ thống chức năng các thần kinh khứu giác: chúng được hấp dẫn tới vùng thành kinh này bởi một phân tử do hành não khứu giác tạo ra.   Năm 2008, cũng ê-kíp này đã chỉ rõ là sự phát sinh nơ-rôn này được tăng lên sau một tai nạn làm thương tổn đến khứu giác. Như vậy là một quan hệ nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức (ở đây là nhận thức về mùi vị) đã được chứng minh. Đó là một bước tiến lớn mở ra viễn tượng phục hồi chức năng: một ngày nào đó, có thể người ta sẽ phục hồi được những nhiều vùng bị thương tổn trong bộ não người với những tế bào gốc, chẳng hạn để điều trị bệnh Alzheimer.    Còn đóng góp của kỹ thuật hình ảnh não?  Về phương diện kỹ thuật, có một sáng tạo đặc biệt đáng chú ý, đó là kỹ thuật chụp ảnh bằng ten-xơ phân phối (1). Kỹ thuật này bắt đầu được sử dụng từ những năm 2000, dù rằng nó đã được Denis Le Bihan, phát triển từ nhiều năm trước.   Le Bihan nay là giám đốc của Phòng thí nghiệm NeuroSpin, thuộc Trung tâm Nguyên tử năng (CEA), Pháp. Kỹ thuật có tính đột phá này dựa trên sự phân phối các phân tử nước trong các mô não, cho phép nhìn trong không gian 3 chiều những kết nối của các vùng não. Nó bắt đầu được sử dụng để nhìn thấy được những hệ thống bị biến đổi sau một tai biến mạch não. Kết hợp với kỹ thuật ảnh cộng hưởng từ chức năng, nó cho phép thấy rằng hai vùng não cùng tham gia vào một nhiệm vụ thị giác luôn luôn có rất nhiều kết nối với nhau, dù rằng cái nhìn đó là tình cờ hay có chủ ý.  Kỹ thuật hình ảnh chức năng đó có phải cũng cho phép khảo sát ý thức?  Đúng vậy, hình ảnh chức năng mở ra khả năng nghiên cứu quá trình ý thức một cách khoa học. Cùng với Stanislas Dehaenne, Giáo sư của Collège de France, (2) chúng tôi đã đề xuất vào năm 1998 một lý thuyết về ý thức mà hình ảnh chức năng cho phép thử nghiệm. Lý thuyết này dựa trên ý tưởng là trong võ não, những nơ-rôn hình tháp với axon dài hợp thành một hệ thống nối kết với nhiều vùng não khác nhau để tạo ra một không gian lao động ý thức. Và sự đồng bộ hoá giữa các nơ-rôn này cho phép ý thức xuất hiện.   Lý thuyết này dẫn tới những thí nghiệm nhằm quan sát các khác biệt trong não giữa những ứng xử ý thức và vô thức. Năm 2001, Stanislas Dehaenne và các cộng sự của ông đã  dùng hình ảnh chức năng để chỉ ra rằng chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa của một từ mà không cần có ý thức là đang trông thấy nó: trong trường hợp này, các vùng não được kích động khác với những vùng não tham gia một xử lý thị giác có ý thức.   Đồng thời, hình ảnh chức năng cũng dẫn tới tiến bộ trong một lĩnh vực khác liên quan tới ý thức, về khả năng đồng cảm (hay tha giác) và các quan hệ xã hội, nhất là qua các công trình của Chris Frith ở UCL, thuộc Đại học Luân Đôn. Chris Frith đã nhận thấy rằng khi hai cá nhân có những rung cảm cộng hưởng với nhau thì các vùng não được kích thích là y hệt nhau và khả năng đồng cảm này không có ở những người bệnh tâm thần phân lập.   Một ví dụ khác, năm 2003, Bruno Wicker, ở Viện nghiên cứu khoa học thần kinh về nhận thức Địa Trung Hải, đã chỉ ra rằng khi một người quan sát một người khác đang bày tỏ một sự chán ghét gì đó, thì người đầu cũng kích thích những vùng não hệt như người kia.  Như vậy, nghiên cứu não bộ về những quan hệ xã hội có thể là một hướng trong tương lai?  Đúng thế, tôi nghĩ rằng đang có những dấu hiệu của một sự tổng hợp mới giữa khoa học thần kinh và các khoa học xã hội và nhân văn, và sự hội tụ này là thiết yếu để chiến thắng các bệnh tâm thần và đưa đến những hiểu biết nhiều hơn về con người.  —  (1) Nói gọn, đây là một cải tiến của kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (viết tắt tiếng Anh: MRI), sử dụng biến thiên của từ trường để vẽ lên bản đồ phân phối bất đẳng hướng của các phân tử nước trong óc.  (2) «Collège de France» là một Trường đại học nghiên cứu cao cấp rất đặc biệt của Pháp. Các giáo sư được bổ nhiệm vào đó đều là những nhà khoa học đã thành danh (thành viên các Viện hàn lâm khoa học, giải Nobel, giải Fields v.v.), có nhiệm vụ trình bày các « nghiên cứu hiện thời » của mình (không một giáo trình nào được phép lập lại), và người học thì tự do tới nghe giảng và tham dự các thảo luận, xê-mi-na được mở ra. «Trường» không cấp bất cứ một bằng cấp, chứng chỉ học tập nào.  Bản dịch và chú thích của Hà Dương Tường          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến bộ mới trong nghiên cứu virus      Các chuyên gia tại ĐH Purdue (Mỹ) lần đầu tiên chụp được hình ảnh 3D của một virus với độ phân giải 4,5 angstrom, nhỏ gấp 2 lần so với lần chụp rõ nhất trước đây. “Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên có thể chụp được hình ảnh ở độ phân giải gần cấp độ nguyên tử”, AFP dẫn lời một giáo sư.      Theo các nhà khoa học, đây cũng là độ phân giải cao nhất đạt được đối với một sinh vật sống ở kích thước này. Với tiến bộ trên, con người có thể hiểu chi tiết hơn về quá trình các mẩu virus tập hợp lại, cấu trúc protein của chúng và cách chúng xâm nhập một vật chủ. Từ đó tìm ra phương pháp điều trị những bệnh nan y sẽ được cải thiện.  T.M      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tiền có mọc từ rừng?”      Trong chuỗi hợp tác giữa tạp chí Tia Sáng và Hội đồng Anh tại Hà Nội, nằm trong khuôn khổ Tuần lễ lâm nghiệp Châu Á Thái Bình Dương, vừa qua tại Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình đã có buổi giao lưu giữa thính giả với những nhà văn hoá, nhà khoa học: nhà văn Nguyên Ngọc, GS Võ Quý, TS Nguyễn Ngọc Lung, TS Đặng Kim Sơn với chủ đề Rừng và biến đổi khí hậu – “Tiền có mọc trên cây?”    “Rừng xưa đã mất”  Trong câu chuyện của nhiều người già, thời Pháp thuộc, lá cây rừng “sát sạt” cửa sổ toa tàu tuyến từ Hà Nội lên Yên Bái và chỉ cần lên đến vùng núi Ba Vì là đã có thể tìm thấy dấu vết của hổ. TS Nguyễn Ngọc Lung, Bộ NN&PTNT đưa ra con số rất cụ thể: “Năm 1943, diện tích rừng chiếm tới 43% lãnh thổ nhưng sau 50 năm, diện tích rừng đã mất đi 1/3, từ 14,3 triệu ha còn 9 triệu ha, mức thấp nhất trong lịch sử”  Rừng mất quá nhanh chóng có thể đổ tại cho chiến tranh, song không thể bỏ qua thực tế rằng rừng bị cạn kiệt nhiều nhất khi chúng ta xây dựng đất nước trong hoà bình. Vì sao khi còn là “rừng thiêng nước độc”, khi còn bị đốt bằng napalm, bị hủy diệt bằng chất độc da cam, rừng lại còn; nhưng đến khi được coi là “vàng” thì rừng lại bị huỷ hoại nhanh chóng?  Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, rừng bị phá huỷ chủ yếu do sai lầm trong quản lý. Nêu ví dụ từ những lần cháy lớn rừng U Minh, nhà văn Nguyên Ngọc kể: Trước đây, ngay cả trong thời Mỹ ném bom napalm, rừng U Minh cháy nhưng không thiêu trụi hàng nghìn, hàng chục nghìn hecta rừng, vì vừa bén lên ở đâu, chúng bị dập tắt ngay ở đó. Ngày nay, khi U Minh trở thành “rừng quốc doanh” thì “dân không chăm chăm ngày đêm canh rừng, giữ rừng, không sống chết dập tắt ngay bất cứ ngọn lửa nào bén lên từ rừng nữa, rất đơn giản là vì rừng không còn là của họ. Họ không còn có “trách nhiệm”, thậm chí không còn có quyền gìn giữ rừng. Ðối với rừng, giờ đây họ kẻ đứng ngoài, là người dưng”.  Bảo vệ rừng thế nào?  Theo GS Võ Quý “chưa có nước đang phát triển nào giữ rừng thành công… Hiện nay chúng ta trồng được thêm nhiều diện tích rừng, song rừng nguyên sinh vẫn đang tiếp tục bị tàn phá”. TS Nguyễn Ngọc Lung cũng cho rằng, “việc quy hoạch rừng hiện chưa tốt, trồng rồi lại phá”. Đó là chưa kể tới vấn đề chất lượng rừng tái sinh. Một trong giá trị lớn của rừng nhiệt đới chính là việc diện tích lá của loại rừng này lớn gấp hàng chục lần so với rừng ôn đới và khả năng hấp thụ CO2 cũng nhờ thế mà cao hơn hàng chục lần. Đối với rừng trồng, diện tích lá bị suy giảm đáng kể so với rừng nguyên sinh và điều đó có nghĩa là giá trị sinh thái của rừng cũng bị hạn chế.  Nêu thực trạng: “Chương trình 327 thuê dân trồng và giữ rừng, song mức thuê không thoả đáng khiến nhiều người lại ‘che chở’ bọn phá rừng”, TS Đặng Kim Sơn đề nghị phải có chế tài thật nghiêm, “phải coi kiểm lâm là cảnh sát rừng với đầy đủ trang bị và quyền lợi”.  Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm trong quản lý rừng, có lẽ là do nhiều người đã không nhìn ra điều mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “một nền văn hoá rừng” của những chủ nhân rừng thực sự: “Ở U Minh, cũng như ở Tây Nguyên, có một nền văn hóa rừng, do những con người đã ngàn đời chung sống hài hòa với rừng xây dựng nên. Nó thấm sâu trong máu con người và trong các tế bào xã hội ở đây. Khi ta loại dân ra khỏi rừng, quốc doanh hóa tất cả, là ta đã phá tan nền văn hóa sâu xa ấy”.  Và hơn một lần, nhà văn Nguyên Ngọc đặt câu hỏi: Nên giao rừng cho ai? Ai là người có thể, thậm chí là người duy nhất có thể giữ được rừng?  Câu trả lời của ông luôn là: “Chỉ có thể là dân”.  Một ví dụ thành công được nhà văn Nguyên Ngọc nhiều lần nhắc đến trong các buổi nói chuyện: “Sau hai năm thử nghiệm giao đất rừng lại cho làng tại Quảng Nam, đã hạn chế được rất nhiều nạn phá rừng”.    Tiềm năng kinh tế khổng lồ  Có lẽ không cần phải nói nhiều về giá trị của rừng trong việc ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu, phòng chống lũ lụt,… mà thiết thực hơn, nói như một câu ngạn ngữ Anh “Money does grow on trees” (tiền có mọc từ cây (rừng), hãy thử suy nghĩ xem liệu rừng có đem lại cuộc sống sung túc cho chính những người dân địa phương đang trồng và giữ nó? Một nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) tại Việt Nam cho biết: Hiện nay, rất nhiều người nghèo nhất trong số những người nghèo ở Việt Nam đang sống gần rừng hoặc trong rừng. Những năm qua, Việt Nam xuất khẩu hàng tỷ đô la đồ gỗ, song những người dân địa phương có rừng lại được hưởng rất ít từ nguồn lợi này. Nguyên nhân, theo nghiên cứu này, là do một số chính sách… bất lợi cho người những người nghèo trồng và giữ rừng. Họ không được bán chính “sản phẩm” của mình.  TS Đặng Kim Sơn cũng đưa ra so sánh: “Thời hợp tác xã, gạo làm ra là của nhà nước, nông dân không được buôn bán khiến sức sản xuất lúa suy giảm. Chỉ đến khi có cơ chế khoán, khi gạo làm ra thuộc về người nông dân sau khi đã đóng các khoản nghĩa vụ, sức sản xuất lúa mới được “cởi trói” và “cất cánh” mang lại no đủ cho nông dân. Với rừng cũng vậy. Nếu có chính sách đúng, rừng có thể làm giàu cho người trồng”.  Bên cạnh việc cần có chính sách hợp lý cho người trồng rừng, một phương án được rất nhiều nhà khoa học nêu ra là việc thực hiện Cơ chế phát triển sạch (CDM) được khởi xướng từ Nghị định thư Kyoto.  Những nước phát triển muốn giảm 1 tấn CO2 sẽ mất khoảng 40 USD, còn nếu hỗ trợ các nước đang phát triển giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính và mua “quota khí thải” từ những nước này thì chỉ mất khoảng 16USD. Việt Nam đánh giá có tiềm năng CDM trong trồng rừng. Vì vậy, việc thực hiện tốt chương trình “5 triệu ha rừng” sẽ đem lại hàng tỷ đô la cho nước ta. Đó là một phương án không phải là không đáng để suy nghĩ.  Lê Tự Do      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiên đoán ứng xử của các hệ thống kỹ thuật-xã hội      Khả năng có thể tiếp cận được&#160;các dữ liệu mới và những tiến bộ trong lý thuyết và mô hình hóa các mạng phức tạp cung cấp một khung khổ tích hợp đưa chúng ta gần hơn đến việc đạt được khả năng tiên đoán&#160;về ứng xử của các hệ thống kỹ thuật-xã hội.    Chúng ta sống trong một thế giới ngày càng được liên kết của các hệ thống kỹ thuật-xã hội, trong đó những kết cấu hạ tầng bao gồn nhiều tầng công nghệ khác biệt hoạt động với nhau bên trong  hợp phần xã hội thúc đẩy việc sử dụng và sự phát triển của chúng. Các thí dụ là Internet, World Wide Web, các công nghệ truyền thông WiFi, và những kết cấu hạ tầng giao thông và lưu động. Bản chất đa thang độ (multi-scale) và tính phức tạp của các mạng này là các nét đặc trưng cốt yếu trong việc hiểu và quản lý các mạng. Khả năng có thể tiếp cận được các dữ liệu mới và những tiến bộ trong lý thuyết và mô hình hóa các mạng phức tạp cung cấp một khung khổ tích hợp đưa chúng ta gần hơn đến việc đạt được khả năng tiên đoán về ứng xử của các hệ thống kỹ thuật-xã hội.  Các hệ thống kỹ thuật-xã hội hiện đại bao gồm những kết cấu hạ tầng vật lý quy mô lớn (như các hệ thống giao thông và mạng lưới phân phối điện) được nhúng trong một mạng lưới dày đặc của những kết cấu hạ tầng truyền thông và tính toán mà động học và sự tiến hóa của chúng được ứng xử con người xác định và thúc đẩy. Để tiên đoán ứng xử của các hệ thống như vậy, cần bắt đầu với sự mô tả toán học của các hình mẫu được tìm thấy trong dữ liệu thế giới thực. Những mô tả này tạo thành cơ sở của các mô hình mà có thể được dùng để đoán trước các xu hướng, để đánh giá các rủi ro, và cuối cùng để quản lý các sự kiện tương lai. Nếu được nạp dữ liệu đúng, những cách tiếp cận mô hình hóa máy tính có thể cung cấp mức độ được đòi hỏi của tính có thể tiên đoán theo những sự điều chỉnh rất phức tạp. Thí dụ thành công nhất là dự báo thời tiết, trong đó những kết cấu hạ tầng siêu máy tính tinh vi được dùng để tích hợp dữ liệu hiện thời và các thư viện khổng lồ của các hình mẫu thời tiết lịch sử vào những mô phỏng tính toán quy mô lớn. Tuy chúng ta thường phàn nàn về độ chính xác của những dự báo thời tiết, chúng ta phải ghi nhớ rằng các mô hình thời tiết số trị và những dự báo cho phép chúng ta dự đoán quỹ đạo và độ mạnh của các trận bão, các cơn dông tố, và các sự cố thời tiết nghiêm trọng khác và, trong nhiều trường hợp, để cứu hàng ngàn sinh mạng bằng đoán trước và chuẩn bị cho các sự kiện này.   Căn cứ vào thành công đã đạt được về dự báo thời tiết trong hàng thập kỷ, vì sao chúng ta lại không đạt được thành công cũng như thế về tiên đoán định lượng của hình mẫu không-thời gian hay các tác động của đại dịch tiếp theo trong thập kỷ tới bằng kết nối hàng tỷ người từ Trung Quốc và Ấn Độ trên sự tăng trưởng và ổn định Internet? Sự khác biệt cơ bản là, dự báo các hiện tượng trong các hệ thống kỹ thuật-xã hội bắt đầu với sự hiểu biết hạn chế của chúng ta về xã hội và ứng xử hơn là với các quy luật vật lý điều chỉnh các chất lỏng và khí. Nói cách khác, tuy có thể tạo ra các bức ảnh vệ tinh về sự nhiễu loạn khí quyển, chúng ta vẫn chưa có hiểu biết định lượng, quy mô lớn toàn cầu về sự chuyển động của con người, sự tiến triển của cảm nhận rủi ro trong một quần thể dân cư, hay khuynh hướng để chấp nhận các ứng xử xã hội nhất định. Tuy vậy, trong những năm gần đây, đã có sự tiến bộ khổng lồ về thu thập dữ liệu, sự phát triển các công cụ tin học mới, và sự gia tăng khả năng tính toán. Một dòng dữ liệu định lượng khổng lồ kết hợp các khía cạnh nhân khẩu học và khía cạnh ứng xử của xã hội với chất nền hạ tầng đang trở nên sẵn có (1–6). Tương tự như cái đã xảy ra trong vật lý học, cuối cùng chúng ta ở vào vị trí để chuyển từ sự phân tích về “nguyên tử xã hội” hay “các phân tử xã hội” (tức là các nhóm xã hội nhỏ) sang sự phân tích định lượng về các trạng thái tổng hợp (aggregate state) xã hội, như được các nhà khoa học xã hội đã mường tượng vào đầu của thế kỷ trước (7). Ở đây, tôi nói đến “các trạng thái tổng hợp xã hội” như các hệ thống xã hội quy mô lớn bao gồm hàng triệu cá nhân mà có thể được mô tả đặc trưng theo không gian (địa lý và xã hội) và thời gian. Sự dịch chuyển từ việc nghiên cứu một số nhỏ các yếu tố sang nghiên cứu về ứng xử của các tổng hợp quy mô lớn (large-scale aggregate) là tương đương với sự dịch chuyển từ vật lý nguyên tử và phân tử sang vật lý vật chất. Sự hiểu về cùng các nguyên tố được tập hợp ra sao với số lượng lớn có thể gây ra các ứng xử vĩ mô và động học khác nhau, phù hợp với các lực khác nhau và các nguyên tố đang hoạt động, mở ra con đường cho những cách tiếp cận tính toán định lượng và khả năng tiên đoán. Thế mà đồng thời, việc nghiên cứu các trạng thái tổng hợp xã hội đặt chúng ta trước tất cả những thách thức đã đối mặt rồi trong vật lý học vật chất, từ sự nhiễu loạn đến ứng xử đa-thang độ.  Khai phá thực tế và các mạng đại diện   Mức của dòng thông tin liên quan đến các hệ thống kỹ thuật-xã hội không chỉ do những tiến bộ về năng lực “nghiền số” (numer crunching) của các bộ xử lý máy tính hiện đại. Những sự nhìn thấu vào bản chất của các liên kết với nhau giữa người dân và công nghệ và sự tan biến của các ranh giới giữa các hoạt động xã hội thế giới-cyber [thế giới-điều khiển, thế giới-máy tính] và thế giới-thực của chúng ta đang làm thay đổi tính có thể tiếp cận của chúng ta đối với dữ liệu, dẫn đến “sự khai phá-thực tế reality-mining,” mà được định nghĩa như sưu tập của các dữ liệu môi trường được máy cảm biến, những dữ liệu đó liên quan đến ứng xử xã hội của con người (2). Thí dụ hàng đầu về sự liên kết người dân/công nghệ có thể thấy trong phân tích về sự chuyển động con người. Trong quá khứ, các cách tiếp cận đến các tương tác và chuyển động con người đã chủ yếu dựa vào dữ liệu điều tra dân số và khảo sát, mà thường là không đầy đủ và/hoặc bị hạn chế đối với một bối cảnh cụ thể. Bất chấp những tiến bộ trong nghiên cứu về vận tải người (8, 9), sự thiếu dữ liệu này đã cản trở việc xây dựng một khung khổ chung về chuyển động con người dựa vào các nguyên lý động học ở mức cá nhân với khả năng vượt qua các thang độ không gian, từ các cộng đồng nhỏ đến các khu vực đô thị lớn và các nước, theo một góc nhìn từ dưới lên. Tuy vậy, trong một công trình tiên phong, Brockmann et al. (4) đã cho thấy rằng các trang Web được nhiều người ưa chuộng về theo dõi [sự di chuyển của] đồng tiền (như trang http://en.eurobilltracker.com và www.wheresgeorge.com) thu thập một số lượng rất lớn các bản ghi về sự phân tán tiền mà có thể được dùng như một đại diện (proxy) cho sự chuyển động con người. Công trình này đã mở đường cho việc khai thác chung của các dữ liệu proxy cho tương tác và chuyển động con người (10). Tương tự, các điện thoại di động hiện đại và các máy trợ giúp cá nhân (personal assistant) kỹ thuật số kết hợp các công nghệ tinh vi như Bluetooth, Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS), và WiFi, liên tục tạo ra các dấu vết chi tiết về các hoạt động thường ngày của chúng ta (2, 11). Thí dụ, trong một nghiên cứu mới đây, Gonzalez et al. (6) đã sử dụng số liệu điện thoại để theo dõi chuyển động của 100.000 người trong thời gian 6 tháng. Hơn nữa, bây giờ là có thể để sử dụng các cảm biến (sensor) và các thẻ (tag) mà chúng tạo ra dữ liệu ở thang độ vi mô của từng tương tác (1, 2).  Tuy buộc chúng ta đối mặt với các vấn đề đạo đức và riêng tư nghiêm trọng, các loại dữ liệu này và chi phí được giảm đi của việc xử lý, tiếp cận và truyền thông tin trên các hệ thống kỹ thuật-xã hội đang làm thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về một dải rộng của các hiện tượng (12–17). Động học không gian của các bệnh lây nhiễm con người được xác định bởi sự chuyển động của các cá nhân mang bệnh đến các quần thể dân cư chưa bị nhiễm bệnh trước đây. Tương tự, sự di dân và sự chuyển động con người làm trung gian cho nhiều xâm lấn-sinh học (bio-invasion), được định nhĩa như việc đưa các sinh vật chưa được biết trước đây vào các hệ sinh thái. Sự tiến hóa của các ngôn ngữ và các phương ngữ cũng được dẫn dắt bởi sự pha trộn dân cư và sự hợp nhất và/hoặc sự cô lập của các cộng đồng. Cuối cùng, sự chuyển động hàng ngày của những con người trong không gian Internet xác định sự khai thác và tàn phá thông tin của chúng ta.  Tư duy mạng   Internet và các thế giới ảo là các mạng mà chúng ta duyệt và khám phá mỗi ngày (17–19). Các mô hình tương tác-con người dựa vào các mạng xã hội mà trong đó các nút (node) tượng trưng cho các tác nhân tương tác riêng lẻ và các liên kết (link) là các tương tác tiềm năng (20). Các mô hình chuyển động, sinh thái học, và dịch tễ học dựa vào các mạng siêu-dân cư (meta-population) bao gồm toàn thể các quần thể dân cư được liên kết bởi những trao đổi giữa các nhóm cá nhân (21). Nhiều công trình đã cho thấy rằng hầu hết các mạng thế giới-thực thể hiện động học tự-tổ chức (tức là, chúng trở nên phức tạp hơn theo thời gian mà không có sự can thiệp của các lực bên ngoài) và rất không đồng nhất về mặt thống kê; các đặc tính này là các dấu xác nhận phẩm chất điển hình của các hệ thống phức tạp (22–24). Các phân bố thống kê khác nhau đặc trưng cho các mạng này (bao gồm các xác suất của sự kết nối nút và cường độ của các liên kết kết nối) thường có đuôi-nặng và bị lệch, và chúng thay đổi qua nhiều bậc độ lớn (25). Thách thức trước nhất do các mạng phức tạp đưa ra, vì thế, ở tại tính kiên kết (interconnectedness) (các mạng của các mạng) và bản chất đa-thang bậc (multi-scale) của chúng. Hình 1 mô tả ba mạng làm thí dụ cho sự chuyển động con người ở các thang độ khác nhau, trải từ di chuyển hàng không xuyên-châu lục đến sự chuyển động bên trong đô thị giữa các trạm phát sóng điện thoại di động. Lý tưởng ra để đưa ra các tiên đoán về các quá trình được dẫn dắt bởi sự chuyển động con người, chúng ta cần tích hợp các dữ liệu này, với các độ kết hạt (granularity) trải rộng của nó (từ vài trăm mét và vài giờ đến hàng ngàn kilomet và nhiều ngày), vào một mạng khổng lồ đa-thang bậc.                Hình 1. Các tính chất đa-thang độ của các mạng chuyển động. Bên trái, chúng tôi giới thiệu hàm phân bố xác suất P(s) cho lưu lượng, được đo bằng số các cá nhân di chuyển, trên bất cứ chuyến nối tiếp cho trước nào, của ba mạng khác biệt: (A) mạng hàng không châu lục Mỹ, (B) mạng hàng không đi lại hàng ngày gữa các quận ở Mỹ (county commuting), và (C) sự chuyển động giữa các trạm phát sóng điện thoại di động trong một khu vực đô thị lớn. Trong mọi trường hợp các hàm phân bố bị lệch (skewed) cao độ và trải từ ba đến bảy bậc độ lớn. Bên phải, chúng tôi giới thiệu minh họa về mạng hàng không châu lục Mỹ (D) và mạng commuting (E) giữa các vùng điều tra dân số chính. Thang màu từ vàng cho đến đỏ sẫm biểu hiện độ lớn dòng lưu lượng theo thang logarith. Mạng hàng không chủ yếu do các chuyến nối tiếp tầm dài tạo thành như so với trật tự giống ô lưới của mạng commuting. Lưu lượng trung bình hàng ngày của mạng commuting có độ lớn hơn lưu lượng tương ứng của mạng hàng không một bậc (10 lần).    Như thế, tính phức tạp của các hệ thống kỹ thuật-xã hội đòi hỏi một tư duy “mạng”. Sự mô tả quy mô lớn của sự lan truyền bệnh truyền nhiễm cho một thí dụ đơn giản. Sự lan truyền của đại dịch hạch trong thế kỷ thứ 14 (the Black Death-Thảm họa Đen) (26) đã chủ yếu là một hiện tượng khuếch tán không gian. Những nghiên cứu lịch sử đã xác lập rằng sự lan truyền bệnh tuân theo một hình mẫu đơn giản mà có thể mô tả một cách thỏa đáng về mặt toán học bên trong khung khổ của các phương trình vi phân liên tục với các số hạng mô tả sự khuếch tán. Như đã được đoán trước trong năm 1933 (27), tác động quy mô lớn và về mặt địa lý của các bệnh lây nhiễm [như bệnh dịch SARS (28) hay cúm heo hiện thời] lên các quần thể dân cư trong thế giới hiện đại chủ yếu là do di chuyển bằng hàng không thương mại. Một bệnh dịch bắt đầu ở Đông Nam Á sẽ nhanh chóng đến Bắc Mỹ và Châu Âu (Hình 2). Bức tranh này, vì thế, không thể được mô tả đơn giản bằng các hiện tượng khuếch tán; đúng hơn, nó phải hợp nhất cấu trúc không gian của các mạng giao thông hiện đại. Thí dụ, chính bản chất đuôi-nặng (heavy-tailed, hay flat-tailed đuôi-bẹt, tức là theo phân bố scale-free) của mạng giao thông hàng không là cái giải thích vì sao riêng những sự hạn chế đi lại là không hữu hiệu trong kiềm chế bệnh dịch trừ phi tốc độ chuyển động được giảm ít nhất một bậc độ lớn [1 bậc ~ 10 lần] (29–31).  Một khía cạnh cốt yếu khác của tư duy mạng hiện đại là sự tự-tổ chức động gây ra các hình mẫu hạ tầng quy mô lớn không phụ thuộc vào việc con người lập kế hoạch và thiết kế kỹ thuật cho hệ thống. Thí dụ hàng đầu về một hệ thống động tự-tổ chức có thể là Internet, nhưng hầu hết các hạ tầng giao thông, các hệ thống đường và giao thông, các mạng cung ứng, và các mạng lưới phân phối điện cũng là các mạng động gia tăng. Xây dựng đường sá, chẳng hạn, hiển nhiên là được lập kế hoạch, và không ngạc nhiên rằng những cân nhắc về tối ưu hóa chi phí, hiệu quả, và tính hữu dụng cho biết nỗ lực lập kế hoạch. Như một hệ quả, nói chung chúng ta có thể kỳ vọng các mạng đường bộ thể hiện mức độ quy củ cao. Thế mà kinh nghiệm hàng ngày gợi ý rằng không phải thế, đặc biệt trong các thị trấn đã lớn lên trong một thời gian dài. Vì lý do này, các nhà nghiên cứu đã lập ra các mô hình hình thành-đường đơn giản (32) thử thâu tóm sự căng thẳng giữa ý niệm về tính tối ưu gây cảm hứng cho các nhà lập quy hoạch và tầm nhìn thời gian và không gian hạn chế cái cho biết các quyết định của họ. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong cung cấp một mô tả toàn thể của các mạng đa-thang độ là sự cần thiết trong việc đồng thời giải quyết nhiều thang độ thời gian và khoảng cách. Ứng xử động của hệ thống cuối cùng ở bất cứ thang độ nào là sản phẩm của các sự kiện xảy ra ở tất cả các thang độ. Một tác nhân đơn độc truyền một bệnh hay một nút đơn độc của Internet mà có hỏng, hiển nhiên không bị tác động bởi bản tính đa-thang độ của mạng, hệt như các phân tử đơn độc không quan tâm đến bản tính đa-thang độ của các chất lỏng chảy rối loạn. Tuy vậy, ứng xử động tập thể và khả năng của chúng ta để tiến hành các phân tích toán học và/hoặc tính toán về các hệ thống kỹ thuật-xã hội bị ràng buộc (bị kiềm chế) bởi đặc trưng đa-thang độ của hệ thống. Trong ngữ cảnh của các mạng và các hệ thống kỹ thuật-xã hội, thách thức đa-thang độ khiến nó xuất hiện bây giờ bởi vì sự sẵn có của các bộ dữ liệu quy mô lớn. Như thế, chúng ta phải phát triển các hình thức luận và những kỹ thuật phù hợp, như các nhà nghiên cứu khảo sát các hệ thống vật lý đa-thang độ (các chất lỏng, chất rắn, phân bổ vật chất trong vũ trụ, vân vân) đã làm trong quá khứ (33). Để đạt sự hiểu một cách giải tích của các hệ thống kỹ thuật-xã hội và tiếp cận chúng về mặt tính toán, chúng ta phải tìm ra các chiến lược khác nhau để đối phó với ứng xử động và/hoặc các phương trình mà chúng hoạt động tại các thang độ đặc trưng rất khác nhau nhưng vẫn ảnh hưởng đến nhau. Các phương pháp như vậy cuối cùng sẽ cho phép xác định các cách tiếp cận tính toán phân lớp (tầng) trong đó các giả thiết mô hình hóa và các độ kết hạt (granularity) khác nhau có thể được dùng một cách nhất quán trong ngữ cảnh của một khung khổ đa-thang độ chung.                  Hình 2. Cây xâm lấn bệnh dịch nhận được từ các mô phỏng một đại dịch xuất phát ở Hà Nội, Việt Nam. Các nút nhận diện 3200 quần thể dân cư khắp thế giới, và các liên kết có hướng cho biết con đường theo đó dịch bệnh đã chuyển từ một nhóm dân cư sang nhóm khác. Màu từ đỏ thẫm đến xanh thẫm phù hợp với thứ tự thời gian của sự xâm lấn dịch bệnh. Các mô phỏng nhận được với bệnh dịch toàn cầu và mô hình chuyển động từ (38).    Tận dụng lợi thế của các mạng đa thang độ  Sự hiểu biết về các đặc trưng mạng mở ra con đường cho sự tìm ra và sự hiểu các quy luật thống kê và động học mới điều chỉnh các hệ thống hạ tầng lớn gắn với các hệ thống xã hội. Hơn nữa, tính kết nối hàng loạt của các quần thể dân cư được phân tán về mặt không gian và tính phức tạp và tính không đồng đều mạnh của các mạng đa-thang độ là chìa khóa cho việc xây dựng các mô hình tính toán ngay từ đầu (ab-initio), trong đó ứng xử của hệ thống có thể được hiểu từ góc nhìn dưới-lên (bottom-up), ngược với các chiến lược trường-trung bình (mean-field) hay trên xuống (top-down) truyền thống. Điều này xảy ra trong một mảng rộng bối cảnh trải từ quy hoạch đô thị (34) đến mô hình hóa dịch bệnh (35–38). Các thí dụ đáng chú ý là các dự án TRANSIM và EPISIMS (35), trong đó các mô hình dựa vào tác nhân (agent-based), bao gồm hàng triệu cá nhân, được dùng để mô phỏng động học và lưu lượng của toàn bộ các thành phố và sự lan truyền của các tác nhân sinh học, một cách tương ứng.   Trong một số trường hợp, sự hiểu về các mạng phức tạp cung cấp những cách tiếp cận ngược với trực giác và đáng ngạc nhiên cho việc thiết kế và quản lý các hệ thống kỹ thuật-xã hội phức tạp. Thí dụ, trong các mạng lưới điện và các mạng chuyển tải dòng chảy khác, sự hỏng của một nút hay của một tuyến đơn độc có thể kích một hiệu ứng domino (“hỏng như thác-cascading failure”), trong đó sự quá tải do tái phân bổ luồng chảy có thể gây ra một sự hỏng toàn mạng. Bằng tận dụng lợi thế của tính không đồng nhất của dòng chảy được chuyển trên các link (liên kết) của các mạng đa-thang độ, A. E. Motter (39) đã kiến nghị một cơ chế bảo vệ thích nghi mà thực sự dựa trên việc bỏ đi một số nút nhất định để gây ra các hỏng hóc chủ ý. Tuy cơ chế này có vẻ ngược với trực giác, sự hỏng hóc có chủ ý của các nút được chọn một cách thích hợp không khuếch đại quá trình thác đổ và, ngược lại, lại có khả năng giảm nhẹ thiệt hại cuối cùng. Nói cách khác, bây giờ chúng ta có thể cung cấp một lý do căn bản cho sự hiểu về sự nổi lên của các điểm lật (tipping point) và các tính chất phi tuyến mà thường làm nền cho các đặc trưng lý thú nhất của ứng xử của một hệ thống kỹ thuật-xã hội.  Thách thức hắc búa nhất  Tuy nhiều vấn đề khái niệm cơ bản vẫn chưa được giải quyết, chướng ngại chính cản đường trong việc xác định các giới hạn căn bản của tính có thể tiên đoán cho các hệ thống kỹ thuật-xã hội là tính nhạy (sensitivity) và sự phụ thuộc của chúng vào ứng xử thích nghi xã hội. Khi không có một sức ép (stress) lên hệ thống, hệ thống đến một trạng thái dừng (stationary) mà trong đó sự phản hồi giữa ứng xử xã hội và hạ tầng vật lý xác định các chi tiết về ứng xử mạng và quá trình động được quan tâm diễn ra như thế nào. Chúng ta có thể hình dung việc dùng dữ liệu trạng thái dừng để dự báo ứng xử hệ thống dưới các điều kiện “bình thường”. Tuy nhiên, trong trường hợp của các sự kiện thảm họa (thí dụ, sự đổ vỡ của trật tự xã hội trong các tình trạnh khẩn cấp như đại dịch hay các tai họa thiên nhiên lớn), ứng xử của các hệ thống kỹ thuật-xã hội bị đưa ra khỏi cân bằng vào địa hạt chưa từng biết.   Một khía cạnh lý thú và thách thức về mặt đạo đức của việc tiên đoán và quản lý các sự kiện tai họa đang diễn ra trong các mạng kỹ thuật-xã hội là sự thích nghi của hệ thống với các tiên đoán khi chúng trở nên sẵn có một cách công khai. Các ứng xử xã hội phản ứng và thích nghi với tin về các tiên đoán. Ngược với cái xảy ra trong các hệ thống vật lý, các tiên đoán bản thân chúng là phần của động học hệ thống. Ngoài ra, các tiên đoán có thể hướng đến sự kiểm soát phi đạo đức và các chiến lược lường trước thiên vị cho các khu vực dân số đặc thù của xã hội. Cuối cùng, rủi ro của các tiên đoán sai có thể dẫn đến các cơ chế kiểm soát xã hội tốn kém hay phi đạo đức mà không có ích lợi thực sự nào. Trong khi một số trong các vấn đề trên có thể tìm được lời giải một phần thông qua những cải thiện về độ chính xác và độ tin cậy của các mô hình, rõ ràng là, sự thích nghi xã hội đối với các tiên đoán đặt chúng ta trước các vấn đề mới về phương pháp luận và đạo đức.   Giải quyết các vấn đề này đòi hỏi phải tìm cách giải quyết ba thách thức khoa học lớn. Thứ nhất là thu thập dữ liệu quy mô lớn về lan truyền thông tin và các phản ứng xã hội mà chúng xảy ra trong các giai đoạn khủng hoảng. Hiện nay việc này không nằm ngoài tầm với, thông qua các cơ sở dữ liệu truyền thông quy mô lớn (như điện thoại di động, các bản ghi vết (log) Twitter, và các công cụ Web xã hội) hoạt động tại thời điểm của tai họa cụ thể hay các sự kiện khủng hoảng. Thách thức thứ hai là việc lập các mô hình hình thức làm cho có thể để định lượng ảnh hưởng của cảm nhận rủi ro và sự nhận thức các hiện tượng của các cá nhân về cấu trúc và động học của mạng kỹ thuật-xã hội. Thách thức thứ ba liên quan đến triển khai các hạ tầng giám sát có khả năng thông báo (cấp thông tin) cho các mô hình tính toán theo thời gian thực. Các hệ thống phức tạp và lý thuyết mạng, sinh học toán học, thống kê học, vật lý học thống kê phi cân bằng, và khoa học máy tính tất cả đều đóng một vai trò then chốt trong nỗ lực để thỏa mãn các thách thức này. Tuy một cách tiếp cận được tích hợp như vậy có thể vẫn ở tuổi thơ ấu của mình, bây giờ có vẻ là có thể để hình dung về sự tạo ra các hạ tầng tính toán tiên đoán mà sẽ giúp chúng ta thiết kế các hệ thống phân phối năng lượng tốt hơn, quy hoạch các thành phố không có (tắc nghẽn) giao thông, lường trước những đòi hỏi của tính kết nối Internet, hay quản lý việc triển khai các nguồn lực trong các tình trạng khẩn cấp về sức khỏe.  ———–  Predicting the Behavior of Techno-Social Systems, Science, Vol. 325, 24 July 2009, pp. 425-428  *Center for Complex Networks and Systems Research, School of Informatics and Computing, and Pervasive Technology Institute, Indiana University, Bloomington, IN 47408, USA; and Institute for Scientific Interchange, Turin, Italy. E-mail: alexv@indiana.edu  Tài liệu tham khảo và chú thích  1. D. Lazer et al., Science 323, 721 (2009).  2. A. Pentland, trong The Global Information Technology Report 2008-2009 (World Economic Forum, Geneva, 2009), p. 75.  3. J. P. Onnela et al., Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 104, 7332 (2007).  4. D. Brockmann, L. Hufnagel, T. Geisel, Nature 439, 462 (2006).  5. D. J. Watts, Nature 445, 489 (2007).  6. M. C. Gonzalez, C. A. Hidalgo, A.-L. Barabasi, Nature 453, 779 (2008).  7. G. A. Lundberg, M. Lawsing, Am. Sociol. Rev. 2, 318 (1937).  8. S. Erlander, N. F. Stewart, The Gravity Model in Transportation Analysis (VSP, Utrecht, Netherlands, 1990).  9. J. de Dios Ortuzar, L. G. Willumsen, Modelling Transport (Wiley, New York, 2001).  10. D. Brockmann, F. Theis, Pervasive Comput. 7, 28 (2008).  11. F. Giannotti, D. Pedretti, Mobility Data, Mining and Privacy (Springer, Berlin, 2008).  12. S. Riley, Science 316, 1298 (2007).  13. C. Viboud et al., Science 312, 447 (2006); published online 29 March 2006 (10.1126/science.1125237).  14. L. Hufnagel, D. Brockmann, T. Geisel, Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 101, 15124 (2004).  15. V. Colizza et al., Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 103, 2015 (2006).  16. G. M. Ruiz et al., Nature 408, 49 (2000).  17. B. A. Huberman, L. Adamic, Lecture Notes in Physics (Springer, Heidelberg, Germany, 2003).  18. R. Pastor-Satorras, A. Vespignani, Evolution and Structure of the Internet (Cambridge Univ. Press, Cambridge, 2004).  19. M. E. Crovella, B. Krishnamurthy, Internet Measurements: Infrastructure, Traffic and Applications (Wiley, Chichester, UK, 2006).  20. S. Wasserman, K. Faust, Social Network Analysis (Cambridge Univ. Press, Cambridge, 1994).  21. I. A. Hanski, O. E. Gaggiotti, Ecology, Genetics and Evolution of Metapopulations (Academic Press, San Diego, CA, 2004).  22. A.-L. Barábasi, R. Albert, Science 286, 509 (1999).  23. M. E. J. Newman, SIAM Rev. 45, 167 (2003).  24. A. Barrat, M. Barthelemy, A. Vespignani, Dynamical Processes on Complex Networks (Cambridge Univ. Press, Cambridge, 2008).  25. A. Barrat et al., Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 101, 3747 (2004).  26. J. D. Murray, Mathematical Biology (Springer, New York, 1993).  27. A. Massey, Epidemiology in Relation to Air Travel (H. K. Lewis, London, 1933).  28. J. S. M. Peiris, K. Y. Yuen, K. Stohr, N. Engl. J. Med. 349, 2431 (2003).  29. T. D. Hollingsworth, N. M. Ferguson, R. M. Anderson, Nat. Med. 12, 497 (2006).  30. J. M. Epstein et al., PLoS One 2, e401 (2007).  31. V. Colizza, A. Vespignani, J. Theor. Biol. 251, 450 (2008).  32. M. Barthelemy, A. Flammini, Phys. Rev. Lett. 100, 138702 (2008).  33. G. I. Pavliotis, A. M. Stuart, Multiscale Methods: Averaging and Homogenization (Springer, Heidelberg, Germany, 2008).  34. M. Batty, Science 319, 769 (2008).  35. S. Eubank et al., Nature 429, 180 (2004).  36. N. M. Ferguson et al., Nature 442, 448 (2006).  37. T. C. Germann et al., Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 103, 5935 (2006).  38. V. Colizza et al., PLoS Med. 4, e95 (2007).  39. A. E. Motter, Phys. Rev. Lett. 93, 098701 (2004).  40. Tôi cảm ơn V. Colizza, D. Balcan, B. Goncalves, M. Gonzalez, và H. Hu vì sự giúp đỡ với các hình và M. Gonzalez vì dữ liệu được dùng trong Hình 1C. Tôi được hỗ trợ một phần bởi NIH, NSF, the Defense Threat Reduction Agency, the Lilly Endowment Foundation, và the Future Emerging Technologies các dự án Epiwork và Dynanets.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiến hoá hay tạo hoá      Mặc dù khoa học đã đạt được những thành tựu vô cùng vĩ đại, các quy luật của thế giới&#160;tự nhiên cứ lần lượt được phơi bày, sân chơi của Chúa tưởng chừng ngày càng hẹp lại; nhưng cứ mỗi lần các nhà khoa học vén được một bức màn đen do Chúa dựng nên này thì lại thấy một bức màn đen khác sừng sững trước mặt.&#160; Và cho đến tận ngày nay hai&#160;câu hỏi nguyên thủy “ Vũ trụ được hình thành thế nào?” và “Loài người xuất hiện từ đâu? Từ loài&#160; khỉ lớn (vượn hay tinh tinh) tiến hóa lên, hay do Chúa tạo ra ?”, xem ra vẫn chưa&#160; có câu trả lời cuối cùng; và&#160;liệu có thể có câu trả lời cuối cùng hay không? lại là một câu hỏi hóc búa&#160;khác.      Sai lầm của Thuyết Tiến hóa  Thuyết Big Bang hầu như đã được kiểm chứng. Ngày càng có nhiều bằng chứng khách quan cho thấy Vũ trụ, mà chúng ta đang ở trong, được sinh ra từ một vụ nổ lớn trong hư không khoảng 14 tỷ năm trước rồi dãn nở không ngừng, đồng đều theo mọi hướng, chứa hàng trăm tỷ thiên hà có kích thước khoảng 100.000 năm ánh sáng (một giây ánh sáng là 30 vạn km); mỗi thiên hà lại chứa hàng trăm tỷ ngôi sao; mỗi sao lại có một hệ thống hành tinh quay quanh như kiểu hệ Mặt trời của chúng ta. Khoảng hơn mười tỷ năm nữa Vũ trụ sẽ dừng dãn nở, co sụp lại thành một điểm như lúc ban đầu..  Nếu thuyết này là đúng thì vẫn còn những câu hỏi chưa thể có câu trả lời: Thế trước Big Bang là cái gì? Vì sao nó lại vận hành một cách trơn tru, hoàn hảo như thế? Vì sao các hằng số vật lý của Vũ trụ (tốc độ ánh sáng, điện tích của điện tử, hằng số Plank…) lại được gán cho những giá trị chính xác đến nỗi chỉ cần một trong các hằng số ấy thay đổi đi một phần triệu giá trị vốn có thì thế giới này không có sự sống, không có chúng ta – con người có khả năng tìm hiểu Vũ trụ?                  Mặc dù vậy, các bằng chứng thực nghiệm về sự hình thành và tiến hoá của Vũ trụ cho đến nay vẫn ủng hộ thuyết Big Bang. Điều này khác hẳn với sự đáng ngờ của thuyết Tiến hóa về nguồn gốc của Loài người, rộ lên trong vài chục năm gần đây. Số người ủng hộ thuyết Tiến hóa còn rất nhiều (xem Nguyễn Văn Tuấn, Ykhoa.net/binhluan/), nhưng những người phản đối càng ngày càng làm tôi “nao núng”. Xin chia sẻ với bạn đọc những gì tôi thu nhận được từ lập luận của những người “phủ nhận sạch trơn” Darwin (xem Viethungpham.com).  Chúng ta đều biết Darwin (1809 – 1882) đã công bố Thuyết Tiến hoá của mình trong hai cuốn sách kinh điển: “Nguồn gốc các loài” ( 1859 ) và “Nguồn gốc con người” (1871). Trong đó ông đã khẳng định: 1) Các loài động vật tiến hoá từ bậc thấp lên bậc cao hơn theo quy luật chọn lọc tự nhiên những biến dị nhỏ ngẫu nhiên có lợi trong quá trình cạnh tranh sinh tồn, được tích tụ dần. 2) Sự sống được hình thành một cách tự phát ngẫu nhiên từ một tập hợp các nguyên tố hoá học. 3) Loài khỉ lớn (tinh tinh) là tổ tiên trực tiếp của Loài người.  Vào thời điểm ấy học thuyết này đã được hưởng ứng một cách cuồng nhiệt và tiếp tục mê hoặc  các thế hệ sau cho đến tận cuối Thế kỷ 20. Ngày nay trong các trường học trên toàn thế giới, người ta vẫn vô tư rao giảng những quan điểm phi khoa học của Darwin. Sự “ngộ nhận thế kỷ” này có thể do hai nguyên nhân chính sau đây. Một là, công trình của Darwin ra đời vào đúng lúc xu thế vô thần và duy vật của Thế kỷ Khai minh đang nở rộ; nó đánh trúng vào tâm lý khoa học thời đại: sự sống và con người không phải do Chúa tạo ra. Hai là, cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất đạt được những thành công rực rỡ với sự ra đời của Vật lý học Newton, đã làm cho cộng đồng khoa học ngây ngất với ý tưởng “sân chơi” của Chúa đang thu hẹp lại và một ngày không xa khoa học sẽ trả lời được mọi câu hỏi về vạn vật. Thế nhưng, như bạn đọc sẽ thấy, đấy là một sự ngộ nhận tai hại.  Thuyết Tạo hoá  Sự sai lầm của thuyết Tiến hoá và sự ngộ nhận về nó sẽ không xảy ra nếu Darwin được biết đến công trình khoa học vĩ đại về Di truyền học của Gregor Mendel (1822-1884) ra đời chỉ sau cuốn “Nguồn gốc các loài” có bảy năm, 1866. Giá ông biết thì chắc ông đã buộc phải xem xét lại các luận điểm của mình. Không những chỉ Darwin không được biết mà cả thế giới cũng hầu như không biết tới công trình khoa học của Mendel vì nó đã bị rơi vào quên lãng. Ba mươi năm sau, vào năm 1900, lý thuyết di truyền của ngài Linh mục người Áo ấy mới được các nhà khoa học Đức và Hà Lan phát hiện. Từ đó di truyền học mới thực sự chào đời, và ngày càng được khẳng định đóng vai trò quan trọng trong Sinh học như thuyết Lượng tử trong Vật lý học. Di truyền học khẳng định những điều ngược lại hẳn với học thuyết Tiến hoá. Cụ thể là: 1) Phân tử ADN (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử quyết định các tính trạng của động vật) của mỗi loài là cố định, không biến đổi trong quá trình chọn lọc tự nhiên để thích nghi với môi trường sinh sống. Như vậy loài này không thể “tiến hoá” lên loài khác được. 2) Phân tử tế bào sống đơn giản nhất cũng không thể hình thành từ sự kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử hoá học. Xác suất của quá trình ấy có thể coi là bằng không như đã được chứng minh bằng toán học cũng như mô phỏng trên các “siêu máy tính”. 3) Khỉ là khỉ, người là người. Bộ gene của khỉ dù có giống của người đến hơn 95%  thì vẫn còn đó, một sự khác biệt về chất rất lớn nằm trong số vài phần trăm chứa trong ADN cấu tạo nên các gene. ADN của người có 46 nhiễm sắc thể, của tinh tinh là 48 nằm trong nhân mỗi tế bào, và hoàn toàn cố định.  Nhận được sự chào đón hồ hởi ngay từ khi mới ra đời, thuyết Tiến hóa đã “bùng nổ” sau “vụ án thế kỷ”, trong đó một giáo viên trung học người Mỹ là Scopes bị buộc tội rao giảng thuyết Tiến hóa tại một trường phổ thông ở Tiểu bang Tennesse đã thắng kiện. Người ta đồng nhất thắng lợi của Scopes với thắng lợi của thuyết Tiến hóa. Thế nhưng cũng bắt đầu từ đó các bằng chứng khách quan ngày càng chống lại Darwin về giả thuyết loài tinh tinh là tổ tiên trực tiếp của loài người.  Bằng chứng quan trọng nhất là suốt từ khi giả thuyết “khỉ biến thành người” ra đời cho đến nay, đã hơn một thế kỷ rưỡi trôi qua, không có một hóa thạch trung gian nào giữa khỉ và người được phát hiện. Chỉ có một bằng chứng “ngụy khoa học” được tạo dựng nên vào năm 1912. Lúc đó có người đã cả gan ghép hóa thạch hộp sọ của người cổ đại với hóa thạch xương hàm của một con tinh tinh cùng thời để “chứng minh” rằng đã tìm thấy một loài trung gian giữa khỉ và người, đúng như sự mong đợi của những người hâm mộ thuyết Tiến hóa. Thế nhưng trò lừa đảo đó mau chóng bị lật tẩy, và công việc tìm kiếm hóa thạch trung gian vẫn cứ được miệt mài… Ngoài ra, phái phản đối thuyết Tiến hóa khẳng định một cách không hề thiếu sức thuyết phục rằng: Nếu Mendel đúng thì Darwin phải sai, chứ không thể dung hòa.   Tôi e còn ít người biết được rằng sinh thời chính Darwin đã tuyên bố: “Nếu có bằng chứng cho thấy sự tiến hóa từ loài thấp hơn lên loài cao hơn mà không do sự tích tụ các biến đổi nhỏ liên tục thì lý thuyết của tôi là sai!”. Đúng như sự nghi ngại của ông, những phát hiện mới nhất của Di truyền học và Khảo cổ học nhiều lắm cũng chỉ chứng minh được rằng tinh tinh và người cùng phát sinh từ vùng Nam châu Phi cách đây khoảng 200.000 năm rồi lan tỏa đi khắp địa cầu. Thế thôi, vẫn không có một hóa thạch trung gian nào được phát hiện.  Cho nên ở nơi chín suối ông không thể không ân hận khi được biết chiến dịch tàn sát người da đỏ (bị coi là giống “nửa khỉ nửa người”) ở Úc cuối Thế kỷ 19, và tội ác diệt chủng của Hitler gây ra đối với người Do Thái trong Thế chiến thứ hai. Bởi không ai khác ngoài ông đã vạch đường cho quỷ dữ hoành hành khi tuyên bố: “Vào một giai đoạn nào đó, có thể tính bằng thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như chắc chắn sẽ hủy diệt và thay thế các chủng tộc man rợ”.   Nếu thuyết Tiến hóa là sai thì thuyết Tạo hóa có nhiều cơ hội là đúng?  Không đơn giản như vậy! Chỉ có điều càng ngày càng nhiều nhà khoa học lỗi lạc tin rằng có một lực lượng siêu nhiên nào đấy đã lập trình sự sống và cài đặt nó vào các phân tử ADN dưới dạng các mã thông tin, như một bản thiết kế cực kỳ linh diệu. Đáng kinh ngạc thay, từ Thế kỷ 13 Thánh Thomas Aquine đã phán: “Bất cứ ở đâu tồn tại những thiết kế phức tạp, ở đó ắt phải có nhà thiết kế thông minh”. Nhà thiết kế thông minh ấy đã được nhân loại gán cho các tên: Đấng sáng tạo, Tạo hóa, Chúa trời của các tôn giáo; hay “Chúa phiếm thần” của các nhà khoa học.   Nếu bạn đọc còn do dự tin hay không tin vào một trong hai giả thuyết nói trên thì hãy nghe lời khuyên của Einstein mà vui sống. Ông nói thế này: “Có hai cách để sống: bạn chẳng tin vào phép màu nào cả, hoặc tin rằng mọi thứ đều là một phép màu”. Há chẳng thanh thản sao!     Author                Quản trị        
__label__tiasang “ Tiến sĩ Đặng”      Nhiều năm qua, mơ ước tự làm được chip điện tử đã trở thành nguyện vọng tha thiết nhất của các nhà khoa học kỹ thuật (KHKT) điện tử Trung Quốc (TQ). Nhà nước cũng như nhiều doanh nghiệp đã chi những khoản kinh phí khổng lồ cho công tác nghiên cứu này. Và người biến ước mơ đó thành hiện thực là chàng trai Đặng Trung Hàn (Deng Zhonghan) – một “nhân sĩ không đảng phái” 30 tuổi. Giờ đây cái tên “Tiến sĩ Đặng” được dư luận TQ tôn sùng như một nhân vật huyền thoại.    Cuộc đời của Đặng quả thật không bình thường. Ngay từ hồi còn ngồi trên ghế trường Đại học Khoa học kỹ thuật TQ, anh đã dám thách thức một vài lý thuyết trong sách giáo khoa. Năm thứ ba, anh được tặng giải thưởng KHKT sinh viên toàn quốc. Từ 1993, Đặng bắt đầu nghiên cứu công nghệ tính toán song song số liệu, có 25 bài báo đăng trên các tạp chí khoa học.  Sau khi tốt nghiệp đại học Berkeley (Mỹ), Đặng Trung Hàn được nhận vào làm nghiên cứu viên cao cấp trong công ty IBM. Tại đây, anh từng đăng ký khá nhiều bằng sáng chế phát minh, giành “Giải thưởng phát minh sáng tạo” của IBM. Năm 1997, Đặng nhận 3 học vị cao tại đại học Berkeley: thạc sĩ vật lý, tiến sĩ công nghệ điện tử, thạc sĩ quản trị kinh doanh, trở thành sinh viên đầu tiên trong lịch sử trường này có học vị cao ở 3 ngành công nghệ và kinh tế. Sau đó anh đến Silicon Valley lập công ty bán dẫn PIXIM do anh làm chủ tịch hội đồng quản trị. PIXIM có giá trị thị trường hơn 150 triệu USD.  Năm 1999, Đặng Trung Hàn được vinh dự mời dự đại lễ Quốc khánh TQ 50 năm. Đứng trên lễ đài Thiên An Môn quan sát cuộc duyệt binh và diễu hành khổng lồ của cả triệu đồng bào, anh vô cùng cảm động và ngay lập tức quyết định chuyển công ty của mình về Bắc Kinh.  Đặng lập công ty Vi điện tử Tinh Quang tại Vườn KHKT Trung Quan Thôn, theo mô hình Silicon Valley và được cử làm Tổng chỉ huy “Dự án chip điện tử Tinh Quang”. Hơn 10 tháng sau, công ty này cho ra đời con chip điện tử đầu tiên có bản quyền 100% của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – chip “Tinh Quang số 1”, vĩnh viễn chấm dứt thời kỳ TQ không làm được chip điện tử, đồng thời mở màn cho thời kỳ TQ sản xuất những con chip multimedia kỹ thuật số.   Chip “Tinh Quang 1” đã và đang được các công ty điện tử toàn cầu như Samsung, Philips, HP, Lenovo sử dụng với số lượng lớn, chiếm hơn 60% thị trường picture imput chip máy tính thế giới. Các con chip multimedia TQ chế tạo chẳng những đẩy mạnh sự phát triển các ngành liên quan của TQ mà còn nâng cao địa vị quốc tế của TQ trên các lĩnh vực công nghệ nòng cốt.  Là lãnh đạo doanh nghiệp, Đặng Trung Hàn mạnh dạn thực thi một cơ chế quản lý độc đáo: ban hành hệ thống chế độ khuyến khích nhân tài, đổi mới kỹ thuật, khai thác thị trường và vốn, áp dụng cơ chế khích lệ cổ phiếu nhằm kết hợp chặt chẽ lợi ích của nhân viên với doanh nghiệp. Công ty anh kết hợp với trường đại học Thanh Hoa và công ty Microsoft xây dựng Phòng Thí nghiệm chung; ngoài ra còn hợp tác chiến lược với các hãng lớn như Samsung, Philips, HP…  Năm 2005, công ty Trung Tinh của Đặng niêm yết thành công trên thị trường giao dịch cổ phiếu NASDAQ, trở thành công ty điện tử đầu tiên của TQ có mặt tại đây, đánh dấu thời đại “Chip TQ” được thị trường quốc tế thừa nhận.  Do các thành tích to lớn trên, Đặng Trung Hàn nhận được nhiều vinh dự: giải nhất KHKT thành phố Bắc Kinh, Giải phát minh kỹ thuật quan trọng trong công nghệ tin, danh hiệu “Gương mẫu lao động toàn quốc”, huy hiệu “Ngũ Tứ” của Thanh niên TQ, danh hiệu 1 trong 10 “Thanh niên kiệt xuất của thành phố Bắc Kinh”… Tuy vậy anh luôn tỏ ra khiêm tốn. Moi người trong công ty đều gọi nhà lãnh đạo ngoài đảng này bằng cái tên quen thuộc “Tiến sĩ Đặng”.      Nguyễn Hải Hoành  (Theo báo TQ)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếng thầm từ mặt tối: sóng hấp dẫn có thể tiết lộ gì về vật chất tối?      Nhóm hợp tác NANOGrav gần đây đã bắt được những tín hiệu đầu tiên của các sóng hấp dẫn có tần số rất thấp. Giáo sư Pedro Schwaller và Wolfram Ratzinger phân tích dữ liệu, và nói riêng, xem xét khả năng có thể của việc liệu điều này có thể nêu ra một dạng vật lý mới ngoài Mô hình chuẩn hay không.      Trong bài báo xuất bản trên tạp chí SciPost Physics “Whispers from the dark side: Confronting light new physics with NANOGrav data” (Những tiếng thầm từ khía cạnh tối: Chạm trán ánh sáng của một thứ vật lý mới với dữ liệu NANOGrav), họ đã cho biết tín hiệu này phù hợp với cả một chuyển pha trong vũ trụ sớm và sự hiện diện của một trường các hạt như axion vô cùng nhẹ (ALPs). Hạt axion được coi là ứng cử viên hứa hẹn cho vật chất tối.  Sóng hấp dẫn mở ra một cánh cửa vào vũ trụ sớm. Trong khi bức xạ nền vũ trụ có ở khắp nơi không bộc lộ thông tin về 300.000 năm tuổi đầu tiên của vũ trụ, sóng hấp dẫn có thể đem lại cho chúng ta những cái nhìn sơ khởi về những gì diễn ra trong Big Bang. “Chính xác là thời kỳ ban đầu của vũ trụ sớm vô cùng thú vị với các nhà vật lý hạt”, Pedro Schwaller, giáo sư vật lý lý thuyết tại Trung tâm xuất sắc PRISMA+ tại trường đại học Mainz Johannes Gutenberg (JGU). “Đây là thời điểm khi các hạt sơ cấp như quark và gluon đã có mặt và sau đó kết hợp với nhau để hình thành các khối cơ bản của hạt nhân nguyên tử”.  Điều đặc biệt về sóng hấp dẫn mà nhóm hợp tác NANOGrav lần đầu dò được là chúng có tần số rất thấp 10-8 Hertz, vốn tương đương với xấp xỉ một dao động mỗi năm. Do đó tùy thuộc với bước sóng lớn, để dò được chúng thì bất cứ máy dò nào cũng phải có độ lớn tương đương. Vì một máy dò như thế không thể có trên trái đất, các nhà thiên văn tại NANOGrav sử dụng các pulsar ở khoảng cách xa và những tín hiệu ánh sáng của chúng như những máy dò cực lớn.  Wolfram Ratzinger phác thảo động cơ thúc đẩy công trình nghiên cứu của họ: “Ngay cả khi dữ liệu cung cấp cho chúng tôi gợi ý đầu tiên về sự tồn tại của sóng hấp dẫn tần số thấp thì vẫn rất thú vị đểchúng tôi nghiên cứu về chúng. Bởi vì rất nhiều sóng có thể được tạo ra từ nhiều quá trình khác nhau xuất hiện trong vũ trụ sớm. Giờ đây chúng tôi có thể sử dụng dữ liệu mà chúng tôi có để xác định, sóng hấp dẫn nào đáng được xem xét và cái nào không hoàn toàn phù hợp với dữ liệu này”.    Nhóm hợp tác NANOGrav.  Kết quả là các nhà khoa học ở Mainz đã quyết định có cái nhìn cận cảnh vào hai kịch bản có thể do các sóng hấp dẫn quan sát được: các chuyển pha trong vũ trụ sớm và một trường vật chất tối của các hạt như axion cực nhẹ (ALPs). Các chuyển pha từng xảy ra do nhiệt độ “nồi xúp” vũ trụ nguyên thủy  suy giảm sau Big Bang và kết quả là tạo ra những thăng giáng khối lượng – dẫu sao như vật chất tối thì chúng không được mô tả bởi Mô hình Chuẩn.   Trên cơ sở dữ liệu hiện có, Pedro Schwaller và Wolfram Ratzinger đã giải thích một cách cẩn trọng phân tích của họ “có thể ít nhiều khả năng là kịch bản chuyển pha trong vũ trụ sớm”. Nói cách khác, hai nhà vật lý này tin rằng sự thật là việc họ có thể tìm ra những khả năng nhất định chỉ với việc dựa vào nguồn dữ liệu giới hạn đã chứng minh sự tiềm năng trong cách tiếp cận của mình. “Công trình của chúng tôi là công trình đầu tiên, nhưng là phát triển quan trọng – trao cho chúng tôi rất nhiều tự tin rằng với lượng dữ liệu chính xác hơn chúng tôi có thể rút ra những kết luận đáng tin cậy về thông điệp mà các sóng hấp dẫn đang gửi cho chúng ta từ vũ trụ sớm”.   “Hơn nữa”, Pedro Schwaller kết luận, “chúng ta có thể lập tức bắt đầu tóm lấy những đặc trưng chắc chắn của các kịch bản và đưa ra những ràng buộc lên chúng, trong trường hợp của chúng tôi là cường độ chuyển pha và khối lượng của các hạt axion”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-03-dark-side-gravitational-reveal.html  https://scipost.org/10.21468/SciPostPhys.10.2.047    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiếp cận tiến hóa trong điều trị ung thư      Các khối u ung thư cũng có sự tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên giống như bất kỳ sinh vật nào khác. Nhờ sự phát triển của công nghệ giải trình tự gene và nhiều dữ liệu lâm sàng, các nhà khoa học đã phác họa được bức tranh về quá trình tiến hóa và liên tục thích ứng của các tế bào ung thư cũng như nguồn gốc của sự tiến hóa ấy. Giờ đây các bác sĩ đã nắm được quy luật này để đưa vào điều trị.        Khi điều trị cho một bệnh nhân mắc ung thư vú, các nhà khoa học tại Bệnh viện Massachusetts ở Boston phát hiện, trong các khối u có hiện tượng sắp xếp lại gene và sản xuất ra một dạng biến dị của protein ALK. Các bác sĩ dùng thuốc crizotinib để ức chế hoạt động của biến dị này nhưng thuốc chỉ đáp ứng trong 18 tháng, sau đó lại tái phát. Biện pháp điều trị thứ hai ngay sau đó cũng tiếp tục thất bại, các bác sĩ sử dụng liệu pháp điều trị thứ ba và phát hiện ra khối u di căn ở gan cũng thích nghi được với thuốc crizotinib. Trung tâm Ung thư Peter MacCallum tại Melbourne, Australia cũng phát hiện, khi sử dụng một số loại thuốc Nhắm đích (targeted therapy) để tiêu diệt tế bào ung thư phổi, các tế bào ung thư cũng đột biến và kháng lại thuốc.   Sáu năm trước, Alberto Bardelli ở Đại học Turin, Ý cũng đã nhận thấy hiện tượng kháng thuốc ở một số khối u ung thư, các khối u này thích nghi với thuốc điều trị và tiếp tục phát triển. Từ đó, Bardelli và cộng sự đã nghiên cứu quá trình tiến hóa, thích ứng của tế bào ung thư và đề ra phương án điều trị tiến triển.  Sự thích ứng của tế bào ung thư  Tế bào ung thư có sự tiến hóa đáng kinh ngạc. Khi sinh thiết tế bào ung thư thận, nhóm nghiên cứu của Bardelli phát hiện, ngay cả ở trong một bệnh nhân cũng không xuất hiện hai mẫu tế bào ung thư giống hệt nhau. Có hơn 100 dạng đột biến khác nhau của các tế bào ung thư ở trong các khối u nguyên phát và khối u di căn, và chỉ 1/3 trong số đó là dạng đột biến phổ biến ở tất cả các mẫu sinh thiết.  Các nhà khoa học đã phát hiện, tương tự như cây phát sinh loài, sơ đồ tiến hóa của tế bào ung thư cũng có “tổ tiên chung”, sự phân nhánh và các “hậu duệ”. Đột biến xảy ra trong tế bào đầu tiên, sau đó phát sinh thành nhiều nhánh ở tất cả các khối u di căn. Vì vậy, để loại bỏ các khối u, phải tấn công tất cả các dạng đột biến khác nhau. Bằng cách nhắm mục tiêu vào tất cả các dạng đột biến này, nhóm nghiên cứu tin rằng có thể xóa sổ được các tế bào ung thư.  Nhóm nghiên cứu đã bắt đầu thử nghiệm kết hợp các liệu pháp Nhắm đích này trong phòng thí nghiệm, tuy nhiên, không thể có chung một loại thuốc Nhắm đích cho tất cả các dạng đột biến của tế bào ung thư. Vì vậy, họ tập trung thêm vào liệu pháp miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch tự nhận biết và tiêu diệt các mầm mống ung thư.   Tuy nhiên, để điều trị hiệu quả, các nhà khoa học cho rằng cần kết hợp nhiều biện pháp chữa trị khác nhau. Và đối với những người có nhiều khối u di căn, rất cần điều trị kết hợp liệu pháp được đề cập ở trên với hai phương pháp điều trị Nhắm đích khác do Đại học Johns Hopkins và Harvard đưa ra trước đây.  Hiện nay, phương pháp điều trị này vẫn rất đắt đỏ, lên tới 10.000 USD cho đến 100.000 USD một đợt điều trị. Vì vậy, các nhà khoa học đang nỗ lực tìm cách giảm giá thành điều trị.  Thu Quỳnh lược dịch theo Nature  http://www.nature.com/news/cancer-therapy-an-evolved-approach-1.19746      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết kiệm năng lượng– hai việc phải làm ngay      Công nghệ sản xuất và công nghệ sử dụng năng lượng của VN chủ yếu được hình thành từ thời bao cấp, do đó cũ kỹ, kém hiệu quả, và tiêu hao năng lượng quá lớn. Trong khi đó, VN lại nghèo tài nguyên năng lượng, nếu tính theo tiềm năng quy đổi về nguồn năng lượng sơ cấp trên đầu người, mà tốc độ cạn kiệt do khai thác lại rất cao, vì vậy việc tiết kiệm năng lượng là đương nhiên.    Trong lĩnh vực sản xuất năng lượng, hầu như 100% năng lực sản xuất than, 60-80% dầu mỏ và khí đốt, 30-50% năng lực phát điện hiện đang được phát huy có hiệu quả là những cơ sở sản xuất được hình thành từ thời kế hoạch hoá. Trong lĩnh vực tiêu dùng năng lượng có khoảng 30-50% các cơ sở cũng được hình thành từ thời bao cấp. Điều đó dẫn đến việc nền kinh tế VN đang khai thác và sử dụng năng lượng kém hiệu quả, tiêu hao năng lượng quá lớn.           Trữ lượng than ở cấp tin tưởng (cấp 111 và 122 theo phân loại mới) của cả bể than Quảng Ninh chỉ có 2,1 tỷ tấn, chiếm 25%, còn lại 75% chỉ là tài nguyên (cấp 333 và 334). Bể than Đồng bằng Sông Hồng có tổng tài nguyên khoảng 210 tỷ tấn cần phải thăm dò và đưa vào khai thác sớm, nhưng hiện vẫn còn nằm trên giấy, chưa biết đến bao giờ.        Trong khí đó, VN là một trong những nước nghèo về các nguồn tài nguyên năng lượng. Nếu tính bình quân đầu người, tiềm năng quy đổi về nguồn năng lượng sơ cấp (than, dầu, khí, uranium) của VN quá thấp. Trữ lượng đã ít, mà tốc độ cạn kiệt do khai thác lại rất cao. Đây là một thực tế rõ ràng, dễ hiểu. Đã đến lúc chúng ta không thể tự dối mình. Nguy cơ thiếu năng lượng trầm trọng sẽ diễn ra vì nguồn năng lượng các loại (kể cả nguồn năng lượng tái tạo) có thể khai thác được của VN không nhiều như chúng ta tưởng.   Mô hình tăng trưởng kinh tế của VN trong thời gian gần đây cho thấy có hai nhánh. Nhánh thứ nhất là những lĩnh vực phụ thuộc một cách quyết định vào năng lượng và nhánh thứ hai là những lĩnh vực ít phụ thuộc vào năng lượng. Thực tế đòi hỏi chúng ta cần có các giải pháp tiết kiệm năng lượng phù hợp và chỉ cần tập trung vào nhánh thứ nhất.  Kết luận của thế giới về tiết kiệm năng lượng  Rõ ràng, để đảm bảo cân bằng cung-cầu về năng lượng, có hai biện pháp: (i) tăng cung – phát triển các cơ sở khai thác, sản xuất, chế biến cung ứng năng lượng; và (ii) giảm cầu- nâng cao hiệu quả của việc sử dụng năng lượng, tiết kiệm năng lượng. Liên quan đến cả hai biện pháp này, kinh nghiệm của thế giới đã được tổng kết thành hai kết luận thực tế như sau:          Việc xuất khẩu than là một biểu hiện rõ nét nhất cho những bất cập trong việc thực thi không đúng các chính sách và chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và cho việc sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng của đất nước.        Kết luận rút ra từ hiện tại: chi phí đầu tư để sản xuất ra cùng một đơn vị năng lượng đắt hơn ít nhất 2,5 lần so với chi phí đầu tư để tiết kiệm hay nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Số liệu khô khan này rất có ý nghĩa khi chúng ta đang rất thiếu tiền vốn đầu tư cho các ngành năng lượng.  Kết luận định hướng cho tương lai: ít nhất 30% nhu cầu năng lượng trong tương lai của loài người có thể và cần phải được đáp ứng bằng biện pháp tiết kiệm.  Nếu như không phải là toàn bộ, thì trọng tâm của các chính sách, chiến lược về năng lượng cần được xây dựng theo hai kết luận trên.  Vừa qua, VN đã thông qua luật về tiết kiệm năng lượng, nhưng mới chỉ đề cập chủ yếu đến tiết kiệm điện (chỉ là một thành phần rất nhỏ trong tiết kiệm năng lượng). Vấn đề tiết kiệm năng lượng cần được đặt ra và tiệm cận một cách toàn diện, khoa học. Năng lượng cần được tiết kiệm trong tất cả các khâu: thăm dò, khảo sát, quy hoạch, thiết kế, khai thác, chế biến, vận chuyển và sử dụng.   Lãng phí, tổn thất về năng lượng ở VN đang xảy ra ở tất cả các khâu này.   Trước hết, ít nhất 30% nguồn tài nguyên năng lượng là than, dầu mỏ, khí đốt bị tổn thất (nằm lại trong lòng đất) trong quá trình thăm dò khảo sát (do chúng ta không đủ điều kiện để khai thác nên đã áp dụng các tiêu chuẩn tính trữ lượng theo hướng chấp nhận tổn thất cao).   Trong khâu quy hoạch và thiết kế, ít nhất 50% nguồn tài nguyên năng lượng đã được thăm dò bị tổn thất tiếp do phụ thuộc vào công nghệ khai thác (ví dụ đối với than đá, nếu thiết kế khai thác được bằng công nghệ lộ thiên, tổn thất khoảng 30%, nếu khai thác bằng hầm lò, tổn thất khoàng 70%, đối với dầu mỏ và khí đốt, tổn thất cũng không ít hơn 30% phụ thuộc vào các công nghệ/quy trình khai thác).   Trong khâu chế biến năng lượng, tổn thất năng lượng đã được khai thác còn rất cao: từ than nguyên khai chế biến thành than sạch tổn thất 10-15%, từ than sạch hay từ dầu mỏ và khí đốt chế biến thành điện năng (qua các nhà máy phát nhiệt điện) tổn thất 50- 60% (phụ thuộc vào các chu trình nhiệt của lò hơi).   Trong khâu vận chuyển năng lượng đã được chế biến, tổn thất cũng đáng kể: than, dầu mỏ hay khí đốt vận chuyển từ nơi khai thác đến các nhà máy điện hoặc đến các hộ tiêu dùng khác tổn thất 2-3%, điện năng vận chuyển từ các nhà máy phát điện đến các hộ tiêu dùng tổn thất 5-10%.   Và cuối cùng, trong khâu tiêu dùng năng lượng, tổn thất hay lãng phí cũng ít nhất 30%. Nếu chỉ đề cập đến tiết kiệm điện năng thì chúng ta mới chỉ đề cập đến khả năng và nhu cầu tiết kiệm ở một phần rất nhỏ của tiết kiệm năng lượng. Có thể nói, tiềm năng tiết kiệm năng lượng của chúng ta là rất lớn.  Câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ về than  Câu hỏi về xuất khẩu than, tại sao phải sớm chấm dứt việc xuất khẩu than? Hiện nay, VN đang xuất khẩu hơn 50% sản lượng than. Riêng việc xuất khẩu than sang Trung Quốc, nếu thống kê đầy đủ, con số thực còn cao hơn nhiều.   Có lẽ trên thế giới chưa có mô hình trao đổi năng lượng nào khó hiểu và không thể chấp nhận được như của VN hiện nay: TKV xuất khẩu than cho TQ, TQ dùng than của VN phát điện, EVN nhập khẩu điện của TQ. Ở đây có thể có cái gọi là “ba bên cùng có lợi”. Nhưng, nền kinh tế của VN thì thua thiệt: hoặc TKV đang xuất khẩu than với giá quá rẻ, hoặc EVN đang nhập khẩu điện với giá quá đắt, hoặc cả hai khả năng này.          Trong tương lai, sẽ không có đủ than để VN có thể nhập khẩu, và giá than nhập khẩu (CIF) vào VN chắc chắn cao hơn ít nhất 1,5-2 lần so với giá VN đang xuất khẩu (FOB). Trong tình hình như vậy, việc nhập khẩu than cho điện trong tương lai đối với VN là quá sức.        Nếu nhìn tổng thể phát triển ngành than, việc xuất khẩu than hiện nay chỉ tạo ra sự tăng trưởng nhất thời để báo cáo thành tích và vì lợi ích cục bộ trước mắt. Lý do phải xuất khẩu than để: (i) bù lỗ cho than bán trong nước, và (ii) để đầu tư phát triển ngành than là không thuyết phục và không chính đáng. Thứ nhất, để bù lỗ cần phải giảm chi phí sản xuất, tăng cường quản lý kỹ thuật (vì buông lỏng quản lý kỹ thuật, chi phí khai thác ngày càng tăng). Thứ hai, tuy xuất khẩu một khối lượng lớn than hàng năm, nhưng trong suốt 15 năm qua, ngành than hầu như không có đầu tư tái sản xuất mở rộng. Sản lượng khai thác than hiện nay chủ yếu là nhờ “thâm canh” tại các mỏ đã có từ thời bao cấp. Sản lượng than hiện nay đã vượt mức tối ưu và trong điều kiện vi phạm kỹ thuật cơ bản một cách nghiêm trọng dẫn đến môi trường vùng than ngày càng xấu đi và tai nạn lao động chết người vẫn ở mức rất cao. Ngành than đang đứng trước nguy cơ giảm sản lượng và phải cải tạo lại mỏ lần thứ ba. Càng đẩy mạnh xuất khẩu than, chúng ta càng tiến nhanh đến nguy cơ phải cải tạo mỏ.  Câu hỏi về nhập khẩu than, nhập khẩu than có dễ? Tổng sản lượng than của VN trong tương lai chỉ đáp ứng 50% tổng nhu cầu trong nước. Lượng than nhập khẩu của VN dần dần sẽ cao hơn cả sản lượng than có thể sản xuất được trong nước. Mặc dù vậy, ngay trong phương án quy hoạch phát triển ngành than mới nhất của Bộ Công Thương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng không có câu trả lời cho câu hỏi VN sẽ nhập than như thế nào, từ đâu, có nguồn than nào để nhập hay không v.v.   Thực ra, câu trả lời đã rõ, chỉ có điều không ai dám nói thẳng ra là: trong tương lai, sẽ không có đủ than để VN có thể nhập khẩu, và giá than nhập khẩu (CIF) vào VN chắc chắn cao hơn ít nhất 1,5-2 lần so với giá VN đang xuất khẩu (FOB). Hiện nay, lượng than trao đổi trên thế giới đã đạt mức 1 tỷ tấn/năm, chủ yếu là than năng lượng và tập trung ở khu vực châu Á. Trung Quốc hiện đang khai thác gần 3 tỷ tấn/năm, chỉ nhập hơn 150 triệu tấn/năm, nhưng, sau 15 năm nữa, dự kiến sẽ phải nhập khoảng 1,6 tỷ tấn/năm. Doanh số xuất khẩu than của Úc vào thị trường Trung Quốc đã vượt qua con số 5,6 tỷ USD. Việc phát triển ngành than trong nước đang bế tắc, nhưng việc nhập khẩu than sẽ còn bế tắc hơn. Với cung cách và trình độ điều hành như hiện nay, kể cả nếu Chính phủ giao nhập khẩu than bằng bất cứ giá nào để cấp đủ cho điện TKV cũng không thể thực hiện được.  Hai việc phải làm ngay  Rà soát lại cân bằng năng lượng của nền kinh tế, phải coi tiết kiệm năng lượng (điện, than, dầu, khí) là quốc sách. Việc mất cân bằng năng lượng ở VN trong tương lai (thiếu điện, phải nhập khẩu than cùng với việc phải nhập khẩu xăng dầu khí đốt) sẽ chính là rào cản lớn nhất cho việc phát triển nền kinh tế, làm giảm đáng kể sức hút vốn đầu tư, triệt tiêu mọi khả năng cạnh tranh của nhiều loại sản phẩm, và, điều quan trọng hơn là có nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán của nền kinh tế.  Hiện nay, VN là nước xuất khẩu về năng lượng. Nhưng chỉ sau năm 2015-2020, VN sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng. Thời gian không còn dài. VN đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc khủng hoảng thiếu về năng lượng. Rất đáng tiếc là chúng ta vẫn còn đang mơ hồ về vấn đề này.  Tăng trưởng của nền kinh tế gắn liền với tiêu dùng năng lượng. Đại diện cho mối quan hệ này là hệ số đàn hồi về năng lượng. Hệ số này của VN đang lớn hơn 1 rất nhiều; điều đó có nghĩa là càng phát triển kinh tế thì VN càng có nguy cơ bị mất cân bằng về năng lượng, và, trong điều kiện mất cân bằng về năng lượng, nền kinh tế càng phát triển càng kém hiệu quả.  Với chính sách và chiến lược phát triển ngành năng lượng như hiện nay, VN sẽ sớm là nước vừa đói vừa nghèo về năng lượng. Theo mọi dự báo, mức tiêu dùng điện của VN vào năm 2020 mới đạt được mức của Thái Lan ở năm 2000. Nói cách khác, về năng lượng VN đang lạc hậu hơn so với Thái Lan ít nhất là 20 năm.  Sớm cơ cấu lại nền kinh tế vì đây là giải pháp vĩ mô quan trọng nhất. Trong khi còn nghèo đói về năng lượng, và không đủ vốn đầu tư, chúng ta cần có chính sách và chiến lược phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng. Nên ưu tiên nguồn lực cho việc phát triển các cơ sở khai thác, sản xuất năng lượng truyền thống (điện, than, dầu, khí) cũng như năng lượng tái tạo và triển khai các dự án tiết kiệm năng lượng, không nên phát triển và đầu tư vào các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng. Việc phát triển những ngành công nghiệp vừa tiêu hao điện vừa tốn nhiều tiền (như thép, xi măng, bauxite-nhôm v.v.) sẽ chỉ góp phần đáng kể vào việc gia tăng đói nghèo về năng lượng của cả nước.  *Nguyên Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng – TKV, hiện là Giám đốc BQL các dự án than Đồng Bằng Sông Hồng – Vinacomin.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết kiệm năng lượng – những rào cản      Bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, việc sử dụng năng lượng trên thế giới, và cả ở Việt Nam, đang phải đối mặt với hai vấn đề nan giải có khả năng làm sụp đổ công cuộc phát triển kinh tế và đe dọa sự phồn vinh của các quốc gia. Đó là nguy cơ thiếu hụt năng lượng, và nguy cơ biến đổi khí hậu gây ra bởi việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch. Để góp phần giải quyết đồng thời hai vấn đề này, chúng ta cần có những giải pháp để vượt qua những rào cản trước các biện pháp tiết kiệm năng lượng.      Tiết kiệm năng lượng, một vấn đề vô cùng cấp bách  Tiết kiệm năng lượng cũng không có nghĩa là phải hy sinh những dịch vụ do năng lượng cung cấp hay hạ thấp chất lượng đời sống vì phải cắt giảm năng lượng mà chỉ đơn giản là làm tăng hiệu suất sử dụng năng lượng hay giảm cường độ năng lượng nghĩa là tìm cách cung cấp một dịch vụ năng lượng tương đương nhưng với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn.   Hiện nay chúng ta đang sử dụng năng lượng một cách rất lãng phí. Trong công nghiệp, cường độ năng lượng ở Việt Nam cao từ 1,5 đến 1,7 lần hơn Thái Lan hay Malaysia, như thế có nghĩa là để sản xuất ra một USD giá trị sản phẩm công nghiệp (thép, xi măng, hoá chất…) chúng ta cần một năng lượng từ 50% đến 70% nhiều hơn các nước láng giềng ở Đông Nam Á. Các nhà quy hoạch năng lượng của ta đã căn cứ vào cách sử dụng năng lượng lãng phí này để dự báo nhu cầu năng lượng trong tương lai và không lấy gì làm lạ khi họ đưa ra những tốc độ tăng trưởng của nhu cầu điện năng là 17% (trong khi ở hầu hết các nước công nghiệp trên thế giới, tốc độ này chỉ xấp xỉ 5%-6%). Với cách tính như thế, nhu cầu điện năng vào năm 2020 sẽ lên đến gần 500 tỷ kWgiờ và đất nước phải bỏ ra hàng chục tỷ USD để xây dựng các nhà máy điện mới, kể cả các nhà máy điện hạt nhân.   Đứng trước tình hình lãng phí như vậy, điều cần thiết trước mắt là phải tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu suất sử dụng, giảm cường độ năng lượng ở nước ta. Tiết kiệm năng lượng được xem là một “nguồn” năng lượng quan trọng nhất và cũng rẻ tiền nhất.           Người dân tham quan sản phẩm tiết kiệm năng lượng tại một triễn lãm ở TPHCM           Những rào cản   Việc tiết kiệm năng lượng ở nhiều nước đang phát triển, kể cả ở nước ta, không tiến triển khả quan cho lắm vì gặp rất nhiều rào cản mà những khó khăn về tài chính để đổi mới công nghệ chỉ là một thí dụ điển hình. Nếu vượt qua được các rào cản ấy, người ta có thể hy vọng tiết kiệm đến trên 50% năng lượng cần thiết mà không làm cản trở tiến độ phát triển cũng như gây ô nhiễm môi trường của đất nước.   Các rào cản ấy có thể thuộc nhiều phạm trù, lĩnh vực khác nhau: kinh tế, tài chính, xã hội, giáo dục… và nhất là kỹ thuật:  1. Không có đầy đủ thông tin, kiến thức về các biện pháp tiết kiệm năng lượng, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ tiêu dùng nhỏ lẻ. Muốn khắc phục, người ta phải quảng bá mọi thông tin, kiến thức bằng tất cả mọi phương tiện truyền thông nhắm đến các đối tượng mục tiêu.  2. Không được tiếp cận với các nguồn vốn để các doanh nghiệp có thể bắt đầu những chương trình đổi mới kỹ thuật. Trên cơ sở phân tích thời gian hoàn vốn đầu tư, các ngân hàng hay tổ chức tín dụng sẽ có thể mạnh dạn đầu tư vào các chương trình này.  3. Lãi suất trên các tín dụng dùng cho tiết kiệm năng lượng thường quá cao. Trong quan hệ tài chính quốc tế, các tổ chức chuyên môn và các ngân hàng đầu tư quốc tế đã bắt đầu tìm cách giúp đỡ các nước đang phát triển bằng cách tìm ra những nguồn tín dụng ở lãi suất thấp dành riêng cho lĩnh vực tiết kiệm năng lượng,  4. Cơ cấu giá cả. Thông qua các tập đoàn sản xuất năng lượng, thường là quốc doanh, Chính phủ có thể có một chính sách giá cả năng lượng hợp lý để khuyến khích việc tiết kiệm năng lượng. Giá điện ở nước ta theo chế độ luỹ tiến theo phụ tải là một hướng đi có lợi cho tiết kiệm năng lượng.  5. Các rào cản về luật pháp và hành chính làm cho các doanh nghiệp khó tiến hành các biện pháp tiết kiệm năng lượng. Thí dụ như ở một số nước, ngân sách hằng năm không cho phép chuyển dễ dàng kinh phí vào một quỹ đầu tư cho tiết kiệm năng lượng đã làm cho nhiều doanh nghiệp nản lòng, nhất là khi tiết kiệm năng lượng chỉ cho kết quả sau một thời gian nhất định. Ở Úc, người ta phải thay đổi luật pháp về vận chuyển các chất độc hại, về sản xuất rượu, về các trạm xăng dầu…) để có thể sử dụng ethanol làm nhiên liệu thay thế.  6. Các rào cản về thị trường. Cần phải có một thị trường đồng bộ theo đúng luật cung cầu thì mới có thể sử dụng các thiết bị tiên tiến và hiện đại cần thiết cho đổi mới công nghệ. Thí dụ như các máy đo đếm điện tử sẽ không hoạt động tốt nếu chất lượng dòng diện về tần số và điện áp không bảo đảm, các động cơ năng suất cao không phù hợp với nhiên liệu xăng dầu nhiều tạp chất hay không đủ tiêu chuẩn,  7. Tại một số nước, nhiều cơ quan hay hộ tư nhân không chịu thanh toán các hoá đơn điện, nước, khí đốt cũng làm cho các nhà cung cấp năng lượng thiếu khả năng tài chính để đổi mới,  8. Nếu các đồng hồ đo điện, nước không được trang bị đầy đủ thì rất dễ xảy ra thất thoát làm giảm thu nhập của nhà cung cấp năng lượng,  9. Cơ cấu giá cả cũng là một rào cản cho việc tiết kiệm năng lượng. Nếu giá năng lượng quá thấp thì dễ sinh ra sử dụng lãng phí, thậm chí thất thoát qua biên giới. Năm 1997, giá năng lượng ở Hungari được đưa lên bằng giá thị trường quốc tế và chỉ hai năm sau, người ta có thừa ra hằng năm 80 triệu USD để đầu tư vào tiết kiệm năng lượng. Các hộ nghèo được giúp đỡ dựa trên quỹ trợ cấp xã hội địa phương.  10. Thiếu một chính sách quốc gia về tiết kiệm năng lượng nên người dân không có những hướng dẫn và cũng không biết đến các quy định hay chế tài trong sử dụng năng lượng,  11. Do trình độ phát triển còn thấp, tại một số nước người dân không được cung cấp những loại năng lượng đa dạng nên bị hạn chế trong việc lựa chọn thiết bị hiệu suất cao,  12. Chuyên gia và kỹ thuật gia trong ngành tiết kiệm năng lượng còn thiếu nhiều ở các nước đang phát triển. Đây là một ngành học không có sức hấp dẫn lớn nên ngành giáo dục phải có kế hoạch đào tạo đủ số chuyên gia cần thiết.  13. Do tình hình tài chính eo hẹp, nhiều nước đang phát triển bắt buộc phải nhập những thiết bị cũ kỹ hay những xe cộ đã qua sử dụng không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn hiện đại về tiết kiệm năng lượng. Một số nước muốn loại bỏ những nhà máy cũ tiêu hao nhiều năng lượng bằng cách bán rẻ cho những nước láng giềng. Những nước này vì ham rẻ nên không biết là làm như vậy, họ sẽ không bao giờ chế tạo được những sản phẩm đủ sức cạnh tranh vì phí tổn năng lượng đã quá cao.  Xây dựng một chính sách năng lượng tích hợp  Một chương trình tiết kiệm năng lượng thành công phải nằm trong một chính sách năng lượng tích hợp dài hạn và phải có sự quyết tâm cao độ của chính quyền. Chương trình ấy phải có những giải pháp thích hợp để khắc phục những trở lực, vượt qua những rào cản của toàn bộ hệ thống kinh tế cũng như của các nhóm mục tiêu. Các khiếm khuyết của thị trường cũng cần phải được để ý đến. Các công cụ chung của một chính sách năng lượng như thuế năng lượng, thuế phát tán khí nhà kính, luật môi trường, các đề án nghiên cứu triển khai, các chương trình giáo dục trong các trường học và trong dân chúng đều phải được sử dụng tối đa.  Trong bảng dưới đây, chúng ta có thể tham khảo một số giải pháp do các chuyên gia của tổ chức OCDE (2004) đề ra nhằm vượt qua các rào cản trước các biện pháp tiết kiệm năng lượng.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiết lộ mới về khí hậu sơ khai      Một nghiên cứu mới về các khoáng chất cổ đại có tên ziricon cho thấy đã từng tồn tại kiểu khí hậu khắc nghiệt có lẽ đã hủy diệt bề mặt các lục địa mới hình thành trên trái đất.      Ziricon có mặt trên trái đất từ cách đây 4,4 tỉ năm khi hành tinh của chúng ta mới chỉ 150 triệu năm tuổi. Theo nhà địa chất John Valley thuộc đại học Wisconsin – Madison, do tinh thể ziricon đặc biệt bền vững đối với các biến đổi hóa học nên chúng trở thành tiêu chuẩn vàng để xác định niên đại của đất đá cổ xưa. Các nhà địa chất đã chứng minh rằng, các lục địa và nước lỏng tồn tại ít nhất 4,3 tỉ năm trước đồng thời là đối tượng chịu đựng thời tiết dữ dội do khí hậu khắc nghiệt gây ra. Bằng cách so sánh dấu tích hóa học với thành phần lithi trong ziricon trong lớp vỏ lục địa và lớp đất đá nguyên thủy tương tự như vỏ man-ti của trái đất, họ đã tìm ra bằng chứng cho thấy hành tinh trẻ đã hình thành lục địa, nhiệt độ tương đối mát mẻ cũng như có nước vào thời điểm khoáng chất ziricon ở Australia hình thành.   Trà Mi   (Theo ScienceDaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiểu đường: căn bệnh của Châu Á ở thế kỷ 21?      Bệnh tiểu đường đang bùng nổ ở Châu Á với tốc độ nhanh hơn bất cứ đâu trên thế giới ở mọi lứa tuổi, mọi đối tượng xã hội và vượt qua mọi dự đoán của các chuyên gia trước đây.    Tổ chức Y tế Thế giới-WHO cho biết các ca tiểu đường ở Châu Á sẽ tăng khoảng 90% trong vòng 20 năm tới và căn bệnh này (cũng như các triệu chứng liên quan) sẽ trở thành khủng hoảng y tế lớn nhất thế kỷ 21. “Trong vòng 20 năm tới sẽ có khoảng 330 triệu người nhiễm bệnh ở Châu Á và kể cả đại dịch Aids hay cúm gia cầm cũng không có số lượng bệnh nhân lớn đến như thế”, ông Paul Zimmet, Giám đốc Viện Tiểu đường Quốc tế ở Victoria, Úc nói.  Các nước có số lượng người mắc tiểu đường lớn nhất Châu Á là Ấn Độ (33 triệu ca), Trung Quốc, Pakistan (23,9 triệu ca) và Nhật Bản (7 triệu ca). Ngay cả một số nước nghèo như Campuchia, tỉ lệ người mắc bệnh ở khu vực thành thị cũng cao gấp 2 lần với tỉ lệ trung bình của các nước Châu Âu. Tại Việt Nam, người ta đã phát hiện được cả bệnh nhân tiểu đường ở lứa tuổi thiếu nhi, tức là mới 11 tuổi. Tiến sĩ Anil Kapur, Phó chủ tịch Quĩ Tiểu đường Thế giới WDF phát biểu mới đây tại một hội nghị quốc tế về bệnh tiểu đường ở Việt Nam: “Trẻ em hiện đang mắc căn bệnh mà ngày xưa chỉ thấy ở thế hệ ông bà hay cha mẹ chúng”.  Thủ phạm chính của căn bệnh này một phần là do gien của con người nhưng chế độ ăn uống thay đổi và hoạt động thể chất kém cũng góp phần gia tăng bệnh tiểu đường. “Trong thập nhiên vừa qua ở Hà Nội, nơi người ta đã chuyển phương tiện giao thông chính từ xe đạp sang xe gắn máy, bệnh tiểu đường đã tăng lên gấp đôi”, Tiến sĩ Gauden Galea, Cố vấn khu vực của WHO cho biết. Thói quen ăn uống, thí dụ ăn ở ngoài với các thức ăn không được chế biến tốt và ít bổ dưỡng hơn cũng tạo điều kiện cho bệnh tiểu đường phát triển. Tiến sĩ trích dẫn một nghiên cứu thực hiện ở TP HCM cho thấy món phở gà ở các nhà hàng thường có tỉ lệ calorie cao gấp 23% so với chế biến tại gia đình. Một số nghiên cứu khác cho thấy chế độ dinh dưỡng kém ở phụ nữ mang thai cũng có thể dẫn tới tiểu đường ở cả đứa trẻ cũng như bà mẹ trong nhiều năm sau đó.Theo tài liệu của WDF, bệnh tiểu đường có thể dẫn tới cơ thể suy kiệt từ từ và thậm chí hậu quả tai hại nhất của bệnh này là dẫn tới mù hoặc hoặc hư hỏng các chi (tay hoặc chân).  Một điều nguy hiểm nữa, vẫn theo Tiến sĩ Galea là nhiều nhân viên y tế hiện cũng chưa có nhận thức đầy đủ về căn bệnh này. Đa số các nước Châu Á hiện chưa chuẩn bị sẵn sàng để đối đầu với căn bệnh này. Khi khủng hoảng xảy ra, bệnh tiểu đường rất có thể khiến các bệnh viện quá tải và gây khó khăn cho ngân sách của các quốc gia.  Tiến sĩ Hohan cho rằng các chính phủ ở Châu Á cần có các hành động ngay lập tức nếu không trong vòng 10-15 năm nữa, sẽ có hàng triệu người phải tách thận và điều trị laser vì mắc các căn bệnh này. Mới đây, Singapore cũng đã mở một chiến dịch vận động ăn uống lành mạnh để hạn chế căn bệnh nguy hiểm này  PV    Nguồn tin: BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiểu hành tinh trị giá 5.400 tỷ USD bay tới gần Trái Đất      Sáng sớm ngày 20/7 (giờ Hà Nội) vừa qua,  tiểu hành tinh có tên 2011 UW158 bay tới cách Trái Đất một cự ly chỉ  bằng 2,4594 triệu km, hoặc 6,4 lần khoảng cách Mặt Trăng-Trái Đất, hoặc  1/30 cự ly từ Trái Đất tới hành tinh gần nhất. Tiểu hành tinh này khi  sáng nhất có độ sáng cấp +14,7, tức là không thể nhìn thấy bằng loại  kính viễn vọng yếu.    Tiểu hành tinh 2011 UW158 được phát hiện ngày 25/10/2011 bởi kính thiên văn Pan-STARRS 1 (Panoramic Survey Telescope and Rapid Response System) đặt tại Haleakala trên đảo Hawaii. Nó có đường kính từ 300 đến 600 m (gấp đôi kính thiên văn vô tuyến Arecibo), tự quay khá nhanh với chu kỳ 37 phút, bay quanh Mặt Trời mỗi vòng mất 2,06 năm.    Hôm 14/7, các nhà khoa học ở Đài Thiên văn Arecibo (của Mỹ) đặt tại Puerto Rico đưa ra những tấm ảnh chi tiết đầu tiên của tiểu hành tinh này khi nó ở cách Trái Đất 6,9 triệu km (hoặc 18 lần khoảng cách Mặt Trăng-Trái Đất), và cho biết nó không thuộc loại tiểu hành tinh cỡ trung bình. Kính thiên văn vô tuyến Arecibo lớn nhất thế giới, có đường kính 350 m, được xây dựng từ những năm 60; trước năm 2011 do Đại học Cornell phụ trách.  Các nhà khoa học ước tính phần lõi của tiểu hành tinh này có chứa khoảng 100 triệu tấn bạch kim (platinum) trị giá 5.400 tỷ USD. Đã có một số công ty khoáng sản chọn tiểu hành tinh này làm đối tượng nghiên cứu khảo sát.    Đài Thiên văn Arecibo cho biết, đa số tiểu hành tinh gồm nhiều tảng đá khá nhỏ tụ lại với nhau bởi ảnh hưởng của trọng lực, riêng UW158 có hình dạng đặc biệt như một hạt dẻ đã bóc vỏ. Nhà khoa học Patrick Taylor phụ trách nhóm quan sát ở bộ phận Planetary Radar nói: loại tiểu hành tinh kích cỡ như thế này trong một thời gian nữa sẽ va chạm với các tiểu hành tinh khác và vỡ thành mảnh vụn hơn, nhưng cho tới nay nó vẫn còn là một khối rất rắn. Ông cũng nói thêm là cho tới năm 2018 nó mới có dịp bay gần Trái Đất lần thứ hai, trước đó nó sẽ không gây ra đe dọa nào đối với Trái Đất.     Công ty khai thác tiểu hành tinh Planetary Resources có trụ sở tại bang Washington cho rằng loại tiểu hành tinh như 2011 UW158 thích hợp cho việc khai thác. Công ty này đã chọn ra 10 tiểu hành tinh để nghiên cứu khả năng khai thác khoáng sản trên đó.    Cho tới nay loài người còn chưa có công nghệ khai thác khoáng sản trên các tiểu hành tinh, nhưng Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ NASA rất quan tâm tới vấn đề này, bởi lẽ số khoáng sản đó có thể dùng vào việc xây dựng các thiết bị thăm dò vũ trụ hoặc làm nhiên liệu cho tên lửa vũ trụ.    Ng.H theo    – http://astronomynow.com/2015/07/19/first-detailed-images-of-rare-asteroid-to-pass-close-by-earth-on-19-july/ First detailed images of rare asteroid to pass close by Earth on 19 July  – http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3165222/Asteroid-worth-3-TRILLION-precious-metals-set-pass-Earth-Sunday-watch-live.html Asteroid worth £3 TRILLION in precious metals passed Earth on Sunday    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tiêu tan hy vọng về cách mạng hạt của LHC      Sau hai năm đóng cửa bảo trì, vào tháng 6 năm 2015, máy gia tốc hạt lớn LHC đã hoạt động trở lại ở công suất cao và kết quả hoạt động của nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà vật lý. Tuy vậy, thật đáng ngạc nhiên rằng không có gì bất ngờ xuất hiện trong những dữ liệu của LHC theo một báo cáo gần đây nhất.      Những dữ liệu vào cuối tháng 12 năm 2015 đã mang đến hi vọng về một hạt chưa được tiên đoán. Nó xuất hiện rồi phân rã thành một cặp photon năng lượng cao, cũng là cách mà hạt Higg phân rã. Tuy nhiên, hạt mới nặng đến 800 lần hạt proton, còn hạt Higg chỉ nặng bằng 133 lần. Có đến hơn 500 bài báo đã được công bố nhằm cố gắng giải thích cho sự xuất hiện của một hạt mới. Nhưng thật đáng thất vọng, những tín hiệu này được kết luận chỉ là một hiệu ứng xảy ra trong quá trình biến động thống kê và thực ra LHC không hề phát hiện được loại hạt mới nào.  Việc tìm ra một hạt mới sẽ là chỉ dẫn ban đầu giúp các nhà vật lý mở ra và chứng minh những lý thuyết chuẩn đã có. Tuy nhiên hiện nay, các nhà vật lý học lo ngại rằng sẽ không tìm được những bằng chứng chứng thực cho các lý thuyết này. Nhà vật lý tại LHC Guy Wilkinson cho rằng, việc LHC không phát hiện ra hạt mới trong suốt một thời gian dài hoạt động là một dấu hiệu bất thường. Vì vậy, các lý thuyết chuẩn đã được hình thành và phát triển từ 40 năm nay như lý thuyết siêu đối xứng ít có khả năng đúng. Những báo cáo mới về hoạt động của LHC buộc chúng ta phải suy nghĩ lại về lý thuyết nền tảng của vật lý hạt và các lực cơ bản.  Phương Thảo tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm chìa khóa cho thành công bền vững      Một thời cách đây 3-4 năm, giới công nghệ điện tử rầm rộ quảng bá về những chiếc máy tính “made in Vietnam” như CMC, Sing PC, T&amp;H, Robo, Elead… nhưng rốt cục, số này hoặc chết yểu, hoặc thị phần quá bé nhỏ để người tiêu dùng Việt Nam ngày nay nhớ tới.        Nhìn ra thế giới bên ngoài, những công ty như Sony, Panasonic và Sharp cũng đã một thời điều khiển ngành công nghiệp, ở đẳng cấp cao hơn và bán chạy hơn hẳn đối thủ từ Mỹ. Tuy nhiên, do chậm đổi mới, chậm thích ứng với nhịp độ công nghệ thế giới, ngày nay chính họ lại đang là đại diện cho tín hiệu đáng báo động nhất của các doanh nghiệp Nhật Bản qua hai thập kỷ chật vật thích ứng, thu hẹp quy mô và đổi mới. Ông Takashi Okuda – Chủ tịch Sony, đã viết trong lá thư gửi các cổ đông: “Khai thác sự sáng tạo đang chảy trong DNA, chúng tôi sẽ đẩy nhanh sự ra mắt các dòng sản phẩm hoàn toàn mới thực sự gây ấn tượng và kinh ngạc”.  Xã hội đang cần những doanh nhân góp phần quan trọng vào những cuộc cách mạng “thúc đẩy sáng tạo” để biến điều không thể thành có thể. Với mục tiêu tăng cường Hệ thống Đổi mới – Sáng tạo Quốc gia (NIS) của Việt Nam, Alpha Books đã xuất bản bộ sách “Đổi mới sáng tạo – Chìa khóa của thành công bền vững” với sự tài trợ của Dự án “Chương trình Đổi mới – Sáng tạo” của Phần Lan, viết tắt là IPP. Bộ sách này bao gồm năm cuốn: Đổi mới từ cốt lõi (Peter Skarzynski – Rowan Gibson), Quản trị quá trình đổi mới và sáng tạo (Allan Afuah), Mã gen của nhà đổi mới (Jeff Dyer và Hal Gregersen), Giải pháp cho đổi mới và sáng tạo (Clayton M. Christensen và Michael E. Raynor), Steve Jobs – Những bí quyết đổi mới và sáng tạo (Carmine Gallo). Đây chắc chắn sẽ là công cụ đặc biệt hữu ích giúp cho các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam, các cơ quan tổ chức có thêm những bài học thực tiễn và giải pháp cho sự đổi mới sáng tạo của mình, nâng cao năng suất lao động, đồng thời giúp Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn mới.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm hiểu cơ cấu hình thành vạn vật      Vừa qua, một tin khoa học nóng hổi và quan trọng hàng đầu vừa xảy ra ở Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạt nhân (CERN) đặt ở biên giới Pháp-Thụy Sĩ cạnh thành phố Genève, một sự kiện mà các nhà vật lý và thiên văn toàn cầu hồi hộp đợi chờ từ hơn mười năm qua. Hôm ấy bắt đầu khởi động máy gia tốc hạt LHC (Large Hadron Collider) nằm sâu hơn trăm thước trong lòng đất với chu vi 27 cây số.     Khắp năm châu duy nhất chỉ có máy này làm đầu tàu thế giới – trong đó các hạt nhân nguyên tử proton (hadron) đạt tới năng lượng cực cao (large) va chạm nhau (collider) – để khám phá, đào sâu tìm hiểu, thống nhất các định luật cơ bản tận cùng của vạn vật, gói ghém trong một ngôn từ ngắn gọn gọi là Mô hình Chuẩn của các hạt cơ bản[i]. Nền tảng của mô hình chuẩn dựa trên sự hiện hữu thiết yếu của hạt Higgs[ii] vô hướng, tràn ngập không gian để cung cấp khối lượng cho tất cả các hạt khác khi tương tác với nó. Tựa như một đại dương vô hạn tràn đầy một cái gì (hạt Higgs), ở trong đó khi các hạt cơ bản khác (như electron, proton) dao động sẽ bị cản trở và di chuyển chậm đi giống như ánh sáng khi vào nước bị bẻ cong và mang theo một khối lượng. Khám phá ưu tiên của LHC là việc săn tìm hạt cơ bản Higgs[iii] này, hạt tạo ra khối lượng cho vạn vật, đề tài mũi nhọn, chìa khóa mở đường cho sự thống nhất hoà quyện giữa hai trụ cột của vật lý hiện đại, Lượng tử với Tương đối (hẹp và rộng). Thực vậy xin nhắc lại khối lượng là căn nguyên khởi đầu cho sự xuất hiện của không gian và thời gian, của vật chất, của vũ trụ. Không có khối lượng tức là năng lượng – thuyết tương đối hẹp, qua phương trình E = mc² của thế kỷ, chẳng bảo cho ta là năng lượng và khối lượng tuy hai mà một sao? –  thì chẳng có gì hết, kể cả không gian và thời gian trong đó vận hành vạn vật, bạn cùng tôi. Khối lượng tạo ra không gian và thời gian ư? Vâng thuyết tương đối rộng bảo ta thế, toàn bộ Không gian, Thời gian, Lực, Vật chất chẳng sao tách biệt, cặp không-thời gian (cái vỏ chứa) và cặp lực-vật chất (cái được chứa) chồng chéo gắn kết bên nhau, cấu trúc không phẳng mà cong uốn của không-thời gian (cái vỏ) được xây dựng bởi chính cái nội dung vật chất chứa đựng trong vỏ. Năng lượng là gốc nguồn chung cho tất cả, từ đó vật chất, lực, không gian, thời gian được tạo dựng nên[iv]. Thuyết tương đối rộng đã được kiểm chứng vô cùng chính xác bằng thực nghiệm ngay từ năm 1919 (ánh sáng bị uốn cong bởi mặt trời, cùng với hiện tượng tuế sai của quỹ đạo hành tinh Thủy quay chậm 43’’ trong một thế kỷ), chứng nghiệm mới đây nhất của thuyết này là Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) trang bị các phương tiện vận tải trên trời dưới biển, kể cả điện thoại di động và iPod. Trên vệ tinh GPS, thuyết tương đối rộng (hẹp) bảo cho ta đồng hồ tích tắc nhanh (chậm) hơn so với mặt đất, mà sự chính xác khoảng một phần ngàn tỷ giây của nhịp độ đồng hồ là điều kiện tối quan trọng cho GPS thành công[v]. Sự co dãn thời gian của các vật chuyển động khác nhau, tiên đoán bởi thuyết tương đối, đã được thực nghiệm kiểm chứng nhiều lần với độ chính xác cực kỳ. Còn lượng tử, trụ cột thứ hai của vật lý ? Xin nhắc rằng một phần ba tổng sản lượng kinh tế của cường quốc số một thế giới hiện nay có gốc nguồn từ những ứng dụng trực tiếp của công nghệ lượng tử với vi điện tử, quang điện tử, spin-điện tử mà điện thoại và máy vi tính di động tân kỳ chỉ là tảng băng nổi. Tất cả minh họa biết bao ứng dụng thực tiễn trong đời sống con người hầu hết khởi đầu từ những công trình nghiên cứu thuần cơ bản. Ngoài hạt Higgs ra, còn bao câu hỏi thâm sâu khác đang đợi chờ câu trả lời bởi thực nghiệm ở LHC, trong đó xin tạm kể:    (i) Đâu rồi phản vật chất ? Sự hiện hữu của phản vật chất là hệ quả sâu sắc nhất của bản giao hưởng tuyệt vời giữa tương đối hẹp và lượng tử. Máy chụp hình nổi PET (Positron Emission Tomography) trong y học ngày nay là một ứng dụng trực tiếp của hạt positron (phản electron) để rọi sáng chi tiết vi mô trong não bộ. Số lượng vật chất và phản vật chất phải bằng nhau, chẳng cái nào nhiều hơn cái nào vì vài phút sau Big Bang từ năng lượng thuần khiết ban đầu, chúng đều được hình thành theo từng cặp. Mà vật chất chính là nguyên tử, khí và thiên thể giăng đầy vũ trụ ngày nay, còn phản vật chất lại chẳng thấy tăm hơi, tại sao vũ  trụ ngày nay lại chỉ có vật chất? Đó là một bí ẩn của mô hình Big Bang vì ba lực (mạnh, điện từ và hấp dẫn) trong bốn tương tác cơ bản đều tuân theo luật đối xứng vật chất-phản vật chất (đối xứng CP) không có sự dị biệt giữa chúng. Chỉ tương tác yếu mới vi phạm phép đối xứng CP, theo đó tương tác yếu của phản vật chất và của vật chất không giống y hệt nhau mà khác đôi chút. Sự khác biệt đó được diễn giải hoàn hảo trong mô hình chuẩn hạt cơ bản và được kiểm chứng vô cùng chính xác bằng thực nghiệm. Nhưng sự vi phạm nhỏ của phép đối xứng vật chất-phản vật chất trong các phòng thí nghiệm trên trái đất không giải thích nổi về mặt định lượng tại sao trong vũ trụ ngày nay, vật chất lại áp đảo toàn diện phản vật chất, tại sao cái này lại biến đi ngay từ trong trứng nước thời Big Bang ? Tại sao mô hình chuẩn hạt cơ bản thành công mà mô hình chuẩn vũ trụ Big Bang lại thất bại trong cách diễn giải sự vi phạm đối xứng CP ? Đó là đề tài nghiên cứu ưu tiên của LHC cùng với sự săn tìm hạt cơ bản Higgs.  (ii) Năng lượng tối  (mang tính chất đẩy ra) để làm dãn nở vũ trụ, cái năng lượng tối đầy bí ẩn này chưa ai biết là gì tuy nhiên nó chẳng phải do vật chất tạo thành mà lại mang đặc tính năng lượng của chân không và chiếm đến chừng 73% năng-xung lượng trong hoàn vũ.   (iii) Vật chất tối (mang tính chất hút vào) nắm đến 23% khối lượng trong vũ trụ, nó không bức xạ mà chỉ có vai trò giữ cho các thiên hà góp thành chùm chứ không tung bay khắp phía, khác lạ với vật chất bình thường (chỉ chiếm khoảng 4% khối lượng vũ trụ) của những thiên hà sáng ngời mà ta quan sát được, một đề tài nóng hổi của vũ trụ học và vật lý hạt cơ bản.    (iv) Không gian chỉ có ba chiều sao ? Siêu dây là thuyết duy nhất đầu tiên trong vật lý xác định được con số D = 10 chiều của không-thời gian (trước siêu dây, số chiều 4 của không-thời gian ta quen dùng chỉ là một định đề tiên nghiệm ta tự cho ta, do cảm nhận và quan sát) minh họa không-thời gian là bộ phận chẳng thể tách rời khỏi vật chất mà thuyết tương đối rộng đã hé mở cho ta thấy. Sáu không gian còn lại bị cuốn tròn quá nhỏ để ta không quan sát được trong đời sống hằng ngày. Máy gia tốc LHC tìm kiếm gián tiếp không gian ẩn này, qua cái gọi là hiện tượng ‘bất bảo toàn năng lượng ảo’, vì ta chẳng đo lường nổi một phần năng lượng bị thu hút vào cái không gian ngoại vi đó.    Dẫu mang quá khứ huy hoàng, hoạt động khoa học và nghiên cứu ở Âu châu – quê hương của Lượng tử và Tương đối mà hơn ai hết Max Plank và Albert Einstein đã đóng góp vào – bị lu mờ phần nào trong nửa thế kỷ sau Đệ nhị Đại thế Chiến 1939-1945 thảm khốc và phân hoá Đông-Tây. Năm nay 2008 mở đầu một bước ngoặt đánh dấu sự phục hưng của nền vật lý ở châu lục này mà sự nghiệp xây dựng nên CERN quả là một bài học vượt xa đối tượng khoa học thuần tuý. Trên cánh đồng hoang ở Ferney-Voltaire biên giới Pháp-Thụy Sĩ, ngay sau Thế chiến này nhiều nhà vật lý Âu châu di tản khắp nơi vì nạn phát xít đã trở về cố hương cùng đồng nghiệp ở lại xây dựng nên Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạt nhân. Vì hòa bình và phát triển qua nghiên cứu cơ bản, với sự hỗ trợ tích cực của một số chính khách Pháp, Đức, Anh có tầm nhìn xa, họ đã chung sức mở đường cho sự hồi sinh và hoà giải của các nước Âu châu. Vì mỗi nước riêng lẻ không sao đủ nhân sự và phương tiện để hoàn thành sứ mạng, nguyên tắc tổ chức của CERN – tập hợp đóng góp tài năng, ngân quỹ từ nhiều nước châu Âu – đã tiên phong làm mô hình cho nhiều ngành hoạt động khác phỏng theo từ thiên văn, sinh học, thậm chí cả kinh tế, chính trị (CERN ra đời nhiều năm trước Liên hiệp Âu châu). Mạng lưới toàn cầu (world wide web) của Internet ra đời ở CERN khoảng năm 1990 là một trong nhiều thành công kỳ diệu từ nghiên cứu cơ bản sang ứng dụng của cơ quan này, máy chụp hình scanner trong y học, kỹ thuật siêu dẫn điện từ dùng trong máy LHC là vài thí dụ khác.   Năm 1992 (đúng 500 năm sau khi Columbus đặt chân lên châu Mỹ) máy gia tốc hạt SSC (Superconducting SuperCollider) đầu tàu thế giới về vật lý hạt cơ bản đang được xây ở Dallas, Texas (Mỹ) bị cắt đứt hỗ trợ. May thay CERN được sự đồng tình ủng hộ của các chính quyền Âu châu, quyết tâm thay thế sự hẫng hụt này và trong mười năm xây dựng nên LHC để mở đầu chu kỳ thăng trầm rời Mỹ sang Âu của ngành vật lý hạt mũi nhọn này. Hơn nữa CERN còn giang tay đón mời sự cộng tác của những tài năng đến từ khắp mọi miền trên trái đất, đặc biệt những nước đang phát triển để tận mắt tận tay học hỏi rồi sáng tạo. Một cơ hội ngàn vàng đối với Việt Nam. Nếu tham gia vào đề án khổng lồ này, với những đóng góp khiêm tốn của mình, Việt Nam sẽ có một chứng minh hùng hồn và thuyết phục trước thế giới về một chính sách Đổi Mới quan trọng trong Nghiên cứu Khoa học. Hàn Quốc thời xa xưa khi còn hàn vi cũng tham gia vào CERN. Sự tham gia đó sẽ mở ra triển vọng lớn để các tài năng trẻ Việt Nam tiếp cận nghiên cứu quốc tế trong chương trình cực kỳ quan trọng LHC này, ở những lãnh vực thuộc biên giới của tri thức nhân loại đang nóng bỏng. Đó chẳng phải là quốc sách để nâng vị trí khoa học của Việt Nam trong cộng đồng khoa học quốc tế hay sao? Chẳng phải nó sẽ cổ vũ thế hệ trẻ xung phong lên phía trước trên mặt trận khoa học hay sao?  ————————-    [i] Tóm tắt Mô hình Chuẩn hạt cơ bản: Vật chất đều do nguyên tử tạo thành, nhân lõi của nguyên tử do quark gắn bó bởi lực mạnh mà ra, chúng trao đổi gluon với nhau. Bởi lực điện từ, electron trao đổi photon với nhân lõi nguyên tử để hợp thành nguyên tử, phân tử và vật liệu nói chung. Lực cơ bản thứ ba trong tự nhiên là lực yếu chi phối sự phóng xạ nhân lõi nguyên tử do tác động của hai hạt W, Z. Lực cơ bản cuối cùng là trọng lực kéo giữ chúng ta trên mặt đất. Thành phần cơ bản cấu tạo nên vật chất là quark và lepton (electron). Chúng tương tác với nhau qua sự trao đổi các photon (lực điện từ), các gluon (lực mạnh), các W và Z (lực yếu). Tất cả các hạt cơ bản (trừ hạt cuối cùng Higgs) của Mô hình Chuẩn như quark, lepton, gluon, photon, W, Z đều đã được khám phá hết cả rồi với độ chính xác tuyệt vời. Các nhà vật lý ngóng chờ hạt Higgs với tất cả hồi hộp, nếu tìm thấy, mô hình chuẩn sẽ là hệ hình (paradigm) có tính quyết định cho sự hiểu biết tận tường gốc nguồn của khối lượng vật chất, và có tác động sâu xa đến vũ trụ học. Nếu không, ta sẽ đứng trước một bước ngoặt lịch sử của vật lý, nền tảng của Mô hình Chuẩn sẽ bị lung lay vì thiếu nhất quán. Lịch sử  khoa học từng chứng tỏ có những bước ngoặt mở đầu một kỷ nguyên mới cho nhân loại, không chỉ riêng cho khoa học và công nghệ mà còn lan rộng sang nhiều khía cạnh văn hoá, triết học, nhân sinh quan, vũ trụ quan.. .  [ii] Peter Higgs, tên nhà vật lý xứ Scotland đã đề xuất phải có hạt này để mang khối lượng cho vạn vật.  [iii] Xin kể cho vui một giai thoại (trang 508 trong The Rise of the Standard Model, Cambridge University Press, 1997): Năm 1964, Peter Higgs giảng sư bình thường của một Đại học nhỏ Newcastle upon Tyne bên Anh gửi công trình ông vừa viết đến tạp chí Âu châu Physics Letters, bài bị chối từ bởi tổng biên tập ở CERN (vì đề tài xa lạ với trào lưu thời thượng bấy giờ). Higgs bèn gửi sang tạp chí Physical Review Letters ở Mỹ và được chấp nhận ngay, bụt chùa nhà không thiêng!   [iv] Mời bạn đọc coi bức thư Einstein gửi ngày mồng 9 tháng giêng năm 1916 cho Karl Schwarzschild (nhà vật lý thiên văn Đức đã đầu tiên giải được chính xác phương trình của thuyết tương đối rộng mà Einstein vừa công bố tháng trước): ‘cái đặc điểm của thuyết tương đối rộng là không gian và thời gian tự chúng chẳng có tính chất vật lý gì cả. Nói đùa thôi, giả thử mọi vật trên đời biến mất, thì theo cơ học cổ điển Newton ta hãy còn một không gian rỗng tuếch phẳng lặng mênh mang và mũi tên thời gian vẫn lặng lẽ trôi, nhưng theo tôi thì tuyệt nhiên chẳng còn chi hết, cả không gian lẫn thời gian và vật chất!’   Thực là một cuộc cách mạng về tư duy mà Einstein mang đến cho nhân loại: chính vật chất trong đó có da thịt tâm tư con người xây dựng ra vũ trụ. Vật chất và không-thời gian chỉ là hai khía cạnh của một bản thể duy nhất, cái này sinh cái kia, không có cái này thì cũng chẳng có cái kia.  [v] Thêm nữa, nếu không có thuyết lượng tử thì cũng không có đồng hồ nguyên tử để đạt được độ chính xác ấy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm hiểu kính hiển vi lực nguyên tử      Kính hiển vi lực nguyên tử được coi là “con mắt của công nghệ nano” với những năng lực vượt trội trong lĩnh vực nghiên cứu các đối tượng có kích thước rất nhỏ. Sự thành công của Viện Vật lý Ứng dụng và Thiết bị Khoa học trong việc chế tạo tổ hợp kính hiển vi quét đầu dò lực nguyên tử và dòng tunnel đầu tiên của Việt Nam đã là một tiến bộ kỹ thuật rất đáng chú ý.    Kính hiển vi lực nguyên tử (AFM – Atomic Force Microscopy) lần đầu tiên được chế tạo thành công năm 1986 bởi Gerd Binnig, Calvin Quate và Christoph Geber, kết quả của sự hợp tác giữa IBM và Đại học Stanford. Vào mùa thu năm 1985, Binnig và Geber đã sử dụng một cần quét (cantilever) để khảo sát những bề mặt cách điện. Một mũi dò nhỏ được gắn ở phần cuối của cần quét, nó tỳ lên bề mặt mẫu trong quá trình quét. Lực giữa đầu dò và mẫu được đo theo độ lệch của cần quét. Điều này được thực hiện bởi việc quan sát dòng tunnel (dòng hiệu ứng đường ngầm) ở đỉnh của một đầu dò thứ hai đặt phía trên cần quét.  Thiết bị đầu tiên do Binnig phát minh là một đầu dò tunnel được đặt trên bề mặt phủ kim loại của cần quét. Hệ thống này làm cơ sở cho một kính hiển vi quét đường ngầm (STM – Scanning Tunneling Microscope), xác định độ lệch của cần quét. Về sau, người ta đã áp dụng các kỹ thuật quang học để nâng cao sự tiện dụng của AFM. Trong các phương pháp quang học thì phương pháp giao thoa là nhạy nhất, nhưng ở mức độ nào đó, nó phức tạp hơn phương pháp phản xạ chùm tia do Meyer và Amer nghĩ ra. Phương pháp phản xạ chùm laser hiện nay được sử dụng rộng rãi dựa trên kết quả nghiên cứu của Alexander và các cộng sự. Trong hệ này, một chùm tia laser được phản xạ từ bề mặt gương của cần quét đến một photodetector (thiết bị dò cảm biến quang học) rất nhạy. Trong sự bố trí này, một độ lệch nhỏ của cần quét sẽ làm xê dịch chùm phản xạ và thay đổi vị trí của chùm trên photodetector. Một hệ quang học thứ ba, được phát minh bởi Sarid, sử dụng cần quét như một trong những tấm gương của diode laser, ở đây, chuyển động của cần quét gây nên sự ảnh hưởng mạnh đến tia laser phát ra. Tùy theo theo tương tác giữa đầu dò và bề mặt mẫu, AFM có thể được phân loại theo các chế độ hoạt động tiếp xúc hoặc không tiếp xúc. Ở chế độ tiếp xúc, lực giữa đầu dò và bề mặt mẫu là lực đẩy, còn ở chế độ không tiếp xúc, đó là lực hút.         Tổ hợp kính hiển vi quét đầu dò lực nguyên tử và dòng tunnel được GS. TSKH. Nguyễn Xuân Hoài và các cộng sự chế tạo đã đạt được những tính năng cơ bản và độ tin cậy qua những thử nghiệm. Thiết bị này cũng đã chứng minh được khả năng thực tế rất hiệu quả khi được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc nano TiO2, chụp ảnh các virus cà chua và virus cây bông, quan sát nhiều mẫu vật liệu và mẫu sinh học khác. Kính hiển vi của GS Hoài tuy chưa phải là đi đầu về sự tiên tiến so với thế giới nhưng đã cho thấy khả năng làm chủ công nghệ của Việt Nam, điều đó được dựa trên sự tâm huyết và ý thức lao động khoa học thực sự.         Đầu dò nguyên tử quét trên một bề mặt với các cơ chế hồi tiếp, các cơ chế này cho phép các bộ quét áp điện duy trì ở đầu dò một lực không đổi (để thu được thông tin về độ cao) hoặc một độ cao không đổi (để thu được thông tin về lực). Các đầu dò thường được làm từ Si3N4 hoặc Si.  Các AFM điển hình sử dụng một hệ photodetector mà trong đó đầu dò được gắn với bên dưới của một cần quét phản xạ. Một tia laser được chiếu vào mặt phản xạ của cần quét. Khi đầu dò quét lên bề mặt mẫu, do sự mấp mô, nó sẽ rung động theo trục z, chùm laser phản xạ trên cần quét sẽ bị xê dịch tương ứng với rung động đó. Đặc trưng dao động của chùm laser phản xạ sẽ được hệ thống photodetector ghi lại và chuyển thành tín hiệu điện thế. Tín hiệu điện thế lại được xử lý và diễn giải theo chiều cao z đặc trưng cho tính chất địa hình của mẫu. Quá trình hồi tiếp sự khác nhau về tín hiệu giữa những cảm biến quang học, qua sự xử lý của phần mềm máy tính, cho phép duy trì hoặc  là một lực không đổi, hoặc là một độ cao không đổi trên bề mặt mẫu.  Ở chế độ lực không đổi, bộ chuyển đổi áp điện thực hiện việc quan sát sự xê dịch về độ cao theo thời gian thực để sao cho lực giữa mẫu và đầu dò có thể được giữ gần như không đổi. Ở chế độ tiếp xúc, đầu dò luôn được tiếp xúc với bề mặt mẫu. Các lực căng bề mặt và lực tĩnh điện có vai trò đẩy đầu dò về phía bề mặt. Chế độ này có thể phá hủy các mẫu và làm biến dạng dữ liệu hình ảnh. Do đó, so với chế độ không tiếp xúc, chế độ tiếp xúc chịu ảnh hưởng rất mạnh của các lực ma sát và lực bám dính. Chế độ không tiếp xúc nói chung là cho hình ảnh có độ phân giải thấp và có thể bị gây nhiễu bởi các lớp tạp chất. Chế độ dao động tapping của AFM được phát triển như một phương pháp để thu được độ phân giải cao mà không gây nên các lực ma sát có hại. Thay vì việc đầu dò luôn được tiếp xúc với mẫu, nó sẽ “nhảy” (“tap”) trên bề mặt với một lực nhất định theo tần số điều hòa của cần quét. Với kỹ thuật tapping này, cả các mẫu mềm và dễ vỡ đều có thể được quan sát một cách lý tưởng.   AFM trong sự so sánh với các thiết bị khác                                           Sơ đồ AFM        Khái niệm về độ phân giải của AFM là khác với các kính hiển vi dùng các tia bức xạ, bởi vì AFM sử dụng kỹ thuật hình ảnh ba chiều. Rõ ràng là có một sự phân biệt cơ bản giữa các hình ảnh được xây dựng bởi quang học sóng và các kỹ thuật quét dò.  1. Kính hiển vi quét đường ngầm  Trong một số trường hợp, độ phân giải của STM là tốt hơn AFM, do sự phụ thuộc hàm mũ của dòng tunnel vào khoảng cách. Sự phụ thuộc của lực vào khoảng cách trong AFM là phức tạp hơn nhiều khi kể đến hình dạng đầu dò và lực tiếp xúc. STM nói chung là chỉ áp dụng được với đối với các mẫu dẫn điện, trong khi đó AFM áp dụng được cho cả các vật dẫn và vật cách điện. Hơn nữa, AFM có được ưu điểm là điện thế và khoảng cách giữa đầu dò với mặt nền có thể được điều khiển một cách độc lập, trái lại, ở STM, hai tham số này lại phụ thuộc vào nhau.  2. Kính hiển vi quét điện tử  So với kính hiển vi quét điện tử (SEM – Scanning Electron Microscope), AFM cung cấp những phép đo độ cao trực tiếp về địa hình của mẫu và những hình ảnh khá rõ ràng về những đặc trưng bề mặt mẫu (không cần lớp bao phủ mẫu).  3. Kính hiển vi điện tử truyền qua  So với kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM – Transmission Electron Microscope), các hình ảnh AFM ba chiều có thể thu được mà không cần chuẩn bị mẫu quá phức tạp, nó cho thông tin đầy đủ hơn nhiều so với các hình ảnh mặt cắt hai chiều của TEM.      Trung Dũng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm hướng nghiên cứu phù hợp      Là một trong số ít những người nghiên cứu tin sinh học có gốc là sinh học phân tử tại Việt Nam, chị Kim Thị Phương Oanh vẫn đang băn khoăn tìm hướng nghiên cứu của riêng mình sau một thời gian dài học tập và nghiên cứu tại Nhật Bản.      Năm 2000 chị Oanh sang Nhật làm tiến sĩ về sinh học phân tử tại trường Đại học nữ Nara. Mặc dù đã quen với phong cách học tập và làm việc của người Nhật do đã từng được sang Nhật Bản 1 năm khi còn là sinh viên khoa Sinh của trường đại học Sư phạm Hà Nội, thời gian đầu chị vẫn phải chạy đua với thời gian để làm quen với môi trường mới. Theo chị Oanh, học tại một trường nữ ít áp lực hơn những trường đại học lớn khác tại Nhật Bản cũng là một may mắn vì mình cảm thấy rất thỏa mái với công việc và dễ dàng hòa nhập với cuộc sống. Nhờ sự giới thiệu của giáo sư hướng dẫn, chị đã có hợp tác nghiên cứu với một số phòng thí nghiệm ở trường Đại học Kyoto hay Tokyo. Sự hợp tác này đã giúp chị  mở rộng mối quan hệ và hòa nhập vào với môi trường làm việc tại Nhật Bản.          Kim Thị Phương Oanh tốt nghiệp tiến sĩ tại trường Đại học nữ Nara năm 2003. Làm nghiên cứu về sinh học phân tử và tin sinh học tại Nhật Bản từ năm 2003-2008. Từ tháng 9/2008 là nghiên cứu viên của Viện công nghệ sinh học Việt Nam.           Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ tại trường Đại học nữ Nara, chị Oanh tham gia vào nhóm nghiên cứu tin sinh học tại Viện năng lượng nguyên tử Nhật Bản. Làm việc trong một chuyên ngành mới có sự tương tác mạnh giữa sinh học và tin học, chị Oanh phải mày mò ôn lại những kiến thức về lý sinh, toán và cả lập trình. Ở các nhóm nghiên cứu tin sinh học, người ta cần ở nhà nghiên cứu sinh học nêu lên được các bài toán về sinh học, cùng tham gia vào việc phân tích dữ liệu, tìm ra quy luật, xây dựng mô hình, phỏng đoán trước khi làm thí nghiệm. Sau khi có mô hình toán tin rồi, nhà nghiên cứu sinh học lại phải xem ứng dụng như thế nào. Suốt năm đầu tiên, chị Oanh chỉ loay hoay làm quen với một chuyên ngành mới.   Những buổi seminar, trao đổi với đồng nghiệp… giúp chị bớt khó khăn trong nghiên cứu. Năm thứ hai, chị bắt đầu tập trung nghiên cứu vào mảng riêng. Năm thứ ba chị đã có thể viết báo công bố kết quả nghiên cứu. Kết thúc hợp đồng làm tại Viện, chị Oanh quay trở lại làm nghiên cứu tại trường đại học nữ Nara và tiếp tục theo hướng sinh học phân tử có ứng dụng chính những kết quả nghiên cứu tin sinh học: sử dụng kết quả tin sinh học trong phỏng đoán tương tác protein-RNA để xây dựng mô hình thí nghiệm kiểm tra tính chính xác. Chị tiến hành trong hai năm tại trường Đại học nữ Nara cùng với 1 giáo sư và 2 sinh viên và đạt những kết quả rất tốt.   Tháng 2/2008 chị trở về Viện Công nghệ sinh học tham gia vào đề tài Giải mã và xây dựng cơ sở dữ liệu genome tôm sú. Công việc cần tới những kiến thức về tin sinh học. Tuy nhiên, chị không gặp nhiều khó khăn vì dữ liệu không nhiều, công cụ để xây dựng dữ liệu cũng phổ biến. Đề tài đang trong quá trình nghiệm thu nhưng dường như chị vẫn chưa hài lòng. “Nếu tiếp tục tham gia nghiên cứu theo đề tài, dự án cùng với mọi người thì có thể vẫn làm được. Nhưng điều quan trọng là tìm cho mình một hướng nghiên cứu lâu dài”, chị Oanh tâm sự. “Tôi vẫn đang trong giai đoạn làm quen với điều kiện nghiên cứu ở trong nước vì nhiều hướng nghiên cứu cơ bản làm ở nước ngoài rất khó tiếp tục được ở Việt Nam”.  Tuy nhiên đã quen với việc nỗ lực theo học những cái mới, thích nghi với môi trường mới, chị không ngại đi qua giai đoạn “chuyển giao” này. Sắp tới chị Oanh tham gia giảng dạy khóa Master tin sinh học tại ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội cùng với các giảng viên người Pháp. Chị Oanh hi vọng, những khóa đào tạo mới về tin sinh học này sẽ giúp chị có thêm những cộng sự cùng say mê nghiên cứu về tin sinh học. Và rất có thể những ý tưởng mới sẽ đến…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm kiếm MH370: Cuộc trình diễn và tỉ thí KH&CN      Cho tới nay tổng cộng đã có 26 nước và vùng  tham gia tìm kiếm chiếc máy bay MH370 của Hàng không Malaysia mất tích  hôm 8/3/2014, với chủ lực là Malaysia, Mỹ, Australia và Trung Quốc.       Các nước đều dốc sức vào chiến dịch tìm kiếm quy mô lớn nhất trong lịch sử hàng không này, bởi lẽ nó có ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều mặt. Nguyệt san Hán Hòa Phòng vụ bình luận (xuất bản tại Canada) số tháng 5 viết: “Ngay từ ngày đầu khi MH370 mất tích, hoạt động cứu nạn của các nước đã thể hiện đặc điểm tranh giành quyền chủ đạo các vấn đề ngoại giao, quân sự, an ninh tại khu vực Nam Hải [Việt Nam gọi là Biển Đông].”   Nhưng giới khoa học lại quan tâm tới một khía cạnh khác của sự kiện này. Rõ ràng đây là một cuộc trình diễn, tỉ thí sức mạnh quân sự và khoa học và công nghệ (KH&CN) của các quốc gia tham gia tìm kiếm. Mỹ điều hai tàu khu trục tên lửa Kidd và Pinckney (mang theo hai máy bay lên thẳng HM-60R có chức năng tìm kiếm), hai máy bay trinh sát chống ngầm P-3C và Boeing P-8 Poseidon cực kỳ hiện đại.   Trung Quốc cử một lực lượng tìm kiếm lớn nhất trong lịch sử, gồm tàu khu trục tên lửa Hải Khẩu hiện đại nhất, tàu hộ vệ tên lửa Miên Dương, hai tàu đổ bộ loại lớn, một tàu tiếp tế loại lớn và các tàu khác, tổng cộng đợt đầu có 10 tàu (hiện nay là 18). Báo Trung Quốc nói các tàu hải quân tham gia tìm kiếm của họ có tổng số tấn lớn hơn tổng số tấn của toàn bộ lực lượng hải quân bất cứ quốc gia Đông Nam Á nào. Ngoài ra còn sử dụng nhiều máy bay và 21 vệ tinh. Bắc Kinh cho rằng chiến dịch này là dịp họ thể hiện sức mạnh và “quyền phát ngôn” trên biển của mình. Do có 154 người Trung Quốc trong số 239 người có mặt trên MH370 nên họ cho mình có trách nhiệm lớn nhất trong vụ này (không kể Malaysia).  Theo dõi quá trình tìm kiếm MH370 thời gian qua, có thể thấy Mỹ và các cường quốc phương Tây tỏ ra hơn hẳn Trung Quốc về nhiều mặt.   Thứ nhất, về tốc độ phản ứng. Mới đầu Bắc Kinh chần chừ chỉ cử tàu cứu viện dân dụng tham gia tìm kiếm MH370. Chỉ khi biết tin Mỹ đã cho máy bay tàu chiến đến vùng biển Nam Việt Nam (bị Malaysia nhầm lẫn nói là nơi MH370 mất tích), Bắc Kinh mới quyết định phái một lực lượng cứu viện mạnh nhất trong lịch sử tới vùng biển này. Báo Trung Quốc cho biết nước này đã đề nghị Việt Nam cho phép máy bay và tàu của họ vào vùng biển vùng trời nước ta tìm kiếm; và 15h41 (giờ Bắc Kinh) ngày 11/3, Việt Nam đã cho phép hai máy bay trinh sát điện tử TU-154 hiện đại nhất của Trung Quốc vào vùng trời Việt Nam. Nhưng trên biển, tàu Trung Quốc đến Nam Hải muộn hơn Việt Nam, Malaysia và Mỹ. Tàu hộ vệ Miên Dương xuất phát từ Hoàng Sa 23:30 đêm 8/3, mãi tới 3:50 ngày 10 mới đến nơi. Trung Quốc giải thích đó là do họ không có cảng ở vùng biển này và do có quá ít tàu đủ sức hoạt động viễn dương. Tàu khu trục USS Pickney đến vịnh Thái Lan 24 giờ sau khi MH370 mất tích; Trung Quốc lúc đó chỉ có tàu tuần tra biển tới đây.  Thứ hai, về nguồn tin. Trung Quốc chỉ tiến hành tìm kiếm theo thông tin do Malaysia cung cấp, bảo đến đâu thì đến đấy, hoàn toàn bị động. Ngược lại ngay từ đầu Mỹ đã có chủ kiến riêng. Ngày 13/3 báo Mỹ đưa tin một quan chức Mỹ giấu tên nói MH370 sau khi mất liên lạc với mặt đất vẫn còn liên lạc với vệ tinh và bay thêm hơn 3.600 km trong 4 giờ nữa. Ngày 14/3 người phát ngôn chính phủ Mỹ Carney nói Mỹ chuyển hướng tìm kiếm xuống Nam Ấn Độ Dương. Ngày 15/3 Thủ tướng Malaysia cũng tuyên bố như vậy, sau khi ngày 10/3, Tổ chức Vệ tinh di động quốc tế Inmarsat (International Mobile Satelline Organization) kết hợp với Cục Điều tra tai nạn máy bay Anh (AAIB), có sự hỗ trợ của hãng Boeing, dựa theo các quan sát của hệ thống vệ tinh đã tính toán chính xác đưa ra kết luận đường bay của MH370 chấm dứt trên bầu trời Nam Ấn Độ Dương. Inmarsat là một công ty đa quốc gia mà Trung Quốc là cổ đông nhưng không nắm được hoạt động của công ty, mọi công việc đều do Anh, Mỹ điều khiển.  Thứ ba, về trình độ KH&CN. Trước hết nói về vệ tinh. Trung Quốc là cường quốc vệ tinh thứ ba trên thế giới, chỉ sau Mỹ và Nga (116 vệ tinh; Mỹ – 502; Nga – 118). Lần này Bắc Kinh huy động 21 vệ tinh tham gia tìm kiếm nhưng tất cả các vật thể được vệ tinh họ quan sát thấy đều bị Malaysia xác định là không liên quan đến MH370. Ngày 9/3 Trung Quốc tuyên bố 11 giờ trưa hôm đó vệ tinh Gaofen-1 (Gaofen nghĩa là Độ phân giải cao) của họ chụp ảnh được ba vật thể là mảnh vỡ của MH370; nhưng điều đó nhanh chóng bị Malaysia bác bỏ. Sau đó Malaysia còn lên án vì Trung Quốc cung cấp thông tin sai này làm cho Malaysia mất công tìm kiếm ở Nam Hải. Hơn nữa ảnh chụp không rõ. Theo báo Trung Quốc, vệ tinh Gaofen-1 có độ phân giải bằng 2 m, nghĩa là một vật hình vuông có kích thước 2mx2m sẽ chiếm 1 pixel (điểm ảnh) trong ảnh vệ tinh. Trong khi đó độ phân giải của vệ tinh trinh sát quang học Keyhole (Lỗ khóa; phóng từ thập niên 60) của Mỹ là 0,1~0,3 m. Ngay vệ tinh thương mại của Google cũng có độ phân giải 0,41 m.  Vệ tinh thông tin của Inmarsat nhận được bảy lần tín hiệu “Bắt tay” từ MH370; vệ tinh Trung Quốc không nhận được tín hiệu nào. Do vậy Bắc Kinh không có vai trò gì trong việc đưa ra kết luận quan trọng chuyển hướng tìm kiếm xuống Nam Ấn Độ Dương. Qua việc đó, một Viện sĩ Trung Quốc kêu gọi nên gấp rút nghiên cứu các công nghệ có chức năng tương tự vệ tinh hàng hải của nước ngoài, sao cho vệ tinh nước mình nhận được thông tin từ mọi máy bay đang bay.  Các phương tiện tìm kiếm của Trung Quốc nhìn chung còn thua kém phương Tây.  Việc tìm kiếm MH370 để lộ sự lạc hậu là Trung Quốc chưa có máy bay trinh sát chống ngầm loại lớn như P-3 (cánh quạt) và P-8 (phản lực Boeing 737). Nhật, Australia, New Zealand mỗi nước đều cho một chiếc P-3C tham gia tìm kiếm MH370. Máy bay cánh cố định là phương tiện tìm kiếm hiệu quả nhất. Trong vụ tìm kiếm chiếc máy bay Air France 447 mất tích năm 2009, một chiếc P-3 của Brazil phát hiện được mảnh vỡ đầu tiên. Hiện Trung Quốc đang thử nghiệm máy bay chống ngầm Gaoxin-6, được cho là tương đương P-3C.  Trung Quốc dường như chưa chú trọng nghiên cứu chế tạo thiết bị để đối phó với các tai nạn. Vụ trưởng Vụ Đo vẽ hải sự thuộc Trung tâm bảo đảm hàng hải Đông Hải Bộ Giao thông Trung Quốc nói: Các thiết bị tìm kiếm đều hoàn toàn nhập khẩu… Thật xấu hổ. Cụ thể chỉ có mấy thứ: – một thiết bị tìm hộp đen; – hai robot lặn; – một máy Sonar và một máy đo từ lực.  Trong lĩnh vực thiết bị dò nghe tín hiệu âm thanh “ping” phát ra từ hộp đen, công nghệ Trung Quốc cũng còn lạc hậu. Ngày 5/4, thiết bị tìm kiếm hộp đen trên tàu Hải Tuần 01 của Trung Quốc “lập kỷ lục” đầu tiên nghe thấy tín hiệu xung tần số 37,5 kHz mỗi giây phát 1 lần tại gần địa điểm 25 độ vĩ Nam, 101 độ kinh Đông. Thế nhưng mức độ đơn giản của thiết bị này thật đáng ngạc nhiên: trên xuồng máy, một người giữ thiết bị kéo theo dưới nước, một người dùng ống nghe để nghe tín hiệu ping phát ra từ hộp đen dưới đáy biển! Thì ra đó là loại thiết bị xách tay của Mỹ giá 16.000 USD có bán trên thị trường. “Có thể nghe được tín hiệu phát từ độ sâu mấy nghìn mét không ?” – một giáo sư ở Canada khi xem truyền hình nghi ngờ hỏi.   Dĩ nhiên thiết bị đó không thể sánh được với TPL, tức Thiết bị định vị tiếng ping kéo theo tàu (Towed Pinger Locator, tức định vị hộp đen). Trong 20 năm qua, Hải quân Mỹ đã dùng TPL để tìm kiếm hộp đen máy bay quân sự và dân dụng. Họ đã tìm thấy hộp đen của chuyến bay TWA800 (rơi năm 1996) và chuyến bay Air France 447 (rơi năm 2009, ở độ sâu 3900 m).   Tàu tiếp tế Ocean Shield của Hải quân Australia đã dùng TPL-25 để tìm hộp đen của MH370. Thiết bị nặng gần 34 kg, kích thước 76 ~ 89 cm, được nối với tàu bằng dây cáp (dài 4500 m, cho phép nó chạm đến đáy biển) và được kéo theo tầu chạy với tốc độ thấp 1 ~ 5 knot (1knot = 1852 m) tùy độ sâu; khi đó có thể nghe được âm thanh ở độ sâu 4.500 m. Ocean Shield thả TPL xuống biển và kéo nó đi theo ở độ sâu khoảng 3.000 mét, tức cách đáy biển 1.000-1.500 m. Ở độ sâu đó, TPL có thể phát hiện các tín hiệu “ping” cách nó khoảng 1,6 km từ mọi hướng.  Một chuyên gia điện tử Trung Quốc nói: Máy của ta có thể nghe được tín hiệu nhưng không thể định vị nguồn tín hiệu ở đâu. Chưa kể, xuồng máy không thể ra biển khi gió to sóng lớn, khi ấy thiết bị phải nghỉ; còn TPL-25 có thể làm việc trong mọi hoàn cảnh.   Kết quả dò tín hiệu bằng TPL-25 của Ocean Shield ngày 6/4 đã phủ nhận tin tàu Hải Tuần 01 đầu tiên nghe được tín hiệu hộp đen. Tướng Angus Houston chỉ huy tìm kiếm của Australia nói các dữ liệu của Trung Quốc “qua phân tích cho thấy không phải là tín hiệu tin cậy”.  Sáu ngày sau khi TPL không bắt được tín hiệu (pin hộp đen hết điện nên ngừng phát tín hiệu), ngày 14/4, Ocean Shield ngừng dùng TPL mà bắt đầu dùng Tàu ngầm không người lái Bluefin-21 tìm kiếm dưới đáy biển. Bluefin-21 dài gần 5 m, đường kính 0,5 m, nặng 750 kg, có trang bị máy định vị siêu âm để quét và vẽ bản đồ 3D đáy biển với độ phân giải cao, tốc độ bơi 4 knot/h, thời gian làm việc lâu nhất là 25 giờ, mỗi lần làm việc 16 giờ dưới nước. Nó có thể lặn sâu nhất 4.500 m; nếu gặp chỗ sâu hơn thì tự động nổi lên, ngừng hoạt động, chờ được điều chỉnh, lập trình lại. Theo đài RFI, ngày 19/4 nó đã lặn lần thứ 7, đạt độ sâu kỷ lục 4.695 m.   Bluefin-21 là thiết bị tìm kiếm dưới nước hiện đại nhất được Hải quân Mỹ sử dụng từ 4/2012, do công ty Bluefin Robotics chế tạo. “Thiết bị này làm việc như cái máy cắt cỏ.” — CEO công ty nói. Sau khi được thả xuống nước, nó phát các xung Sonar ra hai phía theo hình vòng cung quét đáy biển; rồi tiếp nhận sóng âm phản xạ từ các vật thể ở trong phạm vi tác dụng của xung, qua đó sẽ phán đoán được độ cao của vật thể và vẽ thành hình ảnh. Nhưng các hình ảnh đó không truyền ngay lên tàu, mà chỉ khi thiết bị nổi lên mới được giải mã.  Việc đưa Bluefin-21 vào hoạt động làm cho Tàu lặn có người lái Giảo Long (Jiaolong, Thuồng luồng) mà Bắc Kinh từng khoe lập kỷ lục lặn sâu nhất thế giới (7.062 m, 6/2012) bị ra rìa. Giảo Long lắp thiết bị Sonar và hai cánh tay máy, rất thích hợp làm nhiệm vụ tìm kiếm các vật thể dưới đáy biển. Báo Mỹ nói Trung Quốc không sử dụng Giảo Long vì sợ để lộ sự thua kém về công nghệ. Thôi Duy Thành một cán bộ thiết kế Giảo Long nói ông rất thất vọng vì tàu lặn này không được nhà nước cho phép dùng để tìm kiếm MH370; có lẽ vì tàu mẹ của nó chế tạo từ năm 1978 tỏ ra kém tin cậy. Một cán bộ thiết kế giấu tên nói Giảo Long có nhược điểm chạy chậm, chỉ đạt 1 knot/h, thời gian chạy tối đa có 12 giờ, trừ đi lặn, nổi, thời gian làm việc dưới nước không quá 5-6 giờ, thua xa Bluefin-21; nhưng nếu không đưa vào sử dụng thực tế thì sẽ mãi mãi không biết yếu kém ở chỗ nào. Australia đứng đầu chiến dịch tìm kiếm này cũng không kiến nghị dùng Giảo Long.  Trung Quốc chủ yếu dùng vệ tinh, máy bay và tàu thuyền để tìm kiếm MH370, nhưng các phương tiện cũng này đều thua kém Mỹ, Anh, Australia, khiến cho phần đóng góp của Trung Quốc rất hạn chế, nhất là khi tìm kiếm vùng biển rộng 0,3 triệu km2 ở Nam Ấn Độ Dương, nơi Bắc Kinh chưa từng có sự hiện diện quân sự. Hiện nay chiến dịch tìm kiếm MH370 ở đây do Australia dẫn đầu, các bên tham gia chính là Mỹ và New Zealand đều là các nước phát triển. Ba nước này từ lâu đã có thỏa thuận liên kết quân sự với nhau, vì thế họ phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả. Lực lượng tìm kiếm của Trung Quốc tuy rất hùng hậu nhưng không có những điều kiện thuận lợi như vậy cho nên hoạt động khó khăn, kém hiệu quả.  Trung Quốc đưa vào đây một lực lượng tìm kiếm lớn nhất trong lịch sử nhưng thực tế chưa thu được hiệu quả tương xứng và trên nhiều mặt lại tỏ ra thua kém. Mấy lần họ công bố kết quả tìm kiếm của mình đều bị đánh giá là sai và vì thế báo đài nước ngoài nói thẳng là “mức độ Trung Quốc thiếu các thiết bị tinh sảo làm cho quốc tế ngạc nhiên”. Sự thực đáng xấu hổ đó khiến giới KH&CN và quân sự Trung Quốc suốt thời gian qua im hơi lặng tiếng không dám nói gì, trong khi dân chúng nước này nói đây là sự xỉ nhục đất nước, họ bất bình lên tiếng phê phán KH&CN Trung Quốc lạc hậu, chỉ giỏi khoe khoang các chỉ tiêu thống kê mà chưa coi trọng giá trị sử dụng thực tế.   Báo Thanh niên Trung Quốc nóng mắt tổ chức phỏng vấn một số chuyên gia liên quan xem họ nói gì. Tất cả họ đều tỏ ra thất vọng về biểu hiện của Trung Quốc trong cuộc tỉ thí sức mạnh KH&CN này. Họ vạch ra các thiếu sót như không chú trọng nghiên cứu sáng chế các thiết bị tìm kiếm, hầu như chỉ nhập khẩu mà nước ngoài không bao giờ bán thứ tốt nhất; rốt cuộc “người có, ta không có”; khi lâm sự mới thấy không thực hiện được khẩu hiệu “nuôi quân nghìn ngày, dùng quân một giờ”; thể chế đánh giá KH&CN vẫn là “có học mà vô dụng”, một mặt ra sức nhập thiết bị tiên tiến rồi bắt chước chế tạo, một mặt gửi đăng thật nhiều bài báo trên các tập san quốc tế, cho rằng như thế là được rồi.  Theo số liệu công bố trong “Báo cáo 2013 về chỉ số sáng tạo mới nhà nước” của Viện Nghiên cứu chiến lược phát triển KH&CN Trung Quốc thì nước này hiện đứng đầu thế giới về số lượng cán bộ khoa học làm công tác R&D (3,247 triệu người); kinh phí R&D đứng thứ ba thế giới; số luận văn khoa học quốc tế – thứ hai, số luận văn được trích dẫn nhiều – thứ tư; số phát minh sáng chế xin cấp patent và được cấp patent – thứ nhất và thứ hai. Song tất cả các số liệu trên chưa phản ánh thực chất trình độ KH&CN Trung Quốc. Rõ ràng, không thể đánh giá đúng trình độ thật sự của thành quả nghiên cứu KH&CN nếu không đưa nó vào thực tế sử dụng.     Nguyễn Hải Hoành tổng hợp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm kiếm sự sống trên các địa cầu trong dải Ngân hà      Sinh vật là hậu duệ cuả những ngôi sao?   Nền văn minh công nghệ tiên tiến đã giúp nhân loại khám phá ngày càng sâu trong vũ trụ bao la. Kính viễn vọng đặt trên mặt đất và phóng lên không gian, hoạt động trong nhiều miền phổ điện từ, từ bước sóng gamma, X, khả kiến, hồng ngoại đến bước sóng vô tuyến, được dùng để quan sát những thiên thể xa xôi, nhằm tìm hiểu nguồn gốc và sự tiến hóa cuả vũ trụ. Phổ của bức xạ tùy thuộc vào điều kiện lý-hóa như nhiệt độ, từ trường và bản chất của vật chất trong thiên thể. Quan sát nhiều miền phổ là để xác định những nét đặc trưng của từng thiên thể.        Trong những thập niên gần đây, sự tìm kiếm sự sống trong dải Ngân hà là một đề tài hấp dẫn của ngành thiên văn hiện đại. Trong giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa, những ngôi sao phun ra hết vật chất và còn có khả năng nổ tung. Vật chất trong những ngôi sao đang hấp hối lại được dùng để tạo ra những ngôi sao và những hành tinh thế hệ sau. Nhiều hóa chất, thành phần cơ bản của những phân tử sinh học, đã được phát hiện trong dải Ngân hà. Do đó, các nhà thiên văn mạnh dạn cho rằng sinh vật, kể cả loài người trên trái đất và nếu có trên các hành tinh khác, cũng là hậu duệ của những ngôi sao.  Trạm tự hành (rover) Curiosity vừa được phóng lên hành tinh Hỏa ngày 6 tháng 8 năm 2012 để thăm dò môi trường của hành tinh xem có khả năng làm nảy sinh và nuôi dưỡng sự sống. Sự kiện Curiosity hạ cánh an toàn trên hành tinh Hỏa đã  được các phương tiện truyền thông đại chúng toàn cầu theo dõi. Tổng thống Obama cũng đích thân gọi điện để nói chuyện với các nhà khoa học của Cơ quan Hàng không Vũ trụ  NASA và Phòng thí nghiệm JPL. Tổng thống  ca ngợi họ đã phóng thành công trạm Curiosity và còn dí dỏm yêu cầu, nếu các nhà khoa học tìm thấy người ngoài trái đất thì vui lòng thông báo ngay cho ông biết.   Lý do để quan sát những địa cầu trong các hệ sao  Sinh vật không thể sinh sôi nảy nở trên những ngôi sao vì thiên thể này là những khối khí khổng lồ cực kỳ nóng. Tâm của ngôi sao là một lò phản ứng nhiệt hạch, tổng hợp các hạt nhân, chủ yếu là hydro và heli. Nhiệt độ trên bề mặt những ngôi sao “lạnh” nhất tối thiểu cũng phải cao khoảng 2000-3000 độ C. Những hành tinh lớn quay xung quanh ngôi sao cũng thường là những khối khí, nhưng không đủ nóng để “nhóm” những phản ứng tổng hợp hạt nhân, do đó hành tinh không tự phát ánh sáng mà chỉ phản chiếu ánh sáng cuả ngôi sao. Trong số những hành tinh cũng có loại địa cầu có vỏ rắn, có khí quyển và khí hậu ôn hòa như trái đất, nên là nơi có khả năng có sinh vật. Trong Ngân hà có thể có hàng tỷ địa cầu tương tự như thế. Tuy nhiên, sự tìm kiếm những địa cầu xa xôi không phải là công việc dễ dàng. Hành tinh quay trên quỹ đạo sát cạnh ngôi sao, nên kính viễn vọng không đủ độ phân giải để phân biệt hai thiên thể. Ngôi sao sáng chói nên độ tương phản giữa ánh sáng của ngôi sao và cuả hành tinh cũng rất cao. Muốn phát hiện hành tinh trong những hệ sao, các nhà thiên văn phải sử dụng những phương pháp tinh vi, như đo đạc sự thay đổi của tốc độ ngôi sao do sức hút hấp dẫn của hành tinh quay xung quanh, hoặc sự thay đổi độ sáng của ngôi sao khi hành tinh đi qua trước mặt. Tuy nhiên, biên độ thay đổi tốc độ và độ sáng của ngôi sao bị nhiễu bởi hành tinh đồng hành là ở mức độ vi mô, nên sự phát hiện hành tinh đòi hỏi những kỹ thuật đo đạc rất chính xác và tỉ mỉ. Hành tinh càng nhỏ và nhẹ càng ít tác động đến ngôi sao. Những hành tinh nhỏ như trái đất khi di chuyển qua trước mặt ngôi sao chỉ làm giảm khoảng 1/100.000 độ sáng cuả ngôi sao. Tới nay, ngót một nghìn hành tinh đã được phát hiện trong những hệ sao bằng những phương pháp nói trên.  Trạm tự hành Curiosity thám hiểm hành tinh láng giềng  Thế giới quanh ta trong hệ mặt trời, ngoài trái đất ra, còn có 7 hành tinh. Những hành tinh gần trái đất đã được thăm dò trực tiếp bằng những trạm tự hành phóng lên bề mặt hành tinh. Hành tinh Kim và hành tinh Hỏa có vỏ rắn và là láng giềng gần gũi nhất của trái đất, nên là những mục tiêu lý tưởng. Khí quyển của hành tinh Kim dày đặc và chứa nhiều khí CO2 gây ra hiệu ứng nhà kính. Môi trường trên hành tinh Kim nóng ngột ngạt tới hơn 400 độ C, nên không thích hợp với sự sống. Hành tinh Hỏa nhỏ bằng nửa trái đất đã được chọn là mục tiêu của trạm tự hành Curiosity, bởi vì hành tinh không quá nóng và có một số đặc điểm tương đồng với trái đất. Mục tiêu của các nhà khoa học lần này là phóng trạm Curiosity lên hành tinh Hỏa để khám phá môi trường trên hành tinh và quan sát xem sự sống, dù ở dạng vi sinh vật, có thể đã nảy sinh trong quá khứ và còn tồn tại đến ngày nay hay không? Đo đạc hàm lượng cuả nguyên tố carbon và những  hợp chất có liên quan, cùng với nước tích trữ trên hành tinh là mục tiêu quan trọng của chuyến thám hiểm này. Nghiên cứu quá trình tiến hóa của khí hậu và khí quyển của hành tinh Hỏa là để chuẩn bị những vụ phóng tàu có người lái đổ bộ lên hành tinh sau này.  Từ năm 1960 tới nay đã có tới 25 vụ phóng trạm tự động để đi vào quỹ đạo quanh hành tinh Hỏa và quan sát từ trên cao, hoặc hạ cánh để thám hiểm trực tiếp bề mặt hành tinh. Ngoài Hoa Kỳ và Nga là hai quốc gia thực hiện nhiều nhất những vụ phóng trạm vũ trụ lên hành tinh Hỏa, còn có sự tham gia khiêm tốn của cộng đồng Châu Âu và Nhật Bản. Tuy nhiên, chỉ có một số ít trạm vũ trụ được phóng thành công. Cơ quan NASA đã phóng được 7 trạm tự hành lên bề mặt hành tinh.          Trong 5 thập niên gần đây, hành tinh Hỏa đã từng là mục tiêu thám hiểm của nhiều tàu vũ trụ, chủ yếu phóng bởi cơ quan vũ trụ Hoa Kỳ và Nga. Nhiều vụ phóng tàu không thành công. Hiện nay chỉ có một số ít trạm tự hành di chuyển trên bề mặt hành tinh (Hình NASA).          Trạm Curiosity được phóng lên bề mặt hành tinh Hỏa để quan sát điều kiện lý-hóa có khả năng làm nảy nở sự sống. Những chuyến thăm dò trước đây phát hiện là xưa kia trên hành tinh Hỏa đã từng có những dòng nước chảy xiết tạo ra những cái kênh làm xói mòn bề mặt hành tinh, nhưng nay kênh đã khô cạn. Nước ở thể lỏng là yếu tố cốt yếu trong quá trình sinh sản và nuôi dưỡng sinh vật, vì nước là dung môi để hòa tan các chất hữu cơ tạo ra sự sống. Bầu khí quyển cuả hành tinh Hỏa tương đối loãng và tầng ozone mỏng manh, nên tia tử ngoại độc hại cuả mặt trời dễ đột nhập vào bề mặt hành tinh. Hành tinh Hỏa cũng không có từ trường để làm bình phong ngăn chặn những hạt ion của luồng gió mặt trời. Cho nên sự sống trên hành tinh Hỏa có thể bị tổn thương phần nào. Trên bề mặt hành tinh Hỏa, áp suất chỉ bằng 6/1000 áp suất khí quyển trái đất và nhiệt độ thường thấp dưới 0 độ C. Vì áp suất và nhiệt độ thấp nên nước trên bề mặt hành tinh không tồn tại được lâu ở thể lỏng mà thăng hoa (sublimate), tức là  chuyển  thẳng từ trạng thái đặc (đóng băng) đến trạng thái hơi. Nước ở thể lỏng cần thiết cho sự sống có nhiều khả năng tồn tại ớ bên dưới bề mặt hành tinh.  Sự sống trên hành tinh Hỏa có khả năng nảy sinh cùng thời với sự sống trên trái đất cách đây khoảng 3,8 tỷ năm. Hiện nay liệu hành tinh Hỏa vẫn còn có những điều kiện lý-hóa để sinh vật tồn tại được hay không? Nhiệm vụ cuả trạm Curiosity là tìm kiếm những chất hữu cơ, trong đó có nguyên tử carbon, hydro, oxy, nitơ, có khả năng dẫn đến sự hình thành sự sống. Sự hiện diện của khí methane cũng là dấu hiệu cuả những phản ứng có tính sinh học. Tuy hành tinh Hỏa được tạo cùng thời với trái đất cách đây hơn 4 tỷ năm và đã có một môi trường nguyên thủy tương tự như trái đất, nhưng qua quá trình tiến hóa, hai hành tinh đã trở nên khác hẳn nhau. Quan sát môi trường trên hành tinh Hỏa cũng giúp các nhà thiên văn so sánh và tìm hiểu quá trình tiến hóa cuả trái đất.  Curiosity mang theo những thiết bị quan sát tinh vi. Con tàu tự hành này là một phòng thí nghiệm lưu động có khả năng xử lý những mẫu đá lượm được trên hành tinh, nhằm phát hiện thành phần hoá học liên quan đến những phân tử sinh học tạo ra sự sống. Những thiết bị chủ yếu gồm có camera và phổ kế tối tân nhất. Một máy laser được dùng để bắn vào những mục tiêu làm vật chất tan ra để xác định những thành phần hóa học.          Địa hình khu vực trạm tự hành Curiosity hạ cánh (khoanh hình elip). Địa điểm hạ cánh nằm dưới đáy miệng một núi lửa và ở dưới chân một ngọn núi (màu nâu ở giữa hình) cao 5000 m (Hình NASA/JPL-Caltech).           Tàu thám hiểm tự hành Curiosity là con tàu nặng gấp 5 lần những con tàu như Opportunity phóng trước đây. Điều đáng chú ý là NASA đã khắc phục được kỹ thuật thả tàu Curiosity an toàn dưới chân một ngọn núi cao khoảng 5000 m trên hành tinh Hỏa, sau một cuộc hành trình dài 9 tháng và để tàu hạ cánh không xa vị trí đã định trước. Nhiên liệu nguyên tử phóng xạ có thể cung cấp năng lượng để Curiosity hoạt động được trong tròn một năm trên hành tinh Hỏa. Một năm trên hành tinh Hỏa tương đương với khoảng hai năm trên trái đất. Những kết quả kỹ thuật đạt được cũng sẽ là một khích lệ lớn đối với những nhà khoa học có đề án phóng tàu có người lái sau này. Tuy nhiên, cuộc hành trình khứ hồi kể cả thời gian ở lại trên hành tinh cũng phải dài ít nhất một năm rưỡi và đòi hỏi kỹ thuật phóng vệ tinh có  độ an toàn tuyệt đối và do đó cần nhiều kinh phí.  Những bước kế tiếp của chương trình phát hiện sự sống trong dải Ngân hà  Sự hình thành sự sống từ các chất hữu cơ, bắt đầu từ vi sinh vật cho tới loài người, là một quá trình phức tạp lâu dài và cần đến những yếu tố thích hợp, về mặt khí quyển, nhiệt độ v.v … . Tuy nhiên, trong dải Ngân hà có thể có nhiều hành tinh có điều kiện lý-hóa làm nảy nở và nuôi dưỡng sự sống. Muốn tìm thấy sinh vật kể cả loài người, nếu có, sinh sống trên những hành tinh khác thì cần phải mở rộng sự tìm kiếm ra những hành tinh ở bên ngoài hệ mặt trời. Khoảng cách cuả những hành tinh này rất lớn nên các nhà thiên văn chỉ dùng kính viễn vọng để quan sát. Họ đã phát hiện được hàng trăm hành tinh trong dải Ngân hà  và một số có khí quyển và có khí hậu ôn hòa. Quan sát bằng kính viễn vọng những hành tinh xa xôi và phân tích khí quyển của hành tinh là điều kiện tiên quyết cho sự phát hiện sinh vật. Các nhà thiên văn cũng đang sử dụng những kính viễn vọng thế hệ mới để phát hiện những phân tử hữu cơ liên quan đến sự sống trong những hệ sao có hành tinh đồng hành.  Phân tử quay và rung động nên phát ra những vạch phổ trên bước sóng hồng ngoại và vô tuyến. Sự chuyển động vi mô của phân tử và những đặc trưng cuả phổ tuân theo định luật của cơ học lượng tử. Amino acid là những chuỗi phân tử hữu cơ, một đầu có nhóm chức hóa học amin NH2 và đầu kia có nhóm chức acid COOH. Amino acid là thành phần cơ bản của chất đạm trong tế bào sinh vật. Các nhà hóa học đã điều chế được amino acid trong phòng thí nghiệm từ một hỗn hợp khí hydro, methane, amoniac và hơi nước. Hỗn hợp  hóa chất này được coi là tồn tại trong khí quyển nguyên thủy của trái đất.  Chúng tôi cùng đồng nghiệp tại Đài Thiên văn Paris đã dùng kính viễn vọng vô tuyến có đường kính 30 m của Viện Thiên văn vô tuyến IRAM (Pháp-Đức) để tìm kiếm trong trung tâm Ngân hà và trong Tinh vân Lạp hộ (Orion Nebula) một loại amino acid đơn giản nhất gọi là glycine có công thức NH2CH2COOH. Một số phân tử hữu cơ như acetic acid CH3COOH và cồn ethyl C2H5OH xuất hiện trong phổ, nhưng không có tín hiệu của phân tử glycine. Biên độ dao động trong phổ cao hơn tiếng ồn của thiết bị thu tín hiệu. Những dao động có thể tạo ra  một “rừng” vạch phổ rất yếu chưa nhận biết được. Phải chăng vạch glycine bị lẫn lộn với những vạch phân tử khác cũng có cường độ rất thấp và chìm đắm trong “rừng” vạch phổ?          Phổ chúng tôi quan sát được từ Tinh vân Lạp hộ (Orion Nebula) nhằm tìm kiếm phân tử amino acid đơn giản nhất mang tên là glycine. Tinh vân Lạp hộ là cái nôi cuả nhiều ngôi sao đủ lứa tuổi và là môi trường phong phú về mặt hóa học. Nhiều phân tử hữu cơ như acetic acid CH3COOH và cồn ethyl C2H5OH được phát hiện trong phổ, nhưng những vạch phân tử glycine không xuất hiện trên những tần số mong đợi (Francoise Combes, Nguyen Quang Rieu, Georges Wlodarczak, in Astron.Astrophys vol.308, p.618, 1996). Trục hoành ghi tần số bằng Megahertz, trục tung ghi cường độ của vạch phổ.           Kính viễn vọng ngày càng lớn đặt trên mặt đất và phóng lên không gian sẽ được dùng để phát hiện thành phần hóa học thích hợp với sự sống và sẽ mở một kỷ nguyên mới trong chiến dịch phát hiện sự sống trong vũ trụ. Một chương trình quan sát đại trà nhằm thu tín hiệu vô tuyến cuả những nền văn minh ngoài trái đất cũng đang được tiến hành.  Mới đây, một loại vi khuẩn đã được tìm thấy trong trẩm tích lắng dưới đáy hồ Mono ở California. Hồ nước mặn Mono chứa rất nhiều arsenic nên dường như không phải là một môi trường thân thiện với sự sống. Nếu sự phát hiện này được khẳng định thì các nhà khoa học phải có quan niệm rộng rãi hơn về khả năng tồn tại của sự sống khi họ tìm kiếm những địa cầu có sinh vật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm nhà tài trợ phát triển công nghệ      Các nghiên cứu ở giai đoạn hình thành và phát triển công nghệ sơ khai trong phòng thí nghiệm để chứng minh ý tưởng kinh doanh và nhận dạng thị trường tương lai còn là lĩnh vực thường gây tranh cãi nhiều về lực lượng tổ chức thực hiện và nguồn đầu tư tài chính. Người thì coi giai đoạn này là việc làm của doanh nghiệp, người thì muốn hất trả lại cho trách nhiệm của nhà nước. Thực tế, nguồn tài trợ cho giai đoạn công nghệ sơ khai với rủi ro cao này chiếm tỷ lệ không cao và các công ty đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) không phải là nhà tài trợ chính. Một ví dụ cụ thể, trong số 266 tỷ USD đầu tư cho hoạt động R&amp;D ở Mỹ năm 1998, ước tính tối đa chỉ có 37 tỷ USD (14 % tổng đầu tư) được dành cho giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai. Năm 1998, nước Mỹ có trên 600.000 doanh nghiệp mới được thành lập với khoảng 450.000 doanh nghiệp sản xuất và 20.000 doanh nghiệp start up. Trong đó, chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp nhận được vốn mồi cho giai đoạn ươm tạo và khoảng 1000 doanh nghiệp nhận được vốn đầu tư từ các quỹ ĐTMH. Tổng số vốn đầu tư cho giai đoạn này từ các quỹ ĐTMH chỉ chiếm có 4%.  Câu hỏi đặt ra là vậy phần lớn số tiền đầu tư cho R&amp;D nước Mỹ chảy vào đâu và tại sao các công ty ĐTMH lại không “mạo hiểm” đầu tư vào giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai? Dựa và kết quả thăm dò và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế Mỹ đã đưa ra các lý giải sau:     Phần lớn nguồn đầu tư cho phát triển công nghệ sơ khai từ khu vực công nghiệp  Ước tính, đầu tư của khu vực công nghiệp cho giai đoạn phát triển công nghệ sơ  khai khoảng 13 tỷ USD, chiếm đến 34% tổng số vốn đầu tư của giai đoạn này. Tuy nhiên, xét về tỷ trọng chung trong tổng đầu tư của khu vực công nghiệp, con số dành cho giai đoạn này chỉ khoảng 7,3% (trong tổng số 266 tỷ USD cho R&D nói trên, đầu tư của khu vực công nghiệp là 180,4 tỷ USD). Tỷ lệ này cũng khác nhau trong các ngành sản xuất và thường tập trung vào các ngành công nghiệp có áp dụng nhiều công nghệ mới như: hóa chất và vật liệu mới (33%), sinh học và dược phẩm (13%), điện tử (11%), viễn thông (10%). Điều ngạc nhiên là trong lĩnh vực phần mềm máy tính tỷ lệ này chỉ xấp xỉ 0%!  Số liệu thu được từ các doanh nghiệp được điều tra và phỏng vấn cho thấy, tuyệt đại đa số chi phí nghiên cứu (86%) được các doanh nghiệp tập trung nâng cấp các công nghệ và sản phẩm hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn đòi hỏi hiện tại của thị trường  Lý giải điều này, GS Branscomb của ĐH Harvard phát hiện một xu thế rất lý thú. Tốc độ phát triển rất nhanh của khoa học đã giúp tích hợp tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học vào trong một công nghệ, tạo ra tính phức hợp liên ngành của công nghệ và làm ngắn lại vòng đời của sản phẩm. Dưới sức ép cạnh tranh rất cao của thị trường, các doanh nghiệp phải tận dụng tối đa tri thức sẵn có để giảm giá thành và hoàn thiện tính năng sản phẩm (chất lượng, kiểu dáng). Do vậy, phần đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thường tập trung vào việc thường xuyên cải tiến, nâng cấp công nghệ (incremental  improvement).   Đây là phát hiện mới, khác biệt với kết luận hơn nửa thế kỷ trước đây của Joseph Schumpeter, nhà kinh tế học nổi tiếng người Áo, (1883-1950) về vai trò của công nghệ đột phá (disruptive technology) trong việc tạo ra đổi mới đột biến (radical innovation) tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo ra hàng loạt sản phẩm mới, ngành nghề mới.  Ngày nay, ở nước Mỹ, những ý tưởng đổi mới mang tính đột phá nhưng nằm ngoài tầm năng lực chủ chốt hay lợi ích trước mắt của doanh nghiệp thường phải đối mặt với thử thách về tài chính. Các doanh nghiệp thường không sẵn lòng hỗ trợ cho các loại đổi mới làm nảy sinh các thách thức lớn cho dây chuyền sản xuất hiện có hoặc đòi hỏi thay đổi căn bản phương thức sản xuất hay yêu cầu phải đầu tư thêm nhiều hạ tầng mới. Gordon Moore, nhà sáng lập ra Công ty Intel cho rằng một trong những lý do thành công của Intel là biết cắt giảm các nghiên cứu không cần thiết để nâng cao hiệu quả đầu tư cho R&D. Tiến sỹ Bruce Griffing, Công ty GE, cũng thừa nhận rằng Phòng thí nghiệm điện tử Trung tâm do ông làm Giám đốc cũng tập trung chủ yếu vào việc nâng cấp sản phẩm không có nhiều rủi ro kỹ thuật.  Trong điều kiện Việt Nam, khi đóng góp của khối doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu còn chưa cao (ước tính khoảng 30% tổng đầu tư xã hội) và khi trình độ nghiên cứu nhằm tạo ra những công nghệ đột phá cấp quốc tế còn rất hạn chế thì việc doanh nghiệp đầu tư vào phát triển công nghệ sơ khai là khó xảy ra, tính cả theo giá trị và tỷ lệ đầu tư.     Công ty  đầu tư mạo hiểm không muốn mạo hiểm  Thực tiễn ở nước Mỹ chỉ ra rằng, các công ty ĐTMH không xông pha vào nơi mạo hiểm nhất – phát triển công nghệ sơ khai –  như người ta thường nghĩ.  Về bản chất, các công ty ĐTMH sinh ra không phải nhằm mục đích vì khoa học hay đổi mới công nghệ. Chúng được sinh ra vì mục đích kinh doanh. Trách nhiệm của các công ty ĐTMH là kiếm lợi tối đa cho các nhà đầu tư. Theo ngôn ngữ kinh doanh, hoạt động của các công ty ĐTMH cũng không ngoài việc mua thấp bán cao. Cho nên, khi “mạo hiểm” đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ hoàn toàn mới thì mục tiêu cuối cùng cũng không ngoài sự “hy vọng” vào tính đột phá của công nghệ sẽ mang lại lợi nhuận tối đa cho họ. Trong trường hợp đó, các công ty ĐTMH cũng dễ thiên về phương án đầu tư vào các công nghệ ở giai đoạn phát triển sản phẩm tương đối hoàn chỉnh với các tính năng kỹ thuật và chất lượng có thể nhận biết rõ.            Phân bổ các nguồn đầu tư cho giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai. Nguồn Branscomb và Auerswald 2003        Đã có ý kiến cho rằng, lưu lượng vốn và các nguồn tài chính chuyên đầu tư rủi ro đã tăng nhanh trong thập kỷ qua và đủ để cung cấp cho các dự án công nghệ cao. Vì vậy, có thể cắt giảm sự đầu tư của ngân sách nhà nước cho giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai. Về vấn đề này, Bill Joy, thủ lĩnh về công nghệ của Công ty Sun Microsystems lưu ý rằng, vài năm trước đây, một ý tưởng chưa xuất sắc cũng đã được cấp vốn, còn hiện nay, năm 2001, tình thế đã bị đảo ngược, các ý tưởng tuyệt vời cũng không còn tìm thấy nguồn vốn tài trợ nữa.  Nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu các nhà công nghệ vẫn kêu thiếu vốn khi vốn ĐTMH lại trong tình trạng nhàn rỗi. Con số 100 tỷ USD quỹ ĐTMH được giải ngân ở Mỹ năm 2000 và 37 tỷ USD được giải ngân năm 2001, trong khi số vốn nhàn rỗi không được giải ngân ở mức kỷ lục là 70 tỷ USD để rồi năm 2002 phải vội vàng trả lại các nhà đầu tư vì e sợ ứ đọng vốn cũng đã nói lên điều này.   Nhà tài trợ hảo tâm- người trước dẫn dắt người sau  Số liệu điều tra phân tích ở Mỹ cho thấy, doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất cho các giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai. Kế đến là các nguồn đầu tư từ chương trình nghiên cứu của chính phủ (29%) và các nhà tài trợ hảo tâm giàu có (25%).  Nhà tài trợ hảo tâm giàu có (angel investor) là tên gọi do Giáo sư Jeffery Sohn, đại học New Hampshire đặt ra theo cách gọi tên các nhà giàu hảo tâm đã tài trợ cho hoạt động của Nhà hát Broadway trước đây. Các nhà đầu tư hảo tâm ở nước Mỹ, họ là ai? Phần lớn trong số họ chính là những người đã từng “đi lên” từ công nghệ sơ khai, đang thành đạt, có nhiều kinh nghiệm trong thương trường với linh cảm tốt của người từng mạo hiểm, tự nguyện làm Mạnh Thường Quân cho những người đi sau. Ước tính, riêng nước Mỹ hiện nay đã có khoảng 250.000 nhà đầu tư hảo tâm với số vốn hàng năm lên tới 10-20 tỷ USD. Trong số những nhà đầu tư hảo tâm lớn nhất của nước Mỹ hiện nay phải kể đến Bill Gates (Microsoft); Mitch Kapor (Lotus) và Fred Gibbons (Software Publishing).  Chỉ với sự phát triển của nền kinh tế, Việt Nam mới có thể xuất hiện nhiều Mạnh Thường Quân trong nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo.   Ngân sách nhà nước- phương thuốc không thể thiếu  Như vậy, ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp từ phía bờ kinh doanh nhằm mục tiêu duy trì và tìm kiếm sự thành công cho riêng mình trong tương lai, để vượt biển Đác Uyn, từ phía bờ sáng tạo không thể vắng mặt nguồn đầu tư quan trọng từ ngân sách chính phủ. Đầu tư từ các chương trình nghiên cứu của chính phủ Mỹ cho giai đoạn phát triển công nghệ sơ khai chiếm tỷ lệ 29%, đứng thứ 2 sau đầu tư của doanh nghiệp và chiếm khoảng 1/10 ngân sách nghiên cứu của chính phủ. Ngân sách này không chỉ đóng vai trò nguồn lực chia sẻ rủi ro và là liều thuốc an thần giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư thoát khỏi tâm lý e ngại khi đầu tư vào giai đoạn chuyển hóa ý tưởng công nghệ nhạy cảm này. Hơn thế nữa, ngân sách chính phủ còn đảm nhiệm vai trò phục vụ xã hội và thể hiện sự cam kết, sự quyết tâm của nhà nước vượt qua trở ngại của đấu tranh sinh tồn vì mục tiêu đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế lâu dài trong tương lai.  Quá trình chọn lọc tự nhiên để đổi mới công nghệ là tất yếu. Đây không chỉ là cuộc đấu tranh sinh tồn của những đam mê, khát vọng sáng tạo mà còn là cuộc đấu tranh với những quy luật của thương trường và các quan điểm quản lý khác nhau. Nói cách khác, chỉ có sự kết hợp chặt chẽ giữa khả năng sáng tạo khoa học và kinh nghiệm kinh doanh, giữa khát vọng làm giàu và ý chí chấp nhận rủi ro cộng với sự hợp tác đầy cảm thông và tin cậy lẫn nhau giữa nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và chính phủ mới có thể đưa ý tưởng khoa học đến thành công.    ảnh trên cùng: những nhà đầu tư hảo tâm lớn nhất của nước Mỹ hiện nay phải kể đến Bill Gates (Microsoft); Mitch Kapor (Lotus) và Fred Gibbons (Software Publishing)  Tạ Doãn Trịnh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra câu trả lời về chất xúc tác sau 40 năm      Trong hàng thập kỷ, chúng ta đã biết các chất xúc tác làm gia tăng tốc độ phản ứng để làm giảm những phát thải độc hại trong các nhà máy nhưng đến tận bây giờ, chúng ta mới biết chính xác chất xúc tác thực hiện “nhiệm vụ” này như thế nào.         Israel Wachs, giáo sư hóa học và sinh học phân tử G. Whitney Snyder trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng P.C. Rossin trường đại học Lehigh  Trong công trình “Mechanism by which Tungsten Oxide Promotes the Activity of Supported V2O5/TiO2 Catalysts for NOX Abatement: Structural Effects Revealed by 51V MAS NMR Spectroscopy” xuất bản trên Angewandte Chemie, một tạp chí của Hội Hóa học Đức, Israel Wachs, giáo sư hóa học và sinh học phân tử G. Whitney Snyder trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng P.C. Rossin trường đại học Lehigh, đã miêu tả cơ chế này. Đây là những phát hiện mới sau một bài báo ông đã đăng trên chính Angewandte Chemie vào tháng 9/2019.  Các nhà máy điện là một nguồn phát thải lớn chất ô nhiễm độc hại và có mối liên hệ chặt chẽ với biến đổi khí hậu. Khi đốt các nhiên hóa thạch như than, khí thiên nhiên trong các nhà máy, chúng tạo ra ô nhiễm, cụ thể một nhóm khí gây hại là nitrogen oxides (NOx) dẫn đến mưa axít, hình thành tầng nền ozone (một chất độc có khả năng ăn mòn và gây ô nhiễm chung), và khí nhà kính.  “Quá trình đốt cháy nhiên liệu để sinh ra năng lượng cần ở mức nhiệt độ rất cao và là nguyên nhân dẫn đến phân tử nitrogen (N2) và oxy (O2) có trong không khí bị tách ra hoặc bẻ gẫy”, Wachs nói. “Các nguyên tử N và O sau đó tái kết hợp và tạo ra NOx, vốn được coi như vấn đề ô nhiễm lớn nhất hiện nay bởi rất khó kiểm soát chúng”.  Trở lại những năm 1970, người Nhật phát triển một kỹ thuật để kiểm soát NOx, những phát thải từ tương tác của NOx với amoniac để hình thành nitrogen (N2) ít nguy hiểm hơn và nước (H2O).   “Đây là một phản ứng hóa học tuyệt đẹp, chuyển đổi những gì rất độc hại thành những thứ vô cùng tốt lành”, Wachs nói. Ông là người phụ trách Phòng thí nghiệm nghiên cứu Quang phổ phân tử và các xúc tác tại trường Lehigh.   Các phát thải NOx hiện tại đã được xử lý và một trong những cách làm chung để giảm bớt tác hại của nó là khử xúc tác có chọn lọc (selective catalytic reduction SCR) của NOx bằng amoniac. Các xúc tác đều tăng tốc độ phản ứng SCR và kiểm soát các chất tạo thành từ phản ứng (như hình thành N2 và H2O), nghĩa là chất xúc tác đảm bảo cho phản ứng tạo ra những khí không gây hại.  Một chất xúc tác SCR được sử dụng một cách rộng rãi trong các nhà máy điện là vanadi(V) oxit được mang trên titanium ô xít (TiO2).   “Chất xúc tác này bao gồm vanadi (V) oxit và wolfram trioxit tán sắc trên bề mặt của một chất mang titania (TiO2). Vanadi(V) oxit là một chất hoạt hóa đóng vai trò khử xúc tác có chọn lọc hướng về việc hình thành N2 và không tạo ra các chất phản ứng độc hại”, Wachs nói. “Có một cuộc tranh cãi lớn trong vòng 40 năm qua, từ chỗ bắt đầu phát triển công nghệ này cho đến làm rõ vấn đề là đích xác hợp chất wolfram trioxit làm gì trong quá trình đó?”  Cộng đồng nghiên cứu biết là wolfram trioxit bền trong điều kiện nhiệt độ cao khi có thêm titania, vốn là những chất xúc tác có thể tồn tại trong điều kiện nhiệt độ cao nhiều năm. Họ cũng biết rằng việc đưa thêm wolfram trioxit khiến cho vanadi (V) oxit thêm hoạt hóa, tuy nhiên tại sao wolfram trioxit tại có nhiều ảnh hưởng lên khả năng phản ứng của vanadi (V) oxit?  Có ba giả thiết nổi trội giải thích về vấn đề này trong nhiều năm qua, Wachs nói. Một tuyên bố wolfram trioxit có đặc tính axit, làm gia tăng phản ứng hóa học, một nói wolfram trioxit đã chia sẻ các electron với vanadi (V) oxit theo một cách nào đó. Và thứ ba chỉ ra là wolfram trioxit  đã thay đổi cấu trúc của chính vanadi (V) oxit.     Wachs và đồng nghiệp đã dùng một thiết bị vô cùng tiên tiến mang tên quang phổ kế cộng hưởng từ hạt nhân cao chiều (High Field Nuclear Magnetic Resonance spectrometer) trong trùng hợp với các phản ứng nghiên cứu phản ứng để kiểm tra từng lý thuyết.  “Hiện mới chỉ có một vài máy quang phổ kế loại này trên thế giới, từ trường của chúng hết sức nhạy cảm, điều đó khiến các chi tiết phân tử tinh tế của những gì đang diễn ra trong vật liệu này”, ông nói.  Các chi tiết phân tử này xuất hiện như những tín hiệu mà Wachs và nhóm nghiên cứu của ông sau đó đã giải thích bằng các tính toán lý thuyết (Lý thuyết phiếm hàm nhiệt độ).   “Nó chỉ ra rằng lượng vanadi (V) oxit ở mức rất thấp trong chất xúc tác này khiến cho vanadi (V) oxit hiện diện như các monomer”, Wachs nói. “Khi đưa thêm wolfram trioxit, vanadi (V) oxit thay đổi từ các monomer thành các oligomer hoặc polymer, vì vậy tất cả các vanadi (V) oxit hiện nay đều kết nối thành một chuỗi hoặc một “hòn đảo” trên chất mang titania. Chúng tôi thực hiện các nghien cứu độc lập và tìm thấy các oligomer của vanadi (V) oxit hoạt hóa gấp 10 lần tại các vị trí vanadi (V) oxit bị cô lập. Vì thế wolfram trioxit thực sự thay đổi cẩu trúc của vanadi (V) oxit, từ một hình thức ít hoạt hóa sang một hình thức hoạt hóa ở mức rất cao”.  Hiểu biết cơ bản về cách chất xúc tác này hoạt động như thế nào sẽ giúp hướng dẫn các thiết kế trong tương lai của xúc tác SCR cải tiến, Wachs giải thích. “Chúng ta có một cách tiếp cận khoa học để thiết kế xúc tác”.  Và sẽ có những sự phân nhánh lớn trong ngành công nghiệp và kiểm soát ô nhiễm không khí, ông nói.  “Một chất hoạt hóa mạnh mang lại lợi ích đáng kể. Nếu tính hoạt hóa cao hơn thì sẽ cần lượng xúc tác ít hơn, điều này rất có giá trị vì giá thành của chúng rất đắt. Mặt khác, nếu thời gian tồn tại của chúng dài hơn thì sẽ giảm thời gian chờ để tải chất xúc tác mới của cả nhà máy điện”.  Nhưng với Wachs, hiệu quả về sức khỏe cộng đồng là điều ý nghĩa nhất. “Thật dễ dàng nhận thấy là hàng năm có từ 40.000 đến 50.000 người tại Mỹ chết do chất lượng không khí kém. Vì vậy chất xúc tác và những vấn đề xung quanh nó sẽ có tác động rất lớn về mặt xã hội. Thật vui mừng khi chúng tôi có đủ khả năng giải quyết một vấn đề đã tồn tại tới 40 năm và điều đó sẽ góp phần cải thiện công nghệ và giải quyết nhiều vấn đề về sức khỏe.”  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-10-year-old.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra chất kìm hãm sự phát triển của khối u ung thư      Cơ thể con người có chất kích thích sự phát  triển khối u ung thư. Cho đến nay chưa có những loại thích hợp chống lại  chất này. Tuy nhiên các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành những bước đi quan  trọng đầu tiên.     “Khi con cá sấu muốn đớp bạn, bạn có thể buộc mõm nó lại. Chúng tôi đã tìm ra một cách tiếp cận khác: chúng tôi ngáng mõm nó bằng một cây gậy để nó không thể ngậm mõm lại được.” Dan Theodorescu thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư của đại học Colorado đã giải thích nôm na về công trình nghiên cứu của mình. Ông và các đồng nghiệp đã tìm ra một cách tiếp cận mới để kìm hãm sự phát triển của một số dạng ung thư nhất định.  Vấn đề ở đây là xoay quanh Ral-protein. Đó là một Enzyme có nhiệm vụ quan trọng là dẫn tín hiệu ở trong và giữa các tế bào với nhau. Trên đây là lời giải thích của Nikolas Gunkel, phụ trách nghiên cứu về các chất hữu hiệu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Ung thư (DKFZ) ở Heidelberg.   Enzyme là các chất xúc tác cho các quá trình hoá học, chúng thúc đẩy các quá trình trao đổi chất rất đa dạng trong cơ thể con người hoặc thậm chí nhờ có chúng các quá trình trao đổi chất mới có thể diễn ra. Ral cũng có trong cơ thể khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi nó hoạt động quá tích cực thì trở thành cái gọi là tác nhân gây ung thư nguyên mẫu. Điều này có thể hiểu đây là một gen-ung thư. Chúng là những bộ phận trong gen di truyền của con người tác động vào sự phát triển bình thường của tế bào, ở giai đoạn quá độ chúng gây ra sự phát triển mạnh mẽ không gì kiểm soát nổi của khối u ung thư.   Điều đó có nghĩa là sự hoạt động tích cực quá mức của Ral có thể kích thích làm cho các bệnh ung thư khác nhau ở con người phát triển nhanh hơn. Do đó các chuyên gia nói về khái niệm “chất thúc đẩy”. Trong đó có những loại ung thư như ung thư tuyến tuỵ, tiền liệt tuyến, phổi, ruột kết và ung thư bàng quang. Cho đến nay chưa có loại thuốc nào có khả năng kiềm chế loại Ral-protein nguy hại này.  Những hình thức điều trị ung thư  •    phẫu thuật  •    hoá trị   •    xạ trị  •    liệu pháp sinh học phân tử  •    liệu pháp hooc môn   •    tăng thân nhiệt   Công trình của các nhà nghiên cứu xung quanh nhà khoa học Theodorescu, đã được công bố trên tạp chí “Nature”, đề cập đến một phương pháp điều trị mới đối với bệnh ung thư : đầu tiên các nhà khoa học nghiên cứu chất Ral-Protein trong mô hình computer. Khi không hoạt động, trong cấu trúc của nó có một chỗ ngoác ra – đó là mõm cá sấu, như Theodorescu đã ví von. Khi Ral hoạt động thì vết ngoác này biến mất, mõm cá sấu ngậm lại. Điều này thể hiện sự thay đổi cấu trúc phân tử.   Từ đó các nhà nghiên cứu nẩy ra ý tưởng cần tìm ra một “cái gậy” để chẹn họng cá sấu, để mõm nó không thể ngậm lại được – để ngăn ngừa không cho protein hoạt động. Sau hàng nghìn thử nghiệm họ đã tìm được 88 chất mà họ cho là có khả năng thích hợp. Với những kiến thức thu được họ xúc tiến các thí nghiệm trong phòng với tế bào ung thư ở người . Từ nhiều chuỗi thí nghiệm các nhà khoa học đã tuyển chọn, chắt lọc lấy ra được một số chất có khả năng ngăn ngừa sự kích hoạt của Ral-protein trong tế bào ung thư phổi.   Khối u phát triển chậm lại rõ rệt    Tuy nhiên những điều diễn ra trong ống nghiệm không nhất thiết cũng sẽ diễn ra trong cơ thể với nhiều quá trình trao đổi chất tác động qua lại với nhau. Vả lại khi thử nghiệm trong ống nghiệm người ta có thể cho các chất làm thí nghiệm tiếp cận trực tiếp với các cụm tế bào một cách đơn giản thì ở các khối u còn diễn ra sự đề kháng của cơ thể nên mọi sự có thể diễn biến khác nhau.  Bước tiếp theo các nhà khoa học tập trung nghiên cứu một chất mang tên BQU57 ở chuột. Người ta cấy vào chuột tế bào ung thư phổi của người để thử xem chất mới này có khả năng thâm nhập vào mô khối u hay không.   Chỉ sau ít giờ đồng hồ các nhà nghiên cứu đã thấy BQU57 thực sự đã thành công trong việc thâm nhập vào mô. Quan sát những ngày tiếp theo người ta nhận thấy khối u phát triển chậm hơn hẳn so với nhóm chuột đối chứng không xử lý.  Hy vọng về những loại thuốc chữa bệnh mới   Các nhà khoa học hy vọng trên cơ sở kết quả nghiên cứu này có thể phát triển một loại thuốc mới để điều trị ung thư: tức tạo ra một chất hữu hiệu chuyên biệt có khả năng kiềm chế sự hoạt động của phân tử-Ral trong khối u ung thư và trong các u đã di căn. So với phương pháp hoá trị liệu, không chỉ tấn công vào tế bào ung thư mà còn có thể gây nhiều tác động phụ thì phương pháp trị liệu mới này ảnh hưởng nhẹ nhàng hơn nhiều đến cơ thể đang bị ốm yếu.   Ở phương pháp tiếp cận này chất hữu hiệu chuyên biệt phục vụ cho một mục tiêu nhất định trong quá trình trao đổi chất, các nhà khoa học đề cập tới khái niệm về cái gọi là chất ức chế allosteric. Inhibitor, chất ức chế, là chất có khả năng kiềm chế Enzyme. Ở đây về cơ bản cần biết về sự phân biệt giữa chất ức chế competitive và chất ức chế allosteric. Chất ức chế competitive có thể gắn bó với trung tâm hoạt động của Enzyme. Có nghĩa là nó chiếm chỗ của chất đáng ra sẽ chuyển hoá tại vị trí này.  Vấn đề là ở chỗ: tác động của những chất này thường không đặc hiệu. Đây là một khó khăn nói chung trong lĩnh vực nghiên cứu về các chất hữu hiệu: chất ức chế không những chỉ hạn chế loại Enzyme mà người ta mong muốn, mà chúng còn có thể bao vây, phong toả nhiều thành viên có họ hàng với nhau trong một lớp enzyme.   “Chúng tôi tóm gáy Enzyme”  Allosteric có nghĩa đại để là “ở một vị trí khác”. Trong trường hợp này chất ức chế không trụ lại ở trung tâm hoạt động của Enzyme mà ở một vị trí khác. Do đó nó làm thay đổi cấu trúc không gian của Enzyme làm cho Enzyme không còn có khả năng hoạt động bình thường. Ưu điểm: “có thể diễn đạt một cách hình ảnh rằng chất ức chế allosteric tóm được Enzyme và hạ gục nó”, Gunkel diễn giải. “Điểm tấn công này nằm bên ngoài trung tâm hoạt động của nó và thường là có một không hai.”  Thực ra các chất ức chế Allosteric hoàn toàn không có gì mới. Tuy nhiên theo giải thích của Gunkel thì hiện tại trong lĩnh vực nghiên cứu về ung thư người ta đang đẩy mạnh việc tìm kiếm các chất này. Loại Ral-protein mà các nhà khoa học Mỹ đã phá vỡ thuộc lớp cực kỳ lý thú đối với lĩnh vực nghiên cứu về ung thư. “Điều này thật tuyệt,đó quả là một sự khởi đầu tốt”, Gunkel nói. “Tuy nhiên cũng cần nói rõ, còn phải trải qua một chặng đường dài để có thể đưa một loại thuốc mới vào sử dụng – xét cả về mặt thời gian cũng như về đầu tư tài chính.”, ông này lưu ý. “Một phương pháp điều trị mới hay khả năng chữa trị chưa đứng sẵn trước cửa mà đây mới chỉ là một cách tiếp cận thú vị cần tiếp tục quan tâm theo giõi”.  Còn phải trải qua nhiều năm nữa mới có thể có được những loại thuốc để đưa vào sử dụng. Bản thân nhà nghiên cứu Theodorescu cũng nói còn phải tiến hành một loạt công trình nghiên cứu và thử nghiệm. Trong đó có những vấn đề như nghiên cứu về khả năng độc hại của BQU57, nếu có thì phải tìm cách triệt tiêu độc tính này. Ngay cả việc sử dụng tối ưu BQU57 như thế nào cũng cần phải làm nhiều thử nghiệm– thí dụ qua uống hay tiêm vào tĩnh mạch cũng là điều phải xem xét.  Tuy nhiên nhà khoa học Theodorescu nhấn mạnh “Dù sao thì công trình nghiên cứu này cũng là một bước đi đầu tiên quý giá theo hướng phát triển một dạng thuốc điều trị mới mà Ral đang là mục tiêu”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra chất xúc tác biến khí đốt thành cồn      Với thành công trong việc biến khí đốt thành  cồn nhờ một chất xúc tác mới, các nhà nghiên cứu đang hy vọng có thể  làm thay đổi một cách cơ bản nền công nghiệp nguyên liệu.      Các nhà nghiên cứu thuộc Scripps Research Institute ở thị trấn Jupiter (bang Florida, Mỹ) đã tìm thấy một chất xúc tác mới có thể biến đổi khí đốt ở nhiệt độ 180 độ C so với phương pháp hiện nay là trên 500 độ C. Như vậy phương pháp mới cho phép biến khí đốt thành nhiên liệu với giá thành thấp hơn nhiều so với các phương pháp đã được áp dụng cho đến nay.   Thành phần chủ yếu của khí đốt là Methane, Ethan và Propan. Nhóm nghiên cứu do GS Roy Periana đứng đầu đã dùng muối của chì và Thallium làm chất xúc tác biến khí đốt thành cồn. Các chất xúc tác này cũng dễ điều chế và có giá thành hợp lý – muối chì vẫn thường được dùng khi sản xuất diêm.   Một ưu điểm nữa của phương pháp mới là không phải chia tách khí đốt thành nhiều thành phần riêng biệt, theo công bố của các nhà nghiên cứu trên tạp chí Science. Methane, Ethan và Propan ở dạng khí hỗn hợp sẽ được chuyển hoá thành các loại cồn tương ứng, qua đó tiết kiệm các bước trung gian trong quá trình chuyển hóa.   GS Periana nói, “đây là tiềm năng để tạo ra các hoá chất và nhiên liệu với giá thấp hơn nhiều”. Theo tài liệu của Scripps Research Institutes, phương pháp này có thể tạo ra thay đổi cơ bản trong ngành công nghiệp nguyên liệu: vai trò của khí đốt đối với nền kinh tế sẽ tăng rõ rệt. Những chất chế biến từ khí đốt đều ở dạng lỏng nên vận chuyển và chế biến đều đơn giản hơn nhiều.   Hiện chưa rõ hương pháp mới sẽ được áp dụng trong thực tiễn như thế nào. Theo Periana, chưa thể áp dụng phương pháp mới ngay trong công nghiệp mà cần được tiếp tục nghiên cứu, nếu mọi sự diễn tiến thuận lợi có thể đưa vào áp dụng sau ba – bốn năm nữa. Hiện đã có các cuộc trao đổi nhằm quảng bá cho phương pháp này.   Mỹ, nước áp dụng phương pháp Fracking để khai thác khí đốt đang gây nhiều tranh cãi, được coi là quốc gia khai thác khí đốt nhiều nhất thế giới. Theo Tập đoàn Dầu mỏ và Khí đốt BP, riêng trong năm 2012, Mỹ đã khai thác trên 680 tỷ m3 khí đốt, chiếm 20% sản lượng toàn thế giới.   Khí đốt là nhiên liệu hoá thạch ít gây tổn hại đến môi trường nhất, khi đốt cháy sẽ phát sinh khoảng 200gr CO2/kWh, so với dầu mỏ (270gr/kWh) và than (từ 330 đến 400 gr/kWh tuỳ chất lượng than) đều thấp hơn.  Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra dấu vết của sự sống trên một hành tinh mới      Lần đầu tiên các nhà khoa học tìm thấy cấu trúc phân tử hữu cơ tại một hành tinh ngoài hệ mặt trời cách trái đất 63 năm ánh sáng. Trước đây, các nhà khoa học cũng phát hiện ra dấu hiệu của nước tại hành tinh này xong không có dấu hiệu của sự sống vì nhiệt độ tại đây quá cao, bầu khí quyển cũng gấp 30 lần so với bầu khí quyển của trái đất. Qua quang phổ, các nhà khoa học tìm ra một thành phần quan trọng trong khí quyển-khí metan.    Các phần tử hữu cơ được tìm thấy trong vũ trụ vào giữa thế kỷ 20 bởi kính viễn vọng. Ngày nay, trong các đám mây khí giữa các ngôi sao đã phát hiện nhiều phân tử có cấu trúc phức tạp, được cấu tạo từ hàng chục nguyên tử và các phân tử axit amin đơn giản, một trong những thành phần cơ bản của protein, một thành phần quan trọng của sự sống.  Trong tiềm thức nhân loại sự sống chỉ tồn tại trên trái đất, nhưng các nhà khoa học đã phát hiện trên một hành tinh khác của hệ mặt trời sự sống cũng hiện hữu, bởi lẽ họ tìm thấy các khoáng thể Hydro-cacbon khổng lồ, khí metan ở cả thể rắn lẫn thể lỏng. Ví dụ trên vệ tinh Titan của sao Thổ, các nhà khoa học đã tìm thấy trong bầu khí quyển hành tinh lạ một chu kỳ tuần hoàn của khí metan, giống như chu kỳ tuần hoàn của nước trên mặt đất. Metan – là một loại khí nhà kính, giữ cho bề mặt của Titan có nhiệt độ tương đối cao.  Ngoài tìm thấy các phần tử hữu cơ trên một hành tinh ngoài hệ mặt trời. Các nhà thiên văn Mark Suein, Gotam Vashit trường ĐH Kỹ thuật California và Djovan Tinetti ĐH London đã thành công khi tìm ra khí metan trong hành tinh HD189733b qua quang phổ. Nghiên cứu của hai nhà khoa học đã được ghi nhận và công bố trên Nature.  Nhờ phân bố mặt phẳng quỹ đạo thích hợp, HD189733b thường xuyên được nhìn thấy dưới hình ngôi sao tròn, đôi khi xuất hiện thiên thực trong khoảng một giờ. Chính điều đó mà các nhà khoa học đã phát hiện ra hành tinh này.  Các nhà khoa học Mỹ phát hiện bước sóng của tia hồng ngoại (NICMOS) qua kính thiên văn quang phổ Habblo. Những nhà khoa học sử dụng kính thiên văn chụp quang phổ ở bước sóng trong khoảng 1.4 đến 2.5 micromet: bức xạ với bước sóng dài như vậy dễ dàng bị hấp thụ khi xuyên qua các phân tử nước, metan và các khí khác, tạo nên các vạch quang phổ.  Sau khi nhận được các kết quả phân tích quang phổ, các nhà khoa học bắt đầu lựa chọn các mầu quang phổ rõ nét nhất để nghiên cứu. Các phân tử Hydro chiếm một phần trong khí quyển của HD189733b, ngoài ra các thành phần chiếm số lượng lớn là các phân tử có cấu trúc đơn giản tạo thành từ Hydro và Cacbon như: nước, khí metan và khí oxitcacbon (H2O, CH4 và CO).  Những kết quả chính xác đã được công bố và chỉ ra rằng nếu trong bầu khí quyển chỉ có hơi nước thì không thể hấp thụ các tia bức xạ có bước sóng ánh sáng trong khoảng 2.1-2.4 micromet. Các nhà khoa học đoán rằng các tia bức xạ bị hấp thụ bởi khí metan vì quá trình mô phỏng cho thấy trong bầu khí quyển HD189733b có khoảng 0.05% nước và 0.005% metan, kết quả cuối cùng cho thấy tỷ lệ này cao hơn 30 lần so với bầu khí quyển của trái đất.  Qua kết quả quan sát, có khoảng 0.001% khí amoniac, nhưng các nhà khoa học không thể khẳng định được chính xác là trong bầu khí quyển HD189733b có khí amoniac hay không. Song với những phát hiện ra dấu vết của khí metan, các nhà khoa học tin rằng đây là lần đầu tiên thành phần cơ bản của protein được tìm thấy ở hành tinh xa xôi này.  Bùi Hà (Theo gazeta.ru)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra vật liệu giúp lưu trữ năng lượng linh hoạt, rẻ và tốt hơn      Sắt nitride – một vật liệu từ tính đáp ứng nhu cầu sản xuất thiết bị lưu trữ năng lượng linh hoạt nhưng nhỏ, nhẹ và bền hơn trước đây.      Một nhóm nghiên cứu tại Trung tâm thí nghiệm quốc gia Sandia, Mỹ đã phát triển một vật liệu từ tính để chế tạo ra các máy biến áp tần số cao nhỏ, nhẹ, rẻ nhưng bền và có hiệu suất cao hơn các vật liệu trước đây. Hệ thống lưu trữ di động và chuyển đổi năng lượng mới vừa vặn trong một chiếc xe bán tải này có thể ứng dụng cho lắp đặt năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng địa nhiệt ngay cả ở những khu vực xa xôi nhất. Các mô đun này có thể lắp đặt nhanh chóng, tốn rất ít thời gian và kinh phí.  “Hệ thống mô-đun này có thể được triển khai nhanh chóng đến nhiều địa điểm nhưng rất tiết kiệm thời gian và các công đoạn lắp ráp”, Todd Monson ở Phòng Khoa học nano và đồng trưởng nhóm nghiên cứu Stan Atcitty ở Phòng Công nghệ và Hệ thống lưu trữ năng lượng, Trung tâm thí nghiệm Sandia cho biết.  Các nhà khoa học tại Sandia chế tạo ra sắt nitride (γ’-Fe4N) bột bằng bột sắt nghiền trong Nitơ lỏng và sau đó là amoniac. Bột sắt này sau đó được gắn kết lại bằng kỹ thuật nung kết trường hỗ trợ (FAST) để hình thành một vật liệu rắn từ bột lỏng thông qua các ứng dụng nhiệt và thi thoảng là áp suất. Kỹ thuật FAST cho phép tạo ra lõi biến áp từ nguyên liệu thô ban đầu chỉ trong vài phút mà không làm phân hủy các sắt nitride thiết yếu, như có thể xảy ra ở nhiệt độ cao trong quá trình nung kết thông thường. Phương pháp này có thể giúp chế tạo ra máy biến áp nhỏ hơn tới 10 lần so với hiện nay.  Không cần gia công  Kỹ thuật FAST cho phép nung kết trực tiếp bột sắt nitride thành từng chi tiết một cách hoàn hảo, chẳng hạn như nung kết thành lõi máy biến áp mà không cần gia công. Do từ tính, các máy biến áp làm từ sắt nitride sẽ gọn, nhẹ hơn máy biến áp truyền thống nhưng vẫn có hiệu năng rất lớn. Do đó, sắt nitride có thể trở thành vật liệu thô để chế tạo lõi máy biến áp mạnh, hiệu suất cao hơn cho lưới điện quốc gia.  Đến nay, các nhà khoa học tại Sandia đã chứng minh quy trình chế tạo lõi máy biến áp từ sắt nitride có các đặc tính vật lý, từ trường tốt và đang chuẩn bị thử nghiệm biến áp trong các thí nghiệm chuyển đổi năng lượng.Vật liệu từ tính rất quan trọng đối với các hệ thống chuyển đổi năng lượng thế hệ mới do chúng cần tới những máy đổi điện liên kết tần số cao, và điều này cũng củng cố những nỗ lực của Trung tâm Sandia trong việc tạo ra vật liệu thiết bị có đặc tính khe hở năng lượng (bandgap) siêu rộng cho các hệ thống điện năng được nâng cấp. Những vật liệu này có thể chịu được tần số cao hơn, nhiệt độ cao hơn, và cuối cùng là đáp ứng các thiết kế có mật độ năng lượng dày đặc hơn. Tổ nghiên cứu đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho loại vật liệu mới này.  Monson, Atcitty và nhóm nghiên cứu xây dựng ý tưởng về vật liệu từ tính và điện năng này với sự hợp tác chặt chẽ của các nhà nghiên cứu từ nhiều đơn vị khác như Đại học California, Irvine và Đại học bang Arizona, những nhà khoa học này đã giúp gia công vật liệu và mô hình hóa hệ thống phân cấp.  Thu Quỳnh lược dịch theo Sciencedaily  https://www.sciencedaily.com/releases/2016/03/160325131447.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm ra vi khuẩn có thể phá hủy hoá chất gây ung thư      Các nhà khoa học Úc vừa tìm ra một loại vi khuẩn sống trong đất có khả năng phá huỷ nhóm hoá chất BTEX, được coi là những tác nhân gây bệnh ung thư, phá hủy hệ thần kinh và gây ra một số căn bệnh nguy hiểm khác ở người.    Trước đây người ta đã nhận biết được sự tồn tại của vi khuẩn có sức đề kháng với BTEX ở một số nơi trên thế giới, nhưng loại vi khuẩn tìm thấy ở Australia là loại đầu tiên có khả năng “xơi tái” các chất thải độc hại. Chỉ cần đưa loại vi khuẩn này vào nước bị nhiễm BTEX là chúng sẽ “dọn sạch hóa chất” ngay lập tức. Các nhà khoa học đang tiến hành các dự án thí điểm nhằm mở rộng phạm vi nghiên cứu. Theo họ, không có môi trường ô nhiễm nào giống nhau do đất, nước ngầm, nhiệt độ, tỷ lệ pha trộn các chất gây ô nhiễm khác nhau, do đó cần kiểm nghiệm xem loại vi khuẩn này hoạt động như thế nào trong các điều kiện khác nhau.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm sự sống dưới lớp băng Nam Cực      Các nhà nghiên cứu sắp khoan xuyên qua 1.100 m băng ở Nam Cực để tiếp cận một hồ nước bị che lấp trong nhiều thiên niên kỷ. Họ hy vọng sẽ tìm thấy các dạng sống khác nhau tại một trong những hệ sinh thái biệt lập nhất trên Trái đất.    Hệ sinh thái bị cô lập  Tại một trại hẻo lánh chỉ cách cực Nam của Trái đất 600 km, các nhà khoa học sẽ sử dụng nước nóng để làm tan chảy băng trong vài tuần tới, tạo thành một lỗ khoan rộng 60 cm xuyên thẳng xuống đáy của lớp băng tại Nam Cực. Mục tiêu của họ là tiếp cận hồ Mercer nằm ẩn sâu bên dưới lớp băng, bị ngăn cách với phần còn lại của thế giới trong hàng nghìn năm.    Các nhà nghiên cứu lấy mẫu trầm tích từ đáy hồ Whillans năm 2013. Ảnh: Thomas  Được biết đến với tên gọi SALSA, dự án thám hiểm nói trên đang được Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ tài trợ với số tiền gần 4 triệu USD. Mục đích của dự án là khám phá những dòng sông, hồ, đất ngập nước tại vùng cực của Trái đất liên tục bị băng che phủ và không tiếp xúc với ánh nắng Mặt trời. Hệ sinh thái này bị cô lập hơn nhiều so với các rãnh đại dương sâu nhất thế giới.  Hồ Mercer nằm ở phía tây Nam Cực, có diện tích 160 km2 và sâu khoảng 10 – 15 m. Mặc dù nhiệt độ nước hồ dưới 0°C nhưng nó vẫn không bị đóng băng do chịu áp lực quá lớn từ lớp băng phía trên. Các nhà khoa học phát hiện hồ Mercer từ hơn một thập kỷ trước thông qua dữ liệu vệ tinh, nhưng chưa có ai từng trực tiếp quan sát nó.  Nhóm nghiên cứu đến từ hơn 10 trường đại học khác nhau sẽ tiến hành lấy mẫu nước và bùn ở đáy hồ Mercer. Họ dự kiến đưa một tàu lặn nhỏ, điều khiển từ xa xuống hồ thông qua lỗ khoan để quay phim và khám phá nó.  Khu vực Nam Cực có khoảng 400 hồ nước bên dưới lớp băng, và hồ Mercer sẽ là địa điểm thứ hai con người lấy mẫu trực tiếp. Trước đây, một số nhà khoa học thuộc nhóm nghiên cứu SALSA từng khoan xuống một hồ nhỏ hơn ở dưới mặt băng gọi là hồ Whillans vào năm 2013. Họ phát hiện hồ nước này chứa rất nhiều vi khuẩn – nhiều hơn những gì họ mong đợi ở một nơi không có ánh sáng Mặt trời. Lần này, các nhà nghiên cứu mong đợi camera trên tàu lặn có thể quan sát được những sinh vật sống trong vùng nước tối tăm của hồ Mercer. “Chúng tôi không biết sẽ tìm thấy thứ gì ở đó. Điều này khiến chúng tôi rất vui và hào hứng”, John Priscu, người đứng đầu dự án tại Đại học Montana ở Bozeman (Mỹ), cho biết.  Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng, hệ sinh thái hồ Mercer sẽ làm sáng tỏ dạng sống có thể phát triển trong những môi trường tương tự, ví dụ trên các mặt trăng bao phủ băng của sao Mộc và sao Thổ cũng như dưới bề mặt sao Hỏa.  Các dạng sống dưới vùng nước sâu  Dự án khoan tại hồ Whillans trước đó đã cung cấp cho nhóm nghiên cứu SALSA những dữ liệu quan trọng để xây dựng chương trình khám phá hồ Mercer [cách hồ Whillans 40 km về phía đông nam]. Nước hồ Whillans có tới 130.000 tế bào vi khuẩn trên mỗi ml, mật độ nhiều hơn gấp 10 – 100 lần so với dự kiến. Nhiều vi sinh vật tạo ra năng lượng của chúng bằng cách oxy hóa amoni hoặc methane có nguồn gốc từ các lớp trầm tích dưới đáy hồ. Đây là một hiểu biết quý giá, bởi vì nó gợi ý rằng hệ sinh thái hồ Whillans – không sử dụng ánh sáng Mặt trời và quá trình quang hợp như một nguồn năng lượng – vẫn phụ thuộc gián tiếp vào thế giới bên ngoài.  Các nhà khoa học nghi ngờ rằng, amoni và methane thoát ra từ đáy bùn của hồ Whillans hình thành từ xác chết thối rữa của các sinh vật biển tích tụ trong thời kỳ ấm áp hàng triệu năm trước, khi khu vực này được bao phủ bởi đại dương chứ không phải băng. Reed Scherer, nhà cổ sinh vật học tại Đại học Bắc Illinois (Mỹ), tìm thấy vỏ tảo cát [một loại tảo đơn bào] và các mảnh xương của bọt biển nằm rải rác khắp đáy hồ Whillans. “Có một di sản tài nguyên biển mà các vi khuẩn vẫn đang khai thác”, Scherer nói.  Vào thời điểm nghiên cứu, nồng độ oxy của hồ Whillans rất thấp nhưng vẫn ở ngưỡng động vật thủy sinh sống được. Các vi khuẩn phong phú trong hồ có khả năng hỗ trợ sự sống cho một số động vật nhỏ như giun, luân trùng hoặc gấu nước. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã rất ngạc nhiên khi phương pháp xét nghiệm DNA cho thấy không có bằng chứng về sự tồn tại của những động vật như vậy trong hồ. Một máy quay video được thả xuống lỗ khoan trong vài phút cũng không phát hiện bất kỳ dạng sống nào tương tự.  Khi các nhà khoa học khoan vào hồ Mercer, họ sẽ sử dụng những công cụ mới để trả lời một số câu hỏi phát sinh từ dự án nghiên cứu hồ Whillans. Scherer cho biết, hồ Mercer có kích thước gấp đôi hồ Whillans và sâu hơn năm lần, nhưng có lẽ nó nối liền với đại dương ở cùng thời điểm với hồ Whillans cách đây khoảng 5.000 – 10.000 năm. Nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ tìm hiểu được nguồn thức ăn của các sinh vật sống tại hồ Mercer. Chúng có thể sống dựa vào amoni, methane giống như ở hồ Whillans hoặc các hợp chất hữu cơ khác lắng đọng từ hàng nghìn năm trước.  Brad Rosenheim, nhà cổ sinh vật học tại Đại học Nam Florida (Mỹ), sẽ phân tích hàm lượng đồng vị phóng xạ carbon-14 trong mẫu bùn của hồ Mercer. Điều này có thể tiết lộ lượng trầm tích đã tích tụ dưới đáy hồ cũng như dạng sự sống đang cư trú tại đó.  Ngoài ra, các nhà khoa học sẽ nghiên cứu những vỏ tảo cát siêu nhỏ mà họ mong đợi tìm thấy ở đáy hồ Mercer. Bằng cách kết hợp các loài tảo cát trong lõi khoan với những ghi chép về thời điểm chúng bị tuyệt chủng tại nhiều khu vực khác, nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ xác định được thời điểm mở rộng và thu hẹp của các khối băng ở phía tây Nam Cực.  “Bằng chứng này có thể chỉ ra thời điểm các dải băng tan chảy đáng kể trong quá khứ và khí hậu lúc đó như thế nào. Nó sẽ giúp chúng tôi dự báo khi nào hiện tượng nóng lên toàn cầu sẽ kích hoạt sự tan chảy của khối băng ở phía tây Nam Cực, từ đó làm tăng mực nước biển toàn cầu thêm vài mét”, Harwood, thành viên của nhóm nghiên cứu, nói.  Nhóm nghiên cứu cũng xem xét liệu các sinh vật phức tạp hơn, chẳng hạn như động vật, có thể sống trong môi trường dưới mặt băng của hồ Mercer hay không. “Chúng ta cần bắt đầu tìm hiểu những kiến thức mới, bởi vì đây là một hệ sinh thái rộng lớn và chưa từng được khám phá”, Peter Doran, nhà khoa học tại Đại học Louisiana ở Baton Rouge (Mỹ), cho biết.  Theo http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/tim-su-song-duoi-lop-bang-nam-cuc/20181227113838725p1c879.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy chất hữu cơ ngoài hệ mặt trời      Phân tích các số liệu từ kính thiên văn không gian Hubble, các nhà khoa học đã tìm thấy methane trong bầu khí quyển của một hành tinh bên ngoài thái dương hệ, đang bay quanh một ngôi sao cách trái đất 63 năm ánh sáng.    Hành tinh này có kích cỡ bằng sao Mộc, còn được gọi là HD 189733b, trong chòm sao Vulpecula. Nó quay trên quỹ đạo ở gần sao mẹ hơn so với khoảng cách từ sao Thủy đến Mặt trời của chúng ta, vì thế có nhiệt độ lên đến 900 độ C. Nhóm nghiên cứu cũng xác nhận phát hiện do kính thiên văn vũ trụ Spitzer thực hiện trước đây, đó là bầu khí quyển của HD 189733b cũng chứa hơi nước. Tuy nhiên họ cho biết hành tinh này quá nóng để có thể có sự sống. (Theo PhysOrg)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy hình chụp vợ Mozart      Bức hình duy nhất chụp người vợ góa của nhạc sĩ thiên tài Mozart, Constanze Weber, đã được tìm thấy ở Đức.  Bức hình được chụp năm 1840 ở thị trấn Altoetting khi bà 78 tuổi. Bà qua đời hai năm sau đó.  Nhà chức trách địa phương nói việc kiểm tra chi tiết chứng tỏ đây là hình thật.    Nhạc sĩ Wolfgang Amadeus Mozart qua đời ở tuổi 36 năm 1791 khi bà Constanze 29 tuổi. Sau đó bà kết hôn với một nhà ngoại giao Đan Mạch.  Bức hình là một trong những ví dụ đầu tiên của nghệ thuật chụp hình ở Bavaria. Nó được tìm thấy trong kho lưu trữ của thị trấn.  Hình được chụp ở nhà của nhạc sĩ Thụy Sĩ, Max Keller, người mà bà Constanze thường đến chơi.  Sinh năm 1762, Constanze là con thứ ba trong gia đình có bốn cô con gái. Cha của bà, Fridolin Weber, là một nhạc sư tại Mannheim; chị của bà, Aloysia, sau này cũng trở thành ca sĩ.  Tuy nhiên, cha của Constanze không giàu có, và đây là một trong những lý do khiến cha của Mozart phản đối việc con trai ông quen với gia đình.  Hai người kết hôn ngày 4-8-1782. Mozart và Constanze có sáu người con, nhưng chỉ hai trong số đó sống đến tuổi trưởng thành.  Theo BBC News    P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy loại hạt mới có dấu hiệu là Higgs      Tại một seminar tổ chức ngày 4/7 tại CERN  nhằm chuẩn bị cho cuộc hội thảo quan trọng trong ngành vật lý hạt,  ICHEP2012 tại Melbourne, hai nhóm thí nghiệm ATLAS và CMS đã trình bày  những kết quả sơ bộ mới nhất trong cuộc tìm kiếm hạt Higgs được dư luận  quan tâm lâu nay. Cả hai nhóm thí nghiệm đều quan sát thấy một hạt mới  có khối lượng trong khoảng 125-126 GeV.    “Chúng tôi quan sát từ dữ liệu thu được những dấu diệu rõ rệt về một loại hạt mới, ở mức độ ý nghĩa thống kê 5 sigma, với khối lượng đâu đó trong khoảng 126 GeV. Kỳ công của LHC và ATLAS cùng nỗ lực to lớn từ rất nhiều người đã đưa chúng ta đến với bước tiến đầy hứng khởi này,” theo lời Fabiola Gianotti, người phát ngôn của nhóm thí nghiệm ATLAS, “nhưng vẫn cần thêm một chút thời gian để chuẩn bị đưa những kết quả này thành công bố chính thức”.  “Những kết quả vẫn còn sơ bộ, nhưng mức ý nghĩa 5 sigma trong khoảng 125 GeV mà chúng tôi được thấy quả là điều kịch tính. Đây thực sự là một hạt mới. Chúng tôi biết đó phải là một loại hạt boson, và là hạt boson nặng nhất mà chúng ta được biết đến,” nhận định từ Joe Incandela, người phát ngôn của nhóm thí nghiệm CMS. “Ý nghĩa của khám phá này là rất đáng kể và đây cũng chính là lý do khiến chúng ta phải nghiên cứu và kiểm định lại thật kỹ càng.”  “Khó để không phấn khích trước những kết quả này,” nhận định từ Sergio Bertoluci, Giám đốc Nghiên cứu của CERN. “Năm ngoái chúng ta khẳng định rằng trong năm 2012 hoặc là chúng ta sẽ tìm ra một hạt giống như hạt Higgs, hoặc là phủ nhận sự tồn tại của Mô hình Chuẩn Higgs. Với tất cả những sự cẩn trọng cần thiết, tôi có thể thấy rằng chúng ta đang ở một bước ngoặt mới: việc quan sát thấy hạt mới này là căn cứ cho một chặng đường mới trong tương lai hướng tới một sự hiểu biết chi tiết hơn cho những gì mà chúng ta hiện đang thấy qua các dữ liệu.”  Những kết quả được trình bày ngày 4/7 được coi là sơ bộ. Chúng dựa trên những dữ liệu được thu thập trong năm 2011 và 2012, trong đó các dữ liệu của năm 2012 vẫn đang được phân tích. Những phân tích được trình bày trong ngày 4/7 sẽ được công bố vào cuối tháng 7. Một đánh giá toàn diện hơn sẽ được công bố vào cuối năm, sau khi có thêm những dữ liệu mới.  Bước tiếp theo cho các nhà khoa học là xác định bản chất chính xác của hạt mới cũng như ý nghĩa của nó đối với hiểu biết của con người về vũ trụ. Liệu những đặc tính của nó có giống như kỳ vọng lâu nay về hạt Higgs – thứ còn đang thiếu để minh chứng cho lý thuyết Mô hình Chuẩn của vật lý hạt? Hay nó là thứ gì đó mới mẻ hơn? Mô hình Chuẩn mô tả các hạt cơ bản mà tất cả chúng ta và mọi thứ khác trong vũ trụ được cấu thành, cùng những lực tương tác giữa mọi đối tượng với nhau. Tuy nhiên, mọi thứ vật chất mà chúng ta đã biết, chỉ chiếm khoảng hơn 4% trong vũ trụ và hạt Higgs có thể là cầu nối đầu tiên để chúng ta hiểu được 96% còn lại mà hiện vẫn còn đang mơ hồ.  “Chúng ta đã đạt được một mốc mới trong tiến trình tìm hiểu tự nhiên,” khẳng định từ Rolf Heuer, Tổng Giám đốc CERN. “Việc tìm thấy một loại hạt phù hợp với các định dạng về hạt Higgs sẽ mở ra chặng đường mới với những nghiên cứu chi tiết hơn, những bộ dữ liệu lớn hơn, nhằm xác định các đặc tính của loại hạt mới, và vén màn những bí ẩn khác trong vũ trụ của chúng ta.”  Việc xác định các đặc tính của hạt mới sẽ cần nhiều thời gian và dữ liệu. Nhưng dù kết quả thu được là gì, con người đã đạt được một bước tiến mới trong hiểu biết về cấu trúc cơ bản của vật chất. Phát biểu tại khán phòng của CERN nhà vật lý Peter Higgs đã chúc mừng các nhà nghiên cứu cho khám phá của họ. “Đối với tôi, thật khó tin rằng điều này xảy ra trong quãng đời của mình”, ông nói.  Tổng hợp theo thông cáo của CERN và trang Physicsworld  http://press.web.cern.ch/press/PressReleases/Releases2012/PR17.12E.html  http://physicsworld.com/cws/article/news/2012/jul/04/cern-discovers-higgs-like-boson         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy những lỗ đen mới trong dải Ngân hà      Các nhà vật lý thiên văn đã khám phá ra các dấu hiệu của những lỗ đen mới bên trong dải Ngân hà và tin rằng nó có thể đạt tới con số 10.000. Phát hiện mang tính đột phá này sẽ cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc hơn về việc lỗ đen hình thành như thế nào.      Theo một công bố mới xuất bản trên Nature “A density cusp of quiescent X-ray binaries in the central parsec of the galaxy“, những hố đen khối lượng sao (stellar black hole) tồn tại bên cạnh Sagittarius A – lỗ đen siêu khối lượng mà chúng ta đã biết nằm ở trung tâm dải Ngân hà.  Khám phá này cũng cho biết có một số lượng lớn các lỗ đen trong khắp thiên hà nhiều hơn chúng ta đã biết. Nó có thể giúp mở rộng thêm hiểu biết của chúng ta về sóng hấp dẫn, những vòng xoắn trong không – thời gian do những sự kiện vũ trụ tạo ra, ví dụ như sự sáp nhập của các vật thể có khối lượng lớn.  Nghiên cứu này cũng tìm thấy những lỗ đen mới lớn gấp 10 lần khối lượng mặt trời của chúng ta. Để dễ tưởng tượng ra những lỗ đen này, chúng ta có thể so sánh nó với lỗ đen siêu khối lượng Sagittarius A đã biết: Sagittarius A gấp mặt trời 4 triệu lần.   “Nghiên cứu này sẽ mở ra nhiều ý tưởng khác”, Chuck Hailey – nhà nghiên cứu vật lý thiên văn tại trường đại học Columbia và là tác giả chính của nghiên cứu. “Trung tâm của thiên hà là một nơi hết sức kỳ lạ. Đó là nguyên nhân giải thích vì sao các nhà khoa học lại thích nghiên cứu nó”. Ông nói thêm với hãng thông tấn AFP, “nó như phần nổi của tảng băng trôi”.  Thực tế lấp đầy các “lỗ hổng” lý thuyết  Các nhà khoa học đã phát triển lý thuyết là vòng quay trong trung tâm của các thiên hà có một số lượng lớn các lỗ đen sao, được hình thành từ sự suy sụp của các ngôi sao lớn – nơi lực hấp dẫn mạnh đến mức ngay cả ánh sáng cũng không thể vượt ra ngoài nhưng cho đến bây giờ họ vẫn chưa có bằng chứng nào về chúng trong vùng lõi của Ngân hà.  Bằng chứng của lý thuyết này đã được nhà vật lý Karl Jansky trình bày đầu tiên vào năm 1931, khi ông khám khá ra các sóng vô tuyến từ vùng lõi dải Ngân hà.  Những các lỗ đen mới được khám phá trong vòng 19,2 nghìn tỷ dặm (tương đương 30,9 nghìn tỷ km) của lỗ đen siêu khối lượng tại khu vực trung tâm. Trái đất nằm trong cánh tay xoắn ốc của Ngân hà, cách trung tâm khoàng 3.000 năm ánh sáng (1 năm ánh sáng tương đương 5,9 nghìn tỷ dặm, hoặc 9,5 nghìn tỷ km).  Các lỗ đen đóng vai trò như những nguồn phát lực hấp dẫn cường độ lớn có khả năng hấp thụ bụi vũ trụ và khí xung quanh nó và thông qua lực hút hấp dẫn cường độ lớn của chúng mà hình thành nên những ngôi sao trong các dải thiên hà quay xung quanh. Tuy nhiên các nhà khoa học vẫn còn chưa tường tận về việc chúng được hình thành như thế nào.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.dw.com/en/scientists-find-new-black-holes-in-milky-way/a-43258145    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy “quái vật” biển lớn khổng lồ      Các nhà khoa học Na Uy vừa khai quật hóa thạch 150 triệu năm tuổi của một con bò sát biển khổng trên một hòn đảo ở Bắc cực, thuộc về loài bò sát biển lớn nhất mà khoa học từng biết đến.      Con thủy quái từ kỷ Jura này là một trong số 40 con bò sát biển được tìm thấy trong hố khai quật trên đảo. Với chiều dài từ mũi đến chân lên đến 15 mét, sinh vật này lớn đến mức nó có thể ngoạm một chiếc xe hơi nhỏ vào bộ hàm của mình và cắn làm đôi. Con vật này thuộc về một nhóm bò sát cổ ngắn, sống ở dưới biển trong thời kỳ của khủng long. Cơ thể nó hình giọt nước, với hai bộ chân chèo rất khỏe giúp nó đẩy mình về phía trước.   T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy “quái vật” bò sát ở Bắc cực      Cuộc khai quật sơ bộ trên khu vực quần đảo Svalbard vừa qua đã tiết lộ những mảnh xương, răng và sọ cùng xương sống của một con bò sát, ước tính dài đến 12 mét, và có thể là một loài mà khoa học chưa bao giờ biết đến.      Nhóm nghiên cứu đã mô tả các hoá thạch 150 triệu năm tuổi này thuộc về một nhóm xà đầu long cổ ngắn, với chiều dài hơn 9 mét. Xà đầu long cổ ngắn là một nhóm bò sát phàm ăn, thường được ví như khủng long bạo chúa của đại dương.   T.An (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy sinh vật giống cá phát quang      Như thể có hàng chục bóng đèn tí hon giấu trong cơ thể, một sinh vật giống cá phát ra những đốm sáng huỳnh quang-khả năng trước kia được xem là chỉ có ở san hô và sứa.      Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những sinh vật lưỡng tiêm này, còn gọi lancelet, chứa các protein huỳnh quang màu xanh lục có thể hoạt động giống như tấm khiên che nắng hoặc chống đỡ stress, giúp bảo vệ nó khỏi những thay đổi của môi trường. Phát hiện chứng tỏ hiện tượng huỳnh quang (khác với hiện tượng phát quang sinh học) phổ biến trong thế giới động vật nhiều hơn chúng ta tưởng.   T.An (Theo LiveScience)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy tổ tiên của khủng long bạo chúa      Các nhà cổ sinh vật học thuộc Viện hàn lâm khoa học Ba Lan đã tìm thấy hóa thạch của một loài khủng long tại miền Nam Ba Lan.      Đây được coi là tổ tiên chưa từng được biết đến của loài khủng long bạo chúa Tyrannosaurus Rex. Các nhà khoa học trên đưa ra giả thiết rằng loài khủng long này sống cách đây khoảng 200 triệu năm, có chiều dài khoảng 5m. Hiện tại, các nhà cổ sinh vật đang tiếp tục nghiên cứu để đặt tên cho loài khủng long này. Họ trưng bày những hiện vật này tại Lisowice (Ba Lan).   Trang Anh (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm thấy xác tàu đắm 139 năm trước ở Alaska      Đội thợ lặn do Steve Lloyd làm trưởng nhóm vừa tìm thấy những tàn tích của con tàu Torrent của Mỹ bị chìm ở ngoài bờ biển Alaska 139 năm trước đây.      Tàu Torrent chở 155 hành khách, va vào san hô và chìm gần Port Graham năm 1868. Một số đồ vật như súng, pháo, giày, neo, một đoạn thân tàu và bản lề bánh lái bằng đồng nặng khoảng 45 cân được tìm thấy. Con tàu đắm cổ nhất của Mỹ ở Alaska là tàu buôn lông thú Eclipse bị chìm ngày 11-8-1807 ở đảo Shumagin thuộc phía nam bán đảo Alaska. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa tìm thấy dấu tích của con tàu này.   Thương Vũ (Theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm vật chất tối bằng… trí tuệ nhân tạo      Một nhóm các nhà vật lý và khoa học máy tính tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sỹ (ETH) ở Zurich đã phát triển một cách tiếp cận mới để khám phá vật chất tối và năng lượng tối trong vũ trụ. Bằng việc sử dụng các công cụ học máy, họ đã lập trình cho các máy tính rồi dạy chúng cách trích xuất thông tin từ các bản đồ vũ trụ.         Một khi mạng lưới thần kinh được huấn luyện, nó có thể được sử dụng để trích xuất các thông số vũ trụ từ các hình ảnh thực tế của bầu trời đêm. Nguồn : ETH Zurich  Việc hiểu về cách vũ trụ của chúng ta ngày nay được hình thành như thế nào và rút cục sẽ trở thành thứ gì là là một trong những thách thức lớn nhất trong khoa học. Ngay bản thân việc các ngôi sao nhiều đến mức không thể đếm được trong một đêm thanh vắng cũng đủ sức khơi gợi sự tò mò và đem đến cho chúng ta một số ý tưởng về mức độ quan trọng của vấn đề này, và đây chỉ là một phần của câu chuyện. Điều bí ẩn nằm sâu hơn trong đó là những gì chúng ta không thể thấy bằng mắt thường, hoặc ít nhất là nhìn trực tiếp: vật chất tối và năng lượng tối.  Do vật chất tối kéo vũ trụ lại gần còn năng lượng tối gia tốc vũ trụ giãn nở, các nhà vũ trụ học cần biết chính xác có bao nhiêu lực trong số đó tác động lên vũ trụ để làm chính xác hơn các mô hình của họ.  Tại ETH Zurich, các nhà khoa học Khoa Vật lý và Khoa Khoa học máy tính đã hợp tác để cải thiện các phương pháp tiêu chuẩn để ước tính lượng vật chất tối của vũ trụ thông qua trí tuệ nhân tạo. Họ đã sử dụng các thuật toán học máy tiên tiến để phân tích dữ liệu vũ trụ, vốn có nhiều điểm tương đồng với những thuật toán vẫn được sử dụng để nhận dạng khuôn mặt của Facebook và các mạng xã hội khác. Kết quả nghiên cứu mới đây của họ đã xuất bản trên Physical Review D.  Nhận dạng khuôn mặt dành cho vũ trụ  Trong khi không có các khuôn mặt được ghi nhận trong những bức ảnh chụp bầu trời đêm, các nhà vũ trụ học vẫn tìm kiếm thứ gì đó tương tự, như Tomasz Kacprzak, một nhà nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu của Alexandre Refregier tại Viện nghiên cứu Vật lý hạt và vật lý thiên văn giải thích, giải thích: “Facebook sử dụng các thuật toán để tìm các đôi mắt, mũi hoặc tai trong các bức ảnh; chúng tôi sử dụng các thuật toán của mình để tìm kiếm các tín hiệu có thể kể được câu chuyện về vật chất tối và năng lượng tối”. Vì vật chất tối không thể nhìn thấy một cách trực tiếp trong các bức ảnh do kính viễn vọng chụp, các nhà vật lý phụ thuộc vào thực tế là tất cả các loại vật chất có thể “lái” một cách dễ dàng các tia sáng từ các thiên hà ở rất xa xuống trái đất. Hiệu ứng này vẫn được gọi là “các thấu kính hấp dẫn yếu” (weak gravitational lensing), làm méo các hình ảnh từ những thiên hà đó này, nhiều như những vật thể ở xa xuất hiện không rõ nét trong ngày nóng vì ánh sáng phải xuyên qua các lớp không khí tại các nhiệt độ khác nhau.  Các nhà vũ trụ học có thể sử dụng những biến dạng đó để làm theo hướng ngược lại và tạo ra các bản đồ cực lớn của bầu trời chứng tỏ nơi vật chất tối có mặt. Bước tiếp theo, họ so sánh các bản đồ vật chất tối theo các dự đoán lý thuyết theo trình tự để tìm mô hình vũ trụ nào phù hợp nhất với dữ liệu đó. Theo truyền thống, việc này được thực hiện bằng cách sử dụng các thống kê do con người thiết kế như các hàm tương quan để miêu tả cách các phần khác nhau của các bản đồ được liên kết với nhau. Dẫu vậy, nhiều thống kê bị giới hạn vì chúng có thể khó tìm thấy các mẫu hình phức tạp trong các bản đồ vật chất.  Các mạng thần kinh tự dạy mình  “Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã sử dụng một phương pháp hoàn toàn mới”, Alexandre Refregier nói. “Thay vì tạo ra phân tích thống kê phù hợp cho chính mình, chúng tôi để cho các máy tính làm việc đó”. Đấy là nơi Aurelien Lucchi và đồng nghiệp của anh từ Phòng thí nghiệm Phân tích dữ liệu tại Khoa Khoa học máy tính bước vào. Cùng Janis Fluri, một nghiên cứu sinh trong nhóm nghien cứu của Refregier và là người dẫn dắt nghiên cứu này, họ sử dụng các thuật toán học máy gọi là các mạng thần kinh nhân tạo sâu và dạy chúng trích xuất một lượng thông tin lớn nhất có thể từ các bản đồ vật chất tối.  Trong bước đầu tiên, các nhà khoa học huấn luyện các mạng thần kinh bằng việc nạp cho chúng dữ liệu mô phỏng vũ trụ do máy tính tạo ra. Theo cách đó, chúng biết những gì là câu trả lời đúng với một thông số vũ trụ cho trước – ví dụ, tỷ lệ giữa tổng lượng vật chất tối và năng lượng tối – có thể là cho mỗi bản đồ vật chất tối mô phỏng. Bằng việc phân tích các bản đồ vật chất tối một cách liên tục, mạng thần kinh này tự dạy chính mình để có thể kìm kiếm các đặc điểm đúng trong các bản đồ và để trích xuất ra ngày một nhiều thông tin mong muốn. Tương tự như trên Facebook, nó sẽ trở nên chính xác hơn trong việc phân biệt ngẫu nhiên các hình dạng trái xoan từ mắt và miệng.    Ngày một chính xác hơn phân tích do người thực hiện  Những kết quả thu được từ tập luyện đáng khuyến khích: các mạng thần kinh đã gia tăng giá trị với độ chính xác 30% so với kết quả đạt được bằng phương pháp truyền thống dựa trên các phân tích do người thực hiện. Với các nhà vũ trụ học, đây là một cải thiện lớn vì chạm đến độ chính xác tương tự bằng việc gia tăng số lượng các hình ảnh chụp từ kính viễn vọng có thể đòi hỏi gấp hai lần thời gian quan sát mà lại tốn kém.  Cuối cùng, các nhà khoa học đã sử dụng mạng lưới thần kinh được huấn luyện của họ để phân tích các bản đồ vật chất tối thực tế từ bộ dữ liệu KiDS-450. “Đây là lần đầu tiên các công cụ học máy được sử dụng cho nội dung này”, Fluri nói, “và chúng tôi tìm thấy mạng thần kinh nhân tạo sâu cho phép chung tôi trích xuất nhiều thông tin từ dữ liệu này hơn những cách tiếp cận trước. Do dó, chúng tôi tin tưởng là việc sử dụng học máy trong vũ trụ sẽ còn có nhiều ứng dụng trong tương lai”  Bước tiếp theo, anh và đồng nghiệp lập kế hoạch ứng dụng phương pháp của mình trên các bộ dữ liệu hình ảnh lớn hơn như Dark Energy Survey. Ngoài ra, càng có thêm nhiều chi tiết về bản chất của năng lượng tối sẽ càng nuôi dưỡng những mạng thần kinh này tốt hơn.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2019-09-artificial-intelligence-probes-dark-universe.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tìm vật chất tối với vật chất siêu lạnh trong vũ trụ      Các nhà khoa học xác định vật chất tối chiếm khoảng 80% khối lượng trong vũ trụ. Chỉ có thể được nhận biết được vật chất tối thông qua lực hấp dẫn bởi nó không tương tác với ánh sáng và cũng không thấy qua kính viễn vọng. Những hiểu biết hiện thời về vũ trụ và vật lý hạt nhân đề xuất vật chất tối có thể được hình thành từ các axion, những hạt tồn tại trên giả thuyết với các đặc tính đối xứng khác thường.      Trong bài báo mới được xuất bản trên Physical Review Letters “Bose-Einstein Condensate Comagnetometer”, các nhà nghiên cứu do giáo sư Morgan W. Mitchell đã nêu cách tìm kiếm các hạt axion bằng việc sử dụng các đặc tính độc đáo của các ngưng tụ Bose-Einstein (BECs).  Nếu tồn tại thì hạt axion có thể chỉ dấu cho “các lực phụ thuộc spin lạ”. Từ tính, lực phụ thuộc spin được biết đến nhiều nhất, là nguyên nhân khiến các hạt electron hướng spin của chúng dọc theo từ trường, giống như một mũi kim luôn chỉ về hướng bắc. Các hạt photon ảo mang từ tính, trong khi các axinon ảo có thể mang các lực phụ thuộc spin “lạ” (hoặc các hạt như axion). Các lực này có thể tác động đến cả các electron lẫn hạt nhân, và có thể tạo ra không chỉ từ từ trường mà còn từ vật chất thường. Để biết liệu các axion có tồn tại hay không, có một cách để tìm hiểu là hạt nhân có xu hướng thích hướng theo vật chất khác hay không.   Hầu hết các thực nghiệm đang được tiến hành đều tìm kiếm các lực như thế này, sử dụng các “từ kế”, vốn là các cảm biến từ được xếp thành cặp tại cùng một điểm. Bằng việc so sánh tín hiệu của hai cảm biến, hiệu ứng của từ trường thông thường có thể bị loại ra, chỉ để lại hiệu ứng của lực mới. Vì vậy, các từ kế chỉ có khả năng thấy các lực phụ thuộc spin có phạm vi 1 mét hoặc lớn hơn. Do đó cần phải có một từ kế nhỏ hơn để tìm các lực phụ thuộc spin có phạm vi ngắn.  Các ngưng tụ Bose Einstein (BECs) là trạng thái các khí được làm lạnh đến gần độ không tuyệt đối. Bởi vì BECs là siêu lỏng, các nguyên tử cấu tạo chúng tự do quay trong nhiều giây mà không gặp phải ma sát, khiến chúng nhạy cảm một cách khác thường với cả từ trường lẫn lực “lạ”. Do một BEC chỉ có kích thước nhỏ khoảng 10 micro mét nên để tạo ra một từ kế BEC phải đòi hỏi giải quyết một vấn đề phức tạp: làm thế nào đặt được hai từ kế BEC cùng kích thước vào một điểm.  Trong nghiên cứu này, Gomez và đồng nghiệp của ông đã nêu việc họ đã có thể giải quyết vấn đề này bằng việc sử dụng hai trạng thái bên trong khác biệt của BEC 87Rb, mỗi chiếc đóng vai trò như một từ kế riêng rẽ nhưng lại được đặt cùng chỗ. Các kết quả của thực nghiệm đã xác nhận sự miễn nhiễm ở mức cao đã được dự đoán với nhiễu từ từ trường thông thường và năng lực tìm kiếm các lực “lạ” với phạm vi ngắn hơn nhiều so với những thí nghiệm đã thực hiện trước đây. Bên cạnh việc tìm kiếm các hạt axion, kỹ thuật này có thể cải thiện sự chính xác của các phép đo vật lý về va chạm giữa các chất siêu lạnh và những nghiên cứu về các tính tương quan lượng tử trong các BEC.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-dark-universe-coldest-material.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin đồn lan truyền như thế nào      Nghiên cứu mới đây cho thấy rằng bất cứ ai  cũng có thể bắt đầu phao một tin đồn, nhưng có một số người lại dễ dập  tắt tin đồn nếu định vị ở những chỗ nhất định trong mạng lưới.      Các sự kiện của mùa xuân Ả Rập và các cuộc nổi dậy khác cũng như các cuộc biểu tình trong mấy năm qua đã chứng minh một cách đáng kể khả năng của phương tiện truyền thông xã hội phổ biến rộng rãi thông tin và kích hoạt hành động tập thể. Phân tích mạng lưới tương tác phức tạp này, trước đây Hernán Makse và các đồng nghiệp đã tìm cách xác định (năm 2010) ai là những người có ảnh hưởng nhất trong sự lan tỏa của một ý tưởng hoặc làm lây một bệnh truyền nhiễm. Họ cho rằng vấn đề không phải đó là những người quen biết nhiều người khác nhất, mà là những người định vị ở một vị trí nhất định của của mạng lưới.   Mới đây, Javier Borge-Holthoefer và Yamir Moreno ở trường Đại học Zaragoza (Tây Ban Nha) đã phân tích tin đồn lan rộng bằng cách mô phỏng toán học các mô hình hợp lý hơn để mô tả lây lan xã hội. Cấu trúc Mô hình bao gồm một kẻ ba hoa (inogrant-là người có thể là thiếu hiểu biết, hoặc không biết gì về một số phần thông tin), một kẻ phát tán (spreader), nhận thức được và sẵn sàng để truyền tải thông tin, hoặc một kẻ dập tắt (stiftler), hiểu biết nhưng không quan tâm trong việc chia sẻ tiếp thông tin. Một kẻ ba hoa tiếp cận với một kẻ phát tán thì có thể trở thành kẻ phát tán khác, trong khi một kẻ phát tán chia sẻ với những người có hiểu biết rồi – tức là các kẻ dập tắt hoặc kẻ phát tán-thì sự lan truyền bị chặn và trở thành một kẻ dập tắt mới.   Tiến hành mô phỏng toán học hoạt động của mô hình tin đồn đó trên cấu trúc của thế giới thực tại- chẳng hạn một mạng liên lạc qua thư điện tử (email), mạng tham vấn chéo trong giới blog chính trị Mỹ, cấu trúc định tuyến của Internet, và Twitter, các tác giả đã tìm thấy tính chất sự lan truyền tin đồn là rất khác so với sự lây lan của dịch bệnh.   Đối với dịch bệnh, véc tơ truyền bệnh (kẻ phát tán) là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy kẻ phát tán có ảnh hưởng quan trọng gì đối với sự khởi phát những tin đồn. Nhưng họ đã tìm thấy rằng có những nút của mạng nằm trong hạt nhân của mạng lưới có thể tác động như những tường lửa, như những kẻ thủ tiêu chính yếu, biết tất cả các thông tin lưu hành nhưng ngăn không cho nó lan rộng ra toàn hệ thống. Vì vậy, tin đồn có lan truyền được hay không,phụ thuộc vào có “kẻ dập tắt” hay không và còn phụ thuộc cả vào vị trí của kẻ dập tắt trong mạng lưới   Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin giả: Không dễ định nghĩa      Lời tòa soạn: Giới khoa học và các cơ quan truyền thông ngày càng quan tâm nghiên cứu tin giả vì nó đang lan truyền rộng rãi, với những phương thức khó nắm bắt trên cả truyền thông chính thống và mạng xã hội, gây hậu quả khôn lường về kinh tế và chia rẽ xã hội sâu sắc. Các nhà nghiên cứu thông tin cho rằng, chính tin giả về Covid-19 phát tán nhiều chẳng kém đại dịch, nên giới khoa học và quản lý không chỉ tập trung tìm ra giải pháp ứng phó về y tế mà còn phải tìm mọi cách chặn đứng tin giả. Thậm chí, khảo sát của PEW research còn cho thấy 80% người Mỹ được hỏi cho biết họ đọc tin giả, tin sai sự thật khi bệnh dịch bắt đầu lan truyền. Loạt bài về tin giả của tác giả Nguyễn Hồng Hải Đăng sẽ cùng gợi mở ra những cuộc thảo luận học thuật chính xung quanh vấn đề mới này.      Nguồn ảnh minh họa: South China Morning Post.   Thế nào là tin giả?      Tin giả, dịch sang tiếng Việt từ cụm từ fake news, được dùng rộng rãi trên truyền thông các nước nói tiếng Anh, là vấn đề nổi cộm trong truyền thông mạng xã hội trong những năm gần đây. Fake news đã trở thành từ cửa miệng của Tổng thống Mỹ Donald Trump mỗi khi ông không hài lòng với các tổ chức truyền thông chính thống và cũng thông dụng trong giao tiếp hằng ngày khi chúng ta hoài nghi về độ đáng tin và chính xác của thông tin. Tuy nhiên, đằng sau cụm từ tưởng chừng rất đơn giản này là vấn đề phức tạp về khái niệm: tin như thế nào thì là “giả”, và dựa trên cơ sở nào ta có thể phân biệt được thật, giả?     Bởi vì nếu không phân biệt được thì chính người đọc tin hằng ngày sẽ không biết đâu là “thật”, “giả hoàn toàn” hoặc sai sự thật, bị bóp méo tới mức nào để tránh rơi vào trạng thái hoang mang, có cách ứng xử. Thông tin sai lệch sức khỏe, như thông tin sai về phương thức chữa trị Covid-19 hay thông tin phản khoa học về vaccine, có thể mang hậu quả nguy hiểm đến tính mạng con người. Còn đối với nhà làm quản lý thông tin, phân biệt được cũng là để đưa ra chính sách quản lý phù hợp hơn với từng dạng thông tin. Trên thực tế, thông tin sai lệch với mục đích gây hại đến các nhóm thiểu số và gây nên phân cực chính trị cũng là vấn đề nổi cộm trong quản lý thông tin trên môi trường internet hiện nay.       Sự hình thành các thuyết âm mưu – biểu hiện cực điểm của việc hoài nghi và đồn thổi thiếu cơ sở – là một phần hậu quả của môi trường thông tin thiếu cấu trúc đánh giá thông tin vững chắc và thiếu tính minh bạch.      Tuy thế, nếu chỉ sử dụng cụm từ ‘tin giả’ chung chung thì vẫn là khái niệm mang tính quy chụp, thiếu chính xác, và dễ gây nhiễu tư duy cho người dân, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng thông tin. Trong nghiên cứu thông tin (information) ở khối nước nói tiếng Anh, các nhà nghiên cứu thường đặt vấn đề về tin giả thông qua hai khái niệm chính: “thông tin sai lệch” (misinformation) và “tin dắt mũi” (disinformation). Tiền tố ‘mis-’ trong tiếng Anh diễn tả ý sai lệch vô ý thức; tiền tố ‘dis-’ trong tiếng Anh diễn tả ý phản nghĩa, trái ngược, tách rời. Sự phân biệt này là quan trọng, vì trong nghiên cứu học thuật về thông tin hiện nay, thông tin sai lệch và tin dắt mũi được xem như hai khái niệm tách biệt: misinformation – thông tin có thể sai lệch do vô ý hoặc disinformation – cố ý với mục đích gây rối và gây bất ổn chính trị, nhưng cả hai đều mang lại những hậu quả nghiêm trọng.     Vậy, những thể loại thông tin nào được xem là tin dắt mũi? Tin dắt mũi là những thông tin cố ý sai lệch với mục đích và chức năng đánh lừa đối tượng tiếp nhận thông tin. Những ví dụ cụ thể của tin dắt mũi trong đời sống thường ngày bao gồm quảng cáo sai lệch, tuyên truyền chính trị, ảnh bị chỉnh sửa thay đổi để tạo thông tin sai, giấy tờ giả mạo, hay thậm chí là bản đồ giả nhằm gây khó khăn cho việc định hướng khi đi lại. Có thể thấy rằng các hình thức biểu hiện tin dắt mũi là không hề mới; thông tin sai lệch, lừa lọc đã tồn tại từ rất lâu. Vấn đề mới được đặt ra với mạng xã hội là tốc độ lan truyền, hình thức lan truyền đa phương tiện, và tầm lan rộng của tin dắt mũi đến các đối tượng thường chịu hậu quả nặng nề nhất.              Loại tin dắt mũi      Định nghĩa      Ví dụ          Lời nói dối gây hại (malicious lies)      Thông tin sai lệch được tạo ra với mục đích hãm hại một đối tượng cụ thể, nhằm mang lại lợi ích thương mại, cá nhân, hoặc chính trị cho đối tượng lan truyền thông tin      Lời đàm tiếu vô căn cớ, tin đồn thất thiệt, đả kích các đối tượng chính trị mà không có căn cứ          Thông tin hình ảnh đánh lạc hướng  (visual disinformation)      Hình ảnh gây hiểu lầm với chức năng tạo dựng câu chuyện sai lệch      Hình ảnh bị chỉnh sửa, bản đồ giả, hoạ đồ, đồ thị thiếu chuẩn khoa học nhằm tạo nên đánh giá thông tin sai          Tin dắt mũi đúng  (true disinformation)      Tin dắt mũi mang tính chất đúng, hoặc nhấn mạnh một phần sự thật, nhưng lại gây hiểu lầm hoặc hiểu sai      Các bài báo ‘giật tít’ nhằm thu hút chú ý của người xem tin với tiêu đề gây hiểu lầm, các hình thức PR quan hệ công chúng mang tính ‘nhào nặn’ sự thật theo hướng có lợi cho cơ quan và doanh nghiệp          Tin dắt mũi gây hiệu ứng phụ (side-effect disinformation)      Thông tin gây hiểu sai, dù người đưa tin không cố ý lừa lọc người nhận thông tin      Trong một nghiên cứu nổi tiếng vào năm 2004, G.S. Halavais của ĐH Arizona State University thử nghiệm chèn thông tin sai lệch vào các bài viết trên Wikipedia và đo lượng thời gian các thông tin này được phát hiện ra bởi các biên tập viên trên trang này.           Tin dắt mũi mang tính thích nghi (adaptive disinformation)      Thông tin sai lệch mang lại lợi ích có hệ thống cho người đưa tin hoặc một đối tượng chính trị xã hội nào đó      Ở các quốc gia dân chủ, truyền thông đại chúng phân chia theo truyền thông và truyền thông cánh hữu; kênh Fox News ở Mỹ thường đưa tin sai lệch theo cách có lợi cho đảng Cộng Hoà (cánh hữu) ở Mỹ          Tin dắt mũi vị tha (altruistic disinformation)      Thông tin sai lệch với mục đích mang lại lợi ích cho đối tượng tiếp nhận thông tin      Bác sĩ nói dối bệnh nhân về tình trạng bệnh nhằm giúp bệnh nhân lạc quan hơn, chính phủ lượt bỏ chi tiết về khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội, nhằm ngăn ngừa hoảng loạn đám đông          Tin dắt mũi gây bất lợi (detrimental disinformation)      Thông tin sai lệch được đưa ra với mục đích cứu vãn một tình thế khác      Bệnh nhân ngại đưa ra thông tin đúng về sức khoẻ của mình (chế độ dinh dưỡng, chế độ tập thể thao, loại thuốc họ đang sử dụng) cho bác sĩ, cung cấp thông tin sai lệch và có thể gây hại cho bản thân.          Tóm tắt các loại tin dắt mũi, dựa theo Fallis (2015), What is disinformation? Library Trends, 63(3). https://doi.org/10.1353/lib.2015.0014.  Bảng tóm tắt các loại tin dắt mũi bên dưới cho thấy việc xác định tin giả hay thật là không hề đơn giản: việc định đoạt giả – thật phụ thuộc rất nhiều vào việc người tiêu thụ thông tin có am hiểu rộng hơn về bối cảnh thông tin hay không, và vào việc người tiêu thụ thông tin có cơ sở để đặt nghi vấn về nội dung thông tin được truyền tải hay không. Các yếu tố này đòi hỏi thời gian và sự tham gia xử lý thông tin có chiều sâu mà không phải người tiếp nhận thông tin nào cũng sẵn sàng dành ra. Tình huống toàn bộ dân chúng đều phải dành phần lớn thời gian vào việc tranh luận và phân tích bối cảnh, tính xác thực, và độ đáng tin của thông tin mà họ nhận được là bất khả thi, chưa kể đến việc không phải lúc nào toàn cảnh bức tranh lớn về nhiều vấn đề khoa học và xã hội phức tạp cũng có thể sẵn sàng được đưa đến với công chúng.     Bên cạnh đó, khái niệm thông tin sai lệch (misinformation) thường được hiểu là thông tin mang tính sai do lỗi sai phạm, sự tắc trách, hoặc định kiến vô thức của người đưa tin. Tin dắt mũi cũng có những tính chất này, nhưng điểm khác nhau mấu chốt giữa tin dắt mũi và thông tin sai lệch là tin dắt mũi xuất phát từ chủ ý lừa lọc của đối tượng đưa tin. Tuy vậy, người đọc thông thường lại rất khó xác định được chủ ý này.     Hậu quả của một môi trường thông tin có nhiều thông tin sai lệch và tin dắt mũi là việc người đón nhận thông tin dèm pha, đồn thổi những hoài nghi và tin đồn theo cách không mang tính xây dựng. Tuy tranh luận thông tin và hoài nghi có cơ sở là điều rất cần thiết cho việc duy trì thực đơn thông tin lành mạnh hằng ngày của mỗi người, sự bão hòa thông tin sai và tin dắt mũi hướng những tranh luận và hoài nghi đáng có này theo chiều hướng tiêu cực và vô ích. Sự hình thành các thuyết âm mưu – biểu hiện cực điểm của việc hoài nghi và đồn thổi thiếu cơ sở – là một phần hậu quả của môi trường thông tin thiếu cấu trúc đánh giá thông tin vững chắc và thiếu tính minh bạch.      Thông tin sai lệch lan truyền thế nào trên mạng xã hội?     Dù có rất nhiều bất cập trong việc định nghĩa chính xác thông tin sai lệch và tin dắt mũi, các nhà nghiên cứu thông tin đã và đang thực hiện các nghiên cứu điện toán dò xét và theo dõi cơ cấu lan truyền một số loại thông tin sai lệch như thông tin sai lệch chính trị và thông tin sai lệch sức khỏe. Cần nói thêm, thông tin sai lệch về sức khỏe thường được đánh giá là dễ phân biệt và dễ xác định hơn thông tin sai lệch chính trị do ba yếu tố chính: (1) thông tin sai lệch sức khỏe thường nhận được đánh giá sai/đúng với tỉ lệ đồng tình cao trong giới chuyên gia, (2) sự hiện diện của các tổ chức sức khỏe quốc tế mang uy tín cao thường giúp việc xác nhận tin đúng/sai diễn ra với tốc độ nhanh và độ tin cậy cao, và (3) các vấn đề sức khỏe cấp bách thường thúc đẩy việc các cơ quan chính phủ can thiệp sửa lỗi tin sai với thiện chí, dễ kêu gọi được sự hợp tác của người dân. Thông tin sai chính trị thường mang tính chủ quan và gây nhiều tranh cãi hơn; các bài tiếp theo trong loạt bài tin giả sẽ bàn sâu hơn về vấn đề này.    Sự kiện thông tin sai lệch chính trị được nghiên cứu nhiều nhất tính đến thời điểm hiện nay là sự kiện Chính phủ Nga can thiệp vào tổng bầu cử Mỹ vào năm 2016. Cơ quan nghiên cứu Internet (Internet Research Agency – IRA) của Nga, trụ sở tại Saint Petersburg, do tỉ phú Yevgeny Prigozhin – một nhân vật thân tín với tổng thống Nga Vladimir Putin tài trợ, đã chịu trách nhiệm chính trong việc thâm nhập và lan truyền tin dắt mũi với mục đích chính trị dưới dạng các tài khoản giả mạo trên Twitter và Facebook nhằm gây ảnh hưởng đến tình hình nội vụ của Mỹ từ năm 2014. Nghiên cứu mới nhất xuất bản trên tờ Harvard Misinformation Review do Deen Freelon và Tetyana Lokot thực hiện cho thấy chiến lược đả kích của IRA trong việc can thiệp vào bầu cử Mỹ vào năm 2016 tập trung vào việc gây gièm pha, tấn công, và đấu tố các nhóm liên kết chính trị – xã hội với nhau, đặc biệt là ba nhóm: người có xu hướng bảo thủ, người có xu hướng dân chủ, và người da đen tại Mỹ. Đặc biệt, các tài khoản giả mạo được chế tạo bởi IRA thường phổ biến các câu chuyện bịa đặt (bao gồm cả những sự kiện chưa bao giờ xảy ra trong thực tế) song song với các câu chuyện có thật và những ý kiến chính trị mang tính cực đoan. Chiến lược này gây nhiễu thông tin, làm dư luận hoang mang, khó xác nhận đúng sai, và hằn sâu mâu thuẫn xã hội ở Mỹ.       Facebook bị cáo buộc liên quan đến việc Nga tung tin để can thiệp chính trị của nước Mỹ, và giám đốc của Facebook đã phải tham gia phiên họp ngày 1 tháng 11 năm 2017 trước Ủy ban tình báo Hạ viện Mỹ. Trong ảnh là một nhân viên đang đưa ra các thông tin giả lan truyền trên facebook trước kỳ bầu cử năm 2017. Nguồn ảnh: nbcnews.  Sự kiện thông tin sai lệch sức khỏe thu hút nhiều nghiên cứu nhất hiện nay là hiện tượng chống tiêm vaccine toàn cầu. Trong một nghiên cứu mới cũng được xuất bản trên tờ Harvard Misinformation Review, nhóm nghiên cứu tại trường University of Pennsylvania (Mỹ) và trường Simon Fraser (Canada) khảo sát gần 2,500 người Mỹ và cho thấy rằng thông tin sai lệch về những tác hại của vaccine là khá phổ biến, trong đó 18% người khảo sát tin rằng vaccine có thể gây ra chứng tự kỉ, 15% tin rằng vaccine chứa độc tố, 20% tin rằng cha mẹ có thể tuỳ ý lựa chọn thời điểm tiêm chủng vaccine mà không dựa trên hướng dẫn của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, và 19% tin rằng miễn dịch do nhiễm bệnh tốt hơn miễn dịch do tiêm chủng vaccine. Các thông tin này hoàn toàn sai và không có căn cứ khoa học. Đặc biệt, nghiên cứu này cho thấy dường như người Mỹ tiêu thụ thông tin về vaccine trên các kênh truyền thông đại chúng như TV hay báo chí có xu hướng trả lời đúng các thông tin liên quan tới vaccine hơn là người chỉ tiếp thu thông tin về chủ đề tài này trên mạng xã hội.     Ở một nghiên cứu nhìn vào nhóm tin thuyết âm mưu, nhóm nghiên cứu người Ý tại Trường Nghiên cứu Cao cấp IMT, Đại học Sapienza, và Đại học Boston, Mỹ cho thấy rằng người tiêu thụ và chia sẻ các thuyết âm mưu trên Facebook thường lan truyền các thông tin này với người có cùng sở thích và thế giới quan mang tính đồng điệu với các thuyết âm mưu, và phớt lờ toàn bộ các thông tin trái chiều khác. Nghiên cứu xuất bản ở tạp chí PNAS vào năm 2015 này còn cho thấy, khung giờ vàng cho việc lan truyền các ‘thuyết âm mưu’ là trong vòng 2 tiếng sau khi thông tin này được đăng tải. Sau khung giờ này, sự lan truyền của các thuyết này giảm mạnh; tuy nhiên nếu các thuyết âm mưu này sống được lâu, tuổi thọ cao thì lại cũng lôi kéo được nhiều khán giả. Điều này trái ngược với các thông tin khoa học, vì không phải thông tin khoa học nào tuổi thọ càng cao đều càng được nhiều người rộng rãi biết đến.       Người tiêu thụ và chia sẻ các thuyết âm mưu trên Facebook thường lan truyền các thông tin này với người có cùng sở thích và thế giới quan mang tính đồng điệu với các thuyết âm mưu, và phớt lờ toàn bộ các thông tin trái chiều khác.      Vài vấn đề mở     Trước tình hình thông tin sai lệch và tin dắt mũi đang ngày càng gây nên nhiều vấn đề xã hội phức tạp, nhiều vấn đề mở được đặt ra trong việc quản lý và khắc phục hiện tượng này. Vấn đề mở lớn nhất là việc buộc các trang mạng xã hội chịu trách nhiệm về thông tin sai lệch được truyền bá trên dịch vụ của họ. Facebook, sau khi chịu nhiều điều tiếng bê bối liên quan đến sự kiện Cambridge Analytica đồng thời xảy ra trong loạt sự kiện tổng bầu cử năm 2016, đang dần có nhiều động thái cải thiện chính sách sàng lọc và gỡ bỏ thông tin sai lệch hoặc tin dắt mũi trên dịch vụ của mình, dù vẫn còn rất nhiều bất cập. Việc Facebook đóng cửa giao diện lập trình ứng dụng (API) và chỉ trao quyền truy cập dữ liệu nghiên cứu cho một vài dự án mà Facebook phê duyệt cũng gây ra nhiều tranh cãi và phê bình trong giới học thuật. Ngoài ra, việc các công ty mạng xã hội như Facebook lập luận rằng họ là công ty công nghệ (technology) chứ không phải là công ty truyền thông (media) cũng là một thủ thuật mà Facebook hiện đang sử dụng để né tránh các trách nhiệm pháp lý liên quan đến việc dung túng tin sai trên dịch vụ của mình. Các vấn đề mở này sẽ được thảo luận thêm trong các kì sau trong loạt bài về tin giả. □   (Xem tiếp kỳ sau)    Author                Nguyễn Hồng Hải Đăng        
__label__tiasang Tin sinh học: Chưa khai thác hết tiềm năng      Sự kết hợp giữa khoa học tính toán và công nghệ sinh học nhằm giải thích những cơ chế của sự sống đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới, Tin sinh học (Bioinformatics). Bắt nhịp xu thế phát triển này của khoa học thế giới, các nhà Tin sinh học Việt Nam đã xác định được những hướng đi phù hợp và đạt được thành công bước đầu với một số công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, theo nhận xét của GS. TS Trương Nam Hải (Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)      Thay đổi phương pháp tiếp cận  Từ khi giải mã được bộ gene người và kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới (NGS – Next Generation Sequence) ra đời, khối lượng dữ liệu trình tự hệ gene tăng chóng mặt, đòi hỏi những kỹ thuật tính toán mới nhằm phân tích số liệu, lắp ráp hoàn chỉnh hệ gene rồi chú giải, tìm hiểu chức năng của nó… Đây là lúc Tin sinh học nhập cuộc với sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà tin học và sinh học. GS.TS Hồ Tú Bảo (Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản – JAIST) cho biết, ưu điểm của nghiên cứu trên máy tính so với nghiên cứu sinh học thực nghiệm là cùng lúc có thể phân tích, so sánh rất nhiều gene để đưa ra các giả thuyết về chúng và trao cho các nhà thực nghiệm kiểm chứng.  Với sự tham gia của các nhà tin học trong địa hạt sinh học phân tử, các nhà sinh học bắt đầu biết đến khái niệm in silico – phương pháp thay đổi cấu trúc của các gene, protein, enzyme trên máy tính sau khi đã mô phỏng sự tương tác giữa các phân tử này với các chất, các phân tử khác để hiểu rõ cách thức, cơ chế hoạt động của nó. Hoàn tất phần việc trên máy tính để tìm ra mô hình tối ưu về mặt tính toán, nhà nghiên cứu mới bắt tay vào thực nghiệm, phần công việc với phương pháp in vitro (trong ống nghiệm), in vivo (trên cơ thể sống)… Điều đó thể hiện phương pháp tiếp cận từ góc độ hoàn toàn mới với các kỹ thuật tính toán trước những bài toán sinh học.  Tùy theo tính chất của từng bài toán mà các nhà Tin sinh học lựa chọn những công cụ, những phần mềm xử lý phù hợp, mời thêm các chuyên gia ở lĩnh vực khác như vật lý lý thuyết (tính toán kích thước phân tử, tìm hiểu sự tương tác giữa các phân tử), hóa học (phân tích cấu trúc, bản chất hóa học của protein, enzyme…) cùng tham gia nghiên cứu, đặc biệt với các bài toán về mô hình – mô phỏng.  Đội ngũ Tin sinh học Việt Nam bao gồm cả các nhà nghiên cứu tiếp cận từ hai nhánh tin học và sinh học. Nhóm của GS Hồ Tú Bảo, PGS. TS Lê Sỹ Vinh (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội), GS. TS Từ Minh Phương (ĐH Bưu chính viễn thông), TS Trần Đăng Hưng (ĐH Sư phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội)… thuộc nhánh thứ nhất với thế mạnh làm chủ kỹ thuật tính toán, thống kê, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, khai thác dữ liệu (data mining)… Nhánh thứ hai gồm các nhóm của GS.TS Trương Nam Hải, TS Nguyễn Cường (Viện Công nghệ sinh học), PGS. TS Lê Thị Lý (ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM), TS Dương Quốc Chính (Viện Huyết học truyền máu TƯ), TS Trịnh Thanh Bình (trường Cao đẳng Thủy sản), TS Khuất Hữu Trung (Viện Di truyền nông nghiệp)…, vốn nắm rất chắc kiến thức về hệ gene học (genomics), hệ phiên mã (transcriptomics), hệ protein (protemics)… Trong số này, nhóm ở Viện Công nghệ Sinh học là một trong những nhóm đầu tiên ở Việt Nam có sự kết hợp chặt chẽ giữa sinh học và tin học mà theo GS Hải “rất cần thiết vì dân tin học có công cụ tính toán trong tay nhưng việc ứng dụng công cụ ấy vào đâu, giải quyết vấn đề nào thì cần dân sinh học. Trên cơ sở bài toán được dân sinh học ‘đọc’, dân tin học xây dựng công cụ phần mềm phù hợp để cùng nhau thực hiện”.      Tin sinh học Việt Nam còn quá ít nhiệm vụ nghiên cứu, mặc dù tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này rất lớn.      Các nghiên cứu của Tin sinh học Việt Nam đã góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến sinh học thông qua việc phân lập gene có giá trị kinh tế xã hội cao; phân tích đặc điểm của gene bằng các marker (chỉ thị phân tử) để chọn và tạo giống trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; phân tích xây dựng chỉ thị nghiên cứu sự đa dạng của các quần thể sinh học; phân tích để tìm ra đột biến gene sinh ung thư, kháng thuốc trong y học; nhận diện trong khoa học pháp y; thiết kế thuốc trong dược học…  Tuy lực lượng chưa nhiều nhưng Tin sinh học Việt Nam đã chọn được hướng đi phù hợp để bắt nhịp với thế giới. Hiện nhóm của GS Bảo đang tập trung vào hướng nghiên cứu và ứng dụng Bệnh án điện tử, EMR – Electronic Medical Record) nhằm thiết lập bệnh án của người bệnh ở dạng điện tử dựa trên hệ thống thông tin bệnh viện (HIS – Hospital Information System). Cũng thiên về y sinh song nhóm của PGS Lý đi sâu vào nghiên cứu và phát triển dược phẩm; TS Chính tìm đột biến đơn điểm SNP (Single Nucleotide Polymorphism) gây bệnh ung thư máu, SNP gây kháng thuốc. Sau những công bố về hệ gene người Việt, PGS Vinh tiếp tục con đường này và tìm cách cộng tác với các bệnh viện để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế điều trị. Riêng nhóm của GS Hải và TS Cường nghiên cứu xây dựng bản đồ hệ gene vi tảo, lắp ráp và chú giải hệ phiên mã tôm sú, phân tích hệ gene lúa, phân tích hệ gene metagenomics, đều là những bài toán có nhiều ý nghĩa ứng dụng.  Hai khó khăn nội tại  Theo các nhà Tin sinh học Việt Nam, do sự quan tâm của nhà nước cho lĩnh vực này vẫn còn ở mức khiêm tốn nên trong quá trình nghiên cứu gặp phải nhiều khó khăn, nhất là thiếu thốn về cơ sở vật chất, đặc biệt là thiếu hệ thống máy chủ có hiệu năng cao (HPC – High Performance Computing) chạy được những phần mềm chuyên dụng. “Trong giai đoạn đầu nghiên cứu, chúng tôi phải sử dụng nhờ hệ thống máy tính ở Trung tâm tích hợp Tin sinh học Vienna (CIBV) xử lý dữ liệu thô từ bộ gene 100 người Việt”, PGS Vinh chia sẻ. “Với dự án về gene ba người Việt, chúng tôi chủ yếu chạy dữ liệu trên hệ thống máy tính của ĐH Bách khoa Hà Nội, nơi có ổ cứng lớn đủ sức tải đống dữ liệu”.  Cũng đề cập đến khó khăn này, GS Hải cho biết thêm: “Khi thực hiện những đề tài do Bộ KH&CN giao, Viện Công nghệ sinh học đã thuyết phục Bộ đầu tư nhiều hơn cho hệ máy chủ có hiệu năng cao nhưng một vài thành viên trong hội đồng xét duyệt đề tài chưa đánh giá hết độ phức tạp của Tin sinh học nên không ủng hộ đề nghị mua máy. Vì vậy quá trình phân tích dữ liệu khi thực hiện đề tài bị ảnh hưởng rất nhiều, đơn cử như có máy chạy hai, ba tuần vẫn chưa xử lý được dữ liệu. Nếu đang xử lý mà gặp phải sự cố mất điện thì mọi việc ‘coi như xong’, phải phân tích lại từ đầu”.  Một khó khăn đáng kể nữa là Tin sinh học Việt Nam là còn quá ít nhiệm vụ, mặc dù tính ứng dụng từ các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này rất lớn, như Viện Công nghệ sinh học trong vòng 10 năm qua cũng chỉ có vài nhiệm vụ: đề tài nhánh “Báo cáo phân tích thông tin cấu trúc của độc tố thần kinh nọc rắn và thụ thể nAChR” thuộc đề tài KC 04.18/06-10), đề tài “Giải trình tự hệ gene vi tảo biển dị dưỡng” (KC 04.20/11-15)… Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu trẻ đã ra nước ngoài tìm đất “dụng võ” như Phan Quang Huy (Mỹ), Tạ Xuân Hưng (Phần Lan), Lê Sỹ Quang (Anh), Cao Xuân Hiếu (Đức), Thắng Phạm (New Zealand)…, dẫn đến tình trạng trong nước hiếm hoi những người có chuyên môn sâu đủ khả năng xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu, tạo ra cái vòng luẩn quẩn của việc thiếu nhân lực và nhiệm vụ trong lĩnh vực Tin sinh học Việt Nam hiện nay.  Tạo mối liên kết hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu  Hiện nay các nhóm nghiên cứu Tin sinh học Việt Nam vẫn hoạt động đơn lẻ, chưa có nhiều liên kết và phối hợp với nhau trong nghiên cứu nên hạn chế khả năng giải quyết những bài toán sinh học lớn. Đây là lý do khiến nhóm của PGS Lê Sỹ Vinh dù có công bố quốc tế đáng ghi nhận về hệ gene người Việt nhưng vẫn chưa có cơ hội triển khai nghiên cứu để ứng dụng vào thực tế. Chính sự rời rạc của mạng lưới này cũng khiến nhiều nhà quản lý khoa học chưa đánh giá hết tiềm năng của tin sinh học Việt Nam.  Không chịu bế tắc trong cái vòng luẩn quẩn, nhiều nhóm Tin sinh học Việt Nam đã chủ động tìm hướng giải quyết như ưu tiên phát triển nhân lực, đó cũng là cách giải quyết của Viện Công nghệ sinh học. GS Hải cho biết, trong quá trình gây dựng bộ phận Tin sinh học nhằm hỗ trợ Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gene quốc gia tại Viện hoạt động hiệu quả, ông đã mời TS Nguyễn Cường, từng nghiên cứu bảy năm về Tin sinh học ở Hàn Quốc, tham gia. “Để giữ chân Cường, chúng tôi đặc cách đưa anh vào biên chế và giao phụ trách phòng Tin sinh học (LoBi – Lab of Bioinformatics)”. Sau chưa đầy hai năm hoạt động (thành lập tháng 7/2013), LoBi đã có công bố quốc tế, thực hiện được nhiều bài toán phức tạp về De novo (nghiên cứu xây dựng bản đồ hệ gene của các loài chưa được giải mã), Re-sequencing (tái giải trình tự), Metagenomics (đa hệ gene học), Transcriptomics, xây dựng cơ sở dữ liệu DNA Barcode.      Các nhóm nghiên cứu Tin sinh học Việt Nam hiện vẫn hoạt động đơn lẻ, chưa có nhiều liên kết và phối hợp với nhau trong nghiên cứu nên hạn chế khả năng giải quyết những bài toán sinh học lớn. Chính sự rời rạc của mạng lưới này cũng khiến nhiều nhà quản lý khoa học chưa đánh giá hết tiềm năng của tin sinh học Việt Nam.      Với mong muốn thiết lập mạng lưới liên kết của Tin sinh học Việt Nam, TS Nguyễn Cường đã xây dựng trang web www.tinsinhhoc.org và trang facebook fanpage với gần 1.000 thành viên đăng ký theo dõi, trên đó phổ biến những kiến thức cơ bản của Tin sinh học, cập nhật kết quả nghiên cứu trong nước và thế giới cũng như luôn đón nhận các sinh viên chuyên ngành Tin học và Sinh học quan tâm tới thực tập, làm việc tại LoBi. Theo TS Nguyễn Cường, “các hướng nghiên cứu của các nhóm trong nước hiện nay còn khá xa nhau và cũng thiếu thông tin về đề tài nghiên cứu của nhau. Trong khi Việt Nam chưa có một trung tâm dữ liệu lớn như của quốc tế để các nhóm có thể chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu thì tôi hy vọng trang web sẽ trở thành cầu nối các nhóm, đồng thời thu hút các bạn trẻ quan tâm đến lĩnh vực này”. Hiện tại, LoBi có mối quan hệ hợp tác mật thiết với một số nhà khoa học tại Trường Cao đẳng thủy sản, Viện Huyết học truyền máu TƯ, Viện Di truyền nông nghiệp, ĐH Sư phạm Hà Nội để mở rộng hơn nữa khả năng nghiên cứu, ứng dụng của các đề tài.  Tương tự, PGS Vinh cũng bắt đầu đi tìm những nhóm nghiên cứu khác để tiến tới ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình trong các dịch vụ y tế hoặc điều trị bệnh. Anh lạc quan cho rằng: “Hiện nay nhiều cơ sở y tế, trung tâm nghiên cứu lớn đã lên kế hoạch đặt mua các loại máy NGS. Khi sử dụng, NGS sẽ đưa ra hệ thống dữ liệu lớn đòi hỏi sự phân tích của khoa học tính toán. Trước vấn đề sát sườn như vậy, họ sẽ cần đến chúng tôi”. Sau công bố về hệ gene ba cá thể thuộc một gia đình người Việt vào đầu năm 2015, PGS Vinh đã nhận được một số liên hệ hợp tác từ một số nhà nghiên cứu trong nước.  Vào cuối năm 2014, Tin sinh học Việt Nam đón nhận tin vui: Tin sinh học được bổ sung vào danh mục 58 công nghệ cao được nhà nước ưu tiên phát triển. “Về lâu dài, điều đó sẽ góp phần thúc đẩy Tin sinh học Việt Nam phát triển, còn trước mắt theo tôi, Bộ KH&CN cần tăng thêm nhiệm vụ nghiên cứu và tạo điều kiện mời các chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giải quyết các nhiệm vụ lớn cùng các đồng nghiệp Việt Nam”, GS Hải kiến nghị.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Tin sinh học:  Chưa khai thác hết tiềm năng      Sự kết hợp giữa khoa học tính toán và công nghệ sinh học nhằm giải thích những cơ chế của sự sống đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới, Tin sinh học (Bioinformatics). Bắt nhịp xu thế phát triển này của khoa học thế giới, các nhà Tin sinh học Việt Nam đã xác định được những hướng đi phù hợp và đạt được thành công bước đầu với một số công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, theo nhận xét của GS. TS Trương Nam Hải (Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam).    Thay đổi phương pháp tiếp cận  Từ khi giải mã được bộ gene người và kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới (NGS – Next Generation Sequence) ra đời, khối lượng dữ liệu trình tự hệ gene tăng chóng mặt, đòi hỏi những kỹ thuật tính toán mới nhằm phân tích số liệu, lắp ráp hoàn chỉnh hệ gene rồi chú giải, tìm hiểu chức năng của nó… Đây là lúc Tin sinh học nhập cuộc với sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà tin học và sinh học. GS.TS Hồ Tú Bảo (Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản – JAIST) cho biết, ưu điểm của nghiên cứu trên máy tính so với nghiên cứu sinh học thực nghiệm là cùng lúc có thể phân tích, so sánh rất nhiều gene để đưa ra các giả thuyết về chúng và trao cho các nhà thực nghiệm kiểm chứng.  Với sự tham gia của các nhà tin học trong địa hạt sinh học phân tử, các nhà sinh học bắt đầu biết đến khái niệm in silico – phương pháp thay đổi cấu trúc của các gene, protein, enzyme trên máy tính sau khi đã mô phỏng sự tương tác giữa các phân tử này với các chất, các phân tử khác để hiểu rõ cách thức, cơ chế hoạt động của nó. Hoàn tất phần việc trên máy tính để tìm ra mô hình tối ưu về mặt tính toán, nhà nghiên cứu mới bắt tay vào thực nghiệm, phần công việc với phương pháp in vitro (trong ống nghiệm), in vivo (trên cơ thể sống)… Điều đó thể hiện phương pháp tiếp cận từ góc độ hoàn toàn mới với các kỹ thuật tính toán trước những bài toán sinh học.   Tùy theo tính chất của từng bài toán mà các nhà Tin sinh học lựa chọn những công cụ, những phần mềm xử lý phù hợp, mời thêm các chuyên gia ở lĩnh vực khác như vật lý lý thuyết (tính toán kích thước phân tử, tìm hiểu sự tương tác giữa các phân tử), hóa học (phân tích cấu trúc, bản chất hóa học của protein, enzyme…) cùng tham gia nghiên cứu, đặc biệt với các bài toán về mô hình – mô phỏng.            Tin sinh học Việt Nam còn quá ít nhiệm vụ nghiên cứu, mặc dù tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này rất lớn.             Đội ngũ Tin sinh học Việt Nam bao gồm cả các nhà nghiên cứu tiếp cận từ hai nhánh tin học và sinh học. Nhóm của GS Hồ Tú Bảo, PGS. TS Lê Sỹ Vinh (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội), GS. TS Từ Minh Phương (ĐH Bưu chính viễn thông), TS Trần Đăng Hưng (ĐH Sư phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội)… thuộc nhánh thứ nhất với thế mạnh làm chủ kỹ thuật tính toán, thống kê, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, khai thác dữ liệu (data mining)… Nhánh thứ hai gồm các nhóm của GS.TS Trương Nam Hải, TS Nguyễn Cường (Viện Công nghệ sinh học), PGS. TS Lê Thị Lý (ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM), TS Dương Quốc Chính (Viện Huyết học truyền máu TƯ), TS Trịnh Thanh Bình (trường Cao đẳng Thủy sản), TS Khuất Hữu Trung (Viện Di truyền nông nghiệp)…, vốn nắm rất chắc kiến thức về hệ gene học (genomics), hệ phiên mã (transcriptomics), hệ protein (protemics)… Trong số này, nhóm ở Viện Công nghệ Sinh học là một trong những nhóm đầu tiên ở Việt Nam có sự kết hợp chặt chẽ giữa sinh học và tin học mà theo GS Hải “rất cần thiết vì dân tin học có công cụ tính toán trong tay nhưng việc ứng dụng công cụ ấy vào đâu, giải quyết vấn đề nào thì cần dân sinh học. Trên cơ sở bài toán được dân sinh học ‘đọc’, dân tin học xây dựng công cụ phần mềm phù hợp để cùng nhau thực hiện”.   Các nghiên cứu của Tin sinh học Việt Nam đã góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến sinh học thông qua việc phân lập gene có giá trị kinh tế xã hội cao; phân tích đặc điểm của gene bằng các marker (chỉ thị phân tử) để chọn và tạo giống trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; phân tích xây dựng chỉ thị nghiên cứu sự đa dạng của các quần thể sinh học; phân tích để tìm ra đột biến gene sinh ung thư, kháng thuốc trong y học; nhận diện trong khoa học pháp y; thiết kế thuốc trong dược học…  Tuy lực lượng chưa nhiều nhưng Tin sinh học Việt Nam đã chọn được hướng đi phù hợp để bắt nhịp với thế giới. Hiện nhóm của GS Bảo đang tập trung vào hướng nghiên cứu và ứng dụng Bệnh án điện tử, EMR – Electronic Medical Record) nhằm thiết lập bệnh án của người bệnh ở dạng điện tử dựa trên hệ thống thông tin bệnh viện (HIS – Hospital Information System). Cũng thiên về y sinh song nhóm của PGS Lý đi sâu vào nghiên cứu và phát triển dược phẩm; TS Chính tìm đột biến đơn điểm SNP (Single Nucleotide Polymorphism) gây bệnh ung thư máu, SNP gây kháng thuốc. Sau những công bố về hệ gene người Việt, PGS Vinh tiếp tục con đường này và tìm cách cộng tác với các bệnh viện để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế điều trị. Riêng nhóm của GS Hải và TS Cường nghiên cứu xây dựng bản đồ hệ gene vi tảo, lắp ráp và chú giải hệ phiên mã tôm sú, phân tích hệ gene lúa, phân tích hệ gene metagenomics, đều là những bài toán có nhiều ý nghĩa ứng dụng.   Hai khó khăn nội tại  Theo các nhà Tin sinh học Việt Nam, do sự quan tâm của nhà nước cho lĩnh vực này vẫn còn ở mức khiêm tốn nên trong quá trình nghiên cứu gặp phải nhiều khó khăn, nhất là thiếu thốn về cơ sở vật chất, đặc biệt là thiếu hệ thống máy chủ có hiệu năng cao (HPC – High Performance Computing) chạy được những phần mềm chuyên dụng. “Trong giai đoạn đầu nghiên cứu, chúng tôi phải sử dụng nhờ hệ thống máy tính ở Trung tâm tích hợp Tin sinh học Vienna (CIBV) xử lý dữ liệu thô từ bộ gene 100 người Việt”, PGS Vinh chia sẻ. “Với dự án về gene ba người Việt, chúng tôi chủ yếu chạy dữ liệu trên hệ thống máy tính của ĐH Bách khoa Hà Nội, nơi có ổ cứng lớn đủ sức tải đống dữ liệu”.   Cũng đề cập đến khó khăn này, GS Hải cho biết thêm: “Khi thực hiện những đề tài do Bộ KH&CN giao, Viện Công nghệ sinh học đã thuyết phục Bộ đầu tư nhiều hơn cho hệ máy chủ có hiệu năng cao nhưng một vài thành viên trong hội đồng xét duyệt đề tài chưa đánh giá hết độ phức tạp của Tin sinh học nên không ủng hộ đề nghị mua máy. Vì vậy quá trình phân tích dữ liệu khi thực hiện đề tài bị ảnh hưởng rất nhiều, đơn cử như có máy chạy hai, ba tuần vẫn chưa xử lý được dữ liệu. Nếu đang xử lý mà gặp phải sự cố mất điện thì mọi việc ‘coi như xong’, phải phân tích lại từ đầu”.   Một khó khăn đáng kể nữa là Tin sinh học Việt Nam là còn quá ít nhiệm vụ, mặc dù tính ứng dụng từ các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này rất lớn, như Viện Công nghệ sinh học trong vòng 10 năm qua cũng chỉ có vài nhiệm vụ: đề tài nhánh “Báo cáo phân tích thông tin cấu trúc của độc tố thần kinh nọc rắn và thụ thể nAChR” thuộc đề tài KC 04.18/06-10), đề tài “Giải trình tự hệ gene vi tảo biển dị dưỡng” (KC 04.20/11-15)… Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu trẻ đã ra nước ngoài tìm đất “dụng võ” như Phan Quang Huy (Mỹ), Tạ Xuân Hưng (Phần Lan), Lê Sỹ Quang (Anh), Cao Xuân Hiếu (Đức), Thắng Phạm (New Zealand)…, dẫn đến tình trạng trong nước hiếm hoi những người có chuyên môn sâu đủ khả năng xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu, tạo ra cái vòng luẩn quẩn của việc thiếu nhân lực và nhiệm vụ trong lĩnh vực Tin sinh học Việt Nam hiện nay.  Tạo mối liên kết hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu  Hiện nay các nhóm nghiên cứu Tin sinh học Việt Nam vẫn hoạt động đơn lẻ, chưa có nhiều liên kết và phối hợp với nhau trong nghiên cứu nên hạn chế khả năng giải quyết những bài toán sinh học lớn. Đây là lý do khiến nhóm của PGS Lê Sỹ Vinh dù có công bố quốc tế đáng ghi nhận về hệ gene người Việt nhưng vẫn chưa có cơ hội triển khai nghiên cứu để ứng dụng vào thực tế. Chính sự rời rạc của mạng lưới này cũng khiến nhiều nhà quản lý khoa học chưa đánh giá hết tiềm năng của tin sinh học Việt Nam.   Không chịu bế tắc trong cái vòng luẩn quẩn, nhiều nhóm Tin sinh học Việt Nam đã chủ động tìm hướng giải quyết như ưu tiên phát triển nhân lực, đó cũng là cách giải quyết của Viện Công nghệ sinh học. GS Hải cho biết, trong quá trình gây dựng bộ phận Tin sinh học nhằm hỗ trợ Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gene quốc gia tại Viện hoạt động hiệu quả, ông đã mời TS Nguyễn Cường, từng nghiên cứu bảy năm về Tin sinh học ở Hàn Quốc, tham gia. “Để giữ chân Cường, chúng tôi đặc cách đưa anh vào biên chế và giao phụ trách phòng Tin sinh học (LoBi – Lab of Bioinformatics)”. Sau chưa đầy hai năm hoạt động (thành lập tháng 7/2013), LoBi đã có công bố quốc tế, thực hiện được nhiều bài toán phức tạp về De novo (nghiên cứu xây dựng bản đồ hệ gene của các loài chưa được giải mã), Re-sequencing (tái giải trình tự), Metagenomics (đa hệ gene học), Transcriptomics, xây dựng cơ sở dữ liệu DNA Barcode.            Các nhóm nghiên cứu Tin sinh học Việt Nam hiện vẫn hoạt động đơn lẻ, chưa có nhiều liên kết và phối hợp với nhau trong nghiên cứu nên hạn chế khả năng giải quyết những bài toán sinh học lớn. Chính sự rời rạc của mạng lưới này cũng khiến nhiều nhà quản lý khoa học chưa đánh giá hết tiềm năng của tin sinh học Việt Nam.            Với mong muốn thiết lập mạng lưới liên kết của Tin sinh học Việt Nam, TS Nguyễn Cường đã xây dựng trang web www.tinsinhhoc.org và trang facebook fanpage với gần 1.000 thành viên đăng ký theo dõi, trên đó phổ biến những kiến thức cơ bản của Tin sinh học, cập nhật kết quả nghiên cứu trong nước và thế giới cũng như luôn đón nhận các sinh viên chuyên ngành Tin học và Sinh học quan tâm tới thực tập, làm việc tại LoBi. Theo TS Nguyễn Cường, “các hướng nghiên cứu của các nhóm trong nước hiện nay còn khá xa nhau và cũng thiếu thông tin về đề tài nghiên cứu của nhau. Trong khi Việt Nam chưa có một trung tâm dữ liệu lớn như của quốc tế để các nhóm có thể chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu thì tôi hy vọng trang web sẽ trở thành cầu nối các nhóm, đồng thời thu hút các bạn trẻ quan tâm đến lĩnh vực này”. Hiện tại, LoBi có mối quan hệ hợp tác mật thiết với một số nhà khoa học tại Trường Cao đẳng thủy sản, Viện Huyết học truyền máu TƯ, Viện Di truyền nông nghiệp, ĐH Sư phạm Hà Nội để mở rộng hơn nữa khả năng nghiên cứu, ứng dụng của các đề tài.   Tương tự, PGS Vinh cũng bắt đầu đi tìm những nhóm nghiên cứu khác để tiến tới ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình trong các dịch vụ y tế hoặc điều trị bệnh. Anh lạc quan cho rằng: “Hiện nay nhiều cơ sở y tế, trung tâm nghiên cứu lớn đã lên kế hoạch đặt mua các loại máy NGS. Khi sử dụng, NGS sẽ đưa ra hệ thống dữ liệu lớn đòi hỏi sự phân tích của khoa học tính toán. Trước vấn đề sát sườn như vậy, họ sẽ cần đến chúng tôi”. Sau công bố về hệ gene ba cá thể thuộc một gia đình người Việt vào đầu năm 2015, PGS Vinh đã nhận được một số liên hệ hợp tác từ một số nhà nghiên cứu trong nước.  Vào cuối năm 2014, Tin sinh học Việt Nam đón nhận tin vui: Tin sinh học được bổ sung vào danh mục 58 công nghệ cao được nhà nước ưu tiên phát triển. “Về lâu dài, điều đó sẽ góp phần thúc đẩy Tin sinh học Việt Nam phát triển, còn trước mắt theo tôi, Bộ KH&CN cần tăng thêm nhiệm vụ nghiên cứu và tạo điều kiện mời các chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giải quyết các nhiệm vụ lớn cùng các đồng nghiệp Việt Nam”, GS Hải kiến nghị.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin vắn      – Trung Quốc đang có kế hoạch thiết lập khu bảo tồn thiên nhiên biển đầu tiên có diện tích khoảng 460 km2 dành cho khoảng 2.000 cá heo trắng vốn đang sống ở vùng biển thuộc thành phố Chu Hải, phía bắc tỉnh Quảng Đông. Khu bảo tồn này sẽ được bắt đầu xây dựng trong năm nay và sẽ là trung tâm cứu hộ đối với các loài cá heo trắng vốn có nguy cơ tuyệt diệt vì tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước này. (Tân Hoa Xã)    – Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) cho biết, Trung Quốc sẽ ra tay trước nạn biển thủ và tham nhũng ngân sách của Nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học. Nhiều người có chức quyền trong các cơ quan nghiên cứu khoa học đã bỏ túi các khoản tiền dành cho nghiên cứu khoa học bằng những biện pháp vô nguyên tắc hoặc trở thành các “ông chủ trong nghiên cứu khoa học”, tức là thầu các nghiên cứu lớn và tận dụng sinh viên để hoàn thành các nghiên cứu này. Hiện nhiều nhà khoa học kêu gọi dân chủ và minh bạch hơn trong các cơ chế quản lý nghiên cứu khoa học của nước này. (Chinanews)   – Nhật Bản vừa thiết lập Trung tâm tình báo Trung Quốc nhằm thu thập các thông tin khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, số hóa các thông tin này và cung cấp cho các nhân viên nghiên cứu khoa học Nhật Bản tham khảo. Các thông tin này sẽ giúp Nhật nâng cao tinh thần cảnh giác đối với tương lai phát triển của khoa học kỹ thuật Trung Quốc. (China.com)  – Các nền kinh tế kế hoạch tập trung cũ cần xây dựng nền tảng kinh tế tri thức thông qua phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy hiệu quả thương mại nhờ áp dụng các sáng kiến để vươn đến sự thịnh vượng. Đó là khẳng định của ông Shigeo Katsu, Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) khu vực Châu Âu và Trung Á. Theo ông này, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) tại các nền kinh tế chuyển đổi  phần lớn xuất phát từ chính phủ, thay vì có sự chia sẻ giữa nhà nước và khối tư nhân như các nước phương Tây. (Worldbank.org)  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin vắn      Chính phủ Hàn Quốc vừa thông báo sẽ tăng cường hỗ trợ để phát triển dược phẩm mới ở nước này và giúp công nghiệp dược nước này trở thành một động cơ tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Nhiều biện pháp sẽ được đưa ra để hợp lý hóa thủ tục cho các nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) trong ngành dược nhằm đưa ra nhiều loại dược phẩm mới hơn. (Korea.net)    – Một nghiên cứu mới đây của các chuyên gia đại học Bristol (Anh) cho thấy bệnh đột tử ở trẻ sơ sinh có thể là do một khiếm khuyết về di truyền khiến đứa trẻ mới sinh ra ngưng thở do không kích hoạt được lá phổi hoạt động. Đột tử sơ sinh là một trong những lý do khiến trẻ dưới một tuổi ở Anh chết nhiều nhất, trong đó riêng năm 2004 đã có 349 trường hợp.  – Châu Âu vừa công bố xây dựng một Viện Công nghệ kiểu MIT của Mỹ nhằm gia tăng tính cạnh tranh trong kinh tế. Trung tâm này sẽ liên kết tất cả các nhóm nghiên cứu trên toàn Châu Âu và có tên EIT (European Institut of Technology). Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Jose Manuel Barroso cho rằng: “Châu Âu cần phải có một Viện công nghệ mạnh, tập hợp các bộ óc và công ty giỏi nhất để phân bổ các thành tựu nghiên cứu trên toàn lãnh thổ của Châu Âu”.  PV      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tin vui cho tàu con thoi Discovery      Các quan chức của NASA đã thông báo một tin vui là lớp vỏ chống nhiệt của tàu con thoi đã hoàn toàn lành lặn. “TPS (Hệ Bảo vệ Nhiệt – Thermal Protection System) đã được làm sạch và sửa chữa 100%”, một nhân viên điều khiển ở Trung tâm Không gian Johnson nói.    Tàu Discovery đang chờ đợi tín hiệu báo an toàn cho việc hạ cánh sau lần kiểm tra cuối cùng để đảm bảo rằng nó không bị xây xước bởi các vi thiên thạch khi ở trên quỹ đạo. Chiếc tàu con thoi này đã được dự định trở về Trái Đất vào ngày 17/7.  “Tôi hoàn toàn yên tâm rằng chúng tôi sẽ trở về nhà bằng một phương tiện hoàn toàn nguyên vẹn”, Stephanie Wilson, phi hành gia lần đầu tiên được bay lên không gian đã tâm sự qua một loạt cuộc trả lời phỏng vấn với các hãng truyền thông quốc tế.  “Chúng tôi đang rất sẵn sàng mang con tàu này về nhà khi nhiệm vụ được hoàn thành”, người điều hành chương trình bay trên quỹ đạo Steve Poulos đã nói với các nhà báo như vậy.   Thế hệ tàu Discovery lần nay đã cho phép việc thực hiện sửa chữa ngay trên quỹ đạo, đây là một trong những nỗ lực của cơ quan vũ trụ Hoa Kỳ để tránh không xảy ra thêm một bi kịch nào nữa.    Khi các quan chức của NASA đưa ra quyết định làm sạch con tàu, sáu phi hành gia Discovery và ba chuyên gia của ISS (Trạm Vũ trụ Quốc tế) đã thực hiện việc tháo dỡ những thiết bị trọng yếu từ thùng hàng do tàu con thoi mang lên để chuẩn bị cho lần thứ hai bước ra ngoài không gian.  Các phi hành gia có tâm trạng thoải mái tới mức, họ có cả thời gian để dự đoán về kết quả trận chung kết World Cup giữa Ý và Pháp    Trong lần thứ ba bước ra ngoài không gian, các phi hành gia sẽ thử nghiệm việc sửa chữa các mẫu gia cố carbon-carbon(RCC), một loại vật liệu tổ hợp được sử dụng trên cánh tàu có vai trò trọng yếu như một vỏ chống nhiệt.    Theo AFP  P.V     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình bạn giữa đàn ông và phụ nữ, liệu có thể?      Câu hỏi này luôn luôn, và còn mãi mãi, gợi  ra niềm đam mê. Không, một số người cho rằng không thể, vì sự hấp dẫn  tình dục không bao giờ hoàn toàn có thể được biến mất. Có, những người  khác khẳng định, rằng những mối quan hệ của họ thật là rõ ràng.     Dưới đây là sự tìm hiểu về các mối quan hệ mong manh giữa ham muốn (tình dục) và sự pha trộn giới tính (trong đời sống hôm nay).    Một người đàn ông và một người phụ nữ là bạn bè? Ý tưởng này là không thể tưởng tượng được từ lâu đời, khi mà cả hai giới sống trong những vũ trụ riêng biệt, và không thực sự biết đến nhau ngoài mối quan hệ hôn nhân. Sự phổ cập hóa việc phụ nữ ra xã hội đi làm, và việc các trường học thu nhận các học sinh cả trai và gái cùng nhau, đã làm đảo lộn các quan hệ xa cách một thời này. Rồi các giai đoạn của đời sống độc thân hôm nay thì nhiều hơn hẳn so với cuộc sống ngày trước, để ngỏ cho sự ra đời của những tình bạn vững chắc giữa đàn ông và phụ nữ, cùng với tất cả sự mơ hồ của chúng.   Khi cô Anna, 22 tuổi, nhỏ nhẹ hỏi tôi làm việc về đề tài gì, câu trả lời của tôi đã để lại cho cô ấy một chút vấn vương: “Ồ, đấy mà là một vấn đề à?” Một phản ứng không đáng làm ngạc nhiên bác sĩ tâm thần và phân tâm học Serge Hefez, tác giả của “Những pha của đời sống hôn nhân” (Fayard, 2010): “Thế hệ hiện nay đã sống qua sự pha trộn giới tính như một thực tế hiển nhiên.   Hơn thế nữa, các chàng trai và các cô gái đã được cung cấp các cách nhìn nhận tương tự, có tính tới giới tính của họ. Kể từ khi còn nhỏ, họ cảm hiểu nhau, gần gũi về tình cảm, và không hiếm trường hợp mà người bạn thân nhất của một cô gái lại là một chàng trai.” Những người này không bao giờ đặt câu hỏi về ham muốn tình dục, bởi vì “ham muốn tình dục đến từ tính khác lạ, trong khi tình bạn được nuôi dưỡng trong tính tương đồng, nhà phân tâm học Sophie Cadalen, đồng tác giả với Sophie Guillou trong cuốn “Tất cả để vui thích… và vẫn cứ độc thân” (Albin Michel, 2009). Sự đồng lõa bạn bè không để lại đủ chỗ để làm nảy sinh sự thèm khát tình dục.”  Người bạn, đó là một người đi guốc trong bụng ta, người mà chúng ta xuất hiện trần sì mộc mạc với họ. Thèm khát tình dục thì cần sự bí ẩn, cái này tình bạn lại cố gắng bỏ qua. “Thèm khát tình dục về một người khác, đó là nhìn nhận rằng cái cấu trúc tinh thần của người ấy xa lạ đối với tôi, theo Catherine White, nhà tình dục học, phân tâm học và tác giả của “Tình dục của phụ nữ không phải như tình dục trên các  tạp chí” (Pocket, NXB “Tiến hóa”, 2009). Sự xa lạ khác biệt này tạo ra một khoảng trống giữa người khác và tôi, và tôi sẽ tìm cách lấp đầy khoảng trống đó nhờ vào tình dục. Với một người bạn, các yếu tố tham cuộc theo một cách thức khác: chúng ta tìm cách tạo dựng lại sự yên ấm, sự gần gũi mà chúng ta đã sống với cha mẹ, với anh chị em. Chúng ta rời khỏi lĩnh vực tình dục để tránh nguy cơ tạo nên một tình huống loạn luân.”  Tình bạn muôn sắc màu  Hơn nữa, nhiều bạn bè nhấn mạnh đến mối liên kết anh chị em, gần như là gia đình, cái làm gắn kết họ, dựng nên giữa họ cái rào cản về sự loạn luân có tính biểu tượng. Sự ham muốn có hoàn toàn vắng mặt? “Chúng ta thích sự rõ ràng: hoặc là ham muốn tình dục, hoặc là không có gì. Nhưng cuộc sống tinh tế hơn, mờ hơn. Thường thì một trò chơi quyến rũ vẫn diễn ra giữa một người đàn ông và một người bạn là phụ nữ, mà không gây hậu quả gì đến mối quan hệ của họ”, theo Sophie Cadalen. Đây là những gì thực tế của cuộc sống của cô Myriam, 38 tuổi, với anh Martin, người bạn của mình: “Tôi thích thú để anh ta nhận xét về bộ trang phục mới của tôi, khen một đồ trang sức của tôi. Đôi khi tôi đùa và trêu chọc anh ta trực tiếp hơn: “Thật là ngớ ngẩn, đúng không? Cậu và tớ, chúng ta biết tất cả mọi thứ về nhau, trừ việc chúng ta làm tình như thế nào … ” Chúng tôi đùa với ý nghĩ này, vì biết rằng nó sẽ không bao giờ xảy ra!”  Đối với Catherine Blanc, tình trạng ý nhị này tạo ra sự quyến rũ và sự phong phú của tình bạn khác giới: “Chúng ta là những sinh thể mang giới tính, và chúng ta cần những người khác giới khác, không phải là người tình đối tác của chúng ta, để họ cung cấp cho chúng ta cái nhìn khác giới của họ, bởi vì điều đó củng cố thêm cái bản sắc của chúng ta là đàn ông, là phụ nữ, mà không cần phải thông qua thực hành tình dục. Ham muốn của chúng ta không tìm thấy cùng cách thức như nhau tùy theo những người đối diện với chúng ta. Con người ta không tự chia cắt ra rõ ràng được như thế. Con người ta chia các quân bài theo các cách khác nhau, theo từng mối quan hệ. “Sự hấp dẫn tình dục luôn luôn có đó, nhưng nó được gói lại ở bên trong, để nhường chỗ cho tình bạn.”  HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình bạn góp phần kéo dài tuổi thọ      Bạn muốn sống lâu? Hãy sống tích cực, ăn uống khoa học và luyện tập hợp lý. Nhưng quan trọng không kém là hãy xây dựng và củng cố những mối quan hệ bạn bè.  Thêm một lý do để chúng ta nhấc điện thoại gọi điện cho bạn bè: nghiên cứu tại Úc cho thấy, mối quan hệ bền chặt với những người bạn thân không chỉ giúp chúng ta vui vẻ về tinh thần hay phong phú về mặt xã hội, mà còn giúp chúng ta khoẻ mạnh và sống lâu hơn.    Mới đây Lynne Giles, Gary Andrews, Mary Luszcz (Đại học Flinders) và Gary Glonek (Đại học Adelaide) phát hiện ra rằng, tình bằng hữu kéo dài tuổi thọ. Từ 1992, họ nghiên cứu môi trường xã hội, sức khoẻ, lối sống và tuổi thọ của 1477 người trên 70 tuổi và nhận thấy, tình bạn kéo dài tuổi thọ nhiều hơn quan hệ với con cái hay với họ hàng.       Nguyên nhân thực sự của tác dụng tăng tuổi thọ đó là gì? Đó không chỉ là mối tương giao tinh thần; quan trọng hơn, sự giúp đỡ giữa những người bạn thường là tự nguyện, thoải mái và không gây cảm giác nghĩa vụ hay can thiệp. Trong lúc không ai có thể chọn bố mẹ hay con cái, thì với bạn bè, chúng ta có thể lựa chọn những người phù hợp để kết giao và chia sẻ.  Cụ thể hơn, tình bạn cải thiện cả sức khoẻ thế chất và tinh thần: Căng thẳng và trầm cảm giảm; chức năng tim mạch và tiêu hoá cải thiện, huyết áp ổn định. Ngoài lợi ích cá nhân, tình bạn cũng có lợi cho tập thể. Dường như quan hệ xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình tiến hoá bộ não, như nhà nhân học và tâm lý học tiến hóa Robin Dunbar (Đại học Liverpool, nước Anh) phát hiện vài năm trước. Ông thấy kích thước não bộ và qui mô nhóm bạn ở khỉ có tương quan với nhau. Số cá thể trong nhóm càng lớn, não của từng cá thể càng lớn. Con người có bộ não phức tạp nhất vì nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân có các quan hệ xã hội phong phú nhất.  Đó là lý do Dunbar đưa ra giả thuyết “bộ não xã hội”. Theo ông, sự phát triển các cấu trúc xã hội gia tốc sự tiến hoá bộ não. Đó là vì khi lượng cá thể trong nhóm tăng, khả năng xử lý thông tin về từng cá thể của não cũng phải tăng tương ứng. Chúng ta có thể có nhiều nhóm bạn; chúng có cấu trúc không hoàn toàn ngẫu nhiên mà hợp thành các vòng tròn đồng tâm. Trong cùng là nhóm bạn thân nhất, với khoảng 3-5 người. Ta thường chia sẻ với họ về mọi vấn đề. Khi gặp khó khăn, họ khuyên giải hay nâng đỡ ta. Và thành viên trong nhóm gặp nhau hàng tuần.  Vòng tròn tiếp theo gồm 12 – 20 người. Quan hệ ở vòng này kém bền chặt hơn, nhưng vẫn duy trì được mối quan tâm chung. Tiếp theo là nhóm 30 – 50 người, với quan hệ lỏng lẻo hơn, nhưng vẫn gặp gỡ nhau tuy không thật thường xuyên. Dunbar tin rằng đó chính là qui mô các nhóm săn bắt – hái lượm thời tiền sử. Ông cũng cho rằng ít nhất còn hai nhóm nữa với qui mô lớn hơn (số lượng tương ứng khoảng 150 và 500 người) nên quan hệ cũng lỏng lẻo hơn nhiều. Tuy nhiên số cá thể trong các nhóm này chưa quá lớn so với khả năng ghi nhớ và xử lý của bộ não, nên từng cá thể vẫn có thể biết một số thông tin về các cá thể khác trong nhóm. Các nhóm qui mô lớn hơn nữa thường chỉ quan hệ với nhau theo tư cách các “tập thể” độc lập, vì các cá thể giữa các nhóm khó biết về nhau, do số lượng đã vượt khả năng xử lý của bộ não.  Dunbar nhận thấy giữa hai nhóm kế tiếp nhau, số cá thể thay đổi khoảng 3 lần. Đó cũng chính là cách tổ chức quân đội. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đơn vị chiến đấu nhỏ nhất là tiểu đội với khoảng 12 – 15, trung đội khoảng 30 – 40, còn đại đội khoảng 120 – 150 người. Đó là số lượng được duy trì từ thời cổ đại cho tới ngày nay. Ngoài các lý do kinh tế – chính trị – quân sự, điều đó cũng phù hợp với khả năng xử lý tối đa của bộ não.                                          (Theo Scientific American Mind)  Đỗ Kiên Cường       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh bột nano thay thế dầu mỏ      Trong tương lai, các hạt nano của đường và tinh bột có thể thay thế dầu mỏ trong việc sản xuất keo dính, mực, nhựa… Các hạt nano tinh bột được chế tạo từ sản phẩm nông nghiệp, và không giống như dầu mỏ, đây là nguồn nguyên liệu tái sinh được, John van Leeuwen chủ tịch công ty vật liệu sinh học Ecosynthetix nói, “công nghệ của chúng tôi sẽ trở nên cực kỳ hay khi giá dầu tăng đến hơn 25USD một thùng”.    Các nhà máy sản xuất bìa cứng hiện đang sử dụng tới bốn tỷ pound hồ tinh bột để dán giấy làm bao bì, van Leeuwen giải thích, năm 2005 chỉ riêng thị trường này đã là 3 tỷ USD.  Các hạt tinh bột tự nhiên có kích thước thô vào cỡ 30 micromét, nhưng công nghệ của Ecosynthetix có thể biến chúng thành những hạt có kích thước chỉ khoảng 50 đến 150 nanomét. Ở kích cỡ này, các hệ hạt nano có diện tích bề mặt lớn gấp 400 lần so với các hạt tinh bột tự nhiên. Vì vậy việc làm keo từ các hạt này sẽ cần ít nước hơn và mất ít hơn thời gian và năng lượng để làm khô. Thay vì cần đến 350 độ F, việc làm khô chỉ cần nhiệt độ phòng, từ đó có thể tiết kiệm 1 triệu USD tiền khí đốt mỗi năm, van Leeuwen nói. Theo ông, các hạt nano cũng có thể được sử dụng như một loại nhựa sinh tổng hợp đầu tiên, thay thế tới 75% nhựa dầu mỏ.  Một số lớn các chất dẻo được sử dụng trong nền công nghiệp mực in trị giá bạc tỷ hầu như đều được dựa trên dầu mỏ. “Công nghệ của chúng tôi có vẻ rất thích hợp để thay thế dầu mỏ trong vị trí đó. Mặc dù vẫn chưa đưa ra thị trường các sản phẩm của mình nhưng chúng tôi đã có những kết quả ban đầu rất tốt “, van Leeuven nói.  Theo http://www.physorg.com  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình cảnh éo le của Y học cổ truyền Trung Quốc      Y học dân tộc cổ truyền TQ (gọi tắt là Trung y) đang đứng trước tình hình khó xử. Dù Trung y đã có hàng nghìn năm lịch sử và được gọi là “quốc thuật” của TQ, song bao thế hệ người TQ từng được Trung y điều trị cứu chữa và bồi bổ thì lại không hiểu gì mấy về nó và càng ngày càng xa lạ với nó, thậm chí không ít người cho nó là y thuật phù thủy hoặc y thuật của thánh thần, có người gọi Trung y là “thuật chữa khỏi bệnh một cách vớ vẩn”.    “KHOA HỌC” ĐÃ BÓP MÉO VÀ CẮT XÉN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG QUỐC  Từ lâu Lỗ Tấn đã phán cho Trung y một câu “kẻ bịp bợm cố ý hoặc không cố ý”. Dĩ nhiên, sau khi Lỗ Tấn học các sách Tây y về sinh lý, giải phẫu ông mới nói thế. Điều thú vị là chính phong trào “Ngũ Tứ” đã giáng đòn chết người vào số phận của Trung y – ngày ấy, “khoa học” mà các nhà phát động phong trào này như ông Trần Độc Tú (sau làm Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc) gọi là “ông S” (science) bắt đầu cất bước tiến mạnh mẽ tại TQ, khoa học đồng nghĩa với tiến bộ, là có lý tính, là hiện đại. Do đó lý thuyết Trung y không dung hòa với hệ thống luận chứng dĩ nhiên bị coi là “không khoa học” rồi. Lẽ tự nhiên, Trung y trở thành “khoa học giả hiệu” và bị phê phán.  Nhà duy tân Lương Khải Siêu nói: cho dù Trung y có thể chữa được bệnh, thế nhưng chẳng ai có thể nói rõ được cái lý lẽ tại sao nó có thể chữa được bệnh. Trần Độc Tú (Tổng bí thư đầu tiên của đảng Cộng sản TQ) thì bảo: vì y học TQ không biết đến khoa học cho nên nó không trả lời được lý lẽ đó. Sau đấy lại đến học giả Hồ Thích nói: Tây y có thể nói rõ bệnh nhân mắc bệnh gì, cho nên dù nó không chữa khỏi bệnh thì nó vẫn là khoa học; Trung y tuy có thể chữa được bệnh nhưng lại chẳng nói rõ bệnh nhân mắc bệnh gì, cho nên Trung y không khoa học.  Tóm lại các vị đại sư sáng lập nền văn minh khoa học cận đại của TQ ấy đồng thời cũng sáng lập lịch sử trách cứ Trung y phi khoa học, Trung y là khoa học giả hiệu. Cũng chính vì thế mà những người ủng hộ Trung y luôn luôn muốn chứng minh họ có tính khoa học, đáng tiếc rằng khi làm việc đó họ lại sử dụng mớ lý thuyết của Tây y, vì thế càng chứng minh tính khoa học của Trung y thì lại càng làm cho hình ảnh của nó trở nên xấu đi.  Trong một cuộc hội thảo về Trung y, giáo sư Lục Quảng Tân, một nghiên cứu viên cấp cao ở Viện Khoa học Trung y TQ nói: “Trong 100 năm qua, Trung y bị người ta cắt xén và xuyên tạc”. Vậy nó bị cắt xén và xuyên tạc ở điểm nào ? Giám đốc Viện Bảo tàng Y dược dân gian TQ kiêm phó nghiên cứu viên Trung y Lưu Quang Thụy có kể một chuyện như sau: ông và cha ông là Lưu Thiếu Lâm có viết cuốn sách “Thuật chích huyết của dân gian TQ”, trước khi xuất bản, người biên tập dùng quan điểm Tây y đọc sách ấy và đưa ra nhiều thắc mắc. Lưu Quang Thụy nói nếu dùng tiêu chuẩn và quan điểm của Tây y để xem xét Trung y thì thật là không công bằng.  Chuyện trên chẳng khác gì việc một người đàn ông đẹp trai khỏe mạnh, bỗng dưng có người dùng tiêu chuẩn cơ thể của phụ nữ để xem xét anh ta và nhận xét vú không nở này, không có cơ quan đẻ con này, rồi kết luận anh ta không thể sinh ra thế hệ nối tiếp, không thể gọi là người được, là “người giả hiệu”. Người đàn ông ấy lại không kiên trì nói mình có đặc trưng “hòn dái” mà chỉ phân vua mình có cơ bắp phát triển, cũng có hậu môn …  Ngày nay, với tư cách là thứ nhãn mác có hiệu lực nhất của hình thái ý thức, khoa học ngày càng có vai trò quan trọng trong thể chế của Trung y. Những người hành nghề Trung y giờ đây không thể không diễn tả mối quan hệ giữa Trung y bằng lời lẽ khoa học hóa, hiện đại hóa trong cái môi trường phát ngôn như thế. Người ta rất ít nêu thắc mắc về cường quyền khoa học kỹ thuật của tiến trình toàn cầu hóa.  Và thế là Trung y cũng bắt đầu cải cách đi theo kiểu hiện đại hóa của Tây y. Nói cho đúng ra, tức là bóp méo nó lựa ý chiều theo Tây y, chủ động tiếp nhận sự cắt xén.  Những bệnh viện Tây y giả hiệu bán khái niệm bổ âm tráng dương  Khi “văn hóa phương Tây” và “khoa học hiện đại” trở thành thước đo đánh giá Trung y thì lẽ tự nhiên nó cũng trở thành công cụ cải tạo Trung y.  Trung y đã đi trên con đường hiện đại hóa rất lâu. Điều đáng tiếc là trong quá trình ấy ta thấy Trung y đang mất dần truyền thống và các tinh hoa của mình. Y học cổ truyền TQ là nền y học kinh nghiệm đã tư nhân hóa rất cao, người ngoài nhìn vào thấy không thể nào hiểu nổi; phương thức hành y của Trung y là mối quan hệ một – một giữa thầy thuốc với người bệnh, phương thức giảng dạy của nó theo kiểu thầy kèm cặp trò truyền nghề. Thế nhưng ngày nay người ta thay đổi mối quan hệ thầy kèm cặp trò ấy thành Đại học Trung y, tuy có dạy được kiến thức nhưng lại không truyền được những ý hiểu ngầm; phương thức hành nghề y kiểu tọa đường (ngồi nhà bên giường bệnh) lấy cá nhân thầy thuốc là chủ thể, nay thay đổi thành bệnh viện Trung y cỡ lớn chia thành các phân khoa theo hệ thống Tây y; việc điều trị không còn là sự hiểu biết một – một nữa, không còn là sự theo dõi nắm vững toàn bộ con người bệnh nhân và các thay đổi của bệnh nhân mà đã trở thành phương án điều trị kiểu dây chuyền, trình tự hóa. Việc kê đơn thuốc trước kia là bệnh nào thuốc ấy, cho thuốc tùy theo tình hình cụ thể của bệnh nhân, thậm chí còn xét tới cả thời tiết hôm đó thế nào, khí sắc của bệnh nhân thay đổi ra sao mà tăng giảm vị (thuốc) này vị kia…, nay tất cả đều diễn biến ra thành đơn thuốc có sẵn, thuốc bào chế sẵn, kê đơn theo tên bệnh. Tại một số bệnh viện Trung y, thậm chí thuốc tây chiếm 99% thuốc Trung y.  Hiện nay chúng ta lấy mô hình Tây y và phương thức tư duy của Tây y làm mạch suy nghĩ và cái khung để phát triển Trung y, mà cái khung ấy rõ ràng không hợp với đặc điểm riêng của Trung y, do đó việc hiện đại hóa Trung y theo cái khung này liệu còn có thể gọi là Trung y được nữa không ? Những gì ta thấy chỉ là sự vận dụng với số lượng cực ít các thứ thuốc Bắc dưới sự chỉ đạo của Tây y mà thôi.  Điều đáng tiếc là sau mấy chục năm cải cách hiện đại hóa, Trung y lại ngày càng sa sút. Người ta chỉ còn thấy sự thần kỳ của Trung y trong vở Hàn kịch “Đại trường kim”, nhưng sự kỳ diệu ấy cũng chỉ chủ yếu thể hiện trên mặt dưỡng sinh mà thôi.  Bởi thế hiện nay tại hầu hết các bệnh viện Trung y, bệnh nhân đến đó không phải là để tìm thầy thuốc Trung y, cho dù tìm được thầy thuốc Trung y thì họ cũng chỉ để xin mấy viên thuốc, tiêm mấy mũi. Chỉ có các bệnh mãn tính hoặc yêu cầu về mặt “dưỡng sinh” thì mới xin kê đơn cho một ít thảo dược về nhà sắc lên uống.  Chính là do cuộc tranh cãi ngót 100 năm nay về “Trung y không khoa học” mà ngay tại mảnh đất xưa kia bao thế hệ tổ tiên đều chữa bệnh bằng Trung y này, một bộ phận khá lớn các hậu duệ của họ đã không còn tin rằng Trung y chữa được bệnh nữa. Các bệnh viện Trung y với tư cách là sự tô điểm thêm cho hệ thống chữa bệnh ở TQ cũng dần dà biến thành nơi yên tâm mà “bổ âm tráng dương” trong mắt mọi người. Các bệnh viện đó trở thành bệnh viện Tây y giả hiệu.  TRUNG Y LÀ CỌNG RƠM CỦA KẺ TUYỆT VỌNG                Một bệnh nhân đau dạ dày kinh niên nói: riêng một việc soi dạ dày ở bệnh viện Tây y đã mất toi mấy trăm CNY (Nhân dân tệ, 1 CNY tương đương hơn 2000 VNĐ), trường hợp nặng phải tiếp mấy chai nước lại mất thêm mấy trăm tệ nữa; nếu đi khám thầy thuốc Trung y thì chỉ mất mấy chục tệ là xong, có uống thuốc Bắc thì cũng chỉ mấy tệ một gói thuốc thôi. Cho nên có người bảo bệnh viện Trung y là bệnh viện của người nghèo.  Một nhà nghiên cứu Trung y nói: muốn giải quyết vấn đề sức khỏe của 1,3 tỷ người TQ, nhất là của 900 triệu nông dân TQ, tất phải phát triển Trung y. Số liệu cho thấy, chi phí y tế của người Mỹ hằng năm là 1300 tỷ USD mà GDP cả TQ chỉ có 3500 tỷ USD, vì số dân khác nhau nên giả thử dùng toàn bộ GDP để chữa bệnh cho dân TQ thì lượng thuốc dùng cho một người dân TQ cũng chỉ bằng 1/5 lượng thuốc của một người Mỹ dùng. Thành phố Quảng Châu điều trị bệnh SARS khi dùng Trung y mỗi bệnh nhân nhiều nhất mất có 5000 CNY, dùng Tây y thì tốn mấy vạn, mấy chục vạn (1 vạn CNY = 20 triệu VNĐ); trường hợp tốn nhất mất 180 vạn CNY !  Ngoài chi phí rẻ ra, Trung y còn có một số phương pháp chữa bệnh có thể tự học mà dùng. Có nhiều phương pháp như vậy, trước hết là ăn uống, dưỡng sinh nhằm giải quyết các thứ “bệnh khi chưa ốm”. Ngoài ra còn có châm cứu (dùng mồi ngải cứu đốt nóng huyệt), đạo dẫn, ..Viện nghiên cứu bệnh AIDS của học viện Trung y Hà Nam dùng biện pháp “cứu” giải quyết được khá nhiều vấn đề của bệnh nhân AIDS, hơn nữa “cứu” là biện pháp ai cũng có thể học được cách dùng. Lại còn xoa bóp là biện pháp điều trị giá thành hạ và rất hữu hiệu, hoàn toàn có thể phổ biến cho nông thôn.  Nhưng do có nhiều hiểu lầm là Trung y dùng nhân sâm, lộc hươu, trùng thảo, cặc hổ (hủ pín) … nên Trung y bị coi là đắt tiền.  Cũng vì Trung y luôn điều chỉnh đơn thuốc theo bệnh tình, quá trình điều trị cần thời gian điều chỉnh từ từ … cho nên Trung y bị coi là phiền phức.  Cuối cùng, người ta chọn Trung y chẳng phải vì nhằm vào tính kinh tế rẻ tiền của nó mà ngược lại là vì khi nào Tây y đã phán là vô phương cứu chữa thì mới nghĩ đến Trung y đầy những chuyện thần kỳ, coi như biện pháp duy nhất còn có thể nghĩ tới.  Trong thời kỳ điều trị dịch bệnh SARS, y học cổ truyền TQ đã “xung trận”, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân giảm xuống rõ ràng; so sánh với Hồng Kông, Đài Loan và Singapore, nơi nào Trung y được đưa vào càng sớm, càng mạnh thì hiệu quả càng rõ, tác dụng phụ cũng ít, chi phí ít, tử vong ít, di chứng để lại cũng bớt được rất nhiều. Bệnh viện phụ thuộc số 1 trường Đại học Trung y dược Quảng Châu điều trị 60 ca nhiễm SARS, kết quả không ai chết, không ai phải chuyển viện, không nhân viên y tế nào bị lây nhiễm.  Cho dù Trung y không “khoa học” từng thể hiện uy lực thần kỳ trong mấy đợt bệnh truyền nhiễm đột xuất như thế, nhưng cũng do sự thần kỳ ấy mà trong nhiều trường hợp khác, Trung y bị bọn lang băm Hồ Vạn Lâm … lợi dụng để “chữa trị” các bệnh Tây y bó tay như ung thư, vô sinh, thậm chí viêm gan.  Ta tạm thời chưa nói chuyện lũ người hám lợi ấy làm tổn hại thanh danh của Trung y, mà tâm lý người bệnh khi tuyệt vọng thì mới tìm đến Trung y đã trở thành cọng rơm cứu mạng cũng làm cho Trung y bị tổn hại lần nữa. Nên biết rằng Trung y cũng chỉ chữa bệnh chứ không cứu mạng, khi cọng rơm cuối cùng đã vô hiệu thì người ta vẫn chẳng trách Tây y mà cứ trách Trung y, vì Tây y chỉ không chữa “bệnh” thôi, còn Trung y thì làm đi đứt niềm hy vọng tinh thần cuối cùng của bệnh nhân, làm toi cái “mạng” của họ.  NGÀY TẬN SỐ CỦA TRUNG Y?  Rốt cuộc y học cổ truyền của TQ sẽ có địa vị ra sao ở chính TQ – đây là một vấn đề rất đáng suy ngẫm. Vào lúc Trung y khai hoa kết quả ở phương Tây và các nước khác thì tại TQ, Trung y đang đứng trước tình trạng cạn kiệt nhân tài.  Hãy xem một vài số liệu: vào thời Cách mạng Tân Hợi (1911), TQ có khoảng 400 triệu dân; hồi ấy TQ có 800 nghìn thầy thuốc Trung y đã được kèm cặp dạy nghề. Về sau, do những người như Dư Vân Tú phản đối Trung y cho nên Quốc Dân Đảng mới diệt Trung y, đến năm 1949 TQ chỉ còn khoảng 500 nghìn thầy thuốc Trung y. Theo thống kê, hiện nay TQ chỉ còn có 270 nghìn thầy thuốc Trung y, trong khi số dân là 1,3 tỷ người. Điều tra cho thấy tại một số bệnh viện Trung y, số thầy thuốc có khả năng kê đơn bốc thuốc nhiều nhất chỉ chiếm 1/10. Nếu tính theo tỷ lệ này thì trong số 270 nghìn thầy thuốc Trung y của cả TQ chỉ có 20-30 nghìn người thực sự có thể căn cứ vào tư duy Trung y để khám bệnh. Sau đây mười mấy năm nữa, khi số này đã nghỉ hưu cả thì TQ chẳng còn thầy thuốc Trung y nữa. Không có thầy thuốc Trung y nghĩa là Trung y không còn tồn tại.  Quốc hồn quốc túy mấy nghìn năm của TQ phát triển tới ngày nay lại đứng trước nguy cơ không có người nối dõi, lẽ nào chúng ta còn sống cả đây mà lại chịu nhìn thấy cái di sản tổ tiên tích lũy mấy nghìn năm ấy tiêu vong ư ?  Dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn có lý do để cho nền y học truyền thống có thành tựu to lớn này tiếp tục tồn tại và phát triển. Chúng ta không thể chỉ bảo tồn Trung y như là một di sản văn hóa phi vật thể cấp thế giới, hoặc chỉ lưu giữ lại trong viện bảo tàng dăm ba cuốn “Thương hàn luận” để giáo dục cho các thế hệ sau biết rằng “nền văn hóa TQ sâu rộng tinh thâm”, lại càng không thể để cho Trung y chỉ sống trong vở Hàn kịch “Đại trường kim” mà thôi. □      Lược lịch theo tạp chí “Khoa học và văn hóa” TQ   Nguyễn Hải Hoành      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình hình corona ở Đông Nam Á: Tại sao thế giới lo ngại ?      Trong một thời gian dài, khu vực Đông Á và Đông Nam Á tỏa sáng với tỷ lệ lây nhiễm thấp nhưng đột nhiên, hàng ngàn trường hợp lây nhiễm bùng phát tại khu vực này. Điều này khiến người ta lo ngại vì nhiều doanh nghiệp mà nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc đang hoạt động trong khu vực này.      Lấy mẫu xét nghiệm tại Thái Lan. Nguồn: straitstimes.com  Một làn sóng dịch bệnh đang tràn qua một số nơi, thậm chí có nguy cơ vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Tỷ lệ người đã tiêm chủng ở Đông Á lại rất thấp. Do đó, người ta lo sợ về một cơn sốc kinh tế mới sẽ bùng phát từ đây vì khu vực này tập trung các doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.  Trong 253 ngày liên tục không xảy ra một vụ lây nhiễm corona nào nhưng đột nhiên vừa qua có một ngày Đài Loan có 323 ca, ngày hôm sau 254 ca. “So với các khu vực kinh tế khác, con số này là nhỏ”, nhà kinh tế William Deng tại Investmentbank UBS nói. “Nhưng những con số mới nhất này lại phản ánh sự tăng vọt kể từ đầu đại dịch”.  Tình hình ở Thái Lan còn tệ hơn nhiều. Tại đây, mỗi ngày có thêm từ hai đến ba nghìn ca lây nhiễm mới, hôm thứ hai thậm chí gần 10.000 ca. Nguyên nhân có lẽ do mới đây người Thái đón mừng năm mới của họ hồi giữa tháng tư. Trước đó, các quy định về corona cũng được nới lỏng, mọi người đều cho rằng tình hình đã bình yên trở lại.   Tại Malaysia, tỷ lệ người bị bệnh thậm chí còn cao hơn Đức, xấp xỉ 100, xu hướng còn tăng mạnh. Dịp vừa qua cũng có một loạt lễ hội, thêm vào đó là lễ ăn mừng kết thúc tháng Ramadan, từ đây bùng phát làn sóng thứ hai.   Tại Singapore, các ca mới lây nhiễm vẫn ở mức thấp hơn nhiều, nhưng đang tăng nhanh, 30 tới 40 ca mỗi ngày. Singapore đã thi hành một số biện pháp quyết liệt, đóng cửa các cơ sở tập thể thao và các tiệm ăn không được hoạt động bên trong, các trường học cũng đóng cửa, cấm tụ tập quá hai người.   Tác động kinh tế ở Đài Loan cho đến nay chỉ giới hạn trong lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là số vụ lây nhiễm sẽ tiếp tục tăng cao và làn sóng dịch sau đó sẽ lan sang vùng Hsinchu (Tân Trúc), nơi tập trung nhiều công ty công nghệ cao. Ông William Deng cảnh báo: “Với vị trí quan trọng của Đài Loan trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu, việc hạn chế sản xuất quy mô lớn sẽ tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu, đặc biệt là vì đã có nhiều thiếu hụt trong nhiều lĩnh vực”. Nhiều nhà máy ở Trung Quốc phụ thuộc vào các sản phẩm của Đài Loan. Đối với một số linh kiện điện tử hoặc quang học, 30 – 60% linh kiện nhập khẩu từ Đài Loan. Và từ Trung Quốc, các sản phẩm sau đó đã đi đến khắp nơi trên thế giới. Ngành công nghiệp bán dẫn đã đang than phiền về sự tắc nghẽn – tình hình ở đây thậm chí có thể trở nên tồi tệ hơn. Thị trường chứng khoán Đài Bắc bị tác động mạnh khi chỉ số TAIEX đã giảm hơn 10% trong vài ngày qua.   Mặt khác, Singapore là một trung tâm thương mại quan trọng của toàn khu vực, và nhiều công ty làm việc với tư cách là nhà cung cấp tại Thái Lan, đặc biệt là cho các tập đoàn Nhật Bản. Đối với Thái Lan, dịch bệnh bùng phát cũng đồng nghĩa với việc hy vọng khởi động lại ngành du lịch trong thời gian này đã tan thành mây khói. Thái Lan phụ thuộc rất nhiều vào ngành công nghiệp du lịch, và sự vắng bóng hoàn toàn của khách du lịch nước ngoài đã khiến sản lượng kinh tế giảm 6,1% vào năm ngoái, nhiều hơn so với các nước khác trong khu vực.  Sự bùng phát dịch này lại càng nguy hiểm hơn vì cho đến nay họ hầu như chưa tiêm chủng được bao nhiêu: Đài Loan mới có khoảng 1% dân số đã tiêm chủng lần đầu, tại Thái Lan là 2,3% và Malaysia là 3,9%. Chỉ có Singapore đạt tỷ lệ khá cao, 33%. Tuy nhiên, ông Deng vẫn còn hy vọng: “Vì đại dịch toàn cầu đã diễn ra hơn một năm, những kinh nghiệm thu được có thể giúp chúng tôi phát triển các chiến lược có hệ thống để giảm gián đoạn sản xuất, ví dụ, những đợt dịch kéo dài dồn dập ở Hàn Quốc không dẫn đến sự gián đoạn sản xuất đáng kể”.□  Xuân Hoài lược dịch  Nguồn: https://www.welt.de/finanzen/plus231246389/Thailand-Taiwan-Malaysia-Corona-Lage-bedroht-Lieferketten.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính không định xứ và không hiện hữu trong vật lý      Những phát triển trong vòng thập kỷ vừa qua của vật lý đang làm nổi bật hai tính chất quan trọng của thế giới khách quan. Đó là tính không định xứ (non locality) và không hiện hữu (non realism).  Quan điểm “không định xứ và không hiện hữu” là phù hợp với thực nghiệm và chống lại quan điểm “định xứ và hiện hữu”. Bài viết sau đây nhằm mục đích chia sẻ thông tin về vấn đề lý thú này.    John Bell và bất đẳng thức nổi tiếng  Các danh từ định xứ (locality) và  hiện hữu (realism) trong QM (Quantum Mechanics-Cơ học lượng tử) và GR (General Relativity – Lý thuyết tương đối rộng) có nội dung như sau.  Quan điểm “hiện hữu” khẳng định rằng khi chúng ta không quan sát thực tại thì thực tại vẫn hiện hữu. Quan điểm này trái ngược với quan điểm “không hiện hữu”: tại mức lượng tử “hạt” không có những tính chất nhất định cho đến khi chúng ta tiến hành các phép đo, điều này có nghĩa là các tính chất nhất định của hạt không hiện hữu trước khi chúng ta tiến hành các phép đo.  Quan điểm “định xứ” khẳng định rằng hai sự kiện cách xa nhau không thể ảnh hưởng lẫn nhau. Quan điểm này trái ngược với quan điểm “không định xứ” trong QM khẳng định rằng hai sự kiện cách xa nhau có thể ảnh hưởng lẫn nhau vì liên đới lượng tử – một mối liên thông toàn cục (global interconnectedness) và trong GR khẳng định rằng việc xác định tọa độ là không đơn trị.  A/ Không định xứ  1. Liên đới lượng tử (quantum entanglement)  Như chúng ta biết hai hạt liên đới lượng tử nếu hàm sóng của hai hạt đó không thể viết dưới dạng tích trực tiếp F1 F2 mà có dạng trộn lẫn, ví dụ | như F11 > = |01> – |10>.  Trong đó | mn > chỉ rằng hình chiếu spin của hạt 1 bằng m còn hình chiếu spin của hạt 2 bằng n. 1  Từ đây xuất hiện một điều kỳ lạ, trị riêng đo được của hạt này lại phụ thuộc vào trị riêng đo được của hạt kia, cho dù rằng chúng được tách rời nhau đến vô cực! Người ta nói rằng hai hạt trên là  liên đới lượng tử và gọi hai hạt đó là cặp EPR (theo chữ cái đầu tiên của tên các tác giả Einstein, Podolsky, Rosen). Einstein đã gọi hiện tượng này là  một tác động ma lực ở khoảng cách (spooky action at a distance). Đây là một hiện tượng thuần tuý cơ học lượng tử. Hiện tượng này biểu hiện tính không định xứ của thế giới các hạt vi mô. Không định xứ như vậy có nghĩa là không xảy ra tại một nơi mà xảy ra ở một khoảng cách.  Alain Aspect đã thực hiện nhiều thí nghiệm trong năm 1982 tại Đại học Paris-Sud để chứng tỏ sự tồn tại của hiện tượng không định xứ. Các thí nghiệm đó đã được lặp lại nhiều lần và càng ngày càng hoàn thiện hơn.   2. Không định xứ trong GR2  Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi tại một chỗ trong địa hạt trường Đại học California. Chỗ bạn ngồi được xác định trong khuôn viên trường đại học, tọa độ trường đại học cũng được xác định. Hệ thống GPS trên mobile cũng xác định, lịch thời gian cũng xác định thời điểm bạn ngồi đó. Tưởng chừng như tọa độ không thời gian của bạn đã được rõ ràng. Song nhìn sâu vào vấn đề thì không phải như vậy. Khái niệm “ở đây” phải được làm rõ – Marolf đã phát biểu như vậy.  Để vấn đề được dễ hiểu, ta xét trước tiên mảng lục địa trên đó có California. Hiện tượng kiến tạo địa chất đã làm dịch chuyển mảng lục địa này vài inch/năm lên phía Bắc. Như vậy qua thời gian, vị trí Đại học California không còn như cũ.  Nếu vài năm sau bạn trở về chốn cũ trường xưa thì có thể bạn đã đến một tọa độ khác. Các công ty bản đồ phải chu kỳ tính toán các dịch chuyển địa tạo đó. Bạn có thể nghĩ rằng tọa độ của bạn có một ý nghĩa tuyệt đối đối với mạng không thời gian. Song không thời gian cũng không ổn định hơn các tầng kiến tạo địa chất. Khi một vật thể có khối lượng lớn chuyển động thì điều này ảnh hưởng đến continuum không thời gian và những biến động này được in dấu lại. Như vậy thậm chí mảng lục địa không chuyển động thì vị trí bạn ngồi cũng đã thay đổi.  Như ta biết cơ học Newton cho rằng hấp dẫn tác động từ xa. Sau đó Einstein xây dựng GR theo đó không còn tác động từ xa mà hấp dẫn lan truyền nhờ một hình học cong toàn cục. Như vậy ta thấy hình học trong GR giải thích được tác động tầm xa của thuyết Newton song ở đây phát sinh một khía cạnh mới (innovation): hấp dẫn làm cong không thời gian nhưng đồng thời làm mất khả năng xác định các vị trí (location) một cách định xứ nghĩa là một cách đơn trị.   Chúng ta không thể xác định vị trí tuyệt đối của một nơi nào đó. Ta chỉ xác định nó qua vị trí tương đối của nó so với các vật thể chung quanh: và vị trí tương đối là một thực tại khách quan. Người sống ở đấy không nhận thấy được sự chuyển động của mảng lục địa. Nếu lần này chỗ gặp gỡ của hai người xảy ra tại điểm A thì lần sau cũng chỗ gặp gỡ ấy song lại xảy ra tại điểm B.  Kết quả đa trị (ambiguity) trong các phép đo vị trí là biểu hiện của tính không định xứ. Tình huống tương tự như ta đánh dấu một vị trí bằng cách cắm một cái cờ trên dòng sông đang chảy.  Một điểm trong hấp dẫn sẽ liên quan đến một điểm khác. Sự liên quan này làm cho các vị trí không có một đời sống hoàn toàn độc lập. Marolf phát biểu như sau: mọi lý thuyết hấp dẫn đều không định xứ.  Có thể nói tóm tắt lý thuyết GR của Einstein là không định xứ nhưng không theo kiểu không định xứ (tác động tầm xa trong một không gian tuyệt đối) như trong lý thuyết Newton. Nếu chú ý thêm khía cạnh lượng tử của hấp dẫn thì không thời gian luôn thăng giáng, điều này làm rung rinh cái giàn trên đó ta xây dựng vật lý. Nếu không có một không thời gian cố định, ta không thể mô tả vị trí một cách đơn trị được. Như vậy, các nhà khoa học đối diện với những đại lượng không định xứ phụ thuộc vào trị giá tại nhiều điểm cùng một lúc.  Quan điểm “định xứ “khẳng định rằng các sự kiện cách xa nhau trong không thời gian thì không có ảnh hưởng lẫn nhau (không có tác động lan truyền với tốc độ lớn hơn tốc độ ánh sáng). Quan điểm “không định xứ” khẳng định rằng điều nói trên là không đúng. Có một nguyên lý về liên thông toàn cảnh (holistic interconnectedness) hoạt động ở mức lượng tử và đối nghịch với các khẳng định của cơ học cổ điển (cơ học Newton).  Chú ý rằng không định xứ không có nghĩa là các tín hiệu có thể lan truyền nhanh hơn ánh sáng. Phải hiểu là ở một mức sâu của thực tại, tốc độ giới hạn của ánh sáng không còn thích hợp chỉ vì ta đối diện với hiện tượng tương quan tức thì (liên đới lượng tử ) bất kể khoảng cách. Đây có thể xem là một nguyên lý mới về không định xứ trong vật lý.  Kể từ khi Big Bang, sự tồn tại của tính không định xứ của các điểm dẫn đến một toàn cục (holism) vũ trụ sâu sắc. Nếu các vật vốn đã tương tác với các vật khác từ thời Big Bang vẫn bảo lưu mối liên thông giữa chúng với nhau thì mọi hạt trong mọi sao và thiên hà mà chúng ta biết đều liên thông với những hạt khác ở mọi nơi khác (Gribbin, 1984).  Và có thể chăng mối liên thông này giữa hạt này với hạt khác có thể giúp hiện tượng không định xứ dẫn đến hiện tượng tự tổ chức (self-organizing), những dạng tái diễn thường xuyên của các dạng thức ở mọi nơi trong vũ trụ?  Có thể chăng một lý thuyết như vậy giúp chúng ta hiểu được hình thái học (morphogenesis) ở mức vũ trụ ?Tình huống ở đây giống như khi Karl Pribam chứng minh rằng trí nhớ không định xứ tại một điểm nào mà được lưu trữ trong toàn não bộ.  Quan điểm này gần triết học của lý thuyết vũ trụ toàn ảnh, trong đó mọi vật đều có mối liên thông với nhau (interconnectedness) và làm liên tưởng đến bốn câu thơ của William Blake:   Để thấy Vũ trụ trong một Hạt cát                                        Và Bầu trời trong một Đóa hoa Rừng,                            Hãy giữ Vô cùng trong lòng tay bạnVà Thiên thu trong một khắc đồng hồ.  Có phải chăng tính phổ quát của các định luật vật lý ở mọi nơi giống nhau cũng là biểu hiện của hiện tượng không định xứ? Vậy ngay khái niệm vũ trụ cũng là một khái niệm mang tính toàn cục (holism) và không định xứ?  B/ Không hiện hữu  1/ Hiện hữu và không hiện hữu  Khi chúng ta nói đến một con người, một cái bàn thì chúng ta mặc định rằng con người, cái bàn là  tồn tại độc lập với sự quan sát của chúng ta. Khi không có ai nhìn cả thì mặt trăng có còn đó hay không? (câu nói trong cuộc trò chuyện giữa Einstein với Abraham Pais). Einstein cho rằng mặt trăng vẫn còn đó ngay cả lúc không ai nhìn nó (đó là quan điểm hiện hữu – realism thông thường).  Trong QM khái niệm không hiện hữu có nghĩa là tại mức lượng tử “hạt” không có những tính chất nhất định cho đến khi chúng ta tiến hành các phép đo.  2/ Các lập luận của phái gọi là  “hiện hữu-realism”  Theo cơ học lượng tử, một hạt cơ bản không có một tính chất xác định (ví dụ hình chiếu sz của spin trên trục z hoặc sx trên trục x) cho đến khi chúng ta thực hiện một phép đo thích hợp để tìm đại lượng tương ứng.  Một nhóm các nhà vật lý phủ nhận nhận định đó, cho rằng hạt có những tính chất nhất định không phụ thuộc vào phép đo, đó là quan điểm “hiện hữu-realism”: hạt đã có trước một tính chất nào đó trước phép đo!  3/ Bất đẳng thức John Bell  QM là đặc biệt, khác với cơ học cổ điển. Vậy sự khác nhau là ở đâu?   Chính bất đẳng thức của John Bell nói được sự khác nhau đó!   Trước đây người ta không thể nào quyết định xem quan điểm hiện hữu có lý hay không nhưng giờ đây người ta có thể thiết kế những thí nghiệm để xem sự thật là thế nào! Và kết quả là  QM vẫn đúng và như vậy bác bỏ quan điểm hiện hữu.  Chìa khóa cho các thí nghiệm đó là bất đẳng thức Bell (Bell inequality).  Charlie chuẩn bị hai hạt (không quan trọng là Charlie đã chuẩn bị như thế nào) và gửi mỗi hạt cho Alice & Bob. Alice & Bob mỗi người giả sử có hai phép đo. Và kết quả các phép đo cho hoặc +1 hoặc -1. Gọi các trị số Alice thu được là Q và R, còn Bob thu được là S và T:    Alice và Bob thực hiện các phép đo đồng thời, như vậy loại trừ hiệu ứng nhân quả.  i/ Tính theo cơ học cổ điển  John Bell xét đại lượng sau đây:QS + RS + RT – QT = (Q + R  S + (R – Q) T …………….. (1)              Gọi E (A) là trị số trung bình của đại lượng A, ta sẽ có sau một số phép tính cổ điển (dùng lý thuyết xác suất):  E (QS) + E (RS ) + E (RT) – E (QT)  ≤  2    (2)                                                    Công thức (2) gọi là bất đẳng thức Bell.  ii/ Tính theo cơ học lượng tử  Bây giờ ta giả sử rằng Charlie đã chuẩn bị cho Alice và Bob hai hạt liên đới lượng tử (entangled) mô tả ví dụ bởi hàm sóng:   | F11 > = | 01 > – | 10 > (trong cơ học cổ điển ta không có hiện tượng liên đới lượng tử).  Alice nhận hạt số một (chỉ số 1), Bob nhận hạt số hai (chỉ số 2). Họ thực hiện phép đo những đại lượng sau:  Q = Z1      S = (1/ Ö 2) (- Z2 – X2)R = X1      T = (1/ Ö 2) (Z2 – X2)  Trong đó Z, X là các cổng (gate) Pauli trong mạch máy tính lượng tử 1.     Hãy tính trị số trung bình của các tích <QT>, <QS>, < RS>, <RT> của các đại lượng đó theo cơ học lượng tử.  Kết quả cuối cùng ta sẽ có:<QS> + <RS> + <RT> – <QT> = √2   (3)  Bình luận kết quả:  Theo công thức (2) ta thấy rằng <QS> + <RS> + <RT> – <QT> không thể vượt qua số 2 (suy luận theo cổ điển) trong khi cơ học lượng tử theo công thức (3) buộc rằng đại lượng đó phải bằng 2√2.  Người ta đã tiến hành thí nghiệm để giải quyết bài toán khó khăn này: EPR đúng hay cơ học lượng tử đúng và kết quả thực nghiệm là:  Thiên nhiên không tuân theo bất đẳng thức Bell (2) mà tuân theo kết quả của cơ lượng tử (công thức 3)  Hai vấn đề gắn liền với hệ thức (2)   (a). Cho rằng Q, R, S, T tồn tại độc lập với các phép đo. Đó là quan điểm gọi là “hiện hữu-REALISM”.  (b). Việc giả định rằng Alice khi tiến hành phép đo không ảnh hưởng gì đến kết quả các phép đo do Bob thực hiện. Đó là quan điểm “định xứ-locality”.  Hai quan điểm trên kết hợp lại thành quan điểm “định xứ hiện hữu-local realism”. Bất đẳng thức Bell chứng tỏ rằng ít nhất một trong hai quan điểm nói trên là sai lầm. Nhiều nhà vật lý cho rằng nên giữ lại quan điểm hiện hữu, mà từ bỏ quan điểm định xứ. Song bất đẳng thức Bell muốn nói rằng cần từ bỏ cả hai quan điểm trên mới có thể hiểu được cơ học lượng tử. Bất đẳng thức Bell cho chúng ta thấy rằng:  Cơ học lượng tử là đúng và hiện tượng liên đới lượng tử là  một nguồn sức mạnh mới cho khoa học và công nghệ.  Định lý Bell được xem là một phát hiện sâu sắc nhất của khoa học vừa qua (Kafatos và Kafatou, 1991).  Quan điểm “hiện hữu-realism” khẳng định rằng khi chúng ta không quan sát thì thực tại vẫn hiện hữu. Quan điểm “định xứ-locality” khẳng định rằng hai sự kiện cách xa nhau không thể ảnh hưởng lẫn nhau. Sự vi phạm bất đẳng thức Bell nói rằng một trong hai hoặc cả hai khẳng định trên là không đúng với thực tại.  Markus Aspelmeyer, Anton Zeilinger và đồng nghiệp tại Đại học Vienna thực hiện một thí nghiệm để kiểm tra bất đẳng thức Anthony Leggett vào năm 2003 sử dụng quan điểm “hiện hữu” và từ chối quan điểm “định xứ”. Kết quả là bất đẳng thức Legett cũng bị vi phạm. Điều đó có nghĩa rằng QM không chấp nhận quan điểm “hiện hữu” (khi không quan sát thì thực tại không hiện hữu). Như vậy, hy sinh quan điểm định xứ chỉ giữ lại quan điểm hiện hữu cũng không cứu vãn được tình thế. QM đòi hỏi phải từ bỏ cả hai quan điểm định xứ và hiện hữu.  C. Kết luận  GR (chưa lượng tử hóa) có bản chất không định xứ còn QM có bản chất không định xứ và không hiện hữu. Đây không phải chỉ là vấn đề nhận thức luận mà là vấn đề cơ sở nền tảng của vật lý hiện đại để phát triển khoa học (các lý thuyết thống nhất) và công nghệ (máy tính lượng tử, mật mã, viễn tải lượng tử). ——Tài liệu tham khảo [1] Michael A.Nielsen & Isaac L.Chuang, Quantum Computation and  Quantum Information, Cambridge, University Press (của CC. [281A&B])[2] George Musser, Where is here, Scientific American tháng 11/2015    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Tĩnh lặng quả đầu mùa      Cộng đồng khoa học Việt Nam vui mừng nhận tin giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2017 được trao cho hai nhà khoa học, trong đó có PGS.TS. Nguyễn Sum, trường đại học Quy Nhơn, lĩnh vực Toán học, về công trình 58 trang trên một tạp chí toán học hàng đầu: “Nguyễn Sum, On the Peterson hit problem, Advances in Mathematics, Vol. 274 (2015), 432–489”.      GS. TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng (phải) và PGS. TS Nguyễn Sum trong một chuyến công tác tại Nhật Bản.   Nguyễn Sum là một nhà toán học được đào tạo hoàn toàn ở trong nước. Anh thuộc số những sinh viên đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quy Nhơn. Trước 1975, Đại học Quy Nhơn vốn là một trường trung cấp Sư phạm, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng theo học. Nguyễn Sum cũng làm luận án tiến sĩ ở trong nước, tại Đại học Tổng hợp (tiền thân của Đại học Khoa học Tự nhiên) Hà Nội, trong thời lượng chuẩn lúc bấy giờ là 5 năm, từ 1989 tới 1994. Thời gian này Nguyễn Sum làm việc với tôi và giáo sư Huỳnh Mùi. Anh bảo vệ luận án tiến sĩ tháng 3/1994.  Đây là lần đầu tiên Giải thưởng Tạ Quang Bửu được trao cho một nhà khoa học không làm việc tại Hà Nội, trung tâm khoa học số 1 của Việt Nam.  Đại học Quy Nhơn, nơi Nguyễn Sum làm việc, đang nổi lên như một trung tâm Toán học của Việt Nam, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Theo tôi, Đại học Quy Nhơn đang là đại học địa phương xuất sắc nhất trong nền Toán học Việt Nam hiện nay.  Quy Nhơn, chính xác là thành Đồ Bàn, từng là thủ phủ của Vương quốc Chămpa xưa. Nơi này đồng bằng đủ rộng, giàu sản vật của rừng, của biển, của ruộng đồng. Nơi địa linh nhân kiệt ấy đã từng là cái nôi chính của nền Thơ Mới nước ta, với Trường Thơ Loạn nổi tiếng (1936-1945): gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, và Quách Tấn.  Đã nhiều lần tới Quy Nhơn, tôi mê thành phố biển đẹp tĩnh lặng và bình yên này. Đứng trên giảng đường Đại học Quy Nhơn ở tầng 10 hay tầng 12, nhìn thẳng ra vịnh Quy Nhơn xanh ngắt, tôi nhận ra rằng đây là giảng đường đẹp nhất mà tôi từng biết trên thế giới. Buổi chiều, sau một ngày làm việc, ngồi trong một quán trà, nhâm nhi tách café đặc sánh, đón gió mát lạnh từ biển, tôi yêu nhịp sống chậm của thành phố này.  Tôi nhận thấy các nhà Toán học ở Quy Nhơn làm việc với cái tâm rất tĩnh. Họ gắn bó hồn nhiên và lâu dài với thành phố này. Điều tưởng chừng đơn giản ấy, theo tôi, là một trong những cội nguồn chính của thành công.  Năm 2000, trong một báo cáo mời tại Hội nghị Đại số – Hình học – Tôpô toàn quốc tổ chức tại Quy Nhơn, tôi đã giới thiệu bài toán “hit” (có thể dịch là va đập) của Peterson và những ứng dụng của nó. Tôi đề nghị Nguyễn Sum theo đuổi bài toán này. Lúc ấy, anh đang bận bịu với công việc quản lý. Vì thế, bài toán “hit” càng thích hợp với anh. Bài toán này đòi hỏi một khối lượng tính toán khổng lồ, bù lại nó không cần quá nhiều sự cọ sát thường xuyên với những ý tưởng mới, điều không thể có ở Quy Nhơn; nó cơ bản đến mức không ai có quyền chối bỏ, và nó phức tạp đến mức ở những nơi có nhiều lựa chọn hơn thì những người làm toán thường “kính nhi viễn chi”, không đủ can đảm để nghiên cứu nó.  Năm 2009, khi Nguyễn Sum đang là một Phó Hiệu trưởng, thì Đại học Quy Nhơn trải qua một giai đoạn khủng hoảng. Nguyễn Sum nhận trách nhiệm Quyền Hiệu trưởng trong 5 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2009, nhưng một mực từ chối chức vụ Hiệu trưởng Đại học Quy Nhơn, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo kiên trì thuyết phục. Đó là điều tôi chưa từng thấy trong xã hội chúng ta hiện nay.      Bài toán này đòi hỏi một khối lượng tính toán khổng lồ, bù lại nó không cần quá nhiều sự cọ sát thường xuyên với những ý tưởng mới, điều không thể có ở Quy Nhơn; nó cơ bản đến mức không ai có quyền chối bỏ, và nó phức tạp đến mức ở những nơi có nhiều lựa chọn hơn thì những người làm toán thường “kính nhi viễn chi”, không đủ can đảm để nghiên cứu nó.      Nguyễn Sum là người công bố rất ít. Anh điềm tĩnh lạ thường trên con đường riêng mà anh đã chọn trong khoa học. Khoảng 10-15 năm sau ngày tiếp xúc với bài toán “hit”, Nguyễn Sum đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực này. Anh công bố hai bài báo khoa học trên tạp chí hàng đầu “Advances in Mathematics”. Trong bài báo thứ nhất (26 trang, công bố năm 2010), anh phủ nhận giả thuyết Kameko, ra đời từ 1990. Giả thuyết này đưa ra một cận trên chính xác cho số phần tử sinh của đại số đa thức xem như một môđun trên đại số Steenrod. Cho tới lúc ấy, giả thuyết Kameko chiếm được niềm tin gần như tuyệt đối của hầu hết các chuyên gia trong Tôpô Đại số. Cụ thể hơn, nhiều đồng nghiệp tâm sự với tôi rằng họ định dành thời gian để tìm cách chứng minh giả thuyết, và không thấy ai tỏ ra nghi ngờ nó. Trong bài báo thứ hai (58 trang, công bố năm 2015), anh giải quyết trọn vẹn bài toán “hit” cho đại số đa thức bốn biến, trên cơ sở một công thức truy toán cho số phần tử sinh của đại số đa thức, phụ thuộc số biến của đại số ấy, xem như một môđun trên đại số Steenrod.  Bản thảo của công trình rất công phu này lúc đầu dài 240 trang, được viết xong từ 2007, một năm trước khi tác giả phủ nhận giả thuyết Kameko. Khó khăn nảy sinh là làm sao công bố được một bài báo dài như vậy trên một tạp chí quốc tế uy tín. May mắn thay, trên cơ sở những hiểu biết mới do sự phủ nhận giả thuyết Kameko đem lại, và lắng nghe sự góp ý của nhiều đồng nghiệp, Nguyễn Sum đã thu gọn được sự trình bày, để cuối cùng bài báo được in ra với dung lượng đáng kính nể, 58 trang.  Các chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực Tôpô Đại số: các Giáo sư Haynes Miller (MIT, Massachusetts), William Singer (Fordham Univ., New York), và Lionel Schwartz (Univ. Paris 13, Pháp), khi được Hội đồng giải thưởng Tạ Quang Bửu tham vấn, đều ủng hộ mạnh mẽ việc trao giải thưởng Tạ Quang Bửu cho Nguyễn Sum với công trình nói trên.  Tôi tin rằng, cùng với giải thưởng này, một giai đoạn mới đã mở ra cho Đại học Quy Nhơn. Xin chân thành chúc mừng Nguyễn Sum và Đại học Quy Nhơn.    Author                Nguyễn Hữu Việt Hưng        
__label__tiasang Tính Sáng tạo liên quan với đa văn hóa và khoan dung?      Công nghệ và thế giới “phẳng” làm giảm thiểu sự khác biệt giữa các nước về truy cập thông tin và khả năng sản xuất hàng hóa. Hơn kém nhau bây giờ là: dùng thông tin đó để sáng tạo ra cái gì có giá trị nhất và thiết kế ra sản phẩm mới có giá trị vượt trội so với hàng hóa thông thường. Bị cạnh tranh bởi các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ, Mỹ và các nước phát triển truy tìm và phát huy tối đa thế mạnh cốt lõi (core competence) của họ – đó là Tính Sáng Tạo (creativity).    Các yếu tố thúc đẩy tính sáng tạo  Trong khi nghiên cứu về các vùng, thành phố thuận lợi cho việc phát triển công nghệ cao, GS Richard Florida, Đại học Carnegie Mellon (Mỹ) đã đưa ra khái niệm về “Giai tầng Sáng tạo” (creative class). Đó là giới khoa học, kỹ sư, giáo sư, văn nghệ sỹ, diễn viên, nhà thiết kế, kiến trúc sư, các học sỹ, nhà nghiên cứu, các nhà tư tưởng, nhà báo… Ngoài ra, họ còn là những người làm các nghề mang tính sáng tạo (TST), ví dụ: nghề y tế, luật pháp, quản lý kinh doanh, công nghệ cao… Những người này có thể nghĩ ra những phương pháp, sản phẩm nổi trội nhưng lại không nằm trong danh mục công việc của họ. Cái mà người ta muốn họ làm là: suy nghĩ theo cách riêng của họ. Họ đưa các giải quyết độc đáo và nhiều nhận xét khác biệt. Họ đến từ nhiều nghề, nhưng đều có cái chung, đó là: tính Sáng tạo, tính Cá nhân, sự Khác biệt và sự Xuất sắc. Họ đem lại giá trị sáng tạo cho xã hội. TST càng có giá trị, giai tầng sáng tạo càng phát triển.             Nhà đồng sáng lập Microsoft, Paul Allen, thời trẻ là một hippie say mê Rock. Ông đã lập bảo tàng tưởng niệm ca sĩ Jimi Hendrix.        Khi điều tra, xếp hạng các thành phố, khu vực ở Mỹ theo TST, khả năng Đổi mới công nghệ (Innovation), phát triển công nghệ cao, Florida đã phát hiện những điều lý thú về các yếu tố thuận lợi cho TST và đưa ra Chỉ số sáng tạo (Creativity Index) để đánh giá TST của các thành phố, vùng miền ở Mỹ. Trong đó, Florida thấy rằng: TST có mối tương quan thuận, ví dụ: với các hoạt động vui chơi giải trí-văn hóa đường phố (nhất là về đêm), với các điểm biểu diễn ca nhạc, các triển lãm nghệ thuật, các nhà hát kịch, các quán café, quán ăn nhỏ, các nghệ sỹ biểu diễn trên đường phố nơi không mấy phân biệt giữa người biểu diễn và khán giả…  Cộng đồng sáng tạo thường tìm đến những nơi có “rào cản” kinh tế-xã hội thấp nhất, những nơi mà người ta có thể dễ dàng ổn định cuộc sống, nơi có nhiều cơ hội việc làm khác nhau (GS Florida gọi là những cộng đồng “cắm điện là sài” – Plug-And-Play Communities). Họ thường không chỉ dừng ở các yêu cầu sinh sống vật chất bình thường mà có những cách sống với những nét riêng biệt. Florida phát hiện ra rằng những nơi thuận lợi cho TST cũng là những nơi người đồng tính thường định cư (chính vì điều này mà giới chuyên môn gọi đây là Chỉ số Đồng tính – Gay Index). Tương tự, TST cũng tương đồng với chỉ số “Nghệ sỹ” (Bohemian Index) giành cho thị hiếu của các nghệ sỹ, nhà văn, họa sỹ… Người có TST, không phân biệt dân tộc và xu hướng giới tính, thường thích những nơi không thành kiến, khoan dung với sự khác biệt. Bản thân những người có TST và năng khiếu thường tự nhìn nhận họ là những người “ngoài lề’ (outsider) của cuộc sống bình thường. Người có TST thường hay muốn có sự đa dạng (diversity) và Florida coi đây là sự đặc trưng cơ bản nhất của họ. Họ thích những luồng tác động khác nhau, thích nghe nhiều loại nhạc khác nhau, thích dùng ẩm thực của những nền văn hóa khác nhau. Họ thích gặp, giao tiếp với những người khác họ để trao đổi quan điểm, tranh luận… Cộng đồng với TST thích những hoạt động vui chơi giải trí-văn hóa đường phố (nhất là về đêm). Họ thích các hoạt động thể thao ngoài trời hơn là giải trí thụ động trong nhà. Họ đánh giá cao tính chân thực (Authenticity) và tính duy nhất (Uniqueness) như các công trình lịch sử, các làng mạc nguyên sơ. Họ thích sự hòa trộn giữa các khu phố cổ với những mẫu mốt hiện đại. Điều này làm TST rất phù hợp với môi trường đa văn hóa, đến những công đồng đa sắc tộc mà Mỹ là một ví dụ điển hình. GS. Florida cho rằng không phải ngẫu nhiên mà thung lũng Silicon lại ở California, nơi có tính đa dạng cao và tập trung nhiều cộng đồng đa văn hóa. Chỉ số dồng tính, chỉ số “nghệ sỹ” và tính đa dạng văn hóa đều có cái chung: đó là lòng khoan dung đối với những cá tính dị biệt và sự khuyến khích khả năng sáng tạo độc lập trong mỗi con người, điều mang lại sự thịnh vượng trí tuệ cho mỗi xã hội, quốc gia.  Mỹ làm gì để nuôi dưỡng tính sáng tạo?            “Think different” (Nghĩ khác) – Khẩu hiệu nổi tiếng một thời của hãng máy tính Apple.          Các trường đại học được chuyển mạnh từ việc học tập và giải quyết vấn đề (problem solving) sang việc tích cực khám phá (Discovery) và áp dụng tri thức (Application Of Knowledge). Họ đưa trường đại học từ mô hình dạy học (mang tính truyền đạt) sang môi trường khám phá của phòng thí nghiệm hay môi trường thử nghiệm của kỹ sư. Họ cho rằng đã đến lúc chúng ta-giới khoa học-công nghệ-cần học cách tiếp cận phi logic, mang tính cảm nhận không suy luận của các lĩnh vực có TST cao nhất, đó là Âm nhạc, Hội họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Thơ văn… để có thể đưa sự phát triển thăng hoa của thời Phục hưng đến với loài người lần nữa, khi mà kỹ nghệ (Engineering) như là một lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật bên cạnh hội họa, âm nhạc… Khi việc xử lý các thông tin logic đã trở nên dễ dàng thì TST, Trí tưởng tượng mới là quyết định. Sự phát triển chuyên môn sâu, nhấn quá mạnh vào tư duy logic (trong khi các bản năng cảm nhận khác bị sao nhãng) như những “phần mềm” cóp nhặt, không tương thích với “phần cứng”và các phần mềm khác, đến một lúc nào đó, sẽ kìm hãm tính “thông minh” (tức là TST) và dẫn đến những mâu thuẫn hệ thống. TST nảy nở tốt nhất trong con người toàn diện. Vì vậy, các công ty ngày càng coi trọng chỉ số EQ-sự mách bảo của Trái tim-chứ không chỉ IQ-sự sáng suốt của Trí tuệ.    Nhân tài-những người có TST cao-từ khắp nơi trên thế giới là cái đích mà Mỹ ngắm tới qua chế độ nhập cư cởi mở, các học bổng tại các trường đại học hàng đầu, cơ hội ở lại làm việc, trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, những quỹ và những nhà tài trợ say mê với các ý tưởng mới đầy mạo hiểm (đến mức bị coi là “điên rồ” ở Tây Âu), qua sự khoan dung, cởi mở đối với các nền văn hóa-tín ngưỡng xa lạ và các cá tính dị biệt… Họ cố ý đưa vào tổ công tác những thành viên từ các nền văn hóa, chuyên môn khác nhau để nhằm thu được những ý tưởng khác nhau nhất, có tầm “quét” rộng nhất các tình huống. Hầu như không ý tưởng nào bị coi là điên rồ.  Người ta cũng khoan dung hơn với các cá tính của người tài như thích nói và làm ngược số đông, tính khắt khe, tính cầu toàn, tính hướng nội, ít giao thiệp, ghét hình thức và sự gò bó, ghét tụ hội, thích sự riêng tư, thiếu kiên nhẫn, ít thể hiện mình, đãng trí… Người tài thích sự thách thức và các việc làm có ý nghĩa lớn, tác động đến nhiều người (Tháp Maslow). Đó là điều các công ty hàng đầu luôn tìm cách đáp ứng.  Phát huy tính sáng tạo về công nghệ  Đối với nhiều nước có điểm xuất phát thấp về khoa học-công nghệ và đang công nghiệp hóa, việc hiệu quả nhất là phát huy TST về công nghệ ở nơi làm ra nhiều của cải nhất cho xã hội-đó là tại các doang nghiệp (DN), đặc biệt là các DN nhỏ và vừa. Cần phổ quát hóa ý thức về công nghệ, sáng tạo trong ứng dụng công nghệ cho các DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, vì họ thiếu khả năng đầu tư cho công nghệ.  Để đưa TST vào DN cần các cơ sở Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (technology business incubator). Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ là đào tạo, hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập về các kỹ năng cần thiết để tồn tại, phát triển trên thị trường. Việc hướng doanh nghiệp vào áp dụng công nghệ không những là nhân tố hiệu quả nhất để tồn tại trong cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa mà còn giúp các doanh nghiệp hòa vào trong các chuỗi cung cấp trên thế giới. Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ, tư vấn chuyên sâu cho doanh nghiệp về công nghệ, trong việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất-kinh doanh, VD: các hiểu biết về chuỗi cung cấp, công nghiệp phụ trợ, mạng lưới hậu cần toàn cầu, mạng lưới cung cấp toàn cầu, thuê khoán ngoài, quy trình sản phẩm từ ý tưởng, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, tiếp thị, kinh doanh, tìm lợi thế cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, liên minh chiến lược, quy luật, phương thức và xu thế vận hành của các dòng công nghệ, vốn trong thời gian tới… Các doanh nghiệp công nghệ được hỗ trợ để phát triển thuận với thị trường, đặc biệt trong thời kỳ bắt đầu của hội nhập.        Sự đổi mới, TST trong các DN không chỉ về khoa học-công nghệ mà còn cả về khoa học quản lý, quy trình sản xuất, tổ chức sản xuất, marketing, vận hành mạng lưới hậu cần công nghiệp, thiết lập liên minh chiến lược, vv.  Trung tâm tài năng (Centres of Excellence) là mô hình phù hợp để phát triển TST. Mô hình này có thể là sự kết hợp của đào tạo và nghiên cứu, nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng, chuyên ngành và đa ngành, khoa học tự nhiên-công nghệ, khoa học về cuộc sống, khoa học quản lý và khoa học xã hội… Rất nên có các Trung tâm tài năng với sự tham gia của giới khoa học, doanh nhân, sinh viên, Việt Kiều, chuyên gia nước ngoài… Có nhiều chuyên gia, doanh nhânViệt Kiều, giới chuyên môn nước ngoài thể hiện nguyện vọng muốn làm trong các tổ chức không-vì-lợi nhuận (Not-For-Profit) về hỗ trợ, tư vấn công nghệ, kinh doanh ở Việt Nam nhưng chưa tìm ra nơi thích hợp.  Cầu thị với TST còn thể hiện ở sự rộng lòng khoan dung, thậm chí còn chào đón những suy nghĩ, cách đặt vấn đề, cách làm, cá tính khác biệt mà ta chưa quen. Những người chuyên môn, có thể chưa được mọi người yêu mến vì cá tính, cách sinh hoạt, nhưng chưa chắc đã là người vô ích. Họ có thể là những người với đầy TST. Trường hợp một viện nghiên cứu ở TP Hồ Chí Minh gần đây tuyên bố sẽ có một viện trưởng Việt kiều bên cạnh một viện trưởng hiện tại phải chăng là một trong những bước đi theo hướng này?  Hỗ trợ TST còn thông qua việc sẵn sàng thay đổi các cách quản lý, các cơ chế cũ, mang nặng tính hình thức, duy thành tích… Các cơ chế hành chính cứng nhắc, không đặt lòng tin vào con người và có thể bóp nghẹt TST.  Để làm các điều trên và cho những bước tiếp theo, chúng ta rất cần một chương trình canh tân (Innovation Program) mà mọi người, đặc biệt là các DN, cần thực sự tâm huyết, lấy đó làm phương sách tồn tại và phát triển-rất giống như chương trình Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management) do Fleming đề xướng và đã góp phần phục hồi và thay đổi hoàn toàn nước Nhật vào những năm 1950-1960.  Chỉ số Đồng tính, Chỉ số “Nghệ sỹ” và Tính đa dạng văn hóa đều có cái chung: đó là Lòng khoan dung đối với những cá tính dị biệt và sự khuyến khích khả năng sáng tạo độc lập trong mỗi con người, điều mang lại sự thịnh vượng trí tuệ cho mỗi xã hội, quốc gia.    Khác với 20 năm trước, khi sinh viên Mỹ phải mặc những bộ complet xịn nhất và cố dấu các biểu hiện nào đó của khác biệt về văn hóa nhằm cho các nhà tuyển dụng thấy rằng họ phù hợp với nề nếp công ty; Ngày nay, Florida chỉ ra: các công ty Mỹ đang cố gắng để phù hợp với lối sống của sinh viên! Trilogy-một công ty hàng đầu về IT của Mỹ-lại trải thảm đỏ mời chào một anh chàng sinh viên thủ khoa của Carnegie Mellon nhưng với khuyên tai, xăm mình như một rocker thực thụ (và còn dùng anh ta để phỏng vấn, tuyển dụng các sinh viên khóa sau). Khi được Florida hỏi vì sao tuyển anh chàng này, Triology trả lời “Đơn giản, vì anh ta là một ngôi sao nhạc rock!”.  Các công ty công nghệ cao, nơi STS quyết định tính cạch tranh của họ, hiểu rằng: sự đa dạng, các năng khiếu đa ngành là lương thực nuôi sống TST. Các trường đại học nổi tiếng, các viện nghiên cứu đầy tính hàn lâm, các công ty, các tổ chức… của Mỹ rất thích tuyển dụng những ngôi sao, những vận động viên thể thao, những người nổi tiếng, những hoa hậu, MC… vì họ mang lại sự khác biệt, tính nổi trội và là mầm mống cho TST. Trong hai người có cùng năng lực chuyên môn, thường người nổi trội về thể thao hay theo đuổi một đam mê văn hóa-nghệ thuật nào đó sẽ được chọn tuyển. Vì vậy, nếu bạn xin việc hay xin học ở một trường đại học ở Mỹ, đừng ngại cho họ biết rằng: bạn là một túc cầu gia có hạng, một đệ tử trung thành của môn nhảy hip-hop hay một người say mê thơ Đường.  Đinh Thế Phong      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tinh tinh dùng ‘giáo’ săn mồi      Người ta đã quan sát thấy bầy tinh tinh ở Senegal chế tạo và sử dụng những cây xiên bằng gỗ để săn những loài linh trưởng khác.    Các nhà nghiên cứu đã ghi lại được 22 trường hợp tinh tinh chế tạo các cây xiên nhọn để đâm những con linh trưởng nhỏ hơn cư ngụ trong các hốc cây hoặc hốc cành cây.  Tác giả của nghiên cứu, Jill Pruetz và Paco Bertolani, từ Trung tâm nghiên cứu tiến hoá con người Leverhulme ở Cambridge, Anh, nhận định phát hiện này có thể rất quan trọng trọng việc tìm hiểu sự tiến hóa của loài người, bởi trước kia, chưa ai từng thấy tinh tinh dùng công cụ để săn các loài vật khác.  Tinh tinh lặp đi lặp lại động tác xọc cây xiên vào hốc cây. Sau khi vứt công cụ, nó thường ngửi hoặc liếm cái vật này. Trong hầu hết các trường hợp, tinh tinh sử dụng cái que nhọn như là một cây xiên, chứ không phải là cái que để thông hay thăm dò. Các nhà nghiên cứu nhận định điều đó bởi họ thấy chúng dùng lực đủ mạnh để làm thương con vật có thể đang ẩn nấp bên trong.  Phần lớn những lần đi săn như vậy, tinh tinh bẻ gẫy một cành cây sống để làm dụng cụ cho mình. Sau đó, chúng sẽ tỉa bớt lá và các cành phụ ở xung quanh cho gọn gàng hơn. Chúng cũng tỉa phần cuối của nhánh cây và tước vỏ của nó. Một số con còn dùng răng làm nhọn đầu cây xiên.  Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy những con cái, đặc biệt là những con còn trẻ và lũ tinh tinh non hay thực hiện hành vi này hơn những con đực trưởng thành, dù trước nay, người ta vẫn cho rằng tinh tinh đực trưởng thành mới là kẻ đi săn trong đàn của chúng.  Các nhà nghiên cứu kết luận phát hiện này đã ủng hộ giả thuyết cho rằng những con cái có thể đóng vai trò quan trọng tương tự con đực trong sự tiến hóa công nghệ chế tác ở người tiền sử.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tính toán lượng tử – Thực tế hay cường điệu?      Nhưng thách thức vật lý và kỹ thuật trong việc xây dựng máy tính lượng tử còn lớn hơn nhiều so với những thách thức người ta đã gặp phải khi chế tạo máy tính điện tử hiện đại đầu tiên. Những khó khăn này còn lớn khủng khiếp hơn những gì người ta gặp phải trong Dự án Manhattan (quả bom nguyên tử đầu tiên) hay Dự án Apollo (đưa những người đầu tiên trên Mặt trăng)       Ảnh: www.gizmocrazed.com  Khoảng 40 năm trước, ba nhà vật lý (bao gồm cả người đoạt giải Nobel Richard Feynman) và một nhà toán học, Yuri Manin đã đưa ra một khả năng trên lý thuyết của tính toán lượng tử. Ý tưởng này bắt đầu thu hút nhiều sự quan tâm hơn vào năm 1994 khi Peter Shor phát triển một thuật toán cho một máy tính lượng tử để phân tích nhanh thừa số của một số nguyên lớn hay tìm logarit trong các hệ thống hữu hạn. Một máy như vậy có thể phá vỡ cả hai loại mật mã khóa công khai được sử dụng rộng rãi nhất – RSA và ECC (“Elliptic Curve Cryptography”).  Với khả năng có ai đó có thể xây dựng thành công máy tính điện tử với một quy mô có thể đánh bại mật mã RSA và ECC, những năm gần đây, người ta đã bỏ rất nhiều công sức để phát triển các phương pháp mã hóa, chữ ký số hay khóa trao đổi có tính “an toàn lượng tử”, tức là chống lại được các cuộc tấn công lượng tử. Cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ NIST (Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia) đã tổ chức một cuộc thi các hệ thống mật mã an toàn lượng tử tốt nhất. NIST dự kiến công bố các hệ thống đạt giải nhất vào cuối tháng này (tháng 3/2022).  Từ cuối những năm 1990, một số trung tâm nghiên cứu và công nghiệp cũng đã bỏ ra nhiều triệu đô để nỗ lực phát triển tính toán lượng tử. Nhưng tiến độ thì rất, rất chậm.  Những trở ngại xây dựng khủng khiếp  Theo các khuyến nghị hiện tại về kích thước khóa, số N sử dụng trong mã RSA phải có 2048 bit – tức là hơn 600 chữ số thập phân. Những con số như vậy quá lớn để có thể phân tích thừa số với máy tính thông thường. Và điều đó là cần thiết để mã RSA được bảo mật. Để phân tích thừa số của một con số “khủng” như vậy bằng thuật toán lượng tử của Shor chúng ta sẽ cần hai “qubit” logic cho mỗi 2048 bit N. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu tại Microsoft thì cần phải có một chip với khoảng 6 triệu triệu (6×1012) cổng vật lý. Cần phải có số cổng khổng lồ như vậy là do một hệ thống lượng tử có độ nhiễu và độ không ổn định quá cao (hay còn gọi là “sự suy giảm lượng tử”). Do vậy cần rất nhiều tính toán lặp lại và các phân tích thống kê (còn được gọi là “giảm nhiễu”) để có được kết quả chính xác.  Toán học trong thuật toán Shor rất kì lạ và ảo diệu. Tưởng tượng ra một không gian có nhiều hơn ba chiều với chúng ta đã đủ khó. Còn không gian để thuật toán Shor tính toán thì có đến hơn 101200 chiều. Đó là con số lớn gấp hơn 101100 lần số nguyên tử trong Vũ trụ! Nhưng với cơ học lượng tử thì điều này là hợp lý. Nếu bạn cảm thấy điều này thật khó chấp nhận thì không phải mình bạn thấy vậy. Đến Einstein ban đầu còn từ chối chấp nhận sự tồn tại của cơ học lượng tử, bất chấp kết quả thực nghiệm xác nhận lý thuyết này mà.  Nhưng thách thức vật lý và kỹ thuật trong việc xây dựng máy tính lượng tử còn lớn hơn nhiều so với những thách thức người ta đã gặp phải khi chế tạo máy tính điện tử hiện đại đầu tiên. Những khó khăn này còn lớn khủng khiếp hơn những gì người ta gặp phải trong Dự án Manhattan (quả bom nguyên tử đầu tiên) hay Dự án Apollo (đưa những người đầu tiên trên Mặt trăng). Trong trường hợp đầu, kể từ bức thư nổi tiếng của Einstein gửi Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt nói rằng Hoa Kỳ nên phát triển bom nguyên tử trước khi Đức Quốc xã làm, đến khi có được vụ nổ bom nguyên tử đầu tiên tại Alamogordo, New Mexico thì mất chưa đầy sáu năm. Trường hợp sau thì mất tổng cộng tám năm kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy tuyên bố mục tiêu của nước Mỹ là du hành lên Mặt trăng vào năm 1970. Còn với tính toán lượng tử, đã 40 năm trôi qua kể từ khi khả năng này được đề xuất và hơn 20 năm người ta dồn bao công sức với hy vọng biến tính toán lượng tử thành hiện thực. Nhưng đến nay kết quả cuối cùng bất định hơn rất nhiều so với Dự án Manhattan và các chương trình Apollo. Trên thực tế, một số chuyên gia tin rằng sự suy giảm lượng tử là trở ngại không thể vượt qua khi xây dựng máy tính lượng tử quy mô lớn.    CEO Alphabet (sở hữu Google) Sundar Pichai từng ca ngợi bước tiến của tính toán lượng tử trên mạng xã hội.   Tác động thực tế của máy tính lượng tử?  Có hai câu hỏi trọng tâm liên quan đến tính thực tiễn của tính toán lượng tử. Một là nó có giúp tạo ra một “ứng dụng sát thủ” nào không? Một “ứng dụng sát thủ” có nghĩa là một ứng dụng mang lại đủ giá trị thực tế để biện minh cho việc đầu tư số tiền lớn. Câu hỏi thứ hai là liệu một máy tính lượng tử quy mô lớn (có khả năng phá vỡ RSA và ECC) có thể được xây dựng trong tương lai gần hay không.  Không có “ứng dụng sát thủ” rõ ràng nào được biết đến ngày nay cả. Mật mã không phải là một “ứng dụng sát thủ” bởi vì một khi máy tính lượng tử mới sắp trở thành hiện thực thì người ta đã chuyển sang dùng các dạng mật mã an toàn lượng tử mới. Nếu vậy, máy tính lượng tử ra đời sẽ chẳng có ích gì đối với tin tặc và các cơ quan tình báo quốc gia.  Có một bài toán khó khác thường được những người ủng hộ tính toán lượng tử đưa ra như một “ứng dụng sát thủ”: “bài toán gợi ý” (recommendation problem) của lý thuyết trí tuệ nhân tạo. Ví dụ: Vợ tôi thích đọc khoa học viễn tưởng và cô ấy đăng ký gói “Kindle Unlimited” của Amazon để đọc không giới hạn số lượng sách điện tử với giá 10 USD mỗi tháng. Amazon có một thuật toán sử dụng dữ liệu về những lần đọc trước đây của cô ấy, các đánh giá về những quyển sách của cô ấy trước đây hay của độc giả khác để đưa ra gợi ý khá chính xác những tác giả và cuốn sách mà cô ấy sẽ thích. Các thuật toán gợi ý có nhiều ứng dụng thương mại. Năm 2009, Công ty Netflix đã trao giải thưởng 1 triệu USD cho nhóm nào có thể phát triển một thuật toán cải thiện 10% thuật toán hiện có của họ.  Trong một thời gian, người ta cho rằng thuật toán lượng tử có thể tăng tốc các hệ thống gợi ý như vậy. Nhưng vào năm 2018 một sinh viên xuất sắc 18 tuổi từ Đại học Texas tên là Ewin Tang đã tìm ra một thuật toán phi lượng tử hoạt động tốt như thuật toán lượng tử cho vấn đề này.  Nên mặc dù không thấy “ứng dụng sát thủ” nào thì những người ủng hộ tính toán lượng tử vẫn đưa ra những tuyên bố phóng đại quá mức về các ứng dụng trong tương lai của nó. Các nhà khoa học muốn có tài trợ dư dả của tập đoàn thường phải đề cao tiềm năng của máy tính lượng tử đến tận mây xanh. Ngoài ra trong nền kinh tế tiêu dùng-tư bản, “cường điệu hóa” (quảng cáo và phóng đại quá lớn) là ứng xử thông thường của các doanh nghiệp khi tiếp xúc với báo chí và công chúng.  Nhưng ngay cả xem xét một cách nghiêm túc các xu hướng được kì vọng đang bị cường điệu hóa thì các tuyên bố được đưa ra cho điện toán lượng tử vẫn là thái quá:  IBM: “Một ngày nào đó, máy tính lượng tử có thể đem đến những đột phá trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả những phát hiện về vật liệu mới và thuốc mới, tối ưu hóa các hệ thống phức tạp và trí tuệ nhân tạo”.  Microsoft: “Tính toán lượng tử có một bước tiến nhảy vọt … và sẽ thay đổi mãi mãi nền kinh tế, công nghiệp, học thuật và xã hội của chúng ta. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe, năng lượng, hệ thống môi trường, vật liệu thông minh, v.v”.  Trái ngược với những tuyên bố phóng đại một cách nực cười từ IBM và Microsoft, một báo cáo quan trọng năm 2018 của Viện Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ đã kết luận, trong thời gian tới việc xây dựng một máy tính lượng tử “nhiễu”, loại máy không đưa ra những đáp án chính xác tương đối tin cậy còn có vẻ khả thi hơn là tạo ra một máy tính lượng tử hoàn thiện có khả năng sửa nhiễu. Họ đã cảnh báo, trừ khi có một “ứng dụng sát thủ” tận dụng chính sự “nhiễu” lượng tử, nếu không khối tư nhân sẽ không còn hứng thú tài trợ cho tính toán lượng tử nữa. Họ khuyến nghị, nếu các công ty tư nhân ngừng tài trợ cho hoạt động đó thì chính phủ Hoa Kỳ nên hỗ trợ nghiên cứu tính toán lượng tử giống như cách họ tài trợ cho vật lý hạt, toán học cơ bản và các lĩnh vực khác không có khả năng mang lại lợi ích ứng dụng thực tiễn trong tương lai gần.    Khi chiếc máy tính đầu tiên ra đời cách đây gần 70 năm, không ai ngờ được máy tính sẽ giảm kích thước nhỏ gọn như lòng bàn tay, ai cũng có thể sở hữu và thay đổi cuộc sống hằng ngày của tất cả mọi người.  Vào năm 2015, một dự đoán phổ biến của những người quảng bá máy tính lượng tử là có 50% khả năng con người sẽ chế tạo được một máy tính lượng tử quy mô lớn có thể tự sửa nhiễu vào năm 2030. Nó sẽ có giá hơn một tỷ USD và cần riêng một nhà máy điện hạt nhân cung cấp năng lượng. Nhiều người cho rằng điều này là lạc quan quá mức, nếu nói là có thể giữa thế kỷ 21 hoặc thế kỷ 22 – hoặc không bao giờ – có khi còn là dự đoán thực tế hơn.  Chúng ta dự đoán tương lai tốt đến mức nào?  Người ta thường cho rằng thay đổi công nghệ diễn ra nhanh hơn dự kiến. Máy tính đã thay đổi cuộc sống của chúng ta nhiều hơn mọi dự đoán trong những ngày đầu của công nghệ máy tính cách đây 60 hoặc 70 năm. Sau đó không ai dự đoán được sự thu nhỏ của máy tính giúp cho bất kỳ người bình thường nào cũng có thể sở hữu chúng, e-mail (thay thế viết thư tay), mạng Internet hoặc mạng xã hội. Giờ đây trong thế kỷ 21 khi thảo luận về một công nghệ mới chúng ta tự nhiên có xu hướng nghĩ rằng nó sẽ phát triển nhanh chóng và bất kỳ cá nhân hoặc công ty có tầm nhìn xa đều nên đầu tư vào công nghệ mới, ví dụ tiền mã hóa, NFT hoặc tính toán lượng tử. Tuy nhiên nếu suy nghĩ cẩn trọng hơn về lịch sử của 60 hoặc 70 năm qua, chúng ta thấy rằng công nghệ đôi khi tiến triển chậm hơn nhiều so với dự đoán.  Các nhà khoa học viễn tưởng dành cả đời để tưởng tượng thế giới trong tương lai, bởi vậy họ không thua kém gì ai trong việc dự đoán các xu hướng trong tương lai. Quay trở lại những năm 1950 và 1960, họ đã dự đoán điều gì? Hãy so sánh những dự đoán của họ cho cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 với những gì đã thực sự xảy ra.  Khám phá liên hành tinh. Dự đoán: Vào năm 2000 chúng ta sẽ có các thuộc địa trên Mặt trăng và sao Hỏa, thậm chí trên cả một số mặt trăng của sao Mộc và sao Thổ, hoặc có thể khai khoáng trên các tiểu hành tinh. Thực tế: Từ ngày 12/12/1968 và năm 1972, 24 con người đã mạo hiểm vượt qua quỹ đạo Trái đất, tất cả đều thông qua Dự án Apollo. Mười hai người đi bộ trên Mặt trăng và mười hai người bay gần Mặt trăng. Trong 50 năm sau đó, không có con người nào đi xa hơn quỹ đạo Trái đất. Trong sáu thập kỷ kể từ khi Yuri Gagarin bay vòng quanh Trái đất, khoảnh khắc thú vị nhất trong hành trình khám phá không gian của con người xảy ra vào năm 1969 khi con người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng.  Máy bay chở khách siêu thanh. Dự đoán: Đến năm 2000 mọi người sẽ đi du lịch giữa Bắc Mỹ và châu Âu bằng máy bay siêu thanh. Thực tế: Du lịch hàng không chở khách siêu thanh (“Concorde” của Pháp/Anh) bắt đầu từ năm 1976 và kết thúc năm 2003 (và chỉ dành cho một số ít hành khách giàu có). Hóa ra nó không an toàn cũng như không hiệu quả về mặt kinh tế. Bạn có thể nhớ lại vụ tai nạn thảm khốc của một chiếc Concorde ở Paris vào ngày 25/7/2000.  Điện hạt nhân. Dự đoán: Đến năm 2000, lò phản ứng hạt nhân sẽ được thu nhỏ và sản xuất không tốn kém. Chúng ta sẽ có ô tô, lò nướng và thậm chí cả đồng hồ chạy bằng năng lượng hạt nhân. Thực tế: Trong nửa thế kỷ qua, không có sự tiến bộ đáng kể nào về công nghệ hạt nhân, và việc sử dụng điện hạt nhân cùng với các nguồn năng lượng khác không có tác động gì mới với cuộc sống hằng ngày.  Tương lai của máy tính lượng tử  Liệu máy tính lượng tử có tiến bộ nhanh như cách máy tính cổ điển đã làm không? Hay nó sẽ giống như du lịch liên hành tinh và ô tô chạy bằng năng lượng hạt nhân – đây có thể là một chủ đề hay ho cho khoa học viễn tưởng nhưng sẽ không sớm trở thành hiện thực?    Hai máy bay siêu thanh Concorde và Tu-144 được trưng bày tại bảo tàng Sinsheim Auto & Technik, Đức. Ảnh: Marcin Wichary.  Trong những năm đầu thảo luận về tính toán lượng tử, tiêu chí để đánh giá sự tiến triển được mọi người chấp nhận là số lớn nhất mà thuật toán của Shors có thể phân tích thừa số là bao nhiêu. Sau nhiều năm và những khoản tiền khổng lồ, tiến bộ hướng đến phá vỡ mã RSA là những người tính toán lượng tử có thể tìm thừa số cho số 21 = 3 × 7. Năm 2019, một nỗ lực đã được thực hiện với số 35 = 5 × 7, nhưng không thành công vì sự suy giảm lượng tử. (Dẫu sao người ta đã phân tích được thừa số của những số lớn hơn bằng các phương pháp lượng tử nhưng không dùng thuật toán của Shor mà bằng các phương pháp không thể mở rộng quy mô ra cho các số nguyên thực sự lớn.) Không ngạc nhiên khi những người ủng hộ mật mã lượng tử đã lái qua các “tiêu chuẩn đánh giá” khác liên quan đến các chi tiết kỹ thuật. Trong những năm gần đây, họ thường tránh nói về sự tiến bộ được đo bởi việc tìm thừa số.  Chúng ta sẽ cần các hệ thống mật mã mới?  Nếu có một khả năng nhỏ là một máy tính lượng tử quy mô lớn sẽ được chế tạo trong vòng 20 hoặc 30 năm nữa, chúng ta phải lo lắng về tính bảo mật dùng mật mã khóa công khai (RSA hoặc ECC).  Hầu hết các bí mật không cần phải giữ kín quá lâu. Chữ ký khóa công khai chỉ cần được bảo vệ trong một thời gian tương đối ngắn. Hầu hết các bí mật an ninh quốc gia cần giữ bí mật lâu dài được bảo vệ bằng mật mã khóa riêng, không phải RSA hoặc ECC. Các thuật toán mật mã khóa riêng phổ biến hiện nay như “Thuật toán băm an toàn” SHA256 và “Tiêu chuẩn mã hóa nâng cao” AES256 có biên độ an toàn rất lớn, và được cho là an toàn trước bất kỳ cuộc tấn công lượng tử nào mà theo hiểu biết của chúng tôi, có khi không nhanh hơn đáng kể so với các cuộc tấn công phi lượng tử. Đối với các cuộc tấn công vào SHA và AES, các thuật toán cổ điển có một số lợi thế lớn như chúng có thể chạy đồng thời và có thể sử dụng ASIC (Mạch tích hợp dành riêng cho ứng dụng). Máy tính lượng tử không thể làm được bất kì điều gì trong hai khả năng trên.  Phần kết luận  Đối với các nhà nghiên cứu thì việc thiết kế máy tính lượng tử và xây dựng các mật mã an toàn lượng tử có mang lại chủ đề nghiên cứu toán học, vật lý, khoa học máy tính và kỹ thuật – đồng nghĩa với nguồn việc dồi dào cho các tiến sĩ trẻ. Đó là dự đoán mà chúng tôi có thể tự tin đưa ra. Nhưng sẽ có một tác động trong thế giới thực? Điều đó còn quá sớm để biết. □  Nguyễn Quang dịch  —  Tác giả: GS Đại học Washington, Seattle    Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Tính toán lượng tử: Tiến độ và triển vọng      Báo cáo mới của Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Mỹ về tiến độ và triển vọng của tính toán lượng tử cho thấy, cần ít nhất một thập kỷ nữa thì máy tính lượng tử thực thụ mới ra đời.       Rất khó có khả năng cho ra đời một máy tính lượng tử thực thụ trong vòng một thập kỷ tới. Nguồn: New Equipment Digest   Báo cáo nêu chi tiết các rủi ro/lợi ích của việc phát triển các máy tính lượng tử thực thụ và xác định các số liệu để theo dõi tiến độ phát triển. Và dù cần ít nhất một thập kỷ nữa máy tính lượng tử thực thụ – loại máy tính có thể phá vỡ hệ thống mật mã hiện thời – mới ra đời thì phải phát triển và triển khai mật mã lượng tử ngay từ bây giờ.   Theo báo cáo mới đây từ Washington của Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Mỹ, với tình trạng hiện thời của tính toán lượng tử và những thách thức to lớn vẫn cần phải vượt qua, trong vòng một thập kỷ tới rất khó có khả năng cho ra đời một máy tính lượng tử thực thụ – máy tính có thể thỏa hiệp với mật mã khóa công khai (cơ sở cho bảo mật của hầu hết các máy tính và mạng ngày nay). Tuy nhiên, vì việc thay thế một giao thức internet đã được thiết lập thường mất hơn một thập kỷ, nên việc phát triển và triển khai các thuật toán có khả năng chống lại các cuộc tấn công bởi các máy tính lượng tử là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện thời.  Ủy ban thực hiện nghiên cứu và viết báo cáo này được giao nhiệm vụ khám phá lĩnh vực tính toán lượng tử và làm rõ hiện trạng của vấn đề như khả năng tiến tới chế tạo được các máy tính lượng tử đa năng và các nhánh phát triển của nó.  Mặc dù việc bẻ khóa của mật mã khóa công khai bằng các máy tính thông thường tốt nhất hiện có là điều không thể, một máy tính lượng tử lại có khả năng làm việc này trong không quá vài giờ. Ngay cả khi máy tính lượng tử đủ tiên tiến chưa xuất hiện trong vòng ba mươi năm tới, báo cáo đã nhấn mạnh sự cần thiết phải bắt đầu chuyển sang các quy trình lượng tử để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các cuộc tấn công bởi một hệ thống như vậy, vì phải mất hơn một thập kỷ để thay thế các tiêu chuẩn mạng hiện có.  Không chỉ mô tả cách thức một máy tính lượng tử hoạt động, nêu rõ cả ưu điểm và hạn chế của loại máy tính này, báo cáo còn chỉ ra các máy tính lượng tử không thể cải thiện được tất cả các loại tính toán và đòi hỏi hoạt động của các công nghệ tính toán hiện nay, vì vậy máy tính lượng tử khó có thể thay thế tất cả các máy tính hiện tại. Thay vào đó, nhiều khả năng chúng được sử dụng như các máy gia tốc được gắn liền với các máy tính thông thường.  Khác với các máy tính thông thường, máy tính lượng tử sử dụng các đặc tính khác thường của cơ học lượng tử (hành vi phi trực giác của các hạt vi mô) để thực hiện tính toán. Tại bất kỳ thời điểm nào, máy tính lượng tử mã hóa thông tin dưới dạng các bit lượng tử (gọi tắt là qubit) do đó có thể bao trùm tất cả các trạng thái khả dĩ của một máy tính cổ điển tương đương. Khả năng tuyệt vời này của máy tính lượng tử – có thể cùng một lúc xử lý nhiều trạng thái khác nhau – lại đi kèm với một số hạn chế: các qubit cần phải tự thân liên kết với nhau (rối với nhau), tách biệt với môi trường bên ngoài, được đặt dưới sự kiểm soát rất chính xác và không bị đo trước khi kết thúc việc tính toán. Những ràng buộc này giới hạn các loại bài toán mà máy tính lượng tử có thể tăng tốc độ tính toán và, ngay cả trong những trường hợp có thể tăng tốc, vẫn phải cần thiết kế cẩn thận các thuật toán lượng tử phù hợp.  Mặc dù sự ra đời của máy tính lượng tử đa năng sẽ có tác động bất lợi lớn đến mật mã học, nhưng lại tiềm ẩn nhiều lợi ích khi theo đuổi tiến bộ trong lĩnh vực này. Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này đã giúp thúc đẩy tiến bộ trong vật lý, ví dụ, trong các lĩnh vực như hấp dẫn lượng tử và trong khoa học máy tính, bằng cách tạo động lực hoặc thông báo các cải tiến trong các thuật toán cổ điển. Báo cáo cho biết, tính toán lượng tử, giống như một số lĩnh vực nghiên cứu nền tảng khác, có khả năng tăng đáng kể tốc độ tính toán trong một số ứng dụng nhất định, tạo ra sự hỗ trợ đối với cộng đồng nghiên cứu rộng lớn ở Mỹ về giá trị chiến lược.  Theo Mark Horowitz (Giáo sư sáng lập Yahoo! tại Đại học Stanford và là chủ tịch của Ủy ban Đánh giá Kỹ thuật về tính khả thi và sự ảnh hưởng của tính toán lượng tử – Committee on Technical Assessment of the Feasibility and Implications of Quantum Computing), đã có tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực tính toán lượng tử và ủy ban không thấy một lý do cơ bản nào, về mặt nguyên tắc, gây cản trở cho việc chế tạo một máy tính lượng tử chức năng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn cần phải giải quyết nhiều thách thức về mặt kỹ thuật trước khi đạt được cột mốc này.      Ngay cả khi máy tính lượng tử đủ tiên tiến chưa xuất hiện trong vòng ba mươi năm tới, thì vẫn cần bắt đầu chuyển sang các quy trình lượng tử để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các cuộc tấn công bởi một hệ thống như vậy, vì phải mất hơn một thập kỷ để thay thế các tiêu chuẩn mạng hiện có.      Báo cáo nêu rõ những thách thức lớn trước mắt trong việc xây dựng các thuật toán mới, phần mềm mới, công nghệ điều khiển mới và những khái niệm phần cứng mới. Một trong những thách thức đó là sự cần thiết phải biết sửa lỗi trong các hệ thống lượng tử, nếu không thì các chương trình lượng tử với độ phức tạp cao sẽ không thể chạy chính xác trên hệ thống. Tuy nhiên, các thuật toán này phải gánh chịu những chi phí đáng kể, vì vậy trong tương lai gần, các máy tính lượng tử chắc hẳn sẽ dễ mắc lỗi.  Một thách thức quan trọng khác đã được ủy ban chỉ ra là tuy máy tính lượng tử có thể sử dụng một số lượng nhỏ các qubit để biểu diễn một lượng dữ liệu lớn nhưng hiện nay không có một phương pháp nhanh chóng nào để chuyển một lượng dữ liệu cổ điển lớn sang một trạng thái lượng tử. Chỉ sau khi phát triển được một phương pháp mới để chuyển một lượng lớn các dữ liệu cổ điển sang máy tính lượng tử một cách hiệu quả thì máy tính lượng tử mới đáng giá, nếu không quá trình chuyển các dữ liệu lớn có thể làm giảm hoặc giảm thiểu tốc độ tính toán khi máy tính lượng tử làm việc trên một tập dữ liệu lớn.  Một trong những phát hiện chính trong báo cáo là trên thực tế vẫn còn quá sớm để có thể dự báo chính xác bao giờ thì một máy tính lượng tử thực thụ sẽ ra đời. Ủy ban đã xác định được một số cách thức để theo dõi các tiến độ ngắn hạn và dài hạn, bao gồm cả các số liệu và các mốc quan trọng. Báo cáo cũng cho thấy nghiên cứu và triển khai vào các ứng dụng thương mại thực tế của máy tính lượng tử trong tương lai gần (dự kiến sẽ là những máy tính nhỏ hơn nhiều và dễ bị lỗi hơn so với những máy tính lượng tử thực thụ có thể dùng để bẻ khóa hệ thống mật mã khóa công khai) là rất quan trọng đối với lĩnh vực này. Các kết quả của công việc này sẽ có tác động sâu sắc đến tốc độ phát triển của máy tính lượng tử quy mô lớn cũng như tác động sâu sắc đến quy mô và sức mạnh của thị trường thương mại.  Ngoài ra, các nghiên cứu hiện nay về tính toán lượng tử có hàm ý rất rõ ràng đối với an ninh quốc gia, báo cáo cho biết. Bất kỳ thực thể nào có máy tính lượng tử quy mô lớn đều có thể phá vỡ hệ thống mật mã hiện hành để chặn và đọc thông tin liên lạc hoặc đọc các dữ liệu lưu trữ. Báo cáo cho biết, nếu trong lịch sử, Mỹ đóng vai trò tiên phong trong việc phát triển công nghệ lượng tử, thì KH&CN thông tin lượng tử – một lĩnh vực toàn cầu, nhiều quốc gia khác đã thực hiện các cam kết về nguồn đầu tư lớn về kinh phí và nhân lực. Tiếp tục hỗ trợ cho lĩnh vực này là điều bắt buộc nếu Mỹ muốn duy trì vị trí lãnh đạo của mình. ¨  Nguyễn Bá Ân tổng hợp  Nguồn: http://www8.nationalacademies.org/onpinews/newsitem.aspx?RecordID=25196&_ga=2.2247 20602.191491450.1544026218-508219378.1544026218  https://www.nap.edu/catalog/25196/quantum-computing-progress-and-prospects  fbclid=IwAR10Ms7J4MTS1_3FKeXGdqQJyd3NZDFGfzYEYOYxUjbkgLi3WEH1TPzQJ0A         Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình trạng báo động của hành tinh      Báo cáo “Hành tinh sống” do WWF 2012 công bố lo ngại về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào năm 2030.    Thói tiêu thụ thái quá, sự khai thác kiệt quệ các tài nguyên thiên nhiên, và dân số ngày càng lớn đẩy Trái đất vào hiểm họa, theo báo cáo “Hành tinh sống 2012” của WWF (World Wide Fund for Nature, Quĩ Bảo tồn Thiên nhiên) xuất bản ngày thứ ba (15/05/12), vài tuần trước khi khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Rio. Báo cáo này do phi hành gia người Hà Lan Andre Kuipers khởi xướng khi bay trên Trạm Không gian Quốc tế (ISS) vòng quanh trái đất và được công bố cứ hai năm một lần. “Chúng ta chỉ có một Trái đất, và từ ISS, tôi có thể thấy rõ dấu ấn của nhân loại trên hành tinh này; chúng ta hành hạ hành tinh của mình một cách khủng khiếp, trong khi đương nhiên là chúng ta phải cứu vớt ngôi nhà duy nhất của mình.”  Theo Jim Leape, Tổng giám đốc của WWF Quốc tế có trụ sở chính tại Gland (Thụy Sĩ), loài người “sống như thể họ đã có thêm một hành tinh nữa sẵn đó làm dự trữ. Chúng ta sử dụng tài nguyên nhiều hơn 50% so với khả năng mà Trái đất có thể cung ứng bền vững, và nếu không có gì được thay đổi, vào năm 2030, thậm chí hai hành tinh như Trái đất cũng vẫn sẽ không đủ cho chúng ta”.    “Báo cáo này cũng giống như một cuộc tổng kiểm kê về hành tinh này, và kết quả cho thấy rằng hành tinh của chúng ta đang đau ốm dừ tử”, Jonathan Baillie thuộc Hội Động vật học London, đồng tác giả của báo cáo này trần tình. “Bỏ qua chẩn đoán này sẽ đưa lại hậu quả trọng yếu cho nhân loại; chúng ta có thể khôi phục lại sức khỏe của hành tinh này, nhưng chỉ bằng cách giải quyết tận căn rễ: sự tăng trưởng dân số và sự tiêu thụ quá trời”, ông nói thêm.  Suy sụt kể từ năm 1970  Báo cáo “Hành tinh sống 2012” sử dụng một chỉ số để đo những thay đổi về sức khỏe của hệ sinh thái của hành tinh. Chỉ số này theo dõi hơn 9.000 quần thể của hơn 2.600 loài, và cho thấy một sự suy sụt tổng thể trong tất cả các quần thể kể từ năm 1970. Những hệ sinh thái nhiệt đới đang chịu tổn hại nhiều nhất, với một sự suy giảm 60% trong 40 năm qua. Báo cáo này cũng nêu bật tác động của quá trình đô thị hóa. Vào năm 2050, hai trong ba người sẽ sống ở các thành phố. Dân số ở các nước nghèo đã tăng lên 4,3 lần kể từ năm 1961, và dấu ấn sinh thái của họ đã tăng lên 323% trong khoảng thời gian này, báo cáo cảnh báo.  Ngoài ra, 13 triệu ha rừng đã bị mất đi mỗi năm trên thế giới từ năm 2000 đến 2010. Các nước BRIICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc) và các nước có thu nhập trung bình đã tăng dấu ấn sinh thái bình quân đầu người của họ 65% kể từ năm 1961. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa dấu ấn sinh thái (trên đầu người, ND) của các nước giàu và của các nước nghèo vẫn còn rất lớn. Báo cáo cho thấy những dấu ấn sinh thái của các nước giàu là năm lần cao hơn so với ở các nước nghèo. 10 quốc gia có dấu ấn sinh thái cao nhất trên đầu người là Qatar, Kuwait, UAE, Đan Mạch, Hoa Kỳ, Bỉ, Úc, Canada, Hà Lan và Ireland.  Dân số thế giới đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1950. Từ 7 tỷ người vào năm 2011, dự kiến dân số sẽ đạt trên 9,3 tỷ vào năm 2050. Báo cáo đề xuất cách để “tạo ra một tương lai yên ấm” cho “9 hoặc 10 tỷ” người từ nay đến năm 2050. Giải pháp bao gồm việc tạo dựng một nền sản xuất sử dụng ít năng lượng hơn, và giảm tiêu thụ. Báo cáo này được xuất bản năm tuần trước khi hội nghị về Phát triển bền vững của Liên hợp quốc được tổ chức tại Rio vào tháng sáu này và được gọi là Rio+20. Chính tại Rio vào năm 1992 Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đầu tiên đã được tổ chức.  HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình trạng nước biển dâng và ngập ven biển: Bộ dữ liệu mới có chính xác?      Bộ dữ liệu mới về khả năng ngập lụt trong tương lai ở các vùng ven biển của Climate Central, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Mỹ chuyên về phân tích dữ liệu và xây dựng các báo cáo về khoa học khí hậu, khiến người dân không chỉ quan tâm mà còn lo lắng trước những thông tin khoa học ít nhiều liên quan đến cuộc sống của họ.    Dù vẫn còn có sai số thì đây cũng sẽ là một trong những giả định để các nhà quản lý có thể dựa vào đó xây dựng những phương án ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai đến.    Bản đồ ngập lụt của miền Nam Việt Nam vào năm 2050. Ảnh: New York Times.  Mới đây, Climate Central đã có báo cáo “Tương lai bị ngập: Sự tổn thương toàn cầu về nước biển dâng xấu hơn những gì chúng ta biết trước đây”, trong đó nêu những dự đoán về khả năng bị ảnh hưởng nặng nề nhất ở Việt Nam, đặc biệt là ĐBSCL, thu hút sự chú ý của báo chí quốc tế như New York Times, The Conversation, Asahi Shimbun… Các dự đoán của báo cáo này đều được lấy chủ yếu từ “Bộ dữ liệu độ cao mới ước tính sự tổn thương toàn cầu do nước biển dâng và ngập ven biển tăng gấp ba” của các nhà nghiên cứu Climate Central và “Đồng bằng sông Mekong thấp hơn nhiều so với giả định trước đây về những đánh giá tác động của mực nước biển dâng” của nhóm nhà nghiên cứu trường Đại học Utrecht, Viện Nghiên cứu Deltares (Hà Lan) mới xuất bản trên tạp chí Nature Communication vào tháng 10. “Cả hai bài báo này đều đề cập đến việc sử dụng mô hình độ cao số DEM trong tính toán số liệu địa hình: nhóm Climate Central dùng mô hình độ cao số vùng bờ biển để ước tính độ cao mới của các vùng ven biển, qua đó ước tính số người trên toàn cầu sẽ bị nước biển dâng ảnh hưởng trong tương lai, theo các kịch bản phát thải thấp và cao; nhóm nhà nghiên cứu Hà Lan sử dụng một số loại mô hình độ cao số khác để tính riêng mức độ tổn thương vì nước biển dâng của riêng vùng đồng bằng sông Mekong”, giáo sư Phan Văn Tân, một nhà nghiên cứu về khí tượng/khí hậu tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) và là chủ tịch Hội đồng ngành Khoa học trái đất (Quỹ NAFOSTED), đã nói như vậy về hai bài báo đang gây xôn xao dư luận Việt Nam về khả năng ĐBSCL bị ngập và 31 triệu người Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng vào năm 2050.  Phương pháp mới cho số liệu mới về các vùng đất có thể bị ngập  Trên thực tế, DEM là mô tả đồ họa máy tính 3D của bề mặt địa hình dựa trên các thông số dữ liệu về độ cao của địa hình đó. Dù phương tiện hết sức hữu dụng với những người lập bản đồ thông tin địa lý và được sử dụng ngày càng nhiều nhưng DEM vẫn tồn tại một số điểm đáng chú ý như chất lượng phụ thuộc vào độ bằng phẳng hay gồ ghề của địa hình, độ dày của mẫu, các thuật toán nội suy, thuật toán phân tích địa hình, độ phân giải theo chiều dọc… Theo lý giải của nhóm Climate Central, mô hình độ cao số áp dụng cho vùng ven biển (CoastalDEM) do họ phát triển là một mô hình mới sử dụng phương pháp mạng thần kinh – một mô hình tính toán hồi quy phi tham số phi tuyến cao, và dữ liệu đầu vào từ lidar – phương pháp khảo sát khoảng cách bằng việc chiếu tia laser được gắn trên thiết bị bay xuống mục tiêu dưới mặt đất và đo ánh sáng phản xạ bằng cảm biến, để giảm thiểu sai số từ Nhiệm vụ địa hình radar con thoi (SRTM), mô hình cũ của NASA nhằm tính toán các mực nước biển cực trị. “Do vùng ven biển là vùng đông dân nhưng độ phân giải và mô hình trước không đủ độ chính xác để đánh giá mức độ tổn thương do mực nước biển gây ra. Trong bài báo của mình, họ đã chứng minh là phương pháp của họ tốt hơn, độ chính xác cao hơn so với mô hình SRTM”, giáo sư Phan Văn Tân nhận xét và nói thêm, “phương pháp đó tạo ra bộ dữ liệu tốt nhất mà người ta hiện có”.  Giáo sư Phan Văn Tân. Nguồn: VNU  Bộ dữ liệu mới của nhóm Climate Central cho thấy, do độ cao so với mực nước biển của các vùng ven biển thấp hơn so với độ cao của mô hình cũ nên diện tích của các vùng đất có nguy cơ bị ngập trong tương lai sẽ cao hơn nhiều, dẫn đến số lượng người được dự đoán là bị ảnh hưởng khi nước biển dâng cũng tăng lên. Theo số liệu của mô hình mới thì theo kịch bản phát thải thấp của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), những vùng đất ven biển trên toàn cầu có 190 triệu người sinh sống được dự đoán là sẽ ở dưới mực nước biển vào năm 2100, nghĩa là tăng lên 80 triệu người so với tính toán cũ; theo kịch bản phát thải cao thì 630 triệu người sống ở dưới mực nước biển, tăng 360 triệu người so với trước.      Thực tế là anh có nhận thức đúng, anh dùng phương pháp tốt thì anh có dữ liệu tốt. Do đó anh có khả năng tính được diện tích bị ngập và số người ảnh hưởng chính xác hơn nhiều hơn so với những gì chúng ta biết, theo Giáo sư Phan Văn Tân.      Tại sao lại có sự sai số này giữa hai mô hình tính toán trên cùng một đối tượng là các vùng ven biển? Giáo sư Phan Văn Tân cho rằng, với các phương pháp và thước đo khác nhau thì kết quả thu được sẽ khác nhau. “Điều quan trọng là họ đã chứng minh phương pháp mới cho kết quả mới chính xác hơn kết quả cũ, tại sao chúng ta không dám tin nó? Chúng ta cần lưu ý đây là kết quả của một bài báo khoa học và xuất bản trên một tạp chí có bình duyệt, có những chuyên gia cùng lĩnh vực phản biện, điều đó cũng có nghĩa là những số liệu đó đã được các nhà chuyên môn đánh giá là chấp nhận được”, ông nói.  Số phận ĐBSCL theo các kịch bản nước biển dâng  Trong khi đó, nhóm nhà nghiên cứu trường Đại học Utrecht, Viện Nghiên cứu Deltares sử dụng các mô hình DEM để tính toán cho vùng ĐBSCL bằng ba phương pháp độc lập để tính độ cao so với mặt nước biển một cách chính xác dựa trên các nguồn dữ liệu của Việt Nam (trong đó có nguồn của Ngân hàng phát triển châu Á, Quỹ đánh giá rủi ro toàn cầu World Wildlife, Kế hoạch hành động Việt Nam – Hà Lan về ĐBSCL, Ngân hàng thế giới) để thu được một tập dữ liệu lớn về các điểm độ cao từ bản đồ địa hình chi tiết của ĐBSCL và được tham chiếu với mốc đo đạc trắc địa của Việt Nam ở trạm Hòn Dáu. Kết quả cho thấy ĐBSCL có độ cao trung bình so với mặt nước biển thấp hơn nhiều với độ cao trước đây chúng ta đã có từ những phương pháp đo cũ: nó chỉ cao xấp xỉ 0,8 m so với mực nước biển, trong khi trước đó con số này là xấp xỉ 2,6 m. Do đó, trong bài báo của mình, họ nêu “kết quả của chúng tôi cho thấy, những đánh giá tác động của mực nước biển đối với ĐBSCL cũng như các đồng bằng ven biển trên toàn thế giới đều chưa rõ ràng”.    Tình trạng ngập lụt và xói lở ở ĐBSCL. Ảnh: TTXVN  Không chỉ tính đến độ cao so với mặt nước biển của cả ĐBSCL, các nhà nghiên cứu Hà Lan còn tính toán chi tiết độ cao của từng tỉnh một thuộc khu vực này. Theo kết quả tính toán của họ, ba mô hình Topo DEM, SRTM DEM và MERIT DEM đều cho những kết quả khác nhau và những thông số mà theo họ “chính xác hơn” rất nhiều. Ví dụ An Giang sẽ là tỉnh có độ cao so với mực nước biển cao nhất ĐBSCL với 1,42m (mô hình SRTM DEM cho kết quả 3,3 m và MERIT DEM là 3,8 m) còn Hậu Giang là tỉnh thấp nhất với độ cao so với mực nước biển là 0,38m (kết quả SRTM DEM là 1,9 m và và MERIT DEM là 3,4m). Về tổng thể, chỉ có 5 tỉnh là An Giang, Đồng Tháp, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long là cao xấp xỉ trên 1m, 8 tỉnh còn lại đều dưới mức 1 m.  Do vậy, đối chiếu với kịch bản biến đổi khí hậu là mực nước biển dâng ở khu vực ĐBSCL lên tới 20cm thì theo bộ dữ liệu TopoDEM, 6 % diện tích ĐBSCL nằm dưới mực nước biển; trong trường hợp mực nước biển dâng 50cm thì diện tích ngập là 29 %; trường hợp mực nước dâng 80cm thì con số là 54%, nghĩa là quá nửa khu vực. Khi đó, Tây Nam là khu vực thấp nhất ĐBSCL nên Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang sẽ là các tỉnh có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Theo kết quả của Topo DEM, khu vực của trên 12 triệu người, tương đương với trên 70% dân số ĐBSCL) sẽ ở dưới mực nước biển, theo kịch bản mức nước biển dâng 1 m, gấp đôi kết quả từ mô hình SRTM DEM (xấp xỉ 5 triệu người, chiếm 29% tổng số dân ĐBSCL).    Tình trạng ngập lụt ở ĐBSCL. Ảnh: TTXVN  Vậy những con số này nói lên điều gì? “Nó cho thấy, nếu sử dụng số liệu độ cao so với mặt nước biển của địa hình mới thì những kết quả suy ra từ đó sẽ khác đi rất nhiều so với những gì chúng ta đã biết”, giáo sư Phan Văn Tân giải thích. “Đương nhiên, nếu ước tính độ cao của ĐBSCL cao hơn thực tế thì việc ước tính số người bị ảnh hưởng sẽ ít hơn thực tế, cho nên nếu có được hiểu biết đầy đủ về phương pháp sẽ giúp ích cho chúng ta trong đánh giá sự tổn thương vì nước biển dâng chính xác hơn, đó cũng là mục tiêu của các mô hình DEM”.  Ứng xử như thế nào trước các giả định mới?  Báo cáo của Climate Central nêu Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan là những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất vào năm 2050. Nếu theo mô hình SRTM, Việt Nam ước tính sẽ có 9 triệu người bị ảnh hưởng trong khi theo mô hình CoastalDEM là 31 triệu người, như vậy số người bị ảnh hưởng sẽ tăng lên 22 triệu người. Họ còn nhận định, ngoài ĐBSCL thì cả khu vực phía Bắc quanh thủ đô Hà Nội, bao gồm thành phố cảng Hải Phòng, đều bị nước biển dâng ảnh hưởng.  Việt Nam nên ứng xử như thế nào trước những thông số này? Theo giáo sư Phan Văn Tân, đây là những dữ liệu quan trọng và các giả định mang tính gợi ý để chúng ta có thể tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách và xây dựng các phương án ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt tại khu vực ĐBSCL như hình thành đê sông, đê biển như cách của Hà Lan hoặc quy hoạch theo vùng, trong đó để ngập nước một khu vực làm du lịch… Ông cũng chỉ ra rằng, trong phương pháp của các nhà nghiên cứu Climate Central và Hà Lan đều có những điểm yếu, ví dụ “mô hình CoastalDEM vẫn có thể tồn tại các sai số nhất định do việc đo độ cao số chưa hoàn hảo do thực hiện ở vùng địa hình có nhiều nhà dân ở, gồm nhiều nhà cao tầng hoặc cây cao khiến kết quả đo không chính xác, có thể gây sai số đến 20 mét”. Mô hình của Hà Lan cũng vậy, trong công bố của mình, họ cũng tự nhận “còn có những sai số lớn trong kết quả đo độ cao của chúng tôi, và cũng sai số tương tự như vậy trong đánh giá tác động của mực nước biển dâng với vùng đồng bằng ven biển”.  Mặt khác, giáo sư Phan Văn Tân cho biết, mô hình của các nhà nghiên cứu Hà Lan chưa đề cập đến một yếu tố quan trọng là một số công trình lớn ở ĐBSCL, đó là hệ thống đê bao đã được xây dựng ở khu vực này trong nhiều năm. Theo quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam năm 2012, ĐBSCL đã hình thành hệ thống đê và bờ bao với tổng chiều dài khoảng 13.000 km, 200 km đê bao giữ nước chống cháy cho các vườn quốc gia, rừng tràm sản xuất tập trung và các đê bao bảo vệ các thị trấn và thị tứ, 450 km đê biển, 1.290 km đê sông và khoảng 7.000 km bờ bao ven các kênh rạch nội đồng để ngăn mặn, triều cường và sóng bão cho vùng ven biển.  Tuy nhiên ông cho rằng, sự quan tâm trước các giả định về nước biển dâng cũng cho thấy nhận thức của người dân trước tác động của biến đổi khí hậu và cũng khiến các nhà quản lý lưu tâm hơn vào xây dựng các phương án ứng phó.  Theo Khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tình yêu cuối cùng của Jonas Salk      Sự kết hợp khác thường giữa một nghệ sĩ nổi tiếng và nhà khoa học khám phá vaccine bại liệt.    Lời người dịch: Jonas Salk không phải là cái tên xa lạ với giới khoa học và công chúng. Vào thập niên 1940 và 1950, bệnh bại liệt là nỗi khiếp sợ của cả nước Mỹ: nó đến không hề báo trước, và các nhà khoa học loay hoay không hiểu nó lây truyền như thế nào. Jonas Salk là người đầu tiên phát triển thành công vaccine phòng bại liệt, vào năm 1953, sau khi thử nghiệm trên bản thân, vợ và các con, ông công bố sự an toàn của vaccine trên đài radio quốc gia, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử y học thế giới. Sau đó, cuộc sống của ông đã thay đổi hoàn toàn: ông trở thành một người nổi tiếng, một người của công chúng. Salk không đăng ký sáng chế cho vaccine của mình, và khi được hỏi, ông trả lời: “không có bằng sáng chế nào hết… Bạn có thể đăng kí sáng chế cho mặt trời được không?”. Ông còn là một nhà hoạt động tích cực giúp tiêm vaccine trở thành bắt buộc.  Françoise Gilot lại thường được biết đến như “người tình của Picasso”, như vợ của nhà khoa học kiệt xuất Jonas Salk hơn là vì chính tài năng xuất sắc của bà. Picasso gọi bà là “Người phụ nữ đã nói không” (ám chỉ việc Gilot là người duy nhất từ trước tới giờ dám rời bỏ ông). Gilot là một họa sĩ đang trên đà xây dựng tiếng tăm khi bà gặp Picasso. Một người đam mê công việc, bà đã vẽ trên dưới 1600 bức tranh, khoảng 5000 nếu tính cả các tác phẩm trên giấy. Tranh của Gilot được bán với giá 200 nghìn USD, và bà luôn khẳng định học được nhiều từ Braque và Matisse hơn là Picasso.  Jonas Salk và  Françoise Gilot đến từ hai thế giới không thể khác nhau hơn, và mối quan hệ cũng như cuộc hôn nhân của họ đến giờ vẫn khiến báo giới tốn nhiều giấy mực.     Jonas Salk (1915 – 1995) trở thành người của công chúng nhờ vào khám phá của mình. Tờ New York Times viết về ông vào năm 1955: “Ở tuổi 40, một nhà khoa học từng rất kín tiếng…bị kéo từ phòng thí nghiệm lên đến gần với nấc thang của một người anh hùng trong truyền thuyết”. Nguồn ảnh: npr.org  Trong lần đầu gặp nhau, nghệ sĩ người Pháp Françoise Gilot dường như quan tâm tới món salad hơn là tới Jonas Salk. Điều này có phần hơi xấu hổ cho bạn của cô, Chantal Hunt, người đã khăng khăng mời cô đi ăn trưa. Chồng của Chantal, John Hunt, phó giám đốc điều hành Viện Salk, đã mời Salk đến nhà để thảo luận về các vấn đề của Viện. Gilot đã cảnh báo Chantal rằng cô quá mệt mỏi sau khi hoàn thành một loạt bản in thạch bản tại trại sáng tác Tamarind, và cần nghỉ ngơi trước khi trở về Paris. “Mình sẽ ăn trưa tại một nhà hàng,” cô nói. “Mình không muốn gặp một nhà khoa học.” Chantal vẫn cố thuyết phục, và nói rằng cô không cần phải nói gì cả. “Tốt thôi,” Gilot trả lời, “Vậy thì mình sẽ không nói gì cả.”    Tối hôm sau, Gilot đi cùng gia đình nhà Hunt đến dự bữa tối tại Viện. Ngồi cạnh các nghệ sĩ khác, cô cảm thấy rất thoải mái. Mặc dù cô không chú ý đến Salk, anh vẫn nhìn thấy cô. Sau này Salk nói với Françoise rằng anh cảm thấy khá thú vị và tò mò khi mới hôm trước cô cư xử như một “cục u”, còn hôm sau lại nói cười như thể gặp bạn chí cốt. Anh tự hỏi: “cô gái này rút cục là người như thế nào?” và sau đó mời riêng Gilot đến Viện để tham quan.  Khi đó, người phụ nữ mà mới hai ngày trước còn lặng lẽ nhìn món salad hôm nay lại trở nên sinh động lạ thường: cô nói chuyện với một sự tinh tế tuyệt vời, kết quả của sự kết hợp giữa tự tin và nữ tính. Salk hầu như không biết gì về nghệ thuật, và Gilot không thể nói về khoa học, nhưng họ có chung sở thích về kiến trúc hiện đại. Và đó là sự khởi đầu.  Jonas bị Françoisemê hoặc. Anh không biết nhiều về cuộc sống của cô, ngoại trừ việc cô là một nghệ sĩ thành công, mặc dù anh chưa xem bức tranh nào của cô, và rằng cô là tình nhân của Pablo Picasso, mặc dù anh không đọc cuốn hồi ký nổi tiếng của cô, “Cuộc đời ở bên Picasso” (Life with Picasso). Quá khứ không làm Salk bận tâm vì anh đang nhìn về tương lai.  Sự bùng nổ của Thế chiến II đánh dấu một giai đoạn bi thảm trong cuộc đời của Gilot. Mỗi tuần, lại có thêm những đồng chí hi sinh trong kháng chiến và những người bạn Do Thái bị trục xuất. Cô thấy cần phải đóng góp bằng một cách nào đó. “Tôi thấy việc duy trì các giá trị văn hóa là một nhiệm vụ cá nhân và một điều cần thiết.” Năm 1943, Françoise tổ chức buổi triển lãm đầu tiên. Cùng thời gian đó, cô gặp Pablo Picasso. “Tôi tin rằng nếu tôi gặp Picasso trong hoàn cảnh bình thường, sẽ không có gì nảy nở giữa chúng tôi.”  Alain Cuny, một diễn viên nổi tiếng, đã mời Françoise và bạn, nghệ sĩ Geneviève Aliquot, ăn tối tại nhà hàng Le Catalan, địa điểm quen thuộc của các các diễn viên và nghệ sĩ. Họ vừa gọi món thì Cuny nhận ra Pablo Picasso. Suốt bữa tối, Gilot thấy Picasso nhìn không rời mắt khỏi bàn của cô. Ông tiến đến và bảo Cuny giới thiệu những người bạn. Cuny nói với ông rằng họ là nghệ sĩ, và Picasso cười: “Chà, tôi cũng là một họa sĩ. Các bạn phải đến xem tranh của tôi”. Từ đó mọi chuyện bắt đầu, dù ban đầu giữa hai người chỉ như giữa nghệ sĩ và người hâm mộ. Bất chấp sự khác biệt tuổi tác (khi đó Picasso đã 60 tuổi trong khi Gilot mới 21), một mối quan hệ nở rộ. “Sự dễ dàng khi giao tiếp với ông ấy”, Gilot viết, “chính là điều nổi bật ở mối quan hệ của chúng tôi”.  Đó là một khoảng thời gian đầy say mê đối với Gilot: Picasso giới thiệu cô với Alice B. Toklas, Gertrude Stein và Henri Matisse. Françoise tập trung vào việc học ở trường Beaux Arts, một trường nghệ thuật danh tiếng ở Pháp. Thời điểm đó cũng là lúc nổi lên trường phái nghệ thuật “New Realities” (Hiện thực mới), với việc các nghệ sĩ vẽ tranh hoàn toàn trừu tượng. Gilot bị ảnh hưởng bởi trường phái này và tới năm 1945, cô đã tạo nên danh tiếng qua các tác phẩm của mình. Sau khi chuyển đến sống cùng Picasso từ năm 1946, Gilot học được rất nhiều từ ông, đặc biệt là thói quen sáng tác. Tuy nhiên, cô cũng nhận ra cuộc sống với Picasso có thể khó khăn đến mức nào, vì mặc dù “Ông ấy có thể trở thành người đàn ông quyến rũ nhất khi ông ấy muốn”, Gilot nói trong một buổi phỏng vấn. Tâm trạng của Picasso có thể thay đổi khủng khiếp và rất khó lường.  “Tại sao em luôn mâu thuẫn với tôi?” Picasso thường hỏi Gilot.  “Bởi vì chúng ta đang đối thoại” Gilot trả lời. “Còn nếu không anh có thể nói một mình”. Năm 1953, Gilot trở thành người phụ nữ đầu tiên rời bỏ Picasso và mang theo hai con. Tháng 10 năm 1969, bà tới Los Angeles để hoàn thành một số bản in thạch bản. Chính trong chuyến đi đó, gia đình nhà Hunt đã giới thiệu bà với Salk.  Trước khi trở về châu Âu, Gilot ghé qua New York, và Salk xuất hiện như thể tình cờ. Sau đó ông theo bà đến Paris, và được mời đến La Galloise vào dịp Giáng sinh. “Không thể biết được ai theo đuổi ai,” Gilot nói. “Tất cả những gì tôi có thể nói là chúng tôi bị cuốn vào một cơn lốc mãnh liệt.” Salk nhìn thấy ở Gilot một người phụ nữ quyến rũ và trí tuệ nhất mà ông từng biết, với một điệu cười tuyệt vời, một cách nhìn mới và trung thực về thế giới, và sự say mê với công việc có thể nói là không kém gì ông.  Gilot đã biết đến Salk qua các bài báo và cuốn tiểu sử về ông, nhưng không một câu chuyện, một mẩu tin nào thể hiện được con người thật sự của Salk. Ông không sở hữu một bộ não điển hình của các nhà khoa học, trái lại ông có vẻ dựa khá nhiều vào trực giác: “một nghệ sĩ trong một lĩnh vực khác”, Gilot kết luận. Salk luôn dành mối quan tâm sâu sắc cho công việc, không phải vì lợi ích của chính mình mà vì nhân loại. Thường được coi như một người cố tình giữ khoảng cách, nhưng Gilot hiểu rằng đó là do sự nhút nhát vốn có của ông. “Ông ấy luôn cô đơn”, vì theo bà, không có ai có thể thực sự hiểu ông.    Nghệ sĩ Francoise Gilot (1921-), chụp với hoa lay ơn, Pháp vào năm 1949 khi bà vẫn sống cùng với danh họa Picasso. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ trường phái lập thể của Picasso, bà vẫn tự phát triển cho mình một phong cách vẽ riêng.  Nhiều người cho rằng Salk bị thu hút bởi Gilot vì bà “là người phụ nữ của Picasso”, như Sylvia Salk cho biết. Tuy nhiên vượt lên trên sự nổi tiếng hay hấp dẫn về ngoại hình chính là sự tương đồng trong cách hai người làm việc – với sự nhiệt tình không ngừng nghỉ. Gilot thường làm việc với 10 đến 12 bức tranh cùng lúc, trong khi Salk muốn ông có thể dành cả 24 tiếng cho công việc. Họ là một cặp đôi hoàn hảo.  Sáu tháng sau khi gặp nhau, Salk cầu hôn Gilot. Bà nói rằng bà cảm thấy ổn với một mối quan hệ, nhưng không muốn kết hôn.  “Tại sao không?” Salk hỏi.  “Bởi vì em không muốn sống với bất cứ ai hơn sáu tháng trong một năm. Vậy đấy. Em cần thời gian cho bản thân, và còn con cái nữa. ”  Jonas đưa cho bà một mảnh giấy. “Viết ra mọi thứ mà em không muốn,” Salk nói. “Anh cho em một giờ.” Françoise làm đúng như vậy, liệt kê ra mọi thứ mà bà không muốn ở một cuộc hôn nhân.  Jonas Salk đọc tờ giấy chăm chú rồi nói: “Rất tốt. Những điều này phù hợp một cách hoàn hảo với cuộc sống của anh. ”  Gilot, 48 tuổi, một nghệ sĩ với tinh thần tự do và ý chí thép. Salk, 55 tuổi, một nhà khoa học không thích sự xung đột. Họ sống nửa năm cách nhau gần 10000 km. “Tất cả bạn bè của chúng tôi đều dự đoán một kết cục chẳng tốt đẹp gì,” Gilot nhớ lại.  Ngày 29 tháng 6 năm 1970, Françoise Gilot và Jonas Salk kết hôn ở Neuilly-sur-Seine. Françoise mặc một chiếc váy đơn giản nhưng phong cách, và Jonas trong bộ vét màu tối chỉn chu. Các con của Gilot, Claude, Paloma và Aurelia cũng như các con của Salk, Peter, Darrell và Jonathan, đều tham dự đám cưới. Đây là lần đầu con cái họ gặp nhau. Claude Ruiz-Picasso, 23 tuổi, làm nhiếp ảnh gia cho Condé Nast tại New York; Paloma, 21 tuổi đang học thiết kế trang sức ở Paris; và Aurelia Simon, mới 13 tuổi, đang theo học trường nội trú. Trong các con của Salk, Jonathan thấy thoải mái nhất. Mặc dù hài lòng khi thấy cha mình rất vui vẻ, họ cũng không khỏi thắc mắc vì sao mọi chuyện có thể diễn ra nhanh đến vậy: cha mới gặp Gilot chỉ tám tháng trước.  Nếu như truyền thông luôn nhắc đến việc tìm ra vaccine bại liệt mỗi khi nhắc đến Salk, trên mặt báo Gilot luôn là “người tình của Picasso”. Tờ Harrisburg News viết về cuộc hôn nhân của họ và đồng thời cũng nhắc đến mối quan hệ 11 năm của Gilot với một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất mọi thời đại này. Kể cả trong một bài báo về các công trình của Salk về bệnh đa xơ cứng, người viết cũng phải chèn thêm thông tin về cuộc hôn nhân với Gilot, “một nghệ sĩ và người tình của họa sĩ quá cố Pablo Picasso”.  Thời thơ ấu Salk tập trung vào việc học, khi trưởng thành lại dành trọn thời gian cho công việc. Ông chưa bao giờ để việc tập thể thao, nghệ thuật hay giải trí làm xao nhãng. Tuy nhiên mọi thứ đã khác đi rất nhiều sau khi ông gặp Gilot. Cuối tuần, ông cùng Gilot đến La Jolla để bơi lội hoặc đi bộ trên những ngọn đồi gần đó. Họ mua vé cả mùa xem trình diễn tại Nhà hát Old Globe. Ông nghe nhạc Schubert và Schumann, và đặc biệt thích opera. Salk thậm chí còn đưa Aurelia đi xem một vở hài kịch. Ông học tiếng Pháp và thích thú khi được thư giãn tại các quán cà phê ở Paris. Ông tập yoga và thiền định. Chưa hết, Françoise thay đổi chế độ ăn uống của ông, loại bỏ thịt đỏ và giảm chất béo và muối. Trong sáu tháng, ông giảm 11 kg.  Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình nhận thấy những thay đổi lớn trong diện mạo của Salk. “Ông ấy là một người không hề có sở thích cá nhân”, đồng nghiệp của Salk, Jack MacAllister nói. Trong một bài báo có tựa đề “Lật mở con người Jonas Salk”, một nhà báo mô tả sự thay đổi: “Không thể bỏ qua những dấu hiệu bên ngoài. Bộ vét và cà vạt … đã được thay thế bởi bộ đồ đa dạng – áo cao cổ, quần loe, áo sơ mi sáng dưới áo khoác thể thao tối màu…”. Dễ hiểu vì sao Sylvia Salk lại nói anh rể mình đã bị “Pháp hóa”.    Jonas Salk và Francoise Gilot. Nguồn: Picture Lights.  Trên truyền thông thời điểm đó, Salk xuất hiện đầy nổi bật với một người phụ nữ xinh đẹp bên cạnh. Đó là hình ảnh Gilot mỉm cười khi chồng được giải thưởng Khoa học Y khoa All-India, khi được Tổng thống Jimmy Carter trao Huy chương vàng vì Tự do. Bà tham dự buổi gây quỹ của Viện, cùng với những nhân vật nổi tiếng như Thống đốc Ronald Reagan và vợ. Ở nhà, Gilot là một chủ nhà hiếu khách, luôn chào đón bạn bè và nâng cao vị thế xã hội của Salk. “Françoise giúp Jonas bộc lộ một khía cạnh khác trong tính cách của ông,” Maureen Dulbecco quan sát. “Ông ấy có thể là một người vui vẻ và hòa theo những câu nói đùa.”  Mặc dù các đồng nghiệp châu Âu của Salk tỏ ra đầy thiện cảm với Gilot, một số lại không đánh giá cao bà. “Salk đã kết hôn với người tình của một nghệ sĩ,” Don Wegemer khịt mũi. “Lại một anh chàng Do Thái trở thành nạn nhân của một phụ nữ Pháp.” Walter Mack, bạn của Salk, phản đối cuộc hôn nhân: “Đột nhiên ông quyết định là Donna ( Donna Lindsay – người vợ đầu tiên của Jonas Salk từ năm 1939 – 1968) không đủ tốt. Ông ta đã ly hôn và kết hôn với một diễn viên người Pháp.” Thư ký của Salk, Lorraine Friedman, không bao giờ hiểu tại sao ông lại chọn Gilot. “Bà ta không quan tâm đến việc được gọi là vợ của Jonas vì bà ta có cuộc sống riêng”. Người cùng nghiên cứu với Salk, Fred Westall, gọi Gilot là “người tình cũ của Picasso”; tuy nhiên, ông coi cuộc hôn nhân của họ là một sự sắp xếp tốt vì “bà ta cần một ai đó tầm cỡ của Picasso vì rõ ràng không thể kết hôn với bất kì ai. Còn Salk thì cần một người có thể khiến người khác bất ngờ”. Tuy nhiên Sylvia Salk nghĩ rằng cặp đôi mới cưới hoàn toàn xứng đáng với nhau. “Bà ấy làm cho cuộc sống của Salk trở nên thú vị hơn. Nhưng nếu họ phải sống chung với nhau 365 ngày một năm, tôi chắc chắn họ sẽ không bao giờ làm được điều đó.  Không lâu sau, cặp vợ chồng mới cưới bắt đầu sống xa nhau. “Jonas là một người giữ lời”. Gilot nói. “Chúng tôi không ở bên nhau quanh năm.” Bà dành ít nhất sáu tháng ở Paris hoặc tại xưởng vẽ ở New York. “Tôi không phải là người vợ bình thường. Cuộc hôn nhân của chúng tôi là sự kết hợp của hai người bận rộn, những người đã hoàn toàn dành hết cho công việc, vì vậy nó không phải là mối quan hệ vợ chồng điển hình.” Nhiều người xem đây là sự sắp đặt bất thường. “Khi Gilot ở bên ông,” một trong những người bạn của Gilot lưu ý, “bà ấy thực sự chú ý đến ông, đến việc giải trí và làm bất cứ điều gì để trở thành một phần của cộng đồng đó. Nhưng khi bà không ở đó, ông rút lui vào thế giới nội tâm.” Khi vắng Gilot, ông lao đầu vào công việc.  Mặc dù Gilot chỉ dành nửa năm với chồng nhưng bà vẫn đánh giá cao sự đa dạng trong tính cách của ông. “Jonas là nhiều người trong một,” bà nhận xét trong một cuộc phỏng vấn sau khi ông qua đời. Khi làm khoa học, ông sử dụng trực giác nhiều hơn tư duy logic. “Những điều có thể là hiển nhiên đối với ông nhưng lại không hiển nhiên với người khác, gây ra khá nhiều hiểu lầm về suy nghĩ của ông.” Gilot mô tả Jonas như một người kín đáo, không bao giờ tỏ ra khó chịu khoặc xấu tính, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn. Bà thích thú với khiếu hài hước của ông, cách ông nói đùa với thái độ tỉnh bơ khiến mọi người không thể hiểu là ông đang đùa hay thật. Và Salk là một người tử tế, dù theo Gilot, “nhiều người không biết điều đó”. Khi vẽ chân dung chồng, Gilot cố gắng nắm bắt tinh thần luôn tò mò và yêu thích khám phá của ông. Bà nói “chúng tôi giống nhau chủ yếu bởi vì, dù làm việc ở hai lĩnh vực khác nhau, chúng tôi có chung một tinh thần. Tinh thần khám phá cho phép người ta tìm được những thứ chưa từng được phát hiện, và đó là điều tôi cảm mến nhất ở ông ấy.”  Tuy rằng nhiều người không thể hiểu được sự sắp đặt trong hôn nhân của họ, mối quan hệ của Salk và Gilot lớn dần, ngày càng trưởng thành cũng như họ ngày càng hiểu nhau hơn. “Chúng tôi luôn luôn phát hiện ra những điều mới mẻ” Gilot nhớ lại. Khi được hỏi vì sao bà có thể có mối quan hệ và một cuộc kết hôn với hai trong số những người đàn ông tài năng nhất trong lịch sử, Gilot trả lời đơn giản: “Sư tử chỉ kết giao với Sư tử”.  Hạnh Duyên dịch  Nguồn: http://nautil.us/issue/57/communities/-the-last-love-of-jonas-salk       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tơ nhện có thể chuyển tải sóng âm rất tốt      Các nhà khoa học vừa phát hiện ra rằng những tấm mạng nhện tinh xảo còn có thể tạo ra âm thanh như một nhạc cụ dây.    Tơ nhện từ lâu đã gây tò mò cho các nhà khoa học bởi sức bền cũng như độ dẻo dai của nó. Nhưng phải gần đây, người ta mới bắt đầu chú ý nghiên cứu về tính dẫn âm thanh của tơ nhện.   Do thị lực kém, loài nhện không thể nhìn thấy con mồi mắc kẹt trong mạng. Chúng phải dựa vào các rung động từ các sợi tơ để xác định vị trí con mồi và phát hiện những hỏng hóc trên mạng nhện. Khi con nhện gảy và kéo tấm mạng, gửi chuyển động lan tỏa đi khắp các hướng trên mạng nhện, nó có thể cảm nhận được các rung động trên cả tám cái chân của mình.    Nghiên cứu về thuộc tính âm thanh của tơ nhện này do Beth Mortimer, một nghiên cứu sinh thuộc Nhóm Tơ Oxford, Đại học Oxford, thực hiện. Cô cho biết loài nhện tạo ra các rung động trên tấm mạng để thu thập thông tin. Vì có tám chân nên chúng có thể bao quát nhiều hướng khác nhau. Nghiên cứu gần đây nhất của cô về cách tơ nhện có thể chuyển tải các thông tin rất chi tiết vừa được công bố trên tạp chí Advanced Materials (Vật liệu Tiên tiến).  Trong các thí nghiệm, Mortimer và các nhà nghiên cứu sử dụng các sợi tơ đơn thu từ hai loài nhện dệt mạng khác nhau: Nephila edulis và Araneus diadematus. Họ tìm ra rằng, tơ của hai loài nhện này có thể rung với một phạm vi tần số dao động rộng hơn nhiều loại sợi tự nhiên và tổng hợp khác.   Mortimer nói: “Mỗi dây đàn violin cũng chỉ có thể được chỉnh âm theo một số nốt nhất định. Nhưng đàn violin với dây làm từ tơ nhện thì có thể lên dây trong một phạm vi âm vực rất rộng.”  Để đo đạc xem tơ nhện rung như thế nào, Mortimer và đồng nghiệp sử dụng một cách khá lạ: họ phóng một đầu đạn vào một đoạn tơ và dùng camera siêu tốc để quay lại những rung động từ va chạm này. Thêm vào đó, họ còn sử dụng tia laser để đo được cả những rung động nhỏ nhất.  Loài nhện lại tạo ra các loại rung động của tơ theo cách thủ công hơn nhiều. Chúng tạo ra sóng ngang bằng cách nhún lên nhún xuống trên tấm mạng và tạo ra sóng dọc bằng cách gẩy các sợi tơ.   Các sóng này làm thay đổi tần số rung động của sợi tơ thông qua việc vặn các kết cấu protein của sợi tơ và điều chỉnh độ căng của sợi tơ trên mạng. Các kỹ thuật này giúp nhện xác định được bất kì sự hư hại nào trên tấm mạng và cả con mồi đã mắc bẫy.   Bởi tơ nhện có thể rung động với rất nhiều tần số khác nhau, con nhện có thể cảm nhận được những dao động nhỏ chỉ 100 nanomet – tương đương 1/1.000 độ dày của một sợi tóc người.   Giờ đây khi Mortimer và đồng nghiệp đã xác định được một số đặc tính rung động của các sợi tơ nhện đơn, họ bắt đầu nghiên cứu xem các đặc tính này có thể thay đổi thế nào trong quá trình nhện dệt mạng. Ngoài việc giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài nhện, thông tin này còn có thể giúp các nhà khoa học vật liệu thiết kế các thiết bị siêu cảm giác sử dụng tơ nhện, ví dụ như các máy trợ thính.      Khánh Minh dịch              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổ tiên cổ xưa chưa được nhận diện đã truyền DNA cho hậu duệ hiện đại      Một phân tích các hệ gene cổ xưa mới cho thấy những nhánh khác biệt của cây phả hệ con người được hòa huyết trong những mốc thời gian khác nhau và một số mang DNA từ một tổ tiên xa xưa còn chưa được biết rõ.      Người Denisovan.  Các nhà nghiên cứu Melissa Hubisz và Amy Williams của trường đại học Cornell cùng Adam Siepel của Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor đã trình bày những phát hiện đó trong một nghiên cứu mang tên “Mapping gene flow between ancient hominins through demography-aware inference of the ancestral recombination graph” (Lập bản đồ dòng chảy gene giữa những tông người cổ đại thông qua suy luận nhân khẩu học của đồ thị kết hợp về tổ tiên), xuất bản trên tạp chí PLOS Genetics.  Khoảng 50.000 năm trước, một nhóm người đã di cư khỏi châu Phi và hòa huyết với người Neanderthal ở khu vực giao thoa giữa châu Âu và châu Á. Nhưng sự hòa huyết này của các tổ tiên cổ xưa của loài người và những bà con xa của họ hoán đổi DNA không chỉ diễn ra một lần duy nhất. Việc giải trình tự các hệ gene của người Neanderthal và nhóm người còn chưa được biết đến nhiều là những người Denisovan đã đem lại nhiều cái nhìn thấu suốt vào sự kiện hòa huyết và vào chuyển động của số lượng người cổ. Trong nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một thuật toán để phân tích các hệ gene có khả năng nhận diện được các đoạn DNA đến từ những loài khác, thậm chí nếu dòng chảy gene đó xuất hiện hàng nghìn năm trước và đến từ một nguồn còn chưa rõ. Họ sử dụng thuật toán đó để “nhìn” vào các hệ gene của hai người Neanderthal, một Denisovan và hai người châu Phi. Các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng là 3% hệ gene của người Neanderthal đến từ người cổ, và ước tính sự hòa huyết xuất hiện vào giữa thời điểm 200.000 năm và 300.000 năm trước. Hơn thế, 1% trong hệ gene Denisovan dường như đến từ một nguồn chưa rõ và là bà con xa hơn nhiều, có thể là Homo erectus, và khoảng 15% của những vùng “tối cổ” đó có thể đã được truyền sang người hiện đại đang sống ngày nay.    Những phát hiện mới xác nhận các trường hợp nghiên cứu trước đây về dòng chảy gene giữa những ngưởi cổ và họ hàng của họ, cũng như chỉ ra những ví dụ mới về sự hòa huyết. Dựa vào số lượng các sự kiện hòa huyết này, các nhà nghiên cứu cho biết thay đổi về di truyền dường như diễn ra vào bất cứ thời điểm nào mà hai nhóm người này xuất hiện đan xen với nhau về thời gian và không gian sống. Thuật toán mới của các nhà nghiên cứu giải quyết được vấn đề mang tính thách thức của việc nhận diện những tàn dư của dòng chảy gene đã xuất hiện hàng trăm nghìn năm trước, trong điều kiện chỉ có sẵn một số hệ gene cổ nhất định. Thuật toán đó có thể sẽ hữu dụng cho nghiên cứu về dòng chảy gên trong những loài khác nơi sự hòa huyết xuất hiện như chó sói và chó nhà.  “Những gì tôi thấy về sự hấp dẫn của công trình này là nó thể hiện những gì anh có thể học hỏi được từ lịch sử xa xưa của loài người bằng việc hợp sức tái cấu trúc lịch sử tiến hóa đầy đủ của một bộ giải trình tự gene từ người hiện đại và tông người cổ xưa”, tác giả nghiên cứu Adam Siepel bình luận. “ARGweaver-D, thuật toán mới mà Melissa phát triển, có thể chạm đến mốc thời gian xa hơn bất kỳ phương pháp tính toán mà tôi từng thấy. Dường như nó có sức mạnh đặc biệt để dò thấy quá trình cổ xưa của việc đưa gene này vào một gene khác”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-08-dna-ancient-unidentified-ancestor-humans.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổ tiên voi cổ đại sống dưới nước      Dấu hiệu hóa học từ răng hóa thạch tiết lộ rằng ít nhất một loài thuộc proboscidean, họ hàng voi cổ đại, sống trong môi trường nước.    Theo Alexander Liu, Khoa Khoa học Trái đất của ĐH Oxford, răng của loài động vật cổ đại, thuộc giống có tên Moeritherium, cho thấy nó ăn những cây cỏ nước ngọt và định cư trong những đầm lầy hoặc hệ thống sông ngòi. Giống Moeritherium sống cách đây khoảng 37 triệu năm, nhiều triệu năm sau khi diễn ra sự chia cắt gen giữa dòng voi và lợn biển. Đồng vị cac-bon trong men răng chứa những bằng chứng về khẩu phần ăn của Moeritherium, trong khi đồng vị ô-xy tiết lộ thông tin về nguồn nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tòa thành đất sớm và quy mô nhất Đông Nam Á      Với nguồn tư liệu khảo cổ học và cổ sử, có thể khẳng định, thành Cổ Loa được đắp vào thế kỷ III – II TCN dưới thời An Dương Vương, thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn, là tòa thành đất sớm nhất, quy mô to lớn nhất ở Đông Nam Á, do cư dân thời kỳ này đã triệt để lợi dụng điều kiện tự nhiên có sẵn để đắp thành, đào hào.      Khai quật Cổ Loa. Ảnh: Trịnh Hoàng Hiệp.  Thành Cổ Loa đã được nhiều bộ sử cổ Trung Quốc và Việt Nam ghi chép. Về cơ bản, các nguồn sử liệu thành văn đều cho rằng, sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi vào năm 208 TCN, An Dương Vương đã thay thế Hùng Vương và chuyển từ Việt Trì về Cổ Loa lập nước Âu Lạc, sau đó định đô, đắp thành kiên cố phòng vệ và xây dựng đất nước. Nước Âu Lạc tồn tại trong vòng 30 năm, từ 208 TCN đến năm 179 TCN, Triệu Đà nhân cơ hội phát quân đánh chiếm Âu Lạc. Từ đó, Âu Lạc bị nhà Triệu thống trị. Tuy nhiên, trong các bộ cổ sử đó nhiều sự kiện không thống nhất về địa điểm, nội dung, thời gian mở đầu và kết thúc, nên rất khó tra cứu, đối sánh để tìm ra cái chung thống nhất.      Để xây dựng được thành lớn như Cổ Loa chắc chắn cần phải có một lực lượng quân sự hùng mạnh, sự quản lý kiểu nhà nước và tập trung hóa.           Những phát hiện mới về Cổ Loa sau đợt khai quật gần đây 2007 – 2014 của chúng tôi cùng các nghiên cứu trước đây, đã cho thấy rõ nét quá trình xây dựng ba vòng thành Cổ Loa, cũng như các lát cắt về đời sống văn hóa thời kỳ Cổ Loa.  Một diễn trình lịch sử liên tục  Nghiên cứu khảo cổ học Cổ Loa cho đến nay đã giúp chúng ta đã có đủ tư liệu để hệ thống và xây dựng một phổ hệ phát triển văn hoá khảo cổ từ tiền Đông Sơn đến Đông Sơn trong bối cảnh phát triển của văn minh Sông Hồng.  Cổ Loa và khu vực xung quanh có phân bố di tích dày đặc, ở nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Cụ thể: Giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên (4.000 các ngày nay – BP), gồm các di tích: Đồng Vông, Bãi Mèn (lớp dưới), Đình Tràng (lớp văn hoá thứ tư). Giai đoạn văn hoá Đồng Đậu (3.500 BP), gồm các di tích: Tiên Hội, Xuân Kiều, Bãi Mèn (lớp giữa), Đình Tràng (lớp văn hoá thứ ba). Giai đoạn văn hoá Gò Mun(3.000BP), có lớp văn hoá thứ hai ở Đình Tràng. Giai đoạn văn hoá Đông Sơn (2.800 BP) (hay giai đoạn văn hoá Cổ Loa), gồm các di tích: Bãi Mèn (lớp văn hoá trên cùng), Đường Mây, Đình Tràng (lớp văn hoá thứ nhất với tính chất cư trú – mộ táng), Cầu Vực, Mả Tre, Xóm Hương, Xóm Nhồi, di tích đúc mũi tên đồng Đền Thượng, Xóm Thượng, Bãi Miễu và di tích ba vòng thành Cổ Loa. Thời kỳ sau giai đoạn văn hoá Đông Sơn, ở khu di tích Cổ Loa, đã phát hiện, khai quật và nghiên cứu một loạt di tích, chủ yếu là mộ gạch, khẩu giếng bằng đất nung thời Đông Hán (Thế kỷ 1-3 AD), mộ gạch thế kỷ VII – IX, hệ các di tích thờ tự An Dương Vương và Mỵ Châu thế kỷ XVIII – XIX, hệ thống các lò nung gốm, gạch và ngói thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX.    Các giai đoạn đắp thành – địa tầng vách tây ở vòng Thành Ngoại. Ảnh: Trịnh Hoàng Hiệp.  Thành Cổ Loa đã được khai quật 5 lần ở cả 3 vòng thành. Thành Ngoại được cắt 02 lần tại xóm Mít, năm 1970 và tại xóm Thượng năm 2012. Thành Trung được khai quật tại xóm Thượng, năm 2007-2008. Thành Nội được khai quật 02 lần: 01 hố ở Đền Thượng, năm 2005 và 03 hố tại xóm Hương, 01 hố ở xóm Lan Trì năm 2014.Cấu tạo các lớp đất đắp ở thành Trung và thành Ngoại khá giống nhau, với 4 lớp đất đắp trải qua 3 giai đoạn: trước An Dương Vương, An Dương Vương và sau An Dương Vương. Trong 5 lần cắt 3 vòng thành Cổ Loa, bốn di tích quan trọng đã được phát hiện.  Thứ nhất là phát hiện lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới thành do An Dương Vương đắp, trong hố khai quật thành Trung năm 2007-2008. Trong lớp văn hóa Đông Sơn ở đây, cùng với đồ gốm, hiện vật sắt, đã phát hiện được di tích phòng thủ có quy mô nhỏ hơn và khác phương vị với thành Cổ Loa của An Dương Vương. Di tích có cấu trúc (từ ngoài vào trong) là: Hào -Tường thành – Hào – Vọng gác + tường chắn. Trong nền của vọng gác còn phát hiện được di tích bếp lửa, hiện vật sắt và gốm Đông Sơn.  Phát hiện thứ hai là nền gia cố bằng đất gốc trước khi đắp thành trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012.  Phát hiện thứ ba trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012 tại xóm Thượng. Theo các chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản, có một số hiện tượng lạ trong cấu trúc của đất đắp thành có thể là dấu vết của hiện tượng động đất. Vấn đề này đang tiếp tục được nghiên cứu. Nếu hiện tượng động đất được xác nhận, cũng đồng thời xác nhận cốt lõi của truyền thuyết thần Kim Quy/ Thanh Giang xứ được Huyền Thiên Trấn Vũ sai xuống giúp An Dương Vương khắc phục hiện tượng “thành cứ xây xong lại đổ”.      Dưới góc độ văn hóa, Cổ Loa trở thành di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt cổ.           Phát hiện thứ tư gần đây nhất (2014) trong hố cắt thành Nội và ụ hỏa hồi tại thôn Hương đã phát hiện được di tích gốc của thành Nội và ụ hỏa hồi trong cùng bình diện xuất lộ, nằm dưới mặt thành Nội hiện nay khoảng trên 2m. Đây là phát hiện quan trọng khẳng định An Dương Vương đã đắp cả 3 vòng thành và hệ thống ụ hỏa hồi trong hệ thống thành Nội cũng được An Dương Vương đắp cùng với thành Nội.  Một công trình phòng thủ sớm nhất trong lịch sử Việt Nam  Các giai đoạn đắp thành  Căn cứ vào cấu tạo và sự khác biệt trong cấu trúc, kết cấu các lớp đất đắp thành trong các hố khai quật thành Ngoại, thành Trung và thành Nội, chúng tôi phân thành 04 lớp tương đương với 03 lần đắp thành dưới thời An Dương Vương: Đợt 1: Gia cố nền (thành Ngoại) và đắp đất bằng cách đổ tự nhiên trùm lên trên nền gia cố (thành Ngoại) và trùm lên di tích Phòng thủ (thành Trung); Đợt hai: Mở rộng thành sang hai bên; Đợt ba: Đắp theo từng lượt có san và đầm nện chặt.  Lớp trên cùng có gốm Cổ Loa.  Ngoài ra, trên lớp gốm Cổ Loa là các đợt đắp, tu bổ thành Cổ Loa sau thời An Dương Vương (nhiều hiện vật thời Lê, Nguyễn Huệ cho thấy điều này).    Các giai đoạn đắp thành Trung và công trình phòng thủ sớm. Ảnh: Lại Văn Tới.  Hệ thống lại các tư liệu khảo cổ học thu được từ các cuộc khai quật từ năm 1970 cho đến nay, kết hợp với nguồn sử liệu thành văn, chúng tôi khẳng định: cư dân giai đoạn Đông Sơn (muộn) đã xây dựng hào, lũy ở Cổ Loa. Nghiên cứu kỹ thuật đắp thành, quy mô và hình dáng của thành thấy rằng đó là truyền thống đắp thành của người Việt, rất khác với kỹ thuật của nhà Hán. Người Việt xây dựng cả ba vòng thành này, bằng kỹ thuật của người Việt trước khi người Hán tới, chứ không phải bị ảnh hưởng bởi kỹ thuật xây thành của người Hán. Ví dụ, khi phân tích các lớp đất ở thành Trung, chúng tôi thấy có kỹ thuật cắt đất nhưng hoàn toàn không giống với kỹ thuật cắt đất đắp thành ở Trung Quốc cổ (Phương pháp cắt đất thường được dùng để xây dựng tường thành và nền móng cho các tòa nhà tại văn hoá Long Sơn (khoảng 3.000 – 1.800 năm trước Công nguyên) và các di chỉ thuộc văn hóa Thương (khoảng 1.600 – 1.046 năm trước Công nguyên) ). Phương pháp cắt đất ở các di chỉ thuộc nhà Hán có xu hướng mỏng và có độ dày thống nhất, khoảng 12 – 14cm, trong khi các lớp đất cắt của giai đoạn 2 ở Cổ Loa rất dày, thô và thiếu tính đồng nhất. Từ cơ sở này, chúng tôi cho rằng, quá trình đắp thành giai đoạn 2 của Thành Trung được thực hiện hoàn toàn bởi người Việt chứ không phải bởi người Hán. Đồng thời, kỹ thuật đắp Thành Nội, ụ hỏa hồi trong Thành Nội có các lớp đất đắp ở các giai đoạn khác nhau nhưng đều có tính thống nhất, tạo thành mặt phẳng, chứ không đắp đất thành hình vòng cung và không có hiện tượng cắt đất như kỹ thuật đắp Thành Trung. Kỹ thuật đắp lũy Thành Ngoại khác với kỹ thuật đắp giai đoạn 2 của Thành Trung (kết quả phân tích niên đại vào năm 2007 – 2008 là 399 – 206 trước công nguyên – BC).  Cư dân thời này đã có truyền thống xây dựng lợi dụng triệt để điều kiện tự nhiên có sẵn để đắp thành, đào hào. Đất để đắp thành lũy được khai thác từ hào nằm bên ngoài thành. Địa tầng thành cho thấy, thành có cột địa tầng đảo ngược so với hào. Sông được dùng làm hào tự nhiên cho Thành Ngoại và cung cấp nước cho cả hệ thống hào của tòa thành. Nhiều gò, đống, doi đất cao được đắp nối lại và đắp cao thêm làm thành một bộ phận hữu cơ của tòa thành.  Kiến trúc “quân thành” của một nhà nước mạnh và tập trung hóa  Sự phân bố của các di tích văn hóa Cổ Loa kết hợp với sự hiện diện của ba vòng thành cho phép chúng ta phác dựng cấu trúc thành Cổ Loa, với thiết kế chi tiết và quy định chức năng cho từng khu vực, từng vòng thành.  Thành Nội hình chữ nhật, chu vi 1.650m. Thành cao trung bình, so với mặt đất hiện nay khoảng 5m, mặt thành rộng 6 – 12m, chân rộng 20 – 30m. Thành Nội chỉ có một cửa thành mở về phía Nam trông thẳng vào Ngự triều di quy, tương truyền đó là nơi thiết triều của Vua Thục.  Thành Trung là một vòng thành khép kín, không có hình dáng cân xứng, bao bọc phía ngoài thành Nội. Thành Trung dài 6.500m. Một đặc điểm đáng lưu ý của cửa Nam đó là được bố trí thành cửa chung của thành Trung và Thành Ngoại do hai vòng thành nối liền nhau tạo thành, cửa Đông là cửa đường thủy (nhân dân gọi là cửa Cống Song) mở lối cho một nhánh sông Hoàng chảy vào sát thành Nội.  Thành Ngoại là một đường cong khép kín không có hình dáng rõ rệt, dài khoảng 7.780m. Những đoạn thành còn lại cao trung bình 3 – 4m, chỗ cao nhất gọi là gò Cột Cờ ở phía Nam cao khoảng 8m. Chân thành rộng khoảng 12 – 20m. Ngoài cửa Nam là cửa chung với thành Trung, Thành Ngoại còn có ba cửa: Cửa Bắc (nhân dân quen gọi là cửa Khâu), cửa Đông và cửa Tây – Nam, trong đó cửa Đông là cửa sông nối liền với Hoàng Giang.  Ngoài chức năng là nơi vua định đô, Cổ Loa còn có chức năng là quân thành. Với hệ thống ba vòng lũy và hào nước, thành Cổ Loa vừa là căn cứ bộ binh, vừa là căn cứ thủy binh mà Đầm Cả là một cảng thuyền lớn.Tính chất trung tâm quyền lực được thể hiện rõ khi mà trong thành đã tìm thấy trống đồng to đẹp – trống Cổ Loa I, xưởng đúc mũi tên đồng Đền Thượng ở trung tâm tòa thành đất kỳ vĩ đã cho thấy rõ vị thế kinh đô của thành Cổ Loa thời nước Âu Lạc.  Cùng với 3 vòng thành đất Cổ Loa còn hiện diện đến ngày nay, khảo cổ học đã phát hiện trong hố khai quật cắt thành Trung tại Xóm Thượng một đoạn tường đất nằm dưới lớp thành do An Dương Vương đắp. Cùng với các bộ phận khác, như: hào trước-sau (trong-ngoài), nền và tường đất của vọng gác (hay chòi canh) tạo thành một cấu trúc liên hoàn dạng làng phòng thủ hay pháo đài. Ở bình diện xuất lộ di tích phòng thủ này đã phát hiện các di tích, di vật thuộc văn hoá Đông Sơn, như: gốm thô màu nâu sẫm, dao sắt, bếp lửa… Niên đại này phù hợp với mẫu than nằm cùng mảnh gốm thô Đông Sơn cho niên đại 179 ± 30 trước Công nguyên BC.  Các dãy lũy đất phòng thủ hay bảo vệ bên ngoài của vòng thành Ngoại Cổ Loa đã phát hiện được ở nhiều nơi: Bãi Miễu (1978), Đình Tràng (2010) và dãy gò ở xã Dục Nội có kỹ thuật đắp giống các vòng thành Cổ Loa. Ở phía Nam thành Ngoại, cạnh Hoàng Giang, tại di chỉ Bãi Mèn, đã phát hiện những nền đất đắp, di tích hình lòng chảo…có thể có kết cấu dạng đồn trú bảo vệ Nam Môn. Những công trình này là những phòng tuyến tiền tiêu từ xa, khiến cho Cổ Loa trở thành công trình phòng thủ có quy mô to lớn, kiên cố và vững chắc nhất vào thời cổ đại trong lịch sử nước ta.  Toàn bộ quy mô và kích cỡ của Cổ Loa và những công trình phòng thủ hoành tráng đã cho thấy rằng sự tập trung chính trị ở cấp độ cao nhằm quy hoạch xây dựng. Đồng thời, các cộng đồng ở khu vực này có thể đã quen với các công trình công cộng được xây dựng trước khi xây dựng thành Cổ Loa, những công trình như thế có quy mô nhỏ (như mương, đê điều, đường đi…) và diễn ra trong thời gian nông nhàn. Trước khi thành Cổ Loa được xây dựng, chưa có một di tích nào được xây dựng ở lưu vực châu thổ Sông Hồng có kích cỡ và diện tích lớn như Cổ Loa, và để xây dựng được thành lớn như Cổ Loa chắc chắn cần phải có một lực lượng quân sự hùng mạnh, sự quản lý kiểu nhà nước và tập trung hóa để huy động nguồn lực cần thiết cho xây thành Hơn nữa, những yêu cầu cao về lao động cũng là chỉ báo cho thấy mật độ dân số cao ở thời kỳ này. Bằng chứng khai quật khảo cổ học cũng cho thấy, cư dân ở đây đã cư trú ổn định và tập trung thành những trung tâm lớn trong ba khu vực: Ở phía Nam thành Cổ Loa với di tích Bãi Mèn là trung tâm cùng với các di tích Đồng Vông (thuộc văn hóa Phùng Nguyên), Tiên Hội (thuộc văn hóa Đồng Đậu) và Cầu Vực (thuộc văn hóa Đông Sơn). Ở phía Bắc thành Cổ Loa với Di chỉ Đình Tràng trải qua quá trình phát triển lâu dài và liên tục từ các giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn đến Đông Sơn cùng với di chỉ Đình Chiền (thuộc văn  hóa Phùng Nguyên và trống đồng loại I thu nhỏ Hà Phong (xã Liên Hà); Ở khu vực trung tâm thành Cổ Loa với di tích Mả Tre là trung tâm cùng với xưởng đúc mũi tên đồng Đền Thượng và các di tích Đông Sơn khác như Đường Mây, Xóm Thượng, Xón Nhồi, Xóm Hương.        Sự có mặt với số lượng lớn loại đá dùng làm khuôn đúc tại Thành Trung và phác vật mang khuôn đúc là tư liệu quý khẳng định chắc chắn việc đúc mũi tên đồng của cư dân nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương tại kinh đô Cổ Loa.        Sự phân hóa xã hội trong cộng đồng cư dân Đông Sơn ở Cổ Loa thể hiện ở hai hiện tượng: những ngôi mộ có số lượng hiện vật không nhiều lắm, chủ yếu là vũ khí, công cụ sản xuất, cho thấy chủ nhân của ngôi mộ chưa hoàn tòan tách khỏi sản xuất. Hiện tượng thứ hai là những nơi chôn giấu tài sản có thể của các thủ lĩnh giàu có và giữ vai trò, địa vị cao trong xã hội, như sưu tập trên 200 hiện vật Đông Sơn trong trống đồng Cổ Loa, kho cất giữ 1 vạn mũi tên đồng ở Cầu Vực, sưu tập trên 50 hiện vật Đông Sơn ở Xóm Nhồi…  Các nguồn tư liệu khảo cổ học và cổ sử có thể khẳng định, thành Cổ Loa là tòa thành đất sớm nhất, quy mô to lớn nhất Đông Nam Á, do An Dương Vương đắp vào thế kỷ III – II TCN. Đây là tòa thành vừa bảo vệ kinh đô, bảo vệ nhà vua và hoàng gia, vừa là căn cứ phòng thủ chắc chắn. Thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước, chống giặc ngoại xâm. Dưới góc độ văn hóa, Cổ Loa trở thành di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt cổ.  ——-  * PGS.TS, Viện Nghiên cứu Kinh thành.  ** TS. Viện Khảo cổ học  *** PGS.TS. Khoa Nhân học, Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ                Author                Lại Văn Tới* Trịnh Hoàng Hiệp** Nam C.Kim***        
__label__tiasang Toán học chứng tỏ có thể truyền thông lượng tử trong không gian liên sao      Một nhóm các nhà vật lý tại trường Vật lý và thiên văn của Đại học Edinburgh đã sử dụng các phép tính toán học để chứng tỏ có thể đạt được các truyền thông lượng tử khắp không gian liên sao.       Trong công bố của họ trên tạp chí Physical Review D, nhóm nghiên cứu đã mô tả các tính toán của họ và khả năng có thể của các sinh vật ngoài vũ trụ nỗ lực gửi các tín hiệu giao tiếp tới chúng ta 1.  Qua nhiều năm, các nhà khoa học đã nghiên cứu về khả năng có thể của việc dùng truyền thông lượng tử, một hình thức truyền đạt thông tin có tính bảo mật cao. Nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ gần như không thể chặn các thông điệp được gửi mà không bị phát hiện. Trong nỗ lực mới này, họ đã tự hỏi liệu có những dạng truyền thông thông thường có thể nào xuất hiện ở không gian liên sao được không. Đểđi tìm điều đó, nhóm nghiên cứu đã dùng công cụ toán học để miêu tả chuyển động của tia X một môi trường như những vật thể di chuyển quanh các ngôi sao. Cụ thể hơn, họ tìm hiểu xem liệu các tính toán của mình có thể chứng tỏ việc mất rối lượng tử có thể xuất hiện trong suốt sự di chuyển này không.  Với những truyền thông lượng tử, các kỹ sư phải đối mặt với các hạt lượng tử đã mất đi một vài hoặc tất cả các đặc tính độc đáo của nó khi tương tác với những cản trở trên đường đi – chúng rất nhạy cảm. Rất nhiều sự kiện đã được biết đến như sự mất liên kết lượng tử hay sự mất thông tin của một hệ lượng tử vào môi trường (decoherence), và các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu để tìm cách xây dựng các mạng lượng tử để vượt qua được vấn đề này. Những nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ không gian giữa các vì sao vô cùng tinh sạch nhưng liệu nó có đủ tinh sạch với truyền thông lượng tử? Toán học chứng tỏ là có. Không gian rất tinh sạch nên các photon tia X có thể di chuyển qua hàng trăm nghìn năm ánh sáng mà không bị mất thông tin lượng tử – và cả sự giao thoa của sóng hấp dẫn từ những vật thể vật lý thiên văn. Họ lưu ý trong công trinh của mình là các dải quang học và vi sóng có thể hoạt động tốt trong môi trường này.  Các nhà nghiên cứu cho biết thêm là bởi vì truyền thông lượng tử có thể thực hiện trong thiên hà này, nếu như có thực thể thông minh tồn tại trong dải Ngân hà, họ có thể cố gắng truyền tín hiệu liên lạc với chúng ta bằng nhiều loại công nghệ và chúng ta có thể bắt đầu tìm kiếm chúng. Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất, hoàn toàn có thể thực hiện được viễn tải lượng tử giữa không gian liên sao.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-07-mathematical-quantum-interstellar-space.html  https://www.sciencealert.com/aliens-could-be-using-quantum-communications-to-talk-across-interstellar-space  ——————————————————————-  1.https://journals.aps.org/prd/abstract/10.1103/PhysRevD.105.123033    Author                .        
__label__tiasang Toán học của chim cánh cụt      Cách chim cánh cụt hoàng đế rúc vào nhau theo một sự sắp xếp hình học chặt chẽ và sự hiệu quả toán học. Điều này có thể làm hé lộ những bí mật về sức khỏe của chúng.      Các con chim cánh cụt hoàng đế túm tụm với nhau để giữ ấm trong sự chặt chẽ về toán học.   Động vật tiến hóa để chống lại cái lạnh theo vô vàn cách khác nhau. Cá voi cách nhiệt bằng mỡ. Bò rừng tụ tập gần suối nước nóng. Gấu đen trú trong hang. Và chim cánh cụt hoàng đế, đối mặt với nhiệt độ dưới 0 và những cơn gió giật buốt giá của Nam Cực, tụm lại với nhau thành một đám.  Nhà toán học François Blanchette, Đại học California tại Merced và nhóm nghiên cứu của mình phát hiện ra rằng việc tụm lại với nhau được chim cánh cụt thực hiện một cách cực kỳ hiệu quả về mặt toán học. Gần đây, nhà vật lý học Daniel Zitterbart, Viện Hải dương học Woods Hole (WHOI), giúp phát triển và cài đặt các camera có độ phân giải cao để quan sát hành vi của chim cánh cụt mà không làm kinh động chúng. Nhóm của Zitterbart đã khám phá ra những điều kiện khiến chim cánh cụt tụm lại với nhau, và họ đang nghiên cứu khả năng dựa vào hành vi toán học của chim cánh cụt để hiểu được các bí mật về sức khỏe của đàn theo thời gian.      Chim cánh cụt dường như biết điều các nhà toán học đã biết từ lâu: cách lấp mặt phẳng có ít khoảng trống nhất là cách dựa vào lưới lục giác đều.      Ở nơi tận cùng thế giới, mỗi tháng tư, hàng trăm nghìn con chim cánh cụt hoàng đế ngoi lên từ biển cả và trải qua một hành trình hơn 80 km để trở về nơi cư ngụ. Sau khi đẻ trứng, chim mái trở lại biển tìm thức ăn, còn chim trống ở lại, mỗi con ấp một quả trứng trong chiếc túi ở ngay phía trên hai chân. Không có cả tổ lẫn thức ăn, chúng chống chọi lại các yếu tố thời tiết bằng cách tụm lại với nhau trên mặt băng ổn định để tối đa hóa nhiệt độ xung quanh mình và tối thiểu hóa sự tiếp xúc với bên ngoài.  Mặc dù những cơn gió mạnh dường như thổi cả đám chim cánh cụt trượt đi trên băng, sự thật không hẳn là như vậy. Mô hình của nhóm Blanchette chỉ rõ rằng chúng không đồng thời di chuyển. Những con chim cánh cụt ở giữa, nơi nhiệt độ đạt tới gần 38oC, hầu hết đứng im. Một con chim ở rìa phía đầu gió sẽ sớm chuyển chỗ về phía khuất gió ấm áp hơn. Khi những con ở đầu gió chuyển chỗ, những con ở trung tâm dần trở thành đứng đầu gió, và đến lượt mình, chúng cũng lại di chuyển về phía khuất gió.    Một đám hỗn độn chim cánh cụt hoàng đế bắt đầu không theo hình thù nhưng di chuyển lần lượt theo hình thuôn với những cạnh phẳng và các đầu mút tròn.  Các đám chim cánh cụt thường kéo dài vài giờ, trong khoảng thời gian đó lũ chim cánh cụt có thể trải qua nhiều lần quay vòng giữa rìa ngoài lạnh lẽo và phía bên trong ấm áp. Trong suốt quá trình, mỗi con chim chỉ tập trung tìm sự ấm áp cho bản thân, nhưng nhiệt của cả đám được chia đều cho tất cả.  Chim cánh cụt dường như biết điều các nhà toán học đã biết từ lâu: cách lấp mặt phẳng có ít khoảng trống nhất là cách dựa vào lưới lục giác đều. Trong mô hình của Blanchette, bầy chim cánh cụt sắp xếp như thể mỗi con đứng trong một ô của một lưới lục giác. Hầu hết mọi đám bắt đầu với một hình ngẫu nhiên. Gió và nhiệt độ xung quanh khiến con chim cánh cụt đầu tiên, thường là con bị lạnh nhất ở phía đầu gió, chuyển chỗ. Con chim xê dịch này lạch bạch đi tìm một chỗ mới ấm hơn ở phía khuất gió của đám.  Con chim xê dịch sẽ chọn một chỗ bên cạnh những con chim ít bị mất nhiệt nhất ở phía khuất gió và đứng vào mà không làm phiền những hàng xóm mới. (Nó không nhất thiết chọn chỗ có nhiều hàng xóm nhất – trong mô hình này, nó chỉ quan tâm tìm những con chim bị mất nhiệt ít nhất.) Sau khi nó đứng vào, một số hàng xóm mới của nó trở thành ở bên trong của đám, mà không cần di chuyển. Đồng thời, ở phía đầu gió, một số con chim đang ở bên trong trở thành ở ngoài rìa vì con chim mới rời đi.      Vì những con chim cánh cụt liên tục rời đi tìm sự ấm áp, đường bao của đám liên tục thay đổi. Theo thời gian, đám dần có hình dạng rõ ràng hơn. Hình ngẫu nhiên ban đầu trở thành một hình cân đối: một hình thuôn dài với hai cạnh thẳng và hai đầu tròn trịa.      Vì những con chim cánh cụt liên tục rời đi tìm sự ấm áp, đường bao của đám liên tục thay đổi. Theo thời gian, đám dần có hình dạng rõ ràng hơn. Hình ngẫu nhiên ban đầu trở thành một hình cân đối: một hình thuôn dài với hai cạnh thẳng và hai đầu tròn trịa.  Một cách vô thức, bầy chim cánh cụt đạt được một sự sắp xếp gần như hoàn hảo. “Chúng tôi cố tìm kiếm một cách tốt hơn, nhưng nó luôn đòi hỏi có một đấng tối cao chỉ cho từng con chim phải đi đến chỗ nào”, Blanchette nói.  Nhưng cái gì kích hoạt việc chim cánh cụt tụm lại với nhau? Để tìm hiểu, nhóm của Zitterbart thiết kế và đặt một trạm quan sát điều khiển từ xa ở Vịnh Atka (Nam Cực), đồng thời phát triển một gói phần mềm giúp phân tích dữ liệu thu được. Trạm quan sát này bổ trợ cho những quan sát của các nhà khoa học tại thực địa và giúp nhóm của Zitterbart phát triển các mô hình toán học để dự báo chính xác việc hình thành các đám chim cánh cụt.  “Với chúng tôi, điều quan trọng là ‘Lũ chim cánh cụt cảm thấy thế nào?’ bởi cảm giác quyết định hành vi. Và chúng tôi đo đạc hành vi của chúng,” Zitterbart nói. Để thực hiện việc đo đạc này, họ đưa ra khái niệm “nhiệt độ cảm thấy” để phản ánh ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và bức xạ Mặt trời đối với cảm nhận của chim cánh cụt về nhiệt độ – khái niệm này tương tự yếu tố lạnh vì gió đối với con người. Họ còn xét đến thời điểm tương đối trong chu kỳ sinh sản của chim cánh cụt: vào đầu chu kỳ, những con chim mới kiếm ăn về béo núc ních, do đó bắt đầu tụm lại ở nhiệt độ lạnh hơn; về cuối chu kỳ, chúng gầy hơn, lượng mỡ dự trữ đã cạn sau nhiều tháng lạnh giá, do đó có xu hướng bắt đầu tụm lại ở nhiệt độ ấm hơn.  Nhóm của Zitterbart đã thu thập đủ dữ liệu cho phép đưa ra những dự đoán ngày càng chính xác dựa vào các yếu tố này. Chẳng hạn, tùy vào thời điểm trong chu kỳ sinh sản, họ có thể đưa ra nhiệt độ cảm thấy -42,50C như điểm chuyển tiếp tại đó xác suất tụm lại của chim cánh cụt là 50%, nghĩa là họ kỳ vọng tại nhiệt độ này, chúng sẽ chuyển từ trạng thái rời rạc thành đám dày đặc.  Zitterbart tin rằng sự tụm lại của chim cánh cụt chính xác về mặt toán học đến mức nhiệt độ cảm thấy tại thời điểm bắt đầu tụm lại có thể được dùng để đo một cách gián tiếp lượng mỡ và năng lượng dự trữ của chúng.  “Thay vì phải cân từng con chim cánh cụt một, nó giống như cân một lúc 25 nghìn con,” ông nói.  Nhóm của ông đang tìm hiểu liệu nhiệt độ khi chim cánh cụt bắt đầu tụm lại có thể cho biết những thay đổi theo thời gian của sức khỏe của cả đàn. Những con chim có nguồn thức ăn ổn định trong nhiều năm sẽ đến vùng đẻ trứng hằng năm với cùng lượng năng lượng dự trữ và lượng mỡ để cách nhiệt. Do đó, nhiệt độ cảm thấy khi bắt đầu tụm lại (có thể thay đổi theo các thời điểm khác nhau trong chu kỳ sinh sản) cũng phải ổn định. Điều này tạo ra một công cụ quan sát mạnh. Zitterbart đặt giả thuyết: nếu chim cánh cụt bắt đầu tụm lại ở nhiệt độ cảm thấy cao hơn trung bình, có thể nguồn thức ăn thay đổi hoặc biến đổi khí hậu đã có tác động tiêu cực đến việc kiếm ăn của chúng.  “Chúng ta chỉ cần chụp ảnh những đám chim cánh cụt tụm lại với nhau. So với việc đưa một tàu nghiên cứu đi lòng vòng khắp nơi thì tiết kiệm hơn nhiều,” Zitterbart nói. “Chúng tôi có cả một thập kỷ dữ liệu để khai thác và tìm kiếm thông tin trong đó. Ta đang sống trong một kỷ nguyên khoa học năng động”.□  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn bài và ảnh: https://www.quantamagazine.org/math-of-the-penguins-20200817/  —  1. Đây là “bài toán xếp cầu”, hay “giả thuyết Kepler”, nổi tiếng. Một chứng minh đầy đủ với sự trợ giúp của máy tính được đưa ra năm 2014 và được công nhận năm 2017 – ND    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học hiện đại nhìn qua các Giải thưởng Fields      Nhân sự kiện Ngô Bảo Châu, tôi muốn điểm lại sơ lược những thành tựu của các nhà toán học đã được giải thưởng Fields. Mỗi người trong họ đã dựng một cột mốc trên chặng đường phát triển của toán học hiện đại, và ta có thể nhìn lịch sử toán học hiện đại thông qua các giải thưởng Fields.      Có hai nguyên tắc cơ bản khi xét trao giải thưởng Fields: một là giải được một bài toán lớn, hai là đưa ra một lý thuyết mới có nhiều ứng dụng trong toán học. Hai nguyên tắc này đều quan trọng trong sự phát triển của toán học. Rõ ràng, chúng không hoàn toàn độc lập. Thường thì lời giải một bài toán cụ thể phải dựa trên sự sáng tạo ra một lý thuyết mới (nếu dùng công cụ sẵn có thì chắc là đã có người giải được!). Ngược lại việc sáng tạo ra một lý thuyết mới có ý nghĩa lớn sẽ giúp giải quyết một số bài toán cổ điển tồn đọng của toán học.  Ngoài giải thưởng Fields đầu tiên được trao năm 1936, các giải thưởng đều liên quan đến toán học của nửa sau thế kỷ 20, và một số năm đầu tiên của thế kỷ 21.   Kể từ năm 1936 đến nay, những thành tựu đạt được trong các công trình của những nhà toán học được giải thưởng Fields đã phản ánh xu hướng của sự phát triển toán học 70 năm qua. Cũng như nhiều ngành khoa học khác, toán học phát triển một cách “liên tục, nhưng không khả vi”, vì bao giờ cũng có những cột mốc mà qua đó có sự  thay đổi đột biến. Nếu nhìn vào đồ thị của sự phát triển toán học, ta thấy có sự chuyển biến rõ ràng các mối quan tâm qua mỗi thời kì chiến tranh. Để lý giải điều này, có thể nhắc đến câu nói của Nietsche, những tư tưởng lớn xuất hiện trên thế giới với những bước đi khẽ khàng, vì chúng phải chống lại những cản trở to lớn, và đòi hỏi một quá trình thử nghiệm lâu dài, và “câu đùa” của  Max Planck “chân lý khoa học mới không toàn thắng nhờ chinh phục những người chống lại nó, mà thường là do những người chống lại nó chết dần, và thế hệ mới lớn lên cùng với nó!” Những cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc đã cướp đi sinh mạng của cả một thế hệ những nhà khoa học, và điều đó vô tình thúc đẩy quá trình khách quan của sự thừa nhận những quan điểm mới.  Quá trình nhất thể hóa trong toán học  Nếu nhìn vào các giải thưởng năm 1936 và 1950, ta chưa thấy sự bùng nổ của những mối quan tâm đến tôpô đại số và hình học đại số trong những năm đầu sau Đại chiến thế giới thứ II. Giải thưởng năm 1950 được trao cho Laurent Schwartz về lý thuyết phân bố, và Alte Selberg vì những thành tựu xuất sắc trong lý thuyết số. Nhưng năm 1954, Serre và Kodaira nhận được giải thưởng vì những thành tựu đạt được sau chiến tranh. Rất khó phân biệt lĩnh vực nghiên cứu của hai nhà toán học được giải thưởng, và mặc dù có những điều chung nhau trong phương pháp, họ cho lời giải của những bài toán đặc biệt khó khăn và hoàn toàn khác nhau. Có thể nói rằng, đây chính là điểm khởi đầu cho sự “nhất thể hoá” trong toán học, quá trình xóa nhòa ranh giới giữa các ngành của toán học thể hiện rõ ràng qua các giải thưởng Fields từ 1954 đến ngày nay.                Trong những lần tiếp theo, ta thấy có sự cân bằng giữa hai nguyên tắc của việc trao giải. Chẳng hạn, năm 1958, Klaus Roth được tôn vinh nhờ chứng minh một ước lượng tinh tế,  làm mạnh định lý của Thue-Siegel về xấp xỉ các số đại số bởi các số hữu tỷ. Giải thưởng thứ hai giành cho René Thom, người xây dựng nên một phương pháp mạnh mẽ trong tôpô là lý thuyết cobordism.  Năm 1962, các nhà toán học được trao giải là Lars Hormander và John Milnor. Lars Hormander đã phát triển lý thuyết tổng quát các phương trình đạo hàm riêng tuyến tính, bao gồm lý thuyết các toán tử hypoelliptic. Công trình của Milnor thực sự gây bất ngờ và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển tương lai của tôpô. Rất khó tìm thấy một cái gì tương tự trong quá khứ,  như việc xây dựng vô cùng đẹp đẽ của Milnor về các cấu trúc vi phân khác nhau trên mặt cầu 7 chiều.    Trong Đại hội 1966, bốn giải thưởng đã được trao. Paul Cohen với chứng minh rằng nếu hệ tiên đề Zermelo-Fraenkel là phi mâu thuẫn, thì việc phủ nhận tiên đề chọn, thậm chí phủ nhận cả giả thiết continuum (liên tục) vẫn giữ cho lý thuyết là phi mâu thuẫn. Cho đến nay, đây là giải thưởng Fields duy nhất giành cho lĩnh vực lôgic toán học.  Alexandre Grothendieck, một trong những nhà toán học vĩ đại nhất và kì lạ nhất của thời đại chúng ta, được trao giải thưởng nhờ việc cách mạng hoá hình học đại số. Quan điểm lược đồ của ông đã đưa hình học đại số lên một mức độ trừu tượng mới, vượt ra ngoài tầm của những nhà toán học với một nền giáo dục truyền thống trước đó. Các công trình tiếp theo của Grothendieck cũng như của nhiều người khác chỉ ra rằng, nhiều bài toán cổ điển của hình học đại số và lý thuyết số tồn tại trong toán học, mặc cho nhiều thế hệ các nhà toán học đã tốn bao công sức để nghiên cứu chúng, cuối cùng đã có thể giải được nhờ các khái niệm phức tạp do Grothendieck đưa ra.  Nhận giải thưởng cùng một lần với Cohen và Grothendieck, S. Smale được tôn vinh chủ yếu nhờ hai thành tựu: lời giải của giả thuyết Poincaré chiều cao, và phát triển lý thuyết hệ động lực. Các kết quả của ông dẫn đến việc sáng tạo ra lý thuyết hệ động lực chiều cao, một lĩnh vực mới của toán học vẫn đang phát triển mạnh mẽ cho đến ngày hôm nay. Cùng năm với Cohen, Grothendieck và Smale, M. Atiyah được thừa nhận vì những công trình trong lĩnh vực tôpô đại số, đặc biệt là việc chứng minh Định lý chỉ số, nổi tiếng với tên gọi Định lý Atiyah-Singer. Đây là một định lý sâu sắc xét trên nhiều quan điểm khác nhau. Nó là sự mở rộng một chuỗi dài các định lý nổi tiếng từ định lý Euler đối với đa diện đến định lý Riemann-Roch và định lý Poincaré-Hopf về kì dị của các trường vectơ. Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa định lý này với các vấn đề quan trọng trong lý thuyết trường lượng tử, chẳng hạn vấn đề rối lượng tử trở nên rõ ràng hơn.  Các công trình của Atyiah, Singer, Hirzebruch và nhiều người khác đã làm nên một lĩnh vực toán học mới, trong đó các tư tưởng của tôpô đại số, hình học, giải tích phức tích hợp với nhau, xoá nhoà hoàn toàn sự tách biệt truyền thống của các lĩnh vực đó. Atyiah có lần nói : “Các nhà tôpô thường nghiên cứu các toán tử đơn giản trên những không gian phức tạp, trong khi các nhà giải tích nghiên cứu các toán tử phức tạp trên những không gian đơn giản“. Đã đến lúc cần, và có thể, nghiên cứu các toán tử phức tạp trên những không gian phức tạp.  Các kết quả nêu trên không chỉ đưa toán học lên một mức độ trừu tượng mới, mà còn chứng tỏ tính hiệu quả của những phương pháp trừu tượng đó trong việc giải quyết những bài toán cổ điển nổi tiếng còn tồn đọng.   Toán học và vật lý          Nhiều thành tựu được trao giải thưởng Fields ngày càng gần hơn với các vấn đề của vật lý          Có vẻ như kể từ sau năm 1970, những thành tựu được trao giải thưởng Fields ngày càng gần hơn với các vấn đề của vật lý. Điều đó thể hiện rõ rệt nhất trong những công trình của S. Novikov, S. T. Yau, A. Connes, S. Donaldson,  E. Witten, V. Drinfeld, M. Kontsevich. Đặc biệt Witten là nhà vật lý đầu tiên nhận được giải thưởng Fields. Gần đây nhất, các kết quả của tất cả những người được giải thưởng Fields năm 2006 và 2010  đều liên quan chặt chẽ với vật lý. Mối liên hệ giữa toán học và vật lý không chỉ còn là mối liên hệ truyền thống, ở đó vật lý sử dụng toán học, và toán học xây dựng những công cụ mới, lý thuyết mới để giải thích các hiện tượng vật lý. Ngày nay đã xuất hiện những kết quả toán học sâu sắc dựa trên những tư tưởng vật lý. Ví dụ điển hình cho xu hướng này là các công trình của Donaldson. Sau công trình của Milnor về các cấu trúc vi phân trên mặt cầu 7 chiều, công trình của Donaldson xuất hiện năm 1983 đã có ảnh hưởng đáng kinh ngạc. Donaldson chứng minh sự tồn tại các cấu trúc vi phân khác nhau trên các đa tạp 4 chiều đơn liên. Ngay sau công trình của Donaldson, Gompf và Taubes chỉ ra sự tồn tại một số vô hạn cấu trúc vi phân trên không gian thực 4 chiều. Kết quả này chứng tỏ không gian rất “quen thuộc” này của vật lý (3 chiều không gian và một chiều thời gian) ẩn chứa nhiều điều chưa được biết đến, và có hệ quả rất quan trọng trong lý thuyết hấp dẫn, vì ở đó người ta cần lấy tích phân theo mọi mêtric có thể, và do đó, theo mọi cấu trúc vi phân. Chứng minh của Donaldson và những người khác dựa trên những phát hiện trước đó trong lý thuyết trường, chủ yếu  là trong lý thuyết “gauge” các tương tác mạnh và yếu. Sự tương tác đó trong thế giới các hạt cơ bản được mô tả bởi các phương trình phi tuyến có bản chất tôpô sâu sắc: các phương trình Yang-Mills.  Cùng với những kết quả trên, các công trình của Drinfeld về nhóm lượng tử và lời giải của Kontsevich cho giả thuyết Witten về lực hấp dẫn là những minh chứng cho một thời kì mới trong mối quan hệ giữa toán học và vật lý.   Giải thưởng Fields 2010  Giải thưởng Fields 2010 được trao cho Ngô Bảo Châu, Lindenstrauss, Smirnov và Villani. Ngô Bảo Châu được tặng giải thưởng Fields vì đó chứng minh Bổ đề cơ bản trong lý thuyết các dạng tự đẳng cấu. Trong những năm 1960, 1970 Robert Langlands đã phát biểu những nguyên lý hợp nhất cơ bản và giả thuyết khác nhau liên hệ các dạng tự đẳng cấu trên những nhóm khác nhau, các biểu diễn Galois và L-hàm. Các mệnh đề đó dẫn đến cái mà ngày nay được gọi là chương trình Langlands. Năm 2004 Laumon và Ngô Bảo Châu đã chứng minh được Bổ đề cơ bản cho một lớp nhóm đặc biệt, và gần đây Ngô Bảo Châu đã chứng minh được Bổ đề trong trường hợp tổng quát. Chứng minh tài tình của Ngô Bảo Châu dựa trên việc đưa ra những đối tượng hình học và những kỹ thuật mới. Thành tựu của ông nằm ở giao điểm của hình học đại số, lý thuyết nhóm và các dạng tự đẳng cấu, dẫn đến nhiều tiến bộ kỳ lạ trong chương trình Langlands cũng như những lĩnh vực liên quan đến nó.   Elon Lindenstrauss được trao giải thưởng Fields vì những kết quả về tính cứng độ đo trong lý thuyết ergodic và ứng dụng trong lý thuyết số. Với việc phát triển những tư tưởng mạnh mẽ của lý thuyết ergodic và số học, Lindenstrauss đã giải được giả thuyết về tính ergodic duy nhất lượng tử số học của  Rudnick và Sarnak trong lý thuyết các dạng modular. Ông và các cộng sự đã tìm ra nhiều ứng dụng bất ngờ khác của các kỹ thuật ergodic lý thuyết đó trong những vấn đề số học cổ điển. Công trình của ông đặc biệt sâu sắc và ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài lý thuyết ergodic.  Stanilav Smirnov được trao giải thưởng Fields 2010 nhờ thành tựu trong vật lý thống kê. Từ những năm 1990, người ta đã tiên đoán rằng giới hạn của nhiều mô hình hai chiều khác nhau trong vật lý thống kê có tính đối xứng bất ngờ, cụ thể đó là bất biến bảo giác. Smirnov là người đầu tiên chứng minh một cách chặt chẽ cho những trường hợp hai chiều quan trọng, và mô hình Ising phẳng. Đó là một chứng minh rất đẹp đẽ dựa trên những lập luận tổ hợp cực kỳ tài tình. Công trình của Smirnov là cơ sở vững chắc cho nhiều phương pháp quan trọng trong vật lý thống kê.   Villani được tặng giải thưởng Fieds 2010 nhờ chứng minh sự tắt dần và hội tụ đến cân bằng Landau cho  phương trình Boltzmann. Một trong những lý thuyết cơ bản và thoạt đầu rất mâu thuẫn của vật lý cổ điển là lý thuyết Boltzmann về động lực học chất khí. Thay cho việc theo dõi chuyển động của  hàng tỷ nguyên tử riêng rẽ, ta nghiên cứu biến thiên của xác suất để một hạt cơ bản đạt đến một vị trí nào đó và với một vận tốc nào đó. Những phân phối xác suất cân bằng đó được biết đến từ hơn trăm năm trước, nhưng để hiểu được sự hội tụ đến cân bằng có xuất hiện hay không và nhanh hay chậm thì rất khó khăn. Villani (cùng với Desvilletes) nhận được kết quả đầu tiên về tốc độ hội tụ với điều kiện ban đầu không gần với cân bằng. Về sau, trong một công trình viết chung với học trò của mình, Mohout, Villani đã chứng minh một cách chặt chẽ cái mà ta gọi là sự tắt dần phi tuyến Landau đối với phương trình động lực học của vật lý plasma, chấm dứt một quá trình tranh cãi lâu dài.     Toán học là một thể thống nhất  Qua phân tích trên đây, ta có thể thấy sự thống nhất giữa nhiều ngành toán học tưởng chừng rất xa nhau. Đặc biệt điều đó thể hiện rõ nhất trong những công trình được trao giải thưởng Fields của những Đại hội gần đây. Đó là sự thống nhất của giải tích, hình học và số học trong các công trình của Lafforgue, Voevodsky (Fields 2002), Ngô Bảo Châu (Filds, 2010);  mối liên quan giữa tổ hợp, số học, giải tích, xác suất và vật lý trong công trình của Okounkov, Werner (Fields, 2006), Lindenstrauss, Smirnov (Fiedls 2010),  là việc Perelman sử dụng những công cụ giải tích mạnh mẽ để giải quyết trọn vẹn giả thuyết Poincaré, một trong những bài toán khó nhất của tôpô, đồng thời mở ra nhiều hệ quả trong vật lý.          Cũng như các khoa học khác, toán học phát triển một cách “liên tục, nhưng không khả vi”          Các giải thưởng Fields cũng chứng tỏ rằng, trong quá trình phát triển, toán học đôi khi cũng ngoái đầu nhìn lại quá khứ trong một ánh sáng mới. Đó là trường hợp của những người đoạt giải thưởng Fields nhờ giải quyết những vấn đề thuộc các lĩnh vực cổ điển: Jean Bourgain và Tim Gowers giải quyết nhiều vấn đề cổ điển trong lý thuyết không gian Banach; P. L. Lions trong phương trình đạo hàm riêng; Jean-Cristoph Yoccoz, Curtis McMullen trong hệ động lực; Zelmanov với  bài toán Burnside cổ điển.  Toán học là một thể thống nhất. Tuy nhiên, điều đó thường không thấy rõ qua công việc hằng ngày của chúng ta, mà trở nên rất rõ ràng khi ta tìm hiểu các kết quả của những nhà toán học lớn, chẳng hạn khi phân tích thành tựu của các nhà toán học được giải thưởng Fields.    ————  * Các tựa nhỏ do Tia Sáng đặt    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học hoạt động hiệu quả, vì sao ?      Thiên nhiên luôn được coi là chứa đựng những bí ẩn sâu kín. Nhưng các nhà khoa học có thể&#160; sử dụng toán học để mô tả và giải thích những bí ẩn của vũ trụ. Vì sao? Vì sao các khái niệm toán học vốn được phát triển vì những lý do trừu tượng lại giải thích được các hiện tượng thực tại?    Theo nhà vật lý Eugene Wigner thì tiềm năng công dụng của toán học  là  một món quà kỳ diệu mà chúng ta vừa không thấu hiểu vừa lại xứng đáng  được thừa  hưởng.  Câu hỏi thách đố là: toán học là một sáng tạo (invention-một tạo dựng của trí óc con người) hay đó là một phát hiện (discovery-một điều tồn tại độc lập với chúng ta)?  Tiếp theo bài báo rất lý thú của ba nhà toán học Giáp Văn Dương, Hoàng Hồng Minh và Ngô Bảo Châu: Sự thật toán học đăng trên Tia Sáng ngày 03/10/2011 chúng tôi  xin giới thiệu tiếp cùng bạn đọc bài viết:  Toán học  hoạt động hiệu quả, vì sao? – Why Math Works đăng trên Scientific American số tháng 8/2011 của  Mario Livio, một  nhà vật lý lý thuyết.  Phải chăng toán học được sáng tạo (invented)  hay được phát hiện (discovered)? Nhà vật lý lý thuyết thiên văn Mario Livio gợi ý rằng câu trả lời cho câu hỏi đặt ra từ nghìn năm nay là cả hai.  Đa số chúng ta có niềm tin rằng toán học hoạt động hiệu quả, các nhà khoa học có thể thiết lập những công thức mô tả các hiện tượng của thế giới vi mô hoặc các kỹ sư có thể tính được quỹ đạo các phi thuyền không gian. Chúng ta chấp nhận quan điểm ban đầu đưa ra bởi Galileo rằng toán học là ngôn ngữ của khoa học và hy vọng rằng ngữ pháp của nó giải thích được các kết quả thực nghiệm và thậm chí tiên đoán các hiện tượng mới. Sức mạnh của toán học quả là một điều gây ngạc nhiên. Hãy lấy ví dụ: nhà vật lý Scotland James Clerk Maxwell đã thiết lập những phương trình nổi tiếng không những thâu tóm được mọi hiện tượng điện từ đã được biết đến năm 1860 mà còn tiên đoán được sự tồn tại các sóng radio hai thập kỷ trước cả lúc nhà vật lý người Đức Heinrich Hertz tìm ra. Ít có lý thuyết khúc chiết và chính xác đến như vậy.  Albert Einstein nói: Tại sao toán học, một sản phẩm của tư duy con người vốn độc lập với thực nghiệm lại có thể phù hợp tuyệt vời với các đối tượng của thực tại vật lý?        Mario Livio là nhà vật lý thiên văn lý thuyết tại Viện khoa học viễn vọng vũ trụ , Baltimore. Ông nghiên cứu các hiên tượng  vũ trụ từ năng lượng tối, siêu tân tinh, các hành tinh ngoài thái dương hệ, các sao lùn trắng, sao neutron và lỗ đen.        Tôi vốn là một nhà vật lý thiên văn lý thuyết. Tôi đã đối diện trên từng bước đường nghiên cứu với cái điều rất khó hiểu, đó là  “hiệu quả phi lý (không giải thích được) của toán học “(unreasonable effectiveness of mathematics)” như  nhà vật lý  giải Nobel Eugene Wigner nói đến năm 1960. Tôi nghiên cứu tìm hiểu các hệ sao tiền bối sinh ra các siêu tân tinh loại Ia (supernovae type Ia) và  tính toán số phận Trái đất khi Mặt trời cuối cùng biến thành một sao khổng lồ đỏ, các công cụ  và các mô hình tôi sử dụng đều là toán học. Con đường lạ lùng khó hiểu mà toán học nắm bắt được thế giới khách quan đã làm tôi kinh ngạc suốt cuộc đời nghiên cứu và khoảng 10 năm tôi quyết định đi sâu vào vấn đề này một cách sâu sắc hơn.  Cốt lõi của sự bí ẩn này là vấn đề mà nhiều thế kỷ này các nhà toán học, vật lý, triết học và các nhà khoa học nhận thức luận trăn trở: Phải chăng toán học là một tập các công cụ sáng tạo như Einstein nghĩ? Hay Toán học là một thực tại trừu tượng thật sự tồn tại mà con người chỉ phát hiện ra các chân lý của nó?           Hình tượng chồng chất các hình cầu này mô tả hình học Fractal (hình ảnh 3D tạo nên bởi một phần mềm mô phỏng). Fractal là một trong những cấu trúc toán học sáng tạo ra vì những lý do trừu tượng nhưng lại mô tả được nhiều  thực tại ( tự đồng dạng ở mọi kích thước).         Nhiều nhà toán học lớn như David Hilbert, Georg Cantor và nhóm Nicolas Bourbaki chia sẻ quan điểm Einstein họ gắn liền với trường phái tư duy gọi là trường phái Hình thức (Formalism). Song nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng khác trong đó  Godfrey Harold Hardy, Roger Penrose và Kurt Godel lại theo quan điểm ngược lại là luận điểm Platonism[1].  Cuộc tranh luận về bản chất của toán học đang tiếp diễn sôi nổi hiện nay. Tôi thiết nghĩ rằng khi đặt câu hỏi là toán học được sáng tạo hay phát hiện chúng ta đã quên mất  khả năng của câu trả lời phức tạp và toàn diện hơn: cả sáng tạo lẫn phát hiện đều đóng vai trò cốt yếu. Tôi tích hợp hai mệnh đề đó để tìm hiểu vì sao toán học hoạt động có kết quả. Mặc dầu loại bỏ sự lưỡng phân đó  giữa sáng tạo và phát hiện chúng ta cũng chưa giải thích được “hiệu quả phi lý của toán học”, bài toán này rất sâu sắc và việc giải quyết một phần cũng đã là tiến bộ lớn.  Sáng tạo và Phát hiện   Toán học đã tiến đến một hiệu quả khó lý giải (unreasonable)  theo hai con đường khác nhau: tích cực và thụ động đối với thực tại.   a/ Ví dụ khi Isaac Newton thiết lập các phép tính vi phân với mục đích nắm bắt các chuyển động và các thay đổi của chúng thì đó là những sáng tạo tích cực. Nói cách khác các công cụ được thiết lập theo đơn đặt hàng.   Song điều đáng ngạc nhiên là chúng ta thu được một độ chính xác quá lớn trong một số trường hợp. Lấy ví dụ trong QED (Quantum Electrodynamics- Điện động lực học lượng tử), một lý thuyết toán học được phát triển đề mô tả tương tác giữa ánh sáng và vật chất. Lúc các nhà vật lý sử dụng QED để tính momen từ của electron, trị số lý thuyết phù hợp với dữ liệu thực nghiệm là 1.00115965218073 trong năm 2008, chính xác đến phần tỷ tỷ.   b/ Một điều kỳ diệu khác là các nhà toán học đôi lúc phát triển những lĩnh vực chưa có ứng dụng nào rồi sau đó nhiều thập kỷ thậm chí nhiều thế kỷ các nhà vật lý phát hiện rằng những lĩnh vực đó có ứng dụng trong những quan sát của họ. Những ví dụ về tính hiệu quả thụ động này rất nhiều. Nhà toán học Pháp Evariste Galois đã phát triển lý thuyết nhóm trong những năm 1800 với mục đích xác định tính giải được của các phương trình đa thức. Nhóm là những cấu trúc đại số cấu tạo bởi tập các đối tượng (như số nguyên) với những phép toán (ví dụ phép cộng) tuân theo một số luật đặc biệt (như tồn tại số 0). Trong vật lý  thế kỷ 20 lý thuyết nhóm lại trở thành công cụ hữu hiệu không thiếu được trong việc sắp xếp phân loại các hạt cơ bản – những viên gạch của vật chất. Trong những năm 1960 các nhà vật lý Murray Gell-Mann và Yuval Ne’eman độc lập với nhau đã tìm thấy nhóm SU(3) mô tả được các hạt hadron dẫn đến cơ sở lý thuyết hiện đại về hạt nhân nguyên tử.          Hình ảnh 3 chiều của một nút ba lá (trefoil)        Lý thuyết nút (knot theory)[2] là một thí dụ khác về tính hiệu quả thụ động. Những nút toán học  giống như nhũng nút thông thường, ngoại trừ chúng không có những đầu mút tự do. Năm 1960 Lord Kelvin hy vọng mô tả nguyên tử như những ống nút (knotted tube) ether song mô hình không thành công. Tuy nhiên các nhà toán học vẫn tiếp tục nghiên cứu lý thuyết nút trong nhiều thập kỷ như một ngành hoàn toàn chuyên sâu của toán học trừu tượng.   Điều đáng kinh ngạc là lý thuyết nút hiện tại lại tìm được ứng dụng quan trọng trong LTD (Lý thuyết dây-String theory)[3]& LQG (Hấp dẫn lượng tử vòng- Loop quantum gravity)[4].  Tương tự như vậy nhà toán học người Anh Hardy phát hiện trong lý thuyết số một lĩnh vực quan trọng đó là lý thuyết mật mã mặc dầu trước đây Hardy đã tuyên bố rằng “chưa ai phát hiện được những mục đích chiến tranh tiềm ẩn  trong lý thuyết số”.  Năm 1854 Bernhard Riemann mô tả hình học phi Euclide-một loại hình học kỳ lạ trong đó các đường song song hoặc cắt nhau hoặc không bao giờ gặp nhau. Hơn nửa thế kỷ sau Einstein sử dụng các hình học đó để xây dựng lý thuyết tương đối tổng quát.  Con người sáng tạo ra những khái niệm toán học bằng cách trừu tượng hóa các yếu tố lấy từ thế giới khách quan chung quanh – dạng, đường, tập, nhóm và vv…. vào những mục đích đặc biệt thậm chí để vui đùa toán học. Tiếp theo họ phát hiện ra những mối liên quan giữa những khái niệm đó. Bởi vì quá trình sáng tạo và phát hiện là do con người làm ra (khác với loại phát hiện theo Platonism) – toán học tối hậu dựa trên những nhận thức của chúng ta và các bức tranh trong trí tưởng (mental) mà chúng ta có thể làm nhiều trò ảo thuật với (conjure) chúng.  Chúng ta có một thiên bẩm nhận biết tức khắc các đối tượng, điều này dẫn đến khái niệm về số. Chúng ta cũng có khả năng nhận biết biên giới các đối tượng riêng lẻ và phân biệt được đường thẳng với đường cong, phân biệt được các dạng hình khác nhau như vòng tròn và ellip – những khả năng đó chắc chắn dẫn đến sự phát triển số học và hình học. Như thế các trải nghiệm lặp đi lặp lại của nguyên nhân và hệ quả, sẽ đóng góp vào việc tạo ra logic và tiếp theo là sự hình thành khái niệm về mệnh đề: một số khẳng định này sẽ dẫn đến sự đúng đắn của những khẳng định khác.  Chọn lọc và tiến hóa (các danh từ lấy từ sinh học)  Nhà toán học người Đức Leopold Kronecker đã có một câu tuyên bố nổi tiếng: “Chúa tạo ra các số tự nhiên, phần còn lại là công trình của con người”.  Song hãy tưởng tượng rằng trí tuệ trong vũ trụ của chúng ta không thuộc con người mà thuộc về một loại sứa trôi nổi sâu trong lòng Thái Bình Dương. Mọi trải nghiệm của nó đều liên tục, từ dòng chảy chung quanh cho đến các thăng giáng nhiệt độ và áp suất. Trong một môi trường như thế thiếu vắng những đối tượng riêng biệt hoặc những thay đổi gián đoạn thì liệu lý thuyết số có hình thành được hay chăng? Nếu không có gì để đếm thì những con số dùng để làm gì?          Đối với con sứa thì lý thuyết số không tồn tại        Tương tự như những con sứa chúng ta chọn lọc những công cụ toán học có thể áp dụng vào thế giới chúng ta- đây là điều thật sự  đóng góp vào tính hiệu quả nhận thức được của toán học. Các nhà khoa học không chọn lọc những phương pháp giải tích một cách bất kỳ mà dựa trên cơ sở là những phương pháp này cho phép tiên đoán tốt các thực  nghiệm. Khi sử dụng một máy bắn bóng tennis thì các bạn sử dụng các số tự nhiên 1, 2, 3 ,… để mô tả dòng bóng bắn ra. Khi một ngưởi cứu hỏa dùng vòi phun thì phải sử dụng thể tích và khối lượng để mô tả tia nước. Tương tự như thế khi nghiên cứu sự va chạm của các hạt cơ bản trong một máy gia tốc các nhà vật lý cần đo đạc các đại lượng như năng lượng, xung lượng mà không phải chỉ đo số hạt cuối cùng vì số hạt chỉ cung cấp một phần thông tin về quá trình va chạm, nhớ rằng nhiều hạt mới có thể phát sinh trong quá trình va chạm.  Theo thời gian chỉ có những mô hình tốt mới sống sót. Những mô hình thất bại ví dụ mô hình mà nhà triết học Pháp Rene Descartes sử dụng đề mô tả chuyển động các hành tinh bằng các cuộn xoáy (vortices) của vật chất vũ trụ – đã chết sớm ngay lúc ra đời. Ngược lại những mô hình tốt sẽ tiến hóa vì cung cấp nhiều thông tin mới. Ví dụ những phép đo chính xác sự tiến động (precession) của sao Thủy  đòi hỏi một sự thay đổi toàn bộ  lý thuyết Newton để có sự hình thành lý thuyết tương đối tổng quát Einstein.  Nhiều khái niệm toán học sống rất lâu, công thức diện tích của mặt cầu vẫn luôn đúng từ khi Archimedes tìm ra  khoảng năm 250 trước Công nguyên. Như vậy các nhà khoa học có thể lùng sục trong kho tàng rộng lớn các hình thức đã ổn định để tìm ra các phương pháp thích hợp mới.  Các nhà khoa học không chỉ chọn những giải pháp mà họ còn chọn lọc những bài toán có thể sử dụng toán học. Tồn tại nhiều hiện tượng không thể sử dụng toán học để tiên đoán được, nhiều lúc là về mặt nguyên tắc. Ví dụ trong kinh tế học nhiều biến số chi tiết như tâm lý số đông khó lòng có được một cách lượng hóa. Khả năng tiên đoán nằm ở tính ổn định các hệ thức giữa các đại lượng. Những phân tích toán học thường thất bại trước những hệ  hỗn độn, trong đó những thay đổi rất nhỏ các điều kiện ban đầu dẫn đến những hệ quả hoàn toàn trái ngược điều này ngăn cấm mọi tiên đoán dài hạn. Các nhà toán học đã phát triển những phương pháp thống kê và xác suất để giải quyết những trường hợp như thế song nói chung toán học là hạn chế như nhà logic học Úc Godel đã chứng minh một cách nổi tiếng.  Đối xứng của thiên nhiên   Sự chọn lọc cẩn thận các bài toán và các giải pháp đã một phần đóng góp vào hiệu quả khó lý giải của toán học trong việc mô tả các định luật của thiên nhiên.  May mắn thay cho những nhà toán học và vật lý là tồn tại những định luật phổ quát điều khiển vũ trụ của chúng ta: nguyên tử 12 tỷ năm về trước cũng hành xử giống như bây giờ; ánh sáng cũng chuyển động trong hiện tại giống y như trong quá khứ; hấp dẫn đã nặn ra hình hài của vũ trụ trong quá khứ và hiện tại, nhiều điều đã không thay đổi từ nguyên thủy. Các nhà toán học và vật lý đã sáng tạo khái niệm đối xứng  để mô tả sự bất biến đó.          Thế giới có những  đối xứng điều này cho phép các nhà vật lý mô tả nó một cách toán học . Song nếu hỏi vì đâu có đối xứng thì không ai trả lời được.        Các định luật vật lý biểu hiện đối xứng đối với không gian và thời gian: các định luật đó không phụ thuộc vào nơi nào, góc độ nào và khi nào ta quan sát. Các định luật đó cũng bất biến đối với mọi quan sát viên không phụ thuộc vào việc quan sát viên đứng yên, chuyển động đều hay với gia tốc. Do đó các định luật như nhau sẽ giải thích các kết quả không phụ thuộc là hiện tượng được  quan sát  ở Việt Nam, Alabama hay trên thiên hà Andromeda, không phụ thuộc ta tiến hành thí nghiệm hôm nay hay nhiều tỷ năm về trước. Nếu vũ trụ không có những đối xứng đó thì mọi cố gắng giải mã cuộc đại thiết kế vũ trụ – mọi mô hình toán học sẽ thất bại vì chúng ta phải luôn thay đổi thí nghiệm từng nơi một và từng thời điểm một.  Một đối xứng tinh tế sâu sắc là đối xứng chuẩn (gauge symmetries) ngự trị trong thế giới vi mô. Yếu tố quan trọng  của lý thuyết chuẩn là tính định xứ (locality). Điều này có nghĩa là nhóm cấu trúc của không gian phân thớ [5] tương ứng phụ thuộc vào từng điểm. Nhờ định xứ chúng ta có thể tạo nên một mô hình toán học của vũ trụ thống nhất các tương tác. Các trường đóng vai trò liên thông của không gian phân thớ.  Một đối xứng khác cần thiết cho thống nhất là siêu đối xứng. Nếu một hạt siêu đối xứng được tìm thấy ở LHC (Large Hadron Collider) thì đây là một thắng lợi lớn của toán học.  Kết luận  Tôi đã xuất phát từ hai câu hỏi cơ bản gắn liền với nhau:   1/ Toán học được sáng tạo hay phát hiện?   2/ Và điều gì đã làm cho toán học có quyền năng giải thích và tiên đoán.  Tôi tin rằng hiện nay chúng ta đã biết câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất: Toán học là sự tích hợp phức tạp giữa sáng tạo và phát hiện. Các khái niệm đã được sáng tạo và thậm chí mặc dầu những hệ thức đúng đắn giữa chúng đã tồn tại trước khi chúng được phát hiện, con người vẫn phải chọn lọc khái niệm nào để nghiên cứu.   Câu hỏi thứ hai lại là câu hỏi phức tạp hơn. Không còn nghi ngờ gì rằng sự chọn lọc các lĩnh vực (topics) mà chúng ta nghiên cứu bằng toán học đóng một vai trò quan trọng trong việc nhận thức được tính hiệu quả của toán học. Song toán học sẽ không có hiệu quả nếu không có những định luật phổ quát cần phát hiện. Các bạn có thể hỏi: Tại sao tồn tại những định luật phổ quát của vũ trụ? Hay tương đương như thế: Vì sao vũ trụ bị điều khiển bởi một số đối xứng và bởi tính định xứ? Tôi thật tình không biết câu trả lời mà chỉ có thể đưa ra một nhận xét rằng nếu vũ trụ không có những tính chất ấy thì các phức hợp (complexity) và sự sống không đột sinh được và chúng ta không tồn tại ở đấy để đặt ra câu hỏi này.         CC.  biên dịch và chú thích   Tài liệu tham khảo và chú thích  [1] Platonism= lý thuyết hiện thực khẳng định rằng các thực thể toán học tồn tại trong thực tế và sự thật toán học độc lập với con người.  [2] Lý thuyết nút là một lĩnh vực tô pô nghiên cứu các nút toán học. Hai nút toán học là tương đương nếu từ một nút này có thể biến thành nút kia bằng những động tác không chứa phép cắt (cutting) và phép luồn  qua nút (passing).  [3] LTD = lý thuyết xem thực thể cơ bản nhất là sợi dây vi mô đóng hoặc hở.  [4] LQG= lý thuyết xem không thời gian là gián đoạn và được cấu tạo bởi những “nguyên tử” không thời gian.  [5]  Không gian phân thớ (fibre bundle) trong toán học là những không gian, trong đó mỗi điểm có một cấu trúc nội tại. Tại mỗi điểm của một không gian, gọi là không gian cơ sở, người ta xét một biến đổi định xứ (nghĩa là phụ thuộc vào toạ độ của điểm đang xét), nhóm biến đổi này có tên là nhóm cấu trúc G.  Các nhà vật lý phát hiện ra rằng, tùy theo nhóm cấu trúc mà ta có thể thu được được nhiều liên thông khác nhau mô tả những trường ứng với các lượng tử mang tương tác khác nhau (như photon, gluon, graviton ,…).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học là gì?      Một cách nôm na, khi nói về các ngành khoa học, người ta thường tóm gọn như sau: Luật sư làm việc với các điều luật, nhà phê bình văn học thảo luận về các quyển sách, bác sỹ nghiên cứu các loại bệnh tật. Với nhà toán học, người ta nói đơn giản: Ông ta tính toán. Nhưng thực sự việc “tính toán” đó diễn ra như thế nào. Chúng tôi hỏi GS Nagel:    Hỏi: Thưa Ông Nagel, ông có thể làm ơn, một cách hình thức và trong khoảng năm câu, giải thích cho chúng tôi, một cách cốt lõi, toán học là gì?  GS. Nagel: Không thể! Với toán học, không thể có cái gọi là cốt lõi. Bên trong toán học và giữa các nhà toán học có một sự khác biệt lớn. Một mặt, người ta có thể sử dụng toán học để giải quyết những vấn đề thực sự mang tính ứng dụng, và mặt khác, có những nhà toán học quan tâm đến những vấn đề nền tảng mang tính tự thân của toán học và do đó (nhiều lúc là cần phải) không để ý gì đến các vấn đề ứng dụng. Vì thế, về mặt này, người ta có thể xem toán học như là một “hoạt động thuần túy tinh thần của con người” (pour l’hounneur de l’esprit humain) và có một thực tế rằng, những bài toán khó khăn đối với tư duy con người có thể được giải quyết trong những giây phút thăng hoa của tinh thần. Việc đó đã diễn ra 2500 năm rồi, từ xa xưa, những người Hy lạp cổ đại đã đặt ra và giải quyết những vấn đề trừu tượng của toán học.    Làm sao người ta có thể tìm được những lời giải như vậy? Ông có thể giải thích cho chúng tôi thông qua quá trình làm việc của chính ông được không?  Tôi đã giải quyết nhiều vấn đề mà thậm chí không dùng đến giấy bút hay máy tính, đơn giản là chỉ dùng đầu óc của mình. Đôi khi, khi tôi nằm trên giường và không ngủ được, thì tôi nghĩ về một bài toán khó. Do đó, tôi cho rằng, nhà toán học có thể làm việc ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào – nhưng mà không bắt buộc! Tôi không cần đến phòng thí nghiệm hay là phương tiện hiện đại nào, mà trái lại tôi thường nẩy sinh ra ý tưởng khi đang đạp xe hay đang chạy thể dục. Tất nhiên, sau đó, thỉng thoảng người ta phải kiểm tra lại các ý tưởng bằng các tính toán cụ thể bằng giấy và bút chì. Để tôi kể cho các bạn nghe câu chuyện hài hước: Felix Klein, nhà toán học có tiếng của thể kỷ 19, một lần bị hỏi xoáy bởi một nhà hóa học rằng: “Tôi thấy ngài suốt ngày ngồi ở quán cà phê, thế khi nào thì ngài làm việc?” Klein trả lời: “Ngài biết không, toán học khó đến nỗi người ta chỉ có thể làm việc với nó nửa giờ trong một ngày”. Tất nhiên, đó là câu chuyện tếu, nhưng nó cho thấy rằng, so với một nhà hóa học, người luôn phải gắn với phòng thí nghiệm, thì nhà toán học tự do hơn và không phục thuộc nhiều vào thiết bị xung quanh khi tiến hành công việc của mình.  Ngày nay, những vấn đề mới của Toán học nảy sinh từ đâu?  Một mặt, những vấn đề mới nảy sinh ngay trong bản thân Toán học. Khi mà phạm vi toán học được mở rộng thì càng nhiều vấn đề mới nẩy sinh. Mặt khác, các vấn đề mới của Toán nảy sinh ngay trong xã hội của chúng ta: có những ví dụ quan trọng về mô hình toán học của sự khủng hoảng tài chính. Một số nhà toán học đã đoạt giải Nobel về kinh tế. Những lĩnh vực khác có sự tham gia của Toán học là: Nén dữ liệu, bảo mật dữ liệu, thiết kế mạng tối ưu, và nhiều thứ khác nữa.  Câu hỏi sau đây có thể làm ông bực mình hoặc cảm thấy buồn tẻ: Có những bài toán lớn trải qua hàng trăm năm không có lời giải. Làm sao mà người ta lại có cảm hứng để theo đuổi những bài toán như vậy năm này qua năm khác?  Bản thân tôi không làm việc với những bài toán thế kỷ như vậy. Chúng nằm trong một giải đấu (Liga) khác. Tôi nghiên cứu những bài toán khó đối với tôi. Nó giống như là tập thể thao, tôi phải luyện tập rất nhiều, và khi đạt đến mục tiêu thì tôi có thể thở phào nhẹ nhõm. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Trên tất cả, việc tìm thấy một lời giải luôn là nguồn cảm hứng cho sự cố gắng không ngừng. Đến lúc đó, tôi có thể viết ra trên bảng: phép chứng minh, sự chính xác, và thế là xong. Đối với toán học, không có cái gọi là “định đề” hay “phản đề” như trong môn thần học. Trái lại, luôn có một sự tách bạch rõ ràng giữa đúng và sai. Một định lý, một khi đã được chứng minh là đúng đắn, thì cho dù hàng trăm năm trôi qua, có thể nó không còn thích hợp với thời cuộc nữa, nhưng nó vẫn luôn đúng đắn.  Điều đó nghe có vẻ rất hài hòa. Chẳng lẽ không có sự cãi cọ hay xung đột hàn lâm giữa các công trình toán học? Phải chăng tất cả các nhà toán học là bạn tốt của nhau?  Về chuyên môn thì đúng là như vậy! Những kết quả của Euclid, Pascal hay Newton bây giờ vẫn còn đúng giống như nó đã từng đúng trước đây. Chúng tôi không để ý đến những sự nhập nhằng giữa đúng và sai, giữa sự quan trọng hay không quan trọng, giữa đẹp và xấu. Có lẽ đó là sự thiếu hụt của toán học và của các nhà toán học, chúng tôi thiếu đi một văn hóa tranh luận mang tính triết học. Tuy nhiên, chúng tôi hiển nhiên cũng có những thảo luận mang hơi hướng triết học chẳng hạn: thế nào là một phép chứng minh, thế nào là tiên đề, thế nào là “đúng”.  Đại học Tuebingen đã quyết định tích hợp toán và các khoa học tự nhiên để lập nên một khoa rất tổng quát gọi là Khoa “Toán và Khoa học Tự nhiên”. Về mặt nguyên lý, Toán học đóng vai trò như thế nào đối với các khoa học tự nhiên khác?  Trong các khoa học tự nhiên, người ta nghiên cứu “Cuốn sách của tự nhiên” . Và cuốn sách này, theo Galileo, được viết dưới ngôn ngữ toán học. Đó là một triết lý đẹp đẽ về quan hệ giữa toán và các khoa học tự nhiên. Việc thành lập Khoa “Toán và Khoa học Tự nhiên” này cũng chẳng phải là quyết định đặc biệt gì của Trường Tuebingen, chẳng qua Trường đã tuân theo một truyền thống lâu đời. Mặt khác, toán học có những khía cạnh chẳng liên quan gì đến khoa học tự nhiên cả, ví dụ như những ứng dụng của nó trong khoa học xã hội, kinh tế hay là trong tin học. Tất nhiên, trong sâu thẳm lý thuyết của nó (cái làm nền tảng cho tất cả ứng dụng khác), toán học đóng một vai trò là một cấu trúc của tinh thần không cần tham chiếu đến tự nhiên hay các định chế khác.  Người ngoại đạo luôn nhìn thấy ở Toán học những cấu trúc có quá ít ứng dụng và xem đó đơn thuần chỉ là “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Vì thế, nảy sinh câu hỏi: Phải chăng toán học chỉ có thể thỏa mãn đòi hỏi về mặt bản ngã của một số ít trí thức chứ nó không thể sáng tạo ra những giá trị đa dạng thích hợp đối với xã hội?  Sự sáng tạo ra những “giá trị đa dạng thích hợp đối với xã hội” không nên và không thể là mục đích duy nhất của những hoạt động của con người. Xã hội chúng ta cần phải bổ sung thêm những sáng tạo không bị những ép buộc và kích thích mang tính vật chất. Người ta không nên cứ luôn hỏi: “Ứng dụng cuối cùng của mớ lý thuyết đó là gì?”. Trên cương vị của một giảng viên đại học, nguyên tắc của tôi là luôn để cho các sinh viên của tôi có tinh thần tự do trong suy nghĩ và trong công việc. Những bài toán khó sẽ được giải quyết tùy theo thời gian và sự cố gắng. Đó là một trong những triết lý giáo dục của tôi. Cái thực tế rằng sau khi có được những suy nghĩ trừu tượng người ta có thể quay trở lại với những giá trị đa dạng thích hợp với xã hội, chính là một khía cạnh quyến rũ rất đặc biệt của Toán học.   Có thể xem các nhà toán học như là các nhà khám phá được không? Phải chăng bản thân tự nhiên tự nó đã tạo sẵn những lý thuyết rồi và các nhà toán học chỉ việc chuyển nó sang những khuôn dạng hữu hình và chính xác?  Đó là một câu hỏi cổ điển, từ thời Platon xa xưa, các đối tượng của toán học đã có sẵn trong “thế giới lý tưởng” của ông ta. Phần lớn các nhà toán học thuần túy lý thuyết đều “vô tình” thuộc vào trường phái Platon, với họ thì những đối tượng trừu tượng của toán học đã tồn tại từ trước, và họ chỉ phải khám phá chúng ra mà thôi. Tuy nhiên, đây là vấn đề luôn gây tranh cãi. Người ta cũng cho rằng những đối tượng đó chỉ có thể tồn tại thông qua những cách xây dựng cụ thể và quá trình tính toán cụ thể.  Về mặt cá nhân, tại sao ông lại luôn có hứng thú với toán học?  Nguồn gây cảm hứng cho tôi chính là sự đẹp đẽ và sự rõ ràng của lý thuyết thuần túy. Thật là kỳ diệu khi chứng kiến những mục đích mà tinh thần con người có thể dẫn chúng ta đến. Mặt khác, toán học là sự trừu tượng hóa chung cho các ngành khoa học đang diễn tiến riêng rẽ trong thế giới xung quanh ta. Do vậy, những nhà toán học luôn dễ dàng trong việc tiếp cận văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo khác nhau trên toàn cầu. Đó chính là một trải nghiệm đẹp đẽ trong một thế giới toàn cầu hóa vẫn còn nhiều xung đột và hiểu nhầm như hiện nay.  Xin cảm ơn ông Nagel về cuộc nói chuyện này!        GS Rainer Nagel là giáo sư phụ trách môn Giải tích hàm ở trường Đại học Tuebingen, CHLB Đức.              Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ sinh viên và các nhà toán học của Việt Nam cũng như đã gửi rất nhiều tài liệu quý giá cho các học giả ở Việt Nam.          Nguyễn Thiệu Huy dịch  Nguồn: http://www.fa.uni-tuebingen.de/members/rana/RN_interview.pdf       Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học là một phần của văn hóa      Trong chuyến sang Việt Nam dự Hội nghị Toán học phối hợp Việt Pháp mới đây, Giáo sư Benedict Gross (ĐH Harvard), người ít nhiều có kinh nghiệm tiếp xúc với nền toán học Việt Nam, qua những chuyến công tác làm nhiệm vụ thẩm vấn các sinh viên Việt Nam sang làm nghiên cứu sinh ngành toán tại Mỹ theo chương trình học bổng VEF, đã chia sẻ với Tia Sáng những suy nghĩ về tình hình phát triển toán học Việt Nam hiện nay.     PV: Qua những chuyến đi tới Việt Nam trong quá khứ và gần đây, ông đánh giá ra sao về triển vọng phát triển toán học Việt Nam?  Gross: Toán học Việt Nam đã có nhiều tiến triển trong vòng 10 năm qua, đặc biệt là trong vòng 5 năm gần đây khi toán học giành được nhiều sự quan tâm đầu tư hơn từ Chính phủ Việt Nam. Trước đây, Việt Nam từ lâu đã đạt được nhiều thành công tại các kỳ thi toán Olympic quốc tế, gây dựng được những “ngôi sao” toán học trẻ tuổi tài năng. Đến nay, Việt Nam không chỉ dừng lại ở đó mà đã có được một số những nhà toán học có tên tuổi hàng đầu trên thế giới hiện nay.   Bên cạnh đó, đội ngũ các nhà toán học tại Việt Nam ngày nay cũng đủ sức đào tạo ra một thế hệ mới các nhà toán học đầy tiềm năng trong tương lai, với sức phát triển thực sự mạnh mẽ. 20 năm trước sinh viên toán Việt Nam thường phải đi ra nước ngoài, đến châu Âu hoặc Mỹ để được đào tạo làm nghiên cứu sinh một cách nghiêm túc. Nhưng nay ở Việt Nam đã có nhiều người có trình độ đủ khả năng làm công việc đào tạo này trong nước. Tuy nhiên, tôi cho rằng vẫn là điều hữu ích cho các tiến sĩ của Việt Nam nếu họ có cơ hội ra nước ngoài làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc), qua đó được tiếp xúc với môi trường toán học thế giới.   Các nhà toán học Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu xuất sắc, vươn tới biên giới hiện thời của toán học. Chẳng nói đâu xa, ngay như một tiến sĩ toán học Việt Nam đang chuẩn bị sang làm hậu tiến sĩ ở Đại học Harvard năm tới, hiểu biết của anh này về vấn đề mà anh ta nghiên cứu là hoàn toàn cao hơn tôi. Vì vậy, có thể thấy rằng một số nhà toán học đã được đào tạo ở Việt Nam một cách bài bản với trình độ đáng kinh ngạc. Tôi cho rằng Việt Nam sẽ là một nền toán học mới hàng đầu ở châu Á, trở thành một trung tâm toán học mạnh với cách phát triển như hiện nay.  Theo ông thì Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ toán học khu vực?          Nhà toán học Eisenstein là một môn đệ nổi  tiếng của nhà toán học Gauss. Một hôm có người hỏi Eisenstein: “Toán học  vừa là một môn nghệ thuật, vừa là một môn khoa học phải không?” “Không!  Toán học thuần túy chỉ là một môn nghệ thuật”.        Trong vài chục năm giảng dạy và nghiên cứu ở Đại học Harvard, tôi đã được tiếp xúc với sinh viên toán đến từ khắp nơi trên thế giới, như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Rumani, v.v. Thông qua những sinh viên này mà tôi phần nào hình dung được mức độ phát triển của toán học ở nhiều quốc gia khác nhau. Tôi đã có dịp đi một số nơi, Singapore 4 lần, Ấn Độ 2 lần, Trung Quốc 7 lần. Đây là những quốc gia khá mạnh về toán, và tôi tin là toán học Việt Nam đang trên đường phát triển để trở nên ngang tầm với những nền toán học này.  Mỗi quốc gia có một khó khăn riêng. Ví dụ, Singapore là một nước rất nhỏ, dân số cả nước chỉ có 4 triệu người. Trung Quốc thì bị mất đi rất nhiều nhà khoa học ở cùng thế hệ với tôi, trong đó có các nhà toán học, do tác động của cách mạng văn hóa, gần như bị mất đi cả một thế hệ. Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc đấu tranh giành độc lập gắn liền với những cuộc chiến tranh, tuy nhiên các bạn vẫn duy trì và phát triển được một cộng đồng các nhà toán học.   Dù mỗi nước có một khó khăn riêng nhưng châu Á trong 40 năm qua là một nền văn hóa toán học khá mạnh, với những tên tuổi như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam, và Đài Loan.  Để có thể tiếp tục phát triển và vươn lên, Việt Nam sẽ cần khắc phục điểm yếu gì?  Các bạn cần phải đẩy mạnh văn hóa giao lưu trong toán học, và tôi nghĩ văn hóa ấy đang được tích tụ dần ở Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã rất hào phóng trong việc đầu tư phát triển Viện Toán Cao cấp. Nhưng để đạt được thành công, một mặt họ cần sẵn sàng cấp nguồn kinh phí mời những nhà toán học hàng đầu từ nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam, mặt khác cấp tài trợ cho những người đi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ và làm hậu tiến sĩ ở châu Âu, Mỹ, và cả Ấn Độ, Trung Quốc.   Phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao cho toán học là một quá trình liên tục và lâu dài. Khi các bạn đã có một số nhân lực trong nước đủ mạnh đóng vai trò làm hạt nhân, sẽ có nguy cơ là các bạn dừng lại, thỏa mãn với những gương mặt này mà không chịu tích cực phát triển thêm.   Để luôn cập nhật tại ranh giới toán học, cần luôn phải có sự tích cực tiếp xúc, trao đổi với cộng đồng toán học thế giới. Đây là điều mà toán học Việt Nam cần phải làm được trong những năm tới. Đây là thách thức không chỉ riêng cho Việt Nam mà chung cho tất cả các nền toán học khắp nơi trên thế giới. Ngay cả ở Mỹ, chúng tôi cũng không dễ thu nhận sinh viên quốc tế đến nghiên cứu vì Chính phủ Mỹ thường chỉ muốn dành tiền tài trợ cho đào tạo công dân Mỹ.   Để phát triển một nền toán học cho tương lai, chúng ta cần phải vượt qua tầm nhìn và mô hình hạn hẹp trong khuôn khổ mỗi đất nước, vì trong thế giới toán học, chẳng hề quan trọng việc bạn đến từ đâu. Toán học là một ngôn ngữ chung của nhân loại, và chúng ta cần thường xuyên phá vỡ đi rào cản biên giới giữa các quốc gia. Nền toán học Việt Nam đã có bước tiến triển đáng kể, nhưng điều chúng ta quan tâm nhất là tương lai của toán học. Trong tương lai ấy, không quan trọng bạn là người Việt hay người Mỹ.  Việt Nam có xu hướng gây dựng được những học sinh giỏi toán đầy tiềm năng, nhưng không có nhiều người sau này thành công trong sự nghiệp toán học.  Điều đó sẽ thay đổi. Tôi cho rằng trước đây hệ thống của các bạn chưa có sự khuyến khích đầy đủ để các nhà toán học trẻ tài năng tiếp tục sự nghiệp toán học và phát huy hết tiềm năng sáng tạo trong toán học của họ. Nhưng đó là câu chuyện 20 năm về trước. Ngày nay Việt Nam đã có những nhà toán học trưởng thành với tên tuổi được khắp thế giới biết đến, các quốc gia thậm chí còn phải cạnh tranh nhau để mời được họ đến diễn giảng. Tôi được biết rất nhiều nhà toán học trẻ Việt Nam trong lứa tuổi 25 – 28 tràn đầy năng lực đang muốn trở về làm việc ở trong nước và tham gia xây dựng một nền văn hóa toán học cho nước nhà. Đây là điều khiến tôi khá lạc quan về tương lai của các nhà toán học Việt Nam.   Một số nước, như Trung Quốc chẳng hạn, thường quá chú trọng vào kết quả thi cử, và đây là một truyền thống đã kéo dài từ suốt hàng nghìn năm qua. Muốn vào đại học các bạn trẻ phải thi, và chất lượng trường họ được nhận vào tùy thuộc vào điểm số bài thi cao thấp ra sao. Truyền thống ấy không tốt cho toán học. Nó buộc người ta phải tập trung hết năng lượng cho việc học, cày ngày cày đêm.   Nhưng những nỗ lực đó không phải thước đo áp dụng cho một nhà toán học lớn. Một nhà toán học cần kỹ năng, nhưng cũng cần cả sự sáng tạo. Các bạn nên phát triển một hệ thống xã hội không chỉ biết trân trọng những người trẻ tuổi đạt thành tích cao tại các kỳ thi toán Olympic quốc tế, mà nên trân trọng cả những người có khả năng tưởng tượng ra những ý tưởng mới.  Chúng ta cần loại trừ chế độ thi cử này bắt đầu từ một lứa tuổi nhất định, có thể là 16, 17, hoặc 18, và kể từ lứa tuổi đó, chúng ta phải để con người được tự do sáng tạo trong toán học. Tôi nghĩ Việt Nam đã nhận ra điều này và đang tìm cách thay đổi.     Các Chính phủ thường đắn đo khi đầu tư cho toán học, họ có thiên hướng muốn thấy các ứng dụng và đạt được những thành tựu cụ thể…   Tôi biết, và đây là việc khó khăn. Khi tôi thuyết trình trước các hiệu trưởng trường đại học và các nhà tài trợ cho khoa học, câu hỏi họ thường được đặt ra là vì sao chúng ta phải tài trợ cho toán học lý thuyết? Nếu tài trợ cho toán ứng dụng chúng ta có thể chế tạo được nhiều thứ, hoặc chúng ta có thể tài trợ cho nghiên cứu trong ngành cơ khí, hay ngành nông nghiệp. Đất nước Việt Nam đang có biết bao nhiêu nhu cầu thiết thực đòi hỏi sự đầu tư cho nghiên cứu, như nhu cầu làm sạch hệ thống nước thải, nhu cầu tăng cao mùa vụ, hay nhu cầu nghiên cứu trong giao thông (tôi mong là ai đó sẽ sớm xây dựng hệ thống tàu điện ngầm cho Hà Nội). Đứng trước tất cả những nhu cầu cấp bách này, các nhà toán học lý thuyết thường chỉ có thể khoanh tay đứng nhìn. Vậy thì vì sao chúng ta lại tài trợ cho toán lý thuyết?  Có 2 lý do để đáp lại câu hỏi này. Một là, toán học là một phần của văn hóa. Chúng ta tài trợ cho toán học cũng giống như việc tài trợ cho nghệ thuật tạo hình, kịch, âm nhạc. Mục đích chung là để đạt được những thành tựu văn hóa cho đất nước.   Hai là ta không thể dự đoán được khi nào thì những kết quả nghiên cứu trong toán học lý thuyết sẽ đem lại ứng dụng hữu ích. Trong bài thuyết trình trước các hiệu trưởng đại học ở Mỹ, tôi đã lấy ví dụ minh họa về một lý thuyết toán vô cùng trừu tượng liên quan tới các ma trận, có tên gọi là định lý Perron–Frobenius. Khi mới được chứng minh, định lý này thuần túy chỉ là một kết quả toán học lý thuyết. Thế nhưng ngày nay nó trở thành nền tảng của phương pháp Input – Output Leontief trong kinh tế học, cũng đồng thời là nền tảng cho kỹ thuật xếp hạng các trang web của google. Không ai có thể tiên đoán trước được những thành tựu này. Vì vậy khi ta quyết định tài trợ cho toán học lý thuyết, thì cũng giống như ta đầu tư xây dựng những tuyến đường sắt từ trước khi có những con tàu chạy trên những tuyến đường sắt này.   Kinh phí đầu tư cho toán học không cần phải nhiều. Nó thường rất rẻ, và là một sự đầu tư hiệu quả. Tôi nghĩ rằng các nhà quản lý ở Việt Nam cũng đã nhìn thấy được như vậy. 1          Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học: Một cách tiếp cận thực tế      Những người trẻ ở Việt Nam vẫn thường coi Toán chỉ như một chướng ngại vật mà họ phải vượt qua trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học. Do vậy, chúng ta cần làm cho học sinh của mình hiểu rằng Toán học là một công cụ cơ bản không chỉ của nhà khoa học, của các kĩ sư mà còn của bất kì một công dân có giáo dục nào.      Ngày hội Toán học mở của Viện Toán cao cấp VIASM tổ chức hằng năm với mục tiêu để các em học sinh hứng thú hơn với toán học thông qua những bài toán và trò chơi thực tế. Ảnh: Pomath.  Hai gợi ý nhỏ  Trong một bài nói chuyện ở Hà Nội vào năm 2012, tôi đã đưa ra hai gợi ý về cách tiếp cận mới trong giáo dục Toán học ở Việt Nam. Gợi ý thứ nhất của tôi là: Đưa nhiều hơn những vấn đề thực tế không chỉ vào giảng dạy Toán học ở trường mà trong cả các bài kiểm tra Toán ở mọi cấp học, từ Tiểu học đến Đại học. Vào những năm 1990, vợ tôi Ann Koblitz và tôi đến thăm một số trường phổ thông ở Hà Nội để giới thiệu những chủ đề truyền cảm hứng toán học tới các học sinh. Dưới đây là một bài tập chúng tôi đưa ra cho các em: “Làm tròn số lít nước trong biển Thái Bình Dương thành lũy thừa của 10”.  Điều này hẳn rất mới lạ với những bài tập các em quen thuộc vì: Không hề có con số dữ kiện nào được đưa cho các em; Các em phải sử dụng cả những kiến thức ngoài toán học (về địa lý, độ sâu của đại dương); Các em không cần phải đưa ra một con số tuyệt đối mà chỉ là con số ước lượng; Bài toán liên quan đến những con số cực kì lớn, chẳng hạn như số lít nước trong một kilomet khối nước. Những học sinh Việt Nam thể hiện khả năng của mình trong bài toán này tốt hơn bất kì quốc gia nào mà chúng tôi từng đến thăm các trường học.  Và khi tôi bắt đầu dạy các sinh viên năm nhất, tôi cũng thích đưa ra những ví dụ thực tế cuộc sống để thách thức hiểu biết của họ về những khái niệm Toán học, như đạo hàm chẳng hạn. Ví dụ:  1. Một chiếc máy bay đang bay trên đầu bạn theo đường thẳng và với tốc độ không đổi là v và độ cao so với mặt nước biển là không đổi. Gọi v’ là tốc độ tăng khoảng cách giữa bạn và chiếc máy bay. Vậy v’>v hay v’  2. Giả sử một chiếc xe đạp có bán kính của bánh xe là r và có một viên sỏi bị kẹt trong nan hoa, cách tâm bánh xe một khoảng là a. Sườn dốc nhất của quỹ đạo cycloid của viên sỏi là bao nhiêu?  Cả hai ví dụ trên đều được sinh viên của tôi đánh giá là cực khó (chính vì thế tôi không được họ yêu thích cho lắm).  Gợi ý thứ hai của tôi là: Nên có các đội Việt Nam tham gia vào Cuộc thi Toán Mô hình (MCM – Mathematical Contest in Modeling). Cuộc thi này khác với cuộc thi Olympic Toán học quốc tế ở rất nhiều điểm: (a) Bởi vì cuộc thi hoàn toàn diễn ra online nên đỡ tốn kém hơn rất nhiều (chỉ cần trả phí dự thi mà không cần phải lo phí đi nước ngoài) (b) Một trường hoặc một quốc gia có thể có nhiều đội tham gia (c) Đội thi thay vì phải giải sáu vấn đề thuần túy toán học, chỉ cần giải quyết một vấn đề thực tế (d) Học sinh phải làm việc theo nhóm, chứ không phải làm việc cá nhân – vì lí do này mà MCM là một sự chuẩn bị tốt cho nghiên cứu hiện đại, đặc biệt trong những lĩnh vực khoa học ứng dụng, nơi sự hợp tác và tinh thần làm việc nhóm trở nên phổ biến hơn rất nhiều so với thế kỉ trước (e) Những câu hỏi trong cuộc thi này đều mang tính liên ngành chứ không dựa trên một kĩ năng chuyên biệt về suy luận logic và thực hiện các phép toán số học (f) Đội thi phải chuẩn bị một báo cáo tự viết với một trang tóm tắt lời giải của họ, khá giống với một công bố nghiên cứu với một đoạn tổng quan/mở đầu (g) Cuộc thi này tập trung vào kết quả – làm tốt nhất có thể – chứ không phải “hơn thua” với những quốc gia khác, trường khác.  Giáo dục Toán học không thể tách rời KHXH&NV  Tôi từng có một bài viết trên Tia Sáng (20/3/2018) chỉ ra rằng giáo dục khai phóng – bao gồm văn học, lịch sử và ngoại ngữ là không thể thiếu trong thế kỉ 21. Ở đây, tôi xin đưa ra những lí do tại sao sinh viên toán lại cần được hưởng một sự giáo dục phổ quát như thế.  Thứ nhất, một công trình toán học tốt phải “kể được một câu chuyện” với phần giới thiệu mà những người ngoài ngành cũng có thể hiểu được. Một công bố không nên chỉ là một loạt những chi tiết kĩ thuật vô cảm. Đọc những tác phẩm văn học kinh điển và phân tích nó, học ngoại ngữ và văn hóa, học lịch sử đều là những cách hiệu quả để học “cách kể chuyện”. Những nhà nghiên cứu muốn tạo ra ảnh hưởng và muốn công trình của họ được nhiều người đọc cần phải nắm được nghệ thuật kể chuyện.      Việc đào tạo những nhà toán học trong tương lai nên nhằm mục đích chuẩn bị cho họ sử dụng tri thức của mình vào nhiều mục đích đa dạng. Nền giáo dục sẽ là thiếu sót nếu nó (a) chỉ tập trung vào toán học thuần túy hay (b) chỉ hạn hẹp trong việc dạy nghề hoặc (c) thiếu việc giáo dục nhân văn. Những nhà toán học luôn có thể thúc đẩy tiến bộ xã hội và đưa ra những lời khuyên về cách tốt nhất để chuẩn bị cho con người những tri thức toán học cần thiết trong thế kỉ 21.      Thứ hai, phần lớn những nhà toán học đang làm việc hiện nay không làm việc một cách cô độc mà trong một nhóm liên ngành. Họ phải có khả năng trao đổi và hợp tác với những người ở lĩnh vực khác. Một nhà toán học từng được hưởng một nền giáo dục khai phóng ở đại học có thể – và nhanh hơn rất nhiều so với những người chỉ chăm chăm vào học kĩ thuật – để hiểu được quan điểm của những đồng nghiệp ở ngành khác và học hỏi những tri thức cần thiết để làm việc hiệu quả với những thành viên không có xuất thân toán học trong nhóm.  Thứ ba, một nhà toán học có một nền tảng đa dạng có thể phê phán cách sử dụng nguy hiểm các kĩ thuật toán học và cảnh báo công chúng về vấn đề nó. Tôi tin đây là trách nhiệm nghề nghiệp cơ bản của chúng ta, cũng như những người làm trong lĩnh vực y – dược cần phải cảnh báo công chúng về những cách “điều trị” giả khoa học.  Một ví dụ cho điều này là quyển sách “Vũ khí Toán hủy diệt: Dữ liệu lớn làm tăng sự bất bình đẳng và đe dọa nền dân chủ” của Cathy O’Neil, người tốt nghiệp tiến sĩ tại Harvard. Tên của quyển sách này gợi nhắc cụm từ “Vũ khí hủy diệt hàng loạt” (vì Weapons of Math Destruction khá đồng âm với Weapons of Mass Destruction trong tiếng Anh), một thuật ngữ được dùng khá nhiều vào năm 2003, một phần của kế hoạch bịa đặt thông tin của Chính phủ Mỹ nhằm hợp thức hóa cuộc tấn công Iraq. Một ví dụ được thảo luận trong sách của bà là “giới hạn đỏ”, tên gọi của động thái từ chối cho vay hoặc tăng lãi suất cho vay lên rất cao đối với những người sống ở những nơi được cho là “phức tạp” trong thành phố. Hành động “Giới hạn đỏ” từng rất phổ biến vào giữa thế kỉ 20, là sự phân biệt đối xử nhắm vào những người Mỹ gốc Phi. Vào năm 1968, một trong những chiến thắng của Phong trào Nhân quyền của Martin Luther King là biến “giới hạn đỏ” thành hành động phi pháp trên toàn nước Mỹ.  Giả sử có những người nhập cư từ Mexico vào Mỹ giàu có nhưng vẫn lựa chọn sống trong những khu phố nghèo trong thành phố cùng với rất nhiều người nhập cư khác chỉ vì họ muốn sống gần người thân và bạn bè của mình. Những thuật toán “dữ liệu lớn” được các ngân hàng và lãnh đạo chính quyền áp dụng thường dựa trên “dữ liệu đại diện” thay cho những dữ liệu chính xác (có thể khó thu thập được). Có nghĩa là, họ dùng mã vùng như một “dữ liệu đại diện” để quyết định một người có tiềm năng là nợ tốt hay nợ xấu. Khi đó, những người nhập cư thành công, những người không chịu rời xa bạn bè và gia đình của mình sẽ được tự động coi là “nợ xấu” chỉ bởi vì nơi họ đang sống. “Giới hạn đỏ” giờ đây lại quay trở lại dưới hình thức thuật toán dữ liệu lớn. Dữ liệu lớn đã làm sống lại hình thức phân biệt chủng tộc của các ngân hàng vốn đáng được coi là phi pháp cách đây 50 năm trước.  Vào năm 1981, tôi xuất bản một bài báo về việc sử dụng toán học sai lầm. Một trong những ví dụ tôi dùng là những “giả toán học” được sử dụng bởi cố vấn chính phủ và giáo sư nổi tiếng Samuel Huntington. Surge Lang, một nhà toán học nổi tiếng thời bấy giờ đã dùng bài báo của tôi để phản đối việc bầu cử Huntington vào Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ. Tôi lấy làm vui mừng rằng Lang đã sử dụng bài báo của tôi cho mục đích này. Huntington, ngoài việc là một “nhà khoa học” đầy mục tiêu chính trị đã sử dụng sai toán học, lại còn là cố vấn cho đế chế Apartheid ở Nam Mỹ vào những năm 1980. Vào những năm 1960, là một cố vấn cao cấp của Chính phủ Mỹ, ông đã gợi ý cho những chính sách rất bạo lực chống lại những người dân thường ở phía Nam Việt Nam.  Một đóng góp về phương thức toán học gần đây của tôi là một công trình chung với một sinh viên sau đại học về lĩnh vực phát triển kinh tế. Nghiên cứu của chúng tôi liên quan đến “Chỉ số bất bình đẳng giới” (Gender Inequality Index – GII) của Liên Hợp Quốc, một phần của Báo cáo Phát triển con người của UNDP.    Cathy O’neil, tác giả của quyển sách Vũ khí Toán học hủy diệt: Dữ liệu lớn làm tăng sự bất bình đẳng và đe dọa nền dân chủ, đã có rất nhiều bài phát biểu cảnh báo về kỹ thuật Toán học này có thể gây phân biệt đối xử với những người nhập cư như thế nào. Ảnh: PublicSource.  Công thức tính GII rất phức tạp – là sự tổng hợp của các phương pháp hình học, trung bình điều hòa (trong xác suất, thống kê) và số học và nếu ai đó không được đào tạo toán học ở cấp cao khó mà có thể nhận xét về nó một cách khách quan.  Một phần của công thức này được thiết kế vô cùng tệ khiến cho chỉ riêng phần đó thôi cũng đủ để bóp méo xếp hạng quốc gia. Đó là cách biểu diễn sự liên quan của hai chỉ số – tỉ lệ phụ nữ tử vong khi sinh m (trên 10.000 người) và tỉ lệ người trẻ (dưới 20 tuổi) có thai t (trên 1000 người). Được định nghĩa là (mt)1/2.  Công thức này, không dựa trên bất cứ bằng chứng thống kê nào, khiến cho m và t quyết định phần lớn kết quả của GII, khiến cho những nước có hệ thống y tế tốt và người trẻ kết hôn muộn xếp hạng cao hơn những nước nghèo có hệ thống chăm sóc sức khỏe yếu kém và người trẻ kết hôn sớm – nhưng trên thực tế, điều đó không có nghĩa là nước đó bình đẳng giới hơn những nước khác.  Lấy cảm hứng từ Hiệu chỉnh Tikhonov trong lý thuyết về các bài toán nghịch đảo, chúng tôi đề xuất thay đổi công thức này thành: (mav / (m + mav))1/2 (tav / (t + tav))1/2. Trong đó, mav và  tav là con số trung bình của thế giới. Công thức sau khi thay đổi logic hơn và cũng sẽ có ảnh hưởng lớn đến xếp hạng của các quốc gia về chỉ số GII từ cao nhất đến thấp nhất. Chẳng hạn, trong 159 quốc gia tham gia xếp hạng thì: Ả Rập Saudi tụt từ số 50 xuống 123. Cuba từ hạng 62 lên hạng 25. Việt Nam từ hạng 71 lên 40.  Bởi vì UNDP không có những nhân viên được đào tạo cấp cao về toán học đánh giá lại công thức tính GII của họ, họ xếp hạng các quốc gia dựa trên phương pháp đánh giá tồi. Và khi đó, Báo cáo về Phát triển của con người của họ cũng hàm chứa những thông tin sai lệch. Ả Rập Saudi xếp trên cả Việt Nam về bình đẳng giới nhưng phụ nữ của họ phải đấu tranh hàng chục năm cho đến gần đây mới được lái xe ô tô, Cuba xếp hạng thấp hơn rất nhiều so với Mỹ nhưng trên thực tế, tỉ lệ phụ nữ trong Viện Hàn lâm khoa học của nước này cao hơn bất kì quốc gia nào trên thế giới, và cao hơn rất nhiều so với Viện Hàn lâm khoa học Mỹ, Nghị viện Cuba cũng có 53% là phụ nữ trong khi con số này ở Mỹ chỉ là 20%; Phụ nữ Cuba có toàn quyền về sức khỏe sinh sản trong khi quyền phá thai của phụ nữ Mỹ đang ngày một bị giới hạn.  Việc đào tạo những nhà toán học trong tương lai nên nhằm mục đích chuẩn bị cho họ sử dụng tri thức của mình vào nhiều mục đích đa dạng. Nền giáo dục sẽ là thiếu sót nếu nó (a) chỉ tập trung vào toán học thuần túy hay (b) chỉ hạn hẹp trong việc dạy nghề hoặc (c) thiếu việc giáo dục nhân văn. Những nhà toán học luôn có thể thúc đẩy tiến bộ xã hội và đưa ra những lời khuyên về cách tốt nhất để chuẩn bị cho con người những tri thức toán học cần thiết trong thế kỉ 21. ¨  (Trích từ bài phát biểu của GS. Neal Koblitz về giáo dục Toán học tại Việt Nam ở Viện Toán học ngày 25/12/2018).  Hảo Linh dịch       Author                Neal Koblitz        
__label__tiasang Toán học trong dự báo thời tiết      Khí quyển của chúng ta, một cách cơ bản nhất, chính là một hệ khí động lực mà sự tiến triển của nó được mô tả bởi hệ các phương trình chuyển động chất lỏng Navier-Stokes cùng với các phương trình trạng thái và bảo toàn, goi tắt là hệ PES (1). Với một điều kiện ban đầu và điều kiện biên cho trước, bài toán dự báo thời tiết có thể được coi một cách hình thức là bài toán tìm nghiệm phụ thuộc tường minh vào không thời gian của hệ PES nói trên.      Hệ PES này áp dụng cho tất cả các quá trình trong khí quyển từ những xoáy bụi nhỏ mà chúng ta đôi khi bắt gặp trên các con phố, các cụm mây có phân bố như những gợn sóng nhỏ trên bầu trời, cho đến các cơn bão nhiệt đới với quy mô không gian khoảng 1000 km hay các quá trình khí hậu với quy mô thời gian nhiều năm. Tuy nhiên, gần 100 năm kể từ khi bài toán dự báo khí tượng được đặt ra một cách tường minh như vậy bởi Richarson, tất cả nhưng gì chúng ta có thể làm được lại chỉ là một bài toán dự báo thời tiết chỉ với hạn dài nhất đến thời điểm này là 2 tuần với một độ chính xác rất khiêm tốn (2) (tất cả chúng ta hẳn đã có không ít lần bắt gặp các bản tin dự báo sai, ngay cả với các trung tâm dự báo hàng đầu thế giới của Mỹ hay Châu Âu). Mấu chốt của tính dự báo rất khiêm tốn này nằm ở hai khó khăn chính. Thứ nhất, hệ phương trình Navier-Stokes chưa có lời giải chính xác cho đến tại thời điểm hiện tại sau gần 200 năm đưa ra bởi Navier năm 1822. Đây chính là bài toán thiên niên kỷ số ba của viện toán học Clay mà tầm quan trọng của nó đã đi vào tất cả các lĩnh vực sâu sắc nhất của đời sống hàng ngày. Khó khăn thứ hai là do quy mô không thời gian của các quá trình thời tiết biến đổi trong khoảng quá rộng từ các xoáy rối cỡ vài mm cho đến các quá trình sóng hành tinh với quy mô hàng ngàn km mà không một hệ thống thám sát nào có thể ghi nhận đầy đủ để chúng ta cỏ thể đo đạc và tìm hiểu chi tiết.   Cách tiếp cận lý thuyết duy nhất của các nhà khí tượng học đến thời điểm này là sử dụng một tập các giả thiết xấp xỉ gần đúng cho một hiện tượng nào đó để đơn giản hóa hệ PES cho hiện tượng này. Một ví dụ điển hình là các nghiên cứu lý thuyết về bão nhiệt đới. Sư phức tạp của hệ PES cũng như các hiểu biết vật lý‎ còn hết sức khiêm tốn về các quá trình chi tiết trong bão khiến các nhà nghiên cứu khí tượng không thể mô tả một cách giải tích tất cả các quá trình trong bão một cách đầy đủ. Thay vào đó, bão sẽ được chia ra làm các pha phát triển khác nhau mà tương ứng với nó là các xấp xỉ cho pha đó. Ví dụ, trong giai đoạn chín muồi của bão mà cường độ của chúng gần như không thay đổi theo thời gian, nhà khí tượng học Emanuel (Viện công nghệ Massachusetts) năm 1986 đã đề xuất một mô hình trong đó bão được xem như là một chu trình Carnot nhiệt với một cấu trúc đối xứng trục. Cụ thể, bão lấy nhiệt từ bề mặt đại dương với nhiệt độ cao (khoảng 300 K) và sau đó trao đổi với tầng nhiệt độ lạnh hơn ở tầng độ cao khoảng 18 km (khoảng 220 K) trong quá trình chuyển hóa năng lượng ẩn nhiệt có được từ bốc hơi nước sang động năng của bão. Như thế, cường độ cực đại mà một cơn bão có được sẽ được quy đinh bởi nhiệt độ bề mặt biển tương ứng. Đây là một kết luận rất quan trọng cho phép khảo sát mối liên hệ giữa sự ấm nóng toàn cầu và cường độ bão trong tương lai. Trong pha phát triển của bão, chúng ta tuy nhiên lại không thể giả thiết các cơn bão là ở trạng thái dừng như ở trên. Thay vào đó, chúng ta phải xấp xỉ hệ PES theo một cách khác mà cho phép chúng ta tìm được nghiệm phụ thuộc tường minh vào thời gian. Các mô hình lý‎ thuyết khác nhau cho pha phát triển này của bão đều cho thấy bão có thể xem như một hệ động lực không cân bằng và sự phát triển của bão chính là một quá trình hồi tiếp dương của một hệ bất ổn định. Nhưng ngay cả trong những xấp xỉ này, phần lớn các hệ đơn giản hóa vẫn quá phức tạp đến nỗi chưa ai chứng minh được nghiệm giải tích liệu có tồn tại, và nếu có tồn tại liệu nghiệm đó có duy nhất. Chỉ trong một vài tình huống rất đặc biệt lý‎ tưởng hóa thì chúng ta mới thu được các kết quả giải tích. Trong các trường hợp còn lại hệ phương trình thu được vẫn quá phức tạp để chúng ta có thể hi vọng vào một nghiệm đầy đủ.   Các bài toán khí tượng lý‎ thuyết một mặt là rất cần thiết bởi chúng cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về quá trình động lực học trong khí quyển. Nhưng mặt khác rõ ràng là các khó khăn cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế nêu ở trên lại không cho phép chúng ta tìm hiểu chi tiết bản chất của khí quyển như chúng ta trông đợi. Vậy dự báo thời tiết mà chúng ta theo dõi hàng ngày đang diễn ra bằng cách nào? Quy trình dự báo thời tiết nghiệp vụ hiện đại là tổ hợp của rất nhiều các cấu thành bao gồm các bộ phận xử lý ảnh vệ tinh, thu phát dữ liệu thám sát, kiểm tra đánh giá, v.v., nhưng cốt lõi nhất của tất cả các trung tâm dự báo hiện nay là một mô hình máy tính giải hệ PES nêu ở trên bằng phương pháp số, gọi tắt là dự báo thời tiết số (NWP). Nói một cách đơn giản, chúng ta chia khí quyển liên tục của chúng ta thành một khí quyển rời rạc được mô tả bởi một mạng các điểm nút theo các phương ngang và thẳng đứng với một độ phân giải cho trước. Hệ PES khi đó được chuyển thành một hệ các phương trình cho các điểm nút này, và chúng ta khi đó sẽ mô phỏng khí quyển rời rạc này trên các siêu máy tính. Các kết quả thu được từ các mô phỏng sẽ được xem như là trạng thái khí quyển trong tương lai và từ đó đưa ra các bản tin dự báo. Theo nghĩa này, NWP chính là bài toán tích phân số hệ phương trình đạo hàm riêng từ một điều kiện ban đầu và điều kiện biên cho trước. Do đặc thù của hệ PES này phụ thuộc mạnh vào điều kiện ban đầu, một cách rõ ràng là các mô hình dự báo thời tiết được xây dựng dựa trên hệ PES phải có được điều kiện ban đầu (biên) tốt nhất có thể. Các nghiên cứu của Lorenz  từ đầu nhưng năm 1960 đã chỉ ra rằng một sự thay đổi nhỏ của điều kiện ban đầu có thể dẫn đến một sự thay đổi rất lớn của trạng thái tích phân theo thời gian. Sự phụ thuộc mạnh của dự báo thời tiết vào điều kiện ban đầu này đôi khi dẫn đến các kết quả hoàn toàn sai lệch so với trạng thái thực của khí quyển chỉ do một vài sai số quan trắc nào đó (3). Đây chính là giới hạn lớn nhất của bài toán dự báo thời tiết số vì dường như chúng ta sẽ không bao giờ có thể có được một hệ thống thám sát toàn cầu đủ chính xác với một độ phân giải tuỳ ý. Các nghiên cứu lý thuyết của Lorenz từ năm 1960 đã đặt ra một giới hạn trên cho hạn dự báo của các mô hình số là vào khoảng 2 tuần, và đây được xem như là điểm tới hạn của bài toán dự báo thời tiết NWP.   Song song với bài toán tạo trường ban đầu tốt nhất, lớp bài toán có tầm quan trọng không kém trong các mô hình dự báo số chính là các thuật toán sai phân hóa hệ PES. Đây là nguồn gốc của các sai số nội tại của mô hình mà trong suốt các thập kỷ vừa qua hàng loạt các thuật toán sai phân hữu hạn hay tích phân phổ đã được liên tục phát triển và thử nghiệm để giảm tối đa các nghiệm phi vật lý của thuật toán. Cùng với đòi hỏi độ phân giải ngày càng cao của các mô hình để có thể chi tiết hóa các quá trình vật lý thì các đòi hỏi về khả năng tính toán cũng tăng lên rất nhanh đến mức độ phân giải khả thi nhất của chúng ta hiện nay cũng chỉ vào khoảng 10 km đối với các bài toán nghiệp vụ, một độ phân giải rất thô cho các quá trình mưa hay lốc xoáy. Thêm vào đó, sự hiểu biết không đầy đủ về các quá trình vật lý khí quyển cũng ngăn cản chúng ta có được nhưng biểu diễn chính xác của các quá trình vật lý trong mô hình.   Tất cả nhưng khó khăn về mặt lý thuyết cũng như khả năng quan trắc ở trên đã và đang hạn chế nghiêm trọng đến năng lực dự báo thời tiết của con người mà hiện tại chúng ta vẫn chưa vượt qua được. Bài toán dự báo thời tiết do đó vẫn đang là một bài toán chưa có lời giải.   ———-  1PES trong bài  này là viết tắt của Primitive Equation Systems. Một cách tổng quát, hệ PES trong khí tượng bao gồm phương trình chuyển động Navier-Stokes, phương trình trạng thái, phương trình bảo toàn khối lượng, và phương trình bảo toàn năng lượng. Trong một số tài liệu, hệ PES có thể bao gồm các phương trình Navier-Stokes và phương trình bảo toàn khối lượng.  2 Dự báo thời tiết trong khuôn khổ đề cập ở đây là các dự báo dựa trên hệ động lực PES. Các dự báo bằng phương pháp thống kê nói chung có thể cho các bản tin dự báo xa hơn (với độ chính xác tuy nhiên kém hơn). Kiểu dự báo thống kê này tuy nhiên lại không mang thuộc tính động lực học của khí quyển và sẽ không được đề cập ở đây.  3 Một ví dụ minh hoạ của Lorenz cho sự phụ thuộc vào điều kiện ban đầu này chính là hiệu ứng “con bướm” mà một sự vỗ cánh nhỏ của nó tại Brazil được mường tượng là có thể tạo ra các cơn lốc xoáy ở Texas, Bắc Mỹ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học trong Giải Nobel Vật lý 2016      Sử dụng tô pô, một chuyên ngành toán học nghiên cứu các tính chất không thay đổi của vật thể khi bị biến dạng liên tục, như một công cụ, ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý năm nay đã “khám phá được bí mật của các vật chất lạ”, “làm cho các chuyên gia phải sững sờ”.      Biến một cái cốc thành hình xuyến nhờ các phép biến đổi liên tục tô pô.  Giải Nobel Vật lý 2016 vừa được trao cho ba nhà vật lý lý thuyết David Thouless (Đại học Washington), Duncan Haldane (Đại học Princeton) và Michael Kosterlitz (Đại học Brown) về “những phát minh lý thuyết về sự dịch chuyển các trạng thái tô pô và các trạng thái tô pô của vật chất” (trích thông báo của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển). Thouless được nửa giải, còn Haldane và Kosterlitz chia nhau nửa giải còn lại.  “Những người đoạt giải Nobel năm nay đã mở cửa một thế giới bí ẩn mà trong đó vật chất có thể nhận những trạng thái kỳ lạ. Họ đã sử dụng các phương pháp toán học tiên tiến để nghiên cứu các giai đoạn hay trạng thái không bình thường của vật chất như các chất siêu dẫn, siêu lỏng hoặc màng từ mỏng.” “Việc sử dụng các khái niệm tô pô của ba người đoạt giải Nobel trong vật lý là yếu tố quyết định đối với những phát minh của họ.”  Tô pô là một chuyên ngành toán học nghiên cứu các tính chất không thay đổi của vật thể khi bị biến dạng một cách liên tục. Hai vật thể được coi là giống nhau về tô pô nếu có thể bóp nặn hay kéo giãn một vật này thành vật kia, ví dụ như một cái cốc có tay cầm và một cái vòng. Chúng có tính chất tô pô chung là chỉ chứa một lỗ hổng. Có thể phân biệt đặc tính tô pô của các vật thể thông qua số lỗ hổng của chúng. Khó có thể hình dung được chuyên ngành toán học trừu tượng này lại tìm thấy ứng dụng trong thực tiễn. Sử dụng tô pô như một công cụ, ba người đoạt giải Nobel năm nay đã “khám phá được bí mật của các vật chất lạ”, “làm cho các chuyên gia phải sững sờ”.  Thông thường, vật chất có ba trạng thái rắn, lỏng và khí. Khi nhiệt độ thay đổi, chúng sẽ thay đổi trạng thái giống như nước bốc hơi khi sôi và đóng băng ở nhiệt độ âm. Các sự dịch chuyển trạng thái có thể giải thích được bằng sự chuyển động giữa các nguyên tử. Các nguyên tử sẽ tương tác với nhau theo các quy luật của vật lý lượng tử. Tuy nhiên, khi vật chất có dạng màng cực mỏng, sẽ xảy ra các hiện tượng khó hiểu. Ở nhiệt độ thấp, các nguyên tử của chúng có thể chuyển động mà không cản trở lẫn nhau nữa. Ví dụ như ta có hiện tượng siêu dẫn khi dòng điện được truyền tải mà không bị tiêu hao điện năng. Truyền tải trên các đường dây điện thông thường sẽ mất khoảng 15-20% điện năng. Vì vậy nếu dùng chất siêu dẫn thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí. Tương tự như vậy là các chất siêu lỏng không chịu sự tác động của lực ma sát, có thể chuyển động mãi mãi.  Đầu những năm1970, Michael Kosterlitz và David Thouless lật ngược các lý thuyết trước đó cho rằng không thể xảy ra sự dịch chuyển trạng thái trong các màng mỏng. Họ đưa ra khái niệm các vùng xoáy để giải thích hiện tượng siêu dẫn ở nhiệt độ thấp và cơ chế chuyển pha (giai đoạn) làm cho tính siêu dẫn biến mất ở nhiệt độ cao hơn. Các vùng xoáy là những cấu hình tô pô ổn định. Ở nhiệt độ thấp, chúng gắn chặt theo từng đôi; nhưng ở nhiệt độ cao, chúng sẽ rời nhau ra và chuyển động tự do. Mô hình dịch chuyển của Kosterlitz và Thouless được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất của thế kỷ 20 trong ngành Vật lý chất rắn. Nó còn được áp dụng để giải thích một số hiện tượng trong Vật lý nguyên tử và Cơ học thống kê.  Trong những năm 1980, Thouless giải thích được hiệu ứng Hall lượng tử xảy ra đối với các màng mỏng bán dẫn ở nhiệt độ cực thấp, trong đó độ dẫn điện thay đổi theo bậc số nguyên. Trước đó người ta không hiểu được tại sao độ dẫn điện lại thay đổi không liên tục mà lại theo cấp số nguyên. Thouless đã chỉ ra rằng hiệu ứng này mang tính tô pô. Xét về phương diện tô pô, vật thể sẽ thay đổi khi có thêm lỗ hổng và độ dẫn điện chỉ phụ thuộc vào số lỗ hổng.  Cũng trong những năm 1980, Haldane phát hiện thấy khái niệm tô pô có thể sử dụng để giải thích tính chất của những chuỗi hạt nam châm được tìm thấy trong một số vật liệu. Các chuỗi hạt nam châm này có những đặc tính hoàn toàn khác biệt phụ thuộc vào tính chẵn lẻ của nam châm nguyên tử. Haldane chứng minh rằng nam châm chẵn có tính tô pô, còn nam châm lẻ thì không. Điều này lý giải tại sao chúng có những thuộc tính khác nhau hoàn toàn.    Minh hoạ về tô pô  Bây giờ chúng ta biết rất nhiều những sự dịch chuyển trạng thái tô pô, không chỉ trong các đường và màng mỏng hai chiều mà còn trong các vật liệu ba chiều thông thường. Trong thập kỷ qua, các phát minh của Thouless, Haldane và Kosterlitz đã thúc đẩy mạnh mẽ các nghiên cứu hàng đầu trong ngành vật lý chất rắn nhằm tìm ra các vật chất lạ. Người ta hy vọng các vật liệu này có thể được sử dụng trong các thế hệ thiết bị điện tử và vật liệu siêu dẫn mới, hoặc trong các máy tính lượng tử tương lai.  ———-  Tài liệu tham khảo: The Nobel Prize in Physics 2016, https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/2016/       Author                Ngô Việt Trung        
__label__tiasang Toán học trong khoa học máy tính và khoa học về sự sống      Nhiều người cho rằng toán học sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh học và y học trong thế kỷ này nhiều như sự ảnh hưởng của toán đến vật lý trong thế kỷ vừa qua. Sinh học hiện đang ở bước chuyển pha từ cách nghiên cứu thực nghiệm tới việc kết hợp cách tiếp cận tính toán và thực nghiệm để tìm hiểu các vấn đề phức tạp của sự sống. Y-sinh học, tức việc nghiên cứu y học với tri thức và tiến bộ của sinh học, đang dần trở thành một hướng đi chủ đạo trong nghiên cứu y học.    Một cách tương đối có thể xem có ba loại toán có đặc điểm và động lực phát triển khác nhau. Một là toán học thuần túy được nghiên cứu với động lực phát triển nội tại của toán học. Toán học thuần túy phát triển nhanh và sâu theo các chuyên ngành đến mức nếu như các nhà toán học kiệt xuất David Hilbert và Henri Poincaré ở thế kỷ 19 có thể hiểu sâu được nhiều lĩnh vực toán học thời đó, thì ngày nay dường như không ai có thể nhìn được bức tranh tổng thể về toán học sâu sắc như vậy. Hai là toán học đại chúng, gồm những kiến thức toán mọi người cần cho cuộc sống và công việc hàng ngày. Điều đáng chú ý ở đây là giáo dục của ta sẽ đưa thứ toán đại chúng nào và đưa thế nào đến cho mọi người ở thời máy tính và internet này? Ba là toán cho các khoa học khác, có nội dung và động lực phát triển từ các vấn đề cụ thể của các khoa học này. Chính ở đây, toán học thể hiện sâu sắc vai trò cơ bản của mình trong khoa học và giá trị to lớn trong sự phát triển của đất nước.  Toán học, khoa học máy tính và khoa học tính toán  Khoa học máy tính (computer science) hay tin học (informatics) gần đây được gọi ở ta với tên công nghệ thông tin (information technology) theo nghĩa rộng của từ này. Khoa học máy tính được xem là “khoa học về xử lý thông tin tự động bằng máy tính điện tử”. Về bản chất, xử lý thông tin là quá trình biến đổi dữ liệu từ dạng này sang dạng khác để thu được thông tin và tri thức mới.  Cốt lõi của quá trình “biến đổi dữ liệu” chính là các biến đổi toán học, và do vậy cốt lõi của khoa học máy tính cũng chính là toán học. Một người bạn ở Pháp kể khi là sinh viên tin học, anh đã bàng hoàng lúc thầy giáo cho xem bức ảnh một rừng cây do không quân Mỹ chụp ở Trường Sơn trong chiến tranh Việt Nam, và qua các phép biến đổi toán học lớp cây xanh đã bị bóc đi để lộ rõ bên dưới hình các xe tăng của bộ đội miền Bắc. Đây là một thí dụ về biến đổi dữ liệu trong xử lý ảnh.  Trong khoa học máy tính ta luôn gặp các vấn đề toán học, từ bài toán nền tảng NP ≠ P (một trong bảy bài toán do Viện Toán học Clay công bố vào năm 2000, thách thức các nhà toán học giải trong thế kỷ 21) đến các bài toán thiết yếu như lập lịch biểu thời gian thực, chống bùng nổ tổ hợp khi tìm kiếm lời giải trong trí tuệ nhân tạo, các hệ hình thức để kiểm tra tính đúng đắn của chương trình trong công nghệ phần mềm, …  Nước Pháp có nhiều nhà toán học xuất sắc và rất nhiều người trong họ làm nghiên cứu toán cho những khoa học khác. Chính Cedric Villani, nhà toán học Pháp vừa nhận giải Fields, trong một bài phỏng vấn vào tháng 5.2010 cho rằng, “những điều bất ngờ nhất sẽ nằm trong những lĩnh vực có sự tương tác giữa toán học và các ngành khác”.  Nếu như khoa học máy tính được hiểu như trên với đối tượng nghiên cứu là máy tính và các phương pháp tính toán trên chúng, thì khoa học tính toán (computational science) lại là khoa học về việc dùng toán học và khoa học máy tính để làm việc trong các ngành khoa học khác. Dưới tên gọi này, có rất nhiều lĩnh vực cụ thể như ngôn ngữ tính toán (computational linguistics), sinh học tính toán (computational biology) hoặc tin sinh học (bioinformatics), tài chính tính toán (computational finance), khoa học vật liệu tính toán (computational materials science), vật lý tính toán, hóa học tính toán, …  Khoa học tính toán gần đây được nhìn nhận rõ hơn và đang có một sự dịch chuyển từ thực nghiệm tới kết hợp thực nghiệm với tính toán trong nhiều ngành khoa học. Có được điều này do nhiều yếu tố, một trong đó là tiến bộ rất nhanh của khoa học máy tính. Thí dụ như hiện tượng rất đáng quan tâm về công nghệ GPGPU (các bộ xử lý đồ họa với mục tiêu tổng quát). Gần đây, các bộ GPGPU của Nvidia Telsa S2070 với giá hơn 10 nghìn đôla, khi lắp vào các máy tính thông thường có thể cho phép ta đạt đến tốc độ hàng nghìn tỷ phép tính giây (Teraflops) của các siêu máy tính, chẳng hạn máy tính Cray XT-3 ra đời năm 2004.                Những thành phần cơ bản của khoa học tính toán gồm mô hình hóa (modeling) nhằm tìm các mô hình, tức các mô tả khái quát của một hiện thực khi tách phần cốt yếu khỏi phần không cốt yếu, mô phỏng (simulation) nhằm tạo ra các vật thể và hiện tượng như thật trên máy tính, và phân tích dữ liệu (data analysis) nhằm rút ra những kết luận cần thiết từ các tập dữ liệu.  Toán học với khoa học về sự sống và sinh-y học  Sinh học phân tử cho ta biết mỗi tế bào trong hàng nghìn tỷ tế bào của mỗi người chứa toàn bộ hệ gen người, khoảng 20-25 nghìn gen. Các gen này tức các đoạn đặc biệt của các dãy DNA nằm trong các cặp nhiễm sắc thể của tế bào  chứa mật mã di truyền, điều khiển sự phát triển và kế thừa của tế bào. Các protein – các dãy amino acid tổng hợp từ DNA và RNA – là các thành phần thiết yếu của các tổ chức sống và hoạt động của chúng. Sinh học tính toán (computational biology) hay tin-sinh học (bioinformatics) là ngành khoa học liên quan đến việc dùng các phương pháp toán học và khoa học máy tính để giải quyết các bài toán của sinh học.                Khoa học về sự sống bao gồm tất cả các lĩnh vực khoa học liên quan đến việc nghiên cứu các sinh vật, trong đó sinh học và y học là lĩnh vực trung tâm. Nhìn tổng thể, khoa học sự sống bao gồm nghiên cứu ở các cấp độ: phân tử, tế bào, sinh vật sống, quần thể, và các hệ sinh thái. Đặc trưng cốt lõi của khoa học về sự sống trong thế kỷ 21 là việc nghiên cứu đang trở nên có tính định lượng và dựa trên dữ liệu. Những điều này có được nhờ vào:  – Sự phát triển và sử dụng rộng rãi các thiết bị tự động đã tạo ra rất nhiều dữ liệu ở tất cả các cấp độ của khoa học về sự sống. Lượng dữ liệu này tăng nhanh theo hàm mũ, gần đây thường được tạo ra bởi các tổ chức và đề án lớn, lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu cho phép mọi người cùng sử dụng.  – Thành công của đề án quốc tế về hệ gen người (human genome project) vào năm 2003 đã tạo ra những nguồn dữ liệu trung tâm của sinh học.  – Các hệ máy tính hiệu năng cao, được nối mạng, có trên bàn của các nhà sinh học và toán học.  Ta điểm qua ở đây những thách thức chính của toán học trong khoa học về sự sống ở các cấp độ khác nhau kể trên:  (1) Hiểu về các phân tử: Ba đại phân tử đóng vai trò quan trọng nhất là DNA, RNA và protein. Mỗi phân tử DNA hay RNA là một dãy của 4 đơn phân tử và mỗi protein là một dãy của 20 amino acid. Các lớp bài toán chủ yếu cần giải quyết để có thể hiểu các phân tử gồm: (a) phân tích dãy, (b) phân  tích cấu trúc phân tử, (c) động học của phân tử, và (d) tương tác phân tử. Một số bài toán ở đây là các thách thức lớn cần sự tham gia của toán học, như việc dự đoán sự xoắn cuộn của protein  từ dãy amino acid và thông tin về môi trường được xem là một trong những vấn đề hóc búa nhất của sinh học vẫn chưa có lời giải, hay sắp thẳng hàng n dãy (n > 2) là bài toán tổ hợp tối ưu NP-complete. Bài toán xác định và xây dựng các mạng tương tác protein-protein (liên quan đến lý thuyết đồ thị, tôpô, và thống kê) là nền tảng để nghiên cứu nhiều cơ chế của bệnh tật và chế thuốc.  (2) Hiểu về tế bào: Việc này đòi hỏi ta phải hiểu cấu trúc các đại phân tử trong tế bào, các cơ chế và mẫu dạng không gian, thời gian của động học tế bào, liên quan giữa động học và chức năng của tế bào, liên quan giữa tế bào và các tổ chức sống khác ở mức cao hơn, như mô và các bộ phận khác. Hiểu về tế bào thậm chí còn khó hơn việc hiểu các phân tử do ta không có các nguồn thông tin như các dãy đơn phân tử hay amino acid của DNA, RNA hay protein. Với sự tiến bộ rất nhanh của công suất máy tính và các thiết bị đo đạc y sinh, ta có thể xây dựng được hợp lý và chính xác các mô hình về động học của DNA và protein, trong khi đó các mô tả định lượng của tế bào mới chỉ thực hiện được một cách xấp xỉ.  Thách thức chủ yếu về phân tích toán học của tế bào sẽ không nằm ở việc tính toán mà ở việc mô hình được những thứ con người quan tâm. Những thách thức này ở một vài thập kỷ tới chính là việc thiết lập một cách hệ thống các mô hình của cấu trúc và động học tế bào, xuất phát từ các dữ liệu phức tạp thu được và các thực nghiệm về các mô hình này.  Đã có một lịch sử về nghiên cứu toán học cho các mô hình tế bào. Những bài toán chủ yếu được theo đuổi gồm: (a) nghiên cứu cấu trúc tế bào, (b) phát hiện mạng tế bào và chức năng của chúng, (c) từ mạng tế bào đến chức năng tế bào, và (d) từ tế bào đến mô. Trọng tâm của sinh học tế bào tới đây sẽ là sự chuyển dịch từ các mô tả về hiện tượng sang các mô hình dự đoán tương thích với những lượng dữ liệu rất lớn. Các nghiên cứu tới đây sẽ nhấn mạnh sự kết hợp chặt hơn giữa thực nghiệm, xây dựng và đánh giá mô hình cũng như tích hợp dữ liệu.  (3) Hiểu về các vật sống: Phân tích toán học ở đây liên quan hai vấn đề chính, một là để hiểu các bộ phận của một sinh vật tham gia vào hệ thống phức tạp của sinh vật này ra sao, và hai là liên hệ sinh học giữa tế bào và các bộ phận của sinh vật. Tầm quan trọng của các mô hình toán được thừa nhận rộng rãi trong nghiên cứu các tổ chức rất phức tạp của sinh vật. Nhiều thí dụ cho thấy khi người làm thực nghiệm và lý thuyết ngồi cùng nhau, họ đã có những phát minh quan trọng vốn không thể làm một mình. Chẳng hạn như sự dao động trong chu trình tế bào dẫn đến việc phân chia tế bào ra sao hay virus HIV được sinh ra và mất đi trong tế bào như thế nào? Các mô hình toán học có trong tất cả các hướng nghiên cứu để hiểu về sự sống: (a) sinh lý học tim mạch, (b) sinh lý học tuần hoàn, (c) sinh lý học hô hấp, (d) sinh lý học nội tiết, (e) hình thái học và sự hình thành các mẫu dạng di truyền, (f) sự vận động, (g) quá trình nhiễm HIV, và (h) ung thư (được tiến hành ở gene, tế bào và u). Ở cấp độ này, thí dụ về những vấn đề cần sự đóng góp của khoa học tính toán là con đường thuốc đi tới tế bào đích, cơ chế hoạt động của thuốc, sự phát triển và phân chia của các quần thể tế bào, tiến triển của sự kháng thuốc. Việc dùng các mô hình toán học để mô tả quá trình hoạt động của các hệ thống chức năng sinh lý sẽ cải thiện hiểu biết của ta về tương tác động giữa các quá trình này và giúp cho sự chuyển dịch từ khoa học cơ bản đến các ứng dụng chữa bệnh, cũng như khả năng xuất hiện các nội dung mới của toán học.  (4) Hiểu về các quần thể: Các nội dung ở cấp độ này đều rất cần đến toán. (a) Về di truyền học quần thể: Cho đến cuối những năm 1960 các nghiên cứu toán chủ yếu là phân tích suy diễn với các mô hình di truyền và chọn lọc tự nhiên dựa trên giả thuyết các quần thể sinh học được tiến hóa từ một hai nơi. Gần đây đã có sự dịch chuyển qua các mô hình quy nạp nhằm xây dựng lịch sử tiến hóa và bản chất của quá trình tiến hóa, với mục tiêu hiểu được các dạng của biến đổi di truyền và các dạng của khác biệt di truyền giữa các loài. (b) Về các khía cạnh sinh thái của các quần thể: Ngay từ 1838, Verhulst đã phát triển một số mô hình về tăng dân số với các mô hình toán học về mật độ, trong đó phương trình logistic vẫn là mô hình chuẩn dùng ngày nay. Rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến các vấn đề sinh thái của quần thể đang thách thức và chờ đón đóng góp của toán học, như các yếu tố không gian, thời gian, địa lý, khí hậu, sông ngòi rừng biển. (c) Về tổng hợp sinh thái và tiến hóa: Hiện nay nghiên cứu được tập trung nhiều vào các nguyên nhân liên quan đến sự sống và không có sự sống trong đa dạng sinh học. Rất nhiều thách thức toán học khi đồng thời xét các quá trình sinh thái và tiến hóa.  (5) Hiểu về các cộng đồng và các hệ sinh thái: Một cộng đồng sinh thái là một tụ tập các quần thể của nhiều loài (cây cối, động vật, vi khuẩn, …) tại một nơi và cùng một thời gian. Sự kết hợp của một cộng đồng và một môi trường thường được xem là một hệ sinh thái. Ta vẫn thường nói về cân bằng sinh thái hoặc mất cân bằng sinh thái. Toán học đóng một vai trò  thiết yếu trong các khái niệm của sinh thái học cộng đồng. Từ quãng 50 năm trở lại đây, có nhiều mô hình toán học và kết quả lý thú về liên quan giữa tính đa dạng và tính ổn định của một cộng đồng sinh thái, hoặc rộng hơn về mối quan hệ giữa hiệu quả sản xuất, tính ổn định và tính đa dạng. Thách thức toán học tiêu biểu ở đây là các mô hình cho phép mô tả với nhiều yếu tố như tính phi tuyến, hành vi không cân bằng, kết cấu di truyền, không gian, nhân khẩu học, và tính ngẫu nhiên của môi trường.  Nhiều người cho rằng toán học sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh học và y học trong thế kỷ này nhiều như sự ảnh hưởng của toán đến vật lý trong thế kỷ vừa qua. Sinh học hiện đang ở bước chuyển pha từ cách nghiên cứu thực nghiệm tới việc kết hợp cách tiếp cận tính toán và thực nghiệm để tìm hiểu các vấn đề phức tạp của sự sống. Y-sinh học, tức việc nghiên cứu y học với tri thức và tiến bộ của sinh học, đang dần trở thành một hướng đi chủ đạo trong nghiên cứu y học.  Trong hợp tác quốc tế về nghiên cứu y học, nhiều khi chúng ta chỉ đóng vai trò cung cấp dữ liệu vì không làm chủ được các phương pháp phân tích toán học. Tuy nhiên, có những tình huống buộc chúng ta phải tự làm, như khi một bệnh nhiệt đới bùng phát hay khi dịch lợn tai xanh xuất hiện khắp nơi… Trong một chuyến thăm gần đây tới Bệnh Viện Nhi Trung Ương, chúng tôi vô cùng khâm phục khi bệnh viện đã xây dựng các phòng thí nghiệm về sinh học phân tử, về di truyền, đã có thể đo đạc xác định được dữ liệu từ các mẫu của người bệnh, dù công việc khám chữa bệnh ở đây bận rộn vô cùng. Nếu các nhà toán học, tin học phối hợp được với các bác sĩ nghiên cứu của bệnh viện, chúng ta có thể làm được nhiều nghiên cứu thiết thực và giá trị cao như ở bất kỳ nơi nào.  Hy vọng chúng ta sẽ có nhiều người làm toán dành công sức và đam mê trong những lĩnh vực khoa học đang cần nhiều toán học.  * Trong 10 năm qua, chúng tôi tham gia giải quyết nhiều bài toán y sinh. Ví dụ, từ một cơ sở dữ liệu lâm sàng rất lớn thu thập trong 20 năm (1980-2000) về bệnh gan ở bệnh viện đại học Chiba (Nhật Bản) và nhiều cơ sở dữ liệu về thông tin di truyền, một số bài toán nghiên cứu về viêm gan được đặt ra. Một bài toán là tìm phương pháp tính toán để đoán nhận cấp độ bệnh viêm gan (có 5 cấp độ từ F0 đến F4) khi chỉ dựa vào dữ liệu xét nghiệm máu nhưng không làm sinh thiết như cách làm hiện nay. Bài toán khác về việc tìm nguyên nhân ở mức phân tử tại sao những người bệnh viêm gan C lại kháng thuốc hoặc không kháng thuốc (hiện cách điều trị viêm gan C là phối hợp hai loại thuốc interferon và ribavirin, tuy nhiên số người kháng thuốc vẫn trên 50%). Đây là bài toán thời sự khi gần đây giới nghiên cứu cho rằng protein NS5A, một phần của virus viêm gan C, chính là nơi liên quan nhiều nhất đến việc nhận hay kháng các loại thuốc trên. Bài toán thứ ba là việc tìm ra các gen gây bệnh. Hầu hết các bệnh của con người do rối loạn gen, và một số trong 20-25 nghìn gen của người đã được xác định là nguyên nhân gây ra một số bệnh. Bài toán đặt ra cho tính toán là những gen nào trong số còn lại cũng gây ra bệnh?  —————————————–  Tài liệu tham khảo chính  1. Bascompte, J., Biology and Mathematics, Arbor, CLXXXIII, 347-361, 2007. http://arbor.revistas.csic.es/index.php/arbor/article/view/107/108  2. National Acedemy of Sciences, “Mathematics and 21st Century Biology”, The National Academies Press, 2005, http://www.nap.edu/catalog.php?record_id=11315  3. Simon A. L., “Mathematics and biology”, http://www.bio.vu.nl/nvtb/Contents.html    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Toán học và tài chính      Toán học và tài chính luôn gắn liền với nhau. Cùng với khái niệm tiền bạc, là các phép tính cộng trừ nhân chia, mà những người bán hàng dong cũng thành thạo. Nếu như thời cổ, các nhà triết học còn cãi nhau xem số âm có tồn tại hay không, thì ngày nay không ai còn nghi ngờ về sự tồn tại của số âm, khi nhìn vào các bảng cân đối tài chính hay thông báo tài khoản ngân hàng.      Từ cách đây mấy nghìn năm, trong sách Talmud của người Do Thái đã viết: nên đầu tư 1/3 tài sản vào đất đai, 1/3 vào doanh nghiệp, còn 1/3 để dự trữ. Sự phân bổ tài sản đó ngày nay đã phát triển thành lý thuyết đầu tư định lượng trong tài chính, với sự tham gia của nhiều công cụ toán học khác nhau như tối ưu, điều khiển, xác suất, thống kê, phương pháp tính.  Trong những thế kỷ trước, không có danh giới rõ ràng giữa toán học và vật lý và các khoa học tự nhiên khác, và các nhà khoa học tự nhiên lớn cũng quan tâm đến kinh tế tài chính. Copernicus không chỉ phát hiện ra rằng trái đất quay quanh mặt trời, mà còn tìm ra một định luật về “tiền tốt tiền xấu” rất quan trọng trong thực tế, mà ngày nay được biết đến với tên gọi định luật Gresham. Newton không những chỉ là người khổng lồ về khoa học, mà còn cai quản lò đúc tiền hoàng gia Anh trong ba chục năm. Laplace không những chỉ làm mưa làm gió trong khoa học tự nhiên thế kỷ 18-19, mà còn xây dựng lý thuyết toán bảo hiểm.          Louis Bachelier – ông tổ của tài chính hiện đại          Ông Louis Bachelier (1870-1946) được coi là cha tổ của toán tài chính hiện đại, vì ông đã nghiên cứu các mô hình quá trình ngẫu nhiên như kiểu chuyển động Brown trong thị trường tài chính, trong luận án tiến sĩ của mình vào năm 1900. Hội toán tài chính thế giới ngày nay mang tên là Hội Tài Chính Bachelier.  Bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ 20, các công cụ toán học hiện đại thâm nhập nhanh vào tài chính. Mô hình Black-Scholes để tính giá option là một công trình toán học đoạt giải Nobel về kinh tế, liên quan đến các quá trình ngẫu nhiên và phương trình đạo hàm riêng kiểu phương trình truyền nhiệt. Mô hình này xuất hiện vào năm 1970 và châm ngòi cho sự bùng nổ của thị trường sản phẩm tài chính phái sinh.  Các lò đào tạo chuyên gia về toán tài chính trên thế giới dần dần xuất hiện từ cuối thế kỷ trước. Một trong những lò nổi tiếng nhất là ở Paris, gắn liền với tên tuổi của bà Nicole El Karoui, một chuyên gia hàng đầu về toán tài chính đã có lần sang Việt Nam giảng bài. Nhiều sinh viên học cao học từ lò của bà đã trở thành các “át chủ bài” trong các ngân hàng đầu tư.  Giới tài chính đặc biệt phụ thuộc vào các mô hình lý thuyết toán cho việc quản lý rủi ro, và có nhiều trung tâm nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như nhóm của Embrechts và Delbaen ở EHTZ Zurich. Qui định mang tên “Basel 2″ về quản lý rủi ro mà nhiều ngân hàng phải tuân theo chính là dựa trên các lý thuyết toán tài chính hiện đại. Sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính 2008, người ta thấy Basel 2 có lỗ hổng lớn, thì cũng là công việc của các nhà toán tài chính phải điều chỉnh lại các mô hình quản lý rủi ro.  Theo một con số ước lượng, có đến 5% những người làm trong lĩnh vực tài chính trên thế giới ngày nay là học ngành toán ra. Các công ty tài chính cũng tuyển cả những người học những ngành gần với toán và biết nhiều về toán, đặc biệt là vật lý. Nhiều nhà toán học lớn trên thế giới, thành danh trong các chuyên ngành khác, cũng quan tâm đến toán tài chính. Ví dụ như Pierre-Louis Lions, giải thưởng Fields năm 1994 về phương trình đạo hàm riêng, gần đây đã đưa ra các mô hình “mean fields” mô tả quá trình biến động của thị trường chứng khoán.  Tài chính cũng là nơi để các nhà toán học thử sức mình và có thể làm giầu. Một trong các tài phiệt khét tiếng trên thế giới hiện nay, tỷ phú James Simons, từng là trưởng khoa toán Đại học Stony Brook, và là đồng tác giả với Shiing-Chen Chern (một nhà toán học lớn gốc Trung Hoa, nếu phiên âm Hán Việt họ của ông ta thì là họ Trần), của một lý thuyết nổi tiếng trong toán và vật lý mang tên hai ông.  Nếu nói rộng ra hơn, về các vấn đề tiền tệ hay kinh tế vi mô và vĩ mô, thì các mô hình toán học cũng đang được đưa dần vào để có thể nghiên cứu chúng được tốt hơn. Thay vì chỉ nói đến các trạng thái ổn định, lý thuyết động lực học sẽ cho phép phân tích các quá trình dẫn đến ổn định hay khủng hoảng hay quay vòng ra sao. Và thay vì tranh cãi giữa các trường phái kinh tế vĩ mô khác nhau về các chính sách tài chính và tiền tệ, các mô hình hiện đại hơn dựa trên toán học sẽ cho phép đánh giá khách quan hơn về hiệu quả và hạn chế của các chính sách này. Công việc để làm cho các nhà toán học trong kinh tế và tài chính còn vô cùng nhiều.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học và Thơ      Tặng hai trong số những người bạn thân nhất,  Hoàng Tụy, nhà toán học, và Việt Phương, nhà thơ.      Các bảng chữ Mesopotamia: một mảnh ghi một trong các sử thi Gilgamesh (trái) và một mảnh ghi giá trị của √2 (phải).  Nhiều nhà toán học từng nói vui về một sự tương đồng giữa toán học và thơ, trong đó người ta thường nhắc đến hai câu nổi tiếng: “không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn thơ” (Sofia Kovalevska) và “nếu một nhà toán học không phải là nhà thơ theo nghĩa nào đấy thì đó không bao giờ là một nhà toán học hoàn hảo”. Thoạt nghe nhiều người có thể ngạc nhiên. Ở đây, có thể tạm diễn giải rằng toán học và thơ cùng có sức mạnh cho phép con người tưởng tượng ra những thế giới mới, khác với khoa học có sứ mệnh phản ánh thế giới “thực” (mặc dù bản thân các nhà khoa học cũng nên có trí tưởng tượng phong phú, nhưng ta không bàn chuyện đó ở đây). Chính khả năng tưởng tượng ra các thế giới mới ở toán học và thơ ca khiến ta cảm thấy chúng mang lại một nguồn tri thức khác với những kiến thức duy lý thuần túy, nó sâu sắc và chạm đến gần hơn sự bí ẩn của thế giới; chúng ta thường cảm thấy sự hoàn hảo tinh khiết của toán học cũng như vẻ đẹp biến ảo của những vần thơ thật khác biệt với thế giới duy vật lạnh lẽo của khoa học. Vậy ẩn giấu đằng sau đó là điều gì?     Thời cổ đại     Toán và thơ được coi là cùng sinh ra đầu tiên ở Mesopotamia (nay là Iraq) khoảng năm-sáu nghìn năm trước khi chữ viết bắt đầu xuất hiện. Thực ra, chúng được thừa hưởng từ nền văn hóa truyền khẩu khởi đầu từ khoảng mười nghìn năm trước. Sau Mesopotamia, Ai Cập cũng sớm hình thành một nền văn minh tiến bộ tương tự nhưng để lại ít tư liệu hơn do họ ghi chép trên giấy cói kém bền hơn các bảng đất nung của người Mesopotamia. Trong các tư liệu còn sót lại, ngoài những thông tin có tính đời thường như hồ sơ lưu kho, cẩm nang kỹ thuật, còn có những nội dung mang tính tôn giáo và huyền bí với hành văn mang tính thơ ca. Bí ẩn về sự ra đời của thế giới luôn là nguồn cảm hứng và động lực khiến con người tưởng tượng ra những thế giới huyền bí và sáng tác ra các huyền thoại. Cũng trong giai đoạn này, toán học đã khá phát triển nhưng chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề thực dụng. Phải tới ba nghìn năm sau, thứ toán học có động lực thuần túy từ trí tò mò mới ra đời ở Trung Quốc và Hy Lạp.  Ở Mesopotamia, khoảng năm nghìn năm trước chữ viết phát triển từ dạng chữ biểu ý sang chữ biểu âm. Nói cách khác, người ta không còn chỉ dùng chữ tượng hình để biểu đạt các sự vật và khái niệm, mà còn dùng chữ như các âm tiết và ghép chúng thành từ, trong đó ý nghĩa của từ không nhất thiết còn liên quan tới các sự vật, khái niệm gốc của chữ tượng hình ban đầu – ngày nay, chúng ta còn giữ được vài trăm bảng chữ như vậy bằng đất sét. Cũng trong kỷ nguyên này, người ta không chỉ ghi chép những cẩm nang kỹ thuật hay các danh mục từ vựng, mà mở rộng sang cả những ghi chép lịch sử, bài giảng đạo đức, các bài thánh ca, nguyện cầu, ai điếu, những chuyện huyền bí và các sử thi. Trong số các văn bản nổi tiếng nhất có sử thi Gilgamesh (12 bảng) kể về những cuộc chiến của một vị vua đi tìm sự bất tử. Giống đa số các nền văn minh cổ đại khác, người Mesopotamia tin rằng nhân loại và Vũ trụ được tạo ra bởi nhiều vị thần, là những đấng cai quản Vũ trụ thường gây chiến lẫn nhau để giành quyền lực. Thơ ca chiếm phần lớn trong văn học Mesopotamia, với những thi luật phản ánh bề dày một di sản văn học truyền khẩu đã tồn tại từ lâu trước khi có văn viết.  Số học của người Mesopotamia cũng khá tiên tiến, nhưng khác với văn học, nó phát triển thuần túy do những mục đích thực dụng. Họ sử dụng hệ đếm 60 (ngày nay còn được lưu lại trong cách chúng ta đo góc và tính thời gian), trong đó có ký tự cho số 1 và số 10, nhưng không có số 0. Ký tự số 1, là đơn vị, nghĩa là 60n với mọi số nguyên n, bao gồm cả số âm: có thể nghĩa là 1/60, hay 1, hay 3.600, v.v. Giá trị cụ thể được xác định tùy theo văn cảnh. Họ không có công thức, phương trình, chỉ có các phép tính bằng bảng tính (tính căn bậc hai, bậc ba, nghịch đảo, v.v.). Ví dụ, bảng tính cho thấy √2 có thể được tính bằng 1+24/60+51/602 +10/603=1,41421296. Hình học Mesopotamia khá tiên tiến, nhưng cũng thuần túy mang tính thực dụng. Họ có thể tính những diện tích và thể tích đơn giản, ước lượng số π bằng 3, hoặc bằng 3+7/60+30/602=3,125. Họ biết cách chuyển độ dài thành thời gian mặt trời, và biết ghi chép các vụ nhật thực, nguyệt thực, thời gian lặn/mọc các vì sao và hành tinh.      Từ những gì chúng ta biết, toán học Ai Cập phát triển khá tương đồng với Mesopotamia nhưng họ sử dụng hệ đếm thập phân và đi sau Mesopotamia một vài (rất ít) thế kỷ. Người Ai Cập cổ đại rất tin vào quyền năng của từ ngữ, cho rằng gọi tên tức là mang lại sự sống. Những người biết viết trong xã hội tập hợp lại thành một giới tinh hoa. Các tư liệu dạng hình vẽ trong mộ cổ còn lại ngày nay cho thấy các bài thơ được viết ra nhằm bảo vệ, nuôi dưỡng các linh hồn ở thế giới bên kia, và bổ sung thêm vào các nội dung từng được tìm thấy trong nền văn minh Mesopotamia.    Trung Hoa cổ đại: công cụ Chu Dịch bói thiên cơ (trái) và một bài thơ trong Kinh Thi (phải).  Ở Trung Quốc, trong khoảng một nghìn năm TCN, dưới triều nhà Chu, toán học phát triển từ một số yếu tố tương tự như ở Mesopotamia và Ai Cập, tới một ngưỡng hiện đại hơn. Nó trở thành một trong sáu bộ môn mà người đi học phải thông thạo. Người Trung Quốc phát kiến ra việc dùng số âm, hệ thập phân, và hình học đại số. Họ đã có nhận thức về số 0 và vô cùng khi giải quyết vấn đề xác định điểm trong hình học. Họ biết biểu đạt định lý Pythagore, phát triển số học và đại số tinh tế tới mức có thể phục vụ cho thiên văn học. Họ còn dùng Chu Dịch, liên quan tới hệ nhị phân, cho việc bói toán, suy đoán thiên cơ.  Kinh Thi là tập hợp những bài thơ cổ nhất của Trung Quốc còn lại đến nay, trong đó Khổng Tử tổng hợp 305 bài từ thế kỷ 11 tới 7 TCN. Trong đó có những lời thơ ngắn đơn giản, những bài tán tụng các vị vua thời kỳ đầu nhà Chu, hoặc các nội dung dùng trong các buổi lễ hay tiệc. Các bài thơ ngắn thường là các bài hát dân gian về tình ái, nỗi tương tư, lời người lính ngoài chiến trường, những câu chuyện đồng áng và gia sự, hay thậm chí cả những châm biếm và phản kháng chính trị. Các câu thơ được viết bằng bốn âm tiêt (sử dụng hình thức bốn âm tiết – thơ bốn chữ), ngắt nhịp ở giữa câu và vần ở cuối câu.  Homer và Hesiod thống trị thơ ca Hi Lạp trong thế kỷ 8 TCN. Không rõ thực hư nhưng người ta kể rằng Homer đi tới từng làng cùng các nhạc công để hát những bài thơ của mình; nhà thơ mù này được nhớ đến với một phong cách cao quý và mạnh mẽ trong Iliad và Odyssey, những tác phẩm đầu tiên của thơ ca phương Tây. Hesiod viết Thần phả (Theogony) về thế giới và các vị thần, ông cũng viết Công việc và Ngày, ca ngợi lao động trung thực, cần cù, danh dự, và tinh thần phi bạo lực. Đây chính là nguồn chủ đạo của thần thoại Hy Lạp, đồng thời còn có nội dung truyền thừa các kỹ năng đồng áng, tư duy kinh tế và thiên văn học.    Tới thế kỷ 6 TCN, Thales là người đầu tiên đặt nền móng phát triển tư duy trừu tượng trong hình học, và Pythagore là người đầu tiên nhận thấy có thể xây dựng một hệ thống toán học hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố hình học tương ứng với các số. Các vấn đề liên quan tới số vô tỷ (các bài toán dựng một hình vuông có diện tích bằng hình tròn cho trước, và dựng một hình hộp thể tích gấp đôi một hình hộp cho trước) và vô cùng (nghịch lý Zeno về Achilles và con rùa) được thảo luận. Giai đoạn Hellenistic (từ thế kỷ 4 TCN) chứng kiến một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất trong toán học. Năm 387 TCN, Plato xây dựng Viện Hàn lâm, nơi những nghiên cứu của Aristotle về logic sẽ tác động sâu sắc tới tư tưởng nhân loại hàng nghìn năm tiếp theo. Đóng góp quan trọng nhất của người Hy Lạp là khái niệm về việc chứng minh, phương pháp suy luận dùng các bước logic để chứng minh hoặc bác bỏ một định lý dựa trên các tiên đề giả định ban đầu.  Tóm lại, trong khoảng hai nghìn năm trước, toán học và thơ đã đạt tới một trình độ hoàn mỹ cho phép con người tưởng tượng/sáng tạo ra những thế giới mới thuần túy xuất phát từ trí tò mò. Sức mạnh thúc đẩy xúc cảm mạnh mẽ từ ngôn từ đã khiến thơ trở thành công cụ được chú trọng của các tôn giáo và triết học siêu hình, khiến chúng ta tin rằng mình có thể làm sáng tỏ những bí ẩn của thế giới. Vẻ đẹp và sự hoàn mỹ của các kết cấu toán học cũng khiến ta nghĩ rằng chúng mang lại căn cứ chứng minh bản chất thần thánh của tạo hóa. Dù đúng hay sai, điều này mang lại cho toán học và thơ một chức năng quan trọng hàng đầu đối với nhân loại, đó là khiến chúng ta cảm thấy mình tiếp cận những ranh giới của cái chưa biết.  Sự kỳ diệu của toán học      Nhìn tổng thể, toán học là sự phát kiến ra những khái niệm mới, cấu trúc mới. Khoa học thường bị lệ thuộc vào các hiện tượng thực tiễn là đối tượng mà nó tìm cách lý giải, nhưng toán học có thể tự tách mình ra khỏi những hiện tượng đó. Nó biến những quy luật tự nhiên thành các tiên đề, lấy đó làm cơ sở để tiếp tục khám phá những chân trời mới. Khoa học vẫn thường xuyên phải sửa đổi các giả thuyết, nhưng toán học thì bất tử. Toán học có thể đi từ thế giới thực tới những thế giới tưởng tượng, với những số nguyên dương, số nguyên âm, số hữu tỷ, số thực, số phức, các quaternion… Từ ba chiều không gian người ta tưởng tượng ra chiều thứ tư, và nhiều hơn nữa; từ cách đo đạc thông thường (hình học Euclid), người ta hình dung ra những cách đo khác; rồi đến những cấu trúc nhóm, nhẫn, không gian topo, nút, v.v. Trí tưởng tượng đôi khi xuất phát từ các mục đích thực dụng, nhưng cũng có lúc thuần túy do trí tò mò. Thông thường, các khái niệm mới sẽ tìm được đất để ứng dụng trong thực tế, nhưng không nhất thiết khi nào cũng như vậy.  Toán học có thể đưa trí tưởng tượng đi rất xa, thậm chí nó có thể làm lung lay chính những logic làm nền tảng cho toán học truyền thống. Lấy một ví dụ đơn giản như nghịch lý nói dối, trong đó một thông điệp A phát biểu rằng: “thông điệp A sai”. Giả định rằng thông điệp A là đúng, thì nghĩa là “thông điệp A sai” là đúng, suy ra A là thông điệp sai. Ngược lại, nếu giả định thông điệp A sai thì nghĩa là lời phát biểu “thông điệp A sai” là sai, suy ra A là thông điệp đúng. Như vậy, luôn tồn tại một nghịch lý, đó là A luôn vừa đúng vừa sai. Câu chuyện này thúc đẩy nhiều nhận định từ các nhà toán học và logic đương đại, liên quan tới các định lý Gödels và Tarski về tính không xác định. Về cơ bản, các chân lý số học không thể được định nghĩa đơn thuần bằng số học. Theo đó, người ta khám phá ra các logic đa giá trị (multiple-valued logics), trong đó không chỉ có đúng và sai, mà có thể có những logic “mơ hồ”, với chân lý có thể là bất kỳ giá trị nào giữa 0 và 1.    Một minh họa khác là các khái niệm về vô cùng và vi phân, vốn luôn lôi cuốn các nhà toán học và triết gia. Ta hãy đếm 1, 2, 3…, và nghĩ về một điều mà trong trực giác tưởng như rất bất hợp lý: số nguyên và số hữu tỷ là hai tập hợp có số lượng phần tử bằng nhau. Tình cờ ở đây ta nghĩ tới tộc người Hotentot [ở châu Phi], những người chỉ nhận thức được ba số, một, hai, và số nhiều: vậy làm sao họ có thể nghĩ đến vô cùng? Phải tới đầu thế kỷ 20, nhờ Dedekind, Cantor, Frege và một số người khác, vấn đề này mới sáng tỏ. Trong vật lý, vi phân và vô cùng cũng được dùng rất nhiều nhưng chỉ với vai trò là công cụ, còn để mô tả thế giới, vật lý không hề cần đến khái niệm vô cùng.    Hy Lạp cổ đại: Homer (trái), một cảnh trong Odyssey (phải), và Hesiod (dưới)  Giữa thế kỷ 17, Descartes lập luận rằng “cần kết luận rằng Chúa tồn tại, bởi tôi, một thực thể hữu hạn, chẳng thể có ý tưởng về điều gì đó vô tận, trừ phi nó được đưa vào trí óc tôi bởi điều gì đó thực sự vô tận”. Thật khó để chúng ta, trong thế kỷ 21 này, bị thuyết phục bởi một lập luận như vậy, nhưng trên thực tế nhiều người đến nay vẫn tin rằng sự tinh khiết của toán học bắt nguồn từ một bản chất thần thánh: vài thập kỷ trước, Dirac, Wigner, Einstein và Chandrasekhar từng hỏi làm sao mà con người có thể “hiểu được” Vũ trụ: “Làm sao trí óc con người phát kiến được những khái niệm trừu tượng và nhận ra vẻ đẹp của chúng? Và vì sao những khái niệm đó tình cờ có sự tương ứng chính xác với Tự nhiên?” Ngày nay nếu chúng ta nhìn nhận những vấn đề này sáng rõ hơn các vị tiền bối nêu trên, thì không phải vì ta thông minh hơn họ; đơn giản chỉ là ta hiểu hơn về cách vận hành của bộ não. Đó là nhờ các nhà sinh học thần kinh: “giả thuyết chấn động” của Francis Crick năm 1994 mà đến nay đã có bằng chứng, rằng chúng ta đơn thuần cấu thành bởi các nguyên tử, các quy tắc vật lý và hóa học của các tế bào vận hành cơ thể và trí não của chúng ta. Chúng ta có thể tin vào bằng chứng của kết luận này mà không còn phải e ngại sẽ bị coi là những kẻ duy vật giáo điều.  Nhận thức mới trên đây giúp ta nhận thức đầy đủ hơn trước đây về bản chất suy luận vô tận trong vòng lặp và tính tự dẫn chiếu trong kiến thức: chúng ta tự kể cho mình một câu chuyện, kể về việc ta tự kể cho mình một câu chuyện, kể về việc… Tuy nhiên, nhận thức mới không làm mất đi tính bí ẩn đằng sau sự tồn tại của thế giới, mà chỉ khiến bản chất sâu sắc của nó trở nên hiển nhiên hơn: ta nhận ra mình sẽ không bao giờ trả lời được câu hỏi “vì sao thế giới tồn tại thay vì chẳng có gì”, bởi giữa vòng lặp vô tận của tri thức kể trên, câu hỏi đó trở thành vô nghĩa. Leibniz từng suy đoán rằng phải có một lý do nào đó trong Tự nhiên khiến thế giới tồn tại thay vì không có gì. Nhưng nay chúng ta phải từ bỏ hi vọng tìm được một “lý do” như vậy; lý do nào thì cũng chỉ là sự sáng tạo của chính chúng ta. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm của Chandrasekhar và những người cùng phía với ông ta, bởi việc chúng ta rèn giũa (chứ không phải phát kiến) nên logic và toán học chính là nhằm quan sát và lý giải thế giới (mà chúng ta là một phần trong đó): vậy thì làm sao ta có thể tự ngỡ ngàng về hiệu quả kỳ diệu của chúng? Cơ sở khách quan nào để ta có thể đo lường tính kỳ diệu này?    Viện Hàn lâm của Plato theo tưởng tượng của họa sỹ Raphael, với chân dung Epicures (2),  Pythagoras (6), Socrates (12), Plato (14), Aristotle (15) và Euclid hoặc Archimedes (18).  Wittgenstein viết rằng “thế giới như thế nào không phải là điều Bí ẩn (khoa học tự nhiên có nghĩa vụ trả lời câu hỏi này), việc thế giới tồn tại mới là điều Bí ẩn; với những gì ta không thể nói, ta phải giữ im lặng”. Đề nghị giữ im lặng này của ông là nhằm vào các triết gia: các vị mà cứ tỏ ra thấu hiểu về điều Bí ẩn thì sẽ chỉ sinh thêm ra những chuyện tán gẫu tầm phào.  Nhưng đối với các nhà thơ và nhà toán học, họ hoàn toàn có quyền khiến chúng ta cảm thấy họ đưa ta tới gần hơn ranh giới của cái chưa biết, mang lại làn gió thoảng đến từ phía bên kia. Đã có nhiều nỗ lực tìm cách đặt mối liên hệ giữa cái đẹp và toán học như một cách để chúng ta thoát khỏi ám ảnh về tính chủ quan hiển nhiên của toán. Một trong những ví dụ nổi tiếng là chuỗi Fibonacci, trong đó mỗi phần tử là tổng của hai phần tử đứng trước nó, Fn=Fn-1+Fn-2. Tỉ lệ giữa hai phần tử đứng cạnh nhau nhanh chóng tiệm cận với cái được gọi là “tỉ lệ thần thánh”, hay “tỉ lệ Vàng”, φ=½(1+√5). Nhiều triết gia và nghệ sỹ coi đó như một căn cứ căn bản vận hành sự sáng tạo thế giới.  Sự kỳ diệu của thơ  Sự phát triển của toán và thơ trong trí tuệ tập thể của nhân loại (tức văn hóa của chúng ta) có những điểm tương đồng rõ rệt với sự phát triển trong tâm trí một đứa trẻ. Quả thực não người từ mười nghìn năm trước về mặt di truyền đã tiến hóa tương đương như ngày nay, nhưng ở đây ta bàn về sự tích lũy tri thức chứ không phải về tố chất bẩm sinh. Nhưng nhân loại đã phải nỗ lực rất nhiều qua hàng nghìn năm để tích lũy tri thức, còn đứa trẻ thì được dạy bởi cha mẹ, gia đình, thầy cô, nghĩa là hấp thu những tri thức đã được tiêu hóa từ trước. Tuy nhiên, tôi thấy thật thú vị là trẻ rất dễ tiếp thu các bài đồng dao, bài hát, và dễ được truyền cảm hứng bởi thơ ca. Việc nhập vai đóng vai trò quan trọng trong cách học của chúng. Chúng cũng thật dễ bị lôi cuốn bởi các câu hỏi nảy sinh từ những sáng tạo trong toán học, từ vô cùng, chiều không gian khác, máy đi ngược thời gian, v.v. Nhờ thế mà các tác phẩm khoa học giả tưởng mới đắt hàng đến vậy.  Tính chính xác tuyệt đối là quy tắc duy nhất mà toán học phải tuân thủ, nhưng trong sáng tạo toán học, đó cũng không phải là yêu cầu căn bản nhất. Trái lại, có rất nhiều quy tắc khác nhau trong thơ, do chính các nhà thơ tự đặt ra. Thật lạ là những quy tắc đó không làm giảm chất lượng sáng tác thơ do hạn chế tự do sáng tạo, mà có thể còn đưa ra những hình ảnh, ẩn dụ, gợi mở làm tôn lên vẻ đẹp. Những quy tắc này có nhiều dạng khác nhau tùy theo các ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ, phần quan trọng trong vẻ đẹp của thơ Trung Quốc và Nhật Bản là bố cục hài hòa của chữ tượng hình. Cho phép tôi minh họa bằng hai bài thơ của Hồ Chí Minh:      Chiều tối  Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,  Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không.  Cô em xóm núi xay ngô tối,  Xay hết, lò than đã rực hồng.         Nghe tiếng giã gạo  Gạo đem vào giã, bao đau đớn  Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông.  Sống ở trên đời, người cũng vậy,  Gian lao rèn luyện mới thành công.  Tuy thơ không chỉ là chơi với chữ nhưng có một phần tương đồng nhất định ở đây. Một ví dụ nổi tiếng là Đi thuyền của Hàn Mặc Tử (1912-1940), một bài thơ có thể vừa đọc xuôi vừa đọc ngược, thậm chí có thể bỏ bớt hai hoặc bốn âm đầu trong mỗi câu.  Bèo trôi nước giợn sóng mênh mông  Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông  Chèo vững thiếp qua vời khổ hải  Chí bền chàng đến vận trung không  Theo lần nguyệt xế mây mờ mịt  Hoạ đáp thông reo trống não nồng  Neo thả biết đâu nơi định trước  Bèo trôi nước giợn sóng mênh mông  Mông mênh sóng giợn nước trôi bèo  Trước định nơi đâu biết thả neo  Nồng não trống reo thông đáp hoạ  Mịt mờ mây xế nguyệt lần theo  Không trung vận đến chàng bền chí  Hải khổ vời qua thiếp vững chèo  Trông liễu bóng xa bờ mọc cỏ  Mông mênh sóng giợn nước trôi bèo  Những câu đối từng rất phổ biến trong văn hóa Việt là một ví dụ dễ thấy khác của kỹ năng chơi chữ. Trong bài thơ nổi tiếng Ông đồ, viết năm 1936, Vũ Đình Liên xót xa về sự quên lãng của giới trẻ đối với loại thơ này:  Năm nay đào lại nở  Không thấy ông đồ xưa  Những người muôn năm cũ  Hồn ở đâu bây giờ?  Một ví dụ thơ Việt Nam nữa là tác phẩm của Thanh Hải, với âm điệu có thể trực tiếp chuyển thành nhạc mà không hề phải điều chỉnh gì:  Mọc giữa dòng sông xanh  Một bông hoa tím biếc  Ơi con chim chiền chiện  Hót chi mà vang trời  Từng giọt long lanh rơi  Tôi đưa tay tôi hứng.  Chơi chữ có một lịch sử lâu đời: trên một chiếc đĩa tìm thấy ở Pompei, với niên đại 79 sau CN, có năm từ xếp thành một trật tự đối xứng hoàn mỹ, cho phép đọc theo bất kỳ chiều nào. Khi còn là một đứa trẻ, tôi được học ở trường một bài thơ gợi nhắc đến 125 chữ số đầu của số π! Ý tưởng ở đây là đếm số chữ trong mỗi từ. Tất nhiên, chuyện này thật vô ích, nhưng tôi vẫn còn nhớ hai câu đầu:  Que j’aime à faire apprendre ce nombre utile aux sages!  Immortel Archimède, artiste ingénieur,    Các ví dụ chơi chữ: tác phẩm Trăm nghìn tỷ bài thơ của Raymond Queneau (trái), một đôi câu đối  của Việt Nam (1906, phải) ,và một viên đá tìm thấy ở Pompeii (79 sau CN, dưới).  Ở Pháp, trào lưu Oulipo khởi đầu bởi Raymond Queneau và François Le Lionnais, một nhà thơ và một nhà toán học, nổi tiếng cũng bởi một kỳ tài tương tự: La Disparition là một tiểu thuyết không hề có chữ e, nguyên âm phổ biến nhất trong tiếng Pháp; Trăm nghìn tỷ bài thơ là một tập hợp gồm mười bài thơ, trong đó bạn có thể chọn bất kỳ câu thơ nào để tự chế thành bài thơ của mình; có những tiểu thuyết mà độc giả có thể đọc theo hàng tỷ cách từ những trang không đánh số. Các bài thơ holorhyme được viết từ những câu nghe giống nhau nhưng có nghĩa khác nhau, ví dụ: Par les bois du djinn, où s’entasse de l’effroi,/Parle et bois du gin, ou cent tasses de lait froid dịch nghĩa là: trong khu rừng của những vị thần djinn, nơi nỗi sợ đầy rẫy,/nói chuyện và uống rượu gin, hay một trăm cốc sữa lạnh. Ngoài ra, còn có các palindrome là những câu viết xuôi hay đảo ngược đều như nhau, ví dụ Do geese see God? Was it Eliot’s toilet I saw? Murder for a jar of red rum. Never odd or even.  Lewis Caroll (1832-1898) vừa là nhà thơ vừa là nhà toán học, nổi tiếng nhờ viết Alice ở xứ sở thần tiên và Nhìn qua gương soi. Trong bài thơ Đi săn quái vật, Đồ tể giải thích cho Hải ly vì sao 2 + 1 = 3:  “Lấy số Ba làm đối tượng tính toán —  Một con số thật là dễ viết      Ta cộng Bảy, và Mười, rồi nhân lên  Với Một Nghìn đã trừ đi Tám.  Lấy kết quả tiếp theo ta chia  Cho Chín Trăm với Chín Mươi và Hai:  Rồi trừ Mười Bảy, câu trả lời sẽ là  Đúng một cách chính xác và tuyệt đối hoàn hảo.”  Cho những ai không đánh giá cao sự hài hước của mình, ông nói rằng: “Có những người có lẽ sẽ chê trách tôi vì đã pha trộn sự trang nghiêm với sự tươi tắn, nhưng tôi không tin rằng Chúa muốn chúng ta chia cuộc sống thành hai nửa riêng rẽ”.  Chơi chữ cũng thường là cách để người ta qua mặt sự kiểm duyệt; hẳn chúng ta còn nhớ những câu thơ chúc thọ Bác Hồ trong một thể chế chính trị không cho phép điều này:       Cụ già thong thả buông cần trúc,  Hồ rộng trời in mặt nước hồng.  Muôn vạn đài sen hương bát ngát,  Tuổi già vui thú với non sông.  Gần đây hơn, Cao ni ma trở thành một biểu tượng về đòi hỏi mở rộng tự do ngôn luận trên Internet ở Trung Quốc.  Ta có thể kể tiếp vô vàn những ví dụ về cách các nhà toán học và nhà thơ chơi với con chữ để thỏa mãn ý thích của họ. Nhưng thực ra điều gì khiến một câu thơ gây cảm hứng? Một hỗn hợp của những điều trực tiếp nói ra và những gì ngụ ý phía sau, hay một hỗn hợp của nhạc điệu và âm điệu. Thay vì cố phân tích rõ rành – mà như vậy có thể còn làm mất phẩm giá của thơ – tôi muốn kết thúc bài viết này bằng trích dẫn một số câu thơ nổi tiếng tình cờ đến trong tâm trí1. Nhưng tiếc là tôi không dịch ra tiếng Việt được. Tôi chỉ có thể đơn giản sử dụng những câu Kiều vốn đã ăn sâu trong tâm khảm những người bạn Việt Nam của mình, xin trích lại hai câu:  Cỏ non xanh rợn chân trời  Cành lê trắng điểm một vài bông hoa  Nguyễn Du    Chuỗi Fibonacci: sự tương đồng giữa vòng xoắn Fibonacci spirals và lõi nhụy hoa hướng dương (trái);  chuỗi Fibonacci biểu diễn thành kích thước các hình vuông (phải) theo một tỉ lệ xấp xỉ tỉ lệ Vàng.  Hai cuộc cách mạng Văn hóa và Khoa học  Năm 1959, nhà khoa học đồng thời là nhà văn người Anh C.P. Snow có bài diễn văn nổi tiếng và đầy sức ảnh hưởng bàn về việc đời sống trí thức trong tất cả các xã hội phương Tây đang bị chia thành hai lĩnh vực văn hóa – khoa học và nhân văn – và đây chính là trở ngại lớn trong giải quyết các vấn đề của thế giới. “Vậy là thành tựu vĩ đại của vật lý hiện đại cứ vươn cao lên, trong khi đa số những người thông tuệ nhất trong thế giới phương Tây chẳng hiểu gì về nó hơn những tổ tiên của họ từ thời đồ đá”. Những phản hồi có tính xây dựng và ít khiêu khích hơn dành cho các nhận định của Snow trong những năm gần đây thể hiện sự hướng tới tái hợp tư duy văn chương với tư duy khoa học. Tuy nhiên, trên nhiều lĩnh vực hoạt động của con người, hai giới này vẫn nói những ngôn ngữ vênh nhau và không hiểu được nhau.  Cuộc dạo chơi ngắn ngủi của chúng ta qua các lãnh địa của toán và thơ cho chúng ta thấy cả hai đều đáng trân trọng: chúng ta hãy dạy trẻ em yêu cả hai, các môn nhân văn và các môn khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, thơ và toán! Điều đó sẽ trang bị tốt hơn cho các em để có thể đối diện với những khó khăn mà thế giới toàn cầu hóa không ngừng biến động mang lại. Điều đó cũng sẽ giúp tạo nên một thế giới thân ái hơn.  Thanh Xuân dịch  ——–  1 Với các độc giả quen thuộc văn học phương Tây, dưới đây là một vài câu thơ [Thanh Xuân dịch]: Để thấy thế giới trong một hạt cát,/Và thiên đường trong một bông hoa dại,/Để giữ vô hạn trong lòng bàn tay,/Và vĩnh cửu trong một giờ khắc/William Blake. Tôi biết mình sẽ gặp gỡ số phận /Đâu đó giữa những đám mây trên cao;/Những người tôi đang chiến đấu chống lại, tôi đâu thù hận họ,/Và những kẻ đang được tôi bảo vệ, tôi đâu có yêu họ/William Butler Yeats. Ariane, em ơi, tình yêu nào làm em đau đớn/Em nằm chết trên bến bờ nơi bị bỏ lại?/Jean Racine. Tôi không biết chuyện ấy nghĩa là sao,/Rằng tôi buồn quá,/Câu chuyện cổ tích từ thời xưa cũ,/Không đến trong tâm trí tôi./Heinrich Heine. Đi qua nửa đường đời,/Thấy mình giữa rừng tối,/Ôi con đường thẳng đã mất/Dante Alligheri. Và khi gió và đông buốt hơn/Cả mảnh đất không còn tình yêu,/Nó sẽ thì thầm về khu vườn ấy,/Và em sẽ hiểu/Oscar Wilde.       Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Toán học và Vật lý      1. Toán học diệu kỳ  Những người không thường xuyên tiếp xúc với khoa học thường lẫn lộn giữa vật lý với toán học, coi toán học là một cái gì đó huyền bí, những công thức trừu tượng không có liên hệ với thực tế. Nhưng, như Feynman viết, “các nhà vật lý sử dụng lý luận do các nhà toán học tạo nên để mô tả thế giới […] các nhà toán học giúp các nhà vật lý, nhưng với vật lý, bạn cần phải hiểu mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới thực.”      Mersenne (số có dạng lũy thừa của 2 trừ 1: 2n – 1) mang tên nhà toán học người Pháp Marin Mersenne.  Không nghi ngờ gì cả, toán học hết sức cuốn hút. Bạn bắt đầu bằng những giả thuyết tưởng chừng như đơn giản nhưng lại khám phá ra một thế giới tuyệt diệu đến không ngờ. Bạn đếm 1, 2, 3… và rồi số nguyên tố, hàm zeta Riemann, số Mersenne, những hình vuông kỳ diệu, nguyên lý Fermat, số hoàn hảo và vô hạn đầy thách thức của toán học xuất hiện. Giống như cách mà ngôn ngữ cho phép ta chơi với ngôn từ và mường tượng nên vũ trụ huyền diệu, toán học cho phép ta chơi với các tiên đề để tạo nên những thứ bậc của vô hạn: đường cong Peano, tính không thể quyết định và hàng loạt những kỳ quan khác. Những giả thuyết đơn giản mà đem lại sự phong phú làm sao! Cách xây dựng của toán học đẹp đẽ và thanh tao đem lại cho ta một cảm giác thuần khiết! Khác với các môn khoa học phụ thuộc vào hiện tượng với mục đích tìm hiểu và miêu tả, toán học có thể tự trừu tượng hóa từ những hiện tượng như vậy, dựng nên các tiên đề từ sự gợi ý của tự nhiên để có thể khơi nguồn cho những cuộc khám phá. Trong khi những giả thuyết của khoa học phải được liên tục xem xét lại thì toán học là vĩnh cửu.  2. Là lý thuyết hay quan sát thực tiễn?  Trước khi minh họa về việc ứng dụng toán học trong vật lý, cho phép tôi chỉ ra một số sai lầm mà nhiều người thường mắc phải.  Trước hết, khoảng cách giữa lý thuyết và quan sát không đến nỗi lớn như nhiều người nghĩ. Khi nói: “Mặt trời lặn ở phía Tây”, thì đó là lý thuyết hay quan sát? Để gọi tên Mặt trời, ta đã phải tưởng tượng rằng những cái đĩa màu đỏ biến mất sau đường chân trời vào buổi chiều mà ta nhìn thấy cũng là cái mà ta nhìn thấy đi lên ở hướng bên kia vào buổi sáng: để gọi đó là Mặt trời đồng nghĩa với việc đã có một lý thuyết về Mặt trời. Ngay khi cố gắng miêu tả cái quan sát được, chuyển nó thành những câu chữ, con số, thông tin mà não bộ lưu trữ và xử lý, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đã tạo nên một lý thuyết. Hãy nghĩ về cách một đứa trẻ mới sinh học cách nhận ra khuôn mặt và giọng nói của người mẹ. Chẳng phải đó chính là tạo nên một lý thuyết về người mẹ? Những lý thuyết được học từ nhỏ thì ta vẫn gọi là lẽ thường tình, còn lý thuyết mà chưa được nghiên cứu rõ thì ta gọi là điều bí ẩn.  3. Toán học là mãi mãi và vật lý luôn đổi thay  Người ta thường nói rằng vai trò của lý thuyết vật lý là chỉ ra sự ràng buộc giữa các đại lượng mà chúng ta dùng để mô tả hiện tượng, ví dụ E=mc2 hay F=ma. Tuy nhiên, điều này ngụ ý một giả định quan trọng rằng: các đại lượng đã được xác định. Dù nói về chất điểm, lực véctơ, véctơ bốn chiều không-thời gian, trạng thái lượng tử không gian Hilbert hay siêu dây thì những khái niệm rất không rõ ràng, chúng đã phải được tư duy và nghiền ngẫm từ trước. Chúng ta cần để ý rằng những khái niệm như vậy được xây dựng một phần nào đó khá tùy ý và thiếu chính xác; chúng không phải là những khái niệm hoàn hảo mà là kết quả của sự trừu tượng hoá và có thể cần được sửa đổi lại. Sự đẹp đẽ và hoàn hảo bề ngoài của một lý thuyết thường làm cho chúng ta quên đi điều này. Sẽ là sai lầm nếu coi một lý thuyết vật lý là chân lý tuyệt đối. Chúng ta phải luôn sẵn sàng xem xét lại cơ sở nền móng của các lý thuyết để có thể tạo ra những nền móng mới giúp xây dựng các lý thuyết tốt hơn, tổng quát hơn và/hoặc chính xác hơn. Cơ học Newton không phải là một lý thuyết tốt như Thuyết tương đối Đặc biệt nhưng nó không hề kém phần trừu tượng. Cơ học Newton đem lại cảm giác dễ hiểu với những người vốn đã quen thuộc với nó, đến mức họ quên mất rằng lý thuyết này cũng dựa trên những khái niệm trừu tượng, cái mà họ đã mặc định là hiển nhiên đúng. Tất cả các lý thuyết vật lý đều trừu tượng; vai trò của chúng là tạo nên những khái niệm trừu tượng. Một lý lẽ tưởng chừng hiển nhiên thực ra cũng không có gì đặc biệt, nó thuần túy chỉ là một điều mà chúng ta đã lĩnh hội được, đó thực chất vẫn là một khái niệm chủ quan, ngay cả khi nó đã trở thành quan điểm chung của số đông. Khoa học luôn sẵn sàng chấp nhận một lý thuyết mới, không quan trọng nó trừu tượng đến mức nào, miễn là nó tốt hơn lý thuyết cũ. Ta không thể tuyên bố một lý thuyết nào đó là tối thượng và nên từ bỏ tham vọng có được chân lý tuyệt đối.  4. Ứng dụng toán học trong vật lý  Vô hạn và vi phân trong vật lý  Bây giờ hãy cho phép tôi đưa ra một vài ví dụ về cách thức các nhà vật lý sử dụng toán học.  Khái niệm về vô hạn và vi phân luôn luôn kích thích các nhà toán học và triết học. Hãy nghĩ đến nghịch lý Hilbert về một khách sạn với vô số phòng có thể chứa vô hạn khách. Như là một ví dụ, tôi thích sử dụng cách chứng minh rằng số nguyên cũng nhiều như số hữu tỉ bằng cách thay những số hữu tỉ trong một bảng có tử số là số cột và mẫu số là số hàng. Chỉ đến đầu thế kỷ trước, vấn đề này mới được làm rõ bởi Dedekind, Cantor, Frege và một số người khác. Vật lý sử dụng rất nhiều khái niệm vô cùng nhỏ và vô hạn nhưng chỉ như là một công cụ. Để mô tả thế giới, vật lý không cần đến vô hạn. Theo cơ học lượng tử, một chất điểm vô cùng nhỏ không có ý nghĩa vật lý. Vũ trụ không vô hạn mà nó chứa 1080 hạt cơ bản. Nói Vũ trụ vô hạn chỉ đơn giản ngụ ý rằng những kiến thức ta biết về vũ trụ là những thứ nằm trong đường chân trời (khoảng cách chúng ta có thể nhận được ánh sáng từ vụ nổ lớn Big Bang, ~14 tỉ năm ánh sáng), tuy nhiên chẳng có lý do gì để cho rằng Vũ trụ không tiếp tục mở rộng ra bên ngoài biên này.  Lý thuyết nhóm trong vật lý  Lý thuyết nhóm cung cấp một nền tảng đặc biệt màu mỡ cho lý thuyết vật lý. Cái được gọi là “Mô hình chuẩn” mô tả vật lý hạt cơ bản được xây dựng dựa trên những nhóm Lie: nhóm Poincaré (nhóm quay và tịnh tiến trong không thời gian bao gồm cả những phép biến đổi Lorentz) và tích của các nhóm SU(3)C×SU(2)L×U(1) tạo ra các hạt fermion cơ bản. Bất biến chuẩn phát ra những hạt bonson chuẩn và phá vỡ đối xứng phát ra các hạt Higgs. Nhóm Poincaré là nhóm Lie của phép tịnh tiến và phép quay trong không gian với chuẩn khoảng cách (metric) của Thuyết tương đối Đặc biệt. Điều này ngụ ý tồn tại các hạt và phản hạt được miêu tả bởi các vectơ bốn chiều năng-xung lượng với bất biến khối lượng và spin. Tích của các nhóm SU(3)C×SU(2)L×U(1) miêu tả đối xứng được những hạt cơ bản này tuân theo, điều đó có nghĩa là các hiện tượng vật lý bất biến khi hoán đổi hai hạt có biểu diễn tương tự trong những nhóm này, chẳng hạn như hoán đổi proton thành neutron. Đến đây, tất cả các hạt fermion (các hạt có spin ½) tạo nên vật chất trong Vũ trụ và tính chất của chúng đã được miêu tả một cách đúng đắn. Nếu yêu cầu thêm bất biến chuẩn (pha của một trạng thái lượng tử có thể được cố định một cách tùy ý tại mọi điểm trong không gian) sẽ làm xuất hiện véctơ boson không khối lượng, tức là những hạt giống ánh sáng: photon, boson truyền tương tác yếu và gluon truyền tương tác mạnh. Phá vỡ đối xứng tạo nên khối lượng cho các hạt boson này và phát thêm một vô hướng (scalar) mới là hạt Higgs boson. Hạt Higgs, mới được phát hiện gần đây tại Trung tâm Hạt nhân châu Âu (CERN), là hạt cơ bản cuối cùng còn lại của Mô hình chuẩn.  Những chiều dư  Một ví dụ thứ ba về một khái niệm toán học được áp dụng thành công trong vật lý là những chiều dư (extra dimensions). Người ta đã loại bỏ được điều cấm kỵ về chiều dư khi Thuyết tương đối Đặc biệt đưa vào khái niệm không-thời gian hay véctơ bốn chiều năng-xung lượng, khái niệm về khối lượng, spin và phản hạt. Thêm vào đó, Thuyết tương đối Rộng mô tả hấp dẫn bằng cách liên hệ tensor nén năng lượng với sự biến dạng không gian do sự nén năng lượng gây ra. Sau đó, Kaluza đưa ra chiều dư thứ năm để đưa vào những phương trình Maxwell của điện từ học (thế véctơ và vô hướng). Chiều dư đã từng bị cho là một mẹo toán học mà không có lý giải vật lý cụ thể cho đến khi Klein đưa ra ý tưởng rằng chiều dư thứ năm này bị uốn cong đến nỗi ta không thể nhìn thấy được (gọi là bị xoắn). Lý thuyết hiện đại nhất ngày nay, thuyết tập M, yêu cầu 10 chiều không gian và 1 chiều thời gian (trong đó 7 chiều không gian bị xoắn).  5. Toán học không phải là chiếc đũa thần  Dirac luôn luôn quả quyết rằng phương trình nổi tiếng của ông mô tả electron và positron được dẫn dắt bởi tham vọng xây dựng nên một lý thuyết đẹp về mặt toán học. Thật không may, phương trình này không phải lúc nào cũng có thể áp dụng đẹp đẽ được như vậy. Trong những năm 60, Chew, Mandelstam, Frautschi và Regge khai thác tính khả tích của ma trận S (liên hệ giữa trạng thái ban đầu và trạng thái cuối của một hệ) và khái niệm đối xứng chéo (liên hệ tính chất của một tương tác a+b↔c+d với a+c↔b+d ở đó một vài hạt chuyển thành phản hạt của nó) đã đề ra khái niệm dân chủ hạt nhân. Ý tưởng của khái niệm này là không có hạt nào “cơ bản” hơn những hạt khác và tất cả các hạt đều được phát bởi cơ chế “tự nâng giày”, lấy ý tưởng từ hình ảnh một người nâng cơ thể mình lên bằng cách tự kéo giày của mình. Ý tưởng đó đã rất phổ biến, và đó cũng là lý thuyết mà chúng tôi được học khi còn là sinh viên, nhưng nó đã không bao giờ được áp dụng một cách cụ thể cả và, cuối cùng, sau một thế kỷ lý thuyết này đã bị loại bỏ. Ngày nay, Siêu đối xứng, lý thuyết ghép cặp boson với fermion, là ý tưởng về một đối xứng hoàn mỹ về mặt toán học. Sự đẹp đẽ của nó cực kỳ hấp dẫn đến nỗi khó có thể hình dung được rằng Tự nhiên lại làm ngơ với đối xứng này. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thành công trong việc tìm kiếm bằng chứng về nó trong thực tế.  6. Vật lý ngày nay  Trong suốt 40 năm qua, những nỗ lực tìm kiếm sai lệch của Mô hình chuẩn đều thất bại. Trong khi đó, những khám phá lớn gần đây của vật lý thiên văn về vật chất tối và năng lượng tối lại trở thành những vấn đề thách thức nhất đối với vật lý lý thuyết hiện đại. Vấn đề chính của vật lý ngày nay là sự thất bại của chúng ta trong việc mô tả thang Planck, ~10−32 cm, tương ứng với trạng thái của Vũ trụ tại thời điểm Vụ nổ lớn. Tại thang này, hấp dẫn mạnh đến mức làm cho hệ thức bất định Heisenberg, nền tảng của vật lý lượng tử, không còn áp dụng được nữa. Một cách tiếp cận hiện đại để giải quyết vấn đề này là thay thế các hạt cơ bản bằng các vòng dây với độ nén của dây xác định thang Planck. Với cách làm này, hệ thức bất định Heisenberg được sửa đổi để có thể hoạt động ở thang Planck nhưng nó đòi hỏi thêm 9 chiều không gian (trong đó 6 chiều bị xoắn). Bốn lý thuyết dây đã được tạo ra tương ứng với dây đóng, dây mở, dây có định hướng và không định hướng. Tuy nhiên, bốn lý thuyết này hóa ra cũng chỉ là bộ phận của một lý thuyết khác được gọi là thuyết tập M với 10 chiều không gian (7 chiều bị xoắn). Các lý thuyết dây này được xây dựng để áp dụng cho những lĩnh vực rất khác nhau (khoảng cách nhỏ với khoảng cách lớn, tương tác mạnh với tương tác yếu). Chúng liên hệ với nhau bởi tính đối ngẫu, một khái niệm đã trở thành trung tâm của cuộc chơi vì nó đưa ra bằng chứng cho sự tương đương của các lý thuyết dây. Cái gọi là đối ngẫu AdS/CFT (Maldacena 1997) liên hệ các lý thuyết dây trong không gian Anti-De Sitter với những lý thuyết trường bảo giác Yang-Mills.  Mô tả toán học không gian 10 chiều rõ ràng là một sự phức tạp cùng cực về mặt hình học với những màng đa chiều (gọi là màng-p, tổng quát hóa của khái niệm vòng dây). Chính bởi vậy, vật lý đang trong giai đoạn mà lý thuyết và thực nghiệm trôi xa nhau tại thang Planck, ở đó toán học thống trị vật lý lý thuyết. Một minh chứng ngoạn mục cho sự tiến hóa này là Ed Witten một trong những người có ảnh hưởng lớn tới vật lý lý thuyết hiện đại đã được trao giải thưởng Fields năm 1990! Ngày nay, một sinh viên vật lý lý thuyết cao cấp, đặc biệt chuyên ngành về lý thuyết dây, phải quen thuộc với một danh sách dài các chủ đề toán học: phân tích số thực và số phức, lý thuyết nhóm, hình học vi phân, nhóm Lie, các dạng vi phân, đại số đồng đều, đối đồng đều, đồng luân, bó sợi, lớp riêng, định lý chỉ số, siêu đối xứng và siêu hấp dẫn. Hiện nay, những lĩnh vực hiện đại nhất nghiên cứu về siêu dây chính là hai chương của toán học: lý thuyết tập K (lý thuyết tổng quát hóa đối đồng đều từ các dạng vi phân tới những bó véctơ) và hình học không giao hoán.  Người đọc quen thuộc với nghiên cứu của Ngô Bảo Châu hẳn nhận thấy rằng những đóng góp của ông cho toán học, đặc biệt lời giải của bổ đề cơ bản, có liên hệ với những chủ đề toán học trong lý thuyết tập M. Rất thú vị khi đọc cái nhìn của ông về mối liên hệ giữa những đóng góp đó với sự phát triển của vật lý hiện đại, tuy nhiên điều này nằm ngoài chủ đề của bài báo này.  7. Chúa đang ẩn nơi đâu?  Nhiều điều vô lý đã và vẫn đang được nói và viết về chủ đề này trong hoàn cảnh hiện nay, đặc biệt với ý định tạo ra những sản phẩm bán chạy nhất. Điển hình trong số đó là Bản Thiết kế Vĩ đại của Steve Hawking hay Hạt của chúa của Leon Lederman.  Dirac, Wigner, Einstein đã từng tự hỏi tại sao Vũ trụ lại “có thể hiểu được”. Giống như Chandrasekhar, họ hỏi: “Tại sao lại có thể như vậy: trí não của con người sáng tạo ra những khái niệm trừu tượng và nhận thấy chúng tuyệt đẹp? Và tại sao những khái niệm đó lại tương ứng một cách chính xác đến như vậy trong tự nhiên?”  Nhưng, làm sao thế giới có thể vừa tự quan sát chính nó, đồng thời lại dùng một ngôi thứ ba để nhận xét về sự quan sát ấy? Nó đã tạo ra logic và toán học nhằm quan sát và mô tả bản thân mình, vậy tại sao nó phải băn khoăn về khả năng kì diệu này? Dựa vào cơ sở nào để đó đếm mức độ kì diệu ấy? Trong một khoảng thời gian dài, một cách vô tình, các nhà khoa học đã bị đánh bại bởi ảo giác của chủ nghĩa hiện thực, đó là quan niệm về sự tồn tại của một hiện thực độc lập bên ngoài [chủ thể quan sát]. Tuy nhiên, việc thế giới tự quan sát và tự lý giải về bản thân nó, dựa trên các khái niệm do chính nó sáng tạo ra, chính cái vòng luẩn quẩn này của khoa học ngăn cản nó đưa ra câu trả lời khách quan cho câu hỏi cơ bản: Tại sao thế giới lại tồn tại mà không phải là không gì cả? Nếu ngày nay chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này hơn trước đây, thì đó là nhờ công lao các nhà sinh học chứ không phải các nhà toán học hay vật lý, đặc biệt nhờ các nhà thần kinh học: “giả thuyết đáng kinh ngạc” năm 1994 của Francis Crick cho rằng chúng ta được tạo nên bởi không gì khác ngoài các nguyên tử; rằng các quá trình vật lý và hóa học tế bào điều khiển cơ thể và tâm trí của chúng ta. Leibniz đã từng cho rằng phải có một lý do nào đó để vũ trụ này tồn tại hơn là trống rỗng. Ngày nay chúng ta đã từ bỏ hy vọng rằng có thể có một “lý do” như vậy, như Ludwig Wittgenstein từng nói: “Điều bí ẩn không phải là vũ trụ như thế nào, mà bản thân sự tồn tại của nó đã là một bí ẩn. Phương pháp hợp lý trong triết học là nên giữ yên lặng và chỉ nói khi ta đã rõ điều cần nói, tức là những phát biểu của khoa học tự nhiên không liên quan gì đến triết học. Về những điều ta không thể nói, ta nên giữ im lặng”.  Tồn tại chứ không phải trống rỗng, ngày nay sinh học hiện đại đã khiến bí ẩn đằng sau điều này trở nên ẩn sâu hơn so với trước đây. Và nếu muốn thì ai cũng có thể gán điều bí ẩn ấy là do sự sắp đặt của Chúa trời.  Phạm Ngọc Điệp dịch,  Thanh Xuân hiệu đính    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Toán học Việt Nam đang ở đâu?      Ngay sau khi IMO 2007 kết thúc, Hội thảo “Hợp tác với các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài” đã được tổ chức với sự tham dự của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Hoàng Văn Phong và nhiều nhà toán học nhằm tìm ra những giải pháp có hiệu quả trong việc hợp tác giữa cộng đồng các nhà toán học trong và ngoài nước; đồng thời là dịp để nhìn nhận, đánh giá xem nền “Toán học Việt Nam” đang ở đâu, làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển trong thời gian tới.    “Hữu danh vô thực”?  Việc các đoàn học sinh đoạt giải cao trong những kỳ thi toán quốc tế, rồi việc “có nhiều” nhà toán học Việt Nam thành danh ở nước ngoài và cả những dư luận nọ kia, khiến nhiều người có “cảm giác”, Việt Nam chúng ta sớm nắm trong tầm tay cơ hội trở thành “cường quốc toán học” đến nơi. Nhưng dưới con mắt của các nhà khoa học “già cội” trong nước cũng như nhiều nhà khoa học đang làm việc ở nước ngoài thì “quang cảnh” không lấy gì làm sáng sủa cho lắm: Vị trí ngành toán nước ta còn khá thấp trong làng toán quốc tế, mặc dù Việt Nam được quốc tế đánh giá là “khá” về toán.  Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã đề ra, “Trong vòng vài chục năm tới, Việt Nam có thể sẽ trở thành nền kinh tế đứng thứ 17 thế giới về quy mô thì phải phấn đấu trở thành một trong 20 nước có nền toán học phát triển nhất thế giới”. Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên quả thực là hết sức khó khăn nếu không có những “giải pháp” đặc biệt hữu hiệu.             GS Hoàng Tụy         GS. Nguyễn Tiến Dũng Đại học Toulouse, Pháp        Những “cây đa cây đề” trong làng toán như GS.Tạ Quang Bửu, GS.Lê Văn Thiêm, GS.Nguyễn Đình Ngọc, GS.Hoàng Tụy,… đã “nhóm lửa” cho lớp thế hệ tiếp sau hình thành nên một lực lượng làm toán đi đầu cả nước. Nhưng xét về tổng thể, thì đội ngũ những người “nghiêm túc làm toán” của ta ngày nay còn quá mỏng. Theo nhận định của GS.Nguyễn Tiến Dũng, Đại học Toulouse, thì Việt Nam có khoảng gần 1000 người làm toán nhưng chỉ có khoảng 300 người được cho là “tích cực làm toán”. Còn theo GS.Lê Tuấn Hoa, Viện phó Viện Toán, thì hiện tại chúng ta rất thiếu giáo viên có trình độ về toán. Nhấn mạnh hơn, GS.Ngô Việt Trung-Viện trưởng Viện Toán, tâm sự, “Từ trước tới nay, nhiệm vụ của bất kỳ người viện trưởng Viện toán là phải cố gắng giữ cho được “quân số” làm toán ổn định”. Sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm toán có thể được lý giải rõ ràng: “Cơ chế hoạt động khoa học”còn chậm chưa bắt nhịp được với “cơ chế thị trường” khiến nhiều tài năng toán học “gác kiếm” lao vào chốn thương trường. Họ đã kịp bổ sung kiến thức, mà không phải là toán, để tự chọn cho mình con đường tiến thân mới. Có thể kể đến trong số này như: Lê Đình Long (Huy chương bạc IMO 1975), Lê Như Dương (Huy chương đồng IMO 1978), Lê Quang Tiến… Ngoài ra, cũng có những nhà toán học “đứt gánh giữa đường” vì một nguyên do rất thực tế: “tìm kế mưu sinh”  để lo “cơm áo gạo tiền”. Cơ chế lương bổng, khen thưởng và các chính sách đãi ngộ cho những người làm khoa học nói chung và làm toán nói riêng quả thực còn chưa tương xứng. Đó cũng chính là những trăn trở đeo đẳng mà GS.Hoàng Tụy đấu tranh từ nhiều năm nay.  Trên chỉ là lý do bàn về “lực lượng” làm toán, hay tạm gọi là “số lượng”. Còn một tiêu chí quan trọng hơn cả để đánh giá một nền toán học mạnh hay yếu chính là ở “chất lượng”. Chất lượng ở đây thể hiện ở những công trình, hay số bài báo công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế. Quan sát của GS.Nguyễn Tiến Dũng chỉ ra rằng, những bài báo của các nhà toán học Việt Nam xuất hiện trên những tạp chí chuyên ngành quốc tế hạng “top” chỉ lác đác lẻ tẻ. Theo thống kê của Hội đồng Khoa học Tự nhiên, từ 2001-2005, lĩnh vực toán học có khoảng 625 bài báo công bố trên tạp chí chuyên ngành quốc tế. Số lượng bài công bố trên những tạp chí quốc tế tuy có tăng nhưng cũng không đáng kể là bao nếu đem so sánh với đội ngũ người làm toán trong nước và với những quốc gia được cho là có nền toán vào “hàng trung bình” trên thế giới. Nhưng điều đáng lưu ý là số lượng những bài báo trên các tạp chí có uy tín lại giảm dần. Một thống kê cho thấy, từ 2003-2005 chỉ có đúng 1 báo của Việt Nam đăng trên tạp chí toán học quốc tế thuộc vị trí “top ten” (SCI).  “Có bột mới gột nên hồ”               PGS. Phùng Hồ Hải ĐH Essen, Đức            GS. Lê Tự Quốc Thắng- Học viện   CN Georgia, Mỹ          Toán học, nếu nhìn bề ngoài khó có thể thấy lợi ích trực tiếp đối với phát triển xã hội. Nhưng nhìn sâu xa hơn, không có toán học thì khoa học nói riêng và mọi mặt đời sống xã hội nói chung không thể đạt được những thành tựu như ngày nay. Hơn nữa, trong tương lai con người vẫn rất cần toán. GS.Tạ Quang Bửu từng nói, “chỉ có cách nhìn thiển cận mới không thấy được vai trò của toán học”. Theo đánh giá của các nhà khoa học làm việc ở nước ngoài, trên thế giới, phát triển toán học rất được coi trọng. Để phát triển khoa học cơ bản và nhiều ngành khoa học ứng dụng trong xu thế công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì ngành toán học trong nước không nằm trong ngoại lệ, cần được coi trọng đầu tư phát triển.           GS. Đàm Thanh Sơn ĐH Washington, Mỹ        Đa số các nhà khoa học đều đồng ý rằng, “Trong lĩnh vực khoa học cơ bản thì toán học là ngành đầu tư đỡ tốn kém nhất”. Có chăng, đầu tư ở đây chính là con người. Theo GS.Hoàng Tụy, đầu tư con người là tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà toán học có môi trường làm việc, để họ thoải mái toàn tâm toàn ý cho sáng tạo được nảy nở. Cũng theo ông, cần thiết phải có một mức lương xứng đáng cho các nhà khoa học. Với mức lương hiện tại không đủ để đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu, khiến các nhà khoa học vẫn phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”, giảm thời gian đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Để minh họa cho nhận định trên, GS.Đỗ Đức Thái, Phó chủ nhiệm Khoa Toán-ĐHSP Hà Nội, cho biết, “Hiện nay, thù lao cho 1 giờ hướng dẫn nghiên cứu sinh vẫn còn được tính theo cơ chế xưa cũ là 2 kilôgam gạo-quy ra tiền cỡ chừng mười năm nghìn đồng”. Đối với một số cán bộ làm toán trong các trường đại học, ngoài khoản lương chính còn có thêm thu nhập phụ từ những tiết dạy. Một số “trường hợp cá biệt” có thể “làm giàu” bằng việc “chạy xô” bên ngoài giống như ca sỹ “đi show” vậy. Do “một công đôi việc” như thế làm cho họ ít có thời gian tập trung cho nghiên cứu hơn dẫn đến ít có những bài báo chất lượng công bố. Trong trường hợp các nhà khoa học làm việc ở những viện nghiên cứu, với mức lương hiện tại thì cũng chỉ đủ cho họ “cầm cự” để làm toán, chứ chưa thể làm cho họ dồn hết sức lực toàn tâm toàn ý để thuần túy tập trung cho nghiên cứu. Trong tình huống này thì “cái khó” không ló được “cái khôn”. GS.Nguyễn Tiến Dũng cho biết, ở Mỹ, mức lương trung bình trả cho các nhà khoa học làm việc ở một trường đại học “loại bình thường” cỡ khoảng 100,000 USD/năm. Với mức lương như vậy họ có thể yên tâm sống “khá thoải mái” mà không phải lo toan vấn đề tài chính, chỉ dồn sức cho nghiên cứu. Thời gian gần đây, Trung Quốc cũng đã tạo ra nhiều chính sách đãi ngộ với mức lương hấp dẫn để làm sao thúc đẩy nghiên cứu nhanh nhất, hiệu quả nhất. Và kết quả, nền khoa học nước này “thay da đổi thịt” khá rõ ràng.               GS Ngô Việt Trung trao đổi với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về phát triển toán ở Việt Nam          Ngoài vấn đề lương bổng, các nhà khoa học cả trong và ngoài nước đều than phiền kinh phí đầu tư cho các hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam còn rất thấp. Theo một tính toán của GS Phạm Duy Hiển, ở Nhật để có một bài báo công bố trên các tạp chí thuộc loại ISC thì cần đầu tư trung bình khoảng 1 triệu USD, ở Trung Quốc cỡ 150 nghìn USD, còn ở Việt Nam vào khoảng 100 nghìn USD. Nhưng khổ nỗi, ở nước ta lại tồn tại một “nghịch lý” là những tác giả bài báo thường lại không phải là những “người cầm trịch” kinh phí đề tài. Đáng ra là “quả bưởi” nhưng nhà khoa học lại chỉ nhận được “quả quất”. PGS. Phùng Hồ Hải, Đại học Essen, nhấn mạnh, “Cần phải có tài chính đủ mạnh cho các hoạt động khoa học”. Mặc dù Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có phát biểu, “Đất nước không thiếu tiền để làm toán” nhưng đến tính cho đến bây giờ, theo GS.Ngô Việt Trung, “Tài trợ cho các hoạt động toán khó khăn hơn các lĩnh vực khoa học cơ bản khác”. Chính vì “khó khăn” là vậy buộc các nhà toán học nảy sinh “sáng kiến” tìm nguồn tài chính từ bên ngoài. GS.Vũ Kim Tuấn, Đại học West Georgia, “hiến kế” tìm tài trợ từ những doanh nhân thành đạt vốn xuất thân từ những “lò”toán, những người từng đoạt giải này nọ nhưng lại chọn theo đuổi con đường kinh doanh. Phản hồi lại “ý tưởng” của GS.Vũ Kim Tuấn, GS.Hoàng Tụy cho hay, “Ở Việt Nam có nhiều người làm toán nhưng lại chuyển sang kinh doanh, khi quay trở lại, họ lại không ủng hộ người làm toán”. Có thể đơn cử ra đây một câu chuyện vui nhưng cũng đáng làm cho chúng ta phải suy ngẫm: PGS. Nguyễn Việt Dũng, Viện phó Viện toán, kể một câu chuyện vui khi anh và đồng nghiệp đặt vấn đề xin tài trợ của một công ty cho Đại hội Toán học toàn quốc sẽ diễn ra vào 2008 nhân IMO 2007. Ngay lập tức vị đại diện công ty này trả lời tắp lự: “Nếu mỗi đại biểu của hội nghị đồng ý mỗi ngày bỏ ra 15 phút đứng ngoài đường mặc áo T-Shirt của công ty thì chúng tôi sẽ tài trợ ngay!”.  Dường như “trăm cái khổ đổ… lên đầu nhà khoa học”. Lời giải cho bài toán ở đây vẫn phải là “có bột mới gột nên hồ”…  Càng nhiều “cầu” càng tốt  Phát triển ngành toán học ở Việt Nam không chỉ là tâm nguyện của những con chim đầu đàn như GS.Hoàng Tụy, tất cả các nhà khoa học trong nước mà còn cả với cộng đồng làm toán ở ngoài nước. Vì vậy cần tăng cường “hợp tác”, tận dụng nguồn chất xám của cộng đồng các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài. Theo ý kiến một số nhà khoa học trong nước thì nên dùng cụm từ “giúp đỡ từ các nhà khoa học Việt kiều” thay vì “hợp tác”, bởi vì muốn có “hợp tác” thì hai bên phải “xứng đôi vừa lứa”.  PGS. Phùng Hồ Hải nhận định, “Để nền toán học nước nhà phát triển thì phải hội nhập với nền toán học thế giới. Chúng ta phải tập trung vào những hướng nghiên cứu mà thế giới đang làm. Và để làm được điều này thì các nhà toán học đang làm việc ở nước ngoài đóng vai trò quan trọng như một cái “cầu”. Càng nhiều cầu càng tốt”.  Như vậy, tránh tình trạng ngành toán trong nước phải “đơn thân độc mã”, một mình “tác chiến” thì những trợ giúp từ bên ngoài là rất quan trọng. Nhưng để tăng cường sức mạnh của các nhà toán học Việt kiều thì theo GS.Hoàng Tụy, “Các nhà khoa học người Việt đang làm việc ở nước ngoài cần thành lập một mạng lưới có tổ chức, liên hệ thường xuyên để hỗ trợ ngành toán trong nước”. Vai trò của Việt kiều được thể hiện ở việc đào tạo nghiên cứu sinh, tìm học bổng cho nghiên cứu sinh trong nước, tham gia đào tạo những khóa học tại Việt Nam và hợp tác nghiên cứu.  Có một câu hỏi nảy sinh: Làm thế nào để các nhà khoa học về nước làm việc? Để trả lời câu hỏi này, GS.Phạm Hữu Tiệp, Đại học Tổng hợp Florida, cho biết , “Quan trọng nhất là môi trường và điều kiện làm việc ở nước nhà”. “Được làm việc và sinh sống ở Việt Nam luôn là mong muốn của rất nhiều nhà khoa học đang làm việc ở nuớc ngoài. Sự cống hiến cho đất nước của một cá nhân không phụ thuộc vào nơi sinh sống và làm việc của họ, mà phụ thuộc vào ý muốn của anh ta có sẵn sàng làm việc đó không”, anh thổ lộ. Hiện nay, nhiều nhà khoa học thành danh ở nước ngoài chưa muốn về nước là bởi vì môi trường và điều kiện làm việc ở nước nhà còn quá thấp. Họ sợ rằng, khi trở về, sẽ thành người “vô dụng”. Ngoài ra còn một lý do khác mà GS. Đàm Thanh Sơn, Đại học Washington, chỉ ra là: “Khoa học và kinh tế khác biệt nhau. Những người làm kinh tế mang lại lợi ích cho công ty họ và cho chính họ. Khoa học thì khó hơn, những cái ta đặt ra đều là của chung của xã hội”. Chính vì vậy anh lý giải tại sao các nhà khoa học chưa muốn về nước là do “Bức tranh khoa học nước nhà chưa rõ ràng”. “Các nhà khoa học cần biết một bức tranh trong tương lai xa khi về nước họ có thể làm được gì?”, anh nhấn mạnh. Điều làm các nhà khoa học ở nước ngoài trăn trở đó là thiếu thông tin các hoạt động toán học trong nước. Đối với bản thân GS.Lê Tự Quốc Thắng, Học viện Công nghệ Georgia, thì, “Chúng tôi ít tìm được những thông tin về hoạt động khoa học trong nước, website quá nghèo nàn. Không biết ai làm cụ thể gì để tìm hướng cộng tác?”.  Muốn “cầu hiền” thì phải “cầu thị”  Từ xưa, cha ông ta đã có ý thức về chiến lược “chiêu hiền đãi sỹ”, thu phục hiền tài. Vì vậy, theo các nhà khoa học, nếu chúng ta thực sự mong muốn các nhà khoa học về nước công tác thì phải tỏ thái độ cầu thị. GS.Vũ Kim Tuấn bộc bạch, “Những nhà khoa học khi về nước cần  phải được tôn trọng”. Nhiều nhà khoa học cho biết, đôi khi về nước họ cảm thấy mình “vô dụng” bởi vì “không có việc” để làm, nhiều khi họ cảm thấy “khoa học nước nhà chưa thực sự cần họ”.  PGS. Phùng Hồ Hải dẫn chứng: “GS. Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học trẻ tài năng, khi về nước chỉ còn cách “loanh quoanh” nơi nọ nơi kia, bắt tay người nọ người kia mà không thể “phát huy tác dụng” được”. Để phát huy hiệu quả những đợt về nước công tác, theo các nhà khoa học, cần thiết phải đưa ra một kế hoạch chuyên môn làm việc cụ thể, hiệu quả, và hơn nữa, cần có một nơi làm việc cho các giáo sư, tránh tình trạng “bơ vơ”. Nhiều ý kiến cũng gợi ý, thời gian những chuyến về nước của các giáo sư cũng phải kéo dài ít nhất là một học kỳ để làm việc cho “ra ngô ra khoai”, một vài khóa học hay chuyến viếng thăm lẻ tẻ không mang lại hiệu quả cao. Và hơn nữa, mỗi năm, Nhà nước nên hỗ trợ khoảng 10 suất để các nhà khoa học về nước hoặc các nhà khoa trong nước có điều kiện ra nước ngoài làm việc một thời gian. Một vấn đề khác được các nhà khoa học chỉ ra là cần phải có cơ chế cho các nhà khoa học khi về nước, như lương chẳng hạn, không nhiều thì ít. Điều này được PGS. Phùng Hồ Hải ví von, “Phải có lương, tiền đi về (có thể bao gồm trong lương) để tỏ thái độ cầu hiền. Nếu không, giống như việc mời khách đến nhà tiếp đãi long trọng nhưng lại không có nước”.  Và điều quan trọng hơn hết, để tăng cường hợp tác và phát huy hiệu quả chất xám của cộng đồng các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài, theo GS. Đàm Thanh Sơn, “Chúng ta cần phải có một bức tranh khoa học trong tương lai thật rõ ràng”.  Chú thích ảnh trên cùng: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong và Phó Chủ tịch Viện KH-CN Việt Nam Nguyễn Khoa Sơn tại cuộc Hội thảo: “Hợp tác với các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài”      Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Toán học Việt Nam thời kỳ Trung đại (kỳ 1)      Lời người dịch: Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài tổng quan Mathematics in Vietnam của giáo sư A. Volkov, chuyên gia nghiên cứu lịch sử toán học Việt Nam thời Trung đại, được in trong Encyclopaedia of the History of Science, Technology, and Medicine in Non-Western Cultures (Helaine Selin Editor), Third Edition, Springer, 2016, pp. 2818-2833. Để phản ánh đúng nội dung bài viết và tiện cho bạn đọc, chúng tôi xin đổi Mathematics in Vietnam thành Toán học Việt Nam thời kì Trung đại.       Có những kỳ thi “tính” tại Quốc tử Giám vào những năm 1077, 1261, 1363, 1403 hoặc 1404, 1477, 1507 và 1762.. Ảnh: Giếng Thiên Quang Tỉnh và Khuê Văn Các, năm 1951.  Trước cuối thế kỉ XX, chỉ có một vài nỗ lực được thực hiện để định vị và nghiên cứu các tác phẩm toán học Việt Nam còn sót lại. Những cố gắng đầu tiên là của nhà nghiên cứu lịch sử toán học Nhật Bản Mikami Yoshio 三上義夫 (1875–1950). Trong bài báo của mình, ông đã phân tích nội dung cuốn sách toán của Việt Nam Chỉ minh toán pháp 指明算法 và đã cung cấp một số trích dẫn từ cuốn sách này. Hiện tại cuốn sách Mikami nghiên cứu không biết ở đâu, nhưng những phân tích của Mikami cho phép giả thiết rằng, cuốn sách của Mikami nghiên cứu hoặc là giống hệt, hoặc là rất gần với cuốn sách hiện tồn Chỉ minh lập thành toán pháp 指明立成算法 (xem Volkov, 2013a). Năm 1938, nhà nghiên cứu toán học và lịch sử khoa học Trung Quốc Zhang Yong (Chương Dụng) 章用 (1911-1939) đã đến Hà Nội và phát hiện một tập hợp các cuốn sách cổ Việt Nam về toán trong thư viện Viện Viễn đông Bác cổ Pháp (École française d’Extrême-Orient). Tuy nhiên, không lâu sau chuyến đi Việt Nam, Chương Dụng mất sớm (năm 1939), và các khảo cứu của ông đã không được công bố. Sau đó, các tài liệu của Chương Dụng đã được Li Yan (Lí Nghiễn) 李儼 tóm tắt lại (Li, 1954). Những công trình tổng quan của các học giả Pháp, như cuốn sách của Huard và Durand (1954, trang 120, 144) hoặc của các tác giả Việt Nam hiện đại (thí dụ, Tạ Ngọc Liễn, 1979) chỉ chứa một số thông tin hiếm hoi và không thật đáng tin cậy về toán học Việt Nam (Volkov 2002, trang 375).    Cố gắng đầu tiên có hệ thống mô tả các tư liệu về toán và thiên văn Việt Nam do Han Qi (Hàn Kì) 韓琦 thực hiện vào năm 1991. Trong bài báo của mình (Han, 1991), Han Qi đã sử dụng các bản chép một phần các tác phẩm toán Việt Nam do Chương Dụng để lại, trong khi đó các văn bản gốc được lưu trữ tại Việt Nam hoặc Pháp vẫn chưa được nghiên cứu. Trong các ấn phẩm về lịch sử toán bằng ngôn ngữ châu Âu, chỉ có một đoạn ngắn về toán học Việt Nam trong cuốn sách Lịch sử toán học Trung Hoa của Martzloff  (xem Martzloff, 1997, trang 110) và không dựa trên các nguồn tư liệu gốc. Ngay sau đó, tác giả bài viết này bắt đầu đăng một số bài báo dựa trên cơ sở những khảo cứu các tác phẩm toán học gốc còn được lưu trữ tại Việt Nam và Pháp (Volkov, 2002, 2004, 2005, 2006, 2009, 2012, 2013a, 2014a, 2014b).     Toán học Việt Nam: Đề cương     Ở Trung Quốc, trường (dạy và học) Toán (算學 hay 筭學) được mở vào triều đại Bei Zhou (Bắc Chu) 北周 (557–581). Thậm chí có những lí do để giả thiết rằng một nguyên mẫu của trường toán đã từng tồn tại vào thời Bei Wei (Bắc Ngụy) 北魏 (386–534) (xem: Lee, 2000, trang 515; Volkov, 2014a, trang 58). Trường (toán) đã được khôi phục vào thời nhà Sui (Tùy) 隋 (581–618) và nhà Tang (Đường) 唐 (618–907) và hoạt động (với một số thời kì gián đoạn) cho tới đầu thế kỉ IX (Volkov, 2002, trang 375) tại hai thành phố lớn Chang’an (Tràng An) 長安 (Xi’an (Tây An) 西安 hiện nay) và Luoyang (Lạc Dương) 洛陽 (Li, 1933 [1977], trang 260–264; Volkov, 2014a, trang 63). Việt Nam (khi ấy chỉ là một phần nhỏ của miền Bắc Việt Nam ngày nay) bị các triều đại Trung Hoa đô hộ từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 544 và trở thành một tỉnh của đế quốc Trung Hoa từ năm 602 đến khi nhà Đường sụp đổ vào năm 907. Sau đó, Việt Nam vẫn chịu sự kiểm soát của các triều đại Nam Trung Hoa cho đến tận năm 938. Điều này có nghĩa là, vào thiên niên kỉ thứ nhất, các học sinh tài năng người Việt, ít nhất là về hình thức, có quyền được học tại các cơ sở đào tạo ngang với các học sinh các tỉnh khác của Trung Hoa. Và lịch sử giảng dạy toán ở Việt Nam trước năm 938, trùng với lịch sử giảng dạy toán tại phần còn lại của Trung Quốc.      Vào thiên niên kỉ thứ nhất, các học sinh tài năng người Việt, ít nhất là về hình thức, có quyền được học tại các cơ sở đào tạo ngang với các học sinh các tỉnh khác của Trung Hoa. Và lịch sử giảng dạy toán ở Việt Nam trước năm 938, trùng với lịch sử giảng dạy toán tại phần còn lại của Trung Quốc.      Khi giành được độc lập vào năm 939, Việt Nam xây dựng nhà nước dựa trên mô hình Trung Hoa, và trường Đại học Quốc gia (Quốc tử giám, theo nghĩa đen là nơi dạy các hoàng tử), tương đương với Đại học của Trung Hoa thời nhà Đường, đã được thành lập vào năm 1076.    Về địa điểm của trường đại học này tại Hà Nội, xem thí dụ: Volkov, 2013b, trang 119, Có những ghi chép về các kì thi quốc gia về “tính” (suan 算, tiếng Việt: toán) vào những năm 1077, 1261, 1363, 1403 hoặc 1404, 1477, 1507 và 1762. Nhưng nội dung các kì thi này, với một ngoại lệ, đã không còn được lưu giữ (Volkov, 2013b, trang 121; 2014a, trang 68).  Ở Trung Quốc, vào thế kỉ thứ hai thời nhà Song (Tống) 宋 (960–1279), đã có những cố gắng khôi phục giáo dục toán học ở thiên niên kỉ thứ nhất. Các sách toán đã được biên tập và in lại vào năm 1084. Một trường toán Quốc gia mới đã được  thành lập vào chính năm đó. Trường đã bị đóng rồi mở cửa lại một số lần và ngừng hoạt động vào năm 1120 (Volkov, 2014a, trang 66).    Sau khi chuyển thủ đô đến Lin’an (Lâm An) 臨安 (Hangzhou (Hàng Châu) 杭州 ngày nay) vào năm 1127, không một cố gắng nào khôi phục trường toán được ghi lại nữa, ngoại trừ việc in lại bộ sách toán năm 1084 vào các năm 1200-1213 (Friedsam, 2003; Lee, 1985, trang 96–102; Li, 1933 [1977], trang 273–280; Volkov, 2014a, trang 66–68; Yang, 2003, tập 2, trang 120).    Hiện tượng kì thi toán đầu tiên của nước Việt Nam độc lập được tổ chức vào năm 1077, trước khi tái thiết lập giáo dục toán Quốc gia tại Trung Hoa, dẫn đến giả thiết rằng, giáo dục toán học và các kì thi toán được tổ chức vào thế kỉ thứ XI tại Việt Nam dựa trên mô hình Trung Hoa ở thiên niên kỉ thứ nhất. Nhưng các sách toán được cho là đã sử dụng cho tới đầu thế kỉ XV đã bị mất. Một trong những lí do sách bị mất được cho là thủ đô đã bị quân Champa thiêu rụi vào năm 1371. Champa (Chiêm Thành) nằm ở miền Trung và miền Nam Việt Nam hiện nay, đã bị Việt Nam đánh bại qua một loạt các cuộc chiến tranh, bị sáp nhập vào Việt Nam và kết thúc tồn tại vào năm 1832. Một lí do khác sách vở bị thất lạc là do bị chuyển từ các thư viện Việt Nam sang Trung Quốc trong thời gian nhà Minh chiếm đóng (1407-1427). Sau thời kì này, vua Lê mới lên ngôi đã ban hành hai sắc lệnh tìm kiếm sách cũ trong cả nước. Tuy nhiên, không có thông tin nào về sách toán được tìm thấy trong các chiến dịch này. Hơn nữa, phần lớn sách đã bị thiêu hủy hoặc mất mát trong các năm loạn lạc 1516 và 1592 (Boudet, 1942, trang 233). Do đó, không thể dựa trên những di sản còn lại đến khôi phục tình trạng toán học và giảng dạy toán học ở Việt Nam từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XV mặc dù có thể đưa ra một số giả thuyết, chủ yếu dựa trên cơ sở so sánh với hệ thống giáo dục toán học Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng thời. Một vài phác thảo của hệ thống này, xem, thí dụ, Volkov, 2014a.    Kỳ thi toán cuối cùng được nói đến trong các tư liệu lịch sử là vào năm 1762. Nhưng một lượng lớn các sách toán Việt Nam được viết vào thế kỉ XIX, thậm chí một số quyển được viết vào đầu thế kỉ XX, cho thấy rằng giáo dục toán học Việt Nam truyền thống vẫn tiếp tục cả sau khi Pháp xâm lược (1859) và tồn tại dưới hình thức nào đó cho tới tận đầu thế kỉ XX. Nói riêng, dưới triều đại của Hoàng đế Minh Mạng 明命 (Thánh Tổ 聖祖, tên là Nguyễn Phúc Kiểu 福晈 hoặc Nguyễn Phúc Đảm 福膽, 1791–1841, trị vì 1820–1841) là thời điểm mà học thuật thời nhà Ming (Minh) 明 (1368–1644) được đánh giá cao. Mặc dù một số kiến thức toán học và thiên văn học châu Âu đã được các nhà lập lịch Việt Nam biết đến trực tiếp từ các nhà truyền giáo châu Âu hoặc qua các bản dịch các tác phẩm châu Âu sang tiếng Trung Quốc, các tác phẩm Việt Nam ở thế kỉ XIX, thậm chí đầu thế kỉ XX tương tự một cách đáng ngạc nhiên với các tác phẩm toán Trung Hoa được biên soạn trước khi có ảnh hưởng của phương Tây đến toán học Trung Hoa vào đầu thế kỉ XVII. Về quan hệ giữa các nhà truyền giáo phương Tây với các nhà thiên văn học, chiêm tinh và thầy bói Việt Nam (được gọi một cách tùy tiện là nhà toán học) xem Borri 1631, trang 178–190, 1931, trang 372–381; Baldinotti, 1629, trang 196; De Rhodes, 1854, trang 111–113, 185; Volkov, 2008.      Giáo sư Alexei Volkov (ĐH Thanh Hoa, Đài Loan).     Trong các Danh mục của Cổ học viện thư mục thủ sách 古學院書籍守冊, Nội các thư mục □閣書目, Nội các thủ sách 閣守冊 và Tụ khuê thư tịch tổng mục □聚奎書院總目 của thư viện Hoàng gia hiện đang được bảo quản tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội (sau đây viết tắt là thư viện Hán Nôm), có thấy tên một số sách toán tiếng Hán. Trong số đó có tên một số sách thuộc thiên niên kỉ thứ nhất Zhou bi suan jing (Chu bễ toán kinh) 周髀算經, Sunzi suan jing (Tôn tử toán kinh) 孫子算經, Wu cao suan jing (Ngũ cao toán kinh) 五曹算經, Hai dao suan jing (Hải đảo toán kinh) 海島算經, Xiahou Yang suan jing (Hạ hầu Dương toán kinh) 夏侯陽算經, Ji gu suan jing (Tập cổ toán kinh)  緝古算經. Tất cả các sách này trong Cổ học viện thư tịch thủ sách được ghi là năm thứ 41 đời vua Càn Long (1776). Điều này dẫn đến nhận định, tất cả các sách này đều được chép lại từ bộ sưu tập Tứ khố toàn thư của Hoàng gia Trung Hoa. Một nhóm sách toán Trung Hoa khác có nguồn gốc muộn hơn, đó là Xiang jie jiu zhang suan fa (Cửu chương toán thuật tường giải) 詳解九章算法 (1261) của Yang Hui (Dương Huy) 楊輝 (1238?-1298?), Suan fa tong zong (Toán pháp thống tong) 算法統宗 (1592) của Cheng Dawei (Trình Đại Vị) 程大位 (1533–1606), Gou gu yin meng (Câu cổ cảm ứng) 勾股引蒙 của Chen Xu 陳訏 (1650–1722), bộ sách của Mei Wending (Mai Văn Đỉnh) 梅文鼎 (1633–1721) gồm Mei shi li suan quan shu (Bộ sách đầy đủ về lịch và Tính toán của họ Mai) 梅氏曆算全書 (1723), Những điều thiết yếu từ sách của họ Mai 梅氏叢書輯, Yang Hui suan fa zha ji (Ghi chú về thuật giải của Dương Huy) 楊輝算法札記, Song Jingchang (Tống Cảnh Xương) 宋景昌 in năm 1842, Zhi ming suan fa (Chỉ minh toán pháp) 指明算法. Tác giả và ngày viết cuốn sách sau không được xác định, nhưng có thể khẳng định cuốn sách này hoàn toàn khác với cuốn Chỉ minh toán pháp 指明算法 của Việt Nam mà Mikami Yoshio nghiên cứu, bởi vì có một số cuốn sách toán Trung Hoa khác cùng với tên này, thí dụ, trong Danh mục sách toán cổ Trung Hoa có đến 6 cuốn sách có tên là Chỉ minh toán pháp 指明算法 xuất hiện vào thời nhà Minh và nhà Thanh (Wu & Li, 2000, trang 366). Thư viện Hoàng gia Việt Nam cũng có một số sách lịch và toán thiên văn của Trung Quốc. Tuy nhiên chưa rõ bao nhiêu cuốn sách trong bộ này đã được các học giả Việt Nam quan tâm đến toán và toán thiên văn để ý đến.□  (Còn tiếp)     Tạ Duy Phượng dịch  —-  Lời cám ơn của người dịch: Xin chân thành cám ơn Giáo sư A. Volkov đã đọc, sửa chữa và biên tập rất kĩ, giúp nâng cao chất lượng bản dịch.  * Trung tâm Giáo dục Đại cương và Viện Lịch sử, Đại học Quốc gia Tsing-Hua, Taiwan    Author                Alexei Volkov*        
__label__tiasang Toán – một dạng nghệ thuật      Trò chuyện với GS Ngô Bảo Châu, GS Hà Huy Khoái cho rằng, để tồn tại, toán học Việt Nam đã  qua thời khó khăn nhất; còn để phát triển lên một bước mới, toán học Việt Nam vẫn  đang ở thời kỳ khó khăn nhất.       Ngô Bảo Châu: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình  chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà  toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có  Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền  thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?  Hà Huy Khoái  : Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…) Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn – Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!    Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!   Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?      Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.   Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.    Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.   Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.    Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?           Nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?                        GS Hà Huy Khoái        Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản – cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục – là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.    Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.    Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?    Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :    Tự do là sướng nhất đời   Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.    Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?    Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.     Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?           Mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình  một câu hỏi lớn. Có thể không  trả lời được ngay, có thể sẽ không trả  lời được trong phạm vi hữu hạn  của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là  một cái đích để mọi việc mình làm  trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và  không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ  nhất thời.                                             GS Ngô Bảo Châu        Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.     Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.   Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?   Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng – đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.   Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?   Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?    Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi  một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.      Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.                 Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?  Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”.  Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.  Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tốc độ của công nghệ trong đời sống      Tốc độ của công nghệ đã thay đổi thói quen trong đời sống và từ đó, tư duy của con người đã biến thiên tận gốc rễ.    Tôi còn nhớ vào năm 1982, một phái đoàn của GE Capital ghé thăm đảo Hải Nam (Trung Quốc) để thảo luận việc tài trợ cho vài dự án. Khác hẳn Bắc Kinh hay Thượng Hải, chúng tôi như quay về thế kỷ thứ 19. Chúng tôi bảo nhau nếu bây giờ, Thế chiến thứ ba xảy ra hay Tổng thống Mỹ Reagan có bị ám sát, chắc chúng tôi sẽ hoàn toàn không hay biết trong bảy ngày nơi đây. Lý do là với một đài TV, một đài radio và hai tờ báo toàn bằng Hoa ngữ, cộng với khó khăn khi dùng điện thoại liên quốc tế, sự cô lập của chúng tôi gần như toàn diện. Tuy nhiên, chỉ 20 năm sau đó, khu vực Tân Á phía Nam đã trở thành một khu nghỉ dưỡng danh tiếng của Á châu với hơn 15 khách sạn năm sao.          Khi tôi kể về thú hái hoa bắt bướm, hay đá  dế, con trai tôi phê bình là “đồng bóng”, “man rợ”. Chúng không chấp  nhận việc làm tổn thương bất cứ một sinh vật nào, nhưng lại reo hò khi  giết người liên tục trong trò chơi của thế giới ảo. Có lẽ đó cũng là một  nghịch lý của cuộc cách mạng công nghệ.        Khi chúng tôi đi nước ngoài công tác vào thập niên 70, việc bực nhất là phải dùng điện thoại ở quốc gia sở tại gọi về trụ sở chính ở Mỹ. Thường thường, chúng tôi phải gọi tổng đài đặt hàng rồi đợi họ gọi lại cho mình khi họ tiếp nối được với điện thoại bên Mỹ. Thời gian chờ đợi có thể là 5 phút đến 50 phút. Và bạn không thể rời phòng, vì nếu tổng đài gọi lại bạn không được, họ cắt cuộc gọi và mình phải làm một cú đặt hàng khác. Nhiều khi cần đi vệ sinh cũng phải chào thua.  Nhưng sự lạc hậu của kỹ thuật truyền thông cũng giúp chúng tôi nhiều thời gian rảnh rỗi thú vị. Tôi nhớ khoảng cuối năm 1978, tôi và 2 nhân viên quản lý Mỹ vừa hoàn tất một hợp đồng cho Garuda thuê chiếc Boeing 727. Chúng tôi ra gửi nguyên tập hồ sơ qua PanAm để chuyển nhanh về New York cho ban pháp lý điều chỉnh và soạn bản văn sau cùng. Sau đó, chúng tôi có 3 ngày cùng hai ngày cuối tuần để ăn chơi. Chúng tôi mời vài cô bạn gái Indo, bay xuống một khu nghỉ dưỡng ở Bali bằng tiền của hãng (OPM) để tiệc tùng. Đó là một thú vui tuyệt vời. Khi kể chuyện lại cho một đồng nghiệp trẻ tháng rồi tại Malaysia, anh ta ghen tị bực tức. Hợp đồng vừa thảo luận xong, anh Email về trụ sở New York. Sáng hôm sau, khi ngủ dậy là đã nhận nguyên văn bản đã chỉnh sửa để họp tiếp với các khách hàng địa phương.  Trong những thập kỷ vừa qua, chưa bao giờ công nghệ đột phá nhanh như vậy. Phải mất cả 10 ngàn năm để chiếc xe hơi thay con ngựa trong vận chuyển. Chỉ cần 100 năm để thói quen gửi thư qua bưu điện gần như chấm dứt. Khi một CEO thuyết trình về dự án IT của anh ta về một công nghệ bán dẫn mới nhất cho các nhà sản xuất chips, chúng tôi hỏi anh rủi ro lớn nhất của dự án là gì. Anh nói rất bình thản,” tôi sợ rằng khi tôi bước ra khỏi đây thì công nghệ này có thể đã lỗi thời rồi.” Với công nghệ, Zuckerberg khởi nghiệp với 1.000 USD trong căn phòng nội trú và xây Facebook thành một công ty thị giá 100 tỷ USD trong 8 năm. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích IT cho là chỉ 15 năm sau, không còn ai dùng Facebook.          Khi tôi đọc lại những sinh hoạt của các nhân  vật trong tiểu thuyết của Balzac hay Steinbeck vài thế kỷ trước, tôi  vẫn tìm thấy những thói quen hằng ngày của họ như trầm ngâm trước ly cà  phê buổi sáng, chậm rãi lướt qua các tin tức bình luận trên mặt báo…  không khác gì chuyện tôi vẫn làm xưa nay. Nhưng con cái tôi và các thế  hệ sau này có thể không biết báo giấy là gì hay ai lại có thì giờ nhâm  nhi ly cà phê? Ngày nay, chúng lướt qua các tin quan trọng đã tải sẵn  trên Ipad hay Iphone, nốc cạn ly cà phê hòa tan và vội vàng đưa con nhỏ  đi gửi nhà trẻ. Bữa ăn sáng là một thanh ngũ cốc (cereal bar) trong khi  lái xe.        Ngày nay, các trẻ em ở Âu Mỹ cũng xa dần thiên nhiên và những vẻ đẹp đơn giản. Chúng bù đầu vào những video games, lướt sóng trên mạng và text cho nhau qua điện thoại từ những căn phòng kín mít trong một nhà tù thoải mái. Thú lang thang thả diều trên đồi hay qua đồng cỏ chỉ còn hiện diện ở vùng quê vùng xa của các xứ nghèo. Khi tôi kể về thú hái hoa bắt bướm, hay đá dế, con trai tôi phê bình là “đồng bóng”, “man rợ”. Chúng không chấp nhận việc làm tổn thương bất cứ một sinh vật nào, nhưng lại reo hò khi giết người liên tục trong trò chơi của thế giới ảo.  Có lẽ đó cũng là một nghịch lý của cuộc cách mạng công nghệ. Thay vì cho chúng ta nhiều thời giờ hơn nhờ sự gia tăng hiệu năng, chúng lại đem đến cho chúng ta nhiều công việc hơn cùng với áp lực. Dữ liệu và kiến thức được tiếp cận dễ dàng với một số lượng “khủng” tạo nên một rối loạn về thứ tự ưu tiên cũng như về mức độ tin cậy.  Chúng ta có rất nhiều lựa chọn hơn nên năng động hơn trong sinh hoạt hằng ngày, nhưng nhận chịu nhiều thách thức đến độ chúng ta chỉ mong muốn được yên lặng, bất động và trống rỗng. Chúng ta muốn quay về những ngày xưa…khi những tấm lòng thương nhau còn biết cười nghiêng tà áo. Và những chiếc lá mùa thu vàng như tóc nàng công chúa trong một cổ tích mê hoặc nào.  Nhưng có lẽ đó chỉ là những ước mơ thoáng qua. Dù chóng mặt với tốc độ của công nghệ, việc quay về với trí tuệ của trăm năm trước vẫn có thể làm chúng ta kinh hoàng. Nhất là khi bị kẹt lại trong những quốc gia không bao giờ muốn thay đổi; với đám đông chung quanh, “đám mây kiến thức” là khoa học giả tưởng, “dư luận thế giới” là chuyện tào lao của bọn Tây phương, “kinh tế thị trường” là khi các anh có đô la đợi sẵn ở Thụy Sĩ, “tài sản của nhân dân” là OPM, và “ngôi làng toàn cầu” vẫn có cây đa cao ngất tầng xanh.  Tệ hơn hết là chúng ta vẫn làm những gì chúng ta đang làm, nhưng nếu năng đi chùa khấn vái thì định mệnh sẽ đổi thay và đem lại cho chúng ta “tiền rừng bạc biển”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tốc độ tăng dân số thế giới tiếp tục giảm      50  năm trước, tốc độ tăng dân số của thế giới là&#160; 2%/năm, nhưng năm 2015 chỉ còn 1,2%. Hiện  nay, mỗi phụ nữ có trung bình 2,5 con, trong khi năm 1950 có tới năm con.    Viện Nghiên cứu Dân số Pháp  (Ined) mới đây đã công bố báo cáo cho biết năm 2050 thế giới sẽ có gần 10 tỉ người.  Các nghiên cứu của Liên Hợp Quốc và một số cơ quan khác cũng có kết quả  như vậy.  Trong hai thế kỷ qua, dân số thế giới đã tăng bảy lần, hiện có 7,3 tỉ người và cuối thế kỷ XXI sẽ lên tới 11 tỉ người.    Nhưng quá trình tăng dân số sẽ giảm đi. 50 năm trước, mức tăng này bằng 2%/năm, nhưng năm 2015 chỉ còn 1,2%, và sẽ giảm tiếp cho tới khi đạt mức ổn định trong vòng một thế kỷ tới. Hiện nay, mỗi phụ nữ có trung bình 2,5 con, nhưng năm 1950 có tới năm con.    Châu Phi, một số nước Trung Đông và các vùng từ Afghanistan, Pakistan tới miền Bắc Ấn Độ có tỉ lệ sinh sản trung bình trên ba con, cao nhất thế giới trong nhiều thập niên tới.    Châu Phi có tỉ lệ tăng dân số nhanh nhất thế giới, tăng bốn lần từ nay tới cuối thế kỷ XXI và sẽ có 4,4 tỉ dân vào năm 2100, dù bệnh AIDS vẫn hoành hành. Hiện nay 1/6 dân số thế giới (1,2 tỉ người) sống tại Châu Phi, nhưng trong vòng một thế kỷ tới, tỉ lệ này sẽ tăng đến mức hơn 1/3. Các nước phía Nam sa mạc Sahara tăng nhanh nhất: từ 950 triệu người năm 2015 lên tới gần 4 tỉ người năm 2050.    Trung Quốc hiện có 1,4 tỉ người, Ấn Độ đứng thứ hai với 1,3 tỉ. Song tới khoảng năm 2030, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc. Vì từ gần 10 năm nay, mỗi phụ nữ Ấn Độ có trung bình 2,3 con, trong khi con số này ở Trung Quốc là 1,7.  Nguyên Hải tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tộc người Hán: Một bản sắc được kiến tạo      Sự hình thành “tộc người Hán” không chỉ được kiến tạo từ góc độ danh xưng, mà quan trọng hơn còn là quá trình mà rất nhiều nhóm người khác đã trở thành “Hán” theo bước đường mở rộng của các đế chế Trung Hoa. Sự bành trướng này không chỉ mang ý nghĩa về đất đai, lãnh thổ mà còn cả văn hóa, tộc người, biến những người ở vùng biên, từ “chưa phải Hán” thành “Hán”. Nhiều tộc người trong số này đã “biến mất”, sau đó xuất hiện trở lại thành “người Hán”.          Phong trào “Hán phục vận động” ở Trung Quốc gần đây là một trào lưu người trẻ ăn mặc trang phục cổ của người Hán. Ảnh: wikipedia.  Làm thế nào để tạo ra một “tộc người” với hơn một tỉ thành viên? Trước khi người “Hán” xuống phía Nam của sông Trường Giang, ở đây có “Bách Việt”. Sau khoảng 2000 năm, tại sao “99 Việt” đã biến mất, chỉ còn lại “Việt Nam”. Những “Việt” kia đã đi đâu cùng với nhiều người đồng hành khác như Tiên Ti, Hung Nô… và nhiều nhóm trong không gian của các đế chế Trung Hoa?  Chiếm 91,5% dân số, trong tổng số 56 dân tộc được công nhận tại Trung Quốc, người Hán là tộc người đông nhất thế giới (chiếm gần 20% dân số toàn cầu), tuy nhiên người Hán (漢人) chưa bao giờ là một tộc người đồng nhất từ góc độ nhân chủng học, mà là sản phẩm của quá trình kiến tạo bản sắc, đồng hóa văn hóa, thực hành chính trị và kinh tế phức tạp trong lịch sử mở rộng của các đế chế ở vùng Trung Nguyên (đồng bằng giữa sông Hoàng Hà và Trường Giang).  Từ “Hán Nhân” đến “Hán Tộc” là một bước nhảy với nhiều “bản sắc” được kiến tạo. Cũng như “người da trắng” trong xã hội Mỹ, “tộc người Hán” là một khái niệm được tạo ra nhằm phân loại con người với các bản sắc được tạo dựng nhằm cai trị họ hay thuyết phục họ tham gia vào các cuộc vận động chính trị. Quá trình sáng tạo bản sắc cho nhóm người này trở thành linh hồn của diễn ngôn chủ nghĩa dân tộc ở Trung Hoa thế  kỷ XX.     Sự ra đời của “Hoa Hạ”, “Hoa” và “Hán”     Trái ngược với niềm tin phổ biến rằng “Hoa Hạ”, “Hoa”, “Hán”, “Trung Quốc” là các khái niệm cổ xưa tạo ra bản sắc thống nhất tiếp nối của truyền thống Trung Hoa, chúng là sản phẩm được sinh ra từ thời Chu cho đến trước nhà Tùy, trong khoảng 1300 năm của giai đoạn đầu hình thành đế chế.  “Hoa Hạ” là một từ chỉ địa danh, không phải tộc người. Nội hàm “tộc người” chỉ mới xuất hiện từ các thế kỷ tiếp giáp công nguyên. Đối lập với quan điểm của các sử gia bắt đầu từ những năm 1940 rằng có một “tộc người” thống nhất trước “Hán”, được gọi là “Hoa Hạ”, hình thành trước thời Đông Chu (770 TCN), các khảo sát mới đây cho thấy “Hoa Hạ” trước đó đơn thuần là một từ chỉ địa danh, và chỉ được sử dụng để chỉ tộc người sớm nhất là trong giai đoạn 770 TCN-581 CN (Yang 2007).  Từ “Hoa” có thể đã được dùng rất hạn chế để chỉ các nhóm người đã tạo dựng ra nhà nước ở vùng Trung Nguyên vào thế kỷ VI TCN, tuy nhiên sau đó bị lãng quên cho đến tận thế kỷ III CN mới được dùng trở lại.  “Hán” là một khái niệm “chính trị” chứ không phải tộc người. Bắt đầu với tên một dòng sông, sau đó là tên của một đơn vị hành chính (quận Hán Trung), nơi là nhà nước của Lưu Bang lấy tên từ đó. Dưới đế chế này, “Hán Nhân” không phải là “tộc người” mà là “thần dân” của nước Hán. Khi người Tiên Ti lập ra nhà nước Bắc Ngụy ở thế kỷ IV, họ dùng từ “Hoa” (vốn được dùng để chỉ các cư dân nói tiếng Trung (Chinese-speakers) trước đó) để gọi tên mình, và vì thế cần một tên gọi khác để chỉ những người nói tiếng Trung ở Trung Nguyên. Họ gọi tất cả các cư dân này là “người Hán”. Người Khiết Đan gọi những cư dân Tống sống trong đế chế của mình là “người Hán”, trong khi gọi cư dân nhà Tống là “Người Nam”. Người Kim và người Mông Cổ cũng tương tự. Đến nhà Minh thì mới bắt đầu quá trình gọi tất cả những người nói tiếng Trung là “người Hán”.      “Sự khác biệt của tiếng nói người Bắc Kinh và tiếng người Triều Châu giống như tiếng Italia và tiếng Pháp; sự khác biệt giữa tiếng người Mân Hải Nam và Tây An tương tự như giữa tiếng Tây Ban Nha và tiếng Rumania” (Norman, 1988, p. 187).      Chúng ta sẽ rất ngạc nhiên nếu biết rằng ban đầu khái niệm “Hán Nhân” không phải là “dự án” của người “Hán”, hay là cách người “Hán” mô tả về mình mà lại bắt đầu từ cách gọi của một tộc người bên ngoài tìm cách “dán nhãn” cho cư dân vùng Trung Nguyên. Đầu tiên là người Tiên Ti, sau đó là Liêu, Kim, Mông Cổ, Mãn Thanh. Cho đến trước thế kỷ XX, “Hán” chưa bao giờ là một khái niệm được công nhận thống nhất để chỉ một nhóm người được xác định cụ thể mà đơn thuần là từ chỉ một nhóm/ bộ phận của cư dân nói tiếng Trung mà thôi. Dần dần, nội hàm và phạm vi của “người Hán” được mở rộng, được chuẩn hóa, lan rộng ra toàn cầu như một tộc người thuần nhất. Ngày nay, hơn một tỉ người ở Trung Quốc được gọi là “tộc người Hán”; trong khi hàng triệu con cháu của họ di cư ra nước ngoài được gọi là “tộc người Hoa”.  Trong khi lịch sử chính thống ở Trung Quốc hiện đại tìm cách mô tả “người Hán” như một tộc người đoàn kết chặt chẽ, phát triển liên tục trong lịch sử,  thực tế đó là những bản sắc được tạo dựng, được gán cho “người Hán”. Đó là cách những người bên ngoài “tưởng tượng” về cái gọi là “người Hán” mà thôi. Đến trước thời nhà Tùy chẳng hạn, những người được “dán nhãn” người Hán chỉ chủ yếu cư trú trên vùng đất được gọi là “Trung Quốc” bao gồm vùng trung tâm xung quanh Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông.      Cô dâu người Duy Ngô Nhĩ. Gần đây Trung Quốc có ban hành chính sách khuyến khích người Duy Ngô Nhĩ và người Hán kết hôn. Tờ South China Morning Post đưa tin, mỗi cặp đôi sẽ được hỗ trợ 10.000 nhân dân tệ một năm trong vòng 5 năm. Ảnh: hiveminer.com  Đổi lại, về mặt chủng tộc, chúng ta không hề biết ai là những “người Hán” này? Họ đến từ đâu? Có bao nhiêu nhóm “người Hán”? và trước khi trở thành “người Hán” thì họ là ai? Đồng thời cũng không hề có một hệ quy chiếu rõ ràng trong lịch sử: cái gì là đặc tính của “Hán tộc”? Điều đáng chú ý là các chỉ dấu này chủ yếu là chỉ dấu văn hóa, ví dụ nông nghiệp, Nho giáo, chữ viết, trang phục, thờ cúng tổ tiên… vậy nếu một nhóm người khác tiếp cận bao nhiêu trong số các nhân tố này thì thành “Hán”?  Một ví dụ thú vị được chỉ ra bởi sử gia Mỹ Charles P. Giersch khi ông khảo sát tương tác tộc người ở Vân Nam giữa các thế kỷ XVII-XIX. Dù có hàng triệu người từ nội địa (vùng Trung Nguyên) tràn vào Vân Nam từ thời Minh và đầu Thanh, tất cả những người này chỉ được gọi là di dân, lưu dân, và được thống kê dựa theo quê quán. Chỉ từ thế kỷ XIX, khi bạo lực nổ ra giữa dân Hồi giáo và dân di cư, những người này mới bắt đầu được gọi là “người Hán” (Charles P. Giersch 2012).     Người Hán, chủ nghĩa dân tộc, và bản sắc Trung Hoa     Không chỉ các quan lại nhà Thanh lúng túng trong việc quản lí dân cư, và cuối cùng gom tất cả những người từ Trung Nguyên đi ra thành “Hán”, ngay cả các học giả, nhà cách mạng, chính trị gia ở thế kỷ XX cũng gặp rắc rối lớn với cách định danh Hán để biến họ thành “động lực của cách mạng”. Sử gia có nhiều ảnh hưởng Cố Hiệt Cương (1893-1980) chẳng hạn, phủ nhận sự tồn tại của cái gọi là “tộc người Hán”.  Tuy nhiên các nhà cách mạng và chính trị gia không nghĩ như vậy. Chính họ đã đạo diễn một dự án không thể thách thức nhằm đưa “người Hán” thành một tộc người có chung cội rễ tổ tiên, chung dòng máu, đoàn kết, thống nhất với nhau trong 5000 năm lịch sử nhằm xây dựng và bảo vệ nền văn minh Trung Hoa. Tôn Trung Sơn và các đồng chí của ông theo đuổi cuộc cách mạng dân tộc nhằm đánh đổ triều Mãn Thanh và để thách thức tính chính thống của “kẻ ngoại tộc”, các nhà cách mạng tự coi họ đại diện cho người Hán, đều là con cháu của vị thủ lĩnh huyền thoại Hoàng Đế. Đó là một “tộc người” hậu duệ của Hoàng Đế, có sự thống nhất cao độ, xuất phát từ vùng Trung Nguyên-trung tâm của văn minh Trung Hoa. Cũng chính vì thế, họ biến “Hán tộc tính” trở thành “dân tộc tính” của nước Trung Hoa. Tôn Trung Sơn tuyên bố: “Có thể nói rằng phần lớn trong số 400 triệu người Trung Quốc chính là người Hán. Với phong tục tập quán chung, chúng ta hoàn toàn thuộc về một tộc người… So với các nhóm người khác, chúng ta có dân số lớn nhất, và nền văn minh của chúng ta kéo dài 4,000 năm” (William Theodore de Bary, 1999: 321).  Ngày nay, các sử gia Trung Quốc đã cập nhật tuyên bố này của Tôn Trung Sơn khi khẳng định rằng văn minh Trung Hoa đã 5.000 tuổi (Shen Songqiao 1997).  Sự hình thành “tộc người Hán” không chỉ được kiến tạo từ góc độ danh xưng, mà quan trọng hơn còn là quá trình mà rất nhiều nhóm người khác đã trở thành “Hán” theo bước đường mở rộng của các đế chế Trung Hoa. Sự bành trướng này không chỉ mang ý nghĩa về đất đai, lãnh thổ mà còn cả văn hóa, tộc người, biến những người ở vùng biên, từ “chưa phải Hán” thành “Hán”. Nhiều tộc người trong số này đã “biến mất”, sau đó xuất hiện trở lại thành “người Hán”.  Một góc khác của câu chuyện nằm ở chỗ nhiều người vùng biên đã nhìn thấy “cơ hội” gia nhập vào “đế chế Hán” bằng cách tuyên bố rằng tổ tiên của mình là “người Hán”, từ đó có thể tham gia vào bộ máy hành chính, nhận ưu đãi thuế khóa, thi cử… (Wang Ming-ke 1997, 2006).  Diễn trình phức tạp của quá trình “trở thành người Hán” này sau đó được gọi là “Hán hóa” hay “Hoa hóa” (sinification/ sinicization). Chính vì thế, bất cứ ai, sau một thời gian sống trong đế chế Trung Hoa, tiếp nhận những yếu tố “Hán”, thì đều có thể “trở thành người Hán”. Thực hành văn hóa đã chuyển hóa thành bản sắc tộc người. Điều này không có nghĩa là bất cứ ai sống dưới sự cai trị của đế chế Trung Hoa thì đều bị đồng hóa thành người Hán. Người Mãn chẳng hạn, mặc dù bị “Nho giáo hóa”, đã không bị “Hán hóa” (Pamela K. Crossley 1990, 1997; Evelyn S. Rawski 1996; Mark C. Elliott 2001). Mặc dù tất cả những yếu tố “bản sắc” này đều hết sức mập mờ và  không hề có một thước đo cụ thể. Bản sắc của  người Hán là gì? Và những người bên ngoài thực hành những gì của “bản sắc Hán” đó thì sẽ trở thành người Hán?  Thực tế, bên dưới khái niệm “người Hán” không phải là một đơn vị người “thuần nhất” là một tập hợp đa dạng của các nhóm người với ngôn ngữ, văn hóa, và tộc người trong một diễn trình lịch sử đan xen. Với cấu trúc này, tập hợp của “người Hán” không khác gì tập hợp của “người da trắng” ở nước Mỹ.      Bức tranh cổ động nói về một đất nước đa văn hóa. Nguồn: chineseposters.net.  Nhà nước Trung Quốc hiện đại đóng vai trò đặc biệt trong việc “kiến tạo” bản sắc Hán này. Quá trình này được hình thành rõ ở thế kỷ XX, gắn với sự hình thành chủ nghĩa dân tộc. Chính họ đã xây dựng những “nội hàm” mới cho “bản sắc Hán” như một tộc người thuần nhất, phát triển liên tục trong lịch sử, bắt đầu từ một tổ tiên chung là vị thủ lĩnh huyền thoại: Hoàng Đế.  Sản phẩm của dự án chính trị này chính là việc phát triển ý tưởng rằng Trung Hoa có 5.000 năm lịch sử (thực tế khoảng 3.500 năm), xây dựng xung quanh người Hán, một tộc người thống nhất, đoàn kết, bắt nguồn từ một tổ tiên chung. “Bản sắc tộc người Hán” vì thế là “bản sắc dân tộc Trung Hoa”. Các sử gia và nhà dân tộc học cũng tìm cách làm giảm khái niệm “Hán hóa” bằng khái niệm “dung hợp dân tộc”, nhờ quá trình đó, người Hán đã đi từ một “dân tộc cổ đại” thành một “dân tộc hiện đại”. Trong quá trình đó, nhờ thành tựu văn minh cao mà họ đã chinh phục ngược trở lại những kẻ chinh phục mình như Tiên Ti, Hung Nô, Nữ Chân/ Mãn (Fan Wenlan 1954: 36).  Một phần của lí do để trở thành “người Hán” đó là việc các dân du mục hay miền núi “lạc hậu”, đã tiếp cận với đời sống kinh tế-xã hội văn minh của người Hán, bị cuốn hút theo, và trở thành Hán (Ma Changshou 1962). Nói cách khác, đó là một quá trình “Hán hóa” hoàn toàn tự nguyện. Dung hợp tộc người vì thế trở thành diễn ngôn chính thức giải thích ý nghĩa tích cực của quá trình nhiều dân tộc thiểu số đã “trở thành người Hán” trong lịch sử (Huang Lie 1985).  Một cách ngắn gọn thì “tộc người Hán” là một huyền thoại, hơn là để chỉ một dân tộc cụ thể nào trong lịch sử. Lịch sử người Hán vì thế phản ánh quá trình bành trướng, dung nạp, đồng hóa, phức tạp mà các yếu tố được coi là “bản sắc” được tạo dựng một cách mơ hồ, không thống nhất, trong chính quá trình lịch sử hơn 2000 năm qua. Nhóm được coi là đồng nhất này thực ra là một tập hợp chồng chéo của nhiều nhóm người khác nhau, với những “bản sắc chung” được tưởng tượng, nhiều khi là cách do người bên ngoài gán cho, để hình thành nên một “tộc người” đa số. Cũng giống như tên gọi “Trung Quốc” để chỉ toàn bộ vùng lãnh thổ Trung Hoa ngày nay, nó không phải là một sản phẩm “cổ xưa” như chúng ta vẫn tưởng. Nội hàm đầy đủ của khái niệm này chỉ bắt đầu từ thời nhà Minh, Thanh, và sau đó đươc các nhà nước ở thế kỷ XX kế tục (Gang Zhao 2006). Xin đừng quên rằng cách hiểu hiện nay của chúng ta về người Hán hoàn toàn là sản phẩm của thời kỳ hiện đại, được tạo ra trong một thế kỷ qua.      Nhà nước Trung Quốc hiện đại đóng vai trò đặc biệt trong việc “kiến tạo” bản sắc Hán này. Quá trình này được hình thành rõ ở thế kỷ XX, gắn với sự hình thành chủ nghĩa dân tộc. Chính họ đã xây dựng những “nội hàm” mới cho “bản sắc Hán” như một tộc người thuần nhất, phát triển liên tục trong lịch sử, bắt đầu từ một tổ tiên chung là vị thủ lĩnh huyền thoại: Hoàng Đế.      Cuối cùng, dù ở bất cứ đâu trên trái đất, chủng tộc, tộc người là một quá trình được “kiến tạo” ở những mức độ khác nhau. Bài viết này không phải để “thách thức” nền tảng bản sắc của người Hán, cũng không phải phủ nhận sự tồn tại của các cư dân ở vùng Trung Nguyên. Bài viết này chỉ gợi ý rằng tên gọi “người Hán” và cách chúng ta mô tả về “bản sắc” của họ là có vấn đề. Nó chỉ đơn giản dẫn ra một ví dụ của lịch sử loài người, về cách thức một “tộc người” đã được định danh như thế nào? Thu thập thêm các thành viên mới ra sao? Các dự án chính trị của nhà nước đã góp phần tạo ra “tộc người” như thế nào? Và bản sắc của tộc người đã được kiến tạo ra sao trong quá trình lịch sử. Vấn đề của con người hiện đại là đôi khi chúng ta quá “sùng bái” bản sắc, dù là bản sắc của “tộc người”, “dân tộc”… hãy nhớ rằng tất cả các bản sắc này đều là sản phẩm do con người tạo ra mà thôi.□  —-  Tham khảo:  Dikötter, F. (1992). The discourse of race in modern China. London: Hurst & Company.  Phạm Văn Lan. Tự Tần Hán khởi Trung Quốc thành vi thống nhất quốc gia đích nguyên nhân. Lịch sử nghiên cứu, 1954(3), 22-36.  Gang Zhao, “Reinventing China: Imperial Qing Ideology and the Rise of Modern Chinese National Identity in the Early Twentieth Century”, Modern China 32.1 (2006), 3-30  Hoàng Liệt. Ngụy Tấn Nam Bắc Triều dân tộc quan hệ đích kỉ cá lí luận vấn đề. Lịch sử nghiên cứu, 1985(3), 86-99.   Holcombe, C. (1995). Re-Imagining China: The Chinese Identity Crisis at the Start of the Southern Dynasties Period. Journal of the American Oriental Society, 115(1), 1–14. http://doi.org/10.2307/605304  Mã Trường Thọ (1962). Ô Hoàn dữ Tiên Ti. (Thượng Hải: Thượng Hải Nhân dân).   Norman, J. (1988). Chinese. Cambridge: Cambridge University Press.  Thâm Tùng Kiều. Ngã dĩ ngã huyết tiến Hiên Viên: Hoàng Đế thần thoại dữ vãn Thanh đích quốc tộc kiến cấu. Đài Loan xã hội nghiên cứu quý san, 28 (1997): 1-77.   Wang, E. Q. (1999). History, Space, and Ethnicity: The Chinese Worldview. Journal of World History, 10(2), 285–305.  Vương Minh Kha (1997) Hoa Hạ biên duyên lịch sử ký ức dữ tộc quần nhận đồng. (Đài Bắc: Duẫn Thuần).  Vương Minh Kha. 2006. Anh hùng tổ tiên dữ đệ huynh dân tộc: căn cơ lịch sử đích văn bản dữ tình cảnh. (Đài Bắc: Duẫn Thần)  Wiens, H. J. (1967). Han Chinese expansion in South China (Hamden, Conn.,: Shoe String Press).  William Theodore de Bary (1999). Sources of Chinese Tradition vol. 2 (New York: Columbia University Press).     Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang “Tôi không thấy có khoảng cách nào giữa vũ trụ và bản thân”      Nhân dịp về nước ra mắt bản dịch tiếng Việt cuốn Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao  của mình, và nói chuyện với sinh viên một số trường đại học từ bắc vào  nam về vật lý thiên văn, GS Trịnh Xuân Thuận  đã trả lời phỏng vấn của  Tia Sáng chung quanh những vấn đề gần gũi với ông.      –    Trong các bài viết của Giáo sư, có thể thấy nổi bật hai vấn đề. Một, những gì nền khoa học của chúng ta có thể thực nghiệm và kiểm chứng chỉ là một phần rất nhỏ trong những bí ẩn mênh mông của vũ trụ. Như vậy, cá nhân ông có tin chắc vào những thành quả được công nhận trong thời điểm hiện tại của các nhà khoa học hay không?   –    Tôi tin chắc chắn vào những thành tựu của các nhà khoa hiện nay. Vì đó không chỉ là kết quả nghiên cứu của một vài người, mà đã được kiểm chứng bằng nhiều phương tiện khoa học hiện đại, do nhiều người trên thế giới cùng thực hiện. Các vấn đề khoa học liên tục nảy sinh, và chúng ta phải tìm lời giải đáp, mà lời giải đáp sau sẽ bổ sung và chỉnh lý cho kết quả có trước. Khi Einstein phát minh ra thuyết tương đối, thì lý thuyết về trọng lực của Newton vẫn đúng, và Einstein vẫn công nhận công thức tính vận tốc ánh sáng, từ những nghiên cứu của Newton. Tuy nhiên một số định luật của Newton trở nên không còn đúng nữa. Theo tôi, chỉ có một cách ứng xử trước thế giới tự nhiên rộng lớn, vốn vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta, đó là làm sao để mọi người cùng cảm nhận được vẻ đẹp hài hòa, tuyệt diệu của tự nhiên, nơi mọi con người, bụi hoa hồng hay giọt nước đều có mối ràng buộc với nhau, và cùng nhau bảo vệ trái đất, chỗ trú ẩn duy nhất của chúng ta trong vũ trụ mênh mông. Chúng ta hãy tôn trọng tự nhiên bằng cách không ngừng làm đầy thêm hiểu biết của mình, bởi vì vũ trụ tồn tại trước hết là để cho một loài có khả năng nhận biết và thưởng thức nó, con người, hoặc không chỉ duy nhất con người, có khả năng đó.  –    Đối thoại với thiền sư Matthieu Ricard, (sách Lượng tử và Hoa sen) ông thừa nhận sự khác biệt giữa quan niệm Phật giáo với vật lý thiên văn và lượng tử đương đại. Đó là Phật giáo nhìn sự tồn tại của vũ trụ trong dòng vận động vô thủy vô chung, còn khoa học coi vũ trụ có sự khởi thủy, có hiện tại và có một tương lai sẽ đến. Ông cũng thừa nhận sự hài hòa chặt chẽ và tinh tế vô cùng của vũ trụ theo những quy luật khoa học đã khám phá, không phải ngẫu nhiên, mà có quy luật tổ chức. Vậy đằng sau quy luật tổ chức này, liệu có một cơ cấu vận hành nào đó còn siêu việt hơn không?   –    Tôi không thừa nhận có một cơ cấu vận hành siêu việt nào đó đằng sau quy luật tổ chức, kiểu như Chúa Trời hay Đấng tối cao. Quan niệm của tôi, quy luật tổ chức đó tồn tại là điều vốn dĩ, là bản tính diệu kỳ của sẵn có của tự nhiên.   –    Albert Einstein cũng thừa nhận ý nghĩa khoa học của thế giới quan Phật giáo và cho rằng nó là triết học cổ đại duy nhất có khả năng đương đầu một cách chắc chắn với các vấn đề khoa học. Liệu có phải các nhà khoa học muốn tìm kiếm thêm một điểm tựa cho sự vững vàng trong những phát minh về vũ trụ, thông qua triết học cổ đại?   –    Hoàn toàn không có việc khoa học muốn tìm thêm sự hỗ trợ bằng triết học cổ đại. Những điểm tương đồng giữa vật lý thiên văn, lượng tử với Phật giáo, chỉ là so sánh và liên hệ của một số nhà khoa học, với tư cách cá nhân. Ngay cả tôi cũng vậy. Còn sự dung hòa giữa quan niệm triết học cổ với khoa học, trong những ý tưởng đã từng đối kháng, tôi nghĩ hoàn toàn có thể. Sau khi thuyết Big Bang ra đời, các nhà khoa học tiếp tục đặt ra vấn đề có nhiều Big Bang đã xảy ra, nối tiếp nhau. Như vậy, rất gần gũi với quan niệm thế giới tồn tại không có khởi đầu và cũng không kết thúc của Phật giáo. Vấn đề là phải tìm cách chứng minh được nó.   –    Theo quan niệm phương Đông, mỗi con người là một tiểu vũ trụ, tức là bao hàm những tính chất và trạng thái phổ rộng, cũng như tinh tế của vũ trụ “lớn”. Là nhà khoa học nghiên cứu vũ trụ, ông có phải tự mình “trở thành vũ trụ” với những vấn đề hiện tại của nó hay không?    –    Tôi là con đẻ của các vì sao, và tất cả chúng ta đều như vậy. Tất cả những gì trong vũ trụ này (kể cả những đoá hồng, con người, cây cối, núi non, v.v…) đều được xác định bởi một loạt khoảng 15 hằng số vật lý (ví dụ như vận tốc ánh sáng, hằng số hấp dẫn, hằng số Planck, khối lượng của electron, điện tích của electron, v.v…) và những điều kiện sơ khởi (cụ thể như độ giãn nở ban đầu, tỷ trọng sơ khởi của vật chất, năng lượng, v.v…)  Những nhà vật lý đã xây dựng những vũ trụ ảo bằng cách thay đổi những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi này. Họ đã đi đến một kết luận khá sửng sốt: chỉ cần một thay đổi cực nhỏ trong những hằng số vật lý hay điều kiện sơ khởi, những tinh tú đã không thể hình thành, những nguyên tố nặng đã không được sản sinh và đời sống cũng như tri giác sẽ không bao giờ xuất hiện. Đại bộ phận của cái vũ trụ bao la này sẽ cằn cỗi vô sinh không có cả một con người nhìn ngắm nó. Sự hoà điệu này được biết là cực kỳ chuẩn xác. Tôi không thấy có khoảng cách nào giữa vũ trụ và bản thân.    – Theo Giáo sư, ngành vật lý thiên văn ở Việt Nam nên phát triển theo mô hình nào cho phù hợp hoàn cảnh hiện nay, khi ở các trường đại học còn chưa có cả kính thiên văn và thầy giáo giảng dạy môn này? Ông nhận định thế nào về hiệu quả của phòng thí nghiệm tia vũ trụ Auger do GS Pháp Pierre Darriulat làm cố vấn?   –    Phòng thí nghiệm tia vũ trụ Auger ở Việt Nam hoạt động rất tốt, tôi biết rõ. Nó nghiên cứu vũ trụ bằng việc phân tích các tia, thay vì dùng kính thiên văn. Khảo sát các tia vũ trụ cũng cho kết quả về sự hình thành và chết đi của các thiên hà, ngôi sao. Đây là dự án viện trợ của Mỹ và Tây phương cho Việt Nam và một số nước khác. Tôi nghĩ, khoa học thiên văn của Việt Nam không thể trông chờ chỉ vào những dự án viện trợ. Nó là một trong những ngành khoa học cơ bản mà nhà nước cần có chiến lược đầu tư. Trước hết phải thành lập các phòng thí nghiệm quy mô vừa và nhỏ, có trang thiết bị đủ điều kiện cho nghiên cứu, và gửi các sinh viên xuất sắc đi đào tạo ở nước ngoài, các em phải sử dụng tốt tiếng Anh. Trong công việc, tôi chưa tiếp xúc với một giáo sư nào đến từ các nước ASEAN, như vậy có nghĩa là môn vật lý thiên văn ở các nước trong khu vực cũng chưa được phát triển.  –    Xin cảm ơn ông và chúc ông sức khỏe, an lạc để tiếp tục con đường nghiên cứu vũ trụ cũng như con người.        Tôi nghĩ, Nhà nước ta nên có chính sách  chiến lược đào tạo và phát triển khoa học cơ bản. Trước hết, vì khoa học  cơ bản là xương sống của mọi ngành khoa học công nghệ và ứng dụng khác,  mà hiện giờ chưa được quan tâm thích đáng ở Việt Nam. Thứ hai, chỉ có  nghiên cứu khoa học cơ bản mới tạo ra được những bộ óc lớn, tạo ra tư  duy khoa học cho mọi vấn đề cần thiết để phát triển đất nước. Không thể  phát triển và phồn vinh bằng việc chỉ du nhập những giải pháp công nghệ  lặt vặt, thực chất là đã lỗi thời, từ các nước tiên tiến, đem về sử  dụng. Đó là những thứ sẽ hủy hoại nguồn vốn và môi trường nhiều nhất.    GS Trịnh Xuân Thuận                   Author                Quản trị        
__label__tiasang …Tôi là sản phẩm của cả hai nền văn hóa      Trong diễn từ đọc tại tiệc chiêu đãi những người nhận giải Nobel năm 1957, GS Dương Chấn Ninh nhấn mạnh, trên nhiều phương diện, ông là sản phẩm của cả hai nền văn hóa Trung Hoa và phương Tây, trong hài hòa lẫn xung đột. Ông hãnh diện về di sản văn hóa Trung Hoa mà ông được thừa hưởng cũng như rất hãnh diện vì đã hiến mình cho khoa học hiện đại, một phần của nền văn minh nhân loại có nguồn gốc phương Tây.      Giới thiệu   Trong bài viết này, tôi xin sử dụng lại cái tên Chen Ning Yang cho tiện thay vì Dương Chấn Ninh, vì tên gọi theo tiếng Anh đã thông dụng trong khoa học, trong các thuyết, định luật mang tên ông, như thuyết Yang-Mills, phương trình Yang-Baxter, định lý Lee-Yang…   C.N. Yang sinh ngày 1 tháng 10 năm 1922 tại Hefei, tỉnh Anhwei (Anhui), TQ. Yang không phải xuất thân từ “số không”, mà là con của một giáo sư toán, K.C. Yang, từng tốt nghiệp Ph.D tại Đại học Chicago rồi trở về TQ giảng dạy tại Đại học Tsing Hua (Thanh Hoa, Bắc Kinh) rồi sau đó tại Southwest Associated University (Liên kết Tây Nam), Kunming, tỉnh Yunan.             GS Dương Chấn Ninh, người gốc Trung Hoa đầu tiên đoạt giải Nobel          Trong thời gian học trung học, Yang đã có dịp làm quen với thuyết (biểu diễn) nhóm ở bố, khiến ông sớm chú ý đến thuyết nhóm và vấn đề đối xứng trong vật lý. 1942 ông tốt nghiệp đại học Southwest Associated và được thâu nhận tiếp tục theo học chương trình sau cử nhân hai năm tại đại học Tsing Hua. Tại đây ông được học thêm đối xứng và cơ học thống kê, là những hướng nghiên cứu xuyên suốt đời ông sau này. Ông tự học vật lý theo sở thích riêng. A. Einstein, P.A.M. Dirac và E. Fermi là những nhà vật lý được ông ngưỡng mộ nhất. Trong khi chờ đợi đi Hoa Kỳ ông học thêm lý thuyết trường.   Yang thừa hưởng một nền giáo dục đại học rất tốt, và được sống trong không khí đại học hàn lâm. Về nhân văn ông được học các tác giả cổ điển bậc nhất của nền văn học TQ khiến ông thấm nhuần nền văn hóa tinh hoa Trung Hoa sâu đậm. Trong Vật lý, Yang được học ở những thầy tài giỏi trong đó có nhiều vị đã từng tốt nghiệp ở nước ngoài, như GS Zhao Zhong-Yao (tốt nghiệp Celtech), GS Wu You-Xun (từng hợp tác với K.A. Compton ở Đại học Chicago), Zho Pei-Yuang (Tsing Hua), C.S.Wang (tốt nghiệp tại Anh quốc), Ta-You Wu (ĐH Bắc Kinh). Sau này khi vào trường ở Hoa Kỳ, Yang thuật lại ông không cảm thấy thua thiệt gì, ngược lại, chẳng hạn trong ngành cơ học thống kê, ông thấy tại TQ mình đã học được nhiều hơn, tỉ mỉ hơn ở Hoa Kỳ.(1)     Thực ra đại học Trung Hoa vào đầu thế kỷ 20 đã có sự phát triển mạnh mẽ với kỳ vọng lớn từ luồng gió mới của châu Âu, Đức, Pháp rồi Hoa Kỳ. đó là những giá trị của tinh thần đại học như tự trị đại học, tự do hàn lâm, lấy khoa học làm trọng tâm phát triển, nhưng đồng thời đẩy mạnh phần giáo dục nhân văn cổ điển. Người mang luồng gió mới đó là Cai Yuanpei (Thái Nguyên Bồi), người đã từng học ở Pháp, Đức nhiều năm liền. Nhiều nhân vật nổi tiếng nước ngoài có sức truyền cảm hứng đã đến nói chuyện trước cộng đồng sinh viên và giáo sư TH: nhà toán học và triết học Bertrand Russell từ Anh quốc, các nhà giáo dục John Dewey và Paul Monroe từ Hoa Kỳ, nhà thơ và tư tưởng Rabinath Tagore từ Ấn Độ. Nhưng chương trình “xây dựng một nền móng văn hóa mới cho quốc gia” đã không thành công do sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc và ác liệt. Cho đến khi Mao Trạch Đông lên nắm chính quyền trên toàn lục địa năm 1949 thì đại học theo tinh thần khai phóng phương Tây cũng chết theo, và chỉ còn là công cụ tuyên truyền của chính trị thôi, hay bị phá nát.  Trở lại chuyện của C.N. Yang. Cuối năm 1945 Yang, lúc đó 23 tuổi, sang Hoa Kỳ và kỳ vọng được học với Enrico Fermi. Nhưng ông đã thất vọng khi biết rằng Fermi đã rời Columbia và bặt tăm âm tín. Sau một cuộc truy tìm kiệt sức cuối cùng ông biết rằng Fermi đang làm việc ở Đại học Chicago. Tại đây Yang đăng ký học vật lý hạt với Edward Teller, một ngành lúc đó còn rất mới mẻ, và sau khi tốt nghiệp tiến sĩ (1948) với Teller ông làm trợ lý cho Fermi một năm, đồng thời tiếp tục theo dõi ngành cơ học thống kê riêng cho mình.   Yang có một nhận xét có tính cách nhận thức luận, là phong cách nghiên cứu của Fermi và Teller, rõ nhất ở Fermi, là xuất phát từ các hiện tượng vật lý trước, chứ không phải từ nguyên lý hay lý thuyết trước, tức theo phương pháp qui nạp (inductive), hơn là đi từ các nguyên lý, tức theo phương pháp diễn dịch (deductive), trong khi tại TQ Yang chỉ được giáo dục theo phương pháp diễn dịch thôi. Đây là nhận xét rất thú vị và sắc bén, vì đó cũng chính là cuộc chiến giữa hai phương pháp 400 năm trước giữa Galilei người đại diện cho phương pháp qui nạp có tính chất xây dựng (constructive) và khám phá những lý thuyết mới, và Nhà thờ công giáo La Mã cùng với giới thần học – triết học theo Aristote đại diện cho phương pháp diễn dịch xuất phát từ những nguyên lý bất khả xâm phạm (tabu) làm tiên đề(2). Nói chung, như một quy luật, quyền lực nào, hay thể chế giáo dục nào có tính chất bảo thủ đều dùng loại tư duy diễn dịch từ các nguyên lý tabu của mình để biện minh sự tồn tại, bất chấp thực tiễn khoa học từ cuộc sống xung quanh, hay nói như Goethe, họ bám víu vào “lý thuyết lúc nào cũng xám xịt” trong khi “cây đời thì vẫn mãi mãi xanh tươi”.  C.N.Yang có rất nhiều đóng góp to lớn trong nhiều ngành của vật lý học thế giới. Nổi bật nhất là khám phá đã từng gây sửng sốt của ông và đồng nghiệp T.D. Lee, cũng là một Hoa kiều, về sự không bảo toàn đối xứng gương ở vật lý các tương tác yếu (nonconservation of parity in weak interactions only); tương tác này là một trong bốn tương tác căn bản của vũ trụ. Đây là một bài toán nóng trong những năm 1953-1956, được biết dưới cái tên “θ-τ puzzle” (3). Năm 1956 hai ông, sau khi tính toán vất vả nhiều tuần liền, Yang và Lee, công bố một bài báo tiên đoán sự bất đối xứng gương trong các hiện tượng vật lý tương tác yếu, và cho rằng tất cả những thí nghiệm trước đây về sự phân rã bêta (b-decay) là quá đơn giản để có thể kiểm tra tính bảo toàn đối xứng. Hai ông đề nghị một số thí nghiệm mới để kiểm chứng điều đó. Wolfgang Pauli bình luận ý kiến táo bạo của Yang và Lee khi nói rằng ông không tin “Thượng đế là một người thuận tay trái yếu”.             Chien-Shiung Wu 1912-1997), người phụ nữ đặc biệt đã kiểm chứng một cách thông minh sự vi phạm bảo toàn đối xứng gương của Yang và Lee.          Cả giới vật lý hoài nghi sự bất đối xứng gương, vì đã quá quen thuộc với tính đối xứng rất đẹp trong vật lý, trong điện từ hay tương tác mạnh chẳng hạn. Người ta không tin rằng tự nhiên lại vận hành (behaviour) khác nhau (qua hàm số sóng) ở những hệ thống tọa độ chỉ khác nhau qua một phép đối xứng gương (thay đổi các dấu của tọa độ). Rõ ràng khó tin. Nhưng chỉ nửa năm sau, đầu 1957, Chien-Shiung Wu đại học Columbia, một nữ chuyên gia nổi tiếng về sự phân rã bêta, cũng là người gốc Trung Quốc(4), như có một bàn tay vô hình sắp xếp, đã dùng thí nghiệm với phương pháp đặc biệt để kiểm chứng ý tưởng mới của Yang và Lee, và bà đã chứng minh sự tiền giả định nói trên là sai. Công bố kết quả của bà cho thấy sự bất đối xứng gương là không chối cãi được trong phân rã bêta! Bà Wu cho thấy hàng ngàn electron phát ra từ cobalt trong mỗi giây đồng hồ phần lớn chỉ đi về một hướng, không đối xứng phải-trái. Đó là một cú sốc gây sửng sờ cho cộng đồng vật lý thế giới. Thượng đế quả thuận tay trái yếu mà con người đến nay không biết đến. Nhưng đó mới chỉ một trường hợp của tương tác yếu của b-decay. Giới vật lý tại các phòng thí nghiệm khác nhau thi đua đi tìm sự bất đối xứng, đã xác nhận tính bất đối xứng gương trong tất cả các tương tác yếu đúng như Yang và Lee tiên đoán. Một bứt phá cơ bản lý thuyết trong vật lý! Tất cả lý thuyết khoa học giả định trên đối xứng đều phải được xem xét lại.   Cuối năm, 1957, Ủy ban Nobel Stockholm công nhận nóng giải Nobel vật lý cho hai ông Yang và Lee, với một khoảng cách thời gian ngắn nhất chưa từng có giữa khám phá và giải Nobel. Lúc đó Yang mới vừa 35 tuổi! Tòa Đại sứ Trung Hoa lục địa của Mao Trạch Đông tại Thụy Điển tìm cách để đưa ông về nước. Nhưng Yang từ chối, muốn tiếp tục ở lại Hoa Kỳ để nghiên cứu khoa học, như ông nói trong bài Diễn từ dưới đây. Bảy năm sau, 1964, ông nhập quốc tịch Mỹ, sau khi đã sử dụng hộ chiếu Đài Loan nhiều năm liền để không gặp khó khăn trong việc đi lại. Tên đầy đủ của ông là Chen-Ning Franklin Yang. Sở dĩ có thêm cái tên Franklin là vì sau khi đọc tự truyện của Benjamin Franklin ông quá ngưỡng mộ nên quyết định lấy thêm tên Franklin.   Yang và Lee chứng tỏ người Trung Hoa cũng có thể nắm bắt khoa học hiện đại phương Tây không thua kém nếu được phát triển trong môi trường văn hóa, khoa học thuận lợi. Đây là thành công bứt phá thứ nhất của người Trung Hoa, thứ ba của người châu Á, sau giải Nobel vật lý 1949 cho nhà vật lý học Nhật Bản Hideki Yukawa của đại học hoàng gia Kyoto, và giải Nobel cho nhà vật lý Ấn độ Sir Chandrasekhara Venkata Raman năm 1930 trước đó.  Định mệnh nghiệt ngã của Trung Hoa thế kỷ 19 vẫn còn để lại những cơ may cho một số tài năng được ươm mầm đường hoàng và vươn lên, trong đó có C. N. Yang và một số tài năng xuất sắc khác, để rồi khi thăng hoa thành các đại thụ, họ trở về để góp sức xây dựng một vương quốc băng hoại về tinh thần sau cả nghìn năm mệt mỏi và tan nát vì phong kiến, nội chiến và chuyên chính. Yang là  một người rất có ảnh hưởng và uy tín trong giới khoa học Hoa Kỳ. Thực tế Yang là người nổi tiếng đầu tiên về thăm Trung Quốc năm 1971 khi quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ bắt đầu tan băng, có nhiều nổ lực để giúp cộng đồng vật lý TQ xây dựng lại không khí nghiên cứu và học thuật đã bị phá hủy bởi cuộc cách mạng văn hóa quá khích. Ông cùng với một cộng đồng Hoa kiều mạnh mẽ ở Hoa Kỳ làm cầu nối cho quan hệ văn hóa khoa học Hoa-Mỹ ngày càng phát triển. Không phải ông chỉ giúp cho Trung Hoa lục địa mà ông còn cộng tác thân thiện với Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc từ thời xa xưa trước đó khi các quốc gia này còn thù địch với TQ trong cuộc chiến tranh lạnh.  Dưới đây là bài diễn văn của GS C.N. Yang trong buổi tiệc chiêu đãi Nobel năm 1957 với nội dung rất đáng trân trọng và suy nghĩ cho chúng ta. Xin giới thiệu.  Diễn từ   Kính thưa Vua, Hoàng hậu, và các thành viên gia đình hoàng gia,  Thưa Quý Bà, Quý Ông  Trước hết, cho phép tôi cám ơn Quỹ Nobel và Hàn lâm viện khoa học Thụy Điển về lòng mến khách ân cần mà Bà Dương và tôi sung sướng được hưởng. Tôi cũng muốn đặc biệt cám ơn Giáo sư Karlgren về sự trích dẫn của ông và đoạn văn của ông bằng tiếng Hoa, mà khi nghe qua tôi thấy ấm lòng.  Thể chế tặng thưởng giải Nobel bắt đầu vào năm 1901. Trong cùng năm, một biến cố trọng yếu khác xảy ra có tầm quan trọng lịch sử to lớn. Nó đã, một cách trùng hợp, có ảnh hưởng quyết định lên dòng đời của tôi, và có tác động đến sự tham gia hiện tại của tôi vào buổi lễ liên hoan Nobel năm 1957. Với sự cho phép của Quý Vị, tôi xin dành đôi phút để đi vào một chút đề tài này.  Vào cuối hậu bán thế kỷ qua (thế kỷ 19), tác động của ảnh hưởng lan rộng của nền văn hóa và hệ thống kinh tế phương Tây đã gây ra một cuộc xung đột nghiêm trọng tại Trung Hoa. Câu hỏi được thảo luận nóng bỏng là văn hóa phương Tây nên được truyền bá vào Trung Hoa tới mức độ nào. Tuy rồi, trước khi một giải pháp được đạt đến, lý trí nhường chỗ cho xúc cảm, và trong những năm thập kỷ 1890, nổi lên những nhóm được gọi là Nghĩa Hòa Đoàn trong tiếng Hoa, hay Boxers tiếng Anh, tự cho rằng họ có thể thuần túy bằng xương thịt chống cự lại các loại vũ khí hiện đại. Hành động điên rồ và ngu muội của họ chống lại những người phương Tây tại Trung Hoa đã kêu quân đội của nhiều quốc gia châu Âu và của Hoa Kỳ vào Bắc Kinh năm 1900. Sự kiện được gọi là Chiến tranh Nghĩa Hòa Đoàn (Boxer War), và được đặc trưng ở hai phía bởi những cuộc giết chóc dã man và cướp bóc đáng hổ thẹn. Theo những phân tích cuối cùng, sự việc xảy ra được xem như có nguồn gốc từ biểu hiện xúc cảm của tâm trạng tuyệt vọng và giận dữ của một dân tộc Trung Hoa kiêu hãnh khi phải chịu sự áp bức ngày càng gia tăng từ bên ngoài và sự tham nhũng suy đồi từ bên trong. Sự kiện đó trong lịch sử được xem như sự chỉnh lý một lần rốt ráo cho cuộc tranh luận về việc văn hóa phương Tây nên được truyền bá vào Trung Hoa tới mức độ nào.  Cuộc chiến chấm dứt năm 1901, khi một hòa ước được ký kết. Ngoài những điều khoản khác, hòa ước quy định Trung Hoa phải bồi thường cho các lực lượng phương Tây một khoản tiền khoảng năm trăm triệu lượng bạc, một con số gây choáng váng trong những ngày ấy. Khoảng mười năm sau đó, trong một nghĩa cử rất Mỹ, Hoa Kỳ quyết định trả lại Trung Hoa số phần tiền của họ. Tiền được sử dụng để lập một quỹ để tài trợ cho một đại học, Đại học Thanh Hoa, và một chương trình học bổng cho sinh viên để du học tại Hoa Kỳ (5). Tôi là người hưởng lợi trực tiếp từ cả hai đề án này. Tôi đã lớn lên trong một môi trường biệt lập thiên về hàn lâm của campus của đại học này, nơi cha tôi là một giáo sư, và được hưởng một tuổi thơ yên tĩnh, điều mà đáng tiếc là phần lớn người Trung Hoa thế hệ tôi không được hưởng. Sau đó tôi được hưởng một chương trình học hai năm sau cử nhân đầu tiên tuyệt vời tại chính đại học này, và rồi có thể theo đuổi công việc nghiên cứu của tôi tại Hoa Kỳ bằng một học bổng của cùng quỹ học bổng nói trên.  Khi tôi đứng đây hôm nay để kể cho Quý Vị về những chuyện này, tôi có ý thức sâu sắc rằng tôi, trên nhiều phương diện, là sản phẩm của cả hai nền văn hóa Trung Hoa và phương Tây, trong hài hòa lẫn xung đột. Tôi phải nói rằng tôi rất hãnh diện về nền di sản văn hóa Trung Hoa của tôi cũng như rất hãnh diện tôi đã hiến mình cho khoa học hiện đại, một phần của nền văn minh nhân loại có nguồn gốc phương Tây, mà tôi đã cống hiến và sẽ tiếp tục cống hiến việc nghiên cứu của tôi cho nó.  C.N.Yang, 1957  (1) Bà Chien-Shiung Wu (nhân vật quan trọng đã đưa Yang đến đỉnh cao vinh quang của sự nghiệp được nói dưới đây) trong một bài phát biểu kỷ niệm sinh nhật thứ 70 của CN Yang năm 1992 tại Đại học quốc gia Tsing Hua Đài Loan đã phát biểu như sau về tài sản tinh thần mà Yang đã thừa hưởng trong thời thanh thiếu niên tại TQ như một hành trang vô giá: “Đối với một cậu bé sáng chói, một thanh niên lỗi lạc, có được một môi trường tổ ấm học thuật để nuôi dưỡng, lại có những bậc thầy hiếm hoi và những nhà vật lý tài giỏi nhất dạy và chăm sóc trong suốt những năm đại học và sau đại học, ngay cả những năm chiến tranh khủng khiếp, thì đó là những điều kiện tốt nhất để ông phát triển thành một cây cổ thụ cao ngất.” Yang vừa yêu khoa học, vừa yêu văn hóa TH.  (2) Xin xem thêm “Lời mở đầu: Galilei và Chúng ta” trong sách “Galileo Galilei hay là Eppur si muove”, revised version, sắp ra mắt của tác giả NXX. GS Phạm Xuân Yêm cũng cho biết đã đọc ở đâu đó nhận định của CN Yang, rằng chính quan điểm tư duy theo lối diễn dịch này đã làm cho khoa học TQ không phát triển được. Tác giả bài viết cám ơn GS PXY nhiều thông tin quý báu, và đọc lại bản thảo nhiều lần.  (3) Xin xem thêm bài viết “E = mc², θ-τ puzzle, sao quá ngại ngùng?” của GS Phạm Xuân Yêm trong link http://www.diendan.org/khoa-hoc-ky-thuat/e-mc2-th-t-puzzle-sao-qua-ngai-ngung/  (4) Bà Chien-Shiung Wu (1912-1997) từng tham gia Đề án Manhattan, được gọi một cách vinh danh là “First Lady of Physics” hay một “Marie Curie Trung Hoa”.  (5) Phía TH chấp nhận thành lập Đại học Tsing Hua và quỹ học bổng du học Hoa Kỳ trên cơ sở Hoa Kỳ đề nghị sẽ xóa bớt một phần nợ choTrung Hoa và trả phần còn lại để làm quỹ. Năm 1949 khi Mao Trạch Đông nắm chính quyền, chủ tịch Mei Yi-Qi của Đại học Tsing Hua và nhiều giáo sư của trường này di tản qua Đài Loan và thành lập ở đó Viện Công nghệ Hạt nhân Quốc gia năm 1955, sau này trở thành Đại học quốc gia Tsing Hua của Đài Loan. Như vậy có hai đại học quốc gia Tsing Hua, một tại TQ, một tại Đài Loan.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi muốn có một ý tưởng mới có thể mở ra một lĩnh vực mới      STEPHEN HAWKING là một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất của thế giới, nổi tiếng với các công trình về lỗ đen. Điều kiện sức khoẻ của ông chỉ cho phép ông giao tiếp nhờ những co giật ở má. Dưới đây là bài trả lời phỏng vấn của ông với New Scientist nhân dịp ông tròn 70 tuổi.    Sự phát triển gây nhiều ấn tượng nhất về vật lý trong suốt khoảng thời gian sự nghiệp của ông là gì?  Khám phá của COBE về những biến đổi nhiệt độ nhỏ của nền bức xạ viba vũ trụ và sự xác nhận sau đó được thực hiện bởi WMAP  rất phù hợp với các dự đoán của giả thuyết vũ trụ lạm phát. Vệ tinh Planck có thể phát hiện ra dấu vết của các sóng hấp dẫn dự đoán bởi  giả thuyết lạm phát. Đó là sự biểu hiện của hấp dẫn lượng tử được viết trên không gian.  Vệ tinh COBE và WMAP đã đo nền bức xạ viba vũ trụ (CMB), là ánh sáng còn sót lại sau vụ nổ lớn đã lan truyền  khắp không gian. Nhiệt độ của nó hầu như đồng đều – chứng cứ này thúc đẩy mạnh lý thuyết lạm phát. Lý thuyết này dự đoán là vũ trụ đã trải qua một thời kỳ của sự giãn nở rất nhanh sau vụ nổ lớn làm san bằng tất cả những gì gồ ghề. Nếu lạm phát đã xảy ra, nó sẽ gửi các làn sóng qua không–thời gian, đó là sóng hấp dẫn , nguyên nhân của những biến đổi tinh vi trong nền bức xạ viba vũ trụ rất khó để phát hiện ở khoảng cách xa. Vệ tinh Planck thực hiện  nhiệm vụ của Cơ quan không gian châu Âu là đo đạc độ nền bức xạ viba vũ trụ với độ chính xác lớn hơn , có thể sẽ nhìn thấy chúng dễ dàng.      Einstein đã xem hằng số vũ trụ là “sai lầm lớn nhất” của ông ấy. Còn của ông là gì?  Tôi từng nghĩ rằng thông tin bị triệt tiêu trong các hố đen. Nhưng mối tương quan giữa không gian anti-de-Sitter và Lý thuyết trường conform (AdS/CFT) làm thay đổi tư duy của tôi. Đây là sai lầm lớn nhất của tôi, hay ít nhất đó là sai lầm lớn nhất của tôi trong khoa học.  Các lỗ đen hút hết mọi thứ, bao gồm cả thông tin, nếu chúng ở phạm vi quá gần. Nhưng vào năm 1975, cùng với nhà vật lý người Israel Jakob Bekenstein, Hawking đã chỉ ra rằng các lỗ  đen phát ra  bức xạ một cách chậm rãi, nguyên nhân làm chúng bốc hơi và cuối cùng biến mất. Vậy, chuyện gì đã xảy ra với thông tin mà chúng nuốt chửng? Trong vài thập niên Hawking đã lý luận rằng nó đã bị phá hủy. Điều này là một thách thức đối với tư tưởng về tính liên tục và nhân quả. Tuy nhiên năm 1997, nhà lý thuyết Juan Maldacena đã phát triển ngắn gọn bằng toán học mối tương quan giữa không gian anti-de-Sitter và Lý thuyết trường conform” , viết tắt là AdS/CFT.          Để ghi dấu ngày sinh nhật của Hawking, Trung tâm lý thuyết vũ trụ học, Đại học Cambridge, đăng cai một hội nghị chuyên đề có tên là “Trạng thái của vũ trụ” vào ngày 8 tháng 1 (xem trực tuyến tại ctc.cam.ac.uk/hawking70/multimedia.html) Cuộc triễn lãm về cuộc sống và công việc của ông mở cửa tại bảo tàng khoa học, London, vào ngày 20 tháng 1.        Lý thuyết này liên kết các sự kiện trong hình học không-thời gian cong, ví như trong lỗ đen, với một vật lý đơn giản hơn tại biên của không gian. Vào năm 2004, Hawking đã sử dụng lý thuyết  này để chỉ ra rằng thông tin trong hố đen rò rỉ trở lại vào vũ trụ của chúng ta thông qua các nhiễu loạn cơ học lượng tử tại biên của nó, hoặc còn gọi là đường chân trời. Việc công nhận sai sót làm Hawking chịu thua trong một lần đánh cuộc với nhà lý thuyết đồng nghiệp John Preskill một thập kỷ trước đó.  Khám phá gì có thể đóng góp nhiều nhất cho cuộc cách mạng về sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ?  Sự phát hiện các hạt siêu đối xứng tại máy gia tốc LHC (Large Hadron Collider) sẽ có thể là chứng cớ hùng hồn ủng hộ lý thuyết M?  Tìm kiếm các hạt siêu đối xứng là mục tiêu chính của LHC tại CERN. Mô hình chuẩn của vật lý hạt có thể hoàn thiện nếu tìm thấy hạt boson Higgs, và một số vấn đề có thể được giải quyết nếu tất cả các hạt cơ bản đã biết có một “siêu đối tác” nặng hơn. Dấu hiệu của siêu đối xứng có thể hỗ trợ cho lý thuyết M, phiên bản 11 chiều của lý thuyết dây.  Lý thuyết dây là một nỗ lực lớn nhất và thành công nhất hiện nay trong việc tìm kiếm “lý thuyết cho mọi thứ” để thống nhất lực hấp dẫn với các lực khác trong tự nhiên.  Nếu là một nhà vật lý trẻ mới bắt đầu từ hôm nay, ông sẽ nghiên cứu về vấn đề gì?  Tôi muốn có một ý tưởng mới có thể mở ra một lĩnh vực mới.      Ông nghĩ về cái gì nhiều nhất trong ngày?   Về Phụ nữ. Với tôi họ luôn là bí ẩn tuyệt đối.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôi tham gia hội thảo khoa học về máy phát điện chạy bằng nước      Tôi đến buổi hội thảo với rất nhiều  câu hỏi trong đầu, tôi ra khỏi buổi hội thảo những câu hỏi này càng  thêm độ ấm ức vì chẳng có câu hỏi nào được tác giả sáng chể có câu trả  lời thỏa đáng.  &#160;    Nguyên tôi đã có dịp gặp TS Nguyễn Chánh Khê trước Tết Nhâm Thìn một tuần và đã có yêu cầu tác giả gởi cho tôi tài liệu đã công bố để tôi nghiên cứu hiểu rõ thêm về phát minh máy phát điện chạy bằng nước đang gây chấn động lớn trong giới khoa học trong và ngoài nước. Thấy tôi còn nhiều thắc mắc sau khi nhận được hai sơ đồ minh họa, TS Khê bảo tôi qua điện thoại là chưa có công bố khoa học quốc tế vì muốn bảo toàn sáng chế và cho tôi biết sẽ tổ chức một sêmina riêng cho sáng chế của mình.  Sáng hôm nay, 9/3/2012, tôi lên Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP), tham gia hội thảo khoa học về phát minh máy phát điện chạy bằng nước của tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và triển khai kiêm trưởng phòng thí nghiệm công nghệ nano (trực thuộc SHTP).  Tôi chuẩn bị đi đúng giờ, đến đúng lúc. Ban tổ chức hỏi giấy mời và chỉ có ai có giấy mời mới được lấy thang máy lên lầu tham gia. Một đoàn nhà báo khá hùng hậu không được bước vào phòng hội thảo.  …  Buổi hội thảo bắt đầu khá đúng giờ. Ban tổ chức mời các vị trong ban thẩm định do GS.VS Nguyễn Văn Hiệu chủ trì bao gồm TS Hồ Nhân, GSTS Nguyễn Thị Phương Thoa (ĐH Khoa học Tự nhiên), TS Nguyễn Đức Hùng, TS Lê Hoài Quốc, trưởng ban quản lý Khu Công nghệ cao.  Trong cử tọa có mặt ông Phạm Chánh Trực (Năm Nghị), nhà sáng lập ra Khu Công nghệ cao TP. HCM, và GS.TSKH Nguyển Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước..  TS Nguyễn Chánh Khê vào cuộc trình bày phát minh của mình, với nhiều hình ảnh minh họa.  Nói chung TS Khê không nói nhiều điều mới so với những công bố trên báo chí gần đây mà chúng ta đã đọc được. Tuy tôi đã trực tiếp gởi cho tác giả bài phản biện súc tích, đầy đủ của TS Giáp Văn Dương, trong bài thuyết trình TS Khê vẫn không trả lời gì về những nghi vấn đã nêu ra. Đây là điều thất vọng thứ nhất của tôi. Điều thất vọng thứ hai là TS Khê bỏ ra rất nhiều thì giờ (gần 2/3 thời gian) và dùng nhiều hình ảnh minh họa giải thích nguyên tắc vận hành của pin nhiên liệu dùng hydrogen, cái mà giới thức giả đã quen thuộc vì loại pin này đã được phổ biến trên thương mại. TS Khê cũng kê khai nhiều áp dụng thiết thực của phát minh của mình như chế tạo nước sạch từ nước bẩn hay nước biển, tạo điện sạch cho vùng cao vùng sâu, cho biển đảo không có nguồn nước ngọt.  Bài thuyết trình chấm dứt sau gần một tiếng đồng hồ và ban chủ tọa mời cử tọa tham gia phần thảo luận.  Tôi là người đầu tiên đưa tay và nhận được micro. Tôi nêu rõ tầm quan trọng của sáng chế, nó có thể đảo lộn cục diện năng lượng của thế giới. Bởi vậy việc thẩm định nghiêm túc là tối cần thiết.  Trước tiên tôi yêu cầu TS Khê phân biệt là trong sáng chế có hai vấn đề. Vấn đề khoa học và vấn đề công nghệ. Công nghệ có bí quyết và việc giữ kín bí mật công nghệ là việc tự nhiên và tôi sẽ không tò mò tìm hiểu ở đây. Cái mà tôi mong TS Khê giải thích cùng cử tọa là khía cạnh khoa học của sáng chế. Khía cạnh khoa học luôn luôn phải công khai minh bạch đối với công chúng đặc biệt các chuyên gia. Câu hỏi của tôi thuộc về phạm trù này và tôi mong mỏi TS Khê sẽ trả lời tôi trên tinh thần khoa học.  Tôi cũng thành thật tỏ bày nỗi thất vọng của tôi là TS Khê không giải thích phần quan trọng nhất của phát minh, việc tách nguyên tử hydrogen H2 ra khỏi phân từ nước H2O (xem sơ đồ dưới đây, chú ý phần đóng khung màu gạch).        Và tôi đi thẳng vào câu hỏi:  – Chất có can dự việc tách H2 từ nước là chất gì, chất xúc tác có ghi trên biểu đồ hay chất khử. Phải minh bạch là chất xúc tác sẽ giữ nguyên trạng sau phản ứng và chất khử ngược lại sẽ tham gia phản ứng phân tử và sẽ có biến đổi.  TS Khê khẳng định: đó là chất xúc tác.  Tôi phản đối ngay:  – Nếu quả như thế thì ở đây nguyên lý cơ bản của khoa học, nguyên lý bảo toàn năng lương bị vi phạm. Lấy ở đâu ra năng lượng 285.83 kJ/phân tử nước để có phản ứng hóa học:  2H2O + 2×285.83kJ → 2H2 + O2  Sau mấy phút giằng co qua lại, TS Khê đã phải công nhận đây là một “tạp chất” có tham dự vào phản ứng phân tử. Đây là minh định đầu tiên triệt tiêu một phần tính lạ lùng khó hiểu của sáng chế.  Cử tọa tập trung thảo luận khá lâu chung quanh vấn đề này: TS Nguyễn Bách Phúc của Viện HASCON, GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn, GSTS Vũ Đình Huy, GSTS Đặng Lương Mô. Trên bàn chủ tọa, GSTS Nguyễn Thị Phương Thoa phát biểu mạnh mẽ: Như vậy công bố máy điện chạy bằng nước là không chính xác bởi vì chính “tạp chất” này là nhiên liệu làm phát sinh H2 từ nước.  Khi hỏi đến quá trình phản ứng của “tạp chất”, nhất là số lượng năng lượng phát sinh từ phản ứng này TS Khê bảo chưa có thì giờ nghiên cứu và mong cử tọa thông cảm cho ông. Có người bảo khoa học phải nghiêm túc và việc tình cảm không thể đặt ở đây.  Các thức giả có mặt cũng nêu rõ là nên làm rõ vai trò của “tạp chất”, đây là hướng nghiên cứu trong tương lai, làm rõ trước khi công bố khoa học.  Nhiều góp ý của cử tọa đặc biệt của các nhà kinh doanh năng lượng mà nội dung tôi không nhớ hết.  Tôi nhác thấy trên màn ảnh TS Giáp Văn Dương đang ngồi chờ tại Singapore mà chưa phát biểu được lời nào. Nối kết “video conference” từ xa thất bại…  Hơn ba tiếng đồng hồ đã trôi qua, đã đến giờ kết thúc. Ban tổ chức mời GS.VS Nguyễn Văn Hiệu lên đọc kết luận. Tôi nhớ ba điều xin tóm tắt ở đây:  – GS.VS Hiệu khen ngợi TS Khê đã có cống hiến công nghệ quan trọng có thể làm giàu cho đất nước.  – GSVS Hiệu mong mỏi Khu Công nghệ cao TP.HCM tiếp tục tăng cường ủng hộ TS Khê trong tương lai trong công tác hoàn thiện sáng chế này.  – GSVS Hiệu khuyên TS Khê và Khu Công nghệ cao chỉ lấy bằng sáng chế tại Việt Nam, không nên làm tại Mỹ hay nước ngoài vì nên cảnh giác bảo tồn bí mật công nghệ cho nước ta.  TS Lê Hoài Quốc, trưởng ban quản lý Khu Công nghệ cao tiếp lời sẽ yêu cầu TS Khê chế ra một máy tương tự nhưng qui mô hơn sử dụng lâu bền tại chính Khu Công nghệ cao để minh định một cách thiết thực giá trị của sáng chế.  Cử tọa dành thời gian còn lại để đi thăm phòng thí nghiệm của khu công nghệ cao nơi có đặt hai máy phát điện chạy bằng nước đang vận hành.  Phải nói tôi đến buổi hội thảo với rất nhiều câu hỏi trong đầu, tôi ra khỏi buổi hội thảo những câu hỏi này càng thêm độ ấm ức vì chẳng có câu hỏi nào được tác giả sáng chể có câu trả lời thỏa đáng. Cái “tạp chất” có khả năng tách hydrogen ra khỏi nước đã càng trở thành một chất bí hiểm ly kỳ bội phần.  Tôi nhìn tác dụng của chất ấy vào nước với hydrogen nổi lên sủi bột như nước đang sôi với biết bao câu hỏi mà chưa có giải thích! Tôi thử đưa tay sờ vào bình chứa. Bình có nhiệt độ nóng khoản 50-60 độ C.  Như vậy năng lượng phát sinh chẳng những đủ cho phản ứng phân ly của nước mà còn dư ra có thể đun nóng bình chứa! Như vậy từ bao lâu nay tại sao không nghĩ đến việc đo đạc sự thay của khối lượng “tạp chất” ấy trong quá trình phát ra điện? Và tôi cũng giật mình khi thấy bóng điện tắt ngay khi cộng tác viên của TS Khê bẻ cong ống dẫn không cho hydrogen chạy vào bình phát điện chạy bằng pin nhiên liệu. Tại sao đèn tắt nhanh như vậy, như trực tiếp bật lên rồi tắt đi qua “contact” điện, thời gian trễ gần như không có?  Tôi ra về với bao nỗi ngổn ngang. Có một cái gì lạ lùng chưa có câu giải thích! Tôi tự bảo mình đâu phải chuyên gia ngành này. Đành chờ vậy… Bí mật mà…    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôn giáo làm giảm nỗi đau thể xác      Trong nhiều thế kỷ, tín đồ tôn giáo cho thấy họ có thể chịu đựng nỗi đau thể xác tốt hơn những người theo chủ nghĩa vô thần. Giờ đây các nhà khoa học Anh đã tìm ra được nguyên nhân vì sao.    Phát hiện này giải thích tại sao trong nhiều thế kỷ trước, hàng nghìn tín đồ Thiên chúa giáo luôn tỏ ra bình thản khi bị thiêu trên giàn lửa. Nhóm nghiên cứu cho rằng, trong một chừng mực nào đó, các tín đồ tôn giáo có thể chiến thắng nỗi đau thể xác bằng cách nghĩ về nó một cách tích cực. Tiến sĩ tâm lý Miguel Farias, một thành viên của nhóm nghiên cứu, cho rằng những người vô thần cũng có thể làm được điều tương tự nếu họ được ngắm những bức tranh mà họ thích. “Một người vô thần có thể vượt qua sự đau đớn thể xác nếu được ngắm hình ảnh của một người mà anh ta yêu thương hoặc ngưỡng mộ, chẳng hạn như cha, mẹ, người yêu hay một vị anh hùng”, Miguel phát biểu. Việt Linh  (Theo Daily Mail)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tôn giáo trước ngưỡng cửa khoa học      Chúng ta, những con người, đang mang cho vũ trụ một ý nghĩa và một mục đích thông qua cách mà chúng ta đối xử với nhau trong cuộc sống, bởi tình yêu thương đối với tha nhân, bởi khám phá những điều bí mật còn chôn dấu trong tự nhiên, bởi làm việc và sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta không phải là những ngôi sao trong vở kịch vĩ đại của vũ trụ, nhưng chúng ta buộc phải đối mặt với một vũ trụ thờ ơ vô cảm và không có tình yêu. Tuy nhiên, chúng ta lại mất khả năng sáng tạo nên chính bản thân mỗi chúng ta, một ốc đảo nhỏ của sự ấm áp, tình yêu và cả trong đó là khoa học và nghệ thuật.    Thuyết Sáng thế và Vũ trụ học  Không đơn thuần chỉ là quá trình tiến hóa sinh học đã đặt ra những thách thức trong quan điểm Thiên chúa giáo truyền thống. Những hiểu biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm suy giảm đức tin tâm linh của con người. Trong cuốn sách về sự sáng thế, Chúa đã tạo dựng nên toàn cõi vũ trụ trong vòng sáu ngày. Nhưng theo các nhà vũ trụ học ngày nay thì vũ trụ bắt đầu từ một “vụ nổ” và thường được ví von với thuật ngữ “Vụ Nổ Lớn-Big Bang”. Sau hàng tỷ năm, các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành. Giống như Darwin đã giả thuyết, tiến hóa của sự sống là một quá trình đều đặn, chậm rãi và lâu dài. Bởi vậy, các nhà vũ trụ học cũng tin rằng, vũ trụ của chúng ta cũng trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài và chậm chạp như thế.  Nhưng giả thuyết và phương thức giải quyết vấn đề của Kinh Thánh và Khoa học lại không tương thích với nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là cả hai đều gợi ý rằng, vũ trụ bắt đầu từ hư không trong một khoảng thời gian hữu hạn ở quá khứ. Quả thực, rất nhiều đức tin tôn giáo hiện thời coi lý thuyết Vụ Nổ Lớn như là một lời khẳng định ý niệm của Chúa về sự tạo thành vũ trụ. Thật là thú vị khi bằng chứng đầu tiên của lý thuyết Vụ Nổ Lớn được khám phá vào năm 1929 bởi nhà thiên văn người Mỹ Edwin Hubble. Các quan sát của Hubble chỉ ra rằng vũ trụ đang giãn nở. Rất nhiều nhà khoa học đã bác bỏ ý kiến này, bởi theo họ, nó mang thoang thoảng hương vị của tôn giáo. Nếu vũ trụ có một khởi đầu thì phải có một Đấng tạo hóa. Đó là một điều phản khoa học. Quan điểm thịnh hành ở thời điểm đó cho rằng, vũ trụ trong trạng thái tồn tại vĩnh hằng, và do đó, không có khởi điểm.                  Khám phá của Hubble về sự giãn nở của vũ trụ đã đặt dấu chấm hết cho một vũ trụ tĩnh không thay đổi theo thời gian, đồng thời nó cũng đưa chúng ta tới một sự ngoại suy rằng, vũ trụ có một thời khắc khởi đầu xác định trong quá khứ. Hơn nữa, quan niệm này đã củng cố cho thuyết tương đối rộng của Einstein, mà ở đó, nó đưa ra một loạt các phương trình đẹp đẽ miêu tả cách thức mà vũ trụ xuất hiện từ hư không. Một số các nhà khoa học ngày nay đã giành lại thế thượng phong để tranh luận rằng, thuyết Vụ Nổ Lớn minh chứng vũ trụ xuất hiện từ những quá trình tự nhiên thuần túy mà không cần có sự can thiệp bởi một sức mạnh siêu nhiên nào.                  Quan niệm này được diễn tả rành rọt bởi nhà vật lý người Anh Stephen Hawking. Trong cuốn sách bán chạy nhất thế giới của ông “Lược sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng, nếu lý thuyết vũ trụ hiện tại là đúng thì sự tạo thành của vũ trụ hoàn toàn có thể giải thích được bằng các định luật vật lý thuần tuý. Trong tình huống như thế, Hawking đặt ra câu hỏi, cái gì đóng vai trò cho một Đấng sáng tạo?  Trong khi Hawking nhìn nhận khoa học như một sự lột tả bức tranh của Chúa thì cũng có nhiều nhà khoa học mang những quan niệm khác nhau. Chẳng hạn, nhà vật lý Paul Davies đã diễn tả rằng, vẻ đẹp và trật tự của các định luật vật lý đã gợi mở một vài điều còn ẩn sau chính những định luật đó, một vài điều bắt nguồn từ vẻ đẹp của toán học và trật tự của vũ trụ. Tương tự như vậy, nhà vật lý John Polkinghorn và John Barrow tin vào sự cân bằng tinh tế đáng kinh ngạc của trật tự toán học cho phép mô tả vũ trụ. Điều đó ngụ ý rằng, có một tác động trí tuệ nào đó có trách nhiệm cho chính sự tinh tế này. Chính Stephen Hawking đã liên hệ Chúa với các định luật vật lý. Đặc biệt, Hawking và Davies đã gán Chúa với cái gọi là “Lý thuyết của vạn vật”- Một lý thuyết đơn lẻ mà các nhà vật lý hy vọng một ngày nào đó nó sẽ thống nhất được cả thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử, bởi vậy có thể mang toàn bộ vũ trụ vào trong một cái bóng lớn đầy hiệu lực của toán học. Lý thuyết này là mục tiêu lớn nhất mà các nhà vật lý lý thuyết đương đại muốn vươn tới. Đây cũng là cái mà Hawking ám chỉ là “ý niệm của Chúa”. Tuy nhiên, vươn xa hơn các ngành khác, vũ trụ học là trường hợp mà bạn có thể hoặc không thể nhìn thấy Chúa phản ánh trong bức tranh. Và cuối cùng, khoa học hoặc không làm sáng tỏ hoặc không bác bỏ sự tồn tại của Chúa.                  Đi tìm cội nguồn của vũ trụ  Ý tưởng cho rằng vũ trụ có một bắt đầu lần đầu tiên được tiên đoán bởi thuyết tương đối rộng của Einstein vào năm 1916. Các phương trình Einstein miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian đã ám chỉ rằng, vũ trụ không phải là tĩnh, và nó phải giãn nở theo thời gian. Cả Einstein và các nhà vật lý khác đã sớm nhận ra hệ quả tất yếu này. Nhưng hầu hết các nhà vật lý thời đó đều có một niềm tin vững chắc vào một vũ trụ tĩnh tại. Chính Einstein cũng bị thống trị bởi cách suy nghĩ này hơn là chấp nhận hệ quả mà phương trình của ông đưa ra, để rồi buộc ông phải thêm vào phương trình vốn dĩ rất đẹp một thuật ngữ xa lạ để làm sao phương trình đó miêu tả một vũ trụ tĩnh. Sau khi các quan sát của Hubble về sự lùi xa của các thiên hà cho thấy vũ trụ đang giãn nở thì Einstein mới thừa nhận “đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi”. Ông đã bỏ lỡ cơ hội mà chắc chắn đó là tiên đoán vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học.     Một trong những người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự giãn nở và nguồn gốc của vũ trụ là một cha cố người Bỉ George Lemaitre. Ông gợi ý rằng, vũ trụ bắt đầu từ cái gọi là “nguyên tử khổng lồ”. Trong kịch bản của ông về sự tiến hóa của vũ trụ thì siêu nguyên tử này sau đó bị vỡ ra thành nhiều mảnh nhỏ, dần dần tạo ra các nguyên tử, các hạt mà sau đó là những viên gạch kiến tạo nên toàn bộ vũ trụ. Các nhà vật lý đã không chấp nhận ý tưởng về “nguyên tử khổng lồ” của Lemaitre. Nhưng họ cũng lần theo ý tưởng đó để suy đoán về sự bắt đầu của vũ trụ từ một điểm vật chất đặc và nhỏ, sau đó giãn nở và tạo nên vô vàn các cấu trúc trong vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát thấy ngày nay. Cha cố Lemaitre hoạt động nghề nghiệp vinh quang như một nhà vũ trụ học, và trong nhiều năm ông cũng là lãnh đạo của Viện Hàn lâm Giám mục của khoa học nằm trang trọng trong khuôn viên của Vatican.  Chúa của Stephen Hawking  Trong cuốn sách “Lược sử thời gian”, nhà vật lý Stephen Hawking đã tuyên bố rằng, khi một nhà vật lý tìm ra một lý thuyết, anh ta và các đồng nghiệp đang tìm kiếm cái gọi là “Lý thuyết của vạn vật”- sau đó họ sẽ nhìn vào “Ý niệm của Chúa”. Hawking là nhà vật lý duy nhất gán Chúa với các định luật vật lý. Nhà khoa học đoạt giải Nobel, Leon Lederman, đã tạo ra mối liên kết giữa Chúa và các hạt hạ nguyên tử được gọi là các boson Higgs. Lederman đã gợi ý rằng, khi các nhà vật lý tìm ra các hạt đó trong các máy gia tốc của họ, nó cũng giống như việc nhìn thấy khuôn mặt của Chúa. Nhưng các dạng nào của Chúa mà các nhà vật lý muốn nói đến?  Nhà vật lý đoạt giải Nobel Steven Weinberg diễn tả rằng, thực tế không có Chúa nào hết. Weinberg lưu ý rằng, theo cách hiểu truyền thống, “Chúa” có nghĩa là một cá nhân cụ thể. Nhưng đó không phải là điều mà Hawking và Lederman có ý nói đến. Ông nói, Chúa của họ thực ra chỉ là một nguyên lý trừu tượng của trật tự và sự hài hoà, một tập hợp các phương trình toán học. Weinberg sau đó đặt câu hỏi, “Tại sao họ lại sử dụng thuật ngữ “chúa”?”. Ông đã tạo ra một quan điểm khá sâu sắc rằng, “nếu một ngôn từ có bất cứ ý nghĩa gì đối với chúng ta thì chúng ta hãy cố gắng gìn giữ ý nghĩa của ngôn từ ấy, và “Chúa” xét về mặt lịch sử không có nghĩa là các định luật của tự nhiên”. Câu hỏi “Chúa” là gì đã đánh nặng các nhà thần học trong suốt hàng nghìn năm. Những điều mà Weinberg nhắc nhở chúng ta là phải thận trọng với những khái niệm chế tác.                    Chúa và thời gian  Cũng trong cuốn “Lược sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng, nếu mô hình về một vũ trụ không có biên là đúng thì không cần phải viện đến một Đấng sáng tạo. Mô hình này giả thiết rằng, không cần một thời khắc chính xác cho sự bắt đầu của vũ trụ, bởi vì không có thời khắc xác định nào khi thời gian bắt đầu. Lý thuyết Vụ Nổ Lớn nói rằng, vụ nổ xảy ra ở tất cả mọi điểm trong không gian và là bắt đầu của thời gian. Bởi vì điều mà Hawking đã tuyên bố là không có vai trò nào cho một Đấng sáng tạo. Trong mô hình của ông, đại lượng được gọi là thời gian được nảy sinh ra từ một dạng của rối lượng tử, trong đó có một thành phần ảo của thời gian, tối thiểu ở những thời khắc ban đầu của Vụ Nổ Lớn. Nó có một ý nghĩa toán học chính xác liên hệ với cái gọi là số phức. Những tình tiết của thời gian ảo này thực ra không quan trọng. Theo Hawking, vũ trụ không bắt đầu trong thời gian mà chính thời gian bắt đầu cùng với vũ trụ.  Nhưng nếu Hawking nhìn nhận vấn đề này như một sự tranh luận chống lại một đấng sáng tạo thì nhà vật lý đồng thời cũng là nhà thần học Robert Russell lại có ý kiến khác. Russell chỉ ra rằng, ý kiến của Hawking cũng khá tương tự như ý kiến được đưa ra hơn 1500 năm trước bởi một nhà thần học Thiên chúa giáo nổi tiếng. Augustine cũng tuyên bố vũ trụ không sinh ra trong thời gian, đúng hơn là cùng với thời gian. Như Russel nhận xét, đây là một ví dụ đẹp, nơi mà các học thuyết thần học kinh điển và khoa học đương đại khá tương đồng. Ông nói, “Nếu bạn mang trong mình một bức tranh đầy thú vị về hai nền văn hoá khác nhau, nhưng có thể đặt ra cùng một câu hỏi cho cả hai nền văn hoá đó, và hơn nữa, sẽ có cùng một câu trả lời được đưa ra”. Những điều chỉ cho chúng ta, như Russell nói, đó là “Trên phương diện thần học, Hawking thực sự là một người đồng minh của chúng ta bởi vì ông ta đã nói cho chúng ta ý niệm về một vũ trụ hữu hạn như là sự sáng tạo của Chúa được duy trì, cho dù vũ trụ đó có điểm khởi đầu hay không”.    Lý thuyết của vạn vật  Chúng ta đã tìm đến một thời điểm phi thường trong lịch sử khoa học. Một số nhà vật lý tin rằng, họ đang tiệm cận đến một lý thuyết duy nhất có thể kết hợp được tất cả các khoa học dưới một cái bóng quyền lực của toán học. Đặc biệt, lý thuyết này có thể thống nhất được hai pháo đài vĩ đại nhất của nền vật lý thế kỷ 20: thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Thuyết tương đối rộng miêu tả thế giới ở thang đo vĩ mô như những cấu trúc của vũ trụ, trong khi cơ học lượng tử lại miêu tả mọi hành xử của vật chất ở thang vi mô, trong thế giới hạt nguyên tử. Việc thống nhất cả hai lý thuyết này cho phép giải thích một cách toàn vẹn và chính xác về toàn bộ thế giới. Một lý thuyết như thế được ví von như là “Lý thuyết của vạn vật”.                  Đặc biệt, lý thuyết này sẽ thống nhất được tất cả các tương tác cơ bản vốn điều hành mọi hành xử của vũ trụ. Các nhà vật lý đã tìm ra tất cả bốn tương tác cơ bản trong tự nhiên: tương tác hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay xung quanh Mặt trời và đóng vai trò cốt yếu trong sự hình thành các sao và thiên hà trong vũ trụ. Tương tác điện từ giữ cho các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử và liên kết các nguyên tử với nhau. Tương tác hạt nhân yếu có tác dụng bên trong hạt nhân nguyên tử và gây ra các phân rã phóng xạ. Và cuối cùng, tương tác hạt nhân mạnh có vai trò liên kết các proton và notron trong nguyên tử với nhau, và như vậy, rất cần thiết cho sự ổn định của vật chất. Ở thời điểm này, các nhà vật lý đã xây dựng thành công từng lý thuyết riêng biệt cho mỗi loại tương tác, nhưng mục đích cuối cùng mà họ muốn đạt được là xây dựng một lý thuyết thống nhất được tất cả các tương tác trên. Mục tiêu trên phần nào đã có những tiến triển lạc quan, bởi vì hiện tại họ đã thống nhất được tương tác điện từ và tương tác yếu thành tương tác điện yếu. Nhưng quả thật, việc thống nhất cả bốn tương tác trên là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Dù sao các nhà vật lý đều rất tự tin rằng, trong một vài thập kỷ tới họ có thể hoàn thành được sứ mạng cao cả đó.                  Nhà vật lý lý thuyết Steven Weinber, người đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất thành công lý thuyết điện yếu và đoạt giải Nobel cùng với hai đồng nghiệp Abdus Salam và Sheldon Glashow, đã gọi lý thuyết thống nhất cả bốn tương tác trên là một “lý thuyết tối hậu”. Ông và nhiều nhà vật lý khác phát biểu, khi các nhà vật lý tìm ra được lý thuyết này thì nền vật lý sẽ đặt hồi chuông cáo chung. Ngày nay, vũ trụ được mô tả bởi tập hợp các phương trình hoặc chỉ một phương trình. Nhưng vẫn còn lại câu hỏi là, các phương trình đó thực chất là gì?    Mang cho vũ trụ một ý nghĩa  Weinberg từng viết “Chúng ta càng hiểu vũ trụ bao nhiêu, thì dường như nó càng trở nên vô nghĩa bấy nhiêu”. Đối lập với cách nhìn nhận lạnh lùng của Weinberg, nhà sinh học Australia Charles Birch, một trong những người sáng lập nên sinh thái học hiện đại, lại tìm thấy vũ trụ có một ý nghĩa nào đó khi ông coi mình như là một phần cố hữu của vũ trụ.  Tương tự như vậy, vị linh mục và cũng là một nhà thiên văn George Coyne đã phát biểu rằng, vũ trụ tự nó đã có một mục đích và một ý nghĩa đầy đủ. Ông chỉ ra rằng, đối với tất cả những thành tựu vĩ đại của khoa học, nó không cần thiết phải là một bãi chiến trường để chỉ cho chúng ta quan điểm hoặc là cuộc đời của mỗi chúng ta hoặc vũ trụ là tất cả. Nhiệm vụ đó ngoài khả năng của khoa học. Thay vì thế, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh nghiệm thường ngày và ngay tại thế giới này. Ông giải thích, “Với tất cả kinh nghiệm của con người, tôi nghĩ, có thể nói với chúng ta một điều rằng, có một ý nghĩa cho điều đó. Khi tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của một người bạn vừa lìa xa cõi đời, và nhìn thấy một diễn tả về sự hy vọng và niềm vui sướng trong đôi mắt của người bạn đó, thậm chí ngay ở thời khắc của sự chết đến. Tôi có thể nhìn thấy ý nghĩa cho sự tồn tại mà điều này vượt ra ngoài những phát minh khoa học”                  Thú vị thay, Weinberg lại tán thành với quan điểm của Cha cố Coyne, mặc dù ông tin tưởng rằng, khoa học đang vẽ lên bức tranh về một vũ trụ vô nghĩa, lạnh lùng và dửng dưng. Ông cũng tuyên bố mạnh mẽ rằng, chúng ta, những con người, đang mang cho vũ trụ một ý nghĩa và một mục đích thông qua cách mà chúng ta đối xử với nhau trong cuộc sống, bởi tình yêu thương đối với tha nhân, bởi khám phá những điều bí mật còn chôn dấu trong tự nhiên, bởi làm việc và sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta không phải là những ngôi sao trong vở kịch vĩ đại của vũ trụ, nhưng chúng ta buộc phải đối mặt với một vũ trụ thờ ơ vô cảm và không có tình yêu. Tuy nhiên, chúng ta lại mất khả năng sáng tạo nên chính bản thân mỗi chúng ta, một ốc đảo nhỏ của sự ấm áp, tình yêu và cả trong đó là khoa học và nghệ thuật. Đó là một tuyên bố nhân văn sâu sắc từ một con người với cách nhìn lạnh lùng dường như là vô cảm. Tuy vậy, điều gì là ngạc nhiên nhất? Đó chính là một nhà khoa học vô thần thẳng thắn đã diễn tả một quan niệm không tương đồng với quan điểm của những tông đồ tôn giáo.  Điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo  Khác biệt với quan điểm của Thiên chúa giáo, Phật giáo lại có nhiều điểm tương đồng với nền khoa học đương đại. Trong đạo Phật, Đức Phật đã đưa ra thuyết Vô thường và Duyên khởi, tức là vạn vật hiện hữu trong thế giới luôn vận động và biến đổi. Vạn vật khi hội đủ duyên thì được sinh ra, hết duyên thì hoại diệt. Không có gì hiện hữu tự thân, một vật chỉ có thể tồn tại và ghi nhận trong tổng hoà các quan hệ với các đối tượng khác trong thế giới thực tại. Các học thuyết khoa học đương đại đã minh chứng cho quan điểm này của Phật giáo. Bất cứ một đời sống nào trong vũ trụ này đều trải qua bốn giai đoạn “sinh, lão, bệnh, tử”. Và để sinh vật đạt đến một đời sống trí tuệ lại phải trải qua một chuỗi các tiến hoá. Ngay cả với vũ trụ, thông qua một loạt các biến cố từ Vụ Nổ Lớn đến vũ trụ giãn nở, và hình thành nên các cấu trúc vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy ngày nay. Cả chúng ta nữa, những đời sống trí tuệ biết thưởng thức vẻ đẹp cùng sự hài hoà của vũ trụ và có thể đặt những câu hỏi về vũ trụ. Tất cả đều có một đời sống và một lịch sử. Hơn thế nữa, ý niệm về tánh không trong Phật giáo tương ứng với lưỡng tính sóng hạt trong cơ học lượng tử. Cũng nhờ ý niệm về duyên khởi và tánh không mà Phật giáo không chấp nhận ý niệm về Đấng sáng tạo.  Có chăng, điều khác nhau giữa khoa học và Phật giáo là phương thức tiếp cận đối tượng của chủ thể quan sát trong thế giới thực tại. Khoa học xây dựng các quy luật của thế giới thực tại bằng một hệ thống cấu trúc toán học chặt chẽ và kiểm chứng thông qua các khí cụ khoa học. Còn trong Phật giáo, phương pháp chính là quán tưởng và công cụ là tâm. Einstein từng phát biểu: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Nó sẽ phải vượt qua một vị Thượng Đế có nhân trạng và tránh xa những học thuyết lẫn giáo điều. Bao gồm cả khoa học tự nhiên và tâm linh, nó sẽ phải được đặt căn bản trên một ý thức tôn giáo phát khởi từ cảm nghiệm về tất cả mọi sự vật, khoa học tự nhiên lẫn tâm linh, và đây được xem như một sự hợp nhất đầy ý nghĩa… Phật giáo là câu trả lời cho sự mô tả này… Nếu có bất kỳ một tôn giáo nào có thể đáp ứng được những nhu cầu của nền khoa học đương đại, thì đó chính là Phật giáo”.  Mối tương hỗ  Các nhà thiên văn đang cố gắng nhìn sâu hơn vào không gian và các nhà vũ trụ học có thể mở rộng các phương trình để mô tả nhiều hơn về vũ trụ, các nhà di truyền học tháo gỡ tất cả những bí mật của gene người và các nhà sinh học tiến hoá khám phá nhiều hơn nữa nguồn gốc và sự phát triển của cuộc sống. Tất cả họ đang cố gắng trả lời những những câu hỏi thần học hóc búa. Trong kỷ nguyên này của khoa học chúng ta có thể hỏi tôn giáo có vai trò gì? Khoa học và tôn giáo cùng tương hỗ cho nhau như thế nào?  Theo nhà vật lý và thần học Robert Russell – giám đốc Trung tâm Thần học và Khoa học tự nhiên ở Berkeley – thì, cả khoa học và thần học đều cần đến nhau. Mặc dù các nhà khoa học đang trả lời một lượng lớn các câu hỏi, nhưng lại nảy sinh ra những câu hỏi khác mà khoa học chưa thể làm sáng tỏ, và thường là những câu hỏi liên quan đến triết học và đạo đức: Tại sao lại có vũ trụ này? Vì sao chúng ta đi tìm kiếm trật tự của toán học trong thế giới xung quanh? Tại sao khoa học tự nó lại mang một ý nghĩa nào đó?…Theo Russell, những câu hỏi này muốn giải quyết được không chỉ cần các nhà khoa học mà phải có sự tham gia của các nhà triết học, nhà đạo đức học và thần học.  Mặt khác, Russell chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên của khoa học hiện đại, các nhà thần học và những người có tín ngưỡng không đủ sức để lờ đi những gì đang tiếp diễn trong khoa học. Nhà triết học Thiên chúa giáo Nancey Murphy giải thích, nếu quan điểm của tôn giáo không liên hệ với một vũ trụ cụ thể mà khoa học mô tả thì nó rất dễ bị tàn lụi. Chúng ta cần tránh sự tách biệt của tôn giáo từ khoa học trong Thời kỳ Khai Sáng, thời kỳ ở Châu Âu thế kỷ 18, cho rằng chỉ có lý trí và tri thức của khoa học mới đưa loài người tiến bộ.  Theo Murphy, để tôn giáo duy trì được sức mạnh trong việc giảng dạy đạo đức thì họ phải nhìn một cách hài hoà trong sự thật của khoa học. Nếu bạn muốn ai đó tin vào những gì bạn nói trong những phạm trù đạo đức, bạn cần mang cho họ bức tranh về thế giới dựa trên những kinh nghiệm của chính bạn. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận những lý thuyết của khoa học.  Nguyễn Đức Phường      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tồn tại nền toán học Việt Nam!      Đó&#160; là một trong những “Định lí tồn tại” nổi   tiếng nhất của một trong những nhà toán học nổi tiếng nhất của thế kỉ   XX: Alexandre Grothendieck.       Ông đã chứng minh “định lí tồn tại” nổi tiếng của mình không phải theo cách thường dùng để chứng minh các “định lí Grothendieck” nổi tiếng khác. Lần này, thế giới toán học được biết đến một phương pháp chứng minh mới của Grothendieck: ông chứng minh định lí trên bằng chuyến đi của mình đến miền Bắc Việt Nam trong thời kì ác liệt nhất của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Sau khi từ Việt Nam trở về, tháng 11 năm 1967, Grothendieck đã viết một bài về chuyến đi của mình, kết thúc bằng câu:” Tôi đã chứng minh một trong những định lí quan trọng nhất của mình, đó là: Tồn tại một nền toán học Việt Nam”. Bài viết đó nhanh chóng trở thành nổi tiếng trong thế giới toán học, bởi vì bất cứ điều gì mà Grothendieck viết ra đều là điều mà mọi người làm toán quan tâm. Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt Nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó. Tôi hiểu điều này một cách rõ ràng khi, rất nhiều năm sau chuyến đi của Grothendieck, nhiều đồng nghiệp nước ngoài nói với tôi rằng, họ biết dến nền toán học Việt Nam từ sau khi đọc bài viết của Grothendieck. Và cũng nhiều lần, tôi phải kể lại tường tận những gì tôi đã được chứng kiến, những gì Grothendieck đã làm trong chuyến đi thăm Việt Nam. Bản thân sự kiện Grothendieck đến Việt Nam đã là điều đáng ngạc nhiên. Ông, người được trao giải thưởng Fields, người mà bất kì một trường đại học lớn nào cũng lấy làm vinh dự khi ông đến thăm, lại đi đến Việt Nam đang dưới bom đạn ác liệt? Nhưng, để có thể hình dung tại sao những điều Grothendieck viết ra lại có ảnh hưởng to lớn như vậy trong thế giới toán học, xin được nói đôi lời về ông.  Alexandre Grothendieck là một trong những nhà toán học được nhắc đến nhiều nhất của thế kỷ 20. Dĩ nhiên người ta nhắc đến ông trước hết vì những đóng góp to lớn của ông cho toán học, nhưng cũng vì ông là một con người với thiên tài kì lạ, cá tính kì lạ. Mặc dù ông đã viết hơn 1.000 trang hồi ký, người ta vẫn biết rất ít về cuộc sống riêng của ông! Bởi thế, nhiều điều trong tiểu sử của ông vẫn còn là bí ẩn, đôi khi chỉ là những “truyền thuyết”. Những điều tôi viết sau đây dựa rất nhiều vào những lời kể của một số bạn bè gần gũi của ông.  Alexandre Grothendieck không phải là người có một thời thơ ấu êm ả và thuận lợi. Cha ông họ là Shapiro (không rõ tên là gì), sinh khoảng năm 1890 trong một thị trấn nhỏ thuộc Nga, gần giao điểm của ba nước Nga, Ucraina, Belarus. Dòng họ Shapiro gồm những người Do Thái rất sùng đạo. Ông Shapiro tham gia vào phong trào cách mạng 1905 ở Nga, sau đó bị đày đi Siberia hơn 10 năm trời. Ông được trả tự do năm 1917 khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công, và là một trong những nhà lãnh đạo của Đảng Xã hội – cách mạng cánh tả. Lúc đầu ông đi với những người Bônsêvich, nhưng sau đó rời bỏ họ. Thời kỳ này ở Châu Âu có nhiều phong trào cách mạng: Rosa Luxemburg ở Berlin, các Xôviết ở Munich, nhóm cách mạng của Bela Kun ở Hungary. Nước Nga bước vào cuộc nội chiến với sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau, trong đó có phái vô chính phủ do Makhno cầm đầu ở Ucraina (nhân đây, nhắc lại mục tiêu khá buồn cười của Makhno “Đánh cho bọn Đỏ trắng bệch, đánh cho bọn Trắng đỏ nhừ!”. Đỏ: Hồng quân; Trắng: Bạch vệ). Cha của Grothendieck tham gia vào tất cả các phong trào đó! Trong những năm 20 ông sống chủ yếu ở Đức, gia nhập các nhóm chính trị, vũ trang của các đảng cánh tả chống lại Hitler và bọn Quốc xã. Tại Đức, Shapiro gặp Hanka Grothendieck, một phụ nữ Do Thái đến từ miền bắc nước Đức. Ngày 28 tháng 3 năm 1928, họ sinh người con trai đặt tên là Alexandre. Chỉ ít lâu sau, Hitler lên cầm quyền, và từ năm 1933, nước Đức trở nên rất nguy hiểm đối với những nhà cách mạng Do Thái. Cha mẹ của Alexandre lánh nạn sang Pháp, để lại con trai mình trong một trường tư thục gần Hamburg. Năm 1936 cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ. Ông Shapiro tham gia trong đoàn quân chống phát xít Franco. Khi những người cộng hoà Tây Ban Nha thất bại, ông bị đưa vào nhà tù ở Vernet, sau đó chuyển về trại tập trung Auschwitz và chết tại đó năm 1942.  Hanka Grothendieck cùng với con trai Alexandre sống sót một cách may mắn trong một nước Pháp bài Do Thái dưới thời Thống chế Pétain. Họ được những người kháng chiến theo đạo Tin lành ở Cévennes che chở. Mục sư Trocmé, hiệu trưởng trường lycee Tin Lành ở Cévennes biến vùng đó thành trung tâm kháng chiến chống bọn chiếm đóng quốc xã. Alexandre Grothendieck được học và sống ngay trong trường đó.  Về thời kỳ đó, Grothendieck viết trong “Récoltes et semailles. Réflexions et témoignages sur un passé de mathématicien”: “Tôi học năm đầu lycée trước hết ở Đức, sau đó ở Pháp. Năm 1940 là năm đầu tiên tôi học lycée bên Pháp. Lúc đó là chiến tranh. Mẹ tôi và tôi bị giam trong trại tập trung ở Rieucros, gần Mende. Tôi là đứa trẻ lớn nhất ở trại và là đứa duy nhất đi học lycée. Trời tuyết hay trời gió, tôi đi tới trường với những đôi giày tạm, bị thấm nước. Mấy năm cuối chiến tranh, trong lúc mẹ tôi vẫn bị giam ở trại tập trung, tôi sống ở một nhà giành cho trẻ con tị nạn của “Secours Suisse” ở Chambon sur Lignon. Phần lớn bọn trẻ chúng tôi là ng¬ời Do Thái, và khi cảnh sát địa phương báo cho chúng tôi là bọn Gestapo sắp vây lùng, chúng tôi chạy vào rừng ẩn náu độ một hai đêm, đi từng nhóm hai hay ba người, không ý thức lắm về mối hiểm nguy chết người. Vùng Cévennes đầy những người Do Thái ẩn náu, và nhiều người sống sót nhờ tình đoàn kết của dân địa phương. Ở đây, tôi đi học ở “Collège Cévenol” cho đến năm 1945. Giữa 1945 và 1948 tôi là sinh viên ở đại học Montpellier. Mẹ tôi và tôi sống ở xóm nhỏ Mairargner heo hút, cách Montpellier độ hơn chục cây số .Chúng tôi sống tằn tiện bằng cái học bổng sinh viên nghèo nàn của tôi. Để sống được qua ngày, mỗi hè tôi đi hái nho; và lại có cả cái vườn nữa cho chúng tôi rau quả. Đó là một cuộc sống tươi đẹp, trừ khi phải đối mặt với những tiêu pha như thay gọng kính hay đôi giày mòn vẹt cả đế …”.  Sau hai năm học ở Montpellier, mùa thu năm 1948, Grothendieck được các thầy giáo giới thiệu lên Paris theo học ở Ecole Normale Superieure với Elie Cartan, một trong những nhà toán học nổi tiếng nhất thời đó. Đó là điểm kết thúc thời niên thiếu, và bắt đầu một thời kỳ vinh quang của Grothendieck, từ 1949 đến 1970.  Sau một năm ở Paris, Grothendieck chuyển đến Nancy, làm việc dưới sự hướng dẫn của Dieudonné. Thời kỳ này anh quan tâm nhiều đến Giải tích hàm. Bản luận án tiến sĩ quốc gia “Tích tenxơ tôpô và các không gian hạch” của Grothendieck, bảo vệ năm 1950, đã trở thành kinh điển, và là điểm khởi đầu cho lý thuyết hình học các không gian Banach. Cũng thời kỳ này, Grothendieck gia nhập nhóm Bourbaki, cùng với Henri Cartan, Dieudonné, André Weil và một số người khác.  Từ năm 1950, Grothendieck nhận được tài trợ của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Ông làm việc ở trường Đại học tổng hợp Sao Paulo (Braxin) trong hai năm 1953-1955, sau đó chuyển về Đại học Kansas (Hoa Kỳ). Chính trong thời kỳ này, mối quan tâm của ông chuyển từ Giải tích hàm sang Tôpô và Hình học. Năm 1956 ông trở về Pháp, làm Nghiên cứu viên của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp.  Năm 1959 đánh dấu một cái mốc quyết định trong sự nghiệp của Grothendieck. Đó là năm ông nhận một “ghế” ở Viện nghiên cứu khoa học cao cấp (Institut des Hautes Etudes Scientifiques, nổi tiếng với tên gọi tắt là IHES) vừa mới thành lập, đặt tại Bures-sur-Yvette, trong vùng thung lũng Essonne xinh đẹp gần Paris. Người ta thường nói, những năm Grothendieck ở IHES (1959-1970) là những năm vàng (Golden Age) của cuộc đời ông. Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Grothendieck đã xuất hiện một trường phái mới của toán học. IHES trở thành trung tâm lớn nhất thế giới về Hình học đại số. Nhờ Grothendieck, Hình học đại số mang một diện mạo mới, sau thời kỳ phát triển hoàng kim của nó với “trường phái Italia” nổi tiếng (với những tên tuổi như Frobenius, Castelnuovo, Fano,…). Cùng với việc đưa vào khái niệm “lược đồ” (Scheme), Grothendieck “đại số hoá” những tư tưởng hình học rực rỡ của trường phái Italia, đưa đến cho hình học đại số những công cụ tính toán mạnh mẽ. Hơn thế nữa, các công trình của Grothendieck cho ta khả năng nhìn nhận toán học hiện đại trong một thể thống nhất: các định lý của ông là sự hợp nhất của hình học, số học, tôpô và giải tích phức.  Khó có thể liệt kê hết những gì mà Grothendieck đã mang lại cho toán học. Đó là tích tenxơ tôpô, không gian hạch, đối đồng điều bó như là các hàm tử dẫn xuất, lược đồ, K- lý thuyết, Định lý Grothendieck-Riemann-Roch, định nghĩa đại số của nhóm cơ bản của một đường cong, xác định cấu trúc hình học thông qua các hàm tử, phàm trù phân thớ, hình thức luận của đối ngẫu địa phương và toàn cục, đối đồng điều étale, đối đồng điều crystalline, mô tả các L-hàm trong ngôn ngữ đối đồng điều, các “môtip”,…Thật khó hình dung được rằng, tất cả những tư tưởng lớn như thế của toán học chỉ xuất hiện trong một cái đầu, và chỉ trong khoảng 10 năm! Điều xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp của Grothendieck chính là cố gắng của ông nhằm “thống nhất” toàn bộ toán học, xoá nhoà ranh giới giữa hình học, đại số, số học, giải tích. Tư tưởng đó của Grothendieck có ảnh hưởng lớn trong sự phát triển của toán học hiện đại, và được thể hiện trong nhiều công trình của nhiều nhà toán học được giải thưởng Fields sau ông: Deligne, Drinfeld, Kontsevich, Voevodsky, Lafforgue, Ngô Bảo Châu.  Grothendieck đã góp phần làm cho IHES thực sự trở thành một trong vài ba trung tâm lớn nhất của toán học thế giới. Chỉ một chi tiết sau đây cũng cho ta thấy rõ điều đó: từ ngày thành lập đến nay, IHES mới có 10 người là “giáo sư chính thức” (professeur permanent) thì đã có 7 người đoạt giải Fields, đó là: Alexandre Grothendieck, René Thom, Jean Bourgain, Alain Connes, Pierre Deligne, Maxim Kontsevich, Laurent Laforgue.  Grothendieck đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong toán học. Ông để lại dấu ấn của mình trong mọi lĩnh vực của toán học hiện đại. Người ta có thể nhận ra ảnh hưởng của Grothendieck ngay cả khi không thấy trích dẫn định lí cụ thể nào của ông. Điều này cũng giống như ảnh hưởng của Picasso đến thẩm mĩ của thời đại chúng ta: ta nhận ra Picasso không chỉ qua các bức hoạ của ông, mà thấy Picasso ngay trong hình dáng của những vật dụng hàng ngày.  Việc Grothendieck đột ngột rời bỏ IHES, và nói chung, rời bỏ toán học năm 1970, vào thời kì thiên tài của ông đang ở đỉnh cao, đã làm xôn xao giới toán học. Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn không thật hiểu rõ tại sao. Nhiều người cho rằng ông không đồng ý với việc IHES nhận một số tiền tài trợ của các cơ quan quân sự (vào thời điểm đó, số tiền này là vào khoảng 3,5% ngân sách của Viện). Ông là người luôn có những quan điểm riêng của mình, và có thể là như nhiều người quan niệm, ông khá “ngây thơ” về chính trị. Giáo sư Louis Michel kể lại: có một lần, ông chỉ cho Grothendieck xem bản thông báo về một hội nghị quốc tế mà Grothendieck được mời làm báo cáo viên chính. Trong phần liệt kê các cơ quan tài trợ có NATO, và Michel hỏi Grothendieck xem có biết NATO là gì không, thì Grothendieck trả lời “không”! Sau khi được giải thích NATO là gì, Grothendieck đã viết thư cho ban tổ chức hội nghị để phản đối. Và cuối cùng, vì không muốn mất Grothendieck, ban tổ chức đành chịu mất NATO!  Vậy mà con người có vẻ như ngây thơ về chính trị, không biết NATO là gì, đã đến thăm và giảng bài tại Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Một số người bạn gần gũi với ông, như giáo sư Pierre Cartier, cho rằng Việt Nam chính là một trong những nguyên nhân làm thay đổi quan niệm của Grothendieck. Nhìn thấy những gì chiến tranh mang lại cho loài người, Grothendieck nghi ngờ về ý nghĩa của khoa học. Ông cho rằng khoa học đã bị lợi dụng để làm hại loài người. Chuyến thăm Việt Nam của ông đã gây một tiếng vang lớn trong cộng đồng toán học quốc tế. Khi đến Việt Nam (năm 1967), ông đọc bài giảng về Đại số đồng điều tại Hà Nội. Thường thì Giáo sư Tạ Quang Bửu (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp) hoặc Giáo sư Đoàn Quỳnh phiên dịch cho ông. Người ta thật sự kinh ngạc vì sự bình tĩnh của ông: các bài giảng của ông thường bị ngắt quãng vì những lần máy bay Mỹ bắn phá thành phố. Vậy mà ông, người đến từ một đất nước đã từ lâu không có chiến tranh, không hề tỏ ra mảy may lo sợ. Nhưng rồi thì các bài giảng của ông cũng phải chuyển lên khu sơ tán, vì không thể nào giảng bài khi mà buổi học bị ngắt quãng hàng chục lần vì máy bay. Ở khu sơ tán, có một hình ảnh về ông mà không bao giờ tôi quên. Đó là có một lần, tôi thấy ông cởi trần ngồi đọc sách, cái áo ướt màu “phòng không” (tên gọi của “màu cỏ úa” thời chiến tranh) vắt trên bụi sim. Hỏi ra mới biết, ông giành toàn bộ va li của mình để mang theo sách vở sang tặng các nhà toán học Việt Nam, và chỉ có bộ quần áo duy nhất mặc trên người! Vậy nên mỗi lần giặt, ông phải chờ quần áo khô để mặc lại chứ không có quần áo để thay! Trong thời gian ông ở Việt Nam, mỗi tuần ông đều nhịn ăn ngày thứ sáu. Khi các nhà toán học Pháp biết chuyện, họ đều rất ngạc nhiên vì không thấy ông có thói quen đó khi ở Pháp. Và người ta cho rằng chỉ có thể có một cách giải thích: ông muốn tiết kiệm một phần lương thực cho Việt Nam! Theo lời ông nói, chuyến đi Việt Nam đã làm ông thật sự ngạc nhiên: ở một đất nước ngày đêm phải đối đầu với cuộc chiến tranh ác liệt bậc nhất trong lịch sử, người ta vẫn dạy toán, học toán, và biết đến những thành tựu hiện đại nhất của toán học! Từ sự ngạc nhiên đó, ông đã công bố “định lí” của mình trong bài viết về chuyến thăm Việt Nam (được lưu hành rất rộng rãi thời đó ở các trường đại học phương Tây): “Tồn tại một nền toán học Việt Nam“.  “Định lí” trên đây của Grothendieck đã làm thế giới toán học biết đến nền toán học Việt Nam trong chiến tranh. Chuyến đi của Grothendieck đã mở đầu cho một loạt chuyến đi thăm và giảng bài của nhiều nhà toán học lớn đến Việt Nam, trong đó nhiều nhất vẫn là các nhà toán học Pháp: L. Schwartz, A. Martineau, P. Cartier, B. Malgrange, Y. Amice,… Có thể nói chuyến đi của Grothendieck là một cột mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác khoa học giữa các nhà toán học Việt Nam và các nhà toán học Pháp.  Từ sau năm 1993, Grothendieck không còn địa chỉ bưu điện nữa, không ai có thể liên lạc với ông, ngoại trừ một số người bạn gần gũi. Ông sống trong một căn nhà nhỏ bên sườn dãy Pyrénées. Có lẽ bộ óc lớn bậc nhất của toán học đó đang muốn giành thời gian suy ngẫm về cuộc đời. Cả cuộc đời ông là một chặng đường gian nan đi tìm chân lý. Nếu như các chân lý toán học tìm đến với ông nhiều một cách đáng ngạc nhiên, thì trong cuộc đời, như Cartier nói, Grothendieck không tìm được cho mình một chỗ mà ông thấy thoả mãn. Trong rất nhiều năm, ông không phải là công dân của một quốc gia nào, và đi khắp nơi trên thế giới với tấm hộ chiếu của Liên hợp quốc. Xuất thân trong một gia đình Do Thái giáo truyền thống, Grothendieck được những người kháng chiến theo đạo Tin Lành che chở, và cuối cùng, ông quan tâm nhiều đến Phật Giáo. Ông luôn sống theo những nguyên tắc của riêng mình, và nhiều khi cảm thấy thất vọng trước cuộc sống.  Cuộc đời Grothendieck là một cuộc đời đầy vinh quang, đầy bi kịch, mang đậm chất “tiểu thuyết”, mà trong một bài viết nhỏ không thể nào nói hết được.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng hợp nhiệt hạch: Tham vọng của Trung Quốc      Trong cuộc phỏng vấn mới đây, ông Jiangang Li, lãnh đạo Viện Vật lý Plasma thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (TQ), cho biết nước này đang nỗ lực tổng hợp nhiệt hạch với lò phản ứng Tokamak nhằm giải quyết vấn đề năng lượng.      Với lò phản ứng loại “Tokamak” ông có ý định thực hiện tổng hợp nhiệt hạch trên bán đảo nghiên cứu ở TP Hợp Phì (Hefei). Thưa ông, ông hy vọng gì ở công nghệ mới chỉ có thể hoạt động về mặt lý thuyết này?  TQ có nhu cầu rất lớn về năng lượng và cho đến nay TQ vẫn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên than của mình. Các dạng năng lượng thay thế như năng lượng mặt trời, năng lượng gió không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong những thập niên tới. Vì thế khai thác năng lượng nhiệt hạch rõ ràng là một giải pháp lý tưởng.    Chỉ có điều, cho đến nay chưa có ai thành công trong lĩnh vực này. Vậy thưa ông cái khó trong việc tổng hợp nhiệt hạch là gì?   Chúng ta tìm cách bắt chước những gì diễn ra trên mặt trời trong lò phản ứng của mình. Ở đó các nguyên tử hydro hợp nhất lại thành Helium dưới nhiệt độ cực cao – trong quá trình đó một lượng lớn năng lượng được giải phóng. Do lực đẩy của hai nguyên tử helium quá lớn để có thể thực hiện sự hợp nhất của chúng trong điều kiện trái đất vì thế chúng tôi sẽ sử dụng Deuterium, một đồng vị của hydro. Để có thể thực hiện sự hợp nhất chúng ta phải nung các đồng vị trong lò phản ứng tối thiểu ở nhiệt độ 100 triệu độ C, để chúng trở thành trạng thái Plasma.    Và ông lại phải hạ nhiệt độ làm lạnh siêu dẫn trong lò phản ứng ở nhiệt độ âm 269 độ C…   Đúng như vậy. Các nam chân siêu dẫn dạng cuộn mà chúng tôi dùng trong lò phản ứng của mình cũng được chế tạo tại Viện Vật lý Plasma ở Hợp Phì. Công cuộc nghiên cứu về chất siêu dẫn cũng là sự đóng góp chủ yếu của chúng tôi đối với Dự án quốc tế về tổng hợp nhiệt hạch Iter.          “Iter” theo tiếng la tinh có nghĩa là “con  đường” và là tên của dự án cộng đồng quốc tế về phát triển lò phản ứng  nhiệt hạch nhằm khai thác năng lượng, mục đích là dọn đường để tạo ra  ngọn lửa nhiệt hạch theo hình mẫu của mặt trời. Kỹ thuật này sau đó sẽ  được áp dụng trong các nhà máy điện. Để đạt được mục đích này các nhà  nghiên cứu phải giải quyết được vấn đề bao vây plasma hydro trong từ  trường và tạo được nhiệt độ nung chảy lên đến 200 triệu độ. Chất đốt  dùng cho lò phản ứng-Iter là phóng xạ Tritium, chất này liên tục tái  hình thành trong vỏ của lò phản ứng và được tạo nên từ Lithium.            Tại châu Âu đang diễn ra tranh luận sôi nổi về vấn đề này. Dường như tất cả các nước tham gia dự án đều muốn tái phát minh cái bánh xe. Tất cả các nước tham gia đều tìm cách vận hành lò phản ứng của riêng mình, thay vì mỗi nước đóng góp một bộ phận để tạo nên một tổng thể. Chính vì thế chi phí đã tăng vọt: Hiện nay theo ước tính con số này đã lên tới 15 tỷ Euro. Ông có ý kiến gì về cuộc tranh cãi hiện nay?  Theo tôi biết thì mỗi nước thành viên tham gia Dự án Iter phải chịu một khoản kinh phí khoảng 1,9 tỷ Euro – và khoản tiền này rải ra trong mười năm. Đây là khoản tiền nhỏ so với một dự án nghiên cứu cỡ này. Và mặc dù so với TQ hay Ấn Độ thì nước Đức giầu có hơn nhiều, nhưng chúng tôi cũng như người Ấn Độ đầu tư nhiều tiền của hơn cho việc nghiên cứu tổng hợp nhiệt hạch vì một lý do đơn giản: chúng tôi khẩn cấp cần phải có nguồn năng lượng mới này vì sự tăng trưởng của mình cũng như vì tương lai lâu dài. TQ và các nước khác có hoàn cảnh tương tự sẽ tiếp tục phát triển lò phản ứng ngay cả khi không có sự tham gia của Đức.  Thưa ông, liệu có quá rủi ro không khi mà một nước như TQ lại hy vọng quá nhiều vào một công nghệ của tương lai mà hiện nay chưa thể biết liệu công nghệ đó có hoạt động được hay không?  Xin ông nhớ cho rằng chính phủ TQ chi một khoản tiền nhiều gấp mười lần để phát triển năng lượng tái sinh như năng lượng mặt trời và năng lượng gió so với tổng hợp nhiệt hạch. Hơn nữa TQ còn tìm cách sử dụng tài nguyên than có hiệu quả hơn. Trong tương lai, TQ cần tất cả các nguồn năng lượng này để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mình. Mới đây chính phủ đã quyết định, từ nay đến năm 2050, sẽ xây dựng tổng cộng 500 nhà máy điện nguyên tử – và ngay cả những nhà máy này cũng chỉ có thể đáp ứng từ 10 đến 12% nhu cầu năng lượng cả nước.   Thưa ông, ở châu Âu ít nhiều có sự hoài nghi về tiến bộ khoa học của TQ. Tin tức về 500 nhà máy điện nguyên tử mới ở TQ cũng làm cho nhiều người Đức lo lắng. Thường có ý kiến cho rằng, TQ giỏi trong việc sao chép, nhưng lại tồi trong việc phát triển công nghệ của mình. Ông nói gì về định kiến này?  Người TQ chúng tôi có truyền thống chỉ giới thiệu với khách của mình về những cái tốt đẹp nhất. Nhưng điều đó có thể dẫn đến một hình ảnh sai lệch. Thí dụ Thượng Hải không phải là TQ “thật sự”. Để dẫn đầu thế giới về mặt khoa học tôi nghĩ chắc phải mất khoảng một trăm năm nữa. Nhưng chúng tôi cố gắng để lấp khoảng cách so với các nước khác.     Thưa ông, chẳng phải TQ đã đề ra mục tiêu, sẽ trở thành quốc gia dẫn đầu về nghiên cứu trong vòng 40 năm nữa?   Nói thật nhé, tôi cho rằng điều này không thực tế.  Vậy để đạt được mục tiêu đó TQ thiếu cái gì, thưa ông?  Tôi nghĩ rằng chỉ có một số ít người thông minh là không đủ. Phải làm sao để giáo dục đến được với mọi người. Hiện nay số sinh viên ở TQ liên tục tăng nhưng cũng chỉ có khoảng từ 10 đến 20% thanh niên TQ được đến trường đại học. Hiện tại TQ đã có những nhà chuyên môn hàng đầu thực sự xuất sắc. Nhưng trình độ này còn xa vời với đông đảo quần chúng.  Bản thân ông chưa từng nghiên cứu ở nước ngoài – nhưng đã hợp tác ngay từ những năm chín mươi với tổ chức Joint European Torus (Jet) ở Culham (Anh), đây là nơi có lò phản ứng nhiệt hạch loại lớn nhất ở châu Âu. Theo ông sự khác nhau lớn nhất trong lĩnh vực nghiên cứu giữa TQ và châu Âu là gì?  Tôi nghĩ, đôi khi giới chính khách ở Đức hơi bị trì trệ, vì người ta luôn muốn đạt được sự đồng thuận trong mọi vấn đề rồi mới ra quyết định. Trong khi ở TQ một khi chính phủ đã ra quyết định, thí dụ, về một dự án nào đó, thì chỉ sau một tháng đã có thể tiến hành dự án được rồi. Đấy là điểm mạnh của hệ thống chúng tôi.  Thưa ông, vậy dư luận TQ đối với vấn đề tổng hợp nhiệt hạch như thế nào?  Bất kỳ một người lái xe taxi nào ở Hợp Phì đều biết đến cơ sở của chúng tôi. Và đã có phóng viên gọi lò phản ứng Tokamak của chúng tôi là “mặt trời nhân tạo”. Tất nhiên cũng có một số người lo sợ: một số người nghĩ rằng chúng tôi đang mầy mò với bom nguyên tử. Nhưng đa số thì tỏ ra phấn khởi. Cho đến nay chúng tôi đã thực hiện hai lần “ngày mở cửa” và nhiều người ở những nơi rất xa đã kéo về Viện để xem lò phản ứng của chúng tôi.   Ông đã nói TQ cần có tổng hợp nhiệt hạch để đáp ứng nhu cầu về năng lượng trong tương lai – song song với năng lượng nguyên tử, nhiên liệu hóa thạch và năng lượng tái sinh. Liệu TQ có thể rút ra những bài học từ những sai lầm mà phương tây đã mắc và ngay từ bây giờ chú trọng nhiều hơn tới các công nghệ thân thiện với môi trường? Và nhất là khâu tiết kiệm năng lượng?  Trong giới khoa học quan niệm này khá phổ biến. Chúng tôi ý thức được rằng chúng tôi tiêu thụ quá nhiều tài nguyên. Bản thân tôi cũng hoàn toàn ủng hộ việc phát triển mạng lưới giao thông công cộng ở các thành phố lớn thay vì sử dụng ô tô con. Nhưng những người dân bình thường ở TQ lại muốn có ô tô riêng, có nhà cao cửa rộng và đời sống cao. Họ còn thiếu ý thức về môi trường. Nhưng tôi nghĩ rằng điều này sẽ thay đổi, khi người ta phải trả giá cho những việc làm của mình.    Và theo ông thì khi nào điều đó diễn ra?   Tôi nghĩ rằng, cả trong việc này, cũng phải mất 100 năm nữa.        Nhà vật lý  Jiangang Li sinh năm 1961, là  người quản lý Lò phản ứng nhiệt hạch  Tokamak HT-7 ở TP Hợp Phì, tỉnh An  Huy. Vật liệu siêu dẫn phục vụ Dự án  quốc tế về tổng hợp nhiệt hạch Iter  được chế tạo tại Viện Vật lý  Plasma này.                Tổng hợp nhiệt hạch là một phản ứng diễn ra  trong tự nhiên ở trên mặt trời. Ở nhiệt độ khoảng 15 triệu độ C và dưới  áp suất khoảng 100 triệu bar các nguyên tử hydro ở mặt trời sẽ tan chẩy  hòa quyện với nhau – sản sinh ra Helium.   Trong những năm năm mươi lần đầu tiên các  nhà vật lý có ý tưởng thực hiện tổng hợp nhiệt hạch nhân tạo qua đó tạo  ra năng lượng. Khác với phân tách hạt nhân – một nguyên tắc cơ bản tại  các nhà máy điện nguyên tử – thì tổng hợp nhiệt hạch ít nguy hiểm hơn và  cũng tạo ra ít chất thải phóng xạ hơn. Tuy nhiên cho tới nay điều này  vẫn còn là chuyện của tương lai.  Do nhân hydro tạo ra lực đẩy quá lớn khi  tiếp cận với nhau khi tiến hành nung chẩy trong điều kiện trên trái đất  nên các nhà nghiên cứu xử dụng các chất đồng vị của hydro như Deuterium  và Tritium để tiến hành thử nghiệm trong lò phản ứng của họ. Những đồng  vị này phải được nung nóng ở nhiệt độ tối thiểu là 100 triệu độ và phải  đạt được khối lượng riêng cực cao – vì chỉ ở trong trạng thái này  (Plasma) mới có thể diễn ra sự hợp nhất trong lò phản ứng.   Để lấy được năng lượng thì phải tạo ra được  một phản ứng dây chuyền của sự hợp nhất. Cho đến nay thì kỷ lục của một  Plasmas ổn định chỉ đạt mức vài giây đồng hồ.                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng quan điện hạt nhân trên toàn cầu      Kể từ năm 1954, loài người bắt đầu sử dụng năng lượng hạt nhân (NLHN) để phát điện. Trải qua 60 năm phát triển, tích lũy được kinh nghiệm vận hành của hơn 14.000 lò phản ứng, NLHN đã trở thành một trong ba cột trụ lớn của nguồn năng lượng của thế giới, chiếm khoảng 15% lượng cung ứng điện trên toàn cầu. Sau sự cố Fukushima, Nhật đã ngừng vận hành nhiều tổ máy điện hạt nhân (ĐHN). Từ năm 2012 trở đi, ĐHN chỉ còn chiếm 11-12% lượng cung ứng điện toàn cầu.    Do nhu cầu năng lượng thế giới và sức ép bảo vệ môi trường, ngày càng có nhiều nước nhiệt tình quan tâm tới sự phát triển NLHN. Báo cáo do Hội Năng lượng hạt nhân Trung Quốc (China Nuclear Energy Association) công bố hồi đầu năm nay giới thiệu tình hình và sự phát triển ĐHN toàn cầu trong năm 2014.  I. Tình hình tổng thể  1. Tính đến ngày 31/12/2014, toàn thế giới có tổng cộng 437 lò phản ứng hạt nhân phát điện đang vận hành, trong đó Mỹ có 99, nhiều nhất thế giới; Pháp có 58, thứ nhì; Trung Quốc có 23 (kể cả Lò FBR thí nghiệm). Tổng công suất phát điện của các lò đang vận hành bằng 374,9 GWe.1   Hiện nay trên thế giới đang sử dụng mấy loại lò ĐHN như sau: Lò nước sôi (BWR), Lò nhanh (FBR), Lò khí graphit lạnh (GCR), Lò nước nhẹ làm nguội graphit (LWGR), Lò nước nặng (PHWR), Lò nước áp lực (PWR), và Lò High Temperature Gas-cooled Reactor (HTGR). Trong đó Lò FBR và PWR hiện nay chủ yếu còn trong giai đoạn thử nghiệm2.   Năm 2014 có bốn lò ĐHN mới được đưa vào vận hành, trong đó ba ở Trung Quốc.  2. Tỷ lệ của ĐHN toàn cầu và so sánh tỷ lệ của ĐHN tại các quốc gia chủ yếu  Vì hiện nay chưa thu thập được đầy đủ số liệu năm 2014 về tỷ lệ của ĐHN ở các nước trên toàn cầu (tỷ lệ lượng phát ĐHN so với tổng lượng phát điện), cho nên ở đây phải dùng số liệu tính đến 31/12/2013. Trong đó, tỷ lệ ĐHN ở Pháp cao nhất, bằng 73,3%. Tại đại lục Trung Quốc, cùng với việc đưa các lò ĐHN vào sử dụng, hòa vào lưới điện, tỷ lệ ĐHN ngày càng tăng lên, tính đến 31/12/2014 tỷ lệ ĐHN là 2,39%.  3. Các lò ĐHN đang xây dựng và mới khởi công  Tính đến cuối 2014, toàn thế giới có tổng cộng 71 lò ĐHN đang xây dựng, với tổng công suất phát điện bằng 68.136 MW. Loại lò chủ yếu là Lò nước nhẹ (PWR). Hai lò thuộc loại tiên tiến là Lò nhanh và Lò HTGR còn tương đối ít. Trong số các lò đang xây dựng, có 37 lò ở châu Á, riêng đại lục Trung Quốc có 26 lò đang thi công, xếp hạng thứ nhất thế giới về số lượng lò và tổng công suất phát điện.  Năm 2014 toàn thế giới chỉ có ba lò ĐHN bắt đầu khởi công, ở vào mức thấp nhất trong 10 năm nay. Đó là các lò ở Argentina (25 MW, công nghệ lò cỡ nhỏ do Argentina nghiên cứu triển khai), khởi công tháng Hai; ở Belorus (1109 MW, công nghệ VVER V-491 của Nga), khởi công tháng Tư; ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập (1345 MW, công nghệ APR1400 của Hàn Quốc) khởi công tháng Chín – tất cả đều dùng loại lò nước nhẹ PWR.  II. ĐHN thế giới trong năm 2014  Năm 2014, nước Mỹ công bố “Chiến lược Năng lượng toàn diện như là đường lối tăng trưởng kinh tế bền vững” (The all-of-the above energy strategy as a path to sustainable economic growth). Trong báo cáo này, tác dụng quan trọng của ĐHN như một nguồn năng lượng carbon thấp vẫn được coi trọng. Đồng thời Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ đã công bố chính sách mới về bảo vệ môi trường, đề xuất tiêu chuẩn mới về phát thải của nhà máy nhiệt điện; tiêu chuẩn này có tác dụng tích cực đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của ĐHN. Hiện nay Mỹ có bốn tổ máy AP1000 và một tổ máy thế hệ II cải tiến đang được xây dựng.  EU đạt được thỏa thuận về mục tiêu phát triển năng lượng năm 2030, coi trọng việc phát triển nguồn năng lượng carbon thấp, đặc biệt là phát triển năng lượng tái sinh. Một số nước lâu nay lấy điện than làm nguồn năng lượng chủ yếu sẽ bắt đầu phát triển nhanh ĐHN (như Ba Lan). Dựa vào thị trường điện lực của EU, thị trường ĐHN Đông Âu bắt đầu phục hồi. Ý tưởng lập các dự án ĐHN mới ở Hungary, Ba Lan, CH Czech, Romania đang dần dần rõ ràng.   Do tác động của sự kiện nguồn dầu mỏ Biển Bắc sắp cạn kiệt, Anh Quốc bắt đầu tích cực đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng ít carbon, và ĐHN được coi trọng. Dưới tác động của hai nước Anh và Pháp, dự án năng lượng Hinkley Point C (HPC) của Anh Quốc đã được EU duyệt y.  Để đẩy mạnh phát triển cân bằng lĩnh vực năng lượng tái sinh, Pháp thông qua “Luật Chuyển tiếp năng lượng”, đề xuất mục tiêu phát triển nhiều nguồn năng lượng. Trong tương lai sẽ giữ mức hiện có về các tổ máy ĐHN đã lắp đặt, nhưng đến năm 2025 thì tỷ lệ của ĐHN trong tổng sản lượng điện sẽ giảm xuống còn 50%.  Nhật đã sửa đổi “Kế hoạch cơ bản về năng lượng” lấy “3E + 1S” (bảo đảm an toàn năng lượng, tính kinh tế, nguyên tắc thích nghi môi trường và an toàn) làm cơ sở cho chính sách năng lượng, cấu trúc “Cơ cấu cung ứng năng lượng mềm nhiều tầng nấc, đa dạng hóa”. Theo chính sách này, ĐHN sẽ được tiếp tục tồn tại như một nguồn năng lượng quan trọng của Nhật. Chính phủ Nhật thông qua tiêu chuẩn an toàn mới về ĐHN. Nhà máy ĐHN duy nhất đang xây dựng của Nhật đã nộp kế hoạch tái khởi động.  Do chịu tác động của sự kiện nhà máy ĐHN trong nước có vấn đề về chất lượng, tiến độ xây dựng nhà máy ĐHN ở Hàn Quốc đã bị chậm lại và ảnh hưởng tới mức độ ủng hộ ĐHN của công chúng. Lò ĐHN APR1400 đầu tiên chưa thể đạt được mục tiêu đã đặt ra ban đầu. Hàn Quốc đã tăng cường phát triển các nguồn năng lượng tái sinh, tỷ lệ của ĐHN sẽ hạ thấp so với mức 41% khi làm quy hoạch lần thứ nhất, nhưng phát triển ĐHN vẫn là thành phần chủ yếu của phát triển ngành điện.  Tại Trung Quốc, cho dù năm 2014 chưa khởi công dự án ĐHN mới nào nhưng nguyện vọng phát triển ĐHN của các cấp lãnh đạo từ trên xuống dưới đều ngày càng mạnh mẽ. Tổ máy cải tiến của thế hệ II đang xây dựng đã từng bước đột phá các khó khăn, một loạt tổ máy mới được nối tiếp đưa vào vận hành. Loạt tổ máy AP1000 đầu tiên đang gấp rút triển khai. Việc nghiên cứu triển khai công nghệ ĐHN thế hệ III do Trung Quốc tự chủ sáng tạo (Hoa Long 1) và CAP1400 đã đặt nền móng cho sự phát triển sáng tạo công nghệ ĐHN.     —————-  1. Theo tin ngày 12/8/2015 của https://www.iaea.org/pris/, toàn thế giới hiện có 438 lò phản ứng phát điện hạt nhân đang vận hành; tổng công suất các tổ máy đã lắp đặt bằng 379.055 MWe; có hai lò ngừng hoạt động lâu dài, 67 lò đang xây dựng.  2. Hiện Việt Nam chưa thống nhất cách dịch tên các loại lò này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Lincoln chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội từ Marx?      Ai ngưỡng mộ Karl Marx? Thật bất ngờ, không phải một là dân biểu thuộc tổ chức Những nhà xã hội dân chủ Mỹ, mà người đó lại là vị Tổng thống vĩ đại Abraham Lincoln.         Karl Marx (trái) năm 1867 và Tổng thống Abraham Lincohn năm 1865.     Tháng 12 năm 1861, vào một buổi chiều thứ Ba, Tổng thống Abraham Lincoln gửi bài diễn văn đầu tiên — sau này trở thành Thông điệp Liên bang — đến lưỡng viện Hoa Kỳ. Ngày hôm sau, tất cả 7.000 từ của bản thảo đã được các báo công bố rộng rãi khắp cả nước, kể cả ở lãnh thổ thuộc Liên minh miền Nam. Kể từ sau diễn văn nhậm chức vào tháng 4 năm 1861, Lincoln mới có cơ hội truyền đi một thông điệp dài như thế. Ông lên án những “công dân phản bội” đang nổi loạn chống lại Nhà nước Liên bang, phô trương sức mạnh lục quân và hải quân, đồng thời cập nhật tình hình ngân sách cho Quốc hội. Để diễn văn gần gũi hơn với công chúng, ông bỏ qua lối độc thoại ngợi ca đoàn kết hay tự do mà thay bằng những dòng cảm nghĩ 800 chữ, được tờ Chicago Tribune đặt tiêu đề là “Tư bản so với công nhân”.  “Công nhân là tiền đề và không phụ thuộc vào Tư bản”, vị Tổng thống thứ 16 của Hòa Kỳ nói. “Tư bản hưởng thành quả của công nhân, và không thể tồn tại nếu trước đó không có công nhân. Công nhân có vị thế cao hơn Tư bản, và xứng đáng được ưu ái hơn”.   Nếu bạn thấy những lời này có vẻ giống những gì Karl Marx viết, thì cũng không có gì khó hiểu, vì Lincoln thường xuyên đọc Marx.  Dĩ nhiên, Lincoln không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, cũng không cộng sản, cũng không marxist. Nhưng Lincoln và Marx — chỉ hơn kém nhau 9 tuổi — thuộc cùng thế hệ. Họ có nhiều bạn chung, đọc tác phẩm của nhau, và năm 1865, có thư từ qua lại.  Khi đang phục vụ nhiệm kỳ duy nhất ở Quốc hội vào cuối thập niên 1840, người luật sư trẻ tuổi Lincoln từ tiểu bang Illinois kết thân với Horace Greeley, một thành viên đảng Whig – người cũng có chân trong Quốc hội một thời gian ngắn. Greeley được biết đến nhiều hơn với tư cách là người sáng lập New York Tribune, tờ báo đóng vai trò to lớn trong việc truyền tải lý tưởng và ý tưởng thành lập Đảng Cộng hòa vào năm 1854.   Vậy những lý tưởng và ý định đó cụ thể là gì? Chính là chống lại chế độ nô lệ, bảo vệ công nhân và thỉnh thoảng công khai ủng hộ chủ nghĩa xã hội, theo John Nichols, tác giả cuốn sách “Chữ ‘S’: Lịch sử tóm gọn của một truyền thống Mỹ…Chủ nghĩa Xã hội.” Tờ New York Tribune đấu tranh cho quá trình tái phân phối đất đai ở miền Tây cho người nghèo và giải phóng nô lệ. “Greeley phản đối lại những người coi trọng thị trường tự do hơn là quyền lợi của người lao động – tầng lớp mà ông coi là tập hợp của những nô lệ bị áp bức ở miền Nam lẫn những công nhân công nghiệp thấp hèn ở miền Bắc,” Nochols viết.      Đội ngũ biên tập của tờ New York Tribune trong khoảng thập niên 1850. Horace Greeley ngồi thứ 3 từ trái sang. Charles a. Dana đứng ở giữa. (Mathew Brady/Library of Congress).  Còn bên kia bờ Đại Tây Dương, một người đàn ông khác đang kết nối số phận của những nô lệ và giai cấp công nhân cùng khổ: chính là Marx. Khi xuất bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” cùng Friedrich Engels năm 1848, nhà triết học Đức đã tìm nơi ẩn náu ở London sau cuộc nổi dậy thất bại trong Liên minh các Nghiệp đoàn của Đức (German Confederation). Hàng trăm ngàn người Đức cấp tiến nhập cư vào Hoa Kỳ trong giai đoạn này, lấp đầy các xí nghiệp ở miền Bắc và tham gia các nhóm chống chế độ nô lệ. Marx từng một lần có ý định đến miền Tây Hoa Kỳ, đến Texas, theo phát hiện của sử gia Robin Blackburn trong cuốn sách “Một cuộc cách mạng chưa hoàn thành: Karl Marx và Abraham Lincoln.”  Marx rất quan tâm đến tình cảnh của những nô lệ Mỹ. Vào tháng 1 năm 1860, ông nói với Engels rằng hai điều lớn nhất đang diễn ra trên thế giới  “một mặt là phong trào của những nô lệ ở Mỹ khởi đầu từ cái chết của John Brown (nhà lãnh đạo chống chế độ nô lệ – BT), mặt khác là phong trào của những nông nô ở Nga.”  Ông đánh đồng những chủ nô ở miền Nam Hoa Kỳ với quý tộc châu Âu, và nghĩ rằng chấm dứt chế độ nô lệ sẽ “không thể đánh đổ chủ nghĩa Tư bản, nhưng nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hình thành tổ chức và nâng cao nhận thức của cần lao, dù người da trắng hay da đen.”      Lincoln và Marx — chỉ hơn kém nhau 9 tuổi — thuộc cùng thế hệ. Họ có nhiều bạn chung, đọc tác phẩm của nhau, và năm 1865, có thư từ qua lại.      Marx cũng là bạn của Charles A. Dana, một nhà xã hội Mỹ thông thạo tiếng Đức, người từng là biên tập viên chính của New York Tribune. Năm 1852, Dana thuê Marx làm ký giả thường trú ở Anh cho tờ báo. Trong thập niên tiếp theo, Marx đã viết gần 500 bài cho tờ báo này. Nhiều bài trong số đó được đăng lên trang nhất như bài xã luận thể hiện quan điểm chính thức của tờ báo. Marx sau đó, được tự do mượn các bài viết trên New York Tribune là tư liệu cho cuốn “Tư bản luận” huyền thoại, theo Nichols.  Giống như nhiều nhà Cộng hòa non trẻ khác, Lincoln là độc giả nhiệt thành của Tribune. Điều này gần như đảm bảo rằng, trong thập niên 1850, Lincoln thường xuyên đọc bài của Marx.   Năm 1860, có hai yếu tố giúp thúc đẩy Lincoln — trước đó chỉ là dân biểu một nhiệm kỳ và là luật sư vùng nông thôn được biết đến nhiều nhất vì thua cuộc trong cuộc đua vào Thượng viện — trở thành người được phe Cộng hòa đề cử cho chức vụ Tổng thống. Thứ nhất là những người ủng hộ cách mạng Đức trước đây trở thành những người nắm vai trò chủ chốt trong Đảng Cộng hòa, và thứ hai là sự hỗ trợ từ báo chí của Đảng này, tờ Tribune.      Cuốn sách “Một cuộc cách mạng chưa thành” viết về ảnh hưởng của cuộc nội chiến Hoa Kỳ lên Marx và ảnh hưởng của tư tưởng Marx lên Lincoln.  Khi Lincoln đã đắc cử, liên minh của ông và những nhà xã hội chủ nghĩa vẫn không dừng lại ở đó. Dana rời tờ Tribune để trở thành tai mắt của Lincoln ở Bộ Chiến tranh, dõi theo các phong trào của binh lính và nêu nhận xét về các vị tướng. Còn Greeley tiếp tục thúc giục Lincoln thể hiện đường lối cứng rắn hơn với chế độ nô lệ, để cuộc nội chiến không chỉ nhằm bảo vệ phe Liên bang mà còn nhằm giải phóng nô lệ. Marx cũng làm điều tương tự trên các trang báo Tribune. Năm 1862, họ đã đạt được nguyện vọng khi Lincoln công bố Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ.  Tháng 1 năm 1865, nhân danh Quốc tế thứ nhất, Marx viết thư cho Lincoln: “chúc mừng nhân dân Mỹ vì ngài được tái đắc cử”. Ông nói “một tập đoàn đầu sỏ của 300,000 chủ nô” làm ô uế nền cộng hòa và điều đó khiến cho những người lao động ở châu Âu cảm thấy chắc chắn rằng, giống như cách mà cuộc chiến giành độc lập cho Hoa Kỳ đã mở đầu kỷ nguyên mới của sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu, cuộc chiến giải phóng nô lệ (Nội chiến Hoa Kỳ) cũng đã làm điều đó cho tầng lớp lao động.”  Vài tuần sau đó, Lincoln đã gửi hồi đáp thông qua Charles Francis, con trai của cựu Tổng thống John Quincy Adams, cháu nội của cựu Tổng thống John Adams và đang giữ chức đại sứ Mỹ ở Anh dưới thời Lincoln. Lincoln nói với Marx rằng ông đã nhận được thư “với lòng chân thành và lo lắng rằng mình chưa xứng đáng với sự tán dương của đồng bào mình và của nhiều bè bạn nhân văn và tiến bộ khắp thế giới.” Đáng chú ý, Adams ngụ ý rằng Lincoln coi Marx và cộng sự là “những người bạn”. Ông tiếp tục nói rằng “Liên bang (Hoa Kỳ) tìm ra nguồn khích lệ mới để kiên trì đứng về phía những người lao động ở châu Âu.” Cả hai lá thư, nhờ báo chí, lan truyền khắp nước Anh và Mỹ. Marx rất phấn khởi, nói với Engels rằng mình cảm giác như “giai cấp tư sản” ngồi ở các câu lạc bộ bí mật hẳn đang “lắc đầu nguây nguẩy vì điều này”.  Lincoln cũng gặp chi hội New York của Quốc tế thứ nhất, nói với các thành viên ở đây vào năm 1864 rằng: “Sự cảm thông giữa người với người, không kể đến quan hệ huyết thống gia đình, chính là sự gắn kết mạnh mẽ nhất – sẽ liên hiệp người lao động, bất kể quốc gia, tiếng nói và gốc gác.” Đó có lẽ một phiên bản hùng hồn hơn cho lời hiệu triệu nổi tiếng của Marx: “Vô sản thế giới, đoàn kết lại!”  Lincoln không bao giờ đi theo chủ nghĩa xã hội. Ông tin vào hệ thống lao động trả lương kể cả khi đề xuất phải cải cách nó; còn Marx lại đả kích nó như một dạng thức khai thác nô lệ. Nhưng Lincoln chắc chắn đã coi những người theo chủ nghĩa xã hội là đồng minh, Nichols viết: “đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng Đảng Cộng hòa ngay từ lúc khai sinh đã mang trong mình tính thiên tả.”  Mặc dù ngày nay, những sự thật này có thể được ít được biết đến, nhưng nó chưa từng bị che giấu trong lịch sử Hoa Kỳ trước đây. Khi nhà hùng biện xã hội chủ nghĩa và người thường xuyên ứng cử Tổng thống là Eugene V. Debs tổ chức một điểm vận động ở Springfield, tiểu bang Illinois năm 1908, ông nói trước đám đông: “Đảng Cộng hòa đã từng nhuốm sắc đỏ, Lincoln là nhà cách mạng.”  Điều này cũng được ghi nhận bởi Mục sư Martin Luther King. Tháng 2 năm 1968, ở khán phòng Carnegie, New York, trong buổi tôn vinh thành tựu trọn đời của W.E.B. Du Bois – nhà xã hội học, nhà hoạt động nhân quyền, người đồng sáng lập của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP), Luther King nói rằng W.E.B. Du Bois đã  trở thành một nhà cộng sản trong những năm cuối đời. “Và thật là phi lý,” Luther King nói, “Abraham Lincoln nồng nhiệt hoan nghênh sự ủng hộ của Karl Marx trong Nội chiến Hoa Kỳ và trao đổi thư từ với ông ấy một cách tự do…Vậy mà ám ảnh chống cộng đến mức phi lý dẫn chúng ta sa vào vũng lầy mà cứ bấu víu như thể đó là một lối tư duy khoa học.” □  Cao Hồng Chiến lược dịch  Nguồn: https://www.washingtonpost.com/history/2019/07/27/you-know-who-was-into-karl-marx-no-not-aoc-abraham-lincoln/?utm_term=.d22d1eea8ef6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Obama tìm cách tăng tài trợ cho R&D      Tổng thống Barack Obama đã vạch ra chiến tuyến trên sa bàn cuộc chiến đang diễn ra với các nghị sĩ đòi cắt giảm ngân sách khi đặt vấn đề về tài trợ liên bang cho nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) năm tới. Tổng thống yêu cầu không những không được giảm kinh phí cho hầu hết các lĩnh vực R&amp;D mà còn bổ sung thêm tài trợ cho nhiều lĩnh vực, dù đang trong thời thắt chặt tài khóa.      Đề xuất ngân sách của Tổng thống cho năm tài chính 2014, bắt đầu vào tháng Mười, sẽ đổ tiền liên bang cho R&D dân sự tăng thêm 9% so với năm 2012 (tính cả lạm phát). R&D cho quân sự sẽ phải cắt giảm 6%, chủ yếu trong nghiên cứu phát triển và ứng dụng. Tính tổng cộng, tài trợ cho R&D sẽ tăng từ 140,9 tỷ USD trong năm 2012 lên 142,8 tỷ USD vào năm 2014.  Ngân sách Tổng thống Obama sử dụng năm 2012 làm mốc so sánh thay vì năm 2013 là vì lý do thủ tục. Với cách làm này, dự toán sẽ không phải chịu sự áp đặt của kế hoạch cắt giảm tự động đòi hỏi giảm tài trợ nghiên cứu khoảng 8% từ nay đến năm 2017. Điều đó có nghĩa đề xuất tăng tài trợ R&D của Tổng thống Obama thực sự là lớn hơn nhiều, nếu tính đến cả phần cắt giảm tự động.  Tổng thống Obama đã nhiều lần kêu gọi đẩy mạnh tài trợ nghiên cứu nhưng kết quả đạt được khá khiêm tốn, và năm nay cũng không ngoại lệ, nhất là trong bối cảnh nợ công gia tăng.  Nhưng những người ủng hộ khoa học đang tăng áp lực lên Quốc hội, đòi không được cắt giảm tiền nghiên cứu. Nhóm những người đoạt giải Nobel trong một bức thư gần đây gửi các nghị sĩ, đã nói rằng “chúng ta phải quan tâm đến thế hệ trẻ, họ sẽ là những người chủ nhân của sáng tạo và giành giải thưởng trong tương lai”.  Những nơi được lợi lớn từ ngân sách của Tổng thống có thể kể ra là Bộ Năng lượng với tài trợ tăng 18%; Quỹ khoa học quốc gia, Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ cùng với Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ cũng sẽ được tăng mạnh tài trợ.   Tất nhiên cũng có nơi bị thua thiệt. Ngoài chương trình nghiên cứu phát triển và ứng dụng của quân sự thì chương trình ​​công nghệ nano quốc gia cũng sẽ bị cắt giảm 9%.  Cố vấn khoa học của Nhà Trắng, John Holdren, phân trần rằng, “Đây không phải là ngân sách chúng tôi muốn nếu thời gian qua nền tài chính tốt hơn”. Ông hy vọng đề xuất này có thể “bảo vệ các khoản đầu tư quan trọng” trong R&D mặc dù phải thực hiện một số lựa chọn khó khăn về cắt giảm.  Ngân sách R&D của Nhà trắng nhằm giúp sáng tạo như là nhiên liệu cho cỗ xe kinh tế nhưng chưa biết liệu nó có hợp khẩu vị của Quốc hội hay không. Nếu không đạt được sự ưng thuận thì ngân sách R&D sẽ tiếp tục giảm trong mọi lĩnh vực chính.       XH (Theo Science News 5/4/2013)  http://www.sciencenews.org/view/generic/id/349574/description Obama_seeks_R+D_funding_boost_in_tough_times    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tổng thống Trump tiếp tục yêu cầu cắt giảm chi tiêu cho khoa học      Đây là năm thứ ba liên tiếp chính quyền của Tổng thống Donald Trump trình Quốc hội yêu cầu kêu gọi cắt giảm mạnh chi tiêu tại nhiều cơ quan khoa học liên bang, bao gồm cắt giảm 13% với Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH) và cắt giảm 12% với Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) trong khi tăng mạnh chi tiêu cho quân đội.    Công bố vào ngày 11/3, yêu cầu 4,7 nghìn tỷ USD này cho năm tài khóa 2020 (bắt đầu từ ngày 1/10) đã gặp phải sự phản đối từ các nhà lập pháp tại Quốc hội của cả hai đảng.   Kelvin Droegemeier, cố vấn khoa học của Tổng thống, gọi yêu cầu này là “một khoản đặt cọc quan trọng cho tương lai của nước Mỹ”. Một tuyên bố từ Văn phòng Chính sách KH&CN Nhà Trắng (OSTP), Văn phòng do Kelvin lãnh đạo, cho biết yêu cầu ngân sách của Tổng thống “khuyến khích chi tiêu có trách nhiệm [bằng cách] ưu tiên các chương trình có tác động cao đã được chứng minh là có hiệu quả.”  Tuyên bố của OSTP nhắc đến trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học thông tin lượng tử, truyền thông 5G không dây và sản xuất tiên tiến là các ưu tiên của chính quyền. OSTP nói rằng yêu cầu này sẽ phân bổ 850 triệu USD cho phát triển AI và 430 triệu USD cho khoa học lượng tử ở một số cơ quan nhưng không ai biết được mức đầu tư đó cao hơn hay thấp so với mức đầu tư hiện tại.  OSTP cho biết yêu cầu của Tổng thống năm 2020 thể hiện khoản đầu tư của 134 tỷ USD của liên bang vào R&D. Nếu được ban hành, con số đó sẽ thấp hơn 11% so với ước tính 151,5 tỷ USD được chi trong năm nay cho R&D.  Rush Holt, Giám đốc điều hành của AAAS (nhà xuất bản của ScienceInsider) tại Washington, DC, nhận định, việc cắt giảm này “sẽ làm chệch hướng sự nghiệp khoa học của quốc gia”. Ngân sách năm 2020 của Tổng thống không phù hợp với diễn ngôn của chính quyền về tầm quan trọng của nghiên cứu trong việc bảo tồn một nền kinh tế Mỹ lành mạnh.  Dưới đây là một số điểm nổi bật từ yêu cầu của chính quyền Tổng thống Trump:  NIH  Cắt giảm ngân sách của NIH từ 5 tỷ USD xuống còn 34,4 tỷ USD, giảm 13%. Trong đó ngân sách của Viện Ung thư Quốc gia (NCI – là một viện trực thuộc của NIH) giảm 15% xuống còn 5,2 tỷ USD. Các nhóm vận động xã hội tỏ ra thất vọng vì đề xuất cắt giảm ngân giảm ngân sách của NIH. Hiệp hội Sinh hóa và Sinh học Phân tử Hoa Kỳ tại Rockville, Maryland, cảnh báo “đề xuất này đe dọa tiến trình nghiên cứu y sinh học.”  NASA  Ngân sách của NASA sẽ giảm 2,2% so với mức ban hành của năm nay, với mức giảm hơn 8% trong danh mục khoa học. Yêu cầu của chính quyền Trump đề xuất hủy bỏ dự án Kính viễn vọng khảo sát hồng ngoại trường rộng, cũng như các nhiệm vụ khoa học trái đất (bao gồm các sinh vật phù du, sol khí, đám mây, vệ tinh hệ sinh thái đại dương, v.v…). Quốc hội từng không thông qua những yêu cầu cắt giảm này trước đây và rất có thể sẽ tiếp tục chặn các đề xuất cắt giảm năm nay với các nhiệm vụ khoa học trái đất ở NASA.  Nhà Trắng kêu gọi NASA khởi động Europa Clipper, nhiệm vụ khoa học cấp cao bao chế tạogồm một tên lửa thương mại vào năm 2023. Theo đó, NASA sẽ đầu tư cho các nhiệm vụ nghiên cứu Mặt trăng, bao gồm cả các tàu đổ bộ thương mại nhỏ trong vài năm tới và ra mắt các yếu tố đầu tiên của Lunar Gateway, trạm vũ trụ quay quanh Mặt trăng, trong năm 2022.  Các cơ quan khác  Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (NSF) sẽ bị cắt giảm khoảng 1 tỷ USD, xuống còn 7,1 tỷ USD, giảm 12%.  Tại Bộ Năng lượng, ngân sách của Phòng Khoa học sẽ thu hẹp khoảng 17%, còn 5,5 tỷ USD. Ngân sách của Phòng Hiệu suất năng lượng và Năng lượng tái tạo sẽ thu hẹp 86%, từ 2,379 tỷ USD xuống còn 343 triệu USD. Và chính quyền một lần nữa đề xuất loại bỏ Cơ quan Các dự án nghiên cứu tiên tiến về năng lượng (ngân sách 366 triệu USD).   Cơ quan Bảo vệ Môi trường bị chính quyền đòi cắt giảm các chương trình nghiên cứu và khí hậu. Ngân sách của cơ quan này sẽ giảm gần một phần ba, từ khoảng 8,8 tỷ USD xuống còn 6,1 tỷ USD. Các chương trình KH&CN của họ sẽ được tài trợ ở mức khoảng 440 triệu USD, thấp hơn gần 40% so với mức hiện tại. Ngân sách dành cho nghiên cứu năng lượng và không khí sẽ giảm hơn 60 triệu USD.□  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang TOP 10 của Chương trình “Tìm kiếm và kết nối giải pháp đổi mới sáng tạo ứng phó dịch COVID-19 tại TPHCM năm 2021″      Hố ga tiện lợi cho phân tích nước thải, tìm dấu vết COVID-19 trong cộng đồng do Công ty Cổ phần giải pháp công nghệ Thuận Thiên (TPHCM) thiết kế thuận lợi và an toàn cho việc lấy nước thải ở các khu dân cư để phân tích, tìm dấu vết COVID-19 cũng như các loại bệnh truyền nhiễm khác.    Hiện nay, vấn đề xét nghiệm virus COVID-19 đang đối mặt với nhiều bất cập như xét nghiệm tập trung, tạo áp lực lớn trên lực lượng y tế; đồng thời gây nguy cơ lây lan dịch bệnh và tạo sự bất an, xáo trộn trong nhân dân. Ngoài ra, xét nghiệm kháng nguyên SARS-CoV-2 qua dịch hầu họng bằng phương pháp PCR cần 2 – 3 giờ mới cho kết quả và quá trình này cũng sẽ tạo gánh nặng lên các phòng thí nghiệm.  Trong khi đó, virus gây bệnh COVID-19 lây nhiễm cho nhiều loại tế bào trong cơ thể, bao gồm cả những tế bào trong đường hô hấp và đường ruột. RNA của virus có thể đi vào phân và nước tiểu, thường xuất hiện trong chất thải này vài ngày trước khi các triệu chứng lâm sàng bắt đầu xuất hiện. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới như Úc, Canada, Hà Lan, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ,… đã thực hiện việc phân tích nước thải nhằm tìm dấu vết của virus COVID-19 trong cộng đồng.    Hố ga thu thập mẫu nước thải. Ảnh: NNC  Tuy nhiên, các hố ga thông thường bằng bê tông dễ nứt vỡ, sinh ra nấm mốc trong thành hố, rò rỉ nước thải vào lòng đất, lẫn mùi hôi vào không khí,…. vì vậy có thể cho các kết quả âm tính, dương tính giả khi xét nghiệm.  Ngoài ra, hệ thống thoát nước hiện nay thường gom chung tất cả các loại nước thải (sinh hoạt, công nghiệp, nước mưa,…) vào chung một hố ga và chảy qua nhiều khu vực, do vậy không thể tập trung để truy vết dịch. Bên cạnh đó, các hố ga này phần lớn là kín, gây khó khăn khi lấy mẫu nước thải, cũng như không đảm bảo an toàn sinh học.  Giải pháp của Công ty Thuận Thiên đưa ra gồm hai bộ phận quan trọng: hố ga thu thập mẫu nước thải HG 08b và bộ test COVID-19. Trong đó, hố ga là sáng chế đã được Công ty đăng ký xác lập quyền tại Cục Sở hữu trí tuệ.  Được sản xuất bằng nhựa Polypropylene Copolymer, hố ga có tuổi thọ 30 năm, chịu tải trọng 12 tấn, không bị nứt vỡ, không thấm, thoát nước thải vào đất. Khi muốn lấy nước thải lên để xét nghiệm, chỉ cần nhấn vào chốt bên ngoài và bơm nước ra. Với giải pháp này, nhân viên thu thập mẫu không phải chạm tay vào nước thải, không cần mở nắp, đảm bảo an toàn vệ sinh dịch tễ.  Bộ test COVID-19 cầm tay nhập khẩu từ Canada cho phép thực hiện xét nghiệm không cần sự hỗ trợ của cán bộ y tế chuyên môn, trang thiết bị y tế phức tạp hay phòng thí nghiệm quy chuẩn… Chỉ cần cán bộ thực hiện được đào tạo và thực hiện đúng với hướng dẫn sử dụng, sẽ cho kết quả sau 2 giờ.  Theo nhóm tác giả của giải pháp, hố ga dễ dàng lắp đặt, đảm bảo ổn định thoát nước, không ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của hệ thống nước thải hiện có. Các hố ga có thể lắp đặt ở khu dân cư hoặc một nhà máy, khu công nghiệp… Tùy theo nhu cầu lắp đặt, thể tích hố ga có thể từ 0,2 – 0,35m³, nhỏ hơn so với các hố ga bê tông thông thường. Ngoài ra, không chỉ xét nghiệm COVID-19, nếu dùng các bộ test khác, đều có thể xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm khác qua nước thải.  Giải pháp nằm trong TOP 10 của Chương trình “Tìm kiếm và kết nối giải pháp đổi mới sáng tạo ứng phó dịch COVID-19 tại TPHCM năm 2021”, do Sở KH&CN TPHCM phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (BSSC) triển khai.  Kiều Anh    Author                Quản trị        
__label__tiasang Top Ten về ô nhiễm môi trường      Tổ chức bảo vệ m&#244;i trường Green Cross Thụy Sỹ v&#224; Viện Blacksmith của Mỹ đ&#227; b&#236;nh chọn 10 nguy&#234;n nh&#226;n g&#226;y &#244; nhiễm m&#244;i trường tệ hại nhất tr&#234;n thế giới. Sự xếp hạng n&#224;y nhằm định hướng dư luận&nbsp; ch&#250; &#253; đến những điều đang diễn ra hằng ng&#224;y m&#224; thường bị l&#227;ng qu&#234;n khi đề cập đến c&#225;c vấn đề bảo vệ kh&#237; hậu v&#224; m&#244;i trường.    1:  Khai thác vàng thủ công. Với các phương tiện đơn giản nhất như: quặng vàng hỗn hống với thủy ngân sau đó hỗn hợp này sẽ được nung chảy, thủy ngân bốc hơi, chất còn lại là vàng. Người khai thác hít  khí độc đầu tiên, chất thải thủy ngân gây ô nhiễm môi trường, tích tụ trong cây cối, động vật và từ đó lan sang chuỗi thực phẩm. Ảnh hưởng đến sức khoẻ: Thủy ngân gây tổn hại đến  thận, giảm trí nhớ, đau khớp, đẻ non, khó thở, tổn hại thần kinh và có thể gây chết người.                     2: Ô nhiễm mặt nước.  Mỗi người mỗi ngày cần khoảng 20 lít nước ngọt để ăn, uống. Ngoài ra cần từ 50 đến 150 lít nước sinh hoạt. Dân số ngày một tăng, nông nghiệp ngày một phát triển vì thế tài nguyên nước ngày càng khan hiếm và ngày càng bị ô nhiễm nặng nề hơn.  Trong nguồn nước thường thấy các loại vi khuẩn, virus  từ chất bài tiết của con người, ngoài ra còn có kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ từ sản xuất công nghiệp. Con người bị nhiễm độc có thể do uống phải nước hoặc  ăn thức ăn bị nhiễm độc. Các loại thủy sản  cũng có thể bị nhiễm chất độc trong nước do thịt chúng tích các chất độc hại và gây hại cho người ăn phải thịt bị nhiễm độc. Ngay cây trồng cũng có thể bị nhiễm chất độc nếu tưới bằng nước nhiễm độc.  Hậu quả đối với sức khỏe con người là gây hại đến hệ thống tiêu hóa, bệnh đường ruột. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì ô nhiễm nước là một trong các nguyên nhân chính gây tử vong từ yếu tố môi trường.                     3: Ô nhiễm nước ngầm.  Nước ngầm là nguồn nước quan trọng nhất. Tại các khu đô thị việc chọn vị trí đổ chất thải hoặc bể phốt làm không tốt nên chất độc cũng như các tác nhân gây bệnh có thể ngấm vào nguồn nước ngầm.   Cạnh đó nếu các loại dầu máy thải, chất tẩy rửa từ các hộ gia đình hoặc thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học dùng trong nông nghiệp cũng gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.  Do sự di chuyển của nước ngầm rất chậm nên sự nhiễm chất độc có thời gian tích tụ rất dài, thậm chí sau nhiều năm mới thâm nhập vào nguồn nước ăn .  Ảnh hưởng đến sức khỏe: Điều này lệ thuộc vào loại ô nhiễm. Thường là bệnh đường ruột. Các loại kim loại nặng ở trong nước có thể gây ung thư.                     4: Ô nhiễm không khí trong căn hộ.  Ở các nước đang phát triển chất đốt phổ biến là than, củi và rơm rạ. Trên 50% dân số thế giới sử dụng các loại chất đốt này để đun nấu. 80% hộ gia đình ở Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam châu Phi vẫn phải đun nấu, sưởi ấm theo hình thức này. Đây là nguyên nhân gây 3 triệu ca tử vong hằng năm trên thế giới và 4% trường hợp bị ốm đau là do nguyên nhân này gây nên.  Việc đun nấu thường diễn ra ở một khu vực chật chội, không có hệ thống thoát khí. Không khí bị ô nhiễm không những gây hại đối với người đun nấu, chủ yếu là phụ nữ, mà với các thành viên khác trong gia đình do điều kiện sống chật chội. Con người hít phải chất độc và bụi mịn, phổi và mắt bị ảnh hưởng đầu tiên.  Ảnh hưởng đến sức khỏe: Viêm phổi, ung thư phổi, lao, đau mắt. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 3 triệu người bị chết vì hít phải khí độc hại trong các căn hộ chật chội.                     5: khai khoáng công nghiệp.  Trong việc khai khoáng công nghiệp thì khó khăn lớn nhất là xử lý chất thải dưới dạng đất đá và bùn. Trong chất thải này có thể có các hóa chất độc hại mà người ta sử dụng để tách quặng khỏi đất đá. Trong chất thải ở các mỏ thường có các hợp chất sulfid-kim loại, chúng có thể tạo thành a xít, với khối lượng lớn chúng có thể gây hại đối với đồng ruộng và nguồn nước ở xung quanh. Bùn từ các khu mỏ chảy ra sông suối có thể gây ùn tắc dòng chảy từ đó gây lũ lụt.  Ảnh hưởng đến sức khỏe: Thường rất đa dạng và gây hại kéo dài như: đau mắt, gây hại đối với hệ thống hô hấp, tiêu hóa, tim mạch, thận, gan và hệ thần kinh.     6: Các lò nung và chế biến hợp kim .  Trong quá trình sản xuất và chế biến các loại kim loại như đồng, nicken, kẽm, bạc, kobalt, vàng và  kadmium môi trường bị ảnh hưởng nặng nề. Hydrofluor, sunfua-dioxit, Nitơ-oxit khói độc cũng như các kim loại nặng như chì, Arsen, Chrom, Kadmium, Nickel, đồng và kẽm bị thải ra môi trường.  Một lượng lớn a xít-sunfuaric được sử dụng để chế biến. Chất thải rắn độc hại cũng gây hại đến môi trường. Thông thường con người hít thở các chất độc hại này hoặc chúng thâm nhập vào chuỗi thực phẩm. Bụi mịn gây hại nặng nề và ảnh hưởng tới nguồn nước.  Ảnh hưởng đến sức khỏe: có dạng gây hại ngay hoặc mãn tính như gây hại mắt, hệ hô hấp, da, gan, thận và hệ thần kinh. Nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến hệ tim mạch và phổi, thậm chí có thể gây tử vong do tích lũy lâu dài trong cơ thể.                      7: chất thải phóng xạ và chất thải từ việc khai thác Uran.  Chất phóng xạ được sử dụng để sản xuất điện, dùng trong lĩnh vực Quân sự và Y học.  Việc xử lý chất thải phóng xạ từ các lò phản ứng dưới dạng thanh đốt vô cùng khó khăn.Việc chôn vĩnh viễn loại chất thải này hầu như là chuyện không thể.  Quá trình khai thác Uran tuy không tạo ra chất thải phóng xạ nguy hiểm, nhưng lại tạo ra một lượng lớn chất thải có lượng phóng xạ tương đối thấp. Những nước sản xuất Uran với khối lượng lớn thường là những nước như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc, những quy định về bảo vệ môi trường và  an toàn thường không thực hiện nghiêm chỉnh.   Ảnh hưởng đến sức khỏe: chất phóng xạ có thể ảnh hưởng tới chức năng của cơ thể, về lâu dài có thể gây một số bệnh ung thư. Những người bị ảnh hưởng phóng xạ với nồng độ thấp có những biến đổi đối với máu, chóng mặt, mệt mỏi, gây quái thai, mù mắt, trì độn. Nếu bị tác động của tia phóng xạ với nồng độ cao sẽ bị chết chỉ sau vài giờ.     8: Nước thải không được xử lý.  Ở nhiều vùng nghèo khổ trên thế giới phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây                lan và gây ô nhiễm môi trường. Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại.  Theo dự đoán của WHO trong năm 2008 có khoảng 2,6 tỷ người không được tiếp cận với các công trình vệ sinh. Đây chính là nguyên nhân vì sao ở các thành phố nước bị ô nhiễm nặng nề bởi chất bài tiết của con người.    Ảnh hưởng đến sức khỏe: tình trạng trên dẫn đến một loạt bệnh như tả, thương hàn, kiết lị, viêm gan A  và bệnh giun sán. Theo dự đoán của WHO mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người bị chết liên quan đến nước thải không được xử lý.                     9: ô nhiễm không khí ở các đô thị.  Khí thải từ xe máy, ô tô, các nhà máy điện, khu công nghiệp chứa nhiều hợp chất độc hại và bụi mịn. Những chất này khi phản ứng với ánh sáng mặt trời hình thành những hợp chất mới, ví dụ Ozon, loại khí này ở gần mặt đất rất độc hại.  Ảnh hưởng đến sức khỏe: một số bệnh mãn tính về  đường hô hấp và hệ tuần hoàn. Bụi mịn gây các bệnh như hen suyễn, viêm phế quản mãn tính cho đến ung thư phổi. Trẻ em và người già dễ bị các căn bệnh này. Theo dự đoán của WHO mỗi năm có khoảng 865.000 trường hợp tử vong do ô nhiễm không khí gây nên.                      10: Tái tạo bình ắc quy.  Ắc quy ô tô có nhiều tấm chì ngâm trong a xít có thể nạp điện để sử dụng nhiều lần. Khi công suất giảm và không thể tiếp tục nạp điện được nữa người ta thu lại những thứ còn có thể sử dụng lại và có giá trị kinh tế cao, trong đó chủ yếu là các tấm chì. Ở các nước nghèo đây là một công việc có thu nhập không nhỏ.     Những bình ắc quy cũ này thường được vận chuyển từ các nước giàu có sang các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba để tái sử dụng. Việc tháo gỡ các bình ắc quy này được thực hiện hết sức thủ công và không bảo đảm điều kiện an toàn nên thường xảy ra các vụ ngộ độc chì đối với những lao động tiếp xúc trực tiếp với bình ắc quy cũ. Cạnh đó gây ngộ độc mãn tính: chì tích tụ dần do khối lượng rất nhỏ qua hệ thống hô hấp và  tích tụ ở xương.   Ảnh hưởng đến sức khỏe: người bị nhiễm độc chì bị rối loạn về sự phát triển, hay quên, khó ngủ. Gây suy giảm gan, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ và đau xương. Nếu bị ngộ độc nhiều có thể bị hôn mê và tử vong, trẻ em có nguy cơ bị tổn thương thần kinh.  ***  Từ công trình nghiên cứu trên, ông Richard Fuller, người sáng lập Viện Blacksmith nói”Chúng tôi muốn dư luận chú ý đến những hệ quả nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường gây nên đối với sức khỏe con người đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy ra tay hành động”.   Ngay cả những đánh giá khá bảo thủ cũng thừa nhận các yếu tố về môi trường là nguyên nhân gây nên 25% ca tử vong ở các nước đang phát triển. Ví dụ: Việc ô nhiễm thủy ngân trong quá trình khai thác vàng liên quan đến 15 triệu người làm việc trong các mỏ hoặc bãi khai thác trong đó 4,5 triệu phụ nữ và 600.000 trẻ em.   Ông Fuller cho rằng các quốc gia giàu phải chịu trách nhiệm về tình trạng ô nhiễm ở các nước nghèo vì “Chúng ta xuất khẩu công nghiệp của mình sang các nước đó, và cho đến nay tại các nước này không có cơ chế kiểm soát ô nhiễm môi trường, hoặc nếu có thì cũng không đầy đủ“.Thêm vào các nước đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế cao như Trung Quốc và Ấn Độ sản xuất nhiều loại sản phẩm có nguy cơ gây tổn hại với môi trường không phải để xuất khẩu mà để sử dụng trong nước.   Các nhà bảo vệ môi trường yêu cầu các quốc gia công nghiệp phải có trách nhiệm giúp các nước đang phát triển hạn chế gây tổn hại đến môi trường, sự giúp đỡ này cũng xuất phát từ lợi ích của bản thân các nước giàu. Vì chất độc cũng đang lây lan mang tính toàn cầu: “thủy ngân trong quá trình khai thác vàng có thể tích tụ trong bầy cá ngừ mà con người đang ăn và con em họ cũng có thể bị trúng độc”, ông Fuller nói.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Topo của vũ trụ      Vấn đề nghiên cứu topo của vũ trụ đang gây chú ý của nhiều nhà vũ trụ học. Nhiều vũ trụ xét về mặt hình học là một vũ trụ vô hạn (infinite) song nếu chú ý đến topo (tức đến toàn cục) thì lại là một vũ trụ hữu hạn (finite). Nhiều quan sát CMB (Cosmic Microwave Background- Bức xạ Phông Vũ trụ) cũng được chính xác hóa thêm nhờ những chi tiết phát sinh từ những hệ quả topo. Bài viết này nhằm mục đích giới thiệu trong vài nét tổng quát ảnh hưởng của topo đến vũ trụ học.      Topo (topology) là gì?   Topo là môn học nghiên cứu hình dạng của một không gian về các mặt cơ bản nhất đó là tính liên thông (connectedness), tính liên tục (continuity) và các biên (boundary). Những tính này bất biến đối với các phép biến đổi liên tục gồm các biến đổi như kéo dài, uốn cong mà không bao gồm các biến đổi  như xé rách (tearing) hoặc dán dính (gluing).   Xem hình 1 ta thấy một cái cốc, một hình xuyến và một hình xuyến xoắn là tương đương topo với nhau.              Hình 1. Cái cốc, hình xuyến và hình xuyến xoắn là tương đương topo với nhau.          Quả thật như vậy chỉ cần các phép kéo dài và uốn cong ta có thể biến một hình xuyến thành một cái cốc (xem hình 2).                Hình 2. Biến một hình xuyến thành cái cốc nhờ các phép biến đổi liên tục topo           Hình học và topo   Cần phân biệt hình học (độ cong phẳng, dương hay âm?) và topo (dạng như thế nào,  liên thông như thế nào?). Xét về mặt hình học có thể tồn tại 3 loại vũ trụ: vũ trụ phẳng (Euclidean, độ cong bằng không), vũ trụ cầu (đóng, hữu hạn và độ cong dương) và vũ trụ hyperbolic (mở, vô tận và độ cong âm), xem hình 3.   Khi nói đến độ cong âm người ta thường nghĩ đến một không gian vô hạn. Song có thể có nhiều độ cong trong một topo, ví dụ một hình xuyến (torus) có độ cong âm ở mặt trong (inside edge) mặc dầu nó là một topo hữu hạn (finite).   Thuyết tương đối tổng quát (với các phương trình Einstein vốn là những phương trình vi phân ) chỉ nói lên được tính định xứ (local) mà không thể xác định được tính toàn cục (global) tức topo của vũ trụ. Thuyết tương đối tổng quát không bất biến đối với các biến đổi đồng phôi (homeomorphism-xem chú thích) mà chỉ bất biến đối với các biến đổi vi phôi (diffeomorphism) tức các biến đổi tọa độ.   Với một vũ trụ đồng nhất và đẳng hướng ta có lời giải là metric Friedmann-Lemaitre-Robertson-Walker (FLRW):  ds2=gµvdxµdxv=-dt2+a2(η)[ dr2  + r2 (dθ2 + sin2θdΦ2)]                                            1 – kr2   trong đó a = thừa số kích thước của vũ trụ, độ cong k =0,+1,-1  tương ứng với độ cong bằng  không, độ cong dương và độ cong âm (xem hình vẽ 3).  Giữa bán kính độ cong R và mật độ trung bình của vật chất trong vũ trụ có mối quan hệ R = a/|k|1/2 = 1/H|Ω-1|1/2, trong đó H = số Hubble, Ω = ρ/ρc còn ρc là mật độ ứng với vũ trụ phẳng. Ta có các vũ trụ với độ cong bằng không, độ cong dương và độ cong âm tương ứng với các mật độ Ω = 1, >1 và <1.                Hình 3 . Từ trái sang phải: độ cong phẳng, độ cong dương và độ cong âm            Một yếu tố metric định xứ cho trước có thể tương ứng với một tập lớn mô hình vũ trụ khác nhau về mặt topo.   Tồn tại vô số (đếm được) những dạng không gian với độ cong dương, tất cả đều là những không gian đóng và vô số không gian với độ cong âm trong đó một số là không gian đóng (hữu hạn) một số là không gian mở (vô tận).    Thuyết tương đối mô tả một hình xuyến và một mặt phẳng với cùng những phương trình như nhau mặc dầu hình xuyến là hữu hạn trong khi mặt phẳng là vô hạn. Để xác định topo của vũ trụ cần những hiểu biết vật lý nằm ngoài lý thuyết tương đối (như CMB – Cosmic Microwave Background – Bức xạ Phông của Vũ trụ).   Hãy hình dung một buồng gương, đó là cái phòng với 6 bức tường (gồm cả trần và nền) là gương.  Nếu chúng ta vào một phòng như thế với vài ngọn nến thì vì hệ quả phản chiếu trên các tường bằng gương chúng ta có cảm giác lọt vào một không gian vô tận.   Giống như trong một buồng gương (xem hình 4) sự vô tận của vũ trụ có thể chỉ là một ảo tưởng. Vũ trụ có thể hữu hạn trong thực tế. Ảo tưởng vô tận phát sinh từ hiện tượng tia sáng thực hiện một quỹ đạo chạy quanh không gian nhiều lần (khi vũ trụ là hữu hạn) và như thế tạo nên hình ảnh đa bội của từng thiên hà.                 Hình 4 . Buồng gương gây hệ quả vô tận của một đối tượng hữu hạn          Nếu trong buồng kính ta có 3 quả bóng thì bức tranh tạo nên là hình ảnh của vô số quả bóng như trong hình 5.                Hình 5. Ba quả bóng trong buồng kính tạo nên hình ảnh vô số quả bóng          Buồng gương là hình tượng của một vũ trụ hữu hạn nhưng cho ảo tưởng vô tận. Lẽ dĩ nhiên vũ trụ không có biên để phản xạ ánh sáng song thay vì bị phản xạ như trong buồng gương thì ánh sáng có thể đi vòng quanh vũ trụ nhiều lần. Từ bức tranh các hình ảnh đa bội lặp lại người ta có thể suy ra kích thước và hình dáng thật sự của vũ trụ, tức xác định topo của vũ trụ.      Tạo một hình      Topo có thể giúp ta tạo một hình xuyến (hoặc một dải Moebius) từ một mảnh phẳng của không thời gian bằng cách đồng nhất các đường mép (edge) đối diện của mảnh phẳng này (xem hình 6).   Nói chung người ta biểu diễn một hình như phần trong của một đa diện (polyhedron) với các mặt đối nhau được đồng nhất từng đôi một.     Trên hình 6 ta thấy nếu dán 2 mép của một hình vuông ta có một hình trụ, nếu dán các mép (tức đồng nhất các mép a với a, b với b) của một hình vuông ta có một hình xuyến, nếu dán các mép của hình bát giác (đồng nhất a với a, b với b, c với c,…)  ta có một hình xuyến với 2 lỗ. Ta gọi số lỗ là genus vậy ví dụ hình xuyến 2 lỗ có genus = 2.                Hình 6. Tạo  hình trụ, các hình xuyến 1 lỗ và 2 lỗ bằng cách dán các mép đối  nhau (tức đồng nhất các mép)          Chú ý hình xuyến S1x S1 có được nhờ đồng nhất các mép đối diện của một hình vuông là một không gian phẳng trong khi hình xuyến thông thường là không gian không phẳng. Song về mặt topo 2 hình xuyến này là tương đương.                   Hình trụ, hình xuyến một lỗ, hai lỗ là những không gian topo đa liên thông (multiplyconnected). Trong hình 7 ta có một topo đơn liên thông (cột một) và hai topo đa liên thông (cột 2 và 3).                Hình 7. Đây là vài ví dụ của những đa tạp đồng phôi (homeomorphic) , những con số ở hàng dưới là số lỗ trong topo của chúng            Phần trong của một đa diện 10 mặt ngũ giác mà từng  đôi các mặt ngũ giác được đồng nhất với nhau sẽ là một không gian đóng với độ cong âm (compact hyperbolic space).    Vậy vấn đề nghiên cứu topo vũ trụ là nằm trong những câu hỏi sau đây.   Vũ trụ đóng hay mở? Vũ trụ có lỗ (hay tay quai-handle) không? Vũ trụ là liên thông hay đa liên thông? Những câu hỏi topo này thường bị bỏ quên bởi những nhà vũ trụ học. Trong một mô hình đầy đủ phải kể đến những câu hỏi topo này. Vũ trụ thực sự là sân khấu của những ảo tưởng quang học khổng lồ phát sinh vì những hiệu ứng thấu kính topo (topological lens).   Nghiên cứu vũ trụ ta phải chú ý hai mặt: hình học và topo. Về mặt hình học ta có: không gian Euclide (độ cong bằng không), không gian cầu (độ cong dương) và không gian hyperbolic (độ cong âm).    Không gian cầu trong mọi trường hợp là hữu hạn. Đối với hai loại không gian còn lại thì tính hữu hạn hoặc vô tận lại phụ thuộc vào topo. Nếu là topo đơn liên thông (simply-connected) thì chúng vô tận.   Song đối với topo đa liên thông (như hình xuyến với một lỗ hay hai lỗ) thì chúng ta có khả năng xét những mô hình vũ trụ trong đó không gian là hữu hạn bất kể độ cong là như thế nào ngay cả lúc mật độ vật chất và hằng số vũ trụ là rất thấp (mà nếu chỉ xét hình học thì ta phải có không gian phẳng hoặc hyperbolic vô tận).   Như vậy một không gian với độ cong âm có thể là hữu hạn nếu topo là đa liên thông.   Một vài chi tiết toán học   Trong khuôn khổ của vũ trụ học chuẩn thì vũ trụ được mô tả bởi một đa tạp không thời gian M4 = RxM cộng với metric FLRW. Trong đó M = E3 (Euclidean), S3 (cầu) hoặc H3 (không gian hyperbolic có hình một cái yên ngựa). Điều này thường dẫn đến một sự hiểu nhầm: độ cong của M là tất cả điều gì cần thiết để xác định xem không gian 3 chiều là hữu hạn (finite) hay vô hạn (infinite). Bởi vì không gian M có thể chỉ là một trong những đa tạp thương (quotient manifold) khả dĩ.    M= Mc / G   Trong đó Mc = (E3,S3,H3) là không gian gọi là  không gian phủ tổng quát (universal covering).  Không gian M là không gian đa liên thông. Phép G cho phép phủ  Mc bằng những tế bào gọi là đa diện cơ  bản (fundamental polyhedron-FP) và thực hiện  những phép tịnh tiến gắn liền với việc đồng nhất các mép (xem hình 8).   Ví dụ hình xuyến T2=E2/G trong đó FP=là một hình chữ nhật với các mép đồng nhất như trên hình vẽ số 6.     Trong một không gian đa liên thông bất kỳ hai điểm nào cũng có thể được nối liền bởi nhiều hơn một đường trắc địa và hệ quả trong một vũ trụ hữu hạn ánh sáng từ một đối tượng có thể đến với một quan sát viên theo nhiều quỹ đạo khác nhau – và như thế trên bầu trời ta có nhiều hình ảnh của một nguồn bức xạ.                Hình 8.Cư dân trong FD và trong không gian phủ          Ta lát không gian phủ tổng quát (universal covering) với nhiều FD bằng cách đồng nhất các mặt mép.   Một cư dân của hình xuyến khi nhìn về phía trước thấy phía sau của mình và nhìn thấy trong không gian phủ tổng quát một mạng các hình ảnh của mình. (xem hình 8).   Với những không gian đa liên thông (có một số lỗ ) số lượng N các bản copy của FD trong bức tranh quan sát vũ trụ có thể đánh giá bởi công thức: N=V/VFD. Trong đó V là thể tích của vùng vũ trụ quan sát được còn VFD là thể tích của FD.      Topo và CMB   Trong vũ trụ học CMB là bức xạ nhiệt tàn dư từ lúc Big Bang (xem hình 9).   CMB có thể giúp chúng ta xác định topo. Một phương pháp để làm việc đó là thực hiện mô hình toán học bằng máy tính của CMB đối với một topo nào đó rồi so sánh với quan trắc vũ trụ.                Hình 9 . Bản đồ Bức xạ Phông Vũ trụ CMB trên bầu trời          Tính đa liên thông được khai thác để tìm ra những bất thường trong phổ năng lượng do hệ quả topo. Một điểm bức xạ theo nhiều hướng khác nhau và ánh sáng sau khi đi vòng quanh vũ trụ nhiều lần sẽ đến người quan sát và cho chúng ta nhiều hình ảnh đa bội của điểm bức xạ.   Nhiều khía cạnh của CMB có thể bị thay đổi khi topo vũ trụ là đa liên thông (hữu hạn):   (1) Topo đa liên thông phá hủy tính đẳng hướng và tính đồng nhất toàn cục, xuất hiện trên CMB một phân bố bất đẳng hướng và bất đồng nhất ứng với các hình ảnh ảo (ghost) của nhiều điểm,   (2) Phổ các loại thăng giáng là gián đoạn, điều này phản ánh một không gian hữu hạn (tương tự như trong Cơ học lượng tử thể tích hữu hạn cho phổ năng lượng gián đoạn),   (3) Bức tranh các thăng giáng nhiệt độ phản ánh sự xuất hiện lặp lại của những điểm nóng và lạnh do hệ quả thấu kính topo.      Kết luận     Topo vũ trụ là một lĩnh vực quan trọng phối hợp các lý thuyết toán học với những định luật vật lý. Chúng ta có khả năng quan sát được topo vũ trụ một cách gián tiếp nhờ quan sát CMB. Hiểu được topo vũ trụ chúng ta có thể nghiên cứu chính xác hơn ảnh hưởng của năng-lượng vật chất lên không thời gian.Trong vũ trụ học hiện đại các nhà khoa học sử dụng toàn diện vật lý, hình học lẫn topo.     Dường như kết hợp lý thuyết và quan trắc các nhà vũ trụ học đối diện với hiện tượng một không gian với độ cong âm (mật độ vật chất thấp) lại có thể là hữu hạn về toàn cục và trong trường hợp đó ta phải có một topo đa liên thông. Thiên nhiên vốn kinh hãi cái vô cùng (Nature abhors an infininity).  —————-   Tài liệu tham khảo và chú thích   [1] Mark Baltovic, The topology of the Universe    [2] M.J.Reboucas, G.I.Gomero, Cosmic topology:A brief Overview, Brazilian Journal of Physics, vol.34, no.4A, December,2004    [3] Jean-Pierre Luminet, Is the Universe crumpled?   [4] Janna Levin, Topology and the Cosmic Microwave Background,  arXiv:gr-qc/0108043v2 20 Aug2001, Physics Reports 365(2002) 251-333   [5] Biến đổi đồng phôi là một biến đổi liên tục không chứa phép cắt và dán.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái cây có thể tạo ra “nhiên liệu mạnh      Đường tìm thấy trong trái cây như táo và cam có thể được biến thành một loại nhiên liệu ít carbon dành cho xe hơi, theo các nhà nghiên cứu Mỹ. Được làm từ fructose, nhiên liệu này chứa nhiều năng lượng hơn ethanol.    Trong khi đó, tất cả các loại chất thải, trong đó có túi nhựa, đều có thể được dùng để tạo ra nhiên liệu sinh học biodiesel. Tuy nhiên những người phê bình nói rằng các loại nhiên liệu sinh học hiện nay, cả diesel làm từ dầu cọ và ethanol làm từ ngũ cốc, đều khuyến khích nông dân giành đất sản xuất nhiên liệu, làm giá lương thực gia tăng.  Nay các nhà khoa học tại Đại học Wisconsin-Madison nói một loại đường đơn giản gọi là fructose có thể được biến thành một thứ nhiên liệu có nhiều thuận lợi hơn ethanol. Được gọi là dimethylfuran, nhiên liệu này có thể chứa nhiều năng lượng hơn ethanol 40%, không bay hơi dễ và ít biến đổi hơn ethanol.  Các nhà khoa học nói fructose có thể được rút ra trực tiếp từ trái cây và thảo mộc hoặc được làm từ glucose.  Q.HƯƠNG –  Theo BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái cây cũng biết thở      Lê và táo là những loại quả có mạng lưới chứa và vận chuyển khí, cho phép chúng “thở” ngay cả khi đã lìa khỏi cành.    Phát hiện về các cấu trúc này cho phép hiểu rõ hơn tại sao quả bị hỏng sau khi thu hoạch. Lê và táo có trong mình những đường ống bé xíu, không thể thiếu cho quá trình vận chuyển khí oxy. Đây chính là các yếu tố quyết định “sức khỏe” của quả. Các nhà khoa học thuộc Đại học Cơ đốc giáo Leuven ở Bỉ đã lần đầu tiên quan sát thấy những đường ống này trên hình ảnh ba chiều. Trong các trái táo, các đường ống này xuất hiện giống như những khoang không đều giữa các tế bào. Còn trong những trái lê, các đường ống này giống những con kênh thông nhau chằng chịt.  Bạch Dương (Theo Sciences et Avenir)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái đất có nguy cơ trở thành “nhà kính nóng”      Một nhóm các nhà khoa học khí hậu quốc tế cảnh báo, nếu những hiện tượng thời tiết xảy ra theo hiệu ứng domino khiến Trái đất trở thành “nhà kính nóng” thì nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính sẽ trở nên vô ích.      Hiện tượng băng tan, nước biển dâng đã diễn ra trong vài năm trở lại đây. Nguồn: The Guardian   Nhóm các nhà khoa học này mới có công bố “Các hành trình của hệ trái đất trong kỷ Anthropocene” (Trajectories of the Earth System in the Anthropocene) trên tạp chí PNAS về hậu quả của 10 hành trình biến đổi khí hậu, bao gồm cả quá trình giải phóng khí mêtan dưới lớp băng vĩnh cửu ở Siberia và tác động của hiện tượng băng tan ở Greenland, Nam Cực. Theo đó, một chuỗi phản ứng domino như băng tan, nước biển ấm lên, dòng chảy thay đổi và rừng bị phá hủy có thể khiến Trái đất trở thành “nhà kính nóng”. Tuy nhấn mạnh những phân tích này chưa phải là kết luận cuối cùng, nhưng các tác giả – bao gồm các nhà nghiên cứu Mỹ, Úc, Thụy Điển, Đức…, cảnh báo, mục tiêu trong Hiệp định Paris là giữ mức nhiệt toàn cầu tăng lên không quá 2oC so với các mức của thời kì tiền công nghiệp có thể sẽ không đủ để duy trì mức nhiệt ổn định của Trái đất.  Quá trình “nhà kính nóng” có thể gần như sẽ khiến các vùng đồng bằng châu thổ bị ngập lụt, tăng nguy cơ thiệt hại từ những cơn bão biển, và tiêu diệt các rạn san hô trong cuối thế kỷ này hoặc sớm hơn.  Johan Rockström, giám đốc điều hành của Trung tâm Phục hồi Stockholm cho biết: “Tôi hy vọng là chúng tôi sai, nhưng với tư cách là nhà khoa học, chúng tôi có trách nhiệm tìm hiểu liệu điều này có thật hay không. Chúng ta cần phải biết thông tin ngay lúc này. Đây là một trong những vấn đề mang tính sống còn của khoa học hiện nay”.  Rockström và đồng sự là những chuyên gia hàng đầu thế giới về vòng phản hồi dương – quá trình xảy ra trong một hệ thống khi một biến đổi dẫn tới những biến đổi tiếp theo lớn hơn– chẳng hạn nhiệt độ tăng lên sẽ giải phóng thêm các nguồn khí nhà kính mới hoặc phá hủy khả năng hấp thụ carbon hay phản xạ nhiệt của Trái đất.  Bài báo của họ đã đặt ra câu hỏi liệu với nhiệt độ của Trái đất có thể ổn định với mức tăng 2oC hay sẽ chuyển sang trạng thái tồi tệ hơn. Các tác giả đang đánh giá liệu sự nóng lên của Trái đất có thể dừng lại được hay sẽ dẫn tới một thế giới “nhà kính nóng” ấm hơn 4oC so với thời kỳ tiền công nghiệp, gây khó khăn cho sự sinh tồn của con người.  Một trong số các tác giả – Katherine Richardson ở Đại học Copenhagen, nhấn mạnh, bài báo chứng minh việc chống biến đổi khí hậu không chỉ tập trung vào vấn đề khí thải, mà còn phải hiểu được các yếu tố tương tác với nhau như thế nào trên phạm vi toàn cầu: “Chúng tôi thấy rằng trong lịch sử, Trái đất chưa bao giờ đạt trạng thái ổn định dù vẫn nằm trong giới hạn ấm hơn thời kỳ tiền công nghiệp tối đa là 2 oC. Điều này cho thấy nguy cơ dù có dừng phát thải, Trái đất vẫn “muốn” tiếp tục nóng lên bởi tất cả những quá trình trong hệ thống. Như vậy chỉ giảm phát thải chưa đủ, cần làm nhiều hơn nữa”.  Các phản hồi dương mới vẫn đang được phát hiện. Một bài báo khác được công bố trên PNAS cho thấy lượng mưa tăng – một hiện tượng của biến đổi khí hậu ở một số vùng – khiến đất rừng khó giữ lại các khí nhà kính như methane.  Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra, những vùng đầm lầy có khả năng giữ carbon bị yếu đi sẽ góp phần khiến nhiệt độ tăng 0.25oC, phá rừng thêm 0.11oC, băng vĩnh cửu tan chảy thêm 0.9 oC và sự gia tăng hô hấp của vi khuẩn thêm 0.02 oC. Các nghiên cứu trong bài báo mới đây cũng đề cập đến sự giải phóng methane từ đáy đại dương và tan băng ở hai cực.  Rockström cho rằng vẫn còn thiếu hụt dữ liệu cũng như hiểu biết về cách một quy trình thúc đẩy một quy trình khác như thế nào. Theo ông, những phản hồi dương có thể khiến hành tinh chuyển sang trạng thái khắc nghiệt hơn, trái ngược với giả thuyết Gaia, giả thuyết về việc Trái đất có xu hướng tự hồi phục.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/ 2018/aug/06/domino-effect-of-climate-events-could-push-earth-into-a-hothouse-state       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái đất hấp thụ các hạt ma năng lượng cao      Trong lĩnh vực vật lý, neutrino được biết đến là các hạt ma do khả năng di chuyển qua vật thể rắn một cách dễ dàng. Neutrino tương tác yếu với vật chất, nó có thể di chuyển quãng đường 1 năm ánh sáng (10 nghìn tỷ km) trong kim loại chì mà không va chạm với bất kỳ nguyên tử nào.      IceCube được cấu tạo bằng nhiều cảm biến quang học  Trong nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Nature hôm 22/11, các nhà khoa học làm việc tại máy dò hạt neutrino lớn nhất thế giới ở Nam Cực (IceCube) phát hiện một số hạt hạ nguyên tử này bị dừng lại khi đường di chuyển, chúng gặp phải Trái đất.  Các hạt neutrino được phát hiện bởi máy dò IceCube có năng lượng rất cao. Đây là yếu tố quan trọng vì hạt neutrino mang năng lượng càng cao thì chúng càng có khả năng tương tác với vật chất và sẽ bị hành tinh của chúng ta hấp thụ.  IceCube cấu tạo gồm 5.160 cảm biến quang học có kích thước lớn bằng quả bóng rổ gọi là Module Quang học Kỹ thuật số (DOMs). Chúng được bao bọc trong 1 km3 băng rất sạch ở Nam Cực. Các cảm biến không quan sát hạt neutrino trực tiếp mà đo đạc những chớp sáng xanh lam, hay bức xạ Cherenkov phát ra từ một số hạt khác như hạt muon – sản phẩm hình thành khi neutrino tương tác với băng. Bằng cách đo bức xạ Cherenkov ở khu vực bên trong hoặc gần máy dò, IceCube sẽ đánh giá và ước lượng hướng di chuyển và năng lượng của các hạt neutrino.  Kết quả cho thấy, số lượng hạt neutrino mang năng lượng cao đi xuyên qua Trái đất tới máy dò IceCube ít hơn số lượng hạt neutrino đến từ lối đi ít bị cản trở theo chiều ngang. Hầu hết hạt neutrino được ghi nhận bởi máy dò IceCube trong nghiên cứu này có năng lượng cao hơn hàng triệu lần so với các hạt neutrino sinh ra từ Mặt trời hoặc nhà máy điện hạt nhân. Chúng hình thành trong bầu khí quyển của Trái đất thông qua một quá trình bắt nguồn từ tia vũ trụ hoặc các nguồn chưa được biết đến bên ngoài khí quyển Trái đất.               Quốc Hùng dịch  Nguồn: http://www.bbc.com/news/science-environment-42083258    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái đất lâm bệnh      Trái đất đang lâm bệnh; Trái đất đang cạn kiệt; chúng ta là những thế hệ cuối cùng có khả năng ngăn chặn sự phá hủy sinh vật sống; hạn hán, bão lũ sẽ xảy ra thường xuyên hơn do sự nóng lên của hành tinh… Những nhận xét và dự báo này khiến nhiều người hoảng hốt. Liệu con người có đủ thông thái để bảo vệ cái nơi ẩn náu của mình trong mênh mông vũ trụ? Chưa ai dám chắc, nhưng có thể khẳng định rằng con người có cơ hội, vì con người có hai phẩm chất tuyệt vời: trí tưởng tượng và khả năng thích nghi.    Khí hậu nóng lên          Nhiệt độ toàn cầu tăng lên 0,60C từ một thế kỷ nay đẩy nhanh quá trình bốc hơi nước mặt, đặc biệt là nước biển, và làm đảo lộn toàn bộ cỗ máy thời tiết. Các hiện tượng khắc nghiệt như hạn hán, bão lũ (trong ảnh là thành phố New Orleans ngập chìm trong nước sau khi cơn bão Katrina tràn qua) có nguy cơ trở nên thường xuyên và nguy hiểm hơn.          Từ 50 năm nay, bùng nổ dân số và công nghiệp hóa đã làm đảo lộn những cân bằng của hành tinh. Theo các nhà khoa học, có một điều chắc chắn: nhiệt độ sẽ tăng lên! Các nhà nghiên cứu của Nhóm liên chính phủ các chuyên gia về diễn biến thời tiết (Giec) dự báo rằng từ nay đến năm 2100, nhiệt độ trung bình của hành tinh xanh sẽ tăng từ 1,40C-5,80C. Sự ấm lên này sẽ lớn hơn trong các vùng hàn đới, ôn đới và xích đạo. Tại Pháp, nếu nhiệt độ trung bình tăng 30C, thì thực vật và động vật phải thích nghi, dịch chuyển xa 300km về phía bắc, hoặc biến mất. Nước sẽ dâng cao trong các cửa sông. Miền Nam trở nên ngày càng khô hơn. Trong miền Đông, mùa hè nóng hơn xen lẫn với những mùa đông lạnh hơn. Cứ hai mùa hè lại có một mùa hè xảy ra nóng bức trên 400C.  Thủ phạm của sự nóng lên nhanh chóng này không phải ai khác mà chính là con người. Con người đã và đang thải ra những lượng lớn khí gây hiệu ứng nhà kính, những khí có tính chất giữ lại trong khí quyển nhiệt lượng mặt trời. Nồng độ khí cacbonic (CO2), sinh ra khi đốt cháy các năng lượng hóa thạch (dầu, khí tự nhiên và than), ngày nay đã đạt tới mức kỷ lục. Mặc dù Nghị định thư Kyoto (1997) đã được nhiều nước phê chuẩn và áp dụng, nhưng dự báo lượng khí thải vẫn sẽ tăng do tăng trưởng của các nước đang phát triển (80% dân số thế giới). Lượng khí thải tính trên đầu người của Trung Quốc thấp hơn của Mỹ từ 10-15 lần. Điều này khiến người ta lo ngại rằng, trong trường hợp đất nước hơn một tỷ dân này đuổi kịp Mỹ về kinh tế, thì ô nhiễm sẽ còn tăng mạnh hơn nữa. Rất may, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có những biện pháp cứng rắn và khá hiệu quả trong việc hạn chế ô nhiễm, chẳng hạn như xây dựng một công viên 70.000 taxi điện chào mừng Olympic Bắc Kinh 2008.  Ô nhiễm không khí  Theo Bộ Sinh thái Pháp, tại nhiều thành phố của đất nước hình lục lăng, mức dioxit lưu huỳnh (khí thải của các nhà máy nhiệt điện) đã giảm 10% mỗi năm từ 7 năm nay, chì đã gần như biến mất khỏi không khí (từ khi chì bị loại khỏi xăng), nồng độ dioxit nitơ (chủ yếu do vận tải đường bộ) cũng đã giảm 20% trong sáu năm qua, nhưng vẫn cao hơn các mục tiêu đề ra, đặc biệt ở Paris. Bên cạnh đó, nhiều điểm tối vẫn tồn tại dai dẳng và có nguy cơ tăng lên. Chẳng hạn như các hạt siêu mịn do các động cơ diesel thải ra. Nồng độ trung bình ozone cũng tăng lên hằng năm, từ 3,5mg/m3 năm 1994 lên hơn 50mg/m3 hiện nay. Dù tại tất cả các nước thuộc liên minh Châu Âu, chất lượng không khí đã được cải thiện rõ rệt, nhưng vẫn còn xa mới đáp ứng được yêu cầu. Tình hình khó khăn hơn trong các thành phố lớn của các nước đang phát triển, đặc biệt trong các vùng nhiệt đới. Tại Manila, nồng độ chì cao hơn 400% mức cho phép. Các thành phố có mức độ ô nhiễm nhất là: Bắc Kinh, Cairo, Jakarta, Mexico, São Paulo và Los Angeles. Theo tổ chức Y tế Thế giới, ô nhiễm không khí là nguyên nhân của 2,7% số bệnh tật trên toàn thế giới: khó thở, ung thư và chậm phát triển ở trẻ nhỏ.  Thiếu nước  Nông nghiệp tiêu thụ 70% nước ngọt, vượt xa so với công nghiệp (22%) và sinh hoạt gia đình (8%). Hiện nay, cuộc tranh luận về nước tại nhiều quốc gia đặt câu hỏi: liệu người ta có phải từ bỏ các canh tác sử dụng nhiều nước như lúa nước (vài trăm lít cho 1kg thóc) hay đưa ra một chương trình giữ nước để tiếp tục tưới tiêu trên quy mô lớn? Về phần nước sạch, nỗi lo không phải là việc cung cấp, mà là sự ô nhiễm các trữ lượng nước ngầm: 60% các điểm khai thác bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu. Vì vậy nông nghiệp phải chịu sức ép thay đổi các phương thức canh tác.         BÀI HỌC LỊCH SỬ  Đế chế La Mã diệt vong do ô nhiễm?  Nhiều sử gia khẳng định rằng chính ô nhiễm đã gây ra sự sụp đổ của Đế chế. Sự nhiễm độc chì rất có hại cho máu mà các triệu chứng của nó là đau bụng dưới, bất lực, vô sinh, điên loạn… Vậy mà, thành Roma cổ lại rất thích sử dụng chì. Kim loại mềm và có thể ôxy hóa này được sử dụng khắp nơi: trong các đường ống dẫn nước cũng như trong các đồ dùng bếp núc. Ngoài ra, người ta còn sử dụng chì để sản xuất thuốc nhuộm tóc, thuốc diệt tinh trùng và cả vòng tránh thai. Nghiêm trọng hơn, chì còn được dùng để làm tăng vị cho rượu và các món ăn. Trong thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, cùng thời gian với tầng lớp quý tộc chìm trong các cuộc chè chén ở đó chì được sử dụng rất nhiều, sự vô sinh và chứng ngu độn đã trở thành thảm họa. Hành động điên rồ của Caligula (37-41 sau CN) có thể được giải thích bằng việc ông đã bị nhiễm chì quá nặng. Commode (180-192 sau CN) có trong vườn cả một thùng rượu để lúc nào cũng có thể say khướt. Và khi hoàng đế uống, thì toàn thành Rome cũng chạm cốc…        Khó khăn còn nằm ở chỗ nước phân bố rất không đều và trở thành vấn đề sống còn tại nhiều nước. Hiện nay, 1,4 tỷ người không được tiếp cận thường xuyên với nước sạch. Hậu quả là dịch tả, thương hàn và ỉa chảy vẫn thường xuyên xảy ra. Nếu cơ sở hạ tầng nước không được cải thiện thì năm 2030 sẽ có 3 tỷ người không có nước sạch để dùng. Lúc đó liệu có còn đủ nước cho nông nghiệp tại các nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao hay không? Nhân loại hiện đang sử dụng 54% trữ lượng nước ngọt tiếp cận được. Con số này sẽ lên tới 90% vào năm 2030. 50% các hồ, đầm và ao đã biến mất từ một thế kỷ nay và rất nhiều tầng nước ngầm, tại Bắc Mỹ và Trung Đông, sẽ cạn kiệt trong 25 năm tới.  Nông nghiệp tiêu thụ 70% nước ngọt, vượt xa so với công nghiệp (22%) và sinh hoạt gia đình (8%). Hiện nay, cuộc tranh luận về nước tại nhiều quốc gia đặt câu hỏi: liệu người ta có phải từ bỏ các canh tác sử dụng nhiều nước như lúa nước (vài trăm lít cho 1kg thóc) hay đưa ra một chương trình giữ nước để tiếp tục tưới tiêu trên quy mô lớn? Về phần nước sạch, nỗi lo không phải là việc cung cấp, mà là sự ô nhiễm các trữ lượng nước ngầm: 60% các điểm khai thác bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu. Vì vậy nông nghiệp phải chịu sức ép thay đổi các phương thức canh tác.Khó khăn còn nằm ở chỗ nước phân bố rất không đều và trở thành vấn đề sống còn tại nhiều nước. Hiện nay, 1,4 tỷ người không được tiếp cận thường xuyên với nước sạch. Hậu quả là dịch tả, thương hàn và ỉa chảy vẫn thường xuyên xảy ra. Nếu cơ sở hạ tầng nước không được cải thiện thì năm 2030 sẽ có 3 tỷ người không có nước sạch để dùng. Lúc đó liệu có còn đủ nước cho nông nghiệp tại các nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao hay không? Nhân loại hiện đang sử dụng 54% trữ lượng nước ngọt tiếp cận được. Con số này sẽ lên tới 90% vào năm 2030. 50% các hồ, đầm và ao đã biến mất từ một thế kỷ nay và rất nhiều tầng nước ngầm, tại Bắc Mỹ và Trung Đông, sẽ cạn kiệt trong 25 năm tới.          Cây trồng trái vụ gây ô nhiễm hơn cây bình thường, do phải sử dụng thuốc sâu và nhiều phân bón hơn.          Đa dạng sinh học bị đe dọa  Theo Liên minh thiên nhiên thế giới (UICN), khoảng từ 50-300 loài sinh vật sống biến mất mỗi ngày. Trước mắt, một phần tư số loài động vật có vú, một phần tám số loài chim và một phần ba số loài lưỡng cư bị đe dọa. Ô nhiễm, khí hậu nóng lên, môi trường sống tự nhiên mất cân bằng: các hoạt động của con người là nguồn gốc của những hiện tượng này. Phải chăng chúng ta đang ở ngay trước cuộc đại diệt thứ sáu, tương đương với cuộc đại thảm sát từng làm tuyệt chủng loài khủng long? UICN đã lập một danh sách đỏ 15.589 loài đang gặp nguy hiểm. Sự biến mất của các loài có hậu quả gì đối với cuộc sống của con người? Jacques Weber làm việc tại Trung tâm hợp tác quốc tế nghiên cứu nông học vì sự phát triển giải thích: “Sự biến mất một loài tự bản thân nó không đặt ra vấn đề. Tuy nhiên, bằng một hiệu ứng dây chuyền, nó sẽ có những tác động đến toàn bộ hệ sinh thái gắn với nó”.          Tháng 6.2005, Trạm khí tượng Nendaz-Mont-Fort, Thụy Sỹ đã đưa ra một quyết định táo bạo: “bọc” các tảng băng tuyết ở Tortin để chúng không bị tan chảy.          Chẳng hạn, số loài thực vật phải ký sinh trong bộ máy tiêu hóa của voi để nảy mầm. Nếu voi biến mất, số các loài này sẽ bị đe dọa. Tương tự, sự tuyệt chủng của loài rong rơm, các loại thực vật dưới biển có lá cao, sẽ làm đảo lộn sự hoạt động của 500 loài khác. Con người cũng cần đa dạng sinh học để sống. Từ các vi khuẩn, cho phép dạ dày người hoạt động, cho tới các loại thảo dược. Vấn đề: từ mức độ phá hủy loài nào con người sẽ bị đặt vào vòng nguy hiểm?  Thay đổi cách sống ?  Tiết kiệm điện là việc đầu tiên phải nghĩ tới. Một ngày nào đó những chiếc cravat sẽ bị cấm, ít nhất vào mùa hè? Tại sao không, nếu tính đến thành công của chiến dịch “Cool Biz” phát động từ mùa hè năm 2005 tại Nhật Bản. Mục đích của chiến dịch: khuyến khích nhân viên văn phòng không đeo cravat và mặc đồ rộng để tiết kiệm điện dùng cho quạt và máy điều hòa. Bộ trưởng Môi trường Nhật Bản đồng thời khuyến nghị chỉ nên bật điều hòa phòng ở mức 280C.        NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI  6 triệu hecta đất màu mỡ sẽ biến thành sa mạc mỗi năm. 4 tỷ hecta bị đe dọa, tức là một phần ba diện tích đất của hành tinh.  27 triệu kilômét vuông, đó là kích thước của lỗ thủng tầng ôzôn đo được tháng 9 năm 2005 trên Nam Cực.  14,6 triệu hecta rừng bị tàn phá mỗi năm, tức là bằng diện tích của nước Hy Lạp. Trong khi đó chỉ có 3,6 triệu hecta được trồng lại hoặc do sinh sản tự nhiên.  160.000 tỷ USD là chi phí cho các hệ thống dẫn nước sạch và lọc nước cần cho toàn nhân loại.  11-9cm từ nay đến năm 2100, là mực nước biển tăng do sự tan chảy của các khối băng cực, ảnh hưởng đến 20% dân số thế giới. Sự tăng mực nước biển do vệ tinh Topex-Poséidon tính toán hiện là 1mm mỗi năm, nhưng sẽ tăng lên 5mm mỗi năm trong vài năm tới.         Nhờ có kỷ luật của các doanh nghiệp và nhân viên, tập đoàn điện Tepco (Tokyo Electric Power) đã có thể công bố tiết kiệm được 70 triệu kWh, tức là mức tiêu thụ điện của 240.000 hộ gia đình trong một tháng… Đó là một  hành động nhỏ, nhưng tương lai của chúng ta sẽ được tạo ra từ những điều chỉnh nhỏ dần dần hơn là các cuộc cách mạng lớn.  Hạn chế đi lại bằng đường không cũng là một giải pháp vì máy bay là một phương tiện vận tải gây ô nhiễm nhất: một chuyến bay khứ hồi Paris-New York sinh ra lượng CO2 lớn hơn một chiếc ôtô chạy trung bình trong một năm. Liên minh Châu Âu đã đưa ra mức quota thải khí CO2 đối với các hãng hàng không. Mỗi hãng được cấp một lượng nhất định “ô nhiễm được phép”; những hãng không sử dụng hết quyền của mình có thể bán cho các hãng khác vượt quá chỉ tiêu. Theo Ủy ban Châu Âu, việc này sẽ làm cho mỗi vé tăng thêm 9 euro.  Song song với việc tiết kiệm năng lượng để bảo vệ môi trường thì chế tài xử phạt các hành vi phá hủy môi trường cũng cần được đề cao. Hiện nay, Châu Âu đã quyết định có thể đưa ra hình thức phạt tù đối với những người gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Châu Âu đã đi theo mô hình của Áo, nơi có một hệ thống pháp luật về môi trường rất chặt chẽ và nghiêm khắc. Những ai cố tình gây ô nhiễm môi trường (ví dụ đổ dầu xuống biển) từ nay sẽ bị coi là một tội ác, chứ không phải là một tội nhẹ nữa: những người phạm tội này có thể sẽ phải ngồi tù.            Đám mây đioxit nitơ lớn nhất trên bầu trời phía Bắc Trung Quốc. Sinh ra bởi các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than và khí thải của động cơ, đám mây này đã to thêm 50% trong vòng 10 năm qua.            Đây không phải là một biện pháp có tính chất khuyến nghị, mà có tính cưỡng chế buộc các nước của Liên minh phải sửa đổi luật quốc nội. Và, Vatican đã đi đầu trong việc tuân thủ quy định này: một tòa án của Vatican đã kết tội hai lãnh đạo của Radio Vatican, trong đó có Hồng y Tucci, 84 tuổi, 10 ngày tù giam vì tội gây “ô nhiễm âm thanh”. Trên thực tế, hai bị cáo đã sử dụng các máy phát thanh vượt quá công suất cho phép.  Những ý tưởng mới để chăm sóc hành tinh  Nếu sự phát triển công nghiệp tiếp tục với nhịp độ hiện nay, nếu mức tiêu dùng của toàn nhân loại cao bằng mức tiêu thụ của người phương Tây, thì một hành tinh sẽ không đủ cho chúng ta nữa, mà ít nhất phải có ba hành tinh. Trước tình hình này, một giải pháp logic cần phải được đưa ra: tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bổ sung các nguồn năng lượng hóa thạch bằng các năng lượng “sạch”. Đó được gọi là “phát triển bền vững”, cụm từ bấy lâu người ta rất thích sử dụng nhưng chẳng mấy ai làm được. Hiện nay, một lý thuyết mới của Mỹ gọi là “chủ nghĩa tư bản tự nhiên” dựa trên phát triển bền vững đang gây được nhiều chú ý. Ý tưởng là coi tự nhiên như một nguồn tư bản cần được quản lý hiệu quả nhất có thể. Mục đích: sản sinh ra nhiều hơn bằng cách sử dụng ít hơn nguyên liệu và giảm thiểu việc sinh ra chất thải. Một phép màu? Amory Lovins, lý thuyết gia của phong trào và tác giả của Chủ nghĩa tư bản tự nhiên (Natural capitalism, Nxb Back Bay Books), nêu lên một cuộc cách mạng công nghiệp mới. Thách thức đầu tiên: tiêu thụ ít dầu và than hơn. Ông giải thích, năng lượng bị lãng phí ở tất cả các công đoạn: sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Chẳng hạn, một nhà máy nhiệt điện lãng phí 70% nhiệt lượng trong quá trình chuyển hóa nhiên liệu hóa thạch thành điện. Vậy mà, chỉ cần nâng cao khả năng cách nhiệt của các nhà máy nhiệt điện là đã có thể giảm ít nhất 20% lãng phí này. Nhiệt bị tiêu tan ở các nhà máy nhiệt điện ở Mỹ cao hơn 20% toàn bộ năng lượng tiêu thụ ở Nhật Bản. Nếu tránh được lãng phí này, nguồn năng lượng tiết kiệm được có thể dùng để sưởi ấm vào mùa đông. Phải chăng nó cần các khoản đầu tư khổng lồ? Không. Trước mắt, đầu tư để tiết kiệm nhiên liệu rẻ hơn việc mua nhiên liệu với giá ngày càng tăng.  Hơn nữa, 10% năng lượng tiêu tan trong quá trình vận chuyển trong mạng phân phối, và hơn một nửa trong số 90% còn lại biến mất bởi lỗi của các thiết bị không được chế tạo hoàn hảo, các hệ thống cách nhiệt hoạt động kém hoặc các thói quen không phù hợp. Lovins đã đánh giá rằng bằng cách tấn công vào lãng phí ở tất cả các công đoạn thì có thể nhân lên gấp bốn lần hiệu năng của tài nguyên thiên nhiên. Và như vậy là giảm ô nhiễm bốn lần. Một ví dụ, từ 10 năm nay, tập đoàn đa quốc gia DuPont của Mỹ đã tìm cách hạn chế lãng phí năng lượng ở tất cả các cấp độ. Trong thời gian này, mức tiêu thụ năng lượng của tập đoàn đã giảm 7% và các lượng khí gây hiệu ứng nhà kính giảm 72%. Năng suất cũng tăng 30%.  Ý tưởng quan trọng thứ hai là “sinh thái học công nghiệp”. Đây thực chất là việc xây dựng các hệ thống sản xuất như các hệ sinh thái. Người ta bắt chước các chu trình của tự nhiên bằng cách tạo ra các vòng khép kín ở đó tất cả các chất thải đều được tái sử dụng. Các chất thải của nhà máy này có thể trở thành nguyên liệu của nhà máy kia; nhiệt tỏa ra bởi một cỗ máy có thể trở thành nguồn sưởi ấm; một lượng nước nhất định có thể được sử dụng trong nhiều nhà máy… Các ưu điểm của phương pháp này vừa mang tính kinh tế (giảm chi phí), vừa mang tính sinh thái (giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính). “Công viên sinh thái” Kalundborg, gần Copenhague         “Nước ảo” cứu giúp các nước khô hạn  Để sản xuất ra một kilogram lúa mì, cần phải có 1000 lít nước. Các chuyên gia đã nghĩ ra một từ để chỉ lượng nước không tồn tại trong sản phẩm (hạt ngô) mà được sử dụng trong quá trính sản xuất ra nó, là “nước ảo”. Nước ảo làm xuất hiện sự phân biệt giữa các nước xuất khẩu và các nước nhập khẩu nước. Mỹ, nước có các nguồn tài nguyên nước dồi dào, đang bị cạn dần trữ lượng của mình khi dành 1/15 lượng nước sử dụng được của mình cho canh tác nông nghiệp xuất khẩu. Ngược lại, Trung Quốc và Nhật Bản, những nước nhập khẩu lớn lương thực và thực phẩm, và như vậy là nước ảo, tiết kiệm được nguồn tài nguyên nước thực của mình. Đo những trao đổi quốc tế trong lĩnh vực này cho phép dự báo được các nạn thiếu nước trong tương lai. Vì cần phải có 1000 tấn nước để thu được một tấn lúa mì, nên nhập khẩu một triệu tấn lúa mì cũng có nghĩa là nhập khẩu một tỷ tấn nước. Thật vậy, năm 2000, các nhập khẩu ngô đã cho phép Ai Cập tiết kiệm được 2,7 tỷ mét khối nước. Việc này khong chỉ liên quan đến canh tác nông nghiệp: cần phải có 4000 lít nước để tạo ra được một chiếc áo phông và 35.000 lít để tạo ra được một chiếc xe hơi.          (Đan Mạch), là hình mẫu tiêu biểu của một sự cộng sinh công nghiệp như vậy. Tổng cộng, người ta đã thống kê được 19 trao đổi giữa các nhà máy. Nhà máy lọc dầu cung cấp nước thải để làm lạnh cho nhà máy nhiệt điện. Nhà máy nhiệt điện bán hơi nước cho ba nhà máy và thành phố dùng để sưởi ấm, và nước nóng cho một trang trại nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, nhà máy điện còn tiến hành khử sunfua của các khí thải để tạo ra thạch cao (lưu huỳnh+vôi) và bán cho một công ty chế tạo tấm đúc xây dựng. Công ty xây dựng này đã có thể ngừng nhập thạch cao tự nhiên từ Tây Ban Nha… Tổng cộng, các tiết kiệm đã cho phép giảm 20.000 tấn dầu, 200.000 tấn thạch cao và 2,9 triệu mét khối nước. Các khoản đầu tư cho kỹ thuật này được khấu hao hết sau 5 năm.  “Chủ nghĩa tư bản tự nhiên” đã được ứng dụng tại nhiều nhà máy tiên phong. Nó dựa vào tiến bộ, đặc biệt là tiến bộ công nghệ, để giải quyết các vấn đề về tiếp liệu và ô nhiễm, tạo thêm tiện nghi cho xã hội tiêu dùng hiện đại. Đây chính là nguyên nhân khiến các nhà sinh thái học cấp tiến phản đối: và nếu, rốt cuộc, các lợi ích thu được chỉ làm tăng thêm sản xuất, và như vậy là ô nhiễm thì sao? Đó là “hiệu ứng bóng nảy”, theo đó mọi lợi ích sinh thái có nguy cơ bị triệt tiêu bởi sự gia tăng còn lớn hơn lượng tiêu thụ. Theo lập luận này, đưa vào thị trường các ôtô sử dụng ít xăng hơn sẽ khuyến khích việc sử dụng nhiều ôtô và kết cục là mức độ ô nhiễm vẫn không những không giảm mà còn tiếp tục tăng.Các đối thủ của “chủ nghĩa tư bản tự nhiên” và của phát triển bền vững cũng đưa ra giải pháp của riêng mình, hà khắc hơn, đó là “giảm tăng trưởng”. Những người “giảm trưởng” này muốn gì? Đoạn tuyệt với phát triển chăng? Họ dựa vào các nghiên cứu của nhà kinh tế học Nicholas Georgescu Roegen, mất năm 1994. Roegen đã trở thành cha đẻ của “kinh tế sinh thái” bằng cách gắn cho môi trường các nguyên tắc của nhiệt động học, được Sadi Carnot phát triển năm 1824: một cỗ máy không bao giờ có thể tạo ra toàn bộ năng lượng mà nó đã tiêu thụ. Tương tự, con người sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không thể tái tạo được như ban đầu. Cuồng nhiệt chạy theo tăng trưởng đã làm cạn kiệt các nguồn năng lượng đồng thời làm ô nhiễm không khí và nước. Vì vậy, cần phải sản xuất ít hơn và tiêu thụ ít hơn: giảm thời gian lao động, sản xuất thủ công chứ không sản xuất công nghiệp hàng loạt, nông nghiệp sinh thái chứ không canh tác công nghiệp và thâm canh, sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh chứ không sử dụng năng lượng hóa thạch…  Những người bảo vệ môi trường mạnh mẽ nhất đã áp dụng tư tưởng này trong cuộc sống hằng ngày của họ: không đi máy bay và ôtô, vứt bỏ vô tuyến, tủ lạnh vào thùng giác và tích cực làm vườn. Tuy nhiên, tư tưởng này không thể đứng vững. Bởi lẽ, giảm tiêu thụ nghĩa là cầu giảm, mà cầu giảm thì cung không thể tăng, và như vậy dẫn đến trì trệ về kinh tế. Những người “giảm trưởng” thừa nhận rằng việc ứng dụng các tư tưởng của họ trên toàn cầu chắc chắn không thể xảy ra trong nay mai. Nhưng họ nhấn mạnh rằng tư tưởng này có thể áp dụng được cho từng cá nhân, ngay hôm nay: tại sao lại không đi ôtô chung, hoặc đi xe bus thay vì mỗi người một xe? Tại sao không sửa các máy móc có thể sửa thay vì vứt đi mua cái mới, sử dụng đồ dùng nhiều lần thay vì dùng đồ một lần…?     Anh Thư    Nguồn tin: Theo Ca m’intéresse          Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái đất vừa trải qua năm năm nóng nhất      Là đánh giá tổng quan toàn diện về mức độ và tốc độ biến đổi của khí hậu toàn cầu, dựa trên những dữ liệu mới nhất từ các lĩnh vực khoa học khí hậu, “Tuyên bố về Tình trạng Khí hậu toàn cầu” của tổ chức Khí tượng thế giới cho thấy nồng độ khí nhà kính vẫn đang tiếp tục tăng và năm năm qua là quãng thời gian nóng nhất từng được ghi nhận từ trước đến nay.      Một năm kỷ lục  Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2019 đã cao hơn 1,1oC so với mức nhiệt ở thời kỳ tiền công nghiệp. Năm 2016 là năm duy nhất nóng hơn năm vừa qua, tuy nhiên năm này diễn ra vào cuối giai đoạn El Nino cực đoan. Các khu vực đặc biệt nóng, bao gồm các vùng của Australia, Alaska, Bắc Nga, Đông Âu và Nam Phi, có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ trung bình 2oC.  Nguyên nhân chủ yếu cùa những biến đổi khí hậu do con người gây ra nằm ở sự gia tăng khí nhà kính trong bầu khí quyển. Nồng độ của ba loại khí nhà kính mạnh nhất bao gồm carbon dioxide (CO2), methane (CH4) và nitrous oxide (N2O) hiện vẫn tiếp tục tăng lần lượt ở mức là 147%, 259% và 123% so với mức được đo vào năm 1750 ở thời kỳ tiền công nghiệp. Lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu từ nhiên liệu hóa thạch đã đạt mức cao kỷ lục là 36,6 tỉ tấn.  Lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực thì ở mức nhỏ nhất kể từ năm 2002, sau sự tan vỡ bất thường vào đầu mùa xuân của xoáy cực Nam Cực.   Nhiều chỉ báo khác về biến đổi khí hậu quy mô lớn cũng đã tiếp tục thể hiện các xu hướng dài hạn trong năm 2019, trong đó bao gồm hàm lượng nhiệt của đại dương toàn cầu. Mực nước biển trung bình toàn cầu cũng đạt một mức cao mới vào năm 2019, trong khi lượng băng ở Bắc Cực và Nam Cực thấp hơn mức trung bình. Khối lượng băng cũng đã giảm trong 32 năm liên tiếp.   Các vụ cháy và hạn hán ở Australia  Báo cáo đã xác nhận tình trạng hạn hán đang diễn ra tại Australia và những điều kiện thời tiết gây cháy khác thường vào cuối năm là hai trong những sự kiện khí hậu toàn cầu quan trọng nhất trong năm vừa qua.  Năm 2019 là năm đầu tiên Australia phá vỡ cả hai kỷ lục nóng nhất và khô hạn nhất trong lịch sử thời tiết từng được ghi nhận ở quốc gia này. Trong tháng 12, chỉ số nguy hiểm về mức độ cháy rừng tích lũy hàng tháng – một chỉ báo về thời tiết gây cháy rừng nghiêm trọng – đạt mức cao nhất từng được ghi nhận ở Queensland, New South Wales, Nam Australia và lãnh thổ thủ đô Australia. Có một số vụ cháy kéo dài hơn hai tháng.  Mùa hè khô hạn ở Tasmania đã góp phần gây ra các đám cháy trong tháng 1 và tháng 2/2019 ở khu vực trung tâm và khu vực phía tây mà bình thường vốn ẩm ướt. Đây là lần thứ 2 trong vòng bốn năm qua, các đám chảy xuất hiện ở những khu vực từng hiếm khi xảy ra cháy.  Những cơn sóng nhiệt và lốc xoáy  Hai đợt sóng nhiệt bất thường đã xuất hiện vào mùa hè ở châu Âu. Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan và Anh đã dẫn đến mức nhiệt cao nhất trong lịch sử của mình. Cả Bỉ và Hà Lan đều lần đầu tiên đạt nhiệt độ 40oC, trong khi đó Pháp đạt mức nhiệt độ 42,6oC.  Australia đã có những đợt sóng nhiệt khắc nghiệt ở cả đầu năm và cuối năm, còn ở Nam Mỹ, mức nhiệt cũng đã vượt quá 30oC về phía Nam Tierra del Fuego.  Những cơn lốc xoáy nhiệt đới là một trong những hiện tượng thời tiết có khả năng tàn phá lớn nhất. Idai là cơn bão lốc có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất khi đổ bộ vào Mozambique và Zimbabwe vào giữa tháng Ba và cướp đi sinh mạng của hơn 900 người. Dorian, một trong những cơn bão mạnh nhất từng xuất hiện ở vùng đất ở Bắc Đại Tây dương, đã phá hủy Bahamas còn cơn bão Hagibis đã gây nên một trận lụt hiếm có tại Nhật Bản với lượng mưa hàng ngày lên tới hơn 900mm. Bắc Ấn Độ Dương cũng đã ghi nhận một mùa bão mạnh nhất từ trước đến nay.  Nhìn về tương lai  Các dự báo khí hậu toàn cầu đã cho thấy ở tất cả các kịch bản, nhiệt độ trái đất sẽ tiếp tục tăng lên và những năm như năm 2019 sẽ trở thành “chuẩn mực” trong thập kỷ này.  Báo cáo được đưa ra nhằm cung cấp thông tin các quyết định về việc thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu trên toàn thế giới.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-03-years-warmest.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trái tim biết kể của Frédéric Chopin      Trái tim Frédéric Chopin, nhà soạn nhạc Ba Lan thời kỳ Lãng mạn vẫn còn lưu giữ nhiều bí ẩn, cho dù các nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu về nó.      Cột đá trong nhà thờ Thánh Giá ở Warsaw lưu giữ trái tim Chopin.  Chúng ta đều biết nhà văn Mỹ Edgar Allen Poe (1809-1849) là bậc thầy của truyện kinh dị. Tác phẩm ông sáng tác năm 1843, The Tell-Tale Heart (tạm dịch Trái tim kể tội), là một chuyện kể mang màu sắc Gothic kinh dị cổ điển với những tội lỗi và sợ hãi: một kẻ giết người bị ám ảnh bởi tiếng tim đập tưởng tượng của nạn nhân bị gã cắt rời thân thể.  Các tác phẩm piano của Frédéric Chopin (1810-1849), người sống cùng thời kỳ với Edgar Allen Poe, cũng có xu hướng đem lại những ám ảnh cuốn hút cho người nghe. Tuy nhiên, những chuyện diễn ra sau khi nhà soạn nhạc qua đời lại khiến người ta cảm thấy bất ngờ và thậm chí, các chuyên gia cũng phải bối rối suốt hơn một thế kỷ. Mới đây, các nhà khoa học Ba Lan đã tuyên bố là giải quyết được “huyền thoại” này trong một báo cáo vốn được nhiều người mong đợi: giáo sư Michał Witt, làm việc tại Viện nghiên cứu Gene người, Viện Hàn lâm KH Ba Lan (IHG PAS) ở Poznan và cộng sự công bố “Một cái nhìn gần hơn về trường hợp cái chết của Chopin” (A Closer Look at Frederic Chopin’s Cause of Death) trên tạp chí The American Journal of Medicine (hiện có trên trang http://doi.org/cfpt). Theo nghiên cứu, nhà soạn nhạc hầu như qua đời vì biến chứng của bệnh lao. Bằng chứng ư? Các nhà khoa học đã nghiên cứu “trái tim biết kể” của chính Chopin.  Chuyện hậu sự kinh dị của Chopin bắt đầu với những dòng chữ cuối cùng của ông được ghi lại: “Hãy thề là để họ cắt tôi thành khúc, để tôi không bị chôn sống”. Đúng như tên gọi của mình, Taphephobia là chứng ám ảnh về nỗi sợ bị chôn sống được phát hiện vào thế kỷ 19 (Alfred Nobel và nhiều người khác cũng mắc hội chứng này), một số quan tài đã được lắp thêm chuông để có thể “báo động” khi có cử động bên trong – dấu hiệu cho thấy có thể sự sống trở lại. Ludwika Jędrzejewicz, chị gái Chopin, đã tìm cách lấy trái tim khỏi thi hài ông. Vì dẫu cho thi thể người em trai nổi tiếng của mình nằm trong nghĩa trang Lachaise tại Paris, thành phố nơi ông qua đời, bà đã cất trái tim ông vào một cái bình rượu (hầu như chắc chắn như vậy) và mang trở lại Warsaw, gần với Żelazowa Wola, nơi sinh của ông nhất.  Điều này không có gì quá đặc biệt. Việc lấy trái tim khỏi thi hài là một cách làm khá phổ biến, bởi vì thật khó để đưa thi hài của các bậc vua chúa hồi hương khi họ qua đời ở nước ngoài. (Trái tim của nhà văn Anh Thomas Hardy vẫn được cho là chôn cất tại vùng Dorset yêu dấu của ông ở Anh dẫu chonhững câu chuyện đồn đại kinh khủng là trái tim ông đã bị một con mèo… xơi mất, và con vật bất kính đó được chôn thế tại đó). Nhưng Chopin là danh nhân Ba Lan nên người ta muốn chắc chắn rằng trái tim của nhà soạn nhạc vẫn yên bình. Chị gái nhà soạn nhạc đã bí mật mang trái tim ông qua biên giới Nga để vào Ba Lan và sau đó cất giữ trong cột đá nhà thờ Thánh Giá ở Warsaw. Nhiều thập kỷ trôi qua, trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, trái tim Chopin được một sĩ quan SS yêu nhạc ông bảo vệ. Kết thúc chiến tranh, trái tim đã được trao trả về nhà thờ này vào năm 2014.  Sau đó, các nhà khoa học được mời tới dự một buổi kiểm tra chính thức chiếc bình và những gì chứa đựng trong đó. Buổi kiểm tra của họ tập trung vào việc tìm hiểu nhà soạn nhạc chết như thế nào và kết quả được thông báo một cách vắn tắt tới các nhà báo vài tháng sau. Những ghi chép về cuộc phẫu thuật lấy tim ban đầu này đã bị mất, và gần như một “viện hàn lâm” gồm nhiều lĩnh vực đã được thành lập chỉ để thảo luận là liệu Chopin bị lao hay vì loại bệnh hiếm gặp nào đó, có lẽ là một trường hợp sớm của bệnh xơ nang (cystic fibrosis). Bài báo xuất bản trên tạp chí The American Journal of Medicine đã mô tả khá chi tiết tình trạng của trái tim Chopin.  Cuộc phẫu thuật mà chị gái Chopin thực hiện là nguyên nhân dẫn đến sự tổn thương nghiêm trọng ở cả hai tâm nhĩ nhưng bài báo cho biết “với xác suất cao” là phần còn lại chứng tỏ rằng Chopin bị lao mãn tính, và nguyên nhân trực tiếp của cái chết là biến chứng nguy hiểm có tên gọi pericarditis – viêm màng ngoài tim.  Chopin không chỉ là “bóng ma” duy nhất mang theo nhiều bí mật từ quá khứ và trở thành trường hợp cho các nhà khoa học khám phá. Mộ họa sỹ Salvador Dalí mới được đào lên vào tháng 7 vừa qua, bộ râu nổi tiếng của ông được kể lại là không bị ảnh hưởng, để lấy mẫu kiểm chứng cho việc xác định mối quan hệ cha con (ông không có con); vào năm 2015, các nhà khoa học đã thực hiện nhiều kiểm chứng xương của nhà thơ giành giải Nobel văn chương năm 1971 Pablo Neruda để tìm chứng cứ cho giả thuyết ông bị nhà độc tài Chile Augusto Pinochet đầu độc vào năm 1973.  Hiện có một hướng mới trong câu chuyện trái tim của Chopin. Một vài học giả dường như chưa chắc chắn rằng trái tim người ta vẫn cất giữ thực sự là của nhà soạn nhạc, đề xuất xét nghiệm DNA để kiểm tra bệnh xơ nang cũng bị từ chối. Các nhà khoa học không được phép chứng kiến cuộc mở bình vào năm 2014 và giáo sư Michał Witt xác nhận, họ không muốn cho các nhà khoa học tiếp cận trái tim nhà soạn nhạc. Cơ hội tiếp theo sẽ là 50 năm sau ở lượt kiểm tra trái tim một lần nữa. Witt không chắc là mình sẽ có mặt để theo dõi sự kiện này nhưng ông vẫn cố gắng làm hơn những gì được ấn định: nhóm nghiên cứu được phép chụp ảnh trái tim và dẫu cho không được phép công bố chúng thì ông cũng dự định đưa các bức ảnh đó vào bản thảo cuối cùng. Do đó, toàn bộ câu chuyện về trái tim Chopin vẫn còn bỏ ngỏ.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/fr%C3%A9d%C3%A9ric-chopin-s-telltale-heart-1.22915    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trầm cảm sau sinh phổ biến tới mức nào?      Có tới 12% đến 20% phụ nữ có triệu chứng trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, rối loạn ám ảnh cưỡng chế hoặc kết hợp các rối loạn này trong hoặc sau thai kỳ. Điều đó ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất và tinh thần của người mẹ và trẻ như thế nào? Có thang đo sàng lọc nào? Dưới đây là hỏi đáp ngắn về sàng lọc trầm cảm trong thai kỳ và bệnh tâm lý của bà mẹ.      Có tới 12% đến 20% phụ nữ gặp phải các triệu chứng trầm cảm sau sinh. Ảnh: CNN.  Bệnh tâm lý bà mẹ là gì?  Bệnh tâm lý bà mẹ (maternal mental illness) có thể bao gồm loại bệnh được biết đến rộng rãi với tên gọi trầm cảm sau sinh (post-partum depression), nhưng cũng có thể mang hình thức lo âu, rối loạn lưỡng cực, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, và trong những ca hiếm gặp hơn là loạn thần. Một số rối loạn trong số này có thể diễn ra đồng thời và các triệu chứng có thể khác nhau từ trầm cảm trung bình đến ý nghĩ tự sát; hay từ lo lắng căng thẳng đến những viễn cảnh đáng sợ là làm hại đứa trẻ. Phần lớn phụ nữ không bao giờ làm hại con mình, nhưng sự căng thẳng của họ có thể làm giảm khả năng chăm sóc trẻ, và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cảm xúc (emotional well-being), hành vi xã hội và các kỹ năng nhận thức của trẻ.  Bệnh tâm lý bà mẹ xảy ra khi nào?  Trước đây, các bác sĩ thường cho rằng những rối loạn này bắt đầu trong vòng vài tuần sau khi sinh, nhưng những nghiên cứu mới cho thấy có đến một nửa số ca có triệu chứng bệnh tâm lý bà mẹ bắt đầu trong thai kỳ và có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian một năm sau khi sinh. Một số phụ nữ chỉ xuất hiện triệu chứng khi sinh con đầu, một số chỉ xuất hiện triệu chứng ở lần sinh tiếp theo, và một số xuất hiện triệu chứng trong mỗi lần mang thai.  Bệnh tâm lý bà mẹ có phổ biến?  Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy có tới 12% đến 20% phụ nữ gặp phải các triệu chứng trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, rối loạn ám ảnh cưỡng chế hoặc kết hợp các rối loạn này trong hoặc sau thai kỳ. Còn ở Việt Nam, một nghiên cứu được công bố từ năm 2015, khảo sát trên 600 phụ nữ có chồng sau sinh tại TP. Đà Nẵng, cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh là 19,3%.[1]  Nguyên nhân gây ra bệnh tâm lý bà mẹ là gì?  Các nhà khoa học cho rằng rất có thể nguyên nhân là sự tương tác giữa các gene, căng thẳng, và những hormone tăng lên trong thai kỳ và giảm đột ngột sau khi sinh. Một số phụ nữ có xu hướng di truyền phản ứng mạnh hơn với các biến động hormone, có người nhạy cảm hơn với căng thẳng liên quan đến gia đình, tài chính, công việc và các tình huống khác. Phụ nữ có tiền sử gia đình hoặc bản thân từng mắc trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác được xem là có nguy cơ mắc bệnh tâm lý bà mẹ cao hơn.  Ai có thể sàng lọc trầm cảm cho phụ nữ mang thai?  Sàng lọc trầm cảm có thể được thực hiện bởi bất cứ cơ sở y tế nào có đội ngũ bác sĩ được đào tạo có chuyên môn, bao gồm bác sĩ sản khoa và bác sĩ nhi khoa – các bác sĩ có cơ hội gặp phụ nữ thường xuyên trong và sau thai kỳ. Các bác sĩ trên có khả năng sàng lọc, đưa ra chẩn đoán và điều trị cho phụ nữ, hoặc giới thiệu phụ nữ đến nơi họ có thể được chẩn đoán và điều trị.  Quá trình sàng lọc trầm cảm được thực hiện như thế nào?  Phương pháp sàng lọc phổ biến nhất là Thang Trầm cảm Hậu sản Edinburgh (Edinburgh Postnatal Depression Scale) gồm 10 câu hỏi về các cảm giác buồn bã, lo lắng, hoảng loạn và sợ hãi, cũng như hỏi xem họ có khóc thường xuyên không, có vấn đề về giấc ngủ hay có ý nghĩ tự làm hại mình không. Sau khi sàng lọc, những người có điểm bằng hoặc trên 10 (thang 30 điểm) được xem là có nguy cơ trầm cảm, có điểm bằng hoặc hơn 13 điểm thường được xem là có nguy cơ trầm cảm nặng.  Bệnh tâm lý bà mẹ có chữa được không?  Có thể chữa được trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác. Việc điều trị với mỗi người mỗi khác và nên được điều chỉnh cho phù hợp với từng bệnh nhân. Báo cáo của Cơ quan Công tác Dịch vụ Dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) cho thấy liệu pháp hành vi nhận thức – một hình thức trò chuyện trị liệu – có hiệu quả trong điều trị, nhưng có bệnh nhân thấy thuốc hoặc các hình thức trò chuyện trị liệu khác cũng đem lại hiệu quả. Đối với vấn đề còn gây tranh cãi là phụ nữ có nên uống thuốc chống trầm cảm trong thai kỳ hay không, USPSTF cho rằng thuốc chống trầm cảm có thể “tiềm ẩn những tác hại nghiêm trọng đối với thai nhi,” nhưng “khả năng xảy ra những tác hại này là thấp.”  Nguyễn Huy Hoàng lược dịch.  Nguồn:  Pam Belluck, “Short Answers to Hard Questions About Postpartum Depression,” The New York Times, Jan. 26, 2016. Link: https://www.nytimes.com/interactive/2016/01/26/health/what-is-postpartum-depression-test.html  [1] Dương Thị Kim Hoa, Võ Văn Thắng, Trầm cảm sau sinh và các yếu tố liên quan ở phụ nữ có chồng tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Y học dự phòng, số 8/2015.    Author                Nguyễn Huy Hoàng        
__label__tiasang Trầm cảm và con mắt người ngoài cuộc      Xa l&#225;nh những kỷ niệm t&#237;ch cực v&#224; chỉ nhớ lại ch&#250;ng với con mắt của người ngo&#224;i cuộc: đ&#243; l&#224; một trong những rối loạn kỳ lạ nhất của những người mắc bệnh trầm cảm.    Buồn bã kiểu bệnh lý, thờ ơ, chậm chạp khi quyết định, mất cảm hứng hành động: khi có nhiều yếu tố nói trên cùng xuất hiện ở một người, thì đó là dấu hiệu của trầm cảm. Nhưng căn bệnh này còn có một đặc điểm khác: nó không chỉ khiến người bệnh rời xa những người thân xung quanh, mà còn xa lánh chính bản thân người đó. Bởi vì trí nhớ của họ vốn đã bị kém đi và thường ưu tiên cho những kỷ niệm đau buồn. Khi nhớ lại những kỷ niệm này, điều tệ hơn là người bệnh lại nhìn chúng với còn mắt của người chứng kiến bên ngoài, chứ hoàn toàn không phải người trong cuộc. Hiện tượng đặc biệt này thường được những người mắc bệnh trầm cảm kể ra và nó là một trong những rối loạn kỳ lạ nhất trong số các rối loạn về trí nhớ. Đây cũng chính là chủ đề của nhiều nghiên cứu mới đây trong lĩnh vực trí nhớ.                Người bị trầm cảm thường bị ảnh hưởng tới trí nhớ, đặc biệt là các hồi ức về những kỷ niệm        Ngay từ những năm 1960, các nghiên cứu khoa học đầu tiên nhằm xếp loại những thiếu hụt trong trí nhớ ở những người mắc bệnh trầm cảm đã được thực hiện. Năm 1964, Afred Friedman thuộc Đại học Philadelphia đã làm các nghiên cứu so sánh những người mắc bệnh trầm cảm nặng với những người bình thường[1]. Bệnh nhân và người thường được xếp đôi theo giới tính, tuổi, trình độ xã hội/học vấn, tôn giáo, nơi sinh và tình trạng hôn nhân. Tất cả phải trải qua một loạt các thử nghiệm, bao gồm 39 thử nghiệm khác nhau nhằm khám phá các chức năng của trí nhớ ngắn hạn cũng như dài hạn, khả năng trừu tượng, khả năng lập luận logic, các cảm nhận về sự khéo léo, sự nhanh nhạy về chức năng vận động tâm thần và khả năng tập trung. Kết quả: những bệnh nhân trầm cảm thường có trí nhớ ngắn hạn kém và giảm khả năng duy trì sự tập trung hoặc khả năng tập trung về một vấn đề gì đó. Tuy nhiên, các khả năng khác thì giống nhau giữa nhóm người bệnh trầm cảm và người bình thường. Những kết quả này đã được khẳng định thêm nhiều lần trong suốt 30 năm sau đó.[2]  3 dạng thiếu hụtRồi thì các nhà tâm lý học thần kinh đã cùng liên kết với nhau để tìm cách xác định chu kỳ bị ảnh hưởng trong tiến trình ghi nhớ người bệnh trầm cảm. Liệu đó có phải là giai đoạn giải mã, đóng vai trò ghi nhận và gìn giữ thông tin? Hay là giai đoạn hợp nhất cho phép sự lưu trữ tạm thời hoặc vĩnh viễn thông tin? Hay giai đoạn tái tạo thông tin, vốn là bằng chứng tồn tại của trí nhớ? Hay gồm nhiều giai đoạn trong số chúng?                  Não của người trầm cảmNhiều kỹ thuật chụp hình ảnh não đã chứng tỏ rằng trầm cảm liên quan tới các thay đổi ở não bộ. Người ta nhận thấy, một mặt là sự thay đổi cấu trúc: thường thấy nhất là sự giảm kích thước não ở vùng hải mã (hippocampe) và ở một số khu vực vỏ não trước. Sự suy giảm này tỉ lệ với thời gian và mức độ của các cơn trầm cảm. Mặt khác, bản thân não cũng có những thay đổi hoạt động ở một số khu vực. Người ta quan sát thấy ở những người trầm cảm thường có hoạt động mạnh một cách bất thường ở hạch hạch (amygdale), đồi não, hạch thần kinh cơ bản, và hoạt động yếu bất thường ở một số vùng não trước và vùng võ não ở thành thái dương. Nếu điều trị trầm cảm hiệu quả, những bất thường này sẽ bị đẩy lùi. Trong hình là ảnh chụp phát sáng positron, màu thẫm là hoạt động thấp bất thường ở vỏ não, phía trái là não người bị trầm cảm, phía phải là não người bệnh đang hồi phục.           Để biết được điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phương pháp, trong đó đại để là yêu cầu các bệnh nhân học một danh sách các từ vựng và tái tạo lại chúng trong nhiều bài tập khác nhau. Rồi họ đem so sánh kết quả thu được với những người không mắc bệnh.  Những nghiên cứu đa dạng khác nhau được thực hiện cho thấy nổi lên 3 loại khiếm khuyết chính.Thứ nhất, những người bệnh trầm cảm rất khó khăn trong việc sắp xếp các đồ vật trong danh sách (thí dụ như việc sắp nhóm những từ cùng một thể loại như tên các loại hoa quả, dụng cụ…). Hơn nữa, khi được đề nghị tái tạo lại danh sách các đồ vật đó, họ thường kể tên ra ít hơn so với những người bình thường không mắc bệnh. Cuối cùng, họ lại có thiên hướng nhớ một danh sách các đồ vật có giá trị xúc cảm tiêu cực hoặc trung tính hơn là những đồ vật mang lại giá trị xúc cảm tích cực. Còn một điều là nếu những người bị bệnh trầm cảm thực sự khó khăn trong việc tái tạo lại các thông tin đã được cung cấp, thì những khó khăn đó lại phụ thuộc vào cách người ta đặt câu hỏi cho họ để đánh giá khả năng nhớ của họ. Trên thực tế, chính cách đặt câu hỏi này, bản thân nó có thể ngăn chặn hoặc tạo điều kiện cho việc tiếp cận đến lối dẫn tới những kỷ niệm.  Nhớ tự doGhi nhận này đến một cách tự nhiên, sau khi người ta tiến hành các phép thử được gọi là “nhớ tự do” hay các phép thử “nhận biết lại”. Đối với phép thử “nhớ tự do”, người ta đưa cho những người tham gia thí nghiệm một danh sách các từ, sau đó yêu cầu họ tái tạo lại ngay lập tức danh sách các từ này: “Những từ có trong danh sách tôi vừa đưa cho quí vị là gì nhỉ?”. Còn đối với phép thử “nhận biết lại”, người ta lại đưa ra hai câu hỏi khác: “Quí vị đã nhìn thấy từ này trong danh sách đó không nhỉ?”, hay: “Trong hai từ này, từ nào quí vị đã thấy trong danh sách?”. Khi làm các bài tập dạng thứ hai, các bệnh nhân trầm cảm ít nhiều có kết quả giống với những người đối chứng trong thí nghiệm. Ngược lại, kết quả của họ tệ hơn nhiều trong các phép thử thứ nhất, “nhớ tự do”[3]. Dường như điều này là do trong các phép thử “nhận biết lại”, câu hỏi thường đưa ra một chỉ số cụ thể, trong khi phép thử “nhớ tự do” thì không có chỉ số nào cả.Nhưng đó chưa phải đã hết. Các bài tập phép nhớ tự do với những câu hỏi kiểu như: “Bạn hãy nhớ đến một kỷ niệm vui cách đây 5 năm” lại khiến các bệnh nhân trầm cảm ở giai đoạn kịch phát nhớ đến các kỷ niệm tự thuật với rất ít các chi tiết rõ ràng [4]. Trí nhớ tự thuật của họ, hay nói cách khác là khả năng tái tạo lại các thông tin cá nhân liên quan tới các sự kiện mang tính tự thuật (thí dụ một lần gặp gỡ) và các chi tiết tự thuật (nơi sinh, tên các bạn cùng học…) đã bị tổn thương.  Những chi tiết bị lãng quên                 Một bệnh nhân béo phì nhớ lại những kỷ niệm xưaTưởng mình đã lành bệnh, anh ta đã nhớ lại toàn bộ thời trai trẻ của mình. Đây là trường hợp của một bệnh nhân 50 tuổi, có cân nặng tới 190 kg, người đã có những biểu hiện khá kỳ lạ trong một số khu vực não bộ. Sau khi thử nhiều phương pháp điều trị bệnh béo phì, bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật-đây là một loại phẫu thuật đang ở giai đoạn thử nghiệm và chưa phổ biến. Cuộc phẫu thuật có mục đích kích thức khu vực cấu tạo dưới đồi của não nhờ các điện cực cấy vào não*. Điều ngạc nhiên đã xảy ra: ngay từ những xung động ban đầu, người bệnh đã thấy mình trở lại tuổi 20-tất nhiên như một người quan sát phía bên ngoài, đang đứng trong một công viên với bạn bè và người thân thời đó. Các chi tiết của quanh cảnh lúc đó tiếp tục ngày một rõ khi các nhà nghiên cứu gây kích thích mạnh hơn. Các thử nghiệm sau đó cho thấy sự kích thích não như vậy đã kích hoạt các tiến trình của não, nhất là các tiến trình liên quan tới hồi ức và điều này sẽ giúp cải thiện một số chức năng của trí nhớ. ———* C. Hamani et al., Annals of Neurology, 63, 119, 2008.          Năm 2006, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã làm sáng tỏ một số nét đặc thù của các rối loạn này[5]. Trong khi nghiên cứu, chúng tôi đã đề nghị các bệnh nhân trong viện và những người không bị bệnh trầm cảm cùng nhớ lại càng chi tiết càng tốt (thời gian, không gian và các sự kiện cụ thể…) các sự kiện hạnh phúc (sinh nhật hay lúc sinh con), cũng như các sự kiện bất hạnh (cái chết của người thân, bệnh tật) xảy ra trong các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của họ (1, 5 hay 10 năm trước thời điểm thí nghiệm). Trái ngược với người bình thường, các bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đưa ra các kỷ niệm tích cực hoặc tiêu cực một cách chung chung. Thí dụ đối với một buổi lễ sinh nhật, người bệnh trầm cảm chỉ nhớ là có một buổi lễ, có nhiều người đến dự hoặc có một chiếc bánh ngọt lớn…, nhưng không thể nhớ chính xác những người đến dự là ai, những gì đã xảy ra trong buổi lễ đó, thậm chí không nhớ cả cảm xúc của họ trong buổi lễ đó như thế nào. Đứng về mặt lâm sàng, dường như các rối loạn về trí nhớ tự thuật ở người trầm cảm báo trước một diễn tiến xấu về mặt ngắn hạn, và nguy cơ tự tử cũng tăng cao. Nếu xem xét rằng trí nhớ tự thuật đóng góp bao nhiêu vào việc hình thành lên nhân cách của một người thì có lẽ chẳng ngạc nhiên khi biết rằng các rối loạn trí nhớ loại này tương đồng rất nhiều với các hành vi thái quá.Năm 2000, Martin Conway thuộc Đại học Leeds và Kit Pleydell-Pearce thuộc Đại học Bristol cùng đưa ra một mô hình liên quan đến sự liên hệ nhằng nhịt giữa nhân cách cá nhân với trí nhớ tự thuật. Mô hình này cho rằng việc nhớ đến một kỷ niệm tự thuật phải trải qua một tiến trình tái tạo lại tích cực. Sự tái tạo lại kỷ niệm sử dụng các chất liệu tự thuật thuộc 3 mức độ chi tiết tăng dần: các kiến thức liên quan tới một giai đoạn sống (thí dụ: khi tôi còn sinh viên), một sự kiện chung (khi tôi đến cửa hàng bánh Pizza cùng với các anh của tôi) và các chi tiết cụ thể của một sự kiện (buổi lễ do cha tôi tiến hành).  Tái dựng kiểu chéoTheo Conway, vào lúc gợi nhớ ra một kỷ niệm tự thuật, người nhớ phải đưa ra quan hệ đồng thời và theo cách phối hợp các thông tin cá nhân liên quan tới 3 mức độ nói trên, các kỷ niệm do vậy không được lưu trữ như vốn có trong trí nhớ dài hạn mà được sắp xếp lại vào thời điểm được gợi nhớ[6]. Khái niệm tái dựng lại trí nhớ kéo theo, trong lúc tái tạo lại một kỷ niệm, việc chúng ta sử dụng các thông tin sẵn có trong trí nhớ để tái tạo lại một kỷ niệm bao gồm nhiều phần khác nhau từ sự trải nghiệm ban đầu. Các tiến trình tái tạo lại này cực kỳ phức tạp và đặc biệt là phụ thuộc vào trạng thái tình cảm của đối tượng, vào động cơ ở thời điểm nhớ lại và vào bối cảnh của sự gợi nhớ kỷ niệm…Thế nhưng, trong nghiên cứu được đề cập tới bên trên[5], chúng tôi nhận thấy ở các bệnh nhân trầm cảm trong giai đoạn kịch phát không chỉ có các kỷ niệm lờ mờ mà còn bị rối loạn trong việc tái dựng lại kỷ niệm. Đó là cái gì? Đó là khả năng tái dựng lại một trải nghiệm bằng hình ảnh giống như trải nghiệm đã diễn ra khi thông tin được ghi nhận ban đầu.Tóm lại, khi chúng ta nhớ lại một sự kiện mới xảy ra mà chúng ta có tham dự, chúng ta nhớ lại cả bức tranh toàn cảnh, trong đó có sự kiện đó. Nhưng ở thời điểm ngày càng xa thì chúng ta lại có xu hướng nhớ lại sự kiện này theo cách của một người nhìn từ bên ngoài, như xem một bộ phim vậy.   Xa cáchDường như những bệnh nhân trầm cảm luôn có cái nhìn của khán giả đối với những kỷ niệm tích cực, điều này gợi cho chúng ta thấy rằng những kỷ niệm này không quan trọng bằng cái tôi của chủ thể. Sự xa lánh càng đúng hơn đối với những kỷ niệm tích cực nhưng cách xa thời điểm hiện tại. Và điều này cũng được nhận thấy ở cả các bệnh nhân đang lành bệnh, không còn triệu chứng của trầm cảm nữa. Trong một nghiên cứu công bố vào năm 2008, trong đó chúng tôi so sánh 20 bệnh nhân đang lành bệnh với 20 người mạnh khỏe, chúng tôi đã chứng tỏ được rằng họ vẫn giữ khoảng cách với các kỷ niệm tích cực ngay cả nhiều tháng sau khi họ bị trầm cảm[7].Điều này khiến chúng tôi đặt câu hỏi là liệu có một ảnh hưởng “nhiễm độc não” mà căn bệnh trầm cảm gây ra cho vỏ não? Chúng tôi biết rằng ở các bệnh nhân trầm cảm, hoạt động ở một số vùng não bộ đã bị thay đổi (đọc thêm phần Não của người trầm cảm). Chúng tôi cũng biết rằng các thuốc trị trầm cảm, hay các liệu pháp nhận thức thường có tác dụng để bình thường hóa lại các hoạt động này ở vỏ não. Và thông thường, sự “bình thường hóa” này hay đi kèm với việc giảm các rối loạn trí nhớ. Vấn đề là sự tồn tại dai dẳng của “cái nhìn khán giả” ở những người đang lành bệnh khiến chúng ta có thể ngờ rằng não của những người bệnh này vẫn chưa trở về trạng thái ban đầu vốn có của nó trước khi bị trầm cảm.Hơn nữa, một số bệnh nhân, đặc biệt là những người bị tái trầm cảm thường thấy các rối loạn về trí nhớ của mình nặng thêm tại các thời điểm bị trầm cảm. Thí dụ, các bệnh nhân trầm cảm mà trước đó từng bị bệnh có rối loạn về trí nhớ tự do nặng hơn các bệnh nhân lần đầu bị trầm cảm[8]. Trong khi chưa có các nghiên cứu dài hạn đối với các bệnh nhân, những kết quả nói trên thực sự đã củng cố cho giả thuyết rằng có một ảnh hưởng “nhiễm độc não”do trầm cảm gây ra, đặc biệt ở những người liên tục bị rơi vào các đợt trầm cảm.      Hoàng An  dịch La Recherche 7-8/2009————–* Philippe Fossati là Giáo sư Đại học Paris VI, Bác sĩ điều trị tâm thần người lớn tuổi tại Bệnh viện Pitié-Salpêtrière và là thành viên tại Trung tâm xúc cảm CNRS USR 32461. A.S Friedman, Journal of Abnormal and Social Psychology, 69, 237, 19642. R.G Brown et al., Psychological Medecine, 24, 829, 1994; M. P. Austin et al, Psychological Medecine, 29, 73, 1999.3. P. Fossati et al., Psychiatry Research, 89, 171, 1999.4. M. William et al., psychological Bulletin, 133, 122, 20075. C. Lemogne et al., Conciousness and Cognition, 15, 258, 2006.6. M. A Conway et C. W. Pleidell-Pearce, Psychological Review, 107, 261, 20007. L. Bergouignan et al., Behavious Research anh Therapy, 46, 322, 2008.8. P. Fossati et al., Journal of Psychiatric Research, 38, 137, 2004.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trăm năm, ‘h’ vẫn hằng      Năm nay 2008 vệ tinh Planck với kính viễn vọng tân kỳ sẽ được phóng lên không trung để quan sát đo lường bức xạ tàn dư của Vũ trụ trong mấy phần tỷ giây phút ban đầu cách đây khoảng 13.7 tỷ năm. Đó chính là bức xạ của một vật đen lý tưởng mà Planck đã tìm ra công thức mang tên ông- một nghiên cứu cơ bản mà hơn trăm năm sau muôn vàn ứng dụng vẫn càng đậm nét trong sinh hoạt con người.        Vào cuối thế kỷ thứ 19, có một mâu thuẫn giữa một bên là lý thuyết điện từ + nhiệt động học – hai trụ cột cơ bản của vật lý – và bên kia là thực nghiệm đo lường về hiện tượng bức xạ nhiệt của vật đen(1) . Thực thế, lý thuyết trên đưa đến một hệ quả phi lý là tổng năng lượng phóng xạ bởi vật đen phải vô hạn, nghĩa là cụ thể ngồi trước một bếp sưởi hồng, bất kỳ nhiệt độ cao thấp ra sao ta sẽ bị thiêu cháy tan biến hết! Rõ ràng có một cái gì khiếm khuyết trong lý thuyết. Vậy mà Lord Kelvin, người của nhiệt độ tuyệt đối, giáo hoàng của vật lý thời đó có câu tuyên bố năm 1892 nổi tiếng vì lạc quan: “Vật lý đã hoàn chỉnh cả rồi về mặt căn bản, cái mà ta còn có thể đóng góp chỉ là xác định thêm vài thập phân sau dấu phẩy cho các đo lường, tính toán mà thôi. Tuy nhiên hãy còn hai vấn đề nho nhỏ…”. Hai tiểu tiết ông nêu lên là: thứ nhất Michelson và Morley chẳng tìm thấy chất liệu ê-te tràn ngập vũ trụ trong đó dao động sóng điện từ (cũng như sóng nước di chuyển được là vì có nước, sóng âm thanh truyền đi là vì có không khí, vậy chắc phải có một chất liệu gì tạm gọi là ê-te bao phủ toàn vũ trụ để chuyên chở ánh sáng đến với ta từ các thiên thể xa xăm, chứ không làm sao chúng truyền đi được?), thứ hai các đo lường ngày càng chính xác về cường độ bức xạ nhiệt của vật đen không phù hợp với nền tảng căn bản của vật lý kèm thêm cái hệ quả phi lý nói trên.              Nếu giá trị hằng số Planck (hằng số h) chỉ sai khác một phần triệu tỷ tỷ, con người đã không xuất hiện trong vũ trụ bao la này.          Hai vấn đề ‘nhỏ’ đó ngờ đâu chính là hai vấn đề cốt lõi làm ngọn hải đăng chỉ đường cho khoa học vượt trùng dương đi tìm biên giới của tri thức. Giải quyết được hai tiểu tiết đó theo thứ tự là Albert Einstein qua thuyết tương đối hẹp(2), và Max Planck qua thuyết lượng tử(3), hai trụ cột của vật lý hiện đại. Ai có thể tưởng tượng nổi trăm năm sau ý tưởng của Planck, một phần ba tổng sản lượng kinh tế của cường quốc số một thế giới hiện nay có gốc nguồn từ những ứng dụng trực tiếp của công nghệ lượng tử, tượng trưng bởi hằng số Planck h! Mà nói đến hằng số Planck là nói đến spin ћ/2 của điện tử electron và đến tính chất bán dẫn cùng siêu dẫn điện-từ của các vật liệu nhân tạo. Các thiết bị bán dẫn ngày càng nhỏ, càng            1.Trong đời sống hằng ngày, ta gọi vật đen (black body) là một chất liệu chỉ hấp thụ ánh sáng chiếu lên nó mà không phản xạ. Một thanh sắt đen ở nhiệt độ bình thường nhưng thành đỏ khi nung nóng lên và trở nên trắng khi tăng nhiệt độ lên cao nữa. Trong phòng thí nghiệm, vật đen là một lò kín nung nóng ở nhiệt độ T và đục một lỗ nhỏ trên thành lò, ta nghiên cứu tính chất của ánh sáng phát ra qua lỗ. Sự phân phối cường độ ánh sáng phát ra bởi vật đen chỉ phụ thuộc vào T thôi chứ không vào bất cứ chất liệu nào ở trong lò. Điều này chứng tỏ bức xạ của vật đen chỉ phụ thuộc vào sự dao động của các thành phần cơ bản chung cho các chất liệu, mang tính chất rất phổ quát của vật lý. Vật đen lý tưởng là toàn vũ trụ mà hai vệ tinh COBE và WMAP đo lường tàn dư của năng lượng phóng xạ sau vụ Nổ bùng (Big Bang) cách đây khoảng 13.7 tỷ năm mà giải Nobel vật lý 2006 trọng thưởng.   2.Với phương trình kỳ diệu của thế kỷ E = mc2 theo đó khối lượng m của bất kỳ một vật chất nào cũng tích tụ một năng lượng E khổng lồ (vì bình phương của vận tốc ánh sáng c² quá lớn). Quả là một thay đổi cách mạng trong sự hiểu biết và nhận thức về vật chất : năng lượng súc tích ngay trong lòng vật chất qua khối lượng của nó. Ðặc biệt ánh sáng thuần tuý (năng lượng) có thể tạo ra vật chất.     3.Với hằng số Planck h trong phương trình E = hν, h lấy ở chữ hilfe (tiếng Đức nghĩa là phụ trợ), chi tiết này nói lên cái khiêm tốn của một nhà bác học lớn, dẫu trong thâm tâm Planck biết mình vừa hé mở một chân trời mới khi thổ lộ với con trai Erwin 7 tuổi: hôm nay bố phát minh ra một điều phi thường chẳng kém Newton. Bằng một ‘hành động hầu như tuyệt vọng’ để giải đáp nghịch lý (năng lượng vô hạn của vật đen), Planck đưa ra một giả thuyết theo đó các vật thể khi dao động với tần số ν thì năng lượng E phát ra phải theo từng ‘gói‘ rời rạc như 1h, 2h, 3h … chứ không liên tục. Kỳ lạ thay năng lượng phun ra từng gói từng chùm chứ không tuôn chảy đều đặn. Einstein là người đầu tiên dùng giả thuyết này để diễn giảng hiện tượng quang điện, mở đầu cho sự khám phá ra lưỡng tính vừa sóng vừa hạt của ánh sáng, của các vật thể vi mô khác (như electron) và sự ra đời của vật lý lượng tử, trụ cột của khoa học hiện đại.   4.Xem Từ hiệu ứng ‘Từ trở khổng lồ’ đến bộ nhớ MRAM, Mai Ninh, http://www.diendan.org/      5.Xem chương Exploring nanostructures trong sách Invitation to Contemporary Physics, Q. Hồ-Kim, N.Kumar và C.S.Lam, 2nd edition, World Scienific (2004). Xem hai bài (1) Cấu trúc nano: bàn chân thạch sùng, và (2) Khoa học và công nghệ nano : trong một thế giới cực nhỏ, Trương Văn Tân, http://vietsciences.org/             nhanh và càng rẻ là ba nguyên tắc chỉ đạo của công nghệ mạch điện tử. Một thẻ tín dụng ngân hàng chứa khoảng hai triệu transistor, một xe hơi ngày nay dùng mạch vi điện tử phong phú chẳng kém mấy chiếc phi cơ Airbus đầu tiên. Năm 1973 một triệu transistor bán dẫn giá khoảng 75000 euro, năm 2006 còn chừng 0.5 euro. (a) Điện tử spin (spintronics) là một ứng dụng trực tiếp kéo dài công nghiệp cao vi điện tử mà giải Nobel 2007 trọng thưởng. Đặc biệt là các nghiên cứu về từ trở khổng lồ bởi spintronics đã đưa đến những tiến bộ khó tưởng trong khả năng dự trữ thông tin của máy vi tính ngày nay. Viễn cảnh lâu dài của ngành khoa học điện tử spin là phát minh ra một máy vi tính lượng tử. Máy này sẽ hoạt động với tốc độ cực nhanh, nó không dùng những thông tin nhị phân như hiện thời, các dữ kiện sẽ được chuyển tải bằng hàm số sóng hay các ‘‘vật lượng tử’’ khác(4). Trong tương lai tính chất thuần sóng của electron (không phải điện tích hay spin của nó nữa) cho phép làm ra các thiết bị transistor đơn electron, và thời đại vi điện tử, nano điện tử sẽ chuyển sang thời đại đơn điện tử, đồng thời phát triển công nghệ vật liệu mới. Khả năng mật mã của công nghệ thông-truyền tin khai thác phần mềm trong các máy tính lượng tử là một viễn tượng không xa vời. (b) Ứng dụng khác của vật lý lượng tử là công nghệ cao Quang điện tử (optoelectronics) với laser dưới trăm ngàn dạng (đặc biệt laser nguyên tử của đông đặc Bose-Einstein với spin 0ћ, 1ћ), công nghệ thông-truyền tin, truyền thanh, truyền hình, CD, DVD, máy chụp ảnh, quay phim của cuộc cách mạng số. Trong y học với các máy chụp hình PET, MRI tìm hiểu sự vận hành thâm sâu của thần kinh não, giải phẫu laser. (c) Công nghệ siêu dẫn điện từ ở nhiệt độ thấp là một đặc trưng của vật lý lượng tử. Thực là kỳ lạ, dòng điện truyền qua một dây siêu dẫn tồn tại rất lâu dài dẫu ta cắt bỏ điện đi.Vật liệu siêu dẫn không có điện trở, chúng không bị nóng lên, như vậy điện không bị thất tán nếu được truyền tải bằng dây siêu dẫn. Hơn thế nữa, một thanh nam châm để gần một vật liệu siêu dẫn sẽ bị nâng bật ra ngoài, khác hẳn với điện từ ở điều kiện thường. Với những đặc tính trên và từ trường cực kỳ mạnh dưới trạng thái siêu dẫn, rất nhiều người nhìn thấy ở đấy triển vọng cho công nghiệp tương lai của thế kỷ 21, đặc biệt trong sự sản xuất, tích trữ và chuyển vận năng lượng. Một thí dụ là khả năng điều chỉnh được sự tổng hợp nhiệt hạch thường xuyên xảy ra trong Mặt trời từ hơn bốn tỷ năm qua. Ðó là lò phản ứng nhiệt hạch quốc tế ITER (International Thermonuclear Experimental Reactor) đang được xây dựng ở Cadarache miền nam nước Pháp để nghiên cứu việc sản xuất năng lượng sạch. Lò ITER dùng từ trường siêu dẫn cực kỳ mạnh để giam hãm plasma hạt nhân nguyên tử, điều kiện tiên quyết để khởi động sự tổng hợp nhiệt hạch. Ngoài ra còn phải kể đến khả năng chủ yếu của siêu dẫn trong các ngành liên quan đến điện tử (với máy tính và thiết bị dùng vật liệu siêu dẫn), đến sinh học (với sensor cực kỳ nhạy bén), đến vận tải (với tàu hỏa tốc hành nâng lên bởi từ trường siêu dẫn, không chạm đường ray nên tàu chạy rất nhanh lại an toàn). (d) Khoa học và công nghệ nano(5). Nano mét (nm) hay một phần tỷ mét là kích thước điển hình, ngưỡng cửa của thế giới vi mô, nơi tung hoành của vật lý lượng tử. Hơn nữa chính là nơi tụ hội của liên ngành lý-hoá-sinh với các phương pháp, sở trường của từng ngành góp lại để hình thành một nền công nghệ mới trong đó ta có thể di chuyển, chồng chập, thao tác và điều khiển nguyên tử và phân tử theo ý mình. Thí dụ khả năng thiết kế những sợi dây dẫn điện phân tử và các linh kiện điện tử như transistor ở thang phân tử. Sự xuất hiện của khoa học và công nghệ nano đang cách mạng lề lối suy nghĩ và phương pháp thiết kế toàn thể các loại vật liệu từ dược phẩm trị liệu đến các linh kiện điện tử với những đặc tính đã định sẵn ngay từ thang phân tử. Vấn đề chính của các transistor thu nhỏ là sự phát nhiệt. Càng được thu nhỏ, transistor càng nóng, làm tổn hại và giảm công năng của các dụng cụ điện tử. Nhu cầu thu nhỏ hơn nữa và tránh sự phát nhiệt cần phải nhờ đến giải pháp “từ dưới lên” của công nghệ nano và dùng phân tử ống than nano làm vật liệu để chế tạo transistor phân tử. Ngoài ra, ống than nano có đặc tính dẫn điện đạn đạo (ballistic conductivity) mà không gây sự phát nhiệt, dùng cho máy vi tính thì máy sẽ thu nhỏ bằng vài cm! Đây chỉ là vài thí dụ trong đề tài miên man của công nghệ nano mà cốt lõi xoay quanh các phương thức chế biến những vật liệu nano, khảo sát hóa tính, lý tính, cơ tính, quang tính, điện tính, từ tính và tìm kiếm những ứng dụng cho các loại vật liệu này.  Paris 19.4.2008    GS Phạm Xuân Yêm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trầm tích bảo quản DNA  hàng nghìn năm      Hầu hết các nhà khảo cổ học từ lâu vẫn xem những trầm tích bao lấy các phát hiện khảo cổ chỉ là phần phụ không quan trọng của quá trình khai quật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, người ta đã chỉ ra rằng trầm tích có thể chứa các phân tử sinh học cổ đại, bao gồm cả DNA.      Chiết xuất DNA từ các khối trầm tích trong các cuộc khai quật. Ảnh: MPI f. Evolutionary Anthropology  “Việc thu thập DNA của con người và động vật cổ đại từ các lớp trầm tích mang lại cơ hội mới thú vị để khám phá sự phân bố địa lý và niên đại sống của người cổ đại và các sinh vật khác tại các địa điểm khó tìm thấy xương cốt còn sót lại”, Matthias Meyer, tác giả chính của nghiên cứu và là nhà nghiên cứu tại Viện Nhân chủng học Tiến hóa Max Planck ở Leipzig, cho biết.  Để điều tra nguồn gốc của DNA trong trầm tích, các nhà khoa học thuộc Viện Max Planck đã hợp tác với một nhóm nhà địa chất học quốc tế — những nhà khảo cổ áp dụng các kỹ thuật địa chất để tái tạo lại sự hình thành của trầm tích và các địa điểm khai quật — để nghiên cứu quá trình bảo quản DNA trong trầm tích ở quy mô hiển vi. Họ sử dụng những khối trầm tích  còn nguyên vẹn và không bị xáo trộn bởi cuộc khai quật và ngâm trong nhựa polyester. Nhóm nghiên cứu sau đó đưa khối cứng này đến phòng thí nghiệm, cắt thành từng phần để chụp ảnh hiển vi và phân tích di truyền.  Nhóm nghiên cứu đã chiết xuất thành công DNA từ các khối trầm tích trong các cuộc khai quật từ 40 năm trước ở châu Phi, châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. “Những khối này là một nguồn cung cấp tuyệt vời các DNA cổ đại — bao gồm cả của tông người (hominin), một kho thông tin di truyền khổng lồ chưa từng được khai thác.   Các nhà khoa học đã sử dụng những khối trầm tích từ hang Denisova, một địa điểm nằm trên dãy núi Altai ở Nam Trung Siberia, nơi chứa DNA cổ đại của người Neanderthal, người Denisova và người hiện đại. Họ đã phân tích khối trầm tích này và phát hiện ra rằng các hạt hữu cơ nhỏ chứa nhiều DNA hơn so với trầm tích được lấy mẫu ngẫu nhiên. “Rõ ràng, việc truy xuất DNA của động vật có vú cổ đại từ trầm tích hang Denisova thành công đến vậy là nhờ sự phong phú của các vi chất còn sót lại trong chất nền trầm tích chứ không phải từ DNA ngoại bào lưu thông tự do trong phân, dịch cơ thể hoặc mô tế bào phân hủy có khả năng hấp thụ vào các hạt khoáng sản. “Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu thêm về việc DNA cổ đại sẽ được bảo quản ở đâu và ở điều kiện nào trong các lớp trầm tích”, Vera Aldeias, đồng tác giả của nghiên cứu và là nhà nghiên cứu tại Đại học Algarve ở Bồ Đào Nha, cho biết.  Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy rằng ADN cổ ​​(aDNA) không phân bố đồng đều trong trầm tích, và việc hiểu rõ các đặc điểm cụ thể của trầm tích sẽ giúp ích cho quá trình bảo tồn DNA cổ đại. “Xem aDNA trầm tích như một lĩnh vực nghiên cứu hẹp trong khảo cổ học sẽ giúp chúng ta giải quyết phần nào khả năng chuyển động vật lý của aDNA giữa các trầm tích”, Susan Mentzer, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Tiến hóa Con người và Môi trường Palaeoen (Đức), cho biết.   Điểm đặc biệt của kỹ thuật mới này đó là nó cho phép các nhà khảo cổ lấy mẫu trầm tích cỡ nhỏ để phân tích ADN. Diyendo Massilani, tác giả chính của nghiên cứu, đã khôi phục được một lượng đáng kể DNA của người Neanderthal chỉ từ vài miligam trầm tích. Ông có thể xác định giới tính của những cá nhân từ DNA mà họ để lại, và nhận định rằng họ thuộc quần thể có liên quan đến người Neanderthal có bộ gene được tái tạo trước đó từ một mảnh xương được phát hiện trong hang động. “DNA của người Neanderthal trong những mẫu trầm tích nhỏ này cô đặc hơn nhiều so với những gì chúng ta thường tìm thấy trong vật liệu rời của quá trình khai quật”, ông cho biết. “Với cách tiếp cận này, trong tương lai chúng ta có thể phân tích DNA của nhiều cá thể người cổ đại khác nhau chỉ từ một khối nhỏ trầm tích đông đặc”.  Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.□  Hà Trang dịch  https://phys.org/news/2021-12-dna-archaeological-sediments-thousands-years.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trận Bạch Đằng năm 1288: Có triều cường hay không?      Theo một số nhà viết sử hiện đại, quân đội nhà Trần thắng trận Bạch Đằng năm 1288 là nhờ ngày xảy ra trận chiến trùng với ngày triều cường, khiến nước sông dâng đủ cao để quân Nguyên Mông bị dụ vào các bãi cọc trước khi triều xuống.  Hãy cùng phân tích từ góc nhìn thiên văn học để trả lời xem nhận định như vậy có chính xác hay không.      Tranh vẽ lại trận Bạch Đằng 1288.  Trước tiên, cần phải nhớ rằng thủy triều trên Trái đất là do sự thay đổi về lực hấp dẫn của Mặt trăng và theo một cấp độ thấp hơn là Mặt trời. Nói cụ thể hơn, khi Mặt trăng xoay quanh Trái đất theo một hình e-líp, sự dao động về khoảng cách giữa Mặt trăng và Trái đất trong quỹ đạo hình e-líp đó dẫn đến sự thay đổi về độ lớn của lực hấp dẫn, thứ vốn dĩ tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai thiên thể hấp dẫn. Sự thay đổi này khiến cho vật chất trên Trái đất bị kéo khỏi bề mặt Trái đất, gây ra hiện tượng nước dâng mà chúng ta gọi là thủy triều. Mặt trăng đóng vai trò chủ yếu trong việc sinh ra thủy triều do thiên thể này ở rất gần so với Trái đất; tuy nhiên, Mặt trời cũng đóng vai trò “phụ trợ” trong quá trình đó. Các hiện tượng triều cường, triều kém trên Trái đất có thể được giải thích bằng sự kết hợp ảnh hưởng hấp dẫn của cả Mặt trăng và Mặt trời.    Chúng ta cần phân biệt triều cường, triều kém (spring tide, neap tide) với triều cao, triều thấp (high tide, low tide). Trong các ngành như hải dương học và thiên văn học, triều cao, triều thấp lần lượt được định nghĩa là cực đại và cực tiểu của mực triều trong một lần dao động. Trong khi đó, triều cường, triều kém được định nghĩa dựa trên biên độ dao động thủy triều, tức là khoảng cách giữa mực triều cao và mực triều thấp.      Trong một ngày triều cường, biên độ thủy triều của một con sông sẽ lớn hơn mức trung bình, nghĩa là mực triều cao ngày đó có thể cao hơn mức thường thấy, còn mực triều thấp cùng ngày thì lại thấp hơn mức thường thấy. Sự chênh lệch khác thường này có thể trở thành một trợ thủ đắc lực cho quân đội nhà Trần, bởi triều càng lên cao thì các bãi cọc càng khó bị lộ trong lúc dụ quân Nguyên Mông vào.      Trở lại nguồn gốc của triều cường, vật lý và thiên văn học hiện đại cho chúng ta biết rằng triều cường xảy ra trên Trái đất khi ảnh hưởng hấp dẫn thứ yếu của Mặt trời tăng cường ảnh hưởng hấp dẫn chính yếu của Mặt trăng. Sự tăng cường này chỉ có thể xuất hiện khi Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất nằm trên cùng một đường thẳng: hoặc là Mặt trăng “chen vào giữa” Mặt trời và Trái đất, hoặc là Trái đất “chen vào giữa” Mặt trời và Mặt trăng. Khi Mặt trăng “chen vào giữa” Mặt trời và Trái đất, nửa Mặt trăng quay về phía Trái đất là nửa bị phủ bóng tối, khiến cho Mặt trăng tưởng chừng như vô hình trên bầu trời Trái đất. Pha này của Mặt trăng được gọi là “Sóc” (new moon), và trong âm lịch, ngày đầu tháng chính là ngày Sóc của tháng đó. Đây cũng là nguồn gốc của câu “tối như đêm ba mươi”, bởi đêm 30 Tết là đêm trước ngày Sóc, nghĩa là gần như không thể nhìn thấy được Mặt trăng trên bầu trời buổi tối. Còn khi Trái đất “chen vào giữa” Mặt trời và Mặt trăng, nửa Mặt trăng quay về phía Trái đất là nửa được chiếu sáng hoàn toàn, khiến cho Mặt trăng hiện ra tròn vành vạnh. Ngày hiện tượng đó xảy ra được gọi là ngày Rằm (ngày 15) của tháng âm lịch.    Nếu có triều cường trong trận Bạch Đằng 1288, ngày âm lịch của trận chiến này bắt buộc phải ở gần hoặc là trùng khớp với ngày mồng một (ngày Sóc) hoặc ngày 15 (ngày Rằm). Tuy nhiên, kỷ nhà Trần của Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) lại chép rằng trận Bạch Đằng xảy ra vào ngày 8/3 âm lịch. Theo đó, ngày xảy ra trận chiến dường như ở giữa ngày Sóc hay ngày Rằm, gần nhất với ngày Trăng thượng huyền (first-quarter moon). Trăng thượng huyền là Mặt trăng mới nửa đường rời khỏi vị trí “chen vào giữa” Mặt trời và Trái đất, và vào lúc đó, Mặt trăng và Mặt trời cùng tạo thành một góc vuông so với Trái đất (tham khảo Hình 3). Một khi hai thiên thể rơi vào vị trí như vậy, ảnh hưởng hấp dẫn của Mặt trời sẽ triệt tiêu một phần ảnh hưởng của Mặt trăng, dẫn đến hiện tượng triều kém (neap tide). Nói cách khác, dựa theo mốc thời gian trong ĐVSKTT, trận Bạch Đằng 1288 chẳng hề gần với ngày triều cường mà thực chất lại gần nhất với ngày triều kém.      Các cọc nhọn được cho là có liên quan đến trận Bạch Đằng 1288. Hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Nguồn: Bình Giang/Wikimedia Commons.  Có thể cân nhắc khả năng rằng ngày mồng một và ngày 15 của tháng 3 âm lịch năm đó không hề trùng khớp hoàn toàn với các ngày Sóc và ngày Rằm nêu trên. Tuy nhiên, như Hoàng Xuân Hãn đã chỉ ra trong công trình Lịch và lịch Việt Nam, các nhà thiên văn học ở Á Đông đã có cách tính khoa học của riêng mình để tránh sự sai lệch giữa ngày mồng một và thời điểm Sóc. Họ quan sát chuyển động của Mặt trăng và Mặt trời rồi ghi chép vị trí của mỗi thiên thể vào các thời điểm cách đều nhau trong các tấm bảng gọi là biểu vận hành (ephemeris), rồi từ đó tính lúc Mặt trăng và Mặt trời hội diện để cuối cùng rút ra được ngày Sóc. Theo Hoàng Xuân Hãn, cách tính ngày Sóc như vậy “sẽ rất chính xác nếu hai biểu vận hành là chính xác”.    Ngoài ra, chúng ta cũng có thể ước tính ngày triều kém hoặc triều cường bằng một phép thử riêng biệt. Khi phải đối mặt với các số liệu thiên văn cần được thu thập từ quá khứ, một cuốn sách dễ được nhắc đến sẽ là Astronomical Algorithms (1991) của Jean Meeus, trong đó có hướng dẫn cách ước tính quỹ đạo hành tinh, vị trí của các thiên thể trong quá khứ, v.v. Các thuật toán của cuốn sách này dựa trên phép ngoại suy: chúng lấy dữ liệu từ các biểu vận hành do con người và máy tính tổng hợp, rồi vận dụng hệ thống lý thuyết về cơ học thiên thể (celestial mechanics) để đưa ra các con số ước tính cho các sự kiện trong quá khứ mà chúng ta thiếu dữ liệu đo đạc trực tiếp. Các thuật toán trong Astronomical Algorithms đến nay đã nhận được sự tin tưởng của các nhà thiên văn học và các cơ quan vũ trụ, do các ước tính mà một số thuật toán trong đó cho ra đã có thể được kiểm chứng.      Hình 3: Sơ đồ các pha của Mặt Trăng và loại thủy triều tương ứng. Nguồn: KVDP/Wikimedia Commons  Sử dụng thuật toán để tính các pha của Mặt răng trong chương 49 của Astronomical Algorithms, ngày Sóc của tháng 4/1288 dương lịch được ước tính là ngày mồng 2, ngày trăng thượng huyền là mồng 10, còn ngày trăng tròn (ngày Rằm) là ngày 18. Dựa trên kết quả đó, chúng ta thấy rằng ngày xảy ra trận Bạch Đằng năm 1288 (9/4/1288 dương lịch) gần nhất với ngày trăng thượng huyền – ngày xảy ra triều kém. Vậy thuật toán của Jean Meeus chỉ càng củng cố kết luận dựa trên ngày âm lịch của ĐVSKTT: trận Bạch Đằng xảy ra gần ngày triều kém hơn là ngày triều cường!    Tuy nhiên, triều cường không phải là cách duy nhất để các thiên thể làm thay đổi mực nước trên Trái đất. Như chúng ta đã biết, lực hấp dẫn tỉ lệ thuận với khoảng cách giữa hai vật thể, nghĩa là nếu như khoảng cách giữa Mặt trăng và Trái đất đạt cực tiểu vào ngày xảy ra trận Bạch Đằng, ảnh hưởng hấp dẫn của Mặt trăng vào lúc đó hoàn toàn có thể đạt cực đại và dù không gây ra triều cường nhưng cũng khơi mào cho thủy triều nghiêm trọng hơn các ngày khác. Để kiểm tra khả năng này, có thể sử dụng thuật toán tính khoảng cách giữa Mặt răng và Trái đất được đưa ra ở chương 50 của Astronomical Algorithms. Kết quả cho thấy, vào ngày 9/4/1288, Mặt trăng thực chất đang ở điểm viễn địa (apogee) – điểm xa nhất trên quỹ đạo quanh Trái đất! Nói cách khác, lực thủy triều xung quanh ngày xảy ra trận Bạch Đằng không những bị triệt tiêu mất một phần do góc vuông tạo bởi Mặt trăng và Mặt trời, mà còn ở mức cực tiểu do khoảng cách giữa Mặt trăng và Trái đất đạt cực đại vào thời điểm đó.      Ngày xảy ra trận Bạch Đằng năm 1288 (9/4/1288 dương lịch) gần nhất với ngày trăng thượng huyền – ngày xảy ra triều kém. Vậy thuật toán của Jean Meeus chỉ càng củng cố kết luận dựa trên ngày âm lịch của ĐVSKTT: trận Bạch Đằng xảy ra gần ngày triều kém hơn là ngày triều cường!      Vậy từ đâu mà chúng ta có nhận định rằng trận Bạch Đằng 1288 xảy ra vào ngày triều cường? Lật lại ĐVSKTT, các sử gia cũng chỉ miêu tả: “Hôm ấy, nhân lúc nước triều lên, [Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn] cho quân khiêu chiến ri giả cách thua chạy, bọn giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc hết.” Nói cách khác, ĐVSKTT không hề nhắc đến bất kỳ điều kiện gì mà chúng ta có thể suy luận là triều cường. Rốt cuộc chi tiết triều cường từ đâu đến?    Trong cuốn Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, nhóm tác giả Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm và Trần Bá Chí có đề cập tới triều cường trong trận Bạch Đằng 1288 và dẫn lại bài viết “Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288” của tác giả Nguyễn Ngọc Thụy, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 63, tháng 6/1964. Khi lật lại bài viết này, có thể thấy tác giả đã đưa ra kết luận triều cường như sau: “Dùng phương pháp dự tính thủy triều bằng bảng dự tính vĩnh cửu áp dụng cho vùng Hòn Dấu (Hải Phòng, kể cả vùng sông Bạch Đằng) chúng tôi đã xác định được các điều kiện thiên văn ứng với kỳ nước cường của đầu tháng 3 […]”, kèm theo là một số “đặc số thiên văn chi phối điều kiện thủy triều” của ngày đó mà tác giả đã tìm ra. Về độ chính xác của nghiên cứu của mình, Nguyễn Ngọc Thụy viết rằng phép tính toán nêu trên có thể tin cậy được bởi quy luật thủy triều ở biển “là một quy luật tương đối ổn định”. Song một người không thể không tự hỏi: bảng dự tính vĩnh cửu được tác giả này sử dụng là gì và hoạt động như thế nào? Đây là một câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ, bởi bài viết chỉ đề cập đến một “bảng dự tính vĩnh cửu” như vậy mà không cung cấp thêm một công thức hay một quy trình nào cụ thể hơn.      Một hố khai quật ở bãi cọc Đồng Thượng, xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, TP.  Hài Phòng đầu năm 2020. Nguồn: Trung tâm Khảo cổ học Dưới nước.  Tuy nhiên, cũng không khó để đoán xem bảng dự tính vĩnh cửu của tác giả này có cơ sở toán học như thế nào. Dựa vào việc nhà nghiên cứu “áp dụng” bảng trên cho vùng Hòn Dấu để lật lại quá khứ, có thể suy luận rằng điều mà họ đang làm là sử dụng phương pháp ngoại suy: lấy số liệu có sẵn ở vùng Hòn Dấu của thế kỷ XIX hoặc XX để ước tính số liệu của năm 1288. Như đã đề cập ở phía trước, các thuật toán trong Astronomical Algorithms của Jean Meeus cũng hoạt động dựa trên quá trình ngoại suy tương tự, nhưng điểm khác biệt chính nằm ở chỗ phương pháp của Nguyễn Ngọc Thụy dựa vào đo đạc thủy triều ở Hòn Dấu, còn thuật toán của Meeus được xây dựng và củng cố thông qua các biểu vận hành theo dõi chuyển động của Mặt trời, Mặt trăng và các thiên thể khác suốt nhiều thế kỷ. Không những vậy, ngoại suy không phải là một quá trình có duy nhất một cách thức thực hiện: với cùng một lượng dữ liệu nhất định, người ta có thể thực hiện các phép ngoại suy tuyến tính, đa thức, v.v., nên nếu không có thông tin cụ thể từ bài viết năm 1964, thật khó để lần lại và xác nhận công cuộc ước tính của tác giả. Trong khi đó, kết quả từ thuật toán của Meeus có thể được xác nhận bằng việc đối chiếu với ngày âm lịch của trận chiến trong ĐVSKTT. Dường như kết luận triều cường của bài viết năm 1964 không đứng vững trước sự khảo sát của khoa học, nhất là khi đặt cạnh kết luận triều kém dựa trên thuật toán của Meeus và ngày trong ĐVSKTT.    Nếu thuật toán của Meeus là đúng, có thể nói rằng trận Bạch Đằng 1288 đã xảy ra trong các điều kiện thiên văn tồi tệ. Vào ngày hôm đó, ảnh hưởng hấp dẫn của Mặt trời không những khử một phần ảnh hưởng của Mặt trăng, mà ảnh hưởng của Mặt trăng cũng ở mức cực tiểu do thiên thể này khi ấy đang ở điểm xa Trái đất nhất trên quỹ đạo của nó. Thủy triều ngày hôm đó, nếu chỉ phụ thuộc vào các thiên thể, hẳn là đã ở mức kém. Song không nên vì thế mà đặt nghi vấn cho chuỗi sự kiện của trận chiến. Bởi lẽ, căn nguyên của thủy triều, của triều cường và triều kém có thể là các điều kiện thiên văn, nhưng ở vùng đại dương xa đất liền, biên độ thủy triều trung bình do một mình các thiên thể gây ra cũng không vượt quá 1m giữa hai thời điểm nước lớn và nước ròng liên tiếp (Joseph, 2017, tr. 169). Tuy nhiên, nếu thủy triều xảy ra ở cửa sông thì tùy vào độ sâu, địa thế và cả hình dạng của cửa sông đó mà thủy triều có thể tăng giảm biên độ, hoặc dâng và rút với tốc độ nhanh chậm khác nhau. Theo góc nhìn như vậy, biên độ và tốc độ rút của thủy triều trong trận Bạch Đằng 1288 có thể được giải thích bằng các đặc điểm của chính vùng cửa sông đó, và việc hình thái cửa sông tác động đến thủy triều nhiều hơn là các điều kiện thiên văn cũng có thể lý giải được cách người Việt đã chiến thắng các đội quân xâm lược đến ba lần khác nhau tại cùng một khu vực này. Không những thế, chuyện bà bán hàng nước mách cho Trần Quốc Tuấn giờ nước lên và địa thế sông giờ đây cũng có thêm màu sắc hiện thực: quân đội Đại Việt đã chiến thắng ở sông Bạch Đằng nhờ quan sát của cư dân địa phương, những người đã quen với dòng sông, đã nhận ra sự khuếch đại thủy triều (tidal amplification) bởi các đặc điểm của vùng cửa sông này.    Sự hiện diện của triều cường trong trận Bạch Đằng 1288 vốn được coi như một sự thật lịch sử, được nhắc đến trong các sách vở và được phổ biến trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, một khi đã điều tra lại điều kiện thiên văn xung quanh trận chiến, đây dường như trở thành một ý tưởng thiếu căn cứ và cần bằng chứng cụ thể hơn là một phép “dự tính vĩnh cửu” được gia cố bởi lập luận rằng quy luật thủy triều ở biển “tương đối ổn định”. Một cách phân tích thay thế dựa trên ngày âm lịch trong ĐVSKTT và các thuật toán thiên văn đã đề xuất góc nhìn mới rằng trận Bạch Đằng 1288 xảy ra giữa các điều kiện thiên văn không hề thuận lợi: triều kém, còn Mặt trăng thì ở điểm viễn địa. Nếu quả thật là trận Bạch Đằng đã diễn ra trong hoàn cảnh như vậy, chiến thắng năm đó không những sẽ chẳng bớt vẻ vang mà còn đáng ca tụng, đáng thán phục hơn: người Việt đã thắng không phải nhờ thiên nhiên “phụ giúp”, mà nhờ kiến thức quan sát chi tiết của người địa phương, cùng với khả năng bài binh bố trận phù hợp của quân đội nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn. □  —  TÀI LIỆU THAM KHẢO  Hoàng Xuân Hãn (1982), Lịch và lịch Việt Nam. Tập san Khoa học Xã hội (9).  Joseph, A. (2017), Investigating Seafloors and Oceans: From Mud Volcanoes to Giant Squid. Amsterdam: Elsevier.  Meeus, J. (1991), Astronomical Algorithms. Richmond: Willmann-Bell Inc.  Nguyễn Ngọc Thụy, “Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288”, Nghiên cứu Lịch sử 1964(63), tr. 36&53.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Trần Huân – Người đi tìm ánh sáng nguyên thủy      Năm 2014 là một năm đáng nhớ cho giới thiên văn Việt Nam với việc ba bài báo chính công bố kết quả đo đạc độ phân cực bức xạ nền vũ trụ – câu hỏi lớn của vũ trụ học quan sát – từ các thí nghiệm BICEP21, SPT2, POLARBEAR3 đều có sự đóng góp của người Việt: Luong-Van trong SPT, Nguyễn Trọng Hiền trong BICEP2, và đặc biệt là POLARBEAR tuy không có tên người Việt nào trong danh sách tác giả nhưng lại có phần đóng góp quan trọng của đài quan sát mang tên Huan Tran, vinh danh nhà nghiên cứu Trần Huân.     Trần Huân sinh năm 1974 tại Việt Nam và cùng gia đình đến Mỹ khi mới bảy tháng tuổi. Anh trải qua thời thơ ấu cùng với năm anh chị em khác tại thành phố Saint Cloud yên bình bên bờ sông Missisippi thuộc tiểu bang Minnesota. Tốt nghiệp xuất sắc nhất trường trung học Saint Cloud Tech High, anh được chọn để đọc diễn văn bế giảng. Sau đó anh chọn trường đại học Saint Cloud ở quê nhà để theo đuổi đam mê thiên văn. Tốt nghiệp xuất sắc ngành vật lý thiên văn, anh được học bổng để theo học tiến sĩ tại trường Princeton cũng giống như hai nhà thiên văn gốc Việt trước đó là Trịnh Xuân Thuận và Nguyễn Trọng Hiền. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ vào năm 20024, anh chuyển đến Đại học California, Berkeley để làm việc trong nhóm bức xạ nền vũ trụ. Huân là người đề xuất và là giám đốc dự án POLARBEAR đo đạc độ phân cực của bức xạ nền vũ trụ.   Kính thiên văn cho dự án được xây dựng trên đỉnh núi Sierra, California để dễ dàng thử nghiệm hệ thống và thiết bị. Tháng 9 năm 2009, kính đã được hoàn chỉnh sau hơn sáu năm miệt mài chế tạo của Huân và cộng sự. Huân là người đặt dấu ấn vào tất cả các bộ phận của kính, thậm chí anh còn tự tay mình sơn nó.  Anh viết entry cuối cùng trên blog của mình như sau: “Tôi nghe nói rằng năm nay là năm tổ chức kỷ niệm 400 năm phát minh ra kính thiên văn. Tôi hy vọng rằng POLARBEAR cũng có sức ảnh hưởng giống Galileo”5. Tuy nhiên, giữa tháng 12 năm 2009, hai tuần trước giáng sinh, trong một đợt bão tuyết, Huân lên đài quan sát để thực hiện một số kiểm tra cuối cùng trước kì nghỉ lễ và trước khi kính được đưa tới đặt ở Chile. Điều kiện bão tuyết khắc nghiệt và không khí loãng trên đỉnh núi cao đã làm anh chết ngạt trong lúc ngủ. Huân đã ra đi ngay sau khi đài thiên văn POLARBEAR được hoàn thành và chuẩn bị sứ mạng khoa học mang tính cách mạng của mình.  Năm 2010, kính được dời đến sa mạc Atacama, Chile, gần với vị trí của đài giao thoa ALMA do điều kiện khí quyển tối ưu ở đây. Để tưởng nhớ Huân, đồng nghiệp đã thống nhất đặt tên cho kính là kính thiên văn Huan Tran. Chỉ hai năm sau đó, thí nghiệm POLARBEAR trên kính thiên văn Huan Tran, độc lập với SPT,  đã đo đạc được độ phân cực B-mode gây ra do hiện tượng thấu kính trọng trường. BICEP2 ngay sau đó đã công bố đo đạc được độ phân cực B-mode nguyên thủy.   Huân đã ra đi nhưng dấu ấn của anh trong ngành vũ trụ học quan sát cũng như trong tâm trí gia đình, bạn bè và đồng nghiệp vẫn còn đó. Người ta sẽ vẫn còn nhắc đến anh như một nhà tiên phong trong lĩnh vực vũ trụ học quan sát.   Nguyễn Quang Vinh tổng hợp  —  Tư liệu tham khảo:  1. http://arxiv.org/abs/1307.5830  2. http://arxiv.org/abs/1403.3985  3. http://arxiv.org/pdf/1403.2369v1.pdf  4. Luận văn của Trần Huân: http://wwwphy.princeton.edu/cosmology/mintweb/publications/tran.pdf  5. http://mountainpolarbear.blogspot.ca/2009/09/polarbear-telescope-assmebly-is.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trận thủy chiến Bạch Đằng: Những mảnh ghép      Thương hải tang điền, ngót nghét bảy thế kỷ từ khi Trương Hán Siêu cảm khái thành lời bài phú nổi tiếng, khung cảnh núi rừng hoang vu nơi cửa biển của thế kỷ 13 dù không còn dấu vết nhưng đây đó vẫn có nhiều nhà nghiên cứu đang cố gắng đưa từng di vật của quá khứ – từng mảnh ghép về một trận thủy chiến danh tiếng trong lịch sử – ra ngoài ánh sáng.          Sa bàn minh họa trận Bạch Đằng 1288, đặt tại Đền thờ Trần Hưng Đạo, Q.3, TP.HCM, do họa sĩ Nguyễn Trung Tín và cộng sự thực hiện. Nguồn: Thanh Niên.  Sông Bạch Đằng, nơi mà chiều rộng và chiều sâu con nước trở thành con đường thủy lý tưởng nhất đi vào trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, cũng là nơi đã chứng kiến nhiều hơn ba trận đánh quan trọng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam trung đại. Trong số đó, chiến thắng năm 1288 thời Trần có lẽ là một trong những sự kiện lịch sử Việt Nam được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất hiện nay.    Chiến trường từ trang sách     Tại Việt Nam, nỗ lực có hệ thống để hiểu về Bạch Đằng hay toàn bộ lịch sử ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông nói chung chỉ thực sự bắt đầu từ những năm 1950-1960. Trong đó, công trình Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII được coi kinh điển của GS. Hà Văn Tấn và PGS. Phạm Thị Tâm (xuất bản lần đầu năm 1968) mô tả lại toàn bộ diễn biến của ba cuộc chiến chống quân Nguyên Mông đã trở thành bản lề cho các hiểu biết ngày nay về cuộc chiến.     Theo nghiên cứu này, các cuộc xâm lược thất bại vào năm 1257-1258, nối tiếp sau đó là thất bại năm 1284-1285 khiến Hốt Tất Liệt (Kublai Khan) âm mưu phục thù. Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyên này đình chỉ kế hoạch xâm lược Nhật Bản để dồn sức cho cuộc xâm lược lần thứ ba vào cuối năm 1287. Chiến lược mới được xây dựng: ngoài bộ binh, có thêm cánh quân thủy gồm 500 chiến thuyền cùng 70 thuyền lương theo đường biển từ Vân Đồn ngược sông Bạch Đằng đến chiếm giữ Vạn Kiếp, vừa để đảm bảo lương thực, vừa bổ sung lực lượng cho hai cánh quân bộ.     Quân Nguyên một lần nữa chiếm được Thăng Long, nhưng rơi vào cảnh thiếu lương thực mà vẫn không thể nào bắt được hai vua Trần hay phá được chủ lực quân Đại Việt. Bị đánh phá liên tục, nhất là sau khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư phá tan ở cửa biển Vân Đồn, cuối tháng 2/1288, chỉ huy quân Nguyên là hoàng tử Thoát Hoan (Togan) buộc phải rút lui theo hai đường thủy bộ. Đoán được kế hoạch này, Trần Hưng Đạo đã tổ chức cho quân Trần đánh chặn dọc theo con đường rút quân của quân Nguyên từ Vạn Kiếp, xuôi theo sông Lục Đầu, Kinh Thầy, vào sông Đá Bạch để dồn quân Nguyên vào vùng cửa sông Bạch Đằng. Nhờ dựa vào chế độ thủy triều, một trận chiến kịch tính diễn ra từ sáng sớm đến chiều ngày 9/4/1288 đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền chiến 500 chiếc, bắt sống nhiều tướng Nguyên như Ô Mã Nhi (Omar) và Phàn Tiếp. Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.     “Tiếp kình ba ư vô tế, trám diêu vĩ chi tương mâu.  Thủy thiên nhất sắc, phong cảnh tam thu.  Chữ địch ngạn lô, sắt sắt sâu sâu.  Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu.”  (Lớp lớp sóng kình muôn dặm: xanh xanh đuôi trĩ một màu.  Nước trời một sắc phong cảnh ba thu,  Bờ lau xào xạc bến lách đìu hiu.  Sông chìm giáo gẫy: gò đầy xương khô) …  (Trương Hán Siêu, “Bạch Đằng Giang Phú” (Thơ văn Lý-Trần tập II, Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên dịch).  “Cho đến nay, giới sử học Việt Nam nói chung đều cho rằng công trình nghiên cứu này là một kiệt tác chưa có ai vượt qua được,” PGS.TS. Đặng Hồng Sơn (Đại học KHXH&NV – ĐHQGHN) khẳng định.     Chỉ riêng việc tập hợp số lượng lớn tư liệu thành văn (sách sử, ghi chép hay bia ký) từ Việt Nam và Trung Quốc đã là thành công lớn của hai tác giả, bởi vì “Trận Bạch Đằng là một trận rất lớn nhưng các sử liệu cũ cho ta biết rất ít về chiến thắng oanh liệt này” – như hai tác giả từng nhận xét. Ngoài ra, một phần không nhỏ mô tả lịch sử phải được xây dựng bổ sung tư liệu từ truyền thuyết dân gian, khảo cổ học hay địa chất-thủy văn. Trong đó, việc sử dụng tư liệu từ khảo cổ học – một nguồn tư liệu sử ngày đó vẫn còn rất mới mẻ – đã đóng một vai trò rất quan trọng.     Đến công trường khai quật     “Để nghiên cứu trận địa Bạch Đằng đảm bảo tính chất khoa học và giá trị lịch sử có tính chân xác thì phải dựa vào các tài liệu khai quật khảo cổ học”, PGS. Sơn giải thích: “Trong đó, những cuộc khai quật đầu tiên tìm ra hệ thống các bãi cọc có giá trị nhất.”             Bản đồ vị trí đã phát hiện và có báo cáo phát hiện bãi cọc ở hai bờ sông Bạch Đằng, kèm chú thích tên địa danh. Dựa trên bản đồ của Randall Sasaki và bản đồ địa hình của Cục Bản đồ Quốc phòng Hoa Kỳ vẽ khu vực Quảng Yên (MS 6350 I) năm 1983.   Bước ngoặt nghiên cứu bắt đầu từ năm 1953, khi người dân phát hiện nhiều cọc gỗ cổ dưới lòng đất trong quá trình đắp đê sông Chanh. Thông tin về số cọc đến hàng nghìn chiếc được đào lên trên cánh đồng xã Yên Giang, Quảng Yên khi đó đã đưa đến cuộc khai quật đầu tiên vào năm 1958 bởi các chuyên gia từ Vụ Bảo tồn Bảo tàng – Bộ Văn hóa. Công việc được tiếp tục trong các năm 1965, 1969, 1976, 1984, và đặc biệt là đợt nghiên cứu liên ngành năm 1988, với sự tham gia của các nhà sử học, Hán Nôm học, địa chất và khảo cổ học. Đến năm 2005, các chuyên gia tiếp tục khai quật bãi cọc thứ hai ở đồng Vạn Muối trên đảo Hà Nam (bên hữu sông Chanh, phía nam bãi Yên Giang), trên vị trí vốn là dòng cũ bị lấp của sông Kênh [xem bản đồ]. Những kết quả này giúp củng cố nhận định lịch sử rằng chiến trường cọc gỗ có tồn tại và được phân bố trên các sông nhánh bên tả ngạn Bạch Đằng.1     Tuy vậy, trong suốt thời gian dài, việc xác định niên đại chính xác của các cọc gỗ cũng như giải thích rõ ràng liên hệ giữa bãi cọc với trận chiến 1288 là câu hỏi hóc búa với các nhà nghiên cứu trong nước. Thực tế, nỗ lực đầu tiên nhằm xác định niên đại các cọc gỗ Yên Giang vào cuối những năm 1980, được thực hiện tại CHDC Đức cũ không thật sự thuyết phục.     Vào năm 2009, TS. Lê Thị Liên (Viện Khảo cổ học) – người chủ trì khai quật tại Bạch Đằng từ năm 2005 – cùng GS. Staniforth (ĐH Flinder, Australia), TS. Randal Sasaki (ĐH Texas A&M), và TS. Jun Kimura (ĐH Tokai, Nhật Bản) và nhiều chuyên gia khác đã hợp tác xây dựng một nhóm Nghiên cứu chiến trường Bạch Đằng, sau này phát triển thành Dự án Khảo cổ học Hàng hải Việt Nam (VMAP). Họ đã tiến hành nghiên cứu khảo sát địa hình và khai quật một bãi cọc mới tại Đồng Má Ngựa, cách Đồng Vạn Muối 1,5km về phía đông nam. “Những bãi cọc mà chúng tôi xác định, kể cả cọc còn lộ thiên trên đồng ruộng mà người dân đang cày cấy, phải dài đến hàng trăm mét”, TS. Liên nói với chúng tôi, “Phải nói rằng đó là một chiến trường rất rộng lớn.”     Tại ba bãi cọc, người ta phát hiện những cây cọc lớn có đường kính từ 20-30 cm và chiều dài còn lại trên dưới 2m, đẽo nhọn một đầu 40-50cm và được cắm vào lớp cát trong lòng các nhánh sông. Trong khi đó, các cọc nhỏ được bố trí thành các cụm ở ven bờ hay bãi triều theo nhiều hướng khác nhau – thường là ngược hướng dòng chảy. Sự bố trí cọc có thể thành lớp dày đặc như ở Đồng Má Ngựa, hoặc bố trí hình zigzag (chữ chi) như ở Đồng Vạn Muối. Để đóng cọc, phương pháp “dộng lắc” được sử dụng sao cho chân cọc đâm lún xuống lớp cát đáy sông. Kỹ thuật này vẫn phổ biến khi nó “vốn được các ngư dân áp dụng để đóng các cọc đáy lưới đánh bắt cá”, nhóm nghiên cứu giải thích.2      “Nhân lúc nước triều lên, Vương (Trần Hưng Đạo) cho quân khiêu chiến rồi giả thua chạy, giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc hết. Nguyễn Khoái chỉ huy quân Thánh Dực Nghĩa Dũng đánh nhau với giặc (…) Hai vua đem quân tiếp chiến, tung quân đánh lớn, quân Nguyên chết đuối nhiều không kể xiết, nước sông do vậy đỏ ngầu cả.” (Đại Việt Sử ký Toàn thư, q.5, t.54a.)      Cọc gỗ tại Đồng Má Ngựa cũng được cho giám định với kết quả 4 mẫu đều cho niên đại từ 1280 đến năm 1400 – có thể xem là trùng với thời điểm trận Bạch Đằng 1288. Một phân tích khác do Đại học Lâm Nghiệp thực hiện năm 2010 chỉ ra các loại gỗ được sử dụng bao gồm lim, chỏ chỉ, giẻ đỏ, chò nâu, chẹo tía… được lấy từ các cánh rừng quanh khu vực Quảng Yên.3     Việc thám sát địa hình bằng ra-đa xuyên đất và nghiên cứu mũi khoan trầm tích cho thấy bức tranh vùng cửa sông Bạch Đằng cổ phức tạp hơn những gì chúng ta nhìn thấy ngày nay: những doi đất cao hay gò cát lớn nhỏ ở ven sông Chanh hay đảo Hà Nam chia cắt tạo thành rất nhiều đường nước nhỏ mà kết hợp cùng các ghềnh đá (Ghềnh Cốc hay Ghềnh Chanh), chúng mở rộng hay thu hẹp theo nước triều lên xuống, tạo ra địa thế rộng lớn và hiểm trở.     Những dòng chảy lớn hơn có thể trở thành đường di chuyển cho tàu chiến. Tuy nhiên, cọc gỗ không bố trí để chặn ngang dòng, nơi đáy sông cổ có thể sâu nhất tới 15-16m. “Chúng tôi nhận ra là dòng chảy quá sâu và quá khó [để có thể đóng cọc]”, GS. Staniforth nhận xét trên tạp chí Archaeology năm 2016. Cách bố trí cọc do đó sẽ hướng đến việc làm thu hẹp các dòng chảy, phối hợp với các ghềnh đá tạo vật cản cho thuyền lớn. Các cọc nhỏ được cắm vào các bãi lầy xen giữa các gò đất cao (như ở Đồng Vạn Muối) giúp ngăn không cho quân Nguyên đổ bộ lên bờ, vị trí nơi cung thủ nhà Trần có thể chốt giữ. “Các cách đóng cọc khác nhau do đó thể hiện những chiến lược khác nhau ở từng địa thế khác nhau,” TS. Liên nói.         Khai quật bãi cọc Đồng Má Ngựa. Nguồn: Bảo tàng Quảng Ninh.  Trên một chiến trường rộng lớn kéo dài 5km từ núi U Bò (Thủy Nguyên, Hải Phòng) đến Ghềnh Cốc và các lạch nước triều, quân Nguyên thực sự đã rơi vào một cái bẫy lớn. Một vòng vây khép kín tạo ra bởi quân bộ hai bên bờ, phối hợp với hỏa công và thủy quân dồn quân Nguyên vào bãi cọc dần lộ ra khi nước triều rút. Những dãy cọc lớn đánh đắm hoặc cản đường thoát của tàu chiến, trong khi các bãi cọc nhỏ làm chướng ngại đã đẩy quân Nguyên vào chỗ tử địa – hàng nghìn quân tướng bị chết đuối, tiêu diệt hay bắt sống.     Bãi cọc có thể là nơi chứng kiến giai đoạn quyết liệt để kết thúc trận đánh     Những dấu tích phát hiện trên đảo Hà Nam cũng cho thấy đây là nơi diễn ra của trận quyết chiến cuối cùng trên bờ. Bãi cọc Đồng Má Ngựa “có thể là nơi chứng kiến giai đoạn quyết liệt nhằm kết thúc trận đánh”, theo nhóm nghiên cứu.     Ở độ sâu từ 2m đến 2,3m, một lớp than tre và vụn than mỏng đã được phát hiện có thể là vết tích của thuyền nan hay bè tre sử dụng làm hỏa công trong trận chiến còn lại đến ngày nay. Cũng cùng lớp bùn cát với chân cọc, nhiều mảnh sành sứ, “trong đó có cả một mảnh sứ thời Nguyên, giống hệt kiểu bát sứ của quân Nguyên phát hiện được tại chiến trường Takashima (vịnh Imari, phía Bắc đảo Kyushu, Nhật Bản).” Các nhà khảo cổ cũng kỳ vọng có thể tìm được cả vũ khí quân Nguyên sử dụng – như là loại lựu đạn chứa các mảnh sứ từng được phát hiện tại di chỉ Takashima thuộc về cuộc xâm lược khác của nhà Nguyên vào Nhật Bản năm 1281.     Việc phát hiện xác tàu chiến cũng sẽ là một bước ngoặt. Đây cũng là hi vọng lớn nhất của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các chuyên gia nước ngoài từng tham gia phát hiện một tàu chiến thời Nguyên dưới lòng vịnh Imari. Cơ hội xuất hiện vào năm 2012 khi họ làm khảo sát từ trường tại cánh đồng Lòng Thong, nơi có các dòng chảy cổ gần bãi cọc Đồng Má Ngựa. Dấu hiệu nhận biết xác tàu tại đây dựa vào tín hiệu của máy đo từ trường, TS. Liên kể lại, vì nghiên cứu thuyền thời Nguyên cho thấy việc người ta đã sử dụng rất nhiều đinh sắt.     Nhóm bắt đầu đào thám sát tại địa điểm nói trên. Ở độ sâu trên 2m, xuyên qua một lớp hàu rất dày, họ tìm được một mảnh gỗ vuông vức. “Mọi người đều rất xúc động,” TS. Liên kể lại. “Thế nhưng đến năm sau, khi mở cuộc khai quật lớn hơn thì chủ ruộng không cho đào. Mà khi hố đào đặt lệch đi, dấu tích cũng không thấy nữa.” Việc tìm kiếm vì thế mà phải tạm ngừng.     Nhưng các nỗ lực nghiên cứu khác vẫn tiếp tục bên ngoài các bãi cọc Quảng Yên. Tháng 12 năm 2019, TS. Lê Thị Liên cùng đoàn nghiên cứu Viện Khảo cổ và Bảo tàng Hải Phòng lại vừa công bố phát hiện một bãi cọc tại Cao Quỳ (Thủy Nguyên, Hải Phòng), 18 km ngược dòng Bạch Đằng về phía Tây Bắc. 27 cọc gỗ được phát hiện trên 3 hố đào với diện tích 950m2 khiến dư luận xã hội rất quan tâm.     “Bây giờ khi phát hiện ra Cao Quỳ thì ta càng thấy đây là một chuỗi chiến trường chứ không phải một,” TS. Liên nhận định. Thực ra quan điểm này đã được các nhà nghiên cứu đưa ra từ trước đây nhưng trong nhiều năm qua chưa có điều kiện kiểm chứng trên thực địa. Trong số đó có cả giả thiết về việc có một đại bản doanh của Trần Hưng Đạo đặt trong dãy núi Dương Nham, hay việc có một trận chiến Trúc Động trên dòng sông Giá, nhưng đến nay vẫn chưa được kiểm chứng bằng tư liệu khảo cổ.     Trong khi đó, việc phát hiện các cọc gỗ tại Cao Quỳ, có kích thước lớn và được đóng cách xa nhau đến 3-4 mét, đưa đến một gợi ý: Liệu đây có thể là một trận địa nằm trong nỗ lực đánh chặn, dồn tàu địch đi theo sông Đá Bạch? Và như vậy, câu hỏi còn được đặt ra về vị trí thực của các trận chiến tại Trúc Động vào hai thời điểm khác nhau được sử liệu nhắc tới, TS. Liên nói thêm.     Không gian nghiên cứu vẫn tiếp tục được mở rộng. Ngay bờ kia sông nơi phát hiện bãi cọc Cao Quỳ, một nhóm nghiên cứu khác của TS. Nguyễn Văn Anh (ĐH KHXH&NV, Hà Nội) vừa bắt đầu khai quật di tích Thiên Long Uyển bên núi Phượng Hoàng (Yên Đức, Đông Triều, Quảng Ninh). Cùng lúc đó, nhóm TS. Trần Anh Dũng (Viện Khảo cổ học) lại đang quan tâm đến một nhóm di tích và di vật mới phát hiện ở núi Dương Nham (Kinh Môn, Hải Dương). Cùng nghiên cứu các địa điểm có liên hệ đến thời Trần, hai nhóm nghiên cứu đang có cùng hi vọng tìm được liên hệ giữa chúng với một hay nhiều căn cứ của hai vua Trần trong trận chiến Bạch Đằng. “Những địa hình và dấu tích còn lại ở hang Son, núi Phượng Hoàng đặt ra khả năng đã được chọn làm vị trí tham chiến của quân dân nhà Trần”, TS. Liên nói.     ***  Liệu điều này có nghĩa là việc khai quật toàn diện chiến trường Bạch Đằng là bất khả thi?     Địa hình sông nước với mạng lưới dòng chảy phức tạp, khả năng đổi dòng khôn lường cùng với sự phân bố rất rộng của nhiều di tích thời Trần làm các nỗ lực khảo sát đầy đủ càng khó khăn: “Chúng ta có thể thấy là từ Hải Dương, Quảng Ninh, bên Quảng Yên và từ Đông Triều đến Hải Phòng – một không gian rất rộng lớn như vậy thì những phát hiện lẻ tẻ ở Quảng Yên hay ở Hải Phòng chưa thể là toàn vẹn cho một trận địa [như Bạch Đằng] được,” TS. Sơn nhận xét. “Chính bởi vì vậy mà những nghiên cứu trước đây và đến tận bây giờ chủ yếu vẫn là một sự kết hợp giữa thư tịch và điều tra môi trường, đi kèm với các tư liệu dã sử.” □     ——-  Chú thích:   1 Cho đến nay vẫn chưa có bãi cọc nào được phát hiện ở hữu ngạn sông Bạch Đằng. Các nhà nghiên cứu đồng ý rằng địa hình núi đá Tràng Kênh ở hữu ngạn không phù hợp để đóng cọc, trong khi đó lại là một vị trí tốt để giấu quân mai phục. (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm (1970), tr.285-286)  2Kỹ thuật này được chỉ ra trong các cuộc khai quật tại Bãi cọc Yên Giang vào năm 1987 và năm 2014 và lần nữa tại  Bãi cọc Đồng Má Ngựa năm 2010, TS. Lê Thị Liên cho biết.  3Theo báo cáo, một số đuôi cọc còn có lỗ đục thủng hình vuông để buộc dây cho voi hay trâu kéo ra nơi đóng cọc.  4An Nam Chí Lược cũng nhắc đến việc Phàn Tiếp đã chỉ huy quân cố gắng lên bờ “chiếm thế núi cao làm ứng”, trong khi đó Nguyên sử chép thêm “thuyền giặc [chỉ quân ta] tập trung đông, tên bắn như mưa.” (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm (1970), tr. 287)     ——–  Tài liệu tham khảo:  Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1968. (tái bản 1970, 1972, 1975; NXB Quân đội Nhân dân tái bản 2005; NXB Hồng Đức & DtBooks tái bản 2019).  Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chi. Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc. Hà Nội: NXB Quân đội Nhân dân, 1975. (tái bản 2005; NXB Hồng Đức & DtBooks tái bản 2019).  Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc. Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288. Hà Nội: NXB Quân đội Nhân dân, 1988.  Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng. Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm. Hà Nội: NXB Quân đội Nhân dân, 2012.  Lê Thị Liên, Mark Staniforth, Jun Kimura, “Vai trò của các bãi cọc ở chiến trường Bạch Đằng Nhận thức mới từ những kết quả khảo cổ học gần đây.” Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Bạch Đằng và Nhà Trần trong bối cảnh thế giới thế kỷ XIII. Hạ Long, 2018.  Đặng Hồng Sơn, Kiều Đình Sơn, “Cuộc xâm lược của Mông – Nguyên ở Việt Nam qua một số tư liệu khảo cổ học thời Trần”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Bạch Đằng và Nhà Trần trong bối cảnh thế giới thế kỷ XIII. Hạ Long, 2018.  Phát hiện tại Cao Quỳ và sự quan tâm của chính quyền địa phương đang được kỳ vọng sẽ là chìa khóa mới mở ra các nghiên cứu toàn diện hơn về chiến trường Bạch Đằng trong tương lai. “Không gian nghiên cứu là rất rộng”, TS. Liên nhận xét, “nhưng khả năng nghiên cứu đến đâu thì mình cũng phải căn cứ vào thực tế”. Bởi vì các nghiên cứu quy mô lớn cần tới lực lượng nghiên cứu liên ngành, với nhiều nhóm nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có cả chuyên gia trong và ngoài nước, cùng với đó là nguồn lực tài chính cũng như cơ chế phối hợp.    Author                Tuấn Quang        
__label__tiasang Trang trại cao tầng trong tương lai      Đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho các thành phố đông dân cư ngày càng khó khăn hơn. Trong tương lai các thành phố phải tự lo sản xuất thực phẩm để thoả mãn nhu cầu của mình. Các kỹ sư và những người bảo vệ môi trường đang xây dựng các dự án trang trại theo chiều cao ở ngay trong lòng đô thị.    Cách đây 200 năm khi các thành phố ở châu Âu phát triển có tính bùng nổ thì đông đảo nông dân tại đây đứng trước một loạt khó khăn hết sức nan giải: Những cánh đồng bao quanh làng mạc ngày càng bị các thành phố lớn thâu tóm. Nạn nghèo đói phát triển tràn lan. Dân nghèo ở các đô thị buộc phải dành một phần đất ở quanh nhà mình để trồng rau, quả và chăn nuôi nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu của bản thân – đây chính là một dạng nông nghiệp trong lòng đô thị từng khá phát triển trong thời kỳ đó. Ngày nay những mảnh vườn này không còn có chức năng cung cấp thực phẩm như trước. Nhưng vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm cho các thành phố lớn hiện đại, ngành càng phình to, cho đến nay vẫn là một thách thức lớn đối với các thành phố.          Một nông trại trong nhà cao tầng: máy phun nước cho toàn bộ cây trồng trong nhà kính.  Rô bôt có khả năng phân biệt mầu sắc nhận biết những quả chín trên cây để thu  hái. Để tận dụng không gian tốt nhất cà chua leo  trồng xen kẽ với các loại rau thấp cây.          Để cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho người dân một thành phố diện tích đất nông nghiệp phải lớn gấp mười lần diện tích của thành phố đó. Đến năm 2030 sẽ có khoảng 4,8 tỷ người là dân thành phố và theo tính toán thì đến năm 2050 phải có khoảng 1 tỷ ha đất trồng trọt. Diện tích này tương đương diện tích Brazil và thế giới không thể có thêm một diện tích trồng trọt ở tầm cỡ đó. Nhu cầu về ăn của các các thành phố đã vượt quá khả năng của ngành nông nghiệp vì thế các kỹ sư, kiến trúc sư và những nhà bảo vệ môi trường đang nghĩ đến phương án xây dựng một ngành nông nghiệp ở ngay trong lòng đô thị: thay vì dành đất cho nông nghiệp trong tương lai nông nghiệp phải phát triển theo chiều cao. Các trang trại theo chiều cao sẽ xuất hiện bên cạnh những ngôi nhà cao tầng thông thường ở các thành phố.  Những trang trại cao tầng này có thể đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, rau quả của hàng vạn người dân thành phố. Trang lại loại này chỉ cần một phần rất nhỏ về diện tích, một lượng rất nhỏ về nước  tưới và năng lượng điện so với sản xuất nông nghiệp thông thường.  Đây là một kế hoạch tuyệt vời xét về khía cạnh sinh thái vì các loại nông sản thực phẩm bày bán trong các siêu thị thường phải vận chuyển xa hàng nghìn km. Ngay việc vận chuyển này cũng đã là một áp lực đối với môi trường. Theodore Caplow, Giám đốc Văn phòng Công nghệ – Kỹ thuật Sun WorksModerne ở New York cho rằng nhà trồng cây cao tầng trong thành phố là một giải pháp cực kỳ hiệu quả. So với sản xuất nông nghiệp trên đồng ruộng lượng tiêu thụ nước trong các trang trại cao tầng chỉ bằng một phần mười và nhu cầu về đất chỉ bằng năm phần trăm. Caplow dự kiến bước đầu tiên là xây dựng nhà vườn trên mái nhà hộp ở các thành phố hiện đại. Ông này còn có ý định cải tạo các bức tường nhà văn phòng cao tầng để trồng cây xanh .    Mùa hè năm ngoái Caplow đã xây dựng một vườn nổi gồm  cà chua, cà, dưa chuột, xà lách và dưa hấu trên một cái xà lan ở trên sông Hudson. Ông dùng  nước thải để tưới và sử dụng năng lượng tái sinh. Với khu vườn nổi này  Caplow chứng minh có thể sản xuất bền vững thực phẩm ngay trong lòng thành phố. Theo tính toán mỗi người dân New York tiêu thụ mỗi năm bình quân 100 kg rau, quả. Nếu tận dụng triệt để nhà mái bằng ở thành phố này thì có thể tạo một lượng nông sản thực phẩm nhiều gấp đôi nhu cầu của người dân ở đây.    Tới đây người ta dự kiến sẽ xây dựng một nhà trồng cây trong một trường học, đây sẽ là nơi học sinh học về sinh vật học và rau quả thu hoạch tại đây sẽ được dùng cho bếp ăn của trường. Caplow còn dự định trồng cây ở dọc tường kính các cao ốc văn phòng vừa để tiết kiệm nhiệt vừa sản xuất rau xanh. Người ta sẽ thiết kế một loại thang máy để thu hoạch thủy canh dọc các bờ tường cao ốc.  Tất nhiên các trang trại trong thành phố không thể thay thế hoàn toàn sản xuất nông nghiệp thông thường. Thí dụ người ta không thể trồng các loại lúa mì, lúa hoặc ngô vì nhu cầu diện tích quá cao. Trồng cây ngắn ngày như các loại rau sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Thực hiện chăn nuôi trong các  trang trại cao tầng ở thành phố đòi hỏi phải thực hiện một số yêu cầu về công nghệ  để giải quyết vấn đề chất thải. Người ta cũng đã nuôi thử một số loại cá bè trên sông Hudson, trên bè trồng rau xà lách. Theo ông Caplow  cần phải tiếp tục tiến hành một loạt công trình nghiên cứu trước khi thực hiện chăn nuôi trong các trang trại cao tầng ở đô thị.          Các kiến trúc sư, kỹ sư và những nhà bảo vệ môi trường dự kiến xây dựng các trang trại theo chiều cao ở  trong lòng  đô thị          Cách đây bảy năm người ta đã dự định xây dựng một trang trại cao tầng đầu tiên trên thế giới ở khu vực cảng Rotterdam (Hà Lan). Các nhà khoa học dự định làm một trang trại năm tầng bên trên trồng rau, ở tầng dưới nuôi gà và lợn. Theo thiết kế thì nước, các chất thải chăn nuôi và trồng trọt trong ngôi nhà này sẽ được tái sử dụng. Tuy nhiên do bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ nên ý đồ thực hiện trang trại thí điểm này đã không thể thực hiện mặc dù Bộ Nông nghiệp Hà Lan ủng hộ dự án này.  Theo các nhà nghiên cứu và chuyên gia quy hoạch thì trang trại cao tầng có thể vươn lên độ cao lớn. Theo giáo sư Dickson Despommier thuộc Đại học   Columbia ở New York thì một tòa tháp cao 30 tầng có thể cung cấp đủ rau, quả, trứng, thịt gia cầm và cá để nuôi 50.000 người. Cùng với sinh viên từ nhiều năm nay vị giáo sư này đã xúc tiến dự án trang trại cao tầng trong lòng thành phố. Ông dự kiến trong toà tháp 30 tầng, tầng trên trồng thuỷ canh, ở dưới là trại gà và bể nuôi cá. Năng lượng cung cấp cho toà nhà này là năng lượng gió và tế bào quang điện. Theo giáo sư Despommier thì những dự án loại này sẽ có nhiều thuận lợi ở những nơi có nhiều nguồn năng lượng tái sinh như ở Island hoặc Newseeland.  Trong thực tế việc thực hiện các ý tưởng của giáo sư Despommier không hề đơn giản. Cần thực hiện một loạt giải pháp công nghệ mới hiện chưa có.  Nhu cầu năng lượng  để chiếu sáng và điều hoà nhiệt độ đối với một trang trại cao tầng rất lớn. Chi phí đầu tư  xây dựng  loại trang trại này rất cao, đây là một bài toán về hiệu quả kinh tế cho tới này chưa có lời giải thoả đáng.  Gene Giacomelli, Giám đốc Controlled Environment Agriculture Center thuộc Đại học Arizona ở Tucson hiện đang nghiên cứu về một số giải pháp đối với trang trại cao tầng. Ông đang thử nghiệm dùng cáp quang có khả năng đưa ánh sáng mặt trời vào bên trong ngôi nhà. Cạnh đó cần nghiên cứu về các hệ thống xử lý khí CO2, O2 và độ ẩm không khí. Giacomelli và cộng sự đã nhận được một khoản tài trợ 300.000 Euro để xây dựng một nhà trồng cây ở Nam cực. Tại tòa nhà này người ta sẽ trồng các loại rau quả cung cấp cho các nhà khoa học, các chuyên gia kỹ thuật làm việc tại khu vực có điều kiện thời tiết và điều kiện sinh hoạt vô cùng khắc nghiệt.    Theo Giacomelli thì  trang trại cao tầng vẫn còn là chuyện tương đối xa vời. Ông cho rằng trong giai đoạn đầu  không nên xây dựng các tòa nhà mới mà tận dụng, cải tạo các công trình hiện có qua đó có thể giảm chi phí đầu tư ban đầu. Một khó khăn không nhỏ cần phải vượt qua đó là sự phản đối của dư luận đối với việc sản xuất rau quả theo phương pháp công nghiệp, như đã từng xảy ra ở Hà Lan.      Một lo ngại nữa là giá thành sản phẩm ở các trang trại Hightech trong giai đoạn đầu nhất định cao hơn so với sản phẩm nông nghiệp thông thường.  Tuy nhiên trong điều kiện giá dầu không ngừng tăng thì hiệu quả kinh tế của loại hình sản xuất trong các trang trại cao tầng sẽ ngày càng tăng lên. Các chuyên gia cho rằng có lẽ Trung Quốc sẽ là nơi xuất hiện các trang trại cao tầng đầu tiên trên thế giới. Hiện tại giáo sư Despommier đang cộng tác với các chuyên gia thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc  xây dựng một trang trại cao tầng thí điểm ở ngoại ô thủ đô Bắc Kinh. Tại đây sẽ xây dựng một trang trại cao năm tầng với nhiều tiệm ăn sử dụng sản phẩm của trang trại này. Các chuyên gia Hà Lan như Broeze, Smeets sẽ phối hợp với chuyên gia Trung Quốc xây dựng ở Dongtan ngoại ô thành phố Thượng Hải một trang trại cao tầng, đã bị thất bại ở Hà Lan. Người ta dự kiến xây dựng tại Đông Tân một thành phố bền vững, không gây ô nhiễm không khí và  lượng khí thải CO2 chỉ ở mức  trung bình. Người ta dự kiến sản xuất tại đây một lượng thực phẩm tương đương với lượng nông sản được sản xuất trên một diện tích tương tự trên đồng ruộng. Ông Peter Head, phụ trách quy hoạch dự án Đông Tân cho rằng kinh nghiệm thu được ở Trung Quốc sẽ thay đổi cơ bản quan niệm người dân trên thế giới đối với sản xuất nông nghiêp tại các trang trại cao tầng. Peter Head khẳng định: “Vấn đề đặt ra không phải là, làm nông nghiệp trong thành phố hay ho như thế nào. Vấn đề đặt ra là, chúng ta có muốn tồn tại hay không”.  Xuân Hoài dịch Spiegel online  5.5.08  Gretchen Vogel      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh cãi nguồn gốc đại dịch: Vai trò của chợ Hoa Nam ?      Cuộc tranh cãi về nguồn gốc đại dịch COVID tiếp tục nổ ra, sau các bài báo xuất bản trên Science.    Nhiều động vật hoang dã trong các trang trại ở Trung Quốc nhạy cảm với coronavirus. Nguồn: DW  Mỗi lần đi qua đây, tôi đều cảm thấy rùng mình”, một tài xế taxi nói như vậy khi lượn xe gần chợ bán buôn hải sản Hoa Nam ở Vũ Hán, Trung Quốc. Khu chợ bán đồ tươi sống này – ngoài ra còn có cả gia cầm sống, các quầy thịt lợn, thịt bò – là nơi phần lớn các bệnh nhân COVID-19 giai đoạn đầu làm việc hoặc lui tới mua bán trước khi nhập viện  vào tháng 12/2019. “Từ Hoa Nam đã đồng nghĩa với virus”, ông nói.  Kể từ ngày 1/1/2020, khu chợ này đã bị cấm người lui tới, và ngừng hoạt động sau những hàng rào xanh. Nhìn xuyên qua song sắt ở cánh cổng, tôi thấy những chiếc ghế xanh trống rỗng, lưới cá chỏng chơ và vài cái hộp đựng đồ đông lạnh…  Khi cả thế giới bước vào năm đại dịch thứ ba, nguồn gốc chính xác của virus gây bệnh và vai trò của chợ Hoa Nam trong việc kích hoạt dịch vẫn còn gây tranh cãi. Phần lớn chuyên gia đồng ý với nhau là COVID-19 xuất hiện do hiện tượng vượt qua hàng rào loài (zoonotic spillover) – xảy ra khi một con virus từ động vật hoang dã nhảy sang người. Nhưng vẫn chưa rõ một cách chính xác là việc vượt qua hàng rào loài này xảy ra khi nào và ở đâu. Việc xác định nơi chốn không chỉ là vấn đề quan tâm của giới học thuật mà còn “quan trọng đối với những ngụ ý chính sách” có thể giúp đưa ra các biện pháp ngăn ngừa đại dịch tiếp theo, theo Roger Frutos, một nhà vi trùng học ở ĐH Montpellier, Pháp.  Tuần vừa qua, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã xuất bản hai nghiên cứu trên tạp chí Science cùng đi đến kết luận là chợ Hoa Nam là trung tâm của đại dịch. Công trình của họ đề xuất hai diễn giải về SARS-CoV-2 nhảy từ động vật sang người trong hai sự kiện khác nhau, đều trong bối cảnh chợ.  Hai nghiên cứu này tiếp nối những nghi ngờ trước đây là “động vật trong chợ là yếu tố chính của lan truyền bệnh giai đoạn đầu”, Dominic Dwyer, một nhà miễn dịch học tại ĐH Sydney, Australia, nói. Ông không tham gia vào nghiên cứu trên nhưng là thành viên của đoàn chuyên gia WHO từng tới Vũ Hán vào năm ngoái để đi tìm nguồn gốc của COVID-19. “Rõ ràng là các con virus này đã lưu hành ở chợ và sau đó lây truyền ra ngoài”.    “Việc truy tìm nguồn của một dịch bệnh mới từ động vật như mò kim đáy bể, và là thách thức bởi dấu vết lây nhiễm trong một quần thể động vật có thể rất mờ nhạt” (nhà vi trùng học Ronald Rosenberg)    Nhưng các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi là liệu có phải một con vật bị lây nhiễm hay một người mắc bệnh đã mang virus tới chợ? Những gì tiếp theo là các nhà khoa học vẫn phải tìm cho ra bằng được một con vật bị nhiễm virus tổ tiên của SARS-CoV-2, vì vậy kết luận nhảy loài diễn ra ngay tại chợ vẫn còn dựa vào bằng chứng ngẫu nhiên. “Chúng ta không nên dựa vào những lời tuyên bố về sự tương quan giữa các hiện tượng”, Virginie Courtier, nhà sinh học tiến hóa ở trường ĐH Paris, Pháp lưu ý.  Rõ ràng là Hoa Nam đã bán động vật hoang dã rất “nhạy” với SARS-CoV-2 vào cuối năm 2019. Nhưng chuyện nhảy loài có thể đã xảy ra với bất cứ ai trong chuỗi cung cấp tiếp xúc với động vật, trong đó có những người làm ở trang trại nuôi động vật hoang dã, Ronald Rosenberg, nhà vi trùng học tại Fort Collins, Colorado, nói. Theo một báo cáo năm 2017 của Viện Hàn lâm KH Trung Quốc, hàng trăm triệu động vật hoang dã thuộc hàng trăm loài đã được nuôi trong các trang trại để bán ở quốc gia này. Báo cáo ước tính, ngành “công nghiệp buôn bán động vật hoang dã” thu hút 10 triệu nhân công, đem lại lợi nhuận 76 tỉ USD; chỉ một phần tư động vật hoang dã được bán là từ các trang trại.  Các chuyên gia cảnh báo, việc tiếp xúc gần với các loại chợ bán đồ tươi sống hay cấm thương mại động vật hoang dã, như Trung Quốc đã từng hứa hẹn, không đủ để ngăn cản các cơn bùng phát dịch bệnh. “Chúng ta còn phải đối mặt với vấn đề lớn hơn nhiều trong tương lai”, David Redding, một nhà sinh học bảo tồn tại Viện Nghiên cứu Động vật học ở London, Anh, nói.  Khi diện tích trồng trọt mở rộng khắp thế giới, các loài vật khác nhau – gồm cả động vật đã thuần hóa và hoang dã – thông thường rất ít tiếp xúc nhau sẽ có nhiều cơ hội chạm trán và trao đổi các mầm bệnh, tạo ra những ổ virus. Điều này, theo Redding, là gốc rễ không chỉ của SARS và COVID-19 mà còn dẫn đến những bệnh lây nhiễm khác từng xuất hiện với tần suất ngày càng gia tăng trong những thập kỷ gần đây.  Lịch sử rắc rối của các chợ bán đồ tươi sống  Ngay cả trước khi COVID-19 bùng nổ, Hoa Nam và những khu chợ khác đều ẩn chứa những mối lo y tế công cộng bởi tiềm năng là nơi ươm các mầm bệnh mới. Nổi tiếng nhất số này là việc tìm thấy một khu chợ ở Trung Quốc là điểm khởi phát của dịch SARS năm 2002, và một số chợ khác liên quan đến các đợt bùng phát cúm gà trong những năm gần đây.  Một chợ bán đồ tươi sống ở Vũ Hán, Trung Quốc trước khi đại dịch bùng phát. Nguồn: healthpolicy-watch.news  Trên thực tế, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đều thực hiện các cuộc khảo sát thường kỳ việc bán động vật sống ở chợ Hoa Nam. Trong thời kỳ diễn ra một căn bệnh do động vật truyền qua vết cắn có động lực cao, một nhóm nhà khoa học đã kiểm tra bốn chợ ở Vũ Hán – trong đó có Hoa Nam – hàng tháng từ tháng 5/2017 đến tháng 11/2019. Dữ liệu trên tạp chí Scientific Reports vào năm ngoái cho thấy đó là một nguồn tư liệu giá trị cho các nhà khoa học đang muốn tìm hiểu về nguồn gốc của SARS-CoV-2.  Sau đó, nhóm nghiên cứu cho rằng các khu chợ này chứa gần 48. 000 động vật hoang dã thuộc 38 loài, đều được nhốt trong những cái lồng chật chội, tù túng, thiếu vệ sinh – những điều kiện hoàn hảo cho virus và lây truyền. Tất cả các cuộc buôn bán động vật hoang dã mà các nhà khoa học điều tra tại đó đều là bất hợp pháp. Nhiều người buôn bán các loài cần được bảo vệ và không ai có giấy chứng nhận nêu rõ nguồn gốc của động vật hoặc chúng có sạch bệnh hay không.  Cuộc điều tra này là một trong số những bằng chứng quan trọng được nêu trong các công bố mới trên Science, cùng với một nghiên cứu do nhóm chuyên gia của WHO và Trung Quốc thực hiện, vốn được xuất bản vào tháng 3/2021, và một báo cáo từ CDC Trung Quốc tháng 1/2022, miêu tả một số mẫu môi trường được thu thập ở Hoa Nam vào đầu năm 2020.  Phân tích của họ cho thấy phần lớn các mẫu môi trường đều cho kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, tập trung ở khu vực phía Tây Nam của chợ Hoa Nam – nơi những người buôn bán các loài động vật bất hợp pháp, bao gồm lửng chó, cáo đỏ, dúi, dẫn đến những cơn bùng phát dịch sớm. Một quầy hàng ở khu vực này có tới năm mẫu dương tính, bốn trong số đó liên quan đến việc bán động vật hoang dã: một cái lồng kim loại, một thiết bị cắt lông hoặc da, hai thùng vận chuyển.    Dẫu địa điểm chính xác của sự nhảy loài chưa rõ ràng thì phần lớn các nhà vi trùng học và chuyên gia bệnh truyền nhiễm đều đồng ý là việc buôn bán động vật hoang dã ở Trung Quốc đóng vai trò trung tâm trong việc khởi phát đại dịch.    Lời giải thích phù hợp nhất là virus trong những mẫu đó rơi ra từ một con vật đã bị lây nhiễm sẵn và gây ra sự nhảy loài trong chợ, theo Edward Holmes, nhà vi trùng học tại ĐH Sydney ở Australia và là đồng tác giả của hai bài báo trên Science.  Nhưng các nhà khoa học đang săn tìm nguồn gốc của COVID-19 đều thoái chí. Khi Hoa Nam bị nghi ngờ là nơi bùng phát dịch, những người buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp ở đây đều biến mất cùng các món hàng của mình. Rất nhiều nhóm nghiên cứu truy theo dấu vết động vật hoang dã bị lây nhiễm đều không thành công.  Vào ngày 7 đến 18/1/2020, Tian Junhua của CDC Vũ Hán và cộng sự đã thu thập các mẫu từ động vật hoang dã gần thành phố, bao gồm 15 con lửng chó từ các trại cung cấp cho Hoa Nam cùng hàng trăm con dơi; họ không tìm thấy dấu vết của SARS-CoV-2. Các nhà khoa học tham gia đoàn chuyên gia WHO-Trung Quốc đều thất bại trong việc tìm virus khi phân tích hơn 600 mẫu lấy từ các trang trại cung cấp cho Hoa Nam ở Hồ Bắc. Họ cũng phân tích gần 2.000 mẫu lấy từ hơn hai chục loài hoang dã ở các vùng phía Nam Vân Nam, Quảng Đông, và Quảng Tây với các loài dơi mang virus corona nhưng cũng thất bại.  Rosenberg không ngạc nhiên về việc các nhà nghiên cứu trắng tay. Ông cho biết việc truy tìm nguồn của một dịch bệnh mới từ động vật như mò kim đáy bể, và là thách thức bởi dấu vết lây nhiễm trong một quần thể động vật có thể rất mờ nhạt.  Một bức tranh di truyền không rõ ràng  Không có bằng chứng trên động vật hoang dã bị lây nhiễm, một con đường khác để chứng tỏ hiện tượng nhảy loài ở Hoa Nam là tìm cho ra virus trên động vật ở chợ làm khởi phát đại dịch. Nếu COVID-19 xuất hiện khi một virus nhảy từ động vật lên người ở Hoa Nam, thì có thể tìm thấy trong chợ một virus tổ tiên của SARS-CoV-2 khác với virus ở người. Nhưng đến giờ vẫn chưa tìm thấy một loại virus như vậy.  Nhóm phản hồi tình trạng y tế khẩn cấp Vũ Hán lấy mẫu ở chợ Hoa Nam vào tháng 3/2020. Nguồn: CNSPHOTO/VIA REUTERS  Trong một nghiên cứu đang ở giai đoạn tiền xuất bản, một nhóm nghiên cứu do George Gao, giám đốc CDC Trung Quốc (mới từ chức vào tháng bảy), tiết lộ một phân tích toàn thiện 800 mẫu môi trường ở Hoa Nam, bao gồm cả nước thải, bụi sàn, tường, đồ đông lạnh, lồng nhốt. Hai phần ba của 64 mẫu dương tính đều ở khu vực buôn bán động vật sống phía Tây Nam chợ. Bốn trong số đó – không mẫu nào từ quầy số 29 vốn được Holmes và cộng sự tin là nơi xảy ra hiện tượng nhảy loài – đã được giải trình tự hệ gene để so sánh với SARS-CoV-2 được lấy từ người nhiễm. Từ đó, nhóm nghiên cứu Trung Quốc kết luận là các mẫu virus này đều xuất phát từ người hơn là động vật, và khu chợ này là nơi khuếch đại sựlan tràn virus chứ không phải là nguồn gốc.  Nhiều nhà khoa học đều nghi ngờ về điều này. Thật khó để xác minh kết luận từ dữ liệu mà nhóm của George Gao đã sử dụng vì nó không được công khai, Andrew Rambaut, nhà sinh học tiến hóa tại trường ĐH Edinburgh và đồng tác giả hai bài báo trên Science, nói. Anh lưu ý là các mẫu dương tính từ môi trường chợ chứa các vật liệu di truyền từ động vật, và anh muốn biết chúng thuộc loài nào, số  lượng vật liệu di truyền và có thể liên quan đến vị trí các quầy bán động vật hoang dã như thế nào.  Tuy nhiên, tác giả của hai bài báo này đều nghĩ là họ đã tìm ra những manh mối di truyền của sự nhảy loài ở chợ.  Joel Wertheim của trường ĐH California, San Diego, xem xét cẩn trọng gần 800 kết quả trình tự virus vào giai đoạn đầu đại dịch, trước tháng 2/2020, và tìm thấy hai dạng SARS-CoV-2 có sự khác biệt ở hai đơn vị mã hóa di truyền. Weitherm gọi đó là “một dấu hiệu mách bảo” hai phiên bản liên quan với nhau của con virus đã nhảy từ động vật lên người ở hai sự kiện riêng rẽ.  Cả hai chủng A và B từ các mẫu lấy ở chợ Hoa Nam mà nhóm CDC Trung Quốc đã phân tích, theo Michael Worobey, nhà sinh học tiến hóa ở ĐH Arizona ở Tucson và đồng tác giả của bài báo Science. Nếu giả thuyết này là sự thật thì rất có thể chúng đều diễn ra tại chợ chứ không phải là nhiễm bên ngoài chợ rồi mang virus vào.    Không thể trả lời được mọi câu hỏi và có thể không bao giờ biết rõ COVID-19 đến từ đâu. Nhưng chúng ta biết đủ để hiểu rằng các trang trại nuôi động vật hoang dã ở Trung Quốc tiếp tục cho thấy là mối đe dọa về sức khỏe công cộng toàn cầu.    Nhưng cũng có công trình khác đề xuất là một chủng virus thứ ba xuất hiện vào tháng 10 năm đó chính là virus đã xuất hiện trong các chuỗi trình tự SARS-CoV-2. Một nghiên cứu xuất bản tại Bioinformatics vào tháng 3/2022, một nhóm nghiên cứu do Sudhir Kumar, ĐH Temple ở Philadelphia, dẫn dắt đã phân tích hơn 1 triệu chuỗi trình tự SARS-CoV-2 khắp thế giới và kết luận là chỉ có một tổ tiên chung, ngụ ý chỉ là tất cả cùng bắt nguồn từ một cú nhảy loài.  Các nghiên cứu này sử dụng những phương pháp khác nhau để suy ra tiến hóa virus trên cơ sở quan sát chuỗi trình tự gene và các cách tiếp cận đều có nhiều điểm bất định, vì vậy phần lớn các nhà khoa học quan sát các nghiên cứu này đều cho rằng cần xem xét kết luận của họ.  Dẫu địa điểm chính xác của sự nhảy loài chưa rõ ràng thì phần lớn các nhà vi trùng học và chuyên gia về bệnh truyền nhiễm đều đồng ý là việc buôn bán động vật hoang dã ở Trung Quốc đóng vai trò trung tâm trong việc khởi phát đại dịch. Đó là, Frutos nói, cần thiết phải nhìn vào toàn bộ rủi ro có thể xảy ra trong toàn bộ chuỗi cung cấp.  Tương lai của việc nuôi động vật hoang dã  Trong một buổi chiều u ám vào tháng Chạp năm ngoái, tôi vào chợ Qiyimen nhộn nhịp ở Vũ Hán – một trong bốn chợ được các nhà nghiên cứu phát hiện ra việc bán bất hợp pháp động vật hoang dã. Không khí ở đây căng đầy mùi cá và âm thanh rao bán hàng hóa. Người đi chợ lượn qua các quầy hàng bán đồ tươi sống, từ củ sen đến những con lươn đang trườn và những con thỏ bị lột da treo lủng lẳng trên móc.  Khi được hỏi về “đồ hoang dã”, những người bán sa sầm mặt. “Đừng nhắc đến từ đó”, một người nói. “Không được phép”.  Trung Quốc đã cấm tiêu thụ động vật hoang dã kể từ tháng 2/2020. Nhưng nhiều nhà khoa học nói là không đủ để ngăn ngừa đại dịch bởi vô số loài chưa được thuần hóa vẫn đang bị săn bắt để lấy da, lông, làm nguyên liệu Đông y, vật nuôi…  Cho đến gần đây, người ta vẫn còn biết quá ít về các nguy cơ rủi ro sức khỏe công cộng từ việc nuôi động vật hoang dã. Vào tháng 2/2022, một nhóm nhà khoa học quốc tế do các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc dẫn dắt cho biết, đã phám khá ra hơn 100 dạng virus mới từ mẫu của 2.000 vật nuôi trang trại thuộc 18 loài – nhiều loài từng được bán ở chợ Hoa Nam. Hai chục virus trong số đó dường như có nguy cơ rủi ro cao cho người. Nhiều loài virus, bao gồm các loài coronavirus mới và cúm, có tiềm năng sẵn sàng nhảy từ loài vật này sang loài vật khác.  Một số loài vật mà họ lấy mẫu đang bị ốm – thường có triệu chứng ho, chảy nước mũi hoặc tiêu chảy – nhưng nhiều loài lại không hề có dấu hiệu bệnh tật. Giống như với con người, nhiều loài virus có thể lưu hành một cách âm thầm giữa các loài động vật hoang dã, Holmes cho biết. Virus có thể lan truyền từ loài này sang loài khác và đột biến một cách liên tục. Điều này càng dễ dàng hơn khi nhiều loài được nuôi trong cùng một trang trại hoặc được nuôi thành bầy tại những nơi có điều kiện thông khí kém.  Để giải quyết vấn đề, một vài nông dân đã chấp thuận biện pháp an toàn sinh học cơ bản, như khử trùng trước và sau khi đến vào chuồng nuôi hoặc mang găng tay khi phải mang vật chết ra ngoài. Quá nguy hiểm khi mang vật chết chứa đầy virus mà không có biện pháp bảo vệ nào, Holmes nói, bởi “ngay cả các tiêu chuẩn an toàn sinh học chểnh mảng nhất trong một phòng thí nghiệm cũng an toàn hơn cả ngàn lần”.  Hơn nữa, động vật được vận chuyển khắp đất nước đều có tiềm năng kích hoạt các bệnh dịch mới nổi, Li nói. Những lo ngại lớn nhất là các mầm bệnh mới đều khuếch đại nguy cơ lây nhiễm giữa vật nuôi bởi nhiều trại nuôi động vật hoang dã gần với rừng và nông dân thường đánh bắt động vật hoang dã để bổ sung cho kho hàng của mình.  Rất có thể là đã xảy những đợt bùng phát virus ngắn giữa các trang trại nuôi động vật hoang dã, Frutos nói. Trong phần lớn trường hợp, người nuôi bị lây nhiễm có thể ở thể nhẹ hoặc không triệu chứng, và các con virus đều chết sau những lây truyền trong phạm vi nhỏ. Trong một mô phỏng trên máy tính của nhóm nghiên cứu do Wertheim dẫn dắt xuất bản trên Science vào năm ngoái, 95% virus là do nhảy loài trong vùng nông thôn. “Nhưng ông cần một con số về người và số lượng tiếp xúc dẫn đến lây truyền bệnh”, ông nói.  Khi hiện tượng nhảy loài diễn ra thường xuyên hơn thì khả năng lan truyền giữa người với người sẽ gia tăng – cụ thể lượng người di chuyển giữa các trang trại và nơi có nhiều người như các chợ bán đồ tươi sống.  Ở các giao lộ  Với COVID-19, người nhiễm bệnh đầu tiên có thể là người trung gian – thu thập hàng hóa động vật từ các trang trại và phân phối chúng với chợ và kho hàng ở thành phố Vũ Hán, tương tự như những gì diễn ra ở toàn Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á, Frutos nói. Người này có thể sau đó đã truyền bệnh cho những người buôn bán ở Hoa Nam và các nơi khác ở Vũ Hán, một giả thuyết phù hợp với phát hiện của Gao là SARS-CoV-2 đã có trong môi trường của các khu chợ và kho hàng liên quan trong thành phố này.  Quan trọng là, Frutos nói, nhiều kịch bản không cần đến sự lây nhiễm trong động vật bởi virus tổ tiên của virus gây đại dịch có thể tiến hóa và được chọn lọc ở người. Kịch bản cho giả thuyết này nhấn mạnh một thực tại đang lớn dần là con người bị nhiễm các mầm bệnh mới thường xuyên hơn chúng ta vẫn nghĩ trước đây. “Phần lớn các lây truyền đó đều không được ghi nhận hoặc bị chẩn đoán sai”, Rosenberg nói.  Trong hai nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học tại Viện Vi trùng Vũ Hán và cộng sự đã tìm thấy 4 % người sống gần nơi có dơi và làm việc gần với tự nhiên ở Nam Trung Quốc bị nhiễm với các virus nguy hiểm từ động vật; tỉ lệ lây nhiễm là 9% giữa những người làm nghề giết mổ động vật, dẫu không phát triển triệu chứng.  Rất nhiều sự kiện nhảy loài diễn ra thường xuyên, cuối cùng là nguyên nhân dẫn đến dịch SARS và COVID-19, Frutos nói.  Các nhà khoa học thừa nhận là họ không thể trả lời mọi câu hỏi và có thể không bao giờ biết rõ COVID-19 đến từ đâu. Nhưng chúng ta biết đủ để hiểu rằng các trang trại nuôi động vật hoang dã ở Trung Quốc tiếp tục cho thấy là mối đe dọa về sức khỏe công cộng toàn cầu, Holmes nói.  Thêm vào lệnh cấm tiêu thụ động vật hoang dã, Holmes nói Trung Quốc phải nâng cao các biện pháp an toàn sinh học trong toàn chuỗi cung cấp động vật hoang dã bằng việc kiểm tra thường xuyên các trại nuôi động vật hoang dã. Cần phải thêm nhiều giám sát, ông cho biết thêm, vào các loài vật như chồn sương và lửng chó, những loài được biết là dễ nhiễm coronavirus và sẽ tiếp tục được nuôi trên diện rộng ở Trung Quốc để lấy lông.  Không riêng gì Trung Quốc, còn rất nhiều quốc gia khác có các trang trại nuôi động vật hoang dã và buôn bán chúng ở chợ. Trung Quốc lại nằm ở một vị trí giao thương thuận lợi. Nếu thất bại trong việc giám sát bệnh dịch “COVID-19 dường như không phải là đại dịch cuối cùng thoát ra từ Trung Quốc”, Li nói. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/magazine/article/debate-deepens-over-wuhan-wet-markets-role-in-kickstarting-the-pandemic    Author                Jenny Qiu        
__label__tiasang Tránh cái nhìn hạn hẹp và cực đoan      Vấn đề nguồn gốc tộc người Việt (Kinh) thường nhận được sự quan tâm tìm hiểu nghiên cứu không chỉ của giới chuyên môn dân tộc học, khảo cổ hay lịch sử, mà còn được thảo luận trên truyền thông, trong công chúng qua nhiều thời kỳ khác nhau nhằm làm sáng tỏ “tính bản địa” hoặc những ảnh hưởng, tác động “ngoại lai” từ các tộc người phương Bắc xuống, phía Nam lên.  Để có cái nhìn đầy đủ giúp truy nguyên cuộc tranh luận này, theo TS Nguyễn Việt, chuyên gia nghiên cứu về thời Đông Sơn, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, cần bắt đầu từ khái niệm “người Việt, anh là ai?”      Nếu nói chỉ người Việt là chủ nhân của trống đồng Đông Sơn hay văn hóa Đông Sơn thì sẽ vô hình trung loại các nhóm/ tộc người khác ra. Trong ảnh: Hình tượng cư dân thời Đông Sơn được trang trí trên thân thạp đồng Đào Thịnh. Nguồn ảnh: Cục Mỹ thuật và Nhiếp ảnh.   Khái niệm “Việt” và “Việt cổ” có thể loại các nhóm khác ra khỏi “Việt”  Tia Sáng: Vừa qua cuộc thảo luận về nguồn gốc người Việt lại dấy lên sau khi có một nhóm nghiên cứu công bố trên truyền thông về nguồn gốc thuần chủng của người Việt cũng như bộ gene người Việt hoàn toàn khác so với bộ gene người Trung Quốc. Điều đó khiến cho rất nhiều người quan tâm rằng, không biết nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử về người Việt đã tiến hành những khảo cứu nào về vấn đề này và có quan điểm ra sao?  TS Nguyễn Việt: Trước khi trả lời vào vấn đề bạn hỏi, tôi muốn lưu ý: Khi nói đến Việt thì phải có định nghĩa “thế nào là Việt?”. Trong công chúng, có hai cách hiểu phổ biến với nghĩa hoàn toàn khác nhau. Thứ nhất là con người sống trên đất nước Việt Nam thì được gọi là người Việt, như thế nghĩa là bao gồm cả các tộc người như Bana, Ê đê, Chăm…. Trong khi đó, trái lại, về mặt dân tộc học thì chúng ta cũng có dân tộc Việt (Kinh), tương đương các dân tộc khác trong lãnh thổ Việt Nam như Bana, Ê đê hay là Mường, Tày, Thái… Cho nên, khi viết trên truyền thông cũng phải có một định nghĩa “chữ Việt tôi dùng là gì”. Phải giới hạn nó, nếu không (mặc định hai cách hiểu trùng nhau) thì các tộc người bị loại ra khỏi “Việt”, mặc dù họ là một thành phần của đất nước Việt Nam.  Cách sử dụng khái niệm “Việt cổ” trong công luận cũng không thống nhất và còn bị lạm dụng. Đào được xương của người Hòa Bình (Văn hóa Hòa Bình thuộc thời đại đồ đá cũ sang thời đại đồ đá mới cách ngày nay khoảng 15000 năm – PV) cũng gọi là người Việt cổ, lúc ấy làm gì đã có Việt mà bảo là Việt cổ? Giới khảo cổ học chúng tôi chưa bao giờ dám nói đó là người Việt cổ cả. Còn mình thì cứ tìm được xương cốt nào trên đất nước Việt Nam thì gọi ngay là người Việt cổ, tức là những người cổ xưa sống trên đất nước Việt Nam.   Có lần tôi chủ trì một hội nghị về trống đồng, thì giáo sư Diệp Đình Hoa nói rằng trống đồng là của người Việt cổ, nhưng các nhà khoa học Thái Lan không đồng ý. Bởi vì chủ nhân của trống đồng là một nhóm lớn, cổ xưa hơn, phân bố từ phía Nam sông Trường Giang xuống khu vực Đông Nam Á ngày nay. Bên Vân Nam người Lô Lô cũng dùng, người Choang ở Quảng Tây cũng dùng, còn nếu chỉ nói Việt thì tức là đã loại các nhóm người khác – khiến họ không phải là chủ nhân của trống đồng.  Nhìn chung, khi liên quan đến vấn đề quan hệ tộc người, nguồn gốc tộc người thì giới truyền thông và công chúng dễ lẫn lộn và không thống nhất được như vậy.      Nếu lùi về cổ đại mà chỉ dùng khái niệm Việt hay Việt cổ một cách chung chung là không đủ.      Không chỉ khái niệm Việt, Việt cổ, mà các khái niệm về tộc người khác dường như cũng rất dễ lẫn lộn, không thống nhất?   Đúng vậy. Có thể thấy từ ví dụ vừa rồi, nhóm nghiên cứu về gene người Kinh hiện đại (dù ý tưởng nghiên cứu gene hay) khi công bố trên truyền thông lại cứ dùng đại đi là Việt cổ khác với người Trung Quốc, và tất cả những người xưa nay ghét Ngô vùng lên rất vui sướng. Nhưng cũng phải hiểu và có sự phân định khái niệm người Ngô. Ngô là những người từ nước Ngô thời Tam Quốc, ở vùng Hoa Nam ngày nay sang, nhưng chúng ta lại gọi chung người phương Bắc tới là người Ngô. Giống cách sau này ta gọi Đường nhân là người Đường, nhưng trong đó bao gồm cả người Tây Tạng, người Tân Cương, rồi Triều Tiên, Mông Cổ… hoặc ngay cả người Giao Châu cũng thuộc quốc gia Đường. Đường nhân đâu có phải chỉ là người Hoa, người Hán. Chúng ta vẫn quan niệm rằng người từ đất Trung Quốc sang là thuộc về một tộc cụ thể, ví dụ như người Tàu – có ý kiến cho rằng gọi như vậy là do họ đi tàu thuyền sang, nhưng thực ra họ là người vùng Triều Châu, Phúc Kiến, cũng là người Việt đấy chứ. Ta cũng hiểu chung các tộc người khác nhau từ đất Trung Quốc sang Việt Nam đều là người Hoa cả nhưng thực ra trong số họ có cả người Sán Dìu, người Dao, Hmông…  Vậy ngày nay khi nào thì chúng ta dùng khái niệm “Kinh” hay “Việt cổ”, hay có những khái niệm nào khác cho phù hợp?  Như đã nói, nếu lùi về cổ đại mà chỉ dùng khái niệm Việt hay Việt cổ một cách chung chung là không đủ. Đối với tôi, có một số cách nói hợp lý hơn thay vì ta cứ nói Việt hay Việt cổ. Đó là, gọi tên chủ nhân của các nền văn hóa khảo cổ theo tên của văn hóa đó chứ tránh cách gọi khu trú vào tên một tộc người cụ thể. Ví dụ trong phạm vi văn hóa Đông Sơn thì tôi nói người Đông Sơn, vào phạm vi Âu Lạc thì gọi là người Âu Lạc, bởi vì khái niệm đó có tính bao trùm, chứ nếu chỉ gọi tên một tộc/nhóm người thì ta đã loại tộc/nhóm người khác, mặc dù họ ở trong cùng cộng đồng và đồng thời là chủ nhân của nền văn hóa khảo cổ ấy. Bởi vì, ai đảm bảo 100% người Âu Lạc là người Kinh hay tộc người khác? Đó là một cách mà chúng ta nên dùng để thoát ra khỏi mâu thuẫn và cứ phải giải thích.  Đến giai đoạn sau đó thì có khái niệm như người Giao Châu, một khu vực chính là lãnh thổ cũ của nước Nam Việt mở rộng, có phạm vi gồm Quảng Đông, Quảng Tây, thậm chí có cả một chút Hồ Nam, cả bên này Vân Nam và xuống toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, đến cả vùng Đèo Ngang. Còn ở phạm vi hẹp hơn nữa thì có thể gọi là người Giao Chỉ – tức là cư dân Đồng bằng Bắc Bộ, người Cửu Chân là nói tới cư dân đồng bằng sông Mã, sông Chu.   Thực ra cách gọi này đã được các tổ tiên chúng ta sử dụng từ lâu, chẳng hạn sau khi kết thúc thời Bắc thuộc giành độc lập, các cụ gọi là người Ái Châu, rồi Hoan Châu, Diễn Châu. Ngay cả đến tận đời Trần mà ta nói Việt/Việt cổ cũng là đã loại đi một số người tham gia vào cuộc chiến chống Nguyên Mông, như Hà Đặc, Hà Bổng – họ là Việt cổ hay Tày cổ hay là gì mà ta cứ phải tách họ ra?   Vì vậy, trong báo chí khoa học và trong phạm vi các diễn đàn khác nhau, tôi đề xuất như vậy để tránh việc dùng khái niệm tộc người một cách hạn hẹp và cực đoan. Việc cân nhắc khái niệm này nhiều khi cũng liên quan đến phạm vi, chính sách khác, chẳng hạn như Điều tra dân số hay các vấn đề của Ủy ban dân tộc mà tôi nghĩ cần có sự trao đổi của các ngành chức năng, có sự tham gia tư vấn của các nhà khoa học để dùng khái niệm cho chính xác.  Tiếp cận liên ngành  Tránh hạn hẹp và cực đoan quả thực rất cần thiết. Ngay gần đây vẫn có ý kiến cho rằng người Việt đã từng là bá chủ một khu vực rộng lớn, khởi phát ra các thành tựu văn minh lớn của Trung Hoa cổ đại. Làm thế nào để công chúng nói chung, những người yêu thích tìm hiểu lịch sử tộc người tránh được những suy luận thiếu căn cứ?   Đúng là có những làn sóng văn hóa từ phía Nam, tức là từ khu vực Việt Nam ngày nay lên sông Dương Tử thật, nhưng lúc đó không phải người Việt, vì chưa hình thành ra những nhóm cộng đồng cư dân mang tính tộc người. Rồi sau này các cư dân phương Bắc đi xuống, cũng chưa phải là các tộc nhỏ như hiện nay mà là cả một khối chung.   Kinh nghiệm của tôi thấy là có thể có rất nhiều người giỏi chuyên ngành khác, yêu sử, nhưng khi không có phương pháp tiếp cận chuyên ngành này thì đôi khi cũng đưa ra các thông tin, suy diễn và kết luận không có căn cứ. Nên cẩn trọng đến chừng nào họ cung cấp cho ta hệ thống tư liệu để ta xem xét. Chẳng hạn về thời Đông Sơn, tôi là nhà khảo cổ học và cung cấp tư liệu đã được kiểm định chắc chắn, tư liệu đến đâu thì tôi phân tích đến đó chứ không đưa ra các nhận định thổi phồng lên. Về bản chất, khi sắp xếp tư liệu vào thì sự thực sẽ bộc lộ ra.  Nghiên cứu khảo cổ học của Việt Nam ngày nay đã được các thành tựu của KHTN, của các ngành rất mới, chẳng hạn như tin sinh học, thống kê sinh học, khoa học dữ liệu, hỗ trợ như thế nào?  Các giáo sư đầu ngành [KHXH] đã đưa khoa học tự nhiên vào KHXH và nhân văn từ sớm, trong đó lãnh địa được đưa vào sớm nhất là khảo cổ học vì khảo cổ học đôi khi nằm giữa khoa học xã hội và tự nhiên, nó gần với địa chất, gần với các ngành xét nghiệm đồng thời lại phản ánh quá trình lịch sử. Việc áp dụng các phương pháp KHTN một cách ồ ạt trong khảo cổ học bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Các nhà khoa học Anh Mỹ, khi tập trung làm rõ cách mạng đá mới, tức là phát sinh nông nghiệp ở vùng Trung Cận Đông và sử dụng một loạt các phương pháp của KHTN, trong đó nhiều người vốn là nhà KHTN chuyển sang KHXH và trái lại rất nhiều người làm KHXH phải học thêm các lĩnh vực của KHTN. Mà đỉnh cao chính là phương pháp định tuổi, trước đó thì dựa vào các phương pháp của địa lý để xác định các địa tầng địa chất, thành tựu nghiên cứu ra chu kỳ phân hủy của một loại carbon phóng xạ 14C đã lôi kéo các lĩnh vực khác của KHTN vào giúp cho khảo cổ học chân xác hơn. Sau đó một loạt thành tựu của các phương tiện đo đếm, các máy phóng đại cũng giúp nhận thức trong lĩnh vực khảo cổ học có chiều sâu hơn. Chẳng hạn, các thiết bị phóng đại giúp chúng ta phát triển được sử học vi tư liệu, nhìn nhận các loại hình hiện vật vi thể có liên quan đến con người như vết bóng của tay, dấu vi thể còn dính bám ở kẽ nứt của các công cụ giúp tìm ra thức ăn, loại hình dầu mỡ hay cấu trúc sợi vải… người cổ đại đã dùng.   Những thành tựu đó giúp cho khảo cổ học Việt Nam hiện nay có nhiều cơ hội để phát triển mạnh hơn nhưng đáng tiếc là hệ thống chính thống của chúng ta trong các viện, trường chưa tạo ra được đà nhảy vọt trong dòng chảy chung của khảo cổ học thế giới. Tuần này tôi tiếp một đoàn sinh viên Úc nghiên cứu về tinh bột học, là vấn đề mà tôi đề xuất nên nghiên cứu từ năm 2007, và cũng có một sinh viên làm, nhưng rồi cũng không có ai phát triển lên nữa. Và đừng bao giờ tách KHXH nói chung, khảo cổ học nói riêng ra khỏi KHTN, bởi vì khi khoa học tự nhiên phát triển, lĩnh vực nào có thể áp dụng được những tiến bộ mới trong thực nghiệm sẽ đạt được tính chính xác cao hơn.   Việc phân tách biên giới các ngành học cũng không còn rõ ràng. Ở gần ta như Trung Quốc cũng có những viện có tên rất lạ, như là Viện các khoa học ranh giới. Tức là giữa các ngành khoa học có những điểm nối nhau, thì họ đi vào tiếp cận các điểm nối của hai ngành khoa học, như khảo cổ với hóa học có liên quan đến nhau chẳng hạn, để hình thành các lĩnh vực khoa học mới.  Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện! □  Bảo Như thực hiện  Người từ các ngành khác có thể nghiên cứu lịch sử, nhưng phải học các phương pháp phân tích của lịch sử. Và cũng chỉ những người chuyên ngành đó mới nên thảo luận chuyên sâu. Như vừa rồi, nhóm nghiên cứu gene có thể hoàn toàn đúng khi họ có chuyên môn và phân tích gene, nhưng khi bắt đầu khẳng định nguồn gốc người Việt như người Việt là tổ của ai hoặc người Việt không phải là người này người kia di cư tới thì anh đã kết luận chạm vào phần mà không có chuyên môn sử rất khó để bàn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh cãi toàn cầu quanh Gạo vàng      Tranh cãi về “Gạo vàng” (Golden Rice), loại  gạo được biến đổi gene để chứa beta-carotene là tiền tố của vitamin A,  bắt đầu từ một cuộc thảo luận vào năm 1984, khi ngành công nghệ sinh học  còn trong giai đoạn trứng nước, chưa hề có ngũ cốc biến đổi gene. Các  nhà khoa học chỉ mới cố tìm kiếm cách phát hiện các gene và di chuyển  gene giữa các sinh thể khác nhau.    Một số người làm việc tại Quỹ Rockefeller nghĩ rằng những kỹ thuật này may ra có thể giúp cho nông dân ở các nước nghèo một vụ thu hoạch lớn hơn. Vì vậy, họ tổ chức một cuộc họp tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines để thảo luận về ý tưởng này.  Gary Toenniessen, người phụ trách chương trình công nghệ sinh học của Quỹ Rockefeller vào thời điểm đó, kể lại, rất nhiều người tham gia cuộc họp đều rất hoài nghi về công nghệ sinh học. Họ là những nhà chọn giống, bậc thầy về cải tạo cây lúa theo cách truyền thống.   “Một tối nọ, sau phiên họp chính thức, một nhóm các nhà nhân giống tụ tập nhau tại nhà khách IRRI, nhâm nhi một vài cốc bia,” Toenniessen kể. Sau khi nghe chán những lời chê bai, hoài nghi, Toenniessen bèn lên tiếng rằng giả như công nghệ này tiến triển được, và nếu người ta có thể cấy bất kỳ gene nào người ta muốn vào gạo, thì “Các ông sẽ thích cấy gene gì vào gạo?” Người thì nói gene chống bệnh, kẻ thì đề nghị gene chịu hạn. Họ hỏi đến ý kiến của nhà lai tạo Peter Jennings, một nhân vật huyền thoại trong nhóm tạo giống mới. Ông từng tạo ra giống lúa IR8, có lẽ là giống lúa nổi tiếng nhất trong lịch sử trồng lúa, tạo ra cuộc cách mạng xanh trong trồng lúa nước châu Á trong những năm 1960. Jennings đề xuất: “Gạo ruột vàng”. Toenniessen nhớ lại: “Ý kiến đó làm tất cả mọi người ngạc nhiên. Vì vậy, tôi hỏi ngay tại sao?”  Jennings giải thích rằng ruột gạo màu vàng là dấu hiệu sự hiện diện của beta-carotene – tiền tố của vitamin A. Jennings cho biết, ông đã mất nhiều năm để tìm kiếm giống gạo này nhưng thất bại. Loại gạo trắng thông thường không có chất dinh dưỡng quan trọng đó, và đó là một vấn đề lớn.  “Khi trẻ em cai sữa, họ thường thay sữa bằng cháo gạo. Và nếu thiếu beta-carotene hoặc vitamin A trong thời gian cai sữa, thì trẻ sẽ bị ảnh hưởng suốt đời.” Toenniessen kể lại và thừa nhận đã bị thuyết phục. Quỹ Rockefeller bắt đầu một chương trình nhằm mục đích tạo ra, thông qua công nghệ, những gì Jennings đã không thể tìm thấy trong tự nhiên. Một mạng lưới toàn cầu của các nhà khoa học tại nhiều viện nghiên cứu phi lợi nhuận cũng khởi sự với đề tài này.  Bước đột phá thực sự đầu tiên là vào năm 1999. Các nhà khoa học ở Thụy Sĩ đã chèn được hai gene để lúa tạo ra được beta-carotene. Một vài năm sau, các nhà nghiên cứu khác đã tạo ra một phiên bản mới còn tốt hơn nữa.  Chỉ cần ăn một bát cháo Gạo vàng này là đủ 60% nhu cầu hằng ngày của trẻ em về vitamin A.  Toenniessen, nay là giám đốc quản lý Quỹ Rockefeller nói: “Đó là một sản phẩm tuyệt vời! Và hơn nữa, nó rất đẹp. Nó trông vàng óng giống như nghệ tây.“ Tuy nhiên không phải ai cũng đồng tình như vậy. Chẳng hạn, chỉ một vài tháng trước đây đã xảy ra một sự kiện ầm ĩ. Nguyên do, một số nhà nghiên cứu do Mỹ tài trợ đã công bố kết quả của một nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy cơ thể của con người dễ dàng hấp thụ beta-carotene trong cơm Gạo vàng. Kết quả này thu được từ những thí nghiệm của họ trên trẻ em Trung Quốc. Thông tin này tưởng rằng sẽ được đón nhận một cách nồng nhiệt. Thế nhưng, các nhóm môi trường Greenpeace (Hòa bình Xanh) ngay lập tức lên án, đây là một vụ bê bối.  “Mọi người đều tức giận, thực sự tức giận về những thử nghiệm này. Họ đã sử dụng trẻ em Trung Quốc như những con lợn sữa!“, ông Wang Jing, một nhà vận động cho tổ chức Hòa bình Xanh của Trung Quốc tuyên bố. Ngay lập tức Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng. Họ trừng phạt ba nhà khoa học Trung Quốc là đồng tác giả của nghiên cứu, đuổi việc ngay lập tức ba người này.  Trong một thông báo, nhà chức trách Trung Quốc nói rằng các nhà nghiên cứu đã không làm đầy đủ thủ tục để được cấp phép trước khi thực hiện thử nghiệm nghiên cứu. Hơn nữa, các nhà khoa học chỉ nói với các em và cha mẹ của các em, rằng đây là một loại gạo đặc biệt có hàm lượng beta-carotene cao, nhưng họ không nói rằng gạo này đã được biến đổi gene.  Ông Wang lên án: “Họ đã che giấu sự thật rằng Gạo vàng là một loại ngũ cốc biến đổi gene.”  Một số người cho rằng đây chỉ là vấn đề của các ý kiến khác nhau về sản phẩm biến đổi gene trên thế giới mà thôi. Nhưng sự thật, lý do mà Gạo vàng trở thành nguyên do tranh cãi ầm ĩ nhất thế giới về ngũ cốc biến đổi gene thời gian gần đây lại nằm ở chỗ khác. Đó là chuyện hạt Gạo vàng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho ai.  Bà Neth Dano đang làm việc cho Tập đoàn ETC ở Philippines, đại diện cho nhóm chủ trang trại nhỏ, cho rằng mục đích chính của ngũ cốc biến đổi gene là để kiếm lời chứ không phải để trợ giúp con người.  “Một nhóm công ty đã gặt hái được hàng tỷ USD lợi nhuận nhờ bán hạt giống biến đổi gene và thuốc bảo vệ thực vật độc quyền ở các nước đang phát triển… Tôi không có ý nói tạo ra Gạo vàng chỉ để tuyên truyền trong công chúng. Phải thừa nhận là Gạo vàng nhằm mục đích và thực sự hỗ trợ được cho những người bị suy dinh dưỡng – nhưng đó không phải là một cách hỗ trợ tốt nhất. Nó tốn kém và ít hiệu quả hơn so với các chương trình dinh dưỡng truyền thống. Gạo này vì vậy hiện nay chỉ có tác dụng chủ yếu là để đánh bóng hình ảnh của công nghệ sinh học mà thôi,” bà Neth Dano khẳng định.  Bà Dano lo lắng cũng có lý của nó, vì gạo là loại ngũ cốc có sản lượng lớn nhất trên thế giới, và hiển nhiên tác động và lợi nhuận mang lại là khổng lồ nếu ai khống chế được hạt giống.   Nói cho cùng thì có hai động cơ thúc đẩy cho nỗ lực tạo ra Gạo vàng: một là để Hỗ trợ nhân loại và hai là để tạo động lực phát triển công nghệ sinh học. Nhìn vào tiểu sử của người đàn ông hiện đang lãnh đạo dự án tạo ra Gạo vàng chúng ta sẽ thấy rõ sự kết hợp cả hai động lực. Đó là TS Gerard Barry, người gốc Ireland, đã dành hơn 20 năm tại St. Louis làm việc cho Monsanto, công ty đi tiên phong trong các cây trồng biến đổi gene. Ông là tác giả số một của những bằng sáng chế có giá trị nhất của Monsanto. Ông đã tìm ra gene cây trồng chống chịu với thuốc diệt cỏ. Gene này đã được cấy vào ngô, đậu tương và bông và đang được gieo trồng trên hàng trăm triệu hecta. Trên đường tìm tòi, Barry cũng để ý đến cây lúa.   Mười năm trước, Barry đã rời bỏ Công ty Monsanto và chuyển đến IRRI. Công việc của ông bây giờ là chăm sóc việc đưa Gạo vàng từ phòng thí nghiệm ra cánh đồng đại trà. Nhưng trước khi nông dân có thể chạm tay vào Gạo vàng, các chính phủ ở mỗi quốc gia cần phải chuẩn thuận rằng nó an toàn. Cuối năm nay, mạng lưới quốc tế các nhà nghiên cứu Gạo vàng sẽ đệ đơn xin chấp thuận của Chính phủ Philippines, sau đó đến lượt Bangladesh.   Tuy nhiên, đó chỉ mới là bước đầu tiên. Họ sẽ phải tung ra một chiến dịch tiếp thị cho Gạo vàng, và chiến dịch tiếp thị này cần phải đến được những người nghèo nhất trong những ngôi làng xa xôi nhất.  “Gạo vàng tốt cho tất cả mọi người, nhưng có một số người [người nghèo] thì cần nó hơn,” Barry nói. “Công việc của chúng tôi là phải bảo đảm rằng những người đã tiếp xúc với Gạo vàng hiểu được giá trị của Gạo vàng, và yêu cầu phải có Gạo vàng.”  Cuộc tranh cãi chung quanh Gạo vàng sẽ còn rất gay gắt, vì cho đến nay những giống chuyển gene trồng đại trà chủ yếu chỉ dành cho chăn nuôi và cho công nghiệp. Bây giờ mới động đến lúa gạo, thức ăn chủ lực của con người. Chưa biết kết quả sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ xem!           XH lược thuật theo IRRI Viện Lúa Quốc Tế và NPR    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh cãi về nguồn gốc của virus bí ẩn gây dịch trên toàn cầu      Bin Cao, trường ĐH Y khoa Thủ đô ở Bắc Kinh, tác giả chính của công bố trên The Lancet, khẳng định chợ hải sản Vũ Hán không phải là nơi xuất hiện đầu tiên của virus bí ẩn và cho rằng “một cách thành thật, chúng tôi vẫn còn chưa rõ con virus này đến từ nơi nào”.       17 thành phố ở Trung Quốc đang bị đóng cửa vì coronavirus vẫn tiếp tục bùng phát, nhiều nơi đã cấm các dịch vụ xe buýt đường dài. Ảnh: Yuan Zheng/EPA  Kể từ khi xuất hiện dịch, mọi con mắt đều đổ dồn vào khu chợ hải sản Vũ Hán như nguồn gốc phát sinh. Tuy nhiên theo công bố trên The Lancet về những ca đầu tiên mắc bệnh thì đây mới chỉ là giả thuyết.  Nhóm tác giả Trung Quốc làm việc tại nhiều viện nghiên cứu của quốc gia này, đã đưa ra nhiều thông tin chi tiết về 41 bệnh nhân nhập viện khi bị xác nhận là lây nhiễm virus 2019-nCoV. Ca sớm nhất ốm vào ngày 1/12/2019 và không có liên hệ gì với chợ hải sản. “Không có mối liên hệ dịch tễ nào được tìm thấy giữa bệnh nhân đầu tiên và những bệnh nhân sau đó,” các tác giả nêu. Dữ liệu của họ cũng chứng tỏ, 13 trong số 41 ca không có liên quan gì đến các khu chợ. “Đây là con số lớn, 13 người không hề có liên hệ gì cơ mà”, Daniel Lucey, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại ĐH Georgetown, nói.  Các báo cáo đầu tiên từ các cơ quan y tế Trung Quốc và WHO cho biết, bệnh nhân đầu tiên đã phát bệnh vào ngày 8/12/2019, và các nguồn khác đơn giản chỉ nói “phần lớn” các ca đều có liên hệ với chợ hải sản, sau đó đã bị đóng cửa vào ngày 1/1/2020.  Lucey nói nếu dữ liệu mới là chính xác, những lây nhiễm đầu tiên ở người phải xuất hiện trong tháng 11/2019 – nếu không nói là sớm hơn – bởi vì có một khoảng thời gian ủ bệnh giữa lây nhiễm và triệu chứng bên ngoài. Nếu thế, con virus này có thể lây lan một cách thầm lặng giữa cư dân Vũ Hán và có lẽ nơi khác trước khi ồ ạt các ca từ khu chợ nổi tiếng Huanan của thành phố được khám phá vào cuối tháng 12/2019. “Con virus này có mặt trong khu chợ trước khi ‘lộ diện’ tại đó,” Lucey khẳng định.  Dữ liệu của bài báo trên The Lancet làm dấy lên những câu hỏi về độ chính xác của thông tin ban đầu mà Trung Quốc cung cấp, Lucey nói. Tại thời điểm bắt đầu của dịch, nguồn thông tin chính thức do Ủy ban Y tế Vũ Hán cung cấp. Thông báo của họ vào ngày 11/1/2020 đề cập đến 41 bệnh nhân như một nguồn nhiễm bệnh duy nhất trong thành phố và vẫn giữ nguyên số lượng đến ngày 18/1/2020. Thông báo không tuyên bố chợ hải sản là nguồn gốc lây nhiễm nhưng lưu ý rằng không có bằng chứng về lan truyền bệnh giữa người với người và phần lớn các ca đều liên quan đến khu chợ này. Ủy ban Y tế Vũ Hán cho biết là các kiểm tra dịch bệnh đã xác nhận cả 41 ca vào ngày 10/1/2020  và các quan chức có lẽ đều biết lịch sử nhiễm bệnh của các ca, “Họ phải nhận ra là bệnh dịch không bắt nguồn từ chợ hải sản Huanan,” Lucey nói với ScienceInsider (Lucey cũng đã đưa ra những lo ngại của ồn với Science Speaks, một dự án của Hội bệnh truyền nhiễm Mỹ).  Kristian Anderson, một nhà sinh học tiến hóa tại Viện nghiên cứu Scripps ở San Diego, đã phân tích các kết quả giải trình tự gene 2019-nCoV để cố gắng phân lập nguồn gốc phát sinh của nó. Ông nói, thời điểm xác nhận ca đầu tiên vào ngày 1/12/2019 “chi tiết thú vị” trên bài báo ở The Lancet. “Kịch bản của ai đó bị lây nhiễm bên ngoài chợ và sau đó mang virus trở lại chợ là một trong ba kịch bản mà chúng tôi đã xem xét vẫn còn phù hợp với dữ liệu này, ông nói. “Dữ liệu và hiểu biết của chúng tôi về virus đã có độ tin cậy.” Hai kịch bản khác là nguồn gốc là một nhóm động vật bị lây nhiễm hoặc một con vật nào đó bị lây nhiễm đã được đưa vào chợ”.  Vào ngày 25/1/2020, Anderson đã đưa lên một trang web về vi trùng học phân tích của ông về 27 hệ gene 2019-nCoV đã được công khai. Nó cho thấy chúng “có tổ tiên chung rất gần” – điều đó có nghĩa là có chung một nguồn gốc – sớm nhất vào ngày 1/10/2019.  Bin Cao, một chuyên gia về phổi, đã phản hồi qua email với Science, ông và các đồng tác giả “đánh giá cao sự chỉ trích” từ Lucey. Trong một email gửi ScienceInsider, ông viết “Giờ đây dường như đã rõ ràng là chợ hải sản không phải là nguồn gốc phát sinh duy nhất của con virus này. Nhưng thành thực mà nói, chúng tôi vẫn còn chưa biết chúng đến từ nơi nào”.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/01/wuhan-seafood-market-may-not-be-source-novel-virus-spreading-globally/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tranh cãi về thí nghiệm sửa gene trên phôi thai người      Mới đây, sau khi một nhóm nhà sinh vật của  Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu, Trung Quốc viết bài đăng về thí nghiệm  tu sửa gene phôi thai người trên nguyệt san khoa học tiếng Anh Protein  &amp; Cell, một số nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng phản đối và  kêu gọi ngừng ngay trên phạm vi toàn cầu mọi nghiên cứu thí nghiệm tương  tự.     Tin tức sớm nhất về vấn đề này xuất hiện trên trang mạng của tạp chí Nature ngày 22/4/2015. Bản tin cho biết, Phó giáo sư sinh học Hoàng Quân Tựu (Junjiu Huang) ở Đại học Trung Sơn (Sun Yat-sen University) cùng các đồng nghiệp vừa hoàn thành thí nghiệm tu sửa gene được cho là lần đầu tiên trên phôi thai loài người. Họ lấy từ một phòng khám sản phụ 86 phôi thai không thể phát triển thành thai nhi, sau đó tiến hành cái gọi là thí nghiệm biên tập gene CRISPR/Cas9 đối với các tế bào gene có liên quan tới chứng thiếu máu Địa Trung Hải, trong đó gene của 28 phôi thai đã được tu sửa thành công.   Đầu năm nay đã có tin đồn nói các nhà khoa học Trung Quốc đang tiến hành nghiên cứu tu sửa gene loài người. Trước đó, người ta từng làm các nghiên cứu liên quan trên tế bào người trưởng thành và trên phôi thai động vật, nhưng chưa hề thấy có báo cáo nào về việc thí nghiệm trên phôi thai người.  “Tôi tin rằng đây là báo cáo nghiên cứu đầu tiên ứng dụng CRISPR/Cas9’ trên phôi thai người”, Nature dẫn lời TS George Daley nhà sinh vật học ở Học viện Y khoa thuộc Đại học Harvard nói, “Nghiên cứu này là một mốc đánh dấu sự phát triển, nhưng cũng làm cho mọi người cảnh giác… Việc nghiên cứu của nhóm Hoàng Quân Tựu nên được coi là sự cảnh báo nghiêm trọng, bất cứ nhà thí nghiệm nào đều không nên cho rằng công nghệ này đã được chuẩn bị tốt, có thể tiến hành làm thử việc khử các gene bệnh.”  Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành tu sửa gene cho 86 phôi thai, sau 48 giờ có 71 phôi thai còn sống; tiếp đó họ lại thí nghiệm với 54 phôi thai trong số đó và phát hiện chỉ có 28 phôi thai được cho là đã thành công thay thế gene mục tiêu.  “Nếu bạn muốn làm chuyện ấy trong các phôi thai bình thường, bạn cần phải đạt tỷ lệ thành công gần 100%”, bản tin của Nature dẫn lời Hoàng Quân Tựu. “Đây cũng là lý do chúng tôi đã ngừng thí nghiệm, chúng tôi cho rằng công nghệ này còn quá ư chưa đủ độ chín.”  Hoàng cũng cho biết: do sự tranh cãi về quan điểm đạo đức mà bản luận văn báo cáo kết quả nghiên cứu của nhóm ông bị cả hai tạp chí Nature và Science từ chối đăng. (Ở tòa soạn tạp chí Nature, hai bộ phận luận văn học thuật và bộ phận tin tức độc lập với nhau).  Tạp chí Technology Review của Học viện Công nghệ MIT cho biết hiện nay còn có vài thí nghiệm tương tự đang được tiến hành hoặc chuẩn bị tiến hành, nhưng giới khoa học cảnh báo là các nghiên cứu tu sửa gene loài người sẽ có thể phát sinh ảnh hưởng chưa rõ ra sao đối với các thế hệ sau.  Sau khi báo cáo của nhóm Hoàng Quân Tựu được công bố, Liên đoàn Y học Tái sinh (Alliance for Regenerative Medicine) đã kêu gọi đình chỉ các nghiên cứu liên quan.  NG.Hải – Hải Hoành  tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tránh trở thành “bãi rác” công nghệ của thế giới      Ngày 20/11/2005, Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng (Bộ KH&amp;CN) đã tổ chức Hội thảo khoa học về Dự thảo Luật Tiêu chuẩn hóa.    Xung quanh mức tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, các đại biểu cho rằng mức tiêu chuẩn của ta còn thấp và cần phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật ở mức tiên tiến hoặc cao hơn, tránh tình trạng nước ta sẽ trở thành “bãi rác” công nghệ của thế giới. Các đại biểu tham gia hội thảo nêu vấn đề liệu thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn quốc gia sẽ do các bộ ban hành hay chỉ tập trung vào một cơ quan thực hiện. Rất có thể tiêu chuẩn trong một số lĩnh vực đặc biệt như thuốc, an ninh quốc phòng… sẽ do một số bộ chức năng ban hành, các lĩnh vực khác sẽ tập trung về một đầu mối. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa đủ tiêu chuẩn vào Việt Nam và giúp ngăn chặn kịp thời các loại hàng hóa có nguy cơ làm hại đến lợi ích quốc gia. Luật Tiêu chuẩn hóa sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến, thông qua vào năm 2006.  PV    Nguồn tin: Tia Sáng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tránh tư biện và cực đoan trong nghiên cứu KHXH      PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, giảng viên Khoa Lịch sử – Trường ĐH KHXH&amp;NV- ĐH Quốc gia Hà Nội, chia sẻ về hành trình 13 năm theo đuổi hướng nghiên cứu lịch sử quan hệ giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia khu vực và thế giới thời kỳ tiền cận đại cùng quan điểm nghiên cứu của mình.      Khởi đầu nghiệp nghiên cứu lịch sử thông qua nguồn tư liệu khảo cổ học, giảng viên trẻ Hoàng Anh Tuấn sau đó chuyển sang khai thác tư liệu lưu trữ của các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh. Bản luận án tiến sỹ dưới tựa đề “Silk for Silver: Dutch – Vietnamese Relations, 1637-1700” được bảo vệ thành công tại ĐH Leiden (Hà Lan) năm 2006 và một năm sau được NXB Hoàng gia Brill (Leiden/Boston) ấn hành.   Anh cho biết, anh không phải là người Việt Nam đầu tiên tìm đến các Lưu trữ Quốc gia Hà Lan (La Haye) và Thư viện Quốc gia Anh (London). Từ các thập niên 1980 và 1990, những người thầy danh tiếng của anh như GS Phan Huy Lê và GS Nguyễn Quang Ngọc đã quan tâm tìm hiểu và bước đầu nghiên cứu hai khối tư liệu lưu trữ Hà Lan và Anh kể trên. Đặc biệt, GS Phan Huy Lê đã mang về hàng trăm tấm microfiche sao chụp tư liệu của Công ty Đông Ấn Hà Lan, còn GS Nguyễn Quang Ngọc đã sao được một phần khối tư liệu của Công ty Đông Ấn Anh và các bản đồ cổ… Một số bài khảo cứu về tư liệu và giới thiệu hoạt động của các Công ty Đông Ấn châu Âu ở quốc gia Đại Việt cũng đã được các giáo sư công bố trong thời gian này, góp phần soi sáng những trang sử bị lãng quên và khích lệ giới nghiên cứu trẻ dấn thân khai thác hệ thống những nguồn sử liệu phương Tây vô cùng quý giá này.   Với sự giúp đỡ và khích lệ của các thầy, từ tháng 12/2001 đến 12/2006, anh học tiếng Hà Lan cổ để khai thác gần hai vạn trang tư liệu viết tay của Công ty Đông Ấn Hà Lan và hơn một nghìn trang tư liệu của Công ty Đông Ấn Anh liên quan đến các vương quốc Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVII. Anh chia sẻ: “Chữ Hà Lan cổ giờ đây gần như tử ngữ nên rất khó; học và đọc gần năm năm nhưng nhiều chỗ vẫn phải hỏi thầy hướng dẫn…”   Các báo cáo thương mại trong gần hai vạn trang tư liệu viết tay liên quan đến Việt Nam của Công ty Đông Ấn Hà Lan được viết rất chi tiết, chứa đựng nhiều thông tin về xã hội Đại Việt thế kỷ XVII: từ đời sống thường nhật của cư dân, tình hình sản xuất, các biến động chính trị trong cung vua và phủ chúa, hoạt động tôn giáo, các sự kiện bang giao với các quốc gia lân bang… PGS. Hoàng Anh Tuấn cho biết, sự mật tập thông tin khiến anh nhiều khi bị choáng ngợp, nhất là những thông tin mới lạ không như chúng ta vẫn thường quan niệm. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bản luận án, anh chỉ tập trung sâu vào quan hệ chính trị và các hoạt động thương mại giữa Công ty Đông Ấn Hà Lan với triều đình Lê – Trịnh. Anh đặc biệt quan tâm đến các thông tin phản ảnh sự phát triển mang tính bùng nổ của nền kinh tế hàng hóa Đàng Ngoài: giá mua/bán tơ lụa từng năm, số vốn đầu tư hằng năm vào Đàng Ngoài, những lực lượng buôn bán chính, kim ngạch xuất khẩu (tơ lụa, gốm sứ, vàng, xạ hương…) và nhập khẩu (bạc, tiền đồng, hương liệu, xa xỉ phẩm…). “Sự trù mật về thông tin từ nguồn tư liệu lưu trữ và sự nghiêm khắc của các giáo sư hướng dẫn ở ĐH Leiden góp phần định hướng quan điểm sử học thực chứng của tôi về sau,” anh Tuấn nói.   Theo anh Tuấn, trong nghiên cứu lịch sử hải thương Việt Nam thế kỷ XVI – XVIII, nguồn sử liệu trong nước chú trọng nhiều đến đời sống cung đình, đời sống chính trị hơn là đời sống kinh tế – xã hội, vì vậy các nguồn tài liệu lưu trữ phương Tây (công ty Đông Ấn, phái đoàn truyền giáo, các nhà du hành…) có thể coi là nguồn tài liệu quý giá, bổ khuyết cho khối tài liệu trong nước. “Nghiên cứu thực chứng không loại trừ khả năng nhìn rộng. Một nghiên cứu sử học mang tính khái quát không thể tách rời các nguồn sử liệu, bởi sử liệu là nền móng để nhà sử học đứng trên đó mà nhìn xa và rộng hơn. Xa rời phương pháp sử học thực chứng dễ dẫn người ta đến tư biện hóa nghiên cứu của mình.” Cùng với quan điểm đề cao “thực chứng”, anh cũng đặc biệt quan tâm đến góc nhìn “toàn cầu”: “Các sự kiện lịch sử mấy khi tồn tại biệt lập, đặc biệt là trong kỷ nguyên giao lưu toàn cầu từ sau thế kỷ XVI, các sự kiện càng có xu hướng liên đới mật thiết với nhau (truyền giáo, dòng chảy tiền tệ quốc tế, di dân, dịch bệnh…)”.   Những năm tháng theo đuổi định hướng nghiên cứu về khảo cổ học biển và lịch sử thương mại biển đã tạo điều kiện để PGS.TS Hoàng Anh Tuấn đi sâu tìm hiểu vị trí và vai trò của Việt Nam trong lịch sử giao thương khu vực Đông Á, đặc biệt là trong hệ thống thương mại mang tính toàn cầu ở các thế kỷ XVI – XVIII: “Việt Nam là một mắt xích rất quan trọng trong hệ thống thương mại liên hoàn của thế giới thời kỳ tiền cận đại. Chẳng hạn, trong thế kỷ XVII, nếu không có nhịp cầu thương mại với Đàng Ngoài, Công ty Đông Ấn Hà Lan khó mà đạt được thành công về thương mại như nó từng có bởi nguồn tơ lụa Đàng Ngoài chính là chìa khóa để người Hà Lan mở cửa thị trường bạc của Nhật Bản – mặt hàng quyết định sự thành bại của nền mậu dịch Hà Lan ở phương Đông”.  PGS.TS Hoàng Anh Tuấn cho rằng: “Xét từng góc độ cụ thể, Việt Nam trong lịch sử có thể chưa là một thế lực đại dương theo nghĩa có những đội tàu quy mô dọc ngang các vùng biển khu vực. Tuy nhiên, điều đó không thể phủ nhận vị trí và vai trò của Việt Nam trong hệ thống giao thương khu vực và thế giới trong lịch sử. Trước hết, tự thân vị trí địa lý mang tính cầu nối giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á đã làm cho Việt Nam trở nên quan trọng trong các hoạt động giao thương khu vực. Thứ hai, Việt Nam luôn có những thương phẩm xuất khẩu hấp dẫn thương nhân ngoại quốc (tơ lụa, gốm sứ, quế, xạ hương…). Thứ ba, vị trí địa lý và điều kiện lịch sử nếu được hỗ trợ bởi các chính sách mang tính cởi mở và phóng khoáng của các triều đại (Lý, Mạc, Lê-Trịnh, chúa Nguyễn) thì Việt Nam có thể vươn ra dự nhập vào các mạng lưới giao thương khu vực và quốc tế”.  Đặt trong bối cảnh giao thương khu vực thời kỳ tiền cận đại, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn cho rằng việc đề cao quá mức sự chi phối hoặc đóng góp của người phương Tây hay người phương Đông trong hệ thống hải thương quốc tế đều dễ dẫn đến những trạng thái “cực đoan” bởi sự ảnh hưởng hay chi phối của từng cộng đồng người luôn thay đổi ở từng giai đoạn cụ thể và ở từng khu vực khác nhau: “Khi người phương Tây mới tìm đến phương Đông (thế kỷ XVI) hệ thống hải thương của người phương Đông đã được vận hành ổn định suốt nghìn năm. Từ đầu thế kỷ XVII – XVIII, vai trò của người phương Tây mới tăng lên và đến thời kì thực dân về sau thì trở nên lấn lướt”.             PGS.TS Hoàng Anh Tuấn cho rằng, mặc dù  triển vọng của các ngành KHXH của Việt Nam không quá rộng mở hay quá  tươi sáng, nhưng về cơ bản, cơ hội phát triển khá rõ rệt đối với những  ai thực sự chuyên tâm với lĩnh vực nghiên cứu của mình. Riêng các nhà  khoa học trẻ, theo anh, nên sớm xác định cho mình một định hướng nghiên  cứu (dựa vào cảm nhận khoa học của cá nhân hoặc dựa vào tư vấn chuyên  môn của những người thầy), đặt mục tiêu cụ thể cho từng chặng đường  nghiên cứu và luôn có sự điều chỉnh một cách linh hoạt. Cùng với đó là  nỗ lực cải thiện ngoại ngữ để có thể tiếp cận các nguồn tư liệu gốc cũng  như nỗ lực tích lũy kiến thức lịch sử, văn hóa… góp phần nhìn nhận vấn  đề thấu đáo và toàn diện hơn. Bản thân anh, sau 13 năm kiên trì một  hướng nghiên cứu, đã trở thành tác giả của hai sách chuyên khảo và nhiều  công bố quốc tế có chỉ số ISI và Scorpus.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ biết cảm thông từ 10 tháng tuổi      Lòng trắc ẩn là kết quả của giáo dục hay  là phẩm chất bẩm sinh của con người? Các nhà nghiên cứu Nhật Bản mới  đây đã tìm ra câu trả lời đáng ngạc nhiên cho vấn đề này thông qua hàng  loạt cuộc thí nghiệm với trẻ sơ sinh.    Con người phát triển lòng trắc ẩn từ khá sớm. Nhưng tình cảm này phát triển chính xác từ khi nào và như thế nào thì chưa có câu trả lời thật rõ ràng. Tuy nhiên, ngay trẻ sơ sinh cũng đã biểu hiện sự đồng cảm với người bị tấn công cũng như lòng trắc ẩn với những kẻ khốn khó. Trên tạp chí chuyên ngành trực tuyến “Plos One”, nhà tâm lý học Yasuhiro Kanakogi và các cộng sự của ông ở Trường Đại học Tổng hợp Kyoto và Trường Đại học Công nghệ Toyohashi viết rằng, các em bé mới mười tháng tuổi đã cho thấy sự đồng cảm của chúng với những người trong tình trạng nguy hiểm mà không dùng lời nói nào.  Trẻ em trong độ tuổi này có thể nhận biết các mục tiêu và các hình khối hình học. Vì thế, các nhà nghiên cứu đã dùng phim hoạt hình để kiểm tra phản ứng của trẻ em đối với hành vi tấn công.   Các nhà nghiên cứu cho các em thấy một tình huống va chạm giữa một quả bóng xanh và một viên xúc xắc màu vàng. Quả bóng lăn về phía con xúc xắc và đâm vào nó một cách cố ý.  Sau đó, nếu chỉ cho các em bé các vật chơi như là vật thể thực thụ, thì các em hầu hết sẽ giơ tay về phía nạn nhân, mà không giơ tay về phía kẻ tấn công.   Quan sát ở loài linh trưởng cũng cho thấy những hành vi tương tự: “Khi bạn cảm thấy sự đau đớn ở người khác, hãy đến và chia sẻ.”  Năng lực cảm thông chỉ phát triển toàn diện từ tuổi thứ hai  Hành vi của trẻ vẫn giữ nguyên khi vai trò và hình dạng của nhân vật thí nghiệm được hoán đổi. Ngay cả khi chúng phải quyết định chọn giữa nhân vật trung lập, không gây sự (vô hại) và nạn nhân hoặc kẻ tấn công để loại trừ hành vi tấn công, thì đa số trẻ chọn kẻ tấn công hoặc nhân vật trung lập. Các nhà nghiên cứu từ đó đưa ra quan điểm rằng, các em bé quyết định như vậy không chỉ để bảo vệ nạn nhân mà còn bởi vì chúng sợ kẻ tấn công.  Ngay cả trẻ sơ sinh cũng phản ứng trước những tình huống cùng cực của người khác, bằng cách chúng bắt chước theo – chẳng hạn như chúng khóc, khi người khác khóc.   Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu, cũng xuất phát từ quan sát, kết luận rằng, trẻ em chỉ từ 18 tháng trở lên mới thực sự quan tâm đến người khác. Theo đó, các phản ứng cảm thông thực sự chỉ bắt đầu từ năm thứ hai của cuộc đời, khi trẻ có khả năng phân biệt mình với người khác. Ở tuổi lên ba, thậm chí trẻ có thể đứng ra bảo vệ người khác trước kẻ tấn công.  Nguyễn Diệu Hoa dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ đung đưa theo nhịp của văn hóa      Lên 1 tuổi, trẻ em người Mỹ đã có khả năng phân biệt các thay đổi dù rất nhỏ trong một điệu valse, nhưng không thể lặp lại thành tích này đối với các loại nhạc không phải của phương Tây.    Theo các nhà tâm lý học của trường đại học Toronto, Canada, tinh thần “ái quốc” như vậy có thể là một dấu hiệu thích nghi với văn hóa của trẻ. Không chỉ vậy, trẻ còn có khả năng thẩm âm tốt hơn người lớn. Bằng chứng là một nghiên cứu khác cũng do nhóm này thực hiện đã cho thấy trẻ con Mỹ có thể nhại lại nhạc nước ngoài tốt hơn người lớn.      P.V    Nguồn tin: E. Hannon et al., PNAS, 102, 12639, 2005      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em nghĩ robot có thể giúp đỡ người già – ngoại trừ ông bà chúng      Mới đây, các nhà khoa học Na Uy đã công bố trên tạp chí “AI & Society” một nghiên cứu về thái độ của trẻ em đối với robot tại hội chợ nghiên cứu được tổ chức khắp các thành phố lớn của nước này.    Trước đó, Roger A. Søraa đã cùng các cộng sự tại Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy (NTNU) chuẩn bị ba robot khác nhau. Mục đích của ông là nghiên cứu về mối quan hệ và thái độ của trẻ em từ 6-13 tuổi đối với robot.   Hiện nay, rất nhiều quốc gia đã ứng dụng robot xã hội vào việc chăm sóc người cao tuổi. Chính vì vậy, Søraa cho rằng “việc tìm hiểu suy nghĩ của giới trẻ về cách robot chăm sóc người già, đặc biệt nếu đó là các thành viên lớn tuổi trong gia đình họ, sẽ là một vấn đề thú vị.”    Ba robot hoàn toàn khác nhau  Những đứa trẻ tại hội chợ nghiên cứu đã gặp gỡ ba robot khác nhau. Một là robot Pepper, có hình dáng giống con người, cao 120cm và có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.  Robot tự hành hình người là loại robot xã hội tiên tiến, đóng vai trò như một trợ lý cá nhân. Pepper có thể nói, di chuyển và thực hiện các cuộc trò chuyện đơn giản. Chúng ta có thể huấn luyện nó để nhận biết trong một số trường hợp, chẳng hạn như khi ai đó ngã thì nó cần phải kích hoạt hệ thống báo động. Nó có khả năng mang lại sự an toàn cho những người cao tuổi sống một mình và những người có sức khỏe kém.  Robot thứ hai được thiết kế đơn giản với hình dạng giống một chậu hoa có mắt. Nó tên là Tessa. Làm thế quái nào mà một chậu hoa lại có thể góp phần vào việc chăm sóc người già?  Tessa thực chất là một hệ thống cảm biến tại nhà, dành riêng cho những người mắc chứng mất trí nhớ sống một mình.  Ví dụ, Tessa có thể học cách nhận biết thói quen của người mà nó sống cùng. Thông qua các cảm biến trong tủ lạnh, nó có thể biết rằng người này thường mở cửa tủ lạnh và ăn sáng lúc 9 giờ sáng mỗi ngày. Nếu tủ lạnh không được mở như thường lệ, Tessa có thể nhắc người đó rằng đã đến giờ ăn sáng. Đối với những người bị sa sút trí tuệ, người hay quên và bị lẫn lộn về thời gian, nó là người bạn hữu ích.  Robot thứ ba, AV1, nhắm đến những đứa trẻ nghỉ học vì vấn đề thể chất, chẳng hạn như vì bị ốm. Robot trường học AV1 có hình dạng giống cái đầu với đôi mắt có thể thu lại hình ảnh lớp học. Học sinh có thể điều khiển robot từ nhà và theo dõi những gì đang diễn ra trong lớp thông qua ứng dụng dành cho thiết bị di động.  Sự e ngại dành cho Pepper  “Phân tích của chúng tôi dựa trên dữ liệu khảo sát định lượng từ trẻ em về robot và các cuộc thảo luận định tính với chúng tại hội chợ nghiên cứu. Bằng cách so sánh ba loại robot xã hội khác nhau, chúng tôi phát hiện ra rằng các em nhìn nhận robot dựa trên chức năng, thiết kế, lẫn ‘sự sống động’ của chúng”, Søraa nói.  Søraa nhớ lại: “Thái độ của các em dành cho những chú robot tương đối tích cực: tò mò và khám phá, nhưng chúng nghĩ Pepper hơi đáng sợ. Điều này có lẽ một phần do Pepper trông khá to lớn”.  “Khi các robot có nhiệm vụ rõ ràng, như robot chậu hoa Tessa và robot dạy học AV1, chúng trở nên ít đáng sợ hơn và gần gũi hơn vì chúng ta dễ dàng hiểu được nhiệm vụ của chúng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng robot càng trông giống như một con người, nó càng trở nên đáng sợ,” Søraa nói. Dường như chúng ta cảm thấy an tâm khi biết rằng robot không phải là con người mà là một sinh vật nào đó khác..  Tessa là lựa chọn tốt nhất  Nhìn chung những đứa trẻ đều cho rằng robot khá hữu ích đối với người lớn tuổi. Nhưng khi được hỏi liệu trong số những người lớn tuổi được hỗ trợ đó có bao gồm ông bà của chúng hay không, những đứa trẻ tỏ ra nghi ngại. Trong khi 76% đồng ý rằng Pepper có thể giúp đỡ người già, chỉ 60% nghĩ rằng Pepper thực sự hữu ích đối với ông bà của chúng.  Søraa cho rằng “có thể giải thích điều này qua cách bọn trẻ cảm nhận về ông bà của mình.”  Một đứa trẻ đã chia sẻ: “Cháu nghĩ chúng [robot] có thể giúp đỡ ông cố của cháu vì ông khá đãng trí và ông lại còn sống một mình.”  “Đứa trẻ này nhắc đến ông bà cố, chứ không phải ông bà, là người mà robot có thể giúp đỡ. Điều đó cho thấy em ấy nghĩ rằng ông bà của mình vẫn còn quá khỏe mạnh để cần đến sự trợ giúp của robot”, Søraa phân tích.  Bọn trẻ cho rằng robot chậu hoa Tessa là thiết bị hữu ích nhất. Hơn 97% đồng ý rằng Tessa có thể giúp người già và 86% nghĩ rằng Tessa cũng sẽ là một tính năng hữu ích trong nhà ông bà của chúng.  Những đứa trẻ chia sẻ rằng chúng thích ý tưởng về một chậu hoa biết nói có nhiệm vụ nhắc nhở người già đừng quên bữa ăn cũng như các hoạt động khác.  Anh Thư dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2020-08-children-robots-elderlybut-grandparents.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trẻ em và COVID: Những điều chưa biết về hệ miễn dịch      Khả năng miễn dịch bẩm sinh có thể là yếu tố mấu chốt để giải thích tại sao trẻ em lại có thể chống chọi với virus tốt hơn người trưởng thành. Tuy vậy, biến thể Delta đang đặt ra cho chúng ta những ẩn số mới.      Sau tỷ lệ ca mắc cực kỳ thấp ở New York vào đầu mùa hè này, số trẻ em có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 đã bắt đầu tăng lên. Nguồn: Spencer Platt /Getty.  Đầu năm ngoái, các bệnh viện nhi trên khắp thành phố New York đã phải xoay sở để đối phó với đợt bùng phát COVID-19 thảm khốc. Betsy Herold, một bác sĩ bệnh truyền nhiễm nhi khoa, người phụ trách Phòng thí nghiệm virus học tại Đại học Y Albert Einstein, cho biết: “Có một điểm kỳ lạ là trong khi các bệnh viện trên toàn thành phố tấp nập bệnh nhân thì các khoa nhi lại khá yên ắng. Bằng cách nào đó, trẻ em đã được bảo vệ khỏi những điều tồi tệ nhất của căn bệnh này”.  Dữ liệu từ các bệnh viện trên toàn quốc do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) thu thập từ tháng 3/2020 đến cuối tháng 8/2021 cho thấy, những người dưới 18 tuổi chiếm ít hơn 2% số ca nhập viện do COVID-19).   Điều này khiến SARS-CoV-2 trở nên hơi dị thường. Đối với hầu hết các loại virus khác, từ cúm đến virus hợp bào hô hấp (RSV), trẻ nhỏ và người lớn tuổi thường dễ bị tổn thương nhất; rủi ro của các kết quả xấu theo độ tuổi có thể được biểu thị bằng một đường cong hình chữ U. Nhưng với COVID-19, phần lớn vùng biểu thị người bệnh trẻ của đường cong này không hiển thị. Kawsar Talaat, một bác sĩ bệnh truyền nhiễm tại Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins Bloomberg ở Baltimore, Maryland, cho biết “Điều này thực sự đáng chú ý. Một trong những điều đáng mừng của đại dịch này là virus có phần dung tha trẻ em”.  Tuy nhiên, các nhà miễn dịch học không hoàn toàn ngạc nhiên. Với các loại virus khác, người lớn có lợi thế về kinh nghiệm vì từng bị nhiễm hoặc tiêm phòng trước đó. Hệ thống miễn dịch của họ đã được huấn luyện để đối phó với các mầm bệnh gần giống nhau. Dusan Bogunovic, nhà di truyền học và miễn dịch học tại Trường Y Icahn tại Mount Sinai, thành phố New York, cho biết: “Chúng ta vẫn luôn coi trẻ em là những ‘cỗ máy’ sản xuất mầm bệnh. Tuy nhiên về bản chất thì không phải là do hệ thống miễn dịch của chúng hoạt động kém hiệu quả mà là do thiếu “kinh nghiệm’”.  Các nghiên cứu tập trung vào xu hướng kỳ lạ này bắt đầu cho thấy nguyên nhân khiến trẻ em ít mắc COVID-19 có thể là do phản ứng miễn dịch bẩm sinh. Herold cho biết, trẻ em dường như có một phản ứng miễn dịch bẩm sinh “năng động và sẵn sàng chiến đấu” nhưng vẫn cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ giả thuyết này.  Sự xuất hiện của biến thể Delta đã khiến việc tìm kiếm câu trả lời trở nên cấp thiết hơn. Các báo cáo cho thấy ở Mỹ và các nơi khác, số ca trẻ em nhiễm và nhập viện ngày một gia tăng. Có thể giải thích việc xuất hiện xu hướng này là do tốc độ lây truyền cao của chủng Delta và thực tế là nhiều người trưởng thành đã được tiêm vaccine. Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy trẻ em dễ bị tổn thương hơn, hoặc bị Delta ảnh hưởng nhiều hơn so với các biến thể trước đây.    Nguồn: American Academy of Pediatrics and the Children’s Hospital Association.  Vậy tại sao chúng ta cần tìm hiểu rốt ráo câu hỏi này? Giống như tất cả các loại virus khác, SARS-CoV-2 liên tục biến đổi và “khôn ngoan” hơn khi lẩn tránh sự phòng vệ của vật chủ. Việc hiểu nó khiến cho chúng ta gia tăng hiểu biết về lợi ích bảo vệ của hệ miễn dịch bẩm sinh. Lael Yonker, bác sĩ nhi khoa tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts ở Boston, cho biết: “Chúng tôi không chú ý nhiều đến sự khác biệt liên quan đến tuổi tác trong phản ứng miễn dịch, bởi vì sự khác biệt này không còn ý nghĩa lớn về lâm sàng so với trước đây. Tuy nhiên, sự khôn lường của COVID-19 nhắc nhở chúng ta cần hiểu rõ hơn về những khác biệt này”.  Các ý tưởng gây “bão não”  Tại sao trẻ em lại có khả năng “kiểm soát” SARS-CoV-2 tốt hơn người lớn? Lúc đầu, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng trẻ em chỉ đơn giản là chưa bị nhiễm bệnh thường xuyên. Nhưng dữ liệu cho thấy miễn dịch của chúng cũng gần như giống hệt so với người lớn. Học viện Nhi khoa Mỹ phát hiện ra rằng, cho đến cuối tháng trước, khoảng 15% tổng số ca nhiễm COVID-19 ở Mỹ là ở những người dưới 21 tuổi, tức là hơn 4,8 triệu người. Một cuộc khảo sát ở Ấn Độ đã kiểm tra kháng thể chống lại SARS-CoV-2 trong dân số và phát hiện ra hơn một nửa trẻ em từ 6–17 tuổi – và 2/3 tổng dân số nói chung – đều mang kháng thể.  Chỉ có một điều rõ ràng là trẻ em đang bị nhiễm bệnh. Một số nhà nghiên cứu đề xuất, trẻ em có thể có ít thụ thể ACE2 hơn. Đây là thụ thể mà virus sử dụng để xâm nhập và lây nhiễm các tế bào vật chủ. Nhiều bằng chứng mâu thuẫn về sự khác biệt tuổi tác ở biểu hiện ACE2 trong mũi và phổi, nhưng có sự khác biệt rõ ràng giữa trẻ em và người lớn về “tải lượng virus” – hay nồng độ của các hạt virus – mà các nhà khoa học đo được trong đường hô hấp trên. Trong một phân tích ở dạng tiền ấn phẩm về 110 trẻ em, các nhà nghiên cứu phát hiện: trẻ em từ sơ sinh đến thanh thiếu niên có thể có tải lượng virus cao, đặc biệt là ngay sau khi bị nhiễm bệnh. Yonker, người dẫn dắt nghiên cứu cho biết “đều là virus sống”.  Một đề xuất khác là phần lớn trẻ em dường như bị cảm cúm quanh năm, có thể tiếp xúc nhiều với các coronavirus khác gây ra cảm lạnh thông thường. Do đó, chúng có một đội ngũ kháng thể luôn sẵn sàng với một số khả năng bám vào SARS-CoV-2. Nhưng bằng chứng cho thấy rằng người lớn cũng có khả năng miễn dịch này. Đáng chú ý là các kháng thể ‘phản ứng chéo’ này không đem lại bất kỳ biện pháp bảo vệ đặc biệt nào.      “Hầu hết tất cả các loại virus đều phát triển các cách để trốn tránh hệ thống miễn dịch bẩm sinh, và COVID-19 cũng không nằm ngoài quy luật đó. Ngay bây giờ, những đứa trẻ vẫn đang chiến thắng với khả năng miễn dịch bẩm sinh của chúng. Nhưng điều này sẽ tồn tại trong bao lâu nữa? Chúng ta đều không biết”. (Betsy Herold, Phòng thí nghiệm virus học, Đại học Y Albert Einstein).      Sau khi gạt đi phần lớn những giả thuyết này, Herold và các đồng nghiệp của cô bắt đầu xem xét liệu có điều gì đó cụ thể trong phản ứng miễn dịch của trẻ em mang lại lợi ích cho chúng hay không.  Một số manh mối đã được phát hiện trong máu của những người đã bị nhiễm bệnh. Theo một nghiên cứu so sánh 65 người dưới 24 tuổi với 60 người lớn tuổi, Herold và các đồng nghiệp phát hiện ra: nhìn chung, những bệnh nhân trẻ hơn (có các triệu chứng nhẹ hơn) tạo ra mức độ kháng thể tương tự như nhóm lớn tuổi. Nhưng nhóm này đã có sự biểu hiện thấp về mức độ các kháng thể chuyên biệt và các loại tế bào liên quan đến phản ứng miễn dịch thích ứng. Các kháng thể này đánh dấu các tế bào bị nhiễm bệnh một cách chuyên biệt để các tế bào khác đến tiêu diệt.   Trẻ em thường có mức kháng thể trung hòa thấp hơn (so với người lớn) để ngăn chặn SARS-CoV-2 lây nhiễm tế bào. Ngược lại, những đứa trẻ trong nghiên cứu đều được hệ thống miễn dịch cảnh báo sớm về sự xuất hiện của mầm bệnh do có những lượng mức các protein tín hiệu interferon-γ và interleukin-17 cao hơn. Chúng có thể được tạo ra từ các tế bào biểu mô ở đường thở và có liên quan đến miễn dịch bẩm sinh. Herold nghi ngờ những đứa trẻ có triệu chứng nhẹ hơn là bởi phản ứng của hệ miễn dịch bẩm sinh của chúng hiệu quả hơn trong việc loại bỏ mối đe dọa, còn phản ứng của miễn dịch thích ứng quá mức ở người lớn có thể là nguyên nhân gây ra một số biến chứng phức tạp trong COVID-19.  Một nghiên cứu khác cũng phát hiện ra rằng các phản ứng của miễn dịch thích ứng, đặc biệt là các tế bào T ở trẻ em yếu hơn so với người lớn, cho thấy có một cái gì đó đã xảy ra từ rất sớm. Sophie Valkenburg, đồng tác giả nghiên cứu tại Đại học Hồng Kông, cho biết có lẽ nó là nguyên nhân tạo ra sự khác biệt.  Tuy nhiên, các yếu tố khác như giảm viêm và phản ứng miễn dịch thích ứng có mục tiêu cũng có thể quan trọng. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những đứa trẻ bị nhiễm bệnh có mức độ biểu hiện nhẹ (hơn so với nhóm còn lại) của các bạch cầu đơn nhân, bao gồm cả bạch cầu đơn nhân gây viêm, hoạt động như một cầu nối giữa hệ thống miễn dịch bẩm sinh và thích ứng. Nhưng những đứa trẻ này có mức biểu hiện tế bào T hỗ trợ cao hơn có thể tạo ra phản ứng tạo kháng thể sớm. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong khả năng miễn dịch, giúp tế bào B tạo ra kháng thể giúp cơ thể chống lại các mầm bệnh ngoại lai.  Những nhân tố đầu tiên  Herold và các đồng nghiệp đã cố gắng xác định trực tiếp phản ứng miễn dịch bẩm sinh ở trẻ em bằng cách lấy gạc mũi họng của những người đến cấp cứu, gồm 12 trẻ em mắc bệnh thể nhẹ và 27 người lớn (một số người trong đó đã tử vong). So với nhóm người trưởng thành thì những đứa trẻ này có mức độ biểu hiện cao của các protein tín hiệu như interferon, interleukin, và biểu hiện cao của các gene mã hóa cho các protein này.  Yonker cho biết, một loại tế bào miễn dịch có thể đóng một vai trò quan trọng ở trẻ em là tế bào lympho bẩm sinh (innate lymphoid cells) – một trong những tế bào đầu tiên phát hiện tổn thương mô và tiết ra các protein tín hiệu giúp điều chỉnh các phản ứng miễn dịch bẩm sinh và thích ứng. Trong một nghiên cứu  dưới dạng tiền ấn phẩm, Yonker và các đồng nghiệp phát hiện ra người lớn mắc bệnh nặng và trẻ em có triệu chứng cũng có lượng tế bào lympho bẩm sinh trong máu thấp. Đáng ngại là lượng tế bào lympho bẩm sinh trong máu giảm theo độ tuổi và thấp hơn ở nam giới – dấu hiệu cho thấy nguy cơ rủi ro lớn hơn của họ nếu bị nhiễm bệnh.  So với người lớn, trẻ em bị nhiễm SARS-CoV-2 gần đây cũng được phát hiện có mức độ hoạt hóa của bạch cầu trung tính cao hơn. Đây là những tế bào ở tuyến đầu để đối phó với những mầm bệnh xâm lược nhưng “chúng sẽ trở nên kém hiệu quả hơn theo độ tuổi”, Melanie Neeland, một nhà miễn dịch học tại Viện Nghiên cứu Trẻ em Murdoch (MCRI) ở Melbourne, cho biết.    Một đứa trẻ được điều trị COVID-19 ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng Tư. Nguồn: Sebnem Coskun / Anadolu Agency /Getty.  Các tế bào biểu mô bên trong mũi cũng có thể điều phối khả năng phản ứng nhanh. Ở trẻ em, những tế bào này có các thụ thể có thể nhận ra các phân tử thường thấy trong mầm bệnh; đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng trẻ em có biểu hiện gene mã hóa MDA5, một thụ thể có khả năng nhận biết SARS-CoV-2, cao hơn đáng kể so với người lớn. Sau khi phát hiện có virus xâm nhập, các tế bào này ngay lập tức kích hoạt quá trình sản xuất interferon. Đồng tác giả nghiên cứu Roland Eils, một nhà sinh học tính toán tại Viện Y tế Berlin, cho biết: “Nếu người lớn chúng ta phải mất hai ngày để tăng cường hệ thống phòng thủ đối với virus thì trẻ em chỉ mất một ngày. Chính độ trễ thời gian tạo nên sự khác biệt giữa hai nhóm”.  Các nghiên cứu về các rối loạn miễn dịch hiếm gặp và di truyền cũng cho thấy vai trò chủ yếu của miễn dịch bẩm sinh trong việc ngăn chặn các mầm bệnh đường hô hấp như cúm. Isabelle Meyts, một nhà miễn dịch học nhi khoa và là bác sĩ tại Đại học Công giáo Leuven ở Bỉ, thường xuyên tiếp xúc với những trẻ em bị rối loạn miễn dịch. Khi đại dịch ập đến, cô đã chuẩn bị kế hoạch để bảo vệ chúng. Meyts nói: “Những bệnh nhân mà tôi lo lắng nhất thực sự là những người có khiếm khuyết về miễn dịch bẩm sinh”.  Linh cảm của cô cho đến nay đã được chứng minh. Những trẻ bị rối loạn ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch thích ứng của chúng – chẳng hạn như những trẻ không sản xuất kháng thể hoặc gặp lỗi khi sản xuất tế bào B và tế bào T – không gặp phải vấn đề gì khi bị nhiễm SARS-CoV-2. “Không hẳn là hệ thống miễn dịch thích ứng đang giúp cơ thể đánh bại loại virus này”, cô nói. Bằng chứng thực tế, trong số những trẻ bị bệnh nặng, có những đứa trẻ bị thiếu hụt các phản ứng miễn dịch bẩm sinh.  Một nghiên cứu ở người trưởng thành cũng cho thấy một số ít người bị COVID-19 nghiêm trọng có đột biến làm gián đoạn hoạt động của interferon loại 1 –  đóng một vai trò trong phản ứng miễn dịch bẩm sinh đối với virus. Các phân tích riêng biệt cho thấy cứ mười người bị COVID-19 đe dọa đến tính mạng thì có một người tạo ra kháng thể ngăn chặn hoạt động của các interferon này, và tỷ lệ lưu hành của các kháng thể này tăng theo tuổi ở những người trước đây chưa bị nhiễm coronavirus.  Tuy nhiên, phản ứng của miễn dịch bẩm sinh hoạt động quá mức cũng có thể gây bất lợi. Ví dụ, những người mắc hội chứng Down có nhiều nguy cơ bị COVID-19 nghiêm trọng mà Meyts nói có thể là do nhiễm sắc thể phụ của họ có chứa một số gene liên quan đến phản ứng với interferon loại 1.   Ký ức tồi tệ  Các nhà nghiên cứu cho biết khả năng miễn dịch bẩm sinh hầu như không phải là toàn bộ câu chuyện, đặc biệt là khi chúng ta đã biết được nó kết nối như thế nào với miễn dịch thích ứng.  Một số nhà nghiên cứu đề xuất, việc tiếp xúc với các coronavirus khác trong nhiều năm khiến hệ thống miễn dịch của người trưởng thành cũng phản ứng theo cách tương tự khi đối mặt với SARS-CoV-2, dẫn đến phản ứng kém hiệu quả hơn. Khái niệm này được gọi là lỗi kháng nguyên gốc. Ngược lại, trẻ em có thể tạo ra một (cách) phản ứng mới, tinh chỉnh hơn đối với một loại virus hoàn toàn mới này.   Amy Chung, nhà miễn dịch học tại Viện Nhiễm trùng và Miễn dịch Peter Doherty ở Melbourne, Úc, đã quan sát một số bằng chứng về vấn đề này trong một nghiên cứu mở rộng về kháng thể trong máu của vài trăm trẻ em và người lớn, bao gồm 50 người bị nhiễm SARS-CoV-2. Cô và các đồng nghiệp phát hiện ra, người lớn có nhiều kháng thể phản ứng chéo hơn, nhắm vào các phần của SARS-CoV-2 tương tự như các phần của coronavirus khác, trong khi trẻ em có xu hướng tạo ra nhiều loại kháng thể chống lại tất cả các phần của virus.  Các nhà nghiên cứu cũng đang xem xét các yếu tố khác được cho là già đi theo tuổi tác, chẳng hạn như khả năng kiểm soát viêm và chữa lành các mô bị tổn thương. Vera Ignjatovic, một nhà sinh hóa nghiên cứu huyết học nhi khoa tại MCRI, cho biết trẻ em ít bị hình thành cục máu đông hơn và điều này có thể cung cấp một số biện pháp bảo vệ.  Tất nhiên, không phải tất cả trẻ em bị nhiễm đều không có triệu chứng hoặc nhẹ. Một số trong đó có các tình trạng tiềm ẩn như bệnh tim mãn tính, ung thư, hay bị viêm phổi nghiêm trọng. Các ước tính cũng rất khác nhau về sự phổ biến của “triệu chứng COVID kéo dài”. Trong đó, các triệu chứng này tồn tại trong nhiều tháng hoặc hơn. Thông tin từ một bản thảo gần đây cho thấy ba tháng sau khi chẩn đoán, có đến 14% số người trẻ xét nghiệm dương tính với COVID-19 có nhiều triệu chứng. Và một nhóm nhỏ trẻ em khỏe mạnh – khoảng ba trong số 10.000 người bị nhiễm bệnh dưới 21 tuổi – gặp phải tình trạng được gọi là hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ em (MIS-C). Nhìn chung, trẻ em phản ứng tốt với tình trạng nhiễm trùng ban đầu, nhưng khoảng một tháng sau đó nhập viện với một loạt các triệu chứng từ suy tim đến đau bụng và viêm kết mạc, với tổn thương tối thiểu ở phổi.   Michael Levin, bác sĩ nhi khoa và bệnh truyền nhiễm tại Đại học Hoàng gia London, cho rằng hội chứng này có thể là kết quả của phản ứng kháng thể hoặc tế bào T quá mức đối với bệnh nhiễm trùng. Bất chấp hàng trăm bài báo về chủ đề này, “chính xác điều gì khiến trẻ em bị MIS-C khác biệt với các em còn lại vẫn hoàn toàn chưa được biết đến”, Levin nói.  Khi đại dịch bùng phát, các nhà nghiên cứu lo lắng về việc virus có thể phát triển theo những cách cản trở một số phản ứng bảo vệ của miễn dịch bẩm sinh ở trẻ em. Một số nhà nghiên cứu đã phát hiện ra biến thể Alpha, vốn thống trị ở một số nơi trên thế giới trong một thời gian, đã không ngừng tạo ra các thủ thuật giúp nó ngăn phản ứng miễn dịch bẩm sinh của cơ thể. Và có thể Delta cũng làm như vậy. Hiện tại, số trẻ em nhập viện đang gia tăng ở các vùng có Delta lưu hành. Đây dường như là kết quả của khả năng lây nhiễm mạnh hơn ở mọi lứa tuổi, cùng với thực tế là nhiều người lớn đã được tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm SARS-CoV-2. Nhưng để đi đến kết luận chính xác thì các nhà nghiên cứu vẫn đang theo dõi cẩn thận.  “Hầu hết tất cả các loại virus đều phát triển các cách để trốn tránh hệ thống miễn dịch bẩm sinh, và COVID-19 cũng không nằm ngoài quy luật đó. Ngay bây giờ, những đứa trẻ vẫn đang chiến thắng với khả năng miễn dịch bẩm sinh của chúng. Nhưng điều này sẽ tồn tại trong bao lâu nữa? Chúng tôi đều không biết”, Herold nói.□  Hạ Nhiên dịch   Nature 597 , 166-168 (2021)  doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-02423-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên các hành tinh khác, cây có thể đỏ hoặc vàng      Quy luật khiến cho cây cối trên trái đất có màu xanh thì cũng có thể khiến cho thực vật trên những hành tinh khác có màu vàng, đỏ hoặc xanh lục – nhưng hiếm khi xanh dương.    Phát hiện này, theo các nhà khoa học NASA, sẽ giúp thu hẹp nghiên cứu tìm kiếm sự sống trên các hành tinh khác ngoài thái dương hệ. Ngoài ra, nó cũng mang lại lời giải cho câu hỏi cơ bản về sự sống trên trái đất của chúng ta.  Vikki Meadows, Giám đốc phòng thí nghiệm Virtual Planetary của NASA và cộng sự, trước hết đã tìm hiểu ánh sáng bị hấp thụ và phản xạ như thế nào bởi thực vật và một số vi khuẩn trên trái đất.  Chất diệp lục trong thực vật sẽ hấp thụ ánh sáng mặt trời và biến nó thành năng lượng thông qua quá trình quang hợp.  Các nhà khoa học từ lâu đã biết rằng hầu hết thực vật trên trái đất hấp thụ nhiều hơn ánh sáng đỏ và xanh dương, trong khi ít giữ lại ánh sáng xanh lục, tuy nhiên họ không hiểu tại sao.  Nghiên cứu mới đã tìm thấy, có nhiều ánh sáng đỏ chiếu tới trái đất hơn, và ánh sáng xanh dương lại dễ hấp thụ nhất, nên thực vật “ưu tiên” cho hai loại này và tận dụng chúng hiệu quả nhất, để lại ánh sáng xanh lục trở nên vô dụng.  “Thực vật không hấp thụ ánh sáng lục vì chúng đã nhận thừa đủ năng lượng từ đỏ và xanh dương. Chúng đơn giản là chẳng cần đến ánh sáng lục”, các nhà nghiên cứu nói.  Kết quả là, thực vật phản xạ ánh sáng lục nhiều hơn, khiến cho cây cối trông có màu xanh.  Trên các hành tinh khác, nơi những màu sắc khác trong dải phổ chiếm ưu thế, thực vật có thể sẽ lại hấp thu ánh sáng xanh lục (và thậm chí xanh dương) nhiều hơn, phản xạ đi những gì chúng không cần thiết. Hiệu ứng này khiến cho cây cối ở đây sẽ có màu vàng, đỏ…  T. An (theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên đường trở thành “siêu cường nông nghiệp”      Trung Quốc đang đổi mới các chính sách nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp nhằm thực hiện chiến lược trở thành một “siêu cường nông nghiệp” và “kho lương thực toàn cầu”.        Phát minh trong… phòng thí nghiệm  Những giống lúa mới siêu năng suất mang gen kháng bệnh, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng và thu hoạch ngắn; những cây cải đỏ ngọt chất lượng cao năng suất có thể đạt 80-100 tấn/ha; những giống cà chua đạt năng suất gần 250 tấn/ha…đang được các nhà khoa học di truyền nông nghiệp, sinh học Trung Quốc nghiên cứu lai tạo, chọn lọc thông qua những kỹ thuật công nghệ cao nhằm tạo tiền đề cơ bản hiện đại hóa ngành nông nghiệp.   “Trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1998, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra trên 5000 tổ hợp các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh cao…Các giống cây trồng đã được đổi mới 4-5 lần, mỗi lần đổi mới sản lượng có thể tăng lên 10-30%”, ông Nguyễn Xuân Thắng, nguyên Tham tán khoa học, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, cho biết. Theo thống kê, chỉ tính riêng việc trồng giống lúa lai đã làm tăng được 350 triệu tấn lúa gạo. Song song với những nghiên cứu nội lực, các nhà khoa học Trung Quốc tự tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của những nước phát triển để tái cấu trúc hệ thống khoa học công nghệ nông nghiệp. Lấy kinh nghiệm phương Tây thúc đẩy nền nông nghiệp phương Đông.  Không có gì ngạc nhiên khi số lượng bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc xuất hiện trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín có chiều hướng “tăng vọt”. Đa phần những bài báo này đều “xoáy” vào phát triển những hướng công nghệ mới như chuyển gen, nhân bản vô tính, lai tạo và chọn lọc “thế hệ” cây trồng có phẩm chất vượt trội. Đặc biệt, trong công tác di truyền chọn tạo giống đã có hàng loạt các kết quả đột phá trong tạo giống lúa thấp cây, cao sản, sử dụng ưu thế lai…Điều khiến các phòng thí nghiệm được đầu tư đặc biệt như vậy cho phép các nhà khoa học nông nghiệp và công nghệ sinh học “thả sức” nghiên cứu xuất phát từ bài toán áp lực cạnh tranh hai mặt ngày càng gay gắt, khẳng định vị thế của đất nước hơn một tỷ dân này trên thị trường nông nghiệp thế giới.    Hiện đại hóa…đồng ruộng  Tuy là một đất nước có diện tích thuộc “hàng top”, nhưng diện tích đất nông nghiệp của Trung Quốc không phải là nhiều. Bên cạnh đó, đối mặt với vấn nạn thu hẹp đất nông nghiệp ngày càng gia tăng do đô thị hóa cũng như những nguyên nhân do ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu như xa mạc hóa, xói mòn và ô nhiễm, Trung Quốc đã nhanh chóng chuyển đổi hướng canh tác truyền thống bằng cách xây dựng những mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Với những mô hình này, việc bắt những vùng hoang hóa, khô cằn phải “đơm hoa kết trái” không còn là chuyện xa vời.  Ngay từ 2002, Trung Quốc đã xây dựng 400 khu nông nghiệp công nghệ cao, nhờ đó mà gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 42%, giá trị sản lượng bình quân gấp 40-50 lần so với mô hình sản xuất truyền thống. Tính đến nay, Trung Quốc hiện đã có trên 500 khu nông nghiệp công nghệ cao với hơn 4000 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các vùng sinh thái khác nhau. Rõ ràng, những mô hình nông nghiệp công nghệ cao như vậy đang đẩy mạnh hiện đại hóa nền nông nghiệp của Trung Quốc.  Những khu nhà kính, hệ thống tưới nước, các kỹ thuật chăm bón được các nhà kỹ thuật một mặt phát triển, mặt khác tiếp thu công nghệ của nước ngoài sau đó chuyển giao trực tiếp cho người nông dân. Theo ông Nguyễn Xuân Thắng thì hàng loạt công nghệ mới đã được sáng tạo và ứng dụng trong nông nghiệp, làm cho hơn 1/3 diện tích đất canh tác của Trung Quốc đã trồng được nhiều vụ. Công nghệ trồng trọt được định lượng hóa, mô hình hóa, hệ thống hóa và khu vực hóa, công nghệ tưới tiết kiệm nước, công nghệ phòng trừ dịch bệnh tổng hợp nhằm hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, phát triển bền vững đã và đang được phổ biến. Ngoài ra, những vùng đồng bằng miền Bắc chiếm một phần lớn đất nông nghiệp nhưng lại phải đối mặt với sự thiếu nước nghiêm trọng do phân bố mưa không đều. Cho nên nhiều nhà khoa học Trung Quốc đang ấp ủ giấc mơ áp dụng công nghệ cao để làm mưa nhân tạo, và sử dụng những công nghệ này nhằm mục đích thay đổi dòng chảy của các dòng sông cung cấp nước cho những vùng đất canh tác khô hạn.  Nền nông nghiệp tri thức  Bên cạnh việc xây dựng những mô hình canh tác mới sử dụng những công nghệ tiên tiến, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp. Chỉ có làm như thế mới có thể “nấu đủ cơm” cho một lực lượng dân số khổng lồ.  Một hệ thống khoảng 1600 các cơ sở nghiên cứu, giảng dạy được thành lập với khoảng 1,5 triệu cán bộ đã được phân bổ ở các tỉnh. Đội ngũ các nhà kỹ thuật Trung Quốc (TTF) được thành lập đóng vai trò như “kim chỉ nam” định hướng thị trường nông nghiệp cho người nông dân. Nhiều tỉnh huyện đã áp dụng cơ chế TTF, theo đó, người nông dân được hướng dẫn trực tiếp để tiếp cận đến những công nghệ mới và công nghệ cao. Trong năm 2005, có khoảng 230000 cán bộ TTF được phái đi để “cầm tay chỉ việc” người nông dân, và thực tế đã có khoảng 6 triệu nông dân đã được đào tạo kỹ thuật mới, tiếp cận công nghệ cao. Kết quả, thu nhập của nông dân Trung Quốc đã tăng 20%. Xét về lâu dài, những mô hình như TTF không chỉ giúp nông dân phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh hiện đại nâng cao thu nhập, mà còn giúp Trung Quốc xây dựng những mô hình sản xuất mới nhanh chóng đạt tốc độ tăng trưởng bền vững.  Những năm trước, các dự án như “Xóa đói giảm nghèo thông qua chuyển giao công nghệ tiên tiến” đã trở thành một công cụ khuyến khoa học hiệu quả hơn cả. Mỗi người nông dân được xem như những “kỹ sư nông nghiệp” thực thụ để tự làm chủ được những mô hình canh tác mang đậm màu sắc công nghệ. Và như vậy, khái niệm “nền nông nghiệp tri thức” đang dần trở nên phổ biến ở đất nước đang đối mặt với những vấn đề cung đủ lương thực cho lực lượng dân số khổng lồ tương lai.      Đức Phường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trên mặt trăng có nước      Các nhà địa chất học, Đại học Brown (Mỹ), đã tìm thấy dấu vết của nước trong bụi trên mặt trăng do các phi thuyền Apollo 11, 15, 17 của NASA thu thập được.    Các phân tử được phân tích là những mẩu thủy tinh rất nhỏ của núi lửa đã tồn tại khi thiên thể này được hình thành, cách đây 4,5 tỷ năm. Lúc đó, mặt trăng có lẽ chứa trong vỏ của nó lượng nước tương đương với lượng nước trong vỏ trái đất hiện nay. Phát hiện này đã khẳng định giả thuyết mặt trăng được sinh ra từ một sự va chạm giữa Trái đất và một thiên thể có kích cỡ bằng sao Hỏa. Nó cũng gợi ý rằng nước đã tồn tại trên hành tinh của chúng ta từ hồi ấy. Liệu hiện nay có băng ở các cực của mặt trăng như giả định cách đây vài năm hay không? Hai chương trình của NASA: Lunar Reconnaissance Orbiter và Lunar Crater Observation & Sensing Satellite sẽ được tiến hành cuối năm nay và 2009 sẽ đem lại câu trả lời. Đức Đan (Theo Sciences et Avenir)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí thức là vốn quý báu của dân tộc…      Nhân ngày Nhà báo Việt Nam (21-6) xin giới thiệu với bạn đọc trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài và bài viết trên báo Sự thật cách đây 50 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Nhà báo tiêu biểu của báo chí cách mạng Việt Nam.    Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cách với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.  Nếu các bạn ngoại quốc muốn biết không khí của người trí thức Việt Nam thì vừa đây có một sự thật rất rõ rệt: Sài Gòn- Chợ Lớn là nơi quân Pháp đang chiếm đóng. Tỏ lòng ái quốc là một sự nguy hiểm cho người Việt Nam. Thế mà hơn 700 người trí thức và thương gia tư bản Việt Nam ở vùng đó vừa bạo dạn ký giấy đòi Chính phủ Pháp phải đàm phán với Chính phủ Việt Nam.  Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc.  (Trích bài trả lời phỏng vấn của nhà báo nước ngoài 22-6-1947)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tri thức và cái bí ẩn      Theo cách nào đó, bí ẩn là tên gọi chúng ta đặt cho sự thất vọng của mình khi bị giam hãm trong vòng luẩn quẩn của tri thức. Tại sao tồn tại thế giới này thay vì hư không? Câu hỏi ấy không thôi ám ảnh chúng ta và chúng ta thậm chí còn không thể trao cho nó một ý nghĩa. Hãy cho chúng ta, ít nhất, gọi nó bằng một cái tên.      “Cuộc chiến vươn đến những tầm cao cũng đủ để lấp đầy trái tim con người, chúng ta phải nghĩ rằng Sisyphus là kẻ hạnh phúc”. Nguồn: allriot.com  Vòng luẩn quẩn của tri thức  Những tiến bộ gần đây của khoa học sự sống1 đã làm đảo lộn sâu sắc nhận thức của chúng ta trong hầu hết các vấn đề cơ bản của bản thể luận. Hầu như không có khái niệm, thuật ngữ nào của triết học truyền thống thoát khỏi tác động của chúng2. Trong số những tiến bộ ấy, thứ gây bối rối nhất có lẽ là mô tả lý-hóa về hành động, suy nghĩ, cảm nhận và cảm xúc của chúng ta. Trong một thời gian dài, cách mô tả ấy làm chúng ta khó chịu: đó là sự xúc phạm đối với những quan niệm của chúng ta về ý chí tự do và sáng tạo thẩm mỹ. Tuy nhiên, những bước tiến trong lĩnh vực thần kinh học não bộ giờ đây đã làm cho cách mô tả ấy có thể chấp nhận được, và trở nên gần như hiển nhiên. Chúng đã dung hòa được giữa thuyết tiền định và ý chí tự do. Bộ não của chúng ta vẫn liên tục tự nó đưa ra các quyết định mà chúng ta không hề hay biết: không ngạc nhiên khi tiến hóa đã giữ lại cho bộ não năng lực tự đưa ra các quyết định một cách vô thức, bởi thiếu nó sẽ dẫn tới sự do dự quá lâu, mà điều ấy chẳng bao giờ tốt cho sự sinh tồn của các loài. Tuy nhiên, bộ não lại ưu tiên đưa ra một số ít những quyết định duy lý mà chúng ta có thể ý thức được: điều này trao cho chúng ta một quan niệm gần như duy tâm về bản ngã và sự tự do của mình. Sự tự nhận thức là thứ mà khoa học đòi hỏi ta phải xem xét lại, thậm chí còn hơn cả với vấn đề ý chí tự do. Bản ngã của chúng ta không chỉ bao gồm những gì chúng ta ý thức được mà còn cả bao gồm toàn bộ hoạt động của não: Tôi quả là kẻ đưa ra quyết định, nhưng quyết định của tôi lại tuân theo các quy luật tự nhiên. Nói như thế không có nghĩa là tôi biến thành con rối, bởi chẳng có ai giật dây ở đây. Chúng ta chẳng ngạc nhiên khi biết cơ bắp và ruột của mình phải phục tùng các quy luật tự nhiên, song quả là một chấp nhận nếu ngay cả bộ não cũng thế! Tuy nhiên, thứ bản ngã mà trước đây chúng ta hình dung về mình, thứ bản ngã có thể bị tác động từ bên ngoài (phía bên ngoài nào?) trong quá trình sinh sống, chỉ là ảo tưởng. Bản ngã mới thực ra được tạo nên bởi toàn bộ quá khứ của ta: tri thức, kinh nghiệm, suy nghĩ và những tương tác với môi trường. Và sự tuân theo luật lệ của tự nhiên không làm cho bản ngã trở nên vô trách nhiệm. Trái lại, chúng ta càng có trách nhiệm về hành động của mình hơn khi định kiến về một chiều kích siêu nhiên của bản ngã bị xóa bỏ, bởi kẻ chịu trách nhiệm ở đây không ai khác ngoài chính chúng ta, bao gồm tất cả những gì kiến tạo nên ta. Khoa học không hàm ý một luật tắc đạo đức cho sự vô trách nhiệm, nó đơn giản đòi hỏi chúng ta hãy nhún mình, khiêm nhường hơn một chút, thay vì tin vào một thứ đặc quyền siêu phàm.  Một tác động quan trọng nữa của khoa học sự sống là [làm rõ về] vòng luẩn quẩn của tri thức. Tất cả những gì ta biết được mã hóa trong thông tin mà não lưu giữ, một số thông tin trong đó có thể được truy cập một cách có ý thức theo dạng ký ức. Tri thức này bao gồm tất cả những gì có thể lướt qua tâm trí ta, những phát biểu như “2 + 3= 5” hay “2 + 3= 4”, thậm chí cả những sự kì cục điên rồ nhất mà trí não chúng ta có thể hình dung, những niềm tin và cảm xúc của ta. Chúng ta từng tin rằng sự đa dạng của những con đường mà tâm trí có thể đi đến sẽ làm chúng ta thoát khỏi thứ mà Hamburger từng gọi là cái cũi của tri thức khách quan3. Khoa học đương đại đã phê phán ảo tưởng này. Thứ quan trọng không phải là bản chất của thông tin chứa trong não mà là nguồn gốc của chúng: tất cả những gì ta gọi là tri thức đều có cội nguồn từ những tín hiệu mà não tiếp nhận được trong quá trình sinh sống, dù đó là tín hiệu bên ngoài hay do ta tự tạo nên. Từ những tín hiệu như thế, não phát triển những khái niệm, hình ảnh và nhận định mà từ đó, tri thức được tạo nên. Chỉ tự mình nó sản sinh ra những thứ này; chỉ tự mình nó hình dung ra ý niệm về một bộ não tiếp nhận các tín hiệu và sinh ra những khái niệm, hình ảnh và phán đoán; tự mình nó nghĩ về ý nghĩa của những tín hiệu mà nó tiếp nhận được, xác định thế nào là một ý niệm, một hình ảnh, một phán đoán. Đấy chính là thứ cuốn tri thức lại thành một vòng luẩn quẩn: chỉ có bộ não mới có thể cung cấp ý nghĩa cho nhận định rằng tất cả những gì nó chứa đựng là kết quả của những tín hiệu mà nó nhận được từ thế giới bên ngoài, bởi vì chỉ có nó mới hình dung được một ý tưởng như thế, chính nó tưởng tượng nên ý nghĩa của các từ “tiếp nhận”, “tín hiệu” hay “thế giới bên ngoài”. Tất cả những gì nó có thể làm là kể một câu chuyện về cách nó kể một câu chuyện như thế nào.  Sự bất lực của tri thức  Tri thức của một người mang đức tin tôn giáo, điều mà anh ta tin mình chiếm lĩnh được nhờ sự khải thị, được xem là có cội nguồn từ thế giới khác, nơi mà tri thức không thể tiếp cận được: thế giới sở dĩ tồn tại vì nó là sản phẩm từ ý chí của Thượng đế; những gì mà Người nói, bên dưới lớp mặt nạ thoải mái, dễ chịu của những từ ngữ quen thuộc, mang tham vọng giải phóng chúng ta khỏi vòng luẩn quẩn mà tri thức bị giam cầm. Song những gì mà Người nói lại là sản phẩm của hoạt động trí não, cũng là thứ không tránh khỏi bị giam cầm trong vòng luẩn quẩn của tri thức. Tôi nói đến người mang đức tin tôn giáo, nhưng tôi cũng có thể đề cập đến triết gia, những người cũng mang tham vọng giải phóng chúng ta khỏi vòng luẩn quẩn. Nhưng những lẩn tránh mong cầu vượt thoát như thế cũng chỉ là một ảo tưởng: chúng ta không thể phớt lờ cái lằn ranh tách tri thức khỏi cái mà ta gọi là sự bí ẩn. Theo cách nào đó, bí ẩn là tên gọi chúng ta đặt cho sự thất vọng của mình khi bị giam hãm trong vòng luẩn quẩn của tri thức. Tại sao tồn tại thế giới này thay vì hư không? Câu hỏi ấy không thôi ám ảnh chúng ta và chúng ta thậm chí còn không thể trao cho nó một ý nghĩa. Hãy cho chúng ta, ít nhất, gọi nó bằng một cái tên.  Khoa học đưa ra một miêu tả đơn giản và sáng tỏ về thế giới, đến mức nó làm ta quên đi vòng luẩn quẩn của tri thức và làm ta phải quy hàng trước ảo ảnh của chủ nghĩa hiện thực: hẳn phải có một thực tại bên ngoài hắt những chiếc bóng trên vách hang [phải có lý do gì đó thế giới mới tồn tại thay vì chẳng có gì]. Trong quá trình không ngừng đấu tranh để nhận thức về cái thế giới mà nó muốn lý giải với chúng ta, phần lớn nỗ lực của khoa học dành cho việc khám phá hơn là phát kiến [các quy luật tự nhiên vẫn ở đó, khoa học chỉ làm nhiệm vụ khám phá, chứ không phát kiến ra chúng]. Đối với các nhà vật lý khi nhận ra giả thuyết của mình sai lầm, phải có cái gì đó nói “không” [phải có phản ví dụ nào đó chứng minh giả thuyết đó sai] như d’Espagnat4 nhận xét. Câu chuyện mà khoa học kể với chúng ta có thể không thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn, nhưng nó lại hấp dẫn một cách quỷ quyệt và chúng ta nên được lượng thứ vì đã trót tin vào một thế giới mà mình gọi là “thực”, một thế giới thậm chí vượt trên cả thực. Nhưng chỉ tri thức không thôi sẽ không thể tạo hình được cho ảo ảnh của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa có tham vọng cấp cho những từ như “thực” và “tồn tại” một ý nghĩa sâu sắc hơn những gì nằm trong vòng luẩn quẩn của tri thức. Dirac, Wigner, Einstein, Chandrasekar đều băn khoăn tại sao Vũ trụ lại có thể hiểu được?5 Nhưng logic học và toán học được chúng ta dựng lên chính là để miêu tả thế giới. Chúng ta dựa vào tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả kỳ diệu của chúng? Các nhà vật lý buộc phải đầu hàng trước ảo ảnh về một hiện thực siêu nghiệm bên ngoài và đành chấp nhận nó [sự tồn tại của thế giới] như một thứ hiển nhiên.  Phá bỏ những định kiến  Không chỉ khoa học sự sống mới làm đảo lộn triết học siêu hình mà vật lý học, ở phạm vi nào đó, nhỏ hơn [so với khoa học sự sống], cũng tác động lên nó. Các cuộc cách mạng diễn ra ở các ngành này trong thế kỷ vừa qua làm chúng ta nhận ra đời sống của các lý thuyết vật lý ngắn ngủi đến thế nào. Ngay sau khi ra đời, vật lý lượng tử, thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng đã cần phải được thay thế bởi một lý thuyết vật lý mới có nhiều điều trái với trực giác hơn nhiều so với những lý thuyết lạc hậu trước đây. Những đảo lộn như vậy giải phóng chúng ta khỏi những định kiến từng gắn với những khái niệm về lý thuyết và quan sát, trừu tượng và cụ thể, lẽ thường và chân lý. Người ta phê phán các lý thuyết là quá trừu tượng, bởi thật khó nhọc để rũ bỏ điều dễ hiểu ta vốn đã quen, mà thực chất chính là các lý thuyết ta từng tiêu hóa: tính hiện thực của nó, ngay cả khi được chia sẻ bởi số đông, vẫn cứ mang tính chủ quan. Các lý thuyết vật lý sắp xếp các dữ liệu mà não ta thu nhận: chúng thay thế mớ hỗn độn những hình ảnh và khái niệm thành những tập hợp đơn giản, dễ xử lý hơn. Không có khác biệt cơ bản giữa việc một đứa bé lọt lòng nhận ra khuôn mặt người mẹ của mình, việc người nguyên thủy gọi vật thể hình đĩa màu đỏ lặn xuống biển mỗi chiều là mặt trời, với việc một sinh viên học về trọng lực của những vật rơi tự do và đặt tên cho cái được gọi là khối lượng: tất cả ba sự việc này đều nhằm xây dựng một lý thuyết giúp đơn giản hóa cách chúng ta định dạng thế giới. Việc anh sinh viên sử dụng toán học để làm công việc ấy không phải là điều quan trọng. Khoa học luôn sẵn sàng sửa đổi những nền tảng cơ sở mà nó được xây dựng nên nếu cơ sở mới cho phép nó tổng quát hơn hoặc chính xác hơn. Như là một hệ quả đương nhiên, nó từ bỏ tham vọng đạt đến bất kỳ chân lý tuyệt đối nào.      “Điều bí ẩn không nằm ở chỗ thế giới thế nào, mà chính ở sự tồn tại của nó… Phương thức đúng đắn trong triết học là chẳng nói gì ngoài những điều tự nhiên để nói, đó là, những mệnh đề của khoa học tự nhiên – thứ chẳng liên quan gì đến triết học. […] Còn đối với những gì không thể nói, ta nên im lặng.” Ludwig Wittgenstein, Tracatacus Logico-philosophicus      Những tiến bộ mới đây của khoa học hành tinh lại giáng một đòn trí mạng vào vai trò trung tâm của loài người trong Vũ trụ mà chúng ta từng ngộ nhận. Mặc dù không biết chính xác sự sống xuất hiện trên Trái đất như thế nào, nhưng chúng ta đã thu thập đủ các manh mối để có cái nhìn hợp lý về vấn đề này. Trong môi trường nước, bắt đầu từ một vài nguyên tố chính, chúng ta biết làm thế nào để tổng hợp protein và các màng xuất hiện, đây là cơ sở của các tế bào sống. Hơn nữa, chúng ta biết rằng sự tồn tại của các hành tinh quanh các ngôi sao là kết quả tự nhiên của những cơ chế điều khiển quá trình hình thành chúng. Chúng ta đã phát hiện ra một số lượng lớn các hành tinh này, một số trong đó có thể “sống được”: đến nay ta có thể nghĩ rằng có nhiều hành tinh có thể có sự sống. Còn quá sớm để đánh giá xác suất có tồn tại sự sống hay không trên các ngoại hành tinh nhưng ta hoàn toàn có thể cho rằng có nền văn minh ít nhất cũng phát triển như chúng ta, thậm chí phát triển hơn, tồn tại − hoặc đã từng tồn tại và đã biến mất− ở một nơi nào đó trong Vũ trụ.  Tôi xin tạm dừng liệt kê những bước tiến khoa học đã làm đảo lộn triết học siêu hình truyền thống. Những nhận thức mới về vị trí càng lúc càng ít trung tâm hơn của con người trong Vũ trụ, cũng như ánh sáng mà khoa học soi rọi cho ta thấy về vòng luẩn quẩn chủ quan của tri thức, và sự dung hòa giữa thuyết tiền định và ý chí tự do, cùng cái nhìn xét lại nghiêm khắc đối với cảm quan của ta về bản ngã, chừng đó cũng đủ cho thấy tác động sâu sắc của chúng. Sự trình bày vắn lược của tôi có thể đem lại một ấn tượng sai lầm về một thứ khoa học gần như đã hoàn thiện. Hoàn toàn không phải như vậy. Khoa học sự sống và vật lý học vẫn còn, có lẽ trong một thời gian dài, nhiều việc phải làm ở phía trước. Người ta nói về Thuyết Vạn Vật [lý thuyết giải thích toàn bộ các quá trình vật lý của Vũ trụ] khiến ta mỉm cười khi nhận thấy sự vô tri của con người có thể mênh mông đến mức độ nào. Tuy nhiên, ngày nay ta không còn có thể bỏ qua những luận điểm mới khi giải quyết những vấn đề mà tôi đề cập đến. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng những ràng buộc bởi sự liên tục của tiến hóa của các loài tới người hiện đại (homo sapiens) và từ thai nhi cho đến khi trưởng thành, sự phức tạp và tính mềm dẻo vốn đặc trưng cho hoạt động não bộ. Lảng tránh điều này là không thể được.  “Tại sao tồn tại thế giới này thay vì hư không?”  Vòng luẩn quẩn của tri thức khiến ta không thể giải đáp, thậm chí không thể đưa ra ý nghĩa cho những câu hỏi như Tại sao tồn tại thế giới này thay vì hư không? Song, đây chính xác là những băn khoăn của những triết gia. Nhưng hãy khoan không kết luận rằng khoa học đã lên án siêu hình và khiến nó lung lay. Trái lại, tuy không thể giải đáp nhưng khoa học hé lộ chiều sâu và làm chúng ta ý thức được sự bất lực của tri thức trong việc tường minh bí ẩn này. Dẫu vậy, mặc dù hoàn toàn tôn trọng Wittgenstein và ý thức được về vòng luẩn quẩn của tri thức, chúng ta vẫn không thôi bị ám ảnh bởi chiều sâu không dò nổi của cái bí ẩn và có một nhu cầu khó cưỡng muốn nói về nó, đem nó vào trong đời sống của mình. Thật vậy, chúng ta không thể giả vờ bỏ qua lời bình luận đáng suy nghĩ của Leibniz6 rằng có “một lý do trong Tự nhiên tạo nên thế giới vật chất, chứ không phải hư không, phải tồn tại”. Một lý do, có thể ta đang đòi hỏi quá nhiều, nhưng chúng ta không thể chấp nhận rằng chẳng có cái gì, chỉ có hư vô trong thế giới. Vì nếu như thế, chúng ta đã chẳng có ở đây để tranh luận. Cogito ergo sum… Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.  Ai thấy nhất thiết phải làm rõ sự bí ẩn này có thể mang một cảm quan về thứ đạo lý được hình thành trên nền tảng của những định đề bên ngoài vòng luẩn quẩn của tri thức. Ngược lại, những người khác có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng về tính phi lý của điều kiện con người, vốn ngăn chúng ta hiểu được vì sao thế giới này tồn tại. Cuối cùng, theo mạch tư duy của Camus7, lại có những người nghĩ “hạnh phúc và sự phi lý là hai đứa con của Trái đất, chúng không thể chia tách được khỏi nhau” và rằng “cuộc chiến vươn đến những tầm cao cũng đủ để lấp đầy trái tim con người, chúng ta phải nghĩ rằng Sisyphus là kẻ hạnh phúc”.  Chính trên nền tảng triết học siêu hình, khoa học mới thể hiện được sức tác động mạnh mẽ nhất của nó. Để tiếp cận vấn đề này một cách vui vẻ hơn, đã đến lúc cần nói một ngôn ngữ chung: chúng ta không thể gạt đi những gì mà những người khác đã dạy ta. Với Wilson8, đã đến lúc cần bảo vệ sự giao thoa và sự độc đáo của tri thức; với Snow9, cần khắc phục sự ngộ nhận cho rằng khoa học và nhân văn là hai hình thức văn hóa xung đột nhau. Người ta không thể nhìn rõ hơn khi đeo miếng bịt mắt. Hãy đừng làm chúng ta khó khăn trong việc đón nhận những ý tưởng mới bằng việc để cho sự vô tri cho phép ta đeo tấm mặt nạ tự phụ của chủ nghĩa hoài nghi thời kỳ khai sáng (enlightened skepticism). Những tiến bộ khoa học thôi thúc chúng ta xem xét lại một cách sâu sắc những khái niệm mà chúng ta từng tranh cãi. Đây là cái giá cần trả để có thể “tái khám phá tâm trí”, điều mà Searle10 kêu gọi, và để nhận thấy nhiều phán đoán thấu đáo hơn, hứa hẹn xuất hiện trên lằn ranh tách biệt khoa học và cái bí ẩn. Triết học siêu hình sẽ lấy lại được sự sang trọng của nó; văn chương, thi ca, nghệ thuật sẽ tiếp tục cho phép ta lang thang trên những lằn ranh này với hy vọng đón bắt được một cơn gió mát lướt qua; câu chuyện triết học, theo truyền thống của nó, sẽ vẫn là một hướng dẫn viên tuyệt vời hộ tống chúng ta trong chuyến đi dạo chừng nào nó còn đóng vai trò như một nhà tư vấn. Theo cách này, triết học có cơ hội hồi sinh.  Hải Ngọc – Ngọc Điệp dịch  Thanh Xuân hiệu đính  ———-  1 Với rất nhiều nhà sinh học tài năng mà chúng ta đã quen thuộc như S.J. Gould, R. Dawkins, E.O. Wilson trong nghiên cứu về Lý thuyết tiến hóa, F. Crick, F. Jacob, J. Monod trong lĩnh vực nghiên cứu gen và sinh học phân tử, A.R. Damasio, Y. Dudai, G.M. Edelman, C. Frith, J. A. Hobson,  R. M. Restak, S. Rose, D L. Schacter, W. Singer, L. R. Squire trong nghiên cứu về thần kinh não bộ  2 Văn bản này lấy lại nhiều ý tưởng từ Darriulat, “Réflexions sur la Science Contemporaine” [Những suy tư về khoa học đương đại], EDP Sciences, Les Ulis, 2007, and “Knowledge and Mystery: The Impact of Contemporary Science on Metaphysics” [Tri thức và cái bí ẩn: Tác động của khoa học đương đại đối với siêu hình học], Journal of Philosophy, Science and Law, Vol. 10, 2010, University of Miami,  www.miami.edu/ethics/jpsl.  3 Jean Hamburger, Le Miel et la Ciguë, Editions de Seuil, 1986.  4 Bernard d’Espagnat, Le Réel Voilé, Fayard, 1994.  5 S. Chandrasekhar, Truth and Beauty, Aesthetics and Motivations in Science [Chân lý và cái đẹp: Mỹ học và những động lực trong khoa học], University of Chicago Press, 1987  6 Gottfried W. Leibniz, Principes de la nature et de la grâce fondés en raison,1718.  7 Albert Camus, Le Mythe de Sisyphe [Huyền thoại Sisyphe], Gallimard, 1942  8 Edward O. Wilson, Consilience, L’Unicité du Savoir [Giao thoa, sự thống nhất của tri thức], Robert Lafont, 2000.  9 Charles P. Snow, The Two Cultures and the Scientific Revolution [Hai hình thức văn hóa và cách mạng khoa học], Cambridge University Press, 1961.  10. John R. Searle, The Rediscovery of the Mind [Sự tái phát hiện tâm trí], MIT Press, Cambridge,1992.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo biết đọc và hiển thị suy nghĩ của con người      Trí tuệ nhân tạo (AI) đang đưa chúng ta đến gần hơn với những cỗ máy biết đọc suy nghĩ của con người như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng. Mới đây, một nhóm nghiên cứu đã phát triển những thuật toán “học nhiều tầng” (deep learning) giúp mô hình hóa và giải mã não bộ.      Chúng ta đang đến gần hơn với những cỗ máy biết đọc suy nghĩ của con người như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng.  Trước tiên, họ mô hình cách thức não bộ mã hóa thông tin. Khi ba người phụ nữ tham gia thí nghiệm xem hàng trăm đoạn video ngắn trong nhiều giờ, một máy chụp cộng hưởng từ chức năng (MRI) sẽ đo tín hiệu từ các cử động ở vùng vỏ não thị giác và những vùng khác trên não của họ. Một mạng nơ-ron nhân tạo (artificial neural network) được thiết kế để xử lý hình ảnh, nó phải học cách liên hệ những hình ảnh từ đoạn video với các cử động trên não bộ. Khi những người phụ nữ xem thêm các đoạn clip khác, hoạt động dự đoán của thuật toán khi ấy sẽ ứng với những chuyển động thực tế ở một loạt các vùng trên bộ não. Từ đó, những nhà khoa học sẽ hình dung được đặc trưng của từng vùng khi đang hoạt động. Trong khi đó, một mạng nơ-ron nhân tạo khác sẽ làm nhiệm vụ giải mã tín hiệu thần kinh: dựa trên cử động của não người tham gia, nó có thể dự đoán chính xác 50% chương trình mà người đó đang xem (bằng cách chọn 1 trong 15 chủ đề như chim, máy bay hay bài tập thể dục, vv…).  Khi được cho tập luyện xử lý dữ liệu từ não của một phụ nữ khác, mạng nơ-ron nhân tạo vẫn có khả năng phân biệt hình ảnh chính xác tới 25%, theo kết quả mà nhóm nghiên cứu công bố trên Cerebral Cortex. Ngoài ra, nó còn có khả năng tái dựng một phần những gì người tham gia đã nhìn thấy, bằng cách biến những cử động trên võ não thành các điểm ảnh, tuy nhiên mới chỉ ở dạng những đốm trắng. Các nhà nghiên cứu kỳ vọng, nghiên cứu của họ sẽ mang đến khả năng tái hiện những hình ảnh tinh thần, cùng sử dụng cơ chế giống như khi xử lý ảnh. Việc chuyển đổi tín hiệu do mắt nhìn thấy sang dạng “bit” sẽ giúp con người truyền đạt suy nghĩ hay ước mơ sống động đến máy tính hoặc người khác, không phải qua ngôn từ hay những cú nhấp chuột; và còn có thể giúp cho những người từng trải qua “thương tổn” mất khả năng giao tiếp.  Thế Hải lược dịch  Theo http://www.sciencemag.org/news/2017/10/artificial-intelligence-learning-read-your-mind-and-display-what-it-sees    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo: Nhà soạn nhạc của tương lai?      Trí tuệ nhân tạo đã có những bước tiến đáng kinh ngạc trong việc sáng tác âm nhạc, lĩnh vực sáng tạo mà trước đây con người độc quyền. Bạn có thể sẽ không phân biệt được âm nhạc viết bởi Bach với âm nhạc viết bởi DeepBach.      Các nhà nghiên cứu dùng thuật toán Deep learning để phân tích âm nhạc của Bach.    Công nghệ Deep learning (Học nhiều tầng) giúp trí tuệ nhân tạo sáng tác nhạc phong cách Bach như thế nào?  J.S. Bach đặc biệt là bậc thầy về một hình thức thánh ca phức điệu được gọi là chorale cantata. Những bài thánh ca này dựa vào ca từ của kinh thánh Giáo hội Luther và được viết cho bốn giọng. Luôn sử dụng một giai điệu thánh ca quen thuộc làm giai điệu chính cho giọng soprano (nữ cao), J.S. Bach sáng tác ba bè hoà âm cho ba giọng alto (nữ trầm), tenor (nam cao) và bass (nam trầm). Ông đã sáng tác hơn 300 tác phẩm thánh ca hợp xướng ngắn loại này, mỗi tác phẩm chỉ dài khoảng một phút. Cách sáng tác hoà âm hợp xướng này thực sự là một hình thức lô-gic mà các hệ thống máy móc như trí tuệ nhân tạo có thể hiểu được.  Những tác phẩm này đã thu hút các nhà khoa học máy tính bởi quá trình sáng tác các bản thánh ca này của Bach về bản chất là mang tính thuật toán. Tất nhiên để sáng tác được một tác phẩm hay không hề đơn giản bởi nó còn phụ thuộc vào sự tương tác cực kỳ tinh vi giữa hoà âm và giai điệu. Chính vì vậy, một câu hỏi thú vị được đặt ra là: liệu một cỗ máy có thể sáng tác được những bản thánh ca hợp xướng theo phong cách của J.S. Bach không?  Hai nhà khoa học Gaetan Hadjeres và Francois Pachet thuộc Phòng Thí Nghiệm Khoa học Máy tính Sony (Sony Computer Science Laboratories) tại Paris đã giúp chúng ta trả lời câu hỏi này. Họ đã phát triển một mạng lưới thần kinh (neuralnetwork) có thể học để sản xuất ra những bản chorale cantata theo phong cách của Bach. Họ đặt tên cỗ máy đó là DeepBach. Hadjeres và Pachet cho biết, sau khi được đào tạo cách hoà âm hợp xướng theo phong cách của Bach thì mô hình DeepBach của họ đã có thể tạo ra các bài hợp xướng nghe rất thuyết phục. Đã có khoảng một nửa số chuyên gia nghe những tác phẩm này cho rằng chúng thực sự được viết bởi Bach.  Công nghệ Machine learning (Học máy) mà các nhà khoa học sử dụng ở đây khá đơn giản. Trước tiên, Hadjeres và Pachet tạo ra một bộ dữ liệu để huấn luyện mạng lưới thần kinh của DeepBach. Họ bắt đầu với 352 bài thánh ca hợp xướng của Bach, sau đó dịch giọng các bài nhạc này sang những tông giọng nằm trong một phạm vi cao độ đã định sẵn để cho ra một bộ dữ liệu gồm 2503 bài hợp xướng. Họ dùng 80% số tác phẩm này để huấn luyện cho mạng lưới thần kinh của mình có thể nhận ra những hoà âm kiểu Bach và 20% còn lại để xác nhận nó. Sau đó, máy DeepBach sẽ có thể sản xuất ra những hoà âm của riêng mình theo phong cách của Bach.  Nhóm nghiên cứu thử thiết bị bằng cách đưa cho máy một giai điệu mà máy sẽ phải dùng để sáng tác ra hoà âm cho ba giọng còn lại là alto, tenor và bass. Máy sẽ viết từng hoà âm riêng biệt với mục tiêu là đoán xem Bach sẽ viết tiếp nốt nhạc nào dựa theo các yếu tố: nốt trước nó, các nốt liền kề trong giai điệu và hoà âm, và nốt đó sẽ rơi vào phách thứ mấy trong ô nhạc. Dự đoán của máy được hình thành dựa vào việc phân tích xem Bach đã lựa chọn nốt và hoà âm như thế nào trong những trường hợp tương tự mà bộ dữ liệu 2503 bài hợp xướng cung cấp.  Tuy rằng các cách tiếp cận thuật toán khác cũng có thể tạo ra được âm nhạc như vậy, một câu hỏi quan trọng là kết quả của chúng có sánh được với các tác phẩm của Bach không? Để kiểm nghiệm điều này, nhóm nghiên cứu đã thử cho 1600 người nghe hai cách hoà âm khác nhau cho cùng một giai điệu. Trong số đó, hơn 400 người là nhạc sĩ chuyên nghiệp hoặc sinh viên âm nhạc. Mỗi người nghe phải xác định xem hoà âm nào nghe giống của Bach hơn. Nhóm nghiên cứu có lồng ghép cả những hoà âm được tạo ra từ những thuật toán khác nữa.  Kết quả của thí nghiệm này khá thú vị: khi nghe một hoà âm tạo ra bởi máy DeepBach, khoảng một nửa số người tham gia cho rằng nó được sáng tác bởi Bach. Kết quả này cao hơn đáng kể so với trường hợp âm nhạc được tạo ra bởi bất cứ thuật toán nào khác. Hadjeres và Pachet cho rằng, với sự phức tạp của các tác phẩm của Bach thì kết quả này là khá tốt. Ngay cả khi được cho nghe nhạc thật của Bach thì người tham gia cũng chỉ đánh giá được đúng 75% trên tổng số các lần được nghe.  Hadjeres và Pachet cho rằng, phương pháp này không chỉ có thể tiến hành được với thể loại hợp xướng của Bach mà còn có thể dùng để sáng tác nhiều hình thức hợp xướng phức điệu khác. Tuy vậy, để làm được điều này không phải dễ dàng, bởi hiếm có hình thức âm nhạc nào lại có cấu trúc chặt chẽ, tuân theo những quy tắc cụ thể trong sáng tác như những bản chorale cantata của J.S. Bach.  Trí tuệ nhân tạo liệu có thể sáng tạo nghệ thuật thay con người?  Cuối năm 2016, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Washington đã phát hành một bộ dữ liệu nhạc cổ điển quy mô lớn với tên gọi MusicNet nhằm mục đích giúp máy móc hiểu được cấu trúc cơ bản của nhạc cổ điển, thậm chí còn giúp chúng dự đoán những nốt tiếp theo trong một bài nhạc. Bộ dữ liệu này mở cho công chúng, bao gồm 330 bản ghi âm các tác phẩm cổ điển cùng với hơn một triệu chú giải đã được kiểm duyệt bởi các nhạc sĩ chuyên nghiệp, cho biết thời điểm của từng nốt nhạc, loại nhạc cụ nào chơi nốt đó, và vị trí của nốt đó trong cấu trúc nhịp của tác phẩm.  Sham Kakade, một giáo sư của Đại học Washington cho biết, một trong những thách thức lớn nhất với trí tuệ nhân tạo là thiết kế được những phương pháp Machine learning có khả năng tách rời “phong cách”- phần nghệ thuật thuần tuý, ra khỏi “nội dung” của một tác phẩm- phần tuân theo những quy luật hoà âm dễ dự đoán hơn. Với MusicNet, nhóm nghiên cứu hi vọng có thể bắt đầu quá trình tìm hiểu sâu hơn về những yếu tố liên quan đến phong cách nghệ thuật để từ đó khám phá điều gì khiến âm nhạc lôi cuốn đôi tai, hay điều cốt lõi nào tạo nên phong cách âm nhạc đặc trưng của Bach.  Vào tháng 6 năm 2016, Google cũng tung ra một đoạn giai điệu piano dài 90 giây được viết bởi công nghệ Machine learning. Đây là một phần của Dự án Magenta- một nỗ lực của Google trong tham vọng giúp trí tuệ nhân tạo sáng tác nhạc và nghệ thuật thị giác.  Douglas Eck, trưởng nhóm dự án tại San Francisco, California, cho biết, chìa khoá giúp Magenta có thể sáng tác nhạc là ở quá trình learning (học hỏi). Họ sử dụng rất nhiều những kĩ thuật Machine learning khác nhau, ví dụ như mạng neutral tái phát, mạng neutral tích chập, các phương pháp biến phân, học tăng cường v.v.  Các phương pháp khác nhau này đều có chung mục đích là giúp trí tuệ nhân tạo học thông qua ví dụ, từ đó tự tạo ra một thứ mới.  Những dự án nghiên cứu kể trên đã đưa ra một hướng tiếp cận mới cho việc phân tích các tác phẩm âm nhạc cũng như cho việc nghiên cứu bản chất của tính sáng tạo. Kết quả của những nghiên cứu mới khiến ta tự hỏi, nếu một cỗ máy Deep learning có thể sáng tác ra những bản thánh ca hợp xướng nghe đậm phong cách Bach như vậy thì vai trò sáng tạo của nhà soạn nhạc là gì? Âm nhạc rốt cuộc về bản chất chỉ là một tập hợp các sự kiện mang tính thống kê cộng với một số nguyên tắc về tiết tấu và hoà âm, hay ý thức về cảm xúc của tác giả mới là yếu tố quyết định trong việc tạo ra một tác phẩm gây rung động? Với tốc độ phát triển của công nghệ Machine learning và trí tuệ nhân tạo như hiện nay, chắc hẳn câu trả lời sẽ được tìm thấy một ngày không xa.  Khánh Minh tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trí tuệ nhân tạo và những vị chúa tể mới      Ngày 16/2/2011, thêm hai bộ óc siêu việt khác của loài người đối mặt –  và thua cuộc – một “bộ óc” mới trong ngành máy tính mang tên Watson trong trò chơi truyền hình Jeopardy!.  Với thành tựu mới nhất này, liệu chúng ta có thể nói gì về tư duy của  máy, và hy vọng gì ở ngành trí tuệ nhân tạo trong tương lai?    Năm 1950, Alan Turing, cha đẻ ngành khoa học máy tính, đặt ra một câu  hỏi đồng nghĩa với thách thức cho nhân loại: “Làm thế nào để biết được  một chiếc máy tính có suy nghĩ hay không?”. Năm 1997, khi siêu máy tính  Deep Blue hạ gục huyền thoại cờ vua Gary Kasparov trong trận đấu được  coi là kỳ vĩ nhất của lịch sử cờ vua, cựu quán quân thế giới thừa nhận:  “Tôi cảm thấy sự hiện hữu của trí thông minh ở phía bên kia bàn cờ!”.  Ngày 16/2 năm nay, thêm hai bộ óc siêu việt khác của loài người đối mặt –  và thua cuộc – một “bộ óc” mới trong ngành máy tính mang tên Watson.  Với thành tựu mới nhất này, liệu chúng ta có thể nói gì về tư duy của  máy, và hy vọng gì ở ngành trí tuệ nhân tạo trong tương lai?   Sự lên ngôi của vị chúa tể mới  Hỏi: Rõ là “Thời buổi gian khó”! Một cơn động đất lớn tấn công New Madrid, Missouri, vào ngày 7 tháng 2 năm 1812, cùng ngày mà tác giả này tấn công Anh Quốc. (“Hard times,” indeed! A giant quake struck New Madrid, Missouri, on Feb. 7, 1812, the day this author struck England.)  Đáp: Ai là Charles Dickens? (Who is Charles Dickens?)  Đây là một ví dụ điển hình của trò chơi truyền hình nổi tiếng tại Mỹ mang tên Jeopardy!. Khác với các loại trò chơi đố vui có thưởng theo kiểu “Ai muốn làm triệu phú”, Jeopardy! đòi hỏi kiến thức sâu rộng của người chơi vì các câu hỏi chứa đầy cạm bẫy (chơi chữ, đảo ngữ nghĩa, gợi ý mang tính lừa phỉnh, vân vân) đòi hỏi phải xử lý thông tin cực kỳ phức tạp trong một thời gian cực ngắn. Một điểm đặc biệt nữa là câu hỏi và câu trả lời của Jeopardy! đảo vị trí cho nhau: câu hỏi là câu trả lời mang tính xác định về một đối tượng nào đó, còn câu trả lời là một câu hỏi về đối tượng này. Trong ví dụ kể trên, cụm từ “Thời buổi gian khó“ (hard times) nhắc đến một tác phẩm nổi tiếng của Charles Dickens. “Thời buổi gian khó” cũng được dùng với ngụ ý về sự gian khó gây ra bởi cơn động đất. Từ “tấn công” (struck) được dùng với hai nghĩa, nghĩa đen nói về tác động của trận động đất, còn nghĩa bóng nói về ngày chào đời của Charles Dickens (ngày động đất là ngày sinh của Dickens). Các nhà vô địch Jeopardy! vì thế thường được xem là đại diện cho trí thông minh và sự uyên bác.   Hai huyền thoại đương đại của trò chơi này là Ken Jennings (người thắng kỷ lục 74 trận liên tục trong năm 2004 với tổng số tiền thắng cuộc hơn 3 triệu USD) và Brad Rutter (người thắng “cúp C1” – cúp các nhà vô địch Jeopardy! – với tổng số tiền thắng nhiều nhất trong lịch sử Jeopardy!: hơn 3 triệu rưỡi USD). Từ 14 đến 16 tháng 2/2011 vừa qua, cả hai bộ óc siêu phàm này đã trải qua ba trận “đại chiến” lịch sử với một đối thủ mới tò te tên là Watson – một hệ thống máy tính của hãng IBM, được đặt tên để tưởng nhớ chủ tịch đầu tiên của hãng này là Thomas Watson.  Watson “nghiền nát” Ken và Brad – như Deep Blue đã từng hạ gục Kasparov gần 14 năm trước.  Ở câu hỏi cuối cùng của vòng thi đấu cuối cùng, bên cạnh câu trả lời (đúng) của mình, Ken Jennings tuyên bố nửa đùa nửa thật (trước khi biết rằng Watson cũng trả lời đúng câu hỏi này): “Cá nhân tôi hoan nghênh các vị chúa tể mới”.   Trí tuệ nhân tạo, từ logic cổ điển đến thống kê tính toán  Trước khi phủi tay xuề xòa về sự không cân sức của trận đấu David tí hon chọi Goliath khổng lồ này, ta phải cẩn thận xem lại xem… ai là David và ai là Goliath. Dù là lính mới, Watson là một đối thủ khổng lồ, kích thước tương đương … 10 cái tủ lạnh, chứa khoảng 200 triệu trang tài liệu (bằng khoảng 1 triệu quyển sách), 16 Terabytes (16 nghìn tỉ bytes) bộ nhớ, và có khả năng xử lý 80 Teraflops một giây.                                     Luật chơi của Jeopardy! đại khái như sau. Mỗi trận đấu gồm ba vòng, với ba đấu thủ. Hai vòng đầu mỗi vòng có 30 câu hỏi, chia làm 6 phạm trù, mỗi phạm trù 5 câu hỏi. Mỗi câu hỏi ở 2 vòng đầu có giá trị tiền nhất định. Sau khi nghe đọc câu hỏi các đấu thủ bấm nút tranh quyền trả lời. Trả lời đúng thì thắng số tiền của câu hỏi đó, trả lời sai thì bị mất số tiền này và còn bị trừ vào khoản tiền đã thắng. Mỗi đấu thủ thường chỉ có khoảng 1, 2 giây để bấm nút nếu không muốn bị giành mất quyền trả lời. Vòng thi cuối cùng chỉ có một câu hỏi duy nhất, thí sinh dùng tiền đã thắng để “đặt cược” ngay cả trước khi biết được câu hỏi. Thắng thì thắng thêm số tiền cược đó, còn thua thì bị trừ đi. Phạm vi đề tài thi rất “bao la”: lịch sử, sự kiện đương đại, văn học, nghệ thuật, khoa học, ngôn ngữ, chơi chữ…           Tuy nhiên, kích thước và số lượng không nhất thiết tỉ lệ thuận với sự thông minh. Một triệu con khỉ không gõ được vở kịch Hamlet. Vả lại, dù có tính về số lượng thì sự mất cân xứng cũng không rõ là ngả về phía nào. Ken và Brad mỗi người có khoảng 100 tỉ neuron thần kinh, và có hơn 30 năm tuổi đời để học số kiến thức mà họ có, cộng với cả chục năm “kinh nghiệm chiến trường”: xử lý sự lắt léo của Jeopardy!. Watson ra đời khoảng 2004, có tổng cộng 2880 bộ vi xử lý POWER7 mới của IBM. Mỗi bộ vi xử lý gồm bốn lõi song song với tổng cộng khoảng 1,2 tỉ transitors, vị chi là gần 3 nghìn rưỡi tỉ transitors, gấp 35 lần số neuron thần kinh một người có. Thế nhưng, mỗi neuron thần kinh lại có sức mạnh tính toán gấp nhiều lần một transitors, vì mỗi neuron thần kinh là một bộ vi xử lý sinh học, cho dù thuộc loại sơ khai.  Những thành tựu khoa học và công nghệ nào đã mang lại thành công của Watson? Chiến thắng của Watson là thành tựu tổng hợp của nhiều phân ngành khoa học máy tính: thuật toán, các bộ vi xử lý, hệ xử lý song song, mạng máy tính, trí tuệ nhân tạo, cơ sở dữ liệu… Trong khuôn khổ bài này chúng ta sẽ chỉ đề cập đến mảng trí tuệ nhân tạo (TTNT).           Nhóm nghiên cứu thuật toán của dự án IBM Watson          Ngay từ thời kỳ đầu của TTNT, người ta đã biết rằng một trong những yếu tố cần thiết làm nên một máy tính thông minh là khả năng biểu diễn và xử lý tri thức. Tri thức phải được mã hóa bằng một thứ ngôn ngữ mà máy tính có thể hiểu được. Logic đã là sự lựa chọn hiển nhiên, vì đó cũng là ngôn ngữ của bộ vi xử lý. Với một kho tri thức bằng ngôn ngữ logic, các vấn đề suy diễn biến thành các bài toán suy luận logic thuần túy, một địa hạt mà máy tính sẽ dễ dàng thống trị.  Cho đến tận những năm 80 của thế kỷ trước, người ta tập trung phần lớn sức lực vào vấn đề tự động hóa và cải thiện hiệu quả của suy diễn logic. Làm thế nào để tìm kiếm ra câu trả lời thật nhanh từ những quy luật định sẵn. Deep Blue chính là một ví dụ điển hình của sự thành công ngoạn mục trong công nghệ tìm kiếm trong một môi trường có quy luật chặt chẽ. Máy tính có thể chơi rất tốt các trò chơi loại này, khi mà các quy luật của cuộc chơi và mọi thông tin đã được cho trước rõ ràng.   Nhưng làm thế nào để thiết lập được kho tri thức định sẵn cho máy tính? Làm thế nào để kho tri thức ấy không ngừng được thu lượm, cập nhật và chắt lọc từ sự tiếp xúc của máy tính với thế giới bên ngoài? Máy tính có thể chơi cờ rất giỏi, nhưng khả năng thu lượm thông tin và thích ứng với bên ngoài còn thua xa một con chuột bạch. Và, dạng giao tiếp đặc biệt quan trọng chính là giao tiếp với con người. Làm thế nào để máy tính có thể giao tiếp được với con người, qua đó hấp thụ được kho tri thức của loài người thành của chúng, giả sử rằng chúng cũng được lập trình để có một nguyện vọng như vậy?   Trong thập niên đầu thế kỷ 21, sự phổ dụng của các công nghệ và kết quả khoa học ngành Học máy (machine learning) đánh dấu một bước ngoặt thay đổi nền tảng quan trọng trong quá trình phát triển của ngành TTNT. Các thuật TTNT đã len lỏi vào tất cả các ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta dùng các công cụ tìm kiếm như Google hằng ngày, các bộ lọc thư rác từng phút (200 tỉ thư rác mỗi ngày). Các điện thoại cầm tay tí hon đời mới có thể nhận dạng tiếng nói tốt, và có cả phần mềm dịch nhanh giữa các thứ tiếng khác nhau. Chưa hoàn hảo nhưng hoàn toàn hữu dụng. Đã có xe tự lái được trong thành phố và robot thám hiểm hỏa tinh. Các giao dịch tài chính từ chứng khoán đến thẻ tín dụng đều được các thuật toán học máy “theo dõi” gắt gao ở tốc độ nano-giây.  Những thành tựu này đạt được là do các nhà nghiên cứu TTNT nhận ra rằng “học” quan trọng hơn “biết”, khả năng đối chọi với tính bất định của thế giới thực quan trọng hơn khả năng tư duy theo một hệ thống logic làm sẵn. Nền tảng của TTNT hiện đại từ đó đã được chuyển từ logic cổ điển, chặt chẽ nhưng cứng nhắc, sang tính toán thống kê, lỏng lẻo hơn về mặt logic nhưng mềm dẻo, có tính ứng biến cao. Vấn đề học tập, cập nhật và chắt lọc tri thức từ dữ liệu thô, gọi vắn tắt là vấn đề Học máy, đang trở thành lĩnh vực trung tâm của TTNT. Ngành học máy được phát triển trên nền tảng của xác suất thống kê và khoa học máy tính, với mục tiêu là tạo ra các thuật toán tự học giúp cho máy tính định hình được khái niệm, liên hệ các ý nghĩa, tìm kiếm ra các quy luật trên cơ sở các nguồn dữ liệu thô và nhiễu.  Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng bậc nhất cho máy tính, đồng thời cũng là dạng dữ liệu phức tạp và nhiều nhiễu bậc nhất, chính là ngôn ngữ tự nhiên của loài người. Khác với ngôn ngữ logic của máy, ngôn ngữ của người rất linh hoạt và giàu có, thường không tuân theo các quy luật logic cứng nhắc. Các từ vựng trong ngôn ngữ của chúng ta thường là đa nghĩa. Các từ được kếp hợp với nhau qua các cấu trúc câu đa dạng, làm tăng nên khả năng biểu cảm gấp bội. Các câu lại được kết hợp với nhau tạo ra các ngữ cảnh có thể làm tăng sự mơ hồ hoặc thay đổi hẳn nội dung.   Trong Jeopardy!, giải mã cho được cách chơi chữ trúc trắc và các gợi ý đầy cạm bẫy để “hiểu” được câu hỏi mới chỉ là trở ngại đầu tiên cho Watson.  Để tìm ra câu trả lời, các kỹ sư của IBM còn phải tìm cách giúp Watson tìm kiếm và đánh giá sự tin cậy của các câu trả lời có thể, từ kho dữ liệu khổng lồ được nạp sẵn gồm có các loại từ điển, thư viện Wikipedia, và các tác phẩm văn học. Watson phải tận dụng tất cả khả năng tính toán của mình để tìm ra câu trả lời nhanh và chính xác, vượt qua kinh nghiệm dày dặn và kho tri thức sâu rộng của hai địch thủ sừng sỏ bằng da thịt.  Các kỹ sư của IBM đã phải sử dụng hơn 100 phương pháp trong lĩnh vực học máy và xử lý ngôn ngữ để phân tích câu hỏi, tìm tòi nguồn ý của câu hỏi, tìm kiếm và đánh giá độ tin cậy các câu trả lời trong qua các kỹ thuật thống kê và học máy hiện đại.  Tương lai TTNT: Từ phép thử Turing đến quan điểm Dijkstra  Năm 1965, Herbert Simon dự đoán “trong vòng 20 năm nữa máy sẽ làm được bất kỳ việc gì người làm được”; năm 1967, Marvin Minski cho rằng “trong vòng một thế hệ nữa, bài toán xây dựng ‘trí tuệ nhân tạo’ sẽ được xem như là giải quyết xong”. Ở thời điểm 2011 này, chúng ta biết các vị tiền bối ngành máy tính đã quá lạc quan. Vậy thì, từ những bài học gặt hái được qua chiến thắng lịch sử của Watson năm nay, chúng ta có thể nói gì về tương lai của ngành TTNT?  Để thảo luận câu hỏi này, ta quay lại một chút với một câu hỏi cơ bản mà Alan Turing đặt ra năm 1950: làm thế nào để biết máy có “nghĩ” không?           IBM Watson “thi đấu” với sinh viên của trường ĐH Carnegie Mellon và ĐH Pittsburgh          Tư duy là một khái niệm khó nắm bắt, là thách thức quan trọng không chỉ đối với ngành khoa học máy tính mà còn thần kinh học và các ngành khoa học xã hội. Vì thế, để trả lời câu hỏi về tư duy của máy, Turing đã đề cử một phép thử mà ngày nay được gọi là phép thử Turing: cho một ban giáo khảo ngồi trong một không gian tách biệt, nói chuyện với máy đồng thời với số người thật. Nếu ban giáo khảo không phân biệt được ai là máy ai là người thật thì kết luận là máy có “tư duy”. Ta phải tưởng tượng mình sống ở năm 1950 để cảm nhận sự khó khăn của việc xây dựng một cái “máy” vượt qua được phép  thử Turing này.   Vậy mà đến năm 1965, chương trình máy tính Eliza của Joseph Weizenbaum trường MIT đã có khả năng thuyết phục rất nhiều người là nó là người thật, dùng một cái mẹo đơn giản của các nhà tâm lý học trong hội thoại với bệnh nhân: khi nào không hiểu thì lấy một từ khóa trong câu của bệnh nhân và bảo họ giải thích thêm. Ví dụ, bệnh nhân nói “hôm nay tớ buồn quá”, máy tính trả lời: “bạn nói thêm cho tớ về nỗi buồn của bạn đi!”. Chỉ đơn giản như thế, nhưng rất nhiều người đã không tin rằng Eliza là chương trình máy tính. Nhiều người thậm chí đã “nói chuyện” nhiều giờ liền với Eliza, và khi xong thì báo cáo kết quả là “nhà điều trị tâm lý” Eliza đã có tác động tích cực đến tâm lý của họ. Hiện nay hằng năm vẫn có các kỳ thi dạng phép thử Turing cho các chương trình máy tính (Giải thưởng Loebner là một ví dụ), và nhiều chương trình đã rất cận kề với điểm vượt qua phép thử Turing.   Vậy giờ đây, liệu đã có thể kết luận từ sự kiện Watson, con người đã có thể tạo ra những bộ máy thực sự có trí tuệ hay không? Noam Chomsky, một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, thẳng thừng tuyên bố: “Với tôi, Watson chẳng hiểu gì cả. Nó chỉ là một cái máy ủi rất to thôi”.  Marvin Minsky, một trong những người sáng lập nên ngành trí tuệ nhân tạo sau Turing, cũng có thái độ tương tự: “Nếu như Watson chỉ là một dạng máy tính tìm kiếm và so trùng mẫu (pattern matching) … thì chẳng có gì ấn tượng cả. Với tôi, vẫn chưa máy tính nào có thể có cách cư xử theo lẽ thường tình như một đứa trẻ con 4, 5 tuổi”.  Thoạt nghe, những nhận xét như của Chomsky hay Minsky không phải không có cơ sở. Quả là ở chừng mực nào đó, cũng giống như Deep Blue, Watson vẫn chỉ là một máy tính làm rất tốt một việc: đó là việc tìm kiếm câu trả lời, một dạng câu trả lời chỉ thích hợp cho một cuộc chơi, cho dù là một cuộc chơi lắt léo như Jeopardy!. Watson vẫn phải dựa vào kho tri thức khổng lồ đã được tải xuống và sắp xếp vào hệ thống bộ nhớ rất “máy ủi” của mình bởi các kỹ sư bằng da bằng thịt của IBM. Nếu cái kho tri thức ấy được Watson tự thu lượm và học hỏi được thì có thể sự đánh giá của chúng ta với trí thông minh của nó sẽ khác đi chăng? Nhưng nhìn nhận công bằng hơn, Watson thực sự là bước tiến vượt bậc so với Deep Blue. Trước khi có Watson, chúng ta đã không biết chắc có thể tạo ra được máy tính có khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên của con người và thắng được con người trong một cuộc chơi như Jeopardy!.          Alan Turing               Có thể đến một lúc nào đó chúng ta sẽ phải quay lại với vấn đề mà Turing đã lẩn tránh khi ông đưa ra phép thử Turing. Trí thông minh là gì? Cụ thể hơn: thế nào là trí thông minh của máy? Tương tự, thế nào là tình cảm của máy? Thế nào là lẽ thường?          Có ai đó từng nói: hễ cứ khi máy tính đã làm được cái gì thì cái đó không được coi là thông minh nữa. Định kiến này sẽ luôn luôn đi kèm theo bất kỳ thành tựu công nghệ nào của loài người, cho dù chúng có kỳ vĩ đến đâu. Các tác giả bài này chọn cách nhìn cùng hướng với cố giáo sư Edsger Dijkstra, người thắng giải Turing năm 1972. Dijkstra từng nói: “hỏi máy tính có biết nghĩ hay không thì cũng chẳng hay ho gì hơn hỏi tàu ngầm có biết bơi không”. Quan điểm của Dijkstra cũng chính là xu hướng phát triển của khoa học và công nghệ  TTNT hiện nay mà đại diện mới nhất là Watson: hướng chức năng. Khi công nghệ Q&A (hỏi đáp) của Watson có thể dùng để giúp bệnh nhân và bác sĩ chẩn đoán bệnh bằng cách tìm và trả lời các câu hỏi lâm sàng hóc búa, khi công nghệ Q&A phát triển đến mức các trung tâm giải đáp thắc mắc kỹ thuật chỉ còn toàn máy, khi công nghệ Q&A phát triển đến mức ta có thể đặt câu hỏi trực tiếp cho Google mà không cần nghĩ xem từ khóa đúng là gì … thì việc Watson có biết “nghĩ” thật hay không có lẽ không còn là câu hỏi cần thiết nữa.   Khoa học gia ngành Tâm lý Daniel Gilbert từng nói rằng, mỗi nhà tâm lý học sẽ phải một lần trong đời viết cái câu sau:   “Con người là loài duy nhất có khả năng…”   Cho đến gần cuối thế kỷ 20, điền “chơi cờ vua” vào khoảng trống hẳn là đa số nhân loại đồng ý. Đến nay điền “làm Toán” vào được không? Không! Hệ thống phần mềm WolframAlpha có khả năng làm Toán tốt hơn tuyệt đại đa số nhân loại: nó có thể tính tích phân bất định và xác định, tính tổng các chuỗi hình thức, và mật độ dân số Việt Nam, trong vòng tích tắc, với câu hỏi là ngôn ngữ tự nhiên.  Watson vừa mới loại bỏ thêm một việc nữa mà chỉ con người mới có thể làm được. Xu hướng chức năng theo quan điểm của Dijkstra vì thế sẽ là xu hướng thượng phong cho tương lai ngành TTNT.   Có thể đến một lúc nào đó chúng ta sẽ phải quay lại với vấn đề mà Turing đã lẩn tránh khi ông đưa ra phép thử Turing. Trí thông minh là gì? Cụ thể hơn: thế nào là trí thông minh của máy? Tương tự, thế nào là tình cảm của máy? Thế nào là lẽ thường? Còn, nếu bạn không đồng ý với quan điểm Dijkstra và muốn “hạ gục” Watson thì chỉ cần hỏi: “Này, Watson, tại sao vợ tớ giận tớ?”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển vọng của khoa học về sự bất tử      Trong nhiều thế kỷ, những bộ óc ưu tú nhất của nhân loại không chỉ mơ ước đến một cuộc sống vĩnh cửu mà còn đi tìm những phương thức cụ thể, có tính hiện thực để đạt tới nó.     Khoa học về sự bất tử lần đầu tiên được đề xuất vào những năm 70 bởi hai nhà khoa học Nga là các giáo sư G.Berdyshev và I.Vishev và mang cái tên là immortalogy (có nghĩa là bất tử học, xuất phát từ chữ Hy Lạp mors – cái chết, im – trợ từ phủ định).   Hiện nay, một số phương pháp làm ngừng lại sự già cỗi của cơ thể đã xuất hiện và đang được thực hiện: Tuổi già đang được cố gắng khắc phục với sự trợ giúp của các tế bào gốc, của công nghệ nano và kỹ thuật gen; liệu pháp lạnh. Con người được ướp lạnh trong một thời hạn dài và được làm tan giá sau một thế kỷ; việc nuôi dưỡng hoặc là các cơ quan riêng lẻ của con người hoặc là toàn bộ bản sao “dự trữ” của nó.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển vọng “điện sa mạc”      Những nhà máy điện – gương khổng lồ trên vùng sa mạc quanh Địa Trung hải có thể giúp châu Âu không còn phụ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga cũng như biến động giá dầu trên thế giới. Công nghệ đã có, các nhà đầu tư đã sẵn sàng – nhưng giới chính trị còn do dự.        “Dầu mỏ” của thế kỷ 21 không ở dưới mà ngay trên mặt đất-  đó là ánh nắng – Gerhard Knies – người phát ngôn của Trans-Mediterranean Renewable Energy Cooperation (TREC – tổ chức gồm các nhà khoa học và chính khách của nhiều nước nhằm giải quyết vấn đề năng lượng của châu Âu) – còn gọi ánh nắng mặt trời là “của chìm” (hidden asset). Và dự án Desertec của TREC có tham vọng biến cái nắng gắt sa mạc thành nguồn điện khổng lồ. Hiện vùng sa mạc ở Bắc Phi và Cận Đông tiềm ẩn nguồn năng lượng mặt trời lên đến 630.000 Terawatt/giờ (TWh).  Bộ Môi trường Đức đã giao nhiệm vụ cho Hans Müller-Steinhagen (Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức – DLR) nghiên cứu tính khả thi của Desertec và ông này đã nhận định rằng “Desertec không phải là viễn tưởng”.                  Năm nay Châu Âu cần 4000 Terawatt/giờ, bằng 0,6% nguồn năng lượng mặt trời không được sử dụng tại khu vực nói trên. Châu Âu cần điện nhưng thiếu nắng, các quốc gia ở Bắc Phi và Cận Đông  thì ngược lại. Một giải pháp được đề ra là: miền Nam sản xuất điện cho miền Bắc. Tuy nhiên việc chuyển tải nguồn năng lượng khổng lồ này sẽ tiến hành như thế nào? Và làm thế nào để biến ánh sáng mặt trời trên sa mạc thành điện năng?   Điều này khá đơn giản: Desertec dùng Low-Tech – do đó không cần phải có các lò phản ứng hạt nhân tốn kém, không cần các nhà máy nhiệt điện phải tách bỏ CO2, cũng không cần tế bào quang điện cực mỏng. Nguyên tắc rất đơn giản, hầu như học sinh phổ thông đều từng thử nghiệm, đó là dùng kính lúp thu nhiệt từ ánh sáng trời để đốt những tờ giấy: ở đây là Gương – máng parabol tập trung ánh sáng mặt trời, đun nước, hơi nước tác động vào turbin và tạo ra điện.   Để có thể cung cấp đủ điện cho toàn thế giới, diện tích sa mạc cần được phủ kín bằng những nhà máy điện – gương sẽ có diện tích tương đương diện tích của nước Áo (83.871 km2).    Chung hưởng lợi ích   Khi các nhà máy điện – gương trên sa mạc để xuất khẩu năng lượng điện cho các quốc gia khác trên thế giới, nhiệt lượng dôi dư của các nhà máy nhiệt điện này có thể được dùng để vận hành các nhà máy khử muối nước biển để sản xuất nước ngọt (Các nước giàu ánh nắng ở Bắc Phi và Cận Đông rất khan hiếm nước ngọt).   Châu Âu cũng được hưởng lợi lớn từ dự án này: không còn bị phụ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga cũng như vào biến động giá dầu trên thế giới. Không còn có rác thải phóng xạ. Không còn có các nhà máy điện chạy than ảnh hưởng xấu đến khí hậu.   Thực ra Desertec không còn là một mong muốn viển vông, xa vời. Công nghệ đã có và đã được thử thách: Từ giữa những năm 80, người ta đã xây dựng và đưa vào hoạt động thành công một số nhà máy nhiệt mặt trời ở California và Nevada (Mỹ). Hiện một số nhà máy điện loại này đang được xây dựng ở miền Nam Tây Ban Nha; các nước như Algeria, Marocco và Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cũng đang triển khai xây dựng một số nhà máy nhiệt điện mặt trời.   Về chi phí đối với loại năng lượng điện mới này, Müller-Steinhagen tính toán: Đến năm 2050 nếu châu Âu muốn thoả mãn 15% nhu cầu năng lượng điện thông qua các nhà máy nhiệt điện mặt trời thì phải đầu tư khoảng 400 tỷ Euro. Trong đó chi phí xây dựng nhà máy điện hết 350 tỷ Euro và chi phí xây dựng mạng lưới điện cao thế-một chiều hết khoảng 50 tỷ để chuyển tải điện từ Bắc Phi đến châu Âu. Công nghệ đã có và đã qua thử thách.   Song, nếu mọi chuyện đơn giản thì tại sao các quốc gia giàu nắng lại đầu tư xây dựng các nhà máy điện hạt nhân vừa tốn kém vừa nguy hiểm, thay vì đầu tư vào công nghệ – gương? Và Mỹ cũng có sa mạc, vì sao nước này không muốn giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào dầu mỏ?   Câu trả lời của Müller-Steinhagen là: “Các nguồn năng lượng hoá thạch quá rẻ”. Mỹ có thể xây dựng các nhà máy nhiệt điện mặt trời cỡ lớn, nhưng giá dầu mỏ mấy chục năm qua quá rẻ nguồn nhiệt điện mặt trời không thể cạnh tranh nổi. Các nước như Ả Rập Xê Út, Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Kuwait dư thừa ánh nắng mặt trời nhưng cũng rất giàu dầu mỏ. Tuy nhiên chính những nước này lại có điều kiện tài chính thuận lợi để xây dựng các nhà máy nhiệt điện mặt trời. Tại Ả Rập Xê Út hay Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, giá một kilowatt/giờ chỉ nửa Cent, vì thế rất khó để thuyết phục người dân ở đây về những ưu điểm của nhiệt điện mặt trời.  Châu Âu cần năng lượng, Bắc Phi cần nước ngọt   Samer Zureikat, người sáng lập công ty TNHH Mena Cleantech thừa nhận: “Các nước Bắc Phi và Cận Đông thiếu nhận thức về triển vọng của loại công nghệ mới này. Khi nói về năng lượng mặt trời, ở đây người ta nghĩ đến các tấm tế bào quang điện mà không hề nghĩ đến những nhà máy nhiệt điện mặt trời khổng lồ” Song theo Zureikat, việc chuyển sang áp dụng công nghệ nhiệt điện mặt trời là không thể tránh bởi: “Châu Âu cần điện, trong khi đó Bắc Phi và Cận Đông lại cần nước”. Theo Müller-Steinhagen, đến năm 2050, nhu cầu nước ngọt của các nước trong vùng sẽ tăng gấp ba.   Hiện giá điện mặt trời chưa có khả năng cạnh tranh, song chi phí sản xuất các loại năng lượng điện thông thường đang ngày càng tăng – trong khi đó chi phí xây dựng mới các nhà máy nhiệt điện mặt trời lại không ngừng giảm. Dự tính đến năm 2020, giá thành sản xuất điện từ nguồn năng lượng hoá thạch và nhiệt điện mặt trời sẽ tương đương nhau. Hơn nữa giá loại năng lượng điện này lại có tính ổn định hơn hẳn vì nguồn cung vô tận, không mất tiền mua và cũng không phải đầu tư khai thác quá tốn kém.  Giới chính khách ở Đức đang quan tâm ngày càng nhiều hơn đối với Desertec. Tổng thống Pháp Sarkozy cũng bất ngờ quan tâm tới năng lượng mặt trời mặc dù bản thân ông mới chào bán cho các nước Bắc Phi một số nhà máy điện hạt nhân.   Tuy nhiên còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ như: Ai sẽ đầu tư tài chính cho hệ thống mạng lưới dẫn điện? Hệ thống dẫn điện do ai quản lý? Liệu có bảo đảm cam kết giá đầu vào của nguồn điện từ nhiệt điện mặt trời?  Các nhà đầu tư cũng như giới công nghiệp rất quan tâm đến vấn đề này. Nguồn vốn để đầu tư xây dựng có thể huy động được, vấn đề công nghệ đã được giải quyết, cái thiếu hiện nay là quyết tâm chính trị cao của các Chính phủ.  Xuân Hoài (theo Spiegel)  ————  -Low-Tech: Gương-Parabol tích tụ ánh sáng mặt trời tạo nhiệt…  -để đun nước. Hơi nước vận hành Turbin và phát ra điện.  – Giải pháp năng lượng: Các khung mầu đỏ là diện tích sa mạc cần phải được phủ kín bằng các nhà máy điện-gương để có thể thoả mãn nhu cầu năng lượng điện trên toàn thế giới (Welt), Châu Âu (EU 25) và Đức (D)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Triển vọng điều trị bệnh chàm từ nghiên cứu tụ cầu vàng đột biến      Một nghiên cứu mới cho thấy cách đột biến ở tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) khiến nó cư trú ở các mảng chàm.     Hình ảnh tụ cầu vàng dưới kính hiển vi.  Da người là nơi sinh sống của hàng triệu loài vi khuẩn. Trong số này, tụ cầu vàng S.aureus là mầm bệnh cơ hội có thể xâm lấn mảng da bị chàm, hay còn gọi là viêm da cơ địa.  Theo ước tính, 30 – 60% người có S.aureus trong lỗ mũi, ở đấy chúng thường vô hại. Tuy nhiên với bệnh chàm (ảnh hưởng khoảng 10 triệu trẻ em và 16 triệu người trưởng thành ở Mỹ), khuẩn tụ cầu vàng thường lan sang các vùng da bị chàm và gây nhiễm trùng.  Trong nghiên cứu mới công bố, các nhà khoa học do MIT dẫn đầu đã phát hiện rằng trong hệ vi sinh vật của người bị bệnh chàm, tụ cầu vàng có xu hướng tiến hóa thành một biến thể mang đột biến gene giúp nó sinh sôi nảy nở nhanh hơn trên da. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học trực tiếp quan sát loại tiến hóa nhanh chóng này ở một vi khuẩn liên quan tới một rối loạn phức tạp trên da.  PGS. Tami Lieberman tại Viện Khoa học – Kỹ thuật Y tế MIT, lý giải: “Khi trên da có vết nứt, tụ cầu vàng sẽ dùng đó làm nơi phát triển và nhân rộng. Vi khuẩn này có thể góp phần gây ra bệnh lý do chúng tiết chất độc và thu hút các tế bào miễn dịch. Những phản ứng miễn dịch càng làm tổn thương hàng rào của da”.  Câu hỏi đặt ra là làm sao S. aureus có thể thích nghi trên làn da của các bệnh nhân bị bệnh chàm. Và từ việc quan sát sự phát triển của những vi khuẩn này, họ có thể rút ra điều gì về cách chúng tương tác với da bị chàm.  Để giải đáp nghi vấn, các nhà nghiên cứu tập hợp bệnh nhân trong độ tuổi 5 – 15, đang điều trị bệnh chàm ở mức độ trung bình tới nghiêm trọng. Họ lấy mẫu vi khuẩn trên da bệnh nhân mỗi tháng một lần trong 3 tháng, rồi lặp lại quy trình trong 9 tháng. Nơi lấy mẫu là khoeo chân và mặt trong khuỷu tay (nơi thường bị viêm da nhất), cẳng tay (nơi thường không bị ảnh hưởng), và lỗ mũi.  Tế bào S. aureus từ mỗi nơi lấy mẫu được nuôi cấy tách biệt nhằm tạo ra tối đa 10 cụm khuẩn. Khi cụm khuẩn lớn hình thành, các nhà nghiên cứu sẽ giải trình tự gene của tế bào. Các nhà khoa học đã tạo ra gần 1.500 cụm khuẩn, cho phép họ quan sát sự tiến hóa của tế bào vi khuẩn chi tiết hơn nhiều so với trước đây.  Nhóm nghiên cứu phát hiện, phần lớn bệnh nhân đều có một dòng S. aureus duy nhất — nghĩa là rất hiếm khi xuất hiện chủng mới từ môi trường hoặc từ người khác vào thay thế chủng tụ cầu có sẵn. Tuy nhiên, ở từng dòng vi khuẩn lại xảy ra một lượng lớn đột biến và tiến hóa trong suốt 9 tháng nghiên cứu.  Nhiều đột biến phát sinh trong gene capD. Gene này mã hóa enzyme cần thiết để tổng hợp lớp vỏ polysaccharide bao vi khuẩn – lớp vỏ bảo vệ S. aureus khỏi bị tế bào miễn dịch nhận ra.  Khi xét nghiệm tế bào vi khuẩn trong đĩa nuôi cấy, các đột biến trên capD cho phép S. aureus phát triển nhanh hơn chủng có gene capD thông thường. Quá trình tổng hợp lớp vỏ polysaccharide bao vi khuẩn cần nhiều năng lượng, do vậy khi không cần tạo lớp vỏ, các tế bào có nhiều năng lượng hơn để phát triển. Các nhà nghiên cứu cũng đặt giả thuyết rằng việc mất đi lớp bao vi khuẩn cho phép S. aureus bám vào da tốt hơn, vì các protein giúp chúng bám lộ ra nhiều hơn.  Các nhà nghiên cứu còn phân tích gần 300 bộ gene có sẵn của vi khuẩn lấy từ người mắc và không mắc bệnh chàm, phát hiện người mắc bệnh nhiều khả năng có chủng S. aureus không sản xuất lớp polysaccharide hơn người thường.  Thông thường, bệnh viêm da cơ địa được điều trị bằng cách dùng kem dưỡng ẩm hoặc corticosteroid tại chỗ bị viêm. Bác sĩ có thể kê thêm kháng sinh nếu trên da có nhiễm khuẩn. Phát hiện này của nhóm nghiên cứu có tiềm năng tạo ra những cách điều trị giảm nhẹ triệu chứng của bệnh bằng cách nhắm vào chủng S. aureus đột biến.  Phòng thí nghiệm của Lieberman đang phát triển các chế phẩm sinh học theo hướng này, đồng thời nghiên cứu liệu các chủng S. aureus đột biến capD có khả năng lây sang người sống cùng nhà với người viêm da hay không.  Phương Anh dịch  Nguồn: Scientists track evolution of microbes on the skin’s surface    Author                .        
__label__tiasang Triển vọng mới của Teleportation      Teleportation (dịch chuyển lượng tử) vốn là một khái niệm nổi tiếng trong loạt phim giả tưởng Star Trek. Tuy nhiên, mới đây các nhà lý thuyết ở Đại học Queenland và Đại học Quốc Gia Úc đã đề xuất một ý tưởng mới nhằm hiện thực hóa khái niệm thú vị này. Nhóm nghiên cứu gồm có: Ashton Bradley, Simon Haine, Murray Olsen và Joseph Hope, họ đã đưa ra một phương pháp mới để “teleport” các sóng vật chất. “Phương pháp của chúng tôi có thể cho phép một chùm laser nguyên tử biến mất ở chỗ này và xuất hiện lại ở chỗ khác.” Tiến sỹ Bradley nói.    “Điểm khác biệt trong phương pháp dịch chuyển lượng tử của chúng tôi là nó không đòi hỏi hệ gửi và hệ nhận phải có cùng các trạng thái rối, tức là không cần phải thực hiện phép đo liên quan đến việc gửi thông tin. Thay vào đó, các hệ gửi và nhận là những nguồn chứa các nguyên tử được làm lạnh tới trạng thái ngưng tụ Bose -Einstein (BEC),” Tiến sỹ Haine nói. Cũng theo lời Haine, khi gửi một xung các nguyên tử đi vào một hệ bẫy BEC và chiếu sáng chúng bằng một chùm laser có điều khiển, các nguyên tử của xung sẽ bị kích thích và hành xử giống như các nguyên tử vốn đã bị bẫy trong BEC. Điều này dẫn đến sự phát xạ một photon. Khi các nguyên tử trong BEC có một xung lượng xác định tốt, các photon sẽ được phát ra theo cùng một hướng và tạo thành một chùm tín hiệu.    “Với chùm laser điều khiển, chúng tôi có thể sắp đặt tọa độ và xung lượng của mỗi nguyên tử (tức là sắp đặt thông tin lượng tử) để mã hóa chúng vào chùm tín hiệu.” Haine nói. Chùm này được gửi đến một BEC thứ hai, cũng được chiếu sáng bằng laser có điều khiển. Các nguyên tử bị bẫy trong BEC này sẽ hấp thụ các photon từ chùm tín hiệu, và đến lượt chúng bị buộc phải phát photon. Do sự thay đổi xung lượng khi phát photon, các nguyên tử sẽ bị loại ra khỏi BEC. Như vậy các nguyên tử mang thông tin lượng tử trong xung ban đầu đã được chuyển sang xung mới, tức là xung nguyên tử ban đầu đã được “teleport” một cách hiệu quả.   “Phương pháp của chúng tôi không cần dựa trên những phẩm chất tinh vi của sự rối lượng tử, như vậy nó có thể đạt được sự dịch chuyển hiệu quả hơn.” Bradley nói.  Nhóm của Bradley vẫn đang tiếp tục phát triển lý thuyết với những tính toán chi tiết hơn, xét đến cả các hiệu ứng phức tạp khi các nguyên tử va chạm với nhau.  Nguồn: University of Queensland      Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học cần tự điều chỉnh      Trong cuốn sách mới ra của mình mang tên Đại thiết kế, Stephen Hawking, người được coi như ông hoàng của Vật lý lý thuyết thế kỷ 20, lại một lần nữa khẳng định: Triết học đã chết1! Điều này không có gì lạ, vì đó chỉ là một khái quát ở mức cao hơn một nhận định trước đó, có hơi hướng mỉa mai, cũng của chính ông nhưng được trích dẫn như là của triết gia Ludwig Wittgenstein2 trong một cuốn sách rất nổi tiếng khác – Lược sử thời gian –rằng: Nhiệm vụ còn lại của Triết học chỉ là trò phân tích ngôn ngữ3.        Cơ sở của nhận định này là sự tụt hậu của Triết học so với các ngành khoa học cụ thể, đặc biệt là Vật lý, trong việc nhận thức thế giới. Triết học dường như đã trở thành bất lực trong việc trả lời những câu hỏi rất cơ bản như: Làm sao chúng ta có thể hiểu được thế giới? Bản chất của thực tại là gì? Mọi thứ từ đâu đến? Liệu vũ trụ có cần một Đấng sáng thế?  Việc một nhà khoa học nổi tiếng, một trong những biểu tượng của trí tuệ thế kỷ 20, đưa ra những nhận định gây sốc như vậy về triết học, không khỏi làm cho người quan tâm băn khoăn tự hỏi: Phải chăng triết học đã chết như Hawking nhận định? Nếu không thì vai trò của triết học hiện đại là gì?  Quan sát sự phát triển của khoa học trong thế kỷ vừa rồi, đặc biệt của Vật lý và sinh học, thì thấy rõ rằng: Triết học đã bất lực trước những câu hỏi thuộc bản thể luận và một phần nào đó là bản chất của sự sống. Ngoài tư duy tư biện, triết học không còn công cụ nào khác để tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề này. Như thế rõ ràng, phạm vi nghiên cứu của Triết học đã bị thu hẹp đáng kể. Nhưng điều đó không có nghĩa là triết học đã chết. Nhận định của của Stephen Hawking chỉ là một sự nói quá lên “sự khốn cùng của triết học” và đánh giá sai lệch nhiệm vụ của triết học chỉ thuần túy là truy tìm kiến thức.                                    Immanuel Kant (1724-1804), triết gia vĩ đại thời kì khai sáng, dường như đã viết gần như toàn bộ trước tác của mình, cụ thể là ba cuốn phê phán nổi tiếng[1], và do tầm ảnh hưởng của ba cuốn này, có thể coi như ông đã tạo ra bước ngoặt của lịch sử triết học, qua việc trả lời bốn câu hỏi[1]: Tôi có biết gì thức gì? Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng gì? Con người là gì?          Trên thực tế, tìm kiếm tri thức chỉ là một phân nhánh của triết học. Phân nhánh này đang suy yếu trước sự phát triển của các ngành khoa học cụ thể. Nhưng các phân nhánh khác vẫn còn đủ rộng rãi để triết học phát triển. Đặc biệt là những phân nhánh vượt qua thế giới vật lý như Siêu hình học  hoặc liên quan mật thiết đến tâm lý và hành vi xã hội của con người như Đạo đức học, Mỹ học, Triết học về chính trị, Triết học về tôn giáo v.v.  Như thế, sự tụt hậu của Triết học so với các ngành khoa học cụ thể chỉ giới hạn ở câu hỏi thứ nhất: “Tôi có thể biết gì?” và một phần ở câu hỏi thứ hai: “Con người là gì?”. Một phần lớn còn lại của câu hỏi này cùng với hai câu hỏi: “Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng gì?” vẫn là là những lãnh địa riêng cần tiếp tục khai phá của Triết học vì chịu ảnh hưởng rất ít của những tiến bộ của những ngành khoa học cụ thể.  Điểm qua như vậy để thấy, so với ngay những vấn đề Triết học được đặt ra từ hơn hai thế kỷ về trước của Kant, những khoa học cụ thể ngành nay cũng không giải quyết được, vì đơn giản chúng không phải là đối tượng nghiên cứu của những khoa học này, hoặc phương pháp khoa học không phải là công cụ để giải quyết những vấn đề này. Không một phương pháp khoa học nào có thể được sử dụng để đánh giá chính xác xem một sự việc là tốt hay xấu, đúng hay sai, thiện hay ác, tin hay không tin, đáng yêu hay đáng ghét. Chúng thuộc một thế giới khác mà ở đó, khoa học có thể tác động đến ít nhiều chứ không thể thay thế được.  Vai trò của Triết học hiện đại   Đâu đó đã có ý kiến cho rằng vai trò của triết học bây giờ là liên kết các mảng tri thức khác nhau để tạo ra một bức tranh lớn về tri thức và con người. Người viết bài này cũng đã từng nghĩ như thế. Nhưng giờ đây nhận thấy, đó là một kỳ vọng quá sức của Triết học. Liên kết các mảng tri thức khác nhau còn khó khăn hơn việc tìm kiếm tri thức, một lĩnh vực mà Triết học đang bị đuối thế. Chưa kể tham vọng về một bức tranh lớn chưa hẳn đã thuyết phục và có cơ sở, vì thế giới này có thể được mô tả bởi một bức tranh lớn hay không, hay chỉ có thể mô tả bằng một tập hợp các bức tranh nhỏ chuyên biệt, là một vấn đề còn tranh cãi. Trong bối cảnh chưa rõ ràng đó, một bức tranh lớn giả tạo về thế giới và con người, sẽ có khả năng trở lên phản tác dụng, trở thành kẻ đày đọa con người thay vì mở mang hiểu biết và tự do của con người.        Triết học nên khiêm tốn hơn với vai trò của mình như là khoa học của các khoa học, nên bớt tham vọng hơn trong việc vẽ ra một bức tranh tổng thể về thế giới và con người, nên giảm bớt gánh nặng trong hành trình tìm kiếm chân lý và tri thức.        Như thế, sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta tạm hài lòng với tập hợp những bức tranh nhỏ về thế giới được vẽ lên bởi các ngành khoa học chuyên biệt. Tùy theo độ phát triển của khoa học mà những bức tranh này sẽ được bổ sung, sửa chữa sao cho phù hợp. Còn nếu cố công gò ép mọi thứ vào một bức tranh lớn duy nhất, con người đã tự chặt chân mình trên con đường tìm kiếm tri thức về thế giới và chính bản thân mình.  Cũng như thế, Triết học nên khiêm tốn hơn với vai trò của mình như là khoa học của các khoa học, nên bớt tham vọng hơn trong việc vẽ ra một bức tranh tổng thể về thế giới và con người, nên giảm bớt gánh nặng trong hành trình tìm kiếm chân lý và tri thức. Để tồn tại trước sự tấn công ồ ạt của các ngành khoa học cụ thể, triết học cần tập trung vào những lĩnh vực mà khoa học không thể vươn tới, hoặc nếu có vươn tới thì cũng không thể chiếm lĩnh toàn bộ. Triết học cũng không nên cạnh tranh với các khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm tri thức, mà nên làm người hỗ trợ, lát đường cho những ngành khoa học đó tiến lên.  Diễn giải chi tiết thì theo thiển ý của người viết, Triết học hiện đại nên tập trung vào ba lĩnh vực sau:  1. Làm người mở đường, thậm chí lát đường, hỗ trợ cho các ngành khoa học cụ thể bằng cách xây dựng hệ thống, hoặc một phần của hệ thống, các khái niệm, phạm trù cho các ngành khoa học cụ thể, nhất là khoa học xã hội và nhân văn sử dụng. Từ đó tạo lập những nét phác thảo sơ bộ về lĩnh vực cần nghiên cứu nhưng nhường phần hoàn thiện và phát triển tiếp cho các ngành khoa học cụ thể liên quan.  2. Tập trung vào những lĩnh vực mà khoa học không với tới được, hoặc với tới thì cũng không thể chiếm lĩnh toàn bộ vì ở đó, chỉ có tư duy tư biện là có tác dụng, còn phương pháp khoa học thì trở lên bất lực. Những lĩnh vực đó là Siêu hình học, Đạo đức học, Mỹ học, Triết học về Tôn giáo, Triết học về tâm hồn,  Triết học về khoa học nói chung và bản thân triết học nói riêng v.v.  3. Trở về với con người, định hướng con người trong nhận thức, dẫn dắt con người trong hành động , an ủi con người trong khổ đau và làm phong phú thêm ý nghĩa của đời sống con người. Trong lĩnh vực này, chân lý không còn đóng vai trò độc tôn, mà cảm xúc cũng cần được quan tâm thỏa đáng. Một cuộc đời hạnh phúc và có ý nghĩa không nhất thiết là một cuộc đời phải biết bản chất của thực tại là gì và mọi thứ từ đâu đến. Cho nên, con người, nhận thức và cảm xúc, đời sống và ý nghĩa, khổ đau và hạnh phúc, tự do và giới hạn của nó… mãi mãi là pháo đài bền vững của Triết học mà các khoa học cụ thể khác không thể thay thế hoàn toàn được.        Triết học cần trở về đồng hành với con người ở mọi tầng nấc mức độ mà đời sống con người khả dĩ trải qua. Triết học cần trở lại với những vấn đề của con người, vì con người. Làm như thế, chừng nào con người còn sống thì Triết học còn tồn tại.        Triết học vì thế, thay vì chinh phục những điều viển vông quá sức, cần thực tế hơn trong mục tiêu và lĩnh vực hoạt động của mình, và đặc biệt, Triết học cần trở về đồng hành với con người ở mọi tầng nấc mức độ mà đời sống con người khả dĩ trải qua. Triết học cần trở lại với những vấn đề của con người, vì con người. Làm như thế, chừng nào con người còn sống thì Triết học còn tồn tại.  Như thế, Triết học không chết dưới sự lấn sân của các ngành khoa học cụ thể như Stephen nhận định, mà Triết học cần điều chỉnh để đồng hành cùng các ngành khoa học cụ thể và quan trọng hơn là đồng hành cùng con người trong mọi cung bậc của đời sống, nhận thức, cảm xúc, hành động và ý nghĩa của nó theo cách của riêng mình.  Triết học không chết, nhưng Triết học cần tự điều chỉnh.  ————  1 Stephen Hawking & Leonard Mlodinow, The Grand Design, Bantam Books, 2010.  2 Sự thưc thì Ludwig Wittgenstein chưa bao giờ nói vậy. Có lẽ Stephen Hawking nhớ nhầm hoặc ông cố ý khái quát những ý tưởng của Ludwig Wittgenstein bằng một mệnh đề dễ nhớ.  3 Stephen Hawking,  A Brief History of Time, Bantam Dell Publishing Group, 1988.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Triết học vật lý và vật lý      Liệu có đúng như Stephen Hawking đã tuyên bố rằng “triết học đã chết -Philosophy is dead” trong cuốn sách “The grand Design” hay không?  Trong cuốn sách “Philosophy of Physics” (Robert P Crease)1 tác giả muốn chứng minh rằng không phải như vậy. Không những triết học không chết mà trái lại còn vô số vấn đề triết học vật lý phải làm song hành với vật lý.      Các nhà khoa học tại Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC sử dụng dữ liệu năng lượng cao mới của họ để nghiên cứu về Higgs boson.   Có những vấn đề mà bản thân vật lý không trả lời được: Vì sao Lý thuyết dây là lý thuyết khoa học mặc dầu Lý thuyết dây không tiên đoán được điều thực nghiệm gì? Bản chất cơ học lượng tử là gì? Bản chất không gian, thời gian là gì? Điều gì cấu tạo nên vật lý cơ bản?…  Hiện nay, triết học vật lý đi theo ba khuynh hướng truyền thống:  Analytic – phân tích hay còn gọi là Anglo-American vì được phát triển bởi các nhà triết học Anh và Mỹ  Pragmatic – thực dụng.  Hermeneutic – chú giải văn bản (thông diễn học).  Triết học phân tích dường như lấn áp các triết học khác.  Để hiểu vấn đề ta hình dung một workshop – một phân xưởng, một hội thảo – một môi trường trong đó người ta tạo nên và nghiên cứu mọi hiện tượng và sự cố – Higgs boson, đồng vị phóng xạ hiếm, siêu chảy,… – những điều mà trong thường nhật không xuất hiện hoặc hi hữu xuất hiện hoặc xuất hiện một cách không tường minh.  Trong workshop người ta thu được những kết quả tổng quát không phụ thuộc với thế giới bên ngoài.  Trong workshop người ta đặt câu hỏi cho thiên nhiên (Galileo) hoặc hỏi thiên nhiên như một chứng nhân tại tòa án (Immanuel Kant).  Trong workshop khi cần người ta lại đưa vào nhiều khái niệm mới (như hạt Higgs) làm nhiễu loạn không khí truyền thống.  Các nhà triết học vật lý quan tâm đến hành động tương tác của workshop nhưng theo một kiểu cách khác các nhà vật lý. Các nhà triết học tìm hiểu không phải những điều nhà vật lý biết mà là làm thế nào mà họ biết được những điều đó.     Điều này làm cho giữa vật  lý và triết học vật lý có sự khác biệt và đảm bảo rằng triết học vật lý cũng sôi động như bản thân vật lý.  Ba khuynh hướng  Analytic  Những người đi theo khuynh hướng này gồm các nhà logic, vật lý và toán học như Rudolf Carnap, Hans Reichenbach và Bertrand Russell, chú tâm vào logic của khoa học và ý nghĩa của những khái niệm cơ bản. Các chương quan trọng trong analytic là: diễn giải, nhân quả, lý thuyết, phương pháp,… Họ giống như những người quan sát ngay trong lòng workshop. Họ xem việc thử nghiệm như một hoạt động trước đột sinh của lý thuyết. Họ tập trung vào nhận thức luận (epistemology) của khoa học.    Cuốn sách Philosophy of Physics và tác giả Robert P Crease.       Có thể nói các nhà triết học phân tích xem các nhà vật lý là những nhà logic học của vũ trụ.  Pragmatic  Những người đi theo khuynh hướng này có cả Charles Peirce William James và John Dewey, họ quan tâm đến việc các nhà vật lý đã tiếp cận như thế nào, giải nghiệm các bí ẩn vũ trụ và những hệ quả. Họ như đứng ngoài workshop. Họ đi theo khẩu hiệu “chân lý là điều gì hoạt động-the truth is what works”. Họ quan tâm đến hiệu quả hơn là sự mô tả.  Tóm lại các nhà triết học thực dụng xem các nhà vật lý như những người giải thích được các bí ẩn của vũ trụ.  Hermeneutics  Gồm các nhà triết học như Edmund Husserl, Martin Heidegger và Maurice Merleau-Ponty xem các hoạt động của workshop như một cách thức (mode) tồn tại của con người và tri thức khoa học như một con đường để con người tiếp cận được với vũ trụ.  Nhân loại phải được luyện tập về mặt khoa học để tiếp cận với vũ trụ. Họ cho rằng sai lầm nếu quên rằng khoa học có nguồn gốc từ một môi trường rộng lớn hơn là vũ trụ sống (lifeworld).  Tóm lại các nhà triết học continental xem các nhà vật lý như những người khai phá vũ trụ vì vũ trụ là hiểu được và điều khiển được.  Trong thực tế có thể quan sát được hiện tượng pha trộn các triết học nói trên. Nói chung ba triết học trên nhằm ba khuynh hướng: logic, giải các bí ẩn và diễn dịch (the logic, the puzzle-solving, and the interpretative  and selfinterpretative activity).  Những vấn đề hiện tại  Phải công nhận có một sự overlap nào đó giữa vật lý và triết học vật lý. Sau đây ta xét các vấn đề sau: Vật lý cơ bản, Bản chất của không gian và thời gian, Cơ học lượng tử và Các phương pháp.  Các nhà triết học vật lý sẽ xét các vấn đề trên không như những đối tượng vật lý mà là một đối tượng rộng hơn trên cơ sở tư duy cơ bản hơn về một đối tượng như vậy (ví dụ vấn đề thời gian).  Thế nào là vật lý cơ bản  Chúng ta thấy có những chồng chéo trong các nghành vật lý, ví dụ đầu thế kỷ 20 người ta xem vật lý hạt nhân như một vật lý bức xạ hoặc muộn hơn xem vật lý hạt nhân trộn lẫn với vật lý các hạt cơ bản. Cần phân biệt đâu là vật lý cơ bản hơn? Nhiệt động học có quy về vật lý thống kê? Vật lý môi trường đông đặc là cơ bản hay chỉ là một amalgam, một hỗn hợp của vật lý và hóa học?  Các nhà triết học vật lý xem đây là một vấn đề quy nạp (reduction) để xác định đâu là vật lý cơ bản. Ở đây cần chú ý đến hiện tượng đột sinh, là hiện tượng xuất hiện những tính chất của một hệ lớn không suy diễn được từ các định luật ở mức thấp hơn.  Theo ý kiến của nhà quy nạp nổi tiếng là Viktor Weisskopf thì có thể hạt cơ bản là vật lý cơ sở? Còn theo Alvin Weinberg thì vật lý cơ sở có thể là vật lý chất rắn vì tính liên thông phổ quát (interconnectedness) của nó và khả năng sinh sản (fecundity) của nó, vật lý này liên quan đến nhiều khoa học khác, công nghệ khác và những vấn đề xã hội. Nhà triết học Philip Anderson vốn chủ trương khuynh hướng đột sinh cũng cho rằng vật lý chất rắn phải là cơ bản vì không phụ thuộc vào những khái niệm ở mức cao hơn.  Thế nào là thời gian và không gian  Thời gian và không gian được hiểu khác nhau ở trong và ngoài workshop  Thời gian  Có thể nói vấn đề thời gian phát sinh mạnh mẽ từ sự va chạm giữa Albert Einstein và Henri Bergson (nhà triết học nổi tiếng châu Âu – thuộc phái Continental) năm 1922.  Bergson cho rằng thời gian có những khía cạnh không bắt được bởi những biểu diễn khoa học. Những khía cạnh đó chỉ bắt được nhờ những trải nghiệm của chúng ta trong đời sống và cho rằng thời gian không phải là của các nhà vật lý (time is not just for physicists).  Ở đây ta có thể nhắc đến các câu thơ mang dáng dấp Bergson:  “Tôi từ – phút ấy sang tôi phút – này” (Đi thuyền – Xuân Diệu)  “Ngày vui ngắn chẳng tày gang!” (Nguyễn Du)  “Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê!” (Tản Đà)  Ngược lại, Einstein cho rằng không tồn tại một thời gian như vậy cho các nhà triết học chỉ có một thời gian khách quan, một thời gian vật lý.  Trong một bài viết trên tạp chí Journal of Philosophy (1967), Hilary Putman từ chối mọi thời gian triết học bởi theo ông chỉ có một thời gian trong hình học vật lý của continuum bốn chiều.  Các nhà triết học chắc không hẳn đồng ý như vậy về vấn đề thời gian.  Không gian  Ở đây ta cũng gặp một va chạm giống như va chạm giữa Einstein và Bergson trong vấn đề thời gian.  Như ta biết trong cơ học lượng tử không tồn tại một vị trí xác định, trong Lý thuyết trường ta lại có một bọt thăng giáng không thời gian, trong Hấp dẫn lượng tử vòng (Loop Quantum gravity) không gian bị lượng tử hóa, trong Lý thuyết dây không thời gian có thể có đến 10, 11 hoặc 26 chiều.  Các nhà triết học vật lý lại quan tâm đến các khía cạnh của không gian: vị trí xác định như trong GPS, vị trí dùng tọa độ (Kant) hoặc sự cảm nhận cơ thể của chúng ta khi chuyển động (đây không là một ý nghĩa toán học), không gian này đi song song với thời gian ta sống.  Các nhà triết học cũng cho rằng không gian không phải của riêng các nhà vật lý (Space, in short, is not just for physicists).  Triết học có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề có khía cạnh liên quan đến các trải nghiệm của con người.  Phải diễn dịch cơ học lượng tử như thế nào  Ngay từ đầu, đặc biệt Niels Bohr và Werner Heisenberg đã hiểu rằng Cơ học lượng tử có nhiều khái niệm và giả định cần bàn cãi. Heisenberg tìm ra hệ thức bất định Heisenberg. Bohr đưa ra khái niệm “bổ sung – complementarity” (Lối diễn dịch cơ học lượng tử của trường phái Copenhague).  Cơ học lượng tử quả là khó diễn dịch: trong cơ học lượng tử có hàm sóng dẫn đến xác suất. Một điều khó hiểu là tồn tại những xác suất khác không thể hiện ra nhưng nằm song song trong những vũ trụ khác (Đa vũ trụ) và dẫn đến khái niệm triết học về thực tại.  Để tránh một số điều khó hiểu của cơ học lượng tử, các nhà vật lý phát triển Qbism tức lượng tử Bayesian biến tri thức thành xác suất.  Nhà triết học Heelan đặt câu hỏi: liệu một thực thể khó hiểu bằng trực giác (nonintuitable) lại có thể “quan sát” được bằng những phép đo trong phòng thí nghiệm và biến thành một thực tế hiện thực tại trong ý nghĩa bản thể học – ontological? (Heelan: ‘Can a quantum entity that is ‘nonintuitable’ but nevertheless ‘observed’ in a laboratory measurement be ‘real’ in the ‘ontological’ sense?’)  Bản thân các nhà vật lý cũng chưa đồng thuận trong việc diễn dịch cơ học lượng tử cho nên giữa các nhà vậy lý và triết gia vật lý còn rất nhiều việc phải làm.  Lý thuyết dây có là khoa học hay không?  Theo một số nhà triết học thì vì Lý thuyết dây không thỏa mãn tiêu chí Popper cho nên không phải là một khoa học.  Song ý kiến của nhiều người khác như Richard Dawid chủ trương một tiếp cận được chú ý đến nhiều là phương pháp đánh giá không thực nghiệm (non-empirical assessment).  Đây là phương pháp do Richard Dawid, một nhà vật lý lý thuyết sau chuyển thành nhà triết học vật lý (LMU), tác giả cuốn sách nổi tiếng Lý thuyết dây và phương pháp khoa học” (String Theory and the Scientific Method  – Cambridge Univ. Press, 2013). Dawid quan tâm đến việc tại sao các nhà Lý thuyết dây rất tin tưởng ở Lý thuyết dây mặc dầu Lý thuyết dây thiếu cơ sở thực nghiệm “Tại sao họ tin tưởng lý thuyết này?” (Why do they trust the theory?). Lý thuyết dây chứa hạt graviton, như vậy Lý thuyết dây thống nhất được hấp dẫn của Einstein. Song Lý thuyết dây chưa đưa ra được một tiên đoán nào khả dĩ kiểm nghiệm được.    Vấn đề thời gian phát sinh mạnh mẽ từ sự va chạm giữa Albert Einstein và Henri Bergson vào năm 1922.  Năm 2000, Dawid đưa ra ba lý lẽ không – thực nghiệm (non-empirical arguments) mang tính triết học tạo nên sự tin tưởng vào Lý thuyết dây.  1. Lý thuyết dây hiện nay là lý thuyết độc nhất có khả năng thống nhất các tương tác theo một cách thích hợp nhất (mặc dầu trong Lý thuyết dây có nhiều biểu diễn toán học).  Lý lẽ này có tên là “lý lẽ về không có khả năng nào khác – no alternatives argument NAA”.  Một lý thuyết cạnh tranh là Hấp dẫn lượng tử vòng song Hấp dẫn lượng tử vòng không có mục tiêu thống nhất các tương tác.  2. Lý thuyết dây phát triển từ Mô hình Chuẩn (Standard Model) vốn cũng không có khả năng nào khác trong quá trình hình thành và đã được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm. Lý lẽ này Dawid gọi là “lý lẽ siêu –quy nạp-meta-inductive argument MIA”. Dawid tin ở khả năng có thể xảy ra là các nhà vật lý không đủ trí lực  để tìm ra những khả năng tồn tại khác (physicists simply aren’t clever enough to find the alternatives that exist ).  3. Lý lẽ thứ ba là Lý thuyết dây đã bất ngờ đưa ra những giải thích đối với nhiều bài toán bên ngoài bài toán thống nhất vốn là mục tiêu chính của Lý thuyết dây. Joe Polchinski (Đại học California, Santa Barbara) đã đưa ra nhiều ví dụ về những “mối liên thông giải thích không ngờ-unexpected explanatory interconnections” này. Lý lẽ này gọi là “lý lẽ các liên thông giải thích bất ngờ – unexpected explanatory interconnections UEA”.Lý thuyết dây đã giải thích được entropy của lỗ đen, điều này lại gắn liền với vật lý hạt cơ bản (nhờ đối ngẫu AdS/CFT).  Polchinski đã phát biểu rằng “Lý thuyết dây đã tồn tại, chúng ta chỉ phát hiện ra thôi”.  Polchinski đã sử dụng các lý lẽ không thực nghiệm của Dawid để tính xác suất Bayesianism (Bayesianism odds) để Đa vũ trụ tồn tại là 90%.  Lý thuyết dây là khoa học vì có một tác động biến đổi lên giới khoa học.  Hiện không có sự đồng thuận của các nhà triết học vật lý về vấn đề này (hội thảo Munich).  Kết luận  Qua một số vấn đề nêu trên (còn nhiều vấn đề khác) chúng ta thấy rằng  có nhiều vấn đề mà triết học vật lý phải nghiên cứu tiếp tục, như vậy triết học đã không chết như Stephen Hawking nói. Triết học vật lý tồn tại song song với vật lý và tương hỗ trong việc tìm hiểu vũ trụ và tương tác giữa vũ trụ và con người.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Robert P Crease,Philosophy of PhysicsRobert P Crease  Stony Brook University, New York, US  2. Matin Durrani,Discover why the philosophy of physics is vital  http://blog.physicsworld.com/2017/11/16/discover-why-the-philosophy-of-physics-is-vital/       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Trịnh Xuân Thuận với “tầm nhìn toàn cầu”      &#160;“Từ khi còn nhỏ, tôi đã hay tự hỏi những câu hỏi như vũ trụ bắt đầu từ đâu, nó như thế nào, vật chất là gì, và tôi muốn trả lời những câu hỏi đó” – GS. Trịnh Xuân Thuận hồi tưởng. Có lẽ ngay từ thời đó, trong ông đã hình thành một nhà khoa học – công dân toàn cầu, với những mối quan tâm vượt ra ngoài Trái đất, về vị trí của con người trong vũ trụ mênh mông. Hành trình khoa học của Trịnh Xuân Thuận đã bắt đầu từ đó, để giờ đây, nhà khoa học 63 tuổi quan niệm: “Con người giống nhau nhiều hơn là khác nhau, và giữa các dân tộc, không tồn tại biên giới”.      Các nhà khoa học luôn hăm hở dấn thân vào những vùng tối của nhận thức với một khát khao tri thức thuần túy, nhưng khi những bức màn bí mật của vũ trụ được họ vén lên, nó vô tình đưa đẩy con người đến chỗ định vị lại chính bản thân mình. Nếu như một con người luôn cảm thấy khó khăn khi phải thừa nhận vị trí khiêm tốn hơn mong đợi của mình trong xã hội, thì nhân loại còn khó khăn gấp bội lần mỗi khi họ cảm thấy ngộp thở trước cái mênh mông, bất tận của bầu trời.   19 tuổi, Trịnh Xuân Thuận lần đầu tiên trải nghiệm cảm giác choáng ngợp đó khi những cảnh sắc của vũ trụ lọt vào mắt ông từ chiếc kính thiên văn lớn nhất thời bấy giờ của Học viện Công nghệ California (bang California, Mỹ). Và cũng từ đó, tại “thánh đường của khoa học” này, trái tim của người Việt Nam trẻ tuổi đó đã mãi thuộc về bầu trời, đồng thời bắt đầu hành trình biến đổi nhận thức lớn lao trong ông về vị trí và ứng xử của bản thân con người trong vũ trụ.          Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, người ta luôn có cảm giác rằng người đàn ông cao lớn, mực thước này đã vượt lên trên mọi tư duy thiển cận, ích kỷ, mọi xung đột vô nghĩa của con người để trở thành một công dân vũ trụ có trách nhiệm. Thành tựu của ông như là nhà khoa học đã xác định được thiên hà trẻ tuổi nhất trong vũ trụ đã không chỉ đến từ khát khao học thuật, mà ở đó còn tiềm ẩn những nỗ lực của ông trong quá trình định vị lại con người trong vũ trụ.          Thiên văn học và cái Tôi   GS. Trịnh Xuân Thuận thường nhắc đến con người như một loài sinh vật đã xác định nhầm hoặc chưa bao giờ hiểu được đầy đủ vị trí của mình trong vũ trụ. “Con người bao giờ cũng có cái Tôi, bao giờ cũng tưởng mình là trung tâm”– ông nói. Và ông cũng từng viết trong cuốn “Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao” (cuốn sách phổ biến khoa học mới nhất của ông, do dịch giả Phạm Văn Thiều chuyển ngữ, NXB Tri Thức ấn hành năm 2011): “Sự cám dỗ của một vũ trụ địa tâm là điều thật dễ hiểu. Vì cái Tôi quá lớn của con người, nên khi ngắm đường đi của các thiên thể từ Đông sang Tây, trên bầu trời, hết đêm này qua đêm khác, còn có gì tự nhiên hơn, nếu như con người giả định rằng hành tinh của chúng ta đứng im, ở chính trung tâm của vũ trụ và tất cả đều quay quanh nó?”.  Thế nên, Trịnh Xuân Thuận đánh giá thuyết Nhật tâm của Copernicus là “đã giáng một đòn chí mạng vào cái Tôi của con người”. Copernicus khởi phát một hành trình nhận thức lại về vị trí của con người trong vũ trụ và cho đến tận ngày nay, “bóng ma” của ông vẫn không thôi ám ảnh con người đi tìm vị trí đích thực của mình trong cái khoảng không mà trước đây họ từng tưởng mình là cái rốn. GS. Trịnh Xuân Thuận, mỗi khi có dịp, luôn tỏ bày sự ngưỡng mộ và biết ơn của mình đối với những thiên tài như Copernicus hay Galileo vì sự dấn thân và hy sinh của họ để tách thiên văn học ra khỏi màn nhung huyền hoặc của giáo lý nhà thờ.   “Giờ đây, người ta đã biết rằng, Trái đất không chỉ không phải là trung tâm của vũ trụ, mà bản thân Mặt trời của chúng ta cũng chỉ là một trong một trăm tỷ ngôi sao của dải Ngân Hà. Đến lượt mình, dải Ngân Hà lại lọt thỏm vào không gian mênh mông của một trăm tỷ thiên hà khác trong vũ trụ” – ông nói. Và một trong các thành tựu của ông – nhà khoa học gốc Việt hiếm hoi trong cộng đồng nghiên cứu thiên văn ở Mỹ– là xác định được tuổi của một thiên hà như thế. Vào năm 2004, cùng Yuri Izotov, Trịnh Xuân Thuận đã tính ra tuổi của thiên hà I Zwicky 18 là 500 triệu năm. Đó là thiên hà trẻ nhất mà con người từng biết tới.   Sự nhỏ bé của con người trong không gian đã là quá sức tưởng tượng, nhưng thời gian lại giáng tiếp một đòn nữa và hoàn toàn hạ gục cái Tôi của con người. Học thuyết Big Bang xác định độ tuổi của vũ trụ ở một con số vĩ đại: 13,7 tỷ năm. Giả sử tất cả mọi người đều sống thọ đến 100 tuổi, thì khoảng thời gian đó cũng hoàn toàn vô nghĩa trong lịch sử vũ trụ. GS.Trịnh Xuân Thuận đặc biệt có hứng thú với việc minh họa điều này bằng cách nén lịch sử gần 14 tỷ năm của vũ trụ vào 1 năm Dương lịch: Ông nhắc lại rằng thời điểm con người đầu tiên xuất hiện là vào lúc 22h30 của ngày cuối cùng trong năm, và nhún vai khi nói: “Thời đại văn minh của loài người kể từ Phục hưng đến nay vỏn vẹn nằm ở giây cuối cùng”.   Đối với Trịnh Xuân Thuận, thiên văn học càng tiến xa bao nhiêu thì cái Tôi của con người càng bé lại bấy nhiêu. Với vũ trụ quan có được từ hoạt động nghiên cứu khoa học đỉnh cao, ông lại đặt ra nhiều vấn đề thú vị và cơ bản về cách xử sự của con người.   “Chúng ta đều là con cháu của các ngôi sao”  GS.Trịnh Xuân Thuận thường bày tỏ sự xúc động khi kể lại kỷ niệm lần đầu tiên ông nhìn thấy hình ảnh Trái đất chụp từ Mặt trăng. Trong đó, “hành tinh xanh” của chúng ta hiện lên đẹp lộng lẫy, như có nhà du hành vũ trụ từng mô tả. Và điều đặc biệt là khi nhìn cảnh tượng ấy, nhà khoa học “ngộ” ra rằng:   – Đâu có biên giới gì đâu. Biên giới là do con người nghĩ ra đấy chứ – ông nói.   Trên thực tế, Trịnh Xuân Thuận cũng không nghĩ rằng ông thuộc về một đất nước nào. Ông được sinh ra ở Việt Nam năm 1948, học tập trong những trường của Pháp ở Việt Nam và thấm nhuần văn hóa Pháp ngay từ khi còn nhỏ. Tốt nghiệp tú tài, ông sang Thụy Sĩ du học một năm. Sau đó ông học tập, nghiên cứu ở Mỹ và mang quốc tịch Mỹ. Mặc dù vậy, phái đoàn của Tổng thống Pháp Mitterrand thăm Việt Nam năm 1993 vẫn có tên ông – nhà khoa học có uy tín, nổi tiếng với những cuốn sách truyền bá khoa học tới công chúng.           Độc giả xếp hàng xin chữ ký GS Trịnh Xuân Thuận tại Trung tâm văn hóa Pháp – Hà Nội, ngày 7/12/2011. Ảnh: Phạm Thành Long          – Cái mà vật lý thiên văn dạy tôi là, chúng ta là con cháu của các ngôi sao. Ngôi sao là tổ tiên của mình, nếu không có ngôi sao thì không có mình. Tôi không nghĩ mình là công dân của một nước mà là một công dân vũ trụ – ông chia sẻ.   Trong tư duy của ông, vạn vật ngày nay trong vũ trụ đều được tạo thành bởi những nguyên tử được trui rèn trong những lò phản ứng hạt nhân của các ngôi sao, hình thành từ khoảng 1 tỷ năm sau Big Bang. Với quan niệm như vậy, đối với ông, mọi người giống nhau nhiều hơn là khác nhau và cái mà ông gọi là “global vision” (tầm nhìn toàn cầu) là một chuẩn mực ứng xử mà con người cần phải hướng tới. Trong tầm nhìn toàn cầu của ông, mọi sự đấu đá, giành giật thật vô nghĩa; chiến tranh, xung đột vũ trang là điều cấm kỵ; và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ bức thiết mà con người cần phải đoàn kết để thực thi.   – Nhiều người vẫn ích kỷ, vẫn nghĩ là “me first, you second” (tôi trước, anh sau), vẫn chưa có một tầm nhìn toàn cầu. Hiện giờ tôi hơi bi quan. Tôi mong là loài người sẽ có được cái nhìn toàn cầu để thay đổi lối sống của mình. Người nào ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, nước mình thì không có tương lai cho Trái đất, cho con cháu của mình.   Về thăm Việt Nam, ông không hài lòng khi đến vịnh Hạ Long, thấy “người ta xây nhiều khách sạn ven bờ biển quá, làm mất đi vẻ đẹp thiên nhiên”. Nhà khoa học ưu tư: “Xây nhà nhiều thì sinh ra nhiều chất thải làm ô nhiễm vịnh. Việt Nam là một xứ đẹp, có sự đa dạng sinh học, cái đó là cái giàu có của nước mình nên mình phải ráng giữ. Tôi hiểu nước mình nghèo nên muốn kiếm tiền, nhưng mình phải tôn trọng những gì chung quanh. Đừng chỉ nghĩ đến lợi nhuận”.   Ông không chia sẻ với nhà vật lý Stephen Hawking, khi Hawking cổ vũ loài người đi tìm một nơi ở mới để cứu vãn sự sống của mình trước sự cạn kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường. Trịnh Xuân Thuận không cho rằng đây là thời điểm loài người phải bỏ Trái đất, chiếc nôi đã tạo ra mình, mà phải cứu lấy nó như niềm hy vọng duy nhất cho sự trường tồn của con người và muôn loài sinh vật. Vả chăng, nếu tự bản thân con người không thay đổi cách ứng xử của chính mình với tự nhiên, thì những điều kiện hữu  hạn cho sự sống tồn tại trong vũ trụ cũng sẽ bị lòng tham không đáy của con người hủy diệt.   Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, người ta luôn có cảm giác rằng người đàn ông cao lớn, mực thước này đã vượt lên trên mọi tư duy thiển cận, ích kỷ, mọi xung đột vô nghĩa của con người để trở thành một công dân vũ trụ có trách nhiệm. Thành tựu của ông như là nhà khoa học đã xác định được thiên hà trẻ tuổi nhất trong vũ trụ đã không chỉ đến từ khát khao học thuật, mà ở đó còn tiềm ẩn những nỗ lực của ông trong quá trình định vị lại con người trong vũ trụ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò chuyện từ Nam Cực      TS Nguyễn Trọng Hiền, khoa học gia của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), được biết đến như khoa học gia người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Nam Cực. Hiện anh đang làm việc tại mảnh đất băng giá này. Nhân sự kiện tạp chí Physics World bình chọn IceCube, trạm quan sát neutrinos ở Nam Cực, là thành tựu đột phá của ngành Vật lý năm 2013, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng TS Nguyễn Trọng Hiền từ mảnh đất xa xôi này.    Thưa TS Nguyễn Trọng Hiền, tạp chí Physics World đã bình chọn thành tựu Vật lý đột phá năm 2013 cho trạm Quan sát Neutrinos Nam Cực IceCube (The IceCube South Pole Neutrino Observatory) vì thành tích quan sát được các neutrino vũ trụ năng lượng cao (high-energy cosmic neutrinos). Được biết anh hiện đang công tác tại Nam Cực, ngay sát cạnh trạm quan sát IceCube.Vậy anh có bình luận gì về sự kiện này?  Thí nghiệm hay đài thiên văn IceCube là công trình khoa học lớn nhất tại Nam Cực, và mất gần 20 năm mới hoàn tất (kể luôn cả những thí nghiệm đi trước như Amanda, v.v).  Tôi nghĩ chúng ta cũng nên chúc mừng kết quả bước đầu của IceCube, bởi nó đánh dấu sự khởi đầu của thiên văn neutrino. Đây là loại hình thiên văn mới, khác với thiên văn cổ truyền dùng bức xạ điện từ, như quang phổ, hồng ngoại, vi ba, vô tuyến, quang tuyến X, gamma…  Tôi cho rằng, chuyện có tồn tại các nguồn neutrino trong vũ trụ thì không có gì ngạc nhiên, nhưng Physics World có lẽ hơi vội khi gọi nguồn neutrinocủa IceCube là “cosmic”, tức là ngoài thiên hà của chúng ta. Điều cầnthiết là phải xác định dịch chuyển đỏ (redshift) của nguồn. Tôi không rõ là IceCube đã làm chuyện này chưa.  Độ phân giải góc của IceCube là 0,4 độ thì tôinghĩ khó mà xác định nguồn bằng việc theo dõi bằng các quan sát cổtruyền. Người ta đã phát hiện neutrinos từ các vụ nổ siêu sao đã lâu. Supernova 1987A là một ví dụ. Chỉ là ở mức năng lượng khác với IceCube mà thôi. Kiểu như sử dụng hai loại kính, thiên văn radio (radio telescope) so với thiên văn quang học (optical telescope) trong bức xạ điện từ.  Tôi cho rằng việc Physics World gọi khám phá của IceCube là đột phá của năm còn là một ghi nhận về phương thức quan trắc thiên văn mới. Quả thực đây là một nỗ lực thực nghiệm đáng kể, dầu những người đứng ngoài có khuynh hướng “nghi ngờ” giá trị khoa học của những cố gắng này. Chúng không nhất thiết hứa hẹn sẽ được đền bù với kết quả xứng đáng.  Trong lịch sử, thường người ta có thiết bị quan trắc/đo đạc mới thì sẽ thu được phát hiện khoa học mới, mang tính bứt phá. Cho nên cũng dễhiểu khi nhiều người, trong trường hợp này là Physics World, đã lạc quan với IceCube. Bản thân tôi, sau 20 năm theo dõi nhóm này, thì tôi nghĩ khó mà kỳ vọng IceCube sẽ sớm mang lại một kết quả khoa học thực sự là đột phá. Hay có lẽ chúng ta phải kiên nhẫn hơn, các nhà thiênvăn neutrino còn đang trong thời kỳ mày mò.   Biết đâu cách thiết kế của IceCube đã có những độc đáo riêng, và họ sẽ nhanh chóng phát hiện thêm nhiều nguồn, nền, hay “vật thể” như vậy nữa, và không chừng các nguồn hay vật thể phát hiên bởi IceCube được xác định là từ thời vũ trụ ban sơ, hay từ thời lạm phát, v.v. Biết đâu đấy. Hy vọng thiên nhiên sẽ đối đãi không tệ với IceCube, và chúng ta chúc họ nhiều may mắn.              Bản đồ Nam Cực.Chúng tôi đáp máy bay quân sự Hoa Kỳ từ Christchurch, New  Zealand, bay dọc đường kinh tuyến (đây là đường ngắn nhất) để vào Nam  Cực, sau khi dừng tại thị trấn Mc Murdo, vùng ven biển của châu Nam cực.      Cột Mốc Nam Cực – 2013 và 2014. Mỗi Năm khối băng trên toàn châu lục  trượt chừng mươi mét. Ngươi ta phải phải làm cột mốc mới để đánh dấu Nam  Cực khi sang năm mới. Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.             Anh có thể mô tả cho chúng tôi một chút về trạm quan sát IceCube được không? Chúng tôi muốn biết trạm quan sát thiên văn này khác so với các trạm quan sát truyền thống như thế nào? Và đặc biệt là vì sao người ta lại phải đưa nhau xuống tận Nam Cực để xây đài quan sát đó? Tại sao không phải là ở một nơi nào khác, mà lại phải ở Nam Cực. Tôi được biết neutrino rất khó bị bắt giữ, vì hầu như không tương tác với vật chất. Nhưng dường như nước đá có một vai trò đặc biệt nào đó đối với việc nắm bắt hạt neutrino trong các thí nghiệm này. Có phải đó là lý do để IceCube được xây dựng ở Nam Cực?   IceCube nằm vùi sâu hơn cả cây số dưới mặt băng, phủ khắp bên dưới diên tích một cây số vuông của khu băng tuyết trắng xoá như anh thấy trong hình. Cái gọi là đài thiên văn neutrino chỉ thế – đồng không mông quạnh. “Thành tích đột phá 2013” của Physics World đấy. Trung tâm điều khiển trên mặt đất của IceCube nằm về phía góc trên bên trái hình (đằng sau người từ xa đang chạy đến). Về phía bên phải của IceCube là quần thể đài thiên văn vi ba, gồm đài thiên văn Nam Cực (SPT), có đường kính 10m, là kính thiên văn lớn nhất châu lục. Rồi đến đài thiên văn BICEP và Keck ngay sát bên. Các anh chị có thể đoán thấy tác giả bức ảnh này ở đâu trong hình không?  Neutrino tương tác với các electrons trong trái đất (hết thảy mọi thứ, kể cả đất, nước và nước đá) và sinh ra các hạt muon hay electron. Những hạt này di chuyển với tốc độ vô cùng lớn, khiến các electrons xung quanh co giật và phát ra tia sáng – tia sáng này còn gọi là Cerenkov, tên một nhà vật lý Nga – và đây là tín hiệu để phát thiện neutrino. Người ta thường dùng nước hay nước đá vì môi trường này ánh sáng truyền đi được dễ dàng (đất cũng sinh ra tia cerenkov, nhưng bị đất hấp thụ trở lại trước khi truyền đến ống nhân quang). Lớp băng ở Nam cực dày đến ba cây số, và rộng gần bằng châu Úc, là điều kiện lý tưởng nhất trên mặt đất để lập đài thiên văn neutrino.   Khác với những đài thiên văn cổ truyền, IceCube không những chỉ nhìn lên trời mà còn nhìn xuống đất, hay xuyên qua lòng đất.”Bầu trời” mà IceCube quan sát không chỉ là bầu trời xanh Nam Cực trong hình, mà còn là bầu trời từ phía bên kia lòng đất. Tức là bầu trời trên Bắc Cực. IceCube gom gần như toàn bộ quả đất làm hệ cảm ứng, cộng thêm với ống nhân quang (photo-multiplier tube) nằm ở bên dưới mặt băng Nam Cực để chụp ảnh vũ trụ ở Bắc Cực. Phải dùng cả đất trời mới nắm lấy được vài dăm hạt neutrino nhỏ bé. Có vẻ như phải dùng cái toàn thể mới cảm nhận được cái không [thể].  Như bị nhuốm phải chất thiền phảng phất trong công việc họ làm, có nhà vật lý đã thốt lên, “Neutrino physics is largely an art of learning a great deal by observing nothing” (tạm dịch, “Vật lý neutrino phần lớn là một nghệ thuật học được nhiều bằng cách quan sát cái không [gì cả]”).  Hì hì… nghe cứ như thiệt. Những câu nói văn vẻ thế này, nói như nhà thơ Lê Đạt khi ông nói về thơ Hoàng Cầm, là chỉ để anh… “tán gái!”. Cái đám vật lý nhà nghề – và hy vọng là cũng không đến nỗi nhà quê – bọn tôi cho rằng “văn chương chữ nghĩa” chỉ “khéo là trò chơi” thôi. “Được nhiều?” “Học được nhiều?” Hơn 20 năm qua các thí nghiệm về neutrino ở Nam Cực không dạy chúng ta điều gì mới cả. Chúng tôi mong phát hiện bước đầu của IceCube trong năm 2013 không chỉ là một tin giật gân để vớt vát với các cơ quan cấp kinh phí khoa học, mà còn là một cố gắng nghiêm túc để dẫn đến những kết quả cụ thể trong 20 năm tới. Điều chắc chắn là trong thời gian tới, các nghiên cứu về neutrino sẽ có những bước nhảy vọt mới, cho dù có mặt IceCube hay không.  Theo anh, ngành “thiên văn neutrino” mà IceCube là khởi đầu có thể giúp chúng ta hiểu biết gì hơn về vũ trụ? Và đâu là những khó khăn mà lĩnh vực nghiên cứu này dự đoán sẽ gặp phải trong tương lai? Những nghiên cứu về thuộc loại này có hứa hẹn một ứng dụng cụ thể nào không, hay chỉ để thỏa mãn trí tò mò của con người. Trong một góc nhìn rộng hơn, sự phát triển của “thiên văn neutrino” có giúp gì cho việc giải quyết những bài toán quan trọng nhất của Vật lý hiện giờ, chẳng hạn việc hiểu được nguồn gốc và số phận của vũ trụ, hay tìm kiếm một lý thuyết thống nhất được hai lý thuyết lượng tử và tương đối?   Có những nơi, như trung tâm mặt trời chẳng hạn, việc quan trắc theo phương thức cổ điển (tức là điện từ như đã nói ở trên) sẽ không hiệu quả, vì ánh sáng thông thường bị hấp thu hay phát tán gần hết. Nhưng neutrino từ trung tâm mặt trời có thể được truyền đi thông suốt và dễ dàng. Tương tự, ta có thể tưởng tượng rằng với neutrino thì quan trắc vùng bên trong quasars, lỗ đen – cho đến bây giờ vẫn là một bí ẩn – có thể hiệu quả hơn. Dùng phương thức cổ điển ta chỉ có thể thấy vũ trụ sớm nhất là khoảng 400,000 tuổi. Tức là bằng việc quan sát bức xạ nền vi ba, ta chỉ có thể thấy Big Bang đến ngần ấy tuổi chứ không thể sớm hơn được. Bởi trước đó vũ trụ là một khối plasma như vùng trung tâm mặt trời. Muốn thu thập dữ kiên về vũ trụ ở giai đoạn trước đó, tức là lúc vũ trụ từ 400,000 năm trở về khoảng chừng một giây tuổi, thì phải dùng neutrino. Còn muốn trước đó nữa, thì ta dùng sóng hấp dẫn – đây lại là một đài thiên văn khác nữa mà tôi hy vọng sẽ có dịp nói đến sau này.  Cho đến gần đây, người ta không kỳ vọng là “thiên văn neutrino” sẽ nhất thiết cung cấp những dữ liệu quan trọng về giai đoạn phôi thai của Vũ trụ. Bởi những ước đoán cho thấy là năng lượng của chúng khá thấp, và khó phát hiện ra.  Thiên nhiên vốn đầy rẫy những bất ngờ. IceCube được chế tạo để quan sát bầu trời phương bắc là chính, nhưng trong những năm đầu, các thiết bị của họ liên tục bị ô nhiễm bởi các neutrino với năng lượng khá cao từ bầu khí quyển phía nam bán cầu. Mối ô nhiễm này tưởng đã kết liễu chương trình khoa học của IceCube. Có lẽ như một động thái tuyệt vọng, các nhà khoa học IceCube quyết định xem thử các hạt neutrino đến từ bầu trời phía nam có số nào năng lượng lớn hơn cái đám neutrino ồn ào từ không khí hay không?  Và sau vài năm mày mò, họ đã may mắn tìm thấy một số hạt neutrino mà họ gọi là neutrino vũ trụ, với năng lượng cao hơn cả một triệu lần những hạt neutrino ồn ào trong khí quyển. Các nhà khoa học IceCube cho rằng khả năng mà những phát hiện của họ bắt nguồn từ thời Big Bang là thấp. Họ phỏng đoán rằng chúng có lẽ bắt nguồn từ những vật thể gần với thiên hà chúng ta hơn. Một trong những giả thiết lạ lùng nhất cho rằng những hạt neutrino năng lượng cao phát đi từ quầng vật chất tối bao phủ chung quanh thiên hà – đây chỉ là phỏng đoán và cho đến nay ta vẫn chưa biết hay kiểm nghiệm được. Nếu điều này trở thành hiện thực, thì đây đúng là kết quả bứt phá, mang tính cách mạng trong vũ trụ học. Và sẽ giúp chúng ta tiếp cận bản chất của vật chất tối ở góc độ hoàn toàn mới!  Tôi vẫn nghĩ con đường để thiên văn neutrino đi đến mục tiêu đó hẳn còn xa. Tiềm năng khoa học của thiên văn neutrino thì rất lớn, mà hiệu quả quan trắc hiện tại thì vẫn còn thấp. Ở trên ta nói là IceCube phải dùng cả trái đất mới thấy được vài dăm hạt neutrino. Có người còn đùa là chắc phải dùng đến cả thiên hà… nói thế để hiểu được mức độ khó khăn của việc quan sát neutrino. (Tiềm năng lớn mà hiệu quả thấp – người Việt mình chắc dễ dàng thông cảm điều này!)  Tôi hy vọng rằng trong tương lai gần, sẽ có những nghiên cứu độc lập để làm sáng tỏ thêm những tia neutrino vũ trụ của IceCube.  Việc một người ở Hà Nội, một người ở Nam Cực, mà lại trò chuyện được với nhau, dù là trò chuyện qua mạng internet, thì cũng là một việc ngoài dự đoán của rất nhiều người. Vậy anh có thể cho biết bằng cách nào mà kết nối được internet từ Nam Cực để giữ được liên lạc với toàn cầu?  Tại đây việc liên hệ với thế giới bên ngoài có phần giới hạn, một phần vì đa số các vệ tinh viễn thông theo quĩ đạo địa tĩnh (geo-synchroneous), tức là quĩ đạo song song với đường xích đạo, và vì thế chúng nằm dưới đường chân trời nếu nhìn từ Nam Cực. Các vệ tinh viễn thông ở Việt Nam là theo quĩ đạo này.  May mắn cho chúng tôi là có vệ tinh GOES, vốn là một vệ tinh cũ kỹ của Hoa Kỳ và người ta gần như là bỏ không. Quĩ đạo GOES bị lệch xuống phía nam bán cầu chừng 5 giờ một ngày nên Nam Cực dùng để liên hệ với thế giới bên ngoài. Một số ít vệ tinh theo quĩ đạo nhật tĩnh đồng tốc (sun-synchronous) – tức là quĩ đạo dọc theo kinh tuyến và vì thế Nam Cực có thể thấy được. Nói chung việc thông tin hơi chậm chạp, và khá đắt đỏ (cho trạm Amundsen-Scott, không phải cho bản thân người sử dụng).  Hôm nay là chủ nhật, 22/12.Tại trạm Amundsen-Scott chúng tôi có buổi nói chuyện khoa học vào mỗi tối chủ nhật. Tiêu đề tối nay là gì, anh thử đoán được không? “Những quan trắc về tia neutrino vũ trụ của IceCube (IceCube Observations of vosmic Neutrino)”. Chứ còn gì nữa!  Bài nói chuyện khá lý thú – John Kelly, người trình bày – đã rất cẩn thận với các dữ liệu mới của IceCube. Tôi đã học khá nhiều điều qua buổi nói chuyện của John.  Hiện anh đang làm gì tại Nam Cực? Anh có thể mô tả thêm về cuộc sống của các nhà khoa học ở đó cho chúng tôi biết không? Ngoài thời gian làm việc thì các anh còn làm gì khác, hoặc có trò giải trí gì khác không? Quả thực chúng tôi rất tò mò về cuộc sống của các anh ở đó. Và nếu được, xin anh cho biết, điều gì níu chân các anh ở vùng đất xa xôi giá lạnh đó?  Tôi hiện đang làm việc tại trạm Amundsen-Scott (Amundsen-Scott South Pole Station). Theo chương trình, tôi sẽ còn làm việc ở đây gần tháng nữa, với các thí nghiệm về bức xạ nền vi ba.  Tôi đến Nam Cực lần đầu vào năm 1992. Lần thứ nhì là 1993, rồi tôi ở quá mùa đông 1994 (gần 12 tháng ở Nam Cực). Lần trước đây là hồi 2011, nhân dịp kỷ niệm 100 năm loài người đặt chân đến Nam Cực. Tôi xuống đây có lẽ gần chục lần rồi, tôi không nhớ chắc con số.  Báo chí Việt Nam hay đăng tin một số người Việt mình đến Nam Cực. Thực ra, đa số những anh chị này chỉ đến vùng ven biển châu Nam Cực (tức là Antarctica). Theo như tôi biết cho đến ngày hôm nay – tháng 12/2013 – vẫn chưa có một công dân Việt Nam mang hộ chiếu Việt Nam đặt chân đến South Pole, tức là vĩ độ -90, tức là Nam Cực. Bởi một phần vì các chuyến đi vào đến Nam Cực rất tốn kém. Nếu bạn đọc có thông tin gì khác xin hãy đính chính dùm.  Từ vùng ven biển châu Nam Cực đến Nam Cực cách nhau hơn 1,300km đường chim bay. Ngày trước sự khác biệt này là rất lớn, nhiều người đã thiệt mạng trên con đường đến Nam Cực. Ngày nay thì dễ dàng hơn nhiều, hằng năm người ta tải hằng triệu tấn dầu vào đến tận Nam Cực bằng xe tải; hay bọn tôi, những nhân viên được sự bảo trợ của Cơ quan Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, chỉ mất ba giờ bay từ ven biển châu Nam Cực bằng máy bay quân sự của Hoa Kỳ.   Những người muốn đi du lịch Nam Cực thì phải thông qua các dịch vụ du lịch tư nhân. Hồi 2011, nhân dịp kỷ niệm 100 năm, có nhiều đoàn du lịch vào Nam Cực. Chi phí cho mỗi chuyến đi như thế rất cao, tốn khoản 70 đến 100 nghìn đô la cho mỗi người. (Các “đại gia” trong nước nếu muốn lập kỷ lục là “Công dân Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Nam Cực” vẫn còn cơ hội!)  Nhân đây tôi cũng xin nói thêm. Tôi không phải là người Việt đầu tiên đến Nam Cực. Người Việt đầu tiên đến Nam Cực là anh Bùi Văn Hiền, anh là chuyên viên về truyền thông cho trạm Amundsen-Scott, và ở quá mùa đông vào năm 1987-88.  Gởi anh bức hình tôi chụp sáng chủ nhật 15/12/2013 (giờ New Zealand) để anh hình dung thêm về cuộc sống ở đây. Sáng hôm đó có cuộc chạy việt dã, hay marathon, tại Nam Cực. Cuộc đua bắt đầu ở nơi đánh dấu trục quay của trái đất (geographic south pole), gần bên lá cờ Mỹ ở trong hình. Mọi người đang tề tựu dần ở đó. Nhiệt độ bên ngoài chừng -27 C.                  Các nhà khoa học chuẩn bị cuộc chạy việt dã (marathon) tại Nam Cực sáng chủ nhật, 15/12/2013. Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.             Ngoài những công việc hằng ngày, toàn bộ mọi sinh hoạt chúng tôi đều ở trong trạm. Một tấm hình hơn vạn câu chữ, có lẽ cách tốt nhất là gởi anh vài tấm hình về những sinh hoạt thường nhật ở đây để anh tiện hình dung.             Uống whisky với các học trò. Từ trái sang: Sarah Kernasovskiy  (Stanford), Grant Teply (Caltech), NTH, Kirit Karkare (Harvard). Ảnh:  Nguyễn Trọng Hiền.           Trong thời gian ở Nam Cực, tuy có đồng nghiệp, nhưng rõ ràng cuộc sống ở đó khác hẳn so với cuộc sống xã hội ở Mỹ hay ở Việt Nam. Đó có thể coi là một hoàn cảnh rất đặc biệt. Và vì vậy tôi nghĩ hành xử của con người, thói quen làm việc, tâm tư, ước vọng, quan niệm về ý nghĩa của cuộc sống… đối với các anh cũng khác so với những người đang sống trong một xã hội nhộn nhịp. Trong hoàn cảnh đặc biệt đó, con người có trở nên đặc biệt không, thưa anh?  Cuộc sống ở đây khá đặc biệt. Mỗi ngày dài sáu tháng, rồi mỗi đêm dài sáu tháng. Tức là nói về mặt địa lý và khí hậu. Nhưng còn lại thì không đến nỗi. Ở đâu thì cũng do nơi bản thân mình mà. Chúng tôi cố gắng thiết lập một nhịp sống bình thường, tức là mỗi 24 giờ đồng hồ vẫn ba bữa ăn. Tối về có ti vi, có mạng internet rồi đi ngủ. Chúng tôi có thể điện thoại với người thân bạn bè ở quê nhà. Cách đây hơn 20 năm, lúc tôi mới xuống lần đầu thì không được như thế.  Bọn chúng tôi vẫn vậy, toàn dân tứ tán. Tôi nghĩ không có gì đặc biệt hơn những đám dân tứ tán khác đâu. Có người đến đây bởi lòng thoáng đãng, bởi sự say mê về một miền đất lạ. Có người chỉ tìm lấy một nhịp sống lặng lẽ, riêng biệt. Một số người thì ham thực hiện những đề án khoa học. Những người trẻ tuổi hơn thì vì nhu cầu thực tiễn khác. Hôm trước tôi hỏi một người, “Cô xuống đây mấy lần rồi?”, “Đây là lần đầu.”, “Thích không?” “Cũng thế”. “Thế năm tới xuống nữa không?” “Chắc là không. Mà để xem, nếu cần tiền…”  Thi thoảng tôi va vào một người bạn cũ, có đứa vui mừng kêu ngay tên mình rồi ôm chầm lấy, có đứa tay chỉ mặt miệng lắp bắp cái tên Việt lâu ngày không gọi… hơn 20 năm chứ chẳng ít. Tôi cũng đã từng gặp vài người Việt nơi này, họ là những kỹ sư hay chuyên viên của công ty thầu (Mỹ) các công trình hạ tầng phái đến. Có một chị, bố mẹ chị người ở Ninh Bình, đã hai lần từng ở Nam Cực qua mùa Đông. Chị ở tân tiểu bang Alaska. Có một anh lần đầu bắt gặp tôi trong hành lang, đã lịch sự chào hỏi bằng tiếng Việt, “Có phải anh là Bác sĩ Nguyễn Trọng Hiền không?” Anh bảo là có thấy hình của tôi trên tường truyền thống của trạm. Tôi phì cười bảo “Dr.” ở đây là tiến sĩ chứ không phải bác sĩ. Tôi không biết chữa bệnh đâu. Anh bảo rằng anh công tác ở McMurdo, công ty chỉ gọi anh xuống Nam Cực vài hôm thôi, và anh bảo anh hơi “rét” miền đất Nam Cực, một lần thôi chắc anh sẽ không xuống nữa. Tôi kể anh nghe rằng trên bức tường truyền thống có hình của ba người Việt đã ở quá mùa đông trong trạm. Anh xem thấy rất hoan hỉ và tự hào.  Lúc này hầu hết các công trình hạ tầng đã hoàn tất, có lẽ vì thế mà trong những chuyến đi gần đây tôi không còn được gặp đồng hương người Việt mình nữa.  Cuộc sống cách biệt nơi đây có thể làm chúng tôi dễ dàng giúp nhau hơn, thông cảm với nhau nhanh hơn. Ít trộm cắp vặt. Tụi tôi gìn giữ môi trường rất tốt. Mọi rác rưởi đều được phân loại và mang về lại. Tinh thần tiết kiệm năng lượng rất cao. Ở đây chúng tôi phải dùng xăng dầu để nấu nước đá nên mỗi tuần chúng tôi chỉ được tắm hai lần, và mỗi lần chỉ được 2 phút. Không giống như quê mình, nước non thừa thãi đến ngập lụt (cười).             Vườn Rau Nhà Kính, Nam Cực. Mỗi tháng thu hoạch được hàng chục ký rau,  cà chua, dưa chuột. Nhà Kính là nguồn cung cấp rau xanh chủ lực cho trạm  hè năm nay (2013-14). Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.           Gần đây người ta nói nhiều đến biến đổi khí hậu và hiện tượng ấm nóng toàn cầu. Anh có nhận thấy những dấu vết của hiện tượng này ở Nam Cực không, thưa anh?  Ở ngay Nam Cực (vĩ độ -90, hi hi… để bạn đọc bớt nhầm lẫn hai địa danh “Nam Cực” và “Châu Nam Cực) thì không thấy có biến đổi gì rõ rệt. Ở đây chúng tôi có dữ liệu khí tượng từ 1957 và cho đến hôm nay. Ở vùng ven biển châu Nam Cực thì có dấu hiệu thay đổi lớn. Hằng năm số lượng băng tan hay biến mất là đáng kể.  Nói đến Nam Cực là tôi nghĩ ngay đến chim cánh cụt. Nhưng trong bức ảnh anh gửi, chúng tôi không thấy bóng dáng của chú chim nào. Anh có kỷ niệm đặc biệt nào với loài chim này, hay với thiên nhiên của Nam Cực, trong thời gian công tác ở đây không, thưa anh?  Gởi anh vài tấm ảnh về loài chim cánh cụt có tên gọi là Adelie, mõm ngắn và lưng màu đen, cao gần bằng đầu gối người (khác với loài Hoàng Đế hay Emperor, mõm dài và to cao hơn với lưng màu xanh đen, vốn được biết đến nhiều hơn). Đây là loài thú rất thân thiện với người, và nhìn vô cùng sống động.  Đa phần các loài thú đều sống ở ven biển châu lục khoảng vĩ độ 77 nam, nhờ nhiệt độ ở đây ấm hơn. Ở ngay tại Nam Cực, vĩ độ 90 Nam, không có một loài động thực vật nào sống nổi.  Tôi chụp bức ảnh này lúc dừng chân ở McMurdo, một thị trấn nhỏ gần một ngàn người ở vùng ven biển. Hiếm khi thấy được lũ chim cánh cụt ở McMurdo. Hơn 20 năm qua, chỉ một lần tôi ghé Phố Mc và được thấy lũ chim và được đến gần với chúng như thế (chỉ trong một sải tay). Chúng thường theo tàu phá băng, mở ra vùng nước mới và là cơ hội mới để chúng săn lùng thức ăn. Các tàu phá băng đi mở đường trước để các tàu vận tải mới có thể cập vào bờ, cung cấp thiết bị hậu cần cho cả châu lục. Hôm tôi ghé thị trấn này, chiếc tàu phá băng Oden của Thuỵ Điển vừa cập bến. Và may mắn bắt gặp mấy chú Adelie đang đú đởn quanh Lán Scott – một di tích lịch sử ở Nam Cực. Nơi đây Scott và đồng đội đã ở qua mùa đông chuẩn bị thực hiện chuyến đi định mệnh hồi 1911-1912.  Hồi đầu thế kỷ trước, chim cánh cụt là nguồn thực phẩm cho các nhà thám hiểm tiên phong. Ngày nay Hiệp ước Châu Nam Cực nghiêm cấm gắt gao việc xâm phạm đến tất cả các loài vật tại châu Nam Cực.                Hình 5: Chim cánh cụt ở Nam Cực. Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.           Còn nhớ mỗi lần đi trượt tuyết trước đây, giữa một trời tuyết trắng bao la tinh khiết, trong tôi có một cảm xúc rất lạ. Tâm hồn như được gột rửa, tươi mới. Giữa cái lạnh cắt da, sự sống như trào lên trong từng hơi thở. Không rõ anh có những cảm giác này? Giữa một vùng tuyết trắng mênh mông như vậy, anh có nghĩ gì về thân phận con người, về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên? Hay đó chỉ đơn thuần là công việc, đến rồi đi, như bao công việc khác?  Thân phận con người, và mối liên hệ giữa con người và tự nhiên? Lâu quá rồi tôi không còn nghĩ đến những điều này nữa. Anh hỏi làm tôi lại nhớ những bài hát của Trịnh Công Sơn. Chẳng hiểu vì sao. Hồi hai mươi, ba mươi tuổi, chúng tôi đắm chìm trong những bài hát của anh ấy. (Tôi vẫn tự hào xưng mình là người đầu tiên đưa nhạc Trịnh Công Sơn đến Nam Cực mà!) Tôi không hiểu niềm say mê ấy là do những cảm xúc mà Trịnh Công Sơn đã đem nén vào trong giai điệu, hay cái bối cảnh, cái thân phận con người trong thời chiến cũ. Trịnh Công Sơn đã hát rất hay.   “Đêm mẹ ngồi cầu kinh, tường trắng im lìm  Đêm con nằm không ngủ,  Nghe mỏi mòn thêm  Ngày tháng ưu phiền  Tóc mẹ trắng như bông  Đêm chờ…  Đêm Mẹ ngồi ngẩn ngơ, tưởng ngóng trông gì  Đôi khi lời ru nhỏ  An ủi ngày qua,   Ngày tháng bây chừ  Bao người đã ra đi,   Không về…”  Âm hưởng da diết. Chẳng phải ở Huế hay nơi đâu ở quê nhà, hay trong những đêm mưa lặng lẽ, mới thấy da diết thế. Ở Nam Cực với cái lạnh khô khốc, nhạc của lão vẫn níu kéo, da diết đến lặng cả thân người.  Hi hi… thiệt là tào lao. Đang ngày trắng đêm trắng thế này mà tôi lại nói chuyện “Đêm chờ, bao người đã ra đi, không về…” Có lẽ cái ý nghĩ về thân phận con người mà anh hỏi làm tôi lan man thế. Con người và thiên nhiên ư? Thiên nhiên Nam Cực mãi mãi lạnh lùng, nghiệt ngã. Tôi thường nghĩ đến cảm giác nhỏ nhoi, lẻ loi mà những nhà thám hiểm tiên phong đã nếm trải. Tôi đã kinh qua nỗi vô hạn đến kinh sợ của thiên nhiên, dầu là không phải ở Nam Cực. Nên chi tôi cảm thông sâu sắc với niềm vô vọng tột cùng mà những nhà thám hiểm đã phải đối diện hằng ngày trên đoạn đường họ đi về cực Nam của trái đất.  Thì cũng có nghĩa là mình cảm nhận được điều kỳ diệu sâu xa của cuộc sống. Có lẽ, như cảm xúc mà anh Dương đã chia sẻ, mỗi cơ hội được đứng chiêm ngưỡng tạo hoá là như mỗi lần mình được sống, được tươi mới lại. Và tâm hồn như được nghe gọi, rằng hãy nhận lãnh, hãy thưởng thức thời khắc của mình.  Quả thật, đến nơi này nhiều lần rồi mà tôi vẫn choáng ngợp trước vẻ đẹp bao la của đất trời nơi đây. Trong những lúc bề bộn công việc, tôi vẫn thường tự nhắc nhở mình đừng quên là đang ở Nam Cực. Được dịp, như lúc này chẳng hạn, tôi vẫn dành vài giờ pha trà uống và ngồi im lìm nhìn ra khoảng không mênh mông bên ngoài. À, tôi quên nói. Trà Bắc Thái hẳn hoi đó nghe, của người bạn mua từ Hà Nội gởi cho – anh Dương thấy đó, như vầy thì có phải tôi đúng là người sang nhất… Nam Cực không?                Buổi tiệc cuối cùng – các bạn trong trạm ngồi tán chuyện gẫu đêm trước  khi rời Nam Cực (5 tháng 1, 2014). Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.           Ồ, như vậy thì anh đúng là người sang nhất Nam Cực. Mà có khi còn hơn thế nữa. Như tôi đây, đang ở ngay đất Bắc, mà giờ tìm được một chỗ để ngồi uống trà Bắc Thái và im lìm nhìn ra khoảng không mênh mông bên ngoài là điều rất khó. Nhưng chuyện này ta sẽ nói sau. Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này.  —  Mót số hình ảnh chụp tại Nam Cực               Nhóm BICEP/Keck trước Đài Thiên Văn Keck (2013).               Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.                      Cùng với Zeeshan Ahmed trong cuộc đua vòng quanh thé giới tại Nam Cực (2013). Ảnh: Nguyễn Trọng Hiền.                           Kéo xăng dầu vào Nam Cực. Mỗi năm Nam cực tiêu thụ gần 1.5 triệu lít  xăng dầu. Người ta mang xăng dầu vào Nam Cực bằng hai ngả. Một nữa bằng  máy bay. Và một nữa bằng xe tải. Xăng được chứa trong những túi hay bọng  như trong hình rồi dùng xe đặc chế đi tuyết để kéo vào. Ảnh: Nguyễn  Trọng Hiền.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò chuyện với nhà toán học Ngô Bảo Châu      Tôi gặp anh Châu lần đầu vào cuối tháng 1-2010, lúc anh đã nhận lời sang Đại học Chicago làm giáo sư. Trong lần gặp đầu tiên đó, anh Châu đi cùng với hai người bạn chung của chúng tôi ở Chicago; chúng tôi hẹn nhau đi ăn tối ở trong khu Việt Nam. Hôm đó, trời rét đậm. Anh Châu mặc một chiếc áo choàng dài màu đen và đội mũ len; dáng  người nhỏ, đôi mắt chắc chắn của người thường xuyên phải đọc và mái tóc  đã bạc nhiều. Cảm giác đầu tiên không thể nhầm lẫn khi gặp anh Châu: anh  Châu là một người rất giản dị và cởi mở. Trong xe ô tô trên đường vào  khu Việt Nam, anh phụ họa đọc thơ với một người bạn.                     Hôm đó, chúng tôi không có dịp nói chuyện nhiều. Điều mà tôi nhớ nhất là trong câu chuyện, anh hỏi tôi “Viết văn chắc là khó lắm nhỉ?”. Câu hỏi ấy làm tôi nhận ra có thể không chỉ có tôi thấy khó hình dung về công việc của một nhà toán học như anh, mà ngược lại những người làm toán có lẽ cũng không biết nhiều về công việc của người làm nghệ thuật. Nhưng có thể, toán học và văn học nói riêng, cũng như khoa học và nghệ thuật nói chung, đều chỉ là việc dùng những ngôn ngữ và công cụ khác nhau để mô tả và giải thích thế giới. Và đấy là lí do tôi đề nghị anh Châu cho tôi phỏng vấn anh trong lần gặp sau, với mong muốn rằng việc biết rõ thêm một chút về hành trình công việc và hành trình cá nhân của anh có thể giúp rất nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau có thêm niềm tin với những gì họ theo đuổi.     Chúng tôi đã hẹn sẽ gặp nhau lúc 9 giờ sáng ở nhà anh rồi đi bộ vào trường. Đầu tháng Tư, Chicago đã có nắng ấm; hoa tulip, thủy tiên và mộc lan bắt đầu nở trên mặt đất mặc dù lá chưa mọc trở lại trên các cây cổ thụ dọc các con đường trong khu Hyde Park. Chúng tôi mua cà phê ở Reynold Club rồi vào Hutch Commons ngồi. Hutch Commons là phòng lớn, nơi sinh viên và cả các giáo sư thường tới ngồi làm việc, ăn trưa, gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp. Căn phòng cao, với nhiều cửa sổ lớn gắn kính màu đón nắng mặt trời. Dọc hai bên tường có treo ảnh các đời hiệu trưởng của trường. Lúc này còn sớm và lại là thứ Hai nên trong Hutch Commons chỉ có vài ba sinh viên ngồi rải rác làm bài tập. Chúng tôi chọn một bàn ở góc trong cùng của căn phòng. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng việc tôi thú nhận rằng tôi không biết sẽ phải phỏng vấn như thế nào; anh Châu nói thôi thì cứ nói chuyện bình thường thôi. Tôi ghi lại đây một số đoạn từ cuộc “nói chuyện bình thường” này và giữ nguyên cách xưng hô “anh-em” để trung thực với cuộc trò chuyện.     Phan Việt (PV): Anh có nói với em là anh muốn đi khỏi Princeton sang Chicago bởi vì Princeton không có cảm giác cuộc sống. Cái “cảm giác cuộc sống” đấy chính xác là cái gì? Anh tìm kiếm điều gì?   Ngô Bảo Châu (NBC): Anh sinh ra ở 47 Hàng Bài, lúc nào cũng có 1 triệu người quay xung quanh; ở Princeton không đủ 1 triệu người quay xung quanh, nên thấy thiếu cảm giác cuộc sống (cười). Đùa vậy chứ thật ra thì anh thích Hyde Park này; nó ở trong thành phố lớn nhưng mà nó vẫn đủ nhỏ. Nếu anh ở một mình thì đơn giản, nhưng có trẻ con thì ở Hyde Park này là một lựa chọn tốt.    Thế tức là trong quyết định của anh, trẻ con là một phần rất quan trọng?    Ừ, tất nhiên rồi. Không, tức là nó có hai phần; một phần là trẻ con, phần nữa là về khoa học thì anh thích mấy người ở trường Chicago này. Về toán thì Chicago thực ra là xuất sắc, nhất là trong ngành của anh.     Ngành của anh chính xác là gì ạ?    Anh làm cái nó gọi là algebraic geometry (hình học đại số) và chương trình Langlands. Nó cũng rộng. Cho nên cái Bổ đề mà anh vừa viết ấy, anh viết 8 chương, 200 trang, thì anh vừa nhận được 6-7 cái report của những người đọc kiểm tra các phần khác nhau, có người thì đọc toàn bộ, có người thì đọc một phần thuộc về chuyên môn của người ta thôi, để xem nó có chính xác chặt chẽ không. Ai có chuyên môn phần nào thì đọc phần đấy… vì ngoài chuyện chuyên môn thì đọc như thế cũng là một việc mất thời gian mà cũng là cái hy sinh của người ta; một bài đấy cũng phải mất vài tháng để đọc nếu có chuyên môn, còn nếu không có chuyên môn thì phải lâu hơn.      Nhân anh nói chuyện hy sinh… Lúc mà tạp chí Time công bố là công trình của anh nằm trong 10 công trình khoa học lớn nhất năm 2009 thì VnExpress có đưa tin về chuyện đó và chuyện anh về Chicago dạy học. Em không biết là anh có đọc những ý kiến bạn đọc ở bên dưới không…   Anh có đọc loáng thoáng.     Thì có một số ý kiến nói nào là chảy máu chất xám, nào là lẽ ra anh phải về Việt Nam cống hiến. Anh có cảm thấy đòi hỏi như vậy là bất công với anh không?    Anh không thấy bất công … nói chung là có một số ý kiến mà nó… nó ấu trĩ đến mức mà anh không thể nào quan tâm được (cười). Anh cảm thấy là anh đã qua cái tuổi mà anh còn chịu áp lực xã hội rồi. Tất nhiên là anh vẫn chịu áp lực từ một số người mà mình quan tâm ý kiến của họ; ý kiến của họ chính xác thì làm anh suy nghĩ; còn có nhiều ý kiến xuất phát một là từ sự ấu trĩ, hoặc là từ sự ghen tị thì anh không để ý.     Nhưng mà, để đi đến cái chỗ biết cái gì là ấu trĩ để mà bỏ qua cũng là cả một quá trình, đúng không ạ? Lúc đầu có lẽ mình không làm được như vậy đâu; kể cả mình biết là người ta nói vô lí thì mình vẫn đau…   Anh nghĩ là… thực ra để đạt đến sự ổn định thì mình phải có sự nhạy cảm nhất định với cuộc sống. Một khi mình đã đau thì mình đừng nhắm mắt bịt tai, mà mình phải cố gắng phân tích cho đến cùng cái đau đấy, hoặc là cái ngu ngốc của mình. Anh thực ra không phải là người có nhiều va chạm xã hội; chỉ có điều là mỗi một lần va chạm thì anh chịu khó phân tích cái va chạm của mình; thì mỗi lần va chạm, mình càng đau mà mình càng chịu khó phân tích thì mình càng hiểu, hiểu mình và hiểu người khác hơn.    Nhưng nếu như mình cứ phải phân tích để biết cái gì không đáng làm mình đau, thì nó cũng có thể làm mình chai sạn, mệt mỏi. Có thể với toán học thì khác; nhưng với nhà văn chẳng hạn, nếu mà mình cố gắng lý trí để không làm mình đau thì mình cũng có khi làm mất cái con mắt quan sát thuần khiết của mình đi…    Làm toán thì tất nhiên nó hơi khác nhưng nó cũng có cái giống như thế. Bởi vì làm toán thực ra là cực kỳ violent (bạo lực) với bản thân mình, lúc nào mình cũng phải lý trí, không bao giờ được chiều bản thân mình, không được chiều theo cái ham muốn hiện tại. Với lại, toán cũng có cái mâu thuẫn giống như em nói. Một mặt nó cũng là một dạng profession (nghề nghiệp), tức là nó cũng có những hoạt động của nó; tức là phải đi làm seminar, đi làm hội thảo, viết báo cáo; tức là nó cũng phải có những thủ tục; cộng đồng thì bao giờ cũng phải có thủ tục; nhưng nếu có thủ tục mà thành chuyên nghiệp quá thì vô thức nó cũng có thể giết đi cái trong sáng, cái khởi thủy của người làm toán, tức là cái con mắt trong sáng của trẻ con, cái gì mình cũng muốn hiểu ngọn ngành từ đầu đến cuối, trong khi nếu mình thành chuyên nghiệp thì mình chỉ chú tâm để ý những cái gì đang nổi, đang mới, đang là mốt, làm cho mình quên đi cái cơ bản nhất. Nếu muốn làm nhà toán học giỏi thì không thể để mất đi cái cơ bản. Thực ra anh viết blog Thích Học Toán một phần là như thế; vì lúc nào anh cũng có điều kiện xem lại những thứ cơ bản nhất.     Em muốn quay lại với chuyện về tìm kiếm “cảm giác cuộc sống” mà anh đã nói. Với văn học, người ta có khái niệm cảm hứng rất rõ ràng và nó thường xuất phát từ cuộc sống. Thế với toán học thì nguồn cảm hứng đấy ở đâu ra?    Nó là bài toán toán học. Nhưng mà bài toán toán học, khi mình đã làm việc đủ lâu với nó, thì nó cũng hiển hiện như là một xã hội; nó có hình tròn, hình cầu, hình méo…      Nó có đem lại cảm giác say mê như với say mê nhân vật, say mê ngôn ngữ không ạ? Tức là có cái cảm giác mình không thể sống được nếu mình không làm toán?   Tất nhiên nếu anh không làm toán thì anh cũng không đi tự tử (cười) nhưng mà… nó là cái phần cơ bản của mình, nó là một nguồn hạnh phúc lớn. Mà anh không nói đến làm toán theo kiểu chỉ có nghiên cứu viết báo cáo đâu, anh nói đến việc mình liên tục đọc sách, xem cái mới, cái cũ, tìm kiếm, suy nghĩ, nó là một hành trình liên tục…     Cái hành trình và cái hạnh phúc đấy nó liên quan nhiều đến sự phát triển nội tâm của mình, đúng không? Nó gắn với hành trình phát triển của con người mình.   Đúng rồi. Anh nghĩ là nếu một người mất cảm giác mình vẫn còn nhiều cái không biết thì không thể nào làm được cái gì hay ho nữa. Cho nên phải học. Ví dụ như anh thì có một cái kém mà nhiều lúc cũng khó xử đấy; tức là anh cảm tưởng cái gì anh cũng không biết rõ lắm, cái gì anh cũng biết lơ mơ; dĩ nhiên cái mà anh làm thì anh biết rõ còn lại thì anh rất lơ mơ, nhưng anh lại không có thói quen giấu cái sự lơ mơ đấy; thế thì nó khó xử là đi đâu lúc đầu người ta cũng trọng vọng mình, nhưng xong rồi người ta hỏi cái gì mình cũng không biết thì có khi cũng khó xử vì ở những vị trí nhất định thì mình không thể xuề xòa quá được… Cho nên bây giờ anh cũng phải học. Đấy, mình phải giữ cái ham muốn học hỏi, và mình cũng phải học cách chia sẻ nữa. Cũng phải chọn người mới chia sẻ, đâu phải ai cũng chia sẻ được, vì nhiều khi nó có thể làm mình rất tổn thương; ví dụ là có những cái mà mình quý nhất thì người ta lại coi thường.     Trong văn học, anh thấy là có khái niệm “văn phong” rất là rõ ràng. Toán học thì có khái niệm phong cách riêng không?   Có chứ, nhưng nói chung là nó hơi khác, vì toán thì… khi mà nó đến cái mức hoàn hảo thì nó không còn có tính cá nhân nữa, nó vô tính, nó trong sáng đến mức không biết là ai nữa mặc dù style làm toán thì cũng có tại vì cái cách suy nghĩ của mỗi người thì có khác nhau.      Thế style của anh là gì nếu anh phải mô tả bằng một vài từ?   Anh cũng không rõ nhưng mà anh làm toán hầu như không bao giờ cần giấy cả.    Anh cứ nghĩ trong đầu?   Ừ, anh không cần phải ngồi tính toán, anh cứ nghĩ đến một lúc mà anh cảm tưởng là được rồi thì anh ngồi viết ra; lúc đó lại phải lắp ghép lại. Thực ra cái quá trình viết ra đấy là quá trình hiện thực hóa vì lúc mình nghĩ thì nó giống như là mình xây dựng cả một thế giới của mình, nó có nhiều đường, nhiều ngã rẽ; đến lúc mình viết ra giấy thì mình phải viết tuần tự. Có những bài toán đơn giản thì dễ nhưng với bài toán phức tạp như cái Bổ đề vừa rồi thì anh viết rất nhiều lần; lúc mới bắt đầu viết, anh cũng không biết là viết thế nào cả… anh cũng phải chuẩn bị rất nhiều… như văn chắc là cũng phải chuẩn bị, nhưng văn thì có thể chuẩn bị thừa một chút chứ toán thì về mặt nguyên tắc là không được chuẩn bị thừa cái gì cả, chỉ viết cái gì cần thiết, đúng như thế thôi, không dài hơn. Lúc đầu anh viết thì anh không biết chính xác là cái gì mình cần, bởi vì nó là cả một cái hệ thống, anh cứ mô tả dần dần cho đến cuối cùng, sau đó thì mới quay lại sửa. Cái quá trình đấy cũng tương đối là painful (khó khăn), vì lúc mình nghĩ trong đầu thì kể cả mình suy nghĩ nhiều, mình cũng không thể nào chặt chẽ 100% được, có nhiều chỗ lúc nghĩ thì mình bảo chỗ này được rồi, có thể bỏ qua, mình sẽ làm được, cái đấy là do kinh nghiệm thì mình biết và thường là cũng đúng, nhưng mà lúc viết ra, thì mỗi đoạn đấy lại phải bổ sung chi tiết, thì có khi mình thêm chỗ này nó lại phình ra chỗ kia.     Hôm qua em ngồi đọc về Viện IAS ở Princeton mà anh đang làm việc. Thì có người chỉ trích là cái viện đó thực ra cũng là chỗ giết chết nhiều người tài, tức là lúc trước họ làm được nhiều thứ tử tế, nhưng khi đến Viện thì không làm được gì nữa bởi vì sang đó chỉ phải ngồi nghiên cứu thôi, không có áp lực dạy học hay làm gì nếu không muốn, cho nên họ đi đến chỗ cô lập, bế tắc. Anh có nghĩ là đứng về mặt sáng tạo, việc được “bao cấp” và không có áp lực như thế là cái có hại?   Với một số người thì nó có hại thật. Có những người, khi họ không còn chịu áp lực phải xuất bản công trình nghiên cứu nữa, thì họ chẳng làm gì cả. Nhưng ngược lại nếu phải chịu áp lực xuất bản nhiều quá, như ở Mỹ này áp lực lớn quá thì người ta cũng in nhiều thứ nhảm nhí chẳng ai đọc.     Em thấy rác nhiều lắm.   Nhưng không có cái áp lực xuất bản công trình nghiên cứu đấy thì cũng nguy hiểm. Cho nên anh vẫn nói làm khoa học nó có hai mặt; một mặt mình vẫn phải giữ cái con mắt trong sáng của người muốn tìm hiểu, một mặt mình vẫn phải giữ con người làm việc chuyên nghiệp. Đến hẹn mình vẫn phải tham gia hội thảo, làm thuyết trình, đấy là việc mình phải làm, mình không nên từ chối bởi vì khi mà mình từ chối, mình tự rút ra khỏi xã hội thì không sớm hay muộn mình cũng bị thoái hóa. Thu mình vào thì nhiều khi cũng cần thiết để mình có thể nghĩ lâu một cái gì đó nhưng mình cũng có thể bị một cái bệnh là bệnh chủ quan, tức là mình chỉ quan tâm đến cái mình nghĩ thôi mà mình lại quên mất nhiều thứ, và mình sẽ khó giao tiếp với người khác. Thì ở IAS có những người rất là giỏi, bài toán nào các ông ấy cũng giải được, mà ai có gì khó thì các ông ấy đến giúp; nhưng các ông ấy không thấy có động lực đủ lớn để làm thêm cái gì nữa, có lẽ họ đã chán toán rồi.      Lúc bé, anh có ý thức gì về việc thích toán không?   Anh có ý thức là mình muốn trở thành nhà toán học không?  Lúc bé anh chẳng có ý thức gì cả. Lúc bé thì toán văn anh đều học giỏi cả nhưng bố anh bảo anh vào chuyên toán thì anh vào chuyên toán.      Thế thì anh có nghĩ là cần định hướng sớm cho trẻ con về nghề nghiệp không? Ví dụ như là hướng cho trẻ con trở thành nhà toán học hay bác sỹ hay kiến trúc sư?    Anh nghĩ là cũng không cần phải định hướng về mặt nghề nghiệp sớm như thế đâu. Với nhạc sỹ chẳng hạn thì anh không biết, có thể họ cần định hướng từ lúc rất bé; còn những nghề mà làm việc trí óc nghiêm túc thì nhận thức về nghề nghiệp nó phải là lúc mình trưởng thành rồi. Chẳng hạn như ông Langlands, ông ấy là một trong những người có ảnh hưởng mạnh nhất tới toán học thế kỷ 20-21, nhưng mà ông ấy thực ra cứ tự học, mà học toán cũng tình cờ; bố ông ấy là tiều phu, ông ấy không đi học trường trung học hay đại học nổi tiếng nào cả, đào tạo cơ bản của ông ấy thực ra bình thường; nhưng khi ông ấy đi học đại học bên Canada thì học cũng được, thế là thầy giáo toán của ông ấy bảo ông ấy đi làm PhD (tiến sỹ). Ông ấy bảo PhD là cái gì. Sau rồi ông ấy thấy ừ thì bây giờ được đi học có học bổng, mà lại được lấy vợ sớm nữa thì cũng thích (cười); thế là đi làm PhD. Cho nên anh thì anh không nghĩ chuyện định hướng nghề nghiệp sớm cho trẻ con là quan trọng.     Đối với các cháu nhà anh bây giờ anh có định hướng gì không?  Anh không định hướng gì cả.     Anh có dạy các cháu học không?  Anh có dạy. Thực ra mấy năm nay anh cũng bận nhưng anh có dạy, và anh cũng để ý rèn các cháu những thứ mà đối với anh là quan trọng, là có giá trị.     Ví dụ là thứ gì?   Ví dụ là đọc sách, là cố gắng viết đúng chính tả (cười)… vì cái gì bố không làm được thì con phải làm được2.      Đọc sách gì ạ?   Sách thì cũng đủ loại… đến bây giờ thì con gái lớn của anh cũng lớn rồi nên anh cũng không muốn áp đặt. Tất nhiên anh cũng cố gắng hướng dẫn một chút để nó không đọc sách nhảm nhí nhưng anh cũng không muốn áp đặt    Anh có kỳ vọng điều gì ở con anh không?   Anh chỉ kỳ vọng là chúng nó có một cuộc sống bình thường, hạnh phúc… anh không kỳ vọng chúng nó phải làm gì vĩ đại cả.     Nhưng anh có cảm thấy là mình đã biết đến cuộc sống trí thức và cái cuộc sống đấy làm cho nội tâm mình thanh thản, nó sạch, nó là một lựa chọn sống tương đối thích so với một số ngành nghề khác, thì anh có hướng các cháu vào cuộc sống đấy không?    Anh không nghĩ là cuộc sống trí thức là điều kiện bắt buộc để có cuộc sống trong sáng. Nhưng cái mà em nói đúng là quan trọng, tức là có cuộc sống nội tâm trong sáng là cái quan trọng. Nhưng mà có nhiều cách để đạt được chuyện đó. Đấy là một trong những cái mà lúc nào anh cũng muốn dạy cho trẻ con, tức là cách quan hệ xử sự với người khác, rồi là thái độ đối với của cải vật chất như thế nào, những chuyện đấy thì anh nói tương đối nhiều…      Nhân anh nói đến của cải vật chất…     Ừ (cười)     Bây giờ thì anh giàu rồi, đúng không ạ?   Ừ (cười)     Giả sử là anh không giải quyết được Bổ đề và anh cứ sống cuộc sống trung lưu hoặc nghèo khó đến hết đời, thì đối với anh điều đó có khó chấp nhận không? Có cái thời điểm nào mà anh nhìn ra rằng kể cả nếu mình chỉ sống nghèo khó như thế này hoặc mình không có tên tuổi gì đến hết đời thì điều đó cũng không sao?   Không, thực ra chưa bao giờ anh thấy bức bối lắm về chuyện thiếu thốn vật chất, kể cả lúc anh không nhiều tiền. Thực ra lúc nào anh cũng cố gắng ý thức cái chuyện là mình không ham muốn những cái không cần thiết cho mình; chỉ có lúc nào là mình cần mà mình không làm được thì cũng hơi bức bối; thực ra ở Việt Nam thì cái đấy cũng khó; nhưng ở nước ngoài thì việc hạn chế những cái không cần thiết, những cái phù phiếm cũng tương đối dễ dàng; cho nên chưa bao giờ anh cảm thấy bức bối về chuyện đó. Đồng lương của giảng viên đại học thì cũng đủ để sống trung lưu bình thường, nói chung là anh thích cuộc sống trung lưu.                  GS. Ngô Bảo Châu     1972: Chào đời tại Hà Nội. Là con trai duy nhất của Tiến sỹ cơ học Ngô Huy Cẩn và Tiến sỹ dược học Trần Lưu Vân Hiền.    1988: Huy chương vàng Olympic toán quốc tế tại Úc     1989: Huy chương vàng Olympic toán quốc tế tại Đức. Là người Việt Nam đầu tiên giành hai huy chương vàng Olympic toán.               1990: Sang Pháp du học tại Đại học Paris 6, sau đó là Đại học Ecole Normale Supérieure.               1997: Trở thành tiến sỹ toán; về công tác tại Trung tâm khoa học quốc gia Pháp               2004: Cùng nhận giải thưởng của Viện toán học Clay với Giáo sư Gerard Laumon cho công trình Bổ đề cơ bản cho các nhóm Unita.                  2005: Được đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam và trở thành Giáo sư trẻ nhất của Việt Nam.                  2007: Sang Princeton, Mỹ, làm việc tại Viện nghiên cứu cấp cao (Institute for Advanced Study)               2008: Hoàn thành chứng minh Bổ đề cơ bản trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie.                2009: Kết quả chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands của Ngô Bảo Châu được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009.               2010: Ngô Bảo Châu sẽ báo cáo tại phiên toàn thể của Đại hội Toán học thế giới. Anh được đánh giá là một trong những ứng cử viên hàng đầu cho giải thưởng Fields – giải thưởng toán học tương đương với giải thưởng Nobel, được trao 4 năm một lần cho một nhà toán học dưới 40 tuổi. Anh cũng đã nhận lời về làm giáo sư toán tại Đại học Chicago kể từ mùa thu 2010.          Nhưng mà em đang nói tới lúc anh trẻ hơn… em hỏi điều này bởi vì là anh đã thành công sớm, ta tạm gọi là như vậy, anh được 2 giải Olympic toán quốc tế, cho nên có thể có một số kỳ vọng hoặc sức ép thành công nào đó về mặt danh vọng hoặc của cải vật chất.     Không, thực ra thì có một cái là… dạo mà anh học cấp 2, cấp 3 chẳng hạn, anh cứ nghĩ đến những anh được giải toán quốc tế như là thiên tài vĩ nhân; xong đến lúc mình thi được giải thì mình thấy nó cũng… bình thường (cười). Thì vì anh coi chuyện đấy là bình thường cho nên anh cũng không thấy có áp lực gì. Lúc anh làm luận án thì cũng có khó khăn, nhưng mà làm việc gì cũng có lúc khó khăn cả; nó khó khăn là vì bản thân cái việc đó nó khó khăn chứ không phải là vì có sức ép xã hội; anh thì không tưởng tượng là xã hội kỳ vọng gì ở bản thân mình.     Có thể là toán học ít sức ép xã hội hơn vì xã hội không có cái kỳ vọng là ví dụ trong vòng 2 năm, anh Ngô Bảo Châu phải giải xong bài toán này. Nhưng với nhà văn, đôi khi có cảm giác sức ép là bởi vì nhà văn phải có sản phẩm là cuốn sách và phải công bố ở diện rộng hơn công trình toán học và ai cũng có thể phê bình…   Ừ, như lúc nãy anh nói là phải có thái độ rõ ràng với hai mặt của công việc mà hai cái đấy mình không thể xem nhẹ cái nào; một cái là chuyện học thuật của mình, còn một cái là đời sống xã hội của mình, cái cách mình cư xử với sức ép xã hội. Thì đối với sức ép xã hội, mình phải quản lý nó theo nghĩa là mình quản lý nó chứ mình không để nó ép mình; quản lý tức là những việc mình thấy nên làm, như việc dự hội thảo hay đi nghe thuyết trình thì cứ đúng đến ngày đến giờ là mình đi; nếu cái hội thảo đó có nghĩa cho công việc của mình, thì tuần nào cũng đến đúng giờ đấy là anh đi nghe, chứ mình không đi nghe theo kiểu là cứ thấy ông này nổi tiếng, ông kia nổi tiếng thì mình đi nghe. Anh nghĩ là trong đời sống giao tiếp với xã hội, nếu mình muốn giữ nó là một cái có ích cho mình thì mình phải rất kỷ luật, cứ tuần tự mà làm, mình không từ chối nó nhưng mình cũng không cố gắng ôm thêm vào người. Có thể mình đang theo đuổi một cái gì đó cần lâu dài, thì mình cứ làm nhưng trong lúc đó mình cũng nên làm một cái gì đó tuần tự để giữ vững tinh thần của mình…     Thế lúc tinh thần của anh không vững, tức là lúc anh nản chí ấy, thì anh làm gì?    Nói chung là lúc mà tâm lý đã đi xuống thì chỉ cứ đợi cho nó đi qua thôi.    Trên blog Thích Học Toán của anh, anh có nói đến một cụm từ là “15 cô đơn với Bổ đề”, và anh hứa là anh kể, nhưng anh vẫn chưa kể.    Từ lúc anh bắt đầu làm PhD, tức là năm 1993 ấy, thì đến giờ là 15 năm. Lúc mà anh làm PhD thì vấn đề của Langlands chẳng ai quan tâm, người ta coi là vấn đề chết; tức là mấy chục năm không ai làm được thì người ta không làm nữa. Cái luận án tiến sỹ của anh cũng gần giống với Bổ đề Langlands; nó là của ông Jacquet; nó dĩ nhiên là không nổi tiếng và không kéo theo quá nhiều những kết quả rực rỡ gì khác như Bổ đề Langlands nên người ta càng không để ý. Lúc anh làm PhD là khoảng thời gian thử thách tâm lý rất lớn; lúc đấy mình còn chưa tin lắm vào khả năng của mình. Mà lại còn có nhiều chuyện làm mình nản. Chẳng hạn như là ngay cái tên ấy, ông Langlands ông ấy đặt cái tên “Bổ đề cơ bản” nghe nó đã buồn cười rồi. Cái Bổ đề bình thường thì nó không phải là một kết quả quan trọng, nó chỉ là một kết quả trung gian thôi, người ta dùng cái đó để làm cái khác. Nhưng mà với Bổ đề Langlands thì vì sau này có quá nhiều thứ liên kết với nó, phụ thuộc vào sự vững chắc của Bổ đề cơ bản cho nên nó mới trở thành vấn đề trung tâm của ngành. Thì lúc mà anh đi phỏng vấn xin việc lần đầu ở Pháp ấy, người ta hỏi anh làm cái gì, anh bảo là anh làm Bổ đề cơ bản, thì đến một nửa cái hội đồng phỏng vấn là họ phá ra cười, vì nghe nó buồn cười, nghe nó ngớ ngẩn, vì người ta không biết ngành của anh. Tất nhiên là lần đấy anh không đỗ, sau này anh mới đỗ. Lúc đó thực ra không mấy ai tin là có thể giải quyết được Bổ đề Langlands; kể cả lúc anh sang Chicago năm 2001 rồi sang Princeton, thì lúc đó thực ra anh cũng chỉ có âm mưu giải quyết nó thôi, chứ anh cũng không chắc chắn lắm; có điều là lúc nào anh cũng giữ trong đầu một cái hy vọng là lúc nào đấy sẽ làm. Không biết em có thấy không, ở đây thì ít đấy chứ ở Princeton có rất nhiều những cái cờ xanh đỏ cắm trên bãi cỏ để đánh dấu chỗ này là đường ống nước, chỗ này là đường cáp điện, thì ở Princeton mọi người hay đùa đấy là cờ tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh vì Bổ đề Langlands (cười).      Thế nếu anh không làm được Bổ đề cơ bản thì nó có phải là một thất bại cá nhân nặng nề không? Nó có phải là một điều kinh khủng không?   Anh cũng không biết… Về bản chất anh không phải là người thích cuộc sống của mình trở thành dramatic (kịch tính). Nếu đã để nó trở thành một thứ như là một thất bại nặng của đời mình thì lại thành ra dramatic quá. Giả sử anh đã công bố anh làm được rồi mà hóa ra là giải sai thì lúc đó rất tệ; nhưng mà lúc anh chưa làm được thì thực ra cũng bình thường. Nó chỉ là một cái mình thích và mình làm thôi… Thực ra ấy mà, nhiều khi anh cũng muốn tìm ra một vấn đề mà mình không bao giờ làm được.      Vì sao ạ?    Vì, nói thật là, khi mình đang làm toán, khi mình đang theo đuổi một vấn đề thì nó vô cùng thú vị, nó như là một nguồn sinh lực sống với mình… Toán học ấy mà, lúc mình theo đuổi một vấn đề, thì thực ra là mình tự làm đau mình, đúng không? Như là tự hành hạ bản thân vậy. Nhưng mà làm xong rồi thì lại phải tìm chỗ khác để hành hạ tiếp (cười). Anh nghĩ là trong cuộc sống, bản chất con người là không thích sự ngẫu nhiên, bất định; mình chỉ muốn sự ngẫu nhiên ở một mức nhất định cho cuộc sống vui vẻ thôi, còn về bản chất thì mình muốn có một cuộc sống logic, mà để có cái logic đấy thì phải chọn một cái mục đích gì đó. Dĩ nhiên mục đích nó phải đủ cao quý thì nó mới vực được cuộc sống của mình lên, chứ mục đích mà thấp kém hèn hạ thì nó cũng chẳng thể là cứu cánh được cho mình. Nhưng bản thân cái mục đích đấy cũng chỉ là cách để mình tổ chức cuộc sống thôi, cho nó có hướng; nếu không thì cuộc sống của mình nó vô hướng. Anh cảm thấy đối với anh, việc tìm một bài toán để giải nó xuất phát từ nhu cầu tự nhiên là con người mình cần một cái mục đích để tổ chức cuộc sống của mình… nhưng nó chỉ là đích, mình không cần cố sống cố chết đạt được; cái chính là khi mà mình đi tới cái đích ấy thì mình phải biết cách thưởng thức con đường trong lúc mình đi. Cái đích chỉ là cứu cánh cho mình sắp xếp cuộc sống, để cho mình đi qua cuộc đời này một cách hạnh phúc thôi.      Thế cứu cánh tiếp theo của anh là gì?     Chưa tìm được cứu cánh tiếp theo… Chưa tìm được cứu cánh cụ thể. Vẫn đang đi tìm; phải đi tìm chứ.  Anh đã bắt đầu ngấm cái chuyện anh rơi vào trường bất tử chưa?   Trường bất tử là thế nào?     Tức là… với thế giới thì có thể là anh chỉ được biết nhiều trong giới toán học; nhưng mà ở Việt Nam thì anh chắc chắn sẽ đi vào lịch sử rồi, có thể là sẽ có trường Ngô Bảo Châu, có đường Ngô Bảo Châu, có giải thưởng Ngô Bảo Châu, vv…    Thực ra thì đấy là cái đáng ngại nhất đấy, đấy chính là cái đáng ngại nhất…    Nhưng anh có tự hào về điều đó không?   Không.    Không tự hào?   Ừ… là vì từ bé anh đã có cảm giác là mình phải sống thế nào để sau khi mình ra đi thì mình không để lại dấu vết gì về bản thân nữa. Anh nghĩ là chuyện không để lại dấu vết gì cũng là chuyện quan trọng. Giống như trong cuộc sống bình thường, khi mình rời khỏi nơi nào đó hoặc làm xong chuyện gì thì mình nên thu dọn sạch sẽ để ra đi.   Nhưng mà Flaubert có nói là cứ đưa cho tôi một người anh hùng, tôi sẽ viết cho anh một bi kịch; có thể hiểu một nghĩa là sau người anh hùng nào cũng có bi kịch. Anh bây giờ là anh hùng rồi đấy, dù anh có muốn hay không. Thế anh có bi kịch nào không? Hoặc là một cái gì đấy mà đến cuối đời, nó có thể coi là một cái mà mình đã không dọn được sạch sẽ để ra đi?   (Cười)…     Ngần ngừ tức là có rồi (cười)    (Cười)     Em muốn hỏi cái này từ góc độ nhà văn. Với nhà văn hoặc người làm nghệ thuật, khi mà mình muốn làm cái gì tử tế ấy, thì nhiều khi mình phải cực đoan lắm. Ông Faulkner có nói là “nghĩa vụ duy nhất của một nhà văn là nghĩa vụ với nghệ thuật; tất cả những thứ khác như danh dự, tự trọng, cuộc sống ổn định, hạnh phúc cá nhân, tất cả, đều tung hê hết, miễn là có thể viết. Nếu cần phải ăn cướp từ mẹ đẻ để hoàn thành cuốn sách, thì một nhà văn cũng làm, nếu như anh ta thực sự là một nhà văn”. Anh nghĩ đối với người làm toán hoặc người làm khoa học nói chung thì nghĩa vụ cao nhất là nghĩa vụ với cái gì hoặc với ai?    Anh nghĩ là toán thì nó không cực đoan như thế, nhưng để làm cái gì tử tế thì mình cần có sự nghiêm túc. Nghĩa vụ của người làm khoa học là làm khoa học, tất cả những cái khác là hệ quả, chứ không phải cái mình tìm đến. Bởi vì giá trị của khoa học nó thể hiện chính xác ở sản phẩm khoa học mình làm ra.     Có thể là toán khác, vì toán không có tính personal (cá nhân) nhiều    Ừ, nó không personal, nó không quá quan tâm đến quan hệ xã hội như nghệ thuật hoặc văn học. Toán thực ra là quá trình giành giật chiến đấu với bản thân mình, nó không liên quan nhiều đến người khác, đến các quan hệ. Đấy, văn khổ là ai cũng tưởng mình hiểu, còn toán thì cứ yên tâm là người ta không hiểu (cười), đỡ lo lắng.     Thế thì với toán, cái lo lắng nhất là cái gì?    Toán học thì khó nhất chính là làm được lâu, tức là giữ được sự ham mê lâu. Hầu như đến 90% các nhà toán học khi già ấy mà, anh thì không nghĩ là vì họ già nên họ không làm được nữa đâu, mà là họ chán; khi thấy cuộc sống ổn định, đủ tiền tiêu, thì làm toán chỉ còn là một cái nghề, đến giờ thì đi dạy học, cũng làm nghiên cứu nọ kia nhưng nó không còn đam mê nữa    Anh có nghĩ là anh sẽ đến lúc đấy không? Lúc chán?    Bây giờ thì chưa chán. Anh nghĩ là để biết cách duy trì cái ham mê của mình cũng phải có nghệ thuật. Chính cái chuyện mà người ta muốn mình thành expert (chuyên gia) về một cái gì đấy là cái giết chết sự đam mê trong sáng của mình; cho nên mình phải chống trả quyết liệt cái chuyện đó. Cho nên là có khi mình phải đặt mình vào một tình trạng hơi kì cục, tức là tình trạng của người lúc nào cũng đang đi học.     Khi nói đến toán học, hoặc đến người như anh, người ta hay nói đến khái niệm trí thông minh và người ta cứ nói nó là bẩm sinh, có hoặc là không có chứ không luyện tập được. Anh có nghĩ thế không? Nếu có thể luyện tập được thì có thể luyện theo những cách nào?   Anh nghĩ là cũng phải có bẩm sinh, nhưng mà anh nghĩ cái bẩm sinh đó không phải hiếm như người ta nghĩ, rất nhiều người có cái bẩm sinh đó, nhưng mà cái quá trình rèn luyện trong làm việc mới đưa đến thành công.     Bây giờ em muốn hỏi anh một số câu hỏi ngắn, mà anh không được nghĩ, anh phải trả lời ngay… Hằng ngày anh dậy lúc mấy giờ?    7 giờ sáng.     Khi lên mạng anh làm gì?    Kiểm tra thư, đọc báo.     Món ăn mà anh thích… nhất? Hoặc một số món ăn.    Phở.      Thời gian trong ngày mà anh làm việc hiệu quả nhất?    Buổi sáng.     Mô tả một ngày bình thường của anh?    Sáng dậy ăn sáng, chuẩn bị cho các cháu đi học; đến khoảng 8 giờ rưỡi thì anh bắt đầu làm việc; đầu tiên là có email anh phải trả lời thì trả lời cho xong. Buổi sáng là lúc đầu óc sáng sủa nhất thì anh ngồi làm những thứ mà phải suy nghĩ nhiều nhất; ăn trưa xong đến chiều thì nếu có hẹn gặp người nào thì anh hẹn gặp nói chuyện buổi chiều. Đến cuối giờ làm việc thì anh trả lời nốt email anh phải trả lời; sau rồi chiều tối anh về nhà; cho trẻ con học, xong nếu còn đủ minh mẫn thì anh ngồi nghĩ tiếp hoặc anh đọc sách, rồi đi ngủ.     Anh có thường mơ trong lúc ngủ không?    Cũng hay mơ lung tung (cười).     Anh có đức tin tôn giáo nào không? Hoặc là cảm thấy anh gần với một tôn giáo nào đó?    Anh không tin cụ thể nhưng anh cũng thấy tôn giáo cũng thú vị. Anh đọc sách cả về đạo Phật và Thiên Chúa giáo; anh cũng chia sẻ một số suy nghĩ của họ nhưng bản thân anh không phải là con người tôn giáo theo nghĩa anh tin vào một cái gì đó; nhưng triết lý sống của họ có nhiều cái phải suy nghĩ.     Anh quan niệm thế nào là bất hạnh?    Bất hạnh nhất là không biết mình muốn cái gì.     Anh dễ tha thứ nhất cho tính xấu nào của con người?    Con người bình thường thì ai  chả có nhiều tính xấu nhưng mà đối với anh thì chuyện đấy nó bình thường, anh không chỉ trích họ.     Phẩm chất hoặc tính cách mà anh đánh giá cao nhất ở một con người?    Không bao biện cho bản thân. Bao biện tức là có lúc mình xử sự sai, lẽ ra phải làm thế này thì mình làm khác; mình làm sai và sau đó mình luôn tìm cách viết lại lịch sử của bản thân. Trên blog Thích Học Toán, anh có viết về phim Rashomon, em đã xem phim đó chưa?     Em chưa.   Phim đó là một phim tuyệt hay.    Nhưng em nhớ anh có viết là đừng bao giờ viết lại lịch sử của bản thân để làm cho mình thấy tử tế hơn, để có thể sống với bản thân mình…    Đúng rồi.    Nhà văn, nhà thơ mà anh yêu thích?    Nhà thơ thì hồi xưa anh thích Quang Dũng. Nhà văn thì anh thích Thomas Mann với J.M. Coetzee.     Tài năng hoặc năng khiếu bẩm sinh mà anh muốn có nhất?    Có lẽ nếu có một điều ước thì anh muốn có năng khiếu âm nhạc.     Anh có chơi giỏi một môn thể thao nào không? Hoặc có quan tâm đến thể thao?    Càng ngày càng ít quan tâm. Ngày trước thì anh cũng thích bóng đá.     Mong muốn lớn nhất của anh bây giờ là gì?    Tìm lại nhịp sống bình thường để làm toán trở lại. Thời gian vừa rồi anh cũng nhiều việc, chuyển nhà rồi đi lại.     Câu hỏi này có lẽ hơi buồn cười. Triết lý sống hoặc khẩu hiệu sống của anh là gì?    Không để lại dấu vết.     Nhiều người bảo anh có nụ cười hiền. Anh có nghĩ “hiền” là từ chính xác để mô tả anh không?    Anh nghĩ là đúng… Em không nghĩ thế à?       Không, em nghĩ là đúng. Ngô Bảo Châu là một người  hiền.           4-2010  ————————  1 Blog Thích Học Toán của Ngô Bảo Châu: http://www.thichhoctoan.org  2 Trên blog Thích Học Toán, anh Châu thỉnh thoảng viết sai chính tả và anh thường đùa rằng tình hình chính tả của anh rất nan giải.          Nhà văn Phan Việt (1978) là tác giả hai tập truyện ngắn Phù Phiếm Truyện; Nước Mỹ, nước Mỹ, và tiểu thuyết Tiếng Người. Chị vừa hoàn thành chương trình tiến sỹ ngành công tác xã hội tại Đại học Chicago và sẽ trở thành giáo sư đại học (assistant professor) tại Mỹ từ tháng 7-2010.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Trò lừa Sokal thứ hai và những  tranh cãi chính trị trong lòng học giới Mỹ      Đầu tháng 10, nhóm ba nhà nghiên cứu đã công bố trên tạp chí online Areo về việc họ đã thành công trong việc đăng 7 bài báo khoa học ngụy tạo để “vạch trần” những gì họ gọi là “ngụy tạo học thuật” (grievance studies) trong khoa học xã hội và nhân văn. Việc này đã làm dấy lên những tranh luận ủng hộ và cả những phê phán mang tính chính trị.      Nhóm ba nhà khoa học Mỹ Pluckrose, Lindsay, và Boghossian. Nguồn: Areo Magazine  Trò lừa táo bạo  Từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2018, ba nhà nghiên cứu Mỹ là Helen Pluckrose – biên tập tạp chí điện tử Areo; James Lindsay – một nhà toán học độc lập; và Peter Boghossian – phó giáo sư ngành triết, Đại học bang Portland (PSU) đã viết và xuất bản 20 bài báo ngụy tạo và tìm cách đăng tải chúng lên các “tạp chí có bình duyệt danh tiếng.”  Một số bài báo tiêu biểu của nhóm bao gồm một nghiên cứu ngụy tạo về “phản ứng con người với văn hóa cưỡng bức và tập tính đồng giới của chó” tại các công viên thành phố Portland. Bài báo này được đăng trên tạp chí nghiên cứu về giới Gender, Place and Culture. Một bài báo khác sử dụng lại một phần nội dung của hồi ký Hitler Mein Kampf – bao gồm cả tiêu đề “Cuộc tranh đấu của chúng ta là cuộc tranh đấu của tôi” – để trông có vẻ như đang kêu gọi cho công lý nữ quyền. Trong khi đó, một bài báo khi phê phán thiên văn học hiện đại mang bản chất “phân biệt giới tính” và “Tây phương”, đòi hỏi “chiêm tinh học nữ quyền, chiêm tinh học đồng giới, và bản sắc tộc người” phải được coi là một bộ phận của khoa học thiên văn.  Để thực hiện các bài viết này, nhóm tự nhận đã thực hiện một nghiên cứu “dân tộc chí phản ánh” mô phỏng “ngôn ngữ và phong cách” viết của các chuyên gia trong khối ngành KHXH&NVvà các tạp chí, sau đó xây dựng cấu trúc bài viết: bắt đầu từ việc đặt ra một vấn đề đạo đức hoặc lý thuyết, sau đó họ bóp méo lập luận và trích dẫn nhiều nghiên cứu trong ngành để đưa ra một kết luận vô lý về logic hay phi đạo đức.  Trong 20 bài, nhóm tuyên bố xuất bản thành công 7 bài với 4 bài đã được xuất bản online và 3 bài đang chờ xuất bản. Cho đến trước khi công bố, nhóm vẫn còn 7 bài báo nữa đang trong quá trình bình duyệt. Tuy vậy, kế hoạch bị gián đoạn do một nhà báo của tờ Wall Street Journal, Jillian Kay Melchior, bắt đầu đặt dấu hỏi về một số bài viết mới được đăng trong mùa hè của nhóm.  Chính thức công bố ngày 2/10, trò lừa nhanh chóng được truyền thông và internet đặt tên là “Sokal thứ hai” để so sánh với Sự kiện Sokal từng xảy ra cách đó hơn 20 năm. Yascha Mounk, giảng viên chính trị tại Đại học Harvard, tung hô trên The Atlantic rằng đây là “sự hài hước… đồng thời chỉ ra một vấn đề nghiêm trọng trong học giới”.  Nhớ lại “Sự kiện Sokal” 1996  Năm 1996, nhà vật lý Alan Sokal tại Đại học New York trở nên nổi tiếng nhờ xuất bản một bài báo ngụy tạo trên tạp chí Social Text. Bài báo mang tên “Vượt qua các Ranh giới: Hướng đến nghiên cứu Chú giải sự biến đổi của lý thuyết Hấp dẫn Lượng tử” đã ngụy tạo, bóp méo các lý thuyết hậu hiện đại để “chứng minh” rằng “tồn tại vật lý về bản chất là một kiến tạo xã hội và ngôn ngữ.”  Sokal gây tiếng vang vì Social Text là một tạp chí có vị thế trong giới nghiên cứu văn hóa theo trường phái hậu hiện đại ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Sử dụng chính lập luận các nhà tư tưởng hậu hiện đại nổi tiếng khi đó, ông tập trung phê phán vào sự lạm dụng các thuật ngữ khoa học tự nhiên (các khái niệm như “phi tuyến tính”, “tương đối”, “hỗn loạn”…) của trường phái này, và nỗ lực của họ nhằm can thiệp vào phương pháp nghiên cứu như việc áp đặt luận giải về “diễn ngôn”, “kiến tạo xã hội” lên ngôn ngữ khoa học tự nhiên: “Bất kỳ ai tin rằng các định luật vật lý chỉ có giá trị là ‘quy ước xã hội’ xin mời đến thử ‘vượt qua các quy ước’ đó từ cửa sổ chung cư nhà tôi. (Tôi sống trên tầng hai mươi mốt),” Sokal bình luận.  Hơn 20 năm sau, nhóm Boghossian giành được sự chú ý của truyền thông nhưng lại khởi đầu cho một cuộc tranh cãi mới.  Không phải là Sokal ?  Đây không phải lần đầu tiên nhóm Boghossian cố gắng lặp lại Sự kiện Sokal. Năm ngoái, họ cũng đã công bố việc đăng một bài báo khác lên tạp chí Cogent Social Sciences –tuy vậy không gây được tiếng vang do người ta phát hiện tạp chí được đăng bài là một tạp chí trả tiền không tên tuổi.  Cũng tương tự, các tạp chí được cho đăng lần này cũng không phải các tạp chí quan trọng trong ngành, trừ tờ Hypatia và Sex Roles. 6 bài viết đã không qua được vòng bình duyệt: Các tạp chí xã hội học đều từ chối các bài báo nhóm gửi. Một bài báo được nhóm quảng bá về “nữ quyền trong giáo dục” – khuyên giáo viên nên “dạy cho các nam sinh bài học về nữ quyền bằng cách bắt nạt lại hay bắt trói nam sinh trên sàn nhà” – đã bị từ chối 3 lần và sau cùng không thể xuất bản.  Nhóm bị phê phán vì chỉ tập trung cố gắng xuất bản càng nhiều bài báo càng tốt. Họ cũng cố ý làm giả các số liệu điều tra có thực để đánh lừa hệ thống bình duyệt. Ngoài ra, thay vì tấn công vào một lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cụ thể nào, họ lại tấn công vào một hệ thống ngành khoa học nhân văn rất bao quát.  Trên tờ The Chronicle, PGS. Karl Steel từ Đại học Thành phố New York gọi công bố của nhóm Boghossian “đơn giản không phải là nỗ lực nghiêm túc” và chỉ ra các vấn đề: Phạm vi thực hiện quá hẹp; quá tập trung vào việc phơi bày điểm yếu của nghiên cứu giới hay tộc người – là các lĩnh vực hiển nhiên dễ bị thiên kiến. Thử nghiệm của nhóm được thiết kế “nghèo nàn” và mục tiêu tấn công nhắm vào những ngành nghiên cứu không thực sự nghiêm túc – khiến ông cho rằng đây không phải hành động anh hùng học thuật mà là một sự hèn nhát. “Họ tự chứng minh rằng mình không đáng được tin cậy”.  GS. Carl T. Bergstrom, Đại học Washington cũng chung nhận định này: “Để phê phán một cách hiệu quả một lĩnh vực học thuật, anh phải đi vào hệ thống lý thuyết trung tâm, các giả định chính, các phương pháp được chấp nhận rộng rãi, và các kết luận chính của lĩnh vực đó. Sau đó anh phải chỉ ra sự sai sót, không mạch lạc, hay phi lý. Đáng tiếc là các tác giả đã chọn lối đi khác”.  Khoa học là vũ khí chính trị  Nhiều nhà nghiên cứu khác lo lắng rằng sự kiện này sẽ giúp tiếp tay cho các nhóm chính trị cực hữu đang tìm cách phủ nhận toàn bộ các tiến bộ mà nghiên cứu giới hay nghiên cứu về các nhóm yếu thế mang lại. Điều này rất nguy hiểm trong bối cảnh nước Mỹ đang bị chia rẽ sâu sắc về chính trị, mà chủng tộc và giới là các vấn đề gây tranh cãi mạnh mẽ.  “Dù trò đùa của Sokal rất thông minh, ông đã không bận tâm đến cách thế giới ngoài học thuật tiếp nhận sự việc”, Ellen Schrecker, cựu giáo sư lịch sử Đại học Yeshiva chia sẻ trên The Chronicle nhân kỷ niệm 20 năm sự kiện: “… ông không nhìn rộng ra thực tế là khoa học đã và đang bị tấn công. Chế giễu thuyết giải cấu trúc thì thú vị, nhưng nếu lấn sang khoa học về biến đổi khí hậu thì mọi chuyện sẽ khác.” Sokal, tác giả của trò lừa năm 1996, cũng nhận ra thực tế đó. Ông thừa nhận: “Có một dòng chảy phản trí thức mạnh mẽ tồn tại trong văn hóa Mỹ, có xu hướng coi thường các nhà trí thức và tìm mọi cớ để chê cười họ. Đó là mặt tiêu cực.”  Nhóm Pluckrose và Boghossian cũng bị nghi ngờ giúp “cổ động cho luận điểm của phe cực hữu học thuật”, vô tình hay cố ý, nhà nghiên cứu Cas Mudde đặt nghi vấn. Với Boghossian, bất chấp việc ông tự tuyên bố mình là một người cánh tả, nhà báo của tờ The Guardian Jason Wilson chỉ ra ông có những liên hệ và cảm tình với một số nhóm sinh viên cực hữu tại trường PSU nơi ông làm việc.  Tương lai của sự kiện “Sokal thứ hai” này sẽ ra sao? Các thành viên của nhóm bày tỏ sự lo lắng về tương lai –  Pluckrose nghĩ rằng cô sẽ khó có thể được nhận học tiến sĩ, Lindsay và Boghossian tin rằng mình sẽ có thể bị phạt hay mất việc và trở thành “ăn mày học thuật”. Nhưng những khả năng này khó xảy ra. Thiệt hại thật sự có lẽ thuộc về giới học thuật Mỹ, vốn luôn phải đấu tranh chống lại ảnh hưởng của chính trị trong nghiên cứu.  Tuấn Quang tổng hợp  Nguồn: The Chronicleof Higher Education, Areo, The Atlantic, The Washington Post,       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trở thành thiên tài toán học sau chấn thương não      Tạp chí Lives Science mới đây đưa tin:  Sau lần bị côn đồ đánh vào đầu dẫn đến chấn thương nặng vào năm 2002,  Jason Padgett – một người buôn bán đồ gỗ ở Tacoma, bang Washington, Mỹ –  vốn không quan tâm gì tới toán học, bắt đầu nhìn thấy ở mọi vật một cấu  trúc toán học nào đó.     “Tôi nhìn mọi hình thù và góc cạnh ở mọi nơi một cách sống động – từ hình học của cầu vồng cho đến các fractal [tạm dịch: hình các mảnh vụn bất quy tắc không được thể hiện trong môn hình học] trong dòng nước chảy theo hình xoắn ốc xuống con mương,”  Padgett kể. “Cảnh tượng thật sự đẹp làm sao!”   Cộng tác với Maureen Seaberg, mới đây Jason Padgett đã xuất bản cuốn hồi ký có tên Struck by Genius. Anh là một trong số ít người hiếm có mắc hội chứng bác học (savant syndrome), tức hội chứng một người bình thường sau khi bị thương nặng hoặc sau một cơn ốm nặng bỗng dưng có được năng lực siêu phàm trong một lĩnh vực nào đó. Giờ đây các nhà nghiên cứu đã hiểu được những bộ phận nào trong bộ não con người được tái cơ cấu để cho phép có kỹ năng của nhà bác học; và những khám phá đó gợi ý rằng trong não của tất cả mọi người, các kỹ năng ấy ở vào trạng thái không hoạt động.  Sau khi bị thương không lâu, Padgett phát hiện thấy trong mắt anh tất cả mọi thứ đều thay đổi. Kèm theo thị giác, đó là năng lực hội họa toán học kỳ lạ bỗng dưng anh có được. Những hình tròn anh vẽ ra đều gồm nhiều hình tam giác chồng lên nhau – điều đó đã giúp anh hiểu rõ khái niệm số Pi. Giờ đây Padgett là sinh viên năm thứ hai say mê nghiên cứu lý thuyết toán học. Khả năng kỳ diệu của anh đã thu hút sự quan tâm từ các nhà khoa học thần kinh, họ muốn tìm hiểu vì sao anh có được khả năng ấy.   Bà Berit Brogaard, một giáo sư triết học hiện làm việc tại Đại học Miami, bang Florida, cùng đồng nghiệp đã dùng máy cộng hưởng từ chức năng (fMRI) tiến hành quét (scan) bộ não của Jason Padgett để tìm hiểu xem vì sao anh có được kỹ năng bác học và tìm hiểu về hiện tượng liên thông giác quan (tạm dịch từ synesthesia, là hiện tượng một giác quan này liên thông với giác quan khác; ở Việt Nam có người dịch là cảm giác kèm) cho phép anh nhận thức các công thức toán học như là những hình kỷ hà.   Biện pháp chụp cộng hưởng từ đo được biến đổi trong máu và việc sử dụng ô-xi đi qua não. Kết quả scan cho thấy bán cầu não trái của Padgett hoạt động rất năng nổ, mà chúng ta đều biết năng lực tư duy toán học của con người tồn tại trong bán cầu này. Vỏ não đỉnh trái của anh năng nổ nhất, đây là vùng có tác dụng điều chỉnh tổng hợp các thông tin của mọi giác quan khác nhau. Ngoài ra còn thấy thùy thái dương (temporal lobe; vùng phụ trách ký ức thị giác, xử lý cảm giác và tình cảm) và thùy trán (frontal lobe; vùng phụ trách thực hành chức năng, khả năng quy hoạch và sức chú ý) của Padgett cũng bị kích hoạt một phần.  “Hiện tượng mắc hội chứng bác học rất hiếm thấy,” Broaard nói, và cho biết thêm là từ xưa tới nay, y học chỉ mới mô tả được từ 15 đến 25 ca như vậy.  Các nhà khoa học còn chưa rõ những thay đổi trong bộ não của Padgett có tính vĩnh cửu hay không, song giả sử xảy ra biến đổi có tính cơ cấu thì rất có thể các khả năng mới của anh sẽ được lưu giữ lại.  Thế nhưng để có được những khả năng siêu phàm ấy thì bao giờ cũng phải trả giá: sau lần bị tổn thương nặng kể trên, Padgett mắc chứng tự kỷ, giờ đây anh không thích giao tiếp với người khác.   Nguyễn Hải Hoành dịch   Nguồn: http://www.livescience.com/45349-brain-injury-turns-man-into-math-genius.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tròn 100 năm từ hội nghị Solvay đầu tiên      Cách đây đúng 100 năm, những bộ óc vĩ đại nhất của Châu Âu đã cùng ngồi lại để giải quyết những vấn đề cấp bách của ngành vật lý.     Trong khoảng 20 năm trước đó, một số nhà khoa học đã phát hiện ra những hiện tượng mới như tia X-quang, hiệu ứng quang điện, bức xạ hạt nhân, và điện tử. Đó đều là những vấn đề gây chấn động nền tảng lý thuyết vật lý.   Các nhà nghiên cứu của thế kỷ 19 từng nghĩ rằng họ sẽ sớm am hiểu tất cả mọi tiến trình vật lý trên cơ sở các phương trình của Issac Newton và James Clerk Maxwell, những hiện tượng mới mẻ trên đây đã làm sụp đổ triển vọng tích cực này. Các nhà vật lý hàng đầu, như Max Planck và Walther Nernst, tin rằng tình hình đã cấp bách đến mức phải tổ chức một hội thảo quốc tế để giới khoa học cùng tìm cách giải quyết.  Đó là sự khởi đầu của một cách mạng lượng tử.  Dư âm từ cuộc gặp này vẫn còn lại tới hôm nay. Tuy ngành vật lý lý thuyết dường như đang phần nào bế tắc, khi các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra hạt Higgs, chưa thấu hiểu vật chất tối và năng lượng tối, nhưng những tri thức mà chúng ta đã có về những vấn đề này đều được xây dựng trên nền tảng được thiết lập của một trăm năm trước, tại Hội đồng Solvay đầu tiên.   Từ ngày 30/10 tới 3/11 năm 1911, 18 nhà khoa học sáng giá nhất đương thời đã gặp nhau tại một hội thảo cao cấp (chỉ được đến qua thư mời) ở Brussels, Bỉ, có tên gọi là Hội đồng Solvay, được tài trợ và tổ chức bởi Ernest Solvay, một nhà hóa học giàu có.  Cùng với Max Planck, thường được gọi là cha để của vật lý lượng tử, tham dự hội thảo còn có Ernest Rutherford, người phát hiện ra hạt proton; Heike Kamerlingh-Onnes, người phát hiện ra hiện tượng siêu dẫn, nhà hóa học Marie Curie, và nhà toán học Henri Poincaire. Thành viên trẻ nhất trong nhóm chính là Albert Einstein, khi đó mới 32 tuổi.  Giống như mọi hội thảo khoa học khác, các thành viên hội thảo đã dành thời gian tranh cãi về các vấn đề trong ngành.  “Hội nghị ở Brussels giống như những lời than vãn của người hành hương giữa đống đền đài đổ nát của Jerusalem”, sau này Einstein hồi tưởng trong lá thư gửi một người bạn, Michele Besso. “Chẳng có sáng sủa nảy sinh từ đó.”  “Đền đài” đã đổ nát mà nhiều nhà khoa học thời đó thương tiếc chính là các lý thuyết vật lý cổ điển, từng thống trị tư tưởng khoa học trong các thế kỷ trước. Tư duy cổ điển từng giúp mô tả đường di chuyển của các hành tinh, các hiện tượng về điện và từ trường, các quan hệ giữa chất rắn, chất lỏng, chất khí. Nhưng các hiện tượng mới mẻ khiến các nhà khoa học phải đau đầu. Ví dụ như ánh sáng, từng được mô tả là một dạng sóng, nhưng một số thí nghiệm cho thấy cách hiểu này có khiếm khuyết.   Einstein ủng hộ mạnh mẽ cho trào lưu mới, đó là con đường của vật lý lượng tử. Dựa trên lý thuyết của Planck, ông ủng hộ ý tưởng cấp tiến đương thời, cho rằng ánh sáng có thể hành xử vừa như sóng, vừa như hạt (hay lượng tử). Ngày nay chúng ta biết rằng quan điểm đó là đúng, nhưng những quan sát thời đó không đủ thuyết phục giới khoa học. Phải tới thập kỷ 1920 các hạt ánh sáng mới được gọi là photon.  Các biên bản của Hội đồng Solvay đã cho thấy cái nhìn của các nhà vật lý thời ấy khác với hiểu biết hiện đại như thế nào. Các thành viên dự hội thảo “có lẽ đều tán đồng rằng cái gọi là lý thuyết lượng tử, thực ra là một công cụ hữu ích nhưng không phải là một lý thuyết theo cách hiểu thông thường, và nó không thể nào là một lý thuyết có thể được phát triển thành một hìnht hức rõ ràng vào lúc này”, Einstein viết.  Vào thời kỳ ấy, các lý thuyết mô tả ánh sáng lượng tử và tính lưỡng tính sóng – hạt đều không được dựa trên những căn cứ thí nghiệm vững chắc. Nhiều nhà khoa học tại hội thảo vẫn tin vào khái niệm đã lỗi thời về một thứ ete truyền sáng, một dạng môi trường để sóng ánh sáng truyền qua, giống như sóng của nước di chuyển qua đại dương.  Einstein bất đồng với sự bảo thủ của những đồng nghiệp khác tại hội thảo. Về Planck, ông viết, “duy trì lập trường ương ngạnh bảo vệ những tiền khái niệm sai lầm,” trong khi Poincare “đơn giản là chỉ tỏ thái độ tiêu cực, bất chấp mọi phẩm chất nhạy bén của mình, ông ta cho thấy không nắm rõ tình hình”.  Dù đặt ra những mục tiêu tham vọng nhưng hội nghị năm 1922 không đạt được mấy kết quả. Kết luận tại hội thảo, Ernest Solvay phát biểu với các nhà khoa học rằng, “Dù đã những kết quả tốt đẹp đạt được tại hội nghị, nhưng các vị đã không giải quyết được những vấn đề thực tế trước mắt”. Phải mất hai thập kỷ sau, những căn cứ thực nghiệm và những tranh cãi khoa học mới đi đến kết luận vững chắc rằng thuyết lượng tử đúng là một lý thuyết thực thụ.  Nhưng hội nghị đầu tiên này đã giúp Solvay thành lập ra một hội nghị thường niên dành cho các nhà khoa học hàng đầu tụ họp để bàn về những vấn đề đương đại. Hội nghị lần thứ năm vào năm 1927 chứng kiến Einstein tranh luận một lần nữa với các đồng nghiệp, nhưng lần này là với Niels Bohr và Werner Heisenberg, về sự đi quá xa của thuyết lượng tử, biến các hành vi của các hạt dưới nguyên tử thành một dạng khả năng. (“Thượng đế không chơi xúc xắc với vũ trụ”, Einstein từng tuyên bố trong lá thư viết cho Max Born.)  Dịch theo http://www.wired.com/wiredscience/2011/10/solvay-congress/#more-82396       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trong 30 năm, sóng nhiệt gây thiệt hại hàng nghìn tỷ USD      Những tổn thất kinh tế nặng nề do biến đổi khí hậu không còn là một viễn cảnh xa vời. Mới đây, một nghiên cứu trên tạp chí Science Advances đã phát hiện ra rằng những đợt sóng nhiệt từ hiện tượng ấm lên toàn cầu đã gây thiệt hại hàng nghìn tỷ USD kể từ những năm 1990. Trong đó, những quốc gia nghèo nhất và phát thải ít nhất lại là những nước phải hứng chịu nhiều tác động nhất.    Nắng nóng khắc nghiệt gây thiệt hại kinh tế lên đến 6,7% GDP ở các nước nghèo. Nguồn: iStock.com  Các nhà nghiên cứu ở Đại học Dartmouth đã kết hợp các dữ liệu kinh tế mới và chuyên sâu của các khu vực trên toàn thế giới với nhiệt độ trung bình trong năm ngày nóng nhất (một phép đo cường độ nhiệt thường được sử dụng) cho từng khu vực trong mỗi năm. Họ phát hiện ra rằng từ năm 1992–2013, các đợt nắng nóng cũng trùng với những thay đổi trong tăng trưởng kinh tế. Nhóm nghiên cứu ước tính, những thiết hại của nhiệt độ cao đối với sức khỏe con người, năng suất và sản lượng nông nghiệp có thể lên đến 16 nghìn tỷ USD.  Những phát hiện này đã cho thấy cần thiết phải có ngay các chính sách và công nghệ để bảo vệ người dân trong những ngày nóng nhất trong năm, đặc biệt là ở những quốc gia có khí hậu oi bức và có nền kinh tế dễ bị ảnh hưởng nhất.  “Việc đẩy nhanh các biện pháp thích ứng cho những giai đoạn nóng nhất trong mỗi năm sẽ mang lại lợi ích kinh tế ngay bây giờ”, Christopher Callahan – tác giả thứ nhất và là nghiên cứu sinh tiến sĩ về địa lý tại ĐH Dartmouth, cho biết. “Chúng ta không nên chỉ nhìn vào số tiền phải chi cho các biện pháp thích ứng, mà phải nghĩ đến cái giá của việc không làm gì cả. Nghiên cứu của chúng tôi đã xác định được cái giá phải trả khi không làm gì như vậy, và đó là một cái giá không hề rẻ”.  Theo Justin Mankin – tác giả chính và là trợ lý giáo sư địa lý tại ĐH Dartmouth, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên xem xét cụ thể những ảnh hưởng của sóng nhiệt đến giá trị kinh tế. “Cái giá thực sự của biến đổi khí hậu cao hơn rất nhiều so với những gì mà chúng ta tính toán từ trước đến nay”, Mankin nói.  Các mô hình khí hậu và các nghiên cứu trước đây đã tính đến sóng nhiệt cũng như các hiện tượng thời tiết cực đoan khác do biến đổi khí hậu gây ra, ví dụ như sự xuất hiện ngày càng dày đặc hơn của lũ lụt, cũng như bão với cường độ mạnh hơn. Tuy nhiên, theo Callahan, sóng nhiệt có một đặc trưng riêng. Chúng xảy ra trong khoảng thời gian ngắn hơn hạn hán và nhiệt độ của những ngày nóng nhất trong năm cũng được dự báo sẽ tăng nhanh hơn nhiều so với nhiệt độ trung bình toàn cầu (khi hoạt động của con người tiếp tục gây ra biến đổi khí hậu).  “Sóng nhiệt là một trong những hậu quả trực tiếp và hữu hình nhất của biến đổi khí hậu mà con người có thể cảm nhận được, song các tính toán của chúng ta về tác động của biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai vẫn chưa đánh giá đúng mức hiện tượng này”, Callahan nói.  Kết quả nghiên cứu cũng làm nổi bật các vấn đề về công bằng khí hậu và bất bình đẳng. Theo đó, các quốc gia nghèo nhất trên thế giới đã và sẽ phải gánh chịu nhiều nhất những hậu quả kinh tế của thời tiết khắc nghiệt, cũng như những chi phí cho biện pháp thích ứng. Trong khi đó, hầu hết các quốc gia này đóng góp ít nhất vào việc gây ra biến đổi khí hậu.  Các nhà khoa học phát hiện ra, trong khi thiệt hại kinh tế do các hiện tượng nắng nóng khắc nghiệt chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người đối với các khu vực giàu có nhất thế giới, thì con số này lại lên đến 6,7% ở các khu vực có thu nhập thấp. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng cho thấy ở một mức độ nào đó, một số khu vực giàu có ở châu Âu và Bắc Mỹ – vốn nằm trong số những nơi phát thải carbon nhiều nhất thế giới – về mặt lý thuyết có thể còn thu được lợi ích kinh tế trong giai đoạn thời tiết ấm hơn.  Bởi vậy, theo Mankin và Callahan, các quốc gia phát thải chính trên thế giới nên đóng góp phần lớn chi phí thích ứng với hiện tượng sóng nhiệt, đồng thời cần phải hỗ trợ các quốc gia có thu nhập thấp xây dựng các nền kinh tế phát thải thấp. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2022-10-driven-climate-global-economy-trillions.html    Author                .        
__label__tiasang Trồng cây “lính canh” để cảnh báo sâu bệnh      Khi một loài côn trùng mới xuất hiện ở một vùng đất mới sẽ nhanh chóng lây lan ra, tàn phá hệ sinh thái và sau đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. Chẳng hạn, loài bọ cánh cứng xanh (Emerald ash borer) có nguồn gốc châu Á xuất hiện lần đầu ở Bắc Mỹ vào năm 2002 đã làm chết hàng trăm triệu cây tần bì và gây thiệt hại lên tới hơn 10 tỷ USD.    Trong nỗ lực ngăn chặn những thảm họa tương tự và để được cảnh báo sớm về những loài gây hại lạ có khả năng tàn phá, các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ, châu Âu và Trung Quốc đang thử một cách tiếp cận mới: trồng những loại cây “lính canh” có nguồn gốc bản địa ở những quốc gia xa xôi khác và quan sát loài côn trùng nào sẽ tấn công chúng. Các phát hiện đó sẽ giúp nhà chức trách nhanh chóng dập tắt mối nguy từ những loài côn trùng mới nếu chúng xuất hiện ở quê hương của giống cây đó. Theo nhà côn trùng học Jiri Hulcr tại Đại học Florida, những cây lính canh này sẽ là “phòng tuyến mới” trong việc chống sâu bệnh tại các cánh rừng.  Thực tế, những rặng cây gốc Bắc Mỹ và châu Âu đã được trồng ở Trung Quốc, cho phép các nhà khoa học xác định và nghiên cứu hơn một chục loài côn trùng đáng lo ngại. Ở châu Âu, 23 quốc gia đã khởi động một dự án trị giá 5 triệu euro cùng với nhiều hoạt động khác để thiết lập các vườn ươm cây lính canh ở Bắc Mỹ, châu Á và Nam Phi.   Một nhóm do nhà côn trùng học Alain Roques thuộc Viện Nông nghiệp, Thực phẩm và Môi trường Quốc gia Pháp dẫn dắt đã sử dụng cách tiếp cận này trong giai đoạn 2007-2011. Họ trồng 7 loài cây ở thành phố Phụ Dương và gần Bắc Kinh, Trung Quốc. Đến năm 2015, họ xác định được hơn 100 loại côn trùng chuyên ăn các loại cây này, trong đó 5 loài được coi là nguy hiểm. Nhóm nghiên cứu đã đưa 1 loài – ngài túi bagworm moth – về châu Âu để xem xét đặc tính thích ăn các loài cây lá rộng của nó. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự cách ly nghiêm ngặt, cho thấy loài bướm ngài này có thể phá hủy hàng loạt cây cối.  Hulcr từng thay đổi suy nghĩ sau khi đồng nghiệp ở Trung Quốc phát hiện ra một loài bọ chuyên phá hủy cây bạch đàn Mỹ trồng gần Thượng Hải. Theo báo cáo của nhóm vào năm 2017, nếu loài bọ cánh cứng này tới, nó sẽ gây ra mối đe dọa nghiêm trọng. Phát hiện này khiến Trung Quốc cấm nhập khẩu loại cây trên để tránh thiệt hại thêm.  Cho đến nay, nhóm của Hulcr đã phát hiện ra 8 loài côn trùng đáng lo ngại. Các nhà nghiên cứu hiện đang nuôi dưỡng và theo dõi những con côn trùng này. Những nghiên cứu như vậy có thể cảnh báo cơ quan chức năng tìm kiếm các loài sinh vật gây hại và có những biện pháp theo dõi và kiểm soát côn trùng tốt hơn.  Việc thành lập các vườn cây ăn trái ở nước ngoài có thể gặp khó khăn, nhà côn trùng học Roques cho biết. Một nông dân Trung Quốc đã phá bỏ một vài cây trồng của ông sau khi thấy côn trùng phá hoại nó mà không biết rằng họ cố tình thiết kế như vậy để cây bị tấn công. Nhóm nghiên cứu không được tiếp cận với những khu vực trồng khác sau khi các cộng tác viên sợ những giống cây này có thể mang sâu bệnh từ châu Âu đến châu Á.  Các quỹ tài trợ đang tăng cường hỗ trợ cho các khu rừng lính canh. Dự án mới của châu Âu “Quản lý toàn diện các loại sâu bệnh hại rừng mới nổi” dự kiến ​​sẽ kéo dài đến năm 2024. Cục Kiểm lâm Mỹ (USFS) cũng đang tài trợ một số dự án, trong đó có dự án của nhà nghiên cứu bệnh học thực vật Enrico Bonello của ĐH bang Ohio trồng những cây lính canh đầu tiên (gồm các loại sồi, nhựa ruồi, phong, và thông) từ châu Á, châu Âu trên đất Ohio và New Hampshire vào tháng 4. Nhiều loại cây Bắc Mỹ và châu Á được trồng tại Thụy Điển, Italy.  Sẽ mất nhiều năm để biết liệu các cây lính canh có cung cấp thông tin hữu ích hay không, ví dụ một số loài côn trùng không tấn công cây non có tấn công cây trưởng thành không, và một số cây có bị côn trùng tấn công hơn khi phát triển ngoài phạm vi bản địa của chúng không. □  Ngô Hà dịch   Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/03/scientists-plant-sentinel-trees-warn-devastating-pests    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng cây phục vụ sứ mệnh đến sao Hỏa      Trồng rau trên vũ trụ luôn là vấn đề mà NASA quan tâm bởi nó không chỉ tạo ra nguồn thực phẩm tươi cho các nhà du hành khi ở trên trạm không gian, mà còn là vấn đề sau này khi con người đến được hành tinh Đỏ.      Các phi hành gia Scott Kelly, Kjell Lindgren và Kimiya Yui thuộc Đoàn thám hiểm 44/45  đã được phép ăn rau diếp trồng từ phòng thí nghiệm của họ.  Khi trở về Trái đất, thứ mà nữ phi hành gia người Ý Samatha Cristoforetti thèm nhất là một đĩa salad to. Thực tế, khi cô ở trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015 thì rau diếp đã được trồng ở đó, nhưng cô và các đồng nghiệp trong Đoàn thám hiểm 42/43 chưa được phép ăn. Phải đến khi việc kiểm tra an toàn thực phẩm được tiến hành đối với những cây rau đầu tiên thì NASA mới c hấp thụận cho phi hành đoàn kế tiếp sử dụng.  Hạt rau diếp đã được gửi lên ISS từ tháng 4/2014 kèm theo một thiết bị trồng cây có tên là “Veggie” bao gồm một tấm phẳng có đèn LED xanh lam, đỏ, và xanh lục cùng các thiết bị giúp cây sinh trưởng trong môi trường không trọng lực. Thực tế, các cây chỉ  hấp thụ quang phổ của đèn màu xanh lam và đỏ, còn đèn màu xanh lục được đưa vào chỉ đơn giản khiến cho những cây rau trông đẹp mắt hơn. Nhưng trồng cây nào thì NASA không có đủ thời gian để kiểm nghiệm và chọn giữa hàng nghìn loại cây, bởi vậy cơ quan này phải nhờ đến sự giúp đỡ của các em học sinh. Khoảng 115 trường học ở Miami và các vùng lân cận đã được trao những thiết bị trồng cây tương tự như Veggie, sau đó các trường sẽ báo cáo kết quả của họ cho NASA qua tài khoản GrowBeyondEarth trên Twiter.  Đất trồng cũng là một bài toán khác cần giải quyết. Theo Ralph Fritsche, giám đốc cao cấp của dự án sản xuất thực phẩm tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy thuộc NASA, sao Hỏa không có đất. Hành tinh này chỉ có “đá bị phong hóa” – đá núi lửa bị nát vụn chứa những chất hóa học độc hại và không có thành phần hữu cơ. Do vậy Trung tâm Vũ trụ Kennedy đã chọn đất từ Hawaii để mô phỏng đất trên sao Hỏa, dựa vào dữ liệu quang phổ từ sao Hỏa cho thấy đá và bụi ở đó được tạo ra từ những gì.  Họ đã trồng rau diếp trong ba điều kiện: tương tự như trên sao Hỏa, tương tự như trên sao Hỏa nhưng bổ sung chất dinh dưỡng, và trồng bằng loại đất đóng bao vẫn được bày bán. Rau diếp “trồng trên đất sao Hỏa” có mùi vị tương tự như rau trồng trên đất thông thường nhưng có rễ yếu hơn và hạt nảy mầm lâu hơn. Tiếp theo sẽ là củ cải, cải xoăn, đậu tuyết, ớt lùn và cà chua được trồng thử nghiệm.  Vậy còn những kim loại nặng như chì, cadmium và đồng? Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại họcWageningen, Hà Lan, nơi cũng theo đuổi dự án trồng cây trên Mặt trăng, đã chứng tỏ cây rau có thể sinh trưởng trên “đất” sao Hỏa mô phỏng, dù độ kim loại cao. Các phân tích sơ bộ đối với củ cải, đậu, lúa mạch đen và cà chua cho thấy chúng đều ăn được.  Sắp tới, nhóm nghiên cứu sẽ xem xét hàm lượng vitamin và flavonoid – chất chuyển hóa quyết định mùi vị, cũng như alkaloid – một loại amin có có thể gây ngộ độc. Tuy nhiên họ vẫn chưa rõ liệu trong điều kiện trọng lực thấp như trên sao Hỏa và Mặt trăng thì cây trồng có hấp thụ các độc tố trong đất như trong điều kiện trên Trái đất không. Và theo họ, câu hỏi này chỉ tìm được lời giải qua các thí nghiệm “tại chỗ”.  Vũ Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn:  http://www.dw.com/en/sowing-the-seeds-for-a-mission-to-mars/a-36055738       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trong cuộc chiến mật mã: Người giàu chưa chắc đã là kẻ mạnh      Công bố của nhà nghiên cứu mật mã Neal Koblitz (Mỹ) và Phan Dương Hiệu (Việt Nam) trong khuôn khổ Hội thảo mật mã Châu Á – AsiaCrypt 2016 về “Mật mã trong chiến tranh Việt Nam” hấp dẫn như một câu chuyện. Nó kể về quá trình Việt Nam đi từ một trình độ mật mã rất yếu cuối năm 1945* cho đến việc tự phát triển một phương thức mật mã riêng, có thể bảo vệ các thông tin chiến thuật khỏi những tấn công phá mã của đối phương và thậm chí, phía Việt Nam còn lấy được các thông tin gửi đi bằng thiết bị mã hóa tối tân nhất của Mỹ trong một số trường hợp**.  GS. Neal Koblitz đã trao đổi với Tia Sáng về những về những điều ông tâm đắc trong nghiên cứu này ngay sau khi hội thảo AsiaCrypt 2016 kết thúc.        Điệp viên Phạm Xuân Ẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trái).  Có điều gì khiến ông bất ngờ khi thực hiện nghiên cứu này không?  Trong nghiên cứu của tôi có một vấn đề mà tôi đã không đề cập trong bài thuyết trình vì không đủ thời gian. Đó là khi Ban cơ Yếu của quân đội Việt Nam được thành lập vào ngày 12/9/1945, lúc đó trình độ mật mã Việt Nam  rất thấp. Tôi tự hỏi tại sao trước đó, Mỹ lại không giúp đỡ Việt Minh trong lĩnh vực thông tin tình báo (communication intelligence), dù đã có một cuộc gặp giữa đại diện của Chính phủ Mỹ với Hồ Chí Minh và Võ Nguyễn Giáp trong việc hợp tác cung cấp thông tin tình báo về hoạt động của quân đội Nhật trong khu vực. Đáng lẽ Mỹ hoàn toàn có thể hỗ trợ Việt Minh trong lĩnh vực mật mã để họ có thể gửi thông tin cho phía Mỹ dễ dàng hơn.    Tôi cũng rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng sau đó trình độ của quân giải phóng trong việc mã hóa các thông tin mang tính chiến lược rất cao. Họ thậm chí tìm ra được điểm yếu trong thiết bị mã hóa tối tân nhất của Mỹ và còn tấn công phá mã bản tin của phía Mỹ. Không ai ngờ rằng một đất nước nghèo, một đội quân du kích hoạt động trong rừng sâu có thể bắt được thông tin của các thiết bị mã hóa tối tân từ phía Mỹ***. Hơn thế nữa, trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, phía Việt Nam có thể đào tạo được những người hiểu được tiếng Anh, không phải chỉ thứ tiếng giao tiếp thông thường mà bao gồm cả những biệt ngữ, thuật ngữ rất phức tạp được sử dụng trong quân đội Mỹ. Phía Mỹ không tin được điều đó, họ nghĩ rằng việc Việt Nam [có nghe được cũng] không đời nào hiểu được họ đang nói gì.  Phía Pháp cũng đánh giá cao Việt Nam. Christopher Goscha, một chuyên gia hàng đầu thế giới nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, nói rằng trong số những cuộc đấu tranh chống chế độ thuộc địa, Việt Nam là nơi duy nhất có trình độ thông tin tình báo có thể so sánh được với đối thủ, kể cả Mặt trận Giải phóng Dân tộc (FLN) Algeria chống lại Pháp, hay những người Cộng hòa Indonesia chống lại người Hà Lan [hai trong số các cuộc chiến tranh chống thuộc địa nổi tiếng nhất thế giới] có trình độ thông tin tình báo kém hơn rất nhiều.    Tuy nhiên, vẫn có giới hạn về trình độ sử dụng mật mã của Việt Nam vì trong nghiên cứu của mình, ông có chỉ ra rằng phía Việt Nam không thể giải mã được các thông tin chiến lược mã hóa của Mỹ?  Đúng là Việt Nam không thể giải mã được các thông tin chiến lược của Mỹ nhưng ngược lại, Mỹ cũng vậy. Hơn thế nữa, Việt Nam có Phạm Xuân Ẩn, một trong những điệp viên hàng đầu thế giới nắm giữ một lượng lớn thông tin chiến lược của Mỹ. Minh chứng cho điều này, có một câu nói nổi tiếng về Phạm Xuân Ẩn trong cuốn tiểu sử của ông, đó là: “Chúng ta dường như đang có mặt trong phòng tác chiến của Mỹ”. Những người trong hội thảo AsiaCrypt 2016 có lẽ hứng thú với những câu chuyện, không chỉ về mật mã mà còn về những điệp viên.      Theo Brian Snow (nguyên giám đốc kỹ thuật đơn vị bảo mật thông tin của NASA mà sau này gọi là IDA, Information Assurance Directorate) cho biết trong suốt chiến tranh Việt Nam, họ luôn xác định dùng công nghệ mật mã cao cấp nhất bất kể trình độ mật mã của Việt Nam ở đâu. Trong ảnh là NESTOR, thiết bị mã hóa thông tin qua radio, được cho là thiết bị mã hóa tối tân nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Nguồn: báo cáo của Neal Koblitz và Phan Dương Hiệu.  Ông còn nhắc tới Nguyễn Đình Ngọc trong nghiên cứu của mình nữa, đúng không?  Nguyễn Đình Ngọc là một người rất khiêm tốn và ít nói. Tôi không hề biết ông ấy nắm giữ một vị trí cao trong quân đội, tôi chỉ biết ông là một nhà toán học. Mỗi lần ông đến các buổi seminar, ông thường mặc quân phục khiến cho các nhà toán học khác lấy làm lạ và họ đùa rằng, lí do mà ông ấy ăn mặc như thế là vì hồi chiến tranh, làm tình báo nên dù ở trong quân đội, ông ấy cũng không được mặc quân phục nên bây giờ bù lại, ông ấy mặc suốt ngày. Nhưng Nguyễn Đình Ngọc không kể một chút gì về việc ông ấy đã làm trong chiến tranh. Còn với tôi, ông ấy là một người bạn, một nhà toán học và ông đã kể với tôi rất nhiều về Việt Nam.      Mật mã là một công cụ bình đẳng cho tất cả mọi người, kể cả những người yếu thế, những người bình thường không có lợi thế về tiền bạc hay quyền lực sử dụng.      Nguyễn Đình Ngọc là một người rất khác thường, ông ấy có thói quen ăn uống kì lạ và ông ấy say mê những thứ mà những nhà toán học khác cự tuyệt, chẳng hạn như chiêm tinh và bói toán. Nhưng tôi nghĩ có hai nhân cách trong con người Nguyễn Đình Ngọc [nhà toán học và nhà tình báo]. Ngô Bảo Châu nói với tôi rằng khi Nguyễn Đình Ngọc làm tình báo ở phía Nam, ông ấy bói chỉ tay rất giỏi nên thường được những tướng lĩnh cấp cao mời lên nói chuyện và nhờ đó ông thu thập được rất nhiều thông tin trong nội các. Rất lâu sau này khi hòa bình lập lại, ông ấy vẫn có những niềm tin kỳ bí nhưng có thể đó chỉ là thói quen không bỏ được, chẳng có gì chắc chắn rằng ông ấy thật sự có những niềm tin ấy. Giống như Phạm Xuân Ẩn, nhân cách điệp viên là một phần của con người ông Nguyễn Đình Ngọc mà ông ấy không dễ dàng từ bỏ ngay cả khi chiến tranh đã lùi xa một thời gian dài, cũng giống như một diễn viên giỏi không thoát khỏi cái bóng vai diễn của mình.  Một trong những nhận định mà ông rút ra từ nghiên cứu của mình đó là “trong mật mã, bạn không cần giàu, bạn chỉ cần cái đầu thôi”. Vậy ông có thể nói rõ hơn về điều này không?  Khi bạn có một điệp vụ tốt, bạn đã có thông tin, đặc biệt là các thông tin mang tính chiến lược, bạn cần bảo vệ các thông tin mật đó. Vì vậy bạn cần phải đầu tư để phát triển một trình độ mật mã cao. Trong trường hợp này, Việt Nam dùng trí thông minh thay cho những thiết bị hiện đại đắt tiền mà họ không thể có. Họ chỉ dùng một quyển sách mã (codebook, nhiều người có thể đọc được) để mã hóa bước một và mã OTP để mã hóa bước hai (OTP – one-time pad, quyển mã dùng một lần1, chỉ được chia sẻ giữa hai người duy nhất là người gửi và người nhận được, in ở Liên Xô vì kích thước quá nhỏ và dễ dàng tiêu hủy khi gặp nguy biến). Ngoài ra, phía Việt Nam còn có trạm radio di động trong rừng để có thể tránh bị phát hiện nguồn tin nhưng đó cũng chỉ là công nghệ cơ bản. Trái lại, NSA [Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ] có thiết bị mã hóa rất đắt tiền nhưng nó lại không chạy tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lợi thế mà NSA có là tiền bạc và công nghệ tối tân lại không hiệu quả cho lắm. Trong mật mã, không thể phụ thuộc vào thiết bị cao cấp hay tiền bạc để thành công, trí thông minh mới quan trọng.  Câu chuyện về lịch sử mật mã ở Việt Nam liên quan như thế nào đến niềm tin của nhiều người nghiên cứu mật mã rằng “mật mã có tiềm năng rất lớn bảo vệ những người yếu thế, những người bình thường trước những tổ chức quyền lực của chính phủ và các công ty khổng lồ” như ông viết trong nghiên cứu?  Tôi đã từng nói rằng mật mã không cần nhiều tiền và nó hoàn toàn là vấn đề thuộc về trí tuệ (cerebral). Trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, quân giải phóng của một nước nghèo khó với nguồn lực hạn chế đã sử dụng mật mã hiệu quả như bên đối thủ giàu có. Trong thời đại bây giờ, Edward Snowden, một người bình thường (bây giờ thì anh ấy nổi tiếng rồi), không có nhiều tiền bạc, cũng chẳng có quyền lực gì, cũng có thể dùng mật mã để thoát khỏi sự kiểm soát chính quyền và chuyển thành công toàn bộ thông tin cho phía báo chí. Rồi phía báo chí lại sử dụng mật mã (sau khi được Snowden hướng dẫn) để liên lạc với anh ấy. Có rất nhiều trường hợp mọi người sử dụng mật mã để bảo vệ bản thân mình khỏi sự đe dọa và theo dõi từ các cơ quan, tổ chức lớn. Mật mã là một công cụ bình đẳng cho tất cả mọi người, kể cả những người yếu thế, những người bình thường không có lợi thế về tiền bạc hay quyền lực sử dụng.  Ngoài những chi tiết sâu về kỹ thuật mật mã được sử dụng bởi hai nước mà vẫn chưa được giải mật, ông có câu hỏi nào chưa thể trả lời trong nghiên cứu này không?  Một điều tôi đã hỏi nhiều người. Đó là phía Việt Nam có biết là có một cuộc biểu tình diễn ra trong đơn vị tình báo của lực lượng không quân Mỹ (USAF) trong đợt dội bom vào Giáng Sinh năm 1972 ở Hà Nội? Họ đã giúp các trạm tên lửa đất đối không (SAM- Surface to air missle) của Việt Nam bằng cách từ chối thông báo tín hiệu của các trạm này cho lực lượng không quân của Mỹ, để có thể bảo vệ Hà Nội dễ dàng hơn?  Chúng tôi từng biết rằng thường xuyên có trường hợp những người lính Mỹ ở Việt Nam từ chối chiến đấu và sát thương cấp trên của họ, đặc biệt là khi trận chiến gần kết thúc. Quân đội Mỹ mất dần khả năng kiểm soát những người lính của mình và trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, họ có những đợt kiểm tra xem những sĩ quan cấp cao bị giết bởi quân giải phóng hay bởi chính những người lính của mình. Nhưng trong các cơ quan tình báo Mỹ, chưa bao giờ chúng tôi nghe đến những điều như vậy.  Một lí giải cho cuộc biểu tình này có thể là đơn vị tình báo của Mỹ ở Hà Nội biết rằng cuối năm 1972, chiến tranh sẽ kết thúc và Hà Nội đang chuẩn bị một lễ ăn mừng hòa bình lớn. Vậy mà cùng lúc, họ được ra lệnh phải tham gia cuộc tấn công Hà Nội. Vì là những sĩ quan tình báo, họ nhận thức rõ rằng cuộc tấn công trên không sẽ giết hại một số lượng lớn người dân thường chứ không phải là cuộc tấn công nhằm vào quân đội. Họ biết mục đích là để Mỹ đe dọa phía Việt Nam trong việc đàm phán hòa bình, giành lấy những điều khoản có lợi hơn cho mình. Sự kiện này lúc đó không ai biết, chỉ đến năm 1978 mới được tiết lộ trên một tờ báo. Có lẽ Ban Cơ yếu của Việt Nam không hề biết gì về nó, có lẽ vì nó nằm ngoài lĩnh vực của họ trong chiến tranh, nằm ngoài phần lịch sử mà họ biết.        Xin cảm ơn ông đã chia sẻ!   Hảo Linh thực hiện  ——–  1 Trong quyển mã OTP có nhiều chuỗi khóa để dùng dần, tuy nhiên dùng mã nào xong thì họ phải xóa bỏ/hủy mã đó luôn.  * Bản in có đưa ra một ví dụ về trình độ mật mã yếu của Việt Nam là để nguyên chìa khóa trong văn bản mã hóa. Tuy nhiên, trường hợp này xảy ra vào năm 1950 và lúc đó trình độ mật mã Việt Nam đã có bước tiến nhất định về mật mã nên Tia Sáng đã sửa lại.   ** và *** Sửa lại so với bản in có ghi là phía Việt Nam giải mã được các thông tin mã hóa trong thiết bị tối tân nhất của Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế, phía Việt Nam chỉ lấy được các thông tin chưa được mã hóa trong một số trường hợp khi các sĩ quan Mỹ tháo vỏ thiết bị mã hóa của họ để làm mát máy.    Trong bản in có ghi nghiên cứu này là công bố khoa học, tuy nhiên, các tác giả coi đây chỉ là một công bố; tác giả Phan Dương Hiệu hiện đang làm việc tại Pháp.        Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Trồng dưa bằng… “phần mềm”      Ứng dụng phần mềm, chip cảm biến, công nghệ điện toán đám mây… vào sản xuất nông nghiệp (NN) đang được triển khai tại TP HCM qua những dự án đã có kết quả rất tốt. Công nghệ đã góp phần làm tăng năng suất, chất lượng của cây trồng và tiết giảm chi phí đầu tư so với phương thức truyền thống.         Trồng dưa lưới bằng hệ thống Smart Agri tại Khu Nông nghiệp công nghệ cao TP HCM đem lại hiệu quả cao (Ảnh: QTSC cung cấp)Nền nông nghiệp thông minh  NN ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, hay còn gọi là “NN thông minh”, đang trở thành xu thế mới, cải thiện đáng kể nền NN ở nhiều nơi trên thế giới. Hình ảnh nhà nông vất vả và lạc hậu đang trở thành lỗi thời, thay bằng nhà nông ứng dụng thuần thục công nghệ và kỹ thuật hiện đại vào thương mại, sản xuất.  Vừa qua, Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC) đã phối hợp với Công ty Global CyberSoft Việt Nam (GCS) và Ban Quản lý Khu NN công nghệ cao TP HCM (AHTP) triển khai dự án NN công nghệ cao (CNC). Sản phẩm đầu tay của chương trình này là hệ thống quản lý Smart Agri với tính năng: Hỗ trợ lập kế hoạch, tính toán chi phí doanh thu theo mùa vụ; thu thập thông tin nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ pH… và điều khiển các thiết bị để giữ cho điều kiện môi trường tuân theo quy trình chuẩn. Smart Agri cũng hỗ trợ phân tích, đánh giá chất lượng, năng suất theo giống, mùa vụ, quy trình, khu vực sản xuất…; đồng thời, thiết lập hệ sinh thái cho nhà nông, chuyên gia, nhà phân phối và đơn vị thu mua trao đổi thông tin, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm…  Từ cuối tháng 12-2015, tại AHTP, một khu nhà màng rộng hơn 1.000 m2 được đầu tư trồng dưa lưới bằng công nghệ tự động, ứng dụng CNTT và hạn chế tối đa nhân công. Ông Ngô Văn Toàn, Phó Tổng Giám đốc GCS, chia sẻ: “Trước đây, việc xem xét nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng cho cây trồng phụ thuộc vào kinh nghiệm của con người thì nay thực hiện tự động thông qua các hệ thống chip cảm biến được gắn ở một số vị trí trong nhà màng. Điều này bảo đảm các yếu tố ảnh hưởng đến cây trồng luôn được giữ ở một mức độ phù hợp nhất”. Vừa qua, hơn 2 tấn dưa đã được tung ra thị trường mang lại doanh thu hơn 60 triệu đồng. “So với phương pháp trồng truyền thống, sản lượng dưa lưới tăng khoảng 10% trên cùng một diện tích, chất lượng cũng đồng đều, bảo đảm hơn” – đại diện AHTP cho biết.  Nhiều đơn vị khác cũng đã đưa ra các giải pháp, dịch vụ CNTT phục vụ NN. VinaPhone cung cấp công nghệ M2M (thiết bị đến thiết bị) cho nông dân có thể nắm bắt diễn biến của thời tiết, thông số môi trường để phòng tránh dịch bệnh, thông tin giá cả thị trường các mặt hàng nông sản tại nhiều vùng miền, trên thế giới được cập nhật theo ngày, giờ qua điện thoại di động. MobiFone cũng có dịch vụ tương tự là Nông thôn xanh và Viettel là Agri.ONE.  Tại Hà Nội, Tập đoàn FPT và Fujitsu cũng đã xây dựng Trung tâm Hợp tác NN thông minh FPT – Fujitsu, ứng dụng công nghệ điện toán đám mây Akisai để trồng cà chua cỡ vừa và xà lách ít kali với quy trình quản lý từ sản xuất đến phân phối, tiêu thụ.  Giảm chi phí, nhân công  Theo FPT, quản lý bằng hệ thống Akisai, cây xà lách khi thu hoạch sẽ giòn, ngọt, hàm lượng kali chỉ bằng 1/5 xà lách thông thường, phù hợp với người bị bệnh thận và người ăn kiêng. Đặc biệt, vì không sử dụng hóa chất NN nên sản phẩm có thể ăn ngay mà không cần rửa. Cà chua thì có độ ngọt tự nhiên và hàm lượng dinh dưỡng rất cao với lượng đường và lycopene (thành phần chống ôxy hóa) cao hơn khoảng 3 lần so với sản phẩm thông thường.  Đặc biệt, cà chua được áp dụng kỹ thuật IMEC (phương pháp trồng trên tấm phim Hydrogel) cho phép chất dinh dưỡng và nước thấm qua, giúp ngăn chặn toàn bộ vi khuẩn. Với kỹ thuật này, cà chua được trồng với mật độ cao – trung bình 4.000-6.000 cây/1.000 m2, thu hoạch quanh năm, thay vì trồng luân canh như kỹ thuật thông thường. Với chế độ canh tác tối ưu, NNCNC có thể nâng năng suất lao động lên 2-3 lần.  Theo ông Toàn, việc quản lý NN được tiến hành một cách tự động thông qua các giải pháp CNTT giúp nhà nông giảm nhiều chi phí sản xuất, nhân công chăm sóc (vốn chiếm chi phí khá lớn trong NN), tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Do chạy trên một hệ lập trình có sẵn nên những ảnh hưởng tiêu cực do yếu tố chủ quan từ con người cũng được triệt tiêu.  Theo mục tiêu quốc gia, trước năm 2020, Việt Nam sẽ là “nhà” của 200 doanh nghiệp NNCNC và 10 khu NNCNC. Tuy nhiên, hiện Việt Nam chỉ có khoảng 22 doanh nghiệp NNCNC so với hàng ngàn công ty NN. Nguyên nhân là do các đơn vị CNC gặp khó khăn về vốn và ưu đãi đầu tư, trong khi lĩnh vực này lại cần nhiều vốn và mất thời gian dài để có lợi nhuận. Do đó, các chuyên gia đề nghị nhà nước cần có chính sách đẩy mạnh thu hút vốn vào NN thì mới có thêm nhiều nhà đầu tư tham gia lĩnh vực này.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trọng dụng hơn là trọng đãi      Cần có chính sách đối xử thể hiện sự trọng dụng hơn trọng đãi khi thu hút trí thức Việt Kiều về nước làm việc. Tiến sĩ Trần Hà Anh, chủ tịch câu lạc bộ khoa học kỹ thuật Việt kiều của TPHCM cho biết, trong bài phát biểu tại một cuộc hội thảo để phát huy hơn nữa chất xám Việt kiều diễn ra ở TPHCM.      Thu hút chung chung  “Chỉ có 7 Việt kiều tham gia giảng dạy tại Đại học Bách Khoa TPHCM, trong đó tính cả giáo sư Nguyễn Đăng Hưng” – tiến sĩ hàng không Nguyễn Thiện Tống cho biết. Nêu lên con số ít ỏi đó, tiến sĩ Tống chỉ ra trên thực tế đã có những rào cản vô hình hay hữu hình, từ văn bản đến thực thi ở cấp cơ sở, khiến khả năng huy động nguồn lực chất xám Việt kiều vẫn khó thực thi. Nhà khoa học và là nhà giáo này trưng ra đề án đổi mới giáo dục đại học, trong đó có chưa tới 5 từ nhắc tới trí thức Việt kiều, mà theo ông, khả năng chung tay thực hiện của Việt kiều là hoàn toàn khả thi.  Theo tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình, khái niệm trọng dụng ở đây nên được hiểu là “Dùng người đúng việc đúng chỗ và họ có khả năng làm được”. Ông Bình giải thích, nếu đưa đầu bài xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp cho một vùng mà chỉ nói chuyện với chuyên gia thì họ chỉ có thể phác thảo chung chung. “Để có được bài giải, chúng ta phải thuê họ làm chủ nhiệm đề tài. Phải trao cho họ trọng trách, để họ nghiên cứu, tổng hợp rồi mới có đề xuất sát với thực tế”- ông nói.  Ở một địa bàn năng động về kinh tế và cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ như TP Hồ Chí Minh, trong mấy năm nay, người ta biết nhiều đến tên tuổi của hai trí thức Việt Kiều. Một là tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, giám đốc trung tâm nghiên cứu của khu công nghệ cao và hai là tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình, phó giám đốc trung tâm công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh. Theo nhận xét của một vị lãnh đạo cơ quan nghiên cứu của TP, Việt kiều có về làm việc nếu có giữ chức vụ, cũng nên làm phó. Tiếp sau nhận xét này là một lời giải thích liên quan nhiều đến cơ chế làm việc, bất cập trong quản lý và những thủ tục hành chính nhiêu khê, rườm rà. Môi trường làm việc như vậy gây “dị ứng” với Việt kiều, những người đã quen với môi trường làm việc hoàn toàn khác. Một khi các nhà khoa học trong nước vẫn còn kêu khổ với thủ tục giấy tờ về tài chính khi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, thì Việt kiều về nước làm công tác nghiên cứu cũng khó tránh khỏi nỗi khổ trên. “Ở các nước, cơ chế quản lý tương đối thoáng, chỉ quan tâm tới hiệu quả hơn là các thủ tục” – một nhà khoa học cho biết.  Đằng sau những vướng mắc về thủ tục hành chính còn ẩn chứa sự khác biệt về tư duy quản lý. Viện trưởng một viện nghiên cứu do nhóm trí thức trong nước lập ra nói thẳng: “Chúng tôi còn chưa làm được, sao trí thức Việt kiều làm được”. Ông minh chứng về những hợp đồng nghiên cứu và chuyển giao mà viện ông thực hiện cho điện lực một tỉnh phía nam. Trong đó định mức tiền lương của chuyên gia phải tính theo thang lương của nhà nước, một thước đo giá trị lao động đã lỗi thời và đang là đối tượng được điều chỉnh trong những năm tới. Câu chuyện của ông còn chỉ ra lối nghĩ đơn giản của các đơn vị nhà nước hiện nay. Một hợp đồng nghiên cứu chuyển giao tưởng như sắp được ký lại phải dừng vì lý do đơn giản. “Vấn đề này đã có một viện nghiên cứu chiến lược ở cấp trung ương, sao lại đặt hàng viện khác” – ông cho biết.     Thay đổi chiến thuật  Nghịch lý nhất trong thời đại thông tin này là nhà nghiên cứu và các cơ sở vẫn thiếu thông tin ví như Việt kiều về nước làm gì, cần gì ở đội ngũ chuyên gia? – ông Bình nêu lên thực trạng. Tiến sĩ Trần Hà Anh xác nhận thực trạng này bằng dẫn chứng thuyết phục về đơn đặt hàng cho câu lạc bộ khoa học và kỹ thuật Việt kiều của TP Hồ Chí Minh chẳng có ai tìm đến. Ông Nguyễn Bách Phúc, Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học đề xuất, cần có những dự án cụ thể và mời các chuyên gia, trí thức Việt kiều tham gia, chứ không thể kêu gọi chung chung. Đây cũng là câu trả lời cho câu chuyện do bà Tôn Nữ Thị Ninh (Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội) kể. Một giáo sư Việt kiều đã nói thẳng rằng ông không có thời gian, nên phải nói cụ thể cần ông giúp những gì.  Trong tổng kết ý kiến đóng góp của Việt kiều về phát huy chất xám, theo tiến sĩ Trần Hà Anh, có luồng ý kiến nhắc đến chuyện lương bổng. Ông Nguyễn Quốc Bình lý giải: “Chúng ta xưa nay lôi cuốn được sự giúp đỡ, ủng hộ của hội Việt kiều các nước chủ yếu nhờ vào lòng yêu nước của họ. Bây giờ các thế hệ Việt kiều đó thường đã đến tuổi về hưu, họ có thời gian và nhiệt huyết để giúp đất nước. Song nếu chúng ta muốn phát huy hơn nữa những người xưa nay chưa làm việc với Việt Nam thì chúng ta phải thay đổi chính sách lương bổng cho các chuyên gia Việt kiều này. Những người có kinh nghiệm hay được đào tạo chính quy muốn làm việc ở Việt Nam thì ít ra chúng ta phải trả đủ lương cho họ sống một cách chính thức. Lối nghĩ này theo một số chuyên gia trí thức Việt kiều cũng như trong nước, sẽ phù hợp với thế hệ thứ hai, thế hệ thứ ba của Việt kiều. “Ngay cả chuyện đi học mà chúng ta còn không muốn con em chúng ta theo học trong nước thì họ (Việt kiều) sao có thể về sinh sống và làm việc và để con họ theo học” – cựu giảng viên một trường đại học lớn ở TPHCM nói.  Cũng tán đồng phải thay đổi cách làm, bà Tôn Nữ Thị Ninh  cho biết: “Vấn đề không phải là luật pháp mà là thực thi pháp luật”. Bà Ninh nhấn mạnh đến việc chọn các chương trình, dự án phù hợp và làm thí điểm. Tư duy này được sự đồng tình của nhiều chuyên gia, nhà quản lý có mặt tại Hội thảo. Và ông Nguyễn Chơn Trung, chủ tịch Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài của TP Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế thí điểm áp dụng cho TP, sau đó tổng kết, nhân rộng ra cả nước. “Trong quý ba năm nay TP sẽ trình đề nghị trên, trong đó quan tâm chính là cơ chế một cửa” – ông Trung tiết lộ.  Thụy Vũ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trồng tảo lấy nhiên liệu sinh học để thay dầu mỏ      Theo các nhà khoa học Mỹ, chỉ cần trồng tảo trên 6 triệu ha đất hoang hóa ở Mỹ thì nước này đủ nhiên liệu để xài mà không cần nhập dầu mỏ.    Theo đánh giá của một nhà nghiên cứu sinh học ở Trường đại học California (Mỹ), nếu nước này đưa 15 triệu mẫu (1 mẫu = 0,4 héc-ta) đất hoang hóa vào việc nuôi trồng tảo thì có thể sản xuất ra lượng nhiên liệu đủ để không phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu dầu mỏ từ Trung Đông.  Một công ty có tên gọi LiveFuels Inc. ở San Francisco (Mỹ), đang đầu tư vào khai thác và nuôi trồng tảo và dự tính 3 năm nữa, mỗi năm công ty có thể tái chế hơn 63.000 lít nhiên liệu trên mỗi mẫu diện tích nuôi trồng tảo.  Mỹ hiện đang nỗ lực tìm kiếm các nguồn nguyên liệu dùng cho việc tái chế nhiên liệu mới thay thế loại nhiên liệu truyền thống là xăng dầu.  Rất nhiều nước trên thế giới đã đầu tư và thử nghiệm việc sử dụng gỗ vụn, cỏ khô, ngô hạt, bã mía… để tái chế nhiên liệu sinh học.  Mới đây, việc khai thác, nuôi trồng tảo để tái chế nhiên liệu sinh học đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ trong lĩnh vực này và tảo được coi như là một loại “vàng xanh”.  Tảo có ưu thế là có khả năng quang hợp tự nhiên và quá trình này sản sinh ra nguồn cung cấp nhiên liệu sinh học dồi dào. Ngoài ra, hoạt động địa nhiệt ở vùng sa mạc có khả năng cung cấp miễn phí nguồn khí các-bon-đi-ô-xít tạo bọt giúp tảo hấp thụ và chuyển hóa thành chất hữu cơ để tái chế thành nhiên liệu.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trong vòng 200 năm tới loài người cần đi khỏi Trái đất?      Vì chúng ta đang nhanh chóng tiêu hao cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên hữu hạn của Trái đất và vì mã di truyền của loài người “có chứa các bản năng ích kỷ và xâm lược” cho nên trong vòng hai thế kỷ tới nhân loại sẽ bị tiêu diệt; lối thoát duy nhất là đi khỏi Trái đất, di cư tới một hành tinh khác – đó là lời cảnh báo mới nhất của Stephen Hawking, một trong các nhà khoa học vĩ đại nhất thế giới còn sống. một trong những khối óc thông minh nhất của loài người đương đại.    Theo tin của mạng Big Think (Suy nghĩ lớn), một mạng video do một nhóm trí thức Mỹ lập ra, ngày 6 tháng 8 vừa rồi Stephen Hawking đã phát biểu như trên khi ông trả lời phỏng vấn của mạng này.  Dự báo có tính tiên đoán của Hawking đang được dân mạng toàn thế giới theo dõi bàn luận sôi nổi. Riêng trong ngày đầu xuất hiện (6/8/2010), 600 nghìn dân mạng Trung Quốc đã truy cập tin tức này. Một số nhà khoa học trên thế giới đã phát biểu quan điểm của mình về dự báo của Hawking.  Vị giáo sư suốt đời của Khoa Toán ứng dụng và Vật lý lý thuyết Đại học Cambridge Anh Quốc cảnh báo:  nếu loài người không thể tìm được một hành tinh khác để cư trú thì họ sẽ đứng trước nguy cơ diệt chủng do thiên tai nhân hoạ.  Hawking cho rằng loài người hiện nay đang tiến sang “thời đại ngày một nguy hiểm hơn trong lịch sử”; “Trong quá khứ từng có một số lần sự sống còn (của loài người) trở thành một vấn đề nguy hiểm (a question of touch and go)”, thí dụ vụ khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962. Và tần suất xảy ra các nguy hiểm ấy đang ngày một tăng lên.  Vì chúng ta đang nhanh chóng tiêu hao cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên hữu hạn mà Trái đất cung cấp và vì mã di truyền của loài người “có chứa các bản năng ích kỷ và xâm lược” cho nên “cơ hội duy nhất để tồn tại lâu dài” của chúng ta có lẽ là “di chuyển vào vũ trụ” [because our genetic code “carries selfish and aggressive instincts,” our “only chance for longterm survival” may be to “spread out into space.”] – Hawking nhận định.  Có lẽ điểm này Hawking nói đúng. Chỉ vì ích kỷ mà các cường quốc gây chiến tranh để giành giật quyền chia chác xâu xé thế giới, chiếm cứ các vùng có tài nguyên. Chỉ vì ích kỷ mà loài người khai thác thiên nhiên tới mức tàn phá chính môi trường sống còn của mình. Khí hậu Trái đất nóng lên vì hiệu ứng nhà kính đang gây ra bao thảm hoạ khắp thế giới, gần đây nhất là cháy rừng ở Nga, lũ lụt ở Nam Á, lở đất ở Trung Quốc, một tảng băng mấy trăm km2 đang tan dần, đe doạ nâng cao mực nước biển  v.v… Chỉ vì có bản năng xâm lấn mà loài người luôn nhòm ngó tài sản, tài nguyên của người khác, nước khác; quốc gia nào mạnh lên là nêu ra yêu cầu mới về lãnh thổ, rốt cuộc đi tới chỗ chiến tranh liên miên suốt trong lịch sử tồn tại của loài người. 65 năm trước nhân loại đã chứng kiến tác hại của vũ khí hạt nhân; giờ đây nếu nổ ra chiến tranh giữa các cường quốc, vũ khí hạt nhân có thể tiêu diệt toàn bộ sinh vật trên hành tinh xanh này.  Mặt khác, chúng ta đều biết, chính là bản năng “ích kỷ và xâm lấn” ấy từng giúp loài người tồn tại trong quá khứ giữa môi trường sống vô cùng khắc nghiệt và khó khăn nguy hiểm khi loài người nguyên thuỷ chung sống với các sinh vật khác trong rừng rậm, nơi chỉ có một quy luật sống còn duy nhất là mạnh thắng yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, gọi là Luật rừng Hobbes (Hobbes jungle).   Nhưng bây giờ bản năng ấy đã trở thành nhân tố gây ra mối đe doạ sự sống còn của loài người. Tài nguyên sắp cạn kiệt, thiên tai ngày một năng xảy ra. Cứ với đà khai thác thiên nhiên thế này thì rõ ràng 100-200 năm tới môi trường sống của nhân loại sẽ vô cùng khó khăn. Chưa kể các cường quốc mới nổi lên đang tranh giành vị trí lãnh đạo thế giới, sự xung đột giữa các cường quốc có thể dẫn đến thảm hoạ chiến tranh hạt nhân, tự tiêu diệt Trái đất.  Nhưng Hawking chưa nói gì về chuyện loài người làm cách nào để đặt chân tới được các vì sao xa xăm. Giới khoa học ước tính nếu sử dụng tên lửa nhiên liệu hoá chất thì chúng ta phải mất chừng 50.000 năm để vượt quãng đường từ Trái đất đến hành tinh gần ta nhất. Nếu muốn tới được nơi đó trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, con người cần du hành trong khoảng không vũ trụ với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng.   Khoa học kỹ thuật hiện nay chưa làm được điều đó. Mặc dù phim Avatar hư cấu chuyện năm 2154 loài người bay lên thiên thể Pandora cách Trái đất 4,4 năm ánh sáng để khai thác quặng Unobtanium quý hiếm. Loại quặng này mỗi kg giá 20 triệu USD có thể giúp nhân loại giải quyết nạn thiếu năng lượng. Dù sao viễn cảnh ấy còn xa xôi lắm, đạo diễn Cameron tuy là cố vấn của NASA đấy, nhưng trong phim này rõ ràng là ông quá lạc quan. 50 năm nữa sao mà có thể chế tạo được tên lửa bay với vận tốc ánh sáng được? Hơn 40 năm qua, kể từ ngày loài người lên Mặt trăng tới nay, tốc độ tên lửa chưa tăng được bao nhiêu.   Stephen Hawking nói ông là người lạc quan. Nhà bác học từng cảnh báo loài người nên cảnh giác khi có ý định tiếp xúc với các sinh vật ngoài hành tinh, bởi lẽ chúng ta không thể biết họ có thân thiện với chúng ta hay không.   Cảnh báo này không phải không có lý. Giả thử nếu có một sinh vật cấp cao hơn loài người khi phát hiện thấy chúng ta họ sẽ tìm cách tiêu diệt chúng ta thì sao?  Nhưng ông cảnh báo quá muộn. Dăm chục năm trước, NASA đã phát lên vũ trụ bao la những tín hiệu vô tuyến nhằm thiết lập mối liên hệ với các sinh vật trí tuệ ngoài Trái đất. Bao năm qua liên tục có tin nhiều đĩa bay tới thăm Trái đất rồi biến mất bặt vô âm tín. Phải chăng sinh vật cao cấp nào đó đã phát hiện ra chúng ta nhưng họ đang thăm dò chúng ta có hữu nghị với họ hay không rồi mới quay lại làm quen?   Hawking kết luận: Nếu loài người là sinh vật trí tuệ cao cấp duy nhất trong hệ Ngân hà thì chúng ta nên tìm cách bảo đảm loài người có thể mãi mãi sinh tồn. “Không nên xếp tất cả trứng vào trong một rọ” – ý nói nên phân tán loài người ra sống ở nhiều hành tinh để nếu có sao thì vẫn giữ được dòng giống sinh vật vô giá này. Trong 100 năm tới nhân loại rất khó tránh được tai hoạ, càng không thể nói tới 1000 năm hoặc 1 triệu năm, vì thế ngay từ bây giờ nên nghĩ tới chuyện di cư loài người lên thiên thể khác.            Stephen Hawking, dù là người lạc quan nhưng vẫn nghĩ rằng loài người cần phải tìm nơi cư ngụ mới trước khi gặp những tai họa tuyệt diệt.            Stephen Hawking (sinh 1942) nhiều năm nay cơ thể hoàn toàn bại liệt, phải có y tá chăm sóc 24 giờ/ngày, thanh quản hỏng không nói được, phải nhờ đến máy tính mới thể hiện được ý nghĩ của mình ra thành lời nói. Thế mà ông vẫn biết tình hình quốc tế hiện nay đang căng thẳng tới mức “chạm đến là nổ” – có thể ông cũng biết chuyện một viên tướng Trung Quốc doạ dùng bom hạt nhân “quét sạch” nhiều thành phố nước Mỹ và biết tình hình mấy cuộc tập trận ở vùng biển phía Tây và Đông bán đảo Triều Tiên!  Tuy có không ít ý kiến phủ nhận quan điểm nói trên của Hawking, song đa số cho rằng loài người nên lưu ý tới dự báo của ông, hãm lại tốc độ khai thác thiên nhiên, cải thiện môi trường sống và tìm cách giải quyết êm thấm mọi tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, tuyệt đối tránh xảy ra chiến tranh thế giới.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trưng bày khuôn mặt Hoàng đế Tutankhamun      Khuôn mặt của Phraoh Tutankhamun, một trong những vị hoàng đế quyền uy và bí ẩn nhất Ai Cập, qua đời một cách hết sức bí ẩn cách đây hơn 3.000 năm, lần đầu tiên được trưng bày cho công chúng chiêm ngưỡng.      Cách đây 85 năm, các nhà khảo cổ học lấy xác ướp này ra từ một cái quách bằng vàng và đặt nó vào trong một quan tài được bảo quản đặc biệt. Đến bây giờ chỉ có 50 người nhìn thấy được khuôn mặt của vị hoàng đế Ai Cập cổ đại. Khuôn mặt vẫn còn nguyên vẹn nhờ vào quá trình bảo quản cẩn thận.    D.N (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trưng bày xác ướp cô gái 500 năm tuổi      Xác ướp của cô gái 15 tuổi người Inca bị bỏ trên đỉnh núi lửa làm vật hiến tế từ 500 năm trước được trưng bày tại viện bảo tàng Salta, Argentina. Xác ướp trinh nữ được đặt trong lồng kính lạnh, nhiệt đổ ở mức băng giá giống như khi các nhà khoa học tìm thấy trên đỉnh núi.    Năm 1999, các nhà khảo cổ đã tình cờ phát hiện ra 3 xác chết vì lạnh cóng vẫn còn nguyên vẹn trên đỉnh núi lửa Llullaillaco. Đó là 3 đứa trẻ, một cô bé 15 tuổi, một bé trai 6 tuổi và một bé gái 7 tuổi khác. Tuy vậy, sau một thời gian dài nghiên cứu, mãi tới nay, công trình khảo cổ đặc sắc này mới chính thức được trưng bày. Khi tiến hành nghiên cứu và khám nghiệm, các nhà khoa học đã khẳng định những đứa trẻ này là người bản xứ sinh sống dưới triều đại Inca tại Argentina 500 năm về trước. Cái chết của 3 đứa trẻ này được các nhà khoa học giải thích là do bắt nguồn từ hủ tục dâng các đồng nam, đồng nữ để hiến tế thần linh sau mỗi vụ thu hoạch của người dân Inca. Theo thông lệ, sau mỗi vụ mùa bội thu, người nông dân Inca phải tạ ơn thần linh bằng cách “tế sống” một vài đứa trẻ. Hai xác ướp còn lại hiện vẫn đang được nghiên cứu, chưa mang ra trưng bày.  (theo khoahoc.com.vn)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Hoa: Một tù nhân của địa lý      Nếu là lãnh đạo Trung Hoa, ngắm nhìn đất nước của mình từ cửa sổ Trung Nam Hải, bạn thấy gì? Bạn thấy ba vạn quân Mỹ án ngữ bán đảo Triều Tiên. Căn cứ quân sự và hạm đội Mỹ trải dài trên quần đảo Nhật Bản. Cách bờ biển Phúc Kiến 160 km là Đài Loan, một vùng đất tuyên bố chủ quyền, xuôi về phía Nam là Philippines, một đồng minh hiệp ước của Mỹ. Hạm đội 7 khống chế vùng Tây Thái Bình Dương bao gồm cả eo biển Malacca và quần đảo Indonesia. Bạn thấy phía Bắc là khu tự trị Nội Mông, phía Tây là khu vực Hồi giáo bất ổn Tân Cương, phía Tây Nam là Tây Tạng, phía Nam là khu tự trị Zhoang. Tất cả đều án ngữ các vùng cao, kiểm soát đầu nguồn các nguồn nước, và họ không phải là người Hán. Nói cách khác, bạn nhìn thấy Trung Quốc bị giam hãm bởi địa lý và địa chính trị.      Một góc kênh đào Đại Vận Hà, một trong những công trình vĩ đại nhất ở Trung Quốc cổ đại. Ngày nay Đại Vận Hà được UNESCO công nhận di sản và thu hút khách du lịch. Ảnh: BCC.   Đây là câu chuyện về Trung Hoa: đế chế, nền văn minh và quốc gia dân tộc với tư cách là một tù nhân của địa lý.   Trung Hoa trong lịch sử là một tập hợp của các nền văn minh và các đế chế. Điều đặc biệt nhất của diễn trình này là ở chỗ: khác với tất cả sự chuyển dịch quyền lực ở châu Âu, thay đổi đế chế gắn với thay đổi trung tâm quyền lực: từ Hy Lạp đến Rome, từ Paris, Vienna, đến Constantinople, các đế chế Trung Hoa đóng đô ở trên vùng Trung Nguyên (vùng đồng bằng giữa sông Hoàng Hà và Trường Giang). Ngay cả những tộc người/ thể chế hùng mạnh ở vùng biên như Kim, Mông Cổ, Mãn Châu, dù hưng khởi ở nơi khác, đều hướng về vùng trung tâm này để xác lập vương triều và đế quốc.   Bài viết này lí giải cách thức địa lý định hình “số mệnh” dân tộc Trung Hoa bằng cách chỉ ra sự tương tác đặc biệt giữa địa lý, tài nguyên, tộc người và quyền lực. Chưa bao giờ các cư dân ở vùng trung tâm (giàu có và đông đúc) thành công trong việc bảo vệ mình trước cuộc tấn công lớn của các nhóm du mục (dưới 300,000 quân). Hướng tiếp cận của quyền lực trên lãnh thổ Trung Hoa từ Bắc xuống Nam. Chỉ một lần duy nhất, một đạo quân từ phía Nam đánh lên Bắc và giành được quyền thống nhất đế chế: Chu Nguyên Chương (1368). Chưa bao giờ Trung Hoa thành công trong việc bảo vệ cùng lúc hai mặt trận: duyên hải và vùng biên cương phía Tây và phía Bắc. Cũng chưa bao giờ trong lịch sử, kể cả những lúc hùng mạnh nhất, Trung Hoa hết “lo lắng” về các mối đe dọa từ vùng biên. Trung Hoa luôn bị cầm tù bởi địa lý.   Trung Hoa luôn trong tình thế bị bao vây  Trung Hoa được ưu đãi về điều kiện tự nhiên. Vùng đất trải dài từ vĩ độ 50 xuống vùng cận nhiệt và nhiệt đới với tất cả các mùa, các dạng địa hình và hệ sinh thái. Châu thổ Hoàng Hà và Trường Giang là những vùng đất màu mỡ nhất trên Trái đất, nhờ đó mà các nhà nước ra đời sớm, và cung cấp khả năng nuôi dưỡng một lượng cư dân khổng lồ. Phía Nam Trung Hoa là một trong những trung tâm đầu tiên canh tác lúa nước. Tuy nhiên việc đặt các vùng châu thổ và cư dân này vào toàn bộ cấu trúc địa lý lớn hơn từ thảo nguyên Nội Mông đến Vân Nam, từ Tân Cương đến bán đảo Triều Tiên, cho chúng ta một cái nhìn khác về sự tương tác giữa con người và địa lý trong khung cảnh rộng lớn hơn.       Nhìn về cấu trúc của nền văn minh và đến chế Trung Hoa từ góc độ địa lý cho thấy đế quốc này hùng mạnh, nhưng dễ bị tổn thương hơn chúng ta nghĩ. Thành công của nó nằm ở vị trí địa lý, nhưng những trang sử đen tối nhất cũng có thể được giải thích từ vị trí địa lý.      Trung tâm quyền lực đế chế Trung Hoa đặt trên một vùng đồng bằng rộng mà các cửa của nó đều mở toang. Giống như vùng đồng bằng rộng lớn, giàu có phía Tây nước Nga trong 500 năm qua mời gọi quân Thụy Điển, Phần Lan, Ba Lan, Phổ, Pháp, Đức… vùng trung tâm giàu có và đông đúc của đế chế Trung Hoa bị đe dọa từ bốn phía. Không phải ngẫu nhiên mà người Hán chưa chiến thắng trước bất cứ cuộc xâm lược quy mô lớn nào từ thảo nguyên vào Trung Nguyên dù họ đánh bại cướp biển Nhật Bản và các đế chế nhỏ hơn ở Tây Tạng và Nam Chiếu. Trung Hoa cũng chưa bao giờ thành công khi cùng lúc đối phó với đe dọa từ biển phía Đông và đất liền ở phía Bắc và Tây. Nhà Minh là một ví dụ, với việc các nhóm Mông Cổ tiếp tục gây sức ép ở phía Bắc và cướp biển Nhật Bản ở phía Đông, họ đã phải loay hoay dịch chuyển kinh đô, xây mới tường thành, và sau cùng là hủy bỏ dự án mở rộng ảnh hưởng đường biển của Trịnh Hòa để tập trung cho phía Bắc.    Xây dựng Trường Thành, đóng lại mối giao lưu với các tộc người du mục ở phía Bắc nhưng cũng giúp định hướng cho Trung Quốc tiến về phía Nam.   Lịch sử hơn 2000 năm của Trường Thành chính là bằng chứng cho tình thế bị bao vây này. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chỉ cần nhiệt độ, lượng mưa trên thảo nguyên thay đổi là dẫn đến việc hàng trăm nghìn quân du mục tràn qua Trường Thành (Di Cosmo, 2014; Pederson, et al, 2014). Vì thế, Trung Nguyên luôn nằm trong tình thế bị đe dọa và luôn phải sẵn sàng nếu như có bất cứ sự biến động nào trên thảo nguyên.   Các vùng cao nguyên xung quanh còn nắm giữ sức mạnh mà người Hán lệ thuộc vào để phát triển đế quốc của mình. Ngựa là một ví dụ. Những lúc Trung Hoa mạnh nhất là khi họ chiếm được nguồn ngựa trên các vùng thảo nguyên và cao nguyên. Nhà Tần phát triển từ phía Tây của Trung Nguyên, trên đồng bằng sông Vị và liên hệ chặt chẽ với các nhóm du mục trên vùng cao nguyên. Nhà Hán, nhà Đường, và nhà Thanh có nguồn ngựa dồi dào. Không phải ngẫu nhiên mà đây cũng là các triều đại bành trướng quy mô nhất trong lịch sử.   Ngược lại, nhà Tống là một bi kịch về mặt quân sự. Bên cạnh việc thúc đẩy hệ thống văn quan trong nền hành chính và quân sự, việc để mất toàn bộ vùng biên vào tay Tây Hạ, Liêu, Kim, Mông Cổ… làm cho quân đội suy yếu vì hầu như không có nguồn lực cho kỵ binh. Đó là một thảm họa khi vương triều này gánh chịu sự o ép từ bên ngoài nhiều nhất trong lịch sử trước khi sụp đổ.  Nhân sâm là một ví dụ khác. Chính nó đã “giết chết” nhà Minh giàu có. Người Mãn kiểm soát hệ thống khai thác nhân sâm trên núi Trường Bạch và vùng Quan Đông, hằng năm buôn bán vào Trung Quốc với số lượng lớn. Hệ thống này làm chảy máu lượng bạc khổng lồ. Theo tính toán của Richard von Glahn và Nicolas Di Cosmo, từ 1606-1610, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 68 tấn bạc mỗi năm. 1/4 lượng bạc này (16 tấn/ năm) đã chuyển ra  khỏi Trung Quốc chỉ để đổi lấy nhân sâm. Điều nghịch lí là người Mãn đã lấy số bạc này mua thuốc súng và súng mới nhất của người Bồ Đào Nha để bắn vào Trường Thành. Nói cách khác, khi người dân Nam Kinh, Bắc Kinh uống nhân sâm hằng ngày, họ đang gặm nhấm chính đế chế của mình.   Cho đến ngày nay, tình thế “lệ thuộc” và bị “bao vây” của người Hán vẫn chưa có nhiều thay đổi. Tất cả các cao nguyên xung quanh vùng Trung Nguyên đều bị “chiếm giữ” bởi các nhóm dân tộc không phải người Hán. Nội Mông, Tân Cương, Thanh Hải, Tây Tạng, Vân Nam, Quảng Tây… là nơi cung cấp nguyên liệu, đất kiếm, kim loại… cho vùng công nghiệp phía đông. Tất cả các nguồn nước và đầu nguồn các con sông đều bắt đầu từ đây. Điều này lí giải sự “nhạy cảm” của vấn đề dân tộc và li khai tại Trung Quốc, vì có bất cứ bất ổn nào đối với các vùng đất này, gần tỉ người dọc theo duyên hải phía đông sẽ gặp vấn đề.   Tóm lại, nhìn về cấu trúc của nền văn minh và đến chế Trung Hoa từ góc độ địa lý cho thấy đế quốc này hùng mạnh, nhưng dễ bị tổn thương hơn chúng ta nghĩ. Thành công của nó nằm ở vị trí địa lý, nhưng những trang sử đen tối nhất cũng có thể được giải thích từ vị trí địa lý.   Cai trị Trung Hoa và việc giải lời nguyền địa lý   Địa lý không chỉ can dự vào diễn trình lịch sử Trung Hoa mà còn quyết định tương lai của Trung Quốc như một cường quốc khu vực hay siêu cường thế giới. Một phần của điều này phụ thuộc mạnh mẽ vào cách thức Bắc Kinh vận hành không gian địa lý và điều phối vùng miền.   Thách thức lớn nhất của bất cứ vương triều nào ở Trung Hoa là kiếm đủ lương thực cho một dân số khổng lồ. Nạn đói là nguyên nhân chủ đạo của các hội kín, phong trào tôn giáo, nổi dậy, lật đổ vương triều, hỗn loạn, bạo lực xã hội… vì thế, mỗi khi nước Hoàng Hà tràn bờ là lúc xuất hiện nguy cơ hỗn loạn xã hội. Điều này càng làm cho các nhân tố địa lý trở thành vấn đề trầm trọng đối với nền chính trị quốc gia. Trận động đất ngày 28/7/1976 (Đường Sơn, Hà Bắc) chẳng hạn, khi xảy ra, Chính phủ Trung Quốc không dám công bố con số nạn nhân thiệt hại cũng như các tư liệu liên quan vì sợ làm ảnh hưởng đến tinh thần của người dân; trong khi báo chí phương Tây dự báo thiệt hại nhân mạng từ 240,000 đến 750,000 người (Walter Sullivan 1979).  Giảm thiểu ảnh hưởng của tự nhiên, giải lời nguyền địa lý là sự nghiệp tiêu tốn phần lớn sức lực của người Trung Hoa trong suốt lịch sử. Từ Trường Thành, Đại Vận Hà, Tam Hiệp, đường cao tốc Thượng Hải-Bắc Kinh, hay đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng là những dự án của  hàng triệu người nhằm giải quyết những vấn đề sống còn của hàng trăm triệu cư dân. Đó chính là các nỗ lực của Trung Hoa tìm cách thoát ra khỏi tình thế bị bao vây và đe dọa. Tất cả các dự án lớn nhất nhằm giải quyết điểm yếu địa chính trị và quân sự của họ. Trường Thành được kỳ vọng là giúp giải thoát họ khỏi nỗi ám ảnh của dân du mục, trong khi kênh Đại Vận Hà giúp giải cứu vùng phía Bắc lệ thuộc nhiều vào lúa mì và kê bằng việc kết nối với hệ thống lúa gạo ở lưu vực Trường Giang.   Tổ chức canh gác Trường Thành, vận chuyển lương thực từ Giang Nam lên Bắc Kinh, hay tổ chức mạng lưới trao đổi muối, tơ lụa… là nỗi ám ảnh của người cai trị vì chỉ cần một sự ngưng trệ của hệ thống này là lập tức sẽ có hàng triệu người nổi dậy (xem ví dụ về Khang Hy và việc quản lí lúa gạo, tơ lụa (Spence, 1966)). Chính vì thế, người cầm quyền ở Trung Hoa luôn luôn hoài nghi dân chúng và lo sợ dân chúng. Tâm lý này không chỉ Tần Thủy Hoàng, Hán Cao Tổ hay Đường Thái Tông, Minh Thái Tổ, mà còn in dấu trong tâm lí của những người cầm quyền Trung Hoa hiện đại. Các nỗ lực của nhà nước vì thế tập trung vào xây dựng các công trình quy mô nhằm khống chế tự nhiên, hạn chế việc bị địa lý bao vây, kết nối các khu dân cư, nguồn tài nguyên, và vùng chiến lược… nhằm tránh rủi ro với hàng trăm triệu người Hán dọc duyên hải.   Thực hành chế độ tự trị, ràng buộc lỏng lẻo, chế độ thổ ti, cử quân đội thường trực tại các vùng biên, tiến hành ngoại giao hôn nhân với thủ lĩnh địa phương, chế độ triều cống, sách phong… tất cả những biện pháp đó không gì khác hơn là  một Trung Hoa muốn được yên ổn ở các vùng biên. Với tư cách là một siêu cường kinh tế, Trung Quốc hiện tại có thêm các công cụ để giải quyết nỗi ám ảnh địa lý này, mà mới nhất chính là dự án “Một vành đai, một con đường”.       “Một vành đai, một con đường”, bên cạnh việc mở ra thị trường mới, phục vụ sự chuyển dịch của nền kinh tế, và tham vọng chạy đua quyền lực toàn cầu, thực ra chỉ là trang tiếp theo của Bắc Kinh nhằm thoát khỏi thế bao vây về địa lý và địa chính trị mà họ đang gặp phải.       “Một vành đai, một con đường”, bên cạnh việc mở ra thị trường mới, phục vụ sự chuyển dịch của nền kinh tế, và tham vọng chạy đua quyền lực toàn cầu, thực ra chỉ là trang tiếp theo của Bắc Kinh nhằm thoát khỏi thế bao vây về địa lý và địa chính trị mà họ đang gặp phải. Họ nhìn sang phía Đông, toàn bộ các bán đảo và quần đảo từ Triều Tiên đến eo Malacca đều có căn cứ quân sự của Mỹ. Bên ngoài là hạm đội 7 yểm trợ. Hải quân Trung Hoa không có đường ra Thái Bình Dương. Họ nhìn tới các cao nguyên xung quanh, từ Nội Mông, Thanh Hải, Tây Tạng, Tân Cương, Vân Nam, Quảng Tây… là nguồn cung cấp nguyên liệu chiến lược cho hệ thống công nghiệp phía Đông, đều có nguy cơ gặp phải những vấn đề như li khai, xung đột tộc người, tôn giáo. Xa hơn nữa là dãy Himalaya và các hoang mạc ngăn cản họ giao thương về phía Tây.   Một vành đai một con đường, mở cảng nước sâu ở Ấn Độ Dương, bành trướng ở Biển Đông, tranh chấp các quần đảo với Nhật Bản chính là cách Trung Hoa tìm đường ra bên ngoài, phá vỡ thế bao vây này. Thực chất của các dự án nói trên, vượt qua các toan tính địa chính trị toàn cầu hay nỗ lực thúc đẩy giao thương và đẩy mạnh thị trường cho nền sản xuất Trung Quốc, chính là một nỗ lực nhằm giải cứu Trung Hoa ra khỏi nỗi ám ảnh địa lý và tình thế bị bao vây. Việc tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy dịch chuyển dân cư… không chỉ giúp giải quyết tình trạng dân số quá tập trung ở vùng duyên hải, khuyến khích di cư về phía Tây, mà còn thúc đẩy pha trộn văn hóa, tăng sự hiện diện của người Hán, và gia tăng ảnh hưởng tại các khu vực vốn được coi là nghèo nàn, nạn nhân của sự phát triển, và không thân thiện với người Hán.   Tham vọng chính trị và quân sự của dự án này là rõ ràng. Nó đưa quyền lực nhà nước Trung Quốc đến những nơi được coi là “điểm yếu”, đặc biệt là Tân Cương, Tây Tạng, là hai đầu nguồn của Hoàng Hà và Trường Giang, và kết nối Trung Hoa với các đồng minh mới Pakistan hay các nước trung và tây Á. Nhiều khu vực đã chứng kiến sự “thoái lui” của Mỹ, và đây rõ ràng là một cơ hội cho Bắc Kinh thế chân. Như vậy, thay vì bị địa lý bao vây, Bắc Kinh dùng dự án này để “bao vây” và khống chế các khu vực được cho là trọng yếu đối với nền kinh tế, quân sự của họ, và mở đường cho những hiện diện chiến lược dài hạn.   Cuối cùng, bài viết này không nhằm chỉ ra Trung Hoa là duy nhất trong các mối tương tác với địa lý. Cũng không phải đổ lỗi cho những thăng trầm của đế chế này là từ địa lý, hay coi địa lý là yếu tố quyết định mọi biến động của nền văn minh Trung Hoa. Nhiều đế chế và quốc gia trải qua những diễn trình lịch sử tương tự. Bài viết chỉ hướng đến tìm kiếm mối liên hệ giữa tương tác địa lý, tộc người và thăng trầm lịch sử của một trong những đế chế lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Đồng thời đưa thêm vào một cách hiểu, một góc nhìn khác đa chiều về vai trò của  địa lý với tư cách là một nhân tố định hình văn hóa, văn minh. Điều đặc biệt là lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ từ biểu đồ lên xuống của quyền lực vùng Trung Nguyên. Vì thế, bất cứ hiểu biết nào từ phía “Nam” về tình hình phía “Bắc” cũng là quý giá nhằm tìm kiếm cách thức chủ động đối phó với người láng giềng và siêu cường này. □  ——  Tham khảo  Dardess, J. W. (2013). A political life in Ming China: a grand secretary and his times. Lanham: Rowman & Littlefield Publishers, Inc.  Di Cosmo, N. (2014). Climate Change and the Rise of an Empire | Institute for Advanced Study. Retriev  October 12, 2018, from https://www.ias.edu/ideas/2014/dicosmo-mongol-climate  Kaplan, R. D. (2012). The revenge of geography : what the map tells us about coming conflicts and the battle against fate. New York: Random House.  Kaplan, R. D. (2014). Asia’s cauldron: the South China Sea and the end of a stable Pacific (1. ed.). New York: Random House.  Kuhn, P. A. (1990). Soulstealers : the Chinese sorcery scare of 1768. Cambridge, Mass. [u.a.]: Harvard University Press.  Marshall, T. (2015). Prisoners of geography: ten maps that tell you everything you need to know about global politics. London: Elliot and Thompson Limited.  Pederson, N., Hessl, A. E., Baatarbileg, N., Anchukaitis, K. J., & Di Cosmo, N. (2014). Pluvials, droughts, the Mongol Empire, and modern Mongolia. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America, 111(12), 4375–9. http://doi.org/10.1073/pnas.1318677111  Spence, J. D. (1966). Tsʻao Yin and the Kʻang-hsi Emperor ; bondservant and master. New Haven: Yale University Press.  Walter Sullivan. 1979. Catastrophic Scope of 1976 China Earthquake Is Revealed, https://www.nytimes.com/1979/06/11/archives/catastrophic-scope-of-1976-china-earthquake-is-revealed-10000.html (accessed on 10/10/2018).       Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Trung Quốc: Bài toán phát triển và ô nhiễm      Chiến dịch xây dựng thêm nhiều nhà máy điện đốt than tại Trung Quốc đang lật nhào thành quả nhiều năm kiểm soát ô nhiễm và làm nhiễm bẩn bầu không khí của Trung Quốc và các quốc gia láng giềng.    Ô nhiễm do than lan sang láng giềng  Để giải quyết tình trạng thiếu điện kéo dài, Trung Quốc buộc phải xây dựng thêm nhiều nhà máy điện mới. Tuy nhiên, việc tiếp tục xây dựng các nhà máy điện của chính phủ Trung Quốc nhằm đáp ứng sự thiếu hụt về năng lượng lại đang gây ra các vấn đề khác. Phần lớn các nhà máy điện tại đây, cả cũ và mới, sử dụng than nên chúng thải ra ngày càng nhiều bụi than và dioxit lưu huỳnh (SO2) vào không khí. Được biết dioxit lưu huỳnh gây ra mưa axít cũng như nhiều chứng bệnh hô hấp.  Ô nhiễm không khí từ lâu đã là một vấn đề ở Trung Quốc. Tuy nhiên, tình hình trở nên tồi tệ hơn khi vào năm 2003, lượng SO2 phát thải đạt tới mức 21,6 triệu tấn. Đó là lần đầu tiên kể từ năm 1998, lượng SO2 vượt ngưỡng 20 triệu tấn, làm cho mục tiêu giảm lượng khí này xuống còn 18 triệu tấn của chính phủ Trung Quốc tới năm 2005 dường như ngoài tầm với. Dan Millison, chuyên gia môi trường thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết: ”Chất lượng không khí được cải thiện trong một vài năm qua nhưng chiều hướng này hiện đã hoàn toàn bị đảo ngược”.  Đáng ngại hơn là gió không chỉ mang chất độc này đi khắp Trung Quốc mà còn tới các quốc gia lân cận như Hàn Quốc và Nhật Bản, thậm chí là tới cả… Bắc Mỹ. Do vậy, ngoài tác hại mà nó có thể gây ra đối với sức khoẻ của chính người dân Trung Quốc, ô nhiễm không khí còn có nguy cơ làm mối quan hệ của Trung Quốc đại lục với các đối tác thương mại quan trọng trở nên phức tạp hơn. Hồng Kông cũng đang gánh chịu ô nhiễm không khí do gió đưa tới từ đại lục. Tại các nước giàu có nằm cạnh Trung Quốc, sự quan ngại của công chúng về môi trường đã tăng lên trong những năm gần đây và nhiều người cho rằng lỗi chính của sự tàn phá môi trường chính là mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc.  Tại Trung Quốc, phong trào môi trường vẫn còn sơ khai và có ít tác động tới một chính phủ đang chú trọng tới việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế. Mặc dầu vậy, cũng đã có một số quan chức bắt đầu nói về ”chất lượng chứ không phải số lượng” của tăng trưởng và thước đo ”GDP xanh”. Chất lượng tăng trưởng và GDP xanh có ý nghĩa rộng hơn sản lượng. Tuy nhiên, những tiếng nói như vậy quá nhỏ bé trước thực trạng thiếu điện mà các quan chức lo sợ có thể kìm hãm kinh tế tăng trưởng. Mặc dù Trung Quốc sản xuất nhiều điện hơn so với mọi quốc gia khác (chỉ sau Mỹ), song vẫn không thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Nhu cầu sử dụng điện tăng tới mức kỷ lục 15,4% vào năm 2003 đã vượt xa khả năng cung cấp.                Bầu không khí nhiều nơi ở Trung Quốc đã có lúc “không thể thở được”            Từ đầu năm 2003, chính phủ Trung Quốc đã dỡ bỏ cơ chế kiểm soát kế hoạch hoá và cho phép đầu tư mới để thúc đẩy sản lượng điện. Tới cuối năm 2004, nước này mong đợi sản lượng điện tăng tới 421.810 megawatt hay tăng 19,5% so với cuối năm 2002. Cứ cho là chi phí xây dựng trung bình vượt quá ngưỡng 1 triệu đô la/Megawatt thì ước tính chi phí xây dựng các nhà máy mới trong năm 2003 và 2004 sẽ là gần 70 tỷ đô la. Gần 3/4 sản lượng điện tăng thêm trong năm 2003 và 2004 là do các nhà máy nhiệt điện tạo ra. Nhà máy nhiệt điện chủ yếu sử dụng than. Sở dĩ Trung Quốc thích các nhà máy điện đốt than là do chi phí xây dựng tương đối thấp và có nguồn tài nguyên dồi dào.  Xie Zhenhua, Giám đốc Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia cho biết: ”Sự thật là than vẫn là nguồn năng lượng chính tại Trung Quốc”. Mặc dù các nhà máy điện đốt khí và điện hạt nhân cũng được lập kế hoạch xây dựng song phải tới năm 2006, những dự án lớn đầu tiên mới được triển khai. Theo những dự đoán lạc quan nhất, nhà máy điện đốt than vẫn tiếp tục cung cấp phần lớn điện năng cho Trung Quốc trong ít nhất hai thập kỷ nữa.  Phải mất nhiều năm để giải quyết tình trạng ô nhiễm  Tại một cuộc họp báo tại Bắc Kinh, ông Xie đã thông báo một số chính sách mà Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia đang soạn thảo để giảm tác động của các nhà máy điện đốt than đối với chất lượng không khí. Những chính sách đó bao gồm yêu cầu mọi nhà máy mới phải lắp đặt thiết bị khử SO2, tăng cường giám sát các nhà máy hiện tại và tạo động lực để giảm thiểu lượng khí phát thải. Đó là những biện pháp đáng khen ngợi và nếu được thực thi nghiêm túc, chúng có thể góp phần giảm ít nhất 3/4 lượng khí phát thải từ nhà máy mới. Tuy nhiên, lượng khí phát thải vẫn tăng!  Các nhà hoạch định kinh tế vẫn tập trung vào việc xây dựng thêm nhiều nhà máy điện, coi đó là giải pháp tốt nhất đối với tình trạng thiếu điện. Tuy nhiên, một số nhà quan sát chỉ ra rằng có những sự chọn lựa khác như tiết kiệm, tăng hiệu suất sử dụng và hoàn chỉnh mạng lưới truyền tải điện. Chúng sẽ góp phần giảm chênh lệch giữa cung và cầu.  Nhiều quan chức trong khu vực muốn thúc đẩy các biện pháp giảm thiểu lượng khí ô nhiễm tràn tới nước họ từ Trung Quốc. Tuy nhiên, họ vẫn thận trọng bởi Trung Quốc đã trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế quan trọng nhất đối với khu vực. Năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc đã đóng góp hơn 2/3 vào sự tăng trưởng hàng xuất khẩu của Nhật Bản và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hàn Quốc.  Một số nhà bảo vệ môi trường Nhật Bản đổ lỗi cho Trung Quốc về việc làm chất lượng không khí tồi tệ hơn ở đảo quốc này. Mitsutoshhi Hayakawa, Giám đốc điều hành Liên minh Các Công dân Bảo vệ Khí quyển và Trái đất cho biết lượng khí phát thải gia tăng ở Trung Quốc đang ảnh hưởng tới Nhật Bản dưới dạng mưa axít và Tokyo ”đang nỗ lực” tìm ra giải pháp song ”nỗ lực đó là chưa đủ”.  Keiko Segawa thuộc Cục Môi trường Toàn cầu, Bộ Môi trường Nhật Bản, cho rằng: ”Khó có thể đánh giá liệu xu hướng gia tăng khí thải ở Trung Quốc có làm cho chất lượng không khí ở Nhật Bản xấu đi hay không”. Một số mô phỏng cho thấy 10-30% lượng SO2 có trong nước mưa ở Nhật Bản bắt nguồn từ Trung Quốc. Theo mô hình này, nếu Trung Quốc giảm lượng khí phát thải, lượng SO2 trong nước mưa cũng sẽ giảm.  Makoto Nakao, giám đốc Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho biết: ”Chúng tôi coi ô nhiễm môi trường, bao gồm cả khí phát thải, là một vấn đề toàn cầu và sẽ hỗ trợ chính phủ Trung Quốc giải quyết vấn đề”. Ngân hàng này đã cho Trung Quốc vay 1,3 tỷ USD trong mười năm qua để giảm khí thải từ các nhà máy điện. Tuy nhiên, các tổ chức đơn phương như JIBC và tổ chức đa phương như ADB và Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ có thể cho vay khi các chính phủ yêu cầu. Millison cho biết: ”ADB sẵn sàng tài trợ các dự án phát triển năng lượng bền vững song chúng tôi không thể buộc mọi người vay tiền”. Do vậy, thách thức là thuyết phục để Bắc Kinh đưa ra đề nghị, yêu cầu các tổ chức trên giúp giảm lượng khí thải.  Những người đang hợp tác với các quan chức môi trường Trung Quốc cho biết họ đang nỗ lực xây dựng quan hệ ở cấp khoa học và cấp cao đồng thời thu thập đủ bằng chứng để thuyết phục các quan chức Trung Quốc hành động. Một quan chức giấu tên trong chính quyền Hong Kong nói: ”Cách tốt nhất mà chúng tôi làm không phải là ngồi chỉ tay mà là chia sẻ giữ liệu với các nhà chức trách đại lục”.  Ngoài ra, còn có một số tổ chức khác đang nỗ lực giải quyết vấn đề này. Các bộ trưởng môi trường của Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản gặp nhau hàng năm cũng như tiến hành các nghiên cứu chung nhằm đưa ra các chính sách cụ thể. Theo Boo Kyung Jin, thuộc Viện Kinh tế Năng lượng Hàn Quốc, vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới ”đang trở nên tồi tệ hơn theo từng năm. Tuy nhiên, chắc phải mất vài năm nữa mới có giải pháp hợp tác”.  Tia Sáng    Nguồn tin: T.L (Theo FEER 8.7.2004)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc chiếm 1/3 tổng số đơn xin cấp bằng sáng chế của thế giới      Ngày 16/12/2014, Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế  giới WIPO cho biết: năm 2013, Trung Quốc chiếm 1/3 tổng số đơn xin đăng  ký cấp bằng sáng chế của toàn thế giới. Đây là năm thứ hai liên tiếp giữ  vị trí này.    Tổng Giám đốc WIPO Francis Gurry nói, số liệu mới chứng tỏ Trung Quốc đang từ “chế tạo tại Trung Quốc” tiến lên “sáng tạo tại Trung Quốc”.  Năm 2013, toàn thế giới có 2,57 triệu sáng chế đăng ký xin cấp bằng chứng nhận, tăng 9% so với năm 2012, trong đó, Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất, tăng từ 28% lên 32,1%.   Mỹ xấp thứ hai với số sáng chế xin cấp bằng tăng 5,1%, Nhật Bản xếp thứ ba nhưng số sáng chế xin cấp bằng lại giảm 4,2%. Số sáng chế của châu Âu cũng giảm 0,4%.  Công nghệ điện toán là lĩnh vực phát triển nhanh nhất về số sáng chế, hiện chiếm tới 7,6% tổng số sáng chế xin cấp bằng của tất cả các ngành.   Tỷ lệ của các lĩnh vực khác như sau: máy điện – 7,2%, máy đo – 4,7%; thông tin kỹ thuật số -4,5%; và công nghệ y học – 4,3%.   WIPO còn báo cáo về đặc điểm của các sáng chế xin cấp bằng của từng nước. Phần lớn sáng chế xin cấp bằng của Thụy Sĩ liên quan đến dược phẩm, của Nga lại liên quan đến hóa thực phẩm, của Pháp và Đức liên quan đến giao thông vận tải; trong khi của Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ và Anh liên quan đến công nghệ máy tính.   Tuy Mỹ kém Trung Quốc về số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế, nhưng trong tổng số 9,45 triệu sáng chế hữu hiệu của toàn thế giới, Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất (26%), thứ nhì là Nhật Bản (19%), Trung Quốc ở vị trí thứ ba.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Chính sách phát triển điện hạt nhân và đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng      Trong những năm 2000, để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nền kinh tế, Trung Quốc đã thực thi một chính sách hợp lý về năng lượng, trong đó coi điện hạt nhân là loại hình năng lượng chủ chốt nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.      Nhà máy điện hạt nhân Phòng Thành. Nguồn: power-technology.com  Yêu cầu về một chính sách năng lượng mới của Trung Quốc xuất phát từ thực tế của những năm 1980, khi nhu cầu sử dụng năng lượng tăng tới 200% và gần 150% tính trên đầu người. Điều này đã thúc đẩy Trung Quốc thực hiện cuộc cách mạng về năng lượng đi kèm với những cải cách trong các hình thức sản xuất và sử dụng năng lượng, qua đó tối ưu hóa cơ cấu cung cấp năng lượng và nâng cao hiệu quả phát triển, sử dụng nguồn năng lượng sạch.  Chính sách đa dạng cơ cấu năng lượng  Từ chỗ phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ, khí đốt…, Trung Quốc đã từng bước đa dạng hóa nguồn cung cấp điện năng thông qua việc phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân. Trong nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và tránh sử dụng các loại năng lượng hóa thạch, đặc biệt là than và dầu, Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách ưu tiên về phát triển năng lượng tái tạo. Nhận thức được các tiềm năng phát triển kinh tế nhờ vào việc sản xuất các sản phẩm liên quan đến năng lượng tái tạo cũng như những lợi thế của năng lượng tái tạo trong việc giảm ô nhiễm và phát thải, Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà sản xuất năng lượng tái tạo lớn cũng như một thị trường khổng lồ đối với các sản phẩm năng lượng tái tạo này. Trong vòng mười năm trở lại đây, việc sử dụng thủy điện, năng lượng gió, sinh khối và năng lượng mặt trời đã tăng đáng kể, và Trung Quốc đã trở thành nước đứng đầu trên thị trường thế giới về sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo. Với công suất thiết kế lên đến gần 26 GW vào cuối năm 2009, trong vòng năm năm trở lại đây, lượng năng lượng gió sản xuất tại Trung Quốc mỗi năm đều tăng gấp đôi. Năm 2009, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành thị trường năng lượng gió lớn nhất thế giới. Sau khi gần như đạt được mục tiêu (năm 2007) đặt ra cho tới năm 2020 là 30 GW với 10 năm vượt kế hoạch, mới đây, Trung Quốc đã nhắm tới một mục tiêu mới là 150 GW cho năm 2020, tức là gần như tương đương với tổng công suất thiết kế của cả thế giới. Ngược lại, năng lượng mặt trời mới chỉ đạt 0,32 GW vào năm 2009, tuy nhiên Trung Quốc đã đặt ra mục tiêu đạt được 20 GW trước năm 2020. Hiện Trung Quốc đã trở thành nhà sản xuất công nghệ điện mặt trời lớn thứ ba thế giới với khoảng 30% lượng công nghệ trên thế giới, trong đó 98% được xuất khẩu, chủ yếu là sang Đức, Tây Ban Nha và California.  Tuy nhiên có một thực tế là dù Trung Quốc có là quốc gia đi đầu thế giới về năng lượng tái tạo thì sản lượng điện năng từ loại hình năng lượng này cũng chỉ chiếm hơn 20% nhu cầu năng lượng toàn quốc, vì vậy nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào nhiệt điện, vốn được sản xuất từ những nhà máy có công nghệ lạc hậu. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nhiệt điện đang khiến Trung Quốc điêu đứng mà điển hình là nạn ô nhiễm không khí và môi trường đang bủa vây Bắc Kinh đi kèm với những tai nạn trong khai thác than ở Trung Quốc (mỗi năm khoảng 2.000 người chết). Vì vậy, nhiều nhà máy nhiệt điện của Trung Quốc sẽ bị đóng cửa vào cuối năm nay. Trước tình thế này, để giải quyết được hai vấn đề là đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện được cam kết cắt giảm khí thải nhà kính, Trung Quốc đã chọn điện hạt nhân như giải pháp “năng lượng sạch” tối ưu, thay thế nhiệt điện. Mặc dù từng ngừng xây dựng mới các nhà máy điện hạt nhân sau sự cố ở Fukushima (2011), Trung Quốc vẫn kiên trì theo đuổi chương trình điện hạt nhân thông qua việc tái cấu trúc cơ cấu năng lượng.  Với chính sách này, Trung Quốc phát triển nguồn năng lượng tái tạo song song với việc sử dụng một cách hiệu quả nguồn năng lượng hóa thạch theo lộ trình giảm tỉ lệ tiêu thụ than và dầu, tăng tỉ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt và đặc biệt là tăng tỉ lệ đóng góp của năng lượng hạt nhân. Đến năm 2020, tỷ lệ năng lượng phi hóa thạch trong tiêu thụ năng lượng ở Trung Quốc sẽ đạt 15%, tỷ trọng sử dụng khí tự nhiên sẽ là hơn 10%, và tỷ lệ tiêu thụ than sẽ được kiểm soát dưới mức 62%. Từ năm 2013 đến năm 2015, tỷ trọng nhiệt điện than ở Trung Quốc đã được hạ xuống từng bước, giảm từ 78,36% (2013) xuống 74,94% (2015). Tỷ lệ điện từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời đã tăng từ 2,78% (2013) đến 4,32% (2015), và của điện hạt nhân tăng từ 2,10% (2013) lên 3,01% (2015). Trong 10 năm tới, Trung Quốc đặt mục tiêu nâng tỉ lệ đóng góp của điện hạt nhân tăng lên 10%. Dự kiến, Trung Quốc sẽ vận hành 110 nhà máy điện hạt nhân vào năm 2030 để đáp ứng nhu cầu điện năng. Nếu thực hiện được mục tiêu này, Trung Quốc có thể sẽ bắt kịp Mỹ để trở thành quốc gia có số lượng nhà máy điện hạt nhân nhiều nhất trong mạng lưới các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân trên thế giới.  Phát triển điện hạt nhân theo cách tiếp cận đặc biệt  Để có được bước phát triển nhảy vọt về điện hạt nhân, Trung Quốc phải trải qua một quá trình phát triển năng lượng nguyên tử và được khởi động từ tháng 1/1955. Năm 1964, nước này thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên ký hiệu A. Ba năm sau đó, Trung Quốc thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử thứ hai, ký hiệu H. Năm 1970, trọng tâm của các chương trình hạt nhân chuyển sang mục đích dân sự khi bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Năm 1991, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Kỳ Sơn (Qinshan) thuộc tỉnh Chiết Giang (Zhejiang) ở miền đông Trung Quốc, bắt đầu hoạt động. Đây là loại lò nước áp lực (PWR) có tên là CNP-300 với công suất 288 MW.  Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử của Trung Quốc được hoạch định một cách rõ ràng, bài bản với cách tiếp cận công nghệ hạt nhân hết sức đặc biệt: một mặt nỗ lực tự thiết kế chế tạo một số nhà máy như Qinshan giai đoạn I và II, mặt khác tìm cách nhập khẩu công nghệ điện hạt nhân từ nhiều nguồn khác nhau, như lò PWR của Pháp cho các nhà máy Daya và Lingao, lò VVER của Nga cho nhà máy Tianwan, lò CANDU của Canada cho nhà máy Qinshan giai đoạn III, lò AP1000 của Westinghouse Hoa Kỳ cho nhà máy Sanmen và Haiyang.  Yêu cầu được đặt ra đối với lĩnh vực phát triển điện hạt nhân của Trung Quốc là tích cực nâng cao năng lực trong thiết kế và nội địa hoá để tiến tới tự chủ công nghệ điện hạt nhân của riêng mình. Để đạt được yêu cầu này, Trung Quốc đã tiến hành các chương trình phát triển nội địa hóa song song với việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế để đưa vào sử dụng những công nghệ điện hạt nhân tiên tiến của thế giới mà nhiều quốc gia đã áp dụng ngay trong quá trình xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. Kết quả là thông qua việc cam kết chuyển giao công nghệ thông qua các dự án, Trung Quốc đang vươn tới trình độ độc lập xây dựng lò PWR cải tiến thế hệ II vào năm 2010 và PWR thế hệ III vào những năm sau đó. Tổng công ty Hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) đã hợp tác với tập đoàn Areva NP (Pháp) và Công ty Westinghouse (Hoa Kỳ) để phát triển một thiết kế tiêu chuẩn của Trung Quốc CNP-1000 với lò PWR 3 vòng tải nhiệt, độ cháy cao và chu kỳ nạp liệu 24 tháng. Ngoài ra, CNNC ký thỏa thuận với công ty Năng lượng hạt nhân Canada (AECL) cùng phối hợp phát triển thiết kế ACR dựa trên công nghệ lò CANDU. Trung Quốc cũng bày tỏ sự quan tâm tới công nghệ ABWR của Mỹ và Công ty GE Nuclear đang thảo luận với CNNC. Tháng 2/2006, Uỷ ban Năng lượng Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc công bố lò PWR cải tiến cỡ lớn và lò HTR (lò phản ứng làm mát bằng khí gas) cỡ nhỏ là hai loại dự án được ưu tiên phát triển trong 15 năm sau đó.  Hiện nay, Trung Quốc đã và đang xây dựng rất nhiều các nhà máy điện hạt nhân (dựa trên thế hệ công nghệ điện hạt nhân II+, và III) và có xu hướng triển khai các dự án xuống phía nam. Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), tính đến ngày 20/9/2016 Trung Quốc đã có 35 tổ máy điện hạt nhân đang hoạt động (tổng công suất là 31.617 MW), 20 tổ máy khác đang được xây dựng (tổng công suất là 22.956 MW) và có 42 dự án tổ máy điện hạt nhân khác nằm trong kế hoạch xây dựng (tổng công suất là 47.930 MW). Kế hoạch dài hạn của Trung Quốc cho chương trình phát triển điện hạt nhân là xây mới khoảng 170 tổ máy điện hạt nhân, có tổng công suất khoảng 195.000 MW (2050) nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng và giảm dần lượng khí phát thải gây nóng lên toàn cầu.    Bản đồ các vị trị xây dựng nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc (Nguồn: Viện nghiên cứu Tepia – 2008).   Tại khu vực giáp với biên giới phía Nam của Trung Quốc, trong năm 2016 có 3 nhà máy điện hạt nhân đã đi vào vận hành thương mại là nhà máy điện hạt nhân Phòng Thành (Fangchenggang), Quảng Tây có công suất 1000 MW, các tổ máy 650 MW của nhà máy Xương Giang (Changjiang), đảo Hải Nam và tổ máy 600 MW của nhà máy Trường Giang (Yangjiang), Quảng Đông đã được kết nối lưới điện quốc gia của Trung Quốc. Vị trí của 3 nhà máy này cũng chỉ cách Hà Nội chưa đầy 500 cây số. Do đây là các nhà máy do Trung Quốc tự phát triển công nghệ để xây dựng, đòi hỏi Việt Nam cần chuẩn bị năng lực để quan trắc, dự báo và đặc biệt là năng lực ứng phó trong trường hợp xảy ra sự cố đối với các nhà máy nói trên. Việc điều chỉnh chương trình điện hạt nhân của Việt Nam đòi hỏi sự duy trì và phát triển năng lực về công nghệ điện hạt nhân để có thể đáp ứng tốt khi tình hình thay đổi.  Xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân “made in China”  Chính phủ Trung Quốc luôn khuyến khích các nhà sản xuất thiết bị hạt nhân nội địa mở rộng thị trường ra bên ngoài lãnh thổ của họ. Trong lễ kỷ niệm 60 năm phát triển công nghiệp hạt nhân, lãnh đạo Trung Quốc đã cho biết công nghiệp hạt nhân là “nền tảng quan trọng đối với an ninh quốc gia và sẽ tìm cách nâng cao công nghệ hạt nhân và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu điện hạt nhân cho thị trường toàn cầu”.  Vào năm 2012, hai tập đoàn nhà nước Trung Quốc, gồm Tập đoàn Điện nguyên tử Trung Quốc (CGN) và Tổng công ty Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc (CNNC), đã dựa trên hai loại công nghệ là CPR-1000 và CAP1000 để cùng phối hợp với nhau và cho ra đời một công nghệ có tên Hoa Long I (Hualong One) với mục tiêu xuất khẩu các lò phản ứng thế hệ thứ ba sản xuất tại Trung Quốc- loại lò dựa một phần vào công nghệ Pháp. Đây là loại lò có vòng đời vận hành 60 năm và có công suất 1150 MW. Dù liên doanh này đã xuất khẩu được 6 lò phản ứng ở nước ngoài nhưng Trung Quốc vẫn muốn gia tăng số lượng này lên nhiều hơn nữa. Các quốc gia mà Trung Quốc đã xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân và dự kiến xuất khẩu là: Pakistan, Romania, Argentina, Anh, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, Kenya, Ai Cập, Sudan, Armenia, Kazakhstan.  Năm 2015, tại Nam Phi, Chính phủ Trung Quốc đã ký kết một thỏa thuận về hợp tác kỹ thuật hạt nhân. Tại Romania và Argentina, CNNC cũng đã ký một bản ghi nhớ cho việc xây dựng hai lò phản ứng CANDU-6 do Canada thiết kế với số tiền 15 tỷ USD, nhưng phần lớn số tiền này do chính Trung Quốc hỗ trợ. Ngoài ra chính phủ Argentina đã cho phép xây dựng một lò phản ứng Hoa Long I tại vùng Atucha, tỉnh Buenos Aires.  Tập đoàn Đầu tư Năng lượng Quốc gia (SPIC), doanh nghiệp hạt nhân lớn thứ ba Trung Quốc, hiện đang đàm phán với chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ về việc xây dựng 2 lò phản ứng CAP1400. Tháng 8/2015, dự án xây dựng Hoa Long I ở nước ngoài đầu tiên của Trung Quốc đã khởi công tại Karachi (Pakistan). Các dự án cao cấp nhất của CNNC được thực hiện tại Pakistan, với 2 lò phản ứng cỡ nhỏ đã đi vào hoạt động và hai lò khác đang triển khai xây dựng. Tuy Trung Quốc tuyên bố rằng thiết kế lò phản ứng Hoa Long I là một trong những lò phản ứng an toàn nhất trên thế giới. Nhưng công nghệ này hiện chưa được kiểm chứng.  Ngoài việc phát triển và xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân “Made in China” thì Trung Quốc hiện bắt đầu tham gia xây dựng dự án nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C tại Vương Quốc Anh có trị giá 18 tỷ bảng Anh (tương đương 24 tỷ USD). Dự án này, ngày 15/9/2016, được Chính phủ Anh thông báo đồng ý cho triển khai. Đây sẽ là nhà máy điện hạt nhân mới nhất ở Vương quốc Anh được xây dựng kể từ sau khi nhà máy điện hạt nhân Sizewell B được đưa vào vận hành thương mại năm 1995. Dự án gồm 2 tổ lò phản ứng nước áp lực thế hệ III+ EPR (European Pressurized Reactor), có công suất điện lắp đặt mỗi tổ máy là 1670 MWe. Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF) là chủ đầu tư và Tập đoàn Điện hạt nhân Trung Quốc (CGN) giữ 33,5% cổ phần trong Dự án. Bên cạnh đó, 2 Tập đoàn còn có kế hoạch phát triển các dự án nhà máy điện hạt nhân mới sử dụng công nghệ lò phản ứng của Trung Quốc (Hoa Long I) sẽ được xây dựng tại Sizewell ở Suffolk và Bradwell ở Essex (Anh).  Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Lào và Campuchia, hiện nay cũng đang rất quan tâm tới việc xây dựng các dự án nhà máy điện hạt nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng và để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững. Hiện tại hai quốc gia, Lào và Campuchia đã có những bước đi đầu tiên như việc ký thỏa thuận xây dựng nhà máy điện hạt nhân với đối tác là Liên bang Nga, một cường quốc về phát triển và xây dựng công nghệ điện hạt nhân. Chúng ta đều biết rằng có một mối liên kết giữa Trung Quốc và Liên bang Nga trong việc cùng triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Cụ thể với dự án tại Lào và Campuchia thì Trung Quốc (có thể) sẽ cung cấp tài chính cho hai nước này để triển khai dự án. Thái Lan, Indonesia cũng đã quan tâm tới công nghệ Hoa Long I của Trung Quốc. Hiện Thái Lan đã bắt đầu tiến hành độc lập đánh giá công nghệ này.  Cùng với việc tham gia xây dựng, phát triển và xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân như trình bày ở trên thì, Tổng Công ty Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc (CNNC) cho biết Trung Quốc dự tính xây khoảng 20 nhà máy điện hạt nhân di động, đặt quanh khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, tổng vốn đầu tư 40 tỷ Nhân dân tệ (gần 6 tỷ USD). Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (CSIC) là đơn vị chịu trách nhiệm thiết kế và xây dựng. Công nghệ nhà máy điện hạt nhân di động này cũng tương tự như công nghệ điện hạt nhân dùng trong quân sự.  Lời kết  Chúng ta thấy rằng, để đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng phục vụ phát triển kinh tế bền vững, giảm sự phụ thuộc vào nhiệt điện than góp phần chống biến đổi khí hậu thì Trung Quốc đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung điện năng. Tuy là quốc gia xuất khẩu công nghệ năng lượng tái tạo (gió và mặt trời) lớn trên thế giới nhưng Trung Quốc vẫn kiên định và có chính sách nhất quán trong việc phát triển điện hạt nhân. Điều này ngoài việc đảm bảo an ninh nguồn năng lượng còn giúp Trung Quốc có ưu thế cạnh tranh hơn trong việc thu hút và phát triển các ngành kỹ thuật công nghệ cao do có nguồn điện năng được cung cấp cực kỳ ổn định từ các nhà máy điện hạt nhân.  Có một điều không thể phủ nhận rằng, Trung Quốc hiện đã làm chủ được công nghệ điện hạt nhân. Như vậy cùng với việc làm chủ được công nghệ vũ trụ thì Trung Quốc đã có trong tay hai công nghệ nguồn tiên tiến nhất trên thế giới để thúc đẩy sự phát triển các ngành khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng. Điều này đã đưa Trung Quốc trở thành cường quốc trong khu vực và trên thế giới.  Tại sao Trung Quốc không dựa hoàn toàn vào nguồn năng lượng tái tạo?  Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi rằng “Trung Quốc phát triển, triển khai và xuất khẩu rất nhiều dự án điện gió cũng như điện mặt trời, tại sao Trung Quốc vẫn phát triển điện hạt nhân một cách mạnh mẽ và có bài bản như vậy?”. Năng lượng gió có nhiều ưu điểm là không tạo ra các chất độc hại như nhiên liệu hóa thạch và có thể trở thành một trong những nguồn năng lượng chính cho các thế hệ tương lai. Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng năng lượng gió cũng có nhiều nhược điểm, trong đó nhược điểm lớn nhất là không liên tục. Điện chỉ có thể được sản xuất và cung cấp đầy đủ khi gió đủ mạnh, và phải tạm dừng khi gió ngừng thổi. Do tính chất không liên tục của năng lượng gió, nó cần phải được lưu trữ hoặc phải sử dụng thêm các nguồn năng lượng khác. Tuy nhiên, việc lưu trữ nó tốn khá nhiều chi phí và các quốc gia phải sử dụng các nguồn năng lượng khác để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng. Ngoài ra có những báo cáo trước đây về sự nguy hiểm từ cối xay gió với các loài chim khi một số lượng lớn các loài chim chết vì va vào các cột gió và cánh quạt. Bên cạnh đó, việc vận hành các cột gió sẽ gây ra ô nhiễm tiếng ồn đối với cư dân các vùng lân cận.  Đối với năng lượng mặt trời? Mặc dù cũng được xem là năng lượng sạch và là giải pháp thay thế cho nhiên liệu hóa thạch nhưng năng lượng mặt trời cũng có điểm yếu. Theo một nghiên cứu năm 2009 của Silicon Valley Toxics Coaliation, tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu về các tác động của chất thải độc hại từ các ngành công nghiệp công nghệ cao đối với sức khỏe con người, cho rằng vấn đề khiến năng lượng mặt trời không sạch nằm ở vòng đời của những tấm pin quang điện và ác-qui lưu trữ, cụ thể là khi chúng được tạo ra và khi được thải bỏ. Hoạt động sản xuất sử dụng hóa chất nguy hiểm, thải ra khí nhà kính và mối lo ngại hiện tại là sự phát triển của ngành công nghiệp nặng này có thể khơi nguồn cho một loạt các vấn đề môi trường mới mà thế hệ sau phải đối đầu. Khi tấm pin và ác-qui không còn dùng nữa, nếu không được thải bỏ đúng cách thì chúng chắc chắn sẽ gây ô nhiễm. Bên cạnh nhược điểm lớn của việc sử dụng năng lượng mặt trời là giá thành sản xuất điện năng cao do các nhà khoa học hiện mới đang tìm kiếm các phương pháp để lưu trữ năng lượng từ pin quang điện ở quy mô lớn, thì các dự án điện mặt trời thường chiếm một mặt bằng rất lớn để triển khai. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu thay đổi khí hậu cũng phát hiện ra rằng những tấm pin quang điện có xu hướng làm cho khu vực xung quanh trở nên lạnh hơn khi chuyển đổi ánh nắng thành điện và tăng nhiệt độ tại vùng đô thị khi điện thu được chuyển đổi thành nhiệt.  Với các nhược điểm như trên đối với việc sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời thì nếu muốn đáp ứng đủ nhu cầu điện năng để phát triển đất nước thì Trung Quốc vẫn phải phát triển điện hạt nhân. Năng lượng điện hạt nhân là một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển năng lượng của Trung Quốc. Điện hạt nhân đang và sẽ là nguồn cung cấp quan trọng cho các vùng duyên hải, nơi kinh tế phát triển nhanh và cần nhiều điện.          Author                Hoàng Thân        
__label__tiasang Trung Quốc có số lượng người chết do ô nhiễm không khí cao nhất thế giới      Trung Quốc đứng đầu danh sách những nước có số lượng người chết do không khí ô nhiễm cao trên thế giới, theo một báo cáo mới đây của tổ chức Y tế thế giới (WHO)      Người dân Bắc Kinh đạp xe trong bầu trời đầy bụi. Nguồn: Gettyimages  Theo báo cáo có sử dụng dữ liệu thống kê từ 184 nước này của WHO, ba nước đứng đầu danh sách là Trung Quốc với khoảng 1 triệu người đã chết vì không khí ô nhiễm, Ấn Độ có khoảng 600.000 người và Nga có 140.000 người. Các quốc gia phát triển cũng phải đối mặt với vấn đề tương tự, mặc dù cấp độ nhẹ hơn. Chẳng hạn như, Anh có 16.355 người tử vong vì không khí ô nhiễm, hoặc Đức có tới 26.160 người, thậm chí nước Mỹ có 38.043 người được cho là đã chết do nguyên nhân trực tiếp từ không khí ô nhiễm. Các quốc gia ở Thái Bình Dương như Brunei, Fiji và Vanuatu có số lượng người tử vong vì ô nhiễm không khí thấp nhất. Trong một thông báo vào năm 2014, WHO cũng đã cảnh báo rằng, không khí ô nhiễm phát thải từ các xe hơi, nhà máy điện và các nguồn khác đang giết chết tới ba triệu người trên toàn thế giới mỗi năm.  16 nhà khoa học đến từ tám tổ chức quốc tế khác đã cùng với WHO phân tích, thu thập dữ liệu từ 3.000 địa điểm, sử dụng các thiết bị theo dõi ô nhiễm trên mặt đất và phân tích. Các kết quả phân tích cho thấy, những hạt bụi nhỏ có kích cỡ 2.5 micromet (gọi là bụi PM2.5s) có thể thâm nhập vào phổi và làm tăng nguy cơ tử vong. Shaddick, nhà nghiên cứu tại Đại học Bath cho biết: “Những hạt bụi PM2.5s thực sự có khả năng thâm nhập vào màng phổi và vào hệ thống tuần hoàn máu”.  Hầu hết những nguồn gây ô nhiễm không khí đều do con người gây ra như khí thải giao thông, nhà máy đốt than, đốt chất thải… Tuy nhiên, các nguyên nhân tự nhiên cũng góp phần làm tăng nặng tình trạng ô nhiễm không khí. Ví dụ như bão bụi sa mạc là một trong 16 nguyên nhân gây ra tử vong nhiều nhất ở Iran.  Đến nay, các quốc gia phát triển như Canada và các nước Scandinavia được WHO đánh giá là rất thành công trong việc bảo vệ môi trường sống, kiềm chế ô nhiễm không khí. Một số thủ đô, như Paris cũng được đánh giá là có những biện pháp tích cực trong bảo vệ môi trường sống cho người dân và vẫn tiếp tục những nỗ lực không ngừng đó. Thứ hai vừa qua, thành phố này đã cấm ô tô chạy dọc theo sông Seine để cắt giảm ô nhiễm do khí thải ô tô gây ra. Anne Hidalgo, thị trưởng mới của Paris cho biết, “cần ưu tiên khắc phục ô nhiễm không khí. Đây là vấn đề y tế công cộng rất quan trọng mà chính quyền phải quan tâm, vì không thể chần chừ trước nguy cơ với sức khỏe người dân thành phố”.  Bảo Như lược dịch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mở rộng và cải thiện việc giáo dục đạo đức nghiên cứu      Các cơ sở nghiên cứu của Trung Quốc cần mở rộng và cải thiện việc giáo dục đạo đức nghiên cứu – đây là một trong số các chỉ đạo của Quốc vụ viện Trung Quốc trong một tuyên bố mới về đạo đức nghiên cứu.    Hầu hết các nhà nghiên cứu đều hoan nghênh động thái này của Trung Quốc, cho rằng tuyên bố của Quốc vụ viện sẽ có tác dụng cảnh báo các nhà khoa học không thực hiện các nghiên cứu vi phạm các chuẩn mực đạo đức, chẳng hạn như chỉnh sửa bộ gen của phôi người như sự việc He Jiankui năm 2018. Nhưng một số người cũng hoài nghi hiệu quả thực tế của tuyên bố này.        Cuối năm 2018, He Jiankui thông báo đã sử dụng công nghệ CRISPR-Cas9 để chỉnh sửa bộ gen của phôi thai, làm cho chúng kháng HIV, và cấy chúng vào một phụ nữ – người này sau đó sinh ra một cặp song sinh và một em bé thứ ba vào năm sau. He bị cộng đồng quốc tế lên án về việc sử dụng quá CRISPR-Cas9 trên phôi thai một cách quá vội vàng, đầy rủi ro và chưa chắc có hiệu quả. Cuối năm 2019, He lĩnh án ba năm tù.    Nhà đạo đức sinh học Haidan Chen tại Đại học Bắc Kinh ở Bắc Kinh cho biết “trường hợp He Jiankui là một bước ngoặt” đối với đạo đức nghiên cứu ở Trung Quốc. Sau sự việc này chính phủ đã tổ chức các cuộc hội thảo về những yếu tố đã giúp He thực hiện được các thí nghiệm này, và làm thế nào để ngăn chặn những sự việc tương tự, Chen nói.    Đến cuối năm 2019, chính phủ Trung Quốc thành lập Ủy ban Đạo đức Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Xiaomei Zhai, nhà đạo đức sinh học tại Học viện Khoa học Y tế Trung Quốc ở Bắc Kinh, thành viên ủy ban, cho biết, tuyên bố mới đây “là kết quả công khai đầu tiên” của các nỗ lực từ phía chính phủ.    Một vấn đề mà Ủy ban phát hiện là đã tồn tại nhiều hướng dẫn đạo đức cho các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, đôi khi gây mâu thuẫn. Ví dụ: nghiên cứu của He sử dụng công nghệ chỉnh sửa bộ gen, do Bộ Khoa học và Công nghệ giám sát, nhưng việc cấy các phôi đã chỉnh sửa vào phụ nữ lại là thủ tục do Bộ Y tế giám sát. Các quy định chắp vá này đã giúp He hoàn thành thí nghiệm của mình mà không bị cơ quan nào giám sát.    Thay vào đó, tuyên bố mới của Quốc vụ viện bao gồm tất cả các lĩnh vực nghiên cứu. Tuyên bố cũng kêu gọi giáo dục đạo đức rộng rãi hơn, đặc biệt là cho các nhà khoa học trẻ, và khuyến khích sự tham gia và thảo luận của công chúng.    Tuyên bố mới đặt trách nhiệm chính về quản lý đạo đức cho các tổ chức nghiên cứu, nhưng cũng kêu gọi thành lập hiệp hội đạo đức khoa học và công nghệ. “Các hiệp hội học thuật ở Trung Quốc thường ít có vai trò thảo luận về quy định, nhưng họ có thể giúp thực thi các chuẩn mực đạo đức,” theo Joy Zhang, nhà xã hội học tại Đại học Kent, Vương quốc Anh.    Tuyên bố nêu rõ các cơ quan cấp vốn, các tổ chức và ngành công nghiệp nên đánh giá các vi phạm và đưa ra các hình phạt phù hợp với các luật và quy định hiện hành, bao gồm thu hồi kinh phí, thu hồi các giải thưởng và bằng cấp chuyên môn, đồng thời cấm tiếp cận công quỹ trong một thời gian nhất định. Trước đây, các nhà nghiên cứu có thể cố tình vi phạm đạo đức vì nghĩ rằng sẽ ít khi bị trừng phạt, Chen nói, “đây là lời cảnh báo mạnh hơn trước, họ sẽ biết rằng họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.”    Nhưng một số nhà nghiên cứu lo lắng rằng tuyên bố có thể ngăn cản những người muốn tham gia các chủ đề nghiên cứu đang đặt ra các câu hỏi về đạo đức, mặc dù các nghiên cứu này có thể được tiến hành một cách có trách nhiệm. “Họ sẽ nghĩ rằng tôi không tham gia lĩnh vực này nữa vì tôi không muốn gặp rắc rối,” theo Jing-Bao Nie, nhà nghiên cứu đạo đức sinh học tại Đại học Otago, Dunedin, New Zealand.    Nie cho rằng cần có nhiều hướng dẫn chi tiết hơn nữa đi kèm với tuyên bố, để các nhà khoa học có thể cảm thấy an toàn khi báo cáo các hành vi vi phạm đạo đức. “Chúng tôi biết trên toàn thế giới, những người thổi còi thường bị trả thù theo nhiều cách khác nhau,” Nie nói.    Zhai đồng ý rằng còn nhiều việc phải làm. Ủy ban Đạo đức Khoa học và Công nghệ hiện được giao nhiệm vụ lập một danh sách các hoạt động nghiên cứu có nguy cơ cao, bao gồm các chủ đề từ tế bào gốc đến chimera (thuật ngữ di truyền học dùng để chỉ một cơ thể sinh vật, một cơ quan hay một mô mang nhiều bộ nhiễm sắc thể khác nhau) và y học nano. Các chủ đề sẽ được quản lý thông qua các đánh giá đạo đức nghiêm ngặt hơn và việc áp dụng các công nghệ này sẽ được xử lý thận trọng, Zhai nói.    Nhật Công    Author                .        
__label__tiasang Trung Quốc đặt kế hoạch đi bộ ngoài không gian vào 2008      Tin từ Văn phòng Kỹ thuật Chuyến bay có người lái của Trung Quốc cho biết tàu vũ trụ Thần Châu 7 của nước này sẽ tiến hành chuyến bay có người lái lần thứ 3 vào năm 2008 để thực hiện nhiệm vụ đi bộ ngoài không gian.    Wang Zhoigui, Giám đốc văn phòng nói trên cho biết các nhà du hành vũ trụ Trung Quốc trên Thần Châu 8 sẽ mặc các bộ quần áo vũ trụ do chính Trung Quốc chế tạo và đi bộ ra ngoài không gian để tiến hành một số thực nghiệm. Theo kế hoạch, sẽ có từ 1-2 nhà du hành vũ trụ đi bộ ngoài không gian trong thời gian khoảng nửa tiếng.  PV    Nguồn tin: Tân hoa xã và Chinadaily      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc đối mặt  với vấn nạn môi trường nghiêm trọng      Tình hình phát triển kinh tế ồ ạt trong ba thập niên vừa qua tại Trung Quốc đã khiến quốc gia này phải đối mặt với vấn nạn môi trường rất nghiêm trọng, cho dù Chính phủ đang bắt đầu từ bỏ chiến lược phát triển bằng mọi giá.      Theo ông Lý Can Kiệt, Thứ trưởng Bộ Bảo vệ Môi trường (BVMT) Trung Quốc: “sự đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm kèm theo tình trạng tổn thất và suy thoái kéo dài của các nguồn gene sinh vật”. Ông cho biết thêm rằng khu vực nông thôn ngày càng trở nên ô nhiễm hơn, nguyên nhân là do sự di dời các nhà máy ô nhiễm từ thành thị ra nông thôn. Vì vậy, việc thay đổi hoàn toàn tình trạng suy thoái tại nông thôn là trọng tâm chính trong kế hoạch 5 năm tiếp theo của Bộ.   Tìm hiểu năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã đặt vấn đề phát triển là một ưu tiên hàng đầu, với lo ngại rằng tình trạng thất nghiệp sẽ dẫn đến tình hình bất ổn kéo dài.  Tuy nhiên, các dấu hiệu ngày càng gia tăng lại cho thấy tình trạng tắc trách về vấn đề môi trường lại là nguyên dân gây ra bất ổn. Các cuộc chống đối tại đặc khu Nội Mông vào tuần qua sở dĩ xảy ra một phần là do sự lo ngại của người dân về tình trạng các ngành công nghiệp như khai thác than và quặng mỏ – với thành phần người dân tộc thiểu số Trung Quốc chiếm đa số – đang hủy hoại những đồng cỏ vốn được người Mông Cổ bản địa sử dụng để chăn gia súc. Những xung đột tương tự đã bùng phát tại những khu vực nhạy cảm về vấn đề sắc tộc như Tây Tạng và Tân Cương.  Theo báo cáo thường niên của Bộ BVMT Trung Quốc, hơn 1/5 diện tích đất đai được dành cho bảo tồn thiên nhiên đã bị các công ty sử dụng để phục vụ phát triển một cách phi pháp, và thường là có sự thông đồng của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, theo ông Lý, Bộ Bảo vệ Môi trường đã phóng một vệ tinh có thể phát hiện những khu vực phát triển phi pháp và sẽ gây áp lực lên chính quyền địa phương để chấm dứt những hoạt động đó. Nếu không làm được điều này, theo ông Lý nói, thì Bộ vẫn còn quyền tác động trực tiếp lên cơ hội thăng tiến của các viên chức, bởi vì hiện nay tiêu chí tuân thủ vấn đề môi trường là một phần trong cơ chế đánh giá năng lực của các cán bộ Nhà nước. Những quan sát viên độc lập cho biết đây là một phần trong tiến trình thay đổi từng bước nhằm trao thêm quyền cho Bộ Bảo vệ Môi trường.  Theo ông Lý, năm 2010, Bộ đã bác bỏ không phê duyệt 59 dự án trong đó có một dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc. Trước đây, một số Bộ có “quan hệ rộng” đã từng qua mặt được Bộ Bảo vệ Môi trường, thế nhưng hiện nay, Bộ BVMT đã dựng lên được một “bức tường lửa” bất khả xâm phạm nhằm ngăn chặn triệt để những dự án mang nhiều nguy hại.     KIM KHÔI lược dịch  (New York Times, online ngày 03/06/2011)  Nguồn: http://www.nytimes.com/ 2011/06/04/world/asia/04china.html?_r=1&ref=science    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc hạ các quy định về y học cổ truyền      Các nhà khoa học lo ngại việc loại bỏ bước thử nghiệm lâm sàng đối với các dược liệu cổ truyền có thể làm tăng nguy cơ rủi ro với sức khỏe.      Hỗ trợ cho y học cổ truyền (YHCT) luôn được ưu tiên hàng đầu ở Trung Quốc. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gọi Đông y là “viên ngọc quý” trong di sản khoa học quốc gia và hứa hẹn mang đến nhiều liều pháp điều trị cũng như giữ thế cân bằng với Tây y. Giờ đây, Trung Quốc đang thực hiện các bước tiến đáng kể để thúc đẩy YHCT ngay cả khi các nhà nghiên cứu bày tỏ các quan ngại về các liệu pháp điều trị này.  Từ đầu năm nay, nhiều dược liệu truyền thống của Trung Quốc đã không cần vượt qua các thử nghiệm về an toàn và hiệu quả trên người. Dự thảo được Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Trung Quốc (China Food and Drug Admistration – CFDA) công bố vào tháng Mười, ghi rằng các loại thuốc cổ truyền có thể bỏ qua các thử nghiệm tốn kém và mất thời gian trong trường hợp nhà sản xuất sử dụng các thành phần tương tự các công thức cổ truyền Trung Quốc. Cục quản lý Nhà nước về Y học Cổ truyền Trung Hoa và CFDA sẽ soạn thảo các phương thuốc được chấp nhận.  Chính phủ Trung Quốc còn tuyên truyền tích cực về thuốc Đông y (TCMs) như một giải pháp thay thế thuốc Tây y đắt tiền. Hoan nghênh chính sách mới, các bác sĩ y học cổ truyền cho rằng nó sẽ tạo điều kiện để quá trình sản xuất thuốc của các công ty dược phẩm thuận lợi hơn và sẵn sàng đáp ứng yêu cầu chữa bệnh hơn. Lixing Lao, giám đốc trường Y học Trung Hoa (ĐH Hong Kong) nhận xét, dù các phương thuốc cổ truyền không cần trải qua thử nghiệm lâm sàng nhưng CFDA vẫn cần tiếp tục yêu cầu các loại thuốc Đông y phải phải vượt qua thử nghiệm tiền lâm sàng và nghiên cứu độc tính trên động vật hoặc tế bào.  Quan ngại về an toàn  Các nhà khoa học cho rằng quan ngại về an toàn vẫn đang lan rộng khắp ngành công nghiệp [dược phẩm] và việc giảm các bước thử nghiệm lâm sàng có thể làm gia tăng rủi ro  sức khỏe cho bệnh nhân. Vào ngày 23/9 vừa qua, CFDA đã yêu cầu thu hồi trên diện rộng hai loại thuốc Đông y dạng tiêm sau khi có khoảng mười người bị ốm và sốt sau khi dùng thuốc.  Chưa đầy một tháng sau, ngày 18/10, các nhà nghiên cứu ở Singapore và Đài Loan đã công bố một nghiên cứu trên Science Translational Medicine, trong đó liên hệ bệnh ung thư gan với axít aristolochic– dược chất được chiết xuất từ một số cây họ Mộc hương, được sử dụng phổ biến trong Đông y. Steven Rozen, tác giả chính của công bố, là một nhà nghiên cứu về hệ gene ung thư tại Duke-NUS Medical School ở Singapore, tin rằng axít aristolochic tác động tới các đột biến gây ung thư nhưng vẫn khó xác định những gì dẫn đến việc tạo ra các khối u (Ở Việt Nam, cũng có một số trường hợp tương tự, ví dụ như năm 2010, Viện Kiểm nghiệm thuốc TƯ đã phát hiện ra hàm lượng axít aristolochic 1 – tác nhân có độc tính cao, theo nguyên trạng (mg/g) của 21 mẫu Phòng kỷ lưu hành trên thị trường dao động từ 0,001 – 1,363 mg/g. Chất này có nguy cơ cao gây ung thư hoặc làm suy thận) 1.  Axít aristolochic cũng liên quan đến ung thư đường tiết liệu và có thể gây tổn thương thận dẫn tới tử vong. Rozen nói rằng loại acid này vẫn được sử dụng phổ biến bất chấp cảnh báo từ Cục Quản lý Thực phẩm và Thuốc Hoa Kỳ rằng nó có liên quan đến bệnh thận. Ông nói: “Đây là thời điểm tốt để đánh giá lại các quy định [về aristolochic acid].”  Lao thấy mọi người sử dụng thuốc chứa axít aristolochic mỗi ngày và nói chung có thể không gây ra các vấn đề về sức khỏe nếu dùng “một cách vừa phải và chỉ dùng để điều trị” thay vì dùng thường xuyên như một loại thực phẩm chức năng. Nhìn chung, Lao không quan tâm đến các vấn đề an toàn của thuốc Đông y vì “không giống như với Tây y, các phương thuốc thảo dược đã được sử dụng trong hàng trăm, hàng ngàn năm qua.”  Tuy nhiên, Li Qingchen, một bác sĩ phẫu thuật nhi khoa tại Bệnh viện Nhi đồng Cáp Nhĩ Tân và được biết đến như người hay phê phán thuốc Đông y, nói rằng các vụ thu hồi thuốc gần đây cho thấy các phương án đánh giá an toàn hiện tại đã không còn thích hợp. Ông nói rằng các bác sĩ cần thông báo tới cộng đồng về các nguy hiểm liên quan đến thuốc cổ truyền nhưng phần lớn đều không sẵn sàng chống lại chúng. Ông nói rất ít bác sĩ dám công khai chỉ trích Đông y bởi chính sách thúc đẩy Đông y của Chính phủ và “vấn đề leo thang tới cấp độ chính trị và các cuộc thảo luận cởi mở bị hạn chế”.  Đơn giản quy trình đào tạo ngành YHCT  Vào ngày 23/10, một bài viết trên một trang tin y tế kêu gọi sự chú ý đến nguy cơ từ axít aristolochic đã bị gỡ bỏ khỏi trang mạng xã hội WeChat. Trong vòng ba ngày, bài viết thu hút 700.000 lượt đọc.  Ở Trung Quốc, cuộc tranh luận về thuốc Đông y đã lặng tiếng từ trước. Năm ngoái, Trung tâm Nghiên cứu phát triển của Quốc vụ viện Trung Quốc đã đề xuất cấm hoạt động chiết xuất mật gấu đen châu Á – một dược chất phổ biến khác của thuốc Đông y. Báo cáo của Trung tâm này đã đặt câu hỏi về tính hiệu quả của thuốc Đông y và khuyến nghị sử dụng các thuốc tổng hợp. Báo cáo này sau đó đã bị gỡ khỏi website của Trung tâm khi Hiệp hội YHCT Trung Hoa cho đây là thiên kiến và yêu cầu một lời xin lỗi.  Cùng với việc giảm các quy định về thuốc cổ truyền, chính phủ Trung Quốc cũng đơn giản hóa quy trình đào tạo bác sĩ YHCT và mở các bệnh viện sử dụng phương pháp tiếp cận này. Kể từ tháng 7/2017, sinh viên ngành YHCT không còn cần vượt qua các kỳ thi y học cấp quốc gia về Tây y nữa, thay vào đó, họ có thể trải qua thời gian thực tập và phải kiểm tra kỹ năng về Đông y. Muốn mở phòng khám, họ cũng không cần CFDA đồng ý nữa mà chỉ cần đăng ký với chính quyền.Mục tiêu cuối cùng của chính phủ Trung Quốc là để mọi viện nghiên cứu về sức khỏe đều có khả năng điều trị bằng thuốc Đông y ở mức cơ bản vào năm 2020. Quốc vụ viện – cơ quan hành chính cao nhất của Trung Quốc, đã vạch ra lộ trình tăng số lượng bác sĩ YHCT lên mức 4 bác sĩ/10.000 người dân, tăng ít nhất 3 kỹ thuật viên YHCT/10.000 người và thúc đẩy thị phần dược phẩm Đông y từ 26% lên mức 30% vào cuối thập kỷ này.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://www.nature.com/news/china-to-roll-back-regulations-for-traditional-medicine-despite-safety-concerns-1.23038  ———  1. Đọc thêm: http://suckhoedoisong.vn/ve-thong-tin-duoc-lieu-phong-ky-chua-acid-aristolochic-co-bang-chung-gay-ung-thu-va-suy-than-n36410.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc khởi động “mặt trời nhân tạo”      Lần đầu tiên, Trung Quốc thành công trong việc khởi động lò phản ứng nhiệt hạch hạt nhân “mặt trời nhân tạo”, hãng thông tấn nhà nước của quốc gia này chính thức thông báo. Qua đó, họ đã tạo ra một bước tiến lớn trong việc thúc đẩy năng lực nghiên cứu hạt nhân của mình.      Lò phản ứng Tokamak HL-2M là thiết bị nghiên cứu thực nghiệm về nhiệt hạch hạt nhân tiên tiến lớn nhất và các nhà khoa học có thể có tiềm năng đem lại một nguồn năng lượng sạch vô cùng lớn.  Theo lời Nhân dân nhật báo, lò phản ứng này sử dụng một điện trường lớn để tạo môi trường cho plasma nóng và có thể đạt tới các mức nhiệt độ trên 150 triệu 0C – nóng hơn lõi mặt trời tới xấp xỉ 10 lần.  Đặt tại tây nam Tứ Xuyên và hoàn thành vào năm ngoái, lò phản ứng này thường được gọi là “mặt trời nhân tạo”, ngụ ý về lượng nhiệt và điện khổng lồ mà nó tạo ra.  “Sự phát triển của năng lượng nhiệt hạch hạt nhân không chỉ là cách để giải quyết nhu cầu năng lượng chiến lược của Trung Quốc mà còn có ý nghĩa vô cùng lớn với sự phát triển bền vững trong tương lai của năng lượng và nền kinh tế quốc gia Trung Quốc”, bài báo giới thiệu về lò phản ứng nhiệt hạch của Trung Quốc đăng tải trên Nhân dân nhật báo bình luận.  Các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu phát triển những phiên bản nhỏ hơn của lò phản ứng nhiệt hạch hạt nhân kể từ năm 2006.  Họ lập kế hoạch sử dụng thiết bị này trong việc hợp tác với các nhà khoa học đang làm việc với Lò phản ứng thực nghiệm nhiệt hạch hạt nhân quốc tế ITER – dự án nghiên cứu nhiệt hạch hạt nhân lớn nhất thế giới đặt tại Pháp, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2025.  Nhiệt hạch được coi là Chén Thánh của năng lượng. Nó hợp nhất hạt nhân nguyên tử để tạo ra một lượng năng lượng khổng lồ – trái ngược với quá trình xử lý phân hạch trong các lò phản ứng hạt nhân và vũ khí nguyên tử, vốn phân rã chúng thành các mảnh nhỏ hơn.  Không như phân hạch, nhiệt hạch không tạo ta nhiều chất thải phóng xạ và ít mang đến những tai nạn rủi ro hoặc bị đánh cắp vật liệu hạt nhân. Tuy nhiên đạt được phản ứng nhiệt hạch là điều vô cùng khó khăn và đắt đỏ, ví dụ tổng chi phí cho ITER ước tính là 22,5 tỉ USD.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc muốn nhảy vọt trong nghiên cứu hạt cơ bản      Tiếp sau Thí nghiệm neutrino trong lò phản ứng Đại Á Loan (Daya Bay neutrino experiment), vừa qua Trung Quốc lại chuẩn bị khởi công vào cuối năm nay một thí nghiệm lớn thứ hai về neutrino – Thí nghiệm neutrino ngầm dưới đất Giang Môn (Jiangmen Underground Neutrino Observatory, JUNO).       Để chuẩn bị cho việc này, ngày 30/7, Viện Nghiên cứu Vật lý Năng lượng cao (IHEP) của Trung Quốc đã chính thức thành lập Nhóm Hợp tác quốc tế JUNO, gồm hơn 200 nhà khoa học đến từ hơn 50 viện, trường đại học của các nước Czech, Pháp, Đức, Ý, Nga và Mỹ; riêng Trung Quốc ngoài IHEP ra còn có 19 viện, trường đại học tham gia.  Năm 2012, Thí nghiệm neutrino trong lò phản ứng Đại Á Loan do Trung Quốc chủ trì đã phát hiện thấy mô thức giao động loại ba của neutrino. Giới vật lý hạt quốc tế đánh giá phát hiện này đã “mở ra cánh cửa lớn trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý neutrino”. Tiếp đó, các nhà khoa học Trung Quốc bắt đầu chuẩn bị dự án JUNO với quy mô lớn gấp hơn 100 lần Thí nghiệm neutrino trong lò phản ứng Đại Á Loan.   JUNO chọn địa chỉ tại vùng núi Đả Thạch Sơn thuộc thành phố Khai Bình, tỉnh Quảng Đông. Các thiết bị được đặt trong phòng thí nghiệm cao 80 m, đường kính 50 m, nằm ở độ sâu 700 m dưới lòng đất. Thiết bị thăm dò (detector) chứa 20.000 tấn chất lỏng nhấp nháy sẽ sử dụng hơn 15.000 ống nhân quang điện (photomultiplier tubes) để phát hiện tia sáng phát ra từ bể chứa chất lỏng này khi có một hạt neutrino va chạm vào một nguyên tử hydrogen.  Tuy rằng có thể thăm dò, quan sát được những hạt neutrino do các siêu tân tinh (supernovae) cũng như do Trái đất tạo ra, nhưng JUNO chủ yếu sẽ nghiên cứu những neutrino được tạo ra tại hai nhà máy điện hạt nhân ở gần Giang Môn (cách 50 km). “Chúng tôi cần quan sát các neutrino đến từ các lò phản ứng hạt nhân cách đây một cự ly thích hợp. Đây là một thách thức lớn khi xây dựng trong năm năm một phòng thí nghiệm lớn dưới lòng đất và chế tạo một thiết bị thăm dò,” ông Vương Di Phương, Giám đốc Viện Nghiên cứu Vật lý Năng lượng cao Trung Quốc, người phát ngôn của Nhóm Hợp tác quốc tế JUNO, nói.   Ngoài Trung Quốc ra, một số nước khác cũng đang tiến hành các thí nghiệm tương tự, như NOvA ở Mỹ, Hyper-Kamiokande ở Nhật và Indian Neutrino Observatory (chuẩn bị làm) ở Ấn Độ.   Dự kiến công trình trị giá 330 triệu USD này sẽ xây dựng xong vào cuối năm 2019 và đưa vào vận hành trong thời gian ít nhất 20 năm. Giới khoa học Trung Quốc hy vọng, trong thí nghiệm này họ sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa ba hương vị của neutrino là electron, muon và tau, qua đó khám phá các bí ẩn của vũ trụ, tìm hiểu các quy luật vật lý hạt vi mô, tiến tới có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực vũ trụ học, vật lý thiên thể, vật lý địa cầu của thế giới.   JUNO được kỳ vọng sẽ mang lại cho ngành vật lý neutrino Trung Quốc một bước nhảy vọt. Ông Vương Di Phương nói, “Có thể dự kiến, trong 10 năm tới chúng tôi sẽ hiểu biết sâu sắc hơn hiện nay về thế giới vật chất, và neutrino sẽ không còn thần bí nữa.”   “JUNO sẽ giúp chúng tôi xây dựng một đội ngũ nghiên cứu hàng đầu, tiến tới Trung Quốc trở thành một trong những nước dẫn đầu lĩnh vực vật lý hạt,” ông Vương nói thêm.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp và dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc nghiên cứu công nghệ tấn công vệ tinh Mỹ      Trang mạng freebeacon.com mới đây đăng bài  “Trung Quốc tiếp tục tiến hành vũ khí hóa không gian vũ trụ bằng các vụ  thử bắn tên lửa chống vệ tinh mới nhất”.      Bài báo cho biết vụ thử vũ khí ngày 23/7 của Trung Quốc không phải là thử tên lửa chống tên lửa mà là một vụ thử tên lửa chống vệ tinh; trên thực tế đây là vụ thử vũ khí đánh chặn kiểu DN-1 có khả năng đánh chặn vệ tinh quỹ đạo thấp. Người phát ngôn Lầu Năm Góc và Chính phủ Mỹ cho rằng đây là “một kiểu thử không phá hủy” (non-destructive test).   Đô đốc Cecil D. Haney, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Chiến lược Mỹ, nói ông rất lo ngại chuyện này, bởi lẽ Mỹ cũng như tất cả mọi quốc gia khác đều vô cùng phụ thuộc vào năng lực không gian vũ trụ; Mỹ muốn giữ không gian vũ trụ ở trong môi trường hòa bình; vụ thử này của Trung Quốc đã thúc đẩy tiến trình vũ khí hóa không gian vũ trụ.   Bài báo điểm lại các vụ thử vũ khí chống vệ tinh của Trung Quốc. Vụ đầu tiến hành vào tháng 1/2007, dùng phương thức phá hủy mục tiêu: tên lửa chống vệ tinh đã bắn trúng một vệ tinh thời tiết hết hạn sử dụng của Trung Quốc. Tướng bốn sao Haney nhấn mạnh, vụ thử này đã sinh ra nhiều mảnh vụn cho tới nay vẫn còn đe dọa các khí cụ bay có người lái hoặc không người lái, phát sinh ảnh hưởng tiêu cực lớn, sẽ “đe dọa an toàn lâu dài của môi trường vũ trụ”.   Tháng 5/2013, Trung Quốc tuyên bố đã tiến hành một thí nghiệm thăm dò khoa học trên không gian tầng cao tại Tây Xương. Nhưng Brian Weeden, cựu phân tích gia chính sách không gian của Không quân Mỹ, không đồng ý như vậy. Ông nói, thí nghiệm khoa học gì mà lại phóng tên lửa vào ban đêm, hơn nữa, lại sử dụng một tên lửa mạnh phóng từ bệ phóng đặt trên xe cơ động… những điều ấy là rất không bình thường đối với một dự án nghiên cứu khoa học.  Trong báo cáo gửi Quỹ An ninh thế giới (Secure World Foundation), Weeden khẳng định có khả năng đó là Trung Quốc tiến hành thử loại tên lửa di động, thứ vũ khí chống vệ tinh nhằm bắn hạ các mục tiêu ở quỹ đạo địa tĩnh cách mặt đất 22.236 dặm. Quỹ đạo đó là lãnh địa quan trọng mà các khí cụ bay đắt tiền của Mỹ đang thực thi sứ mệnh, như phát hiện nhiệt thoát ra từ giai đoạn đầu khi phóng tên lửa, phối hợp điều khiển các nhóm máy bay không người lái v.v…  Các nhà phân tích của Mỹ và Nhật cho biết, Trung Quốc có kế hoạch tấn công vệ tinh hung hăng nhất thế giới. Trong chín năm qua, ít nhất họ đã tiến hành sáu thí nghiệm như vậy. Minoru Terada Phó Tổng Thư ký đảng Dân chủ Tự do Nhật (đảng cầm quyền LDP) cho rằng đây là một phần của chính sách bá quyền của Trung Quốc, không những chỉ tìm cách kiểm soát các vùng biển mà còn kiểm soát bầu trời, kể cả không gian vũ trụ.   Ngoài thí nghiệm tên lửa đạn đạo đánh chặn và tiêu diệt vệ tinh, Trung Quốc cũng đang phát triển công nghệ can nhiễu phá hoại thông tin vệ tinh.   Lance Gatling, Giám đốc cơ quan tư vấn Nexial Research ở Tokyo, cho hay, Trung Quốc đang nghiên cứu vũ khí laser đặt ở mặt đất có thể phá hỏng các tấm pin mặt trời của vệ tinh, và sử dụng cánh tay máy lắp trên vệ tinh để phá hoại các khí cụ không gian của Mỹ.  Nhằm tránh các cuộc tấn công kể trên, hai nước Mỹ, Nhật đang bước đầu sửa đổi các chương trình không gian và coi đó là một phần của chính sách nâng cấp phòng vệ. Tháng 5/2014, Mỹ, Nhật đã bàn với nhau về việc triển khai hợp tác hệ thống GPS nhằm theo dõi tình hình không gian vũ trụ và tình hình trên biển.  Mỹ dễ bị Trung Quốc tấn công hơn cả, vì theo báo cáo của Hội Quan hệ đối ngoại Mỹ, 43% tổng số vệ tinh nhân tạo hiện có mặt trên quỹ đạo là vệ tinh của quân đội hoặc các công ty Mỹ. Nước này hiện có khoảng 30 vệ tinh do thám đang ở trên quỹ đạo. Về phía Nhật, ngoài bốn vệ tinh do thám đang làm việc ra, một tập đoàn tài chính gồm nhiều công ty Nhật đang chế tạo hai vệ tinh thông tin chuyên dùng cho thông tin mật.   Mỹ và Nhật đang đầu tư hàng tỷ USD vào dự án xây dựng hệ thống phòng ngự tên lửa đạn đạo tiên tiến, trên mức độ nào đó có phụ thuộc vào các vệ tinh do thám của Mỹ. Các chiến lược gia quân sự Trung Quốc đang hăng hái viết bài phân tích nhằm làm suy yếu ý nghĩa chiến lược giành quyền kiểm soát không gian vũ trụ của Mỹ. Yue Gang, một cựu đại tá Quân Giải phóng, nói: “Mỹ đã thực hiện được bao nhiêu cuộc thí nghiệm phòng ngự tên lửa đạn đạo? Trung Quốc mới chỉ tiến hành vài cuộc thí nghiệm mà người Mỹ đã đứng ngồi không yên rồi.”  Weeden nói, Mỹ đang tìm kiếm các phương thức khác để giảm nhẹ cảm giác bị đe dọa từ phía Trung Quốc, kể cả việc bố trí các loại vệ tinh nhỏ di chuyển được, khó bị đối phương phát hiện và phá hoại. Gatling cho rằng sử dụng công nghệ nhanh chóng nhảy tần số cho bộ phát tín hiệu của vệ tinh cũng là một cách có thể hóa giải mối đe dọa can nhiễu từ phía Trung Quốc.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp  Nguồn:  http://freebeacon.com/national-security/stratcom-china-continuing-to-weaponize-space-with-latest-anti-satellite-missile-shot/ Stratcom: China Continuing to Weaponize Space with Latest Anti-Satellite Missile Shot  http://www.businessweek.com/articles/2014-07-17/u-dot-s-dot-japan-prepare-to-defend-satellites-from-chinese-attack. As China Stalks Satellites, U.S. and Japan Prepare to Defend Them    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Nơi chất xám chảy ngược      Chảy máu chất xám là vấn đề nhức nhối mà Trung Quốc và nhiều quốc gia đang phát triển phải đối mặt, nhưng thay vì chỉ quan tâm tới việc du học sinh đi hay ở, các nhà làm chính sách Trung Quốc lựa chọn việc phát triển nền kinh tế và môi trường văn hóa xã hội, sử dụng chính sách hậu đãi để hấp dẫn những chuyên gia, các nhà khoa học ưu tú, không chỉ là những người gốc Hoa từ nước ngoài. Kết quả, hiện tượng chảy máu chất xám ở quốc gia này đang có dấu hiệu đảo chiều, Trung Quốc dần trở thành điểm đến ưa thích của các học giả quốc tế.      Shi Yigong – nhà sinh học từ ĐH Princeton đã hồi hương và hiện là Phó Hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa. Nguồn: nytimes.com  Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cử sinh viên và học giả đi du học với hy vọng bắt kịp khoa học và công nghệ phương Tây. Sau sự kiện Thiên An Môn và quyết định của Chính phủ Hoa Kỳ cho phép người Trung Quốc đại lục nộp đơn xin thường trú, số lượng người trở về giảm đột ngột và ngày càng có xu hướng khó kiểm soát. Kể từ năm 1978 đến năm 2010, Trung Quốc đã cử 1,9 triệu sinh viên và học giả đi du học, nhưng chỉ có 630.000 người trở về. Năm 2008, đã có 80.000 người Trung Quốc mua thẻ xanh và 40.000 người nhận quyền công dân Mỹ. Tám Hoa kiều nhận giải Nobel về khoa học cơ bản, năm trong số họ sinh ở Trung Quốc và hiện đang mang quốc tịch Mỹ, ngoại trừ Lý Viễn Triết từ Đài Loan. Truyền thông Ấn Độ gọi đây là “hiện tượng bò sữa”, ám chỉ một quốc gia đầu tư và một quốc gia khác hưởng lợi.  Thế nhưng kể từ sau năm 2008, chảy máu chất xám ở Trung Quốc bắt đầu có xu hướng được cải thiện. Nguyên nhân không chỉ do sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây (đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng năm 2009, GDP Trung Quốc vẫn tăng trưởng 9%/năm) mà còn cả những nỗ lực và giải pháp mang tính khả thi của Chính phủ Trung Quốc trong thu hút – phát triển – giữ chân nhân tài.  Chính sách hồi hương  Khoảng hai thập niên sau chính sách mở cửa năm 1978, số liệu của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc vào năm 1995 cho thấy hơn một nửa sinh viên sau đại học đã không trở về khi kết thúc nghiên cứu. Trung Quốc sớm nhận ra những rủi ro tiềm tàng và đã triển khai ngay một số “chính sách hồi hương” trong những năm 1990: “Kế hoạch một trăm nhân tài” của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Quỹ khoa học Thanh niên Kiệt xuất Quốc gia;… Tuy nhiên phải mãi đến năm 2008 khi Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động Chương trình tuyển dụng chuyên gia toàn cầu (hay còn được gọi là “Kế hoạch một ngàn nhân tài”) nhằm thu hút 2.000 nhân tài hải ngoại về Trung Quốc trong vòng 5 đến 10 năm tới, thì tình trạng chảy máu chất xám mới có những sự thay đổi tích cực.  Các học giả tham gia chương trình được nhận tiền lương lên tới 1 triệu NDT, gói tài trợ nghiên cứu 5 triệu NDT cùng nhiều lợi ích khác. Bên cạnh đó, các tỉnh và các trường đại học thường tài trợ thêm, ví dụ Đại học Công nghệ Nam Trung Quốc bổ sung cho những người tham gia chương trình các ưu đãi: mức lương cạnh tranh toàn cầu, hỗ trợ sinh hoạt phí 4,5 triệu NDT trong 3 – 5 năm, quỹ nghiên cứu khởi nghiệp trị giá 10 triệu NDT, nhà ở và bảo hiểm,…  Kết quả là số lượng giáo sư hồi hương trong giai đoạn 2008 – 2016 cao gấp 20 lần so với tổng số giáo sư quay lại trong ba thập kỷ từ 1978 – 2008. Tiến sĩ Shi Yigong, một trong những nhà sinh học phân tử ưu tú nhất ĐH Princeton, nằm trong số những người tiên phong trở về Trung Quốc trong “Kế hoạch một ngàn nhân tài”. Năm 2008, ông là công dân Mỹ nhưng đã từ chối gói tài trợ nghiên cứu 10 triệu USD để về phụ trách khoa học đời sống ở ĐH Thanh Hoa.  Cải cách giáo dục và tăng đầu tư cho khoa học  Tham vọng phát triển nền kinh tế tri thức để có thể chuyển từ “sản xuất ở Trung Quốc” trở thành “chế tạo ở Trung Quốc” đòi hỏi quốc gia này phải đảm bảo cho những người hồi hương có môi trường làm việc phù hợp . Vì thế Trung Quốc lên kế hoạch cải cách toàn diện hệ thống giáo dục và đầu tư không ngừng cho khoa học, công nghệ đi kèm với nhiều gói kích thích kinh tế và cơ hội phát triển nghề nghiệp.  Hai kế hoạch đầu tiên – dự án 211 (1995) và 985 (1998), đã giúp tăng rõ rệt chất lượng của khoảng 100 trường đại học hàng đầu. Nhưng các dự án này chỉ cải thiện các trường top đầu mà bỏ quên hơn 2000 trường đại học công lập khác, dẫn đến khoảng cách giáo dục giữa các vùng, giữa các trường được hỗ trợ và không được hỗ trợ ngày càng kéo rộng, do vậy không thay đổi được chất lượng giáo dục đại học ở Trung Quốc.  Tình hình chỉ được cải thiện khi đến năm 2008, Chính phủ khởi động Kế hoạch Phát triển Nhân tài Quốc gia trung và dài hạn (2010 – 2020), dự kiến phát triển nhân tài bền vững từ gốc, nghĩa là cải cách giáo dục từ mầm non, thu hẹp khoảng cách nông thôn – thành thị, phát triển văn hóa cho dân tộc thiểu số. Trong đó, giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học được đặt ở vị trí trung tâm: hàng ngàn trung tâm nghiên cứu nhằm nuôi dưỡng, ươm mầm tài năng được thành lập; tiến hành việc tuyển dụng nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài về giảng dạy trong trường đại học và nghiên cứu tại các tổ chức mới mở,… Cuối cùng, Trung Quốc đã thu được những quả ngọt đầu tiên, năm 1999 cả nước chỉ có ít hơn 30 trung tâm R&D của nước ngoài, đến năm 2014 con số này là hơn 1200.  Tuần hoàn chất xám  Trung Quốc sớm nhận ra họ có thể hưởng lợi từ việc các nhà khoa học và giáo sư gốc Trung ở nước ngoài dù không trở về nhưng vẫn đóng góp cho đất nước. Do vậy, đầu những năm 1992, Chính phủ Trung Quốc bắt đầu khuyến khích Hoa kiều trở về làm việc trong khoảng thời gian ngắn đến trung bình. Sau thành công từ chuyến về thăm quê hương của sinh viên Trung Quốc ở Đức năm 1996, chính sách “Tia sáng mùa xuân” bước vào giai đoạn thử nghiệm và đến năm 1997 được chính thức thực hiện để hỗ trợ tài chính cho Hoa kiều trở về trong các chuyến thăm ngắn hạn, trong đó chương trình trả vé máy bay chiều đi, còn các học giả có thể sử dụng các khoản trợ cấp nghiên cứu để trả tiền vé khứ hồi. Năm đầu tiên, đã có 600 học giả tham gia chương trình. Năm 2001, Trung Quốc thực hiện chính sách “Phục vụ đất nước” để học giả gốc Trung trở về đại lục vào dịp nghỉ hè và trả cho họ gấp năm lần mức lương họ đang nhận. Bộ Ngoại giao cũng đơn giản hóa các thủ tục nhập cảnh và cấp thị thực dài hạn để tạo điều kiện cho chuyên gia quốc tế đi lại dễ dàng. Các học giả được khuyến khích giữ vị trí chuyên môn ở cả Trung Quốc và nước ngoài, quay trở lại Trung Quốc để giảng dạy và trao đổi học thuật, nhận hoa hồng nếu tham gia dự án hợp tác giữa Trung Quốc và quốc tế…  ***  Trong thời đại toàn cầu hóa, chính phủ không thể loại bỏ được chảy máu chất xám mà phải học cách chung sống, hạn chế các tác động tiêu cực và thậm chí có thể hưởng lợi từ đây nếu biết tận dụng đúng cách. Vì vậy bài học rút ra là các chính phủ cần cho những người ở hải ngoại thấy rằng họ có cơ hội được phát triển sự nghiệp khi trở về với Tổ quốc, xóa bỏ những định kiến và phân biệt đối xử với họ. Tiền hay những đãi ngộ cũng không phải là những thứ duy nhất mà họ đắn đo; muốn thu hút nhân tài, cần phát triển toàn diện chất lượng môi trường sống cũng như tháo gỡ những rào cản văn hóa xã hội để những người hồi hương cảm thấy thoải mái khi sống ở quê nhà.  Minh Thuận tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc, nước xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân lớn nhất thế giới      Trung Quốc (TQ) là nước đang có quy mô xây  dựng và xuất khẩu điện hạt nhân (ĐHN) lớn nhất toàn cầu. Sau đường sắt  cao tốc, đến lượt ĐHN trở thành tấm danh thiếp thứ hai về “TQ sáng tạo”,  được các nhà lãnh đạo nước này thân chinh đem đi khắp thế giới để chào  hàng.       Bản thiết kế tổ máy phát ĐHN “Hoa Long 1” (Hualong One) của TQ được coi là thành tựu tự chủ sáng tạo mới trong công nghệ ĐHN thế hệ III, có tính an toàn, tiên tiến và kinh tế, tỷ lệ nội địa hóa đạt hơn 85%, tỷ suất khả dụng vào nhà máy ĐHN đạt 90%. Thành tựu này dựa trên kết quả hơn 30 năm nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, xây dựng và vận hành ĐHN của TQ, có tham khảo các ý tưởng công nghệ tiên tiến về ĐHN thế hệ III của thế giới.   Để phục vụ công tác xuất khẩu tổ máy ĐHN “Hoa Long 1”, TQ đã huy động hơn 200 doanh nghiệp trong nước tham gia việc chế tạo và xây dựng tổ máy này, mỗi tổ máy cần đến hơn 80.000 thiết bị; qua đó tạo ra 150.000 việc làm. Nếu xét tới việc cung ứng nhiên liệu hạt nhân và các dịch vụ tiếp theo thì mỗi một tổ máy ĐHN có thể tạo ra giá trị bằng 100 tỷ NDT (1 NDT = 0,161 USD).  Công nghệ ĐHN của TQ đã được nhiều nước chấp nhận bởi nó tuân theo tiêu chuẩn an toàn cao nhất của quốc tế trong các khâu thiết kế, thẩm định, xây dựng, vận hành.   Cho tới nay, TQ đã đưa vào sử dụng 19 tổ máy ĐHN, chưa hề xảy ra bất kỳ vụ việc nào gây thiệt hại về người hoặc làm ô nhiễm môi trường.   Xét theo các chỉ tiêu tính năng vận hành của Hội Các nhà khai thác hạt nhân thế giới (World Association of Nuclear Operators, WANO), các tổ máy ĐHN TQ đang vận hành phổ biến đạt được mức tương đối tốt, một số đạt mức tiên tiến thế giới, cá biệt được xếp hàng đầu. Sau sự cố Fukushima, Cục An toàn hạt nhân TQ đã nêu ra yêu cầu khi thiết kế tổ máy ĐHN phải xét tới yếu tố đề phòng các thiên tai ở mức nặng nhất như động đất mạnh nhất và mưa lớn nhất.   Hội Hạt nhân Thế giới (World Nuclear Association) cho biết, đến năm 2020, toàn thế giới sẽ có thêm 160 tổ máy ĐHN với vốn đầu tư 160 tỷ USD.   Thị trường ĐHN quy mô lớn như vậy sẽ tạo cơ hội cho TQ thực thi chiến lược xuất khẩu công nghệ ĐHN. Mới đây TQ đã ký với Pakistan một hợp đồng lớn trị giá 15 tỷ USD, xuất khẩu sang nước này năm tổ máy, đều dùng công nghệ “Hoa Long 1”. Trong dịp công ty ĐHN Areva (Pháp) tái cơ cấu, đã có ba công ty TQ tỏ ý quan tâm tới công nghệ và nghiệp vụ của Areva. TQ sẽ tham gia đấu thầu dự án ĐHN khổng lồ của Nam Phi, mở thầu vào cuối tháng 7/2015. Thái Lan, Indonesia cũng đã quan tâm tới “Hoa Long 1”. Hiện Thái Lan đã bắt đầu tiến hành độc lập đánh giá công nghệ này.   Tháng Sáu vừa qua, China General Nuclear Power Group (CGN) đã ký thỏa thuận với Trung tâm Năng lượng ASEAN để đào tạo cán bộ ĐHN cho ASEAN. CGN đã mở văn phòng đại diện tại Thái Lan, Việt Nam nhằm đẩy mạnh hợp tác về ĐHN.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Phát hiện vi-rút cúm gia cầm ở chim sẻ      Tân Hoa xã ngày 26/10 đưa tin các nhà khoa học Trung Quốc đã phát hiện ra vi-rút H5N1 ở chim sẻ từ 2 năm trước đây. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học tìm thấy vi-rút cúm gia cầm H5N1 ở một loài chim không có tập tính di cư ở Trung Quốc.    Tin cho biết các nhà khoa học ở Viện vi-rút học Vũ Hán đã tìm thấy vi-rút cúm gia cầm H5N1 trong phân của loài chim sẻ ngay sau đợt bùng phát dịch cúm gia cầm ở tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, từ đó đến nay không có dấu hiệu nào cho thấy loài chim sẻ bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm này.  Trước đây, Trung Quốc cho rằng nguyên nhân gây bùng phát dịch cúm gia cầm ở nước này xuất phát từ những loài chim di cư. Tuy nhiên, phát hiện trên cho thấy vi-rút cúm gia cầm cũng xuất hiện cả ở những loài chim địa phương.  Là nước có số lượng gia cầm lớn nhất thế giới, Trung Quốc luôn là trung tâm của cuộc chiến phòng chống cúm gia cầm. Kể từ khi bùng phát dịch cúm gia cầm đến nay, ở Trung Quốc có 21 người bị nhiễm vi-rút H5N1, trong đó 14 trường hợp đã tử vong.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc phóng thành công vệ tinh truyền thông và liên lạc tự tạo đầu tiên      Rạng sáng ngày 29/10, tại Trung tâm phóng vệ tinh Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc đã phóng thành công vệ tinh truyền thông và thông tin liên lạc tự tạo đầu tiên SinoSat-2, đánh dấu 51 lần phóng thành công liên tiếp của Trung Quốc kể từ tháng 10/1996.    Theo hãng tin Tân Hoa, vệ tinh SinoSat-2 đã tách khỏi tên lửa đẩy Trường Chinh 3B sau khi rời khỏi bệ phóng 25 phút. SinoSat-2 do Viện Hàn lâm Công nghệ vũ trụ Trung Quốc thiết kế và chế tạo nặng khoảng 5,1 tấn, hoạt động trong 15 năm với chức năng thu phát các chương trình truyền hình vô tuyến, truyền hình kỹ thuật số, các chương trình truyền hình trực tiếp và các hệ thống đa phương tiện kỹ thuật số băng thông rộng trên khu vực Trung Hoa lục địa, Hồng Công, Ma Cao và Đài Loan. Một quan chức của Công ty Viễn thông Vệ tinh SINO (SINOSAT) cho biết SinoSat-2 sẽ hỗ trợ Trung Quốc thâm nhập thị trường vệ tinh quốc tế, tăng cường công suất, độ tan toàn và tin cậy của nước này trong lĩnh vực thu phát các chương trình truyền hình, thông tin liên lạc qua vệ tinh.  Trước đó, vệ tinh SinoSat-1 phóng vào tháng 7/1998 do Trung Quốc mua từ nước ngoài có chức năng thu phát các chương trình truyền thanh và truyền hình của Trung Quốc cũng như thực hiện các dịch vụ thông tin liên lạc trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Dự kiến, vệ tinh SinoSat-3, đang trong giai đoạn nghiên cứu và thiết kế đặc biệt cho các dịch vụ truyền hình và truyền thanh, sẽ hoạt động vào năm 2007.  Các chuyên gia đã dự đoán Trung Quốc là thị trường đầy tiềm năng cho lĩnh vực kinh doanh truyền hình qua vệ tinh vì theo họ trong khoảng từ năm 2006 đến năm 2010 tại nước này sẽ có tới 100 triệu hộ gia đình lắp đặt chảo thu hình từ vệ tinh trong trường hợp Chính phủ dỡ bỏ lệnh cấm đối với lĩnh vực này.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc phóng vệ tinh thăm dò Mặt trăng      24/10, TQ đã phóng thành công vệ tinh thăm dò đầu tiên của mình có tên Hằng Nga lên quỹ đạo Mặt trăng từ sân bay vũ trụ Xichang (Tứ Xuyên).    Vệ tinh thăm dò Hằng Nga nặng 2.300 kg được phóng bởi tên lửa Trường Chinh 3A. Dự kiến Hằng Nga sẽ vào quỹ đạo Mặt trăng ngày 5.11 và bay quanh chị Hằng trong hơn 1 năm để ghi lại những thay đổi của bề mặt Mặt trăng bằng những camera tiên tiến có khả năng ghi hình ảnh 3D và máy đo quang phổ. Đến năm 2012, TQ sẽ đưa xe tự hành lên bề mặt Mặt trăng, sau đó lại đưa nó về Trái đất, và cuối cùng là đưa người đặt chân lên Mặt trăng trong vòng 15 năm tới.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc: Phun hóa chất vào không khí để trừ ô nhiễm không khí      Phun hoá chất vào không khí để tiêu diệt ô nhiễm không khí: dường như Chính phủ Trung Quốc định chọn con đường này. Một nhà máy quốc doanh chuyên sản xuất máy bay đã thử thành công một loại máy bay không người lái để xua đuổi khói bụi.    Trong cuộc chiến chống ô nhiễm không khí đang ngày càng nghiêm trọng hơn tại các thành phố lớn, chính phủ Trung Quốc dường như đã chấp thuận áp dụng những biện pháp không bình thường: thí dụ để giải quyết vấn đề ô nhiễm khói bụi (Smog), Bắc Kinh đang cân nhắc dùng máy bay không người lái phun hoá chất triệt khói bụi. Theo Tân Hoa Xã, mới đây, một công ty con của hãng sản xuất máy bay Trung Quốc Aviation Industry Corp of China (AVIC) đã thiết kế thành công máy bay không người lái để làm việc này. Chuyến bay thử diễn ra hôm 8/3 tại một sân bay thuộc tỉnh Hồ Bắc. “Thậm chí trong điều kiện sương mù dầy đặc, máy bay vẫn thực hiện bay theo đúng kế hoạch “, một kỹ sư tham gia dự án này nói với Tân Hoa Xã.      Cho đến nay chưa rõ người ta dùng loại hoá chất gì để phun. Hồi đầu năm có thông tin các nhà nghiên cứu Trung Quốc đang cân nhắc việc sử dụng ni tơ lỏng. Cách hôm thử nghiệm máy bay vài hôm, Thủ tướng Lý Gia Cường đã báo cáo trước Quốc hội về việc tuyên chiến với ô nhiễm môi trường. Theo một công trình nghiên cứu, đã có 74 thành phố mà chất lượng không khí vượt ngưỡng cao nhất cho phép.      Theo mô tả của Tân Hoa Xã, việc dùng máy bay không người lái so với các phương pháp khác để phun hoá chất đặc biệt ít rủi ro và tốn kém hơn. Thiết bị bay được đưa ra thử nghiệm có dù trượt nên có thể chuyên chở nhiều gấp ba lần so với máy bay thông thường.      Trong cuộc chiến chống Smog, Trung Quốc cũng áp dụng cả các biện pháp thông thường. Trong tương lai, kẻ gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm đền bù tài chính – đây là một quy định mới của Bộ Chính trị, tuy nhiên chưa có hướng dẫn cụ thể.      Ô nhiễm môi trường đang là một vấn nạn ngày càng nghiêm trọng ở Trung Quốc, không chỉ trở thành gánh nặng đối với nền kinh tế mà còn là nguyên nhân gây bất bình, lo lắng trong dân chúng. Nhiều người dân ở gần các trung tâm công nghiệp như Bắc Kinh, Thượng Hải thường xuyên chịu ảnh hưởng của Smog. Một số nhà máy liên tục phải tạm thời hạn chế sản xuất để giảm Smog.       Xuân Hoài dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc ra luật hỗ trợ các nhà khoa học      Các nhà làm luật Trung Quốc đang xem xét xây dựng luật mới giúp các nhà khoa học công bố những thất bại trong nghiên cứu mà không gây hại đến sự nghiệp của họ.    Theo hãng tin Xinhua, cho đến nay, áp lực về việc chỉ công bố những công trình nghiên cứu thành công đã cản trở sự phát triển của khoa học và dẫn tới gian lận trong giới khoa học.  Bai Chunli, nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc (CAS) cho rằng tâm lý e ngại thất bại khá phổ biến trong giới nghiên cứu và đang cản trở khoa học Trung Quốc phát triển.  Năm ngoái, một nhà khoa học hàng đầu của nước này đã bị đuổi khỏi ngành sau khi nói dối mình đã phát minh ra con chip máy tính mới.  Luật mới sẽ thúc đẩy các sáng kiến và cho phép các nhà khoa học đảm nhiệm nghiên cứu ở những lĩnh vực có nguy cơ thất bại cao. Trong luật này có điều khoản: “Các nhà khoa học và các chuyên gia khởi đầu nghiên cứu một công trình có tính rủi ro cao sẽ vẫn được hỗ trợ chi phí nghiên cứu nếu họ có thể cung cấp bằng chứng cho thấy họ đã cố hết sức nhưng vẫn thất bại trong việc đạt được mục tiêu của mình”.  Luật mới này có thể được bổ sung vào Luật Phát triển khoa học và công nghệ hiện hành của Trung Quốc.  TƯỜNG VY (Theo Xinhua)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc sẽ phóng tàu thăm dò sao Hỏa vào 2009      Tháng 10 năm 2009, Trung Quốc sẽ khởi hành thiết bị thăm dò sao Hỏa đầu tiên như một phần của dự án hợp tác với Nga, các nguồn tin từ Cơ quan vũ trụ Thượng Hải, nhà chế tạo chính của tàu thăm dò này, cho biết hôm qua.    Thiết bị do Trung Quốc tự chế tạo dự kiến hoàn tất vào tháng 6 năm 2009. Nó dài 75 cm, nặng 110 kg, được thiết kế để có thể phục vụ một sứ mệnh dài 2 năm. Mô hình của nó hiện được trưng bày tại một cuộc triển lãm công nghệ vũ trụ đang diễn ra ở Thượng Hải.  Thiết bị thăm dò này được phóng kèm với một phi thuyền của Nga, sẽ do một tên lửa hành trình của Nga đưa vào vũ trụ. Cả hai dự kiến sẽ hạ cánh trên hành tinh đỏ vào năm 2010, sau 10 tháng bay.  T. An (theo Tân Hoa Xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc sử dụng động vật để dự báo động đất      Một trạm kiểm soát động đất vừa được thành lập tại một công viên thiên nhiên ở ngoại ô phía tây nam Bắc Kinh, Trung Quốc. Trong đó, các nhà khoa học “sử dụng” nhiều loài động vật thay cho các máy móc để phát hiện động đất.    Theo ông Liu Xinchen, tổng giám đốc công viên thiên nhiên Daxing – nơi có hơn 10.000 động vật sinh sống trên gần 240 ha – các “thiết bị” được huy động cho trạm dự báo động đất đặt tại đây gồm hơn 50 con ngựa, lừa, công, rắn, rùa, ếch và nai.  Số động vật làm nhiệm vụ đặc biệt sẽ được bố trí tại bảy khu vực quan sát tại công viên. Mỗi ngày, các nhân viên chuyên môn sẽ ghi lại các tập tính của các loài động vật tại đây và gửi dữ liệu thu được đến cơ quan nghiên cứu động đất. Các nhà khoa học nhận định tập tính bất thường của các loài động vật trong môi trường tự nhiên hoang dã cho phép con người dự báo được một trận động đất sắp xảy đến. Theo đó, khi thiên tai này sắp diễn ra, loài động vật trú đông liền thức giấc và tìm đường chạy trốn, cá thì nhảy khỏi mặt nước…  Cơ quan nghiên cứu động đất ở Quảng Châu cho biết vườn thú Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông) cũng đang sử dụng động vật như các thiết bị phát hiện động đất.  ĐỨC TRƯỜNG (Theo People Daily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thắt chặt việc chia sẻ dữ liệu di truyền      Các quy định của Chính phủ Trung Quốc yêu cầu bất cứ ai muốn chuyển các mẫu DNA hoặc thông tin di truyền của người phải được Chính phủ cấp phép. Điều này cũng được áp dụng cho việc công bố dữ liệu trên các tạp chí quốc tế.    Tháng trước, lần đầu tiên, Bộ KH&CN Trung Quốc đã “bêu tên” các doanh nghiệp vi phạm các quy định về chia sẻ dữ liệu di truyền được Chính phủ đặt ra năm 1998. Các đơn vị này đã chuyển dữ liệu di truyền của người cho các tổ chức khác ở Trung Quốc hoặc nước ngoài mà không được Văn phòng nguồn gene người thuộc Bộ KH&CN cho phép.  Hãng dược phẩm lớn trên thế giới, AstraZeneca (Thụy Điển), có một trung tâm nghiên cứu ở Thượng Hải, đã bị bắt quả tang vào đầu năm nay khi chuyển các mẫu – được sử dụng để tạo ra các xét nghiệm chẩn đoán ung thư vú cho hai công ty Trung Quốc: Amoy Diagnostics ở Hạ Môn và Kunhao Ruicheng ở Bắc Kinh. AstraZeneca được ủy quyền thu thập các mẫu này, nhưng công ty này khẳng định họ không biết phải xin phép mới được chuyển dữ liệu cho bên thứ ba.  Viện Gene Bắc Kinh (BGI) ở Thâm Quyến và Bệnh viện Huashan ở Thượng Hải được cho là đã vi phạm các quy định khi đưa dữ liệu di truyền lên internet mà chưa được cho phép. Dữ liệu này nằm trong một nghiên cứu quốc tế lớn về tính di truyền của bệnh trầm cảm, được công bố trên Nature vào năm 2015. Theo yêu cầu của Bộ KH&CN, tổ chức này đã hủy toàn bộ dữ liệu. Họ cho biết cũng đã yêu cầu Nature gỡ bài viết. Tuy nhiên, bài viết vẫn còn trên website của Nature. Người phát ngôn của Nature không có bình luận gì về vấn đề này.  Các nhà khoa học và các chuyên gia chính sách lo ngại rằng quy định của Chính phủ sẽ cản trở các nhà nghiên cứu tiếp cận nguồn dữ liệu. Nhà di truyền học Paul Flicek thuộc Viện Wellcome Sanger ở Hinxton, Anh, cho rằng việc Chính phủ kiểm soát việc chia sẻ thông tin di truyền là điều hợp lý, nhưng “nếu quá trình nộp đơn xin phép phức tạp hoặc mất nhiều thời gian sẽ gây bất lợi cho việc chia sẻ dữ liệu”.   Còn Nicholas Steneck, nhà nghiên cứu về liêm chính học thuật ở Đại học Michigan, nhận xét: “Hiện nay, tính minh bạch, truy cập mở và chia sẻ được đặt lên hàng đầu, nhưng việc thực thi các quy tắc năm 1998 dường như đang đi ngược lại”.  Vừa qua, một dự án hợp tác quốc tế điều tra các mẫu di truyền của hơn 140.000 phụ nữ mang thai Trung Quốc đã phải gửi một chuyên gia phân tích dữ liệu sang Trung Quốc vì nguồn dữ liệu này không được chuyển ra ngoài đất nước, Anders Albrechtsen, một nhà di truyền học ở Đại học Copenhagen và là thành viên của dự án cho biết. Vì Albrechtsen không phải là công dân Trung Quốc, ông không thể truy cập dữ liệu và phải cung cấp các mô hình toán học và phần mềm không có dữ liệu. “Dự án này đặc biệt rắc rối,” ông nói. Nhóm nghiên cứu này, bao gồm các nhà nghiên cứu ở BGI sau đó đã không xin phép công bố dữ liệu di truyền và khi xuất bản trên tạp chí Cell vào tháng 10, họ nêu rõ các tác giả chỉ có thể chia sẻ số liệu thống kê tóm tắt. Xu Xun, chủ tịch BGI, đồng tác giả bài báo, cho biết nhóm lo ngại sẽ mất quá nhiều thời gian và công sức để được [các cơ quan hữu quan] cho phép chia sẻ dữ liệu.   Nếu Trung Quốc tiếp tục thực thi các quy định này, nghiên cứu di truyền trong nước có thể bị cô lập khỏi các nhóm quốc tế, Arcadi Navarro, một nhà di truyền học tại Đại học Pompeu Fabra ở Barcelona, Tây Ban Nha nhận xét. Ông cho rằng muốn có công bố, phải có dữ liệu thô, bởi vì việc kiểm tra các dữ liệu này sẽ giúp các nhà khoa học xác minh và sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu. “Không chia sẻ thì không thể có khoa học,” Navarro nói. Bài báo trên tạp chí Cell là “một ví dụ về những việc đã bị bỏ lỡ”, ông cho biết.□  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07222-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc thúc đẩy điện hạt nhân dù cung vượt cầu      Theo tin từ các báo Trung Quốc, hiện nay nguồn cung điện năng ở nước này đã vượt cầu, vì thế ngay cả điện hạt nhân (ĐHN) – một nguồn năng lượng có ưu thế sạch, ổn định, hiệu suất cao – cũng đang đứng trước khó khăn về tiêu thụ.    Nhà máy điện hạt nhân Phòng Thành  Ngày 18/5/2016, người phát ngôn của Tập đoàn ĐHN Trung Quốc (China General Nuclear Power Group, CGN) cho biết, mấy năm nay kinh tế Trung Quốc đã được tiến hành điều chỉnh cơ cấu, chuyển tốc độ phát triển kinh tế từ mức cao xuống mức trung cao, điều đó đã có ảnh hưởng nhất định tới tiêu thụ điện ở Trung Quốc. Tuy nói cung vượt cầu nhưng thực ra hiện nay mức dùng điện bình quân đầu người ở Trung Quốc chỉ là 3400 KWH, bằng 1/5 mức của Canada, 1/4 của Mỹ, chưa đến 1/2 của Nhật, cũng thấp nhiều so với mức 8000 KWH của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế [OECD, hiện có 34 nước]. Như vậy về lâu dài, ngành sản xuất điện ở Trung Quốc vẫn còn có không gian phát triển lớn. Trong 15 năm tới, số tổ máy ĐHN của nước này sẽ tăng thêm 100-120 triệu KW.  Cuối tháng 3, Ủy ban Phát triển và Cải cách nhà nước (National Development and Reform Commission) thông báo hủy bỏ một số dự án nhiệt điện than không đạt yêu cầu xét duyệt, tạm hoãn việc xét duyệt một số dự án nhiệt điện than của các tỉnh hiện đang thừa điện. Từ 2014 tới nay, vùng Đông Bắc xuất hiện hiện tượng ứ đọng điện, nhu cầu dùng điện tăng chậm mà điện gió lại phát triển nhanh. Do đó Ủy ban này yêu cầu hoãn các dự án phát triển điện gió ở vùng Đông Bắc và Nội Mông Cổ. Điều này tạo thuận lợi cho sự phát triển ĐHN ở Trung Quốc.  Website của CGN ngày 25/5/2016 cho biết, tổ máy ĐHN số 2 của nhà máy ĐHN cảng Phòng Thành đã hoàn thành nạp nhiên liệu hạt nhân cho lò đầu tiên, đánh dấu một bước tiến quan trọng trên con đường thực hiện khai thác thương mại nhà máy này.  Năm 2015, Nhà nước nới rộng việc xét duyệt các dự án ĐHN mới: hai tổ máy ĐHN Phúc Thanh (Phúc Kiến), tổ máy số 2 ĐHN Cảng Phòng Thành (Quảng Tây), đợt 2 ĐHN Hồng Duyên Hà (Liêu Ninh) lần lượt được duyệt.  Nhà máy ĐHN do CGN xây dựng tại cảng Phòng Thành gồm 6 tổ máy cỡ 1 triệu KW, trong đó ngày 30/7/2010 khởi công xây dựng tổ máy số 1, ngày 25/10/2010 phát điện lên lưới, ngày 1/1/2016 chính thức khai thác thương mại. Tổ máy số 2 ngày 24/12/2015 bắt đầu chạy thử nghiệm.  Mô hình lò phản ứng sử dụng công nghệ Hualong One  Hiện Trung Quốc đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ Hoa Long Một (Hualong One, Hua-long Pressurized Reactor, HPR1000) dùng cho lò phản ứng nước áp lực cỡ triệu KW.  Thông thường việc thực hiện một dự án ĐHN cần tới 5 năm, 18 tháng sau ngày khởi công, phần lớn thiết bị chủ yếu phải bắt đầu lần lượt đi vào chu kỳ bàn giao.  Năm 2015, Trung Quốc khởi công lắp đặt 6 tổ máy ĐHN, trong năm 2016 sẽ khởi công lắp 8 tổ nữa, 6 tháng cuối năm 2016 sẽ đưa một phần thiết bị vào bàn giao.  Tính đến cuối năm 2015, Trung Quốc đã có gần 30 tổ máy ĐHN đang vận hành với tổng công suất lắp đặt là 28,31 triệu KW; ngoài ra còn 24 tổ máy đang xây dựng với tổng công suất 26,72 triệu KW.  Như vậy Trung Quốc đứng thứ nhất thế giới về số lượng tổ máy ĐHN đang lắp đặt, thứ ba về số lượng tổ máy.  Quy hoạch phát triển dài hạn ĐHN của Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020 tổng công suất ĐHN đã lắp đặt sẽ lên tới 58 triệu KW, công suất đang lắp đặt khoảng 30 triệu KW. Dự kiến trong 5 năm tới, số tổ máy ĐHN vận hành sẽ tăng thêm ít nhất 30 tổ, số tổ máy ĐHN đang lắp đặt sẽ tăng thêm ít nhất 14 tổ. Dự kiến đến 2020, tổng đầu tư vào thiết bị ĐHN sẽ đạt mức 360 tỷ CNY (tức Nhân dân tệ, 1 CNY = 0,1519 USD).  Việc tăng tốc phát triển ĐHN và tăng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị ĐHN sẽ tạo ra thị trường vài trăm tỷ CNY cho các doanh nghiệp trong nước.  Ngoài ra Trung Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ ĐHN, hai năm gần đây đã ký được các hợp đồng cung cấp ĐHN trị giá 260 tỷ CNY cho nước ngoài. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là tổ máy phát ĐHN Hoa Long 1 do Trung Quốc tự thiết kế, dựa vào kinh nghiệm hơn 30 năm nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, xây dựng và vận hành ĐHN, có tham khảo các ý tưởng công nghệ tiên tiến về ĐHN thế hệ III của thế giới. Tổ máy này có tính an toàn, tính tiên tiến và tính kinh tế, tỷ lệ nội địa hóa đạt hơn 85%, tỷ suất khả dụng vào nhà  máy ĐHN đạt 90%, thuộc lại công nghệ tiên tiến. Đã huy động hơn 200 doanh nghiệp tham gia chế tạo và xây dựng Hoa Long 1, qua đó tạo ra 150.000 việc làm. Nếu xét cả tới việc cung ứng nhiên liệu hạt nhân và các dịch vụ tiếp theo thì mỗi một tổ máy ĐHN có thể tạo ra giá trị bằng 100 tỷ CNY.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới      Trong tuần này, Trung Quốc có thể chính thức tuyên bố nền kinh tế của nước này đứng thứ 4 trên thế giới, vượt qua các nền kinh tế lớn khác như Pháp, Ý và Anh.    Những dự báo dựa trên các con số thống kê về tổng sản lượng kinh tế quốc dân GDP là bằng chứng xác đáng nhất để Trung Quốc đưa ra tuyên bố này.  Tờ South China Morning Post, dẫn lời các nhà kinh tế dấu tên mới đây cho rằng Trung Quốc đang điều chỉnh lại mức thu nhập GDP năm nay của nước này lên 20% khiến nước này có thể đoạt vị trí thứ 4 trong bảng tổng sắp các nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm ngoái, Trung Quốc đứng thứ 7 trong bảng tổng sắp.  Lý do tạo ra mức thay đổi ngoạn mục này của Trung Quốc không chỉ bởi tăng trưởng GDP của Trung Quốc lớn hơn các nước Ý, Anh, Pháp mà còn vì ảnh hưởng của đồng Nhân dân tệ tăng giá 2,5% so với đồng đô la trong khi đồng euro của Châu Âu lại giảm giá. Các nhà kinh tế thậm chí còn cho rằng việc điều chỉnh lên 20% GDP của Trung Quốc năm nay còn là một mức khá khiêm tốn.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc và lịch sử khoa học thế giới 1450-1770 (phần 1)      Hầu hết các bức tranh ngày nay về sự trỗi  dậy của khoa học thường là một vài phiên bản của câu chuyện “thành công”  của nền khoa học Tây Âu và “thất bại” của các nền khoa học khác trên  thế giới. Giờ đây chúng ta buộc phải đánh giá lại xem lịch sử khoa học toàn cầu cần được viết lại như thế nào.    Các nhà sử học đã miêu tả giai đoạn  1450-1770 chủ yếu trong các khung tham chiếu của châu Âu, kể cả khi  những tường thuật của họ nhấn mạnh vào các chủ đề mang tính so sánh. Do  sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản, của cuộc cách mạng chính trị, và của  nền khoa học hiện đại ở những đất nước công nghiệp hóa của Tây Âu đã trở  thành tiêu biểu trong câu chuyện trung tâm mà các nhà sử học kể về thời  kỳ này, họ đã không điều tra xem những tương tác giữa châu Á và các  nước đầu hiện đại ở châu Âu đã phát triển như thế nào từ năm 1500 dưới  góc nhìn của châu Á. Ví dụ, hầu hết các bức tranh ngày nay về sự trỗi  dậy của khoa học thường là một vài phiên bản của câu chuyện “thành công”  của nền khoa học Tây Âu và “thất bại” của các nền khoa học khác trên  thế giới.  Trong hơn một thế kỷ, châu Âu đã tung hô sự thành công của nền khoa học phương Tây và mặc định sự thất bại của khoa học ở các nơi khác. Từ năm 1954, nhà hóa sinh và chuyên gia về lịch sử khoa học Trung Quốc Joseph Needham đã nhấn mạnh sự trỗi dậy của khoa học hiện đại chỉ duy nhất ở châu Âu, nhưng đồng thời cũng công nhận những thành tựu của khoa học và kỹ thuật truyền thống của Trung Quốc trước năm 1600. Trong các thập kỷ kể từ khi Needham trả lời câu hỏi đầy tính khiêu khích của mình- “vì sao đất nước Trung Hoa tiền hiện đại đã không phát triển khoa học hiện đại?”,  chúng ta đã phải ngày càng thừa nhận rằng sự tập trung của chúng ta vào sự “thất bại” của Trung Quốc trong việc phát triển nền khoa học của mình lên thành một nền khoa học hiện đại là một cách tiếp cận thú vị theo cảm tính nhưng lại là một cách chép sử sai lầm. Giờ đây chúng ta buộc phải đánh giá lại xem lịch sử khoa học toàn cầu cần được viết lại như thế nào.  Trung Quốc trước khoa học hiện đại của các đế quốc  Các nước châu Âu cho rằng họ vượt trội hơn về công nghệ so với các nước khác từ sau năm 1500, nhưng Trung Quốc không bao giờ đồng ý với quan điểm này cho đến khi họ chứng kiến tận mắt tác động của cuộc cách mạng công nghiệp trên các chiến trường thế kỷ 19 ở Đông Á. Ngược lại với Trung Quốc, nơi người bản địa vẫn nằm trong sự kiểm soát chính trị, chế độ thuộc địa của Anh đã thiết lập một chương trình nghị sự cho các nghiên cứu tự nhiên ở Nam Á. Quyền lực đế quốc của Anh sau năm 1700 đã bức chế các điều khoản về tương tác xã hội, văn hóa và chính trị giữa người bản xứ và người phương Tây ở Ấn Độ. Theo đó, những kiến thức mới được sắp xếp và phân loại theo tiêu chuẩn thực hành khoa học có thẩm quyền của Anh. Các dạng kiến thức thuộc địa chuyển thành các báo cáo, ghi chép thống kê, lịch sử, từ điển địa lý, bộ luật pháp lý, và các bách khoa toàn thư, xui khiến giới tinh hoa của Ấn Độ trở thành một phần công cụ trong kế hoạch thâu tóm chính trị và văn hóa của Anh. Những người bản xứ thuộc địa dần thu nhận đủ kinh nghiệm thực tiễn để hiểu cách thu thập, nghiên cứu và giải thích các kiến thức tự nhiên.  Ví dụ, nhà sử học Gyan Prakash mô tả cách đế quốc Anh đã dàn dựng nền khoa học ở Ấn Độ thông qua các bảo tàng, triển lãm và các dự án của chính phủ. Những dàn dựng đó trình bày khoa học như một dấu hiệu phổ quát của sự hiện đại, làm gia tăng quyền lực thực dân trong thế kỷ 19 thông qua việc giáo dục giới tinh hoa bản địa theo những dạng kiến thức khoa học và lịch sử tự nhiên được chấp nhận. Những người được giáo dục theo kiểu phương Tây này coi khoa học và công nghệ hiện đại như một hệ thống có giá trị và có ích hơn, có thể làm giàu thêm truyền thống bản địa của Ấn Độ. Giới tinh hoa Ấn Độ cũng thỏa hiệp lại những điều khoản về sự cai trị khoa học và kỹ thuật của Anh mà họ chấp nhận. Họ tạo ra một môi trường đàm luận lai ghép giữa khoa học và dân tộc, coi Kinh Vệ-đà (Vedas) cổ xưa của đạo Hindu là gốc rễ của các hình thức khoa học và hiện đại. Với nguồn lực từ đế quốc, trí thức Ấn Độ thích hợp hóa khoa học và uốn nắn lại những truyền thống riêng của mình dưới ánh sáng của những lý tưởng khoa học hiện đại.  Khác với Ấn Độ, Trung Quốc thời kỳ cận đại không thừa nhận sự ưu việt tự xưng của châu Âu về khoa học và tôn giáo ở bất kỳ giai đoạn nào trong sự tương tác của họ từ sau những năm 1580. Một lý do mà chúng ta có được những miêu tả chi tiết về tình trạng trong các nhà tù ở Trung Quốc trong thế kỷ 16, 17 là vì những người nhập đạo theo lệnh của các dòng Augustinian, Dominican, Franciscan và Dòng Tên (Jesuit) đã ghi lại những bản tường thuật này sau khi triều nhà Minh (1368-1644) giam giữ một số giáo sĩ của họ. Nhưng trên thực tế, người Trung Quốc và Mãn Châu thời nhà Thanh (1644-1911) đã xúi giục các chuyên gia của Dòng Tên trở thành tay sai của triều đình trong bộ máy quan lại để gia tăng chiến lược kiểm soát chính trị và văn hóa của mình, sử dụng những kỹ thuật toán học, thiên văn, quân sự và khảo sát tân tiến nhất. Như vậy, dưới góc độ lịch sử, sẽ là sai lầm nếu ta đánh giá thấp những nỗ lực của Trung Quốc trong việc học hỏi kiến thức phương Tây của những giáo sĩ Dòng Tên trong thế kỷ 16, 17, 18.  Hầu hết các ghi chép của phương Tây miêu tả việc mở rộng của đế quốc Anh đã xung đột như thế nào với một triều đại nhà Thanh coi Trung Hoa là tâm điểm thế giới và dửng dưng với kiến thức khoa học. Nhưng cách nhìn này cần được sửa đổi. Ta không nên xem bức thư nổi tiếng của vua Càn Long (trị vì năm 1736-1795) gửi vua George III năm 1793, từ chối các món đồ, dụng cụ phương Tây như một tuyên ngôn của một triều đại Mãn Châu hoàn toàn xa rời thực tế. Vua Càn Long không dứt khoát bác bỏ công nghệ phương Tây. Triều đình của ông chỉ đơn giản là không công nhận tính độc đáo của những dụng cụ thiên văn, ví dụ như mô hình hệ mặt trời, mà đoàn mệnh sứ Macartney mang đến Trung Quốc. Mặt khác, Càn Long cực kỳ hứng thú với mô hình tàu chiến được trang bị đại bác mà đại sứ Macartney giới thiệu. Không hay biết về cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra ở châu Âu, vua Càn Long đã sử dụng rộng rãi các giáo sĩ Dòng Tên châu Âu để chế tạo đại bác, thuê họ làm kiến trúc sư, nhà thiên văn học.  Sau khi các giáo sĩ Dòng Tên giúp cho lịch nhà Thanh có thể hoạt động chuẩn xác, vua Càn Long không thấy mô hình vũ trụ của Macartney là quá tuyệt vời nữa. Những hoàng đế sau đó khi đối mặt với sức mạnh hỏa lực quân sự của Anh trong hậu quả của cuộc chiến tranh Nha phiến (1839-1842) đã phải đối phó với một hoàn cảnh công nghệ hoàn toàn khác. Người Trung Quốc đã kết hợp đại số và hình học, đưa nghiên cứu tự nhiên vào thành một phần của giáo dục cổ điển, nhưng sự phát triển liên tục của khoa học và công nghệ ở châu Âu đã khiến Trung Quốc phải dựa dẫm vào các môn khoa học hiện đại được giới thiệu bởi các nhà truyền giáo Tin Lành trong bối cảnh lịch sử mới của thời kỳ hậu Napoleon ở châu Âu sau năm 1815.  Vì sao chúng ta lại đánh giá thấp những thành tựu của Trung Quốc trước năm 1800? Chủ yếu là vì trong cuộc chiến tranh Trung- Nhật từ năm 1894 đến 1895, quân đội và hải quân Nhật đã đánh bại hoàn toàn các lực lượng vũ trang của triều đình Mãn Thanh. Từ đó, những người yêu nước và học giả của cả Trung Quốc và Nhật Bản đều cho rằng Nhật Bản thời Minh Trị (1868-1911) vượt trội hơn hẳn so với Trung Quốc thời nhà Thanh về khoa học và công nghệ hiện đại trước năm 1894. Thật ra, trước cuộc chiến này, nhiều nhà quan sát đương thời cho rằng quân đội và hải quân nhà Thanh mạnh hơn, cho dù nếu chỉ tính về quân số. Sau năm 1895, mỗi bên đều viết lại lịch sử của mình để công nhận chiến thắng của Nhật Bản hay than khóc cho thất bại của nhà Thanh. Đối với người Trung Quốc và Mãn Châu, cuộc chiến Trung- Nhật đã biến công cuộc tự cường (Self- Strengthening Reforms) của nhà Thanh từ năm 1865 đến 1895 thành một thảm họa khoa học công nghệ.  Không gì có thể phủ nhận câu chuyện về thắng lợi của chủ nghĩa đế quốc phương Tây và Nhật Bản nhờ vào khoa học công nghệ trước Trung Quốc. Nhưng ta cũng cần nghe một câu chuyện ẩn đằng sau mối quan tâm lâu đời của người Trung Quốc với thế giới tự nhiên, y học, thương mại, thủ công mỹ nghệ- tất cả đều đặt nền móng cho những tương tác với khoa học, công nghệ và y học châu Âu sau năm 1600.  Hệ lý thuyết truyền thống cuối thời nhà Minh trong bối cảnh mở rộng thương mại  Quan lại thời nhà Minh (1368-1644) lo ngại về việc duy trì nền kinh tế nông nghiệp thời cuối triều đại này. Nguồn lực kinh tế dựa vào sức sản xuất của một hệ thống tích hợp sông- kênh- hồ và thuế đất- hàng hóa- lao động thu từ các nông trại tư trên hơn 1300 quận, nơi khoảng 90% dân số Trung Quốc, tức là khoảng 150 triệu người sống vào năm 1600. Bắt đầu từ năm 1381, triều đình đã phân cấp toàn bộ dân số theo các loại địa vị kinh tế xã hội khác nhau để xác định thuế và đánh giá cơ hội tiếp cận với các cuộc kiểm tra dân sự và quân sự. Được sửa đổi vào năm 1391, công tác đồ sộ này đo đạc những tài nguyên kinh tế nằm trong sự cai quản của nhà Minh, cân bằng sự phân bổ thuế đất (trả bằng hiện vật), và nhận sự phục vụ lao động công bằng từ tất cả các hộ gia đình.  Phỏng theo các mô hình cổ điển trong Chu Lễ (còn gọi là Chu quan hay Chu quan kinh)- bộ sách xuất hiện vào thời Chiến Quốc ghi chép về chế độ quan lại và những tập tục lễ nghi thời Chu, thường được các vị vua chúa sử dụng như kim chỉ nam trong các cuộc cải tổ, sự phân nhóm các hộ gia đình thành nhóm nông dân, bình dân, lính tráng, thợ thủ công, và thương nhân phản ánh vị thế xã hội của mỗi gia đình trong xã hội nhà Minh thời kỳ đầu và lượng lao động mà mỗi gia đình có thể cung cấp cho triều đình. Các công việc được tổ chức theo các đơn vị làng- hộ gia đình gồm 110 hộ trong một cộng đồng. Một gia đình thương gia phải cung cấp được hàng hóa theo yêu cầu; một gia đình quân đội phải đóng góp ít nhất hai binh sĩ phục vụ cho quân đội; gia đình nghệ nhân phải cử một thợ làm việc cho xưởng của triều đình. Tuy vậy, đến thế kỷ 16, khoảng cách rộng giữa lý thuyết và việc thực hành thu thuế của nhà Minh đã làm giảm đáng kể tầm kiểm soát của triều đình đối với kinh tế. Các thị trường khu vực dần chuyển sang sử dụng bạc trong những giao dịch lớn để trả tiền đất và thuế lao động, vượt ra ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của triều đình.  Hệ thống thuế của một nền kinh tế có đạo đức mà nhà Minh xây dựng hướng đến cuộc sống làng quê những năm 1400 đã trở nên lỗi thời vào đầu những năm 1600, khi dân số Trung Quốc tăng từ 65 triệu lên 150 triệu người và nền kinh tế trở nên thương mại hóa hơn. Nền kinh tế nhà Minh được biến đổi bởi một cuộc cách mạng nông nghiệp, trong đó ở các tỉnh ven biển phía Nam, sản xuất bông đã thay thế cho gạo. Sự thâm nhập của tiền bạc từ Thế giới Mới (New World), đặc biệt là từ châu Mỹ, đã khiến cho nền kính tế nhà Minh thế kỷ 16 mang tính chất tiền tệ nặng hơn. Sau đó vào thế kỷ 17, tiền bạc từ Nhật Bản nhập vào lại tiếp tục tiền tệ hóa nền kinh tế Trung Quốc. Như vậy, Trung Quốc bắt đầu đối mặt với một thị trường toàn cầu, ngược lại hẳn với những đơn vị công thương mang tính khu vực trước đó. Ngay từ những năm 1570, chính phủ nhà Minh đã phải cúi đầu chấp nhận và thông qua cải cách thuế chuyển hệ thống thuế đất và phục vụ lao động thành một hệ thống tiền tệ duy nhất, trả bằng bạc.  Khi dân số Trung Quốc tiếp tục tăng, tầm ảnh hưởng của bộ máy hành chính khá ổn định của 1350 tòa quận của triều đình lại giảm sút. Tương tự như vậy, giới trí thức triều Minh lo lắng không biết hệ lý thuyết chính thống cổ điển có còn đại diện được cho những nguyên tắc phổ quát của kiến thức trong thời kỳ mà hàng hóa và các đồ vật trong nước được biến thành các hiện vật thể hiện sự giàu sang, có thể được mua bằng bạc nhập từ nước ngoài. Một nhà trí thức thời Minh là Viên Hoàng (1533-1606) đã vạch ra những giằng co giữa đạo đức và sự sung túc bằng cách tạo ra một phép tính đạo đức mới để đo đạc sự giàu có, ghi lại những việc làm tốt và xấu để từ đó khen chê.  Tuy giới trí thức thời cuối triều Minh vẫn đặt hiểu biết của con người trong một lý thuyết cổ điển về tri thức, lượng và tốc độ trao đổi mọi thứ trên thị trường đã tăng theo cấp số nhân. Giới tinh hoa nhà Minh đã trải một sự thay đổi dứt khoát, rời xa những lý tưởng truyền thống về tính hiền triết, đạo đức và sự thanh đạm. Trong một nền kinh tế thị trường liên vùng miền đặc biệt rộng lớn, giới quý tộc và tầng lớp thương gia thượng lưu đã biến việc nghiên cứu vô tư các sự vật hiện tượng để trau dồi đạo đức thành sự tiêu dùng các đồ vật để đạt được những thỏa mãn về cảm xúc và sức khoẻ. Ví dụ, các họa sĩ thời Minh trình bày sự sành sỏi về đồ cổ của người thời kỳ đó qua một thể loại tranh gọi là “Nghiên cứu đại thể cổ vật” (Bogu-tu). Những bức tranh thể loại này phác họa giới tri thức như những nhà sưu tập các đồ vật tinh xảo.  Nghề buôn bán đồ cổ thời cuối nhà Minh đặc biệt dựa vào sự thịnh vượng kinh tế lan tràn khắp đồng bằng sông Trường Giang. Ở đó và một số nơi khác, các thương gia và trí thức sử dụng những nguồn lực tài chính ngày càng tăng của mình để cạnh tranh địa vị xã hội thông qua mức tiêu dùng dễ thấy. Trong các chuyến du ngoạn của mình, họ tìm kiếm các tác phẩm nghệ thuật cổ xưa, những bản thảo đầu tiên, những phiên bản hiếm có, và những món đồ gốm sứ tráng lệ. Họ trả những khoản phung phí quá mức khi tìm được những món đồ mình muốn. Sự nâng cao giá trị của những đồ thủ công mỹ nghệ cổ đã gây ra sự gia tăng sản xuất đồ nhái, đồ giả, và đồng, ngọc, gốm sứ cổ giả mạo. Sự trói buộc với việc sở hữu đồ vật của những nhà chơi đồ cổ thời kỳ này đã thách thức những quan niệm đã thành nguyên tắc của cả kiến thức chính thống và chủ nghĩa xét lại.                                                                     (Còn tiếp)    Khánh Minh dịch  Nguồn: http://www.princeton.edu/~elman/documents/China_and_the_World_History_of_Science.pdf       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc và lịch sử khoa học thế giới 1450-1770 (phần 2)      Thay vì chỉ nói về sự ưu việt của châu Âu-  Mỹ trong khoa học kỹ thuật và đưa ra giả định về tinh thần bài khoa học ở  các triều đại phong kiến cuối cùng ở Trung Quốc, ta cần nhận thấy mối  quan tâm của Trung Quốc với khoa học tự nhiên thể hiện trong cách họ tìm  hiểu và thực hành các môn học này.      Các môn học cổ đại ở Trung Quốc   Khi người châu Âu đặt chân đến Trung Quốc trong kỷ nguyên khám phá, lĩnh vực tri thức được họ coi trọng nhất- được gọi là scientia (có nghĩa là sự hiểu biết)- không phải là khoa học tự nhiên mà là triết học tự nhiên. “Science” (khoa học) là một từ tiếng Pháp Trung cổ đồng nghĩa với “kiến thức chính xác và có hệ thống”, chuyển thể sang tiếng Latin, từ này trở thành “scientia”. Giới học giả và tinh hoa châu Âu thời đầu hiện đại dùng từ này để chỉ hai chuyên ngành là triết học đạo đức và triết học tự nhiên theo trường phái của Aristotle. Chế độ học tập trong nhà trường bao gồm bảy môn khoa học trung cổ: ngữ pháp, logic, thuật hùng biện, số học, âm nhạc, hình học, và thiên văn học. Bảy môn học này được gọi là “liberal arts” (tạm dịch là các môn khai phóng, nghĩa là các lĩnh vực tri thức cơ bản cần thiết cho những con người tự do), được dùng trong nền giáo dục La Mã để chuẩn bị cho việc đào tạo chuyên sâu hơn ở các ngành triết học, y học, hoặc luật. Bảy môn học cơ bản của châu Âu được coi là nền tảng học vấn, có vai trò tương tự như trong quan niệm cổ điển về sáu môn nghệ thuật của Trung Quốc cổ đại là lễ, nhạc, bắn cung, đánh xe ngựa, thư pháp, và toán pháp.   Thời Phục hưng, các học giả châu Âu kết hợp những thành tựu kiến thức cổ điển của người Hồi giáo với thần học Thiên Chúa, thứ tự ưu tiên những môn học theo trường phái Aristotle là: 1) logic, 2) toán học, 3) khoa học tự nhiên, 4) triết học đạo đức, và 5) triết học siêu hình (metaphysics). Chế độ này được sử dụng lại trong chương trình học (gọi là Ratio Studiorum) của các trường Dòng Tên ở Tây Âu. Các giáo sĩ Dòng Tên truyền bá các môn vũ trụ học, vật lý, và khí tượng học trường phái Aristotle tại Trung Quốc thông qua lý thuyết về kiến thức này của họ.     Các triều đại sau này của Trung Quốc cũng ưu tiên nghiên cứu toán học bởi nó phục vụ cho các ngành khoa học chính xác tiền hiện đại, như các môn thiên văn, địa lý, bản đồ, và thuật giả kim theo những cách khác nhau. Giới học giả cũng áp dụng những khái niệm theo chủ nghĩa tự nhiên về âm- dương và thuyết ngũ hành để giải thích những thay đổi tự nhiên của vạn vật. Những lý giải duy lý hoặc trừu tượng về các sự vật, hiện tượng tự nhiên là đặc trưng của các nền khoa học tiền hiện đại trên khắp thế giới, đặc biệt là với truyền thống nghiên cứu về tự nhiên của giới tinh hoa Trung Quốc.      Cho đến năm 1600, châu Âu đã vượt trội châu Á trong các kỹ thuật sản xuất đồng hồ, đinh vít, đòn bẩy, và ròng rọc để sử dụng trong quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và sản xuất công nghiệp. Tuy vậy, trong thế kỷ 17 và 18, người châu Âu vẫn phải tìm đến những bí quyết sản xuất tơ, dệt vải, làm đồ sứ và sản xuất chè quy mô lớn từ Trung Quốc. Ngược lại, trí thức Trung Quốc từ trước năm 1800 cũng vay mượn từ châu Âu những ký hiệu đại số mới (có nguồn gốc từ Ấn Độ và Ả Rập), hệ thống vũ trụ học lấy Trái đất là trung tâm của Tycho, hình học Euclide, lượng giác cầu, logarith số học và lượng giác.   Vai trò của Dòng Tên trong việc phát triển khoa học Trung Quốc   Những cáo buộc, rằng giới trí thức Trung Quốc không tò mò về khoa học châu Âu trong thế kỷ 17 và 18 là không đúng sự thật. Các giáo sĩ Dòng Tên đã nghĩ ra một cách tiếp cận mang tính điều chỉnh linh động ở Trung Quốc, đó là tập trung vào toán học và thiên văn học; cách tiếp cận này khác hẳn phương pháp truyền bá mà họ sử dụng ở Nhật Bản, Ấn Độ, Ba Tư, Đông Nam Á và cả Châu Mỹ. Để lấy được lòng tin của nhà vua và giới trí thức, Matteo Ricci (1552- 1610) và các môn đồ của mình đã ưu tiên các môn nghiên cứu tự nhiên và toán học thiên văn trong thời kỳ cuối nhà Minh- đầu nhà Thanh, chính vì họ nhận ra giới trí thức và các hoàng đế Trung Quốc quan tâm đến những lĩnh vực này. Họ cũng nhận thấy mối quan tâm đó sẽ giúp cải thiện môi trường văn hóa, là bước đệm để cải đạo người Trung Quốc thành người Thiên Chúa giáo.     Thất bại của hội truyền giáo Dòng Tên và những người châu Âu khác đối với việc truyền bá các kiến thức khoa học và toán học trong và sau triều vua Khang Hy trị vì có nguyên nhân không phải chỉ là sự không quan tâm của Trung Quốc, mặc dù đúng là vua Ung Chính ít quan tâm tới khoa học hơn cha của mình. Sự thiếu hiểu biết của Trung Quốc về những phát triển khoa học trong thế kỷ 18 ở châu Âu một phần là kết quả của sự sụp đổ của Dòng Tên và các trường của họ ở châu Âu trong thế kỷ 18, khiến cho sự truyền bá khoa học tới Trung Quốc bị đứt đoạn và người Trung Quốc không có được thông tin về những xu hướng khoa học mới ở châu Âu. Ví dụ, sự sụp đổ của Dòng Tên đã trì hoãn thông tin từ châu Âu về vai trò của giải tích toán học như công cụ cơ bản của các kỹ sư, và vai trò mang tính nền móng của cơ học trong vật lý gần một thế kỷ.   Năng lực kỹ thuật của các giáo sĩ Dòng Tên ở Trung Quốc trong thế kỷ 18 bao gồm từ những phương pháp khảo sát cho đến chế tạo súng thần công. Họ cũng giới thiệu cho Trung Quốc hệ thống ròng rọc, đồng hồ mặt trời, kính thiên văn, bơm nước, nhạc cụ, đồng hồ, và các thiết bị cơ học khác. Kẻ thù của Dòng Tên ở châu Âu đã cáo buộc rằng các giáo sĩ Dòng Tên tự biến mình trở nên hữu ích cho Trung Quốc để phục vụ lợi ích cá nhân chứ không phải nhân danh Thiên Chúa giáo. Thêm vào đó, các vua chúa, quan lại, và các gia đình trí thức Trung Quốc rất chuộng hàng hóa sản xuất phương Tây- điều này được phản ánh rõ trong văn hóa vật chất trong các tiểu thuyết thời nhà Thanh như Hồng Lâu Mộng.    Ban đầu, người Trung Quốc đòi hỏi mức độ chuyên môn về thiên văn cao hơn so với Ricci có thể cung cấp, bởi những nhu cầu của nhà Minh tập trung vào việc dự đoán thiên thực dựa vào thời gian tuần hoàn chứ không phải cách xác định ngày tháng tuyến tính cho Phục Sinh như ở phương Tây. Những nhà cải cách lịch Gregory (đặt theo tên của Đức Giáo Hoàng Gregory XIII) những năm 1570 đã không chú tâm đến thiên thực, họ ưu tiên xây dựng một nền vũ trụ học tiên tiến hơn. Các giáo sĩ Dòng Tên ở Trung Quốc đã đi xa hơn cả thuyết địa tâm (geocentric) của Ptolemy sau khi Ricci qua đời và trở nên thông thạo hệ thống địa nhật tâm (geoheliocentric) mới của Tycho. Tuy vậy, khi đã đạt được việc này, công việc của các giáo sĩ Dòng Tên trong Cục Thiên văn- lịch lại mang tính vận hành kỹ thuật hơn là nghiên cứu khám phá.     Được trang bị bằng các tri thức và phương tiện kỹ thuật phát kiến bởi Tycho Brahe và đồng sự, các giáo sĩ Dòng Tên chỉ giải quyết những vấn đề họ được thuê để làm. Họ đã không theo kịp với những phát triển khoa học mới hơn ở châu Âu, là sản phẩm của những giáo sĩ Bắc Âu theo đạo Tin Lành ngoài Giáo Hội. Do đó, vào cuối thế kỷ 19 hệ thống Tycho vẫn được sử dụng để đào tạo các nhà thiên văn học thời nhà Thanh ở Trung Quốc. Các hoàng đế Mãn Thanh đã sao lại những mô hình tổ chức dịch thuật mà các trí thức nhà Minh như Từ Quang Khải (1562-1633) đã xây dựng với sự giúp đỡ của Matteo Ricci và Lý Chi Tảo (1565-1630).   Trong thế kỷ 18, việc sự đồng thuận của Dòng Tên tan vỡ trùng hợp với sự tự lực ngày càng lớn của Trung Quốc trong đào tạo toán học và quan niệm mặc định rằng tri thức từ châu Âu thực ra cũng có gốc gác từ tri thức Trung Hoa cổ đại. Dưới sự bảo trợ của triều đình, giới trí thức đã năng cấp toán học từ một kỹ năng bình thường vào những năm 1700 lên thành một lĩnh vực kiến thức quan trọng bổ trợ cho tri thức cổ điển vào năm 1800. Điều trớ trêu trong thất bại về phát triển toán học và khoa học của Dòng Tên của Pháp là, tuy các giáo sĩ Dòng Tên của Pháp có trao đổi với Leibniz (1646-1716)- người đã phát minh ra phép tính vi tích phân mà các kỹ sư người Pháp đã áp dụng trong thế kỷ 18 nhưng chính các giáo sĩ Dòng Tên, chứ không phải người Trung Quốc, đã không nhìn thấu phép đếm cơ số nhị phân ẩn sau những biểu tượng bí ẩn của trật tự 64 quẻ trong Kinh Dịch – một tác phẩm kinh điển của cổ học Trung Hoa.    Đoàn mệnh sứ Macartney 1793   Năm 1793, những người lãnh đạo của đoàn mệnh sứ Macartney muốn làm nổi trội vai trò lịch sử của họ so với các giáo sĩ Dòng Tên trước đó bằng cách giới thiệu Vương Quốc Anh và bản thân họ như những nhà sản xuất hàng đầu châu Âu và những giáo viên hăng hái, sẵn sàng truyền lại những kiến thức khoa học mới của mình cho triều đình Mãn Thanh và giới trí thức Trung Quốc. Ngài Macartney (1737-1806) tin rằng những món quà mà ông mang tới, đặc biệt là mô hình hệ mặt trời, phức tạp hơn nhiều so với các hỗn thiên nghi địa tâm (một dụng cụ quan trắc thiên văn), đồng hồ cơ, và kính thiên văn mà các giáo sĩ Dòng Tên giới thiệu trước đây. Ông cũng cho rằng những món quà đó sẽ có thể thuyết phục vua Càn Long tin vào địa vị thống trị của Anh trong khoa học và công nghệ.      Nhưng cả Macartney lẫn nhà cơ khí và toán học trong đoàn của ông là James Dinwiddie (1746-1815) đều không để ý đến sự kiện Công ty Đông Ấn của Anh đã từng mua lại mô hình vũ trụ do Đức chế tạo tại một cuộc đấu giá và trang trí lại nó theo phong cách Á Đông để phù hợp với thị trường Trung Quốc. Chỉ khi ông đi thăm quan các khu vườn xa hoa trong cung điện nhà Thanh và được chiêm ngưỡng các quả cầu, mô hình vũ trụ, đồng hồ, máy phát nhạc tự động được chế tạo với tài nghệ tinh xảo, thì ông mới bắt đầu nhận ra những hạn chế của các món quà mà mình mang đến. Các nhà bác học ở London trước đó đã chế nhạo những món quà mà nước Anh định tặng cho Trung Quốc, coi đó là một nỗ lực tầm thường để khắc phục sự thâm hụt lớn trong thương mại của Anh ở Trung Quốc. Có người từng đề xuất việc giới thiệu máy móc thay vì các món đồ trưng bày, nhưng ý tưởng này bị gạt bỏ do Anh lo sợ rằng người Trung Quốc thông minh sẽ nhanh chóng học được cách chế tạo những máy móc mà họ xuất khẩu, điều mà người Mỹ đã từng làm.      Vì vậy, Macartney đã không giới thiệu cho Trung Quốc những ròng rọc, bơm khí, các dụng cụ hóa học và điện, hay các mô hình động cơ hơi nước của Watt mà ông mang theo. Họ cũng không giới thiệu cả đồng hồ hàng hải mà Macartney mang theo như một món quà dự phòng. Đồng hồ hàng hải là một công cụ xác định kinh độ mới, hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp khảo sát của Dòng Tên mà nhà Mãn Thanh sử dụng để xác định các lãnh địa của mình. Các đồng hồ hàng hải này sau đó được trả lại cho Công ty Đông Ấn của Anh hoặc được giao cho Dinwiddie – người đã giảng giải về dụng cụ này và trình bày một vài thí nghiệm cho các nhà buôn người Trung Quốc tại Xí Nghiệp Anh ở Quảng Châu. Macartney cho rằng nếu Dinwiddie ở lại để giảng dạy lâu hơn thì chắc chắn ông có thể thu được một khoản học phí lớn từ các học viên Trung Quốc.    Kết luận   Ngày nay, nhìn vào lịch sử phát triển lâu dài của nghiên cứu tự nhiên ở Trung Quốc từ năm 1600, chúng ta cần ghi nhận những bước phát triển nhất định của khoa học hiện đại ở Trung Quốc, mặc dù sự phát triển đó gặp không ít trở ngại và thất bại. Thay vì chỉ nói về sự ưu việt của châu Âu- Mỹ trong khoa học kỹ thuật và đưa ra giả định về tinh thần bài khoa học ở các triều đại phong kiến cuối cùng ở Trung Quốc, ta cần nhận thấy mối quan tâm của Trung Quốc với khoa học tự nhiên thể hiện trong cách họ tìm hiểu và thực hành các môn học này. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần nhận thấy tiến trình phát triển một số ngành công nghiệp có nền tảng cơ giới hóa ở Trung Quốc kể từ năm 1860, tuy diễn ra chậm hơn so với tiến trình công nghiệp hóa ở Châu Âu trong thế kỷ 19 nhưng cũng không kém phần đáng kinh ngạc (hết).  Khánh Minh biên dịch   Nguồn:http://www.princeton.edu/~elman/documents China_and_the_World_History_of_Science.pdf  Phần 1 “Trung Quốc và lịch sử khoa học thế giới 1450-1770”:   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8614      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc ve vãn chuyên gia điện hạt nhân Đức      Sau khi Đức quyết định đoạn tuyệt với năng lượng nguyên tử thì TQ tăng cường ve vãn chuyên gia hạt nhân của Đức. “Chúng tôi mời các chuyên gia tới nghiên cứu và làm việc”, Xu Yuming, Phó tổng thư ký Hiệp hội Năng lượng hạt nhân (CNEA) đã nói như vậy trong cuộc trao đổi với báo Frankfurt (F.A.Z).      “Các nhà máy điện của Đức có đẳng cấp quốc tế và các kỹ sư, các nhà nghiên cứu Đức rất có uy tín”. Vì TQ đang xây dựng các nhà máy điện nguyên tử nhiều hơn bất cứ nước nào nên họ cần có các nhà khoa học và lực lượng chuyên môn giỏi, ông Xu đã phát biểu trên tờ “Stars-Symposions” về lực lượng quản lý kế cận ở Penglai TQ. Xu cho rằng, thật là sai lầm khi một quốc gia nghèo tài nguyên như Đức lại đoạn tuyệt với năng lượng nguyên tử. Điều này một mặt làm cho Đức lệ thuộc nhiều hơn vào việc nhập khẩu điện, và nguồn điện này có thể được sản xuất ở các nhà máy điện nguyên tử không mấy an toàn so với các nhà máy của Đức. Mặt khác điều này đồng nghĩa với việc Đức đã tự nguyện chia tay với một ngành công nghiệp có đà tăng trưởng mạnh mẽ và hết sức hấp dẫn.  Ông  Xu đã tiết lộ, TQ dự kiến chi mỗi năm khoảng  80 tỷ NDT (9 tỷ Euro) cho năng lượng hạt nhân. Ông được đánh giá là một trong những nhân vật quan trọng nhất của ngành hạt nhân TQ. Hiện TQ có 13 nhà máy điện nguyên tử đã đi vào hoạt động, 28 nhà máy điện hạt nhân đang được xây dựng “chiếm  46 % các dự án hạt điện nhân thế giới”. Đến năm  2015 TQ sẽ đưa công suất từ 10,8 lên 40 Gigawatt (GW). Đến năm 2020 có thể lên đến 80 GW. Ông Xu tỏ ra băn khoăn, các nhà chế tạo Đức có thể thu được nhiều lợi từ kế hoạch phát triển mạnh mẽ này. “Tuy nhiên nếu như thiếu những kinh nghiệm từ thị trường nội địa thì điều này sẽ khó khăn hơn”. Các dự án đang diễn ra hiện nay có sự tham gia  của nhiều chuyên gia Hoa Kỳ và Pháp, nhưng các nhà đầu tư Đức “tỏ ra không tích cực lắm”.  Đầu tiên là công nghệ gene, sau đó là tàu đệm từ Transrapid, giờ đến điện nguyên tử  Theo cách nhìn của TQ thì việc người Đức rút ra khỏi lĩnh vực năng lượng hạt nhân là sự tiếp tục tự nguyện rút lui ra khỏi một lĩnh vực công nghiệp có nhiều triển vọng, cũng như  trước đó nước Đức vì lý do chính trị đã rút lui khỏi công nghệ  gene và làm  tàu đệm từ. Tàu đệm từ Transrapid của Đức rốt cuộc chỉ chạy trên tuyến đường từ trung tâm Thượng Hải tới sân bay của thành phố này. Theo kế hoạch tuyến đường này sẽ kéo dài tới Hàng Châu nhưng vì thiếu sự hậu thuẫn cũng như quyết tâm mạnh mẽ của Đức nên tháng 10 vừa qua TQ đã tự xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc nối liền hai thành phố.   Ông Xu bảo vệ khuynh hướng tăng cường sử dụng năng lượng hạt nhân bất chấp thảm họa Fukushima. Ông nói Chính phủ TQ đã cho kiểm tra chặt chẽ vấn đề an toàn ở tất cả các nhà máy điện nguyên tử hiện có cũng như các công trình đang được xây dựng. Và theo các báo cáo khoa học nguy cơ động đất và sóng thần xảy ra cùng một lúc đã bị loại trừ. Các nhà máy điện hạt nhân của TQ tiếp tục được xây dựng ở ven biển. Tuy vậy, việc phê duyệt các lò phản ứng mới đã bị hoãn lại.   Theo chuyên gia Xu thì TQ không thể chối bỏ năng lượng hạt nhân vì lí do năng lượng cũng như sinh thái. Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới vào năm 1978 lượng tiêu thụ năng lượng ở TQ đã tăng gần sáu lần. Ông Xu  đề cập đến tình trạng thiếu điện do giá than trên thị trường tăng vọt: “Sự thiếu điện sẽ ngày càng trầm trọng hơn nếu như chúng tôi không khai thác năng lượng nguyên tử”. Đồng thời ông cũng khẳng định  nước này vẫn phải tiếp tục cắt điện: “Trong tương lai gần chúng tôi không thể bảo đảm sẽ có đủ điện”. Cả các doanh nghiệp nước ngoài ở TQ cũng đang khốn khổ vì tình trạng cắt điện hiện nay.           HOÀI TRANG    Text: F.A.Z. 26. 5.  2011    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc xây dựng “siêu bộ Khoa học”      Mới đây, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thông báo kế hoạch tăng thêm quyền cho Bộ KH&CN (MOST) để cơ quan này tiếp tục giám sát những chính sách khoa học và những dự án khoa học lớn nhưng cũng sẽ phải chấp nhận có thêm nhiều trách nhiệm với những khoản đầu tư cho nghiên cứu. Những cải cách này sẽ khiến cho việc thực thi các biện pháp thúc đẩy khoa học của chính phủ hiệu quả hơn, tuy vậy một số chuyên gia về chính sách khoa học lại lo ngại rằng những thay đổi này có thể làm giảm đi sự hỗ trợ cho nghiên cứu cơ bản.      Nghiên cứu y dược ở trường đại học Y Hồ Bắc. Nguồn: hebeinorthuniversityofmedicine.com  Những thông tin này được đưa ra tại kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc vừa qua, khi chính phủ thông qua phương án cải tổ bộ máy với hơn 15 cơ quan chính phủ được sáp nhập, tái cấu trúc hoặc xóa bỏ. Quỹ KHTN Trung Quốc (NSFC), tổ chức chịu trách nhiệm cấp kinh phí cho nghiên cứu lớn chính của quốc gia này, sẽ không còn chịu sự quản lý của Quốc vụ ViệnTrung Quốc mà sẽ do Bộ Khoa học quản lý.  Những cơ quan khác thay đổi theo hướng tăng cường bộ máy như văn phòng sở hữu trí tuệ, hay thiết lập một bộ mới như Bộ Tài nguyên sinh thái để giám sát tình trạng ô nhiễm môi trường và tăng cường hiệu quả của luật bảo vệ môi trường, và thành lập một cơ quan bảo tồn để bảo vệ những loài đang gặp nguy hiểm như linh dương Przewalski (Procapra przewalskii).  Chuyển động đáng ngạc nhiên  Với các nhà nghiên cứu, các kế hoạch để tăng thêm quyền lực cho Bộ Khoa học sẽ đem lại tác động lớn – và khiến nhiều nhà khoa học Trung Quốc ngạc nhiên, trong đó có nhiều quan chức của Bộ Khoa học. Quỹ NSFC cung cấp những khoản tài trợ khiêm tốn cho những nhà điều tra nghiên cứu độc lập tiến hành. Trong năm 2016, ngân sách dành cho Quỹ là 26,8 tỷ NDT (tương đương 3,9 tỷ USD), chiếm gần 1/3 kinh phí dành cho nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc, và hỗ trợ cho 44.000 dự án nghiên cứu.  Ngược lại, Bộ Khoa học Trung Quốc quản lý những dự án lớn nhằm hướng tới những mục tiêu ở tầm quốc gia. Các nhà khoa học thường phàn nàn Bộ Khoa học về các dự án hỗ trợ trên cơ sở những mối quan hệ về chính trị và cá nhân hơn là dựa vào ý kiến của các chuyên gia. Cao Cong, một nhà nghiên cứu về chính sách tại trường đại học Nottingham ở Ningbo, Trung Quốc, nói“Việc đặt NSFC dưới sự lãnh đạo của MOST rất có thể làm rối thêm cho các nhiệm vụ này”. Ông đã gặp các đồng nghiệp ở Bộ Khoa học  vào tuần trước, và phản hồi rằng nhiều người dường như không biết gì về việc cải cách này. “Thông tin về tái cơ cấu đã được giữ bí mật đến phút chót”, ông nhận xét.  Cao  cho biết việc cải cách có thể là một dấu hiệu cho thấy lãnh đạo Trung Quốc không hài lòng với quá trình tái cơ cấu về khoa học gần đây nhất vào năm 2014 trongnỗ lực gia tăng hiệu quả của việc đầu tư cho nghiên cứu.  Cao nhận xét, tác động của cuộc cải cách gần nhất sẽ cần thời gian để có thể đánh giá kết quả. Nhưng một kịch bản được dự báo là dần dần Quỹ Khoa học Trung Quốc sẽ mất đi quyền kiểm soát và ảnh hưởng trong việc tài trợ cho nghiên cứu cơ bản. “Nếu vậy thì toàn bộ cộng đồng khoa học sẽ rất tiếc nuối”, ông cho biết. Việc tài trợ cho khoa học của Quỹ khoa học Trung Quốc được các nhà khoa học hết sức quan tâm bởi họ tài trợ thông qua bình duyệt và ít nhấn mạnh đến những quan hệ mang tính cá nhân – thường được gọi là “guanxi”. Đây cũng là một trong số rất ít những nguồn đầu tư (vốn rất ít ỏi) tài trợ cho các nghiên cứu sinh.   Nhiều nhà nghiên cứu xuất sắc của Trung Quốc cho rằng việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc vẫn đang thấp hơn so với những quốc gia đang thúc đẩy đầu tư cho khoa học. Vào năm 2017, Trung Quốc đầu tư 92 tỷ NDT cho nghiên cứu cơ bản, tương đương với 0,1% GDP trong khi với Mỹ là 0,2% GDP.  Lãnh đạo NSFC, ông Li Jinghai, người mới đảm nhiệm trách nhiệm vào tháng trước, đã nói với Nature những chi tiết về sáp nhập giữa Bộ Khoa học và Quỹ “cần thiết được thảo luận và làm rõ trong những tháng tới”. Nhưng ông cũng cho biết rằng Quốc vụ Viện đã hứa sẽ dành nhiều tiền cho nghiên cứu cơ bản trong một văn bản mới công bố vào tháng 1 vừa qua. “Tôi chắc chắc rằng khoa học cơ bản của Trung Quốc sẽ được gia tăng sức mạnh”, ông nói.   Wang Yifang, Viện trưởng viện Vật lý năng lượng cao tại Bắc Kinh và là một đại biểu tham gia Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, lại đặt nhiều hy vọng vàosự sáp nhập này. Ông từng được biết đến là người chỉ trích vào quá trình tuyển chọn các dự án khoa học lớn của Trung Quốc khi cho rằng nhiều người trong hội đồng tuyển chọn không phải là những chuyên gia trong lĩnh vực mà họ thẩm định. Wang muốn Trung Quốc chấp nhận một hệ thống quản lý như ở Mỹ, nơi trao quyền cho một nhóm các chuyên gia đánh giá chất lượng của các dự án. Ông cũng cho rằng điều đó có thể xảy ra trong cơ quan sáp nhập này “nếu cả Bộ Khoa học và Quỹ Khoa học đều hành xử một cách đúng đắn”.   Thúc đẩy bảo vệ môi trường  Các nhà bảo tồn môi trường tỏ ra vui mừng trước việc Bộ Môi trường sinh thái được thành lập. Họ cho biết cơ cấu được chỉnh trang lại này có thể làm giảm bớt những xung đột giữa các bộ có những phạm vi trách nhiệm tương đương nhau. Ví dụ, với cơ cấu hiện nay, những vùng đồng cỏ rộng lớn của đất nước thuộc quyền quản lý của Bộ Nôn g nghiệp trong khi bất cứ khu vực hoang dã tự nhiên nào cũng thuộc trách nhiệm của Cơ quan quản lý Lâm nghiệp quốc gia. Kết quả là tại Thanh Hải ở miền Trung Trung Quốc, trong lúc Cơ quan quản lý Lâm nghiệp quốc gia đã cố gắng loại bỏ những rào chắn khu vực có cỏ để loài linh dương Przewalski có thể kiếm ăn thì bộ Nông nghiệp lại chi tiền cho việc xây dựng các rào chắn mới. “Đây là một hệ sinh thái. Cần phảigiải quyết vấn đề một cách tổng thể”, Zhang Li, một nhà sinh học bảo tồn ở đại học Sư phạm Bắc Kinh nhận xét.  Zhang cho biết việc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan cũng dẫn đến danh sách các loài đang cần bảo vệ khẩn cấp ở Trung Quốc vẫn chưa được cập nhật trong vòng 10 năm nay. Ví dụ danh sách hiện nay của loài tê tê Trung Quốc (Manis pentadactyla) – một loài động vật có vú mang vẩy – và loài cá heo không vây Yangtze (Neophocaena asiaeorientalis asiaeorientalis) đang ở tình trạng nguy cấp. Nhưng số lượng tê tê đã bị giảm sút bởi nạn săn lùng nguyên liệu cho Đông dược.  Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế hiện đang đưa loài tê tê Trung Quốc vào danh sách nguy hiểm. Theo Zhang, việc bảo vệ loài cá heo không vây – loài này cũng có mặt trong danh sách của Liên minh, cũng cần được bảo vệ gắt gao bởi số lượng đang giảm xuống còn 1.200 cá thể.               Ông hy vọng cơ quan quản lý mới sẽ cập nhật danh sách các loài gặp nguy hiểm trong tương lai gần.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-03246-w       Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung Quốc xây sân bay vũ trụ thứ tư      Sân bay vũ trụ mới này sẽ được xây dựng tại Wenchang, thuộc đảo Hải Nam, và sẽ hoàn thành vào năm 2010.      Khu phức hợp này rộng 20 km2, bao gồm một trung tâm chỉ huy, một sân bay vũ trụ, một nhà máy lắp ráp tên lửa, một bệ phóng tên lửa và một khu giải trí theo chủ đề không gian. Sân bay vũ trụ gần biển đầu tiên này của TQ sẽ được dùng để phóng các vệ tinh lớn, các trạm không gian lớn và tàu thăm dò vũ trụ. Nước này đang chuẩn bị cho việc phóng tàu vũ trụ “Chang’e I” để thám hiểm Mặt Trăng vào cuối năm nay. Gần đây, TQ cũng tuyên bố sẽ cùng Nga thực hiện sứ mệnh chung thăm dò sao Hỏa vào năm 2009.    Minh Quang (Theo People’s Daily Online)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm công nghệ tế bào gốc lớn nhất Trung Quốc      Trung Quốc đang có kế hoạch xây dựng đại bản doanh về nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) và các cơ sở công nghiệp lớn về công nghệ tế bào gốc ở Thiên Tân. Đây sẽ là trung tâm lớn nhất Trung Quốc và là một trung tâm hàng đầu của Châu Á.      Dự án trị giá cỡ khoảng 2,5 triệu đô la Mỹ đã được ký kết giữa Ban quản lý khu công nghệ và kinh tế Thiên Tân và Viện Nghiên cứu thử nghiệm thuốc (thuộc Viện Khoa học Y tế Trung Quốc).   Mục tiêu của dự án là tạo nền tảng cho việc chế tạo các loại tân dược từ tế bào gốc trong thời gian khoảng 3 năm. Trước mắt, dự án Liên hợp chế tạo thuốc Thiên Tân-Taida sẽ sản xuất các loại thuốc chế tạo từ tế bào gốc để thử nghiệm. Sau đó, nó sẽ phát triển các công nghệ tế bào gốc để chữa trị các bệnh về máu, tim mạch, gan, béo phì và rối loạn hệ thống kháng thể.   (Tân hoa xã)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam: 15 năm xây dựng niềm tin trong cộng đồng khoa học      Sau 15 năm thành lập, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam (MEDDOM) đã trở thành một địa chỉ tin cậy để các nhà khoa học gửi trao hiện vật nghiên cứu khoa học, được đông đảo giới khoa học trong nước tin cậy, được các nhà quản lý quan tâm và công chúng biết tới.    Ra đời trong bối cảnh chưa từng có một công trình nào tìm hiểu toàn diện về lịch sử khoa học Việt Nam và trong quy hoạch của nhà nước về hệ thống bảo tàng cũng chưa đề cập đến việc xây dựng một bảo tàng về khoa học và các nhà khoa học Việt Nam, Trung tâm di sản các nhà khoa học Việt Nam (MEDDOM) đã thuyết phục cộng đồng khoa học và công chúng vào giá trị của một loại hình trung tâm lưu trữ di sản các nhà khoa học.      GS. Nguyễn Anh Trí – Chủ tịch hội đồng cố vấn MEDGROUP tham quan trưng bày “Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam” của MEDDOM.    Từ chỗ chưa được cộng đồng tin tưởng, tới nay Meddom đã trở thành một địa chỉ tin cậy để các nhà khoa học gửi trao hiện vật nghiên cứu khoa học, được đông đảo giới khoa học trong nước tin cậy, được các nhà quản lý quan tâm và công chúng biết tới. Để gửi trao những kỷ vật gắn với cuộc đời hoạt động khoa học của mình, một phần ký ức, máu thịt của mình là không đơn giản, như GS.TS Mạch Quang Thắng, giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chia sẻ tại Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập MEDDOM (2007-2022) ngày 12-9-2022. Cũng như các nhà khoa học khác, khi ông “gửi đến Trung tâm Di sản các nhà khoa học một số hiện vật ghi dấu gần 50 năm hoạt động khoa học của bản thân tôi, trong đó có những sản phẩm đã được công bố ở trong và ngoài nước, đó là sách và các bài đăng trong nhiều tạp chí khoa học” là thực sự tin tưởng vào Trung tâm di sản, coi đây như ngôi nhà chung của giới khoa học.    Chia sẻ của GS. Mạch Quang Thắng cũng là những chia sẻ chung của gần 3.000 nhà khoa học ở tất cả các chuyên ngành, lĩnh vực khoa học đã gửi gắm gần 1 triệu tài liệu hiện vật, hàng trăm ngàn phút ghi âm, ghi hình ký ức, câu chuyện làm khoa học. Đối với MEDDOM, niềm tin đó là những “tài sản quý báu nhất mà MEDDOM có được” sau 15 năm, như chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc chuyên môn của MEDDOM. Nhờ niềm tin đó mà MEDDOM lưu trữ, và sẽ trưng bày, phát huy khối di sản khổng lồ có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử cuộc đời các nhà khoa học, lịch sử các ngành/lĩnh vực khoa học, lịch sử giáo dục, chính trị-xã hội…    Công tác nghiên cứu, phát huy di sản là một trong những nhiệm vụ trọng tâm bên cạnh việc sưu tầm, lưu trữ và bảo tồn di sản. Sau 15 năm, MEDDOM đã xuất bản hàng chục ấn phẩm liên quan đến các nhà khoa học, như bộ sách “Di sản ký ức của nhà khoa học” (8 tập), “Những câu chuyện hiện vật” (5 tập), “Hồ sơ những hạt giống bí mật”, “Muôn nẻo đường đến thành công”… Hàng chục trưng bày, triển lãm được thực hiện trong thời gian qua như: “Khát vọng học hỏi và sáng tạo”, “Thẳm sâu trong từng kỷ vật”, “Chuyện nghề địa chất”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam”… đã thu hút công chúng và đặc biệt là tạo môi trường học tập, trải nghiệm cho thế hệ trẻ.      Bà Hoàng Châu Thanh – con gái GS Hoàng Phê – trao tặng hiện vật của cha mình cho Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.    Bảo tàng không chỉ có ý nghĩa giới hạn trong cộng đồng khoa học, mà còn là một phần di sản về văn hóa. Đối với nhà khoa học có nhiều năm nghiên cứu về di sản văn hóa như PGS.TS Đỗ Văn Trụ, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, “sự ra đời của MEDDOM đã đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản vật thể và phi vật thể của các nhà khoa học Việt Nam. Sự tham gia của Meddom vào câu chuyện bảo tồn di sản văn hóa, ở một loại hình di sản đặc biệt – di sản của các nhà khoa học Việt Nam đã khiến chúng ta có những nhận thức, quan niệm mới, phương pháp tiếp cận mới, cách thức nghiên cứu và phát huy mới về di sản.”    Bên cạnh việc đẩy mạnh các nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, phát huy di sản, Tập đoàn MED-GROUP đã đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến trúc cho Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam ở Cao Phong, Hoà Bình. Từ năm 2016, mỗi năm Công viên thu hút hàng vạn lượt khách tham quan, trở thành điểm đến ưa thích của nhiều du khách trong cả nước. Đây là mô hình công viên di sản-văn hoá độc đáo trên cả nước, với giá trị lõi là di sản của các nhà khoa học. Tháng 11-2021, Bảo tàng Di sản các nhà khoa học Việt Nam được cấp phép hoạt động, trở thành bảo tàng ngoài công lập đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản của các nhà khoa học Việt Nam.    Tại lễ kỷ niệm, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam đã đón nhận Bằng khen của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và của Hội Di sản Văn hóa Việt Nam.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam: Giữ vàng ký ức      Kho báu ký ức Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam có được sau hơn 10 năm miệt mài và bền bỉ sưu tầm, lưu giữ mới chỉ hé lộ một phần rất nhỏ giá trị của mình qua trưng bày “Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam”.      Giáo sư Nguyễn Anh Trí, chủ tịch MedGroup, nơi quản lý Trung tâm và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam, và khách tham quan trước khu trưng bày về giáo sư Nguyễn Văn Đạo. Ảnh: Mỹ Hạnh.  Cuộc trưng bày do Trung tâm và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam tổ chức khai trương vào ngày 29/8/2020 tại tòa nhà Cuốn sách mở, nơi được hứa hẹn sẽ trở thành điểm hội tụ nhiều cuộc triển lãm và trưng bày về khoa học sau này. Giữa không gian khoáng đạt và xanh ngát cây lá, trong những ngày này, tòa nhà Cuốn sách mở tự nó đã trở thành một “di chỉ” khoa học mới với những hiện vật độc nhất vô nhị về 14 nhà khoa học từng đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng cao quý của nhà nước về khoa học, văn học nghệ thuật, trong đó có những cái tên được nhiều người biết đến như các giáo sư Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ (y học), Đỗ Tất Lợi (dược học), Nguyễn Văn Đạo (cơ học), Nguyễn Đình Tứ (vật lý hạt nhân), Đào Văn Tiến (sinh học), Hoàng Tụy (toán học)…   “Thông qua 14 công trình, cụm công trình của các nhà khoa học, chúng tôi mong muốn kể về những đóng góp có giá trị cao của các nhà khoa học với đất nước, qua đó phần nào giới thiệu một phần bức tranh khoa học Việt Nam sau năm 1945, phần nào cũng cố gắng lý giải các nguyên nhân thành công của các nhà khoa học Việt Nam… Một chiếc kính hiển vi, một chiếc máy đánh chữ, những chiếc máy ảnh hay những bức thư, cuốn sổ ghi chép, nhật ký… đều ẩn chứa những câu chuyện về không gian lịch sử xã hội ở những thời điểm khác nhau”, phó giáo sư Nguyễn Văn Huy, giám đốc chuyên môn của Trung tâm Di sản các nhà khoa học, nhấn mạnh đến ý nghĩa của cuộc trưng bày.   Bẵng những nỗ lực của mình, trong vòng bảy đến tám tháng lên khung nội dung và gặp gỡ, trao đổi với người thân, cộng sự của các nhà khoa học, ông và những người trong Trung tâm đã phần nào tái hiện “những câu chuyện về không gian lịch sử xã hội ở những thời điểm khác nhau” đó, từ giữa núi rừng Việt Bắc, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những năm kháng chiến chống Mỹ đến thời kỳ chịu sự cấm vận đầy khó khăn và những năm đất nước đổi mới…       “Nhiều nhà khoa học thuộc ngành bảo tàng và lưu trữ đều chia sẻ là Trung tâm đang giữ vàng, nếu xét về tính chất, ý nghĩa của tài liệu, hiện vật và ký ức của các nhà khoa học mà Trung tâm đang có trong tay”. (Phó giáo sư Nguyễn Văn Huy)      Những dòng chảy ký ức   Lễ khai trương cuộc trưng bày đã thu hút những khách tham quan đặc biệt – những người thân hoặc bạn bè, cộng sự của 14 nhà khoa học bậc thầy. Hiếm có cuộc trưng bày nào của Trung tâm lại quy tụ được đủ đầy những người như vậy, dù đâu đó còn thiếu vắng một số người thân của giáo sư Nguyễn Đình Tứ và một hai gương mặt khác. Không gian cuộc trưng bày, một gian phòng rộng trên tầng hai của tòa nhà Cuốn sách mở, không chỉ đầy ắp những khách tham quan đặc biệt đó mà còn nồng ấm cảm xúc mà họ hướng về “những người muôn năm cũ”. Sự hiện diện của họ khiến cho không gian này thêm ý nghĩa bởi không có mấy cuộc trưng bày mà người tham dự lại có thể thuyết minh về hiện vật còn hay và cuốn hút, hơn thế lại thấm đẫm tình cảm hơn cả hướng dẫn viên chuyên nghiệp.   Không giấu nổi nỗi niềm bên bức ảnh đen trắng khổ to giới thiệu một chuyến thỉnh giảng của giáo sư Hoàng Tụy tại Trung Quốc vào những năm 1960, tiến sĩ Hoàng Dương Tùng – con trai lớn của ông, thoáng nghẹn ngào nhớ về hình ảnh người cha, “một người rất nghiêm túc trong khoa học. Tôi nhớ hồi đi sơ tán, ông ngày đi dạy, tối lại cặm cụi bên sách vở. Tuy rất nghiêm khắc với học trò nhưng ông cũng rất độ lượng, khi học trò chưa làm được bài thì ông lại chỉ bảo tận tình”. Ở góc độ một người con, tiến sĩ Hoàng Dương Tùng luôn nhận thấy người cha là điểm tựa “có những lúc chúng tôi gặp khó khăn trong cuộc sống, thấy nản trong công việc thì ba tôi luôn động viên để vượt qua được. Có giai đoạn tôi học ở nước ngoài rồi về đi làm, thấy tôi hơi buồn buồn vì theo truyền thống gia đình thì phải học lên tiếp, ba tôi bảo ‘mỗi người có một con đường riêng trong cuộc sống, miễn là phải tâm huyết, luôn luôn làm việc thì ai cũng đáng được trân trọng, không nhất thiết phải cứ học lên bằng cấp cao hơn mới được’”.  Trong số 14 nhà khoa học được giới thiệu trong cuộc trưng bày, giáo sư Hoàng Tụy là một trong những người hiếm hoi được người đương thời biết đến nhiều nhất. Ông mới tạ thế hơn một năm và những kỷ vật gắn liền với cuộc đời nghiên cứu của ông đã được gia đình gửi tặng Trung tâm Di sản các nhà khoa học như một cách chuyển tải đến thế hệ sau những ký ức sống động về một nhà khoa học từng có công “khai sơn phá thạch”, mở ra một lĩnh vực toán mới, góp phần xây dựng ngành toán học Việt Nam và có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết với nền khoa học, giáo dục nước nhà… “Đây là cái mũ nồi mà ba tôi vẫn gọi là mũ be rê. Từ những năm 1960, chúng tôi đã thấy ông đội rồi. Nó gần như gắn liền với ba tôi từ hồi chiến tranh, lúc nào ai cũng thấy nó nằm trên mái đầu bạc trắng của ông… Những kỷ vật tôi gửi tới Trung tâm không phải là cái gì cao xa cả, nó rất gần gũi đời thường như chính cuộc sống giản dị của ba tôi”, tiến sĩ Hoàng Dương Tùng chia sẻ.   Những câu chuyện như vậy đã đi theo những người con hay cộng sự của các nhà khoa học đó suốt cuộc đời, bởi nó không đơn thuần là câu chuyện của riêng một gia đình, một nhóm nghiên cứu mà còn gói ghém cả những trăn trở của các nhà khoa học trong suốt quá trình nghiên cứu. “Tôi học ngành Hóa, có chút liên quan đến ngành Dược nên được bố tôi ‘nhờ’ đánh máy tài liệu để soạn cuốn sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Bản thân tôi lúc đó cũng chưa hình dung ra được tầm vóc cuốn sách quý, chỉ cảm thấy niềm say mê ông truyền cho mình. Ông là người vô cùng say mê khoa học, dường như nó đã ăn vào máu rồi nên mỗi khi đọc đến cây thuốc nào là cũng có thể nói luôn danh pháp khoa học, thành phần hợp chất chính…”, kỹ sư Đỗ Thanh Bình (Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – con gái út của giáo sư Đỗ Tất Lợi, kể về người cha nổi tiếng của mình.    Thành viên của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam giới thiệu về hiện vật tại cuộc trưng bày. Ảnh: Mỹ Hạnh.  Sự cẩn trọng và tỉ mỉ của giáo sư Đỗ Tất Lợi trong quá trình làm việc đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng để ông và cộng sự hoàn thành cuốn dược điển này, không chỉ vì ông đã tham khảo tới 38 cuốn sách tiếng Việt, 28 cuốn sách tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, 40 cuốn sách tiếng Trung, 26 cuốn sách tiếng Nga cùng nhiều tạp chí chuyên ngành mà còn vì “chỉ riêng việc ghi lại tên các loại dược liệu thôi, ông đã phải cất công lặn lội tới vùng này vùng khác để sưu tầm các tên thông dụng của nó”, bà Đỗ Thanh Bình nói. Ngay ở thời điểm hiện tại thì những công việc như vậy, cũng không dễ thực hiện bởi cùng một cây thuốc mà mỗi nơi, mỗi vùng lại có một tên gọi khác nhau, thạc sĩ Nguyễn Võ Thanh Hoàng (ĐH Quốc tế, ĐHQGTPHCM), một trong những tác giả của nghiên cứu “VIETHERB: A Database for Vietnamese Herbal Species” (VIETHERB: Một cơ sở dữ liệu về các loài thảo dược Việt Nam), nhận xét khi đề cập đến những khó khăn anh và cộng sự gặp phải khi thống kê, sắp xếp danh mục các loại cây quý. Do đó, “đến khi nghỉ hưu rồi, đọc kỹ cuốn sách tôi mới thấy hết giá trị, cả về chiều sâu khoa học lẫn sức phổ cập của nó”, bà Đỗ Thanh Bình cho biết thêm.   Từng được các chuyên gia Liên Xô đánh giá “vừa mang tính khoa học hiện đại, vừa nêu được những giá trị của y học cổ truyền phương Đông”, kể từ những năm 1960 đến nay, bộ sách của cả cuộc đời nghiên cứu đó đã được tái bản tới lần thứ 20 với giá bìa 560.000 đồng, một mức khiêm tốn so với giá trị dẫn đường của nó. “Nhiều nhà khoa học coi mỗi cây thuốc, vị thuốc đó như một gợi mở về đề tài nghiên cứu của mình, khi còn làm ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tôi biết”, bà Đỗ Thanh Bình bộc bạch. “Khi nhận làm sách cho bố, tôi có hỏi ông về giá thì ông dặn là không được bán sách giá cao để mọi người đều có thể tiếp cận cuốn sách, thậm chí biết sách bị in lậu mà ông cũng bảo đừng kiện vì để cho người ít tiền cũng có thể tiếp cận được sách”, bà hồi tưởng về những lời dặn dò của một nhà khoa học luôn nghĩ đến ích lợi của cuốn dược điển mang lại hơn là số tiền bản quyền thu được từ đó.   Bà mở cuốn sổ tay cất trong túi xách và đọc lên lời tâm sự mà bà đã cẩn thận ghi lại từ cha mình. “Mỗi người yêu nước bằng mỗi cách khác nhau nhưng tôi nghĩ rằng tôi đã yêu khoa học qua tình yêu Tổ quốc”.   Nỗ lực của những người giữ “vàng ký ức”  Cuộc trưng bày lần này tuy mới ra mắt nhưng theo phó giáo sư Nguyễn Văn Huy, linh hồn của Trung tâm Di sản các nhà khoa học, đó là một phần kết quả mới nhìn thấy được từ những gì gom góp sưu tầm và lưu giữ trong hơn 10 năm qua của một doanh nghiệp xã hội “tự nhận lấy trách nhiệm phát huy giá trị di sản của các nhà khoa học. Xuất phát từ con số không, Trung tâm xây dựng quan điểm về di sản các nhà khoa học, bắt đầu từng bước xác định phương pháp nghiên cứu tiểu sử cuộc đời các nhà khoa học và đa dạng hóa các hoạt động gắn với di sản”. Nếu vào năm 2010, Trung tâm mới tiếp cận được trên 100 nhà khoa học, thực hiện gần 2.000 phút video, 10.000 phút ghi âm và có hàng nghìn trang tư liệu thì đến nay “Trung tâm đã thu thập và bảo quản hơn 800.000 hiện vật gắn liền với cuộc đời của gần 1.800 nhà khoa học” để phục vụ cho ba hướng phát triển chính của mình là bảo tàng, lưu trữ và thư viện, ông giới thiệu tại lễ khai trương cuộc trưng bày.      “Trung thực là đức tính quan trọng nhất trong cuộc sống và trong khoa học”. (GS Hoàng Tụy).   “Nghiên cứu là một sự vươn lên không ngừng của trí tuệ với các hiểu biết công việc”. (GS Tôn Thất Tùng).   “Kinh nghiệm cho thấy không ít những nghiên cứu lớn đều bắt nguồn từ những vấn đề nhỏ”. (GS Nguyễn Văn Đạo)   “Bọn đế quốc thần thánh hóa khoa học, nhưng người trí thức mới cần đại chúng hóa khoa học. Càng gặp khó khăn gian khổ, chúng ta càng phát huy sáng kiến để phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân”. (GS Đặng Văn Ngữ)   “Ba vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) nghiên cứu trong 4 tháng và thấy có thể sản xuất được thuốc để tiêm phòng sốt rét. Ba sẽ đi B để sản xuất thuốc ấy trên một quy mô lớn hơn”. (Thư GS Đặng Văn Ngữ gửi con gái, 2-1967)   “Đừng quá tin vào máy móc; chẩn đoán phải dựa trên những dấu hiệu sát thực, chính xác, đầy đủ nhất; không được dựa trên cảm giác, cảm tính, phải bám sát theo dõi bệnh nhân đến cùng. (GS Đặng Văn Chung)  Có lẽ, đây là một khối tư liệu lớn mà ít viện nghiên cứu hoặc bảo tàng nhà nước nào cũng may mắn có được. “Nhiều nhà khoa học thuộc ngành bảo tàng và lưu trữ đều chia sẻ là Trung tâm đang giữ vàng, nếu xét về tính chất, ý nghĩa của tài liệu, hiện vật và ký ức của các nhà khoa học mà Trung tâm đang có trong tay”, ông nói, không hẳn không tự hào.   Không chỉ là những thiết bị, công cụ gắn liền với công việc hoặc những băng ghi âm ghi lại những “ký ức sống” của các nhà khoa học, Trung tâm còn được họ hoặc gia đình và học trò, cộng sự của họ tin cậy trao gửi hàng chục ngàn sổ nhật ký, số tay công tác, sổ cá nhân, các bản thảo sách, các bài giảng… Vậy Trung tâm có thể khai thác được gì từ mỏ quặng quý này? “Đặc biệt chỉ riêng gần 40.000 thư của các nhà khoa học và những người liên quan mà chúng tôi đang giữ đã cho thấy những câu chuyện về hai cuộc cách mạng, những vấn đề về giáo dục, về hợp tác đào tạo giữa Việt Nam với Liên Xô và các quốc gia Đông Âu, kể cả các nước Tây Âu sau này, thực trạng tình hình kinh tế xã hội đất nước ở những thời đoạn rất khác nhau. Đó là nguồn sử liệu không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu về cuộc đời của các nhà khoa học, lịch sử phát triển của từng nhà khoa học cũng như lịch sử của nước nhà”.    Mặc dù cùng các thành viên của Trung tâm đang “bơi” trong việc nghiên cứu, phân loại và biên tập khối tài liệu lớn này nhưng với một người nhiều tâm huyết và dự định như phó giáo sư Nguyễn Văn Huy, Trung tâm vẫn còn thiếu rất nhiều tư liệu khác. “Tôi luôn có một nỗi sợ là sẽ để lỡ cơ hội có được một tư liệu quý nào đó, nếu không kịp tìm đến họ thì chúng ta sẽ mất đi ký ức bởi có thể họ sẽ mang ký ức của họ đi. Có trường hợp con cái của họ do không hiểu biết về giá trị của tư liệu đã vất hết những tư liệu quý đi. Lúc ấy sẽ mất hết… Các nhà khoa học thế hệ trước người thì đã ra đi vĩnh viễn, người còn thì đều ở ngưỡng 80, 90 tuổi rồi. Nếu chúng tôi không đến gặp gỡ họ, ghi lại những ký ức của họ thì đến khi họ không nói được nữa, không nghe được nữa, ký ức sẽ không còn”, ông nói.   Đây không phải là lần đầu tiên, ông chia sẻ nỗi sợ không kịp có tư liệu. Trong nhiều cuộc làm việc với Tia Sáng và trong lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm vào tháng 9/2018, ông từng nhắc đến điều này. Đôi khi do may mắn, Trung tâm đã kịp ghi lại một phần ký ức về hoạt động nghiên cứu âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê chỉ một tháng trước khi ông qua đời ở tuổi 95 vào tháng 6/2015 hay việc ghi hình lễ sinh nhật lần thứ 85 của giáo sư Hoàng Tụy tại tòa soạn Tia Sáng với sự tham gia của giáo sư Pierre Darriulat, một người bạn thân thiết của ông. Tuy nhiên, không phải bao giờ may mắn cũng đến. Phó giáo sư Nguyễn Văn Huy nói, “Chúng tôi thiếu nhiều chứ. Ngay ở cuộc trưng bày lần này, tiêu chí lựa chọn chính ra không phức tạp lắm bởi vì điều quan trọng nhất là Trung tâm xem mình có được những hiện vật nào, những gì mình có thì mình trưng bày. 14 nhà khoa học mà Trung tâm giới thiệu là những nhà khoa học Trung tâm có nhiều tư liệu hiện vật nhất, nhiều câu chuyện diễn giải nhất”.  Với mong muốn có được tư liệu về các nhà khoa học, ở bất cứ thời điểm nào, ông cũng có ý thức tìm kiếm, lựa chọn. Ngay trong lễ khai trương, dù tất bật chào hỏi khách khứa, ông vẫn không quên trao đổi và chia sẻ về mục tiêu của Trung tâm. Vừa dứt lời trao đổi với giáo sư Trương Đình Dụ, nhà khoa học đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 4 năm 2012 về cụm công trình Ngăn sông đập trụ đỡ và đập sà lan, ông lại quay sang trò chuyện với một vị khách dự tham quan về giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa, một trong những nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam và được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Sau khi nghe ông chia sẻ “giáo sư Trần Đại Nghĩa là nhà khoa học thuộc nhóm nhà khoa học đầu tiên mà chúng tôi phải thu thập và sưu tầm tư liệu nhưng tiếc là chưa được như ý; chúng tôi từng vào TPHCM, nơi ông sinh sống cho đến khi ra đi, nhưng không hiệu quả” thì vị khách tự nhận là người quen biết của gia đình giáo sư phản hồi “nếu Trung tâm cần sưu tầm tư liệu thì tôi sẽ làm cầu nối, giới thiệu với một người con trai ông từng làm ở đài truyền hình Việt Nam. Trước đây, tôi từng nói với người nhà giáo sư là nên quy tụ lại những kỷ vật của ông, đừng để tản mát”…  Giữa quá khứ, hiện tại và tương lai  Dĩ nhiên trưng bày không chỉ để trưng bày, hàm ý của những nhà tổ chức là “muốn mọi người hiểu được giá trị của lao động khoa học và sáng tạo. Điều đó khiến chúng tôi phải cân nhắc lựa chọn đi lựa chọn lại những chi tiết trưng bày”, phó giáo sư Nguyễn Văn Huy nói. Chưa dứt khỏi những suy nghĩ của mình về 14 nhà khoa học và những đóng góp của họ với đất nước, ông đề cập đến trách nhiệm của Trung tâm là kể và lý giải những sáng tạo đó thật thuyết phục và dễ hiểu cho ai cũng có thể hiểu được. “Với những công trình có nhiều ứng dụng trực tiếp trong đời sống thì còn có thể dễ giới thiệu chứ còn những công trình thuộc về nghiên cứu cơ bản thì thật khó, nhất là khi những công trình đó lại ảnh hưởng đến một số lĩnh vực khoa học ở Việt Nam như công trình của giáo sư Hoàng Tụy, Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Đạo…”, ông nói.  Do đó, cuộc trưng bày lần này đã cố tìm ra một cách giải thích về đóng góp của các nhà khoa học thông qua những lời nói của người trong cuộc, ví dụ như góc giới thiệu về giáo sư Hoàng Tụy có trích dẫn một câu nói của ông về công trình nghiên cứu của mình “Năm 1960, trước nhu cầu đưa toán học ứng dụng vào thực tế, tôi đi vào ngành vận tải, nảy ra bài toán cước phí lõm. Xem lại trong sách vở quốc tế, họ nói rõ đây là bài toán cực khó. Tôi thắc mắc sao bài toán có vẻ đơn giản thế này mà lại khó thế. Quyết tâm suy nghĩ và cuối cùng tôi đã tìm ra”.   Không phải lúc nào các nhà tổ chức cũng thành công, vẫn có những trường hợp giới thiệu còn sơ sài, đơn giản như góc trưng bày của giáo sư Đào Văn Tiến, người được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 cho Tập hợp các công trình điều tra cơ bản về động vật học ở Việt Nam (1957-1980), dù theo quan điểm của giáo sư Đào Tiến Khoa – con trai ông, mọi người cũng cần thể tất cho các nhà tổ chức. Hơn ai hết, Trung tâm hiểu được giới hạn của mình. Trao đổi bên lề buổi lễ, phó giáo sư Nguyễn Văn Huy cho rằng, trong những cuộc trưng bày và triển lãm trong tương lai, Trung tâm sẽ cố gắng đa dạng hóa cách thể hiện theo nhiều phương thức truyền tải hiện đại để có thể phát huy giá trị của những tư liệu quý mà Trung tâm có. Mặt khác, “mục đích của Trung tâm là không chỉ nghiên cứu về các nhà khoa học nổi tiếng mà quan niệm các nhà khoa học đều có đóng góp và là nhân chứng lịch sử của ngành đó. Điều đó tạo cho Trung tâm một phạm vi rất rộng để sưu tầm, triển lãm và xuất bản”. Do vậy, với mỗi hoạt động đó, Trung tâm sẽ cố gắng “kể và lý giải những câu chuyện khác nhau để bật ra những bài học của quá khứ nhưng vẫn còn giá trị với chúng ta ngày nay và cả tương lai”, ông hi vọng. □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Trung tâm tri thức: Nỗ lực thất bại của Singapore      Kinh nghiệm thất bại của Singapore trong việc “đổ tiền” để mời các trường ĐH danh tiếng mở chi nhánh ở nước mình có thể là bài học đáng giá cho giáo dục Việt Nam.    Trong một tòa cao ốc mới xây ở vùng dân cư yên tĩnh của Singapore có một lớp dạy làm phim mới mở. Đó là khóa học đầu tiên của phân hiệu danh tiếng Tisch về Nghệ thuật châu Á của ĐH New York. Khóa học 3 năm về làm phim này có 33 nghiên cứu sinh, một nửa là người Mỹ và chỉ có hai là người Singapore. Tisch có kế hoạch trong năm tới sẽ mở thêm chương trình đào tạo cao học về nghệ thuật. Chương trình khóa học giống hệt ở Mỹ, học phí cũng tương đương.  Từ việc thuyết phục được Tisch mở chi nhánh đầu tiên tại nước ngoài, các nhà lập kế hoạch kinh tế của Singapore bước đầu nhắm tới mục tiêu: Đầu tiên là biến Singapore thành “nhà trường toàn cầu” – nơi các trường ĐH đẳng cấp quốc tế mở chi nhánh để đào tạo tài năng – chủ yếu là sinh viên châu Á. Tiếp theo là rũ bỏ được tiếng xấu về một Singapore tẻ nhạt, các điều luật cứng nhắc khiến người dân kém sáng tạo.  Singapore đặt kế hoạch đến 2015 sẽ thu hút 150 nghìn sinh viên nước ngoài, tăng hơn so với con số hiện nay là khoảng 80 nghìn. Phần lớn sinh viên nước ngoài đến từ Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Tham vọng này phản ánh sự tăng trưởng nhanh chóng của giáo dục toàn cầu. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD, năm 2005, toàn thế giới có 2,7 triệu người du học, tăng 1,3 triệu so với thập kỷ trước. Phần lớn du học sinh đến Mỹ, sau đó là Anh, Úc.  Singapore muốn tham gia vào thị trường du học đó. Các trường ĐH của Singapore có chút sức hút với học sinh châu Á song vẫn thua xa so với phân hiệu của các trường ĐH phương Tây danh tiếng. Từ 1998, khoảng 16 trường đại học nước ngoài đã liên kết với các trường đại học của Singapore để xây dựng chương trình liên kết đào tạo, giống như những chương trình đào tạo do ĐH Công nghệ Nam Dương và trường dạy về kinh doanh nhà hàng khách sạn nổi tiếng của ĐH Cornell cùng tiến hành. Một trong hai phân hiệu của INSEAD (Học viện châu Âu về quản trị kinh doanh – European Institute for Business Administration) cũng nằm ở Singapore – phân hiệu kia nằm ở Pháp.  Thuyết phục ĐH Harvard mở phân hiệu ở Singapore – và làm nhạt đi thương hiệu danh tiếng của mình – có vẻ là sự không tưởng. Singapore chưa bao giờ giấu giếm các nguồn lực tài chính hùng mạnh của mình cũng như khát vọng sử dụng nguồn lực đó để thúc đẩy các lĩnh vực mà những người đứng đầu nước này tin rằng họ có lợi thế so với các đối thủ của mình, chẳng hạn như trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Sự vươn lên của Trung Quốc càng làm họ hành động gấp gáp hơn nhằm phát triển những ngành kinh tế đầu tàu dựa trên tri thức, thay thế cho các ngành sản xuất đã bước vào buổi xế chiều.  Bên cạnh Trường Nghệ thuật châu Á Tisch là một tòa nhà 12 tầng màu trắng. Giống như tòa nhà của trường Tisch vừa được sửa sang lại, tòa nhà này thuộc về bộ Giáo dục và từng là trường Đại học Bách khoa. Đầu năm nay, Trường ĐH New South Wales (UNSW) của Úc đã làm lễ ra mắt rầm rộ một phân hiệu tạm thời ở đây, với 148 sinh viên năm thứ nhất. Trong khi đó, ở phía bên kia thành phố, gần Sân bay quốc tế Changi, công trình xây dựng khu phức hợp của UNSW trị giá 91 triệu USD, đủ chỗ cho 15 nghìn sinh viên, cũng đã động thổ. Đáng lẽ nó đã trở thành ngôi trường đại học nước ngoài hoàn chỉnh đầu tiên ở Singapore.  Tuy nhiên, đến tháng 5 vừa rồi thì dự án chấm dứt. UNSW bất ngờ hoãn kế hoạch xây dựng và đồng thời thông báo đóng cửa luôn phân hiệu tạm thời sau khi đã tiêu tốn tổng cộng 14,4 triệu USD. Hiệu phó của trường – ông Fred Hilmer – gọi dự án này là một “gánh nặng tài chính không thể kham nổi” và đề nghị chuyển sinh viên của phân hiệu này đến Sydney. Ông nói với báo chí rằng, con số sinh viên đăng ký nhập học không khả quan và đưa ra lời giải thích: “Khi một sinh viên nói, ‘tôi muốn có bằng của trường đại học Úc’ thì câu đó có nghĩa là ‘tôi muốn trải nghiệm cuộc sống ở Sydney… được đi mua ván lướt sóng” .  Hãy gạt qua một bên chuyện đất nước đảo quốc này thiếu ván lướt sóng, thật khó mà đánh giá tại sao việc mở một phân hiệu UNSW ở Singapore lại “khó kham nổi” như vậy.  Những người quản lý của trường bây giờ đang tranh cãi với Singapore về khoản nợ 10,8 triệu USD trong khoản hỗ trợ của chính phủ, bằng chứng dễ thấy nhất về sự hào phóng của chính phủ trong dự án này. Báo chí Úc cho biết, chính phủ Singapore đã thanh toán hầu hết chi phí xây dựng trường mới. Tuy nhiên khi tờ Sydney Morning Herald đề nghị UNSW công bố thêm chi tiết thì trường này chỉ trả lời rằng những giao dịch với Ủy ban Phát triển kinh tế (EDB) là bí mật và phải tuân thủ các quy định khắt khe về bảo vệ bí mật của Singapore. Ngay cả tờ Straits Times dễ dãi mà cũng phải lên tiếng về việc bưng bít thông tin, gọi đó là tình thế “khó biện hộ”.  Không phải khoản hỗ trợ hào phóng hay những màn bí mật bao phủ quanh dự án này làm cho những nhà quan sát dày dạn ở Singapore ngạc nhiên. Nhưng nó động chạm đến cốt lõi của cuộc chiến chống lại tham vọng, mà như một bộ trưởng trong chính phủ phát biểu, trở thành một “Boston ở phương Đông” (ý nói, sẽ trở thành một nơi có nhiều trường đại học thu hút sinh viên nước ngoài như TP Boston của Mỹ). Khi UNSW cam kết mở phân hiệu ở Singapore vào năm 2005, ĐH Warwick của Anh cũng chạy đua mở một phân hiệu lớn ở đây. Cuối cùng, dự án này đã thất bại sau khi giảng viên và sinh viên ở đất nước mà phương Tây xem là “độc đoán nửa vời” này phản đối những nền tảng của môi trường học thuật khai phóng. Những sinh viên này cho thấy hoạt động chính trị được xem là đương nhiên trong các trường đại học ở Anh thì có thể bị loại bỏ không thương tiếc ở Singapore.  Chính điều này làm cho Singapore không có khả năng trở thành trung tâm tri thức như New York hay Oxford, nơi tự do học thuật được đề cao, ngay cả khi ý kiến đưa ra có thể gây tranh cãi dữ dội. Tháng 8 vừa qua, cảnh sát Singapore đã cấm ông Douglas Sanders, một viện sĩ Canada, người luôn vận động cho quyền của giới đồng tính, giảng bài ở nước này với lý do ông đã chỉ trích mạnh mẽ nội dung tội phạm hóa hoạt động tình dục đồng giới trong các bộ luật có từ thời thực dân. Singapore cũng nổi tiếng là dị ứng với những can thiệp từ bên ngoài vào các vấn đề chính trị trong nước. Các học giả nước ngoài cho rằng, điều này đã làm cho các điều tra nghiên cứu đào bới quá sâu vào vấn đề của những người đứng đầu chính phủ, đều bị loại bỏ.  Một câu hỏi đặt ra là mô hình đưa giảng viên nước ngoài vào để dạy sinh viên nước ngoài như Singapore liệu có gây ra cảm giác kinh doanh hóa giáo dục. Nhập khẩu giảng viên nước ngoài có năng lực vượt trội so với giảng viên trong nước, không hề rẻ chút nào. Chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cũng là một thách thức đối với ngân sách của các trường. Sự đắt đỏ này tăng gấp đôi trong trường hợp giảng viên nước ngoài là những nhân vật danh tiếng mà Singapore cho rằng mình phải mời về bằng được để chứng tỏ vị thế của mình trong nền giáo dục toàn cầu. “Một đầu vào quan trọng của giáo dục đó là giảng viên. Ở bậc đại học, có thể nhập khẩu giảng viên, nhưng phải trả cái giá đặc biệt cho những giảng viên tầm cỡ quốc tế thì mới có thể khiến họ rời Stanford hoặc Harvard để đến Singapore,” Linda Lim, giáo sư về chiến lược người Singapore tại trường đào tạo kinh doanh của ĐH Michigan, nói.  Người dân Singapore phải đóng thuế cũng nêu câu hỏi, liệu có cần thiết phải vung tay trong việc bảo trợ các trường đại học nước ngoài hay không và liệu việc cấp học bổng cho sinh viên du học nước ngoài có đem lại mối lợi ích tương xứng cho đất nước đảo quốc này không. Các quan chức từ EDB thì nói rằng, những lợi ích về kinh tế sẽ thể hiện ở danh tiếng toàn cầu mà nền giáo dục đem lại, cũng như qua việc các trí thức nước ngoài quyết định ở lại đây làm việc hoặc nghiên cứu. Những trí thức nước ngoài có tài được mời định cư ở Singapore. Bà Lim cho rằng, các học bổng đại học có thể không đem lại cho Singapore một đội ngũ lao động trình độ cao như nước này mơ ước, cũng đúng như nhiều người được nhận học bổng chỉ xem đó là bước đệm để đến Mỹ. Việc ưu tiên sinh viên nước ngoài có tài cũng có nghĩa là sẽ có ít chỗ ở trường đại học hơn dành cho học sinh trong nước – những năm gần đây, chưa đến 30% học sinh Singapore vào đại học.  Trong các thông báo công khai, Tisch nói sẽ “làm cho đời sống nghệ thuật ở Singapore đâm chồi nảy lộc” và phải làm cho người ta liên tưởng đến cuộc sống sôi động ở Làng Greenwich những năm 60. Đó chỉ là một giả thiết. Mặc dù Singapore đã đổ tiền cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật nhưng đến nay, thú vui chính của người Singapore vẫn là mua sắm. Có lẽ nước này cần xem xét nghiêm túc hơn chiến dịch làm cho đất nước trở nên sinh động. Hàng thập kỷ dưới sự điều hành kiểu gia trưởng, đã khiến người dân nước này trở nên thờ ơ với chính trị. Singapore muốn thu hút trí thức nước ngoài nhưng lại không để cho người dân nước mình được cởi mở. Sự việc cấm giảng viên ủng hộ người đồng tính và có quan điểm chống lại những người Singapore bảo thủ – đã báo trước một tương lai không mấy khả quan của nền học thuật nước này.  TRẦN ANH (theo F.E.E.R)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm vũ trụ Việt Nam: Kỳ vọng và Thách thức      PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Giám đốc  Trung tâm vệ tinh quốc gia, trả lời phỏng vấn về tầm vóc và quy mô của Trung tâm trong tương lai gần cũng như những khó khăn và thách thức mà  ngành công nghệ vũ trụ non trẻ đang phải đối mặt để đạt được được mục  tiêu đề ra.    Phấn đấu công nghệ vũ trụ thuộc top đầu khu vực Asean  – Thưa ông, nói về công nghệ vũ trụ người ta sẽ hình dung đến NASA của Mỹ, JASA của Nhật Bản, còn ở  Việt Nam thì sẽ như thế nào? Trung tâm vũ trụ Việt Nam đang xây dựng tại Khu CNC Hòa Lạc có đầy đủ những chức năng như vậy hay không và bao giờ thì sẽ trở thành hiện thực?    PGS.TS Phạm Anh Tuấn: Khi bắt đầu thiết kế Trung tâm vũ trụ Việt Nam thì chúng tôi đã tổ chức các đoàn đi thăm quan tại các quốc gia có nền công nghệ vũ trụ phát triển. Hãy hình dung, NASA có 10 trung tâm quy mô như chúng ta dự tính xây dựng, với hàng nghìn người làm việc nhưng với điều kiện của Việt Nam thì chúng ta không thể đầu tư hết được. Chính vì vậy, chúng tôi xác định, cần đầu tư tập trung nhưng phải có hiệu quả, đó là làm sao tự sản xuất được vệ tinh loại dưới 1.000 tấn, và ứng dụng được vệ tinh đó. Nếu hoàn thành dự án này đến năm 2020 thì Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin với thế giới, chúng ta có hạ tầng và công nghệ vũ trụ thuộc top đầu khu vực ASEAN (hiện đang đứng đầu ASEAN là Malaysia và Indonesia).  Trung tâm vũ trụ Việt Nam sẽ có các đơn vị chức năng sau: Trung tâm đào tạo, Trung tâm nghiên cứu và phát triển, Trung tâm điều hành vệ tinh, Trung tâm tích hợp thử nghiệm vệ tinh, Đài thiên văn.  – Một số thông tin trên báo chí cho biết, đến năm 2017, Việt Nam sẽ phóng vệ tinh viễn thám radar đầu tiên và năm 2020 sẽ phóng vệ tinh thứ hai. Vệ tinh đầu do Việt Nam và Nhật Bản phối hợp sản xuất. Vệ tinh thứ hai do người Việt Nam tự chế tạo, sản xuất và được lắp đặt ngay tại khu CNC Hòa Lạc. Xin ông có thể nói rõ hơn về tiến độ hai dự án và kết quả thu được sau khi phóng hai vệ tinh này?  Hiện chúng tôi đang hoàn thành hồ sơ để đấu thầu, vệ tinh đầu tiên chúng ta chỉ tham gia một phần. Nếu không có gì thay đổi, quý IV năm 2017 sẽ phóng vệ tinh đầu tiên. Sau thời điểm đó, hạ tầng cơ sở Trung tâm vệ tinh quốc gia tại Hòa Lạc cũng đã xây dựng xong, chúng ta bắt đầu sản xuất vệ tinh thứ hai trên cơ sở đã nắm bắt công nghệ chuyển giao của vệ tinh đầu. Quan trọng nhất là chúng ta có được ý tưởng thiết kế, quá trình nghiên cứu vẫn có sự tham gia của các kỹ sư người Nhật, sau đó toàn bộ kết quả được chuyển về Việt Nam lắp đặt, tích hợp và thử nghiệm tại Trung tâm tích hợp thử nghiệm. Theo kế hoạch tháng 12/2020 hoặc chậm nhất quý I/2021 vệ tinh thứ hai sẽ được phóng lên vũ trụ.    – Ông có thể cho lộ trình phát triển của Trung tâm vũ trụ Việt Nam?  Theo mục tiêu của dự án Trung tâm vũ trụ Việt Nam đặt ra: đến năm 2016 sẽ sản xuất được vệ tinh NanoDragon 10 kg, năm 2018 sản xuất vệ tinh MicroDragon 50 kg và đến năm 2020 sản xuất vệ tinh Lotusat2 (vệ tinh nhỏ) 500 kg. Tháng 9/2012, Trung tâm vũ trụ Việt Nam đã được khởi công xây dựng tại khu CNC Hòa Lạc, dự kiến đến tháng 1/2014, dự án sẽ hoàn thành gói thầu “Chuẩn bị mặt bằng xây dựng khu Nam”. Về nhân lực, năm 2013, Trung tâm đã mở chi nhánh tại miền Nam và năm 2014 sẽ mở chi nhánh tại miền Trung nâng tổng số nhân sự lên 100 người, so với số người năm 2012 chỉ có 26 người. Ước tính đến năm 2020, nhu cầu nhân lực tại Trung tâm vệ tinh quốc gia là 250 người.    Nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng  – Trên nhiều diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng, ông từng nhấn mạnh, nhân lực cho ngành công nghệ vũ trụ đang rất khó khăn trước mục tiêu, đến năm 2020, Việt Nam phải sản xuất và làm chủ vệ tinh. Khó khăn đó là gì, thưa ông?    Hiện nay, chưa có đại học nào của Việt Nam đào tạo kỹ sư công nghệ vũ trụ, có chăng là những đơn vị đào tạo bậc đại học liên kết với nước ngoài.    – Trung tâm vệ tinh quốc gia đã làm gì để giải quyết tình trạng này, thưa ông?  Để khắc phục tình trạng này, hiện Trung tâm vệ tinh quốc gia đã chủ động đào tạo tại chỗ nguồn nhân lực với việc cử đi học bậc thạc sĩ tại Nhật cũng như liên kết đào tạo tại Việt Nam. Tính đến nay, đã có 36 thạc sĩ công nghệ vũ trụ được đào tạo tại Nhật bằng nguồn ngân sách dự án công nghệ vũ trụ quốc gia. Bên cạnh đó, Trung tâm vệ tinh quốc gia cũng liên kết với Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ngành vũ trụ và ứng dụng, hợp tác với Đại học Công nghệ đào tạo kỹ sư công nghệ vũ trụ. Song, các chương trình đào tạo này là liên kết với nước ngoài chứ hiện ngành học này chưa được cấp mã số.  – Được biết hiện nay, Trung tâm vệ tinh quốc gia đã có chiến lược rất cụ thể để đầu tư cho nguồn nhân lực sẽ triển khai và vận hành Cơ sở mới đang xây dựng ở khu CNC Hòa Lạc. Ông có thể nói rõ hơn về sự đầu tư này?  Chúng tôi xác định, nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng. Trong thời gian qua, đã có 100 lượt cán bộ được đào tạo ở nước ngoài, trong đó có 36 cán bộ được đào tạo dài hạn. Các cán bộ này được đào tạo bài bản ngay từ đầu tại các trường đại học uy tín về công nghệ vũ trụ của Nhật Bản, sau đó, được họ được làm một một thời gian tại những công ty có uy tín tại đây để tích lũy kinh nghiệm. Trong quá trình học, các học viên này còn kết hợp với giáo sư của trường đại học nghiên cứu vệ tinh NanoDragon 10 kg – nghĩa là vừa học lý thuyết vừa có thực hành. Tổng số tiền đầu tư ước tính gần 10 triệu USD/36 người. Tuy nhiên, điều chúng tôi lo lắng, đầu tư cao như vậy, nhưng đến khi về Việt Nam làm việc, nếu áp dụng cơ chế đãi ngộ này thì với mức lương vài triệu liệu có giữ chân nổi họ không? Không chỉ trong ngành vũ trụ mà nhiều ngành công nghệ cao khác cũng cần có cơ chế đãi ngộ đặc biệt như năng lượng nguyên tử chẳng hạn.  – Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!  Bài và ảnh: Minh Châu    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trung tâm Xuất sắc trong chính sách nông nghiệp vì nông dân của Úc      Ph&#225;t triển n&#244;ng nghiệp l&#224; một nh&#226;n tố quan trọng của nước &#218;c – một quốc gia non trẻ với tổng hợp hơn 100 sắc d&#226;n, đa văn ho&#225;, kh&#244;ng c&#243; &#8220;l&#224;ng nghề&#8221; truyền thống n&#224;o, chỉ nhập khẩu c&#244;ng nghệ nước ngo&#224;i m&#224; 100 năm sau đ&#227; trở th&#224;nh một nước gi&#224;u mạnh, x&#226;y dựng được một nơi c&#243; đời sống tốt nhất thế giới, xuất khẩu hầu hết c&#225;c mặt h&#224;ng quan trọng kể cả dịch vụ gi&#225;o dục…    Diện tích nông nghiệp: Úc châu là một lục địa có diện tích 768 triệu ha (7,680,000 km2), rộng gấp 23 lần so với Việt Nam (332,600 km2). Tuy rộng như vậy nhưng chỉ có vùng ven biển – nơi có lượng mưa tương đối khá: 1200mm/năm – mới có thể sống được, cho nên nông nghiệp Úc mới sử dụng khoảng 46 triệu ha (18 triệu ha trồng trọt và 28 triệu ha đồng cỏ) trong đó chỉ có khoảng 4 triệu ha là nông nghiệp thực sự có tưới tiêu. Như vậy nhìn chung Úc chỉ sử dụng chưa đến 1% diện tích đất có thể canh tác của mình.  Lực lượng nông dân: Úc châu có dân số khoảng 21,5 triệu người. Tuy lực lượng lao động trong nông nghiệp chỉ có khoảng 400,000 người, chiếm 4% lực lượng lao động toàn quốc, nhưng chỉ số tự cung của Úc cao nhất thế giới (Bảng 1). Nông dân Úc đã sản xuất một lượng lương thực và vải vóc không những đủ nuôi 21 triệu dân mình mà còn có thể cung cấp thêm cho 56 triệu người. Tính trung bình, một nông dân Úc có thể nuôi 190 người. Đây là con số kỷ lục, chưa có nông dân một nước nào trên thế giới có thể sánh được, kể cả Hoa Kỳ.  Nông dân Úc có trình độ giáo dục cao, khoảng 31% có bằng đại học hoặc cao đẳng (trung bình toàn quốc 52%). Thống kê cho thấy nông dân nào có trình độ chuyên môn cao thì có thu nhập cao (85.024 đô la Úc/năm) so với người không có chuyên môn (58.768 đô la Úc/năm). Cũng thế, hộ nông dân nào chịu khó tham gia các buổi tập huấn chuyên môn thì có lợi tức 68.102 đô la Úc/năm, cao hơn hẳn so với hộ không được tập huấn 39.788 đô la Úc/năm. Mặt bằng chung về thu nhập đầu người (GDP) của Úc là 37.298 đô la Úc (2007).    Bảng 1. Chỉ số tự cung (%) các ngành nông nghiệp của một số nước trên thế giới vào năm 1998 (FAO, 2000).            Quốc gia      Ngũ cốc      Khoai       Đậu      Rau  qủa             Thịt       Sữa1       Dầu ăn          Chỉ số tự cung          Úc châu      341      97      169      103      171      212      156      178          Canada       155      133      188      60      119      106      141      128          Hoa Kỳ      140      98      149      98      108      96      123      116          Pháp        201      100      108      90      109      114      84      115          Anh      107      79      38      53      84      95      46        72          Nhật Bản      27      83      6      83      54      70      14        48          1) Gồm sữa và các phó sản như bơ, pho mát…    Sản lượng nông nghiệp:   Trị giá sản lượng tại nông trại – farm gate của nông nghiệp của Úc vào năm 2004/05 là 39,46 tỷ đô la Úc, chiếm 3% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Úc phát triển và sản xuất hầu hết các mặt hàng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, xuất khẩu đến 65% nông sản với kim ngạch khoảng 25,6 tỷ đô la Úc (Bảng 2). Tất cả mặt hàng nông sản của Úc đều nhắm vào chính sách hướng đến xuất khẩu của Chính phủ trong đó việc nghiên cứu và phát triển thành công ngành lúa nước được xem là một trong những trường hợp ngoạn mục đáng để Việt Nam tham khảo.    Bảng 2. Giá trị tại nông trại (farm-gate) một số ngành nông sản và xuất khẩu của Úc, 2007.            Ngành hàng      Giá trị ngành,  X triệu đô la Úc      Xuất khẩu,  X triệu đô la Úc      Tỉ số xuất khẩu,   %          Bò + Thịt bò        7.331        5.364      73           Ngũ cốc        6.319        5.000      79          Rau hoa quả        5.630        1.150      20          Rượu nho        5.500        2.700      49          Sữa + phó sản        4.600        2.000      43          Lông cừu        3.889        2.800      72          Bông vải        1.700        1.500      88          Đường        1.208           980      81          Tổng cộng      39.460      25.600      65                            Trung tâm Xuất sắc về ngành Bò thịt        Bài học về Nhập khẩu, Chuyển giao và Ứng dụng công nghệ cao   Úc là một quốc gia có đất rộng người thưa, ít mưa khô hạn, một quốc gia non trẻ, chưa có một ngành nghề nào gọi là truyền thống, kể cả nông nghiệp – vốn là nền văn minh cổ xưa nhất của loài người. Cho nên có thể nói tất cả các cây, con và công nghệ sản xuất hiện đang sử dụng trong nông nghiệp Úc hiện nay đều có nguồn gốc nhập khẩu. Chính vì vậy việc nhập khẩu lúc nào cũng phải trả lời hai câu hỏi: i) Nhập để làm gì và nhập vào đâu? và ii) Làm sao để công nghệ nhập khẩu này tức khắc hữu dụng cho nước Úc?     Nơi tiếp nhận giống và công nghệ: Trung tâm Xuất sắc – Ngay từ đầu Úc đã xây dựng các Viện/Trung tâm nghiên cứu để nhập khẩu giống và công nghệ để nghiên cứu, kiểm chứng, ứng dụng đại trà và chuyển giao công nghệ. Để yểm trợ cho các Viện/Trung tâm làm tốt vai trò mình, trên bình diện quốc gia, Úc đã lập Hội đồng Nghiên cứu Úc (Australian Research Council, ARC) để xây dựng chiến lược và cung cấp kinh phí cho các nghiên cứu khoa học. Hội đồng ARC lập ra một danh sách những hạng mục ưu tiên có lợi cho quốc gia và đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải lập dự án theo sát danh sách ưu tiên này nếu muốn nhận tài trợ. Hội đồng Nghiên cứu Úc nhận ngân sách từ Chính phủ; ví dụ như năm 2007, ARC nhận 572 triệu đô la Úc, chiếm 9,2% trong tổng số kinh phí 6,2 tỷ đô la Úc mà Chính phủ đã dành cho nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên đối với những ngành mới, đặc biệt quan trọng đến sự phát triển ngay tức khắc của đất nước – gọi là các ngành mũi nhọn, Úc xây dựng thêm những Trung tâm Xuất sắc (Centre of Excellence) để tiếp nhận công nghệ cao, nghiên cứu, cải thiện, ứng dụng và chuyển giao từ A đến Z cho nông dân hoặc giới kinh doanh. Trung tâm Xuất sắc (TTXS) là một trong những đầu tư chiến lược của Úc, có một tổ chức và tư duy khác với Viện/Trung tâm nghiên cứu. Bộ Nông nghiệp NSW đã xây dựng 11 TTXS đều khắp trong bang. Mỗi TTXS phụ trách một ngành hàng nông nghiệp đặc biệt trên một vùng sinh thái thích hợp để giải quyết dứt điểm những khó khăn của ngành hàng. Ví dụ như vùng lục địa miền tây bắc ở Narrabri có khí hậu khô, nóng nên có TTXS về ngành Bông vải và Cải dầu (Narrabri Centre of Excellence for Cotton and Oilseeds), vùng miền bắc gần duyên hải ở Armidale có khí hậu khô nhưng mát mẽ hơn nên có TTXS về ngành Bò thịt (Armidale Beef Industry Centre), vùng miền trung duyên hải ở Gosford có khí hậu ôn hoà, gần thị trường lớn Sydney nên có TTXS Tiếp thị và ngành Làm vườn nhà kính (Centre of Excellence for Market Access and Greenhouse Horticulture), hoặc vùng lục địa rộng mênh mông miền tây nam ở Yanco có khí hậu mùa hè khô, nóng, ánh sáng chan hòa nên có TTXS về Lúa gạo và dẫn thủy nhập điền (Centre of Excellence for Rice and Irrigation). Hình thức tổ chức trên đã giúp Bộ Nông nghiệp NSW nghiên cứu giải quyết ngay tức khắc nhiều vấn đề theo từng ngành hàng nông sản vừa cục bộ vừa có tính thời sự quốc tế, làm tiền đề thúc đẩy cho việc xuất khẩu. Chính ở những TTXS này, các công nghệ cao đã được nhập nội và nghiên cứu. Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP (gọi là “FreshCare” cho rau quả, “CattleCare” cho thịt tươi, “GrainCare” cho ngũ cốc) cũng bắt đầu từ những TTXS này, tạo nên thương hiệu về an toàn vệ sinh thực phẩm, gia tăng sức cạnh tranh cho xuất khẩu, mang về cho Úc một kim ngạch 25,6 tỷ đô la Úc cho một ngành nông nghiệp có trị giá tại nông trại khoảng 39,5 tỷ đô la Úc/năm.                Trung tâm Xuất sắc về giống cây trồng        Nơi triển khai việc ứng dụng công nghệ – Chính sách nông nghiệp vì nông dân: Úc có một nền nông nghiệp đại điền (130.000 nông trại quản lý một diện tích 46 triệu ha, trung bình một nông trại có diện tích = 354 ha), du nhập công nghệ nước ngoài, nông dân đủ mọi sắc dân khác nhau với cung cách thực hành nông nghiệp khác nhau, cho nên chính sách nông nghiệp hợp lý mới chính là yếu tố quan trọng phát triển thành công nền nông nghiệp. Úc có chính sách kinh tế thị trường hướng đến xuất khẩu – Market driven and export-oriented, và một ngành nông nghiệp vì nông dân nên Chính phủ có chủ trương ít can thiệp vào việc quản lý doanh nghiệp của nông dân, giảm thiểu tối đa những luật lệ ràng buộc trong sản xuất kể cả hệ thống thuế má, hải quan. Chính phủ cũng có chính sách giúp nông dân nâng cao sức cạnh tranh – nhất là cạnh tranh quốc tế.    Chủ trương chính sách nông nghiệp vì nông dân vì Chính phủ hiểu rằng: Nông dân mới là thành phần chủ lực trong sản xuất, cũng là chủ lực trong việc bảo vệ môi trường, để xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, có lợi cho toàn xã hội. Để củng cố chính sách này, năm 1997 Úc thực hiện thêm chương trình “Một nền nông nghiệp Úc tiên tiến – Agriculture Advancing Australia” có mục đích giúp nông dân ổn định tính bền vững trong nông nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, để qua đấy nâng cao thu nhập cho nông dân, tránh hiện tượng bỏ đất lên thành phố. Chương trình này gồm có những điểm nổi bật như sau:               Ông Isaburo (Jo) Takasuka Matsuyama, cựu dân biểu Nhật Bản, người trồng thành công lúa Nhật tại Úc năm 1914.          * Hỗ trợ tài chính cho nông dân trong các chương trình giáo dục và đào tạo về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;  * Hỗ trợ nông dân thay đổi ngành nghề cho hợp với thay đổi trong thực tế;  * Hỗ trợ nông dân nâng cao kỹ năng về quản lý tài chính;  * Tư vấn cho nông dân tình hình tài chính trong và ngoài nước;  * Hỗ trợ tài chính cho nông dân về các dịch vụ tư vấn của chuyên gia, cũng như tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao năng lực phát triển kỹ năng;  * Hỗ trợ tài chính cho các hộ nông dân đặc biệt gặp khó khăn;   * Cải thiện thông tin giúp nông dân nắm vững biến động thị trường trong và ngoài nước.  Để cải thiện chính sách hướng đến thị trường ngày càng thay đổi, Chính phủ Úc đã ủy nhiệm cho một nhóm tư vấn (2004) định hướng và xây dựng chiến lược cho ngành nông nghiệp và thực phẩm. Nhóm này đã kiến nghị Chính phủ 4 giải pháp cần điều chỉnh như sau:  * Chính phủ phải giúp nông dân có khả năng đáp ứng nhanh các yêu cầu mới của thị trường  và chuỗi cung ứng;  * Chính phủ phải giúp nông dân nâng cao năng lực cạnh tranh;  * Chính phủ phải hỗ trợ nông dân về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;   * Chính phủ chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, không can thiệp, và bảo đảm việc xây dựng một môi trường kinh doanh tốt nhất, thông thoáng nhất để các doanh nghiệp tự do hoạt động, tăng mạnh sức cạnh tranh.                 Úc là một quốc gia duy nhất trên thế giới có trọn một châu lục: châu Đại Dương. Liên bang Úc cũng vừa thành lập vào năm 1901, tính đến nay mới được 108 năm nên không có một thành phố nào, một ngành kỹ nghệ nào có truyền thống lâu đời đến “1000 năm”. Nhưng không phải vì thế mà Úc không có những cái “nhất” so với thế giới dù tất cả khoa học kỹ thuật, công nghệ của Úc đều ngoại nhập. Úc đã biết cách nhập, kiểm nghiệm, chuyển giao và ứng dụng, đã biết dùng trí tuệ của người nước khác thành hành động của nước mình, biến một châu lục khô khan thành một trong những đất nước giàu có, có thu nhập bình quân đầu người cao hơn cả nước Anh, Đức và Pháp. Úc được xếp hạng ba về chỉ số phát triển con người (Liên Hiệp Quốc, 2007) và hạng sáu về chỉ số chất lượng cuộc sống (The Economist, 2005). Nước Úc còn nắm giữ một kỷ lục chưa có nước nào có. Đó là hầu hết các thành phố lớn của Úc đều nằm trong “top 10” những thành phố có đời sống tốt nhất thế giới: Melbourne (hạng 2), Perth (hạng 4), Adelaide (hạng 7) và Sydney (hạng 9).          Bài học về việc phát huy sức mạnh tiềm ẩn: Trung tâm Xuất sắc Lúa gạo Yanco  Thị trường nhập khẩu thế giới về gạo là 10 tỷ USD/năm. Chính vì vậy mà tuy dân Úc chỉ sử dụng có 10 kg gạo/người/năm (Việt Nam sử dụng 329kg gạo/người/năm), Úc vẫn nghiên cứu và phát triển ngành lúa nước bằng cách xây dựng TTXS Lúa gạo ở Yanco, là nơi có khí hậu, đất đai thích hợp cho việc trồng lúa nước, để sau đó biến vùng này thành vựa lúa của nước Úc, sản xuất 1,35 triệu tấn gạo trên 145.000 ha (năng suất trung bình 9,3 tấn gạo/ha), và xuất khẩu hơn 85% lượng gạo sản xuất, mang về cho đất nước khoảng 400 – 500 triệu đô la Úc/năm.   Vốn là một vùng khô hạn, vũ lượng mỗi năm chỉ khoảng 300 – 500mm, nhưng vì khí hậu, đất đai rất thích hợp cho nông nghiệp nên Chính phủ Úc đã xây dựng một hệ thống kênh đào dài đến 50.000 km chạy chằng chịt khắp vùng, hình thành vùng MIA (Murrumbidgee Irrigation Area). Từ khi có hệ thống nước, vùng MIA trở nên vựa lúa, vựa rau quả trái cây, và cũng là vựa rượu vang của Úc.  Lúa nước được người Trung Quốc du nhập vào Úc những năm 1850 trong thời kỳ tìm vàng.   Nhưng phải đến những năm đầu của thế kỷ 20, một vị cựu dân biểu Nhật Bản, ông Isaburo (Jo) Takasuka Matsuyama, di dân sang Úc, mới trồng thành công giống lúa Nhật Bản (Oryza sativa L. var. japonica) ở Swan Hill vào năm 1914. Các nhà nghiên cứu ở Nông trại Thí nghiệm Yanco thuộc Bộ Nông nghiệp NSW đã không bỏ lỡ cơ hội, tiếp nhận hạt giống từ gia đình Matsuyama, miệt mài nghiên cứu, tạo giống mới… khởi đầu cho một ngành mà chỉ 50 năm sau đem lại cho đất nước và nông dân Úc một nguồn lợi lớn lao. Sự thành công của ngành lúa nước của Úc như vậy nhờ ở việc các nhà nghiên cứu đã am hiểu thị trường to lớn của thế giới về lúa gạo nên đã phát huy sức mạnh tiềm ẩn của vùng Yanco, và xây dựng thành công ngành lúa nước do sự kết nối chặt chẽ của “bốn nhà” Chính phủ – chuyên gia – doanh nghiệp – nông dân.  Ngày nay, tượng của ông Matsuyama được dựng ngay trước Trung tâm Xuất sắc Lúa gạo ở Yanco, biểu hiện lòng tri ân sâu sắc của người Úc đối với một người (Nhật) đã đem đến cho họ một ngành lúa nước an toàn chất lượng cao, góp sức vào nền kinh tế nông nghiệp đáng tự hào của đất nước.  ——  * Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Việt Nam  Đại học Bách khoa Hoàng gia Melbourne RMIT, Úc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Trước hết cần tạo được niềm tin của doanh nghiệp      Trong bối cảnh không ít viện trực thuộc các tập đoàn tư nhân đang đưa ra nhiều lời mời hấp dẫn và đã tuyển dụng được nhiều tên tuổi trong giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài, vẫn có những nhà khoa học tìm đến Viện KH&CN Việt Nam – Hàn Quốc (VKIST). Hai “tân binh” của VKIST đã có cuộc trao đổi với Báo KH&PT về những khó khăn và thuận lợi trong công việc của họ.      TS Phương Thiện Thương (trái) và TS Nguyễn Duy Tài. Ảnh: Bảo Như  Tại sao giữa hàng loạt các viện, trường ở Việt Nam hiện nay các anh lựa chọn VKIST?  TS Phương Thiện Thương: Sau một thời gian học tập và nghiên cứu khoa học ở nước ngoài, tôi về nước cũng đã được hơn 10 năm, nhưng chưa tìm được một đơn vị nào tạo cơ hội cho tôi tiếp tục triển khai một số nghiên cứu ứng dụng mà tôi đã thực hiện tại viện làm về công nghệ sinh học, trực thuộc viện KIST của Hàn Quốc.  Tôi xin về làm việc ở VKIST vì nhận thấy viện có cơ chế hoạt động có thể tạo cơ hội cho tôi tiếp tục hướng nghiên cứu ứng dụng của mình.  TS Nguyễn Duy Tài: Tôi đã nghiên cứu và công tác ở nước ngoài 15 năm, quay trở về và nhận lời làm việc tại VKIST bởi vì nó phù hợp với định hướng nghiên cứu của tôi từ trước tới nay. Ở Bỉ, tôi chuyên thực hiện các nghiên cứu để giải bài toán cho các công ty bằng công nghệ thông tin, như xây dựng lộ trình giao thông, IoT trong thủy sản, tưới tiêu… Tôi không tìm đến các tập đoàn công nghiệp trong khi bởi vì viện nghiên cứu của họ hầu hết chỉ giải bài toán của riêng họ, còn ở VKIST, các nhà nghiên cứu vẫn có thể đưa ra các giải pháp công nghệ thông tin có sức lan tỏa lớn hơn, đặc biệt là có thể hỗ trợ cho các công ty vừa và nhỏ vốn không có ngân sách nghiên cứu.  Các anh nhìn thấy những điểm đáng quan tâm nào ở định hướng phát triển của VKIST và cơ hội phát triển của VKIST?  TS Phương Thiện Thương: Cá nhân tôi thấy định hướng đưa ra các công nghệ dành cho khối công nghiệp của VKIST là rất cần thiết, bởi vì trước đây nghiên cứu ở nước ta thường không gắn với hai thứ, một là đầu ra cụ thể – tức là thị trường có cần hay không, hai là có cơ sở để triển khai – chính doanh nghiệp. Bản thân tôi, trước đây từng thực hiện đề tài nghiên cứu ứng dụng chiết xuất hoạt chất từ vỏ của các loài cam quýt để làm thuốc cho Sở KH&CN Hà Nội. Đó là một công nghệ mà rõ ràng là thị trường cần, vì các nhà sản xuất trong nước đang phải nhập nguyên liệu đó về để sản xuất sản phẩm. Tôi cứ nhận đặt hàng làm mà không biết rằng chưa hề có nhà máy chiết xuất ở Việt Nam, dù có đưa ra công nghệ thì cũng không thể được áp dụng. Đấy là một bài học về việc không có cơ sở để triển khai.  TS Nguyễn Duy Tài: Tôi nghĩ rằng những bài toán đặt ra từ phía các doanh nghiệp rất nhiều, rất đa dạng, bởi không một doanh nghiệp nào phát triển mà không cần đổi mới sáng tạo, đổi mới công nghệ. Thậm chí, không phải cứ có công nghệ ở nước ngoài tốt, thì đem vào trong nước sử dụng chắc chắn tốt đâu. Ví dụ có thể áp dụng công nghệ thông tin vào để quản lý cả dây chuyền sản xuất, tối ưu hóa nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất gỗ, nhưng công nghệ nước ngoài chưa chắc đã giải được bài toán của Việt Nam. Bởi vì các sản phẩm gỗ ở nước ngoài không tinh vi như ở Việt Nam mà chủ yếu chỉ là đóng bàn, ghế, tủ. Vì vậy, chúng ta buộc phải nghiên cứu với đặc thù riêng ở Việt Nam.  Tôi tin rằng một mình VKIST làm cũng không bao giờ hết việc, mà cần nhiều mô hình giống như VKIST nữa, bởi mỗi viện sẽ có các tập khách hàng khác nhau, là các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tôi quan sát ở nước ngoài và thấy, nhìn chung, nhiều mô hình doanh nghiệp nước họ đã vấp phải nhiều vấn đề đi trước và có cách giải quyết rồi, và chúng tôi đã nắm được điều đó. Tôi tin rằng không vấn đề nào [về công nghệ thông tin] chỉ xuất hiện ở Việt Nam cả, mà thực ra đã đã được xem xét, giải quyết ở đâu đó rồi, vấn đề là mình biết hay chưa thôi. Vì thế, phải tìm hiểu thực tế ở Việt Nam và tìm ra những vấn đề giải quyết. Chẳng hạn, khi còn ở Bỉ, tôi nghiên cứu đưa ra giải pháp phân luồng giao thông cho tất cả các phương tiện, từ tàu, xe tải chở hàng ra vào bến cảng, rõ ràng đấy cũng là công cụ mà Việt Nam đang rất cần.  Dường như từ trước tới nay, văn hóa gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu còn… chưa nhiều, chưa kể nhiều công ty có nhu cầu công nghệ nhưng chính họ cũng không thể nói ra chính xác nhu cầu hoặc vướng mắc của mình ở khâu nào. Vậy VKIST sẽ làm như thế nào để nắm bắt và trả lời được bài toán của doanh nghiệp?  TS Phương Thiện Thương: Các nhà khoa học ở VKIST sẽ phải chủ động liên hệ, cùng xắn tay với các doanh nghiệp để tìm hiểu những khó khăn, nhu cầu đổi mới khoa học công nghệ của họ để giúp cho họ hoạt động hiệu quả hơn. Thời gian đầu chúng tôi không thể đi hết được, mà chỉ đi một số doanh nghiệp để giải quyết một số bài toán tiêu biểu. Chẳng hạn như một trong những hợp đồng đầu tiên của VKIST mà tôi tham gia làm là giúp nâng cao hiệu quả sản phẩm từ dược liệu cho Traphaco – một trong những lĩnh vực kinh tế có thế mạnh mà chúng ta chưa tận dụng được hết.  TS Nguyễn Duy Tài: Làm thế nào để cả doanh nghiệp và viện cùng tin nhau, thuyết phục nhau đi chung một chặng đường mà có thể có thất bại? Tất cả nằm ở sự minh bạch, thái độ làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc. VKIST còn mới bắt đầu, chưa chứng minh được khả năng của mình thì bước đầu sẽ khó liên kết, nhưng khi chứng minh được khả năng của mình, bằng một số dự án sản phẩm cụ thể rồi thì các doanh nghiệp sẽ tìm tới thôi.  Thời gian đầu, do Viện đang xây dựng trụ sở thì các anh sẽ làm việc tại đâu?  TS Phương Thiện Thương: VKIST sẽ mở một phòng thí nghiệm tại Hàn Quốc và tôi sẽ sang đó làm, còn anh Tài sẽ sử dụng các phòng Lab hiện có tại Hòa Lạc.  Ở trong nước, việc phát triển một viện nghiên cứu theo hợp đồng với khối công nghiệp vẫn còn hết sức mới mẻ, theo các anh dự liệu, sẽ có những khó khăn và thuận lợi gì?  TS Phương Thiện Thương: Về mặt thuận lợi, VKIST được Lãnh đạo Chính phủ và Bộ KH&CN rất quyết tâm tạo điều kiện thuận lợi về mặt cơ chế chính sách, các điều kiện, kinh phí hoạt động thời gian đầu. VKIST cũng có được sự giúp đỡ về kinh phí từ phía Hàn Quốc, về KH&CN và kinh nghiệm của Viện KIST (Hàn Quốc), được đánh giá đứng thứ 6 trong các viện nghiên cứu có đổi mới sáng tạo trên toàn thế giới trong vài năm gần đây. Họ giúp đỡ nhiều cho VKIST trong quãng thời gian mà chúng ta chưa có được cơ sở đầy đủ vật chất, nhân lực.  Còn về khó khăn, tôi nghĩ vấn đề đầu tiên là chưa nhiều doanh nghiệp trong nước thực sự có nhu cầu về KH&CN và coi đó là mấu chốt quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mới có rất ít các doanh nghiệp trong nước tự đầu tư kinh phí để tìm giải pháp công nghệ cho sự phát triển thông qua nghiên cứu trong nước. Khó khăn thứ hai, VKIST là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này nên chưa có nhiều kinh nghiệm. Mà kiểu gì cũng có thất bại và phải xây dựng văn hóa chấp nhận thất bại, và phải “dò đá qua sông” thì mới thành công được.  TS Nguyễn Duy Tài: Tôi chỉ bổ sung thêm một chút, tôi nghĩ là về cơ hội và nguồn lực con người, thì VKIST có thể cung cấp thông tin, tiếp xúc và thu hút những anh chị em nghiên cứu khoa học là Việt kiều muốn hồi hương.  Cảm ơn các anh và hy vọng rằng VKIST sẽ có những đóng góp quan trọng cho Việt Nam!  TS Phương Thiện Thương, Trưởng phòng Công nghệ sinh học VKIST: Từng làm việc tại trường Đại học Chosun, Hàn Quốc, Đại học Setsunan, Nhật Bản và Viện Dược liệu (Bộ Y tế), có 15 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm (thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm), có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng trong nghiên cứu các lĩnh vực Dược liệu học, Hóa học các hợp chất tự nhiên, Y học dân gian, Tác dụng dược lý của cây thuốc dân gian, Nghiên cứu và phát triển thuốc – sản phẩm từ dược liệu.  TS Nguyễn Duy Tài, Trưởng phòng CNTT VKIST: Là Kiến trúc sư phần mềm tại Trasys International – NRB Group ở Bỉ, từng là Trưởng nhóm tư vấn tại Ủy ban châu Âu EC – Tổng cục Tin học DIGIT. Anh có kinh nghiệm xây dựng các dự án như mua sắm công điện tử, nhằm số hóa chu trình mua sắm công của EC, để đơn giản hóa các tương tác thủ công, tiết kiệm thời gian và khuyến khích các doanh nghiệp từ khắp châu Âu tham gia đấu thầu công cho Cộng đồng chung châu Âu EU, xây dựng giải pháp giúp các ngân hàng giải quyết các giao dịch có tranh chấp cho cả hai phía người mua và người bán.  Theo khoahocphattrien.vn     Author                Quản trị        
__label__tiasang Trước ngày chuyển đổi      “Nếu không có đề án hay đề án không được duyệt thì sáp nhập vào đơn vị hành chính công lập được không?”, “Viện Công nghệ môi trường có chức năng nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển công nghệ (50:50), vậy theo Nghị định 115, chúng tôi thuộc nhóm nào?”, “Tổng Công ty Viễn thông Quân đội có lĩnh vực hoạt động chính là kinh doanh viễn thông, KHCN cũng là một lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty, như vậy có được gọi là tổ chức hoạt động KHCN hay không?”, v.v…    Giờ “G” tới gần  Trên đây chỉ là một số trong hàng trăm bản câu hỏi gửi Vụ Tổ chức của Bộ KH&CN đề nghị hướng dẫn việc thực hiện quy chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Hơn nửa năm, kể từ khi Nghị định 115 của Chính phủ ban hành, nhiều viện, trung tâm KHCN vẫn trong tình trạng băn khoăn, chờ đợi. Thời hạn 30/9/2006  để trình Đề án chuyển đổi đã tới gần mà nhiều nơi vẫn chưa xác định được mình có thuộc diện chuyển đổi hay không? Nếu chuyển đổi thì theo hình thức nào, tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hay doanh nghiệp khoa học và công nghệ? Theo ông Trần Văn Tùng, Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ KH&CN, có khoảng 30% bản câu hỏi về đơn vị mình có thuộc diện chuyển đổi hay không, điều này cho thấy không ít các đơn vị vẫn thụ động trong việc xác định “ta là ai”. Ông Tùng cho biết, sắp tới Bộ KH&CN sẽ ban hành một quyết định đưa ra tiêu chí phân loại các tổ chức KH&CN cùng một thông tư hướng dẫn sáp nhập, giải thể. Song điều quan trọng nhất, nói như Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong, không phải là việc xác định “ta là ai?” mà là “ta muốn làm ai?”  Nghị định 115 quy định, những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chiến lược, chính sách thì không chuyển đổi. Một số ý kiến cho rằng rất khó phân tách rạch ròi giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng (Xem bài “Cơ bản và Ứng dụng – Có phân định được rạch ròi?” của GS Trần Xuân Hoài – Tia Sáng số 15/8). TS Nguyễn Xuân Khiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu địa chất và khoáng sản cũng cho rằng việc xếp chung nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chính sách là không hợp lý. Những kết quả nghiên cứu ứng dụng của viện ông đều kế thừa kết quả nghiên cứu cơ bản trước đó. Viện của TS Khiển còn một ban đào tạo sau đại học cho toàn ngành, giờ cũng chưa biết xếp vào đâu.  Viện trưởng Viện Kỹ thuật nhiệt đới Lê Xuân Hiền cho rằng các thời hạn chuyển đổi mà Nghị định 115 và thông tư hướng dẫn đề ra quá cứng nhắc. “Đáng lẽ ra phải thảo luận, phải tạo ra “sân chơi” cùng luật lệ rõ ràng trước. Các tổ chức KHCN hoạt động trong đó một thời gian, tự thấy mình phù hợp với hình thức nào thì chuyển đổi theo hình thức đó. Không nên dùng biện pháp hành chính”.  Song, dù có những thắc mắc về cách thức tiến hành, hầu hết đều công nhận rằng việc cơ chế tự chủ là “rất đúng đắn” và việc chuyển đổi là “tất yếu”.    Mừng và lo  Gặp một số nhà nghiên cứu trẻ để hỏi cảm tưởng của họ về cơ chế tự chủ, sau một thoáng ngập ngừng, mọi câu trả lời đều là “mừng”. Có thể chưa nói ra hết lo lắng, song có thể thấy tất cả họ đều muốn chứng tỏ sự cứng cỏi trước cuộc sàng lọc lớn. Tuy nhiên, với nhiều người quản lý trung tâm, viện nghiên cứu, vừa phải bảo đảm chất lượng nghiên cứu khoa học, vừa phải đối mặt với chuyện “cơm áo gạo tiền” của đơn vị mình thì lại là nỗi lo thật sự. GS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long cho biết, nếu chỉ nghiên cứu khoa học thì viện của ông đã có thành công với các giống lúa, ngô lai, hoa quả năng suất cao, tất cả đều có khả năng thương mại hóa. Nhưng, “đưa các kết quả nghiên cứu đó ra thị trường là mất bản quyền ngay”. Tới đây Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chuyển sang hình thức tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí, nỗi lo lớn nhất của GS Chí Bửu là một khi “chạy theo tiền”, nhà khoa học sẽ đánh mất chất lượng nghiên cứu, thậm chí bỏ luôn nghiên cứu.  Cùng “sợ mất nhân tài” như GS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Dược liệu, TS Nguyễn Thượng Dong còn một nỗi lo khác về cơ sở vật chất. “Sân chơi” liệu có công bằng không khi mà mỗi bên bước vào với một điểm xuất phát khác nhau? Các đơn vị nghiên cứu có cơ sở vật chất kém sẽ khó bề hoạt động hiệu quả để có kinh phí giữ người tài, mất người tài lại càng khó hoạt động hiệu quả. TS Dong ví việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động giống như con gái đi lấy chồng, vậy “bà mẹ” nên chăng cho “con gái” một khoản “hồi môn”?   Với TS Nguyễn Xuân Khiển, Nghị định 115 tạo “cả cơ hội lẫn thách thức”. Viện Nghiên cứu địa chất có nhiều quan hệ với đối tác nước ngoài, trước kia muốn xuất ngoại, có khi cán bộ Viện phải xin phép trước cả nửa năm. Có cơ chế tự chủ, những thủ tục hành chính nhiêu khê sẽ giảm được nhiều. Viện có cả nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản, nỗi lo của TS Khiển là nhánh nghiên cứu cơ bản sẽ dần bị mai một: “Khi thành lập, viện chúng tôi có mục đích là nghiên cứu cơ bản, đến năm 2000 mới bắt đầu có nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở kế thừa nghiên cứu cơ bản. Có cơ bản mới có ứng dụng. Giờ phân tách ra, những người nghiên cứu cơ bản sẽ rất khó sống. Kết quả nghiên cứu của họ không bán được, sớm ra cũng phải 5-10 năm sau mới dùng. Nếu cứ theo cơ chế thị trường, e những người nghiên cứu cơ bản sẽ “nhảy” hết sang làm ứng dụng. Đáng sợ nhất là không có đội ngũ khoa học đầu ngành. Không cẩn thận thì chỉ còn toàn người kém mới nghiên cứu cơ bản”. Tiếp đến là lo chuyện khấu hao tài sản. Viện Nghiên cứu địa chất được nhà nước đầu tư nhiều máy móc rất đắt, chúng không thể thiếu nhưng cũng không mấy khi dùng. Không mấy khi dùng, nhưng tiền “nuôi” máy vẫn cần, khấu hao tài sản vẫn tính, “khoản này nếu không được nhà nước giúp thì không thể tự chủ được”.  Vụ trưởng Vụ tổ chức Bộ KH&CN Nguyễn Quân cũng cho biết, “việc sử dụng quyền hạn tự chủ và tài sản của Nhà nước giao cho nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh như thế nào cho có hiệu quả” là nỗi “lo lắng đầu tiên” của các tổ chức KHCN khi chuyển đổi.  Ba trong một  Có người gọi đùa vai trò người lãnh đạo đơn vị khoa học sau khi chuyển đổi là “ba trong một”: nhà khoa học, nhà quản lý, nhà kinh doanh. Với những người chuyên tâm cho khoa học, làm quản lý đã là “việc chẳng đừng”, nói gì đến bươn chải trên thương trường. Viện trưởng Viện khoa học công nghệ Đặng Đình Kim thẳng thắn: “Tôi không thích kinh doanh, mà cũng không có khả năng kinh doanh”. Trong khoa học, một là một, hai là hai; trong kinh doanh lại biến hóa khôn lường. Viện trưởng Nguyễn Xuân Khiển kể một kinh nghiệm khó cười nổi: Lần đó Viện Nghiên cứu địa chất tham gia đấu thầu tìm chất phụ gia xi-măng, luận chứng khoa học làm rất tốt, hội đồng khoa học đánh giá cao. Ông chỉ đạo phải đưa giá thật sát, chỉ 200 triệu đồng. Ban đầu không cần lãi nhiều mà cần khẳng định uy tín. Kết quả, trúng thầu là một đơn vị đưa giá… 400 triệu! Chất lượng thầu của đơn vị này không hơn, nếu không muốn nói là kém Viện. Sau này hỏi han mới biết, “chủ thầu” được trên rót cho đúng 400 triệu. “Nếu chọn thầu 200 triệu, 200 triệu trên giao chúng tôi biết tiêu đi đâu?”  TS Đỗ Huy Định, Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ nhận xét “quyền tự chủ (cho thủ trưởng) theo Nghị định 115 còn cao hơn cả quyền tự chủ của giám đốc doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp cử cấp phó đi nước ngoài còn phải báo cáo tổng giám đốc”. Đúng là trên giấy tờ, thủ trưởng các tổ chức KH&CN được quyền sắp xếp, điều chỉnh bộ máy đơn vị, được quyết định số biên chế và quyết định tuyển dụng… Song thực tế họ cũng chịu rất nhiều hệ lụy. Một viện trưởng bức xúc, viện của ông có 250 người, sắp tới thực hiện chuyển đổi, cần nhiều lắm là khoảng 200 người. Những người còn lại – từ “con ông cháu cha” trên ấn xuống đến những cán bộ chờ hưu đã hoàn toàn lạc hậu với kĩ thuật mới – giờ có cơ chế nào để đưa họ ra, mà đâu dễ một lúc gạt ra tất cả?  Sau khi chuyển đổi, các nhà khoa học sẽ phải làm việc với thanh tra, thuế vụ… là những việc họ không hề thông thạo. Vì thế mà TS Nguyễn Thượng Dong đề nghị phải tạo ra một cơ chế làm việc riêng cho các  tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí hay các doanh nghiệp khoa học.            VIỆT ANH      Author                Quản trị        
0.2909090909090909
__label__tiasang   GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Trường Lũy Quảng Ngãi: Lật giở những điều tưởng là hiển nhiên trong lịch sử      Nghiên cứu Trường lũy Quảng Ngãi, một di tích thuộc thế kỷ 19, dài 113 km, chạy xuyên tỉnh Quảng Ngãi theo hướng Bắc Nam, chia cắt đồng bằng với vùng núi, chia cắt dân tộc Kinh và dân tộc Hrê là một cơ hội để bắt đầu một nghiên cứu liên ngành. Bởi vì, để viết lịch sử của di tích này, buộc phải có những đóng góp của các ngành khảo cổ học, nhân học và bản đồ học – những ngành giúp tạm thời giải quyết việc thiếu hụt tư liệu lịch sử.              Trường Lũy Quảng Ngãi, xây năm 1819. Xã Ba Đông, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, 2015. © EFEO.     Từ nghiên cứu sử liệu     Bắt đầu bước vào cuộc thám sát, nhiệm vụ của chúng tôi có vẻ dễ dàng khi sử liệu văn bản có thể trả lời cho hai câu hỏi: Trường Lũy được xây vào thời gian nào? Ai xây ?    Liên quan đến thời gian, sách sử chép rằng công việc xây dựng được bắt đầu năm 1819, dưới thời vua Gia Long “Ngoài lũy trồng tre, dưới ngăn bằng hào… Lính cơ đóng thú giữ 115 bảo, mỗi bảo 10 người, cộng 1.550 người”.1  Liên quan đến chủ nhân xây dựng của Trường Lũy Quảng Ngãi, Nguyễn Tấn (1871: 210), vị quan chỉ huy Trường Lũy trong những năm 1860, đã viết trong công trình “Vũ Man Tạp lục thư” của mình: “Quận-công Lê-Văn-Duyệt tâu xin xây Trường-Lũy nam giáp ranh giới Bồng-Sơn tỉnh Bình-Định, bắc giáp ranh giới huyện Hà-Đông [Núi Thành] tỉnh Quảng Nam“.  Như vậy, các văn bản xác định rằng Trường Lũy được xây vào năm 1819 dưới triều Gia Long. Mọi thứ dường như đều sáng tỏ. Song, chúng ta cần nhấn mạnh một điều rằng không có một sử liệu nào viết về xây dựng Trường Lũy trong cùng thời gian nó được xây dựng, mà tất cả các tài liệu đều được viết nửa thế kỷ sau. Khoảng cách chênh này làm mất đi những chi tiết về điều kiện xây dựng lúc đó.  Mọi hoạt động của Trường Lũy đều được ghi chép cho tới khi bị bỏ hoang vào năm 18982. Chính từ sử liệu mà chúng tôi có được nhiều thông tin về công việc sửa sang Trường Lũy, việc đánh thuế buôn bán, thành lập các cơ dọc Trường Lũy và những đồn cơ để bảo vệ. Các văn bản nhấn mạnh rằng đã có tới 3.357 lính cơ vào giai đoạn cuối, cao gấp 3 lần số quân lúc ban đầu (theo “Đồng Khánh Địa Dư Chí”). Nguyễn Tấn (1871: 200) đã miêu tả những trận đánh cũng như những cuộc đàm phán với những thủ lĩnh người Hrê – ông thậm chí còn ghi lại tên của họ: Đinh-y ở Cơ Nhất, Đinh-gi và Đinh-lai ở Cơ Nhị, v.v.  Tài liệu Châu bản triều Nguyễn cũng liệt kê chi tiết những hành động hung bạo mà những làng người Kinh phải chịu đựng trước những cuộc đột nhập của người Hrê. Thí dụ vào năm 1858:  Bá hộ Đồng Đăng Thống “đang đi tuần phòng tại áp Dương An. Vào khoảng canh tư nghe thấy từ phía xứ Ông Toản xã Dương An có tiếng người hô hoán… thấy bọn ác man đông khoảng trên 100 tên…; đốc thúc lân dân bắn súng điểu thương và ống phun xông tới đánh bắt. Bọn phỉ thấy vậy hoảng sợ bỏ chạy hết.      Nếu như về phương diện chính trị, Trường Lũy thực sự là sáng kiến của triều đình, thì về mặt xây dựng, nó là kết quả sau cuộc thương thảo giữa Lê Văn Duyệt và các thủ lĩnh người Hrê, và công việc xây dựng dựa vào công nghệ, truyền thống xây dựng và nguồn nhân lực của cả hai cộng đồng.      Kiểm tra lại thì thấy một người tên là Đăng tay cầm chiếc giáo bị gãy, trên ngực trái, đùi trái và mông bên trái đều có vết thương chảy máu ròng ròng ngồi ở mặt ruộng cùng với xác một tên phỉ bị chết. Xác của thị Cốc thì nằm ở ngoài vườn… Đồng Đăng Thống lại thúc lân dân, biền binh và dân phu của các thôn xã lân cận lần theo dấu vết đuổi bắt phỉ, đuổi theo đến xứ Dương Lá thì không còn thấy bóng dáng tên phỉ nào nữa“.3     Tư liệu trên rất quý bởi vì chúng được viết tại chỗ và đương thời khi sự kiện xảy ra. Khi đọc, ta có cảm giác như quyết định xây dựng Trường Lũy là quyết định mang tính đơn phương để tự vệ của người Kinh: các sự kiện tương tự được ghi lại, trang này qua trang khác, năm này qua năm khác, với sự mô tả đơn điệu kinh khủng, về những vụ bắt cóc người và gia súc, giết chóc và trả thù nối tiếp nhau được liệt kê. Theo chúng tôi tính thì trong vòng 14 năm đó, khu vực đồng bằng phía người Kinh đã chịu những thiệt hại ít nhất lên tới 230 người (73 bị giết, 157 bị bắt) và 234 đầu gia súc.4     Việc đọc tài liệu tất nhiên sẽ hướng ta đi theo cách nhìn xưa cũ về bờ lũy được một dân tộc “văn minh” dựng lên để tự bảo vệ mình khỏi những kẻ “man di”. Dần dần, khi được bổ sung với tiếp cận của các ngành khoa học khác vào nghiên cứu này, chúng ta phải sửa lại cách nhìn nhận này về lịch sử để tìm kiếm sự thật lịch sử chân thực hơn.     Đến khảo sát khảo cổ học và cảnh quan     Khi thám sát khảo cổ học chúng tôi đã rút ra ba bài học.     Bài học thứ nhất liên quan tới kiến trúc. Cuộc điều tra hé lộ những vết tích kiến trúc có chiều cao khác nhau, có chỗ chỉ 1-2m, có chỗ lên tới 3-4m. Kỹ thuật xây dựng cũng khác nhau, tùy theo từng địa điểm, có chỗ xây bằng đất hoặc bằng đá hoặc pha trộn hai loại trên. Không có bất kỳ một kiến trúc sư trưởng hay một thợ cả nào đưa ra “bản thiết kế” có tính nhất quán tổng thể cho Trường Lũy. Tác phẩm này do nhiều nhóm người thực hiện, mỗi nhóm có trưởng kíp riêng và sử dụng vật liệu tại chỗ – đó không phải tổ chức của quân đội, mà ngược lại mang đặc tính địa phương và làng xã.5     Trường Lũy ở các tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Bản đồ: Steve Leisz. © EFEO.     Bài học thứ hai có được là nhờ vào những kết quả điều tra bản đồ học, liên quan tới mối quan hệ giữa Trường Lũy và địa hình xung quanh. Trong quá trình điều tra, chúng tôi thấy nên tìm kiếm những vết tích ở dưới chân núi, và chính xác hơn trên những sườn núi phía trên vùng đất phẳng vài mét. Đối với một công trình phòng vệ thì vị trí này hơi kỳ lạ bởi vì Trường Lũy bị núi chế ngự, mà núi thì thường nằm ở khu vực phía tây, nghĩa là phía của người Hrê.     Khi chúng tôi đi khảo sát ở huyện Đức Phổ, một cụ ông đã dẫn chúng tôi tới “một bức tường bằng đá” nằm bên sườn đồi. Thực tế đó không phải là một bức tường mà là một con đường cổ. Con đường được kè bằng đá, chạy dọc và bao quanh sườn núi, luôn ở cùng một cao độ phía trên vùng đất bằng vài mét. Thế là, cũng vào ngày đó, chúng tôi mới hiểu rằng tên dân gian phổ biến thường gọi lũy – là “Bờ Lũy” – xa lạ ở riêng huyện này. Người dân Đức Phổ thường gọi lũy là “đường cái quan thượng”. Như vậy, ở đây tên của lũy là tên một con đường.     Thực ra trước đó chúng tôi đã biết con đường mòn này chạy dọc theo bờ lũy nhưng chúng tôi chỉ coi nó như là một con đường ở nông thôn, không có ý nghĩa lịch sử gì. Thế nhưng, sách sử lại nói đến nó: năm 1812, vua Gia Long “thấy đường núi hiểm vắng, rừng xanh rậm kín, bọn ác man thường thường nhân đó mà rình nấp, bèn sai Phan Tiến Hoàng đem 300 dân xóm đi nhổ cây mở đường để tiện cho quan quân tiến đi“.6     Chính việc Trường Lũy bám theo lối đi của một con đường giúp ta hiểu được sự ngạc nhiên của một nhà truyền giáo người Pháp khi nhìn thấy nó vào năm 1900: “(…) vắt lên những ngọn núi dựng đứng nơi biên giới, không có bất kỳ tính toán gì về con đường chiến lược, một bờ lũy bằng đất vừa bao la vừa vô ích” (Durand 1900: 287).     Giả thuyết về con đường, một yếu tố thuộc về cấu trúc của hệ thống phòng vệ, thực chất cho phép ta hiểu rõ bản chất của Trường Lũy. Khi mở đường, họ sẽ không chọn những chuỗi tuyến mang tính kỹ thuật như khi xây thành lũy. Rốt cuộc, nhà truyền giáo kia hiểu rằng thành lũy không được xây theo tinh thần phòng vệ. Rõ ràng, điều này thay đổi hoàn toàn những phân tích, diễn giải về di tích như ban đầu ta suy nghĩ.     Cuối cùng, lật tìm lại sử liệu, ta thấy giả thuyết trên được chứng minh trong mô tả của Lê Quang Định (1806: 229-242) về một con “đường núi” đi xuyên qua tỉnh Quảng Ngãi từ Bắc vào Nam. Con đường đi qua một loạt những địa điểm – với những địa danh như Cù Ba, Đèo Tố Thượng, Đá Chát, Huyện Nho, Đèo Ải, vv. – nằm trên đường tuyến hiện nay của Trường Lũy. Cũng ngay từ năm 1806, Lê Quang Định đã ghi nhận có nhiều bảo nằm trên con đường này (tất cả có 84 bảo), nhưng lại không có bất kỳ lời ghi nào về Trường Lũy – bởi vì, nó chỉ mới được xây dựng từ năm 1819.     Bài học thứ ba được rút ra từ việc khảo sát lịch sử cảnh quan vùng đồng bằng, nơi có nhiều làng với những mảnh vườn xanh trồng cau, cây ăn quả và rau. Tuy nhiên, qua những chuyến công tác, chúng tôi ngày càng cảm nhận được rằng màu xanh này chứng minh thực tế về một quá khứ nghèo đói. Đất đai Quảng Ngãi khô cằn, khó trồng lúa, khiến cho người dân buộc phải bổ sung những cây trồng phụ; đừng quên là cách đây chưa lâu các con sông lớn còn hiện diện một hệ thống bờ xe nước để tưới ruộng. Sử liệu dưới thời Gia Long đã khẳng định điều này: dân đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi thường xuyên bị thiếu gạo.7      Bản vẽ Rùm Đồn và Trường Lũy. Xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Bản vẽ: Federico Barocco. © EFEO.   Ngược lại, vùng núi với những ruộng lúa tương phản không chỉ với vùng đồng bằng mà còn cả với vùng cao nguyên. Như cách viên sĩ quan Haguet (1905: 1420) mô tả về sự phồn thịnh của những thung lũng nơi người Hrê sinh sống, nơi “trồng trọt tuyệt vời và được tưới tiêu nhân tạo”, bởi vì, ông viết thêm: “người Kinh không giỏi hơn họ trong việc này”. Sự màu mỡ của đất đai cộng với việc làm chủ kỹ thuật tưới tiêu mang đến những vụ lúa bội thu được người Hrê trao đổi với những dân buôn dưới đồng bằng, nhờ đó họ có thể đổi lấy muối (chỉ có được ở vùng biển) và cá khô.     Nghiên cứu cảnh quan cho thấy rõ hội nhập kinh tế của hai vùng nằm ở bên này và bên kia Trường Lũy. Mối giao thương này quan trọng với cả hai bên đến nỗi bất kỳ xáo trộn nào cũng sẽ mang dáng dấp của thảm họa. Ngay trước khi xây Trường Lũy, sách sử ghi nhận sự ngừng trệ của giao thương do bất ổn, khiến cho tỉnh Quảng Ngãi được trao 7 năm miễn trừ đặc biệt về thuế buôn bán trong vòng 17 năm (1804-1806, 1810-1813).8 Việc lập lại hòa bình do đó còn là để việc trao đổi được tiếp tục ổn định, đảm bảo đời sống kinh tế của hai cộng đồng.     Xa dần với giả thiết ban đầu về một chiến lũy chống người “man”, cuộc khảo sát ngày càng cho thấy lợi ích của việc xây dựng Trường Lũy là lợi ích chung của cả người Kinh và người Hrê. Việc xây dựng một con đường giới hạn bằng vật liệu rắn là để ngăn chặn những kẻ hiếu chiến Hrê tiến xuống đồng bằng đồng thời cản trở nông dân người Kinh di cư lên vùng cao – chứ không có ý định bít kín đường biên giới. Ngược lại, giới hạn này có mục đích đảm bảo an ninh cho việc buôn bán xuyên biên giới.     Giữa hai đòi hỏi cấp bách – an ninh lãnh thổ và an ninh thương mại – Trường Lũy được coi như là một thỏa hiệp. Những cuộc khai quật khảo cổ cung cấp nhiều thông tin về quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho mối thỏa hiệp này. Dưới đây là những kết quả nghiên cứu được thực hiện ở di tích Rùm Đồn: Sơ đồ của Rùm Đồn chỉ ra tính phức tạp về chức năng của mạng lưới. Tường bao cao 4-5m, xung quanh là hào. Một con đường được lát bằng những tảng đá phẳng, dọc Trường Lũy len qua đồn. Một bức tường ngang có cổng để kiểm soát việc đi lại Bắc-Nam. Nhưng những đồn này cũng là nơi kiểm soát việc đi lại Đông-Tây, như đã ghi trong một Châu bản về việc sửa chữa hạ tầng cơ sở vào năm 1837 sau một cuộc tấn công chợ biên giới: “từ năm ngoái ta đã đào thêm hào ở bên ngoài mặt lũy rồi cho cắm chông tre, nên muốn vào chợ chỉ còn một con đường nhỏ đi qua cổng đồn mà thôi, không còn đường ngang ngõ tắt nào khác để đi vào thậm thụt mua bán nữa“.9      Xa dần với giả thiết ban đầu về một chiến lũy chống người “man”, cuộc khảo sát ngày càng cho thấy lợi ích của việc xây dựng Trường Lũy là lợi ích chung của cả người Kinh và người Hrê. Việc xây dựng một con đường giới hạn bằng vật liệu rắn là để ngăn chặn những kẻ hiếu chiến Hrê tiến xuống đồng bằng đồng thời cản trở nông dân người Kinh di cư lên vùng cao – chứ không có ý định bít kín đường biên giới. Ngược lại, giới hạn này có mục đích đảm bảo an ninh cho việc buôn bán xuyên biên giới.      Đó là một hệ thống hạ tầng gồm ranh giới chia cắt lãnh thổ, kết nối những điểm mở có kiểm soát nhằm đảm bảo an toàn cho trao đổi buôn bán.     Nghiên cứu dân tộc học     Trong chuyến thăm di tích năm 2008, nhà nhân học Georges Condominas lưu ý tới thiếu sót không cố ý trong cách tiếp cận khoa học của chúng tôi: “Nếu các bạn không nghe người dân tộc kể thì lịch sử của các bạn sẽ là lịch sử của những cư dân đồng bằng, không phải lịch sử của cả hai cộng đồng”. Rất may là sau đó chúng tôi được phép tới làm việc tại các huyện của người Hrê.     Điều gây ấn tượng với chúng tôi khi khám phá cảnh quan các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long là đá. Những viên đá dùng để xếp tường quanh vườn, kè ruộng, đắp đập, đắp ranh giới rẫy, làm rào chuồng súc vật và bẫy cá, cuối cùng là cho mọi nhu cầu về xây dựng trừ làm nhà (nhà dân thường là nhà sàn bằng gỗ và bằng tre). Những kiến trúc đá này làm bật ra câu hỏi: liệu tổ tiên những người Hrê này có tham gia xây dựng Trường Lũy hay không?     Trước đó, khi phỏng vấn ở đồng bằng chúng tôi đã ghi nhận sự thiếu hụt thông tin của những câu chuyện kể, những ký ức dân gian về việc xây dựng Trường Lũy. Duy nhất một người Kinh kể cho chúng tôi nghe công việc của ông tổ mình, một vị quan đi tuyển nhân công xây Trường Lũy.     Chúng tôi bắt đầu hiểu rằng người biết xếp đá ở Quảng Ngãi là người Hrê; nhưng phải đi tới kết luận này một cách thận trọng và phải “kiểm tra chéo” thông tin với một người Kinh sống ở vùng Hrê từ lâu. Khi tôi nói với ông rằng Trường Lũy là công trình xây dựng của người Kinh, ông ấy liền đáp lại “Không phải!” một cách dứt khoát, trước khi nhấn mạnh sự thật rằng “chính người dân tộc xây chúng, chứ không phải người Kinh”.     Nhiều người Hrê mà chúng tôi hỏi đều cho rằng tổ tiên họ đã tham gia xây Trường Lũy, như một “ba-ri-e” – theo lời tả của một ông lão – để bảo vệ đất đai của mình khỏi người Kinh lên định cư. Một vài người còn nhớ rõ tên người tổ chức xây dựng. Họ gọi người đó là “Ông bộ”. Theo họ, Ông bộ là một vị tướng người Kinh – theo một số người “gần như là một vị vua” – nếu như ông này có con trai, dĩ nhiên đó là con trai nuôi bởi vì vị tướng này không thể có con. Chúng tôi hiểu rõ rằng họ đang nói tới Lê Văn Duyệt, một vị quan hoạn, phó vương của vua Gia Long, người xây Trường Lũy được chỉ tên trong các sách sử.    Nhóm nghiên cứu khảo sát tại Đồn Đèo Chim Hút, xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành. © EFEO.  Việc đối chiếu những nguồn tư liệu từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau trong hơn 10 năm qua cuối cùng cho phép chúng ta kết luận: nếu như về phương diện chính trị, Trường Lũy thực sự là sáng kiến của triều đình, thì về mặt xây dựng, nó là kết quả sau cuộc thương thảo giữa Lê Văn Duyệt và các thủ lĩnh người Hrê, và công việc xây dựng dựa vào công nghệ, truyền thống xây dựng và nguồn nhân lực của cả hai cộng đồng..     Kết luận trên càng được khẳng định khi so sánh Trường Lũy Quảng Ngãi với Trường Lũy Bình Định, mà theo sách sử, được xây muộn hơn (năm 1876) và mang tính quân sự rõ nét.10 Kiến trúc của lũy này cho thấy đặc tính trên: ở vùng núi thưa dân và địa hình mấp mô, lũy xây cao đến 4m, kiến trúc đều đặn với các viên đá được đẽo gọt cẩn thận trước khi xếp. Sự trái ngược là rõ nét so với Quảng Ngãi, nơi sự đa dạng cho thấy nó rõ ràng là công trình xây dựng của người nông dân.     Một so sánh khác cũng được rút ra từ việc nghiên cứu quá trình đào kênh Vĩnh Tế, một công trình cũng do chính Lê Văn Duyệt đứng ra tổ chức và triển khai cùng năm đó. Sách sử chỉ ra rằng để xây con kênh này, triều đình đã kêu gọi nhân công dân sự và quân sự từ cả người Kinh và Khmer.11     Kết luận     Những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những cư dân luôn bị sách sử định danh là “man” đã tham gia xây dựng, bằng chính đôi tay mình cái “ba-ri-e” nhằm tách họ ra khỏi vương quốc của người Kinh.     Ý tưởng trên phải được đặt lại trong bối cảnh của những mối quan hệ dân tộc từ xa xưa ở vùng đất trước kia là một phần của vương quốc Champa. Nếu như người Hrê là con cháu của một trong những dân tộc từng sinh sống ở Champa12, thì Trường Lũy được họ sử dụng như lá chắn đối mặt với di dân “Nam tiến”.     Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét những hệ quả cụ thể về việc xây dựng Trường Lũy. Trường Lũy đã không làm tròn chức năng bình định mà triều đình mong muốn: những sự kiện xung đột, như ta đã thấy, thường xuyên diễn ra trong suốt thế kỷ 19 và để lại ký ức đau đớn còn tồn tại dai dẳng dưới nhiều hình thức cho tới ngày nay ở Quảng Ngãi.     Nhìn từ phía người Kinh, có thể hiểu rằng Trường Lũy không đạt được mục đích đặt ra. Nhưng, nhận thức của người Hrê lại hoàn toàn khác. Trên thực tế đến tận bây giờ, có ít người Hrê sống ở đồng bằng và cũng ít người Kinh sống ở miền núi. Dù ngày nay người Hrê và người Kinh đều là công dân của nước CHXHCN Việt Nam, vùng cư trú của họ vẫn không thay đổi trên hai phía Trường Lũy suốt hai thế kỷ.□     Ghi chú  *Dự án nghiên cứu do nhà sử học Andrew Hardy (Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, EFEO) và nhà khảo cổ học Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) điều hành, với sự hỗ trợ của Đào Thế Đức (Viện Nghiên cứu Văn hóa) và Federico Barocco (công tác viên, Viện Khảo cổ học). Dự án được sự ủng hộ của EFEO, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Quỹ Ford, Bộ Ngoại giao Pháp, Cơ quan Phát triển Pháp, Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn Pháp, Ủy ban châu Âu.     ——  Thư mục tài liệu tham khảo:  Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Lục Kỷ Phụ Biên, Nxb Văn hóa – Văn Nghệ, 2011.  Đại Nam Thực Lục, Tiền Biên & Chính Biên, Nxb Giáo dục, 2002.  ‘Đồng Khánh Địa Dư Chí’, 1885-1888, tỉnh Quảng Ngãi, Viện Nghiên cứu Hán-Nôm (A537).  E.M. Durand, “Les Moïs du Sơn Phong”, Bulletin de géographie historique et descriptive 1900, 284-322.  H. Haguet, “Notice ethnique sur les Mois de la région de Quảng Ngãi”, Revue indochinoise 1905, 1419-1426.  A. Hardy, “The Archaeological Territory of Quảng Ngãi and the Geopolitics of Champa” trong Perspectives on the Archaeology of Vietnam, A. Reinecke (biên tập), Berlin/Bonn, 2015, p. 259-290.  A. Hardy & Nguyễn Tiến Đông. “The Peoples of Champa: Landscape History Evidence for a New Hypothesis” trong A. Griffiths, A. Hardy & G. Wade (biên tập), Champa: Territories and Networks of a Southeast Asian Kingdom, EFEO, Paris, 2019 tr. 121-144.  Lê Quang Định, “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” (1806), Nxb Thuận Hóa, 2005.  Nguyễn Tấn, “Phủ Man Tạp Lục” (1871), trong Nguyễn Đức Cung, Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp Lục Thư, Philadephia, Nhật-Lệ, 1998.     —  1 Đại Nam Thực Lục Chính Biên (ĐNTLCB), q. LX, 1819, tháng 3.  2 Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Lục Kỷ Phụ Biên: 2011, tr. 319320.  3 Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ 1, phông Châu bản (TTLT1 CB) tập 94, tờ 243, 26/7 Tự Đức 11 (1858).  4 Tính theo tài liệu Châu bản các năm 1833, 1838, 1858, 1860, 1862, 1867-1869, 1874, 1878, 1886-1888, 1896. Dân số Quảng Ngãi năm 1819 là 15.400 đinh (ĐNTLCB, q. XL, 1819, tháng 12).  5 Việc sử dụng nhân công địa phương phố biển vào thế kỷ 19. Thí dụ, mương ở 5 xã thuộc huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) do nhân công các xã ven sông đào. TTLT1 CB tập 238, tờ 175, 18/4 Tự Đức 24 (1871).  6 ĐNTLCB, q. XLIV, 1812, tháng 6.  7 Dưới triều đình Gia Long, nạn thiếu gạo tại Quảng Ngãi vào các năm 1803, 1807, 1811, 1812, 1813, 1819. ĐNTLCB, q. XX, 1803, tháng giêng; q. XXXII, 1807, tháng 4; q. XLII, 1811, tháng 4; q. XLIV, 1812, tháng giêng; q. XLVI, 1813, tháng 1; q. XLVII, 1813, tháng 9; q. LIX, 1819, tháng 4.  8 ĐNTLCB, q. XXX, 1806, tháng 6; q. XLI, 1810, tháng 7; q. XLII, 1811, tháng 5; q. XLVII, 1813, tháng 10.  9 TTLT1 CB tập 64, tờ 131, 4/4 Minh Mệnh 19 (1838).  10 ĐNTLCB q. LVI, 1876, tháng 10.  11 ĐNTLCB, q. LX, 1819, tháng 9.  12 Xem Hardy & Nguyễn Tiến Đông 2019; Nguyễn Tấn (1871: 97) gọi họ là “con cháu của Champa”; Durand (1900: 286) nhận thấy họ đã sống ở đồng bằng từ xưa, về sau “bị đẩy dần dần lên vùng cao”.    Author                Andrew Hardy, Nguyễn Tiến Đông, Đào Thế Đức, Federico Barocco*        
__label__tiasang Truy cập mở có thể thay đổi ngành xuất bản học thuật      Những nỗ lực táo bạo thúc đẩy ngành xuất bản học thuật hướng về phía mô hình truy cập mở đang ngày càng gia tăng.      Tại thư viện quốc gia Thụy Điển, những nhà đàm phán mong muốn thúc đẩy truy cập mở để thoát khỏi cảnh trả phí thuê bao cho nhà xuất bản Elsevier. Nguồn: Nature  Những nhà đàm phán đại diện cho các thư viện và trường đại học trên khắp châu Âu đang chia sẻ chiến thuật về cách làm thế nào để có được những hợp đồng mới, qua đó đem lại khả năng đọc được nhiều công trình nghiên cứu mà không phải mất “tường phí” (paywall – chi phí người đọc phải chi trả để đọc được nội dung thông tin). Cuộc vận động truy cập mở này bắt nguồn từ Đức: nếu không thích những gì nhà xuất bản đề xuất, họ sẽ không trả tiền cho các tạp chí truy cập đóng. Vào ngày 16/5, một nhóm liên minh ở Thụy Điển cho biết họ sẽ không tái ký hợp đồng với “gã khổng lồ” xuất bản Elsevier nữa.  Loại hợp đồng mới này thực chất là các thỏa thuận “đọc và xuất bản”. Ký những thỏa thuận này, dù các thư viện vẫn sẽ phải trả phí thuê bao để có thể truy cập các bài báo nhưng các nhà nghiên cứu lại có thể xuất bản công trình của họ dưới dạng truy cập mở để bất kỳ ai quan tâm đến công trình cũng có quyền đọc nó miễn phí.  Những người ủng hộ cách làm này cho rằng những thỏa thuận như vậy sẽ thúc đẩy tiến trình của phong trào truy cập mở. Trong nhiều thập kỷ vận động để các công trình nghiên cứu được xuất bản công khai với lý do kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu được tài trợ cần đến với mọi người tuy nhiên mô hình kinh doanh đang thống trị thị trường của các nhà xuất bản vẫn chỉ công bố những bài báo đòi hỏi “tường phí” và thu các phí thuê bao từ các thư viện. Tuy nhiên nếu những nhóm liên kết thư viện lớn cố gắng đạt được thỏa thuận “đọc và xuất bản” thì tỷ lệ các bài báo truy cập mở có thể tăng lên.  “Một sự thay đổi trên khắp châu Âu đã tạo ra một nền tảng quan trọng [cho xuất bản học thuật]”, Koen Becking – nhà đàm phán chính của VSNU, một nhóm liên kết gồm 14 viện nghiên cứu ở Hà Lan. Vào năm 2014, VSNU là nhóm quốc gia đầu tiên đàm phán về thỏa thuận phí thuê bao, trong đó quy định về quyền của các tác giả công trình nghiên cứu. Từ đó, đã có nhiều thỏa thuận khác với nhiều cấp độ khác nhau về xuất bản mở được chấp thuận và sau Hà Lan, đến lượt nhiều tập đoàn ở Áo, Anh, Thụy Điển và Phần Lan cũng đạt được điều tương tự. Theo kết quả điều tra của Hiệp hội trường đại học châu Âu (EUA) – tổ chức có trụ sở Brussels, công bố vào tháng 4/2018 thì năm 2017, 11% nhóm liên kết ở châu Âu đã ký kết các thỏa thuận tính phí truy cập mở, tuy nhiên còn tới 63% nhóm liên minh mới dự kiến sẽ thực hiện điều đó trong tương lai.  Vào ngày 2/5/2018 tại Berlin, các nhà đàm phán từ nhiều quốc gia châu Âu đã đồng ý sắp xếp chiến lược thương lượng tại một cuộc họp kín có sự tham gia của điều phối viên đặc biệt về truy cập mở của EU, Robert-Jan Smits. Theo Gerard Meijer, một trong những nhà đám phán Đức thì các nhóm liên minh đã “nản lòng” bởi không có tiến bộ trong đối thoại và cảm thấy những giới hạn trong cộng tác giữa viện nghiên cứu và các nhà xuất bản lớn. “Bây giờ chúng ta phải cùng hành động, mạnh dạn thoát khỏi các đàm phán nếu nó không đi đến đâu cả”, ông nói.  Cuộc họp này là một phần trong chuỗi các sự kiện mà các nhà đàm phán thay đổi chiến thuật. “Ngày càng có nhiều người muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình”, Matthijs van Otegem, giám đốc Thư viện trường Đại học Erasmus ở Rotterdam, và là chủ tịch của nhóm liên kết về truy cập mở tại Hiệp hội các thư viện nghiên cứu châu Âu (LIBER) ở Hague, Hà Lan.  Vào tháng 9/2018, LIBER đã công bố một loạt nguyên tắc hướng dẫn các nhà đàm phán tìm cách thay đổi các thỏa thuận của họ với các nhà xuất bản, bao gồm việc khép lại những thỏa thuận không được phép tiết lộ mà các nhà xuất bản vẫn thường “đương nhiên” nêu trong hợp đồng (nó giúp các nhà đàm phán so sánh các thỏa thuận ở những quốc gia khác nhau), hay việc không đồng ý tăng giá mà không có thỏa thuận về truy cập mở. EUA cũng kịp thời mở một phiên họp quốc tế sau khi nghe được những lo ngại trong quá trình thúc đẩy những thỏa thuận mới, theo lời Lidia Borrell-Damian – giám đốc nghiên cứu của Hiệp hội.  Yếu tố quan trọng đằng sau hoạt động thúc đẩy thỏa thuận với các nhà xuất bản ở châu Âu là mục tiêu của EU: đến năm 2020, tất cả các nghiên cứu sẽ được truy cập miễn phí ngay sau khi chúng được xuất bản. Các nhà đàm phán Hà Lan đã được giao nhiệm vụ môi giới cho một thỏa thuận với giới xuất bản có thể đáp ứng tầm nhìn này. Còn tại Thụy Điển, các nhà đàm phán đã tự đặt mục tiêu cho truy cập mở hoàn toàn các nghiên cứu vào năm 2026, và Thụy Sĩ dự kiến ​​là năm 2024.  Thế giới cũng đang nỗ lực đấu tranh cho truy cập mở ngoài phạm vi châu Âu: tháng trước, các nhà đàm phán Đức đã tới Hàn Quốc để thảo luận với các tập đoàn tại đây và đại diện của hệ thống trường đại học California tới dự phiên họp kín ở Berlin. OA2020 – một liên minh toàn cầu được điều phối từ Đức, đã thu hút sự tham gia đăng ký của hơn 100 tổ chức học thuật trên khắp thế giới cho thấy họ muốn chuyển kinh phí từ phí thuê bao xuất bản sang trả cho truy cập mở.   Thỏa thuận hay không thỏa thuận  Tình trạng này ở Đức đã chứng tỏ rằng “không thỏa thuận” là một sự lựa chọn, van Otegem cho biết. Kể từ năm 2016, một liên minh trường đại học đã từ chối hợp tác trong một thỏa thuận với nhà xuất bản Elsevier. Bất chấp tình trạng này, nhà xuất bản đã không ngăn các học giả Đức truy cập vào các bài báo của họ – cho thấy các trường đại học không cần phải e ngại sự phẫn nộ của các nhà nghiên cứu nếu các đàm phán thất bại. Kể từ đó, nhóm khác cũng loan báo “không thỏa thuận” với các nhà xuất bản.  Những tranh chấp hợp đồng  Ít nhất bốn nhóm châu Âu, đại diện cho các thư viện và các trường đại học, cho biết họ đã thất bại trong thỏa thuận các hợp đồng với giới xuất bản hàn lâm để tính phí thuê bao. Các thỏa thuận này bao gồm các yếu tố truy cập mở đã được môi giới với một số nhà xuất bản của Hà Lan, Thụy Điển, Áo, Anh và Phần Lan.  Một nguyên nhân khiến các thư viện không còn quá e ngại một cái kết cho hợp đồng của họ với các nhà xuất bản là ngày càng nhiều những bài báo vốn phải đóng phí để đọc nay đã có thể truy cập miễn phí theo nhiều phiên bản như bản in hoặc bản gốc do tác giả cung cấp, Heather Joseph – giám đốc điều hành Liên minh Các nguồn lực nghiên cứu và xuất bản học thuật (SPARC), một nhóm tư vấn ở Washington DC nói. Sci-Hub, một trang web không hợp pháp dẫn đầy đủ bản sao các bài báo và được các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới sử dụng, là một thực tế, Joseph Esposito – một cố vấn xuất bản ở  New York nhận xét. Anh cho biết thêm: “Không có Sci-Hub, các nhà nghiên cứu có thể sẽ kêu trời trong các thư viện vì không thể truy cập được các bài báo. Ảnh hưởng của Sci-Hub lớn đến nỗi ngay cả các cơ quan chính phủ cũng không thể làm gì được nó”.  Chi phí là một điểm gắn bó chính của “cuộc chiến” này. Một phát ngôn viên của Hội Hóa học hoàng gia Anh cho biết, tranh chấp hiện tại của nó với VSNU là một phần của việc đạt tới “một thỏa thuận để quá trình chuyển đổi sang truy cập mở bền vững” (Khi Nature liên hệ, các nhà xuất bản khác đã từ chối bình luận một cách chi tiết về các đàm phán).  Các nhóm liên minh thường không muốn thảo luận về việc liệu khi có hiệu lực, các hợp đồng “đọc và xuất bản” có trở nên tốn kém hơn không nhưng một số nhóm cho biết họ không muốn thỏa thuận bất kỳ hợp đồng đòi hỏi sự gia tăng chi phí nào. Tại Mỹ, nơi truy cập mở ít bị các động lực chính trị thúc đẩy hơn châu Âu, các thư viện đang cố gắng tiết kiệm tiền bằng việc hủy các hợp đồng “giá trị lớn” – toàn diện nhưng đắt đỏ, các hợp đồng cho phép truy cập một số lượng lớn tạp chí khoa học – một kiểu riêng để truy cập các tạp chí mà các cơ quan nghiên cứu của họ vẫn thường sử dụng nhất. Trước đây người ta từng áp dụng theo cách này và hiện tại thì tần suất ngày càng tăng lên.  Theo quan điểm của Steven Inchcoombe – giám đốc nhà xuất bản Springer Nature, một số thỏa thuận kết hợp cả chi phí đọc và xuất bản đã được môi giới ở Bắc Âu với sự ủng hộ truy cập mở mạnh mẽ từ các quỹ, các viện nghiên cứu và các chính phủ, nhưng trừ phi có nhiều tiền trả cho các thỏa thuận như vậy, chúng không thích hợp để trở nên phổ biến trong tương lai.  Nếu tình trạng này tiếp tục, Becking của VSNU cho rằng các nhà đàm phán có thể kết thúc các giao dịch nhưng có thể ngưng thương lượng với các nhà xuất bản riêng biệt. trong trường hợp này, các trường đại học có thể khuyến khích các nhà nghiên cứu phổ biến nghiên cứu của họ trên các nền tảng thay thế.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05191-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Truy tìm hạt axion, ứng viên vật chất tối      Liên quan giả định đến hai vấn đề lớn trong vật lý là vi phạm chẵn lẻ và vật chất tối, hạt axion vẫn đang là một bí ẩn của vũ trụ được các nhà vật lý đi tìm câu trả lời.      Hai nhà vật lý Peccei-Quinn đã nêu giả định về sự xuất hiện hạt axion năm 1977. Nguồn: quanta  Trong lý thuyết đề xuất năm 1977, hai nhà vật lý Peccei-Quinn đã nêu giả định về sự xuất hiện hạt axion, một dạng hạt cơ bản, nhằm giải quyết bài toán vi phạm điện tích chẵn lẻ (Charge-Parity CP) trong tương tác mạnh sắc động học lượng tử (Quantum chromodynamics QCD). Nếu axion có khối lượng nhỏ thì axion có hy vọng là ứng viên của vật chất tối.  Vậy hạt axion là gì mà lại có vai trò quan trọng đến vậy? Hạt phỏng thuyết axion (A0) có những đặc trưng cơ bản như spin và điện tích đều bằng không, khối lượng từ 10−5 đến 10−3 eV/c2, độ rộng phân rã (decay width) là 109 đến 1012 GeV/c2. Theo đề xuất của Roberto Peccei và Helen Quinn thì axion là một hạt giả vô hướng có tương tác  hấp dẫn và điện từ.   Đến đây có tiếp những câu hỏi được đặt ra “vì sao đây là loại hạt được nhiều nhà vật lý truy tìm?”, “nó có mối liên quan gì đến vật chất tối (Dark Matter) của vũ trụ”? mà người ta lại cho rằng nó là ứng cử viên của vật chất tối? Thực ra hạt axion là một hạt phỏng thuyết xuất hiện trong Mô hình Chuẩn các hạt cơ bản (Standard Model – SM) được mở rộng dưới một cơ chế vẫn được các nhà vật lý hạt gọi là cơ chế Peccei-Quinn.  Cơ chế này được đưa vào Mô hình Chuẩn năm 1997 để giải thích một bài toán của nó, đó là bài toán vi phạm điện tích chẵn lẻ trong tương tác mạnh (the strong – CP problem). Đây là một vấn đề thú vị của vật lý hạt. Trong biến đổi vi phạm chẵn lẻ, người ta thay một hạt bằng phản hạt (charge conjugation hay C symmetry) đồng thời làm nghịch đảo tọa độ không gian (parity, “mirror” hay P symmetry).  Bài toán vi phạm chẵn lẻ mạnh được phát biểu như sau: Hãy tìm lý do vì sao sắc động  học lượng tử lại bảo toàn biến đổi vi phạm chẵn lẻ. Sắc động học lượng tử là lý thuyết tương tác mạnh.  Trong lagangian sắc động học lượng tử chứa một thông số gọi là  θ (theta), thông số này làm cho vi phạm chẵn lẻ bị phá vỡ:    Vấn đề là phải đưa vào lý thuyết cơ chế làm cho thông số θ → 0 lúc này sắc động học lượng tử sẽ bảo toàn biến đổi chẵn lẻ.  Hai nhà vật lý Peccei và Quinn đã giải quyết như sau: xem thông số theta là một trường có đối xứng U(1) (đối xứng UPQ) và đối xứng này sẽ bị phá vỡ tự phát. Do đó, nó sẽ dẫn đến sự xuất hiện hạt Goldstone có tên là axion.  Hạt axion dao động quanh cực tiểu như một hòn bi quanh vành mũ Mexico và  cực tiểu của lực thế (potential force) buộc trung bình số θ → tiến đến 0 vậy bài toán vi phạm chẵn lẻ của sắc động học lượng tử được giải quyết nhờ cơ chế Peccei-Quinn.    Hình 4. Giản đồ Feynmann biểu diễn quá trình hạt axion (đường lấm chấm) biến thành một photon (đường sóng)khi có mặt trường điện từ (đường sóng đi về phía dưới).  Trong vòng đời lớn hơn tuổi của vũ trụ, một axion có thể phân rã thành hai photon. Nó liên quan giả định đến hai vấn đề lớn trong vật lý là vi phạm chẵn lẻ và vật chất tối.  Hạt axion và vật chất tối   Từ trước các nhà vật lý xem ứng viên vật chất tối là các hạt nặng tương tác yếu (Weakly Interacting Massive Particle WIMPS). Về bản chất, hạt này có khối lượng và tương tác yếu với vật chất thông thường, xuất phát từ siêu đối xứng. Cho đến nay, người ta vẫn chưa thấy dấu vết của chúng.  Theo thời gian, hiện các nhà vật lý lại nghiêng sự chú trọng vào hạt axion (La cote de l’axion monte – độ nghiêng về axion tăng lên) và gần đây có nhiều nhà vật lý cho rằng hạt axion có thể là thành phần của vật chất tối.  Hạt axion là một hạt trung hòa và có khối lượng nhỏ (song vẫn có khối lượng), không tương tác với vật chất thông thường. Có thể xem hạt axion như là một loại photon lạ. Nếu hạt axion tồn tại thì nó có thể biến thành photon (và ngược lại) khi có mặt trường điện từ. Đây là tính chất quan trong sử dụng trong các thí nghiệm truy tìm axion.  Số lượng axion có thể là rất lớn ngay sau Big Bang và tồn tại đến bây giờ và có thể là thành phần vật chất tối. Như vậy cùng với hạt WIMPs, hạt axion có thể tham gia vào việc cấu thành vật chất tối.    Hình 1. Các dữ liệu về khối lượng hạt axion.  Trên hình 1 là kết quả dự đoán trong quá trình nghiên cứu khối lượng của axion theo các mô hình khác nhau, ta có hệ số (hằng số) tương tác của axion với photon như hàm của khối lượng axion. Vùng chéo màu vàng ứng với các điều kiện để axion là ứng viên tốt của vật chất tối. Nếu khối lượng axion quá bé thì quá nhiều axion được tạo nên trong thời Big Bang và chúng ta có quá nhiều vật chất tối (vùng gách chéo đỏ). Thí nghiệm ADXM cho kết quả ở vùng màu xanh nhạt sau vùng gạch chéo đỏ. Vật chất trong vũ trụ được phân bố như trong hình 2.    Hình 2   1. Hạt WIMP cũng được giả định là thành phần của vật chất tối, song đến nay người ta vẫn không tìm ra dấu vết.  2. Nhẹ hơn WIMPS nhiều có hạt axion với số lượng lớn hiện nay được cho là thành phần của vật chất tối.  3. Tiếp theo đây là loại neutrino thứ tư gọi là neutrino không hoạt tính (neutrino sterile) loại neutrino này tương tác rất yếu với vật chất thông thường.  4. Một số lỗ đen với khối lượng nhỏ (vài lần khối lượng mặt trời) cũng là một ứng viên cho thành phần vật chất tối.  5. Các nhà vật lý còn nghiên cứu các khả năng khác: tồn tại những hạt với tương tác cơ bản mới và những “nguyên tử” vật chất tối. Các nguyên tử này được xem là những “đồng dạng” tối của proton.  Các thí nghiệm về axion  Hiện nay các nhà vật lý đang tiến hành thí nghiệm có tên là Thí nghiệm Axion vật chất tối (Axion Dark Matter eXperi-ment ADMX). Theo ý tưởng của Pierre Sivikie, giáo sư vật lý trường Đại học Florida, người ta đã dùng một khoang hình trụ trống để bắt giữ axion. Một từ trường mạnh sẽ buộc các axion biến thành photon mà chúng ta dễ ghi được (xem hình 3).    Hình 3. Nguyên lý thực nghiệm để phát hiện axion.  Trong năm 1998, các nhà vật lý trên thí nghiệm ADMX đã công bố những kết quả ban đầu mà họ cho rằng thích  hợp với kịch bản axion là ứng viên vật chất tối. Ý tưởng của thí nghiệm ADMX (xem hình 3).  Người ta còn có hai mô hình được các nhóm vật lý Kim-Shifman-Vainshtein-Zakharov  (KSVZ) và Dine-Fischler-Srednicki-Zhitnitsky (DFSZ) đưa ra. Các mô hình này khác nhau vì tương tác với vật chất thông thường là yếu hơn hoặc mạnh hơn.   Ghi đo hạt axion  Nhờ tính chất biến thành photon trong điện từ trường mà hạt axion có thể ghi đo được nhờ những khối từ lớn (magnet). Những loại thí nghiệm như thế được tiến hành do nhóm ALPS tại DESY, hoặc OSQAR tại CERN, ADMX tại Washington).  Trong thí nghiệm IAXO (International Axion Observatory) người ta sử dụng một nam châm siêu dẫn. IAXO đã trở thành một công cụ hữu hiệu để tìm ra axion.     Hình 5. IAXO  Một công cụ khác để truy tìm hạt axion là axion helioscope (CAST-CERN Axion solar telescope) nhằm mục đích tìm axion từ Mặt trời.  Hiện nay các nhà vật lý đang phát huy công sức để truy tìm trước hết là sự tồn tại của hạt axion và tiếp theo là giải quyết câu hỏi axion vốn là một hạt trong phạm vi tương tác mạnh có thể là thành phần quan trọng của DM hay không? Theo hình 1 chúng ta thấy rằng khối lượng axion vào khoảng vài microelectronvolt theo mô hình ADMX. Chắc rằng, cần nhiều thí nghiệm nữa để chính xác hóa kết quả. Các nhà vật lý hy vọng rằng, các lý thuyết và thực nghiệm về axion góp phần giải quyết hai vấn đề lớn là bài toán vi phạm chẵn lẻ và vật chất tối. □  —–  TÀI LIỆU THAM KHẢO   [1] Leslie Rosenberg, Matière noire, La cote de l’axion monte  Pour la Science No490, tháng 8/2018.  [2] Wikipedia, axion  https://en.wikipedia.org/wiki/Axion    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Truy tìm tác nhân gây rối loạn nội tiết  trong không khí      Việc lựa chọn một hướng nghiên cứu mới về ô nhiễm không khí trong nhà không chỉ đem lại cho PGS. TS Trần Mạnh Trí (Khoa Hóa học, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) những bài báo được nhiều đồng nghiệp quốc tế trích dẫn mà còn khơi gợi những ý tưởng có thể tiếp tục khai thác trong tương lai.      PGS. TS. Trần Mạnh Trí.  Cũng như nhiều nhánh nghiên cứu của lĩnh vực hóa học môi trường, ô nhiễm không khí trở nên sôi động trong những năm trở lại đây với những công bố về những chất có khả năng gây ô nhiễm như các hợp chất vô cơ, các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs), hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs)… và những rủi ro phơi nhiễm cho người. “Tuy vậy, việc nghiên cứu về các hợp chất hữu cơ mới nổi – những chất phụ gia được áp dụng rất nhiều trong quá trình sản xuất đồ gia dụng, đồ chơi trẻ em bằng nhựa, sản phẩm chăm sóc cá nhân… – lại chưa nhiều”, PGS. TS Trần Mạnh Trí, một nhà nghiên cứu trẻ chuyên ngành hóa phân tích hữu cơ (ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN), một trong những cái nôi đào tạo hàng đầu của hóa học Việt Nam, lý giải nguyên nhân vì sao lại chọn các hợp chất hữu cơ mới nổi, đặc biệt là nhóm chất phthalate diester, làm đối tượng nghiên cứu.   Kiên nhẫn bắc từng bậc thang    Sau những trầy trật nghiên cứu ban đầu, PGS. TS Trần Mạnh Trí nhận thấy, ngay cả trên thế giới, do nghiên cứu về các chất hữu cơ trong không khí chưa nhiều nên chưa có phương pháp phân tích mẫu chuẩn. Đây là khó khăn lớn nhất mà anh phải giải quyết, “nếu các chất vô cơ đã được nghiên cứu từ rất sớm còn với chất hữu cơ thì hơi khác về đối tượng và phương pháp: đối tượng phức tạp hơn bởi vị trí, phân bố của nó trong không khí không ổn định như kim loại dưới dạng ion còn bản thân phương pháp phân tích nó cũng khó và đòi hỏi thực hiện trên những thiết bị khác biệt”. Mặt khác, so với môi trường chất lỏng (nước) hay môi trường chất rắn (đất), không khí là một dạng môi trường mới nên việc thu nhận mẫu và tách chiết chất cần thiết cho nghiên cứu cũng đòi hỏi thiết bị thu nhận, kỹ năng thực hiện khác.  Tuy nhiên, anh cho rằng mình là người may mắn khi có được nền tảng khá vững chắc về phân tích hữu cơ, được xây dựng một cách tuần tự ngay từ những ngày học cao học, làm nghiên cứu sinh đến sau tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Đức Huệ (ĐH Khoa học Tự nhiên) và sau là giáo sư Kurunthachalam Kannan (trường Y tế công cộng, ĐH bang New York). Chính nền tảng ấy góp phần đem lại cho anh sự tự tin và hiểu biết để có thể thiết lập một phương pháp phân tích riêng cho các hợp chất hữu cơ này. “Lúc ở Mỹ, tôi đã được hướng dẫn xây dựng một phương pháp phân tích nhưng khi đó, tôi đã cảm thấy hiệu quả của nó chưa được cao. Vì vậy khi về đến trường, tôi đã tối ưu nó, thay đổi một số điều kiện thu mẫu, chiết tách, trong đó có việc thử áp dụng tỷ lệ hệ dung môi mới dichloromethane-hexane vì về nguyên tắc thì dùng dung môi có độ phân cực càng gần với chất mình tách chiết, càng cho kết quả tốt”, anh cho biết.  Mặt khác, anh cũng có một thuận lợi mà ít đồng nghiệp nào có được, đó là kinh nghiệm tích lũy từ quãng thời gian làm việc cho Shimazu, công ty chuyên sản xuất thiết bị thí nghiệm, dụng cụ đo lường và thiết bị y tế của Nhật Bản, “nghĩa là hiểu được chất nào thì phân tích được trên máy nào, các quy trình, phần mềm cài đặt trên thiết bị như thế nào, vì thế ngay cả khi tôi đến phòng thí nghiệm rất hiện đại của giáo sư Kannan ở New York thì cũng không bỡ ngỡ”, PGS. TS Trần Mạnh Trí nói. Đây là lý do vì sao anh có thể căn chỉnh từng chi tiết nhỏ trên máy sắc ký khí ghép nối khổi phổ phân giải cao GC-MS để từng bước chuẩn hóa phương pháp. Quá trình chuẩn hóa “thử và sai” đó kéo dài trong vòng 4 đến 5 tháng, “đôi khi chỉ để xem là cách làm mình chọn, quy trình mình chọn có chuẩn hay không”, anh kể. Tuy vậy, sự kiên nhẫn, tỉ mỉ riêng có của người làm nghề hóa phân tích cộng với sự lạc quan của một người say nghề đã khiến anh cảm thấy “may mắn vì lúc mới bắt tay vào làm, tôi nghĩ là có thể thời gian thu được kết quả khả quan còn lâu hơn, có thể phải mất tới 7, 8 tháng”.      PGS Trần Mạnh Trí và cộng sự hoàn thiện được một phương pháp phân tích tối ưu, không chỉ cho phép phân tích đồng thời 10 nhóm chất phthalate mà còn đem lại kết quả có độ chính xác và độ ổn định cao không chỉ hỗ trợ những nhà nghiên cứu “hàn lâm” có được cơ sở tốt để có được những kết quả phân tích chính xác mà hơn nữa, “có thể dùng được ở nhiều phòng thí nghiệm thông thường, có thể áp dụng phương pháp của tôi để quan trắc, phân tích các mẫu thương mại, mẫu môi trường nghề nghiệp cho các nhà máy, khu sản xuất… nồng độ phthalate trong không khí chẳng hạn”.      Việc kết hợp rất nhiều yếu tố ấy đã khiến anh và cộng sự hoàn thiện được một phương pháp phân tích tối ưu, không chỉ cho phép phân tích đồng thời 10 nhóm chất phthalate mà còn đem lại kết quả có độ chính xác và độ ổn định cao. “Ví dụ khi thực hiện quy trình phân tích trên máy sắc ký khí thì chỉ cần dựa vào điều kiện nhiệt độ, áp suất dòng khí mang, điều kiện về detector khối phổ… và theo từng bước hướng dẫn là có được kết quả”, anh nói. Vì thế, công trình “Occurrence of phthalate diesters in indoor air from several Northern cities in Vietnam, and its implication for human exposure” của anh và cộng sự dễ được các phản biện của tạp chí Science of the Total Environment chấp nhận đăng, đồng thời sau khi xuất bản đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quốc tế áp dụng phương pháp này, không riêng với nhóm chất phthalate mà cả những nhóm chất hữu cơ khác.   Việc chuẩn hóa được phương pháp không chỉ hỗ trợ những nhà nghiên cứu “hàn lâm” có được cơ sở tốt để có được những kết quả phân tích chính xác mà hơn nữa, “có thể dùng được ở nhiều phòng thí nghiệm thông thường, có thể áp dụng phương pháp của tôi để quan trắc, phân tích các mẫu thương mại, mẫu môi trường nghề nghiệp cho các nhà máy, khu sản xuất… nồng độ phthalate trong không khí chẳng hạn”, PGS. TS Trần Mạnh Trí hào hứng nói về sự khả thi trong ứng dụng phương pháp của mình.     Nhận diện nguy cơ ô nhiễm trong các vi môi trường  Khi lựa chọn nhóm chất phthalate, PGS. TS Trần Mạnh Trí đã nghĩ đến việc tìm hiểu sự phân bố của nó trong không khí trong nhà “vì những chất này đều có nguồn gốc là vật dụng trong gia đình, nơi làm việc… như đồ nhựa, sản phẩm chăm sóc cá nhân. Người ta đã tính được có 3% về khối lượng phthalate trong sản phẩm đồ nhựa nên tôi nghĩ là trong quá trình sử dụng thì nó sẽ ‘thôi’ ra môi trường. Trên thế giới, mới có một số quốc gia như Đức, Mỹ… nghiên cứu về phthalate trong không khí, còn ở châu Á cũng như Việt Nam thì chưa có, dù chúng ta sử dụng đồ nhựa rất nhiều”, anh giải thích lý do thôi thúc mình nộp đề xuất lên Quỹ NAFOSTED sau khi mới về nước vào cuối năm 2014.   Có lẽ do hướng nghiên cứu cũng mới và vấn đề nghiên cứu cũng mới nên đề xuất của PGS. TS Trần Mạnh Trí lúc đó đã được NAFOSTED phê duyệt. “Tôi cảm thấy mình rất may mắn khi mạch nghiên cứu được duy trì liên tục, cái nọ có thể gối đầu cái kia”, anh đề cập đến việc thực hiện đề tài NAFOSTED ngay sau khi hoàn tất một đề tài nhỏ cấp trường về giám sát nhóm chất phthalate nên có sẵn thiết bị lấy mẫu phục vụ nghiên cứu và thiết kế được kỹ thuật thu mẫu sử dụng bơm hút tốc độ tương đương tốc độ thở của con người với ống polyurethane foam (PUF) giữ chất trong pha hơi và màng lọc thạch anh để giữ chất trong pha hạt.  Với mong muốn quan trắc sự phân bố và nồng độ của phthalate trong nhiều vi môi trường tại Việt Nam, PGS. TS Trần Mạnh Trí đã hướng vào một số nơi nhất định như hộ gia đình, salon tóc, nhà trẻ, văn phòng, phòng thí nghiệm… với một số tiêu chí nhất định về diện tích, đồ đạc, hoạt động của con người nhằm tìm được những nơi đặc trưng, mang tính đại diện, đảm bảo mẫu thu được không phải là “mẫu trắng”.   Nhà nghiên cứu muốn có được mẫu tốt nhưng trên thực tế, việc được đồng ý cho đặt thiết bị lấy mẫu lại rất khó khăn. “Nhiều người e ngại việc lắp thiết bị trong nhà, phần vì có tiếng động phát ra trong quá trình thu mẫu, phần vì cảm thấy không thoải mái vì hoạt động ‘giám sát’ như vậy. Rút cuộc, tôi đành phải nhờ người quen, đồng nghiệp, học trò…, nói chung khi thấy những ai có thể là chúng tôi đến đặt máy lấy mẫu”, anh kể. Giữa những cái khó như thế, việc đặt thiết bị ở các salon tóc rắc rối hơn cả vì “người ta sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh. Thế là mình lại phải giải thích là đây là nghiên cứu của trường đều là những nghiên cứu rất cơ bản thôi và cũng hứa với họ ‘kiểm tra xem có độc hay không, sau hoàn thành sẽ thông báo lại độc tính ở mức độ như thế nào’”.   Khi có được trên 70 mẫu đạt yêu cầu ở các vị trí khác nhau tại Hà Nội, PGS. TS Trần Mạnh Trí lại cảm thấy băn khoăn về bộ dữ liệu của mình, “thực ra đã đủ số liệu để đánh giá rồi nhưng tôi cảm thấy vẫn cần kiểm tra thêm tình hình ở một số vùng khác”. Do đó, anh tiếp tục mở rộng phạm vi quan trắc sang một số địa phương khác như Tuyên Quang, Thái Bình, Bắc Ninh. “Lẽ ra có kinh phí đề tài nhiều hơn thì tôi còn có thể làm trên rất nhiều tỉnh nữa, hoặc lấy mẫu theo mùa chẳng hạn, nhưng mỗi lần đi lại như thế thì phải có kinh phí”, anh nói có phần tiếc nuối.     Các nhà sản xuất dùng phthalate diester làm chất phụ gia trong quá trình sản xuất đồ gia dụng, đồ chơi trẻ em bằng nhựa, sản phẩm chăm sóc cá nhân. Nguồn: Báo Sài Gòn tiếp thị.  Sau những kiên trì thu thập mẫu như vậy, chỉ trong vài tháng, anh đã có trong tay gấp rưỡi số mẫu mình cần, đủ để chọn được những mẫu “đẹp nhất” và loại những mẫu không đủ chất lượng như không đủ thời gian lấy mẫu từ 12 đến 24 tiếng, mẫu thu vào lúc trời mưa…   Trên quy trình phân tích đã được chuẩn hóa, anh và cộng sự đã thực hiện những phép đo đạc để xác định được một bộ số liệu nồng độ phthalate đo được trong cả pha hơi và pha hạt từ của mẫu không khí ở những vi môi trường khác nhau với hằng số phân bố trong điều kiện thực. PGS. TS Trần Mạnh Trí giải thích, anh và cộng sự đã tính toán được hằng số phân bố lỏng-hơi (Kp) và hằng số phân bố octanol-khí (KOA) – những hằng số hóa-lý trong điều kiện môi trường thực của phthalate. “Dựa vào hằng số phân bố này, tôi có thể dự đoán được trong 10 chất phthalate thì những chất có khối lượng phân tử nhỏ sẽ đi lên pha hơi nhiều, ngược lại chất có khối lượng phân tử lớn sẽ ở pha hạt và rất dễ rơi xuống thành bụi”, anh nói.    Kết quả thu được sau hơn hai năm thực hiện đề tài của PGS. TS Trần Mạnh Trí và cộng sự là trong số các loại vi môi trường khảo sát, các salon tóc có nồng độ phthalates cao nhất (khoảng 596 đến 16.000 ng/m3) do bị ‘thôi’ ra từ đồ đạc, dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc và các loại hóa mỹ phẩm khác, tiếp theo lần lượt là vườn trẻ, hộ gia đình và văn phòng. Về địa điểm thì trong số các tỉnh thành được khảo sát, mức độ phân bố phthalate trong mẫu thu tại Hà Nội cao hơn so với các tỉnh thành khác. Vậy kết quả này có ý nghĩa gì với chúng ta? Anh trả lời, “nó cho ta thấy khả năng rủi ro phơi nhiễm phthalate qua con đường hít thở không khí dựa trên nồng độ phthalate, tốc độ hít thở và trọng lượng cơ thể. Liều lượng phơi nhiễm trung bình cho các phthalate theo các nhóm lứa tuổi khác nhau: trẻ sơ sinh, trẻ chập chững đi, nhi đồng, thiếu niên và người trưởng thành tương ứng là 780, 485, 416, 292 và 213 ng/kg-bw/ngày”.  Câu chuyện về một nghiên cứu bước đầu về ô nhiễm không khí trong nhà có lẽ không dừng lại ở một vài con số và một vài công trình xuất bản trên các tạp chí quốc tế. Với PGS. TS Trần Minh Trí, anh luôn nghĩ đến việc “những số liệu này có ích gì, mình có thể làm được gì với nó” khi nghĩ đến một tương lai nào đó, nó sẽ thật sự hữu dụng: là căn cứ để các nhà quản lý môi trường đưa ra những quy chuẩn, tiêu chuẩn trong các vi môi trường khác nhau nhằm giúp hạn chế tác động của các nhóm chất có hại đến sức khỏe con người. “Tại Việt Nam mới có tiêu chuẩn về hạn chế hàm lượng của DEHP (thuộc nhóm phthalate) trong đồ uống do Bộ Y tế ban hành vào năm 2011. Có lẽ sau này, sau khi cân nhắc đến các rủi ro thì chúng ta sẽ có những quy định mới. Đường đến đó còn cần thời gian vì ngay cả châu Âu, Mỹ, Canada cũng mới có quy định hạn chế việc sử dụng phthalate, trong đó di(2-ethylhexyl)phthalate (DEHP) bị cấm sử dụng trong nhiều sản phẩm đồ chơi trẻ em có thành phần nhựa”.    PGS. TS. Trần Mạnh Trí hướng dẫn sinh viên quy trình làm thí nghiệm.  Biết mình mới ở những bước đầu, PGS. TS Trần Mạnh Trí cho rằng, cần phải thực hiện được những nghiên cứu sâu hơn và đa dạng hơn trên nhiều nhóm chất khác, không gian/thời gian khác và những phạm vi khác trong tương lai, ví dụ như với nồng độ các chất silicon trong làm đẹp và vi mạch điện tử, triclosan chất kháng khuẩn, parapen trong dược phẩm, mỹ phẩm… “Khi có đầy đủ thông tin xác thực và tin cậy thì những tư vấn của mình mới có giá trị”, anh chia sẻ suy nghĩ của mình.   Những ý tưởng sáng tạo khác từ khuyến khích của giáo sư Kannan còn đưa anh tới những ý tưởng mới hơn, ví dụ hướng đến giải pháp giảm thiểu nguy cơ rủi ro phơi nhiễm cho con người bằng cách chuyển hóa các độc chất đó thành chất khác không độc hại. “Tôi mới suy nghĩ về hướng này, có thể trước hết là thử nghiệm giảm thiểu độc hại của thuốc trừ sâu – một loại hợp chất POPs. Muốn làm được điều này, phải có những bước chuẩn bị, ví dụ hợp tác nghiên cứu với một nhà khoa học làm về xúc tác chuyển hóa bởi mình mới chỉ có kỹ năng phân tích hữu cơ và thiết bị thôi. Việc hợp tác sẽ phát huy khả năng của nhau và giải quyết được vấn đề lớn hơn”, anh chia sẻ một phần dự định của mình.     Có thể từ nay đến lúc đó sẽ còn một chặng đường rất dài nữa nhưng với PGS. TS Trần Mạnh Trí, điều đó không hẳn là thách thức. “Trí là người hết sức cần cù, chăm chỉ và kiên trì đi theo hướng nghiên cứu của mình”, lời nhận xét của PGS. TS Dương Hồng Anh (Phòng thí nghiệm trọng điểm phân tích môi trường và an toàn thực phẩm ĐHQGHN) cho thấy anh có đủ phẩm chất làm nghề. Hơn cả như vậy, trong “lưng vốn” của anh còn có cả bài học kinh nghiệm từ những người đi trước: “Chín năm theo thầy Nguyễn Đức Huệ, người thuộc thế hệ đầu tiên làm dioxin ở Việt Nam, điều tôi học nhiều nhất ở thầy là tính nghiêm túc, tỉ mỉ và sự tập trung cao độ trong nghiên cứu. Lúc đầu, tôi cũng chưa thực sự hiểu thầy lắm đâu, sau rồi mới ‘vỡ’ ra rằng, trong ‘nghề’ của thầy mà làm việc không nghiêm túc thì hậu quả sẽ rất lớn. Lĩnh vực của tôi cũng vậy, cần thận trọng và nghiêm túc ngay trong phòng thí nghiệm”.□  PGS. TS Trần Mạnh Trí là một trong số 5 nhà nghiên cứu được đề cử giải chính Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2020. Công trình nghiên cứu của anh và cộng sự “Occurrence of phthalate diesters in indoor air from several Northern cities in Vietnam, and its implication for human exposure” (Sự xuất hiện của nhóm chất phthalate diester trong không khí trong nhà tại nhiều thành phố phía Bắc Việt Nam và sự liên quan của nó với khả năng phơi nhiễm cho người) xuất bản trên Science of the Total Environment, một tạp chí đa ngành uy tín hàng đầu trong lĩnh vực hóa phân tích, khoa học môi trường thuộc nhóm Q1 của nhà xuất bản Elservier. Sau hơn 2 năm xuất bản, công trình đã được 22 trích dẫn.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Truyền năng lượng không dây trở thành hiện thực      Những mớ hỗn loạn nào là bộ nạp điện cho máy tính xách tay, điện thoại di động, PDA… có thể sẽ sớm biến mất – theo nhóm nghiên cứu ở Mỹ vừa công bố kết quả nghiên cứu mới rằng năng lượng (điện năng) có thể chuyển tải mà không cần dùng dây bằng cách dùng một ăng ten cộng hưởng đặc biệt. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng hệ này để nuôi một bóng đèn 60 W đặt cách máy phát 2 m và nói rằng hệ thống này có thể thu nhỏ hơn để sử dụng trong các thiết bị di động (laptop, mobile phone…) mà không gây ra các hao phí điện năng.    Ý tưởng về chuyển tải điện năng thực ra không phải là ý tưởng mới lạ, thực ra đã được đưa ra từ đầu năm 1900 bởi nhà phát minh người Serbi Nikola Tesla trước khi lưới điện được phổ biến rộng rãi. Tesla đưa ra ý tưởng một thế giới với điện năng không dây bằng cách sử dụng các hệ thống “cuộn dây Tesla” cao thế. Mặc dù ý tưởng này chưa được thực hiện thành công bởi có thể gây ra những nguy hiểm bởi điện trường cao thế nhưng gần đây ý tưởng về chuyển tải điện năng không dây lại bắt đầu thu hút được nhiều nghiên cứu. Thật không may, các hệ thống này thường dùng kiểu phát theo mọi phương truyền do đó hiệu suất chuyển tải rất kém, và cũng vì thế mà nhiều người đã cho rằng tạo ra hệ thống truyền theo một chiều là phi thực tế bởi nó đòi hỏi một đường truyền lý tưởng giữa máy phát và máy thu.  Năm ngoái, các nhà vật lý ở Viện Công nghệ Massachussetts, Mỹ (Massachussetts Institute of Technology, MIT) đã giả định một cách để loại trừ những khó khăn này bằng cách sử dụng các sóng điện từ “phù du” không phát xạ. Các sóng này thường được sản sinh cùng với các sóng được sử dụng trong truyền thông không dây hiện nay, nhưng lại phân rã rất nhanh khi chúng phát ra khỏi ăng ten. Marin Soljacic và các đồng nghiệp cho rằng nếu máy thu có thể cộng hưởng với máy phát, “trường phù du” sẽ cảm ứng một dòng điện. Bằng cách này, vật không cộng hưởng được đặt trong trường hoặc là sẽ ngắt tín hiệu hoặc sẽ hấp thụ hầu hết năng lượng sinh ra bởi trường (có thể xem ý tưởng này ở tin tức cũ trên PhysicsWeb).  Mới đây, nhóm của Soljacic đã tiến hành thử nghiệm ý tưởng này. Dùng lý thuyết đã công bố, họ tạo ra một cặp ăng ten bằng đồng có dạng các vòng. Một được nối với hệ thống cấp điện trong khi chiếc còn lại được nối với bóng đèn 60 W đặt cách đó 2 m. Khi họ cho một dòng điện xoay chiều chạy qua, nó tạo ra một từ trường và liên kết cộng hưởng với cuộn thứ hai, do đó cảm ứng ra một dòng điện. Nhóm của MIT khẳng định rằng dòng điện này có thể thắp sáng bóng đèn với hiệu suất chuyển tải tới 40%, đúng như lý thuyết của họ đã giả định.  Mặc dù ăng ten được sử dụng ở đây có đường kính lớn tới nửa mét, nhưng Soljacic cùng các cộng sự nói rằng có thể tạo ra hệ thống với kích thước nhỏ hơn nhiều để sử dụng cho các thiết bị di động cầm tay mà không gây ra các cản trở về mặt kích thước cồng kềnh. Điều này cũng có nghĩa là có thể cho phép thiết kế các mạch điện tử cấy dưới da dùng trong y học mà không cần phải sử dụng hệ thống dây truyền điện loằng ngoằng.  Đức Thế (PhysicsWeb.org & Science Express)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Truyền thông lượng tử      Kể từ khi ý tưởng về truyền thông lượng tử ra đời, các nhà khoa học đã nghĩ rằng hệ truyền thông lượng tử là hoàn toàn tách biệt với hệ truyền thông cổ điển. Tuy nhiên, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã vạch ra kế hoạch về một hệ truyền thông lượng tử gắn kết với các cấu trúc viễn thông cổ điển hiện có.    “Hệ truyền thông này sẽ có năng lực rất lớn”, Peter van Loock, một trong các tác giả của công trình đăng trên Physical Review Letters giải thích, “ngoài truyền thông cổ điển, chúng ta sẽ có thể giao tiếp với những thông tin lượng tử”.  Từ bảy tám năm nay, các nhà khoa học đã nhận ra rằng, có thể sử dụng các repeater (thiết bị lặp tín hiệu) để khắc phục sự yếu đi của thông tin lượng tử khi được truyền qua khoảng cách xa. Việc gửi thông tin qua một khoảng cách lớn hơn 10 hoặc 20km có thể dẫn đến sự tích tụ tiếng ồn nhiều đến mức mà thông tin ban đầu bị mất đi khi nó đạt tới đích. Một repeater sẽ lọc lại thông tin và chuyển nó đến trạm kế tiếp, cứ theo quá trình đó thì thông tin có thể truyền đi được hơn 1000km.   Theo Miranda Marquit, PhysOrg.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Truyền tin và video mã hoá lượng tử xuyên lục địa      Trung Quốc và Áo đã sử dụng kết nối qua vệ tinh để trao đổi dữ liệu được mã hóa lượng tử của hình ảnh và video, bước đầu tiên hướng tới “internet lượng tử” an toàn.      Vệ tinh Micius. Nguồn: Jian-Wei Pan  Truyền thông với các tín hiệu số được mã hóa lượng tử có thể an toàn hơn so với truyền thông với các tín hiệu cổ điển thông thường. Điều này thúc đẩy việc thiết lập “internet lượng tử” để bảo vệ dữ liệu toàn cầu. Hiện nay một dự án như vậy tỏ ra khả thi hơn nhờ một cuộc trình diễn, trong đó các nhà nghiên cứu đã chia sẻ hình ảnh và video một cách hoàn toàn bảo mật dựa vào các định luật của cơ học lượng tử giữa các đài quan sát ở Trung Quốc và Áo kết nối với nhau qua một vệ tinh (Hình 1).    Hình 1: Vệ tinh Micius đã chuyển các tín hiệu lượng tử an toàn giữa Trung Quốc và Áo. Hình ảnh cho thấy laser đỏ của Đài quan sát Xinglong theo dõi vệ tinh khi nó di chuyển trên bầu trời, phát ra tia laser xanh xuất hiện dưới dạng một điểm tại bất kỳ thời điểm nào.  Như bất kỳ dạng mật mã số nào, thuật toán mật mã lượng tử sử dụng một chuỗi các bit (là các số 0 và 1) được gọi là một khoá mật mã để mã hóa và giải mã thông tin. Nhưng trong phiên bản lượng tử, các bit được biểu diễn dưới dạng các trạng thái lượng tử, ví dụ như các trạng thái phân cực của photon, gọi là các bit lượng tử (quantum bit hay ngắn gọn hơn là qubit). Khóa mật mã có thể tạo từ các cặp qubit. Mỗi cặp qubit được người gửi làm rối lượng tử với nhau, có nghĩa là các trạng thái của các qubit trong mỗi cặp là phụ thuộc lẫn nhau, bất kể khoảng cách giữa chúng.Với mỗi cặp qubit như vậy người gửi giữ một qubit và chuyển qubit kia cho người nhận. Các định luật của cơ học lượng tử không cho phép bất kỳ ai khác biết được chính xác trạng thái của qubit trong quá trình chuyển từ người gửi đến người nhận mà không bị phát hiện.  Phân phối khóa lượng tử là quá trình tạo và chia sẻ khóa mật mã theo cách lượng tử như trên, bảo đảm sự bí mật của thông điệp đã được mã hoá. Phân phối khóa lượng tử giữa hai vị trí cách xa nhau nhiều km 1, 2 đã được thực hiện trước đây với các tín hiệu truyền trực tiếp theo sợi quang, nhưng các tín hiệu ánh sáng được gửi đi bằng cách trung chuyển qua vệ tinh sẽ ít bị suy giảm hơn trên đường đi. Gần đây, Jian-Wei Pan thuộc trường Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ở Hợp Phì (Hefei) và các cộng sự đã thực hiện việc phân phối khóa lượng tử bằng cách sử dụng các chùm tia laser giữa đài quan sát Xinglong ở Trung Quốc và vệ tinh quỹ đạo thấp Micius 3. Đây là vệ tinh đầu tiên có khả năng xử lý thông tin lượng tử và được Trung Quốc phóng lên không trung vào năm 2016. Nhóm của Pan, phối hợp với Anton Zeilinger và những người khác ở Đại học Vienna, đã thực hiện phân phối khóa lượng tử giữa Xinglong của Trung Quốc và Graz của Áo, thông qua vệ tinh Micius, với khoảng cách là 7600 km.  Vệ tinh Micius có thể tạo các khóa lượng tử và cũng có thể phát và đọc các tín hiệu mã hoá lượng tử.Cụ thể, nó có thể thiết lập các khóa lượng tử riêng biệt, chỉ sử dụng duy nhất một lần, giữa nó và trạm ở Xinglong (gọi là khóa mật mã MX) cũng như giữa nó và trạm ở Graz (gọi là khóa mật mã MG), bằng các xung laser khi nó đi qua từng trạm. Như vậy, người gửi tại Graz chẳng hạn sẽ sử dụng khóa mật mã MG để mã hóa dữ liệu rồi gửi đến Micius, sau đó Micius giải mã dữ liệu rồi lại mã hóa dữ liệu bằng khóa mật mã MX và gửi đến người nhận ở Xinglong, nơi dữ liệu sẽ được khôi phục bởi khóa mật mã MX. Như vậy thông qua vệ tinh Micius các số liệu có thể chuyển giao một cách bảo mật giữa Graz và Xinglong.    Hình 2: Sơ đồ thiết lập khóa mật mã chung giữa Xinglong và Graz thông qua trạm trung chuyển là vệ tinh Micius.  Trên thực tế, như đã được công bố trong bài báo mới đây trên Physical Review Letters 120, 030501 (2018)], vệ tinh Micius được xem như một trạm trung chuyển tin cậy để thiết lập các khoá mật mã giữa các trạm trên mặt đất. Hình 2 minh họa sự chia sẻ khóa lượng tử giữa các trạm ở Xinglong và Graz. Ký hiệu các khóa mật mã có cùng độ dài mà vệ tinh Micius thiết lập giữa Micius và Xinglong là MX và giữa Micius và Graz là MG. Vệ tinh Micius có thể thực hiện phép tính XOR (⊕) giữa từng cặp bit của MX và MG để tạo ra một khóa mới là MX⊕MG. Khóa MX⊕MG này có thể được gửi qua một kênh truyền thông cổ điển đến Xinglong (hoặc Graz). Người ở Xinglong (hoặc Graz) có thể biết được khóa gốc của người ở Graz (hoặc Xinglong) bằng cách tínhXOR giữa MX⊕MG và MX (hoặc MG) vì MX⊕MG⊕MX = MG (hoặc MX⊕MG⊕MG = MX). Quá trình này có thể hiểu là vệ tinh Micius sử dụng MX (MG) để mã hóaMG (MX) còn Xinglong (Graz) dùng MX (MG) của mình giải mã MX⊕MG và phục hồi MG (MX). Như vậy, không một ai khác, ngoài ba đối tác Xinglong, Graz và vệ tinh, có thể biết được khóa mật mã. Vì vệ tinh Micius được xem là một trạm trung chuyển tin cậy nên Xinglong và Graz có thể chuyển số liệu cho nhau một cách an toàn tuyệt đối, không lo bị rò rỉ thông tin cho bất kỳ một ai khác .  Để minh chứng cho mối liên kết mật mã nói trên, các nhà nghiên cứu đã gửi hai bức ảnh giữa Trung Quốc và Áo thông qua vệ tinh, đồng thời sử dụng thêm các mạng cáp quang để nới rộng kết nối từ Graz đến Vienna và từ Xinglong đến Bắc Kinh. Họ đã gửi một bức ảnh của Micius (Mặc Tử, triết gia Trung Quốc mà tên của ông được đặt cho vệ tinh) từ Bắc Kinh tới Vienna và một bức ảnh của Erwin Schrödinger (nhà vật lý nổi tiếng đã làm việc ở Vienna) từ Vienna đến Bắc Kinh. Mỗi bức ảnh là một tệp chứa khoảng 5 kilobytes dữ liệu.  Một minh chứng tiếp theo cho mối liên kết mật mã thông qua vệ tinh là việc thực hiện một cuộc hội nghị truyền hình bảo mật giữa Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh và Viện Hàn lâm Khoa học Áo ở Vienna –một cuộc thảo luận dài 75 phút cần tới 2 gigabyte dữ liệu. Ông Pan nói: “Những gì đã được thực hiện là đủ cho các bước đầu tiên của mạng internet lượng tử, tương tự như tình trạng của điện thoại di động vào những năm 1970”. Ông tiên đoán, các ứng dụng thực sự đầu tiên của mạng này sẽ bao gồm các cuộc điện đàm, fax và thư điện tử, tất cả đều được mã hóa lượng tử, để chuyển các thông tin tài chính hoặc ngoại giao nhạy cảm.  Ronald Hanson thuộc Đại học Kỹ thuật Delft, Hà Lan, người đang nghiên cứu về viễn thông lượng tử đường dài cho internet lượng tử, nói: “Đây là minh chứng đầu tiên cho việc phân phối khóa lượng tử liên lục địa dưới bất kỳ hình thức nào và nó sẽ là cột mốc cho các mạng lượng tử trong tương lai”.  Vệ tinh Micius là một thành phần quan trọng của một dự án quốc tế lớn hơn do Trung Quốc dẫn đầu gọi là “Các thí nghiệm lượng tử ở quy mô không gian”, bao gồm các kế hoạch phóng vệ tinh có quỹ đạo cao hơn và xây dựng một tổ hợp các vệ tinh như vậy. Ba vệ tinh quỹ đạo thấp có thể phân phối các khóa lượng tử an toàn với tốc độ vài gigabit mỗi năm, Pan nói. Còn Chao-Yang Lu, một đồng tác giả với Pan, cho biết nếu đòi hỏi mức độ an toàn cao nhất, thì lượng dữ liệu cho khóa lượng tử này có thể bảo vệ một lượng dữ liệu tương đương trong các văn bản tối mật, nhưng nếu chỉ đòi hỏi mức độ an toàn thấp hơn một chút, thì lượng dữ liệu có thể lớn hơn nhiều.  Tài liệu tham khảo:  https://physics.aps.org/articles/v11/7 (19/01/2018); https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.120.030501  Chú thích:  1. C. Peng, J. Zhang, D. Yang, W. Gao, H. Ma, H. Yin, H. Zeng, T. Yang, X. Wang, and J. Pan, “Experimental Long-Distance Decoy-State Quantum Key Distribution Based on Polarization Encoding,” Phys. Rev. Lett. 98, 010505 (2007).  2. T. Schmitt-Manderbach et al., “Experimental Demonstration of Free-Space Decoy-State Quantum Key Distribution over 144 km,” Phys. Rev. Lett. 98, 010504 (2007).  3. S. K. Liao et al., “Satellite-to-Ground Quantum Key Distribution,” Nature 549, 43 (2017)    Author                Nguyễn Bá Ân        
__label__tiasang TS. Bùi Minh Tuân: Lý giải dao động của trường mưa tại Việt Nam      Tinh thần nghiêm túc và niềm say mê những bài toán còn bỏ ngỏ trong ngành khí tượng đã đưa TS. Bùi Minh Tuân, một nhà nghiên cứu trẻ ở trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) đến với cơ chế vật lý về dao động nội mùa của trường mưa tại Việt Nam – một trong những cơ sở xây dựng các phương pháp dự báo mưa chính xác hơn cho Việt Nam.    Những cơn mưa lớn bất ngờ không chỉ khiến người đi đường bối rối mà còn đặt ra một bài toán hóc búa với các nhà khoa học trong ngành khí tượng. “Nghiên cứu và dự báo mưa luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nhà khí tượng trên thế giới. Mặc dù khoa học kỹ thuật đã mang lại những thành tựu rất lớn hỗ trợ công tác dự báo song việc dự báo mưa, đặc biệt là dự báo mưa cực đoan vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế”, GS.TS Phan Văn Tân ở trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) nhận xét.  Chính vì vậy, không có gì quá bất ngờ khi công trình “Extratropical Forcing of Submonthly Variations of Rainfall in Vietnam” (Tác động ngoại nhiệt đới trong dao động nội mùa của trường mưa Việt Nam) trên tạp chí Journal of Climate – tạp chí Q1 trong danh mục ISI, của TS. Bùi Minh Tuân thu hút sự chú ý khi được đề cử giải trẻ Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2021. Với nội dung tập trung vào cơ chế biến động mưa chu kỳ 10-90 ngày ở Việt Nam, “công trình này đã đánh dấu những bước tiến mới của nghiên cứu khí tượng học trong nước, góp phần quan trọng để nâng cao độ chính xác trong công tác dự báo mưa dài hạn”, theo đánh giá của một số chuyên gia. Công trình này không chỉ ghi nhận nỗ lực của một nhà nghiên cứu trẻ mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp mà còn giúp TS. Bùi Minh Tuân thêm vững tin vào hướng đi mình đã chọn: nghiên cứu dao động nội mùa ở Việt Nam.    TS. Bùi Minh Tuân. Ảnh: TA     Bắc nhịp cầu giữa thời tiết và khí hậu  Mặc dù được coi là “cầu nối giữa thời tiết và khí hậu” song dao động nội mùa – những dao động khí quyển có quy mô từ 10 đến 90 ngày lại là một “lãnh địa” vắng dấu chân người ở Việt Nam, dẫn đến một “khoảng trống giữa dự báo thời tiết và dự báo hạn mùa”, TS. Bùi Minh Tuân cho biết. Do vậy, “chúng ta có thể dự báo thời tiết trong khoảng một vài ngày, hoặc dự báo hạn mùa từ vài tháng trở lên tương đối tốt, song dự báo mưa hoặc các yếu tố khác trong quy mô nội mùa gặp không ít khó khăn, vì chúng ta chẳng biết quy luật dao động của nó là gì cả”.  Thực ra, nếu có đủ nhân lực và trang thiết bị như các quốc gia phát triển trên thế giới, có lẽ “khoảng trống” này đã sớm được thu hẹp hơn nhưng trong bối cảnh của Việt Nam, các nhà nghiên cứu chỉ có thể nỗ lực xoay xở giải quyết những bài toán trong tầm tay của mình.  Với TS. Bùi Minh Tuân, việc tìm hiểu cơ chế dao động nội mùa của mưa ở Việt Nam đã được đặt vào tay “khi còn là sinh viên, tôi đã được thầy hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Minh Trường định hướng nghiên cứu về gió mùa và các biến động của mưa, trong đó tập trung nhiều vào các vấn đề liên quan đến mưa”. Theo đuổi chủ đề này trong suốt quá trình nghiên cứu từ cho đến khi là tiến sĩ, anh kỳ vọng có được một bức tranh tổng thể cho vấn đề này ở Việt Nam.  Việc lựa chọn một hướng như vậy là cơ hội để TS. Bùi Minh Tuân có cơ hội giải quyết những bài toán “đẹp” của ngành khí tượng, một ngành vốn dĩ rất đẹp “khi nó mang đến một sân chơi để sử dụng năng lực tính toán, phân tích, thống kê,… trên những bài toán rất đẹp”. Quan trọng hơn, điều này còn góp phần mang lại những kết quả có giá trị ứng dụng thực tế trong ngành khí tượng Việt Nam. Đây cũng là một lý do anh quyết định lựa chọn học cao học cũng như làm nghiên cứu sinh ở trong nước. Ngoài lợi thế là được các nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm ở trường ĐH Khoa học Tự nhiên dẫn dắt, “ở Việt Nam, tôi có thể làm theo hướng mình yêu thích và gắn với Việt Nam. Nếu ở nước ngoài, chủ đề nghiên cứu sẽ phải theo họ đặt ra, mà chẳng mấy ai trả tiền để mình nghiên cứu một vùng chẳng liên quan gì đến họ”.  Đi tìm quy luật mưa ở Việt Nam  Cũng giống như đa phần các bài toán khác của ngành khí tượng, vấn đề đầu tiên mà TS. Bùi Minh Tuân phải đối mặt khi tìm hiểu về cơ chế dao động mùa của mưa ở Việt Nam là thiếu nguồn dữ liệu. Chẳng hạn, trong nghiên cứu này, cần đến số liệu mưa trong một giai đoạn dài để phân tích và “tìm ra những quy luật chung nhất đại diện cho tính khí hậu của từng khu vực”, anh giải thích. Do vậy, chất lượng dữ liệu là một trong những yếu tố mang tính quyết định tới kết quả nghiên cứu.  Một điều may mắn là nỗ lực góp nhặt từ các thế hệ đi trước đã phần nào khắc phục được khó khăn này. Số liệu mưa Vietnam Gridded Precipitation (VnGP) với độ phân giải 0.1 x 0.10 kinh-vĩ trong khoảng thời gian 29 năm (1981–2009) mà TS. Bùi Minh Tuân sử dụng trong nghiên cứu này là kết quả từ nhóm nghiên cứu của GS.TS Phan Văn Tân. “Đây là bộ số liệu có độ phân giải cao, cực kỳ chi tiết và dễ sử dụng”, anh cho biết. Nếu chỉ sử dụng các dữ liệu thô như trước đây, quá trình xử lý sẽ phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng thêm số liệu quan trắc tại trạm và một số nguồn miễn phí do châu Âu và Hoa Kỳ cung cấp.  Bằng thuật toán tìm những thành phần chính EOF (Empirical orthogonal functions) và phần mềm lập trình trên ngôn ngữ Fortran90 tự phát triển – một ngôn ngữ rất phổ biến với lợi thế là tính toán được những số liệu rất lớn”, TS. Bùi Minh Tuân đã nhận diện được bốn hình thế mưa chính ở Việt Nam tương ứng với các pha hoạt động của dao động nội mùa 10-20 ngày do sóng Rossby xích đạo gây ra. Thoạt nghe ngắn gọn song thực chất, quá trình này tốn không ít thời gian và công sức bởi lập trình phần mềm vốn phức tạp, đặc biệt là phần mềm cho những bài toán đặc thù của ngành khí tượng. Một điều thuận lợi là “ở khoa dạy lập trình từ rất sớm, trong quá trình học đại học, thạc sỹ ở đây, tôi được học lập trình rất nhiều để tính toán”, TS. Bùi Minh Tuân cho biết.  Tuy nhiên, nhận diện hình thế mưa chỉ là bước đầu. Để hướng tới mục tiêu cải thiện khả năng dự báo mưa cho Việt Nam, điều quan trọng là phải chỉ ra được cơ chế của các dao động nội mùa trên. “Những dao động này có quy luật, và có liên hệ với sự xuất hiện của mưa lớn. Để dự báo những hiện tượng không có quy luật như mưa lớn, chúng ta phải dựa vào những yếu tố có quy luật tác động đến nó”, TS. Bùi Minh Tuân giải thích. Để “nhìn ra” các cơ chế này không phải là điều dễ dàng, nhất là khi đặc thù khí hậu Việt Nam vốn phức tạp do nằm ở vị trí giao tranh giữa nhiều hệ thống khí hậu khác nhau.  Có lẽ, cũng giống như bất kì lĩnh vực nào khác, sự cần mẫn của nhà nghiên cứu là cách hiệu quả nhất để đối phó với những bài toán khó. Bằng cách tìm hiểu rất nhiều tài liệu khác nhau để nắm vững cơ chế dịch chuyển của các sóng gây ra các dao động nội mùa trong khí quyển, TS. Bùi Minh Tuân đã chỉ ra cơ chế biến động mưa trong các hình thế tương ứng với các khu vực ở Việt Nam. “Vào mùa đông, tương tác giữa xâm nhập lạnh từ Siberia và nhiễu động nhiệt đới ở Biển Đông đã tạo ra hội tụ mạnh ở tầng thấp, gặp dãy Trường Sơn, do tác động của rào cản địa hình dẫn đến mưa lớn dọc theo bờ biển phía đông miền Trung. Trong hình thế thứ hai, vào mùa hè, sự tăng cường của sóng dạng nhiễu động nhiệt đới tại Biển Đông đẩy các không khí cực về phía nam, hội tụ với áp thấp nhiệt đới qua Biển Đông gây mưa ở đồng bằng sông Hồng và một số vùng phía Bắc. Trong hình thế thứ ba, hiệu ứng nâng tựa địa chuyển của chuỗi sóng ngoại nhiệt đới và sóng dạng nhiễu động nhiệt đới gây ra mưa ở vùng núi phía đông bắc. Cuối cùng, sự phát triển ngược dòng của chuỗi sóng ngoại nhiệt đới từ Bắc Thái Bình Dương tới sóng dạng nhiễu động nhiệt đới gây ra mưa ở miền Nam. Điều đáng chú ý là cao nguyên Tây Tạng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hướng các nhiễu động về phía Nam do tác động của sóng bờ lục địa (continental shelf wave)”, anh giải thích.  Không chỉ giải thích được biến động mưa ở ba vùng địa lý, công trình của anh được đánh giá là cơ sở cho những nghiên cứu cơ bản tiếp theo về mưa ở Việt Nam cũng như có định hướng ứng dụng trong các chương trình dự báo mưa. Mặc dù ý thức được tác động đó nhưng TS. Bùi Minh Tuân cho rằng, mình vẫn cần làm được những bài toán có nhiều ý nghĩa hơn nữa: “Bây giờ mới xong ở pha nghiên cứu thôi, mong muốn lớn nhất của tôi là làm thế nào để áp dụng được nghiên cứu này vào dự báo thực tế, nhưng từ thực tế đến lý thuyết còn nhiều khó khăn lắm, trên thế giới cũng làm nhiều mà chưa đi đến đâu cả. Nói chung, quãng đường còn rất dài”.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/ts-bui-minh-tuan-ly-giai-dao-dong-cua-truong-mua-tai-viet-nam/2021041510083134p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Đặng Thị Thu Thủy: Khám phá bí mật của cây cỏ      “Tại sao các loại cây chỉ sử dụng nước, ánh sáng và không khí mà có thể tạo ra những hợp chất có tiềm năng điều trị được các bệnh phức tạp như ung thư?”, câu hỏi này đã đưa TS. Đặng Thị Thu Thủy (ĐH British Columbia) đến với con đường nghiên cứu quá trình sinh tổng hợp các chất trong cây cỏ, nơi chị khám phá ra những bí ẩn của thế giới thực vật.    Tìm những mảnh ghép nhỏ của tự nhiên  “Tự nhiên, đặc biệt là cây cỏ có khả năng tạo ra rất nhiều loại thuốc và các hợp chất hoá học có giá trị rất lớn. Nếu coi những phân tử này là những ngôi nhà, thì cây cỏ có đủ loại men sinh học (enzyme) để đắp nền, dựng cột kèo, lợp mái, xây vách, rồi bày vẽ ngoại thất nội thất đầy đủ. Việc tôi làm là tìm hiểu xem những enzyme đó là gì, và cây cỏ dùng chúng theo thứ tự nào, rồi từ đó mình có thể tự ghép khung nhà, điều chỉnh cấu trúc và “trang trí” theo cách cây cỏ làm hay thậm chí là theo ý mình”, TS. Đặng Thị Thu Thủy giải thích về quá trình sinh tổng hợp của các hoạt chất trong thực vật. Đây là những hiểu biết cơ bản để chị và đồng nghiệp của mình có thể lặp lại quá trình tạo ra các hoạt chất tự nhiên mong muốn trong phòng thí nghiệm mà không cần phải khai thác quá nhiều tài nguyên thực vật quý hiếm hay sử dụng đến hoá chất độc hại, cũng như có thể tiến tới tạo ra những hợp chất gần giống nhưng hoạt tính còn mạnh hơn.  Càng tìm hiểu sâu về quá trình này, chị càng vỡ lẽ ra những vấn đề mà những người ngoài cuộc không thể giải đáp được ngọn ngành. “Một ví dụ tiêu biểu là hợp chất vinblastine chữa nhiều loại ung thư trong đó có ung thư phổi và ung thư buồng trứng. Hợp chất này có trong cây dừa cạn (Catharanthus roseus), vốn là loại cây dễ trồng, có mặt khắp các châu lục và cũng khá phổ biến ở Việt Nam. Nhưng giá của vinblastine vô cùng đắt đỏ vì tách chiết khoảng 1 tấn dừa cạn mới được khoảng chừng 1 gram thuốc”, chị nói. “Khi có cơ hội tham gia nghiên cứu cách dừa cạn tạo vinblastine thì tôi mới biết cây dừa cạn tiến hành 31 bước tổng hợp hoá học từ những tiền chất đơn giản mà cây nào cũng có mới ra được hợp chất vinblastine mà chỉ có một mình loài dừa cạn mới có. Thông thường thì mỗi bước chuyển hoá như vậy là do một gene phụ trách. Cây dừa cạn có tới hơn 30.000 gene, và những nhà khoa học trong lĩnh vực của tôi phải mất hàng chục năm mới tìm hết 31 cây ‘kim’ dưới ‘đáy bể’ 30.000 gene này.” Hiện tại, những gì chị đang tìm tòi đều xoay quanh những bí ẩn của các hợp chất có trong cây cỏ theo cách như vậy.    TS. Đặng Thị Thu Thủy trong vườn ươm thực vật ở UBC. Nguồn: UBC  Trong mường tượng của mình, TS. Đặng Thị Thu Thủy nhận thấy việc tìm hiểu về quá trình sinh tổng hợp của các hợp chất tự nhiên là một hành trình bất tận mà mỗi khám phá lại mở ra một nhánh đi mới mẻ và thú vị. Trên chặng đường này, điểm xuất phát của chị cũng đến một cách khá bất ngờ. Chị vốn quen thuốc với văn hóa dùng cây cỏ để chữa bệnh từ nhỏ, và từng tiếp xúc với việc nuôi cấy mô các loại cây thuốc từ khi còn là sinh viên. Nhưng phải đến khi đang học thạc sĩ ở Đại học Calgary (tỉnh Alberta, Canada), thấy phòng thí nghiệm bên cạnh nghiên cứu về quá trình sinh tổng hợp các hợp chất trong cây cỏ, chị Thuỷ mới “nhận ra ngoài những thứ rất cơ bản mình đã học về sinh lý thực vật, lại có những ngành mới như vậy. Vì thế, tôi quyết định thử sức theo hướng tìm hiểu những gene/enzyme mới tham gia vào những con đường sinh tổng hợp này”, chị kể.  Đây là lý do mà chị thực hiện đề tài nghiên cứu bậc tiến sĩ với GS. Peter Facchini, một chuyên gia hàng đầu về sinh hoá cây thuốc phiện, bằng học bổng Quỹ tài năng tỉnh Alberta (Alberta Ingenuity Fund) và hai học bổng tiến sĩ của Đại học Calgary. Sau thời gian học tập ở Canada, chị giành học bổng sau tiến sĩ của Tổ chức sinh học phân tử Châu Âu (EMBO) để gia nhập phòng thí nghiệm tại Trung tâm John Innes (Anh) của GS. Sarah O’Conor, một nhà khoa học xuất sắc hơn 10 năm theo đuổi về quá trình sinh tổng hợp vinblastine trong cây dừa cạn. Dưới sự dẫn dắt của hai nhà khoa học này và nhiều người thầy khác, chị bắt đầu vỡ ra những điểm hết sức căn bản để qua đó, hình thành nền tảng hiểu biết của một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ở đó, mỗi hợp chất là kết quả của một chuỗi phản ứng chuyển hóa với sự tham gia của các enzyme được mã hóa bởi nhiều gene khác nhau trong thực vật. Chị và cộng sự phải nghiên cứu sự tích lũy các hợp chất trong các bộ phận khác nhau của cây, sau đó quan sát biến đổi của các hợp chất trung gian để suy luận ra loại phản ứng và loại enzyme tương ứng. Đối chiếu những suy luận này với mức độ biểu hiện gene và thử nghiệm chức năng của các gene đó (các enzyme do chúng mã hóa) sẽ làm sáng tỏ dần những mảnh ghép của toàn bộ mạng lưới chuyển hoá bên trong thực vật.  Trên con đường này, với sự hỗ trợ của những công nghệ giải trình tự gene thế hệ mới, các mô hình tính toán và công cụ tin sinh học đã góp phần rút ngắn thời gian nghiên cứu. Nhưng quả thật, sinh giới mang nhiều bí ẩn mà các nhà khoa học, dù được trang bị rất nhiều “vũ khí” nhưng cũng khó lĩnh hội trong một sớm một chiều. “Biến đổi hóa học rất phức tạp. Nhiều khi mình tiên lượng vai trò của một loại enzyme trong quá trình trao đổi chất nhưng thực tế thì cây lại dùng một loại enzyme khác. Những cái đó rất bất ngờ mà mình không biết trước được và chỉ có làm thực nghiệm thì mình mới biết; những lúc đó mình lại càng thấy thiên nhiên thật đa dạng với những chiến lược tiến hoá để thích nghi về mặt hoá học thật kỳ thú”, chị nói.  Mặc dù không dễ để lý giải những quá trình vô cùng “khuất nẻo” với mắt thường trong cây cỏ nhưng việc tìm ra chúng bao giờ cũng mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Ví dụ, từ cả trăm năm trước, chất noscapine trong cây thuốc phiện (Papaver somniferum) đã được biết là có khả năng chống ung thư, song không ai rõ chất đó được tạo ra như thế nào. TS. Đặng Thị Thu Thủy và cộng sự mất năm năm để xác định được “cả một con đường chuyển hoá từ những tiền chất đơn giản cho đến một cấu trúc rất phức tạp của noscapine gồm 11 bước”. Kết quả thu được với chị không chỉ là công bố khoa học hay thoả mãn sự tò mò của bản thân mà còn ở việc nhìn thấy ý nghĩa thực tiễn của nó. “Một nhóm nghiên cứu ở Đại học Stanford lấy những enzyme mà chúng tôi phát hiện ra, gộp lại và bỏ vào trong nấm men để tạo được chất noscapine mà không cần phải trồng cây thuốc phiện” – khởi điểm của một quá trình tạo dược chất ít tốn kém và giá thành phải chăng cho người bệnh.  Theo đuổi con đường riêng  Kinh nghiệm và kiến thức học hỏi được từ những người thầy cũng như các cơ sở nghiên cứu từ Việt Nam đến Canada và Anh đã giúp TS. Đặng Thị Thu Thủy mở ra con đường riêng: thành lập Phòng thí nghiệm nghiên cứu các hợp chất hoạt tính sinh học thực vật (Plant Bioactive Compounds Research Laboratory) tại Đại học British Columbia ở thành phố Kelowna, Canada. Đây là nơi chị và cộng sự “tích hợp hóa sinh, hóa học, tin sinh học và di truyền học phân tử để giải thích và tìm ra quá trình sinh tổng hợp các hợp chất có giá trị trong các loại thảo dược”.  Ở nơi này, chị tiếp tục theo đuổi nhóm chất alkaloid, những hợp chất hữu cơ có chứa nhân dị vòng mang nitrogen, thường gặp trong thực vật và thường có tác dụng dược lý mà noscapine, vinblastine hay morphine là những ví dụ tiêu biểu. “Nhóm alkaloid có nhiều điểm hay lắm, chất độc cũng có, chất làm cho mình hưng phấn vui vẻ cũng có và đặc biệt là khả năng chữa bệnh cũng rất tốt. Nhiều lúc tất cả những tính chất này đều có trong một hợp chất alkaloid, đây chính là điểm khiến alkaloid đáng được xem là đại diện cho mọi loại thuốc: lợi hay hại là do cách dùng và liều dùng”, chị nói.  Cái hay cũng ẩn chứa thách thức. Tuy là đây là hướng nghiên cứu khá mới với nhiều cơ hội hấp dẫn, nhưng mức độ cạnh tranh cũng ngày càng cao. Với một phòng thí nghiệm mới thành lập, sức ép của việc phải “chạy đua” với những nhóm có nhiều kinh nghiệm với nhiều nhân tài và trang thiết bị đầy đủ là rất lớn. “Đơn giản là những hợp chất mình thấy hay thì các nhóm nghiên cứu khác trên thế giới cũng thấy hay”, chị cho biết.  Nghĩ đến đường xa, chị từng bước gây dựng năng lực cho phòng thí nghiệm của mình, “cố gắng đem về nhiều người có chuyên môn khác nhau để khi tập hợp lại thì sẽ giải quyết vấn đề nhanh hơn và làm được những bài toán lớn hơn”. Hơn nữa, sự đa dạng chuyên ngành còn giúp mọi người trong nhóm có cơ hội học hỏi lẫn nhau và gợi mở nhiều hướng mới trong quá trình nghiên cứu. Chẳng hạn, khi tìm kiếm các enzyme thực vật, “trước đây mình chỉ nhân dòng, biểu hiện protein rồi thử thôi, còn sau này mình có thể dùng enzyme đó làm đột biến, làm các cấu trúc mới của chất, tìm hiểu cơ chế phản ứng như thế nào, tại sao chỉ có enzyme đó trong cây mới tạo ra sản phẩm như vậy,…”, chị chia sẻ.  Ở vị trí “đứng mũi chịu sào”, TS. Đặng Thị Thu Thủy còn phải đối mặt với nhiều thách thức mới. “Vai trò hoàn toàn khác, và trách nhiệm nhiều hơn”, chị cho biết. “Trước kia khi mình cần gì trong quá trình nghiên cứu, chỉ việc lên danh sách là sẽ có người mua về. Nhưng khi xây dựng nhóm nghiên cứu riêng, mình phải tính đến việc quản lý đề tài, xin kinh phí, làm sổ sách, tính toán chỗ này trả tiền cho sinh viên, chỗ này cho vườn ươm, chỗ này mua hóa chất thiết bị,… tất cả những cái đó mình phải tự học dần. Và đôi lúc mình cũng hiểu ra những cái khó của những người làm công tác hành chính, tài chính cho đơn vị, hay quản trị nhân sự mà trước đây mình chưa hề phải bận tâm đến”.  Tập hợp dần những năng lực như vậy, chị đã tìm một hướng đi riêng, tạo ra đặc trưng và thế mạnh của mình – hiện giờ là các enzyme oxide hoá các hợp chất tự nhiên, điển hình là các cytochrome P450 monooxygenase (thường gọi tắt là “P450”). Các enzyme này không chỉ đơn giản là thêm oxygen ở dạng hydroxyl, aldehyde, and acid carboxylic vào cấu trúc, mà có thể thay đổi căn bản cấu trúc như tạo cấu trúc vòng hay mở cấu trúc vòng sẵn có. Tất cả những biến đổi này làm thay đổi rất đáng kể cấu trúc và hoạt tính. TS. Thuỷ giải thích thêm: “Ngay cả chỉ cần thêm oxygen cũng đã có ý nghĩa lớn. Quay lại hình tượng ví von hợp chất là ngôi nhà, thì những nhóm chức có oxygen có thể xem như những cái dây cáp, móc sắt, bậc thang mà mình có thể thêm vào nhiều kiểu trang trí tuỳ ý. Trong khoảng 10 enzyme thuộc nhóm P450 tôi đã tìm ra, mỗi cái đều có những đặc tính thú vị khác nhau”.  Sau hơn 2 năm hoạt động, nhóm nghiên cứu của TS. Đặng Thị Thu Thủy đã có những kết quả mới về con đường chuyển hoá chất chống ung thư từ hỷ thụ (Camptotheca acuminata). Hỷ thụ là loại cây thân gỗ được các nước Đông Á dùng làm thuốc từ lâu. Hoá dược hiện đại chứng minh hợp chất camptothecin từ hỷ thụ có tác dụng chữa nhiều loại ung thư như ung thư phổi, ung thư buồng trứng, và ung thư đại trực tràng. Tuy vậy, camptothecin là loại chất khó hoà tan trong nước lại có nhiều tác dụng phụ. Từ trước đến nay, camptothecin phải được oxide hoá và trải qua nhiều biến đổi bằng những phương pháp hoá học phức tạp lại gây hại cho môi trường mới tạo ra được các loại thuốc phù hợp cho điều trị. Nhóm nghiên cứu của TS. Thuỷ đã tìm ra các P450 có khả năng oxide hoá campothecin chỉ bằng nuôi cấy nấm men. Kết quả này không chỉ giúp họ có thêm công bố trên tạp chí quốc tế mà còn đăng ký được bằng sáng chế. “Quy trình đăng ký sáng chế được Đại học British Columbia hỗ trợ và đã hoàn thành giai đoạn đầu, họ sẽ liên hệ với những công ty dược hoặc những người quan tâm đến quy trình sản xuất các chất ung thư từ camptothecin, chúng tôi rất hy vọng sẽ tìm được những người có cùng mối quan tâm với mình”, chị cho biết.  Liệu đã đến lúc nghĩ về việc thương mại hóa công nghệ, hoặc mở rộng sang nghiên cứu mới, chẳng hạn về cây cỏ Việt Nam? “Đăng ký sáng kế là bước đi sơ khởi trên con đường thương mại hóa, hiện nay chúng tôi vẫn đang tìm cách tối ưu hóa quy trình và tiếp tục tìm hiểu về những con đường trao đổi chất mình quan tâm. Bây giờ phòng thí nghiệm mới bắt đầu, giống như mới tập đi nên cần đi cho vững trước khi đi nhanh”. TS. Thuỷ bày tỏ. “Cây cỏ tự nhiên là những thầy thuốc đại tài, và nước mình có rất nhiều ‘thầy thuốc’ như vậy. Tôi có theo dõi và có dịp trò chuyện với những người làm nghiên cứu thảo dược ở Trường ĐH dược Hà Nội, Trường ĐH khoa học tự nhiên thuộc ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Viện nghiên cứu khoa học Tây Nguyên,… và được biết có rất nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng. Tôi rất mong được góp một phần nào đó làm giàu thêm kiến thức và ứng dụng từ cây cỏ Việt Nam theo góc độ của mình”.  Theo: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/ts-dang-thi-thu-thuy-kham-pha-bi-mat-cua-cay-co/2022021002356823p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Đỗ Hữu Hoàng: “Bác sỹ dinh dưỡng” của cá chim vây ngắn      Với niềm đam mê nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng cho tôm cá, TS. Đỗ Hữu Hoàng – Viện Hải dương học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã tìm ra hàm lượng bổ sung β-glucan tối ưu để đem đến những “món ăn” tốt nhất cho sức khỏe của cá chim vây ngắn, một loài cá đang có tiềm năng kinh tế lớn ở Việt Nam.    Là nghiên cứu đầu tiên ở cả Việt Nam và thế giới ứng dụng β-glucan trên cá chim vây ngắn, không quá ngạc nhiên khi nghiên cứu “Dietary β-glucan improved growth performance, Vibrio counts, haematological parameters and stress resistance of pompano fish, Trachinotus ovatus Linnaeus, 1758” (Bổ sung β-glucan trong khẩu phần cải thiện năng suất tăng trưởng, số lượng vi khuẩn Vibrio, các thông số huyết học và khả năng chống stress của cá chim vây ngắn Trachinotus ovatus Linnaeus, 1758) đăng tải trên tạp chí quốc tế uy tín xếp hạng Q1 Fish & Shellfish Immunology1 của TS. Đỗ Hữu Hoàng và các đồng nghiệp nhanh chóng được trích dẫn 44 lần sau bốn năm (theo Google Scholar), cũng như được đề cử cho giải chính của Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2021.     TS. Đỗ Hữu Hoàng chuẩn bị thức ăn cho cá. Ảnh: NVCC  Là một trong những nghiên cứu tiên phong về chế phẩm sinh học này với cá chim vây ngắn, đề tài của TS. Đỗ Hữu Hoàng đặc biệt ở chỗ, nó là tiền đề giúp cho những người nuôi cá vốn luôn cần phải tiết kiệm chi phí sản xuất trả lời được câu hỏi “dùng chế phẩm sinh học với hàm lượng bao nhiêu là hiệu quả nhất?”.  Hướng đi mới từ bài toán cũ  Để tìm giải pháp thay thế cũng như phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, chủ đề đang được các nhà khoa học trên toàn thế giới quan tâm hàng đầu hiện nay là nghiên cứu tìm ra chế phẩm sinh học có thể chữa trị các loại bệnh ở cá nhưng vẫn thân thiện với môi trường, đồng thời đánh giá hiệu quả của chúng. Những trăn trở của TS. Đỗ Hữu Hoàng cũng không nằm ngoài xu hướng ấy, nhất là trong bối cảnh năm 2014-2015, có 32.000 tấn hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang các nước bị trả về do dư lượng kháng sinh vượt quá mức cho phép.  ‘Trong số những chất có tiềm năng thay thế, anh đặc biệt chú ý đến β-glucan – một chế phẩm “đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh là có thể đóng vai trò như một chất kích thích miễn dịch đối với nhiều loài thủy sản, giúp tăng khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và không gây hại cho môi trường cũng như sức khỏe con người”. Song anh để ý, dù đã được tìm hiểu từ lâu nhưng đến nay “có rất ít công trình nghiên cứu tìm ra hàm lượng chất bổ sung tối ưu nhằm đem lại sinh trưởng cao nhất cho cá nuôi, đặc biệt là liều lượng cần thiết theo kích thước cá và thời gian sử dụng”. Chính khoảng trống nghiên cứu ấy đã đưa đến cho anh và các đồng nghiệp một bài toán vừa quen vừa lạ, lại vừa hồi hộp để giải.  “Vừa quen vừa lạ” là bởi, hiện nay ở Việt Nam các nghiên cứu về β-glucan tuy đã xuất hiện nhưng vẫn còn rất hạn chế, “mới chỉ có một vài nghiên cứu xuất bản trong nước khi áp dụng trên cá tra của Đại học Nông Lâm, Đại học Cần Thơ hay cá mú ở Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, Đại học Nha Trang,… Trong khi đó, mỗi loại cá tôm lại có nhu cầu bổ sung β-glucan khác nhau, chưa kể đến hàm lượng bổ sung cũng phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển vật nuôi, tình trạng sinh lý của từng loài”, TS. Đỗ Hữu Hoàng giải thích. Còn “hồi hộp” là bởi, anh quyết định lựa chọn cá chim vây ngắn – một đối tượng nuôi biển mới chưa từng được nghiên cứu với chế phẩm sinh học này, có nhiều tiềm năng, sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon và giá trị kinh tế cao – nhưng một năm lại chỉ sinh sản có một lần vào sau Tết, “nếu thí nghiệm bị hỏng thì chỉ có cách đợi đến năm tiếp theo mới có con giống để làm tiếp”.  Với một nghiên cứu thực nghiệm có phần rủi ro hơn những nghiên cứu thực nghiệm khác, yếu tố khiến nhóm của TS. Đỗ Hữu Hoàng lo lắng nhất không phải là kỹ thuật phân tích, quá trình chuẩn bị hay thiết kế thí nghiệm, mà là làm sao để cá không bị bệnh chết. “Mình phải tìm hiểu nhiều nơi để xem cơ sở sản xuất của trại đó cá có khỏe không, rồi phải chấp nhận mua với giá cao hơn giá bán cho người khác để người dân bắt cho mình những con khỏe nhất”, anh cười và giải thích. Thêm vào đó, những con cá này cũng phải có kích thước tương đối đồng đều nhau để số liệu khi đo đạc không bị sai lệch. Chuẩn bị kỹ là vậy nhưng anh đã từng trải nghiệm việc “có một số đợt cá mua về đều không nuôi được, vì vậy mà không thu được số liệu” khi thực hiện một nghiên cứu khác trên loại cá này.  May mắn là đợt thí nghiệm với β-glucan năm 2015, đàn cá giống được nhóm anh lựa chọn đã “vượt vũ môn” thành công. Song khâu chuẩn bị đến đây chưa hết, muốn chứng minh được chế phẩm sinh học này có tác dụng đối với thủy sản, một trong những điều thiết yếu là cần phải tìm được một công thức thức ăn nền phù hợp, trong đó phải đáp ứng được hai yếu tố: thức ăn đó phải chứa rất ít hàm lượng β-glucan, đồng thời phải có giá trị dinh dưỡng phù hợp cho sinh trưởng cá chim vây ngắn ở giai đoạn con giống. “Có những công thức nền người ta sử dụng một số thành phần có chứa β-glucan ví dụ như rong biển, nếu mình sử dụng các thành phần thức ăn này thì khi bổ sung thêm chế phẩm sinh học β-glucan vào cũng sẽ khó đánh giá được nó có hiệu quả hay không”, anh giải thích. Bằng cách tìm đọc rất nhiều tài liệu, kết hợp với chỉnh sửa một số thành phần, nhóm nghiên cứu đã xác định được một công thức nền đáp ứng các yêu cầu đặt ra với sự phối trộn của bột cá, gluten, đậu tương, dầu cá, chất kết dính, khoáng chất tổng hợp, vitamin tổng hợp và tinh bột ngô theo một tỉ lệ thích hợp làm “món ăn” cho cá.  Đi tìm “tỉ lệ vàng”  Một điểm mấu chốt khác để tìm ra hàm lượng chất bổ sung tối ưu là phải xác định được dao động hàm lượng β-glucan để làm cơ sở để thực hiện thí nghiệm. “Nếu mình không biết đầu vào như thế nào là phù hợp, chọn sai dải nồng độ thì rủi ro sẽ rất lớn, tốn nhiều tiền nhưng thí nghiệm lại không tìm ra được số liệu đáng tin cậy”, TS. Đỗ Hữu Hoàng giải thích. Tìm đến các tài liệu về những loại thủy sản đã xuất bản trước đây, đặc biệt là những loài có họ hàng gần hoặc có kích thước gần giống với cá chim vây ngắn, sau rất nhiều điều chỉnh, anh xác định được bốn mức hàm lượng có “độ giãn” phù hợp để bổ sung vào phần ăn của cá chim vây ngắn là 0.05%, 0.10%, 0.20%, 0.40%.  Sau tám tuần thử nghiệm chế độ ăn bổ sung β-glucan với hàm lượng từ 0 đến 0.40%, kết quả cho thấy, cá sử dụng thức ăn có bổ sung 0,10% β-glucan đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cá ăn thức ăn không có β-glucan, đồng thời tỷ lệ sống ở nhóm cá cho ăn bổ sung 0,05% và 0,10% β-glucan cũng cao hơn so với nhóm cá đối chứng, “qua đó khẳng định chế phẩm này thực sự có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao tỷ lệ sống với cá chim vây ngắn”, TS. Đỗ Hữu Hoàng cho biết.    TS. Đỗ Hữu Hoàng đang đo kích thước của những con cá trong thí nghiệm. Ảnh: NVCC  Không chỉ vậy, nhóm nghiên cứu của anh còn tiến một bước sâu hơn so với các nghiên cứu khác vốn chỉ đánh giá hàm lượng chất cần thiết dựa trên số liệu về sinh trưởng, đó là phân tích các chỉ tiêu về sức khỏe như đáp ứng miễn dịch và khả năng chống chịu stress. Cụ thể, kết quả phân tích các chỉ số huyết học cho thấy, có sự gia tăng các chỉ tiêu như: tế bào hồng cầu (ở cá cho ăn bổ sung 0,20% β-glucan), bạch cầu tổng số (ở cá cho ăn bổ sung 0,05 – 0,20% β-glucan), cũng như lượng tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân (ở cá chim cho ăn bổ sung 0,10% – 0,40% β-glucan). Đồng thời, số lượng vi khuẩn Vibrio – một loại vi khuẩn gây bệnh trên cá nuôi và có thể gây ngộ độc thực phẩm – trong ruột cá cũng giảm. “Nếu chỉ nói chế phẩm có hiệu quả mà không có số liệu về chỉ tiêu sức khỏe thì khó chứng minh được. Bởi vậy, kết quả này ngoài việc khẳng định hiệu quả của β-glucan lên sức khỏe cá nuôi, giúp hạn chế sự phát triển vi khuẩn gây bệnh Vibrio, nó còn cho thấy thức ăn có bổ sung β-glucan có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cá nuôi”, TS. Đỗ Hữu Hoàng hào hứng cho biết.  Đặc biệt, bằng việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính – một mô hình dự đoán có hệ số tương quan cao nhất đã được nhóm sàng lọc từ tám mô hình dinh dưỡng khác nhau, TS. Đỗ Hữu Hoàng và các đồng nghiệp đã tìm ra hàm lượng chất bổ sung tối ưu nhằm đem lại sinh trưởng cao nhất của cá nuôi – một bước phân tích mà có rất ít nghiên cứu ở cả Việt Nam và trên thế giới thực hiện. Cụ thể, hàm lượng β-glucan cần thiết để cá chim vây ngắn đạt tốc độ sinh trưởng cao nhất là 0,122%; 0,120%, 0,115%; 0,090% lần lượt ở các ngày nuôi thứ 21, 28, 42 và 56. “Phân tích này cho thấy cá ở giai đoạn nhỏ cần bổ sung hàm lượng β-glucan cao hơn, ngoài ra bổ sung nhiều hơn hoặc ít hơn hàm lượng cần thiết đều đem lại kết quả không tốt cho sinh trưởng của cá chim”, TS. Đỗ Hữu Hoàng cho biết. Mô hình dự đoán cũng chỉ ra, cá chim vây ngắn có tế bào lympho cao nhất khi bổ sung 0.20% β-glucan, trong tám tuần và có khả năng chống chịu với stress độ mặn tốt hơn khi ăn bổ sung 0,05% – 0,20% β-glucan.  Những con số này không những mang lại ý nghĩa về mặt khoa học khi cho biết rằng tốc độ sinh trưởng của vật nuôi giảm theo tuổi hay kích thước của chúng, “mà còn giúp chúng ta biết rằng không cần thiết phải bổ sung nhiều hơn nhu cầu thực tế của cá nuôi, từ đó giúp cân đối giá thành thức ăn, vừa giúp cá sinh trưởng hiệu quả lại vừa tiết kiệm chi phí cho các nhà sản xuất ”, TS. Đỗ Hữu Hoàng nhấn mạnh.  Dù công trình được đánh giá là có tiềm năng ứng dụng tốt và là cơ sở ban đầu cho các nghiên cứu bổ sung β-glucan và các chế phẩm sinh học vào thức ăn của cá chim vây ngắn cũng như các loài thủy sản khác, song anh thẳng thắn cho biết, mình… không dám tự ứng cử cho giải thưởng Tạ Quang Bửu mà phải đợi đến khi được hội đồng đề xuất, bởi “nhiều công trình khác còn phức tạp hơn, và đây cũng chỉ mới là kết quả trong phòng thí nghiệm, cần mở rộng quy mô nghiên cứu ở mức nông trại (farm scale) mới có để có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất”, TS. Đỗ Hữu Hoàng chia sẻ.  Với tâm thế của người làm khoa học luôn đi tìm cái mới, thành công của nghiên cứu không khiến anh tự thỏa mãn mà luôn nhìn thấy những hướng nghiên cứu khác liên tục mở ra trước mắt mình. “Năm 2019, nhóm đã tiếp tục thực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và sử dụng thức ăn của cá chim vây ngắn, cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn FCR. Với sự tài trợ của Quỹ Nafosted, nhóm chúng tôi cũng đang thực hiện nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc kết hợp β-glucan với mannan oligosaccharides lên sinh trưởng, miễn dịch cũng như biểu hiện gen của cá chim vây ngắn để có thể có những khuyến cáo thiết thực cho bà con”, TS. Đỗ Hữu Hoàng chia sẻ.  Chú thích:  (1) Tạp chí Fish & Shellfish Immunology là tạp chí xếp hạng Q1, đứng vị trí thứ 19 trên tổng số 230 tạp chí trong lĩnh vực khoa học về nước.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/ts-do-huu-hoang-bac-sy-dinh-duong-cua-ca-chim-vay-ngan/20210422024753843p1c160.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang TS Đỗ Vân Nam: Trên đường đi tìm tiếng nói riêng      Sáu năm nay, với mong muốn nuôi dưỡng một hướng nghiên cứu lâu dài, TS Đỗ Vân Nam&#160; (Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ – AIST, Đại học Bách khoa Hà Nội) gần như hoàn toàn tập trung vào việc khảo sát các tính chất cơ bản và tiềm năng ứng dụng của graphene, loại vật liệu mới được kỳ vọng sẽ đóng vai trò lớn trong ngành điện tử học tương lai.     Học từ “sư tử”  “Nam là một trong số những nhà nghiên cứu xuất sắc của Viện chúng tôi. Anh có ý tưởng nghiên cứu rõ ràng và quyết tâm để đi đến cốt lõi vấn đề,” PGS. TS Phạm Thành Huy, (AIST), nhận xét về người đồng nghiệp như vậy. Khi nói “ý tưởng nghiên cứu rõ ràng”, TS Huy muốn đề cập hướng nghiên cứu gắn với vật liệu graphene mà TS Nam theo đuổi từ khi anh làm sau tiến sĩ ở Pháp đến nay.   Những khám phá đầu tiên về graphene vào những năm 2004-2005 đã làm bùng lên mối quan tâm về loại vật liệu mới này vì người ta cho rằng với khả năng dẫn điện cao, độ mỏng lý tưởng nhưng lại siêu bền, và rất nhiều thuộc tính khác nữa, graphene sẽ đóng vai trò lớn trong ngành điện tử học tương lai. Tuy nhiên, khi nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành theo hướng khảo sát tiềm năng ứng dụng graphene thì người ta lại nhận thấy có quá nhiều yếu tố chi phối các tính chất cơ bản của nó, thậm chí làm suy giảm những thuộc tính đẹp đẽ vốn có.   Năm 2008, khi đang làm nghiên cứu viên sau tiến sĩ ở Pháp, Nam được chứng kiến cuộc tranh luận về graphene giữa những người làm lý thuyết và thực nghiệm: các nhà vật lý thực nghiệm đã phát hiện độ dẫn điện cực tiểu khác không (0) của graphene ở một trạng thái mà về nguyên tắc là không có hạt dẫn điện, khiến các nhà khoa học lý thuyết bối rối; đó là chưa kể, các số liệu thực nghiệm (năm 2005) và các tính toán lý thuyết vênh nhau một con số rất gần với số Pi khiến giới khoa học cho rằng có điều gì “bí hiểm” ở đây mà họ chưa hiểu nổi. Theo dõi và nắm bắt được câu chuyện đó, Nam tự đề xuất cho mình nhiệm vụ thực hiện mô phỏng các mẫu graphene mà người ta thường sử dụng để đo độ dẫn điện của loại vật liệu này. “Năm 2009 tôi cũng thu lại được một số kết quả tính toán quan trọng của các nhà lý thuyết trước đó. Điều này là mới và rất phấn khích đối với mình nhưng lại không mới với cộng đồng khoa học quốc tế nên tôi quyết tâm phải đi xa hơn nữa để có thể công bố các kết quả nghiên cứu của mình,” anh nhớ lại.           Đỗ Vân Nam sinh năm 1980 trong gia đình nông dân có năm người con nhưng chỉ mình anh theo đuổi con đường học vấn. Anh học đại học (1997-2001) và tốt nghiệp thạc sĩ (2002) tại Khoa Vật lý, Đại học sư phạm Hà Nội; bảo vệ luận án tiến sĩ (2007) tại Viện nghiên cứu điện tử học cơ bản, Đại học Paris-Sud, Pháp, với đề tài: “Mô hình và mô phỏng sự truyền dẫn lượng tử của điện tử trong các cấu trúc linh kiện bán dẫn kích thước nanomet/Modelling and Simulation of Quantum Electronic Transport in Semiconductor Nanometer Devices”.               Hướng nghiên cứu chính anh theo đuổi là nghiên cứu cách thức biểu hiện của các điện tử bên trong các cấu trúc vật liệu thấp chiều, đặc biệt là trong các cấu trúc linh kiện có kích thước nanomet, cũng như cách thức phản ứng của chúng đối với những tác động từ bên ngoài.        Nam bắt đầu tìm hiểu tác động của các điện cực kim loại dính vào bề mặt lớp graphene, xem các tính chất nội tại của loại vật liệu này bị ảnh hưởng như thế nào thông qua phân tích các công trình thực nghiệm. Sau đó, anh gửi kết quả nghiên cứu của mình đến tạp chí Physical Review B nhưng “bị chê không thương tiếc”. “Tôi biết mình là mèo con, còn họ [những người phản biện] là sư tử nên đứng ở góc độ chuyên môn, họ ‘chê’ mình là hiểu được, nhưng ở góc độ tâm lý thì không khỏi buồn vì thực ra mình đã làm hết sức rồi. Tuy nhiên, cũng nhờ những lời chê đó, tôi lại có động lực mới,” Nam kể. Mất một năm sửa chữa, hoàn thiện rồi gửi cho một tạp chí khác – Journal of physics: Condensed matters – cuối cùng bài báo của anh đã được chấp nhận đăng và được nhiều nhóm nghiên cứu trích dẫn. Mặc dù trong những năm 2009-2011, anh cũng từng đọc phản biện một số bài cho các tạp chí như Physical Review Letters, Physical Review B và Physica nhưng một cách hết sức khiêm tốn, Nam thừa nhận, anh học được nhiều nhất qua những lần “chiến đấu với sư tử”.  Sau công bố trên Journal of physics: Condensed matters, Nam tự tin là mình hiểu được vấn đề mà các đồng nghiệp nước ngoài đang tập trung vào. Năm 2010, muốn khắc phục những nhược điểm trong công bố trước đó để tìm ra cái sâu sắc hơn, bản chất hơn, anh bắt tay vào đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết về vật liệu và linh kiện điện tử/quang tử dựa trên các màng bán dẫn ZnO pha tạp các-bon và các màng tinh thể các-bon đơn lớp thuần túy (graphene)”. Đề tài này của anh được Quỹ Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ và được hội đồng nghiệm thu đánh giá cao năm 2012. Tới đây, anh sắp ký với NAFOSTED một hợp đồng nghiên cứu nữa, cũng tập trung vào vai trò và tác động của vật liệu kim loại lên tính chất của graphene.  Như vậy, kể từ năm 2008, khi bắt đầu dành mối quan tâm cho graphene, cụ thể là các vấn đề về cấu trúc điện tử và sự truyền dẫn của điện tử trong màng graphene dưới tác động của các yếu tố bên ngoài như điện cực, đế đỡ và tạp chất, đến nay Nam đã có chín công bố liên quan trên các tạp chí chuyên ngành thuộc danh mục ISI.  “Thế nhưng nhiều người vẫn sốt ruột hỏi tôi, nghiên cứu như vậy có ý nghĩa thực tế gì không hay chỉ để cho vui. Tôi cho rằng những câu hỏi kiểu này là rất đáng buồn nhưng cũng đáng thông cảm vì không phải ai cũng hiểu công việc nghiên cứu cơ bản của chúng tôi,” Nam chia sẻ. “Các nghiên cứu cơ bản có ý nghĩa ở chỗ khám phá hay củng cố một nhận thức nào đó và thường phải được nhiều nhóm nghiên cứu lặp đi lặp lại cho đến khi chín muồi thì mới có thể giúp hình thành nền tảng vững chắc cho công nghệ mới. Không có sản phẩm công nghệ nào được làm ra mà không cần đến lý thuyết.”   “Nghiên cứu có rất nhiều cấp độ để đi tới, rất nhiều việc để làm, mỗi người đều có thể chọn cho mình một vai trò, một công việc cụ thể mà nếu làm tròn hay hoàn thành thì đều có đóng góp thiết thực,” Nam nói thêm.  Điểm cân bằng  Học tiến sĩ tại Pháp ba năm, rồi thêm hai năm làm sau tiến sĩ, năm 2009, Đỗ Vân Nam quyết định về nước. “Quyết định này đối với tôi nhẹ tựa lông hồng. Tôi biết có người không nói ra nhưng nghĩ trong bụng, nếu giỏi sao không ở lại. Nhưng tôi hiểu mình cần gì và phải làm thế nào để tìm được điểm cân bằng cho cuộc sống vốn dĩ nhiều chiều trong khi vẫn tiếp tục làm tốt nghề nghiên cứu”, Nam giãi bày.   Với Nam, nghề nghiên cứu có nghĩa là khi còn đang mơ hồ, chưa định hình được bài toán cho mình, anh có thể “là tỷ phú về thời gian” vì chẳng biết phải làm gì, nhưng khi đã định hình được bài toán rồi thì chỉ còn biết đến nó, mọi nơi mọi lúc. “Có lúc đang ngủ, nghĩ ra một ý, cũng phải bật dậy để kiểm tra hoặc ghi ra giấy để hôm sau thực hiện. Mà với chúng tôi sai là chính. Nói một cách nôm na, bài toán chỉ có một nghiệm đúng nhưng để tìm ra nó, chúng tôi phải loại trừ rất rất nhiều nghiệm sai. Cái đúng ở đây do đó có thể hiểu là được tìm ra trong sự tương phản với cái sai.”  Đây cũng là cái nghề mà theo Nam bẵng đi một chút là sẽ bị mất dấu cộng đồng nghiên cứu ngay. “Chỉ có một cách để bám vào nó là bên cạnh việc liên tục duy trì hoạt động nghiên cứu của cá nhân thì phải luôn tìm đọc các công bố mới nhất của đồng nghiệp. Có thế mới tránh được trường hợp trong khi mình hì hụi với bài toán của mình thì thiên hạ đã giải xong từ lâu rồi hoặc đã công bố cái na ná, làm cho nghiên cứu của mình trở nên tầm thường hoặc kém hấp dẫn.”  Công cụ của người làm lý thuyết chủ yếu là giấy bút và một chiếc máy tính được kết nối tốt với các kho dữ liệu, vậy ngồi nghiên cứu ở Việt Nam hay ở Pháp thì có gì khác nhau? Trả lời câu hỏi này, TS Nam nói: “Khi ở Pháp, hằng ngày tôi đều có thể trao đổi với những người có mối quan tâm gần gũi với nghiên cứu của mình vì môi trường học thuật được tổ chức theo nhóm, nơi các bài toán khác nhau nằm chung trong một ngữ cảnh. Về nước, hằng ngày cũng tiếp xúc với đồng nghiệp nhưng rất khó tìm được người có cùng mối quan tâm vì ai cũng như ốc đảo, theo đuổi một bài toán riêng lẻ. Đó là chưa kể nếu thời gian ở Pháp tôi chỉ phải ‘sa lầy’ trong công việc của mình thì về nước lại được kiêm thêm nhiều nghề, như ‘nghề cắm cơm’, ‘nghề đón con’. Khi không thể toàn tâm toàn ý, tính hiệu quả của công việc cũng sẽ giảm,” Nam nói vui nhưng rất thành thực.  Một điều nữa khiến Nam cảm thấy tiếc là nếu như ở nước ngoài, các vấn đề khoa học nảy sinh thường được nhìn nhận và giải quyết trong những ngữ cảnh có tính tổng thể/hệ thống, thì ở trong nước chưa được như vậy. “Thường là một nhà nghiên cứu có năng lực vạch ra hướng nghiên cứu nào đó và tập hợp quanh anh ta những đồng nghiệp cùng chí hướng; nhà trường có thể trả tiền để anh ta tuyển thêm biên chế cơ hữu, giải quyết những nhu cầu của nhóm. Trong khi như trường chúng tôi chẳng hạn, năm nào cũng tuyển người nhưng vẫn là kiểu tuyển những cá nhân rời rạc chứ không phải tuyển nhân lực cho những công việc đã được thiết kế,” Nam nhận xét. Ở Việt Nam, theo anh, một ông thầy giỏi có thể có sinh viên đi theo nhưng đó vẫn chưa phải là nhóm theo nghĩa có định hướng phát triển lâu dài mà giống trạm trung chuyển nhiều hơn – sinh viên theo thầy để tìm kinh nghiệm và cơ hội du học là chính, du học rồi không biết khi nào về và khi về cũng chưa chắc quay lại nhóm cũ.   “Khi mới về nước, tôi tràn đầy nhiệt huyết, đi đến đâu cũng truyền tải ý tưởng nghiên cứu của mình, hy vọng lôi kéo được thêm người để tạo nhóm, nhưng tôi nhận thấy nhiều khi người nghe lại cảnh giác như thể tôi đang tiếp thị một món hàng đa cấp tào lao nào đó. Cuối cùng mới đây tôi cũng tìm được hai người vào nhóm của mình, đó là một bạn học và một sinh viên trong trường [ĐH Bách khoa Hà Nội],” anh kể, nhưng bản thân không dám chắc về tương lai của nhóm “vì mỗi người có cuộc sống riêng bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác”.  Bên cạnh tính chuyên nghiệp của môi trường học thuật, Nam không quên nhấn mạnh khía cạnh kinh tế trong cuộc sống của nhà khoa học ở Việt Nam. Suy từ bản thân, nếu tính trên giấy trắng mực đen, thu nhập hằng tháng của anh, bao gồm lương và thù lao làm đề tài NAFOSTED, là một con số không tệ, đủ bảo đảm cho cuộc sống tạm ổn. Nhưng vấn đề ở chỗ, trên thực tế mỗi tháng anh chỉ được lĩnh chằn chặn vài triệu đồng tiền lương, tiền đề tài mỗi năm quyết toán có một lần, cầm được tiền cũng chỉ để thanh toán các khoản đã phải ứng ra từ trước, bởi vậy cuộc sống “vẫn cứ lọ mọ”. “Đó là những người có đề tài, còn những người không có đề tài thì phải xoay sang những việc khác để tăng thu nhập như dạy thêm, điều này khiến họ chắc chắn không còn thời gian và tâm trí làm nghiên cứu nữa,” Nam nói.  Tuy nhiên, Nam tự hài lòng cho mình là người may mắn có một cuộc sống giản dị nhưng hài hòa và được làm điều mình thích. “Tôi yêu công việc và mong được đóng góp cho cộng đồng khoa học, để những người cùng chuyên môn với tôi có thể sử dụng hoặc kế thừa một vài khía cạnh nào đó trong công việc của tôi vào các nghiên cứu của họ.” Anh cũng không che giấu tham vọng nuôi dưỡng vấn đề mình đang theo đuổi thành một hướng nghiên cứu dài hơi, để tạo được tiếng nói riêng, phong cách riêng, đồng thời làm nảy sinh những gợi ý khác thu hút được sự quan tâm của đồng nghiệp.        Những kết quả nghiên cứu đã được công bố / đăng ký của TS Đỗ Vân Nam liên quan đến vật liệu graphene chiếm đúng một nửa trong tổng số 18 công bố của anh từ trước đến nay trên các tạp chí chuyên ngành thuộc danh mục ISI, bao gồm:              Các hiệu ứng của nhiệt độ, pha tạp và tính bất đẳng hướng của các mặt năng lượng của điện tử lên các biểu hiện của plasmons bên trong graphene / Effects of temperature, doping and anisotropy of energy surfaces on behaviors of plasmons in graphene (Physica E, 2014); Các hiệu ứng phi tuyến bên trong các linh kiện dựa trên graphene / On the non-linear effects in graphene devices (Journal of Physics D, 2014); Các đặc trưng truyền tải điện tích của các lớp tiếp xúc kim loại-graphene / Transport characteristics of graphene-metal interfaces (Applied Physics, 2012); Mô hình hóa liên kết kim loại – graphene và ảnh hưởng của nó lên các tính chất truyền tải điện của graphene trong trạng thái trung hòa điện tích / Modeling of metal-graphene coupling and its influence on transport properties in graphene at the charge neutrality point (Journal of Physics: Condensed Matter, 2010); Hiệu ứng trở vi phân âm trong các cấu trúc lớp tiếp xúc dựa trên các dải graphene với biên zigzag / Negative differential resistance in zigzag-edge graphene nanoribbons junctions (Journal of Applied Physics, 2010); Tính chất truyền tải spin điều khiển được trong các cấu trúc dải graphene với biên armchair / Controllable spin-dependent transport in armchair graphene nanoribbons structures (Journal of Applied Physics, 2009); Hiệu ứng của các tâm tạp mang điện và sai hỏng mạng lên các tính chất truyền tải điện của các cấu trúc graphene kích thức nanomet / Effects of charged impurities and lattice defects on transport properties of nanoscale graphene structures (Journal of Applied Physics, 2009); Bình luận về bài báo “Độ dẫn vi phân âm của điện tử bên trong rào thế graphene” / Comment on “Negative differential conductance of electrons in graphene barrier” (Applied physics letters, 2008); Truyền tải điện tử và các hiệu ứng phân cực spin của các hạt giả tương đối tính bên trong các cấu trúc graphene kích thức mesoscopic / Electronic transport and spin-polarization effects of relativistic-like particles in mesoscopic graphene structures (Journal of Applied Physics, 2008).              Hai đề tài khoa học do anh làm chủ nhiệm và được NAFOSTED tài trợ cùng một đề tài khác do Cơ quan Quốc gia phụ trách khoa học (Agence Nantional de Reserche – ANR), Pháp, tài trợ mà anh tham gia và làm đại diện đối tác phía Việt Nam cũng liên quan đến tính chất điện tử của graphene.            Author                Quản trị        
__label__tiasang TS Hoàng Thanh Tùng: Nhân giống hoa cúc bằng phương pháp vi thủy canh      TS. Hoàng Thanh Tùng chọn Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) để phát triển sự nghiệp và chọn để ươm mầm cho những ý tưởng nghiên cứu có thể dễ dàng áp dụng vào thực tế, trong đó có việc nhân giống hoa Cúc bằng phương pháp vi thủy canh.    Hiểu về cây cúc và hiểu về Đà Lạt  “Tôi từng là cựu sinh viên của Đại học Đà Lạt và tôi muốn làm gì đó có ích cho Đà Lạt”, TS. Hoàng Thanh Tùng đã trả lời ngắn gọn như thế trước câu hỏi của phóng viên Khoa học và Phát triển về lý do khởi đầu cho những nghiên cứu của mình.    TS. Hoàng Thanh Tùng chọn mẫu để làm thí nghiệm.  Là một nhà khoa học trẻ chuyên về công nghệ sinh học thực vật, Đà Lạt là một miền đất hứa đối với TS. Hoàng Thanh Tùng. Đây là nơi mà anh đã chứng kiến những loại cây trồng đa dạng mọc lên, những gánh hàng hoa ven chợ trên đồi dốc, và cả những chuyến hàng đưa nông sản Đà Lạt xuất khẩu ra nước ngoài. Nhưng dưới con mắt của một nhà khoa học, anh không chỉ quan tâm đến sự nên thơ của khung cảnh này, mà còn cả những khó khăn mà ngành sản xuất cây trồng nơi đây đang phải đối mặt, trong đó đặc biệt là cây cúc. “Đà Lạt có khoảng 1.000 – 1.200 ha nhà kính sản xuất hoa cắt cành trong hơn 3.200 ha cắt cành, ước tính tổng sản lượng hằng năm hơn 1,2 tỉ cành, chủ yếu tiêu thụ trong nước vì chất lượng hoa vẫn chưa thực sự ổn định, trong đó hoa cúc các loại chiếm tỉ trọng lớn nhất (25 – 30%)”, TS. Hoàng Thanh Tùng mô tả bức tranh sản xuất cây trồng hiện nay. “Một số công ty nước ngoài đã lập công ty hoặc liên doanh sản xuất ở đây như Chánh Đài Lâm, Hasfarm, chỉ riêng công ty Hasfarm (100% vốn đầu tư nước ngoài) chuyên sản xuất hoa cúc cắt cành cũng như các loại cúc giống, đặc biệt là hoa cúc chùm đã cung cấp 60% sản lượng hoa cho TP.HCM và một số tỉnh phía Bắc.”  Tuy nhiên, theo anh, hiện nay, việc canh tác hoa và sản xuất cây giống cúc tại Việt Nam trong những năm qua vẫn chưa đáp ứng về chất lượng và quy mô. Điều này khá dễ hiểu, khi mà có đến 90% nhà kính trồng cúc tại Đà Lạt được làm bằng… khung tre, 60% trong số người trồng là nông dân tự trao đổi kinh nghiệm sản xuất với nhau và hơn 70% nguồn hạt giống là tự gieo ươm và mua tại các cơ sở nhỏ lẻ. Chính vì vậy chất lượng cây giống không đảm bảo, dễ bị sâu bệnh, cây mẹ được sử dụng nhiều lần cho giâm ngọn dẫn đến thoái hóa giống. Bên cạnh đó, xuất khẩu cây giống cúc ra nước ngoài vẫn đang gặp một số khó khăn như: cây giống chưa sạch bệnh, thích nghi vườn ươm chưa cao, vận chuyển còn khó khăn và đóng gói rất cồng kềnh, sản xuất trong hệ thống nhỏ.  Rất nhiều nhà khoa học khi thực hiện những nghiên cứu khắc phục các nhược điểm của cây trồng trong nước, họ sẽ học hỏi các kỹ thuật từ nước ngoài và gặp khó khăn trong việc tinh chỉnh kỹ thuật đó sao cho phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam. TS. Hoàng Thanh Tùng là một trường hợp ngoại lệ.  Hiểu về hoa cúc, và hơn hết, là hiểu về Đà Lạt, anh đã kết hợp những kỹ thuật khác nhau trong nhân giống cây trồng và lựa chọn hướng phát triển mà anh biết rằng sẽ đáp ứng được cả hai điều kiện: một phương pháp đơn giản phù hợp với Đà Lạt nhưng rất hiệu quả trong sản xuất cây giống với quy mô lớn. Điều này đã được thể hiện rõ rệt nhất thông qua công trình Nhân giống hoa Cúc bằng phương pháp vi thủy canh của anh.  Hệ thống vi thủy canh (microponic system) là hệ thống nhân giống kết hợp giữa vi nhân giống (micropropagation) và thủy canh (hydroponic). Theo xu hướng hiện nay, hệ thống này được nghiên cứu cải tiến theo hai xu hướng: (1) hiện đại hóa các thiết bị nhằm tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy; (2) đơn giản hóa với các thiết bị, vật liệu đơn giản, rẻ tiền nhưng vẫn đảm bảo được sự phát triển tốt của cây, nâng cao chất lượng cây giống, dễ dàng áp dụng trên quy mô lớn. Nhóm nghiên cứu của anh đã quyết định lựa chọn xu hướng thứ hai nhằm đơn giản quy trình sản xuất cũng như dễ ứng dụng vào thực tiễn.  Dễ ứng dụng vào thực tiễn, đó là điều mà TS. Hoàng Thanh Tùng vô cùng quan tâm, “nghiên cứu đã đề xuất mô hình vi thủy canh phù hợp, tạo được nguồn cây giống đồng nhất với số lượng lớn, dễ dàng áp dụng cho người nông dân mà không cần trình độ khoa học kỹ thuật quá cao, chỉ cần đào tạo cơ bản là có thể thực hiện được”, anh nhấn mạnh.  Cho đến nay, đã có nhiều đơn vị ứng dụng tiến bộ này như Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên (TP. Đà Lạt), Công ty giống cây trồng Miền Nam (huyện Lâm Hà), Công ty Công nghệ Sinh Học Thái Dương, Công ty TNHH TMDV Farmy (TP. Đà Lạt) và các cơ sở sản xuất giống quy mô gia đình ở tỉnh Lâm Đồng.  Anh đã công bố nghiên cứu này của mình trên Scientia Horticulturae với tên gọi “A system for large scale production of chrysanthemum using microponics with the supplement of silver nanoparticles under light-emitting diodes”, qua đó đưa công trình này trở thành một trong hai công trình được đề cử giải trẻ Tạ Quang Bửu 2021.    Trang trại cúc chuẩn của Dalat Hasfarm. Ảnh: Dalat Hasfarm  Khoa học cho tất cả mọi người  PGS.TS Phạm Tiến Sơn (Khoa Toán tin, trường Đại học Đà Lạt), người đã đạt được giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020, đã lựa chọn Đà Lạt là nơi lý tưởng để những người ưa bình lặng như anh có thể trầm tĩnh làm việc theo đúng cách mình đã chọn hơn 30 năm qua. Dường như sự bình lặng ở vùng đất này cũng là lý do khiến TS. Hoàng Thanh Tùng đã chọn nơi đây làm ‘bến đỗ’ cho cả cuộc sống và sự nghiệp nghiên cứu của mình. Dù theo anh, “Đà Lạt là nơi tiềm năng cho nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng”, nhưng rõ ràng nếu so sánh với những trung tâm nghiên cứu khác tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh, những người nghiên cứu tại vùng đất này gặp nhiều khó khăn hơn về mặt trang thiết bị và phải chật vật để ‘làm nghề’.  Dẫu vậy, dù tuổi đời nghiên cứu còn rất trẻ, nhưng TS. Hoàng Thanh Tùng đã sở hữu cho mình 85 công bố khoa học (Chương sách, bài báo ISI, quốc tế, trong nước,…), và trong số đó có 15 công bố (trong và ngoài nước) về cây hoa cúc. Những nghiên cứu của anh vẫn luôn thể hiện một sự nhất quán xuyên suốt về việc thấu hiểu cây cúc và bối cảnh Đà Lạt. Sự thấu hiểu đó còn thể hiện ở tiềm năng của phương pháp vi thủy canh mà anh đề xuất, nó sẽ “mở ra hướng nghiên cứu mới cũng như sản xuất cây giống ở quy mô thương mại trên nhiều đối tượng cây trồng (cây hoa, cây rau, cây dược liệu, cây thân gỗ,…)”, anh chia sẻ.  Đối với một công trình thực nghiệm đã tối ưu hóa được các quy trình nhằm tạo ra một công nghệ ươm trồng cây cúc, mọi người sẽ nghĩ đến việc đăng ký sở hữu trí tuệ cho nó. Tuy nhiên, như cái cách đi ngược lại với mọi người là chọn Đà Lạt để phát triển sự nghiệp, anh lại tiếp tục ‘ngược chiều xu hướng’ khi quyết định không đăng ký patent cho công trình của mình. Tại sao anh lại quyết định bỏ qua bước này? “Tôi nhận thấy kết quả nghiên cứu của công trình có tiềm năng ứng dụng rất cao, cần để nhiều cơ quan, tổ chức, trung tâm, công ty hay người dân biết đến nhiều hơn. Tôi muốn chia sẻ kết quả nghiên cứu của mình có thể dễ dàng áp dụng vào thực tế”, anh trả lời đơn giản.  Và đáng ngạc nhiên, những người xung quanh đều ủng hộ quyết định của anh, như một lẽ dĩ nhiên.  Khi nhắc đến Đà Lạt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng nói: “Có quá nhiều điều để nói về thành phố này. Một thành phố dễ ở và dễ thương. Những con người hiếu khách và độ lượng. […] Sự tử tế giữa con người với con người làm mình tin rằng điều tốt là một cái gì có thể thực hiện được giữa cuộc đời này. Không có gì quan trọng cả và vì thế cũng không có gì đáng phải nản lòng”.  Không có gì quan trọng cả. Và vì thế, anh cũng không giữ lại cho mình điều gì, bởi với anh, khoa học là cho tất cả.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/ts-hoang-thanh-tung-nhan-giong-hoa-cuc-bang-phuong-phap-vi-thuy-canh/2021042202452225p1c160.htm    Author                Anh Thư        
__label__tiasang TS Lê Văn Tri – nhà khoa học tự tin trên thương trường      Trụ sở của Công ty cổ phần Công nghệ sinh học nằm trong một con ngõ nhỏ trên đường Láng, Hà Nội, gần như lẫn vào những ngôi nhà dân ở chung quanh. Nhưng công ty có bề ngoài khiêm nhường này lại đang làm ra những chế phẩm được sử dụng rộng rãi, có thể giúp tăng năng suất và chất lượng nông sản tăng từ 10 – 20%.     Chúng tôi có cuộc trò chuyện với vị Tổng  Giám đốc công ty – TS Lê Văn Tri – người đã tạo dựng và đưa Công ty đến  những thành công đáng nể trong khoa học và cả trên thương trường, về  những sáng chế và con đường kinh doanh của ông.  Trước tiên xin được chúc mừng ông và Công ty mới đây vừa giành cú đúp Giải thưởng Sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam (Vifotec) và giải thưởng của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO cho chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ tại ruộng thành phân bón hữu cơ – chế phẩm do ông làm chủ nhiệm đề tài. Xin ông cho biết, từ đâu ông nảy ra ý tưởng xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ?  Lúa gạo cung cấp nguồn lương thực chính cho nhu cầu tiêu dùng của người dân và xuất khẩu. Tuy nhiên ngoài sản phẩm chính là thóc, rơm rạ còn chiếm đến 50% trọng lượng của cây lúa do vậy sản xuất lúa còn tạo ra lượng rơm rạ khổng lồ. Những năm gần đây cơ giới hóa khâu làm đất phát triển, số lượng trâu, bò nuôi giảm mạnh, việc sử dụng rơm làm thức ăn cho trâu, bò cũng giảm theo, rơm, rạ cũng không còn được sử dụng làm chất đốt. Mặt khác, rơm rạ sau khi thu hoạch không thể vùi trực tiếp vào trong đất vì tỉ số C/N của chúng rất cao, trong điều kiện ngập nước sẽ sản sinh ra khí độc gây ra hiện tượng vàng lá nghẹt rễ, cây trồng sẽ không phát triển được hoặc chết và đất đai ngày càng suy giảm độ phì nhiêu. Nguồn rơm, rạ dư thừa sau mỗi vụ thu hoạch không tìm được cách sử dụng hợp lý nên đã được nông dân tự xử lý bằng biện pháp đốt cháy ngay tại đồng ruộng. Hậu quả là phá vỡ sự cân bằng tự nhiên, ô nhiễm không khí.   Trước đây, đã có mộ̣t vài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về vấn đề này tuy nhiên các công trình này còn tồn tại nhiều hạn chế như: lượng chế phẩm dùng nhiều, giá thành chế phẩm cao, thời gian phân hủy chậm, quy trình ủ phức tạp và hiệu quả kinh tế đem lại thấp.  Trong bối cảnh đó chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học ra đời đã giải quyết những khó khăn trên cho nông nghiệp nước nhà  So với các loại phân bón cùng loại, phân bón hữu cơ từ rơm, rạ có ưu điểm gì?          Chỉ cần 0,6-0,8kg thóc giống  gieo trên sáu khay mạ kích thước 60x30cm là đủ cung cấp mạ cho một sào  ruộng, trong khi gieo sạ thì tốn 1,5 kg thóc giống/sào và chất lượng phụ  thuộc nhiều vào thời tiết. Tuy nhiên, theo TS Tri, nếu không nghĩ ra  được công nghệ rau mầm thì công nghệ mạ khay của ông cũng không thể phát  triển được vì các cơ sở sản xuất mạ có nguy cơ rỗi việc tám tháng mỗi  năm. Triệt để và thực tế, đó là cách TS Tri giải quyết bất kỳ vấn đề nảy  sinh nào. Công ty ông đã bắt đầu nghiên cứu và bán thí điểm rau mầm để  thăm dò khách hàng, mỗi gói hàng nhỏ lại đi kèm một tờ giới thiệu mười  món ăn ngon với rau mầm, gợi cảm giác sản phẩm được chăm chút chu đáo.         Đây là loại phân bón có chất lượng cao, không chứa các tác nhân gây bệnh cho cây trồng do được ủ từ rơm, rạ so với các loại phân bón có nguồn gốc từ phân chuồng và phân vô cơ. Đồng thời có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu cho đất mà các loại phân vô cơ không có được, đặc biệt là hàm lượng các chủng vi sinh vật có lợi rất cao như chủng phân giải hữu cơ, cố định đạm, phân giải lân.  Theo tính toán, trong 1 tấn phân bón hữu cơ từ rơm, rạ có 10kg đạm; 9,5kg lân; và 21kg kali – như vậy cứ sử dụng 1 tấn phân bón này, người nông dân đã tiết kiệm được một lượng phân NPK tương đương gần 500 nghìn đồng. Nếu xử lý 50% lượng rơm rạ cả nước trong một năm sẽ tương đương việc xây dựng một nhà máy sản xuất đạm công suất 100.000 tấn/năm, một nhà máy sản xuất lân với công suất 95.000 tấn/năm, một nhà máy sản xuất kali với công suất 210.000 tấn/năm. Lợi nhuận thu được ước đạt 5.300 tỷ đồng/năm.  Nhưng liệu người nông dân có chịu bỏ tiền ra mua chế phẩm xử lý rơm rạ của ông hay không, khi việc xử lý rơm rạ bằng một mồi lửa là quá đơn giản và lại chẳng “tốn kém” gì?    Thực tế cho thấy khi nhà nước có chủ trương và người nông dân được truyền thông đầy đủ về lợi ích của việc xử lý rơm rạ thì họ sẽ bị thuyết phục và tự giác mong muốn xử lý rơm rạ thay vì đốt.  Hiện nay, người nông dân có thể tiếp cận những phát minh sáng chế của chúng tôi qua nhiều hình thức như truy cập vào website: www.biogroup. com.vn của công ty; hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Các Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm Khuyến nông, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… cũng mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật các công nghệ cho người dân. Công ty còn kết hợp với Sở KH&CN, Sở NN&PTNT tại các địa phương xây dựng các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng các phát minh, công nghệ vào điều kiện thực tế của địa phương.  Những phát minh, sáng chế của ông và Công ty đóng góp như thế nào cho ngành nông nghiệp Việt Nam?  Nếu tính theo lý thuyết thì những phát minh sáng chế sẽ đem lại lợi ích rất nhiều, nhưng thực tế phải  ứng dụng càng rộng thì hiệu quả đem lại mới càng cao. Ví dụ như chế phẩm tăng năng suất cây trồng của chúng tôi có thể làm tăng năng suất và chất lượng nông sản tăng từ 10 – 20%; hay phân bón Phức hợp hữu cơ vi sinh Fitohoocmon cũng làm tăng năng suất cho cây cao su, cà phê, mía đường và nhiều cây trồng khác nữa ít nhất từ 10 – 15%.   Là người sở hữu nhiều phát minh sáng chế, vậy trong số đó, phát minh sáng chế nào ông cảm thấy tâm đắc nhất?   Trong suốt 40 năm nghiên cứu khoa học, tôi luôn tập trung cho một hướng nghiên cứu “phát triển nền nông nghiệp bền vững”. Với sự kiên trì từ đó, đến ngày 27/10/2012 Tổ chức Xác lập kỷ lục Việt Nam đã xác nhận “Tiến sĩ Lê Văn Tri – Người có nhiều bằng sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sinh học nhất”. Từ 16 bằng độc quyền sáng chế, để chọn cái nào tâm đắc nhất, nói thật là rất khó, bởi vì mỗi sáng chế giải quyết một vấn đề cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể. Bằng sáng chế được cấp đầu tiên vào năm 1991 và bằng gần đây nhất là tháng 10/2012. Nhưng để chọn những sáng chế tâm đắc nhất tôi xin nêu ba sáng chế:  – Quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh Fitohoocmon. Công nghệ này đã được chuyển giao ổn định cho hơn 60 nhà máy sản xuất phân bón sinh học trong cả nước.   – Công nghệ sản xuất phụ gia bê tông BiFi bằng Công nghệ sinh học: là nền tảng để hình thành Công ty cổ phần sản xuất phụ gia BiFi. Sản phẩm đã cung ứng cho các công trình xây dựng lớn của đất nước.   – Công nghệ xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân bón hữu cơ tại ruộng bằng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR hiện nay đang được triển khai rộng ở hầu hết các tỉnh thành.  Sắp tới ông và các cộng sự sẽ tập trung vào hướng nghiên cứu nào?  Từ kết quả đạt được của công nghệ xử lý rơm rạ bằng chế phẩm Fito-Biomix RR, sắp tới Công ty chúng tôi sẽ tập trung vào hai hướng nghiên cứu mới đó là sản xuất giá thể mạ khay công nghiệp và giá thể sản xuất rau mầm từ mùn rơm rạ.  Đối với giá thể mạ khay, bước đầu chúng tôi đã triển khai mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp từ mùn rơm rạ tại một số địa phương như: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định… Việc áp dụng công nghệ này giảm 30% chi phí sản xuất mạ, giá thể mạ khay sản xuất từ rơm rạ và đất tại địa phương vì vậy đây có thể coi là một bước đột phá trong sản xuất mạ khay công nghiệp và mạ trên nền đất cứng phục vụ cho cấy máy và cấy tay nhằm hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.   Vấn đề đặt ra ở đây là, một cơ sở sản xuất mạ khay chỉ cần hoạt động bốn tháng theo mùa vụ, vậy tám tháng còn lại chẳng lẽ đóng cửa và cho công nhân nghỉ việc? Câu hỏi này đã dẫn tôi tới lời giải: trong thời gian không sản xuất mạ, cơ sở đó hoàn toàn có thể tận dụng khay để sản xuất rau mầm, một loại rau sạch và dinh dưỡng cao. Chúng tôi đã sẵn sàng cung cấp công nghệ cho người nông dân và thậm chí dám nhận luôn trách nhiệm về đầu ra. Tôi đã nghĩ đến cả khả năng tán rau mầm thành bột để làm thành viên nang trong trường hợp rau tươi không kịp tiêu thụ.   Việc sản xuất rau mầm từ mùn rơm rạ tại Công ty đến nay đã cho kết quả tốt. Áp dụng công nghệ này sẽ giải quyết được vấn đề khó khăn về nguồn cung cấp giá thể. Người dân ai cũng có thể tự sản xuất trồng rau mầm tại nhà với quy trình đơn giản, dễ làm và giá thành hạ (2.000đ/kg, thấp hơn 5 lần so với mua giá thể trên thị trường). Đây có thể coi là một bước đột phá trong sản xuất rau mầm công nghiệp, trong tương lai có thể xuất khẩu công nghệ này.   Là một nhà khoa học chuyển sang làm kinh doanh khá sớm, từ năm 1991, lúc đó ông có cảm thấy tự tin trên thương trường không?  Có chứ, tôi rất tự tin vì tôi biết mình có sản phẩm tốt và có địa bàn ứng dụng rộng. Tôi luôn xác định doanh nghiệp của mình phải đặt khoa học làm nền tảng. Đối với tôi, lấy khoa học làm nền tảng, nếu sản phẩm này thất bại lại có thể nghiên cứu một sản phẩm khác, vì vốn khoa học vẫn còn đó.   Các nhà khoa học thường thừa nhận họ kém ở khâu thương mại hóa sản phẩm. Vậy công ty của ông có cần đến sự cố vấn của các chuyên gia kinh tế không?  Nói như thế cũng chưa hoàn toàn đúng, bởi vì có nhiều nhà khoa học đã thành công lớn trong lĩnh vực kinh doanh. Tất nhiên trong lĩnh vực sinh học và nông nghiệp thì khó khăn hơn vì lĩnh vực này mang tính rủi ro cao và lợi nhuận thu được trên đơn vị lại thấp. Việc hợp tác với các nhà kinh tế đôi khi cũng gặp khó khăn, vì các nhà kinh tế thuần túy thì luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu, trong khi các sản phẩm sinh học nhiều lúc cho không mà nông dân vẫn không dùng. Vì thế chúng tôi phải tự cố gắng và mày mò thôi. Với mỗi sản phẩm, tất nhiên chúng tôi phải tìm cách trả lời cho được các câu hỏi như: khả năng ứng dụng và nhân rộng thế nào, các sản phẩm cùng loại trong nước và trên thế giới đã đi xa đến đâu, và chúng tôi có thể làm gì hơn. Cuối cùng, để cho sản phẩm thực sự chào đời, chúng tôi phải vượt qua những chỗ tắc về khoa học và thực tế. Nếu sản phẩm của chúng tôi ưu việt hơn, chắc chắn chúng sẽ được chấp nhận, chỉ cần chúng tôi kiên trì và biết tổ chức tốt. Chẳng hạn, chúng tôi không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng sử dụng vi sinh vật để xử lý xenluloza (thành phần của rơm rạ), nhưng lại là người đầu tiên đưa ra chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ có hiệu quả nhất. Chính vì thế chúng tôi mới được cấp bằng độc quyền Giải pháp hữu ích. Sản phẩm của chúng tôi ưu việt hơn sản phẩm của nước ngoài và các sản phẩm khác ở chỗ thời gian xử lý ngắn hơn, số lượng chế phẩm dùng ít hơn, giá thành rẻ hơn, và quy trình công nghệ đơn giản hơn. Tuy vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu và đã đưa ra sản phẩm xử lý tại mặt ruộng, chỉ việc phun lên gốc rạ, thay vì phải thu gom rồi mới xử lý. Hướng này được người nông dân rất ủng hộ.  Bận rộn với công việc quản lý công ty, ông có còn thời gian vào phòng thí nghiệm nữa không?  Là một nhà khoa học, phòng thí nghiệm luôn là nơi mà tôi yêu thích. Với các sản phẩm xuất phát từ ý tưởng của mình, dù bận rộn đến mấy tôi vẫn trực tiếp làm những thí nghiệm quan trọng, Phòng thí nghiệm của Công ty tuy không lớn nhưng đầy đủ các thiết bị hiện đại để đáp ứng yêu cầu thực hiện các dự án cấp Bộ và cấp Nhà nước. Trên thực tế, tôi đã là chủ nhiệm và Công ty đã là đơn vị triển khai hàng chục đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước. Việc bố trí thời gian giữa nghiên cứu khoa học, tổ chức triển khai và kinh doanh sản phẩm một cách rạch ròi là rất khó nhưng việc nào cũng phải cố làm thì mới mong có thành công trọn vẹn.     Xin cảm ơn ông!                                 PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Nghiêm Thị Minh Hòa (PIAS Phenikaa): Người thích giải những bài toán khó      Khao khát tìm những lối đi riêng và tới những vùng đất còn ít được “khai phá” trong hệ tương quan điện tử mạnh bất cân bằng (non-equilibrium strongly correlated systems) – một lĩnh vực chuyên ngành hẹp của vật lý chất rắn, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa, một nhà vật lý lý thuyết trẻ của Viện nghiên cứu tiên tiến PIAS Phenikaa, không ngại đương đầu với những bài toán khó. Với công bố về hiệu ứng Kondo năm 2017 trên tạp chí Physics Review Letter, một xuất phát điểm hoàn hảo của các nhà vật lý ở giai đoạn đầu sự nghiệp, chị đã có đủ tự tin để khẳng định con đường mà mình đã lựa chọn.      TS. Nghiêm Thị Minh Hòa và đồng nghiệp tại Viện nghiên cứu PIAS Phenikaa. Ảnh: Thanh Nhàn  Trong các đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2019, ngành vật lý có ba đại diện, trong đó hai tác giả có công trình xuất bản trên tạp chí Physics Review Letter và TS. Nghiêm Thị Minh Hòa là người trẻ nhất. Có lẽ vì trẻ nhất, ít xuất hiện nhất và phạm vi nghiên cứu cũng khá “lạ” nên chỉ có số ít đồng nghiệp trong giới nghiên cứu biết đến chị. “Ừ Hòa được đấy”, PGS. TS Phạm Thành Huy, người từng tiếp nhận chị về Viện AIST (Đại học Bách khoa HN) năm 2017 và nay là “sếp” của chị ở Viện PIAS (trường đại học Phenikaa) nhận xét. “Dù Hòa còn trẻ nhưng tôi không chỉ thấy ở bạn ấy các phẩm chất của một nhà khoa học đúng nghĩa – thực hiện công việc một cách chủ động, cẩn thận và nghiền ngẫm vấn đề sâu sắc, mà còn thấy nét đặc trưng của một người được đào tạo ở Đức – chính xác, chặt chẽ, rõ ràng”.   Tự tin trước những vấn đề thách thức   Cảm giác đầu tiên mà mọi người cảm nhận ở TS. Nghiêm Thị Minh Hòa là sự giản dị và tự tin. Với cách diễn đạt không màu mè và cái nhìn thẳng thắn, chị cởi mở nói về công việc nghiên cứu của mình. Dù thật khó nói về những vấn đề thuộc một phạm vi nghiên cứu rất sâu mà những nhà vật lý chất rắn “hàng xóm” khác cũng cảm thấy mơ hồ, theo cách nói của PGS. TS Phạm Thành Huy là “từ ngày ở AIST, bạn ấy đã tổ chức nhiều buổi seminar để có thể chủ động trao đổi về chuyên môn với mọi người nhưng thú thực là bọn anh cũng chỉ hiểu lơ mơ”, nhưng TS. Nghiêm Thị Minh Hòa vẫn cố gắng tìm cách miêu tả nó một cách dễ hiểu nhất có thể để người đối thoại nắm bắt được những nét chính. Dường như bao giờ chị cũng mong muốn thiết lập được mối liên kết với mọi người xung quanh bởi không muốn mình khu trú ở một phạm vi hẹp nào đó. Khi còn làm nghiên cứu sinh về hệ tương tác mạnh ở Nhật Bản, chính qua những lần trao đổi với đồng nghiệp làm thực nghiệm cũng xuất phát từ những cuộc trao đổi như vậy. “Hồi đó, mọi người hỏi tôi là ‘liệu có mô phỏng được hệ tương quan mạnh trong thời gian thực hay không?’. Lúc ấy, tôi chỉ có thể trả lời ‘ồ, đó là cả một câu chuyện khác vì nó sẽ khó hơn’”, chị kể.  Từ những ý tưởng đến “bất chợt” như vậy đến khi chính thức lựa chọn chủ đề sự tiến triển năng lượng theo thời gian và xuất bản được công trình “Sự tiến triển theo thời gian của cộng hưởng Kondo trong phản hồi một hành động dập tắt” (Time evolution of the Kondo resonance in response to a quench) cùng TS. Theo Costi (Viện nghiên cứu Peter Grünberg và Viện nghiên cứu Mô phỏng tiên tiến, Trung tâm nghiên cứu Jülich, Đức) – thầy hướng dẫn postdoc tại Đức, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa đã mất gần 5 năm. “Khi làm postdoc, tôi mới có điều kiện tập trung khai thác các bài toán hệ nhiều hạt (many body systems) không chỉ tương tác mạnh mà còn có sự biến đổi các mức năng lượng theo thời gian. Đây là vấn đề còn ít được nghiên cứu cả về lý thuyết và thực nghiệm, về mặt lý thuyết thì đây là bài toán khó và về thực nghiệm thì cần các đo đạc chính xác ở những thang thời gian nhỏ, ví dụ như trong hệ chất rắn tương quan mạnh thang thời gian cỡ femto giây hoặc ato giây (1femto giây bằng 10-15 giây)”, chị cho biết.  Bản thân bài toán hệ nhiều hạt đã là bài toán khó vì “chỉ cần một electron quay quanh một quỹ đạo nhất định tương tác mạnh với electron có spin trái dấu và liên kết với môi trường dẫn điện đã là một bài toán khó và không có lời giải bằng giải tích”, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa giải thích thêm. Với các nhà nghiên cứu vật lý chất rắn, hệ tương tác mạnh là một vấn đề hấp dẫn tồn tại hơn 60 năm qua vì luôn luôn có những câu hỏi mới phát sinh, đặc biệt khi nó gợi mở đến những vấn đề liên quan tới các loại vật liệu mới như siêu dẫn nhiệt độ cao (high-temperature superconductors), siêu dẫn không hở dị thường (anomalous gapless superconductivity), siêu dẫn tái nhập (re-entrant superconductivity)… 1 – những chất có khả năng dẫn điện không điện trở, được kỳ vọng có thể thay thế chất bán dẫn truyền thống đã được ngành công nghiệp khai thác gần như tới hạn từ cuối thế kỷ 20.  Câu hỏi đầu tiên được đặt ra của hệ này là về một hiện tượng thể hiện tính chất truyền dẫn dị thường trong các kim loại khi có tạp từ và nhiệt độ giảm. Quan sát hiện tượng vào những năm 1930 nhưng phải đến năm 1964, nhà vật lý lý thuyết Nhật Bản Jun Kondo mới giải thích được nó một cách thấu đáo về mặt lý thuyết (hiệu ứng Kondo đã được coi là một trong những ứng cử viên của giải Nobel Vật lý). Tuy đã được giải thích nhưng ở hiện tượng Kondo vẫn tồn tại một số dị thường không thể giải quyết được cho đến khi nhà vật lý lý thuyết người Mỹ Kenneth Wilson đưa ra giải pháp tái chuẩn hóa số (numerical renormalization group) vào năm 1974, qua công trình nghiên cứu về các hệ thống phức hợp và các hiện tượng tới hạn 2– sau ông được trao giải Nobel Vật lý năm 1982 do “lý thuyết của ông cho các hiện tượng tới hạn trong kết nối với các chuyển  pha” 3.  Dẫu vậy, bài toán về hiệu ứng Kondo mới chỉ giải được trong các hệ vật lý cân bằng còn trong các hệ bất cân bằng thì vẫn là vấn đề thách thức và chưa có lời giải một cách xác quyết. “Đây là một mảnh đất màu mỡ cho các nhà vật lý khai phá, dù nó rất khó”, một nhà vật lý nhận xét. “Ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất truyền dẫn trong các chấm lượng tử bán dẫn hay phân tử, có khả năng ứng dụng cao trong công nghệ vật liệu nano, nên hiệu ứng Kondo không cân bằng rất được quan tâm nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, hiệu ứng Kondo còn là trung tâm của các lý thuyết khác nghiên cứu vật liệu tương quan điện tử như trong lý thuyết trường trung bình động nghiên cứu bản chất các chất điện môi Mott, cho nên hiệu ứng Kondo không cân bằng càng được quan tâm nghiên cứu”.  Do đó, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa đã thấy ở đây những cơ hội hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu trẻ như chị tha hồi vùng vẫy, đặc biệt từ khi được TS. Theo Costi nhận hướng dẫn postdoc, chị cảm thấy “mình như cá gặp nước” và bắt đầu mường tượng về khả năng giải quyết nó.  Tìm phương pháp giải bài toán tồn tại hơn 30 năm   Đứng trước những vấn đề như vậy, câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứu là phương pháp nào có thể giải quyết chúng một cách triệt để? Trên thực tế đây là vấn đề khó bởi hệ tương quan điện tử mạnh bất cân bằng có đặc điểm là sự tương quan giữa các điện tử lớn và chúng thay đổi không thuận nghịch theo thời gian. “Các phương pháp nghiên cứu truyền thống đã biết như tính nhiễu loạn, lý thuyết trường trung bình… không sử dụng được, và nếu cứ cố tình áp dụng sẽ cho kết quả không đúng. Do đó, cần có các phương pháp nghiên cứu riêng cho chúng”, một nhà vật lý nhận xét về nỗ lực trong nhiều năm qua của cộng đồng vật lý. TS. Nghiêm Thị Minh Hòa bổ sung, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, “ví dụ phương pháp Monte Carlo lượng tử rất dễ giải quyết được những bài toán của hệ lớn và phức tạp nhưng độ chính xác không cao vì nó có nhiễu, khi tính năng lượng biến đổi theo thời gian thì cái nhiễu đó lại tăng lên. Vì vậy cần có những phương pháp tinh tế hơn để có thể diễn tả được hiện tượng tốt hơn”.  “Phương pháp tinh tế hơn” để giải thích hiện tượng tốt hơn đó đã được TS. Theo Costi và TS. Nghiêm Thị Minh Hòa phát triển trong suốt thời gian chị làm việc tại Đức. Trên cơ sở phương pháp nhóm tái chuẩn hóa số do Kenneth Wilson phát triển, hai thầy trò đã mở rộng thành nhóm tái chuẩn hóa tính số phụ thuộc vào thời gian. Chị giải thích: “Tuy trước đây cũng có một số nhà nghiên cứu đi theo hướng này như Frithjof B. Anders (ĐH Công nghệ Dortmund, Đức) trên Physics Review Letter năm 2005 nhưng tính toán của ông cũng như một số người khác chỉ dừng ở việc đo đạc các đại lượng tĩnh mà chưa giải quyết được sự tiến triển theo thời gian của các đại lượng động, trong khi tôi mong muốn thấy sự chiếm giữ của các điện tử không chỉ phụ thuộc vào năng lượng mà còn cả thời gian nữa, lúc ấy ta sẽ thấy các điện tử dịch chuyển từ các mức năng lượng này sang các mức năng lượng khác khi thời gian biến đổi. Quan sát quá trình đó sẽ rất thú vị”.  Do vậy, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa đã thiết lập các công thức tính hàm Green – vốn là những phương pháp tính toán hữu dụng và hiệu quả cho nghiên cứu về các tiến triển động lực học trong hệ tương tác mạnh bất cân bằng, theo nhận định của PGS. TS Đỗ Vân Nam (Viện trưởng Viện PIAS) 4 – qua đó chị đề xuất cách tính số hàm phổ phụ thuộc vào thời gian. Đây là một trong những điểm mang tính mấu chốt của công trình.    Tiến triển theo thời gian của phổ năng lượng. Đỉnh cộng hưởng Kondo hình thành sau khi bị kích thích tại mức năng lượng gần với nhiệt độ Kondo, TK, nhưng không hoàn chỉnh tại các mức năng lượng thấp hơn. Khi thời gian lớn hơn 1/ TK, đỉnh cộng hưởng Kondo hoàn chỉnh.  Khi đi tìm lời giải cho hệ bất cân bằng bằng phương pháp tái chuẩn hóa số phụ thuộc thời gian, chị nhận thấy có một số câu hỏi cần giải quyết: khi nào hệ bất cân bằng sẽ đạt được trạng thái tĩnh sau khi có tác động thay đổi đột ngột các thông số của mô hình mô tả hiệu ứng? thời điểm đó liên quan đến các đại lượng đặc trưng nào của hệ? Rút cục, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa và TS. Costi đã không những nêu được đỉnh cộng hưởng Kondo hình thành và hoàn chỉnh ở thời gian nào mà còn vẽ ra được một bức tranh hoàn chỉnh về tiến trình hình thành của đỉnh cộng hưởng Kondo theo thời gian một cách chi tiết mà chưa có nghiên cứu trước đó làm được. Hơn thế, họ đã phát triển được các công thức tính toán tổng quát có thể áp dụng cho các hệ tạp khác ngoài hệ tạp Kondo và cho phép tính toán các hàm tương quan bậc cao nhằm đo đạc các đại lương khác ngoài phổ năng lượng, ví dụ như độ dẫn quang (optical conductivity) phụ thuộc vào cả tần số và thời gian.      Hiệu ứng Kondo trong công trình có khả năng hiện thực hóa thông qua mô phỏng lượng tử, một hướng nghiên cứu hiện đại và có khả năng ứng dụng cao trong tương lai.      Đúng như kỳ vọng, lời giải của hệ bất cân bằng đã đóng vai trò quan trọng để giải quyết những vấn đề tồn tại của vật lý. Theo một nhà nghiên cứu, hiệu ứng Kondo không cân bằng trong công trình có thể giúp kiểm soát các tính chất truyền dẫn trong chấm lượng tử để ứng dụng trong công nghệ vật liệu nano, đặc biệt trong chế tạo các transitor có cấu trúc nano; góp phần giải quyết tốt hơn trong nghiên cứu các chất điện môi Mott khi điều kiện không cân bằng xảy ra – một chất vừa có ý nghĩa về nghiên cứu cơ bản vừa có ý nghĩa ứng dụng cao trong công nghệ vật liệu tiên tiến do khả năng điều khiển được tính chất truyền dẫn/cách điện trong các chất điện môi Mott có thể hữu ích trong chế tạo các vật liệu thay thế vật liệu bán dẫn truyền thống. Đặc biệt, hiệu ứng Kondo trong công trình có khả năng hiện thực hóa thông qua mô phỏng lượng tử, một hướng nghiên cứu hiện đại và có khả năng ứng dụng cao trong tương lai.  Với TS. Nghiêm Thị Minh Hòa, đây là “một dấu mốc quan trọng, nó cho thấy vấn đề mà mình theo đuổi có thể giải quyết được”. Do đó, kể từ khi trở về Việt Nam, thực hiện nghiên cứu một cách độc lập, chị có đủ cơ sở để “bắt đầu làm những gì mình mong muốn, như mở rộng quan sát cho những hệ bất cân bằng gần với thực nghiệm hơn, ví dụ bài toán chùm ion bắn lên bề mặt kim loại đã được nghiên cứu từ những năm 1980 mà chưa giải thích được một số hiệu ứng phi tuyến. Cuộc chơi dường như mới bắt đầu”.  Chấp nhận sức ép công việc  Mặc dù những ý tưởng và phần thực hiện kết quả tính toán của công trình nghiên cứu về hiệu ứng Kondo được thực hiện ở Đức, “ý tưởng hay quá nên phải làm nhanh vì sợ người khác làm mất, do đó ngay thời điểm Noel 2016, cũng sắp về Việt Nam rồi nhưng cả tôi và TS. Costi đều cố gắng thực hiện” – TS. Nghiêm Thị Minh Hòa kể, nhưng một phần quan trọng của công trình đã được thực hiện tại Việt Nam, khi chị đã về đầu quân cho Viện AIST.  Trở về Việt Nam vào tháng 1/2017, cũng như nhiều đồng nghiệp khác, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa chấp nhận phải đối mặt với nhiều sức ép, trước hết là một môi trường nghiên cứu không thuận lợi như ở nước ngoài – nơi các nhà nghiên cứu chỉ cần tập trung làm tốt công việc của mình. Giải pháp mà chị đưa ra là chọn một nơi làm việc nào đó có nhiều điểm giống với nơi chị từng làm postdoc. Sau khi tham khảo ý kiến của bạn bè, chị và chồng mình, TS. Đặng Thế Hùng, quyết định nộp hồ sơ về AIST. “Hồi đó mình cũng đắn đo nhưng khi biết nhiều thông tin về AIST thì mình biết chắc chắn là sẽ phải về đó thôi”, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa kể lại.  Tuy nhiên, mọi việc không hẳn hoàn hảo như mong đợi, kể cả về bài báo lẫn công việc, ngay cả khi công trình đã được gửi tới tạp chí Physics Review Letter và buổi phỏng vấn đã kết thúc với cái gật đầu của PGS. TS Phạm Thành Huy, viện trưởng AIST khi đó. Chị cho biết: “Bọn mình mới chỉ ký hợp đồng với Viện thôi, chưa được ký với trường. Anh Huy có hứa là mọi việc sẽ tốt hơn”. Vào thời điểm đó, những quan điểm mới về việc nhân sự ở trường đại học Bách khoa Hà Nội khiến người phụ trách như PGS. TS Phạm Thành Huy cũng không thể chủ động nhận người một cách chính thức. “Ngay khi bạn Hòa tới viện phỏng vấn, tôi đã muốn giữ bạn ấy lại nhưng ngặt một nỗi trường chưa muốn ký hợp đồng. Vì vậy, tôi đã quyết định ký hợp đồng cấp viện với hai vợ chồng bạn ấy, PGS. TS Phạm Thành Huy nhớ lại thời điểm “linh động” giải quyết trường hợp của hai vợ chồng TS. Nghiêm Thị Minh Hòa. Với việc “phạm luật” tự ký hợp đồng bằng “quỹ riêng của viện, vốn tồn tại 10 năm nay bằng tiền đóng góp của những người đi trước, dành cho anh em mới về, chưa có đề tài nghiên cứu”, anh đã giữ chân được TS. Nghiêm Thị Minh Hòa ở lại trường Bách khoa Hà Nội.      Công trình nghiên cứu về hiệu ứng Kondo được thực hiện ở Đức, “ý tưởng hay quá nên phải làm nhanh vì sợ người khác làm mất”.      Nhớ lại quãng thời gian đầu về AIST, tuy mới là hợp đồng cấp Viện, nhưng TS. Nghiêm Thị Minh Hòa không coi đó là vấn đề gì quá quan trọng, bởi với chị, điều quan trọng hơn cả là được làm việc trong một môi trường cởi mở và tôn trọng lẫn nhau. Nhờ vậy, chị có toàn thời gian để giải quyết vấn đề của mình một cách thấu đáo: công trình gửi Physics Review Letter của chị bị gửi lại vào tháng 3/2017 với câu bình của người phản biện “kết quả có nhiều lỗi và không thể đăng được, phải sửa nếu muốn được đăng”. Vậy là “ngồi cả mấy tháng ‘dằn vặt đau đớn’ ở AIST mà không biết lỗi nằm ở đâu, tính toán số sai hay dẫn giải công thức sai”. Rút cục, chị đã phát hiện ra lỗi nằm ở tính toán số dẫn tới kết quả của công trình vi phạm quy tắc tổng phổ. Khi phát hiện ra vấn đề, chị đã xử lý vấn đề một cách gọn gàng và mạch lạc để sửa bài và gửi lại vào tháng 7/2017.  Sau quãng thời gian ở AIST, chị quyết định chuyển sang Viện nghiên cứu tiên tiến PIAS Phenikaa, một môi trường làm việc hoàn toàn mới. Chị nhận định về nơi làm việc mới của mình: “Ở đây chúng tôi có thể yên tâm tập trung vào nghiên cứu chứ không phải để tâm về chuyện tiền bạc. Tất nhiên, chỗ nào cũng có sức ép, ở PIAS là sức ép phải có mạch nghiên cứu liên tục nhưng đây là sức ép mà mình mong muốn và là điều tốt với nhà nghiên cứu”. Một vấn đề khác chị gặp phải là việc tìm sinh viên và cộng sự để thực hiện các dự án đang theo đuổi. “Thực tế đây là vấn đề mình sẽ gặp phải dù làm việc bất kỳ đâu, người làm khoa học ngoài cần khả năng còn cần đam mê. Hy vọng câu truyện ở đây ‘inspire’ các bạn đến làm việc với mình và khoa học nói chung”.  ***  Trong những câu chuyện về “nghề vật lý”, TS. Nghiêm Thị Minh Hòa thường nói rằng, “vật lý liên quan đến vấn đề năng lượng, người làm vật lý phải biết các mức năng lượng trong nghiên cứu của mình là gì”. Những suy nghĩ về năng lượng này dường như không chỉ thuộc phạm vi những hệ tương tác mạnh bất cân bằng mà nó còn thuộc một phạm vi rất đời thường khác và trên một hệ quy chiếu khác. Trở về Việt Nam, chị không chỉ được khởi đầu tốt trong nghiên cứu là có công bố trên Physics Review Letter, có đề tài đầu tiên do Quỹ NAFOSTED tài trợ mà còn có thêm niềm vui mới, được ở gần bố mẹ đã đến tuổi nghỉ hưu và được nghe đứa con gái hai tuổi rưỡi có thể bập bẹ tiếng Việt, “nếu ở lại Đức thì sẽ không hẳn Đức, không hẳn Việt, không có gì ‘native’ cả”, chị mỉm cười tự tin về quyết định của mình.     —  1. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0304885302006972   2.  https://physicsworld.com/a/new-spin-on-ferromagnetic-kondo-effect/   3. https://www.nobelprize.org/prizes/physics/1982/summary/   4. https://iopscience.iop.org/article/10.1088/2043-6262/5/3/033001          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang TS. Nguyễn Thị Trang Nhung: Cần thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu nghiên cứu ô nhiễm không khí      “Ô nhiễm không khí xung quanh không gây tác động tức thì đến sức khỏe con người như những bệnh truyền nhiễm do virus gây ra nhưng nó làm tăng nguy cơ khiến các bệnh khác trở nên trầm trọng hơn. Chúng ta không dễ nhận ngay ra hậu quả cho đến khi quá muộn.”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung (trường Đại học Y tế Công cộng) – một trong số ít những người tiên phong trong việc nghiên cứu tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe người dân Việt Nam, chia sẻ về lý do vì sao chị lại chọn con đường này.      TS. Nguyễn Thị Trang Nhung, trường Đại học Y tế Công cộng.    Đánh giá nguy cơ rủi ro về bệnh tim mạch và hô hấp     Hiện nay ở Việt Nam hầu như các nguy cơ và khuyến cáo về tác hại của ô nhiễm không khí và sức khỏe vẫn dựa trên hướng dẫn chung của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và có rất ít nghiên cứu chuyên sâu đặc thù cho Việt Nam. Các nghiên cứu mà WHO thực hiện đều dựa vào những phương pháp có thể áp dụng trên nhiều quốc gia, không phân biệt mức độ phơi nhiễm ô nhiễm không khí, tình trạng sức khỏe dân cư, các yếu tố ảnh hưởng khác… Do đó, việc sử dụng kết quả được mô hình hóa đó sẽ dẫn đến những sai lệch trong đánh giá nguy cơ sức khỏe thực sự ở Việt Nam, và có thể ảnh hưởng đến cả chuỗi phân tích lợi ích-chi phí cho những chính sách y tế hoặc giảm thiểu ô nhiễm không khí hiệu quả dựa trên dữ liệu sau này. Thêm vào đó, Việt Nam cũng cần phải có những mô hình bệnh tật của riêng mình bởi với mỗi nhóm bệnh và đối tượng thì từng loại chất gây ô nhiễm sẽ có những tác động gây bệnh khác biệt. Do vậy, theo TS Nguyễn Thị Trang Nhung, “Chúng ta cần phải tiến hành các nghiên cứu đánh giá tác động biết mức độ ảnh hưởng của các chất ô nhiễm trên chính người Việt Nam”.    Nghiên cứu gần đây nhất của chị và các đồng nghiệp tại ĐH Y tế công cộng, do Quỹ NAFOSTED tài trợ, đánh giá tác động của ô nhiễm không khí lên tình hình nhập viện do 6 bệnh tim mạch (các bệnh hệ tuần hoàn chung, rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim, mạch vành, đột quỵ) và 3 bệnh hô hấp phổ biến ở Việt Nam của người trưởng thành và trẻ em tại 3 địa phương Hà Nội, Phú Thọ và Quảng Ninh.    Để thực hiện nghiên cứu này, chị đã thu thập trên 380.000 bệnh án từ các bệnh viện tại ba tỉnh trong giai đoạn 2011-2018, đồng thời sử dụng dữ liệu môi trường từ các trạm quan trắc cố định và dữ liệu khí tượng từ Trung tâm Dự báo Khí tượng và Thủy văn Trung ương (Bộ TN&MT), trong đó dữ liệu môi trường tập trung vào bảy chất ô nhiễm đặc trưng là các khí NO2, O3, SO2, NO, CO và bụi PM2.5, PM10. Việc xem xét mối liên hệ giữa sự thay đổi của nồng độ ô nhiễm với số ca nhập viện cho thấy, hai loại bụi PM2.5 và PM10 làm tăng nguy cơ nhập viện do bệnh tim mạch ở cả ba địa phương. Các ca nhập viện do đột quỵ ở Hà Nội và suy tim ở Phú Thọ có mối liên quan chặt chẽ tới nồng độ SO2. Đáng chú ý, ô nhiễm không khí ảnh hưởng rõ rệt hơn với những người trên 65 tuổi, đặc biệt vào mùa lạnh.    Tuy nhiên đối với các bệnh về hô hấp, hầu như tất cả các chất ô nhiễm đều ảnh hưởng đến các ca nhập viện ở người lớn ở Hà Nội, trong đó nồng độ SO2 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng nhập viện do bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính COPD. Với trẻ em, nồng độ bụi PM10 và NO2 tăng dù trước đó gần một tuần cũng có tác động mạnh nhất tới sức khỏe. Điều đáng tiếc nhất đối với TS. Nguyễn Thị Trang Nhung là so với Hà Nội thì chuỗi dữ liệu của Phú Thọ và Quảng Ninh ngắn hơn và bị gián đoạn, do đó nghiên cứu chưa thể đưa ra kết luận có ý nghĩa.    Dù đem lại những thông tin rất hữu ích nhưng với nhóm nghiên cứu, đây mới là những kết quả sơ bộ ban đầu. Họ vẫn đang tìm cách bổ sung các dữ liệu còn thiếu với mong mỏi tiến tới xây dựng được hàm yếu tố nguy cơ (dose-response), qua đó có thể ước tính được số người bị ảnh hưởng sức khỏe do ô nhiễm không khí. “Nếu làm được điều này, chúng tôi sẽ có thể giải đáp được độ chính xác của nhận định ‘60.000 ca tử vong vì ô nhiễm không khí mà các tổ chức quốc tế ước tính cho Việt Nam’”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung giải thích.      Vào mùa đông, do lượng mưa ít, nhiệt độ không khí thấp ảnh hưởng của gió mùa đông bắc khiến cho không khí mùa đông thường ô nhiễm hơn mùa hè nên các chỉ số ô nhiễm không khí thường cao hơn mùa hè rất nhiều. Đỉnh điểm là mùa đông năm ngoái, các đợt chỉ số ô nhiễm ở ngưỡng nguy hiểm kéo dài nhiều ngày. Các bệnh viện cho biết, trong các đợt không khí Hà Nội ô nhiễm cao, số trẻ đi khám hô hấp đã tăng lên hơn bình thường. Nguồn: Zing.      Thiếu dữ liệu hỗ trợ nghiên cứu     Nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Trang Nhung là một trong số ít các nhóm nghiên cứu về tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe ở Việt Nam. Dù các nghiên cứu mang tính nền móng đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực này đã bắt đầu từ những năm 2000 và một trong số đó là đánh giá gánh nặng bệnh tật do ô nhiễm không khí lên các ca nhập viện vì bệnh hô hấp ở trẻ em tại TP. Hồ Chí Minh. Sau một quãng thời gian ngắt quãng, phải đến tận giai đoạn 2015-2019 mới bắt đầu có thêm một số nghiên cứu tương tự lên nhóm bệnh tim mạch và hô hấp ở cả trẻ em và người lớn tại một số tỉnh phía Bắc (trọng tâm là Hà Nội) và TP.Hồ Chí Minh. Theo TS. Nguyễn Thị Trang Nhung, sở dĩ có ngắt quãng là do Việt Nam khi đó có rất ít dữ liệu về môi trường và y tế trong khi việc tiến hành những nghiên cứu theo hướng này lại rất cần đến hai loại dữ liệu đó.    Đây cũng là khó khăn mà nhóm nghiên cứu của chị cũng đang phải nếm trải. Quá trình số hóa ngành y mới bắt đầu ở Việt Nam nên chưa có một hệ thống ghi nhận thông tin một cách đầy đủ và được kết nối thông suốt giữa các bệnh viện để theo dõi quá trình sức khỏe và nhập viện, chuyển viện, ra viện, bảo hiểm… của từng bệnh nhân. Do đó, có rất nhiều dữ liệu bệnh viện mà họ không thể sử dụng được vì chỉ là dữ liệu thô, chưa được chuẩn hóa và không thể định danh. “Mặc dù chúng tôi có hợp tác nghiên cứu với các nhóm từ Thụy Sỹ, Hà Lan hoặc Anh, nhưng các chuyên gia nước ngoài đều bảo rằng họ chỉ có thể giúp đỡ về mặt kỹ thuật, nếu không có dữ liệu thì họ cũng không thể tư vấn được gì”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung chia sẻ.    Mặt khác, cũng như nhiều nhà nghiên cứu về ô nhiễm không khí trên diện rộng khác, họ không có đủ dữ liệu cần thiết cho các đề tài của mình. “Trước đây, cả Hà Nội chỉ có một trạm quan trắc không khí chuẩn ở đường Nguyễn Văn Cừ, do đó mọi dữ liệu không khí đều phải quy chiếu về đó. Mỗi khi trạm Nguyễn Văn Cừ dừng hoạt động thì chuỗi số liệu này cũng mất đi”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung kể. Tình hình chỉ cải thiện từ năm 2015, khi trạm quan trắc ở Đại sứ quán Mỹ ở Láng Hạ đi vào hoạt động, đem lại cho chị và đồng nghiệp thêm một nguồn dữ liệu quý.    Tuy vậy, để có thông tin sát thực cho nghiên cứu thì sẽ cần một con đường dài nữa bởi họ vẫn gặp thách thức khi thu hẹp phạm vi (down-scale) đánh giá, bởi rõ ràng mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tại từng quận sẽ khác biệt so với con số trung bình cho cả thành phố. Mặc dù từ năm 2018, Việt Nam đã bắt đầu hình thành mạng lưới các trạm quan trắc cảm biến giá rẻ nhưng các số liệu đó mới mang tính chất định lượng để chỉ ra xu hướng và vẫn cần phải hiệu chuẩn rất nhiều nếu muốn sử dụng trong nghiên cứu.    Để cải thiện tình hình, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung đang tiến hành thông qua hợp tác với nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Nhật Thanh (Trung tâm Công nghệ tích hợp liên ngành Giám sát hiện trường, trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN) nhằm sử dụng bản đồ ô nhiễm không khí bằng ảnh vệ tinh để có dữ liệu ô nhiễm không khí liên tục cả về thời gian và không gian. Họ cũng đang chờ kết quả kiểm kê phát thải từ một dự án khác mà Hà Nội đang hợp tác với World Bank nhằm phân tích thành phần hóa học của bụi để xác định nguồn thải và tính toán tổng lượng phát thải cho thành phố. Theo TS Nguyễn Thị Trang Nhung, “khi có thêm những dữ liệu đó, kết quả tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe người dân chắc chắn sẽ khác với những ước tính sơ bộ. Thông thường, kinh nghiệm quốc tế cho thấy nếu chúng tôi ‘gán’ được chi tiết về mức phơi nhiễm với không khí ô nhiễm thì tác động của nó lên sức khỏe sẽ càng tăng”.      Than tổ ong được nhận định là một nguồn gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe. Sở Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội thống kê, mỗi ngày người dân Hà Nội đốt tới 528 tấn than tổ ong, phát thải khoảng 1.870 tấn khí CO2 vào không khí. Hiện nay, chính quyền Hà Nội và các tổ chức phi chính phủ đang nỗ lực vận động người dân ngừng sản xuất và sử dụng than tổ ong.   Chị cho rằng việc giải được bài toán dữ liệu sẽ góp phần mở ra nhiều hướng nghiên cứu sâu hơn cho Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu hiện có vẫn đang dừng ở mức đánh giá các nguy cơ cấp tính – tức tác động trực tiếp khi ô nhiễm không khí tăng lên bất thường với tình trạng sức khỏe trong khoảng thời gian đó. “Chúng ta chưa có được những nghiên cứu về nguy cơ dài hạn lên sức khỏe người dân, chẳng hạn xác định mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí tới các bất lợi khi mang thai như nhẹ cân, sinh thiếu tháng, ảnh hướng trí não, suy giảm hệ hô hấp, suy giảm hệ miễn dịch…, hoặc trong thời kì phát triển đầu của trẻ. Để làm được điều đó, cần phải theo dõi đối tượng từ khi chưa bị phơi nhiễm đến hiện tại”, chị tiếc nuối về những điều chưa làm được trong khi theo quan sát của chị, ở các nước như Canada, Anh, với lợi thế là sẵn có hệ thống điện tử quản lý dữ liệu dân cư, đủ khả năng ghi nhận tất cả sự thay đổi về chỗ ở, hồ sơ sức khỏe, dinh dưỡng, bảo hiểm… nên “làm bất kì một nghiên cứu đánh giá tác động sức khỏe nào, họ đều có sẵn sàng dữ liệu cho ít nhất 30-35 năm”.    Là một người luôn cập nhật những kết quả nghiên cứu mới của đồng nghiệp quốc tế, TS. Nguyễn Thị  Trang Nhung cảm thấy những điều mình làm được còn quá ít ỏi. Chị cho rằng, trong tương lai, chị và các đồng nghiệp của mình tại Việt Nam phải theo được những hướng nghiên cứu sâu hơn mà thế giới đang thực hiện, nghĩa là không chỉ cần đến số lượng dữ liệu mà còn cả chất lượng của dữ liệu y tế, chẳng hạn xem xét tác động của ô nhiễm không khí liên quan đến các xét nghiệm sinh hóa trong tế bào… Hiện nay, một số nơi tại Việt Nam đã bắt đầu thu thập dữ liệu, chẳng hạn Viện nghiên cứu Big Data của Vingroup đang xây dựng ngân hàng dữ liệu BioTracker của riêng mình hay các công ty nước ngoài như Genetica, GIS Singapore… quan tâm đến thị trường sức khỏe Việt Nam cũng đang thu thập dữ liệu gene, bao gồm cả người Việt Nam. TS. Nguyễn Thị Trang Nhung hi vọng nếu thiết lập được các cơ chế chia sẻ dữ liệu linh hoạt cho những nghiên cứu phục vụ lợi ích cộng đồng cũng như mở rộng hợp tác nghiên cứu liên ngành thì Việt Nam sẽ có thêm nhiều nhóm nghiên cứu giỏi quan tâm đến ô nhiễm không khí và tác động sức khỏe hơn, và do đó, sẽ có nhiều cơ hội tư vấn về chính sách cho các nhà quản lý hơn. □    Author                Phong Du        
__label__tiasang TS. Nguyễn Việt Hùng: Cần kiên nhẫn trong tìm hiểu nguồn gốc virus ở Vũ Hán      Không có những câu trả lời nhanh về nguồn gốc của coronavirus, TS. Nguyễn Việt Hùng – một trong những chuyên gia của WHO đang thực thi nhiệm vụ điều tra về Covid-19 tại Vũ Hán, Trung Quốc – đã nói với phóng viên hãng AFP như vậy.      Cùng với các đồng nghiệp, TS. Nguyễn Việt Hùng, đồng phụ trách Chương trình Sức khỏe người và động vật tại Viện nghiên cứu vật nuôi quốc tế ở Nairobi (Kenya), đã tới thị sát những điểm liên quan đến virus tại thành phố Vũ Hán. Anh cho rằng, do cuộc điều tra lần này diễn ra sau khi đại dịch bắt đầu một năm nên dây không phải là là thời điểm lý tưởng, dẫu vậy thì chuyến đi này vẫn đang được tiến hành tốt.  Chuyến đi này khá nhạy cảm, khi bị trì hoãn trong năm đầu đại dịch, nhưng hướng đến việc khám phá ra cách con virus này nhảy từ các động vật lên người vào cuối năm 2019 ở Vũ Hán trước khi gây ra cái chết của hàng triệu người trên toàn cầu. Anh cho rằng “đây là “một câu hỏi phức tạp và một nghiên cứu phức tạp” và thế giới cần phải biết là không có những câu trả lời nhanh.  “Thật không chắc là trong một chuyến đi ngắn, chúng tôi có thể thu được hiểu biết rất sâu hoặc những câu trả lời xác thực cho câu hỏi này”, anh nói. “Vì vậy tôi nghĩ là chúng tôi cần kiên nhẫn, chúng tôi vẫn đang trong quá trình tìm hiểu và chúng tôi cần thời gian và nỗ lực để hiểu vấn đề”.  TS. Nguyễn Việt Hùng cũng cho biết thêm là thực ra tốt nhất là chuyên gia của WHO có thể tới Vũ Hán sớm hơn. “Rõ ràng điều lý tưởng để thực hiện nghiên cứu này là ngay sau khi bệnh dịch nổ ra”.  Hơn một năm đã trôi qua kể từ những trường hợp đầu tiên mắc virus kì lạ này ở Vũ Hán, và đoàn của WHO chỉ được có hai tuần ở nơi này.  Kể từ lúc tới Vũ Hán, đoàn đã đến được một số điểm quan trọng, bao gồm các bệnh viện điều trị những bệnh nhân đầu tiên Covid-19 đầu tiên và chợ cá Huanan nơi có manh mối về những lây nhiễm đầu tiên xuất hiện. “Chúng tôi nghiên cứu về khung cảnh, các trường hợp khác nhau tại chợ cá, vì vậy nó sẽ giúp chúng tôi xây dựng lại được câu chuyện và hiểu tốt hơn về bối cảnh của chợ cá’, anh nói.  Vào ngày 3/2/2021, đoàn đã tới Viện nghiên cứu Vi trùng Vũ Hán – một điểm nóng khác vì liên quan đến các thuyết âm mưu về nguồn gốc của virus.  TS. Nguyễn Việt Hùng, một chuyên gia thú y, nói đoàn chuyên gia đã ngay lập tức gặp gỡ Shi Zhengli, một nhân vật quan trọng của Viện. Tuy nhiên anh cũng tiết lộ là đoàn sẽ không tới các hang động ở Tây Nam Vân Nam, nơi có mối liên hệ gần gũi với virus – RaTG13 –  thông qua tìm hiểu phân dơi vào năm 2013, theo một báo cáo của bà Shi.  Các nhà khoa học nghĩ rằng coronavirus xuất phát từ dơi và có lẽ là lan truyền sang người từ một động vật có vú. Dơi là một đề tài thảo luận quan trọng trong chuyến đi này của đoàn WHO, TS. Nguyễn Việt Hùng nói.  “Đây là một tiến trình”, anh nhận xét. “Và chúng tôi tập trung vào công việc và sẽ chờ đợi những gì sẽ có được từ chuyến đi này”.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: https://sg.news.yahoo.com/expert-calls-patience-over-sensitive-063315716.html  https://www.telegraph.co.uk/global-health/science-and-disease/exclusive-mission-really-big-step-forward-understand-covid-19/    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS Nguyễn Việt: Mở lối độc đạo để vẽ quá khứ      Con đường nghiên cứu vi tư liệu của TS Nguyễn Việt đã góp phần đem lại những mảnh ghép giúp bức tranh khảo cổ học tiền sơ sử của Việt Nam thêm các đường nét cụ thể và sinh động hơn.      TS Nguyễn Việt bên các trống đồng và hiện vật Đông Sơn mà ông sưu tập được. Nhiều lần phát hiện ra các nhóm đào trộm cổ vật vứt lại những mảnh hiện vật vỡ, nát, ông phải xin lại để phục chế. Ảnh: Bảo Như.  Vi tư liệu giúp hoàn chỉnh các mảnh ghép khảo cổ  Kể từ khi nhà khảo cổ học M. Colani phát hiện các di chỉ khảo cổ học đầu tiên thuộc về chủ nhân người Hòa Bình và đặt một khái niệm mới “Văn hóa Hòa Bình” lên bản đồ tiến hóa của thế giới vào năm 1932, đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục hành trình tìm hiểu về tổ tiên của chúng ta cách đây 20.000 năm cũng như xác định mối liên hệ với các nền văn hóa khảo cổ như Đông Sơn, Đồng Đậu, Phùng Nguyên… TS Nguyễn Việt (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á) là một người trong số họ. Ông đã dành cả đời mình, cần mẫn lặn lội khắp các di chỉ nằm trong hang động của người Hòa Bình cho tới các di chỉ đã hình thành làng mạc của người Đông Sơn, qua đó giúp tìm ra những mảnh ghép cho bức tranh thời tiền sơ sử.   Nghiên cứu về quá khứ không chỉ trả lời các vấn đề lớn như “ta là ai”, “từ đâu tới”, có “cấu trúc xã hội” như thế nào mà còn phải giải đáp hàng loạt các câu hỏi cụ thể như chế độ dinh dưỡng thời ấy là gì, họ mặc trang phục như thế nào, những di cốt được tìm thấy chết vì nguyên nhân gì…bằng khảo cổ vi tư liệu. Trong khoảng 10-20 năm trở lại đây, ngành cổ nhân học liên tục có các phát hiện mới dựa vào vi khảo cổ để trả lời câu hỏi chi tiết đó nhằm giúp hình dung đầy đủ, hoặc thậm chí nhận thức lại về xã hội loài người trong quá khứ (trong đó điển hình như năm 2019, việc đào xới lại hàng nghìn mẩu đất đá ở hang Denisova (biên giới Nga) kể từ lần khai quật những năm 1980 đã giúp tìm và khôi phục mẫu vật, giải trình tự gene con lai đầu tiên, chứng minh mối quan hệ giữa hai chủng người Neanderthal và Denisova). Nhưng ở Việt Nam, các câu hỏi tưởng như “nhỏ nhoi” kia hầu như chưa được quan tâm đúng mức. “Chính vì thế tôi theo đuổi hướng nghiên cứu khảo cổ học vi tư liệu, hay nói cách khác, tôi làm những gì mà Viện Khảo cổ học, các trường đại học, các bảo tàng trong nước không làm hoặc chưa làm”, TS. Nguyễn Việt lý giải vì sao ông lại chọn một hướng đi khác với các cơ quan nghiên cứu nhà nước.   TS Nguyễn Việt thực thà bộc bạch rằng điều ông vừa nói có thể làm cho những đồng nghiệp trong các cơ quan nghiên cứu nhà nước phật lòng nhưng nó xuất phát từ một thực tế mà ông giải thích cặn kẽ là trong một thời gian dài, các viện đã “không đi vào những điều rất cụ thể như quần áo, dinh dưỡng, nghề làm nông… để người dân hiểu được hiện tượng tiền sử của Việt Nam sinh sống như thế nào”. Vì thế nên ông “phải làm kỹ hơn, sâu hơn để tạo nên bức tranh tiền sử, hỏi đến lúa thì tôi không chỉ biết đó là lúa gì, giống nào, mà còn hiểu lông của lúa, gai của lúa ra làm sao, chu trình sinh học của nó thời ấy như thế nào” để cho ngành khảo cổ học trong nước không bị khuyết thiếu những thông tin sinh động đó. “Nếu mình tự lập một trung tâm nghiên cứu riêng mà lại làm trùng nội dung với các viện nhà nước thì rõ ràng làm một việc không cần thiết”, ông nói.  Do đó, thay vì chỉ tập trung đào xới tìm các hiện vật được cho là quan trọng như di cốt người, công cụ, trang sức… thì ông còn phải sàng lọc cả xe đất đá không bỏ sót thứ gì trong khu khai quật, tìm con ốc trong hang để có thể xác định vòng sinh học và ngày chết, soi từng vết mòn trên trống đồng, thạp đồng. Những chi tiết lẩn khuất một cách bí ẩn trong mỗi di vật nhỏ nhỏ như thế thật dễ bị bỏ qua nhưng lại không thoát khỏi cặp mắt tinh nghề của ông. Nhặt nhạnh từng chi tiết một, ông đã phát hiện ra hàng nghìn mẫu vật vải có thể giúp hình dung ra người thời Đông Sơn đã biết mặc vải lanh, vải gai, tìm ra hàng trăm hạt giống khác nhau, từ lúa gạo cho tới hạt tiêu, hạt chè… Các mẫu vật tưởng chừng vô giá trị ấy, dưới sự bóc tách của TS Nguyễn Việt, một chuyên gia hội tụ đủ hiểu biết và sự tỉ mỉ cần thiết, đã hé lộ những mảnh ghép về tổ chức kinh tế xã hội tiền sử.      “Nếu mình tự lập một trung tâm nghiên cứu riêng mà lại làm trùng nội dung với các viện nhà nước thì rõ ràng làm một việc không cần thiết”, TS Nguyễn Việt.      Không ngần ngại “nhặt nhạnh” và kiên trì làm việc mà không bị những thúc ép về mặt hành chính, ông đã khám phá từng vết nứt trên các công cụ đá của người tiền sử lộ ra những vết tích của thức ăn, từ đó hình dung thêm về chế độ dinh dưỡng của người cổ. Lại chính ông chứ không phải ai khác đã thấy các cách đánh trống khác nhau từ các vết mòn trên trống đồng Đông Sơn để trả lời câu hỏi mà giới khảo cổ học tìm kiếm bấy nay, ví dụ có thể đặt thẳng như trong mô tả trên trống hoặc ôm ngang người, hoặc treo lên để đánh. Với những hiểu biết đó, ông đã có những công bố trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành mà cái tiêu đề đã đủ nói lên tính hấp dẫn của thông tin “Cái chết của người đàn bà Xóm Rền cách ngày nay 3500 năm”, “Vải sợi trong văn hóa Đông Sơn”, “Lương thực của người Việt cổ”… Các nghiên cứu vi tư liệu của ông giúp vẽ chi tiết bức tranh về lịch sử hình thành vết tích con người thời đại đồ đá ở vùng Hà Nội cổ, những cư dân trồng lúa đầu tiên ở ven vịnh Hà Nội, biến thoái, sự hình thành vựa lúa đầu tiên ở hạ lưu sông Hồng, những vùng kinh tế – văn hóa Đông Sơn trên nền vựa lúa vịnh Hà Nội cổ…  Chính vì thế, ông được các nhà khảo cổ học nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam đánh giá là một trong những người có phương pháp luận tốt nhất hiện nay. Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong bài viết nhân ngày mất của PGS Trịnh Cao Tưởng đã nhận xét về học trò mình: “Khảo cổ học vi tư liệu phải nói đến Nguyễn Việt”. TS Nishimura (nhà nghiên cứu về văn hóa Hòa Bình và Sơn Vi, đã tham gia đào tạo cán bộ trẻ cho Viện Khảo cổ học trong nhiều năm) từng nói “nếu Đăng muốn trở thành nhà khảo cổ học thực sự giỏi thì hãy tìm đến học Nguyễn Việt”, TS Lê Hải Đăng, Phòng Nghiên cứu thực nghiệm, Viện Khảo cổ học kể và sau đó anh đã đến Trung tâm để học cùng TS Nguyễn Việt. Còn GS Peter Bellwood, nhà khảo cổ học từ Đại học Quốc gia Úc, Tổng Thư ký Hội Tiền sử châu Á – Thái Bình Dương đã tìm đến TS Nguyễn Việt để nghiên cứu hang Xóm Trại (di chỉ thuộc Văn hóa Hòa Bình) cũng như công bố chung về nghiên cứu vải của thời Đông Sơn, thuyền cổ của người Việt Nam từng nhận xét “Việt có kinh nghiệm và kiến thức về Việt Nam tỉ mỉ hơn tôi”.   Tự vẽ con đường nhưng không có nghĩa là ông lặng lẽ làm một mình, trái lại ông kết nối chặt chẽ với các nhà khảo cổ học, các viện nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác từ Đức (nơi ông được đào tạo và nghiên cứu suốt 10 năm trước khi trở về Việt Nam cuối những năm 1990) cho đến Úc, Nhật. Bởi vì khảo cổ học vi tư liệu cần tới những công cụ, phương pháp tiên tiến từ các ngành khoa học tự nhiên khác… Những mẫu vật được ông gửi đi khắp các phòng thí nghiệm của Viện khảo cổ Đức, Nhật, mang đi mời các nhà chuyên môn ở các ngành khác như nông nghiệp, sinh học, nghiên cứu gene cùng ngồi phân tích. Ông không chỉ lặn lội tìm đến từ thế hệ các nhà nông học hàng đầu như cố GS Đào Thế Tuấn (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp) cho tới các nhà khoa học trẻ như TS Hoàng Hà (Trung tâm giải mã gene hài cốt liệt sĩ, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) để giải mã các hiện vật bằng các kỹ thuật hiện đại mà còn thường tìm dự các khóa hội thảo của từng ngành để có cái nhìn đa chiều, đa ngành về những gì mình đang làm. “Tôi vô tình gặp TS Nguyễn Việt trong một cuộc hội thảo của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tổ chức, nghe ông đặt ra một số câu hỏi và quyết tâm phải lên Trung tâm của ông lấy mẫu về phân tích và tìm hiểu gene”, TS Hoàng Hà kể. Nhờ đó hai bên đã tiến hành một đề tài nghiên cứu về gene người cổ dựa trên các mẫu vật khai quật được, và rất có thể tới đây TS Hoàng Hà và TS Nguyễn Việt có thể trả lời cho nguyên nhân cái chết của người cổ từ cách đây cả nghìn năm cũng như hé mở ra các giả thiết khác về bệnh học của người Đông Sơn.   Một tay xoay sở  Nhìn vào khối lượng công bố hàng trăm bài viết trên các tạp chí trong nước và quốc tế, các hội thảo khảo cổ học thế giới về các văn hóa tiền sơ sử ở Việt Nam và Đông Nam Á về khảo cổ học tiền sơ sử, người ta dễ lầm tưởng rằng đằng sau đó là cả một ekip với bộ máy hoàn chỉnh. Nhưng thực ra suốt 20 năm nay, kể từ ngày thành lập Trung tâm, chỉ có duy nhất một tay ông lo liệu, ngoài ra chỉ có một cộng sự là nhà nghiên cứu Tạ Đức chuyên khảo sát về dân tộc học cùng một số nhân viên giúp việc để thực hiện các phần việc đơn giản trong xử lý và bảo quản hiện vật. Nhịp sống hằng ngày của ông gắn liền cùng một nhịp với nghiên cứu: không gian nghiên cứu, nơi chứa đựng hàng vạn mẫu vật này cũng chính là nhà của ông. Ngoài căn hầm riêng để chứa hiện vật, ông phân chia khu nhà này thành hai nửa: một nửa để ở, một nửa để tiếp các đoàn khách nghiên cứu nhưng đôi khi thật khó phân biệt ông thuộc về nửa nào, bởi ông vẫn thường lụi cụi giữa ngổn ngang những gốm, xương, hiện vật vỡ và ngồi bên kính hiển vi đến cạn ngày.     Nghiên cứu viên trong đoàn nghiên cứu khảo cổ học Ba Lan sang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á vào tháng 12/2019. Ảnh: Bảo Như.  Cách làm việc xoay sở một mình của ông “không dễ hợp tác với người khác trong khu vực công”, như chính ông cho biết và các nhà nghiên cứu khác cũng có cùng cảm nhận. Bằng chứng là tất cả đề tài nghiên cứu của ông đều có nguồn tài trợ từ ngân sách bằng… không. Không phải vì ông không cần tới tiền tài trợ cho nghiên cứu, mà vì ông đã từng kinh qua trong hệ thống nhà nước từ những năm 1970-1980 nên hiểu rõ ràng buộc khắt khe về hành chính, độ trễ về tài chính, ngân sách. Có lẽ ông là người đi tiên phong, từ nghiên cứu vi tư liệu cho đến muốn xin thành lập một nhóm nghiên cứu mạnh (gồm ông và một số cán bộ trẻ khi đó như  PGS Hà Hữu Nga, PGS Tống Trung Tín) để trở thành một tổ chuyên môn tương đương với trình độ của thế giới trong bối cảnh nghiên cứu khảo cổ học những năm ấy còn rất đơn sơ và chưa theo thông lệ quốc tế … nên bất thành. Cung cách quản lý cũ kỹ của những ngày đó còn khiến ông muốn xin một chiếc ô tô chở máy phát điện lên hang Xóm Trại (Hòa Bình) nhưng không nổi, tới mức GS Phạm Huy Thông phải đích thân đi lên Xóm Trại đọc sách để “tạo điều kiện” riêng cho ông có máy nổ trong hai ngày. Ngày đó ông hiểu rằng để tìm kiếm một con đường riêng của mình và tận tụy với nó thì nên thành lập một trung tâm nghiên cứu độc lập.   Nhưng chọn một lối đi riêng thì “anh làm thế nào để nuôi được trung tâm?”. Khi nhận được câu hỏi của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, ông thực thà kể rằng “khi có trong tay một khoản tiền dự định dành cho nghiên cứu mà chưa dùng tới, em mua một căn nhà để đó rồi lúc được giá thì lại bán. Nhưng nếu là nhà nước thì chắc đến anh cũng khó làm được điều như vậy!”. Đó chính là cách mà ông vận hành Trung tâm: sử dụng nguồn tiền có được từ những năm tháng đi học tập, nghiên cứu và lăn lộn gửi hàng từ Đức về Việt Nam để bán, sau khi lo đủ cho gia đình theo nguyên tắc chia ba (một phần nuôi vợ con, một phần nuôi bản thân và phần thứ ba cho đam mê nghiên cứu), ông dành dụm được 100.000 USD và quyết định sẽ quay vòng số tiền này dành cho công việc nghiên cứu. Ông luôn tính toán cực kỳ chi tiết là làm gì, tiêu cái gì, bởi vì chỉ sai một bước thì trung tâm sẽ không có kinh phí hoạt động. Ngoài việc nộp hồ sơ xin tài trợ nghiên cứu từ các quỹ của thế giới cho từng đề tài và đi hội thảo quốc tế hằng năm cũng như có tiền cho thực tập sinh ăn ở đây miễn phí, ông thu vén để có thêm tiền mua trang thiết bị hiện đại cho Trung tâm bằng cách mua nhà đất thanh lý rồi đợi được giá bán đi, mua đất đồi ở Hòa Bình để vừa xây dựng trạm nghiên cứu thứ hai vừa… trồng dổi để thế hệ kế cận trung tâm này có vốn làm nghiên cứu tiếp. Ông tự tay phác thảo quy hoạch, thiết kế kiến trúc, vật liệu rồi gọi thợ người địa phương và tự trông coi giám sát việc xây dựng trung tâm trong suốt 2 năm để xây dựng trụ sở. Khi các chuyên gia và GS Trần Đức Lương tới thăm Trung tâm, vẫn còn xoàng xĩnh “tan hoang”, ông bảo “bọn em tay không bắt giặc thế này thôi nhưng đảm bảo nội dung khoa học đầy đủ”.    GS Peter Bellwood (bìa trái) cùng TS Nguyễn Việt xem xét những con thuyền độc mộc mà TS Nguyễn Việt khai quật, lưu giữ. Ảnh: NVCC.  Cái khó thứ hai là những trung tâm độc lập như của TS Nguyễn Việt, dù có năng lực chuyên môn nhưng rất ít khi có cơ hội tham gia bảo tồn các hiện vật quý, ngay cả khi nó đang trên bờ vực bị tan thành từng mảnh theo nghĩa đen bởi có nhiều ràng buộc chỉ các cơ quan nhà nước mới có thể thực thi. Nên ông cũng tự nhận xét “mô hình nghiên cứu độc lập như của tôi có lẽ chưa chín muồi khi nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam”. Ông kể, vào năm 2001, khi ông cùng người dân tìm ra mộ thân cây khoét rỗng ở Hưng Yên, đã báo ngay cho Bảo tàng tỉnh cử người xuống để cùng dân xem xét, Sở Văn hóa Hưng Yên làm ngay công văn gửi Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xin phép phối hợp với Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á khai quật chữa cháy. Mặt khác, ông cùng GS Cao Xuân Phổ, TS Ngô Thế Phong, TS Ngô Văn Doanh đến gặp Cục Di sản để xin xác minh năng lực của Trung tâm. Cục Di sản cử cán bộ xuống Trung tâm để xác minh có đủ năng lực thực hiện khai quật nhưng người của Cục chưa ra khỏi cửa thì có điện thoại nói là lãnh đạo bộ không đồng ý cho Trung tâm khai quật vì “các anh không có tóc để nắm” – Cục không có trách nhiệm để cấp phép cho một tổ chức phi chính phủ để khai quật. Sau đó, “Sở Văn hóa tỉnh Hưng Yên vẫn quyết mời tôi xuống khai quật không cần giấy phép của Cục Di sản. Đó là bài học rất cụ thể mà mỗi lần thảo luận tôi hay nói, các cơ quan quản lý di sản sẽ chịu trách nhiệm trước rất nhiều thứ di sản đang dần mất mát đi như thế”, ông nói.  Chưa kể, một trung tâm phi chính phủ, dù được đánh giá là đủ tốt để liên kết nghiên cứu với bất kỳ nhóm khảo cổ nào trên thế giới, vẫn sẽ không đủ kinh phí để tham gia bảo tồn, bảo quản những hiện vật đòi hỏi đầu tư lớn và dài hạn. Ví dụ như hiện nay, ông đã cùng người dân khai quật và đang giữ 20 con thuyền, trong đó có 6 thuyền từ thời Đông Sơn “đẹp mới đến mức Peter Bellwood sang nhìn thấy chỉ muốn ôm lấy nó” nhưng không đủ kinh phí để mua hóa chất PEG ngâm giữ. Sức của ông chỉ có thể ngâm những con thuyền này trong bể bơi để chống co ngót, hằng tuần lại phải hút nước lên, đưa nước vào, trong khi có một con thuyền đã bị tan nát đến độ đáng thương mà không đủ kinh phí phục chế hay ngâm giữ. Ông đang kêu gọi và xin tiền để bảo quản những hiện vật quý giá này, nhưng chưa rõ tới đây sẽ xin được hay không. Tương tự với hàng ngàn hiện vật vải, ông chỉ có thể bảo quản và ngâm giữ 5% số hiện vật vải mà ông sưu tập được, còn lại phải để trong kho. Nhưng ông vẫn giữ lại ở đó như một phần của “bảo tàng của sự bất lực”, để những người làm di sản biết và sau này tránh lặp lại.□  TS Nguyễn Việt cùng 14 nhà khoa học thành lập Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á từ năm 1999. Ngoài việc nghiên cứu ông còn thành lập Quỹ Phạm Huy Thông theo tên người thầy định hướng nghiên cứu cho ông nhằm hỗ trợ đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ khi đến làm việc, thực tập ở Trung tâm cũng như góp phần thu thập hiện vật, cấp cứu một số hiện vật khảo cổ học đang xuống cấp.  Trong suốt 20 năm qua, ông tự xây dựng hai trạm nghiên cứu khảo cổ và bảo tàng học ở Quảng Ninh và Hòa Bình và lưu giữ hàng vạn hiện vật, tiêu bản; Đầu tư và tham gia khai quật và gìn giữ hiệu quả ba di tích khảo cổ học có giá trị: Hang Xóm Trại, Mái đá Đú Sáng (thuộc văn hóa Hòa Bình) và hầm mộ Hố Của (hầm mộ gạch đầu công nguyên, tại Yên Hưng, Quảng Ninh); Chủ trì và tham gia thực hiện thành công trên 20 đề tài nghiên cứu, biên dịch, xuất bản, hội thảo khoa học trong và ngoài nước với cả trăm bài nghiên cứu đã được công bố trong các tạp chí và Hội nghị khảo cổ học quốc tế thường niên; Hợp tác và tiếp đón hơn 30 đoàn, cá nhân nghiên cứu từ các nước Úc, Nhật, Đức, Pháp, Anh, Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc, Ba Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Malaysia, Lào, Campuchia… nghiên cứu tại Trung tâm.    Author                Bảo Như        
__label__tiasang TS. Phan Đức Anh: Trên đường đi tìm cái mới      Điều gì thôi thúc một nhà vật lý khám phá ra những quy luật của thế giới vật chất xung quanh, nếu không phải là trí tò mò? Đó là một trong những căn nguyên thôi thúc TS. Phan Đức Anh (trường Đại học Phenikaa) trên đường đi tìm cái mới, khởi điểm của những công bố mà bất cứ nhà nghiên cứu trẻ ở giai đoạn đầu sự nghiệp nào cũng phải mơ ước.       TS. Phan Đức Anh. Nguồn: ĐH Phenikaa.  Ở trường Đại học Phenikaa, một địa điểm “mới nổi” trong hệ thống các trường đại học Việt Nam, có nhiều gương mặt trẻ làm khoa học tốt. “Trong vòng vài năm qua, chúng tôi đã tuyển dụng được khá nhiều các nhà nghiên cứu trẻ rất có tiềm năng. Đây là ‘tài sản’ quý của nhà trường, và một trong số đó là TS. Phan Đức Anh”, GS. TS Phạm Thành Huy, hiệu trưởng nhà trường, trao đổi với Tia Sáng. Việc đánh giá một nhà khoa học mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp như vậy có vội vã không? “Ồ, với chúng tôi thì Phan Đức Anh là một nhà nghiên cứu đặc biệt, xuất sắc và nghiêm túc. Chúng tôi thấy bạn ấy có một nền tảng kiến thức vững vàng, có khả năng xây dựng hợp tác quốc tế tốt và trong những ngày COVID hay không thì cường độ làm việc của bạn ấy cũng ngày đêm như thế, hết sức miệt mài. Nhờ vậy, không chỉ bạn ấy có được công bố trên những tạp chí chất lượng như Physic Review Letters, Proceedings of the National Academy of Sciences mà các nghiên cứu bạn ấy theo đuổi còn có thể trở thành những hướng nghiên cứu mới trong tương lai”, anh nói.  Một sự khởi đầu không thể hoàn hảo hơn cho con đường làm vật lý chăng?     Đẩy mình khỏi vùng an toàn     Thoạt nhìn bên ngoài, ai cũng nghĩ đến từ “hoàn hảo” khi đề cập đến TS. Phan Đức Anh: học chuyên Lý ĐH Khoa học Tự nhiên, làm nghiên cứu sinh ở Mỹ, postdoc fellow ở Nhật Bản và trong ba năm gia nhập đội ngũ Phenikaa, đã công bố gần 30 bài báo. “Phan Đức Anh là một nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc, khi mới làm tiến sĩ đã có 10 công bố, trong đó có một số bài tốt”, PGS. TS Phùng Văn Đồng, một đồng nghiệp cùng tham gia giảng dạy chương trình đào tạo Vật lý tài năng ở trường ĐH Phenikaa, cho biết.       “Phan Đức Anh là một nhà nghiên cứu đặc biệt, xuất sắc và nghiêm túc. Chúng tôi thấy bạn ấy có một nền tảng kiến thức vững vàng, có khả năng xây dựng hợp tác quốc tế tốt và trong những ngày COVID hay không thì cường độ làm việc của bạn ấy cũng ngày đêm như thế, hết sức miệt mài”. (GS. TS Phạm Thành Huy)      Tuy nhiên, bản thân TS. Phan Đức Anh lại cảm thấy mình không có gì đặc biệt hay hoàn hảo. “Mọi người thấy tôi thành công bước đầu nhưng thực ra tôi thất bại trong nghiên cứu nhiều lắm. Khi gửi bài đi, tôi  không ngại chuyện bị các tạp chí từ chối đăng bài, có thể 50% là thất bại”. Để có được sự bình thản trước những thành bại như vậy, chắc hẳn anh phải rèn mình bằng một sự nghiêm khắc nhất định? Với thái độ thực sự chân thành, không khiêm tốn một cách giả hiệu, anh nói, “Từ hồi học chuyên Lý trường ĐH Khoa học Tự nhiên, khi nhận ra xung quanh mình luôn có rất nhiều bạn có tố chất bẩm sinh là giỏi Lý, tôi biết mình không có được ‘chất ấy’. Những bạn đã có sẵn tố chất rồi thì không cần dành quá nhiều thời gian vẫn giỏi, còn mình không giỏi bằng họ thì mình phải cố gắng nhiều hơn để đạt được kết quả như họ”.    Có lẽ, chuyện quen với lối nghĩ mình luôn phải cố gắng nhiều hơn và sự tò mò sẵn có của một người luôn muốn học hỏi đã đưa TS. Phan Đức Anh đến với những cái mới, bất chấp việc phải tự đẩy mình ra khỏi vùng an toàn. Chắc hẳn, nếu đứng mãi trong vùng an toàn của một nhà lý thuyết thì rất có thể, anh vẫn có những bài báo mới nhưng sẽ khó có thể tự giải đáp được những câu hỏi luôn dấy lên trong đầu mình “mô hình của mình có ổn không, nó có những giới hạn gì?”, “các nhà thực nghiệm đánh giá mô hình của mình như thế nào?”… Ở thời điểm này, có thể chưa mường tượng được rõ ràng những chân trời mới mà việc bứt khỏi ranh giới an toàn có thể đem lại nhưng anh cảm nhận được một điều, bản thân mình đã vỡ vạc được rất nhiều điều. Đó là cái “lãi” của kẻ cả gan, nếu coi là như vậy.    Với một nhà lý thuyết, việc bước ra khỏi vùng an toàn là hợp tác với những nhà thực nghiệm thuộc các lĩnh vực khác nhau. “Tôi có xu hướng sống cộng sinh hơn là đứng độc lập một góc bởi cứ đi theo điều đó thì không thể tiến bộ được, giống như câu nói “muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau””, TS. Phan Đức Anh nói. Anh thường tập trung phát triển những mô hình lý thuyết có tính ứng dụng cao về tính chất của các loại vật liệu vô định hình như polymer, thủy tinh kim loại… – những vật liệu có cấu trúc phân tử và nguyên tử ở dạng phi tinh thể và không được sắp xếp một cách chặt chẽ. “Có thể lý thuyết của mình chỉ đúng ở phạm vi này thôi, thực tế thì không phải màu hồng như thế, nó sẽ khác đi. Trong khi đó, các nhóm thực nghiệm thường có những bài toán gặp phải trong thực tế và từ góc lý thuyết, mình phải chỉ ra ngay cách xử lý bài toán đó”, anh giải thích về giá trị mà việc cộng tác với những nhóm thực nghiệm đem lại.    Sự chủ động hợp tác với các nhóm thực nghiệm còn xuất phát từ cái mà anh gọi là “tinh thần Illinois”, nơi anh theo học giáo sư Kenneth S. Schweizer, người chuyên về lý thuyết polymer đã nhiều năm. Ở trường Đại học Illinois, nhóm nghiên cứu của giáo sư Schweizer thường kết hợp chặt chẽ với nhiều nhóm thực nghiệm trong và ngoài trường theo cách “một nhóm lý thuyết phải ủng hộ cho nhiều nhóm thực nghiệm bởi vì bao giờ thực nghiệm họ cũng đo đạc được rất nhiều số liệu nhưng lại khó khăn trong giải thích nó”. Khi về Việt Nam làm việc, tinh thần Illinois ấy vẫn được TS. Phan Đức Anh áp dụng một cách triệt để. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này trong những công bố gần đây của anh, khi liên tục xuất bản cùng các đồng nghiệp ở Viện Vật lý, Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và quốc tế.       TS. Phan Đức Anh và các thành viên nhóm nghiên cứu của mình. Nguồn: ĐH Phenikaa.  Tuy nhiên, với một nhà nghiên cứu trẻ thì việc bước ra ngoài vùng an toàn còn mang ý nghĩa khác, đó là việc chủ động nắm bắt những xu hướng rất mới của khoa học mà có thể trước đây chưa từng nghĩ đến, ví dụ như ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI). Đây là cách mà hiện cộng đồng khoa học quốc tế đang áp dụng để có được cái nhìn khác vào dữ liệu thu được qua đo đạc thực nghiệm, không chỉ khiến kết luận của mình bớt tính chủ quan hơn mà còn có thể bộc lộ những kết quả mới không ngờ tới. “Ví dụ có tính chất này hay tính chất kia của một vật liệu nào đó mà mình không biết là có thể liên quan đến nhau, giờ AI gợi ý là có thể có sự liên kết bền chặt giữa chúng và mình có thể dùng mô hình để chứng minh”, TS. Phan Đức Anh giải thích. Sự hấp dẫn của một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu là lý do để khi còn làm postdoc ở Nhật Bản, anh đã dành khá nhiều thời gian tìm hiểu về AI và sẵn sàng cho một hướng phát triển mới khi về Phenikaa. Tuy tất cả mới bắt đầu với một vài kết quả nhỏ nhưng các đồng nghiệp đã cảm nhận được phần nào nỗ lực của anh. “Thông thường, mọi người sẽ mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu cái mới nhưng tôi thấy, bạn ấy tập trung và phát triển với tốc độ rất nhanh nên rất có thể giải quyết được vấn đề hiệu quả như với các nhiệm vụ trước”, GS.TS Phạm Thành Huy nhận xét.      Khám phá thế giới vô định hình     Với một người từng trải qua nhiều môi trường làm việc khác nhau, từ chỗ được khuyến khích phát huy năng lực cá nhân để tự tin và chủ động xử lý công việc như ở Mỹ đến việc tự điều chỉnh lại mình, học cách trình bày ý tưởng một cách từ tốn hơn khi ở Nhật Bản, ắt hẳn sẽ không phải mất thời gian “tái hòa nhập cộng đồng” khi về nước để làm việc tại Phenikaa. TS. Phan Đức Anh cho rằng, cái hay của việc làm việc ở Phenikaa là “được sống trong môi trường toàn các anh em trẻ trẻ, nếu có lệch tuổi thì cũng chỉ hơn nhau 3, 4 tuổi gì đó. Ở đây, giữa ‘sếp’ và anh em giảng viên cũng không có khoảng cách xa xôi lắm”. Như cá gặp nước, anh được những người đi trước ở Phenikaa lắng nghe ý tưởng và khuyến khích viết đề xuất xây dựng nhóm riêng mà không cần căn cứ vào độ tuổi, thâm niên công tác như ở nhiều nơi khác.       Trong công trình xuất bản trên PNAS, TS. Phan Đức Anh đã giải thích vai trò của những tham số biến thiên có thể ảnh hưởng đến tính chất của các hệ màng mỏng, vốn là bài toán tồn tại 30 năm qua mà chưa có ai giải thích được một cách toàn vẹn và thống nhất.      Việc chân ướt chân ráo về trường đã có điều kiện lập nhóm nghiên cứu ngay, “miễn là tìm được đủ người đạt tiêu chí nhà trường đề ra”, đã tạo cơ hội cho TS. Phan Đức Anh cơ hội làm việc một cách liên tục với những hướng mới về vật liệu vô định hình, vật liệu mềm. Tất cả đều được dựa trên một nền tảng chung là các mô hình tính toán về quá trình phát triển và lão hóa với những đặc điểm riêng của từng loại vật liệu. Dưới con mắt của nhà nghiên cứu ưa quan sát, trong đời sống có vô số những dạng vật liệu thuộc về nhóm này, ví dụ từ các protein, DNA, mRNA… trong những cơ thể sống đến các loại nhựa, thủy tinh, nhựa đường hay thậm chí có thể là thuốc. Khi chúng ta hiểu thêm về những tính chất đặc biệt của nó cũng như quá trình lão hóa thì những vật dụng hay loại thuốc mà ta uống sẽ hiệu quả hơn, có thể kéo dài quãng thời gian sử dụng. Đây là lý do mà vào năm 2020, TS. Phan Đức Anh thực hiện đề tài về thuốc vô định hình do Quỹ NAFOSTED tài trợ: “Trong quá trình sản xuất thuốc, rất nhiều thứ khiến mình phải suy nghĩ như có thể sản xuất thuốc theo dạng tinh thể hay vô định hình. Dạng tinh thể mọi thứ xếp chặt, có thứ tự quá nên nó khó tan, khó khuếch tán trong cơ thể con người, còn thuốc ở dạng vô định hình thì tan nhanh nhưng lại khó bảo quản”. Việc nghiên cứu mở ra cho anh nhiều câu hỏi lý thú và đầy thách thức, “sẽ chế tạo ra viên thuốc này theo hình dạng nào? quá trình điều khiển nhiệt độ ra sao để không ảnh hưởng đến chất lượng thuốc?”. Ẩn chứa trong viên thuốc đặc biệt này, vì thế, có nhiều yếu tố tinh tế tác động mà anh cần phải giải thích bằng mô hình của mình, dựa trên dữ liệu do một nhóm thực nghiệm tại Ba Lan mà anh hợp tác thực hiện.     Với nỗ lực của một người làm việc nghiêm túc, trên con đường giải quyết những bài toán như vậy, TS. Phan Đức Anh đã có những kết quả ban đầu đáng mừng sau hai năm về Phenikaa, đó là lần lượt có bài đăng trên tạp chí Physic Review Letters và PNAS. Cũng nằm trong dòng chảy của vật liệu vô định hình, kim loại thủy tinh có cấu trúc phi tinh thể, bất trật tự và giống thủy tinh nhưng lại có thể dẫn điện tốt. Nhưng động lực học của nó sẽ thay đổi như thế nào dưới áp suất và nhiệt độ? Đi tìm câu trả lời, anh và đồng nghiệp phát hiện ra “nếu đặt kim loại thủy tinh dưới một áp suất đủ lớn, vật liệu đó có thể chuyển đổi được từ trạng thái biến dạng mới trở lại đúng trạng thái ban đầu”.     Các công trình này đều được TS. Phan Đức Anh thực hiện ở Việt Nam, dựa trên những điều mà anh mày mò tìm hiểu từ ba năm qua. Với các nhà nghiên cứu trẻ, bao giờ điểm xuất phát cũng là tìm những mô hình có sẵn và thử ứng dụng nó vào giải quyết vấn đề của mình. Chỉ khi nào lao động một cách thật sự và nghĩ đủ sâu, họ mới có thể thiết lập được những mô hình của riêng mình, làm ra những thứ mang tính chất cá nhân. “Từ năm 2019, tôi phát triển lý thuyết cho nghiên cứu động lực học phân tử cho polymer khi được chế tạo ở dạng màng mỏng với sự đầy đủ hơn về mặt lý thuyết nên có thể giải thích được nhiều hiện tượng hơn”, anh nói. Qua trao đổi với giáo sư Kenneth S. Schweizer và một số đồng nghiệp khác, anh tập trung vào giải thích vai trò của những tham số biến thiên có thể ảnh hưởng đến tính chất của các hệ màng mỏng, vốn là bài toán tồn tại 30 năm qua mà chưa có ai giải thích được một cách toàn vẹn và thống nhất bởi, phần lớn các nghiên cứu lý thuyết vẫn chỉ mang tính hiện tượng luận hay giải thích định tính. “Giống như tính chất động lực học phân tử của các vật liệu mềm hay vật liệu vô định hình, động lực học phân tử trong màng mỏng phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ, quá trình chế tạo… Việc đưa ra lý thuyết chung tổng quát để giải thích và dự đoán được các tính chất của vật liệu lại là cả một vấn đề phức tạp”, anh nói.     Để giải quyết vấn đề, TS. Phan Đức Anh đã phát triển lý thuyết ECNLE, một mô hình tối giản cho phép so sánh trực tiếp, định lượng với các số liệu thực nghiệm và mô phỏng, và đưa ra đánh giá chính xác về yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình thay đổi tính chất, nhằm tìm hiểu động học phân tử từ vùng thời gian ngắn (1 pico giây, tương đương 10-12 giây) đến dài (1000 giây), và có thể kết nối được tất cả các tính toán mô phỏng và thực nghiệm, qua đó thống nhất toàn vẹn được một bức tranh vật lý khi quan sát tại các khung thời gian khác nhau. “Lý thuyết màng mỏng hoàn toàn áp dụng được cho thuốc vô định hình vì nó và polymers đều là vật liệu có cấu trúc hỗn loạn vô định và động học phân tử đều quyết định tính chất của vật liệu. Thậm chí, lý thuyết ECNLE có thể áp dụng cho cả lĩnh vực khoa học thực phẩm khi giải thích quá trình phân hủy của thực phẩm. Điều khác nhau ở đây là mình nghiên cứu tính chất nào, và tính chất nào cần được tăng cường để phù hợp với các ứng dụng đề ra”, anh nói.    Đó là lý do giải thích vì sao, anh quyết định chọn “Nature of dynamic gradients, glass formation, and collective effects in ultrathin freestanding films” (Bản chất của các gradient động lực học, sự hình thành thủy tinh, và những hiệu ứng thu thập trong các màng tự do siêu mỏng) xuất bản trên PNAS để dự giải thưởng Tạ Quang Bửu trẻ 2022, giải thưởng dành cho các nhà khoa học độ tuổi dưới 35.   ***  Có lẽ, cũng phải nói thêm rằng, trước khi có bài đăng trên các tạp chí chất lượng, vào năm 2020, TS. Phan Đức Anh đã được trao giải thưởng dành cho nhà nghiên cứu trẻ của Hội Vật lý lý thuyết Việt Nam – một giải thưởng thường niên dành cho các nhà nghiên cứu trẻ có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực vật lý lý thuyết và các lĩnh vực khác có liên quan. Sự “chọn mặt gửi vàng” của Hội Vật lý lý thuyết Việt Nam đã được chứng thực qua nhiều mùa giải thưởng Tạ Quang Bửu, ví dụ hai đồng nghiệp ở Phenikaa của anh là PGS. TS Phùng Văn Đồng (2010), TS. Đỗ Quốc Tuấn (2017) từng nhận được giải của hội trước khi được trao giải Tạ Quang Bửu trẻ, lần lượt vào năm 2016 và 2018. Vậy giải của Hội Vật lý lý thuyết Việt Nam là “cửa ngỏ” tới giải Tạ Quang Bửu trẻ chăng? “Với người làm khoa học, việc làm ra một công trình có ý nghĩa đã là quá hạnh phúc rồi. Còn giải thưởng, nếu có, là sự tưởng thưởng để người làm khoa học có thể vui mừng bước tiếp”, anh nói. Do đó, việc gửi một công trình mà mình ưng ý tới một giải thưởng có uy tín là một chu trình tràn đầy niềm vui, không phải là niềm vui của người “chắc thắng”, mà là một mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của chính bản thân mình.     Với một công trình có ý nghĩa được xuất bản trên một tạp chí hạng top, có lẽ, cũng vừa vặn với cả một giải thưởng lớn hơn – giải Tạ Quang Bửu. Nhiều người đã khuyên TS. Phan Đức Anh nên bỏ qua giải trẻ và đề xuất công trình lên hạng mục chính, tại sao lại không nhỉ? “Nghe cũng có vẻ có lý nhưng chẳng nhẽ trong vòng 5, 6 năm tới mà mình lại không làm được cái gì lớn lớn ư? Thực sự cái đích ấy là nguồn kích thích và động viên cho tôi nỗ lực phát triển cái mới. Mình phải có cái đích lớn như thế ở phía trước để cố gắng, không thể bám víu vào thành công nho nhỏ trong quá khứ được”, anh nói, không phải không hào hứng với một điểm đến quan trọng trong tương lai gần mà mình muốn đạt.    Dường như, việc sống trong một môi trường toàn “anh lớn” trong ngành khoa học vật liệu như Phenikaa với GS. TS Phạm Thành Huy (quang lượng tử), GS. TS Nguyễn Văn Hiếu (cảm biến khí)…, buộc những người mới phải nỗ lực nhiều hơn. Ồ, làm việc ở Phenikaa thì đôi khi “sức ép” lại đến từ chính những người trong nhóm của mình. Đương nhiên làm việc với những người chăm chỉ và nhiệt huyết thì mình cũng không thể lười được, nhất là khi các bạn thường xuyên trao đổi công việc, ý tưởng đến nửa đêm, một hai giờ sáng. Nhưng trong nghiên cứu, đây là sức ép tốt, TS. Phan Đức Anh nói.     Với sức ép này, người ta có thể mạo hiểm đến với những vùng đất mới. □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang TS. Phùng Văn Đồng: 10 năm với 35 công bố quốc tế      Được trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay ở tuổi 35, TS. Phùng Văn Đồng (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), một nhà khoa học vốn được đào tạo trong nước, đã thiết lập được nhóm nghiên cứu riêng và tham gia mạng lưới của các nhà vật lý lý thuyết quốc tế để chuyên tâm đi tìm lời giải của các bài toán vũ trụ về vật chất tối, năng lượng tối, bất đối xứng vật chất và phản vật chất… với kết quả là 35 công bố, hầu hết trên các tạp chí quốc tế mạnh của ngành.      Đề xuất mô hình đối xứng chuẩn  Lý giải hướng nghiên cứu của một trong những công bố quan trọng của mình, “3-3-1-1 model for dark matter” (Mô hình 3-3-1-1 cho vật chất tối) trên tạp chí Physical Review D, TS. Phùng Văn Đồng cho biết, vũ trụ ngày nay vẫn tồn tại rất nhiều câu hỏi lớn mà hai lý thuyết trụ cột của vật lý hạt cơ bản và vũ trụ học là mô hình chuẩn và thuyết tương đối rộng chưa thể giải thích được, đặc biệt là những vấn đề thực nghiệm chính sau: dao động neutrino, bất đối xứng vật chất – phản vật chất, vật chất tối, năng lượng tối và lạm phát vũ trụ. Một số giả thuyết chính như siêu đối xứng, thêm chiều không gian, hay thống nhất lớn đến nay đã bộc lộ một số điểm yếu như chỉ đem lại những giải thích riêng lẻ từng vấn đề, thậm chí một số dự đoán của chúng đã bị nhiều thực nghiệm bác bỏ. Vì vậy, đi tìm mô hình có thể giải thích một cách tích hợp các vấn đề của vũ trụ cũng là bài toán mà những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý lý thuyết theo đuổi. “Nhiều mô hình đã được đề xuất trên thế giới. Với tốc độ mỗi ngày có cả chục giả thuyết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành và nguồn mở trên mạng internet thì trong vòng mấy tháng là xuất hiện hàng trăm”, TS. Đồng cho biết. Dựa trên những nghiên cứu từ năm 2005, TS. Đồng đã lựa chọn một mô hình hoàn toàn mới.  “Chúng tôi đề xuất một mở rộng mới của mô hình chuẩn, với nhóm đối xứng chuẩn SU(3)C X SU(3)L X U(1)X X U(1)N, gọi tắt là mô hình 3-3-1-1”, TS. Đồng nói. Anh và các thành viên trong nhóm nghiên cứu của mình ở Trung tâm Vật lý lý thuyết, Viện Vật lý đã cùng nhau khai thác mô hình 3-3-1-1 nhằm hướng đến việc giải quyết các vấn đề cơ bản của Vật lý lý thuyết hiện nay: Đồng nhất, mật độ, và các thực nghiệm tìm kiếm vật chất tối; Các qúa trình sinh bất đối xứng vật chất và phản vật chất; Các nguồn gốc khối lượng của neutrino; Động lực cho lạm phát vũ trụ (trừ năng lượng tối vì đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến hằng số vũ trụ). Việc lựa chọn mô hình 3-3-1-1 của TS. Đồng khi nghiên cứu về vật chất tối đến từ khi anh nhận thấy, nếu đề xuất một loại vật chất mới có số lepton (L) dị thường, việc tìm đối xứng mới không tầm thường mô tả chúng rất khó khăn vì phải dựa trên sự thống nhất số L và những đối xứng đã biết. “Khi lý thuyết làm việc, nó tuân theo những đối xứng. Bản thân đối xứng mới mà tôi đề xuất liên quan đến tương tác mới gắn với tích Baryon – Lepton (B-L) mở rộng, và mô hình 3-3-1-1 cho thống nhất tương tác điện yếu và B-L tương tự như lý thuyết Weinberg-Salam. Đặc điểm của tương tác mới là bị phá vỡ ở thang năng lượng cao, trường phá vỡ nó chính là trường gây ra lạm phát vũ trụ và sinh khối lượng neutrino. Sau phá vỡ, đối xứng tàn dư mô tả vật chất tối”. Nhờ vậy, TS. Đồng có thể giải thích đồng thời các vấn đề trên một cách tự nhiên và tự động do mô hình cung cấp, đó cũng là ưu điểm lớn nhất của mô hình này.              Lĩnh vực của tôi thiên về lý thuyết nên có thể chủ động giải quyết được còn việc thực nghiệm thì có thể cập nhật trên các trang web chuyên ngành. Nếu cập nhật thông tin và trao đổi thường xuyên với các đồng nghiệp trong nước và quốc tế thì hầu hết trở ngại đều có thể được giải quyết”.     ——————     Kể từ năm 2005 đến nay, anh đã có trong tay 35 công bố, hầu hết đều xuất hiện trên các tạp chí mạnh của ngành như Physical Review D, European Physical Journal C, Journal of High Energy Physics…          Do được kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khác, “3-3-1-1 model for dark matter” được TS. Đồng và hai nghiên cứu sinh do anh hướng dẫn thực hiện chỉ kéo dài trong vòng sáu tháng “lao động cật lực” và hoàn tất vào năm 2013. “Khi mình gửi công trình tới tạp chí Physical Review D, họ chấp nhận ngay và chỉ yêu cầu mình chỉnh sửa và bổ sung một vài chỗ nho nhỏ. Vì vậy, từ lúc gửi đến khi đăng tải cũng chỉ mất khoảng một tháng”, TS Đồng cho biết.  Sau đề xuất mô hình 3-3-1-1, TS. Đồng cho rằng, đây là cơ sở “để mình mở rộng nhiều hướng nghiên cứu mới vì nó dẫn đến rất nhiều hệ quả tự nhiên”. Vì vậy, anh kết hợp với một số nhà khoa học trong và ngoài nước để nghiên cứu tiếp một số mô hình hệ quả khác cũng được đăng tải trên trên tạp chí Physical Review D như “Phenomenology of the 3-3-1-1 model” (Hiện tượng luận của mô hình 3-3-1-1), “Inflation and leptogenesis in the 3-3-1-1 model” (Lạm phát và sinh lepton trong mô hình 3-3-1-1), và một công trình vừa hoàn thành bản thảo “Neutrino masses and superheavy dark matter in the 3-3-1-1 model” (Khối lượng neutrino và vật chất tối siêu nặng trong mô hình 3-3-1-1)…  Dù mô hình 3-3-1-1 đã đem lại nhiều công bố cho TS. Đồng và nhóm nghiên cứu nhưng đó cũng chỉ là một trong nhiều mối quan tâm nghiên cứu của anh.  Hình thành mạng lưới nghiên cứu quốc tế  Lựa chọn làm tiến sỹ trong nước trong khi nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam đã chọn cách ra nước ngoài, TS. Đồng cho rằng con đường làm khoa học của mình khá “thông đồng bén giọt”. Anh lý giải: “Quan trọng là nhóm nghiên cứu mình tham gia có đủ tốt, đủ mạnh không. Nếu ở Việt Nam mà tìm thấy một nhóm nghiên cứu như vậy thì cứ yên tâm làm thôi”.  Tuy nhiên, anh gặp một khúc mắc đáng kể khi là trường hợp đầu tiên trong nước (có lẽ vậy) bảo vệ luận văn ngành vật lý bằng tiếng Anh. “Vào thời điểm đó, Viện Toán đã triển khai rất thành công quy trình bảo vệ luận án tiến sỹ bằng tiếng Anh nên tôi quyết định làm theo. Ngạc nhiên là hội đồng cơ sở (cấp Viện) đã chấp thuận nhưng đến hội đồng cấp Bộ mới rắc rối”, TS. Đồng kể lại. Cũng vì hội đồng cấp Bộ lúng túng nên phải hai năm sau, năm 2009, anh mới được cấp bằng. Sau đó, mọi việc đã trở nên thuận lợi hơn và một số nghiên cứu sinh ở Viện Vật lý đã chọn cách viết luận văn bằng tiếng Anh, “mộtthành viên trong nhóm tôi cũng làm như vậy”.  Hoàn thành chương trình tiến sỹ cấp cơ sở, lúc này TS. Đồng mới chọn cách ra nước ngoài làm postdoc với hai chuyến đào tạo tại ĐH Thanh Hoa (Đài Loan) và đặc biệt là Trung tâm gia tốc năng lượng cao (KEK, Nhật Bản), nơi cấp học bổng cho các nghiên cứu viên trẻ ở các quốc gia đang phát triển. Ở KEK, anh nghiên cứu về hai vấn đề: Thống nhất trường chuẩn và trường Higgs; Quá trình vi phạm số lepton thế hệ. Kết thúc chương trình postdoc, TS. Đồng về nước, trở lại Viện Vật lý dù không thiếu nhiều cơ hội ở lại nước ngoài nghiên cứu. “Ở nước ngoài mình được nhiều nhưng cũng mất nhiều, với lại cái chính là tôi thích cuộc sống ở Việt Nam hơn”, anh giải thích một cách ngắn gọn.  Với nhiều người, trở về Việt Nam là mất mạch nghiên cứu và mất cơ hội làm việc trong môi trường chuyên nghiệp nhưng với TS. Đồng, “điều đó không thành vấn đề vì nó còn phụ thuộc vào chính bản thân mỗi người nghiên cứu. Lĩnh vực của tôi thiên về lý thuyết nên có thể chủ động giải quyết được còn việc thực nghiệm thì có thể cập nhật trên các trang web chuyên ngành. Nếu cập nhật thông tin và trao đổi thường xuyên với các đồng nghiệp trong nhóm và quốc tế thì hầu hết trở ngại đều có thể được giải quyết”. Bằng cách này, anh hình thành một mạng lưới nghiên cứu quốc tế, thu hút sự tham gia hợp tác của các đồng nghiệp Mỹ, Brazil, Hàn Quốc, Nhật Bản…  Tuy nhiên, TS. Đồng cũng thừa nhận, môi trường làm việc tại Việt Nam cũng có một vài khiếm khuyết về lương bổng hay điều kiện nghiên cứu… “Ở nước ngoài, khi cần thiết có thể ‘chộp’ được đồng nghiệp để trao đổi về chuyên môn còn ở trong nước thì điều đó hơi khó”. Gần đây, những dấu hiệu tích cực đã xuất hiện với sự ra đời của Quỹ Nafosted, “đem lại nhiều cơ hội cho các nhà khoa học trẻ như tôi thông qua việc đầu tư cho khoa học một cách minh bạch theo quy chế quỹ”, TS. Đồng nhận định. Ví dụ kể từ năm 2009, anh tham gia làm ba đề tài do Quỹ tài trợ (một chủ chốt và hai chủ nhiệm) và có thể “ung dung làm việc” mà không phải lo về thu nhập. Mặc dù Quỹ Nafosted chưa đặt nặng vấn đề phải có công bố trên tạp chí có hệ số IF cao nhưng quan điểm của TS. Đồng là không muốn chạy theo số lượng, vì ý nghĩa và chất lượng của công trình quan trọng hơn. Kể từ năm 2005 đến nay, anh đã có trong tay 35 công bố, hầu hết đều xuất hiện trên các tạp chí mạnh của ngành như Physical Review D, European Physical Journal C, Journal of High Energy Physics… Trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực mình theo đuổi, anh được một số tạp chí này mời tham gia bình duyệt, một công việc khá thú vị vì “hỗ trợ nghiên cứu khá nhiều, đòi hỏi tôi đánh giá kỹ vấn đề trước khi đưa ra đánh giá, nhất là những công bố gần gũi với hướng nghiên cứu hoặc chủ đề mà mình đang theo đuổi”. Bí quyết mà anh rút ra trong quá trình viết bài báo và bình duyệt là nhà nghiên cứu phải trình bày vấn đề một cách tường minh “để người ta hiểu nhanh vấn đề. Có nhiều công trình (có thể) có nội dung tốt nhưng trình bày không rõ ràng nên cũng không đạt”. Nhờ nắm được bí quyết này mà công bố của anh rất dễ được các tạp chí chấp nhận, “thậm chí có công bố gửi trong vòng chưa đến một tuần đã được phản biện, phần nhiều khoảng 20 ngày đến hơn một tháng, nếu yêu cầu sửa thì sửa rất ít hoặc bổ sung thêm một số vấn đề nhỏ cho rõ ràng hơn”.  Không mất thời gian băn khoăn và nghĩ ngợi về việc so sánh giữa làm nghiên cứu khoa học cơ bản với các lĩnh vực “kiếm ra tiền” trong xã hội, TS. Đồng luôn cảm thấy hài lòng với sự lựa chọn của mình. “Nhu cầu cuộc sống ngoài công việc của tôi không nhiều. Đối với tôi, chỉ cần một cô vợ hiền lành một chút, một chỗ ở thuận tiện cho việc đi làm là ổn!”    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang TS. Trần Đình Phong: Cố gắng chắt chiu những gì mình có      Với mục tiêu chuyển đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học tích trữ trong phân tử hydro thông qua quá trình phân tách quang hóa nước, lá nhân tạo (artificial leaf) đang được nhiều nhà khoa học thế giới hy vọng sẽ trở thànhmột phần quan trọng trong giải pháp về năng lượng và hạn chế khí thải CO2. Cũng nằm trong xu hướng nghiên cứu đó, TS. Trần Đình Phong (Khoa Các khoa học cơ bản và ứng dụng, trường Đại học KH&CN Hà Nội) – một trong 9 nhà khoa học được đề cử giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018, đã có 31 công bố về các vấn đề liên quan đến việc chế tạo lá nhân tạo. Anh đã chia sẻ về những nỗ lực theo đuổi nghiên cứu của mình và cộng sự.      TS. Trần Đình Phong và học trò trong phòng thí nghiệm của trường đại học KH&CN Hà Nội. Nguồn: Vietnamnet.  Kể từ những năm 2000, một cuộc “chạy đua” về phát minh ra chiếc lá nhân tạo trên thế giới đã bắt đầu với sự tham gia của nhiều nhóm nghiên cứu, nhiều trung tâm nghiên cứu. Vậy theo anh, cuộc chạy đua này có tạo ra xu hướng nào đáng chú ý?   Mục tiêu cuối cùng của hướng nghiên cứu này là thiết kế và chế tạo được một chiếc lá nhân tạo từ các vật liệu rẻ tiền nhưng có khả năng đáp ứng được các yêu cầu kĩ thuật như đạt hiệu suất chuyển hóa ánh sáng mặt trời thành hydro trên 10%, có thể hoạt động trong vòng 1.000 giờ. Dù vẫn kiên trì thực hiện song đến nay cộng đồng nghiên cứu vẫn chưa đạt được đủ các yêu cầu trên.  Điểm sáng lớn nhất trong cuộc chạy đua này là hai năm trở lại đây đã xuất hiện một số hướng tiếp cận có phần hơi khác hướng “cổ điển” mà theo tôi, nó khá thú vị.  Thứ nhất là việc chuyển nhanh tới mục tiêu hiệu suất chuyển hoá và tạm thời không quá bận tâm đến vấn đề là vật liệu có dễ kiếm hay không, đắt hay không đắt. Nổi bật trong xu hướng này là nhóm nghiên cứu của giáo sư Jaramillo tại trường Đại học Stanford. Năm 2016, công bố của ông xuất bản trên Nature Communications đã nêu đến một chiếc lá với thành phần hấp thụ ánh sáng là một pin mặt trời InGaP/GaAs/GaInNAs(Sb) và hai xúc tác Platinum (Pt, bạch kim), iridium (Ir) cho hiệu suất tới 30%.  Ngược lại, nhóm nghiên cứu của giáo sư Domen tại Nhật Bản lại hướng tới những lá nhân tạo với yêu cầu công nghệ đơn giản, có thể được chế tạo một cách đại trà, dễ thực hiện cho dù hiệu suất chuyển hóa chỉ ở mức khiêm tốn. Trên Nature Materials năm 2016, nhóm ông đã công bố một nghiên cứu đề cập đến các vật liệu dạng bột nano được hòa thành mực rồi in lên trên một bề mặt bất kì để tạo lá nhân tạo.Dù hiệu suất tạo hydro chỉ là 1% nhưng đây là một hướng khá thú vị và có lẽ phù hợp với những nhóm nghiên cứu còn hạn chế về điều kiện thí nghiệm như chúng tôi.  Thứ ba là nhóm nghiên cứu của giáo sư Nocera tại trường Đại học Harvard kết hợp lá nhân tạo của họ với một vi khuẩn có khả năng chuyển hóa hydro và carbon điôxít thành các rượu có từ 3 đến 5 carbon, họ cũng mới công bố kết quả nghiên cứu trên Science năm 2016. Khi thành công hơn, họ có thể giảm được nỗi lo tích trữ hydro, tuy nhiên việc lai (hybrid) giữa một lá nhân tạo với tổng hợp sinh hóa như vậy sẽ còn nhiều trở ngại kĩ thuật phải vượt qua.  Đó là những trở ngại gì?  Việc lai giữa một lá nhân tạo với tổng hợp sinh hóa đòi hỏi các thành phần phải làm việc với nhau một cách hài hòa. Hệ lai này được thiết kế theo cách một chiếc lá nhân tạo nhúng vào nước, trong đó có vi khuẩn có thể chuyển hóa carbon điôxít và hydro để tạo thành rượu. Có thực tế là giữa chiếc lá tạo hydro và vi khuẩn (tác nhân dùng hydro) không có liên kết hữu cơ, vì thế chúng thường hoạt động một cách độc lập mà không tác động đến nhau. Một đặc điểm khác là độ tan của hydro trong nước rất kém, khí hydro tạo ra nhanh chóng thoát khỏi mặt nước giúp cho việc thu khí hydro thuận lợi. Nhưng như vậy nếu vi khuẩn muốn hấp thụ hydro nhiều hơn để chuyển hóa carbon điôxít thành rượu với hiệu suất cao hơn thì cũng chỉ có thể dùng tối đa nồng độ bão hòa của hydro trong nước. Đó là trở ngại mà hướng nghiên cứu này cần giải quyết.  Trong quá trình nghiên cứu lá nhân tạo theo hướng “cổ điển” hay mới thì chất xúc tác vẫn là yếu tố quan trọng. Theo công bố trên Nature Materials vào năm 2016, anh và cộng sự đã tìm ra cấu trúc và cơ chế hoạt động của chất xúc tác a-MoSx. Với anh, phát hiện này có ý nghĩa gì?  Một lá nhân tạo bao gồm hai phần chính là chất hấp thụ ánh sáng mặt trời và xúc tác cho quá trình phân li nước tạo hydro và ôxi. Hoạt động của chất xúc tác ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc chung của lá nhân tạo. Bởi vậy, chúng tôi càng tìm được các chất xúc tác có khả năng hoạt động mạnh, bền và dễ chế tạo càng tốt. Muốn làm được như vậy thì việc hiểu được cấu trúc và cơ chế hoạt động của a-MoSx – xúc tác thuộc hàng tốt nhất hiện nay, là một tiền đề quan trọng cho các bước phát triển tiếp theo. Ví dụ, chúng tôi tìm cách thay đổi cấu trúc của xúc tác này để đẩy nhanh tốc độ phản ứng. Xin lưu ý rằng khi hiểu nó hoạt động như thế nào chúng tôi cũng có thể tác động để nó hoạt động chậm hơn vì khi khử proton tạo hydro chậm lại, xúc tác có thể trở nên linh hoạt hơn cho phản ứng khử CO2 tạo HCOOH. Một xúc tác trên cơ sở phức cobalt làm việc với nguyên lí như vậy đã được chúng tôi công bố trên JACS năm 2017 vừa rồi.  Với tầm quan trọng này của chất xúc tác, thì ngoài a-MoSx, anh và cộng sự có tìm hiểu thêm về một số vật liệu vô định hình có hoạt tính xúc tác khác?  Những hiểu biết về cơ chế hoạt động của MoSx gợi ý rằng MoSe – chất đồng đẳng của nó, cũng sẽ hoạt động theo cơ chế tương tự. Điều này đã được chúng tôi nghiên cứu và mới công bố gần đây trên tạp chí ACS Applied Materials Interfaces.Trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã gặp một số hiện tượng rất bất ngờ so với dự đoán ban đầu. Ví dụ nghiên cứu của các nhóm khác chỉ ra rằng khi mang hạt nano vàng lên trên các xúc tác, trong đó có xúc tác MoS2, hoạt tính xúc tác sẽ tăng lên đáng kể, gợi ý cho chúng tôi khả năng tương tự với MoSx. Tuy nhiên, khi nghiên cứu, chúng tôi thấy bản thân hạt nano vàng đã có hoạt tính cực tốt, thành ra việc các chất xúc tác khác mang chúng chỉ làm tăng số lượng xúc tác chứ không có tác dụng kích thích các chất xúc tác khác hoạt động nhanh hơn như các công bố cả về lí thuyết và thực nghiệm trước đó. Nghiên cứu về xúc tác vàng đã được chúng tôi công bố trên Chemical Communications tháng 3 vừa rồi.  Hiện nay chúng tôi đang cố gắng dùng cách tiếp cận ngược (bottom up) để dựng lại một chất xúc tác MoSx mà trong đó, tất cả các trung tâm Mo đều hoạt động (trong xúc tác MoSx tại bài xuất bản trên Nature Materials thì tối đa 1/3 trung tâm Mo hoạt động trong khi 2/3 trung tâm còn lại chỉ có vai trò giữ cho cấu trúc bền vững).   Những nghiên cứu về chất xúc tác này có đóng góp gì vào việc hoàn thiện việc thiết kế lá nhân của anh và cộng sự?  Các chất xúc tác MoS, MoSe… mới chỉ đảm bảo được một nửa của quá trình xúc tác phân tách nước, tức là quá trình tạo hydro.Với nửa còn lại là ôxi hóa nước để tạo ôxi cũng cần một chất xúc tác tốt.Chúng tôi đã tìm được một dung dịch, mà trong phòng thí nghiệm vẫn gọi đùa với nhau là “dung dịch ma thuật” – dung dịch có thể tạo được cả xúc tác tạo hydro và xúc tác tạo ôxi chỉ bằng sự thay đổi điều kiện điện phân.Các kết quả của nghiên cứu này vừa được nhận đăng tại tạp chí Chemistry An Asian Journal trong tháng 4 này.      “Mục tiêu của chúng tôi luôn là năm sau làm được những nghiên cứu khó hơn năm nay, có nhiều người giỏi hơn năm nay và có nhiều hợp tác tốt hơn cho những nghiên cứu tham vọng hơn. Và tất nhiên, có công bố hoặc có sản phẩm nghiên cứu tốt hơn năm nay”. (TS. Trần Đình Phong).      Với sự tiến triển này, theo dự kiến thì bao nhiêu lâu nữa, nhóm nghiên cứu của anh sẽ có lá nhân tạo?  Xin chia sẻ là nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã thành công trong việc chế tạo chiếc lá nhân tạo đầu tiên của nhóm, đạt hiệu suất chuyển hóa ánh sáng thành hydro là 3% với độ bền ít nhất 3 giờ làm việc liên tục. Do đó, chúng tôi vẫn đang cố gắng hoàn thiện chiếc lá này theo hướng làm tăng hiệu suất với mục tiêu “dè dặt” là 5% và kéo dài thời gian hoạt động hơn nữa. Ý tưởng của chúng tôi là nếu không thể làm việc trong nhiều giờ thì lá phải có khả năng tự sửa chữa khi hỏng. Hi vọng trong thời gian tới, chúng tôi có thể công bố nghiên cứu này.  Những nhóm nghiên cứu xuất sắc ở Học viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ, Viện Công nghệ Massachusetts, một số phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ… cũng hướng đến việc tìm ra lá nhân tạo, hay thậm chí Bộ Năng lượng Mỹ thành lập Trung tâm liên hợp quang hợp nhân tạo cũng vì mục tiêu này. Xét về tương quan, họ vượt trội về điều kiện nghiên cứu, kinh phí đầu tư, con người. Vậy anh có cảm thấy áp lực?   Thành thật mà nói, nhóm của chúng tôi là một nhóm nhỏ trong khu vực và có thể nói là vô danh trên thế giới. Các nhóm nghiên cứu lớn, các trung tâm lớn có tất cả các điều kiện vượt xa chúng tôi: điều kiện về con người – họ là những người giỏi hơn nhiều và cũng đông hơn nhiều, môi trường làm việc, trang thiết bị nghiên cứu, kinh phí nghiên cứu. Hiểu điều đó, chúng tôi không quá mơ mộng là mình có thể cạnh tranh ngang ngửa với họ. Không bị họ bỏ lại quá xa cũng đã là một điều may mắn rồi, dù thực tế thì hiện nay cũng không có quá nhiều nhóm nghiên cứu thành công trong việc chế tạo lá nhân tạo. Chính vì thế, chúng tôi không có quá nhiều áp lực trong nghiên cứu.  Tất nhiên, ai làm nghiên cứu cũng mong muốn những nghiên cứu của mình có ảnh hưởng, có đóng góp quan trọng cho cộng đồng.Nhưng với điều kiện hiện nay, chúng tôi chỉ cố gắng chắt chiu những gì mình có để xây dựng được nhóm nghiên cứu tốt nhất có thể.Mục tiêu của chúng tôi luôn là năm sau làm được những nghiên cứu khó hơn năm nay, có nhiều người giỏi hơn năm nay và có nhiều hợp tác tốt hơn cho những nghiên cứu tham vọng hơn.Và tất nhiên, có công bố hoặc có sản phẩm nghiên cứu tốt hơn năm nay.  Tuy không có điều kiện nhân lực tốt như các nhóm nghiên cứu hàng đầu thế giới nhưng nhóm nghiên cứu mà anh đang tham gia cũng hội tụ được nhiều người giỏi đấy chứ?  Thực ra gọi tập thể nghiên cứu mà tôi tham gia là một nhóm nghiên cứu quốc tế (group) thì không đúng, vì tôi và các đồng nghiệp vẫn làm việc với nhau trên tinh thần các nhóm nghiên cứu (group) trong một mạng lưới (network) kết hợp thực hiện những nghiên cứu chung. Ngoài những nghiên cứu chung này thì các nhóm lại có những nghiên cứu riêng của mình và có thể dễ dàng kết nối với các nhóm nghiên cứu khác trong một mạng lưới khác. Khi làm việc trong mạng lưới như vậy, mỗi nhóm đều có thể bổ trợ cho nhau bằng thế mạnh riêng của mình. Thường thì nghiên cứu xuất phát từ ý tưởng của nhóm nào thì nhóm ấy đóng vai trò kết nối, điều phối cho thiết kế nghiên cứu, phân tích kết quả, viết và công bố bài. Ví dụ trong hợp tác nghiên cứu với nhóm của GS.Honma và GS.Trương Quang Đức ở ĐH Tohoku, Nhật Bản, nhóm tôi đóng vai trò chính trong các nghiên cứu xúc tác trong khi nhóm của GS. Đức đóng vai trò chính trong các nghiên cứu về pin Liti, Magie.  Điều gì làm nên sự kết nối thông suốt trong mạng lưới này?  Tôi nghĩ làm việc trong một mạng lưới như vậy cần nhất là sự tin tưởng, cởi mở trong trao đổi ý tưởng và luôn học hỏi. Sự tin tưởng cho phép chúng tôi chia sẻ thoải mái các kế hoạch thí nghiệm, những dự đoán mà không sợ “lộ bài”. Tất nhiên sự tin tưởng phải được tạo dựng từ tất cả các nhóm tham gia.  Trong quá trình nghiên cứu về lá nhân tạo, anh rút ra được điều gì?  Tôi nghĩ thế giới Tự nhiên là một nguồn rất tốt để chúng ta có thể học hỏi để rút ra các bí mật công nghệ. Tôi vẫn hay đùa với sinh viên trong trường là không có giáo sư hóa học nào để các bạn học tốt hơn là các quá trình hóa học trong tự nhiên, nhưng sẽ rất khó để chúng ta có thể “lợi dụng” trực tiếp các quá trình tự nhiên và “ép” chúng làm việc cho chúng ta. Một ví dụ là các nhà khoa học có giấc mơ dùng trực tiếp các enzyme hydrogenase thay xúc tác platinum (bạch kim) trong pin nhiên liệu hydro nhưng có vẻ đến nay cũng không có nhiều đột phá lắm. Nếu chúng ta “học” được cách vận hành của enzyme hydrogenase để làm các chất xúc tác thay thế platinum thì có vẻ khả quan hơn.  Cảm ơn và chúc anh thành công.   Thanh Nhàn thực hiện  Kể từ khi về nước và làm việc tại trường Đại học KH&CN Hà Nội vào năm 2015, TS. Trần Đình Phong đã xuất bản được 9 công bố xung quanh vấn đề phát triển vật liệu cho việc chế tạo lá nhân tạo, trong đó có 5 công bố từ những đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ. Một số công trình tiêu biểu: “Cobalt oxit pha tạp tungsten dạng vô định hình chế tạo bằng phương pháp điện phân là một xúc tác hiệu quả cao cho phản ứng oxi hóa nước” (Electrodeposited amorphous tungsten-doped cobalt oxide as an efficient catalyst for the oxygen evolution reaction) mới được Chemistry An Asian Journal chấp nhận xuất bản; “Hạt nano vàng là một xúc tác rất tốt cho phản ứng tạo H2 từ nước” (Gold nanoparticle as an outstanding catalyst for the hydrogen evolution reaction) trên Chemical Communications, “Molybden selenite vô định hình như một xúc tác hiệu quả cao cho phản ứng tạo H2 từ nước” (Novel Amorphous Molybdenum Selenide as an Efficient Catalyst for Hydrogen Evolution Reaction) trên ACS Applied Materials Interfaces; “Tinh thể hóa molybden sulfite vô định hình dưới tác dụng của chùm electron hoặc laser và ảnh hưởng của nó tới hoạt tính xúc tác tạo H2” (Crystallization of Amorphous Molybdenum Sulfide Induced by Electron or Laser Beam and Its Effect on H2 Evolving Activities) trên Journal of Physical Chemistry C; “Cấu trúc polymer và cơ chế hoạt động xúc tác tạo H2 của molybdenum sulfide vô định hình” (Coordination polymer structure and revisited hydrogen evolution catalytic mechanism for amorphous molybdenum sulfide) trên Nature Materials.    Author                Quản trị        
__label__tiasang TS. Trần Đình Phong: Đường đi tới thành công không hẹn trước      Phát biểu tại lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu ngày 18/5/2018, TS. Trần Đình Phong, Đại học Khoa học và công nghệ Hà Nội (USTH) chia sẻ, với những người làm nghiên cứu, dù có cho mình một định hướng ứng dụng thật lớn, thật hoàn hảo thì cũng hiểu rằng con đường đi tới đó nhiều khi không hẹn trước và cũng chuẩn bị cho mình tinh thần của người không thành công.      TS. Trần Đình Phong. Ảnh: Đoàn Dung.   Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của TS. Trần Đình Phong.  Trước hết, tôi cảm ơn Bộ Khoa học và Công nghệ, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Ban tổ chức giải thưởng Tạ Quang Bửu 2018 đã lựa chọn tôi là một trong ba nhà khoa học được trao giải năm nay. Đối với tôi, một người còn trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề, giải thưởng là một niềm vinh dự quá lớn.  Công trình được lựa chọn trao giải là một nghiên cứu trong chuỗi những nghiên cứu mà tôi và đồng nghiệp đang tiến hành với mục đích chế tạo được một chiếc lá nhân tạo nhằm tạo ra nhiên liệu sạch H2 chỉ với năng lượng mặt trời và nước biển. Với chúng tôi, đây là một giấc mơ đẹp, nó xứng đáng để chúng tôi cố gắng hết mình. Hiện nay đang có nhiều các trung tâm lớn trên thế giới thực hiện các nghiên cứu trong lĩnh vực này. Có khá nhiều tiến bộ đã được thực hiện trong vài năm qua nhưng con đường đi tới công nghệ dùng nhiên liệu H2 thay thế xăng dầu còn rất xa. Cũng có lúc, bên lề các hội thảo quốc tế, những người làm nghiên cứu tự hỏi nhau liệu chúng tôi có đang “mơ” một giấc mơ quá lớn hay không? Có thể, trong tương lai khi chiếc lá nhân tạo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sản xuất công nghiệp được chế tạo thành công thì một công nghệ khác ưu việt hơn được phát triển và ứng dụng. Tôi muốn nói rằng, những người làm nghiên cứu, dù có cho mình một định hướng ứng dụng thật lớn, thật hoàn hảo thì cũng hiểu rằng con đường đi tới nó nhiều khi không hẹn trước và chúng tôi cũng chuẩn bị cho mình tinh thần của người không thành công.  Tuy nhiên trên con đường đi đó rất có thể chúng tôi có những phát hiện khác, bất ngờ và hữu ích. Chúng ta cũng biết rằng có những phát minh được đưa ra một cách hoàn toàn bất ngờ không được chuẩn bị. Điện cực Clark để đo nồng độ O2 trong máu là một ví dụ như vậy. Nó được Leland Clark, một nhà hóa học tại Ohio Mỹ, phát triển năm 1953 khi ông đang mải miết chế tạo các máy tạo O2 phục vụ cho các ca mổ tim. Nó được phát triển khi các nghiên cứu của Clark về máy tạo O2 bị từ chối nhận công bố vì ông đã không thể đo được nồng độ O2 trong máu sau khi chạy qua chiếc máy của mình. Nhờ điện cực Clark đó chiếc máy đo đường trong máu đầu tiên được phát minh sau đó, vào năm 1962. Những phát kiến kể trên hoàn toàn ngoài mong muốn ban đầu của Clark.    Nhưng cho dù không có những khám phá công nghệ nổi bật như vậy thì vẫn có một giá trị chắc chắn mà các nghiên cứu nghiêm túc đem lại: đào tạo con người, những người có đầu óc phân tích và sáng tạo trong việc tìm kiếm và giải quyết vấn đề.  Ở đây, những người làm chính sách và lãnh đạo khoa học công nghệ có vai trò quyết định. Có lẽ cần phải chuẩn bị đủ lâu và đủ rộng để có những khám phá bất ngờ. Tôi mong rằng có một sự thấu hiểu và tin tưởng giữa các nhà quản lí khoa học và các nhà khoa học. Có niềm tin, các nhà khoa học sẽ chỉ có nhiệm vụ duy nhất làm tốt hơn nữa công việc của mình mà không phải bận tâm tìm hiểu các nguyên nhân khác, dù có dù không, khi nghiên cứu của mình chưa nhận được tài trợ. Có niềm tin, các nhà quản lí có thể dần đơn giản hóa các thủ tục hành chính giúp các nhà khoa học bớt thời gian làm các việc ngoài khoa học. Tôi tin rằng khi đó hiệu quả đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ cao.  Tôi rất trân trọng và cảm ơn Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia và các Hội đồng khoa học của Quỹ. Với Quỹ, những người làm khoa học chúng tôi có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn tài trợ nghiên cứu, tự do đưa các vấn đề nghiên cứu của mình với chỉ một trách nhiệm duy nhất, theo tôi hiểu, là thực hiện các nghiên cứu nghiêm túc, có trình độ ngày càng cao hướng tới trình độ quốc tế cao nhất. Tài trợ của Quỹ đã giúp tôi nhanh chóng triển khai các nghiên cứu của mình và dần xây dựng nhóm nghiên cứu. Tôi tha thiết mong rằng sẽ có nhiều các Quỹ tài trợ nghiên cứu tương tự, các Quỹ học bổng cho nghiên cứu sinh, sinh viên giỏi được xây dựng trong thời gian tới. Được như vậy tôi tin rằng năng lực nghiên cứu của các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu và cá nhân các nhà khoa học sẽ dần được nâng cao. Từ đó những khám phá được chuẩn bị và không được chuẩn bị phục vụ xã hội sẽ được tạo ra.  Kính thưa quí vị,  Trước khi dừng lời, cho phép tôi được tri ân những người thầy của tôi, những người không chỉ truyền cho tôi kiến thức mà còn truyền cho tôi niềm đam mê và cách nuôi dưỡng niềm đam mê công việc nghiên cứu của mình. Tôi xin được cảm ơn Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Trường Đại học khoa học và Công nghệ Hà Nội đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi xây dựng nhóm nghiên cứu của mình. Tôi rất trân trọng sự giúp đỡ và động viên của các nhà khoa học đàn anh tại Viện Hàn lâm và Trường Đại học khoa học và Công nghệ Hà Nội. Với tôi, những tháng ngày đầu tiên xây dựng nhóm nghiên cứu tại USTH thật đặc biệt. Tôi thật hạnh phúc khi gia đình tôi luôn ủng hộ các quyết định của tôi trong đó có quyết định trở về Việt Nam làm việc. Đặc biệt người bạn đời của tôi, người đã từng là đồng nghiệp, đã hiểu và chia sẻ một cách tuyệt đối ước mơ khoa học của tôi. Và cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tôi rất trân trọng và cảm ơn quyết tâm, tinh thần làm việc của các đồng nghiệp và các bạn sinh viên trong nhóm nghiên cứu của tôi. Họ chính là những người hàng ngày sáng tạo và chăm chỉ làm việc cùng với tôi dần hình thành một nhóm nghiên cứu trẻ.  Tôi xin cảm ơn quí vị đã lắng nghe. Kính chúc quí vị và gia đình sức khỏe, hạnh phúc.  —  *Tiêu đề do Tia Sáng đặt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ 200 năm đến 700 năm: Singapore viết lại lịch sử quốc gia      Năm 2019 là năm kỷ niệm 200 năm sự kiện Sir Stamford Raffles sáng lập thuộc địa Singapore cho Đế quốc Anh. Sự kiện trên một thời được coi là khởi đầu của lịch sử đảo quốc, giờ đây trở thành bộ phận của một dòng tự sự lịch sử rộng lớn hơn nhiều – đây là một dự án nhằm kiến tạo lại bản sắc quốc gia “dân tộc” do chính phủ và các học giả Singapore chủ động thực hiện.         Bìa cuốn sách “Bảy trăm năm”: Một Lịch sử Singapore mới được xuất bản tháng 5 năm nay. Cuốn sách này, cùng một website bổ trợ, mới được Chính phủ Singapore công nhận làm tài liệu tham khảo chính cho chương trình giáo dục lịch sử bậc phổ thông, được đưa vào giảng dạy từ năm 2014. Nguồn: Wardah Books.  Bên bờ sông Singapore với khu phố cổ và những tòa nhà chọc trời làm nền, bức tượng Ngài Thomas Stamford Raffles đứng hiên ngang tại điểm nơi ông cùng tùy tùng lần đầu đặt chân lên hòn đảo – nơi sau đó sẽ trở thành một thuộc địa giàu có bậc nhất của Đế chế Anh ở Viễn Đông. Dòng chữ trên bệ tượng, tạc vào năm 1972, viết: “Tại địa điểm lịch sử này, Sir Thomas Stamford Raffles lần đầu đặt chân lên Singapore vào ngày 28 tháng 1 năm 1819, với trí tuệ và tầm nhìn đã thay đổi vận mệnh của Singapore từ một làng chài vô danh trở thành một hải cảng to lớn và đô thị hiện đại.”  Trong năm nay, một chuỗi sự kiện hoành tráng được tổ chức để kỷ niệm sự kiện này. Thế nhưng, một quyết định bất ngờ được đưa ra từ phía chính quyền Singapore: Chương trình kỷ niệm sẽ không tôn vinh cả sự kiện lẫn nhân vật chính, thay vào đó sẽ được dùng để tôn vinh “700 năm lịch sử” của đảo quốc, giờ đây được tính từ năm 1299, trước khi Raffles xuất hiện tới 500 năm.  Để minh họa, trước ngày kỷ niệm vài tuần, chính quyền “bất ngờ” thuê họa sĩ tô lại tượng Raffles cho lẫn màu với nhà cửa xung quanh. Sáu ngày sau, người ta đặt thêm tượng bốn nhân vật lịch sử khác của đảo quốc xung quanh tượng chính: một quân vương thế kỷ 14, một học giả người Malay, một thương nhân người Ấn và một thương nhân người Hoa.  Hôm 30/5, một chương trình biểu diễn và triển lãm đặc biệt mang tên “Trải nghiệm 200 năm” được khai trương trên đồi Pháo đài Canning (Fort Canning Hill) lịch sử ở trung tâm thành phố với sự tham dự của Tổng thống Singapore Halimah Yacob cùng học giả và quan chức. Mở cửa liên tục đến tháng 9, chương trình được thiết kế công phu – gồm một sân khấu trải nghiệm trong nhà mang tên “Nhà du hành thời gian”, một triển lãm ngoài trời với tám phần riêng biệt và trình chiếu về đêm – giúp khán giả được “chứng kiến” câu chuyện lịch sử với gần 30 nhân vật lịch sử khác nhau “làm nên dân tộc Singapore”. Trong ngày khai mạc, bà Halimah cũng cho ra mắt bản in cuốn sách lịch sử mới, mang tiêu đề “Bảy trăm năm: Một Lịch sử Singapore” được các nhà sử học trong và ngoài nước biên soạn bằng nguồn tài trợ chính phủ. “Cuốn sách mới này đã phá bỏ sự ngộ nhận rằng Singapore trước khi Raffles đến đây chỉ là một làng chài mơ ngủ, vô danh – hơn kém một chút so với ‘chỗ ẩn náu theo mùa của cướp biển’, như một số người từng nói”, bà Tổng thống nói.  Điểm xuất phát trung tính  Những biểu hiện trên có gì đáng chú ý? Thực tế là khái niệm và mô tả về “700 năm lịch sử” mới được chính quyền Singapore chính thức sử dụng trong khoảng 5 năm trở lại đây. Bản thân sự kiện kỷ niệm – trước khi được thay đổi – cũng chỉ muốn tập trung vào 200 năm lịch sử theo đúng tên gọi ban đầu, theo ông Tan Tai Yong, chủ tịch Phân viện Đại học Yale-NUS và thành viên ban cố vấn sự kiện, trả lời SCMP.  Lịch sử “chính thống” của Singapore, được sử dụng trên truyền thông, trong chính trị và giảng dạy tại các trường học, xoay quanh ý tưởng về “Câu chuyện Singapore” (the Singapore story). Khái niệm trên, được đặt ra trong truyền thông đại chúng và trên diễn đàn chính trị lần đầu bởi Thủ tướng Lý Hiển Long vào năm 1997, mô tả lịch sử của quốc đảo như là “con đường tới thành công” – từ nền tảng ban đầu được gây dựng bởi nền thực dân Anh và cộng đồng dân di cư, trong đó nhấn mạnh vào ảnh hưởng và vai trò của Hoa Kiều, với mốc khởi đầu là cuộc đổ bộ của Raffles năm 1819. Về mặt học thuật, tự sự lịch sử này được xây dựng từ công trình sử học “Lịch sử Singapore”, 1819 – 1975 do Mary Turnbull, giáo sư Đại học Quốc gia Singapore biên soạn (bà là người được coi là “bà mẹ của sử học Singapore”), và sau đó được chính quyền Lý Quang Diệu tiếp thu nhiệt tình từ những năm 1980-1990 với vai trò trung tâm của Ngoại trưởng Singapore, khi đó là S. Rajapatnam.  Tuy nhiên, phát triển của nghiên cứu sử học tại Singapore trong khoảng 50 năm qua đã thúc đẩy cho sự thay đổi. Các bằng chứng từ sử học và khảo cổ học, đặc biệt là cuộc khai quật tại đồi pháo đài Canning do GS. John Miksic thực hiện năm 1984, cho thấy Singapore đã có người định cư từ thế kỷ 14, và trong thế kỷ 15 và 16 trở thành một trung tâm chính trị – thương mại khu vực. “Với những bằng chứng đang có về Singapore tiền thuộc địa, giờ mà nói rằng lịch sử nước ta bắt đầu từ năm 1819 sẽ là không thể chấp nhận được,” ông Tan giải thích: “Thực tế mà nói, điều đó hoàn toàn sai về cơ bản.”  Lịch sử mới giờ đây lấy sự ra đời của Singapore từ sự kiện năm 1299, khi hoàng tử Sang Nila Utama (khoảng 1200-1347) từ Palembang (nay ở Indonesia) thành lập vương quốc Singapura trên hòn đảo khi đó gọi là Temasek. Tới trước khi trở thành thuộc địa Anh, Singapore được mô tả là trung tâm tranh giành ảnh hưởng của các đế chế lớn trong lịch sử Đông Nam Á, từ Srivijaya, Majapahit, đến Ayutthaya và Hồi quốc Melaka và Johor-Riau.  Cách diễn đạt nhấn mạnh vào nguồn gốc thế giới Mã Lai của Singapore do đó, không chỉ làm giảm bớt giá trị của sự kiện được coi là thành lập Singapore năm 1819, mà còn giúp thay đổi cách nhìn nhận tiêu cực trước nay về người Malay tại Singapore, theo TS. Nazry Bahrawi (Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore), chuyên gia về văn tự Hồi giáo. Ông nói: “Định kiến về người Malay là những “người bản địa lười nhác” có nguồn gốc từ thời kỳ thực dân Anh. Và chính cách nhìn nhận Singapore trước Raffles là một ngôi làng Mã Lai vô danh càng giúp củng cố định kiến đó.”  Thay đổi định kiến này rất quan trọng, bởi xung đột sắc tộc từng là chủ đề nhạy cảm cho “lịch sử quốc gia” Singapore. Xung đột giữa người Hoa và người Malay thường được nhấn mạnh là nguyên nhân chính khiến Lý Quang Diệu và Đảng Nhân dân Hành động (PAP) của ông tách Singapore độc lập khỏi Liên bang Malaysia năm 1965. “Chính phủ Singapore cảm thấy rằng nếu như người dân nhìn nhận bản quán của mình là Trung Quốc, Ấn Độ hay quần đảo Mã Lai như đúng nguồn gốc của họ, thì sẽ tạo nên một lịch sử bị chia rẽ”, TS. Nazry nói, chỉ ra rằng lựa chọn sự kiện 1819 và Raffles được coi là điểm xuất phát trung tính ở thời điểm đó.  Nhưng không phải ai cũng đồng ý với phương pháp viết lại lịch sử quốc gia này ở Singapore. Một số ý kiến phản đối cho rằng đó chỉ là một biện pháp cải lương nửa vời của chính quyền Singapore muốn “nói thay” tiếng nói của người dân. “Thay vì lối tiếp cận từ trên xuống thời Rajapatnam (theo kiểu ‘đây là quá khứ và chúng tôi nói thế’), lối kể chuyện chính thống tạo ra một ảo ảnh về sự tham gia dân chủ và vị trí bình đẳng của các tiếng nói trong xã hội,” cây bút Nien Yuan Cheng bình luận trên trang New Mandala. Thêm vào đó, việc lựa chọn thời điểm cũng bị cho là có ý đồ chính trị, xét việc cuộc tổng tuyển cử Singapore sẽ diễn ra vào cuối năm nay và đảng PAP cầm quyền đang cần thu hút thêm cử tri từ các nhóm cộng đồng khác nhau.      Tượng đài Raffles phải “chia sẻ” vị trí với các nhân vật lịch sử khác, một cách để Chính phủ Singapore minh họa cho tự sự lịch sử mới “700 năm” của mình. Nguồn: IAVC  Giải thực dân thành công  Mục tiêu khác mà chính quyền Singapore hướng đến với tự sự lịch sử mới là việc xác định rõ hơn vị trí thuộc về “Đông Nam Á” của quốc gia. Giới tinh hoa tại Singapore từ lâu vẫn cho rằng sự phát triển của quốc gia đến từ việc nước này đã chủ động tách khỏi liên hệ khu vực để kết nối với các trung tâm kinh tế và quyền lực thế giới, như Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu. Sự tách biệt này đã thành công, theo GS. Wang Gungwu (ĐHQG Singapore), chuyên gia hàng đầu về lịch sử người Hoa, vì nó giúp Singapore xây dựng bản sắc độc lập của mình, khác với Hồng Kông, một cảng thị thuộc địa khác của Anh đến nay vẫn vật lộn với ảnh hưởng của Trung Quốc.  Thế nhưng, điều đó không hẳn là một lợi thế, theo GS. Wang: “Hai thế kỷ tách biệt đã tạo ra một lối nghĩ rằng sẽ dễ hơn cho Singapore nếu muốn kết nối đến những nơi xa – càng xa càng tốt – trong khi kết nối gần thì lại gượng gạo.” Nhà sử học Chua Ai Lin (Hiệp hội Di sản Singapore) cũng đồng ý với điều đó, cho rằng Singapore tự nhận việc chưa làm tốt trong việc nhận thức rằng bao nhiêu phần của mình thuộc về Đông Nam Á.  Mặt khác, việc lịch sử mới hạ thấp vị trí của sự kiện 1819 cũng được xem là cơ hội để Singapore hoàn thành “giải thực dân” quá khứ của mình. Nỗ lực này là cách để chương trình kỷ niệm vượt qua các chỉ trích về diễn đạt trước đây rằng “Singapore là thuộc địa cũ cuối của Đế chế Anh còn tôn vinh di sản thực dân của mình”. Ban tổ chức chương trình kỷ niệm được khuyến cáo từ đầu phải tránh sử dụng từ ngữ như “chúc mừng” cho sự kiện 1819. Thay vào đó, người ta tập trung vào yếu tố “cộng đồng”, như cách quảng bá việc tập hợp nhiều “nhóm cộng đồng” cùng xây dựng “chân dung lịch sử” về các lớp cư dân sinh sống tại Singapore trước và sau 1819. “Nhiều nhóm dân tộc và cộng đồng khác nhau đã cùng tham gia ‘hành trình Singapore’ ở những thời điểm khác nhau, và chúng tôi muốn tìm lại chỗ đứng của họ trong lịch sử dài hơn của mình cũng như của những người đã từng để lại dấu ấn của mình lên Singapore,” người phát ngôn chương trình nói.  Theo PGS. Goh Geok Yian (ĐH Nanyang), chuyên gia về khảo cổ và sơ sử Đông Nam Á, đây là cơ hội để nhìn lại, và thấu hiểu nhiều chiều cạnh của những gì đã diễn ra, và được trải nghiệm: “Đây không phải là một sự ủng hộ hay chấp thuận mù quáng, mà là một lời kêu gọi người ta cùng suy nghĩ về lịch sử và vì sao chúng đã diễn ra như thế,” bà nói.  Cân bằng kết nối với Đông Nam Á  Từ ngày 1-2/10, một hội thảo kỷ niệm Hai trăm năm đã được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Raffles City với sự tham gia của giới chức và đông đảo học giả nổi tiếng tại Singapore. Nhằm “nhìn lại những thành tựu của 700 năm lịch sử và con đường tương lai” của đảo quốc, thảo luận được chú ý ở hội thảo xoay quanh vấn đề “tách biệt” hay “kết nối” giữa Singapore với khu vực.  Đối mặt với một thế giới ngày càng bất ổn và sự nổi lên của Trung Quốc như một siêu cường khu vực, Đông Nam Á ngày càng trở nên quan trọng với Singapore. Điều này dường như đối lập với hình dung của đa số người Singapore về khu vực: “Tôi hơi bối rối vì thực tế là chúng ta nói về Đông Nam Á như thể nó ở ngoài kia. Không phải chúng ta ở Đông Nam Á, và Đông Nam Á ở đây với chúng ta sao?” GS. Brenda Yeoh (ĐHQG Singapore) đặt câu hỏi, chỉ ra cách đối xử hiện tại của Singapore với lao động nhập cư phản ánh một thái độ “thực dân” tồn tại với các nhóm thiểu số trong nước. Một giải pháp, theo GS. Farish Ahmad-Noor (Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajapatnam) cho rằng Singapore cần phải tiếp thu một bản sắc khu vực Asean và chấp nhận sự đa dạng và phức tạp của quốc gia.  Tuy vậy, theo GS. Wang Gungwu (ĐHQG Singapore), việc kết nối lại không phải là không thể, nhưng đó là một thách thức trong bối cảnh phức tạp hiện nay: “Thách thức này đòi hỏi Singapore phải đồng thời vừa kết nối xa để tồn tại về kinh tế, chính trị và an ninh, vừa kết nối lại với nước láng giềng – điều mà nếu không làm được, Singapore sẽ gặp nhiều khó khăn lớn hơn trong hai thập niên tới.” Nguồn: The Strait Times.     Tuấn Quang tổng hợp (Theo South China Morning Post, The Strait Times, Today, The Independent, New Mandala)  Nguồn:http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/tu-200-nam-den-700-nam-singapore-viet-lai-lich-su-quoc-gia/20191024104338439p1c879.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ bỏ email sẽ tốt cho tim mạch      Nhiều người trong chúng ta cảm thấy thật khó chịu khi không thể kiểm tra hộp thư email thường xuyên, và cứ vài phút một lần lại phải ngó hộp thư. Nhưng một nghiên cứu mới phát hiện việc phớt lờ email, tin nhắn có thể giảm stress bởi nó có tác động tích cực đến tim mạch.    Theo báo New York Times của Mỹ, các nhà khoa học đã gắn thiết bị theo dõi nhịp tim vào một số nhân viên văn phòng và phát hiện những nhân viên này luôn trong tình trạng “báo động cao” trong suốt cả ngày làm việc nếu như họ thường xuyên truy cập email.  Giáo sư thông tin Gloria Mark, thuộc đại học California (Mỹ) đã đưa ra nhận định về tác động của email đến tim mạch sau khi tiến hành một thí nghiệm đối với 13 người tình nguyện phớt lờ thông báo “bạn có thư mới” trong 5 ngày.  Trao đổi với phóng viên New York Times, bà nói, ban đầu bà nảy sinh ý tưởng điên rồ là nhiều người bị nghiện email. Do vậy, bà bắt đầu suy nghĩ cách thử nghiệm liệu những người phải ngừng dùng, kiểm tra email có phản ứng như thế nào? Kết quả là họ có những triệu chứng thu mình lại tương tự như triệu chứng ở những người nghiện hút hoặc nghiện rượu.  Theo một số ước tính, mỗi ngày có hơn 200 tỷ email được gửi đi trên Internet.  Song trong lúc email có thể cải thiện tốc độ giao tiếp thì cũng có nhiều quan ngại là email có hại cho cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.  Để tìm ra các tác động của email, các nhà khoa học đã tuyển 13 nhân viên văn phòng cả nam và nữ, làm các nghề từ kỹ sư hóa học cho đến tâm lý học.  Đồng thời, có một phần mềm được cài đặt sẵn vào máy tính của họ để đo xem họ thường chuyển từ công việc đang làm sang kiểm tra hộp thư email như thế nào.  Kết quả cho thấy người thường xuyên kiểm tra hộp thư có nhịp tim tăng cao hơn mức có tiềm tàng hủy hoại hormone stress, còn gọi là cortisol.  Ngược lại, việc hạn chế truy cập email lại có tác dụng tăng cường mức độ tập trung của nhân viên.  Một phát hiện thú vị khác là những gì người ta trao đổi với nhau mà không dùng email. Gần như tất cả những thành viên tham gia cuộc thử nghiệm này được ghi lại là họ ra khỏi văn phòng và đi dạo xung quanh nhiều hơn. Họ tương tác với người khác trực tiếp và xem đó như là một điều có ích và tạo hứng thú, làm việc năng suất hơn. Họ cho biết họ có thể tập trung vào nhiệm vụ lâu hơn.  Họ cho biết họ cảm thấy được giải phóng và hưng phấn này kéo dài trong vài ngày. Họ đã thực sự cố gắng rất nhiều để thay đổi thói quen kiểm tra hộp thư email nhưng sau đó mọi người lại quay trở lại cách cũ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ con sứa phát sáng      Ngày 8 tháng 10, Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố: giải Nobel Hóa học 2008 được trao cho ba nhà khoa học: Osamu Shimomura (Nhật), Martin Chalfie (Mỹ) và Roger Tsien (Mỹ) nhờ công trình nghiên cứu chất protein phát huỳnh quang màu xanh lá cây, viết tắt GFP (Green Fluorescent Protein).    Hội đồng xét giải nhận xét: công trình nghiên cứu của bộ ba nói trên “cho phép các nhà khoa học theo dõi nhiều quá trình sinh học khác nhau vào cùng thời điểm”; nghĩa là có thể dùng GFP để theo dõi sự tổn thương của tế bào thần kinh do tác động của bệnh Alzheimer hoặc quan sát cách hình thành các tế bào beta sản sinh insulin ở tuyến tụy của bào thai đang phát triển.    Công lao của các nhà nghiên cứu sứa phát sáng               Osamu Shimomura (1928) -GS ĐH Columbia ở New York.                 Osamu Shimomura sinh ra ở Tokyo, lớn lên tại Nagasaki, nơi ngày 9-8-1945 bị Mỹ ném bom nguyên tử, khiến ông bị mù mấy tuần liền. Shimomura tốt nghiệp khoa dược ĐH Y Nagasaki, năm 1960 nhận bằng tiến sĩ hóa hữu cơ ĐH Nagoya. Ông bắt đầu nghiên cứu sinh vật phát sáng từ năm 1955 khi làm nghiên cứu sinh, được thầy giao nhiệm vụ nghiên cứu chất luciferin. Sau khi thầy qua đời, năm 1960 Shimomura sang Mỹ, đến phòng thí nghiệm Johnson ở ĐH Princeton nghiên cứu tiếp. Năm 1963-1965 ông về Nhật làm phó giáo sư ĐH Nagoya; sau đấy lại sang Princeton và hoàn thành các thí nghiệm chủ yếu vào năm 1974. Vì nghĩ rằng sau khi Johnson nghỉ hưu thì mình sẽ khó có thể ở lại ĐH Princeton nên năm 1980 Shimomura chuyển đến làm việc tại Viện Nghiên cứu sinh vật biển Woods Hole và nhận chức giáo sư kiêm nhiệm của ĐH Boston cho tới khi nghỉ hưu (2001). Hiện ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, biến tầng hầm nhà mình thành phòng thí nghiệm.                Roger Tsien (tên chữ Hán Tiền Vĩnh Kiện) xuất thân trong một gia tộc người Mỹ gốc Hoa có truyền thống làm KHKT. Tsien từ nhỏ đã tỏ ra có tư chất thông minh và yêu khoa học; hồi học cấp III từng được tặng giải nhất cuộc thi Thiên tài Khoa học Westinghouse, do đó được nhận học bổng toàn phần tại ĐH Harvard; 20 tuổi tốt nghiệp ĐH này; năm 1977 nhận bằng tiến sĩ sinh học ĐH Cambridge (Anh).              Anh ruột ông là nhà sinh vật học thần kinh Richard W Tsien tức Tiền Vĩnh Hữu, từng làm chủ nhiệm Khoa Sinh lý ĐH Stanford. Thập niên 90, hai anh em nhà Tsien cùng được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học Mỹ.           Trong thiên nhiên có không ít sinh vật tự phát sáng, thường thấy nhất là con đom đóm. Rừng nhiệt đới ban đêm nhìn đâu cũng thấy lập lòe những nguồn sáng từ lá mục và côn trùng. Người Việt Nam rất sợ con giời leo, chỗ da thịt nào bị nó chạm vào thì rát hơn phải bỏng … Cơ chế phát sáng của các sinh vật đó đã được khoa học giải thích từ lâu, chẳng có gì ghê gớm. Nhưng sứa phát sáng thì khác. Năm 1955, Davenport và Nicol đã phát hiện loài sứa này nhưng không rõ nguyên nhân. Từ thập niên 60, một số nhà khoa học lao vào nghiên cứu sứa phát sáng. Sau gần nửa thế kỷ, kết quả lao động của họ được tặng giải Nobel danh giá.  Công lao to lớn của các nhà khoa học là ở chỗ họ khám phá ra chất protein tự phát sáng (chứ không phải sinh vật) và qua đó thực hiện một cuộc cách mạng trong nghiên cứu sinh học. Protein phát sáng có thể dùng để rọi ánh sáng vào các mô, các protein khác của sinh vật đang còn sống, cũng như để đánh dấu các protein cần theo dõi trong nghiên cứu sinh học, và để làm nhiều chuyện khác nữa. Trước đây khi làm việc đó, người ta buộc phải giết chết sinh vật cần nghiên cứu, lấy ra các mô, rọi ánh sáng (ánh mặt trời hoặc ánh đèn) vào đấy thì mới quan sát được. Nhưng quan sát một cơ thể sống với một cơ thể đã chết thì kết quả khác nhau xa. Đây chính là lý do người ta nói chất GFP đã “cải tử hoàn sinh” cho công tác nghiên cứu sinh học.  Từ lâu các phòng thí nghiệm sinh học đã dùng rộng rãi chất protein huỳnh quang màu lục GFP. Nhưng nếu không có giải Nobel Hóa học 2008 thì ít người biết đây là kết quả lao động của rất nhiều người trong ngót nửa thế kỷ.    Kết quả nghiên cứu lâu dài, thầm lặng của nhiều người  Trước hết cần khẳng định công lao của những người đầu tiên khám phá GFP. Đó là cố khoa học gia Mỹ Frank H. Johnson và nhà khoa học Nhật Osamu Shimomura. Rất tiếc là Johnson qua đời từ năm 1990 (82 tuổi), mà giải Nobel lại chỉ tặng cho người sống.  Johnson nhận bằng tiến sĩ ĐH Princeton năm 1936, sau đó làm việc ở trường này cho đến khi về hưu (1977). Ông là người đầu tiên quan tâm tới vấn đề sứa phát sáng. Năm 1960, ông phân lập được chất luciferin. Cũng năm ấy, khi Shimomura tới thăm phòng thí nghiệm Johnson ở ĐH Princeton, chính ông đã cho vị khách Nhật này xem sứa phát sáng. Ngạc nhiên trước ánh sáng màu sắc kỳ diệu bên trong con vật trong suốt ấy, Shimomura lập tức đồng ý hợp tác với Johnson nghiên cứu sứa. Lúc ấy Shimomura hoàn toàn xuất phát từ tính hiếu kỳ chứ chưa rõ mục đích và tác dụng của đề tài mình sẽ làm. Năm sau, Johnson lái xe đưa Shimomura đi hết chiều ngang nước Mỹ trong 7 ngày liền, mỗi ngày ngồi xe 12 tiếng đồng hồ ! Cuối cùng họ đến Phòng Thí nghiệm Friday Harbor ở bang Washington vùng bờ biển phía Tây. Nơi này có rất nhiều sứa có thể dùng vào nghiên cứu; nhờ nguồn nguyên liệu phong phú ấy, công việc của hai ông tiến triển mạnh.  Trong thời gian 1961-1974, từ hàng chục nghìn con sứa có tên khoa học Aequorea victoria, Johnson và Shimomura phát hiện ra chất aequorin và chất protein phát ánh sáng màu lục(sau này gọi là GFP). Trong bài báo đăng trên Tạp chí tế bào và sinh lý học so sánh năm 19621, họ thông báo đã phân lập thuần hóa được chất aequorin protein phát quang trong con sứa. Hai ông còn viết là một chất protein dưới ánh mặt trời thì có ánh sáng màu lục, dưới tia cực tím thì ánh sáng màu lục rất mạnh. Hồi ấy họ chưa hề nghĩ rằng những phát hiện ấy lại có thể dẫn tới một cuộc cách mạng trong sinh học.  Phát hiện ấy cũng là chuyện tình cờ. Một hôm đang làm thí nghiệm lấy chất protein phát quang từ sứa thì hết giờ làm việc, Shimomura trút các sản phẩm đã làm vào bể nước, lúc tắt đèn ra về quay đầu lại nhìn thì thấy bể nước phát ra ánh sáng. Sau đấy qua nghiên cứu ông xác định được là ion cali đã tăng cường sự phát sáng của aequorin. Năm 1963, Johnson và Shimomura viết trên tạp chí Science cho biết về mối quan hệ giữa cali với sự phát sáng của aequorin. Năm 1967, Ridgway và Ashley đưa ra phương pháp mới: dùng aequorin để kiểm trắc cali. Ion cali là phân tử tín hiệu quan trọng trong cơ thể sinh vật; aequorin trở thành phương pháp kiểm trắc cali.  Mới đầu Johnson và Shimomura chỉ chú ý lấy được sản phẩm chính là chất aequorin, mà coi GFP là sản phẩm phụ. Từ 1994 trở đi GFP được ứng dụng rộng rãi hơn aequorin. Prasher ra sức tuyên truyền ý tưởng dùng GFP để đánh dấu protein, trong khi Shimomura là người phát hiện GFP thì lại không có ý tưởng ấy.  Tiếp đó, Morin và Hastings đề xuất: giữa aequorin với GFP có thể xảy ra sự chuyển dịch năng lượng; aequorin khi được cali kích thích sẽ phát sáng, năng lượng của nó có thể chuyển dịch đến GFP kích thích GFP phát sáng – đây là phát hiện năng lượng cộng hưởng của huỳnh quang trong sinh vật.   Sau khi Johnson nghỉ hưu, năm 1980 Shimomura rời Princeton đến Phòng thí nghiệm sinh vật biển Woods Hole làm việc. Một đồng nghiệp là Douglas Prasher rất chú ý tới việc dùng protein huỳnh quang để làm phân tử đánh dấu sinh vật. Năm 1985, Prasher và Satoshi Inouye (người Mỹ gốc Nhật) riêng rẽ tìm ra gene của chất aequorin, gọi chính xác là cDNA. Năm 1992, Prasher tìm được gene của GFP, nhưng sau khi công bố kết quả thì ông bất ngờ ngừng nghiên cứu khoa học. Lý do là khi ông xin kinh phí của Quỹ Khoa học Nhà nước Mỹ, người thẩm xét nói là chưa từng có tiền lệ protein phát sáng và nếu có tìm ra protein ấy thì cũng không có giá trị gì. Prasher nổi cáu và xin chuyển công tác.  Mặc dù năm 1988 mới bắt đầu nghiên cứu GFP, nhưng đầu thập niên 1990 Martin Chalfie đã phát hiện ra một loại gene tế bào quyết định sự hình thành protein phát quang màu lục ở con sứa, rồi lại thành công trong việc cấy ghép tế bào GFP vào cơ thể sống bằng cách làm biến đổi gene tế bào. Đây là một đột phá trong nghiên cứu GFP được giới khoa học rất chú ý; nhiều nhà sinh học đưa GFP vào dự án nghiên cứu của mình.  Năm 1994, Chalfie và Inouye cùng Tsuji (người Mỹ gốc Nhật) riêng rẽ nghiên cứu dùng GFP thể hiện trên các sinh vật khác. Chất aequorin và GFP đều có ứng dụng quan trọng tuy nguyên lý khác nhau; GFP là chất protein phát sáng còn aequorin vẫn là một loại luciferase, phải có chất luciferin thì nó mới phát sáng được.  Roger Y. Tsien bắt đầu nghiên cứu GFP từ 1994, ông đã tăng được cường độ phát sáng của GFP, làm cho ánh sáng của nó có nhiều màu vàng, lam, có loại có thể kích hoạt, đổi màu. Phần lớn GFP hiện nay thế giới sử dụng là các biến thể GFP do Tsien cải tạo. Các sáng chế của ông được nhiều người sử dụng, các công ty tiêu thụ. Ngay từ thập niên 80 nhiều người đã để ý tới Tsien, sau khi ông phát minh ra phân tử chất nhuộm màu dùng để kiểm trắc nồng độ ion cali, sau đó lại cải tiến phương pháp đưa chất nhuộm này vào tế bào; tiện hơn phương pháp dùng aequorin để kiểm trắc (vì phải tiêm aequorin vào tế bào). Ông là một trong những nhà khoa học được mời đi các nơi báo cáo nhiều nhất. Trong các báo cáo, Tsien đều khẳng định cống hiến của Shimomura và sớm công khai giới thiệu phát hiện của Shimomura.  Hiện nay người ta phổ biến dùng GFP để đánh dấu các protein cần theo dõi khác, qua đó quan sát được sự biến đổi của các protein ấy theo thời gian và không gian. Dùng GFP sẽ có thể quan sát được một số phân tử trong tế bào sống, thậm chí sinh vật sống. Công nghệ GFP còn dùng để nghiên cứu hoạt tính của một số phân tử. Công nghệ GFP chủ yếu dựa vào công nghệ tạo hình ảnh; nhờ GFP, người ta chụp được những ảnh có độ nét rất cao., màu sắc cực đẹp.  Một số người khác cũng dùng các sinh vật để tìm protein có màu, song rất ít phát hiện có giá trị sử dụng. Một thí dụ thành công là Sergey A. Lukyanov của Viện nghiên cứu hóa hữu cơ sinh học thuộc Viện Khoa học Nga phát hiện được các chất protein huỳnh quang (FP) từ san hô, kể cả FP màu đỏ.  Tóm lại trong thời gian 1961-1974, Johnson và Shimomura dẫn đầu các nghiên cứu về chất GFP song rất ít người để ý tới. Mặc dù một số tạp chí sinh học kỳ nào cũng có bài viết về GFP, thậm chí chiếm tới 20% số bài, nhưng hầu như chẳng ai biết Shimomura là người phát hiện ra GFP. Năm 1990 khi Frank H. Johnson qua đời ở tuổi 82, báo New York Times khi đưa tin ấy cũng không nhắc gì tới GFP.   —————–  Ghi chú: 1- Shimomura O, Johnson FH, Saiga Y (1962). Extraction, purification and properties of aequorin, a bioluminescent protein from the luminous hydromedusan, Aequorea. J. Cell. Comp. Physiol. 59:223-239.   2 – Shimomura O, Johnson FH, Saiga Y. (1963). Microdetermination of calcium by aequorin luminescence. Science 140:1339-1340.  3- Chalfie M, Tu Y, Euskirchen G, Ward WW, Prasher DC. (1994). Green fluorescent protein as a marker for gene expression. Science 263:802-805.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ dữ liệu mở đến chính phủ mở      Dữ liệu mở có thể coi là bước khởi đầu để chính phủ dần thay đổi tư duy để trở nên minh bạch và có trách nhiệm hơn.      Dữ liệu mở đang trở thành một phong trào lan tỏa rộng rãi trên thế giới. Nguồn ảnh: The economist.  Jim Rich trở về nhà sau một trận đấu bóng rổ ở Texas với một bên chân đau khủng khiếp. Vợ ông, Rosemary, một y tá, sợ rằng vết thương của ông còn nghiêm trọng hơn một vết bầm tím. Bà nhập các triệu chứng của ông vào ứng dụng điện thoại có tên là iTriage và nhận thấy nó có dấu hiệu của hội chứng chèn ép khoang, có thể dẫn đến bại liệt hoặc hoại tử. Điều đó thuyết phục chồng bà đến bệnh viện ngay lập tức và một ca phẫu thuật đã diễn ra vài giờ sau đó.  Ứng dụng điện thoại đã cứu một bên chân của Jim Rich là một trong rất nhiều ứng dụng sử dụng dữ liệu chính phủ, trong trường hợp này là dữ liệu được bốn cơ quan y tế của Mỹ cung cấp. Vào năm 2009, Mỹ là quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt chế độ “mở mặc định” với tất cả các dữ liệu được thu thập bởi các cơ quan chính phủ, ngoại trừ thông tin cá nhân và bí mật quốc gia. Khoảng 200 nghìn bộ dữ liệu từ 170 cơ quan đã được đăng tải lên website data.gov. Tính đến năm 2015, đã có khoảng 70 nước trên thế giới theo “trào lưu” này. Tổ chức Tri thức mở (Open Knowledge) đặt trụ sở tại London, Anh, chỉ ra rằng có khoảng một triệu bộ dữ liệu được công bố trên các cổng dữ liệu mở sử dụng phần mềm CKAN, do tổ chức này phát triển năm 2010.  Thời gian biểu của những phương tiện giao thông công cộng, hồ sơ tội phạm, thông tin về ô nhiễm, các lưu trữ về thuế bất động sản vốn là những dữ liệu rất có giá trị. Nó cho phép các chính phủ phục vụ công dân của mình tốt hơn và trợ lực cho những doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.  Giá trị nằm trong những gì miễn phí  Một số công ty trở nên lớn mạnh dựa vào các dữ liệu mở. Chẳng hạn như Zillow, một website bất động sản và Garmin, một công ty trị giá 7 tỉ USD tạo ra phần cứng và phần mềm định vị, được xây dựng dựa trên những dữ liệu mở của chính phủ. Tuy nhiên, Laure Lucchesi tại Etalab, một cơ quan tham mưu cho chính phủ Pháp về dữ liệu cho biết, chính các công ty nhỏ mới là những người thụ hưởng thực sự. Chẳng hạn như ai đó muốn mở quán cà phê ở New York có thể tham khảo địa điểm phù hợp trên ứng dụng Business Atlas, một bản đồ tương tác cho biết địa điểm nào đang tụ tập nhiều người đi bộ nhất, số người trẻ tuổi sinh sống ở đó hay các hàng quán mới đang tăng lên.  Ở hàng trăm thành phố, người ta sử dụng hằng ngày các ứng dụng miễn phí trên điện thoại để xem thời gian chạy của xe buýt hoặc tìm cách di chuyển. Thông tin kiểm toán chất lượng của bệnh viện và kết quả đánh giá các bác sĩ sẽ thúc đẩy những ứng dụng giúp bệnh nhân đưa ra những lựa chọn sáng suốt nơi nào để khám bệnh. GPS, hệ thống định vị của quân đội Mỹ, có thể tìm thấy ứng dụng của nó trong mọi thứ, từ những ứng dụng hẹn hò cho đến những chip siêu nhỏ gắn trong vòng đeo cổ của vật nuôi.  Nhưng quan trọng hơn, dữ liệu mở có thể thúc đẩy một nền hành chính công trở nên minh bạch hơn, phục vụ người dân tốt hơn: Các chính trị gia thì có một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của các cơ quan công quyền còn người dân thì được theo dõi, đóng góp và phản hồi để cải thiện chất lượng của dịch vụ công.  Chẳng hạn, sau khi Anh công bố lưu trữ của tất cả hợp đồng mua bán của chính phủ vào năm 2010, một công chức nhận ra rằng những mua bán trùng lặp ở nhiều cơ quan chính phủ, tốn kém tới sáu triệu USD. Chính quyền San Francisco thì tính ra rằng, việc công khai các dữ liệu về vận tải trên mạng giúp họ không phải trả lời các yêu cầu điện thoại về lịch trình phương tiện, tiết kiệm hơn một triệu USD vào năm 2012.    Bên cạnh đó, ngày càng nhiều thành phố dựa vào người dân thông báo những chỗ hở nắp cống và hố ga, đèn đường bị hỏng…qua điện thoại. Đầu năm 2015, những nhân viên tình nguyện của OpenStreatMap, một dạng Wikipedia về bản đồ đã giúp chính phủ Pháp xây dựng cơ sở dữ liệu địa chỉ ở tầm quốc gia. Nhiệm vụ cao cả này là việc khớp nối 25 triệu địa chỉ nằm trong lưu trữ của sáu cơ quan chính phủ với các thông số địa lý của nó trên bản đồ.    Hai quốc gia tưởng như xa lạ với khái niệm “mở” như Trung Quốc và Nga cũng đang thúc đẩy phong trào này một cách mạnh mẽ. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường vào năm 2015 đã tuyên bố rằng các dữ liệu bất cứ ở đâu đều phải được công khai “trừ phi nó liên quan đến an ninh quốc gia hoặc thông tin cá nhân”. Bản thân Chính phủ Nga cũng công khai 2400 bộ dữ liệu trong một năm từ 2014-2015 về giáo dục, giao thông và y tế trên cổng thông tin dữ liệu mở của mình.  Dữ liệu mở đã giúp phanh phui những vụ tham nhũng. Ở Nga, một tổ chức là Clearspending đã theo dõi và trực quan hóa dữ liệu chi tiêu của Chính phủ. Bằng cách giám sát hơn 12 triệu hợp đồng và 900 nghìn nhà thầu, từ đó họ đã xác minh tới hơn 4 triệu sự vi phạm mua sắm công, đây là tin tức chấn động ở một quốc gia mà thông tin chính phủ bị kiểm soát nghiêm ngặt.  Làm thế nào để tạo ra chính phủ mở?  Tuy nhiên, dữ liệu mở không tự động mang đến sự thịnh vượng của doanh nghiệp cũng như một nền hành chính công minh bạch. Trên thực tế, có đến 4/5 lượng dữ liệu được công khai không thực sự có ích, Joel Gurin, Trung tâm dữ liệu mở cho doanh nghiệp (Center for Open Data Enterprise, một think-tank ở Washington) cho biết. Số còn lại thì không có metadata – những thông tin mô tả mà dữ liệu thô có thể vô nghĩa nếu thiếu chúng. Bên cạnh đó, tìm kiếm thông tin trên các cổng dữ liệu mở là một nhiệm vụ gian nan, dữ liệu phục vụ mục đích hành chính chưa hề được điều chỉnh thành cơ sở dữ liệu có thể sắp xếp, phân tích và đồng bộ với các dữ liệu khác. Thậm chí nhiều dữ liệu còn không được cập nhật, đặc biệt là các dữ liệu về chi tiêu ngân sách.     Dữ liệu mở chỉ có thể dẫn đến chính phủ mở nếu như cộng đồng có ý thức về tầm quan trọng của vấn đề này, nếu như có thể tập hợp tất cả các bên liên quan trong việc giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên dữ liệu mở. Chẳng hạn như, cần các nhóm xã hội dân sự vận động thúc đẩy sự giải mật thông tin của chính phủ. Ở Trung Quốc có những nhóm như DJChina (dữ liệu báo chí Trung Quốc), UD Party (dữ liệu mở về thành phố thông minh), Open Knowledge China đóng vai trò tiên phong trong phong trào này. Ngoài ra, các nhà công nghệ, mặc dù có thể từng không quan tâm đến việc những thông tin nào nên mở hay không nhưng họ có vai trò quan trọng trong việc vận dụng, tận dụng những công nghệ và kĩ thuật mới nhất để những dữ liệu mở đem lại tác động xã hội, tăng cường sự tương tác với chính phủ và người dân. Thậm chí, họ còn có thể thay đổi văn hóa làm việc trong các cơ quan công quyền, theo hướng sắp xếp và xây dựng cơ sở dữ liệu sao cho người dân có thể tiếp cận và sử dụng một cách dễ dàng.  Nguyên Hạnh tổng hợp     Author                Quản trị        
__label__tiasang Tư duy biển với lịch sử Việt Nam      Vấn đề biển đảo như một điểm nóng trong sinh hoạt chính trị đang đặt ra ở Việt Nam hiện nay là kết quả phức hợp của nhiều nguyên nhân cả hiện tại lẫn quá khứ. Bởi vậy, trong việc khẳng định và bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với biển đảo cần được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh, trong đó có tiến trình về tư duy biển của con người Việt Nam.        Những truyền thuyết ít giá trị sử liệu hiện còn không đủ là cơ sở để nhận định, nhưng trước thế kỷ X, tư duy về biển của người Việt dường như cũng chưa mấy rõ ràng. Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang vẫn trồng dưa hấu để bán, An Dương vương bị phá hỏng nỏ thần thua trận chạy tới bờ biển là kể như cùng đường. Nhưng sau khi Việt Nam giành được độc lập từ thế kỷ X trở đi thì khác. Ngô Quyền phá quân Nam Hán, nhà Trần chống Nguyên Mông đều dựa vào thủy quân, những xung đột quân sự với Chiêm Thành trước chiến tranh Nam – Bắc triều cũng cho thấy người Việt Nam không hề thờ ơ với biển đảo. Dĩ nhiên tư duy biển thời bấy giờ chưa thể toàn diện, vì trình độ sức sản xuất đương thời chỉ cho phép nhiều dân tộc và quốc gia khai thác biển chủ yếu như một nguồn tài nguyên tự nhiên về tôm cá và nhiều chính quyền chỉ quan tâm tới biển để bảo vệ đất liền, tức yếu tố quốc phòng vẫn tách rời yếu tố kinh tế. Tình hình nói trên đã thay đổi từ thế kỷ XVI trở đi, nhất là sau khi quốc gia Đại Việt bị tách thành hai tiểu quốc Đàng ngoài – Đàng trong.        Với bộ phận dân tộc ở Đàng trong phải phát triển xuống phía Nam men theo bờ biển, biển cả không chỉ là nguồn tài nguyên về tôm cá mà còn là điều kiện cho hoạt động thương nghiệp biển – ngoại thương. Tư Dung vãn của Đào Duy Từ đã nói tới những cánh buồm thương nhân – thị dân trên vùng biển miền Trung “Buồm ai dàng dạng chân trời, Phất phơ cờ gió thẳng vời chèo trăng”.        Sau thương cảng Hội An thế kỷ XVI – XVII người Việt Nam ở Đàng trong lại có thêm thương cảng Hà Tiên thế kỷ XVIII. Các đền miếu thờ Long vương, Hải thần, Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị tôn thần, phong tục thờ cá ông, các bài vè đi biển… phổ biến suốt vùng duyên hải Việt Nam từ đèo Hải Vân trở vào Nam còn cho thấy người Việt Nam ở Đàng trong đã nhất hóa nhiều yếu tố biển vào với sinh hoạt vật chất và tinh thần của cộng đồng mình. Phiên chế của quân đội Đàng trong có đơn vị thuyền, Thích Đại Sán đi thuyền do thủy quân chèo tay từ Thuận Hóa tới Hội An chỉ mất có một đêm, và nếu nhớ lại cách thức trưng binh của họ Nguyễn Đàng trong thì có thể thấy thủy quân Đàng trong là những ngư dân tài giỏi nhất được phiên chế vào binh tịch, nên không lạ gì mà thủy quân Đàng trong từng đánh bại cả hạm đội Hà Lan.        Bên cạnh việc đón tiếp thuyền Châu ấn từ Nhật tới, chính quyền Đàng trong cũng cử thuyền Long bài qua Nhật Bản – bộ tranh khắc gỗ Xuân họa Phù thế hội chi mê hoặc của Fukuda Kazuhiko thậm chí còn có bức thể hiện cảnh “thương nhân Giao Chỉ” hành lạc với kỹ nữ Nagasaki. Dấu ấn kinh tế biển in rõ trên cả hoạt động quản lý xã hội: các dinh trấn ở miền Trung từ đèo Hải Vân trở vào Nam thời Đàng trong (và cả Lục tỉnh Nam Kỳ thời Nguyễn về sau) đều có cửa sông cửa biển, nên sông ngòi miền Trung vốn chảy theo hướng Đông – Tây cũng trở thành những tuyến giao thông nối liền cửa biển với đầu nguồn. Tuy nhiên chính hệ thống sông ngòi ấy lại hạn chế việc kinh tế biển biến toàn bộ miền Trung thành một thị trường nội địa tương đối thống nhất khiến nền kinh tế thương nghiệp hình thành trên cơ sở sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp và khai thác tài nguyên phát triển một cách tự phát ấy chủ yếu chỉ mới đẩy mạnh việc giao lưu nội vùng, nên tâm lý địa phương lại chi phối việc xây dựng hàng loạt cảng biển và kinh tế miền Trung hiện nay vẫn thiếu một “nhạc trưởng” như Diễn đàn kinh tế miền Trung năm trước đã nêu ra.       Song nhìn chung việc hướng ra biển cũng đã bước đầu tích lũy cho con người Việt Nam thế kỷ XVIII những khả năng kinh tế – kỹ thuật mới để giải quyết các vấn đề của đất nước. Lực lượng thủy quân như một kết quả đặc biệt của sự phát triển kinh tế thương nghiệp biển đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ tình trạng phân tranh và kết thúc nội chiến – bộ phận tàu chiến kiểu phương Tây đã giúp thủy quân của Nguyễn Ánh nâng cao hiệu suất chiến đấu trong các trận hải chiến từ cửa Thi Nại tới núi Đâu Mâu, và chỉ sau khi tiêu diệt được gần như toàn bộ thủy quân Tây Sơn năm 1801, Nguyễn Ánh mới có thể tiến ra Thăng Long năm 1802.  Cần nói thêm rằng sau khi nhà Thanh thay thế nhà Minh cai trị Trung Hoa từ 1644 thì hoạt động trên biển của chính quyền Trung Hoa đã hoàn toàn tách rời truyền thống hải hành với đỉnh cao “thất hạ Tây dương” của Tam bảo Thái giám Trịnh Hòa trước đó, nên triều đình Khang Hy vẫn phải dùng một viên tướng người Hán là Thi Lang làm Tư lệnh trong chiến dịch tấn công Đài Loan, thống nhất Trung Hoa năm 1683. Nhưng khi nhà Thanh quay lưng với biển thì các chúa Nguyễn Đàng trong thế kỷ XVII – XVIII lại hướng ra phía biển, nên sau gần ba thế kỷ phân tranh và nội chiến Việt Nam không những mở rộng được lãnh thổ tới vịnh Thái Lan mà còn có thể thống nhất trở lại vào năm 1802.       Khác với bờ biển miền Trung, bờ biển Nam Bộ từ phía Nam Vũng Tàu tới mũi Cà Mau là bờ biển phù sa bồi, nên việc phát triển kinh tế biển cần đầu tư nhiều về hạ tầng kỹ thuật dưới thời phong kiến và thời Pháp thuộc nói chung là một điều không dễ. Tuy nhiên điều đáng nói là sau 1802 nhà Nguyễn lại bế quan tỏa cảng. Trên cửu đỉnh mà Minh Mạng cho đúc năm 1835 tuy vẫn có khắc hình ghe ô, ghe lê, tàu đa sách (tàu nhiều dây buồm) nhưng đó là một sự thoái bộ về tư duy biển, vì nó lại trở về nhấn mạnh yếu tố quốc phòng đồng thời giới hạn trong phạm vi lợi ích của phía quan phương như người ta đã thấy qua các đơn vị bán quân sự kiểu Đội Trường Sa.  Và tương tự nhà Thanh ở Trung Quốc, nhà Nguyễn ở Việt Nam thế kỷ XIX không xây dựng được sức mạnh kinh tế – quốc phòng mang tính chất toàn dân từ biển đảo nên phải mất đất liền. Nhưng dưới thời Pháp thuộc thì yếu tố kinh tế biển trong kinh tế Nam Kỳ vẫn không có sự tiến triển nào đáng kể. Chủ trương “Nam Kỳ có thể và phải trở thành một thuộc địa nông nghiệp” của chính quyền thuộc địa đã khiến kinh tế vùng này phát triển theo một quỹ đạo ngày càng xa rời vòng quay kinh tế biển, chẳng hạn mặc dù sản lượng gạo xuất khẩu liên tiếp gia tăng, kinh tế biển ở Nam Kỳ trước 1945 vẫn gói gọn trong các hoạt động truyền thống như đánh bắt cá, chế biến thủy hải sản. Chủ nhân các đội tàu vận tải biển ở Nam Kỳ trước 1945 chủ yếu là Hoa kiều và người Pháp chứ tuyệt nhiên không có người Việt Nam.       Hiện nay khái niệm kinh tế biển không còn gói gọn trong phạm vi đánh bắt cá, ngoại thương biển, đón tiếp du lịch mà đã mở rộng ra các lãnh vực khai thác tài nguyên dưới đáy biển, khai thác năng lượng biển, công nghiệp xây dựng trên biển, bảo vệ môi trường biển vân vân. Tình hình nói trên cho thấy đã đến lúc xã hội Việt Nam phải nhìn nhận lại vấn đề biển đảo một cách toàn diện mới có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng và lâu dài của toàn dân tộc.         “Ý thức không gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức” – tư duy biển luôn được quy định bởi tư duy kinh tế biển, mà như người ta đã thấy, tư duy kinh tế biển của người Việt Nam trong lịch sử luôn bị giới hạn bởi nhãn quan chính trị và định hướng kinh tế nhiều khi rất thiển cận và ít tiến bộ của các chính quyền.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ G.J. Mendel tới Công nghệ chuyển gene      Gregor Johann Mendel sinh ngày 20 tháng 7 năm 1822 trong một gia đình nông dân nói tiếng Đức tại Thị trấn Hynčice, khi đó thuộc Đế quốc Áo-Hung, nay thuộc Cộng hòa Czech. Ông mất ngày 6 tháng 1, 1884. Ông là con trai của ông Anton và bà Rosine Mendel.      Tuổi thơ, tuổi trẻ và thân thế của Gregor Johann Mendel  Thuở nhỏ Mendel làm việc như một thợ làm vườn trong một nông trại của gia đình và ông nghiên cứu về cách nuôi ong. Khi đó học lực của ông tốt, do đó một giáo sĩ cùng quê đã để mắt đến ông. Song, để đi học ông cũng phải làm việc do số tiền cha mẹ cung cấp cho Mendel không được bao nhiêu. Tốt nghiệp trung học với tấm bằng xuất sắc, Mendel được Nhà thờ chọn đi học về triết học. Vì nhà quá nghèo nên năm 21 tuổi ông phải tạm bỏ học. Năm 1840 ông vào Viện Triết học Olomouc để tiếp tục đi học. Sau hai năm học, ông chán nản vì thiếu tài chính nên cuối cùng ông nghe lời một trong các giáo sư của ông là nhờ cha cố Napp giới thiệu ông vào dòng tu để có thể tiếp tục học. Bốn năm sau, ông trở thành linh mục. Từ lúc vào dòng tu, ông hài lòng vì có đủ điều kiện để nghiên cứu về khoa học tự nhiên. Song song với việc học, ông đi dạy các trường trung học. Nhưng năm 1849 đạo luật  bắt các giáo sư phải có ngạch đại học. Nhờ cha cố Napp giúp, năm 1851 Mendel được vào Ðại học Vienna để tiếp tục học. Ông được học các môn toán, vật lý, hóa, thực vật học và động vật học. Năm 1853 ông tốt nghiệp đại học và lại trở về tu viện ở quê nhà. Khi trở về Vienna, Mendel lập ra một vườn  khảo cứu và bắt đầu những thí nghiệm về sự lai giống. Năm 32 tuổi ông được cử làm giáo viên của Trường Cao đẳng thực hành ở Brunn (nay là Brno thuộc nước Cộng hòa Czech).          Vườn thực nghiệm của Mendel ở sân của Tu viện Brunn          Ông được coi là “cha đẻ của di truyền hiện đại” vì những nghiên cứu của ông về đặc điểm di truyền của đậu Hà Lan. Từ 1856 đến 1863, Mendel đã thí nghiệm trên nhiều loại đối tượng nhưng công phu nhất là trên đậu Hà Lan (có hoa lưỡng tính tự thụ phấn nghiêm ngặt). Ông đã trồng khoảng 37.000 cây, tiến hành lai để nghiên cứu 7 cặp tính trạng thuộc 22 giống đậu trong 8 năm liền, phân tích trên một vạn cây lai và khoảng 30.000 hạt. Từ đó ông đã xây dựng 3 định luật di truyền trên cơ sở các thực nghiệm, quan sát và xử lý chặt chẽ về mặt toán học và được ông công bố năm 1865. Ngày nay chúng ta gọi là Định luật Mendel bao gồm Định luật đồng tính F1, Định luật phân tính F2 và Định luật phân li độc lập.  Cách nghiên cứu của ông là cho nhân giống theo từng tính trạng, sử dụng toán học để đánh giá số lượng và từ đó rút ra quy luật di truyền. Dù các quy luật này chỉ quan sát được cho số ít tính trạng, nhưng Mendel vẫn tin rằng sự di truyền là riêng rẽ, không phải tập nhiễm và tính di truyền của nhiều tính trạng có thể được diễn giải thông qua các quy luật và tỷ lệ đơn giản.  Các nghiên cứu của ông được công bố trong bài báo “Versuche über Pflanzenhybriden“ (Các thí nghiệm lai ở thực vật) tại Hội Lịch sử Tự nhiên của Brunn năm 1865 và gửi cho các cơ quan khoa học trên thế giới nhưng không được ai chú ý đến cả. Thế giới khoa học lúc bấy giờ chưa sẵn sàng để công nhận điều quan trọng của những kết quả mà ông đã tìm ra. Nội dung định luật của ông tuy rất đơn giản nhưng đã đặt nền móng cho ngành di truyền học.  Sau đó, ông vẫn miệt mài vừa dạy học, vừa truyền đạo và vừa tiếp tục làm thực nghiệm trong vườn của Tu viện. Năm 1868 ông được phong chức Tổng Giám mục. Ông còn là người sáng lập ra Hội nghiên cứu Thiên nhiên và Hội Khí tượng học của thành phố Brunn. Năm 57 tuổi, ông được cử làm Giám đốc Tu viện. Ngày 6-1-1884 ông qua đời sau một tai biến do viêm thận, thọ 62 tuổi. Khi ông còn sống, ý nghĩa và tầm quan trọng trong các công trình nghiên cứu của ông không được công nhận và người ta cũng không quan tâm đến các nghiên cứu của ông. Khi qua đời, Mendel để lại dấu hỏi lớn cho các nhà khoa học trong thời kỳ này.  Mãi đến năm 1900 đã xảy ra một sự kiện quan trọng: ba nhà khoa học Hugo de Vries người Hà Lan, Carl Correns người Đức và Erich von Tschermak người Áo, làm việc độc lập với nhau, đã tình cờ đọc được các báo cáo của Mendel. Họ tiến hành lặp lại các thí nghiệm thực vật và đều nhận thấy tính đúng đắn của Định luật Mendel. Như vậy, sự ra đời của Di truyền học được gắn với hai sự kiện quan trọng: năm 1865 với sự công bố kết quả nghiên cứu của Mendel và năm 1900 với sự khẳng định tính đúng đắn các kết quả đó từ phía các nhà khoa học khác. Mendel được tôn vinh là cha đẻ của ngành Di truyền học.  Sau này tại Pháp có nhà khoa học Cunio và Hà Lan có nhà khoa học Bateson đã đem các định luật của Mendel để áp dụng vào sự lai giống cho động vật (chuột) và thấy kết quả cũng giống như thực vật (đậu Hà Lan).      Công nghệ chuyển gene  Kể từ khi các kết quả nghiên cứu của Mendel được công bố (năm 1865) và được công nhận (năm 1890) đến nay đã hơn 100 năm và gần 150 năm. Khoa học, kỹ thuật và công nghệ thế giới đã phát triển rất xa và đã mang lại các ứng dụng rất cụ thể. Đến nay người ta đã có thể không những nhận dạng được mối quan hệ giữa gene và các tính trạng mà còn có thể can thiệp làm thay đổi cấu trúc gene của các cơ thể sinh vật dẫn đến các thay đổi về tính trạng của chúng. Một ngành khoa học-công nghệ mới hình thành: Khoa học-công nghệ chuyển gene (Genetical modification) và mang lại các sản phẩm là các sinh vật chuyển gene (thông thường được gọi bằng tiếng Anh là genetically modified organism – viết tắt là GMO, hoặc còn có tên là genetically enginnered organism – viết tắt là GEO).          Bảng thống kê 7 tính trạng trong các thí nghiệm của Mendel          Trong khoảng 100 năm nay Khoa học-Công nghệ Di truyền học đã có những phát triển vô cùng mạnh mẽ. Có thể nêu một vài mốc chính sau đây:  * 2.000 năm trước Công nguyên: Loài người bắt đầu hoạt động trồng cấy  * Thế kỷ 19: Tuyển chọn thông qua lai chéo  * Đầu Thế kỷ 20: Tuyển chọn thông qua đột biến (bằng phóng xạ, hóa chất hoặc tia cực tím)  * 1930: Biến đổi Soma   * 1940: Giải cứu phôi thai  * 1950: Sinh gene đa phôi thai  * 1970: Nuôi cấy bao phấn  * 1980: DNA tái tổ hợp, tuyển chọn với sự hỗ trợ của marker   * 1990: Hệ gene  * 2000: Tin sinh học  Bảng tiến trình trên cho thấy trong 100 năm, thậm chí 50 năm, gần đây loài người đã đi xa bao nhiêu so với gần 4000 năm lịch sử trong lĩnh vực này.  Về nguyên tắc sinh vật chuyển gene là một cơ thể sinh vật mà bộ gene của nó bị thay đổi bằng các kỹ thuật gene. Các kỹ thuật này có tên gọi chung là công nghệ DNA tái tổ hợp, trong đó sử dụng các phân tử DNA từ các nguồn khác nhau được kết hợp lại vào một phân tử để tạo ra một tập hợp gene mới. Phân tử DNA tái tổ hợp này sau đó được đưa vào một sinh vật bằng các kỹ thuật gene và tạo cho sinh vật đó bộ gene mới đã được chuyển đổi. Như vậy các sinh vật chuyển gene đã có các phân tử DNA mới được cài vào có nguồn gốc từ các loài khác.   Các kỹ thuật chuyển gene đã có thể trở thành hiện thực nhờ việc phát hiện ra DNA và cấu trúc của nó. Trên cơ sở này đã tạo ra vi khuẩn tái tổ hợp đầu tiên vào năm 1973. Đó là vi khuẩn E. coli có biểu hiện gene Salmonella ngoại lai (expressing an exogeneic Salmonella gene).               Cấu trúc DNA          Để chuyển gene (cài gene mới) người ta sử dụng nhiều phương pháp, trong đó hai phương pháp hiện được sử dụng rộng rãi nhất là sử dụng súng bắn hạt phủ gene hoặc sử dụng vector khuẩn.          DNA là một chuỗi các gene giống như chuỗi hạt ngọc. Phương pháp nhân giống truyền thống kết hợp một lúc nhiều gene.        Phương pháp chuyển gene: Bên trái là cài gene mới bằng vector khuẩn (Agrobacterium) và bên phải là cài gene mới bằng súng bắn gene.          Súng bắn hạt phủ gene sử dụng các hạt rất nhỏ bằng vàng hoặc tungsten. Các hạt này được phủ DNA mà người ta mong muốn chuyển vào cơ thể nhận. Các hạt nhỏ này được nạp vào ống súng. Khi kéo cò súng một viên đạn đặc biệt (được làm bằng chất dẻo) được phủ các hạt nhỏ nạp vào súng. Viên đạn bằng chất dẻo đục một lỗ nhỏ trên tấm kim loại ở cuối ống súng. Các hạt nhỏ bay qua lỗ nhỏ đó với tốc độ rất lớn và chui vào tế bào. Khi hạt nhỏ đó chui qua tế bào nó để lại ở đó lớp phủ DNA. Để tin chắc rằng các DNA mới đã thực sự cài vào DNA của cơ thể nhận thì người ta phải đánh dấu bằng các đoạn gene có chức năng kháng kháng sinh. Sau đó người ta cho các tế bào đã cài gene mới sinh trưởng trong môi trường có kháng sinh đó. Nếu tế bào đó phát triển tức là tế bào đó đã có gene kháng với kháng sinh đó. Như vậy việc cài gene mới đã thành công.          Súng bắn gene             Một phương pháp nữa được sử dụng rộng rãi là chuyển gene mới thông qua các vector. Vector được sử dụng phổ biến nhất là vi khuẩn Agrobacterium tumefa ciens. Plasmid của khuẩn này có tên là Ti plasmid (Tumor Inducing plasmid). Ti plasmid này có chứa vùng khởi nguồn các sao chép của đoạn T- ADN. Đoạn T-ADN mã hoá các gene tạo khối u và gene sử dụng nopaline. Khi plasmid này được đưa vào cây, vùng tạo khối u sẽ làm cho khối u tăng trưởng không kiểm soát được trong một quá trình có tên gọi là Crown Gall Disease. Sự lớn lên của khối u này cho phép Ti plasmid lan truyền trong cây muốn chuyển gene. Sau đó các vùng T-DNA sẽ chuyển từ Ti plasmid và cài ngẫu nhiên vào hệ gene của cây muốn chuyển gene. Trong quá trình này DNA mới có chứa các gene có các tính trạng mong muốn cũng sẽ chuyển vào hệ gene của cây muốn chuyển gene.  Tuy nhiên các thành công trong lĩnh vực này đã dẫn đến các quan ngại sâu sắc trong giới khoa học về các rủi ro có thể phát sinh từ công nghệ gene. Năm 1986 các thử nghiệm ngoài ruộng một loại vi khuẩn chuyển gene nhằm tạo cho cây trồng khả năng chịu rét tại một công ty nhỏ có tên là Advanced Genetic Sciences ở Oakland, California, Hoa Kỳ đã phải hoãn lại do bị phản đối. Cùng năm đó công ty Monsanto cũng phải bỏ một cuộc thử nghiệm ngoài ruộng cho một protein có khả năng chống côn trùng gây hại.  Để giải quyết tình trạng này từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90 thế kỷ trước, các tổ chức FAO và WHO đã đưa ra các chỉ dẫn về an toàn cho cây trồng và thực phẩm chuyển gene. Nhờ có các chỉ dẫn đó các thử nghiệm trên diện rộng các cây trồng chuyển gene đã được bắt đầu ở Mỹ và Canada và đến giữa những năm 90 thì lần đầu tiên đã có được phê duyệt cho việc sản xuất thương mại ở quy mô lớn và canh tác cây trồng chuyển gene đã được thực hiện với tốc độ tăng nhanh hằng năm.          Tỷ lệ % và diện tích trồng các loại cây chuyển gene chính (triệu ha)        Diện tích canh tác sử dụng công nghệ sinh học toàn cầu Triệu ha (1996-2005)          Mức độ tăng trồng cây chuyển gene trong vòng 10 năm từ 1996 tới 2005: 21 nước trồng cấy chuyển gene. Tổng diện tích trên toàn thế giới: hơn 90 triệu ha (màu da cam), trong đó các nước công nghiệp là đường màu xanh lá cây và các nước đang phát tiển là đường màu xanh lam. Riêng năm 2004 đến năm 2005 tăng 11%.  Theo International Service for the Acquisition of Agri-Biotech Applications (ISAAA), năm 2009 có khoảng 14 triệu nông dân trồng các loại cây chuyển gene, 90% trong số đó là nông dân nghèo ở các nước đang phát triển. 7 triệu người trồng bông chuyển gene ở Trung Quốc, 5,6 triệu người trồng bông chuyển gene ở Ấn Độ, 250,000 người trồng bông, ngô, đậu tương chuyển gene ở Philippines và Nam Phi và có thêm khoảng 12 nước đang phát triển khác cũng đang trồng các loại cây chuyển gene. Giá trị thương mại của các loại nông sản chuyển gene đạt khoảng 130 tỷ USD trong 2008.   Công nghệ chuyển gene được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như nghiên cứu sinh học và y học, sản xuất dược phẩm, các thí nghiệm y-sinh học và nông nghiệp. Hiện nay việc ứng dụng các công nghệ chuyển gene đã đạt tới mức phải có bản quyền, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp với việc tạo ra các giống cây trồng thương mại có nhiều tính trạng đặc biệt. Một trong số các công ty có nhiều patent nhất trong lĩnh vực cây trồng là công ty Monsanto của Mỹ. Năm 2007 các giống cây trồng chuyển gene do Monsanto cung cấp được trồng trên diện tích khoảng 1.000.000 km2 trên khắp thế giới và họ giữ tốc độ tăng 13%/năm. Năm 2008, nông dân ở Mỹ trồng khoảng 130.000 km2 loại ngô chuyển gene ba bắp. Họ cũng trồng khoảng 20.000 km2 giống bông chuyển gene. Tuy nhiên các patent đầu tiên của Monsanto sẽ bắt đầu hết hạn bảo hộ vào năm 2014. Đây cũng là cơ hội cho các nước đi sau tiếp cận ứng dụng và phát triển công nghệ này với chi phí thấp.  Công nghệ chuyển gene ngày nay đã trở thành phổ biến rộng. Về nguyên tắc trồng cây chuyển gene nhắm tới việc tăng sản lượng, tăng lợi nhuận và mang lại các yếu tố tích cực cho môi trường. Tuy nhiên việc áp dụng trồng các loại cây chuyển gene cũng gây nhiều quan ngại về mặt sinh học, đạo đức và môi trường.  Các tranh cãi về mặt ưu việt và mặt hạn chế của công nghệ chuyển gene có thể kéo dài mãi mãi vì không thể có công nghệ nào chỉ mang lại những điều tốt đẹp.  Ví dụ, người ủng hộ cho rằng cây trồng chuyển gene làm tăng sản lượng và do đó sẽ là nguồn lương thực bảo đảm cho dân số thế giới ngày càng tăng; người phản đối thì cho rằng thế giới không hề thiếu lương thực mà vấn đề lại ở cơ chế phân phối.  Người ủng hộ nhấn mạnh đến chu trình tăng trưởng nhanh; người phản đối thì lại cho rằng chu trình tăng trưởng nhanh không phù hợp với tập quán thời vụ và các truyền thống văn hóa khác.  Người ủng hộ cho rằng cây sẽ chịu được việc sử dụng nhiều hơn và đa dạng hơn các loại thuốc bảo vệ thực vật (thí dụ như khả năng chống chịu các loại thuốc trừ cỏ); người phản đối thì lại cho rằng sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ dẫn đến tồn dư trong thực phẩm.  Người ủng hộ cho rằng công nghệ chuyển gene sẽ giúp nông dân trồng được nhiều loại cây vốn có nguồn gốc từ các vùng khí hậu và điều kiện môi trường khác; người phản đối thì cho rằng việc này sẽ dẫn đến sự phụ thuộc của người nông dân vào các nhà phát triển giống bằng công nghệ chuyển gene.  Người ủng hộ cho rằng cây chuyển gene sẽ cho sản phẩm với các chức năng, hương vị, màu sắc, hình dạng mới; người phản đối thì cho rằng cây chuyển gene làm mất đi yếu tố tự nhiên vốn có trong sản phẩm và họ có quyền được biết thực phẩm của họ có nguồn gốc thế nào, chứa những chất gì.                                Làm sao tôi biết được các quả  này có phải là sản phẩm chuyển gene không, nguồn gốc của nó thế nào và nhất là nó có chứa các yếu tố gì khác (kể cả tốt nhưng không phù hợp với tôi) so với cà chua tự nhiên truyền thống.          Như thế cuộc tranh cãi không bao giờ dừng. Nhìn lên bản đồ phân bố cây trồng chuyển gene ta cũng thấy được xu hướng ủng hộ và phản đối cây trồng chuyển gene trên thế giới. Theo nhiều đánh giá thì ẩn chứa đằng sau các luận điểm đó là các lợi ích tài chính. Những nước đang nắm trong tay lợi thế công nghệ, kỹ thuật, thị trường thì ca ngợi và ủng hộ, còn những nước ở thế yếu thì phản đối để tự bảo vệ.          Dừng lại! Coi chừng. Quả dâu này là chuyển gene?          Trên thị trường tiêu thụ, ngoài các quy định đối với sản phẩm chuyển gene thì người ta trông chờ vào nhận thức của người tiêu dùng. Ngày nay người ta quy định trên các sản phẩm đó phải ghi rõ là có nguồn gốc chuyển gene. Khi đó người tiêu dùng tự quyết định. Nhưng đâu có phải người tiêu dùng nào cũng “thông thái”. Để thận trọng họ quay lại sản phẩm truyền thống, tự nhiên là hơn.  Cây trồng chuyển gene – một tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ với những ảnh hưởng to lớn và lâu dài. Tiến bộ này lợi hay hại và chúng ta phải có ứng xử thế nào – vấn đề này rất cần có câu trả lời.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Hỏa tinh đến sao chổi      Ngày 25.2, tàu thăm dò Rosette của Cơ quan Không gian châu Âu (ESA) đã bay ngang sao Hỏa trong cuộc du hành 10 năm xuyên qua hệ mặt trời. Cú bay lướt này nhằm giúp Rosetta lợi dụng lực hẫp dẫn của sao Hỏa để đổi hướng chuyển động, hướng tới điểm đến cuối cùng vào năm 2014 là sao chổi mang ký hiệu 67/Churyumov-Gerasimenko.    Đây là một khối băng, khí ở thể rắn và bụi, hình dạng không đều, dài 3 dặm, được hai nhà thiên văn Xô Viết là Klim Churyumov và Svetlana Gerasimenko phát hiện.  Hôm qua Rosetta đã bay cách bề mặt sao Hỏa chỉ khoảng 150 dặm – một kỳ tích của trung tâm điều khiển đặt tại Đức, vì bất cứ một tính toán không chính xác nào cũng sẽ khiến con tàu rớt xuống hành tinh đỏ.  Việc bay lướt qua sao Hỏa thoạt tiên không nằm trong lộ trình của Rosetta, nhưng do việc phóng tàu bị chậm trễ, dẫn đến lỡ hẹn với sao chổi được chọn ban đầu, các nhà khoa học phải tìm một sao chổi khác, và điều này đòi hỏi tàu Rosetta phải chuyển hướng bay. Thời gian tàu bay vào phần tối của sao Hỏa cũng đặt ra một khó khăn lớn vì khi đó các tấm năng lượng mặt trời của tàu không hoạt động. Các kỹ sư của ESA giải quyết vấn đề này bằng cách tắt một số thiết bị trên tàu và sử dụng pin dự trữ.  Theo kế hoạch, Rosetta sẽ bay quanh sao chổi và thả một thiết bị thăm dò xuống bề mặt thiên thể. Robot này sẽ tự động thực hiện các mũi khoan, chụp ảnh và gửi kết quả về trái đất.  Vạn Lý (Theo AP)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ học lỏm thành dẫn đầu      Định hướng và động lực thúc đẩy nền công nghệ của Hàn Quốc là từ việc làm chủ kỹ thuật lắp ráp các sản phẩm nhập ngoại của các tập đoàn công nghiệp. Chính phủ Hàn Quốc đã có những tác động hết sức khéo léo để hỗ trợ sự phát triển này.    Bài học Samsung  Năm 1969, trong chuyến thăm tập đoàn HITACHI, ông chủ tịch tập đoàn Samsung Byung-Chul Lee đã nhận ra sức mạnh của những chiếc bán dẫn và con chip nhỏ bé và nhận định: trong tương lai, chip điện tử sẽ là “cơm của công nghiệp” (Industrial rice). Ngay sau đó, ông chủ tịch của hãng kinh doanh đường và bảo hiểm này quyết định mở thêm công ty con Samsung Electronics. Khi đó Hàn Quốc là một quốc gia đang phát triển, thị trường nội địa kém phát triển, không có những công nghệ nội địa có khả năng hỗ trợ kế hoạch của Samsung để sản xuất các hàng điện tử tiêu dùng. Chính các điều kiện này đã dẫn dắt Samsung Electronics định hình chiến lược phù hợp về phát triển công nghệ.  Bắt đầu là với chiếc máy quay mà ông Byung-Chul Lee mang từ Nhật về. Các kỹ sư của Samsung đã tháo ra, thử thay thế một số chi tiết, kết quả là… máy không hoạt động! Phải mất 2 năm làm việc vất vả họ mới thành công. Từ sau chiếc máy quay này, Samsung Electronics bắt đầu thành công với các sản phẩm radio cassette (1974), TV màu (1976), máy quay (1989)… và hiện dẫn đầu thế giới với màn hình LCD và DRAM. Theo tờ Bussuness Week 8/2005, Samsung Electronics đã trở thành công ty điện tử dân dụng và IT số 1 thế giới.  Sự phát triển công nghệ của Samsung Electronics gồm 5 giai đoạn:  -Làm chủ kỹ thuật rắp ráp đơn giản (CKDs) nhập khẩu từ các đối tác liên doanh;  – Thay đổi CKD nhập khẩu bằng cách tạo ra một số bộ phận và thành phần từ hãng thứ ba do Samsung chọn;   – Thiết kế những sản phẩm mới qua kỹ thuật nghịch đảo (reverse oder) mà không dựa trực tiếp vào sự giúp đỡ của nước ngoài;  -Thiết kế các sản phẩm tiên tiến thông qua kỹ thuật nghịch đảo cùng đổi mới công ty;  – Đạt được cạnh tranh công nghệ.  Có thể nói 5 giai đoạn trên là khuôn mẫu chung cho sự phát triển của mọi công ty công nghệ khác Hàn Quốc, tạo nên điều vẫn được các nước gọi là “kỳ tích sông Hàn”.  Từ thành công của Samsung Electronics có thể nhận thấy, một “quyết định chiến lược” định hướng cả một nền công nghệ đã xuất phát từ một cá nhân và những tham vọng lớn được thực hiện một cách kiên nhẫn, không hề có ngay ảo tưởng về “đột phá”.  Thực tế ở nhiều nước cho thấy, chính những người định ra các chiến lược KH&CN, R&D của chính phủ lại thiếu tầm nhìn rõ ràng và tính toán thực tế. Điển hình là thất bại của Indonesia trong việc phát triển ngành công nghiệp máy bay. Những năm 80, nước này đã xây dựng được một đội ngũ nghiên cứu và kỹ sư mạnh, song mọi kế hoạch đều “đổ bể” vì không chú trọng đào tạo các nhân viên kỹ thuật và thợ tay nghề cao.  Đội ngũ kỹ sư của Samsung Electronics do hoạt động trong môi trường doanh nghiệp cũng đã tránh được “hội chứng PhD”: đam mê những đề tài nghiên cứu ở tuyến đầu mà từ bỏ những nhu cầu quốc gia (nhiều khi những nhu cầu đó lại đơn giản và không đòi hỏi thử thách nhiều về trí tuệ).    Vẫn cần kế hoạch KH&CN của nhà nước  Song, không thể phủ nhận vai trò của chính phủ Hàn Quốc trong việc xây dựng chiến lược quốc gia về công nghệ. Để hợp nhất các mối quan tâm của ngành công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc đã bổ nhiệm các vị lãnh đạo các tập đoàn làm thành viên Hội đồng chính sách KH&CN quốc gia, đồng thời khuyến khích các hãng công nghiệp tham gia vào các chương trình R&D quốc gia. Chính các kế hoạch KH&CN đã huy động nguồn lực KH&CN một cách hiệu quả, vừa dẫn dắt các hoạt động R&D của tư nhân vừa thiết lập các hướng ưu tiên trong đầu tư cho KH&CN.  Khi sức sản xuất còn thấp, chính phủ Hàn Quốc không vội vã “đi tắt đón đầu” mà cực kì thành công khi xác định nhiệm vụ các kế hoạch KH&CN phù hợp với từng thời kỳ kinh tế. Những năm 60 – 70, Hàn Quốc chỉ xác định xây dựng tiềm lực KH&CN để thúc đẩy công nghiệp hóa, trọng tâm là có được một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ và tuyên truyền quảng bá về KH&CN. Đến những năm 80, khi nền kinh tế đã khá phát triển, Hàn Quốc mới đặt mục tiêu có được “năng lực sáng tạo đích thực” trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm. Phải tận đến những năm 90, Hàn Quốc mới thiết lập được sự phối hợp giữa nhà nước với khối tư nhân để có được các công nghệ chiến lược nhằm đuổi kịp các nước phát triển.  Quá trình phát triển nền kinh tế chính là quá trình “ra đề” cho phát triển công nghệ. Nói cách khác, chiến lược về công nghệ của Hàn Quốc chính là để đáp ứng nhu cầu công nghệ của nền kinh tế. Năm 1962, lần đầu tiên Hàn Quốc xây dựng kế hoạch phát triển công nghệ. Nhưng mãi đến1997, khi đã là một cường quốc kinh tế, Hàn Quốc mới lập kế hoạch KH&CN 5 năm như là một phần của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Cũng từ năm 1997, các kế hoạch KH&CN được xây dựng độc lập. Đến 2002, kế hoạch KH&CN cơ bản được xây dựng dựa trên Luật về KH&CN. Hiện kế hoạch KH&CN cơ bản lần thứ 2 (2008-2012) mới đang trong quá trình xây dựng.  Dù được đánh giá là thành công, trên thực tế các kế hoạch KH&CN của Hàn Quốc cũng gặp không ít vấn đề như các hoạt động chỉ mang tính hình thức, chính phủ can thiệp quá nhiều vào khối tư nhân, các cơ quan nghiên cứu công lập có hiệu quả thấp.  —–  Ảnh: Lễ khai trương nhà máy của Samsung tại Texas  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ hơn 3 tỷ năm trước, Trái Đất đã có từ trường rất mạnh      Những nghiên cứu trước đây vẫn cho rằng, trong những giai đoạn đầu phát triển, Trái Đất chịu tác động lớn của gió mặt trời vì từ trường của nó vẫn còn yếu. Bầu khí quyển bị thổi bay và cả hành tinh bị nhúng chìm trong môi trường bức xạ chết người.     Nhưng các nhà địa vật lý Đại học Roschester gần đây đã công bố trên Nature rằng từ trường của Trái Đất từ 3,2 tỷ năm trước đã mạnh gần như ngày nay.  “Cường độ từ trường thời sơ khai của Trái Đất rất giống với cường độ ngày nay,” John Tarduno, giáo sư vật lý Đại học Rochester nói. “Điều đáng ngạc nhiên là ở chỗ giá trị từ trường lớn này ngụ ý rằng Trái Đất đã có một nhân đậm đặc bằng sắt từ 3,2 tỷ năm trước. Các mô hình lý thuyết về sự hình thành Trái Đất hiện nay hầu như không chỉ ra được điều đó.”  Nhóm của Tarduno đã tách ra những hạt khoáng feldspar và thạch anh từ đá granite lộ thiên 3,2 tỷ năm tuổi ở Nam Phi. Nhưng hạt khoáng này đã ghi lại trong cấu trúc của nó đặc trưng của từ trường cổ xưa Trái Đất khi chúng bắt đầu kết tinh từ nham thạch nóng chảy. Tarduno đã sử dụng laser CO2 để đốt nóng các hạt tinh thể một cách nhanh chưa từng có và sử dụng một thiết bị siêu nhạy (SQUID – Superconducting Quantum Interference Device – Thiết bị giao thoa Lượng tử Siêu dẫn) để đo từ trường của chúng. Các giá trị đo được vào khoảng 40 – 60 microtesla. “Điều này nghĩa là từ trường địa cầu thực sự tồn tại từ 3,2 tỷ năm trước,” Tarduno nói.  Để xác nhận thêm kết quả, Tarduno cũng đã kiểm tra sự sắp xếp hướng từ trong các hạt, cái đó phản ánh sự phân bố các cực từ của Trái Đất thời cổ xưa. Bằng việc so sánh với sự phân bố hướng từ với các mẫu khác cùng tuổi và cùng địa điểm, Tarduno đã khẳng định chắc chắn rằng, đó chính là dấu vết được tạo ra bởi từ trường Trái Đất từ 3,2 tỷ năm trước.  Nguồn: University of Rochester/www.vatlyvietnam.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ “kẻ ăn bám” đến chủ nhân giải Nobel*      Làm thế nào mà “kẻ ăn bám” ở một công ty  tỉnh lẻ của Nhật Bản lại trở thành nhà khoa học nhận giải Nobel – câu  chuyện này đã được GS Shuji Nakamura thuật lại hết sức sinh động trong  bài nói chuyện vo tại Diễn đàn Giải thưởng Takeda&#160; năm 2002, khi ông  cùng với hai giáo sư khác là Isamu Akasaki và Hiroshi Amano, những người  mới đây một lần nữa cùng ông chia giải Nobel Vật lý, được vinh danh  với công trình phát triển LED màu xanh và diode laser màu xanh.     Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ khoa điện tử, Đại học Tokushima [1979], giống như phần lớn các sinh viên khác ở Nhật, tôi muốn được đầu quân cho một công ty lớn, bởi bước chân vào đó, chúng tôi sẽ yên trí có việc làm công ăn lương ổn định cả đời. Thế nhưng số phận run rủi, vì nhiều lý do cá nhân khác nhau, tôi phải ở lại tỉnh Tokushima.   Vì là tỉnh lẻ nên ở Tokushima không có công ty nào giúp tôi phát huy được chuyên môn điện tử đã học ở trường. Tôi nhờ giáo sư hướng dẫn giới thiệu việc làm, và thế là tôi đến với Công ty Hóa chất Nichia, một công ty nghiên cứu và sản xuất các vật liệu huỳnh quang. Khi ấy, giáo sư của tôi nói: “Anh phải chấp nhận làm trái ngành trái nghề thôi, bởi vì đấy là một công ty hóa chất, chẳng có công việc nào dùng đến cái chuyên môn điện tử của anh đâu. Anh phải nghĩ là mình làm việc để lo cho gia đình.”           Thật không may là những LED mà tôi phát  triển lại không bán được, nên trong công ty bắt đầu có những lời xì xào  không hay về tôi. Tôi bị coi là kẻ ăn bám. Sau năm – sáu năm làm việc ở  đó, người ta đã nói với tôi những lời đại loại như: “Anh là kẻ đưa công  ty xuống dốc” hoặc “Đến khi nào thì anh mới làm ra cái gì có thể bán  được đây?” Sau 10 năm, họ yêu cầu tôi ngưng các hoạt động nghiên cứu.        Vậy là tôi đi làm với tâm thế như vậy. Nichia có 180 nhân viên và doanh thu hằng năm khoảng hai – ba tỉ yên [19 – 27 triệu USD], tất cả đều nhờ vào việc bán các vật liệu huỳnh quang. Tôi được phân vào ban phát triển sản phẩm. Gọi là “ban” cho oai chứ thực ra tất cả chỉ gồm có một vị trưởng ban và hai nhân viên. Có một điều tình cờ là ngay từ khi mới vào ban, tôi đã được giao thực hiện đề tài nghiên cứu phát triển tinh thể cho chất bán dẫn gallium phosphate (GaP). Đây là một tinh thể nổi tiếng, có thể dùng cho các LED màu xanh lá cây và xanh cỏ úa. Và thế là tôi bước vào hành trình phát triển LED. Dù chấp nhận làm trái ngành trái nghề như lời khuyên của giáo sư, song thực tế lại diễn ra khác hẳn, và tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn vì tôi cũng thích nghiên cứu về bán dẫn.  Thời điểm ấy, Nichia vẻ như có thể bị phá sản bất kỳ lúc nào. Năm trước đó, công ty đã phải thực hiện một đợt sa thải lao động và tiết giảm chi tiêu đến mức cần một cái bút chì cũng phải xin chữ ký của trưởng ban. Công ty không có tiền để đầu tư, thậm chí dụng cụ làm thí nghiệm cũng thiếu thốn, nhưng tôi vẫn quyết tâm làm cho bằng được đề tài nghiên cứu mà công ty đã tin tưởng giao phó.  Hồi đó người ta sử dụng phương pháp Bridgman nằm ngang, yêu cầu người làm thí nghiệm phải đưa nguyên liệu thô vào một ống thạch anh trong suốt. Tôi cũng nghiên cứu các loại sách kỹ thuật, nhưng công việc không mấy tiến triển vì tôi làm việc có một mình. Với một công ty sản xuất thì mục tiêu chính là chế tạo sản phẩm, nên vị trưởng ban thúc giục tôi đưa ra thành phẩm càng sớm càng tốt. Thế là ngày nào tôi cũng lúi húi hàn ống thạch anh, nhồi nguyên liệu thô vào ống rồi đốt nóng ống trong lò, nhưng chúng toàn nổ “bùng”. Vì tôi làm thí nghiệm ở tỉnh lẻ nên những sơ sẩy ấy được cho qua, chứ nếu là ở thành phố thì đã bị cấm cửa ngay lập tức.  Tôi nghiên cứu GaP và ba năm tiếp theo nghiên cứu gallium arsenide (GaAs). Với GaAs, tôi cũng không làm gì khác ngoài việc hàn ống thạch anh. Kể từ khi bước chân vào công ty, hầu như ngày nào tôi cũng hàn ống từ sáng tới tối. Thực chất khi đó tôi chỉ là thợ hàn ống. Tôi cứ nghĩ rằng đời mình thế là xong, và tôi sẽ là thợ hàn ống suốt đời.   Sau khi phát triển vật liệu GaP, tôi lại bắt tay vào việc tìm chỗ bán vật liệu. Tôi thực hiện mọi công đoạn, từ nghiên cứu và phát triển, sản xuất, kiểm soát chất lượng, cho tới bán sản phẩm; bởi lẽ Nichia là một công ty chuyên về hóa chất, nên không có người am hiểu về chất bán dẫn để có thể giải thích về vật liệu này cho khách hàng. Tôi gõ cửa các công ty vô số lần để chào bán sản phẩm của mình. Sau khi nghiên cứu các đặc điểm của nó, họ nói rằng nó cũng chỉ như sản phẩm của các nhà sản xuất khác, rồi quay sang hỏi tôi về những lợi ích khi mua sản phẩm của Nichia và chất vấn những vấn đề đại loại như quy trình quản lý chất lượng. Có lần có công ty còn yêu cầu tôi giảm giá sản phẩm xuống còn một nửa! Kết quả là tôi không thể bán được quá 1 triệu yên mỗi tháng [khoảng 9 nghìn USD].  Trong khoảng thời gian nghiên cứu phát triển gallium arsenide (GaAs), tôi cũng làm việc đơn thương độc mã. GaAs là vật liệu dùng cho các LED màu đỏ và LED hồng ngoại – vậy là một lần nữa, lại có mối liên hệ với LED! Sau ba năm phát triển tinh thể GaAs, tôi lại lê chân đi bán sản phẩm. Và giống như lần trước, sản phẩm này cũng ế ẩm vì những lý do tương tự. Tiếp đó, tôi nghiên cứu phát triển sự mọc ghép (epitaxy) của gallium aluminum arsenide (GaAlAs), và tôi đã tiến xa tới mức tạo ra được LED màu đỏ và LED hồng ngoại rất thiết thực, theo đơn đặt hàng mà các nhân viên kinh doanh của công ty đưa về. Tôi sản xuất những LED đó bằng một chiếc lò do tự tay mình thiết kế, bởi vì công ty không có tiền mua. Tuy vậy, số LED này cũng không bán được quá một – hai triệu yên [khoảng 9 – 18 nghìn USD].  Nói tóm lại, trong 10 năm đầu làm việc ở Nichia, tôi đã trực tiếp tham gia vào mọi công đoạn sản xuất – từ sản xuất vật liệu thô cho đến thành phẩm – nên tôi rất quen thuộc với các công nghệ liên quan đến LED.  Thật không may là những LED mà tôi phát triển lại không bán được, nên trong công ty bắt đầu có những lời xì xào không hay về tôi. Tôi bị coi là kẻ ăn bám. Khoản lợi nhuận công ty kiếm được từ việc bán vật liệu huỳnh quang bị những nghiên cứu của tôi ăn dần ăn mòn. Ngay cả người lãnh đạo công ty cũng lên tiếng chỉ trích tôi. Sau năm – sáu năm làm việc ở đó, người ta đã nói với tôi những lời đại loại như: “Anh là kẻ đưa công ty xuống dốc” hoặc “Đến khi nào thì anh mới làm ra cái gì có thể bán được đây?” Sau 10 năm, họ yêu cầu tôi ngưng các hoạt động nghiên cứu, và tôi cảm thấy mình không thể tiếp tục ở lại công ty được nữa. Ban nghiên cứu và phát triển lúc này chỉ còn duy nhất mình tôi – những người khác đều đã được thuyên chuyển sang ban huỳnh quang bởi LED đâu có bán được. Chỉ còn mình tôi ở lại, và mọi người đổ hết lỗi vào tôi. Tôi trở nên chán nản, thậm chí chẳng buồn quan tâm kể cả công ty có sa thải tôi đi nữa.  Trong suốt 10 năm cặm cụi phát triển LED, tôi vẫn luôn muốn thử chế tạo LED màu xanh [blue]. Tôi đã nhiều lần đề đạt ý tưởng này với lãnh đạo, song ông ấy nói rằng đó là điều không khả thi ở một công ty nhỏ ở tỉnh lẻ vì thiếu tiền, thiếu người nghiên cứu, thiếu chuyên môn, v.v… Ông ấy đã nói đúng sự thực, và tôi cũng nhận thấy rằng không thể phát triển LED màu xanh, nên tôi đã trì hoãn dự định này suốt cả 10 năm trời. Tuy nhiên, tới năm thứ 10, do áp lực phải rời bỏ công ty nên tôi quyết định đánh liều một phen. Tôi đề nghị phát triển LED màu xanh, và nếu không được, tôi sẽ bỏ việc.          Tôi bắt tay vào nghiên cứu GaN từ năm 1989;  khi đó hai giáo sư Akasaki và Amano đã có rất nhiều năm kinh nghiệm rồi.  Mùa hè năm 1990, tôi phát minh ra MOCVD hai chiều. Khi dùng phương pháp  này để nuôi tinh thể GaN, tôi đạt được kết quả còn tốt hơn kết quả của  hai giáo sư Akasaki và Amano, mà dữ liệu của hai vị giáo sư này khi đó  đang được coi là hàng đầu thế giới. Nhưng trong công ty không ai hiểu  điều đó có nghĩa là gì.        Vì thấy rằng nếu đề xuất ý tưởng này cho cấp trên trực tiếp thì cũng chẳng đi đến đâu, nên tôi đi gặp người sáng lập công ty, ông Nobuo Ogawa – với một công ty nhỏ thì điều này có thể xảy ra. Tôi cứ đinh ninh ông Ogawa cũng sẽ gạt phăng ý tưởng này, nhưng vì đã sẵn sàng bỏ việc nên tôi cứ thử một lần cho biết. Thời điểm đó, ông Ogawa là chủ tịch công ty – ông mới qua đời năm nay. Sau khi nghe tôi đặt yêu cầu phát triển LED màu xanh, ông nói: “Được”. Ngờ rằng ông đang nói dối hoặc cho rằng ông sẽ không phải đầu tư khoản nào cho nó, tôi nói tiếp: “Chúng ta cần phải có ngân sách khoảng vài trăm triệu yen cho dự án này”. Ông đáp lại: “Được”. Không dừng ở đó, tôi còn xin phép ông đi du học ở Đại học Florida trong một năm. Một lần nữa, câu trả lời lại là: “Được”. Vậy đấy, chỉ trong năm giây, mọi đề xuất của tôi đều được chấp thuận.  Tuy được người sáng lập công ty phê chuẩn, song vị giám đốc điều hành và những người cấp dưới lại phản đối gay gắt các kế hoạch đó. Mỗi lần thấy tôi, họ lại nói: “Lần này anh lại định làm cái quái gì nữa vậy? Anh lại sắp vứt tiền của công ty qua cửa sổ rồi.” Dẫu vậy, vì đã được ông Ogawa gật đầu, nên tôi cứ mặc nhiên bắt tay vào phát triển LED màu xanh. Tôi tới trường Đại học Florida để học kỹ thuật làm lắng đọng các lớp tinh thể từ pha hơi hóa học kim loại hữu cơ (MetalOrganic Chemical Vapour phase Deposition – MOCVD); khi trở về, tôi liền bắt tay vào nghiên cứu.  Trong thời gian ở Đại học Florida, tôi cũng thường bị các nghiên cứu sinh tiến sĩ giễu cợt. Khi đến đó, tôi chỉ có chiếc bằng thạc sĩ trong tay. Họ hỏi tôi đã từng viết bài báo kỹ thuật nào chưa, và tôi trả lời là chưa vì công ty không cho phép viết báo hay thuyết trình tại các hội thảo học thuật. Khi tôi nói tôi chưa từng viết báo và cũng chưa có bằng tiến sĩ, họ cư xử với tôi như với một thợ kỹ thuật không hơn. Ở Mỹ, sinh viên đại học bị coi là thợ kỹ thuật, còn các nhà nghiên cứu làm việc trong các doanh nghiệp thì đương nhiên phải có bằng tiến sĩ. Lúc đó, tôi không biết điều này, nên việc bị chế nhạo như vậy khiến tôi tức giận, và tôi thề rằng khi trở về Nhật, tôi sẽ viết báo và lấy bằng tiến sĩ. Ở Nhật có điều khác biệt là bạn không cần theo chương trình nào mà chỉ cần nộp đề án tiến sĩ là có thể lấy bằng được rồi. Để thực hiện quyết tâm này, tôi đã phớt lờ các quy định của công ty về việc cấm viết báo. Tôi cứ viết và công bố các bài báo của mình, bởi tôi đâu có sợ bị sa thải.  Như hai giáo sư Akasaki và Amano đã lý giải trước đó, có hai loại vật liệu là zinc selenide (ZnSe) và gallium nitride (GaN) [có thể sử dụng để phát triển các LED]. Trên thế giới đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào ZnSe, trong khi số lượng nhà nghiên cứu GaN lại rất ít. Thời điểm đó tại Nhật chỉ có hai giáo sư Akasaki và Amano nghiên cứu GaN. Vì chưa có kinh nghiệm viết bài, nên tôi nghĩ nếu chọn đề tài là ZnSe, thì chắc chắn tôi sẽ không thể nào địch nổi với các nhà nghiên cứu khác. Chính vì lý do này mà tôi chọn GaN làm vật liệu nghiên cứu. Trước tiên, tôi mua thiết bị MOCVD đang bán trên thị trường khi ấy, sau đó tôi bắt đầu nuôi tinh thể GaN. Tuy nhiên, vì sử dụng thiết bị bán sẵn, nên tôi chỉ thu được những kết quả tệ hại. Lẽ ra phải có một số điều chỉnh đối với thiết bị trước khi sử dụng nhưng vì là kinh nghiệm lần đầu nên tôi lại mua sao dùng vậy.  Tôi bắt tay vào nghiên cứu này năm 1989; khi đó hai giáo sư Akasaki và Amano đã có rất nhiều năm kinh nghiệm rồi. Giáo sư Akasaki bắt đầu nghiên cứu này từ thập niên 1970, còn giáo sư Amano thì từ thập niên 1980. Vì là người mới, nên ban đầu tôi chưa đạt được kết quả gì khả quan, song cái giá 200 triệu yen bỏ ra để mua thiết bị MOCVD đã tạo áp lực lớn cho tôi. Giống như giáo sư Amano, tôi bắt đầu mày mò tự điều chỉnh thiết bị. Mỗi ngày tôi điều chỉnh một ít, và một năm rưỡi sau, vào mùa hè năm 1990, tôi phát minh ra MOCVD hai chiều. Khi dùng phương pháp này để nuôi tinh thể GaN, tôi đạt được kết quả còn tốt hơn kết quả của hai giáo sư Akasaki và Amano, mà dữ liệu của hai vị giáo sư này khi đó đang được coi là hàng đầu thế giới. Tôi hết sức phấn khởi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi tạo ra được một dữ liệu “hàng đầu thế giới”. Khi đó, trong công ty không ai hiểu về điều này.          Chỉ có thể tạo ra các sản phẩm sáng tạo  trong một công ty tư nhân, nơi một cá nhân có thể toàn tâm toàn ý tập  trung vào dự án mới mà không chịu bất kỳ sự kiểm duyệt nào cả. Tôi nghĩ  các tập đoàn lớn chỉ chú trọng với việc mọi người phối hợp với nhau ra  sao để sản xuất ra các sản phẩm, vậy nên càng cần phải khuyến khích tinh  thần sáng tạo của các công ty tư nhân.         Với thiết bị được điều chỉnh này, tôi tạo ra vô số các tinh thể khác nhau, và chỉ trong vòng hai – ba tháng sau, tôi đã cho ra đời được một số những sản phẩm “hàng đầu thế giới”. Chẳng hạn, chất bán dẫn indium gallium nitride theo như giáo sư Amano khẳng định là không thể thu được, thì nay đã được tạo ra dễ dàng. Không dừng lại ở đó, khi thay đổi cấu trúc của các LED, tôi lại thu được ánh sáng cường độ rất mạnh. Tôi cũng đạt được nhiều sự đột phá khác nữa, trong đó có việc lấy được GaN loại p. Năm 1989, khi tôi mới bắt tay vào nghiên cứu GaN thì hai giáo sư Akasaki và Amano đã công bố phương pháp lấy GaN loại p. Khi hay tin, tôi vô cùng choáng váng vì tôi có tham vọng phát triển GaN loại p đầu tiên trên thế giới, thành công [của họ] đốn tôi ngã quỵ. Thế là tôi kiểm tra lại bài báo viết về phương pháp lấy GaN loại p và nhận ra rằng chất bán dẫn này thu được nhờ phóng xạ điện từ. Đến năm 1991, tôi cũng thu được GaN loại p một cách đơn giản nhờ xử lý nhiệt và công bố công trình của mình vào năm 1992. Một lần nữa nhờ chất lượng của thiết bị mà tôi đã có thể tạo ra được GaN loại p có chất lượng tốt.  Thiết bị MOCVD hai chiều được thiết kế vào mùa hè năm 1990, và chỉ vài tháng sau đó tôi đã thu được những dữ liệu khả quan. Thiết bị này được cấp bằng sáng chế, nhưng hiện giờ công ty cũ của tôi đang giành quyền sở hữu nó. Nhờ sử dụng sáng chế này, Nichia đã thu được những kết quả tốt: tạo ra được LED màu xanh cho ánh sáng mạnh và diode laser.  Tôi nhanh chóng xin cấp bằng sáng chế cho phát minh của mình. Nhưng như tôi đã nói ở trước, công ty Nichia cấm nhân viên công bố bài báo và thuyết trình tại các hội thảo học thuật. Thậm chí họ cấm cả cả việc đăng ký cấp các loại bằng sáng chế trong đó đòi hỏi công khai nội dung trước công chúng. Mọi đơn xin cấp bằng sáng chế đều bị quy thành đơn đăng ký bảo hộ “bí quyết”, tức là sẽ không được cơ quan cấp bằng sáng chế công bố công khai. Như tôi đã đề cập, tôi muốn viết báo. Sau khi thành công thiết với bị MOCVD hai chiều, tôi âm thầm công bố công trình này. Trước khi gửi bài báo, tôi đã đăng ký bằng sáng chế như một cách bảo vệ công trình của mình một khi chúng được đăng tải. Viết báo cũng là một động cơ thúc đẩy tôi theo đuổi nghiên cứu của mình, và trước công bố bài báo, lúc nào tôi cũng bí mật đăng ký cấp bằng sáng chế. Nhờ vào những bằng sáng chế này mà công ty cũ của tôi sống tốt. Họ từng dùng chúng để kiện nhiều công ty đối thủ, họ thậm chí kiện cả tôi. Nhưng ở Mỹ, vụ kiện này phần thắng đã thuộc về tôi, và tôi rất lấy làm vui mừng vì điều đó.  Tiếp đó, tôi thành công trong việc thương mại hóa sản phẩm LED màu xanh vào năm 1993. Thiết bị này phát ánh sáng có cường độ mạnh gấp 100 lần so với các thiết bị trước đó. Khi tôi mới giới thiệu sản phẩm, không ai tin ngay, song những người trực tiếp kiểm định nó đều sửng sốt. Tôi còn phát triển và công bố việc thương mại hóa sản phẩm LED màu xanh lá cây vào năm 1995. Cuối năm đó, tôi tạo được dao động laser đầu tiên, và cũng thành công trong việc thương mại hóa sản phẩm laser màu xanh vào năm 1999. Cùng thời gian đó, tôi đã làm hàng trăm đơn xin cấp bằng sáng chế, và khoảng 50 trong đó tôi được chấp nhận quan trọng mà nhờ đó công ty cũ của tôi đã gặt hái được nhiều lợi nhuận.  Tới cuối năm 1999, hầu hết mọi công việc nghiên cứu đều đã hoàn thành, và lúc này trên cương vị tổng giám đốc, công việc của tôi chỉ bó hẹp vào kiểm tra tài liệu và đóng dấu. Tôi cảm thấy mình sẽ bị lão hóa nếu cứ sống như vậy, và tôi muốn từ chức. Cùng lúc đó, tôi nhận được những lời mời từ các trường đại học ở Mỹ, tôi đã suy nghĩ nghiêm túc và cuối cùng tôi quyết định sang Mỹ. Đóng dấu thì đâu phải là công việc cơ chứ.  Tôi nhận được lời mời của khoảng 10 trường đại học trên đất Mỹ. Sau khi cân nhắc mọi khía cạnh liên quan đến môi trường sống, chuyên ngành nghiên cứu, v.v… tôi quyết định nhận lời mời của Đại học California ở Santa Barbara (UCSB). Tuy không muốn nói xấu công ty cũ, nhưng ngay sau khi tôi chuyển sang Mỹ, công ty cũ bắt đầu rêu rao rằng trường UCSB và tôi đang bị tình nghi về việc làm rò rỉ các bí mật thương mại. Và trên thực tế thì chúng tôi bị họ kiện vào hồi tháng 12/2000. Tôi đã hết sức giận dữ trước hành động này, và một năm sau, tôi đã kiện công ty cũ về việc sở hữu bằng sáng chế MOCVD hai chiều, và yêu cầu họ bồi thường. Nhắc đến vụ kiện cáo về việc làm rò rỉ bí mật thương mại, ngày 10/10 năm nay tôi đã thắng đối với phần sở hữu trí tuệ được đăng ký ở Mỹ. Mặc dù lạc đề nhưng tôi muốn nói rằng, nếu bạn rời bỏ công ty này để chuyển sang làm việc cho công ty khác thì khả năng bạn bị kiện vì làm rò rỉ bí mật thương mại là rất cao. Thực tế, ngay cả người 40 – 50 tuổi bỏ việc để chuyển sang làm cho trường đại học cũng có thể bị kiện. Còn nếu một người thành lập công ty mới và tham gia nghiên cứu trong lĩnh vực tương tự như của công ty cũ thì anh ta chắc chắn sẽ bị kiện. Trong hoàn cảnh như thế, tôi hầu như không thể thành lập doanh nghiệp riêng của mình. Do đó, cần phải có một hệ thống mới, nơi những sinh viên năm cuối và những người trẻ tuổi khác như TS Amano có thể dễ dàng bắt tay vào các dự án kinh doanh. Ở Nhật hiện nay không có cơ chế nào như vậy – tôi hy vọng rằng tình trạng này sẽ được cải thiện.         Tôi nghỉ việc ở Nichia năm 1993, khi đó thu  nhập hằng năm của tôi là 16 triệu yên [gần 150.000 USD]. Còn với vị trí  giáo sư đại học ở đây [Mỹ] thì tôi được trả 160.000 USD cho chín tháng,  thu nhập ba tháng còn lại lấy từ các quỹ nghiên cứu. Như vậy, tổng thu  nhập hằng năm hiện tại của tôi là 220.000 USD. Đó là lương công khai của  tôi – tôi cũng còn các nguồn thu nhập khác từ hoạt động tư vấn, song  tôi không tiết lộ được. Dẫu sao cũng có một sự chênh lệch đáng kể về mức  lương ở hai nước. Như tôi đã nói lúc trước, ở Nhật thì nhà nghiên cứu  cũng chỉ là người làm công ăn lương mà thôi.   (GS Shuji Nakamura trả lời một trong các câu hỏi sau khi ông kết thúc bài nói chuyện tại Diễn đàn Giải thưởng Takeda năm 2002)        Nguồn:   http://www.takeda-foundation.jp/en/award/takeda/2002/forum/03a.html  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt    Author                Quản trị        
0.391304347826087
__label__tiasang       Ngô Quang Hưng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ một công bố quốc tế: Chuyện về đam mê và tự trọng với nghề      Việc có được công bố quốc tế trên tạp chí tốt là mục tiêu của nhiều nhóm nghiên cứu. Tuy nhiên với một nền khoa học vẫn còn đang hội nhập như Việt Nam, để làm được điều đó cần phải hội tụ rất nhiều yếu tố, đôi khi những yếu tố như niềm đam mê và lòng tự trọng với nghề lại đóng vai trò quyết định. Có vẻ như khó tin nhưng chính điều đó đã góp phần đem lại cho nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN) công bố trên Nature Communications.      Giáo sư Hoàng Nam Nhật (bên phải), ThS Vương Văn Hiệp và TS. Nguyễn Thế Nghĩa bên máy gia tốc trên máy gia tốc tĩnh điện 5SDH-2 Pelletron Tandem Accelerator. Nguồn: NVCC  Thông tin về nghiên cứu thực nghiệm của một nhóm tác giả Việt Nam được xuất bản trên Nature Communications, một tạp chí phổ rộng về các ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, khoa học trái đất, y học và sinh học có hệ số ảnh hưởng xấp xỉ 12, lan tỏa khá nhanh trong cộng đồng vật lý Việt Nam. Mặc dù chưa phải “ông lớn” cỡ Nature hay Science thì Nature Communications cũng là một “chứng chỉ tốt” cho một kết quả nghiên cứu nghiêm túc với những bằng chứng thực nghiệm và lý thuyết thuyết phục. “Unusual hydrogen implanted gold with lattice contraction at increased hydrogen content” (Sự co ngót khác thường của mạng tinh thể vàng cấy hydro khi nồng độ tăng)1, một trong hai sản phẩm của đề tài “Ảnh hưởng của cấy ion lên cấu trúc và tính chất của vật liệu cấu trúc nano” do Quỹ NAFOSTED tài trợ, cho thấy “nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật có khả năng tích hợp được ý tưởng mới với những yếu tố sẵn có ở Việt Nam để thực hiện nghiên cứu. Tôi cho rằng, chính sự cân bằng giữa sự sáng tạo và điều kiện thực tế đã làm nên thành công”, TS. Nguyễn Đức Dũng (Viện AIST, ĐH Bách khoa) nhận xét ở góc độ một người vô cùng thấm thía ý nghĩa của sự cân bằng này.      Hiện tượng nằm ngoài phỏng đoán     Một trong những điểm chung của những nghiên cứu cơ bản thuần túy do trí tò mò dẫn dắt là những hiện tượng bất ngờ và những kết quả ngoài tiên liệu. Trường hợp của giáo sư Hoàng Nam Nhật và cộng sự cũng không ngoại lệ. “Với chúng tôi, kết quả của công trình này khá là ngạc nhiên vì ban đầu chúng tôi cũng không mong đợi hiện tượng co ngót này đâu. Chúng tôi đi tìm điều khác kia – tính chất siêu dẫn trên hệ vật liệu vàng cấy hydro”, anh nói.      “Nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật có khả năng tích hợp được ý tưởng mới với những yếu tố sẵn có ở Việt Nam để thực hiện nghiên cứu. Tôi cho rằng, chính sự cân bằng giữa sự sáng tạo và điều kiện thực tế đã làm nên thành công”, TS. Nguyễn Đức Dũng (Viện AIST, ĐH Bách khoa) nhận xét ở góc độ một người vô cùng thấm thía ý nghĩa của sự cân bằng này.      Hướng nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật là vật liệu từ, một con đường mà các điểm đến là những vật liệu từ thế hệ mới, “ví dụ như vật liệu phi từ mà có từ tính hoặc vật liệu phi kim mà có tính kim loại. Riêng với các màng vàng pha hydro, chúng tôi mong tìm thấy tính siêu dẫn ở nhiệt độ cao”, anh giải thích. Bản thân cụm từ “siêu dẫn nhiệt độ cao” là một trong những từ khóa kích thích bậc nhất của ngành vật lý chất rắn thế kỷ 21, thậm chí Ranga Dias, một nhà nghiên cứu ĐH Rochester (Mỹ) có công bố về siêu dẫn nhiệt độ phòng trong lưu huỳnh hydrua cacbon trên Nature năm 2020, cho rằng phát triển các vật liệu siêu dẫn là “chén thánh” của cộng đồng này.     Do đó, giáo sư Hoàng Nam Nhật và cộng sự đã đi tìm tính chất siêu dẫn của vàng, trong trường hợp này là vàng ở dạng màng mỏng, một thứ màng kim loại mà theo lời nhận xét của anh là “có nhiều đặc tính khác biệt, chẳng hạn nó rất trơ trong khi đó ái lực điện tử – sự hấp dẫn về điện tử của nó – lại rất lớn. Do đó, chúng tôi cũng mong đợi ngay từ khi mô phỏng tính toán là sự pha tạp hydro có thể dẫn đến những hiện tượng đặc biệt”.     Một hiện tượng đặc biệt đã đến ngoài kì vọng. Khi TS. Nguyễn Thế Nghĩa (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) gia tốc một dòng proton (hạt nhân của nguyên tử hydro) trên máy gia tốc tĩnh điện 5SDH-2 Pelletron Tandem Accelerator để nó bay vào các màng vàng được ThS. Vương Văn Hiệp (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) tạo ra bằng kỹ thuật bốc bay chân không, các  proton bị bắt giữ lại trong các lớp màng. Thay vì tính siêu dẫn còn chưa biểu hiện rõ nét, họ thấy một hiện tượng khác bất ngờ xảy ra: mạng tinh thể vàng bất ngờ co lại về thể tích ở vùng nồng độ thấp thay vì dãn ra và tăng thể tích như thường lệ.     Trước hiện tượng co ngót này, ắt hẳn các nhà kim hoàn phải nhíu mày khó chịu còn nhóm nghiên cứu thì thoạt tiên không nghĩ đến việc mình đang chứng kiến một hiệu ứng vật lý mới, “vì điều đó thực sự chưa từng được quan sát thấy trên bất kỳ vật liệu nào từ trước đến nay”, giáo sư Hoàng Nam Nhật nhận xét.    Phản xạ đầu tiên của họ là cho rằng có thể hiện tượng này xuất hiện do lỗi thực nghiệm. “Trong nghiên cứu, khi gặp phải một vấn đề khó hiểu nào đó xảy ra thì chúng ta thường hay nghĩ đó là lỗi mà không dành thời gian đủ nhiều để kiểm tra xem thực hư nó ra sao, cho nên đôi khi để lỡ nhiều điều thú vị”, anh lý giải vấn đề từ kinh nghiệm nhiều năm theo nghề khoa học. Việc làm đi làm lại một thí nghiệm, lật đi lật lại một vấn đề tưởng chừng nhàm chán nhưng rất có thể giúp nhà nghiên cứu nhận ra những điều mới mẻ thực sự. “Những việc như thế này mất rất nhiều công sức, đôi khi khiến ai cũng chán nản, nhất là trong bối cảnh còn phải dành quỹ thời gian cho giảng dạy hoặc những việc khác, hoặc đơn giản là vật tư, hóa chất không còn nhiều”.       Những điều đó vô hình trung khiến các nhà nghiên cứu Việt Nam nhiều khi mất cơ hội có được những kết quả tốt. Tuy nhiên trong trường hợp này, nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật đã may mắn loại được yếu tố rủi ro đó bằng chính niềm say mê và sự cẩn trọng của mình: “Phần lớn thời gian mà chúng tôi dành cho nghiên cứu này chính là để lặp lại thí nghiệm ở những thời gian khác nhau và địa điểm khác nhau bởi chúng tôi muốn chứng minh hiện tượng đó không phải là lỗi trong thí nghiệm”. Không chỉ thực hiện thí nghiệm ở Việt Nam, họ còn cử hai thành viên sang trường Đại học Waseda, Nhật Bản trong hai thời điểm khác nhau, đo đi đo lại tính chất của nó và khảo sát xem nó có thay đổi theo thời gian không.     Đường đến tạp chí có hệ số IF cao     Khi thực hiện đề tài do NAFOSTED tài trợ, các nhóm nghiên cứu đều phải đáp ứng yêu cầu đầu ra là hai bài báo ISI hoặc một bài báo trên các tạp chí quốc tế uy tín. Với nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Nam Nhật, không còn quá khó để hoàn thành chỉ tiêu đó bởi họ đã có được một công bố trên tạp chí thuộc top Q1 vào năm 2019. Vậy tại sao họ vẫn dành nhiều công sức để có được bài báo thứ hai trên tạp chí tốt? “Thực ra đây là một phần danh dự của những người làm nghiên cứu, chẳng lẽ làm ở Việt Nam mà không thể đăng trên tạp chí tốt ư? Mình cố gắng để đạt được điều đó, dù chẳng có cái gì buộc mình phải có công bố trên tạp chí quá cao cả trong khi làm như vậy lại mất rất nhiều thời gian”, giáo sư Hoàng Nam Nhật nói.    Việc phát hiện ra một tính chất mới, một kết quả mới đã đủ để xuất bản công bố nhưng chính suy nghĩ đó đã buộc họ đã chọn cách làm mất công hơn. Thông thường, để thuyết phục các nhà bình duyệt của những tạp chí như vậy, cần phải có bằng chứng xác thực trong tay và lý giải được cặn kẽ cơ chế một cách rõ ràng, mạch lạc với bằng chứng thuyết phục chứ không thể ‘nói dựa’ hoặc phỏng đoán, TS. Nguyễn Đức Dũng từng trao đổi như vậy với Tia Sáng vào năm 2017. Đó cũng là cách mà nhóm của giáo sư Hoàng Nam Nhật thực hiện. “Ban đầu, chúng tôi cũng không giải thích được hiện tượng, tổ chức seminar mấy lần mà không ai có ý tưởng gì. Sau này, chúng tôi tính toán trở lại rồi mới hình thành được phương pháp luận để lý giải hiện tượng đó và chứng minh nó với những luận chứng thuyết phục”, giáo sư Hoàng Nam Nhật – một chuyên gia về khoa học vật liệu tính toán, cho biết.       Khi không có nhiều doanh nghiệp Việt Nam thực sự đầu tư cho KH&CN một cách nghiêm túc thì việc khuyến khích các nhà khoa học hợp tác với doanh nghiệp để có thể biến các kết quả nghiên cứu của mình thành công nghệ hữu dụng hay giải quyết bài toán của doanh nghiệp là điều không tưởng.      Một trong những bằng chứng thực nghiệm mà họ đưa ra dựa vào phân tích bề mặt vật liệu trên kính hiển vi lực nguyên tử, “một thiết bị đắc lực trong nghiên cứu về cấu trúc và tính chất của vật liệu nano” như giới thiệu của giáo sư Trần Xuân Hoài (Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), người tiên phong về thiết kế và lắp đặt kính hiển vi lực nguyên tử ở Việt Nam. TS. Nguyễn Trọng Tĩnh, học trò của giáo sư Trần Xuân Hoài, thực hiện phần kỹ thuật này. Anh cho rằng, với một nghiên cứu chạm đến rất nhiều khía cạnh của vật liệu nano như nghiên cứu này, đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ “để quan sát vị trí cấy đơn lập của nguyên tử và phát hiện xem nó có tính chất gì đặc biệt”.     Những bằng chứng thu thập được cho thấy, các liên kết hydro có tác dụng đẩy thêm điện tử lên vùng dẫn đã trở nên yếu đi khi có nhiều nguyên tử hydro được cấy trong mạng tinh thể vàng. “Sự thay thế hydro ở vùng nồng độ thấp đã dẫn đến một quá trình ngược lại với sự nở ra của thể tích, thường thấy trong vật liệu kim loại chứa hydro. Để chứng minh điều này, chúng tôi còn sử dụng mô hình tính toán cho hệ gần 3.000 nguyên tử vàng, một ngưỡng tính toán mà những nhóm nghiên cứu khác trên thế giới cũng chưa đạt được vì nó quá phức tạp”, giáo sư Hoàng Nam Nhật nói.    Sau khi có được một lý giải hợp lý về hiện tượng co ngót, nhóm nghiên cứu viết bài và mạnh dạn gửi Nature Communications. “Thoạt tiên, chúng tôi cố gắng viết khá đơn giản, bỏ ngoài các chi tiết kỹ thuật phức tạp vì nghĩ đây là tạp chí phổ rộng. Tuy nhiên, họ lại yêu cầu bổ sung rất nhiều  thông tin chuyên môn với lý do sự chính xác kỹ thuật là điều cần thiết cho bài báo”, anh kể lại quá trình trao đổi với ban biên tập tạp chí trước khi họ chấp thuận đăng.     Qua quá trình bình duyệt, điều mà anh và cộng sự rút ra là trong bất cứ trường hợp nào thì kiến thức chuyên môn vẫn cần đặt lên hàng đầu. “Khi mình đã hoàn toàn chắc chắn về bản chất của vấn đề, cũng như có lời giải thích hợp lý thì dù phản biện khó tính đến mấy cũng khó có thể ‘đánh đổ’ được luận điểm của mình”, anh nhận xét. Có lẽ, nếu như không có sự cẩn trọng trong việc lặp đi lặp lại thí nghiệm, sự cân nhắc thảo luận giữa các thành viên và sự đào sâu suy nghĩ thì rất có thể, công trình của họ khó mà lên được tạp chí này.      Đường đến ứng dụng bao xa?     Dù ở dạng cơ bản, mỗi công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học vật liệu cũng đều ít nhiều hàm ý đến một ứng dụng ở thì tương lai. Nhưng có lẽ với người tự nhận là nghiên cứu theo “trường phái cũ” – tức là phải nắm thật chắc phần nền tảng, như giáo sư Hoàng Nam Nhật thì sẽ phải mất rất nhiều thời gian công sức cho chuyện đó. “Có bạn nói với tôi là công trình này sẽ có tác động rất lớn với ngành luyện kim vì pha hydro là một kỹ thuật căn bản để tạo ra cơ tính tốt cho vật liệu (như độ đàn hồi, độ cứng cao…), đặc biệt khi nó có thể xảy ra ở nhiều kim loại khác nhau như valadium, nhôm…”, anh giải thích.  Trong trường hợp này, việc cấy hydro liều thấp có thể giúp tạo ra những vật liệu có độ bền cơ học rất cao.     Nhưng việc hình thành công nghệ từ một kết quả nghiên cứu cơ bản, dù rất tiềm năng, cũng đòi hỏi nhiều kiên nhẫn nhưng lại đi kèm với những rủi ro. “Không nhà nghiên cứu nào có thể tự làm tất cả được”, giáo sư Hoàng Nam Nhật trầm ngâm đề cập đến tiềm năng chuyển đổi. “Căn bản là không có ai đặt bài toán ra cho mình, nếu có bài toán và có kinh phí thực hiện thì tôi nghĩ cũng có thể làm được”. Theo quan sát của anh và những đồng nghiệp, hiện tại nền sản xuất trong nước vẫn chưa dựa trên sự sáng tạo khi còn phụ thuộc vào việc nhập khẩu công nghệ và chưa xuất hiện nhu cầu về những công nghệ mới mà các nhà nghiên cứu có thể tạo ra. Khi không có nhiều doanh nghiệp Việt Nam thực sự đầu tư cho KH&CN một cách nghiêm túc thì việc khuyến khích các nhà khoa học hợp tác với doanh nghiệp để có thể biến các kết quả nghiên cứu của mình thành công nghệ hữu dụng hay giải quyết bài toán của doanh nghiệp là điều không tưởng. “Các đề tài của chúng tôi từ trước đến nay chẳng chỗ nào ứng dụng, gần như chả nơi nào họ cần cả”, anh thừa nhận một cách chua xót về tình cảnh mà anh và nhiều đồng nghiệp khác hằng ngày phải làm những đề tài chỉ để duy trì năng lực nghiên cứu hoặc đào tạo nghiên cứu sinh mà không thể đưa vào ứng dụng ở Việt Nam.     Vì lẽ đó mà những nhà nghiên cứu như anh chưa nghĩ đến việc phải dấn thêm một bước nữa để phát triển công nghệ ư? Đó là tham vọng vượt quá tầm với của một nhóm nghiên cứu vẫn còn rất chật vật để tồn tại. Dường như có một nghịch lý ở đây: lúc có công bố tốt là lúc nhóm nghiên cứu này đang lại ở tình trạng ít thành viên nhất. “Với cơ chế chính sách hiện nay thì rất khó để chúng tôi có thể tuyển người. Lâu nay, chúng ta vẫn nói về hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ sở nghiên cứu công lập nhưng thật ra lượng chất xám còn lại cũng không được nuôi dưỡng một cách đầy đủ”, giáo sư Hoàng Nam Nhật nói.     Giữa những khó khăn bủa vây như vậy thì đâu là điều khiến nhóm nghiên cứu này hay rất nhiều nhóm khác cùng chung hoàn cảnh vẫn có thể tồn tại? Anh chia sẻ “Việc chúng tôi còn ngồi lại với nhau ở đây là do anh em đã quen biết nhau, hiểu nhau từ khá lâu rồi. Có kinh phí đầu tư thì vẫn có thể cùng nhau làm việc một cách bền bỉ. Nhưng kinh phí không phải là điều chính để duy trì được nhóm nghiên cứu này…”.    Trò chuyện với giáo sư Hoàng Nam Nhật và các cộng sự của anh, người ngoài thường đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, không chỉ ở việc làm thực nghiệm trong nước cũng có công bố trên Nature Communications mà còn ở những điểm khác: trong bối cảnh không dồi dào nguồn lực, những nhà nghiên cứu này vẫn có thể bước vào cuộc cạnh tranh tìm chất siêu dẫn ở nhiệt độ phòng với các đồng nghiệp quốc tế; mặt khác, dù ở rất nhiều nhánh chuyên môn của vật lý với những tư duy và ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt nhưng họ có thể “nói chuyện” được với nhau. Không hẳn không tự hào về điều đó nhưng giáo sư Hoàng Nam Nhật cho rằng điều cốt lõi của nhóm chính là niềm say mê với nghề “Trước đây, may mắn được giáo sư Nguyễn Châu, chủ nhiệm khoa Vật lý trường ĐH Khoa học Tự nhiên dẫn dắt, chúng tôi học hỏi được rất nhiều từ thầy, từ niềm đam mê khoa học tới cách làm việc hết sức chu đáo, chỉn chu… Có lẽ, trong bối cảnh hiện nay thì tâm huyết và ham muốn tìm hiểu cái mới là động lực để nhóm chúng tôi tồn tại”. □  —  1. https://www.nature.com/articles/s41467-021-21842-9    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Tư nhân hóa thám hiểm không gian: Sự tự do quá mức ?      Việc tư nhân tham gia vào việc thám hiểm không gian đang hé lộ những vấn đề tiêu cực mà nhiều người không ngờ tới.    Mòng biển cười đi lang thang gần sân bay vũ trụ Starbase của SpaceX. Ảnh: Eli Durst/Texas Monthly  Với thành công của chuyến bay Crew Dragon Demo-2 chở phi hành gia NASA vào vũ trụ trên phi thuyền do Công ty SpaceX thiết kế, ngày nay phong trào tư nhân hóa thám hiểm không gian đang lớn mạnh và được cơ quan vũ trụ của Mỹ, Canada, châu Âu, v.v. ưa chuộng. Các tỷ phú đi đầu trong phong trào này như Elon Musk và Jeff Bezos không những được tán dương nhờ nhân cách đam mê và ủng hộ khoa học mà họ trưng diện ra trước công chúng, mà còn nhờ những tuyên bố rằng ước muốn của họ là phát triển và tìm một miền đất mới cho nhân loại trước hiểm họa biến đổi khí hậu.  Tuy nhiên, với cách vận hành hiện nay, các nỗ lực thám hiểm không gian tư nhân không những không thực sự là hy vọng phát triển cho cả nhân loại, mà còn tiếp tay cho các bất bình đẳng và sự hủy hoại môi trường đã và đang diễn ra trên Trái đất.  Trước hết, cần hiểu rằng thám hiểm không gian không phải là một phần thiết yếu của thiên văn học. Trên thực tế, đại đa phần chuyên ngành thiên văn không đòi hỏi phải gửi người ra không gian. Với các lý thuyết, mô phỏng máy tính và đài quan sát hiện có trên mặt đất, các nhà thiên văn hoàn toàn có thể hiểu thêm về thiên hà, siêu tân tinh hay hành tinh ngoài hệ Mặt trời mà không phải lo tính đến việc rời khỏi hành tinh của họ. Tuy nhiên, dẫu chẳng phải chỗ dựa thiết yếu của thiên văn, thám hiểm không gian vẫn đem lại những lợi ích riêng. Phần lớn các phi hành gia đến nay đều là chuyên viên với nhiều trách nhiệm, từ sửa chữa kính viễn vọng không gian cho đến thực hiện các thí nghiệm sinh học, hóa học và y học để phục vụ cho đời sống trên mặt đất. Chẳng hạn, theo phi hành gia kiêm bác sĩ Serena Auñón-Chancellor trả lời báo Scientific American, các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng protein được tinh thể hóa trong môi trường vi trọng lực ở Trạm Vũ trụ Quốc tế có chất lượng cao hơn, và từ đó có thể điều trị các bệnh như Parkinson và Alzheimer tốt hơn protein được tinh thể hóa trên bề mặt Trái đất. Ngoài ra, thám hiểm không gian còn có các lợi ích gián tiếp. Trong quá trình chuẩn bị cho con người bay vào vũ trụ, các kỹ sư đã sáng chế ra các thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống ngày nay như chuột máy tính, chăn bạc giữ nhiệt và cánh tay robot hỗ trợ phẫu thuật thần kinh. Đấy là chưa nói đến các lợi ích trừu tượng hơn như truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ theo đuổi khoa học, dẫn đến các ý tưởng mới trong nghệ thuật, v.v.    Thám hiểm không gian tư nhân có thể khiến các bất bình đẳng xã hội trở nên nghiêm trọng hơn, bởi chỗ tiền được sử dụng để hiện thực hóa nó đến trực tiếp từ các vấn nạn vẫn còn gây nhức nhối như bóc lột sức lao động.    Trước đây, các nhiệm vụ thám hiểm không gian đều được tài trợ và thực hiện bởi các cơ quan chính phủ. Do ngân sách giới hạn và quá trình phê duyệt phức tạp qua nhiều tầng nấc, nên số lượng các nhiệm vụ cũng khiêm tốn. Sự tham gia của tư nhân sẽ hoạt động này có số vốn dồi dào hơn và được triển khai dễ dàng hơn. Hơn thế nữa, thám hiểm không gian tư nhân hoàn toàn có thể thu về lợi ích như thám hiểm không gian do nhà nước chịu trách nhiệm; chẳng hạn, một số kết quả về quá trình tinh thể hóa protein nói trên đã đến từ thí nghiệm được thực hiện trên tàu Dragon của SpaceX chở hàng hóa lên Trạm Vũ trụ Quốc tế.  Vậy điều gì khiến tư nhân hóa thám hiểm không gian trở nên đáng lo ngại? Nếu chính phủ không có chính sách kiểm soát hoạt động này một cách thích đáng, nó sẽ nảy sinh những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.  Thám hiểm không gian đang hủy hoại Trái Đất?   Trước tiên, thám hiểm không gian tư nhân đang ảnh hưởng tiêu cực đến khí quyển Trái đất. Vào năm 2021, nhà địa lý tự nhiên Eloise Marais đã cảnh báo trên The Guardian rằng lượng khí thải carbon từ tên lửa đang tăng ở mức 5.6% mỗi năm. Trước đây, lượng khí thải từ tên lửa nói chung không nhiều so với lượng khí thải từ các chuyến bay thương mại, song với việc các công ty ồ ạt phóng người vào không gian để du lịch hoặc để hỗ trợ các cơ quan vũ trụ quốc gia, cục diện có thể thay đổi. Các khí thải do tên lửa thải ra mỗi lần phóng không những có thể tích tụ trên tầng khí quyển cao mà còn làm thủng tầng ozon.  Thám hiểm không gian tư nhân, với cách vận hành ngày nay, còn có thể làm suy yếu môi trường sống trên mặt đất. Ví dụ tiêu biểu là Starbase – cảng vũ trụ của SpaceX đặt tại vùng Boca Chica ở bờ biển cực Nam bang Texas, Mỹ, được CEO Elon Musk miêu tả trong một buổi họp báo năm 2018 là nơi “chúng ta có rất nhiều đất mà chả có ai xung quanh, nên nếu nó nổ thì cũng ngầu”. Theo tờ Texas Monthly, khi mới trình kế hoạch lên Cục Hàng không Liên bang (FAA), SpaceX khai rằng họ sẽ chỉ phóng tên lửa Falcon từ Starbase. Đánh giá tác động môi trường ban đầu của FAA kết luận rằng Starbase sẽ không ảnh hưởng tới môi trường sống của các loài bản địa như rùa biển, mèo gấm ocelot, v.v. Song sau khi Starbase đi vào hoạt động, SpaceX lại mở rộng quy mô và thử nghiệm các tên lửa Starship không những lớn hơn, ồn hơn, mà còn để lại rất nhiều mảnh vỡ kim loại và thải ra một lượng lớn khí nhà kính. Theo báo The Verge, trước khi tên lửa SN8 được phóng vào tháng 12/2020, FAA đã cảnh báo rằng nếu SpaceX nhất quyết phóng tên lửa này, họ sẽ vi phạm giấy phép của FAA. Nhưng SpaceX vẫn phóng, và trong các tháng sau, nội bộ FAA bị chia rẽ và đã có các quyết định khác nhau về việc nên cho SpaceX phóng hay không, và nếu có thì nên yêu cầu thế nào. Trong khi FAA trì trệ và thiếu nhất quán, SpaceX tiếp tục phóng tên lửa và đổ nước thải xuống bãi triều của khu bảo tồn thiên nhiên lân cận, nơi các loài chim bờ biển đến sống theo mùa. Theo nhà bảo tồn David Newstead trả lời báo The Guardian, từng có hàng chục đôi chim choi choi tuyết (snowy plover) đến làm tổ trên bãi triều này hằng năm. Đến 2020, các nhà bảo tồn chỉ tìm thấy hai đôi, và đến 2021 thì chỉ có một. Trước sự phản đối của các nhà bảo tồn và dân địa phương, CEO Elon Musk viết trên Twitter rằng: “Nếu chúng ta biến sự sống trở nên đa hành tinh, sẽ có ngày một số động thực vật tuyệt chủng trên Trái đất nhưng vẫn sống trên sao Hỏa.” Trả lời tờ Texas Monthly, nhà sinh học địa phương Stephanie Bilodeau thừa nhận rằng cô sẽ không thể hình dung được choi choi tuyết sống trên sao Hỏa.  Công nhân nhà kho Amazon ở Đảo Staten, thành phố New York ăn mừng chiến thắng lập công đoàn ngày 1/4/2022. Ảnh: Eduardo Munoz Avarez/AP  Người nghèo bị bóc lột, người giàu đi du lịch vũ trụ?   Ngoài các ảnh hưởng môi trường, thám hiểm không gian tư nhân còn có tác động xã hội. Xét cho cùng, thám hiểm không gian tư nhân đòi hỏi rất nhiều tiền để trở thành hiện thực. Ngày 20/7/2021, trở về từ một chuyến bay ngắn qua độ cao tối thiểu được lấy làm điểm đầu của vũ trụ, Jeff Bezos – cựu CEO Amazon và CEO đương nhiệm của Công ty Du lịch Vũ trụ Blue Origin – đã phát biểu trong buổi họp báo như sau: “Tôi muốn cảm ơn từng nhân viên Amazon và từng khách hàng Amazon vì các bạn đã trả tiền cho toàn bộ chuyện này.” Lập tức, Bezos chịu sự chỉ trích, nhất là của các nhân viên Amazon đã cố gắng lập công đoàn để yêu cầu lương cao hơn, điều kiện làm việc ít nguy hiểm người hơn, cùng nhiều lợi ích khác mà họ chưa từng có được với tư cách là nhân viên Amazon. Khi công nhân nhà kho Amazon đầu tiên thành công bỏ phiếu lập công đoàn vào ngày 1/4/2022, chủ tịch Liên đoàn Lao động Amazon là Chris Smalls đã nói mỉa như sau: “Chúng tôi muốn cảm ơn Jeff Bezos cho việc bay vào không gian, vì trong lúc ông ta ở trên đó thì chúng tôi đang lập công đoàn”. Đối với Liên đoàn Lao động Amazon, chuyến bay của Bezos thể hiện rõ bất công trong xã hội tân tự do, nơi các nhà điều hành công ty có thể vừa không đóng thuế, vừa bóc lột công nhân, vừa ngăn chặn các nỗ lực lập công đoàn để rồi thu về nhiều tiền đến mức thiết kế và phóng được phi thuyền đi thăm thú vũ trụ trong vài giờ đồng hồ. Nói cách khác, thám hiểm không gian tư nhân có thể khiến các bất bình đẳng xã hội trở nên nghiêm trọng hơn, bởi chỗ tiền được sử dụng để hiện thực hóa nó đến trực tiếp từ các vấn nạn vẫn còn gây nhức nhối như bóc lột sức lao động. Không những vậy, thám hiểm không gian tư nhân, nhất là khi phục vụ mục đích du lịch, còn nới rộng khoảng cách giàu-nghèo. Việc những người giàu thi nhau mua vé bay vào vũ trụ vừa không giải quyết được vấn đề gì trên Trái đất, vừa chỉ có tác dụng như một cuộc vui mà chỉ người giàu mới đủ tiền trải nghiệm trong khi cả thế giới đang khốn khó ở bên dưới. Quả thật, một cách bào chữa thường gặp cho việc người giàu đi du lịch vũ trụ là bảo rằng nhờ thấy Trái đất từ trên cao, người giàu sẽ nhận ra Trái đất tươi đẹp và bản thân họ nhỏ bé thế nào, rồi từ đó có động lực bảo vệ hành tinh này hơn. Song tại sao lại phải trông chờ vào những người này thay đổi nhận thức từ trên vũ trụ khi họ có thể làm điều đó ngay dưới mặt đất?    Tư nhân hóa thám hiểm không gian, dù là một phong trào đang nở rộ ở Hoa Kỳ và các công ty Hoa Kỳ bị thống trị, thực chất cần đến tiếng nói và sự vào cuộc của các nhà làm luật trên cả thế giới để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho con người chứ không tiếp tay cho các bất bình đẳng và thảm họa môi trường vẫn còn đang diễn ra.    Ai là người đề ra luật?   Đó mới chỉ là một số ảnh hưởng tiêu cực thường được thảo luận của tư nhân hóa thám hiểm không gian. Còn cả những tác động của các nhiệm vụ “ngoài không gian” nhưng không phải với mục tiêu “thám hiểm”. Chẳng hạn, từ cuối thập niên 2010, các công ty như SpaceX, Amazon và OneWeb đã phóng hàng loạt các vệ tinh vào quỹ đạo Trái đất tầm thấp (low Earth orbit) với mục tiêu cung cấp Internet băng thông rộng cho nhiều nước trên thế giới. Do khâu quản lý lỏng lẻo của Hoa Kỳ – quốc gia nơi các vệ tinh này được phóng, ngay sau khi bay vào quỹ đạo, các vệ tinh đã gây ô nhiễm ánh sáng và ảnh hưởng tới các quan sát thiên văn đã và đang diễn ra trên cả Trái đất. Theo nghiên cứu xuất bản đầu năm 2022 của Mróz và cộng sự, số phần trăm các ảnh thiên văn chụp lúc chạng vạng bị dính vệt ánh sáng của vệ tinh SpaceX đã gia tăng từ dưới 0.5% vào cuối 2019 đến 18% vào tháng 8/2021. Nhiều chính phủ và cơ quan vũ trụ trên khắp thế giới đã chỉ trích kế hoạch phóng thêm vệ tinh của Musk, tiêu biểu là Tổng Giám đốc Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) Josef Aschbacher. Trả lời phỏng vấn trên tờ báo Financial Times, Aschbacher cho rằng: “Trên thực tế, [Musk] đang tự đặt ra các quy luật. Phần còn lại của thế giới, bao gồm cả châu Âu, đều chưa phản ứng đủ nhanh”.  Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris phát biểu tại Trung tâm Vũ trụ Johnson vào tháng 9/2022 về chương trình Artemis. Ảnh: Lucio Vasquez/Houston Public Media  Ý kiến của Aschbacher cũng nêu đích danh một vấn đề mấu chốt trong tư nhân hóa thám hiểm không gian: vai trò bị thu nhỏ của các chính phủ, đặc biệt là Chính phủ Hoa Kỳ. Quả thật, việc ít phụ thuộc hơn vào các quy trình quan liêu của chính phủ cho phép NASA hiện thực hóa các khát vọng khoa học của họ dễ dàng hơn, chứ không bị kẹt lại hàng chục năm như trong vụ Kính viễn vọng không gian James Webb. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy ở Boca Chica, sự thiếu vắng các giới hạn và quyết định pháp lý rõ ràng, mạch lạc của những cơ quan chính phủ như FAA cũng cho phép các công ty gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ánh sáng, v.v. một cách dễ dàng. Đấy là chưa nói đến việc vũ trụ không chỉ là một cánh rừng hay một con sông của một quốc gia, mà bao quanh cả hành tinh này. Vì vậy, khâu quản lý nghèo nàn của một cơ quan hàng không ở Hoa Kỳ sẽ gây “vạ lây” cho cả thế giới. Tư nhân hóa thám hiểm không gian, dù là một phong trào đang nở rộ ở Hoa Kỳ và bị các công ty Hoa Kỳ thống trị, thực chất cần đến tiếng nói và sự vào cuộc của các nhà làm luật trên cả thế giới để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho con người chứ không tiếp tay cho các bất bình đẳng và thảm họa môi trường vẫn còn đang diễn ra. Nhiều nhà làm luật, nhà thiên văn và nhà hoạt động đã đề xuất việc cập nhật lại Hiệp ước Không gian Vũ trụ (Outer Space Treaty) từ năm 1967 để các chính phủ có thể đưa ra các quyết định rõ ràng hơn trong việc quản lý tư nhân hóa thám hiểm vũ trụ. Tuy nhiên, hy vọng này cũng dựa trên niềm tin rằng chính phủ làm việc biệt lập khỏi giới tư nhân. Trong bối cảnh chính phủ các nước đang ngày càng bị lợi ích nhóm thao túng, và các tỷ phú công nghệ có quyền lực đến nỗi có thể quyết định cung cấp Internet cho vùng chiến sự Ukraina hay không, liệu có thể tin tưởng rằng các nhà làm luật trên toàn thế giới sẽ không bị phía tư nhân chi phối và sẽ đưa ra quyết định có lợi cho cả nhân loại thay vì là cho một số chủ công ty thám hiểm không gian nhất định?  Thám hiểm không gian luôn đi đôi với chính trị. Các thành công của Yuri Gagarin hay Apollo 11 đều tồn tại trong bối cảnh cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, khi cả hai bên đều cố gắng chứng tỏ sự phi thường của mình bằng việc cho người của mình mang các thứ quốc kỳ, quốc hiệu bay vào không gian. Chương trình Artemis của NASA mới đây cũng là một nỗ lực thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa ngoại lệ Hoa Kỳ, được sinh ra trong khuôn khổ chính sách “Nước Mỹ trước tiên” (America First) của Tổng thống Trump và được chính quyền Biden tiếp tục để nước Mỹ “vẽ đường trở lại Mặt trăng” (charting a path back to the Moon). Vì vậy, việc xem xét các nỗ lực tư nhân hóa thám hiểm không gian từ góc nhìn chính trị không những là một việc hợp lý, mà còn là một hành động cần thiết, bởi nó cho phép chúng ta đặt các nỗ lực này vào bối cảnh chung của thế giới. Khi các công ty tư nhân như SpaceX hay Amazon-Blue Origin đóng vai trò trong thám hiểm không gian, đó không phải là một câu chuyện thành đạt, mà là hành động của những cá nhân vừa có thể kiếm tiền nhờ bóc lột sức lao động của nhân viên, vừa được hậu thuẫn bởi luật lệ lỏng lẻo của chính phủ để cuối cùng có thể phóng một tên lửa, một vệ tinh, một con người ra ngoài kia. Quả thật là bản thân thám hiểm không gian không có hại, và bản thân thám hiểm không gian tư nhân cũng không phải ngày tàn của thế giới. Song với cách thám hiểm không gian đang được tư nhân hóa ngày nay, đây là một vấn đề đáng báo động, cần phải được đối phó một cách rạch ròi và dứt khoát.□  ——-  Gammon, K. (2021), “Elon Musk’s SpaceX launch site threatens wildlife, Texas environmental groups say”, The Guardian. theguardian.com/science/2021/jul/19/billionaires-space-tourism-environment-emissions  Hollinger, P. & Cookson, C. (2021), “Elon Musk being allowed to ‘make the rules’ in space, ESA chief warns”, Financial Times. ft.com/content/7d561078-37c7-4902-a094-637b81a26241  Hooks, C. (2021), “Elon Musk Is Turning Boca Chica Into a Space-Travel Hub. Not Everyone Is Starstruck.”, Texas Monthly. texasmonthly.com/news-politics/elon-musk-boca-chica-starbase-texas/  Mróz, P. et al (2022), “Impact of the SpaceX Starlink Satellites on the Zwicky Transient Facility Survey Observations”, The Astrophysical Journal Letters 924(2), L30.  Roulette, J. (2021), “SpaceX ignored last-minute warnings from the FAA before December Starship launch”, The Verge. theverge.com/2021/6/15/22352366/elon-musk-spacex-faa-warnings-starship-sn8-launch-violation-texas  Thompson, A. (2019), “Medicine in Space: What Microgravity Can Tell Us about Human Health”, Scientific American. scientificamerican.com/article/medicine-in-space-what-microgravity-can-tell-us-about-human-health/  Wray, D. (2021), “Elon Musk’s SpaceX launch site threatens wildlife, Texas environmental groups say”, The Guardian. theguardian.com/environment/2021/sep/05/texas-spacex-elon-musk-environment-wildlife.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Tự nhiên thật ra là trung tính      Hầu hết mọi người ở những nước phát triển phương Tây đều ưa chuộng những thứ tự nhiên, đặc biệt là thực phẩm. Chúng tôi lại cho rằng không có cơ sở lý thuyết lẫn thực tiễn cho niềm tin phổ biến vào sự ưu việt của các thực thể tự nhiên đối với phúc lợi của nhân loại. Tự nhiên không phải vô cùng nhân từ.      Một trang trại trồng rau hữu cơ ở Lâm Đồng. Nguồn: tapchitaichinh.vn  Thế giới các nước phát triển phương Tây có một niềm yêu thích rất phổ biến dành cho đặc tính tự nhiên, đặc biệt là thực phẩm tự nhiên. Hầu hết mọi người đều sẵn sàng trả thêm tiền mua thức ăn nếu chúng được gắn nhãn “hoàn toàn tự nhiên” hay “hữu cơ”. Những loại thực phẩm mang nhãn mác này (đôi khi được gọi là “nhãn mác sạch”) không chỉ được đặc biệt ưa chuộng hơn mà còn càng ngày càng thịnh hành. Ngoài thức ăn, nhiều người còn thường xuyên sử dụng các loại thuốc tự nhiên và thảo dược cũng như các sản phẩm chăm sóc cá nhân từ thiên nhiên. Những nhãn mác tự nhiên này có sức thu hút lớn vì người ta nghĩ thiên nhiên thì phải an toàn và tốt lành. Tuy vậy, những niềm tin như thế thường là sai. Tự nhiên không tiến hóa với mục đích giúp đỡ nhân loại. Tự nhiên không phải vô cùng nhân từ.  Cách hiểu thông thường về tự nhiên  Để hiểu niềm yêu thích mà người ta dành cho tự nhiên, ta cần nghĩ về ý nghĩa của “tự nhiên” đối với một người bình thường. Nghiên cứu cho thấy lịch sử của một thực thể là yếu tố then chốt quyết định cách nhìn nhận về tính tự nhiên của thực thể đó. Ví dụ, tính tự nhiên (“naturalness”) được định nghĩa là “từ tự nhiên; không phải nhân tạo hay có liên quan đến cái gì do con người tạo ra hay gây ra” (Từ điển tiếng Anh Cambridge) hay “tồn tại trong tự nhiên hay do tự nhiên tạo nên” (dictionary.com). Trong tư duy đời thường, gần như bất kỳ tiến trình nào có sự can thiệp của con người đều hủy diệt tính tự nhiên. Trong việc ra quyết định đánh giá về tính tự nhiên của một sản phẩm thì lịch sử tiến trình chế biến quan trọng hơn nội dung thực sự của sản phẩm đó. Ví dụ như sốt cà chua đặc có thêm đường thì không có gì đáng ngạc nhiên khi được xem là sản phẩm kém tự nhiên hơn sốt cà chua đặc chưa thêm đường. Tuy nhiên, nếu sốt cà chua có đường kia được đem loại bỏ đường, nó sẽ có thành phần như sốt cà chua không đường ban đầu. Cái sốt cà chua mới này – đã trải qua hai quá trình chế biến để có thành phần giống sốt cà chua ban đầu – lại được coi là kém tự nhiên hơn sốt cà chua có đường – vốn chỉ qua một quá trình chế biến và có thành phần khác. Do vậy, nếu tiến trình chế biến và thành phần không được đặt cạnh nhau, thì chế biến được xem là quan trọng hơn. Nói cách khác, ý nghĩa trung tâm trong định nghĩa tính tự nhiên theo cách hiểu thường ngày là không bị bàn tay con người đụng tới. Định nghĩa thường ngày này về tính tự nhiên không thể hiện rõ ràng là nó có vấn đề hay bất nhất về bản chất. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn đưa ra những suy luận có vấn đề về những thứ tự nhiên.  Chẳng hạn như niềm tin phổ biến rằng thiên nhiên luôn tốt lành và hiền hòa. Một thực thể nào đó khi đã được xem là tự nhiên thì người tiêu dùng sẽ suy ra những thuộc tính khác như an toàn và có lợi cho sức khỏe. Nhiều người ngoài chuyên môn tin rằng hóa chất tự nhiên an toàn hơn hóa chất nhân tạo mặc dù các chuyên gia nhìn chung là không đồng ý như vậy. Vì nhận định về tính tự nhiên có cơ sở là quá trình can thiệp của con người vào một sản phẩm, nên người tiêu dùng thậm chí tin rằng có sự khác biệt giữa các sản phẩm tự nhiên và tổng hợp hoàn toàn giống nhau về mặt hóa học. Khi một vitamin tự nhiên và một vitamin tổng hợp được mô tả là giống hệt nhau về mặt hóa học, người ta vẫn tin cái tự nhiên là an toàn hơn và ưa chuộng sản phẩm tự nhiên hơn. Một số người thậm chí còn không tin vitamin tự nhiên và vitamin tổng hợp có thể thực sự giống nhau hoàn toàn.       Trong thế giới công nghiệp hóa, con người trở nên cách biệt với tự nhiên. Sự cách biệt ngày càng lớn này có thể đưa đến những cái nhìn lý tưởng hóa về thiên nhiên, củng cố thêm những niềm tin hay suy luận rằng tự nhiên = tốt lành và tự nhiên = đạo lý.      Ý nghĩa đạo đức trong tư duy hiện đại  Tính tự nhiên có ý nghĩa về mặt đạo đức trong tư duy hiện đại. Đối với hầu hết những người ở các nước phát triển phương Tây, tính tự nhiên có giá trị đạo lý cao cả. Chúng tôi không biết nguồn gốc của những niềm tin đạo đức này, có lẽ chúng phần nào liên quan đến những suy luận chúng tôi nói đến ở phần trước. Gây hại là một tính chất tiêu biểu cho phi đạo đức, do đó người ta có thể coi những thứ an toàn hơn là có đạo đức. Những niềm tin đạo đức này có thể còn xuất phát trên cơ sở từ niềm tin rằng sự can thiệp của con người là hiểm ác với bằng chứng đến từ những hệ quả tiêu cực của tư duy trọng công, chủ nghĩa tư bản, và chiến tranh. Cho dù nguồn gốc của những niềm tin này có là gì đi nữa thì chúng tôi tin rằng lối suy nghiệm “tự nhiên = đạo lý” vượt quá khỏi những suy luận dựa trên hệ quả. Nhiều người tin rằng có tính tự nhiên thì bản thân đã là tốt hơn, cao hơn, và vượt khỏi khuôn khổ những rủi ro và lợi ích của nó.    99,99% lượng thuốc trừ sâu mà chúng ta tiêu thụ (tính theo trọng lượng) là từ tự nhiên. Nguồn: EPA  Vấn đề này thể hiện rõ nhất ở sự phản đối mạnh mẽ thực phẩm từ sinh vật biến đổi di truyền (GMO). Kết quả nghiên cứu cho thấy những sản phẩm này cũng an toàn cho sức khỏe con người như thực phẩm từ các nguồn lai tạo truyền thống, và còn có thể có ưu thế trong kháng bệnh, thời gian lưu trữ, và chất lượng dinh dưỡng. Những người chống GMO này lại hoàn toàn hưởng ứng việc tiêu thụ bắp ngô, cà chua, và thịt gà, tất cả đều là động thực vật được thuần hóa cao độ và đã trải qua những quá trình biến đổi di truyền rộng rãi do con người thực hiện thông qua lai tạo chọn lọc từ trước đến nay.  Trong nhiều trường hợp, việc phản đối thực phẩm biến đổi di truyền là dựa trên nền tảng đạo lý, phần nhiều không liên quan đến rủi ro và lợi ích. Ví dụ, đa số những người phản đối GMO đồng tình với ý kiến rằng họ sẽ phản đối thực phẩm GMO “cho dù nếu cho phép thì sẽ mang lại lợi ích lớn đến đâu hay rủi ro nhỏ đến đâu đi nữa”, và rằng “đây vẫn là sai thậm chí ở một nước mà tất cả mọi người ở đó đều nghĩ rằng nó không sai”. Có thể nhiều người theo ý kiến trên không thật sự hoàn toàn tin theo nghĩa đen như thế mà chỉ đơn giản là bày tỏ quan điểm rằng hệ quả thế nào không tác động lớn đến phản ứng của họ đối với những thứ trái tự nhiên. Nhưng cho dù như vậy đi nữa thì nó vẫn cho thấy có thứ gì đó như động lực đạo lý.  Khía cạnh đạo đức của việc phản đối GMO cho thấy rằng công nghệ CRISPR* – biến đổi di truyền trúng đích hơn, chính xác hơn và chi phí phải chăng hơn – có thể sẽ bị phản đối tương tự. Nếu người ta đã phản đối GMO dựa trên trực giác đạo lý rằng con người trực tiếp đụng chạm vào bản thiết kế của một sinh vật là sai, thì họ có thể càng khó chấp nhận CRISPR hơn lai tạo chọn lọc. Chúng tôi nghĩ rằng có thể những trực giác đạo lý đó khiến người ta ít quan tâm hơn đến những chi tiết cụ thể về cách thức con người can thiệp vào tự nhiên hay những rủi ro và lợi ích từ những việc này, mà họ dựa nhiều hơn vào niềm tin đạo đức theo linh cảm.       Thiên nhiên nhân từ là một niềm tin không thấu đáo. Tự nhiên là sản phẩm của sự tương tác qua thời gian giữa các dạng thể vật lý của Trái đất, các dạng thể vật lý của bầu khí quyển và hiện tượng tiến hóa sinh học. Niềm tin rằng tự nhiên là nhân từ khiến ta chỉ tập trung vào những hiểm nguy của các thực thể phi tự nhiên trong khi lại bỏ qua những mối đe dọa của các thực thể tự nhiên.      Tác động của những niềm tin thuận tự nhiên đối với thái độ cư xử ngày nay có lẽ quan trọng hơn so với cách đây vài thế hệ. Trong thế giới công nghiệp hóa, con người trở nên cách biệt với tự nhiên. Sự cách biệt ngày càng lớn này có thể đưa đến những cái nhìn lý tưởng hóa về thiên nhiên, củng cố thêm những niềm tin hay suy luận rằng tự nhiên = tốt lành và tự nhiên = đạo lý. Cũng liên quan đến vấn đề này, sự cách biệt ngày càng tăng với nguồn gốc thực phẩm có thể tạo ra cảm giác luyến tiếc việc tìm thức ăn từ cội nguồn của nó, cùng với đó là suy luận rằng thực phẩm có được trực tiếp từ nguồn thì tốt hơn. Người tiêu dùng có thể không hiểu hết mức độ họ phụ thuộc vào tư duy dựa trên tính tự nhiên khi đánh giá thực phẩm, họ còn cho rằng mình biết nhiều hơn kiến thức thực sự của bản thân. Ví dụ, những người chống thực phẩm GMO cực đoan cho rằng họ hiểu biết nhiều hơn về biến đổi di truyền so với những người ủng hộ tuy trên thực tế thì ngược lại.  Tự nhiên thật ra là trung tính  Chúng tôi cho rằng tự nhiên không tiến hóa để trở thành tốt đẹp hay xấu xa đối với con người. Thiên nhiên nhân từ là một niềm tin không thấu đáo. Tự nhiên là sản phẩm của sự tương tác qua thời gian giữa các dạng thể vật lý của Trái đất, các dạng thể vật lý của bầu khí quyển và hiện tượng tiến hóa sinh học. Niềm tin rằng tự nhiên là nhân từ khiến ta chỉ tập trung vào những hiểm nguy của các thực thể phi tự nhiên trong khi lại bỏ qua những mối đe dọa của các thực thể tự nhiên.  Chẳng hạn như thuốc trừ sâu có trong thực phẩm mà chúng ta ăn phải. Chúng ta tập trung kiểm nghiệm và đưa ra những quy định nghiêm ngặt đối với các loại thuốc trừ sâu trên thị trường. Nhưng thực vật cũng tạo ra thuốc trừ sâu một cách tự nhiên để tự bảo vệ chúng chống lại nấm, côn trùng, và động vật ăn cây cỏ. Trên thực tế, 99,99% lượng thuốc trừ sâu mà chúng ta tiêu thụ (tính theo trọng lượng) là từ tự nhiên. Các loại thuốc trừ sâu tự nhiên này chẳng những phổ biến hơn mà còn không kém phần nguy hiểm, và các loại thuốc trừ sâu tự nhiên có mức độ gây ung thư tương đương như các loại thuốc trừ sâu đang có mặt trên thị trường.    Ma hoàng là loại cây nguy hiểm, và việc sử dụng nó có liên quan đến hàng chục trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ trước khi bị cấm vào năm 2003.. Nguồn: https://pogoda.rovno.ua/  Một ví dụ minh họa khác là các sản phẩm y khoa và các chất bổ sung tự nhiên. Khi đánh giá mức độ hiệu quả và an toàn của các sản phẩm y khoa, chúng ta tập trung vào kiểm nghiệm và đưa ra các quy định cho các chất nhân tạo. Ví dụ, trong thập niên 1990, một số bài thuốc giảm cân thảo dược (như Metabolife) có chứa ma hoàng (Ephedra), một loại cây có dạng giống thân bụi mọc tự nhiên ở Trung Á. Ma hoàng là loại cây nguy hiểm, và việc sử dụng ma hoàng có liên quan đến hàng chục trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ trước khi bị cấm vào năm 2003. Người ta đã không biết rằng hợp chất tự nhiên, giống với amphetamine (có trong cây) này có thể bóp nghẹt mạch máu và làm tăng nguy cơ đột quỵ. Nói chung, các loại sản phẩm bổ sung tự nhiên và thảo dược như các loại thuốc giảm cân có ma hoàng không cần phải theo các quy định dược phẩm của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vì người ta cho rằng tự nhiên thì an toàn. Người tiêu dùng mặc nhiên cho rằng những sản phẩm bổ sung này có mức độ an toàn nào đó, nhưng chính chúng gây ra 23.000 trường hợp phải đi cấp cứu hằng năm chỉ tính riêng ở Mỹ.   Nhiều người, trong đó có các nhà khoa học, lo sợ những hệ quả không lường trước được từ những can thiệp của con người. Chẳng hạn như một số người quan ngại về sự ô nhiễm di truyền hay những tác dụng phụ ngoài dự tính của thực phẩm GMO đối với môi trường. Đương nhiên là những tác dụng phụ không mong muốn là có thể xảy ra. Nhưng bất kỳ cái gì mới cũng có thể gây ra lo sợ về những tác dụng phụ trong tương lai, và những nỗi sợ này có lẽ đã có thể chặn bước những tiến bộ trước đây như kháng sinh, công nghệ lọc nước, và máy điện toán. Những người lo ngại về ảnh hưởng không lường được trong tương lai có thể lấy làm vui rằng nhiều tác dụng phụ tiêu cực của công nghệ mới đã được giảm đi hoặc loại bỏ nhờ những tiến bộ công nghệ sau đó. Các tiến bộ công nghệ trong y tế công cộng và y khoa nói chung đã phần nào làm tăng tuổi thọ kỳ vọng trung bình của người Mỹ thêm 30 năm trong thế kỷ 20.   Nói tóm lại, tự nhiên cho ta những cảnh tượng sơn thủy, chim muông hay hoàng hôn tuyệt đẹp. Nhưng nó cũng đem tới động đất, lũ lụt, và cả cái chết. Tự nhiên không tồn tại để giúp đỡ hay làm hại chúng ta, nó không có bản chất cố hữu là tốt hay xấu cho con người. Việc đánh giá rủi ro và lợi ích của bất kỳ sản phẩm nào, thuận tự nhiên hay phi tự nhiên, cũng phải được tiến hành cho từng trường hợp. Vì tự nhiên thật ra là trung tính. □  Đặng Thị Thu Thủy dịch  Nguồn: https://doi.org/10.1038/s41562-020-0891-0  —  Tác giả: TS Sydney Scott là giảng viên (assistant professor) marketing, Đại học Washington (bang Missouri, Mỹ). Bà chuyên nghiên cứu về hành vi và cách ra quyết định của người tiêu dùng.  TS Paul Rozin là giáo sư tâm lý học, Đại học Pennsylvania (bang Pennsylvania, Mỹ). Ông chuyên nghiên cứu về tâm lý học văn hóa.  Ghi chú (*): CRISPR (viết tắt tiếng Anh của “clustered regularly interspaced short palindrome repeats”) là các trình tự đối xứng ngắn trùng lặp cách đều nhau và tồn tại theo cụm trên bộ gene vi khuẩn hay cổ vi khuẩn. Các trình tự này được tế bào lưu lại từ các mảnh DNA của các virus đã tấn công tế bào trước kia và dùng để nhận diện virus – một dạng miễn dịch của tế bào nhân sơ (prokaryotae). Các enzyme Cas9 sẽ dùng các trình tự CRISPR này để cắt một cách chính xác vật liệu di truyền của virus xâm nhập, qua đó chặn đứng sự sinh sôi và lây lan của virus. Giới khoa học đã ứng dụng hiện tượng miễn dịch của tế bào nhân sơ này để tạo công nghệ cắt dán DNA một cách đặc hiệu cao ở các loại tế bào khác.     Author                Sydney E. Scott - Paul Rozin        
__label__tiasang Từ những chiếc gương vỡ đến một thế giới bất đối xứng      Nếu một lần, khi soi gương, bạn bỗng thấy hình ảnh trong gương không giống mình cho lắm, bạn điên tiết đập tan chiếc gương đó và sắm một chiếc khác tốt hơn. Nhưng chẳng bao lâu sau, bạn lại phát hiện ra rằng chiếc gương tốt hơn này cũng vẫn không thể cho một hình ảnh hoàn toàn đối xứng với bạn, bạn lại đập nó đi để mua chiếc khác tốt hơn… Được rồi, bạn có thể đập hết chiếc gương này đến chiếc gương khác, nhưng bạn sẽ không thể bực tức được nữa khi phải chấp nhận rằng, chính thế giới mà bạn đang sống cũng có quá nhiều thứ không đối xứng. Những thứ không đối xứng ấy còn cơ bản và nghiêm trọng hơn chuyện soi gương của bạn nhiều. Đó là những hạt neutrino chỉ thuận tay trái, những meson K phân rã bất thường, và cuối cùng là một vũ trụ có nhiều vật chất hơn phản vật chất.    Ba người gốc Trung Quốc đập vỡ chiếc gương P  Có lẽ bản năng thẩm mỹ của con người là thích sự đối xứng bởi vì chính họ cũng là sản phẩm của một Tự Nhiên thường phô ra bên ngoài những tính chất đối xứng. Các nhà vật lý cũng luôn thích xây dựng những lý thuyết thật đối xứng, đó là những lý thuyết mà định luật của nó lúc nào cũng có thể áp dụng tốt như nhau cho hệ vật lý ngay cả khi ta thực hiện một số phép biến đổi nào đó đối với nó. Một trong những phép biến đổi đáng chú ý nhất chính là phép hoán vị chẵn lẻ, còn gọi là phép biến đổi P (Parity), biến một vật thành ảnh trong gương của nó, đồng thời quay nó một góc 180 độ xung quanh trục vuông góc với mặt phẳng gương. Phép biến đổi như vậy có thể coi như phép phản chiếu qua một chiếc gương đặc biệt, gọi là chiếc gương P. Một lý thuyết có đối xứng P nếu các định luật vật lý áp dụng cho thế giới trong chiếc gương P cũng giống như các định luật vật lý trong thế giới thực. Các loại hạt lepton hoặc quark có thể được xếp vào loại “tay phải” hoặc “tay trái” tùy thuộc vào hướng spin liên kết với chuyển động của chúng. Nếu có sự đối xứng P thì những hạt tay phải sẽ biểu hiện không khác gì những hạt tay trái.                       Các lý thuyết tương tác điện từ và tương tác mạnh có tính đối xứng P, nghĩa là các định luật của chúng sẽ không thay đổi khi chuyển từ thế giới thực sang thế giới trong chiếc gương P. Nhưng với tương tác yếu thì lại khác, các nhà thực nghiệm đã tìm ra “hai loại” hạt meson K cộng, có khối lượng và thời gian sống như nhau nhưng lại phân rã khác nhau trong tương tác yếu, chúng được đặt tên là têta và tô để phân biệt. Điều khó hiểu này đã được hai nhà lý thuyết là Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo giải thích, họ đã mạnh bạo cho rằng, hai meson K cộng đó chẳng qua chỉ là một. Bởi vì trong tương tác yếu, tính chắn lẻ không bảo toàn, lý thuyết khi ấy sẽ không đối xứng P, chúng ta buộc phải từ bỏ một trong những quy luật cơ bản nhất của vật lý học. Tất nhiên là khi ấy ý định đập vỡ chiếc gương P của Lý và Dương đã khiến nhiều người cảm thấy vô cùng nuối tiếc. Tuy nhiên, sự việc đã ngã ngũ vào năm 1957 khi Vũ Diên Xương cùng các cộng sự của bà ở Đại học Columbia đã chứng tỏ bằng thực nghiệm rằng các tương tác yếu là rất khác nhau đối với những hạt tay trái và tay phải. Trong tương tác yếu, chỉ những hạt tay trái mới có thể phân rã, còn những hạt tay phải thì không. Thêm vào đó, các electron sinh ra trong sự phân rã bê-ta trừ chỉ ưu tiên chạy theo một phía Và người ta còn tìm ra một bằng cớ nữa về một loại hạt nổi tiếng, hạt neutrino, chỉ tham gia vào tương tác yếu. Có thể nói neutrino là một con ma trong thế giới hạt cơ bản, thậm chí sự ra đời của nó đã từng gắn liền với việc âm mưu ám hại định luật bảo toàn năng lượng. Bây giờ, theo đúng đặc điểm của một con ma, hạt neutrino không hề có ảnh trong gương, tức là chỉ tồn tại những neutrino tay trái chứ không hề có những neutrino tay phải.       Hai chiếc gương hỏng thành một chiếc gương tốt           Ngày 4 tháng 8 vừa qua, chính nhà vật lý được giải Nobel James Cronin đã có một bài nói chuyện rất thú vị ở Đại học Quốc gia Hà Nội về thí nghiệm phát hiện sự vi phạm đối xứng CP của ông và các cộng sự. Cronin cũng đã liên kết sự vi phạm đối xứng CP với vấn đề bất cân bằng vật chất – phản vật chất trong vũ trụ, một chủ đề cực kỳ cuốn hút.              Cũng vẫn là trong tương tác yếu, một chiếc gương quan trọng nữa của cơ học lượng tử trở nên vô dụng. Đó là chiếc gương liên hợp điện tích, hay chiếc gương C (Charge), nó đảm bảo tính đối xứng điện tích của các phương trình cơ học lượng tử, theo đó các phương trình này sẽ mô tả cùng một hiện tượng vật lý đối với hạt và phản hạt có điện tích ngược dấu nhau. Thế nhưng các nhà thực nghiệm đã lại phát hiện ra rằng, trong sự phân rã bêta cộng (tương tác yếu) của một đồng vị Coban, các positron (mang điện dương, phản hạt của electron) lại đi ra theo phía ngược lại với electron trong phân rã bêta trừ. Lẽ ra, theo sự đối xứng điện tích, cả positron và electron sẽ phải cư xử giống nhau. Thế là các nhà vật lý hiểu ra rằng, chiếc gương C của họ không còn dùng được nữa. Sự đối xứng hạt và phản hạt không còn nữa, ngay cả các phản neutrino cũng chỉ có tay phải chứ không không có tay trái.  Thế là hai chiếc gương C và P đều hỏng, tuy nhiên các nhà khoa học đã sớm nhận ra rằng nếu ghép hai gương này làm một thì có thể tạo ra một chiếc gương cho phép biến electron thành positron, hay biến neutrino tay trái thành phản neutrino tay phải. Bây giờ, chúng ta lại có trong tay một sự đối xứng mới, đối xứng liên hợp điện tích và tính chẵn lẻ, hay còn gọi là đối xứng CP. Nó là kết quả của hai sự vi phạm các đối xứng C và P riêng lẻ. Có vẻ như các nhà khoa học đã vớt vát được một quy luật khá đẹp với chiếc gương CP này, qua đó họ chỉ cần đảo chiều các vector của electron đồng thời đổi dấu điện tích của nó là sẽ thu được positron. Chắc hẳn khi ấy người ta đã rất kỳ vọng vào chiếc gương CP này, và nhiều nhà vật lý có lẽ cũng không muốn bất cứ sự vi phạm đối xứng nào nữa.  Tuy nhiên, những câu chuyện hay thường mang nhiều tình tiết bất ngờ, và có thể khẳng định rằng đối xứng CP là một câu chuyện rất hay. Từ năm 1917, nhà toán học Đức Emmy Noether đã chứng minh được một định lý quan trọng, nó khẳng định rằng mọi sự đối xứng đều kèm theo sự tồn tại của  một đại lượng bảo toàn. Chẳng hạn, không gian là đẳng hướng cho nên nó có đối xứng quay, từ đó dẫn đến sự bảo toàn momen xung lượng. Như vậy, theo định lý Noether, nếu Tự Nhiên có sự đối xứng CP một cách chính xác thì khi ấy một đại lượng gọi là số CP phải được bảo toàn.     Vi phạm CP  Một hạt và một phản hạt của nó chuyển động theo chiều ngược nhau với năng lượng như nhau sẽ tạo nên một cặp hạt có sự đối xứng điện tích-chẵn lẻ. Phép phản chiếu CP không làm thay đổi hệ, ngoại trừ trong biểu diễn toán học xuất hiện thêm một thừa số: số CP. Cả C hoặc P khi tác dụng hai lần lên hệ sẽ đưa nó về trạng thái ban đầu, cho nên tính chất này có thể được biểu diễn bằng hệ thức đơn giản: C2 = P2 = 1 (trong đó 1 là toán tử đồng nhất, không làm thay đổi bất cứ thứ gì). Kết quả là số CP chỉ có thể bằng +1 hoặc -1. Nếu Tự Nhiên có đối xứng CP hoàn hảo thì theo định lý Noether, không thể có bất cứ trạng thái nào với số CP bằng +1 có thể chuyển sang trạng thái với số CP bằng -1.                   Bây giờ ta chuyển sang câu chuyện về các hạt meson Ko (kaon trung hòa). Tại sao lại đột ngột như vậy? Vâng, câu trả lời rất đơn giản, tất cả mọi chuyện đều là từ những hạt kaon này mà ra, về mức độ kỳ quái thì chúng xứng đáng được mệnh danh là “những con kỳ nhông” của thế giới hạt cơ bản. Hạt Ko cấu tạo từ một quark xuống và một phản quark lạ và hạt phản Ko thì gồm một phản quark xuống và một quark lạ. Vì đối xứng CP hoán vị quark và phản quark nên nó sẽ biến mỗi Ko thành thành phản Ko và ngược lại. Như vậy cả Ko và phản Ko đều không có số CP xác định. Tuy nhiên, các nhà lý thuyết đã chồng chập các hàm sóng của Ko và phản Ko để tạo nên một cặp các kaon có số CP xác định. Theo các quy tắc của cơ học lượng tử, những hỗn hợp kaon này tương ứng với những hạt thực có khối lượng và thời gian sống xác định.          Hiện tượng vi phạm đối xứng CP cũng cho phép sự phân biệt thực nghiệm giữa thế giới và phản thế giới. Trong thế giới của chúng ta, chúng ta sẽ thấy các positron sinh từ sự phân rã hơi thừa ra một chút. Positron là lepton có cùng dấu điện tích với hạt nhân nguyên tử của chúng ta. Trong khi đó, một nhà thực nghiệm ở phản thế giới sẽ thấy rằng, các lepton thừa ra lại có điện tích ngược dấu với hạt nhân nguyên tử của anh ta. Từ đó, với cùng một thí nghiệm giống chúng ta nhưng anh ta lại báo cáo một kết quả khác.                                  J. Cronin              Nhưng vấn đề là ở chỗ, có tới hai hỗn hợp kaon với thời gian sống khác nhau, một hỗn hợp sống ngắn (KS) và một hỗn hợp sống lâu (KL). Các KS có số CP bằng +1, chúng phân rã thành hai pion (meson pi) và quá trình đó bảo toàn số CP. Các KL có số CP bằng -1 nên chúng bị định luật bảo toàn số CP cấm phân rã thành 2 pion, chúng chỉ được phép phân rã thành 3 pion. Và nếu như các kaon sống lâu KL cứ ngoan ngoãn chỉ phân rã thành 3 mà không bao giờ thành 2 thì sự đối xứng CP đã không bị vi phạm. Thế nhưng vào năm 1964, các nhà vật lý ở Brookhaven là James Cronin, James Christenson, Val Fitch và René Turley đã quan sát thấy một “hiện tượng rất tội lỗi” của các kaon sống lâu. Cứ 500 hạt KL thì lại có một hạt dở chứng phân rã thành 2 pion. Hóa ra, CP không phải là một sự đối xứng chính xác của Tự Nhiên! Thêm vào đó, có một điều nữa làm các nhà lý thuyết băn khoăn là không biết tại sao sự vi phạm đối xứng CP lại ở một mức độ nhỏ (1/500) đến khó chịu như vậy.   Năm 1972, Makoto Kobayashi và Toshihide Maskawa ở Đại học Nagoya Nhật Bản đã chỉ ra rằng, CP có thể bị vi phạm trong Mô hình Chuẩn nếu có không ít hơn ba thế hệ quark tồn tại. Vào thời điểm đó, người ta mới chỉ biết đến hai thế hệ quark là lên-xuống và lạ-duyên. Năm 1977, Phòng thí nghiệm máy gia tốc Fermi đã lần ra tung tích của quark đáy và đến mãi năm 1995 cũng ở Fermilab, người ta mới tìm được bằng chứng về quark đỉnh, hoàn tất thế hệ thứ ba.     Đi tìm sự lý giải cho một vũ trụ bất đối xứng  Những người ham mê cái lý thuyết đầy thú vị của cơ học lượng tử về hạt và phản hạt nói chung rất khó chấp nhận được một thực tế rằng vũ trụ của chúng ta theo quan sát lại bất đối xứng, nó có vật chất nhiều hơn hẳn phản vật chất. Nhưng vấn đề của các nhà khoa học là làm thế nào để giải thích được sự bất đối xứng đó chứ không phải chỉ ngồi mà nuối tiếc.                   Trước khi đi tìm nguồn gốc sự dư thừa vật chất so với phản vật chất, đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu chính bản thân sự dư thừa đó. Trong vũ trụ, có phổ biến là những biến đổi hạt nhân trong các sao, những phản ứng này có thể biến proton thành neutron hoặc biến neutron thành proton. Số proton tăng thì số neutron giảm và ngược lại. Nhưng có một con số không thay đổi là số baryon, nó là hiệu của số các baryon và số các phản baryon (cả proton và neutron đều thuộc loại hạt baryon). Sự bảo toàn số baryon được chứng tỏ trong tất cả các quan sát đã biết. Các baryon đóng góp phần lớn khối lượng vật chất của vũ trụ, vì thế muốn giải thích sự dư thừa vật chất, ta phải giải thích sự dư thừa các baryon. Và chúng ta sẽ quay trở về giai đoạn đầu của sự tiến hóa vũ trụ, khi ấy phải có những quá trình gây nên sự bất đối xứng baryon, tạo ra nhiều baryon hơn phản baryon.          Người ta đã chú ý nhiều đến vai trò của vi phạm CP trong những giai đoạn đầu của tiến hóa vũ trụ. Một cơ chế đã được đề xuất với sự vi phạm CP là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự dư thừa vật chất theo quan sát vũ trụ hiện nay. Người có công đầu trong việc xây dựng cơ chế này, theo tôi biết, chính là Sakharov. Ông đã chỉ ra một cách rõ ràng là phải cần có ba yếu tố sau đây: (1) Sự không bền của các baryon, (2) vi phạm CP và (3) mất cân bằng nhiệt. Ý tưởng của Sakharov là rất đáng chú ý, bởi vì sự không bền của các baryon là một hệ quả tự nhiên của việc thống nhất tương tác mạnh với tương tác điện từ-yếu.                                    J. Cronin            Lời giải đáp đáng chú ý nhất là của nhà vật lý Xô Viết nổi tiếng Andrei Sakharov. Năm 1967, Sakharov đã chỉ ra ba điều kiện cần thiết để có được sự bất đối xứng baryon. Thứ nhất, vũ trụ phải có những quá trình không bảo toàn số baryon. Thứ hai, trong sự dãn nở, vũ trụ phải trải qua một số trạng thái không cân bằng nhiệt. (Trong sự cân bằng nhiệt, tất cả các trạng thái có năng lượng như nhau thì phải có cùng số hạt, vì thế, do các hạt và phản hạt có cùng năng lượng nên chúng phải có số lượng như nhau). Thứ ba, một điều kiện vô cùng quan trọng, sự đối xứng CP phải bị vi phạm.  Lý thuyết hiện nay cho rằng, tại thời điểm ban đầu của sự sinh ra vũ trụ, trường lượng tử của các hạt Higgs (các hạt này hiện vẫn chưa tìm được bằng thực nghiệm, xuất hiện trong cơ chế sinh khối lượng các boson truyền tương tác của lý thuyết trường chuẩn) tại mọi nơi bằng không. Sau đó, một cái “bong bóng” xuất hiện, bên trong nó có trường Higgs khác không. Bên ngoài bong bóng, các hạt và phản hạt đều không có khối lượng. Nhưng khi chui vào bong bóng, chúng sẽ tương tác với trường Higgs để thu được khối lượng. Khi cái bong bóng lớn lên, các hạt và phản hạt sẽ lan ra bề mặt của nó với những tốc độ khác nhau do sự vi phạm đối xứng CP. Khi ấy, bất cứ sự mất cân bằng nào giữa vật chất và phản vật chất xảy ra bên ngoài bong bóng sẽ nhanh chóng được bù lại bởi những quá trình làm thay đổi số baryon.  Tuy nhiên, những quá trình như vậy là cực kỳ hiếm bên trong bong bóng, vì vậy, sự mất cân bằng bị làm đông cứng. Đến khi cái bong bóng dãn nở đến mức chiếm toàn bộ vũ trụ, nó đã chứa nhiều hạt hơn phản hạt. Cuối cùng vũ trụ sẽ lạnh đi tới mức không còn phản ứng sinh hạt và phản hạt nữa, chỉ còn phản ứng hủy nhau giữa vật chất và phản vật chất.  Thật không may là, khi các nhà lý thuyết sử dụng cơ chế này để tính toán sự mất cân bằng giữa vật chất và phản vật chất, họ đã thấy rằng sự mất cân bằng này là quá nhỏ, gắn liền với một sự vi phạm đối xứng CP quá nhỏ. Điều đó cho thấy phải có một cơ chế khác cho sự vi phạm đối xứng CP và Mô hình Chuẩn có lẽ vẫn còn khiếm khuyết.  Các nhà khoa học bắt đầu đặt nhiều hy vọng ở việc nghiên cứu các meson Bo. Mô hình Chuẩn tiên đoán rằng, những sự phân rã khác nhau của các meson Bo và phản Bo sẽ có tính bất đối xứng cao. Hạt Bo chứa một quark xuống và một phản quark đáy và phản Bo chứa một phản quark xuống và một quark đáy. Cũng giống như những hạt kaon trước đây, các meson B được quan sát thực chất chất là những hỗn hợp của Bo và phản Bo. Và theo như mong đợi, cuối cùng thì các nhà khoa học cũng tìm được một sự phá vỡ đối xứng CP lớn hơn trong hiện tượng phân rã của các meson B. Điều đó đã dọn đường cho lý thuyết của Sakharov, và công trình của nhà vật lý Xô Viết này vẫn là ý tưởng hay nhất để làm cơ sở giải thích cho sự thống trị của vật chất so với phản vật chất trong vũ trụ.              Tài liệu tham khảo  James Cronin – CP Symmetry Violation – the Search for its Origin, Nobel lecture, 8 December, 1980  Richard Feynman – The Character of  Physical Laws, MIT Press, 1965  Helen R. Quinn & Michael S. Witherell – The Asymmetry between Matter and Anti-Matter, 2003 Scientific American         Trần Trung      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ vỏ trấu đến sơn nano      Mở đầu Hội thảo Công nghệ sơn nano Kova, PGS.TS hóa học Nguyễn Thị Hòe chiếu bảng thành phần hóa học của vỏ trấu, với nano silicat và công thức để phân tách các hạt Nano SiO2 này tạo thành nguyên liệu trung gian colloidal thì cả hội trường vỗ tay không dứt, tiếp đó, nhà khoa học làm kinh doanh này đã khiến không ít người ngạc nhiên khi bà giới thiệu sơn nano từ vỏ trấu có chức năng chống khuẩn, chống cháy, đặc biệt là cả chống đạn.    Không phải cơ duyên, là chuyện của khoa học  Chuyện công ty sơn Kova của Việt Nam chế tạo thành công sơn nano từ vỏ trấu đã râm ran khắp nơi trong ngành sơn và chế tạo vật liệu trung gian trong nước và quốc tế từ cả tháng nay ngay từ khi thư mời tham dự hội thảo “Sơn nano composite từ vỏ trấu” được phát đi. Nhưng ít ai biết câu chuyện bắt đầu từ khi phải ngủ ở sân bay xứ Mỹ khi đi dự hội thảo khoa học, và là một hành trình rất dài miệt mài trong phòng thí nghiệm từ 6 giờ sáng đến tối khuya ở công ty Kova. “Không có chuyện cơ duyên nhặt được vỏ trấu đâu, chúng tôi phải đối diện với một bài toán kinh tế và một khát vọng khoa học: làm thế nào tìm ra nguyên vật liệu để sản xuất được sơn nano thay thế cho Tetra Ethoxy Silane phải nhập ngoại quá tốn kém hiện nay. Đi tìm kiếm, thử nghiệm rất nhiều giải pháp khác nhau ròng rã nhiều năm trời, tiêu tốn vài chục tỷ đồng nhưng niềm tin thì không đổi. Chỉ cần chúng tôi nghiên cứu ra một vật liệu nào đó có sẵn tại Việt Nam, mà phải có rất nhiều để sản xuất, mà không bị phụ thuộc vào việc nhập ngoại, không phải lo nghĩ tới đô la và có thể hình dung được việc xuất khẩu… Cuối cùng thành quả là vỏ trấu…” – bà Hòe chia sẻ.   Trước một cử tọa gồm hơn 250 người là các nhà khoa học bạn hữu, các đơn vị kinh doanh sơn và các chế phẩm từ sơn toàn cầu, người phụ nữ từng nhận giải thưởng khoa học quốc tế này vui vẻ “khoe”: “Hằng năm, người nông dân sản xuất ra nhiều lúa gạo, bên cạnh sản phẩm chính là gạo, thì một lượng lớn vỏ trấu thải ra chỉ sử dụng để đốt, làm phân bón… giá trị rất thấp. Sản phẩm Nano Silicate tách ra từ vỏ trấu có thể dùng để tổng hợp ra Colloidal – là một binder (chất trung gian) có giá trị vô cùng lớn và dùng được cho rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Chúng tôi làm sơn nên tính toán lại quy trình sản xuất một chút, điều chỉnh đầu vào của sản phẩm thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài thì sử dụng nguyên liệu đã tách ra từ vỏ trấu. Điều khó khăn nhất trong toàn bộ dự án này, là làm thế nào để tỉ lệ nguyên liệu làm sơn sử dụng đến 50% là chiết xuất từ vỏ trấu. Cuối cùng hôm nay tôi rất mừng là chúng tôi đã thành công”.  Và người chế tạo sơn chống… đạn  Thế nhưng, chuyện vỏ trấu làm thành sơn chỉ mới là phần đầu của những chuyện độc đáo mà phòng thí nghiệm của công ty này có thể tạo ra. Khi bà Hòe giới thiệu việc đã hoàn chỉnh quá trình thương mại hóa của dòng sơn chống đạn thì mới làm mọi người bất ngờ. “Chuyện cũng lâu rồi, đó là lần tôi đi công tác ở Mỹ, được vào tham quan cơ quan NASA. Sau khi nghe giới thiệu về sản phẩm sơn của Kova, người hướng dẫn đoàn chỉ tay vào chiếc tên lửa hiện đại của Mỹ và hỏi: “Bà có làm được loại sơn dùng để sơn tên lửa mà đạn bắn không thủng không?”. Lúc đó, bà Hòe nhớ lại: “Tôi bảo rằng chưa được. Trong lòng thấy cũng hơi mắc cỡ một chút. Nhưng lại nói thêm: Chưa được nhưng không phải là không được”.          “Tôi, cũng như rất đông người dân Việt Nam đều có gốc nhà nông. Vì vậy tôi hiểu rằng cái vỏ trấu nó nhiều như thế nào, và cũng đang bị lãng phí ra làm sao. Vậy nên, tôi tin rằng những kiến thức cùng với khát vọng của mình có thể làm được gì đó từ mớ phụ phẩm nông nghiệp, vốn chiếm đến hơn 20% thành phần của một hạt lúa…”        Chuyện cứ tưởng là thôi ở đó. Vậy mà sự đam mê thử thách của một nhà khoa học, cộng với  quyết tâm của một người luôn tự hào về sản phẩm của Việt Nam không cho phép bà ngồi yên. Suốt 10 năm qua, bà lúc nào cũng lui tới với dự án nghiên cứu sản phẩm sơn chống đạn. Các cộng sự của Kova thì lại tỏ ra vô cùng thích thú với đề bài này. Và sau một thập kỷ, họ trình làng lời giải, lại có chút vượt mong đợi khi trong công thức tạo ra loại sơn chống đạn này có cả vỏ trấu, với những tính năng vượt trội so với áo chống đạn của nước ngoài.  Thông thường áo giáp cần sử dụng từ 20 – 40 lớp vải Kevlar, điều này khiến áo rất dày và nặng, chi phí làm áo cũng rất cao. Nếu sử dụng sơn chống đạn Kova để sơn lên các lớp vải này thì có thể giúp làm giảm số lớp Kevlar xuống chỉ còn từ 4 – 6 lớp, sức mạnh chống đạn của áo không đổi nhưng trọng lượng của áo đã được giảm đi khoảng 60-70%.    Đi tìm giải pháp cho cuộc sống  “Nhiều lúc tôi cũng như người bị nghiện. Nhìn đâu cũng thấy việc mình phải làm. Như mấy hôm nay, đọc báo thấy gần đây các vụ cháy nổ nhiều quá, tôi thấy mình phải làm sơn chống cháy để bảo vệ dân mình…” – bà Hòe cho hay. Giải pháp chống cháy của Kova vẫn bám sát hai cột trụ mà họ đang theo đuổi: nano và vỏ trấu.   Công thức tưởng chừng khá đơn giản: với nhà cao tầng sử dụng sắt thép trong bộ khung nhà, nếu xảy ra cháy lớn thì các cột thép sẽ mềm ra và nhà bị sập, vì vậy việc chống cháy cho sắt thép là rất quan trọng, từ nhà cửa, bệnh viện cho đến trường học, nhà máy, siêu thị… đều cần quan tâm điều này. Nghe qua thì thấy vậy, nhưng làm thế nào để kéo dài thời gian chậm cháy thì lại là một câu chuyện công nghệ khá dài: cơ chế chống cháy của nano (các hạt siêu nhỏ) và cơ chế chống cháy phồng (tạo ra một lớp bọt phồng bao quanh bên ngoài) làm cho quá trình chống cháy dài hơn và ngăn cản khói bụi gây ngạt thở – vốn là tác nhân chủ yếu gây ra tử vong trong các vụ cháy.  Người cựu giảng viên trường đại học Bách Khoa TP.HCM này đã trình bày các chuỗi phản ứng hóa học mà bà theo đuổi khi nghiên cứu về loại sơn chống cháy này: “Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã sử dụng sự kết hợp tính năng chống cháy phồng và vật liệu nano Silicat từ colloidal vỏ trấu, bao gồm sự kết hợp các amoni polyphrosphate là một muối vô cơ của acid polyphrosphoric và amoniac có chứa một chuỗi poly có phân nhánh, công thức hóa học (NH4PO3)n mang polymer với n<100. Các polyphrosphate có thể hoạt động như một chất chống cháy kết hợp với nền binder silicat nano và các binder polimer hữu cơ…”. Một chuỗi sơ đồ, hình ảnh thực nghiệm, công thức hóa học, so sánh tiêu chuẩn… được đưa ra. Các nhà khoa học thì gật gù tán thưởng, các nhà kinh doanh có hơi lúng túng nhưng nhiều người tỏ ra hứng thú với những gì được nghe, bởi họ hiểu rằng, phía sau một sản phẩm, là cả một luận chứng khoa học nghiêm túc, dày dặn và đầy đủ.   Chinh phục một thị trường mới  Thật ra, chuyện một nhà khoa học hay một công trình khoa học của Việt Nam thắng giải ở các cuộc thi quốc tế không phải là hiếm. Chuyện khó hơn là làm thế nào để đưa những nghiên cứu này vào thực tiễn một cách hiệu quả để tạo ra những sản phẩm của Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng ngoại tại thị trường trong nước cũng như các thị trường quốc tế mới là bài toán nan giải. Cũng nhiều người hoài nghi khi bà Hòe một mình mang sơn Kova đi đấu thầu các công trình lớn ở Singapore, Malaysia hay Indonesia để “chiến đấu” với các nhà thầu quốc tế.           Tập đoàn Sơn  Kova hiện có 13 công ty thành viên và bảy nhà máy đặt tại năm quốc gia  Singapore, Lào, Myanmar, Việt Nam và Campuchia.              Thế mạnh Sơn Kova có thế mạnh ở các dòng sản phẩm sơn phủ trang trí  chống thấm, sơn Epoxy hệ nước và mới đây là dòng sơn nano từ vỏ trấu…         “Cũng không phải lần nào mình cũng thắng, nhưng mà mình bền bỉ, và quan trọng hơn là Kova hiểu vùng nhiệt đới gió mùa của vùng Đông Nam Á hơn nên đó chính là một lợi thế cạnh tranh. Việc tham khảo một công trình của nước ngoài, thật ra không khác gì lắm so với việc tôi phơi những vật đã sơn bằng sản phẩm của mình trên sân thượng căn nhà ngoài Hà Nội để xem những suy nghĩ của mình trong phòng thí nghiệm phải đối diện với mưa, gió, vi khuẩn và nấm mốc ra sao… Công trình xây dựng cũng thế, mình có hiểu nó, có chạm vào nó, thì mới biết đâu là giải pháp phù hợp nhất với nó chứ…”. Và chính suy nghĩ này của bà đã dắt Kova đi vào các công trình ngày càng lớn: cả một hệ thống đại siêu thị Vivo City, cả một chuỗi khách sạn 5 sao, hay chỉ là những chi tiết rất nhỏ mà bà bị “mê” như phòng hút thuốc có loại sơn khử mùi, phòng ăn cho học sinh có loại sơn kháng khuẩn…    “So với các hãng sơn lớn trong nước thì Kova hiện tại có một điểm yếu là quảng báo sản phẩm không bằng. Điều này đã giúp giảm chi phí marketing vào giá thành sản phẩm.   Tuy nhiên khi so với sản phẩm có chất lượng tương đương trên thị trường thì chúng tôi là sản phẩm có giá thành thuộc dạng cao, nguyên nhân chính của việc này là do đa số các nguyên liệu nhập xuất phát từ các nước Mỹ, châu Âu. Nhưng giờ đây với vỏ trấu, chúng ta có thể cạnh tranh mạnh mẽ hơn…”- bà Hòe bày tỏ.          Phân tách và chiết xuất Colloidal từ vỏ trấu    Trong hơn 250 khách tham dự hội thảo khoa học “Sơn nano composite từ vỏ trấu” do tập đoàn Kova tổ chức, có vị khách đến từ tập đoàn Grace Davision của Mỹ. Đó là tập đoàn sản xuất chất Colloidal hàng đầu thế giới với công nghệ điều chế đi từ một loại hóa chất là tetraEthoxySilane.               Điều khiến Grace Davision quan tâm tới công nghệ sản xuất Colloidal của Kova không chỉ vì nó được làm từ vỏ trấu, mà còn vì quy trình sản xuất đơn giản nên có giá thành rất thấp, chỉ bằng một phần ba công nghệ sản xuất chất colloidal của tập đoàn.               Theo giải thích của bà Nguyễn Thị Hòe, Colloidal là sự phân tán của các hạt nano SiO2 (Nano Silicat) trong chất lỏng. Các hạt có kích thước 5-120 nanomet, dày đặc, không xốp. Colloidal được coi như chất kết dính (binder) dùng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất chất phủ (sơn), phụ gia cho thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm…              Trong lĩnh vực chất phủ, Colloidal là chất kết dính, bóng, bền với ánh sáng và tia cực tím, chống thấm nước, hấp thụ mùi hôi, chống cháy, chống nóng và có độ cứng gần bằng Epoxy. Đây cũng là nguyên liệu chính trong ngành công nghiệp sản xuất sơn nano. Tùy thuộc vào cấp chất lượng, Colloidal chiếm tỷ trọng từ 2-50% trong thành phần của sơn nano.              Sau nhiều năm nghiên cứu với chi phí hơn một triệu đô la Mỹ, tập đoàn Kova đã phát triển thành công quy trình công nghệ sản xuất Colloidal từ vỏ trấu. Trong thành phần hóa học của vỏ trấu, SiO2 chiếm tới 9,5-10% khối lượng, cứ 10 kg vỏ trấu sản xuất được 1 kg Colloidal. Hiện nay giá Colloidal trên thị trường thế giới từ khoảng 10 đô la Mỹ cho tới vài chục đô la Mỹ cho mỗi kg, tùy thuộc nồng độ.               Khi chưa sản xuất được nguyên liệu này, sản xuất sơn nano của Kova phải nhập hầu như toàn bộ Colloidal hoặc nguyên liệu để điều chế Colloidal. Vì vậy, có thể nói khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu này của Kova là rất lớn.tranh.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Tự xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh      Nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Hiếu được tôn vinh tại Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay là một công trình có ý nghĩa khoa học rộng và đóng góp lớn về phương pháp, được quốc tế đánh giá rất cao với hơn 70 trích dẫn. Đây là một trong những thành quả ý nghĩa của một nhà khoa học với quyết tâm chứng minh năng lực của mình khi miệt mài từ con số không, tự tay xây dựng nên một nhóm nghiên cứu mạnh.        GS.TS Nguyễn Văn Hiếu  Chính xác thì đến nay công trình chế tạo cấu trúc nano rẽ nhánh SnO2/ZnO trên cơ sở dây nano SnO­­­2 (lõi) và thanh nano ZnO (nhánh) nhằm tăng cường tính chất nhạy khí với hơi cồn (“Design of SnO2/ZnO hierarchical nanostructures for enhanced ethanol gas-sensing performance”) của GS.TS Nguyễn Văn Hiếu và nhóm nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí “Sensors and Actuators B”1 đã nhận được 72 lượt trích dẫn, hầu hết bởi các nhà nghiên cứu quốc tế. Lâu nay, các nghiên cứu đòi hỏi thực nghiệm được thực hiện hoàn toàn ở trong nước nhận được số lượt trích dẫn nhiều như vậy là chuyện rất hiếm, bởi đa phần giới khoa học nước ngoài chưa hiểu và tin vào điều kiện thực nghiệm khoa học ở Việt Nam. Cũng chính sự nghi ngờ của giới chuyên môn quốc tế đã khiến anh Hiếu càng quyết tâm khẳng định năng lực chuyên môn của mình và nhóm nghiên cứu.  Quyết tâm để quốc tế phải biết tới mình  Ngay ngày đầu về nước, từ năm 2004, anh luôn đặt mục tiêu thường xuyên có công bố quốc tế nhưng gặp khó khăn rất nhiều vì buộc phải thay đổi hướng nghiên cứu – điều kiện trong nước không cho phép triển khai nghiên cứu công nghệ mạch tích hợp điện tử, lĩnh vực anh đã quen thuộc khi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Twente, Hà Lan. Do vậy, anh chuyển sang là nghiên cứu về vật liệu có cấu trúc nano, tuy nhiên không đề xuất đề tài nhà nước nào của anh theo hướng mới này được duyệt. Toàn bộ các tài trợ nghiên cứu của anh vào thời điểm đó đều đến từ các quỹ nghiên cứu nước ngoài.  Phải bốn năm sau ngày trở về nước, năm 2007 anh mới có bài công bố trên tạp chí quốc tế. Nhưng việc gửi công bố quốc tế lúc này khác hoàn toàn so với thời điểm học tại Đại học Twente. Anh kể: “Trước đó, khi gửi bài viết và đề tác giả ở Đại học Twente thì các tạp chí quốc tế không “căn vặn” mình nhiều, còn khi ở Việt Nam gửi đi, họ không hề biết điều kiện thực nghiệm của mình ra sao nên phản biện rất gay gắt, thậm chí đầy định kiến. Nhiều khi mình cảm thấy bị xúc phạm”.  Nhưng các nghiên cứu khoa học chặt chẽ, đầy thuyết phục của anh và nhóm nghiên cứu đã dần khiến các tờ tạp chí chuyên ngành lớn phải thay đổi cái nhìn của họ. Từ năm 2008 đến nay, với 85 bài tạp chí quốc tế có ISI, anh và nhóm nghiên cứu của mình đã tạo được dấu ấn với giới chuyên môn quốc tế. Giờ đây, các bài viết gửi đi nhiều tạp chí chuyên ngành có uy tín đã không còn phải nhận những phản biện đầy định kiến như 10 năm trước đây. Các bài viết đều nhận được số lượt trích dẫn cao, theo số liệu trên Google Scholar, chỉ số H-index2 của anh Hiếu đạt được là 23, theo số liệu trên Scopus, chỉ số H-index của anh là 22.  Tự duy trì và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh  Khi mới trở về nước, đứng trước nhiều khó khăn nhưng anh Hiếu vẫn xác định mình cần xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh và có tính ổn định lâu dài. Đến nay, nhóm nghiên cứu thuộc Phòng Thí nghiệm nghiên cứu phát triển và ứng dụng cảm biến nano của anh đã có nguồn nhân lực chủ chốt là năm nhà khoa học giàu năng lực được đào tạo ở nước ngoài. Họ hướng dẫn các nghiên cứu sinh thực hiện đề tài nghiên cứu, và các nghiên cứu sinh này sẽ tiếp tục căn cứ vào hướng nghiên cứu của nhóm để hướng dẫn các học viên cao học, sinh viên đại học.  Khó khăn lớn nhất của nhóm ngay từ khi bắt đầu hình thành là việc tìm nguồn tài chính để duy trì các hoạt động nghiên cứu. Nếu không có kinh phí họ sẽ không thực hiện được các đề tài khoa học và bị cắt nhịp nghiên cứu mà họ đã có được từ thời gian làm nghiên cứu ở nước ngoài. Với tư cách trưởng nhóm nghiên cứu, anh Hiếu tìm mọi cách để xoay xở có nguồn tài chính từ tài trợ nước ngoài để duy trì hoạt động của nhóm, nhưng việc xin đề tài trong nước rất khó khăn. Anh chia sẻ, vào thời điểm 2007, vì quá khó khăn trong việc tìm đề tài trong nước nên đã đi làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở Hàn Quốc. Nhưng ngay sau khi rời Việt Nam sáu tháng, nhận thấy khả năng nhóm nghiên cứu sẽ bị tan rã, các thành viên khác không tìm được kinh phí cũng sẽ bỏ đi nước ngoài nên anh phải bỏ dở dự án nghiên cứu tại Hàn Quốc và về nước ngay lập tức. Anh và nhóm tiếp tục tìm kiếm nguồn tài trợ nước ngoài để duy trì hoạt động nghiên cứu khoa học chung. Cho tới năm 2010, nhóm mới nhận được đề tài khoa học cấp Nhà nước đầu tiên (và duy nhất cho đến hiện nay).  Kể từ khi có Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), nhóm nghiên cứu đã có kinh phí hoạt động thường xuyên nhờ vào các đề tài đăng ký với Quỹ. Anh Hiếu nói vui: “Nếu không có Quỹ Nafosted thì nhóm nghiên cứu của chúng tôi tan rã từ lâu rồi” bởi vì “các anh em không có đề tài nghiên cứu trong nước rồi sẽ bỏ đi nước ngoài hết”.  Tự xây dựng phòng thí nghiệm  Từ những ngày đầu trở về nước, anh Hiếu đã bắt tay vào xây dựng phòng thí nghiệm (Phòng Thí nghiệm nghiên cứu phát triển và ứng dụng cảm biến nano3) để mình và nhóm nghiên cứu có cơ sở thực nghiệm. Không tìm được nguồn kinh phí nào trong nước, anh phải đem gần như tất cả tiền công lao động từ các đề tài nghiên cứu làm với nước ngoài để mua thiết bị cho phòng thí nghiệm. “Hồi đó hầu như ngày nào tôi cũng có mặt ngoài chợ trời để tìm mua các linh kiện, thiết bị về xây dựng phòng thí nghiệm vì ở đó vừa rẻ vừa dễ kiếm”, anh Hiếu chia sẻ.  Các thành viên trong nhóm nghiên cứu của anh cũng luôn bỏ tiền công lao động của cá nhân mình trong các đề tài khoa học – trong đó hầu hết từ các đề tài Nafosted – để mua mới, sửa chữa thiết bị cho phòng thí nghiệm. Anh cũng chia sẻ, các đề tài của Nafosted có đủ kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học và mua nguyên liệu thí nghiệm nhưng không hề có khoản chi nào cho xây dựng và bảo dưỡng các phòng thí nghiệm, do vậy việc trích tiền công lao động của cá nhân để duy trì phòng thí nghiệm là cách duy nhất.  Khi được hỏi về việc chuyển giao kết quả nghiên cứu và hợp tác với các nhóm, phòng thí nghiệm của các doanh nghiệp, anh Hiếu cho biết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp luôn nằm trong suy nghĩ của nhóm, tuy nhiên, bản thân anh không mấy lạc quan. “Các doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ không mua các công nghệ này, vì Việt Nam ta có đặc thù rất riêng khi mà các doanh nghiệp cần duy trì nhiều mối quan hệ khác hơn là coi công nghệ như một yếu tố sống còn”.  Công trình này của GS.TS. Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự đã thiết kế và chế tạo cấu trúc nano rẽ nhánh SnO2/ZnO trên cơ sở dây nano SnO2 (lõi) và thanh nano ZnO (nhánh) nhằm tăng cường tính chất nhạy khí với hơi cồn, định hướng ứng dụng làm cảm biến kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở, trong công nghiệp, trong chẩn đoán bệnh qua phân tích hơi thở). Các dây nano SnO2 và thanh nano ZnO được chế tạo bằng phương pháp bốc bay nhiệt và phương pháp thủy nhiệt, là các phương pháp tương đối đơn giản nhưng cho phép nhận vật liệu có cấu trúc tinh thể, do vậy có độ ổn định tốt ngay cả khi làm việc ở nhiệt độ cao. Sự tăng cường độ nhạy khí của các cấu trúc nano rẽ nhánh được giải thích một cách hợp lý là do sự hình thành thêm các chuyển tiếp dị thể giữa dây nano SnO2 và thanh nano ZnO, ngoài sự tăng diện tích bề mặt riêng của vật liệu. Việc tạo thêm các chuyển tiếp dị thể giữa hai vật liệu bán dẫn làm cho vùng nghèo điện tử của dây nano SnO2 mở rộng (tương tự việc giảm đường kính dây) và các điện tử dẫn trong lớp vật liệu cần vượt qua các rào thế vi mô giữa SnO2 và ZnO. Đây là cách tiếp cận mới, hiệu quả, nhằm tăng cường tính nhạy khí của các cấu trúc nano một chiều, đơn giản hơn nhiều so với việc giảm đường kính dây bằng các phương pháp tổng hợp phức tạp. Dựa trên ý tưởng này, nhiều công trình công bố sau này của các tác giả khác trên thế giới đã phát triển các cấu trúc dị thể khác nhau để ứng dụng cho cảm biến khí. Ngoài ra, phương pháp mới chế tạo cấu trúc nano rẽ nhánh mà GS.TS Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự sử dụng khá đơn giản, dễ điều khiển, có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như linh kiện điện tử nano, xúc tác, pin năng lượng… GS.TS Nguyễn Đức Chiến – ĐH Bách Khoa Hà Nội  ———  1 Một tạp chí thuộc lĩnh vực Vật lý và Thiên văn học, được xuất bản bởi nhà xuất bản Elsevier của Hà Lan. Đây là một trong những tạp chí uy tín nhất trong lĩnh vực Vật lý, theo bảng xếp hạng của SCImago năm 2014, tạp chí “Sensors and Actuators B” xếp thứ 6 trên tổng số 89 tạp chí thuộc lĩnh vực: “Physics and Astronomy” và chuyên ngành hẹp “Instrumentation”. Mặc dù đứng thứ 6, nhưng tạp chí này lại có chỉ số H-index (127) cao hơn rất nhiều so với các tạp chí đứng đầu là Ultramicroscopy (H-index: 86), và tạp chí đứng thứ hai là Laser Physics Letters (H-index: 51).  2Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn để đo lường mức độ ảnh hưởng tích lũy của một nhà khoa học. Ví dụ, nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 có nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần.  3 Thuộc viện ITIMS, Đại học Bách khoa Hà Nội.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từ Y tế đến Wi-Fi: Ứng dụng Vật lý Thiên văn vào đời sống      Tưởng là xa xôi và hàn lâm thuần túy, nhưng vật lý thiên văn đã có những ứng dụng rất quan trọng, từ y tế đến an ninh hàng không, đóng một vai trò không thể thiếu trong đời sống thường ngày của chúng ta.      Trẻ em đang được hướng dẫn cách sử dụng kính thiên văn ở Ethiopia trong khuôn khổ sự kiện 100 giờ với thiên văn do Hiệp hội Thiên Văn Quốc Tế tổ chức năm 2019   Hình ảnh: Mekbeb Tamrat  Mối liên hệ của loài người với vũ trụ cùng với sự thần bí đến từ vũ trụ có lẽ là lý do mà những hình ảnh thiên văn lung linh trở nên rất phổ biến trong văn hóa ngày nay. Tuy nhiên không nhiều người biết rằng, vật lý thiên văn và các lĩnh vực có liên quan luôn đi đầu trong KH&CN; nó trả lời cho các câu hỏi cơ bản, tạo sức ép để các kỹ sư phát triển lên trình độ cao hơn và thúc đẩy cách tân.  Nhìn suốt lịch sử phát triển của vật lý thiên văn, từ những nền văn hóa sơ khai đầu tiên, các vì tinh tú đã gắn liền với tín ngưỡng của con người. Con người quan sát chuyển động của các ngôi sao trên bầu trời và từ đó đưa ra tiên tri về những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Thiên văn cũng được sử dụng để tính toán thời gian, xác định mùa màng, và trong ngành hàng hải nó giúp con người xác định phương hướng khi lênh đênh trên các đại dương.  Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của tri thức về thế giới, chúng ta nhận thấy rằng mối liên hệ giữa chính bản thân loài người và quan điểm của chúng ta về thế giới với vũ trụ thậm chí còn mật thiết hơn. Việc khám phá ra những nguyên tố cơ bản mà các nhà khoa học tìm thấy trong các ngôi sao, cùng với khí và bụi xung quanh sao cũng chính là những nguyên tố tạo nên cơ thể của chúng ta đã làm cho mối quan hệ giữa con người và vũ trụ càng trở nên thêm sâu sắc. Thiên văn cũng giúp chúng ta mở rộng nhãn quan và suy nghĩ về những điều vĩ đại hơn.  Y tế    Các ứng dụng của thiên văn vào Y tế khá rộng, từ việc cải tiến các kỹ thuật chẩn đoán đến việc nâng cao chất lượng xử lý hình ảnh y tế.  Một trong những chuyển giao công nghệ thiết yếu nhất giữa hai lĩnh vực này là kỹ thuật giao thoa thường được các nhà thiên văn sử dụng để thu hình ảnh có độ phân giải cao của bầu trời ở bước sóng vô tuyến. Kỹ thuật giao thoa chính là kỹ thuật mô phỏng hiệu ứng của một đĩa rất lớn bằng cách tổng hợp điện tử các tín hiệu từ nhiều kính thiên văn vô tuyến đơn đĩa nhỏ, và các kính nhỏ này được bố trí ở nhiều nơi có khoảng cách rất xa nhau. Kỹ thuật tổng hợp dữ liệu từ nhiều kính thiên văn để tạo ra một hình ảnh duy nhất được gọi là “tổng hợp khẩu độ”, được Martin Ryle, một nhà thiên văn vô tuyến từng đạt giải Nobel Vật lý phát triển. Một ứng dụng quan trọng của kỹ thuật này là phương pháp Cộng hưởng từ (MR) nhằm nâng cao độ chi tiết của hình ảnh và giảm thời gian soi quét trong các chẩn đoán y khoa. Chụp cộng hưởng từ (MRI) sử dụng các nam châm mạnh và các xung tần số vô tuyến để phân cực và kích thích các proton đơn lẻ trong phân tử nước trong mô người. Khi các xung bị tắt, các proton bị kích thích sẽ “thả lỏng ra” và phát ra sóng vô tuyến. Những sóng này được quan sát và ghi lại bởi thiết bị thu tần số vô tuyến trong máy MRI, sau đó sẽ được xử lý thành hình ảnh tương tự như hình ảnh giao thoa.  Thiết kế của kính thiên văn để đo được bức xạ phát ra từ một số hiện tượng năng lượng cao nhất trong vũ trụ đã được ứng dụng trong chẩn đoán hình ảnh y tế thông qua kỹ thuật chụp cắt lớp quanh trục bằng máy tính hay chụp cắt lớp trục (CAT scan).  Một ví dụ quan trọng khác về ứng dụng của nghiên cứu thiên văn vào Y tế là phát triển các phòng sạch. Việc chế tạo kính thiên văn không gian đòi hỏi một môi trường cực kỳ sạch để ngăn bụi và các hạt nhỏ có thể làm mờ hoặc cản trở gương hay dụng cụ trên kính viễn vọng. Các quy chuẩn khắt khe về phòng sạch, lọc không khí, trang phục trong phòng sạch và các kỹ thuật đã được phát triển để xây dựng phòng sạch trong thiên văn hiện nay cũng được sử dụng trong các bệnh viện và phòng thí nghiệm dược phẩm.    Việc chế tạo kính thiên văn không gian và các vệ tinh đã mang lại ảnh hưởng trong ngành y tế thông qua việc cải tiến tiêu chuẩn và phát triến các khu vực làm việc sạch (phòng sạch).  Hình ảnh: NASA/Dominic Hart  Biến đổi khí hậu   Công nghệ và phương pháp nghiên cứu được phát triển trong vật lý thiên văn cũng đã được sử dụng để phát triển các phương tiện có giá trị nhằm tìm hiểu hệ thống Trái đất và biến đổi khí hậu.  Thông qua việc nghiên cứu Kim tinh bằng cách sử dụng kỹ thuật thiên văn, các nhà nghiên cứu đã làm phong phú thêm hiểu biết về khí hậu của Trái đất. Với kích thước và thành phần tương tự Trái đất, Kim tinh cho ta một cơ hội quý giá để nghiên cứu một hệ thống khí hậu đang biến đổi giống với Trái đất có trong hệ mặt trời của chúng ta. Ngày nay, bầu khí quyển của Kim tinh dày hơn gấp 90 lần so với bầu khí quyển của Trái đất. Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân là do hành tinh này đã gặp phải hiện tượng hiệu ứng nhà kính mất kiểm soát xảy ra sau quá trình tăng nhiệt độ bề mặt và mức nước có trong khí quyển. Nhà khí hậu học James Hansen đã sử dụng các mô hình truyền xạ để tính toán truyền bức xạ điện từ xuyên qua bầu khí quyển của Kim tinh và sau đó cũng đã sử dụng rất hiệu quả những kỹ thuật này để mô hình hoá những hiệu ứng khí hậu của các khí vi lượng và aerosols (sol khí) ở trong bầu khí quyển của Trái đất.    Thời gian gần đây, sự phát triển của các kỹ thuật phân cực để nghiên cứu bầu khí quyển của các ngoại hành tinh đã dẫn đến việc sử dụng các dụng cụ SPEX (Máy phổ phân cực dùng để khám phá hành tinh) để nghiên cứu tác động của các hạt bụi trong bầu khí quyển Trái đất đối với khí hậu và sức khỏe của loài người. Sáng kiến này dẫn đến việc hình thành chiến dịch khoa học iSPEX với sự tham gia của nhiều người dân và các nhà khoa học nghiệp dư để đo mức độ ô nhiễm không khí. Công nghệ này cũng đang được thương mại hóa  để đo lường ô nhiễm không khí trên mặt đất và được điều chỉnh phù hợp hơn cho việc vận hành bệ phóng vệ tinh quan sát Trái đất.    Hình ảnh Trái đất được chụp vào năm 2014 từ Trạm Không gian Quốc tế bởi nhà du hành vũ trụ của cơ quan Vũ Trụ châu Âu, Alexander Gerst.  Hình ảnh: ESA/NASA  Kỹ thuật tính toán  Việc xử lý dữ liệu thiên văn đã hỗ trợ cho sự phát triển của các phương pháp tính toán, bao gồm điện toán lưới và điện toán phân tán, và các sáng kiến khoa học thiên văn lớn với sự tham gia của người dân.  Trong những thập kỷ gần đây, lượng dữ liệu được các nhà thiên văn thu thập đã tăng lên đáng kể. Các kính thiên văn và dự án không gian mới đều đã góp phần vào việc phát triển các công cụ và phương pháp mới để phân tích dữ liệu thu được. Các nhà khoa học cần số lượng lớn các nguồn tài nguyên tính toán để xử lý, từ đó dẫn đến sự phát triển điện toán lưới. Đây là phương pháp mà qua đó các máy tính phân bố ở khắp nơi được kết nối với nhau trên một mạng chung và là một phương pháp hiệu quả để chia sẻ và sử dụng khối lượng lớn các tài nguyên đã thu thập được. Các nhà thiên văn đang thu thập lượng số liệu rất lớn theo hàm số mũ, thường được gọi là kỷ nguyên của “dữ liệu lớn”, và nhờ vào đó mà cách thức làm khoa học đang được thay đổi.  Việc tìm kiếm trí thông minh ngoài trái đất của các nhà thiên văn vô tuyến cũng đã được hình thành trong khi xuất hiện điện toán lưới – cụ thể là khi tập hợp số lượng lớn máy móc được phân bố rải rác trên toàn thế giới cho việc tính toán của một lượng lớn nhân lực thông qua internet để giải quyết các bài toán khoa học phức tạp.  Trong lịch sử, có hai dự án điện toán phân tán đầu tiên đã được khởi động là dự án để giải quyết các vấn đề toán học (GIMPS, 1996) và mật mã (distributed.net, 1997). Dự án thứ ba (nổi tiếng nhất) là sáng kiến SETI@home được bắt đầu vào năm 1999. SETI – dự án Tìm kiếm Trí thông minh ngoài Trái đất (the Search for Extra-Terrestrial Intelligence)- mục đích để tìm kiếm dấu hiệu của các dạng sống thông minh khác thông qua việc truyền tín hiệu vô tuyến. SETI@home là dự án đầu tiên trong số nhiều dự án khoa học mới với sự tham gia của cả người dân mà đã có sự hợp tác và đóng góp cho các sáng kiến khoa học có giá trị theo những cách chưa từng có trước đây. Dự án này vẫn đang tiếp tục duy trì cho đến tận ngày hôm nay và đã khai thác được sự tham gia của hơn 1,7 triệu người dùng, tất cả đều đóng góp năng lực tính toán của họ cho SETI@home.    Trung tâm dữ liệu ở trụ sở chính của Đài Thiên văn phía Nam của châu Âu (ESO) đặt tại Garching, Munich, Đức. Đây là nơi lưu trữ và phân phối dữ liệu thu được từ các kính thiên văn của ESO.  Hình ảnh: ESO  Xác định thời gian   Vị trí tương đối của Trái đất và các ngôi sao trên bầu trời đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định thời gian, từ những loại lịch đầu tiên cho đến các dịch vụ định vị và định vị vệ tinh thời nay.  Theo chiều dài lịch sử, nhiều loại lịch đã được phát triển nhưng những loại lịch này chủ yếu là gắn liền với văn hóa hoặc đặc điểm của từng vùng. Khái niệm thời gian được hình thành thông qua quan sát chuyển động của Mặt trời, Mặt trăng, các ngôi sao và nhịp điệu của đêm và ngày. Khái niệm về một ngày được hình thành dựa trên chuyển động của Mặt trời, còn quan niệm về một tháng thì xuất phát từ những quan sát về sự thay đổi hình thái và vị trí của Mặt trăng. Khái niệm về một giờ có thể được bắt nguồn từ người Ai Cập, họ đã chia ngày thành 10 phần, với một phần thêm ở trước và sau với ý nghĩa là để cho mặt trời mọc và mặt trời lặn.  Ngày nay, việc xác định chính xác thời gian được thực hiện bằng đồng hồ nguyên tử có độ chính xác rất cao, trong đó tần số dao động của nguyên tử được sử dụng làm tiêu chuẩn để đo thời gian. Trên thế giới có khoảng vài trăm chiếc đồng hồ nguyên tử được đặt ở nhiều viện khác nhau. Thời gian của thế giới được xác định dựa trên Giờ nguyên tử quốc tế hiển thị trên những chiếc đồng hồ này.  Nhiệm vụ tổng hợp thời gian của tất cả các đồng hồ nguyên tử trên khắp thế giới do Văn phòng Cân đo Quốc Tế và Ban hệ thống tham chiếu quốc tế và tự quay Trái Đất đảm nhiệm. Ban này có trách nhiệm duy trì các đồng hồ nguyên tử hoạt động đồng bộ với chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời và sự tự quay quanh trục của Trái đất. Trong đó, sự tự quay và quay quanh Mặt trời của Trái đất, hay còn gọi là thời gian thiên văn, được đo rất chính xác bằng cách sử dụng các nguồn thiên văn vô tuyến xa và mạnh làm mốc, chẳng hạn như các chuẩn tinh hoặc các thiên hà vô tuyến.  Khả năng xác định thời gian chính xác thực sự rất cần thiết cho các vệ tinh của Hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Các vệ tinh này đều được trang bị đồng hồ nguyên tử chính xác đã được điều chỉnh theo thời gian thiên văn. Sự nhận biết chính xác về thời gian và vị trí của vệ tinh giúp cho việc sử dụng tín hiệu của chúng để xác định vị trí chính xác trên bề mặt Trái đất.    Các vệ tinh của hệ thống định vị toàn cầu (GPS) phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định chính xác thời gian. Mỗi vệ tinh đều được trang bị một đồng hồ nguyên tử đã được điều chỉnh theo thời gian thiên văn.  Hình ảnh: Căn cứ không quân ở Los Angeles.  Tạo ảnh   Một trong các ví dụ điển hình nhất về chuyển giao công nghệ giữa thiên văn học và công nghiệp là các tiến bộ trong công nghệ tạo ảnh và truyền thông.  Hiện nay, một loại phim chụp có tên Kodak Technical Pan đang được các nhà quang phổ y tế và công nghiệp, nhiếp ảnh gia công nghiệp và nghệ sĩ sử dụng rất rộng rãi. Tuy nhiên, mục đích ban đầu khi tạo ra loại phim này là để các nhà thiên văn có thể ghi lại những thay đổi trong cấu trúc bề mặt của Mặt trời.  Vào năm 2009, Willard S. Boyle và George E. Smith đã được trao giải thưởng Nobel Vật lý cho phát minh một thiết bị có thể được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp – cảm biến CCD (Charge Coupled Device, có nghĩa là “thiết bị tích điện kép”). Đây là loại cảm biến chụp ảnh được phát minh nhằm để phục vụ cho việc chụp ảnh thiên văn và được sử dụng lần đầu tiên trong thiên văn là vào năm 1976. Những cảm biến này nhanh chóng thay thế cho phim chụp không chỉ trong kính thiên văn, mà còn trong máy ảnh, webcam và điện thoại di động. Sự cải tiến và phổ biến của các bộ cảm biến CCD là do ảnh hưởng bởi việc sử dụng công nghệ CCD siêu nhạy trên kính thiên văn không gian Hubble của NASA. Ngày nay, tất cả các trạm quan sát thiên văn trên thế giới đều lựa chọn dùng công nghệ CCD, cho dù là các trạm trong không gian hay các trạm trên mặt đất, và dùng cho các quan sát từ bước sóng hồng ngoại đến tia X. Các bộ cảm biến cũng được sử dụng trong các kính thiên văn của các nhà thiên văn nghiệp dư, chính điều này đã làm cho các quan sát thiên văn từ bên trong thành phố trở nên khả thi hơn.  Cùng với sự cải tiến các kỹ thuật tạo ảnh, thiên văn còn góp phần vào việc phát triển nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau giúp cho việc xử lý hình ảnh trở nên dễ dàng hơn, ví dụ như ngôn ngữ lập trình IDL và IRAF. Những ngôn ngữ này cũng được sử dụng rộng rãi cho các ứng dụng trong y tế.  Ngoài ra, nhiều công cụ thiên văn khác cũng được ứng dụng ở trong lĩnh vực hàng không. Chẳng hạn như công nghệ được phát triển cho quan sát thiên văn bằng tia gamma ở tầm xa hiện giờ được sử dụng trong máy soi quét hành lý sân bay. Hoặc là máy sắc ký, một thiết bị được dùng để tách và phân tích các hợp chất, đã được cải tiến và nén gọn lại để sử dụng cho dự án chinh phục sao Hoả. Với sự điều chỉnh kích thước làm cho máy sắc ký trở nên nhỏ gọn và nhẹ hơn, nó đã được đưa vào ứng dụng để kiểm tra và phác hình ảnh những hành lý có chứa ma tuý và chất nổ.    Cảm biến CCD lần đầu tiên được sử dụng trong thiên văn và sau đó đã trở thành một bộ phận phổ biến của máy ảnh cá nhân và điện thoại di động.  Truyền thông   Trong lĩnh vực truyền thông, thiên văn vô tuyến đã cung cấp vô số công cụ, thiết bị và phương pháp xử lý dữ liệu rất hữu ích. Có rất nhiều công ty truyền thông thành công, lúc ban đầu được thành lập bởi các nhà thiên văn vô tuyến.  Kỷ nguyên của truyền thông vệ tinh bắt nguồn từ điện thoại nhưng sau đó đã nhanh chóng được mở rộng sang truyền hình, đài phát thanh và trao đổi dữ liệu. Có điều này phần lớn do sự phát triển và xây dựng các ăng ten parabol phản xạ có kích cỡ lớn mà các nhà thiên văn vô tuyến sử dụng để thu thập bức xạ vô tuyến từ các vật thể ở trong vũ trụ như Mặt trời, các hành tinh, dải Ngân hà và từ nhiều nguồn khác ngoài thiên hà. Với những tín hiệu thiên văn rất yếu thì đòi hỏi phải có các gương phản xạ kích cỡ lớn có đường kính từ 25 đến 75 mét, đồng thời nó phải được phát triển với sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà thiên văn vô tuyến và bên công nghiệp. Một số công ty trên thế giới đã tận dụng những kỹ thuật mới được tiếp nhận này để bước chân vào lĩnh vực trạm truyền thông vệ tinh đặt ở mặt đất. Tận dụng các cáp quang có công suất cao sẵn có, hiện nay người ta đang tân trang lại một số ăng-ten truyền thông cao 30 mét đã ngừng hoạt động để tạo thành Mạng lưới giao thoa có đường cơ sở rất dài ở châu Phi (AVLBIN). Tương tự, các nhà thiên văn vô tuyến cũng là những người tiên phong trong việc phát triển hệ thống thu vi sóng có độ nhạy cao, chẳng hạn như bộ khuếch đại tham số, từ đó dẫn đến sự hình thành nhiều công ty mới để đáp ứng nhu cầu của truyền thông vệ tinh. Đến ngày nay, quá trình này vẫn đang tiếp tục với việc phát triển các thiết bị để phát hiện và khuếch đại các tín hiệu có bước sóng hồng ngoại và dưới một milimet, từ đó mang lại nhiều ứng dụng thương mại, chẳng hạn như các trạm kiểm soát an ninh trong sân bay và các ứng dụng dùng để tránh va chạm xe cộ.    Các angten của mạng Atacama Large Millimeter/submillimeter Array (ALMA). ALMA là một mạng giao thoa thiên văn gồm có 66 kính thiên văn vô tuyến đặt tại sa mạc Atacama, phía bắc của Chile.  Hình ảnh: ESO/B. Tafreshi (twanight.org)   Wifi    Trong số nhiều công cụ, thiết bị và phương pháp xử lý dữ liệu được triển khai và phát triển bắt nguồn từ lĩnh vực thiên văn vô tuyến, chúng ta cũng nên ghi nhận sự đóng góp  của lĩnh vực này trong việc phát minh ra Wi-Fi.  Với việc sử dụng các kỹ thuật để phân tích phát xạ vô tuyến từ các lỗ đen, một nhóm các nhà khoa học thuộc Tổ chức khoa học và nghiên cứu công nghiệp liên bang Úc (CSIRO) đã phát triển một kỹ thuật mới để truyền thông tin không dây. Họ đã phát triển một mạch vi xử lý cho phép sóng vô tuyến được sử dụng trong các môi trường phức tạp nơi mà sự phản xạ của tín hiệu ra khỏi nhiều bề mặt có thể gây nhầm lẫn cho việc truyền đạt thông tin. Các bằng sáng chế được cấp cho các nhà phát minh đã mở đường cho nhiều công ty trên toàn thế giới bắt đầu sử dụng Wi-Fi để trao đổi thông tin giữa các mạng và thiết bị di động. Cuộc sống hiện đại phụ thuộc rất lớn vào dòng chảy của dữ liệu và khoa học – bao gồm cả thiên văn vô tuyến – sẽ tiếp tục cho ra đời các công nghệ mang lại lợi ích cho toàn nhân loại.    Kỹ thuật thiên văn dùng để tổng hợp dữ liệu từ nhiều kính thiên văn nhằm tạo ra một hình ảnh duy nhất, được gọi là “tổng hợp khẩu độ”. Kỹ thuật này đã được áp dụng cho cộng hưởng từ (MR) để tăng các chi tiết hình ảnh và làm giảm thời gian soi, quét trong chuẩn đoán y tế.   ​TS Hoàng Chí Thiêm và cộng sự dịch  Nguồn: https://www.iau.org/static/archives/announcements/pdf/ann19022a.pdf.     Author                Quản trị        
0.17708333333333334
__label__tiasang Từ ý tưởng đến kinh doanh công nghệ: SINH TỒN TRONG “BIỂN DARWIN”      Tại phiên giao dịch ý tưởng Việt Nam lần thứ 2 do Công ty Vietbook tổ chức tại TP.Hồ Chí Minh ngày 3/12/2006, trong số 8 ý tưởng công nghệ (còn được gọi là sáng kiến khoa học) được chào bán, ý tưởng của tác giả Lê Hoài Việt về hệ thống làm mát ô tô trong 1 giây được bán với giá 15 triệu đồng. Hệ thống này sử dụng cho nhiều loại ô tô, có thể tích hợp vào máy lạnh hoặc cầm tay. Ngoài ra, nó còn có tác dụng chữa cháy và vệ sinh không khí. Đây là tin đáng mừng đối với KH&amp;CN nước nhà. Nhưng hãy khoan bàn đến khía cạnh hiệu quả của việc này là ở đâu và bao nhiêu, chỉ xin thử phân tích, làm rõ thêm các mối quan hệ và lý giải quá trình chuyển hóa từ tư duy sáng tạo ý tưởng công nghệ sang ý tưởng kinh doanh đổi mới sản phẩm và thương mại hóa chiếm lĩnh thương trường.    Chu trình đổi mới công nghệ – các giai đoạn phát triển  Trong thuật ngữ quản lý kinh tế, nhiều nước trên thế giới gọi quá trình trong đó, sáng chế (ý tưởng KH&CN có tiềm năng mang lại giá trị thương mại) chuyển biến thành ý tưởng kinh doanh để tạo ra sản phẩm mới và xâm nhập thị trường thành công là quá trình đổi mới công nghệ.  Để có thể hiểu rõ các mối quan hệ trong quá trình đổi mới công nghệ, chúng ta hãy cùng nhau xem xét các giai đoạn cụ thể thông qua mô hình quá trình đổi mới. Mô hình được đưa ra xem xét là mô hình do Giáo sư kinh tế Đại học Harvard Lewis Branscomb trình bày trong công trình nghiên cứu “Between invention to innovation” theo đặt hàng của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia (NIST) và Cục Công nghệ (TA) thuộc Bộ Thương Mại Mỹ (DOC) được công bố tháng 12/2002  Mô hình (xem hình 1) gồm 5 giai đoạn (đã giản lược) xác định sự chuyển đổi tuần tự từ ý tưởng công nghệ đến sản xuất và chiếm lĩnh thị trường của quá trình đổi mới công nghệ.           Hình 1. Mô hình quá trình đổi mới công nghệ, Lewis Branscomb, Đại học Harvard.        Ở đây, giai đoạn 3 là giai đoạn quan trọng nhất trong chu trình chuyển hóa ý tưởng công nghệ. Đây là giai đoạn công nghệ được chuyển đổi sang hình thức có khả năng ứng dụng trong sản xuất công nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất được định hình để từ đó có thể ước tính chi phí sản xuất, và căn cứ vào đặc tính kỹ thuật của sản phẩm đã có thể nhận dạng đối tượng tiêu thụ và quy mô thị trường.  Trong chu trình nói trên, 2/5 giai đoạn đầu thuộc miền hoạt động thuần tuý của các tổ chức nghiên cứu. Còn các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm các cơ hội tạo ra lợi nhuận đủ cao để vượt qua các rủi ro trong kinh doanh dường như chỉ quan tâm một cách nghiêm chỉnh đến các kết quả đổi mới khi đã ở giai đoạn 5. Trong một số trường hợp, họ có thể liều đầu tư vào giai đoạn 4 để tạo ra các dây chuyền sản xuất thử.  Công đoạn đổi mới đặc thù chính là giai đoạn 3, hình thành các công nghệ sơ khai trong phòng thí nghiệm để chứng minh ý tưởng kinh doanh và nhận dạng thị trường tương lai. Giai đoạn này thường gặp phải khó khăn về đầu tư mà giới kinh tế gọi là khoảng trống đầu tư (capital gap).  Khoảng trống đầu tư là giai đoạn mà các nhà nghiên cứu sau khi đã thành công trong việc khẳng định ý tưởng công nghệ, tạo ra mẫu nguyên lý thường gặp phải. Khoảng trống đầu tư này hàm ý sự thiếu liên kết giữa ý tưởng công nghệ của nhà nghiên cứu với ý tưởng kinh doanh kiếm lời của nhà đầu tư hơn là sự thiếu nguồn vốn. Khoảng trống đầu tư này được nhà khoa học Mỹ Vern Ehler gọi là “thung lũng chết” (Valley of death- để mô phỏng một cách hình tượng địa điểm được gọi là thung lũng chết -Death Valley – ở bang Nevada) và tự vẽ minh họa như hình vẽ 2.           Hình 2. Thung lũng chết và khoảng trống đầu tư, Vern Ehler        Đặt tên khoảng trống đầu tư là “thung lũng chết”, người ta muốn minh họa khái niệm một lãnh địa trống vắng, không có sự sẵn sàng đầu tư từ doanh nghiệp và các nhà đầu tư khác. Sau này, Lewis Branscomb đưa ra một khái niệm mới hơn đó là “biển Darwin” (hình 3).  Với tên gọi đó, Giáo sư Lewis Branscomb muốn mô tả quá trình chọn lọc tự nhiên và quy luật sinh tồn trong đấu tranh giữa tồn tại và suy vong của các ý tưởng công nghệ và kinh doanh. Trong biển chọn lọc tự nhiên đó, có sự đấu tranh của cả cá lớn và cá bé, một ý tưởng nào đó muốn tồn tại phải hội đủ các tố chất như: sức sáng tạo; sự linh hoạt, nhanh nhạy và tính kiên định dẻo dai.            Hình 3. Biển Darwin và đấu tranh sinh tồn, Lewis Branscomb        5 thách thức  Câu nói nổi tiếng của Đác uyn “ không phải loài mạnh nhất, cũng không phải loài thông minh nhất có thể tồn tại, chỉ có loài biết thích nghi nhất sẽ tồn tại và phát triển” rất có ý nghĩa trong chu trình đổi mới công nghệ từ giai đoạn hình thành ý tưởng đến khi thành công trên thị trường.  Lý giải quá trình chọn lọc tự nhiên trong chu trình đổi mới công nghệ, Lewis Branscomb đã phát hiện và chỉ ra 5 thách thức cơ bản mang tính khách quan của biển Darwin.  Thứ nhất, khác biệt về động cơ nghiên cứu đổi mới công nghệ  Ban đầu, khi trong giai đoạn nghiên cứu đề xuất ý tưởng công nghệ, nhà nghiên cứu thường hài lòng với việc đưa ra được minh chứng về lý thuyết và kết thúc giai đoạn đam mê nghiên cứu khi đã tạo xong mẫu nguyên lý cho sản phẩm của ý tưởng công nghệ.  Thực tế thường cho thấy, chỉ một số ít nhà khoa học hay cơ quan tài trợ nghiên cứu có đủ khả năng khuyến khích hay tạo ra động lực để thực hiện đến cùng quá trình chuyển đổi kết quả nghiên cứu đến thực tiễn sản xuất sản phẩm cuối cùng.  Thứ hai, khác biệt về tính chất công việc giữa nhà nghiên cứu và nhà doanh nghiệp hay nhà đầu tư  Ở hai bên bờ biển Darwin là 2 mẫu tính cách hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt này được tạo bởi sự khác nhau về quá trình học tập đào tạo và đam mê ban đầu.  Nhà nghiên cứu công nghệ nhận biết rất rõ đâu là tính mới trong khoa học, vấn đề nào có hàm lượng công nghệ cao, vấn đề nào khả thi về công nghệ.  Nhà đầu tư/ nhà doanh nghiệp lại hiểu rất rõ về cách thức đưa ý tưởng kinh doanh sản phẩm vào thương trường. Họ cũng nhận thức rõ ràng là để đảm bảo thành công trong kinh doanh, không thể thiếu được ý tưởng công nghệ. Do vây, đối với họ, công nghệ và sản phẩm chủ yếu là phương tiện để đạt mục tiêu kinh doanh.  Như vậy, một khi chưa đủ tin tưởng lẫn nhau hay nếu chưa thể trao đổi một cách thẳng thắn để đi đến kết quả tích cực và sự đồng thuận cần có thì biển Darwin sẽ trở lên sâu thẳm hơn và nguy hiểm hơn cho việc chuyển hoá ý tưởng đổi mới công nghệ.  Thứ ba, khác biệt về nguồn đầu tư tài chính  Tài trợ cho việc nghiên cứu tạo ra ý tưởng và trình diễn mẫu nguyên tắc thường từ nhà nước, hoặc từ ngân sách nghiên cứu của các công ty. Hiếm hơn là tài trợ từ tài sản cá nhân. Cũng có thể tìm được khoản tài trợ từ vốn đầu tư để biến ý tưởng thành mẫu sản xuất sản phẩm thương mại đối với trường hợp phương án kinh doanh được phê chuẩn. Ngay tại nước Mỹ, trong tổng số 266 tỷ USD đầu tư cho nghiên cứu phát triển của năm 1998 (từ các nguồn vốn khác nhau của nhà nước, của doanh nghiệp,…), Lewis Branscomb ước tính chỉ có không đầy 14% tổng kinh phí nói trên là đầu tư cho giai đoạn 3.  Ông Trần Phương Bình, Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á (EAB) cũng thể hiện quan điểm không bao giờ tài trợ tín dụng cho ý tưởng không được thể hiện thành dự án. Ông khẳng định, chỉ có thể hiện được thành dự án, các ý tưởng gia mới mong thuyết phục được nhà đầu tư “để mắt” nhằm biến ý tưởng của mình thành hiện thực.  Thứ tư, không đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc đưa ý tưởng công nghệ mới đến thị trường.  Một thách thức tiếp theo mà quá trình đổi mới công nghệ phải đối mặt là vấn đề thiếu thốn cơ sở hạ tầng cần thiết cho đổi mới công nghệ. Cơ sở hạ tầng ở đây không chỉ là hệ thống hạ tầng có quy mô công nghiệp để sản xuất ra sản phẩm đem bán ở thị trường mà còn là hạ tầng nghiên cứu và hạ tầng phụ trợ khác để đưa sản phẩm đổi mới ra thị trường một cách ổn định như: hệ thống cung cấp vật liệu mới, các loại hình phân phối, dịch vụ bảo trì sản phẩm, dịch vụ đào tạo cách thức sử dụng sản phẩm mới,…  Ví dụ điển hình về việc áp dụng công nghệ chuyển đổi động cơ chạy xăng sang chạy khí hoá lỏng cho ô tô và xe máy ở Việt Nam. Sự phổ cập của công nghệ chuyển đổi nhiên liệu chỉ có ý nghĩa và có thể tồn tại và phát triển khi nó mang lại lợi ích chung cho xã hội (nhà nghiên cứu, nhà đầu tư, người tiêu dùng) và sự có mặt của hệ thống phân phối khí ga thuận tiện cho người tiêu dùng là tiền đề quan trọng.  Thứ năm, khả năng nắm bắt hay tạo ra giá trị từ đổi mới công nghệ  Động lực đổi mới công nghệ không chỉ ở chỗ hỗ trợ để làm ra công nghệ tạo được giá trị mới mà còn phụ thuộc vào khả năng nắm bắt công nghệ đó cao hay thấp và công nghệ đó sẽ được sử dụng như thế nào. Ngay cả trong trường hợp khi công nghệ được trình diễn có thể tạo ra giá trị mới cho người sử dụng vẫn còn lơ lửng câu hỏi sau: liệu khả năng nắm bắt công nghệ để tạo ra giá trị của doanh nghiệp muốn ứng dụng và đổi mới công nghệ đến đâu. Yếu tố thứ năm này hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của nhà sáng tạo ra các ý tưởng công nghệ mới. Thực tế cũng chỉ ra rằng, có nhiều phát minh, sáng chế phải sau nhiều năm mới được ứng dụng và trở thành tài sản vật chất cho xã hội do năng lực nắm bắt giá trị của xã hội chưa đủ để ứng dụng ngay các ý tưởng sáng tạo đó.  Tóm lại, tính chất hỗn độn của biển Đác uyn không thể khắc phục bằng cách tạo dựng một cơ chế hay tổ chức hoàn chỉnh nào dù cho có đồng bộ hay toàn diện đến mấy. Tuy nhiên, nhận thức rõ là nó rất cần thiết vì qua đó có thể giúp chúng ta lựa chọn giữa các khả năng khác nhau một phương án thích hợp khi giải bài toán giảm rủi ro kỹ thuật và công nghệ, để nhận dạng thị trường khi nó chưa xuất hiện, để điều hoà và phối hợp nhân lực và tiền của từ các nguồn lực khác nhau cho đổi mới công nghệ.  Các chương trình nghiên cứu quốc gia do nhà nước nâng đỡ nếu được thiết kế có tính đến cả các yếu tố đẩy và kéo công nghệ sẽ là hình thức neo đậu an toàn cho phía bờ nghiên cứu để duy trì hiệu quả và đồng thời giành được sự tin tưởng, ủng hộ tinh thần của xã hội và giới đầu tư./.  *Giám đốc Trung tâm hỗ trợ đánh giá KH&CN, Bộ KH&CN  Tạ Doãn Trịnh*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Từng bước áp dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp      Mở đầu cuộc trao đổi với Tia Sáng, PGS.TS Trần Đức Viên – Hiệu trưởng trường ĐHNN I bảo nên coi đây chỉ là cuộc nói “chuyện phiếm”. Nhưng những điều ông nói thực sự là mối quan tâm, ưu tư trăn trở của một nhà quản lý, một nhà khoa học tâm huyết với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn.        Nhiều năm qua, các nhà quản lý và cả một số nhà khoa học nông nghiệp cho rằng: khoa học công nghệ (KHCN) đóng vai trò rất quan trọng vào sự phát triển nông nghiệp và nông thôn (NN&NT). Còn ông, căn cứ vào đâu mà tại cuộc Tọa đàm vừa qua ở Bộ KH&CN, lại cho rằng KH&CN đóng góp không đáng bao nhiêu?  Trong suốt mấy chục năm qua, kinh tế nông nghiệp phát triển phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố chính sách và thể chế chứ không phải là KH&CN. Ai cũng biết thời kỳ chống Mỹ các HTX đều thành lập các đội khoa học – kỹ thuật, làm bèo dâu, giống mới… nhưng năng suất đì đẹt, tăng không đáng là bao. Nhưng khi có Khoán 10, năng suất, sản lượng tăng vọt. Theo tôi, đúng là đội quân KHKT nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh sản lượng, lương thực, phát triển chăn nuôi, ứng dụng KHCN vào sản xuất, nhờ mạng lưới khuyến nông. Còn các nhà khoa học tạo ra được bao nhiêu giá trị cho kinh tế nông nghiệp thì cho đến nay chưa có ai điều tra, tìm hiểu cụ thể về nó. Có lẽ Bộ KH&CN nên có một đề tài khoa học cấp Nhà nước về vấn đề này.   Ông nói vậy nhưng người ta đã kể ra nhiều giống cây con chất lượng cao do chúng ta làm ra.  Có thể thấy các giống lúa mới do nước ta tạo ra, có tuổi thọ trên các cánh đồng kéo dài trên 5 năm không nhiều. Có lẽ chỉ có một giống lúa vô định, kéo dài 30-40 năm nay là giống Việt Nam 10 của ông Trần Lương Nguyện – nguyên Trưởng Bộ môn Di truyền và chọn giống của Trường ĐHNN I. Các giống có tuổi thọ cỡ 10 năm, thì có khoảng vài ba chục giống. Thường thường, các giống của Việt Nam tạo ra chỉ tồn tại trong sản xuất 3 – 5 năm, rồi người ta quên lãng nó đi. Còn đa số nông dân ĐBSH và ĐBSCL dùng giống có nguồn gốc từ Trung Quốc hay Viện Giống Quốc tế.   Như vậy, hiệu quả nghiên cứu – triển khai trong nông nghiệp còn thấp nhiều so với đầu tư và mong đợi của Nhà nước. Theo ông chủ yếu là do đâu?  Có lẽ phần lớn do chính sách và cách tổ chức. Tôi xin lấy một ví dụ: Hằng năm Nhà nước dành tới 2% vốn ngân sách (tương đương 400 triệu USD) cho nghiên cứu KHCN. Nhưng số tiền này bị phân tán, xé nhỏ, chia cho các Bộ, ban ngành, địa phương (thậm chí các hội như hội nuôi ong, hội làm vườn cũng có), dường như để không muốn mất lòng ai. Đúng ra, ngân sách đó phải tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ KHCN Quốc gia, ngành… do một Ủy ban Quốc gia về KHCN xét duyệt một cách nghiêm túc, vô tư từ các đề tài nghiên cứu của các viện, trường, nhà khoa học… đề xuất chứ không phải các hội đồng xét duyệt và nghiệm thu đề tài KH&CN ở các cấp hiện nay với nhiều bất cập mà trên diễn đàn Tia Sáng đã nói đến nhiều.   Việc phân kinh phí KH&CN như vậy còn tạo ra kẽ hở nảy sinh tiêu cực mà bất cứ nhà khoa học nào cũng có thể nhìn thấy. Chỉ có điều để yên thân, để có tiền phục vụ nghiên cứu khoa học cho đơn vị của họ, người ta không muốn hoặc buộc phải không nói ra. Thực tế, đã có những nhà khoa học không dám nhận đấu thầu đề tài nghiên cứu của địa phương, ngành không phải vì thiếu năng lực, mà chỉ vì ngại những câu chuyện “đáng xấu hổ” đằng sau đề tài.   Nhưng cách tuyển chọn đề tài một cách công khai (thường được gọi là đấu thầu) được không ít nhà khoa học đồng tình.  Cách đấu thầu đề tài hiện nay đúng là có góp phần chọn được người xứng đáng, hạn chế được tiêu cực, nhưng về lâu dài đó là kiểu khoa học ăn đong, trái với bản chất của nghiên cứu khoa học. Ví dụ trong nông nghiệp, muốn tạo được giống có năng suất cao, chống chịu bệnh bạc lá, có khả năng chịu rét…, các nhà khoa học phải giải quyết từng vấn đề cụ thể, để sau 5 năm, 10 năm thậm chí lâu hơn đất nước có một giống lúa tốt. Chỉ có như vậy mới hình thành được các trường phái khoa học.    Cũng cần phải nói thêm, để tạo trường phái khoa học thì một điều hết sức quan trọng là tạo ra các bộ môn mà ở đó duy trì một không khí học thuật có tính kế thừa giữa những thế hệ khoa học nối tiếp làm việc với nhau, chứ không phải tiền. Tôi rất nhớ câu nói nổi tiếng của Newton khi người ta hỏi ông tại sao ông trở thành người vĩ đại như vậy, thì ông nói “do tôi biết cách đứng trên vai những người khổng lồ”.   Trong dự thảo Luật Công nghệ cao chỉ đề cập đến nền công nghiệp CNC, không có nền nông nghiệp CNC. Ông có đồng tình với quan điểm này?  Có thể là do những người dự thảo Luật chưa đánh giá được đúng vai trò của kinh tế nông nghiệp  trong quá trình CNH và HĐH đất nước. Nếu chỉ nhìn những tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hóa… ứng dụng trong chăn nuôi gia súc, trồng rau an toàn… thì hết sức phiến diện vì những công nghệ đó không thể tạo ra các giống cây, con có năng suất cao, có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt, đề kháng tốt với bệnh tật… Bài học từ Đài Loan, Israel… đã chỉ rõ ràng họ có nền nông nghiệp công nghệ cao (NN CNC) danh giá không kém công nghiệp công nghệ cao (CN CNC).         Để các viện sống bằng đúng tiềm lực khoa học công nghệ của mình thì phải áp dụng Nghị định 115. Nhưng tại sao người nông dân đón nhận Khoán 10, tạo ra một sinh khí mới trong sản xuất nông nghiệp mà Nghị định 115, được người ta ví như Khoán 10, lại chẳng được những nhà khoa học hồ hởi đón nhận. Tại sao vậy? Những người làm quản lý nên xem xét lại Nghị định này có điều gì chưa phù hợp?                        Theo tôi Việt Nam muốn hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn thì phải từng bước ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Ví dụ: muốn có một cánh đồng cà chua 300-400tấn/ha/năm mà vẫn sử dụng kỹ thuật nông nghiệp truyền thống thì không thể có được.  Hiện nay trên thị trường, sản phẩm nông nghiệp nước ngoài tràn vào Việt Nam rất nhiều, trong khi đó sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam lại yếu; sản xuất nông nghiệp manh mún, đất lại bị suy thoái bởi sử dụng quá nhiều hóa chất, rừng lại bị tàn phá, dịch bệnh ngày càng nhiều, cần sử dụng CNC có một kỹ thuật thân thiện với môi trường và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên. Ngoài ra với thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay cứ tiếp tục diễn biến xấu thì chúng ta có thể mất tới 1/3 đất canh tác, nếu sử dụng công nghệ cao thì sẽ vẫn đủ đất sản xuất nông nghiệp. Chúng ta đã báo động nhiều về thực phẩm không an toàn. Nhưng nếu vẫn sản xuất như hiện nay, không áp dụng CNC thì khó có thực phẩm an toàn.  Tôi được biết NN CNC của nước ta đang được triển khai ở 9 địa phương bao gồm 20 khu nhưng chỉ có HasFarm ở Đà Lạt thành công còn hầu như đang bị thua lỗ. Theo ông vì sao?        ĐHNN I có một khu CNC sản xuất rau trong qui mô thí nghiệm. Nhiều lãnh đạo công ty, tổng công ty đã tìm đến ký với chúng tôi nhiều biên bản ghi nhớ trong các Techmart, nhưng đến nay chỉ duy nhất có một công ty ký hợp đồng để sản xuất rau (trong đó có rau mầm trên qui mô 3ha), với hy vọng sau vài ba năm người Hà Nội quen với các sản phẩm rau CNC rồi mới tính chuyện thuê tiếp đất ở Bắc Ninh mở rộng sản xuất.        Có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do hiện nay nhiều địa phương phát triển CNC trong nông nghiệp theo kiểu phong trào, và vẫn còn tư tưởng về sản xuất lớn, trong khi đó CNC trong nông nghiệp phải áp dụng cho sản xuất tập trung để sản xuất ra một sản lượng đủ lớn. Đặc biệt là thiếu quan tâm đến thị trường (nhất là thị trường xuất khẩu), giá cả lại quá đắt, thiếu sức cạnh tranh và quá sức chịu đựng của người có thu nhập bình thường do gần như 100% thiết bị là nhập ngoại (đáng ra ta có thể sản xuất được một phần). Nếu cứ dùng ngân sách Nhà nước tiếp tục làm như vậy, sẽ thua lỗ dài dài…  Vậy theo ông, chúng ta phải làm thế nào để phát triển  NN CNC?  Một yếu tố hết sức quan trọng để phát triển NN CNC là vốn lớn và thị trường. Trong bối cảnh kinh tế hộ nông dân hiện nay vẫn chỉ loay hoay miếng cơm manh áo, và thị trường chưa đủ lớn, theo tôi nền NN CNC của Việt Nam chỉ có thể từng bước phát triển được khi có các doanh nghiệp tiềm lực kinh tế mạnh vào cuộc với sự hỗ trợ của Nhà nước. Trước mắt chúng ta chỉ nên áp dụng những công nghệ đầu tư vốn ít, dùng nhiều công để tránh tạo ra thất nghiệp gây áp lực về mặt xã hội; địa điểm của các khu NN CNC nên ở các vùng ven đô, gần với thị trường tiêu thụ; các lĩnh vực áp dụng CNC tập trung vào hoa (HasFarm rất thành công, thu được 71 triệu USD); Rau an toàn; Cây ăn trái; Thủy sản (cá tằm, cá hồi, chế biến thức ăn…); chăn nuôi – thú y (sản xuất vắc-xin).  Chúng ta nên chọn nước nào có nền NN CNC phát triển để hợp tác?  Công nghệ mà hoàn hảo thì của Israel, nhưng giá thành quá đắt so với ta. Còn ở Trung Quốc có tới hàng ngàn khu trình diễn CNC, giá thành công nghệ, thiết bị không lớn vì làm bằng vật liệu sẵn có trong nước. Có lẽ chúng ta nên nhập CNC của Trung Quốc và Thái Lan đồng thời với việc tăng tỷ lệ nội địa hóa.   Trong khi cửa cho NN CNC phát triển còn rất hẹp, trước mắt nên tập trung nghiên cứu- triển khai lĩnh vực gì để phát triển NN&NT?  Hiện nay nạn đói và nhu cầu lương thực đang là vấn đề toàn cầu. Đa số người dân chấp nhận chất lượng lương thực vừa phải chứ họ chưa đòi hỏi lương thực chất lượng cao nên hướng đầu tư nghiên cứu triển khai sắp tới là các giống cây có năng suất cao, chất lượng chấp nhận được, có khả năng chống chịu: bạc lá trong vụ mùa, khô hạn, phèn mặn, rét…; còn trong gia súc, tạo ra vắc-xin phòng các loại dịch, nghiên cứu cơ bản nguyên nhân phát sinh ra các ổ bệnh, biện pháp phòng trừ các loại dịch hại trong NN (cả trồng trọt và chăn nuôi). Ngoài ra tập trung nghiên cứu phát triển thủy sản nội đồng, để tăng nguồn thu và cải thiện bữa ăn cho nông dân. Việc này không có ý nghĩa nhiều trong việc xuất khẩu nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc tích lũy vốn, đặc biệt là ở ĐBSH. Việt Nam cũng cần phát triển mạnh nghiên cứu về rau, hoa, cây cảnh. Gạo có giá trị rất lớn trong việc an sinh xã hội nhưng hoa mang lại giá trị thặng dư cao hơn rất nhiều, khi so sánh thu nhập trên đơn vị diện tích, trên đồng vốn đầu tư.   Những biến đổi lớn trong đời sống xã hội ở nông thôn cũng là vấn đề mà theo tôi, chúng ta cần đặc biệt quan tâm. Ví dụ khá điển hình là trước đây người nông dân sẵn sàng theo cách mạng giành chính quyền để có ruộng đất nhưng giờ đây lại người nông dân lại chán ruộng? Khi nông dân đã chán ruộng tức là có chuyện. Giờ đây, hầu như làng quê nào cũng có nhà hai tầng, có ti vi màu, điện thoại… thế mà về nông thôn lại thấy làng quê buồn hơn xưa… Nếu muốn nông nghiệp và nông thôn phát triển bền vững thì không thể không quan tâm nghiên cứu vấn đề này.   Xin cảm ơn ông.      P.V thực hiện          Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của băng dính y tế      Các nhà khoa học và các hãng dược phẩm đang  nỗ lực đưa băng dính y tế lên một tầm cao mới để trong tương lai, băng  dính không chỉ để che phủ các vết xước hoặc vết thương mà còn giúp vết  thương chóng lành, đưa thuốc chữa bệnh và thuốc tiêm phòng vào cơ thể  cũng như đo liều lượng thuốc vào cơ thể đã đủ hay chưa.     Không chỉ phủ lên bề mặt băng dính chất hữu hiệu của thuốc chữa bệnh, các nhà nghiên cứu còn lồng ghép những cảm biến mỏng như sợi tóc lên băng dính qua đó tăng tốc độ chữa lành vết thương, đưa thuốc và chất tiêm phòng ngấm qua da thâm nhập vào cơ thể. Ngoài ra, băng dính còn có khả năng xác định lượng thuốc thâm nhập vào cơ thể người bệnh. Từ đây loại băng dính thông thường trở thành công cụ công nghệ cao có khả năng can thiệp tích cực và thông minh vào cơ thể người bệnh.  Giữ ẩm chứ không giữ khô vết thương  Từ nhiều năm nay Beiersdorf, nơi cho ra đời băng dính y tế đầu tiên trên thế giới cách đây đã 90, đã tung ra thị trường loại băng dính y tế tích cực có phủ một lớp kem chữa vết thương. Theo Wolber, giám đốc Trung tâm nghiên cứu về da của Beiersdorf ở Lokstedt, cái khó đối với loại băng dính này là tẩm kem vào băng dính như thế nào để kem không bị tràn ra tứ phía và kết quả mong muốn là vết thương không bị khô, độ ẩm được giữ nguyên. Đây là một thay đổi rất lớn về tư duy vì từ hàng chục năm nay, yêu cầu đối với băng dính y tế là phải giữ khô vết thương. Wolber giải thích: “Cách chữa trị giữ khô vết thương trước đây giúp hình thành một lớp vẩy cứng phủ lên vết thương, do đó gây khó cho các tế bào ở bên dưới trong quá trình chữa trị, hồi phục.” Qua theo dõi nhiều năm ở các bệnh viện và trung tâm chăm sóc vết thương thì thấy chữa lành vết thương bằng cách giữ ẩm là hoàn toàn đúng.   Cũng đã có băng dính giúp cầm máu những vết thương lớn, gây nhiều khó khăn cho việc cấp cứu. Cuối năm ngoái, doanh nghiệp trẻ Hematris tung ra thị trường băng dính Hematrix giá 90 Euro, có khả năng cầm máu thông qua giải pháp sinh hóa. Cái hay ở loại băng dính cỡ 10 x 10 cm này là bất kỳ ai cũng có thể sử dụng được: lớp phủ trên bề mặt băng dính gồm ba chất có chức năng làm đông máu –Thrombin, Kalziumchlorid và Epsilon-a xít Aminocapron. Người cứu nạn chỉ cần đè băng dính này lên vết thương đang chảy máu từ 3 đến 5 phút – và các chất trên băng dính sẽ tự giải phóng và làm cho máu bị vón lại tạo thành một lớp vẩy. Chậm nhất sau năm phút, máu sẽ ngừng chảy. Lúc này người hỗ trợ chỉ cần cố định băng dính và chờ đội cứu nạn đến.  Băng dính điều trị Alzheimer và đau nửa đầu  Các băng dính y tế kiểu mới tất nhiên không chỉ có tác dụng cầm máu. Càng ngày các nhà nghiên cứu càng phát hiện lớp da khỏe mạnh là một tổ chức lý tưởng để đưa thuốc điều trị bệnh ngấm từ từ và đều đặn vào cơ thể. Các loại băng dính High-Tech có chức năng truyền thuốc ra đời trên nguyên lý đó, giúp giải quyết một loạt vấn đề có tính tổng hợp trong y học.  Hiện nay đang diễn ra một cú hích trong việc phát triển băng dính thẩm thấu qua da mà doanh nghiệp LTS Lohmann ở Andernach bên sông Rhein là một ví dụ điển hình.  Hãng hiện có 1.000 nhân viên và có trên 5.000 bằng sáng chế riêng lẻ về sản xuất băng dính y tế và là doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường về loại băng dính thẩm thấu qua da. LTS phối hợp với các hãng dược phẩm sản xuất các loại băng dính thẩm thấu qua da – thí dụ băng dính nicotine để cai nghiện thuốc lá, băng dính hormon để phòng tránh thai hay băng dính dành cho bệnh nhân Alzheimer.  Loại băng dính Alzheimer của hãng hiện rất ăn khách: băng dính y tế này chuyển trực tiếp chất Exelon, một loại dược phẩm chống đãng trí, vào cơ thể. Loại điều trị dưới dạng băng dính này rất thích hợp với người cao tuổi, đãng trí, nhớ nhớ quên quên.   Hãng LTS đang thuyết phục Novartis, nhà sản xuất chất hữu hiệu Exelon và thu lợi nhuận cao nhờ sản phẩm này, không bào chế Exelon thành viên nén mà tẩm ngay vào băng dính để từ đó thuốc ngấm qua da vào cơ thể. Thực hiện công nghệ này sẽ tiết kiệm được một lượng đáng kể chất hữu hiệu vì nếu người bệnh uống thuốc thì đầu tiên thuốc truyền qua tĩnh mạch để vào trung tâm khử độc của cơ thể, đó là gan. Tại đây thuốc sẽ bị phân hủy từ 80 đến 90% trước khi có thể tác động vào cơ thể. Một khi 10% chất hữu hiệu có thể điều trị khỏi bệnh thì phương pháp điều trị này trở nên rẻ hơn nhiều, qua đó người bệnh và cả môi trường được bảo vệ tốt hơn. Hiện nay tàn dư thuốc chữa bệnh tích tụ ngày càng nhiều trong môi trường nước.  Tuy nhiên các nhà khoa học cũng biết rất rõ không phải bất cứ phân tử chất hữu hiệu nào cũng tự ngấm qua da, có những chất cần sự hỗ trợ kỹ thuật mới có khả năng thẩm thấu. Một thách thức lớn hiện nay là việc thâm nhập các phân tử cỡ rất lớn ví dụ như các loại kháng thể chống bệnh ung thư hay các vắc-xin tiêm chủng. Cần có xung điện hay xung laser để kích chúng thấm qua da. Muốn vậy loại băng dính này phải gắn theo pin siêu mỏng.  Hiện tại hãng LTS đang phát triển thế hệ băng dính mới nhất theo yêu cầu của hãng Nupathe ở Philadelphia để điều trị những người bị chứng bệnh đau nửa đầu. Những bệnh nhân này đòi hỏi luôn phải có đủ một lượng thuốc chữa bệnh đau đầu trong cơ thể. Chỉ có như vậy mới dập tắt kịp thời các cơn đau đầu bất thần.  Sẽ là tuyệt đỉnh nếu như loại băng dính này có thể nhận và lưu được tín hiệu, thí dụ về việc người bệnh đã tiếp nhận đủ lượng chất hữu hiệu trong cơ thể.   Trong thực tế thì doanh nghiệp Proteus Digital Health ở California đã gắn được thiết bị thu dữ liệu ở băng dính và tung ra thị trường mùa hè vừa qua: người bệnh phải nuốt một cảm biến nhỏ để đo lượng chất hữu hiệu trong cơ thể và thông báo kết quả cho băng dính. Qua đó bác sỹ có thể kiểm tra về tình hình điều trị của người bệnh và xem người bệnh đã tiếp nhận được đủ liều lượng thuốc hay chưa.   Đối với người bệnh, cuộc sống cũng đơn giản hơn nhiều: nếu họ quên không uống thuốc thì băng dính kỹ thuật số thông minh sẽ đánh tín hiệu nhắc nhở vào điện thoại di động.  Xuân Hoài lược dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của điện hạt nhân trên thế giới      Gần đây, các viện hàn lâm khoa học và công nghệ của Trung Quốc và Pháp đã thành lập một tổ công tác chung về các vấn đề điện hạt nhân, họ công bố một báo cáo chung1 tại cuộc họp đại hội đồng hằng năm của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế (IAEA) tổ chức ngày 20/9 vừa qua.  GS Pierre Darriulat đã gửi cho Tia Sáng bài bình luận về báo cáo này.      Trung Quốc và Pháp đã thành lập một tổ công tác chung về các vấn đề điện hạt nhân.   Một báo cáo chung của Trung Quốc và Pháp về điện hạt nhân  Việc Pháp và Trung Quốc hợp tác về các vấn đề điện hạt nhân có thể gây ngạc nhiên, thậm chí có phần bi hài, bởi thời hoàng kim của điện hạt nhân ở Pháp đã thuộc về quá khứ, còn Trung Quốc lại coi đó chính là tương lai sáng lạn của mình: khó tin rằng hai bên có một tầm nhìn chung.  Nhìn nhận một cách nghiêm túc hơn, điện hạt nhân ở Pháp2 đã suy thoái đáng kể trong thời gian qua. Ba phần tư sản lượng điện của Pháp hiện là từ điện hạt nhân, nhưng đến giữa thập kỷ 2020 tỷ trọng này dự kiến giảm xuống mức một nửa. Lý do chính là sự thiếu thiện cảm của công chúng với điện hạt nhân, nhất là trong khoảng ba thập kỷ trở lại đây sau thảm họa Chernobyl, kèm theo tác động từ trào lưu tuyên truyền Xanh ở đa số các nước phát triển. Tuy tâm lý phản đối điện hạt nhân nhiều khi xuất phát từ cảm tính – điển hình là một thống kê gần đây cho thấy 58% người dân Pháp nghĩ rằng điện hạt nhân gây biến đổi khí hậu, trong khi chỉ có 46% nghĩ rằng thủ phạm là điện than – nhưng xét về mặt chính trị, trào lưu này phát triển rất hiệu quả, một số quốc gia đã quyết định dừng hoạt động các nhà máy điện hạt nhân và không xây các nhà máy mới.  Một nguyên nhân khác khiến điện hạt nhân suy giảm ở Pháp là những minh chứng cho sự thiếu năng lực và gian dối của Areva, một công ty sở hữu chủ yếu bởi chính phủ, trên nhiều phần của chu trình nhiên liệu hạt nhân. Nó gây chậm trễ hàng năm trời tại các dự án, làm lãng phí trên mười tỷ Euro tiền thuế của Pháp. Trong đó, khởi đầu là cuộc phiêu lưu với loại lò phản ứng tái sinh nhanh Superphenix, bị dư luận phản đối kịch liệt tới mức phải hủy bỏ năm 1997, sau khi tiêu tốn chín tỷ Euro.  Trong bối cảnh trái ngược là Trung Quốc, nơi điện hạt nhân đang lên ngôi3, dự kiến chiếm mười phần trăm sản lượng điện vào năm 2030. Một trong những động lực để Trung Quốc có một chương trình xây dựng các lò phản ứng đầy tham vọng (Hình 1) là nhằm hạn chế tiêu thụ than gây ô nhiễm không khí (vốn không liên quan tới khí thải nhà kính CO2 như tuyên truyền bởi các phong trào Xanh và nhiều cơ quan truyền thông) gần đây gia tăng trở thành vấn nạn trầm kha phổ biến ở các tỉnh phía Đông, gây ra bởi đốt than, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tới gần 6% GDP. Họ đặt mục tiêu phát triển điện hạt nhân giống như hai nước láng giềng Ấn Độ và Nga nhưng thực hiện một cách độc lập, đó là thiết lập một chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín. Tuy phát huy triệt để công nghệ phương Tây, Trung Quốc nay chủ yếu tự lực trong thiết kế và xây dựng các lò phản ứng cũng như trên các phương diện khác của chu trình nhiên liệu.    Hình 1. Các lò phản ứng đang hoạt động ở Trung Quốc.  Nhiều vấn đề trong phát triển điện hạt nhân đã được biết đến từ hàng thập kỷ, gần đây một số vấn đề mới lại xuất hiện. Đầu tiên là các vấn đề về quản lý chất thải, nguồn trữ quặng, an toàn hạt nhân, thông tin với công chúng, và sự cần thiết của đào tạo nhân lực cấp cao cũng như R&D. Mảng vấn đề thứ hai là vòng đời lò phản ứng và chi phí tháo dỡ. Nhưng mặt khác, những ưu điểm của điện hạt nhân gần đây được đề cập đến: điện hạt nhân không thải ra carbon, tiến bộ đáng kể trong an toàn hạt nhân, những hạn chế của năng lượng mặt trời và gió.  Quan điểm chủ đạo hiện nay là các lò phản ứng thế hệ III đã đạt mức an toàn rất cao và hiệu quả, rồi tới đây các lò thế hệ IV sẽ hóa giải nhiều lo ngại truyền thống trước đây, một chu trình nhiên liệu khép kín sẽ là giải pháp cho vấn đề lưu trữ chất thải và nguồn trữ quặng, đồng thời sẽ vô cùng an toàn. Theo bản báo cáo chung, các vấn đề về trữ quặng đã không còn được bận tâm, mặc dù để phục vụ cho các lò thế hệ II và III đốt nhiên liệu uranium thì nguồn quặng chỉ còn đủ cho khoảng một thế kỷ. Trung Quốc cho biết đang có nguồn trữ hơn hai triệu tấn quặng uranium, cho phép nước này chiếm thế thượng phong. Tương tự như vậy, báo cáo bỏ qua vấn đề lưu trữ chất thải, bằng khẳng định đơn giản rằng đã có các giải pháp cho lưu trữ chất thải vòng đời ngắn và trung bình, còn chất thải vòng đời dài mức độ cao (HL-LLW) có thể được lưu trữ dễ dàng ở các tầng địa chất sâu. Một cách khách quan, điều này không phải là sai, nhưng tôi có thể hình dung các kết luận này sẽ bị chỉ trích bởi các tổ chức Xanh. Chỉ trong bối cảnh các lò thế hệ IV thì những vấn đề này mới không còn gây tranh cãi.  Về vấn đề an toàn hạt nhân, báo cáo trình bày không hợp lý, khi phân chủ đề này thành ít nhất ba mảng khác nhau, trong khi có thể dễ dàng đề cập một cách trực tiếp và rõ ràng trong một nội dung kèm theo những dữ liệu khách quan không thể bác bỏ. Nhưng thay vào đó, một phần báo cáo cho biết khả năng sự cố nóng chảy vùng hoạt đã giảm tới mười lần ở cả Pháp và Trung Quốc với các lò thế hệ II và III đang vận hành; ở một phần khác, báo cáo ước tính mức độ nhiễm xạ hằng năm của công nhân  trong chu trình nhiên liệu hạt nhân có bậc độ lớn 1 mSv, nhỏ hơn nhiều so với mức nhiễm xạ từ tự nhiên; ở một phần khác, báo cáo cho biết tính trên GW sản lượng điện, chu trình than gây bức xạ ion hóa cao hơn nhiều so với chu trình hạt nhân; rồi lại ở một phần khác nữa báo cáo khẳng định không có thiệt hại đáng kể nào, bao gồm cả nhân mạng, gây ra do tác động trực tiếp bởi bức xạ được tìm thấy sau sự cố Fukushima, rằng ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng là rất nhỏ, và tác động lớn nhất là sức khỏe tinh thần do căng thẳng khi sơ tán hàng loạt; điều này trái ngược với thông tin lẫn lộn của truyền thông tới công chúng, khi người ta đánh đồng hậu quả sóng thần (hơn 22 nghìn người chết) với sự cố hạt nhân. Một khuyến nghị rất quan trọng của báo cáo mà chắc chắn sẽ được các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc tán thành, là ủng hộ cách tiếp cận an toàn hạt nhân dựa trên đánh giá rủi ro, như đã được áp dụng ở các quốc gia hạt nhân, trong đó các quy định về an toàn hạt nhân được xây dựng hài hòa với lợi ích liên quan. Như vậy, người ta chắc chắn sẽ bác bỏ cách tiếp cận đòi hỏi áp dụng đồng loạt công nghệ tiên tiến nhất hiện có.  Về vấn đề thông tin đến công chúng và sự cần thiết trong đào tạo và R&D cấp cao, về cơ bản báo cáo chỉ lặp lại những thông điệp mang tính ước vọng, những hi vọng cao đẹp mà chúng ta vẫn thường nghe trong cả nửa thế kỷ gần đây. Mặc dù vậy các tác giả của báo cáo thực sự tin rằng nhu cầu điện hạt nhân sẽ trở nên hiển nhiên, rằng sự hồi sinh của ngành là điều tối cần thiết.  Cuối cùng, về vấn đề vòng đời lò phản ứng và chi phí tháo dỡ, báo cáo hoàn toàn im lặng, điều có thể coi là vô trách nhiệm. Tất nhiên, với Trung Quốc nơi đa số các lò còn mới thì vấn đề sẽ ít cấp bách hơn so với Pháp và các nước phát triển khác nơi một phần đáng kể các lò đang tới gần giới hạn vòng đời. Điều kỳ lạ là báo cáo dành một nội dung khá dài để nói rằng cần tránh bỏ lỡ các tiến bộ từ Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, có lẽ bởi đó là nội dung mang tính thời thượng hiện nay.  Trong số các luận điểm ủng hộ điện hạt nhân, ưu điểm không thải ra carbon hiển nhiên được nhấn mạnh: đó thực sự là lợi thế lớn và được chú trọng trong bối cảnh dư luận có những lo ngại về môi trường. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nhận thức rằng các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, gió, hay nhiên liệu sinh học không thể đóng góp tới một phần tư nhu cầu năng lượng của cả hành tinh. Minh chứng là ở Đức, nơi đã lắp đặt các trạm năng lượng tái tạo khắp nơi, nhưng cũng chỉ nâng tỷ lệ tới mức 15%. Nhìn chung, người ta phải thừa nhận rằng sẽ là vô trách nhiệm khi khẳng định những tiến bộ trong lưu trữ điện năng có thể giúp sớm thay đổi tình hình. Vì vậy, mỗi quốc gia cần tổ chức các nguồn năng lượng theo phương thức “pha trộn”, trong đó phát huy tối ưu từng nguồn năng lượng và không bỏ qua giải pháp nào, nhất là với điện hạt nhân.  Các lò phản ứng thế hệ III và IV  Trong phần này, thay vì đi sâu vào các chi tiết trong bản báo cáo, tôi cảm thấy thú vị hơn khi bàn về tương lai phía trước, cụ thể là ở Trung Quốc và khu vực. Những lợi ích các nhà hoạch định chính sách gặt hái được cũng chính là động lực để họ mạnh dạn triển khai chương trình điện hạt nhân với các lò thế hệ III và IV. Các tổ chức Xanh ở Trung Quốc và Nga không có nhiều sức ảnh hưởng như ở phương Tây, vì vậy tôi hình dung rằng các nhà lãnh đạo ở đây dễ chấp nhận những khuyến nghị đòi hỏi đánh giá khách quan về các rủi ro, áp dụng cùng một cách tiếp cận chung trên các nguồn năng lượng khác nhau, và gạt bỏ những luận điệu chỉ trích điện hạt nhân một cách phi lý cực đoan. Những nguy cơ từ chu trình nhiên liệu than, như ô nhiễm không khí quy mô rộng và những tai nạn thảm khốc vẫn đang diễn ra tại các hầm mỏ, được công chúng hết sức quan tâm, do đó những hứa hẹn về một nguồn năng lượng an toàn hơn sẽ dễ được chấp nhận ở Trung Quốc hơn ở châu Âu. Mặt khác, ở khu vực đang phát triển rất nhanh này của thế giới, sự gia tăng không tránh khỏi của nhu cầu năng lượng, đặc biệt là điện năng, cùng với những giới hạn rõ rệt của năng lượng tái tạo và những thiệt hại, hạn chế của nhiên liệu gốc hóa thạch, sẽ khiến năng lượng hạt nhân là một thành phần quan trọng trong rổ năng lượng.  Đa số các lò phản ứng đang hoạt động hiện thuộc về thế hệ II; chúng đốt uranium, thường dưới dạng uranium dioxide bền. Uranium trong tự nhiên có 99,3% là 238U,  loại không thể phân hạch bởi neutron nhiệt, và chỉ có 0,7% là 235U, loại có thể phân hạch, do đó quặng uranium cần được làm giàu trong khoảng 3 đến 5% 235U trước khi có thể dùng trong lò phản ứng. Bột dioxide được đóng trong các viên hình trụ và được đốt nóng để sản xuất ra nhiên liệu hạt nhân gốm, được xếp thàng chồng trong các thanh nhiên liệu dạng ống kim loại, thường làm từ hợp kim zirconium (chính bởi vậy đã tạo ra hydro và gây nổ ở Fukushima). Một lõi lò phản ứng thông thường cho khoảng 40 nghìn thanh nhiên liệu, mỗi thanh có đường kính khoảng 1 cm, dài 4 m. Các lò thường dùng nước làm mát, có loại dùng áp lực (lò nước áp lực PWR) và cũng có loại dùng nước sôi (lò nước sôi BWR) để đạt nhiệt độ trên 100oC. Khác biệt chính giữa BWR và PWR là ở lò BWR lõi lò đun nóng nước tạo ra hơi nước để chạy tuốc-bin hơi nước; còn ở lò PWR, lõi lò đun nóng nước nhưng không làm sôi, và trao đổi nhiệt độ với một hệ thống nước có áp lực thấp hơn, qua đó cũng tạo ra hơi nước chạy tuốc-bin.    Các lò thế hệ III bắt đầu được xây dựng từ đầu thập kỷ 1990, chúng sẽ chiếm đa số trên thị trường trong những thập kỷ tới. Thiết kế của chúng được phát triển từ các lò thế hệ II với những cải tiến về an toàn, các yêu cầu an toàn nghiêm ngặt hơn, bao gồm giảm đáng kể xác suất có sự cố nóng chảy lõi lò và làm cô lập lõi lò khi xảy ra nóng chảy. Sau cải tiến về an toàn là cải tiến về hiệu quả kinh tế, cụ thể là cải thiện công nghệ nhiên liệu, hiệu quả nhiệt năng trở nên vượt trội, và sự chuẩn hóa giúp giảm chi phí bảo dưỡng và chi phí vốn. So với các lò thế hệ II, các lò III và III+ (khác biệt giữa lò III và III+ chỉ mang tính định lượng và không thực sự quan trọng trong bối cảnh hiện nay) đạt tần suất sai hỏng lõi lò thấp hơn hàng chục lần, dùng uranium ít hơn 17% cho mỗi đơn vị sản lượng điện, và có vòng đời dài hơn 50%. Danh sách các lò III và III+ đang hoạt động hoặc đang xây dựng được nêu trong Bảng 1. Điều đáng nói là ngoại trừ các lò áp lực châu Âu (EPR) đang được xây dựng ở Flamanville và Olkiluoto, tất cả các lò khác đều nằm ở châu Á, trong đó Trung Quốc chiếm đa số. Giống như các dự án lò EPR, một số dự án ở châu Âu và Mỹ đang gặp khó khăn và bị phản đối, khiến tương lai của chúng trở nên bất định, vì vậy chúng không được nêu trong danh sách.  Khác với các lò III hay III+ được phát triển liền mạch từ thiết kế của các lò thế hệ II, các lò thế hệ IV dựa trên một nền tảng hoàn toàn mới, chủ yếu sử dụng neutron nhanh thay cho neutron nhiệt để phân hạch, nhờ đó mở ra cánh cửa cho phép khép kín chu trình nhiên liệu, khiến năng lượng hạt nhân có thể “tái tạo”, một lợi thế lớn trong bối cảnh hướng tới phát triển bền vững.  Các thiết kế của lò neutron nhanh (FNR) đã tồn tại từ vài thập kỷ. Mục tiêu hướng đến của chúng là tạo ra vật liệu phân hạch nhiều hơn mức tiêu hao, khi đó chúng sẽ được gọi là lò tái sinh nhanh (FBR). Một lò FBR như vậy hiện đang hoạt động ở Nga (Beloyarsk-4, 0,8 GWe), đáp ứng các điều kiện của một lò thế hệ III. Một lò nữa (0.5 GWe) sẽ được đưa vào hoạt động ở Kalpakkam, Ấn Độ, vào cuối năm nay. Ý tưởng nền tảng của chúng là một chuỗi phản ứng được duy trì bởi các neutron nhanh (nhanh hơn các neutron nhiệt xấp xỉ 104 lần) có thể tạo ra vật liệu phân hạch nhiều hơn mức tiêu hao: người ta phủ quanh lõi 235U có thể phân hạch (có thể phân hạch nghĩa là các neutron nhiệt, với tốc độ lên tới 2 km/s, đủ để dẫn tới phân hạch) một lớp các uranium không phân hạch (238U) để tạo ra đồng vị phân hạch cơ bản plutonium, hay 239Pu, bằng cách bắt lấy một neutron nhanh thoát ra từ lõi. Lõi lò được thiết kế để đạt tỷ lệ tái sinh cao, ngăn các neutron nhanh giảm tốc bằng các chất làm mát phù hợp: nước không được sử dụng và thay vào đó là natri. 239Pu được sản xuất từ lớp uranium tự nhiên sau đó có thể được tái chế thành nhiên liệu, cho phép hiệu năng sử dụng uranium cao gấp 60 lần so với các lò phản ứng nhiệt.  Các lò thế hệ IV là một khái niệm được định nghĩa tại một diễn đàn quốc tế, trong đó có Nhật Bản và Hàn Quốc từ châu Á, nhưng không có sự tham gia của Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc. Nó bao gồm các thiết kế lò được lựa chọn trên tiêu chí sạch, an toàn, và hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng một cách bền vững trước nhu cầu năng lượng gia tăng, đồng thời giúp phòng ngừa thất thoát vật liệu cho mục đích phổ biến vũ khí hạt nhân, và an toàn trước các vụ tấn công khủng bố. Đa số các lò này dùng chu trình nhiên liệu khép kín để tối ưu hóa tài nguyên và giảm thiểu lượng chất thải. Nhiệt độ đạt được trong khoảng 510°C tới 850°C, mở ra khả năng sản xuất hydro hóa nhiệt, và sản lượng điện đạt từ 0,15 tới 1,5 GWe. Đa số các lò cũng đã có nhiều trải nghiệm vận hành với phần lớn các cấu phần trong thiết kế của chúng, theo đó có lẽ chúng sẽ sẵn sàng được đưa vào thương mại hóa trước 2030. Tuy nhiên, về vấn đề ngăn ngừa phổ biến vũ khí hạt nhân, chúng không giống như các lò tái sinh nhanh thông thường: 239Pu không được sản sinh từ lớp bọc ngoài lõi, mà được sinh ra từ lõi, nơi có mức cháy cao và tỷ lệ các đồng vị plutonium khác 239Pu giữ ở mức cao. Hơn nữa, tái xử lý nhiên liệu sẽ cho phép tái chế mà không phải tách ra plutonium.  Gần đây, người ta quan tâm nhiều hơn tới việc phát triển các lò phản ứng công suất nhỏ (SMR)4, điều có khả năng phù hợp Việt Nam, xét về đặc thù địa lý trải dài, đồng thời giúp giảm đáng kể chi phí vốn cho việc cung cấp điện ở những nơi nằm xa các lưới điện lớn. Trong khuôn khổ bài viết, tôi sẽ không nói sâu hơn về vấn đề này, nhưng nó rất cần được cân nhắc một cách nghiêm túc.  Bạn đọc quan tâm chi tiết các thiết kế lò thế hệ IV có thể tìm đọc thông tin sẵn có trên internet, tiếp theo đây tôi sẽ bình luận vắn tắt về vai trò của Trung Quốc: họ đạt được những bước tiến đầy ấn tượng và rõ ràng có những điều mà ngành năng lượng Việt Nam có thể tham khảo.  Điện hạt nhân ở Trung Quốc  Tổ chức Hạt nhân thế giới đã cung cấp một đánh giá đầy đủ và cập nhật về điện hạt nhân Trung Quốc (xem ghi chú số 3 sau bài viết), những bạn đọc quan tâm có thể tham khảo. Nhưng không lâu trước đây, người ta còn nghi ngờ về năng lực của Trung Quốc trong xây dựng và khai thác thành công các nhà máy điện hạt nhân, cho rằng họ thiếu về chuyên môn và văn hóa an toàn hạt nhân. Hơn nữa, các chiến dịch chống tham nhũng năm 2012 cho thấy nạn tham nhũng phổ biến ở các lãnh đạo cấp cao cũng như cán bộ cấp dưới, trong đó có vài vụ việc phản ánh bức tranh ảm đạm về ngành hạt nhân Trung Quốc. Vậy mà ngày nay, đất nước này đã tiến bước thành công và thể hiện trách nhiệm trên mọi phương diện trong chính sách phát triển điện hạt nhân khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải ghen tị.  Trong kế hoạch năm năm lần thứ 13 (2016-2020)5, Trung Quốc đã phê duyệt đưa vào xây dựng từ sáu tới tám lò phản ứng mới mỗi năm. Nguồn năng lượng phi hóa thạch, vốn là 10% năm 2013, sẽ đạt 15% năm 2020 và 20% vào năm 2030. Tháng 6 năm 2015, Trung Quốc cam kết mức phát thải carbon năm 2030 sẽ không gấp đôi so với năm 2005, như một đóng góp cho nỗ lực của Liên Hợp Quốc về thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong khoảng 2005 tới 2020, năng lượng hạt nhân mới bổ sung đạt 3,4 GWe/năm và sẽ tăng tới 9 GWe/năm trong khoảng 2020 tới 2030. Tới khoảng 2040, các lò PWR sẽ ổn định sản lượng ở 200 GWe, còn các lò phản ứng nhanh sẽ tăng đều đặn từ 2020 tới 2050, đạt 200 GWe, tới 2100 sẽ đạt 1400 GWe.  Trung Quốc cho thấy quyết tâm chưa từng có nhằm đạt chuẩn mực cao nhất về an toàn hạt nhân, họ yêu cầu và thực hiện một cách có hệ thống các nhiệm vụ Đánh giá An toàn Vận hành của IAEA, mỗi nhà máy được yêu cầu có một đánh giá hằng năm từ bên ngoài. Tháng 12/2013, cùng với Nhật Bản và Hàn Quốc, họ đồng ý hợp tác về an toàn hạt nhân và nhanh chóng trao đổi thông tin khi có sự cố khẩn cấp về hạt nhân. Sau sự cố Fukushima, Chính phủ Trung Quốc đã dừng quy trình phê duyệt các nhà máy để chờ đánh giá về các bài học có thể thu được từ sự cố này. Họ ngay lập tức kiểm tra an toàn ở các nhà máy đang hoạt động, và tới tháng 10/ 2011 đã hoàn thành đánh giá các nhà máy đang được xây dựng. Việc phê duyệt các nhà máy mới bị treo lại cho tới khi một kế hoạch mới về an toàn hạt nhân được phê duyệt.  Trung Quốc đã áp dụng tiến bộ công nghệ từ các nước khác, mới nhất là từ lò PWR AP1000 sản xuất bởi Westinghouse/ Toshiba, một trong số đó sẽ bắt đầu vận hành ở Sanmen trong quý đầu năm 2018. Phiên bản Trung Quốc, CAP 1000, và bản nâng cấp tiếp theo, CAP 1400, sẽ là nền tảng chính trong phát triển công nghệ hạt nhân của Trung Quốc trong tương lai tới đây. Điều này dẫn tới một chính sách quyết tâm xuất khẩu công nghệ hạt nhân gắn với các bằng sở hữu trí tuệ của Trung Quốc, dựa trên ưu thế năng lực chu trình nhiên liệu khép kín. Chính sách này được theo đuổi ở tầm lãnh đạo chính trị cấp cao, là một trong mười sáu dự án khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia, vận dụng tầm ảnh hưởng về kinh tế và ngoại giao của Trung Quốc.  Tóm lại, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận về quyết tâm của Trung Quốc trở thành vị trí hàng đầu thế giới về công nghệ hạt nhân và biến năng lượng hạt nhân thành một nguồn năng lượng có tính nền tảng trong khoảng 10 đến 20 năm tới, bổ sung tới 300 GWe sản lượng điện hạt nhân. Trung Quốc đã cho thấy khả năng làm chủ về công nghệ cũng như các khía cạnh về an toàn, hiệu quả kinh tế và chính trị.  Công nghệ điện hạt nhân đòi sự quản lý một cách bền vững, có trách nhiệm và nghiêm ngặt. Nó cần sự quyết tâm và những quyết sách nhất quán, cam kết cao trong thực hiện và một tầm nhìn xuyên suốt về lâu dài. Chính sách điện hạt nhân thiếu nhất quán thường là hậu quả từ áp lực của các tổ chức Xanh, là nguyên nhân chính dẫn tới sự chối bỏ năng lượng hạt nhân ở châu Âu. Trái lại, trong khoảng hai thập kỷ qua Trung Quốc đã cho thấy họ có khả năng thay đổi cung cách làm việc trong một giai đoạn ngắn và thích nghi với những đòi hỏi nguyên tắc nghiêm ngặt.  Trừ phi xảy ra những bất ổn hoặc xung đột lớn trong khu vực, các thập kỷ tới đây sẽ chứng kiến chính sách gia tăng tỷ trọng đóng góp của năng lượng hạt nhân trong rổ năng lượng ở Trung Quốc, điều rõ ràng sẽ ảnh hưởng tới chính sách năng lượng toàn khu vực.  Nhiều bài học tất yếu có thể được tham khảo từ kinh nghiệm của Trung Quốc đối với các nước đang phát triển mong muốn đưa điện hạt nhân vào trong danh sách các nguồn năng lượng.  ***  Gần đây, Việt Nam quyết định ngừng theo đuổi điện hạt nhân, tuy nhiên chúng ta vẫn nên cân nhắc tiếp tục phát triển năng lực, trình độ của mình trong các lĩnh vực công nghệ hạt nhân quan trọng, không nên lãng phí những đầu tư dành cho công nghệ hạt nhân trong khoảng hai thập kỷ qua. Cụ thể, Việt Nam nên tiếp tục phát triển những kỹ sư trẻ được đào tạo từ Nga và các nước khác trong kế hoạch trước đây về chuẩn bị cho việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Chúng ta nên tiếp tục các chương trình đào tạo như NEST (Chương trình Đào tạo chuyên gia năng lượng hạt nhân quốc gia) và nỗ lực cải thiện hiệu quả của chúng. Chúng ta nên tăng cường nỗ lực đóng góp chủ động vào các dự án R&D trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân, bao gồm việc thiết kế các lò thế hệ IV, cùng các vấn đề liên quan tới an toàn hạt nhân.    Độc lập với việc ứng dụng trong sản xuất điện, các công nghệ hạt nhân sẽ ngày càng đóng góp nhiều trong y học và các ngành công nghiệp trong những năm tới, vì vậy Việt Nam cần phát triển kỹ năng và nhân lực để làm chủ những tiến bộ này.  Tuy đã dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân6 nhưng Việt Nam cần tiếp tục đào tạo các kỹ sư và nhà khoa học, những người có khả năng cập nhật với trình độ thế giới, bao gồm cả nước láng giềng Trung Quốc, tạo cơ hội cho họ làm việc và được đào tạo tại những nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài. Chương trình đào tạo các ngành khoa học hạt nhân tại các trường đại học Việt Nam cần được đổi mới sâu rộng để phù hợp với trình độ hiện đại và tình hình mới hiện nay. Năng lực chuyên môn hiện có về vận hành lò hạt nhân Đà Lạt không nên bị xem nhẹ. Việc xây dựng một trung tâm đào tạo hạt nhân quốc gia là cấp thiết và trên thực tế, theo quan điểm của tôi, chưa được coi trọng đúng mức trong suốt hai thập kỷ qua. Tôi được biết có những tiến triển đã được thực hiện gần đây theo hướng này trong khuôn khổ thiết lập Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia (CNEST); điều này tiếp tục cần được tích cực theo đuổi.  Tất cả những nội dung trên đòi hỏi sự thay đổi về cung cách. Nếu chúng ta thất bại trong đào tạo các kỹ sư và các nhà khoa học có chuyên môn về hạt nhân thì sẽ dẫn tới sự thiếu hiểu biết và năng lực trong lĩnh vực này, điều sẽ cản trở tiềm năng phát triển của đất nước.  Thanh Xuân dịch  TS. Nguyễn Hào Quang hiệu đính  ———  1  https://www.iaea.org/newscenter/ news/general-conference-day-3-highlights-20-september-2017  2http://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-a-f/france.aspx  3http://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-a-f/china-nuclear-power.aspx  4http://www.world-nuclear.org/information-library/nuclear-fuel-cycle/nuclear-power-reactors/small-nuclear-power-reactors.aspx  5Các mục tiêu chính của kế hoạch: Hoàn thành bốn tổ hợp AP1000 tại Sanmen và Haiyang; chế tạo lò thử nghiệm Hualong One tại Fuqing và Fangchenggang; bắt đầu chế tạo lò thử nghiệm CAP1400 tại Rongcheng; đẩy nhanh chế tạo các tổ hợp Tianwan 5&6; bắt đầu xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ven biển mới; tích cực chuẩn bị cho các nhà máy điện hạt nhân sâu trong đất liền; đạt 58 GWe đang hoạt động vào cuối 2020, thêm 30 GWe đang trong quá trình xây dựng; tăng tốc và thúc đẩy xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mang tính thử nghiệm cũng và đưa vào thương mại hóa một số nhà máy lớn; tăng cường hệ thống an ninh nhiên liệu.  6Tuy nhiên, nhu cầu điện của quốc gia sẽ tiếp tục tăng ở mức trên 10%/năm trừ phi mục tiêu phát triển kinh tế buộc phải cắt giảm đáng kể. Cung cấp năng lượng cần thiết để duy trì phát triển là một thách thức khó khăn mà Việt Nam khó tránh khỏi trong một tương lai không xa.    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Tương lai của máy tính      “Nếu Chúa trời tạo con người theo hình ảnh của Chúa thì con người cũng tạo máy tính theo hình ảnh của mình…” – Tại hội thảo “Phát triển cơ sở hạ tầng KH&amp;CN tiên tiến” do Trung tâm thông tin KH&amp;CN Quốc gia cùng Viện Thông tin KH&amp;CN Hàn Quốc (KISTI) tổ chức tại Hà Nội vừa qua, bà Tiến sĩ Hahn Sun Hwa đã thuyết trình nghiên cứu của mình về Công nghệ máy tính trong tương lai như vậy.    Đã có không biết bao nhiêu tiểu thuyết, phim ảnh hình dung ra tương lai của máy tính. Cực đoan hơn, nhiều bộ phim còn hình dung ra cảnh tương lai máy tính sẽ thống trị loài người (như phim I, robot; Terminator, .v.v). Nhưng xu thế phát triển của máy tính trong tương lai, theo nghiên cứu của bà Hahn Sun Hwa, không phải chỉ dựa trên trí tưởng tượng, mà dựa trên sự phân tích xu hướng phát triển của nền công nghệp máy tính. Một số “máy tính của tương lai” đã thực sự được chế tạo, dù mới chỉ ở quy mô thử nghiệm. Dựa trên nền công nghệ hiện tại, theo TS Hahn Sun Hwa, máy tính trong tương lai sẽ phát triển theo 5 xu hướng sau:    Thiết kế hấp dẫn (Hot body)  “Một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh”. Với máy tính, một bộ xử lý mạnh phải đặt trong một cỗ máy thiết kế hấp dẫn. Không còn là một cỗ máy vuông vức “lạnh lùng”, cũng không còn dây rợ lằng nhằng, máy tính trong tương lai sẽ hiển thị tạo cảm giác thật: từ hình ảnh 2 chiều (2D) kích cỡ lớn, hiển thị theo lớp với độ phân giải cao đến hiển thị 3 chiều (3D). Ngay hiện tại, máy tính cầm tay đã ngày càng nhỏ hơn và ngày càng mạnh hơn, nhưng màn hình lại không thể to theo! Một giải pháp đang được thử nghiệm là màn hình cuộn. Loại màn hình này đã được hãng Philips đưa ra mẫu thử nghiệm từ 2005.  Máy tính hiển thị không gian “space display” cũng được tính đến. Song đến nay loại máy tính này mới chỉ xuất hiện trên… phim Minority Report (Bản báo cáo nhỏ) do tài tử Tom Cruise thủ vai chính. Tuy nhiên công nghệ “multy touch” trong phim cũng đã xuất hiện trên Iphone của Apple.    Máy tính thông minh (Smart computer)  Liệu máy tính có thể nghĩ? Hơn 50 năm trước Alan Turing đã đặt ra câu hỏi như vậy. Ông đã đề ra “Phép thử Turing” (Turing test) để kiểm tra khả năng của máy tính tham gia vào các cuộc hội thoại như con người. Tuy nhiên, hơn 50 năm qua, những kết quả trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo không thực sự ấn tượng. Máy tính có thể rất giỏi trong logic nhưng lại rất kém trong “giao tiếp”. Người ta kỳ vọng, máy tính thông minh trong tương lai có thể: nhìn, nghe, nói – nhận thức, quyết định – dự báo, phỏng đoán – tham gia các trò chơi trí tuệ .v.v   Song, chỉ ở mức “thông minh” sơ cấp thôi, như nhận dạng hình ảnh đã là quá khó với máy tính hiện nay. Làm sao máy tính có thể nhận biết Michael Jackson từ một cậu bé da đen biến thành một “phụ nữ da trắng” là một? Đơn giản hơn, một người đi cắt tóc về, liệu hệ thống an ninh trong nhà có nhận ra để mở cửa? Tuy nhiên ở lĩnh vực trò chơi trí tuệ thì máy tính thông mình đã thể hiện xuất sắc: Máy tính Deep Blue của IBM đã đánh bại “vua cờ” Kasparov.  Một số lĩnh vực mà máy tính thông minh có thể đảm nhiệm trong tương lai gần là các chương trình thay thế chuyên gia thật: Chẩn đoán bệnh, tư vấn luật – giáo dục, đào tạo – đọc hình ảnh X – quang/ MIR – phân tích địa lý – phân tích lỗi, .v.v Máy dịch sử dụng trí tuệ nhân tạo (A.I translation) cũng đã được thử nghiệm và tiếp tục hoàn thiện. Trên thực tế, các chương trình phiên dịch như Babel Fish hay Google translator đang được hàng triệu người sử dụng.    Máy tính mang lại trải nghiệm (Expriencing computer)  Đây là lĩnh vực đã phát triển rất thành công, nhưng vẫn đầy hứa hẹn để khai phá. Không gì dễ minh họa về sự “mang lại trải nghiệm” hơn bằng trò chơi Second Life (Cuộc sống thứ hai). Trò chơi thế giới ảo này bắt đầu từ năm 2003, đến nay đã có gần 8,5 triệu đăng ký. Với Second Life, người ta có thể gặp gỡ, làm việc, xây  nhà, sở hữu tài sản… ảo. Có 2 nước là Maldive và Thuỵ Điển đã mở sứ quán trong Second Life để quảng bá hình ảnh và văn hóa.  Những ứng dụng khác, “trong tầm tay” của máy tính mang lại trải nghiệm là hội thảo ảo (virtual conference). Tham dự một hội thảo ảo, người dự không chỉ chia sẻ giọng nói, hình ảnh mà còn hiểu được cử chỉ và ánh mắt của người đối thoại.  Ứng dụng hấp dẫn nhất của máy tính mang lại trải nghiệm là thực tại ảo, cho phép người dùng tương tác với một môi trường do máy tính mô phỏng. Với đồ họa 3 D, các giao diện tương tác, người dùng có cảm giác đang ở trong thế giới thực.  Máy tính sống (Living computer)  Máy tính sống đòi hỏi nhiều công nghệ hợp nhất: khoa học máy tính, cơ khí kỹ thuật, khoa học vật liệu, khoa học về nhận thức, thiết kế công nghiệp… Máy tính sống gồm Người máy có hình dáng như thật (humanoid robot), Người máy phục vụ, Người máy quân sự và Người máy Nano  trong y học (Nanobot for medicin use).                     “Đỉnh cao” của Người máy có hình dáng người thật hiện là Asimo của Honda: nó có thể lên – xuống cầu thang, thực hiện một số lệnh đơn giản. Người máy Kismet do MIT chế tạo còn có khả năng biểu đạt cảm xúc. Khả năng này không phải theo mệnh lệnh mà phụ thuộc vào môi trường xung quanh. Ví dụ: nếu nói nhẹ nhàng với Kismet, nó sẽ có gương mặt hạnh phúc, nếu xung quanh quá ồn ã, nó sẽ nhăn mặt…  Một trong những nguyên nhân khiến máy tính sống khó phổ biến hiện nay là… giá quá đắt. Rẻ tiền nhất trong số đó là người máy gia đình  ZMP – Nuvo mới ra đời năm 2006. Cao 39cm, nặng 2,5kg, nó có thể trả lời một số câu hỏi, báo thức, giám sát nhà bằng điện thoại di động, bước đi định hướng bằng mắt camera, ZMP – Nuvo có giá tới 588.000 Yên (gần 80 triệu đồng).    Máy tính tồn tại khắp nơi (Ubiquitous computing)  Thử tưởng tượng một tình huống trong thời đại Máy tính tồn tại khắp nơi: C. đang nghiên cứu về cuộc chiến tranh giành độc lập trong giờ lịch sử. Khi anh tranh luận với bạn học thì thiết bị nhận băng tần số vô tuyến (RFID) của toà nhà –  thông qua thiết bị kết nối phổ biến (U – terminal) –  sẽ cho biết toà nhà đó nổi tiếng với sự kiện 33 chiến sĩ hi sinh. C. tải dữ liệu đó xuống, sau đó cùng đọc với bạn. Một tình huống khác: Jack đi siêu thị Wallmart cùng con trai. Thiết bị U– terminal của siêu thị cho biết những mặt hàng nào đang được giảm giá khi anh qua các dãy hàng. Ngoài ra, thiết bị còn kết nối với tủ lạnh nhà Jack và sau đó thông báo sữa trong tủ lạnh đã sắp hết hạn dùng. Sau khi mua hàng, tất cả hàng hóa trong giỏ của Jack sẽ tự động được thanh toán bằng thẻ tín dụng…                  Những tình huống “thường nhật” trên chỉ xảy ra khi máy tính được đặt và sử dụng ở khắp mọi nơi. Đó là mô hình tương tác giữa người và máy, trong đó các quá trình thông tin được tích hợp hoàn toàn trong các vật dụng hằng ngày. Nói một cách cường điệu, khi đó, sự tồn tại là thông tin, tri thức.     Tóm lại, dù đến nhanh hay chậm, tương lai của máy tính sẽ là máy tính có trí thông minh, nó có khả năng nhận diện tình huống, cung cấp dịch vụ cá nhân ở mọi nơi, mọi lúc. Khi đó chúng ta có thể truy cập máy tính ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào, có thể giao tiếp với những đồ vật xung quanh. Vậy chúng ta cần chuẩn bị gì cho tương lai? TS Hahn Sun Hwa cho rằng, điều quan trọng là một chế độ giáo dục mới. Khi đó “tri thức” nhiều không còn quan trọng nữa, mà cần nhất là khả năng sử dụng tri thức.      Anh Việt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của những tế bào gốc      Các tế bào gốc là gì? Những triển vọng về tế bào gốc sẽ thành hiện thực? Bạn có nên đầu tư vào các công ty công nghệ sinh học đang nghiên cứu tế bào gốc? Các nhà hoạch định chính sách, các bác sỹ có thể trông đợi điều gì? Những hình thức điều trị bằng tế bào gốc sẽ có tác động thế nào tới nền công nghiệp dược? Điều trị bằng tế bào gốc tốn kém cỡ nào? Thế còn về lệnh cấm nghiên cứu tế bào gốc dạng phôi ở một số nước thì sao?    Những tế bào gốc dạng phôi  Tế bào gốc là loại tế bào tương đối nguyên thuỷ, có khả năng phân chia nhanh chóng để tạo thành các tế bào có chức năng đặc trưng. Những tế bào gốc trong phôi thai có khả năng tạo nên một số rất lớn các loại mô khác nhau. Loại tế bào sinh sản nhanh này đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, với tế bào gốc dạng phôi của con người thì đây lại là một vấn đề nghiêm trọng. Nếu bạn muốn có được chúng, hoặc là bạn phải vi phạm luật pháp ở một số nước, hoặc là phải tuân theo những điều khoản phức tạp ở những nước khác.             Tế bào gốc dạng phôi          Các tế bào gốc dạng phôi cũng khó điều khiển và nuôi cấy theo một phương pháp đáng được coi là tin cậy. Chúng thường không ổn định và hay gây ra những kết quả không mong đợi khi phân chia, thậm chí còn làm tăng sự phát triển của ung thư. Các tế bào gốc dạng phôi của con người thường gây ra một phản ứng miễn dịch khi được cấy ghép vào cơ thể. Điều này có nghĩa là, nếu không được bảo vệ (bằng thuốc – có thể gây nguy hiểm) thì chúng sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch của cơ thể.         Một lý do khiến người ta quan tâm mạnh mẽ đến công nghệ nhân bản người chính là cái gọi là nhân bản y học. Điều này liên quan đến việc gắn kết một tế bào người trưởng thành với một trứng người đã loại bỏ nhân. Kết quả thu được là một phôi người đang phân chia nhanh chóng và có khả năng trở thành một cặp song sinh tương đồng với người được nhân bản. Nếu được cấy vào tử cung, những phôi như vậy có khả năng sẽ cho ra những đứa trẻ được nhân bản, mặc dù chúng có thể sẽ gặp phải sự dị dạng hoặc sự lão hoá nhanh như đã thấy ở các loài vật (cừu Dolly chẳng hạn).  Trên lý thuyết, nhân bản y học có thể cho phép các nhà khoa học lấy các tế bào gốc dạng phôi từ phôi được nhân bản, bỏ phần còn lại của phôi đi và sử dụng các tế bào gốc để tạo ra mô mới, tương đồng về gen với người được nhân bản. Trên thực tế, phương pháp này đứng trước nhiều thách thức kỹ thuật cũng như các vấn đề về đạo đức và luật pháp.  Một cách khác là việc tạo ra một ngân hàng mô khổng lồ với hàng vạn mẫu tế bào phôi. Bằng việc tách ra các tế bào gốc từ một số lượng lớn các phôi khác nhau như vậy, bất cứ ai cần điều trị cũng gần như có thể tìm được kiểu mô thích hợp từ một mẫu tế bào đang có. Nhưng ngay cả khi đạt được điều này thì những vấn đề về điều khiển và biến chứng ung thư vẫn còn. Và một lần nữa, luôn có những xem xét đạo đức đối với bất cứ khoa học nào sử dụng phôi người. Tuy lĩnh vực khoa học này mới phát triển nhưng nó liên quan mật thiết đến sự tồn tại của loài người, đó chính là lý do tại sao nhiều nước đã cấm.  Con đường khác để sử dụng các tế bào gốc dạng phôi  Gần đây, người ta mới dạy cho các sinh viên trong tất cả các trường y rằng, các tế bào trong phôi có thể sinh ra bất cứ loại mô nào, nhưng khi sinh ra thì khả năng này mất đi vĩnh viễn. Đã có lý do để hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các tế bào gốc dạng phôi cho đến thời điểm cách đây vài năm. Tuy nhiên, thực tiễn đã cho chúng ta thấy nhìn nhận đó là phi lý. Thực ra, người ta đã phát hiện ra rằng, rất nhiều tế bào của cả trẻ em và người lớn đều có khả năng bất thường để sinh ra hoặc kích thích sự tăng trưởng của một số lớn các loại mô, nếu được tác động theo đúng cách.              Tế bào gốc trưởng thành          Chúng ta hãy lấy một ví dụ về nghiên cứu của giáo sư Jonathan Slack ở Đại học Bath. Ông đã chỉ ra làm thế thế nào mà các tế bào gan của người lớn có thể được biến đổi tương đối dễ dàng thành các tế bào tạo insulin, chẳng hạn như các tế bào được tìm thấy trong tuyến tụy. Một nghiên cứu của những người khác đã sử dụng những tế bào tuỷ xương để chữa những chấn thương não và dây cột sống ở loài chuột, và bây giờ người ta cũng đang làm một công việc tương tự như vậy để chữa cơ tim ở người.    Tại sao điều này lại đáng ngạc nhiên? Bạn nên biết rằng, hầu hết các tế bào trong cơ thể bạn  đều chứa toàn bộ hệ gien của bạn. Nó là một quyển sách của sự sống, có đủ thông tin để làm một bản sao giống hệt như bạn. Như vậy, về nguyên tắc, mọi tế bào đều có thể tạo nên bất kỳ mô nào mà bạn cần. Tuy nhiên, có một thực tế là, hầu hết các gien trong hầu hết các tế bào của bạn đều bị tắt – không hoạt động. Và vấn đề là chúng chỉ bị tắt thôi chứ không phải là vĩnh viễn không thể hoạt động như chúng ta vẫn tưởng.    Nếu bạn lấy các tế bào da của mình và kết hợp nó với một trứng chưa được thụ tinh, môi trường hoá học bên trong trứng sẽ kích hoạt tất cả các gien đang bị tắt và thực thể được tạo thành có khả năng tạo ra một con người mới.  Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể tìm ra cách tái kích hoạt chỉ một số gien nhất định và cùng lúc làm tắt một số gien khác? Chúng ta có thể tìm được một chất hoá học mà có vai trò kích hoạt giống như những gì xảy ra trong phôi hay không, tức có khả năng biến một tế bào từ kiểu này sang kiểu khác? Có, chúng ta có thể. Jonathan Slack và một số người khác đã làm được như vậy.  Chúng ta có thể lấy một tế bào trưởng thành và buộc nó trở về trạng thái phôi ban đầu hay không?. Có, chúng ta có thể. Bây giờ, người ta có khả năng tạo ra nhiều loại tế bào khác nhau từ những mô trưởng thành. Bí mật là ở chỗ, phải tìm đúng các tác nhân kích hoạt gien để đưa vào nhân tế bào, song có lẽ điều này không quá khó như chúng ta nghĩ.  Các tế bào gốc và tương lai của y học  Y học tế bào gốc không phải là một phương pháp điều trị chính thống sử dụng tác nhân bên ngoài cho nên sự phát triển trong 15 năm của nó đã không hướng tới những sản phẩm y dược mới. Thực ra, khoảng cách giữa những kết quả nghiên cứu tế bào gốc trên động vật và những thử nghiệm đầu tiên đối với con người chỉ ngắn cỡ 15 ngày thôi.  Giả sử ai đó bị bệnh tim. Một bác sỹ chuyên khoa sẽ nói với người đó về việc sử dụng chính các tế bào gốc của anh ta trong một điều trị thử nghiệm. Bạn đồng ý. Một mẫu tuỷ xương cuả người này được lấy ra và được xử lý bằng các phương tiện vẫn thường thấy trong pháp đồ điều trị bạch cầu ở các trung tâm ung thư. Kết quả thu được là một số các tế bào tuỷ xương đặc biệt, chúng được tiêm ngược trở lại cơ thể người bệnh.  Bác sỹ đang trả lại những tế bào gốc cho người bệnh, những tế bào này là sở hữu hợp pháp của anh ta. Bạn cũng đang có những tế bào gốc trưởng thành của chính bạn. Không có xưởng sản xuất hay công ty kinh doanh y dược nào liên quan ở đây cả. Không còn những vấn đề nghiêm trong về đạo đức (không giống trường hợp các tế bào gốc dạng phôi), không còn nguy hiểm từ phản  ứng của các mô, không sợ nguy cơ ung thư.  Bây giờ chúng ta bắt đầu xem tại sao những đầu tư nghiên cứu đang chuyển nhanh từ nghiên cứu tế bào gốc dạng phôi sang tế bào gốc trưởng thành. Trường Y Havard cũng đang nghiên cứu mạnh về các tế bào gốc trưởng thành. Các thử nghiệm đã cho thấy phần nào sự phục hồi thị giác ở những con vật có võng mạc bị huỷ hoại. Người ta hy vọng trong vòng 5 năm các thử nghiệm lâm sàng có thể cho phép sử dụng các tế bào gốc để điều trị bệnh mù loà do thoái hoá ở người cao tuổi – một nguyên nhân gây mù loà phổ biến nhất ở Mỹ. Hy vọng trong vòng 10 năm, mọi người có thể được điều trị một cách thông thường bằng những tế bào gốc của chính họ với một quá trình điều trị chỉ hai giờ đồng hồ.                  Nếu bạn muốn một bằng chứng cụ thể hơn về sự chuyển mối quan tâm từ tế bào gốc dạng phôi sang tế bào gốc trưởng thành, hãy nhìn vào những người đã tạo ra con cừu Dolly. Viện Rosslyn ở Scotland là những người đi tiên phong trong công nghệ nhân bản. Họ và những nhóm khác đã vận động được quốc hội vương quốc Anh (UK) cho việc sử dụng hợp pháp công nghệ này đối với các phôi người (với mục đích nhân bản y học chứ không phải nhân bản con người). Nhưng ba năm sau đó, họ thậm chí chẳng buồn bận tâm đến sự cho phép này nữa. Tại sao vậy? Vì các nhà nghiên cứu lo ngại rằng họ sẽ ném tiền qua cửa sổ và phải chịu đựng những sức ép về đạo đức cũng như danh tiếng. Đại học Newcastle đã có được giấy phép đầu tiên để nghiên cứu nhân bản phôi người – nhưng câu chuyện thực là, không biết tại sao mà một viện nghiên cứu ở UK lại phải mất quá nhiều thời gian để chính thức đi vào hoạt động. Câu trả lời là: họ mất thời gian để bỏ lại đằng sau những nhà nhân bản người “phục vụ y học” và tiếp tục với những nghiên cứu y dược khác.  Các tế bào gốc có thực sự chữa được các mô không?  Các tế bào gốc trưởng thành có thực sự chữa được các mô hay không? Người ta đã tranh luận vấn đề này trên các tạp chí khoa học trong suốt mấy năm trời.  Các cuộc tranh luận thường tập trung vào các vấn đề kỹ thuật và ngữ nghĩa hơn là tính thực tế của các kết quả. Hãy lấy ví dụ về việc chữa bệnh tim. Chúng ta biết rằng, những tế bào tuỷ xương có thể chữa được những tổn thưởng ở tim. Khó có thể biết chắc được có bao nhiều phần trong quá trình này là do các chất kích thích được giải phóng ra từ các tế bào tuỷ xương, hay là do các tế bào này thực sự tạo nên sự khác biệt trong các mô tim.  Đó vẫn là một bức tranh rối rắm. Trong phòng thí nghiệm, các tế bào dường như tạo nên sự thay đổi sâu sắc, nhưng trong các điều trị thử nghiệm, các hiệu ứng của nhiều tế bào gốc lại có vẻ như là sự kích thích. Nhưng ai dám khẳng định được vấn đề? Các bác sỹ tất nhiên là sẽ vui mừng khi việc tiêm các tế bào tuỷ xương khiến bệnh nhân của họ đi lại được chỉ sau đó ba tháng, nhưng mọi chuyện sẽ là bi kịch nếu người bệnh phải ngồi trên xe lăn trong suốt quãng đời còn lại. Hiện giờ, chưa ai có thể nói về vấn đề này một cách chính xác và toàn diện.  Tương lai của những tế bào gốc  Nói tóm lại là chúng ta đang có những quá trình gia tăng nghiên cứu về tế bào gốc trưởng thành và và giảm bớt nghiên cứu về tế bào gốc dạng phôi. Công nghệ tế bào gốc dạng phôi đang được xem là của thế kỷ trước, nhân bản y học cũng vậy. Lịch sử sẽ cho thấy rằng, đến 2020, chúng ta sẽ có khả năng tạo ra một số lớn các loại mô sử dụng các tế bào gốc trưởng thành. Trong một số trường hợp, những tế bào gốc này sẽ thực sự tham gia mật thiết vào những quá trình chữa trị mới. Trong những trường hợp khác, chúng sẽ có đóng góp nhất thời cho những quá trình sửa chữa cục bộ của cơ thể.  Chúng ta cũng sẽ thấy sự ra đời của một số sản phẩm y dược mới, có khả năng thực hiện những thủ thuật điều trị mà không cần lấy bất cứ một tế bào gốc nào ra khỏi cơ thể. Chẳng hạn, những loại thuốc này sẽ kích hoạt tế bào tuỷ xương và thúc đẩy chúng di chuyển đến các phần của cơ thể, những nơi cần sự sửa chữa.      Việc sử dụng những phôi thai luôn luôn gây ra những vấn đề nghiêm trong hơn là sử dụng các mô trưởng thành, hoặc có lẽ là các tế bào lấy từ dây rốn sau khi sinh. Và các nhà nghiên cứu sẽ muốn giảm bớt những nguy hiểm không cần thiết đối với cả sự đầu tư tài chính cũng như các tổ chức của họ. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể trông đợi rằng việc tiếp tục nghiên cứu các tế bào gốc ở một số nước sẽ có được những đột phá khoa học đem lại lợi ích cho con người.  Trần Dũng (theo www.globalchange.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai của viễn tải và truyền thông lượng tử      Bài viết Một số hướng nghiên cứu truyền thông lượng tử, (Tia Sáng 20-3-2008), khá điển hình cho cách hiểu không chỉnh về một bước phát triển rất quan trọng của ngành quang lượng tử trong 15 năm qua. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về cơ sở khoa học, hiện trạng, triển vọng cũng như những quan niệm sai lầm về viễn tải lượng tử..        Viễn tải là gì?  Viễn tải (teleportation) là sự vận chuyển các vật hay các hạt cơ bản từ nơi này tới nơi khác, hầu như tức thời, mà không phải di chuyển qua không gian1. Với kỹ thuật hiện hành, viễn tải “chính xác” chỉ thực hiện được với các photon và các nguyên tử. Vì thế nó còn được gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Viễn tải ‘không chính xác” là khả năng mã hóa một đối tượng rồi truyền tin bằng sóng vô tuyến hay tín hiệu điện tới địa điểm khác, nơi một bản sao của đối tượng cần viễn tải sẽ được tạo ra. Vì thế nó còn được gọi là truyền thông lượng tử (một cách không thật chính xác). Viễn tải cũng được dùng để giải thích nhiều hiện tượng dị thường; và quan niệm thường xuất hiện trong tiểu thuyết viễn tưởng. Hầu hết nội dung trong bài viết Một số hướng nghiên cứu truyền thông lượng tử thuộc phạm trù này 2.   Nguồn gốc của quan niệm  Sau sáng chế bánh xe hơn 5000 năm trước, loài người luôn cố gắng tìm các phương cách ngày càng nhanh để di chuyển từ nơi này tới nơi khác. Xe cút kít, xe ngựa, ô tô, máy bay, tên lửa là những cố gắng giảm thời gian di chuyển. Dù hiện đại đến mấy thì chúng cũng có chung nhược điểm: chúng luôn phải vượt qua khoảng cách vật lý giữa điểm khởi hành và đích đến. Vì thế xuất hiện mong ước rất tự nhiên là tìm một phương pháp kết hợp các tính chất của vận tải và truyền thông để tạo nên cái gọi là viễn tải. Đó là cách giải mã một vật ở địa điểm này rồi gửi cấu hình phân tử tới một địa điểm khác, nơi vật sẽ được tái cấu trúc hóa. Đó chính là cách du hành với tốc độ xấp xỉ ánh sáng; nên trên phạm vi Trái Đất, nó hầu như có tính tức thời.           THÍ NGHIỆM INNSBRUCK bắt đầu với một xung laser tử ngoại năng lượng cao. Chuyển động từ trái sang phải, qua tinh thể, xung tạo cặp photon rối A và B; A được gửi cho Alice, B – cho Bob. Phản xạ lại tinh thể, xung tạo thêm hai photon C và D. Một bộ phân cực tạo cho D trạng thái phân cực đặc biệt X. Photon C được ghi lại, để chắc chắn photon X đã được gửi cho Alice. Bằng bộ tách tia, Alice tổ hợp hai photon A và X, tức tìm trạng thái A và X rối với nhau. Khi Alice đo được mỗi photon trên từng máy đo (dấu hiệu A và X có vector phân cực vuông góc, tức rối lượng tử, với nhau), cô liền báo cho Bob. Và Bob biết rằng photon B anh nhận được chính là bản sao của photon X, cho thấy viễn tải lượng tử đã thành công.               Thuật ngữ teleportation được nhà văn Mỹ Charles Fort đưa ra năm 1931 trong tác phẩm “Lo!”, khi ông thêm tiền tố tiếng Hy Lạp tele- (khoảng cách) vào động từ tiếng Latin portare (mang) để mô tả sự mất tích và tái xuất hiện của các vật dị thường mà ông giả định chúng có liên hệ với nhau. Sau đó thuật ngữ và quan niệm xuất hiện trong hàng loạt tác phẩm viễn tưởng, gồm sách báo và phim ảnh, đặc biệt trong bộ phim truyền hình Star Trek, 1963-1965. Dựa trên truyện của Gene Roddenberry, giới điện ảnh cho thuyền trưởng Kirk cùng phi hành đoàn du hành tới các hành tinh xa xôi rất dễ dàng nhờ “máy viễn tải”. Bước vào cỗ máy kì diệu đó, họ tan thành các hạt cơ bản rồi được vận chuyển với tốc độ ánh sáng tới hành tinh bí mật, nơi họ được tái tạo với độ chính xác tuyệt đối.                 Đáng tiếc là về khoa học, nguyên lý bất định Heisenberg của cơ học lượng tử không cho phép điều đó xảy ra. Nguyên lý này nói rằng, không thể đo đạc chính xác đồng thời các cặp đại lượng vật lý liên hợp (như vị trí và tốc độ, năng lượng và thời gian…). Vì thế các nhà khoa học trong Star Trek không thể đo chính xác cấu hình phân tử của phi hành đoàn; nên nếu may mắn viễn tải thành công, có khả năng trên hành tinh X, thay cho phi hành đoàn như mong đợi, họ lại thu được đàn cá heo chẳng hạn! (Trong Star Trek, các nhà làm phim tưởng tượng “Bộ bù trừ Heisenberg” để vượt qua khó khăn này, điều bất khả trên thực tế).             Sáu nhà khoa học đưa ra phương án lý              thuyết để viễn tải lượng tử năm 1993          Nhưng thật lạ lùng, vào năm 1993, Charles H. Bennett của hãng IBM, cùng Gilles Brassard, Claude Crepeau và Richard Josza của Đại học Montreal, Asher Peres của Viện công nghệ Israel và William K. Wootters của Đại học Williams, đã tìm ra cách dùng một đặc trưng khác của cơ lượng tử để vượt qua nguyên lý bất định. Đó là rối lượng tử (quantum entanglement)3.  Rối lượng tử  Là đặc tính gắn kết các hạt vi mô bằng “tương tác xa kì lạ” (lời Einstein), rất khó diễn giải rối lượng tử bằng ngôn ngữ thông thường. Tuy nhiên có thể hiểu quan niệm qua thí dụ ánh sáng phân cực dưới đây.   Ánh sáng thông thường là ánh sáng không phân cực, khi các vector điện trường của nó có hướng bất kì (vuông góc với phương truyền sáng). Một số loại tinh thể có thể phân cực ánh sáng, khi làm suy giảm hay dập tắt vector điện trường theo một hướng nào đó. Ánh sáng có thể phân cực hoàn toàn hay phân cực thẳng, khi vector điện trường chỉ lấy một hướng.   Tinh thể alpha barium borate có khả năng đặc biệt, khi biến một photon tử ngoại thành hai photon năng lượng thấp hơn, với các vector phân cực (vector điện trường) vuông góc với nhau, chẳng hạn một nằm ngang và một thẳng đứng. Ta nói hai photon đó “rối lượng tử” với nhau, vì khi gửi chúng tới hai thiên hà xa nhau, nếu tại thiên hà X người ngoài hành tinh thấy photon bay tới phân cực thẳng đứng, thì họ biết ngay photon kia phân cực nằm ngang, mà không cần mất công bay tới thiên hà Y để quan sát. Người ta nói rối lượng tử chính là lý do để xem vũ trụ thống nhất ở thang bậc vi mô (trong khi quán tính là căn nguyên để nói vũ trụ thống nhất ở thang bậc vĩ mô). Bài báo của 6 nhà khoa học đăng trên tạp chí Physical Review Letters, 29-3-1993, chính là phương án lý thuyết dùng rối lượng tử giữa các photon để thực hiện viễn tải. Và thí nghiệm Innsbruck năm 1997 đã biến khả năng viễn tưởng trở thành hiện thực.  Thí nghiệm Innsbruck  Giáo sư Anton Zeilinger trước làm việc tại Đại học Innsbruck, nay tại Đại học Vienna. Ông được giới truyền thông gọi là “Mister Beam” (Mister Bean là nhân vật hài nổi tiếng người Anh), một cái tên mà ông không hài lòng. Theo ông, beaming (chiếu rọi) các vật đi xa chỉ có trong truyện viễn tưởng, vì thế nó tạo ấn tượng sai về công việc của ông với tư cách một nhà vật lý. Ông là người biến ý tưởng lý thuyết của Bennett và đồng sự thành hiện thực trong thí nghiệm Innsbruck năm 1997 4.  Trong thí nghiệm Innsbruck, Zeilinger tạo cặp photon rối A và B bằng tinh thể barium borate nói trên. Ông biết A và B có vector phân cực vuông góc với nhau, nhưng không biết cụ thể chúng nằm hướng nào. Ông không thể đo để xác định hướng cụ thể, vì đó là điều nguyên lý bất định cấm. Nhưng may mắn là ông không cần làm thế. Zeilinger gửi A cho Alice và B cho Bob (trên con tàu giả định). Tiếp theo, ông tạo photon X sao cho nó rối lượng tử với A (tức X cũng có vector phân cực vuông góc với vector A). Về mặt kỹ thuật, đó là phép đo trạng thái Bell, chứ không đo trạng thái phân cực của X, nên không vi phạm nguyên lý Heisenberg. Khi thấy A và X rối với nhau, Alice liền báo cho Bob. Và Bob biết ngay rằng photon B chính là bản sao của photon X mà Alice muốn viễn tải cho anh. Alice không đo đạc trạng thái lượng tử của A và X nên không vi phạm nguyên lý bất định (cô không biết hướng vector phân cực cụ thể của A và X, mà chỉ biết chúng vuông góc với nhau qua phép đo trạng thái Bell). Và viễn tải cũng không thể thực hiện nhanh hơn ánh sáng như giới ưa thích khoa học viễn tưởng mong muốn.  Các thí nghiệm tiếp sau            Anton Zeilinger, người biến viễn tải từ viễn              tưởng thành hiện thực năm 1997.            Thí nghiệm Innsbruck thúc đẩy viễn tải lượng tử nói riêng, quang lượng tử nói chung phát triển vượt bậc trong thập kỷ qua. Như đã trình bày, điều cốt tử là tạo các trạng thái rối, không chỉ với photon, mà còn với các loại hạt khác. Đó là khó khăn cơ bản trong viễn tải.  Năm 2000, nhóm nghiên cứu ở Colorado (Mỹ) tạo được trạng thái rối cho dãy 4 ion beryllium trong bẫy sóng vô tuyến bằng cách gửi xung laser qua nó. Cũng trong năm 2000, giới khoa học Pháp cho từng nguyên tử rubidium qua một buồng quang học siêu dẫn và dùng vi sóng làm rối chúng với ánh sáng trong buồng. Năm 2001, nhóm nghiên cứu tại Đại học Arhus, Đan Mạch, tạo được trạng thái rối giữa các đám mây nguyên tử cesium khi bắn xung laser qua chúng.   Tháng 6-2002, W. Bowen tại Đại học quốc gia Úc viễn tải được một chùm laser. Trong đó, photon mục tiêu được “quét” thành công, các tính chất của nó được “sao chép” vào photon vận chuyển, cuối cùng nó được tái tạo thành công tại một địa điểm khác.  Năm 2004, độc lập với nhau, hai nhóm nghiên cứu của Đại học Innsbruck và Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ, cùng viễn tải được các ion cesium và beryllium bằng các kỹ thuật khác nhau.   Tháng 10-2006, Eugene Polzik và đồng sự tại Viện Niels Bohr thuộc Đại học Copenhagen viễn tải một đối tượng chứa hàng ngàn tỷ nguyên tử. Họ truyền thông tin đi xa nửa mét. Theo Polzik, đây là bước đột phá, vì “lần đầu tiên, thí nghiệm liên quan với sự viễn tải giữa ánh sáng và vật chất, là hai đối tượng khác nhau”.  Kỷ lục viễn tải theo khoảng cách thuộc về Anton Zeilinger. Năm 2005, ông viễn tải photon 600 m dưới sông Danube. Năm 2007, ông viễn tải 144 km giữa hai đảo thuộc quần đảo Canary. Và tháng 2-2008, ông viễn tải ánh sáng từ Ajisai, một vệ tinh có độ cao tối đa là 1485 km 5.  Rào cản kĩ thuật của viễn tải lượng tử  Dù tiến bộ không ngừng trong việc gia tăng khoảng cách, các khó khăn kĩ thuật chưa bao giờ từ bỏ viễn tải lượng tử.  Thứ nhất, kịch bản viễn tải như đã trình bày chỉ là phiên bản “không chính xác”, vì chỉ thông tin về đối tượng được truyền giữa hai địa điểm. Dựa trên thông tin đó, tại nơi đến, một bản sao của đối tượng sẽ được tạo ra từ các “chất liệu thô”có sẵn. Tuy nhiên như Zeilinger nhấn mạnh, một bản sao hoàn hảo cũng chính là đối tượng, vì thông tin về cấu hình phân tử, chứ không phải chính các phân tử, mới quan trọng. Qua cả cuộc đời, các phân tử luôn được thay thế trong cơ thể ông, nhưng ông “vẫn là Zeilinger”.  Thứ hai, các kỉ lục truyền xa chỉ thuộc về photon; còn với các đối tượng khác (ion, virus…), khoảng cách có khi chỉ đạt vài milimét. Đó là khoảng cách không nhiều ý nghĩa thực tế (tội gì mất công viễn tải tách café đi xa vài chục milimét, trong khi chỉ cần vươn tay là được!). Có hai khó khăn liên quan với hạn chế này.  Đầu tiên là tạo các trạng thái rối. Với photon, có thể thực hiện điều đó khá dễ dàng. Nhưng với các đối tượng khác, nhất là khi chứa hàng ngàn tỉ nguyên tử, đó là khó khăn không dễ vượt qua. Tiếp theo, vì photon ít tương tác với không khí, nên thí nghiệm Innsbruck và các thí nghiệm dùng photon khác có thể thực hiện mở trong không khí. Với các hạt khác, cần thực hiện trong chân không để tránh nhiễu loạn. Nếu không khắc phục được khó khăn này, thông tin về đối tượng sẽ được truyền không chính xác, nên có thể không tạo được các bản sao hoàn hảo. Đó là lý do để Zeilinger tin rằng, phải 1000 năm nữa con người mới viễn tải được một tách café 6.  Có thể viễn tải con người hay không?  Sau thí nghiệm Innsbruck, giới ưa thích tiểu thuyết viễn tưởng rất hào hứng. Họ tin rằng kịch bản Star Trek có cơ sở để thành hiện thực trong tương lai, khi loài người đủ kỹ năng. Tuy nhiên tạp chí New Scientist đã làm nguội niềm phấn khích đó 7.   Để viễn tải, cần giải mã cấu trúc cơ thể, tức biến nó thành các hạt cơ bản. Khi đó cần một năng lượng tương đương 1000 quả bom hạt nhân, mỗi quả cỡ 100 triệu tấn TNT, để đạt nhiệt độ 100 tỉ độ Celcius (oC). Thông tin về cấu hình 1028 nguyên tử trong cơ thể chứa đầy số CD nhiều đến mức, có thể xếp chúng từ Trái Đất tới trung tâm Thiên Hà. Để truyền tin, với công nghệ năm 2006, cần thời gian 30 tỉ năm 6. Đó là khoảng thời gian gấp đôi tuổi vũ trụ. Và chỉ một trục trặc nhỏ là thay cho thuyền trưởng Kirk, ta có thể nhận được một dị nhân. Các công nghệ tương lai cũng không thể vượt qua những khó khăn đó.   Nói cách khác, dù các nguyên lý khoa học không cấm, nhưng viễn tải con người là bất khả về mặt kĩ thuật trong vũ trụ của chúng ta. Để thực hiện điều đó, cần một vũ trụ khác, với hệ qui luật vật lý khác, cho phép tạo ra các giải pháp kĩ thuật hoàn toàn khác.  Tương lai của tính toán lượng tử  Có lẽ ngoài các nghiên cứu vật lý thuần túy, ứng dụng hiện thực nhất của viễn tải lượng tử là tính toán lượng tử. Máy tính số kinh điển làm việc với các bit, được xác định bằng các số 0 và 1; còn máy tính lượng tử dùng bit lượng tử hay qubit. Qubit có thể ở trạng thái chồng chất lượng tử của 0 và 1, vì thế khác trong máy tính kinh điển, trong máy tính lượng tử, từng số 0 và 1 có thể tham gia đồng thời nhiều qubit khác nhau. Kết quả là máy tính kinh điển chỉ có thể chạy với lần lượt từng bộ số liệu đầu vào; trong khi máy tính lượng tử có thể làm việc đồng thời với hàng triệu bộ số liệu, mà vẫn chỉ dùng số qubit như số bit máy tính kinh điển cần khi tính với một bộ số liệu. Do đó máy tính lượng tử có thể tính nhanh hơn nhiều 8. Một vấn đề cơ bản là truyền dữ liệu lượng tử giữa các cổng logic hay các bộ xử lý. Viễn tải lượng tử là một giải pháp tốt. Vì thế giới khoa học cho rằng, viễn tải lượng tử có thể là tương lai của ngành tính toán.    Tài liệu tham khảo:  1. Teleportation, Wikipedia, The Free Encyclopedia, Retrieved on 27 March 2008   2. Ngô Tử Thành, Ngô Minh Thành (2008), Một số hướng nghiên cứu truyền thông lượng tử, Tia Sáng, số 6, 20-3-2008, trang 34-37  3. Bennett CH et al (1993), Teleporting an unknown quantum state via dual classical and EPR channels, Physical Review Letters, vol 70: 1895-1899  4. Zeilinger A (2000), Quantum teleportation, Scientific American, vol 282, 4 (April 2000): 32-41  5. Villoresi P et al (2008), Experimental verification of the feasibility of the channel between Space and Earth, http://arxiv.org/abs/0803.1871v1, Retrieved on 8 April 2008   6. Spooky action and beyond, An interview with Anton Zeilinger, 16-2-2006, at www.signandsight.com , Retrieved on 31 March 2008   7. Đỗ Kiên Cường (2003), Có thể viễn tải con người hay không?, Trong: Khoa học và Tâm linh, NXB Trẻ, TPHCM, trang 129-132  8. Aaronson S (2008), The limits of quantum computers, Scientific American, vol 298, 3 (March 2008): 50-57    Về bài viết “Một số hướng nghiên cứu truyền thông lượng tử”:  Như đã nhận xét, bài viết nói trên khá điển hình cho cách hiểu không chỉnh của người thiếu kiến thức chuyên sâu về viễn tải lượng tử. Bài viết không đề cập tới cơ sở khoa học, hiện trạng hay triển vọng của quan niệm, mà chỉ viết về truyền thông viễn tưởng, truyền thông lạ hay truyền thông tâm linh, tức chỉ quan tâm tới những quan niệm “tựa khoa học”.  Truyền thông lạ là gì? Theo bài viết, đó là vận chuyển qua các chiều không gian dư. Tuy nhiên do thiếu kiến thức vật lý nên các tác giả trình bày rất rắc rối và mâu thuẫn. Chẳng hạn “chiều không gian thứ 5… không mang ý nghĩa vật chất vì nó là công cụ toán học…”. Nếu thế thì các đối tượng vật chất không thể vận chuyển qua nó. Hay “…các trường lượng tử khác sử dụng kích thước không gian lớn hơn 4”; trong khi phải viết là “… số chiều không gian lớn hơn 4”. Và “trường trọng lực” hay “lý thuyết siêu chuỗi” cần được sửa thành “trường hấp dẫn” và “lý thuyết siêu dây”.  Vậy có thể du hành qua các chiều dư, vì theo lý thuyết dây, không gian có 10 chiều? Đáng tiếc là không, vì ngoài ba chiều chúng ta đang sống, các chiều dư bị cuộn trong các kích thước cỡ độ dài Planck (10-33 cm). Ngay cả các dây, cấu tử cơ bản nhất của vũ trụ, cũng khó đi lọt, nói gì đến chúng ta!     Đỗ Kiên Cường    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai khó khăn của điện hạt nhân ở châu Âu      Dù giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp điện năng ở châu Âu nhưng điện hạt nhân vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn như nguồn tài chính để xử lý vấn đề lão hóa nhà máy, rủi ro về an ninh…      Thảm họa Chernobyl vào ngày 26/4/1986 khiến quá trình phát triển của điện hạt nhân trên thế giới nói chung và châu Âu nói riêng phải chuyển hướng. Tai nạn này là nguyên nhân dẫn đến những cuộc tranh cãi về điện hạt nhân, và làm phá sản nhiều dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân khác. Tuy nhiên có một thực tế là   nhiều quốc gia châu Âu vẫn còn kiên trì theo đuổi điện hạt nhân và  các lò phản ứng trên khắp châu Âu đang trong quá trình lão hóa. Dẫu sao  người ta không thể phủ nhận rằng, một phần ba điện năng tiêu thụ trên  toàn châu Âu là  từ các nhà máy điện hạt nhân như một báo cáo gần đây của Cơ quan Năng lượng  nguyên tử quốc tế (IAEA).   Áp lực tài chính  Theo báo cáo về tình hình sản xuất điện hạt nhân thế giới, trong năm 2015 chỉ còn 128 lò phản ứng vẫn còn hoạt động ở châu Âu, khoảng một nửa trong số đó (58 lò phản ứng) thuộc về Pháp.    Hiện hai nhà máy điện hạt nhân đang được xây dựng do công ty điện lực Areva (Pháp) đảm trách ở Pháp và Phần Lan – lần lượt khởi công vào năm 2005 và 2007 – sẽ không hoàn thành trước năm 2018, thời gian mà chúng có thể lập tức đưa vào vận hành.  Theo ước đoán ở thời điểm hiện tại, kinh phí xây dựng các nhà máy này đang bị đội giá gấp ba lần so với dự toán, tức là vào khoảng 9 tỷ eueo (tương đương 10 tỷ đô la) mỗi nhà máy.   Dự án nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C ở Anh cũng đang phải đối mặt với vấn đề như gia tăng kinh phí xây dựng, khó khăn về tài chính đầu tư và trì hoãn kế hoạch xây dựng.   Tương tự, nhà máy điện hạt nhân Flamanville, Pháp, cũng sẽ khó có thể hoàn tất trước năm 2018. Công ty điện lực Pháp EDF trong vòng 8 năm qua chưa bán thêm được bất kỳ nhà máy điện hạt nhân nào, vì vậy nếu không giành được hợp đồng xây dựng nhà máy Areva thì EDF ắt hẳn sẽ phải đối mặt với khả năng phá sản.  Khi tính toán chi phí cho việc ngừng vận hành nhà máy điện hạt nhân và quản lý vấn đề chất thải phóng xạ từ các nhà máy này vào năm 2050, Ủy ban châu Âu EC đưa ra con số 268 tỷ euro. Một nghiên cứu từ European Parliament Greens đã tiết lộ, thậm chí con số này có thể lên tới 485 tỷ euro.     Theo EU, các công ty điện lực chỉ tài trợ 150 tỷ euro trong tổng số chi phí này.  Xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới    Lược đồ hiển thị tình hình các lò phản ứng hạt nhân mới xây dựng (đường màu xanh) và ngừng vận hành (đường màu đỏ) ở châu Âu.  Ba quốc gia thành viên châu Âu – Phần Lan, Pháp và Slovakia – hiện đang tiến hành xây dựng những nhà máy điện hạt nhân mới. Nhưng tất cả các dự án này đều đang cùng chung hoàn cảnh là phải chịu việc đội giá xây dựng và trì hoãn lịch xây dựng – dù cho việc xây dựng các lò phản ứng ở Slovakia đã bắt đầu từ năm 1986.  Đến năm 2030, số lượng các nhà máy điện hạt nhân sẽ được tăng lên ở Bulgaria, Czech, Phần Lan, Pháp, Hungary, Lithuania, Ba Lan và Anh – theo tính toán của tổ chức Năng lượng nguyên tử thế giới (World Nuclear Association) dựa trên số nhà máy điện hạt nhân được cấp phép và đề xuất.  Nhưng để vận hành các lò phản ứng cũ được an toàn, cơ sở hạ tầng của các lò phản ứng này cần  được nâng cấp, Frank Peter, đại diện Prognos ở Berlin, một công ty tư vấn kinh tế có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ, cho biết. Những lò phản ứng đang có tại châu Âu đều có tuổi thọ 30 năm, và vòng đời của chúng vào khoảng 30 đến 35 năm.  Peter tin tưởng rằng, việc nâng cấp các lò phản ứng già lão không khả thi về mặt tài chính. “Để mỗi nhà máy điện hạt nhân cũ làm ra điện năng trong điều kiện an toàn hạt nhân tương ứng theo công nghệ nhà máy, cần phải đầu tư khoảng 3 đến 4 tỷ euro cho việc nâng cấp,” Peter cho DW biết.  Cũng vì vấn đề áp lực tài chính, một lò phản ứng ở Thụy Sỹ và 4 lò phản ứng ở Thụy Điển sẽ phải ngừng vận hành vào năm 2020, sớm hơn dự kiến, chuyên gia về năng lượng nguyên tử Mycle Schneider giải thích.  Tăng cường công suất điện hạt nhân    Lược đồ biểu thị mạng lưới các lò phản ứng được tăng cường công suất sản xuất điện năng.  128 lò phản ứng hạt nhân đang được vận hành thuộc 14 trong số 28 quốc gia thành viên EU cung cấp hơn 1/4 lượng điện tiêu thụ ở toàn châu Âu, theo công bố của Tổ chức  Năng lượng nguyên tử thế giới (WNA).  Tổ chức này cho biết, các lò phản ứng khắp châu Âu đang không ngừng tăng cường hơn nữa công suất sản xuất điện năng của mình, trong đó có các lò ở Bỉ, Thụy Điển, Đức. Công suất điện hạt nhân của 5 lò phản ứng tại Thụy Sỹ đã được gia tăng thêm 13%; Tây Ban Nha đang lên kế hoạch tăng lên 13%; Phần Lan đã đưa khả năng này lên con số 29% kể từ những năm 1980.   Con số của IAEA chứng tỏ điện hạt nhân vẫn chiếm 76% tổng số sản xuất điện năng của Pháp, 56% ở Slovakia; 53% ở Hungary; 38% ở Bỉ.   Dẫu sao IAEA cũng chỉ ra rằng, mạng lưới công suất điện hạt nhân của EU đã giảm xuống từ năm 2000.   Các nhà lập pháp đang tìm cách giới hạn việc sản xuất điện hạt nhân bằng việc cố gắng tập trung vào năng lượng tái tạo. Tại Pháp, nơi điện hạt nhân chiếm 3/4 nhu cầu điện năng của đất nước, một bộ luật mới được chấp thuận vào mùa thu 2015 nhằm mục tiêu hạn chế sự lệ thuộc vào điện hạt nhân và giảm tỷ lệ này xuống 50% vào năm 2025.   Cuộc chiến cho tương lai  Trong các cuộc tranh luận về các nhà máy điện hạt nhân mới, các công dân và chính trị gia đang lên tiếng về hiểm họa tiềm năng ở các lò phản ứng cũ. Các nhà máy điện hạt nhân hiện thời ở châu Âu đang được kêu gọi đóng cửa, và có thể còn là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố.   Theo một cuộc điều tra gần đây ở Đức, 85% nhà máy điện hạt nhân trên  45 tuổi đời được cho là có khả năng xảy ra thảm họa tương tự như Chernobyl. “Con người đã nhận thức ra sự rủi ro hiện hữu từ những nhà máy điện hạt nhân già lão tại Đức và một số quốc gia láng giềng”, Tobias Münchmeyer, thành viên của tổ chức Greenpeace, cho biết.  Những thách thức đối với điện hạt nhân trong lòng châu Âu sẽ dẫn đến sự sụt giảm về khả năng cung cấp điện năng trong tương lai, tổ chức World Nuclear Association đã kết luận báo cáo bằng nhận định này.  Thanh Nhàn tổng hợp từ DW.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai năng lượng Nhật Bản      Chính phủ Nhật Bản quyết định ngừng mở rộng sử dụng năng lượng hạt nhân    Sau 2 tháng gần như im lặng, Chính phủ Nhật có vẻ đã tỉnh ngủ và thể hiện cố gắng kiểm soát thiệt hại. Hôm 10/5, Thủ tướng Naoto Kan – người đứng đầu Chính phủ Nhật vốn bị phê phán cho phản ứng chậm chạp và mù mờ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Fukushima, đã đưa ra hai tuyên bố. Thứ nhất ông sẽ không lĩnh lương Thủ tướng chừng nào khủng hoảng tại nhà máy gặp sự cố chưa được giải quyết; thứ hai, các kế hoạch mở rộng năng lượng hạt nhân của Nhật nay chính thức bị loại bỏ.   Tuyên bố trên là sự nối tiếp chỉ thị của ông Kan vào tuần trước đó yêu cầu Công ty Năng lượng Điện Chubu cho ngừng hoạt động nhà máy điện hạt nhân Hamaoka – sau một trận động đất mạnh, cho tới khi có các biện pháp đảm bảo an toàn. (Chubu nhất trí với yêu cầu này vào hôm 9 tháng 5.) Trước Tháng 3 năm 2011, năng lượng hạt nhân gần như là câu trả lời duy nhất cho các vấn đề về năng lượng của Nhật. Nhật hiện có 54 lò phản ứng hạt nhân, đóng góp tổng cộng 30% sản lượng điện quốc gia. Năm ngoái, Chính phủ của ông Kan công bố kế hoạch xây dựng 14 lò phản ứng mới để tăng tổng sản điện hạt nhân thành 50% tổng sản lượng điện quốc gia.   Nhật là quốc gia tiêu thụ điện đứng thứ 3 trên thế giới – đồng thời là nhà nhập khẩu lớn nhất đối với khí gas tự nhiên hóa lỏng, than, cũng là nhà nhập khẩu lớn thứ 3 về dầu lửa – và từ lâu đã dựa vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu cho đa số hoạt động sản xuất điện. Là một quốc đảo thiếu không gian và thiếu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng hạt nhân dường như là con đường đúng giúp Nhật hạn chế ảnh hưởng bởi các biến động của thị trường dầu lửa và đạt được cam kết tới năm 2020 giảm khí nhà kính 25% so với mức 1990.    Chính phủ vẫn chưa hủy bỏ mục tiêu trên đây, nhưng chắc chắn đó sẽ là một trong những vấn đề gây tranh luận khi xây dựng một chính sách năng lượng hoàn toàn mới. Kan, trong một diễn văn sau đó được Bộ trưởng Bộ Môi trường Ryu Matsumoto nhắc lại, nói rằng đường lối phát triển mới sẽ tập trung vào những nguồn tái sinh như gió, Mặt trời, thủy điện, địa nhiệt, và tiết kiệm năng lượng.   Nhưng do Nhật từ lâu chỉ chú tâm đặc biệt cho phát triển năng lượng hạt nhân kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa hồi thập kỷ 1970, nên lĩnh vực năng lượng tái sinh còn kém phát triển một cách đáng ngạc nhiên, so với điều kiện của một quốc gia có trình độ chuyên gia về năng lượng tái sinh là rất cao, nơi mỗi trạm xăng có khoảng 24 loại thùng rác tái chế khác nhau. Ít hơn 1% năng lượng của Nhật là từ gió, Mặt trời, địa nhiệt, và nhiên liệu sinh học. Khoảng 8% khác đến từ các nguồn thủy điện. Do thủy điện đã được phát huy ở ngưỡng công suất tối đa, kế hoạch mở rộng [sử dụng năng lượng tái sinh] mà Kan và Matsumoto đang nêu ra (giả sử như kế hoạch này sẽ được Chính phủ tiếp theo duy trì) sẽ chủ yếu phải đến từ năng lượng Mặt trời, gió, và địa nhiệt.        Dưới đây là tóm tắt thực trạng các lĩnh vực này ở Nhật trong hiện tại    Năng lượng Mặt trời   Về khía cạnh kỹ thuật, năng lượng Mặt trời khởi phát khá nhanh và sớm hồi thập kỷ 1980, nhưng sau đó tụt lại so với châu Âu. Nhật hiện nay đã lắp đặt hệ thống thu năng lượng Mặt trời có công suất lớn thứ 3 trên thế giới, tạo ra lượng điện năng nhiều hơn một chút so với năng lượng địa nhiệt, nhưng chỉ đứng thứ 5 trên thế giới theo tiêu chí công suất lắp đặt tính trên đầu người. Vào năm 2008, theo Reuters, Nhật sản xuất được 1,92 triệu kilowatt điện Mặt trời, trong đó 80% là từ các hộ gia đình.                    Tuy nhiên, trong các nguồn năng lượng tái sinh ngoài hạt nhân và thủy điện, năng lượng Mặt trời được tập trung chú ý nhiều nhất từ Chính phủ Nhật. Tuy Chính phủ giảm lưu tâm tới nguồn năng lượng này vào 2006, việc trợ cấp cho các hộ gia đình lắp đặt bảng thu điện Mặt trời được tái tiếp tục kể từ năm 2009, nhằm đạt mục tiêu đề ra là vào năm 2030 sản lượng điện Mặt trời sẽ gấp 40 lần so với 2005. Kết quả là, vào năm 2010, doanh thu bán các bảng điện Mặt trời lên cao kỷ lục. Chính phủ cũng bảo đảm mức giá mua điện ưu đãi cho các hộ gia đình và doanh nghiệp bán điện vào lưới.   Trong khi đó, các công ty Nhật bao gồm Mitsubishi và Toshiba cũng mở rộng sản xuất các sản phẩm công nghệ điện Mặt trời để phục vụ nhu cầu gia tăng của thế giới đối với năng lượng tái sinh. Theo Tổ chức Năng lượng Quang điện Nhật, xuất khẩu bảng điện Mặt trời sang Mỹ tăng 21% vào 2009, trong khi doanh thu xuất khẩu sang châu Âu giảm 4,3%.   Điện gió   Việc lắp đặt điện gió ở Nhật tăng đột biến trong giai đoạn từ 2000 tới 2010, từ 139 MW lên 2.304 MW, nhưng sau đó đà tăng suy giảm. Tuy Bộ trưởng Môi trường của Nhật hôm 10/5 nói rằng bờ biển Thái Bình Dương phía Đông Bắc của Nhật phù hợp cho lắp đặt các trạm điện gió, thậm chí có thể tạo ra nhiều năng lượng hơn tổng sản lượng các nhà máy hạt nhân hiện hành, nhưng thời tiết khắc nghiệt, những hạn chế của lưới điện, và suy giảm kinh tế là những yếu tố gây trì hoãn phát triển ngành này.   Vấn đề lưới điện – có lẽ đây là trở ngại lớn nhất thay vì yếu tố địa lý – là như sau, căn cứ theo nhận định của Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu:                 Hạ tầng lưới điện tiếp tục là thách thức cho việc phát triển điện gió của Nhật. Các vùng dẫn đầu về phát triển điện gió ở Nhật là Tohoku và Hokkaido ở phía Bắc đất nước và Kyushu ở phía Nam. Như vậy, nhu cầu điện lớn nhất tập trung ở khu vực trung tâm của Nhật, trong khi các địa điểm tiềm năng nhất cho điện gió nằm ở những khu vực cách ly, nơi công suất của lưới là tương đối nhỏ. Giới hạn truyền tải của lưới, và sự độc quyền trên lưới điện của các công ty điện địa phương, những đối tượng viện nhiều lý do khác nhau để không chịu đầu tư tăng công suất, đã làm trì hoãn sự phát triển thị trường năng lượng gió.   Địa nhiệt   Nhật có tiềm năng địa nhiệt đứng thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Indonesia. Nhưng trên phương diện làm chủ nguồn nhiệt này để chuyển hóa thành năng lượng, Nhật chỉ đứng thứ 8, sau những quốc gia có quy mô dân số nhỏ hơn nhiều, như Iceland và New Zealand. Ngày nay, Nhật chỉ sản xuất khoảng 0,1% sản lượng điện là từ địa nhiệt, từ 19 nhà máy năng lượng địa nhiệt, trong đó nhiều nhà máy tập trung ở vùng Tohoku nơi có nhà máy hạt nhân Fukushima.   Các nhà máy địa nhiệt, một khi đi vào vận hành, sẽ cung cấp được nguồn năng lượng vô cùng rẻ, ô nhiễm rất ít. Nhưng ngành này cũng gặp những thách thức nghiêm trọng, bao gồm cả việc thu hút nhà đầu tư. Chi phí đầu vào khi đầu tư cho địa nhiệt là rất cao, trong đó đáng kể là chi phí khảo sát các địa điểm tiềm năng. Khoan khảo sát không phải khi nào cũng thành công, trong khi nhiều người lo ngại rằng việc khoan ở các vùng giếng sâu – là nơi cho nhiều địa nhiệt, sẽ tạo ra bất ổn về địa chất. Những người dân sống ở vùng có tiềm năng địa nhiệt cũng là nơi có nguy cơ động đất cao, không muốn các mũi khoan thăm dò trên khu vực địa phương mình. Ngoài ra, các nhà máy địa nhiệt thường là không mấy ưa nhìn. Chúng xả ra rất nhiều khói hơi nước lên trời, và đòi hỏi lắp đặt hệ thống nhiều đường ống nổi trên mặt đất. Vấn đề này tương đối trầm trọng ở Nhật, nơi mà khu vực có nhiều tiềm năng địa nhiệt cũng là nơi có các thắng cảnh tự nhiên và các onsen (nhà tắm) lâu đời hàng thế kỷ. Có gần 8000 resort tắm hơi ở Nhật, thu hút lượng người tắm lên tới 140 triệu hằng năm. Trong những năm gần đây, một số thành viên của ngành công nghiệp onsen cho rằng các nhà máy địa nhiệt gây tác động xấu tới các nhà tắm, và phản đối kêu gọi của Chính phủ vận động các địa phương xây dựng những nhà máy địa nhiệt quy mô nhỏ.   Tuy Nhật chưa phát huy hết tiềm năng địa nhiệt trong nước, các tập đoàn như Mitsubishi, Toshiba và Fuji Electric đều là các nhà sản xuất lớn trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất thiết bị địa nhiệt. Tổng cộng họ cung cấp khoảng 70% tuốc bin hơi nước và các thiết bị khác sử dụng trong ngành công nghiệp địa nhiệt. Các công ty này sẽ được lợi lớn nếu địa nhiệt phát triển mạnh trong nước.   (Krista Mahr, Time)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương lai nghiên cứu sinh học ở Ấn Độ      Ấn Độ đã có được niềm tin sau khi thu được thành công nổi bật trong công nghiệp công nghệ thông tin. Giờ đây, quốc gia này đang lấy đà để đột phá vào lĩnh vực khoa học đời sống như sinh học. Jyotsna Dhawan, Trung tâm sinh học phân tử và tế bào ở Hyderabad, nói “Thế giới của chúng ta đang thu nhỏ lại và những dòng chảy không ngừng của thông tin toàn cầu xuyên suốt các lục địa chỉ bằng động tác chạm nhẹ vào đầu con chuột đã làm cho Ấn Độ cảm nhận rằng, quốc gia này đang trở thành một phần quan trọng của hệ thống khoa học toàn cầu”. Bên cạnh những thuận lợi do có nguồn nội lực dồi dào, nhưng Ấn Độ cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn là những hạn chế trong hệ thống quản lý khoa học. Vậy làm thế nào để quốc gia này vươn lên trở thành nước đi đầu trong nghiên cứu sinh học.    Những hạn chế trong hệ thống quản lý quỹ khoa học  Theo truyền thống, những viện nghiên cứu sinh học chuyên đề có hai nguồn cung cấp tài chính: Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp (CSIR) và Bộ Khoa học và Công nghệ (DST) cùng với Văn phòng Công nghệ sinh học (CNSH). CSIR thường cấp kinh phí cho những công trình nghiên cứu lớn, trong khi DST và Văn phòng CNSH lại chú trọng hỗ trợ những dự án nhỏ. Nhìn bề ngoài, CSIR cung cấp kinh phí nghiên cứu theo quy trình hành chính đồng bộ, nhưng thực tế, nó vẫn  phải chịu đựng cách làm việc quan liêu không hiệu quả. Chính điều này đã gây cản trở cho những nhà phát minh trẻ mong muốn tìm kiếm và thiết lập những chương trình nghiên cứu mới. Ngân sách nghiên cứu phóng khoáng không quan trọng bằng việc tạo ra một kế hoạch hành chính hiệu quả.                     Một hạn chế nữa đó là chương trình nghị sự của các quỹ được phát triển liên kết với một nhóm các quan chức khoa học, thường xa rời thực tế về những lĩnh vực nghiên cứu mới. Điều này có xu hướng dẫn đến việc quan tâm nhiều hơn đối với các lĩnh vực như sinh học tế bào gốc, các nhóm biến đổi gen, vacxin điều trị AIDS, là những lĩnh vực mà khả năng nghiên cứu cơ bản cần được đẩy mạnh trước khi các ứng dụng được xem xét.  Sự thiếu hụt các nhà khoa học xuất sắc để xem xét hồ sơ đăng kí đề tài cũng là một khó khăn. Thêm vào đó, quá trình xem xét dự án thường không kiểm tra cẩn thận thành tích khoa học của người đăng kí đề tài, dẫn đến ưu tiên tài trợ cho các nhà khoa học nổi tiếng, những người này thường không yêu cầu có chuyên môn trong lĩnh vực đăng kí. Xu hướng chọn những vấn đề khoa học an toàn và tránh các dự án nhiều rủi ro cần phải được thay thế bằng sự pha trộn giữa rủi ro và sáng tạo. Sự miễn cưỡng trong khảo sát các nghiên cứu dẫn đến sự thoái hóa các tiêu chuẩn khoa học.  Một vấn đề quan tâm khác đó là sự thiếu hiểu biết của các lãnh đạo phòng thí nghiệm về những nhân tố thúc đẩy quá trình nghiên cứu. Một cách khó hiểu là, những nhà khoa học có xu hướng quên đi những khó khăn đã trải qua khi còn trẻ một khi họ đã có được những vị trí cao, như trưởng phòng thí nghiệm hoặc thành viên của hội đồng là những người nắm giữ việc điều khiển chính sách quỹ khoa học. Trong phạm vi các phòng thí nghiệm, việc ra quyết định tập trung vào giới lãnh đạo và các nhà nghiên cứu có rất ít tiếng nói trong các quyết định mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nghiên cứu của họ. Điều này tạo ra tình huống là các nhà khoa học cảm thấy mình không liên quan đến quá trình phát triển của các viện và bất lực trước hệ thống thứ bậc kỳ cục.  Tăng cường đầu tư cho khoa học ứng dụng                  Ấn Độ là một nước đang phát triển, và quốc gia này có định hướng phát huy mọi khả năng của khoa học phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đất nước. Đất nước Nam Á này đang tập trung đầu tư vào khoa học ứng dụng và để lại một ít không gian cho nghiên cứu cơ bản. Những cơ quan quản lý quỹ đều tăng cường hỗ trợ cho những nghiên cứu tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích trực tiếp cho xã hội.  Ở Mỹ, các nhà khoa học thường xuyên phàn nàn về những khó khăn trong việc hỗ trợ kinh phí NIH của họ. Thật ngạc nhiên, việc cung cấp kinh phí nghiên cứu lại không phải là vấn đề trong giới nghiên cứu Ấn Độ, bởi vì hầu hết những kế hoạch nghiên cứu chất lượng tốt gửi tới những cơ quan quản lý quỹ như DBT, DST và Hội đồng nghiên cứu y tế Ấn Độ đều được duyệt cấp kinh phí. Tuy nhiên, số tiền cấp cho những công trình nghiên cứu thường rất nhỏ (10,000-15,000 USD/năm), vì vậy buộc các nhà khoa học Ấn Độ phải tìm rất nhiều nguồn cung cấp kinh phí nghiên cứu khác nhau.  Chính phủ Ấn Độ đang tăng cường hỗ trợ cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Ngân sách của DBT và ICMR đã tăng lên trong sự vượt quá tốc độ lạm phát qua thập kỷ trước. Lượng tài chính được hỗ trợ bởi DBT và ICMR cho nghiên cứu sinh học được tăng lên. Cụ thể, nó đã tăng mức trợ cấp trung bình lên 30% (từ 10,000 USD lên 15,000 USD/năm). Những viện nghiên cứu mới như Trung tâm Sinh học phân tử và tế bào (CCMB) ở Hyderabad và Trung tâm Sinh học Quốc gia (NCBS) ở Bangalore được thành lập với nhiệm vụ thực hiện những nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực sinh học và những lĩnh vực liên quan phục vụ cuộc sống. Những nỗ lực vượt bậc của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tạo nên sức mạnh nghiên cứu nòng cốt, và tạo ra một bầu không khí lạc quan cho triển vọng nghiên cứu khoa học ở quốc gia này.  Con đường phía trước  Mặc dù phải đương đầu với nhiều thử thách phía trước, rất nhiều nhà nghiên cứu tin rằng, tương lai đang trở lên sáng sủa hơn đối với nghiên cứu sinh học ở Ấn Độ. Điều này được phản ảnh một cách rõ ràng không chỉ ở việc xuất hiện những bài báo của những nhà sinh học Ấn Độ trên những tạp chí nghiên cứu chuyên ngành quốc tế uy tín với những chỉ số tương tác cao, mà còn ở việc tăng số lượng nhà sinh học trẻ chất lượng cao, những người này đang trở về Ấn Độ để bắt đầu những chương trình nghiên cứu mũi nhọn. Ở phương Tây, những nhà khoa học trẻ này có thể dễ dàng nhận được những vị trí hấp dẫn, nhưng do nhiều lý do, họ đã chọn con đường trở về Ấn Độ.  Để phát huy tối đa tiềm năng của mình liên quan đến những nghiên cứu sinh học, theo các nhà khoa học hàng đầu của Ấn Độ thì quốc gia này cần phải có những cải cách trong các hệ thống khoa học: Những chương trình nghiên cứu và những đề xuất trợ cấp lớn phải được xem xét bởi những nhà khoa học độc lập đang làm việc ở ngoài đất nước Ấn Độ. Có rất nhiều nhà khoa học Ấn Độ làm việc ở nước ngoài muốn tham gia vào công việc này; Ấn Độ cần một hệ thống linh động hơn nhưng nghiêm ngặt hơn cho việc khuyến khích những nhà sinh học tài năng dựa trên những tiêu chuẩn khoa học khách quan. Hệ thống này cần hạn chế những nhà khoa học tầm thường và khuyến khích những nhà khoa học giỏi, tất nhiên, phải bằng tài chính; Truyền thống ra quyết định dựa trên số đông thay vì dựa trên một vài người nên phát triển trong các viện khoa học; Ngoài ra cần phải thiết lập những nguồn hỗ trợ khởi đầu dồi dào và chương trình quản lý cho những nhà khoa học trẻ để tăng khả năng cạnh tranh của họ. Hỗ trợ nghiên cứu cho các nhà khoa học Ấn Độ trẻ từ các tổ chức tài trợ quốc tế như Welcome Trust của Anh hay Viện Y học Howard Hughes sẽ nâng cao chất lượng nghiên cứu; Không chỉ những nghiên cứu sinh sau tiến sỹ mà ngay cả những sinh viên tốt nghiệp có thể tham gia vào hoạt động nghiên cứu trên những thiết bị khoa học hiện đại. Thật là không may mắn, hầu hết những tiến sỹ ở Ấn Độ đều rời đất nước để tiếp tục theo đuổi chương trình sau tiến sỹ ở nước ngoài. Vì vậy, những cơ quan quản lý quỹ nghiên cứu phải tìm cách khuyến khích để giữ lại một số nghiên cứu sinh nhất định và thu hút những sinh viên ngoại quốc giỏi đến Ấn Độ để tiếp tục những chương trình đào tạo bậc cao; Ấn Độ cũng cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng của các viện nghiên cứu, trường đại học, không chỉ dừng ở việc mua sắm thiết bị mới mà còn phải duy trì và sử dụng chúng hiệu quả. Nguồn tài chính nên được cung cấp để khuyến khích hợp tác liên ngành và chia sẻ những công nghệ đắt tiền; Ấn Độ cần đưa những chương trình đào tạo MD/PhD để đảm bảo việc chuyển những khám phá khoa học cơ bản thành những lợi ích y tế; Cuối cùng, thúc đẩy giáo dục đào tạo chất lượng cao trong lĩnh vực sinh học ở bậc đại học. Điều này sẽ khuyến khích những sinh viên giỏi tiếp cận đến những đẳng cấp nghiên cứu mới.  Ấn Độ có nhiều tiềm năng: một truyền thống hiếu học, một lực lượng lớn những tài năng khoa học, nguồn đa dạng sinh học phong phú, một dân số đông đảo cho nghiên cứu về những biến đổi gen liên quan đến bệnh tật. Bởi vậy, cộng đồng nghiên cứu về lĩnh vực khoa học cuộc sống của Ấn Độ đã tạo ra một đột phá quan trọng trong lĩnh vực sinh học hệ thống. Việc chuyển từ nghiên cứu hóa lý truyền thống trong sinh học sang những nghiên cứu về cơ chế bệnh sẽ trở thành một thế mạnh nghiên cứu cho tương lai. Có rất nhiều nhà khoa học Ấn Độ đang làm việc ở nước ngoài mong muốn được đóng góp để làm tăng chất lượng nghiên cứu của đất nước mình. Phương tiện thông tin đại chúng ở Ấn Độ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục và thông tin cho người dân về những phương pháp khoa học, tiến bộ nghiên cứu và những lợi ích của khoa học đối với xã hội. Nhưng trên tất cả, những nhà khoa học Ấn Độ cần phải được cung cấp một môi trường nghiên cứu thật tốt đầy kích thích và sáng tạo. Việc này sẽ nâng những nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sinh học lên một tầm cao mới.  Đức Phường (Theo Sciencedirect, Cell)      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Tường phí” của Elsevier chặn hàng ngàn nhà khoa học      Trong khi đang đàm phán một thỏa thuận mới với Elsevier, các nhà nghiên cứu tại những tổ chức nghiên cứu Đức đã mất quyền truy cập các gói thuê bao của nhà xuất bản này (cuộc đàm phán đã đánh mạnh vào bức tường phí của nhà xuất bản có những bài báo gần đây nhất với tổng lượng truy cập 10.000 lượt mỗi ngày, theo số liệu của Elsevier – nhà xuất bản ấn hành hơn 400.000 bài báo mỗi năm).      Thư viện quốc gia Thụy Điển (trong ảnh) và Elsevier không đồng thuận về một thỏa thuận truy cập mở. Nguồn: Nature  Nhưng ít nhất theo một số thư viện của Đức liên quan đến đàm phán về việc truy cập với Elsevier, họ vẫn tiết kiệm được tiền, không cần đến các gói thuê bao mà vẫn có khả năng cung cấp được bất kỳ bài viết nào theo yêu cầu học thuật.  Còn phải vượt qua một trở ngại lớn để đạt được thỏa thuận, đó là mong muốn của các tổ chức nghiên cứu: kết hợp giữa mức giá mà họ có thể trả cho các gói thuê bao những tạp chí phải trả phí với mức giá do các thư viện và nhà nghiên cứu trả để có thể truy cập mở các bài báo.  Trước đây, Liên minh thư viện quốc gia ở một số nước đã có những thỏa thuận được biết đến dưới tên gọi các hợp đồng đọc và xuất bản với các nhà xuất bản lớn khác. Vào giữa tháng 1/2019, dự án DEAL của Đức đang cố gắng thực hiện một thỏa thuận đặt mua chung nhằm thay thế cho các thỏa thuận đơn lẻ của từng tổ chức với Elsevier trước kia, kết thúc hai năm đàm phán bế tắc và ký thỏa thuận với nhà xuất bản Wiley.  Tuy nhiên, đàm phán với Elsevier còn khó khăn hơn: các cuộc đối thoại của Đức, Hungary và Thụy Điển với nhà xuất bản này đã thất bại, tuy nhiên Na Uy và hệ thống thư viện của Đại học California ở Mỹ vẫn tiếp tục (hiện tại hai đối tác này vẫn còn quyền truy cập). Trong khi đó, hàng ngàn nhà khoa học ở Đức, Hungary và Thụy Điển đang phải đối mặt với tình trạng bị mất quyền truy cập.  Philipp Kanske, một nhà tâm lý học ở Đại học Công nghệ Dresden, Đức, đã mất nhiều thời gian liên hệ với các thư viện hoặc gửi email trực tiếp cho các tác giả để đọc được các bài báo, tuy nhiên vẫn không thể tiếp cận được một số bài báo. Nhìn chung, Kanske ủng hộ các cuộc đàm phán hiện nay bởi ông hy vọng giới khoa học có thể tác động các tạp chí chuyển sang hướng truy cập mở hoàn toàn. Bởi vậy, ông sẵn sàng chấp nhận việc tạm thời chưa đạt được thỏa thuận – mặc dù Kanske mong rằng sớm đạt được một thỏa thuận thúc đẩy khoa học mở, bởi việc không được truy cập các kết quả của những phòng nghiên cứu khác là một “trở ngại không đáng có trên tiến trình phát triển”.  Trong khi đó, các thư viện ở Đức và Thụy Điển cho biết chưa gặp phải bất kỳ vấn đề nào không thể giải quyết – và dù có bất cứ chuyện gì xảy, họ vẫn tiết kiệm được tiền trong khi vẫn cung cấp đủ những bài báo kể từ khi Elsevier hạn chế truy cập. Theo Bernhard Mittermaier, người phụ trách thư viện trung tâm tại Trung tâm nghiên cứu Jülich, Đức và là một trong số những nhà đàm phán của dự án DEAL, hiện các thủ thư đang nhận được nhiều yêu cầu về những bài báo mà các nhà nghiên cứu không thể tự truy cập. Hầu hết các yêu cầu này được đáp ứng trong vòng một ngày bởi vì một trong số mười tổ chức của Đức vẫn còn thỏa thuận đặt mua với Elsevier. Nếu yêu cầu cần gấp, thư viện sẽ trả phí truy cập tạm thời để nhà nghiên cứu có thể tải bài báo về. Bằng cách này, thư viện đang tiết kiệm được khoảng một nửa chi phí so với đặt mua trước đó.  Theo Sara Parmhed, một thủ thư về nguồn tài nguyên điện tử ở thư viện Đại học Södertör, Stockholm, trong 6 tháng cuối năm 2018, số người sử dụng nền tảng Khoa học trực tiếp của Elsevier đã giảm khoảng 25-30% so với cùng kỳ năm 2017. Do nhu cầu về các bài báo Elsevier thông qua dịch vụ yêu cầu tài liệu của thư viện không gia tăng tương ứng, Jonas Gilbert, giám đốc thư viện nghi ngờ rằng các nhà khoa học đang chuyển sang các bài báo hoặc tạp chí khác – “hoặc tìm cách truy cập thông qua những kênh khác”. □  Thanh An lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00492-4?utm_campaign=reprints-desk-blogs-092018&utm_content=84616516&utm_medium=social&utm_source=facebook&hss_channel=fbp-157821580915772#correction-0    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương quan giữa hạnh phúc và chất lượng không khí ở Trung Quốc      Các nhà nghiên cứu tại MIT đã phát hiện ra rằng ô nhiễm không khí ở các thành phố của Trung Quốc có thể liên quan đến mức độ hạnh phúc thấp trong cộng đồng cư dân đô thị. Nghiên cứu phát hiện ra rằng khi mức ô nhiễm không khí cao hơn thì tâm trạng cư dân thể hiện trên các phương tiện truyền thông xã hội có xu hướng trở nên tiêu cực hơn.      Ô nhiễm không khí ở các thành phố của Trung Quốc có thể là một nguyên nhân cho mức độ hạnh phúc thấp trong cộng đồng dân cư đô thị. Nguồn: MIT  Nhiều năm nay Trung Quốc đã phải vật lộn với vấn đề giải quyết mức độ ô nhiễm cao ở các thành phố lớn. Thậm chí, một nghiên cứu gần đây của các nhà nghiên cứu tại Đại học Hồng Kông Trung Quốc đã phát hiện ra rằng ô nhiễm không khí ở nước này gây ra trung bình 1,1 triệu ca tử vong sớm mỗi năm và gây thiệt hại 38 tỷ đô la cho nền kinh tế.  Bây giờ các nhà nghiên cứu tại MIT lại phát hiện ra rằng ô nhiễm không khí ở các thành phố của Trung Quốc có thể là một nguyên nhân cho mức độ hạnh phúc thấp trong cộng đồng dân cư đô thị.  Trong một bài báo đăng trên tạp chí Nature Human Behavior, một nhóm nghiên cứu do Siqi Zheng, giáo sư Khoa Nghiên cứu và Quy hoạch đô thị, Giám đốc Phòng thí nghiệm thành phố tương lai (China Future City) của MIT tại Trung Quốc, phụ trách tiết lộ rằng mức độ ô nhiễm cao có liên quan đến sự suy giảm hạnh phúc ở nhiều mức độ. Các đồng tác giả của bài báo là Jianghao Wang từ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Matthew Kahn từ Đại học Nam California, Cong Sun từ Đại học Tài chính và Kinh tế Thượng Hải, và Xiaonan Zhang từ Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh.  Họ chỉ ra vấn đề: mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 8%, mức độ hài lòng của người dân thành thị Trung Quốc không tăng nhiều như mong đợi. Bên cạnh các dịch vụ công cộng không đầy đủ, giá nhà tăng vọt và những lo ngại về an toàn thực phẩm, thì ô nhiễm không khí – do quá trình công nghiệp hóa, đốt than và tăng sử dụng ô tô – đang ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống ở khu vực thành thị.  Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng ô nhiễm không khí gây hại cho sức khỏe, khả năng nhận thức, năng suất lao động và kết quả giáo dục. Nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy ô nhiễm không khí còn có phạm vi tác động rộng lớn hơn, cụ thể là đối với đời sống xã hội và các hành vi xã hội, theo ông Zheng.  Ví dụ, để tránh mức độ ô nhiễm không khí cao, mọi người có thể di chuyển đến các thành phố sạch hơn hoặc các tòa nhà xanh, mua các thiết bị bảo vệ như khẩu trang và máy lọc không khí và dành ít thời gian ngoài trời hơn.  “Ô nhiễm cũng có một chi phí về mặt cảm xúc”, ông Zheng nói. “Khi người dân không hài lòng, họ có thể đưa ra các quyết định phi lý”.   Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu đã cho thấy: vào những ngày ô nhiễm, mọi người có nhiều khả năng có các hành vi bốc đồng, mạo hiểm và có thể gây hậu quả đáng tiếc về sau. Theo Zheng, các hành vi này có thể là kết quả của trạng thái trầm cảm và lo lắng ngắn hạn.  “Chúng tôi muốn khám phá một loạt các tác động của ô nhiễm không khí đối với cuộc sống hàng ngày của người dân tại các thành phố bị ô nhiễm nặng của Trung Quốc,” Zheng nói.  Để thực hiện mục tiêu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu thời gian thực từ phương tiện truyền thông xã hội ở 144 thành phố của Trung Quốc để theo dõi mức độ ô nhiễm hàng ngày ảnh hưởng thế nào đến mức độ hạnh phúc của người dân.  Trước đây thông thường mức độ hạnh phúc thường được đo bằng bảng hỏi. Tuy nhiên, các khảo sát như vậy chỉ cung cấp duy nhất một cái nhìn đơn lẻ; phản hồi của mọi người chỉ có xu hướng phản ánh cảm giác hạnh phúc tổng thể hơn là hạnh phúc của họ vào những ngày cụ thể.  “Truyền thông xã hội cung cấp một thước đo thời gian thực về mức độ hạnh phúc của người dân và cũng cung cấp một lượng dữ liệu khổng lồ, trên nhiều thành phố khác nhau,” Zheng nói.  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thông tin về mức độ hạt siêu mịn PM 2.5 từ các báo cáo chất lượng không khí hàng ngày do Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc phát hành. Các hạt bụi lơ lửng trong không khí đã trở thành chất gây ô nhiễm không khí chính ở các thành phố Trung Quốc trong những năm gần đây và các hạt PM 2.5, có đường kính nhỏ hơn 2.5 micromet, là các hạt đặc biệt nguy hiểm đối với phổi người.  Để đo lường mức độ hạnh phúc hàng ngày cho mỗi thành phố, nhóm nghiên cứu đã áp dụng thuật toán máy học để phân tích 210 triệu bài có gắn thẻ địa điểm trên Weibo – nền tảng mạng xã hội lớn nhất của Trung Quốc.  Các bài đăng được lấy trong thời kỳ từ tháng 3 đến tháng 11/2014. Đối với mỗi bài đăng, các nhà nghiên cứu áp dụng thuật toán phân tích tình cảm được đào tạo bằng máy học để đo lường mức độ cảm xúc. Chỉ số hạnh phúc được biểu thị từ 0 đến 100, với 0 biểu thị tâm trạng rất tiêu cực và 100 là rất tích cực. Sau đó các nhà nghiên cứu tính chỉ số hạnh phúc trung bình cho mỗi thành phố trong một ngày nhất định.  Cuối cùng, các nhà nghiên cứu hợp nhất chỉ số này với dữ liệu thời tiết và nồng độ PM2.5 hàng ngày. Họ tìm thấy một mối tương quan tỉ lệ nghịch đáng kể giữa mức độ ô nhiễm và mức độ hạnh phúc. Ngoài ra nghiên cứu cho thấy phụ nữ nhạy cảm với mức độ ô nhiễm hơn nam giới và tương tự, nhóm có thu nhập cao cũng nhạy cảm với mức độ ô nhiễm hơn so với các nhóm xã hội khác.  Khi các nhà nghiên cứu xem xét thành phố xuất xứ của các bài đăng, họ thấy rằng những người từ các thành phố sạch nhất và bẩn nhất thuộc nhóm có mức độ hạnh phúc bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì ô nhiễm. Điều này có thể là do những người đặc biệt quan tâm đến sức khỏe và chất lượng không khí có xu hướng chuyển đến các thành phố sạch sẽ, trong khi những người ở các thành phố rất bẩn nhận thức rõ hơn về tác hại đối với sức khỏe của họ do tiếp xúc lâu dài với các chất ô nhiễm, Zheng nhận xét.  Thông qua việc sử dụng một cách sáng tạo dữ liệu truyền thông xã hội, các tác giả đã chứng minh mối liên hệ mạnh mẽ giữa chất lượng không khí và sự bày tỏ cảm xúc, một thước đo liên quan đến hạnh phúc, Shanjun Li, giáo sư kinh tế môi trường tại Đại học Cornell, nhận xét. “Nghiên cứu này bổ sung vào kiến thức khoa học ngày càng tăng về chi phí xã hội của ô nhiễm không khí bằng cách tập trung vào nhóm đa số bị ảnh hưởng, những người không thường xuất hiện trong các nghiên cứu dựa trên kết quả về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong”, ông Li nói.  Giờ đây, Zheng hy vọng sẽ tiếp tục nghiên cứu về tác động của ô nhiễm đối với hành vi của người dân, và điều tra cách các chính trị gia Trung Quốc phản hồi với nhu cầu ngày càng tăng của công chúng về không khí sạch.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: http://news.mit.edu/2019/china-link-happiness-air-quality-0121    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tương tự quang học của bức xạ Hawking      Các nhà vật lý đã thực hiện được sự tương tự quang học của bức xạ Hawking. Đây là một tiến bộ lớn nhằm chứng minh bức xạ Hawking là một hiện tượng phổ quát (universal) trong vũ trụ. Bức xạ Hawking không những tồn tại trong Thuyết tương đối rộng (General Relativity GR) mà còn trong nhiều môi trường khác như một dòng chảy, ngưng tụ Bose – Einstein (BEC), sợi quang học…  Bài này sẽ giới thiệu về bức xạ Hawking trong Thuyết tương đối rộng, ý tưởng sáng tạo của Unruh (lan truyền âm thanh  trong một dòng chảy) và cuối cùng là chuyển động của ánh sáng trong môi trường quang học.        Ý tưởng nằm sau ba vấn đề đó là  mở ra những mối liên hệ sâu kín giữa nhiều lĩnh vực của vật lý hiện đại.  1/Bức xạ Hawking trong Thuyết tương đối rộng  Trong Thuyết tương đối rộng tồn tại lỗ đen, lỗ đen có chân trời sự kiện – tức ranh giới có thể đi vào nhưng không thể thoát ra được đối với mọi vật, kể cả ánh sáng (xem hình 1).       Hình 1. Chân trời lỗ đen và bức xạ Hawking.  Lỗ đen thực tế không phải đen hoàn toàn. Nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc Hawking chứng minh rằng lỗ đen có phát ra bức xạ → đó là bức xạ Hawking.  Những nhiễu loạn chân không trong vùng lân cận của chân trời sự cố làm xuất hiện những cặp hạt, một hạt rơi vào trong lỗ đen còn hạt còn lại bay ra ngoài lỗ đen làm thành bức xạ Hawking.  2/Tương tự hiện tượng Hawking trong môi trường đông đặc  Ý tưởng của Unruh   Lần đầu tiên nhà vật lý Unruh đưa ra ý tưởng bức xạ Hawking có thể xảy ra không phải chỉ trong Thuyết tương đối rộng mà có thể trong một môi trường khác khi xét sự chuyển động âm thanh trong một dòng nước.  Sự bay hơi của lỗ đen là một tiên đoán của Hawking sử dụng Lý thuyết lượng tử trong không gian cong đã gây nhiều ngạc nhiên và kích thích trí tưởng tượng của mọi người. Nhưng hiện tượng này chưa được quan sát thực nghiệm.  Chúng ta chưa có lý thuyết thống nhất hấp dẫn và lượng tử, song ta thấy rằng bức xạ nhiệt không phải là bức xạ riêng của lỗ đen mà đó còn là đặc trưng của nhiều hệ tương tự  lỗ đen. Ví dụ một lỗ âm thanh (dumb hole) hình thành khi vận tốc của một chất lỏng vượt qua vận tốc âm thanh tại một mặt kín. Mặt kín này làm thành chân trời âm thanh tương tự như chân trời lỗ đen. Năm 1981 Unruh (hình 4) đã chứng minh rằng sự lan truyền của sóng âm thanh trong một chất lỏng hoàn toàn tương tự như sự lan truyền của một sóng vô hướng (scalar) trong không thời gian của một lỗ đen.  Hãy tưởng tượng bạn là một con cá và đồng thời là một nhà vật lý sống trong một dòng sông. Trên một điểm của dòng sông có một cái thác dữ dội, tại đó vận tốc nước vượt quá vận tốc âm thanh trong nước. Rõ ràng nếu bạn vượt qua điểm thác nước, bạn sẽ kêu lên tiếng kêu tuyệt vọng song tiếng kêu đó lẽ dĩ nhiên không đến được tai ai đó ở vùng thượng lưu của thác. Tiếng kêu sẽ lan truyền trong nước song nước sẽ xóa mất tiếng kêu tại điểm trên thác vì ở đấy vận tốc nước lớn hơn vận tốc âm thanh. Như vậy nếu bạn tiến đến bề mặt đặc thù đó (bề mặt chân trời) thì tiếng kêu phát ra từ các điểm càng gần bề mặt đó thì càng cần nhiều thời gian để thoát đến một điểm xa bề mặt đó. Đây là hiện tượng tương tự hiện tượng xảy ra trong một lỗ đen. Một vật gì rơi qua bề mặt chân trời của lỗ đen thì không thể phát ra được một tín hiệu có khả năng đi ra vũ trụ bên ngoài chân trời.      Hình 2.   William George Unruh, nhà vật lý lý thuyết Canada sinh năm 1945 tại Winnipeg,  Manitoba, Canada, tác giả của hiệu ứng Unruh.  Người ta không thể thấy được những vật đã rơi vào lỗ đen cũng như không thể nghe được điều gì từ mọi vật đã rơi vào một lỗ âm thanh (dumb hole- acoustic hole) tương tự.  Lý thuyết minh họa   Một lỗ âm thanh được hình thành khi vận tốc của chất lỏng vượt qua vận tốc âm thanh tại một mặt kín. Mặt kín này tạo thành chân trời âm thanh tương tự như chân trời lỗ đen.  Như trên đã nói năm 1981, Unruh [1] chứng minh  rằng  sự lan truyền sóng âm trong một chất lỏng siêu âm (supersonic) hoàn toàn giống sự lan truyền một sóng vô hướng trong không thời gian lỗ đen.      Hình 3. Một mô hình đơn giản mô tả chân trời âm thanh. Các véc-tơ biểu diễn tốc độ dòng chảy,véc-tơ càng dài thì tốc độ càng lớn. Chân trời sự cố âm thanh (tương tự của chân trời sự cố lỗ đen) xuất hiện khi tốc độ dòng chảy bằng tốc độ âm thanh.    Như thế dù đã được tiên đoán từ năm 1981 song lỗ đen âm thanh mới chỉ được tạo ra trong phòng thí nghiệm trong những năm 2009-2010.  Theo Unruh, những nhiễu loạn âm thanh lan truyền trong một chất lỏng không đồng nhất đang chảy được mô tả bằng phương trình:  ∆Ѱ = ∂μ (√-ggμν ∂ν Ѱ)/√-g = 0  Trong đó ν = ▼Ѱ và metric âm thanh (acoutic metric) gμν = g(t, x) điều khiển sự lan truyền sóng âm phụ thuộc vào mật độ, vận tốc dòng chảy và vận tốc định xứ của âm thanh. Metric âm thanh  mô tả hình học Lorentz.  Từ đó có thể suy ra được metric ds2 và so sánh với metric Schwarzschild của một lỗ đen. Chuyển sang lý thuyết lượng tử và tiến hành tính toán tương tự như trong lỗ đen có thể tìm ra nhiệt độ bức xạ Hawking song bây giờ là của các phonon (thay vì photon hay các hạt khác): kTH = ħgH / (2πc).  3/ Bức xạ Hawking trong quang học   Điều đáng chú ý là nhiều hệ vật lý có thể xem như những tương tự (analogue) của lỗ đen. Đặc biệt nhiều kết quả của phương hướng hiện đại QUANG HỌC BIẾN ĐỔI (transformation optics) – tức sự mô tả các hệ quang học bằng hình học không thời gian đã dẫn đến sự mô tả chi tiết các phương pháp tạo nên những chân trời sự cố đối với photon.  Người ta đã sử dụng những xung laser (laser pulse) để tạo nên những chỉ số nhiễu loạn khúc xạ chuyển động (refractive index perturba- tion RIP) để thực hiện hình học không thời gian cong trong quang học. Như chúng ta biết hiện tượng khúc xạ làm thay đối vận tốc của dòng chảy. Vì thế các RIP làm thay đổi vận tốc dòng chảy và tạo nên những lỗ đen (black hole) và những lỗ trắng (white hole).      Hình 4. Sự hình thành các lỗ đen và lỗ trằng        Hình 4 mô tả sự hình thành các lỗ đen và lỗ trắng của dòng nước (vận tốc v) còn tương tự dòng âm thanh (sound flow) trong thí nghiệm Unruh  là một chất chảy (vận tốc c, mô tả bởi 2 đường thẳng đen đậm nằm nghiêng) trên dòng nước đó!   Vận tốc này tạo metric cho dòng nước (ví dụ tạo thác đổ trong thí nghiệm Unruh) và độc lập với dòng âm thanh – sound flow trong thí nghiệm Unruh.  Khi vận tố v=c (xem đường đen đậm bên trái hình)dòng v tăng dần như bị hút bởi một lỗ đen.  Còn khi v=c (xem đường đen đậm bên phải hình) dòng bị chậm dần như bị đẩy ra ngoài bởi một lỗ trắng.  v=vận tốc dòng nước (trong tương tự Unruh),  V=trị số của c tại chân trời sự cố à Cao Chi → Vật lý hiện đại tập I trang 92.  c= vận tốc dòng âm thanh (trong tương tự Unruh)  Tại đầu (leading edge) của RIP) ta có black hole (khi dòng rới vào vùng có khúc xạ nhỏ hơn vận tốc bị gia tăng tại điểm xBH-điểm chân trời của lỗ đen.  Tại  đuôi (trailing edge of RIP) ta có white hole (khi dòng rơi vào vùng có khúc xạ lớn hơn vận tốc bị kìm lại tại điểm xWH –điểm chân trời của lỗ trắng.  Những thí nghiệm  Các nhà vật lý đã đưa ra nhiều ý tưởng thí nghiệm thực hiện tình huống tương tự lỗ đen tuân theo đúng những phương trình cơ bản trong các môi trường đông đặc: khí nguyên tử siêu lạnh, trong các sợi quang học hoặc đơn giản trong các dòng chảy của nước thông thường. Vì không thể trực tiếp quan sát được lỗ đen, các nhà vật lý đã tìm những hiện tượng tương tự có khả năng “bắt chước” cách hành xử của các đối tượng vũ trụ học.  Tồn tại một tập phong phú các hệ vật lý sở hữu hiện tượng tương tự hiện tượng Hawking bắt đầu từ một dòng nước chảy, một ngưng tụ Bose-Einstein đến một nhiễu loạn của hệ số khúc xạ chuyển động RIP (relative index perturbation) trong  điện môi (dielectric).  Nội dung phương pháp sau là sử dụng laser để tạo nên mặt chân trời. Ánh sáng mạnh có khả năng thay đổi hệ số khúc xạ của môi trường vốn điều khiển vận tốc lan truyền của ánh sáng.  Năm 1981, ý tưởng của William Unruh mới chỉ là một ý tưởng thực nghiệm tưởng tượng và bị các nhà vật lý môi trường đông đặc, vật lý nguyên tử, quang học lượng tử bỏ quên. Mãi đến những năm 2009 – 2010, Daniele Faccio (Đại học Heriot-Watt, Edinbourg, Anh) cùng đồng nghiệp ở Đại học Insubria và Franco Belgiorno (Đại học Milan) đề xuất nhiều thí nghiệm  thực hiện sự tương tự hiệu ứng Hawking.  Các nhà vật lý cho rằng họ đã tìm cách tạo nên bức xạ Hawking trong phòng thí nghiệm chứng minh được tiên đoán của Hawking.  Họ đã tạo ra một vùng không gian trong đó các cặp hạt-phản hạt liên tục sinh và hủy. Hiện tượng chân trời không chỉ tồn tại trong các lỗ đen. Bất cứ trong một môi trường trong đó có sóng lan truyền đều có thể tồn tại một chân trời sự cố và người ta có hy vọng quan sát được bức xạ Hawking.  Họ đã tạo ra bức xạ Hawking bằng cách dùng một xung laser cường độ cao xuyên qua một vật liệu  phi tuyến, tức là một vật liệu trong đó ánh sáng có thể làm thay đổi hệ số khúc xạ (refractive index) của môi trường.  Khi xung lượng chuyển động trong vật liệu làm thay đổi hệ số khúc xạ tạo nên một cung sóng trong đó hệ số khúc xạ lớn hơn rất nhiều so với xung quanh. Việc tăng hệ số khúc xạ làm cho ánh sáng dừng lại không vào được vùng cung sóng. Điều này tạo nên một bề mặt chân trời mà ánh sáng không lọt vào được. Các nhà vật lý gọi đó là một lỗ trắng (đối tượng nghịch đảo của lỗ đen, lỗ trắng không cho phép ánh sáng đi vào).  Lỗ trắng không khác gì lỗ đen và ta không khó gì hình dung điều gì sẽ xảy ra cho một cặp hạt ảo ở chân trời lỗ trắng. Nếu một cặp hạt đi qua chân trời thì một hạt sẽ bị bẫy và hạt kia được tự do chuyển động và tạo nên những hạt lượng tử.  Họ đã quan sát được bức xạ Hawking dưới dạng xung hồng ngoại với tần số 850 nm ở góc 90 độ so với xung vào ban đầu  có tần số 1055 nm (xem hình 5). Kết quả thu được cần kiểm nghiệm.    Hình 5. Sơ đồ thực nghiệm ghi đo hiện tượng tương tự bức xạ Hawking.   Một xung laser được quy  tiêu điểm vào một khối FS (silica nóng chảy) nhờ thấu kính F. Một thấu kính I tập hợp các photon bức xạ ở góc 90 độ và hường bức xạ vào một phổ kế có kèm CCD (Charge-coupled Device).     Kết luận      Bài này cung cấp thông tin đến bạn đọc về một vấn đề lớn hơn: mối tương tự giữa vũ trụ học và vật lý các môi trường đông đặc.  Có thể nói giữa vũ trụ học và vật lý các môi trường đông đặc có một mối tương tự quan trọng cho phép chúng ta ánh xạ những hiện tượng vũ trụ đến các hiện tượng của môi trường đông đặc (ví như lỗ đen-black hole và lỗ âm thanh – dumb hole, acoustic hole).  Chính bức tranh tương tự này sẽ mở ra những mối liên hệ sâu kín giữa nhiều lĩnh vực của vật lý hiện đại.□     Tài liệu tham khảo và chú thích  [1] “First Observation of Hawking Radiation” from the Technology Review  [2] Unruh W. G 1981 Experimental black-hole evaporation?. Phys. Rev. Lett.46, 1351–1353. doi:10.1103/PhysRevLett.46.1351.   [3] M. Visser, “Acoustic black holes: Horizons, ergospheres, and Hawking radiation,” Class. Quantum Grav. 15, 1767 (1998) [gr-qc/9712010];“Acoustic propagation in fluids: An unexpected exampleof Lorentzian geometry”, gr-qc/9311028;“Acoustic black holes”, gr-qc/9901047.  [4] Jonathan Drori,Yuval Rosenberg, David Bermudez, Yaron Silberberg, and Ulf Leonhardt (Weizmann Institute of Science, Rehovot 7610001, Israel Departamento de FIsica, Cinvestav, A.P. 14-740, 07000 Ciudad de Mexico, Mexico).  Observation of Stimulated Hawking Radiation in an Optical Analogue  (Dated: January 15, 2019)  arXiv:1808.09244v4  [gr-qc]  13 Jan 2019  [5] Daniele Faccio ,Laser pulse analogues for gravity and analogueHawking radiation. School of Engineering and Physical Sciences, SUPA, Heriot-Watt University, Edinburgh,  EH14 4AS, UK. http://dx.doi.org/10.1080/00107514.2011.642559  [6] F. Belgiorno,  S.L. Cacciatori, M. Clerici,  V. Gorini,G. Ortenzi,  L. Rizzi, E. Rubino, V.G. Sala, D. Faccio, Hawking radiation from ultrashort laser pulse ﬁlaments, arXiv:1009.4634v1  [gr-qc]  23 Sep 2010    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Tuyến tụy nhân tạo đem lại hy vọng cho bệnh nhân tiểu đường      Tạp chí Bệnh tiểu đường và Nội tiết học  Lancet (the Lancet Diabetes and Endocrinology Journal) vừa công bố kết  quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học Cambridge. Theo nhóm tác  giả bài báo, các thí nghiệm của họ đã chứng minh thiết bị Tuyến tụy nhân  tạo (TTNT, Artificial pancreas) có hiệu quả sử dụng cao, có thể giúp  hàng triệu bệnh nhân tiểu đường được sống cuộc đời bình thường mà không  cần liên tục tiêm insulin hằng ngày như hiện nay.    TTNT có hình dạng như chiếc iPod, có thể dùng thắt lưng để đeo trên quần áo bệnh nhân. Nó có một cửa sổ hiển thị và một chiếc bơm tiêm nối vào da bệnh nhân. Nguyên lý làm việc của TTNT là liên tục đo-theo dõi mức đường huyết của bệnh nhân và cứ cách một thời gian định sẵn, nó lại tự động bơm một lượng insulin thích hợp vào bệnh nhân để giữ cho mức đường huyết luôn luôn ở trị số bình thường.  Trong lần thí nghiệm đầu tiên sáng chế nói trên, 24 bệnh nhân người Anh mắc chứng tiểu đường loại I – những người mà tuyến tụy của họ ngừng tiết ra chất insulin – đã mang thiết bị TTNT về nhà, đeo và dùng thử một tháng, bỏ không tự tiêm insulin như trước đây. Nên biết rằng, để giữ mạng sống, hằng ngày bệnh nhân tiểu đường loại I phải tự tiêm insulin từ hai đến năm lần (tiêm dưới da) và phải thường xuyên tự theo dõi lượng đường huyết của mình bằng cách trích máu ở đầu ngón tay và nhỏ máu lên giấy thử để xem kết quả.  Tiến sĩ Roman Hovorka đứng đầu dự án nghiên cứu của ĐH Cambridge nói thiết bị TTNT có hiệu quả rất lý tưởng. Tiến sĩ Alasdair Rankin Giám đốc nghiên cứu Viện Tiểu đường Anh nói: “Các kết quả kể trên là niềm phấn khởi lớn. Công nghệ mới này đem lại những ích lợi rõ rệt về sức khỏe cho các bệnh nhân tiểu đường loại II.”   Ở bệnh nhân tiểu đường loại II, cơ thể không thể sản xuất đủ chất insulin hoặc không thể sử dụng chất này một cách bình thường. 14% bệnh nhân tiểu đường loại II nặng nhất cũng phải tiêm insulin.  Hiện nay các nhà khoa học đang có kế hoạch thí nghiệm ở quy mô lớn hơn; nếu thành công thì thiết bị TTNT sẽ có thể được nhà chức trách Anh Quốc cho phép sử dụng trong hệ thống y tế nước này.  Sau khi khoa học tinh chế được insulin, bệnh nhân tiểu đường loại I có thể giữ cho bệnh không phát triển bằng cách tiêm insulin dưới da hằng ngày suốt đời; không tiêm thì sẽ xảy ra các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thận, hoại tử. Bệnh nhân tiểu đường loại II, chiếm 90% các ca bệnh tiểu đường, thì phải dùng thuốc kích thích dịch tiết insulin. Ngày nay ai cũng có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường vì những lý do như ăn nhiều chất béo, lười vận động. Đây là một bệnh mãn tính gây tử vong thứ tư ở các nước phát triển, nhưng chưa có cách điều trị tận gốc. Với mức tăng 211% trong 10 năm qua, Việt Nam có tốc độ tăng số bệnh nhân tiểu đường nhanh nhất thế giới.   Chú thích ảnh:  1.    Thiết bị cảm biến: được đặt dưới da để liên tục đo nồng độ đường huyết trong tế bào của người bệnh.  2.    Máy nhận thông số đường huyết: hiển thị những thông số được cập nhật thành đồ thị và các xu hướng mỗi phút và chuyển các thông số từ ổ USB sang cổng Bluetooth.  3.    Thiết bị quản lý thuật toán: các thông số được gửi đến một thiết bị quản lý thuật toán để phân tích và tính toán liều lượng insulin chính xác (nếu cần). Thiết bị này có thể là điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc máy tính bàn v.v.   4.    Bơm tiêm insulin: thiết bị quản lý thuật toán sẽ liên lạc với một bơm tiêm insulin được gắn trên cơ thể, tự động tiêm lượng insulin chính xác vào người bệnh qua một ống thông dò được cài dưới da.  Nguyễn Hải Hoành dịch theo các nguồn tin nước ngoài    Author                Quản trị        
__label__tiasang Tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở trẻ em tăng 13% trên toàn thế giới      Theo dữ liệu từ bộ phận theo dõi ung thư của WHO, số trẻ em mắc bệnh ung thư đã tăng 13% trong vòng 20 năm qua.    Ung thư hiếm khi xảy ra ở trẻ em; khi xảy ra, nhiều khả năng là do cấu tạo gene của trẻ hơn là do lối sống hoặc môi trường.  Một phần nguyên nhân số trẻ em mắc ung thư tăng được cho là do khả năng phát hiện tốt hơn.  Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), nơi công bố những phát hiện của họ trên tạp chí y khoa Lancet Oncology, cho biết con số được thu thập từ các kho dữ liệu về ung thư trên thế giới đã tăng lên từ những năm 1980. Giai đoạn 2001-2010, cứ một triệu người thì có 140 trẻ em dưới 14 tuổi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư, tăng 13%.  Đây là lần đầu tiên IARC đưa ra con số thanh thiếu niên mắc bệnh ung thư. Có 185 trẻ vị thành niên/triệu người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư, hầu hết là u lymphô, hay còn gọi là ung thư hạch bạch huyết.  1/3 các trường hợp dưới 15 tuổi bị bệnh bạch cầu, một loại ung thư máu giờ đã được điều trị thành công ở châu Âu và Mỹ.  Một bài báo khác, xuất bản trên tạp chí Huyết học Lancet, xem xét tỷ lệ sống sót ở trẻ em mắc bệnh bạch cầu tăng lymphô bào cấp tính (ALL) trên khắp thế giới từ năm 2005 đến năm 2009. Ở Đức, 92% trẻ em sống được ít nhất 5 năm, nhưng ở Colombia con số này chỉ là 52%.  Tỷ lệ sống sót đã được cải thiện đáng kể ở tất cả các nước. Từ giai đoạn 1995-1999 đến giai đoạn 2005-2009, tỷ lệ sống sót 5 năm đối với bệnh ALL ở trẻ em tăng từ 79% lên 89% ở Anh, và từ 83% lên 88% ở Mỹ.  Đối với dạng bệnh thứ hai, bệnh bạch cầu nguyên bào tủy cấp tính (AML), tỉ lệ sống sót 5 năm tăng từ 59% lên 68% ở Anh và từ 52% lên 63% ở Mỹ. Cùng giai đoạn này, tỷ lệ sống sót ở Trung Quốc tăng đáng kể – từ 11% lên 69% đối với bệnh nhân ALL, và 4% lên 41% đối với bệnh nhân AML.  Nghiên cứu của IARC về sự gia tăng ung thư trên toàn cầu đã thu thập thông tin từ các kho dữ liệu về ung thư trên toàn thế giới. Tuy nhiên, trong khi diện bao phủ của dữ liệu là 100% trẻ em ở châu Âu và Bắc Mỹ, thì nó chỉ chiếm 5% hoặc thấp hơn ở châu Phi và châu Á, nơi thông tin này không được thu thập thường xuyên.  Ở những nước nghèo, một số bệnh ung thư ở trẻ em không bao giờ được chẩn đoán và số tử vong của trẻ sẽ không được ghi nhận. Các yếu tố xã hội có thể giải thích tại sao số lượng bệnh nhân ung thư ở trẻ em gái và trẻ sơ sinh rất thấp.  Bà Anna Perman, quản lý thông tin khoa học cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư của Anh, cho biết: “Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ hơn về các triệu chứng của bệnh ung thư ở trẻ em, giúp các bác sĩ phát hiện những người trước đây có thể đã chết mà không được chẩn đoán. Không chắc là yếu tố môi trường mà trẻ em tiếp xúc trong những năm đầu đời hay trong quá trình phát triển trong bụng mẹ đóng vai trò lớn trong sự gia tăng này. Mặc dù một số yếu tố môi trường và lối sống có đóng vai trò trong việc bệnh ung thư đang gia tăng, nhưng những yếu tố này thường mất nhiều năm mới ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh ung thư và không chắc gây ra ung thư ở trẻ”.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/society/2017/apr/11/recorded-childhood-cancers-rise-worldwide-world-health-organization    Author                Quản trị        
__label__tiasang UAE: Giảm 22,5 triệu tấn phát thải carbon hằng năm nhờ điện hạt nhân      Barakah, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của UAE và của các quốc gia Ả rập, sẽ giảm thiểu phát thải carbon hằng năm lên tới 22,5 triệu tấn, theo thông tin từ Arab News.      Kỹ sư làm việc trong phòng vận hành lò phản ứng số một (ngày 19/8/2021) khi những megawatt điện đầu tiên từ lò phản ứng được nối lưới điện quốc gia. Nguồn: Embassy of the United Arab Emirates  So với tính toán trước đây thì con số 22,5 triệu tấn này cao hơn 6%.  “Quyết định đúng đắn về việc đưa thêm năng lượng hạt nhân vào các nguồn năng lượng của UAE đã được chứng thực với kết quả tích cực này. Tập đoàn điện hạt nhân UAE đang hướng về phía trước để đóng góp vào việc đạt được những mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050”, Arab News trích dẫn phát biểu của ông Mohamed Ibrahim Al Hammadi, CEO của nhà máy điện hạt nhân Barakah.  Phát thải carbon ở Abu Dhabi được mong đợi là sẽ giảm 50% vào năm 2025 khi nhà máy điện hạt nhân vận hành đủ bốn lò phản ứng, kết hợp với việc tiến hành các dự án điện mặt trời mới, và gia tăng sự hiệu quả của việc vận hành các dự án khử nước mặn ở thành phố.  Barakah được dự báo sẽ cung cấp hơn 85% điện “xanh” ở Abu Dhabi vào năm 2025. Khi vận hành đầy đủ, Barakah sẽ tạo ra 5,6 gigawatts điện, tương đương 25% nhu cầu điện năng của UAE mà không đi kèm phát thải carbon.  Theo hãng thông tấn Reuters, mục tiêu này đang trở thành hiện thực khi lò phản ứng thứ hai của Barakah sẽ bắt đầu phát điện và nối lưới điện trong vài tháng tới. Lò phản ứng thứ ba sẽ được khởi động vào cuối năm 2022, ông Mohammed al-Hammadi cho biết trong một hội thảo về tài chính bền vững ở Abu Dhabi.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.reuters.com/world/middle-east/unit-2-uaes-nuclear-plant-start-operations-within-months-2022-01-19/  https://www.arabnews.com/node/2007731/business-economy    Author                Quản trị        
__label__tiasang Úc tiếp tục không có chính sách ứng phó biến đổi khí hậu      Thủ tướng tân nhiệm của Úc đã bỏ qua chính sách quốc gia về cắt giảm khí thải nhà kính. Các nhà khoa học khí hậu nói rằng động thái này chứng tỏ chính phủ đã hoàn toàn bỏ qua các cam kết trong Thỏa thuận Paris về khí hậu đến năm 2015.      Úc mới phải chịu cảnh hạn hán trên diện rộng. Nguồn: Nature.  “Họ lặng lẽ từ bỏ Thỏa thuận Paris với hi vọng không ai chú ý đến điều đó,” Lesley Hughes, một nhà khoa học về biến đổi khí hậu tại Đại học Macquarie, Sydney, nói. Theo bà, không có chính sách về cắt giảm lượng carbon dioxide ô nhiễm, chính phủ sẽ không thực hiện được cam kết quốc tế của mình.  Úc hiện trở thành nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ bỏ qua các chính sách giảm phát thải từ hội nghị khí hậu Paris năm 2015. Tổng thống Donald Trump đã ký sắc lệnh loại bỏ các điều luật về khí hậu vào tháng 3/2017, sau đó đưa Mỹ rút khỏi Thỏa thuận Paris vào tháng 6/2017.  Việc Úc hoàn toàn từ bỏ Thỏa thuận Paris có thể diễn ra vào cuối tháng 8, khi Đảng Tự do đang cầm quyền đưa ông Scott Morrison lên làm Thủ tướng, thay thế ông Malcolm Turnbull. Sự thay đổi này diễn ra sau phản đối của một số thành viên Đảng Tự do đối với chính sách yêu cầu các công ty điện phải đáp ứng các mục tiêu về phát thải. Ngay sau đó, ông Morrison cho biết, sẽ từ bỏ chính sách Đảm bảo Năng lượng quốc gia (National Energy Guarantee – NEG) để tập trung vào giảm giá thành năng lượng cho cộng đồng.  Như vậy, NEG là chính sách quốc gia thứ tư về khí hậu bị chính quyền bảo thủ Úc bác bỏ kể từ sau cuộc bầu cử năm 2013, dẫn đến việc phần lớn đất nước đang phải chịu ảnh hưởng từ sự nóng lên toàn cầu – đợt hạn hán dữ dội làm tê liệt các bang miền đông, dẫn đến việc xảy ra hàng chục vụ cháy rừng thường xuyên.  Một vài thành viên chính phủ đã đề xuất ý kiến Úc có thể tham gia cùng chính quyền ông Trump trong việc chính thức rút khỏi Thỏa thuận Paris. Phản đối đề xuất này, ông Morrison cho rằng Úc đang dần đạt được mục tiêu công bố trong hội nghị Paris: giảm lượng khí thải xuống 26 – 28% thấp hơn mức năm 2005 vào năm 2030.  Tuy nhiên rất ít bằng chứng cho thấy Chính phủ Úc có khả năng đạt được mục tiêu này mà không có những chính sách mới. Vào tháng 8, các cố vấn chính phủ cho biết có vẻ lĩnh vực sản xuất điện, ngành gây ra 1/3 lượng phát thải của Úc, sẽ không thể giảm mức phát thải xuống 26% nếu không có chính sách mới thúc đẩy phát triển năng lượng sạch trong hơn thập kỷ tới.  Lượng phát thải quốc gia gia tăng mỗi năm từ năm 2014, khi chính phủ thay thế các luật yêu cầu các tổ chức công nghiệp lớn phải trả phí cho lượng phát thải của họ. Cũng không có chính sách đặc biệt nào quy định việc giảm thải những nguồn ô nhiễm khác, như trong giao thông, nông nghiệp, công nghiệp nặng và khai khoáng, tổng cộng chiếm 2/3 lượng phát thải carbon của Úc.  Hughes cho biết quyết định dừng chính sách NEG cũng đi ngược lại sự ủng hộ của công chúng trong hoạt động biến đổi khí hậu. Một cuộc thăm dò ý kiến do Viện nghiên cứu Úc thực hiện trên 1.756 người vào ngày 12/9/2018 cho thấy, 73% người bỏ phiếu quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu và 68% muốn các mục tiêu về khí hậu quốc gia phù hợp với cam kết trong Thỏa thuận Paris.    Nhưng việc thiếu chính sách khí hậu của Úc có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Một cuộc bầu cử quốc gia sẽ được tổ chức vào tháng 5/2019, và Đảng Lao động cho biết họ sẽ đặt ra một mục tiêu cắt giảm phát thải mới với mức 45% vào năm 2030, mặc dù cách thức thực hiện để đạt mục tiêu này chưa được tiết lộ. Trong khi đó, một số tiểu bang đã bắt buộc đặt ra các mục tiêu năng lượng tái tạo đầy tham vọng, và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nói rằng gia tăng đầu tư vào năng lượng sạch là lựa chọn rẻ nhất.  Cẩm Tú dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-06675-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ukraine xác nhận không thay đổi các mức bức xạ từ khu rừng bị cháy      Đám cháy rừng trên đỉnh phía tây của khu vực cấm của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl tại Ukraine không ảnh hưởng đến các mức bức xạ nền, chính quyền liên bang cho biết vào ngày 6/4/2020.      Nhân viện bộ phận kiểm soát phóng xạ Ukraine. Ảnh: SSTC NRS  Đám cháy đã bùng lên vào ngày 4/4/2020 tại rừng Kotovsky, gần với khu làng Volodymyrivka, và cuối cùng được kiểm soát khi lan ra 20 hectar, Cơ quan dịch vụ Khẩn cấp liên bang Ukraine (SESU) thông báo vào ngày 6/4, đồng thời cho biết thêm một đám cháy khác, lan trên khoảng năm hectar, cũng được dập tắt.  Hơn 130 lính cứu hỏa, ba máy bay trực thăng và 21 xe cứu hỏa đã được huy động để dập đám cháy. Vào bảy giờ sáng ngày 5/4 thì lửa đã được dập tắt, “chỉ trừ có một số điểm đã được cô lập còn cháy âm ỉ”. SESU cũng cho biết là không có sự thay đổi so với phạm vi bức xạ thông thường của khu vực cấm này, vốn luôn ở múc từ 0.2-0.55 μSv/h.  Trung tâm Khoa học và kỹ thuật hạt nhân và an toàn phóng xạ liên bang Ukraine (SSTC NRS) cho biết, bộ phận sằn sàng cho trạng khẩn cấp và kiểm tra phóng xạ của Trung tâm đã “thực hiện những biện pháp đo đạc nhân phóng xạ chứa trong không khí tại điểm tối ưu với sự gia tăng ước tính rủi ro có thể xảy ra nhất trong tình trạng bức xạ do hỏa hoạn”.  Chính quyền đã xác định thông tin sai lệch từ một số cơ quan truyền thông là các mức phóng xạ đã thay đổi tại thủ đô Kiev của Ukraine, nơi cách khu vực cấm Chernobyl 100 dặm .  “Theo các kết quả đo đạc trường, tỷ lệ liệu của phóng xạ gamma ở mức 0.1 μSv/h, tương ứng với bức xạ nền thông thường”, theo thông tin từ SSTC NRS. “Do đó, có thể nói là vào lúc 5 giờ chiều ngày 5/4/2020, đám cháy tại khu vực cấm và vô điều kiện xâm nhập không ảnh hưởng đến tình trạng phóng xạ ở Kiev và những khu vực xung quanh. Tuy nhiên chúng tôi sẽ tiếp tục các quan sát về tình trạng phóng xạ trong khu vực này. Trong trường hợp gia tăng cháy rừng, chúng tôi sẽ có thêm một số biện pháp đo đạc khác”.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.world-nuclear-news.org/Articles/Ukraine-confirms-no-change-to-radiation-levels-fro       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng lý thuyết đoạt giải Nobel kinh tế để bảo tồn các rạn san hô      Các nhà nghiên cứu tại ĐH Queensland (Úc)  đã sử dụng quy tắc lựa chọn danh mục đầu tư trong đánh giá rủi ro – một lý thuyết kinh tế từng đoạt giải Nobel, để chọn ra 50 rạn san hô có khả năng sống sót tốt nhất qua cuộc khủng hoảng khí hậu và góp phần phục hồi rạn san hô ở những nơi khác.      Họ chọn lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT), một khung mẫu toán học do nhà kinh tế học Harry Markowitz phát triển vào những năm 1950 để giúp các nhà đầu tư e ngại rủi ro tối đa hóa lợi nhuận. GS. Ove Hoegh-Guldberg, một nhà khoa học khí hậu tại ĐH Queensland, người dẫn dắt dự án “50 rạn san hô”, cho biết: “Về cơ bản, chiến lược này giúp chúng ta đưa ra quyết định về những gì cần bảo vệ, nếu chúng ta muốn những rạn san hô vẫn còn tồn tại đến cuối thế kỷ này”.   Các rạn san hô phải đối mặt với một tương lai thảm khốc. Ngay cả khi việc cắt giảm phát thải mạnh mẽ đảm bảo mức nóng lên toàn cầu giới hạn ở mức 1,5oC so với mức tiền công nghiệp – yêu cầu giảm gần một nửa lượng khí thải CO2 toàn cầu vào năm 2030 so với mức năm 2010 thì 70-90% san hô ngày nay vẫn sẽ biến mất. “Trên khắp hành tinh này có hàng trăm rạn san hô. Chúng ta sẽ chọn cái nào để tập trung vào nó?”, Hoegh-Guldberg đặt vấn đề.  Chiến lược được đưa ra trong cuộc họp giữa các nhà khoa học tại Viện Sinh học biển Hawaii vào năm 2017, đã khai thác lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại để giúp các nhà khoa học lựa chọn các rạn san hô “cân bằng”. Hoegh-Guldberg giải thích: “Lý thuyết này là khung mẫu nhằm giảm thiểu rủi ro trong khi tối đa hóa lợi nhuận. Nó coi việc bảo tồn giống như một cơ hội đầu tư”.  TS. Hawthorne Beyer ở ĐH Queensland chuyên nghiên cứu sử dụng mô hình định lượng trong quản lý hệ thống môi trường, nhận xét: “Đó là một ý tưởng rất hợp lý và thiết thực. Chúng tôi là những người đầu tiên áp dụng nó trên quy mô toàn cầu”.  Các nhà khoa học đã chia các rạn san hô trên thế giới thành “đơn vị sinh khí hậu” (bioclimatic – BCU) có diện tích 500 km2 (190 dặm vuông). Họ đã sử dụng 174 chỉ số, chia thành năm loại cho mỗi đơn vị, bao gồm lịch sử nhiệt độ và dự báo, axit hóa đại dương, các loài xâm lấn, hoạt động của xoáy thuận và sự kết nối với các rạn san hô khác. Sau đó, họ áp dụng quy trình phân tích vô hướng (scalarisation – phương pháp chuyển đổi bài toán ban đầu nhiều mục tiêu thành bài toán tối ưu hóa một mục tiêu) để đưa ra các ước tính cho mỗi BCU. Điều này giúp họ nắm bắt được phạm vi rộng nhất của các khả năng trong tương lai.  Sau đó, họ sử dụng MPT để định lượng các mối đe dọa và xác định các rạn san hô và đưa ra các lựa chọn tốt nhất cho việc bảo tồn, trong khi tính bất định của các rủi ro trong tương lai do biến đổi khí hậu ở mức cho phép.  Dự án đã xác định các rạn san hô trên khắp Trung Đông, phía bắc và phía đông châu Phi, Australia, Caribbean, các đảo Thái Bình Dương, Nam Mỹ, Đông Nam và Nam Á. Chúng bao gồm các phần của rạn san hô Great Barrier ở Úc, Ai Cập và phía nam Biển Đỏ các phần của “tam giác san hô” xung quanh Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Philippines. Tuy nhiên, dựa trên các tiêu chí về khí hậu và sự kết nối, mô hình đã loại trừ một số khu vực quan trọng về mặt sinh thái, chẳng hạn như Hawaii và Rạn san hô Trung Mỹ.  Dự án đã nhận được gần 93 triệu USD tài trợ từ sáng kiến ​​Vibrant Oceans của Bloomberg Philanthropies và các tổ chức khác. Báo cáo cho thấy cách tiếp cận lấy cảm hứng từ dự án đã giúp ít nhất 26 tổ chức và 8 nhà tài trợ hiện đã ưu tiên cho 60 hệ sinh thái rạn san hô trên hơn 40 quốc gia.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/environment/2021/nov/28/stock-markets-modern-portfolio-theory-mpt-used-to-pick-coral-reefs-arks-conservation-survive-climate-crisis       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng Nobel Y học 2012 trong khôi phục võng mạc      Những tế bào gốc từ da của chuột đã giúp Shinya Yamanaka giành giải Nobel Y học năm nay. Giờ đây các nhà nghiên cứu Nhật Bản đang tìm cách ứng dụng thành tựu nghiên cứu này của ông cho một mục tiêu đầy tham vọng: khôi phục thị giác.    Mới đây, Yamanaka cho biết rằng các nhà khoa học tại Trung tâm Sinh học Phát triển Riken ở Kobe đang có kế hoạch sử dụng cái gọi là tế bào vạn năng cho một thử nghiệm trên các bệnh nhân bị thoái hóa điểm vàng, một căn bệnh gây tổn hại võng mạc và làm mất thị lực.  Các công ty như Pfizer Inc. (PFE) hiện đã lên kế hoạch thử nghiệm với tế bào gốc lấy từ phôi thai người. Nghiên cứu của Nhật Bản là nghiên cứu đầu tiên dùng công nghệ mô phỏng theo khả năng của tế bào phôi thai, trong khi vẫn tránh được những tranh cãi về đạo đức liên quan tới vấn đề này.   “Hoạt động trong lĩnh vực này đang rất hứa hẹn”, John B. Gurdon, vị giáo sư 79 tuổi của Đại học Cambridge, người cùng chia sẻ giải Nobel năm nay với Yamanaka, cho biết trong một bài phỏng vấn ở London. Yamanaka và Gurdon sẽ cùng chia sẻ giải thưởng trị giá 8 triệu kronor Thụy Điển (1,2 triệu USD), là sự ghi nhận cho thành quả của họ từ những thí nghiệm thực hiện tại những thời điểm cách nhau tới 50 năm, qua đó cho thấy những tế bào khi già đi vẫn giếp tục giữ lại trong dạng thức tiềm tàng của chúng tất cả những DNA mà chúng từng có khi còn là tế bào non, và chúng có thể trở lại với trạng thái ban đầu. Phát hiện này đem lại tiềm năng cho một thế hệ những liệu pháp mới chống lại những căn bệnh khó điều trị, ví dụ như bệnh thoái hóa điểm vàng.  Công nghệ mới cũng có thể giúp dẫn tới những liệu pháp trị các căn bệnh như Parkinson, bằng cách cung cấp các tế bào thay thế.  “Ý nghĩa ứng dụng trong y học tái tạo là rất rõ ràng”, nhận định từ Sanders Williams, chủ tịch Viện Gladstone ở San Francisco, nơi Yamanaka tham gia với tư cách là chuyên gia cao cấp. “Các tế bào da có thể được chuyển thành bất kỳ tế bào nào bạn muốn – từ tế bào da chuyển thành tế bào não, hay từ tế bào da thành tế bào tim, hay thành tế bào sản xuất insulin”, Williams nói.  Tuy nhiên, mặc dù thành quả nghiên cứu Gurdon và Yamanaka có vai trò đột phá cách mạng, những ứng dụng trị liệu trên tế bào vạn năng vẫn “còn ở rất xa”, theo nhận định của Juleen Zierath, phó chủ tịch hội đồng giải Nobel, khi trả lời các phóng viên Stockholm hôm qua.  Các nhà khoa học phải tìm cách đảm bảo rằng các tế bào được an toàn, Yamanaka nói từ Nhật Bản qua một video truyền tại San Francisco trong cuộc họp báo do Gladstone tổ chức. Điều cần quan tâm ở đây là các tế bào gốc có thể sinh trưởng vượt ra ngoài kiểm soát, và dẫn tới bệnh ung thư.  Thanh Xuân lược dịch   Nguồn: http://www.bloomberg.com/news/2012-10-08/nobel-winner-s-stem-cells-to-be-tested-in-eye-disease-next-year.html    Author                Quản trị        
0.014243126863199736
__label__tiasang Ứng dụng tế bào gốc trong y học tại Việt Nam:  Chưa dễ đi vào cuộc sống      Một giáo sư về huyết học người Nhật Bản trong cuộc hội thảo quốc gia “Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc trong y học”, tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội mới đây, có lẽ vì phép lịch sự ngoại giao đã hết lời khen ngợi các nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc (TBG) tại Việt Nam: “Đạt được các kết quả khá ấn tượng dù điều kiện nghiên cứu còn khó khăn”. Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận: “Những nghiên cứu ứng dụng TBG trong y học ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn ban đầu, kết quả thu được còn khiêm tốn bởi thiếu định hướng chiến lược và đầu tư thích đáng…”                        Tản mác  Theo tài liệu của Bộ Y tế tại hội thảo, những nghiên cứu đầu tiên về TBG tại Việt Nam được tiến hành khá sớm, cách đây cỡ khoảng 20 năm. Năm 1995, Bệnh viện Truyền máu-Huyết học TP.HCM đã tiến hành ca ghép TBG tạo máu đầu tiên để điều trị cho bệnh nhân bị bệnh máu.   Cho đến nay, nghiên cứu, ứng dụng tế bào gốc tạo máu trong lĩnh vực huyết học đã được triển khai tại nhiều bệnh viện lớn trên cả nước. Bên cạnh đó là các nghiên cứu nuôi cấy tinh tử, tế bào sợi và tế bào sừng ứng dụng trong điều trị các bệnh nan y, nghiên cứu về TBG và nhân bản vô tính trên động vật (sao la, bò, chuột nhắt)… Theo báo cáo về hiện trạng nghiên cứu, ứng dụng TBG tại Việt Nam của hai tác giả Phạm Mạnh Hùng và Lê Văn Đông: “Nghiên cứu TBG tại Việt Nam hình thành 3 mảng lớn là: tạo nguồn TBG (phân lập và lưu trữ), biệt hóa TBG thành các tế bào chuyên biệt và ứng dụng TBG”.                  Tế bào gốc là gì?              Tế bào gốc (TBG) là những tế bào có khả năng biệt hóa thành các tế bào khác nhau để thay thế cho các tế bào bị mất đi do già hoặc chết tự nhiên, hay do chấn thương vì các nguyên nhân khác nhau. Chính vì vậy, các nhà khoa học và các bác sĩ có thể sử dụng tế bào gốc để tạo ra các tế bào mới thay thế cho các tế bào già hay bị tổn thương, bị mất chức năng, đem lại nhiều triển vọng trong điều trị bệnh.          Mặc dầu vậy, những nghiên cứu về tế bào gốc tại Việt Nam, theo đánh giá của một số chuyên gia trong lĩnh vực này, vẫn còn khá tản mác và chưa có tính liên thông cao.  TS Lê Văn Đông (Học viện Quân Y), một thành viên của Ban điều phối Nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước về TBG Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thừa nhận: “Cách thức hiện nay chúng ta tổ chức nghiên cứu theo kiểu ra đầu bài, mỗi đề tài lại do một đơn vị thực hiện, các đơn vị lại phân bố cả trong Nam và ngoài Bắc cho nên tạo ra sự tản mác”.  PGS. TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương cũng cảnh báo cần tránh hiện tượng “trăm hoa đua nở” trong nghiên cứu, ứng dụng TBG, bởi điều này dẫn tới tình trạng trùng lặp, lãng phí cả tiền bạc và thời gian. “Nước mình ở đâu cũng đầu tư, vô cùng lãng phí. Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng TBG cần phải được thống nhất”, ông nói.  Cho đến nay, các nghiên cứu về TBG được Nhà nước tài trợ thông qua hai đầu mối chính là Bộ Y tế và Bộ KH&CN. Chính điều này một phần cũng khiến sự quản lý nghiên cứu và ứng dụng TBG chưa được tập trung, khiến các đề tài nghiên cứu được tiến hành rải rác khắp nơi    Sơ khai  Vẫn theo TS Lê Văn Đông, biệt hóa TBG thành một số loại tế bào giống như tế bào cơ tim, tế bào thần kinh, tế bào da, tế bào xương, sụn, mỡ… tại Việt Nam được coi là hướng nghiên cứu song hành với các nước trên thế giới. “Nhưng các kết quả chúng ta đạt được còn tương đối khiêm tốn”, ông nói. Ngoại trừ nghiên cứu của Phòng thí nghiệm TBG của Đại học khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP HCM) đã một lần tạo ra được tế bào cơ tim có khả năng co bóp từ TBG phôi chuột nhắt, “các nghiên cứu của chúng ta vẫn ở giai đoạn sơ khai, thậm chí một số nghiên cứu mới chỉ bắt đầu”.  Cũng như vậy, PGS. TS Nguyễn Anh Trí cho biết Viện vừa được Bộ Y tế cho phép thành lập Trung tâm TBG hình thành từ Khoa ghép TBG hoạt động từ năm 2005 đến nay. Đây sẽ là nơi tiến hành nghiên cứu và ứng dụng TBG của Viện, nhưng “vì mới thành lập cho nên hiện cũng chưa có gì”.  Một số doanh nghiệp cũng đã nhanh nhạy đầu tư vào lĩnh vực TBG khi nhận thấy tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực này. Thí dụ như công ty cổ phần hóa mỹ phẩm Mekophar đã bỏ 1 triệu USD cho Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng Ngân hàng TBG tư nhân đầu tiên tại Việt Nam có tên MekoStem, nơi có khả năng thu thập và bảo quản TBG màng dây rốn theo công nghệ của công ty CordLabs (Singapore) chuyển giao. Tập đoàn FPT cũng tham gia lĩnh vực TBG với Dự án thành lập công ty cổ phần về y học tái tạo (FBM).             Ứng dụng tế bào gốc               trong y học              TBG hiện có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực điều trị y tế tại Việt Nam như trong huyết học và truyền máu (một số bệnh như Lơxêmi/bệnh máu trắng, hội chứng rối loạn sinh tủy, hội chứng tăng sinh tủy, đa u tủy xương, Ulympho ác tính, suy tủy xương, thalassemia…); trong tim mạch và mắt (điều trị phục hồi cơ tim cho các bệnh suy tim, hoại tử tế bào cơ tim, các bệnh về mạch máu, chữa tổn thương giác mạc, hội chứng Steven Johnson và pemphigoid nhãn cầu, bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già…); trong điều trị các bệnh về da, da liễu và một số bệnh về vú  (như bỏng, điều trị xạm da, rám má, bớt sắc tố, loét da mãn tính, viêm da cơ địa, sẹo lõm do trứng cá, rụng tóc, ung thư vú ác tính…) và một số lĩnh vực khác như xương, răng…           Trong lĩnh vực ngân hàng TBG, bên cạnh MekoStem, Bệnh viện Truyền máu và Huyết học TP.HCM cũng đã xây dựng được một ngân hàng thu thập, xử lý và bảo quản dài hạn các TBG lấy từ dây rốn. Tuy nhiên, cả hai ngân hàng này mới chỉ làm chủ được công nghệ thu thập và lưu trữ TBG máu hay màng dây rốn ở một qui mô nhỏ. “Ngân hàng TBG của Bệnh viện hiện lưu trữ được khoảng 2.000 mẫu, trong khi đó MekoStem mới thu thập được 264 dây rốn và sau khi sàng lọc chỉ có 153 mẫu đạt tiêu chuẩn để lưu trữ và bảo quản”, T.S Lê Văn Đông cho biết. Trong khi đó, số lượng mẫu TBG cần thiết tại các ngân hàng phải lên tới hàng chục nghìn mới có khả năng đáp ứng yêu cầu điều trị cho bệnh nhân vì: “trong 1.000 người thì chỉ có 4-6 người có khả năng tương thích về TBG”, TS Đông nhấn mạnh.      Thiếu kinh phí  Kinh phí cho nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc, theo PGS. TS Đỗ Như Hơn, Viện trưởng Viện Mắt Trung ương, “thực sự là vấn đề lớn”. Một số căn bệnh về mắt nếu không sử dụng công nghệ tế bào gốc thì “thực sự thua và bác sĩ phải khoanh tay” vì cho đến nay vẫn chưa thể chữa trị được bằng các cách khác, thí dụ như “Hội chứng suy giảm tế bào gốc”, “Các tổn thương giác mạc, loét giác mạc chậm liền sẹo”, các bệnh lý thoái hóa, loạn dưỡng ở mắt trên thế giới. Còn ở Việt Nam thì tế bào gốc có thể được ứng dụng trong việc tái tạo lại tổn thương bề mặt nhãn cầu hay bệnh thoái hóa hoàng điểm ở tuổi già…  TS Đinh Văn Hân (Viện Bỏng Quốc gia): khoảng cách từ nghiên cứu tới ứng dụng là rất dài. Điều quan trọng nhất trong nghiên cứu là có ra được sản phẩm hay không. “Khó khăn trong điều trị thì nhiều nhưng khó khăn trong nghiên cứu thì còn nhiều hơn bởi chủ yếu là thiếu kinh phí”, ông nói.  Theo PGS. TS Nguyễn Anh Trí, để nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc tại Việt Nam thực sự hiệu quả, điều quan trọng là cần phải đảm bảo mức kinh phí tài trợ cho các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực này cần phải hợp lý và bền vững. Nhưng ông cũng chia sẻ với ý kiến của PGS.TS Phan Toàn Thắng (Đại học Quốc gia Singapore) rằng: “Các sản phẩm nghiên cứu cần phải thương mại hóa được”. Đây cũng là vấn đề TS Lê Minh Sắt, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN các ngành kinh tế-kỹ thuật (Bộ KH&CN) băn khoăn: “Mục đích cuối cùng của nghiên cứu, tức là ra được sản phẩm là cực kỳ khó khăn bởi TBG hiện chưa được xác định là thuốc hay không?”.   TS Trương Việt Dũng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Đào tạo (Bộ Y tế) thì cho rằng kinh phí của nhà nước hiện cho các nghiên cứu TBG là rất lớn, nhưng không phải là vô tận. Theo ông, các đơn vị nghiên cứu TBG cần coi nguồn kinh phí của Nhà nước như là nguồn kinh phí khởi động ban đầu và cần tạo ra các sản phẩm ứng dụng để có thể có nguồn thu từ bệnh nhân, khách hàng. Bên cạnh đó cũng cần có sự tham gia, đầu tư của khu vực tư nhân, như trường hợp của MekoPhar đối với ngân hàng TBG MekoStem.     Và không dễ đi vào cuộc sống  Đối với bất cứ nghiên cứu nào, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, ứng dụng thực tế luôn là mục đích tối thượng. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ y sinh trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian gần đây đã đem lại nhiều hy vọng trong việc chữa trị các bệnh nan y. Sử dụng tế bào trị liệu, trong đó có TBG là liệu pháp điều trị đã đươc ứng dụng để điều trị các bệnh hiểm nghèo về máu, tim mạch, nhãn khoa, da liễu, bỏng, xương… Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất trong việc ứng dụng các nghiên cứu TBG chính là giá thành còn quá cao.   Chỉ riêng việc lưu trữ, bảo quản TBG để sử dụng cho nhu cầu cá nhân đã đòi hỏi một chi phí khá lớn, thí dụ như ở MekoStern, theo các chuyên gia tại hội thảo thì vào khoảng cỡ 1.000 USD (gần 20 triệu đồng). Nhưng PGS.TS Phan Toàn Thắng (ĐH Quốc gia Singapore) cho biết mức phí này ở Việt Nam còn rất rẻ, ở Singapore mức phí tương tự sẽ vào khoảng 70 triệu đồng. Ông cũng cho biết trên thế giới đã có nhiều công ty ứng dụng các nghiên cứu TBG để sản xuất ra da nhân tạo, nhưng một miếng da nhỏ đã có giá đến 2.500 USD. “Bệnh nhân Việt Nam nghèo, không có tiền, bảo hiểm lại chưa chi trả cho các điều trị TBG thì làm sao có thể sử dụng các sản phẩm cao cấp này được”, TS Thắng nói. GS Roger Beuerman (ĐH Quốc gia Singapore) cũng cho rằng ngay cả ở Mỹ, nước có thu nhập đầu người rất cao và nền y học phát triển thì TBG vẫn chưa được sử dụng nhiều vì lý do giá thành.   Không chỉ vấn đề giá thành, việc thiếu người cho và người nhận TBG cũng đang đặt ra các vấn đề rất nan giải cho ứng dụng TBG tại Việt Nam. TS Đinh Văn Hân (Viện Bỏng Quốc gia) cho biết có một bệnh nhân dân tộc bị bỏng nặng, Viện đề nghị chữa bằng phương pháp sử dụng TBG nhưng cho biết sẽ để lại di chứng là sẹo và có tài trợ (bệnh nhân không mất tiền). Tuy nhiên, do tâm lý sợ bị sẹo sau này về dân làng sẽ dị nghị cho nên bệnh nhân này đòi về để chờ chết, nhất định không chữa. Tương tự như vậy, do tâm lý và dân trí ở Việt Nam hiện còn thấp, hiện hầu như chưa có ai tự nguyện hiến TBG. “Hiến máu cứu người thì chúng tôi có thể vận động được chứ hiến TBG thì chưa”, Viện trưởng Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương Nguyễn Anh Trí nói.  Nhưng vướng mắc lớn nhất đối với ứng dụng các thành quả nghiên cứu TBG trong y học tại Việt Nam chính là thiếu hành lang pháp lý và vấn đề y đức. Hiện Quốc hội Việt Nam mới thông qua Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và Luật hiến, lấy xác, còn TBG là một chuyện rất mới và cần phải có thời gian để xây dựng các văn bản pháp lý.  Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận trong nghiên cứu và ứng dụng TBG trong y tế: “Chúng ta còn thiếu nhiều thứ, từ cơ sở vật chất đến hành lang pháp lý, rồi vấn đề bảo hiểm chưa thanh toán, thuốc và các sản phẩm điều trị chưa có, nguồn tài chính còn hạn hẹp”. Tuy nhiên, bà cũng cho rằng thành công của cuộc hội thảo quốc gia đầu tiên về TBG sẽ giúp các nhà quản lý xây dựng được đề án nghiên cứu, ứng dụng TBG trong vòng 5-10 năm tới. Dự kiến, chiến lược về nghiên cứu, ứng dụng TBG trong y học giai đoạn 2010-2010 sẽ được đưa vào Chương trình công nghệ sinh học y tế quốc gia, trình Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới./.     Tiến sĩ Lê Văn Đông-Học viện Quân Y:  Việt Nam cần mạnh dạn trong ứng dụng TBG   Về mặt tổng thể thì Ban điều phối tế bào gốc (TBG) cũng đã có một kế hoạch tổng thể trình cho Bộ Khoa học và Công nghệ các hướng phát triển chính, các mục tiêu, sản phẩm cụ thể. Để xóa bỏ được sự tản mạn trong nghiên cứu TBG, cần có sự liên thông giữa các đơn vị để cùng thực hiện các nghiên cứu theo định hướng có sẵn. Nếu chúng ta có hẳn một viện nghiên cứu tế bào gốc, một trung tâm ứng dụng tế bào gốc và tập trung nhân lực vào những chỗ đó thì sẽ không còn tản mạn nữa.                   Đầu những năm 2000, các nhà nghiên cứu tế bào gốc ở Việt Nam chỉ được đếm trên đầu ngón tay. Trong trong vòng 10 năm vừa rồi, có rất nhiều anh chị em được đào tạo trong và ngoài nước. Số nhân lực được đào tạo cho nghiên cứu tế bào gốc ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Nhưng theo quan điểm của tôi, Việt Nam vẫn thiếu các nhà khoa học tầm cỡ, có khả năng đóng vai trò đầu tàu như một nhạc trưởng. Chúng ta mới có nhạc trưởng trong lĩnh vực quản lý, nhưng chưa phải là trong lĩnh vực chuyên môn khoa học.  Chúng ta có thể khắc phục điều này bằng nhiều cách. Cách thứ nhất là có thể mời các nhà khoa học đã thành danh ở nước ngoài về làm việc. Cách thứ hai là phải làm việc tập thể. Trong điều kiện của Việt Nam, chúng ta chưa có một nhà khoa học tầm cỡ làm nhạc trưởng thì chúng ta cần có một nhóm các nhà khoa học ngồi với nhau, nhóm đó đóng vai trò như một nhạc trưởng.   Nếu chúng ta muốn đi tắt đón đầu trong lĩnh vực TBG thì chúng ta phải đi tiên phong trong các ứng dụng, chứ nếu cứ thận trọng thì Việt Nam sẽ mãi là nước đi sau. Khi Việt Nam mạnh dạn trong việc ứng dụng các nghiên cứu, công nghệ mới trong lĩnh vực tế bào gốc thì nước ta sẽ là một địa điểm hấp dẫn đối với các trung tâm nghiên cứu tế bào gốc trên thế giới.      PGS. TS Nguyễn Anh Trí, Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương  Nên hình thành các trung tâm tế bào gốc lớn                  Theo tôi, Việt Nam chỉ nên hình thành khoảng 3-4 trung tâm sản xuất TBG là đủ (1 trung tâm ở Hà Nội, 1 trung tâm ở Huế và 1-2 trung tâm ở TP HCM). Các trung tâm tế bào gốc này sẽ sản xuất và lưu trữ TBG phục vụ nhu cầu của tất cả các bệnh viện, viện điều trị trong việc điều trị các bệnh lý khác nhau. Tất nhiên để làm được điều đó thì các trung tâm này phải có quan hệ mật thiết với các bệnh viện và viện chuyên khoa khác. Nên tránh việc bệnh viện nào cũng thực hiện các công việc từ A đến Z, tức là từ nghiên cứu, sản xuất tới ứng dụng bởi điều này gây lãng phí cả nhân lực và vật lực, nhất là trong điều kiện nguồn lực về con người và trang thiết bị ở Việt Nam hiện còn chưa thật dồi dào. Bên cạnh đó nếu mạnh ai nấy làm sẽ khó phát triển nhanh, mạnh và bền vững được.  Còn các trung tâm ứng dụng TBG thì có thể nhiều hơn, nằm tại các bệnh viện, viện và trung tâm y khoa khác nhau, điều trị bệnh lý theo từng chuyên khoa khác nhau. Các trung tâm ứng dụng có thể là một chuyên khoa, nhưng cần phải có nhiều bệnh nhân và có uy tín để các nơi có thể gửi bệnh nhân đến điều trị.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng dụng toán học –  “Mảnh đất hứa” đầy chông gai      Lâu nay không ít người cảm thấy thất vọng vì đã “uổng công” học Toán. Nghe người ta nói thì Toán học là “chìa khóa” cho mọi vấn đề, nhưng trên thực tế thì học sinh sau khi tốt nghiệp lại chẳng biết dùng kiến thức Toán đã học được trong nhà trường vào việc gì trong cuộc sống, nhất là những bài toán khó mà họ đã tốn bao công sức nhồi nhét trong các “lò luyện” đủ loại. Đây là một thực tế, xuất phát từ việc xác định nội dung và phương pháp dạy Toán không hợp lý trong các nhà trường hiện nay. Toán học đã bị biến thành một môn “đánh đố thuần túy”, thay vì một bộ môn khoa học mang đầy chất thực tiễn. Tuy nhiên, còn một lý do khác khiến chúng ta không nhìn thấy được bóng dáng của Toán học trong thực tiễn thường ngày, đó là Toán học ngày nay không mấy khi trực tiếp đi được vào các ứng dụng trong thực tiễn mà thường phải “ẩn” sau các ngành khoa học khác: Sinh học, Môi trường, Tài chính, Kinh tế… và thậm chí ngay cả Công nghệ thông tin, một lĩnh vực có thể xem như là được sinh ra từ Toán học. Đã có những ý kiến nói về sự lãng phí của nguồn nhân lực đang làm toán hiện nay và không ít người cũng đã tưởng là thật…      1. Mật mã hiện đại – nơi thể hiện sức mạnh của Toán học hiện đại  May mắn thay, khoa học Mật mã đã góp một phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ cái “sự thật oan trái” này. Có thể nói rằng hiếm có lĩnh vực nào mà vai trò của các công cụ Toán học lại được thể hiện rõ ràng đến như vậy. Chính Toán học đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ mật mã, trước hết là bằng sự hiện thực hóa các ý tưởng về mật mã khóa công khai mà các nhà mật mã chuyên nghiệp đã ấp ủ từ lâu, và sau đó là đưa một số kết quả của Toán học (thuộc loại trừu tượng vào bậc nhất) tiếp cận với các ứng dụng trong thực tiễn. Những tưởng rằng đây sẽ là mảnh đất phù hợp nhất cho những người làm ứng dụng Toán học nước nhà, để họ có thể đem hết năng lực ra cống hiến cho đất nước, vì đây là lĩnh vực mà không phải mọi thứ đều có thể nhập khẩu về để sử dụng ngay được. Nhưng thực tế những năm qua cho thấy, các “cây ứng dụng” vẫn chưa chịu đua nhau mọc lên xanh tốt trên mảnh đất hứa này, và đây vẫn còn là mảnh đất “quá tiềm ẩn”. Tóm lại, tình hình diễn ra cũng giống như trên các lĩnh vực ứng dụng Toán học khác.  2. Ứng dụng toán là dễ hay khó?  Có một thời người ta tưởng rằng làm Toán ứng dụng dễ hơn làm Toán lý thuyết, vì làm lý thuyết phải nghĩ ra cái mới còn làm ứng dụng chỉ cần biết “tiêu hóa” những điều đã biết. Trên thực tế, những người có kinh nghiệm đều biết rằng đây là lĩnh vực nói thì dễ mà làm thì khó. Ở nước ta thì phần “nói” thì đã được triển khai từ lâu rồi, còn phần “làm” thì hầu như “còn nguyên”? Đã qua rồi thời kỳ của những ứng dụng toán học tuần túy, theo kiểu chỉ cần biết đến toán là xong… Như đã nói, Toán học ngày nay không mấy khi “đi thẳng” được vào thực tiễn, mà thường phải “ăn theo” một số công nghệ khác, cho nên người làm ứng dụng toán phải có khả năng tiếp cận các công nghệ mới (công nghệ phần mềm, công nghệ tính toán hiệu năng cao, điện tử, tự động hóa, số hóa…). Thêm nữa, muốn ứng dụng toán học vào lĩnh vực nào thì phải có hiểu biết đủ tốt về lĩnh vực đó (xử lý hình ảnh, âm thanh, môi trường, sinh thái…) và cũng có nghĩa là phải học thêm một ngành mới ngoài toán. Đây chính là những điều mà phần lớn những người làm toán ngại nhất.  Phần lớn những người làm toán lý thuyết chưa nhìn thấy những khó khăn đặc thù của công tác ứng dụng. Ví dụ, không ít người tưởng rằng đó chỉ đơn thuần là việc áp dụng những kết quả có sẵn trong lý thuyết vào việc giải quyết một vấn đề gì đó đặt ra trong thực tiễn, mà không biết rằng cái kết quả lý thuyết ấy chỉ là cái “phần nổi của tảng băng chìm”. Hãy lấy hệ mật mã RSA làm ví dụ. Không ít người cho rằng chỉ cần biết về tính “bất khả ngược” của phép nhân hai số nguyên tố lớn là đủ để thiết lập được hệ mã RSA. Tuy nhiên, nếu là người trong “nghề” làm mật mã thì biết rằng có bao nhiêu cạm bẫy giăng ra xung quanh hệ mã đó và chỉ cần một chút sơ suất nhỏ là đủ dẫn đến thiệt hại vô cùng lớn (điều này đã được nhiều nhà mật mã trên thế giới nói đến). Đây là nguyên nhân khiến cho việc mã hóa theo sơ đồ lý thuyết chỉ mang tính hình thức, còn để triển khai vào thực tiễn người ta phải dày công nghiên cứu ra những lược đồ khác hẳn. Như vậy, ở đây ta gặp tình huống giống như với Giải tích Fourier: Cơ sở lý thuyết của Giải tích Fourier có thể được trình bày trong khuôn khổ một chương của giáo trình Giải tích Toán học, nhưng để ứng dụng được thì người ta cần tới phép Biến đổi Fuorier nhanh mà việc trình bày có thể cần cả một cuốn sách dày hơn cả giáo trình Giải tích Toán học. Ta hiểu vì sao chính những nhà toán học được xem là “chuyên gia lão luyện” về Toán trong mật mã (như Koblitz, Menezes…) đã dùng thuật ngữ “lược đồ sách vở” (text book scheme) để chỉ những lược đồ mã hóa trong sách giáo khoa.  Để làm lý thuyết, thông thường người ta chỉ cần biết về chuyên ngành hẹp mà mình nghiên cứu, còn để làm ứng dụng thì phải có tầm hiểu biết đủ sâu về chuyên ngành rộng. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong lĩnh vực mật mã. Ít khi người làm về lý thuyết số và hình học đại số phải đọc để biết về hàm Bull, về xác suất thống kê… Nhưng muốn ứng dụng được các thành tựu của lý thuyết số và hình học đại số vào lý thuyết mật mã phi đối xứng thì không thể không biết các lĩnh vực này. Có thể nói rằng, cái khó trong việc nắm bắt cho đủ kiến thức để làm ứng dụng không hề thua kém cái khó trong việc tìm ra cái mới (có ý nghĩa thực sự) đối với người làm lý thuyết.                           Leonid Kantorovich (1912-1986) là người Nga – Xô Viết duy nhất được giải Nobel về Kinh tế. Ông là thần đồng, bảo vệ luận án tiến sĩ (candidat) về toán từ năm 1930 khi ông mới có 18 tuổi. Ông làm đủ thứ toán ứng dụng, đặc biệt là các vấn đề tối ưu hóa, dẫn Kantorovich đến việc ứng dụng tối ưu trong kinh tế. Chính vì các công trình này ông được giải Nobel cùng với Tjalling Koopmans năm 1975.   Những nghiên cứu tối ưu dẫn Kantorovich đến việc nghiên cứu về giá cả, biến động giá cả, và “optimal utility”.   Nhưng những lý thuyết này lại “sặc mùi tư bản”, được coi là phản động, trái ngược với học thuyết Marxist về giá trị của lao động. Bởi vậy Kantorovich suýt bị đi tù 2 lần dưới thời Stalin ! Điều khiến cho Kantorovich thoát được đi tù, là người ta cần ông trong nhiều việc tính toán qui hoạch. Điều này cũng tương tự như các nhà vật lý Xô Viết không bị đi tù dưới thời Stalin tuy rằng nguyên lý bất định của vật lý lượng tử phản lại triết học Marx-Lenin, vì Stalin cần có người làm bom nguyên tử.   Thời Leningrad (Saint Petersbourg) bị phong tỏa trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, Kantorovich được giao nhiệm vụ đảm bảo an toàn và tính toán tối ưu cho đường máu tiếp vận (đoàn xe tải nhỏ chạy trên sông băng), và sau đó được tặng thưởng các huân chương chiến công nhờ thành tích này.  Năm 1971 Kantorovich trở thành Viện trưởng một Viện Nghiên cứu toán Kinh tế ở Moscow được lập ra “cho” ông.            3. Bài toán “đầu tiên” của người làm ứng dụng Toán  Có một điều khác biệt cơ bản giữa người làm Toán lý thuyết và người làm Toán ứng dụng nước ta hiện nay là ở chỗ tìm kiếm nguồn kinh phí cho sự tồn tại của mình. Người làm Toán lý thuyết thì tìm kiếm các nguồn tài trợ ở nước ngoài, còn người làm Toán ứng dụng thì tìm ở trong thực tiễn công việc ngay trong nước. Với người chuyên tâm làm lý thuyết thì người ta có thể khuyên rằng, trong hoàn cảnh hiện nay, cứ chịu khó học hành và nghiên cứu trong vài năm, làm ra vài ba bài báo thì cầm chắc sẽ kiếm được chuyến đi làm việc ở nước ngoài, và sẽ dành được một ít tiền để tiếp tục làm việc. Với việc làm Toán ứng dụng thì không ít người sẽ tưởng rằng làm toán ứng dụng để ra tiền lo cho cuộc sống. Nhưng thực tế lại không như vậy. Để trau dồi được vốn kiến thức “hành nghề” trong lĩnh vực Toán ứng dụng thì một cán bộ trẻ phải tốn khoảng 4-5 năm lao động miệt mài. Trong khoảng thời gian ấy họ lấy tiền đâu mà sống? Với những người may mắn được làm công chức Nhà nước thì lương của họ cũng chỉ đủ trang trải cho khoảng 1/3 nhu cầu tối thiểu tiêu dùng hằng ngày, liệu họ có đủ kiên tâm nhịn đói để mà trau dồi cho đủ kiến thức?  Thoạt đầu người ta tưởng rằng cái khó nhất đối với làm ứng dụng là ở chỗ kinh tế thị trường nghiệt ngã đòi hỏi các sản phẩm ứng dụng phải “chạy thực”, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt rồi mới có tiền. Khi “nhúng” vào thực tế thì mới biết rằng đây không phải là vấn đề khó nhất. Nên nhớ rằng với “thị trường có định hướng” thì còn một vấn đề nữa cần phải giải quyết là phải xác định rõ mục tiêu mang lại hiệu quả cho đối tượng nào? (chứ không chỉ đơn thuần là hiệu quả về phương diện sản xuất nói chung, kiểu như năng suất tăng, chi phí thấp, giá thành sản phẩm hạ,v.v…). Chả thế mà có những sản phẩm có thể thay thế được hàng nhập ngoại, với tính năng tốt hơn và giá thành thấp hơn (nhiều lần), nhưng vẫn không sao chen được vào thực tiễn…  Như vậy, trong thời buổi này, nếu ai cho rằng làm Toán ứng dụng để kiếm tiền thì sẽ nhầm to! Xem ra, làm Toán ứng dụng cũng là một cái “nghiệp”, những ai đã vướng vào thì gắng mà làm vậy. Đấy là những người không hy vọng kiếm ra tiền từ việc làm Toán ứng dụng, mà đang nuôi hy vọng kiếm được tiền để mà làm Toán ứng dụng! Tóm lại, bài toán đầu tiên của người làm ứng dụng Toán là phải tìm ra nguồn kinh phí để mà làm Toán ứng dụng.  Có ý kiến nói rằng làm Toán ứng dụng là “ăn xổi”. Thực là chẳng những “nông nổi” mà còn nói bừa. Như trên đã thấy, ở hoàn cảnh nước ta hiện nay, một người biết làm toán ở mức khả dĩ nếu muốn có cái để “ăn ngay” thì phải đi làm Toán lý thuyết chứ. Nhìn ra thế giới, có khá nhiều nước mà nền Toán học lý thuyết vượt xa chúng ta, nhưng mãi vẫn không phát triển được ứng dụng Toán học sao cho xứng tầm, chỉ vì nó không mang lại lợi nhuận tức thì. Chỉ cần xem người Nga, người Mỹ,… đầu tư nhân lực và tiền của cho lĩnh vực này như thế nào thì biết ngay rằng ở đây không thể tính đến chuyện “ăn sổi”.  4. Cần một sự định hướng đúng của Nhà nước  Không nên nghĩ đến việc vận động những người đang làm Toán lý thuyết hôm nay quay sang với ứng dụng. Ai cũng biết rằng muốn có ứng dụng thì phải có lý thuyết, vì lý thuyết có thể xem như động lực của ứng dụng. Điều mong đợi của chúng ta là lý thuyết và ứng dụng cần phải đi gần nhau để mà bổ trợ cho nhau, như hai chân cùng bước trên con đường dài. Một khi lý thuyết đã tiến lên một bước thì hãy làm trụ cho ứng dụng dựa vào để làm bước tiếp theo. Đến lượt mình, Toán ứng dụng sẽ lại góp phần tạo đà cho bước tiến mới của Toán lý thuyết, như ta đã nhiều lần chứng kiến trong lịch sử phát triển của Toán học.  Trong một thời gian tương đối ngắn, muốn cho lực lượng ứng dụng Toán ở nước ta có thể tiến kịp đội ngũ Toán lý thuyết ngày hôm nay thì không có cách nào khác là phải có được sự quan tâm thực sự của Nhà nước, thông qua các chính sách và cơ chế phù hợp. Trong khi chưa thể có được giải pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng một cách toàn diện, nên chăng nghĩ đến một giải pháp cục bộ đối với một số lĩnh vực đặc biệt, nơi mà nhu cầu thực tiễn và tiềm lực cán bộ của ta đã khá rõ ràng. Nếu có những đề tài trọng điểm về Ứng dụng Toán thu hút được sự quan tâm của các nhà toán học hàng đầu trong nước về lĩnh vực này, để họ không phải lo đi tìm các nguồn tài trợ đâu đó bên ngoài nước, thì chắc chắn chúng ta sẽ có những bước tiến ngoạn mục với các ứng dụng thiết thực vào thực tiễn của đất nước.  Ngoài việc hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng, Nhà nước còn cần phải quan tâm đến việc “mở đường” cho các ứng dụng này đến với thực tiễn. Một “bài học cũ” lại vừa mới diễn ra hôm nay với “bài toán vân tay”. Nếu như cách đây vài năm chúng ta chịu đầu tư cho việc phát triển công nghệ này một cách nghiêm túc (với chi phí chắc chỉ khoảng vài trăm ngàn USD) thì bây giờ, khi tiến hành làm chứng minh thư mới, chúng ta đã không phải chịu cảnh giương mắt ngồi nhìn các doanh nghiệp trong nước chạy đua đi tìm các giải pháp từ nước ngoài, với chi phí lên tới nhiều triệu USD. Điều đáng nói ở đây là khó khăn không xuất phát từ chỗ lực lượng ta còn thiếu, hay tiền ta không đủ cho đầu tư ban đầu, mà là ở chỗ không có được sự bảo đảm của Nhà nước để cho việc đầu tư này không trở nên mạo hiểm, trong bối cảnh của nền kinh tế vẫn còn những mảng không chịu tuân theo quy luật thị trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng ở ĐBSCL và DHMT – Một số nhiệm vụ cần triển khai      Với diễn biến hiện nay về biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng, bài viết đề cập đến những tác động lên môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng duyên hải miền Trung (DHMT); đề ra những nhiệm vụ cần tiến hành trong các lĩnh vực nghiên cứu triển khai, phát huy và đào tạo nguồn nhân lực, quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế nhằm ứng phó để giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững, một nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với đất nước trong những thập kỷ tới, và cần được nhận thức đúng mức.    I.MỞ ĐẦU  Nếu ở thời điểm hiện nay còn có ý kiến khác nhau về nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì việc khí hậu trên hành tinh Trái Đất đang nóng lên, kéo theo nó là việc tan băng ở Bắc và Nam Cực cũng như mực nước biển trung bình đang dâng lên từ hơn một thế kỷ qua là một thực tế mà nhân loại phải ứng phó.  Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã nhận định rằng những hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu trực tiếp tác động đến sự sinh tồn của loài người, cụ thể đến Tài nguyên nước, Năng lượng, Sức khỏe con người, Nông nghiệp và an ninh lương thực và Đa dạng sinh học [1]. Năm lĩnh vực này lại có liên quan mật thiết với nhau.  Là một quốc gia nằm trên bao lơn của Biển Đông thông ra Thái Bình Dương, với hơn 75% dân số sống dọc theo một bờ biển dài hơn 3200 km và tại hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, Việt Nam thuộc vào loại các nước bị uy hiếp nhiều nhất bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng. Câu hỏi hiện nay không còn là “Liệu các hiện tượng có ảnh hưởng đến đất nước ta hay không?”mà là “Ứng phó như thế nào để giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững”.  Bài viết này đề cập đến tác động của mực nước biển dâng, hệ quả trực tiếp của biến đổi khí hậu, lên môi trường tự nhiên cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của các tỉnh dọc duyên hải miền Trung. Từ đó nêu lên các nhiệm vụ cần triển khai [2]. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đầu nguồn Himalaya của sông Mê-kông và tác động của nó lên nguồn nước sông Mê-kông đổ vào đồng bằng sông Cửu Long được giả thiết là như hiện nay. Những địa bàn khác sẽ được đề cập đến trong một bài viết sau.  II.DỰ BÁO VỀ MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG  Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức liên chính phủ về Biến đổi khi hậu (IPCC) [3] đã đánh giá thực tế quá trình mực nước biển dâng trên thế giới trong 120 năm qua, từ 1880 đến năm 2000, và từ đó đã dự báo các kịch bản mức nước biển dâng đến cuối thế kỷ XXI, tuỳ theo các kịch bản về hiệu ứng nhà kính và tan băng. Hình 1.  Hình 1. Mực nước biển dâng trong 120 năm (1880-2000) và dự báo mực nước biển dâng trong thế kỷ XXI  Mức độ nghiêm trọng của biển dâng tác động lên các châu thổ trên thế giới, tình hình xâm thực của các bờ biển, và tác động lên cư dân ở những nơi này cũng đã được dự báo. Hình 2 và Hình 3.  Đối với khu vực Đông Dương, IPCC dự báo nhiệt độ sẽ gia tăng +1°C vào 2010 – 2039, và +3° đến +4°C vào 2070 – 2099; vũ lượng sẽ giảm 20 mm vào 2010 – 2039, rồi sau đó tăng +60 mm vào 2070 – 2099; mực nước biển dâng cao 6 cm/năm, đạt mức 20 cm vào 2030, và 88 cm vào 2100.  Qua các đo đạc đã được tiến hành, IPCC đã ghi nhận những biến đổi về nhiệt độ nước biển bề mặt và mực nước biển ở Đông Nam Á. Hình 4 và Hình 5.  Qua các dự báo trên, Việt Nam được liệt vào các địa bàn bị uy hiếp nghiêm trọng nhất.  Hình 2. Dự báo ảnh hưởng của biển dâng đến các châu thổ trên thế giới           Hình 3. Dự báo ảnh hưởng của biển dâng đến bờ biển và cư dân ven biển        Theo dự báo của Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ở Việt Nam mực nước biển sẽ dâng cao từ 3 đến 15 cm năm 2010 và từ 15 đến 90 cm vào năm 2070; các vùng ảnh hưởng gồm có Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình. Cũng theo dự báo này, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét thì 23% dân số sẽ thiếu đất [4].  Hình 4. Biến đổi nhiệt độ nước biển bề mặt trong khu vực Đông Nam Á               Hình 5. Biến đổi của mực nước biển trong khu vực Đông Nam Á          III.DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN DÂNG LÊN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN  Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều vùng sẽ bị ngập. Nhưng hậu quả của biển dâng không phải chỉ có ngập tĩnh.  Động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỡ khi tiếp cận bờ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở hạ tầng ven biển bị đe dọa lớn hơn.  Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sâu hơn, thời gian ngập kéo dài hơn. Xâm nhập mặn sẽ vào sâu hơn, nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thủy văn, thủy lực trên từng địa bàn và trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho động thái bồi xói bờ sông, cù lao, cồn bãi, bồi lắng phù sa trên hệ thống sông chính và vùng cửa sông cũng thay đổi.    III. 1.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành vào khoảng 11000 năm trở lại đây. Cao trình mặt đất tương đối thấp. Trên nhiều vùng khá rộng, trong Đồng Tháp Muời, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau chẳng hạn, nhiều nơi cao trình chỉ vào khoảng 20 – 30 cm.  Với những tác động đã đề cập trên đây, các yếu tố thủy nông quyết định cơ cấu mùa vụ, sinh thái thủy vực, hệ sinh thái rừng ngập nước ngọt (trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và trong U Minh thượng và hạ), … chịu tác động mạnh mẽ, thậm chí có nơi đe dọa cả chính sự tồn tại.  Đồng bằng sông Cửu Long trước đây rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong một thập kỷ, năm 1997 đã chịu cơn bảo Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão Durion quét qua (Hình 7). Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lích và đi về hướng đường xích đạo, với nhiệt độ nước biển trên bề mặt tăng, kết quả của dòng hải lưu bị thay đổi bởi biến đổi khí hậu toàn cầu.  Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng 5/2008 (Hình 6) và hậu quả nặng nề mà cơn bảo đã gây ra là một cảnh báo đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Tàn phá mà đuôi cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ còn lớn lao hơn và khắc nghiệt hơn nhiều nếu mực nước biển dâng lên so với hiện nay (Hình 7).           Hình 6. Bão NARGIS vào Myanmar 2/5/2008     Hình 7. Đuôi bão Durion vào ĐBSCL 11/2006          III. 2.VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG  Vùng duyên hải miền Trung được cấu tạo bởi một dải đất kẹp giữa dãy Trường Sơn về phía Bắc, và vùng cao Nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) về phía Nam, và Biển Đông. Dải đất bị chia cắt bởi nhiều nhánh núi Trường Sơn vươn ra đến tận biển, và một số con sông ngắn mà lưu vực chuồi về phía Biển Đông. Hình 9.  Từ vài thập kỷ gần đây, rừng đầu nguồn phía Tây bị tàn phá nhiều, địa mạo vùng duyên hải Trung Bộ trở nên ngày càng không ổn định, thể hiện rõ nhất là lỡ núi, lòng các hồ đập bị lấp dần [5], các cơn lũ tràn và lũ quét đổ ra Biển Đông. Lòng sông, địa mạo các cửa sông thay đổi nhiều sau mỗi mùa lũ. Hậu quả của các cơn bão, các trận lũ quét đối với hạ tầng cơ sở là khá nặng nề [6].  Với mực nước biển dâng, sự không ổn định của địa mạo còn đến từ phía Biển Đông nghĩa là đến từ hai phía của dãi đất hẹp miền Trung. Những năm gần đây, tình hình bờ biển bị xâm thực xảy ra nhiều hơn. Khác với hậu quả của các cơn bão hay lũ quét thường xảy ra vào mùa mưa bão hàng năm, sự đe dọa của biển dâng lên hạ tầng cơ sở dọc bờ biển theo mùa, theo kỳ triều và thường xuyên hơn.    IV.DỰ BÁO ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA BIỂN DÂNG  IV.1.VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản tổng hợp và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế-xã hội, đồng bằng sông Cửu Long gồm có ba tiểu vùng : tiểu vùng mà quá trình sông chiếm ưu thế (A), tiểu vùng nơi quá trình biển chiếm ưu thế (C), và tiểu vùng chịu ảnh hưởng của cả hai quá trình sông và biển (B). (Hình 8). Có thể dự báo định tính tác động của mực nước biển dâng lên ba tiểu vùng như sau.          Hình 8. Sơ đồ ba tiểu vùng của ĐBSCL dưới tác động của biển dâng        Tiểu vùng nơi ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế (A)  Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mê-kông tràn bờ và tràn đồng vào Đồng bằng sông Cửu Long.  Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng nhưng không mạnh như hai tiểu vùng B và C. Do quá trình biển mạnh lên do biển dâng, ranh dưới của tiểu vùng sẽ lùi về phía nguồn, độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng có thể kéo dài hơn. Bồi lở bờ sông, cồn bãi hoạt động mạnh hơn.  Về mặt kinh tế-xã hội, khu vực I của nền kinh tế biến động nhưng việc khắc phục không quá khó, vì chủ yếu vẫn còn là các hệ canh tác nước ngọt. Cơ cấu mùa vụ, hệ thống canh tác có thể xảy ra tại một số địa bàn và sự điều chỉnh các công trình thủy lợi ở những địa bàn này là cần thiết. Khu vực II và khu vực III của nền kinh tế có thể nhận phần dịch chuyển đầu tư và phát triển đô thị từ hai vùng B và C. Mật độ dân số và quá trình đô thị hóa chịu tác động từ sự dịch chuyển một phần dân cư, lao động và các cơ sở kinh tế của hai vùng B và C.    Tiểu vùng nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế (C)  Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với Biển Đông và Vịnh Thái Lan.  Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò “đệm” giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn. Tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường ranh với tiểu vùng (B) sẽ bị “đẩy lên” về phía nguồn. Quy hoạch thủy lợi, đê bao ven biển cần được tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thủy văn thủy lực trong tiểu vùng.  Về mặt kinh tế – xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước mặn” là chính. Vùng sản xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít. Vì những lý do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.    Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B)    Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa giữa hai quá trình sông và biển, với quá trình biển mạnh lên.  Tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn ra biển. Diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại.  Ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội ở tiểu vùng này rất to lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các hoạt động kinh tế-xã hội cho tới nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm.  Đối với khu vực I, ở một số địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền nước ngọt như canh tác lúa, vườn cây ăn trái bị tác động về mặt năng suất, về diện tích canh tác; chăn nuôi gia súc gia cầm giảm mạnh; diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt bị thu hẹp do bị nước lợ và mặn lấn lên.  Khu vực II, khu vực III, đô thị và dân cư bị ảnh hưởng và có thể bị xáo trộn khá nhiều. Một bộ phận sẽ dịch chuyển về tiểu vùng A hoặc ra ngoài vùng do thiếu nguồn nước ngọt, do ngập lụt hoặc do xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước ngọt và chống ngập quá tốn kém. Cũng vì những lý do này, sức thu hút đầu tư đã khó sẽ càng khó.  Nhìn tổng thể, kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu sự tác động trên các mặt:  – Biến động trong sản xuất : Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế vườn sẽ giảm sút; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù đắp lại hai sự sụt giảm trên; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu hút hơn.  – Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.  – Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.  Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu lên trên đây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích hợp.  1. Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn;  2. Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng;  3. Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.  IV.2.VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG           Hình 9. Ảnh vệ tinh vùng Duyên hải miền Trung        Do tính không ổn định của địa mạo, hơn những địa bàn khác, ở vùng duyên hải miền Trung tác động về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội gắn chặt và trực tiếp với nhau, từ phía đồi núi phía Tây cũng như từ phía Biển Đông.  Những địa bàn bị ảnh hưởng mạnh nhất là các đồng bằng ven biển và ở cuối các con sông, nơi mật độ dân số rất cao và phải chịu sức ép từ hai phía biển và núi.  Sa cấu, độ phì của đất, xâm nhập mặn thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng.  Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội, văn hóa và du lịch tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng và ven biển, các cảng biển đã xây dựng dọc miền Trung sẽ chịu sự uy hiếp mạnh mẽ từ mực nước biển dâng.  Nhìn tổng thể, kinh tế – xã hội vùng duyên hải miền Trung sẽ chịu sự tác động trên các mặt:  – Biến động về mặt tự nhiên tác động lên kết cấu hạ tầng, lên kinh tế biển và du lịch; sức hút đầu tư cho khu vực II và khu vực III có thể bị ảnh hưởng.  – Xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng tốn kém hơn;  – Sẽ diễn ra sự dịch chuyển dân cư, lao động, các đô thị và cơ sở kinh tế trong nội vùng từ vùng thấp lên vùng cao, và ra ngoài vùng. Biến động này, đến lượt nó, có thể tác động đến sự ổn định địa mạo nếu không tính toán và chuẩn bị kỹ vị trí các địa bàn tiếp nhận.  Những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu lên trên đây có ảnh hưởng đến sự bền vững của sự phát triển của vùng duyên hải miền Trung, mà còn đối với cả nước trong chừng mực mà kết cấu hạ tầng nối liền Bắc Nam hiện nay đều đi qua vùng này.  V.NHỮNG NHIỆM VỤ CẦN TRIỂN KHAI  Ứng phó với biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng chẳng những của hai vùng này mà còn của cả nước.  Biển dâng là một quá trình tiệm tiến. Nếu nhân loại không có biện pháp ngăn chận quyết liệt sự biến đổi khí hậu ở quy mô toàn cầu, quá trình mực nước biển dâng sẽ diễn ra ngày càng nhanh. Do vậy cần có sự chuẩn bị ứng phó đúng mức và ngay từ bây giờ.  Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới, có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (hay chống đở, đương đầu), thích nghi và rút lui về phía sau. Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp, và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái đầm lầy.  Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc. Để ứng phó tốt nhất cần nắm rõ tình hình cụ thể của địa bàn, khả năng bảo vệ có hay không, tính khả thi và hiệu quả tổng hợp kinh tế, xã hội, văn hóa của phương án ứng phó.  Chính vì vậy, phải tranh thủ thời gian để điều tra nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa, điều gì sẽ đến với các phương án mực nước biển dâng, từ đó chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất.  Để góp phần vào việc chuẩn bị ứng phó, xin gợi ý một số nhiệm vụ cần triển khai dưới đây:  (1) Làm cho cả xã hội nhận thức đầy đủ về tính tất yếu Việt Nam phải ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng, và tác động của nó, từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng;  (2) Xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu triển khai cần thiết:  + Lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn của các vùng ven biển, các vùng trũng; lập bản đồ các vùng địa mạo không ổn định do phá rừng và do biển dâng;  + Phân định các tiểu vùng A, B, C của đồng bằng sông Cửu Long theo các phương án biển dâng; mô phỏng các tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho việc ứng phó, trên từng địa bàn trong từng phương án mực nước biển dâng;  + Phân vùng thủy văn – thủy lực các tiểu vùng theo các phương án mức nước biển dâng  + Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe dọa do biển dâng. Hợp lý hóa hệ thống giao thông thủy bộ, kết hợp với các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thủy lợi;  + Nâng cao công nghệ hạn chế xâm thực bờ biển, công nghệ xây dựng trên nền đất yếu, bị ngập nước; các vật liệu nhẹ, bền trong môi trường nước lợ và mặn;  + Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, cao thân, …;  + Thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với bối cảnh mới trong từng tiểu vùng;  + Đề xuất những mô hình công nghiệp hóa trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập giảm, khan hiếm nước ngọt, …) vì sự phát triển bền vững;  + Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và hoàn cảnh mới. Ngoài phưong thức quần cư trong đê bao (như ở Sa-rài), trong cụm dân cư vượt lũ, nghiên cứu hiện đại hóa nhà sàn, thiết kế các nhà nổi và khu dân cư nổi;  + Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư và lực lượng sản xuất khác; dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí;  (3) Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực:  + Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phát huy đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo, đến mô phỏng và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức;  + Thiết lập ở các trường đại học các khoa, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về biến đổi khí hậu và biển dâng nhằm đào tạo một nguồn nhân lực cho lâu dài cho đất nước;  + Đào tạo thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài mà thực tế đặt ra.  (4) Về mặt quản lý nhà nước:  + Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này.  + Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển;  + Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc bờ biển miền Trung những nơi bị đe dọa xâm thực, và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn trên từng độ cao mà không làm tổn hại đến sự ổn định của địa mạo;  + Xác định các địa bàn cư trú mới tiềm năng, mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng;  + Quản lý nghiêm việc khai thác và bảo vệ các tầng nước ngầm ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long;  + Tổng kết việc xây dựng các cảng biển trong thời gian qua dọc duyên hải miền Trung; đề xuất xây dựng đồng bộ một số cảng biển nước sâu, được che chắn tốt, tồn tại bền vững;  + Cần quy định từ nay mọi quy hoạch, dự án ở những vùng ven biển, cửa sông đều phải tính tới yếu tố ổn định của địa mạo và yếu tố biển dâng một cách tường minh;  + Cần rà soát lại các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành tại các đại bàn phải đối mặt với biển dâng;  + Cần có tầm nhìn và quy chế phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, trung ương-địa phương (nhất là giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, giữa Duyên hãi miền Trung với Tây Nguyên, …) để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển một bộ phận nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất. Thách thức biển dâng phải chăng chính là thời cơ thúc đẩy Nhà nước suy tính sâu sắc hơn việc quản lý kinh tế theo vùng lãnh thổ?  + Mọi quy hoạch cần được phản biện nghiêm túc, đặc biệt các quy hoạch các vùng duyên hải và cận duyên, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước tại những địa bàn được dự báo có nhiều khả năng bị tổn thương do biển dâng, bảo đảm công trình bền vững, đạt hiệu quả tổng hợp cao.  (5) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu được cập nhật liên quan đến biến đổi khí hậu và biển dâng ở Việt Nam; hợp tác trong công tác đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên cứu những đề tài khoa học đặt ra cho khu vực và thế giới.  (6) Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về đa dạng sinh học và những hiệp định quốc tế khác có liên quan. Vì vậy, và để thực thi các nội dung đã được đề cập trên đây, cần thể chế hóa các chính sách liên quan đến giảm thiểu biến đổi khí hậu và biển dâng và các hệ quả của chúng vào các luật và bộ luật. Giám sát việc thực thi pháp luật đã ban hành.                                    [1] Các hậu quả này được gọi tắt là WEHAB từ Water, Energy, Health, Agriculture, Biodiversity.  [2] Bài viết này tổng hợp hai báo cáo “Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với biển dâng” đã trình bày tại Hội thảo khoa học Khí tượng thủy văn, Tp. Hồ Chí Minh, 26-27/6/2008, và “Về biến đổi khí hậu và biển dâng tác động lên Duyên hải Miền Trung. Nhiệm vụ khoa học công nghệ cần triển khai”, tại Hội thảo khoa học do Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia và Đại học Huế tổ chức tại Huế, 24-25/6/2008.  [3] IPCC viết tắt của Intergovernmantal Panel on Climate Change.  [4] Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường, ngày 22/5/2007.  [5] Ở tỉnh Bình Định, theo báo cáo của Ts. Lương thị Vân và Th.s. Nguyễn thị Huyền, Khoa Địa lý, Đại học Quy Nhơn, việc bồi lắng các hồ chứa, làm giảm tuổi thọ của các hồ từ 40 – 60% so với mức thiết kế ban đầu tại các hồ Hòn Gà, hồ Thủ Thiện (Tây Sơn), hồ Núi Giằng (Phù Mỹ), hồ Thạch Khê (Hoài Ân). Các hồ Vĩnh Sơn, Hội Sơn, Vạn Phú, Núi Một, Phú Ninh, Đồng Tre … cũng đang diễn ra quá trình bồi lắng lòng hồ với các mức độ khác nhau.  [6] Từ năm 1951 đến 2007, đã thống kê được 116 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định, bằng 37% số cơn bão đã vào Việt Nam trong cùng thời kỳ. Cường độ bão ngày càng mạnh, thời gian hoạt động của bão sớm hơn và kết thúc muộn hơn, vị trí đổ bộ của bão vào phía Nam tăng dần là những điều đã được ghi nhận.                Tác giả nguyên là Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007), Ủy viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (từ năm 1992).   GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ứng phó với đại dịch: ngành hạt nhân đang góp phần làm giảm số ca nhiễm      Hôm 8/4, William Magwood – Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng hạt nhân của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD/NEA), cho hay cơ quan liên chính phủ đa quốc gia này đang hỗ trợ các nước thành viên thích nghi với bối cảnh do cuộc khủng hoảng dịch bệnh COVID-19 tạo ra và thiết lập phương tiện nhằm trao đổi nhanh chóng các ý tưởng và kinh nghiệm thực tiễn hữu hiệu nhất.      Bên cạnh việc cung cấp điện năng, kỹ thuật hạt nhân như PCR-RT còn giúp các nhà nghiên cứu dò được sự hiện diện của virus trong mẫu bệnh phẩm   Hiện tại, NEA bao gồm 33 quốc gia thành viên ở châu Âu, châu Mỹ và khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tạo ra khoảng 82% công suất điện hạt nhân trên thế giới.  Ông Magwood viết trong bản tin hàng tháng NEA, cuộc khủng hoảng mà chúng ta phải đối mặt ngày nay không giống với bất kỳ cuộc khủng hoảng nào đã từng có trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và kết nối vạn vật. Tất cả các quốc gia đều cảm thấy bị tác động, tất cả các nền kinh tế đều bị ảnh hưởng, toàn bộ người dân đang bị đe dọa. Dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp và theo thông tin thu nhận được, khủng hoảng có thể sẽ xảy ra trong nhiều tháng nữa. Trong ngắn hạn, nguồn cấp điện đáng tin cậy sẽ là trụ cột quan trọng trong chiến lược ứng phó với đại dịch của bất kỳ quốc gia nào. Nhiều cơ sở hạ tầng thiết yếu cho cuộc sống hiện đại để cung cấp thực phẩm, giao thông và dịch vụ y tế công cộng sẽ không thể hoạt động nếu thiếu vắng nguồn điện đáng tin cậy. Tuy nhiên, đại dịch ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến những nhân sự chủ chốt vận hành các cơ sở sản xuất điện, gây ra mối đe dọa kéo dài đối với hoạt động sản xuất và cung ứng điện.  Ngành hạt nhân đang góp phần nhất định để làm giảm số ca nhiễm bệnh. Các nhà máy điện hạt nhân của thế giới đang vận hành an toàn và hiệu quả, hiện đóng góp sản lượng cần thiết và đáng tin cậy vào lưới điện, cung cấp cho hàng triệu người làm việc từ xa, các gia đình tự cách ly tại nhà và những cơ sở y tế thiết yếu đang hoạt động cần đến lượng điện vượt xa công suất dự tính trước đó. Tuy vậy, ngành hạt nhân cũng bị ảnh hưởng bởi đại dịch và phải nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh bấp bênh, chưa từng có tiền lệ và không ai dám chắc điều gì.  Theo Magwood, đại dịch đòi hỏi các biện pháp ứng phó mau lẹ. Thông thường, trong lĩnh vực hạt nhân, các quá trình và bài học thực tiễn chỉ thay đổi sau những phân tích thận trọng, với đa dạng các góc nhìn; nhưng cuộc khủng hoảng hiện nay đòi hỏi tất thảy phải có phản ứng thật nhanh. Các quyết định phải được đưa ra nhanh chóng khi rơi vào các tình huống không hoàn toàn tương tự nhau. Các nhà pháp quy phải điều chỉnh kế hoạch thanh tra. Các nhà vận hành cần trì hoãn việc ngừng cấp điện và rời những ý định cải tổ nhà máy sang khoảng thời gian khác.  Công nghệ cho phép mọi người làm việc từ xa phải được áp dụng theo những phương thức cách tân. Mỗi quốc gia đưa ra các lựa chọn tùy theo mức độ đe dọa đến sức khỏe, an toàn của lực lượng lao động và người dân nói chung, trong đó, an toàn hạt nhân sẽ vẫn là ưu tiên hàng đầu.  Nhiều chuyên gia dự đoán, nguy cơ dịch bệnh đối với sức khỏe cộng đồng sẽ cao đáng kể vào tháng 5 và tháng 6, và khả năng tiềm tàng xảy ra đợt bùng phát lây nhiễm thứ hai trong tháng 9 và tháng 10. Do vậy, công việc của NEA sẽ là thực hiện tốt hai mũi giáp công, vừa phục vụ các nhu cầu thiết yếu tức thì, vừa tiến hành chuẩn bị kế hoạch dài hơi hơn.  Theo quan điểm của Magwood, đại dịch là một thử nghiệm về văn hóa an toàn của NEA. Toàn bộ cơ quan đã làm việc từ xa kể từ ngày 12/3, với rất ít sự gián đoạn trong công việc. “Kể từ sau khi bắt đầu cuộc khủng hoảng do đại dịch, mặc dù các sự kiện quan trọng đã bị hoãn lại, các ủy ban của chúng tôi vẫn tiếp tục công việc, các gói phần mềm từ Ngân hàng Dữ liệu NEA tiếp tục được phát hành và chúng tôi sẽ sớm tổ chức sự kiện trực tuyến đầu tiên về chính cuộc khủng hoảng.”  Phạm Thị Thu Trang/VINATOM dịch  Nguồn: https://world-nuclear-news.org/Articles/Magwood-outlines-Nuclear-Energy-Agencys-response    Author                Quản trị        
__label__tiasang Unicef: Trẻ em gặp nhiều rủi ro về sức khỏe do tỷ lệ tiêm vaccine giảm      Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (Unicef) cho rằng chiến tranh, bất bình đẳng và sự chủ quan là những nguyên nhân chính khiến 20 triệu trẻ em trên thế giới không được tiêm phòng.      Một nhân viên y tế cho một em bé uống vaccine phòng bại liệt ở Jakarta, Indonesia. Nguồn: The Guardian  Thống kê của Unicef trong năm 2018 cho thấy, cứ 10 trẻ lại có 1 trẻ không được tiêm phòng những loại vaccine cơ bản về sởi, bạch hầu và uốn ván, nâng tổng số trẻ không được tiêm phòng toàn cầu lên mức khoảng 20 triệu. Kể từ năm 2010, trên toàn cầu, tỷ lệ trẻ em đã được tiêm chủng vaccine phối hợp bạch hầu, uốn ván, ho gà (DTP3) và vaccine sởi đang ngừng ở mức 86% trong khi để ngăn chặn các dịch bệnh trên bùng phát thì tỉ lệ này phải đạt 95%.  Thông thường, phần lớn trẻ em không được tiêm phòng đều sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới hoặc tại các quốc gia bị chia rẽ do xung đột. Nhưng hiện tại, ngay cả ở các quốc gia phát triển, số trẻ em được tiêm chủng cũng giảm đi do hai nguyên nhân chính: tâm lý chủ quan bởi trẻ em ở đó ít mắc các bệnh trên và sự nghi ngờ về tác dụng phụ của vaccine. Điều này dẫn đến hiện tượng suy giảm độ phủ của miễn dịch và những ca tử vong do bệnh sởi.  Dữ liệu của Unicef cho thấy năm 2018 có gần 350 000 trường hợp mắc sởi, nhiều gấp đôi so với năm 2017. Các quốc gia gặp phải xung đột vũ trang như Congo và Somalia đã bùng phát  dịch bệnh. Quốc gia có tỉ lệ mắc sởi cao nhất là Ukraine, tỉ lệ tiêm phòng nơi đây đã giảm còn 54% vào năm 2010 và vẫn ở mức thấp trong vài năm trước khi gia tăng trở lại tỷ lệ tiêm phòng. Thiếu vaccine là một phần nguyên nhân, nhưng phần khác là do người dân ở đây không tin tưởng vào bác sĩ và tin vào luận điệu của những người chống vaccine.  “Sởi là chỉ dấu thực tế cho chúng ta thấy những nơi cần nỗ lực hơn để phòng chống các loại bệnh có thể phòng ngừa được”, Henrietta Fore, Giám đốc điều hành của Unicef cho biết. “Bệnh sởi rất dễ lây lan, nên mỗi đợt bùng phát dịch sẽ chỉ ra cộng đồng nào đang thiếu tiêm phòng, có thể do bất kì nguyên ngân nào như hạn chế về tiếp cận vaccine, chi phí đắt đỏ hoặc chủ quan. Chúng ta cần phải cố gắng hết sức để tiêm phòng cho mọi trẻ em”.  Số lượng trẻ em được tiêm vaccine ở Anh không đạt mức cần thiết để ngăn chặn dịch sởi bùng phát – đây là nước thứ ba trong số các quốc gia phát triển có mặt trong bảng xếp hạng về số trẻ em không được tiêm vaccine, đứng đầu là Pháp và Mỹ. Năm ngoái, hơn 60,000 trẻ em không được tiêm mũi MMR (phòng sởi, quai bị và rubella). Tỉ lệ trẻ được tiêm mũi này đang ở mức 92%.  “Vaccine cứu sống 3 triệu người mỗi năm, tuy nhiên các thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc độc hại đã ‘tiếp tay’ cho sự nghi ngờ của công chúng. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đang đi lùi trong cuộc chiến chống các bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa được”, Alastair Harper, người đứng đầu các chiến dịch vận động của Unicef ở Anh cho biết.  “Ở các quốc gia có thu nhập cao như Anh, việc gia tăng các thông tin sai lệch về vaccine trên những nền tảng kỹ thuật số và mạng xã hội là một trong những nhân tố chính liên quan đến việc nghi ngờ vaccine. Các nhóm anti vaccine đang lợi dụng bậc cha mẹ, gây hoang mang và lo sợ, nhằm phá vỡ lịch trình tiêm vaccine thường lệ cho trẻ em”  Hiện nay, phần lớn trẻ em không được tiêm vaccine sống ở các quốc gia nghèo nhất và phân bố không cân đối tại những vùng dễ bị tổn thương hoặc đang bị ảnh hưởng bởi xung đột. Gần một nửa trong số này đến từ 16 quốc gia – Afghanistan, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Sát, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ethiopia, Haiti, Iraq, Mali, Niger, Nigeria, Pakistan, Somalia, Nam Sudan, Sudan, Syria và Yemen.  “Vaccine là một trong những công cụ quan trọng nhất để ngăn chặn sự bùng nổ dịch bệnh và duy trì an toàn cho thế giới”, bác sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết. “Dù phần lớn trẻ em hiện đều được tiêm vaccine nhưng vẫn còn quá nhiều trẻ em chưa được hưởng điều đó. Thật khó chấp nhận khi điều này thường xảy ra với những trẻ có nguy cơ mắc bệnh cao nhất – những trẻ em nghèo, yếu thế nhất, bị các cuộc xung đột hoặc bạo lực ở quốc gia của mình tác động– lại là những đối tượng không được quan tâm.”  Robin Nandy, trưởng ban tiêm chủng và cố vấn chính của Unicef cho biết: “Chúng ta có cơ hội giúp đỡ những trẻ em này bằng một biện pháp can thiệp phổ biến và ít tốn kém. Tiêm phòng là viên đạn bạc cho sức khỏe cộng đồng. Một liều một lần trong đời sẽ bảo vệ họ khỏi một loạt các bệnh tật như sởi chẳng hạn”.  Sự bùng phát dịch bệnh cực kỳ nguy hiểm với trẻ em, gia đình và mọi người xung quanh, gây tốn kém cho chính phủ. Nandy nhận xét rằng “Tiêm phòng rẻ hơn nhiều so với việc đầu tư vào các phương thức chữa bệnh”. Ước tính, cứ đầu tư 1USD vào tiêm phòng có thể thu được lợi ích khoảng 16-44 USD. “Đó là một trong những vụ mua bán có lãi nhất với sức khỏe cộng đồng”, ông khẳng định.  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/global-development/2019/jul/15/stall-in-vaccination-rates-putting-children-at-risk-says-unicef    Author                Quản trị        
__label__tiasang Unitarity hỗ trợ việc tìm ra hạt Higgs      Phương pháp giản đồ Feynman không thể thiếu trong việc tính toán những quá trình tương tác của các hạt cơ bản. Song để đạt được độ chính xác cao cần&#160; phải tính đến những giản đồ phức tạp trong đó tham gia nhiều hạt thực, nhiều hạt ảo (mô tả bởi những vòng kín). Lúc này số giản đồ Feynman phát triển vô độ trở thành không kiểm soát được, không tính toán được.&#160;  &#160;    Các tác giả của bài báo này phát triển một phương pháp gọi là phương  pháp unitarity  nhằm ước lược các quá trình không thực tiễn trong các  giản đồ Feynman và biến bài toán vô vọng thành một bài toán  khả thi về  mặt tính toán.     Những tính toán theo giản đồ Feynman  đòi hỏi một tổ chức lớn nhiều nhà  vật lý làm việc cật lực trong hàng thập kỷ với những máy tính hiện đại  nhất. Còn phương pháp unitarity vừa cho phép chúng ta làm điều đó trong  ít hơn một năm, vừa giúp các nhà vật lý  tìm ra hạt Higgs và mở ra khả  năng tương lai tiếp cận hấp dẫn (graviton ) tương tự như tiếp cận tương  tác mạnh (gluon).                 Hình 1 . Từ trái sang phải: Zvi Bern,Lance J.Dixon, David A.Kosower            Thế nào là giản đồ Feynman?  Chung quanh chúng ta các hạt cơ bản hút nhau, đẩy nhau, va chạm nhau, chuyển hóa, biến thành hạt ảo (không quan sát được) rồi trở thành hạt thực và sinh, hủy liên tục. Để hình dung các quá trình đó Richard Feynman, nhà vật lý Nobel 1965 đã sáng tạo ra các giản đồ Feynman với đường trong – mô tả hạt ảo, còn đường ngoài – hạt thực. Để hình dung được giản đồ Feynman hãy xem hình 2 và giải phẫu giản đồ này  theo từng chi tiết  từ 1 đến 7. Giản đồ này mô tả quá trình hai hạt quark tương tác với nhau và sinh ra một hạt gluon và một hạt boson W (đường thẳng là quark, đường cuộn tròn là gluon còn đường sóng là boson W). Ứng với mỗi đường ta có một quy tắc để viết một biểu thức giải tích và tích các biểu thức đó cho phép thực hiện tính toán xác suất quá trình tương ứng.          Hình 2. Giản đồ mô tả tương tác của hai hạt quark d và u          Vì sao các giản đồ Feynman làm điên đầu các nhà vật lý?  Mỗi giản đồ Feynman cung cấp cho chúng ta cái nhìn về một cung cách mà các hạt có thể tương tác với nhau. Một tương tác quark-quark có thể tạo nên nhiều gluon hoặc nhiều vòng kín (loop) các hạt ảo và vì thế số giản đồ Feynman tương ứng trở nên nhiều vô kể. Việc tính toán trở nên không kiểm soát được. (Xem hình 3).                  Hãy làm cho cuộc đời đơn giản hơn  Các tác giả của bài báo này đã phát triển một tiếp cận các giản đồ Feynman gọi là phương pháp unitarity [1]. Phương pháp này dựa trên các nguyên lý cơ sở của lý thuyết lượng tử nhằm mục đích tổ hợp lại các giản đồ Feynman và loại bỏ những quá trình không thực tiễn (xem hình 4) nhằm làm cho việc tính toán trở thành có thể thực hiện được.           Hình 4. Tổ chức lại các giản đồ Feynman          Thế nào là unitarity?  Trong vật lý học unitarity có nghĩa là tổng cộng các xác suất của mọi sự kiện khả dĩ có thể xảy ra luôn bằng đơn vị.   Như vậy ma trận tán xạ S nối liền trạng thái vào và trạng thái ra của một quá trình phải là một toán tử unitary.  Điều đó có nghĩa là  S+S =1.  Hoặc nếu viết trong  ma trận T= (S-1) / i  chúng ta có  2 Disk T  = T+T (xem hình 5), trong đó  Disk T = (T-T+) /2i.          Hình 5 . Các hệ thức unitarity cho biên độ tán xạ với một và hai vòng kín. Số lỗ trong mỗi blốc ứng với số vòng kín trong biên độ tương ứng              Phương pháp unitarity           Một ngày mùa xuân nắng ấm một trong số tác giả (Lance J.Dixon) đi vào metro London tại trạm Mile End để đến sân bay Heathrow. Nhìn thấy một người lạ, một trong số hơn 3 triệu hành khách hằng ngày của metro, ông ta bất giác tự hỏi: xác suất để con người này xuất hiện ví dụ ở ga Wimbledon là bao nhiêu?  Khi Dixon suy nghĩ như vậy ông chợt hiểu ra rằng câu hỏi này tương tự như câu hỏi về những bài toán rắc rối mà các nhà vật lý đối diện khi đi tìm những tiên đoán cho sự va chạm các hạt trong những thí nghiệm hiện đại.  Máy gia tốc LHC (Large hadron collider-Máy va chạm lớn các hadron) tại CERN đang thực hiện quá trình va chạm của những proton chuyển động với tốc độ gần tốc độ ánh sáng để tìm ra những mảnh vỡ sau va chạm. Đoán nhận những điều gì mà các detector ghi nhận quả là một thách thức lớn.   SM (Standard Model-Mô hình chuẩn) là một mô hình tương đối hoàn chỉnh mà các nhà vật lý dựa theo đó để tiên đoán các kết quả trong các thí nghiệm. Để làm điều đó họ dựa vào kỹ thuật tính toán đã được phát triển từ hơn 60 năm về trước bởi nhà vật lý nổi tiếng Richard Feynman. Mọi người học vật lý đều phải học qua giản đồ Feynman. Trong các sách và tạp chí vật lý tràn ngập các giản đồ Feynman. Song dường như kỹ thuật các giản đồ Feynman có vẻ  như đã đạt đến giới hạn tiện ích của nó và người ta đang đi tìm một tiếp cận mới.  Sự bất cập của giản đồ Feynman  Các giản đồ Feynman rất quan trọng và hữu ích vì chúng cho chúng ta một phương pháp đồ hình của những phép tính phức tạp. Chúng cho chúng ta một cách nhìn bằng hình ảnh đối với các tương tác của các hạt. Mỗi giản đồ là một lộ trình khả dĩ của va chạm. Điều này giống như các lộ trình khả dĩ trong metro mà người hành khách có thể đi theo.   Điều bất tiện là số các giản đồ mà người ta có thể nghĩ ra vô cùng nhiều và về nguyên tắc là bằng vô cực. Song nếu chỉ nghiên cứu QED (Quantum Electrodynamics-Điện động lực học lượng tử) mô tả tương tác giữa electron và photon thì đây chưa phải là vấn đề lớn. Các tương tác này điều khiển bởi một hằng số tương tác tương đối nhỏ bằng 1/137. Nhờ đó mà các tương tác bậc cao có thể bỏ qua. Điều này tương tự như việc người hành khách chỉ chọn những lộ trình dễ và đơn giản.  Tuy nhiên đối với tương tác mạnh mô tả bởi QCD (Quantum Chromodynamics-Sắc động học lượng tử ) thì hằng số tương tác lại lớn hơn. Do đó phải tính đến những giản đồ phức tạp hơn. May thay với khoảng cách ngắn nhờ hiện tượng tiệm cận tự do[2] người ta cũng có thể hạn chế trong phạm vi một số giản đồ Feynman không phức tạp lắm.   Rắc rối hơn khi xét các va chạm hỗn tạp (mạnh+yếu+điện từ) thì phải tính đến nhiều giản đồ Feynman phức tạp. Các giản đồ Feynman gồm các đường ngoài và các vòng kín (loop). Các vòng kín mô tả một hiện tượng rất đặc thù của thế giới lượng tử là sự hiện diện của các hạt ảo (virtual particles), tuy những hạt này không ghi đo được nhưng tác động của chúng lên quá trình tương tác là rất quan trọng. Các hạt ảo tuân theo mọi định luật của thiên nhiên như bảo toàn năng lượng bảo toàn xung lượng trừ một điều: khối lượng của chúng khác khối lượng hạt thực.    Các vòng kín mô tả cuộc sống phù du của những hạt ảo: chúng sinh và hủy liên tục. Khối lượng càng lớn thì cuộc sống càng ngắn.  Giản đồ đơn giản của Feynman không chứa các hạt ảo, đó là những giản đồ không có các vòng kín và được gọi là giản đồ cây. Giản đồ trở nên phức tạp khi được thêm vào đó những vòng kín. Các nhà vật lý gọi quá trình này là quá trình tính đến nhiều nhiễu loạn. Càng nhiều vòng kín thì phép tính toán càng tăng độ chính xác và ngày càng trở nên phức tạp.  Ngay cả đối với giản đồ cây cũng xuất hiện một thách thức lớn. Trong QCD nếu xét một quá trình hai hạt gluon vào và 8 hạt gluon ra thì cũng phải viết ra 10 triệu giản đồ cây và tính chúng. Vào năm 1980 các tác giả Frits Berends (Đại học Leiden-Hà Lan) và Walter Giele (Fermilab) đã tìm phương pháp chế ngự bài toán này song đối với các giản đồ chứa vòng kín thì chưa có công trình nào. Ngay với một vòng kín thì đã bùng nổ số giản đồ  cộng với sự phức tạp.  Các công thức có thể chiếm đầy một bộ bách khoa từ điển.  Điều đáng chú ý là khi cộng tất cả giản đồ lại thì kết quả lại có thể rất đơn giản. Một số giản đồ triệt tiêu lẫn nhau và đôi khi những công thức với hàng triệu hạng số lại có thể co về một hạng số. Những phép triệt tiêu này nói rằng các giản đồ có thể là một công cụ sai lầm cho quá trình tính toán.  Phải có một tiếp cận tốt hơn.    Phương pháp Unitarity  Nhiều năm các nhà vật lý tìm tòi nhiều phương pháp để vượt khỏi giản đồ Feynman. Sự việc bắt đầu  từ năm 1880 khi Bern & Kosower chứng minh rằng LTD (Lý thuyết dây) có thể đơn giản hóa các tính toán QCD bằng cách lấy tổng tất cả giản đồ Feynman liên quan  với một công thức đơn giản. Với công thức đó chúng tôi phân tích một phản ứng hạt mà trước đó người ta không hiểu được tường tận các chi tiết: tán xạ hai gluon thành 3 gluon với một vòng hạt ảo.  Quá trình này rất phức tạp song cuối cùng có thể mô tả đầy đủ bởi một công thức đơn giản chỉ chiếm một trang giấy.  Công thức đơn giản đến nỗi cùng với David Dunbar (Đại học California, Los Angeles) chúng tôi thấy rằng chúng tôi có thể hiểu được quá trình tán xạ (scattering) hoàn toàn dựa trên nguyên lý unitarity.  Unitarity là sự đòi hỏi rằng các xác suất của tất cả sự kiện khả dĩ xảy ra (outcomes) cộng lại là 100 %. Điều kiện unitarity nằm ở dạng không tường minh trong các giản đồ Feynman nhưng bị che đậy bởi sự phức tạp của các phép tính toán.  Ý tưởng của những tính toán dựa trên nguyên lý unitarity đã bắt đầu từ những năm 1990[3] song bị bỏ quên. Chìa khóa thắng lợi của phương pháp unitary là tránh sử dụng trực tiếp các hạt ảo, đây là nguyên nhân chính yếu làm cho các giản đồ Feynman trở nên phức tạp. Theo định nghĩa  những hạt ảo này không thể xuất hiện trong kết quả cuối cùng như thế chúng là những hành trang toán học dư thừa mà nhà vật lý cảm thấy rất hạnh phúc khi có thể để lại phía sau.  Phương pháp có thể hình dung bằng cách theo dõi  một metro phức tạp như metro ở London với rất nhiều lộ trình giữa hai điểm dừng. Ví dụ chúng ta muốn biết xác suất rằng một hành khách đi vào ở ga Mile End và ra ở ga Wimbledon. Kỹ thuật Feynman cộng xác suất của tất cả lộ trình khả dĩ nghĩ ra được. Tất cả lộ trình có nghĩa là phải kể đến cả những lộ trình đi xuyên qua đất đá mà ở đấy không có đường metro hoặc đường đi bộ nào cả. Những lộ trình phi thực tế đó phát sinh từ sự đóng góp không xác thực của các vòng ảo. Chúng thực ra bị triệt tiêu ở bước cuối cùng song trong quá trình tính toán chúng ta phải tính đến. Trong tiếp cận unitarity chúng tôi chỉ tính đến các lộ trình có nghĩa mà thôi. Quá trình này sẽ cắt bỏ những lộ trình vô nghĩa và làm nhỏ kích thước của các phép tính.  Sự lựa chọn phương pháp Feynman hay phương pháp unitarity đều đúng cả vì cả hai phương pháp đều xuất phát từ cùng một nguyên lý vật lý cơ sở. Song hai phương pháp khác nhau về mức độ mô tả. Một giản đồ đơn giản Feynman trong số 10 nghìn giản đồ mô tả một va chạm hỗn tạp (messy) giống như một phân tử đơn giản giữa một giọt chất lỏng. Về nguyên tắc chúng ta có thể xét từng phân tử riêng lẻ song điều đó chỉ có nghĩa đối với với một giọt chất lỏng vi mô vô cùng nhỏ. Điều này không chỉ nặng nề mà còn không hữu hiệu về mặt thông tin.   Một chất lỏng có thể chảy xuôi  xuống một cái đồi song chúng ta chắc không thể suy biết được hiện tượng đó  từ cách mô tả các phân tử. Đúng hơn là phải nghiên cứu những tính chất ở mức cao hơn như vận tốc chất lỏng, mật độ và áp suất.  Tương tự như vậy thay vì việc nghiên cứu va chạm của hạt bằng cách xét từng giản đồ Feynman riêng lẻ thì các nhà vật lý suy nghĩ vấn đề đó một cách toàn cục (holistically).  Chúng tôi tập trung vào những tính chất điều khiển quá trình trong toàn cục – đó là tính unitary và những đối xứng mà nguyên lý unitary làm nổi bật lên.  Trong những trường hợp đặc biệt chúng tôi có thể đưa ra những tiên đoán lý thuyết với một độ chính xác tuyệt đối (mà ta chỉ có thể thu được nếu tính đến vô cực mọi giản đồ Feynman trong một thời gian vô hạn).    Những va chạm hỗn tạp  Những va chạm proton tại LHC đặc biệt là rất phức tạp. Proton  chưa phải là hạt cơ bản và đó là một quả cầu nhỏ của các hạt quark liên kết với nhau bởi những gluon bằng tương tác mạnh. Khi chúng va chạm nhau  thì quark va chạm  với quark, với gluon và gluon va chạm với gluon. Quark và gluon lại có khả năng phân rã thành nhiều quark và gluon hơn nữa. Cuối cùng chúng kết hợp  với nhau thành những hạt đa hợp và bắn ra ngoài thành những tia mà các nhà vật lý gọi là jet.  Trong mớ hỗn tạp đó có thể tiềm ẩn những điều mà con người chưa từng biết đến: hạt cơ bản mới, các đối xứng mới và có thể những chiều không-thời gian mới. Phát hiện những điều đó  là việc rất khó.  Joe Incandela – hiện nay là phát ngôn viên của nhóm CMS của hơn 2000 nhà vật lý tại LHC- đã đến với chúng tôi với câu hỏi về hạt lạ cấu nên vật chất tối. Những hạt như thế mà LHC tạo nên có thể thoát khỏi các detector gây nên cảm giác rằng một số năng lượng đã bị thất thoát. Tiếc thay một sự thất thoát biểu kiến đó không có nghĩa là LHC đã tổng hợp được vật chất tối. Ví dụ LHC thường xuyên tạo nên hạt bình thường là Z mà 1/5 thời gian phân rã thành 2 neutrino vốn tương tác rất yếu và thoát khỏi detector mà không bị ghi lại được. Làm thế nào để tiên đoán số các hạt của SM có khả năng là ấn dạng của các hạt tối? Nhóm Incandela đưa ra một giải pháp: lấy số photon mà nhóm CMS ghi đo được, ngoại suy số sự kiện dính đến neutrino và xem thử chúng đã giải thích hoàn toàn được năng lượng thất thoát chưa? Nếu không thì LHC quả có tạo nên vật chất tối. Đó là cung cách mà các nhà vật lý sử dụng để gián tiếp đoán nhận một kết quả thực nghiệm trong khi họ chưa đo được trực tiếp một số loại hạt. Song nhóm Incandela cần biết chính xác bằng cách nào số photon gắn liền với số neutrino. Nếu độ chính xác không cao thì chiến thuật gián tiếp trên không thành công. Với nhiều đồng nghiệp chúng tôi nghiên cứu bài toán sử dụng công cụ lý thuyết mới và có thể nói rằng  nhóm Incandela đã có được độ chính xác cần thiết. Sau khi yên tâm nhóm CMS đã ứng dụng kỹ thuật của họ và đặt những điều kiện nghiêm ngặt đối với những hạt vật chất tối. Kỹ thuật của chúng tôi tỏ ra hữu dụng.  Sự thành công này gợi ý chúng tôi tiến hành những tính toán tham vọng hơn. Chúng tôi đã cộng tác với nhiều nhà khoa học trên thế giới trong đó có Fernando Febres Cordero (Đại học  Simón Bolívar ở  Caracas, Venezuela), Harald Ita (Đại học Tel Aviv và U.C.L.A.), Daniel Maître (Đại học  Durham Anh), Stefan Höche ( SLAC)  and Kemal Ozeren ( U.C.L.A.)   Cùng nhau chúng tôi đã tiên đoán được chính xác xác suất mà các va chạm trong LHC có thể tạo ra một cặp neutrino trong 4 tia (jets). Sử dụng các giản đồ Feynman những tính toán đó đòi hỏi một tổ chức lớn nhiều nhà vật lý làm việc cật lực trong hàng thập kỷ với những máy tính hiện đại nhất. Phương pháp unitarity cho phép chúng tôi làm điều đó trong ít hơn một năm.  Chúng tôi càng sung sướng hơn khi một nhóm khác là nhóm ATLAS đã so sánh kết quả của chúng tôi với các dữ liệu thực nghiệm của họ và thấy rằng có sự tương hợp rất tốt. Song song các nhà thực nghiệm đã sử dụng những kết quả đó để tiếp tục tìm tòi những quá trình mới.  Phương pháp unitary đã giúp ích trong việc  tìm ra hạt Higgs. Một dấu hiệu của hạt Higgs là sự tạo thành một electron đơn chiếc, một cặp tia (jets) và một neutrino, sự xuất hiện neutrino tạo cảm giác rằng một phần năng lượng đã thất thoát.  Một tình huống như thế có thể xảy ra từ những phản ứng hạt không dính đến hạt Higgs. Một ứng dụng của chúng tôi là sử dụng phương pháp unitarity để tính xác suất chính xác của những phản ứng gây nhầm lẫn đó.    Tiến đến hấp dẫn   Một ấn tượng mạnh của phương pháp unitarity  là ứng dụng vào hấp dẫn lượng tử.  Phương pháp unitarity  biểu hiện những tính chất của thế giới thực tại vốn tiềm ẩn trong các lý thuyết hiện nay song bị che đậy bởi đám mây các giản đồ Feynman. Một điều gây ấn tượng nhất là phương pháp unitarity mở ra khả năng tích hợp với hấp dẫn.  Hạt chuyển tải hấp dẫn là hạt graviton có nhiều  điều tương thích với gluon: nhờ phương pháp unitarity có thể chứng minh rằng về mặt toán học hạt graviton hành xử như hai phiên bản của gluon hoạt động song đôi (xem hình 6).           Hình 6.Hấp dẫn là bản copy kép của tương tác mạnh          Phát hiện này  dẫn đến một bước ngoặt trong việc thống nhất hấp dẫn của Einstein và lý thuyết lượng tử thành hấp dẫn lượng tử. Đến năm 1970 các nhà vật lý đã cho rằng hấp dẫn cũng hành xử như các lực khác trong thiên nhiên và cho rằng có thể phát triển rộng các lý thuyết hiện có để trùm lên cả hấp dẫn. Song khi họ sử dụng kỹ thuật Feynman họ đạt đến những kết quả vô nghĩa và bị chìm ngập trong toán học. Vậy họ nghĩ rằng hấp dẫn vẫn là một điều gì khác các lực còn lại. Vì thất vọng các nhà vật lý lại hướng về các lý thuyết như siêu đối xứng[4] và sau nữa là LTD (Lý thuyết dây).   Phương pháp unitarity lại cho phép chúng tôi thực hiện lại các tính toán của những năm 1980. Chúng tôi tìm thấy rằng một số điểm không tương thích tìm ra trước đây thực tế là không tồn tại.  Hấp dẫn tương tự các lực khác song theo một cách không ngờ được: hấp dẫn hành xử như một bản copy kép (double copy) của lực mạnh hạ hạt nhân (subnuclear) vốn nối kết các thành phần của hạt nhân lại với nhau.  Lực mạnh được chuyển tải bởi các hạt gọi là gluon, hấp dẫn được chuyển tải bởi graviton. Bức tranh mới là graviton hành xử giống như hai gluon đan dệt với nhau (xem hình 6). Khái niệm này quả thật lạ lùng ngay cả đối với các chuyên gia cũng khó hình dung . Tuy nhiên tính chất copy kép này dẫn đến  một triển vọng sáng sủa cho việc thống nhất hấp dẫn với các lực đã biết khác.  Cũng như tất cả các nhà vật lý chúng tôi muốn thống nhất hấp dẫn với  lượng tử. Nếu hấp dẫn hành xử giống như những tương tác khác thì hấp dẫn phải được chuyển tải bởi hạt graviton. Graviton sẽ va chạm và tán xạ giống như những hạt khác và chúng ta có thể xây dựng  những giản đồ Feynman cho hấp dẫn. Song những cố gắng trong những năm 1980 để lượng tử hóa lý thuyết Einstein gặp phải khó khăn vì dẫn đến những những đại lượng lớn vô cùng một cách vô nghĩa,  những đại lượng này đáng lý phải hữu hạn. Những đại lượng vô cực không phải là điều đáng sợ, chúng xuất hiện trong những phép tính trung gian ví như trong SM song chúng phải triệt tiêu nhau trong kết quả cuối cùng đối với những đại lượng  đo được.  Song với hấp dẫn không có sự triệt tiêu tương tự. Cụ thể điều này có nghĩa đó là những thăng giáng của không-thời gian vốn được gọi là những  “bọt không-thời gian” bởi nhà vật lý tiên phong trong hấp dẫn lượng tử là John Wheeler đã vượt khỏi tầm điều khiển.  Một cách giải thích khả dĩ là thiên nhiên có thể chứa những hạt chưa phát hiện được vốn ngự trị trong những hiệu ứng lượng tử đó. Một ý tưởng được đưa vào là xây dựng siêu hấp dẫn [5] trong những năm 1970-1980   Song hy vọng bị dập tắt khi những lý lẽ gián tiếp cho thấy rằng những đại lượng vô cực vô nghĩa đó sẽ vẫn tồn tại với 3 hoặc nhiều hơn các vòng kín chứa những  hạt ảo. Như thế siêu hấp dẫn cũng thất bại nặng nề.  Sự thất bại này dẫn đến LTD. LTD vốn có thể xem là xuất phát từ SM. Theo đó thực thể cơ bản là những dây vi mô một chiều. Hạt tương tác được trải dài suốt sợi dây chứ không tập trung vào một điểm và do đó ngăn ngừa được mọi đại lượng vô cực một cách tự động. Mặt khác LTD cũng gặp nhiều khó khăn của riêng mình. LTD chưa tiên đoán lý thuyết được một hiện tượng hệ quả nào quan sát được.     Từ các nguyên lý đã biết  Vào giữa những năm 1990 Stephen Hawking (Đại học Cambridge) bảo vệ siêu hấp dẫn từ một cách nhìn khác. Ông chứng tỏ rằng trong những nghiên cứu trong những năm 1980 ta đã có thể thực hiện những phép cắt ngưỡng năng lượng, điều này làm cho vấn đề trở nên đáng xét lại.  Song lý lẽ của Hawking không thuyết phục được nhiều người vì rằng những phép cắt đó phải thực hiện chỉ vì một lý do chính yếu:  những tính toán đầy đủ (không có phép cắt) là vô vọng vì vượt khỏi khả năng của ngay cả những thiên tài toán học.  Để chắc chắn rằng các giản đồ Fynman với 3 vòng graviton ảo sẽ tạo ra những đại lượng vô cực chúng ta phải tính đến 1020 hạng số. Với 5 vòng cần tính 1030 hạng số. Tình huống dẫn đến bài toán không xác định.  Phương pháp unitarity đã thay đổi mọi tình huống. Sử dụng phương pháp này chúng tôi quay lại vấn đề siêu hấp dẫn. Thay vì 1020 hạng số chúng tôi chỉ cần tính vài chục hạng số. Cùng với Radu Roiban (Đại học quốc gia Pennsylvania State), và John Joseph Carrasco, Henrik Johansson (U.C.L.A.), chúng tôi chứng minh được rằng những tính toán năm 1980 là sai. Những đại lượng vô cực thực tế là những đại lượng hữu hạn. Siêu hấp dẫn không phải không có nghĩa như nhiều nhà vật lý tưởng. Cụ thể điều đó có nghĩa rằng các thăng giáng lượng tử của không-thời gian là trong siêu hấp dẫn không đáng lo ngại như người ta tưởng tượng. Chúng tôi suy nghĩ rằng một số phương án siêu đối xứng có thể thích hợp cho lý thuyết hấp dẫn lượng tử.  Một điều quan trọng là 3 graviton tương tác như một copy kép của tương tác 3 gluon (xem lại hình 6). Tính chất copy kép này luôn xuất hiện không kể  bao nhiêu hạt đã tán xạ hoặc bao nhiêu vòng hạt ảo đã xảy ra. Nói một cách hình tượng điều đó có nghĩa là  là hấp dẫn luôn là “bình phương” của tương tác mạnh hạ hạt nhân (subnuclear). Điều này giúp chúng tôi đoán nhận bản chất toán học qua cách nhìn vật lý và kiểm tra được điều này có đúng ở mọi điều kiện chăng? Hiện nay có thể nói từ quan điểm của phương pháp unitatity tương tác hấp dẫn không khác các tương tác khác của thiên nhiên.  Như thường gặp trong khoa học khi một điều này được thiết lập thì một điều khác  bùng nổ ra. Ngay sau khi chúng tôi thực hiện các phép tính với 3 vòng thì phát sinh câu hỏi bi quan liệu có đúng cho nhiều  vòng kín hơn hay không.  Khi chúng tôi thực hiện các phép tính với nhiều vòng hơn chúng tôi không gặp một khó khăn nào.  Có thật là siêu hấp dẫn không dẫn đến những đại lượng vô cực? Phải chăng ở những cấp cao thì vấn đề sẽ khác? Theo các tính toán của chúng tôi thì các vô cực ở 7 vòng cũng vắng mặt  và điều này làm kinh ngạc mọi người. Và có thể nói rằng siêu hấp dẫn là tương thích.  Các nhà vật lý thường suy nghĩ rằng những lý thuyết mới  phải đột sinh từ: lý thuyết tương đối, lý thuyết lượng tử và đối xứng. Song nhiều khi vật lý mới có thể đột sinh ngay từ việc xem xét kỹ lưỡng các nguyên lý đã biết.   Cuộc cách mạng âm thầm trong việc tận hiểu những quá trình va chạm của các hạt cơ bản cho phép chúng tôi tìm thêm những hệ quả của SM dẫn đến những khả năng mới hoàn thiện các hiểu biết vật lý vượt khỏi SM. Điều đáng chú ý là chúng tôi đã đi theo những thành tựu của vật lý trước đây, đã đi theo quan điểm thống nhất hấp dẫn với lượng tử vốn đã bị bỏ quên: xem tương tác hấp dẫn không khác gì các tương tác khác, quan điểm này đã dẫn đến kết luận là hấp dẫn hành xử như là “bình phương” của tương tác mạnh.                                                                          CC. biên dịch và chú thích  —————  Tài liệu tham khảo và chú thích   [1] Zvi Bern, Lance J. Dixon and David A. Kosower,  Loops, Trees and the Search for New Physics, Scientific American Scientific American 306, 34 – 41 (2012) Published online: 17 April 2012  doi:10.1038/scientificamerican0512-34  [2] Tiệm cận tự do là hệ quả của QCD theo đó lực tương tác giữa các quark trở nên càng yếu nếu khoảng cách giữa chúng càng nhỏ (tức là năng lượng càng cao)   [3]   Geoffrey F. Chew, Murray Gell-Mann and Arthur H. Rosenfeld, “Strongly Interacting Particles,”Scientific American, February 1964) …   [4] Siêu đối xứng là đối xứng giữa fermion và boson.  [5] Daniel Z. Freedman & Peter van Nieuwenhuizensee “Supergravity and the Unification of the Laws of Physics,”  Scientific American, February 1978.  Siêu hấp dẫn =lý thuyết nhằm gắn liền siêu đối xứng với 4 tương tác cơ bản. Siêu hấp dẫn chứa những hạt spin 2 (graviton), spin 3/2 (gravitino, hạt siêu đối xứng của graviton), spin 1, spin ½ và spin 0.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Universcience: Nơi gieo hạt tình yêu khoa học      Hình thành từ năm 2010 với sự kết hợp của hai trung tâm danh tiếng ở Paris là Cité des sciences et de l’industrie và Palais de la Découverte, Universcience không chỉ là một tổ chức quảng bá KH&amp;CN mà còn là địa chỉ văn hóa hàng đầu ở châu Âu, đồng thời là điểm đến đặc biệt ưa thích của trẻ em và các bậc phụ huynh.      Mục tiêu cơ bản của Universcience là thúc đẩy đối thoại giữa công chúng và giới khoa học. Tổ chức này cung cấp cho đa số các đối tượng công chúng những công cụ giúp thấu hiểu các vấn đề thách thức khoa học và đổi mới sáng tạo trong xã hội, và giúp họ cập nhật về những vấn đề còn đang gây tranh cãi. Đây cũng là một diễn đàn nơi công chúng có thể trao đổi với những nhân vật hàng đầu trong giới khoa học, và giới thiệu tới công chúng những thành tựu phát triển khoa học và công nghệ mới nhất. Bên cạnh đó, Universcience còn thu hút giới truyền thông, tập trung vào những tiêu điểm khoa học và đổi mới sáng tạo, tạo cơ hội cho các nhà khoa học trình bày nghiên cứu của mình tới công chúng.  Mục tiêu quan trọng thứ hai của Universcience là truyền bá các phương thức tiếp cận khoa học, khơi dậy trí tò mò ở thanh thiếu niên bằng cách biểu diễn các thí nghiệm khoa học, khích lệ các em lựa chọn sự nghiệp tương lai trong lĩnh vực khoa học và công nghệ với những thông tin về việc làm, các khóa đào tạo. Mỗi năm, tổ chức này đón tới 600 nghìn lượt học sinh, đồng thời còn phát triển cả những công cụ giáo dục, hỗ trợ đào tạo giáo viên và người hướng dẫn, đóng góp cho các hoạt động giáo dục khoa học bằng những tư liệu và dịch vụ phong phú.         Số lượng lượt người đến với Universcience tuy nhiều nhưng còn chưa phản ánh được nhiệt huyết và niềm vui của những vị khách đến thăm chúng tôi – trẻ cũng như già – khi họ khám phá, hoặc tái khám phá những cách thức hoàn toàn mới giúp nhìn nhận, tiếp cận, và hiểu biết khoa học.               Những cuộc triển lãm tạm thời, những gian trưng bày cố định, và các sự kiện giải trí quan trọng, chưa kể đến những cuộc thuyết trình, hội thảo, các ấn phẩm và trang tin điện tử, đã đem đến những kênh thông tin đa dạng để chúng ta tiếp cận thế giới kỳ diệu của văn hóa KH&CN. Trên bình diện quốc tế, Universcience cũng có mối liên kết hợp tác với các trung tâm, bảo tàng khoa học, và viện nghiên cứu ở Châu Âu, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, và Trung Đông, qua đó cũng thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng khoa học quốc tế đối với chất lượng và năng lực của Universcience.  (Claudie Haigneré, Chủ tịch Universcience)            Bên cạnh đó, Universcience còn trực tiếp đóng góp hoặc đưa tin về các dự án nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực lịch sử khoa học, bảo tàng học, khoa học và xã hội, khoa học và nghệ thuật. Đồng thời, để giúp truyền bá văn hóa khoa học ở cấp quốc gia và quốc tế, Universcience tham gia vào các mạng lưới, tạo mối liên kết hợp tác với các trường đại học, tổ chức nghiên cứu, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, và các trung tâm khoa học ở Pháp, châu Âu, và nhiều nước trên thế giới.   Những nhiệm vụ khó khăn trên đây của Universcience được thực hiện bởi hai đơn vị là hai trung tâm văn hóa giàu kinh nghiệm và đầy truyền thống, Cité des sciences et de l’industrie và Palais de la découverte. Tổng số lượt khách tới hai trung tâm này mỗi năm là 3,5 triệu – xếp thứ tư trong số các tổ chức văn hóa của Pháp và đứng đầu trong số các trung tâm văn hóa khoa học châu Âu –  trong đó Cité des sciences et de l’industrie đóng góp 3 triệu lượt khách, Palais de la découverte đóng góp 550 lượt khách, Universcience chính là cơ sở thu hút khách tham quan đứng hàng thứ tư của thành phố Paris, chỉ sau bảo tàng Louvre, điện Versailles, và trung tâm Georges-Pompidou. Chưa kể các cuộc triển lãm lưu động của tổ chức này tại các địa phương ở Pháp còn thu hút thêm 300 nghìn lượt khách, và khoảng 500-800 nghìn lượt khách khi được trưng bày tại các quốc gia khác. Ngoài ra, mỗi năm cổng thông tin trên mạng (trang www.universcience.fr) có 8 triệu lượt ghé thăm, và kênh TV trên mạng (www.universcience.tv) có 2 triệu lượt xem (số liệu năm 2010).  Đội ngũ hướng dẫn viên  Các hướng dẫn viên đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của Universcience. Họ có trọng trách truyền đạt cho khán giả không chỉ kiến thức khoa học mà cả niềm hào hứng trong quá trình tìm hiểu, khám phá. Một hướng dẫn viên giỏi không chỉ cần kiến thức, nhiệt huyết, mà cả sự linh hoạt để áp dụng phương pháp truyền đạt phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau, từ trẻ em mẫu giáo tới người cao tuổi. Những người hướng dẫn viên của Universcience có thể giúp từng cá nhân khán giả nắm bắt những ý tưởng trừu tượng, đồng thời tự hình thành quan điểm của riêng mình, và tận hưởng một cảm quan hài hòa hơn về khoa học.  Hoạt động hướng dẫn khách tham quan tại các bảo tàng luôn biến hóa đa dạng cả về hình thức lẫn nội dung, tùy theo đặc thù riêng của các sự kiện, như chuỗi sự kiện trong khuôn khổ Ngày hội Khoa học (Féte de la Science), hay Đêm Bảo tàng (Nuit des musées), Năm Quốc tế (Années mondiales), hay Kỷ niệm Trăm năm Phát minh Siêu dẫn, v.v.  Những triển lãm đầy ấn tượng  Ngày nay, trước xu thế công chúng thường trực sự hoài nghi, phương thức triển lãm và quảng bá cho khoa học cần những đột phá mới mẻ. Không chỉ trưng bày cố định theo cách truyền thống kết hợp với thông tin trình chiếu phong phú trên các trang điện tử như ở các bảo tàng thông thường, Universcience còn điều phối và tổ chức thực hiện những cuộc triển lãm lưu động hoặc tạm thời theo phong cách hoàn toàn mới, giàu tính giải trí với những ấn tượng khơi gợi cảm xúc, qua đó giúp người tham quan nắm bắt được trọn vẹn hơn những hiện tượng, vấn đề phức tạp trong khoa học và đời sống. Những cuộc triển lãm này được tổ chức hướng tới mọi đối tượng, là cơ hội để khám phá học hỏi cho các em nhỏ, học sinh, sinh viên, và cả những người già. Các chuyên gia của Universcience phải liên tục nghiên cứu thiết kế, đưa ra những ý tưởng nguyên bản cho đa số các cuộc triển lãm lưu động để phù hợp với đặc thù các sự kiện, có thể đưa đi trưng bày tại các bảo tàng khác trong nước hoặc nước ngoài.  Nội dung các cuộc triển lãm tạm thời của Universcience phản ánh những mục tiêu mà tổ chức này theo đuổi. Chẳng hạn, các triển lãm Leonardo da Vinci, Observeur du design (người quan sát các thiết kế), Futuro textiles (vải dệt của tương lai) phản ánh mục tiêu đưa khoa học tiếp cận mọi đối tượng và mọi lĩnh vực trong đời sống. Các triển lãm Habiter Demain (Nhà ở của tương lai) hay La finds mondes (Tận cùng các thế giới) phản ánh các xu hướng đổi mới sáng tạo, và những nội dung đang gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học và xã hội. Một số triển lãm đơn thuần cung cấp những hiểu biết căn bản về thế giới, chẳng hạn Scienceau quotidian (khoa học hằng ngày), Économie (Kinh tế học), hay Bétes de sexe (dục tính tự nhiên). Ngoài ra, có những triển lãm nhằm khơi gợi sự sáng tạo và niềm vui trong học hỏi tri thức, như triển lãm Science en Herbe (Làm nghiên cứu khoa học) dành cho trẻ em, hay triển lãm Shadows and Light (Bóng tối và ánh sáng).  Ngoài những triển lãm lưu động và tạm thời, Universcience còn có những triển lãm cố định phục vụ mục tiêu truyền bá các tri thức khoa học cơ bản được chia thành những chủ đề chính: Trái đất, Vũ trụ, Vật lý, Toán học, Di truyền, Năng lượng, v.v. Universcience có một hội đồng khoa học đưa ra những hướng dẫn chuyên môn cho các nội dung trưng bày, đồng thời có sự tư vấn từ các tổ chức nghiên cứu và trường đại học, nhằm đảm bảo tính trung thực và các giá trị khoa học.  Những sự kiện Ngày hội Khoa học 2013  Trong dịp Ngày hội Khoa học 2013 lần này, Universcience mang đến cho công chúng rất nhiều sự kiện và hoạt động hấp dẫn trong mọi lĩnh vực khoa học, từ toán học, vật lý, hóa học, tới khoa học sự sống, thiên văn học, v.v. Một phòng chiếu phim đặc biệt có thể cho phép hàng trăm em bé từ 8 tuổi trở lên trải nghiệm thế giới thiên văn học với hình ảnh vũ trụ và các vì sao trong vòng 45 phút. Những trẻ em 9 tuổi trở lên có thể khám phá toán học với những hình trụ đầy màu sắc, các tam giác ma thuật, hay những câu đố 3D, tất cả đều được sắp xếp để các em tìm thấy những khuôn mặt mới đầy thú vị của toán học. Các em cũng có thể đắm mình trong thế giới của vật lý, với nhiều thí nghiệm về âm thanh, trường điện từ, hay nhiệt độ – chẳng hạn chứng kiến một chất lỏng có thể vừa tinh thể hóa vừa sôi cùng một lúc ra sao. Những em bé từ 8 tới 12 tuổi có thể khám phá khoa học sự sống với những minh họa trực quan về chuỗi thức ăn, mối quan hệ giữa thú săn mồi và mồi săn, hay mối quan hệ giữa các giác quan và bộ não.   Các bậc phụ huynh và các trường học có thể đưa con em mình đến nghe những bài giảng dành cho các lứa tuổi khác nhau. Những em từ 8 tuổi trở lên có thể học về sự hiện diện của nước trên khắp vũ trụ. Những em trên 12 tuổi sẽ được học các bài giảng hóa học, trong đó được khám phá mô hình các hạt electron ở kích thước 10-15 m, hay chui vào bên trong mô hình các phân tử DNA, v.v.   Ngoài những sự kiện dành cho trẻ em và các phụ huynh, thầy cô giáo, Universcience tổ chức cả những sự kiện dành cho mọi đối tượng công chúng, ví dụ một liên hoan phim ngắn được tổ chức tại Bảo tàng Palais de la decouverte, do các nghiên cứu sinh tiến sĩ trên mọi lĩnh vực khoa học thực hiện nhằm giới thiệu đề tài nghiên cứu của họ. Khán giản sẽ được trực tiếp đặt câu hỏi và thảo luận với những nhà nghiên cứu trẻ tuổi này. Ngoài ra, những người ham đọc sách cũng có thể tìm thấy một sự kiện đặc biệt phù hợp với sở thích của mình, đó là đến nghe những chương thú vị của một số tiểu thuyết khoa học đương thời, sau đó gặp gỡ giao lưu với các tác giả.  Tất cả những sự kiện kể trên đều được thực hiện với phương châm đem lại niềm vui thích cho tất cả mọi đối tượng khán giả. Trong đó, các bài giảng và những sự kiện lớn được thiết kế để đảm bảo ngay cả những người khuyết tật cũng có thể tham gia.           Thanh Xuân tổng hợp  http://www.ecsite.eu/members/directory/universcience  http://www.openlivinglabs.eu/livinglab/universcience-living-lab  http://www.palais-decouverte.fr/index.php?id=fete-science-2013        Palais de la découverte – Cung cấp những tri thức khoa học căn bản               Với bề dày lịch sử lên tới 70 năm, tính đến nay bảo tàng Palais de la decouverte đã đón tổng cộng 25 triệu lượt khách. Đây là nơi cho khách tham quan cơ hội khám phá những nguyên lý cơ bản của khoa học cấu thành sự phức tạp của thế giới. Khách tham quan sẽ được quan sát, thử nghiệm, và ngay lập tức cảm thấy mình đang tham gia trong thế giới khoa học tại những khu trưng bày cố định hay lưu động.              Bảo tàng là nơi các nhà khoa học trẻ và các thày cô giáo rèn luyện kỹ năng trao đổi, đối thoại với khan giả. Các khu vực có tên gọi “một nhà nghiên cứu, một thí nghiệm” trong bảo tàng chính là nơi các nhóm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm có cơ hội kết nối với công chúng – có thể với sự giúp đỡ thuyết minh từ nhân viên của bảo tàng – trình bày về những thí nghiệm mới và diễn giải về những bước tiến mới trong khoa học mà họ mới đạt được. Trung bình mỗi ngày nơi đây tổ chức 60 cuộc trình diễn khoa học lớn nhỏ, chưa kể các hội thảo và các buổi thuyết trình.              Bảo tàng Palais de la découverte là một phần trong trung tâm văn hóa Grand Palais tại trung tâm thành phố Paris. Những nội dung trưng bày về văn hóa khoa học tại bảo tàng chính là sự bổ sung lý tưởng cho những cuộc triển lãm nghệ thuật được tổ chức tại Grand Palais, khiến đây là nơi thường xuyên thu hút đông đảo khách tham quan trong thành phố.    Cité des sciences et de l’industrie – Kết nối khoa học với xã hội              Bảo tàng Cité des sciences et de l’industrie được khánh thành từ tháng 3 năm 1986, là một trong những trung tâm văn hóa khoa học lớn nhất Châu Âu, tính đến nay đã có 73 triệu lượt khách. Sự hấp dẫn của địa chỉ này đến từ nhiều hoạt động kết hợp giữa khoa học và giải trí, gồm những cuộc trưng bày đầy ấn tượng, một thư viện đa phương tiện, những cuộc thuyết trình và diễn đàn đối thoại, những trung tâm cập nhật tin tức khoa học mới nhất, các kho tàng dữ liệu, và đặc biệt nhất là khu vực dành cho trẻ em.              Từ khi mở cửa lần đầu vào năm 1986, trung tâm đã có chủ trương tạo cầu nối giữa khoa học với những vấn đề cơ bản mà xã hội đang phải đối diện, như các vấn đề môi trường, địa chính trị, và những câu hỏi đạo đức được đặt ra trong tiến trình phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, thông qua những cuộc hội thảo, diễn đàn, các buổi thuyết trình, trò chơi khoa học, v.v.               Nằm ở phía Đông – Bắc Paris tại khu quần thể văn hóa và du lịch Parc de la Villette, trung tâm Cité des sciences et de l’industrie là nơi lý tưởng để tiếp đón nhiều đối tượng công chúng khác nhau, đặc biệt là những người còn ít có cơ hội tiếp xúc với văn hóa khoa học. Trung tâm có đầy đủ các trang thiết bị để đón những khách tham quan bị tàn tật. Ngoài ra, trung tâm còn dành riêng một nguồn kinh phí cho mục đích giáo dục nhằm cung cấp các dịch vụ từ tư vấn nghề nghiệp tới dạy nghề, v.v.    Em tập khám phá thế giới trong Paris Cité des enfants              Với phương châm tạo điều kiện khám phá từ sớm là một phần không thể thiếu trong phát triển trí tuệ và khả năng sáng tạo ở trẻ em, trung tâm Paris Cité des enfants thuộc bảo tàng Cité des sciences et de l’industrie đã được cải tạo và mở rộng trong các năm 2007 tới 2009. Với diện tích 4000 m2 như hiện nay, trung tâm này được chia thành hai khu vực. Một khu vực dành cho trẻ em từ 2 tới 7 tuổi, khu vực còn lại cho trẻ em từ 5 tới 12 tuổi. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng được thiết kế nhằm đảm bảo khả năng tham gia của các em nhỏ và người lớn bị tàn tật. Với lối thiết kế bảo tàng đầy mới mẻ, một đội ngũ chuyên gia về trẻ em giàu kinh nghiệm, các khu vực này thường xuyên tiếp đón nhiều lượt trẻ em và các bậc phụ huynh tới tham gia một thế giới hoàn toàn khác biệt của những trò chơi và các cấu trúc giàu màu sắc. Qua đó, giúp các em khám phá các giác quan và cảm nhận từ cơ thể, tìm hiểu cấu trúc và sự hình thành các sự vật, tập xây nhà, chơi đùa với ngôn ngữ và ý tưởng, làm các chương trình truyền hình, tập định vị không gian trong các mê cung hay các lớp hoạt động thể chất, làm thí nghiệm với nước, không khí, v.v.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Ước tính số người bị viêm gan C giảm một nửa do thay đổi cách tầm soát      Báo cáo Toàn cầu về Bệnh viêm gan của WHO ước tính, năm 2015, số người bị nhiễm virus viêm gan C chỉ là 71 triệu, chứ không phải 130-150 triệu như ước tính trước đó.      Virus viêm gan C.  Báo cáo giải thích, con số giảm ngoạn mục này chủ yếu là kết quả của việc thay đổi phương pháp tầm soát virus viêm gan C (HCV). Các xét nghiệm tầm soát trước đây dựa trên việc phát hiện kháng thể do cơ thể tạo ra để phản ứng lại với một vài thành phần cấu tạo của HCV không thật sự chính xác đã được thay bằng các xét nghiệm đo lường RNA – vật liệu di truyền của HCV – ở người.  Graham Cooke, chuyên gia về bệnh viêm gan tại Đại học Hoàng gia London, cho biết, việc tầm soát dựa vào kháng thể để xác định số người mắc HCV đang gây nhầm lẫn theo hai cách. Gần đây, Cooke đã tiến hành một phân tích tổng hợp đối với các nghiên cứu ở châu Phi hạ Sahara và phát hiện thấy chỉ có 51% số người có kết quả dương tính trong các xét nghiệm kháng thể có RNA của HCV. Nguyên nhân của khoảng 1/3 số trường hợp thiếu nhất quán trong kết quả xét nghiệm là do một số người tự loại trừ được virus, mặc dù các kháng thể vẫn tồn tại. Một nguyên nhân khác là bản thân các xét nghiệm kháng thể thường không chính xác, theo chuyên gia Cooke.  Đồng thời với việc đặt trọng tâm tầm soát vào virus thay vì kháng thể, các nhà khoa học trên toàn cầu cũng tích cực nghiên cứu thế hệ thuốc mới. Cho đến năm 2011, các loại thuốc tiêu chuẩn điều trị HCV không trực tiếp tấn công vào virus và đều rất độc, đòi hỏi 48 tuần điều trị với tỷ lệ thất bại lên đến 40%. Nhưng một loạt thuốc làm tê liệt virus HCV chỉ đòi hỏi 12 tuần điều trị đã chữa thành công cho hầu như tất cả các trường hợp kể từ khi có mặt trên thị trường, chưa kể còn ít có tác dụng phụ. Những loại thuốc này nổi tiếng là đắt ở các nước phát triển – khoảng 45.000 USD để chữa khỏi bệnh – nhưng các công ty dược cho phép các nước nghèo hơn sử dụng thuốc gốc [thuốc generic] chỉ tốn khoảng 200USD cho toàn bộ quá trình điều trị.  Cách chẩn đoán dựa trên kiểm tra kháng thể đơn giản hơn nhưng cũng kém chính xác hơn so với phương pháp đo lường RNA của HCV, hiện vẫn được sử dụng rải rác ở nhiều nước nghèo. Báo cáo của WHO ước tính chỉ có 14 triệu người biết họ bị nhiễm HCV, bởi vậy vấn đề thật sự hiện nay là chẩn đoán chứ không phải điều trị.  Báo cáo nói trên cũng ước tính có 257 triệu người nhiễm virus viêm gan B (HBV), một con số rất gần với các ước tính trước đó. Mặc dù HBV và HCV không liên quan đến nhau nhưng đây là hai căn bệnh tồn tại thầm lặng, thường người nhiễm virus không biết về tình trạng của mình, và đều có thể gây ra xơ gan hoặc ung thư gan. Năm 2015, hai loại virus này đã cướp đi sinh mạng của 1,34 triệu người mà báo cáo nhấn mạnh là tương đương với con số tử vong do bệnh lao và cao hơn so với con số tử vong do HIV/AIDS.  Trong khi HCV được điều trị dễ dàng hơn thì HBV dễ ngăn ngừa hơn. Hiện chưa có vắc-xin HCV, nhưng năm 2015, có đến 84% trẻ em trên thế giới đã được tiêm vắc-xin HBV. “HBV ở trẻ em sẽ sớm trở thành dĩ vãng,” Yvan Hutin, chuyên gia về gan của WHO tại Geneva, tác giả chính của báo cáo, nói.  Nhàn Vũ dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/04/new-report-halves-number-people-infected-hepatitis-c-worldwide    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ươm mầm công nghệ      “Tôi là sinh viên năm cuối, đang nghiên cứu một công trình khoa học có khả năng ứng dụng thực tiễn cao, tôi có thể tham gia dự án vườn ươm thế nào?”.  “Tôi hiện đang làm việc tại một doanh nghiệp, tôi có ý tưởng hoặc công nghệ có thể ứng dụng đem lại lợi nhuận cao, nhưng chưa biết bắt đầu thế nào. Xin cho biết, tham dự vườn ươm thì tôi phải làm gì?”  “Giả sử công nghệ của tôi được ươm tạo, tôi sẽ phải trải qua các bước như thế nào?”  “Chúng tôi có ý tưởng, phát minh sáng chế hay sản phẩm, muốn phát triển thành doanh nghiệp. Chúng tôi cần bảo vệ bản quyền như thế nào?”  “Việc phân chia quyền lợi liên quan đến bản quyền sẽ được thực hiện như thế nào khi đến vườn ươm”?…    Đã có rất nhiều câu hỏi như vậy được gửi đến Vườn ươm công nghệ của Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về quản lý (CRC) của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội. Họ đều là những người rất trẻ. Có kiến thức, năng động, giàu tham vọng, họ chọn con đường “tạo việc làm” thay vì “tìm việc làm” như truyền thống. Tuy nhiên thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức pháp luật khiến cho việc “khởi nghiệp” của họ hết sức khó khăn. Năm 2004, Vườn ươm công nghệ CRC ra đời đã giúp họ giải quyết một phần khó khăn về vốn, cơ sở vật chất, kinh nghiệm quản lý, thủ tục pháp lý… Là vườn ươm công nghệ đầu tiên trong trường ĐH ở Việt Nam song mô hình này không xa lạ trên thế giới: Hầu hết các trường ĐH ở các nước phát triển đều có vườn ươm để hỗ trợ cho sinh viên và cán bộ trẻ khởi nghiệp. Ông Phạm Minh Tuấn, Phó giám đốc CRC, cho biết: bên cạnh mục tiêu xây dựng cầu nối đưa các phát minh, sáng chế vào kinh doanh, Vườn ươm công nghệ còn cùng Bộ KH&CN xây dựng thí điểm (master plan) để nhân rộng mô hình vườn ươm công nghệ trên cả nước.           Hoàng Văn Hay, thành viên chủ chốt của nhóm TDHK, sau này thành công ty VIMES          Ngay sau khi thành lập, Vườn ươm đã có được những “cây giống” khá triển vọng: Sản phẩm phần mềm “Môi trường số hóa bệnh viện” được Vườn ươm tạo vốn và dịch vụ trị giá 75 triệu đồng. Những “cây giống” khác của Vườn ươm như nhóm TDHK – nhóm sở hữu phần mềm quản lý 30 bệnh viện –  nay đã “lớn” thành Công ty VIMES. Hay nhóm E – learning của Nguyễn Quang Vinh có phần mềm có thể ứng dụng trong đào tạo từ xa, học trực tuyến. Năm ngoái, cả hai nhóm này đều được World Bank chọn quay phim giới thiệu tại Diễn đàn ươm tạo toàn cầu tại Ấn Độ. Cũng tại Diễn đàn này, Vườn ươm công nghệ CRC được chọn vào Top 4 trong số 62 Vườn ươm trên toàn cầu và được đề cử giải thưởng “Devlopment Gateway”. Đây là một giải thưởng lớn, có tiếng vang trên thế giới do 2 “người khổng lồ” Microsoft và Intel tài trợ.  Hiện Vườn ươm công nghệ CRC đã thu hút được khá nhiều đơn vị tham gia ươm tạo, trong đó phải kể đến World Bank, InfoDev (tài trợ cho dự án, trao đổi kinh nghiệm với 42 Vườn ươm do Infodev tài trợ trên toàn thế giới), FPT, IDG, Techcombank, Kinh Đô (đầu tư hơn 10.000 USD, cử đại diện tham gia hội đồng thẩm định và ban cố vấn…), ĐH Leipzig (tư vấn xây dựng kế hoạch kinh doanh, cử giảng viên đào tạo), JICA (cung cấp thiết bị và giảng viên cho chương trình đào tạo từ xa). Ông Phạm Minh Tuấn cho biết, lợi ích của các tổ chức trên khi tham gia Vườn ươm không phải là lợi nhuận trực tiếp mà là tiếp cận nhân tài, tiếp cận cơ hội đầu tư… Bên cạnh các tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận, Vườn ươm công nghệ CRC cũng tiếp nhận cả những cá nhân có vốn đầu tư với mục đích thu lãi thuần túy.  Một mâu thuẫn trong quá trình “ươm tạo” mà Vườn ươm CRC phải giải quyết là nhà nghiên cứu muốn giữ bí quyết trong khi nhà đầu tư cần biết chi tiết để quyết định. Vấn đề sở hữu trí tuệ cũng được đặt ra khi công nghệ được triển khai: trường đại học, người nghiên cứu, người hướng dẫn hay các đơn vị hợp tác sẽ sở hữu? Một số giải pháp được đề ra như nhà đầu tư và ban tư vấn, thẩm định ký Cam kết không tiết lộ. Hệ thống bảo vệ sở hữu trí tuệ của các Vườn ươm trong trường ĐH cũng được tham khảo. “Công trình nghiên cứu có chiều sâu không dễ bị sao chép”– Ông Phạm Minh Tuấn nhận định – “Thực hiện là quan trọng, không phải là ý tưởng”.  Mới 3 năm  hoạt động, sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cho ra đời những công ty công nghệ khổng lồ, hiện thành công “dễ thấy” nhất của Vườn ươm CRC là đã thu hút được những đối tác rất mạnh tham gia ươm tạo. Bên cạnh việc ươm tạo trực tiệp, một hướng đi tới đây của Vườn ươm là ươm tạo trực tuyến (online): Vườn ươm sẽ hỗ trợ tuyến cho 64 trung tâm tin học cộng đồng trong cả nước.  Bà Susan Schwab, Bộ trưởng Bộ Thương Mại Hoa Kỳ trong chuyến làm việc tại Việt Nam đã nhận xét: “Vườn ươm CRC đã có nhiều sáng tạo trong hoạt động, nhằm nỗ lực tạo cơ hội cho mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng động ở mọi miền trên đất nước Việt Nam tiếp cận với “kinh tế tri thức”, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và đem lại phồn vinh cho xã hội”. Còn ông Trần Quốc Thắng, Thứ trưởng Bộ KH&CN thì đánh giá: “Với chuyên môn vững vàng và cách làm linh hoạt, Vườn ươm CRC đã thực hiện tốt những mục tiêu đề ra trong chương trình ươm tạo doanh nghiệp công nghệ của Bộ KH&CN, tạo được hàng trăm việc làm, góp phần thúc đẩy ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, ươm tạo được những doanh nghiệp và cơ sở hành chính sự nghiệp có thu bền vững”.    Một số câu hỏi thường gặp về dự án Vườn ươm CRC  Vườn ươm là gì  Vườn ươm(Incubation) là một tổ chức cung cấp dịch vụ và cơ sở vật chất để hỗ trợ việc khởi nghiệp từ giai đoạn hình thành ý tưởng, tới phát triển sản phẩm và cho đến khi thành lập doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp.   Ai là người được ươm tạo  Những người có ý tưởng, có phát minh sáng chế, có giải pháp cụ thể, có sản phẩm định hình muốn thương mại hóa và cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.   Vườn ươm công nghệ khác vườn ươm doanh nghiệp ở điểm nào?   Vườn ươm công nghệ(Technology incubator): Là tổ chức hỗ trợ hình thành các phát minh sáng chế, các công nghệ có tính khoa học và tính thực tiễn cao. Ngoài ra còn có mô hình Technology bussiness incubator là mô hình vườn ươm doanh nghiệp tập trung vào các doanh nghiệp trên nền tảng công nghệ.  Vườn ươm doanh nghiệp(Bussiness incubator): Là tổ chức hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp dựa trên ý tưởng, nền tảng công nghệ hoặc dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội   Ươm tạo khác gì với đầu tư mạo hiểm   Ươm tạo (Incubation): Là giai đoạn trước của đầu tư mạo hiểm. Để tìm được các nhà đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp thường phải có từ 1 đến 2 năm hoạt động kinh doanh tương đối thành công (sản phẩm được chấp nhận trên thị trường, có kế hoạch kinh doanh cụ thể, rõ ràng, và hấp dẫn).  Đầu tư mạo hiểm(Venture capital investment) là gì?: Là đầu tư (thường dưới hình thức góp vốn) vào các doanh nghiệp có rủi ro cao, nhưng lợi nhuận cao. Thông thường trên thế giới đầu tư mạo hiểm đòi hỏi mức lợi nhuận lớn hơn >30%, trong khi đó gửi lãi suất tiết kiệm là 4-8%, và đầu từ cổ phiếu có mức lợi nhuận là 12-15%   Có những hình thức ươm tạo nào?   Hình thức ươm tạo chỉ cung cấp dịch vụ hỗ trợ về cơ sở vật chất (infrastructure) (thông thường là các khu công nghệ cao, các tòa nhà văn phòng cho thuê).   Hình thức ươm tạo chỉ cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư vấn kiến thức kỹ năng (thông thường là các công ty, các nhà tư vấn tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp).   Hình thức ươm tạo chỉ hỗ trợ vốn đầu tư (thông thường là các quỹ đầu tư mạo hiểm, các cá nhân có vốn đầu tư).     Ảnh trên cùng: Dự án Dầu gấc và các sản phẩm từ quả gấc Nguyễn Minh Thực sinh viên năm thứ 4 Viện công nghệ sinh học và công nghệ thực Phẩm_ĐHBKHN được CRC trao thưởng Vốn và dịch vụ ươm tạo trị giá 75 triệu động.  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ươm tạo” trong môi trường kinh tế Việt Nam      … Thế giới hiện có khoảng 5.000 vườn ươm doanh nghiệp. Riêng Mỹ hiện có khoảng 1.100 vườn ươm. Năm 2001, các vườn ươm ở Bắc Mỹ đã hỗ trợ 35.000 doanh nghiệp khởi nghiệp, tạo doanh thu trên 7 tỷ USD. Chi phí để tạo ra một việc làm mới trong vườn ươm là 1.100 USD so với 10.000 USD ở bên ngoài. Người ta ước tính, 1USD đầu tư vào vườn ươm và các doanh nghiệp đang ươm tạo sẽ tạo ra khoảng 30 USD thuế doanh thu. Tỷ lệ sống sót của các doanh nghiệp được ươm tạo là trên 90%, rất cao so với 20% số doanh nghiệp “trụ” được sau 3 năm ở ngoài vườn ươm. Châu Âu cũng có trên 1.200 vườn ươm, tạo ra khoảng 30.000 việc làm mới mỗi năm…    Không dễ “ươm tạo”  Nếu chỉ nhìn vào những con số ấn tượng trên, người ta có thể sẽ nghĩ rằng mở các vườn ươm doanh nghiệp là việc khá “dễ dàng”. Hiện Việt Nam cũng đã xây dựng một loạt vườn ươm như CRC Bách Khoa, Khu CNC Hoà Lạc (ở Hà Nội), ISPIRE, MECHATRONICS, UNISOFT (TP HCM); STC, Vườn ươm DNCN đô thị (Hải Phòng); SOFTTECH (Đà Nẵng)… Song có một thực tế là chúng ta vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp công nghệ đang được ươm tạo, cũng chưa có doanh nghiệp công nghệ “ra giàng” nào lớn mạnh thành các doanh nghiệp “đại gia”. Thành công lớn nhất của các doanh nghiệp được ươm tạo cho đến nay vẫn chỉ là thu hút được vốn đầu tư, song không nhiều, thường chỉ trên dưới 100 triệu đồng.  Còn thành công lớn nhất của các khu ươm tạo ở Việt Nam hiện vẫn chỉ là… thu hút được các dự án để ươm tạo doanh nghiệp. Vườn ươm doanh nghiệp CNC (Khu CNC TP HCM) đặt mục tiêu đến năm 2011 sẽ ươm tạo 40 doanh nghiệp, mỗi năm tăng 10 doanh nghiệp, nhưng đến nay, Vườn ươm này vẫn chưa ươm tạo doanh nghiệp công nghệ nào.  Nguyên nhân của tình trạng còn ít doanh nghiệp công nghệ được ươm tạo, phần lớn do mức độ sẵn sàng công nghệ (khả năng tiếp thu công nghệ ở các doanh nghiệp) của Việt Nam còn khá thấp. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), chỉ số sẵn sàng công nghệ của Việt Nam không những rất thấp so với Mỹ, Tây Âu mà còn thua xa Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia. Cũng theo WEF, năm 2007, chỉ số đổi mới (inovation index) của Việt Nam được xếp hạng 64 với 3,22/7, kém xa Trung Quốc (thứ 38), Thái Lan (35), Malaysia (20), Hàn Quốc (14).  Công nghệ được ươm tạo ở Việt Nam hầu  hết không phải là các công nghệ đột phá mà là những công nghệ có tính ứng dụng cao, phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên khối doanh nghiệp này lại gặp rất nhiều khó khăn: 67% doanh nghiệp khó khăn về tài chính; 51% khó khăn về mở rộng thị trường; 45% khó khăn về đất đai và mặt bằng; 20% khó khăn về thiếu thông tin; 18% khó khăn về đào tạo nhân lực (theo nghiên cứu của Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ). Ngoài ra, lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng thường thiếu một “tầm nhìn” để mua công nghệ đang được ươm tạo.    Hỗ trợ mạnh từ nhà nước  Điều kiện kinh tế còn thấp khiến việc “ươm tạo” doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam có những đặc thù. Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho biết, nếu như “vườn ươm” (incubator) ở phương Tây chỉ có nghĩa là “ươm tạo”, mặc nhiên hiểu là “ươm tạo doanh nghiệp công nghệ”, thì ở Việt Nam “vườn ươm” gồm “ươm tạo công nghệ” và  “ươm tạo doanh nghiệp”. Ở phương Tây, doanh nghiệp bỏ tiền ươm tạo; song ở Việt Nam, nhà nước hỗ trợ “ươm tạo công nghệ”, tiếp đó doanh nghiệp mới đầu tư “ươm tạo doanh nghiệp”.  Bên cạnh một loạt cơ sở pháp lý “lớn” như Luật KH&CN, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh doanh nghiệp KH&CN… đến nay vẫn chưa có một văn bản của Nhà nước ban hành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực ươm tạo và chuyển giao công nghệ. Dầu vậy, Bộ KH&CN thời gian qua đã tiến hành hàng loạt hoạt động liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ươm tạo và chuyển giao công nghệ như mở thị trường công nghệ (các Techmart), lập các Quỹ hỗ trợ ươm tạo và chuyển giao công nghệ, dành một phần lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp cho đổi mới công nghệ; hình thành và phát triển các tổ chức tư vấn và dịch vụ chuyển giao công nghệ; xây dựng website về cung cầu công nghệ, bí quyết công nghệ, giải mã và làm chủ công nghệ mới…     TS Phan Đình Thuần, Hiệu phó trường ĐH Bách Khoa TP HCM cho biết, Trường đã  tích cực tham gia nhiệm vụ ươm tạo công nghệ của Bộ KH&CN và có một số sản phẩm nghiên cứu chuẩn bị chuyển giao cho doanh nghiệp. Sản phẩm robot hàn của doanh nghiệp được ươm tạo trong Trường đã được nhiều doanh nghiệp đặt mua. Vườn ươm CRC của ĐH Bách Khoa HN cũng có một số thành công, như nhóm TDHK với phần mềm quản lý 30 bệnh viện đã được “ươm” lớn thành Công ty VIMES; hay “Dự án dầu gấc” của Nguyễn Văn Thực được CRC tạo vốn và dịch vụ ươm tạo trị giá 75 triệu đồng…  Qua thành công của một số doanh nghiệp được ươm tạo, có thể thấy bên cạnh các hỗ trợ về pháp lý và vốn từ phía nhà nước, việc cung cấp các dịch vụ kiểm định công nghệ mới, dịch vụ tiếp thị, đào tạo, tài chính… của “Vườn ươm” đã tạo thuận lợi rất lớn cho các nhà nghiên cứu “chập chững” kinh doanh chính những sản phẩm nghiên cứu của mình. Ngoài ra, bản thân doanh nghiệp ươm tạo phải có sản phẩm, dịch vụ độc đáo, có nghiên cứu khả thi và kế hoạch kinh doanh tốt; tận dụng được hỗ trợ từ người thân, bạn bè về tài chính và tư vấn; học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.  Việt Anh       Author                Quản trị        
__label__tiasang Uống aspirin sẽ giảm nguy cơ ung thư      Sau khi tiến hành phân tích đánh giá tất cả  các chứng cớ về việc sử dụng aspirin, các nhà khoa học Anh Quốc kết  luận: Mỗi ngày uống một viên aspirin sẽ giảm được xác suất mắc hoặc chết  vì những loại ung thư ruột và dạ dày.      Họ dự đoán, nếu mỗi người Anh trên 50 tuổi kiên trì trong 10 năm liền mỗi ngày uống một viên aspirin thì trong 20 năm có thể cứu được tính mệnh của 122.000 người.  Nhưng đồng thời họ cũng cảnh báo: aspirin sẽ dẫn đến sự xuất huyết bên trong cơ thể, cho nên trước khi uống aspirin lâu dài cần hỏi ý kiến thầy thuốc.  Các nhà khoa học ở Học viện Y khoa Hoàng hậu Mary thuộc Đại học London đã tiến hành nghiên cứu khoảng 200 báo cáo điều tra việc sử dụng aspirin đem lại kết quả tốt hoặc xấu. Kết quả nghiên cứu của họ đã đăng trên tạp chí Ghi chép về Khoa Ung thư học (Annals of Oncology).  Trong giới y học luôn diễn ra cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề có thể uống aspirin lâu dài hay không.   Các nhà khoa học ở Học viện Y khoa Hoàng hậu Mary phát hiện: aspirin làm giảm khoảng từ 30 đến 40% tỷ lệ tử vong của các bệnh nhân ung thư ruột, dạ dày và thực quản.  Aspirin cũng có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong của các bệnh nhân ung thư vú, tuyến tiền liệt và phổi, nhưng hiệu quả không rõ ràng như trên.  Nghiên cứu còn cho biết phải kiên trì uống aspirin ít nhất trong năm năm trở lên thì mới thấy lợi ích của việc này.  Người đứng đầu quá trình điều tra phân tích nói trên, Giáo sư Jack Cuzick ở Học viện Y khoa Hoàng hậu Mary, khuyên tất cả những người khỏe mạnh từ 50 tuổi trở lên nên nghĩ đến việc hằng ngày uống aspirin loại liều thấp (75mg) trong 10 năm liền.  Các nhà nghiên cứu dự đoán, nếu 1.000 người 60 tuổi dùng aspirin trong 10 năm thì trong 10 năm tiếp theo sẽ giảm được 16 người chết vì ung thư, một người chết vì bệnh tim mạch, nhưng sẽ tăng hai người chết vì xuất huyết bên trong cơ thể.  Giáo sư Cuzick, người đã và đang uống aspirin trong bốn năm nay, nói: “Trong khi có một số hiệu ứng phụ nghiêm trọng không thể bỏ qua, việc uống aspirin hằng ngày xem ra là điều quan trọng nhất chúng ta có thể làm để giảm thiểu ung thư sau khi cai thuốc lá và giảm béo, và điều đó có thể sẽ dễ thực hiện hơn.”  Hiện nay người ta đã biết tác dụng phụ lớn nhất của việc uống aspirin lâu dài là chảy máu dạ dày và chảy máu não, càng cao tuổi thì càng có khả năng chảy máu. Sau khi xem xét tác dụng phụ, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu điều tra nói trên kiến nghị thời gian uống aspirin dài ngày nên là 10 năm, nhưng họ cảnh báo trước khi uống phải được thầy thuốc đồng ý.  Nguyễn Hải Hoành lược dịch theo bbc.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Uống cà phê có thể chống thoái hóa võng mạc      Thông thường chúng ta nghĩ rằng tách cà phê  màu nâu đen nóng hổi sáng sáng ta uống chỉ là để giúp ta tỉnh táo, hoạt  bát mà ít người biết rằng uống cà phê còn là biện pháp ngăn ngừa một số  bệnh.     Tờ Tin tức Y học hôm nay (Medical News Today) vừa đưa tin về một nghiên cứu cho thấy uống cà phê có thể giảm được khả năng mắc bệnh tiểu đường loại II. Các nghiên cứu mới đây ở Mỹ và Hàn Quốc cho thấy uống cà phê còn có ích cho mắt, đó là do cà phê chứa rất nhiều chất chlorogenic acid (CGA), là chất có thể ngăn ngừa sự thoái hóa võng mạc (retinal degeneration).  Tạp chí Hóa học nông nghiệp và thực phẩm (Journal of Agricultural and Food Chemistry) số ra tháng 12/2013 đã công bố khám phá của nhóm nghiên cứu ở Đại học Cornell (Ithaca, New York). Các tác giả cho biết, hạt cà phê xanh (tức cà phê thô, chưa chế biến) bình quân chỉ chứa 1% caffeine, nhưng lại chứa tới khoảng 7-9% CGA – một loại chất kháng ô-xi hóa (antioxidant). Các chất kháng ô-xi hóa có khả năng ngăn ngừa những rối loạn và bệnh tật về mắt do tuổi tác. Các thí nghiệm tiến hành với chuột cho thấy CGA có thể ngăn ngừa sự xuất hiện hiện tượng thoái hóa võng mạc ở chuột.  Bản báo cáo đăng trong tạp chí nói trên cho biết, các nhà nghiên cứu đã dùng chất nitric oxide để điều trị chuột thí nghiệm, chất này làm cho chúng bị kích thích ô-xit hóa (oxidative stress); nitric oxide cũng chứa các gốc tự do có thể làm võng mạc bị thoái hóa. Nhưng ở nhóm chuột được điều trị bằng chất kháng ô-xi hóa CGA thì không thấy xuất hiện sự thoái hóa võng mạc.  Võng mạc (còn gọi là đáy mắt) là một lớp màng mỏng trong suốt ở phía trong thành nhãn cầu, gồm hàng triệu tế bào nhạy cảm với ánh sáng và tế bào thần kinh. Ánh sáng từ bên ngoài đi vào mắt sẽ tập trung trên võng mạc, các dây thần kinh sẽ tiếp nhận những hình ảnh này và truyền vào não; nhờ đó ta có thể nhìn thấy sự vật. Khi võng mạc bị hỏng thì mắt sẽ bị mù.  Võng mạc là loại mô cần ô-xi hơn bất cứ mô nào trong cơ thể, kể cả não; khi tế bào của nó bị thiếu ô-xi thì sẽ xuất hiện sự kích thích ô-xi hóa, dễ sinh ra chứng bong võng mạc, cuối cùng làm mất thị lực, tức bị mù. Có mấy nguyên nhân làm võng mạc bị thoái hóa:   – bệnh tăng nhãn áp (glaucoma); – tuổi già; – bệnh tiểu đường.  Tuy vậy báo cáo cho biết nhóm nghiên cứu còn chưa xác định là cơ thể con người có trực tiếp truyền chất CGA tới võng mạc hay không.  Ông Chang Lee, Giáo sư Khoa Khoa học thực phẩm ĐH Cornell, người chấp bút bản báo cáo nói trên cho biết, điều quan trọng của nghiên cứu này là ở chỗ đã phân tích những thực phẩm thiên nhiên có ích cho sức khỏe. “Cà phê là đồ uống phổ biến trên toàn cầu, chúng tôi đang tìm hiểu xem nó có những ích lợi gì cho chúng ta,” ông nói.  Trước đây từng có những nghiên cứu chứng minh cà phê có tác dụng làm chậm sự xuất hiện bệnh parkinson, u xơ tuyến tiền luyệt, bệnh tiểu đường loại hai và Alzheimer (mất trí nhớ) do tuổi già gây ra.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Urani – nguồn nguyên liệu vô tận?      Từ mấy năm nay, qua các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước và cả ở nước ngoài, một cuộc thảo luận khá sôi nổi về dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận trong khoảng thời gian từ 2017 tới 2020. Nhiều khía cạnh, vấn đề liên quan đã được phân tích cặn kẽ. Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập tới nguồn nguyên liệu chính trong việc sản xuất điện hạt nhân, đó là urani.    Trữ lượng urani và các kịch bản về nhu cầu của thị trường  Theo tài liệu công bố năm 2001, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (International Atomic Energy Agency – gọi tắt IAEA) đã nghiên cứu khả năng cung cấp nguyên liệu ấy trong 50 năm đầu của thế kỷ 21. IAEA xem xét cả các nguồn urani chính khai thác từ quặng mỏ lẫn các nguồn phụ chẳng hạn như kho dự trữ, nguồn thu hồi từ vũ khí hạt nhân được thanh lý và quặng đuôi (tails). Tùy theo mức độ hiểu biết về đặc điểm của các nguồn urani chính, người ta phân biệt giữa nguồn chắc chắn – RAR, nguồn bổ sung hạng I / II – EAR I / EAR II và nguồn suy đoán có urani – SR.  IAEA mô tả ba kịch bản như sau:  a) Nhu cầu của thị trường thấp khi kinh tế thế giới tăng trưởng trung bình, các chính sách năng lượng có định hướng bảo vệ môi trường, nhu cầu năng lượng tăng một ít, điện hạt nhân từng bước bị hủy bỏ cho tới năm 2100. Với lượng tiêu thụ  3.390.000 tấn U trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2050 hay 67.800 tấn U/năm, riêng các nguồn RAR cũng đủ đáp ứng nhu cầu.  b) Thị trường tiêu thụ urani ở mức trung bình khi các điều kiện kinh tế và năng lượng giống trường hợp trên, ngoại trừ việc sử dụng điện hạt nhân tiếp tục phát triển trên khắp thế giới, đòi hỏi phải có tất cả 5.394.100 tấn U. Nếu chỉ tính các mỏ urani biết rõ và khá rõ (RAR + EAR I) thì sẽ thiếu 146.000 tấn, còn nếu kể cả các mỏ có tiềm năng khai thác (RAR + EAR I + EAR II) lại thừa hơn 2 triệu tấn. Tuy nhiên, trong thực tế khả năng sản xuất urani thấp hơn nhiều so với lượng nguyên liệu tiềm ẩn trong quặng mỏ, dẫn tới sự thiếu hụt 845.000 tấn hoặc 307.000 tấn U, tùy theo cách tính. Không kể các nguồn EAR II, từ năm 2034 trở đi, sản lượng urani sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu, bình quân mỗi năm thiếu khoảng 32.500 tấn.  c) Với kịch bản thị trường tiêu thụ urani ở mức độ cao (7.577.300 tấn), sự mất cân bằng giữa cung và cầu còn trầm trọng hơn: lượng urani sản xuất từ các nguồn RAR + EAR I sẽ thiếu tới gần 3 triệu tấn. Tình trạng này xảy ra khi kinh tế thế giới phát triển mạnh, hướng tới „năng lượng sạch và dồi dào“ nhưng không dùng những biện pháp chặt chẽ để bảo vệ môi trường và gia tăng sản xuất điện hạt nhân một cách đáng kể. Tình trạng khan hiếm bắt đầu năm 2026; trung bình mỗi năm sau đó thiếu tới 123.000 tấn U.  Các nguồn phụ cung cấp 42 % lượng urani sử dụng trong năm 2000 sẽ giảm dần theo thời gian. Tới năm 2025, tỉ lệ này chỉ còn 11 % hoặc 8 % tùy nhu cầu ở mức trung bình hay cao.  Bên cạnh các nguồn urani thông thường kể trên, IAEA cũng đề cập tới lượng urani là sản phẩm phụ khi khai thác các mỏ photphat, mônazit, than, đá phiến đen… Huy động tất cả các nguồn urani có được, kể cả những nguồn ít bảo đảm hay có hàm lượng thấp và kể cả những nguồn phải khai thác với chi phí lớn, mới đủ cung ứng cho thị trường với mức tiêu thụ trung bình hoặc cao.  Kết luận trên của IAEA đã có năm năm về trước. Mới đây, Peter Diehl khảo sát lại trữ lượng urani trên thế giới theo yêu cầu của tổ chức Hoà Bình Xanh (Đức). Ông đưa ra các nhận định sau đây:  – Trữ lượng urani chỉ vừa đủ cung cấp cho thị trường có nhu cầu thấp đều cho tới năm 2040 rồi giảm xuống sau thời điểm đó. Nếu nhu cầu ở mức độ trung bình hay cao, các nguồn urani sẽ cạn kiệt vào năm 2048 hoặc 2040.  – Ngay cả với mức tiêu thụ hiện nay, lượng urani khai thác từ quặng mỏ phải được tăng gấp đôi vào năm 2023 vì khi ấy các nguồn phụ đang cung cấp khoảng 50 % sẽ cạn kiệt. Do đó, năng lực sản xuất phải được tăng cường nhưng lại ít nơi nào chuẩn bị công việc đòi hỏi thời gian lâu dài ấy.  – Vì khó có thể tìm thêm mỏ urani giàu nên buộc phải khai thác các mỏ nghèo; điều này làm tăng chi phí sản xuất, đồng thời gây hậu quả tai hại hơn nữa cho môi trường sinh thái.  – Vấn đề cung cấp nguyên liệu sẽ trở nên nghiêm trọng nếu Trung Quốc và Ấn Độ triển khai chương trình năng lượng hạt nhân như theo dự tính, trong khi trữ lượng urani của những nước này lại rất nhỏ. Nga tuy có trữ lượng lớn hơn vẫn phải đương đầu với cuộc khủng hoảng urani trong vòng mười năm nữa.  Tóm lại, trữ lượng urani trên thế giới không phải vô tận mà sẽ cạn kiệt trong khoảng thời gian từ 2026 đến 2070; thời điểm thực tế là 2050.  Giá urani và vấn đề mua nguyên liệu, sản xuất nhiên liệu  Như mọi thứ hàng hóa khác, giá urani cũng lên xuống theo tỉ lệ giữa cung và cầu, tuy không tránh khỏi tác động đáng kể về mặt chính trị. Cuối những năm 70 của thế kỉ trước, chính phủ Mỹ mua thêm nhiều urani nên giá mỗi cân Anh (lb) U3O8 tại nơi sản xuất (spotprice) lên tới 43 USD/lb. Sau đó chẳng bao lâu, nó  tụt xuống còn khoảng 10 USD/lb. Sau cuộc chiến tranh lạnh, giá urani dao động ở mức ấy với đỉnh nhọn gần 17 USD/lb U3O8 trong năm 1996 rồi lại giảm dần cho tới khi chỉ còn 7 USD/lb U3O8 vào cuối năm 2000.  Những năm đầu thế kỷ 21, urani từ từ đắt hơn rồi tăng giá vụt lên gấp năm lần trong thời gian gần đây. Đến tháng 5-2006, giá mỗi cân Anh U3O8 tại nơi sản xuất đã cao hơn 40 USD với khuynh hướng tăng.  Nhà phân tích thị trường người Canađa Kevin Bambrough đưa giả thiết giá urani sẽ có lúc vượt mức 500 USD/lb. Để tính mức giá này, ông dựa vào số nhà máy điện hạt nhân dự kiến xây dựng thêm trong tương lai cũng như “thế kẹt” của chủ các nhà máy đang hoạt động. Bởi vì muốn thanh lý các nhà máy ấy, họ phải chi một số tiền to tướng nên cố kéo dài thời hạn sử dụng mặc dù giá nhiên liệu lên cao vì khan hiếm.  Nhiều nhà phân tích khác dè dặt hơn, dự đoán urani  tại nơi sản xuất sẽ có giá từ 40 đến 100 USD/lb trong vòng một, hai năm nữa.  Giá urani sẽ nằm ở mức cao trong thời gian dài nhưng nó không có tác động lớn tới giá điện: chi phí khai thác và xử lý quặng urani chỉ bằng 5 % tổng chi phí sản xuất điện hạt nhân hay khoảng 1,6 % giá điện người tiêu thụ phải trả. Vấn đề ở đây là không phải “có tiền thì mua U cũng được”. Do giới hạn về trữ lượng và khả năng cung cấp urani nói trên, các nước cần nhiều nguyên liệu này nhất (Mỹ, Pháp, Nhật, Nga và có lẽ cả Trung Quốc, Ấn Độ trong tương lai gần) cạnh tranh gay gắt với nhau, trong khi chỉ có bảy nước trên thế giới có khả năng xuất khẩu: Canađa, Úc, Cazăcxtan, Nigiê, Namibi, Uxbêkixtan và Nam Phi. Nhiều nước còn gặp một số khó khăn về chính trị khi tìm mua urani. Chẳng hạn như Nga đã mất các nguồn quan trọng sau khi Liên Xô tan rã; Cazăcxtan là nước có nhiều urani nhất trong khối Đông Âu cũ lại không bán cho Nga. Hay như Ấn Độ vì không ký Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử (Non Proliferation Treatise) nên không được phép mua urani của nước ngoài, buộc phải khai thác các mỏ nghèo trong nước. Trung Quốc cần nhiều nguyên liệu cho chương trình điện hạt nhân của mình nhưng không thể nhập urani từ Úc vì nước này lo ngại Trung Quốc có thể sử dụng cho mục đích quân sự.  Vì những trở ngại nêu trên, chắc hẵn mỗi quốc gia theo đuổi chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử đều nghĩ tới việc tự chủ về nhiên liệu và vật liệu hạt nhân. Theo TS. Hoàng Quốc Đô, Việt Nam có tiềm năng về quặng urani với trữ lượng ước tính lên tới 230.000 tấn U3O8. Ông cũng nêu rõ “nội dung chính về xây dựng và phát triển chương trình nhiên liệu hạt nhân ở Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 là:  – Tìm kiếm thăm dò và đánh giá khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên Urani ở Việt Nam.  – Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ về chu trình nhiên liệu”.    Theo thiển ý của tôi, trước hết nên tìm hiểu kỹ đặc tính của các mỏ urani để có thể đánh giá việc khai thác có kinh tế hay không và gây hậu quả gì cho người dân địa phương cũng như môi trường sinh thái. Đề cập tới nỗ lực khai thác quặng urani nghèo của Ấn Độ, TS. C. Ganguly, chủ tịch Chu trình Nhiên liệu Hạt nhân (Nuclear Fuel Cycle) thuộc IAEA, khuyên nước này nên tìm giải pháp chính trị để tiếp cận công nghệ lò phản ứng mới nhất và mua urani ở thị trường quốc tế. (“Better buy uranium abroad if you can get it cheaper and not waste time by rediscovering the wheel”).  Tác động của việc khai thác mỏ urani  Trong dây chuyền sản xuất nhiên liệu hạt nhân (xem hình 1), hai khâu khai thác và chế biến quặng urani có tác động xấu nhất đối với con người và môi trường.   Quặng urani chủ yếu được khai thác bằng cách cổ điển ở mỏ lộ thiên hoặc mỏ ngầm. Nếu là mỏ lộ thiên, chỉ cần bóc lớp đất đá phủ tương đối mỏng để lấy quặng, còn mỏ ngầm thì phải đào hầm lò khá sâu qua lớp đá không quặng, có khi tới hai ba kilômet dưới lòng đất. Hàng triệu lít nước ô nhiễm bơm từ mỏ vào sông rạch, khiến lớp trầm tích ngày càng chứa nhiều chất phóng xạ hơn. Tuy việc thông khí ở mỏ giảm được phần nào tai hại cho sức khỏe công nhân, nhưng bụi phóng xạ và khí rađon thổi ra ngoài lại làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cho người dân sống gần đó. Đá thải chất thành gò lớn cũng hay có độ phóng xạ cao hơn các loại đá bình thường.  Kể cả khi mỏ đã ngừng hoạt động, gò đá thải vẫn còn là mối đe dọa đối với môi trường và các khu dân cư lân cận vì khí rađon, nước rỉ ô nhiễm có thể thoát ra ngoài.  Sau khi thu hoạch, quặng urani được đập vỡ rồi nghiền nhỏ ở phân xưởng gia công. Trong quá trình thủy luyện, người ta tách urani ra khỏi quặng bằng một dung dịch thường là axit sunfuric nhưng cũng có khi là dung dịch bazơ. Ngoài urani ra, chất lỏng dung dịch còn hoà tan nhiều kim loại nặng và asen nên phải lọc lấy urani lần nữa. Thành phẩm của khâu chế biến là “bánh vàng” (yellow cake) tức oxit urani U3O8 xen lẫn tạp chất. Nguy cơ lớn nhất ở khâu này là bụi phóng xạ. Bên cạnh đó, hàng chục triệu tấn phế liệu nhiễm chất phóng xạ cũng có thể gây tác động nặng nề. Quặng thải (tailings) mới đầu có trạng thái đặc sệt như bùn được bơm vào bồn lắng, tách lấy phần rắn đưa ra bãi phế liệu. Nó có trọng lượng lớn gần bằng trọng lượng quặng khai thác được và còn giữ khoảng 85 % lượng phóng xạ ban đầu vì ngoại trừ một ít urani (hàm lượng rất thấp do đa số mỏ chứa dưới 0,5 % U), quặng thải bao gồm tất cả các thành phần khác, trong đó có thôri-230, rađium-226… và cả dư lượng urani nữa. Ngoài ra, quặng thải còn chứa nhiều chất độc như kim loại nặng, asen… Vì thế, các bãi phế liệu là nguồn phóng xạ độc hại lâu dài. Tuy có chu kỳ bán rã tương đối ngắn (3,8 ngày), rađon-222 không ngừng phát sinh từ Ra-226 (chu kỳ bán rã 1.600 năm), chất này lại luôn  được bổ sung bởi phản ứng phân rã của Th-230 (chu kỳ bán rã 80.000 năm). Phải sau mấy trăm ngàn năm, lượng phóng xạ và sự phát sinh khí rađon mới giảm đáng kể. Ngoài ra, còn có khả năng nước rỉ chứa asen, urani v.v. – đặc biệt nguy hiểm trong môi trường axit vì các đồng vị phóng xạ ở dạng cơ động hơn bình thường – làm ô nhiễm cả nước ngầm lẫn nước bề mặt. Vì chu kỳ bán rã của nhiều chất phóng xạ quá dài nên để bảo đảm an toàn, bãi phế liệu phải được củng cố bằng đập đá hay bê-tông. Điều đó khó thực hiện ở những vùng chịu nhiều tác động xói mòn và thiên tai lũ lụt như Việt Nam. Trong quá khứ, nhiều vụ vỡ đê bảo hộ khiến hàng ngàn tấn bùn và hàng triệu lít nước ô nhiễm tràn ra ngoài, thí dụ như ở Hoa Kỳ năm 1977, 1979 và ở Canađa năm 1984.  Sau khi ngừng khai thác, để phòng tai họa cho con người và môi trường, cần phải thu dọn, cải thiện tình trạng ô nhiễm ở mỏ và phân xưởng gia công, cũng như phải quản lý chặc chẽ một lượng phế thải (đá và quặng thải) hạt nhân khổng lồ. Chi phí xử lý sau khi khai thác tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Đức phải chi 49 USD cho mỗi tấn phế thải hay 14 USD cho mỗi cân Anh U3O8 khai thác ở CHDC Đức cũ, trong khi các chi phí tương ứng của Canađa là 0,48 USD/tấn phế thải và 0,12 USD/lb U3O8. Tổng chi phí xử lý mấy chục triệu tấn phế thải từ một mỏ urani sẽ lên tới hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu đô-la Mỹ. Càng để lâu, việc xử lý phế thải càng khó khăn và tốn kém hơn. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế khuyến cáo ngay khi lập bản dự chi cho việc sản xuất urani nên tính cả kinh phí quản lý môi trường và chất thải trong quá trình khai thác cũng như sau đó.  Giữa bối cảnh môi trường sinh thái ở nước ta đang suy thoái nặng nề, mỗi tác động đáng kể vào tự nhiên đều đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận và những biện pháp phòng chống ô nhiễm chặt chẽ. Huống chi việc khai thác quặng urani lại thải ra một lượng phế liệu phóng xạ độc hại hết sức to lớn. Nếu không được xử lý kỹ lưỡng, nó là mối đe doạ nhiều mặt kéo dài hàng ngàn hàng vạn năm (“ngàn năm phế thải vẫn còn trơ trơ!”). Vì thế cho nên chừng nào nước ta chưa đào tạo đủ công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý có kỹ năng và tinh thần trách nhiệm cao, chưa có luật định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường như hiện nay, chúng ta khoan tiến hành việc sản xuất urani.  Hình 1 trên cùng: Quy trình sản xuất nhiên liệu nhà máy điện hạt nhân  Phạm Hải Hồ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Uruguay: 95% điện năng từ năng lượng sạch      Trong vòng chưa đầy 10 năm, nhờ chính sách phát triển năng lượng sạch, Uruguay đã cắt giảm lượng khí thải carbon và hạ chi phí điện năng mà không cần trợ cấp của chính phủ.       Theo Ramón Méndez, người đứng đầu của Uruguay về chính sách biến đổi khí hậu, hiện nay nguồn năng lượng tái tạo cung cấp 94.5% lượng điện năng của nước này, và giá thành thì thấp hơn so với trước đây trong tương quan với lạm phát, và tình trạng mất điện cũng giảm so với trước nhờ sự đa dạng của các nguồn năng lượng.  Bước chuyển mình nhanh chóng  Chỉ 15 năm trước, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Vào hồi đầu thế kỉ, dầu vẫn chiếm 27% sản phẩm nhập khẩu của Uruguay và một đường ống mới đang bắt đầu cung cấp ga từ Argentina vào đất nước này.    Hiện nay, sản phẩm lớn nhất trong hoá đơn nhập khẩu của Uruguay là tua-bin gió, chuẩn bị được lắp đặt đầy các cảng của đất nước. Nhiên liệu sinh khối và năng lượng Mặt trời cũng đang được đẩy mạnh. Cộng thêm vào nguồn thuỷ điện hiện có thì năng lượng tái tạo chiếm 55% năng lượng tổng thể các nguồn của Uruguay (bao gồm cả nhiên liệu vận tải), trong khi thị phần trung bình toàn cầu là 12%.  Giờ đây, Uruguay còn được công nhận những tiến bộ về giảm thiểu khí thải carbon trong nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới và Uỷ ban Kinh tế Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê; và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đã đưa Uruguay vào danh sách “Những nước dẫn đầu về năng lượng xanh”.   Củng cố thêm danh tiếng này, Méndez- nguyên giám đốc quốc gia về năng lượng của Uruguay- đã đưa ra một trong những cam kết quốc gia tham vọng nhất thế giới tại các cuộc đàm phán của Liên Hợp Quốc, đó là cắt giảm 88% lượng khí thải carbon vào năm 2017 so với mức trung bình của năm 2009 – 2013.  Chìa khoá thành công  Điều này không đòi hỏi một phép lạ công nghệ nào, cũng hoàn toàn không sử dụng năng lượng hạt nhân, và không có năng lượng thuỷ điện mới nào được sử dụng trong hai thập kỷ qua. Thay vào đó, ông Méndez cho biết, chìa khoá thành công của họ nghe có vẻ nhàm nhưng lại dễ dàng nhân rộng: đó là việc ra quyết định rõ ràng, môi trường pháp lý khuyến khích và sự hợp tác chặt chẽ giữa bộ phận công và tư nhân.   Kết quả là đầu tư năng lượng của Uruguay trong năm năm vừa qua, hầu hết là cho năng lượng tái tạo, đã tăng lên bảy tỉ USD, tức là 15% GDP hằng năm của đất nước. Con số này cao gấp năm lần mức đầu tư trung bình tại Mỹ La-tinh và gấp ba lần thị phần toàn cầu mà nhà kinh tế học khí hậu Nicholas Stern khuyến nghị. Theo ông Méndez: Phí xây dựng và duy trì Năng lượng tái tạo thấp, bởi vậy chỉ cần bạn tạo cho các nhà đầu tư một môi trường an toàn thì việc đầu tư này sẽ trở nên rất hấp dẫn.”   Hiệu quả được thấy rõ trên tuyến Đường 5 từ Montevideo lên phía bắc. Chỉ chưa đầy 200 dặm, ta có thể đi qua ba nhà máy công nông nghiệp chạy bằng nhiên liệu sinh học và ba nhà máy năng lượng gió. Lớn nhất trong số này là nhà máy Peralta 115MW được xây dựng và vận hành bởi công ty Enercon của Đức. Các tua-bin khổng lồ cao 108m của nó đứng sừng sững trên đồng cỏ đầy gia súc và chim đà điểu.   Cùng với nguồn gió ổn định-với tốc độ trung bình khoảng 8 dặm/giờ- thì điểm thu hút chính cho các nhà đầu tư nước ngoài như Enercon là mức giá cố định cho 20 năm được nhà nước đảm bảo. Kết quả là các công ty nước ngoài xếp hàng để giành các hợp đồng đầu tư năng lượng gió. Sự cạnh tranh giữa các nhà thầu đang hạ thấp giá giúp cắt giảm chi phí sản xuất điện xuống hơn 30% trong vòng ba năm qua. Christian Schaefer, kỹ thuật viên giám sát tại Enercon cho biết, công ty của ông đang hi vọng sẽ mở rộng, và một công ty Đức khác là Nordex đang xây dựng một nhà máy còn lớn hơn về phía bắc của Đường 5. Những xe tải chở tua-bin, tháp và cánh quạt giờ đây là một cảnh tượng thường thấy trên những xa lộ của đất nước này.   Các nhà máy năng lượng gió như Peralta hiện giờ cũng cung cấp năng lượng cho các nhà máy thuỷ điện để các đập có thể duy trì hồ chứa lâu hơn sau mùa mưa. Theo ông Méndez, cách này đã làm giảm nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hạn hán xuống 70%- một lợi ích không hề nhỏ bởi một năm chịu hạn hán tiêu tốn gần 2% GDP của đất nước.  Ông Méndez cho biết từ việc đầu tư vào năng lượng sạch, ba năm qua họ không phải nhập khẩu một kw/giờ nào. Thay vì phải dựa vào điện nhập khẩu từ Argentina như trước đây, bây giờ Uruguay đã xuất khẩu điện sang nước bạn, điển hình là hè năm ngoái, họ bán 1/3 lượng điện sản xuất được cho Argentina.   Bài học cho các nước khác  Ông Méndez cho rằng thành công của Uruguay là nhờ vào ba yếu tố then chốt: sự tín nhiệm (môt nền dân chủ ổn định, chưa bao giờ vỡ nợ, bởi vậy rất hấp dẫn các đầu tư dài hạn); điều kiện tự nhiên thuận lợi (gió tốt, bức xạ mặt trời tốt và rất nhiều sinh khối từ ngành nông nghiệp); và các doanh nghiệp nhà nước mạnh (là các đối tác đáng tin cậy cho các doanh nghiệp tư nhân và có thể làm việc cùng nhà nước để tạo ra môi trường hoạt động hấp dẫn).  Uruguay đã chứng minh rằng, năng lượng tái tạo có thể làm giảm giá thành sản xuất, cung cấp được hơn 90% nhu cầu điện năng mà không cần viện đến than đá dự trữ hay nhà máy điện hạt nhân, và các bộ phận công và tư nhân có thể hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực này.   Nhưng có lẽ bài học lớn nhất mà Uruguay có thể mang lại cho các nước khác là tầm quan trọng của việc ra quyết định quyết đoán. Như đã từng xảy ra tại vô số cuộc họp về biến đổi khí hậu khác của Liên Hợp Quốc, Uruguay cũng từng bị tê liệt bởi những tranh luận dường như vô tận và đầy ác ý về chính sách năng lượng. Họ phải trải qua khủng hoảng này trong khoảng 15 năm. Nhưng tất cả đã thay đổi vào năm 2008 khi Chính phủ Uruguay cuối cùng cũng đồng ý một kế hoạch dài hạn rõ ràng, thu hút sự ủng hộ từ khắp các bên. Hướng đi mới đó đã tạo điều kiện cho những chuyển biến nhanh chóng và giờ họ đang gặt hái thành quả.     Khánh Minh lược dịch   Nguồn: http://www.theguardian. com/environment/2015/dec/03/uruguay-makes-dramatic-shift-to-nearly-95-clean-energy        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vắc xin lao cải tiến      Một loại vắc xin lao mới sắp được thử nghiệm và các nhà nghiên cứu cho biết loại vắc xin này sẽ hứa hẹn giúp phòng chống hiệu quả căn bệnh lao hiện đang nhiễm tới 9 triệu người và giết chết hơn 2 triệu người hàng năm trên thế giới.      Thực ra đây là một phiên bản cải tiến của loại vắc xin lao cũ BCG, được con người sử dụng từ những năm 1920 đến nay. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho biết BCG thường chỉ có thể bảo vệ các trẻ sơ sinh trước nguy cơ nhiễm bệnh chứ không giúp người lớn kháng được bệnh lao, nhất là bệnh lao phổi.  Loại vắc xin mới được một nhóm các nhà khoa học Anh, Pháp, Hà Lan và Đức, đứng đầu là Giáo sư Kaufmann phát triển và họ hy vọng nó sẽ có tác dụng hiệu quả đối với người lớn.   (VOA News và Journal of Clinical Investigation)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine COVID  của Pfizer có ý nghĩa gì với đại dịch?      Các nhà khoa học chào đón bằng chứng thuyết phục đầu tiên về một loại vaccine có thể ngăn ngừa COVID-19. Nhưng vẫn còn những câu hỏi về khả năng bảo vệ của nó dành cho những ai và trong thời gian bao lâu.      Nó có hiệu quả. Các nhà khoa học vừa lạc quan một cách thận trọng trước một thông cáo báo chí về những kết quả tích cực trong thời gian chuyển tiếp từ một ca thử nghiệm lâm sàng tiêm vaccine coronavirus – kết quả đầu tiên được tường thuật từ pha ba, tức là pha cuối cùng của thử nghiệm trên người.  Công ty dược phẩm Pfizer mới loan báo vào ngày 9/11 về bằng chứng thuyết phục đầu tiên là có một loại vaccine có thể ngăn ngừa COVID-19  – và dự báo tin tốt lành về những loại vaccine COVID-19 khác đang trong quá trình phát triển. Nhưng thông tin được thông báo trong giai đoạn sớm này không trả lời được những câu hỏi chính yếu là sẽ xác định liệu vaccine của Pfizer và những vaccine tương tự, có thể ngăn ngừa được những ca nặng hay chấm dứt đại dịch coronavirus hay không.  “Chúng tôi cần thấy dữ liệu từ đầu đến cuối nhưng điều đó không làm tôi hết xúc động. Thật là tuyệt vời”, Florian Krammer, một nhà virus học tại trường Y Icahn ở Mount Sinai, New York và là một trong số 40.000 người tham gia vào cuộc thử nghiệm lâm sàng này, nói. “Tôi hi vọng là mình không phải thuộc nhóm dùng giả dược”.  Vaccine này do Pfizer đồng phát triển với BioNtech ở Mainz, Đức, bao gồm các định hướng phân tử (molecular instructions) – trong hình thức của RNA thông tin (mRNA) – cho các tế bào người phòng vệ trước protein gai của coronavirus, đích quan trọng trong hệ miễn dịch. Loại vaccine tiêm hai liều này hứa hẹn trong các nghiên cứu trên động vật và những ca thử nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu. Nhưng chỉ có một cách biết là liệu nó có hiệu quả để phát huy tác dụng trên một số lượng lớn người tiêm và có hiệu lực sau đó nhiều tuần hoặc nhiều tháng, để xem họ còn bị lây nhiễm và phát triệu chứng bệnh tật không. Các kết quả đó được so sánh với những nhóm người dùng giả dược.  Trong thông cáo báo chí, Pfizer and BioNtech nói họ đã nhận diện được 94 trường hợp có COVID-19 trong số 43.538 ca thử nghiệm lâm sàng. Các công ty này không nêu rõ có bao nhiều trường hợp đó thuộc nhóm dùng giả dược hoặc nhóm được tiêm vaccine nhưng họ cho rằng sự phân biệt các ca giữa các nhóm cho thấy vaccine hiệu quả tới 90% trong ngăn ngừa bệnh dịch, khi đo lường được thời gian ít nhất một tuần sau khi thử nghiệm lâm sàng với liều vaccine thứ hai, ba tuần sau liều thứ nhất. Thử nghiệm lâm sàng sẽ được tiếp tục với 164 ca COVID-19, vì tiên liệu về hiệu quả của các vaccine có thể còn thay đổi.  Dẫu loại vaccine này có thể rơi vào trường hợp không thực sự hiệu quả khi hoàn tất quá trình thử nghiệm lâm sàng và phân tích tất cả dữ liệu nhưng hiệu quả của nó có thể duy trì ở mức trên 50%, Eric Topol, một chuyên gia tim mạch và giám đốc Viện nghiên cứu Scripps tại La Jolla, California, cho biết. Đây là ngưỡng thứ ba của Cục Quản lý Thực phẩm và thuốc Mỹ đòi hỏi để có thể chấp thuận một vaccine coronavirus để dùng trong trường hợp khẩn cấp. “Tôi nghĩ, đây là một thành công vượt bậc, thậm chí ngay cả khi không có nhiều chi tiết được tiết lộ, bởi vì không có gì chắc chắn cho tính hiệu quả của vaccine trước khi có được kết quả đầu tiên từ một thử nghiệm lâm sàng,” Topol nói.    Những câu hỏi còn lại  Những gì hiện thời chưa có, như Topol và các nhà khoa học khác, là những chi tiết về bản chất của những lây nhiễm mà vaccine này có thể bảo vệ người dùng – liệu chúng có hiệu quả với những trường hợp có triệu chứng nhẹ nhất hoặc hiệu quả với số đông người nhiễm và những trường hợp nặng nhất. “Tôi muốn biết phổ của bệnh mà vaccine này có thể ngăn ngừa,” Paul Offit, một nhà khoa học chuyên về vaccine tại trường đại học Pennsylvania và là thành viên ban cố vấn của FDA, nơi đánh giá vaccine vào tháng tới. “Anh cũng muốn thấy ít nhất một số ca nhiễm trong nhóm dùng giả dược”, ông cho biết thêm bởi vì nó sẽ cho thấy vaccine có tiềm năng ngăn ngừa được rất nhiều ca.  Vẫn còn chưa rõ là liệu vaccine này có thể ngăn ngừa được trường hợp nhiễm bệnh ở những người chỉ mang một triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ COVID-19 khỏi coronavirus hay không. Việc một vaccine ngăn chặn lan truyền có thể tăng tốc vào giai đoạn cuối đại dịch nhưng sẽ thật khó khăn để xác định là vaccine của Pfizer hay những loại khác đang trong giai đoạn cuối thử nghiệm lâm sàng, có thể đạt được điều này hay không, Krammer nhận xét, bởi có thể luân phiên thử nghiệm trên những người tham gia. “Anh không thể làm việc đó với 45.000 người”, ông nói.  Chi tiết còn chưa rõ khác là vaccine hiệu quả như thế nào trong những nhóm thử nghiệm lâm sàng khác nhau. “Chúng tôi không rõ liệu nó có phát huy tác dụng trên nhóm dân số cao tuổi không,” Krammer lưu ý. Bởi vì số lượng cho các ca sẽ tăng lên trước khi kết thúc, thử nghiệm lâm sàng của Pfizer không chắc chắn xác định được một cách thuyết phục hiệu quả của vaccine trong các phân nhóm như người trên 65 tuổi hoặc người Mĩ châu Phi, Offit nói. Nhưng ông cho biết thêm là nếu thử nghiệm lâm sàng thực hiện đủ với những người đại diện trong các phân nhóm như vậy thì có thể đánh giá được hiệu quả tổng thể. Trong thông cáo báo chí, Pfizer và công ty sinh học Ntech cho biết 42% những người tham gia đã thuộc “những nhóm người đa dạng về chủng tộc và dân tộc”.    Cuối cùng là miễn dịch  Vẫn còn lại một câu hỏi quan trọng còn chưa được trả lời là hiệu quả của các vaccine kéo dài bao lâu. Dựa trên thông tin khi thử nghiệm lâm sàng bắt đầu và công khai dữ liệu trước đây về phản hồi miễn dịch trong những ca thử nghiệm giai đoạn đầu, nhiều người tham gia thử nghiệm vẫn còn giữ các kháng thể bảo vệ ở mức cao trong máu, Rafi Ahmed, một nhà miễn dịch học tại trường đại học Emory ở Atlanta, Georgia, cho biết. “Với tôi, câu hỏi chính là những gì sẽ đến trong  vòng sáu tháng sau hoặc thậm chí ba tháng sau,” ông nói.  Đó sẽ là cơ hội để trả lời câu hỏi nếu thử nghiệm lâm sàng sẽ vẫn tiếp tục trong nhiều tháng tới, Ahmed nói. Những câu trả lời có thể tới từ việc phân tích đáp ứng miễn dịch của người tham gia giai đoạn đầu thử nghiệm vaccine Pfizer, một số người đã được liều vaccine từ sáu tháng trước. Và dẫu còn ít biết về hiệu quả dài hạn của vaccine này, điều đó không có nghĩa là không duy trì được hiệu quả của nó, Ahmed nói.  Kết quả đạt được của Pfizer là một cú khích lệ với những nhà phát triển vaccine COVID-19 khác như vaccine của Moderna, Cambridge, Massachusetts và Viện nghiên cứu bệnh dị ứng và lây truyền quốc gia Mĩ ở Bethesda, Maryland, trong đó cũng có vaccine mRNA. “Tôi chờ đợi Moderna sẽ công bố sớm”.  Shane Crotty, một nhà miễn dịch học vaccine tại Viện nghiên cứu Miễn dich học La Jolla ở California, nghĩa là Moderna không phải là nhà phát triển duy nhất. Nhiều loại vaccine dự tuyển khác cũng kích hoạt đáp ứng miễn dịch tương tự như vaccine Pfizer giai đoạn thử nghiệm ban đầu, vì vậy chúng phải hiệu quả tốt như vậy.  Một điều về vaccine Pfizer là độ chắc chắn: người ta sẽ sớm xem xét là liệu nó có sẵn sàng để tung ra thị trường hay không. Công ty cho biết là có thể sẽ cố đạt được quyền sử dụng trong tình trạng khẩn cấp của FDA vao khoảng tuần thứ ba của tháng 11 này, thời điểm những người tham gia sẽ được theo dõi trong vòng trung bình hai tháng – một quy định an toàn của FDA cho các vaccine COVID-19.  Và dẫu các nhà nghiên cứu muốn thấy dữ liệu đằng sau pha thử nghiệm lâm sàng của Pfizer, họ đã chuẩn bị cả tinh thần để đón nhận những thông báo sẽ đến. “Hiện giờ đúng là chúng ta cần một vaccine hiệu quả,” Krammer nói, ngay cả khi nó chỉ phát huy tác dụng trong vài tháng hoặc không thể ngừng lan truyền bệnh dịch. “Đó là những gì chúng ta cần để có thể quay lại cuộc sống bình thường”.  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-03166-8    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Covid-19: Canh bạc của Trung Quốc      Trong khi nhiều quốc gia phương Tây thu gom vaccine, làm dấy lên lo ngại về “chủ nghĩa dân tộc vaccine” thì Trung Quốc muốn thực hiện một con đường ngoại giao vaccine. Với chiến dịch thử nghiệm, quảng bá và vaccine Covid-19 ra toàn cầu, Trung Quốc đặt ra mục tiêu giành được thật nhiều đồng minh và đạt được nhiều thỏa thuận.      Các nhà sản xuất vaccine Trung Quốc đã kiểm tra hiệu quả của các vaccine ứng viên tại 14 nước..  Những người đầu tiên trên thế giới nhận được vaccine ngừa Covid-19 không phải là một phần của một thử nghiệm lâm sàng nào. Không có đài truyền hình hay báo chí nào đưa tin về sự kiện lịch sử này. Và không có công ty nào đưa ra một tuyên bố liên quan.  Vào ngày 29/2, chưa đầy hai tháng sau khi thế giới thức tỉnh trước mối đe dọa của căn bệnh mới, nhà virus học Chen Wei, một thiếu tướng trong quân đội Trung Quốc, và sáu nhà khoa học quân sự trong đội của cô đã được tiêm vaccine Covid-19 thử nghiệm. Chen là một anh hùng dân tộc vì công trình nghiên cứu vaccine Ebola, đã đến tâm dịch ở Vũ Hán cùng nhóm của cô từ Học viện Khoa học Quân sự Y tế, một phần để giúp chế tạo vaccine ứng viên với công ty dược phẩm CanSino Biologics. Các nhà bình luận trong và ngoài Trung Quốc sau đó đã đặt câu hỏi về sự kiện này, khi thông tin được phát tán rộng rãi trên mạng xã hội. Nhân dân nhật báo cũng đã nói về bức hình chụp Chen nhận vaccine là “#FAKENEWS [tin giả].” Nhưng Hou Li-Hua, một nhà nghiên cứu tại học viện, người làm việc trong dự án vaccine, khẳng định rằng đó là “tin đúng sự thật”.  Tại Hoa Kỳ, Chiến dịch Warp Speed ​​trị giá 10,8 tỷ USD của chính quyền Trump đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu và phát triển vaccine nhanh hơn so với nhiều nhà nghiên cứu nghĩ có thể, đặc biệt là đối với người dân Hoa Kỳ. Nhưng một nỗ lực lớn không kém đã diễn ra ở Trung Quốc. CanSino và hai công ty Trung Quốc khác – một công ty thuộc sở hữu của chính phủ, công ty còn lại hợp tác chặt chẽ với cơ quan quản lý của mình – đang đầu tư các nguồn lực đáng kể, để thử nghiệm bốn vaccine ứng viên với hàng chục nghìn tình nguyện viên trên khắp thế giới. Họ có thể chỉ cần vài ngày hoặc vài tuần nữa là công bố kết quả của các thử nghiệm hiệu quả, chỉ sau kết quả ban đầu đáng khích lệ được công bố gần đây bởi một loạt các công ty và tổ chức bên ngoài Trung Quốc.      Hầu hết các loại vaccine hàng đầu của phương Tây đều dựa vào các công nghệ như vectơ virus được biến đổi gene, các protein thiết kế và các đoạn RNA. Trong khi ba trong số những ứng cử viên vaccine hàng đầu của Trung Quốc sử dụng một thứ không hợp thời đại: virus bất hoạt toàn bộ. Đây là một cách tiếp cận đã có từ khi vaccine cúm thành công đầu tiên vào những năm 1930.      Tuy nhiên, những mũi tiêm đầu tiên mang tính lịch sử, dưới sự hợp tác quân sự với một công ty “tư nhân” và quyết định mang đầy vấn đề đạo đức, bắt đầu bằng việc tiêm vaccine ngoài thử nghiệm lâm sàng khiến các nỗ lực vaccine của Trung Quốc đang đi theo con đường rất khác so với ở Hoa Kỳ và châu Âu. Hầu hết các loại vaccine hàng đầu của phương Tây đều dựa vào các công nghệ như vectơ virus được biến đổi gene, các protein thiết kế và các đoạn RNA. Trong khi ba trong số những ứng cử viên vaccine hàng đầu của Trung Quốc sử dụng một thứ không hợp thời đại: virus bất hoạt toàn bộ. Đây là một cách tiếp cận đã có từ khi vaccine cúm thành công đầu tiên vào những năm 1930.  Và nỗ lực vaccine của Trung Quốc chịu ảnh hưởng bởi thành công đáng kể của nước này trong việc thực hiện các biện pháp y tế công cộng tích cực nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus SARS-CoV-2, bao gồm buộc cách ly các ca bệnh và xét nghiệm toàn bộ thành phố. Trong khi đại dịch vẫn đang hoành hành ở Hoa Kỳ đã cho phép các thử nghiệm ở đó nhanh chóng đưa ra các tín hiệu về hiệu quả của vaccine, nhưng “Trung Quốc đã sớm bóp chết đại dịch coronavirus, vì vậy họ đã mất cơ hội kiểm tra tính hiệu quả của vaccine ở đó”, nhà dịch tễ học Ray Yip, người theo sát Chương trình Phát triển vaccine Covid-19 với tư cách là cố vấn của Bill Gates, cho biết. “Nếu Trung Quốc vẫn có nhiều trường hợp nhiễm virus, họ có thể đã hoàn thành một thử nghiệm hiệu quả trước cả những nước khác”.  Vì vậy, các nhà phát triển vaccine của Trung Quốc đã ra nước ngoài. Mặc dù Hoa Kỳ đã ngăn không cho họ tham gia Chiến dịch phát triển vaccine Warp Speed, các nhà phát triển vaccine đã làm môi giới thỏa thuận với 14 quốc gia khác trên năm lục địa. Họ đã tiến hành các cuộc thử nghiệm lớn ở thế giới Ả Rập – tiêm vaccine ứng cử viên cho các quan chức chính phủ hàng đầu ở đó – và đến Brazil, nơi đại dịch đang hoành hành dữ dội, để thử nghiệm một loại vaccine cũng như nghiên cứu sản xuất ở đó.    Thử nghiệm vaccine của CanSino Biologics ở Vũ Hán. Ảnh: Getty images.  Nhưng Trung Quốc không chỉ tìm kiếm các địa điểm đầy hứa hẹn cho các thử nghiệm lâm sàng. Họ không cần có vaccine khẩn cấp ở quê nhà, vì virus đã bị tiêu diệt phần lớn ở đó. Trung Quốc đang chơi một trò chơi toàn cầu bằng cách cam kết gửi bất kỳ loại vaccine nào đã được kiểm chứng đến các quốc gia đang tiến hành thử nghiệm vaccine, hoặc chia sẻ công nghệ đằng sau chúng. Yip nói: “Họ không cần vaccine để ngăn chặn dịch bệnh ở Trung Quốc. Họ có thể tận hưởng thời gian ngọt ngào này”.  Yanzhong Huang, một chuyên gia y tế toàn cầu tại cả Đại học Seton Hall và Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, cho biết đất nước đang “thực sự sử dụng vaccine để thúc đẩy mục tiêu chính sách đối ngoại”. Ông nói “chính sách ngoại giao vaccine” này hoàn toàn trái ngược với “chủ nghĩa dân tộc vaccine” của Warp Speed ​​và nhằm mục đích “lấp đầy khoảng trống mà Hoa Kỳ để lại”.  Stephen Morrison, người chỉ đạo Trung tâm Chính sách Y tế Toàn cầu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Hoa Kỳ cho biết: Đó là một chiến lược được thực hiện rất cẩn thận. “Mục tiêu chiến lược của Chính phủ Trung Quốc là đạt được ảnh hưởng bá chủ trong nền kinh tế sinh học trong vòng một thập kỷ tới.”  Morrison cũng đánh giá, ở Trung Quốc, thái độ của người dân đối với vaccine cũng tương phản với thái độ ở Hoa Kỳ và châu Âu, những nơi có mức độ tin cậy cao. Trước sự ngạc nhiên của các chuyên gia vaccine ở nước ngoài, hàng trăm nghìn người ở Trung Quốc đã xếp hàng để nhận liều vaccine thử nghiệm – ngay cả trước khi hiệu quả và mức độ an toàn của vaccine được chứng minh. Morrison nói: “Người dân vẫn đặt niềm tin và sự tin tưởng vào khoa học và nhà nước. Họ không lo sợ về việc mọi chuyện sẽ diễn ra như thế nào”.      Trung Quốc đang chơi một trò chơi toàn cầu bằng cách cam kết gửi bất kỳ loại vaccine nào đã được kiểm chứng đến các quốc gia đang tiến hành thử nghiệm vaccine, hoặc chia sẻ công nghệ đằng sau chúng. Chính sách ngoại giao vaccine này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa dân tộc vaccine của Warp Speed ​​và nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống mà Hoa Kỳ để lại.      Dựa trên nền tảng đã biết về vaccine virus bất hoạt  Tốc độ mà Chen và các đồng nghiệp của cô có thể có được những bức ảnh đầu tiên đáng chú ý hơn cả khi CanSino được cho là chậm so với mục tiêu.  Mặc dù một số nhà sản xuất vaccine Covid-19 đã khởi động dự án của họ một ngày sau khi trình tự gene của SARS-CoV-2 được công khai vào ngày 10/1, nhưng Giám đốc điều hành của CanSino, Yu Xuefeng đã có sự dè dặt. Ông nói: “Chúng tôi bắt đầu nó vào giữa tháng Giêng, nhưng có một sự do dự”. Yu lo lắng Covid-19 có thể chỉ xuất hiện thoáng chốc, giống như hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS), cũng do một loại coronavirus khác gây ra, từng khiến thế giới báo động vào năm 2003. Các công ty và chính phủ đã đổ nguồn lực vào việc phát triển vaccine, nhưng căn bệnh này đã biến mất một năm sau đó.  Yu đã từng nghiên cứu phát triển vaccine trong gần chín năm tại một chi nhánh của Sanofi Pasteur tại đó cho đến khi đồng sáng lập CanSino – một khu liên hợp giữa Canada và Trung Quốc – vào năm 2009. Một nhóm do Thiếu tướng Chen dẫn đầu đã giúp phát triển sản phẩm trước đó và duy nhất của họ để nhận được sự chấp thuận trước đó: vaccine Ebola dựa trên một loại virus phổ biến và phần lớn vô hại được gọi là adenovirus 5 (Ad5), trong đó họ đính một gene mang trình tự mã hóa cho protein bề mặt của virus Ebola.    Mohammed bin Rashid Al Maktoum (trái), thủ tướng United Arab Emirates, nhận vaccine từ CanSino Biologics vào ngày 3 tháng 11. Ảnh: Getty images.  Yu và nhóm của ông đã cân nhắc việc chế tạo vaccine Covid-19 với RNA thông tin (mRNA) cho protein bề mặt của coronavirus — phương pháp sáng tạo do Pfizer và đối tác BioNTech, “người chiến thắng” trong cuộc đua báo cáo hiệu quả dữ liệu sơ bộ, thực hiện. Nhưng CanSino quyết định làm theo những gì họ biết, sử dụng vectơ Ad5 để mang gene đột biến. Yu nói: “Tôi nghĩ đó là cách nhanh nhất để phát triển một loại vaccine mới”.  Chỉ trong vòng 1 tháng, vaccine ứng viên của CanSino đã sẵn sàng. Và vào ngày 16/3, công ty đã triển khai thử nghiệm vaccine Covid-19 đầu tiên trên thế giới, tại Vũ Hán, để kiểm tra tính an toàn và khả năng kích thích phản ứng miễn dịch. CanSino đã đánh bại Moderna, công ty có ứng cử viên mRNA, mặc dù một thế giới bị biến đổi (TQ) bởi cuộc chạy đua vaccine giữa các công ty phương Tây ít được chú ý.  Một số vaccine ứng viên của Hoa Kỳ và châu Âu, bao gồm AstraZeneca, cũng đã sử dụng adenovirus để mang protein đột biến, một số lựa chọn vectơ Ad5 tương tự như của CanSino, mặc dù có một số lo ngại về cách tiếp cận. Vào năm 2007, hai cuộc thử nghiệm đầy thảm khốc của vaccine AIDS dựa trên Ad5 đã phát hiện ra rằng, nó thực sự làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (những lý do vẫn còn đang tranh cãi). Điều đáng lo ngại khác là khả năng miễn dịch sẵn có đối với Ad5 có thể tấn công vector, điều này có thể giải thích tại sao, trong những thử nghiệm ban đầu, vaccine CanSino tạo ra phản ứng kháng thể yếu hơn mong đợi. “Chúng tôi thấy có một số tác động”, Yu thừa nhận, “nhưng nó không rõ ràng”. (Dữ liệu về hiệu quả sơ bộ của vaccine AstraZeneca cho thấy khả năng miễn dịch chống lại vectơ adenovirus có thể đã làm giảm hiệu suất của vaccine ứng viên đó).      Thông qua một loạt các thử nghiệm vaccine ở nước ngoài, Trung Quốc hy vọng sẽ xây dựng thiện chí đối với Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI), một khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng ở hơn 100 quốc gia để tăng cường thương mại.      Hai công ty khác của Trung Quốc là Sinovac Biotech và Tập đoàn Biotec Quốc gia Trung Quốc (CNBG) – một công ty con của một trong những nhà sản xuất vaccine lớn nhất thế giới, Sinopharm thuộc sở hữu nhà nước – đang thực hiện một cách tiếp cận khác: chủng ngừa virus bất hoạt. Điều này không yêu cầu thiết kế protein hoặc RNA phức tạp hoặc kỹ thuật di truyền: Các nhà khoa học chỉ cần bất hoạt virus bằng một chất hóa học (beta propiolactone) và trộn nó với chất bổ trợ (alum) để kích ứng hệ miễn dịch. Về lý thuyết, những loại vaccine như vậy có thể tạo ra các phản ứng kháng thể và tế bào T rộng hơn, bởi vì chúng chứa đầy đủ các protein của virus, chứ không phải là một loại đơn lẻ. Và không giống như vaccine mRNA, phải được bảo quản ở nhiệt độ âm, virus bất hoạt chỉ cần bảo quản một cách bình thường.  Nhưng nhiều nhà khoa học coi vaccine virus bất hoạt là lỗi thời, khó sản xuất với số lượng lớn và có khả năng nguy hiểm. Warp Speed ​​hoàn toàn từ chối cách tiếp cận này. Moncef Slaoui, người đứng đầu bộ phận khoa học của Warp Speed ​​cho biết: “Tôi thực sự không nghĩ rằng vaccine bất hoạt là một ý tưởng hay”.  Một mối lo lớn là vaccine SARS-CoV-2 bất hoạt có thể gây ra bệnh nặng hơn, được gọi là “bệnh hô hấp tăng cường”, ở những người nhận chủng ngừa bị nhiễm bệnh. Về cơ bản, nếu vaccine loại này kích hoạt các kháng thể không hiệu quả, chúng có thể hình thành các phức hợp miễn dịch làm tắc nghẽn phổi. Điều này xảy ra với một loại vaccine chống lại virus hợp bào hô hấp được tiêm cho trẻ em vào những năm 1960, và trong các thí nghiệm trên động vật với vaccine chống lại bệnh SARS và một bệnh do coronavirus khác, hội chứng hô hấp Trung Đông. Triển vọng phát triển hàng loạt virus lớn trước khi tiêu diệt nó cũng đặt ra nhiều thách thức về sự thoát khỏi phòng thí nghiệm của virus, đã xảy ra hi lần đối với virus bại liệt ở châu Âu trong vòng 5 năm qua.  Nhưng vaccine virus bất hoạt, không giống như mRNA và các công nghệ khác được hỗ trợ bởi Warp Speed, có một hồ sơ theo dõi vững chắc. “Vaccine bất hoạt là một trong những cách tiếp cận đã thử và thành công”. Meng Weining, một giám đốc cấp cao của Sinovac, cho biết công ty đã so sánh phương pháp bất hoạt – mà họ đã sử dụng để tạo ra sáu loại vaccine – với hai chiến lược khác trong mô hình động vật. Meng nói: “Vaccine virus bất hoạt cho kết quả tốt hơn rất nhiều”.  Việc sản xuất vaccine virus bất hoạt không phải là một trở ngại với Trung Quốc. Ví dụ, CNBG có “nhân lực khổng lồ: 10.000 nhân viên và nhà khoa học, năng lực sản xuất khổng lồ”, Nicholas Jackson, người đứng đầu văn phòng Liên minh Đổi mới chuẩn bị sẵn sàng trước Dịch bệnh (CEPI) tại Trung Quốc và trước đây làm việc về R&D vaccine tại Pfizer cho biết. “Họ là (bộ máy) quái vật rất có năng lực.” Và, quan trọng đối với chính sách ngoại giao vaccine của Trung Quốc, nhiều quốc gia khác có các nhà sản xuất đã sản xuất vaccine virus bất hoạt trong nhiều thập kỷ.  Các nhà sản xuất cho biết họ có thể sản xuất tổng cộng 1,5 tỷ liều vào năm tới. Và các quốc gia không thể tiếp cận vaccine do Warp Speed ​​cung cấp – đặc biệt là các quốc gia đăng cai thử nghiệm tính hiệu quả của Trung Quốc – có thể có nguồn cung cấp vaccine an toàn hơn.  Ngoại giao vaccine  Thủ tướng chính phủ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum, vào ngày 3/11 đã tweet một bức ảnh của mình ở Dubai, tay áo kandura bên phải cuộn cao, được tiêm vaccine CNBG Covid-19. Al Maktoum viết: “Chúng tôi cầu chúc mọi người an toàn và sức khỏe dồi dào, và chúng tôi tự hào về đội ngũ của mình, những người đã làm việc không ngừng để cung cấp vaccine này ở UAE”. Hai trong số các bộ trưởng hàng đầu của đất nước đã nhận được vaccine này ba tuần trước đó.  UAE đã trở thành nền tảng cho các thử nghiệm hiệu quả của CNBG và đang theo sau sự dẫn đầu gây tranh cãi của Trung Quốc trong việc cho phép mọi người nhận vaccine ngoài các thử nghiệm lâm sàng.  Trong một hội nghị truyền hình vào ngày 23/6 giữa UAE và Trung Quốc, các quan chức y tế, đại sứ và giám đốc điều hành CNBG đã ngồi tại các bàn dài trong các phòng được trang trí bằng cờ của mỗi nước và cùng nhau ăn mừng quyết định tiến hành một cuộc thử nghiệm hiệu quả. Cuộc thử nghiệm kể từ đó đã mở rộng sang Bahrain, Ai Cập và Jordan và hy vọng sẽ tuyển được 45.000 người.  CNBG cho biết họ đến UAE để thử nghiệm hai loại vaccine virus bất hoạt, vì tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 cao ở đó nên tăng tốc độ thu nhận tín hiệu hiệu quả. Nhưng ngoại giao và thương mại cũng thúc đẩy theo quyết định này. UAE có lực lượng lao động nước ngoài khổng lồ của UAE, có nghĩa là những người tham gia thử nghiệm đến từ 125 quốc gia khác nhau. Huang nói: “Nếu bạn có thể chứng minh những vaccine này hiệu quả ở UAE, thì điều đó có nghĩa là mọi người trên thế giới sẽ nghĩ rằng vaccine cũng sẽ hiệu quả ở quốc gia của họ”.  Huang bình luận thêm rằng thông qua một loạt các thử nghiệm ở nước ngoài, Trung Quốc hy vọng sẽ xây dựng thiện chí đối với Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI), một khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng ở hơn 100 quốc gia để tăng cường thương mại. Ông nói: “Trung Quốc muốn làm việc với những quốc gia này và ưu tiên họ có vaccine. Họ tin rằng điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện BRI”.  Trung Quốc đã chọn Brazil bởi vì với một đại dịch ngoài tầm kiểm soát – nước này đứng thứ ba trên thế giới về tổng số ca nhiễm corona, với hơn 100.000 ca mới mỗi tuần – quốc gia này là một nam châm cho việc thử nghiệm vaccine và đang rất cần vaccine. Bang São Paulo vào tháng chín đã cam kết 90 triệu USD cho Sinovac để đổi lấy 46 triệu liều. (Đáng chú ý, giá này rẻ hơn 10 lần so với giá mà Chính phủ Mỹ đang trả cho vaccine mRNA Pfizer-BioNTech và Moderna). Và Brazil có thể tăng nguồn cung bằng cách tự sản xuất vaccine: Sinovac cho biết họ có thể chuyển giao công nghệ của mình cho Viện Butantan, một nhà sản xuất vaccine lớn ở São Paulo, một sự hợp tác mà Meng mô tả là “đôi bên cùng có lợi”.  Trung Quốc đã có những cuộc “chiêu đãi” nồng nhiệt hơn ở các nước khác. Vào tháng chín, Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến hành một cuộc thử nghiệm hiệu quả của vaccine Sinovac đối với 13.000 người. Serhat Ünal, người đứng đầu Viện vaccine của Đại học Hacettepe – tương tự như Butantan – và thuộc hội đồng khoa học của Bộ Y tế, cho biết Thổ Nhĩ Kỳ có “cơ sở hạ tầng tốt cho các nghiên cứu giai đoạn III” và, không giống như Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu, họ chào đón một nhà sản xuất vaccine Trung Quốc.  Ba nhà sản xuất Trung Quốc cũng đã lên kế hoạch hoặc đang tiến hành các thử nghiệm hiệu quả lớn ở Indonesia, Pakistan, Ả Rập Saudi, Mexico, Argentina và Chile (xem bản đồ ở trên). Đó là một chiến lược tốt, Ünal nói. Ông nói: “Khi bạn thực hiện giai đoạn III ở các quốc gia khác nhau, nó minh bạch hơn, đáng tin cậy hơn”.  Một canh bạc an toàn   Trong bối cảnh đại dịch đã bị đẩy lùi ngay tại “sân nhà”, Trung Quốc đang tiêm chủng cho người dân của mình như một biện pháp bảo hiểm. Yu, ở CanSino cho biết hàng nghìn binh lính làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình đã được tiêm vaccine của công ty anh trước khi đi đến những nơi có mức độ nhiễm Covid-19 cao. CNBG cho biết “hàng trăm nghìn” người ở Trung Quốc đã được tiêm vaccine. “Bằng cách làm này, chúng tôi có thể xây dựng hàng rào miễn dịch giữa các nhóm như nhân viên y tế, nhân viên phòng chống đại dịch và nhân viên tuần tra biên giới,” công ty giải thích trong văn bản trả lời phỏng vấn của tờ Science.   Yip, người đã đứng đầu văn phòng Trung Quốc của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ trong bốn năm, nói rằng Chính phủ Trung Quốc thậm chí đã xem xét việc tiêm chủng cho toàn bộ Bắc Kinh sau khi bùng phát Covid -19 ở đó vào tháng sáu. Yip nói rằng, nếu có trên 500 trường hợp nhiễm virus, “họ sẽ tiêm vaccine hết tất cả mọi người ở Bắc Kinh.” Nhưng cuối cùng, việc truy nguồn tiếp xúc, xét nghiệm và cách ly người nhiễm đã hạn chế được trường hợp bùng phát là 335 người.  Morrison nói rằng chính phủ Trung Quốc rõ ràng đã “quyết định ở các cấp cao nhất” là việc tạo ra bối cảnh hiện tại đã đạt được lợi thế tiếp thị toàn cầu bằng cách đưa vaccine COVID-19 lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi. Ông nói: “Nó mang rủi ro cao nhưng nếu thế cờ vaccine thành công, hình ảnh của Trung Quốc sẽ được nâng tầm cả trong và ngoài nước”.   Hiện tại, Brazil đang sử dụng vaccine của Trung Quốc. Với số ca bệnh tăng cao, sự xuất hiện của chỉ 120.000 liều CoronaVac vào ngày 19/11 đã trở thành một câu chuyện thời sự lớn. Hầu hết người Brazil xem CoronaVac là “một lựa chọn khả thi”. “Tôi sẽ nhận nó, không có nghi ngờ nào – và không cần suy nghĩ,” Kallas, Esper Kallas, người đứng đầu địa điểm thử nghiệm vaccine tại Đại học São Paulo cho biết. “Tin tức về Pfizer và Moderna được coi như là giải pháp, nhưng vấn đề là cả hai  loại vaccine này đều không nằm trong tầm kiểm soát của Brazil”.  Vaccine phát triển nhanh của Trung Quốc có thể sẽ đứng đầu và được chào đón ở Brazil cũng như nhiều nơi trên thế giới.□  Đức Phát lược dịch  https://science.sciencemag.org/content/370/6522/1263?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Covid-19 đầu tiên của Việt Nam thử nghiệm lâm sàng: “Tân binh” toả sáng      Là người mới, làm công nghệ mới trong làng sản xuất vaccine, Nanogen dẫn đầu trên đường chạy trong nghiên cứu vaccine Covid 19 ở Việt Nam có phải là điều đáng ngạc nhiên?        Nhà máy sản xuất vaccine của Nanogen. Nguồn: Nanogen       Chưa đầy một năm sau khi đại dịch bùng nổ, trong tháng 12 này, một vaccine covid 19 của Việt Nam bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Đây là vaccine được nghiên cứu và phát triển trong thời gian ngắn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam. Đứng sau thành quả này, là Nanogen, một công ty chưa hề có kinh nghiệm nào trong việc sản xuất vaccine trước đó.     Cũng chưa có một công ty sản xuất vaccine nào của Việt Nam sử dụng công nghệ của Nanogen. Tất cả các vaccine từ trước tới nay của Việt Nam đều sản xuất bằng công nghệ thế hệ thứ nhất: đưa toàn bộ virus đã bất hoạt hoặc làm suy yếu vào cơ thể con người. Nanogen sản xuất vaccine tới đây bằng công nghệ vaccine thế hệ thứ hai, chỉ tiêm một bộ phận – một protein của virus vào cơ thể người mà thôi.     Dù chưa thể hiểu hết về Sars-Cov-2, có một điều chắc chắn về virus này, được khẳng định bởi nhiều công bố khoa học, đó là protein gai của nó (hay còn gọi là protein S) là vùng kháng nguyên gây phản ứng miễn dịch mạnh mẽ nhất ở cơ thể người. Vaccine của Nanogen sẽ chứa các phân tử có kích thước vài nano mét với các protein gai trên bề mặt, có hình dạng tương tự như virus Sars-Cov-2. Khi các phân tử này đi vào cơ thể, hệ miễn dịch của chúng ta cũng đủ “hình dung” Sars-Cov-2 trông như thế nào và tiêu diệt nó.     Các vaccine được sản xuất theo công nghệ dựa trên protein hiện đang bị tụt lại phía sau trong cuộc đua phát triển vaccine covid 19 trên thế giới nhưng nhiều chuyên gia cho rằng “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”. So với các vaccine thế hệ thứ ba sử dụng công nghệ ADN, mARN như của Pfizer hoàn toàn mới, chưa từng được cấp phép, vaccine được sản xuất theo công nghệ dựa trên protein đã được kiểm chứng tính hiệu quả và tính an toàn từ lâu. Đã có một loạt vaccine theo công nghệ này thương mại rộng rãi trên thế giới trong hàng chục năm qua như vaccine phòng viêm gan B, vaccine cúm mùa và đặc biệt là vaccine phòng HPV giúp giảm tới hơn 80% số lượng trẻ vị thành niên nữ bị nhiễm virus HPV 16 và 18 (hai loại virus HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung) ở Mỹ. Mặc dù đại diện của Nanogen từ chối mô tả sâu hơn về công nghệ sản xuất vaccine của mình, tuy nhiên, họ có tiết lộ rằng vaccine của công ty được phát triển gần giống với vaccine HPV. Theo đó, protein của virus được nuôi cấy trên một tế bào chủ. Khi protein phát triển sẽ tự biểu hiện thành hình trông như virus Sars-Cov-2. Nhưng đó không phải là virus thật. Nói chính xác hơn, nó chỉ là vỏ của virus Sars-Cov-2, không chứa vật liệu di truyền bên trong nên nó không có khả năng nhân lên hay gây bệnh cho người. Chính vì vậy, theo lý thuyết, vaccine an toàn kể cả đối với những người có khả năng miễn dịch yếu.     Nanogen là một công ty có nhiều cái “đầu tiên”, nếu không muốn nói là một “tay ngang” trong sản xuất vaccine tại Việt Nam. Thậm chí, khi trao đổi với phóng viên của Khoa học và Phát triển, đại diện của Nanogen thành thật chia sẻ rằng cách đây không lâu, công ty thậm chí còn chưa nghĩ tới việc một ngày nào đó mình sẽ làm vaccine. Tuy nhiên, việc công ty này đi nhanh nhất với một công nghệ mới nhất trong sản xuất vaccine Covid 19 ở Việt Nam lại không có gì lạ. Nanogen đã có gần hai chục năm nghiên cứu và sản xuất thuốc và các sinh phẩm theo công nghệ tái tổ hợp protein. Còn ông Hồ Nhân, CEO và người sáng lập Nanogen, đã dành cả đời theo đuổi công nghệ này, từ khi còn là sinh viên ở Mỹ vào đầu những năm 90. Một loạt thuốc đang lưu hành của Nanogen giúp hỗ trợ điều trị các bệnh hiểm nghèo như viêm gan siêu vi B, C, ung thư, thiếu máu do suy thận… đều được sản xuất bằng cách nuôi cấy, tổng hợp một loại protein trên tế bào chủ (nấm men, vi khuẩn hay tế bào động vật có vú) rồi đưa vào cơ thể người để tạo ra các phản ứng mong muốn. Chẳng hạn như thuốc Pegano của Nanogen giúp điều trị viêm gan siêu vi B, C và xơ gan được tạo ra bằng cách cấy gene tổng hợp interferon (một nhóm protein do hệ miễn dịch tạo ra nhằm chống lại các tác nhân ngoại lai) vào vi khuẩn E.coli, sinh ra peginterferon alfa-2a, khi tiêm vào cơ thể sẽ tiêu diệt đáng kể số virus gây ra viêm gan, hỗ trợ hệ miễn dịch của người bệnh chống chọi với nhiễm trùng. Pegano từng chiếm tới 80% thị phần thuốc điều trị viêm gan siêu vi B, C ở Việt Nam, cạnh tranh trực tiếp với thuốc cùng loại của Roche, một tập đoàn dược khổng lồ của Thụy Sĩ.     Tuy nhiên, đối với Nanogen, việc phát triển vaccine không đơn giản là tạo ra một loại thuốc điều trị mới. Công ty này vẫn coi quyết định bắt tay vào làm vaccine là một sự phiêu lưu mạo hiểm, mà theo đại diện Nanogen là “làm ngày làm đêm thôi chứ biết có thành công hay không”. Sản phẩm của quá trình nuôi cấy để tạo ra vaccine Covid-19 là loại protein mà công ty này chưa từng gặp trong các thuốc điều trị họ làm trước đây, đòi hỏi họ phải tìm cách xử lý mới. Chính vì vậy, cùng một công nghệ nhưng làm vaccine Covid 19 vẫn là một kĩ thuật hoàn toàn khác.     Hơn nữa, trong khi các vaccine mRNA, DNA tương tự như Pfizer chỉ cần đưa một đoạn gene “trần” của virus vào cơ thể – một công nghệ có thể ứng biến linh hoạt theo từng loại virus, thì công nghệ dựa trên protein không đơn giản như vậy. Vaccine dựa trên công nghệ này không thể cứ thế tiêm protein “trần” của virus vào người là xong. Nếu không có các chất bổ trợ thì cơ thể người sẽ đào thải nó trước khi kịp nhận biết và tạo ra phản ứng miễn dịch. Quá trình tìm ra hỗn hợp các chất bổ trợ và tối ưu hóa hàm lượng của nó trong mỗi vaccine mỗi khác đòi hỏi các nhà sản xuất sử dụng công nghệ này mất rất nhiều thời gian nghiên cứu và thử nghiệm. “Mỗi lần điều chỉnh là mình phải lại phải thử lại” – đại diện Nanogen cho biết. Quá trình tối ưu hóa này vẫn diễn ra ngày cả khi công ty bước vào giai đoạn tiền lâm sàng trên chuột hamster và khỉ. Ngoài ra, với các chuyến bay thương mại chở hàng hiếm hoi trong đại dịch khiến công ty này phải chờ đợi cả tháng – gấp đôi, gấp ba thời gian nhập khẩu thông thường để có được nguyên liệu phục vụ nghiên cứu và sản xuất vaccine.     Đại diện Nanogen cũng cho biết là vaccine khi được thử nghiệm trên khỉ cho kết quả đáp ứng miễn dịch “rất tốt”. Tuy nhiên, kể cả “rất tốt”, kết quả thử nghiệm trên động vật không thể “nối” được sang người. Đặc biệt, nếu muốn biết phản ứng đối với vaccine ở người cao tuổi thì lại càng khó, vì “không có định nghĩa nào là già ở động vật cả”, theo ông Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên vắcxin và sinh phẩm số 1 (Vabiotech), một trong ba công ty đang nghiên cứu Covid 19 tại Việt Nam cùng với Nanogen. Hiệu quả vaccine của Nanogen đến đâu phụ thuộc phần lớn vào quá trình thử nghiệm lâm sàng diễn ra sắp tới.         Vaccine của Nanogen dự kiến sẽ có hai liều, mỗi liều cách nhau ít nhất hai tuần và bảo quản được lâu dài trong nhiệt độ tủ lạnh (từ 2-80C), phù hợp với hệ thống lưu trữ và bảo quản của tiêm chủng thường quy hiện nay ở Việt Nam. Quy mô sản xuất của công ty này có thể lên tới 30 triệu liều/năm.      Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I trên 40 người sẽ do Học viện Quân Y đảm nhiệm và theo đại diện của Nanogen đánh giá là tuyển tình nguyện viên “rất nhanh”. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II trên 400 – 600 người sẽ có thêm sự hỗ trợ của viện Pasteur, thành phố Hồ Chí Minh. Nếu tốt đẹp, họ sẽ tiếp tục bước vào giai đoạn III. Tuy nhiên, giai đoạn cuối sẽ đầy “tranh cãi” vì đòi hỏi trong số người được tiêm, phải có người nhiễm bệnh mới có thể tính được hiệu lực của vaccine. Nhiều nước không thể triển khai được giai đoạn III vì không có bệnh nhân như Trung Quốc hoặc số người được tiêm bị nhiễm bệnh quá ít, không đủ để đánh giá hiệu lực của vaccine như Nga (thử vaccine trên hơn 40 ngàn người nhưng chỉ có 20 người nhiễm bệnh). Cũng không thể sử dụng các kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của các vaccine đã ra thị trường như Pfizer làm đối chứng vì vaccine đó quá mới, chưa đủ thời gian chứng minh hiệu quả và tính an toàn trên diện rộng. Ngoài ra, mức độ bảo vệ của vaccine Nanogen đến đâu, có tạo được miễn dịch ở vùng mũi, hầu họng không? Nếu không, thì virus vẫn có thể lưu trú kể cả trên người đã được tiêm vaccine và lây truyền trong cộng đồng với những người chưa tiêm.     Nhưng, đó là những câu hỏi của tương lai. Nanogen vẫn đang bận rộn với hai pha thử nghiệm lâm sàng đầu tiên với số lượng người tham gia nhiều chưa từng thấy trong sự nghiệp làm thuốc của họ. Cũng giống như tinh thần “cứ đi là đến” khi đột ngột quyết định làm vaccine, họ tự làm từ đầu đến cuối, không tham gia vào liên minh vaccine nào trên thế giới cũng như chưa nhận một đồng tài trợ nào từ bên ngoài. Giờ đây, khi đứng trước giai đoạn cam go nhất sau năm tháng nghiên cứu vaccine, Nanogen cũng vẫn bình thản như vậy: “Pha III lúc đó xong pha II thì tính tiếp thôi”.     Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/vaccine-covid19-dau-tien-cua-viet-nam-thu-nghiem-lam-sang-tan-binh-toa-sang/2020121010024254p1c160.htm        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vaccine Covid-19: Nhiều hi vọng hơn lo âu      Trong bối cảnh một cuộc chạy đua vaccine đang diễn ra rất gay gắt, nhiều nhà khoa học cảm thấy “lạc quan một cách thận trọng” trước những thông tin về các kết quả thử nghiệm lâm sàng của các vaccine. Nhưng, ông Đỗ Tuấn Đạt lại cảm thấy hi vọng nhiều hơn là nghi ngờ, nhất là khi Vabiotech cũng đang ở giai đoạn tiền lâm sàng (thử nghiệm trên động vật) cho vaccine Covid-19 của họ theo công nghệ mới.      Ông Đỗ Tuấn Đạt.  Ánh sáng cuối đường hầm  Tuần nào ông Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech) cũng có ít nhất một lần họp trực tuyến về chuyên môn với gần 100 nhà phát triển vaccine Covid-19 trên thế giới thông qua các nhóm làm việc của WHO hay dự án Covax. Covax do Liên minh vaccine toàn cầu Gavi sáng lập như một cầu nối để các nước có tiềm lực tài chính hỗ trợ các công nghệ sản xuất vaccine, đưa ra cơ chế đặt mua trước, đồng thời tài trợ cho các nước thu nhập thấp mua kịp các vaccine Covid-19 ngay khi được cấp phép nhằm càng nhiều người tiếp cận với vaccine càng nhanh càng tốt.   Trong tuần vừa qua, các thông tin về vaccine diễn ra dồn dập. Khi tôi phỏng vấn ông Đỗ Tuấn Đạt cũng là lúc vaccine của Đại học Oxford kết hợp với hãng dược phẩm Astra-Seneza vừa tuyên bố hiệu lực vaccine của họ đạt 70%. Mấy ngày sau, vaccine Pfizer/BioNTech đã được Chính phủ Anh cấp phép tiêm rộng rãi và mua luôn 40 triệu liều ưu tiên cho những người có rủi ro cao ở quốc gia này như người ở khu dưỡng lão, người có bệnh nền và các nhân viên y tế. Vaccine của hãng dược phẩm Moderna cũng đang xin giấy phép lưu hành khẩn cấp tại Mỹ và châu Âu. Cả hai Vaccine của Pfizer/BioNTech và Moderna đều tuyên bố vaccine của họ có hiệu lực là 95%. Các nước đó “họ cực kì nóng ruột, họ từng ngày từng giờ, họ nhìn thấy vaccine hiệu quả thế rồi, an toàn thế rồi thì người dân phải được tiêm” – ông Đạt nói  Còn một điều nữa chúng ta chưa biết về các vaccine sắp tung ra thị trường đó là người được tiêm có thể duy trì được đáp ứng miễn dịch như thế nào, trong bao lâu? Nếu thời gian đó dưới sáu tháng thì sẽ thêm phần khó khăn cho công tác triển khai tiêm chủng trên diện rộng. Tuy nhiên, các nhà khoa học có quyền lạc quan về câu trả lời cho vấn đề này bởi các trường hợp nhiễm tự nhiên đều được ghi nhận là có trí nhớ miễn dịch đối với Sars-Cov-2 ít nhất là sáu tháng. Tức là trong vòng sau tháng sau khi nhiễm bệnh lần đầu tiên, họ không bị tái nhiễm hoặc nếu bị tái nhiễm thì cũng có những biểu hiện bệnh nhẹ hơn so với lần trước đó.  Nhiều vaccine đang dẫn đầu cuộc đua như Pfizer/BioNTech, Moderna và Đại học Oxford/Actra-Seneza đều chỉ tập trung vào một bộ phận của Sars-CoV-2 là các protein gai trên bề mặt virus. Các vaccine này sẽ tìm cách an toàn đưa hoặc biểu hiện protein trong cơ thể con người sao cho phản ứng miễn dịch xảy ra. Trong đó, vaccine theo công nghệ mRNA của Pfizer/BioNTech khi vào cơ thể sẽ “hướng dẫn” các tế bào tạo ra protein gai để rồi hệ thống miễn dịch của người tiêu diệt nó. Vaccine sử dụng virus vector của Moderna và Oxford/Astra-Seneza sẽ cài đoạn protein gai của Sars-CoV-2 vào một loại virus vô hại và tiêm vào cơ thể người. Ngoài ra, còn vaccine dựa trên protein của một số công ty đang thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn III hoạt động theo cơ chế chỉ đưa protein gai cộng với một số chất bổ trợ vào trong cơ thể để kích thích phản ứng miễn dịch.   Ba công nghệ trên đều là công nghệ sản xuất vaccine mới trên thế giới. Ngoại trừ công nghệ dựa trên protein đã có một vài vaccine được sử dụng rộng rãi (chẳng hạn như vaccine viêm gan B, vaccine phòng ngừa ung thư cổ tử cung do HPV, vaccine cúm mùa) thì các công nghệ khác thậm chí còn chưa có vaccine nào được cấp phép trước đây. Đến thời điểm hiện nay, công nghệ vaccine phổ biến trên thế giới vẫn là tiêm toàn bộ cả virus (bất hoạt hoặc sống giảm động lực) và tất cả các đơn vị sản xuất vaccine Covid-19 của Trung Quốc cũng lựa chọn con đường “an toàn” này. Vì vậy, không ai dám chắc liệu vaccine chỉ dùng một đoạn gene của virus, đặc biệt là một virus mới mà ta còn chưa kịp hiểu hết về nó thì có khả thi?   Các con số về hiệu lực vaccine rõ rệt của Pfizer/BioNTech, Moderna, Đại học Oxford/Astra-Seneza giống như ánh sáng cuối đường hầm cho các nhà sản xuất vaccine Covid-19 theo những công nghệ mới, nhất là khi từ trước đến nay trên thế giới chưa có một vaccine thương mại nào đối với các chủng virus corona. Những con số này chứng minh được rằng: Thứ nhất, protein gai đúng là vùng kháng nguyên sẽ kích hoạt phản ứng miễn dịch ở người, đúng như những nghiên cứu trước đó đã chỉ ra. Thứ hai, công nghệ vaccine chỉ đưa một phần gene của virus (protein gai) thay vì đưa cả virus vào cơ thể người là an toàn và có hiệu quả. “Bọn tôi hiện nay không còn nghĩ lăn tăn gì về lựa chọn vùng kháng nguyên làm miễn dịch nữa. Các tranh luận đấy không còn nữa” – ông Đỗ Tuấn Đạt khẳng định.      Vaccine của Pfizer trở thành vaccine Covid 19 đầu tiên được cấp phép sử dụng trên diện rộng. Đây cũng là vaccine đầu tiên trên thế giới được sản xuất theo công nghệ mRNA.   Nếu có gì còn lăn tăn, thì đó là việc chờ số liệu cụ thể liên quan đến các con số về hiệu lực vaccine vừa công bố. Trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III trên hàng chục ngàn người, một số người sẽ được tiêm vaccine và một số người sẽ được tiêm giả dược. Sau đó, người ta chờ xem có ai bị nhiễm bệnh trong số người tham gia thử nghiệm. Chẳng hạn, trong hơn 40 nghìn người tham gia thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của vaccine Pfizer/BioNtech, chỉ có 170 người về sau bị nhiễm virus, trong đó 162 người được tiêm giả dược và 8 người được tiêm vaccine trước đó. Hiệu lực vaccine chính là tương quan giữa tỉ lệ người nhiễm virus trong nhóm được tiêm giả dược và nhóm được tiêm vaccine.   Hiệu lực không phải là hiệu quả của vaccine. Vaccine Pfizer/BioNTech có hiệu lực là 95% không có nghĩa là sau khi triển khai, cứ 100 người tiêm thì 95 người trong đó sẽ miễn dịch với virus Sars-Cov-2. Hiệu quả của vaccine trong thực tế đến đâu phụ thuộc nhiều vào tính đại diện của 170 người bị nhiễm trong cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 của vaccine này. Những người này chỉ bao gồm các bệnh nhân bị nặng, các bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng hay cả những người không có triệu chứng – người lành mang virus – nguyên nhân chính dẫn đến tốc độ lây lan khủng khiếp như hiện nay?       Tháng 10 vừa qua, Vabiotech tiếp tục triển khai thử nghiệm vaccine của họ trên khỉ và các kết quả hiện thu được về đáp ứng miễn dịch trên khỉ được như kì vọng. “Kì vọng tức là cũng tương đương với các nghiên cứu khác của thế giới” – ông Đỗ Tuấn Đạt.      Theo ông Đỗ Tuấn Đạt, khả năng cao số người bị nhiễm virus trong cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của các vaccine tung ra thị trường đầu tiên chỉ là những người có triệu chứng. Những cuộc thử nghiệm này có lẽ đã chưa tập trung vào theo dõi và đánh giá những người lành mang virus để tính vào hiệu lực vaccine. Nếu vậy, vaccine mới chỉ bảo vệ những người có nguy cơ mắc bệnh nặng còn chưa thể phòng bệnh lây truyền.   Hiệu quả của vaccine cũng phụ thuộc vào việc triển khai tiêm chủng trên diện rộng. Nếu triển khai tốt, trong kịch bản lạc quan, kể cả với vaccine như trên cũng có thể tạo ra miễn dịch cộng đồng, đủ làm chậm dần quá trình lây lan của virus. Tuy nhiên, các vaccine sắp tung ra thị trường như Pfizer/BioNTech, Moderna theo công nghệ mRNA đều phải bảo quản trong nhiệt độ đông băng (-700C và -200C), hoàn toàn không tương thích với hệ thống tiêm chủng thường quy trên thế giới từ trước đến nay vốn được thiết kế để lưu trữ vaccine trong khoảng 2-80C.  Liệu có khi nào, chỉ những nước mạnh về tài chính mới có khả năng chi trả cho một hệ thống hậu cần chuyên chở và lưu trữ vaccine có điều kiện bảo quản ngặt nghèo này? “Tôi nghĩ là mức độ công bằng về tiếp cận vaccine hiện nay vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ”. – ông Đạt cho biết.    Vabiotech thử nghiệm vaccine Covid-19 của họ trên chuột vào tháng 5/2020 và thấy chuột có đáp ứng miễn dịch.   Vaccine Covid-19 của Việt Nam: thành công là con đường, không phải là đích đến  Khoảng hai năm trước, Vabiotech khởi động một dự án hợp tác với trường Đại học Bristol, Anh để sản xuất vaccine phòng bệnh cúm H5N1 và bệnh dại theo công nghệ virus vector. Lúc đó, ông Đỗ Tuấn Đạt tuyên bố với báo chí rằng sẽ mất khoảng ba năm để công ty có thể làm chủ công nghệ này.   Vào tháng 2/2020, khi một nhóm nghiên cứu của Vabiotech sang Đại học Bristol để nghiên cứu về vaccine cúm dại thì dịch bệnh Covid 19 bùng phát ở Anh. Nhóm này đã đề xuất chuyển sang vaccine Covid-19. Công nghệ virus vector của Vabiotech kết hợp với Đại học Bristol lựa chọn baculovirus làm vector để cài đặt vùng gene protein gai của Sars-CoV-2. Baculovirus là loại virus gây bệnh trên côn trùng nhưng vô hại với người. Chỉ có hai tuần trước khi về trên chuyến bay thương mại cuối cùng từ Anh về Việt Nam, nhóm nghiên cứu của vabiotech đã phát triển sơ bộ được chủng vaccine để mang về nhân nuôi. Vào tháng 5, nhóm đã thử nghiệm tiền lâm sàng vaccine trên chuột và thấy rằng chuột có đáp ứng miễn dịch với vaccine. Tháng 10 vừa qua, Vabiotech tiếp tục triển khai thử nghiệm vaccine của họ trên khỉ và các kết quả hiện thu được về đáp ứng miễn dịch trên khỉ được như kì vọng. “Kì vọng tức là cũng tương đương với các nghiên cứu khác của thế giới” – ông Đạt nói.   Vabiotech nghiên cứu vaccine Covid-19 nhờ vào kinh phí tài trợ từ Quỹ VinIF (Quỹ Đổi mới Sáng tạo của tập đoàn Vingroup) và từ dự án hợp tác với Đại học Bristol, chỉ chiếm một phần nhỏ trong khuôn khổ một chương trình trị giá 300 tỉ đồng từ Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh nhằm nghiên cứu phát triển các loại vaccine mới có chi phí phù hợp với điều kiện ở các quốc gia thu nhập thấp hoặc trung bình. Mặc dù Bộ Khoa học và Công nghệ tỏ ý ủng hộ “sẽ cố gắng hỗ trợ tối đa” cho các dự án R&D về vaccine Covid-19 nhưng ông Đỗ Tuấn Đạt chưa đăng ký xin tài trợ từ phía nhà nước do e ngại về thời gian và thủ tục phê duyệt kéo dài và những rủi ro nếu làm vaccine không thành công. “Tôi muốn giữa mình và nhà nước cũng phải giảm thiểu bớt các rủi ro cho nhau” – Ông Đỗ Tuấn Đạt nói.  Tin tức vaccine Covid-19 trên thế giới cập nhật từng ngày trên truyền thông và nhiều người có lẽ cảm thấy tự hào khi Việt Nam có thể dự phần vào cuộc đua vaccine giữa các quốc gia đang trở nên ngày càng nóng bóng. “Bao giờ Việt Nam có vaccine?” là câu hỏi mà Vabiotech nhận được nhiều tới mức người phụ trách quan hệ công chúng của Vabiotech phải “cảnh báo” phóng viên là đừng hỏi câu nhàm chán đó nữa. Và trước khi bắt đầu buổi phỏng vấn, ông Đỗ Tuấn Đạt cũng nhắc lại điều đó.  Mặc dù công nghệ mRNA, virus vector và công nghệ dựa trên protein trong sản xuất vaccine rất mới trên thế giới, nhưng những công ty dẫn dầu trong cuộc đua vaccine này đã có 20 năm kinh nghiệm nghiên cứu và phát triển chúng. Dịch Covid – 19 là điều kiện để họ “tung” ra một công nghệ đã chuẩn bị sẵn từ trước, thậm chí có công ty đã đến bước thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I trên người cho một số loại vaccine và sinh phẩm dựa trên các công nghệ này.   Vabiotech đang phát triển vaccine với tốc độ họ chưa từng nghĩ đến. Khối lượng công việc họ làm trong mấy tháng qua tương đương với những gì trước kia họ làm trong vài năm. Tuy nhiên, giới hạn của Vabiotech là không sở hữu và phát triển công nghệ. Họ học từ đầu. “Đây là cơ hội để bọn tôi xây móng (nhà)” – ông Đỗ Tuấn Đạt nói. Hiện nay, Vabiotech vẫn đang tìm cách tối ưu quy trình sản xuất và tiêm vaccine để tiết kiệm kháng nguyên (virus) và đạt năng suất cao nhất.      Mỗi bước thay đổi trong quy trình sản xuất vaccine, Vabiotech đa số đều cần tư vấn hay chờ đối tác từ Anh gửi vật liệu sang để kiểm thử. Hơn nữa, tất cả nguyên liệu làm vaccine Covid-19 của Vabiotech lần này đều phải nhập khẩu từ Mỹ, mà theo ông Đạt, “rất nhiều nhà sản xuất (khác) cũng cần các nguyên liệu này, mình cũng ở trong cái bức tranh đấy thì mình cũng phải chờ đợi”.  Nếu Vabiotech có mẫu gửi sang nước ngoài để thử nghiệm cũng phải “xin thủ tục khá là khó khăn” ở các quốc gia đó. Hiện nay, với giai đoạn thử nghiệm trên khỉ, Vabiotech chỉ có thể đánh giá được đáp ứng miễn dịch mà không có cơ sở vật chất đáp ứng đủ điều kiện an toàn sinh học để theo dõi và đánh giá độc lực và độ an toàn của vaccine trên hơn 12 con khỉ. Chính vì vậy, họ phải gửi mẫu vaccine sang Mỹ để thực hiện các đánh giá này và… chờ đợi.   Vabiotech còn gặp nhiều thách thức đặc trưng của người làm vaccine ở Việt Nam mà một trong số đó là chỉ có một nhóm duy nhất phải tự “mày mò” từ nghiên cứu và sản xuất vaccine từ đầu đến cuối trong khi các hãng dược lớn trên thế giới có một đội ngũ khổng lồ, mỗi bộ phận phụ trách một khâu. Kể cả với một nước tiềm lực kinh tế trung bình như Cuba, để có được vaccine Covid-19 đưa vào thử nghiệm lâm sàng trên người vừa qua là quốc gia này phải huy động cả cộng đồng khoa học, chia nhau mỗi người một việc.  Cộng đồng khoa học trên thế giới cho rằng, cần nhiều hơn một vaccine để thế giới vượt qua đại dịch và vaccine đầu tiên ra thị trường không cần thiết phải là vaccine tốt nhất. Điều đó cũng có nghĩa là các vaccine thế hệ sau phải bị đặt dưới áp lực phải có hiệu quả tốt hơn vaccine trước. Vabiotech đặt mục tiêu vaccine của họ phải phòng được lây truyền. Mặc dù khả quan ở bước tiền lâm sàng nhưng họ còn một chặng đường dài trước mắt để khẳng định hiệu quả đó trên người.         Việt Nam sẽ mua vaccine của Nga?   Nga là quốc gia duy nhất ngoài Mỹ và Anh phát triển thành công vaccine dựa trên công nghệ virus vector với vaccine Sputnik-V. Sputnik-V có hiệu lực là 92%. Tuy nhiên, mặc dù có 40.000 người tham gia thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba của vaccine này nhưng chỉ có 20 người nhiễm virus Sars-Cov-2 trong số đó. Cộng đồng khoa học thế giới cho rằng con số này quá thấp, không đủ tính đại diện để tin tưởng vào hiệu quả của vaccine trong thực tế. Vào tháng 8 vừa qua, Bộ Y tế đã đề xuất đặt mua vaccine này. Tuy nhiên, ông Đỗ Tuấn Đạt cho rằng công suất vaccine của Nga sẽ khó đáp ứng đủ số lượng cho nhu cầu xuất khẩu. Hơn nữa, kể cả được đặt mua, Sputnik V cũng sẽ phải thử nghiệm lâm sàng một lần nữa trên người Việt Nam với kết quả tin cậy mới được cấp phép sử dụng tại Việt Nam – điều chưa chắc họ đã sẵn sàng.  Khi nói về câu chuyện làm vaccine Covid-19, ông Đỗ Tuấn Đạt say sưa nói nhiều về cơ hội hơn là thách thức của mình. Cuộc chạy đua vaccine trên thế giới có thể ẩn chứa những cạnh tranh về mặt chính trị và kinh tế, nhưng góc nhìn của ông Đạt, nó kết nối cộng đồng làm khoa học trên khắp thế giới chặt chẽ hơn. Các hãng vaccine trên thế giới chưa bao giờ có tiền lệ công bố các số liệu về thử nghiệm vaccine tiền lâm sàng trên động vật hay lâm sàng trên người nhưng giờ đây họ công bố ngay lập tức. Họ cũng công khai chia sẻ, cập nhật liên tục quá trình nghiên cứu và làm vaccine, chủ động hỗ trợ nhau qua các buổi họp trực tuyến hằng tuần. Các bài báo khoa học giờ đây còn được khuyến khích đăng tải trước cả khi được bình duyệt. Vabiotech tiến tới việc làm chủ một công nghệ sản xuất vaccine mới trong thời gian ngắn chưa từng có. “Thật sự đây là một thời điểm rất tốt cho mình, chưa bao giờ mình có thể tiếp cận ngay các trao đổi đấy” – ông Đạt cho biết, “Kể cả không [phát triển vaccine] thành công, thì đây cũng là cơ hội để tận dụng có được kinh nghiệm cho mình”.     Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vaccine mRNA và vaccine truyền thống: Những sự khác biệt      PGS. TS Lê Thị Lý (Đại học Quốc tế, ĐHQG TPHCM), một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm từng thực hiện ba đề tài nghiên cứu vaccine phổ rộng cho cúm A do Quỹ NAFOSTED tài trợ và hiện đang hợp tác nghiên cứu về vaccine Covid tại Mỹ, chia sẻ với Tia Sáng những thông tin mới về vaccine thế hệ mới.      PS. TS Lê Thị Lý. Ảnh: NVCC  Đã một năm kể từ khi ca mắc đầu tiên được ghi nhận ở Trung Quốc, đại dịch Covid-19 vẫn không ngừng lan rộng trên toàn thế giới với số ca nhiễm và tử vong ngày càng tăng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến ngày 16/12/2020, virus SARS-CoV-2, đã cướp đi sinh mạng của hơn 1,6 triệu người và lây nhiễm cho hơn 72 triệu người. Là nước có số ca nhiễm và tử vong cao nhất toàn cầu, mới đây, Mỹ đã phê duyệt sử dụng khẩn cấp vaccine BNT162b2 của Pfizer/BioNTech. Đây là vaccine mRNA, một loại vaccine thế hệ mới, được phát triển thần tốc chỉ trong vòng 10 tháng, và đạt kết quả thử nghiệm lâm sàng ấn tượng với khả năng bảo vệ đến 95%. Sử dụng chiến lược tương tự, Moderna cũng đã sản xuất thành công vaccine mRNA-1273, giúp ngăn chặn virus SARS-CoV-2 hơn 94%. Có vẻ như công nghệ vaccine mRNA đang chứng tỏ khả năng vượt trội trong việc tạo ra vaccine nhanh chóng và hiệu quả cao. Vậy điều gì làm nên sự khác biệt của loại vaccine mRNA so với vaccine truyền thống?  Quá trình phát triển vaccine mRNA  Việc giải mã thành công trình tự bộ gene của virus SARS-CoV-2 ngay khi đại dịch Covid-19 mới bùng phát ở Trung Quốc từ tháng 1/2020 đã góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng của vaccine. Protein S (spike) sớm được chứng minh là kháng nguyên mục tiêu tiềm năng nhờ vai trò của nó trong việc giúp virus xâm nhập vào cơ thể (Hình 1). Được biểu hiện nhiều trên bề mặt virus SARS-CoV-2, protein này gồm hai tiểu đơn vị S1 và S2. Trong đó, S1 giúp virus gắn vào thụ thể ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2) của tế bào người và cảm ứng sự thay đổi cấu trúc để hoạt hóa protein S, còn S2 tạo điều kiện cho quá trình dung hợp màng (membrane fusion) và đưa vật chất di truyền của virus, RNA, vào tế bào đích. Do đó, việc ngăn chặn protein S gắn vào tế bào người được cho là chiến lược hiệu quả trong việc phòng chống Covid-19. Đó là lý do tại sao hai vaccine mRNA, BNT162b2 và mRNA-1273, đều sử dụng trình tự của protein S này.    Hình 1. Cơ chế xâm nhập vào tế bào chủ của virus SARS-CoV-2 – Nguồn: Trends in Immunology (Harrison et al., 2020)   Từ trình tự RNA đã được giải mã của protein S, các nhà phát triển vaccine tạo ra đoạn mRNA (RNA thông tin) với các amino acid ở vị trí 986 và 987 được thay thế bằng hai proline để ổn định cấu trúc protein S ở dạng ban đầu (prefusion protein) nhằm tăng khả năng kích thích phản ứng miễn dịch. Sau đó, trình tự mRNA này được bọc trong hạt nano lipid (lipid nanoparticle) và được sử dụng để tiến hành đánh giá tính sinh miễn dịch và tính an toàn của vaccine ở giai đoạn tiền lâm sàng và lâm sàng.   Về cơ chế hoạt động, vaccine mRNA đóng vai trò cung cấp bản hướng dẫn thông tin di truyền để cơ thể tự tổng hợp protein S và huấn luyện hệ thống miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh khi nó xâm nhập vào cơ thể (Hình 2). Cụ thể, sau khi được đưa vào cơ thể, mRNA sẽ đi vào bên trong tế bào chất của tế bào và sử dụng bộ máy dịch mã của cơ thể để tạo thành protein S, còn mRNA sau đó sẽ bị cơ thể phân hủy. Protein S hoặc các đoạn nhỏ của nó sẽ đi ra ngoài và gắn trên bề mặt tế bào, và được hệ miễn dịch nhận diện. Các tế bào trình diện kháng nguyên (antigen presenting cell – APC) sẽ đến xử lý và trình diện kháng nguyên protein S lên phân tử MHC nằm trên màng của APC, dẫn đến sự hoạt hóa của tế bào T hỗ trợ (helper T-cell), nhờ đó kích hoạt các đáp ứng miễn dịch chống lại virus. Ngoài ra, các APC còn có khả năng kích hoạt các tế bào T gây độc (cytotoxic T-cell) để tiêu diệt các tế bào bị virus xâm nhiễm, ngăn virus nhân lên. Quan trọng hơn, các tế bào B (B-cell) sau khi được tế bào T hỗ trợ kích hoạt sẽ sản xuất ra kháng thể giúp phá hủy cấu trúc virus hoặc cản trở quá trình bám gắn của virus vào các tế bào. Các tế bào B nhớ (memory B-cell) cũng được tạo ra để lưu trữ thông tin của kháng nguyên trong thời gian dài hơn và phản ứng nhanh chóng khi gặp lại virus. Theo kết quả nghiên cứu lâm sàng giai đoạn ba, vaccine BNT162b2 của Pfizer/BioNTech bắt đầu tạo ra các đáp ứng miễn dịch đáng kể chỉ trong vòng 12 ngày sau khi tiêm liều đầu tiên. Việc tiêm nhắc lại lần thứ hai giúp tăng hiệu lực (efficacy) của vaccine từ 52% (nếu chỉ tiêm một liều) lên 95%.    Hình 2. Mô hình minh họa cơ chế hoạt động của vaccine mRNA nhắm vào protein S của virus SARS-CoV-2 – Nguồn: Medical Science Monitor (Wang et al., 2020)  Khác biệt giữa vaccine mRNA và vaccine truyền thống  Điểm khác biệt cơ bản của vaccine mRNA và vaccine truyền thống là cách kháng nguyên tiếp xúc với hệ miễn dịch của cơ thể. Có thể thấy, vaccine mRNA chứa vật liệu di truyền mã hóa nên protein S, để cơ thể sử dụng và tổng hợp từ bên trong. Trong khi đó, phương pháp truyền thống lại chế tạo kháng nguyên từ bên ngoài rồi mới đưa vào cơ thể để kích hoạt các phản ứng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh. Kháng nguyên đó có thể ở dạng virus sống bị giảm độc lực hoặc bất hoạt, hoặc protein S tái tổ hợp.  Hiện tại chưa thể khẳng định vaccine loại nào cho hiệu quả chống Covid-19 cao hơn. Tuy nhiên, vaccine mRNA đã chứng tỏ ưu điểm vượt trội trong việc rút ngắn đáng kể thời gian phát triển vaccine. Nếu khả năng sản xuất virus bị làm yếu và protein tiểu đơn vị (protein subunit) ở quy mô lâm sàng thường mất hơn một năm, thì vaccine mRNA có thể được tạo ra trong vài tuần. Chẳng hạn như, vaccine mRNA-1273 của Moderna đã được thiết kế và sản xuất trong vòng 25 ngày, và bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn một từ ngày 16/3/2020, chỉ sau hơn hai tháng kể từ khi trình tự bộ gene của virus SARS-CoV-2 được công bố. Hơn nữa, vaccine mRNA cũng cho phép việc mở rộng quy mô sản xuất dễ dàng, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp trước sự lây nhiễm không ngừng gia tăng của đại dịch toàn cầu. Với sức mạnh của hệ thống nhà máy đạt chuẩn GMP (Good Manufacturing Practices), Pfizer và BioNTech dự kiến sẽ sản xuất 50 triệu liều vaccine Covid-19 trong năm 2020 và lên tới 1.3 tỷ liều trong năm 2021.      Điểm khác biệt cơ bản của vaccine mRNA và vaccine truyền thống là cách kháng nguyên tiếp xúc với hệ miễn dịch của cơ thể. Hơn nữa, vaccine mRNA cũng cho phép việc mở rộng quy mô sản xuất dễ dàng, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp trước sự lây nhiễm không ngừng gia tăng của đại dịch toàn cầu.      Những vấn đề đang được quan tâm của vaccine mRNA   Vaccine BNT162b2 của Pfizer/BioNTech đã được thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba trên cỡ mẫu rất lớn, 43.448 tình nguyện viên tham gia, với khả năng ngăn ngừa Covid-19 đến 95%. Tuy vậy, đây là vaccine mRNA đầu tiên trên thế giới được phê duyệt sử dụng ở người nên khó có thể đánh giá toàn diện những nguy cơ tiềm ẩn của loại vaccine này. Mới đây, Anh đã ghi nhận hai trường hợp bị dị ứng nặng sau khi tiêm vaccine, làm dấy lên mối quan ngại về tính an toàn của vaccine. Mặc dù chưa xác định được nguyên nhân có liên quan đến mũi tiêm hay không, nhưng các nhà chức trách đã đưa ra cảnh báo những người có tiền sử dị ứng nghiêm trọng như hai ca vừa qua không nên tiêm loại vaccine này.  Các câu hỏi như thời gian miễn dịch do vaccine tạo ra sẽ kéo dài bao lâu, vaccine có còn bảo vệ tốt ngay cả khi chủng virus SARS-CoV-2 mới xuất hiện… vẫn phải cần một thời gian dài theo dõi những người đã tham gia thử nghiệm mới có thể đánh giá được. Các nghiên cứu hiệu quả bảo vệ ở trẻ em từ 12-15 tuổi của cả hai vaccine vẫn đang được tiếp tục triển khai. Tương tự, dữ liệu thử nghiệm tính an toàn của vaccine mRNA đối với các đối tượng đặc biệt như phụ nữ có thai và cho con bú vẫn còn hạn chế, nhưng họ có thể lựa chọn nên tiêm loại vaccine này hay không.      Hình 3. Những điểm khác biệt cơ bản của vaccine mRNA và vaccine truyền thống.  Ngoài ra, một số người lo ngại vaccine mRNA sẽ làm thay đổi DNA của chúng ta. Thực chất vấn đề này hoàn toàn không thể xảy ra. Nguyên nhân là do mRNA chỉ xuyên qua màng vào tế bào chất, chứ không đi vào nhân của tế bào, và mRNA này sau khi được dịch mã thành protein S sẽ bị phá hủy. Hơn nữa, trong cơ thể người, quá trình luôn đi từ DNA thành RNA và cuối cùng là thành protein, chúng ta không có cơ chế chuyển đổi ngược lại từ RNA sang DNA như các retrovirus.  ***  Việc phát triển thành công vaccine mRNA đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến chống Covid-19 toàn cầu. Tính đến nay, đã có ít nhất bảy quốc gia cho phép sử dụng khẩn cấp vaccine BNT162b2 của Pfizer/BioNTech, mở ra triển vọng lạc quan khống chế được đại dịch.   Ở Việt Nam, tuy công nghệ vaccine mRNA chưa phát triển nhưng bằng các phương pháp chiến lược khác nhau, hiện có bốn loại vaccine đang được nghiên cứu. Đặc biệt, vaccine Nano Covax của Nanogen vừa chính thức được đưa vào thử nghiệm lâm sàng, với hiệu quả bảo vệ kỳ vọng trên 90%, mang đến cơ hội tiếp cận vaccine Covid-19 cho nhiều người Việt hơn. □  Tài liệu tham khảo  1. Corbett KS, Edwards DK, Leist SR, Abiona OM, Boyoglu-Barnum S, Gillespie RA, et al. SARS-CoV-2 mRNA vaccine design enabled by prototype pathogen preparedness. Nature. 2020;  2. Harrison AG, Lin T, Wang P. Mechanisms of SARS-CoV-2 Transmission and Pathogenesis. Trends in Immunology. 2020;  3. Jackson LA, Anderson EJ, Rouphael NG, Roberts PC, Makhene M, Coler RN, et al. An mRNA Vaccine against SARS-CoV-2 — Preliminary Report. N Engl J Med. 2020;  4. Polack FP, Thomas SJ, Kitchin N, Absalon J, Gurtman A, Lockhart S, et al. Safety and Efficacy of the BNT162b2 mRNA Covid-19 Vaccine. N Engl J Med. 2020;  5. Sahin U, Muik A, Vogler I, Derhovanessian E, Kranz LM, Vormehr M, et al. BNT162b2 induces SARS-CoV-2-neutralising antibodies and T cells in humans. medRxiv. 2020;  6. Walsh EE, Frenck RW, Falsey AR, Kitchin N, Absalon J, Gurtman A, et al. Safety and Immunogenicity of Two RNA-Based Covid-19 Vaccine Candidates. N Engl J Med. 2020;  7. Wang F, Kream RM, Stefano GB. An evidence based perspective on mRNA-SARScov-2 vaccine development. Medical Science Monitor. 2020;  8. Wrapp D, Wang N, Corbett KS, Goldsmith JA, Hsieh CL, Abiona O, et al. Cryo-EM structure of the 2019-nCoV spike in the prefusion conformation. Science (80- ). 2020.     Author                Lê Thị Lý        
__label__tiasang Vacxin bại liệt và cuộc họp hy hữu      Trong phòng làm việc trên gác hai của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, GS Hoàng Thủy Nguyên kể lại những ngày cả thế giới run sợ trước bệnh bại liệt cách đây 40 năm, cũng như bây giờ thế giới hoảng hốt trước virút H5N1). Các chính phủ được kêu gọi hành động quyết liệt ngăn chặn dịch bênh lây lan, các nhà khoa học vùi đầu trong phòng thí nghiệm hòng tìm ra loại vacxin hữu hiệu.Việt Nam cũng không thoát khỏi sự tấn công của virut bại liệt. “Nhưng chúng ta đã nhanh chóng có được loại vacxin đặc hiệu để ngăn chặn dịch. Đó là công rất lớn của cố Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch” – GS Hoàng Thuỷ Nguyên bảo thế    Cơn ác mộng bại liệt.  Sau Thế chiến II, có một khoảng thời gian được mệnh danh là thời kỳ bùng nổ sinh xuất, những đứa trẻ liên tiếp ra đời như để bù lại những tháng ngày lo âu triền miên và không biết tương lai sẽ ra sao dưới bom rơi, đạn nổ. Nhưng virut bại liệt đã làm hỏng ước mong đẹp đẽ ấy. Virut bại liệt xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, xâm nhập vào tuỷ sống, làm tổn thương hệ thần kinh và cuối cùng là giết chết bệnh nhân hoặc khiến bệnh nhân bại liệt. Các bệnh viện đầy ắp thanh thiếu niên theo đuổi quy trình vật lý trị liệu nhằm phục hồi phần nào chức năng các khớp và bắp thịt. Những người bị nặng hơn, không thể thở được thì phải nhờ đến phổi nhân tạo – một thiết bị giúp con người thở nhân tạo bằng cách dùng bơm cơ học.  Các nhà khoa học ở các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới lao vào nghiên cứu chế tạo vacxin bại liệt. Albert Sabin, một nhà khoa học người Mỹ gốc Ba Lan đã chọn lọc ngoài tự nhiên các giống virut bại liệt không còn độc lực để dùng sản xuất vacxin. Albert Sabin cho rằng do quá trình chọn lọc tự nhiên, ngoài một số virut xâm nhập cơ thể con người qua đường tiêu hóa, nhân lên và gây tổn thương thần kinh trung ương, còn có các virut không có độc lực, không gây bệnh và bị thải vào môi trường tự nhiên. Virut bại liệt có ba typ 1, 2, 3 thì Sabin cũng tìm được cả 3 giống virut tương ứng trong tự nhiên không còn độc lực. Từ các giống virut này, Sabin tiến hành sản xuất vacxin bại liệt.  Cũng thời gian đấy, virut bại liệt cũng tấn công Việt Nam. Trong ba vụ dịch liên tiếp năm 1957, 1958, 1959, bệnh bại liệt gây ra tổn thất rất lớn. Năm 1959, virut bại liệt khiến cho 6000 trẻ em bị liệt, tỷ lệ tử vong là 45 trẻ em trong số 100 nghìn ca nhiễm virut. Dịch bệnh lan nhanh khắp các tỉnh miền Bắc.  Trước đó, năm 1954, bác sỹ quân y Hoàng Thuỷ Nguyên từ Điện Biên Phủ về Hà Nội tham gia tiếp quản thủ đô. Sau đó, ông được cử đi học về vacxin virut ở Đức. Cuối năm 1958, bác sỹ Nguyên về nước với học vị Tiến sỹ khoa học. Năm đó cũng là vụ dịch bại liệt thứ hai ở miền Bắc nước ta.  “Bấy giờ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng liên hệ với phía Liên Xô nhờ phía bạn giúp ta vacxin bại liệt đồng thời “chuyển giao công nghệ” làm vacxin bại liệt cho Việt Nam” – GS Hoàng Thuỷ Nguyên kể. Trong hai năm 1960 và 1961 Liên Xô giúp chúng ta mỗi năm 2 triệu liều vacxin bại liệt, đủ cho 2 triệu trẻ em dưới 3 tuổi. Nhờ vậy, trong hai năm đó, nước ta không còn xảy ra dịch bệnh nặng nề. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tự sản xuất được vacxin bại liệt để chủ động phòng chống dịch. “Còn nhớ, khi phía Liên Xô đồng ý giúp mình làm vacxin (năm 1959 ) thì Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch gọi tôi lên và bảo: “Cậu đã được đào tạo cơ bản về vacxin virut rồi nên cậu đi thôi”. Thế là tôi lên đường sang Liên Xô”. Chỉ 3 tháng sau, TSKH Hoàng Thuỷ Nguyên quay trở lại Việt Nam. Trong thời gian đó, ông đã gặp Sabin và Sabin trao cho ông 3 giống virut không độc lực và đồng ý để ông sử dụng sản xuất vacxin.  Cuộc họp hy hữu  Về nước, bác sỹ Nguyên mới nhận thấy ngoài 3 giống virut của Sabin và khối kiến thức đã học được trong đầu ông hoàn toàn tay trắng: không hóa chất, không cơ sở, không thiết bị. Nhưng thiếu trang thiết bị, nhà xưởng, hóa chất chưa phải là vấn đề quan trọng nhất mà quan trọng nhất là thiếu người. Đất nước mới giải phóng, cán bộ còn rất thiếu, nhất là cán bộ y tế. Phải có người biết làm. Có người ắt sẽ huy động được nhà xưởng, thiết bị, hóa chất. “Cũng như chúng tôi đang nghiên cứu vacxin H5N1 bây giờ vậy, cũng tự nguyện, tự huy động tất cả những gì cần thiết” – GS Nguyên so sánh.  Khi đó, đất nước còn nghèo, tiền không có nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cấp riêng cho bác sỹ Nguyên một khoản kinh phí đặc biệt 2000 bảng Anh mỗi năm để nghiên cứu sản xuất vacxin bại liệt. 2000 bảng Anh lúc đó là khoản tiền rất lớn với đất nước và với bản thân ông. “Số tiền đó tôi dùng để đặt mua hoá chất và dụng cụ ở Hồng Kông. Tôi chi tiêu chặt chẽ lắm. Mỗi năm tôi để dành một số tiền và sau vài năm tôi đủ tiền mua thêm một chiếc máy đông khô của Tây Đức trị giá 2000 bảng”.          Phòng bệnh bại liệt ở trẻ em.        Trong hai năm sau đó, nhóm nghiên cứu vừa làm, vừa dạy cho nhau dưới sự “lãnh đạo” của bác sỹ Nguyên. Trụ sở làm việc là mấy phòng ở của các nữ sinh tại số 5 phố Quang Trung. Nhà này nằm ngay sau trường Saint Marie (giờ là bệnh viện Việt Nam – Cu ba) và được dùng làm nơi ở cho các nữ sinh học thành nữ tu. Trong căn nhà ấy, vacxin bại liệt dần hình thành từ việc nhân giống chủng virut trên tế bào thận kỉ tiên phát, thử nghiệm trên động vật… Cuối cùng, còn một khâu quan trọng nhất để khẳng định liệu vacxin của ta làm ra có hiệu quả hay không: Đó là thử nghiệm trên thực địa -tức là thử nghiệm trên người.          Virut bại liệt, nguồn gốc sự tàn phế của hàng triệu thanh thiếu nên trên toàn thế giới         Tuy nhiên, việc thử nghiệm đã không được tiến hành dễ dàng. Sabin là một nhà khoa học nổi tiếng, với nhiều công trình quan trọng. Chumakov -người tiếp nhận công nghệ  từ Sabin, tiến hành sản xuất rộng rãi và chứng minh trên thực địa vacxin của Sabin an toàn– cũng là một Viện sỹ nổi tiếng của Viện Hàn lâm khoa học Nga. Nếu đem so sánh với Sabin và Chumakov thì không ai tin bác sỹ Nguyên có thể làm được loại vacxin hiện đại đó -một loại vacxin làm trên cơ sở nuôi tế bào, là vacxin sống, dựa trên virut đã giảm độc lực. GS Nguyên nói bằng giọng bình thản: “Người ta bảo vacxin do tôi làm ra là vacxin rởm. Dù tôi có bằng cấp, được đào tạo cơ bản, họ cũng không tin tôi có thể làm được”. Những dư luận đó phần nhiều xuất phát từ các cán bộ y tế và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đương nhiên cũng biết.  GS Nguyên kể: “Một hôm, Bộ trưởng gọi điện cho tôi bảo: “Nguyên ơi, cậu mang lên đây 2 lọ vacxin, mỗi lọ một trăm liều”. Bấy giờ trụ sở Bộ Y tế nằm ở ngã tư Trần Hưng Đạo và Phan Huy Chú, vốn là bệnh viện tư của một bác sỹ người Pháp. Khi tôi mang 2 lọ vacxin lên, Bộ trưởng bảo tôi cầm 2 lọ vacxin đó đi theo ông lên Hội trường trên tầng 2. Thì ra Bộ trưởng đã cho triệu tập một cuộc họp gồm cán bộ chủ chốt của Bộ Y tế. Vào Hội trường, Bộ trưởng bảo: “Cậu mở một lọ ra”. Tôi mở ra, Bộ trưởng bảo tiếp: “Cậu uống đi”. Tôi uống luôn. Rồi Bộ trưởng cầm lọ thứ hai và uống nốt. Xong, ông bảo tôi cùng ông ra khỏi hội trường. Buổi họp hôm ấy coi như xong”.  Sau buổi họp đó, việc thử nghiệm vacxin bại liệt không ai còn bán tán thêm gì nữa. Việc thử nghiệm thực địa lâm sàng cho kết quả tốt. Năm 1962, Việt Nam tự sản xuất được 2 triệu liều vacxin bại liệt. Sau này (khoảng năm 96-97), chúng ta sản xuất tới 40 triệu liều, lượng lớn nhất từ trước đến nay. Đến nay, về cơ bản bệnh bại liệt đã được thanh toán.  P.V(ghi)  Hoàng Thuỷ Nguyên       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vắc-xin ngăn ngừa tái phát ung thư      GS Michael Platten, chuyên gia người Đức  về miễn dịch thần kinh và ung thư, cùng với nhóm nghiên cứu của mình  đang phát triển một loại vắc-xin có khả năng ngăn khối u phát triển. Công trình đã được thử nghiệm thành công ở động vật và vừa được công bố  trên tạp chí “Nature”. Dưới đây là trao đổi giữa GS Michael Platten và  Tuần báo Kinh tế.     Thưa GS Platten, ông đã phát triển một loại vắc- xin tiêm phòng ung thư. Xin giáo sư cho biết cơ chế hoạt động của vắc-xin này?    Vắc-xin của chúng tôi làm cho hệ miễn dịch trong cơ thể phát hiện một trật tự nhất định của thành phần protein không gặp ở tế bào khỏe mạnh mà chỉ có trong tế bào khối u. Chúng tôi nhận thấy, trong khối u ở não thường xuất hiện sự thay đổi về gien, dẫn đến thay đổi protein. Chúng tôi đã tạo ra các protein biến dạng, hay còn gọi là peptide, trong phòng thí nghiệm, kết hợp với chất tăng cường vắc-xin, chất này vốn dĩ có trong vắc-xin đã lưu hành trên thị trường. Chúng tôi đã tiêm loại vắc-xin này vào chuột thí nghiệm.  Những con chuột đó có khối u?  Đúng thế, chúng tôi đã tiến hành một phương pháp rất phức tạp: tạo ra những khối u có đột biến gien đặc biệt ở những con chuột có những gien miễn dịch đặc trưng thường thấy ở người. Sau đó, chúng tôi cấy các khối u này vào chúng để thử nghiệm xem tiêm chủng có tác dụng hay không.   Xin giáo sư cho biết kết quả ra sao?  Rất tốt. Ở hầu hết số chuột được tiêm chủng thì các khối u đã ngừng phát triển. Ở nhóm đối chứng, được tiêm chủng với một loại vắc-xin giả, thì các khối u vẫn tiếp tục phát triển. Điều đó có nghĩa là việc tiêm chủng đã phát huy tác dụng.  Ở chuột là như vậy, khi nào giáo sư sẽ cho thử nghiệm ở người?  Chúng tôi mới đề nghị cho phép tiến hành nghiên cứu lâm sàng đầu tiên ở người. Tôi cho rằng, đầu năm 2015 chúng tôi có thể bắt đầu.  Liệu đến một ngày nào đó con người khi được tiêm phòng loại vắc-xin của giáo sư sẽ được bảo vệ và không còn sợ bị u não?  Không phải như vậy, đây là một dạng tiêm phòng điều trị điển hình, chỉ áp dụng đối với những người đã bị bệnh. Tuy nhiên đây là một biện pháp điều trị rất hữu ích đối với những người bị u não, bởi nó ngăn chặn sự tái phát thường gặp ở gần như tất cả các khối u.   Cách tiếp cận của giáo sư có gì khác so với các biện pháp tiêm chủng điều trị khác, thí dụ biện pháp của doanh nghiệp công nghệ sinh học Immatics ở Tübingen?  Vắc-xin của chúng tôi chứa protein biến dạng peptide chỉ có ở tế bào khối u chứ không hề có ở các tế bào khoẻ mạnh. Trong khi đó, vắc-xin phòng ung thư của hãng Immatics và các hãng khác thường chống lại các protein tích tụ nhiều nhưng không chỉ có ở tế bào ung thư. Vì thế chúng tôi cho rằng loại vắc-xin của mình nhằm trúng mục tiêu hơn.   Việc tiêm chủng này chỉ có tác dụng đối với u não?  Nếu việc tiêm chủng này cũng có tác dụng ở người thì cũng có thể điều trị các bệnh ung thư khác. Bởi vì đột biến gien tạo ra mẫu protein đặc trưng này cũng xuất hiện ở các khối u khác, thí dụ ở nhiều dạng ung thư tuỷ xương ác tính (bệnh bạch cầu cấp myeloid) hay ung thư ống mật, v.v.  Giáo sư đã hợp tác với doanh nghiệp nào để thương mại hóa vắc-xin này chưa?  Hiện chúng tôi chưa coi điều này là một trọng tâm. Khi đang tiến hành nghiên cứu bước đầu về lâm sàng chúng tôi chưa cần sự tham gia của giới công nghiệp. Nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cần có một đối tác thuộc giới công nghiệp khi việc tiêm chủng ở người được chứng minh là có hiệu quả và khi cần có một quyết định tiến hành nghiên cứu chung cuộc.  Xuân Hoài lược dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vắc-xin ngăn ngừa virus Ebola      Các nhà khoa học Mỹ và Canada đã thử nghiệm thành công vài mẫu vắc-xin Ebola trên động vật linh trưởng và đang tìm cách sử dụng nó cho con người, mở ra hy vọng mới phòng tránh một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới này.      Các nhà khoa học cho biết  đối với những loại virus này chúng ta cần nhận được một loại đáp ứng qua trung gian tế bào, khiến cơ thể phải sinh ra những tế bào T sát thủ trước khi hệ miễn dịch đủ khỏe để ngăn chặn hoặc quét sạch sự lây nhiễm. Và họ đã sử dụng nhiều biện pháp ADN tái tổ hợp khác nhau, cho phép họ gây ra đáp ứng qua trung gian tế bào và sản xuất ra một loại vắc-xin hiệu quả đối với động vật linh trưởng. Nhóm nghiên cứu Mỹ hy vọng phát hiện của họ sẽ cung cấp những hiểu biết quan trọng nhằm cải thiện hoặc thúc đẩy sự phát triển của các loại vắc-xin khác đối với những loại virus gây sốt xuất huyết như Marburg, các tác nhân như HIV và cúm gia cầm.   Tuệ Minh (Theo PhysOrg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai diễn trọn vẹn của Steven Weinberg      “…nếu một bộ phim duy nhất mà chúng ta đóng vai là bộ phim mà chúng ta đang tạo ra khi sống, thì có lẽ cũng không hẳn là điều tồi tệ khi đối mặt với thế giới thờ ơ, vô cảm, chúng ta tạo ra một hòn đảo nhỏ với sự ấm áp, với tình yêu, với khoa học và với nghệ thuật cho chính mình. Đó là một vai diễn không hề tầm thường”.      Steven Weinberg (1933-2021). Ảnh: The economist.  Lại một người khổng lồ nữa của vật lý thế kỷ XX đã qua đời vào tháng bảy vừa qua: Steven Weinberg, người có đóng góp quan trọng xây dựng nên lý thuyết mà ngày nay chúng ta gọi là Mô hình Chuẩn của các hạt cơ bản.    Tôi sẽ không mô tả chi tiết về Mô hình Chuẩn nhưng sẽ điểm qua một vài điểm chính. Lý thuyết trường lượng tử mô tả đặc trưng của các tương tác, tính chất của chúng và tương tác giữa các hạt cơ bản nhờ những hạt trung gian truyền tương tác. Vào những năm 50, tương tác điện từ đã được mô tả thành công theo cách này, với photon là hạt trung gian truyền tương tác. Lý thuyết này được gọi là Điện Động lực học Lượng tử (QED) với Feynman, Schwinger và Tomonaga được trao giải Nobel năm 1965 cho những đóng góp xây dựng nên QED. Về cơ bản, toàn bộ thuyết điện từ có thể được tóm gọn bởi tương tác của một điện tử với một photon: một photon biến đổi thành một cặp electron-positron, hoặc ngược lại; một cặp electron-positron chuyển thành một photon; hay một điện tử phát ra một photon (hiệu ứng bremsstrahlung) hoặc một photon bị hấp thụ bởi một điện tử. Từ đó, bất kỳ tương tác điện từ nào cũng có thể được mô tả theo một trong những cách như vậy: ví dụ, tán xạ electron-positron có thể được mô tả là electron phát ra một photon sau đó photon này được hấp thụ bởi positron hoặc cặp electron-positron biến đổi thành một photon sau đó photon biến đổi trở lại thành một cặp electron-positron.    Mô tả trên của QED thành công đến mức người ta đã cố gắng sử dụng nó để mở rộng ra cho các dạng tương tác khác: yếu (phân rã beta), mạnh (lực hạt nhân) và hấp dẫn. Theo cách tiếp cận đó, Mô hình Chuẩn của các hạt cơ bản đã thành công với tương tác yếu và mạnh, còn tương tác hấp dẫn thì được mô tả tốt bởi thuyết tương đối rộng, mặc dù mô tả tương tác này một cách đầy đủ vẫn đang là một thách thức của khoa học. Weinberg nổi tiếng nhất với những đóng góp trong việc thống nhất tương tác điện từ và tương tác yếu thành một lý thuyết dựa vào mô hình QED. Lý thuyết thống nhất này gọi là lý thuyết Điện Yếu. Phân rã beta, với sản phẩm là cặp electron-phản neutrino (hay positron-neutrino), đòi hỏi các hạt trung gian truyền tương tác, W+ và W–, phải là các hạt tích điện và có khối lượng. Nhiều thí nghiệm đã được thực nghiệm để tìm kiếm những hạt này nhưng không thành công. Một cách độc lập, Glashow vào năm 1959, Salam và Ward vào năm 1964 đã viết nên một lý thuyết mới dựa trên đối xứng giữa tương tác điện từ và tương tác yếu; nhưng để xây dựng thành công lý thuyết này họ buộc phải công nhận sự tồn tại của một hạt trung gian truyền tương tác thứ ba trung hòa về điện, đó là W0. Nỗ lực tìm kiếm các hạt W đều dẫn đến thất bại. Kết quả là, cho đến tận năm 1973, những ý tưởng về W không được quan tâm nhiều và các hạt truyền tương tác yếu này bị coi là những phát kiến phi thực tế.      Việc thống nhất các lực điện từ, yếu và mạnh thành một lý thuyết duy nhất dựa trên những nguyên lý cơ bản (đối xứng nhóm và bất biến gauge) là một thành công lớn có thể so sánh với sự thống nhất đã được thực hiện trước đó với thuyết điện từ bởi Maxwell và thuyết hấp dẫn bởi Newton.      Năm 1967, khi đang là giáo sư thỉnh giảng tại MIT, Weinberg đã đăng một công trình nghiên cứu nổi tiếng với tựa đề “Mô hình của các hạt Lepton”1, giải quyết thành công những thách thức chính trong thống nhất tương tác điện từ và tương tác yếu. Đó là những vấn đề liên quan đến hạt boson W có khối lượng, cách thức tương tác của W và của photon, sự tồn tại ngoài mong muốn của các hạt boson Goldstone không khối lượng sinh ra khi đối xứng bị phá vỡ. Trong mô hình của Weinberg, đối xứng giữa tương tác điện từ và tương tác yếu bị phá vỡ một cách tự nhiên, còn các boson Goldstone được tránh bằng cách biến photon và W thành các hạt truyền tương tác. Đây là khởi nguồn cho sự phát triển nhanh chóng của lý thuyết thống nhất điện yếu; và Glashow, Weinberg và Salam đã được trao giải Nobel năm 1979 cho thành tựu thống nhất tương tác điện từ và tương tác yếu.    Về mặt thực nghiệm, chỉ đến năm 1973, khi sự tồn tại của W0 trung hòa được tìm ra, lý thuyết thống nhất tương tấc điện yếu mới được coi trọng. Tôi nhớ như in buổi hội thảo tại CERN, khi khám phá W0 lần đầu tiên được trình bày. Thí nghiệm phát hiện W0, sản phẩm tương tác của chùm neutrino trong buồng bọt chất lỏng nặng (propan hoặc freon), gọi là Gargamelle. Khi tương tác xảy ra với sự có mặt của hạt tích điện W thì một lepton tích điện (electron hoặc muon) cũng phải có mặt trong số các sản phẩm của tương tác. Khi tương tác được truyền bởi W0 trung hòa, dấu hiệu thực nghiệm cần tìm là sự vắng mặt của các lepton tích điện, tương tác này được gọi là dòng trung hòa. Tuy nhiên, rất khó để có thể xác định được sự vắng mặt của các lepton tích điện bằng thực nghiệm, chứng tỏ sự hiện diện của chúng thì dễ hơn. Lúc đó tôi là điều phối viên vật lý, chịu trách nhiệm phân bổ thời gian cho các thí nghiệm khác nhau trên hệ Proton Synchrotron của CERN. Gargamelle là một trong số những thí nghiệm đó; hoạt động của chùm neutrino mà thí nghiệm sử làm ảnh hưởng lớn tới việc lên lịch cho các thí nghiệm khác. Gargamelle giảm áp suất chất lỏng từ 20 bar xuống 10 bar trong 60 mili giây, cứ 1,4 giây việc đó lại diễn ra một lần và được đồng bộ với sự xuất hiện của chùm tia mới, để tạo ra bọt bong bóng dọc theo các vệt ion hóa; để thực hiện điều này, Gargamelle sử dụng một màng lớn, có nhược điểm là thường xuyên xuất hiện các vết nứt: buồng phải được làm sạch, thay màng mới… và tôi phải sắp xếp lại lịch chiếu tia cho những thí nghiệm khác.      Steven Weinberg thuyết trình tại Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) năm 1979. Ảnh: cern    Khám phá ra dòng trung hòa đã thay đổi nhận thức của chúng ta về lý thuyết thống nhất điện yếu: khi đó lý thuyết này không những được coi trọng mà nó còn trở thành phương tiện xác định hướng đi mới cho các thí nghiệm tương lai. Các thí nghiệm với neutrino đã có sự tiến bộ ngoạn mục về cả chất lượng và số lượng. Rubbia và Van der Meer đã khởi động việc chế tạo máy gia tốc đối chùm proton-phản proton, giúp các thí nghiệm UA1 và UA2 phát hiện ra bộ ba boson yếu được lý thuyết dự đoán năm 1983 (boson trung hòa, được gọi là Z, thực tế là hỗn hợp của W0 với photon). Hai người đã được trao giải Nobel năm 1984.    Việc thống nhất các lực điện từ, yếu và mạnh thành một lý thuyết duy nhất dựa trên những nguyên lý cơ bản (đối xứng nhóm và bất biến gauge) là một thành công lớn có thể so sánh với sự thống nhất đã được thực hiện trước đó với thuyết điện từ bởi Maxwell và thuyết hấp dẫn bởi Newton. So sánh hơn thua đóng góp của những tên tuổi làm nên những lý thuyết này là vô nghĩa. Đó là kết quả của nỗ lực tập thể, không theo nghĩa của một số người làm việc cùng nhau trong một nhóm mà là đóng góp của nhiều cá nhân, mỗi đóng góp đều hết sức quan trọng cho sự ổn định và vững chắc của công trình.  Weinberg kiệt xuất bởi những đóng góp không ngừng nghỉ, bởi sự quan tâm rộng đến nhiều lĩnh vực và bởi tài năng trong truyền đạt kiến ​​thức của mình tới sinh viên và công chúng. Ông nổi tiếng với kỹ năng giảng dạy và với loạt sách đưa khoa học đương đại đến với công chúng một cách đặc biệt rõ ràng, chính xác và dễ hiểu. Weinberg có mối quan tâm với vũ trụ học từ khi còn trẻ và, cũng như nhiều đồng nghiệp của mình, tôi đã đọc “Ba phút đầu tiên: một cái nhìn hiện đại về nguồn gốc của Vũ trụ” ngay sau khi nó được xuất bản, vào cuối những năm 70: đây là lý do tôi quan tâm đến vật lý thiên văn, lĩnh vực mà tôi đã làm việc trong hơn hai mươi năm nay.      Steven Weinberg đến thăm phòng thí nghiệm ATLAS tại CERN năm 2009. Ảnh: Cern.  Vào năm 1980, sau khi giảng dạy tại các trường đại học danh tiếng nhất của Hoa Kỳ như Columbia, Harvard, Berkeley, MIT, Weinberg định cư tại Austin (Texas), ở đó ông đã xây dựng nên một nhóm nghiên cứu vật lý lý thuyết. Nói một cách công bằng thì Texas không được biết đến như một thành phố có đời sống tri thức đặc biệt sôi động và hấp dẫn; bốn năm qua đã cho thấy người Texas có xu hướng tin vào các thuyết âm mưu như Q-anon và sẵn sàng tin tưởng bất kỳ lời nói dối nào tình cờ được đăng lên mạng xã hội và các tài khoản twitter ưa thích của họ. Những người theo đạo Tin Lành da trắng cho thấy một hình ảnh về tôn giáo khá xa lạ với những gì thường được coi là giá trị của Cơ đốc giáo. Trong bối cảnh như vậy, Weinberg đã là một chiến binh không mệt mỏi chống lại mê tín dị đoan và bất cứ điều gì trái với suy nghĩ thuần túy duy lý, “Bất cứ điều gì mà các nhà khoa học chúng tôi có thể làm để đẩy lùi sự cản trở của tín ngưỡng”, ông nói, “đều nên làm và cuối cùng đó có thể là đóng góp lớn nhất của chúng tôi cho văn minh nhân loại”. Đây là phương châm nổi bật của ông đóng góp vào cái mà giới truyền thông coi là triết học. Nhưng ông không quan tâm nhiều, xem xét bản chất là siêu hình hơn hay bản thể học hơn, quan điểm của ông được tóm tắt rõ ràng trong trích dẫn sau: “Vũ trụ càng có vẻ dễ hiểu, thì nó càng có vẻ vô nghĩa […] Nếu không có điểm nào trong vũ trụ mà chúng ta có thể khám phá được bằng phương pháp khoa học, thì có một điểm, đó là, chúng ta có thể coi vũ trụ là cách chúng ta sống, yêu thương, khám phá tự nhiên, tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Và điều đó – theo một cách nào đó, mặc dù chúng ta không phải là những diễn viên trong một bộ phim vũ trụ, nhưng nếu một bộ phim duy nhất mà chúng ta đóng vai là bộ phim mà chúng ta kiến tạo khi đang sống, thì có lẽ cũng không hẳn là điều tội tệ khi đối mặt với một thế giới thờ ơ, vô cảm, chúng ta tạo ra một hòn đảo nhỏ với sự ấm áp, với tình yêu, với khoa học và với nghệ thuật cho chính mình. Đó là một vai diễn không hề tầm thường”. Quan điểm của ông khiến tôi nhớ đến David Hume, người mà, sau khi kể về nỗi sợ hãi vô chừng trước sự cô độc trong triết lý của mình, đã ngay lập tức an ủi chúng ta mà nói thêm rằng “May mắn thay, điều đó xảy ra, vì lý trí không thể xua tan được những đám mây này, chính tự nhiên lại đủ để giải quyết việc này, nó giải thoát cho tôi khỏi sự u sầu và mê sảng triết học, bằng cách thư giãn tâm trí héo mòn, hoặc bằng những hứng thú và ấn tượng sống động thỏa mãn các giác quan, thứ sẽ xóa bỏ tất cả những ảo tưởng. Tôi ăn tối, tôi chơi cờ, tôi trò chuyện và vui vẻ với bạn bè…”    Lần lượt từng người một, những người khổng lồ làm nên khoa học của thế kỷ XX đang rời bỏ chúng ta. Thế giới mà tôi đã và đang sống đang dần tan biến trong sương mù.□     Phạm Ngọc Điệp dịch  ——  1 https://journals.aps.org/prl/pdf/10.1103/PhysRevLett.19.1264    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Vài kỷ niệm nhỏ về chị Võ Hồng Anh      So với anh chị em trong nhà, tôi là người tiếp xúc với chị Hồng Anh không nhiều. Nhưng đối với tôi, những kỷ niệm về chị thật sâu sắc và có thể nói là mạnh mẽ…     Lần đầu tiên tôi gặp chị là tháng 10 năm 1972, vợ tôi sinh cháu trai được khoảng một tháng. Chúng tôi ở tầng hai nhà tập thể của Tổng cục Bưu điện trên phố Tô Hiến Thành cùng với bố mẹ tôi. Chị đến thăm vợ tôi cùng với bác Đặng Bích Hà và anh Phan Long, chồng chị. Căn phòng chưa được 15 mét vuông năm người ba thế hệ cùng ở, với cả trăm thứ đồ đạc lỉnh kỉnh thời bao cấp, bố tôi và mẹ kế của tôi cứ lúng túng mãi trông thật tội. Khách VIP mà! Nhưng bác Hà và chị rất tự nhiên, như đã quen với cảnh ăn ở chật chội thế này, sà vào giường của hai mẹ con nựng cháu bé và cho quà. Trước đó một năm, ngày 2 tháng 9 năm 1971, khi chúng tôi cưới thì chị đang ở Liên Xô, chỉ có hai bác đến dự.   Tôi cũng lúng túng không kém bố mẹ tôi. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy chị rất trẻ, xinh và toát lên vẻ thẳng thắn bẩm sinh. Nhất là đôi mắt sáng, luôn mở to một cách hồn nhiên trên khuôn mặt thông minh. Đôi mắt lúc nào cũng như muốn hỏi một điều gì.   Rồi bẵng đi một số năm chị sang làm công việc nghiên cứu khoa học ở Liên Xô. Khi chị về nước, tôi có nhiều dịp gặp chị hơn. Chị không hề thấy phiền khi tôi cứ nhằm những dịp đó hỏi chị về một loại đề tài duy nhất là những gì liên quan đến hai cuộc kháng chiến tôi nghe được hoặc đọc được đâu đó. Có lúc chị nói qua cho biết, nếu đó là vấn đề chị đã quen thuộc. Chị nói ngắn, nhỏ nhẹ, nhưng rành rọt và khá nghiêm túc, còn hỏi lại cho rõ điều tôi muốn biết và khuyên tôi tra cứu thêm ở nguồn này nguồn nọ. Nhưng cũng có khi chị nhìn tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên: “Có việc như thế ư, thật tình mình chưa biết”. Chị không bao giờ trả lời tôi bằng hai tiếng “không biết” hờ hững và vô cảm.   Cách đây mấy năm, vào ngày giỗ bố vợ tôi, chị bảo tôi qua đón. Từ nhà tôi ở Giáp Bát “tạt” qua phố Hoàng Diệu đón chị, rồi đến nhà chị Dung trên phố Trần Duy Hưng, quả là một cú tạt “hoành tráng”, nhưng tôi rất muốn đến đưa chị đi để nhân tiện hỏi một vài câu chuyện. Đến khi đã ngồi sau lưng tôi rồi, tôi chưa kịp hỏi chuyện như dự tính thì chị đã hỏi trước: “Tôi nghe nói ông hay thích cãi mọi người lắm phải không?”  Tôi bảo: “Lạ thật, đã có người cũng hỏi tôi như chị rồi đấy, chẳng hiểu tại sao có chuyện này. Nhưng chính tôi rất hãi những chuyện cãi nhau đấy chị ạ! Phải rồi, có lẽ là do tính tôi hay lo xa thôi, việc gì liên quan đến mình mà thấy trước sẽ có trục trặc thì phải nói ra; không nói ngộ nhỡ công việc hỏng cũng đổ lên đầu mình. Tôi cho rằng như vậy mới là chịu trách nhiệm đến cùng, phải không chị? ” Rồi phân bua thêm: “Nhất là không biết mà cãi liều thì có treo thưởng cũng chẳng dám. Tôi thưa gửi cũng lễ phép lắm chị ơi, thế mà đôi khi cảm thấy hình như người ta muốn mình không phát biểu thì hơn. Biết làm sao vừa lòng hết mọi người được chị nhỉ!”   Chị bảo: “Ông làm thế là đúng, có ý kiến thì phải nói, tôi không thích có ý kiến cứ để bụng không dám nói, rồi sau lưng phê phán người ta.” Từ lâu đã rất biết sự thẳng tính của chị nên tôi không ngạc nhiên về điều chị nói.  Hồi này tôi vừa đọc xong mấy cuốn sách dịch “Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ” của Jean Sainteny [1] và “Đông Dương hấp hối” của Henri Navarre [2]. Tôi bảo chị là tôi không hiểu được ông Tây Sainteny, cái thời ông ta kể lại trong sách thì nước Pháp của ông đang bị Đức và Nhật giần cho tơi tả mà nói ra câu nào ông cũng đòi “chủ quyền” của Pháp ở Đông Dương, y như là đất hương hỏa của ông bà ông ta để lại vậy. Tôi đoán người dịch nhiều lúc cũng phải cáu tiết lắm vì cách nói ngang phè phè và cái mùi thực dân vẫn còn ngấm rất nặng vào mỗi trang sách của ông ta. Hôm ấy tôi cũng hỏi chị một vài chi tiết trong cuốn “La guerre française d’ Indo-chine” của Alain Ruscio [3]. Cuốn sách này của tác giả tặng Đại tướng và Đại tướng tặng lại bố vợ tôi, nhờ vậy tôi được đọc ké. Tôi nói năng tếu táo, còn chị chỉ ôn tồn bảo rằng sách của Ruscio thì “ông có thể đọc được đấy, vì ông ta làm công việc nghiên cứu chứ không viết hồi ký như hai người kia. Ông ta là học giả và rất nghiêm túc, đã xin gặp được “ông già” vài lần để hỏi chuyện và hình như cũng đã ra quyển mới, có sửa chữa bổ sung gì đấy”. Chị hỏi tôi có hay đọc về Điện Biên Phủ không, tôi trả lời hai cuốn sách bác cho [4] tôi đã đọc cả rồi. Chị mách có một cuốn cũng của Ruscio, có tên “Điện Biên Phủ, sự kết thúc một ảo tưởng” [5], viết khá sớm, nghe nói cũng có nhiều điều đáng biết. Nghe lời chị, tôi vào ngồi mấy buổi trong thư viện nghiền kỳ hết quyển sách. Không biết có phải vì vậy mà từ đó tất cả những gì liên quan tới Điện Biên Phủ rơi vào tay tôi, tôi đều đọc tất. Chị còn dặn thêm rằng “bây giờ có nhiều tư liệu mới, ông đọc có thấy gì hay cho tôi biết với”.  Có thể là rất trái khoáy khi tôi đem những chuyện lịch sử ra hỏi một nhà vật lý lý thuyết. Nhưng tôi có lý do của mình: trước hết, tôi đã được chị trả lời vài lần, chứng tỏ chị không hề thờ ơ với những vấn đề này. Và, nếu chị không biết, tôi hy vọng chị sẽ tìm hỏi và giải thích cho tôi lần sau.  Đó là lần đàm đạo lâu nhất và có đề tài cụ thể giữa chị và tôi. Có điều, cuộc đàm đạo “mang tầm cao vĩ mô” này lại diễn ra ngoài đường phố, trên xe máy. Tôi còn hỏi chị một vài sự việc mang tính thời sự, thật bất ngờ, theo cách giải thích rất nhanh gọn của chị thì hóa ra có những sự việc lại đơn giản một cách thú vị chứ không phức tạp như tôi tưởng. Chị cứ một mực “ông ông, tôi tôi” rất bình đẳng lại thân tình, không xa cách. Tôi hài lòng vì không biết từ đâu chị lại biết rõ tôi có một tính xấu và một tính tốt như vậy. Tính xấu là hay cãi và tính tốt là hay hỏi để biết. Cả hai tính này đều là dấu ấn của dân xứ Quảng quê tôi.   Mỗi lần có giỗ bố mẹ vợ tôi và giỗ anh cả vợ tôi, nếu không phải đi đâu khỏi Hà Nội, chị đều đến rất đều đặn. Chị ngồi cùng bàn với cánh phụ nữ, nơi tôi thường gọi là “xóm nhà lá”, nhẹ nhàng hỏi chuyện mọi người. Lần nào tôi cũng lẳng lặng bước đến chào chị một câu: “Chị Hồng Anh ơi, chị có khỏe không?” để nhận lại một câu hỏi khác thay cho câu trả lời: “Ông Huyên đấy à?”, thật nhỏ nhẹ nhưng thân tình. Và hình như không chỉ với riêng tôi, với ai chị cũng tự nhiên như vậy.  * * *  Năm 1972, trước khi vợ tôi sinh cháu, chúng tôi ở với bố mẹ vợ tôi trên phố Hàng Chuối một thời gian. Nhà bố vợ tôi rất nhiều sách báo và những bản tin nhanh, tin tham khảo về khoa học và kinh tế, tôi tha hồ đọc. Một lần trên bản tin của Ủy ban Khoa học Nhà nước, tôi đọc được một bài của Kapitsa [6] viết về Landau [7]. Cuối bài thấy ký tên người dịch là Võ Hồng Anh.   Hồi đó chúng ta còn sống khép kín, người đọc bình thường chúng tôi chưa biết nhiều về những nhà khoa học nổi tiếng cũng như những nhà kinh tế hàng đầu của phương Tây. Sách báo trong nước chỉ thấy nói đến những Mitchourine [8], Landau, Kapitsa của Liên Xô hoặc một thời rộ lên tên tuổi hai cặp vợ chồng các nhà bác học Mỹ gốc Hoa cùng được giải Nobel là Li Zhengdao (Lý Chính Đạo) và Yang Zhenning (Dương Chấn Ninh). Nhiều lắm cũng chỉ nhắc đến hai nhà triết học Bertrand Russell và Jean Paul Sartre vì hai ông đã lập ra tòa án quốc tế xử Hoa Kỳ phạm tội ác chiến tranh đối với Việt Nam.   Bài viết của Kapitsa cũng chỉ là một bài mang tính phổ cập khoa học, giới thiệu sơ lược về cuộc đời và điểm qua các công trình của Landau, viết để kỷ niệm ngày ông được giải Nobel. Nhưng bài dịch quả là một mẫu mực của văn dịch thuật, câu văn trong sáng, uyển chuyển và nhiều từ ngữ sử dụng rất đắc địa mà tôi nghĩ không phải dịch giả chuyên nghiệp nào cũng có thể đạt được. Là nhà vật lý lý thuyết, tất nhiên chị Hồng Anh cũng có ưu thế so với một người dịch bình thường khi diễn đạt những nội dung này, nhưng dù sao không thể phủ nhận trình độ tiếng Việt xuất sắc của chị. Thật đáng tiếc, bài báo tôi cố cất giữ nhưng đã bị thất lạc sau mấy lần chuyển nhà. Vợ tôi kể rằng nhiều lần được chị khuyên muốn hiểu nước Nga và con người Nga nên đọc nhiều văn chương và thơ ca Nga. Chị giới thiệu cho vợ tôi những tác phẩm cần đọc, cùng với những dịch giả và những bản dịch mà chị cho là tốt và bảo rằng tuy chị đã đọc nguyên bản từ thời trung học ở Liên Xô nhưng gần đây có lúc cũng phải tìm đọc bản dịch để kiểm tra lại những cảm nhận trước kia của mình. Điều này chứng tỏ trong việc tự hoàn thiện mình, mối quan tâm của chị đã vượt khá xa ra ngoài giới hạn của môn vật lý lý thuyết.   * * *  Có đầy đủ những yếu tố của vinh quang và danh vọng, nhưng chị Hồng Anh hết sức điềm đạm, thận trọng và khiêm tốn; tôi chưa bao giờ thấy chị nói về mình hoặc công việc của mình. Bài dịch nói trên, đăng trên một bản tin thông thường, là tác phẩm duy nhất của chị mà tôi được biết. Có người nói rằng chị sống ẩn mình trong khoa học là vì vậy.   Tôi không bao giờ tự đặt ra câu hỏi liệu chị Hồng Anh có thành đạt trong đường đời và có thành công trong khoa học hay không. Nửa đầu của câu hỏi này, tôi cảm thấy có gì đó hơi dung tục. Nửa sau, tôi thấy mình không đủ kiến thức và tư cách trước một câu hỏi lớn như vậy.  Đơn giản, chị Hồng Anh là một phụ nữ có tài năng và nhân cách lớn. Tôi tin vào điều này.  Viết nhân ngày giỗ đầu Giáo sư TSKH Võ Hồng Anh  Tháng 7/2010     * Tác giả bài viết là con rể cố Thứ trưởng Giáo dục Võ Thuần Nho – em ruột Đại tướng Võ Nguyên Giáp.   [1] và [2] Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004.  [3] Editions Complexe, 1992.      [4] Võ Nguyên Giáp: “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử”, NXB Quân đội Nhân dân, 2000; và “Đường đến Điện Biên Phủ”, NXB Quân đội Nhân dân, 2001.   [5] Alain Ruscio: “Dien Bien Phu, la fin d’ une illusion”, Ed. L’Harmattan, 1986.  [6] Piotr Leonidovitch Kapitsa, 1894 – 1984, Nobel vật lý 1978.  [7] Lev Landavidovitch Landau, 1908 – 1968, Nobel vật lý 1962.  [8] Ivan Vladimir Mitchourine, 1860 – 1935, nhà sinh vật học Nga.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nét về chính sách nhân tài của Trung Quốc      “Nhân tài” nói ngắn gọn là người có tài. “Từ nguyên” (bản hợp đính) thì định nghĩa “nhân tài” là “người có tài học”. “Đại từ điển” của Đài Loan thì định nghĩa là “người có học thức tài hoa”. Tuy nhiên khái niệm “nhân tài” của Trung Quốc hiện nay thường để chỉ những người có trình độ chuyên môn cao.    Chính sách quốc gia về phát triển nhân tài  Một vấn đề cốt tử trong quản lý nhân lực hiện đại là xem trọng tài năng chuyên môn. Tài năng chuyên môn bao gồm những người qua quá trình đào tạo có hệ thống và những người có tri thức kĩ thuật sâu về một lĩnh vực nhất định. Trung Quốc hiện xác định tài năng chuyên môn là then chốt để nâng cao sức cạnh tranh của Trung Quốc trên trường quốc tế. Sau mở cửa cải cách, Trung Quốc bắt đầu “giải quyết vấn đề phần tử trí thức”, sau đó là đề xuất “tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài”. Đến năm 1982 thì Trung Quốc bắt đầu triển khai thống kê và dự đoán nhân tài, và đến nay đã có tới 149 văn bản nhà nước đề cập tới khái niệm “tài năng chuyên môn”. Việc đào tạo nhân tài và tài năng chuyên môn được đưa vào các kế hoạch 5 năm  Từ năm 2000, chính sách về nhân tài của Trung Quốc bước vào giai đoạn “phát triển tổng thể”, thực thi “nhân tài đặc biệt, đãi ngộ đặc biệt”. Tháng 12/2003, Hội nghị Trung ương đảng về công tác nhân tài của Trung Quốc còn đưa ra kế hoạch đào tạo nhân tài ở khu vực ngoài nhà nước, nông thôn, trong các dân tộc thiểu số, nhân tài đã nghỉ hưu. Đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của Trung Quốc.  Thống kê, đánh giá chất lượng  Đây chính là cơ sở để đưa ra chính sách về nhân tài, song tiêu chí để thống kê đánh giá lại rất khó thống nhất. “Tiêu chí lớn” để phân loại nhân tài ở Trung Quốc là nhân tài chuyên môn, nhân tài chính đảng (trong hệ thống đảng và chính phủ), nhân tài quản lý kinh tế nhà nước, nhân tài kỹ thuật… Đồng thời còn phải dùng các tiêu chuẩn phổ biến của quốc tế như bằng cấp để đánh giá.  Theo các tiêu chí đó, đến năm 2003 thì Trung Quốc có hơn 33 triệu nhân tài chuyên môn (cả ở khối ngoài nhà nước), gần 8 triệu nhân tài chính đảng, 45 triệu nhân tài kỹ thuật, hơn 25 triệu nhân tài quản lý kinh tế nhà nước, 1,2 triệu nhân tài ” nông thôn thực dụng” (được chứng nhận).  Nếu tính riêng nhân tài trong lĩnh vực khoa học thì đến cuối năm 2003, Trung Quốc có hơn 3,2 triệu người, trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển có hơn 2,2 triệu người, bình quân cứ 1 triệu người thì có 1745 nhà khoa học hay công trình sư.  Xu hướng chính sách phát triển nhân tài  Phân tích số liệu thống kê cho thấy nhân tài liên quan mật thiết tới tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1978 tới 2004, bình quân số nhân tài Trung Quốc tăng 7,34, còn GDP của Trung Quốc giai đoạn đó là 7,8%. Người ta tính rằng số lượng nhân tài tăng lên 1% sẽ kéo theo GDP tăng 1,28%. Hiện bình quân GDP của Trung Quốc mới đạt hơn 1.000 USD/người/năm, nền kinh tế mới được coi ở giai đoạn “sơ cấp công nghiệp hóa” và đang phát triển theo hướng “tối ưu hóa cơ cấu nền công nghiệp; tạo dựng công nghiệp mũi nhọn; nắm chắc công nghiệp chế tạo, nâng cao công nghiệp dịch vụ”. Đây cũng là định hướng cho việc đào tạo nhân tài của Trung Quốc.  Trong công nghiệp mũi nhọn, Trung Quốc tập trung đào tạo một lượng lớn nhân tài các ngành công nghệ thông tin, vật liệu mới, kỹ thuật không gian, hải dương học… đạt trình độ ngang bằng với các nước phát triển.  Để tạo “đất dụng võ” cho nhân tài, ngoài thể chế hóa chế độ đãi ngộ thỏa đáng, Trung Quốc cũng chú ý tới tạo môi trường cạnh tranh, công khai, bình đẳng, tuyển lựa kỹ càng.      TRẦN ANH (Theo www.china.com.cn)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nét về công trình khoa học GS Tôn Thất Tùng      GS Tôn Thất Tùng là một nhà phẫu thuật tài ba và nổi tiếng. Cho đến nay, kĩ thuật cắt gan của ông (Ton That Tung’s method) thỉnh thoảng vẫn còn được sử dụng với kết quả tốt. Bài viết này cung cấp thêm vài thông tin về những công trình nghiên cứu của ông trong các thập niên 60 đến 80 của thế kỷ trước.                      Thông tin về sự nghiệp của GS Tôn Thất Tùng không nhiều. Đầy đủ nhất có lẽ là thông tin từ trang wikipedia, nhưng phần lớn thông tin này cũng lấy từ hai bài viết về ông đăng trên tạp chí Sức khỏe cộng đồng và trên trang web Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo những nguồn thông tin này, ông sinh ngày 10/5/1912 tại Thanh Hóa, nhưng lớn lên ở Huế. Năm 1932, ông theo học y khoa ở Hà Nội. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông được giao nhiệm vụ chữa bệnh cho chủ tịch Hồ Chí Minh (không rõ thời gian). Ông còn giữ chức giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (không rõ năm) và sau này là Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (từ năm 1954). Trang wikipedia còn cho biết ông là người đầu tiên mổ tim ở Việt Nam nǎm 1958, và “Trong những năm 1960, ông đã nghiên cứu thành công phương pháp ‘cắt gan có kế hoạch’, thường được gọi là ‘phương pháp mổ gan khô’ hay ‘phương pháp Tôn Thất Tùng’.  Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học dioxin đến con người và môi trường tại Việt Nam”.  Ông mất ngày 7/5/1982, thọ 70 tuổi.  Bài báo vừa đề cập trên và các bài viết về Gs Tôn Thất Tùng cho biết ông để lại cho đời 123 công trình khoa học, đặc biệt là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông.  Chưa từng bị chỉ trích  Phương pháp phẫu thuật mang tên ông chính là phương pháp cắt gan (Hepatic resection) mà giới phẫu thuật sau này gọi là “Ton That Tung’s method”.  Phương pháp này được ông phát triển và công bố vào năm 1963.  Sau này, nhiều chuyên gia phẫu thuật, chủ yếu là Âu châu, có sử dụng phương pháp đó với kết quả tốt.  Năm 1985, Manfredi và đồng nghiệp (J Surgical Oncology) báo cáo 103 ca giải phẫu dùng phương pháp của Gs Tôn Thất Tùng, mà tác giả mô tả là không có biến chứng gì đáng kể, với thời gian sống sót lên đến 8 năm.  Mãi đến năm 2004, một nhóm bác sĩ Ý cũng báo cáo một số trường hợp so sánh 2 kĩ thuật giải phẫu và họ kết luận kĩ thuật cắt gan của Gs Tùng là tiêu chuẩn vàng (nguyên văn: “Hepatic resection according to Ton That Tung is the gold standard for the treatment of serious lacerations and hepatic bleeding neoplasms”, xem Vadalà G, et al. Ann Ital Chir. 2004 Jul-Aug;75(4):431-4).  Thật ra, phương pháp phẫu thuật của ông không phải là một công trình nghiên cứu. Ngày 26/1/1963, tập san Lancet công bố một lá thư 2 trang có tựa đề “A new technique for operating on the liver” (một kĩ thuật mổ gan mới) kí tên 2 tác giả là Tôn Thất Tùng và Nguyễn Dương Quang. Đây là một lá thư (letter), chứ không phải “bài báo khoa học” (original article).  Lá thư đó được kèm dưới đây.  Cần nói thêm rằng, original article thường có giá trị cao hơn letter. Trong y văn và đặc biệt là đối với tập san Lancet, lá thư là hình thức để công bố những thông tin mới và nhanh, nhưng chưa qua kiểm định nghiêm chỉnh như một bài báo khoa học. Trong lá thư mày, GS Tôn Thất Tùng và Bs Nguyễn Dương Quang có mô tả 2 trường hợp mổ gan bằng kĩ thuật mà sau này chúng ta biết là Ton That Tung’s method.   Một bài báo trên báo điện tử bee.net.vn có tựa đề: “Cha đẻ của “phương pháp Tôn Thất Tùng” trong phẫu thuật gan”, đăng vào đầu tháng 3 năm nay cho biết: khi phương pháp mổ mới được trình làng trên Lancet thì bị nhiều người phản đối, nhưng sau đó thì những người phản đối “phục thiện” và tôn ông làm “tổ sư”. Nhưng tôi không tìm thấy một bài báo nào chỉ trích Gs Tôn Thất Tùng trên bất cứ tập san nào trong PubMed.  Tôi cũng không tìm thấy có bài báo nào trong y văn ca ngợi ông là “người cha” hay “tổ sư” cả. Cũng chưa bao giờ thấy trong y văn có những bài viết gọi là “phục thiện”, và cũng chẳng bao giờ có chân lí trong y học. Do đó, có thể nói rằng phương pháp của Gs Tôn Thất Tùng chưa từng bị bất cứ ai chỉ trích trong y văn.  Những công trình khoa học của Tôn Thất Tùng                Hình như có sự nhầm lẫn về con số công trình khoa học của ông. Nhiều bài viết cho biết ông để lại cho đời 123 công trình, nhưng tôi chỉ tìm thấy 31 bài báo của ông trong y văn. Thông tin về 31 công trình nghiên cứu có thể xem trong bảng dưới đây.  Nhìn qua danh sách này chúng ta thấy phần lớn những công trình của GS Tôn Thất Tùng được công bố trên tập san y khoa của Pháp (15 bài) và Đức (11 bài).  Phần còn lại công bố trên tập san của Anh (Lancet, 2 bài), Nga (2) và Hungary (1).   So với thời nay, Giáo sư Tôn Thất Tùng bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu khá trễ, nhưng ông công bố rất đều đặn.  Công trình nghiên cứu của ông được công bố vào năm 1956, tức lúc ông 44 tuổi.  Đó là một công trình này mô tả sự có mặt của Salmonella hvittingfoss trong phổi, chứ chẳng dính dáng gì đến phẫu thuật.  Kể từ đó, năm nào ông cũng có công trình trên tập san y khoa Pháp và Đức.  Có một công trình cùng tựa đề và cùng nội dung nhưng ông công bố trên 2 tập san (một ở Đức và một ở Pháp)!  Điều đáng chú ý là ông qua đời năm 1982, nhưng năm 1995, con ông là GS Tôn Thất Bách vẫn ghi tên ông là đồng tác giả một bài báo đăng trên tập san Chirurgie (Pháp)!  GS Tôn Thất Tùng cũng từng làm nghiên cứu về chất độc da cam.  Bài báo trên bee.net.vn viết rằng “Ông còn được thế giới trân trọng vì đã công bố những công trình mở đường cho việc nghiên cứu chất độc da cam/dioxin.”  Thật ra, ông chưa bao giờ công bố một công trình nào về chất độc da cam trên bất cứ một tập san y khoa quốc tế nào. Lúc sinh tiền, ông có trả lời phỏng vấn của kí giả Mĩ về chất độc da cam, mà trong đó ông nói rằng Agent Orange có liên quan đến dị tật bẩm sinh và ung thư, nhưng giới chuyên môn Mĩ lúc đó lịch sự xem đó là một “interesting observation” (quan sát thú vị) vì phương pháp nghiên cứu của ông chưa được đánh giá là chuẩn mực.  Sau sự kiện này, ông mới phát hiện rằng phương pháp dịch tễ học và thống kê rất quan trọng trong y học và có ý định phát triển bộ môn này ở Việt Nam.  Nói một cách khách quan, những công trình của GS Tôn Thất Tùng được công bố trên những tập san không có chất lượng cao (hiểu theo nghĩa ngày nay, tức những tập san có impact factor rất thấp). Thật ra, ngay cả công trình nổi tiếng nhất của ông (đăng trên Lancet năm 1963) chỉ có 29 trích dẫn trong 47 năm.  Điều này nói lên rằng công trình không gây tiếng vang lớn.  (Cần nói thêm rằng một phương pháp phẫu thuật cắt gan khác mới công bố vào năm 2002 nhưng được trích dẫn gần 200 lần).  Nhưng thành tích của GS Tôn Thất Tùng quả thật đáng khâm phục.  Phải nói rằng trong điều kiện khó khăn thời đó (50 năm về trước) và phương tiện còn kém, mà ông và đồng nghiệp đã liên tục công bố những công trình nghiên cứu như thế thì người viết bài này chỉ có 4 chữ để nói: thán phục và ngưỡng mộ.  Ông quả thật là một tấm gương để thế hệ sau noi theo, và để cho những ai còn ngụy biện rằng nghiên cứu ứng dụng không cần công bố quốc tế nên nhìn lại mình.  Các ông trình quan trọng nhất của GS Tôn Thất Tùng đăng trên tập san Lancet và Chirurgie đều có đóng góp của Bs Nguyễn Dương Quang (tôi đoán thế từ tên “Nguyen Duong Quang”).  Thật vậy, trong số 31 bài kí tên Tôn Thất Tùng, tác giả Nguyễn Dương Quang đứng tên đồng tác giả gần 1/3 (9 bài).  Ấy thế mà không một bài báo nào viết về công trình của Gs Tôn Thất Tùng nhắc đến tên của Bs Nguyễn Dương Quang!  Cũng là một điều lạ!  Nói tóm lại, có lẽ nói không ngoa rằng GS Tôn Thất Tùng có đóng góp quan trọng cho y khoa quốc tế. Tuy nhiên, vì đóng góp của ông trong một chuyên ngành hẹp, và đại đa số các công trình nghiên cứu của ông xuất hiện trên những tập san có ảnh hưởng rất thấp (và do đó công trình của ông cũng có ảnh hưởng nhưng chưa cao), nên tên tuổi ông không vang xa mà ông xứng đáng.  Có lẽ đã đến lúc các nhà nghiên cứu y sử Việt Nam nên làm một tổng kết nghiêm chỉnh về những ứng dụng kĩ thuật Tôn Thất Tùng trên thế giới để lấy lại uy danh cần thiết cho một nhà khoa học Việt Nam.  Ghi thêm:  Bài báo trên bee.net.vn có vài chi tiết tôi nghĩ là không đúng. Chẳng hạn như bài báo có đoạn viết “Ngay trong những ngày Việt Nam chống Mỹ, báo The Lancet (Dao bầu) ở London, một tờ báo hằng tuần phát hành mỗi kỳ hơn 1 triệu bản, đã đăng bài báo khoa học của Tôn Thất Tùng nhan đề: Một phương pháp cắt gan mới. Bài báo lập tức gây tiếng vang rộng khắp. Chỉ một tháng sau, hơn 100 nhà phẫu thuật từ Mỹ đến Australia gửi thư đến Hà Nội xin GS Tùng cung cấp thêm tài liệu. Một số nhà bác học viết bài dè dặt hoan nghênh. Một số khác kịch liệt phản đối! Cái mới đích thực bao giờ xuất hiện mà chẳng gặp khó khăn?”  Phải nói ngay rằng chưa một tập san y khoa nào trên thế giới, kể cả Tập san Lancet, phát hành trên 1 triệu bản cả.  Tập san có số phát hành cao nhất là New England Journal of Medicine (NEJM) của Mĩ cũng chỉ dừng lại ở con số trên dưới 500 ngàn.  Tập san Lancet đứng hàng thứ 2 hay thứ 3 trong y khoa, nên con số phát hành chắc chắn thấp hơn NEJM.  Thông thường, khi một công trình được công bố, có nhiều thư khắp nơi trên thế giới gửi đến tác giả để xin một bản copy hay xin thêm thông tin, hoặc mời hợp tác.  Thường thường những lá thư “xin xỏ” đó đến từ những nước nghèo vì họ không có điều kiện đặt mua tập san y khoa thường xuyên.  Đó là chuyện bình thường trong khoa học, chứ không có gì đặc biệt lắm.   Trong một trả lời phỏng vấn cho báo chí nước ngoài, Gs Tôn Thất Tùng có kể lại một chi tiết thú vị về chủ tịch Hồ Chí Minh.  Khi được hỏi ấn tượng của ông về người bệnh nhân đặc biệt là gì, ông cho biết ngài chủ tịch Hồ Chí Minh rất bình dân và dễ gần gũi.  Chủ tịch Hồ Chí Minh không khi nào nói chuyện chính trị với ông, mà chỉ nói chuyện đạo lí và cuộc sống.  Ông còn cho biết chủ tịch Hồ Chí Minh sợ tiêm chích, nhưng khi tiêm thuốc trị sốt rét thì ông không hề kêu đau hay phàn nàn gì, nói tóm lại ông là một bệnh nhân … dễ tính.   NVT  (Bài báo trên Bee.net.vn có thể đọc ở đây:   http://bee.net.vn/channel/1984/201003/Cha-de-cua-phuong-phap-Ton-That-Tung-trong-phau-thuat-gan-1747164/)  Danh sách bài báo khoa học của Gs Tôn Thất Tùng trong PubMed             Số      Tác giả      Bài báo      Tập san và năm xuất   bản          1      TON-THAT-TUNG, SUREAU P, NGUYEN VAN-THO      Presence of Salmonella hvittingfoss in the lung after   immersion.      Bull Soc Pathol Exot Filiales. 1956 Nov-Dec;49(6):1101-3. French.          2      SANG N, SU Kh, TUNG TT      A case of congenital parasitic abnormality      Khirurgiia (Mosk).   1956 Jul;32(7):76-8. Russian          3      TON-THAT-TUNG,   HOANG-SU, LE-VAN-TIEN      Diastatic perforation of stomach.      Mem Acad Chir (Paris). 1957 Feb   6-13;83(4-5):146-7. French.          4      TUNG TT, SU H, SANG N.      Parasitic dermoid monster diagnosed as pancreatic tumor      Magy Seb. 1957   Apr-Jun;10(2-3):151-4. Hungarian          5      TUNG TT, VON HAI   N, HELD F.      Gastric tuberculosis      Dtsch Gesundheitsw.   1957 Oct 10;12(41):1268-71. German          6      TON-THAT-TUNG,   HOANG-SU, NGUYEN-VAN-VAN, HOANG-KIM-TINN      Ascariasis of the bile ducts      J Chir (Paris).   1957 May;73(5):506-23. French          7      TON-THAT-TUNG      Surgery in opium addicts      Zentralbl Chir.   1957 Aug 3;82(31):1305-9. German          8      TON-THAT-TUNG,   HOANG-SU, TRAN-VAN-SANG      Parasitic endosymian monster taken for a cyst of the   pancreas      Presse Med. 1958   Jan 4;66(1):11. French          9      TON THAT TUNG, SCHMAUSS AK, NGUYEN DUONG QUANG.      Acute postoperative pancreatitis after resection of   gastroduodenal ulcers      Chirurg. 1958   Sep;29(9):413-23. German          10      TON THAT TUNG      Diagnosis and treatment of an acute pancreatic edema   caused by parasites      Dtsch Gesundheitsw.   1959 May 28;14:1018-20. German          11      TON THAT TUNG, NGUYEN TRHINH CO, TON DUCLANG      Experiences with traumatic spleen ruptures in Vietnam      Langenbecks Arch Klin Chir Ver Dtsch Z   Chir. 1960;295:355-7. German          12      TON THAT TUNG, SCHMAUSS AK, NGUYEN TRINH CO, TON DUC LANG      The etiology, diagnosis and therapy of liver abscess in North Vietnam      Dtsch Gesundheitsw.   1960 May 12;15:1000-7. German          13      SCHMAUSS AK, TON THAT TUNG, TRAN HUU TUOC, LUONG TAN   TRUONG      On the clinical aspects and pathology of cervicolateral   tumors      Zentralbl Chir.   1961 Jan;86:535-41. German          14      Ton That Tung, Nguyen Duong   Quang         A NEW   TECHNIQUE FOR OPERATING ON THE LIVER      Lancet Jan 26, 1963;   281:192-193              15      TUNG TT, QUANG ND      Experiences with 111 liver resections      Chirurg. 1963   Apr;34:163-5. German          16      Ton-That-Tung      Experiences with partial liver resection for malignant and   benign tumors of the liver      Zentralbl Chir.   1965;90(26):1499-505. German          17      TON-THAT-TUNG, NGUYEN-DUONG-QUANG      THE PLACE OF MAJOR HEPATECTOMY IN RESECTION OF THE LIVER      Rev Int Hepatol.   1965;15:245-53. French          18      Tôn That Tùng, Nguyèn Dùong Quang, Ngô Dình Mac      Tropical hemobilia      Bull Mem Soc Chir Paris. 1965 Nov 5;55(8):302-16. French          19      Ton-That-Tung, Nguyen-Duong-Quang      Segmentary hepatectomy by transparenchymatous vascular   ligation      Presse Med. 1965   Dec 4;73(52):3015-7. French          20      Ton That Tung, Nguyen Duong   Quang, Truong Cam Cong, Schmauss AK.      Tropical hemobilia      Bruns Beitr Klin Chir. 1966 Sep;213(2):226-42. German          21      Ton-That-Tung, Couinaud C      Apropos of hepatectomy      Presse Med. 1967   May 27;75(26):1329-30. French          22      Ton-That-Tung      Complications of intestinal ascariasis      Z Gesamte Inn Med. 1969 Mar 1;24(5):Suppl:73-5. German          23      Tôn-That-Tùng, Nguyen-Duong-Quang      Evaluation of an experience of exeresis surgery of the   liver      Chirurgie. 1970   Oct 28;96(12):836-40. French          24      Ton-That-Tung, Nguyen-Duong-Quang, Nguyen-Nhu-Bang,   Ngo-Van-Quy      Acute nontraumatic subcapsular hematomas of the liver      Lyon Chir. 1971   Jan-Feb;67(1):10-7. French          25      Tôn-Thât-Tùng      Rôle of the ligature of the hepatic artery in   hepatobiliary surgery      Chirurgie. 1971   May 5;97(6):366-76. French          26      Trung LX, Xuan   NT, Tung TT      Treatment of carotido-cavernous fistulae with muscular   embolisms      Chirurgie. 1972   Jan 12;98(1):70-3. French          27      Ton-That-Tung      Primary liver cancer in Viet-Nam      Chirurgie. 1973   May 16;99(7):427-36. French          28      Ton-That-Tung      Ligation of hepatic artery in liver surgery      Khirurgiia (Mosk).   1973 Nov;49(11):78-81. Russian          29      Tung TT, Bang   NH, Van Ton NV, Bach T, Tam ND, Salomon JC      First clinical trials of treatment of primary liver cancer   with immunostimulating agents administered by systemic or intratumoral route      Chirurgie. 1975   Jun 11-25;101(8):542-5. French          30      Ton-that-Tung, Nguyen-nhu-Bang, Nguyen-van-Van,   Ton-that-Bach, Nguyen-dang-Tam, Salomon JC      Letter: Immunostimulants in primary hepatomas      Lancet. 1975 Mar   1;1(7905):527-8          31      Bach TT, Tung   TT, Lang TD      Vascular complications in hepatic resection      Chirurgie.   1994-1995;120(13):179-85. French                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nét về mẫu hình công ty spin-off trên thế giới      Mô hình công ty spin-off là một trong những giải pháp tốt nhất để thương mại hoá sản phẩm công nghệ. Các công ty spin-off tạo ra cơ hội cho những nghề nghiệp trình độ cao, thành quả của nó là động lực của nền kinh tế tri thức.    Sự phát triển công ty spin-off của ĐH Alberta  Năm 2003, 44 công ty spin-off của ĐH Alberta thu hút hơn 150 triệu USD đầu tư cá nhân, so với khoảng 15 triệu USD từ khu vực công cộng.  Ở đây, các nhóm chuyển giao công nghệ và phát triển công ty spin-off  giúp các nhà phát minh triển khai việc thành lập công ty và đăng ký bản quyền công nghệ của trường ĐH để làm nền tảng công nghệ cho công ty đó. Sau khi xác định được tính khả thi, những bước đầu tiên là phải xây dựng được các hợp đồng và thống nhất điều khoản giữa các bên. Những bước tiếp theo có thể là cung cấp sự tư vấn về kế hoạch thương mại, nghiên cứu thị trường, xây dựng đội ngũ điều hành và nhận định sự liên hệ với các nhà đầu tư tiềm năng cũng như các nguồn tài chính khác.  Lộ trình hoạt động     Giai đoạn đầu: Trong giai đoạn đầu, công ty được sáp nhập và nằm trong một quan hệ thống nhất với trường ĐH, nó sẽ phát triển dần lên để có thể sẵn sàng cho hoạt động kinh doanh. Trong giai đoạn chuyển giao này, các công ty có thể theo đuổi sự cộng tác với các hiệp hội, hoạt động tài chính, phát triển công nghệ, xây dựng một đội ngũ điều hành và những chuyên môn thích hợp.     Giai đoạn công ty đi vào hoạt động: một công ty “hoạt động” nghĩa là giành được một không gian tư nhân/cho thuê thích hợp để phục vụ cho sự vận hành của nó. Đồng thời, ít nhất một trong hai điều kiện sau phải thỏa mãn, thứ nhất, phải có một đội ngũ điều hành, thứ hai, đảm bảo được khả năng thu nhập tài chính liên tục. Một công ty hoạt động phải có khả năng giữ được cân bằng và ổn định cho sự phát triển trong tương lai, sau khi đã hoàn tất các giai đoạn đầu tiên của sự thành lập.  Công ty spin-off Onware                Một trong những công ty spin-off mới nhất của ĐH Alberta là tập đoàn phần mềm Onware. Onware đã mở rộng cánh cửa thương mại của nó từ tháng 9 năm 2002. Công ty được thành lập sau khi các sinh viên tốt nghiệp khoa học máy tính của ĐH Alberta là Fraser Gallop và Ian Moon phát triển một đề án chuyển giao công nghệ cùng với John Shillington, giám đốc của một chương trình gọi là Nghiên cứu và Cách tân trong việc Sáng lập Công ty Mới (LINC – Learning and Innovation in New Company Creation).  Mặc dù sự phát triển dường như là rất nhanh, nhưng trên thực tế, sản phẩm phần mềm đã phải dựa trên công sức bảy năm nghiên cứu của các giáo sư ĐH Alberta, đó là Paul Sorenson, Jim Hoover và Eleni Stroulia, những nghiên cứu viên nòng cốt của chương trình LINC, làm việc ở Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Phần mềm (SERL – Software Engineering Research Lab).  Xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu mà những giáo sư này cùng các cộng sự đã đạt được ở SERL, Gallop, Moon và Shillington đã thúc đẩy sự áp dụng việc điều hành giao tiếp cho các công ty xây dựng có hệ thống trực tuyến. Sau đó, ba người này quyết định đưa sản phẩm của họ ra thị trường, và Onware ra đời. Shillington là chủ tịch công ty, Gallop là phó chủ tịch, còn Moon hoạt động với vai trò kiến trúc sư nòng cốt về phần mềm.  Mặc dù mới bắt đầu và còn tương đối ít kinh nghiệm kinh doanh, nhóm này cũng đã tranh thủ được những lợi ích từ các mối liên kết, sự tư vấn sản xuất kinh doanh và xây dựng được sự nhạy bén cần thiết để đạt tới thành công. Onware đã xây dựng được một cơ sở khách hàng với khoảng 20 nhà doanh nghiệp đang sử dụng sản phẩm của họ.  “Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy rằng, việc phân tích dữ liệu cho các đề án kiến trúc và kỹ thuật đang thách thức việc sử dụng các phương pháp truyền thống, và thông thường, nó đòi hỏi tới 10% ngân sách đề án”, Gallop nói. “Sản phẩm phần mềm của chúng tôi, là một giải pháp trực tuyến, giúp làm giảm những chi phí này bằng việc xử lý dữ liệu và hệ thống giao tiếp của đề án, đồng thời lưu giữ lại tất cả thông tin để tham khảo trong tương lai”.  Tổ chức Onware được hình thành một cách đặc biệt dành cho những đề án tự động trong công nghiệp xây dựng, từ công đoạn thiết kế kiến trúc, qua thiết kế kỹ thuật, đến công đoạn xây dựng.  “Lò ấp” các công ty spin-off của Đại học Alberta  Việc sáng lập công ty spin-off trong các trường ĐH Canada bị thách thức bởi sự khả năng giới hạn về không gian dành cho quá trình thai nghén những công ty mới. Sự thành lập Trung tâm Chuyển giao Nghiên cứu (RTF – Research Transition Facility) hồi năm 2000 đã giúp ĐH Alberta vượt qua thách thức này và từ đó làm tăng số lượng cũng như chất lượng tri thức và công nghệ của những công ty khơi nguồn từ hoạt động nghiên cứu ở trường ĐH.  RTF cho phép các công ty start-up mới tiếp tục cải cách công nghệ và thống nhất được với lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục. RTF sẽ nuôi dưỡng và nâng đỡ giai đoạn ban đầu của các kế hoạch kinh doanh, cùng phối hợp xây dựng thị trường cho các sản phẩm cũng như đảm bảo lợi ích rõ ràng cho những thành viên và các nhà đầu tư. RTF có thể đảm bảo không gian sinh sống cho 15 đến 20 công ty ở bất kỳ thời điểm nào, phụ thuộc vào nhu cầu về không gian đối với mỗi cơ sở, với hy vọng rằng, “thời gian cư trú” đối với bất cứ một công ty nào cũng nằm trong giới hạn từ sáu tháng đến bốn năm. RTF giúp các công ty thực hiện sự chuyển giao thành công từ một môi trường nghiên cứu hàn lâm sang một khu vực hoạt động thương mại.  “Điển hình” Lenovo          Thông tin nhanh về các công ty spin-off của Đại học Alberta, tính đến 31/3/2005      + 84 công ty spin-off được thành lập kể từ năm 1963.   + 69 công ty spin-off hiện đang hoạt động.     + 1 công ty mới được thành lập trong giai đoạn 2004-2005.   + 60 công ty được sáng lập trong vòng một thập kỷ gần đây, kể thời điểm hình thành Đơn vị Chuyển giao Công nghệ Đại học Alberta.   + Các công ty spin-off trực tiếp sử dụng hơn 1000 lao động tri thức trình độ cao.   + 7 công ty spin-off của Đại học Alberta là các công ty thương mại công cộng.   + Đại học Alberta nắm cổ phiếu của 36 công ty spin-off, với giá trị ước tính khoảng 38 triệu USD    + 90% các công ty spin-off có trụ sở ở Alberta, 80% trong số đó nằm ở Edmonton.           Năm 1984, với số vốn ban đầu 200.000 NDT (25.000 USD – chưa bằng giá một chiếc ô tô ở Việt Nam) do Viện Khoa học Trung Quốc cấp, nhà khoa học Lưu Truyền Chí (Liu Chuanzhi) cùng mười đồng nghiệp trong Viện thành lập Công ty Phát triển công nghệ mới. Họ thuê một gian nhà nhỏ làm trụ sở công ty. Sản phẩm đầu tiên của công ty là máy tính dành cho gia đình, loại máy lần đầu xuất hiện ở Trung Quốc. Sau đó công ty mở rộng hệ thống bán lẻ trên cả nước, tạo nên thói quen dùng máy tính cho hàng triệu người Trung Quốc. Phần mềm từ điển Anh – Hán  “Thiệp Truyền kỳ Trung Quốc” (Legend Chinese Character Card) được giải nhất Giải thưởng Tiến bộ khoa học – kỹ thuật Trung Quốc.  Năm 1989, công ty “thoát thai” khỏi Viện Khoa học Trung Quốc, trở thành Công ty tập đoàn Liên Tưởng Bắc Kinh, tên giao dịch tiếng Anh là Beijing Legend Computer Group Co, kinh doanh các mặt hàng máy tính, phần mềm, bo mạch chủ… Sau đó một năm, Công ty lên sàn giao dịch, và đến năm 1994, Legend đã có tên trên thị trường chứng khoán Hồng Kông.  Sau một loạt thành công của thương hiệu máy tính Lenovo (1 triệu máy năm 1994, 10 triệu máy năm 1998), công ty đổi tên giao dịch từ Legend (Truyền Kỳ) thành Lenovo. Lenovo là từ ghép của “Le” – thừa kế phần đầu chữ “Legend” và “novo” – tiếng Latin là “mới”. Mục tiêu của Lenovo là chiếm lĩnh thị trường 3C (computer, communications, consumer electronics – máy tính, truyền thông và điện tử dân dụng). Tháng 5/2005, Lenovo gây chấn động khi mua bộ phận máy tính cá nhân của hãng IBM và trở thành một “đại gia” sản xuất máy tính cá nhân trên thế giới, có tổng doanh thu 13 tỷ USD/năm.  Lenovo rất chú trọng khâu nghiên cứu và phát triển, hiện bộ phận R&D của công ty đang nghiên cứu hơn 200 hạng mục, trong đó nhiều hạng mục là công nghệ hàng đầu. Lenovo cũng vừa thành lập Trung tâm Cách tân (Innovation Center) ở Research Triangle Park, Bắc California.  P.V (tổng hợp)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vài nét về tình hình phát triển điện hạt nhân ở Trung Quốc      Kể từ năm 1978,  khi bắt tay vào thực hiện kế hoạch phát triển điện hạt nhân tới nay,  Trung Quốc đã đạt được khá nhiều thành công khi có 17 tổ máy điện hạt  nhân đang vận hành, sản lượng điện hạt nhân năm 2013 chiếm 2,11% sản  lượng điện cả nước, các chỉ tiêu vận hành của nhà máy điện hạt nhân đạt mức tiên tiến thế giới, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường  tốt.     I. Ba giai đoạn phát triển của điện hạt nhân Trung Quốc  Qua gần 40 năm, Trung Quốc đã trải qua ba giai đoạn phát triển điện hạt nhân là: Giai đoạn 1: bắt đầu phát triển, từ năm 1978 đến 2004; Giai đoạn 2: tăng tốc phát triển, 2004-2011; Giai đoạn 3: phát triển với hiệu suất cao, sau năm 2011.  Giai đoạn một  Năm 1985 bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân  Tần Sơn do Trung Quốc tự thiết kế và xây dựng – lắp đặt một tổ máy điện hạt nhân kiểu lò PWR, công suất 300 MW.  Năm 1987 bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân  Đại Á Loan, nhập công nghệ và thiết bị của Pháp, gồm 2 tổ máy kiểu lò PWR, công suất mỗi tổ 900 MW.  Ba tổ máy nói trên lần lượt được vận hành vào các năm 1991 và 1994.   Thời gian 1996-2000 bắt đầu xây dựng 4 công trình, đặt 8 tổ máy phát điện hạt nhân: là nhà máy điện hạt nhân  Tần Sơn đợt hai, Trung Quốc tự xây dựng; nhà máy điện hạt nhân  Lĩnh Áo, tiếp tục nhập công nghệ Pháp; nhà máy điện hạt nhân  Điền Loan, nhập công nghệ Nga.     Các công trình kể trên đã xây dựng xong vào năm 2002 và 2007.  Giai đoạn hai  Năm 2005, Nhà nước ban hành Quy hoạch trung-dài hạn phát triển điện hạt nhân 2005-2020, đề xuất phương châm « Tích cực phát triển điện hạt nhân ». Trung Quốc đi lên con đường phát triển nhanh điện hạt nhân.  Bản Quy hoạch đề xuất tới năm 2020, Trung Quốc sẽ vận hành 40 triệu kW điện hạt nhân, xây dựng 18 triệu kW. Chính quyền các địa phương và các công ty, doanh nghiệp nhiệt liệt hưởng ứng Quy hoạch, dốc sức xây dựng điện hạt nhân.  Từ 12/2005 đến cuối 2010 đã duyệt xây dựng 10 nhà máy điện hạt nhân  với tổng số 34 tổ máy, tổng công suất 37,32 GW. Tới nay đã đặt xong 6 tổ máy, đang đặt 28 tổ, nhìn chung việc xây dựng điện hạt nhân phát triển thuận lợi.  Giai đoạn ba  Tháng 6/2012, Cục An toàn hạt nhân quốc gia ban hành “Yêu cầu kỹ thuật thông dụng cải tiến hành động của các nhà máy điện hạt nhân  sau sự cố Fukushima (thực hiện thử)”, đưa ra yêu cầu cải tiến hành động của các nhà máy điện hạt nhân  trên 8 mặt nhằm nâng cao tính an toàn, gồm: Yêu cầu kỹ thuật cải tiến năng lực chống lũ của nhà máy điện hạt nhân; Yêu cầu kỹ thuật về bổ sung nước trong trường hợp khẩn cấp và thiết bị liên quan; Yêu cầu kỹ thuật về nguồn điện di động và thiết bị di động; Yêu cầu kỹ thuật giám sát bể chứa nhiên liệu (spent fuel pool); Yêu cầu kỹ thuật cải tiến hệ thống giám sát và khống chế khí hydrogen; Yêu cầu kỹ thuật về khả năng có thể cư trú tại Trung tâm điều khiển đối phó tình trạng khẩn cấp và chức năng; Yêu cầu kỹ thuật cải tiến sự giám sát và ứng phó môi trường bức xạ; Yêu cầu kỹ thuật đối phó khi xảy tai họa từ bên ngoài.  Ngày 24/10/2012, Chính phủ duyệt Quy hoạch an toàn điện hạt nhân và “Quy hoạch phát triển trung dài hạn điện hạt nhân (2011-2020)” sau điều chỉnh.  Tháng 11-12/2012, 4 dự án Phúc Thanh số 4 bắt đầu thực thi, nâng tổng số tổ máy điện hạt nhân của Trung Quốc lên 30.  Nửa đầu năm 2013, tổ máy số 1 nhà máy điện hạt nhân  Ninh Đức (Phúc Kiến), tổ máy số 1 nhà máy điện hạt nhân  Hồng Duyên Hà (Liêu Ninh) lần lượt đưa vào vận hành thương mại, tổng số tổ máy điện hạt nhân đang vận hành lên tới 17, với tổng công suất 14,70 triệu kW.  Nửa cuối năm 2013, các tổ máy 5 và 6 của nhà máy điện hạt nhân  Dương Giang, tổ máy số 4 nhà máy điện hạt nhân  Điền Loan lần lượt bắt đầu xây dựng. Tổng số tổ máy điện hạt nhân đang xây dựng lên tới 31, với tổng công suất 33,85 triệu kW.  Các nhà máy điện hạt nhân  đang vận hành    Tính đến 12/2013, Trung Quốc có 17 tổ máy điện hạt nhân đang vận hành tại 5 cơ sở : Tần Sơn (tỉnh Triết Giang), Đại Á Loan (Quảng Đông), Điền Loan (Giang Tô), Hồng Duyên Hà (Liêu Ninh), Ninh Đức (Phúc Kiến), tổng công suất 14,70 triệu kW, chiếm 1,19% tổng công suất máy phát điện toàn quốc. Sản lượng điện hạt nhân năm 2013 chiếm 2,11% sản lượng điện cả nước.  Từ ngày bắt đầu vận hành nhà máy điện hạt nhân  đều bảo đảm an toàn tốt, chưa xảy ra sự cố bức xạ quá lượng quy định, mức độ bức xạ xung quanh nhà máy đều giữ ở trong phạm vi thiên nhiên.    Hai kỹ thuật viên cùng vận hành và ghi chép tại phòng điều khiển nhà máy điện hạt nhân Hồng Duyên Hà (Liêu Ninh).  Các chỉ tiêu vận hành của nhà máy điện hạt nhân  đạt mức tiên tiến thế giới, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đều tốt, việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân N được chính quyền và dân chúng địa phương xung quanh thông cảm và ủng hộ.  Các nhà máy điện hạt nhân  đang xây dựng    Cho tới nay đang xây dựng 31 tổ máy điện hạt nhân với tổng công suất 33,85 triệu kW, chiếm gần 50% tổng công suất điện hạt nhân đang xây dựng trên toàn cầu.   Trình độ xây dựng, quản lý và công nghệ điện hạt nhân của Trung Quốc đạt mức tiên tiến của thế giới. Việc xây dựng bảo đảm được an toàn, kiểm soát được chất lượng. Trừ các hạng mục phải nhờ bên ngoài làm, về cơ bản công trình điện hạt nhân thực hiện đúng thời hạn dự định.  Phân tích Quy hoạch phát triển điện hạt nhân Trung Quốc  – Quy hoạch 2005-2020: đang vận hành 40 triệu kW, đang xây dựng 18 triệu kW.  – Quy hoạch 2012-2020: đang vận hành 58 triệu kW, đang xây dựng 30 triệu kW.  Đến năm 2020 đã có 48 triệu kW đang vận hành, thiếu 10 triệu kW.  Thời gian 2014-2015 cần xây dựng ít nhất 10 triệu kW (1 triệu kW cần xây dựng khoảng 10 tổ máy). Thời gian 2016-2020, cần xây dựng 30 triệu kW, tức 30 tổ máy, mỗi năm khoảng 6 tổ máy.  Như vậy nghĩa là thời gian 2014-2020 mỗi năm cần xây dựng 5-6 tổ máy, không kể các dự án quốc tế.  Tình hình phát triển điện hạt nhân Trung Quốc hiện nay  Các dự án điện hạt nhân mới xây dựng phải phù hợp tiêu chuẩn an toàn công nghệ điện hạt nhân thế hệ III, có năng lực nhất định trong việc ngăn ngừa và giảm bớt sự cố nghiêm trọng.  Trừ hai dự án đang xây dựng ra, các dự án điện hạt nhân ở sâu trong lục địa như Tam Môn đợt hai, Hải Dương đợt hai, Lục Phong (Quảng Đông), Từ Đại Bảo (Liêu Ninh), Đào Hoa Giang (Hồ Nam) đều dùng công nghệ AP1000, công nghệ này có triển vọng trở thành chủ lực trong phát triển điện hạt nhân Trung Quốc sau này.  Việc xây dựng các dự án AP1000 mới phụ thuộc vào tình hình tiến triển hai dự án Tam Môn, Hải Dương, cũng phụ thuộc vào sự nội địa hóa và tính kinh tế.  Trong một thời kỳ nhất định, công nghệ thế hệ III do Trung Quốc tự làm ra sẽ có không gian phát triển nhất định.  Tương lai của ngành điện hạt nhân Trung Quốc  Việc phát triển điện hạt nhân với quy mô vững chắc đã trở thành điều tất yếu khi xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. Xét về nhiều phương diện, điện hạt nhân có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các loại năng lượng tái tạo. Có thể nhận thấy rõ điều đó thông qua hai vấn đề sau.   1. Chi phí về năng lượng liên tục tăng, khó bảo đảm an toàn năng lượng.  Trung Quốc đang ở vào giai đoạn phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa, nhu cầu năng lượng vẫn tiếp tục tăng. Thời kỳ 2006-2020, GDP hàng năm tăng hơn 6%, cần 9000 tỷ kWh, nếu không phát triển điện hạt nhân mà dựa vào các nguồn năng lượng sạch khác thì không đáp ứng nhu cầu.  Vấn đề an toàn năng lượng: năm 2013, mức độ phụ thuộc dầu mỏ nước ngoài lên tới 60%, vấn đề an toàn trong vận tải xuyên biên giới, trong khi nhiên liệu hạt nhân dễ vận chuyển và tồn trữ. Điện hạt nhân và các nguồn năng lượng sạch khác phải bổ sung lẫn nhau, thiếu cái nào cũng không được.  2. Nguồn năng lượng của Trung Quốc tất phải chuyển sang loại cacbon thấp.  Môi trường ngày càng bị ô nhiễm nặng. Thường xuyên xuất hiện ô nhiễm sương mù, nước, đất trên phạm vi lớn, trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội và ổn định của Trung Quốc.  Trung Quốc chịu sức ép ngày càng lớn về biến đổi khí hậu toàn cầu và giảm khí thải. Hiện nay tăng trưởng lượng khí thải cacbon của Trung Quốc chiếm hơn một nửa toàn cầu, mục tiêu là sau khi đạt đỉnh điểm 2015-2025 sẽ phải bắt đầu hạ xuống. Vì các quốc gia phát triển không được “hoàn toàn miễn trừ” về lượng khí thải nên Trung Quốc phải thực hiện cam kết: năm 2020, lượng khí thải CO2 là 9,9 tỷ tấn, tương đương với lượng thải của Mỹ và EU cộng lại, hơn nữa con số này còn đang tăng lên, năm 2030 sẽ đạt đỉnh điểm sau đó từng bước giảm lượng thải cacbon. Trung Quốc sẽ phải chịu sức ép đòi giảm lượng khí thải cacbon từ các nước phát triển và đang phát triển.   Hải Hoành tổng hợp   Nguồn:http://wenku.baidu.com/link?url=mbn0OnB9YomC8LMh7__j7u7Hc4f1VRVH_8VnKF90FF7SH99OoIFH0AHQ3FaQ-TmFpLyVc0x9K7z4PBs3qOALjjd2HqqF65SzFduXs1tyXq       中国核电发展现状 最终版       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò bắt buộc của chính phủ      Khủng hoảng tâm lý là một trong những bệnh phổ biến nhất ở Anh và mặc dù càng ngày có nhiều tổ chức dân sự của Anh tham gia vào việc tư vấn tâm lý học đường nhưng vẫn cần một chiến lược xuyên suốt, rõ ràng và đầu tư đều đặn của chính phủ.                                            Một bức tranh của các bé vẽ về dự án Place2B     Đầu năm nay, Natasha Devon, một nhà báo và nhà vận động xã hội về tâm lý học đường trong suốt 10 năm, được Bộ Giáo dục nước Anh vinh danh là đại sứ tâm lý học đường đầu tiên của nước này. Nhưng chưa đầy nửa năm, cô bị cách chức vì chỉ trích công khai hệ thống giáo dục nặng về thi cử của Anh đã gây áp lực lên trẻ em và việc chính phủ cắt giảm viện trợ cho CAMHS (Chương trình hỗ trợ trẻ em và thanh niên về vấn đề tâm lý). Câu chuyện này ngay lập tức đã trở thành tâm điểm của báo chí Anh vì họ thấy chính phủ đang ngập ngừng trước vấn đề tâm lý học đường ngày một báo động.  Các chuyên gia tâm lý học đường của Anh cho rằng khủng hoảng tâm lý ở trẻ em đang bùng phát ở nước này, tới mức việc một đứa trẻ chín tuổi tự cắt tay đã trở thành “chuyện bình thường”. Theo thống kê của YoungMinds (tổ chức từ thiện chuyên vận động trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần của trẻ em), trung bình ở Anh, mỗi lớp học có ba trẻ em được chẩn đoán mắc các chứng bệnh về tâm lý. Cứ 10 học sinh thì có một em bị rối loạn ăn uống trước 25 tuổi. Trong ba năm qua, số ca nhập viện vì tự ngược đãi bản thân và rối loạn ăn uống đã tăng lên gấp ba lần và ở một vài vùng tại Anh, tỉ lệ trầm cảm, bất ổn về tâm lý, tự ngược đãi bản thân và rối loạn ăn uống ở tuổi niên thiếu đã tăng lên sáu lần. Trong những năm 1960, độ tuổi trung bình của người bị trầm cảm ở Anh là 45 thì hiện giờ con số đó là 14. Áp lực điểm số và thi cử là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến khủng hoảng tâm lý ở trẻ em, bên cạnh đó là các nguyên nhân như nghèo đói, ít thời gian trò chuyện với gia đình và tác động của mạng xã hội. “Những gì trẻ em tiếp xúc khi còn quá nhỏ, khi chưa có khả năng phản biện để giải mã những gì các em nhìn thấy, thực sự khủng khiếp [đối với các em]” – Natasha Devon trả lời phỏng vấn tờ The Guardian.  Chính phủ và xã hội Anh cũng nhận thức được điều này. Một bài viết trên tờ The Telegraph của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Giám đốc dự án Place2Be (một dự án tư vấn tâm lý học đường di động) cho biết chính phủ và khối tư nhân của Anh đang bắt tay hỗ trợ các trường học trong việc tư vấn tâm lý cho trẻ em. Bộ Giáo dục nước này đã công bố Sổ tay về ứng xử giúp các giáo viên có thể phân biệt được sự khác biệt giữa những cư xử sai và những cư xử nảy sinh từ những vấn đề về tâm lý, để họ không vội vàng quy kết các em là những học sinh cá biệt mà đưa ra những tư vấn, hỗ trợ kịp thời. Hiệp hội giáo dục về cá nhân, xã hội, sức khỏe và kinh tế (PSHE) tư vấn cho các trường học trên cả nước trong việc giảng dạy học sinh về sức khỏe tâm thần. Bên cạnh đó là một loạt các tổ chức nghiên cứu và vận động thay đổi nhận thức xã hội về vấn đề này.  Ngoài các chương trình giáo dục và vận động như trên, còn có hai chương trình cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí. Hiện nay, chương trình đáng chú ý nhất xuất phát từ tư nhân ở Anh là Place2Be, họ cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý tại trường cho 90.000 trẻ em ở 230 trường tiểu học và trung học cơ sở tại Anh, Scotland và Xứ Wales. Theo đó, nếu ban giám hiệu tại các trường thấy học sinh của mình gặp vấn đề về tâm lý, họ có thể gọi tới và tìm kiếm sự trợ giúp từ tổ chức này. Tùy từng trường hợp, đội ngũ Place2Be sẽ đưa ra những chỉ dẫn đơn giản cho giáo viên và phụ huynh qua điện thoại hoặc tới trường và thực hiện các buổi trị liệu một kèm một với học sinh. Chính phủ Anh cũng có một chương trình khác tương tự – CAMHS (Dịch vụ tư vấn các vấn đề tâm thần cho trẻ em và vị thành viên) trên toàn quốc và dịch vụ ở đâu thì được tài trợ bởi ngân sách của khu vực đó. Cá nhân học sinh hoặc phụ huynh có thể đặt lịch hẹn để được tư vấn từ các bác sĩ tâm lý lâm sàng.  Tuy nhiên những điều trên vẫn không đủ vì các chương trình hỗ trợ chủ yếu vẫn đến từ các tổ chức dân sự. Joan Cunningham, Hiệu trưởng một trường tiểu học ở phía Tây nước Anh trả lời tờ The Guardian rằng tất cả mọi sự giúp đỡ đều đáng quý nhưng cô nhấn mạnh: “Sẽ chẳng có gì hiệu quả đối với các trường học và trẻ em nếu không có một chương trình rõ ràng, xuyên suốt và được hỗ trợ kinh phí dài hạn”. Các chương trình tư nhân dĩ nhiên không thể đáp ứng điều trên bởi nhân lực và vật lực của họ rất giới hạn (chẳng hạn con số mà Place2Be hỗ trợ chỉ chiếm chưa đầy 1%  số lượng các trường tiểu học và trung học ở Anh). Hơn nữa, đa số các chương trình này chỉ tập trung vào việc thay đổi nhận thức của giáo viên và cung cấp cho các thầy cô những kỹ năng sơ đẳng để hỗ trợ bước đầu cho các em học sinh. Nếu không có cán bộ tư vấn tâm lý thường trực tại trường, gánh nặng sẽ đè lên vai giáo viên, những người vốn đã quá bận bịu với sáu tiếng trên lớp và thậm chí cũng bị khủng hoảng tâm lý vì áp lực xã hội (khi phải là chuẩn mực cho các em) và những đợt kiểm tra kĩ năng liên tục. Ngoài ra, mặc dù đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện những vấn đề của học sinh nhưng họ không được đào tạo về chuyên môn trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần nên không thể thay thế được vị trí của các bác sĩ.  CAMHS được chính phủ lập ra để giảm bớt gánh nặng cho các trường học nhưng bị chỉ trích nặng nề bởi mới giải quyết được vấn đề cho thiểu số ít ỏi. Chương trình này chỉ cung cấp dịch vụ cho những học sinh gặp những vấn đề “nghiêm trọng” về tâm lý. Vì vậy, rất nhiều học sinh đặt lịch hẹn bị từ chối vì vấn đề các em mắc phải chưa đủ nghiêm trọng. Hơn nữa, ngày càng nhiều học sinh gặp vấn đề về tâm lý, nên các trung tâm của chương trình này cũng bị quá tải, danh sách chờ đợi tư vấn ngày càng dài và có em chờ hàng tháng trời mới đến lượt. Điều gây phản đối dữ dội nhất đó là trong ba năm qua, có hơn 2/3 địa phương giảm ngân sách cho CAMHS với tổng số tiền bị cắt giảm là 85 triệu bảng Anh và riêng năm 2016 là 35 triệu bảng Anh.   Cựu thủ tướng Anh David Cameron là Thủ tướng đầu tiên trong lịch sử nước này nhắc đến sức khỏe tâm thần trong bài phát biểu trước công chúng và hứa rằng sẽ cấp 1 tỷ bảng Anh từ ngân sách để nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn tâm lý của Anh. Nhưng ngay lập tức, ông bị phê phán vì số tiền đó quá nhỏ để giải quyết một trong những vấn đề y tế lớn nhất nước này. Tờ The Independent cho rằng ít nhất số tiền đó phải gấp 10 lần như vậy.  Mặc dù đã nhận thức được vấn đề nhưng tại sao Chính phủ Anh vẫn ngập ngừng? Có lẽ vì vẫn tồn tại quan niệm cố hữu trong xã hội cho rằng căng thẳng là một phần của cuộc sống và dù thế nào, một cá nhân phải học cách tự giải quyết điều đó. Natasha Devon cho rằng, quan niệm như vậy thực sự là rào cản lớn nhất trong việc đưa chương trình tư vấn tâm lý vào các trường học: “Mọi người cứ nói về việc phải nâng cao sức chịu đựng ở trẻ em vì cuộc sống đầy những khó khăn, gian khổ. Có thể, một chút căng thẳng trong cuộc đời là cần thiết nhưng không thể liên tục dùng nó như một cái cớ để đặt ngày càng nhiều áp lực lên trẻ em được”.      Hảo Linh tổng hợp    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Vai trò cá nhân lỗi lạc trong khoa học*      Tại cuộc gặp mặt hôm nay, trong bài phát biểu của mình, tôi sẽ không nói về Rutherford với tư cách một nhà khoa học và một người thầy, tôi muốn thông qua hoạt động của ông đề cập đến một trong những vấn đề phổ cập nhất – vai trò của cá nhân nhà khoa học lớn trong sự phát triển của khoa học.    Tôi đã từng nghe rất nhiều nhà hoạt động xã hội cho rằng chỉ cần các viện nghiên cứu được tổ chức tốt thì khoa học sẽ phát triển. Điều đó không sai, nhưng theo tôi để có những thành tựu lớn, các viện nghiên cứu có thể thành công mà không cần đến những nhà lãnh đạo lớn và các nhà khoa học hàng đầu. Giống như trong lĩnh vực quân sự, không có các thống soái tài giỏi thì không thể chiến thắng.  Như đã biết, sự phát triển của khoa học là ở việc tìm ra các hiện tượng mới của tự nhiên và tìm ra các qui luật chi phối các hiện tượng đó. Việc tạo ra được cái gì đó mới chưa tồn tại trước đó thuộc hoạt động sáng tạo của con người và nếu như chúng ta định lượng được khả năng sáng tạo của con người thì chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết được bài toán quan trọng về tổ chức khoa học, tức là xác định trước được khả năng giải quyết các vấn đề khoa học của đội ngũ cán bộ được chọn. Đáng tiếc là đến nay chúng ta vẫn chưa làm được điều đó. Kinh nghiệm thực tế chỉ ra rằng thành công của viện khoa học phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực sáng tạo của tập thể được chọn. Theo các nhà toán học, sự phụ thuộc của hiệu quả hoạt động khoa học vào khả năng sáng tạo tuân theo qui luật của hàm mũ, trong đó khả năng sáng tạo của tập thể khoa học là số mũ của hàm mũ đó. Do đó chỉ cần giảm một ít giá trị số mũ thì kết quả hoạt động sáng tạo của tập thể sẻ giảm rất mạnh. Ngược lại, sự xuất hiện thậm chí một nhà khoa học lớn sẽ lập tức tăng mạnh mẽ hiệu quả hoạt động của cả tập thể khoa học. Thật vậy, lịch sử khoa học cho thấy một trường phái khoa học được chọn đúng sẽ đẩy khoa học về phía trước như thế nào. Ví dụ điển hình là trường phái của Rutherford tại phòng thí nghiệm Cavendish.  Khi xem xét hiệu quả hoạt động của cơ quan khoa học, không được bỏ qua một yếu tố quan trọng cần cho hoạt động sáng tạo trong khoa học cũng như trong nghệ thuật, đó là sự trân trọng của xã hội đối với các thành tựu sáng tạo. Trước những thành tựu đặc biệt cao trong hoạt động nghệ thuật ở Italia thời kì Phục hưng, một câu hỏi đặt ra trước các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật: tại sao trong một đất nước nhỏ như Italia, trong một thời gian tương đối ngắn, lại xuất hiện một đội ngũ lỗi lạc như Rafael, Titian, Michelangelo, Da Vinci và những người khác? Suốt những năm thế kỷ sau đó một đội ngũ thiên tài như thế đã không xuất hiện. Có phải đó là một sự may mắn ngẫu nhiên. Tôi nghĩ, Telne trong công trình tuyệt vời của mình “Triết học nghệ thuật” đã giải thích nguyên nhân của sự ra đời một đội ngũ thiên tài như thế chính là do ở nước Italia phồn vinh về kinh tế khi đó đã xuất hiện một xã hội biết đánh giá cao nghệ thuật, hiểu đúng nó và ủng hộ những tài năng lớn nhất.  Tương tự, một đội ngũ các nhà vật lí kiệt xuất như Maxwell, Rayleigh, Thomson, Rutherford, những người đã lần lượt lãnh đạo phòng thí nghiệm Cavendish của Đại học Cambridge, sẽ không thể xuất hiện nếu ở Anh khi đó không tồn tại một xã hội biết đánh giá đúng và ủng hộ hoạt động của các nhà khoa học.  Kinh nghiệm lịch sử cho thấy số những người có đủ khả năng sáng tạo để tạo ra ảnh hưởng rõ rệt lên sự phát triển của khoa học và nghệ thuật là rất ít. Điều này được thể hiện qua tỉ lệ các công trình khoa học được công bố với số lượng các công trình có ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, hay trong một số lượng lớn những bức tranh của các họa sĩ, rất ít những bức tranh có thể coi là có giá trị cao về nghệ thuật. Chính Karl Marx đã giải thích giá cả cực kì cao của các kiệt tác nghệ thuật là vì trong giá cả của chúng có chứa cả chi phí cho toàn bộ số lượng lớn các bức tranh tranh không có giá trị nghệ thuật. Sự chọn lọc rất khắt khe như thế cũng xảy ra trong văn học và âm nhạc. Nhưng rõ ràng để khoa học và nghệ thuật phát triển cần có một số lượng lớn các công trình khoa học và tác phẩm nghệ thuật để từ đó có thể chọn ra một phần nhỏ, phần nhỏ này thúc đẩy khoa học và phát triển nghệ thuật. Để thực hiện việc chọn lọc như vậy thì cần tồn tại một xã hội hội lành mạnh biết nhìn nhận đánh giá đúng các công trình tác phẩm xuất sắc nhất.  Do đó việc tổ chức khoa học không chỉ cần đảm bảo những điều kiện tốt cho nghiên cứu khoa học, mà còn cần tạo ra được những điều kiện cho việc đánh giá đúng những kết quả nghiên cứu, biết cách lựa chọn những người tài. Và điều này chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của những nhà khoa học lớn và các nhà tổ chức khoa học lớn, ví như Rutherford.  Trong tổ chức khoa học khó nhất và quan trọng nhất chính là chọn được những thanh niên có thiên phú sáng tạo và tạo ra những điều kiện để tài năng của họ được phát triển đầy đủ ngay khi họ chỉ mới bắt đầu công việc. Sai lầm chính thường gặp là người ta hay nhầm lẫn khả năng nhận thức và sự hiểu biết rộng là những phẩm chất của sáng tạo. Trong tiểu sử của Rutherford có một sự kiện rất đáng chú ý. Khi ông còn là nhà khoa học khởi đầu ở New Zealand, người ta đang tiến hành tuyển chọn từ những người tốt nghiệp đại học để tìm ra người có năng khiếu nhất, nhằm trao học bổng cho anh ta tiếp tục công việc khoa học tại Đại học Cambridge. Tôi không nhớ ai được chọn là ứng cử viên số một, nhưng Rutherford là ứng cử viên số hai. Tình cờ nhờ người thứ nhất không đến nhận việc nên Rutherford mới trúng tuyển. Trong lịch sử khoa học, những sai lầm như thế không hề ít và nguyên nhân ở chỗ người ta không biết đánh giá phẩm chất sáng tạo của nhà khoa học trẻ, và đánh giá quá cao khả năng học thuộc tư liệu.  Nghiên cứu những công trình đầu tiên của những nhà khoa học lớn như Rutherford sẽ rất thú vị. Những công trình này giờ đây đã bị lãng quên vì các phương pháp được sử dụng trong đó đã cũ và những kết quả định lượng ngày nay chính xác hơn nhiều. Nhưng qua nghiên cứu các công trình đó cho thấy trí tưởng tượng và sự dũng cảm trong việc xây dựng các giả thuyêt khoa học, cảm nhận trực quan là yếu tố chủ yếu quyết định thành công khoa học sau này của ông.  Kinh nghiệm sống của tôi chỉ ra rằng tài năng chính của nhà lãnh đạo của viện nghiên cứu chính là khả năng đánh giá năng lực sáng tạo của các nhà khoa học trẻ. Thiếu năng lực này nhà khoa học sẽ không thể xây dựng cho mình tập thể khoa học mạnh. Và một trong những yếu tố giúp nhà quản lý khoa học phát hiện đúng tài năng nhà khoa học trẻ là qua nghiên cứu công trình gốc của các nhà bác học kinh điển vĩ đại. Hiển nhiên Rutherford đã là một trong những nhà tổ chức khoa học tài năng nhất và tài năng chính của ông là ở chỗ ông biết tuyển chọn những nhà khoa học trẻ theo khả năng sáng tạo của họ. Ông cũng rất biết đánh giá đặc điểm tài năng của nhà khoa học, một điều hết sức quan trọng để giúp anh ta phát triển năng lực sáng tạo.  Trở lại với câu hỏi được đặt ra ban đầu về vai trò của cá nhân trong phát triển khoa học. Mặc dù con đường của khoa học đã được định trước, nhưng việc khoa học tiến bước theo con đường đã định chỉ được đảm bảo bởi công trình của một số lượng nhỏ các nhà khoa học đặc biệt tài giỏi. Chất lượng tuyển chọn những nhà khoa học có thiên phú sáng tạo và tạo ra các điều kiện để phát triển tài năng là yếu tố cơ bản đảm bảo cho khoa học phát triển ở trình độ cao. Nhà nước các tổ chức xã hội, không chỉ đánh giá đúng những thành tựu của nhà khoa học, mà còn cho họ cảm nhận được rằng hoạt động của họ cần và có ích cho nhân loại. Những người như Rutherford không chỉ là niềm tự hào của quốc gia, nơi nhà khoa học sinh ra và lớn lên, họ trở thành niềm tự hào của cả nhân loại.  Trần Đức Lịch   lược dịch từ cuốn     ЭКСПЕРИМЕНТ,ТЕОРИЯ ПРАКТИКА  —–  * Phát biểu của  Pyotr Kapitsa  (1894 – 1984), nhà vật lí Xô viết, giải Nobel 1978, tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh (1971) của Ernest Rutherford – cha đẻ của vật lý nguyên tử    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò các bên và lời khuyên cho người tiêu dùng      Tiếp theo kỳ trước về quá nhiều thông tin không chính xác về dinh dưỡng, kỳ này tác giả khuyến nghị về vai trò của các bên liên quan trong việc nâng cao sức ảnh hưởng của những nguồn thông tin dinh dưỡng đã được xác định và thẩm định, đồng thời đưa ra một số lời khuyên hữu ích cho người tiêu dùng.      Người tiêu dùng và nhà sản xuất   Người tiêu dùng chính là đối tượng đóng vai trò quan trọng nhất trong việc lựa chọn thông tin dinh dưỡng. Trên các diễn đàn chúng ta thấy không ít ông bố bà mẹ hoảng loạn tìm lời khuyên sau khi cho con ăn uống sai lầm và gặp vấn đề về dinh dưỡng. Những điều đó phần lớn đều có thể phòng tránh nếu chúng ta có ý thức trang bị cho mình một số hiểu biết căn bản về dinh dưỡng qua nhiều kênh khác nhau: các thành phần căn bản của thực phẩm, cách đọc nhãn dinh dưỡng, nhu cầu của từng độ tuổi, cách chế biến để giữ nguyên thành phần dinh dưỡng…   Chúng ta cũng nên suy nghĩ kĩ càng hơn khi tiếp nhận thông tin mới về dinh dưỡng để tránh đưa ra kết luận vội vã có thể gây hại cho sức khoẻ của cả gia đình. Nhất là hãy cẩn trọng khi áp dụng những chia sẻ kinh nghiệm của người xung quanh vào bản thân. Những kinh nghiệm đó phần nhiều là chưa được kiểm chứng khoa học hoặc có thể không hiệu quả trong trường hợp của chính bạn.        Thông tin dinh dưỡng nên ngắn gọn  nhưng phải giữ được những yếu tố: có kết luận đầy đủ không cắt xén; nêu  kèm theo bối cảnh của thông tin để người tiếp nhận có điều kiện cân nhắc  về việc áp dụng; thông tin được thẩm định về độ xác thực bởi cơ quan có  thẩm quyền hoặc người có chuyên môn về dinh dưỡng; thông tin nên đi  cùng đề xuất giải pháp nếu có thể.           Về phía nhà sản xuất, họ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin dinh dưỡng, nguồn gốc các thành phần giúp sản phẩm được sử dụng hiệu quả hơn. Thêm vào đó việc nhà sản xuất nỗ lực đảm bảo chất lượng sản phẩm để giữ uy tín, sự tin cậy của khách hàng cũng có vai trò hết sức quan trọng, bởi thương hiệu của doanh nghiệp cũng là một thông tin không thể thiếu trong quá trình người tiêu dùng cân nhắc lựa chọn các sản phẩm về thực phẩm và dinh dưỡng.  Vai trò của chuyên gia dinh dưỡng  Để đóng góp cho quá trình đưa thông tin dinh dưỡng chính xác hơn đến người tiêu dùng, các chuyên gia dinh dưỡng nên tham gia làm rõ sự thật về những luồng thông tin trái chiều, lên án những nguồn tin sai lệch hay vụ lợi. Tuy nhiên họ cũng cần tránh “hội chứng nghề nghiệp” là lên án tất cả những nguồn thông tin mới không do chính bản thân hoặc nơi mình làm việc đưa ra. Họ cần đảm bảo một thái độ thận trọng, tránh đưa ra ý kiến quá vội vã về một vấn đề ngoài tầm hiểu biết/cập nhật của mình, và không ngại nêu ra những điểm còn hạn chế/nghi ngờ của cuộc nghiên cứu để giúp công chúng và người tiêu dùng có cái nhìn nhiều chiều trước khi đưa ra quyết định của mình.  Các chuyên gia cũng cần giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn bản chất của những nguyên tắc dinh dưỡng khó hiểu bằng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, và tự áp dụng vào đời sống hằng ngày. Sự tham gia của các chuyên gia có thể qua nhiều hình thức: qua các diễn đàn về dinh dưỡng hay viết bài, xuất bản sách cho người tiêu dùng. Họ nên tham gia vào những hội đồng thẩm định sản phẩm để tránh nguồn độc hại cho người tiêu dùng. Tuy nhiên điều này cũng yêu cầu bản lĩnh chuyên môn và tâm lý vững vàng để có thể tránh xung đột giữa uy tín chuyên môn và lợi ích kinh tế.  Chính quyền và truyền thông  Chính quyền đóng vai trò quyết định trong việc điều phối, ban hành và thẩm định các thông tin dinh dưỡng, phát động các chương trình giáo dục diện rộng về dinh dưỡng, thu hút được nhiều nguồn đầu tư và sự tham gia của các tổ chức, người có khả năng. Các cơ quan sức khoẻ cộng đồng qua việc ban hành những thông tin rõ ràng, chính xác về dinh dưỡng (ví dụ như Khuyến nghị dinh dưỡng cho người Việt, tháp Dinh dưỡng…) sẽ trở thành một bộ lọc để người tiêu dùng có thể dựa vào đó loại bỏ những thông tin sai lệch.   Mặt khác, việc ban hành những quy định rõ ràng đầy đủ về sản phẩm thực phẩm kèm chế tài xử phạt rõ ràng nghiêm minh cũng khiến các nhà sản xuất phải tuân thủ yêu cầu cung cấp thông tin đến người tiêu dùng (ghi rõ thông tin dinh dưỡng trên nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ…)  Về phía các cơ quan, tổ chức truyền thông, họ chính là cầu nối trực tiếp của khoa học và người tiêu dùng. Người làm báo có ưu điểm là biết cách làm cho những thông tin quá hàn lâm trở nên hấp dẫn, súc tích và dễ hiểu, dễ ứng dụng hơn. Họ cũng là người có mối quan hệ rộng rãi với nhiều chuyên gia dinh dưỡng, cơ quan có thẩm quyền nên sở hữu nguồn thông tin đồ sộ, cập nhật mỗi ngày. Họ còn có thể tư vấn cho những chuyên gia – những người quen với ngôn ngữ khoa học – cách đưa thông tin sao cho dễ tiếp nhận hơn. Tuy nhiên có không ít người trong ngành truyền thông hiện nay thường đưa thông tin giả, thông tin lệch lạc dưới lốt tuyên bố khoa học để câu khách.   Vì vậy, những người làm truyền thông không chỉ cần có ý thức trau dồi thường xuyên hiểu biết chuyên môn về dinh dưỡng để hiểu đúng trước khi truyền đạt, mà còn cần có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp để tìm ra được sự cân bằng giữa việc đưa thông tin đúng, đủ mà vẫn hấp dẫn, thu hút xã hội và đạt được những mục tiêu nghề nghiệp.    Lời khuyên cho người tiêu dùng thông thái  Trong thời đại thông tin ngày nay, điều khó khăn là hằng ngày chúng ta đang chìm ngập trong một biển thông tin về dinh dưỡng từ các đài phát thanh, truyền hình, các buổi nói chuyện hoặc tin tức, tạp chí, Internet hay một loạt các cuốn sách hướng dẫn dinh dưỡng. Vậy làm thế nào để biết những thông tin dinh dưỡng có đúng hay không? Một vài câu hỏi sau đây có thể giúp bạn phần nào tự đưa ra được nhận định của mình.    Cách xác định thông tin khoa học chuẩn  Người cung cấp thông tin về dinh dưỡng có đáng tin cậy không?  Với những kênh chủ yếu nghe nhìn như ti vi, đài radio, cần lưu ý rằng những phóng viên thường bị áp lực bởi thời gian cho một đoạn tin, thêm vào đó họ lại phải tìm cách đưa tin thu hút nhiều người nhất. Ngoài ra, do một số phóng viên không hoàn toàn có kiến thức đầy đủ về dinh dưỡng và nội dung thông tin họ cung cấp thường không được kiểm tra lại bởi các chuyên gia dinh dưỡng nên nhiều khi dẫn tới tình trạng thông tin được truyền thông bị đơn giản hoá quá mức, bị cắt xén bớt kết quả nghiên cứu hoặc đưa thêm một số yếu tố giật gân không tồn tại trong nguyên bản. Điều này có thể khiến chúng ta nhận thức vấn đề sai hoàn toàn.   Để hạn chế điều ấy, hãy kiểm chứng xem những nguồn thông tin có được thẩm định hay kiểm tra bởi các cơ quan có thẩm quyền về dinh dưỡng, thực phẩm, cơ quan chính phủ (.gov) hoặc truyền thông hay không. Ở Việt Nam chúng ta có thể tham khảo một số trang thông tin của:   Viện Dinh Dưỡng quốc gia: viendinhduong.vn;   Bệnh viện K trung ương: benhvienk.vn;   Báo Sức khỏe và đời sống: suckhoedoisong.vn;   Tạp chí Y dược : tapchiyduoc.com;   Tạp chí Thực phẩm chức năng : healthplus.vn  Nghiên cứu khoa học đã được thực hiện một cách toàn diện chưa?  Đôi khi chúng ta vẫn nhận được thông tin từ các nhà nghiên cứu đáng tin cậy, có uy tín khẳng định rằng việc bạn đang thường xuyên thực hiện lại có hại cho sức khỏe của bạn. Như việc uống cà phê làm tăng nhịp tim, hoặc các loại thực phẩm nhiều chất béo tăng nguy cơ bệnh ung thư. Phản ứng khá phổ biến là bạn sẽ bỏ qua ngay lập tức những loại thực phẩm, đồ uống này hoặc sắp xếp lại lịch sinh hoạt hằng ngày để phòng tránh những loại thực phẩm, nước uống, phụ gia “không được dùng tiếp” hay “từ nay trở nên nguy hiểm”.   Tuy nhiên, việc ngay lập tức tin tưởng vào kết luận nghiên cứu của chuyên gia như vậy cũng không phải khi nào cũng là điều đúng đắn. Bạn có thể tìm hiểu kỹ hơn xem liệu những nghiên cứu được công bố đó đã được kiểm chứng trên người, hay chỉ mới được thực hiện trên động vật (bởi các loài khác nhau có phản ứng khác nhau với các hóa chất và bệnh tật khác nhau) và nếu nghiên cứu đã được thực hiện trên người thì liệu mẫu nghiên cứu có đảm bảo về số lượng (thông thường nghiên cứu lâm sàng cần được thực hiện trên hàng nghìn đối tượng) và tính đa dạng của các cá thể.   Những kết quả nghiên cứu trong đó có nhiều cụm từ “có thể”, “đôi khi”, “có khả năng” thường thiếu những bằng chứng xác đáng. Các nghiên cứu phải đặt trong mối liên hệ với các nghiên cứu khác cùng một vấn đề. Chúng ta chỉ có thể khẳng định chắc chắn khi đã có đầy đủ các nghiên cứu thuần tập theo thời gian, nghiên cứu lâm sàng bệnh chứng ngẫu nhiên, nghiên cứu phân tích tổng hợp dữ liệu và cả nghiên cứu về cơ chế tác động.    Các yếu tố ảnh hưởng Ung thư gan với phân tích dựa trên các bằng chứng khoa học  Ví dụ:  – Uống rượu có thể coi là một nguyên nhân thuyết phục gây ra ung thư gan với rất nhiều kết quả nghiên cứu: nghiên cứu thuần tập-21, nghiên cứu bệnh chứng-9, nghiên cứu phân tích tổng hợp dữ liệu liều lượng-kết quả về tỷ lệ bệnh-8, nghiên cứu riêng ở nam–8, ở nữ-4 và 11 nghiên cứu phân tích thống kê trên người châu Á, cùng các bằng chứng hợp lý về cơ chế hoạt động);   – Uống cà phê có thể làm giảm nguy cơ ung thư gan (nghiên cứu thuần tập-7, nghiên cứu bệnh chứng-4, nghiên cứu phân tích dữ liệu liều lượng-kết quả ở nam-3, ở nữ-3, chưa có bằng chứng xác thực về cơ chế hoạt động hay loại chất nào trong cà phê có tác dụng chống ung thư);   – Bằng chứng ăn cá làm giảm khả năng ung thư gan còn hạn chế (mới có 6 nghiên cứu thuần tập, 4 nghiên cứu phân tích dữ liệu nhưng không đồng nhất, và chưa có nghiên cứu về cơ chế);   – Không có kết luận về ảnh hưởng của trà xanh với ung thư gan (8 nghiên cứu thuần tập nhưng kết quả không đồng nhất về tác dụng, nghiên cứu phân tích dữ liệu liều lượng-tác dụng không thấy mối liên hệ trên 2 nghiên cứu ở Trung Quốc và 1 nghiên cứu ở Nhật).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vai trò của cơ học tính toán      Cơ học tính toán, toán học tính toán, vật lý tính toán, hóa học tính toán…, được xem là một trong những nền tảng cốt yếu cấu thành và tạo động lực cho cuộc cách mạng 4.0.  Cơ học tính toán là điểm giao thoa quan trọng giữa cơ học, kỹ thuật và phương pháp tính toán, trong đó, các hiện tượng vật lý và bài toán kỹ thuật tuân theo các định luật cơ học sẽ được mô phỏng và phỏng đoán dựa trên các thuật toán số và tính toán hiệu năng cao.      TS. Lê Hoài Châu đã thành lập doanh nghiệp chuyên về tính toán tối cưu kết cấu chịu lực.   Với những thành tựu của khoa học máy tính và tính toán dữ liệu lớn, hiện nay các bài toán kỹ thuật có kích cỡ từ kilômét đến nano-mét có thể được phân tích đầy đủ trên mô hình máy tính, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu của các nhà khoa học và kỹ sư trong việc phân tích và tìm các giải pháp thiết kế tối ưu. Do đó, thí nghiệm số là cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và lý thuyết thuần túy, cho phép chúng ta thử nghiệm nhiều mô hình và thông số khác nhau để phỏng đoán nghiệm của các bài toán phức từ đó chọn được mô hình và thông số phù hợp cho bài toán kỹ thuật thực tiễn. Từ những ưu điểm của thí nghiệm số được nêu, cơ học tính toán đã được phát triển và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khoa học và kỹ thuật mà trước đây được xem là thách thức, thậm chí không thể giải quyết nổi như tính toán mô phỏng nhà chọc trời lên đến hàng trăm tầng, một trận động đất…  Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật truyền thông như xây dựng, cơ khí, giao thông, hàng không… là những mảnh đất màu mỡ cho cơ học tính toán phát triển và đã thu được các thành quả quan trọng mà chúng ta đã chứng kiến. Chúng ta khó có thể thực hiện xây dựng các tòa nhà chọc trời, các cây cầu vượt nhịp hàng trăm mét, các đập thủy điện khổng lồ nếu chúng chưa được phân tích tính toán một cách tỉ mỉ. Với các phần mềm tính toán hiện nay, những công trình sẽ được mô hình hoá trên một chiếc máy tính cá nhân và cho phép các kỹ sư tính toán được các hiện tượng bất lợi nhất có thể xảy ra cho công trình và từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế đảm bảo tính an toàn đồng thời với chi phí xây dựng thấp nhất. Một chiếc máy bay hay ôtô, trước khi được chế tạo sản xuất chúng được mô phỏng toàn bộ kết cấu khung cũng như các chi tiết bên trong để tiến hành các thí nghiệm số như biến dạng khi chịu sự va đập, sự vận hành của từng chi tiết nhằm đưa ra các giải pháp thiết kế tối ưu dưới tác động của tải trọng cơ-nhiệt-điện. Thông qua việc mô phỏng khí động học, hình dáng của chúng cũng được qua thiết kế sao cho lực cản là nhỏ nhất. Khi chế tạo hoặc vận hành, nếu phát hiện được các khuyết tật như vết nứt, chúng ta cũng có thể mô phỏng tính toán được sự phát triển của vết nứt và thời hạn sử dụng của chúng.      Cơ học tính toán trên nền tảng sức mạnh của kỹ thuật số cũng đã phát triển thành công sang các lĩnh vực KH&CN mới như khoa học vật liệu, khoa học sức khỏe và kỹ thuật y sinh học. Với khả năng mô phỏng cấu trúc đến kích cỡ nano, cấu trúc vật liệu có thể được phân tích và thiết kế sao cho độ bền cơ học có thể đạt đến giới hạn cao nhất hoặc đáp ứng các yêu cầu khác trong ứng dụng thực tiễn. Hiện nay, chúng ta có thể ứng dụng các lý thuyết cơ học về tương tác rắn lỏng để mô phỏng quá trình di chuyển của các hạt thuốc trong mạch máu và hiểu biết sự thẩm thấu của chúng vào các tế bào, từ đó đề xuất ra nhiều phương pháp chữa trị hợp lý và hiệu quả. Sự co bóp và bơm máu của quả tim cũng được mô phỏng trên mô hình máy tính để hiểu rõ các ứng xử cơ học liên quan từ đó kết hợp với y học đưa ra những quy trình phẫu thuật hợp lý và hiệu quả giảm thiểu rủi ro trong quá trình giải phẫu.  Từ những thành tựu về cơ học tính toán trên, có thể nói khẳng định rằng KH&CN Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc nếu muốn hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với điều kiện Việt Nam hiện nay, phát triển ngành KH&CN tính toán và ứng dụng vào thực tiễn trong nước là hướng đi phù hợp cần được quan tâm ưu tiên. Nhận thức được vai trò và tiềm năng đóng góp vào sự phát triển KHCN chiến lược, thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Viện KH&CN tính toán tập hợp được nhiều nhà khoa học Việt kiều và trong nước, và đã có những thành quả ban đầu đưa KH&CN tính toán Việt Nam hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, Hội Cơ học tính toán Việt Nam cũng được thành lập và đã có nhiều hoạt động phát triển và ứng dụng các thành quả nghiên cứu để giải quyết các bài toán kỹ thuật thực tiễn như mô phỏng dòng chảy và tính toán ổn định mái dốc chống sạt lở do tác động của biến đổi khí hậu. Đội ngũ ngành Cơ học tính toán hiện nay đã phát triển rất mạnh mẽ từ các viện và trường đại học, đa số là các thành viên trẻ tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng nước ngoài trở về với năng lượng dồi dào, hứa hẹn sẽ góp phần không nhỏ vào sự phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước trong thời đại số này. Họ đã và đang thực hiện rất nhiều đề tài Nafosted ngành Cơ học liên quan đến Cơ học tính toán, trong đó nhiều chủ nhiệm đề tài đã công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí SCI Q1 hàng đầu trong lĩnh vực Cơ học tính toán. Ngoài ra, còn có một số thành viên đã triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu để giải quyết các bài toán về tối ưu hình dáng kết cấu, sản phẩm (đã thành lập doanh nghiệp, TS. Lê Hoài Châu: http://topshape.bm-rd.com/), giải pháp chống sạt lở do tác động của biến đổi khí hậu (PGS.TS. Nguyễn Xuân Hùng – ảnh).  Hội Cơ học tính toán đang phát triển mạnh mẽ từ lực lượng đến công bố quốc tế và triển khai ứng dụng. Trong năm năm gần đây, các hội viên đã công bố hơn 250 bài ISI, tổ chức thành công hai hội nghị quốc tế thu hút rất nhiều nhà khoa học quốc tế trong cùng lĩnh vực tham gia, xây dựng tốt mối hợp tác quốc tế và cùng phối hợp thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, đặc biệt hội nghị quốc tế lần thứ hai về “Những thành tựu tiên tiến trong Cơ học tính toán” được Hội Cơ học tính toán Việt Nam tổ chức tại Phú Quốc vào ngày 2 đến 4/8/2017 với hơn 140 báo cáo khoa học được trình bày bởi các nhà khoa học đến từ hơn 20 quốc gia và lãnh thổ, trong đó có nhiều nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực cơ học tính toán.  Có thể nói rằng Hội Cơ học tính toán là một trong những hội có khả năng hội nhập quốc tế mạnh mẽ nhất, nhiều thành viên trong hội có uy tín khoa học quốc tế cao. Với đội ngũ trẻ, tâm huyết và có nền tảng nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng tốt, Hội Cơ học tính toán hứa hẹn sẽ đóng góp công sức của mình vào sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước, là một trong những hội tiên phong hội nhập quốc tế.    Author                Lê Văn Cảnh        
__label__tiasang Vai trò của Nhân học đối với KHXH&NV hiện nay      Trong bối cảnh của Việt Nam, ở một giai đoạn  “tranh tối tranh sáng” giữa vật chất và tinh thần, giữa nghèo đói và  bệnh sĩ, giữa khoa học và sự mù quáng tâm linh, giữa một đám đông với  niềm tin bất định, nhân học dường như là một trong những hướng tiếp cận  khả dĩ nhất để nhận thức rõ hơn các vấn đề của xã hội và con người Việt  Nam hiện nay      Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong thời gian gần đây, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) trên thế giới đã có những bước chuyển mình đáng kể để thích nghi với một không gian mới trong kỷ nguyên công nghệ. KHXH&NV ở Việt Nam cũng không năm ngoài dòng chảy nói trên. Đời sống và xã hội của loài người hiện nay không chỉ tồn tại trong những không gian hiện hữu mà còn tồn tại trong cả những không gian ảo cùng nhiều chiều kích mới và hiện tượng mới. Vì vậy, việc tiếp cận các nghiên cứu về KHXH&NV hiện nay cần phải thay đổi cả về nhận thức, quan niệm và phương pháp thì mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội khó hoặc mới nảy sinh.   Chẳng hạn như tội phạm mạng (hacker), khủng bố công nghệ, thậm chí những đám cưới ảo của những cặp tình nhân ảo hay những vũ khí ảo nhưng được mua bằng tiền thật chính là những vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm một cách nghiêm túc. Vì đó không còn là những trò chơi (games) thuần túy mà đã trở thành những hiện tượng xã hội phổ biến. Hoặc như vấn đề thu hồi đất đai không chỉ liên quan đến tiền đền bù mà điều quan trọng hơn là sinh kế và các vấn đề xã hội có liên quan đến những người mất đất. Trộm cắp, giết người, mại dâm,… ở những nơi bị thu hồi đất ít nhiều đều có liên quan đến vấn đề sinh kế và xã hội chưa được giải quyết thỏa đáng.  Thậm chí, với một vấn đề tưởng chừng như vô cùng đơn giản là một con rùa chết nhưng những huyền thoại bao quanh cái chết của nó đã “đốt nóng” báo chí các diễn đàn xã hội tới mức một số báo nước ngoài cũng phải đưa tin về sự cả tin của người Việt! Trong khi tai nạn giao thông mỗi ngày làm chết vài chục người (hơn cả chiến tranh ở Lybia, Syria, Iraq) hay thuốc độc tràn lan trong thực phẩm khiến hàng trăm nghìn người ung thư mỗi năm hoặc hàng trăm nghìn tỷ đồng đang bất động ở những “dự án đắp chiếu” nhiều năm qua thì chẳng mấy tờ báo đưa tin. Đó chính là những vấn đề xã hội cần phải tìm cách giải quyết.    Đối mặt với những cái mới, khó và nóng như trên, các nhà quản lý dường như đang gặp khó khăn khi phải tìm một hướng tiếp cận thực sự hiệu quả bởi đó không thuần túy là yếu tố có liên  quan đến công nghệ, kỹ thuật, kinh tế hay y tế,… mà đó là các vấn đề xã hội nảy sinh từ con người và đều có liên quan đến con người. Trên thế giới, các hiện tượng tương tự được các nhà nhân học (anthropologists) tìm hiểu, đánh giá và tư vấn cho các tổ chức xã hội hay cơ quan quản lý.   Ở Việt Nam, nhân học đã được một số nhà khoa học nổi tiếng như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Tố,… cùng các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu một cách có hiệu quả ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh và ý thức hệ, nhân học Việt Nam mới chỉ được tiếp nối trở lại trong hơn một thập niên qua. Thực tế cho thấy, nhân học chính là một trong những hướng tiếp cận đầy triển vọng để có thể giải quyết những vấn đề vô cùng nan giải mà các phân ngành khác chưa giải quyết hoặc giải quyết chưa thỏa đáng.  Ví dụ như để tập trung vào vấn đề đói nghèo (một trọng tâm trong những Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ), năm 2012, Ngân hàng Thế giới (WB) đã bầu ông Jim Yong Kim (một nhà nhân học) làm Chủ tịch. Năm 2013, ông được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 50 người quyền lực nhất thế giới. Một ví dụ khác là giải Nobel kinh tế năm 2015 được trao cho một nhà khoa học Mỹ là Angus Deaton do các nghiên cứu của ông giúp đo lường mức nghèo đói hay thống kê về chất lượng cuộc sống ở các nước nghèo để từ đó giải ngân dòng vốn hỗ trợ xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả nhất,…  Có thể nói, các nhà nhân học hay các phương pháp nghiên cứu của nhân học đã chứng tỏ và đang dần khẳng định tính hiệu quả của bộ môn khoa học này. Không chỉ ở bình diện quốc tế, như đã nêu ở trên, mà ở phạm vi quốc gia, các nghiên cứu nhân học cũng đã thể hiện rõ tính khoa học và thực tiễn của bộ môn này đối với xã hội Việt Nam. Xin lấy một số nghiên cứu nhân học của Nguyễn Văn Huyên về tình trạng đói nghèo (cách đây gần một thế kỷ nhưng tới nay vẫn chưa hết tính thời sự) và nghiên cứu của Từ Chi về văn hóa và tôn giáo như một trong những cách thức tiếp cận khả dụng nhất về xã hội và con người Việt Nam xưa và nay.   Trong Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc kỳ, Nguyễn Văn Huyên đã tiến hành một nghiên cứu bao quát từ điều kiện tự nhiên và địa lý đến thành phần đất đai và dân cư của châu thổ Bắc bộ. Từ đó, ông đi sâu tìm hiểu chi tiết đến đời sống của từng hộ dân với các mức thu nhập hết sức khác nhau. Qua đó ông phát hiện ra sự nghèo khổ của người dân có căn nguyên từ việc thiếu đất đai canh tác nhưng có một căn nguyên sâu xa hơn mà chưa ai phát hiện đó là thói cờ bạc và bệnh sĩ.” 1  Rõ ràng, tình trạng thiếu đất đai là một vấn đề tự nhiên nhưng nếu con người chăm chỉ và có tri thức thì vẫn có thể khắc phục được. 2 Ngược lại, với đất đai trù phú và “rừng vàng biển bạc” mà con người lười biếng, chỉ thích “ăn xổi,” lại nghiện cờ bạc thì đó phải chăng là kết quả của tư duy cố hữu của “bác thằng bần” trong xã hội Việt Nam cả xưa và nay?   Và nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên đã chỉ rõ thực trạng này: “trong xã hội Việt Nam, từ kẻ cao sang nhất cho đến kẻ cùng đinh, mọi người, đàn ông, đàn bà, trẻ con, đều đánh bạc. Tôi đã đếm được ở một hội làng tới 22 lối cờ bạc và 150 chiếu chơi xóc đĩa. Ở nông thôn chúng ta, những trò cờ bạc này đã gây ra nhiều thảm kịch. Các tội ác, các vụ trộm cướp, những hành vi phạm pháp mà các tòa án phải xử, thường chỉ là do tệ nạn cờ bạc mà ra. Người ta đánh bạc với hy vọng làm cho hoàn cảnh của mình khấm khá hơn. Đôi khi điều đó dẫn đến những hậu quả khôn lường.” 3    Để có được những nghiên cứu với các số liệu cụ thể và chính xác như trên, nhà nhân học phải thực sự “lăn lộn” nơi thực địa, phải linh động và nhạy bén trong tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhà nhân học phải thực sự nắm vững các phương pháp nghiên cứu của nhân học thì mới có thể áp dụng nó một cách hiệu quả. Những công việc này cũng đã được Từ Chi thực hiện một cách hết sức hiệu quả và được khẳng định trong các công trình nghiên cứu của ông.  Chẳng hạn, “với các công trình nghiên cứu về hoa văn cạp váy của người Mường. Thông qua các hoa văn được thể hiện trên hoa văn cạp váy của người Mường, Từ Chi đã tìm được những mối quan hệ cội nguồn giữa người Việt với người Mường trong không gian văn hoá Đông Sơn.” 4 Hoặc thông qua những nghi lễ trong tang ma của người Mường, ông đã tìm được những đặc trưng sơ khai của tôn giáo, tín ngưỡng bằng một nhận xét hết sức xác đáng:    “Nếu quả thực, như chúng tôi nghĩ, khái niệm “linh hồn” là hạt nhân của mọi tư tưởng tôn giáo, thì tang lễ ắt phải là biểu hiện rõ nét nhất của khái niệm ấy. Vì ma chay là gì nếu không phải là giải pháp cao nhất và cuối cùng – giải pháp tối chung – mà một cộng đồng người sống đưa ra để khuôn xếp số phận của linh hồn một thành viên… Theo dõi diễn biến của tang lễ, thông qua đường đi nước bước của hồn người chết, cũng có thể biết được một số vùng thuộc vũ trụ ấy.”  Để đi đến những nhận xét mang tính “quy luật” như vậy, Từ Chi đã thực sự sống trong lòng bản Mường với phương châm “3 cùng” trong một khoảng thời gian dài.   Để làm tốt được cả về phương pháp luận và thao tác luận như Từ Chi đã làm, nhà nhân học buộc phải dấn thân trên con đường khoa học đầy khó khăn, lắm chông gai và cũng có vô vàn trắc trở. Bù lại, những công trình nghiên cứu của họ sẽ mãi là những cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ, không chỉ riêng các nhà nhân học mà còn là các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV nói chung. Trong bối cảnh của Việt Nam, ở một giai đoạn “tranh tối tranh sáng” giữa vật chất và tinh thần, giữa nghèo đói và bệnh sĩ, giữa khoa học và sự mù quáng tâm linh, giữa một đám đông với niềm tin bất định, nhân học dường như là một trong những hướng tiếp cận khả dĩ nhất để nhận thức rõ hơn các vấn đề của xã hội và con người Việt Nam hiện nay.  ———————————————————–  Chú thích:  1. Đinh Hồng Hải (2015), Những tri thức bác học của Nguyễn Văn Huyên về dân tộc học và nhân học: Dẫn liêu từ bộ sách “Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam.” Tham luận tại hội thảo quốc tế: Nhân học ở Việt Nam: lịch sử, hiện trạng và triển vọng, tổ chức tại Hà Nội tháng 9/2015.  2. “Quốc gia khởi nghiệp” Israel hiện nay là một minh chứng tiêu biểu cho việc sử dụng tri thức vào nông nghiệp ở một trong những vùng đất khô cằn và khắc nghiệt để trở thành một quốc gia có nền nông nghiệp tiến tiến nhất trên thế giới.  3. Nguyễn Văn Huyên (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr.37.   4.  Từ Chi (1974), “Hoa văn cạp váy, Hoa văn hình học,” trong Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, số 3- 4.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề ẩm thực đối với các nhà du hành vũ trụ      Khi các chuyến bay lên vũ trụ mới bắt đầu có  người điều khiển thì việc ăn uống của các nhà du hành vũ trụ trên quỹ  đạo khá đơn điệu: thức ăn được cho vào máy trộn đều, tiệt trùng, rồi đóng  gói trong những ống tuýp hoặc khử nước rồi đóng gói dưới dạng keo để  mang theo. Ngày nay, thực đơn cho các nhà du hành vũ trụ gồm hàng trăm  món ăn khác nhau.     Thực phẩm của các nhà du hành vũ trụ là thức ăn mà họ mang theo suốt cuộc hành trình trên vũ trụ. Phần lớn số thực phẩm này được đóng gói trong túi nhựa, trong ống túyp hoặc trong hộp.   Mỗi tổ chức tham gia chương trình Trạm vũ trụ Quốc tế (ISS) đều có thực đơn riêng theo chuẩn mực dinh dưỡng và khẩu vị của các nhà du hành vũ trụ, những món ăn này hầu như không khác những món ăn trên trái đất. Mục tiêu đề ra là bắt chước tối đa các món ăn trên trái đất để góp phần tạo ra cuộc sống bình thường trong thời gian các nhà du hành vũ trụ sống và làm việc trên quỹ đạo. Trong khi các nhà du hành vũ trụ Nhật Bản thích ăn cơm hoặc bún thì các nhà du hành vũ trụ Nga lại ưa món thịt hầm, thịt sấy khô và cá. Món cua trộn nước xốt do NASA sáng chế rất được chuộng vì nó giữ nguyên mùi vị sau quá trình làm khô lạnh và khi trộn với nước vẫn giữ nguyên mùi vị như món ăn được chế biến ở trái đất.   Cơ quan Vũ trụ châu Âu ESA đang đặt hàng doanh nghiệp trẻ của Italia là Argotec nghiên cứu xây dựng thực đơn và cung cấp thực phẩm cho các nhà du hành vũ trụ của châu Âu trên ISS. Phòng thí nghiệm thực phẩm không gian (Space Food Lab) của Argotec đã phát triển một số món ăn có thể bảo quản trong vòng 18 đến 24 tháng với toàn bộ phụ gia đều là sản phẩm sinh thái, không có ngoại lệ. “Thực đơn này là kết quả nghiên cứu và phát triển trong một năm rưỡi, riêng đối với các chất bổ sung đã mất hơn nửa năm. Mục tiêu chính của chúng tôi là giảm lượng muối trong thức ăn cũng như tìm cách bảo quản mà không làm thay đổi mầu sắc và mùi vị”, Antonio Pilello, phát ngôn viên của Argotec, giải thích.  Space Food Systems Laboratory của NASA ở Texas là một cơ sở nghiên cứu khá đồ sộ và phong phú. Tại đây các nhà khoa học nghiên cứu sản xuất và tối ưu hoá thực phẩm dành cho ngành du hành vũ trụ. Bên cạnh các nhà tư vấn về dinh dưỡng, nhà vi sinh vật học và nhà nghiên cứu về thực phẩm còn có các chuyên gia về thiết kế đóng gói, các kỹ sư và kỹ thuật viên tiến hành hàng loạt thí nghiệm nhằm tạo ra những loại thực phẩm phù hợp và hoàn hảo nhất cho các nhà du hành vũ trụ. Thời hạn sử dụng của thực phẩm là một yếu tố quan trọng: mọi thức ăn đưa lên ISS phải có hạn sử dụng ít nhất 18 tháng. Ngoài ra nguyên liệu đóng gói phải càng nhẹ càng tốt bởi chi phí vận chuyển cho 1 kg lên ISS là 21.000 đôla.  Tất cả các loại thức ăn đều được cho vào túi nhựa, làm lạnh khô và khi dùng trộn với nước. Trong thực đơn hàng ngày, vấn đề cân bằng dinh dưỡng rất được quan tâm, nghĩa là có đủ các chất cần thiết cho cơ thể. Thường các chất Calcium và Vitamin D được bổ sung vào thức ăn để giúp xương vững chắc hơn và hạn chế sự suy thoái xương ở điều kiện không trọng lượng. Hành, bắp cải và các cây họ đậu đều bị tránh vì những thực phẩm này thường gây trướng hơi, đầy bụng. Ngoài ra, cũng tránh dùng các loại bánh quy, xốp  giòn vì những mảnh vụn của chúng có thể làm tắc các phễu lọc hoặc khiến  các nhà du hành vũ trụ vô tình hít vào.  Khác với các loại thức ăn cho người ở trái đất, thức ăn dành cho các nhà du hành vũ trụ thường phải đậm hơn vì cơ quan vị giác trên quỹ đạo hoạt động rất kém. Vì vậy giới chuyên gia phát triển thức ăn cho các nhà du hành vũ trụ thường chọn các loại gia vị cay và đậm đà hơn để bảo đảm các món ăn thơm ngon, ngược lại họ hạn chế dùng muối ăn vì muối bị nghi thúc đẩy quá trình suy giảm xương, một điều không thể tránh trên vũ trụ. Bổ sung cho món ăn còn có rau, quả tươi. Rau quả sẽ được đưa lên trạm một lần trong tháng cùng với những vật dụng cần thiết khác.     Vườn ươm trên vũ trụ   Vấn đề cung cấp thực phẩm cho các nhà du hành vũ trụ trong tương lai sẽ như thế nào? Về lâu dài, mục tiêu đề ra là sản xuất thực phẩm ngay trên quỹ đạo. Đối với các chuyến đi lên Sao Hỏa thì việc sử dụng các nguyên liệu tái tạo là không thể tránh. TS Jens Hauslage, nhà sinh vật học hấp dẫn (gravitational biologist) tại Trung tâm Hàng không và Du hành vũ trụ Đức ở Köln, hiện đang làm những thí nghiệm nhỏ trong một cơ sở có tên là C.R.O.P. Tại đây, những thứ bị coi là rác thải vô dụng như rau quả thừa hay nước tiểu sẽ được nghiên cứu tái chế làm chất dinh dưỡng cho cây trồng. “Cho các chuyến bay lâu dài thì nhất thiết phải tái tạo nguyên liệu vì người ta không thể mang theo tất cả các loại thức ăn lên quỹ đạo để dùng trong một thời gian dài. Trong khi đó cây cối có khả năng cung cấp cho con người những chất dinh dưỡng cần thiết. “Cái khó ở đây là tình trạng không trọng lượng: Cây cối sẽ không biết mọc về hướng nào trong tình trạng không trọng lượng. Vì vậy, thí dụ, phải dùng ánh sáng để định hướng cơ bản cho cây cối phát triển.”  NASA cũng đang phát triển một loại máy in 3D có khả năng in thực phẩm. Vậy thì xin chúc các nhà du hành vũ trụ ngon miệng.  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
0.32653061224489793
__label__tiasang    (Science et Vie)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề nóng: Điều gì sẽ xảy ra khi nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 3oC      Dựa trên Báo cáo chính thức về tình trạng thay đổi khí hậu toàn cầu do một trung tâm nghiên cứu lớn của nước Anh vừa đưa ra, Cố vấn trưởng về khoa học của chính phủ Anh – Giáo sư David King vào tuần rồi đã lên tiếng cảnh báo rằng việc nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng lên 3oC (từ mức trung bình hiện nay là 14,7oC) sẽ gây ra hạn hán ở nhiều nơi hơn, trên một phạm vi rộng hơn và sẽ khiến khoảng 400 triệu người trên toàn thế giới rơi vào nguy cơ đói nghèo.      Ngoài ra, nếu không có ngay các biện pháp nhằm khắc phục các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra thì khoảng 3 tỉ người trên thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước để ăn uống và sinh hoạt. “Con người cần phải có ngay các hành động cụ thể để đối phó với những diễn biến thay đổi khí hậu”, Giáo sư King nhấn mạnh.  Nguyên nhân chính gây ra tình trạng thay đổi khí hậu toàn cầu, theo rất nhiều nhà khoa học là do việc thải khí carbon dioxide (CO2) từ các hoạt động công nghiệp, giao thông ngày càng nhiều trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt ở các nước công nghiệp. “Lượng khí thải CO2 hiện đã tăng gấp đôi so với thời kỳ trước khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra”, Giáo sư King cho biết.  Để hạn chế quá trình thay đổi khí hậu toàn cầu, tỉ lệ khí thải gây hiệu ứng nhà kính CO2 trước mắt cần phải được cắt giảm khoảng 27% so với mức hiện nay. Không đạt được mục tiêu này, nhân loại sẽ rất khó mà làm chủ được tương lai của mình vì nhiệt độ toàn cầu tăng sẽ khiến mực nước biển gia tăng theo. Và khi mực nước biển gia tăng thì những thảm họa thiên nhiên như lụt, bão, hạn hán sẽ diễn ra ngày càng nhiều hơn, với cường độ lớn hơn trên phạm vi toàn thế giới.    Để giảm tình trạng phát thải khí CO2, con người cần phải sử dụng tới các công nghệ mới dựa trên nguyên liệu sạch, giảm thiểu việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch và hạn chế các hoạt động giao thông gây phát nhiều khí thải… Hiện Mỹ-nước có nhiều hoạt động công nghiệp nhất thế giới- vẫn từ chối tham gia Hiệp ước Kyoto nhằm cắt giảm khí nhà kính trong khi Trung Quốc và Ấn Độ, hai nền kinh tế mới nổi đang có chiều hướng phát thải ngày càng nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính CO2.   (Scotman)  P.V        Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề nóng >> Dùng lực hấp dẫn để bảo vệ trái đất      Một thiết bị vũ trụ khổng lồ dự kiến sẽ được NASA thiết kế để bảo vệ Trái đất khỏi nguy cơ bị các thiên thạch lớn va vào.      Các nhà khoa học cho biết đó sẽ là một trái rocket sử dụng năng lượng hạt nhân có thể “đẩy” được một thiên thạch đang bay về phía Trái đất vào một quĩ đạo an toàn hơn. “Biện pháp này sử dụng lực hấp dẫn như một sợi dây kéo thiên thạch vào quĩ đạo an toàn trước khi nó va vào trái đất”, nhà khoa học Stanley Love cho biết trên tờ Nature.  Trái rocket sẽ được phóng tới phía thiên thạch ở một khoảng cách ngắn vừa phải để “đẩy” dần thiên thạch vào một quĩ đạo bay an toàn với Trái đất. Tuy nhiên, những llần kéo này phải được thực hiện nhiều lần trong vòng khoảng 20 năm trước thời điểm thiên thạch có thể va vào trái đất.  Năm ngoái, người ta đã phát hiện ra rằng một thiên thạch có tên Apophis, nặng khoảng 40 triệu tấn sẽ tới trái đất ở khoảng cách 40.000 cây số vào khoảng năm 2029 và có khả năng va vào Trái đất khoảng 7 năm sau đó.  Người ta cũng từng nghĩ là có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để bắn vào các thiên thạch đang di chuyển vào trái đất để phá hủy chúng trước khi chúng va vào Trái đất. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết nếu thực hiện theo cách này, con người sẽ phải chịu những trận mưa dày đặc các mảnh đá văng ra từ thiên thạch và điều này rất nguy hiểm.  Thứ hai tuần rồi, Tổ chức không gian Nhật Bản cũng thông báo đã thất bại trong việc “tiếp xúc” với một thiên thạch lớn nhằm thu thập các mẫu đá trên bề mặt thiên thạch này về nghiên cứu ở Trái đất. Phi thuyền tự động được phóng đi đã không hạ cánh được xuống thiên thạch và buộc phải quay lại trái đất.   (Nature và BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn đề nóng >>WHO: cần chủ động đối phó với sự thay đổi khí hậu      Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã kêu gọi các nhà hoạch định chính sách của Châu Âu có ngay các biện pháp tức thời để giải quyết các hậu quả có thể xảy ra của tình trạng thay đổi khí hậu đối với sức khoẻ của người dân. Lời kêu gọi này được đưa ra trong Hội nghị của Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu toàn cầu vừa diễn ra tại Montreal, Canada.    Sở dĩ WHO phải làm điều này bởi đợt nắng nóng vào năm 2003 đã gây ra cái chết cho 33.000 người ở Châu Âu và nhiều nước ở khu vực này đã không có sự chuẩn bị trước về mặt y tế về xã hội để đối phó với hiện tượng này.  WHO cho rằng các chính phủ cần thay đổi cách tiếp cận với hiện tượng thay đổi khí hậu một cách chủ động thay vì chỉ phản ứng khi tình hình đã xảy ra.  Cùng diễn tiến này, các nhà khoa học Hà Lan hiện đang lập một bản đồ về các điểm gây ô nhiễm môi trường trên toàn Châu Âu cũng như một số khu vực khác trên thế giới để phát hiện các “điểm nóng” về môi trường. “Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu được ô nhiễm được hình thành như thế nào, phát sinh từ đâu, khả năng lan rộng của ô nhiễm trên toàn thế giới từ những dữ liệu thu được hàng ngày”, ông Pieternel Levelt thuộc Viện Khí tượng Hoàng gia Hà Lan cho biết.  P.V    Nguồn tin: BBC      Author                Quản trị        
__label__tiasang Văn minh Maya sụp đổ do thay đổi khí hậu      Các nhà khoa học sử dụng công nghệ vệ tinh mới để theo dõi môi trường Nam Mỹ cho biết sự suy tàn của nền văn minh Maya có thể bắt nguồn từ những trận hạn hán và thay đổi khí hậu do chính họ gây ra.      Các phân tích chỉ ra những dấu tích của nền nông nghiệp gặp thảm họa trong quá khứ của người Maya, hiện đã bị thời gian vùi lấp. Các dữ liệu cho thấy sự kết hợp giữa nông nghiệp theo lối nương rẫy và chuyển đổi những khu đầm lầy đã gây ra hạn hán cục bộ và nhiệt độ tăng cao. Đây có thể là khởi nguồn của những yếu tố giả thiết dẫn đến sự sụp đổ của người Maya, thậm chí những yếu tố có vẻ không liên quan như bệnh tật và chiến tranh.   (Theo National Geographic)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vân Nam, xứ nấm      Hùng Vĩnh Sinh, nhân viên công ty TNHH Kỹ thuật nấm Vân Nam – một “doanh nghiệp khoa học” trực thuộc Viện Nấm ăn Côn Minh đưa chúng tôi đến một “điển hình sản xuất” nấm ở ngoại thành Côn Minh. Hùng bảo: “Vân Nam có ba đặc sản nổi tiếng Trung Quốc, là nấm, trà và thuốc lá”. Tôi cũng đã thấy ở Bắc Kinh một quán lớn đề biển: “Uống trà Phổ nhĩ, ăn nấm Vân Nam”, ý chừng là dùng những thứ đó là “sành điệu”.    Trà Vân Nam, còn gọi là trà Điền, nổi tiếng đã vào thành ngữ Trung Quốc: “Miệng cười xinh như hoa trà Điền”. Hôm trước tôi có dịp thử một loạt các loại trà Vân Nam nổi tiếng ở Thạch Lâm: từ Nghinh tân, Phổ nhĩ, Hương lai Phật, đến Điền hồng, Tam thất, Trần hương. Không phải là “sành điệu”, quả thật tôi thấy chúng đều không bằng… trà xanh Việt Nam. Tôi cũng không rõ thuốc lá Vân Nam ngon cỡ nào, nhưng thấy nhiều người Côn Minh đều hút một loại thuốc có cái tên rất đẹp “Vân Yên” – vừa viết tắt của “Vân Nam yên thảo tập đoàn” (Tập đoàn thuốc lá Vân Nam), vừa có nghĩa “Khói mây”. Dọc theo cung đường cao tốc bao quanh Côn Minh là những chiếc đèn lồng khổng lồ treo dưới cột đèn cao áp, gắn chữ “Vân Yên”. “Ở Việt Nam thì cấm hết quảng cáo thuốc lá” – Tôi bảo Hùng. “Ở đây cũng cấm”. “Vậy sao được treo?”. “Không hiểu. Công ty to nhất tỉnh mà”.                  Viện Nấm ăn Côn Minh, ngoài nghiên cứu còn có 2 công ty “spin off”: Công ty TNHH Kỹ thuật nấm Vân Nam chuyên bán công nghệ trồng nấm; và Công ty TNHH Nấm ăn được Côn Minh chuyên bán sản  phẩm nấm. Hai công ty này mới thành lập 3 năm trước, được “trên” đầu tư 10 triệu NDT (hơn 22 tỷ đồng) và đều đặt trụ sở ngay tầng 1 trong tòa nhà 6 tầng của Viện.  “Nhân sự” công ty cũng là “mặt tiền” của Viện: những người trẻ trung, thực sự năng động. Với phong cách “Tây”, nói tiếng Anh như gió, Hùng làm tôi ngạc nhiên khi cho biết chỉ học “trong nước” – trường ĐH Khoa Kỹ Vân Nam, khoa Nông nghiệp, chưa từng “xuất ngoại”, thậm chí còn đang mơ ước một chuyến đi Bắc Kinh. Làm kinh doanh nhưng Hùng vẫn nghiên cứu. Tôi chỉ được biết điều này sau khi thấy tên anh trong tạp chí chuyên ngành “Nấm ăn Trung Quốc” của Viện. Không hiểu sau này Hùng sẽ theo con đường nào: làm khoa học hay kinh doanh. Hay tiếp tục cả hai?                               “Xưởng nấm” của ông Dương            Vì đặt ở “xứ nấm” nên Viện Nấm ăn Côn Minh nghiễm nhiên có quy mô của một viện nghiên cứu quốc gia, tạp chí “Nấm ăn Trung Quốc” của Viện cũng là tờ báo khoa học có uy tín quốc tế. Sở dĩ Vân Nam là “xứ nấm” vì khí hậu ở đây ẩm, mát, nên nấm ăn phát triển rất nhanh. Vân Nam có hơn 850 giống nấm ăn, chiếm hơn 90%  giống nấm toàn Trung Quốc và 43% giống nấm của thế giới. Có 50 giống nấm ăn của Vân Nam có giá trị kinh tế cao, trong đó có những loại cực đắt như Trúc Tôn, Hầu đầu, Tùng nhung, Ngưu Can, Kê Tùng, Hổ Chưởng…  Trúc tôn, còn gọi là Trúc sâm chỉ ký sinh ở rễ cây trúc, đặc biệt mũ nấm lại có mầu xanh. Nấm Trúc tôn vừa thơm vừa giàu dinh dưỡng, có tác dụng giảm béo, giảm đau, bổ khí, hạ huyết áp… Người Trung Quốc xưa còn xếp Trúc tôn là một trong tám loài cây cỏ quý (thảo bát trân). Người Vân Nam gọi nấm Trúc tôn là “Hoa của loài nấm” hay “Hoàng hậu của nấm”.  Còn loài nấm mọc ở đông bắc và tây bắc tỉnh Vân Nam, nấm Hầu đầu, theo lời Hùng, cũng là thứ “sơn hào” không gì sánh nổi. Loài nấm này chỉ mọc trong các khu rừng rậm phía đông bắc và tây bắc tỉnh Vân Nam. Vì có màu vàng, hình dáng tròn trịa giống đầu khỉ nên gọi là Hầu đầu. Theo nghiên cứu, nấm Hầu đầu là thức ăn bổ dưỡng, có tác dụng tăng cường sức sống của tế bào, ngăn ngừa ung thư, giúp ngủ ngon..  Nấm Tùng nhung, còn gọi là Tùng ma, loài nấm chỉ chỉ mọc ở rừng thông cũng là đồ ăn quý. Tùng nhung rất thơm, giàu protein, cũng có tác dụng chống ung thư. Hùng bảo, vì người Nhật rất thích nấm Tùng nhung nên bao nhiêu nấm Tùng nhung của Vân Nam đều xuất khẩu hết.               Ông Dương tặng túi giá thể nấm          Nếu như người Vân Nam gọi Trúc tôn là “hoàng hậu của nấm” thì Kê tung là “vua của nấm”. Sở dĩ có tên Kê tung vì loài nấm này ngon như thịt gà. Có thế chế biến Kê tung theo nhiều cách, nếu ngâm dầu có thể ăn lâu dài, cũng có thể ngâm rượu.  Trên tất cả là Hổ chưởng: loài nấm thời trước chỉ để tiến vua. Nấm Hổ chưởng không có mũ, màu vàng sẫm, có vằn đen như vằn hổ. Hổ chưởng rất hiếm, chỉ mọc vào khoảng tháng 8 – 9 ở các vách núi cao ở huyện Lệ Giang và châu Sở Hùng.  Một “đặc sản” của Vân Nam, nhưng hóa ra có nguồn gốc từ Pháp là nấm Tùng lộ. Nấm mọc hoang, người Pháp muốn tìm nấm này phải dùng lợn để đánh hơi, nhưng người Vân Nam thì dùng chó. Hùng kể một câu chuyện vui: Trước kia người Vân Nam cũng bắt chước người Pháp, dùng lợn để tìm nấm. Lợn đánh hơi nấm rất giỏi, hễ tìm được là lấy mõm dụi đất để lộ nấm ra. Nhưng sau này có một chú lợn cảm thấy bất công: rõ ràng mình tìm được nấm mà không biết vị nó ra sao. Nó nếm thử, thấy ngon, rồi một truyền mười, mười truyền trăm, cuối cùng cả đàn lợn đều biết và chén sạch nấm. Cuối cùng ông chủ người Vân Nam phải thay đàn lợn tìm nấm bằng chó săn. Thấy tôi cười, Hùng bồi thêm: “Nhưng thịt của đàn lợn ăn nấm rất thơm”.  Trong các loài nấm quý của Vân Nam, có thứ nấm mà bà viện trưởng Viện nấm ăn Côn Minh Quế Minh Anh “đặc ý” giới thiệu với chúng tôi là Ngưu can. Sở dĩ có tên Ngưu can vì nấm đặc biệt giống gan bò, mùi vị cũng vậy. Với tôi, quả thật không thấy ấn tượng gì đặc biệt về món nấm “gan bò” mà bạn mời, ngoài quá nhiều dư vị về ớt, muối và ngấy. Các món ăn Vân Nam đều vậy, rất nhiều muối, mỡ và ớt. Ngưu can có giá còn vì nó hiếm: loài nấm này chỉ mọc trong những khu rừng có độ cao từ 900 đến 200m so với mực nước biển. Từ năm 1923, nấm Ngưu can đã được xuất sang Tây Âu, đến nay cung vẫn không đủ cầu.  Viện Nấm ăn Côn Minh làm gì với nguồn tài nguyên vừa dồi dào vừa phong phú đó? Bà Quế bảo, công việc chủ yếu của Viện là dùng công nghệ DNA để chế tạo các giống nấm có chất lượng cao, kháng bệnh, bảo quản lâu. Viện cũng thiết lập quy trình sản xuất nấm theo dây chuyền công nghiệp, thành lập công ty, hỗ trợ phát triển công ty và nơi sản xuất; tiêu chuẩn hóa chất lượng; quản lý chặt chẽ các quy trình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ; đầu tư cho tuyên truyền rộng rãi trong công chúng về “hương vị thơm ngon và công dụng bổ dưỡng” của nấm. Và bà Quế minh họa luôn: “Thành lập gần 30 năm nay, chưa ai trong Viện chúng tôi chết vì ung thư”(?)  ***  “Điển hình sản xuất” mà Viện nấm ăn Côn Minh giới thiệu là ông Dương Ứng Lâm, 44 tuổi, ở làng A La, khu Quan Độ. Chỉ cách Côn Minh khoảng 15km nhưng đường đến nhà ông Dương lầy lội. Có vẻ “đường nông thôn” ở đây không được chú trọng lắm. Hùng bảo: ông Dương là một trong 5 hộ ở khu Quan Độ mua chuyển giao kỹ thuật và giống nấm của công ty anh. Song ông Dương lại nói được Viện chuyển giao kỹ thuật trồng nấm miễn phí, “vì quan hệ đặc biệt với Viện”. Không hiểu ra sao. Ông Dương mới chuyển sang trồng nấm cách đây 4 năm, trước thì làm nghề nấu rượu. Trồng nấm có lẽ cũng không vất vả lắm. Cả nhà chỉ có ông Dương làm công việc này, lúc cần thì thuê thêm 3 – 4 nhân công thời vụ. Trong diện tích rộng gần 1ha, ông Dương có đến 4 “xưởng” trồng nấm, trồng đủ các loại khác nhau. “Xưởng” trồng nấm của ông cũng tuềnh toàng, máy móc cũng thô sơ: Một máy nghiền mùn, một bể hấp giá thể. “Nhưng quy trình sản xuất rất nghiêm ngặt. Giá thể nấm ở đây đều được khử trùng, bảo đảm không có nấm độc, nấm nhiễm bệnh” – ông Dương khoe. Với nghề trồng nấm, doanh thu mỗi năm của ông Dương khoảng 100.000 NDT, nhưng thu nhập cũng lên xuống tuỳ theo thị trường, thời vụ. Nói chung nấm của ông trồng đến đâu tiêu thụ đến đấy, sản phẩm còn được xuất khẩu sang Đức, Canada, và theo ông “sang cả Việt Nam”. Tự dưng tôi nghĩ: không khéo mấy hàng lẩu nấm đắt cứa cổ ở Phan Đình Phùng, Võ Thị Sáu cũng nhập từ đây cũng nên.  “Trung tâm” của các xưởng nấm là một căn phòng nhỏ, cửa giả chắc chắn: phòng ươm giống nấm của ông Dương. Một hòm kính chứa các giống nấm mà Viện Nấm ăn cung cấp cho ông, trong đó có giống nấm Dương tràng (ruột dê) là một phát hiện mới của Viện, đang đăng ký “pa-tăng” và không được phép bán cho ai khác. Thuyết minh một hồi, chả hiểu sao ông Dương đưa giá thể nấm Dương tràng… tặng tôi. Dẫn diễu, giới thiệu một hồi, ông Dương lại tặng tôi thêm một túi giá thể nấm Kê thoái (đùi gà) nữa.               “Đại công trường” nấm ngoại thành Côn Minh            Ông Dương dẫn chúng tôi sang nhà mấy “đồng nghiệp” trồng nấm. Lại đi tiếp một đoạn đường lầy lội, tưởng là đến một hộ sản xuất khác giống ông. Tới nơi mới thấy cả khoảng đất mênh mông là nhấp nhô những “xưởng” trồng nấm lúp xúp. Quả là đại công trường nấm.  Tôi cầm 2 túi giá thể của ông Dương về. Thấy vẻ mặt bồn chồn của Hùng trong suốt đoạn đường về, tôi bảo: “Tôi chả biết làm gì với cái này”. Hùng có vẻ yên tâm.  Tôi không biết làm gì với túi giá thể đó thật. Về khách sạn, tôi để 2 túi giá thể chỏng chơ ngay cửa phòng. Khách sạn do bạn bố trí, cách Viện mấy trăm mét đi bộ. Hôm sau tới xem công nghệ ươm, chế biến nấm của Viện nấm ăn ở Vườn Sáng tạo KHCN Côn Minh, về đã thấy phòng được dọn dẹp sạch sẽ, 2 túi giá thể cũng đã được mang đi.  Việt Anh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vấn nạn tạp chí khoa học nguỵ tạo      Cuối tháng ba vừa qua, một công bố trên Nature của một nhóm các nhà nghiên cứu Ba Lan, với tựa đề “Các tạp chí ngụy tạo tuyển dụng biên tập viên giả mạo”, cho thấy có tới vài chục tạp chí khoa học mời chào một nhà khoa học hư cấu với hồ sơ giả mạo vào hội đồng biên tập của họ.      Những tạp chí ngụy tạo không đảm bảo được tính chính xác hoặc minh bạch về mặt khoa học.  Trên thế giới có hàng ngàn tạp chí khoa học tồn tại chủ yếu nhằm bòn rút tiền từ các tác giả. Những tạp chí “lừa đảo” này có kế hoạch marketing đáng ngờ, thực hiện những quy trình bình duyệt với những chuyên gia dễ dãi hoặc thậm chí không hề tồn tại; không hề đảm bảo tính chính xác hoặc minh bạch về mặt khoa học.  Phong trào truy cập mở, vốn xuất phát từ tinh thần cao đẹp của giới khoa học, nhưng “bất đắc dĩ” trở thành nơi chứa chấp những nhà xuất bản “kí sinh” này. Chúng tạo ra những tạp chí ngụy tạo, lừa thu phí những nhà nghiên cứu nóng lòng muốn xuất bản mà không kiểm tra kỹ càng uy tín của tạp chí.  Điều quan trọng đối với chất lượng của một tờ tạp chí là các biên tập viên của tạp chí đó. Các biên tập viên quyết định việc liệu một bài có được đưa vào quy trình bình duyệt hay không, bình duyệt bởi ai; liệu bài có bị từ chối, chỉnh sửa hay được chấp nhận. Chức năng xem xét này thường được giao cho những chuyên gia có uy tín trong ngành khoa học của tờ tạp chí, và thường được coi là một công việc đáng được nể trọng.  Nhiều tạp chí ngụy tạo với mong muốn kiếm chác thường tuyển dụng một cách nhanh chóng và tùy tiện các nhà khoa học để tạo dựng hội đồng biên tập nom có vẻ nghiêm túc.    Một số nhà khoa học từng tạo ra những học giả có tên tuổi hư cấu, dàn dựng để họ lọt vào danh sách hội đồng biên tập của các tạp chí ngụy tạo, qua đó lật tẩy những tạp chí này. Tuy nhiên, phải tới gần đây họ mới thành công trong việc vận dụng cách làm này để khảo sát một cách có hệ thống mức độ nghiêm trọng của vấn đề.  Gài bẫy  Các nhà khoa học trong bài viết làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi của con người. Năm 2015, họ tạo dựng hồ sơ một nhà khoa học hư cấu có tên là Anna O. Szust và ứng tuyển dưới danh nghĩa của cô đến ban biên tập của 360 tạp chí. (Oszust, tiếng Ba Lan có nghĩa là “gian lận”). Hồ sơ khoa học hư cấu của Anna được dàn dựng bằng những chương sách ngụy tạo. Mối quan tâm học thuật của cô được liệt kê bao gồm lí thuyết khoa học và thể thao, khoa học nhận thức và cơ sở phương pháp luận của khoa học xã hội. Các tài khoản của Szust cũng được tạo ra trên Academia.edu, Google+ và Twitter, và một website của khoa tại Viện Triết học, Đại học Adam Mickiewicz ở Poznan. Trang này chỉ có thể được truy cập thông qua một đường dẫn cung cấp trong hồ sơ việc làm của cô.  Một hồ sơ quá sơ sài như vậy rõ ràng không thể đủ đáp ứng vai trò biên tập viên. Công việc của Szust chưa bao giờ được lập chỉ mục trong cơ sở dữ liệu của Web of Science hay Scopus, và cô cũng chưa từng được trích dẫn trong bất kì cơ sở dữ liệu nào. Hồ sơ việc làm của cô không liệt kê các bài báo trong các tạp chí chuyên ngành hoặc bất kì kinh nghiệm nào với tư cách là người bình duyệt. Các cuốn sách và các chương trên hồ sơ việc làm của cô không tồn tại và không thể tìm thấy qua bất kì công cụ tìm kiếm nào. Ngay cả nhà xuất bản cũng là giả mạo.  Đơn ứng tuyển của Szust được gửi tới 360 tạp chí, trong đó 120 tạp chí là từ mỗi thư mục trong ba thư mục nổi tiếng: JCR (các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng như đã được lập chỉ mục trên các Báo cáo Trích dẫn Tạp chí – Journal Citation Reports), DOAJ (các tạp chí có trong Thư mục Các tạp chí Truy cập mở) và một danh sách các tạp chí mà bài viết gọi là “danh sách của Beall” (gồm các nhà xuất bản và tạp chí truy cập mở có khả năng, có thể hoặc chắc hẳn ngụy tạo được Jeffrey Beall, Đại học Colorado, tập hợp).  Để được JCR hoặc DOAJ lập chỉ mục, các tạp chí phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định về chất lượng, bao gồm các quy trình xuất bản theo quy định. Các tạp chí được liệt kê trên DOAJ phải được truy cập mở hoàn toàn. Còn các tạp chí trong “danh sách của Beall” được Beall coi là chỉ thuần túy lợi dụng các nhà nghiên cứu và không hề đạt được các tiêu chuẩn cơ bản về công bố học thuật.  Nhóm khảo sát đã nhờ hai nhà nghiên cứu, những người không hề biết mục đích nghiên cứu (để đảm bảo tính ngẫu nhiên của khảo sát), chọn ra các tạp chí tiếng Anh phù hợp với chuyên môn của Szust. Sau đó, nhóm gửi e-mail ứng tuyển của Szust cho vị trí biên tập viên – một hồ sơ việc làm và thư xin việc – tới 360 tạp chí và theo dõi phản hồi trong sáu tháng. Các hồ sơ ứng tuyển đều giống nhau, ngoại trừ một số hồ sơ chứa một đoạn văn thể hiện sự nhiệt tình của Szust dành cho các tạp chí truy cập mở mới.  Mục đích của nghiên cứu này là để tìm hiểu các tạp chí giả mạo hoạt động khác biệt ra sao so với các tạp chí nghiêm túc, chứ không có chủ đích bằng mọi cách lừa các tạp chí chấp nhận hồ sơ của Szust, bởi vậy đơn của Szust chỉ gửi một lần tới mỗi tạp chí. Nếu các tạp chí không trả lời đơn ứng tuyển của Szust, họ sẽ không tiếp tục nhận được e-mail từ cô, và sẽ được nhóm khảo sát xếp vào diện “Không phản hồi”. Các tạp chí trả lời ban đầu nhưng không trả lời trong thư tiếp theo, được xếp vào diện “Từ chối”. Bất kì nỗ lực nào của tạp chí để xác minh những chứng chỉ của Szust (chẳng hạn qua việc xem xét thử bản thảo hoặc thông qua một cuộc phỏng vấn) cũng được nhóm khảo sát coi là sự từ chối. Chúng tôi xếp những tạp chí vào diện “chấp nhận” chỉ khi họ trả lời email của chúng tôi một cách rõ ràng là đã chấp nhận Szust làm biên tập viên (trong một số trường hợp còn tùy thuộc vào việc đáp ứng đòi hỏi đóng góp tài chính) hoặc nếu tên của Szust xuất hiện như một thành viên ban biên tập trên website của tạp chí.  Tất cả đều quá dễ dàng  Trong nhiều trường hợp, nhóm khảo sát nhận được phản hồi tích cực trong vòng vài ngày kể từ ngày nộp đơn ứng tuyển, thậm chí thường xuyên được đồng ý trong vòng vài giờ. Bốn tạp chí ngay lập tức bổ nhiệm Szust làm tổng biên tập. Kết quả là, 40 tạp chí ngụy tạo và tám tạp chí DOAJ đã chỉ định cô làm biên tập viên. Không có tạp chí JCR nào chấp nhận Szust.  Szust hầu như không bao giờ bị hỏi về kinh nghiệm làm việc. Không có ai cố gắng liên lạc với trường đại học hoặc viện nghiên cứu của cô. Một tạp chí nhận ra sự mâu thuẫn trong nội dung thư của Szust gửi đến họ, khi cô viết rằng trở thành một biên tập viên sẽ cho phép cô đạt được bằng cấp mà lẽ ra cô đã sẵn có, căn cứ theo hồ sơ. Tuy nhiên chính tạp chí đó đã chỉ định Szust làm biên tập viên.  Mười lăm tạp chí trong danh sách của Beall, 45 tạp chí DOAJ và 48 tạp chí JCR đã trả lời thư ứng tuyển của Szust nhưng không đưa ra lời đề nghị. Các tạp chí này đã gửi ba loại phản hồi: một tin nhắn ngắn xác nhận đã nhận được thư ứng tuyển; một sự từ chối thẳng thừng; hoặc một lời giải thích dài hơn, nhẹ nhàng hơn về cách một người thực sự trở thành biên tập viên (đầu tiên bạn phải công bố các nghiên cứu, sau đó bạn mới trở thành người đánh giá, v.v …).  Ít nhất một tá tạp chí đã chỉ định Szust là biên tập viên với điều kiện, hoặc với đề nghị cô chấp nhận trả cho tạp chí một khoản tiền hoặc một hình thức chia sẻ lợi nhuận. Trong một số trường hợp, đây là khoản chi trả trực tiếp, chẳng hạn như một khoản phí đọc báo theo yêu cầu của một tạp chí là 750 USD (sau đó giảm thành “CHỈ CÒN 650 USD”) hoặc khoản tặng 50 USD (mặc dù Szust đã được chấp nhận mà không phải trả tiền).  Những tạp chí khác đề nghị Szust tổ chức một cuộc hội thảo sau đó các nghiên cứu của những người trình bày sẽ được xuất bản (có thu phí) trong một “số báo đặc biệt”. Một nhà xuất bản gợi ý rằng lợi nhuận sẽ được chia ra (“chúng tôi 60% bạn 40%”). Hai lần, Szust được trao cơ hội để bắt đầu ở một tạp chí mới với vị trí biên tập viên chính, kèm theo đề xuất chia cho cô 30% doanh thu mà cô mang về. Còn nếu nhận lời làm biên tập viên của một tờ tạp chí đã có sẵn thì cô được chia 20% con số này.  Một số tạp chí đã đồng ý với đơn ứng tuyển của Szust nếu cô đưa ra các nghiên cứu của chính mình để được xuất bản có trả phí. Trong một số trường hợp, những bài được trả phí này có thể được gửi bởi “Bạn bè/Đồng nghiệp/Cộng sự và Nghiên cứu sinh của Szust”. Nhiều tạp chí quan tâm đến khả năng của Szust trong việc thu hút các bài nộp có trả phí hơn là tới năng lực thẩm định khoa học của cô. Hai tạp chí đã đề nghị miễn lệ phí cho việc công bố bài báo của Szust trên tạp chí của họ. Một tạp chí khác nêu rõ rằng “nếu bạn, bạn bè và đồng nghiệp của bạn đã nộp các nghiên cứu thành công, chỉ cần liên hệ với chúng tôi, chúng tôi sẽ chú ý đến họ”.  Trong số 120 tạp chí DOAJ, có ít nhất 39 tạp chí đã bị xóa khỏi Thư mục DOAJ (trong cuộc rà soát năm trước, vài trăm tạp chí bị huỷ bỏ vì bị nghi ngờ sai trái về mặt biên tập, không tuân thủ các phương pháp hay đơn giản là không tái đăng ký vào Thư mục). Trong số tám tạp chí DOAJ đã chấp nhận Szust làm biên tập viên, thì có sáu tạp chí vẫn còn trong thư mục vào tháng 3/2017; không có tạp chí nào trong số này nằm trong danh sách của Beall tại thời điểm lấy mẫu.  Kẻ săn mồi và con mồi  Năm 2013, nhà báo John Bohannon đã tiết lộ những lỗ hổng trong hệ thống bình duyệt của chuyên gia khi bài báo nghiên cứu hư cấu, thiếu sót có chủ đích của ông đã được chấp nhận xuất bản có điều kiện, tùy thuộc vào việc trả phí của tác giả, bởi 157 trong số 304 tạp chí truy cập mở. Dự án của ông không tính đến các tạp chí không truy cập mở và cũng không so sánh rõ ràng những tạp chí có hoặc không có nhân tố tác động. Bohannon đã bị chỉ trích vì nhắm mục tiêu vào những tạp chí cụ thể và liên lạc liên tục với ban biên tập.  Tuy nhiên, trong khảo sát lần này, nhóm khảo sát đã thiết kế nghiên cứu của mình để có cơ sở so sánh giữa những tạp chí trong danh sách đen với các tạp chí khác, đồng thời sự liên lạc với các tạp chí là có hạn chế.  Kết quả khảo sát cho thấy, các tạp chí trong danh sách đen là đối tượng dễ có khả năng nhất trong việc chấp nhận ứng viên không đủ tiêu chuẩn và cố gắng kiếm lợi từ Szust, mặc dù vẫn có một số tạp chí bị liệt kê là ngụy tạo nhưng lại hành xử một cách nghiêm túc (ví dụ như một số gửi các bài báo cho Szust đánh giá).  Số lượng các tạp chí ngụy tạo đang hoạt động đã tăng lên ở mức báo động. Đến năm 2015, hơn 500 nghìn nghiên cứu đã được xuất bản trên các tạp chí ngụy tạo, và vào cuối năm 2016, số tạp chí này trong danh sách của Beall (khoảng 10.000) gần với con số được DOAJ và JCR lập chỉ mục. Hầu hết đều được nhà xuất bản chấp thuận (bao gồm một số gã khổng lồ trong ngành). Xuất bản ngụy tạo đang trở thành một ngành công nghiệp có tổ chức.  Sự gia tăng của các tạp chí ngụy tạo này đe dọa chất lượng học thuật. Không có ban biên tập đáng tin cậy, các tạp chí này công bố tràn lan các bài báo khoa học sai sót, và vấn đề này sẽ ngày càng nghiêm trọng và gây tai tiếng cho phong trào truy cập mở.  Áp lực phải công bố nghiên cứu đè nặng lên các nhà khoa học là một phần nguyên nhân của tình trạng này. Số lượng công bố thường là cơ sở để tài trợ nghiên cứu và thăng tiến trong nghề nghiệp. Ở nhiều nước, ít nhất một bài báo xuất bản được chuyên gia bình duyệt (bất kể chất lượng) là điều kiện tiên quyết để có được bằng tiến sĩ.  Đánh giá chất lượng của một tạp chí không phải là điều đơn giản, nhưng có những nguồn thông tin sẵn có mà chúng ta có thể dựa vào. Trong trường hợp không có danh sách đen của Beall, người ta vẫn có thể dựa vào các danh sách của JCR và DOAJ. Các nhà nghiên cứu cũng có thể kiểm tra xem một tạp chí được lập chỉ mục trong các cơ sở dữ liệu trích dẫn có uy tín như Scopus hay Web of Science. Các tiêu chí để đánh giá chất lượng các nhà xuất bản và tạp chí truy cập mở cũng bao gồm những tiêu chí do Beall tập hợp hoặc thông qua sự hợp tác của một số tổ chức cộng đồng, bao gồm Ủy ban về Đạo đức xuất bản, DOAJ, Hiệp hội Nhà xuất bản Học thuật Truy cập Mở và Hiệp hội Các biên tập viên Y khoa Thế giới.  Một vấn đề lớn hơn  Giải pháp cốt lõi cho vấn đề về các tạp chí ngụy tạo là triệt tiêu lợi ích của nhà khoa học khi công bố các nghiên cứu trên những tạp chí này. Những người xét duyệt lợi ích cho các nhà khoa học căn cứ vào các công bố nghiên cứu trên những tạp chí khoa học phải thực sự dành thời gian thẩm định các công bố và chỉ chấp nhận những công bố tốt nhất.  Tháng 2/2017, nhóm khảo sát gửi email cho 49 tạp chí ban đầu được phân loại là chấp nhận Szust làm biên tập viên để thông báo cho họ về cuộc khảo sát và cho họ cơ hội phản hồi. Chín tạp chí có hồi đáp. Một tạp chí chỉ đơn giản là xác nhận đã nhận được thư, một tờ khác tuyên bố đã cải tiến quá trình kiểm tra chặt chẽ. Sáu tạp chí đã phủ nhận việc chấp nhận (hoặc chấp nhận nhầm lẫn) Szust làm biên tập viên; một trong số này tuyên bố đã từ chối Szust sau khi thực hiện kiểm tra lai lịch của cô. Nhóm cũng nhận được email thứ 10 – một lời đe dọa từ một hãng luật (không có tên miền chuyên nghiệp) kèm theo một vụ kiện 1 tỉ USD.  Trong khi đó, sự nghiệp biên tập của Anna O. Szust dường như vẫn chưa chấm dứt mặc dù nhóm khảo sát đã ngừng công việc của họ và thông báo về bản chất hư cấu của Szust cũng như đề nghị “sẵn lòng rút đơn đăng ký của cô ấy” tham gia ban biên tập các tạp chí này. Tên cô vẫn xuất hiện trên danh sách thành viên của các ban biên tập ở ít nhất 11 tạp chí. Cô thậm chí còn được ghi vào danh sách là một biên tập viên của ít nhất một tạp chí mà nhóm khảo sát không hề gửi thư ứng tuyển. Cô cũng được ghi là nhân viên quản lí, một thành viên của các ủy ban tổ chức hội thảo, và mỉa mai thay, là một thành viên của Ban Cố vấn của Cơ quan Lập chỉ mục Truy cập Mở của các tạp chí với sứ mệnh là “tăng khả năng hiển thị và dễ sử dụng các tạp chí khoa học và học thuật truy cập mở”.  Vũ Nhàn lược dịch  http://www.nature.com/news/predatory-journals-recruit-fake-editor-1.21662?WT.mc_id=FBK_NatureNews#predator    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẫn “vô duyên” với giải Nobel      Sau khi Giải Nobel 2008 được c&#244;ng bố, tr&#234;n c&#225;c phương tiện truyền th&#244;ng của Trung Quốc đ&#227; c&#243; nhiều &#253; kiến &#8220;mổ xẻ&#8221; nguy&#234;n nh&#226;n v&#236; sao niềm mong ước từ nhiều năm nay của người Trung Quốc vẫn chưa th&#224;nh hiện thực, trong đ&#243; sự lạc hậu về gi&#225;o dục đại học được cho l&#224; yếu tố h&#224;ng đầu khiến người Trung Quốc vẫn &#8220;v&#244; duy&#234;n&#8221; với giải Nobel.    Triết Giang online ngày 8-10-2008: Hằng năm vào dịp trước và sau khi công bố giải Nobel, giới truyền thông TQ bao giờ cũng để lộ “Nỗi vương vấn giải Nobel”. Trước ngày công bố giải Nobel Hóa học đã có tin người Mỹ gốc Hoa cháu họ của cha đẻ tên lửa TQ Tiền Học Sâm có khả năng đoạt giải này. Tin ấy đúng hay không thì chưa ai biết, thật ra đây chỉ là giới truyền thông có ý an ủi “Nỗi vương vấn giải Nobel” của người TQ mà thôi.  Nỗi lòng ấy thể hiện trên hai khuynh hướng. Một là bi quan thất vọng cảm thấy giải Nobel vừa là nỗi đau vừa là mơ ước của người TQ; hai là huênh hoang hợm hĩnh, tê liệt cảm giác, cho rằng TQ xưa có “tứ đại phát minh”, nay cũng là nước lớn KHKT, vệ tinh Thần Châu 7 lên trời rồi, thiếu giải Nobel thì có là cái quái gì đâu ? Hai tâm trạng này đều không bình thường. Chúng ta cần có đầu óc tỉnh táo bình tĩnh. Để trở thành nước lớn kinh tế, trước hết phải trở thành nước lớn KHKT, mà muốn vậy thì không thể chỉ dẫn đầu thế giới về một vài ngành KHKT. Cần thấy TQ còn tụt sau các cường quốc KHKT một khoảng cách khá lớn, nhất là về mặt sáng tạo cái mới, vả lại bầu không khí nghiên cứu khoa học ở TQ còn cần được làm cho trong sạch hơn. Ngoài ra, bản thân việc bình xét giải Nobel còn có nhân tố xung đột văn minh Đông Tây, việc TQ chưa có giải Nobel không hoàn toàn nói lên sức mạnh tổng thể nghiên cứu khoa học của TQ.     Sự vô duyên với giải Nobel có tác dụng báo động và thôi thúc chúng ta. Bởi vậy, giờ đây chúng ta chẳng cần những tin tức “tráng dương bổ thận” như thông tin nói trên, mà cần đi sâu vào cải cách phát triển, lý tính và thực tế hơn.  Quảng Châu Nhật báo ngày 12-10-2008:  Tại sao chưa có nhà khoa học TQ nào được trao giải Nobel ? Trả lời: vì nghiên cứu khoa học là một cuộc đua tranh chuyên nghiệp mà đội ngũ khoa học TQ có quá nhiều đấu thủ không chuyên, nói hơi quá một chút thì một số ngành đều không chuyên. Gọi là không chuyên vì họ không tập trung tâm trí vào việc nghiên cứu khoa học mà chỉ lo nghĩ chuyện thăng quan, phát tài. Mới đây tại một trường ĐH ở Thâm Quyến, 40 vị giáo sư tranh nhau một chức trưởng phòng. Vì sao vậy ? – có lẽ chẳng cần nói ai cũng biết rồi.  Tâm lý chạy theo đồng tiền trong giới học thuật rất rõ. Các nhà khoa học gặp nhau chỉ hỏi lương bổng, phúc lợi ra sao, có nhiều đề tài không, chủ yếu xem có thể bỏ túi bao nhiêu kinh phí nghiên cứu. Nhiều nơi dùng tiền đề tài chi vào mục bình xét kết quả nghiên cứu, cho nên ai xin được nhiều kinh phí thì đề tài người ấy được đánh giá cao hơn. Năm 2001 Nhật lập kế hoạch KHKT, hùng hồn tuyên bố phấn đấu trong vòng 50 năm giành 30 giải Nobel. Cùng năm đó, TQ cũng lên kế hoạch trong Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008 giành ít nhất 30 huy chương vàng. Cả hai kế hoạch đó đều giống nhau ở chỗ được xây dựng trên niềm tin vào các tuyển thủ chuyên nghiệp.  Triết Giang Online ngày 7-10-2008: Trong mỗi dịp công bố giải Nobel, người TQ với nỗi lòng chua chát đã sớm có thói quen chắt lọc từ bản danh sách người được giải lấy ra những thông tin có thể tự an ủi mình. Bởi thế mối quan hệ họ hàng đặc biệt giữa Tiền Vĩnh Kiện (Roger Tsien) với cha đẻ tên lửa TQ Tiền Học Sâm đã nhanh chóng lọt vào mắt công chúng TQ, cho dù bản giới thiệu về Tiền Vĩnh Kiện đã ghi rõ ông ta có “quốc tịch Mỹ”. Sự khác biệt quốc tịch chứng tỏ nhà khoa học người Hoa ấy sống trong môi trường khác biệt rất lớn với môi trường ở TQ.  Có người bảo khoa học không có biên giới, song một quốc gia dân đông nhất thế giới nếu cứ vắng mặt hoài trong danh sách giải Nobel dài dằng dặc kia thì ít nhất ta cũng có thể ngầm hiểu rằng thực lực KHKT của TQ có khiếm khuyết gì đó.   Người TQ xưa nay vẫn nhiệt tình với giải Nobel. Từng có tin nói Lỗ Tấn, Vương Mông, rồi nhà thơ Diệp Thế Bân … từng được đề cử giải Nobel Văn học. Thật ra đó rặt là tin để tự ta làm vui lòng ta, dường như giải Nobel lần nào cũng suýt vào tay người TQ. Có một chuyện hài: Dương Chấn Ninh từng dự đoán trong vòng 20 năm người TQ nhất định sẽ ẵm giải Nobel Toán học, lý do vì môn này chẳng cần tới thiết bị nghiên cứu thí nghiệm gì ghê gớm. Nhưng làm gì có giải Nobel Toán học cơ chứ.            ĐH TQ ngày nay thiếu cái tinh thần “Dân chủ tự do, nghiêm túc mưu cầu sự thật, hăng hái sáng tạo, đoàn kết làm việc” của Thái Nguyên Bồi, Mai Đài Kỳ …hồi xưa, mà lắm cái dung hòa, thỏa hiệp với đời sống dung tục, bị đồng tiền chi phối. Ai có chút tiền thì vênh váo như kiểu AQ “Ông đây nhất thiên hạ”. Đó chính là bi kịch của nền ĐH TQ.          Không ít người thắc mắc về tệ nạn của cơ chế giáo dục hiện hành, nhưng dường như gần đây mới phát hiện và coi trọng các tệ nạn ấy. Hiện nay hai trường ĐH Thanh Hoa và Bắc Kinh “sản xuất” được nhiều tiến sĩ ở Mỹ nhất (571 và 507 vị); và sau năm 2000 du học sinh TQ tại Mỹ sau khi giành học vị tiến sĩ thì hơn 90% ở lại bên ấy. Thế là hai trường ĐH danh tiếng nhất TQ chỉ mất công đào tạo “nhân tài sơ cấp” cho nước Mỹ mà thôi. Chúng ta lấy đâu ra người để tiến nhanh về KHKT ?    Khác với ngành thể dục thể thao, giải Nobel không những chỉ có ý nghĩa vinh dự mà hơn thế, nó là kết tinh thực lực KHKT mũi nhọn của một quốc gia. Nên từ vấn đề quốc tịch mà suy ngẫm lại xem cái gì đã kiềm chế sự phát triển của các tài năng khoa học TQ.  Tân Kinh Báo ngày 9-10-2008:  Trước hôm công bố danh sách giải Nobel Hóa học 2008, các cơ quan truyền thông Trung Quốc tỏ ra cực kỳ hưng phấn một cách không sao hiểu nổi về thông tin dự kiến Tiền Vĩnh Kiện – cháu họ của Tiền Học Sâm có hy vọng đoạt giải này. Ngược lại, nước Nhật từ hôm bắt đầu công bố giải Nobel năm nay đến giờ đã có 3 nhà khoa học được tặng vinh dự ấy thì lại tỏ ra tự kiềm chế. Người Nhật tự nhắc nhở họ là nền giáo dục nước Nhật hãy còn khiếm khuyết và mong rằng nhân dịp này nên uốn nắn thái độ “kính nhi viễn chi” của giới trẻ Nhật đối với các môn khoa học tự nhiên, nhằm tăng cường sức sống cho công tác nghiên cứu khoa học cơ bản của Nhật.  Báo Thanh niên TQ ngày 10-10-2008: Năm nào giải Nobel cũng không “bén duyên” với người TQ, do đó công chúng và giới truyền thông chúng ta cảm thấy một nỗi đau buồn khó hiểu. Khi người TQ bỏ cặp kính râm xuống, rốt cuộc họ phát hiện: chung quy giải Nobel vẫn là giải thể hiện đỉnh cao của khoa học thế giới. Bởi vậy mỗi khi người hàng xóm Nhật Bản, Ấn Độ được trao giải Nobel, riêng TQ lại vô duyên, điều ấy thế nào cũng khiến chúng ta cảm thấy có một nỗi bất bình gì đó.  Lần này thì có người Hoa được trao giải Nobel rồi ! Nhiều báo TQ hôm 9-10 đều đăng tin giật tít “Cháu họ Tiền Học Sâm đoạt giải Nobel Hóa học” và đăng ảnh Tiền Vĩnh Kiện lên vị trí hàng đầu. Người ta quên mất cái tên Tiền Vĩnh Kiện, lại càng chẳng nói tới quốc tịch của ông ấy. Tạt vào mặt người đọc là một kiểu ám thị mạnh mẽ: đây là niềm kiêu hãnh của họ Tiền, niềm kiêu hãnh của TQ.   Người Nhật thì khác. Giải Nobel năm nay trao cho 3 người Nhật (chưa kể một người Mỹ gốc Nhật); trước đây họ đã có 3 người đoạt giải Nobel Vật lý – điều đó chứng tỏ nước này mạnh về KHKT. Thế nhưng báo Nhật Yomiuri Shimbun ngày 8-10 viết: gần đây có hiện tượng sinh viên Nhật “kính nhi viễn chi” với các ngành khoa học cơ bản; trước tình hình đó, Nhà nước và các trường ĐH cần cải cách hệ thống đào tạo cán bộ nghiên cứu nhằm khuyến khích giới trẻ hăng hái nghiên cứu khoa học cơ bản. Báo Mainichi Shimbun cũng phê phán chính sách KHKT của Nhật trọng hiệu quả kinh tế, coi KHKT là chỗ dựa chính để kích hoạt nền kinh tế, công tác nghiên cứu của các trường ĐH cũng theo đuổi lợi ích và ứng dụng, coi nhẹ khoa học cơ bản. Rõ ràng, các cơ quan truyền thông đại chúng Nhật thật tỉnh táo và lý trí, có tác dụng gõ tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính quyền Nhật.  Có thể thấy người TQ chúng ta nhí nhố chẳng ra làm sao cả, thậm chí thần kinh quá ư nhạy cảm. Nếu Tiền Vĩnh Kiện sống ở TQ thì sẽ thế nào ? Dưới sức ép căng thẳng của kiểu giáo dục thi cử ở TQ, e rằng sở thích nho nhỏ yêu môn hóa học và thiên tài sáng tạo của Tiền sẽ bị chết yểu thôi. Chẳng những gia đình không khoan dung mà ngay các trường ĐH chưa chắc đã chấp nhận một sinh viên kém sức khỏe như Tiền Vĩnh Kiện.  Báo Thanh niên Trung Quốc ngày 22-10-2007 : Trả lời câu hỏi TQ chiếm một phần năm số dân thế giới, lại đang phát triển trong hòa bình, vì sao tới nay vẫn chưa có giải Nobel, 61% sinh viên TQ được hỏi ý kiến cho rằng mô hình giáo dục đào tạo của TQ có vấn đề.  Hiện nay hai trường ĐH danh tiếng nhất TQ là ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa hằng năm được Nhà nước tài trợ trên một tỷ Nhân dân tệ mà chưa thấy ra lò được nhân tài nào ưu tú. ĐH Bắc Kinh nhiều thầy giỏi, ĐH Thanh Hoa có môi trường tốt, đều là nhất TQ, thế nhưng nhà trường ngày càng giống nơi đào tạo thương gia. Trong nền giáo dục thi cử của TQ, người hỏng thi ĐH cứ thi mãi; người tốt nghiệp ĐH thì không có việc làm.  Hãy nhớ lại trường ĐH Liên hợp Tây Nam hồi mới thành lập (1939) ký túc xá, phòng học, phòng thí nghiệm đều là nhà tường đất mái tôn. Thế mà lại thu hút nhiều thầy giỏi, trò giỏi. Các sinh viên say sưa tranh luận những vấn đề khoa học hiện đại. Còn ngày nay khi tra cứu tin về ĐH Bắc Kinh, Thanh Hoa thì thấy giáo sư nào là hục hặc với nhau, nào là ca cẩm lương thấp không sống nổi …, khiến ta có cảm giác họ luôn “chân trong chân ngoài”. ĐH TQ ngày nay thiếu cái tinh thần “Dân chủ tự do, nghiêm túc mưu cầu sự thật, hăng hái sáng tạo, đoàn kết làm việc” của Thái Nguyên Bồi, Mai Đài Kỳ …hồi xưa, mà lắm cái dung hòa, thỏa hiệp với đời sống dung tục, bị đồng tiền chi phối. Ai có chút tiền thì vênh váo như kiểu AQ “Ông đây nhất thiên hạ”. Đó chính là bi kịch của nền ĐH TQ.  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp từ báo, mạng TQ.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vành đai – con đường: Sự trỗi dậy của quá khứ      Điểm lại lịch sử Trung Quốc, chúng ta sẽ thấy một điều thú vị và độc đáo là, kể từ đại đế chế Tần trở đi, mỗi thời đại đều tạo dựng một đại công trình mang tầm cỡ thế giới. Đặc điểm xuyên suốt của những đại công trình này là tính kết nối – không chỉ nội tại Trung Quốc mà còn kết nối Trung Quốc với bên ngoài, biến những công trình đơn lẻ này thành một khối thống nhất đồ sộ, tạo ra diện mạo và sức sống mới cho sự phát triển của Trung Quốc.      Những con tem có bức tranh mô tả quá trình mở đường sang Tây Vực của Trương Khiên. Nguồn: chinadiscovery.com  Những vành đai và con đường trong quá khứ  Vạn Lý Trường Thành là trường hợp đại kết nối lớn, tiêu biểu đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Dưới thời Tần Thủy Hoàng, ông đưa ra ý tưởng và chỉ huy sự kết nối, bổ sung và hoàn thiện các công trình đã có từ những nước khác nhau, thành đại công trình. Điểm đáng chú ý là, công trình này được thống nhất kết nối toàn thành cùng với quá trình Trung Quốc thống nhất sau thời gian phân rã, trở thành một đế chế tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.  Sau Vạn Lý Trường Thành, Trung Quốc tiến hành hàng loạt các dự án kết nối giữa các dòng sông trong khoảng gần 1.000 năm, bắt đầu từ con sông đào đầu tiên vào thế kỷ VI TCN ở nước Sở, hoàn thiện vào thời Tùy. Điểm đáng chú ý là, hệ thống Đại Vận Hà được hoàn thiện chủ yếu dưới thời nhà Tuỳ một mặt kết nối và khai thông, đào mới hệ thống sông đào, đồng thời kết nối hệ thống sông đào với hệ thống sông lớn tự nhiên của Trung Quốc như Trường Giang, Hoàng Hà. Điều này có tác dụng đặc biệt quan trọng, giúp Trung Quốc thông thương Tây Đông Bắc Nam, tạo tiền đề cho sự phồn vinh thời Đường. Đại Vận Hà tạo ra một cục diện đại thống nhất Trung Quốc về phương diện đường thủy đầu tiên trong lịch sử. Theo các sử gia Trung Quốc thì: Vận Hà thời Tùy có tác dụng thông thương Bắc Nam trong thời Đường, nhất là loạn An Sử, phiên trấn cát cứ, tài chính nhà nước hoàn toàn trông chờ vào vùng Giang – Hoài. Thời ấy, Thông Tế Cừ (còn gọi là Biện Hà) trở thành mạch máu kinh tế của nhà Đường1.  Nếu hai đại công trình này kết nối đóng và liên thông bên trong Trung Quốc thì con đường tơ lụa (bắt đầu được hình thành từ thế kỷ 2 TCN khi Trương Khiên nhận lệnh Hán Vũ Đế đi sứ Tây Vực) là quá trình vươn ra thế giới đầu tiên của nước này. Xuất phát từ Trường An, theo hướng Tây, xuyên qua hành lang Hà Tây, đầu tiên đến vùng Đôn Hoàng cửa ngõ đất Tây Vực, sau đó con đường tơ lụa chia làm hai ngả Bắc- Nam để vào Tây Vực. Từ Đông sang Tây, con đường dài hơn 7.000 km, chủ yếu đi qua sa mạc của các nước này đã tạo thành một hệ thống buôn bán tơ lụa, trà và các loại hàng hóa khác, tạo ra sự thịnh vượng và giàu có cho thời đại nhà Hán.  Sau con đường tơ lụa, con đường trên biển vào thế kỷ 15 của Trịnh Hòa là kết nối các bến cảng của Trung Quốc với với các cảng biển Champa (Việt Nam ngày nay), Java, Malaca, Sri Lanca, Ấn Độ, châu Phi. Tuy nhiên, nỗ lực này tương đối ngắn ngủi, chỉ diễn ra trong vòng có chưa đầy 30 năm là dừng lại và chuyến đi của Trịnh Hòa mang nhiều ý nghĩa chính trị và xiển dương của nhà Minh, hơn là tác dụng giúp tái tạo diện mạo Trung Hoa.    Cội nguồn: ám ảnh lịch sử chia cắt, cát cứ, phân liệt     Kết nối để thống nhất là một ám ảnh lịch sử, là một phương thức, cách thế tồn tại và phát triển của Trung Quốc, bởi những đại công trình đó đã đóng vai trò then chốt giúp Trung Hoa sinh tồn và phát triển mỗi khi gặp nguy cơ tồn vong trong lịch sử. Vạn Lý Trường Thành, là ý tưởng của Tần Thủy Hoàng, người thực hiện là Mông Điềm, nhưng lại trở thành tài sản và nhận thức chung của giới tinh anh chính trị Trung Quốc trong lịch sử. Sau nhà Tần, triều đại nào cũng quan tâm đầu tư tu bổ cho nó, như là một lá chắn bảo vệ kinh đô và cho cả vương triều. Bởi vì Vạn Lý Trường Thành hình thành trên cơ sở của một giai đoạn cát cứ, phân liệt lâu dài của Trung Quốc và mối đe dọa phân liệt từ Hung Nô. Nói cách khác, Vạn Lý Trường Thành là hình ảnh biểu tượng của sự ám ảnh chia cắt của Trung Quốc. Xây dựng Trường Thành trực tiếp là để ngăn cản sự xâm nhập của Hung Nô vào Trung Nguyên (mặc dù đã xây dựng Trường Thành nhưng cũng chỉ hạn chế được một phần sự xâm nhập của Hung Nô, họ vẫn thường xuyên đe dọa và làm kinh sợ Trường An). Mặt khác, Vạn Lý Trường Thành cũng chính là sản phẩm được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của thời đại phân liệt trường kỳ mấy trăm năm – Xuân Thu Chiến Quốc. Trước đó, những thành nhỏ của từng nước đã xuất hiện. Sự hiện diện của Trường Thành đã xóa bỏ hoàn toàn thời đại Trăm hoa đua nở, giai đoạn dân chủ và tự do duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, định hướng cho một nền tập quyền chuyên chế kéo dài cho đến tận ngày nay. Văn hóa đặc sắc riêng có của các nước thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng mất đi, Hung Nô, thế lực ở Tây Vực, vốn tự hào với truyền thống võ công và vinh dự khi chiến đấu hi sinh cũng từng bước bị nhà Hán tiêu diệt.    Cội nguồn hình thành những vành đai, con đường lừng danh trong quá khứ của Trung Quốc xuất phát từ nỗi ám ảnh chia cắt, cát cứ. ở Vành đai và Con đường ngày nay, nỗi sợ này ngày càng hiện hữu, và giải pháp của nó là gia cố chính quyền trung ương, liên kết các vùng trong nội địa, mở rộng thêm vùng ảnh hưởng, gia nhập vào vùng ảnh hưởng hoặc làm chư hầu kiểu mới của đế chế.    Tiếp tục mối lo lắng đó, Vạn Lý Trường Thành là chưa đủ, Hung Nô vẫn thường xuyên thọc thẳng vào Trường An, luôn ăn không ngon ngủ không yên nên Hán Vũ Đế phái Trương Khiên mở đường sang Tây Vực, liên kết với Đại Nguyệt Thị để tiêu diệt cho được Hung Nô. Cội nguồn của việc hình thành con đường tơ lụa lừng danh cũng vẫn là nỗi ám ảnh chia cắt sự thống nhất của Trung Quốc. Mục tiêu chính trị này là khởi nguyên của cái gọi là “con đường tơ lụa lừng danh trong lịch sử”. Lâu dần, nhà Hán cũng đã tìm ra kinh nghiệm cai trị Hung Nô, trong Hậu Hán Thư chép: “Kiểm lại các sự kiện, thấy rằng, rợ mọi phương Bắc có thể dùng vũ lực mà khuất phục được, nhưng biến đổi chúng lại là rất khó”, hay kinh nghiệm của Ban Siêu được phổ biến lại: “Quan lại và binh sĩ ở bên ngoài quan ải vốn không phải là những đứa con hiếu, những đứa cháu ngoan, mà đều là những người phạm tội mới bị đưa đến đó, hoặc bản thân họ từng có lỗi lầm nên mới bị điều động đến Tây Vực. Trong khi đó, dân tộc bản địa lại không có tập quán như chúng ta, nên rất khó quản lý, dễ gây ra việc rối rắm”2. Đến đời Hán Tuyên đế, năm 60 TCN, về cơ bản Hung Nô bị tiêu diệt, nhà Hán thiết lập Tây Vực Đô Hộ phủ. Như vậy, mục tiêu của sáp nhập Hung Nô, là tiêu diệt thế lực trực tiếp uy hiếp nhà Hán và giải quyết nỗi lo sợ Hung Nô, tạo thành một vùng đệm kết nối quan trọng với Trung Nguyên. Nỗi lo phân liệt tạm thời được nhà Hán giải quyết.  Thời nhà Tùy, hệ thống sông đào của Trung Quốc đã hình thành được từ mấy trăm năm trước đó, nhưng kinh đô của nhà Tùy nằm sâu phía trong nội địa. Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc khai thông và kết nối hệ thống Đại Vận Hà là do cha con nhà Tùy, Tùy Văn Đế và Tùy Dạng Đế muốn mệnh lệnh của mình phải được truyền đi bốn phía một cách thông suốt. Như vậy, hệ thống Đại Vận Hà vẫn được hình thành trên nỗi lo sợ phân liệt lãnh thổ, và để tiến đến thống nhất lãnh thổ, từ đó quyền lực có thể đến được toàn quốc.     Sự trỗi dậy của quá khứ     Nhìn vào các vành đai và con đường trong lịch sử, có thể thấy rằng, tiền thân của vành đai kinh tế con đường tơ lụa chính là con đường tơ lụa cổ xưa, còn con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI là sự đầu thai của con đường tơ lụa trên biển trong lịch sử. Thực tế hiện nay, Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, diện tích lớn thứ ba thế giới nhưng lại là một quốc gia đang bị chia cắt, chưa thống nhất, tính chất bất ổn đang hiện hữu và có thể bùng phát chia cắt, cát cứ. Các vùng đất, lãnh thổ và đảo luôn tìm cách độc lập. Vì vậy, Vành đai và Con đường có cội nguồn sâu xa của khát vọng kết nối thống nhất trong tâm thức của người Trung Quốc và cá nhân người lãnh đạo Tập Cận Bình. Các học giả hàng đầu của Đại học Thanh Hoa, đứng đầu là Hồ An Cương, với tầm tư duy chiến lược, trong sách Trung Quốc những chiến lược lớn đã tổng kết về nỗi ám ảnh này. Trong mục “Nhận định những thay đổi tài nguyên chiến lược của Trung Quốc”, các tác giả viết: “Trung Quốc là nước có lãnh thổ và lãnh hải lớn thứ ba trên thế giới, tiếp giáp với mười mấy nước, hơn nữa tới nay vẫn còn bị chia cắt, đòi hỏi nhà nước phải chi những khoản chi phí quốc phòng cần thiết, nhưng ngân sách Trung ương quá ít nên chưa giải quyết được các vấn đề trên. Đây là ‘điểm chí tử’ về tài nguyên chiến lược của Trung Quốc”3. Sâu xa hơn, câu chuyện chia cắt vừa là một ám ảnh lịch sử đối với truyền thống thống nhất và chia cắt của Trung Quốc, vì vậy, sẽ là nỗi sỉ nhục4 đối với một đời hoàng đế hoặc một thể chế nào đó được gọi là hùng mạnh của Trung Hoa nhưng đất nước còn chưa thống nhất. Trung Quốc sẽ tự cảm thấy bị sỉ nhục bởi là cường quốc duy nhất trên thế giới bị nghi ngờ về năng lực thống nhất quốc gia. Nhóm học giả Đại học Thanh Hoa viết về điểm yếu quốc sỉ này: “Ý nghĩa của vấn đề Đài Loan tuyệt nhiên không chỉ là ở vị trí chiến lược của Đài Loan hoặc chỉ là vấn đề thể diện “rửa quốc sỉ” mà là vấn đề can hệ tới ý niệm về một nước Trung Quốc có thể tiếp tục tồn tại hay không, do vậy nó là vấn đề lợi ích sống còn của Trung Quốc… Vì thế, Trung Quốc cần làm cho Mỹ nhận thức được rằng, Trung Quốc mà không có Đài Loan thì không còn là Trung Quốc nữa. Đài Loan quan trọng đối với Trung Quốc giống như dân chủ và tự do quan trọng đối với Mỹ vậy”5.       Trưng bày xưởng đóng tàu hoàng gia từ thời Minh ở Nam Kinh trong khuôn khổ ngày hội Hàng hải Trung Quốc vào năm 2012.  Xưởng đóng tàu hoàng gia này đã sản xuất con tàu cho Trịnh Hòa vượt biển. Nguồn: http://english.jschina.com.cn.   Ngày nay, ở Vành đai và Con đường, nỗi sợ này ngày càng hiện hữu, và giải pháp của nó là gia cố chính quyền trung ương, liên kết các vùng trong nội địa, mở rộng thêm vùng ảnh hưởng, gia nhập vào vùng ảnh hưởng hoặc làm chư hầu kiểu mới của đế chế. Chính quyền Trung ương, đứng đầu là ông Tập, cần tạo ra chất keo mới cho sự kết dính, kết nối để tránh xảy ra tình trạng cát cứ, tan rã. Một mặt, các địa phương Trung Quốc tham gia vào Vành đai và Con đường sẽ có động lực mới là có được tiền vay từ các ngân hàng và quỹ Con đường tơ lụa của Chính phủ và các tổ chức thế giới, giải phóng năng lực dư thừa của Trung Quốc, tạo ra động lực mới cho sự kết nối và thống nhất, những doanh nghiệp Trung Quốc được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài và được hỗ trợ vốn khi tham gia dự án này… Mặt khác, chiến lược kết nối thời hiện đại này sẽ giúp Trung Quốc mở rộng tầm ảnh hưởng, tầm lan tỏa, tăng thêm chư hầu, thêm tài nguyên và đẩy được cả lao động dư thừa ra bên ngoài.  Trong số các nước tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Nam, Việt Nam và Myanmar là hai yết hầu. Việt Nam án ngữ con đường ra biển Thái Bình Dương, Myanma án ngữ con đường ra Ấn Độ Dương của Trung Quốc, mà như chúng ta đã biết, mục tiêu tối hậu ra biển của Trung Quốc không chỉ là dầu mỏ, không chỉ là vấn đề buôn bán… mà mục tiêu đích thực được chính Mao Trạch Đông đưa ra cho Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956 là: “Đảng ta phải với tay ra biển để kiểm soát cả thế giới”6. Việc hình thành chiến lược chuỗi ngọc trai, con đường tơ lụa trên biển và cả trên bộ, đầu tư xây dựng cảng biển, liên kết Mekong – Lan Thương, hay Lan Thương hóa Mekong,… đều nhằm phục vụ cho khát vọng tối hậu này. Định vị như vậy, để hiểu được vị trí yết hầu của Việt Nam trong khu vực và thế giới và có ứng xử cho phù hợp là điều rất cần thiết. □  ——-  Chú thích:   *TS, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.  Bài viết này trích xuất từ nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 506.01-2016.01.  1 Nhiều tác giả (Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch), Lịch sử văn hóa Trung Quốc (Ba trăm đề mục), tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999, tr.491.  2 Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2004,tr. 479.  3 Hồ An Cương chủ biên (Trần Khang, Bùi Xuân Tuấn dịch), Trung Quốc những chiến lược lớn, Nxb Thông tấn, 2003, tr. 90.  4 Nỗi ám ảnh này lớn đến mực Trung Quốc khắc cốt ghi tâm, Trung Quốc biên soạn cả cuốn từ điển có tên “Quốc sỉ” (bản Trung văn) [nguồn].  5 Hồ An Cương chủ biên, sách đã dẫn, tr. 363.  6 Dẫn lại theo: Chết bởi Trung Quốc, tr. 422. “Tài liệu dẫn theo nghiên cứu của Steven W.Móher gửi cho Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Dana Rohrabacher, chủ tịch Hội đồng bang giao quốc tế tiểu bang giám sát và điều tra. Tài liệu đăng ở đây: http://www.au.af.mil/au/awc/awcgarte/congress/mos021406.pdf.      Author                Trịnh Văn Định        
__label__tiasang Vành đai nhiệt đới mở rộng nhanh      25 năm qua, khu vực có khí hậu nhiệt đới đã mở rộng thêm tổng cộng 277km về hai cực.      Kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Dian Seidel và đồng nghiệp, ĐH Quản lý khí quyển và đại dương quốc gia Washington (Mỹ), đã “gây sốc” vì cho thấy vành đai nhiệt đới mở rộng nhanh hơn dự báo. Việc mở rộng này kéo theo sự di chuyển của những đặc điểm khí hậu nhiệt đới về hai cực, dẫn đến sự thay đổi lượng mưa, ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, nông nghiệp và nguồn nước. Diện tích vành đai nhiệt đới tăng lên sẽ khiến nhiều khu vực chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới hơn.   Thanh Trúc      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vành sao Thổ có cách đây hàng tỷ năm      Các dữ liệu mới do tàu thăm dò Cassini thu thập được cho thấy các vòng tròn quanh sao Thổ đã có cách đây hàng tỷ năm và có thể sẽ tồn tại vĩnh viễn.      Trước đó, các nhà nghiên cứu tin rằng các vòng tròn này chỉ mới có cách đây 100 triệu năm, khi một mặt trăng hay một sao chổi khổng lồ bị phá hủy ở vùng phụ cận sao Thổ. Cho đến nay vẫn chưa ai trả lời được câu hỏi các vành của sao Thổ hình thành khi nào. Tuy nhiên đa số các nhà khoa học đều cho rằng chúng là kết quả của một vụ va chạm đã xảy ra khá lâu trong quá khứ.   T.Vy (Theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật chất đã tạo ra ý thức như thế nào?      Nhiều  nghiên cứu về mạng khoa học thần kinh đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh về các hoạt động ý thức đã hình thành như thế nào từ những tương tác (như trong một dàn nhạc) giữa các vùng trong não bộ 1.        Các mạng (network) được quan sát khắp nơi trong đời sống (từ giao thông, đường sắt, đường bộ, mạng www, dải Ngân hà gồm nhiều nút (node) song không có mạng nào phức tạp bằng mạng trong não bộ của chúng ta.  Trong não bộ có nhiều vùng, ví dụ thùy thái dương (temporal lobe) là vùng đặc dụng của thính giác gắn liền với bộ nhớ, thùy chẩm (occipital) sau đầu gắn liền với thị giác. Chính các vùng đặc trưng đó khi tương tác với nhau làm nên phạm trù là chính chúng ta. Các nhà khoa học đã sử dụng lý thuyết các giản đồ (theory of graph) để nghiên cứu mạng do các vùng tạo nên và tìm hiểu các nhiệm vụ ý thức (cognitive task) như cảm giác (sensing), hồi ức (remembering), ra quyết định (making decision), học những kỹ năng mới (learning new skill) và cách thức chuyển động (movement)… Người ta thấy rằng các vùng trong não bộ đóng những vai trò và có những nhiệm vụ khác nhau.  Và điều có ý nghĩa sâu sắc là bộ não – tạo nên những con người có ý thức. Não bộ gồm khoảng 100 tỷ neuron với 100 triệu triệu đoạn liên hợp thần kinh gọi là synapse.  Mạng khoa học thần kinh (network neuroscience) có mục tiêu mô tả tính phức tạp đó. Người ta dùng lý thuyết graph với các nút (node) và các đường nối (edge). Node là những đơn vị của mạng như neuron (xem như sân bay) còn các đường nối là những đường giữa các node (xem như đường bay).  Não bộ là một graph chứa 300 node, nhiều vùng được nối với nhau bởi các đường nối. Bức tranh này cho ta một hình ảnh về cách hoạt động của ý thức (cognitive functioning). Điều này giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán (diagnose) và điều trị các bệnh về thần kinh, giúp hiểu nhiều về trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence AI) và các liệu pháp di truyền (genetic therapies).     Âm nhạc của bộ não     Để hiểu bằng cách nào mạng tạo nên ý thức con người ta hãy xem sự hoạt động của một dàn nhạc giao hưởng. Bộ não gồm nhiều vùng ứng với trong dàn nhạc gồm nhiều bộ kèn đồng (brass), bộ gõ (percussion), bộ dây (string), bộ kèn gỗ (woodwind). Trong bộ não có nhiều vùng với các phận sự khác nhau: thấy (vision), chuyển động (motion), cảm giác (emotion),… Như thế cũng chưa nói được bộ não đã hoạt động như thế nào cũng như các bộ trong dàn nhạc chưa là một bản nhạc giao hưởng.  Chúng ta cần phải nghiên cứu các vùng bộ não đã phối hợp thế nào trong mạng. Ta biết rằng các bộ trong dàn nhạc chưa phải là âm nhạc. Cần phải có một hoạt động hiệp đồng (functional connectivity) mới biểu diễn được một bản giao hưởng.     Tính modular (Modularity)     Giống như trong một dàn nhạc gồm nhiều nhóm nhạc cụ bộ não cũng được phân chia thành nhiều nhóm các node gọi là module và như vậy bộ não được gọi là có tính modular. Bộ não có cả thảy 7 module cơ bản. Các node trong cùng một  module liên kết với nhau mạnh hơn so với node trong module khác (xem hình 1).      Hình 1.Module, nút, hub.  Mỗi module trong não bộ có một nhóm nhiệm vụ (task) giống như trong dàn nhạc giao hưởng mỗi nhóm nhạc cụ có một số trách nhiệm.  Một số module gắn liền với các nhiệm vụ như: lưu ý (attention), hồi tưởng (memory),… các module khác gắn liền với thính giác (hearing), chuyển động (motion), thị giác (vision).  Mặc dầu các module có thể hoạt động độc lập song muốn có một bản nhạc, các module phải hoạt động hiệp đồng.  Ví dụ muốn nhớ một số điện thoại cần sự hợp tác giữa các module: nghe (auditory), sự chú ý (attention) và xử lý ký ức (memory-processing). Để tích hợp và kiểm tra sự hoạt động của nhiều module não bộ hình thành các nút gọi là hub (có nghĩa trục, trung tâm), tại đấy nhiều đường liên kết từ các module khác nhau gặp nhau (xem hình 2).      Hình 2. Cấu trúc bộ não.  Nhiệm vụ bộ não là giải mã hơn 100 triệu triệu message (tin nhắn). Bảy module cơ bản của bộ não được tô bằng 7 màu khác nhau (xem hình 3).      Hình 3. Bảy module (được tô bằng các màu sắc khác nhau).  Các hub liên kết (xem hình 1) có liên kết mạnh nhất với các module khác.  Giản đồ các nút (node) và đường nối (edge) cho ta thấy các hub liên kết (được biểu diễn bởi những đường tròn nhỏ trên hình 2). Các nút được xem như những magnet đẩy nhau với các đường nối (edge) có tác động như những lò xo nối chúng với nhau.  Để tích hợp và kiểm tra hoạt động của các module não bộ sử dụng yếu tố gọi là hub – vốn là những nút mà ở đấy các liên kết giữa các module gặp nhau.  Trên đây là 7 module cơ bản với các nhiệm vụ (task) (xem hình 4).          Hình 4. Bảy module của não bộ và nhiệm vụ.    Ta có 7 module: 1- thị giác (visual), 2- chú ý (attention), 3- kiểm tra trán vách (frontoparietal), 4- chuyển động sinh dưỡng (somatic motor), 5- nổi bật (salience), 6- mặc định (default), 7- các tứ chi (limbic).  Hình 4 là hình các module và bên trái có ghi các nhiệm vụ của chúng (task).  Quá trình tạo nên ý thức con người là một quá trình phức tạp. Nhờ lý thuyết graph với những yếu tố node, edge, hub với những module và những tương tác (liên kết) khác nhau người ta dần dần hiểu được bản nhạc giao hưởng trong não bộ đã được vang lên như thế nào để thực hiện các chức năng ý thức của con người.□     Tài liệu tham khảo  1 Max Bertolero and Danielle S. Bassett, “How matter becomes mind”, Scientific American số tháng 9/2019  2 Maxwell A. Bertolero, , B.T. Thomas Yeo, Danielle S. Bassett,  Mark D’Esposito1, “A mechanistic model of connector hubs, modularity, and cognition”.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vật chất tối dịch chuyển qua các ngôi sao tạo sóng xung kích có thể dò được      Vật chất tối, một vật chất mang tính giả thuyết, có đặc điểm là không hấp thụ, phát xạ hay phản xạ ánh sáng, được cho là chiếm tới 80% vật chất trong vũ trụ này. Trong khi nhiều nghiên cứu đã truy dấu một cách gián tiếp sự tồn tại của vật chất tối nhưng các nhà vật lý vẫn chưa có khả năng dò trực tiếp ra chúng và để tự tin xác nhận nó là gì.      Một thực tế khiến cho việc tìm kiếm vật chất tối trở thành thách thức là chúng ta hiểu biết rất ít về khối lượng và thành phần của chúng. Điều đó có nghĩa là những kiếm tìm vật chất tối đều đặt trên cơ sở các giả thuyết và các giả định lý thuyết.  Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia SLAC và trường đại học Saclay Paris gần đây đã thực hiện một nghiên cứu lý thuyết có thể giới thiệu một cách mới về việc tìm kiếm vật chất tối. Bài báo của họ, xuất bản trên Physical Review Letters, chứng tỏ khi vật chất tối vĩ mô dịch chuyển qua một ngôi sao, nó có thể tạo ra những sóng xung kích có thể truyền đến bề mặt ngôi sao đó 1. Các sóng này có thể dẫn đến những phát xạ tia X, UV, quang học đặc biệt và tồn tại trong thời gian ngắn nhưng có thể dò được bằng những kính viễn vọng tiên tiến.  “Phần lớn các thực nghiệm kiếm tìm thứ vật chất tối được hình thành từ những hạt riêng rẽ, mỗi hạt đều nặng như những hạt nhân nguyên tử, hoặc những khối có khối lượng như các hành tinh hay những ngôi sao”, Kevin Zhou, một trong những người tham gia nghiên cứu này, nói với Phys.org. “Chung tôi quan tâm đến trường hợp trung gian của vật chất tối có kích cỡ tiểu hành tinh, vốn từng được cho là quá khó để kiểm tra về mặt thực nghiệm, do quá hiếm việc các tiểu hành tinh tối tác động đến trái đất và quá nhỏ để quan sát thấy trong không gian”.  Ban đầu, Zhou và đồng nghiệp bắt đầu khám phá khả năng nhiệt tạo ra trong suốt quá trình tương tác giữa một tiểu hành tinh vật chất tối và một ngôi sao thông thường có thể là kết quả trong một vụ nổ sao. Giả thuyết này được dựa vào những kết quả nghiên cứu trước đây – đề xuất là việc lưu trữ năng lượng đôi khi có thể kích hoạt các siêu tân tinh trong những sao lùn trắng. Sau một vài tuần tính toán và thảo luận, tuy nhiên nhóm nghiên cứu nhận ra là tác động giữa một tiểu hành tinh vật chất tối và một ngôi sao thông thường có thể không dẫn đến một vụ nổ sao, vì các ngôi sao thông thường vốn ổn định hơn các ngôi sao lùn trắng.  “Chúng tôi đã có một linh cảm là năng lượng được sinh ra từ một cuộc va chạm phải nhìn thấy được, vì vậy chúng tôi đã bão não trong vài tháng, cố gắng chọn lọc ra được một ý tưởng chấp nhận được giữa một loạt ý tưởng”, Zhou giải thích. “Cuối cùng, chúng tôi nhận ra là các sóng xung kích sinh ra từ dịch chuyển của các tiểu hành tinh tối qua ngôi sao là tín hiệu hứa hẹn bậc nhất”.    Đồ họa phương pháp dò. Trong một cuộc tìm kiếm truyền thống vật chất tối dạng hạt (trái), các hạt vật chất tối không thấy được va chạm với hạt nhân trong máy dò đặt trên trái đất. Kết quả là năng lượng nảy lại có thể được các máy dò siêu nhạy quan sát được. Tương tự như vậy, các tiểu hành tinh tối có thể va chạm với các ngôi sao (phải), dẫn dến hình thành các sóng xung kích làm nóng bề mặt của chúng. Việc dẫn đến phát xạ tia UV có thể quan sát được bằng các kính viễn vọng trên mặt đất. Credit: Das et al  Các sóng xung kích là những tín hiệu dễ nhận thấy được tạo ra khi một vật thể di chuyển nhanh hơn tốc độ của âm thanh. Ví dụ, một máy bay siêu âm tạo ra âm thanh, có thể nghe được từ bề mặt trái đất ngay cả khi nó bay cao hàng dặm trên bầu trời.  Tương tự, Zhou và đồng nghiệp dự đoán là các sóng xung kích được tạo ra từ các tiểu hành tinh tối nằm ở sâu bên trong một ngôi sao cũng có thể chạm đến bề mặt sao. Điều này có thể dẫn đến kết quả là một “điểm nóng” có thời gian sống ngắn mà có thể dò được bằng các kính viễn vọng có chức năng khảo sát chùm tia UV.  “Chúng tôi vui mừng vì có thể tìm ra một cách hiệu quả để tìm kiếm một dạng vật chất tối, dẫu còn quá khó để thử nghiệm, bằng việc sử dụng các kính viễn vọng theo cách mà chúng tôi không ngờ tới”, Zhou nói. “Kính viễn vọng UV quyền lực nhất hiện tại là kính viễn vọng không gian Hubble”.  Nghiên cứu này tiếp nối một xu hướng đang nở rộ bên trong cộng đồng vật lý thiên văn là sử dụng các thiên thể như những máy dò vật chất tối khổng lồ. Cách tiếp cận đầy hứa hẹn về tìm kiếm vật chất tối kết hợp với các lĩnh vực vật lý hạt và vật lý thiên văn đã khiến hai cộng đồng này lại gần với nhau hơn.  Trong tương lai, công trình nghiên cứu này có thể truyền cảm hứng cho các kỹ sư thiết kế những kính viễn vọng UV mới nhỏ hơn nhưng có thể quan sát những phần rộng lớn hơn của vũ trụ. Một kính viễn vọng tương tự mang tên ULTRASAT đang được thiết kế để sẵn sàng lắp đặt vào năm 2024. Nếu sử dụng kính viễn vọng này, các nhà vật lý có thể tìm kiếm vật chất tối bằng việc kiểm tra các bề mặt sao. Trong công trình tiếp theo, các nhà nghiên cứu tự đặt kế hoạch cố dò tiểu hành tinh tối có tiềm năng tạo ra các sự kiện bằng việc sử dụng dữ liệu kính viễn vọng UV.  “Trường hợp này có thể thực hiện được với việc dùng kính Hubble để theo dõi một quần tinh hình cầu lớn”, Zhou nói. “Có thể thú vị để xem xét tác động của các tiểu hành tinh tối với những thiên thể khác. Trước công trình của chúng tôi, đã có nhiều bài báo xem xét những tác động giữa các ngôi sao neutron và sao khổng lồ đỏ nhưng có lẽ những ý tưởng hứa hẹn theo hướng của chúng tôi thì chưa ai nghĩ tới”.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2022-01-dark-stars-potentially.html  https://www.inverse.com/science/dark-matter-asteroids  ———————————–  1. https://journals.aps.org/prl/abstract/10.1103/PhysRevLett.128.021101    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật chất tối nặng như thế nào?      Các nhà khoa học đã tính toán phạm vi khối lượng của vật chất tối – và phạm vi này nhỏ hơn những gì thế giới khoa học vẫn nghĩ.      “Theoretical bounds on dark matter masses”, phát hiện của các nhà nghiên cứu trường đại học Sussex xuất bản trên Physics Letters B —về cơ bản làm hẹp hơn phạm vi của các khối lượng tiềm năng của các hạt vật chất tối và giúp các nhà nghiên cứu tập trung vào việc tìm kiếm trong tương lai. Họ đã sử dụng yếu tố ban đầu là hấp dẫn tương tác với vật chất tối như cách nó tương tác trong thế giới chúng ta có thể quan sát được để xác định các giới hạn trên và giới hạn dưới của khối lượng vật chất tối.  Các kết quả chứng tỏ là vật chất tối không thể là ‘siêu nhẹ’ hoặc ‘siêu nặng’ như một số lý thuyết đã nêu, trừ phi cho đến lúc một lực tương tác nào đó mà nay chưa được phát hiện cũng tác động lên nó.  Nhóm nghiên cứu đã dùng giả định là chỉ có một lực tương tác vào vật chất tối là hấp dẫn, và tính toán ra các hạt vật chất tối phải có một khối lượng giữa 10-3 eV và 107 eV. Đây là phạm vi hẹp hơn phổ 10-24 eV—1019 GeV đã được đề xuất về mặt lý thuyết.  Điều khiến khám phá này trở nên thậm chí nhiều ý nghĩa hơn là ngay cả khi xác định được khối lượng của vật chất tối nằm ở bên ngoài phạm vi do nhóm nghiên cứu Sussex đề xuất, thì nó cũng sẽ chứng tỏ là có một lực thêm vào – cũng như lực hấp dẫn – tương tác lên vật chất tối.  Giáo sư Xavier Calmet của trường Khoa học toán học và vật lý của trường đại học Sussex, nói: “Lần đầu tiên không ai nghĩ rằng việc sử dụng những gì chúng ta biết về hấp dẫn lượng tử như một cách để tính toán phạm vi khối lượng vật chất tối. Chúng tôi ngạc nhiên khi phát hiện ra không ai từng làm như vậy trước đây – cũng như các nhà khoa học sau đó bình duyệt bài báo của chúng tôi cũng ngạc nhiên như vậy.  “Những gì chúng tôi làm là chứng tỏ vật chất tối không phải là ‘siêu nhẹ’ hoặc ‘siêu nặng’ như một số lý thuyết đã đề xuất – trừ phi có một lực thêm vào mà chúng ta còn chưa biết tác động lên nó. Nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà vật lý trong những nghiên cứu tương lai về vật chất tối theo hai cách: tập trung vào khu vực nghiên cứu vật chất tối, và sẽ có tiềm năng giúp tiết lộ thông tin là liệu có hay không một lực bí ẩn còn chưa biết trong vũ trụ này”.  Folkert Kuipers, một nghiên cứu sinh làm việc với giáo sư Calmet, tại trường đại học Sussex, nói: “Là một nghiên cứu sinh, thật tự hào khi có thể thực hiện nghiên cứu về một chủ đề thú vị và có tác động lớn như vậy. Phát hiện của chúng tôi là tin tốt cho các nhà thực nghiệm khi giúp họ tiến gần hơn tới phát hiện về bản chất tự nhiên của vật chất tối”.  Vũ trụ mà chúng ta nhìn thấy – như vũ trụ của chúng ta, các hành tinh và các ngôi sao – chiếm 25% tất cả khối lượng của vũ trụ. 75% còn lại bao gồm vật chất tối. Điều chúng ta mới biết là hấp dẫn tương tác với vật chất tối dựa trên việc tính toán hình dạng của các thiên hà.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-01-heavy-dark-scientists-radically-narrow.html  https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0370269321000083    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu mới biến nhiệt lượng thải hồi thành điện năng      Các nhà khoa học Mỹ thuộc Đại học Northweston vừa phát hiện ra một loại vật liệu mới có thể chuyển nhiệt lượng thải hồi thành điện năng nhằm tăng sức mạnh cho động cơ ôtô và tiết kiệm nhiên liệu.     Theo các nhà khoa học, khi thêm Antimoan và chì vào chất bán dẫn chì-telluride sẽ thu được một loại vật liệu nhiệt điện mới có thể tạo ra điện năng với hiệu suất cao hơn loại vật liệu hiện có. Công nghệ nhiệt điện hiện nay chỉ được sử dụng ở diện hẹp như chất bán dẫn dùng trong các thiết bị làm lạnh vì có hiệu suất không cao (khoảng 5-6%). Trong khi đó, với loại vật liệu mới, hiệu suất có thể tăng tới 11-14% và mục tiêu dài hạn của các nhà khoa học là nâng lên tới 20%. Với hiệu suất tạo điện năng cao hơn, các thiết bị làm bằng vật liệu nhiệt điện mới có thể sẽ được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy điện, công nghiệp chế tạo ôtô, thiết bị hấp thu năng lượng Mặt trời, thu hồi nhiệt lượng thải hồi tại các nhà máy điện hạt nhân, sản xuất hoá chất hoặc kính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu mới thu giữ khí cacbonic có chọn lọc      Các nhà khoa học đã thành công trong việc cô lập và giữ lại khí cacbonic. Khí cacbonic bị thu giữ nhờ một loại vật liệu mới được thiết kế bởi Yaghi và các đồng nghiệp gọi là cơ cấu zeolitic imidazolate, hay ZIF.      Đây là những kết cấu hóa học tinh vi và có những lỗ li ti hình tổ ong, với một bề mặt lớn, có thể nung ở nhiệt độ cao mà không bị phân hủy và đun trong nước hoặc các dung môi hữu cơ trong một tuần mà không hề bị biến đổi. Phát hiện dẫn tới việc các nhà máy phát điện có thể thu giữ khí cacbonic một cách hiệu quả mà không dùng đến các vật liệu độc hại. http://rada.vn/ads/meta_system/700×90.swf   Trà Mi (Theo Physorg)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu mới trong pin giúp chống cháy      Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge – ORNL (Tennessee, Mỹ)đã phát triển một chất điện phân rắn để thay thế các  chất dễ cháy sử dụng trong pin lithium-ion.      Tại sao vấn đề này quan trọng?  Pin với các tính năng an toàn hơn, rẻ hơn luôn cần thiết để giúp chế tạo các xe ô tô điện dễ cạnh tranh hơn với các loại ô tô khác.  Chất điện phân được phát triển tại Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge có thể cho phép pin lithium lưu trữ năng lượng nhiều hơn 5 đến 10 lần và an toàn hơn so với những pin gần đây gây cháy cho chiếc máy bay Boeing 787 Dreamliner.  Trong khi nguyên nhân của ngọn lửa trên máy bay Boeing vẫn chưa được xác định, Boeing có thể làm giảm nguy cơ cháy bằng cách chọn một điện cực hóa học an toàn hơn. Nhưng sẽ có ít lựa chọn hơn cho các vật liệu điện phân chỉ cho phép dòng điện chạy qua một pin. Pin Lithium-ion, ngay cả những loại sử dụng điện cực tương đối an toàn, vẫn còn sử dụng chất điện phân lỏng dễ cháy.  Chất điện phân rắn sẽ an toàn hơn, nhưng rất khó để làm cho chúng có đủ độ dẫn điện để có thể được sử dụng trong pin. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ORNL, trong một nghiên cứu mới được công bố gần đây trên tạp chí Hiệp hội Hóa học Mỹ, đã phát triển một phương pháp khá dễ dàng để tạo cấu trúc nano của các chất điện phân rắn. Cấu trúc nano cải thiện độ dẫn của vật liệu lên 1.000 lần, đủ để làm cho nó trở nên hữu ích trong việc chế tạo pin lithium-ion. Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy vật liệu mới tương thích với các điện cực năng lượng cao.  Chất điện phân rắn không có tính dẫn điện cao như điện phân lỏng, nhưng các nhà nghiên cứu nói rằng  họ có thể khắc phục điều này bằng nhiều cách, trong đó có giải pháp là làm cho chất điện phân rất mỏng. Tuy rằng dù đã làm theo cách này thì pin vẫn không thể sạc nhanh hoặc cấp năng lượng một cách nhanh chóng với chất điện phân lỏng, nhưng như vậy đã đáp ứng được yêu cầu trong nhiều ứng dụng, chẳng hạn như trong xe điện, nơi số lượng lớn các thỏi pin cho phép dễ dàng cung cấp đầy đủ khi cần gia tăng đột ngột dòng điện.  Chất điện phân rắn không chỉ làm cho pin an toàn hơn, nó cũng có thể cho phép sử dụng các vật liệu điện cực có năng lượng cao hơn. Kết quả là, dù tốc độ cấp năng lượng có thể ít hơn so với pin lithium-ion hiện nay, tổng năng lượng mà chúng có thể lưu trữ sẽ cao hơn nhiều. Người ta chỉ cần dùng một chiếc pin nhỏ hơn nhiều – qua đó giúp tiết kiệm không gian và trọng lượng trên máy bay và giảm đáng kể chi phí của ô tô điện.  Chất điện phân rắn có thể đặc biệt phù hợp với pin lithium lưu huỳnh – đây là loại pin có thể lưu trữ rất nhiều năng lượng nhưng có vấn đề về độ an toàn và không thể sạc được nhiều lần theo suốt tuổi đời một chiếc xe hơi. Các điện cực lithium-kim loại có thể khiến pin bị đoản mạch và cháy. Chất điện phân rắn giúp ổn định kim loại lithium và phục vụ như một rào cản để ngăn đoản mạch. Các điện cực lưu huỳnh trong các pin này cũng bị thoái hóa khi được sử dụng với chất điện phân lỏng – một số lưu huỳnh có thể hòa tan trong chất lỏng và mất đi. Chất điện phân rắn ngăn chặn điều đó.  Công việc vẫn còn ở giai đoạn đầu. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu chỉ thực hiện được  các pin thử nghiệm có kích thước nhỏ cỡ nửa-inch, và kết quả việc chứng minh khả năng tương thích với các pin lithium-sulfur vẫn chưa được công bố.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu nano carbon sản xuất tại Khu CNC TP HCM có thật sự ưu việt?      Những hình ảnh về vật liệu ống nanocarbon  của nhóm nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu CNC TP HCM, là những vật liệu có kích thước quá  lớn so với những thành tựu thế giới, và rất khó tin rằng chúng có thể  đạt được những tính chất nano thần kỳ như những tuyên bố có phần “giật  gân” gần đây của TS Nguyễn Chánh Khê.    Ống carbon nanotube  Các vật liệu dựa trên carbon (bao gồm ống nano carbon, bóng bulky carbon, graphene…) được coi là nhóm vật liệu quan trọng của khoa học và công nghệ nano, tạo nên nhiều thay đổi thần kỳ trong khoa học và công nghệ. Sự xuất hiện của chúng đã kéo giới khoa học khắp thế giới vào cuộc đua nghiên cứu về các vật liệu này. Có thể coi giải Nobel Vật lý năm 2010 cho hai nhà Vật lý gốc Nga làm việc tại Manchester, Anh là Andre Geim và Konstantin Novoselov (hiện đều mang quốc tịch Anh và Hà Lan) là sự ghi nhận sự phát triển lên tới đỉnh điểm của các nghiên cứu về vật liệu nano carbon. Trong số các vật liệu nano carbon, hai loại đang được chú ý nhất là ống nano carbon (Carbon nanotube – CNT) và các tấm graphene. Ống là nano carbon thực chất là một tấm graphene (trường hợp này gọi là CNT đơn tường – Single-wall CNT – SWNT) hoặc nhiều tấm graphene (lúc đó sẽ trở thành CNT đa tường – Multi-wall CNT – MWNT) cuộn lại thành một ống dài1, có đường kính từ vài nanomet đến vài chục nanomet và chiều dài có thể tới cấp cm. Ống CNT (đơn tường) dài kỷ lục2 được công bố vào năm 2009 bởi các nhà khoa học Trung Quốc ở Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh) với chiều dài kỷ lục 18,5 cm. Cấu trúc đặc biệt này của CNT được liệt vào loại vật liệu nano một chiều, có nghĩa là điện tử chỉ có thể di chuyển tự do trong một chiều (cụ thể là chiều dài của dây), còn hai chiều còn lại (theo tiết diện của dây) thì sẽ bị hạn chế – tạo ra sự cầm tù lượng tử.                     Hình 1. Ảnh chụp hiển vi điện tử phân giải cao (HRTEM) một ống CNT đơn tường ứng dụng trong điện cực pin Lithium trong công bố gần đây của nhóm Seung Woo Lee (Hàn Quốc) trên tạp chí Nature Nanotechnology (2010)3. Trong sản phẩm này, ống CNT có đường kính cỡ 13 nm.  Nhờ kích thước nhỏ, cấu trúc đặc biệt, CNT có những tính chất đặc biệt vượt trội so với vật liệu thông thường: tính chất cơ (độ cứng cao tương đương với thép tốt nhất), độ dẫn nhiệt và dẫn điện cực tốt, khả năng phát xạ điện tử mạnh khi ở kích thước nhỏ, tính chất xúc tác mạnh… Có nghĩa là, tính chất của CNT phụ thuộc mạnh vào đường kính của ống. Để có thể ứng dụng CNT trong các linh kiện nano (vi mạch, ống phát xạ trường, đầu dò của kính hiển vi quét đầu dò…), đường kính của CNT có thể đòi hỏi nhỏ tới một vài nanomet, và khi đó, giá của CNT đơn tường với độ sạch 95% có thể lên tới 200,000 – 2,500,000 USD/kg4. Loại ứng dụng này đòi hỏi các thao tác phức tạp trên từng ống CNT đơn lẻ. Với các ứng dụng sử dụng CNT như một vật liệu phổ thông hàng loạt (ví dụ như các bộ lọc, các điện cực pin nhiên liệu…) thì kích thước ống CNT có thể lớn hơn, có thể lớn tới dải 10-30 nm, hình 1, và khi đó, giá thành của vật liệu CNT đơn tường5 có thể có giá từ 800 – 50,000 USD/kg. Công ty SUNNANO6 ở Giang Tây, Trung Quốc có thể cung cấp CNT đơn tường với giá chỉ 400 USD/kg khi mua trên 5 kg loại CNT đơn tường với độ sạch 90%, hoặc thậm chí xuống tới 120 USD/kg khi mua trên 100 kg. Nếu so sánh hai loại CNT thì CNT đơn tường luôn có giá thành cao hơn nhiều so với CNT đa tường.  Nghiên cứu sâu sắc về CNT thường bị khó khăn ở khâu phân tích bởi kích thước rất nhỏ. Công cụ phổ biến nhất để phân tích chính xác là kính hiển vi điện tử truyền qua với độ phân giải cao (HRTEM) cho phép ghi nhận hình ảnh thực của vật chất ở độ phân giải cao tới cấp độ nguyên tử, đồng thời cho độ tương phản chính xác về cấu trúc vật liệu (như ví dụ ở hình 1). Ngoài ra, các công cụ chùm điện tử khác như kính hiển vi điện tử quét (SEM) đều không thể cho phép quan sát cấu trúc thực với độ phân giải cao như HRTEM. Các công bố khoa học về CNT nếu minh họa hình ảnh bằng SEM đều không đạt tính thuyết phục cao và nếu gặp các phản biện có kiến thức sâu sắc về vi cấu trúc còn có thể bị bác bỏ bởi thực chất SEM chỉ cho các hình ảnh ngoài bề mặt, liên quan đến độ cao thấp bên ngoài, và tương phản hoàn toàn không liên quan đến cấu trúc vật liệu.  Sản phẩm của SHTP Labs, TP.HCM  Trong hầu hết các công bố gần đây của nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu triển khai – Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh (SHTP Labs)7, vật liệu CNT là vật liệu trung tâm của các ứng dụng được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhóm nghiên cứu này có đăng ký một số bằng phát minh sáng chế (patents) tại Hoa Kỳ và trình bày báo cáo tại một số hội nghị nước ngoài (cần chú ý là công bố tại các hội nghị này đều không phải là hệ thống tạp chí có phản biện). Trong một báo cáo với tiêu đề tổng quan về tổng hợp CNT8 trình bày tại Hội nghị NSTI-Nanotech năm 2009, nhóm này có công bố các vật liệu CNT chế tạo bằng phương pháp phản ứng pha rắn trong lò nung nhiệt độ cao và trình bày một số ảnh SEM (hiển vi điện tử quét) khẳng định sự hình thành của các CNT. Ngoài ra, hình ảnh về CNT chế tạo bởi nhóm này cũng được trình bày tại hội nghị này từ năm 2007 đến năm 2010 đều công bố các kết quả về chế tạo ống CNT bằng kỹ thuật này. Điều đáng ngạc nhiên là trưởng nhóm nghiên cứu là TS Nguyễn Chánh Khê đã công bố trên báo chí rằng nhóm là nơi đầu tiên tại Việt Nam tạo ra ống CNT (nhưng thực tế thì không đúng vậy – xem lời bác bỏ công bố này trên TuanVietnam9 khẳng định trước đó nhiều năm, nhiều nhóm nghiên cứu khác ở Việt Nam đã chế tạo thành công CNT và công bố trên các tạp chí chuyên ngành) với khả năng sản xuất khối lượng lớn gấp hàng triệu lần thế giới và giá thành rẻ hơn. Trên thực tế, việc sử dụng kỹ thuật phản ứng pha rắn tương tự để sản xuất CNT từ các sợi carbon giá rẻ đã được tiến hành tại Nhật Bản từ trước đó hơn 10 năm (ví dụ như công bố của nhóm Morinobu Endo ở Đại học Shinshu, Nagano, Nhật Bản10 hợp tác với Đại học Sussex ở Brighton, Anh trên tạp chí Carbon năm 1995).                     Hình 2. (a,b): Ảnh CNT chụp bằng SEM công bố bởi nhóm SHTP Labs  (thang kích thước màu đỏ được vẽ lại từ hình gốc để làm rõ kích thước). (c,d): Ảnh chụp CNT đơn tường bằng HRTEM từ nhóm Nhật Bản (c)10 công bố từ năm 1995 và công ty Nano-Lab (Mỹ)4 sản xuất bằng phương pháp tương tự với chất lượng vượt trội và giá rất rẻ. Cần chú ý trong hình ảnh (d) là tập hợp của nhiều CNT đơn tường kết thành sợi lớn.  Điều đáng nói hơn, nhóm nghiên cứu ở Nhật Bản sản xuất CNT với chất lượng vượt xa nhóm tại SHTP với việc tạo ra CNT với đường kính xung quanh 5 nm (trong khi nhóm tại SHTP Labs chỉ công bố những bức ảnh SEM rất sơ sài với CNT nhỏ nhất vượt trên mức 50 nm, thậm chí độ đồng nhất kém đến mức có những ống có kích thước lên tới trên 1 micromet – vượt thang nanomet tới 10 lần, hình 2). Những hình ảnh chụp thô bằng SEM của SHTP Labs cho thấy đây “có thể” là những ống CNT đa tường có kích thước rất lớn (cần chú ý là SEM không đủ thuyết phục để khẳng định đây là các “ống” carbon nên chỉ có thể giả thiết như vậy). Những kết quả của SHTP Labs cho thấy vật liệu CNT của họ khó có thể đạt được những tính chất vượt trội như mong đợi ở vật liệu nano như TS Nguyễn Chánh Khê vẫn tuyên bố, đặc biệt khó có thể tưởng tượng nổi loại ống CNT lớn như vậy có thể được đem ứng dụng trong kính hiển vi quét đầu dò (một ứng dụng đòi hỏi loại ống CNT có kích thước chỉ vài nanomet) như TS Khê từng “khoe” trong một hội thảo11. Với việc sử dụng vật liệu đầu vào là những vật liệu đơn giản rẻ tiền như họ thường công bố nhằm giải thích cho việc tạo thành giá thành rẻ, rất khó có thể tạo ra vật liệu nano đúng nghĩa bởi vì vật liệu nguồn thông thường chứa nhiều tạp chất bẩn sẽ dễ dàng nhiễm bẩn và phá hỏng toàn bộ tính chất vật liệu. Không bao giờ tồn tại một thứ công nghệ nano tinh tế sử dụng các vật liệu nguồn đơn giản không tinh chế vì yêu cầu độ sạch cao của công nghệ. Điều này cũng tương tự như trường hợp không thể tin việc đem cát biển thô giá rẻ và đưa vào công nghiệp bán dẫn thay cho sử dụng các phiến Si đơn tinh thể sản xuất công nghiệp, dù cả hai đều là Silic.   Có thể nói rằng, những hình ảnh về vật liệu ống nanocarbon của nhóm nghiên cứu ở SHTP Labs là những vật liệu có kích thước quá lớn so với những thành tựu thế giới, và rất khó tin rằng chúng có thể đạt được những tính chất nano thần kỳ như những tuyên bố có phần “giật gân” gần đây của TS Nguyễn Chánh Khê12. Nó cũng cho thấy rằng khả năng phân tích của nhóm này còn rất hạn chế để hiểu rõ về vật liệu nano, có thể chính là một nguyên nhân khiến cho những công bố khoa học chính thống từ đây còn rất khiêm tốn so với các nhóm nghiên cứu khác từ chính Việt Nam.    —  1. Jean-Christophe Charlier, Xavier Blase và Stephan Roche, Electronic and transport properties of nanotubes, Rev. Mod. Phys. 79, 677–732 (2007). http://link.aps.org/doi/10.1103/RevModPhys.79.677   2. Xueshen Wang và các cộng sự, Nano Letters 9, 3137-3141 (2009) http://pubs.acs.org/doi/abs/10.1021/nl901260b   3. Seung Woo Lee và các cộng sự, Nature Nanotechnology 5, 531–537 (2010). http://www.nature.com/nnano/journal/v5/n7/full/nnano.2010.116.html  4. http://www.nano-lab.com/single-walled-carbon-nanotubes.html   5. http://www.cheaptubesinc.com/swnts.htm#single_walled_nanotubes_swnts_prices   6. http://www.sunnano.com/prices.htm   7. http://shtplabs.org/vi/nghien-cuu-va-de-tai-trien-khai/cac-sang-che.html   8. Khe C. Nguyen và các cộng sự, NSTI-Nanotech 2009, ISBN 978-1-4398-1782, vol 1, pp. 5 (có thể tìm thấy tại địa chỉ: http://shtplabs.org/images/stories/downloads/Baocao-khoahoc/TECHNICAL-CONFERENCES/NANO-TECH/OVERVIEW-OF-SPNT-NANOTECH-2009.PDF).  9. “Đằng sau nghiên cứu kinh ngạc của TS. Nguyễn Chánh Khê”, TuanVietnam, số ra ngày 16 tháng 6 năm 2007. http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/dang-sau-nghien-cuu-kinh-ngac-cua-ts-nguyen-chanh-khe   10. Morinobu Endo và các cộng sự, Carbon 33, 873-881 (1995). http://dx.doi.org/10.1016/0008-6223(95)00016-7)   11. http://www.youtube.com/watch?v=5Xl8BgMRsgA   12. Sáng chế máy phát điện chạy bằng nước, Sài Gòn Giải phóng, số ra ngày 03/01/2012 http://www.sggp.org.vn/khoahoc_congnghe/2012/1/277882/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao dựa trên nền sắt đầu tiên      Mới đây, Hideo Hosono cùng các cộng sự ở Viện Công nghệ Tokyo (Nhật) lần đầu tiên khám phá ra một vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao có nhiệt độ chuyển pha 26 K được dựa trên các hợp chất của sắt-Fe.      Các nhà nghiên cứu hi vọng có thể tăng được nhiệt độ chuyển pha cao trên 26 K bằng cách thay đổi các quá trình xử lý vật liệu. Vật liệu siêu dẫn mới này cũng là một bằng chứng để chứng tỏ rằng tính siêu dẫn không bị hạn chế bởi các ôxit đồng và một vài hợp chất khác dựa trên Uranium, Cerium, Plutonium. Mặc dù tính siêu dẫn có thể bị phá hủy bởi từ trường cao, nhưng khám phá đã chỉ ra rằng thậm chí nó có thể tồn tại trong các vật liệu có từ tính. Loại vật liệu siêu dẫn mới này có thể cực kỳ quan trọng cho công nghệ nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu thêm.   Vạn lý Độc hành (Theo Physicsworld.com)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu thông minh “đổi pha” giữa nóng và lạnh trong vài phút      Các kỹ sư tại Đại học Duke (Hoa Kỳ) đã phát triển một công nghệ cửa kính thông minh có thể chuyển đổi nhanh chóng giữa việc thu và hạ nhiệt từ ánh sáng Mặt trời. Điều này có thể giúp tiết kiệm năng lượng điều hòa không khí tới 20% chỉ tính riêng ở Mỹ.      Nếu ai đã từng đỗ ô tô dưới nắng vào ngày hè nóng bức thì đều biết rõ kính ô tô cho phép ánh nắng xuyên qua rất tốt nhưng cực kì khó thoát nhiệt ra ngoài. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở Đại học Duke đang tìm cách giải quyết điều này bằng công nghệ điện sắc (electrochromic), tức là tạo ra các vật liệu có thể thay đổi màu sắc hoặc mờ đi khi dòng điện chạy qua, từ đó làm thay đổi năng lượng mà chúng hấp thụ hoặc phản chiếu. Kết quả này được công bố trên tạp chí American Chemical Society Energy Letters vào giữa tháng 10 vừa qua.  Các loại cửa kính thông minh làm từ kính điện sắc là một công nghệ tương đối mới, sử dụng phản ứng điện cực để thay đổi độ trong đục của kính chỉ trong chớp mắt. Mặc dù có nhiều cách để tạo ra hiện tượng này nhưng tất cả đều cần một lớp vật liệu nhạy điện ở giữa hai lớp điện cực mỏng để truyền dòng điện qua. Thủ thuật này khá phức tạp khi làm với ánh sáng khả kiến (ánh sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường) và còn khó hơn nhiều khi xem xét đến các loại ánh sáng không nhìn thấy như tia hồng ngoại giữa (bức xạ nhiệt).  Trong nghiên cứu của mình, Po-Chun Hsu, phó giáo sư ngành kỹ thuật cơ khí và khoa học vật liệu tại Đại học Duke và học viên cao học Chenxi Sui cho biết họ đã tạo ra được thiết bị điện cực đầu tiên có thể chuyển đổi giữa sưởi ấm và làm mát bằng bức xạ Mặt trời, trong đó phương thức điều chỉnh điện sắc của họ không có bất kì bộ phận chuyển động nào và có thể điều chỉnh liên tục.  Thiết bị mỏng của họ có thể tương tác với cả hai phổ ánh sáng, đồng thời có thể chuyển đổi giữa chế độ sưởi ấm và làm mát thụ động. Ở chế độ sưởi ấm, thiết bị làm tối màu để hấp thụ ánh sáng mặt trời và ngăn tia hồng ngoại giữa thoát ra. Ở chế độ làm mát, lớp kính sẽ trở nên rõ hơn, đồng thời để lộ một tấm gương phản chiếu ánh sáng mặt trời và cho phép ánh sáng hồng ngoại giữa từ sau thiết bị tản ra.  PGS. Hsu cho biết: “Rất khó để tạo ra các vật liệu có thể hoạt động ở cả hai vùng [ánh sáng]. Thiết bị của chúng tôi là một trong những loại có phạm vi điều chỉnh lớn nhất về bức xạ nhiệt từng được chứng minh”.  Để tạo ra các lớp điện cực dẫn điện và trong suốt cho cả ánh sáng khả kiến và bức xạ nhiệt. Nhóm nghiên cứu bắt đầu bằng một lớp graphene dày một nguyên tử, họ đã thêm một lớp lưới vàng mỏng trên bề mặt graphene, có tác dụng như đường cao tốc dẫn điện.  Kế tiếp, nhằm thiết kế một vật liệu có thể di chuyển giữa hai lớp điện cực và chuyển đổi qua lại giữa hấp thụ ánh sáng và nhiệt lượng hoặc cho phép chúng đi qua. Các nhà nghiên cứu đã khai thác một hiện tượng gọi là plasmonics (tương tác giữa bức xạ điện từ và nano kim loại).  Theo đó, các tác giả cho dòng điện đi qua hai điện cực, khiến các hạt nano kim loại tụ lại gần điện cực trên cùng. Nó không chỉ làm thiết bị tối màu mà còn khiến toàn bộ thiết bị hấp thụ và bẫy cả ánh sáng khả kiến và nhiệt lượng. Khi đảo chiều dòng điện, các hạt nano tan trở lại trong chất điện phân lỏng trong suốt. Quá trình chuyển đổi giữa hai trạng thái mất từ 1 đến 2 phút.  Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức để biến công nghệ này trở nên hữu ích trong cuộc sống hàng ngày. Thách thức lớn nhất là tăng số lần các hạt nano có thể hình thành và tan rã, vì sản phẩm nguyên mẫu mới chỉ thực hiện được quá trình chuyển đổi này vài chục lần trước khi mất hiệu quả. Ngoài ra, người ta vẫn có thể cải thiện thêm độ phản xạ ánh sáng mặt trời ở chế độ làm mát. Các tác giả hy vọng trong tương lai gần, họ có thể giảm nhiệt độ làm mát xuống dưới nhiệt độ môi trường xung quanh.  Trang Linh lược dịch  Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-10-smart-material-cooling-minutes.html       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật liệu xây dựng từ lông gà      Giáo sư Menandro Acda, ĐH Lâm Nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên (Philippines) đã nghiên cứu ra loại ván xây dựng làm từ lông gà.      Phát minh có thể tạo bước đột phá trong ngành công nghiệp xây dựng ở châu Á. Loại vật liệu này có thể được sử dụng rộng rãi trong xây nhà, thay thế các loại gỗ ép hiện nay dễ bị côn trùng làm hư hại, bởi côn trùng (như mối) không ăn lông gà. Ngoài ra, loại vật liệu này cũng không cháy hoặc dễ bắt lửa như các loại ván tổng hợp làm bằng xi măng và sợi gỗ thông thường. Bên cạnh những ưu điểm trên, phát minh của ông Acda còn tận dụng 2,4 triệu tấn lông gà do ngành công nghiệp gia cầm Philippines thải ra mỗi năm và sẽ ít gây tác hại đối với môi trường hơn so với các phương pháp xử lý chất thải thông thường như đốt, chôn hoặc tái chế làm thức ăn gia súc.   T. An (Theo ABConline)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý châu Âu tiết lộ kế hoạch xây dựng máy gia tốc mới      Các nhà vật lý hạt châu Âu mới thông báo thiết kế về mặt khái niệm cho một máy gia tốc kế tục Máy gia tốc hạt lớn (LHC), cỗ máy được chứa trong đường hầm dạng vòng tròn có chu vi 27 km.      Máy gia tốc hạt mới có thể đặt trong đường hầm vòng tròn 100km (đỏ) gần LHC của CERN (xanh lam). Nguồn: CERN  Thông báo của họ kêu gọi xây dựng một máy gia tốc hạt lớn hơn, có thể nằm trong một đường hầm có chu vi 100 km để nghiên cứu chi tiết hơn về hạt Higg boson, loại hạt mới kỳ lạ mà chỗ máy LHC từng khám phá vào năm 2012. Cỗ máy mới, Máy va chạm vòng tròn tương lai (FCC), có thể cần tới 9 tỷ euro kinh phí đầu tư và dự kiến bắt đầu được vận hành vào năm 2040, sau khi LHC được lập kế hoạch dừng vận hành, theo một thông báo của Trung tâm hạt nhân châu Âu (CERN) – phòng vật lý hạt châu Âu gần Geneva, Thụy Sỹ.  LHC làm gia tốc các hạt proton va đập với các hạt proton để tạo ra các va chạm đạt mức năng lượng cao nhất. Tương phản với LHC, cỗ máy FCC đang được đề xuất có thể gia tốc các eletron va chạm với các bản sao phản vật chất của chúng, các hạt positron tại mức năng lượng 35 lần thấp hơn so với LHC (nhưng cao hơn với bất kỳ máy gia tốc electron-positron nào trước đó). Các va đập electron-positron có thể vẫn sẽ đạt được năng lượng đủ để tạo ra Higgs bosons nhưng chúng có thể “sạch” hơn để các nhà nghiên cứu có thể dễ phân tích hơn là các va chạm ở LHC. Đó là bởi vì các proton là những vật thể hỗn độn được tạo ra từ các hạt khác là quarks và gluons. Một cách tương phản, như các nhà vật lý đều biết, các electron và positron là những hạt cơ bản bất khả phân.  Máy gia tốc electron-positron này có thể giúp khám phá những điều bí ẩn của vật lý vượt cả Mô hình chuẩn phổ biến của các nhà khoa học bằng việc kiếm tìm độ sai lệch giữa sự phân rã của Higgs và các dự đoán của Mô hình chuẩn. FCC có thể được coi như một nấc thang để máy gia tốc proton trong tương lai khác có thể đạt được mức năng lực cao gấp 7 lần so với LHC để có thể tìm ra sự tồn tại của những hạt mới, vốn chỉ được dự đoán là tồn tại bên cạnh electron-positron. Cỗ máy này có thể ở mức giá 15 tỷ euro và có thể đặt vừa đường hầm của FCC vào giữa những năm 2050 hoặc chậm hơn. FCC có thể giúp tạo ra cỗ máy cơ bản phù hợp với đường hầm trị giá 5 triệu euro.  CERN đã thành công với những tầm nhìn về đường hầm trước đây. Họ đã xây dựng máy gia tốc Electron-Positron lớn (LEP), được vận hành từ năm 1989 đến 2001, để nghiên cứu chi tiết về các hạt mô hình chuẩn W và Z bosons. Sau đó, CERN đã dừng vận hành LEP và xây dựng LHC trong cùng đường hầm.  Dẫu sao, các nhà châu Âu sẽ phải cạnh tranh. Các nhà vật lý Trung Quốc có kế hoạch xây dựng một Máy va chạm positron điện tử vòng tròn (CEPC) trong đường hầm có đường kính 100 km, có lẽ vào năm 2030, và theo sau nó là một máy gia tốc proton nữa. Trong khi đó, các nhà vật lý Nhật Bản hi vọng xây một máy gia tốc tuyến tính. Những chiếc máy này có thể cho các electron và positrons va đập để sinh hạt Higgs bosons. Các nhà nghiên cứu tại CERN đã có kế hoạch xây dựng một máy gia tốc tuyến tính hoạt động theo một kỹ thuật gia tốc nhiều nét mới hơn.  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/01/european-physicists-unveil-plans-particle-collider-would-be-longer-panama-canal    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý cho mọi người      Nhà vật lý Robert B. Laughlin, Giáo sư trường Đại học Stanford (Mĩ) từng được giải thưởng Nobel nói về mối quan hệ tín ngưỡng đối với khoa học, về những máy tính cực nhanh và những khoảnh khắc không thể nào quên trong cuộc đời của nhà nghiên cứu.    Lễ trao giải Nobel Vật lý lại sắp diễn ra. GS còn nhớ gì về lễ trao giải thưởng đó đối với mình cách đây 9 năm không ?  Tôi giành được được giải thưởng Nobel cùng với Horst Ludwig Stoermer người Đức và Daniel Chee Tsui người Mỹ. Chúng tôi đã đánh chén, rồi đi đến hoàng cung, đến đây lại ăn một chút, sau đó khiêu vũ rồi lại ăn chút đỉnh. Đúng ra mà nói thì cả tuần đó bọn tôi chỉ đánh chén và đánh chén. Tôi nghĩ, giải thưởng Nobel có lẽ chỉ giành cho cánh già.    Nghe như GS không thích thú lắm.  Tất nhiên đó là một kỷ niệm đẹp, nhưng quả thật tôi không thể nghĩ nhờ đó mà vào hội những kẻ siêu phàm để rồi thay đổi căn bản cuộc sống. Một hôm tôi có mặt tại một bữa tiệc tối, hôm đó người được giải thưởng Nobel về Y học cũng được mời. Bà ấy phát biểu: “Đấy là khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời tôi”. Tôi trộm nghĩ: “Khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời tôi lại là buổi tối đốt lửa trại bên bãi biển”. Nhưng tôi hoàn toàn không được nói về chuyện đó.  Vậy thì việc được giải thưởng Nobel không phải là điều gì có ý nghĩa lắm đối với một nhà khoa học?               Robert B. Laughlin trong lễ trao giải Nobel Vật lý năm 1998          Có chứ, nhưng quan niệm cho rằng giải thưởng Nobel là thời điểm quan trọng nhất để xây dựng cơ đồ là không đúng. Cái khoảnh khắc quan trọng nhất chính là thời điểm mà người ta phát minh được một cái gì đấy. Mà cái thời điểm đó lại rất riêng tư, tĩnh lặng, nó diễn ra lặng lẽ, ngoài lề và ít ai biết đến.  Tuy vậy, bất chấp điều đó cho đến tận ngày nay giáo sư vẫn cài huy hiệu có chân dung Alfred Nobel trên ve áo của mình.  Một người được giải thưởng Nobel khác từng nói với tôi: “Người ta có thể đính cái huy hiệu này năm năm trên áo của mình, đeo lâu hơn thì ngượng lắm”. Tôi đeo tấm huy hiệu này chín năm rồi. Nhà báo có biết khi nhìn thấy hình phù điêu trên huy hiệu các em sinh viên hỏi tôi như thế nào không? “Thưa thầy, thầy đeo huy hiệu ai đấy ạ? Có phải đó là Lenin không?“  Giải thưởng Nobel vật lý năm nay được trao cho Albert Fert, người Pháp và Peter Gruenberg, người Đức. Giáo sư có quen biết ông Gruenberg không?  Tôi không quen biết ông ấy. Phải nói thật, tôi cũng không biết ông ấy là người phát hiện ra hiệu ứng từ trở khổng lồ và nhờ đó mà ông ấy được giải thưởng Nobel. Tôi cứ tưởng IBM đã làm được chuyện đó kia đấy.  Người ta sử dụng hiệu ứng này thí dụ như với đĩa cứng loại mới trong bất cứ loại máy tính tương đối hiện đại nào – thậm chí cả trong iPod. GS đánh giá phát hiện của ông Gruenberg như thế nào?  Tôi hoan nghênh Ủy ban giải thưởng Nobel đã cất công tìm ra được người thực sự phát hiện ra hiệu ứng này. Đây là một sự lựa chọn thật tuyệt vời. Khác với tôi, phát kiến của Gruenberg có hiệu quả kinh tế thật to lớn. Phát kiến này đối với ngành công nghiệp có giá trị cỡ tiền tỷ Euro. Người ta thậm chí còn có thể sử dụng hiệu ứng này đối với cái gọi là MRAM. Đây là một loại hình mới của bộ nhớ trong máy tính.  Thưa GS, ông Gruenberg đã phát hiện ra hiệu ứng này cách đây19 năm. Tại sao Ủy ban giải thưởng Nobel lại cần một khoảng thời gian dài đến như vậy rồi mới đi đến quyết định?  Giải thưởng Nobel là một thương hiệu lớn, vì vậy Ủy ban không muốn mắc sai lầm, làm tổn thương thương hiệu đó. Người Thụy Điển đã tạo ra một giải thưởng quan trọng nhất thế giới. Chúng ta cần nhận thức được điều đó. Cả người Mỹ lẫn người Nhật cũng chi rất nhiều tiền để cố tạo ra một loại giải thưởng tương tự, nhưng thực chất chỉ có người Thụy Điển thành công. Tại sao ư? Vì họ đã loại trừ được yếu tố tham nhũng, chạy chọt. Đối với giải thưởng Nobel không có các quyết định chính trị – hoặc chí ít thì nó cũng ít hơn nhiều so với các giải thưởng khác.  Khi GS cùng với Horst Ludwig Stoermer được trao giải thưởng Nobel, GS đã rất ngạc nhiên khi người Đức quá vui mừng về giải thưởng này.                     Đúng thế, thực sự là hồi đó tôi ngạc nhiên nhưng thực ra về mặt tâm lý thì điều này cũng dễ hiểu. Người Đức đã đặt nền tảng cho môn vật lý hiện đại. Sau đó nổ ra chiến tranh và truyền thống này bị đứt đoạn. Nhưng tôi không muốn chúng ta hiểu sai điều này: hiện tại các nhà vật lý Đức vẫn rất thành công.  Lý do chuyến đi Đức lần này của GS là việc xuất bản cuốn sách mới của GS “Sự giã từ công thức thế giới”. Ở tiêu đề phụ GS đề cập đến “Tái phát hiện ngành vật lý”. Thưa GS tại sao ngành vật lý lại phải ”tái phát hiện”?  Càng cao tuổi tôi càng ý thức được rằng môn vật lý luôn phản ánh các hệ tư tưởng. Điều này làm tôi lo lắng, khi còn trẻ tôi bị môn vật lý lôi cuốn, vì tôi từng nghĩ rằng vật lý không chịu sự chi phối của ý thức hệ. Tôi nghĩ những thí nghiệm tồi tệ là nguyên nhân của lỗi lầm này.  Thế nào là những thí nghiệm tồi tệ, thưa GS?  Đó là những thí nghiệm không đưa lại kết quả rõ ràng. Chúng không chứng minh, khẳng định được cái đúng và cái sai. Giờ đây chúng ta cần phải nỗ lực để có được những thí nghiệm tốt đẹp và chính xác.  Cuốn sách này là cuốn đầu tiên mà GS viết cho đông đảo bạn đọc. Tại sao nó lại ra đời vào lúc này, thưa GS?  Các nhà vật lý đang đứng trước một vấn đề, đó là các môn khoa học sinh học. Mọi người đều nói về kỷ nguyên sinh học và nghĩ rằng đây là lĩnh vực sẽ đem lại những tiến bộ lớn nhất. Dư luận chung có cảm giác dường như chúng ta chẳng còn cần đến vật lý, nhưng nghĩ như thế là sai.  Những tiến bộ trong các ngành khoa học sinh học dường như không đạt được sự nổi bật giống nhau.  Đúng vậy, trong những năm gần đây khoa học sinh học đạt được nhiều tiến bộ – đặc biệt là lĩnh vực di truyền học. Nhưng những tiến bộ này lại dựa trên một công nghệ không có sự thay đổi từ nhiều thập niên qua. Ở nhà tôi có một cuốn Encyclopadia Britannica xuất bản năm 1972, tôi thường và thích đọc cuốn đó. Tôi không buộc phải mua một cuốn mới vì nền tảng của các môn khoa học sinh học vẫn như cũ. Nguyên nhân là vì người ta có quá ít các thực nghiệm tốt. Vì thế nên đến một lúc nào đó nguồn sẽ bị cạn. Thậm chí tôi còn nghĩ rằng, cái nguồn đó đã cạn rồi.  Vì vậy đối với Giáo sư thì vật lý mới thực sự là môn khoa học hàng đầu?  Tôi không thích khái niệm đó. Xét cho cùng thì vấn đề là ở chỗ kinh phí giành cho nghiên cứu. Chúng ta hãy thành thực với nhau: nhiều quốc gia trong một thời gian dài đã tạo dựng và duy trì những viện vật lý đồ sộ vì các nước đó sợ vũ khí hạt nhân. Những viện vật lý đó đại loại như một loại bảo hiểm nhân thọ vậy. Các chính phủ đều hy vọng những nhà khoa học của họ phát hiện ra một cái gì đó để có thể làm ra một loại vũ khí thật kinh khủng, ghê gớm. Chỉ có điều: những loại vũ khí như thế chưa từng được phát triển và có lẽ chúng sẽ không bao giờ được phát triển. Các chính phủ giờ đây không còn lo sợ nữa vì thế ngày nay ngân sách giành cho vật lý bị cắt giảm. Sự phát triển này ít nhất cũng kéo dài trong mươi, mười lăm năm tới.  Trong cuốn sách của mình GS đặc biệt phê phán một số xu hướng mới trong ngành vật lý. Thí dụ, GS hình như không thuộc trường phái ủng hộ lý thuyết- String, theo học thuyết này thì thế giới hình thành từ những sợi giây li ti luôn rung động.  Lý thuyết – String không tiên lượng được trước dù chỉ một kết quả duy nhất. Tôi thậm chí còn ngờ rằng, lý thuyết này là sai. Bây giờ chắc ông sẽ hỏi thế thì tại sao tôi lại quan tâm đến chuyện đó. Câu trả lời của tôi là: nếu các đồng nghiệp của tôi muốn nghiên cứu vấn đề này – không sao cả. Nhưng tôi là một GS và tôi có trách nhiệm với sinh viên của mình. Và tôi còn có con cái. Vậy một người cha sẽ làm gì, khi ông ta biết rằng, đứa con của mình phí phạm hàng chục năm trời vì một lý thuyết sai lầm? Ông ta sẽ lăm lăm khẩu súng tới gặp tôi và cho tôi một phát súng.  GS so sánh lý thuyết String với một tín ngưỡng thời trung cổ. Ví von như thế có sợ có phần hơi quá đáng không?  Lý thuyết – String là một ngôi nhà ý tưởng, nó hoàn toàn không có một thực nghiệm nào, dù chỉ một lần, để chứng minh cho lý thuyết đó. Vậy thì những lý thuyết như thế khác gì một tín ngưỡng thời trung cổ? Ở đây có một đặc điểm giống nhau. Người ta thành lập một ủy ban, cái ủy ban đó có nhiệm vụ phán cái gì đúng, cái gì sai. Tôi cho rằng điều này chẳng hay ho gì với ngành vật lý cả.  Tên cuốn sách của GS bằng tiếng Đức là “Giã từ công thức thế giới”. Tại sao người ta phải đoạn tuyệt với ý tưởng về một công thức chung, thống nhất để giải thích về mọi thế lực?  Phương Tây có một niềm tin sai lầm rằng có một cái gì đó đại loại như là một quy luật cuối cùng. Điều này xuất phát từ quan niệm tôn giáo của chúng ta. Cũng như trước đây chúng ta từng tin vào có một Thượng đế, thì ngày nay chúng ta cố tìm tòi một công thức cuối cùng có khả năng giải thích được tất cả.  Thay vào đó GS nhấn mạnh về khái niệm về tính trội (Emergenz), theo đó các đặc tính hoặc định luật sẽ hình thành sau khi các thành phần trong một hệ thống tác động vào nhau.  Cần nói thêm rằng khái niệm về tính trội xuất phát từ ngành sinh vật học. Nó hoạt động na ná như một bức tranh của chủ nghĩa ấn tượng: khi ta tiến sát bức tranh thì chỉ thấy dăm ba cái chấm. Nhiều định luật vật lý cũng có hiện tượng y như thế: Khi người ta chỉ nghiên cứu, xem xét một lượng rất nhỏ thì hiệu ứng sẽ biến mất, trong khi nếu tiến hành ở mức độ lớn hơn thì người ta có thể chứng minh được hiệu ứng đó.  Nhà khoa học được giải thưởng Nobel Philip Warren Anderson khi bình luận về cuốn sách của Giáo sư đã viết, đây là một chất trị độc chống lại sự suy luận dường như thần học của loại người như Stephen Hawking. Giáo sư có tán thành quan điểm đó không?  Stephen là một người sáng chói. Ông là người ngay từ đầu đã luôn hiểu rằng niềm tin vào môn vật lý dường như có những yếu tố tôn giáo, và ông ấy đã tận dụng nó cho mình. Một đồng nghiệp từng cùng đi với Stephen tới Chile đã kể rằng, có những bà mẹ đã tới gặp Stephen, vì họ muốn những đứa con bé nhỏ của họ có được chạm vào người ông với hy vọng khả năng của ông sẽ được truyền sang những đứa con của họ. Stephen đóng vai thầy phù thuỷ – loại người đó nền văn hóa nào cũng có. Và tay phù thủy sẽ mất thiêng khi những dự báo của gã không xuất hiện, vì thế Stephen đưa ra những lý thuyết mà người ta không thể thông qua thực nghiệm để bác bỏ. Thí dụ như chuyện những cái lỗ đen chẳng hạn. Stephen không phải là người duy nhất làm điều đó – nhưng ông ta là người làm điều này một cách xuất sắc nhất.  Như Giáo sư mô tả trong sách trong các buổi thuyết trình của mình người nghe rất rung cảm về các môn khoa học tự nhiên. Thưa GS, cái gì đem lại điều đó?  Tôi nghĩ rằng người nghe tin vào khoa học vì nó đưa ra các định luật mà người ta có thể kiểm chứng được. Ai đó có thể là một học giả chói ngời và toát ra quyền uy về trí tuệ – nhưng cái còn lại mãi mãi lại là quyền uy về đạo đức. Và vật lý học chính là môn khoa học có đạo đức cao cả nhất. Chúng ta có thể làm mất uy danh này nếu chúng ta không nghiền ngẫm và bám vào nền tảng của nó.  Và cái nền tảng đó là?  Một điều gì đấy có thể đúng hoặc sai và người ta có thể qua thực nghiệm chứng minh điều đó.  Hoài Xuân dịch (FR.online.de 8.12)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý chứng tỏ những điều không hoàn hảo tạo ra sự hoàn hảo      Các nhà nghiên cứu trường đại học Northwestern đã tăng thêm một chiều kích nữa về tầm quan trọng của đa dạng sinh học.      Lần đầu tiên, các nhà vật lý đã chứng minh bằng thực nghiệm là sự tương tác của các thực thể trong các hệ chỉ có thể xảy ra một cách đồng bộ khi tồn tại sự khác biệt giữa các thực thể trong hệ.  Phát hiện này đem đến thay đổi so với hiểu biết trước đây về cách các hành xử chung trong tự nhiên – như những con đom đóm phát sáng trong cùng một bầy hoặc các tế bào dẫn dắt nhau hoạt động để cùng tạo ra một nhịp tim – có thể xuất hiện ngay cả khi các con côn trùng đơn lẻ hoặc các tế bào khác biệt  Giáo sư Adilson Motter, người dẫn dắt nghiên cứu, giải thích các thực thể đồng nhất về mặt tự nhiên hành xử tương tự nhau – cho đến khi chúng bắt đầu tương tác.  “Điều bất ngờ là khi các thực thể giống hệt nhau cùng tương tác, chúng thường có cách hành xử hoàn toàn khác biệt với nhau”, Motter, giáo sư vật lý của trường Nghệ thuật và Khoa học Weinberg (ĐH Northwestern), nói. “Chúng tôi đã tìm ra các kịch bản khác nhau, trong đó các thực thể đó hành xử tương tự nhau nếu như anh khiến chúng khác biệt một cách đúng lúc với nhau”.      Khám phá này có thể giúp các nhà nghiên cứu tối ưu các hệ thống do con người tạo ra, như lưới điện, trong đó có nhiều phần phải được giữ trạng thái đồng bộ hóa trong khi tương tác với nhau. Nó có thể có tiềm năng cung cấp thông tin về cách các nhóm hợp tác, như các bồi thẩm đoàn, để họ có thể phối hợp với nhau để đạt được sự nhất trí trong kết luận.  Nghiên cứu này được xuất bản trên tạp chí Nature Physics. Motter là đồng tác giả của bài báo cùng với hai nhà nghiên cứu của Northwestern là Takashi Nishikawa và Ferenc Molnar, một cựu postdoct ở trường trước khi chuyển sang ĐH Notre Dame.  Công trình này đã mở rộng một nghiên cứu xuất bản năm 2016 của Nishikawa và Motter, trong đó dự đoán hiện tượng về mặt lý thuyết.    Các nhà nghiên cứu đã cho thấy cách ngỗng trời có thể phối hợp để tất cả cùng chuyển động thành bầy  hoặc hinh chữ V ngay cả khi từng con là khác biệt với nhau. Credit: Wendy Wei  “Thật thú vị khi điều các hệ cần là sự phi đối xứng để có được sự đối xứng trong hành xử”, Nishikawa, một giáo sư vật lý ở Weinberg, nói. “Nó thật đặc biệt về mặt toán học, không chỉ riêng về vật lý. Vì vậy nhiều đồng nghiệp của tôi từng cho rằng chứng minh được về thực nghiệm hiệu ứng này là điều không thể”.  Motter và cộng sự của ông đã tạo ra điều tưởng chừng không thể bằng việc sử dụng ba máy phát điện. Mỗi máy phát dao động tại một tần số 100 vòng mỗi giây một cách chính xác. Khi bị chia tách, các máy phát điện giống nhau hành xử tương tự nhau. Nhưng khi được kết nối để hình thành một khối tam giác, các tần số của chúng lại lệch nhau – nhưng chỉ cho đến lúc các máy phát điện không thể ghép với nhau để có những tiêu hao về năng lượng khác nhau. Tại điểm đó, chúng lại đồng bộ hóa một lần nữa.  “Có thể được hình dung ra điều này bằng việc đặt một cái đèn nhỏ giữa các cặp máy phát điện”, Molnar giải thích. “Khi các máy phát được đồng nhất, đèn sáng nhấp nháy, điều đó có nghĩa là các máy phát không đồng bộ. Nhưng khi sự tiêu hao năng lượng của các máy phát được điều chỉnh ở các mức độ khác nhau, hiện tượng nhấp nháy không còn nữa, nó chỉ dấu là máy phát điện áp đang dao động trong sự đồng bộ hóa”.  Các nhà nghiên cứu đặt cho hiện tượng này là “phá vỡ đối xứng đảo ngược” (converse symmetry breaking) bởi vì nó đại diện cho sự đối lập của hiện tượng phá vỡ đối xứng mà chúng ta đã biết trước đây, vốn đặt nền tảng cho siêu dẫn và thậm chí là sự xuất hiện của các sọc vằn của ngựa vằn.  Trong phá vỡ đối xứng, các phương trình động lực đều có một đối xứng không quan sát được hành xử của hệ, trong khi phá vỡ đối xứng đảo ngược liên quan đến các tình huống trong đó hành xử của hệ có đối xứng cho trước chỉ khi đối xứng đó bị ngăn trong các phương trình động lực.  “Điều này dường như là phản trực giác”, Motter nói. “Nhưng lý thuyết của chúng ta dự đoán đây là sự thật có trong nhiều hệ, không chỉ riêng hệ điện cơ” lập kế hoạch khám phá các gợi ý từ phát hiện của họ trong các hệ sinh học, xã hội và kỹ thuật. Ngoài ra, họ đang tiếp tục nghiên cứu về thiết kế một lưới điện thêm bền vững trong khi cho phép hợp nhất thành một phần năng lượng chung từ các nguồn tái tạo.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-01-physics-imperfections.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý gắn liền với toán học      “Thiên nhiên là một cuốn sách viết bằng ngôn ngữ toán học”. Đấy là câu nói nổi tiếng của Galileo. Từ thế kỷ XVII những con số và những khái niệm trừu tượng đều gắn liền với vật lý. Đâu là nguyên nhân mà vật lý lại gắn liền hữu cơ với toán học như vậy? Eugene Wigner, giải Nobel Vật lý 1963 nói rằng nguyên nhân đó là “tính hiệu quả to lớn” của toán học. Chính toán học đã làm đột sinh tính thống nhất và các định luật cơ bản trong lĩnh vực mà các quan sát đơn thuần chỉ dẫn đến sự vô trật tự và bất thường của hiện tượng. Để hiểu điều này không có gì hay hơn là lấy một ví dụ cụ thể mà các nhà khoa học CNRS đang nghiên cứu.     Vào những năm 1970 nhà vật lý lỗi lạc người Anh là Stephen Hawking đã chứng minh rằng các lỗ đen, những thiên thể có khả năng nuốt mọi vật kể cả ánh sáng khi rơi vào vùng tác động của chúng, có phát ra một bức xạ yếu, đó là bức xạ Hawking. Lỗ đen bức xạ giống như một hòn than nóng, với nhiệt độ tỷ lệ nghịch với khối lượng. Đây là một tin mừng đối với các nhà vật lý lý thuyết vì kết quả này đã rọi một tia sáng vào vấn đề số một của vật lý hiện đại: thống nhất lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein với lý thuyết lưọng tử ngự trị trong thế giới vi mô. Song cũng là một thách thức khó vượt qua đối với các nhà vật lý thực nghiệm vì bức xạ Hawking quá yếu để có thể ghi đo được.  Triển vọng ghi đo được bức xạ Hawking nhờ sử dụng toán học   Năm 1981 Bill Unruh, Đại học Colombia chứng minh được rằng những đặc trưng của lỗ đên không phải  là những thuộc tính riêng của lỗ đen. Nói cụ thể hơn nếu thay hấp dẫn bằng sự chảy của một chất lỏng và các sóng ánh sáng bằng những sóng trên mặt nước thì người ta lại thu được cùng một hiện tượng vật lý. Germain Rousseaux , Phòng thí nghiệm Jean-Alexandre-Dieudonné, Nice giải thích như sau: «Ở đây toán học cho phép chứng minh một cách định lượng sự tương đương giữa hai hiện tượng tuy biểu kiến khác lạ nhau song lại được điều khiển bởi cùng những phương trình toán học». Nhà vật lý này đang tiến hành thực nghiệm ghi đo bức xạ Hawking ngay trong một bể tạo sóng tại phòng thí nghiệm Acri, Nice vốn chỉ chuyên nghiên cứu về thủy động học ven bờ biển! Trong thí nghiệm này bức xạ Hawking sẽ có dạng những sóng con phát ra từ  một vùng của bể tạo sóng  ở đấy một sóng đang lan truyền bị chặn bởi một dòng nước ngược chiều (xem hình 1).   Một ống kính phóng đại   Toán học đóng  vai trò giúp gỡ rối và hệ thống hóa những dữ liệu đa dạng thu được từ các thí nghiệm. Germain Rousseaux giải thích thêm: «Để thể hiện vai trò này chúng tôi đã đưa vào cách mô tả hiện tượng  những công cụ toán học của các hệ động học, vốn được sử dụng trong việc nghiên cứu  sự tiến triển theo thời gian của các hệ như hệ Thái dương. Phương thức này chứng tỏ rằng khi chúng ta sử dụng những công cụ toán học càng phức tạp bao nhiêu thì chúng ta sẽ thu được càng nhiều chi tiết vật lý quan trọng bấy nhiêu.Toán học giống như một ống kính phóng đại đối với vật lý».    Trong một số trường hợp, toán học lại là phương tiện duy nhất để tiếp cận một hiện tượng, như các hiện tượng  xảy ra trong lò phản ứng nhiệt hạch thí nghiệm quốc tế ITER (International nuclear fusion research project) đang được xây dựng tại Cadarache. Đây là một lò có mục tiêu kiểm tra tính khả thi của tổng hợp hạt nhân như là một nguồn năng lượng mới. Trong một lò như thế, một chất khí ion hóa bị giam giữ bởi một từ trường mạnh và được đốt nóng đến nhiệt độ vài 100 triệu độ! Không một thùng lò thông thường nào có thể chịu đựng được.            Phía trái hình vẽ là lò phản ứng JET (tiền mô hình của ITER) tại Tây Ban Nha được dùng để nghiên cứu phản ứng nhiệt hạch. Bên phải là plasma  trong tâm lò mà các đặc trưng được tính ra nhờ chương trình Equinox từ những dữ liệu thực nghiệm.            Cách tiếp cận ở đây là thu thập những dữ liệu thực nghiệm trên mặt plasma xong rồi đưa vào một mô hình toán học để tính toán mọi điều có thể xảy ra ở tâm lò. Nhà vật lý Jacques Blum cùng làm việc tại Phòng thí nghiệm Jean-Alexandre-Dieudonné, Nice giải thích thêm: «Cần phải giải gần đúng những phương trình. Nhiệm vụ của nhà toán học là kiểm tra xem trong mức độ xấp xỉ (approximation) nào thì lời giải  tương thích với thực tại của bài toán đặt ra ban đầu. Với ITER người ta cần biết những thông số trong thời gian thực (temps réel) để kiểm tra thực nghiệm. Như vậy cần phát triển những thuật toán hiện đại nhanh và đáng tin cậy».  Sáng tạo liên tục   Lẽ dĩ nhiên những phương trình mô tả quá trình đã được biết từ lâu nhờ thủy động học. Song những kỹ thuật toán mới hiện đại phải được sáng tạo liên tục để giải những phương trình phức tạp trong những điều kiện thực tế. Pierre Degond, Viện toán Toulouse, một nhà khoa học tham gia dự án ITER đã phát biểu: «Điều này đòi hỏi sự phát triển một công nghệ toán học thực thụ- với mục tiêu giải quyết những vấn đề gai góc trong tương tác giữa những kích cỡ không gian khác nhau từ kích cỡ vài nguyên tử đến kích cỡ toàn khối plasma». Hiện nay các  triết gia về khoa học cũng không phải tất cả đồng thuận với câu phát biểu của Galileo. Song một điều chắc chắn là không toán học thì vật lý không tồn tại.  Cao Chi biên dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý lượng tử 2019: 12 thí nghiệm kinh ngạc nhất      Các sự kiện ở quy mô nhỏ nhất có thể dẫn đến những hệ quả vô cùng to lớn. Và không có lĩnh vực khoa học nào chứng minh điều đó tốt hơn vật lý lượng tử thông qua việc khám phá những hành vi kỳ lạ của vật chất, chủ yếu là của những hạt rất nhỏ trong thế giới vi mô.    Trong năm 2019, các thí nghiệm lượng tử đã được thực hiện ở những địa hạt và tình huống mới, thậm chí là xa lạ. Dù còn một số tranh cãi, tính toán lượng tử đã tiến rất gần tới thực tế. Sau đây là 12 sự kiện lượng tử quan trọng và đáng ngạc nhiên nhất của năm 2019.  1. Google tuyên bố “uy quyền lượng tử”    Nếu có một tin tức nào về vật lý lượng tử trong năm 2019 có thể làm nên lịch sử, thì có lẽ đó sẽ là một thông báo trọng đại từ Google: Công ty công nghệ này tuyên bố rằng họ đã đạt được cái gọi là “uy quyền lượng tử” (“quantum supremacy”). Đó là một cách thú vị để nói rằng Google đã chế tạo được một máy tính lượng tử có thể thực hiện một số tác vụ nhất định nhanh hơn bất kỳ máy tính hiện hành (tức máy tính cổ điển) nào. Danh mục máy tính cổ điển bao gồm bất kỳ máy tính nào vận hành dựa trên các bit thông thường 0 và 1, chẳng hạn như thiết bị mà bạn đang sử dụng để đọc bài viết này.  Tuyên bố đã đạt được uy quyền lượng tử của Google, nếu là đúng, sẽ đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử tính toán. Máy tính lượng tử dựa vào các đặc tính vật lý kỳ lạ ở quy mô nhỏ, như rối lượng tử (quantum entanglement) và tính bất định (uncertainty) trong thế giới vi mô, để thực hiện các phép tính. Về lý thuyết, các đặc tính lượng tử đó mang lại cho các máy tính lượng tử những lợi thế nhất định so với máy tính cổ điển thông thường. Máy tính lượng tử có thể dễ dàng phá vỡ các hệ thống mã hóa cổ điển, truyền tin được mã hóa một cách hoàn hảo, thực hiện các bài toán mô phỏng nhanh hơn hẳn máy tính cổ điển và giải quyết được các vấn đề có độ phức tạp cao một cách dễ dàng. Vấn đề là chưa từng có ai tạo ra được một máy tính lượng tử thực thụ, đủ nhanh để tận dụng triệt để những lợi thế lý thuyết đó, ít nhất là cho đến thời điểm trước khi Google tuyên bố đã đạt được uy quyền lượng tử trong năm nay.  Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh tuyên bố này của Google, một số hoài nghi có thể tham khảo trong bài viết đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Google’s Quantum Computer Just Aced an ‘Impossible’” [https://www.livescience.com/google-hits-quantum-supremacy.html].   2. Kilôgam lượng tử  Một bước ngoặt lượng tử khác của năm 2019 liên quan đến trọng lượng và đo lường. Từ hơn 130 năm nay, Kilôgam tiêu chuẩn, một vật thể xác định đơn vị của khối lượng cho tất cả các phép đo, là một hình trụ làm bằng bạch kim-iridi, nặng 2,2 pound và được đặt trong một căn phòng ở Pháp. Nhưng điều đó đã thay đổi trong năm 2019: đã có Kilôgam mới!  Kilôgam cũ (như vừa nói ở trên) là khá tốt, hầu như không thay đổi khối lượng trong nhiều thập kỷ. Nhưng Kilôgam mới, gọi là Kilôgam lượng tử, thì hoàn hảo: Dựa trên mối liên hệ cơ bản giữa khối lượng và năng lượng, cũng như hành vi kỳ lạ của năng lượng ở quy mô lượng tử, các nhà vật lý đã có thể đưa ra một định nghĩa về Kilôgam, hoàn toàn bất biến kể từ năm nay đến lúc kết thúc vũ trụ. Chi tiết hơn về Kilôgam lượng tử có thể xem trong bài viết đăng trong LiveScience dưới nhan đề “There’s a Brand-New Kilogram, And It’s Based on Quantum Physics” [https://www.livescience.com/65522-new-kilogram.html].  3. Sự thật có tính chủ quan    Một nhóm các nhà vật lý đã thiết kế một thí nghiệm lượng tử cho thấy các sự kiện thực sự xảy ra như thế nào là tùy theo cách nhận biết sự kiện đó của riêng bạn. Các nhà vật lý đã thực hiện một kiểu “tung đồng xu” bằng cách sử dụng các photon trong một máy tính lượng tử tí hon và phát hiện ra rằng các kết quả là khác nhau ở các máy dò khác nhau, tùy thuộc vào cách quan sát.   “Chúng tôi cho thấy rằng, do các nguyên tử và các hạt cơ bản trong thế giới vi mô bị “cai trị” bởi các quy tắc kỳ lạ khác thường của cơ học lượng tử, nên hai nhà quan sát khác nhau sẽ nhận được các kết quả khác nhau. Nói cách khác, theo lý thuyết tốt nhất hiện nay của chúng ta về thế giới tự nhiên, sự thật thực ra có thể mang tính chủ quan,” các nhà thực nghiệm đã viết như thế trong một bài báo đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Objective Reality Doesn’t Exist, Quantum Experiment Shows” [https://www.livescience.com/objective-reality-not-exist-quantum-physicists.html].  4. Rối lượng tử đã có sự quyến rũ của nó    Lần đầu tiên các nhà vật lý đã chụp được ảnh của rối lượng tử.  Lần đầu tiên, các nhà vật lý đã chụp được một bức ảnh về hiện tượng mà Albert Einstein đã mô tả như “tác động ma quỷ bất chấp khoảng cách” (“spooky action at a distance”), khi hai hạt vẫn duy trì mối tương quan vật lý với nhau cho dù đặt cách xa nhau bao nhiêu cũng được. Đặc tính này của thế giới lượng tử đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên người ta đã có thể nhìn thấy nó. Chi tiết hơn về sự quyến rũ này có thể xem trong bài viết đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Spooky’ Quantum Entanglement Finally Captured in Stunning Photo” [https://www.livescience.com/65969-quantum-entanglement-photo.html].  5. Hai nghìn nguyên tử tồn tại ở hai nơi cùng một lúc  Theo một cách nào đó, ngược về mặt khái niệm với rối lượng tử, chồng chập lượng tử (quantum superposition) lại cho phép một vật thể có thể ở cả hai (hoặc nhiều hơn hai) vị trí cùng một lúc, một hệ quả của việc vật chất tồn tại đồng thời cả ở dạng hạt và cả ở dạng sóng. Thông thường, điều này đạt được với các hạt rất nhỏ như các điện tử.     Một minh họa cho thấy hành vi lượng tử của các phân tử lớn, phức tạp: chúng đang lan ra như những gợn sóng trong không gian.  Tuy nhiên trong một thí nghiệm lượng tử của năm 2019, các nhà vật lý đã thành công trong việc tạo ra một sự chồng chập lượng tử ở quy mô lớn chưa từng có từ trước đến nay đối với các phân tử lớn cấu tạo từ hai nghìn nguyên tử (các phân tử này trong lĩnh vực y học được gọi là “oligo-tetraphenylporphyrin được làm giàu bởi các  chuỗi fluoroalkylsulfanyl.” Chi tiết hơn về thành tựu chồng chập lượng tử ở cấp độ vĩ mô này có thể xem bài đăng trong LiveScience dưới nhan đề “2,000 Atoms Exist in Two Places at Once in Unprecedented Quantum Experiment” [https://www.livescience.com/2000-atoms-in-two-places-at-once.html].  6. Nhiệt truyền xuyên qua chân không  Bình thường nhiệt chỉ có thể truyền qua chân không thông qua bức xạ ánh sáng. (Đó là những gì bạn cảm nhận được trong những ngày hè khi các tia nắng từ Mặt trời xuyên qua không gian và rọi vào mặt bạn.) Trong các trường hợp khác, theo các mô hình vật lý tiêu chuẩn, nhiệt truyền theo hai cách. Cách thứ nhất, các hạt có năng lượng có thể va đập vào các hạt khác và truyền năng lượng của chúng cho các hạt này. (Hãy quấn tay quanh một tách trà ấm để cảm nhận hiệu ứng này.) Cách thứ hai, một chất lỏng ấm có thể thay thế vị trí của một chất lỏng lạnh hơn. (Đó là những gì xảy ra khi bạn bật máy sưởi trong xe, làm không khí trong xe ấm dần lên.) Vì vậy, nếu không có bức xạ ánh sáng, nhiệt không thể truyền xuyên qua chân không.    Một bức ảnh của thiết bị thực nghiệm cho phép nhiệt truyền qua không gian trống rỗng.  Vật lý lượng tử, như vẫn thấy, lại phá vỡ các quy tắc truyền nhiệt nói trên. Trong một thí nghiệm lượng tử của năm 2019, các nhà vật lý đã vận dụng một tính chất thực tế của chân không ở quy mô lượng tử: chân không không thực sự trống rỗng mà chứa đầy những thăng giáng nhỏ (gọi là thăng giáng lượng tử), xuất hiện và biến mất một cách ngẫu nhiên. Ở quy mô đủ nhỏ, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng nhiệt có thể truyền xuyên qua chân không bằng cách nhảy từ thăng giáng này sang thăng giáng tiếp theo xuyên qua một không gian trống rỗng (mà không hề có bức xạ ánh sáng). Có thể tìm hiểu thêm về sự “nhảy nhiệt” này qua bài viết đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Physicists Use Bubbling Quantum Vacuum to Hopscotch Heat Across Empty Space” [https://www.livescience.com/quantum-vacuum-sends-heat.html].  7. Thứ tự nhân quả có thể bị đảo ngược    Phát hiện tiếp theo của năm 2019 là một phát hiện còn xa để có thể xem như một khám phá được kiểm chứng bằng thực nghiệm và thậm chí nó còn nằm ngoài “địa hạt” của vật lý lượng tử truyền thống. Nhưng các nhà nghiên cứu làm việc trong lĩnh vực hấp dẫn lượng tử (quantum gravity) – một cấu trúc lý thuyết được thiết kế để thống nhất cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng của Einstein – đã chỉ ra rằng, trong một số trường hợp, một sự kiện ở thời hiện tại có thể gây ra một hiệu ứng ở thời quá khứ.   Theo thuyết tương đối rộng, một số vật thể siêu nặng có thể ảnh hưởng đến dòng thời gian trong vùng lân cận trực tiếp với chúng. Chúng ta biết điều này là đúng. Và sự chồng chập lượng tử cho phép các vật thể có thể ở nhiều nơi cùng một lúc. Các nhà nghiên cứu đã viết trong một bài đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Quantum Gravity Could Reverse Cause and Effect”  [https://www.livescience.com/quantum-gravity-could-scramble-cause-and-effect.html] rằng, nếu đặt một vật thể rất nặng (như một hành tinh lớn chẳng hạn) vào một trạng thái chồng chập lượng tử, thì có thể thiết kế các kịch bản mà trong đó nguyên nhân và kết quả diễn ra không đúng theo thứ tự “nhân” trước “quả” sau như chúng ta vẫn hình dung, mà có sự đảo ngược theo thời gian của “nhân” và “quả”, tức là theo thứ tự “quả” trước “nhân” sau!  8. Chui hầm lượng tử được “bẻ khóa”    Các nhà vật lý đã làm được một thí nghiệm cho thấy tốc độ của một hạt có thể chui qua một rào cản, giải mã được một bí ẩn kéo dài hàng thập kỷ qua.   Các nhà vật lý từ lâu đã biết về một hiệu ứng kỳ lạ được gọi là “chui hầm lượng tử”, trong đó các hạt dường như chui qua được các rào cản dường như không thể vượt qua. Trong năm 2019, một thí nghiệm lượng tử đã cho thấy điều này thực sự xảy ra như thế nào.  Theo vật lý lượng tử, các hạt đồng thời cũng là sóng và bạn có thể nghĩ về các sóng đó như là các dự đoán xác suất cho vị trí của hạt. Nhưng chúng vẫn là sóng. Nếu một làn sóng nước đập vào một rào cản trong đại dương, làn sóng đó sẽ mất một chút năng lượng, nhưng một làn sóng nhỏ hơn sẽ xuất hiện ở phía bên kia rào cản. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một hiệu ứng tương tự xảy ra trong thế giới lượng tử. Và, miễn là có một chút xác suất để có thể xuất hiện ở phía bên kia của rào cản, hạt sẽ có cơ hội vượt qua rào cản, giống như chui qua một không gian nơi dường như không có “lối đi” nào. Chi tiết giải mã về hiệu ứng chui hầm lượng tử kỳ lạ này có thể xem trong bài viết đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Truly Spooky: How Ghostly Quantum Particles Fly Through Barriers Almost Instantly” [https://www.livescience.com/65043-tunneling-quantum-particles.html].  9. Kim loại hydro có thể đã xuất hiện trên Trái đất     Các nhà khoa học nghi ngờ những đám mây bên ngoài của sao Mộc đang che giấu những hồ kim loại hydro chịu áp suất lớn.  2019 cũng là một năm thành công lớn đối với vật lý siêu cao áp. Và một trong những tuyên bố táo bạo nhất là tuyên bố từ một phòng thí nghiệm của Pháp. Họ tuyên bố đã tạo ra được một chất thánh (holy grail substance) cho khoa học vật liệu: kim loại hydro (metallic hydrogen). Dưới áp lực đủ cao, chẳng hạn như áp lực được cho là tồn tại ở lõi của sao Mộc, các nguyên tử hydro đơn proton được cho là hoạt động như một kim loại kiềm. Nhưng từ trước tới nay chưa từng có ai tạo ra được áp lực đủ cao để có thể chứng minh cho hiệu ứng này trong phòng thí nghiệm. Trong năm 2019, nhóm nghiên cứu cho biết họ đã quan sát thấy nó, kim loại hydro, ở áp suất 425 gigapascal (gấp 4.2 triệu lần áp suất khí quyển của Trái đất ở mực nước biển). Để tìm hiểu thêm về kim loại hydro xem bài đăng trong LiveScience dưới nhan đề “After Decades of Hunting, Physicists Claim They’ve Made Quantum Material from Depths of Jupiter” [https://www.livescience.com/65827-metallic-hydrogen-claim.html].  10. Rùa lượng tử    Tác động từ trường lên một khối nguyên tử siêu lạnh và bạn sẽ thấy “pháo hoa lượng tử” (“quantum fireworks”): các tia nguyên tử bắn ra một cách rõ ràng theo các hướng ngẫu nhiên. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ có thể có một mẫu hoa văn (pattern) trong đám pháo hoa, nhưng điều đó không hiển nhiên nếu chi đơn thuần là nhìn vào các đám pháo hoa. Với sự trợ giúp của máy tính, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một hình dạng hoa văn trong hiệu ứng pháo hoa lượng tử: hoa văn có dạng một con rùa, gọi là rùa lượng tử. Tuy nhiên, vẫn còn chưa ai biết chắc chắn là tại sao nó, hình hoa văn, lại có dạng đó, dạng một con rùa. Để biết thêm về rùa lượng tử xem bài đăng trong LiveScience dưới nhan đề “A Computer Spotted a Turtle Hiding Out in a Cloud of ‘Quantum Fireworks’” [https://www.livescience.com/64744-quantum-fireworks-turtle-artificial-intelligence.html].  11. Một máy tính lượng tử tí hon đảo ngược thời gian    Thời gian được cho là chỉ trôi theo một hướng: về phía trước, về tương lai. Đổ một ít sữa trong cốc xuống đất, sẽ không có cách nào để làm khô hoàn toàn bụi bẩn và trả lại sữa sạch vào cốc. Hàm sóng lượng tử đã lan ra không thu lại được như lúc ban đầu.  Tuy vậy, sử dụng một máy tính lượng tử tí hon gồm hai qubit (quantum bit), các nhà vật lý đã có thể viết một thuật giải lượng tử (quantum algorithm) cho phép dựng lại từng gợn sóng của hạt đã tạo ra nó – tức là dựng lại sự kiện và quay ngược mũi tên thời gian một cách hiệu quả. Thông tin thêm về đảo ngược mũi tên thời gian có thể xem bài đăng trong LiveScience dưới nhan đề “Physicists Reverse Time for Tiny Particles Inside a Quantum Computer” [https://www.livescience.com/65000-quantum-computer-turns-back-time.html].  12. Một máy tính lượng tử khác nhìn thấy 16 tương lai    Các hạt ánh sáng nhỏ bé, các photon, có thể di chuyển đồng thời trong một chồng chập của nhiều trạng thái khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng tính năng lượng tử kỳ lạ này để thiết kế một máy tính nguyên mẫu có thể dự đoán 16 tương lai khác nhau cùng một lúc.  Một tính năng tuyệt vời của máy tính lượng tử, dựa trên sự chồng chập của 0 và 1 thay vì chỉ là 0 hoặc 1, là khả năng thực hiện nhiều phép tính cùng một lúc (tức là có thể xử lý song song các số liệu). Lợi thế đó được hiển thị đầy đủ trong một động cơ dự đoán lượng tử (quantum prediction engine) mới, vừa được phát triển trong năm 2019. Mô phỏng một loạt các sự kiện có xâu chuỗi với nhau, các nhà nghiên cứu có thể mã hóa 16 tương lai khả dĩ trên một photon duy nhất trong động cơ dự đoán lượng tử của họ. Động cơ lượng tử như vậy gọi là động cơ đa nhiệm vụ, tức là cùng một lúc thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau! Có thể đọc thêm về động cơ lượng tử đa nhiệm vụ này trong bài đăng trong LiveScience “This Quantum Computer Can See the Future — All 16 of Them” [https://www.livescience.com/65271-quantum-computer-sees-16-futures.html]. □  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://www.livescience.com/most-important-surprising-quantum-physics-of-2019.html     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý lượng tử “ma quái” tới mức nào?      Câu trả lời có thể là khôn lường.      Phác họa mô tả một cặp hạt (một hạt bên trái và một hạt bên phải) bị rối lượng tử với nhau ở khoảng cách xa. Rối lượng tử là trung tâm của một chứng minh toán học.  Một chứng minh dựa trên kết nối quan trọng giữa toán học thuần túy và thuật toán đưa ‘sự kỳ quái lượng tử’ (‘quantum weirdness’) lên một cấp độ hoàn toàn mới.  Albert Einstein đã nói, một câu nói rất nổi tiếng, rằng cơ học lượng tử cho phép hai vật thể tác động lên hành vi của nhau ngay lập tức xuyên qua một khoảng cách rất xa theo một cách nào đó mà ông gọi là “tác động ma quái bất chấp khoảng cách” (“spooky action at a distance”) 1. Nhiều thập kỷ sau khi ông qua đời, các thí nghiệm đã xác nhận điều này, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác bản chất về mức độ tương quan kỳ quái như vậy giữa các vật thể ở xa. Nay có năm nhà nghiên cứu nói rằng họ đã giải quyết được một vấn đề về mặt lý thuyết cho thấy rằng câu trả lời về nguyên tắc là không thể biết được (unknowable).        “Tôi nghĩ rằng nó hẳn là một trong những câu hỏi của lý thuyết phức tạp mà có thể phải cần tới 100 năm để trả lời” (Joseph Fitzsimons – Giám đốc điều hành của công ty khởi nghiệp Horizon Quantum Computing).      Bài viết của họ, dài 165 trang, mới xuất hiện như một tiền ấn phẩm 2 và vẫn còn chưa được gửi đi để phản biện. Nếu bài báo đó đúng, nó có thể giúp giải quyết được một cách dứt điểm một số vấn đề liên quan trong lĩnh vực toán học thuần túy, trong cơ học lượng tử và cả trong lý thuyết phức tạp (complexity theory) của khoa học máy tính. Cụ thể, nó trả lời được một câu hỏi của toán học mà trong hơn 40 năm qua vẫn chưa có lời giải.  Nếu chứng minh của họ là đúng thì “đó là một kết quả siêu đẹp”,  theo lời nhận xét của Stephanie Wehner, một nhà vật lý lý thuyết lượng tử từ Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan.  Trọng tâm của bài báo này là chứng minh một định lý trong lý thuyết phức tạp (complexity theory) liên quan đến hiệu quả của các thuật toán. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vấn đề này là tương đương về mặt toán học với câu hỏi về tác động ma quái bất chấp khoảng cách – còn được gọi là sự rối lượng tử (quantum entanglement).  Định lý trong bài báo liên quan đến một vấn đề của lý thuyết trò chơi (game-theory problem), với một đội gồm hai người chơi, mỗi người được phép điều phối hành động của mình thông qua sự rối lượng tử, mặc dù họ bị cấm trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau thông qua các phương tiện cổ điển. Điều này cho phép cả hai người chơi giành chiến thắng thường xuyên hơn nhiều so với trường hợp khi mà họ không rối lượng tử với nhau. Nhưng các tác giả cho thấy, theo bản chất nội tại của các quy luật lượng tử, hai người chơi không thể tính toán để có được một chiến lược tối ưu. Điều này ngụ ý rằng không thể tính được mức độ tương quan lượng tử mà họ có thể đạt được về mặt lý thuyết. Thomas Vidick thuộc Viện Công nghệ California ở Pasadena, một đồng tác giả của bài báo, cho biết: “Sẽ không có thuật toán nào có thể cho bạn biết mức độ vi phạm tối đa mà bạn có thể đạt được trong cơ học lượng tử.”  “Điều ngạc nhiên là lý thuyết phức tạp lượng tử (quantum complexity theory) lại chính là chìa khóa của chứng minh trong bài báo”, Toby Cubitt –  một nhà lý thuyết thông tin lượng tử tại Đại học College London – cho biết.    Hai nhà vật lý Albert Einstein và Niels Bohr tranh luận về cơ học lượng tử năm 1930. Nguồn: Nature.  Tin tức về bài báo được lan truyền nhanh chóng qua các phương tiện truyền thông xã hội và gây ra sự phấn khích sau khi nó được đưa lên mạng vào ngày 14 tháng 1 năm 2020. “Tôi nghĩ rằng nó hẳn là một trong những câu hỏi của lý thuyết phức tạp mà có thể phải cần tới 100 năm để trả lời”, Joseph Fitzsimons –  Giám đốc điều hành của công ty khởi nghiệp ‘Horizon Quantum Computing’ ở Singapore, đã viết trên tài khoản twitter như vậy.  Một nhà vật lý khác, Mateus Araújo thuộc Viện Khoa học Áo ở Vienna, lại nói: “Tôi không bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ thấy vấn đề này được giải quyết trong đời mình.”      “Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ thấy vấn đề này được giải quyết trong đời mình.” (Mateus Araújo thuộc Viện Khoa học Áo ở Vienna).      Các thuộc tính có thể quan sát được  Về mặt toán học thuần túy, vấn đề này được biết đến như là bài toán nhúng Connes (Connes embedding problem), đặt theo tên của nhà toán học người Pháp Alain Connes, người đã đoạt huy chương Fields vào năm 1982. Đó là một câu hỏi trong lý thuyết về các toán tử – một nhánh của toán học được hình thành từ những nỗ lực tạo ra nền tảng của cơ học lượng tử trong những năm 1930. Toán tử là một ma trận của các số với số lượng hàng và số cột là hữu hạn hoặc vô hạn. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết lượng tử, theo đó mỗi toán tử tương ứng với một thuộc tính vật lý có thể quan sát được của một vật thể.  Trong một bài báo đăng năm 1976 3, sử dụng ngôn ngữ của các toán tử, Connes đã đặt câu hỏi liệu các hệ lượng tử với vô số biến khả đo (các biến có thể đo được = measurable variables) có thể được xấp xỉ bởi các hệ đơn giản hơn với một số hữu hạn hay không.  Nhưng bài báo của Vidick và các cộng sự 2 cho thấy câu trả lời là không: về nguyên tắc, có những hệ lượng tử không thể xấp xỉ được bằng những cái ‘hữu hạn’. Theo công trình của nhà vật lý Boris Tsirelson 4 – người đã cải cách lại vấn đề – điều này cũng có nghĩa là không thể tính được một cách định lượng về mức độ tương quan mà hai hệ như vậy có thể thể hiện xuyên không gian khi chúng bị rối lượng tử với nhau.  Sự hợp lưu của các lĩnh vực khác nhau  Chứng minh trong bài báo 2 đã gây bất ngờ cho phần lớn cộng đồng về vật lý lượng tử. Araújo đã viết trong các bình luận của mình: “Tôi chắc chắn rằng vấn đề của Tsirelson đã có một câu trả lời tích cực.” Ông còn viết thêm là kết quả này đã làm lung lay niềm tin cơ bản của ông rằng “Tự nhiên (Nature) về cơ bản là hữu hạn, theo một nghĩa mơ hồ nào đó.”  Nhưng các nhà nghiên bắt đầu cảm thấy không nắm bắt được ý nghĩa của kết quả trình bày trong bài báo 2. Rối lượng tử là trọng tâm trong các lĩnh vực còn non trẻ của tính toán lượng tử và truyền thông lượng tử, và có thể được sử dụng để tạo ra các mạng siêu an toàn. Cụ thể, việc đo được lượng tương quan giữa các đối tượng rối với nhau trong một hệ thống truyền thông có thể cung cấp bằng chứng rằng hệ thống đó có bị nghe lén hay không. Nhưng những kết quả này có thể không có ý nghĩa về mặt công nghệ, Wehner nói, bởi vì tất cả các ứng dụng đều sử dụng các hệ lượng tử ‘hữu hạn’. Trên thực tế, rất khó để có thể hình dung ra một thí nghiệm có thể kiểm tra được độ kỳ quái lượng tử trên một hệ ‘vô hạn’ nội tại.  Sự hợp lưu của các lĩnh vực khác nhau như lý thuyết phức tạp, lý thuyết thông tin lượng tử và toán học có nghĩa là có rất ít người có thể nắm bắt được tất cả các khía cạnh của bài báo này. Bản thân Connes đã nói với tạp chí Nature rằng ông không đủ trình độ để bình luận. Nhưng ông nói thêm rằng ông đã rất ngạc nhiên bởi hóa ra vấn đề này lại có nhiều sự phân nhánh đến thế. “Thật đáng kinh ngạc khi vấn đề đã đi quá sâu và tôi không bao giờ thấy trước được điều đó!”, Connes nói.□  Nguyễn Bá Ân dịch   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00120-6?utm_source=Nature+Briefing&utm_campaign=aad996b639-briefing-dy-20200117&utm_medium=email&utm_term=0_c9dfd39373-aad996b639-42815595  Tài liệu tham khảo   1. Einstein A., Podolsky B. & Rosen N., Phys. Rev. 47, 777 (1935).  2. Ji Z., Natarajan A., Vidick T., Wright J. & Yuen H., https://arxiv.org/abs/2001.04383 (2020).  3. Connes A., Ann. Math. 104, 73–115 (1976).  4. Tsirelson B., Hadronic J. Suppl. 4, 329–345 (1993).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý lý thuyết và hai bài toán thiên niên kỷ      Bảy bài toán do Viện Toán Clay đề ra vào tháng 5/2000 đều là những bài toán thiên niên kỷ (Millennium problems). Dù “treo thưởng” 1 triệu USD cho lời giải mỗi bài toán nhưng đến thời điểm này mới chỉ có một bài được giải, đó là Phỏng thuyết Poincaré (Poincaré conjecture) với công lao của nhà toán học Nga Grigori Perelman vào năm 2003.  Bài viết này giới thiệu với độc giả 2 bài toán, Phương trình cơ học môi trường liên tục Navier-Stokes và Yang-Mills lượng tử – đều là những vấn đề vô cùng hóc búa với vật lý lý thuyết.        Phương trình Cơ học môi trường liên tục Navier-Stokes     Thế giới của chúng ta đầy rẫy những chất lỏng. Từ máu chuyển động trong các mạch máu li ti dến nhiều hiện tượng thủy khí động học khác trong bầu khí quyển (hàng không), trong đại dương (hàng hải) cùng bao nhiêu vấn đề gắn liền với cuộc sống. Thế mà lạ thay là chúng ta chưa có một mối hiểu biết sâu sắc toán học về chuyển động của các chất lỏng.  1.  Phương trình Navier-Stokes  Nhà toán học kiêm nhà vật lý George Stokes (Anh) và nhà vật lý Claude-Louis Navier (Pháp) đã viết phương trình Navier-Stokes vào năm 1800 nhằm miêu tả dòng chảy của các chất lỏng và khí.  Mặc dù phương trình Navier-Stokes đã giúp chúng ta mô tả một mô hình nhưng không có điều gì bảo đảm là phương trình đó không dẫn đến những sai lầm tai hại.      Có một câu hỏi đặt ra là chúng ta có thể viết phương trình trên trong không gian n chiều (và liệu lý thuyết trong không gian 2 chiều có khác trong không gian 3 chiều không?.  Có thể xem Cơ học môi trường liên tục (Landau-Lifchitz tập VI, trang 68) về cách thiết lập phương trình Navier-Stokes.       Claude-Louis Navier và George Gabriel Stokes.  Vì sao Viện Toán Clay đặt giải 1 triệu USD cho bài toán Navier-Stokes?  Vấn đề ở chỗ phương trình Navier-Stokes rất khó giải! Phần lớn các nhà toán học đều sử dụng các phương pháp tính số để tiếp cận vấn đề này song đây cũng là một đề cập chứa nhiều khó khăn bởi vì:  Nếu trong trường hợp thu được một lời giải thì lời giải đó lại dẫn đến tình huống là chất lỏng sẽ được gia tốc với một tốc độ vô cùng – đây là tình huống gọi là “bùng nổ” – blowing up. Lẽ dĩ nhiên tiên đoán chất lỏng với vận tốc vô cùng là dấu hiệu cho thấy mô hình toán học không phù hợp với thực tại.  Còn tệ hơn là chúng ta không biết lời giải của phương trình có tồn tại cho một chất lỏng bất kỳ hay không. Như vậy khi sử dụng phương trình Navier-Stokes trong y học hoặc trong khí động học hàng không và vũ trụ, chúng ta không có một bảo đảm nào là sẽ có lời giải đúng với thực tại.  Vậy muốn nhận được 1 triệu USD của Viện Clay, chúng ta phải chứng minh bằng toán học rằng phương trình Navier-Stokes luôn là một chương trình phản ánh thực tế khách quan mà không dẫn đến tình huống bùng nổ hoặc là chứng minh rằng tồn tại những trường hợp mà phương trình Navier-Stokes nhất định không cho một lời giải nào.  2 .  Các cuộn xoáy (turbulence)  Một trong những khó khăn lớn trong giải phương trình Navier-Stokes là hiện tượng cuộn xoáy (turbulence) trong dòng chảy.  Về phương diện vật lý, hiện tượng cuộn xoáy (turbulence) xảy ra khi một dòng chảy lớp (laminar) bột phát tách thành những dòng xoáy nhỏ (eddies hay vortices). Những dòng xoáy nhỏ đó lại vỡ ra thành những dòng xoáy nhỏ hơn rồi tiếp tục như thế ta có một thác (cascade) vỡ thành các dòng xoáy nhỏ hơn không tiên đoán được. Điều này làm khuếch tán năng lượng của dòng chảy nguyên thủy. Vì vậy, sự tồn tại cuộn xoáy (turbulence) là nguyên nhân của việc chứng minh rằng các phương trình Navier-Stokes có một ý nghĩa thực tế là một việc làm khó khăn trong toán học và vật lý.  Ta có thể mường tượng rằng hiện tượng cuốn xoáy dẫn đến việc năng lượng dòng chảy tập trung vào điểm đặc biệt nào đó trong chất lỏng và như thế gia tốc dòng chảy tại điểm đó đến một vận tốc lớn vô cùng. Về mặt toán học thì điều này có thể xảy ra nhưng việc chứng minh rằng hiện tượng này nhất quyết không xảy ra hoặc ngược lại hiện tượng này nhất thiết xảy ra là rất khó khăn.  Do đó, bài toán này tồn tại đã 150 năm. Với các nhà vật lý, tìm lời giải những phương trình Navier – Stokes mô tả dòng chảy chất lỏng này còn khó khăn hơn cả việc nghiên cứu các phương trình Einstein (dẫn đến những hiện tượng lạ lùng như lỗ đen như sóng hấp dẫn).  Nhiều nhà khoa học cho rằng nguyên nhân chính là sự hình thành cuộn xoáy (turbulence). Hiện tượng cuộn xoáy là một trong những điều khó nhất trong vật lý hiện đại.      Hình ảnh các cuộn xoáy    Người ta mong muốn tìm xem các cuộn xoáy đã phát sinh như thế nào và mô hình dòng chảy một khi cuộn xoáy đã phát sinh. Song giải Clay thật sự đòi hỏi một điều khiêm tốn hơn: chứng minh rằng lời giải có tồn tại hay không.  Kết luận   Cách hành xử của chất lỏng quả đáng ngạc nhiên vô cùng – Charles Fefferman, người đề xướng giải về phương trình Navier- Stokes đã phát biểu như vậy. Chúng ta đã có phương trình mô tả chuyển động của chất lỏng song từ đó suy được lời giải mô tả chuyển động thực tại dòng chảy lại vẫn là một điều bí hiểm.       Bài toán lý thuyết Yang-Mills lượng tử  Trong lĩnh vực toán lý, sự tồn tại Yang-Mills và bài toán khe năng lượng là một bài toán thuộc vật lý lý thuyết chưa giải được.  Lý thuyết Yang-Mills  Lý thuyết Yang-Mills mang tên của 2 tác giả: Chen Ning Yang và Robert Leroy Mills  Về mặt toán học, trường Yang-Mills là liên thông của không gian phân thớ (fiber bundle) với nhóm côm-pắc G như là nhóm cấu trúc (structure group).      Chen Ning Yang  và  Robert Leroy Mills.  Lý thuyết Yang – Mills hiện nay là lý thuyết quan trong nhất trong lý thuyết trường. Lý thuyết Yang – Mills được áp dụng trong QED (G=U(1)), tương tác điện yếu (G=SU(2)xU(1)), tương tác mạnh (G=SU(3)).  Có 2 trường hợp Yang-Mills: abelian (QED) và non-abelian (tương tác yếu và hạt nhân)  Nhà vật lý toán Arthur Jaffe và nhà vật lý lý thuyết và vật lý toán Edward Witten đã nêu đề bài toán giải Clay:  Chứng minh rằng với mọi nhóm chuẩn đơn côm-pắc G, tồn tại một lý thuyết Yang-Mills trên R4 với một khe năng lượng ∆>0 thỏa mãn các tiên đề Wightman (1964) trong lý thuyết trường.  Nội dung vấn đề   Trong phát biểu trên lý thuyết Yang-Mills là lý thuyết trường lượng tử không abelian tương tự Mô hình chuẩn (SM) trong lý thuyết các hạt cơ bản; R4 là không gian euclide 4 chiều, khe Δ là khối lượng của hạt có khối lượng nhỏ nhất tiên đoán bởi lý thuyết.  Như vậy người thắng giải phải chứng minh được những điều sau:  – Lý thuyết Yang-Mills tồn tại và thỏa mãn các tiêu chí của vật lý-toán hiện đại.  – Khối lượng của hạt với khối lượng thấp nhất phải nhất thiết là một đại lượng dương. Ví dụ trong trường hợp G=SU(3) – tương tác mạnh – người được giải phải chứng minh rằng khối lượng glueball (gluon) phải có hạn dưới và không thể nhẹ một cách bất kỳ.  Trong vật lý học, lý thuyết cổ điển Yang-Mills là lý thuyết tổng quát hóa của lý thuyết Maxwell của điện động lực học lượng tử (Quantum electrodynamics QED) và sắc động học lượng tử (Quantum Chromodynamics QCD)  Như là một lý thuyết cổ điển, chúng ta có lời giải chuyển động với tốc độ ánh sáng, vậy trong lý thuyết lượng tử thì đây là hạt gluon với khối lượng bằng không.  Tuy nhiên hiện tượng cầm tù của màu (color confinement) chỉ cho phép những trạng thái liên kết của gluon (bound states of gluons) là những hạt có khối lượng. Đó chính là khe năng lượng. Một khía cạnh khác của hiện tượng cầm tù màu là hiện tượng tiệm cận tự do (asymptotic freedom), hiện tượng này buộc rằng lý thuyết lượng tử Yang-Mills tồn tại mà không có điều kiện nào bắt buộc về năng lượng.  Tóm lại bài toán đặt ra là tồn tại lý thuyết lượng tử Yang-Mills với một khe năng lượng.  Lý thuyết quan trọng nhất trong QFT (Quantum Field Theory) để mô tả các hạt cơ bản là các lý thuyết chuẩn (gauge theory). Ví dụ nhiều người biết đến là lý thuyết chuẩn với QED, ở đây nhóm chuẩn (gauge group) là U(1), trong trường hợp khác ta thay U(1) là bằng một nhóm chuẩn côm-pắc G.  Bản chất “không khối lượng” (massless nature) của lý thuyết Yang-Mills cổ điển là một khó khăn khi áp dụng lý thuyết trường chuẩn vào các trường hợp khác QED như các trường lực yếu hoặc hạt nhân và các trường hợp với lực ứng  với các hạt có khối lượng (gắn liền với tương tác tầm ngắn). Người ta cần sử dụng thêm “trường Higgs” để vượt qua bản chất “không khối lượng” của lý thuyết Yang-Mills cổ điển.  Vậy vấn đề ở đây phải chuyển Yang-Mills cổ điển thành Yang-Mills lượng tử, và trong phiên bản lượng tử lẽ dĩ nhiên xuất hiện trạng thái chân không (vacuum) và khe năng lượng (tức khe phân chia vacuum với trạng thái khối lượng thấp nhất).  Lý thuyết lượng tử là lý thuyết cơ bản để mô tả các hạt và tương tác giữa chúng, như vậy việc thay Yang – Mills cổ điển bằng Yang – Mills lượng tử là việc phải làm.  Lý thuyết Yang-Mills cổ điển mô tả các hạt không khối lượng và tác động tầm xa.  Lý thuyết Yang-Mills lượng tử mô tả tác động tầm gần và các hạt có khối lượng.  Bài toán Yang-Mills lượng tử cũng quan hệ đến nhiều vấn đề toán học như các tích phân đường (path integral) (Fadeev) trong lý thuyết lượng tử.     Kết luận     Tìm được lý thuyết Yang-Mills lượng tử với khe năng lượng là một bài toán khó xứng đáng với giá trị một triệu đô của giải Clay.  Trong công trình của mình, Fadeev sử dụng phương pháp phiếm hàm và sơ bộ góp ý rằng bài toán Yang-Mills lượng tử với khe năng lượng có thể giải được. □  ——-  Tài liệu tham khảo  [1] Landau-Lifschitz, Cơ học môi trường liên tục, Moskva 1954  [2] Matt Parker, Win a million dollars with maths, No. 3: The Navier-Stokes equations  https://www.theguardian.com/science/blog/2010/dec/14/million-dollars-maths-navier-stokes  [3]Kevin Hartnett What Makes the Hardest Equations in Physics So Difficult?  https://www.quantamagazine.org/what-makes-the-hardest-equations-in-physics-so-difficult-20180116/  [4] Joshua Sokol, Mathematicians Tame Turbulence in Flattened Fluids  https://www.quantamagazine.org/mathematicians-tame-turbulence-in-flattened-fluids-20180627/  [5] ARTHUR JAFFE AND EDWARD WITTEN  QUANTUM YANG–MILLS THEORY  [6] Michael Murray, Alan Carey, Peter Bouwknegt, Millennium Prize: the Yang-Mills Existence and Mass Gap problem  https://theconversation.com/millennium-prize-the-yang-mills-existence-and-mass-gap-problem-3848  [7] Yang–Mills existence and mass gap  From Wikipedia, the free encyclopedia  https://en.wikipedia.org/wiki/Yang%E2%80%93Mills_existence_and_mass_gap  [8]L. D. Faddeev, Mass in Quantum Yang-Mills Theory  (Comment on a Clay Millenium Problem)St. Petersburg Department of SteklovMathematical Institute.  arXiv:0911.1013v1  [math-ph]  5 Nov 2009    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vật lý năm 2018: Những điểm nổi bật      Từ những nghiên cứu có tính đột phá đến một bài thơ lấy cảm hứng từ vật lý lượng tử đều có trong 10 câu chuyện yêu thích năm 2018 của ngành vật lý, theo sự lựa chọn của Hội Vật lý Mỹ.    Graphene: Một chất siêu dẫn mới     Graphene hai lớp xoắn gồm hai tấm graphene đặt sát nhau, với một tấm được xoay nhẹ so với tấm kia. Sự xoắn tạo ra một siêu mạng cho các điện tử dẫn có chu kỳ lớn hơn nhiều so với khoảng cách giữa các nguyên tử carbon. Đối với sự xoắn như được hiển thị trên hình này, có thể coi các điện tử dẫn như thể chúng di chuyển trong một siêu mạng lục giác (đường màu vàng) hoặc siêu mạng hình tam giác (các tâm của các hình lục giác màu vàng.)  Kết quả sáng giá nhất của vật lý chất rắn trong năm 2018 là từ hai tấm graphene. Các nhà nghiên cứu của Mỹ và Nhật đã phát hiện thấy tính siêu dẫn trong hai lớp graphene xếp chồng lên nhau và bị xoắn với nhau. Tính siêu dẫn mà họ đã phát hiện được giống như trong các chất siêu dẫn nhiệt độ cao, tạo khả năng cho phép sử dụng graphene xoắn như một hệ mô hình để nghiên cứu tính chất này. Nhóm nghiên cứu đã tạo ra “một cơn bão” trong cuộc họp của Hội Vật lý Mỹ hồi tháng 3 khi họ mới chỉ cho biết phát hiện của họ trong một cuộc nói chuyện ở phòng chờ (cuộc nói chuyện này đồng thời được truyền trực tiếp tới hàng trăm người khác đang tụ tập trước một màn hình trong một phòng giải trí tại Trung tâm Hội nghị Los Angeles. Các thí nghiệm đã châm ngòi cho một loạt các nghiên cứu lý thuyết, mỗi lý thuyết đều cố gắng giải thích hành vi độc đáo này. Một dự đoán cho rằng tính siêu dẫn của graphene xoắn cũng có thể có tính topo, một tính chất mong muốn cho tính toán lượng tử.  Hạt Higgs xuất hiện cùng các Quark nặng nhất    Sự phân rã của boson Higgs thành một cặp quark đáy, là kênh phân rã hạt dễ xảy ra nhất.  Sau khi phát hiện được hạt boson Higgs vào năm 2012, việc tiếp theo là kiểm tra xem nó có hành xử như mong đợi hay không. Hai thí nghiệm như vậy đã được tiến hành tại CERN. Các thí nghiệm này đo tương tác của các quark nặng nhất với hạt Higgs và đã đạt được tiêu chuẩn “5 sigma” (“5 sigma” là một tiêu chuẩn vàng cho một khám phá trong vật lý: chỉ có 1 trên 3,5 triệu cơ hội cho tín hiệu sai). Phân tích các va chạm proton-proton, CMS và ATLAS đã xác định được cường độ tương tác giữa quark đỉnh (top quark) và hạt boson Higgs bằng cách đo tần suất hạt boson Higgs được sinh ra cùng quark đỉnh và phản quark đỉnh (top antiquark). Sau đó CMS và ATLAS tiếp tục hợp tác và đã quan sát được, lần đầu tiên, sự rã của hạt boson Higgs thành các quark đáy (bottom quark). Sự phân rã này hẳn là số phận của hạt boson Higgs, nhưng cực kỳ khó phát hiện trên nền dày đặc của các quark đáy được tạo ra trong một thí nghiệm điển hình. Cho đến nay, tất cả các phép đo đều phù hợp với mô hình chuẩn của vật lý hạt cơ bản, nhưng vẫn còn những sự bất định có thể tạo ra đủ chỗ cho một vật lý mới “ngọ nguậy”.  Các lý thuyết về vật chất tối cắt bỏ cục u    Trong năm 2018 đã có nhiều chấn động về vấn đề vật chất tối. Với một màn trình diễn đáng thất vọng từ các ứng viên chính cho lý thuyết về vật chất tối, được gọi là lý thuyết WIMP (Weakly Interacting Massive Particles: Các hạt nặng tương tác yếu), các ứng viên khác (không dựa nhiều vào WIMP) cũng đã nổi lên ganh đua cho vị trí dẫn đầu. Một trong những ứng viên như thế cho vật chất tối, các lỗ đen nguyên thủy, đã thu hút được nhiều sự chú ý sau khi sự hợp tác giữa LIGO và Virgo  phát hiện sự sáp nhập của các lỗ đen. Nhưng sự phấn khích đã giảm sút ngay sau khi một nghiên cứu về siêu tân tinh phát hiện ra rằng các lỗ đen không thể choán hết vật chất tối. Tuy nhiên, sự kiện giật gân lớn nhất trong năm lại là tín hiệu hấp thụ bất ngờ từ khí hydro vào thời điểm xuất hiện của những ngôi sao đầu tiên. Để giải thích những quan sát này, các nhà lý thuyết đã đưa ra đề xuất cho rằng khí đã được làm mát thông qua các tương tác với vật chất tối. Có một khả năng là các hạt vật chất tối mang điện tích rất nhỏ.  Mật mã lượng tử thông qua vệ tinh    Vệ tinh Micius đã chuyển các tín hiệu lượng tử an toàn giữa Trung Quốc và Áo. Hình ảnh cho thấy laser đỏ của Đài quan sát Xinglong theo dõi vệ tinh khi nó di chuyển trên bầu trời, phát ra tia laser xanh xuất hiện dưới dạng một điểm tại bất kỳ thời điểm nào.  Lần đầu tiên các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Áo đã sử dụng kết nối qua vệ tinh để tổ chức hội nghị truyền hình xuyên lục địa được bảo mật bởi mật mã học lượng tử. Việc bảo mật dữ liệu được thực hiện dựa trên giao thức phân phối khóa lượng tử (Quantum Key Distribution): các đối tác trao đổi các khóa mật mã được mã hóa trong các photon rối lượng tử với nhau. Phân phối khóa lượng tử đường dài đã được thực hiện trước đây trong các mạng sợi quang trên mặt đất, nhưng tổn thất quang học trong các sợi này đã giới hạn khoảng cách liên lạc (chỉ có thể áp dụng được với khoảng cách cỡ vài trăm km là cùng). Vì các photon truyền trong không trung (không phải trên mặt đất) hầu như không bị nhiễu, hai trạm vệ tinh cách xa nhau 7600 km đã được bố trí để làm thí nghiệm. Bằng cách trao đổi các khóa bí mật ở tốc độ vài kilohertz, các bên có thể gửi các hình ảnh được mã hóa lượng tử và tổ chức một hội nghị truyền hình an toàn kéo dài 75 phút với lượng dữ liệu sử dụng là 2 gigabyte. Cuộc trình diễn về truyền thông lượng tử như vậy là một tin tốt cho những ai muốn có Internet lượng tử toàn cầu thông qua một mạng lưới các trạm mặt đất và các vệ tinh trên không trung.  Câu đố về neutrino lại phức tạp trở lại     Sơ đồ thí nghiệm MiniBooNE tại Fermilab. Một chùm proton cường độ cao được gia tốc và tiêu điểm vào một mục tiêu, tạo ra các hạt pion; các pion chủ yếu phân rã thành các muon và neutrino muon. Chùm neutrino được đặc trưng bởi máy dò MiniBooNE.  Các nhà nghiên cứu trong thí nghiệm MiniBooNE tại phòng thí nghiệm Fermi (Fermilab) ở Illinois, Mỹ, đã phát hiện ra một tín hiệu không tương thích với các dao động của neutrino, chỉ liên quan đến ba hương vị đã biết của neutrino. Xác nhận kết quả trước đó từ máy dò neutrino lỏng (Liquid Scintillator Neutrino Detector — LSND) ở Los Alamos, với ý nghĩa thống kê cao hơn, phát hiện này cho gợi ý là neutrino muon có thể biến đổi thành neutrino electron trong những khoảng cách ngắn hơn nhiều so với dự kiến. Cả hai kết quả (trong thí nghiệm MiniBooNE và thí nghiệm từ LSND) đều có thể được giải thích bằng một lý thuyết liên quan đến một neutrino thứ tư, neutrino “khô khan” (“sterile”), là loại neutrino chỉ tương tác thông qua hấp dẫn (gravity). Nhưng xem ra giả thuyết về neutrino “khô khan” có những khiếm khuyết nghiêm trọng vì nó không phù hợp với những kết quả khác, mới thu được gần đây, đối với các neutrino được tạo ra trong các máy gia tốc và lò phản ứng hạt nhân. Tuy nhiên, kết quả mới trong thí nghiệm MiniBooNE lại khơi lại cuộc tranh luận về các hạt này: sự tồn tại của chúng có khả năng giải thích vật chất tối và sự bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất trong Vũ trụ.  Các con quay với tốc độ 60 tỷ vòng trên phút   Hãy tưởng tượng trò chơi với các con quay bốn mặt (dreidel) quay với tốc độ 60 tỷ vòng trên phút. Có hai nhóm đã lập kỷ lục thế giới một cách độc lập bằng cách quay các đối tượng với tốc độ như vậy. Các nhà nghiên cứu từ Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ở Zurich và Đại học Purdue ở Indiana, Mỹ, đã sử dụng ánh sáng phân cực tròn có điện trường quay để xoay tròn các vật thể có kích thước nanômét. Lực ly tâm ở tốc độ quay lớn như vậy gần như đủ để phá vỡ các con quay silica, do đó kỹ thuật này có thể áp dụng để kiểm tra độ căng giữa các bộ phận của các máy có kích thước nanômét, các nhóm nghiên cứu cho biết. Kỹ thuật này cũng có thể được áp dụng để nghiên cứu một dạng lượng tử rất khó phát hiện của ma sát quay, được gọi là mô-men xoắn Casimir (Casimir torque), một hiệu ứng ma sát được sinh ra từ sự tương tác của vật thể với các hạt ảo của chân không lượng tử.  Hệ đo lường quốc tế giảm tiêu chuẩn Kilôgam  Trong lịch sử các đơn vị đo lường được dựa trên những thứ hữu hình, như bàn tay con người, thể tích nước hoặc khối kim loại. Nhưng những những thứ hữu hình như vậy có thể thay đổi theo thời gian hoặc địa điểm, đó là lý do tại sao cộng đồng đo lường thế giới đã bỏ phiếu vào tháng 11 để thông qua các định nghĩa phổ quát hơn cho hệ thống đơn vị quốc tế (SI). Bốn đơn vị bị thay đổi là kilôgam, ampe, kelvin và mol. Các đơn vị này sẽ được định nghĩa theo các hằng số vật lý cơ bản, như hằng số Planck và điện tích cơ bản. Nhưng không có gì đáng phiền phức đối với các thiết bị đo lường vẫn sử dụng hằng ngày như cân trong phòng tắm, nhiệt kế cơ thể v.v…, vì nhiệm vụ/chức năng của những thiết bị này vẫn như cũ. Duy nhất chịu sự thay đổi lớn là nguyên mẫu quốc tế kilôgam, một hình trụ bằng bạch kim hiện đang được giữ ở Paris, Pháp, nay sẽ không còn mang danh hiệu tiêu chuẩn của khối lượng đối trên toàn thế giới.  Xi nê về sự mọc lên của tinh thể  Từ nhiều thập kỷ nay kính hiển vi điện tử đã cho ta những hình ảnh tuyệt đẹp của các nguyên tử và phân tử. Nhưng video về một dây cỡ nanômét mà trên đó một lớp nguyên tử được mọc lên tại một thời điểm lại là video phổ biến nhất trong số những video đã được chia sẻ trên phương tiện truyền thông xã hội – có lẽ vì nó giống như ta đang xem xi nê về sự hoạt động của một máy in 3D nhỏ nhất thế giới. Để hiểu làm thế nào mà các nguyên tử tự định vị được khi một tinh thể mọc ra khỏi một chất lỏng, các nhà nghiên cứu ở Pháp đã theo dõi quá trình này bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (transmission electron microscope). Chất lỏng là một giọt vàng (gold) cỡ nanômét được làm siêu bão hòa bởi các nguyên tử gallium và arsenide. Đoạn video cho thấy các nguyên tử rơi ra từ bên dưới giọt nước nano vàng để tạo ra một “nấc” tại một góc của giao diện giữa chất rắn và chất lỏng. Nấc sau đó, khi có thêm nhiều nguyên tử, quét qua bề mặt để tạo ra một lớp tinh thể mới.  Các phương trình cho vải dệt kim  Sợi có khả năng chống co giãn, nhưng áo len dệt kim lại rất hay bị co giãn. Bị hấp dẫn bởi điều dường như là mâu thuẫn này, các nhà vật lý tại École Normale Supérieure ở Paris và Lyon, Pháp, đã nghiên cứu quá trình giãn của vải dệt kim. Nhóm nghiên cứu đã làm giãn một cách có kiểm soát một tấm vải được dệt bằng sợi nylon rồi sau đó nghĩ ra một vài phương trình đơn giản để lý giải các tính chất vật liệu mà họ quan sát được. Trước đây những người khác đã đề xuất rằng sự co giãn là do sự trượt của sợi từ mũi khâu đến mũi khâu và từ các mũi khâu bị biến dạng. Nhưng các phương trình mới này tỏ ra thích hợp với bất kỳ mẫu khâu nào và giải thích được quá trình một cách định lượng. Nhóm nghiên cứu hy vọng các kết quả của họ có thể hữu ích cho các kỹ sư trong việc phát triển cái gọi là vải thông minh, ví dụ, như loại vải có thể nhận các hình dạng đặc biệt khác nhau để đáp ứng với nhiệt.  Một trang điểm thơ mộng của vật lý lượng tử  Nhiều người cảm thấy khó có thể tìm ra những từ ngữ thích hợp để mô tả chính xác thế giới kỳ quặc của các vật thể lượng tử và các quy tắc thách thức logic của nó. Nhưng đó lại chính là điều mà các nhà nghiên cứu và các nghệ sĩ vẫn luôn cố gắng làm. Có một nghệ sĩ như vậy, nhà thơ Amy Catanzano, người đã nghĩ rằng thơ có thể là một phương tiện để phát triển một ngôn ngữ hiệu quả hơn nhằm truyền đạt những ý tưởng phức tạp của vật lý lượng tử. Trong năm, nữ nhà thơ Amy Catanzano, đã đưa ý tưởng của mình vào thực tế bằng việc sáng tác một bài thơ về máy tính lượng tử tôpô gồm bốn qubit. Bài thơ có ý diễn dịch lý thuyết cách hoạt động của máy tính lượng tử thông qua các cách lựa chọn từ ngữ và cấu trúc của nó. Việc các nhà vật lý sẽ chấp nhận thơ như một ngôn ngữ cho vật lý lượng tử hay không vẫn còn gây tranh cãi. Nhưng, dù thế nào, bài thơ này cũng vạch ra một con đường khả dĩ cho những người ngoài ngành vật lý có thể làm quen với một số khái niệm lượng tử khó nhằn.   Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn:  https://physics.aps.org/articles/v11/129?utm_campaign=weekly&utm_medium=email&utm_source=emailalert     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý nhìn vào vật chất sống và không sống      Liệu có thể dung hòa các nhận thức của chúng ta đối với hai vương quốc vật chất sống và không sống? Nhiều thế kỷ đã phân chia hai vương quốc này. Các nhà khoa học theo thuyết sức sống tin rằng tồn tại một lực sống đã tổ chức nên  các cơ thể sống và điều hành mọi hành xử của chúng.      Thế giới đại dương rực rỡ và sống động qua bức vẽ về những con sứa – kết quả của sự tiến hóa sinh học ở biển khơi, trong cuốn “Kunstformen der Natur” xuất bản năm 1904 của nhà sinh vật học người Đức Ernst Haeckel (1834–1919). Nguồn: Public Domain.  Hiện nay các nhà vật lý và hóa học dường như không tin vào thuyết sức sống và đưa ra cách tiếp cận để tìm hiểu sơ bộ  quá trình tự tổ chức quan sát được trong vương quốc của sự sống dựa trên những cấu trúc phát tán phát hiện bởi Prigogine (Nobel 1977) và trên hiện tượng đột sinh trong lý thuyết phức hợp do Laughlin (Nobel 1998) và nhiều người khác phát triển. Các nhà vật lý (Schrodinger, Penrose,…) đã nhấn mạnh vai trò của lý thuyết lượng tử trong sinh học.  Thêm vào đấy vũ trụ toàn ảnh xây dựng bởi Bohm và Pribram lại cho thấy rằng có mối liên thông giữa hai vương quốc vật chất sống và không sống.   Nhập đề     Với các thành tựu của nhiệt động học xa cân bằng, người ta có thể chứng minh đối với các hệ mở xa cân bằng có thể phát sinh những quá trình tự tổ chức với cấu trúc có trật tự và có khả năng tái sinh theo những thông tin được mã hóa trong hệ.    Nhiều người đã cho rằng thế giới sống (living) và thế giới không sống (nonliving) là hai vương quốc không dung hòa với nhau được, không thể nào ứng dụng các định luật nhiệt động học vào thế giới sống. Thuyết sức sống (vitalism) cho rằng trong thế giới sống có những lực sống đặc thù điều khiển các quá trình sinh học.    Hiện nay, nhiều nhà khoa học không nghĩ như thế, mặc dầu còn xa lắm mới có thể hiểu được bí mật lớn của sự sống, song đã có nhiều công trình nghiên cứu cho ta hiểu được ít nhất sự phát sinh nhiều cấu trúc trong thế giới khách quan sau khi phát hiện các cấu trúc phát tán ( dissipative structure).    Một thời điểm quan trọng là sự xâm nhập của cybernetics (điều khiển học) và synergetics. Theo định nghĩa của Norbert Wiener điều khiển học [1a] là môn học về điều khiển và trao đổi thông tin (communication) trong các máy móc và các sinh vật, các tổ chức bao gồm cả các thực thể tự tổ chức (self-organization). Louis Couffignal, một trong những người sáng tạo cybernetics, xem cybernetics là nghệ thuật bảo đảm tính hữu hiệu của hành động. Môn synergetics (tiếng Hy lạp có nghĩa là cùng hoạt động-working together) do Hermann Haken [1b] sáng lập, là môn học liên ngành nhằm giải thích sự hình thành của các quá trình tự tổ chức trong các hệ mở nằm xa cân bằng nhiệt động. Synergetics liên quan đến lý thuyết phức hợp, lý thuyết các hệ động học, lý thuyết rẽ nhánh (bifurcation), lý thuyết hỗn độn (chaos), lý thuyết tai biến (catastrophe theory).      Nhà vật lý Hermann Haken sáng lập môn synergetics, một môn học liên ngành nhằm giải thích sự hình thành của các quá trình tự tổ chức trong các hệ mở nằm xa cân bằng nhiệt động. Nguồn: http://www.exp.unibe.ch/  Nhiều vấn đề trong sinh học được nghiên cứu trên cơ sở của   lý thuyết động học vi mô ( kinetics) như sự hình thành tự phát các cấu trúc từ các hệ phân tử mà không rơi vào mâu thuẫn với định luật nhiệt động thứ hai. Động học vi mô (kinetics) được định nghĩa là lý thuyết vi mô các quá trình xảy ra trong các hệ gồm nhiều phân tử, nguyên tử nằm ở trạng thái không cân bằng.    Nhiều công trình theo các hướng kể trên có thể dẫn đến những kết quả định lượng (quantitative) đối với một số trường hợp hoặc kết quả định tính (qualitative) như khi ta sử dụng những lý thuyết như lý thuyết tai biến (catastrophe theory) vào phôi thai học.    Sự quan trọng của thuyết lượng tử đối với sinh học và mối tương đồng giữa vũ trụ học và sinh học cũng được nhiều nhà vật lý nhấn mạnh và làm sáng tỏ (Schrodinger, Penrose, Susskind…).    Cuối cùng lý thuyết Vũ trụ toàn ảnh của David Bohm & Karl Pribram lại cho chúng ta thấy một quan điểm kỳ diệu về sự kết nối liên thông (interconnectedness) giữa hai thế giới sống và không sống minh chứng cho tính duy nhất của hai vương quốc đó.     Nhiệt động học, cơ học thống kê và lý thuyết động học vi mô (kinetics   theory)                                         Trước hết phải nói rằng định luật II nhiệt động học chỉ áp dụng được với những hệ kín. Những công trình của Schrodinger (What is life? 1944), Turing, Prigogine, Glansdorff,… đã mở đường cho sinh học phân tử. Trong những hệ mở (open) có khả năng thu nhận entropy âm và vật chất từ môi trường bên ngoài,   có thể tồn tại những trạng thái dừng (stationary) ở xa trạng thái cân bằng (far of equilibrium) với độ trật tự cao. Khi ở xa cân bằng, hệ được mô tả bởi những   phương trình phi tuyến (non linear) với những lời giải dừng (stationary). Nghiên cứu tính ổn định của những lời giải này chúng ta sẽ có những trạng thái vật lý ổn định đối với các thăng giáng nhiễu loạn. Còn các lời giải không ổn định lại sẽ dẫn hệ đến những trạng thái ổn định khác và trạng thái cuối cùng sẽ có độ trật tự cao hơn ứng với một đối xứng thấp hơn. Sự chuyển biến đến trạng thái ổn định dừng được gọi là quá trình tiến hóa ( evolution) và tuân theo nguyên lý  Prigogine-Glansdorff. Quá trình này dẫn đến một hệ quả quan trọng là  khả năng tự tổ chức (self-organisation).    Quá trình tự tổ chức đòi hỏi sự có mặt của một hệ vĩ mô, gồm nhiều hệ con tương tác phi tuyến với nhau và phụ thuộc vào một số thông số điều khiển. Trong quá trình tự tổ chức xuất hiện những tâm hút (attractors) và tính phức hợp của tổ chức nội tại của một hệ mở tăng lên mà không cần đến một nguồn ngoại lai nào. Sau đây là các yếu tố quan trọng nhất trong việc tìm hiểu quá trình hình thành cấu trúc [2a]:    1.   Có thông lượng entropy âm.  2.   Hệ ở xa trạng thái cân bằng.  3.   Các phương trình mô tả hệ là phi tuyến.  4. Nguyên lý Prigogine-Glansdorff.    Nhờ những yếu tố trên mà trong những năm gần đây, các nhà vật lý, hóa học và sinh học đã tiến xa trong việc tìm hiểu sự hình thành các cấu trúc trong những hệ mở. Song phải nói rằng ta cũng còn xa mới hiểu hết các dạng phức tạp của thế giới sống quanh chúng ta.    Nhiều bài toán về cấu trúc chúng ta cũng gặp phải trong hóa học, khí tượng học, địa chất, vũ trụ.    Có thể nói bài toán về sự hình thành các cấu trúc là một trong những bài toán cơ bản nhất của khoa học và nhận biết được sự phát sinh các cấu trúc là một trong những vấn đề trọng điểm của nhận thức luận.     Khái niệm về cấu trúc     Đối với toán học hiện đại khái niệm cấu trúc là khái niệm quan trọng (Bourbaki- Cơ sở toán học). Khái niệm cấu trúc liên quan đến khái niệm tập hợp, yếu tố tập hợp, liên hệ tương quan và các toán tử. Vậy cấu trúc là sự tổ chức giữa các yếu tố và tính chất quan hệ giữa các yếu tố của hệ. Khi nói đến cấu trúc chúng ta không quan tâm đến bản chất của các yếu tố đó mà chỉ quan tâm đến mối liên hệ giữa chúng với nhau.    Trong các hệ vật lý người ta nói đến các cấu trúc không gian và thời gian. Về cấu trúc không gian người ta có thể sử dụng lý thuyết đối xứng (như trong tinh thể học -cristallography). Về cấu trúc thời gian người ta sử dụng động học của hệ nói cách khác sử dụng các định luật chuyển động của các yếu tố.  Khi có sự hình thành cấu trúc thì đối xứng của hệ giảm đi, tính đồng nhất của hệ bị phá hủy hoặc entropy của hệ trở nên nhỏ hơn.    Xác suất và entropy     Gọi X   i   tập các trạng thái  i = 1, 2, 3… W và  p   i   = xác suất của trạng thái  X   i   . Theo Boltzmann ta có entropy thống kê (statistical entropy) bằng     Trong đó k là hằng số Boltzmann. Entropy thống kê là mức đo độ mất trật tự của hệ và cũng là số đo cấu trúc tổ chức của hệ. Lúc S là maximum ta có mức độ tổ chức thấp nhất của hệ.    Nếu tất cả p   i    = 1/W (tất cả trạng thái đều đồng xác suất) ta có S = k ln W.    Một điều quan trọng là entropy thống kê Boltzmann trùng với entropy nhiệt động học của Clausius [2a]. Cách chứng minh H-định lý của Boltzmann dựa trên phương trình động học vi mô (kinetics) cho phép giải thích được định luật nhiệt động II từ quan điểm vi mô [2c]   (chú ý H = – S ).     Thuận nghịch & không thuận nghịch (Reversibility & Irreversibility)     Trong nhiều trường hợp, người ta phân dS = d   e   S+d   i   S, trong đó d   e   S chỉ biến thiên entropy do sự trao đổi nhiệt và vật chất với môi truờng bên ngoài còn di   S      chỉ biến thiên của entropy do các biến đổi nội tại của hệ. Luôn đúng hệ thức di   S         ≥ 0, nếu   di   S         = 0 ta có quá trình thuậnnghịch. Còn nếu di   S         > 0 ta có quá trình không thuận nghịch. Đối với các hệ kín de   S = 0 vậy dS = di    S     ≥0.     Cân bằng & không cân bằng (Equilibrium & Non equilibrium)     Như vậy đối với hệ kín, entropy, không bao giờ giảm. Trạng thái cân bằng nhiệt động ứng với max của entropy: S= max như vậy trạng thái cân bằng ứng với trạng thái với độ trật tự thấp nhất.    Do đó, những trạng thái ứng với trình độ tổ chức cao (độ trật tự cao) phải là những trạng thái ở xa trạng thái cân bằng S . Đối với những trạng thái xa cân bằng cũng luôn đúng hệ thức di  S   >0 và chú ý σ = sản lượng entropy (entropy production) = di  S   /dt > 0.      Hệ mở       Hệ mở là hệ có thể trao đổi với môi trường bên ngoài năng lượng và vật chất.     Đối với hệ mở nội năng, số mol cũng như entropy có thể tăng hoặc giảm mà không rơi vào mâu thuẫn với các định luật nhiệt động học.   Sự thay đổi entropy dS có thể âm hoặc dương do tồn tại   các thông lượng vào và ra.     Trong các hệ mở có thể tồn tại và hình thành những cấu trúc mà không mâu thuẫn với định luật 2 nhiệt động học. Việc hiểu   các đặc tính của hệ mở và ý nghĩa sinh học của chúng đã được hình thành trong các công trình của Schrodinger, Bertalanffy, Prigogine, Wiame.      Cấu trúc phát tán (dissipative structure)      Hãy xét các ví dụ sau đây.     a/ Cấu trúc Bénard (Bénard cells). Đây là một ví dụ điển hình về hiện tuợng tự tổ chức.   Hãy đun một lớp chất lỏng và tạo nên một ∆T = T1  – T2   giữa mặt đáy và mặt thoáng của chất lỏng. Nếu T1  – T2     < ∆Tcritical  thì chất lỏng nằm yên và ta chỉ có cơ chế truyền nhiệt, song nếu  ∆Tcritical  < T1  – T2  thì xuất hiện đối lưu và phát sinh hệ những ô mạng sáu cạnh Bénard.     Vì hệ chỉ trao đổi nhiệt với môi trường, cho nên dòng entropy đi qua   thành bình sẽ được tính theo   biểu thức (nhớ ∆S = Q/T): de   S/dt < 0. Như vậy hệ cung cấp entropy cho bên ngoài.    Hình 1. Bên trái các ô đối lưu phát sinh trong chất lỏng; bên phải những ô mạng 6 cạnh trong toàn chất lỏng (nhìn từ trên xuống).      Tại tâm ô mạng chất lỏng chảy ngược lên.     Vì hệ chỉ trao đổi nhiệt với môi trường, cho nên dòng entropy đi qua thành bình sẽ được tính theo biểu thức (nhớ ∆S = Q/T): dext  S/dt < 0. Như vậy hệ cung cấp entropy cho bên ngoài.    Hình 2. Trên tung độ là thông lượng nhiệt q biểu diễn theo nhiệt độ. Các ô mạng sáu cạnh énard sẽ xuất hiện khi nhiệt độ vượt qua trị số tới hạn.     b/Ví dụ: phản ứng hóa học hữu cơ do Belousov & Zhabotinski phát hiện năm 1950:     Ce3+  → Ce4+ ; Ce4+  → Ce3+  xảy ra trong dung dịch acid H  2 SO4 , acid CH2 (COOH)2 , sulfat Ce, bromid K.     Các kết quả thí nghiệm cho thấy rằng với những nồng độ của các chất tham gia phản ứng (đóng vai trò thông số) lớn hơn các trị số tới hạn thì có thể quan sát được những hiện tượng sau đây: màu biến đổi chu kỳ từ   đỏ (nhiều ion Ce3+) sang xanh (nhiều ion Ce4+) hoặc lúc đầu có sự thay đổi màu theo chu kỳ đỏ – xanh – đỏ – xanh… trong vòng 4 phút sau đó phát sinh nhiều lớp đỏ – xanh chồng lên nhau một cách ổn định. Lúc đầu ta có cấu trúc dao động (cấu trúc thời gian) sau đó cấu trúc này biến   thành cấu trúc không – thời gian.     Nói chung, trong thời gian đầu có cấu trúc dao động (cấu trúc thời gian) sau đó cấu trúc này biến thành cấu trúc không-thời gian: lớp, sóng cầu và nhiều biểu hiện của cấu trúc không gian.    Hình 3. Sự phát sinh các cấu trúc trong phản ứng Belousov &Zhabotinski.     c/Mô hình brusselator     Sau đây ta xét các phản ứng hóa học nghiên cứu bởi các tác giả Prigogine-Lefever. Ta gọi mô hình Prigogine-Lefever là brusselator (tên mô hình xuất phát từ trường phái Brussels): điều quan trọng của mô hình này là sự phát sinh các cấu trúc thời gian và không gian (hiện tượng tự tổ chức).                                       Ký hiệu các concentration bằng chính các ký hiệu trên. Đưa vào hai biến số x1  & x2 : X1  = A + x1   và X2   = B/A + x2 .     Viết lại hệ phương trình theo x  1  & x  2  sau đó tìm phương trình đặc trưng của hệ phương trình, từ đó ta có các kết quả sau. Lấy cố định A = 1 còn xem B như thông số điều khiển. Trị số tới hạn là Bcritical     = 2. Tại B=Bcritical     ta có điểm rẽ nhánh, sau điểm đó sẽ có quỹ đạo giới hạn ổn định (stabile limit cycle). Xem hình 4.     Khi B < Bcritical  ta có các dao động   lịm dần tiến đến một tiêu điểm ổn định   Khi B = Bcritical    ta có điểm rẽ nhánh (bifurcation)   Khi B > Bcritical  ta có các quỹ đạo giới hạn.     Trên đây ta thấy phát sinh hiện tượng tự tổ chức (self-organization) – với cấu trúc thời gian. Sau đây ta xét đến hiện tượng tự tổ chức với cấu trúc không – thời gian của brusselator.    Hình 4.     Ta giả sử hệ hóa học được phân bố theo một đường thẳng dọc theo tọa độ r. Bây giờ nếu xét thêm hiện tượng khuếch tán dọc theo r thì lời giải của hệ là:     x1  (r, t) = x10  eωt  sin nπr   x2  (r, t) = x20  eωt  sin nπr     Như vậy chúng ta có trạng thái biến đổi có chu kỳ (cấu trúc theo thời gian) và có dạng sinus (cấu trúc không gian).     Qua các ví dụ a, b, c chúng ta thấy được sự hình thành các cấu trúc lúc hệ nằm ở vùng xa cân bằng. Hiện tượng tự tổ chức xuất hiện khi các thông số vượt qua những trị số tới hạn, lúc này các biến số của hệ tuân theo các phương trình phi tuyến. Phi tuyến là tính quan trọng đối với các hệ ở xa cân bằng.     Prigogine gọi cấu trúc không – thời gian ở xa cân bằng trong vùng phi tuyến khi các thông số của hệ vượt qua các trị số tới hạn là cấu trúc phát tán (dissipative structure).   (Còn tiếp)  —–   Tài liệu tham khảo    [1a] Y.Korchounov, Fondements mathématiques de la cybernétique   [1b] Hermann Haken, Synergetics, An introduction, Nonequilibrium Phase Transitions and Self-Organization in Physics, Chemistry and Biology   [2a] Von Dr. Werner Ebeling, Eine Einfuhring in die Theorie dissipativer Strukturen   [2b] Iu.B.Rumer & M.Ch.Rybkin, Thermodynamics, Statistic Physics and Kinetics   [2c] E.M.Lifchitz, L.P.Pitaevski , Physical kinetics   [3a] Edgar Morin , Introduction à la pensée complexe, Nhập môn tư duy phức hợp   Nhà xuất bản Tri thức   [3b] Heinz R. Pagels (1988), The Dreams of Reason: The Computer and the Rise of the Sciences of Complexity (1988)   [3c] Michel Bitbol, Robert Laughlin, Cécile Michaut, La Recherche số 405, tháng hai/2007   [3d] René Thom,   Structural Stability and Morphogenesis ( Ổn định cấu trúc và sự tạo sinh các hình thái),   Benjamin-Cummings Publishing, Reading, Massachusetts, 1975.   [3e] J.M.T.Thompson, Instabilities and Catastrophes in Science & Engineering 1982   [4a] Jerzy Jurkiewicz, Renate Loll and Jan Ambjorn ,The Self- organizing Quantum Universe, Scientìific American, tháng 07/ 2008   [4b] Leonard Susskind, Physicsworld, July 2009                                                             [4c] Raphael Bousso, Joseph Polchinski, The string theory landscape, Scientific American, tháng 9/2004   [5a] David Bohm, Wholeness and the implicate Order, 1980.   [5b] Michael Talbot, The holographic Universe,1996.   [5c] Bernard Schutz, ScienceDaily, Feb.4/2009.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vật lý thiên văn được ba giải Nobel mới vinh danh      Năm nay một lần nữa vật lý thiên văn lại được ba giải thưởng Nobel vinh danh. Một giải được trao cho James Peebles, cho sự nghiệp khoa học phong phú trọn đời của ông với tư cách là một nhà vũ trụ học; hai nhà vật lý thiên văn khác của Thụy Sĩ, Michel Mayor và Didier Queloz, được trao giải cho khám phá đầu tiên của họ về một hành tinh bên ngoài hệ mặt trời (ngoại hành tinh) vào năm 1995. Chúng ta hãy hy vọng, với giải thưởng này, các nhà quản lý khoa học Việt Nam sẽ nhận thấy rõ hơn sự năng động của vật lý thiên văn và bị thuyết phục bởi tầm quan trọng của nó để hỗ trợ cho sự phát triển của ngành này một cách mạnh mẽ nhất.         Gương mặt rạng ngời của ba nhà khoa học đoạt giải Nobel, từ trái sang phải: Jim Peebles, Didier Queloz và Michel Mayor.  Peebles sinh ra ở Canada vào năm 1935, giữa những năm tuổi hai mươi ông chuyển đến sinh sống và làm việc tại Princeton, ông ở thành phố này từ đó cho đến nay. Giải Nobel năm nay tôn vinh thành tựu trọn đời là một điều khá lạ, tôi đã nhận xét về việc này trên Tia Sáng nhân dịp trao giải Đột phá 2019; thật thú vị và an ủi khi thấy cộng đồng khoa học tiếp nhận việc trao giải cho thành tựu trọn đời một cách tích cực. Thật vậy, trong khi Peebles được cộng đồng các nhà khoa học công nhận là nhà khoa học tiên phong của vũ trụ học hiện đại, tuy nhiên, người ta không thể kể ra một đóng góp nào đó của ông nổi trội hơn hẳn so với những đóng góp khác. Khi được hỏi một câu hỏi tương tự như vậy, chính ông đã trả lời rằng: “Rất khó để tôi có thể nói. Đó là công việc cả đời”. Khi bắt đầu nghiên cứu vũ trụ học, vào đầu những năm sáu mươi, Peebles cảm thấy đó là một lĩnh vực khó, đồng thời cũng cảm thấy rất phấn khích bởi vì, ông nói, “việc ngoại suy từ những kết quả trong phòng thí nghiệm đến vật lý của vũ trụ dãn nở dựa vào một số rất ít bằng chứng thực nghiệm. Tôi nhớ đã từng suy nghĩ rằng có thể thực hiện hai hoặc ba dự án về chủ đề này rồi sẽ chuyển sang một cái gì đó thực tế hơn. Điều đó đã không xảy ra bởi vì mỗi dự án lại dẫn đến những ý tưởng mới cho dự án khác, nó như một dòng chảy, quá thú vị để có thể từ bỏ.”      “Ta có thể học được gì từ những hướng nghiên cứu ngoài luồng? Kiểm tra những ý tưởng được chấp nhận luôn là điều tốt, tuy vậy, Tự Nhiên cũng có thể đã chuẩn bị cho ta một bất ngờ khác” (Peebles)      Trong nửa đầu thế kỷ qua, vũ trụ học vẫn còn ở dạng sơ khai, một lĩnh vực tự biện chứ chưa phải là một ngành khoa học nghiêm túc. Peebles là cha đẻ của vũ trụ học lý thuyết hiện đại; ông đã đặt nền tảng và khai phá nhiều phương pháp biến nó thành một ngành khoa học có khả năng dự đoán và cho phép kiểm chứng với dữ liệu quan sát. Ông có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với sinh viên và các đồng nghiệp qua những bài giảng và những cuốn sách giáo trình nổi tiếng của mình. Ông gợi cho tôi nhớ về hình ảnh Vicki Weisskopf đối với vật lý hạt nhân và vật lý hạt cơ bản. Giống như Weisskopf, ông ấy rất hào phóng với sinh viên và đồng nghiệp của mình, ông ấy được mọi người ngợi khen vì sự chu đáo, lịch thiệp và lòng tốt của mình.  Trong phần lớn thời gian sự nghiệp của mình, ông tập trung nghiên cứu về Vũ trụ và những câu hỏi lớn của nó: Vụ Nổ lớn, năng lượng tối, lạm phát vũ trụ, vật chất tối, bức xạ phông nền vũ trụ… Từ hai thập kỷ qua, ông lại dành mối quan tâm đến những sự kiện diễn ra ở thời kỳ sau này của Vũ trụ liên quan đến cách mà các thiên hà hình thành, như ông nói, về “những vấn đề không được đánh giá cao”. Đặc biệt, thực tế rằng số lượng các thiên hà đơn lẻ lại phổ biến hơn nhiều so với các quầng vật chất tối cô lập đã khiến ông suy nghĩ tìm lời giải. Peebles giải thích cho mối quan tâm mới của mình “Ta có thể học được gì từ những hướng nghiên cứu ngoài luồng? Kiểm tra những ý tưởng được chấp nhận luôn là điều tốt, tuy vậy, Tự Nhiên cũng có thể đã chuẩn bị cho ta một bất ngờ khác”.      Mayor và Queloz đã mở ra một chương mới cho vật lý thiên văn nghiên cứu về cách các ngôi sao được hình thành từ các đám mây phân tử và cách các hành tinh được hình thành trong đĩa khí và bụi bao quanh những ngôi sao này.      Michel Mayor và Didier Queloz, hai nhà vật lý thiên văn người Thụy Sĩ, đã công bố khám phá của họ trên tạp chí Nature (tháng 11 năm 1995). Lúc đó tôi đang ở Geneva và nhớ rất rõ xê-mi-na khoa học mà Mayor trình bày tại CERN. Chúng tôi rất tự hào và vui mừng cho họ, một khám phá được thực hiện với kính thiên văn có đường kính nhỏ hơn 2 mét, trong khi tất cả chúng tôi lúc đó đều nói về những chiếc kính với đường kính 8 mét mà Đài thiên văn Nam Âu (ESO) đang xây dựng ở La Silla (hơn hai năm sau đó chúng được đưa vào hoạt động). Đó là một kiểu chiến thắng như của tráng sĩ David trước người khổng lồ Goliath. Khi đó chúng tôi không thể tưởng tượng được, chưa đầy mười năm sau, kính thiên văn ở La Silla (VLT) lại có thể chụp được những bức ảnh đầu tiên về một ngoại hành tinh quay quanh ngôi sao mẹ của nó. Và thậm chí, không thể nghĩ rằng đến nay đã có hơn 4.000 ngoại hành tinh được tìm thấy.    Hình trái: bằng chứng chuyển động chao đảo của ngôi sao mà quanh nó Mayor và Queloz đã phát hiện ra ngoại hành tinh đầu tiên. Hình phải: hình ảnh trực tiếp một ngoại hành tinh (màu đỏ) quay quanh một ngôi sao lùn nâu (màu trắng) được chụp bởi kính thiên văn VLT năm 2004.  Công trình của Mayor và Queloz là một hình mẫu về sự chính xác và nghiêm cẩn khoa học, đọc bài báo của họ hết sức thú vị. Đó là sản phẩm trực tiếp từ di sản truyền thống chế tạo đồng hồ của Thụy Sĩ. Họ đo dịch chuyển Doppler của ngôi sao gây ra bởi sự hiện diện của hành tinh quay quanh với độ chính xác chỉ khoảng 14 m/s, giống như dịch chuyển của Mặt trời dưới tác động của Sao Mộc. Trong thời gian khoảng nửa năm, họ đã đo chuyển động của một số ngôi sao và thấy rằng chỉ một số nhỏ trong chúng có sự thay đổi vận tốc một cách đáng kể. Và mặc dù hầu hết các trường hợp đều cần có thêm các phép đo bổ sung, họ đã công bố “phát hiện một vật thể đồng hành có khối lượng ít nhất bằng một nửa khối lượng Sao Mộc, quay quanh ngôi sao cùng loại với Mặt trời, 51 Peg, ở khoảng cách 0,05 đơn vị thiên văn (đơn vị thiên văn là bán kính quỹ đạo Trái đất chuyển động quanh Mặt trời)”. Tuyên bố của họ được chứng minh bằng một đường cong hình sin phù hợp với số liệu quan sát, đồng thời loại bỏ những cách diễn giải có thể khác về bộ số liệu thu nhận được với độ tin cậy hợp lý.    Vào tháng 4 năm 2014, trên đường trở về từ một hội nghị về ngoại hành tinh ở Quy Nhơn, Michel Mayor đã tới Hà Nội và trình bày một bài nói chuyện khoa học đại chúng tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong ảnh là Michel Mayor và Phạm Ngọc Điệp, Trưởng phòng Vật lý Thiên văn và Vũ trụ, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, đang dịch bài nói của ông sang tiếng Việt.  Nói rằng khám phá của Mayor và Queloz là một bất ngờ vừa đúng mà cũng vừa cường điệu. Cường điệu theo nghĩa, tại thời điểm đó và thậm chí nhiều thập kỷ trước đó, chúng ta đã biết khá rõ để có thể tin rằng có hành tinh quanh nhiều ngôi sao khác. Nếu Mặt trời của chúng ta là ngôi sao duy nhất có các hành tinh thì đó mới là điều đáng ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên này lớn đến nỗi không ai nghĩ về nó một cách nghiêm túc như một cái gì đó thực tế. Tuy nhiên, phát hiện của Mayor và Queloz cũng gây ngạc nhiên vì hai lý do: thứ nhất vì trong hơn một thập kỷ trước đó ngoại hành tinh đã được tìm kiếm mà không thành công, người ta đã lường trước mức độ khó khăn của nhiệm vụ này và nghĩ rằng để tìm ra chúng sẽ phải mất nhiều thời gian; thứ hai, người ta không nghĩ rằng một hành tinh lớn như vậy lại có thể chuyển động trên quỹ đạo gần với ngôi sao mẹ của nó đến như vậy.      Tốt hơn hết, chúng ta cứ để trí tưởng tượng của mình miên man, tự do mơ về một cuộc sống tươi đẹp hơn trên các hành tinh xa xôi… Thật tuyệt vời khi chúng ta có thể nhắm mắt lại và tạm quên đi tội ác và chiến tranh, lũ lụt và động đất, nhà giam và ngục tù, nước mắt và máu, và về những dòng tweet của Donald Trump?      Ngày nay, có hơn 4.000 ngoại hành tinh đã được phát hiện bằng một số phương pháp khác nhau, ngoài phương pháp quan sát chuyển động chao đảo của sao mẹ tác động bởi ngoại hành tinh được Mayor và Queloz sử dụng, một phương pháp quan trọng khác là quan sát sự che khuất một phần ngôi sao khi có hành tinh đi qua bề mặt của sao. Trong thế kỷ qua, chúng ta chỉ biết về sự tồn tại của các hành tinh trong Hệ Mặt trời; việc phát hiện ra các ngoại hành tinh đã đưa ra một bức tranh đầy đủ hơn và ít thiên kiến hơn về tập hợp các ngoại hành tinh có thể có. Mayor và Queloz đã mở ra một chương mới cho vật lý thiên văn nghiên cứu về cách các ngôi sao được hình thành từ các đám mây phân tử và cách các hành tinh được hình thành trong đĩa khí và bụi bao quanh những ngôi sao này.   Thật phi lý khi nghĩ rằng, trong số hàng tỷ hành tinh “có thể sống được” trong Dải Ngân hà, thiên hà của chúng ta, lại chỉ có Trái đất là nơi duy nhất tồn tại sự sống. Chưa kể có hàng tỷ thiên hà khác được biết đến trong Vũ trụ. Những hiểu biết về hóa học chi phối quá trình tổng hợp các phân tử cơ bản của sự sống khiến ta tin rằng chúng hoàn toàn có thể hiện diện trên một số ngoại hành tinh. Mặc dù, vẫn còn nhiều câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp về sự hình thành những tế bào và sinh vật đa bào đầu tiên, nhưng những điều chúng ta biết về sinh học phân tử và tế bào khiến ta có thể nghĩ rằng một số dạng sống phải xuất hiện trên nhiều trong số những ngoại hành tinh kia. Hóa học và tiến hóa chi phối sự đa dạng nguồn gốc sự sống làm cho ta có thể thỏa sức tưởng tượng về các loài huyền bí và ngông cuồng nhất lấp đầy vũ trụ khoa học viễn tưởng của chúng ta. Nhưng sẽ không hợp lý khi hy vọng rằng, cuối cùng, chúng ta cũng có thể hiểu nhiều hơn về những dạng sống này vì chúng ở quá xa. Tốt hơn hết, chúng ta cứ để trí tưởng tượng của mình miên man, tự do mơ về một cuộc sống tươi đẹp hơn trên các hành tinh xa xôi. Rốt cuộc, thật tuyệt vời khi ta có thể nhắm mắt và sáng tác ra một áng thơ hay một điệu nhạc? Thật tuyệt vời khi chúng ta có thể nhắm mắt lại và tạm quên đi tội ác và chiến tranh, lũ lụt và động đất, nhà giam và ngục tù, nước mắt và máu, và về những dòng tweet của Donald Trump?  Phạm Ngọc Điệp dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Vật lý thiên văn ở Việt Nam: Liệu có tương lai?      Tôi vẫn thường kiến nghị trên Tia Sáng rằng vật lý thiên văn cần được đưa vào chương trình đào tạo ở Việt Nam, cả ở cấp đại học và trên đại học bởi nhiều lý do: Trong khi thiên văn học là ngành khoa học tự nhiên cổ xưa nhất, vật lý thiên văn cùng một số ngành khoa học sự sống lại được xếp trong số những ngành trẻ trung và sôi động nhất.      Một thành viên trong hội Thiên văn nghiệp dư Hà Nội đang học sử dụng kính thiên văn. Nguồn ảnh: Infonet.vn.  Trong suốt năm thập kỷ qua, ngành thiên văn đã thu hút các nhà khoa học từ nhiều nhánh khoa học khác, từ vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý plasma, hóa học, sinh học, cho tới vật lý vật chất ngưng tụ. Những câu hỏi hóc búa nhất của vật lý đương đại đều nằm trong lãnh địa của vật lý thiên văn: năng lượng tối, vũ trụ giãn nở, và quan trọng nhất, sự không tương thích giữa thuyết hấp dẫn và vật lý lượng tử thể hiện ở thang Planck, nơi xảy ra vụ nổ Big Bang. Có thể coi vật lý thiên văn như một phòng thí nghiệm nơi các điều kiện nhiệt độ, mật độ khác xa nhiều bậc về độ lớn so với điều kiện chúng ta có thể tạo ra trên Trái đất. Vũ trụ chứa đựng những đám plasma khổng lồ (các ngôi sao), các đám khí Fermi suy biến (sao lùn trắng), vật chất hạt nhân (sao neutron), lỗ đen, và tất cả đều nằm ngoài tầm với của các phòng thí nghiệm trên mặt đất. Sự phát triển nhanh chóng của nó, minh chứng cho việc trung bình cứ ba năm lại có một giải Nobel vật lý trao cho các nhà vật lý thiên văn.  Tuy nhiên, sẽ chẳng mấy ai quan tâm nếu tôi cứ nhắc đi nhắc lại những luận điểm trên. Vì vậy, tôi chỉ xin đề cập đến hai câu chuyện mà tôi được chứng kiến, qua đó có thể làm rõ hơn về kiến nghị của tôi.  Hơn 15 năm qua, nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi đã đào tạo được bảy tiến sỹ và gấp đôi chừng đó các thạc sỹ. Theo quy trình bảo vệ, các nghiên cứu sinh phải trình bày luận văn của mình trước một hội đồng phụ trách việc cấp bằng. Trong suốt 15 năm, một kịch bản chung cứ lặp đi lặp lại: nghiên cứu sinh trình bày luận văn của mình trong khoảng nửa tiếng, sau đó hội đồng thể hiện sự hài lòng trong vòng năm phút, rồi… câu chuyện chưa kết thúc ở đó; nửa tiếng tiếp theo được hội đồng dành để bàn cách tháo gỡ một vấn đề không có lời giải đáp: làm thế nào để chấp nhận một luận văn thạc sỹ/tiến sỹ về vật lý thiên văn khi mà ngành này không nằm trong danh sách quy định? May thay, tất cả các thành viên hội đồng đều là những người tốt và nhạy bén, họ luôn tìm được cách để lách luật. Nhưng, thật khó hiểu sao người ta cứ phải làm mọi chuyện trở nên phức tạp một cách không cần thiết như vậy? Chẳng phải sẽ đơn giản hơn rất nhiều nếu họ đưa vật lý thiên văn vào danh sách các ngành học trong quy định hay sao? Điều đó sẽ giúp tiết kiệm thời gian, và hi vọng sẽ khích lệ các nhà quản lý giáo dục đại học xây dựng chương trình giảng dạy ngành vật lý thiên văn ở bậc đại học và sau đại học.  Hoàn toàn trái ngược với câu chuyện thứ nhất, câu chuyện thứ hai là câu chuyện đẹp. Trong một thập kỷ qua, cuộc thi Olympic Quốc tế Thiên văn học và Vật lý Thiên văn đã thu hút sự tham gia của nhiều học sinh trung học giỏi từ khắp nơi trên thế giới lại để cạnh tranh. Những nhà tổ chức lập ra cuộc thi này với mục đích “nuôi dưỡng tình hữu nghị giữa các nhà thiên văn ở tầm quốc tế nhằm xây dựng quan hệ hợp tác trong ngành thiên văn trong tương lai giữa các nhà khoa học trẻ”. Năm nay là lần đầu tiên Việt Nam cử một đội tuyển dự thi. Đội tuyển có năm em học sinh lớp 11 từ trường Hà Nội – Amsterdam. Cuộc thi diễn ra trong mười ngày, từ ngày 9 tới 19 tháng 12, tại Bhubaneswar, còn gọi là thành phố của các đền thờ, gần bờ biển đông bắc Ấn Độ. Các em được thử thách trình độ hiểu biết lý thuyết, kỹ năng quan sát, phân tích hình ảnh, và làm việc nhóm. Đội tuyển Việt Nam đã dành được một huy chương bạc và bốn huy chương danh dự.    Tôi được gặp các em trước cuộc thi, vì hai thành viên nhóm nghiên cứu của tôi, Phạm Ngọc Điệp và Nguyễn Thị Thảo, tham gia giảng bài tập huấn cho đội tuyển và mời các em đến thăm nhóm nghiên cứu trong một buổi chiều. Pierre Lesaffre, một nhà thiên văn người Pháp, tình cờ cũng có mặt ở Việt Nam vào dịp đó đã giúp đào sâu thêm kiến thức cho các em và tôi. Hẳn các em phải hết sức thông minh và chăm chỉ mới có thể am hiểu nhiều kiến thức về thiên văn như vậy trong một thời gian chuẩn bị rất ngắn trước cuộc thi.  Khi các nhà báo hỏi các em trong đội tuyển về dự định theo đuổi ngành vật lý thiên văn trong trường đại học và nguyện vọng tương lai. Câu trả lời của các em khiến tôi thật đau lòng: “Cũng chưa có gì chắc chắn được về điều này. Nếu như có được học bổng đi Mỹ, Nhật, Anh, … hay có cơ hội làm ở nước ngoài thì bọn mình sẽ xem xét việc theo đuổi ngành Vật lý Thiên văn, bởi vì đây đều là những nước có kỹ thuật hàng không vũ trụ phát triển và cơ sở hạ tầng tốt. Còn nếu làm việc trong nước thì chắc là khó mà theo đuổi ngành này vì nó chưa được biết đến rộng rãi ở Việt Nam cũng như không có đủ thiết bị nghiên cứu. Chỉ mong trong tương lai ngành Thiên văn học và Vật lý Thiên văn sẽ được nhiều người quan tâm hơn, đặc biệt là qua cuộc thi lần này. ” 1. Vậy chẳng phải đã đến lúc Việt Nam tạo điều kiện cho con em mình theo đuổi những giấc mơ tốt đẹp hơn, thay vì để các em phải rời khỏi đất nước?  Thanh Xuân dịch.  ————————  1 http://hn-ams.edu.vn/content/%C4% 91%E1%BB%99i-tuy%E1%BB%83n-v%E1%BA%ADt-l%C3%BD-thi%C3%AAn-v%C4%83n-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-thpt-chuy%C3% AAn-h%C3%A0-n%E1%BB%99i-%E2%80%93-amsterdam-tham-gia-thi-olympic-qu%E1%BB%91c-t    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Vật lý thiên văn-một cơ hội cho các trường đại học và nghiên cứu ở Việt Nam      Trong khi Nepal nghèo và kém phát triển hơn Việt Nam nhưng sinh viên ở đây có một kiến thức cơ bản rất tốt về vật lý đại cương và vật lý thiên văn. Tôi đã tìm thấy một sự khích lệ tuyệt vời trong công việc giảng dạy vật lý thiên văn ở ĐHKHTN Hà Nội, với hy vọng có được một điều tương tự như vậy ở Việt Nam. Nhưng phải thú nhận rằng tôi đã cố gắng nhiều năm mà không thành công trong việc phát triển một lĩnh vực nghiên cứu mà Việt Nam không thể không tiến hành.     Không nghi ngờ gì nữa, cùng với nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại khác của khoa học đời sống, vật lý thiên văn là lĩnh vực khoa học phát triển nhanh nhất từ vài thập kỷ trước. Trái ngược với vật lý hạt cơ bản, nơi mà lý thuyết vượt xa thực nghiệm, thì đối với vật lý thiên văn, những quan sát lại đi trước còn lý thuyết bị tụt hậu phía sau. Quả thực, những hiểu biết hiện tại của chúng ta về hấp dẫn bị rơi vào khủng hoảng: lý thuyết hấp dẫn không có được khả năng mô tả như vật lý lượng tử ở những thang đo cực nhỏ và thất bại khi mô tả các quan sát ở những khoảng cách lớn, chẳng hạn như năng lượng tối. Bên cạnh đó, những phát triển lớn của thiên văn mặt đất và không gian đã làm sáng tỏ những điểm cơ bản đối với sự tiến hóa của các vì sao từ quá trình liên kết của các nguyên tử hydro nguyên thủy để cuối cùng tạo nên những thiên thể nén đặc như sao lùn trắng, sao nơtron hay lỗ đen. Các nghiên cứu chi tiết về đối tượng Sgr A* và Cen A đã mang lại cho chúng ta những hiểu biết về các siêu lỗ đen, và những quan sát gần đây về sự va chạm của các thiên hà đã soi rọi cho chúng ta nguồn gốc của chúng. Tất cả những quan sát thiên văn tiếp tục đẩy chúng ta vươn xa hơn nữa, nhưng cho phép tôi chỉ nêu một ví dụ đề cập đến việc khám phá rất nhiều hành tinh ngoài hệ mặt trời và tìm kiếm những hành tinh thích hợp cho sự sống.    Còn rất nhiều câu hỏi vẫn chưa tìm ra được câu trả lời, và rõ ràng vật lý thiên văn có một tương lai rạng ngời phía trước và nó sẽ tiếp tục tỏa sáng trong rất nhiều thập kỷ tới. Đó cũng là lý do tại sao ngành khoa học này đang thu hút rất nhiều nhà vật lý từ nhiều lĩnh vực khác như: vật lý hạt nhân, vật lý plasma, vật lý hạt, vật lý nguyên tử, vật lý chất rắn. Tất cả những lĩnh vực này đều mang đến những đóng góp cần thiết cho những hiểu biết của chúng ta về vũ trụ. Tính đa ngành này là một trong những đặc điểm hấp dẫn nhất của vật lý thiên văn hiện đại và đó cũng là sự mô tả sự thống nhất của khoa học. Cùng với những hấp dẫn trong tiềm thức của con người, vật lý thiên văn là một chủ đề đặc biệt mà ở đó sinh viên có thể được đào tạo ở rất nhiều trường đại học trên thế giới.  Trái ngược với nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác, vật lý thiên văn là một lĩnh vực nghiên cứu phổ biến, các nước đang phát triển hoàn toàn có thể tiến hành nghiên cứu ngành khoa học này. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng được hiểu và nhận ra một cách đúng đắn. Những quan sát được tiến hành trong không gian, từ các vệ tinh, hay những kính thiên văn dưới mặt đất như VLT ở Chile hay VLA ở Mỹ, và số liệu được phân tích bởi các nhà khoa học ở mọi nơi thế giới. Không ai trong số họ bay vào không gian để vận hành kính không gian Hubble hay Đài thiên văn tia X CHANDRA,…mà số liệu có thể được truy cập từ Việt Nam dễ dàng như ở New York, Tokyo hay Munich. Phòng thí nghiệm tia vũ trụ VATLY ở Hà Nội là một ví dụ điển hình: chúng tôi thu thập số liệu từ đài thiên văn khổng lồ ở Argentina, và bằng cách này, chúng tôi đã đóng góp cho những nghiên cứu tia vũ trụ ở giới hạn tri thức hiện tại trong khuôn khổ hợp tác khoa học quốc tế tiên tiến nhất và danh giá nhất thuộc lĩnh vực này. Ý tưởng cho rằng những “khoa học lớn” dành cho nước giàu còn những “khoa học đơn giản” dành cho nước nghèo là sai lầm. Tôi đã dành 5 năm, khi còn ở châu Âu, làm nghiên cứu với một nhóm nghiên cứu nhỏ về tính siêu dẫn của màng mỏng Niobium ở tần số viba. Thành công chúng tôi có được là nhờ hệ thống cơ sở vật chất tuyệt vời như heli lỏng sẵn có, những phòng sạch tiêu chuẩn cao bao gồm những buồng bốc hơi tuyệt vời dưới chân không siêu cao. Ở Việt Nam, không cho phép tôi tiến hành bất cứ một nghiên cứu nào như thế ở thời điểm hiện tại, tức là hơn 10 năm sau đó. Ngược lại, công việc nghiên cứu tia vũ trụ của tôi lại có thể nhận được những điều kiện nghiên cứu lý tưởng giống như các đồng nghiệp Mỹ, Nhật hay châu Âu. Và điều tuơng tự có được nếu chúng ta đang làm việc trong lĩnh vực vật lý thiên văn: nhiều nhóm nghiên cứu quốc tế sẵn sàng mời chúng ta hợp tác với họ trong mảng thiên văn hồng ngoại hay thiên văn tia X. Điều đó hoàn toàn là hiện thực nếu có sự quan tâm của những người làm quản lý nghiên cứu ở Việt Nam.            Giản dị như bao người Việt nhưng GS.Pierre Darriulat có một khát khao phát triển ngành thiên văn ở Việt Nam          Tôi vừa trở về từ Nepal sau khi Hiệp hội Thiên văn Quốc tế mời sang đó giảng về tia vũ trụ và lỗ đen. Đây thực sự là một kinh nghiệm thú vị. Trong khi Nepal cơ bản nghèo và kém phát triển hơn Việt Nam, nhưng sinh viên ở đây có một kiến thức cơ bản rất tốt về cả vật lý đại cương, bao gồm vật lý lượng tử và thuyết tương đối, và vật lý thiên văn. Họ được đào tạo bởi ba giáo sư giỏi về vật lý thiên văn hiện đại. Những sinh viên này rất năng động trong một nhóm nhiều mảng khác nhau và trình bày những poster rất thú vị về những nghiên cứu của mình. Tôi đã tìm thấy một sự khích lệ tuyệt vời khi thấy rằng một điều tương tự có thể xảy ra đối với Việt Nam. Nhưng điều đó khó khăn biết nhường nào khi tôi đã cố gắng trong nhiều năm mà không thành công. Tôi phải thú nhận điều này khi nỗ lực thúc đẩy việc giảng dạy vật lý thiên văn ở ĐHKHTN Hà Nội. Nhưng tôi vẫn tiếp tục hy vọng và lạc quan. Bởi đó là một cơ hội tuyệt vời cho thế hệ trẻ. Tôi hiểu rằng quá khó và có phần phi thực tế khi có ý định đào tạo những giáo sư ở các trường ĐH hiện nay một lĩnh vực mới mà “không phù hợp” với họ. Đó là lý do tại sao họ không có bất cứ một sự quan tâm nào đến những việc mà tôi đang cố gắng thúc đẩy. Nhưng tôi cũng thấy rằng các nhà vật lý trẻ Việt Nam, những tiến sỹ trẻ và cả những nghiên cứu sinh đang giảng dạy và nghiên cứu vật lý thiên văn, họ có khả năng tự học và tiến hành nghiên cứu độc lập. Chỉ trong giai đoạn đầu tiên bạn trẻ này cần sự giúp đỡ từ các nhà vật lý thiên văn đang làm việc ở nước ngoài, những người trở về Việt Nam một vài tuần và tham gia giảng dạy. Tôi nhận thấy rất nhiều trong số họ mong muốn được làm điều đó.  Đó là một giấc mơ. Nhưng điều đó không cần nhiều điều kiện để biến thành sự thật, và đó cũng là một tín hiệu cho thấy rằng Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới ở cấp đại học, trong nghiên cứu và cả trong văn hóa khoa học của đất nước. Đó cũng là tín hiệu cho thấy Việt Nam đã xác định phải dừng, hoặc ít nhất làm chậm lại, tình trạng chảy máu chất xám mà đất nước đang phải gánh chịu. Những trở lực cần phải vượt qua chính là sự cứng nhắc quá lớn của hệ thống đại học hiện tại cũng như những yếu kém khác mà tôi không muốn lặp lại ở đây. Bất cứ ai có lòng can đảm và sự quả quyết để bắt đầu một cố gắng như thế cần có được nhiều sự ủng hộ, tôi chắc chắn rằng, có thể nhận được nhiều giúp đỡ từ cộng đồng các nhà vật lý thiên văn quốc tế, và đặc biệt, từ Hiệp hội Thiên văn Quốc tế. Tại sao lại không cố gắng?          Astrophysics, a chance for Vietnam universities and research    Pierre Darriulat  There is no doubt that, together with modern branches of life sciences, astrophysics is the field of science which has developed fastest in the few past decades. Contrary to particle physics, where theory is far ahead of experimentation, it has been – and still is – led exclusively by observations, theory lagging far behind. Indeed, our current understanding of gravity is in crisis: it is incompatible with quantum physics at short distances and fails to describe observations at large distances as evidenced in a spectacular way by the so-called dark energy. On the contrary, major advances in both ground and space astronomy have clarified the main lines of stellar evolution from the original hydrogen condensation to the final compact objects, white dwarfs, neutron stars or black holes. Detailed studies of Sgr A* and Cen A have made us familiar with super massive black holes and recent observations of colliding galaxies have shed much light on their genesis. All frontiers have been pushed forward a great deal: to quote just one example, let me mention the discovery of numerous exoplanets and the search for habitable ones.   Many questions are still unanswered and it is obvious that astrophysics has a brilliant future in front of it and will continue to do so for many decades. This is why it has been, and still is, attracting many physicists from other branches of physics: nuclear physics, plasma physics, particle physics, atomic physics, condensed matter physics, all of which bring essential contributions to the understanding of the Universe. This pluridisciplinarity is one of the most attractive features of modern astrophysics and a remarkable illustration of the unity of science. Together with the fascination it exerts on human mind, it makes astrophysics a particularly popular topic in which students are trained in most universities around the world.   It is also a popular field of research which, contrary to many others, is perfectly accessible to developing countries. This is not always properly recognized and understood. Observations are made in space, from satellites, or in large ground facilities such as the Very Large Telescope in Chile or the Very Large Array in the United States. The data are analysed by teams of scientists around the world. Needless to say that none of them is going to space to operate the Hubble Space Telescope or the CHANDRA X ray Observatory or whatever. Access to the data is exactly as easy from Vietnam as it is from New York or Tokyo or Munich. The VATLY cosmic ray laboratory in Hanoi, where I am working, is a good example: we analyse data which are collected in a gigantic observatory in the Argentinean pampas and we contribute this way to cosmic ray research at the present frontier of knowledge in the framework of the most advanced and prestigious scientific international collaboration in the field. The idea that big science is for rich countries and table top physics for poor countries is simply wrong. I spent five years of my life, when I was in Europe, doing research with a small team on the superconductivity of thin niobium films at microwave frequencies. The success we had was largely due to the outstanding facilities we could enjoy in terms of availability of liquid helium and high grade clean rooms including excellent evaporation chambers under ultra high vacuum. In Vietnam, I would be unable, even today, more than ten years later, to do any of this research. On the contrary, our cosmic ray work enjoys exactly the same favourable conditions as that of our American, Japanese or European colleagues. And it would be the same if we were working in other fields of astrophysics: several international teams already invited us to collaborate with them in X ray or infrared astronomy. It is only our small size, and the lack of current interest from those who manage research in Vietnam, which prevent us to do so.   I am just back from Nepal where I was invited by the International Astronomical Union to give lectures on cosmic rays and on black holes. It was a very interesting experience. While Nepal is significantly poorer and less developed than Vietnam, I met there students with a very good basic knowledge in both general physics, including quantum theory and relativity, and astrophysics. They were being trained by three excellent professors conversant with modern astrophysics who attended the lectures of the school. All were fluent in English. They were active in quite a number of different branches of astrophysics and presented several interesting posters on their research. I found this extremely encouraging as it shows that the same could happen in Vietnam on short notice if one were determined to make it happen. I know how difficult it is, I have been trying for many years, without success I must confess, to promote the teaching of modern astrophysics at the National University of Science. But I am still very hopeful and optimistic. It is, I think, an excellent opportunity to give a chance to the young generation. I understand that it is too difficult, and possibly unrealistic, to train existing university professors in a new field with which they are so unfamiliar. I imagine that this is the main reason why they never expressed any interest in what I was trying to promote. But I know Vietnamese physicists, young postdocs or even advanced PhD students, who would be perfectly able to give lectures and conduct research in astrophysics. Very soon they would be able to teach by themselves and conduct their own research alone. Only in a first stage would they need support from astrophysicists working abroad who would be prepared to come to Vietnam for a few weeks and teach. I know many of them who would be very happy to do so.   This is a dream, I know. But it would not take much to make it become a reality. And what it takes would be a sign that Vietnam is determined to improve the level of its universities, of its research and of its scientific culture. It would also be a sign that Vietnam is determined to stop, or at least to slow down, the catastrophic brain drain which it is suffering. The obstacles that need to be overcome are the excessive rigidity of the current university system, together with other well known weaknesses which do not need to be repeated here. Whoever would have the courage and determination to initiate such an endeavour would enjoy much support, I am sure, from the international community of astrophysicists and, specifically, from the International Astronomical Union. Why not try?          Pierre Darriulat      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý trong thập kỷ tới: Những gì sẽ tới?      Matin Durrani, tổng biên tập của tạp chí Physics World dự báo những gì sẽ xảy ra trong thập kỷ tới, dựa trên những thành công của vật lý trong 10 năm qua.      Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider LHC) tại CERN. Nguồn: phys.org  Khi năm 2020 vừa mới bắt đầu, một câu hỏi xuất hiện tự nhiên là chúng ta có thể mong đợi những điều gì sẽ xảy ra trong lĩnh vực vật lý trong 10 năm tới? Để bạn tiện theo dõi, trước tiên, hãy nhìn lại thập kỷ vừa qua, lúc này đã lùi vào quá khứ. Chúng ta đã khởi động những năm 2010 với một năm yêu khoa học trong nhiệm kỳ Tổng thống của Barack Obama, khi các nhà vật lý của Tổ chức nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire CERN) đang say sưa về các vụ va chạm đầu tiên của các hạt cơ bản ở thang năng lượng 7 TeV trên Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider LHC) và nhiều nhà nghiên cứu khác thì đang tự hỏi liệu các thí nghiệm từ dự án Nghiên cứu vật chất tối lạnh ở Mỹ có thực sự đã đạt được bằng chứng trực tiếp cho sự tồn tại của vật chất tối hay không (câu trả lời: chắc là không).  Nhiều thành công của lĩnh vực vật lý trong thập kỷ qua đã được vinh danh trên mục ‘Đột phá của năm’ (‘Breakthrough of the Year’) của tạp chí Physics World. Giải thưởng loại này là sự lựa chọn minh bạch cho các thành tựu nổi bật đã đạt được trong một số năm, đặc biệt là khi có những bước đột phá lớn trong lĩnh vực vật lý hạt cơ bản hoặc thiên văn học. Giải thưởng của năm 2012 thuộc về việc phát hiện ra hạt boson Higgs ở CERN, giải thưởng của năm 2013 thì được trao cho máy dò IceCube ở Nam Cực đã lần đầu tiên quan sát được neutrino năng lượng cao trong vũ trụ, và trong năm 2016 thì phát hiện quan trọng về sóng hấp dẫn của Đài quan trắc sóng hấp dẫn bằng giao thoa kế laser LIGO (Laser Interferometer Gravitational-Wave Observatory) được nhận giải.  Vật lý lượng tử (quantum physics) cũng là một lĩnh vực đang phát triển trong những năm 2010, phản ánh khả năng ngày càng tăng của các nhà vật lý trong việc khám phá bằng thực nghiệm những bí ẩn sâu sắc nhất của lĩnh vực này. Năm 2011 giải thưởng được giành cho các ‘phép đo lường yếu’ (‘weak measurements’) – là các phép đo đã phá vỡ điều cấm kỵ rằng không thể biết về lộ trình của các photon riêng lẻ khi chúng đi qua hai khe hẹp và tạo ra một mẫu giao thoa. Bốn năm sau, giải thưởng lại thuộc về việc thực hiện được giao thức viễn chuyển lượng tử “kép” (“double” quantum teleportation), theo đó cả spin và moment góc quỹ đạo của một photon được chuyển một cách đồng thời tới một photon khác cách xa photon ban đầu.   Một thay đổi đáng kể về mặt văn hóa trong vật lý trong những năm 2010 là sự nhận thức ngày càng rõ rằng các nhà vật lý cần phải làm nhiều hơn nữa để triệt tiêu tận gốc sự bất bình đẳng trong lĩnh vực này và làm cho nó trở nên đa dạng hơn. Trên thực tế, thập kỷ vừa qua đã chứng kiến một số vụ sa thải và từ chức ở cấp cao trong cộng đồng vật lý do quấy rối phụ nữ và một số vấn đề khác. Trong quá khứ, về những vụ việc như thế hẳn đã không bao giờ được nghe thấy và rất có thể là đã bị cố tình bưng bít, che đậy. Phần lớn những thay đổi đó được đưa ra ánh sáng nhờ sự cởi mở của thời đại kỹ thuật số.  Tuy nhiên, có một hy vọng lớn trong thập kỷ qua vẫn còn chưa được thực hiện: đó là việc khám phá vật lý “mới” ngoài Mô hình Chuẩn (“new” physics beyond the Standard Model). Mặc dù đã trải qua 10 năm vận hành LHC, nhưng vẫn chưa thấy dấu hiệu nào của các hạt siêu đối xứng (supersymmetric particles), có nghĩa các nhà vật lý lý thuyết hạt chỉ mới tiến triển với trí thông minh toán học của mình mà thôi. Nhưng với việc LHC sắp triển khai một chương trình nâng cấp đầy tham vọng dưới sự quản lý của Fabiola Gianotti, người vừa trở thành người đầu tiên được trao nhiệm kỳ đầy đủ lần thứ hai với tư cách là “bà chủ” của CERN, các nhà vật lý hạt chắc chắn sẽ hy vọng rằng trong thập kỷ tới có thể đạt được những kết quả mà họ đã từng ước mơ từ những ngày đầu!  Tương lai tươi sáng  Tôi không biết sự lạc quan của mình sẽ kéo dài bao lâu và tin chắc rằng sẽ có nhiều thăng trầm trong 10 năm tới. Nhưng như nhà tâm lý học về nhận thức Stephen Pinker đã lập luận trong cuốn sách của mình xuất bản năm 2018 với nhan đề ‘Khai sáng ngay bây giờ: Trường hợp cho lý trí, khoa học, chủ nghĩa nhân văn và tiến bộ’ (‘Enlightenment Now: The Case for Reason, Science, Humanism, and Progress’), về tổng thể, thế giới đang được cải thiện. Cho dù được đánh giá dưới góc độ sức khỏe, trình độ học vấn, sự an toàn hay sự phồn thịnh, mọi thứ chắc chắn sẽ trở nên tốt hơn – và những tiến bộ đó là nhờ một phần không nhỏ vào khoa học.   Các nhà vật lý thường không quá tham vọng, nhưng những phát minh khám phá của họ đã và đang thay đổi cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong cách con người giao tiếp với nhau. Được hỗ trợ bởi sự phát triển trong vật lý bán dẫn và quang học, tôi có thể thấy điện thoại thông minh sẽ không ngừng nhẹ hơn, nhanh hơn và mạnh hơn với nhiều tính năng hơn trong thập kỷ tới. Tính toán lượng tử và truyền thông lượng tử sẽ trở thành xu hướng, với các máy tính lượng tử có thể được truy cập thường xuyên bởi công nghệ đám mây. Các thí nghiệm vật lý sẽ tạo ra nhiều dữ liệu lớn mang nhiều thông tin hơn và việc phân tích các thông tin đó bằng cách sử dụng trí tuệ nhân tạo và máy học (artificial intelligence and machine learning) sẽ trở thành một cuộc chơi mới nhưng thông dụng đối với mọi người.  Tôi có thể thấy những mối quan tâm về môi trường sẽ có tầm ảnh hưởng lớn hơn đến vật lý. Các thiết bị khoa học trong các phòng thí nghiệm sẽ trở nên sạch hơn và xanh hơn. Các máy gia tốc hạt được sử dụng để khống chế về lượng điện năng tiêu thụ khi thực hiện các thí nghiệm va chạm hạt, hoặc sẽ phải tiêu tốn ít lượng điện hơn hoặc, tốt hơn nữa, là phải đặt công nghệ tiết kiệm năng lượng thành vấn đề trung tâm. Tác động gia tăng của biến đổi khí hậu sẽ khiến vận chuyển của ngành hàng không ngày càng trở nên khó chịu khiến các nhà vật lý thiết kế máy bay phải chiến đấu mạnh mẽ hơn để biện minh cho các chuyến bay đó hơn.   Vật lý y tế sẽ tiếp tục bùng nổ, từ các phương pháp cải tiến trong điều trị bằng xạ trị đến các kỹ thuật hình ảnh mới. Trong thiên văn học, kính viễn vọng không gian James Webb của cơ quan hàng không và không gian Hoa kỳ (viết tắt theo tiếng Anh là NASA = National Aeronautics and Space Administration) cuối cùng cũng sẽ ra mắt (mặc dù tôi không đặt cược cho việc có thể việc này sẽ bị chậm lại cho tới sau năm 2021). Thí nghiệm nhiệt hạch của Dự án Lò phản ứng Thí nghiệm Nhiệt hạt nhân quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là ITER = International Thermonuclear Experimental Reactor) ở Pháp sẽ tạo ra plasma đầu tiên vào giữa thập kỷ tới – gần như cùng lúc với việc phiên bản nâng cấp độ sáng cao (high-luminosity upgrade) cho LHC ở CERN được đưa lên mạng. Máy dò sóng hấp dẫn dưới lòng đất (underground gravitational-wave detector) ở Trung Quốc cũng có thể sẽ sẵn sàng hoạt động và cùng tham gia với một thiết bị tương tự ở Nhật để khởi sự trong năm nay trong việc tìm kiếm những gợn sóng của sóng hấp dẫn trong không-thời gian.  Sự đa dạng   Tuy nhiên, có lẽ thay đổi lớn nhất của vật lý trong 10 năm tới sẽ là sự đa dạng và bình đẳng. Những nỗ lực đang diễn ra trong thời gian gần đây nhằm làm cho vật lý mở ra cho tất cả mọi người cuối cùng sẽ được đền đáp và, mặc dù tôi không tin rằng tổng số những người nghiên cứu vật lý sẽ tăng lên nhiều, tôi vẫn muốn dự báo rằng số người ở trên đỉnh của lĩnh vực này, vào năm 2030, về cơ bản sẽ thay đổi nhiều so với thời điểm hiện tại.  Một điều chắc chắn là: tạp chí Physics World sẽ luôn bên bạn để mang đến cho bạn sự bao quát sống động nhất và kích thích tư duy nhất về thế giới vật lý trong thập kỷ đã và đang tới. Vì vậy, hãy theo dõi những gì sẽ xảy ra phía trước trong thập kỷ của những năm 2020. □  Nguyễn Bá Ân dịch  Nguồn: https://physicsworld.com/a/physics-in-the-2020s-what-will-happen-over-the-decade-ahead/     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vật lý Việt Nam đang ở đâu?      Kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế lần thứ 39 vừa kết thúc, đoàn Việt Nam đạt kết quả 4 HCV, 1 HCĐ – tốt nhất trong lịch sử – chỉ chịu thua 2 đoàn Trung Quốc và Đài Loan (5 HCV), ngang hang với Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ (cùng 4 HCV, 1 HCB) và thậm chí còn vượt cả Nga hay Pháp, 2 nước vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc tới giáo dục của nước ta. Và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào rằng, ở trình độ phổ thông, phong trào học vật lý của nước ta cũng không hề thua kém bất kỳ một nước phát triển nào trên thế giới. Thế còn vị trí của nền Vật Lý Việt Nam trên bản đồ chung của thế giới là ở đâu? – vẫn luôn là câu hỏi làm đau đầu các nhà quản lý và khoa học nước nhà…    Vật Lý Việt Nam đang ở đâu?  Thật may mắn, đã qua rồi cái thời chúng ta ngây thơ tự hỏi rằng “Người Việt Nam đã có Huy chương Olympic quốc tế, liệu bao giờ sẽ có giải Nobel?”. Bởi ai cũng hiểu, từ một học sinh đoạt giải Olympic, đến khi trở thành một nhà khoa học giỏi, là cả một quãng đường dài và vô cùng gian khổ. Và từ việc có một nhà khoa học giỏi đến có một cộng đồng khoa học phát triển còn dài và gian khổ hơn rất nhiều lần.  Cho đến nay, ai cũng phải công nhận vai trò vô cùng quan trọng của Vật lý nói riêng cũng như khoa học nói chung cho sự phát triển bền vững của kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Một điều nữa, cũng rất rõ ràng là ở Việt Nam, sự phát triển của nền Vật lý và khoa học vẫn chưa song hành cùng với sự phát triển về kinh tế, và vẫn đang tụt hậu rất xa so với thế giới. Nhưng tụt hậu bao nhiêu lâu? Tụt hậu như thế nào? Làm sao để tránh khỏi tụt hậu? thì vẫn chưa ai trả lời được.  Tôi thử lên mạng tìm trang web của Hội Vật Lý Việt Nam, kết quả hoàn toàn thất vọng, Hội Vật Lý Việt Nam không hề có trang web riêng. Thông tin duy nhất tìm thấy được về Hội lại là trên trang web của wikipedia (chắc do một thành viên nào đó nhiệt tình post lên). Gọi điện cho một thành viên của hội, tôi nhận được một con số “áng trừng” khoảng trên 1000 thành viên – cứ cho 1000 là con số đúng thì ngần ấy có lẽ là quá nhỏ nếu đem so sánh với những người có “liên quan” đến vật lý trong cả nước.  Quay sang trang web của Đại học khoa học tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội (ĐHKHTN, ĐHQGHN) là một trong các đại học khoa học lớn nhất cả nước, tôi tìm thấy số liệu về số lượng giảng viên có trình độ Tiến sĩ trở lên tại Khoa Vật Lý là 44 (37 TS, 7 TSKH), trên tổng số khoảng 800 sinh viên trong toàn Khoa. Với tỷ lệ 20 sinh viên/ giảng viên (so với tỷ lệ 7 đến 10/1 của một giáo sư tại các trường đại học tiên tiến trên thế giới), chúng ta có thể hình dung ra khối lượng giờ giảng khổng lồ mà họ phải cáng đáng hằng năm; và với việc phải dạy quá nhiều, thì các giảng viên Vật lý còn thời gian đâu để làm khoa học, qua đó nâng cao trình độ?  Trên đây mới chỉ một vài phác thảo sơ bộ về “số lượng” những người làm Vật lý. Còn một tiêu chí khác, quan trọng hơn rất nhiều, đó là “chất lượng” – một vấn đề mà lâu nay cũng gần như bị bỏ ngỏ. Bảng thống kê dưới đây có thể cho chúng ta biết được phần nào diện mạo của nền vật lý nước Việt Nam.                  Trong vòng 11 năm, tính đến 2007 các nhà Vật lý Việt Nam đã công bố được 709 bài báo quốc tế, ngang hàng với 2 nước láng giềng là Malaysia (833) và Thailan (681), bằng 1/10 các đồng nghiệp đến từ Singapore, 1/100 các đồng nghiệp Trung Quốc và 1/300 các đồng nghiệp Mỹ. 1000 người, trong vòng 11 năm đăng được 709 bài báo quốc tế, làm một vài phép tính đơn giản, ta có thể suy ra được để ra được 1 bài báo, 1 nhà vật lý Việt Nam phải mất đến gần 16 năm. Một năng suất làm việc vô cùng “tệ hại” nhưng cũng vô cùng dễ hiểu nếu so với cộng đồng Vật lý vừa “mỏng”, lại vừa “lỏng” như vừa phân tích ở trên.    Người học Vật lý đi đâu?  Mỗi năm Khoa Lý của ĐHQG HN và ĐHQG TPHCM tuyển sinh trên dưới 200 sinh viên; nếu tính thêm số sinh viên khoa Lý của các ĐH khác như ĐH Huế, Cần Thơ, Thái Nguyên…; trong cả nước có lẽ cũng phải có đến vài nghìn sinh viên Vật Lý. Điều đó cũng tương đương với khoảng vài nghìn cử nhân Vật lý mới ra trường. Một câu hỏi được đặt ra: “Những cử nhân Vật lý đó, sau khi ra trường đi đâu, làm gì?”. Câu trả lời, thật đơn giản: vì miếng cơm, vì cuộc sống, phần lớn các cử nhân Vật lý tốt nghiệp tại Việt Nam sau khi ra trường, sau một thời gian, đều phải tìm cách chuyển ngành. Chỉ rất ít trong số họ trụ lại để trở thành nhà nghiên cứu. Một tiến sĩ Vật lý đang công tác tại ĐHKHTN, ĐHQGHN cho biết cho đến thời điểm này, tức là sau 34, 35 năm kể từ khi tốt nghiệp Khoa Lý, ĐH Tổng hợp cũ; đến giờ, khóa của ông chỉ còn sót lại 5-6 người hiện vẫn đang làm Vật lý theo đúng nghĩa của nó. Tình hình này cũng không có vẻ gì sáng sủa hơn đối với các khóa sau, 1 cựu sinh viên K44, Khoa Lý, ĐHKHTN, ĐHQGHN cho biết, khóa của anh, “5 năm sau khi ra trường, giờ cũng chỉ còn khoảng 15% còn đang theo đuổi vật lý”. Ngay cả đối với sinh viên các lớp Cử nhân tài năng, Chất lượng cao – những người được đặt hy vọng trở thành các nhà khoa học hàng đầu trong tương lai, tình trạng cũng không có vẻ khả quan hơn. Một cựu sinh viên K5 Cử nhân tài năng Lý, ĐHKHTN, ĐHQGHN cho biết “Chúng tôi nhập học năm 2001, có 12 sinh viên, ra trường năm 2005, đến giờ này đã có 4 người bỏ hẳn Vật Lý, 8 người đang làm nghiên cứu sinh nhưng ngay cả những người này cũng không còn nhiều đam mê và nhiệt huyết lắm.” Nhiều người sau khi bỏ nghề có câu “Học Vật Lý cốt để lấy tư duy, rồi sau muốn làm nghề gì cũng được.” Đúng là có rất nhiều người sau khi bỏ vật lý, đã rất thành công ở những lĩnh vực khác. Xét trên phương diện cá nhân, câu nói trên hoàn toàn có thể chấp nhận được. Nhưng trên phương diện quản lý khoa học – giáo dục, đó là điều không thể chấp nhận được bởi như thế là một sự lãng phí và tổn hại cả về tiền bạc, thời gian và tinh thần. Việc tỷ lệ sinh viên Vật Lý ra trường bỏ nghề lên đến 60-70% phản ánh được phần nào bộ mặt ảm đạm của nền Vật lý nước ta.    Giải pháp nào cho Vật lý…                  Nhiều người tin vào việc kêu gọi và thu hút các nhà khoa học nước ngoài, Việt Kiều và các nhà khoa học trẻ Việt Nam đang công tác tại nước ngoài về nước làm việc như một cứu cánh cho sự thay đổi diện mạo khoa học nước nhà. Tôi cho đó là một điều khó khả thi. Bởi khoa học thì không có biên giới. Người làm khoa học, ngoài trách nhiệm với Tổ quốc thì còn có trách nhiệm với chính ngành nghiên cứu của anh ta – do đó, một nhà khoa học đang ở độ tuổi sung sức không đời nào chịu rời một nơi có chế độ làm việc thuận lợi để về một nơi có điều kiện làm việc yếu kém hơn chỉ để “cống hiến” (và kèm theo đó là độ rủi ro rất cao trong việc chôn vùi sự nghiệp khoa học của chính anh ta). Ngay tại các nước châu Âu, từ nhiều năm nay, người ta cũng luôn đau đầu bởi chuyện chảy máu chất xám khoa học sang Mỹ. Bản thân Hàn Quốc, nơi có nền khoa học phát triển hơn ta rất nhiều lần, trước kia cũng đã từng thất bại trong việc thu hút các nhà khoa học nước ngoài (trong vòng 10 năm, với chính sách đãi ngộ đặc biệt, các trường Đại học Hàn Quốc cũng chỉ thu hút được vài chục giáo sư Âu – Mỹ đến làm việc). Mới đây, họ cũng vừa thay đổi chính sách khi quyết định sáp nhập một số ĐH tại Seoul để trở thành KAIST với quyết tâm trở thành siêu cường về khoa học công nghệ.  Vậy làm thế nào để kéo nền Vật lý cũng như nền khoa học Việt Nam ra khỏi thực trạng đáng buồn như hiện nay. Không ai khác, chính chúng ta, những nhà quản lý và những người làm vật lý đang sinh sống và làm việc trong nước phải vận động đầu tiên. Và cũng không còn cách nào khác, khoa học là phải gắn liền với cuộc sống, nhu cầu xã hội – đó chắc chắn phải là mục đích bất di bất dịch mà các nhà quản lý và khoa học cần phải hướng tới.  Năm 2005, Nghị định 115 ra đời, được coi là “khoán 10” cho khoa học công nghệ, với hy vọng sẽ cải thiện được chất lượng cũng như mức thu nhập của những người làm khoa học. Nhưng cho đến nay có vẻ như vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Tính đến cuối năm 2007, mới chỉ có 25% tổ chức KH-CN trong cả nước chính thức được phê duyệt đề án thực hiện theo Nghị đơn 115. Nhiều tổ chức, nhà khoa học còn ngần ngại hoặc biết rất ít thông tin về nghị định này. Thậm chí, một nhà vật lý ứng dụng, sau khi chế tạo thành công bột phát quang chất lượng cao với giá rẻ, không biết làm thế nào để đưa sản phẩm của mình ra thị trường. Khi được hỏi, ông cũng tỏ vẻ ngạc nhiên và hoàn toàn không biết một chút gì về Nghị định 115, mặc dù khi đó đã là đầu năm 2008. Cho đến nay, công nghệ chế tạo bột phát quang của ông vẫn cứ nằm trong ngăn kéo bàn làm việc.  Như vậy, rõ ràng, sau bao nhiêu năm dựa vào bầu sữa mẹ “ngân sách”, các nhà khoa học của chúng ta vẫn chưa sẵn sàng bước chân ra khỏi “tháp ngà” kinh viện; còn các nhà quản lý dù đã cố gắng, vẫn còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong việc tuyên truyền, tổ chức thực hiện các chính sách.  Để kết thúc bài viết, tôi xin kể một câu chuyện mới đây về trường Đại học California, tại Los Angeles (UCLA) của Mỹ (một trường đại học công lập đẳng cấp quốc tế có 30% ngân quỹ hoạt động hằng năm là từ nguồn tài trợ của Chính phủ Bang). Mới đây, UCLA vừa từ chối tăng cường viện trợ của Chính phủ Bang. Bởi kéo theo khoản viện trợ đó, UCLA sẽ phải đầu tư một số hướng nghiên cứu theo đặt hàng của Chính phủ Bang không có trong kế hoạch lâu dài của họ. Từ câu chuyện trên, có thể thấy các nhà khoa học người Mỹ không chỉ giỏi nghiên cứu mà còn rất giỏi kiếm tiền (đến mức chê tiền của Nhà nước).  Tôi tự hỏi, liệu đến ngày nào, mới có một trường đại học của Việt Nam chê tiền Nhà nước như UCLA?  GS.Phạm Xuân Yêm  Nguyên giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS)                  Thực trạng ngành vật lý nước ta phản ánh trung thực chất lượng đại học và nghiên cứu khoa học, nói chung hơn nữa nó phản ảnh tình trạng phát triển về văn hoá, kinh tế, chính trị của nước nhà.  Cũng không có gì lạ vì thực ra nước ta mới dần dần hội nhập với tiêu chuẩn của thế giới tiến bộ chưa đến 20 năm, sau gần non thế kỷ quá khác người. Tuy nhiên theo nhận định chủ quan của tôi, hai ngành toán và vật lý có lẽ cao hơn trung bình một chút so với nhiều ngành khoa học khác. Những cố gắng gần đây của Viện Vật liệu và Viện Vật lý & Điện tử thuộc Viện KH&CN Việt Nam, do sáng kiến và nghị lực của một số anh chị em hoạt động nghiêm túc mặc dầu nhiều điều kiện khó khăn, là điều tôi trân trọng và cảm phục.  Ngành vật lý cũng như các ngành khoa học tự nhiên cơ bản khác để phát triển bình thường cần có một số điều kiện chuẩn mà theo tôi ta không thể tránh né mãi: Không gian và tư duy độc lập, tự do là cái nôi nuôi dưỡng cho sự nghiệp phát triển. Ý thức hệ và chính trị phải đứng ngoài sự tổ chức, thông tin và quản lý của một nền đại học nghiên cứu chất lượng. Số lượng của các nhà giáo đại học nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao quốc tế còn quá ít, vài con én không làm nổi mùa xuân. Xây dựng nên đội ngũ này là cả một tiến trình lâu dài hàng chục năm, không thể một sớm một chiều. Sau hết là cơ sở vật chất, sách giáo khoa quốc tế, tạp chí chuyên ngành, tài liệu, thư viện, máy tính.  Còn phát triển lãnh vực nào là để cho những nhà vật lý tự phát động, quản lý và can thiệp quá nhiều vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học là một nghịch lý cản trở cho sự sáng tạo.  GS.NGUYỄN VĂN TUẤN Viện Nghiên cứu Garvan (Úc)                  * Bất cứ nước nào, kể cả các nước nghèo nhất, vẫn có thể đào tạo ra những thiểu số chuyên đi thi quốc tế để chiếm giải thưởng, nhưng không phải nước nào cũng có thể tạo ra một thực lực khoa học ở tầm vóc quốc gia. Nói cách khác, chúng ta cần đầu tư có hệ thống vào việc nâng cao trình độ khoa học của một quần thể để tạo ra được một thực lực khoa học đủ cạnh tranh trên trường quốc tế, chứ không nên tốn nhiều tiền để rèn luyện một thiểu số rất nhỏ chỉ để đi chiếm giải thưởng quốc tế cấp thấp. * Hoạt động nghiên cứu vật lí của nước ta đa dạng hơn các nước khác trong vùng, nhưng cũng cho thấy một khuynh hướng đáng lo ngại. Khoảng 1/3 công trình nghiên cứu vật lí ở nước ta liên quan đến vật lí chất rắn, trong khi đó ngành này chỉ chiếm 14 đến 22% ở các nước khác trong vùng. Một điểm đáng chú ý là chỉ có 13% tổng số công trình nghiên cứu vật lí nước ta liên quan đến vật lí ứng dụng, trong khi đó ở các nước có nền kinh tế phát triển hơn nước ta như Thái Lan và Singapore thì tỉ lệ bài báo vật lí ứng dụng chiếm gần 50% tổng số bài báo vật lí. Vì vậy chúng ta nên tập trung vào nghiên cứu vật lí ứng dụng để thiết thực đóng góp vào sự phát triển KT-XH của nước nhà. Một trong những ngành khoa học phát triển nhanh nhất hiện nay và được xem là ngành khoa học mũi nhọn của thế kỉ 21 là công nghệ y sinh học. Từ nhiều năm nay, các nước phát triển đã hướng nghiên cứu vật lí vào phát triển các phương pháp chẩn đoán y khoa, công nghệ gene, công nghệ sinh học… Còn ở nước ta, y tế và công nghệ sinh học chưa được phát triển tốt, một phần do thiếu ứng dụng vật lí.  Phạm Hiệp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vắt sữa..rễ cây      Làm thế nào để sản xuất ra các phân tử thực vật có giá trị cao, khó tổng hợp bằng hóa học? Các nhà nông học của Viện Quốc gia Bách khoa Lorraine, Pháp, đã nghĩ ra một cách: vắt các rễ thực vật trồng tại các môi trường ẩm ướt hoặc ngập nước.    Công nghệ mang tên PAT (Plantes À Traire-cây trồng để vắt sữa) đã được đưa vào thực nghiệm và đã thu được thành công ngoài mong đợi đối với cây Datura innoxa, một loại cây nhiệt đới chứa nhiều alcaloide chống ung thư hiệu quả. Việc vắt rễ không làm hỏng cây, vì được thực hiện nhiều lần theo các giai đoạn giống như ta lấy mủ cao su vậy.  www.inra.fr/presse/des_plantes_a_traire     Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẽ ADN      Ai cũng biết Salvador Dali nổi tiếng ngông cuồng và hay khiêu khích người khác; nhưng ít ai biết đến niềm say mê khoa học và đặc biệt là sự si mê cấu tạo ADN của ông.    Ít có hình ảnh khoa học nào mang giá trị biểu tượng rõ nét như chuỗi xoắn kép ADN. Lý do thì có nhiều và đã được phân tích kỹ: vẻ đẹp cấu trúc; tầm quan trọng mà các nhà sinh học trao cho nó như “giải pháp cho những bí mật của cuộc sống”; vật tổ mà cộng đồng các nhà sinh học lượng tử xúm lại xung quanh nó, củng cố thêm cách nhìn mới về các hiện tượng sống, và điều này đúng với tất cả các loài, từ vi khuẩn cho đến con người.  Salvador Dali là một trong những danh họa đầu tiên nắm bắt được cấu trúc này: từ năm 1957-1958 trong tác phẩm Kẻ thủ dâm khổng lồ trong một khung cảnh siêu thực với ADN và năm 1962-1963 với Galacidalacidesoxyribonucleicacid (xem hình), mà ông vẽ nhân dịp giải Nobel được trao cho Jim Watson và Francis Crick năm 1962. Họa sỹ siêu thực này đã đóng góp cả thảy 9 bức tranh cho khoa học phân tử về ADN trong những năm 1956 và 1976.  Có thể coi Salvador Dali là người tiên phong, bởi lẽ mốt ADN ở giới nghệ sĩ chỉ được phát triển sau năm 1980, liên quan đến bộ gien đơn bội của người (xem ảnh). Đó là thành quả của niềm ham thích thường trực mà Dali dành cho khoa học. Ban đầu hướng theo vật lý lượng tử, sau đó là vật lý nguyên tử từ năm 1945, niềm đam mê này đã chuyển hẳn sang di truyền học từ giữa những năm 1950. Dali nhiều lần tuyên bố rằng khoa học là nguồn cảm hứng sáng tạo chính của ông, và cho đến cuối đời, ông vẫn say mê các nhà khoa học như Jim Watson, Ilya Prigogine và Rene Thom. Ông đã dành hai tác phẩm cuối cùng của mình để tưởng nhớ đến Schrodigner. Khi Dali mất năm 1989, người ta tìm thấy những cuốn sách gối đầu giường của ông là những cuốn nói về Stephen Hawking, Erwin Schrodigner và nhà toán học nữ Matila Ghyka.                  Hiểu được các tác phẩm của Dali thường là điều rất khó, và Galacidalacidesoxyribonucleicacid, tác phẩm có thể nói ngắn lại bằng ADN, cũng không hề dễ chút nào. Ông mô tả ba giai đoạn tồn tại, sự sống ở bên trái mang biểu tượng ADN, cái chết ở bên phải dưới dạng những người đàn ông mang súng và được sắp xếp theo một trật tự cũng kiểu chuỗi xoắn kép, và cuộc sống sau cái chết là hình ảnh Chúa ở trung tâm.  Không một bức tranh nào có nói về ADN mà Dali lại không quan tâm đến từng chi tiết của cấu trúc phân tử của nó. Toàn bộ các nguyên tử giống như một đàn ong hơn là cấu trúc hóa học chính xác về nguyên tử. Đối với Dali, ADN là bằng chứng cho sự tồn tại của Chúa (còn đối với Crick và Watson thì ngược lại!). Để hiểu được lời khẳng định này, chỉ cần xem cách Dali mô tả ADN dưới dạng những khối lập phương lớn trong bức tranh mang tên Corpus Hypercubus, đó là những vật đối xứng bốn cạnh. Những vật “siêu nhiên” như thế đối với Dali là một phương tiện để đưa chúng ta đến một dạng thức cao hơn và siêu việt.  Ngô Vũ dịch  Pour la Science      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẽ bản đồ từ trường của trái đất      Một vệ tinh đo được những giá trị rất nhỏ trong trường lực hút của trái đất là một trong những kế hoạch không gian quan trọng nhất của châu Âu trong thời gian tới.  Vệ tinh Goce mang hình dạng mũi tên, có sườn bên và động cơ điện nhằm giữ cho nó cân bằng trong lúc bay xuyên qua làn khí quyển, để đạt đến độ cao 260km.    Goce sẽ thăm dò những khu vực núi lửa nguy hiểm, mang về cho chúng ta những hiểu biết sâu hơn, mới hơn về tác động của đại dương.  Bằng cách kết hợp những dữ liệu về sức hút của trái đất với thông tin về chiều cao của bề mặt nước biển thu được từ những vệ tinh khác, các nhà khoa học có thể theo dõi được hướng và vận tốc chảy của dòng nước.  “Bây giờ, chúng ta chỉ có thể khám phá được cấu trúc dọc của đại dương trong khoảng từ 150-200km. Điều đó là chưa đủ với các nhà đại dương học. Họ cần chi tiết hơn, sâu hơn và Goce với bộ sườn của mình, sẽ giúp chúng ta tiến sâu thêm 80 – 100km nữa” – tiến sĩ Jakob Flury, hiện đang cộng tác với trường Đại học của Texas tại Austin, Mỹ, giải thích như thế.  TRẦN GIA (Theo BBC)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẻ đẹp của Tự nhiên và Tài năng của Haeckel      Tất cả nghệ thuật đều nên trở thành khoa học và nghệ thuật khoa học; thơ ca và triết học cũng nên thống nhất làm một .    Proteus* của tác giả David Lebrun là một tác phẩm điện ảnh đầy ấn tượng. Nó thể hiện những sức mạnh sáng tạo và niềm khát khao tìm kiếm những bí mật của Tự nhiên. Vào thế kỷ 19, cái nhìn thường nhật của con người mới chỉ dừng lại ở bề mặt hiển hiện của Trái đất được vẽ trên bản đồ và được mô tả trong các danh mục địa lý. Tuy nhiên, họ đã có khát vọng vươn tới lòng đại dương sâu thẳm, vươn tới linh hồn và những nhân tố nhỏ bé nhất của các dạng hữu cơ. Được lấy tên theo vị thần biển của Hy Lạp cổ đại, bộ phim nằm ở ranh giới của khoa học và thần thoại, nó đã liên kết tất cả sự tưởng tượng của các nghệ sỹ, các khoa học gia và các nhà thám hiểm.  Trong khoa học về sự sống, những khám phá chủ yếu của thế kỷ 19 đều liên quan đến ý tưởng về sự biến đổi. Đầu tiên là những khái niệm của Johann Wolfgang von Geothe về hình thái học và hiện tượng biến thái, sau đó là lý thuyết của Jean Baptiste Lamarck về các biến đổi tiến hóa, và những mô tả chi tiết của Karl Ernst von Baer về các tiến trình của phôi thai. Những khám phá này cũng đã đưa nghệ thuật lãng mạn đến sự cộng hưởng với những ý tưởng của Triết học Tự nhiên (2). Và tất nhiên, chính Charles Darwin đã đặt nền móng cho một sự giải thích thống nhất tất cả những ý tưởng và quan sát thực chứng này. Nhưng với tất cả những hàm ý xã hội đầy đau đớn trong lý thuyết của mình, Darwin đã cho thấy ông là một con người mang tính thực tế rất sâu sắc. Trong thời đại nữ hoàng Victoria, ông đã là một nguyên mẫu khoa học, dù theo một kiểu khác nhưng ông vẫn là một người bảo vệ kiên cường cho phẩm giá và đức hạnh (3, 4).  Ở đây, Ernst Haeckel (1834-1919), nhân vật chính trong bộ phim, khá là khác với Darwin. Haeckel, một con người tài năng cả về nghệ thuật lẫn khoa học, luôn rung động trước những khái niệm lãng mạn và khúc triết của tự nhiên. Là một nhà khoa học, ông đã mô tả hầu hết các loài Radiolaria, cùng với người bạn Gegenbaur xây dựng nên lý thuyết về hình thái học tiến hóa, đưa ra rất nhiều các khái niệm quen thuộc trong sinh học (chẳng hạn như khái niệm sinh thái học). Là một nghệ sỹ, ông đã cho ra đời rất nhiều bức tranh minh họa những sinh vật mới được phát hiện dưới biển. Cuốn sách của ông, Các Hình thái Nghệ thuật trong Tự nhiên đã trở thành một tác phẩm kinh điển, mang vẻ đẹp sâu sắc của khoa học tự nhiên. Là một triết gia và một nhà lý thuyết, Haeckel đã trở thành người đứng đầu của trường phái nhất nguyên luận, một trường phái riêng trong chủ nghĩa duy vật, cố gắng vượt qua sự phân chia giữa con người với tự nhiên – một mục tiêu mà ông cùng với cả một thế hệ các nhà thơ và nghệ sỹ lãng mạn trước đó đã luôn muốn đạt tới (6, 7).                Haeckel đã mô tả, phân loại và vẽ minh họa hơn 3000 loài động vật nguyên sinh        Tuy nhiên, cái nhìn về tự nhiên được đưa lên phim ảnh của thế kỷ 19 không chỉ xoay quanh những suy ngẫm của các nghệ sỹ và nhà khoa học theo cách riêng của họ. Lebrun đã cho thấy mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố kỹ thuật, khoa học, nghệ thuật và kinh tế, cùng nhau tạo nên hình ảnh của thế kỷ cũng như những nhận thức về tự nhiên. Những nhân tố này bao gồm các thành công về mặt kỹ thuật, chẳng hạn như đường cáp xuyên Đại Tây Dương đầu tiên và sự xuất hiện những lĩnh vực nghiên cứu mới về hải dương học vật lý cũng như về sinh học biển. Bộ phim cũng kể lại cuộc thám hiểm nổi tiếng của đội tàu HMS Challenger (1872-1786) cũng như những ảnh hưởng của nó đối với khoa học. Chỉ riêng việc sưu tầm các loài động vật nguyên sinh đã khiến Haeckel bận rộn trong suốt 10 năm, trong thời gian này, ông đã thực hiện những mô tả chi tiết về hơn 3000 loài mới.  Điều đã khiến Proteus trở thành một bộ phim thực sự cuốn hút chính là cách dựng phim rất sáng tạo và giàu động tính. Trong bộ phim, Lebrun đã đặc biệt sử dụng những hình ảnh nguyên gốc của thế kỷ 19. Ông đã trình diễn những bức vẽ, những bức ảnh lịch sử, những tác phẩm hội họa cùng với những hình ảnh động, chúng làm nổi bật vẻ đẹp cuốn hút của những dạng hữu cơ sự thể hiện đầy nghệ thuật của Haeckel. Những hình ảnh này (cùng với phần âm nhạc theo chủ nghĩa tối giản của Yuval Ron) đã đem lại cảm nhận về những sức mạnh sáng tạo và biến ảo của tự nhiên.  Sức mạnh của bộ phim xuất phát từ sự gắn kết các minh họa lịch sử với lời dẫn chuyện đầy cuốn hút. Lebrun đã rất thành công trong việc lựa chọn các hình ảnh và từ ngữ để đem lại sức sống cho cái nhìn về tự nhiên của thế kỷ 19. Proteus đã trở thành một cách thức cực kỳ hiệu quả để giáo dục cũng như cuốn hút một số lớn khán giả đến với khoa học và lịch sử của nó.   Manfred Laubichler    Nguồn tin: Trung Dũng biên dịch          Author                Quản trị        
__label__tiasang Vẻ đẹp trong các hiện tượng khoa học giúp các nhà nghiên cứu thêm kiên trì      Vẻ đẹp mà nhà nghiên cứu quan sát được trong các hiện tượng khoa học thúc đẩy họ theo đuổi sự nghiệp và có thêm lòng kiên trì khi gặp khó khăn hay thất bại, theo một khảo sát quốc tế.    Brandon Vaidyanathan, nhà xã hội học tại Đại học Công giáo Mỹ, Washington DC, và các đồng nghiệp đã thu thập câu trả lời của hơn 3.000 nhà khoa học – chủ yếu là các nhà sinh học và vật lý – ở Ấn Độ, Ý, Vương quốc Anh và Mỹ. Họ hỏi người tham gia về sự hài lòng trong công việc và văn hóa nơi làm việc, trải nghiệm của về đại dịch COVID-19 và vai trò của thẩm mỹ trong khoa học. Các câu trả lời cho thấy, khác xa với những bức tranh biếm họa rằng các nhà khoa học là những sinh vật duy lý và logic, “yếu tố vẻ đẹp thực sự quan trọng”, Vaidyanathan nói.        Theo khảo sát Công việc và Sức khỏe trong Khoa học,75% số người được hỏi bắt gặp vẻ đẹp trong các hiện tượng mà họ nghiên cứu và 62% số người được hỏi cho biết chính điều này đã thúc đẩy họ theo đuổi sự nghiệp khoa học.    Một nửa số người được khảo sát nói rằng vẻ đẹp trong các hiện tượng khoa học giúp họ kiên trì khi gặp khó khăn hay thất bại, và 57% nói rằng vẻ đẹp giúp cải thiện hiểu biết khoa học của họ. “Khi chúng ta trải nghiệm cái nhìn sâu sắc về khoa học, nó kích hoạt hoạt động trong não giống như khi trải nghiệm sự hài hòa trong âm nhạc, và chúng ta có thể cảm thấy thích thú giống như đối với các hình thức nghệ thuật,” Vaidyanathan nói.    Desiree Dickerson, nhà tư vấn sức khỏe tâm thần học thuật ở Valencia, Tây Ban Nha, nói, cô không ngạc nhiên khi thấy tầm quan trọng của vẻ đẹp được phản ánh trong cuộc khảo sát. Chồng Dickerson, một nhà vật lý học, cũng có góc nhìn tương tự. “Đó là động lực thực sự của việc tìm hiểu khoa học, và giúp chúng ta cảm thấy khỏe mạnh và hạnh phúc hơn khi gặp khó khăn trong công việc hằng ngày,” Dickerson nói.    Nếu việc phát hiện vẻ đẹp trong công việc giúp các nhà khoa học vượt qua khó khăn, thì nhiều khía cạnh khác của công việc nghiên cứu lại làm gia tăng các khó khăn. Cụ thể là việc phải đối phó với trách nhiệm hành chính, viết đơn xin tài trợ và áp lực xuất trình giấy tờ – tất cả đều cản trở việc thưởng thức vẻ đẹp của khoa học, theo Vaidyanathan.    Nhìn chung, các nhà khoa học trong khảo sát cho biết họ hạnh phúc vừa phải. 72% số người tham gia nói họ hầu như hoặc hoàn toàn hài lòng với công việc. Nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa nhà khoa học nam và nữ, hoặc giữa các nhà khoa học ở các vị tríkhác nhau. Phụ nữ thường gặp tình trạng kiệt sức nhiều hơn nam giới. Và 25% nghiên cứu sinh có mức độ đau khổ tâm lý nghiêm trọng, so với chỉ 2% học giả cao cấp. “Nghiên cứu sinh đang trong một tình huống tồi tệ, và tôi lo ngại rằng vấn đề này đang được bình thường hóa,” Dickerson nói.    Nhóm Vaidyanathan kỳ vọng có sự khác biệt về sức khỏe tâm thần giữa nhà nghiên cứu lâu năm và nghiên cứu sinh – nhưng họ không ngờ sự khác biệt lại sâu sắc đến vậy. Và mặc dù phần lớn những người được khảo sát dường như có khả năng đương đầu với căng thẳng và khó khăn trong công việc, điều quan trọng là phải chú ý đến những nhà nghiên cứu đang gặp khó khăn, Vaidyanathan lưu ý.     Phạm Hải    Author                .        
__label__tiasang Về nước không phải là giải pháp duy nhất      Nguyễn Trọng Cảnh – một trong hai học sinh đưa Việt Nam lên bục vinh quang trong kỳ thi Olympic Toán Quốc Tế năm 2003 tại Nhật Bản (huy chương Vàng tuyệt đối 42/42). Cuối năm đó, anh là một trong 10 thanh niên được vinh danh “Gương mặt trẻ tiêu biểu của thanh niên cả nước”. Hiện anh đang theo học năm cuối trường Đại học Bách Khoa Paris-Pháp (Ecole Polytecnique de Paris). Cuộc trao đổi hết sức cởi mở với Cảnh qua chương trình Skype- điện thoại Internet trong vòng 2 giờ, khiến tôi thực sự được sống trong thế giới khoa học của Cảnh, một thế giới có vẻ trầm lặng nhưng ẩn chứa bên trong rất nhiều năng lượng và sự bùng nổ.    Chào Cảnh, sau tấm Huy Chương Vàng…  Xin lỗi, nhưng xin phép đừng nói chuyện quá khứ nữa. Hãy coi tôi như là một sinh viên khoa học bình thường.    Vậy trong 4 năm qua, bạn đã làm được những gì?  Hai năm đầu, tôi theo học khoa toán Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, sau đó tôi sang Pháp nhập học tại trường Bách Khoa Paris tháng 10/2005. Hiện tôi đang học năm cuối ở đây. Nói chung, tôi vẫn đang ở quá trình tích luỹ kiến thức cơ bản.  Tích lũy kiến thức cơ bản? Nhưng bạn đã là sinh viên năm cuối ?  Vâng, năm sau học Master (Thạc sĩ) bọn tôi mới phải phân ngành, chương trình bên này là thế.    Vậy bạn sẽ chọn ngành gì?  Tôi dự đinh học Master về Vật Lý lý thuyết tại trường Đại học Sư Phạm Paris    Bạn đã đeo đuổi Toán khá lâu, định theo ngành Vật lý Lý thuyết, liệu sự thay đổi này có quá đường đột không?  Việc chuyển ngành này thực chất chỉ là danh nghĩa. Bởi trong 4 năm qua, tôi cũng đã được học rất nhiều về Vật Lý. Hơn nữa, niềm yêu thích của tôi là giải thích thế giới xung quanh dựa trên cơ sở lôgích. Cụ thể là những điều cơ bản chi phối thế giới. Do đó, học Toán hay Lý không quan trọng mà là nên học cái gì vào thời điểm nào để phục vụ cho mục đích của mình. Cho nên tôi cũng sẽ không bất ngờ nếu trong tương lai mình sẽ nghiên cứu thêm cả về Hoá nữa. Vả lại khoa học thì vốn không hề có biên giới.    Như vậy ngay từ lúc học cấp 3, bạn đã có ý định theo học Vật lý?  Không, hồi đó tôi chẳng để ý gì cả, cũng chưa có suy nghĩ sâu sắc xem Vật lý là gì, Toán học là gì. Thầy cô cũng không yêu cầu học sinh phải có những suy nghĩ sâu sắc qúa. Lúc ấy học Toán cũng chỉ vì niềm đam mê, thích thì học. Và vì sao thì cũng khó nói vì đó hoàn toàn là chuyện tình cảm: thích hay không thích. Mãi khi lên tới đại học tôi mới xác định cụ thể hơn.  Thời gian biểu của bạn rất đều đặn, gần như không nghỉ ngơi, liệu có nhàm chán?  Nhàm chán là cách nhìn nhận của người ngoài. Tôi không hề thấy nhàm chán. Sống để làm điều mình thích thì chẳng bao giờ chán. Đôi lúc có cảm thấy thế thật thì cũng phải chịu thôi, nếu không sẽ phải từ bỏ giấc mơ khoa học. Muốn học tốt thì buộc phải có thời gian biểu cố định và cả sức khỏe nữa. (Ít ra là trong ngành khoa học của tôi).  Ước mơ của bạn là gì ? bạn có muốn thành công?  Thế nào là thành công, điều này khó nói lắm nên tốt nhất là mình đừng nghĩ đến nó. Theo tôi thì thành công hay không – không quan trọng mà định hướng cuộc đời mới là quan trọng: sống tốt, làm việc mình yêu và vừa sức. Hơn nữa thành công không nhất thiết phải mang tính cá nhân. Tôi nhớ trước kia, đã có rất nhiều người phải bỏ mạng khi cố gắng bay vượt biển Manche (Anh-Pháp), chỉ đến khi có người đầu tiên thành công mới được tôn vinh. Tôi nghĩ sự tôn vinh này không chỉ dành riêng cho người thành công, mà còn cả cho những người đã bỏ xác trên biển. Cũng chính nhờ những người đó mà mới có nền hàng không phát triển rực rỡ như ngày hôm nay. Do vậy tôi quan niệm tốt nhất là khi làm mình đừng nghĩ đến chuyện thành công, có thế thì khi thất bại mình mới đủ can đảm để vượt qua nó.    Có cơ hội theo học ở những trường hàng đầu của cả Việt Nam và Pháp, bạn có nhận xét gì về sự khác biệt ?  Tôi không muốn dùng từ so sánh, bởi so sánh dễ làm người ta liên tưởng đến chuyện hơn kém. Chả cần nói ai cũng biết điều kiện học và làm khoa học ở Pháp tốt hơn ở Việt Nam. Nhưng tôi không bao giờ thất vọng về điều kiện học của mình trước đây ở Việt Nam. Bởi chính những điều đó đã góp phần tạo nên con người tôi bây giờ.  Còn điều kiện học ở đây đúng là rất tốt: thư viện phong phú, phòng thí nghiệm hiện đại…. Bọn tôi có điều kiện giao lưu với nhiều nền văn hoá, trang thiết bị giải trí, thể thao luôn có sẵn trong trường. Ăn uống thì có căng tin, kể cả bữa sáng. Đặc biệt nhất là các giáo sư liên tục cập nhật các kiến thức mới vào bài giảng.  Tôi hy vọng các bạn trong nước cũng sẽ có điều kiện đọc những tài liệu của nước ngoài. Một hệ thống thư viện tốt là vô cùng quan trọng. Các trường đại học có thể hợp tác với nhau trong lĩnh vực này để giảm chi phí.    Bạn sẽ trở về Việt Nam làm việc sau khi học xong?  Đây là một câu hỏi rất phổ biến. Nó cũng không khác nào hỏi một sinh viên từ các tỉnh lên Hà Nội học là họ có về quê làm việc hay không. Nó sẽ đẩy người trả lời vào một thế rất khó. Tất nhiên là ai cũng muốn được sống và làm việc tại quê hương, gần gia đình nhưng không ai nói trước được điều gì. Với cả về thì sẽ làm gì? Về tốt cho công việc của bản thân và cho cộng đồng thì hẵng về.  Nhưng bạn cũng biết là Việt Nam đang rất thiếu chất xám, nhất là trong các ngành khoa học cơ bản.   Điều này rất đúng. Nước ta cần rất nhiều chất xám, cần sự đóng góp trực tiếp của các nhà khoa trẻ có trình độ. Trở về – đó là một giải pháp, nhưng không phải là duy nhất, cũng không phải là điều kiện cần và đủ để phát triển nền khoa học công nghệ ở Việt Nam. Cẩn thận không lại cứ cắm đầu vào đếm xem có bao nhiêu phần trăm trở về mà lại quên đi cái cốt lõi đằng sau nó. Mà đóng góp thì tôi nghĩ không thiếu gì cách. Ví dụ tôi thấy việc xây dựng được một mạng lưới xuyên suốt giữa các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước là điều rất cần thiết. Ngoài ra, một nền khoa học phát triển thì luôn đi liền với kinh tế. Không phải ngẫu nhiên là những nước Mỹ Nhật hay Đức lại là những nước có nền khoa học phát triển nhất. Do vậy việc có một kế hoạch đồng bộ để phát triển tất cả các ngành là rất quan trọng. Còn cụ thể hơn thì phải hỏi những nhà quản lí. Dù sao tôi vẫn chỉ là một sinh viên.      P.V thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Về thời gian: Tại sao triết học phương Tây chỉ có thể dạy chúng ta đến thế ?      Một trong những kỳ tích vĩ đại nhất chưa được giải thích trong lịch sử nhân loại đó là triết học văn bản ra đời độc lập từ những nơi khác nhau trên thế giới gần như cùng một lúc. Nguồn gốc của triết học Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại, cũng như đạo Phật, tất cả đều có thể truy nguyên về một thời kỳ kéo dài khoảng 300 năm, bắt đầu vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên.      Khổng Tử (551-479 Trước Công Nguyên).  Nhưng, với tất cả những truyền thống triết học đa dạng và phong phú trên khắp thế giới, triết học phương Tây mà tôi đã nghiên cứu trong hơn 30 năm – dựa hoàn toàn vào những văn bản kinh điển của phương Tây – được giới thiệu như thứ triết học phổ quát, là sự chất vấn cuối cùng về hiểu biết của nhân loại. Triết học so sánh – nghiên cứu hai hoặc nhiều truyền thống triết học – gần như bị bỏ lại hoàn toàn cho những người làm việc trong ngành nhân học hoặc nghiên cứu văn hóa. Việc những nhà nghiên cứu triết học từ chối quan tâm đến vấn đề này thể hiện quan điểm cho rằng triết học so sánh chỉ có thể giúp chúng ta hiểu các nền văn hóa trí tuệ của Ấn Độ, Trung Hoa hay thế giới Hồi giáo, chứ không phải về thân phận con người. Gần đây và thật muộn, tôi mới khám phá các nền triết học cổ điển vĩ đại ở phần còn lại của thế giới, du hành qua các lục địa để tiếp xúc với chúng. Đó là hành trình tri thức bổ ích nhất cuộc đời tôi.  Hành trình triết học ấy đã thuyết phục tôi rằng chúng ta không thể hiểu bản thân mình nếu không hiểu người khác. Để hiểu người khác đòi hỏi một người phải lường trước được nguy hiểm kép đó là quá đề cao những điểm chung giữa mình và hay quá coi trọng những điểm khác biệt giữa họ và mình. Những giá trị nhân văn và những vấn đề muôn thuở trong đời sống mà loài người cùng chia sẻ khiến chúng ta luôn có thể học hỏi và đồng cảm với những suy nghĩ và việc làm của người khác, bất kể ban đầu họ có thể kỳ dị đến đâu. Đồng thời, chúng ta đều có thể có những khác biệt rất sâu sắc hoặc tinh tế trong cách tư duy. Nếu chúng ta vội giả định rằng mình có thể nhìn mọi thứ từ điểm nhìn của người khác, thì rốt cuộc chúng ta chỉ thấy họ từ một bản tùy biến của chính chúng ta mà thôi.  Du hành khắp các nền triết học của thế giới là một cơ hội để thách thức các niềm tin và cách thức tư duy mà chúng ta vốn có. Bằng cách thu nhận thêm hiểu biết về cách suy nghĩ của người khác, chúng ta có thể trở nên bớt chắc chắn về tri thức mà chúng ta có, vốn luôn là bước đầu tiên để hiểu rộng hơn.  Lấy ví dụ về thời gian. Trên khắp thế giới ngày nay, thời gian là tuyến tính, được sắp xếp theo thứ tự quá khứ, hiện tại, tương lai. Ngày tháng của chúng ta được tổ chức dựa vào vòng quay của kim đồng hồ, hay tóm gọn lại trong ngắn và trung hạn bằng lịch và nhật ký, lịch sử theo dòng thời gian được tính bằng đơn vị thiên niên kỷ.  Thời gian tuyến tính khớp với quan điểm cho rằng toàn bộ lịch sử nhân loại đều tiến về một phán xét cuối cùng. Điều đó giải thích tại sao, dần dần, nó trở thành một cách nhìn nhận phổ biến về thời gian trong phần lớn người theo đạo Thiên Chúa phương Tây. Khi Thiên Chúa sáng tạo ra thế giới, ông bắt đầu với một câu chuyện về một khởi đầu, diễn biến, và một kết thúc. Như Sách Khải Huyền đã ghi, trong khi tiên đoán về những thời khắc kết thúc của nhân loại, Jesus chính là “Alpha và Omega, khởi đầu và kết thúc, đầu tiên và cuối cùng” của sử thi.    Thời gian tuần hoàn  Nhưng luôn có những cách tư duy khác về thời gian. Rất nhiều trường phái tư tưởng tin rằng khởi đầu và kết thúc luôn là một bởi vì về bản chất thời gian là tuần hoàn. Đây là một cách tư duy đúng đắn và trực quan nhất về sự vĩnh cửu. Khi chúng ta hình dung thời gian như một đường thẳng, cuối cùng ta lại thấy lạc lối: chuyện gì xảy ra trước khi thời gian bắt đầu? Làm thế nào một đường thẳng kéo dài tới vô tận? Một đường tròn cho phép chúng ta hình dung về quá trình lui lại và tiến lên liên tục vĩnh viễn, không có một điểm nhất định nào là khởi đầu hay kết thúc.  Tư duy về thời gian tuần hoàn đặc biệt có ý nghĩa trong các xã hội tiền hiện đại, nơi chỉ có ít đổi mới sáng tạo xuyên suốt nhiều thế hệ và người ta sống một cuộc đời rất giống với ông mình, cụ mình và nhiều thế hệ trước trong gia đình. Không có thay đổi, thì tiến triển là việc không thể tưởng tượng nổi. Bởi thế ý nghĩa cuộc đời chỉ có thể được tìm thấy trong việc đón nhận chu kỳ của sự sống và cái chết và làm tốt nhất có thể với vai trò của mình.  Có lẽ đó là lý do cho việc thời gian tuần hoàn có vẻ như là một sự mặc định của con người. Người Maya, Inca và Hopi đều nhìn thời gian theo cách này. Rất nhiều truyền thống phi-Tây-phương chứa các yếu tố về tư duy về thời gian tuần hoàn, có lẽ rõ ràng nhất trong triết học cổ điển Ấn Độ. Triết gia kiêm chính khách Sarvepalli Radhakrishnan đã viết: “Tất cả những hệ thống [chính thống] đều chấp nhận quan điểm tiết tấu vĩ đại của thế giới. Những thời kì dài cho sáng thế, duy trì và biến mất tiếp nối nhau liên hồi vô tận.” Chẳng hạn, một đoạn trong kinh Vệ đà nói về Dyaus và Prithvi (Thiên đường và Trái đất) như sau: “Cái gì có trước, cái gì có sau? Chúng sinh ra thế nào? Này các hiền nhân, ai phân biệt được chứ? Chính chúng chứa đựng tất cả những gì từng tồn tại. Ngày và đêm tiếp nối nhau như trên một vòng quay.”  Triết học Đông Á bắt rễ rất sâu trong chu kỳ của các mùa, cũng một phần của một chu kỳ tồn tại lớn hơn. Chuyện này càng rõ ràng trong Đạo Lão, và được minh họa sống động nhờ sự hân hoan đáng kinh ngạc của triết gia Đạo Lão thế kỷ thứ 4 TCN Trang Tử khi tất cả mọi người nghĩ rằng ông ấy nên đau buồn vì người vợ đã khuất. Đầu tiên, ông đã giải thích rằng mình cũng khốn khổ như bất cứ ai. Sau đó ông nghĩ xa hơn về sự khởi đầu của chính thời gian: “Trong tất cả những cái khác thường và rối rắm, có gì đó đã thay đổi và có khí. Khí đã thay đổi, và hình cũng vậy. Hình thay đổi và cô ấy có sự sống. Hôm nay lại có sự thay đổi khác và cô ấy qua đời. Chuyện cũng giống như vòng tròn bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông vậy.”  Trong tư tưởng Trung Hoa, tri thức và sự thật là vĩnh cửu, và chúng ta không cần phải tiến lên để học, chỉ cần nắm bắt những gì mình đang có mà thôi. Như nhà Hán học người Scotland ở thế kỷ 19, James Legge, đã nói, Khổng Tử không nghĩ rằng mục tiêu của ông là “thông báo bất cứ sự thật mới lạ, hay khởi đầu bất kỳ nền kinh tế mới nào. Ông chỉ ngăn những gì từng được biết đến khỏi sự mất mát.” Tương tự như vậy, Mạnh Tử, đã phê bình những vị hoàng đế ở thời kỳ của ông bởi vì “họ không làm theo lối của những vị hoàng đế xưa.” Mạnh Tử cũng đã nói, trong chương áp chót của cuốn tuyển tập những cuộc đối thoại của ông cũng mang tên Mạnh Tử, gần với phần kết luận của cuốn sách: “Bậc đại nhân đơn giản là tìm lại những chuẩn tắc bất biến, và, nếu tìm đúng, thì thiên hạ được đánh thức trước đức hạnh.” Chương cuối cùng lập đồ thị các thời kỳ giữa các vị vua và triều đại vĩ đại.      Du hành khắp các nền triết học của thế giới là một cơ hội để thách thức các niềm tin và cách thức tư duy mà chúng ta vốn có. Bằng cách thu nhận thêm hiểu biết về cách suy nghĩ của người khác, chúng ta có thể trở nên bớt chắc chắn về tri thức mà chúng ta có, vốn luôn là bước đầu tiên để hiểu rộng hơn.      Một thứ lai giữa thời gian tuần hoàn và tuyến tính hoạt động trong các dải tư duy Hồi giáo. “Khái niệm của Hồi giáo về thời gian về căn bản dựa trên quá trình trẻ hóa tuần hoàn của lịch sử nhân loại qua sự xuất hiện của các lời tiên tri khác nhau,” Seyyed Hossein Nasr, giáo sư danh dự Hồi giáo học của Đại học George Washington nói. Tuy nhiên, mỗi chu kỳ đều đưa nhân loại tiến lên, với mỗi lần mặc khải dựng lên từ cái cũ – tiếng gọi của Qu’ran tới Muhammad trở thành lời tuyên bố hoàn thiện, tối hậu của Chúa Trời – cho tới khi cuối cùng chuỗi những chu kỳ này kết thúc với sự xuất hiện của Mahdi, người trị vì trong suốt 40 năm trước ngày phán xét cuối cùng.  Thời gian không thể tách khỏi nơi chốn  Bởi thế, sự phân biệt giữa thời gian tuyến tính và tuần hoàn không phải lúc nào cũng rõ ràng. Giả thiết về một song đề sai đã dẫn nhiều người tới việc giả định rằng những truyền thống triết học truyền miệng chỉ đơn giản là khái niệm thời gian tuần hoàn. Thực tế phức tạp hơn thế. Ví dụ như các triết học của người bản địa Úc. Không có những người Úc đơn lẻ đầu tiên nào khởi xướng một văn hóa tập thể, nhưng có đủ những điểm chung giữa họ trên khắp đất nước cho phép tổng quát hóa thử một số ý tưởng chung hay có ảnh hưởng chính. Nhà nhân loại học quá cố David Maybury-Lewis đã đặt ra giả thuyết rằng thời gian trong văn hóa Úc bản địa vừa không tuyến tính vừa không tuần hoàn; thay vào đó, nó giống với không-thời gian của vật lý hiện đại. Thời gian được gắn kết chặt chẽ với địa điểm trong cái mà ông gọi là “thời-gian-mơ-tưởng” của “quá khứ, hiện tại, tương tai đều tất thảy hiện hữu ở địa điểm này”.  “Người ta sống ở một địa điểm hơn là một thời gian,” là cách mà Stephen Muecke viết trong cuốn sách Ancient and Modern: Time, Culture and Indigenous Philosophy (Cổ đại và Hiện đại: Thời gian, Văn hóa và Triết học Bản địa). Quan trọng hơn sự phân biệt giữa thời gian tuyến tính hay thời gian tuần hoàn là liệu thời gian tách biệt hay gắn kết chặt chẽ với địa điểm. Chẳng hạn, xét xem chúng ta nhận thức thế nào về cái chết. Ở phương Tây ngày nay, cái chết nói chung được nhìn nhận như sự tắt thở của một cá nhân, với thân thể như địa điểm và vị trí của thân thể đó thì không quan trọng. Trái lại, Muecke nói: “Rất nhiều câu chuyện bản địa về cái chết của một cá nhân đều không mấy liên quan đến sự chết của thân thể mà là sự trả về năng lượng cho nơi nguồn cội mà với đó nó tái xác định.”  Cách tư duy như vậy là đặc biệt kỳ lạ với phương tây hiện đại, nơi sự theo đuổi tính khách quan đã hạ thấp một cách có hệ thống vai trò của một địa danh rõ ràng, cụ thể. Trong một câu mang tính khiêu khích và khơi gợi, Muecke nói: “Tôi cho rằng sự nhìn xa trông rộng là một dạng thiển cận triết học của châu Âu và rằng các phiên bản khác của triết học, như của những người bản địa chẳng hạn, có kết nối sinh động và sâu sắc hơn hơn đến các xã hội loài người và cách họ nói về mình”  Muecke trích dẫn quan điểm hàn lâm của Tony Swain rằng khái niệm về thời gian tuyến tính là một thứ tách rời khỏi địa điểm. “Tôi cảm tưởng rằng vật lý hiện đại đã tách những chiều kích này (thời gian, không gian) khỏi nhau và nghiên cứu trên đó, vì thế chúng ta tạo ra thời gian như đã biết thông qua rất nhiều hoạt động lý thuyết và thực nghiệm,” Muecke nói với tôi. “Nếu bạn không tách biệt những chiều kích này ở dạng khái niệm và thực nghiệm, thì chúng sẽ có xu hướng trôi cùng nhau.” Những người bạn bản địa của anh ta ít nói về thời gian và địa điểm một cách độc lập, mà nói nhiều hơn về các sự kiện có địa điểm xác định. Câu hỏi quan trọng về thời gian không phải là “Chuyện này đã xảy ra khi nào vậy?” mà là “Chuyện này liên quan gì đến các sự kiện khác?”  Từ “liên quan” rất quan trọng. Thời gian và không gian đã trở thành những khái niệm trừu tượng về mặt lý thuyết trong vật lý hiện đại, nhưng trong văn hóa của con người thì chúng là những thực tế cụ thể. Không có gì tồn tại thuần túy như một điểm trên bản đồ hay một thời khắc trong thời gian: mọi thứ đều nằm trong mối liên kết với những thứ khác. Vì vậy, để hiểu thời gian và không gian trong các truyền thống triết học truyền miệng, chúng ta phải nhìn chúng như những khái niệm sống thay vì những khái niệm trừu tượng trong các lý thuyết siêu hình, là bộ phần của một cách hiểu rộng hơn về thế giới – một thứ khởi sinh từ sự liên quan. Hirini Kaa, giảng viên ở Đại học Auckland, nói rằng “trụ cột quan trọng của tư tưởng của Maori là mối quan hệ máu mủ, sự kết nối giữa nhân loại, giữa người này người khác, giữa môi trường tự nhiên.”  David Mowaljarlai, người từng là Chấp pháp trưởng lão của bộ tộc Ngarinyin ở Tây Úc, gọi đây là nguyên lý của sự kết nối “tư duy mô thức”. Tư duy mô thức ngập tràn thế giới tự nhiên và thế giới xã hội, mà, sau cùng, theo cách tư duy này, chúng chỉ là một phần của cùng một thứ. Như Muecke đã viết, “Khái niệm liên kết là cơ sở của tất cả các hệ thống họ hàng […] Kết hôn, trong trường hợp này, không chỉ là kết đôi, mà theo một cách nhìn khác, nó là sự sẻ chia bản thân mình cho nhau.”  Từ địa phương đến phổ quát, từ phổ quát đến địa phương  Sự nhấn mạnh vào tính kết nối và địa điểm dẫn tới một cách thức tư duy đi ngược với chủ nghĩa phổ quát trừu tượng đã phát triển tới một mức độ nhất định trong tất cả các kiệt tác triết học phương Tây. Muecke mô tả điều này như một trong “những nguyên lý trường tồn [Úc Bản địa]” mà “một hình thức tồn tại sẽ đặc trưng cho nguồn lực và nhu cầu ở tại một thời gian cũng như nơi chốn và rằng cách cư xử của một người sẽ gắn với trách nhiệm đặc trưng của nơi đó” Đây không phải là thuyết tương đối “sao cũng được”, mà là một sự nhận biết rằng các quyền, trách nhiệm và giá trị chỉ tồn tại trong văn hóa con người, và dạng thức đích thực của chúng sẽ phụ thuộc vào bản chất của các tình huống.  Chuyện như thế chắc đã đủ rõ ràng. Nhưng các truyền thống của triết học phương tây, nói riêng, đã cố đạt đến tính phổ quát đòi hỏi sự phân biệt rõ ràng giữa thời gian và địa điểm. Chẳng hạn, từ “university” (đại học) còn có chung từ nguyên với “universal” (phổ quát). Trong những cơ sở đào tạo này, “chân lý không có biên giới quốc gia” như một người bình luận nhận xét. Địa điểm không hề quan trọng trong triết học phương tây tới mức khi tôi khám phá ra rằng đó là chủ đề của Hội thảo Triết gia Đông-Tây diễn ra 5 năm một lần vào năm 2016, tôi đã tự hỏi mình có gì đó để nói trước hội thảo hay không. (Tôi đã quyết định rằng chính sự thiếu vắng nơi chốn trong triết học phương Tây đáng được cân nhắc)  “Tư duy mô thức” của Maori và các triết học Úc Bản địa có thể chỉnh lý lại cho giả định rằng các giá trị của chúng ta là các giá trị phổ quát còn các giá trị khác thì đều lầm lạc. Nó lý giải một cách mạch lạc và thuyết phục ý tưởng cho rằng triết học luôn gắn liền với địa điểm và những tư tưởng chẳng hề gắn với một nơi chốn cụ thể thì sẽ sớm lụi tàn và chết.  Tuy nhiên những hồ nghi về tính phổ quát chỉ có thể dừng lại ở đó. Chí ít thì vẫn có một mâu thuẫn khi nói rằng không có chân lý phổ quát nào, bởi vì đây cũng là một khẳng định mang tính phổ quát về chân lý.  Quan điểm đúng đắn có lẽ nằm đâu đó giữa các khẳng định của những người theo thuyết phổ quát ngây thơ và những người theo thuyết địa phương đầy hoài nghi. Có cảm giác là ngay cả khát khao mang tính phổ quát phải có nguồn gốc từ một thứ gì đó đặc thù hơn. T. S. Eliot được cho là đã nói rằng: “Mặc dù quá dễ để người viết trở nên địa phương mà không bị phổ quát, tôi nghi ngờ rằng một nhà thơ hay tiểu thuyết gia sẽ chẳng thể trở nên phổ quát nếu thiếu đi tính địa phương.” Thuần túy phổ quát nghĩa là ta đang nương náu trong một vũ trụ trừu tượng tách biệt hoàn toàn khỏi thực tế. Nhưng, cũng giống một tiểu thuyết gia có thể chạm tới những điều phổ quát về thân phận con người qua một vài nhân vật và một câu chuyện cụ thể, những truyền thống triết học địa phương khác, mặc dù được tiếp cận từ góc nhìn riêng của người bản địa, cũng có thể đưa những chân lý triết học phổ quát ra ánh sáng.  Chúng ta không nên sợ hãi rồi mắc cạn trong truyền thống của chính chúng ta, mà cũng không nên bị chúng hạn chế. Như Gandhi đã rất thơ khi viết: “Tôi không muốn nhà mình bị các bức tường bao tứ phía, và các cửa sổ thì đóng chặt. Tôi muốn nền văn hóa của tất cả các vùng đất ùa vào nhà tôi tự do hết sức có thể. Nhưng tôi từ chối bị bất cứ thứ gì thổi bay. Tôi từ chối sống trong những ngôi nhà của người khác như một kẻ không mời mà đến, một kẻ ăn mày hay một tên nô lệ.”  Những cách thức khác nhau mà các truyền thống triết học đã dùng để nhận thức thời gian hóa ra lại định hình cách ta nghĩ về cả vị trí đương thời của ta trong lịch sử và mối liên hệ của chúng ta với vị trí vật lý mà ta đang sống. Nó là một trong những ví dụ dễ nhất và rõ ràng nhất cho việc làm thế nào mà việc mượn cách tư duy khác lại có thể mang lại một góc nhìn mới mẻ về thế giới. Đôi khi, đơn giản nhờ việc thay đổi khung tranh mà cả bức vẽ có thể trông hoàn toàn khác biệt.  Hoàng Mai lược dịch (các tít trong bài viết là do tòa soạn đặt)  Nguồn bài và ảnh: https://www.theguardian.com/news/2018/sep/25/about-time-why-western-philosophy-can-only-teach-us-so-much?CMP=share_btn_fb  ———–  * Nhà triết học người Anh, tác giả của nhiều cuốn sách triết học cho đại chúng          Author                Julian Baggini*        
__label__tiasang Vệ tinh lập bản đồ gió đầu tiên trên thế giới      Aeolus là nhiệm vụ đã được mong chờ từ rất lâu của Cơ quan Vũ trụ châu Âu. Dữ liệu từ nhiệm vụ này sẽ giải quyết một trong những lỗ hổng lớn nhất trong hệ thống dự báo thời tiết toàn cầu.      Mô hình Aeolus.  Aeolus, một nhiệm vụ trị giá 480 triệu Euro (550 triệu đô la), sẽ sử dụng laser cực tím để theo dõi tốc độ và hướng gió trong khoảng 30 km dưới cùng của tầng khí quyển. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các laser tương tự trên máy bay để nghiên cứu gió ở các vùng cụ thể, nhưng đây sẽ là nhiệm vụ lập bản đồ gió đầu tiên bao phủ toàn bộ thế giới. Nếu Aeolus hoạt động theo kế hoạch, dữ liệu của nó có thể cải thiện dự báo ở các vùng nhiệt đới một cách đáng kể và tăng khả năng dự báo chính xác ở vĩ độ trung bình và cao của Trái đất lên một vài phần trăm. Lars Isaksen, một nhà khí tượng học tại Trung tâm dự báo thời tiết tầm trung châu Âu (ECMWF) cho biết: “Bạn có thể nghĩ rằng vài phần trăm không có vẻ gì nhiều, nhưng nếu chúng tôi cải thiện độ chính xác của dự báo thêm 2%, giá trị cho xã hội là hàng tỷ đô la”. Chẳng hạn dự báo tốt hơn cho phép mọi người chuẩn bị tốt hơn cho các cơn bão.  Cho đến nay, các nhà khí tượng học đã sử dụng các thông tin về gió từ việc chắp nối các nguồn, bao gồm các khí cầu thời tiết và các chuyến bay. Chưa vệ tinh nào từng đo gió trực tiếp, mặc dù các nhà khoa học có thể suy ra tốc độ và hướng gió từ các phép đo của vệ tinh, ví dụ từ cách các đám mây di chuyển.  ESA lên kế hoạch nhiệm vụ, đặt tên theo vua các ngọn gió trong thần thoại Hy Lạp, vào năm 1999. “Nhiệm vụ này là một hành trình dài,” Anders Elfving, quản lý dự án này nói. Đến bây giờ nó được đặt lên bệ phóng vì rất khó để xây dựng laser không gian có khả năng tạo ra công suất khoảng 10 megawatts trong mỗi xung ánh sáng (pulse).  Năm mươi lần mỗi giây, tia laser của Aeolus sẽ phóng vào bầu không khí của Trái đất một chùm hàng tỷ photon cực tím. Một vài trăm photon đó sẽ bật vào các phân tử và hạt không khí, sau đó phản xạ lại kính thiên văn chính đường kính 1,5 mét của tàu vũ trụ. Aeolus không chỉ đo lường khoảng cách đến sự phản xạ của các photon – cho biết độ cao của gió – mà còn cả những sự thay đổi rất nhỏ trong bước sóng được tạo ra khi các phân tử di chuyển đi và về.  Nhờ vào “Hiệu ứng Doppler” (Doppler shift) này, các nhà khoa học sẽ tính toán tốc độ và hướng của gió. “Việc này khó khăn hơn nhiều so với việc chỉ đo tín hiệu quay trở lại”, Oliver Reitebuch, một nhà vật lý khí quyển tại Trung tâm vũ trụ Đức ở Oberpfaffenhofen cho biết. Ông là người điều hành các chuyến bay thử nghiệm công nghệ của Aeolus. Ví dụ, thông tin sẽ cho phép các nhà khoa học theo dõi các vận tốc gió khác nhau ở các độ cao khác nhau trong khí quyển. Đây là thông tin quan trọng để họ hiểu về các cơn bão đang hình thành.  Dữ liệu của Aeolus sẽ được đưa vào dự đoán thời tiết số, trong đó các dịch vụ thời tiết quốc gia kết hợp các điều kiện khí quyển như nhiệt độ, áp suất và độ ẩm để tạo dự báo cho những ngày tới. Không kết hợp điều kiện gió có thể dẫn đến các lỗi lớn: trong một nghiên cứu, ECMWF đã phân tích một trận mưa bão ở châu Âu vào tháng 3/2014 và nhận thấy rằng, nếu chúng ta có dữ liệu tốt hơn về gió trên Thái Bình Dương ngày hôm trước sẽ dự đoán được chính xác hơn những cơn mưa lớn.  Nếu Aeolus phóng thành công, bộ điều khiển nhiệm vụ có kế hoạch bật hệ thống laser vào tháng 9. Cuối tháng 1 năm 2019 sẽ có đợt dữ liệu đầu tiên và dữ liệu sẽ được đưa vào hệ thống dự báo vào tháng 4. Nhiệm vụ có tuổi thọ là ba năm. Nhưng nếu công nghệ của Aeolus được chứng tỏ là ổn định, nó có thể mở đường cho việc lập các bản đồ gió vệ tinh trong tương lai.  Hoàng Nam lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-05976-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh lượng tử của Trung Quốc đạt được “tác động ma quỷ” ở khoảng cách kỷ lục      Một nhóm các nhà vật lý Trung Quốc cho biết họ đã gửi được các hạt lượng tử trong trạng thái rối từ vệ tinh tới các trạm mặt đất cách xa 1200 km, phá vỡ kỷ lục thế giới trước đó. Kết quả này là một bước tiến đáng kể để đạt tới truyền thông siêu an toàn và, cuối cùng, là mạng không gian internet lượng tử 1.      Thomas Jennewein, một nhà vật lý của Đại học Waterloo ở Canada nói: “Họ bắt đầu với ý tưởng táo bạo này và đã làm được. Đó là một thành tựu to lớn”.  Rối lượng tử là một trạng thái đặc biệt khi các đối tượng vật lý cùng một lúc ở trong các trạng thái khác nhau 2. Các nhà vật lý đã tạo được trạng thái rối giữa các điện tử, các photon, … cũng như giữa các đối tượng lớn hơn như các mạch điện siêu dẫn. Về lý thuyết, ngay cả khi các đối tượng ở trong trạng thái rối bị tách ra, thì sự rối của chúng vẫn duy trì cho đến khi một trong số các đối tượng đó được đo. Phép đo đó ngay lập tức xác định trạng thái của các đối tượng còn lại, cho dù chúng ở vị trí nào trong không gian. Tính chất phản trực giác như thế đã khiến Albert Einstein phải chế giễu nó như là “tác động ma quỷ bất kể khoảng cách.”  Từ những năm 1970, các nhà vật lý đã bắt đầu kiểm tra sự hiện hữu của ‘tác động ma quỷ’ nói trên với khoảng cách ngày càng tăng. Năm 2015 một thí nghiệm phức tạp, bao gồm đo các điện tử đã được làm rối với nhau nhưng bị tách ra xa một khoảng cách 1.3 km, đã một lần nữa cho thấy ‘tác động ma quỷ’ là có thật. Không chỉ là các kết quả có ý nghĩa khoa học cơ bản, các thí nghiệm như vậy mở ra khả năng truyền thông an toàn, không thể bị hack. Các chuỗi photon rối được chia sẻ giữa các địa điểm cách xa nhau có thể tạo thành “các chìa khóa lượng tử” 3 phục vụ truyền thông bảo mật tuyệt đối, vì bất kỳ hành vi nghe lén nào đều gây ra nhiễu và sẽ bị phát hiện. Tuy nhiên, độ rối giữa các photon bị suy giảm nhanh khi chúng truyền qua không khí hoặc trong các sợi quang. Cho đến nay, khoảng cách xa nhất có thể thiết lập một chìa khóa lượng tử chỉ là vài trăm km. Sử dụng các “bộ lặp lượng tử” 4 cho phép chuyển thông tin lượng tử từng đoạn ngắn mà không làm giảm đáng kể độ rối nhưng phương pháp này vẫn còn chưa hoàn thiện. Nhiều người đã mơ ước tới việc sử dụng vệ tinh để gửi thông tin lượng tử qua khoảng không của vũ trụ (ở đó mật độ không khí loãng gần như là chân không). Fernández Mármol, nhà vật lý thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Tây Ban Nha ở Madrid nói: “Một khi các vệ tinh phân phối tín hiệu lượng tử của bạn trên toàn cầu,bạn đã vượt qua tất cả các vấn đề về mất mát thông tin khi truyền theo các quang sợi”.  Jian-Wei Pan từ Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ở Thượng Hải đã có cơ hội thử nghiệm ý tưởng này khi vệ tinh Micius (tên gọi đặt theo tên của một triết gia cổ đại Trung Hoa) được phóng lên không gian vào tháng 8 năm 2016. Vệ tinh này là nền tảng của các thí nghiệm lượng tử trị giá 100 triệu USD theochương trình Quy mô Vũ trụ. Như một sứ mệnh, Trung Quốc muốn trở thành một sức mạnh khoa học vũ trụ ngang hàng với Mỹ và Châu Âu. Trong thí nghiệm đầu tiên một chùm laser được bắn vào một tinh thể có thể thay đổi ánh sáng đặt sẵn trên vệ tinh. Tinh thể này phát ra các cặp photon rối sao cho các hướng phân cực của chúng luôn ngược nhau khi một trong hai photon của một cặp được đo. Mỗi cặp photon đều được tách ra, một photon được gửi tới Delingha còn photon kia tới Lijiang, hai nơi cách nhau 1200 km. Cả Delingha và Lijiang đều ở trên núi Tây Tạng, nơi mật độ không khí rất thấp. Nhóm nghiên cứu đã đo đồng thời hơn 1000 cặp photon và nhận thấy các photon có hướng phân cực ngược nhau thường xuyên hơn nhiều so với tính toán dựa trên sự ngẫu nhiên, do đó xác lập kỷ lục về khoảng cách mà ‘tác động ma quỷ’ hiện hữu. Trở ngại lớn phải vượt qua là việc giữ tiêu điểm của các chùm photon tại các trạm mặt đất khi vệ tinh bay nhanh trên quỹ đạo không gian với tốc độ gần 8 km/giây.  Nhà vật lý tại Đại học Quốc gia Singapore, Alexander Ling, cho biết: “Đó là một nhiệm vụ đầy thách thức, rất đáng khích lệ.” Nhưng Ling lưu ý rằng nhóm của Pan chỉ mới xử lý được khoảng một trong mỗi 6 triệu photon gửi ra từ vệ tinh – tuy tốt hơn hẳn so với các thí nghiệm trên mặt đất nhưng vẫn còn quá tồi đối với truyền thông lượng tử thực tế. Pan đang đợi Trung tâm Khoa học Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc phóng thêm một số vệ tinh mới với những chùm sáng mạnh hơn để có thể được tiến hành đo ngay cả ban ngày (Micius chỉ hoạt động vào ban đêm). “Trong 5 năm tới, chúng tôi dự định sẽ phóng một số vệ tinh lượng tử tân tiến hơn”, Pannói.  Trong khi chờ đợi, Pan có kế hoạch sử dụng Micius để phân phối chìa khóa lượng tử cho các trạm mặt đất của Trung Quốc, điều đòi hỏi các chuỗi photon phải dài hơn và phải bổ sung một số bước kỹ thuật. Tiếp tới, Pan muốn tiến hành phân phối chìa khóa lượng tử liên lục địa giữa các trạm ở Trung Quốc và Áo, điều đòi hỏi phải giữ trên vệ tinh một photon của mỗi cặp photon rối cho tới khi trạm mặt đất của Áo xuất hiện trong tầm nhìn của vệ tinh. Ông cũng dự định thực hiện viễn chuyển trạng thái lượng tử 5– một kỹ thuật chuyển thông tin lượng tử mà không di chuyển đối tượng mang thông tin đó – từ một đài quan sát thứ ba ở Tây Tạng tới vệ tinh.  Các quốc gia khác cũng đang hướng tới các thí nghiệm lượng tử trong vũ trụ. Ling đang hợp tác với các nhà vật lý ở Úc để gửi thông tin lượng tử giữa hai vệ tinh, và Cơ quan Vũ trụ Canada vừa thông báo sẽ tài trợ cho một vệ tinh lượng tử nhỏ. Các nhóm ở châu Âu và Mỹ cũng đề xuất đưa các công cụ/thiết bị lượng tử lên Trạm Vũ trụ Quốc tế. Một trong các mục tiêu là kiểm tra xem rối lượng tử có bị ảnh hưởng không bởi một trường hấp dẫn thay đổi, bằng cách so sánh hai photon của  cùng một trạng thái rối, một trong môi trường hấp dẫn yếu hơn của quỹ đạo và một trên mặt đất. Anton Zeilinger, nhà vật lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Áo ở Vienna, nói: “Vẫn còn chưa có nhiều thí nghiệm kiểm tra mối liên hệ giữa hấp dẫn và vật lý lượng tử.”Vấn đề không chỉ là thiết lập một kỷ lục về khoảng cách: Một mạng lưới vệ tinh trong tương lai có thể kết nối các máy tính lượng tử đặt tại các phòng thí nghiệm mặt đất trên toàn thế giới. Zeilinger, người đang thúc đẩy Cơ quan Vũ trụ châu Âu phóng vệ tinh lượng tử lên quỹ đạo, nói: “Trung Quốc đang đưa ra những quyết định đúng đắn. Cá nhân tôi tin rằng Internet của tương lai sẽ dựa trên những nguyên lý lượng tử này.”  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/06/china-s-quantum-satellite-achieves-spooky-action-record-distance  ———————————————–  1.https://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_network  2. https://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_entanglement  3 https://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_key_distribution  4. http://www.cqc2t.org/research/quantumrepeater  5. https://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_teleportation    Author                Nguyễn Bá Ân        
__label__tiasang Vệ tinh là trở ngại lớn đối với các đài quan sát thiên văn      Sau 3 năm, kể từ khi SpaceX phóng loạt vệ tinh kết nối Internet Starlink đầu tiên, khiến các nhà thiên văn học lo ngại về những vệt sáng mà vệ tinh để lại trong các bức ảnh chụp bầu trời đêm, đến nay đã có hơn 2.300 vệ tinh Starlink khác được phóng, chiếm gần một nửa số vệ tinh đang hoạt động.    Giới khoa học đã đạt được một số tiến bộ trong việc đối phó với tình trạng này. Ví dụ, trong vài ngày tới, Liên minh Thiên văn Quốc tế (IAU) sẽ ra mắt một trang web bao gồm các công cụ cho phép các nhà thiên văn học dự đoán vị trí của các vệ tinh để họ có thể hướng thiết bị của mình sang chỗ khác.        Nhưng bằng chứng mới cho thấy đám vệ tinh siêu đông này vẫn là trở ngại lớn đối với các đài quan sát thiên văn và các thiết bị theo dõi bầu trời trên toàn cầu. Trong khi các công ty vệ tinh chưa tìm ra giải pháp, hàng chục nghìn vệ tinh mới có thể được phóng trong vài năm tới. “Hiện tại, khoa học của chúng tôi vẫn ổn, nhưng đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ bỏ lỡ một khám phá,” nhà thiên văn học Meredith Rawls tại Đại học Washington, nói.    Một nghiên cứu gần đây cho thấy các đám vệ tinh trong tương lai sẽ được nhìn thấy rõ nhất vào đêm hè ở vĩ độ khoảng 50 Nam và 50 Bắc, nơi có nhiều cơ sở thiên văn của Châu Âu và Canada. Theo nghiên cứu, nếu SpaceX và các công ty khác phóng đủ 65.000 vệ tinh theo dự kiến, các chấm sáng sẽ xuất hiện trên bầu trời suốt đêm ở các vĩ độ đó vào hạ chí. Trong những khoảng thời gian gần giờ mặt trời mọc và lặn, cứ 14 điểm sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường thì sẽ có 1 điểm là vệ tinh.    “Tình hình thực sự khá kinh hoàng,” nhà thiên văn học Samantha Lawler tại Đại học Regina ở Canada nói.    Các đài quan sát thiên văn nghiên cứu những khoảng bầu trời rộng, thay vì tập trung vào các thiên thể riêng lẻ, sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Chẳng hạn đài quan sát Zwicky Transient Facility (ZTF), California, cho biết các các vệ tinh để lại vệt sáng trong 18% số hình ảnh được chụp vào các buổi chạng vạng trong tháng 8/20213; nhưng đến tháng 4/2022, con số này tăng lên 20-25%.    Số vệ tinh ngày càng tăng cũng có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực thiên văn vô tuyến và làm tăng số các mảnh vỡ không gian. Ngoài ra, còn có các tác động khác chi phối cuộc sống trên toàn cầu. Chẳng hạn, sự hiện diện của các vệ tinh tạo ra ánh sáng nền trên bầu trời và làm mất phương hướng của các loài động vật điều hướng dựa vào thiên văn. Các vệt sáng vệ tinh cũng có thể can thiệp vào hệ thống tri thức của con người, như hệ thống tri thức của một số cộng đồng dựa vào bầu trời để đánh dấu các sự kiện quan trọng trong năm.    Một số nhà khai thác vệ tinh đang tìm cách giảm thiểu những tác động đó. Cụ thể, SpaceX đã thử nghiệm làm giảm độ sáng Starlink bằng cách lắp tấm che. Nhưng tấm che đã bị loại khỏi thế hệ Starlinks mới nhất, được phóng từ tháng 9/2021, bởi vì các vệ tinh đó sử dụng laser thay vì radio để liên lạc với nhau, và các tấm che cản trở liên lạc này. SpaceX đang thử nghiệm các biện pháp khác, như miếng dán hoặc các vật liệu phản chiếu, để hướng ánh sáng ra khỏi Trái đất nhưng vẫn chưa rõ sẽ hiệu quả đến đâu.    Trong khi đó, OneWeb đã phóng 428 trong tổng số 648 vệ tinh dự kiến. Vệ tinh OneWeb bay cao hơn nhiều so với Starlink – 1.200 km so với 550 km. Các vệ tinh này thường mờ hơn Starlinks đơn giản vì chúng ở xa hơn, nhưng độ sáng có biên độ dao động khá lớn, tùy thuộc vào cách chúng bắt và phản chiếu ánh sáng Mặt trời; và khoảng một nửa vẫn sáng hơn giới hạn “an toàn cho thiên văn học”. OneWeb cho biết họ cam kết giảm thiểu dấu vết của các vệ tinh; và đang sử dụng kính thiên văn ở Sicily, Ý, để đo độ sáng của chúng và thiết kế các vệ tinh tối hơn trong tương lai dựa trên thông tin đó.    Ngô Thành      Author                .        
__label__tiasang Vệ tinh Nhật vào quĩ đạo Mặt trăng      Nhật Bản lần đầu tiên đưa thành công tổ hợp vệ tinh thăm dò vào quĩ đạo Mặt trăng nhằm thực hiện sứ mệnh nghiên cứu có qui mô lớn.      Sau những chuyển động phức tạp được thực hiện, tổ hợp vệ tinh thăm dò Mặt trăng mang tên Kaguya (Hằng Nga) đã được đưa vào quĩ đạo bay cách bề mặt Mặt trăng 100km để thu thập dữ liệu nghiên cứu về nguồn gốc cũng như quá trình tiến hóa của Mặt trăng. Người quản lý dự án, ông Yoshisada Takizawa, khẳng định mọi hoạt động của tổ hợp này đều bình thường. Thành công này đã giúp Nhật đi trước Trung Quốc và Ấn Độ trong cuộc chạy đua chinh phục Mặt trăng ngày càng nóng bỏng tại châu Á.   Nguyễn Quân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh sao Hỏa đầu tiên của Ấn Độ đi vào quỹ đạo      Ngày 24/9, tàu thăm dò sao Hỏa đầu tiên của  Ấn Độ có tên Mangalyaan sau khi bay hết chặng đường marathon dài hơn 670  triệu km trong 300 ngày, cuối cùng đã tới quỹ đạo sao Hỏa và trở thành  vệ tinh của hành tinh màu đỏ này.    Đây là một thắng lợi rực rỡ của khoa học và công nghệ vũ trụ Ấn Độ. Từ nay nước này được xếp ngang hàng với các đại gia vũ trụ như Nga, Mỹ, EU.   Năm 2008 Ấn Độ đã hoàn thành chuyến bay đầu tiên lên Mặt Trăng (tàu Chandrayaan-1), lần đầu lấy được chứng cớ trên đó có tồn tại nước. Lên sao Hỏa khó hơn lên Mặt Trăng rất nhiều; sứ mệnh thăm dò sao Hỏa của tàu Mangalyaan là bước nhảy vọt lớn khiến toàn dân Ấn Độ cũng như toàn thế giới phấn khởi hết lời ca ngợi.   Với thành công của Mangalyaan, Tổ chức Nghiên cứu Không gian Ấn Độ ISRO đã lập mấy kỷ lục trong lịch sử chinh phục vũ trụ của loài người:   – Thành công ngay trong lần đầu tiên phóng tàu vũ trụ lên sao Hỏa – chưa quốc gia nào làm được điều này [1];   – Thực hiện dự án thăm dò sao Hỏa với chi phí thấp nhất: chỉ có 74 triệu USD [2]; xét theo tiêu chuẩn của phương Tây là “rẻ đến mức làm mọi người sửng sốt”.  – Là nước châu Á đầu tiên đưa được tàu vũ trụ tới hành tinh Đỏ.  Trước ngày phóng tàu Mangalyaan, loài người đã thám hiểm sao Hỏa 51 lần nhưng chỉ 21 lần thành công (15 lần của Mỹ); các lần thám hiểm trong 20 năm gần đây của Nga, Nhật, Anh, Trung Quốc đều thất bại, chỉ có Mỹ và EU thành công. Cả Nga và Mỹ đều thất bại trong các lần phóng tàu thăm dò sao Hỏa đầu tiên. Tàu thăm dò sao Hỏa của Trung Quốc có tên Yinghuo-1 ghép vào tàu thăm dò sao Hỏa Phobos-Grunt của Nga được phóng vào tháng 11/2011 từ sân bay vũ trụ Baikonur nhưng do trục trặc nên cả hai tàu đều rơi xuống bầu khí quyển và cháy thành tro. Tàu thăm dò sao Hỏa có tên Nozomi của Nhật phóng năm 1998 cũng thất bại vì giữa đường bị hết nhiên liệu.   Mangalyaan nặng 1.350 kg, to tương đương chiếc ô tô con, mang theo bộ truyền cảm để phát hiện khí methane trong khí quyển, máy ảnh màu, phổ kế để đo vẽ bề mặt sao Hỏa và thăm dò khoáng sản, máy phân tích khí quyển. Mangalyaan sẽ nghiên cứu và vẽ bản đồ bề mặt sao Hỏa, đặc trưng khoáng sản. Thời hạn hoạt động của nó là sáu tháng. Việc tìm kiếm dấu vết khí methane nhằm tìm chứng cớ trên sao Hỏa đã hoặc đang tồn tại sự sống dưới dạng các vi sinh vật ở dưới lớp đất bề mặt. Đây là một trong những đề tài nghiên cứu cấp thiết nhất về sao Hỏa.  Mangalyaan được ISRO phóng lên ngày 5/11/2013 từ Trung tâm Vũ trụ Satish Dhawan ở Sriharikota nằm trên bờ biển vịnh Bengal, với dự kiến sẽ tới đích ngày 24/9/2014. Do tên lửa đẩy yếu, chưa đạt vận tốc vũ trụ cấp hai (11,2 km/s), tức không thoát khỏi sức hút của Trái Đất, nên Mangalyaan phải tạm bay 20~25 ngày trên quỹ đạo e-lip gần trái đất để tăng tốc dần qua sáu lần thao tác nâng cao quỹ đạo (orbit-raising maneuvers), cuối cùng lên tới quỹ đạo bay đi sao Hỏa. Mỗi lần tăng tốc đều phải khởi động động cơ đốt bằng nhiên liệu mang theo tàu.  Sáng 24/9, từ trung tâm điều khiển tại thành phố Bangalore ở miền Nam, ISRO phát lệnh điểm hỏa động cơ hãm trên tàu Mangalyaan. Động cơ hãm đã chạy trong 24 phút, hoàn tất việc giảm tốc độ con tàu xuống tới mức vừa đủ để nó được trọng lực của sao Hỏa hút vào quỹ đạo của thiên thể này, sau đó Mangalyaan sẽ bay vòng quanh hành tinh Đỏ như một vệ tinh nhân tạo, với điểm thấp nhất là 366 km và tiến hành các hoạt động thăm dò. Thao tác điều chỉnh tốc độ này rất khó. Nếu tốc độ không giảm thì con tàu có thể vượt qua sao Hỏa rồi bay mất hút vào không gian sâu thẳm; nhưng nếu tốc độ giảm quá nhiều thì con tàu sẽ đâm xuống bề mặt sao Hỏa.  Giờ đây ISRO có thể tự hào là chuyến bay của Mangalyaan tiến hành tương đối suôn sẻ, mọi việc diễn ra đúng như kế hoạch ban đầu.  Dự án Mangalyaan là kết quả lao động của hơn 500 nhà khoa học và kỹ sư Ấn Độ, họ đã hoàn thành con tàu này trong thời gian ngắn chưa từng thấy – 15 tháng, với chi phí còn rẻ hơn chi phí Hollywood từng dùng làm bộ phim Gravity. Toàn bộ thiết bị khoa học mang trên Mangalyaan chỉ nặng khoảng 15 kg. Tất cả những điều đó cho thấy sự nỗ lực cao độ của các nhà khoa học, kỹ sư và công nhân Ấn Độ cũng như trình độ xuất sắc về công nghệ và tổ chức của họ.  Có mặt tại trung tâm điều khiển trong giờ phút Mangalyaan tới sao Hỏa, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi xúc động nói: nước ông đã “làm được điều gần như không thể… Chúng ta đã thắng lợi ”.  Một số nhà bình luận cho rằng Mangalyaan còn gửi một thông điệp địa chính trị mạnh mẽ đến đối thủ của Ấn Độ trong khu vực là Trung Quốc – quốc gia đang tiến hành một kế hoạch ba bước thăm dò Mặt trăng với quy mô lớn. Một số nhà khoa học Trung Quốc từng phê phán việc nước họ chưa tích cực nghiên cứu thăm dò sao Hỏa. Tuy Trung Quốc có lực lượng nghiên cứu vũ trụ rất mạnh và kinh phí nghiên cứu lớn hơn Ấn Độ nhưng rõ ràng dù có cố gắng thế nào thì trong việc thăm dò sao Hỏa họ đã đi sau Ấn Độ ít nhất vài năm, – bởi lẽ phải chờ hơn hai năm mới có một dịp lên sao Hỏa (cứ 25,7 tháng mới xuất hiện một lần sao Hỏa ở gần Trái Đất nhất), mà năm 2011 tàu Yinghuo-1 đã thất bại, năm 2013 đã qua, sớm nhất là năm 2015 Trung Quốc mới có thể hy vọng phóng tàu thăm dò sao Hỏa.  Tổng thống Obama sau khi nhậm chức đã chuyển hướng nghiên cứu vũ trụ của NASA, tập trung sức vào việc thăm dò sao Hỏa. Theo tìm hiểu, có lẽ vì sao Hỏa là thiên thể gần nhất có thể có môi trường thích hợp để con người sinh sống được. Obama từng nói phát hiện sự sống trên sao Hỏa có thể là một trong những phát hiện quan trọng nhất của loài người.  —  Nguyễn Hải Hoành tổng hợp theo các tài liệu nước ngoài  [1] Tàu Mariner 4 – tàu thăm dò sao Hỏa đầu  tiên của Mỹ (phóng 28/11/1964) không tới được quỹ đạo sao Hỏa mà chỉ  lướt qua nó ở cự ly 6000 dặm, chụp được 22 bức ảnh rồi mất tích. Hai tàu  Mariner 6 và 7 cũng vậy. Mãi đến Mariner 9 (phóng 30/5/1971) mới tới  được quỹ đạo sao Hỏa.    [2]  Chia cho mỗi đầu người Ấn Độ là 0,07 USD. So sánh: dự án tàu Maven của  Mỹ trị giá 671 triệu USD (nhưng Maven nặng 2450 kg, thực hiện nhiều  nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hơn Mangalyaan).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vệ tinh tư nhân cải thiện dự báo thời tiết      Sau vụ phóng tên lửa thành công từ Ấn Độ vào ngày 11/12, một khởi đầu mới đã được mở ra cho một nhóm vệ tinh quan sát Trái đất.      Trước đó, một nhóm gồm hơn 80 vệ tinh nhỏ của startup Spire Global vẫn hoạt động để thu các tín hiệu truyền qua lại trong khí quyển từ các vệ tinh GPS để đo các thuộc tính như nhiệt độ và độ ẩm. Giờ đây, hai vệ tinh nhỏ mới cũng của Spire vừa được “quá giang” trên tên lửa của Ấn Độ sẽ thu thập tín hiệu GPS sau khi để thăm dò các điều kiện nhiệt độ và độ ẩm trên bề mặt này.  Không giống như vi sóng – được sử dụng trong vệ tinh khí tượng truyền thống, các bước sóng dài của GPS có thể đi xuyên qua các đám mây và mưa lớn giúp đo sức gió của bão và lốc xoáy. Tín hiệu phản xạ cũng có thể cung cấp thông tin về lớp phủ băng biển và đặc biệt là độ ẩm của đất – có thể dự báo hạn hán và bão. “Chúng tôi đang cố gắng tạo ra bộ dữ liệu có giá trị lâu dài”, Dallas Masters, giám đốc đài quan sát Trái đất của Spire, người đã tuyên bố khởi động chương trình phóng vệ tinh tại một cuộc họp của Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ, cho biết.  Trong vài năm qua, Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu Cyclone (CYGNSS) – một nhóm gồm 8 vệ tinh nhỏ của NASA, cho thấy có thể thu được phản xạ GPS từ không gian để cung cấp các phép đo về tốc độ gió giúp cải thiện khả năng dự báo bão. Hệ thống cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đo độ ẩm của đất, đến mức một nửa nhóm các nhà khoa học của dự án hiện đang tập trung vào chủ đề này.  Hiện không có vệ tinh hoạt động nào cung cấp các phép đo độ ẩm của đất để dự báo thời tiết. Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) áp dụng dữ liệu CYGNSS vào dự báo nhưng lại gặp phải vướng mắc ở các yêu cầu kỹ thuật, Chris Ruf, nhà nghiên cứu chính của CYGNSS, và là một nhà khoa học khí quyển tại ĐH Michigan ở Ann Arbor, cho biết. Có vẻ như với việc thuê một số kỹ sư từ CYGNSS, Spire sẽ vượt qua NOAA và tìm ra phương án áp dụng dữ liệu vào việc dự báo, Ruf nói.  Các vệ tinh nhỏ mà Spire mới cho “quá giang” theo tên lửa Ấn Độ trông giống như những khối đá nguyên khối nhỏ 5 kg. Spire sẽ phóng một phiên bản thứ hai của vệ tinh phản xạ lên quỹ đạo cực vào năm tới và mục tiêu cuối cùng của họ là gửi hơn ba chục vệ tinh vào quỹ đạo.  Spire là một trong số ít các công ty đang tìm cách tạo ra một phân khúc thích hợp trong việc cung cấp dữ liệu vệ tinh cho người dùng tư nhân, cơ quan chính phủ và các nhà khoa học, đặc biệt là cải thiện dự báo thời tiết. Cả NASA và NOAA hiện đang nghiên cứu dữ liệu từ các vệ tinh hiện có của Spire như một phần của các dự án thí điểm; Masters hy vọng giai hoạt động tiếp theo, NOAA sẽ mở rộng dự án để áp dụng thêm dữ liệu phản xạ GPS.  Có thể làm được rất nhiều việc với dữ liệu gió và độ ẩm đất từ một đội vệ tinh như vậy, Eric Maloney, một nhà khoa học khí quyển tại ĐH bang Colorado ở Fort Collins cho biết. Các nhà khoa học có thể cải thiện đáng kể các ước tính về cách gió “tiếp nhiên liệu” cho dao động Madden – Julian, một cụm bão lớn hình thành định kỳ ở Ấn Độ Dương và chạy dọc quanh xích đạo, ảnh hưởng đến thời tiết toàn cầu.  Tuy nhiên Spire và các công ty tương tự tiếp tục phải đối mặt với những câu hỏi hóc búa về mô hình kinh doanh, đặc biệt là trong trường hợp nếu chính phủ phải dựa vào dữ liệu của họ. Thông thường, dữ liệu khoa học liên bang phải được cung cấp miễn phí cho công chúng sử dụng, nhưng việc chia sẻ như vậy có thể hủy hoại chính những công ty này. Các nhà khoa học sẽ họp tại Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia ở Washington để thảo luận về vấn đề này, Ruf nói, nhưng để giải quyết được nó thì phải mất rất nhiều thời gian.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/12/microsatellites-will-capture-gps-reflections-sharpen-weather-forecasts          Author                Quản trị        
__label__tiasang Về vấn đề tài trợ nghiên cứu cơ bản      Về vấn đề tài trợ NCCB (nghiên cứu cơ bản), vì đã có một số hiêu lầm nên tôi xin nói rõ vài ý kiến đã phát biểu trong buổi tọa đàm ở Bộ KH &amp; CN:    1.  Chủ trương coi trọng các công bố quốc tế làm cơ sở xét duyệt và tài trợ cho các đề tài NCCB là một bước tiến lớn về quản lý nghiên cứu khoa học. Tuy vậy tôi vẫn mong rằng dần dần sẽ tiến đến như ở các nước phát triển, tiền lương trả cho người làm khoa học đủ sống đàng hoàng phù hợp với năng lực thực tế của họ, để họ không phải kiếm thêm thu nhập khác, còn kinh phí nghiên cứu khoa học chỉ được dùng để chi cho công việc nghiên cứu (đi dự hội nghị, hội thảo, trả tiền đăng công trình khoa học trên một số tạp chí (1), mời đồng nghiệp đến hợp tác nghiên cứu, hỗ trợ nghiên cứu sinh, v.v.), chứ không dùng để tăng thu nhập cá nhân. Theo tôi biết, ở châu Âu, Úc và Nhật đều như vậy(2); ở Mỹ nói chung cũng tương tự, nhưng do GS, PGS chỉ được trả lương 9 tháng trong một năm nên trong 3 tháng không lương họ có thể được trả công bằng một phần kinh phí  nghiên cứu (nhưng khoản này phải được dự trù trong bản đăng ký xin tài trợ, chứ không được tùy tiện).  Trong buổi tọa đàm ở Bộ KH & CN, GS Ngô Việt Trung khi so sánh giữa châu Âu và Mỹ là với ý đó, chứ không phải để khẳng định việc dùng kinh phí bù lương là phổ biến trên thế giới, như đã tường thuật  trên TS, số 12, 20/6/2008.  2. Trong hiện tình của ta, ai cũng thấy việc dùng một phần kinh phí đề tài để tăng thêm thu nhập cá nhân là hợp lý. Để cho việc xét duyệt đề tài nghiêm túc, dự thảo của Bộ KH & CN có đưa ra một số tiêu chuẩn, như chủ nhiệm  đề tài phải có công trình đăng trên các tạp chí ISI trong 5 năm gần đây nhất,  thành viên các hội đồng xét duyệt, chuyên gia thẩm định, cũng phải có thành tích nghiên cứu xuất sắc 5 năm gần đây nhất, v.v. Tôi đánh giá cao ý tưởng nhưng thật tình tôi không dám tin tưởng lắm ở tính khả thi của nó: lấy đâu ra đủ chuyên gia trong nước đạt các tiêu chuẩn ấy, cho nên để tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi (ứng viên lại ngồi trong hội đồng), ắt phải nhờ thêm chuyên gia nước ngoài, điều này theo kinh nghiệm tìm referee quốc tế cho các tạp chí trong nước sẽ công phu và mất thì giờ, không chắc các cơ quan quản lý của ta đủ năng lực để làm tốt. Trong hoàn cảnh tiêu cực tràn lan như hiện nay, dù quy trình lựa chọn chặt chẽ đến đâu cũng chưa ai dám tin là có thể thực hiện thật sự dân chủ, minh bạch, suôn sẻ. Vả lại, như tôi đã nhiều lần phát biểu, khâu chính là xét duyệt trước khi cấp kinh phí, còn nghiệm thu ngay khi làm xong không mấy ý nghĩa lại dễ sinh ra hình thức (làm sao đảm bảo chỉ trong hai năm vừa làm xong vừa đăng được một công trình trên tạp chí quốc tế nghiêm chỉnh?). Trong khi đó, mục tiêu của ta trong vài năm tới là làm sao tăng được số công bố quốc tế tương xứng với đầu tư cho NCCB. Vì vậy tôi kiến nghị: nên chăng dành một quỹ riêng để thưởng cho các công bố quốc tế hằng năm, cứ mỗi bài đã đăng trên tạp chí quốc tế trong năm thì được thưởng một số tiền đích đáng (ví dụ từ 5 đến 10 nghìn USD, tùy loại, tùy ngành), bất kể tác giả có tham gia đề tài nào hay không. Muốn đủ tiền cho quỹ thưởng, cần tạm giữ các khoản tài trợ đề tài, ở mức hiện nay, để những bất cập và khiếm khuyết khác về xét duyệt (mà ta đành phải chấp nhận) sẽ không gây bất công đáng kể. Như thế sẽ đỡ được nhiều chuyện phức tạp về quản lý, mà giải pháp thưởng đơn giản, dễ làm, khách quan, sẽ là yếu tố chính bảo đảm đầu tư công bằng, hợp lý, hiệu quả. (Tất nhiên còn tồn tại vấn đề: giá trị thật của một công trình không thể chỉ tùy thuộc tạp chí đã đăng nó, điều nay sẽ tìm cách bổ khuyết bằng đánh giá định kỳ từng 3 năm một). Sau 5-3 năm làm như vậy thu nhập thực tế của người làm khoa học phù hợp hơn với  năng lực chuyên môn mỗi người, khi đó có thể tiến đến sắp xếp lại lương cho phù hợp thu nhập thực tế, và dần dần chuyển qua cách quản lý theo thông lệ ở các nước, như đã nói rõ ở phần 1.  ————-  (1) Một số tạp chí quốc tế lớn yêu cầu  (nhưng không bắt buộc) tác giả các bài được nhận đăng (hoặc cơ quan nơi tác giả làm việc) trả một số tiền để đóng góp vào các chi phí ấn loát và xuất bản (chẳng hạn, đối với  tạp chí SIAMOPT hiện nay là 78 USD một trang in)  (2) Xem bài “Quản lý đề tài nghiên cứu ở Nhật” , TS số 13, 05/7/2008.   Hoàng Tụy       Author                Quản trị        
__label__tiasang Verena Mohaupt: Người tuần tra vùng cực      Trong một nhiệm vụ chưa từng thấy ở Bắc Cực, người phụ trách hậu cần này đã đảm bảo an toàn cho các nhà khoa học trước những con gấu, sự lạnh giá khắc nghiệt và chính bản thân họ.      Không còn đường nào rút lui khi họ phát hiện ra con gấu Bắc Cực. Verena Mohaupt và một số đồng nghiệp của cô bị mắc kẹt trên một tảng băng trôi trong khi con gấu nhìn chằm chằm về phía họ và đánh hơi. Đó là một dấu hiệu nguy hiểm.  “Khi đó phải vận dụng mọi thứ”, Mohaupt cho biết, “và phải tập trung vào những gì quan trọng”. Trong khi người đồng nghiệp bắn pháo sáng lên trời như một phát súng cảnh báo, Mohaupt đã truyền tin qua sóng vô tuyến cho tàu nghiên cứu của họ cách đó vài km. May mắn thay, máy bay trực thăng từ con tàu đã nhanh chóng đến và Mohaupt không phải sử dụng đến khẩu súng trường trên vai.  Canh chừng gấu là một nhiệm vụ thường xuyên của Mohaupt, điều phối viên hậu cần trong nhiệm vụ kéo dài 1 năm có tên Đài quan sát nổi đa ngành nghiên cứu khí hậu Bắc Cực (MOSAiC) – cuộc thám hiểm nghiên cứu Bắc Cực lớn nhất trong lịch sử. Dự án bắt đầu vào cuối năm 2019, khi một tàu phá băng từ Viện Wegener Alfred (AWI) ở Bremerhaven, Đức di chuyển đến một tảng băng nổi ở Siberia, Bắc Cực và cố định tại chỗ. Trong năm tiếp theo, con tàu và đội ngũ luân phiên khoảng 300 nhà khoa học đã “trôi” cùng tảng băng và thu thập những dữ liệu chưa từng có về biến đổi khí hậu. Với sự dẫn đầu của nhà khoa học khí quyển Markus Rex ở AWI, đoàn thám hiểm đã thu thập những dữ liệu có thể giúp các nhà lập mô hình dự báo tốt hơn về việc hiện tượng ấm lên toàn cầu sẽ biến đổi khu vực này, cũng như phần còn lại của thế giới như thế nào trong những thập kỷ tới.  Trong nhiều tháng, đoàn thám hiểm đã hoạt động liên tục trong bóng tối trong khi gấu Bắc Cực lang thang gần đó, các cơn bão làm rung chuyển con tàu, tảng băng di chuyển và nứt vỡ. Sau đó, khi Mặt trời quay lại, tảng băng bắt đầu tan chảy, tạo ra mối nguy hiểm và cơn ác mộng với các nhà nghiên cứu, khi phải bảo vệ các thiết bị để tránh bị chìm.  Với trách nhiệm đảm bảo an ninh cho cả đoàn, Mohaupt đã thiết kế một khóa đào tạo mở rộng cho các thành viên để học cách phòng tránh các hiểm họa ở Bắc Cực. Họ đã nhảy vào một vịnh hẹp ở Na Uy trong bộ quần áo sinh tồn và trèo ra khỏi vùng nước lạnh giá chỉ bằng cuốc phá băng. họ đã học cách thoát khỏi một chiếc trực thăng bị rơi. Và họ đã bàn luận về những ảnh hưởng tâm lý khi xa nhà. Mohaupt mang theo dụng cụ đan lát, một chiếc đàn accordion và thảm tập yoga để giữ tinh thần ổn định – mặc dù cô thấy mình đã chuẩn bị tốt cho việc bị cô lập, trước đây Mohaupt đã thực hiện hai nhiệm vụ kéo dài 18 tháng với tư cách quản lý trạm cho một cơ sở nghiên cứu Pháp – Đức ở Svalbard ở Na Uy.  Mohaupt không có kế hoạch theo đuổi công việc hậu cần vùng cực, nhưng cô cho biết Bắc Cực luôn thu hút cô – ngay cả khi đang theo học ngành lý sinh học ở trường đại học. Nền tảng khoa học này đã giúp cô làm việc chặt chẽ với từng nhóm nghiên cứu để đảm bảo rằng họ có đủ trang thiết bị cần thiết cho những cuộc điều tra của mình. Đội hậu cần của Mohaupt cũng có các thành viên làm nhiệm vụ canh phòng gấu Bắc Cực trong lúc các nhà nghiên cứu ở ngoài mặt băng.  “Với nhiều người, khi một con gấu xuất hiện, suy nghĩ đầu tiên là ‘sợ quá – có một con gấu ngay chỗ kia’,” Matthew Shupe, một nhà khoa học khí quyển ở ĐH Colorado Boulder và Cục Quản lý Khí quyển và đại dương quốc gia (Hoa Kỳ), một trong những người dẫn đầu đoàn thám hiểu nhận xét. “Nhưng đội hậu cần đã can thiệp và xử lý tình huống đó trôi chảy đến mức tôi nghĩ rằng điều này đã góp phần tạo ra cảm giác an toàn cho toàn bộ nơi đó”.  Mối quan tâm lớn nhất của Mohaupt trong suốt nhiệm vụ là cái lạnh, và nhóm của cô đã phối hợp chặt chẽ với các nhà nghiên cứu để giữ họ khỏi nguy hiểm. Ngoài các khóa đào tạo ban đầu mà họ đem lại cho các nhà khoa học, Mohaupt và các đồng nghiệp luôn có thêm một phích trà hoặc chocolate nóng cho bất kỳ ai phải ra ngoài làm việc. Với tất cả các biện pháp phòng ngừa này, chỉ có một trường hợp bị bỏng lạnh trong nhiệm vụ kéo dài cả năm. “Họ ở đó để đảm bảo rằng chúng tôi luôn được bảo vệ”, Allison Fong, nhà sinh vật học ở AWI và một trong những người dẫn dắt nhóm nghiên cứu về hệ sinh thái trong nhiệm vụ MOSAiC cho biết: “Verena chắc chắn là nhà vô địch trong lĩnh vực này”.   Thanh An tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-03435-6/index.html  https://mosaic-expedition.org/profile/verena-mohaupt/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Verizon chuẩn bị chạy thử nghiệm mạng 5G      Verizon, nhà mạng không dây lớn nhất nước  Mỹ, vừa thông báo kế hoạch chạy thử nghiệm công nghệ mạng 5G trong năm  tới với tham vọng đưa mạng 5G vào sử dụng đại trà trong năm 2017, sớm  hơn ba năm so với mục tiêu của phần lớn các nhà mạng không dây khác.     Verizon cho biết công nghệ 5G của hãng sẽ có dung lượng cao gấp 50 lần so với mạng 4G hiện nay, đồng thời có thể xử lý nhiều thiết bị kết nối Internet hơn. Trong các cuộc thử nghiệm trước đó, tốc độ mạng 5G nhanh gấp 40 lần so với 4G. Với tốc độ này, người dùng có thể thưởng thức nhiều trải nghiệm tuyệt vời trên smartphone như xem video 3D “8K” (độ phân giải 7680 x 4320 pixel) hay tải một bộ phim 3D chỉ trong vòng sáu giây, trong khi với mạng 4G thì cần tới sáu phút.    Tuy vậy, khi mạng 5G được triển khai đại trà, tốc độ mạng cũng có thể chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố thực tế như chất lượng sóng, tình trạng nghẽn mạng, hay thậm chí là chất liệu nhà ở/ văn phòng nơi có sử dụng mạng 5G. Ngoài ra, cũng còn nhiều ý kiến cho rằng 5G sẽ chỉ là mạng bổ sung chứ chưa thay thế được cho mạng 4G bởi lẽ mạng 4G vẫn còn khoảng dự trữ tín hiệu (headroom) lớn, có thể sử dụng trong nhiều năm tới và hiện vẫn chưa có định nghĩa chính xác về mạng 5G. Hơn nữa, để sử dụng công nghệ 5G phải đáp ứng được một số đòi hỏi bất thường, chẳng hạn như phần lớn các cuộc thử nghiệm 5G đều được thực hiện trên sóng cao tần có tầm ngắn tới nỗi các nhà mạng phải lắp hàng ngàn các ô nhỏ ở các tòa nhà để phát tín hiệu sóng.     Trang Bùi lược dịch theo money.cnn.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vị cứu tinh thầm lặng của đại dương      Các nhà hải dương học người Italy khẳng định virus dưới đáy đại dương tạo nên cái gọi là “vòng tuần hoàn carbon” để duy trì cuộc sống của các sinh vật biển và làm chậm lại quá trình ấm lên toàn cầu.    Những sinh vật cực nhỏ ấy được gọi là prokaryote. Rất nhiều prokaryote bị nhiễm những loại virus có sẵn trong tự nhiên. Khi chết đi, những phần cơ thể giàu carbon của chúng bị phân hủy, chìm dần xuống đáy biển và trở thành thức ăn cho vi khuẩn. Ở độ sâu trên 1.000 m, prokaryote chiếm tới 90% tổng số thực vật. Quan hệ tương tác giữa virus và prokaryote dưới đáy đại dương diễn ra rất mạnh mẽ. Sự tương tác này giúp hệ sinh thái dưới đáy tồn tại độc lập mà không cần tới nguồn dưỡng chất từ mặt nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi hóa thạch: bằng chứng sớm của sự sống      Các nhà khoa học mới đây vừa phát hiện bằng chứng cho thấy vi sinh vật đã phát triển mạnh gần các miệng phun thủy nhiệt trên bề mặt Trái đất chỉ 300 triệu năm sau khi hành tinh của chúng ta hình thành. Đây là chứng cứ rõ ràng nhất cho đến nay về việc sự sống bắt đầu sớm hơn nhiều so với những gì con người tưởng.    Vi hóa thạch mà các nhà khoa học tìm thấy. Ảnh: UCL  Và nếu được xác nhận là đúng, phát hiện mới cũng chỉ ra rằng, các điều kiện cần thiết cho việc hình thành sự sống hóa ra tương đối cơ bản. “Nếu sự sống có thể xuất hiện sớm như vậy, chúng cũng có nhiều khả năng tồn tại trên các hành tinh khác”, Dominic Papineau (Đại học College London), trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết.  Năm năm trước, Papineau và đồng nghiệp thông báo: họ đã phát hiện ra vi hóa thạch trong đá trầm tích giàu sắt ở dải đá Nuvvuagittuq supracrustal belt tại Quebec, Canada. Theo nhóm nghiên cứu, những sợi mảnh nhỏ của oxit sắt haematit có thể đã được vi khuẩn sống xung quanh các miệng phun thủy nhiệt tạo ra – những loài đã sử dụng các phản ứng hóa học với sắt để thu năng lượng.  Sau khi xác định niên đại, các nhà khoa học nhận ra, những hòn đá này đã có ít nhất 3,75 tỷ năm tuổi, thậm chí có thể đã 4,28 tỷ năm tuổi – độ tuổi của những tảng đá núi lửa bao bọc chúng. Trước đó, những vi hóa thạch lâu đời nhất được tìm thấy có niên đại khoảng 3,46 tỷ năm và 3,7 tỷ năm, do đó có khả năng các mẫu vật mà các nhà nghiên cứu tìm được ở Canada đã trở thành bằng chứng lâu đời nhất về sự sống trên Trái đất.  Bên cạnh đó, các phân tích mới nhất về tảng đá này đã hé lộ một cấu trúc lớn và phức tạp với một thân chính và các nhánh song song dài gần 1 cm – đồng thời có hàng trăm hình cầu méo, hoặc hình elip, cùng với các ống và sợi mảnh. “Tôi rất kinh ngạc trước kích thước to lớn của cấu trúc phân nhánh này”, Papineau nói và cho biết thêm rằng, chúng có một số điểm tương đồng với các sợi do Mariprofundus ferrooxydans (một vi khuẩn mà ngày nay được tìm thấy trong môi trường biển sâu giàu sắt, đặc biệt là ở các miệng phun thủy nhiệt) tạo ra. “Nhưng mẫu của chúng tôi lớn và dày hơn nhiều,” ông nói. “Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã tìm thấy một cộng đồng vi sinh vật. Chúng đã phối hợp và nhau, tạo ra các sợi mảnh từ các nhóm tế bào, từ đó tạo thành một sợi haematit to và dày hơn”.  Nhóm nghiên cứu cũng xác định được các phụ phẩm hóa học khoáng hóa trong đá – một phát hiện cũng phù hợp với những vi sinh vật cổ đại sống nhờ sắt, lưu huỳnh và có thể cả carbon dioxide và ánh sáng, thông qua một hình thức quang hợp không có oxy.  Tổng hợp lại, những phát hiện mới đã cho thấy nhiều loại vi sinh vật có thể đã xuất hiện chỉ 300 triệu năm sau khi Trái đất hình thành. “Theo tôi, có căn cứ để nói rằng sự sống cũng có tuổi đời bằng với những tảng đá núi lửa 4,28 tỷ năm tuổi mà chúng sống trong đó”, Papineau nói. “Đây là phát hiện rất quan trọng bởi nó cho thấy sự sống chỉ mất rất ít thời gian để hình thành ở trên bề mặt của một hành tinh. Một thời gian ngắn sau khi trái đất sinh ra, vi sinh vật đã xuất hiện, ăn sắt và lưu huỳnh trong các miệng phun thủy nhiệt”.  Tuy nhiên, không phải ai cũng tin rằng cấu trúc của vi hóa thạch này có nguồn gốc sinh học. Mặc dù chúng có một số điểm tương đồng với các vi khuẩn cổ đại và hiện đại, song, “những điểm tương đồng này diễn ra trong môi trường không bị biến chất ở mức độ rất cao [một quá trình liên quan đến nhiệt độ và áp suất khắc nghiệt] của đá Nuvvuagittuq”, giáo sư Frances Westall, một chuyên gia về vi khuẩn hóa thạch cổ đại tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, cho biết. “Tôi lo ngại là cấu trúc song song ở các sợi vi hóa thạch không phải là đặc điểm của vi sinh vật mà chỉ là sản phẩm của sự biến chất”, bà chia sẻ.□  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2022/apr/13/microfossils-may-be-evidence-life-began-very-quickly-after-earth-formed    Author                .        
__label__tiasang Vi khuẩn biến đồng thành kháng sinh      Đồng với số lượng nhỏ là một dinh dưỡng thiết yếu cho các cơ thể sống nhưng cũng có thể trở nên độc hại. Các tế bào miễn dịch của người thường sử dụng đồng để chống lại các mầm bệnh xâm nhập. Một số vi sinh vật, ngược lại, đã tiến hóa theo những cách có thể tận dụng đồng và tích hợp nó vào trong các phân tử sinh học, như một cách để hấp thụ đồng làm dưỡng chất hoặc trung hòa các ảnh hưởng độc hại của nó.      Một trong những vi sinh vật đó là vi khuẩn sống trong đất Pseudomonas aeruginosa, vốn có thể là nguyên nhân dẫn đến các lây nhiễm trong bệnh viện. Một nghiên cứu mới từ các nhà nghiên cứu ở trường đại học North Carolina Chapel Hill và UC Davis, xuất bản trên Science, cho thấy cách P. aeruginosa dùng đồng để tạo ra một kháng sinh gọi là fluopsin C 1.  “Phát hiện này giúp chúng tôi hiểu hơn về cách vi khuẩn mang mầm bệnh này ngăn đồng và cạnh tranh với toàn bộ vi sinh vật tự nhiên của chúng ta trong suốt quá trình lây nhiễm và sẽ định hướng việc khám phá ra những cách điều trị mới”, Bo Li, phó giáo sư Hóa học tại UNC và tác giả chính của nghiên cứu, nói.  Vào năm 1970, người ta phát hiện ra fluopsin C, một kháng sinh phổ rộng có thể xử lý một diện rộng các vi khuẩn và nấm, bao gồm cả các  chủng kháng nhiều loại thuốc khác.  Cộng hưởng thuận từ điện tử  Nhóm nghiên cứu của Li tại UNC đã theo đuổi theo việc hấp thụ đồng bằng việc nuôi cấy P. aeruginosa và chứng tỏ các nguyên tố đồng được tích hợp vào fluopsin C.  Họ làm việc với Lizhi Tao, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ trong phòng thí nghiệm của giáo sư David Britt tại Khoa Hóa UC Davis, sử dụng cộng hưởng thuận từ điện tử (EPR) để nghiên cứu về con đường tổng hợp. Họ phát hiện ra hai phân tử nhỏ chứa sulfur kết hợp với mỗi nguyên tử đồng trong một hỗn hợp đồng phân cis và trans.  Nghiên cứu chứng tỏ cách Fluopsin C có thể được tổng hợp bằng một quá trình xử lý enzym thay vì sử dụng các hóa chất nguy hiểm. Việc tái sử dụng đồng với mục tiêu khác – thành kháng sinh trong cách này là một phản hồi khác biệt từ các quá trình diễn ra trong phần lớn sinh vật, vốn dùng để cô lập hoặc trích xuất kim loại này khỏi tế bào, Li nói.  EPR là một hình thức quang phổ cộng hưởng từ, vốn phù hợp với việc nghiên cứu về các kim loại trong các phân tử hữu cơ. Phòng thí nghiệm của Britt tại UC Davis điều hành Trung tâm CalEPR, với bảy thiết thị EPR, một cơ sở nghiên cứu lớn nhất trong lĩnh vực này ở vùng duyên hải miền tây.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-bacteria-copper-antibiotic.html  https://www.ucdavis.edu/blog/how-bacteria-makes-copper-antibiotic  ——————  1. https://phys.org/news/2021-11-bacteria-copper-antibiotic.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn có thể loại ô nhiễm nhựa trong hồ      Một nghiên cứu về 29 hồ nước ở châu Âu phát hiện ra một số loại vi khuẩn ở đây có khả năng sinh trưởng trên các mảnh túi nhựa nhanh và hiệu quả hơn so với vật chất tự nhiên như cành và lá cây.     Một hồ nước ngọt ở Na Uy được lấy mẫu nghiên cứu. Ảnh: Samuel Woodman  Các loại vi khuẩn này phá vỡ các hợp chất carbon trong nhựa để làm thức ăn. Các nhà khoa học ở Đại học Cambridge cho biết việc bổ sung các vi khuẩn này vào nước có thể góp phần loại bỏ ô nhiễm nhựa trong môi trường.  Kết quả được công bố trên tạp chí Nature Communications, gợi ý rằng ô nhiễm nhựa trong hồ đang “mồi” các vi khuẩn tăng trưởng nhanh chóng: vi khuẩn không chỉ phá vỡ cấu trúc nhựa mà sau đó còn có thể phân hủy các hợp chất carbon tự nhiên khác trong hồ.  Các loại vi khuẩn được tìm thấy trong hồ dường như ưa thích những hợp chất carbon có nguồn gốc từ nhựa hơn. Lý giải điều này, TS. Andrew Tanentzap thuộc Khoa Khoa học Thực vật của Đại học Cambridge nói rằng vi khuẩn sử dụng nhựa làm thực phẩm trước tiên vì nó dễ phá hủy, sau đó chúng có thể chuyển sang phân hủy một số thực phẩm khó nhằn hơn như các chất hữu cơ tự nhiên khác trong hồ.  Ông nói thêm: “Điều này cho thấy ô nhiễm nhựa đang kích thích toàn bộ mạng lưới thức ăn trong hồ, bởi vì nhiều vi khuẩn hơn nghĩa là sẽ có nhiều thức ăn hơn cho các sinh vật lớn như vịt và cá”. Hiệu quả này còn thay đổi tùy thuộc vào sự đa dạng của các loài vi khuẩn có trong nước hồ – càng nhiều loài khác nhau thì khả năng loại bỏ ô nhiễm nhựa càng tốt hơn.  Nghiên cứu trước đó của Đại học Cambridge chỉ ra khi nhựa được phân hủy sẽ giải phóng các hợp chất carbon đơn giản, có nguồn gốc từ những chất phụ gia như chất kết dính và chất làm mềm. Các hợp chất này có cấu trúc hóa học khác với những hợp chất carbon được giải phóng ra khi phân hủy lá và cành cây. Nghiên cứu mới này cũng phát hiện ra, vi khuẩn sẽ loại bỏ nhiều ô nhiễm nhựa hơn trong các hồ có ít hợp chất carbon tự nhiên hơn vì chúng có ít nguồn thức ăn để lựa chọn.  Kết quả này sẽ góp phần hỗ trợ các hồ đang cần kiểm soát ô nhiễm cấp bách. Nếu một khu hồ bị ô nhiễm nhựa nhiều nhưng lại ít đa dạng vi khuẩn và nhiều hợp chất hữu cơ tự nhiên thì hệ sinh thái của chúng sẽ yếu ớt hơn. GS. David Aldridge tại Khoa Động vật học của Đại học Cambridge cho rằng nghiên cứu của họ sẽ giúp xác định các loại vi khuẩn có thể khai thác để giúp phân hủy chất thải nhựa và quản lý ô nhiễm môi trường tốt hơn.  Nghiên cứu đã lấy mẫu từ 29 hồ trên khắp Scandinavia từ tháng 8 đến tháng 9/2019. Các hồ này khác nhau về vĩ độ, độ sâu, diện tích, nhiệt độ bề mặt trung bình và sự đa dạng của các phân tử carbon hòa tan.  Các nhà khoa học đã cắt túi nhựa từ bốn chuỗi cửa hàng mua sắm lớn của Anh và lắc chúng trong nước cho đến khi các hợp chất carbon được giải phóng.  Tại mỗi hồ, họ dùng các chai thủy tinh để đựng nước chứa mẫu nước. Sau đó họ cho một ít “nước nhựa” vào một nửa số chai để đại diện cho carbon giải phóng từ rác nhựa vào môi trường, những chai còn lại được cho thêm lượng nước cất tương đương. Sau 72 giờ trong bóng tối, họ kiểm tra hoạt động của vi khuẩn trong mỗi chai.  Các nhà nghiên cứu đã đo lường sự phát triển của vi khuẩn – tức lượng sinh khối tăng lên và hiệu suất tăng trưởng – bằng lượng CO2 giải phóng trong quá trình phát triển. Trong những chai nước chứa carbon có nguồn gốc từ nhựa, sinh khối của vi khuẩn đã tăng gấp đôi. Khoảng 50% lượng carbon này đã được vi khuẩn tiêu thụ trong 72 giờ.  Nghiên cứu này đã chứng minh rằng khi túi nhựa đi vào sông hồ, chúng có thể gây ra những tác động mạnh mẽ và bất ngờ đến toàn bộ hệ sinh thái. Dĩ nhiên điều này không dung túng cho tình trạng ô nhiễm đang diễn ra. Các nhà khoa học vẫn khuyến nghị mọi người cẩn thận hơn về cách xử lý rác thải nhựa vì một số hợp chất trong nhựa có thể gây độc hại đến môi trường, đặc biệt là ở nồng độ cao.□  Trang Linh lược dịch  https://www.cam.ac.uk/research/news/natural-clean-up-bacteria-can-remove-plastic-pollution-from-lakes    Author                .        
__label__tiasang Vi khuẩn độc hơn khi bay vào vũ trụ      Nhóm nghiên cứu tại Viện Biodesign-Đại học bang Arizona, Mỹ, đã gửi các túi vi khuẩn salmonella, nổi tiếng với khả năng gây ngộ độc thức ăn, và hai chủng vi khuẩn khác lên tàu con thoi Atlantis để bay vào vũ trụ năm 2006.      Sau khi chúng trở về, nhóm nghiên cứu nhận thấy những nhà du hành tí hon này gây ốm và chết cho chuột gấp 3 lần so với những con vi khuẩn tương tự được giữ trên trái đất. Việc bay vào vũ trụ không khiến cho vi khuẩn có thể làm được mọi thứ mà chúng không có khả năng trên trái đất, nhưng nó loại bỏ được hiệu ứng của trọng lực, cho phép các nhà khoa học phân lập một số quá trình tự nhiên đang diễn ra. Phát hiện sẽ giúp các nhà nghiên cứu chế ra các loại thuốc kháng sinh tốt hơn cho các nhà du hành, cũng như cho người sống trên trái đất.    T.An (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn lam có thể cấp điện cho thiết bị điện tử nhỏ      Các nhà nghiên cứu đã in phun một loại “mực sinh học” từ vi khuẩn lam lên một bề mặt dẫn điện để tạo thành một dạng pin quang điện sinh học (biophotovoltaic cell). Không giống như những loại pin thông thường, pin làm từ vi khuẩn tảo lam có thể phát điện trong cả bóng tối và ánh sáng nên được kỳ vọng sẽ trở thành loại nguồn cấp năng lượng thân thiện với môi trường cho các thiết bị ít tiêu tốn điện năng như các cảm biến sinh học, và thậm chí có thể in thành một loại giấy dán tường năng lượng sinh học.      Demonstration of inkjet-printed bioenergy wallpaper. 1: Printed photosynthetic organisms in green; 2: Printed CNT anode; 3: Printed CNT cathode; 4: Paper substrate; 5: Solid medium.  Read more at: https://phys.org/news/2017-11-digitally-cyanobacteria-power-small-electronic.html#jCp  Demonstration of inkjet-printed bioenergy wallpaper. 1: Printed photosynthetic organisms in green; 2: Printed CNT anode; 3: Printed CNT cathode; 4: Paper substrate; 5: Solid medium.  Read more at: https://phys.org/news/2017-11-digitally-cyanobacteria-power-small-electronic.html#jCp  Demonstration of inkjet-printed bioenergy wallpaper. 1: Printed photosynthetic organisms in green; 2: Printed CNT anode; 3: Printed CNT cathode; 4: Paper substrate; 5: Solid medium.  Read more at: https://phys.org/news/2017-11-digitally-cyanobacteria-power-small-electronic.html#jCp  Demonstration of inkjet-printed bioenergy wallpaper. 1: Printed photosynthetic organisms in green; 2: Printed CNT anode; 3: Printed CNT cathode; 4: Paper substrate; 5: Solid medium.  Read more at: https://phys.org/news/2017-11-digitally-cyanobacteria-power-small-electronic.html#jCp  Giấy dán tường năng lượng sinh học làm từ tảo lam.   Các nhà khoa học ở Cao đẳng Hoàng gia London và Đại học Cambridge đã công bố nghiên cứu về loại pin quang điện sinh học trên tạp chí Nature Communications.  Về tổng thể, pin quang điện sinh học gồm nhiều dạng vi khuẩn lam hoặc tảo quang hợp có khả năng chuyển đổi ánh sáng thành năng lượng. Tuy nhiên, trong bóng tối, các sinh vật này vẫn có thể tiếp tục tạo ra năng lượng bằng cách chuyển hóa các nguồn dự trữ sẵn bên trong chúng. Vì vậy khi kết nối các sinh vật này với một điện cực phi sinh học, chúng có thể hoạt động như một “tấm pin mặt trời sinh học” khi hấp thu ánh sáng hoặc “ắc quy sinh học mặt trời” trong bóng tối.  “Thiết bị quang điện sinh học của chúng tôi có thể phân hủy sinh học và trong tương lai có thể là pin mặt trời dùng một lần có thể phân hủy trong các bể ủ hoặc trong vườn của chúng ta,” đồng tác giả Marin Sawa tại ĐH Nghệ thuật London và Cao đẳng Hoàng gia London nói với Phys.org. “Rẻ, dễ tiếp cận, thân thiện với môi trường, pin có thể phân hủy sinh học – không có kim loại nặng hay nhựa. Đây chính là những gì chúng ta và môi trường cần.”  Thách thức lớn nhất hiện nay đối với pin quang điện sinh học là sản xuất chúng ở quy mô lớn. Thông thường, các sinh vật được lắng đọng trên một bề mặt điện cực ở một bể chứa chất lỏng lớn. Trong nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu  mô tả kỹ thuật in phun có thể được dùng để in cả bề mặt dẫn điện của ống nano cacbon lẫn lớp vi khuẩn lam phía trên nhưng vẫn giữ cho các sinh vật này sống sót. Cách làm này không chỉ giúp việc chế tạo pin một cách nhanh hơn mà còn kết thành khối nhanh hơn và cho phép thiết kế pin chính xác hơn.  Với những ưu điểm trên, pin quang điện sinh học có thể tạo ra năng lượng tối đa gấp ba đến bốn lần loại pin chế tạo theo phương pháp cũ. Để minh họa, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng chín tấm pin kiểu mới có thể cấp điện cho đồng hồ điện tử và làm đèn LED sáng chớp nhoáng. Loại pin này có thể tạo ra năng lượng liên tục trong suốt 100 giờ liên tục cả lúc sáng và tối.  Trong tương lai, các nhà nghiên cứu dự định phát triển các tấm pin mặt trời sinh học mỏng dạng phim (thin-film biophotovoltaic – BPV) hoặc nguồn cấp điện tích hợp trong chẩn đoán y tế và giám sát môi trường – đều có thể sử dụng cho các cảm biến sinh học sử dụng một lần và thân thiện với môi trường. Một ứng dụng tiềm năng khác là giấy dán tường năng lượng sinh học. Sawa nói: “Loại giấy dán tường năng lượng mặt trời này sẽ biến bề mặt nội thất thành máy thu năng lượng để đưa tới các thiết bị năng lượng thấp như đèn LED, cảm biến sinh học – có thể dùng để giám sát chất lượng không khí trong nhà.”  Các nhà nghiên cứu cũng hy vọng cải thiện năng suất điện của pin bằng nhiều cách như cải tiến tính dẫn điện của mạch, tối ưu hóa thiết kế pin và sử dụng các sinh vật có độ đàn hồi cao hơn.  Thanh Trúc dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2017-11-digitally-cyanobacteria-power-small-electronic.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn nano: Chúng là ai ?      Từng được coi là mầm bệnh nhỏ nhất, nhưng nay vi khuẩn nano lại chứng tỏ chúng dường như có một đặc tính nào đó rất khác. Chúng giữ một vai trò trong sức khỏe của con người nhưng không phải là điều mà người ta từng nghĩ.           Bằng chứng về sự sống trên sao Hỏa nếu có, kể cả khi nó ở một thời quá khứ xa xăm nào đó, thì cũng chỉ để trả lời cho câu hỏi vốn đã quá cũ kỹ: loài người trên trái đất không phải là đơn độc trong cái vũ trụ bao la này.  Tổng thống Mỹ vào năm 1996, nhận thức rõ tầm quan trọng của một khám phá như vậy, đã xuất hiện tại cuộc họp báo thông báo việc phát hiện ra bằng chứng của sự sống trên sao Hỏa. Một mảnh thiên thạch vỡ ra từ bề mặt sao Hỏa cách đây khoảng chừng 15 triệu năm dường như chứa hóa thạch của hình thức một sự sống nhỏ nhoi chứng tỏ đã từng có sự sống trên sao Hỏa.   Nghiên cứu của các nhà địa chất học chứng tỏ rằng những sự sống tương tự như vậy, nhỏ hơn bất kỳ những gì mà người ta biết tới hoặc hình dung ra được có thể từng có ở Trái đất trước đây, đã gợi ý rằng chúng rất có thể liên quan tới những hình thức sớm nhất của sự sống. Nếu chứng minh được rằng những thực thể này, thường được gọi là vi khuẩn nano vẫn tiếp tục sống giữa chúng ta-cư ngụ trong mỗi cơ thể con người và là nguồn gốc tiềm năng gây ra hàng loạt các căn bệnh liên quan tới con người thì đây có thể coi là khám phá kỳ diệu nhất trong số những khám phá mà con người đã từng biết đến.              John D. Young (phải) hiện đang là Chủ tịch của Đại học Chang Gung University (CGU) và Đại học Công nghệ Mingchi ở Đài Loan. Ông cũng là người phụ trách Phòng thí nghiệm về chất liệu nano của CGU. Ông chủ yếu quan tâm tới việc giải thích về sự tương tác giữa các chất hữu cơ và các chất liệu vô cơ và tìm hiểu xem chúng ảnh hưởng tới sức khỏe như thế nào. Young từng đứng đầu Phòng thí nghiệm về miễn dịch học phân tử và sinh học tế bào của Đại học Rockefeller, nơi ông là phó giáo sư. Jan Martel (trái) là tiến sĩ thuộc Viện khoa học y sinh của Đại học Chang Gung. Xuất thân từ vùng Sherbrooke (Quebec), ông tham gia nhóm nghiên cứu của Young tại Đài Loan để tìm kiếm các mầm bệnh sinh ra trong máu và các cơ sở để tìm ra các phương pháp trị liệu.        Khi phát hiện này mới được công bố lần đầu, không ít các nhà khoa học đã tỏ ý hoài nghi. Và nhiều dấu hiệu cho thấy rằng sự vui mừng của những nhà khám phá đã vượt quá giá trị thực của những dữ liệu thu được. Vấn đề tồn tại cần giải quyết là liệu những vi khuẩn nano đó có chính là những vi khuẩn nano trong quá khứ hay không? Sau hơn một thập kỷ, hiểu biết về những phần tử vô cùng nhỏ bé kia cũng như đặc tính khá kỳ lạ của chúng đã có những bước tiến đáng kể. Vi khuẩn nano chẳng phải là các mầm bệnh ngoại lai gì mới. Thực tế, thậm chí chúng chẳng còn hoạt động nữa. Tuy vậy, chúng có chức năng không kém quan trọng đối với sức khỏe con người và có thể đã có đóng một vai trò quan trọng trong những bước đầu của quá trình phát triển con người, chứ không chỉ ở cái chức năng mà con người từng nghĩ.  Và giống như bất cứ câu chuyện có hậu nào, kết cục cuộc sống thực sự của vi khuẩn nano thậm chí còn thú vị hơn bất cứ một cuốn truyện giả tưởng nào. Giờ thì các nhà điều tra có thể tiến xa hơn trong công việc của mình nhờ sử dụng các kiến thức đã có về vi khuẩn nano này trong việc cải thiện sức khỏe con người cũng như trong nghiên cứu các chất liệu nano khác.  Quá nhỏ cho sự sống?  Năm 1993, nhà địa chất Robert L. Folk của Đại học Texas ở Austin đã làm việc với những mẫu đá thu được tại các suối nước nóng ở Viterbo (Italia) và lần đầu tiên công bố cái mà ông gọi là “các vi khuẩn nano”. Khi xem xét các mẫu vật dưới kính hiển vi điện tử, Folk phát hiện ra các khối cầu tập hợp lại trong các vi khuẩn đã hóa thạch. Cũng giống như các vi khuẩn, những viên tròn nhỏ bé này dường như có các vách tế bào và bề mặt có nhiều sợi. Các khối cầu này vả lại có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn vi khuẩn rất nhiều.  Bản thân các vi khuẩn nano thì lại thường được đo bằng đơn vị micron (1 micron bằng 1 phần triệu mét). Để dễ hình dung, hãy tưởng tượng 1 micron nhỏ cỡ 1/100 sợi tóc của chúng ta. Hoá thạch mà Folk quan sát cỡ khoảng từ 5-100 lần kích cỡ một vi khuẩn trung bình, tức là khoảng 10-200 nanomet (1 nanomet bằng 1/1000 micron). Folk thu được các thực thể nano này từ các hiện vật khảo cổ được định tuổi ở vào giai đoạn từ Đại Cổ sinh (Paleozoic) đến Đại Trung sinh (Mesozoic), những thời kỳ trước khi có sự sống trên Trái đất. Và như vậy, ông gợi ý rằng chu kỳ sống của các sinh vật này, bao gồm các vật chất hữu cơ cũng như vô cơ được hình thành ở tầng địa lý mà chúng được tìm thấy.   Khám phá của Folk hầu như được ít người biết đến cho tới trước năm 1996, khi nhà nghiên cứu David S. McKay thuộc Trung tâm không gian Lyndon B. Johnson (NASA) tại Houston công bố bằng chứng rằng các thiên thạch sao Hoả tìm thấy ở Nam cực có tên ALH84001 cũng có các hoá thạch nano tương tự. Được cho rằng hình thành từ một nguyên liệu nóng chảy cách đây 4,5 tỉ năm, mảnh đá này được coi là một trong những mẫu đá có nhiều tuổi nhất của hệ Mặt trời. Hơn nữa, để tìm thấy những thể cacbonat hình cầu đã tạo nên những vi khuẩn nano của Folk tìm thấy trong mấu thiên thạch, McKay cùng các cộng sự cũng đã tìm thấy các phân tử magiê và sunfua sắt cùng với các thể hydrocarbon đa vòng thơm, những nguyên liệu liên quan tới các tiến trình sinh học. Những phát hiện này được coi như là bằng chứng cơ bản cho thấy có khả năng đã có sự sống trên sao Hỏa hoặc một nơi nào đó trong hệ Mặt trời.  Công bố của McKay, và cả các nghiên cứu của Folk trước đó đã thu hút sự chú ý đặc biệt của báo giới nhưng cũng gây ra sự ngờ vực và tranh luận sôi nổi trong giới khoa học. Nhiều chỉ trích cho rằng toàn bộ những khẳng định về các sinh vật bé nhỏ kia từ trước cho đến nay chỉ dựa vào bề ngoài của chúng, chứ chưa thực sự có bằng chứng cho rằng đó là các sinh vật sống. Hơn thế nữa, các thực thể nano đã gây ra các cuộc tranh luận về kích thước bé nhất của một hình thức sống trong một tổ chức đơn bào. Cứ cho là kích cỡ đường kính của hai sợi nhiễm sắc thể vào khoảng hơn 2 nanomet và thể ribo tạo ra protein của một tế bào cỡ khoảng 20 nanomet, nhưng các nhà chỉ trích cho rằng liệu các “tế bào” nano thì có đủ “lớn” để duy trì sự sống trong đó không.                        Những thú vị đầu tiên               Ngay từ năm 1993, các nhà khoa học đã bắt đầu nghĩ rằng có những vi khuẩn kích cỡ nano trong các hóa thạch còn sót lại. Những khối hình cầu được nhà địa chất Robert L. Folk tìm thấy trong các mẫu vật hóa thạch ở Italia có kích thước vào khoảng 10-200 nanomet. Tuy nhiên, khám phá này ít được người ta chú ý đến. Cho tới năm 1996, khi các nhà khoa học của NASA tuyên bố tìm thấy các mẫu hóa thạch tương tự từ một mảnh thiên thạch lấy từ Sao Hỏa, người ta mới quay lại với những phát hiện của Folk. Việc tìm ra mẫu đá hơn 4 tỉ năm tuổi chứa các bằng chứng về sự sống ngoài Trái đất ngay lập tức thu hút sự chú ý của công chúng trên toàn thế giới. Tầm quan trọng của khám phá lớn đến mức Tổng thống Mỹ lúc đó đã dừng mọi công việc để lên tiếng về việc này: “Ngày hôm nay, mẫu đá có tên 84001 đã nói cho chúng ta biết về những gì đã diễn ra cách đây hàng tỉ năm, và cách chúng ta hàng triệu cây số. Nó cũng nói về khả năng đã có sự sống ở nơi đó. Nếu những khám phá này được khẳng định về mặt khoa học, đây sẽ là một trong những khám phá giá trị nhất của khoa học về vũ trụ mà chúng ta đang sống”.        Đứng đầu trong các cuộc tranh luận này là hai nhà khoa học thuộc Đại học Kuopio (Phần Lan) E. Olavi Kajander và Neva Ciftcioglu. Năm 1998, nhóm nghiên cứu Phần Lan đã đưa ra được bằng chứng đầu tiên chứng tỏ các vi khuẩn nano là các thực thể sống. Các nhà khoa học đã kiểm tra các “chất gây ô nhiễm” nhỏ trong các vi khuẩn cấy ở tế bào chứng tỏ chúng đã kháng cự lại các nỗ lực loại bỏ chúng ra khỏi tế bào. Những phần tử này không chỉ chứng tỏ có khả năng gây bệnh cho các tế bào cấy ghép mà còn kháng cự lại các biện pháp thanh lọc chúng như làm nóng, tẩy rửa hoặc sử dụng kháng sinh. Quan sát các thể hình cầu dưới kính hiển vi điện tử, Kanjander và Ciftcioglu nhận thấy chúng có kích cỡ vào khoảng 50 đến 500 nanomet và có đặc tính giống một cách kỳ lạ các vi khuẩn nano mà Folk đã tìm thấy.   Mầm bệnh nhỏ nhất  Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, các nhà nghiên cứu Phần Lan đã tìm thấy axit nucleic và protein trong các phần tử tí hon này. Đây chính là các dấu hiệu của sự sống. Dựa vào các phiên bản giải mã gene đặc thù, các nhà khoa học gán cho chúng cái tên Nanobacterium sanguineum và xếp chúng vào một nhóm nhỏ của của các vi khuẩn Brucella và Bartonella, những vi khuẩn gây bệnh mà con người đã từng biết.              Cảm quan về kích cỡ               Khả năng về các cấu sinh vật kích cỡ nano đã được một số nhóm khoa học gia đưa ra trong thập kỷ 1990 nhưng người ta cho rằng điều này là không chắc, thậm chí là điều không tưởng. Các “vi khuẩn nano” thu được từ hóa thạch và các vi khuẩn nano “sống” được đo trong các tế bào nuôi có đường kính cỡ khoảng từ 10-500 nanomet. Phần lớn trong số các mẫu vật này tỏ ra quá nhỏ để có thể chứa hoặc vận hành trong nó các cơ chế cần thiết cho một tế bào sống. thí dụ như các ribô thể (ribosomes) chuyên tạo ra protein vốn chỉ có kích thước vào khoảng 20 nanomet và nhỏ hơn cả các hình thức sống được biết đến từ trước tới nay như vi khuẩn Mycoplasma chẳng hạn.        Nhóm nghiên cứu Phần Lan cũng nhận thấy có các đặc tính khác thường của các vi khuẩn nano, thí dụ như khả năng chúng tự thay đổi hình dạng trong khi cấy ghép, một đặc tính có tên là tính nhiều hình vốn khá hiếm hoi trong các thực thể sống. Các vi khuẩn nano được coi là có thể thay đổi hình dạng từ các thực thể hình cầu thành các màng hay cục chất liệu tinh thể. Chất khoáng ở đây chính là hydroxyapatite (apatit), một đa tinh thể bao gồm canxi, photphat, các chất khoáng có thể tìm thấy bất cứ nơi đâu trong thiên nhiên, kể cả trong xương các loài động vật có vú cũng như trong mai, vỏ của động vật không xương sống.  Các vi khuẩn nhỏ bé, tròn không chỉ bao phủ bởi các bức tường apatite mà còn thường được phát hiện ẩn nấp dưới các “lều tuyết” rộng hoặc các “giếng nước”, những từ mà các nhà khoa học dùng.  Trong nỗ lực kiếm tìm nguồn gốc của các vi khuẩn nano, nhóm nghiên cứu Phần Lan đã bất ngờ khi thấy sinh vật này ở trong hầu hết các chất dịch trong cơ thể con người cũng như động vật mà họ sử dụng làm thí nghiệm: như máu, nước bọt, nước tiểu… Và họ đã đi tới kết luận rằng các vi khuẩn nói trên có nguy cơ gây ra các bệnh trong cơ thể người liên quan tới sự phân bố bất thường khoáng chất như sỏi thận. Các nhà khoa học khác cũng đang tiến hành nghiên cứu xem liệu các vi khuẩn nano có liên quan tới những loại bệnh nguy hiểm như ung thư, xơ vữa động mạch, các chứng bệnh thoái hóa như viêm khớp, bệnh cứng da, đa xơ cứng, thần kinh ngoại biên, Alzheimer và ngay cả bệnh do virus gây ra như HIV/AIDS.   Các nghiên cứu ban đầu của nhóm Phần Lan cho thấy 14% người trưởng thành ở Bắc Âu đã có phản ứng dương tính với các kháng thể chống lại vi khuẩn nano. Các nhà khoa học khác, như Andrei P. Sommer thuộc Đại học Ulm (Đức) sau đó tiếp tục các nghiên cứu chứng minh rằng các vi khuẩn nano hoạt động như các mầm bệnh có khả năng lây lan, thậm chí là thủ phạm của các hiểm họa sức khỏe toàn cầu.  Tìm ra các cách hoạt động của vi khuẩn nano là mong muốn của bất cứ nhà khoa học nào. Những đặc tính thiên nhiên rất sơ khai và khác thường cũng như khả năng tồn tại ở mọi nơi của vi khuẩn nano đã gợi mở rằng chúng có thể giúp con người lý giải được nguồn gốc của sự sống, không chỉ trên Trái đất mà có thể ở bất cứ nơi đâu trong vũ trụ. Hơn thế nữa, chúng có thể đại diện cho một nguyên lý gây bệnh chung bởi đặc tính gắn kết với bất cứ nguyên nhân gây bệnh.   Vào năm 2000, nhóm nghiên cứu do John O. Cisar (Viện Nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia) dẫn đầu đã thu được những hình ảnh khác nhau đầu tiên của vi khuẩn nano. Cisar nhận thấy rằng lipit phốt pho (phospholipids) – các chất khá phổ biến trong các tế bào màng – lại chứa cả calcium và phosphate, dẫn tới sự hình thành của các tinh thể photphat canxi (apatite). Các cục tinh thể nhỏ tới lượt chúng kết lại với nhau và trở thành thứ rất giống với vi khuẩn nano mà nhóm nghiên cứu Phần Lan đã miêu tả. Điều đáng chú ý là chính các tinh thể tròn này, khi quan sát lại thấy chúng tăng trưởng và sinh sôi nảy nở như là các sinh vật sống. Nhờ có sự hiện diện của các chuỗi axit nucleic được miêu tả trong các nghiên cứu về vi khuẩn nano trước đó, nghiên cứu của nhóm Cisar đã chứng tỏ rằng chính các chuỗi này được tìm thấy trong các bản đồ gene của vi khuẩn nói chung và chúng là nguyên nhân làm vấy bẩn các chất thử của phòng thí nghiệm cũng như các dụng cụ thí nghiệm bằng thủy tinh. Từ đó, các cuộc tranh luận về vi khuẩn nano có vẻ lắng xuống.   Vào năm 2004, một nhóm nghiên cứu y học dẫn đầu bởi Virginia Miller và John C. Lieske tuyên bố họ đã tìm thấy các phần tử nano trong các mẫu máu bị canxi hóa trong đó không chỉ có ADN mà có cả ARN, các phần tử trung gian có trong mọi vật chuyên chuyển đổi ADN sang các protein tế bào. Chỉ trong một đêm, các tranh luận về vi khuẩn nano lại ồn ào trở lại.   Được coi như là các phiên bản của cơ chế mới tạo ra bệnh tật, kiểu như prion (các phần tử chứa protein gây ra các chứng bệnh như bò điên), vi khuẩn nano giờ được coi là mối nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng, nhưng cũng mở ra các con đường thênh thang cho các khả năng thương mại: sáng chế và bán các dụng cụ phát hiện cũng như phương pháp điều trị những căn bệnh do mầm bệnh tí hon gây ra.                     Tìm kiếm sự sống               Các nhà khoa học Phần Lan Olavi Kajander và Neva Çiftçiog˘ đã tuyên bố tìm ra các vi khuẩn kích cỡ nano vào năm 1998 trong photphat canxi.              Trong các thực nghiệm do nhóm các nhà nghiên cứu Phần Lan tiến hành, các phân tử khoáng chất được nhân một cách từ từ và nuôi đến kích cỡ vào khoảng 20-500 nanomet trong các tế bào nuôi.              Các cấu trúc hydroxit apatit trong các tế bào nuôi cấy được miêu tả trông giống những “cái giếng” hình thành từ các vi khuẩn nano do các khoáng chất tạo ra.        Nanobac OY, một công ty do các nhà khoa học Phần Lan lập ra đã khám phá ra các vi khuẩn nano “sống” đầu tiên và trở thành nhà cung cấp chính các bệnh phẩm, kháng thể nhằm phát hiện ra các vi khuẩn nano trong các tế bào ở người. Sau này, Nanobac Pharmaceuticals, một công ty đặt tại Florida đã mua lại Nanobac OY vào năm 2003 và trở thành nhà cung cấp thuốc chính cho các căn bệnh do vi khuẩn nano gây ra.   Tạo ra vi khuẩn nano  Hấp dẫn bởi các tuyên bố kỳ lạ và các lời phản đối về vi khuẩn nano, nhóm nghiên cứu của chúng tôi từ 2007 đã bắt đầu tiến hành một loạt thực nghiệm nhằm khảo sát tỉ mỉ lại các phân tử hóa học này và tìm hiểu vai trò sinh học tự nhiên của chúng. Trước khi bàn về trách nhiệm của các vi khuẩn nano này trong bệnh tật, chúng tôi nghĩ các nhà khoa học trước hết cần phân biệt đâu là các phân tử, đâu không phải là chúng và liệu chúng có thực sự là các sinh vật sống hay không. Để đi đến kết luận, chúng tôi tìm cách xem liệu các vi khuẩn nano có thể tái tạo được nhờ các chất liệu “chết” hay không.   Chúng tôi thử với các hợp chất chứa canxi đơn giản như canxi cacbonat (đá vôi) và photphat canxi bởi các chất này chứa những nguyên liệu tạo nên các tinh thể nano nói trên. Các tinh thể nano được sắp xếp cực kỳ trật tự, có cấu trúc hạt nhân giống như hình lăng trụ, với cấu trúc bề mặt dẹt và các góc sắc cạnh. Nếu chúng tăng trưởng với cấu trúc bị phá vỡ thì ngay lập tức, tính chất của chúng cũng sẽ thay đổi. Chúng tôi giả thiết là sử dụng các chất khoáng có chứa protein và các chất hóa học khác không có khoáng chất nhằm tạo ra sự thay đổi thứ tự chính xác vốn có của chúng để tạo ra các tinh thể và loại bỏ các chất khoáng không liên kết.  Chúng tôi cũng nghĩ rằng việc phá vỡ cấu trúc có tác dụng đơn giản là loại bỏ các thành phần khoáng tăng trưởng dưới dạng tinh thể. Điều đáng ngạc nhiên là các tập hợp khoáng này lại tiếp tục tăng trưởng và sinh sôi nảy nở như thể các phân tử, hay nói một cách chính xác hơn như các phân tử nano. Chúng tôi không hề mong đợi rằng các hợp chất đơn giản như vậy sẽ tạo ra các hình dạng tương tự như các phân tử nano, có các tế bào giống như tế bào vách và có khả năng tự phân chia như các vi khuẩn sống. Việc sử dụng các phân tử nano đơn giản này là để tạo ra các chất liệu cơ bản để tiếp tục tái dựng được các vi khuẩn nano sinh học hoàn chỉnh. Chúng tôi cố gắng tìm xem liệu toàn bộ các tính chất còn khá xa lạ kia của các vi khuẩn nano từng được các nhà khoa học đã miêu tả liệu có thể tái tạo lại được nhờ sự tương tác của các phân tử sinh học và cũng như các chất khoáng đơn giản. Và điều rõ ràng là các phân tử nano được tạo ra từ các hợp chất cacbonat và photphat thường có tính kết dính. Chúng nhanh chóng kết dính với bất cứ phân tử nào có được, kể cả đó là phân tử sắt, các chất hữu cơ (như hydrat cacbon), lipit và thậm chí cả ADN hay các axit nucleic khác. Việc kết dính với các nhóm chất này giúp ổn định sự tăng trưởng của các phân tử, tạo ra cho chúng các cấu trúc đồng bộ và thúc đẩy các phân tử canxi tiếp tục tăng trưởng, tạo ra các hình dạng phức tạp. Tuy vậy, có thể xảy ra hai tình huống khác nhau. Nếu có quá nhiều chất khoáng, các phân tử cuối cùng sẽ tạo thành apatit. Nhưng nếu bản thân hợp chất sinh học lại có quá nhiều khoáng thì chúng lại ngừng lại, tăng trưởng rất chậm và các phân tử tiếp tục kết dính để tạo ra nhiều hình dạng phức tạp khác.   Trong số các nhóm kết dính mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu, kết quả thu được khá phức tạp nhưng thú vị: protein chính là các phân tử liên kết. Protein di chuyển khá tự do trong cơ thể. Một số protein như albumin hay fetuin-A có mặt rất nhiều trong máu lại chính là các chất kết dính canxi mạnh. Albumin riêng mình nó đã có khả năng hình thành một nửa lượng canxi trong huyết thanh máu. Còn Fetuin-A thì còn khác thường hơn ở việc liên kết thành canxi mà còn tạo ra cả các photphat canxi dưới dạng apatit mới hình thành.  Khả năng tạo thành các tinh thể apatit của các protein này đã được biết đến từ lâu bởi chúng giúp loại bỏ tình trạng tinh thể hóa và như vậy bảo vệ việc hình thành các khoáng chất không mong muốn trong các tế bào của cơ thể. Nếu coi việc toàn bộ các chất lỏng trong cơ thể, trong đó có cả máu thường chứa một lượng canxi và photphat rất lớn thì chúng ta cũng không thể hiểu được cái tiến trình hình thành canxi ngẫu hứng như đã nói. Sự bảo vệ các protein kia thực sự là điều cần thiết. Nếu không có chúng, các mạch máu sẽ trở nên cứng và việc hình thành xương sẽ diễn ra ở khắp mọi nơi.  Cùng lúc với chúng tôi, một nghiên cứu độc lập khác được tiến hành tại Trường Y khoa Marseille (Pháp), do Didier Raoult đứng đầu đã tìm được các bằng chứng về loại protein chính tìm thấy trong vi khuẩn nano có thể biến đổi thành Fetuin-A. Thực nghiệm sau này của chúng tôi cũng chứng minh được rằng Fetuin-A là một trong số vài protein chính được tìm thấy trong các phân tử nano canxi.  Một số nghiên cứu khác thì cho thấy Albumin, các protein liên kết từ lipit vốn có tên apoliprotein thường có mặt rất nhiều trong máu và toàn bộ chúng được biết là rất dễ liên kết thành canxi và apatit. Tóm lại, thử nghiệm của chúng tôi đã chứng minh rằng việc các phần tử nano tăng trưởng chỉ là sự cướp phá bất cứ protein có sẵn nào ở môi trường xung quanh để hình thành lên canxi và apatit. Chúng tôi cũng chứng tỏ được rằng các kháng thể mà Nanobac dùng để chẩn đoán bệnh (trong các dụng cụ chẩn bệnh) trên thực tế có tác dụng để tìm kiếm Fetuin-A và Albumin.           Quá trình tạo khoáng bình thường               Sự hình thành xương đòi hỏi có các hình cầu hydroxit apatit đường kính cỡ 10 nanomet để kết hợp với nhau thành các dải hạt khoáng, liên kết với với sợi keo giữa chúng. Những mảng apatit này kết hợp thành các sợi, rồi trở thành các miếng khoáng phát triển thành các giàn keo, giúp xương có các sức căng cần thiết.   Làm cứng cơ tim              Các lớp canxi lắng đọng (màu trắng) trong tim và các mạch máu hình thành cũng bằng cơ chế tương tự như việc hình thành xương và là dấu hiệu của các bệnh tim mạch. Tình trạng canxi hóa từ lâu đã được coi là thủ phạm của các tổn thương tế bào và có thể khiến chúng ngừng hoạt động hoặc hoạt động kém đi nếu căn bệnh tiềm ẩn không được điều trị.                Nguyên nhân hay hậu quả              Sự hình thành canxi tí hon có thể thấy ở nhiều bộ phận khác trong cơ thể, thí dụ như ở đây là các tế bào lành tính ở tuyến giáp người do ung thư tạo ra. Các cấu trúc photphat canxi có thể biểu hiện sự yếu kém hoặc bình thường của các tiến trình dọn dẹp chất khoáng trong các tế bào bệnh. Một khả năng khác là quá trình khoáng hóa được hình thành từ các phân tử lạ, thí dụ như các chất gây ô nhiễm. Đây là một lý thuyết cần được kiểm chứng.         Điều gì thực sự đang xảy ra  Ngay cả khi các vi khuẩn nano ngày nay được chứng minh là có thể hình thành từ các phân tử nano tinh thể có trong các chất khoáng và các chất liệu thông thường thì chúng có thể vẫn giữ một vai trò quan trọng trong sức khỏe của con người. Chúng tôi tin rằng các phân tử giống như vi khuẩn nano được tạo ra từ một tiến trình tự nhiên có nhiệm vụ thông thường là bảo vệ cơ thể chống lại quá trình tinh thể hóa không mong muốn. Rất nhiều liên kết khoáng chất được tạo ra một cách ngẫu nhiên trong tự nhiên và chúng có xu hướng tinh thể hóa. Thí dụ như canxi thì rất dễ tập hợp thành cacbon và photphat để rồi sau đó lại kết thành tinh thể calxin và apatit.  Bất cứ phân tử có độ mịn cao nào, thí dụ như canxi hay tinh thể apatit mới hình thành từ protein, lipit hay các thành phần khác đều được nhìn nhận như các chất ức chế quá trình canxi hóa theo cái nghĩa là chúng có thể can thiệp trực tiếp vào tiến trình tinh thể hóa bằng cách kết dính các chất khoáng.  Trong cơ thể người, các canxi kết dính và các tinh thể mới hình thành từ protein cũng có mục tiêu phức tạp là tập hợp hoặc thải loại. Sự sắp xếp liên tục này của các chất khoáng nhằm bảo vệ tình trạng hình thành canxi một cách bất thường trong cơ thể, một cơ chế có thể tạo ra bệnh tật. Tuy vậy, rất nhiều protein vẫn tiếp tục cần cho cơ thể để liên kết các chất khoáng bởi khi các chất khoáng nhiều đến mức các protein ức chế chúng không nhận biết được, cơ chế ức chế có khả năng bị lấn át. Khi các chất khoáng làm bão hòa các điểm liên kết, các khoáng chất liên kết protein ngược lại trở thành các chất liệu để tạo ra nhiều tinh thể hơn nữa, tạo ra các tiến trình khác biệt và chúng không chỉ tạo ra các hiện tượng vi khuẩn nano mà còn tạo ra các quá trình canxi hóa bất thường, thí dụ như hình thành sỏi trong động mạch. Vì các chất này có thể gây ra bệnh, các vi khuẩn nano trước hết phải được xem xét như là một phần của chu kỳ lớn hơn cả cơ chế điều tiết canxi thông thường. Sự hình thành các khoáng protein phức tạp được miêu tả trên đây chắc chắn liên quan tới việc hình thành xương trong cơ thể con người. Chúng có thể liên quan tới các bệnh ốm vặt liên quan tới việc hình thành các canxi bất thường, do đó, các canxi được hình thành có thể là kết quả của các quá trình trao đổi chất bất thường khác ảnh hưởng tới sự ức chế hình thành khoáng chất cũng như sự sắp xếp khoáng chất trong cơ thể.   Vẫn còn quá sớm để biết được rằng làm thế nào những kiến thức thu được được dùng vào việc tạo ra các phương pháp điều trị bệnh. Khái niệm ức chế/gieo mầm có thể giải thích toàn bộ vấn đề về vi khuẩn nano. Bằng cách tăng trưởng kích cỡ nhờ quá trình kết hợp, các khoáng-protein hình cầu phát triển và có hình dạng con suốt và thậm chí trở thành các màng. Sự thay đổi hình dạng này hiện có thể được nghiên cứu và lý giải bằng các tương tác khoáng và protein đơn giản, với kết quả cuối cùng là sự khoáng hóa. Theo giả thiết của chúng tôi, các phân tử giống như vi khuẩn nano có thể phát triển trong các đĩa cấy bởi vì chúng thiếu cơ chế tự dọn dẹp như trong cơ thể của người. Những vi khuẩn nano miêu tả trong các tế bào nuôi cấy giờ có thể được coi là các sản phẩm đơn giản được tạo ra nhờ cơ chế trao đổi chất canxi bình thường dưới các điều kiện tĩnh.              Quản lý khoáng chất               Các tập hợp phân tử giống như vi khuẩn nano có thể hình thành các lớp lắng đọng canxi trong các tế bào ở người bởi chúng vừa có thể hình thành từ các tương các khoáng-protein tự nhiên, là thủ phạm của lớp cao răng hoặc vỏ xương nhằm ngăn chặn tình trạng canxi hóa không mong muốn. Sự hình thành canxi bất thường ở tế bào thường có những triệu chứng, chứ không phải là nguyên nhân gây ra các bệnh tật. Tuy nhiên khi tình trạng canxi hóa bất thường gia tăng, nó có thể tạo ra các bệnh như sỏi thận chẳng hạn.        Toàn bộ các phân tử vi khuẩn nano mà chúng tôi tập hợp được từ máu và các chất dịch khác trong cơ thể đã cho thấy chúng được cấu tạo từ các thành phần hóa học đơn giản và có thể đoán trước được. Mỗi chất phản ánh trạng thái tự nhiên của các bộ phận xây dựng nên nó và thường có sẵn trong môi trường xung quanh. Nhờ thay đổi thành phần của môi trường xung quanh, chúng tôi có thể dễ dàng ngăn chặn sự hình thành của các vi khuẩn nano. Và giờ thì chúng ta có thể sản xuất ra những phân tử giống như vi khuẩn nano để tạo ra bất cứ loại thuốc điều trị bệnh nào. Tiếp tục khai phá theo hướng này, chúng tôi thấy có khả năng chế tạo ra toàn bộ một họ sinh học liên quan hoặc các cấu trúc ion phức tạp có cấu trúc tương tự mà chúng tôi đặt tên là bion. Bion có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau và chúng có thể bắt chước các hình dạng sinh học sống khác. Ngoài việc chứng tỏ tình trạng tự nhiên chết của các phân tử nano, chúng hứa hẹn sẽ làm sáng tỏ việc tại sao các nguyên liệu tạo ra chúng lại dựa vào chính những thành phần nano nhỏ bé mà chúng tạo ra, rồi kết hợp lại với nhau trong thiên nhiên.  Hiểu được cơ chế tại sao các phân tử nhỏ bé đó được tạo thành từ các chất khoáng phức tạp sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ được liệu thực sự đã có sự sống trên Trái đất cách đây hàng tỉ tỉ năm. Có thể nhận thấy rằng nhờ một tiến trình tự sinh sản giống như sự tăng trưởng của vi khuẩn nano, các chất khoáng phức tạp với các phân tử sinh học nhỏ bé sẽ tạo ra các thành phần tạo ra sự sống và tìm cách duy trì sự sống đó. Các chất khoáng hữu cơ phức tạp đó có thể phục vụ cho việc làm nơi cư trú và phân chia của các tiến trình sống sớm nhất có liên quan và có thể trở thành các trung tâm xúc tác rất cần thiết để khởi tạo cho tiến trình sự sống. Đây là một khả năng nghiên cứu khá thú vị mà hiện chúng tôi vẫn đang tiếp tục khám phá.   Chính cái phổ rộng của quá trình canxi hóa được tìm thấy trong tự nhiên đã khiến chúng ta giờ có thể hiểu được nhiều về những căn bệnh kinh niên trong bối cảnh tương tác phân tử giữa protein, lipit, khoáng chất và các yếu tố bí mật khác. Khác với các giả thiết đã được đưa ra trước đây, những hiểu biết hiện tại về các phân tử khoáng hữu cơ được hình thành một cách tự nhiên rất tinh vi sẽ cho phép các nhà khoa học tiếp tục tiến lên phía trước trên con đường khám phá làm thế nào mà các thực thể nhỏ bé này có thể tạo ra cuộc sống, dù rằng bản thân trong chúng không hề có sự sống.   Hoàng An dịch Scientific American 1.2010                        Công thức hình thành vi khuẩn nano               Thực nghiệm của các nhà khoa học cho thấy sự tương tác giữa khoáng chất, protein và các phân tử trơ điển hình tìm thấy trong các tế bào nuôi trung gian có thể tạo ra các phân tử (ảnh hiển vi) có hình dạng và hoạt động giống như các vi khuẩn nano thuần túy. Protein tương tác với các tinh thể khoáng sắt, và sản xuất ra các chất không kết tinh, các viên khoáng có thể tăng trưởng và thay đổi hình dạng như các sinh vật sống thường làm.              Một đĩa nuôi tế bào thông thường chứa các chất phụ gia giàu dinh dưỡng như huyết thanh bào thai bò, trong đó bao gồm protein và các phân tử hữu cơ khác. Các nhà khoa học thường bắt đầu bằng việc thêm vào đó các ion khoáng như canxi và phosphat để thúc đẩy hình thành phân tử, ngay cả các ion có sẵn trong chất trung gian cũng có thể tạo ra các hiệu ứng tương tự.              Ion canxi và photphat thông thường kết hợp với nhau để hình thành lên các phân tử khoáng phosphat canxi có kích thước lớn hơn (hydroxit apatit). Tuy nhiên, một số protein cũng nhanh chóng kết hợp với canxi và tương tác với quá trình tinh thể hóa. Thay vì có cấu trúc rất thứ tự với hình mắt cáo của tinh thể hydroxit apatit, chúng lại tạo ra các phân tử khoáng-protein có cấu trúc phân tử không định hình và hình dạng có thể nhận thấy được.              Vì các phân tử tiếp tục tăng trưởng nhờ việc các lớp chất liệu khoáng-protein dày dần lên, chúng cũng kết hợp với nhau thành các phân tử lớn hơn và có các hình dạng rất khác nhau. Nếu thêm vào đó các khoáng chất và huyết thanh protein, các phân tử sẵn sàng kết hợp với bất kỳ phân tử có sẵn nào trong môi trường nuôi cấy trung gian. Chất liệu hữu cơ này tạo ra các cấu trúc hỗ trợ sự phát triển liên tục của các phân tử.              Cuối cùng, các protein trong môi trường trung gian tiếp tục tăng trường và tạo ra tình trạng tinh thể áp đảo, hình thành lên các lông như kiểu hình kim trên bề mặt phân tử. Các cấu trúc tinh thể này sau đó bị bẻ gãy để hình thành lên các con suốt lớn hơn hay các lá hình quạt. Nhờ tiến trình tinh thể hóa, các phân tử trở nên ít nổi bật hơn và cuối cùng sáp nhập với nhau trở thành các vỉa khoáng có hình dạng lởm chởm.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn – Nguồn nhiên liệu tương lai      Với hệ thống máy tính mới, các nhà khoa học thuộc ĐH Sheffeild vừa phác họa cơ chế trao đổi chất của vi khuẩn Nostoc.      Theo đó, Nostoc cố định ni-tơ và thải ra hydro – loại khí có thể sử dụng làm nhiên liệu. Cơ chế trao đổi chất của vi khuẩn là một mạng lưới nhiều phản ứng hóa học mà ngay cả những kỹ thuật phức tạp nhất cũng chỉ đo được một phần trong chuỗi phản ứng này. Những điều tra sâu hơn về trao đổi chất có thể giúp hiểu kỹ hơn và cải tiến cơ chế sinh hyđrô của những vi khuẩn Nostoc. Chắc chắn sẽ còn phải mất một thời gian nữa trước khi một bình vi khuẩn có thể giúp xe hơi chạy được, tuy nhiên nghiên cứu này đã là một bước tiến trong việc tìm những nguồn nhiên liệu tương lai bền vững. Bước tiếp theo của các nhà khoa học là phải đi sâu tìm hiểu vào cơ chế sinh hydro, cũng như xây dựng các mô hình máy tính toán học có khả năng tích hợp nhiều nguồn dữ liệu sinh học hơn nữa.   Bùi Thành (Theo Sciencedaily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi khuẩn tạo ống nano cácbon      Các nhà hóa học Mỹ và Hàn Quốc vừa phát hiện vi khuẩn Shewanella có khả năng hỗ trợ cho việc hình thành các ống nano arsenic-sulfide, với các tính chất hoa lý hoàn toàn khác biệt so với những gì mà xúc tác hóa học tạo ra.      Nhóm nghiên cứu cho rằng, đây là lần đầu tiên các ống nano được tạo ra bằng các cơ chế của sinh học, chứ không phải là các phản ứng hóa học. Điều này sẽ mở cửa cho khả năng sản xuất các vật liệu điện tử rẻ hơn và hoàn toàn thân thiện với môi trường.   Theo Photonics.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi Kim Ngọc: Người khởi tạo từ điển hình ảnh về muỗi      Trong những ngày hoàng kim của Bộ môn Ký sinh trùng, trường Đại học Y Hà Nội, dưới thời GS. Đặng Văn Ngữ, đã có một người nghệ sĩ minh họa khoa học, đó là bà Vi Kim Ngọc, là người phụ trách toàn bộ mảng kỹ thuật của nhóm Côn trùng – Tiết túc trong Bộ môn.           Bà Vi Kim Ngọc.    Hiếm có ai thời bấy giờ lại có một số phận vừa vặn với công việc này như bà Ngọc. Sinh ra trong một gia đình khá giả bậc nhất miền Bắc thời bấy giờ, là con gái của Tổng đốc Vi Văn Định, bà được dạy vẽ và nhạc từ nhỏ. Trong Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên (bà là vợ của cố Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của Việt Nam Nguyễn Văn Huyên) vẫn còn lưu giữ những bức vẽ tĩnh vật đầy tinh tế của bà. Còn sau này, bà theo học khóa đào tạo chuyên ngành Ký sinh trùng học của trường Đại học Y và sau khi tốt nghiệp, được GS. Đặng Văn Ngữ bổ nhiệm tiếp tục làm việc tại trường. Vừa vẽ đẹp, vừa am hiểu chuyên môn khiến cho những bức vẽ của bà Ngọc không chỉ đầy tính thẩm mĩ mà còn chính xác và có giá trị tham khảo về mặt khoa học. Nhiều hình vẽ của bà đã được sử dụng trong sách giáo khoa sinh học thời đó.  Minh họa khoa học (science illustration) là một hoạt động quan trọng của ngành phân loại học sinh học. Hiện nay, công việc này vẫn được đào tạo trong các trường đại học hàng đầu thế giới như Đại học Yale (Mỹ) và các bảo tàng tự nhiên của nhiều quốc gia cũng có riêng những nghệ sĩ minh họa khoa học.  Công việc minh họa này vẫn cần thiết, kể cả trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, một máy ảnh kĩ thuật số thông thường cũng có thể có thể chụp phóng đại sự vật lên đến hàng chục, hàng trăm lần. Lí do quan trọng nhất đó là luôn luôn cần hình ảnh lưu trữ của một mẫu vật hoặc các loài động/thực vật. Trong nhiều trường hợp, loài động vật đó đã bị tuyệt chủng, hay rất khó thu thập, hoặc các mẫu vật thật được bảo quản trong dung dịch bị hỏng, bị biến dạng (điều đó rất dễ xảy ra vì trước kia người ta thường ngâm các mẫu vật trong cồn để bảo quản nên chúng đều bị mất màu) thì bản vẽ minh họa đó là thứ duy nhất để tái hiện lại sinh vật đó.  Quan trọng hơn, những minh họa khoa học sẽ thu hút sự chú ý của nhà khoa học đến những điểm giải phẫu đặc biệt trên cơ thể sinh vật, đặc biệt là với các sinh vật có kích thước nhỏ. Máy ảnh kỹ thuật số, dù có thể chụp phóng đại, vẫn không đạt đến độ chi tiết và toàn diện của những bức ảnh minh họa của các nghệ sĩ, đặc biệt là ở chỗ đốt chân, đốt râu, lông… Hơn nữa, một điều không thể chối cãi đó là nhìn vào những bức họa sống động và nghệ thuật, người ta cảm thấy hấp dẫn và thỏa mãn hơn nhiều so với ảnh chụp. Chính vì thế nên ngày nay trong những công bố khoa học, người ta vẫn ưa chuộng những hình minh họa.  Tuy nhiên, thời những năm 50 ở Việt Nam, người ta không nhận ra tầm quan trọng đến vậy của công việc minh họa khoa học. Thậm chí, có lẽ bà Ngọc đã làm công việc minh họa khoa học này một cách “bất đắc dĩ”, xuất phát từ lòng nhiệt thành với công việc giảng dạy, muốn kết nối lý thuyết với thực nghiệm. Phân môn Côn trùng – Tiết túc được đánh giá là khó nhất nhưng các buổi dạy do bà Vi Kim Ngọc hướng dẫn lại trở nên hấp dẫn và hiệu quả nhờ những tiêu bản thực hành mà bà vẽ, theo lời GS. Phạm Huy Dũng (nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế). Hơn nữa, là một nhà khoa học được đào tạo bài bản, bà Ngọc còn đi xa hơn cả việc tạo ra những bức vẽ đẹp. Cũng theo lời GS.Dũng, yêu cầu đối với hình minh họa như vậy, chẳng hạn như làm tiêu bản về muỗi Anophen, chỉ cần định loại tên, phân loại râu, thân…là đủ, nhưng bà còn trao đổi thêm về những nơi muỗi này trú ngụ, cách sinh sản và tác hại của chúng.  Thời kỳ đó, các giảng viên thường sử dụng các bức vẽ của bà Ngọc chia theo nhóm cho các sinh viên lần lượt quan sát và thảo luận. Hoặc các bức vẽ được phóng to để treo lên bảng minh họa cho bài giảng. Hầu như các buổi thực hành về muỗi đều phải sử dụng đến những bức vẽ này. PGS.TS Phạm Văn Thân, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng, trường Đại học Y Hà Nội, một trong những học trò của bà, đã từng được bà Vi Kim Ngọc hướng dẫn cách vẽ tranh, cho biết: “Các bức vẽ của bà Ngọc tỉ mẩn đến mức chúng tôi sốt ruột không thể làm được. Chúng tôi chỉ vẽ mô tả chung về con muỗi chứ không vẽ tỉ mẩn chi tiết như bác Ngọc được.”    Hình muỗi Aedes do bà Kim Ngọc vẽ.  Hiện nay, các bức vẽ còn lại của bà Ngọc chủ yếu là về muỗi – đối tượng nghiên cứu đã làm nên tên tuổi của GS. Đặng Văn Ngữ. Để có những tiêu bản muỗi, bà Ngọc phải lên kế hoạch bắt muỗi để tiến hành làm các tiêu bản và vẽ phóng to các loại côn trùng. Để hoàn thiện một bức vẽ về muỗi, phải qua rất nhiều công đoạn, từ khâu chuẩn bị như xây dựng kế hoạch nghiên cứu, xác định đối tượng, tìm hiểu về đặc điểm, hình dáng, cũng như đời sống sinh hoạt của loại muỗi cần bắt. Tiếp đến là việc bắt muỗi ở các địa phương khác nhau. Bộ môn phải tổ chức thành kíp bắt muỗi, bà Ngọc có thể đi cùng sinh viên, hoặc đi cùng cán bộ kỹ thuật. Mỗi kíp sẽ có một người ở vị trí làm mồi cho muỗi, còn một người làm nhiệm vụ bắt muỗi. Người làm mồi phải chịu thiệt thòi để muỗi đốt sâu, ngứa nhưng không dám cử động vì sợ muỗi bay mất. Thậm chí, có những loại côn trùng sống trong chuồng trâu, chuồng bò, chuồng lợn… bà Ngọc cùng đồng nghiệp cũng phải tự đi bắt.  Việc xác định loại muỗi phải được tiến hành trong vòng 24h. Bà Ngọc phải sử dụng kính hiển vi trong quá trình vẽ, giấy vẽ được chia ô bằng bút chì. Các loại bút vẽ, bút chì phải là loại có ngòi nhỏ, thanh. Màu sắc cũng được bà chú ý lựa chọn để vừa chính xác về mặt khoa học vừa đảm bảo đẹp về mặt hình thức.  Các bức vẽ của bà chính xác đến từng đốm đen trên lưng muỗi, độ dài của chân, màu sắc từng bộ phận… Mỗi bức vẽ hoàn chỉnh, bà Ngọc đều ghi phụ đề chi tiết: tên loại muỗi, giới tính, địa điểm và thời gian bắt muỗi, thời gian vẽ muỗi.  Thông thường, để hoàn thiện một bức vẽ, bà Vi Kim Ngọc tập trung khoảng 1-2 tuần. Quan sát kỹ các bức vẽ sẽ thấy sự cẩn thận, tỉ mỉ của từng nét bút, với sự thể hiện rất sống động như chụp lại. Có lẽ, công đoạn mất nhiều thời gian nhất là việc tô màu cho từng chi tiết nhỏ trên mỗi bức vẽ. Mỗi loại muỗi như muỗi Aedes, Culese, Mansonia, Anophen… được bà Ngọc hoàn thiện, bộ sưu tập giống như một cuốn từ điển hình ảnh. Mỗi khi muỗi được bắt về, có thể soi muỗi trên kính hiển vi và so sánh với các bức vẽ để định loại muỗi.    Hình minh họa khoa học trong cuốn sách Lịch sử tự nhiên, tác giả Louis Renard, xuất bản tại Amsterdam năm 1754.  Một yêu cầu khác đối với bà Ngọc, là phải làm sao để tiêu bản đó có thể “bền đẹp” lâu nhất có thể, bởi vì phải mang đi mang lại trong thời buổi kháng chiến khó khăn. PGS. Phạm Văn Thân chia sẻ, công việc của bà Ngọc hết sức “cầu kì”, đặc biệt là các bức vẽ trên khổ giấy lớn. Bà Ngọc thường dán giấy lên tấm vải màn đã được quét hồ, làm như vậy bức vẽ sẽ không bị nhàu nát, sử dụng được lâu hơn. Có những bức vẽ được di chuyển nhiều trong các chuyến công tác, trong những lần đi sơ tán nhưng vẫn không bị rách.  Theo PGS.TS Phạm Văn Thân thì các bản vẽ của bà Vi Kim Ngọc không chỉ là những bức vẽ đơn thuần mà còn ẩn chứa tâm hồn của một nhà chuyên môn đầy tâm huyết. Đó cùng là lý do để những bức vẽ luôn được trân trọng và lưu giữ suốt thời gian qua. Đây còn là những tài liệu chuyên môn, được ông và cán bộ Bộ môn sử dụng liên tục trong suốt quá trình công tác.  Bộ sưu tập các bức vẽ về muỗi của bà Vi Kim Ngọc gồm 44 bức, kèm theo 3 bản chép tay về đặc điểm, cấu trúc của từng loại muỗi. Các bức vẽ được bà Ngọc vẽ trên chất liệu giấy bìa cứng và được cắt thành khổ A4. Mỗi bức vẽ được bọc cẩn thận bởi một tờ giấy A3 gập đôi. Tất cả được kẹp trong bìa màu xanh, mặt bìa có dòng chữ “Hình thể bên ngoài” do bà Vi Kim Ngọc viết. Trải 50 năm, những tấm bìa đã bị rách rìa, quăn góc; các bức vẽ đã ngả màu nhưng vẫn giữ nguyên được độ sắc nét, tinh tế.  Nguồn:http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/vi-kim-ngoc-nguoi-khoi-tao-tu-dien-hinh-anh-ve-muoi/20190822111150668p1c160.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi nhựa có ở khắp mọi nơi      Khảo sát phạm vi xuất hiện của vi nhựa ở một số quốc gia, các nhà nghiên cứu quốc tế nhận thấy vi nhựa có ở khắp mọi nơi, kể cả trong nước uống, muối ăn thậm chí là trong không khí mà chúng ta hít thở.      Những hạt vi nhựa trong phòng thí nghiệm. Ảnh: journals.openedition.org   Kết quả nghiên cứu được công bố với bài báo “A Review of Microplastics in Table Salt, Drinking Water, and Air: Direct Human Exposure” trên Environmental Science & Technology. “Trong suốt cuộc đời, con người không thể tránh khỏi việc tiếp xúc với vi nhựa, vì vậy chúng tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người tìm hiểu kĩ hơn về các mối nguy tiềm ẩn của vi nhựa đối với sức khỏe con người”, TS. Elvis Genbo Xu, trợ lý giáo sư chuyên nghiên cứu độc chất môi trường tại Đại học Nam Đan Mạch và là một trong những tác giả, cho biết.  Trong nghiên cứu này, Elvis Genbo Xu và các đồng nghiệp là giáo sư Huanghong Shi (Đại học Sư phạm Đông Trung Quốc) và giáo sư Eddy Zeng (Đại học Tế Nam Trung Quốc), đã chọn tập trung vào vi nhựa trong muối ăn, nước uống và không khí.  Họ đã tiến hành một phân tích tổng hợp – xem xét 46 bài báo khoa học hiện có về chủ đề này để tìm kiếm các xu hướng và mô hình rồi đưa ra kết luận: trong số ba nguồn hấp thụ vi nhựa của con người, không khí là nguồn quan trọng nhất, đặc biệt là không khí trong nhà.  Chúng ta hít thở vi nhựa  Genbo Xu nói: “Khi chúng ta hít vi nhựa, các hạt nhỏ này có thể vào đến phổi và hệ tiêu hóa. Chúng ta vẫn chưa hiểu hết tác động của chúng đến cơ thể và sức khỏe người, nhưng rõ ràng việc tiếp xúc với nhựa suốt đời là một vấn đề đáng lo ngại”.  Không có nghiên cứu chính thức nào về việc thực phẩm có thể chứa tối đa bao nhiêu vi nhựa. Tương tự như vậy, không có nghiên cứu nào xác định ở một kích thước hoặc số lượng cụ thể nào, hạt vi nhựa có thể gây nguy hiểm cho con người khi ăn phải. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng việc ăn vi nhựa có thể gây xáo trộn quá trình trao đổi chất và hệ thống đường ruột.  Trong không khí, các nguồn chủ yếu của vi nhựa là hàng dệt may tổng hợp, lốp cao su và bụi đường. Các nguồn khác bao gồm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, đốt rác thải, bãi chôn lấp và chất thải công nghiệp.  Thời tiết có ảnh hưởng lớn đến nơi tìm thấy các hạt vi nhựa. So với thời tiết khô, số lượng vi nhựa xuất hiện nhiều hơn trong tiết trời ẩm ướt. Không khí có thể giải phóng các hạt dưới dạng bụi, và trẻ nhỏ có thể ăn phải khi chúng bỏ đồ chơi vào miệng.  Muối ăn  Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra hơn 100 sản phẩm muối ăn khác nhau từ khắp nơi trên thế giới, và có sự khác biệt rất lớn giữa các sản phẩm. Vi nhựa không tự nhiên mà có, nó hình thành từ quá trình sấy, sản xuất, đóng gói và vận chuyển. Các nhà khoa học đã tìm được một lượng lớn vi nhựa trong muối ăn ở Croatia, Indonesia, Ý, Mỹ và Trung Quốc. Ngược lại, một lượng nhỏ hơn xuất hiện ở Úc, Pháp, Iran, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Bồ Đào Nha và châu Phi. Không có nghiên cứu về vi nhựa trong muối ăn ở Đan Mạch.  “Lời khuyên của chúng tôi đó là, người tiêu dùng nên chú ý đến cách thức sản xuất và chế biến thực phẩm”, Genbo Xu nói.  Nước uống  Đối với nước uống, vi nhựa tồn tại nhiều nhất ở nước đựng trong chai nhựa tái chế. Vi nhựa có thể bắt nguồn từ một hoặc nhiều bước trong chuỗi cấp nước, hoặc từ chính chai nhựa và nắp vặn của nó. Các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi tìm thấy vi nhựa trong cả nước được bán trong chai thủy tinh. Có thể chính nắp nhựa của chai là ‘thủ phạm’ giải phóng các hạt vi nhựa.   Nhóm nghiên cứu còn tìm thấy vi nhựa trong nước máy. Có thể chúng bắt nguồn từ các nguồn nước uống bị ô nhiễm như hồ, nước ngầm và sông, nhưng cũng có thể đến từ chính các nhà máy chế biến nước. “Trong nước máy ở các quốc gia khác nhau, thỉnh thoảng xuất hiện những mảnh khá lớn, tới 5 mm. Có thể lọc những mảnh lớn bằng máy lọc nước có trang bị màng lọc. Ngoài ra, một phương án khác để giảm tiếp xúc với vi nhựa trong nước uống là tránh uống nước đóng chai”, Genbo Xu nói. □  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2020-05-microplastics.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi nhựa: Một đại dịch khác?      Ngày nay, vi nhựa có ở khắp nơi, từ vùng Bắc Cực đến trầm tích sông Mekong, từ hạt muối đến cá tôm, sò vẹm… Điều này có khiến chúng ta tự hỏi, vi nhựa, bằng cách nào, xâm nhập vào đời sống của chúng ta và chúng sẽ ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào?     Khu vực ven sông ở Quận 8, TPHCM đầy chất thải nhựa và các loại rác khác trong những ngày lụt. Ảnh: stock photo.  Không gian sống của chúng ta, ngày một thoải mái hơn nhưng cũng chật chội hơn bởi sự hiện diện của nhựa. Có người còn coi đây là “kỷ nguyên của nhựa”, thậm chí “thời đại đồ nhựa”, giống như những cột mốc khác trong lịch sử tiến hóa “thời đại đồ đá”, “thời đại đồ đồng”. Xuất hiện dưới dạng những sản phẩm phục vụ đa dạng nhu cầu đời sống, nhựa đã len lỏi vào gần như mọi hoạt động của con người: chai nước uống, hộp đựng thực phẩm, ống dẫn nước, thiết bị điện tử, thiết bị y tế, đồ dùng học tập, đồ chơi, đồ dùng chăm sóc cá nhân, săm lốp ô tô xe máy, quần áo… Trên toàn cầu, mỗi giây có 160.000 túi nhựa được làm ra, mỗi phút có một triệu chai nhựa được bán và lượng chất thải nhựa tương đương sức chứa của hai xe tải đổ vào đại dương… Riêng ở Việt Nam, mỗi năm tạo ra 2,8 đến 3,1 triệu tấn chất thải nhựa. Những con số thống kê ban đầu này có thể hé lộ cho chúng ta biết phần nào thực tại của nhựa.  Dẫu là chất thải nhựa hay vi nhựa – nhựa ở dạng mảnh, sợi, hạt với kích thước không quá năm milimét – chúng đều có một đích đến: đại dương. Tuy nhiên, sự khác biệt về kích thước khiến vi nhựa trở nên nguy hiểm và khó đoán định. Chúng ra đến biển bằng cách nào? chúng ảnh hưởng như thế nào đến môi trường? chúng có tác động gì đến sức khỏe? Đó cũng là những vấn đề thôi thúc các nhà khoa học khắp thế giới, trong đó có Việt Nam, đi tìm lời giải từ những năm qua – “một dịp hiếm hoi mà nhà khoa học Việt Nam có thể đồng hành cùng đồng nghiệp quốc tế”, như nhận xét bên lề một hội thảo về chất thải nhựa vào năm 2018 của giáo sư Phạm Hùng Việt (PTN Công nghệ phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm, ĐHQGHN), một nhà nghiên cứu tiên phong về ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.  Nhưng thật không đơn giản để bắt vi nhựa phải trả lời…  Những dòng sông vi nhựa  Câu chuyện về vi nhựa luôn khơi gợi sự tò mò của mọi người. Rõ ràng vi nhựa là sản phẩm do con người tạo ra, gắn liền với đời sống xã hội, nghĩa là chủ yếu diễn ra trên đất liền, nhưng bằng cách nào đấy, nó đã có những chuyến đi xuyên biên giới hành chính để đến đại dương. Mặc dù được các nhà khoa học quan tâm từ đầu những năm 2000 nhưng phải đến năm 2015, mọi chuyện mới trở nên rõ ràng: các dòng chảy chính là con đường vận chuyển chất thải nhựa và vi nhựa. Quá trình vận chuyển này phức tạp vì liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm mật độ dân số, quá trình đô thị hóa, mức sống của người dân, điều kiện thủy văn, cơ sở hạ tầng quản lý chất thải… “Giống như các loại ô nhiễm khác từ trước đến nay, con đường gây ô nhiễm của chất thải nhựa và vi nhựa là một chuỗi hành trình bắt nguồn từ việc sử dụng, xả thải của con người. Khi đó, chúng thường ra sông ra suối, theo dòng chảy qua các vùng đô thị tới vùng duyên hải ven bờ rồi đổ ra biển, đi vào trầm tích hoặc trôi nổi theo các dòng hải lưu”, giáo sư Phạm Hùng Việt nói.    Lợi thế của Việt Nam về hệ thống sông ngòi chằng chịt, với 2.360 con sông dài hơn 10km, trải dài từ Bắc tới Nam và 112 cửa sông, vô hình trung đã tạo ra các “đường cao tốc” thuận lợi cho vận chuyển vi nhựa.    Ở đây, lợi thế của Việt Nam về hệ thống sông ngòi chằng chịt, với 2.360 con sông dài hơn 10km, trải dài từ Bắc tới Nam và 112 cửa sông, vô hình trung đã tạo ra các “đường cao tốc” thuận lợi cho vận chuyển vi nhựa. Sự hiện diện của chất thải nhựa và vi nhựa trên những con sông này không hề giống nhau, ngược lại, “những gì chúng tôi quan sát được là nơi có nồng độ vi nhựa cao nhất là những dòng chảy và hồ ao ở vùng đô thị có mật độ dân số rất cao, đặc biệt những dòng chảy rất nhỏ như kênh và thường đón nhận nước thải, có thể được xử lý và có thể không được xử lý”, TS. Emilie Strady (Viện Nghiên cứu phát triển Pháp) cho biết trong một hội thảo online vào tháng 3/2021.  Khoa học đem lại bằng chứng để chúng ta có thể tạm hình dung mức độ ô nhiễm vi nhựa trong môi trường nước ở Việt Nam qua một bức tranh mới được phác thảo sơ khởi. Trong bức tranh này, các điểm đáng chú ý là những đoạn sông chảy qua đô thị và các khu đông dân cư khác. Một trong những ví dụ điển hình là Đồng bằng châu thổ sông Hồng, vùng đông dân cư bậc nhất Việt Nam (chiếm gần 23,4% dân số cả nước) và có hệ thống sông Hồng dài 1.140 km đổ ra biển qua các cửa Bạch Đằng, Ba Lạt, Lạch Giang, Trà Lý, Đáy… Với các phân lưu và phụ lưu, mạng lưới sông Hồng vô cùng phức tạp với các dạng trao đổi nước, hoặc là lấy nước từ dòng chính sông Hồng hoặc là bổ cập cho dòng chính, sau khi đón nhận nước từ hồ ao, kênh rạch.  Vi nhựa trong phòng thí nghiệm. Nguồn: The Guardian  Sự phức tạp do tự nhiên tạo ra đã đem đến cơ hội trao đổi, luân chuyển vi nhựa. Thuộc top sông ô nhiễm bậc nhất miền Bắc, Tô Lịch chảy qua các quận nội thành đông dân cư của Hà Nội và tiếp nhận gần như trọn vẹn nước thải sinh hoạt nội đô. Sau đó, nước trên Tô Lịch theo dòng tới đập Thanh Liệt để đổ vào sông Nhuệ, con sông tiếp nhận thêm nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc rồi hợp lưu với sông Đáy qua cống Phủ Lý trước khi đổ ra biển tại cửa Đáy. Khi thực hiện dự án COMPOSE từ năm 2019 đến năm 2021, TS. Emilie Strady và các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tìm thấy, cứ một mét khối nước ở Tô Lịch chứa tới 2.522 hạt vi nhựa, cao nhất trong số các con sông được khảo sát ở cả ba miền. Từ Tô Lịch đến sông Nhuệ, nồng độ vi nhựa giảm xuống còn 93,7 hạt trong một mét khối nước. Ở dòng chính của hệ thống là sông Hồng, con số này là 2,3 hạt/m3. Lý giải về sự dao động này, giáo sư Phạm Hùng Việt cho biết “Thông thường, lượng vi nhựa bị pha loãng khi từ sông nhỏ ra đến sông lớn. Nồng độ vi nhựa trong nước mặt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như mật độ dân số ở nơi dòng chảy đi qua, lưu lượng nước, tốc độ dòng chảy…”.  Đó cũng là lý do trên các con sông lớn ở Việt Nam khác cũng có nồng độ thấp tương tự sông Hồng: 2,7 hạt/m3 với sông Hàn và 3,9 hạt/m3 với sông Đồng Nai. Ở các cửa biển, cửa sông và vịnh mà nhóm nghiên cứu do TS. Emilie Strady khảo sát, nồng độ cũng dao động từ 0,4 hạt/m3 ở vịnh Cửa Lục (Quảng Ninh) đến 28,4 hạt/m3 ở cửa sông Dinh (Ninh Thuận).  Nhưng những con số này lại làm dấy lên câu hỏi khác: chúng có ý nghĩa gì và cho chúng ta biết thêm điều gì về vi nhựa?  Vi nhựa, một câu hỏi lớn  Hãy tạm hình dung vi nhựa như một câu chuyện dài mà bất ngờ luôn ẩn trong trang cuối. Ở chỗ tưởng chừng có thể an tâm đặt câu chuyện xuống thì thông tin mới lại được hé lộ. Bởi, những gì về vi nhựa chúng ta biết chỉ là một phần trong một thực tế rộng lớn hơn, phức tạp hơn. “Như những vấn đề ô nhiễm môi trường mới nổi khác, phần lớn công việc nghiên cứu ban đầu về vi nhựa bao giờ cũng tập trung vào nhận diện mức độ ô nhiễm. Sau đó, khoa học sẽ đi vào tìm hiểu sâu hơn về các quá trình hình thành, vận chuyển, đặc điểm, vòng đời, khả năng tiếp xúc với hệ sinh thái, môi trường xung quanh và hệ quả của nó với môi trường và con người. Đó là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn nhưng không phải lúc nào cũng dễ dẫn đến thành công”, giáo sư Phạm Hùng Việt, với 43 năm kinh nghiệm nghiên cứu về ô nhiễm asernic, các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs), hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs)…, cho biết.  Những hiểu biết mới mà khoa học đem lại cho chúng ta một chân dung chi tiết hơn về vi nhựa. Dù tồn tại ở đâu, không khí hay đất liền, nước mặt hay trầm tích, sông ngòi hồ ao hay biển cả, chúng cũng gồm hai loại, dạng sơ cấp (primary microplastics) và dạng thứ cấp (secondary microplastics). Theo giáo sư Phạm Hùng Việt, “Với dạng sơ cấp, chúng được sản xuất làm nguyên liệu cho các sản phẩm thương mại như kem đánh răng, sữa rửa mặt, vải vóc, chất tẩy rửa, sơn tường… Còn ở dạng thứ cấp, chúng được hình thành từ quá trình xuống cấp, phân rã và phong hóa của các sản phẩm nhựa lớn như chai nước, túi, hộp, ô dù, thiết bị điện tử, ngư cụ…” Quá trình phong hóa và phân hủy theo thời gian của chất thải nhựa thành vi nhựa, thậm chí là nano nhựa, phức tạp không kém quá trình vận chuyển chúng: nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường xung quanh như tia Mặt trời, nhiệt độ, sóng, mưa gió… và hiện chưa phòng thí nghiệm nào trên thế giới xác quyết là hiểu được trọn vẹn. “Vi nhựa thứ cấp phổ biến hơn sơ cấp. Ở các quốc gia phát triển, tỉ lệ này thường là 80%. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, tỉ lệ cũng tương đương”, ông nói.  Vấn đề phức tạp nhất của nhựa và vi nhựa là chúng tồn tại hàng trăm năm, thậm chí lâu hơn. “Sự bền bỉ, một trong những phẩm chất đáng kiêu hãnh nhất của nhựa, giờ lại là lời nguyền của nó – bởi điều đó có nghĩa là nhựa sẽ ở lại trong môi trường của chúng ta tới vài trăm năm”, bài báo “The future of plastic” (Tương lai của nhựa) xuất bản trên tạp chí Nature Communication vào năm 2018, nhận định.  TS. Nguyễn Minh Kỳ. Ảnh: NVCC.  Tại sao thời gian bán rã của chất thải nhựa, và vi nhựa, lại dài như vậy? Không phải chúng đều là sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên là cây cao su ư? Ồ không phải như vậy, dù mủ cây cao su (Amazon Hevea brasiliensis) là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất cao su tự nhiên trên thế giới hiện nay, nhưng cao su tự nhiên lại chỉ là một dạng polymer có nguồn gốc tự nhiên trong rất nhiều loại polymer tổng hợp từ dầu mỏ. Phần lớn, các sản phẩm nhựa gia dụng đều được làm từ các loại polymer dạng này, không phải từ cao su, TS. Nguyễn Anh Nghĩa, Viện phó Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam), giải thích.  Từ dòng nhựa trong cây cao su, cao su tự nhiên thường được xử lý lưu hóa để cải thiện độ bền và độ đàn hồi, cũng như ngăn không cho cao su bị hỏng. Tuy nhiên, so với cao su tự nhiên thì các polymer tổng hợp mới là nhà vô địch với những đặc tính mà các sản phẩm công nghiệp hay dân dụng mong muốn: polymer polyetylen terephtalat (PET) được sử dụng trong sợi vải, hộp đựng chất lỏng và thực phẩm, khuôn đúc nhựa và kết hợp với sợi thủy tinh sản xuất nhựa kỹ thuật; nhựa nhiệt dẻo polymer polyethylen (PE) làm ống nhựa, mút cứng, túi nhựa; nhựa nhiệt dẻo polyvinylchloride (PVC), chất ổn định nhiệt, chất bôi trơn, các chất phụ gia trong ống dẫn nước, các thiết bị thông gió hay chống ăn mòn kim loại…  Sự bền bỉ, một trong những tài sản đáng kiêu hãnh nhất của nhựa, giờ lại là lời nguyền của nó – bởi điều đó có nghĩa là nhựa sẽ ở lại trong môi trường của chúng ta vài trăm năm.  Nếu con mắt ngây thơ của người tiêu dùng chỉ thấy một loại nhựa thì trên thực tế có hàng tá polymer tổng hợp khác nhau được dùng làm nguyên liệu đầu vào cho các dạng sản phẩm sinh hoạt và công nghiệp. Với các nhà nghiên cứu thì khác, nhưng thật khó phân biệt bằng mắt thường các dạng polymer ở kích cỡ micro trong đống hỗn độn mà họ thu được, đặc biệt từ mẫu trầm tích chứa đầy các loại vật chất hữu cơ, sỏi đá, TS. Nguyễn Minh Kỳ (ĐH Nông Lâm TP.HCM), giải thích. Thông thường, các nhà nghiên cứu như anh sử dụng phương pháp quang học để xác định các đặc điểm vật lý như kích thước, màu sắc, hình dáng của vi nhựa trong mẫu đã được lọc thô và xử lý, sau đó tiến hành phân tích thành phần hóa học để nhận diện các loại polymer bằng phương pháp phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT–IR). Sự hỗ trợ của các công cụ tiên tiến giúp họ nhận diện được các loại polymer khác nhau có trong mẫu dựa trên các tín hiệu phổ đặc trưng, “nhưng đôi khi nó đòi hỏi kiến thức chuyên gia về các loại polymer mới nhận diện được vì có phổ một số polymer nó tương tự nhau”, anh nói. Trong cả một chuỗi dài quy trình làm nghiên cứu thì nhận diện polymer hấp dẫn nhất bởi “nó giúp xác định được các đặc điểm, nguồn gốc của chúng. Có rất nhiều tình huống có thể xảy ra, ví dụ có những loại polymer chỉ xuất hiện trong môi trường có đặc thù nhưng lại có trong mẫu mình lấy ngoài hiện trường thì sự xuất hiện này mang tính ngẫu nhiên hay hệ thống?”.  Nhờ vậy mà các nhà nghiên cứu có thể chỉ đích danh nguồn gốc của vi nhựa gây ô nhiễm. “Hệ thống sông và cửa sông Sài Gòn bị ảnh hưởng bởi sản phẩm dệt may: hàm lượng lớn các sợi nhân tạo từ 22.000 đến 251.000 sợi/m3 nước cho phạm vi quan sát các vi nhựa kích cỡ từ 40 đến 5000 μm trong mẫu nước lớn”, TS. Strady viết trong nghiên cứu. “Nồng độ vi nhựa dạng mảnh trên sông Sài Gòn và các kênh chính từ 7 đến 94 mảnh/m3 cho thấy sự lấn át cực độ của vi nhựa dạng sợi trong hệ thống sông này”. Công bố mới của TS. Nguyễn Minh Kỳ, một trong những công trình đầu tiên trên thế giới về vi nhựa trong trầm tích than bùn – được lấy mẫu ở độ sâu 15cm trên đầm lầy huyện Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Đức Huệ (Long An), đã xác định được 15 dạng polymer, trong đó phổ biến nhất là PVC (46,2 %), PE (20,9 %), và PP (9,2 %), vốn chủ yếu là kết quả phân rã của các loại bao bì, túi nylon, sản phẩm chăm sóc cá nhân, chất tẩy rửa, phân bón hóa học qua hoạt động công nghiệp, thương mại, sinh hoạt hộ gia đình, canh tác nông nghiệp…  Đằng sau các loại polymer này là hàng loạt khám phá và sáng tạo của con người trong hơn 50 năm qua. Cũng như ưu thế của nhiệt điện than trong năng lượng, không có vật liệu nào đọ được với nhựa về tính linh hoạt, độ ổn định, nhẹ về khối lượng, độ bền trong nhiều loại môi trường và nhất là chi phí sản xuất thấp. Có lẽ, thế giới đồ nhựa đang bủa vây con người trong một tiến trình khó đảo ngược. Nhưng thật ra, ngoài “sự trơ tráo trăm năm”, vi nhựa có thật sự xấu với hệ sinh thái, và dĩ nhiên, với cả con người?  Quá trình khám phá bí mật của vi nhựa trong môi trường, xét cho cùng, cũng là để giải đáp câu hỏi này.     “Mùa xuân im lặng” của vi nhựa?  “Khi được phát minh thì một chất mới nhìn từ góc nào cũng đẹp, hầu như người ta chỉ thấy ưu điểm của nó. Chỉ có thời gian mới cho ta thấy mặt trái của nó”, năm 2018, giáo sư Phạm Hùng Việt đã nhận xét khi nhìn lại toàn bộ lịch sử ngành hóa chất công nghiệp. “Phàm thứ gì đem lại cho sự thoải mái và thuận tiện cho con người trong sử dụng thì cũng là thứ dễ khiến con người khốn khổ”.  Trong lịch sử ngành hóa chất công nghiệp, không thiếu những ví dụ như vậy. Thuốc trừ sâu DDT, một hợp chất hữu cơ cao phân tử chứa chlor, được nhà hóa học Áo Othmar Zeidler tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1874 và sau đó được nhà hóa học Thụy Sĩ Paul Hermann Müller phát hiện ra khả năng diệt trừ sâu hại vào năm 1939. Năm 1948, Hermann Müller được trao giải Nobel Y sinh khi DDT được sử dụng rộng rãi để bảo vệ mùa màng cũng như ngăn chặn dịch bệnh. Không ai ngờ là gần 15 năm sau, nhà nghiên cứu Rachel Carson bất chấp sự đe dọa tính mạng đã công bố Silent Spring (Mùa xuân im lặng), cuốn sách chứng minh sự khốc hại môi trường của việc sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi, sau “trở thành cuốn sách gối đầu giường của các nhà hóa môi trường”, giáo sư Phạm Hùng Việt cho biết. Và năm thập kỷ để cộng đồng khoa học đưa ra bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa phơi nhiễm DDT với bệnh ung thư vú.  Cũng như ưu thế của nhiệt điện than trong năng lượng, không có vật liệu nào đọ được với nhựa về tính linh hoạt, độ ổn định, nhẹ về khối lượng, độ bền trong nhiều loại môi trường và nhất là chi phí sản xuất thấp.  Vậy vi nhựa có gây hại cho môi trường và sức khỏe con người như những ví dụ trước trong lịch sử? Nếu xét trực quan về chất thải nhựa, những vật thể có kích thước lớn thì có vô số những trường hợp nó làm sinh vật bị mắc kẹt đường thở, đường tiêu hóa, bị vướng lại trong đám túi, dây dợ… Hình ảnh những con rùa biển mắc trong lưới hỏng, cá chết, chim chết vì búi nhựa trong bụng cho chúng ta cái nhìn rõ nhất về sự chết chóc của chất thải nhựa. Nhưng còn vi nhựa? chúng có khả năng gây hại cho hệ sinh thái và con người hay không? nếu có thì ở mức độ nào? Quá khó để khoa học, dù quốc tế hay Việt Nam, đưa ngay kết luận với bằng chứng thuyết phục. Tất cả còn quá mới mẻ và với phần còn lại của câu hỏi này, nói thì dễ hơn là làm.  Đó là một quá trình mà mọi thứ mới vừa rời vạch xuất phát. Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng vi nhựa quá nhỏ để gây ra điều gì đó với hệ sinh thái nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng hơn về tác động của nó. Các nhà khoa học đã sử dụng thuật ngữ “Plastisphere” (quả cầu nhựa) để chỉ các hệ sinh thái đã tiến hóa để sống trong môi trường nhựa do con người tạo ra, đặc biệt là hệ sinh thái biển và các sinh vật đáy, tiêu biểu trong số đó là giáo sư Robert C. Hale (Viện Khoa học biển Virginia), năm 2020 xuất bản công trình trên Nature Communications miêu tả ảnh hưởng của vi nhựa lên chu trình nitrogen – một quá trình biến đổi hóa sinh nitrogen qua lại giữa các dạng hợp chất của nó – trong trầm tích biển cũng như ảnh hưởng lên cộng đồng vi sinh vật đáy.  Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng mò mẫm tìm đường. Từ năm 2008, giáo sư Phạm Hùng Việt và các cộng sự Nhật Bản đã tìm hiểu con đường vận chuyển và phát thải hóa chất từ nhựa vào môi trường, một công trình đến nay có gần 700 trích dẫn. Đấy cũng là ý tưởng để ông đặt vấn đề về vi nhựa và tác động của nó với thế giới tự nhiên. “Vấn đề của vi nhựa là về tính chất hóa học, nó có nhiều nhóm chức và cấu trúc lặp đi lặp lại nên rất dễ hấp phụ độc chất hữu cơ, vô cơ trong môi trường. Vì vậy, nó được coi là vector trung gian, chất mang ô nhiễm và góp phần tích tụ ô nhiễm. Hiện vi nhựa được coi là đối tượng lưu giữ và vận chuyển độc tố hữu cơ trong môi trường hay hơn con sò trước đây”, ông nhắc đến nửa thế kỷ cộng đồng khoa học dùng sò làm chỉ thị sinh học. “Về kích thước, vi nhựa quá bé và dễ đâm xuyên qua các mô, tế bào của những loài sinh vật đáy, loài giáp xác, qua đó đi vào chuỗi thức ăn”.       Giáo sư Phạm Hùng Việt (phải) trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Thanh Nhàn.  Nghiên cứu về vi nhựa phức tạp và đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn. Trong cuộc hội thảo online vào năm 2021, TS. Emilie Strady chia sẻ về khó khăn gặp phải khi khảo sát 19 vùng nước mặt và hai bãi biển ở chíntỉnh thành cho dự án COMPOSE: không có thuyền nghiên cứu và phải sử dụng thuyền cỡ nhỏ, không có thiết bị hiện đại trong phòng thí nghiệm để phân tích và để tránh nhiễm chéo từ không khí khi xử lý mẫu (trong không khí cũng có vi nhựa), “chúng tôi phải tìm một số phương pháp để có thể tìm được thiết bị giúp giảm tối thiểu nhiễm chéo. Đó cũng là thách thức”. Giáo sư Phạm Hùng Việt đồng ý với ý kiến này. “Kinh phí dành cho vi nhựa thấp, ví dụ chưa đầy đủ để thuê các phương tiện khảo sát tàu thuyền, công cụ lấy mẫu đủ tiêu chuẩn hay nhìn rộng hơn là có được hệ thống cơ sở vật chất phòng thí nghiệm tiên tiến phục vụ nghiên cứu ở mức độ tinh tế”. Vì vậy chủ yếu các nghiên cứu về vi nhựa ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thái, kích thước, phân bố ban đầu… của vi nhựa trong tự nhiên chứ chưa có những nghiên cứu sâu về cơ chế hấp phụ độc chất, tác động lên hệ sinh thái… Kinh phí chưa đủ lớn để nhà khoa học hợp tác liên ngành hay tiến hành nghiên cứu trên diện rộng để có thể đưa ra những thông tin đầy đủ, có ý nghĩa hơn và qua đó, có khả năng cảnh báo.  Chủ yếu các nghiên cứu về vi nhựa ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thái, kích thước, phân bố ban đầu… của vi nhựa trong tự nhiên chứ chưa có những nghiên cứu sâu về cơ chế hấp phụ độc chất, tác động lên hệ sinh thái… GS. Phạm Hùng Việt  Dẫu vậy, các nhà khoa học vẫn cố gắng làm được điều gì đó. TS. Lê Kiều Thủy Chung (ĐHQG- TP.HCM) phát hiện ra vi nhựa có trong nhiều loại tôm cá, đa số là dạng sợi: tôm đất/tôm rảo, tôm bạc, cá lưỡi trâu, cá lù đù, cá phèn, cá kèo, cá cơm, cá bống cát… Mật độ sợi vi nhựa trung bình trong cá, tôm nằm trong khoảng từ 0,33 đến 1,41 sợi trên một gam trọng lượng ướt, cao nhất là tôm bạc. Khảo sát của các nhà khoa học tại Huế, Nam Định, Bình Định, Thanh Hóa trên vẹm xanh, loài trai hai mảnh vỏ chuyên ăn sinh vật phù du và chất lơ lửng trong nước được nuôi nhiều trong ao hồ: chủ yếu chứa vi nhựa dạng sợi và mật độ của nó vào khoảng từ 1 đến 1,7 hay 2,6 hạt trên gam ướt. Cuối năm 2022, dư luận cũng xôn xao khi một nghiên cứu công bố các mẫu muối khảo sát đều chứa vi nhựa.  Muối ăn hay các loài thủy sinh tích tụ vi nhựa có thể truyền vi nhựa cho người thông qua chuỗi thức ăn. Nhưng sau đó thì sao? Hiện có một số ý tưởng mà các nhà khoa học quốc tế theo đuổi: các bệnh do phơi nhiễm vi nhựa có thể liên quan đến nhiều nhân tố, bao gồm việc hấp phụ mầm bệnh/độc chất và polymer/phụ gia; nhiều độc chất hữu cơ/vô cơ trong sản phẩm nhựa có thể chiếm nhiều % trong tổng trọng lượng nhựa; các đặc tính hình thái vi nhựa (hình dạng, kết cấu, kích thước) có thể ảnh hưởng kết khả năng nhiễm độc sinh thái như kiểm soát sự vận chuyển trong mô, cản trở đường tiêu hóa, hoặc kích thích/tổn thương các mô, dẫn đến những bất thường hoặc gia tăng sự nhạy cảm với các bệnh truyền nhiễm.  Ở Việt Nam, câu hỏi về ảnh hưởng của phơi nhiễm vi nhựa vẫn đang ghim trong đầu các nhà khoa học và họ mong muốn có câu trả lời vào một ngày nào đó. Một người nhiều kinh nghiệm như giáo sư Phạm Hùng Việt thì thực tế hơn. Ông ấp ủ một dự án đủ lớn có thể quy tụ nhiều nhà khoa học liên ngành ở nhiều trường, viện, dựa trên cùng một phương pháp lấy mẫu, xử lý mẫu để lập bản đồ ô nhiễm vi nhựa và chất thải nhựa ở Việt Nam. Nó sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi chăng? Ồ không chắc, cần những đầu tư dài hơi hơn. Nhưng chí ít bản đồ sẽ đem lại cho chúng ta những công cụ quan trọng trong trận chiến cân não với vi nhựa. Điều này thì chắc chắn, ông trả lời.□  ————————  Tài liệu tham khảo:   “Baseline assessment of microplastic concentrations in marine and freshwater environments of a developing Southeast Asian country, Viet Nam” Marine Pollution Bulletin.  “First observation of microplastics in surface sediment of some aquaculture ponds in Hanoi city, Vietnam”, Journal of Hazardous Materials Advances.  Transport and release of chemicals from plastics to the environment and to wildlife”, Philosophical transactions of the royal society B: biological sciences.  “Evaluation of microplastic removal efficiency of wastewater-treatment plants in a developing country, Vietnam”. Environmental Technology & Innovation  “Investigation of ecological risk of microplastics in peatland areas: A case study in Vietnam”. Environmental Research  “A Global Perspective on Microplastics” JGR: Oceans    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Vi nhựa trong cơ thể con người: Chúng sẽ hủy hoại chúng ta?      Khoa học vẫn đang chạy đua để nghiên cứu về các hạt nhựa bé tí trong một mẫu vi nhựa trong phòng thí nghiệm – và trong cơ thể chúng ta, với những lo ngại hiện hữu.      Khi chất thải nhựa đang dần chất đống khắp mọi nơi thế giới, một câu hỏi cốt yếu vẫn còn chưa được trả lời: nó sẽ gây hại những gì và nếu có thì nó có là nguyên nhân gây hại cho sức khỏe con người?   Dunzhu Li, một kỹ sư môi trường, thường dùng lò vi sóng để hâm nóng bữa trưa trong một hộp đựng đồ ăn bằng nhựa. Nhưng Li đã dừng làm điều này khi anh cùng với đồng nghiệp thực hiện một khám phá sững sờ: những chiếc hộp nhựa đựng bữa trưa đã rụng vô số những hạt bé xíu – vi nhựa – vào nước nóng. “Chúng tôi đã bị sốc”, Li nói. Những chiếc ấm đun nước và bình sữa trẻ em cũng rụng lả tả các vi nhựa. Li và các nhà nghiên cứu khác, tại Trinity College Dublin, nêu điều này trong một công trình xuất bản vào tháng 10/2021. Nếu các bậc cha mẹ khi chuẩn bị sữa cho con lắc lắc sữa bột với nước nóng trong một bình nhựa, con của họ có thể phải đón nhận khoảng một triệu hạt vi nhựa mỗi ngày, nhóm nghiên cứu tính toán ra.  Những gì mà Li và những nhà nghiên cứu khác vẫn còn chưa biết là liệu chúng có nguy hiểm hay không. Mọi người đều ăn và hít phải cát, bụi và không rõ là liệu một chế độ ăn có cả nhựa có làm nguy hại đến sức khỏe hay không. “Phần lớn những gì bạn ăn đều đi thẳng đến dạ dày và đi ra ngoài cơ thể ở đầu kia”, Tamara Galloway, một nhà độc học sinh thái ở ĐH Exeter, Anh, nói. “Tôi nghĩ công bằng mà nói thì tiềm năng cho nguy cơ rủi ro cao đấy”, Li trả lời sau khi lựa chọn từ rất cẩn thận.  Một vài năm trước, khi vi nhựa bắt đầu được tìm thấy ở dạ dày cá và động vật hai mảnh vỏ, mối lo ngại đã tập trung vào sự an toàn của hải sản. Động vật hai mảnh vỏ là một mối lo ngại cụ thể. Bởi vì trong trường hợp của chúng, không như cá, chúng ta ăn toàn bộ chúng – dạ dày, vi nhựa và tất cả. Năm 2017, các nhà khoa học Bỉ đã loan báo là những người mê hải sản có thể sẽ hứng lấy 11.000 hạt nhựa một năm khi ăn vẹm, một thứ khoái khẩu ở đất nước này.    Năm 2020, 367 triệu tấn nhựa được sản xuất, và dự đoán sẽ tăng gấp ba vào năm 2050. “Đó là sự cảnh báo bởi vì chúng ta vẫn chưa hiểu về những hậu quả của nó, và sẽ rất khó khăn để lẩn trốn trách nhiệm nếu chúng ta vẫn cứ để mặc như vậy”. (Janice Brahney ĐH Utah)    Vào lúc đó, các nhà khoa học lập tức hiểu là nhựa liên tục bị phân mảnh trong môi trường, nghiền nhỏ theo thời gian thành sợi, hạt. Một nhóm các nhà nghiên cứu ở ĐH Plymouth, Anh quyết định so sánh mối nguy hiểm của việc ăn những con vẹm tự nhiên có nhiễm vi nhựa ở Scotland với việc thở không khí trong một ngôi nhà cụ thể. Họ kết luận: con người sẽ nuốt phải nhiều nhựa trong khi ăn vẹm hơn là khi hít thở những sợi nhựa bé tí đến vô hình trôi nổi trong không khí xung quanh họ. Sợi ở đây “bong” ra từ quần áo, thảm chùi chân, đồ bọc nệm…  Mùa xuân năm 2022, các nhà khoa học Hà Lan và Anh loan báo là họ đã phát hiện ra hạt vi nhựa trong cơ thể con người, trong hai nơi mà họ chưa từng thấy trước đây: sâu bên trong phổi của bệnh nhân qua phẫu thuật và trong máu của người hiến tặng. Hai nghiên cứu này, một cách riêng biệt, đều làm dấy lên câu hỏi về khả năng gây hại và khi ghép lại, chúng cho thấy một chuyển hướng lo ngại về hướng đám mây bụi các hạt vi nhựa nơi chúng ta sống, có những hạt có kích thước nhỏ đến mức có thể đâm xuyên vào cơ thể và thậm chí cả tế bào, theo những cách mà các hạt vi nhựa lớn không thể.  Dick Vethaak, giáo sư hồi hưu về độc học sinh thái tại ĐH Vrije Universiteit Amsterdam và đồng nghiệp trong nghiên cứu về máu người có vi nhựa, không coi kết quả nghiên cứu của mình như điều gì đáng báo động, chính xác là vậy – “nhưng đúng là chúng ta cũng phải lo ngại. Nhựa không nên có trong mạch máu của chúng ta”.  “Chúng ta đang sống trong một thế giới đa hạt”, ông cho biết thêm, hàm ý đến bụi, phấn hoa và muội than mà con người hít thở hằng ngày. “Thách thức là định hình ra có bao nhiêu nhựa đóng góp vào gánh nặng vi nhựa và điều đó nghĩa là gì”.  Tác động lên con người – phần khó nhằn nhất  Vi nhựa có trong muối, bia, hoa quả và rau xanh, nước uống. Các hạt lơ lửng trong không khí có thể tuần hoàn trên toàn cầu trong vài ngày và rơi xuống mặt đất như mưa. Các chuyến thám hiểm ngoài biển được kỳ vọng đếm được lượng vi nhựa trong đại dương đã tạo ra những con số không thể hiểu nổi, bởi nó biến động theo thời gian khi hàng tấn chất thải nhựa đổ ra đại dương mỗi năm và phân rã. Một bài báo xuất bản trên tạp chí có bình duyệt vào năm 2014 đưa ra con số khoảng năm nghìn tỉ. Gần nhất, một nhà khoa học Nhật Bản từ trường Đại học Kyushu đã ước tính 24,4 nghìn tỉ vi nhựa trong tầng nước mặt đại dương của Trái đất – tương đương với 30 tỷ chai đựng nước dung tích nửa lít – một con số tự nó đã khó hiểu được.  Một mẫu thu thập tại Hawaii cho thấy các sinh vật “chung sống” với nhựa..  “Khi chúng tôi bắt tay vào làm việc này từ năm 2014, chỉ duy nhất một nghiên cứu được thực hiện theo hướng tìm xem vi nhựa ở những đâu”, Alice Horton, một nhà khoa học biển chuyên về ô nhiễm vi nhựa tại Trung tâm Đại dương quốc gia Anh, nói. “Giờ thì chúng tôi có thể ngưng tìm kiếm. Chúng tôi đã biết, ở mọi nơi chúng tôi hướng tới sẽ đều tìm thấy chúng”.  Nhưng xác định là liệu chúng có gây ra nguy hiểm còn khó khăn hơn nhiều. Nhựa được làm từ một kết hợp phức tạp các hóa chất, trong đó có nhiều phụ gia đem lại cho nó sự linh hoạt và độ bền. Cả nhựa lẫn phụ gia đều độc hại. Những phân tích gần đây đều nhận diện được hơn 10.000 hóa chất trong nhựa và hơn 2.400 trong số đó có nguy cơ rủi ro tiềm năng, Scott Coffin, một nhà nghiên cứu tại Ban quản lý Nguồn nước bang California, nói. Việc sử dụng nhiều phụ gia “không được quy định một cách thích đáng” ở nhiều quốc gia, và trong đó 901 loại hóa chất không được pháp luật nhiều nơi chấp nhận sử dụng trong đóng gói thực phẩm.  Các chất phụ gia có thể phát tán vào nước, một nghiên cứu đã tìm thấy 88% có thể, phụ thuộc vào nhiều nhân tố, bao gồm tia Mặt trời, độ dài thời gian. Một nghiên cứu tương tự tìm thấy 8.681 hóa chất và phụ gia liên quan đến sản phẩm nhựa dùng một lần. Việc phân loại bao nhiêu kết hợp hóa học cụ thể trong đó là một vấn đề và tìm ra mức độ của phơi nhiễm có thể gây ảnh hưởng đến môi trường hoặc sức khỏe trong những thứ như “nồi khuấy trộn” phức tạp như vậy không bao giờ là chuyện dễ. “Có thể tìm ta một tương quan nhất định nhưng thật vô cùng khó để phát hiện ra hệ quả bởi vì có một số lượng lớn hóa chất mà chúng ta đang phơi nhiễm trong cuộc sống hằng ngày”, Denise Hardesty, một nhà khoa học có 15 năm nghiên cứu về chất thải nhựa ở CSIRO, Úc, nhận xét.    Các nhà khoa học đang nghiên cứu mở rộng về độc chất trong nhựa cũng như các bệnh về phổi, từ các bệnh về đường hô hấp đến ung thư, vốn là nguyên nhân dẫn đến cái chết của hàng triệu người mỗi năm và có liên quan đến việc phơi nhiễm nhiều chất ô nhiễm khác.    Janice Brahney, một nhà hóa sinh ở ĐH Utah nghiên cứu về bụi vận chuyển dưỡng chất, mầm bệnh, chất ô nhiễm, lo ngại bởi việc sản xuất nhựa vẫn tiếp tục gia tăng một cách khủng khiếp, trong khi có rất nhiều điều về vi nhựa chưa được hiểu rõ. Năm 2020, 367 triệu tấn nhựa được sản xuất, và dự đoán sẽ tăng gấp ba vào năm 2050. “Đó là sự cảnh báo bởi vì chúng ta vẫn chưa hiểu về những hậu quả của nó, và sẽ rất khó khăn để lẩn trốn trách nhiệm nếu chúng ta vẫn cứ để mặc như vậy”, bà nói.  Hội đồng Hóa chất Mỹ (ACC), một nhóm thương mại công nghiệp, còn lưu giữ một thông cáo báo chí trên trang web của mình, trong đó giải thích về thành phần hóa học của vô số loại nhựa và bác bỏ những tuyên bố về nhựa độc hại. “Không, vi nhựa không phải là loại ‘mưa a xít mới’”, ACC phản hồi sau khi báo chí đưa tin về nghiên cứu năm 2020 của Brahney trên tạp chí Science, trong đó ước tính là 11 tỉ tấn nhựa sẽ tích tụ trong môi trường vào năm 2025.  Tuy nhiên, ACC nói là sẽ thiết lập một chương trình nghiên cứu để giúp trả lời những câu hỏi lớn về vi nhựa, bao gồm cả bụi trong nhà, và giúp thành lập một nghiên cứu toàn cầu về vi nhựa giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và ngành công nghiệp. Công trình này sẽ kiểm tra sự tồn tại của vi nhựa trong môi trường và những luân chuyển tiềm năng của phơi nhiễm vi nhựa, nhận diện những rủi ro tiềm năng và phát triển một khung đánh giá rủi ro.   Nhựa tác động đến con người như thế nào?  Chủ đề này hết sức phức tạp và gây tranh cãi, Hardesty nói, đến nỗi việc định nghĩa về tác hại của nó sẽ còn gây tranh cãi nhiều năm nữa.   Việc đo lường những tác động xấu có thể xảy ra của nhựa lên sức khỏe con người khó hơn việc tìm ra tác động của nó lên động vật. Trong các thí nghiệm, vi nhựa đã chứng tỏ là có tạo ra nguy hại với tế bào người, bao gồm những phản ứng vi dị ứng hoặc làm chết tế bào. Nhưng vẫn còn xa với những tài liệu nghiên cứu dịch tễ, trong một nhóm lớn người tham gia, một kết nối giữa phơi nhiễm với vi nhựa và tác động lên sức khỏe.  Felix Weber của Viện Nghiên cứu Môi trường và Kỹ thuật tại ĐH Khoa học ứng dụng RhineMain, Đức ngồi trước kính hiển vi điện tử chụp các mẫu nhựa.  Nghiên cứu mới trên những nhóm nhỏ – một yếu tố khiến giới hạn kết luận có thể rút ra từ việc nhận diện ra vi nhựa trong những phần khác nhau của cơ thể. Năm 2018, nghiên cứu tìm thấy vi nhựa trong phân của tám người. Một nghiên cứu khác ghi nhận sự hiện diện của vi nhựa trong bào thai.  Một nghiên cứu của Vethaak và cộng sự tìm thấy nhựa trong máu của 17/22 người khỏe mạnh; nghiên cứu về phổi thấy vi nhựa trong 11/13 mẫu phổi của 11 bệnh nhân. Không có thông tin gì rõ ràng về cả mức độ và thời gian phơi nhiễm của hai nhóm – hai yếu tố quan trọng để xác định khả năng gây hại của vi nhựa.  Các nghiên cứu về hạt nhựa đều là các hạt nhựa ở cấp độ nano, nhỏ hơn cả vi nhựa. Các hạt tìm thấy trong nghiên cứu về máu đủ nhỏ để xuyên thấu – dẫu Vethaak nói là nó có thể là từ việc ăn uống. việc liệu các hạt có thể truyền từ máu vào các cơ quan khác, cụ thể là não, vốn được mạng lưới đậm đặc các tế bào bảo vệ, vẫn còn chưa rõ ràng.  “Chúng tôi biết các hạt có thể được vận chuyển trong cơ thể qua đường máu”, Vethaak nói. Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu về vi nhựa do tổ chức Nghiên cứu và phát triển Sức khỏe quốc gia Hà Lan tài trợ.  Trong nghiên cứu về phổi, do ĐH Hull ở Anh thực hiện, chứng tỏ đó là các hạt lơ lửng trong không khí xâm nhập. Trong khi các nhà khoa học hy vọng tìm thấy các sợi vi nhựa trong phổi của các bệnh nhân phẫu thuật, họ bất ngờ khi thấy số lượng lớn nhất là các vi nhựa ở vô số hình dạng và kích thước, nằm ở đáy thùy phổi. Một trong số các sợi vi nhựa dài khoảng 2 milimét. “Khó có thể chờ đợi việc tìm thấy vi nhựa trong những phần nhỏ nhất của phổi với đường kính nhỏ nhất,” nhà sinh thái học môi trường của ĐH Hull là Jeannette Rotchell nói. Nghiên cứu này cho phép nhóm nghiên cứu của cô chuyển sang câu hỏi tiếp theo và thực hiện thí nghiệm sử dụng tế bào hoặc mô phổi được nuôi cấy để khám phá ra các tác động của vi nhựa mà họ tìm thấy. “Có quá nhiều câu hỏi”, cô nói. “Tôi muốn biết là những mức độ phơi nhiễm của chúng ta trong cuộc đời mình. Hằng ngày chúng ta hít thở phải vi nhựa gì, liệu lúc làm việc tại nhà, đến chỗ làm, không gian bên ngoài, đạp xe, chạy bộ, nói chung là những môi trường khác nhau. Vẫn còn khoảng trống hiểu biết lớn về chúng”.     Giải pháp đem lại hiệu quả lớn nhất hiện nay là cắt giảm lượng sản phẩm nhựa dùng một lần. “Không có gì vô nghĩa hơn việc tạo ra những thứ tồn tại cả 500 năm nhưng lại chỉ sử dụng trong vòng hai mươi phút. Đó hoàn toàn là cách sử dụng thiếu bền vững”. (Tamara Galloway, ĐH Exeter)    Các nhà khoa học đang nghiên cứu mở rộng về độc chất trong nhựa cũng như các bệnh về phổi, từ các bệnh về đường hô hấp đến ung thư, vốn là nguyên nhân dẫn đến cái chết của hàng triệu người mỗi năm và có liên quan đến việc phơi nhiễm nhiều chất ô nhiễm khác. Hiệp hội Phổi Mỹ, trong báo cáo mới nhất cho biết viêm mãn tính là một trong bốn nguyên nhân dẫn đến cái chết ở Mỹ.  Con người hít vào vô số các hạt ngoại lai mỗi ngày, kể từ buổi bình minh của Cách mạng Công nghiệp. Phản hồi đầu tiên của cơ thể là tìm cách để tống khứ chúng. Những hạt lớn hơn theo đường thở thuộc dạng như vậy khi ho. Niêm dịch hình thành quanh các hạt đưa chúng xuống đường hô hấp, tạo ra một  dạng “thang máy” niêm dịch tống chúng ngược trở ra đường hô hấp trên. Các tế bào miễn dịch xung quanh để cô lập chúng. Theo thời gian, những hạt này có thể làm kích thích và dẫn đến nhiều triệu chứng từ viêm nhiễm đến lây nhiễm và cuối cùng là ung thư. Hoặc chúng có thể chỉ hiện diện như một vật trơ và không làm điều gì ghê gớm.  Nhưng các hạt trong nghiên cứu về phổi đều từ nhựa và được biết là độc hại với người, là nguyên nhân của kích thích phổi, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu và ung thư, Kari Nadeau, một nhà nghiên cứu về dị ứng và bệnh hen suyễn ở ĐH Stanford. “Chúng tôi biết điều này từ những nghiên cứu khác. Chỉ cần mất một phút hít thở chất polyurethane là có thể bắt đầu khó thở rồi”.  Những gì các nhà khoa học không biết là liệu việc phơi nhiễm các hạt nhựa trong phổi ở mức độ nào, thời gian bao lâu để đạt đến ngưỡng gây hại? Việc chứng minh hạt nhựa “là nguyên nhân gây suyễn trực tiếp cho toàn bộ cuộc đời của ai đó thật quá khó”, cô nói. “Tôi không thể chỉ nói là chúng ta phải sợ hãi những điều đó mà chỉ có thể nói là chúng ta phải được cảnh báo. Chúng ta cần hiểu về những thứ đang xâm nhập cơ thể chúng ta và có thể ở lại đó nhiều năm”.  Albert Rizzo, một thành viên của Hiệp hội Phổi Mỹ, cho biết vẫn còn quá mơ hồ để rút ra kết luận. “Liệu nhựa chỉ đơn giản là trơ hay đang dẫn đến một phản hồi miễn dịch của cơ thể và có thể dẫn đến hình thành sẹo, xơ hóa hay ung thư phổi? Chúng ta biết vi nhựa có mặt ở mọi nơi. Chúng ra không biết là liệu sự hiện diện của nó trong cơ thể có dẫn đến vấn đề sức khỏe nào không. Thời gian phơi nhiễm rất quan trọng. Anh đã phơi nhiễm chúng trong vòng bao lâu?”.  Ông cho rằng có thể cần nỗ lực kéo dài cả thập kỷ để thuyết phục chính quyền là hút thuốc gây ung thư. “Trong khoảng thời gian để chúng ta có đủ bằng chứng dẫn đến một sự thay đổi về chính sách thì mèo đã nhảy khỏi túi”, ông nói, hàm ý đến nguy cơ lúc có thể đưa ra một lệnh cấm tương tự với nhựa và vi nhựa thì tất cả đã muộn. “Có thể sẽ mất chừng 40 năm để vi nhựa trong phổi có thể dẫn đến sự lão hóa phổi hay bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính? Chúng ta còn không biết. Vậy chúng ta có thể làm cho nhựa trở nên an toàn hơn chăng?”.  Không còn thời gian để mất  Từ khoảnh khắc này, mức độ của vi nhựa và nano nhựa trong môi trường vẫn còn ở mức thấp để ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các nhà nghiên cứu nghĩ vậy. Nhưng số lượng ngày một gia tăng. Vào tháng 9/2020, các nhà nghiên cứu dự đoán là tổng lượng nhựa thêm vào chất thải mỗi năm có thể lên tới gấp đôi con số 188 triệu tấn năm 2016 lên 380 triệu tấn vào năm 2040. Khoảng 10 triệu tấn trong đó có thể là vi nhựa – một tính toán không bao gồm sự phân rã của nhựa thành vi nhựa.  Có thể kiểm soát được phần nào chất thải nhựa của chúng ta, theo Winnie Lau tại Quỹ Pew Charitable Trusts ở Washington, D.C, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra là nếu giải pháp cắt giảm được ô nhiễm được chấp thuận vào năm 2020 và nhanh chóng được mở rộng quy mô – bao gồm tái sử dụng, chấp thuận các vật liệu thay thế, tái chế nhựa – tổng lượng chất thải nhựa có thể giảm 140 triệu tấn mỗi năm.  Giải pháp đem lại hiệu quả lớn nhất hiện nay là cắt giảm lượng sản phẩm nhựa dùng một lần. “Không có gì vô nghĩa hơn việc tạo ra những thứ tồn tại cả 500 năm nhưng lại chỉ sử dụng trong vòng hai mươi phút”, Galloway nói. “Đó hoàn toàn là cách sử dụng thiếu bền vững”. □  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01143-3  https://www.nationalgeographic.com/environment/article/microplastics-are-in-our-bodies-how-much-do-they-harm-us    Author                .        
__label__tiasang Vi nhựa trong không khí: Ảnh hưởng đến khí hậu?      Những hạt nhựa bé tí đang lơ lửng trong bầu khí quyển có thể di chuyển qua quãng đường hàng ki lô mét và ảnh hưởng đến sự hình thành của mây, tức là có tiềm năng tác động đến nhiệt độ, lượng mưa và ngay cả biến đổi khí hậu.    Vi nhựa được tìm thấy trong tuyết ở Nam Cực.  Nếu trong vài thập kỷ trở lại đây, nhựa đã được nhìn nhận là chất gây ô nhiễm, khiến rùa biển và chim biển mắc kẹt, chất đống trong các bãi rác và dòng chảy thì mới trong vài năm, đã xuất hiện thêm một vấn đề khác của vi nhựa. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu lo ngại về việc liệu các hạt nhựa bé tí trong không khí, lơ lửng trong bầu trời từ những bọt biển hoặc những chiếc lốp xe quay tròn trên đường cao tốc, có thể có tiềm năng làm thay đổi khí hậu của chúng ta.  “Đây là điều mà mọi người còn chưa nghĩ đến – một khía cạnh khác của ô nhiễm nhựa”, nhà hóa phân tích môi trường Denise Mitrano của Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ ETH Zürich, một đồng tác giả bài báo “Potential impacts of atmospheric microplastics and nanoplastics on cloud formation processes” (Những tác động tiềm năng của vi nhựa và nano nhựa trong khí quyển lên các quá trình hình thành mây) xuất bản trên Nature Geoscience vào tháng 11/2022, nhấn mạnh vào điều các nhà nghiên cứu biết – và còn chưa biết – về việc nhựa có thể làm thay đổi những đám mây, có tiềm năng thay đổi hình thái nhiệt độ và lượng mưa.  Những đám mây nhựa  Những đám mây hình thành khi nước hoặc băng ngưng tụ thành “các hạt” trong không khí”: thông thường những hạt rất nhỏ bụi, muối, cát, bồ hóng, hoặc các vật liệu khác được ném lên không trung từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, cháy rừng, nấu ăn, núi lửa phun trào. Có vô số những hạt sol khí trên bầu trời – ngày một nhiều hơn kể từ thời Cách mạng Công nghiệp – chúng đều ảnh hưởng đến tất thảy từ chất lượng không khí chúng ta thở đến màu sắc của cảnh hoàng hôn, đến cả số lượng và các loại mây trên bầu trời của chúng ta.  Vào năm 2019, các nhà nghiên cứu tìm thấy vi nhựa trên Pyrénées, dãy núi phía Tây Nam châu Âu, có lẽ qua mưa hoặc tuyết.  Mãi cho đến gần đây, khi các nhà hóa học nghĩ đến những chất gây ô nhiễm trong không khí của chúng ta, họ vẫn còn chưa hề nghĩ đến nhựa. Các nồng độ ô nhiễm đều ở mức rất thấp, ai cũng nghĩ như vậy và nhựa được thiết kế để chống thấm nước và ứng dụng vào việc làm ra túi hoặc quần áo, dường như điều này khiến chúng không thích hợp lắm để hình thành ra “các hạt” tạo mây. Nhưng trong vài năm trở lại đây, các nghiên cứu đã xác nhận không chỉ các hạt vi nhựa có thể tạo thành các “hạt mây” mà còn có thể di chuyển xa nguồn tạo thành của chúng hàng trăm dặm. Và ngày một nhiều thêm nhựa trong không khí hơn mức các nhà khoa học nghĩ ban đầu. Tất cả chỉ thay đổi khi các nhà khoa học thấy sự đóng góp tiềm năng của nó đến các hiện tượng sương mù trong khí quyển – và có thể biến đổi khí hậu tương lai.    “Con người sáng tạo ra nhựa từ hàng thập kỷ nay, họ rất đáng được vinh danh cho những sáng tạo làm chuyển đổi xã hội theo nhiều cách. Nhưng tôi nghi ngờ vào khả năng họ tưởng tượng được ra chuyện nhựa sẽ trôi nổi khắp bầu khí quyển và có tiềm năng ảnh hưởng đến cả hệ thống khí hậu toàn cầu”. (Laura Revell, ĐH Canterbury)    “Con người sáng tạo ra nhựa từ hàng thập kỷ nay, họ rất đáng được vinh danh cho những sáng tạo làm chuyển đổi xã hội theo nhiều cách. Nhưng tôi nghi ngờ vào khả năng họ tưởng tượng được ra chuyện nhựa sẽ trôi nổi khắp bầu khí quyển và có tiềm năng ảnh hưởng đến cả hệ thống khí hậu toàn cầu”, Laura Revell, một nhà khoa học khí quyển tại trường Đại học Canterbury ở New Zealand, nói. “Chúng ta vẫn còn đang tìm hiểu về những gì chúng tác động lên con người, hệ sinh thái và khí hậu. Tất nhiên là từ những gì chúng ta biết thì không được ‘tốt’ lắm”.  Kể từ năm 1950, công nghiệp nhựa toàn cầu hằng năm chế tạo ra hai triệu tấn nhựa và ngày nay lên tới 450 triệu tấn. Và bất chấp mối e ngại về chất thải nhựa tích tụ ngày một nhiều trong môi trường, sản lượng vẫn cứ tăng – một số công ty dầu mỏ đang củng cố năng lực sản xuất nguyên liệu cho nhựa, nhất là khi yêu cầu về nhiên liệu hóa thạch suy giảm. Một số dự án nghiên cứu đã ước tính đến năm 2025, 11 tỉ tấn nhựa sẽ tích tụ trong môi trường.  Nhựa được tìm thấy ở đất, nước, thềm đại dương… Và trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy vi nhựa và nhựa nano cũng được vận chuyển đường dài qua không khí. Năm 2020, Janice Brahney của trường ĐH Bang Utah và bốn đồng tác giả xuất bản một bài báo trên tạp chí Science bài báo tiết lộ một lượng lớn nhựa ở các khu bảo tồn thiên nhiên của Mỹ. Brahney đã tìm thấy nhựa một cách tình cờ: cô tìm kiếm phosphorus để chứng minh phosphorus vận chuyển trong không khí ảnh hưởng đến hệ sinh thái ở các khu vực này như thế nào nhưng cuối cùng lại phát hiện ra những mảnh nhiều màu sắc trong đáy ống nghiệm của mình. Nghiên cứu của cô đã dẫn ra một manh mối, “Đó là mưa nhựa”.  Bộ dữ liệu của Brahney đã mở cánh cửa cho những nhà chuyên nghiên cứu về mô hình để cung cấp cách xác nhận ra các loại nhựa đó đến từ đâu. “Đó thực sự là một bộ dữ liệu đẹp”, Natalie Mahowald của ĐH Cornell, người đã thực hiện nghiên cứu mô phỏng.  Bức tranh thể hiện sự tác động của vi nhựa và nano nhựa trong không khí lên quá trình hình thành mây.  Mahowald đã đặt các nồng độ nhựa mà Brahney đã thu thập và lập bản đồ chúng với các hình thái khí tượng, qua đó biết được các nguồn phát thải của nhựa, bao gồm đường xá, nông nghiệp, đại dương. Trên đường, lốp và phanh xe ném vi nhựa vào không khí; trên đồng, nhựa từ các túi, chai, ống nhựa sử dụng trong trồng trọt; trong hộ gia đình, vi nhựa từ quá trình giặt quần áo trong máy giặt, gia nhập dòng nước thải cùng nhiều loại nhựa khác rồi chảy vào các nhà máy xử lý chất thải, nơi phân tách chất thải rắn khỏi chất thải lỏng, và khoảng một nửa trong số đó được chuyển thành phân bón sinh học bón cho đồng ruộng, Mahowald nói. Với nguồn đại dương, các khối chất thải nhựa bị phân hủy thành các vi nhựa. Chúng trôi nổi trên bề mặt đại dương rồi theo hơi nước vào bầu khí quyển.  Mô hình của Mahowald đưa ra kết luận là ở miền Tây Mỹ, 84% vi nhựa từ đường xá, 5% từ bụi nông nghiệp, và 11% từ đại dương. Do nhựa rất nhẹ nên những miếng, hạt có chiều ngang vài chục micro mét cũng theo gió bay ra. Mô hình cũng tiết lộ là một số vi nhựa được tìm thấy cách nguồn phát của chúng hàng ngàn dặm. Càng nhỏ thì chúng càng có khả năng ở trên cao lâu hơn.  Các hạt vi nhựa có thể tồn tại trong không khí hàng giờ, hàng ngày hoặc hàng tuần. Nguồn phát quá nhiều nên chúng luôn luôn có mặt trong không khí: quá đủ để nhựa tìm đường vào phổi người.  Nghiên cứu để tìm ra chính xác có bao nhiêu nhựa trong bầu trời của chúng ta là điều vô cùng khó. Phần lớn các nghiên cứu đã thực hiện bằng việc gỡ các mảnh nhựa tí xíu khỏi màng lọc và đặt chúng vào kính hiển vi để có được một ước lượng về hình thái, màu sắc, sau đó sử dụng các kỹ thuật phổ để xác nhận nguồn. Những mảnh nhỏ hơn là những mảnh khó nhận diện nhất.  Gần một tá nghiên cứu đã chứng tỏ các nồng độ vi nhựa trong không khí ở phạm vi từ 0,01 hạt mỗi mét khối ở Tây Bắc Thái Bình Dương đến hàng trăm hạt mỗi mét khối ở London và Bắc Kinh. Có lẽ các thành phố này đều có các mức ô nhiễm trên thực tế lớn hơn, dù các nghiên cứu này đều sử dụng kỹ thuật vô  cùng nhạy có thể nhận diện được những hạt vi nhựa nhỏ hơn (trên 10 micro mét).  Nồng độ các hạt nhựa ở kích thước nano thậm chí còn chưa được biết đến nhiều. Số lượng các hạt nhựa trôi nổi trong khí quyển hiện tại, dường như “chưa được ước tính đúng”, nhà hóa học khí quyển Zamin Kanji, đồng nghiệp của Mitrano ở ETH Zürich, nhận xét.  Và hiện tại, tỷ lệ nhựa trong tổng số sol khí rất nhỏ, vì vậy nhựa không đóng góp nhiều đến tác động khí hậu của sol khí, Mahowald nói. Ngay cả ở London và Bắc Kinh, nhựa chỉ chiếm một phần triệu trong tổng số sol khí. Nhưng sản lượng nhựa, và sự tích tụ của nhựa trong môi trường, vẫn đang tăng lên. Mahowald cho rằng “mọi điều chỉ có thể trở nên tệ hơn”.  Điều đó cũng đặc biệt đúng với các vùng ít ô nhiễm hơn – như vùng biển ở Nam bán cầu, Kanji nói. Kể từ khi nhựa có thể di chuyển tới những nơi xa hơn so với sol khí dày đặc hơn nên nó có thể trở thành chất ô nhiễm đáng kể ở các vùng này. Bài báo của Brahney và Mahowald kết luận là nhựa hiện mới chỉ chiếm hơn 1% sol khí do người tạo ra rơi lắng trên nhưng đáng báo động là chúng có thể lên tới 50% trên một vài vùng của đại dương theo hướng gió từ nguồn phát thải.  Chưa rõ mức độ tác động của nhựa  Tuy nhiên cách sol khí ảnh hưởng đến khí hậu như thế nào lại là một điểm mấu chốt trong các mô hình khí hậu, và có nhiều chi tiết về quá trình này vẫn còn chưa rõ ràng. Các sol khí khác nhau có thể làm thay đổi khí hậu thông qua phản xạ hoặc hấp thụ bức xạ mặt trời. Điều này còn phụ thuộc một phần vào màu sắc của các sol khí, ví dụ bồ hóng đen có xu hướng tạo ra hiệu ứng ấm lên trong khi muối phản xạ lại làm lạnh. Sol khí có thể rơi lắng trên mặt đất và thay đổi suất phản chiếu, hay hệ số phản xạ, của băng và tuyết.  Sol khí cũng ảnh hưởng đến sự hình thành mây: các mảnh và hạt khác nhau có thể tạo ra các giọt nước hoặc băng ngày một nhỏ hơn, tạo qua các loại mây khác nhau ở các độ cao và khoảng thời gian khác nhau. Các đám mây băng mỏng ở độ cao lớn thường có xu hướng làm ấm bề mặt Trái đất như một tấm chăn trong khi các đám mây mịn và sáng ở độ cao thấp hơn thường có xu hướng phản xạ ánh nắng và làm mát Trái đất.     Dẫu nhỏ bé nhưng các hạt sol khí lại có ảnh hưởng lớn đến khí hậu. Các hạt sol khí liên quan đến con người trên bầu trời thường có hiệu ứng làm lạnh kể từ thời Cách mạng Công nghiệp (không có chúng, sự ấm lên toàn cầu có thể lớn hơn 30 đến 50 % so với hiện nay). Và chúng còn có tác động lên thời tiết mạnh hơn cả khí nhà kính: ví dụ một thế giới ấm hơn do loại bỏ sol khí có thể sẽ có nhiều lụt lội và hạn hán hơn so với một thế giới ấm hơn bằng CO2.  Revell và cộng sự đang nỗ lực thử mô phỏng cách vi nhựa có thể ảnh hưởng đến nhiệt độ bằng hấp thụ hay phản xạ bức xạ Mặt trời, một tính toán về “lực bức xạ”. Họ giả định là nhựa luôn luôn trong suốt, ngay cả khi điều đó không thật (và các vật liệu sẫm thì hấp thụ nhiều bức xạ Mặt trời hơn), và nồng độ vi nhựa toàn cầu là một hạt một mét khối, nghĩa là thấp hơn nồng độ được đo đạc ở London cả một nghìn lần. Với các giả định này, Revell tìm thấy tác động trực tiếp của vi nhựa lên lực bức xạ “vô cùng nhỏ đến mức không đáng kể” nhưng nếu nồng độ tới mức 100 hạt mỗi mét khối thì vi nhựa có thể đạt tới mức lực bức xạ tương đương với những sol khí đã được Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu đánh giá. Theo nghĩa đó, vi nhựa trở nên đáng kể hơn nhưng việc nó làm mát hay làm ấm Trái đất thì còn chưa được rõ.  Những hạt sol khí thường có tác động lớn hơn lên khí hậu thông qua ảnh hưởng của chúng lên các đám mây. Các hạt nhựa nguyên sinh thường kỵ nước và vì vậy không ảnh hưởng đến việc tạo mây nhưng khi “lão hóa” trong vòng vài giờ, chúng thường bị mài mòn hoặc có thể tích tụ cả muối từ biển và các hóa chất khác trong khí quyển nên thường có xu hướng hấp thụ nước. Các mảnh vi nhựa lại có rất nhiều “ngóc ngách” có thể giữ được nước nên dễ thúc đẩy việc hình thành giọt băng.  Trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu sinh của Kanji là Omar Girlanda đã thử thực hiện một số thí nghiệm ban đầu dưới những điều kiện cực đoan khác nhau, kết quả cho thấy vi nhựa có thể trở thành “máy tạo mây” tiềm năng. “Một số trong đó rất phù hợp với việc này như các hạt chứa bụi khoáng”, Kanji nói, “vốn là những hạt nhân tạo băng hiệu quả bậc nhất hiện nay”.  Kanji cho biết những bầu trời ô nhiễm nhựa nặng sẽ khiến tạo ra nhiều mây băng ở độ cao lớn, vốn có xu hướng làm ấm bề mặt Trái đất, và nhiều mây tích nước ở độ cao thấp, vốn có xu hướng làm mát Trái đất. Việc hiệu ứng nào sẽ lấn át vẫn còn là ẩn số. “Không có ý nghĩa gì để mô hình hóa nó vào thời điểm này, bởi những ước tính về vi nhựa trong khí quyển của chúng ta còn quá ít ỏi”, Kanji giải thích. Vi nhựa có thể ảnh hưởng đến những hình thái hóa hơi: về tổng thể, các đám mây bị ô nhiễm nhiều hơn có xu hướng tồn tại lâu hơn trước khi chuyển thành mưa so với các đám mây ít ô nhiễm hơn, và sau đó mưa lại rơi nhiều hơn.  Revell và cộng sự của mình hiện đang cố gắng cắt giảm các giả định trong công trình của mình, thực hiện nhiều tính toán chi tiết hơn bằng những ước tính thực tế hơn về các nồng độ, màu sắc và kích thước vi nhựa. “Tất cả những gì chúng tôi biết là vấn đề này sẽ vẫn cứ thời sự. Vi nhựa đang ngày một tồn tại lâu hơn. Chúng đang bị phân mảnh và chúng sẽ sớm hình thành những mảnh vi nhựa mới cho hàng thế kỷ tới. Chúng tôi vẫn chưa thực sự rõ vấn đề mà chúng tôi cam kết với chính mình lớn ở mức nào”.□  Thanh Hương lược dịch  Nguồn: https://e360.yale.edu/features/plastic-waste-atmosphere-climate-weather    Author                .        
__label__tiasang Vi phạm bản quyền phần mềm tác động tới kinh tế toàn cầu      Nghiên cứu mới đây của Công ty dữ liệu quốc tế IDC (International Data Corporation) cho biết việc giảm tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm trên thế giới khoảng 10% trong vòng 4 năm tới sẽ tạo thêm được việc làm mới cho khoảng 2,4 triệu người.    Nghiên cứu này nhấn mạnh nền kinh tế toàn cầu có thể mạnh hơn nếu như tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm giảm đi. Cụ thể là nếu giảm được 10% số lượng vi phạm bản quyền phần mềm, thế giới sẽ thu thêm được 70 tỉ đô la tiền thuế và 400 tỉ đô la doanh thu.  P.V    Nguồn tin: SC Magazine      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi rút nhân tạo mang phân tử gen và dược phẩm vào khối u      Vi rút là những chuyên gia thực thụ thực hiện việc cấy vật liệu di truyền vào tế bào của sinh vật bị lây nhiễm. Đặc điểm này hiện được khai thác trong liệu pháp gen.    Gen được mang vào tế bào của bệnh nhân để chữa các bệnh hoặc khiếm khuyết di truyền. Các nhà nghiên cứu Triều Tiên đã tạo ra một loại vi rút nhân tạo có thể sử dụng để chuyển gien và thuốc vào phía trong tế bào ung thư. Nghiên cứu do Myongsoo Lee chỉ đạo đã phát triển một chiến lược mới cho phép vi rút nhân tạo duy trì hình dạng và kích thước xác định. Thử nghiệm với một số tế bào ung thư cùng loại đã chứng minh rằng vi rút nhân tạo rất hiệu quả trong việc chuyên chở siRNA và ngăn chặn gene mục tiêu. Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu đã có thể gắn phân tử hydrophobic  vào vi rút nhân tạo. Thuốc nhuộm được đưa vào nhân của tế bào u. Điều này đặc biệt thú vị vì nhân tế bào là mục tiêu của rất nhiều tác nhân chống tế bào u quan trọng.   Trà Mi (Theo ScienceDaily)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao có nhiều nhà “khoa học hoang tưởng”      Gần đây có nhà “cuồng triết” tuyên bố dùng triết học mà giải được những vấn đề toán hóc búa, muốn “sống mái một phen” với giới khoa học gia, được báo đài đua nhau tán tụng là “nhà khoa học dân gian”.    Kì thực danh hiệu “nhà khoa học dân gian” không thỏa đáng, dễ khiến người ta lầm rằng khoa học có hai loại chính thống và dân gian. Vì thế tôi muốn dùng danh hiệu “nhà khoa học hoang tưởng” để chỉ những người không qua đào tạo bài bản, không đủ kiến thức chuyên môn nhưng lại tự cho mình đã có những phát minh vĩ đại. Vì không được giới khoa học thừa nhận nên họ dốc kiệt đời mình để chứng chứng tỏ bản thân.                     Nhà khoa học hoang tưởng không phải “đặc sản” của Trung Quốc. Nửa thế kỷ trước, Martin Gardner1 đã miêu tả 5 đặc điểm của các nhà khoa học hoang tưởng phương Tây như sau:  – Họ tự cho mình là thiên tài  – Họ cho rằng tất cả những nhà khoa học nghiên cứu cùng vấn đề như họ đều ngu dốt  – Họ nghĩ rằng mình bị giới “học phiệt” kỳ thị và đàn áp  – Họ hết sức công kích những nhà khoa học vĩ đại nhất cùng những lý thuyết khoa học cơ bản nhất  – Tác phẩm của họ vô lý, dùng một lượng lớn thuật ngữ tự nghĩ ra, lời lẽ rối rắm  Thế nhưng những nhà khoa học hoang tưởng Trung Quốc còn thêm những nét “đặc sắc Trung Quốc”. Ngoài việc bị giới “học phiệt đàn áp”, họ còn phải chịu thêm áp bức từ “khoa học phương Tây”, do là người Trung Quốc nên bị kỳ thị. Mang lòng tin không thể lay chuyển, họ “treo nghìn vàng cho ai khiêu chiến”, thậm chí đòi “một phen sống mái”.  Thế nhưng, giả dụ có người “ứng chiến”, chỉ ra chỗ sai lầm thì họ thà chết không nhận sai. Trở nên mẫn cảm với phê bình, họ càng phản ứng càng dữ dội. Ai mà tình cờ phê phán mấy câu, họ thù. Họ cay cú, từ bỏ cuộc sống bình thường, chỉ theo đuổi mục đích duy nhất là tranh biện. Cũng có lúc họ làm báo chí cảm động mà bất bình thay.  Ngoài ra, còn một  “đặc sắc Trung Quốc” nữa mà phương Tây còn phải theo dài là số lượng nhà khoa học hoang tưởng. Luôn thấy bóng các nhà khoa học hoang tưởng tại các cổng viện nghiên cứu trường, đại học; trên các diễn đàn khoa học online thì tràn ngập. Nói không ngoa, cứ một, hai tuần là tôi lại nhận được một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học hoang tưởng với mong muốn tôi giải oan cho “nạn nhân của nền khoa học hủ bại”; đề nghị sau này cùng chung hưởng danh tiếng và lợi nhuận. Có người gửi liên tục. Đặc biệt, có người còn gửi cho tôi vài chục lần cái gọi là đề án “động cơ vĩnh cửu”.  Có mấy nguyên nhân khiến Trung Quốc thịnh hành các nhà khoa học hoang tưởng. Đầu tiên là nguyên nhân truyền thống. Trung Quốc không hề có truyền thống khoa học, chỉ có truyền thống kỹ thuật, “bốn phát minh lớn” 2 (tứ đại phát minh) mà người Trung Quốc vẫn sung sướng nhắc đi nhắc lại chính là nó. Kỳ thực, tư tưởng, phương pháp và nội hàm của khoa học và kỹ thuật khác xa nhau, thế nhưng người Trung Quốc lại thường gộp lại. Phát minh kỹ thuật có lúc chỉ cần nhờ vào kinh nghiệm và thông minh là nảy ra, một số người lại lầm tưởng đã tìm ra đường tắt cho khoa học.  Thứ hai là nguyên nhân văn hoá. Trước kia Trung Quốc không có ý thức về “tính chuyên nghiệp”, chỉ thích “toàn tài”, “đa tài”, không xem trọng – thậm chí xem thường – người chuyên nghiệp; cho rằng chỉ cần ngộ “đạo” là có thể thấu suốt mọi điều, vấn đề gì cũng có thể giải thích, lĩnh vực nào cũng có thể ngồi phán. Quan niệm đó rất phổ biến trong giới nhân văn. Trong mắt họ, nhà khoa học chỉ là những kỹ thuật viên tỉ mẩn – không như họ, nắm được tư tưởng triết học tiên tiến rồi thì có tầm nhìn xa trông rộng, lãnh đạo được khoa học, chỉ ra được quy luật phát triển của khoa học. Môi trường văn hoá đó khiến rất nhiều người trên trời dưới bể về các vấn đề khoa học.  Thứ ba là nguyên nhân chính trị. Đến nay, “dư độc” của việc coi thường tột bậc nhà khoa học, hết lời ca ngợi  “quần chúng lao động sáng tạo” thời “Đại nhảy vọt” và “Cách mạng văn hoá” vẫn tồn không ít. Hết Cách mạng văn hoá, người ta vẫn kêu gọi toàn dân “tiến quân vào khoa học”, xem việc nghiên cứu khoa học như phong trào quần chúng. Tiếp đến là tôn Trần Cảnh Nhuận3 làm gương cho cả nước học tập, khiến tỉnh nào huyện nào cũng xuất hiện ngàn vạn Trần Cảnh Nhuận.  Hiện nay thì phần nhiều vì kinh tế. Do chính sách thúc đẩy kỹ thuật, khi nhiều người nghiên cứu chuyên nghiệp dùng những kết quả giả dối để kiếm tiền thì nhà khoa học hoang tưởng cũng xây mộng dùng “thành quả khoa học kỹ thuật” để phát tài, cuối cùng cố ý hay vô ý mà lừa đảo. Việc này không phải không có tiền lệ. 20 năm trước, trò “biến nước thành xăng” của anh chàng lái xe bus Vương Hồng Thành đã nhận được sự hỗ trợ lớn của đủ các cơ quan nhà nước, đến 10 năm sau mới bị lộ, làm nhà nước thiệt hại tới hơn 400 triệu tệ. Năm 1999, ở Nam Nhai, Hà Nam, người ta bắt đầu chế tạo “động cơ vĩnh cửu” theo thiết kế của bí thư Vương Văn Bân. Mất 4 năm và hơn 20 triệu tệ, người ta mua được bài học là trên đời này không tồn tại động cơ vĩnh cửu.  Nhờ những nguyên nhân chồng chéo kể trên mà viễn cảnh phồn thịnh của các nhà khoa học hoang tưởng Trung Quốc còn dài. Chỉ cần không lừa đảo thì họ vẫn có quyền hạnh phúc trong hoang tưởng, không việc gì phải thay đổi. Đã gàn dở thì không thể nói suông mà thay đổi. Giờ tôi vẫn chưa thấy một nhà khoa học hoang tưởng nào nhờ được chỉ bảo mà lột xác. Nhưng với những nhà nghiên cứu nghiệp dư không cố chấp thì chúng ta có thể thẳng thắn với họ:  Thứ nhất, yêu khoa học là điều tốt, song phải hiểu rõ hạn chế của bản thân. Trong bối cảnh khoa học đã phát triển ở mức rất cao, tính chuyên nghiệp càng ngày càng sâu sắc như hiện nay, thì người không được đào tạo quy củ sẽ không thể có phát minh lớn; không việc gì phải giải quyết việc trên trời dưới biển mà chỉ cần giải quyết các vấn đề nhỏ trong tầm tay. Trong các việc như quan trắc thiên văn, quan sát thiên nhiên, phát hiện hoá thạch hay các loài sinh vật mới… thì nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn có đất dụng võ để khỏi bị biến thành nhà khoa học hoang tưởng.  Thứ hai, nên gắng hợp tác với các nhà khoa học, tôn trọng học thuật, cố theo đường thông thường để được giới khoa học thừa nhận, không nên lợi dụng báo chí hay sự suy tôn dân gian để bức các nhà khoa học. Mà làm vậy cũng không kết quả.    Báo chí cũng không nên tung hô các nhà khoa học hoang tưởng, vừa khiến họ không thể trở lại cuộc sống bình thường, vừa khiến công chúng hiểu lầm về giới khoa học, nghĩ rằng giới khoa học đang đè nén những thiên tài thực thụ. Những người làm báo không có kiến thức khoa học chuyên nghiệp, không phân biệt được thật giả cũng nên xác định lại vị trí, đừng nghĩ mình là vua không vương miện trong giới khoa học. Nghiên cứu khoa học có quy luật riêng. Trong lịch sử khoa học, xưa nay chưa từng có sự can thiệp bên ngoài nào thúc đẩy được khoa học, bất kể đó là chính trị, tôn giáo, hay báo chí.    Việt Anh dịch – “Báo Quan sát kinh tế” (TQ)  —————  Kì thực danh hiệu “nhà khoa học dân gian” không thỏa đáng, dễ khiến người ta lầm rằng khoa học có hai loại chính thống và dân gian. Vì thế tôi muốn dùng danh hiệu “nhà khoa học hoang tưởng” để chỉ những người không qua đào tạo bài bản, không đủ kiến thức chuyên môn nhưng lại tự cho mình đã có những phát minh vĩ đại. Vì không được giới khoa học thừa nhận nên họ dốc kiệt đời mình để chứng chứng tỏ bản thân.     Nhà khoa học hoang tưởng không phải “đặc sản” của Trung Quốc. Nửa thế kỷ trước, Martin Gardner1 đã miêu tả 5 đặc điểm của các nhà khoa học hoang tưởng phương Tây như sau:  – Họ tự cho mình là thiên tài  – Họ cho rằng tất cả những nhà khoa học nghiên cứu cùng vấn đề như họ đều ngu dốt  – Họ nghĩ rằng mình bị giới “học phiệt” kỳ thị và đàn áp  – Họ hết sức công kích những nhà khoa học vĩ đại nhất cùng những lý thuyết khoa học cơ bản nhất  – Tác phẩm của họ vô lý, dùng một lượng lớn thuật ngữ tự nghĩ ra, lời lẽ rối rắm  Thế nhưng những nhà khoa học hoang tưởng Trung Quốc còn thêm những nét “đặc sắc Trung Quốc”. Ngoài việc bị giới “học phiệt đàn áp”, họ còn phải chịu thêm áp bức từ “khoa học phương Tây”, do là người Trung Quốc nên bị kỳ thị. Mang lòng tin không thể lay chuyển, họ “treo nghìn vàng cho ai khiêu chiến”, thậm chí đòi “một phen sống mái”.  Thế nhưng, giả dụ có người “ứng chiến”, chỉ ra chỗ sai lầm thì họ thà chết không nhận sai. Trở nên mẫn cảm với phê bình, họ càng phản ứng càng dữ dội. Ai mà tình cờ phê phán mấy câu, họ thù. Họ cay cú, từ bỏ cuộc sống bình thường, chỉ theo đuổi mục đích duy nhất là tranh biện. Cũng có lúc họ làm báo chí cảm động mà bất bình thay.  Ngoài ra, còn một  “đặc sắc Trung Quốc” nữa mà phương Tây còn phải theo dài là số lượng nhà khoa học hoang tưởng. Luôn thấy bóng các nhà khoa học hoang tưởng tại các cổng viện nghiên cứu trường, đại học; trên các diễn đàn khoa học online thì tràn ngập. Nói không ngoa, cứ một, hai tuần là tôi lại nhận được một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học hoang tưởng với mong muốn tôi giải oan cho “nạn nhân của nền khoa học hủ bại”; đề nghị sau này cùng chung hưởng danh tiếng và lợi nhuận. Có người gửi liên tục. Đặc biệt, có người còn gửi cho tôi vài chục lần cái gọi là đề án “động cơ vĩnh cửu”.  Có mấy nguyên nhân khiến Trung Quốc thịnh hành các nhà khoa học hoang tưởng. Đầu tiên là nguyên nhân truyền thống. Trung Quốc không hề có truyền thống khoa học, chỉ có truyền thống kỹ thuật, “bốn phát minh lớn” 2 (tứ đại phát minh) mà người Trung Quốc vẫn sung sướng nhắc đi nhắc lại chính là nó. Kỳ thực, tư tưởng, phương pháp và nội hàm của khoa học và kỹ thuật khác xa nhau, thế nhưng người Trung Quốc lại thường gộp lại. Phát minh kỹ thuật có lúc chỉ cần nhờ vào kinh nghiệm và thông minh là nảy ra, một số người lại lầm tưởng đã tìm ra đường tắt cho khoa học.  Thứ hai là nguyên nhân văn hoá. Trước kia Trung Quốc không có ý thức về “tính chuyên nghiệp”, chỉ thích “toàn tài”, “đa tài”, không xem trọng – thậm chí xem thường – người chuyên nghiệp; cho rằng chỉ cần ngộ “đạo” là có thể thấu suốt mọi điều, vấn đề gì cũng có thể giải thích, lĩnh vực nào cũng có thể ngồi phán. Quan niệm đó rất phổ biến trong giới nhân văn. Trong mắt họ, nhà khoa học chỉ là những kỹ thuật viên tỉ mẩn – không như họ, nắm được tư tưởng triết học tiên tiến rồi thì có tầm nhìn xa trông rộng, lãnh đạo được khoa học, chỉ ra được quy luật phát triển của khoa học. Môi trường văn hoá đó khiến rất nhiều người trên trời dưới bể về các vấn đề khoa học.  Thứ ba là nguyên nhân chính trị. Đến nay, “dư độc” của việc coi thường tột bậc nhà khoa học, hết lời ca ngợi  “quần chúng lao động sáng tạo” thời “Đại nhảy vọt” và “Cách mạng văn hoá” vẫn tồn không ít. Hết Cách mạng văn hoá, người ta vẫn kêu gọi toàn dân “tiến quân vào khoa học”, xem việc nghiên cứu khoa học như phong trào quần chúng. Tiếp đến là tôn Trần Cảnh Nhuận3 làm gương cho cả nước học tập, khiến tỉnh nào huyện nào cũng xuất hiện ngàn vạn Trần Cảnh Nhuận.  Hiện nay thì phần nhiều vì kinh tế. Do chính sách thúc đẩy kỹ thuật, khi nhiều người nghiên cứu chuyên nghiệp dùng những kết quả giả dối để kiếm tiền thì nhà khoa học hoang tưởng cũng xây mộng dùng “thành quả khoa học kỹ thuật” để phát tài, cuối cùng cố ý hay vô ý mà lừa đảo. Việc này không phải không có tiền lệ. 20 năm trước, trò “biến nước thành xăng” của anh chàng lái xe bus Vương Hồng Thành đã nhận được sự hỗ trợ lớn của đủ các cơ quan nhà nước, đến 10 năm sau mới bị lộ, làm nhà nước thiệt hại tới hơn 400 triệu tệ. Năm 1999, ở Nam Nhai, Hà Nam, người ta bắt đầu chế tạo “động cơ vĩnh cửu” theo thiết kế của bí thư Vương Văn Bân. Mất 4 năm và hơn 20 triệu tệ, người ta mua được bài học là trên đời này không tồn tại động cơ vĩnh cửu.  Nhờ những nguyên nhân chồng chéo kể trên mà viễn cảnh phồn thịnh của các nhà khoa học hoang tưởng Trung Quốc còn dài. Chỉ cần không lừa đảo thì họ vẫn có quyền hạnh phúc trong hoang tưởng, không việc gì phải thay đổi. Đã gàn dở thì không thể nói suông mà thay đổi. Giờ tôi vẫn chưa thấy một nhà khoa học hoang tưởng nào nhờ được chỉ bảo mà lột xác. Nhưng với những nhà nghiên cứu nghiệp dư không cố chấp thì chúng ta có thể thẳng thắn với họ:  Thứ nhất, yêu khoa học là điều tốt, song phải hiểu rõ hạn chế của bản thân. Trong bối cảnh khoa học đã phát triển ở mức rất cao, tính chuyên nghiệp càng ngày càng sâu sắc như hiện nay, thì người không được đào tạo quy củ sẽ không thể có phát minh lớn; không việc gì phải giải quyết việc trên trời dưới biển mà chỉ cần giải quyết các vấn đề nhỏ trong tầm tay. Trong các việc như quan trắc thiên văn, quan sát thiên nhiên, phát hiện hoá thạch hay các loài sinh vật mới… thì nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn có đất dụng võ để khỏi bị biến thành nhà khoa học hoang tưởng.  Thứ hai, nên gắng hợp tác với các nhà khoa học, tôn trọng học thuật, cố theo đường thông thường để được giới khoa học thừa nhận, không nên lợi dụng báo chí hay sự suy tôn dân gian để bức các nhà khoa học. Mà làm vậy cũng không kết quả.  Báo chí cũng không nên tung hô các nhà khoa học hoang tưởng, vừa khiến họ không thể trở lại cuộc sống bình thường, vừa khiến công chúng hiểu lầm về giới khoa học, nghĩ rằng giới khoa học đang đè nén những thiên tài thực thụ. Những người làm báo không có kiến thức khoa học chuyên nghiệp, không phân biệt được thật giả cũng nên xác định lại vị trí, đừng nghĩ mình là vua không vương miện trong giới khoa học. Nghiên cứu khoa học có quy luật riêng. Trong lịch sử khoa học, xưa nay chưa từng có sự can thiệp bên ngoài nào thúc đẩy được khoa học, bất kể đó là chính trị, tôn giáo, hay báo chí.    Việt Anh dịch – “Báo Quan sát kinh tế” (TQ)  —————  CHÚ THÍCH:  1. Martin Gardner (1914- ): Nhà toán học, rất nổi tiếng với các tác phẩm phổ biến khoa học, đặc biệt  ông chuyên vạch trần khoa học giả mạo.  2. Tứ đại phát minh: la bàn, thuốc súng, kỹ thuật làm giấy và kỹ thuật in ấn.  3. Trần Cảnh Nhuận (1933 – 1996), nhà toán học Trung Quốc nổi tiếng thế giới. Vì có thời đang làm ở  thư viện ông vẫn nghiên cứu giải quyết Bài toán Waring, Phỏng đoán Goldbach và Phỏng đoán Legendre nên mới được xưng tụng.  2 ảnh trên: Phương Chu Tử , Martin Gardner, những người chuyên chống giả mạo trong khoa học.    Phương Chu Tử      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao đàn ông vẫn còn tồn tại cho tới nay?      Các nhà khoa học đã phát hiện thấy, thiên nhiên cho phép  tồn tại giống đực chỉ vì một mục đích: tình trạng các con đực tranh  giành con cái sẽ giúp cải thiện nòi giống.       Trong nhiều thế kỷ qua, loài người không  ngừng tranh cãi về ý nghĩa của giống đực và giống cái. Tuy đa số đàn ông  cho rằng họ đóng vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ của nhân loại  nhưng ở nhiều loài động vật, sự tồn tại của giống đực không có ý nghĩa  lớn. Ngày nay, các nhà khoa học đã phát hiện thấy, thiên nhiên cho phép  tồn tại giống đực chỉ vì một mục đích: tình trạng các con đực tranh  giành con cái sẽ giúp cải thiện nòi giống.   Kết quả nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Nature số mới đây.  Trong thiên nhiên. giống đực nhiều loài vật hoàn toàn không nuôi con mà chỉ cung cấp tinh dịch cần thiết cho sự thụ tinh của tế bào trứng. Theo thuyết Tiến hóa, sự chọn lọc tự nhiên có thể đào thải mọi thứ hiệu suất kém, như vậy cuối cùng thiên nhiên sẽ chỉ còn sinh sản vô tính (asexual reproduction), bởi lẽ như thế có thể sinh ra nhiều thế hệ sau. Rất nhiều loại ốc sên, côn trùng, loài bò sát và cá mập đều có thể thực hiện sinh sản vô tính, trứng không thụ tinh cũng có thể phát triển thành phôi thai.  Hiện nay, các nhà khoa học đã biết vì sao sinh sản vô tính chỉ là hiện tượng hiếm hoi trong thế giới động vật: sự chọn lọc giới tính (sexual selection, còn gọi là sự đào thải giới tính, đào thải cái-đực) làm cho những con đực thích hợp nhất giành được con cái và truyền gene của chúng cho thế hệ sau. Điều đó có lợi cho sự sinh sôi nảy nở của toàn bộ giống nòi chúng.   Giáo sư Matt Gage của trường sinh học thuộc đại học East Anglia (Anh), lãnh đạo nhóm nghiên cứu dự án nói trên, cho biết: “Hầu hết các loài sinh vật đa bào (multicellular species) trên trái đất này đều sinh sản lưỡng tính (sexual reproduction), nhưng không dễ giải thích hiện tượng đó, bởi lẽ giới tính (sex) đem lại gánh nặng rất lớn cho các loài sinh vật; điều rõ ràng nhất là chỉ có một nửa thế hệ sau (con gái) mới có thể sinh nuôi con. Thế thì vì cớ gì mà phải phung phí công sức vào việc nuôi lũ con trai? Một cộng đồng toàn bộ là phụ nữ sinh sản vô tính sẽ có thể là con đường hiệu quả hơn nhiều để sinh sản được nhiều thế hệ sau. Qua nghiên cứu thí nghiệm, chúng tôi phát hiện: trong quá trình sinh sản, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các con đực quả thật sẽ đem lại lợi ích quan trọng, bởi lẽ điều đó có thể nâng cao sức khỏe di truyền (genetic health) của cả cộng đồng. Sự cạnh tranh đó gọi là chọn lọc giới tính, nó có tác dụng như một bộ lọc, có thể khử các đột biến gene có hại, qua đó làm cho nòi giống sinh sôi nảy nở mà không bị diệt vong”.  Charles Darwin đầu tiên đưa ra ý tưởng về chọn lọc giới tính, trong đó con đực cạnh tranh để được sinh sản và con cái được lựa chọn con đực. Đây là lý do vì sao trong thế giới động vật, con đực bao giờ cũng có màu sắc sặc sỡ hơn con cái và chúng tranh nhau ve vãn con cái. 　  Để tìm hiểu tính chất quan trọng của vấn đề chọn lọc giới đối với sinh sản lưỡng tính, các nhà khoa học đã bỏ ra 10 năm thí nghiệm sự sinh sản của một đàn bọ cánh cứng bột Tribolium (Tribolium flour beetles) trong phòng thí nghiệm và quan sát sự tiến hóa của chúng. Họ chia đàn bọ ra làm rất nhiều nhóm. Có những nhóm họ bố trí 90 con đực tranh nhau 10 con cái, như vậy các con cái sẽ có rất nhiều lựa chọn. Có những nhóm một con đực có một con cái, như thế con cái sẽ không có sự lựa chọn nào. Duy trì không đổi điều kiện phối giống như vậy sau bảy năm, khi chúng sinh sản được khoảng 50 thế hệ bọ cánh cứng, các nhà khoa học tiến hành kiểm tra chất lượng gene của từng nhóm.   Kết quả là họ phát hiện thấy ở nhóm mà những con đực phải cạnh tranh để giành con cái thì con đực thế hệ sau đều khỏe mạnh và có sức đề kháng tốt với bệnh tật và sự nội phối (inbreeding, sự giao phối giữa các cá thể có quan hệ huyết thống gần nhau). Ngược lại ở các nhóm “một vợ một chồng”, con cái không có sự chọn lọc giới thì do nguyên nhân nội phối, sau 10 thế hệ, các con bọ trở nên suy yếu tới mức bị diệt vong.  Trong thiên nhiên, sự chọn lọc giới làm cho rất nhiều động vật giống đực phải cạnh tranh gay gắt với nhau, như hươu đực chọi nhau chí chết để tranh hươu cái; chim Thiên đường đực phải cố nhảy múa những điệu vũ phức tạp đẹp mắt nhằm ve vãn chim cái. Để thắng trong sự chọn lọc giới, các loài giống đực không những phải giữ cho mình khỏe mạnh mà phải có thân hình cao to. Muốn đạt yêu cầu ấy, chúng phải nhờ tới sự giúp đỡ của gene.  Qua sự chọn lọc giới, các gene truyền lại cho đời sau có thể bảo đảm nòi giống được khỏe mạnh và tồn tại lâu dài. GS Gage nói: “Không có sex thì các gene không khỏe mạnh sẽ tiếp tục được truyền lại cho thế hệ sau. Mỗi lần những gene xấu xảy ra đột biến sẽ làm cho giống nòi tiến gần tới diệt vong. Chọn lọc giới sẽ giúp cho việc lọc bỏ những đột biến đó, trừ khử mối họa ấy. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trực tiếp ủng hộ lý thuyết này. Vì chọn lọc giới có ý nghĩa quan trọng như vậy đối với các loài vật nên sinh sản lưỡng tính tự nhiên trở thành mô hình sinh sản chủ yếu trong thiên nhiên.” 　  NG.H theo các nguồn:   http://www.telegraph.co.uk/news/science/science-news/11613499/Why-do-men-still-exist-Scientists-finally-find-the-answer.html            http://www.washingtonpost.com/news/speaking-of-science/wp/2015/05/18/scientists-examine-why-men-even-exist/                                                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao không đo được ngày sao Thổ?      Kỳ lạ thay, các nhà thiên văn không biết một ngày sao Thổ dài bao nhiêu tiếng, bởi họ không thể khắc phục được trở ngại đối với hành tinh khí khổng lồ này.    Trong một thời gian dài, người ta đã thực hiện các phép đo radio về từ trường của sao Thổ để dự đoán độ dài ngày của nó. Kỹ thuật này tỏ ra khá hiệu quả với các hành tinh lớn khác. Tuy nhiên quan sát mới đây cho thấy các đường sức từ của sao Thổ không bắt kịp tốc độ tự quay nó.  Giờ đây, các nhà khoa học đã biết vì sao. Nguyên nhân của hiện tượng này là do các mạch phun trào từ vệ tinh Enceladus của sao Thổ ảnh hưởng đến từ trường của hành tinh mẹ, mạnh đến nỗi từ trường đó quay chậm hơn bản thân sao Thổ, dù Enceladus chỉ rộng khoảng 500 km.  “Không ai có thể ngờ rằng vệ tinh nhỏ bé Enceladus có thể ảnh hưởng đến kỹ thuật radio vốn được dùng từ lâu để xác định độ dài ngày sao Thổ”, Don Gurnett từ Đại học Iowa cho biết.  Như vậy, độ dài ngày chính xác của sao Thổ vẫn còn là bí ẩn, người ta chỉ biết rằng một năm của nó dài hơn 29 năm trái đất.  T. An (theo Space)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao Mỹ không hợp tác thăm dò vũ trụ với TQ      Cho tới nay, Mỹ vẫn không hợp tác với Trung  Quốc về mặt thăm dò vũ trụ. Mạng Tech Insider ngày 19/10/2015 giải thích  đó là vì năm 2011, Quốc hội Mỹ từng thông qua một dự luật cấm NASA làm  việc với Trung Quốc do có nguy cơ cao về hoạt động gián điệp.&#160;     Hiện nay dự án hợp tác quốc tế lớn nhất Mỹ tham gia là Trạm Vũ trụ quốc tế ISS, do Mỹ, Nga, châu Âu, Nhật, Canada xây dựng và bảo trì. Trong 16 năm ISS tồn tại, Trung Quốc chỉ mới tham gia một thí nghiệm vật lý sử dụng từ phổ kế Alpha và thông qua đại diện là một công ty Mỹ đặt lên ISS một thiết bị nhỏ. Mới đây, tại Đại hội Du hành vũ trụ quốc tế ở Jerusalem, Giám đốc Cơ quan Vũ trụ Nga nói ISS sẽ mở cửa cho các nước khác tham gia, kể cả Trung Quốc.     Do lệnh cấm của Quốc hội Mỹ mà các nhà du hành vũ trụ Trung Quốc chưa hề được lên Trạm ISS. Tuy vậy, Trung Quốc đã đạt được bước tiến vượt bậc về thám hiểm vũ trụ, trở thành quốc gia thứ ba đưa được người lên quỹ đạo trái đất và đang xây dựng trạm vũ trụ riêng của họ.    Ngày 29/9/2011, Trung Quốc phóng Trạm Thiên cung-1 lên quỹ đạo, sau đó đã ba lần thành công ghép nối các tàu Thần Châu 8, 9, 10 với Trạm vũ trụ thí nghiệm này. Thiên Cung-2 và 3 sẽ được phóng vào 2016 và 2017.    Mới đây Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc (CNSA, China National Space Administration) cho biết năm 2020 sẽ lắp xong Trạm Vũ trụ Trung Quốc gồm ba module, năm 2022 đưa người lên làm việc lâu dài trong vũ trụ. CNSA mong muốn có nhiều đối tác quốc tế sử dụng trạm này.     Châu Âu và Nga đã ký hiệp định với Trung Quốc hợp tác làm thí nghiệm khoa học trên Trạm Vũ trụ Trung Quốc. NASA nhìn thấy mặt lợi của việc hợp tác với CNSA nhưng tạm thời chưa tham gia.    Khi trả lời phỏng vấn về khả năng NASA hợp tác với CNSA, Giám đốc NASA Charles Bolden nói: “Có lẽ khả năng đó sẽ không xảy ra trong nhiệm kỳ tôi lãnh đạo NASA, và đó là điều đáng tiếc.”     Bolden cho rằng Quốc hội Mỹ cấm NASA hợp tác với Trung Quốc chỉ là “tạm thời” chứ không nhất định sẽ cản trở sự hợp tác. Ông nói: “Tôi không muốn ai đó cho rằng chúng tôi không hợp tác với Trung Quốc.” Bolden đã hai lần thăm Trung Quốc theo lời mời của CNSA.  Nguyên Hải tổng hợp    Nguồn:  – http://www.techinsider.io/nasa-china-collaboration-illegal-2015-10 19/10/2015  Here’s why NASA won’t work with China to explore space    – http://aviationweek.com/space/china-says-space-station-assembly-will-start-2018   China Says Space Station Assembly Will Start In 2018    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao người trẻ học dễ hơn?      Các nhà khoa học tại Đại học Oxford, Anh tìm thấy người lớn học khó khăn hơn trẻ em bởi bộ não của họ lưu trữ thông tin theo một cách khác.    Các chuyên gia cho biết não người trẻ có thể tiếp thu thứ mới nhanh hơn, nhưng não người già lại lưu trữ thông tin một cách hiệu quả hơn.  Nhóm tìm hiểu về quá trình xử lý tế bào thần kinh ở chuột già và chuột non. Tế bào thần kinh giao tiếp bằng cách gửi tín hiệu thông qua các khớp thần kinh. Nhưng một số khớp bị câm và không hoạt động khi tín hiệu hoá học được chuyển qua các tế bào.  Nhóm sử dụng công nghệ chụp hình laser có độ chi tiết cao để tìm hiểu các khớp thần kinh hoạt động như thế nào. Họ tập trung vào hoạt động điện tử và cử động của phân tử ion canxi. Nhóm tìm thấy những khớp thần kinh bị câm nổi trội hơn ở não trẻ – hoạt động tích cực khi những ký ức mới được thu nạp.  ở não già hơn có ít khớp câm hơn – có thể là do chúng đã bị sử dụng hết. Điều này có nghĩa là não phải sử dụng lại những khớp không bị câm, gia tăng công suất cho chúng để tăng cường hoạt động truyền tín hiệu thần kinh.  Tiến sĩ Nigel Emptage, nhận định kết quả có thể giúp lý giải sự khác biệt trong việc học của người lớn và người trẻ. “Trẻ con bao giờ cũng lưu trữ thông tin mới nhanh hơn, chẳng hạn như ngôn ngữ. Nhưng khi lớn lên, việc ghi nhớ sẽ trở nên khó khăn hơn. Đó là do cách chúng ta lưu trữ thông tin đã thay đổi về mặt cơ bản, vì chúng ta phải viện đến những bộ phận đã qua sử dụng”.  M.T. (theo BBC)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Vì sao phải thăm dò nước trên Mặt Trăng?      Mặt Trăng là thiên thể đang thu hút nhiều  nhất sự quan tâm của các quốc gia thám hiểm vũ trụ. Trừ Mỹ ra, Trung  Quốc, Nhật, Ấn Độ, Nga, Hàn Quốc, Ukraine đều chỉ tập trung thăm dò Mặt  Trăng.    Đó là do các kết quả thăm dò và nghiên cứu cho thấy:     – Mặt Trăng là địa điểm tốt nhất để quan sát, theo dõi tình trạng biến đổi của toàn bộ Trái Đất. Dùng vệ tinh chỉ theo dõi được một phần. Trái Đất đang có những thay đổi đáng ngại về sinh thái, môi trường, sự nóng lên của khí hậu, lỗ thủng ozone và các thiên tai… nếu không theo dõi để báo động và cứu chữa kịp thời thì sẽ rất tai hại.     – Mặt Trăng là phòng thí nghiệm lý tưởng trong vũ trụ để tiến hành nhiều thí nghiệm không thể hoặc rất khó thực hiện được trên Trái Đất, để sản xuất các thứ như chế phẩm sinh học, sản phẩm điện tử chất lượng cao. Đó là vì trên Mặt Trăng không có không khí nên độ chân không cực cao, không có sự hấp thu và bức xạ sóng điện từ, không có địa từ trường, không có nguồn tiếng động, không có ô nhiễm, và trường trọng lực rất yếu.     – Mặt Trăng có hai loại tài nguyên sẽ đóng góp to lớn cho loài người: 1) Năng lượng Mặt Trời cực kỳ phong phú. 2) Các loại khoáng sản: có nhiều Heli 3, là loại nguyên liệu tốt nhất, sạch nhất, rẻ nhất để chạy nhà máy phát điện nhiệt hạch. Mỗi năm chỉ cần khoảng 100 tấn Heli 3 là đủ cung cấp điện cho cả thế giới. 1 tấn Heli 3 khai thác tại Trái Đất có giá thành 10 tỷ USD, nếu khai thác từ Mặt Trăng và chở về Trái Đất chỉ có 0,8 tỷ USD. Heli 3 trên Mặt Trăng đủ cho loài người dùng hàng chục nghìn năm. Ngoài ra còn có với khối lượng lớn nhiều nguyên liệu quý hiếm như đất hiếm, Urani, sắt, Titan chất lượng cao (150.000 tỷ tấn).     – Vị trí của Mặt Trăng trong Hệ Mặt Trời và các đặc điểm môi trường của bản thân khiến nó trở thành bãi thử, thành ngưỡng cửa để loài người đi ra khỏi cái nôi Trái Đất tiến vào không gian xa xôi, là địa điểm lý tưởng để từ đây phóng tàu vũ trụ thăm dò các thiên thể khác với giá thành thấp hơn khi phóng từ Trái Đất.     Dĩ nhiên chỉ có thể tận dụng được các lợi thế đó khi nào con người sống được trên Mặt Trăng.     Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ đã phóng tàu thăm dò Mặt Trăng, Mỹ đã 6 lần đưa người đặt chân lên Mặt Trăng. Sau chuyến Appolo 17 (phóng 12/7/1972), Mỹ ngừng thăm dò Mặt Trăng. Tháng 1/2004, Tổng thống Bush cha đề xuất kế hoạch thăm dò vũ trụ mới gồm Trở lại Mặt Trăng (dự định năm 2018 đưa người lên Mặt Trăng với kinh phí 104,1 tỷ USD) và thăm dò Sao Hỏa. Tháng 6/2009, NASA khởi động chương trình Trở lại Mặt Trăng bằng việc phóng tàu LRO và vệ tinh LCROSS. Nhưng tháng 2/2010, Tổng thống Obama hủy chương trình trên với lý do tốn quá nhiều kinh phí, tiến độ thực hiện chậm và nhiều người nghi ngờ tính cần thiết tiếp tục nghiên cứu Mặt Trăng. Obama muốn dồn kinh phí cho việc thăm dò khả năng đưa người đổ bộ lên các Tiểu hành tinh và Sao Hỏa.     Ngày 24/1/1990, Nhật phóng tàu thăm dò Mặt Trăng có tên Hiten, là nước thứ ba thực hiện thám hiểm Mặt Trăng. Ngày 14/9/2007 Nhật lại phóng vệ tinh Nữ thần Mặt Trăng SELENE, là sứ mạng thăm dò Mặt Trăng lớn nhất sau chương trình Appolo của Mỹ. Ngày 24/10/2007, Trung Quốc phóng vệ tinh Hằng Nga-1 (Chang E-1), bay vòng Mặt Trăng. Ngày 22/10/2008, Ấn Độ phóng vệ tinh Chandrayaan-1 (Xe Mặt Trăng), ngoài 1 vệ tinh bay vòng còn có thiết bị hạ cánh đặt quốc kỳ nước này lên Mặt Trăng (quốc gia thứ 4 sau Nga, Mỹ, Nhật làm việc đó). Ngày 1/10/2010, Trung Quốc phóng vệ tinh Hằng Nga-2; sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ngày 9/6/2011 nó bay đi khảo sát Tiểu hành tinh Toutatis rồi bay tiếp vào vũ trụ. Trung Quốc dự định nửa cuối năm 2013 phóng Hằng Nga-3 và hạ cánh một xe-robot xuống phân tích mẫu đất đá Mặt Trăng.    Ngày 15/1/2013, Cơ quan hàng không vũ trụ Nga (Roscosmos) tuyên bố sẽ phóng một tàu vũ trụ không người lái lên mặt trăng vào năm 2015. Hàn Quốc dự kiến năm 2023 sẽ phóng vệ tinh và một thiết bị hạ cánh xuống Mặt Trăng; năm 2030 phóng thiết bị hạ cánh Mặt Trăng lấy mẫu đất đá về Trái Đất. EU, Brazil, Đức cũng có dự án thăm dò Mặt Trăng.  Hiển nhiên, để có thể dùng Mặt Trăng làm căn cứ địa từ đó thám hiểm các thiên thể khác, con người cần sinh sống được trên Mặt Trăng. Không khí và nước là hai thứ cần nhất cho sự sống của mọi sinh vật. Đặc biệt, từ nước có thể lấy được hydro làm nhiên liệu tên lửa, lấy được oxy để hít thở. Vì vậy từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm vấn đề Mặt Trăng có nước hay không.    Trước kia người ta cho rằng Mặt Trăng không thể có nước. Lý do là nó gần Mặt Trời nên rất nóng, ban ngày nóng tới 100 độ C, giả thử có nước thì cũng bốc hơi hết. Hơn nữa trọng lực trên Mặt Trăng yếu, không đủ sức giữ được hơi nước.     Năm 1961, nhà khoa học Mỹ Waton đề xuất giả thiết vùng cực Mặt Trăng tồn tại nước ở dạng băng nước (water ice) dưới các hố sâu không bao giờ thấy ánh Mặt Trời. Nhưng trong hơn 30 năm sau đó các vệ tinh nhân tạo bay vòng Mặt Trăng, các thiết bị hạ cánh xuống Mặt Trăng thăm dò và các nhà du hành vũ trụ đặt chân lên đây khảo sát thực địa cũng như kết quả phân tích các mẫu đất đá Mặt Trăng đều không tìm thấy chứng cớ xác thực sự tồn tại nước. Bởi vậy lâu nay phần lớn giới khoa học đều cho rằng trên bề mặt Mặt Trăng không tồn tại bất cứ hình thức nào của nước.     Tháng 11/2009, NASA tuyên bố việc họ cho vệ tinh LCROSS đâm xuống Mặt Trăng đã đem lại một kết quả cực kỳ quan trọng là phát hiện thiên thể này đúng là có nước. Ngày 1/3/2010, NASA lại tuyên bố đã tìm thấy chứng cớ mạnh mẽ về sự tồn tại nước ở thể rắn (băng) trên Mặt Trăng.    Nếu như các phát hiện sự tồn tại băng nước tại vùng cực Mặt Trăng do hai tàu thăm dò Clementine và Lunar Prospector (phóng ngày 25/1/1994 và 7/1/1998) thực hiện đã dấy lên cao trào trở lại Mặt Trăng hồi cuối thập niên 90 thì những tuyên bố nói trên của NASA lại thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận, nhiều người đưa ra ý tưởng xây dựng các căn cứ địa có người ở lâu dài trên Mặt Trăng.    Phân tích kết quả thăm dò của Clementine và Lunar Prospector, người ta ước tính tổng trữ lượng băng nước ở hai cực Mặt Trăng khoảng 6,6 tỷ tấn.    Ngày 31/7/1999, tàu Lunar Prospector được lệnh đâm xuống mục tiêu đã định tại cực Mặt Trăng với tốc độ 6115 km/h. Các nhà khoa học dự kiến vụ đâm này sẽ làm xuất hiện một đám mây có 18 kg hơi nước, nhưng thực tế kết quả đo đạc của kính Hubble và của trường Đại học Texas đều không thấy có bất cứ thông tin nào về nước.     Thực ra từ năm 1978 Liên Xô đã phát hiện trong mẫu đất đá Mặt Trăng do tàu Luna 24 của họ mang về có 0,1% nước. Nhưng phía Mỹ phủ nhận kết quả này, cho rằng đó là do Liên Xô bảo quản không tốt mẫu đất đá Mặt Trăng; lý do vì Mỹ không thấy có nước trong mấy trăm kg đất đá Mặt Trăng họ lấy được. Thế nhưng nhờ tiến bộ của công nghệ phân tích, về sau chính người Mỹ trong một bài báo trên tạp chí Nature năm 2008 lại bác bỏ kết luận mẫu đất đá của Appolo không chứa nước.    Tại Hội thảo khoa học Mặt Trăng và các hành tinh lần thứ 41 họp tại Houston (3/2010), có công bố kết quả một thiết bị ra đa nhỏ xíu do NASA chế tạo lắp trên vệ tinh Chandrayaan-1 của Ấn Độ (phóng 22/10/2008) phát hiện vùng Bắc cực Mặt Trăng có hơn 40 hố va chạm (đường kính 1,6~15 km, do thiên thạch rơi xuống gây ra), trong đó tồn tại khoảng 600 triệu tấn băng nước lẫn với đất đá dưới đáy hố. Một phổ kế dùng để vẽ bản đồ khoáng sản Mặt Trăng do NASA chế tạo lắp trên vệ tinh này cũng phát hiện tại hầu như tất cả các vĩ độ của Mặt Trăng đều tồn tại gốc hydroxyl radical (-OH).    Tháng 3/2010 NASA công bố kết quả nghiên cứu những dữ liệu thu được được từ cuộc thí nghiệm cho tên lửa Centaur và vệ tinh truyền cảm LCROSS (Lunar Crater Observation and Sensing Satellite) lần lượt đâm vào bề mặt của Mặt Trăng hôm 9/10/2009. Theo đó, đất đá ở một số khu vực có thể chứa tới 5% nước đóng băng, đủ cung cấp cho một Trạm vũ trụ trên Mặt Trăng.    Vụ bắn tên lửa vào vùng vĩnh viễn tối của hố Cabeus (đường kính 100 km, chỗ sâu nhất 3,2 km) ở Nam cực Mặt Trăng đã làm một lượng lớn đất đá và bụi bay lên cao. Sau đó, NASA cho tàu vũ trụ quan trắc hố Mặt Trăng LRO (Lunar Reconnaissance Orbiter) bay ngang qua chỗ đó để thu thập các vật chất bắn ra từ hố Cabeus và phát hiện trong đó có khoảng 155 kg hơi nước và nước đóng băng cùng một số vật chất khác. Các số liệu này được phát ngay về Trái Đất và 4 phút sau, LCROSS cũng đâm vào hố Cabeus. Các phân tích tiến hành trong 1 tháng sau đó cho kết luận: Mặt Trăng có nước.    Tiến sĩ Anthony Colaprete, thuộc Trung tâm nghiên cứu Ames của NASA nói: “Phát hiện này vô cùng quan trọng vì nó là tiền đề cho việc xây dựng Trạm vũ trụ trên Mặt Trăng. Từ một tấn đất đá chứa 5% nước đóng băng có thể lấy được 40 ~ 45 lít nước sinh hoạt cho các nhà du hành vũ trụ.”    NASA cho biết lượng nước đóng băng không được phân phối đều ở vùng Nam cực Mặt Trăng mà chủ yếu tồn tại ở các khu vực như hố Cabeus vì ở đây có nhiệt độ rất thấp, dưới – 244 độ C. Trong điều kiện ấy băng có thể tồn tại hàng tỉ năm.    Dù sao, tất cả những khám phá nói trên về nước Mặt Trăng đều chỉ dùng phương pháp gián tiếp chứ chưa có chứng cớ trực tiếp. Vì vậy cuộc tranh cãi Mặt Trăng có thực sự tồn tại nước hay không vẫn còn tiếp tục. Ngoài ra khoa học cũng cần giải thích nước trên Mặt Trăng từ đâu mà ra? Mới đây người ta đã phân tích đất Mặt Trăng do các tàu Appolo đem về và đi tới kết luận dòng hạt mang điện (proton) của gió Mặt Trời liên tục thổi vào Mặt Trăng làm cho hydro của gió kết hợp với ôxy trong quặng sắt FeO của đất Mặt Trăng thành hydroxyl radical. Cũng có người cho rằng sao chổi (hàm lượng nước trên 70%) và tiểu hành tinh va chạm vào Mặt Trăng, các mảnh vỡ của chúng rơi xuống hố Mặt Trăng đem nước lẫn vào đất.    Ông Vương Tư Triều, chuyên gia ở Đài Thiên văn Tử Kim Sơn Trung Quốc đánh giá phát hiện nước trong thí nghiệm nói trên của NASA là cái mốc trong lịch sử thám hiểm Mặt Trăng. Nó tạo điều kiện để các nhà du hành vũ trụ sinh sống dài ngày trên Mặt Trăng. Nếu chở nước từ Trái Đất lên sẽ có giá thành cực cao, vì thế rất khó xây dựng căn cứ địa trên Mặt Trăng.     Thứ hai, từ nước có thể lấy được hydro và ôxy, từ đó làm ra nhiên liệu tên lửa và cung cấp ôxy dùng để đốt nhiên liệu của các tàu vũ trụ, thậm chí trực tiếp chuyển hóa thành nhiên liệu loại hydro. Các tàu vũ trụ có thể được “tiếp nhiên liệu” tại Mặt Trăng để tiếp tục bay xa hơn vào vũ trụ.    Thứ ba, nếu Mặt Trăng có nước thì suy ra các hành tinh khác trong và ngoài hệ Mặt Trời sẽ có thể có nước, tức có thể có sự sống. Điều đó sẽ giúp loài người nghiên cứu sự sống bên ngoài Trái Đất.    Đáng chú ý là nước trên Mặt Trăng đã phát hiện chỉ là băng nước chứ không phải nước ở thể lỏng; nó có thể là di tích của các vụ sao chổi đâm vào Mặt Trăng thời viễn cổ, tạo ra những hố sâu mấy tỷ năm qua chưa hề được ánh Mặt Trời chiếu vào, vì thế các loại vật chất dưới hố vẫn giữ được trạng thái ban đầu. Băng nước khác với nước đá ta thường thấy; nó lẫn lộn trong đất Mặt Trăng, vì thế phải nghiên cứu loại băng này.    Cũng có những quan điểm trái chiều về nước Mặt Trăng, cho rằng phát hiện nước Mặt Trăng chỉ có ý nghĩa nghiên cứu, chưa có triển vọng khai thác sử dụng.    Viện sĩ Âu Dương Tự Viễn của Trung Quốc nói: qua các số liệu đã biết, trong lớp đất Mặt Trăng ở vùng vĩnh viễn tối có tồn tại một hàm lượng băng nước cực nhỏ, chưa tới 1%, tức 1 kg đất chỉ có vài gam nước. Cho dù có nhiều băng nước đi nữa thì cũng cực kỳ khó sử dụng, vì ở nhiệt độ khoảng -240 độ C, dưới độ sâu vài km, tối như hũ nút thì rất khó làm nóng số băng đó để biến thành hơi nước rồi làm lạnh thành nước và chở đến căn cứ địa để sử dụng; hiện nay chưa loại thiết bị nào có thể hoạt động ở nhiệt độ thấp như vậy. Việc đào bới và chất đống đất Mặt Trăng lại càng khó, và dùng thiết bị gì để làm nóng chỗ đất ấy? tốn bao nhiêu năng lượng? lấy đâu ra năng lượng? Âu Dương Tự Viễn cho rằng dù có tìm được nước hay không thì loài người vẫn nhất định phải xây dựng căn cứ địa trên Mặt Trăng. Muốn vậy, vấn đề cần giải quyết nhất là bảo đảm điều kiện sống an toàn và năng lượng. Có năng lượng thì có thể giải quyết vấn đề nước. Thí dụ khai thác quặng sắt titan FeTiO3, cho phản ứng với hydro sẽ lấy được nước (FeTiO3+H2 = Fe+TiO2+H2O）Để làm ra 1 tấn nước cần xử lý 9 T quặng. Từ đầu thập niên 90 khi còn chưa biết Mặt Trăng có nước, Mỹ đã đề xuất chương trình xây dựng căn cứ địa trên đó.     Mặc dầu các nhà khoa học có thể tận sức tưởng tượng việc Mặt Trăng có bao nhiêu nước, nhưng thí nghiệm nói trên của NASA chỉ thực hiện tại hố Cabeus, hố này có đại diện cho các hố khác trên Mặt Trăng hay không, điều này chưa có câu trả lời.    New York Times bình luận: Mặt Trăng có nước nhưng nhiều vùng trên đó còn khô hơn cả sa mạc ở Trái Đất. Phát hiện nước Mặt Trăng đã trở thành lý do để nước Mỹ tiến hành dự án Trở lại Mặt Trăng. Tuy vậy cho tới nay đa số các nhà khoa học Mỹ cho rằng phát hiện đó không thể là lý do để Mỹ từ bỏ chương trình nghiên cứu sao Hỏa và các thiên thể khác. Tổng thống Obama nói hiện nay Mỹ chụp được bản đồ sao Hỏa còn rõ hơn cả bản đồ Mặt Trăng.   Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Nguồn:    – http://www.huanqiu.com 2010-10-22    – http://tech.sina.com.cn/d/2010-04-26/14534111467.shtml.     – http://epaper.yangtse.com/yzwb/2009-11/15/content_14289606.htm     – http://www.qikan.com.cn/Article/bkzs/bkzs201224/bkzs20122406.html     – http://scitech.people.com.cn/GB/10451870.html     – http://www.sina.com.cn 2002-05-17            Author                Quản trị        
__label__tiasang Vi sinh vật vẫn tồn tại ở Nam Cực trong kỷ băng hà      Nam Cực từng là nơi trú ngụ của nhiều loài vi sinh vật trong hàng chục triệu năm, theo kết luận mới được Nhóm khảo sát Nam Cực của Anh công bố.    Kết luận này làm đảo lộn những giả thuyết trước đây cho rằng các kỷ băng hà liên tiếp đã xóa sạch mọi sự sống trên vùng đất lạnh giá và cằn cỗi này. Chuyên gia Dominic Hodgson khẳng định chắc chắn có một vài vùng đất trên phần đất liền ở Nam Cực không bị đóng băng, ngay cả khi ở thời kỳ lạnh giá nhất của kỷ băng hà. Một số loài sinh vật rất nhỏ như giun, ve, sinh vật không cánh có hình dáng giống côn trùng cũng như một số loài thực vật, như các loại địa y, đã tiến hóa tại lục địa này từ hàng triệu năm trước chứ không phải được di cư đến đây từ khi khí hậu Trái Đất ấm lên như giới khoa học vẫn tưởng.   (Theo khoahoc.com)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Víctor Cruz-Atienza: Người săn tìm động đất      Khi các đợt sóng địa chấn của trận động đất xảy ra vào tháng 9/2017 với độ lớn 7.1  lan tới thành phố Mexico, các dự báo của một nhà địa chấn đã trở thành hiện thực.      Víctor Cruz-Atienza.  Năm 11 tuổi, Víctor Cruz-Atienza đã chứng kiến các chấn động rung lên ngay ở nhà của mình. Đó là sự kiện trận động đất với độ lớn 8.0 xảy ra ngày 19/9/1985 ở bờ biển Thái Bình Dương của Mexico,tạo ra sự bùng nổ năng lượng địa chấn lan truyềnkhắp đất nước. Cruz-Atienza sống với cha mẹ và anh trai ở phía nam thành phố Mexico, trong một ngôi nhà hai tầng xây trên nền  đá cứng. Đó là một vị trí tốt bởi phần lớn địa phận thành phố Mexico nằm trên nền trầm tích yếu (như một bát thạch lớn) đã bị rung lắc mạnh. Hậu quả là hàng trăm ngôi nhà bị sập và hàng trăm người chết.  Ngày đó đã ghi dấu ấn trong cuộc đời Cruz-Atienza. “Trải nghiệm về sự rung chuyển của nền đất luôn luôn đánh thức bản năng của tôi”, ông cho biết. Ông nhận thấy sức hút ở lĩnh vực địa vật lý khi học ở trường đại học tự trị quốc gia Mexico (UNAM), và tiếp tục theo học ở Pháp và Mỹ, tập trung sâu vào vật lý dịch trượt trong đứt gẫy địa chất.  Vào năm 2016, khi phụ trách Phòng Địa chấn học ở Viện Địa vật lý (UNAM), ông đã tập trung khả năng của mìnhvào giải quyết những vấn đề của thành phố quê hương. Trong một bài báo mang tính tiên phong, ông miêu tả năng lượng địa chấn từ một trận động đất sẽ bị bẫy lại tại khu vực xây dựng thành phố Mexico, vốn là một bồn trũng cổ. Các mô phỏng của ông đã cho thấy có những phần của thành phố có thể chịu những chấn động lớn nhất trong khoảng thời gian lâu nhất.    Vào ngày 19/9/2017, Cruz-Atienza mới tham gia một hội nghị quốc tế ở Portland, Maine (Đức),  thì biết tin về một trận động đất với độ lớn 7.1 xảy ra cách thành phố Mexico 120km. Ông đã tìm cách về nhà sớm nhất. Những dự đoán của ông đã được chứng thực: Với cấu trúc  bồn trũng, những trầm tích yếu ở đó có khả năng duy trì rung lắc lâu hơn khi chúng đi sâu vào lòng chảo.   Nhờ những quy phạm chặt chẽ về xây dựng được áp dụng kể từ sau trận động đất năm 1985 và khoảng thời gian diễn ra động đất ngắn mà số người chết đã giảm xuống. Tuy vậy Cruz-Atienza vẫn nỗ lực nghiên cứu. “Nâng cao hiểu biết của người dân [về động đất] là điều cốt lõi với anh ấy”, Jean Virieux, nhà địa chấn tại trường đại học Grenoble Alpes (Pháp) và người hướng dẫn Cruz-Atienza làm luận án tiến sỹ, nhận xét.  Vào năm 2013, Cruz-Atienza đã xuất bản một cuốn sách phổ biến khoa học Los Sismos: Una Amenaza Cotidiana (tạm dịch: “Các trận động đất: Mối hiểm họa thường trực”) với nội dung về “mối hiểm họa thường trực” do động đất gây ra. Và anh vẫn tiếp tục tiến về phía trước. Tháng trước, cộng tác với các đồng nghiệp Nhật Bản, anh đã dẫn đầu một chuyến tàu nghiên cứu để khám phá những  rủi ro địa chấn khác ở vùng bờ biển phía tây Mexico, nơi hai mảng của vỏ trái đất đụng độ và làm gia tăng ứng suất. Các nhà khoa học đã lắp đặt các thiết bị trắc địa và địa chấn ở đáy biển nhằm mục đích dự báo trận động đất  mạnh sẽ xảy ra tiếp theo.  “Mỗi trận động đất đều rất khác biệt, chúng đều có một câu chuyện riêng và những dư âm riêng”, Cruz-Atienza nhận xét.  Thanh Nhàn dịch  TS. Phạm Đình Nguyên (NAFOSTED) hiệu đính  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-017-07763-y/index.html#victor-cruz-atienza    Author                Quản trị        
__label__tiasang Victoria Kaspi: Đi săn bầu trời      Một nhà vật lý thiên văn theo đuổi các bùng phát sóng nhanh bí ẩn với một kính viễn vọng radio tiên tiến.      Victoria Kaspi. Nguồn: Science  Trong một phần tư thế kỷ, Victoria Kaspi đã sử dụng rất nhiều kính viễn vọng hàng đầu thế giới để làm ra nhiều phát hiện vật lý thiên văn mang tính nền tảng. Vào năm 2017, chị đã tự thiết kế một chiếc như vậy, kết hàng trăm dây cáp để tăng cường năng lực máy tính của Hydrogen Intensity Mapping Experiment ở Canada (CHIME).  Năm nay, nỗ lực của Kaspi và hàng chục nhà thiên văn học đã được đền đáp. CHIME bắt đầu trở thành một trong những kính viễn vọng “săn” bùng phát sóng radio nhanh (FRBs) bậc nhất thế giới – các tia bí ẩn của năng lượng radio thường xuyên xuất hiện trên khắp bầu trời. CHIME, đài quan sát ở phía nam British Columbia, đã ghi nhận hàng trăm bùng phát như thế, nhiều hơn nhiều lần so với các kính viễn vọng khác. Nhờ vậy, các nhà thiên văn học hi vọng sẽ giải quyết được câu đố về nguồn gốc của các tín hiệu này.  Kaspi, một nhà vật lý thiên văn tại trường đại học McGill ở Montreal, Canada, đã đóng vai trò lớn trong việc đem lại cho CHIME những năng lực dò FRB đầy uy lực. Kính viễn vọng đã được thiết kế một cách sáng tạo để có thể lập bản đồ được sự phát hydro từ những thiên hà ở khoảng cách xa để trả lời được những câu hỏi về vũ trụ sớm. Dự án này đã được thiết lập trong những năm đầu 2010, thời điểm mà nghiên cứu về bùng phát FRB bắt đầu phát triển sau khi bùng phát sóng radio đầu tiên được phát hiện vào năm 2007. Năm 2013, các nhà thiên văn học đã thông báo về bốn trường hợp, xác nhận các tia này là một hiện tượng hiển nhiên cần được giải thích.  “Với tôi, đây là một khoảng khắc mang tính bước ngoặt”, Kaspi nói. Chị đã dành nhiều năm trong sự nghiệp nghiên cứu về các sao neutron, các vật thể ở trạng thái siêu đậm đặc. Nhưng thật bất ngờ, một bí ẩn vật lý thiên văn mới đã xuất hiện. Kaspi đã từng nghĩ về cách CHIME có thể nghiên cứu về các sao neutron quay nhanh và nhận ra rằng độ nhạy của kính viễn vọng và phạm vi quan sát của nó có thể lý tưởng đối với cả việc quan sát các FRB – nhưng chỉ khi nó được nâng cấp. Chị đã gọi cho Ingrid Stairs, một nhà thiên văn học tại trường đại học British Columbia ở Vancouver, để nói về ý tưởng này. “Và trong vòng vài tháng, chị ấy đã đưa ra đề xuất lớn này,” Stairs kể lại.  Kaspi làm việc cùng những nhà vũ trụ học, những người mong muốn kính viễn vọng được cấp nhiều tiền hơn từ những nhà tài trợ chính, Quỹ Đổi mới sáng tạo Canada ở Ottawa, để săn tìm FRB. Họ muốn có thêm một thiết bị khác nữa và muốn tăng cường năng lực tính toán để cho phép kính viễn vọng có thể “đào xới” dữ liệu cỡ 1.000 lần mỗi giây tại 16.000 tần số khác nhau. “Tất cả chúng ta đều biết điều này rất rủi ro”, chị nói. “Không thể xây dựng kính viễn vọng lại, và chúng tôi đang đề xuất để đưa thêm một số thứ vào cái không hề tồn tại.”  Nhưng Kaspi, nhà nghiên cứu chính về FRB tại CHIME, đã cố hết sức để nó có thể diễn ra. Danh tiếng khoa học khiến chị giành được học bổng; những kết nối cá nhân của chị cho phép chị xây dựng một đội ngũ nghiên cứu đa dạng và đông đảo; và kỹ năng chính trị đóng vai trò thiết yếu trong việc kết hợp các nhà vũ trụ học cổ điển và những người mới thích đi “săn” FRB, theo nhận xét của Matthew Bailes, một nhà thiên văn học tại trường đại học công nghệ Swinburne tại Melbourne, Australia.  Trên con đường này, Kaspi đã tập trung phát triển một thế hệ các nhà khoa học mới, luôn quan tâm đến cách thay đổi để bước vào ngành vật lý, đặc biệt là phụ nữ. Chị đã giành mề đay vàng Gerhard Herzberg, giải thưởng cao nhất của Candana về khoa học, vào năm 2016 và dùng số tiền thưởng 1 triệu đô la Canada (tương đương 760.000 đô la Mỹ) để tuyển sinh viên và postdoc cho dự án CHIME.  Năm nay, chị đã giúp giành được một khoản tài trợ 2,4 triệu đô la Mỹ từ Quỹ Gordon và Betty Moore cho dự án khám phá xây dựng các kính viễn vọng lân cận, cách CHIME khoảng 1.000 km, có thể giúp xác định chính xác các FRB. Điều này giúp cho kính viễn vọng mang tính tiên phong của Canada giữ vững vị trí ở mặt tiền của thiên văn học.  “Từ lúc này, chúng tôi như thể đang bơi trong bể dữ liệu”, Kaspi nói. “Thành thật mà nói, tôi đã bị chìm nghỉm”.  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viễn chuyển và chia sẻ bí mật lượng tử      Lần đầu tiên trên thế giới, các nhà khoa học Hàn Quốc đã đề xuất một giao thức mới cho phép chuyển thông tin lượng tử bí mật giữa nhiều người gửi tới nhiều người nhận cùng một lúc thông qua viễn chuyển lượng tử (quantum teleportation). Về tương lai, phương pháp mới này sẽ mở ra cơ hội sử dụng trên các máy tính lượng tử kết nối qua mạng đầu tiên.      Bí mật lượng tử giữa một nhóm người này có thể viễn chuyển tới một nhóm người khác, bất chấp khoảng cách giữa hai nhóm người này.  Viễn chuyển lượng tử – một cách chuyển trạng thái lượng tử của một hạt vi mô (hoặc một hệ vật lý lượng tử) giữa các đối tác ở xa nhau mà không cần gửi hạt đó (hoặc hệ vật lý lượng tử đó) qua không gian – là một khối hợp nhất (building block) cơ bản của tính toán lượng tử và truyền thông lượng tử, hoạt động được nhờ nguồn tài nguyên lượng tử đặc biệt dưới dạng trạng thái rối lượng tử (quantum entangled state). “Tác động ma quỷ bất chấp khoảng cách” (“spooky action at a distance”) của trạng thái rối lượng tử, như Albert Einstein đã gọi nó, cho phép hai hoặc nhiều hạt vi mô (hoặc hệ vật lý lượng tử), bất kể chúng cách nhau bao xa, duy trì được mối tương quan phi cổ điển giữa chúng theo cách không thể có trong vật lý cổ điển.  Viễn chuyển lượng tử thông thường (được đề xuất lần đầu tiên về mặt lý thuyết từ năm 1993 bởi C. H. Bennett và các cộng sự trong bài báo:  “Teleporting an Unknown Quantum State via Dual Classical and Einstein–Podolsky–Rosen Channels”, Phys. Rev. Lett. 70, 1895–1899, 1993) có thể được thực hiện với điều kiện tiên quyết là một người gửi và một người nhận chia sẻ với nhau một cặp hạt đã được làm rối lượng tử với nhau từ trước (pair of entangled particles). Ví dụ, nếu đó là hai photon rối với nhau, thì người gửi giữ một photon, để cho tiện gọi là photon thứ nhất, và người nhận giữ photon còn lại, để cho tiện gọi là photon thứ hai.  Ngoài ra, người gửi được giao thêm một photon độc lập nữa, để cho tiện gọi là photon thứ ba. Photon thứ ba này ở trong một trạng thái xác định nào đó nhưng người gửi không được phép biết. Mặc dầu vậy, người gửi vẫn có thể chuyển trạng thái không biết đó cho người nhận mà không cần chuyển photon thư ba qua không gian, chỉ cần làm các thao tác tại chỗ và sử dụng một kênh truyền thông cổ điển. Đầu tiên, người gửi cho hai photon mà mình đang nắm giữ (photon thứ nhất và photon thứ ba) tương tác với nhau (theo một cách nhất định). Sau đó, người gửi đo kết quả của sự tương tác này rồi thông báo cho người nhận biết kết quả đo đó thông qua một kênh cổ điển. Sau khi nhận được thông tin cổ điển từ người gửi, người nhận có thể khôi phục trạng thái của photon thứ ba trên photon thứ hai mà người nhận đang nắm giữ. Bằng cách đó, trạng thái của photon thứ ba ở phía bên người gửi đã được viễn chuyển sang trạng thái của photon thứ hai ở phía bên người nhận, bất luận hai người này ở cách nhau bao xa. Sự viễn chuyển trạng thái lượng tử như này xảy ra gần như tức thời và hoàn toàn được bảo mật.  Từ đơn giao tiếp đến đa giao tiếp  Thực nghiệm đầu tiên về viễn chuyển lượng tử đã được thực hiện vào năm 1997, khi các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc viễn chuyển trạng thái spin (hoặc trạng thái phân cực) của một photon. Kể từ đó, nhiều nhóm khác nhau đã viễn chuyển được các trạng thái spin của nguyên tử, của hạt nhân và của các ion bị bẫy bắt (trapped ions), v.v.  Tuy nhiên, theo một nhóm nghiên cứu của Hàn Quốc, chưa có giao thức toàn cầu nào cho phép viễn chuyển thông tin lượng tử vốn được chia sẻ bởi một nhóm nhiều người gửi đến một nhóm khác gồm nhiều người nhận theo cách sao cho chỉ khi tất cả các người nhận đồng lòng hợp tác thì thông tin lượng tử đó mới có thể truy cập được, nói cách khác thông tin lượng tử đó cũng bị chia sẻ giữa các người nhận. Sang Min Lee và Hee Su Park thuộc Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và khoa học Hàn Quốc tại Daejeon; Seung-Woo Lee thuộc Trung tâm vũ trụ lượng tử tại Viện nghiên cứu cao cấp Hàn Quốc ở Seoul; và Hyunseok Jeong thuộc Khoa Vật lý và Thiên văn học tại Đại học Quốc gia Seoul vừa công bố một công trình trong đó đã đề xuất một giao thức như vậy. Điều quan trọng là, giao thức của họ liên quan đến viễn chuyển “những bí mật lượng tử” theo cách phi tập trung (decentralized), để sao cho thông tin không tập trung váo một người nhận duy nhất nào (thường được gọi là “người nhận đáng tin cậy”).    Nhà vật lý Charles Henry Bennett và cộng sự đã từng đề xuất viễn chuyển lượng tử về mặt lý thuyết từ năm 1993.    “Không giống như tất cả các giao thức viễn chuyển lượng tử thông thường đã được đề xuất trước đây, giao thức của chúng tôi cho phép viễn chuyển thông tin lượng tử lúc đầu được chia sẻ bởi một số lượng người gửi tùy ý sang một số lượng người nhận tùy ý khác cùng đồng thời chia sẻ thông tin này”, các tác giả cho biết. Nếu bất kỳ một cá nhân hoặc một nhóm con (hoặc nhóm trái phép) nào cố ý truy cập vào bí mật lượng tử ẩn đó, thì mọi nỗ lực đột nhập để lấy thông tin sẽ bị những người trong cuộc phát hiện.  Tính khả thi về mặt nguyên tắc  Qua trao đổi, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho biết họ đã thực hiện một thí nghiệm viễn chuyển thông tin mật kiểu này giữa hai người gửi và hai người nhận thông qua một mạng rối lượng tử bốn photon. Khác với các kỹ thuật trước đây, trong giao thức này không một cá nhân nào hoặc một nhóm con nào của nhóm các người gửi và nhóm các người nhận có thể truy cập đầy đủ thông tin mật, các tác giả giải thích. Các kết quả chỉ ra rõ ràng rằng thông tin đầy đủ không thể thuộc sở hữu của bất kỳ một nhóm con nào của những người liên quan và bị ẩn (hidden) cho đến khi tất cả mọi người liên quan của nhóm những người nhận đồng ý mở thông tin đó.  Giao thức lượng tử kiểu này tạo điều kiện chuyển tiếp thông tin lượng tử một cách hoàn toàn bảo mật qua mạng mà không yêu cầu phải có các trạm trung tâm – hoặc thậm chí trạm trung gian – hoàn toàn tin cậy. Các nhà nghiên cứu còn cho biết nó có thể được mở rộng hơn nữa để có khả năng sửa các lỗi lượng tử phát sinh do sự mất photon hoặc thậm chí do các lỗi lật pha lượng tử (quantum phase-flip) hoặc lật bit lượng tử (quantum bit-flip) có xác suất xảy ra trong quá trình xử lý thông tin lượng tử trong các điều kiện thực tế khi các hạt hoặc các hệ lượng tử có tương tác với môi trường xung quanh. Những hiện tượng ‘mất đồng bộ” (“decoherence”) như vậy phải được tính đến để có thể thành công trong các quá trình thực hiện tính toán lượng tử. Nói cho cùng, giao thức viễn chuyển thông tin lượng tử kiểu này có thể trở thành một khối hợp nhất cho một mạng lưới máy tính lượng tử phân phối (distributed network of quantum computers) sẽ được hiện thực trong tương lai□.  ——-  Chi tiết về giao thức lượng tử mới này có thể xem trong công bố mới đây của các tác giả Hàn Quốc:  S.M. Lee et. al., Phys. Rev. Lett. 124, 060501 (2020).  Tham khảo: https://physicsworld.com/a/quantum-secrets-can-be-teleported-and-shared-between-multiple-senders-and-receivers/     Author                Nguyễn Bá Ân        
__label__tiasang Viện iSEE: Mở và khoan dung với những khác biệt      Những năm gần đây, Viện Nghiên cứu Xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) đã thực hiện nhiều nghiên cứu rất quan trọng về các nhóm dân tộc thiểu số, cộng đồng đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT). Qua đó, iSEE góp phần giúp xã hội trở nên thấu hiểu, khoan dung hơn, giảm sự kỳ thị. iSEE có thể làm được những điều đó cũng nhờ vào triết lý xây dựng Viện dựa trên tính “mở” và tôn trọng khác biệt.      Ở iSEE, dễ dàng bắt gặp hình ảnh người lắng nghe là các nhà nghiên cứu, còn người trình bày ý tưởng là người dân – vốn bị cho rằng có ít tri thức. Nguồn: iSEE.  Sáu năm trước, lần đầu tiên tôi đến iSEE để dự một buổi chia sẻ ý tưởng nghiên cứu, cũng là lần đầu tiên tôi chứng kiến diễn giả là một bạn rất trẻ – Huỳnh Minh Thảo – chủ nhiệm diễn đàn của người đồng tính “Táo xanh”. Thảo say sưa nói về cách vận động xây dựng diễn đàn, về cách thức các thành viên trao đổi thông tin, chia sẻ cuộc sống và cảm xúc với nhau, những người lắng nghe chính là những nhà nghiên cứu kỳ cựu, những người làm phát triển cộng đồng lâu năm, để rồi sau này cùng Thảo lập kế hoạch cho hàng loạt nghiên cứu dài hơi và quan trọng, có tính quyết định đến cộng đồng LGBT ở Việt Nam.  Đến cuối năm 2017, trong lúc đang ngồi chờ đợi để trao đổi về bài viết này với viện trưởng iSEE, may mắn được lắng nghe buổi họp bàn kế hoạch “tác chiến” năm 2018 của Viện, tôi lại bắt gặp cảnh: sau khi cùng nhau xác định những vấn đề chính cần làm, viện trưởng hỏi xem ai sẽ xung phong tổng hợp báo cáo của từng nhóm và làm báo cáo chiến lược năm tới – một công việc mà thông thường đã được “mặc định” là lãnh đạo viện thực hiện. Hai hình ảnh đó rất lạ đối với nhiều tổ chức, nhưng lại là thường ngày ở iSEE, đã nói lên một triết lý ở iSEE, triết lý mở trong xây dựng các vấn đề nghiên cứu, xây dựng cộng đồng cũng như hỗ trợ can thiệp cho các nhóm thiểu số.  “Mở” để những người trong cuộc đóng góp ý tưởng  Từ lúc thành lập, tới nay đã 11 năm, iSEE chủ yếu theo đuổi nghiên cứu và can thiệp ở hai nhóm thiểu số rất đặc biệt trong xã hội: nhóm LGBT hầu hết ở tình trạng “ẩn” và không dám nói ra những vấn đề của cộng đồng mình do bị định kiến, kỳ thị và nhóm các dân tộc thiểu số, với hơn 11 triệu người, dù được nhà nước hỗ trợ nhiều nhưng chủ yếu là các chương trình mang tính cứu trợ. Để nghiên cứu và can thiệp, iSEE bắt đầu từ cộng đồng và “lăn lộn” với cộng đồng để tập trung vào những vấn đề cấp thiết nhất, những ý tưởng – xuất phát từ chính góc nhìn của những người trong cuộc (điều này có sự khác biệt với các nghiên cứu xã hội khác đang được tiến hành là các nhóm “bên ngoài” đi thực tế “ba cùng” tại cộng đồng, nhưng ý tưởng nghiên cứu và cách diễn giải kết quả là của nhà nghiên cứu chứ không phải của cộng đồng). Làm như vậy, iSEE đã tận dụng được tri thức của cộng đồng và nhắm tới những điều khó nói nhất, thường bị lảng tránh nhất ở trong các nhóm thiểu số.  iSEE đã phát triển các chương trình nghiên cứu photovoice (tiếng nói từ hình ảnh), co-research (đồng nghiên cứu), mà ở đó, thay vì nhà nghiên cứu đến cộng đồng để thực hiện nghiên cứu, thì họ chỉ đóng vai trò hướng dẫn, còn cộng đồng tự chọn chủ đề và tự tiến hành các nghiên cứu, tự công bố kết quả và cùng thảo luận về các giải pháp với các bên liên quan. “Khi iSEE bắt đầu đưa phương pháp đồng nghiên cứu vào cộng đồng, nhiều nhà nghiên cứu rất nghi ngờ tính khả thi, họ đều nghĩ làm nghiên cứu phải rất hàn lâm, còn những người dân, thậm chí không biết chữ thì làm nghiên cứu kiểu gì? Nhưng chúng tôi tin vào năng lực cộng đồng, họ sẽ có tri thức về những mảng mà mình không có, đặc biệt là hiểu biết về chính cộng đồng của họ. Đến nay, phương pháp đồng nghiên cứu đã được nhiều tổ chức phát triển ở Việt Nam áp dụng. Điều quan trọng là phương pháp này đã trao quyền cho người dân, làm thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa người dân và nhà nghiên cứu, nhà phát triển, khiến họ đều bình đẳng”, chị Lương Minh Ngọc, viện trưởng iSEE nói. Và iSEE không dùng từ “người hưởng lợi” đối với các nhóm được can thiệp mà dùng từ “đối tác cộng đồng”, hay “đối tác địa phương” (chính quyền địa phương nơi can thiệp).  Song song với quá trình làm nghiên cứu về các cộng đồng thiểu số đó, iSEE làm một việc rất khác biệt so với nhiều cơ quan nghiên cứu và tổ chức phát triển khác, đó là cùng xây dựng cộng đồng. Theo anh Lê Quang Bình, người sáng lập và nguyên viện trưởng iSEE thì ngay từ khi mới thành lập Viện đã xác định mọi thay đổi đều phải dựa vào cộng đồng, người trong cộng đồng phải “cầm lái” tiến trình thay đổi. “Chúng tôi muốn xóa bỏ kỳ thị trong xã hội với người đồng tính, song tính và chuyển giới. Tuy nhiên, mười năm trước đây hầu như không có người LGBT nào công khai vì lo sợ bị phân biệt đối xử. Để thay đổi mà nhóm đối tượng ẩn đó không xuất hiện thì làm sao can thiệp được? Nếu cộng đồng LGBT không xuất hiện thì làm sao xã hội và nhà nước biết họ là ai để mà thay đổi? Chính vì vậy iSEE đặt mục tiêu phải kết nối với lãnh đạo của các nhóm LGBT lúc đó mới chỉ xuất hiện trên mạng và mời họ tham gia và cùng xây dựng cộng đồng. Theo tôi, phong trào LGBT có thể thành công là do cộng đồng tuy khác nhau nhưng đã cùng nhau kết nối vì một mục đích chung, cùng được  truyền cảm hứng để đóng góp vào tiến trình  thay đổi định kiến kỳ thị trong xã hội”, anh Lê Quang Bình chia sẻ thêm.   Công việc vẫn chạy kể cả… không có lãnh đạo  Văn hoá mở và luôn đặt mình vào vị trí của người khác để san sẻ công việc chung, giá trị chung đó được thể hiện rõ ràng trong cách vận hành tổ chức của iSEE. Mặc dù cũng phân cấp nhân viên, cán bộ quản lý, viện trưởng, nhưng ranh giới giữa các vị trí này rất mờ và mọi thành viên của iSEE đều tin rằng mình bình đẳng. “Khi bạn làm điều phối một nhóm hay viện trưởng thì có thêm trách nhiệm và được trả lương thêm, nhưng điều đó không làm cho viện trưởng có giá trị về mặt con người hơn một bạn thực tập sinh hay trợ lý”, chị Lương Minh Ngọc nói. Ở iSEE, nhân viên đều có thể ứng tuyển làm thử điều phối, các điều phối đều có thể ứng tuyển làm thử viện trưởng theo chương trình “quyền lãnh đạo” (acting), qua đó tăng khả năng bao quát công việc và khả năng lãnh đạo. Khi đó, dù bất kỳ ai trong viện, kể cả… viện trưởng nghỉ thì công việc vẫn chạy trơn tru.  Năm 2015, iSEE thông báo thay đổi lãnh đạo, anh Lê Quang Bình xin nghỉ và chỉ làm cố vấn cho Viện. Giữa lúc các đối tác của iSEE khá ngỡ ngàng thì nội bộ iSEE đã sẵn sàng cho sự thay đổi này. “Trước đó, năm 2014 khi tôi tuyên bố sẽ nghỉ thì trong viện mọi người rất ngạc nhiên, nhiều người không tin tôi có thể nghỉ. Nhưng tôi đã dứt khoát đặt ra một ngày cụ thể là 31 tháng 7 năm 2015 dù có viện trưởng mới hay không tôi cũng sẽ bước ra khỏi văn phòng. Điều này làm tất cả phải tin và chủ động chuẩn bị cho việc chuyển giao lãnh đạo. Trong nhiều việc phải chuẩn bị như hệ thống, quy trình, văn hóa tổ chức thì việc giúp mọi người tự rèn luyện kỹ năng lãnh đạo được chú ý đặc biệt. Chúng tôi đặt ra chương trình thực tập làm lãnh đạo để ai muốn có thể làm quyền viện trưởng iSEE trong 3 tháng. Có chị Lương Minh Ngọc và chị Vũ Phương Thảo tình nguyện tham gia chương trình này và đã thay nhau làm quyền viện trưởng. Việc này rất hữu ích vì mọi người không chỉ học được việc lãnh đạo một tổ chức như thế nào mà còn làm quen với việc iSEE không có người sáng lập ngồi đó. Chính điều này làm cho iSEE như một tập thể độc lập hơn, tự tin hơn, và chuẩn bị tốt hơn cho việc chuyển giao lãnh đạo”. anh Lê Quang Bình nhớ lại.  Ngoài việc mở trong nội bộ tổ chức iSEE còn mở trong quan hệ với các đối tác bên ngoài. Triết lý này đã giúp iSEE “sống” và xây dựng nền tảng được từ những ngày đầu thành lập khi chưa có uy tín, chưa có nhiều  tài trợ. Khi là tổ chức “vô danh” việc thu hút được người giỏi rất khó. Nhưng với mục đích phải tạo ra các sản phẩm tốt, các nghiên cứu chất lượng nên iSEE đã thường xuyên hợp tác và chia sẻ ý tưởng nghiên cứu với các nhà  nghiên cứu hàng đầu về nhân học và xã hội. Điều đặc biệt, iSEE không coi các nhà  nghiên cứu này như các nhà tư vấn đơn thuần mà coi họ như những người bạn thân thiết, mời họ tham gia vào các hoạt động xây dựng chiến lược, góp ý cho các hoạt động  ngoài nghiên cứu. Sau 3 – 4 năm xây dựng nền tảng, thực hiện một số nghiên cứu tốt, iSEE đã gây dựng được uy tín và dần nhận được nhiều tài trợ nghiên cứu thông qua đấu thầu quốc tế, đồng thời có một đội ngũ nhân viên mạnh (luôn khá tinh gọn, chỉ dưới 20 người) – đều được đi học ở các nước phát triển, nhiều người đã từng làm cho các tổ chức quốc tế. Đây chính là nền tảng để iSEE có thể làm được nhiều việc có ích cho xã hội, cho những nhóm thiểu số trong hơn 10 năm qua.  Khó khăn của một viện nghiên cứu xã hội độc lập  Hiện tại, iSEE lại vấp phải một số trở ngại khác. Thứ nhất là tài trợ cho các nghiên cứu từ nguồn quốc tế đang giảm dần và chủ yếu theo xu hướng ngắn hạn. Khi xu hướng kêu gọi tài trợ nghiên cứu trong nước chưa khả thi (hầu như có ít các đơn vị quan tâm và tài trợ các nghiên cứu xã hội) thì iSEE vẫn phải tiếp tục nộp hồ sơ đấu thầu quốc tế xin các tài trợ ngắn hạn, nhưng lại vấp phải quá trình xét duyệt viện trợ còn phức tạp. Đây cũng là thách thức thứ hai cho các tổ chức nghiên cứu độc lập. Theo nghị định 93/2009/NĐ-CP, hồ sơ xin xét duyệt các nghiên cứu được viện trợ phi chính phủ do các tổ chức nghiên cứu độc lập nộp cho cơ quan chủ quản sẽ đươc phản hồi trong 20 ngày, nhưng thực tế thời gian thường kéo dài hơn nhiều. “Nhiều đơn vị tài trợ bây giờ chỉ cho thời gian khoảng 5-6 tháng để thực hiện nghiên cứu, mà lại chờ phê duyệt thì quay lại hết thời gian làm nghiên cứu rồi. Mình không thể nào nói với cơ quan tài trợ là tôi muốn nghiên cứu một vấn đề đang bức xúc trong xã hội nhưng phải đợi tới nửa năm sau mới làm được. Họ không thể đợi, mà sẽ tài trợ cho những chỗ khác”, chị Lương Minh Ngọc nói.  Ngoài ra, theo quy định hiện nay, việc tổ chức hội thảo có yếu tố nước ngoài, kể cả các tọa đàm nhỏ nhưng có người nước ngoài tham gia, thì các tổ chức nghiên cứu độc lập như iSEE đều phải lập đề án, xin phép ở các cấp có thẩm quyền trước ít nhất 20 ngày. “Tôi hiểu là phải quản lý, nhưng cần thoáng hơn. Ví dụ, khi chúng tôi tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu chẳng hạn, đăng lên facebook hoặc website của viện, thì ai cũng có thể đọc được, nhưng nếu chỉ cần có một người nước ngoài tới nghe thôi thì rất có thể là sẽ không được. Trong khi tri thức là thứ phải mở để mọi người cùng tiếp cận được. Nhìn về mặt giao lưu khoa học kỹ thuật, thì không nên có rào cản hành chính để cản trở sự giao lưu học thuật ấy. Việc chỉ tổ chức tọa đàm nhỏ mà cứ phải xin phép rồi chờ đợi sẽ rất là khó cho các viện nghiên cứu chứ không phải chỉ riêng iSEE”, chị Lương Minh Ngọc chia sẻ.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt trong Covid-19: Những điều tưởng chừng không thể      Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, khi sự gián đoạn của chuỗi cung cấp dược chất phóng xạ làm suy giảm số lượng các ca chẩn đoán và điều trị ung thư trên thế giới thì các trung tâm y học hạt nhân Việt Nam lại là ốc đảo yên bình. Góp phần làm nên điều đó là nỗ lực không tưởng của các cán bộ Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, những người bằng cách này hay cách khác đã nối dài mạch sống của hàng vạn cuộc đời.      Dây chuyền sản xuất dươc chất phóng xak I-131 ở lò phản ứng Đà Lạt. Nguồn: Vinatom  Lâu nay hình ảnh Đà Lạt thường gắn với những trang trại rau, hoa rộng lớn xen lẫn với đồi thông xanh tươi bốn mùa và những khoảng không gian đậm chất châu Âu. Ít ai nhớ đến một “nhân vật đặc biệt” xuất hiện từ năm 1963 và đem lại cho thành phố du lịch này một vị thế đặc biệt không nơi nào có: lò phản ứng nghiên cứu duy nhất ở Việt Nam. Có lẽ, chính thói quen làm việc một cách thầm lặng, không phô trương của khoa học nói chung và bản tính thận trọng, kiệm lời của ngành hạt nhân nói riêng lại càng khiến không phải ai cũng biết rằng, khoảng 40% dược chất phóng xạ – những phương thuốc đặc biệt với những tính chất vật lý và sinh hóa có khả năng giúp chẩn đoán, chụp ảnh phát hiện và định vị những bất thường trong cơ thể con người cũng như điều trị một số bệnh lý ung thư – được dùng trong các cơ sở y học hạt nhân trên cả nước đều xuất phát từ lò phản ứng này.  Điều tưởng chừng như rất bình thường giữa một bên là Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam VINATOM), nơi vẫn lặng lẽ cung cấp nhiều loại đồng vị phóng xạ kể từ năm 1984, với các bên tiếp nhận là hàng chục cơ sở y học hạt nhân trên cả nước, lại trở nên khác thường trong năm 2020…  Vì lẽ đó, tất cả mọi người dự lễ tổng kết hoạt động của VINATOM vào chiều ngày 30/12/2020 vô cùng ngỡ ngàng khi Giáo sư Mai Trọng Khoa (Bệnh viện Bạch Mai), một chuyên gia hàng đầu về y học hạt nhân ở Việt Nam, đứng lên cám ơn Bộ KH&CN và VINATOM bởi “trong thời gian đại dịch vừa rồi, nếu không có đồng vị phóng xạ do Đà Lạt cung cấp thì có lẽ đơn cử hàng vạn bệnh nhân ung thư tuyến giáp ở khoa chúng tôi không có cơ hội được điều trị và nhiều bệnh nhân có thể sẽ chết. Tôi đặt giả định là vì một lý do nào đó mà lò Đà Lạt không hoạt động thì sẽ vô phương cứu chữa hàng vạn bệnh nhân đó”. Tự nhận là người “cả đời chỉ làm một việc là chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư và luôn thấy áp lực về công việc”, ông cảm thấy mình có trách nhiệm “thay mặt các bệnh nhân ung thư nói lên lời cảm ơn chân thành, dù chưa được ai ủy quyền”.  Thách thức trong đại dịch  Hiện tại ở Việt Nam, tuy có nhiều phương pháp điều trị khác nhau nhưng “một số bệnh ung thư chỉ có thể điều trị bằng đồng vị phóng xạ vì không có loại thuốc thứ hai thay thế”, giáo sư Mai Trọng Khoa giải thích. Lò phản ứng Đà Lạt đã góp phần vào việc bảo vệ mạng sống của rất nhiều trong số 97 triệu người Việt Nam mắc ung thư và 165.000 ca mới mỗi năm (theo số liệu của WHO năm 2018).  Đại dịch Covid đã làm xáo trộn mọi trật tự. Các chuyến bay thương mại không thể tới Việt Nam, cho dù nó là phương tiện gần như hoàn hảo để chuyên chở loại thuốc đặc biệt này. Các vật chất phóng xạ đều có thời gian bán rã khác nhau, dao động từ vài giờ đến một số ngày tùy từng loại dược chất phóng xạ, và sau khoảng thời gian đó, dược chất sẽ không còn tác dụng. “Nói chung, không thể vận chuyển dược chất phóng xạ bằng đường bộ hoặc đường thủy. Lý tưởng nhất là việc cung cấp diễn ra trong phạm vi một vùng, một quốc gia”, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng VINATOM, cho biết như vậy cách đây vài năm.  Bối cảnh mới đã đẩy các cơ sở hạt nhân Việt Nam vào những tình huống mà trước đây không ai có thể tưởng tượng nổi: ngoài số lượng các bệnh nhân ung thư hiện có, các cơ sở y học hạt nhân phải đón nhận thêm nhiều ca khác do họ không thể ra nước ngoài điều trị. Điều đó khiến lò phản ứng Đà Lạt và các máy gia tốc khác từ chỗ chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước nay phải cáng đáng cả phần thiếu hụt. Đây thực sự là thách thức lớn, TS. Phan Sơn Hải, Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nhận định: “Nhu cầu dược chất phóng xạ hàng năm tại Việt Nam hiện vào khoảng 1.700 đến 1.800 Ci, trong đó sản xuất trên máy gia tốc khoảng 300 Ci (chủ yếu là 18F-FDG dùng trên PET/CT và một số khác như 201Tl-Chloride, 67Ga-Citrate dùng trên SPECT), phần còn lại được sản xuất trên lò phản ứng Đà Lạt (tỷ lệ đóng góp của nội địa thay đổi theo từng năm, liên tục tăng lên trong ba năm qua)”.      Khoảng 40% dược chất phóng xạ – những phương thuốc đặc biệt với những tính chất vật lý và sinh hóa có khả năng giúp chẩn đoán, chụp ảnh phát hiện và định vị những bất thường trong cơ thể con người cũng như điều trị một số bệnh lý ung thư – được dùng trong các cơ sở y học hạt nhân trên cả nước đều xuất phát từ lò phản ứng Đà Lạt.      Đây không chỉ là tình huống riêng có của Việt Nam. Sự phá vỡ chuỗi cung cấp toàn cầu, từ khâu sản xuất đến vận chuyển, đã khiến các trung tâm y học hạt nhân quốc tế lâm vào thế gần như tuyệt vọng. “Global Impact of Covid-19 on Nuclear Medicine Departments: An International Survey in April 2020” (Tác động toàn cầu của Covid-19 lên các cơ quan dược chất hạt nhân: Một điều tra quốc tế trong tháng 4/2020) xuất bản trên The Journal of Nuclear Medicine đã phác họa bức tranh có nhiều gam màu tối trên 72 quốc gia: lượng sản xuất thuốc chẩn đoán suy giảm 54%, trong đó hình ảnh chụp PET/CT giảm trung bình 36% (riêng chụp phổi giảm 56%, xương 60%). Tại tất cả các trung tâm điều trị, trong vòng bốn tuần, lượng ca được điều trị giảm 45%, đặc biệt ở khu vực Mỹ Latinh và Đông Nam Á là trên 76%; 52% các trung tâm này thiếu 99mTc, đồng vị quan trọng và được sử dụng phổ biến nhất vì có những tính chất gần như lý tưởng cho xét nghiệm hình ảnh, và từ châu Phi, châu Á đến châu Mĩ Latinh đều thiếu thốn các vật liệu thiết yếu khác…  Giữa muôn trùng thách thức từ bên ngoài, lò phản ứng Đà Lạt còn phải gánh thêm một khó khăn nội tại: kể từ năm 2020, theo quy định của Bộ Y tế, Đà Lạt phải đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP – WHO) nếu muốn tiếp tục cung cấp phóng xạ cho các cơ sở y tế. “Mặc dù thuốc phóng xạ do Viện tuân thủ chặt chẽ yêu cầu kiểm soát chất lượng thuốc và chưa gây bất kỳ sự cố nào trong suốt hơn 36 năm qua nhưng do yêu cầu mới, các dây chuyền sản xuất thuốc phóng xạ của Viện cũng cần được nâng cấp và tuân thủ GMP”, TS. Phan Sơn Hải cho biết.  Viện nghiên cứu hạt nhân dường như đã rơi vào tình trạng mà mọi điều kiện đã ở thế tới hạn nhưng chỉ có một cách để vượt qua, đó là không được phép thua cuộc.  Vượt qua trạng thái tới hạn    Cán bộ Viện nghiên cứu hạt nhân phân chia viên nang I-131. Nguồn: Vinatom  Khi trải qua những khó khăn, đúc rút của những người trong cuộc bao giờ cũng hết sức thấm thía. “Người ta thường nói rằng, trong những tình huống khẩn cấp mới đánh giá được năng lực thực sự của một hệ thống tổ chức. Viện nghiên cứu hạt nhân đã phần nào chứng tỏ được năng lực giải quyết công việc trong điều kiện bị đẩy đến gần tới hạn”, TS. Phan Sơn Hải nói. Chính vào thời điểm đó, năng lực quản lý và năng lực khoa học tích lũy suốt hơn 36 năm qua là điểm tựa lớn nhất để họ vượt qua.  Một trong những công việc họ quyết định làm sớm là nâng cấp các dây chuyền sản xuất với “rất nhiều công việc phải được thực hiện, từ nhà xưởng, máy móc, nguyên liệu, yêu cầu nhân sự, hồ sơ tài liệu, kiểm soát chất lượng, đánh giá nhà cung ứng nguyên vật liệu, tự đánh giá nội bộ, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, v.v…”, ông kể lại. Tình thế cấp bách khiến Viện phải đầu tư gần 14 tỷ đồng từ nguồn kinh phí thu qua hoạt động triển khai của mình để nâng cấp các dây chuyền sản xuất, đồng thời ký hợp đồng với các đơn vị tư vấn để công việc diễn ra một cách thuận lợi. Dẫu sao, đây cũng là giải pháp đường xa bởi trước đây, Viện vẫn thường xin gia hạn giấy phép trong thời gian ngắn. Điều đó đôi khi đẩy Viện vào tình thế khó. “Theo nguyên tắc Luật Dược, nếu thuốc không được cấp phép thì không được dùng trên người. Chỉ cần chậm không được cấp giấy phép thì Đà Lạt không được phép cung cấp nữa. Tôi còn nhớ năm 2018 thì có khoảng 12.000 bệnh nhân phải dừng điều trị ở Bạch Mai. Không biết phải làm thế nào, tôi cùng đồng chí giám đốc bệnh viện lên gặp Bộ Y tế và đưa danh sách 12.000 bệnh nhân đó xin đề nghị Bộ trưởng giải quyết. Rất may chỉ trong tối hôm đó, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã họp cùng chúng tôi, hai hôm sau thì được gia hạn giấy phép”, giáo sư Mai Trọng Khoa kể lại một tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”.      Chưa bao giờ Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt lại đạt thành tích tốt như năm 2020, cả nghiên cứu phát triển và sản xuất. Chúng ta hiểu rằng, khi mình tự sản xuất được dược chất phóng xạ thì những người không may mắn mắc bệnh ung thư trong nước sẽ được điều trị với giá thành thấp hơn giá dược chất nhập khẩu… Đó cũng là cách mà những người làm khoa học đóng góp cho xã hội. (TS. Trần Chí Thành)      Khó khăn được xử lý từng bước như vậy. Tuy nhiên, khi đạt chuẩn GMP thì thách thức chưa phải đã hết: lò phản ứng Đà Lạt – một thiết bị nghiên cứu mà theo nhận xét vui của Giáo sư Trần Hữu Phát, Chủ tịch Hội đồng KH&CN VINATOM, “với cái lò phản ứng như Đà Lạt, nước ngoài họ đã ‘thải’ từ lâu rồi” – có công suất nhỏ, thông lượng neutron thấp. Do đó hàng năm, lượng dược chất phóng xạ do Đà Lạt sản xuất không nhiều và cũng không đa dạng. Đây chính là nút thắt của vấn đề bởi tình thế buộc Đà Lạt phải tăng số lượng dược chất. Giải pháp tăng giờ hoạt động như một cơ sở công nghiệp thực thụ vào năm 2019 với việc vận hành lò theo đợt khoảng 140 giờ trong hai tuần thì cũng chỉ đem lại 1.030 Ci. Vậy tăng bằng cách nào? “Để làm được điều đó, Viện đã áp dụng nhiều biện pháp, ví dụ lò hoạt động liên tục hàng tuần khoảng 90-100 giờ, toàn bộ công việc bảo dưỡng hệ thống công nghệ sau mỗi đợt sản xuất phải làm trong các ngày nghỉ. Lò đã vận hành khoảng 4.300 giờ trong năm 2020, gấp gần ba lần trung bình nhiều năm trước đây là 1.500 giờ (nếu tính giờ đi làm theo chế độ làm việc hiện hành, mỗi cán bộ viên chức chỉ làm việc gần 2.000 giờ/năm)”, TS. Phan Sơn Hải cho biết.  Không phải việc gia tăng thời gian vận hành, điểm mấu chốt dẫn đến đột phá của Đà Lạt là những sáng kiến cải tiến kỹ thuật chưa từng nghĩ tới trước đây như tăng hốc chiếu mẫu trong vùng hoạt lò để tăng khối lượng mẫu chiếu, cải tiến quy trình chiếu mẫu và quy trình sản xuất… “Trước đây nguyên liệu được đưa vào chiếu trong lò tại một hốc chiếu gọi là ‘bẫy neutron’. Để tăng sản lượng, chúng tôi đã xem xét, thiết kế thêm hai hốc chiếu trong vùng hoạt, tính toán lại động học neutron vật lý lò, đảm bảo các thông số để lò hoạt động an toàn. Mặt khác, trước đây mẫu được nạp vào ‘bẫy neutron’ và được chiếu xạ neutron khoảng 140 – 150 giờ liên tục, sau đó được lấy ra để sản xuất thuốc phóng xạ còn theo quy trình mới, các mẫu được đưa vào các hốc chiếu trung tâm có thông lượng neutron cao nhất, đồng thời được nạp vào các hốc chiếu vòng ngoài biên vùng hoạt. Với việc chiếu xạ luân phiên theo mốc thời gian nhất định ở hốc trung tâm và hốc ngoài biên, mỗi mẫu được chiếu xạ khoảng 180 giờ mà lò chỉ cần hoạt động khoảng bốn ngày liên tục thay vì hơn bảy ngày như trước đây”, TS. Phan Sơn Hải giải thích.  Những sáng kiến kỹ thuật đó đã tạo ra xung lượng để Viện đạt được điều tưởng chừng không tưởng: đáp ứng được 90% nhu cầu trong nước với 1.360 Ci, thậm chí trong thời gian giãn cách Covid ở quý 2 đã đạt 100%, cung cấp toàn bộ dược chất cho các bệnh viện trên toàn quốc. TS. Phan Sơn Hải nói “Chúng tôi không chỉ tăng sản lượng thuốc phóng xạ trong mỗi đợt sản xuất, mà còn giảm thời gian vận hành lò trong mỗi đợt từ 150 giờ xuống 85 – 90 giờ nhưng vẫn đảm bảo đủ số lượng thuốc cần thiết”. Quý giá hơn, việc cung cấp thuốc hàng tuần của Viện còn giúp làm giảm áp lực khám chữa bệnh của các cơ sở y tế bởi việc hai, ba tuần cung cấp thuốc một lần như trước đây khiến tập trung quá đông bệnh nhân vào cùng một thời điểm. Do đó, trong đại dịch thì các cơ sở y tế Việt Nam vẫn có thể chủ động về nguồn thuốc và dễ dàng xây dựng được kế hoạch khám và chữa bệnh.  Dẫu vậy, tác động lớn của nguồn cung đặc biệt này không chỉ ở việc đảm bảo cấp đủ nhu cầu. Quan trọng hơn, những nỗ lực ấy còn ẩn chứa ân tình của người làm nghề, đó là cung cấp thuốc với giá thành chưa đến một nửa giá thuốc nhập cho bệnh nhân ung thư, những người chắc hẳn cần một quá trình dài “chiến đấu” phía trước và dễ bị nghèo hóa vì các căn bệnh nan y này.  Góp phần giữ cho y học hạt nhân Việt Nam thành ốc đảo yên bình trong đại dịch, Đà Lạt cũng thực sự đổi khác. “Gần như một ngưỡng mới được thiết lập trong phong cách, quan niệm và kế hoạch công tác của cán bộ, tạo điều kiện để đạt kết quả tốt hơn trong tương lai. Tôi rất tự hào về cán bộ viên chức và người lao động của Viện”, TS. Phan Sơn Hải không dấu nổi hạnh phúc của người tham gia vào toàn bộ nỗ lực âm thầm đó. Không phải ngẫu nhiên mà ở thời điểm quyết định, các cán bộ Đà Lạt lại có được những sáng kiến cải tiến kịp thời bởi đó là kết quả của một quá trình dài tích lũy năng lực khoa học – điều đã được thực hiện một cách nghiêm túc từ nhiều năm nay. “Ban đầu, anh Thành ra chỉ tiêu là năm 2016 cố gắng phấn đấu 10 bài báo quốc tế ISI, sau mỗi năm anh lại nâng yêu cầu lên và đến năm 2020 Viện đã đạt 30 bài báo quốc tế, trong đó 19 bài ISI. Viện đã làm được nhiều việc ý nghĩa cũng là bởi lãnh đạo VINATOM đã tạo dựng được một môi trường thuần chất khoa học theo cách như vậy”.  Sau một năm đặc biệt như 2020, có lẽ với những người ở VINATOM nói chung và riêng là Đà Lạt, lời cảm ơn bất ngờ từ Giáo sư Mai Trọng Khoa là thực sự là tấm “kỷ niệm chương” quý giá.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/vien-nghien-cuu-hat-nhan-da-lat-trong-covid19-nhung-dieu-tuong-chung-khong-the/20210129084619784p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện Nghiên cứu phát triển Mekong: Trung thực trong nghiên cứu xã hội      Dù mới thành lập năm năm, rất non trẻ so với nhiều cơ quan nghiên cứu khác, Viện Nghiên cứu phát triển Mekong đã được Research Papers in Economics (Repec)* xếp hạng là đơn vị nghiên cứu kinh tế hàng đầu Việt Nam nhờ vào số lượng xuất bản phẩm trên nhiều tạp chí quốc tế. Đồng thời, đây cũng là Viện nghiên cứu có uy tín trong lĩnh vực tư vấn chính sách ở Việt Nam. Điều gì khiến cho một viện nghiên cứu độc lập, với nguồn nhân lực, vật lực còn nhiều hạn chế lại có thể sớm định danh trong môi trường học thuật quốc tế?         Cán bộ Viện khảo sát tại Hà Giang trong dự án Đánh giá chương trình Giảm nghèo 135 năm 2014. TS. Phùng Đức Tùng bìa trái. Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Mekong.  Nghiên cứu ứng dụng là đòi hỏi bức thiết  Trong các xã hội chuyển đổi khi mà hệ thống an sinh xã hội và dịch vụ công chưa đầy đủ sẽ dẫn đến xu hướng các cá nhân tự xây dựng một hệ thống bảo hiểm cho chính mình để đối phó lại các rủi ro có thể gặp phải (như lo ngại về sự bất ổn định của nền kinh tế hay mất lòng tin vào sự phát triển bền vững sẽ dẫn đến các doanh nghiệp, cá nhân có xu hướng kinh doanh kiểu chụp giật, chỉ tập trung vào những mục tiêu kinh doanh ngắn hạn…). Bối cảnh mới đó rất cần các nhà nghiên cứu đưa ra câu trả lời dựa trên bằng chứng thực nghiệm cho các câu hỏi: các chính sách kinh tế xã hội hiện đang gặp phải những hạn chế gì và đâu là giải pháp.  Tuy nhiên, theo TS. Phùng Đức Tùng, người sáng lập và cũng là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong (Viện), từng có thâm niên nghiên cứu tại một đơn vị nghiên cứu công lập, hiện nay không phải viện nghiên cứu nào ở trong nước cũng đáp ứng được những thôi thúc đó. Rất nhiều đơn vị nghiên cứu đang có sức ì rất lớn, trong đó có một phần nguyên nhân do cơ chế phân bổ kinh phí đồng đều, không tự chủ trong nghiên cứu, thiếu sự cạnh tranh và minh bạch trong quá trình lựa chọn, nghiệm thu các công trình nghiên cứu. Hệ quả là có rất nhiều đề tài không có tính ứng dụng cao, còn môi trường học thuật thì trầm lắng. Do đó, anh và các cộng sự muốn xây dựng một đơn vị nghiên cứu độc lập, tự chủ mà ở đó phát huy được hết tiềm năng, đam mê nghiên cứu của mỗi cá nhân.  Chính vì mục tiêu như vậy, Viện của anh chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các vấn đề bức thiết trong xã hội hiện nay như bất bình đẳng, đói nghèo (cụ thể trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, phát triển nông nghiệp nông thôn, biến đổi khí hậu, tiếp cận các dịch vụ cơ bản). Trên cơ sở điều tra khảo sát, xây dựng dữ liệu thống kê, Viện đánh giá tác động của các dự án phát triển và chính sách xã hội ở Việt Nam. Nhiều chương trình nghiên cứu của các tổ chức tài trợ và cơ quan xây dựng chính sách xã hội ở Việt Nam trong thời gian gần đây đều có vai trò tư vấn của Viện. Một số ví dụ điển hình như các Báo cáo thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam (năm 2013, 2015), Các Báo cáo Nghèo của Ngân hàng Thế giới, Khảo sát về tình hình cư trú tại Việt Nam (nhằm góp ý cho các chương trình di dân và chính sách hộ khẩu) của Ngân hàng Thế giới, Đánh giá tác động của Chương trình giảm nghèo 135, Đánh giá tác động của các chính sách giảm nghèo của TP Hồ Chí Minh, Đánh giá tác động của các dự án nước sạch và vệ sinh khu vực nông thôn, Đánh giá tình trạng bất bình đẳng giới và tiếp cận công việc đối với nam giới và nữ giới tại nông thôn, Đánh giá tác động của mô hình trường học mới (VNEN), Đánh giá tác động của các hỗ trợ của Chính phủ Ireland, Cơ quan phát triển Úc hay Bộ Phát triển Anh …  Tuy nhiên, để xây dựng được báo cáo nghiên cứu thể hiện đúng bản chất của các vấn đề xã hội một cách trung thực, tránh ngụy tạo lại không phải là nhiệm vụ dễ dàng. “Điều đó cũng đòi hỏi sự nỗ lực, kiên định, mà nếu không vững tâm thì rất dễ đánh mất sự trung thực đó”, TS. Phùng Đức Tùng cho biết. Ví dụ, trong một dự án nghiên cứu đánh giá về tỷ lệ đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ Đỏ) của đồng bào dân tộc thiểu số, kết quả nghiên cứu của Viện cho thấy chỉ có 49% diện tích đất của các hộ dân tộc thiểu số tại bốn tỉnh được khảo sát có sổ đỏ, một con số hoàn toàn gây “sốc” với các cơ quan quản lý và nhà tài trợ. “Thời điểm đó Bộ chủ quản dự án đã không thừa nhận con số này và thậm chí không muốn trả tiền cho nghiên cứu nhưng chúng tôi chỉ có thể nói rằng đó là sự thật, các cơ quan quản lý có thể kiểm tra lại kết quả điều tra để xác tín nó, còn chúng tôi không thể nói khác được”, TS. Phùng Đức Tùng nhớ lại.         Kể từ ngày thành lập (năm 2013) đến nay, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong đã công bố 60 bài nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế ISI uy tín, được xếp hạng cao trong phân ngành kinh tế học (trung bình 12 bài/ năm).      Lấy ứng dụng để “nuôi” cơ bản  Các nghiên cứu ứng dụng không chỉ mang lại những khuyến nghị chính sách mà còn tạo ra nguồn thu tài chính và dữ liệu để làm “vốn liếng” cho các nghiên cứu hàn lâm, từ đó giúp Viện tăng cường công bố để tham gia thảo luận trong môi trường học thuật quốc tế. Kể từ ngày thành lập (năm 2013) đến nay, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong đã công bố 60 bài nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế ISI uy tín, được xếp hạng cao trong phân ngành kinh tế học (trung bình 12 bài/ năm). Đồng thời, nguồn dữ liệu của Viện còn rất hữu ích cho cộng đồng các nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam. “Nhờ vào việc tham khảo và phân tích nguồn dữ liệu điều tra khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong mà nhóm của chúng tôi cũng đã công bố được một số bài viết trên các tạp chí quốc tế uy tín”, TS. Trần Quang Tuyến, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết.  Cách bố trí công việc ở Viện cũng dành nhiều “đất” cho những nghiên cứu viên muốn chuyên tâm vào nghiên cứu cơ bản. TS. Nguyễn Việt Cường, phó Viện trưởng (đồng thời là giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân) và là một trong hai người sáng lập Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong cho biết: “Tôi chỉ tổ chức thiết kế về mặt kỹ thuật cho các nghiên cứu ứng dụng của Viện, thậm chí tôi cũng ít tham gia các cuộc họp mang tính hành chính ở Viện mà chủ yếu dành thời gian để nghiên cứu cơ bản”.  Tuy nhiên, việc lấy nguồn thu từ nghiên cứu ứng dụng để “nuôi” các ý tưởng nghiên cứu cơ bản còn rất hạn chế. Bởi trong trường hợp các ý tưởng nghiên cứu cơ bản nằm ngoài phạm vi của các đề tài ứng dụng đang được thực hiện thì Viện sẽ phải “chắt bóp” nguồn tài chính cho hoạt động thường xuyên để tiến hành nghiên cứu. Nguồn kinh phí này khá eo hẹp, chỉ đủ cho các nghiên cứu viên trong Viện thực hiện những thực nghiệm nhỏ. “Ngoài ra, tìm kinh phí [bên ngoài Viện] cho các nghiên cứu cơ bản cũng tương đối khó khăn. Có những nghiên cứu rất có ý nghĩa trong khoa học hành vi, nhưng sẽ khó xin tài trợ vì bao giờ đơn vị tài trợ cũng hỏi ‘nghiên cứu này khả năng ứng dụng như thế nào, có ngụ ý chính sách gì không?’ ”, TS. Nguyễn Việt Cường, người được Repec xếp vào top 5% kinh tế gia hàng đầu thế giới nói.  “Tôi vẫn có một ước muốn ‘viển vông’ là Viện Mekong sẽ trở thành một nơi tụ hội được những nhân tài trong nghiên cứu xã hội đang ‘lang thang’ đi tư vấn cho nhiều tổ chức quốc tế ở Việt Nam (theo thống kê của chúng tôi, Việt Nam chỉ có 432 nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất bản trên tạp chí quốc tế ISI, một con số quá ít ỏi so với một quốc gia gần 100 triệu dân), có đủ nguồn lực từ tài trợ, cùng nhau làm nghiên cứu cơ bản. Nhưng điều này khó thực hiện ở Việt Nam, khi mà nguồn kinh phí cho nghiên cứu xã hội còn ít ỏi, không có nhiều công ty tư nhân sẵn lòng làm ‘mạnh thường quân’. Trước đây, tôi cùng với một số nhà nghiên cứu có tiếng trong nước cũng từng xin một quỹ của quốc tế tài trợ cho việc thành lập một Viện nghiên cứu quốc tế trong vòng 10 năm thì lại vướng thủ tục pháp lý”, TS. Phùng Đức Tùng chia sẻ.  Khát vọng hình thành các thế hệ nhà nghiên cứu mới  Chưa thực hiện được mơ ước “viển vông” đó ngay, nhưng Viện Mekong đã và đang thực hiện được những mong muốn “thực tế” hơn, đó là đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu bài bản, chuyên nghiệp. Bởi vì, theo lãnh đạo Viện, “nhân lực là nguồn vốn duy nhất” mà họ có. “Khi thành lập, Viện không có gì cả, nguồn lực tài chính không, văn phòng không, chỉ có hai nhân lực chủ đạo là tôi và TS. Nguyễn Việt Cường cùng 6 cộng sự. Việc xây dựng hồ sơ để dự thầu các gói nghiên cứu đánh giá chỉ dựa vào lý lịch khoa học của cá nhân chúng tôi. Cũng dựa vào uy tín đó, dần dần chúng tôi liên kết các nhà nghiên cứu khác tham gia cùng. Giờ đây thì Viện cũng đã có uy tín và ít chịu ảnh hưởng bởi uy tín của các cá nhân trong Viện rồi. Vì vậy chúng tôi rút ra kết luận rằng có nhân lực là có tất cả”, TS. Phùng Đức Tùng nói.  Toàn bộ 16 người thuộc “thế hệ thứ nhất” được tuyển dụng kể từ khi thành lập Viện đều được “rèn luyện” qua rất nhiều nghiên cứu và được lãnh đạo Viện tư vấn, giới thiệu đi học ở nhiều nước phát triển. Không chỉ có các nghiên cứu viên thuộc “biên chế” của Viện được truyền đam mê nghiên cứu, mà hàng nghìn lượt điều tra viên (chủ yếu là sinh viên mới ra trường của các trường đại học thuộc khối kinh tế và xã hội) cũng được “lan tỏa” cảm hứng sau một quá trình dài đi khảo sát, “ba cùng” với người dân hay đặt chân tới những vùng đất khác nhau… “Nhiều ‘cô chiêu cậu ấm’ mới ra trường vào Viện làm thực tập sinh hoặc điều tra viên đã thay đổi hẳn cái nhìn về những vấn đề xã hội, muốn đóng góp chứ không chỉ đòi hỏi quyền lợi cho riêng mình nữa”, TS. Phùng Đức Tùng kể lại.     Hiện nay, gần 20 cán bộ nghiên cứu thuộc “thế hệ thứ hai” cũng đang được “tôi luyện” trong quá trình nghiên cứu như vậy để chuẩn bị học tập tiếp ở nước ngoài. “Khi thế hệ thứ hai đi học là thời điểm thế hệ thứ nhất trở về để tiếp tục rèn giũa ‘thế hệ thứ ba’. Viện luôn muốn các nghiên cứu viên trẻ phát triển trong một môi trường làm việc phù hợp và phát huy được hết năng lực của mình nên chưa bao giờ chúng tôi nghĩ các thành viên khi đi học là phải quay về Viện. Trong vòng đời của Mekong mà có được 100 bạn đi học nước ngoài, trong đó có 1-2 bạn thành danh và có đóng góp lớn cho Việt Nam thì Viện đã hoàn thành một trong những sứ mệnh quan trọng nhất của mình”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Anh nói thêm: “Khi thế hệ thứ nhất, rồi thứ hai trở về là tôi có thể nghỉ hưu, giao lại Mekong cho các bạn ấy được rồi” trước sự ngạc nhiên của chúng tôi (vì anh vẫn còn trẻ) và giải thích “không thể làm lãnh đạo lâu được vì ai rồi sẽ tới lúc ‘cạn kiệt’ ý tưởng”.  ———–  * Repec là một dự án do hàng trăm tình nguyện viên ở nhiều nước trên thế giới tham gia xây dựng nhằm tập hợp, thống kê và phổ biến các ấn phẩm liên quan tới nghiên cứu kinh tế, khởi động từ năm 1997, được Ngân hàng Dự trữ liên bang St. Louis (Mỹ) tài trợ.       Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Viên ngọc trong lòng vật lý lượng tử      Viên đá quý đó là Amplituhedron (biên độ mặt), một đối tượng hình học nhiều chiều, có thể giúp giản ước nhiều phép tính và làm nên một cuộc cách mạng trong vật lý. Theo tạp chí Discover, biên độ mặt có thể xác định hình dung của vật lý tương lai1,2.      Hình 1.Hình ảnh của một amplituhedron (biên độ mặt).  Điểm thú vị của biên độ mặt là không trực tiếp làm bằng không thời gian và xác suất, các tính chất của nó phát sinh từ cấu trúc hình học của nó.  Viên ngọc ở đây là một đối tượng hình học có khả năng giúp giản ước các tính toán về tương tác giữa các hạt hạ nguyên tử. Điều này dẫn đến ý tưởng những sự cố trong diễn ra trong tự nhiên có thể là hệ quả của hình học. Trong nhiều thập kỷ, người ta có thể tính toán được những tương tác đó là nhờ các giản đồ Feynman nhưng giờ đây, việc này sẽ đơn giản hơn nhờ tính toán thể tích của hạt ngọc biên độ mặt. Nhờ viên ngọc này, các nhà vật lý có thể thực hiện được những phép tính mà trước đây thậm chí máy tính cũng gặp khó khăn, Jacob Bourjaily – một nhà vật lý về biên độ tán xạ và lý thuyết trường lượng tử ở trường Đại học Pennsylvania, từng đánh giá như vậy.  Lối tiếp cận mới này có thể mở rộng để tiếp cận hấp dẫn lượng tử, vốn chỉ gắn liền với những bức tranh tương tác hấp dẫn tuân theo nguyên lý của cơ học lượng tử kích cỡ vi mô.   Biên độ mặt thỏa mãn hai nguyên lý cơ bản của vật lý là định xứ (locality) và nhất nguyên (unitarity). Nguyên lý định xứ ràng buộc các hạt chỉ tương tác với nhau lúc nằm trong một vùng lân cận còn nguyên lý nhất nguyên (unitarity) buộc tổng xác suất va chạm bằng 1. Tuy biên độ mặt chưa sẵn sàng mô tả hấp dẫn lượng tử song Nima Arkani-Hamed và Jaroslav Trnka (Viện Nghiên cứu Tiên tiến ở Princeton) – hai tác giả của biên độ mặt, vẫn cho rằng tồn tại một đối tượng hình học tương tự khác sẽ thực hiện điều đó.  Hình dáng của biên độ mặt giống như một viên ngọc đa diện trong không gian nhiều chiều. Trong thể tích của viên ngọc này có tích lũy mã hóa những đặc trưng cơ bản của scattering amplitudes (biên độ tán xạ) – xác suất khi một số hạt va chạm nhau và biến thành nhiều hạt khác sau va chạm.    Hình 3. Nhà vật lý đoạt giải Nobel Feynman.  Nhà vật lý Feynman đã tìm ra những giản đồ cho phép tính bằng nhiễu loạn các quá trình tán xạ. Giản đồ đơn giản Feynman, nhất là những giản đồ cây (tree diagram), những giản đồ phức tạp hơn là những giản đồ vòng (loop diagram) chứa các vòng mà trên đó xuất hiện những hạt ảo không quan sát được. Những hạt ảo không quan sát được tuy nhiên cần thiết để bảo đảm nguyên lý nhất nguyên. Số giản đồ Feynman nhiều vô kể.  Biên độ mặt  Một tiến bộ lớn là việc tìm ra các hệ thức đệ quy BCFW (recursion relations Ruth Britto, Freddy Cachazo, Bo Feng, Edward Witten), các hệ thức này thuộc bậc cây (tree level) biểu diễn gọn nhờ các biến số gọi là “twistors” (xoắn tử) và tương tác giữa các hạt được biểu diễn thành những giản đồ xoắn tử (twistor diagrams).  Với sự cộng tác của các nhà toán học như Pierre Deligne, Arkani-Hamed và cộng sự đã phát hiện ra các hệ thức đệ quy + các sơ đồ twistor (recursion relations + các sơ đồ twistor) tương ứng với một đối    Hình 4. Hệ thức đệ quy BCFW.  Biên độ mặt được định nghĩa như một không gian Grassmaniann3. Trong lý thuyết xoắn tử4 thì các hệ thức đệ quy BCFW được biểu diễn bằng một số sơ đồ xoắn tử. Các sơ đồ đó cho phép xây dựng Grassmaniann dương tức biên độ mặt. Biên độ tán xạ như vậy bằng thể tích của Grassmaniann dương.  Cách tiếp cận xoắn tử làm đơn giản các phép tính về tương tác hạt. Theo lý thuyết nhiễu loạn thông thường, một tương tác như vậy đòi hỏi nhiều ngàn phép tính giản đồ Feynmann, trong nhiều sơ đồ đó là các hạt ảo. Biên độ mặt tính toán không cần hạt ảo. Các tính toán cần điều kiện định xứ và nhất nguyên. Trong lý thuyết biên độ mặt, hai điều kiện này đã nằm sẵn trong hệ quả dương (positivity của Grassmanian).  Do đó, nhờ các hệ thức đệ quy và các sơ đồ xoắn tử mà xuất hiện đối tượng hình học biên độ mặt! Đây là mấu chốt của vấn đề: biến một bài toán lượng tử thành một bài toán hình học, một ý tưởng xuất sắc.  Các hệ thức đệ quy và các giản đồ xoắn tử tương ứng với một đối tượng hình học. Arkani-Hamed và các bạn đồng nghiệp chứng minh rằng, các giản đồ xoắn tử cho phép tính thể tích các yếu tố của đối tượng này vốn được gọi là Grassmannian dương – có thể hiểu Grassmannian dương một cách đơn giản là nội vùng của một tam giác (inside of a triangle), Arkani-Hamed giải thích như vậy. Tương tự như vậy, nội vùng của một tam giác là vùng giới hạn bởi những đường thẳng cắt nhau thì Grassmannian dương nới rộng ra là vùng trong một không gian N-chiều giới hạn bởi những mặt phẳng cắt nhau.    Hình 5. Một hình ảnh khác của amplituhedron. Nếu dùng các giản đồ Feynman ta cần đến 500 trang tính toán.  Hai tác giả Arkani-Hamed & Trnka đã chứng minh biên độ tán xạ bằng thể tích của biên độ mặt. Những phần của Grassmannian dương được tính nhờ các giản đồ xoắn tử cộng lại và là những khối xây dựng cấu thành một viên ngọc giống như các tam giác hợp thành một polygon (hình đa giác). Nếu sử dụng các giản đồ Feynman thì chúng ta có tình huống tương tự như việc lấy một bình cổ thời Minh và đập nát nó thành những mảnh nhỏ trên sàn nhà, Skinner so sánh như vậy. Nói cách khác, nếu dùng giản đồ Feynmann thì ta sẽ gặp phải một tình huống vô vọng vì số lượng giản đồ quá nhiều.   Tìm kiếm hấp dẫn lượng tử    Trong hấp dẫn lượng tử, hai nguyên lý định xứ và nhất nguyên đặt ra nhiều vấn đề. Và vật lý phải được phát biểu lại cho thích hợp. Khi nói đến định xứ, ta cần những khoảng cách nhỏ (vậy năng lượng lớn). Do đó, khi tiến đến khoảng cách Planck thì bức tranh trở nên phức tạp hơn bởi ở khoảng cách nhỏ, ta có thể gặp phải lỗ đen và không thời gian có thể phải được xem là đột sinh. Còn nguyên lý unitarity phải được xem là nguyên lý gần đúng? Như vậy đối với hấp dẫn lượng tử, ta cần một tiếp cận mới.  Hiện nay ta đã có một đối ngẫu giữa lý thuyết dây chứa hấp dẫn lượng tử và lý thuyết tính toán lượng tử xét ở hai không thời gian với số chiều khác nhau (đối ngẫu AdS/CFT). Người ta hy vọng, biên độ mặt vốn dựa trên hình học có cơ tiếp cận đến vấn đề hấp dẫn lượng tử. Các nhà vật lý đang tiến hành các nghiên cứu theo hướng này. Biên độ tán xạ có hấp dẫn có thể mô tả bằng một biên độ mặt.  Kết luận  Như vậy các nhà vật lý đã làm một việc quan trọng: biến một bài toán lượng tử thành một bài toán hình học, đây là một ý tưởng rất xuất sắc.  Nhờ biên độ mặt mà các nhà vật lý đã giản ước những phép tính rắc rối kiểu Feymann với số giản đồ nhiều vô kể thành việc tính thể tích của biên độ mặt,  một bước cách mạng trong tính toán của lý thuyết lượng tử.  Do đó, biên độ mặt xứng đáng được gọi là viên ngọc quý của vật lý.□  ——  Tài liệu tham khảo   [1]  Arkani-Hamed , Jaroslav Trnka  https://www.wired.com/2013/12/amplituhedron-jewel-quantum-physics/  [2] By Shannon Palus|Tuesday, January 07, 2014  RELATED TAGS: PHYSICS  http://discovermagazine.com/2014/jan-feb/10-shaping-the-future-of-physics  CHÚ THÍCH  [3] Grassmaniann Gr (k,V) là không gian thông số hóa các không gian con k của một không gian vector V  [4] Lý thuyết twistor là do Roger Penrose đề xuất năm 1967 được xem là sân khấu cơ sở cho vật lý từ đó không thời gian đột sinh.    Author                Cao Chi        
__label__tiasang Viện phó Viện Toán học được đề nghị công nhận giáo sư đặc cách      Được các viện nghiên cứu lớn ở Italia, Đức,  Mỹ… mời làm việc với chế độ đãi ngộ và lương bổng cao nhưng TSKH Phùng  Hồ Hải vẫn về nước làm việc và được bổ nhiệm làm Viện phó Viện Toán  học.      Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước vừa tổ chức kỳ họp thứ 10 xét đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư 2012. Sau khi thẩm định, bỏ phiếu kín, có 41 ứng viên được công nhận chức danh giáo sư, một ứng viên được đề nghị công nhận chức danh giáo sư đặc cách; 426 ứng viên được công nhận chức danh phó giáo sư, một ứng viên được đề nghị công nhận chức danh phó giáo sư đặc cách.  Hai nhà khoa học được xét đặc cách là ông Phùng Hồ Hải, Viện phó Viện Toán họcViệt Nam (sinh năm 1970, xét đặc cách chức danh giáo sư) và Phạm Hữu Anh Ngọc, giảng viên ĐH Quốc tế, ĐHQG TP HCM, xét đặc cách chức danh phó giáo sư).  Giáo sư Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, cho biết, Hội đồng vừa làm tờ trình gửi Thủ tướng về việc đề nghị cho phép công nhận đặc cách đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư và phó giáo sư.  Theo GS Nhung, PGS Phùng Hồ Hải là nhà toán học trẻ, có nhiều công trình được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế danh tiếng trên thế giới, có thành tích khoa học xuất sắc. Ông được mời làm việc tại các Viện Nghiên cứu Toán – Lý lớn như: Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế ở Trieste (Italia), Viện Max Planck về toán ở Bonn (Đức), Viện Nghiên cứu các khoa học về toán tại Berkeley (Mỹ).  Ông Hải từng nhận giải thưởng Baedeker dành cho luận án tiến sĩ khoa học xuất sắc nhất của Đức năm 2005, Giải thưởng Von Kaven của Quỹ DFG (Đức) năm 2006, Học bổng Heisenberg các năm 2005-2010, được Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba (TWAS) bầu làm Viện sĩ trẻ, đại diện cho khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương nhiệm kỳ 2009-2013.  PGS Hải từng giảng dạy một số năm tại ĐH Essen (Đức), nhưng chủ yếu dành thời gian giảng dạy tại Viện Toán học và nhiều trường đại học khác tại Việt Nam. Ông là Phó Tổng Thư ký Hội Toán học Việt Nam, Phó tổng biên tập tạp chí Acta Math Vietnamica, Phó viện trưởng Viện Toán học (từ tháng 7/2012).  “Tuy có thể làm việc và sống ở nước ngoài với chế độ đãi ngộ, lương bổng cao, nhưng PGS Phùng Hồ Hải vẫn quyết tâm làm việc và sống tại Việt Nam. Vì vậy, dù chưa đủ một số tiêu chuẩn [có tính chất thâm niên và kỹ thuật] bổ nhiệm giáo sư nhưng Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, các nhà khoa học vẫn đánh giá rất cao”, GS Nhung cho hay.  Còn tiến sĩ Phạm Hữu Anh Ngọc có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc, đã công bố 45 bài báo khoa học, trong đó 30 bài đăng ở tạp chí SCI và SCI-E (hàng đầu thế giới), có tổng số điểm công trình gấp 6 lần điểm quy định. Ông đã được nhận học bổng Humboldt của CHLB Đức – một học bổng danh giá dành cho các nhà khoa học trẻ (không quá 40 tuổi) có triển vọng.  Khi được Thủ tướng phê duyệt, ông Hải sẽ là giáo sư trẻ nhất năm 2012, còn phó giáo sư trẻ nhất là Nguyễn Khánh Diệu Hồng, công tác ở Viện Kỹ thuật Hóa học, ĐH Bách khoa (sinh năm 1981).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Viên thuốc nghìn đô      Loại thuốc điều trị bệnh viêm gan C này tên  là Sovaldi, nhưng ở Mỹ người ta gọi nó là “viên thuốc nghìn đô”. Giá một  viên thuốc là 905 USD, hay 700 Euro. Tạp chí “Euro” đã tính, giá một  gram thuốc Sovaldi đắt gấp 20 lần so với vàng.     Thuốc mới được cấp phép lưu hành tại Mỹ hồi tháng 12 năm ngoái, ở Đức và châu Âu từ đầu năm nay, nhưng hãng Gilead đã thu lợi nhuận rất lớn: 5,8 tỷ USD chỉ trong vòng sáu tháng đầu năm. Trước khi thuốc được tung ra thị trường, các nhà phân tích dự báo doanh thu cả năm 2014 ước đạt 1,9 tỷ USD.   Ông Jürgen Peter, giám đốc quỹ bảo hiểm y tế AOK của Đức, cho rằng, “chi phí để sản xuất 84 viên thuốc khoảng 100 Euro, vậy mà quỹ phải thanh toán với giá gần 60.000 Euro, đây là điều không thể chấp nhận”. Để điều trị thành công, bệnh nhân phải dùng thuốc liên tục ít nhất 12 tuần lễ, mỗi ngày một viên – tức 84 viên cho một đợt điều trị.   Với người bị bệnh viêm gan C (Hepatitis-C) thì Sovaldi đúng là một “thần dược”. Viêm gan C là bệnh mãn tính, về lâu dài sẽ dẫn đến suy gan, xơ gan hay ung thư gan. Theo kết quả nghiên cứu, với thuốc Sovaldi, tỷ lệ điều trị thành công đạt từ 80 đến 90% – trong khi phương thức điều trị như hiện nay chỉ thành công với tỷ lệ 50 đến 60%. Solvadi cũng được cho là gây ít phản ứng phụ so hơn hẳn so với các loại thuốc cùng công dụng khác. Tuy nhiên giá thuốc cao như vậy có thực sự hợp lý? Giá thuốc này đã hình thành trên cơ sở nào?  “Cái giá này hoàn toàn không thể biện minh được,” nhà bào chế đồng thời là bác sỹ Wolfgang Becker-Brüser nói. Ông bất bình về “khoản lợi nhuận khổng lồ” và cách tính giá thành của Gilead.   Tất nhiên ở đây cần tính cả chi phí nghiên cứu cũng như chi phí để được cấp phép lưu hành. Vấn đề là, theo ông Becker-Brüser, khoản chi phí này hoàn toàn không minh bạch.   Theo ước tính của ngành công nghiệp dược phẩm, chi phí để phát triển và đưa được một loại thuốc mới ra thị trường hết từ 1 đến 1,2 tỷ USD. Song bên cạnh đó cũng có những tính toán cho thấy con số này chỉ vào khoảng một phần mười con số đã nêu.   Người ta không biết chi phí nghiên cứu đối với Sovaldi là bao nhiêu. Chỉ biết năm 2011, Gilead đã mua Pharmasset, hãng công nghệ sinh học cỡ nhỏ đã tham gia nghiên cứu chất hữu hiệu của Sovaldi, với giá 11 tỷ USD.  Các hãng dược phẩm thường lập luận, thuốc của phải cáng đáng chi phí cho hàng loạt dự án nghiên cứu bị thất bại. Tuy nhiên Becker-Brüser không chấp nhận lý lẽ này đối với trường hợp Sovaldi. Ông đưa ra các số liệu kinh doanh của Gilead: Kể từ năm 2007, Gilead hằng năm đều đạt lợi tức doanh thu từ 40 đến 50% – chi phí cho nghiên cứu phát triển Sovaldi cũng rơi vào thời kỳ này. “Con số về lợi nhuận của Gilead thực sự là vô đạo đức,” Becker-Brüser phát biểu.  Các quỹ bảo hiểm y tế không làm được gì nhiều vì loại thuốc mới này rõ ràng công hiệu hơn so với các loại thuốc cũ vì vậy trước mắt quỹ bảo hiểm y tế phải chấp nhận giá thuốc cực cao – điều này đã được quy định về mặt pháp lý. Hơn nữa, cũng theo luật, trong năm đầu tiên, nhà sản xuất có quyền quyết định về giá bán.   Theo luật thì một năm sau, khi thuốc được bán ra thị trường thì quỹ bảo hiểm y tế có thể thương lượng về giá cả với nhà sản xuất. Nhưng do thuốc có nhiều ưu thế nên nhà sản xuất nắm đằng chuôi. Trong trường hợp cực chẳng đã, nhà sản xuất sẽ rút thuốc khỏi thị trường Đức, nếu các quỹ bảo hiểm eo xèo về giá cả.  Cuối cùng chỉ có một cách để buộc giá thuốc phải hạ, đó là thông qua các đối thủ cạnh tranh. Tập đoàn dược phẩm Janssen-Cilag hồi tháng sáu mới đây đã đưa ra thị trường thuốc Olysio cũng rất triển vọng với bệnh nhân viêm gan C. Theo dự kiến, từ giờ đến cuối năm sẽ có ít nhất một loại thuốc nữa chữa bệnh gan mãn tính được đưa ra thị trường.   Xuân Hoài dịch     Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện Toán là một trong những viện khoa học thành công nhất ở Việt Nam      Nhân sự kiện GS Ngô Bảo Châu nhận giải Fields, trên công luận xuất hiện những ý kiến khác nhau đánh giá trình độ toán học của Việt Nam, trong đó có ý kiến cho rằng căn cứ vào số công bố quốc tế thì từ 1950 đến nay, toán học Việt Nam đã kém các nước Đông Nam Á.  GS Hoàng Tụy đã trao đổi với Tia Sáng về ý kiến nói trên.  &#160;    Trước khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ, các tạp chí lớn của Liên Xô về toán học (như các tạp chí có quy mô Liên bang, do Viện Hàn lâm Liên Xô xuất bản) đều là những tạp chí hàng đầu trên quốc tế (theo nhìn nhận của các nhà toán học lớn trên thế giới, lúc đó toán học Liên Xô cùng với toán học Mỹ đứng ở hàng đầu. Chỉ sau này, một số tạp chí sa sút chất lượng (do sự ra đi của nhiều nhà toán học giỏi). Như vậy thời kỳ đó, chỉ kể Việt Nam DCCH cũng đã khá hơn các nước Đông Nam Á (nếu kể cả Miền Nam Việt Nam và Việt kiều thì càng không có gì phải bàn cãi). Thậm chí vào khoảng đầu những năm 80 đã có một bài đăng trong Science et Vie kể Việt Nam như một trong sáu trung tâm làm toán đáng chú ý thời đó, nên có người hiểu sai khoe Việt Nam là “cường quốc thứ sáu về toán học”!.     Cũng cần chú ý là chỉ vào khoảng vài chục năm nay mới có lệ thống kê số công bố trên các tạp chí thuộc loại ISI (được kể là đạt chuẩn mực quốc tế), và việc này đến nay cũng còn nhiều vấn đề tranh cãi. Một số người mới chỉ theo dõi các công bố quốc tế thời gian gần đây rồi nhận định toán học Việt Nam kém các nước Đông Nam Á là quá vội vã và liều lĩnh.   Mặt khác, trình độ một nền toán học không phải chỉ thể hiện ở mặt số lượng các công bố (nếu kể về số lượng thì Hungary, Ba Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, v.v. còn thua nhiều nước nhưng kể về đóng góp thật sự vào khoa học toán học thì đó là những nền toán học lớn cả). Về mặt đóng góp thật sự cho khoa học toán học, thể hiện ở những công trình được biết rộng rãi trên quốc tế thì dứt khoát Việt Nam hơn hẳn. Ở thời kỳ đó, Việt Nam DCCH đã có một số chuyên gia tầm cỡ quốc tế, nhưng tôi không biết một chuyên gia nào như vậy ở các nước Đông Nam Á, trừ Singapore.  Sau này, Việt Nam tiến chậm, các nước ở Đông Nam Á tiến nhanh hơn, nhất là mấy thập kỷ liền, nền toán học Việt Nam hầu như bị bỏ rơi, trong khi đó Liên Xô sụp đổ, lúc này các tạp chí hàng đầu của Liên Xô xuống cấp, nhiều nhà toán học Việt Nam được đào tạo ở Liên Xô  thôi làm nghiên cứu, phần vì điều kiện kinh tế khó khăn, phần vì kém tiếng Anh nên số công bố quốc tế thời kỳ này thua kém dần một vài nước Đông Nam Á, đặc biệt Singapore. Tuy nhiên, ngay cả trong thời kỳ này thì Việt Nam chỉ thua kém về trình độ trung bình thể hiện ở số nhà toán học trung bình, nhưng về số nhà toán học tầm cỡ quốc tế thì vẫn còn hơn tuyệt đối. Một nhà toán học lớn của Mỹ, Peter Hilton, năm 1980 sau khi thăm Hà Nội đã viết bài báo đánh giá khá cao toán học Việt Nam khi ấy ở một trình độ khác hẳn các nước trong khu vực; một nhà toán học hàng đầu của Hàn Quốc, S.Park, khi sang thăm Việt Nam cách đây mười lăm năm cũng tuyên bố rõ trong khu vực này ông ta chỉ thấy Việt Nam có một nền toán học đáng nể. Có thể họ đánh giá toán học Việt Nam quá cao, nhưng những người này hoàn toàn không phải vì cảm tình riêng với Việt Nam.  Nhận định của tôi trên đây thống nhất với nhận định những nhà toán học lớn như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck, Pierre Cartier, hay nhà vật lý Henri Van Regemorter.  Viện Toán học, từ hơn 15 năm nay, đã được Viện Hàn lâm Thế giới thứ ba công nhận là một trong số ít institute of excellence ở các nước thế giới thứ ba. Cho đến giờ, theo tôi biết cả Đông Nam Á  cũng chưa có thêm viện toán nào được coi là institute of excellence. Nhân đây tôi cũng muốn nói rằng thật sự Viện Toán là viện khoa học thành công nhất ở Việt Nam. Pierrre Darriulat hay Neal Koblitz cũng đều nhận định như vậy.   Vừa rồi nhà toán học Lê Dũng Tráng khi trả lời nhà báo cũng có nói đại ý: cách đây hơn 30 năm anh ấy đã chờ đợi Việt Nam sẽ có một người như Ngô Bảo Châu, thế mà đến bây giờ mới có. Đúng như chúng tôi đã cảnh báo từ 25 năm nay, chúng ta đã không quan tâm đến sự phát triển của ngành toán học – một lĩnh vực khoa học có thế mạnh của người Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viện Ứng dụng Công nghệ hướng tới  hoàn toàn tự chủ      Kể từ khi Nghị định 115/2005/NĐ &#8211; CP ra đời đến nay, việc khởi động tiến tr&#236;nh tự chủ, tự chịu tr&#225;ch nhiệm ở c&#225;c cơ quan nghi&#234;n cứu triển khai đ&#227; đem lại những chuyển biến t&#237;ch cực tới nhiều mặt hoạt động của c&#225;c cơ quan nghi&#234;n cứu thuộc Bộ KH&amp;CN, trong số đ&#243; c&#243; Viện Ứng dụng C&#244;ng nghệ. Từ kết quả Viện đ&#227; đạt được v&#224; qua những g&#236; c&#242;n đang tiếp tục x&#226;y dựng để tiến tới ho&#224;n to&#224;n tự chủ mọi hoạt động, bước đầu ch&#250;ng ta đ&#227; c&#243; thể r&#250;t ra một số kinh nghiệm gi&#250;p bổ sung, ho&#224;n thiện cho một chủ trương đổi mới c&#243; t&#237;nh c&#225;ch mạng trong quản l&#253; về KH&amp;CN.    Viện Ứng dụng Công nghệ trước Nghị định 115…  Trước khi Nghị định 115 ra đời và được đưa vào triển khai, nhiều vướng mắc trong quản lý gây hạn chế tính hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ. Đối với Viện Ứng dụng Công nghệ, hạn chế đầu tiên là ở khâu xác lập định hướng hoạt động sao cho phù hợp với tiềm năng và nhu cầu kinh tế, xã hội trong thực tiễn. Do lệ thuộc nhiều vào nhiệm vụ và kinh phí giao từ Nhà nước nên tính chủ động trong đầu tư và triển khai nghiên cứu không cao. Đa số các dự án sản xuất đều có quy mô nhỏ và ở mức thử nghiệm. Không ít cơ hội đầu tư và khai thác thị trường bị bỏ lỡ. Một ví dụ điển hình như trong năm 2003, Viện Ứng dụng Công nghệ đã từng chủ động nhận biết thời cơ thuận lợi cho việc đầu tư vào nghiên cứu một số công đoạn chế tạo đầu thu phát quang. Nhưng do chi phí đòi hỏi cho phòng thí nghiệm trọng điểm quá lớn, Viện đã không thể chủ động linh hoạt trong đầu tư và đành để cơ hội đó qua đi. Hạn chế lớn thứ hai là thiếu một cơ chế hợp lý giúp tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có. Quan hệ giữa các trung tâm trong Viện lỏng lẻo, thiếu sự phối hợp đồng bộ. Trách nhiệm và quyền lợi các cá nhân và các tập thể trực thuộc Viện trong quá trình làm việc không được ràng buộc chặt chẽ theo điều khoản rõ ràng. Về tổ chức nhân sự thì người chịu trách nhiệm chính ở cơ quan không được toàn quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm người làm việc cho mình. Thu nhập cho các cá nhân lệ thuộc vào ngạch, bậc công chức chứ không tỉ lệ tương xứng với đóng góp thực tế. Vì vậy, bộ máy nhân sự có lúc đã trở nên quá cồng kềnh, theo Viện trưởng Trần Xuân Hồng thì có thời điểm 46% số nhân viên là thuộc loại gián tiếp, tức là không trực tiếp làm ra sản phẩm.           Hai vướng mắc lớn trong công việc của Viện là ở mục tiêu và cơ chế hoạt động. Mục tiêu bị ràng buộc chặt từ bên trên thay vì xuất phát từ điều kiện và nhu cầu thực tế. Cơ chế hoạt động không tạo ra động cơ để các cá nhân phát huy tối đa chuyên môn và khả năng sáng tạo. Trong tình trạng đó, không chỉ nhân lực mà các tài nguyên khác của Viện cũng không thể sử dụng có hiệu quả.           Như vậy, hai vướng mắc lớn trong công việc của Viện là ở mục tiêu và cơ chế hoạt động. Mục tiêu bị ràng buộc chặt từ bên trên thay vì xuất phát từ điều kiện và nhu cầu thực tế. Cơ chế hoạt động không tạo ra động cơ để các cá nhân phát huy tối đa chuyên môn và khả năng sáng tạo. Trong tình trạng đó, không chỉ nhân lực mà các tài nguyên khác của Viện cũng không thể sử dụng có hiệu quả.   … và sau Nghị định 115  Việc khởi động triển khai thực hiện Nghị định 115 đã bước đầu tạo ra những tác động tích cực tới hoạt động của Viện Ứng dụng Công nghệ. Với hai mục tiêu có tính bắt buộc là một mặt hướng tới tồn tại tự chủ thành công, mặt kia là vẫn phải duy trì chức năng và nhiệm vụ của một viện nghiên cứu Nhà nước, đây là cơ hội để Viện tự tổ chức lại cho hợp lý hơn, từ định hướng nghiên cứu/sản xuất trọng điểm tới cơ cấu tổ chức và quản lý nhân sự. Cụ thể Viện đã triển khai thực hiện một số bước đi như sau:                Máy cắt Lazer do Viện UDCN chế tạo   Sản xuất bóng mạch điều khiển        Về định hướng nghiên cứu/sản xuất trọng điểm, Viện đã xác định tập trung cho lĩnh vực thế mạnh hiện nay là quang điện tử, với các sản phẩm phục vụ cho viễn thông, an ninh quốc phòng, y tế cộng đồng. Về cơ cấu tổ chức thì Viện đã lên được kế hoạch kết nối các công đoạn trong công việc. Trong đó có sự liên kết hợp lý giữa các công tác, từ đề tài dự án, tạo sản phẩm mẫu, sản xuất thử nghiệm, tới ươm tạo doanh nghiệp và ứng dụng ra thị trường. Giữa các đơn vị thành viên trong Viện có sự phối hợp mạch lạc và gắn kết hơn. Viện trở thành chủ đầu tư của các dự án. Các trung tâm thuộc Viện vừa nhận các nhiệm vụ từ Viện, vừa chủ động tìm kiếm các đề tài, dự án, nguồn kinh phí bên ngoài. Về cơ bản, các trung tâm được tổ chức như các phòng thí nghiệm trọng điểm, được Viện xác định phải đầu tư chiều sâu đủ ngưỡng để tiến hành nghiên cứu các công nghệ nền phục vụ cho thị trường, cùng các định hướng phát triển ưu tiên của Viện và giải quyết các vấn đề do Nhà nước/Bộ đặt hàng. Cuối cùng, Viện đã lên kế hoạch ươm tạo một số doanh nghiệp KHCN với chức năng chuyên nghiệp hóa việc đưa các ứng dụng nghiên cứu ra thị trường. Như vậy, thông qua kết hoạch này các nguồn lực của Viện đã có sự kết dính để phát huy tính hiệu quả trong một tổng thể thống nhất.          Năm 2007, Viện được NN cấp kinh phí 20,08 tỷ thì đã đạt doanh thu 23,4 tỉ đồng, nộp ngân sách 854 triệu. Năm 2008, Viện được cấp kinh phí 20,64 tỷ thì đạt doanh thu 31,4 tỉ đồng, nộp ngân sách 1,05 tỉ. Kết quả đó cho thấy hiệu quả hoạt động của Viện trên lộ trình từng bước tiến tới hoàn toàn tự chủ.            Hiện nay, Viện đang lên kế hoạch có tính chi tiết cụ thể hơn nữa, cho các vấn đề quy chế quản lý tài chính, đào tạo nhân sự, quy hoạch đầu tư cơ sở vật chất (các phòng thí nghiệm về lĩnh vực hệ thống điện tử, kỹ thuật y sinh, xưởng cơ khí quang học, …).  Tuy nhiên, không chỉ lên kế hoạch trên lý thuyết mà bước đầu Viện đã có một số trải nghiệm thực tiễn thành công ở mức độ nhất định. Điều này được minh chứng qua khối lượng công việc mà Viện thực hiện. Năm 2007, Viện được NN cấp kinh phí 20,08 tỷ thì đã đạt doanh thu 23,4 tỉ đồng, nộp ngân sách 854 triệu. Năm 2008, Viện được cấp kinh phí 20,64 tỷ thì đạt doanh thu 31,4 tỉ đồng, nộp ngân sách 1,05 tỉ. Kết quả đó cho thấy hiệu quả hoạt động của Viện trên lộ trình từng bước tiến tới hoàn toàn tự chủ.      Một số đề xuất  Cũng như đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học khác của NN, việc thực thi tự chủ hóa ở Viện Ứng dụng Công nghệ cần được NN đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo các cơ quan này một mặt hoạt động độc lập hiệu quả, mặt khác không bị sức ép từ thị trường buộc trở thành những tổ chức hoàn toàn chạy theo lợi nhuận.   Để hai yêu cầu này có thể thực hiện được, trước hết NN cần cho các quy định có tính thống nhất và hết sức cụ thể trong việc xác lập mục tiêu hoạt động, phân phối đầu tư, và hạch toán thu nhập của các đơn vị nghiên cứu triển khai, làm cơ sở cho việc giải quyết hai vướng mắc nổi bật hơn cả.   Thứ nhất, việc Nhà nước qui định các đơn vị khi ra tự chủ thì không được trả lương công chức thấp hơn mức lương quy định theo ngạch, bậc của Nhà nước. Đây là một quy định bất cập, vì để bất kỳ một tổ chức nào có thể hoạt động tốt thì thu nhập của người lao động phải tương xứng với thành quả công việc của họ. Với yêu cầu này sẽ có tình trạng buộc các đơn vị phải trả lương cao cho các công chức làm việc lâu năm (nếu không muốn sa thải những người này) kể cả khi họ không có đóng góp gì đáng kể, trong khi các đơn vị Nhà nước thì vẫn thiếu kinh phí để thu hút và động viên các nhân viên trẻ tuổi có năng lực, từ đó nảy sinh không ít vướng mắc về tổ chức và tư tưởng.  Thứ hai là yêu cầu tự chủ hóa của Nhà nước vô hình trung chỉ mới giúp các đơn vị đầu tư vào những nghiên cứu thế mạnh và có khả năng thu hồi vốn nhanh chóng, trong khi các lĩnh vực nghiên cứu khác vẫn quá lệ thuộc vào nhiệm vụ từ trên giao xuống. Song kinh nghiệm thực tế cho thấy việc hình thành các nhiệm vụ chiến lược phải đến từ cả hai kênh thông tin. Người trên chỉ đạo xuống song hành với người dưới đề xuất lên. Nhưng với cơ chế quản lý hành chính nhiều cửa hiện nay thì hai kênh thông tin trên rất khó tương tác hiệu quả với nhau. Bên cạnh đó, việc xin kinh phí cho khoa học hiện phải đi qua nhiều khâu, nhiều cửa, khiến cho người quyết định kinh phí cho dự án khoa học chưa chắc đã am hiểu tình hình phát triển khoa học.   Vì vậy nên Nhà nước cần phải hình thành những cơ quan có chức trách thẩm định và cung ứng kinh phí một cách chuyên nghiệp cho các nghiên cứu ứng dụng công nghệ có tính công ích, hoặc có tính chất đòi hỏi đầu tư dài hơi.    Việc khởi động tiến tới triển khai Nghị định 115 đã đem đến một số tác động tích cực ở Viện Ứng dụng Công nghệ. Việc yêu cầu tồn tại một cách tự chủ tạo động lực Viện tái tổ chức, tái cơ cấu, tự tìm cách phát huy thế mạnh và tự lên kế hoạch đầu tư cho lâu dài. Tuy nhiên, Nghị định cần làm rõ hơn nữa các quy định để đảm bảo tính thống nhất và khả thi, không dẫn đến tình trạng các tổ chức nghiên cứu bị đẩy ra kiếm sống ngoài thị trường trong khi vẫn đang bị các trói buộc bất cập làm giảm tính hiệu quả trong hoạt động. Mặt khác, cần tạo ra cơ chế nhằm đảm bảo các cơ quan nghiên cứu NN hoạt động tự chủ nhưng không bị cuốn theo các đòi hỏi công nghệ mang tính nhất thời của thị trường. Cần nhanh chóng bổ sung những kênh kinh phí hiệu quả giúp phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ mang tính chất công ích, hoặc có giá trị kinh tế, xã hội về lâu dài.   TS. Trần Xuân Hồng – Viện trưởng Viện UDCN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Viếng mộ Faraday      Một cuộc phiêu lưu nho nhỏ của TS. Nguyễn Trọng Hiền      Mộ của Karl Marx tại nghĩa trang Highgate.  Westminster Abbey* là nhà thờ hơn một ngàn năm tuổi, nơi đăng quang của Nữ Hoàng Anh và tổ chức lễ cưới của hoàng tộc Anh suốt nhiều thế kỉ qua. Đây cũng là nơi yên nghỉ của những danh nhân trong lịch sử của quốc gia này. Abbey nằm ngay bên tòa quốc hội Anh với tháp chuông đồng hồ Big Ben nổi tiếng, khiến cho khu vực này trở thành nơi thu hút khách du lịch đông đảo nhất ở London và có lẽ là toàn nước Anh. Vào quãng năm 1998 – 1999, tôi làm việc với một nhóm vật lý ở Đại học Queen Marry tại London, nhưng ba lần đến thăm Abbey đều hụt, toàn đúng lúc sát giờ đóng cửa.      Sau đó nhiều năm, khoảng 2006, tôi đến làm việc tại phòng thí nghiệm Rutherford Appleton tại Anh để thử nghiệm hệ thống cảm biến do nhóm nghiên cứu của mình ở phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (JPL Jet Propulsion Laboratory) tại NASA chế tạo mà sau này được dùng cho Đài thiên văn không gian Herschel. Rutherford Appleton nằm gần Đại học Oxford, cách London hai tiếng đi tàu hỏa. Lần đó tôi mới có cơ hội vào trong Abbey, thực sự đứng trước mộ của Newton và Darwin.  Trên đường ra khỏi Abbey, tôi ngây thơ hỏi cô lễ tân về hướng đi đến ngôi mộ của Marx, khiến cô ấy phá lên cười: “Marx làm gì có ở đây. Ông ấy vô thần mà”. Và cô ấy khuyên tôi đến một nghĩa trang khác tên là Highgate với lời hứa hẹn rằng đó cũng là một nơi lý thú. Highgate, một nghĩa trang dành cho dân thường của Anh, hoạt động từ năm 1839, nằm ở ngoại ô London được biết đến nhờ kiến trúc độc đáo của các ngôi mộ và cũng là nơi yên nghỉ của một số nhân vật nổi tiếng. Karl Marx được chôn ở đây.  Tôi ngay lập tức bắt tàu điện ngầm để đến đây. Trời mưa, khác với vẻ uy nghi lộng lẫy của Abbey, Highgate hẻo lánh và tĩnh lặng, hôm đấy, kể cả tôi, chỉ có năm người ở đó.  Những tưởng việc đến thăm Marx và khám phá ra Highgate là một chuyến đi khá trọn vẹn. Nhưng tôi đã nhầm to. Sau đó, trao đổi với một người bạn, tôi mới phát hiện ra một thiếu sót lớn của mình trong dịp đó. Mộ của Micheal Faraday, một trong số những nhà thực nghiệm vĩ đại nhất trong lịch sử cũng nằm ở Highgate mà tôi đã chẳng hề đoái hoài đến.  Tôi đã quay trở lại và xin lỗi Faraday. Và đó là một chuyến phiêu lưu khác.  Nghĩa trang Highgate có hai phần, Đông và Tây. Phía Tây cổ kính hơn, khách phải có tour guide đi kèm. Và giờ giấc thì bó buộc hơn. Phía Đông, luôn mở cửa, nằm bên này đường của phía Tây, tương đối mới và đây cũng là nơi chôn cất Marx. Mộ của Faraday không nằm ở đó.    TS. Nguyễn Trọng Hiền trước mộ của Micheal Faraday.  Nhưng đó không phải là lý do tại sao tôi đã không viếng mộ Faraday trong lần đi trước. Tôi đã không hề biết ông ấy nằm ở đây, cho tới khi nghe lời kể của người bạn. Thậm chí tôi còn không hề biết chuyện Đông với Tây ở Highgate. Khi nhận ra đã lỡ một cơ hội thì tôi cảm thấy vô cùng đau khổ. Tôi cũng nghi nghi là mộ của Faraday chắc không ở đằng Đông nhưng không tài nào tìm được thông tin trên mạng, vậy mà hoá ra lại là điều hay. (Nếu biết là mộ ông năm đằng phía Tây, chắc tôi sẽ bỏ cuộc bởi vì tôi biết bên ấy đóng cửa suốt)  Thế rồi, tôi đón chuyến tàu trễ đi London, sau đó chuyển sang tàu điện ngầm rồi đi bộ về nghĩa trang.  Tôi bắt gặp một bà lão hiền lành ở bên Phía Đông, bên này lúc nào cửa cũng mở.  Tôi hỏi, “Cô có biết chỗ nào mua hoa không?”  “Trong làng ấy. Cứ leo lên đồi mà hỏi người ta.”  Đáng ra là tôi nên hỏi bà ấy về mộ của Faraday, nhưng tôi đã không hỏi, vậy mà hóa ra lại cũng là điều tốt.  Ngày hôm đó là Mồng một Tết (Đinh Hợi). Nên lẽ dĩ nhiên, tôi mua hoa cúc. Tôi cầm trên tay 12 bông hoa cúc tuyệt đẹp, màu vàng, sáng rực rỡ  và quay trở lại nghĩa trang bên phía Đông, và trao đổi vài câu với cô gái trẻ vừa mới đến thay ca.  “Faraday? “Ôi, ông ấy không chôn ở đây.  Ông ấy bên Phía Tây kia ạ. Nhưng em không biết họ có cho ông vào viếng mộ ông ấy hôm nay hay không, bởi vì nó nằm trên một chỗ heo hút mà phải cần một tour guide đặc biệt mới đến được.”  Tôi hơi nhụt chí nhưng nhìn những đoá hoa cúc vàng sáng rực rỡ trên tay, tôi chần chừ không đành lòng và quyết định bước về phía Tây, cổng vào đang đóng và một đám người tụ họp chờ ờ đấy. Một tấm biển báo đề “Tour tham quan vào lúc 3 giờ chiều.”  Bấy giờ là 2h40 chiều.  Cũng không đến nỗi. Tôi đợi. Ấy là tour cuối cùng trong ngày.  Đúng 3 giờ, tôi được bước vào bên trong. Chào đón khách là người điều hành nghĩa trang,  một phụ nữ trông đầy lịch lãm. Bà gật gật đầu nhìn mình tỏ vẻ ưng ý, “Ồ, anh có mang cả hoa kia à?”  “Tôi đến đây để viếng mộ Faraday.”  “Ôi, mộ Faraday không có trong lịch trình hôm nay.”  Chần chừ một lát, bà hỏi, “Anh có phải là nhà vật lý không?”  “Dạ thưa phải.”  “Vậy trường hợp này, tôi sẽ sắp xếp cho anh một hướng dẫn riêng vào cuối điểm tour.”  “Anh có phải là nhà Vật lý không?”  Đời tôi chưa lần nào mà cảm thấy cái nghề của mình được trân trọng đến như thế.  “Dạ thưa phải.”  Cô hướng dẫn viên trẻ đưa tôi đến mộ Faraday tỏ ra phấn khích khi cô ấy nghe ước vọng của tôi.  Cô ấy nói, “Tôi vô cùng vui sướng khi thấy có người viếng mộ Faraday, bởi ông ấy thật sự là một thiên tài!” “Anh là người đầu tiên tôi biết đã mang hoa đến viếng Faraday!”  Mà cũng phải thôi, được đi thăm mộ của một trong những nhà vật lý thực nghiệm vĩ đại vào ngày Mồng Một Tết âm lịch (năm Đinh Hợi 2007). Đây là cái ngày trong năm mà hết thảy người Việt đến thăm mộ tổ tiên để tỏ lòng thành kính. Những người họ hàng của tôi, cứ hỏi về dự định của tôi ngày Tết suốt. Họ đâu có ngờ…  Thật kì lạ, năm mất của Faraday (1791) cũng là năm Hợi. Người ta đã từng ngỏ ý phong Faraday làm hiệp sĩ nhưng ông ấy từ chối. Newton cũng được phong tước hiệp sĩ, James Maxwell cũng vậy. Abbey Westminister dường như chỉ dành để chôn cất những người được phong tước hiệu này, để rồi họ được hậu thế viếng thăm và cuộc đời họ được ngưỡng vọng hằng ngày. Nhưng Faraday thì không. Có lẽ lúc sinh thời, ông đã làm giới có chức có quyền phật ý, nên ông không chỉ bị quăng qua Highgate, mà còn ở khu vực dành cho những kẻ bất đồng chính kiến.  Có lẽ như vậy cũng tốt. Bạn tôi nói: “Dân du lịch xô bồ thì cứ việc đến Westminster. Ở Highgate ta biết ai mới là những người bạn thật sự của mình.”     Hảo Linh  Viết lại theo lời kể của TS. Nguyễn Trọng Hiền, nhà vật lý thực nghiệm tại NASA.  * Sửa lại so với bản ghi là Westminister Abbey    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam bỏ quên một thị trường 400 tỉ đến 1.000 tỉ euro!      Có thể nói việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là “đồng minh” tự nhiên nhất của chính sách năng lượng bền vững. Bởi vì nó mang đủ cả ba đặc tính quan trọng như nhau của sự bền vững, đó là: công bằng xã hội (mọi người đều có thể hưởng lợi), thân thiện với môi trường (gần như không sinh ra chất gì độc hại) và… hết sức kinh tế! Nói chung, tiết kiệm tài nguyên vật liệu lúc nào cũng ít tốn kém hơn là mua nhập, tiêu dùng chúng. Điều ấy càng hiển nhiên hơn trong bối cảnh dầu khí, than đá, urani ngày càng khan hiếm và đắt đỏ, việc sản xuất hoặc nhập khẩu các nguồn năng lượng ấy nuốt đi một số tiền khổng lồ lẽ ra có thể dùng để đầu tư vào các hoạt động kinh tế – xã hội khác. Hơn nữa, trong thời gian gần đây, thị trường các sản phẩm và công nghệ hiệu quả năng lượng đã hình thành và phát triển mau chóng. Theo Bộ Môi trường Liên bang Đức, thị trường này hiện nay lên tới 400 tỉ euro và sẽ đạt khối lượng 1000 tỉ euro vào năm 2030.    Chính sách về sử dụng năng lượng hiệu quả  Bất kỳ loại hàng hóa nào sinh lợi đều sẽ tự khẳng định trên thị trường. Tuy nhiên, để sản phẩm mới có thể vượt qua các trở ngại lớn lao ban đầu (vốn đầu tư cao, thói quen tiêu dùng, phản ứng của ngành sản xuất các loại hàng cổ điển v.v.), cần có những chính sách và biện pháp hỗ trợ thích hợp. Vì thế , nhiều quốc gia, kể cả những nước đang phát triển đã ban hành chính sách và triển khai nhiều chương trình hiệu quả năng lượng kết hợp với các dự án về năng lượng tái tạo. (Sử dụng năng lượng hoàn nguyên cũng đồng thời tiết kiệm các nguồn hóa thạch để dùng vào những việc khác.)  Tại Đức, chỉ trong khoảng một thập kỷ nỗ lực đổi mới kỹ thuật, ngành năng lượng hoàn nguyên đã phát triển mạnh mẽ, nhất là sau khi Luật Năng lượng tái tạo có hiệu lực vào năm 2000 và nhiều biện pháp khuyến khích thúc đẩy được thực hiện, điển hình là Chương trình Ngàn mái nhà sản xuất quang điện. Nhờ đó, hiện nay các nguồn năng lượng gió, sinh khối, thủy lực, mặt trời đã cung cấp khoảng 12 % tổng số điện tiêu dùng ở Đức, đem lại công ăn việc làm cho 214.000 người. Điều cần nhấn mạnh ở đây là Đức đã đạt được các thành quả ấy với kinh phí nghiên cứu – phát triển chỉ bằng một phần nhỏ kinh phí tương ứng dành cho công nghệ hạt nhân và trong khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều. Nhờ công nghệ tiên tiến của ngành năng lượng tái tạo cũng như những đổi mới trong các ngành truyền thống, an toàn năng lượng của Đức được bảo đảm và chính quyền nước này đã có thể quyết định đóng cửa nhà máy điện nguyên tử cuối cùng vào năm 2011. Đây không phải là việc dễ dàng, vì kỹ thuật hạt nhân của Đức cũng đứng đầu thế giới, hơn nữa, vì ngành điện nguyên tử cung cấp 28% tổng số điện năng đang kịch liệt chống lại sự hủy bỏ “nồi cơm”, hay nói đúng hơn: siêu lợi nhuận của họ. Học hỏi kinh nghiệm của Đức, các nước đang phát triển nhanh như Trung Quốc và Ấn Độ đã ban hành và hướng dẫn thi hành luật năng lượng tái tạo (TQ: Renewable Energy Promotion Law, 2003 / 2005; Ấn Độ: Renewable Energy Policy Statement, 2001/2006), cũng như hỗ trợ nhiều dự án trong phạm vi này. Cả những quốc gia có tình hình kinh tế – xã hội hơi giống nước ta như Thái Lan, Philippin cũng quyết tâm theo đuổi đường lối ấy.  Ở châu Á, Nhật Bản nổi tiếng là nước sử dụng năng lượng hiệu quả nhất, một phần cũng vì Nhật tuy có nền công nghiệp lớn nhất nhì thế giới nhưng lại rất thiếu tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt, họ áp dụng một phương thức tương đối đơn giản nhưng rất hiệu quả là chương trình Top-Runner (sản phẩm tiết kiệm năng lượng hàng đầu). Chương trình ấy ấn định một thời điểm nào đó để tổng kết thị trường một loại hàng hóa, thí dụ như đồ điện. Mức sử dụng điện của những thiết bị có hiệu suất cao nhất sẽ trở thành tiêu chuẩn cho toàn ngành. Sau thời hạn năm hay bảy năm, nhà sản xuất nào không đạt tiêu chuẩn ấy sẽ bị xử phạt hay thậm chí còn bị cấm bán hàng của mình. Bắt đầu thực hiện chương trình Top-Runner từ cuối những năm 90, đến nay Nhật đã giảm lượng điện tiêu thụ tới 59% cho máy video, 63% cho thiết bị điều hòa không khí và 83% cho vi tính. Chỉ riêng chương trình ấy cũng đủ giúp con cháu Nữ thần Thái dương thực hiện 16% lượng khí thải nhà kính mà họ cam kết giảm trong khuôn khổ Nghị định thư Kiôtô.    Khuynh hướng mới và những lỗ hổng thị trường  Tự bao giờ, phong trào bảo vệ môi trường đã chú trọng tới vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, sử dụng các nguồn năng lượng hoàn nguyên thay cho năng lượng hóa thạch và hạt nhân. Trong thời gian gần đây, khi hiệu ứng nhà kính bắt đầu gây hậu quả nghiêm trọng, phong trào ấy phát triển mạnh, lôi cuốn ngày càng nhiều người hành động mới, kể cả những nhà chính trị và kinh doanh bảo thủ. Một số tập đoàn cung cấp năng lượng hóa thạch và tổng công ty xăng dầu đã đưa năng lượng tái tạo vào kế hoạch sản xuất của mình hay ít ra cũng thực hiện vài dự án điện mặt trời, phong điện… Ngay cả Tổng thống Bush, người cương quyết khước từ mọi cam kết giảm khí nhà kính, mới đây cũng thông báo những biện pháp tiết kiệm năng lượng nhằm giảm nhập khẩu dầu lửa. Ông cho rằng việc mở rộng khả năng cung ứng năng lượng bằng công nghệ mới là lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đồng thời góp phần đương đầu với “thử thách nghiêm trọng” của biến đổi khí hậu. Không biết ông Bush đưa ra chỉ tiêu giảm tiêu dùng 20% xăng cho tới năm 2017 có quá thấp hay không, nhưng một hiện tượng mới xảy ra ở “đất nước có tiềm năng vô tận” có lẽ khiến ông phải suy nghĩ lại: người dân Hoa Kỳ vốn quen lái những chiếc xe “bề thế” uống nhiều xăng nay lại có khuynh hướng chuyển sang các loại xe tiết kiệm hơn. Các hãng xe Ford và General Motors của Mỹ không kịp cung ứng các loại xe ấy nên phải chịu lỗ hàng tỉ USD, đồng thời phải sa thải hàng vạn nhân công. Ngược lại, những nhà quản lý Toyota đã tung ra thị trường nhiều kiểu xe chạy bằng nhiên liệu hỗn hợp như Prius. Kiểu xe ấy được ưa chuộng đến nỗi người Mỹ phải chờ mua tới tám tháng trời!  Nói chung, giá xăng dầu, điện, khí đốt càng tăng lên, người tiêu dùng càng có ý thức tiết kiệm năng lượng hơn. Không những một số sản phẩm có hiệu suất cao như lò sưởi dùng viên mạt cưa, vật liệu cách nhiệt… bán chạy đến nỗi trở nên khan hiếm và đắt đỏ, cả đến các dịch vụ tư vấn về năng lượng cũng không kịp tiếp khách hàng. Các thí dụ trên cho thấy thị trường năng lượng hiệu quả chưa được đánh giá đúng mức, khuynh hướng và nhu cầu tiêu dùng mới chưa được nắm bắt kịp thời.  Cho đến nay, một số đông người vẫn cho rằng sự tiêu xài phung phí là biểu hiện của sự giàu có sang trọng, của “lối sống Âu Mỹ” cần được noi theo. Điều đó có thể đúng. Nhưng ít ai ngờ chúng ta vẫn có thể rất phong lưu với ý thức tiết kiệm và công nghệ hiệu quả tiên tiến. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã chứng minh điều đó, chẳng hạn như E. U. von Weizsocker, A. B. Lovins và L. H. Lovins trong cuốn “Factor four: doubling wealth – halving resource use” với 50 thí dụ từ đồ điện gia dụng cho tới thiết bị kỹ nghệ có hiệu suất ít nhất gấp bốn lần bình thường. Cho nên việc sử dụng năng lượng với hiệu quả cao để nâng cao chất lượng cuộc sống có thể xem như một biểu hiện của trí tuệ con người.  Phạm Hải Hồ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam cần chuẩn bị lực lượng đủ khả năng đảm trách vấn đề nhiên liệu      Nhằm đảm bảo cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân được an toàn và hiệu quả, vấn đề nhiên liệu, Việt Nam cần một chương trình có tầm nhìn dài hạn, trong đó, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực này phải được coi trọng đúng mức. Đó là quan điểm của TS. Cao Đình Thanh, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng.      Thưa ông, trong lộ trình chuẩn bị cho dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 của Việt Nam, chúng ta đã đặt vấn đề đảm bảo nguồn nhiên liệu ổn định cho các lò phản ứng năng lượng chưa?  Nhiên liệu là một trong những vấn đề quan trọng trong công việc quản lý và vận hành lò phản ứng năng lượng của bất kỳ nhà máy điện hạt nhân nào trên thế giới. Hai nhà máy Ninh Thuận 1 và 2 của Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.  Để chuẩn bị cho dự án này, chúng ta đã có những bước đi khá cẩn trọng trên phương diện văn bản pháp luật, chính sách. Ví dụ trong Luật Năng lượng nguyên tử được Quốc hội thông qua và ban hành vào năm 2008 cũng như Quyết định số 906/QĐ-TTg về Phê duyệt định hướng quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2030… cũng đề cập đến vấn đề nhiên liệu hạt nhân như một thành tố quan trọng của chương trình điện hạt nhân.   Bên cạnh đó, vấn đề nhiên liệu và cung cấp nhiên liệu cho hai nhà máy Ninh Thuận 1 và 2 cũng đã được chúng ta đề cập đến trong các văn bản thỏa thuận với các nhà cung cấp công nghệ, như Nga với Ninh Thuận 1 và Nhật Bản với Ninh Thuận 2. Theo cam kết với Nga và Nhật Bản, khi chuyển giao công nghệ lò phản ứng năng lượng cho Việt Nam, họ cũng phải đảm trách việc cung cấp nhiên liệu, đảm bảo đủ cho việc vận hành lò, ít nhất trong vòng đời của các lò phản ứng này.  Điều đó có nghĩa là trong khoảng 60 năm tồn tại theo giấy phép của một lò phản ứng, nhà cung cấp công nghệ sẽ phải thực hiện đúng theo cam kết đã ký trong hợp đồng là đáp ứng đủ nhiên liệu hoạt động theo công suất lò.   Tại sao vấn đề nhiên liệu lại được giao cho nhà cung cấp công nghệ? Liệu nó có dẫn đến việc chúng ta bị phụ thuộc quá nhiều vào một nhà cung cấp không?  Theo đặc thù kỹ thuật, mỗi loại lò phản ứng đều phải có thiết kế đồng bộ và tương thích với thanh nhiên liệu nhằm đảm bảo cho công việc vận hành lò được diễn ra an toàn. Vì vậy, nhà cung cấp công nghệ lò phản ứng đồng thời là nhà cung cấp nhiên liệu. Đây là lý do để chúng ta tiến hành nhập nhiên liệu từ Nga và Nhật cho các tổ lò phản ứng ở nhà máy Ninh Thuận 1, 2 như kế hoạch.    Nếu không thực hiện theo quy trình này, tức là sử dụng lò phản ứng theo công nghệ của một nhà cung cấp và mua nhiên liệu của một nhà cung cấp khác sẽ dẫn đến sự thiếu tương thích cũng như thiếu an toàn trong vận hành lò phản ứng.   Nhìn ra thế giới, có nhiều quốc gia phát triển về điện hạt nhân nhưng chỉ có số ít tự sản xuất và cung cấp nhiên liệu hạt nhân. Phần lớn các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân đều áp dụng chinh sách nhập nhiên liệu hạt nhân hoặc nếu có tiềm lực sản xuất thì cũng chỉ thực hiện một số khâu nhất định trong chu trinh nhiên liệu hạt nhân. Không có nhiều quốc gia đảm trách hoàn toàn mọi khâu từ A đến Z trong sản xuất nhiên liệu. Ví dụ riêng về nguyên liệu urani, một số quốc gia có nguồn urani tự nhiên sẵn có trong thiên nhiên thì tiến hành khai thác, chế biến và xuất khẩu sản phẩm urani kỹ thuật để cung ứng cho các quốc gia có nhu cầu, còn một số quốc gia khác nhập bột UO2 đã được làm giàu và tiến hành một số công đoạn tiếp theo chế tạo viên gốm nhiên liệu, lắp ráp thanh nhiên liệu và bó thanh nhiên liệu hoàn chỉnh phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại lò nhất định.   – Việt Nam đã có hơn 30 năm vận hành lò phản ứng nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. Vậy kinh nghiệm về nhiên liệu và chu trình nhiên liệu trong quãng thời gian này giúp ích gì cho Việt Nam trong dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2?  – Quãng thời gian 30 năm tham gia vận hành lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt đem lại cho chúng ta rất nhiều kinh nghiệm quý báu về nhiên liệu, chu trình nhiên liệu. Tuy đây chỉ là một lò nghiên cứu quy mô nhỏ nhưng việc chuẩn bị thay đảo nhiên liệu, tối ưu thay đảo nhiên liệu cũng như quản lý lưu giữ nhiên liệu đã qua sử dụng… của đội ngũ vận hành và nghiên cứu tại đây cũng góp phần không nhỏ vào việc giúp chúng ta bớt bỡ ngỡ khi làm quen với lò phản ứng năng lượng. Ví dụ, một trong những công đoạn quan trọng của chu trình nhiên liệu là tối ưu thay đảo nhiên liệu đã được các cán bộ vận hành lò ở Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt học hỏi và thực hiện tốt. Theo định kỳ, tùy theo mức độ cháy của các thanh nhiên liệu ở từng vị trí mà họ phải tiến hành thay đảo các thanh nhiên liệu. Công việc này được thực hiện trên những phương pháp tính toán lý thuyết để tìm ra phương áp sắp xếp hợp lý. Ban đầu, việc thay đảo nhiên liệu này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Nga nhưng sau đó, các cán bộ Việt Nam đã thành thạo và đủ khả năng tính toán để tự thực hiện. Vào năm 2011, chúng ta đã thực hiện thành công việc thay thế các thanh nhiên liệu có độ giàu cao (36%) sang nhiên liệu có độ giàu thấp (19%). Trước đây những công việc như thế này, chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài nhưng giờ đây, thay vì quan sát, chúng ta đã có thể tự mình thực hiện tốt.     Các chuyên gia của Cơ quan An toàn và An ninh hạt nhân Mỹ giám sát việc vận chuyển thùng chứa các thanh nhiên liệu có độ giàu cao từ lò nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, chuẩn bị đưa về Nga từ sân bay Biên Hòa. Nguồn: vnexpress.net  Những kinh nghiệm này quả thực đem lại cho chúng ta nhiều gợi ý và là cơ sở để tiếp tục thực hiện việc kiểm soát chu trình nhiên liệu trong các lò phản ứng năng lượng tại hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và 2.  Tuy nhiên, việc chuyển đổi chu trình nhiên liệu trong lò phản ứng năng lượng sẽ có nhiều khác biệt trong cách thức thực hiện so với lò phản ứng nghiên cứu, trước hết ở quy mô của hệ thống lò. Vì vậy chúng ta sẽ tiếp tục học hỏi trên cơ sở hướng dẫn của chuyên gia quốc tế, đặc biệt là chuyên gia của nhà cung cấp công nghệ, để có được khả năng làm chủ và vận hành, xử lý các công đoạn về chu trình nhiên liệu ở lò có công suất cao.   Một trong những vấn đề công chúng quan tâm là việc xử lý các thanh nhiên liệu sau khi sử dụng. Vậy chúng ta sẽ triển khai vấn đề này như thế nào nhằm đảm bảo an toàn ở mức cao nhất?  Theo nguyên tắc, trải qua quãng thời gian ba năm trong lò phản ứng, các thanh nhiên liệu sẽ được thay ra. Khi được đưa ra khỏi lò, thanh nhiên liệu đã qua sử dụng có chứa các sản phẩm phân rã có hoạt độ phóng xạ cao, và lượng nhiệt dư khá lớn. Để đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường và con người, những thanh nhiên liệu đã qua sử dụng này sẽ được bảo quản trong các bể nước ngay trong nhà lò. Khi đó, nước vừa là chất làm mát vừa là thứ che chắn phóng xạ. Thời gian lưu giữ nhiên liệu qua sử dụng trong các bể nước này sẽ sẽ kéo dài khoảng năm năm. Tuy nhiên nhằm nâng cao tính an toàn, nhiều nước đã thiết kế tăng thời gian lưu giữ lên 10 năm. Sau khoảng thời gian này, các thanh nhiên liệu qua sử dụng đã được làm mát sẽ được chuyển sang các bể chứa khác ngoài lò, có thể là các container được thiết kế chuyên biệt.  Theo cam kết thì nhà cung cấp công nghệ sẽ còn đảm trách việc vận chuyển đưa số thanh nhiên liệu hạt nhân đã cháy ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.   Có một vấn đề mà chúng ta có thể yên tâm là mọi hoạt động vận chuyển, xuất nhập nhiên liệu, chất thải hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được kiểm tra một cách chặt chẽ theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử, Thông tư hướng dẫn của Bộ KH&CN cũng như sự kiểm soát nghiêm ngặt của các đoàn chuyên gia thanh tra, thanh sát của IAEA. Khi chúng ta càng đảm bảo thực hiện theo các quy tắc này thì độ an toàn của các hoạt động càng được tăng lên.    Vậy để có thể kiểm soát và thực hiện tốt các công đoạn trong chu trình nhiên liệu, chúng ta cần phải đào tạo nguồn nhân lực theo những yêu cầu nào?  – Tuy nhập nhiên liệu từ nhà cung cấp công nghệ nhưng về lâu dài đội ngũ cán bộ Việt Nam cũng cần phải có kiến thức sâu sắc về công nghệ chu trình nhiên liệu và hiểu biết thấu đáo về diễn biến trạng thái của nhiên liệu, vỏ thanh nhiên liệu trong quá trình vận hành của lò phản ứng. Đội ngũ cán bộ của chúng ta phải nắm vững kiến thức về tính toán thiết kế nhiên liệu, tính toán tối ưu thay đảo nhiên liệu, nắm vững các hiện tượng lý- hóa- cơ nhiệt- bức xạ ảnh hưởng đến nhiên liệu, vỏ thanh nhiên liệu, nắm vững các đặc tính an toàn của nhiên liệu hạt nhân. Để đáp ứng yêu cầu của chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam đã được xác định thì nhiệm vụ đào tạo đội ngũ đảm trách công việc liên quan trong lĩnh vực nhiên liệu này là hết sức cần thiết nhằm chuẩn bị cho kế hoạch dài hạn. Trước mắt Viện đang hình thành các nhóm chuyên môn trong lĩnh vực chu trình nhiên liệu, việc đào tạo kiến thức cơ bản được tiến hành trong nước, có mới chuyên gia nước ngoài giảng dạy. Để có được cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, sau này có thể trở thành chuyên gia thì cần phải cử đi đào tạo nâng cao ở những nước có trình độ tiến tiến trong lĩnh vực nhiên liệu.  Một vấn đề nữa theo tôi, để chuẩn bị cho việc kiểm tra đánh giá các tiêu chuẩn chất lượng nhiên liệu khi nhập nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân cũng như trong quá trình vận hành, chúng ta cần chuẩn bị đào tạo nhân lực đánh giá những đặc tính an toàn của nhiên liệu, kiểm soát nhiên liệu và tiến tới có thể đủ năng lực trong công việc này. Hiện nay, chúng ta chưa có đội ngũ có đủ năng lực trong việc này, vì vậy khi tiến hành nhập nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, chúng ta buộc phải thuê nhà đánh giá độc lập là một công ty nước ngoài thực hiện công đoạn này.   Riêng về chính sách phát triển nhiên liệu, chúng tôi đang soạn thảo văn bản trình Thủ tướng Chính phủ. Khi được phê duyệt, văn bản này sẽ đóng vai trò định hướng cho chính sách phát triển nhiên liệu tại Việt Nam, khi đó vấn đề đào tạo nguồn nhân lực sẽ được xác định rõ ràng hơn.   Trân trọng cảm ơn ông    Hảo Linh  thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Việt Nam có hạt Higgs” *      Các quốc gia phát triển và nhiều quốc gia khác trên thế giới hiện nay đều có những hạt Higgs của mình cho đọc giả đại chúng. Nay chúng ta cũng có một hạt Higgs cho đọc giả Việt Nam.    Quyển sách Kỷ yếu Hạt Higgs là kết quả của những nỗ lực của các nhà khoa học sống ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại. Nếu tính từ ngày chúng tôi gửi lời kêu gọi tham gia vào đầu tháng 8 năm 2012 cho đến nay đã một năm rưỡi trôi qua, một thời gian dài ‘kỷ lục’ trong cuộc đời các số kỷ yếu. Cao nhất có lẽ là thời gian của Kỷ yếu Đại học Humboldt là một năm. Quả là hạt Higgs ‘khó tìm’, trong thực nghiệm, cũng như trong dạng một Kỷ yếu, vì nó không dễ nắm bắt. Nhưng có sao đâu. Thế giới đã chờ 48 năm để tìm hạt boson Higgs thì chúng ta chờ thêm nửa năm nữa thì có sao đâu. Vả lại, vô tình Giải Nobel 2013 đã ‘hâm nóng’ đề tài hạt Higgs của Kỷ yếu, làm cho nó trở nên ‘hấp dẫn’ gấp bội.  Cơ chế Higgs và Mô Hình Chuẩn, lý thuyết của các hạt cơ bản tạo ra khối lượng thấy được của vũ trụ, là cuộc hành trình kỳ thú của thế kỷ 20, của các nhà vật lý lý thuyết và thực nghiệm. Không ai ngờ cơ chế Higgs để tạo khối lượng, mô hình Quark, sự thống nhất hai lực điện từ và lực yếu, lực mạnh điều khiển và giam các quark, những viên gạch nhỏ nhất mà loài người muốn đi tìm từ thời cổ đại, đã xuất hiện một cách rất ngạc nhiên như những mảnh zig zag liên kết nhất quán với nhau của một bức tranh vô cùng thú vị của tạo hóa. Cơ chế Higgs và gắn liền với nó là sự phá vỡ đối xứng của thuyết điện yếu thống nhất là ‘chứng tích’ của sự tiến hóa của vũ trụ, đúng như kịch bản big bang đề ra.  Sự khám phá hạt Higgs là một xác nhận trọn vẹn Mô hình Chuẩn giải thích sự vận hành và tương tác của các hạt cơ bản tạo ra vũ trụ này, trong đó có chúng ta, có hành tinh xanh yêu dấu của chúng ta, có dải ngân hà kỳ vĩ. Không có hạt Higgs, không có nguyên tử, không có hành tinh, và không có chúng ta. Ngày 4 tháng 7 năm 2012 do đó là “ngày vĩ đại” của vật lý hạt, và của trí tuệ nhân loại.                     Thượng đế tinh tế nhưng không ‘thâm hiểm’ như Einstein nói ư? Chính ông cụ đi tìm hoài bản đồ tạo hóa, nên bực bội nói thêm: Có thể Thượng đế ‘thâm hiểm’ lắm. Và nhìn vào cấu trúc của các hạt, với những tính chất lượng tử nhiều lớp không ngờ của chúng, với những lực quản lý và kết chúng lại trong lòng các nguyên tử cũng rất ư lạ thường, có người cũng đi đến suy nghĩ, “Trời cao có thể thâm hiểm lắm”, ông không dễ tiết lộ một cách dễ dàng ‘cơ trời’ tạo ra khối lượng của vật chất của chúng ta đâu. Con người ‘thơ ngây’ và hời hợt, chờ đợi những cái quá dễ dàng. Thế giới và chúng ta được tạo ra dễ dàng hay sao? Nhưng rồi qua Mô Hình Chuẩn và Hạt Higgs con người đã bắt đúng mạch tư duy của Thượng đế, ‘y chang’ như Ngài nghĩ.   Vẻ đẹp của Mô Hình Chuẩn và Cơ chế Higgs không trực quan gọn gàng như thuyết tương đối hay lượng tử. Có những cái cũng trực quan được, dễ hình dung, nhưng khi đi vào nhiều chi tiết thì tình hình phức tạp hơn. Ở đây chúng ta có ‘vẽ đẹp lạ’ (strange beauty), như tiêu đề của một quyển sách về Murray Gell-Mann, ‘vua của hạt cơ bản’, vì rất nhiều thứ đều lạ mắt cả. (Dĩ nhiên thuyết thương đối hay lượng tử đều lạ mắt cả.) Lạ và, xét về kỹ thuật, cũng phức tạp nữa. Ở tận cùng đáy sâu của chân lý, tạo vật không quá đơn giản. Vì thế nên nhà vật lý lý thuyết Sidney Coleman của Đại học Havard, học trò của Murray Gell-Mann, mới dám nói một cách ‘khiêu khích’ rằng, một ngàn nhà triết học trong một ngàn năm cũng không khám phá được những gì mà cuộc cách mạng vật lý của thế kỷ hai mươi đã mang lại về nhận thức cho nhân loại. Tuy nhiên, mọi thứ đều có thể hiểu được cả: “Không phải Chúa biết, tôi biết, mà cuối học kỳ, các bạn cũng sẽ biết” như một trong những câu nói nổi tiếng của Sidney Coleman.          Thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp Leuccipus và Democritus đã đưa ra lý thuyết nguyên tử nói rằng mọi vật trên đời được cấu tạo bằng những hạt nhỏ cơ bạn không chia cắt được, gọi là nguyên tử, nằm trong chân không. Nguyên tử được xác nhận cuối thế kỷ 19, đầu 20, nhưng không phải là hạt cơ bản. Các thành phần khác nhỏ hơn của nguyên tử cũng lần lượt tìm thấy như electron, proton và neutron. Cuộc tìm kiếm hạt cơ bản của vật chất, và các chất keo giữ chúng, trải qua muôn vàn khó khăn, nhưng kết thúc đẹp vào các thập niên của nửa sau thế kỷ 20. Các kết quả được đúc kết lại trong cái gọi là Mô hình Chuẩn. Nguyên tử không còn là hạt cơ bản, mà là hỗn hợp của những hạt cơ bản có tên quark. Mô hình Chuẩn chứa đựng danh sách các hạt cơ bản, gồm hạt vật chất và hạt truyền lực, và mô tả sự tương tác của chúng một cách chính xác kỳ diệu.          Mô Hình Chuẩn và hạt Higgs thuộc khoa học cơ bản, trước mắt phục vụ việc tìm kiếm những nguyên lý tối hậu của vũ trụ, thỏa mãn sự tò mò vô hạn của con người từ bao đời trong khoa học, chứ không ai nghĩ để làm một ngành công nghiệp ‘quarkonics’ với các hạt cơ bản quark của vật chất, như đã từng xảy ra với electron. Có thể có người nói nó ‘vô bổ’ và ‘tốn kém’. Tốn kém thì đúng. Nhưng ‘vô bổ’ thì chưa chắc. Sau một buổi diễn thuyết nổi tiếng về hiện tượng điện của Faraday tại Royal Society, một vị dân biểu của quốc hội Anh hỏi: “Công dụng của tất cả những thí nghiệm đẹp kia là gì?”. Faraday trả lời một cách gián tiếp: “Công dụng của một đứa trẻ mới sinh ra là gì?” Đứa trẻ sau đó đã trở thành nền công nghiệp điện. Khi J.J. Thomson tìm được electron, điện tử, có người đã ‘chúc mừng’ mỉa mai ông, rằng mong hạt đó sẽ ‘sống mãi’. Rồi ngành kỹ nghệ electronics ra đời.   Trong thời đại Mô Hình Chuẩn, world wide web là một sản phẩm phụ của CERN nhưng đã có trị giá thương mại nhiều trăm tỉ đô la, nếu không nói hơn, so với đầu tư tìm hạt Higgs ở CERN vào khoảng 10 tỉ đô la. Đâu ai biết được tương lai xa.   Nhân loại vẫn còn nhiều tham vọng phía trước, bởi tất cả các lực của vũ trụ chưa được thống nhất vào một mối. Chúng phải xuất phát từ một luật tổng thể nào thuở xưa khi thế giới còn nóng bỏng, ở đó tồn tại một ‘siêu đối xứng’. Với sự phát hiện hạt Higgs, một chương mới của lịch sử vật lý mở ra mà người ta chưa thấy hết được tầm hệ quả. Các chương trình như Grand unification (Đại thống nhất), Supersymmetry (Siêu đối xứng) và String theory (Lý thuyết dây) với các chiều dư không-thời gian (space – time extradimension) là những dự tính còn ở phía trước. Mô hình Chuẩn có thể phục vụ như một ‘bàn đạp’ hay ‘trạm trung chuyển’, một ‘hệ qui chiếu’ để con người tiến đến những ‘vì sao’ xa hơn trong vũ trụ tri thức mênh mông.  Kể chuyện hạt Higgs ‘không phải chỉ có hạt Higgs’. Mà phía sau là cả một lịch sử phát triển của vật lý hạt đầy kịch tính. Khi Peter Higgs được yêu cầu kể về công trình của ông cho người không chuyên nghiệp nghe, ông bối rối: “Điều đó khó, vì người ta phải trở về thời xa xôi của lịch sử vật lý cho đến tận những nền tảng (của nó).” Sau đó ông bắt đầu câu chuyện bằng Big Bang với những tên của các lực và của những nhà vật lý như những anh hùng với các chiến tích như trong chuyện cổ tích cho trẻ em.   Nội dung của Kỷ yếu gồm có các phần lý thuyết, lịch sử, cuộc tìm kiếm bằng thực nghiệm qui mô, và phần nhân văn về mối quan hệ giữa khoa học và xã hội. Phần lịch sử cuộc tìm kiếm thực nghiệm hạt Higgs của các chương 2-3 và 4 đi vào chi tiết với các cây bút chuyên gia quốc tế hàng đầu. Hiểu được phần nào công việc này, mới hiểu thêm cái vinh quang của cuộc tìm kiếm vô cùng công phu. Công trình này là cả một ‘kỳ quan’ của trí tuệ.             Trong Principia năm 1687 Newton đưa ra khái niệm khối lượng của vật chất, như tính chất riêng. Mô hình Chuẩn đã giải mã nó. Các hạt cơ bản tạo nên vật chất không có khối lượng tự nó, mà phải được một cơ chế khác ‘gia trì’ bằng các tương tác để có khối lượng. Đó là cơ chế Higgs của một trường Higgs chiếm ngự chân không, xuất hiện tại một thời điểm trong thuyết big bang của vũ trụ. Hạt Higgs chính là dấu ấn của nó. Cơ chế Higgs được sử dụng từ lâu để giải thích thành công lực yếu, không có nó sẽ không có ánh sáng. Nhưng mãi gần nửa thế kỷ sau khi lý thuyết ra đời, con người mới nhìn thấy loại ‘hạt của Chúa’ này. Hai trong những nhà vật lý đã khai sinh ra cơ chế Higgs được vinh danh với giải Nobel cuối năm 2013: François Englert và Peter Higgs. Cuộc tìm kiếm chân lý ở đáy sâu của vũ trụ là một cuộc phiêu lưu kỳ thú của khoa học. Số kỷ yếu này kể lại câu chuyện đó.             Kỷ yếu đặc biệt vui mừng nhận được « Đôi lời mở đầu » của GS Ngô Bảo Châu. Đây không phải là lời giới thiệu thông thường để tạo PR cho Kỷ yếu. Thực tế, GS Ngô Bảo Châu đã tiết lộ sự áp dụng ý tưởng của Cơ chế Higgs để giải quyết Bổ đề toán học Langlands của giáo sư. Đó là một khám phá vô cùng thú vị. Những lý thuyết của vật lý, khi thành công, có thể có những ảnh hưởng vào toán học. Và ngược lại, những lý thuyết toán học đi trước bỗng nhiên một ngày nào đó có ảnh hưởng vào vật lý như ‘đúc’. Đó là một sự thật kỳ thú của lịch sử.  Chúng tôi hy vọng, quyển kỷ yếu hạt Higgs sẽ góp phần đánh thức sự tò mò, thúc đẩy không khí yêu thích khoa học, lý thuyết lẫn thực nghiệm hay áp dụng, đang rất cần cho cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Việt Nam phải làm ‘người trong cuộc’ của nền khoa học thế giới, và giàu có, phát triển, hoặc làm ‘người ngoại cuộc’ và nghèo khó, lạc hậu. Khoa học được xuất hiện từ một cấu trúc xã hội, như một loại cây ghép cành, và trở lại phục vụ xã hội đó một cách đích đáng.   Thành tựu khoa học là sự thể hiện của văn hoá. Phương Tây từ lâu là miền đất có đầy đủ những điều kiện chính trị, xã hội, kinh tế thuận lợi nhất để khoa học phát triển. Phương Tây đã bứt đi khỏi các nền văn hoá khác từ những thế kỷ 16, 17 trở đi dựa trên sức mạnh của các khám phá khoa học, công nghệ. Nhưng các quốc gia khác cũng đang cải thiện mình và tham gia ngày càng hiệu quả vào sự phát triển khoa học của thế giới. Khoa học không còn là một ‘độc quyền’. Châu Á, một châu lục đang vươn lên mạnh mẽ, đã có những đóng góp rất quan trọng cho sự hình thành của Mô hình chuẩn, từ Nhật bản (với Yukawa, Tomonaga, Sakata, Nambu, Kobayashi, Maskawa), từ Ấn độ, Pakistan (với Bose, Salam), từ Trung quốc (với Yang, Lee, Wu, Ting), và từ Hàn quốc (với Benjamin Lee). Lịch sử cho thấy, những dân tộc nào có óc tò mò cao, thường được đền đáp bằng sự phồn vinh xã hội. Nhật Bản cũng đang tham vọng xây một máy gia tốc lớn để quy tụ tri thức nhân loại về châu Á.   Chương cuối của Kỷ yếu đề cập mối quan hệ giữa khoa học và xã hội với nhiều đóng góp rất thú vị. Xã hội Việt Nam chỉ mới có cột đỡ nhân văn, văn chương thi phú và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm đến cùng, nhưng chưa có cột đỡ khoa học vững chắc để tạo nên sự phồn vinh, sức mạnh, và đổi mới văn hóa truyền thống đang thiếu chất sống. Người làm khoa học cảm thấy còn lạc lõng. Ở các xã hội phát triển, khoa học là nhân tố trung tâm thấm đẫm các định chế của xã hội, và đại học là những nơi làm ra khoa học, tri thức. Khoa học như các hồng huyết cầu lưu chuyển trong mạch máu để đem đến sự sống cho từng tế bào cơ thể, trực tiếp hay gián tiếp, luôn luôn được sinh ra bất tận. Xã hội nào thiếu khoa học thấm đẫm như thế, xã hội đó yếu ớt và dễ bị bịnh hoạn. Các ‘cuộc chiến kinh tế’ giờ đây là cuộc chiến của các khoa học, công nghệ. Các cuộc chiến tranh bằng súng đạn lại càng như thế. Xưa nay vẫn thế. Tương lai vẫn thế. Thế chiến thứ II lại càng chứng tỏ hơn bao giờ hết là một cuộc chiến tranh của khoa học và công nghệ ở cấp độ cao cấp nhất, tinh vi nhất. Và khoa học có những qui tắc đạo đức nhất định của nó đối với lương tâm mà nếu không được tuân thủ, khoa học chỉ là sự dối trá phá hoại hơn là có lợi cho xã hội, và là ‘một sự tàn rụi của tâm hồn’, như Louis Pasteur nói.   Chúng tôi mong mỏi quý đọc giả quảng bá cho câu chuyện lịch sử Mô hình Chuẩn, hạt Higgs và cuộc truy tìm nó, cũng như truy tìm các hạt cơ bản, trong tinh thần thông tin, giáo dục và truyền cảm hứng, là ‘tôn chỉ’ của các số kỷ yếu, và xin đón nhận kỷ yếu với sự lượng thứ cho những thiếu sót tồn tại do lực bất tòng tâm.  ———-    * Đây là  Lời phi lộ cho số Kỷ yếu có tên «Hạt Higgs và Mô Hình Chuẩn- Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Thú của Khoa học», Nxb Tri Thức, tháng 3, 2014.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam có thể chế tạo vắcxin thế hệ mới!      Sau sự cố ba trẻ tử vong sau chích ngừa  vắcxin viêm gan B tại Quảng Trị, TS Nguyễn Đức Thái đã nêu ra  sự cần thiết Việt Nam cần sản xuất vắcxin thế hệ mới thay cho các loại  vắcxin thế hệ cũ.     Trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị, ông nói: “Đã đến lúc Việt Nam tiến đến việc sản xuất những sản phẩm vắcxin an toàn hơn mà tiêu biểu là công nghệ vắcxin VLP (virus like particle: VLP) đang là hướng đi mới trên thế giới”.    Thưa ông, vì sao là VLP mà không phải là một công nghệ khác?  Trong công nghệ này, người ta nhân bản (cloning) một số trình tự gen quan trọng của virút để tạo protein tái tổ hợp cho vắcxin, nên tiến trình làm kháng nguyên nhanh và đơn giản. Điểm độc đáo của protein kháng nguyên này là chúng có hình dạng giống một virút nhưng lại không có nhân như các virút dùng trong vắcxin cổ điển. Do không còn nhân (yếu tố di truyền DNA/RNA) của virút, nên vắcxin VLP có tính an toàn cao vì nó gây miễn dịch nhưng không còn tiềm ẩn khả năng lây truyền hay đột biến. VLP có cấu trúc kháng nguyên đặc hiệu và đơn giản hơn so với virút gây bệnh, nên giảm thiểu những kích hoạt miễn dịch không cần thiết có thể dẫn đến nguy cơ cho người được tiêm chủng.  Ngoài ra, vắcxin VLP không dùng trứng để sản xuất như phương pháp cổ điển, vì trứng có thể bị nhiễm và gây dị ứng. Vắcxin VLP thường cũng không cần dùng tá dược hoặc dùng tá dược đặc hiệu nên giảm tối thiểu phản ứng viêm. Vắcxin VLP có thể được tạo ra trong thời gian hai tháng hoặc ngắn hơn, thay vì sáu tháng hay một năm như vắcxin cổ điển. Ưu điểm này rất cần để đáp ứng kịp thời nhu cầu vắcxin trong trường hợp dịch bệnh bùng phát hoặc có sự biến đổi gen rất nhanh của virút. Cần lưu ý đây là thời gian tạo kháng nguyên ở phòng thí nghiệm, các giai đoạn làm thuốc tiêm chủng và thử nghiệm lâm sàng vẫn cần theo tiêu chuẩn quy định, và một khi đã đươc hoàn chỉnh thì có thể ứng dụng nhanh để sản xuất vắcxin. Cuối cùng, vắcxin VLP có giá thành sản xuất thấp, phù hợp với hoàn cảnh của nước ta…  Nhưng có ý kiến cho rằng nghiên cứu vắcxin VLP rất tốn kém và đó là công nghệ rất mới so với Việt Nam?  Cần biết rằng thống kê chi phí nghiên cứu ở nước ngoài thường rất cao vì được tính toán tỉ mỉ. Trường hợp ở Việt nam, chúng ta chỉ chú tâm vào ứng dụng tức làm phần ngọn, nên không gồm các tổn phí chi tiết và lớn lao. Ví dụ, một người bạn của tôi về nước lập hãng, mướn 50 chuyên viên trong nuớc làm việc, nhưng tổng số lương của những người này chỉ bằng lương của 1 – 2 kỹ thuật viên bên Mỹ! Chúng ta không nên quá lo lắng về những con số lý thuyết để đánh mất đi nhiều cơ hội khai thác những tiềm năng khoa học lớn lao ở trong nước. Tôi được biết, riêng TP.HCM hàng năm tốt nghiệp gần 1.000 cử nhân công nghệ sinh học và cũng không thiếu các nhà khoa học trẻ rất hăng say và nhiệt huyết. Hãy nhìn thực tế từ Cuba, một đất nước nghèo hơn chúng ta nhiều, nhưng họ đã làm ra được những vắcxin tầm cỡ thế giới. Điển hình cách đây hai năm, Cuba đã nghiên cứu thành công vắcxin chống ung thư phổi (CIMAVAX-EGF).  Đừng nói cái đó đắt quá hay khó quá chúng ta không làm được. Hiện nay, các tiến bộ của công nghệ sinh học đang rất nhanh và cung cấp cho chúng ta nhiều cơ hội cũng như phương tiện tham gia và khai triển để ứng dụng cho y tế đất nước. Chẳng hạn để hoàn tất việc giải mã bộ gen người vào năm 2001, thế giới đã cần đến 3 tỉ USD và năm quốc gia hợp lại thực hiện trong vòng mười năm. Bây giờ công việc này chỉ tốn dưới 10.000 USD và mất hai tuần lễ. Người ta tiên đoán, trong vài năm nữa việc giải mã bộ gen một bệnh nhân chỉ còn mất 100 – 500 USD và 24 giờ để có thể tiên liệu các bệnh lý của người đó!  Từ thành công của Cuba, chúng ta có thể rút ra được bài học nào cho Việt Nam?  Đó là bài học về định hướng, tổ chức và nỗ lực. Như chúng ta biết Cuba bị Hoa Kỳ cấm vận, vì thế trong y tế, chính phủ nước này phải tìm kiếm những công nghệ để không phụ thuộc vào nước ngoài. Họ đã nhận ra giá trị của công nghệ sinh học từ rất sớm và phát triển mạnh lĩnh vực này.  Năm 1960, Chính phủ Cuba gửi sáu người ra nước ngoài học tập, dù họ đã không được đến những nước phương Tây tiên tiến như Hoa Kỳ. Khi về nước, những người này đã quyết tâm xây dựng kế hoạch phát triển công nghệ sinh học và đã tạo nên giá trị nền tảng cho khoa học và y tế Cuba ngày nay, trong đó có công nghệ vắcxin. Việt Nam cần định hướng và đào tạo một đội ngũ khoa học có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm về các nghiên cứu miễn dịch học hiện đại. Trên thực tế, sự cố vẫn có thể xảy ra cho vắcxin thế hệ mới, nhưng độ nguy hiểm sẽ thấp hơn và với kiến thức tiêu chuẩn chúng ta sẽ giải quyết và cải tiến tốt đẹp cho các vắcxin khi sự cố xảy ra.          Người đầu tiên tìm ra gene gây bệnh tăng nhãn áp   Sau  khi tốt nghiệp đại học dược ở Việt Nam năm 1972, TS Nguyễn Đức Thái  theo chương trình cao học và nghiên cứu ở đại học UCSF Hoa Kỳ về lĩnh  vực công nghệ sinh học. Ông là người tìm ra gene đầu tiên gây bệnh tăng  nhãn áp (glaucoma), được đặt tên là gene TIGR công bố năm 1997; glaucoma  là nguyên nhân chính gây bệnh mù loà cho khoảng 70 triệu người trên thế  giới. Thành quả này đã được công bố rộng rãi trong cộng đồng khoa học  quốc tế và hiện nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới tiếp tục khai  triển.   TS Thái cũng được coi là một trong những người đầu tiên mang công  nghệ chẩn đoán gene cho Việt Nam trong thập niên 1990.   Chọn trở về Việt  Nam năm 2010, nỗ lực của TS Thái là dùng những kinh nghiệm khoa học và  chiến lược nghiên cứu đã giúp ông thành công ở nước ngoài, để chia sẻ  với đội ngũ khoa học trẻ ở Việt Nam, và để giúp phát triển công nghệ  gene cho các vấn đề y tế trong nước.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam dưới góc nhìn của người Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX      Một thế kỷ sau cuộc hành trình xâm lược, chinh phục, và tìm hiểu Việt Nam, người Pháp đã để lại một ‘di sản’ tư liệu phản ánh lịch sử, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam. Ngày nay chúng ta cần có cách tiếp cận nào đối với nguồn tài liệu này để có thể hiểu một cách xác đáng, không thiên lệch về lịch sử?  Đó là nội dung của cuộc đối thoại giữa PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh (Học viện Ngoại giao) và NNC Vũ Đức Liêm (trường ĐH Sư phạm Hà Nội)* do Tia Sáng tổ chức.      PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh và NNC Vũ Đức Liêm tại tọa đàm “Việt Nam dưới góc nhìn của người Pháp (cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX)” ngày 11/7. Ảnh: Anh Thư.   NNC Vũ Đức Liêm: Thời gian qua, chúng ta thấy có nhiều tranh luận xung quanh một số tư liệu của người Pháp viết về Việt Nam mới được xuất bản. Hay ngay gần đây có một độc giả hỏi tôi rằng có phải là người Chăm đẻ ít nên lụi tàn, trong khi người Việt đẻ nhiều nên đã thắng thế? Tôi đã đi truy xem suy nghĩ ấy ở đâu ra? Hóa ra nó xuất phát từ trong cuốn “Tâm lý dân tộc An Nam” của Paul Giran – có chi tiết nói về việc người Việt đẻ nhiều. Như vậy, một ghi chép từ trăm năm trước do người Pháp viết, trong một cuốn sách đầy tranh cãi nay đã len lỏi vào người Việt hiện đại, ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn về bản sắc của người Việt ngày hôm nay. Rõ ràng đây là vấn đề mở đầu cho thấy rằng chúng ta cần phân tích khối tư liệu này của người Pháp về Việt Nam một cách có hệ thống.     Nên câu hỏi đầu tiên tôi muốn hỏi bà là thời gian gần đây, nhiều nhà xuất bản đã in hàng loạt các ghi chép, hồi ký của người Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 về Việt Nam. Là người nghiên cứu nhiều năm về mảng này, theo bà thì những công trình này, tư liệu mới được xuất bản này nằm ở đâu trong bức tranh về hệ thống tư liệu và lưu trữ của người Pháp về Việt Nam?     PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh: Tôi thấy trong những năm gần đây sách dịch về những nghiên cứu của người Pháp về Việt Nam nói chung và phong tục, tập quán hay cá tính, đặc điểm của người Việt Nam nói riêng xuất hiện nhiều và thực sự là có giá trị. Nhìn chung sách được dịch có tính tương đối chọn lọc và đa dạng, ví dụ như vừa có những cuốn kinh điển như “Tâm lý học đám đông”, có những cuốn sách cá nhân như hồi ký của Paul Doumer, lại có những cuốn sách khảo cứu riêng về con người, lịch sử, địa lý như “Tâm lý dân tộc An Nam”… Tuy nhiên đây mới chỉ là một bước “sơ khai”, và tôi có cảm tưởng là việc lựa chọn sách để giới thiệu ở Việt Nam đa phần mới chỉ mang tính ngẫu hứng, nghe giới thiệu sách hay hoặc nhận thấy độc giả quan tâm thì dịch, nó giống như buffet dễ chiều thị hiếu khán giả mà chưa nhận ra là trộn vài chục món ăn cùng một lúc có thể sẽ mâu thuẫn, có hại về lâu dài. Để có một cái nhìn tổng thể về tư liệu của người Pháp thì có lẽ chúng ta cần một cách tiếp cận khác, sau khi thu hút được sự quan tâm của độc giả rồi, thì thay vì ăn buffet chúng ta sẽ tìm thực đơn hẳn hoi. Nhìn về sách dịch hiện nay trong một cái nền chung về thư mục tư liệu của người Pháp, tôi tạm gọi nó là làn sóng thứ một rưỡi (nếu có thể sử dụng cách ví von này cho các tài liệu, tư liệu được người Pháp viết về Việt Nam bắt đầu từ khoảng thế kỷ XVII trở đi). Có thể tạm gọi làn sóng thứ nhất là những ghi chép đầu tiên của giáo sĩ, sau đó là những ghi chép, hồi ký, những chuyến hành trình, du ký của thương nhân; làn sóng thứ hai (rơi vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20) là của những nhà thuộc địa, các nhà khoa học, quan thuộc địa sang Việt Nam thực hiện “sứ mệnh thực dân” của họ và họ viết sách phục vụ mục đích chính trị hoặc là sở thích của họ. Nếu dùng góc nhìn như trên thì sách đang giới thiệu ở Việt Nam thuộc làn sóng thứ một rưỡi, và cái lưng chừng một rưỡi đó sẽ khiến cho người đọc có cảm giác khá là chông chênh nhưng mặt tốt là nó tạo nên tính tranh luận rất cao. Tôi nghĩ ta sẽ có làn sóng tiếp theo của việc dịch sách, làn sóng thứ ba, thứ tư, với những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.        Để hiểu về một khối tri thức thì cần đặt nó trong tiến hóa của một chuỗi các tri thức, vào thời điểm nào thì tri thức này ra đời, người ta dùng hệ khái niệm gì, hệ quy chuẩn nào cho tri thức này, ý tưởng, ý đồ của người sản xuất tri thức là gì? Vì thế cần phải tái định vị lại câu chuyện này, để biết tri thức này ở đâu ra, vì sao họ nghĩ như thế?    Cảm ơn câu hỏi rất hay nhưng khó của anh. Trước tiên chúng ta nên nhìn vào các quan điểm phổ biến thời bấy giờ, cuối thế kỷ 19 là giai đoạn bản lề của tư duy và nhìn nhận ở phương Tây, là giai đoạn nở rộ các phát minh, có nhiều thành tựu mới về sinh học, y học. Đó là thời điểm Gustave Le Bon dẫn đầu quan điểm về các chủng tộc dưới ảnh hưởng của học thuyết tiến hóa của Darwin. Ví dụ trong cuốn “Những quy luật về tâm lý và sự tiến hóa các dân tộc”, ông chia các chủng tộc thuộc về nấc thang tiến hóa thượng đẳng, hạ đẳng khác nhau và rất cực đoan khi cho rằng chủng tộc sẽ không thay đổi, giáo dục gì cũng không giúp làm thay đổi [chủng tộc]. Nếu độc giả đọc cuốn này xong thì những tranh luận về “Tâm lý dân tộc An Nam” sẽ khác chứ không phải như cách đặt vấn đề rằng Paul Gira có miệt thị chúng ta không? Thực chất tác giả chịu ảnh hưởng bởi một trường phái lúc đó hồi cuối thế kỷ 19 – trường phái bất bình đẳng nhằm chống lại những tư tưởng bình đẳng mà các cuộc cách mạng tư sản trước đó mang lại ở châu Âu. Trong cuốn thứ hai là “Tâm lý học đám đông”, ông cũng chỉ ra rằng đám đông cần có sự chỉ đạo, vì thế nhà nước cần phải có sự thống trị đám đông, mà chúng ta ngày nay nhìn vào sẽ thấy sốc. Tuy nhiên không thấy ai [ở Việt Nam] tranh luận về các tác phẩm kinh điển này của Gustave Le Bon.      Các nhà nghiên cứu khác có mặt tại cuộc Tọa đàm ngày 11/7 cũng cho rằng ngoài các tư liệu của người Pháp, còn những tư liệu của Anh, Trung Quốc, Singapore … về Việt Nam cũng cần được khai thác, đối sánh. Trong ảnh: Cảnh diễn ca kịch của người Đàng Trong tại Tourane (Đà Nẵng), trong cuốn “Một chuyến du hành đến xứ Đàng Trong” [A voyage to Cochinchina, in the years 1792 and 1793], Barrow, John, Sir, 1764-1848.  Nguồn: https://archive.org/details/voyagetocochinch00barr/page/296/mode/2up  Thứ hai là thời kỳ này họ bị ảnh hưởng của học thuyết về địa chính trị [sau này thuyết địa chính trị không còn được nhắc đến nhiều nữa do có lý do nhạy cảm sau chiến tranh thế giới thứ hai, với việc Hitle sử dụng học thuyết đó để xâm lược thế giới], các học giả Pháp đều tự phê phán rằng người Pháp không có tư duy thuộc địa sớm ở Viễn Đông, họ thích quanh quẩn nơi xó nhà, thích ở lãnh thổ của mình, không thích ra ngoài mở rộng thuộc địa. Đó là thời kỳ mà người Pháp đưa ra hệ tư tưởng lãnh thổ Pháp và Tổ quốc Pháp không chỉ là Pháp, mà là Pháp cộng với một phần châu Âu, hay xa hơn nữa lãnh thổ Pháp phải là lãnh thổ của La Mã trước đó. Đó là một trong những yếu tố về mặt tâm lý hay yếu tố về mặt địa chính trị để quy chiếu việc người Pháp nhìn thuộc địa của mình thế nào, họ quan niệm rằng châu Âu, châu Phi, đế quốc La Mã cổ đại mới là điểm cần tới. Mãi tới khi họ thất bại trong tư duy đó, thất bại trước sức mạnh hàng hải của Anh thì mới bắt buộc phải nghĩ tới một tư duy thuộc địa xa hơn ở Viễn Đông. Đó là lý do vì sao chính sách thuộc địa của họ ở nơi này chậm hơn, không nhất quán và vô cùng lưỡng lự. Đó là hệ quy chiếu người Pháp nhìn chúng ta, là nhìn một thuộc địa ít kỳ vọng, luôn bấp bênh, luôn nghi ngờ, và anh sẽ nhìn thấy là trong các chính sách của các toàn quyền Đông Dương hệ quy chiếu đó được áp dụng. Tôi nói kỹ về điều này để thấy rằng muốn hiểu một khái niệm, một quan điểm, định nghĩa thì cần hiểu sâu về bối cảnh của nó.     Các bạn trẻ ngày nay không có một trải nghiệm về thuộc địa, về chiến tranh nên sẽ rất dễ bị ngợp trước các nhận định của người Pháp về Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và cần được định vị. Cho nên câu hỏi thứ hai tôi muốn trao đổi với bà là trong khung cảnh của lịch sử nước Pháp và châu Âu hồi đó, họ đã dùng cách tiếp cận nào, hệ quy chiếu nào để mô tả về Việt Nam?     Trước khi xem họ dùng hệ quy chiếu nào để nhìn thuộc địa thì ta xem họ nhìn chính họ như thế nào? Gustave Le Bon phê phán người Pháp và nhìn người Anh có những đặc tính tuyệt vời, ví dụ, họ so sánh giữa thuộc địa ở Bắc Mỹ của Anh với những khu vực thuộc địa của người Tây Ban Nha hay người Pháp thì có trình độ phát triển khác hẳn nhau. Như vậy, trong thời kỳ ảnh hưởng của các thuyết tiến hóa về chủng tộc, họ cũng phê phán chính đất nước họ chứ không chỉ riêng phê phán các chủng tộc khác.    Quay trở lại Việt Nam, họ không chỉ chê người Việt Nam trong cuốn “Tâm lý dân tộc An Nam”, mà có cuốn khác còn chê thậm tệ hơn, ví dụ trong cuốn “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ”, tác giả là một bác sĩ viết “người An Nam thường nhỏ bé, ốm yếu, vẻ bạc nhược; họ bẩn thỉu, ồn ào; về tính cách họ chỉ là một đứa bé lớn xác ham thích mọi thứ và thậm chí sống ngày nào hay ngày đó, không bao giờ suy tính tương lai”, và ngay trước đoạn này ông ta mô tả về người Trung Quốc “thông minh, to khỏe, sạch sẽ. Hay có những cuốn hải trình nói rằng người Đàng Ngoài thích quà cáp, rất sính ngoại, hoặc người An Nam có những chỉ dấu rất hay như cắm một cái cây vào miệng để báo “no rồi”, và việc cắm cái cây vào miệng cũng thể hiện sự sung túc, nó như một đối lập với tình cảnh thiếu đói.    Tuy nhiên, ở thời này không phải người Pháp chỉ có chê đâu, mà có cuốn sách khen nữa. Ví dụ như trong cuốn “Xứ Đông Dương”, Paul Doumer rất khen người Việt: “Người An Nam chắc chắn là tộc người ưu trội so với các dân tộc xung quanh. Người Cao Miên, Ai Lao và Xiêm La đều không thể chống lại được họ. Không một quốc gia nào trong Đế quốc các xứ Ấn Độ có những phẩm chất như họ. Phải đến tận Nhật Bản mới có tộc người có phẩm chất của người An Nam và giống như người An Nam. Người An Nam và người Nhật Bản chắc chắn có một quan hệ thân thuộc từ xa xưa. Cả hai đều thông minh, cần cù và dũng cảm. Người lính An Nam là một người lính giỏi, có kỷ luật và dũng cảm”. Chúng ta cần đặt câu hỏi tại sao Paul Doumer, một tay thực dân có chính sách thuế khắc nghiệt vô cùng nhưng lại nhận xét rất hay, vậy nhận xét này có khách quan không? Paul Doumer muốn sử dụng cuốn sách đó như một công cụ chính trị, đặc biệt là phục vụ cho một công cuộc khai thác thuộc địa. Ông ấy không thể chê một xứ sở mà ở đó ông ấy muốn chứng tỏ câu chuyện thành công nơi mình làm toàn quyền. Thực ra Paul Doumer bên ngoài thì khen nhưng chỉ coi người An Nam là người thực hành, chưa bao giờ ông coi người An Nam là người có thể lãnh đạo, điều đó thể hiện rất rõ trong chính sách cai trị của ông ta tại Đông Dương. Cái mà ông ta ca ngợi người lao động đó cũng hoàn toàn mang ý tưởng thực dân – ông ta không muốn người bản địa tham gia lãnh đạo mà chỉ người Pháp mới có thể lãnh đạo.     Quả thực câu chuyện đằng sau một sản phẩm tri thức phức tạp hơn điều chúng ta hình dung nhiều, Paul Doumer không phải là một tay thực dân đơn thuần khi viết cuốn “Xứ Đông Dương” – báo cáo nghiệm thu đề tài cấp nhà nước. Ông ta muốn người Pháp tiếp tục đầu tư vào đây và muốn chỉ ra cho giới tư bản thấy đây là một xứ tuyệt vời, đáng đầu tư; đồng thời đây chính là bàn đạp tiếp theo cho quyền lực của ông ta, để sau này làm chủ tịch hạ viện, chủ tịch thượng viện và tổng thống. Cho nên cần nhìn vào mỗi con người khi họ viết, nhìn vào mục đích của họ khi viết. Nhưng có một điều mà độc giả sẽ băn khoăn, đó là bức tranh mà người Pháp vẽ ra đó có đáng tin hay không? và tin ở mức độ nào? và người đọc ở đây có cách gì để kiểm chứng được nó?     Những cuốn sách đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam trong thời gian qua, mà tôi tạm gọi nó là “làn sóng 1.5” đó đã mang yếu tố cảm tính rất nhiều. Những người viết ra các công trình đó tương đối đa dang: nhà thực dân, nhà thám hiểm hay là một nhà khoa học; họ tới một vùng đất mới, quan sát và trải nghiệm, đồng thời nói ra những trải nghiệm của họ mà đa phần là mang yếu tố cảm tính. Vì vậy, khi chúng ta đọc một cuốn sách đầy cảm tính thì hãy nghĩ đó là một cuốn truyện hoặc bài thơ, chứ chúng ta đừng đặt nó trong một hệ quy chiếu và phán xét khắc nghiệt quá hay đòi hỏi một sự đúng hay sai tuyệt đối. Vì thế độc giả hãy hiểu [những cuốn sách cảm tính] đó không phải là cơ sở để nghiên cứu hoặc chứng minh một cái gọi là sự thật hay chân lý lịch sử.      Áp phích Đấu xảo Hà Nội 1902.   Nhưng trước tiên là phải ghi nhận rằng những cuốn sách này đã tạo ra được một không khí tranh luận đối với các độc giả Việt Nam, bất luận là mình có phê bình các nhà xuất bản đang dọn buffet, thì điều họ làm được thực sự đó là tạo được những tranh luận học thuật, tôi nghĩ điều ấy thực sự cần phải ca ngợi, cần phải đánh giá. Tôi rất thích cách viết của GS Cao Huy Thuần trong cuốn “Khi tựa gối, khi cúi đầu” là: trí thức là gì, trí thức đơn giản là khiến cho người ta không ngủ được bất kể tầng lớp giai cấp nào. Vậy tri thức là gì? Thực sự tri thức chân thực có giá trị nghĩa là cứ khiến người ta phải nghĩ về nó, không ngủ được hay là tranh cãi về nó. Tôi nghĩ những gì chúng ta có hôm nay ở những cuốn sách được giới thiệu tại Việt Nam là những tri thức có giá trị. Ít nhất nó khiến chúng ta tranh cãi, khiến chúng ta không ngủ được, khiến cho Tia Sáng cũng như anh phải tạo ra series đối thoại nhìn lại quá khứ, tôi nghĩ đó là một thành công.     Quay trở lại luận điểm cho rằng nó đáng tin cậy, chân thực đến đâu ấy? Bức tranh ấy rất đẹp, bởi vì bức tranh được vẽ không phải bằng đơn đặt hàng, vẽ bằng cảm xúc đẹp, bay bổng, khiến chúng ta nhất định phải đọc và cảm nhận. Nhưng đối với giới nghiên cứu, tôi nghĩ lại là cách tiếp cận khác, có lẽ chúng ta phải sang làn sóng thứ ba. Để có thể vẽ lại một chân dung lịch sử chân thực nhất có thể, để có thể nhìn lại lịch sử quá khứ Việt Nam, có thể đối thoại với nó mang tính chất khoa học, chúng ta phải dựa vào tư liệu. Tư liệu gốc, tư liệu lưu trữ là cách làn sóng thứ ba ở Pháp đề cập, mà có một số nghiên cứu mới bắt đầu được giới thiệu ở Việt Nam. Ví dụ như cuốn sách của tiến sỹ Nguyễn Xuân Thọ viết về “Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam”, vô cùng có giá trị, vì tác giả không chỉ khai thác tư liệu lưu trữ tại Pháp mà còn khai thác cả những tư liệu lưu trữ tại Tây Ban Nha – một nơi tương đối khó khai thác. Hay cuốn sách mới xuất bản “Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương (1897-1902): Bàn đạp thuộc địa” của giáo sư sử học Amaury Lori. Trong cuốn sách này, tác giả tiếp cận được tư liệu lưu trữ công khai ở Pháp. Bên cạnh đó, có những cuốn quan trọng khác đã xuất bản lâu rồi, như “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” – Yoshiharu Tsuboi; “Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914)”- Cao Huy Thuần.  Tất cả những ví dụ đó là làn sóng thứ ba, làn sóng những người nghiên cứu, có thể họ theo quan điểm chính trị khác nhau, nhưng đều đã bắt đầu dựa vào tư liệu lưu trữ của Pháp để nhìn lại xã hội thuộc địa, người ta gọi là giai đoạn xem lại lịch sử thuộc địa. Và đối với giới nghiên cứu, tôi nghĩ ở làn sóng một rưỡi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình ở Việt Nam, tiếp theo có lẽ chúng ta phải tiếp cận ở những tác phẩm ở các làn sóng sau này.     Tôi xin nhắc lại, làn sóng thứ ba có lẽ là những tác phẩm mà ở đây chúng ta mới có thể nhìn nhận lịch sử Việt Nam tương đối toàn diện, chân thực và giảm bớt đi sự cảm tính trong đó. Nó sẽ bổ trợ cho những cuốn sách ở làn sóng thứ một và một rưỡi mà chúng ta đã từng xuất bản, khiến cho bức tranh đó sinh động hơn, hay hơn, vừa có tính chính trị, vừa có tính con người.    Nhưng khi đọc những cuốn sách khai thác tư liệu [của làn sóng thứ ba] này thì có nổ ra tranh cãi không? Xin thưa là tranh cãi rất là lớn. Chúng ta vẫn hay có thói quen nói rằng nghiên cứu khoa học là phải rõ ràng, phải minh bạch, phải đưa ra tư liệu không mơ hồ. Nhưng xác định thế nào là tư liệu không mơ hồ lại là một quá trình vô cùng đau đầu… □ (Còn tiếp)       Những gì người Pháp viết về Việt Nam là một kho tư liệu lớn nên rất cần những cuộc thảo luận như thế này để trao truyền tri thức cho đại chúng.  Diễn giả nói nhiều tới tư tưởng thực dân trong các tác phẩm ghi chép của người Pháp, nhưng tôi có quan điểm ngược lại và bổ sung một chút rằng: không phủ nhận tư tưởng thực dân chi phối đến các tư liệu thời kỳ này, nhưng đôi khi tư tưởng thực dân lại khẳng định tính tri thức, tính hiện thực lịch sử trong tác phẩm đó, bởi vì trong thời kỳ thuộc địa những nghiên cứu của người Pháp mang tính ứng dụng rất cao nhằm mục đích phục vụ chính sách cai trị của họ. Kể cả các nghiên cứu về sử học hay văn hóa cũng phục vụ mục đích đó, vì họ lấy đó làm cơ sở để áp dụng các quy định, trật tự xã hội mới vào thiết chế cũ. Ví dụ các tác giả chê người An Nam yếu lắm, không thể tính tuổi đóng thuế thân vào năm 18 tuổi được mà là 21, vì đến tuổi ấy mới tạo ra được các thu nhập lớn mà đánh thuế thân. Đặc biệt là các tư liệu kỹ thuật của thời kỳ này có tính chính xác cao, cho nên sau năm 1954, muốn khôi phục cống, đập thì buộc phải tìm đến tư liệu của người Pháp xem thiết kế như nào, khả năng chịu lực ra sao thì mới sửa được, nếu không có tư liệu này thì không sửa được.  Tuy nhiên, không phải tài liệu lưu trữ nào cũng chính xác. Trong đó, những tư liệu nào từ phía Việt Nam báo cáo về chính phủ, nghị viện Pháp, đặc biệt là các tài liệu tham gia triển lãm ở Paris thì thường được tô hồng, vì ông quan ở tỉnh này không thể tự nói xấu tỉnh mình. Ví dụ ở thời kỳ này báo chí Đông Dương phản ánh tai nạn lao động rất nhiều, sử dụng lao động trẻ em nhiều (trong thời kỳ thuộc địa họ cũng cấm lao động trẻ em), tỉ lệ chết vì tai nạn lao động cao. Ngay lập tức Tổng thống Pháp gửi điện cho Toàn quyền Đông Dương, nhưng Toàn quyền Đông Dương phản hồi lại bao che là không có chuyện đó. Do vậy, nếu chỉ dựa vào các báo cáo ấy là sai và phải đối chiếu tư liệu rất kỹ lưỡng.  TS Trần Xuân Trí, Khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội.  —–  *Chú thích:  Đây là nội dung lược ghi từ buổi tọa đàm “Việt Nam dưới góc nhìn của người Pháp (cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX)” ngày 11/7. Buổi tọa đàm là số đầu tiên trong series “Đối thoại với quá khứ” do Tia Sáng chủ trì, Vũ Đức Liêm điều phối.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam dưới góc nhìn của người Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Tư liệu gốc  có mơ hồ?      Trong Tia sáng số 14 (20.7.2020), PGS Nguyễn Thị Hạnh (Học viện Ngoại giao) và NNC Vũ Đức Liêm  (trường ĐH Sư phạm Hà Nội) đã cùng điểm lại các làn sóng tư liệu ghi chép của người Pháp phản ánh lịch sử, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam trong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong số này, hai nhà nghiên cứu sẽ cùng thảo luận sâu hơn về thao tác đánh giá các tư liệu lịch sử, nhằm giúp độc giả hiện đại tiếp cận với các nguồn tài liệu này có được cái nhìn phê phán cần thiết trước các sử liệu được coi là “gốc”.      Áp phích Đấu xảo thuộc địa Marseille 1922.  PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh: Trước khi bàn về thế nào là tư liệu “không mơ hồ” và tư liệu gốc có phải hoàn toàn chính xác và không chứa đựng sự “mơ hồ”, tôi muốn kể hai ví dụ cụ thể sau.     Câu chuyện thứ nhất liên quan đến sự kiện năm 1816: Trong một buổi trình bày của sinh viên Đại học Sư phạm về đề tài nghiên cứu khoa học và nhắc tới vấn đề chủ quyền biển, có một sinh viên trình bày rất say sưa về câu chuyện cha ông ta đã từng khẳng định chủ quyền thế nào. Em ấy trích dẫn sự kiện mà Jean – Louis Taberd kể trong cuốn hành trình du ký của mình. Jean Louis Taberd kể: điều chúng tôi biết chắc là hoàng đế Gia Long đã chủ tâm thêm một đóa hoa kỳ lạ vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng trong. Sự thực là năm đó có treo cờ thật, nhưng tôi băn khoăn mỗi một điều, vua đủ sức khỏe để đi tới đó không, trong khi chúng ta đều biết mỗi khi hải đội Hoàng Sa cất quân là phải làm lễ tế thế, tức là xác định đi là chết. Vậy theo anh, vua có đi không? năm đó sức khỏe của ông thế nào?    NNC Vũ Đức Liêm: Các ông vua nhà Nguyễn, đặc biệt là Gia Long và Minh Mạng rất cẩn trọng với vận mệnh của mình khi đi ra bên ngoài. Mỗi lần đi Quảng Nam – nơi xa nhất mà vua Minh Mạng tới, thì luôn phải có một hệ thống thông tin chặt chẽ, quan lại cắt cử mấy chục nghìn lính đảm bảo an toàn và cử thái tử ở lại kinh đô. Hệ thống [bảo vệ] ấy cực kỳ chặt, và các vua nhà Nguyễn hầu như không có nhu cầu đi ra bên ngoài.     Tôi nghĩ tất cả người Việt Nam đều biết một điều rằng vua đương nhiên không thể đi tới cái nơi nguy hiểm tới mức làm thuyền đắm nhiều như vậy. Thế nhưng Jean Louis Taberd đã viết như thế, mà ông ấy rất nổi tiếng, sách của ông ấy đã được nhiều người tin và trích, nếu tìm lại những sách chuyên khảo ở Việt Nam sẽ thấy có rất nhiều cuốn sử dụng tư liệu này của Taberd và có thể nó sẽ được dạy cho rất nhiều thế hệ sau này.     Còn về mặt tư liệu, những gì Taberd viết ra có thể được cho là tư liệu không mơ hồ, bởi vì đã xác định chắc chắn người viết là một nhà truyền giáo nổi tiếng nữa. Nhưng thực ra nó mơ hồ lắm. Bởi vì, tôi đã tìm được một văn bản vào năm sau đó, trong một tài liệu lưu trữ về toàn quyền đông dương, ông khâm sứ Trung Kỳ viết sự kiện đó một cách nhẹ nhàng hơn. Ông viết là: năm 1816, vua Gia Long đã khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa. Như vậy là trong báo cáo ấy, khâm sứ đã mập mờ rồi, không tin là vua có đi không bởi vì ông này chỉ nghe kể lại mà thôi, Jean Louis Taberd cũng nghe kể sau đó viết vào du hành ký của mình.     Và tôi đã phải tổ chức một buổi seminar của sinh viên, chỉ đề nói lại sự kiện này, rằng hãy bình tĩnh khi sử dụng tư liệu nước ngoài, và đừng coi tư liệu gốc là tư liệu không mơ hồ. Tôi rất lo sợ sinh viên học lịch sử rồi đây sẽ đi giảng dạy lịch sử cho bao thế hệ học trò khác nên phải nhắc ngay về vấn đề này rằng đừng thậm xưng. Chúng ta khẳng định [sự thật lịch sử về chủ quyền] là đúng, nhưng hãy đừng có nghĩ rằng chúng ta khẳng định mạnh hơn nữa thì chúng ta sẽ có lợi thế hơn. Và tôi nghĩ đó là một cách mà người trí thức phải đối diện với tri thức khi chúng ta nhìn nhận lại lịch sử.     Còn chuyện thứ hai, thưa bà?     Đó là về vấn đề Vịnh Bắc Bộ thời kỳ thuộc địa: Trong Công ước Pháp – Thanh vào năm 1887 có nội dung phân định ở Vịnh Bắc Bộ. Công ước Pháp – Thanh đã vạch ra một “đường phân định” trong Vịnh (được gọi là kinh tuyến Đông  Greenwich 108°03’E  hay còn gọi là đường kinh tuyến Paris). Đường phân định có được coi là “biên giới” trong Vịnh Bắc Bộ hay không đã trở thành một trong những vấn đề bất đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc khi diễn giải về nghĩa của các nội dung được ghi tron Công ước trong đàm phán phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ sau này.    Công ước Pháp-Thanh năm 1887 về phân định biên giới Bắc Kỳ.​ Nguồn: Bộ Ngoại giao Pháp, Phòng Hiệp ước.  Chúng ta hãy cùng nhìn vào ảnh 2 ở bên sẽ thấy ở dòng thứ tư từ dưới lên có một chữ tiếng Pháp là “formant la frontière”, từ khóa là từ “frontière”. “Formant la frontière” nghĩa là “tạo thành đường biên giới”. Bám vào từ đó, giới học giả có cách nhìn nhận khác nhau. Những học giả Pháp trước đó đa phần cho rằng Vịnh Bắc Bộ phân định biên giới giữa Pháp và Trung Quốc. Sau này, khi tôi tiếp cận nghiên cứu vấn đề này thì bối cảnh đã khác rồi, lúc đó Việt Nam và Trung Quốc đã phân định Vịnh Bắc Bộ xong và không sử dụng công ước 1887 làm cơ sở để phân định, bởi vì cuối cùng Việt Nam và Trung Quốc đi đến thống nhất rằng [ở thời kỳ này] Vịnh Bắc Bộ chưa phân biên giới mà mới chỉ phân chia các đảo thôi.     Tuy nhiên, suốt thời gian dài trước đó, với giới nghiên cứu sử học, khi xem xét tư liệu này thì vẫn thấy rõ tính mơ hồ của sử liệu: Điểm khó khăn nhất là hiệp ước này có câu “những đảo thuộc phía Đông của đường kinh tuyến Paris 105, nó tạo thành một đường thẳng và tạo đường biên giới”. Câu đó đã tạo sự tranh cãi mà đến tận năm 1991 thì chúng ta mới có thể thống nhất với nhau quan điểm rằng, công ước này mới chỉ phân chia đảo trong Vịnh Bắc Bộ mà chưa phân định đường biên giới. Và hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một hiệp ước phân định không dựa vào công ước năm 1887 (không giống như hiệp ước phân định lại đất liền).    Tôi kể hai câu chuyện này để thấy, cùng nhìn vào một văn bản, có những mục đích khác nhau, cách nhìn khác, nhãn quan khác, cách tiếp cận khác nhau. Chắc anh biết là trong hiệp ước Paternôtre 1984 giữa Pháp ký với triều đình An Nam thì bao giờ cũng có một câu cuối viết thêm là: trong trường hợp có vấn đề gì không rõ thì sử dụng bản tiếng Pháp (các hiệp ước có hai bản tiếng Hán và tiếng Pháp). Và rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tìm ra sự khác biệt về cách diễn ngôn trong những văn bản đó, cũng là một hiệp ước thôi, nhưng có cách diễn ngôn khác nhau. Trong buổi trao đổi hôm nay, tôi chỉ tạm thời chỉ ra hai trường hợp như vậy trong rất nhiều ví dụ có thể kể ra về cách diễn đạt các tư liệu “gốc” rất khác nhau.    Quay trở lại vấn đề tư liệu gốc, anh có nghĩ là có tư liệu không mơ hồ không? Tức là cứ có tư liệu gốc, chỉ cần dựa vào nó là tư liệu tốt thì sẽ không mơ hồ không?    Tôi nghĩ đây là một trong những câu hỏi lớn nhất với các nhà nghiên cứu lịch sử. Cái gì là sự thật và cái gì là chuẩn mực, là cơ sở để đưa ra làm ví dụ minh họa, thuyết minh cho cái lập luận của mình? Chúng ta có sự thật, ví dụ như tư liệu gốc là một văn bia ghi rằng trong làng có một ông cung tiến cho chùa 50 hecta ruộng. Vấn đề là [sau này] chúng ta kể câu chuyện về lịch sử, và lúc đó chi tiết 50 ha này trở thành một phần của câu chuyện, và chúng ta đặt 50 ha này vào chỗ nào của câu chuyện, chỗ nào của bức tranh [lịch sử làng] thì phụ thuộc vào kinh nghiệm, ý đồ của chúng ta. Và vì thế không có sự thật lịch sử nằm ngoài câu chuyện – có nghĩa là tất cả những chi tiết ấy chỉ tồn tại ở trong câu chuyện, trong diễn ngôn, trong cách mà chúng ta hình dung về sự vận hành của thế giới [mà chúng ta mô tả, phản ánh].     Về câu chuyện phân định biên giới, tôi muốn nói tới một khái niệm có liên quan đến câu chuyện hiệp ước này – đó là quan niệm về triều cống. Đây là vấn đề rất tranh cãi, vì đối với người Trung Quốc, họ định nghĩa trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng: “triều cống nghĩa là quan hệ quốc tế của thời kỳ tiền hiện đại được xác lập bởi Trung Hoa ở trung tâm và các quốc gia xung quanh”; và triều cống, thần phục được coi là sự vận hành trước khi người phương Tây sang và vì thế lúc ấy Việt Nam trở thành một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, là một phần trong đế chế thiên hạ của người Hán. Còn phương Tây diễn giải triều cống một cách khác: là quan hệ quốc tế bất bình đẳng của hai nước, một nước có thế mạnh và một nước ở thế yếu, nước thế yếu này dùng sự thần phục, dùng ngà voi, dùng sừng tê, dùng đồ vàng bạc để tạo ra một mối quan hệ bất bình đẳng nhưng hòa bình cùng chung sống. Còn triều cống kia là quan hệ giữa hai thể chế và chẳng có liên quan gì đến đường biên, chẳng có liên quan gì đến sự lệ thuộc cả.    Điểm thứ nhất như anh nói là tính mơ hồ nằm ở cách diễn dịch, hay nói cụ thể trong trường hợp các tư liệu Pháp này là anh chuyển ngữ khi sử dụng. “Formant la frontiere”: tôi muốn nói nó được phân định thì sẽ chuyển ngữ thành “phân định biên giới”, nhưng khi tôi không thích sử dụng nó thì tôi sẽ bám vào từ “île” – từ đảo này đến đảo khác và diễn đạt là phân chia đảo. Đó là các cách diễn dịch khác nhau bằng ngôn ngữ và từ đó gây tranh cãi dữ dội.     Điểm thứ hai anh có nhắc đến bức tranh mà người Pháp vẽ về Việt Nam thời kỳ này có đáng tin hay không? và người đọc có cách gì để kiểm chứng được nó? (xem lại kỳ 1 của cuộc thảo luận, trong Tia Sáng số 15), tôi xin khẳng định là tư liệu Pháp rất quý nhưng cũng chịu sự mất mát về mặt thực thể tư liệu. Tức là anh hình dung những tư liệu chúng ta đang bàn tới về thời thuộc địa đã rất cũ, viết trên giấy đen mà trước đây lại còn viết bằng bút, bằng ngôn ngữ cổ của Pháp ở thế kỷ 19, 20. Tôi phải nói thật là những ngày mới bắt đầu nghiên cứu ở Pháp, bao giờ tôi cũng phải chép lại đúng những chữ đó, về gặp một người Pháp khoảng 80 tuổi nhờ ông ấy chuyển ngữ hộ tôi là từ này viết là chữ T hay chữ H của ngày hôm nay. Trước hiện trạng đó, thì những người nghiên cứu, với trình độ ngôn ngữ khác nhau, có phông kiến thức và nhãn quan khác nhau, có thể sẽ diễn giải tư liệu đó khác xa nhau.     Cho nên cá nhân tôi cho rằng để hiểu một cách chân thực về lịch sử thì trước hết chúng ta phải hiểu những mặt hạn chế của tư liệu. Thực thể tư liệu bản thân nó đã mơ hồ và bị mất mát thiếu hụt rồi, nó sẽ lại càng bị tăng mức độ mơ hồ khi được chuyển ngữ, khi người tiếp cận hiểu khác nhau trên phông trình độ khác nhau và mục đích khác nhau.     Mà câu chuyện về triều cống của anh làm tôi nhớ đến một số tư liệu gốc được đề cập trong cuốn “Bước khởi đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)”. TS Nguyễn Xuân Thọ chỉ ra rằng trong những báo cáo gửi về bộ ngoại giao Pháp, những người đại diện của Pháp tại Việt Nam rất thắc mắc rằng tại sao người Việt đã ký với Pháp hiệp ước đầu tiên rồi mà vẫn cứ đi triều cống của Trung Quốc, và từ đó họ suy diễn ra rất nhiều thứ.    Ảnh hát xẩm ở Bắc Kỳ/ bác sĩ Charles-Edouard Hocquard, xuất bản những năm 1883-1886. Nguồn : https://www.harvardartmuseums.org/art/314915    Bà vừa nói tới những báo cáo người Pháp ở Việt Nam gửi về chính quốc. Tư liệu gốc này có tính mơ hồ như thế nào?     Anh có biết những báo cáo của những người đại diện của Pháp ở Việt Nam, chẳng hạn như báo cáo Bộ Ngoại giao, mở đầu toàn viết theo kiểu “như báo cáo trước tôi đã nói”, tôi đảm bảo với anh là chỉ nhìn vào một báo cáo đó thì chắc chắn không hiểu báo cáo trước đã đề cập đến vấn đề gì cả. Do đó, khi xem xét tư liệu phải cảnh giác:     Thứ nhất là phải đối chiếu tư liệu. Thực tế cá nhân tôi đã phải đối chiếu rất nhiều loại tư liệu, rất nhiều phông khác nhau. Ví dụ như ông này viết “như báo cáo trước tôi đã viết gửi Bộ trưởng Thuộc địa”, thế là lập tức phải tìm kho của Bộ Thuộc địa, xem ông đấy ngày tháng năm này ông ấy viết cái gì. Phải làm rất cẩn thận bởi vì khi chúng ta đưa ra một luận điểm, ví dụ như về vấn đề biên giới, đó có thể gây ảnh hưởng vô cùng lớn. Mặt khác, việc đối chiếu cùng loại tư liệu, cùng một hệ thống tư liệu, cẩn trọng với tư liệu và bổ sung tư liệu suốt đời là một trong những yêu cầu bắt buộc. Bởi vì kho tư liệu lưu trữ sẽ mở dần dần theo quy định về tài liệu lưu trữ, có những tư liệu được giải mật sau 50 hoặc 100 năm, hoặc không bao giờ mở, và như vậy là chúng ta rõ ràng sẽ mãi mãi phải đi tìm chân lý tương đối của lịch sử.    Tôi nói điều này để truyền tải rằng cho dù sau này chúng ta có mở ra một làn sóng gọi là làn sóng thứ ba trong việc giới thiệu các sách dịch thì cũng nên nhớ là làn sóng đó chỉ mang tính chất tiếp tục gợi mở mà thôi.   Tôi và anh đã đề cập về các tư liệu của người Pháp được dịch ở Việt Nam và cho rằng đóng góp của sách dịch rất lớn, nó là một mảng không thể thiếu trong việc mở rộng tri thức ngày hôm nay. Nhưng tôi nghĩ cộng đồng tri thức ở Việt Nam quên đi một nhóm người thứ hai rất quan trọng, đó là những người Việt, bắt đầu từ thời mở cửa, đi học ở nước ngoài, đặc biệt đến Pháp, dùng quan điểm cách tiếp cận của mình, lòng say mê của mình để tiếp cận tư liệu lưu trữ của pháp và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong lăng kính tham chiếu của họ. Tôi chưa nhìn thấy những tư liệu này được giới thiệu ở Việt Nam.     Nếu chúng ta chỉ giới thiệu những cuốn sách người Pháp viết về Việt Nam trên cơ sở họ đọc tư liệu của họ, cộng thêm một ít tư liệu của họ tự khảo sát mà lại khuyết đi những công trình nghiên cứu của những người Việt Nam thì tôi nghĩ mãi mãi không bao giờ có một bức tranh tương đối đầy đủ. Thực sự là những người Việt Nam hồi đó đã phải vượt qua định kiến, đã phải vượt qua những khó khăn vô cùng lớn để nhìn lại một góc nhìn lịch sử Việt Nam thời kỳ đó bằng tư liệu gốc của Pháp. Ở làn sóng này, chúng ta nên giới thiệu những cuốn sách dựa trên tư liệu lưu trữ, mặc dù sẽ bán được ít hơn, đọc cũng mệt hơn, nhưng nó sẽ giúp cho đối thoại lịch sử của chúng ta từ cảm tính đi dần tới một trong những cơ sở khoa học tương đối mà chúng ta mong muốn.    Xin cảm ơn bà!□    *Chú thích:  Đây là nội dung lược ghi từ buổi tọa đàm “Việt Nam dưới góc nhìn của người Pháp (cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX)” ngày 11/7. Buổi tọa đàm là số đầu tiên trong series “Đối thoại với quá khứ” do Tia Sáng chủ trì, Vũ Đức Liêm điều phối.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam làm chủ công nghệ chuyển gien đối với ngô      Ngày 14/4, Viện Nghiên cứu Ngô (Viện KHNN VN, Bộ NN-PTNT)  công bố, đã nghiên cứu thành công công nghệ chuyển gien đối với gien chịu  hạn vào cây ngô.     TS Bùi Mạnh Cường – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô cho biết, sau hơn hai năm triển khai, đề tài “Nghiên cứu chuyển gien nâng cao tính chịu hạn vào một số dòng ngô bố mẹ đang được áp dụng trong SX” do Viện Nghiên cứu Ngô thực hiện đến thời điểm này cơ bản có thể khẳng định đã thành công ở tất cả các mặt, bao gồm: Nghiên cứu thành công và làm chủ được nguồn vật liệu phục vụ chuyển gien; hệ thống môi trường thực hiện việc chuyển gien; xây dựng và hoàn thiện quy trình biến nạp thông qua vi khuẩn Agrobacterium, cũng như đã có các kết quả cụ thể về ngô chuyển gien được SX trên đồng ruộng.  Hiện tại, Viện Nghiên cứu Ngô đã xây dựng được quy trình tái sinh và xác định được bốn dòng ngô thuần có khả năng tái sinh cây rất cao phục vụ cho các thí nghiệm chuyển gien. Đây là những dòng ngô bố, mẹ đang tham gia vào một số giống ngô triển vọng tại VN. Quan trọng nhất, Viện đã chuyển thành công ba gien chịu hạn bằng phương pháp chuyển gien thông qua vi khuẩn vào ba nguồn vật liệu ngô của VN.  Cụ thể, TS Cường tiết lộ: ba gien chịu hạn này gồm DREB2A, HVA1 và CspB, được Viện phân lập thành công từ các nguồn tự nhiên tại VN. Trong ba gien trên, DREB2A và HVA1 là các gien có khả năng chịu hạn và chịu mặn, còn CspB là gien có khả năng chịu nóng, cải thiện khả năng thụ phấn của ngô trong điều kiện nhiệt độ cao.  Đối với vật liệu nhận gen, trong quá trình nghiên cứu đã gặp khó khăn lớn bởi tỉ lệ tái sinh thông qua nuôi cấy phôi non của ngô thường rất thấp. Tuy nhiên, qua quá trình dày công chọn tạo và thí nghiệm đối với trên 1.300 dòng ngô trong nước, Viện đã tìm ra được tám dòng ngô có khả năng tái sinh rất tốt thông qua nuôi cấy phôi non, trong đó bốn dòng có tỉ lệ tái sinh rất cao. Đây đều là các dòng ngô thuần là bố mẹ của các giống ngô lai của Viện Nghiên cứu Ngô.  Cụ thể đối với tám dòng ngô triển khai nuôi cấy phôi non, tỉ lệ tạo mô sẹo (callus) đạt trung bình gần 32%, cao nhất đạt trên 70%; tỉ lệ cây tái sinh đạt trên 21%, cao nhất đạt trên 30%; tỉ lệ tạo cây hoàn chỉnh đạt gần 25%, cao nhất đạt gần 70%. Trong quá trình nghiên cứu chọn lọc dòng nuôi cấy phôi, Viện cũng đã nghiên cứu thành công hệ thống môi trường và điều kiện nuôi cấy…  Sau khi có các nguồn vật liệu gien cho và xác định được bốn dòng ngô có tỉ lệ tái sinh cao nhất, phôi non của các dòng này được thu hoạch sau thụ phấn 12 ngày, sau đó nuôi cấy trong môi trường thêm bảy ngày để tạo mô sẹo nhằm sử dụng làm mô đích để lây nhiễm với vi khuẩn Agrobacterium (các chủng Agrobacterium tái tổ hợp mang các vector pCAMBIA1300 biểu hiện thực vật chứa các cấu trúc gien Act1+HVA1, Ubi+DREB2A và 35S+modiCspB).  Kết quả quá trình biến nạp của ba gien chịu hạn vào vật liệu là mô sẹo nhận gien thông qua vi khuẩn Agrobacterium đã cho kết quả khả quan. Cụ thể: Tỉ lệ mô tái sinh thành cây ngô thế hệ T0 đối với gien ZmDREB2A đạt trung bình trên 12%; gien Gene HVA1 đạt trung bình 13,6% và gien CspB đạt 10,7%.  Kiểm tra bằng phương pháp PCR (giải trình tự gen) đối với ngô ở thế hệ T0 đã cho thấy kết quả bất ngờ khi tỉ lệ cây thế hệ T0 mang các gien chịu hạn rất cao, đạt từ 70% đến xấp xỉ 80%. Trong số các cây thế hệ T0 mang gien chịu hạn, đã có từ 5 – 7% số cây mang hữu thụ (tự thụ phấn thành công khi trưởng thành). Như vậy tính trung bình, hệ số biến nạp đối với các gien chịu hạn ở thế hệ T0 đã đạt 0,67% (trung bình 1.000 cây mang các gien chịu hạn, có 6,7 cây hữu thụ).  Kết quả này chứng tỏ, Viện Nghiên cứu Ngô đã chuyển thành công ba gien chịu hạn DREB2A, HVA1 và CspB vào các nguồn vật liệu ngô tại VN, với tần số chuyển gien của các nguồn vật liệu đạt từ 0.28-1.27%.  Nguồn cây chuyển gien thế hệ T0 đã được gieo trồng và đánh giá thêm tính ổn định của các gien ở thế hệ T1, T2 và T3. Kết quả cho thấy, gien được cấy vào ngô đã hoạt động tốt và càng ngày càng có tính ổn định. Cụ thể ở thế hệ T1, tỉ lệ cây mang gien chuyển chịu hạn đạt trung bình từ 75-80%; đến thế hệ T2 và T3, tỉ lệ này đã nâng lên đạt trung bình từ 99,1% đến 99,7%. Theo TS Bùi Mạnh Cường, tỉ lệ này cho thấy ngô được chuyển gien chịu hạn ở thế hệ thứ hai đã đạt độ ổn định theo các yêu cầu và tiêu chuẩn quốc tế hiện nay.  Mặc dù cây trồng chuyển gien hiện chưa được chính thức đưa vào SX thương mại tại VN, tuy nhiên, các tập đoàn nông nghiệp lớn đang tiến hành các bước nước rút để đưa ra SX thương mại khi các thủ tục đánh giá, khảo nghiệm hoàn tất và được VN cho phép.  Trong khi các công ty lớn của nước ngoài đang chờ ngày tung sản phẩm giống, đặc biệt là ngô chuyển gien vào thị trường nước ta, việc Viện Nghiên cứu Ngô làm chủ được công nghệ chuyển gien đối với ngô sẽ mở ra sự cạnh tranh mới giữa giống ngô chuyển gien “nội” và giống ngô chuyển gien “ngoại”.  Đặc biệt, các giống ngô chuyển gien của các công ty nước ngoài tại Việt Nam hiện nay   mới chỉ chuyển được gen kháng thuốc trừ cỏ và sâu đục thân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam: Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương”      Dân tộc nào cũng có điểm yếu. Nhiều người Việt ý thức rõ rằng dân tộc họ thường xuyên chịu sự đe dọa bởi ngoại xâm, thiên tai, nội chiến… tuy nhiên chúng ta chưa có những hiểu biết một cách có hệ thống rằng những biến động này ảnh hưởng như thế nào đến sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam từ góc độ vĩ mô? Cha ông trong quá khứ đã vượt qua những thử thách đó như thế nào? Điều này có thể là tri thức hữu ích cho những người quản trị nhà nước hiện tại.      Ghi chép về cuộc tấn công, cướp bóc, đốt phá của Chiêm Thành vào Thăng Long năm 1371. Nguồn: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển 7: 37a.  Mùa hè năm 1371, Thăng Long thêm một lần nữa bị đốt cháy bởi bàn tay của những người từ bên ngoài. Cuộc tập kích của người Chăm làm vua Trần phải bỏ chạy lánh nạn về phía Bắc. Trong kinh thành bỏ ngỏ, những kẻ xâm lược “đốt phá cung điện, cướp lấy con gái , ngọc lụa đem về.” Đây không phải là lần đầu tiên kinh đô của Đại Việt bị hủy hoại. Và đó chưa phải là lần cuối cùng. Hoàng Thành đã in “dấu giày” của không chỉ một đạo quân nước ngoài. Người Hán đã ở đấy, và cả người Nam Chiếu, người Champa, người Mông Cổ, người Pháp, người Nhật. Thăng Long còn bốc cháy bởi chính bàn tay của người Việt với tần suất nhiều không kém, từ những nhà sư nổi dậy, các hào trưởng chống lại triều đình, các thủ lĩnh nông dân, kiêu binh, các vị tướng nổi loạn, và tranh chấp triều đại. Mồi lửa của những thăng trầm biến động đó không chỉ chôn vùi Cửu Trùng Đài, mà còn cuốn theo vận mệnh của quốc gia trong nhiều cuộc khủng hoảng và sụp đổ.  Đây là câu chuyện về Việt Nam: một dân tộc “dễ bị tổn thương”. Câu chuyện này không nhằm phác thảo một Việt Nam yếu ớt, “chia rẽ”; không phải hạ thấp nỗ lực của bao thế hệ người Việt xây nên quốc gia hòa bình, thống nhất như ngày nay. Nó chỉ đơn giản chỉ ra rằng trong “tiếng hát 4000 năm” của Hồng Hà, Cửu Long, bên cạnh những lúc “Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc”, khi “Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc” và “Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng”, là lúc người Việt tự tay đốt phá đền đài, cung điện, những lúc vua Đại Việt bỏ chạy khỏi chính hoàng cung của mình trước sức ép của kẻ ngoại xâm, là lúc hàng vạn người đói lưu tán từ vùng Hải Dương, Thái Bình xuống phía nam châu thổ sông Hồng sau mỗi trận lụt, và có lúc hàng triệu người bỏ mạng vì nạn đói. Đương nhiên, nhiều thách thức trong số này là bên ngoài mang lại, nhưng cũng không ít đến từ chính cách người Việt điều hành quốc gia của mình.  Việt Nam là một dân tộc dễ bị “tổn thương”, “nhạy cảm” với sự thay đổi địa chính trị, cấu trúc dân cư, lãnh thổ, biến động xã hội, và thiên tai. Quản trị nhà nước ở Việt Nam chưa bao giờ là điều dễ dàng, dù người cầm quyền xuất thân tướng lĩnh kiệt xuất như Lê Hoàn, Lí Công Uẩn, Nguyễn Huệ, là trí thức uyên bác như Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mệnh.  Vì sao nhận thức điều đó lại quan trọng? Dân tộc nào cũng có điểm yếu. Nhiều người Việt ý thức rõ rằng dân tộc họ thường xuyên chịu sự đe dọa bởi ngoại xâm, thiên tai, nội chiến… tuy nhiên chúng ta chưa có những hiểu biết một cách có hệ thống rằng những biến động này ảnh hưởng như thế nào đến sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam từ góc độ vĩ mô? Cha ông trong quá khứ đã vượt qua những thử thách đó như thế nào? Điều này có thể là tri thức hữu ích cho những người quản trị nhà nước hiện tại.  Việt Nam trong khung cảnh địa chính trị dễ bị tổn thương  Việt Nam có cấu trúc địa chính trị đặc thù: lãnh thổ hẹp, trải dài từ Bắc xuống Nam. Chúng ta nói nhiều về lợi thế ôm lấy biển, cửa ngõ của Đông Nam Á, cửa ngõ vào miền Nam Trung Quốc, giao điểm của tuyến đường tơ lụa trên biển, của các luồng văn hóa, văn minh… Nhưng không nên quên rằng vùng đất này là điểm đến của nhiều mưu đồ chinh phục, cai trị, tìm cách ảnh hưởng của nước ngoài hay địa chỉ ưa thích của các cơn bão, lụt lội, và dịch bệnh, là hạ nguồn của những hệ thống sông lớn, nơi mà bất cứ sự thay đổi nào ở thượng nguồn cũng tiềm ẩn nguy cơ đối với đời sống con người.  Phía Bắc là nơi ngự trị của một trong những đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại: Trung Hoa, “tồn tại” liên tục hơn 2000 năm qua (dĩ nhiên với thăng trầm tộc người, triều đại). Hai thiên niên kỷ chung sống với một người láng giềng như thế rõ ràng không phải là một trải nghiệm dễ chịu nếu nhìn vào số lần bị xâm lược, sức ép kinh tế, chính trị, quân sự thường trực, nạn cướp biển từ duyên hải Nam Trung Hoa, xâm nhập của thổ phỉ, phu mỏ từ Vân Nam, Quảng Tây, buôn lậu lúa gạo từ đồng bằng Mekong cho đến khu vực đông bắc của châu thổ sông Hồng.      Mở rộng lãnh thổ là một thành tựu của người Việt. Nhưng từ thế kỷ XV, quá trình này diễn ra quá nhanh và không ổn định làm cho giới cầm quyền lúng túng trong việc quản trị những phần lãnh thổ gia tăng này. Dân cư ở đó dịch chuyển liên tục, tương tác tộc người phức tạp dẫn đến sự đa dạng vùng miền, đan xen cấu trúc kinh tế, chính trị và văn hóa.      Biển giúp kết nối các nhóm cư dân trên lãnh thổ Việt Nam, thúc đẩy quá trình di dân về phía Nam. Tuy nhiên biển cũng là nơi thường xuyên đưa lại các mối đe dọa cho người Việt. Bên cạnh thiên tai và dịch bệnh là cướp biển và các cuộc tấn công đường thủy. Chiến thuật truyền thống của người Việt là dùng thuyền nhỏ, cơ động linh hoạt, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của kẻ thù đối với địa hình phức tạp để mai phục tấn công các hạm thuyền lớn. Chiến thuật này đã thành công trên sông Bạch Đằng. Nguyễn Huệ đã áp dụng nó trên một khúc sông có nhiều cù lao và các ngã rẽ năm 1785. Thủy quân Đàng Trong đã đốt cháy các tàu chiến lớn của người Hà Lan năm 1643 (Hoang Anh Tuan 2007). Tuy nhiên trong nhiều thế kỷ, người Việt phải vất vả đối phó với người Champa với các thuyền nhỏ và kỹ thuật hàng hải thiện nghệ hơn.  Ngày nay, cướp biển có vẻ xa lạ với người Việt. Tuy nhiên giữa các thế kỷ XVI-XIX, đó là nỗi ám ảnh của miền duyên hải. Một nhánh của cướp biển Nhật Bản từng tấn công Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVI. Thế kỷ XVIII-XIX, quy mô của mạng lưới cướp biển gia tăng nhanh ở vùng vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan. Ngay cả triều Tây Sơn cũng phải duy trì mối liên hệ với các nhóm này (Dian Murray 1987). Các vùng thường xuyên bị cướp phá là từ Nam Định đến Móng Cái, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tiên, và Phú Quốc. Giang Bình, một địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam đến tận năm 1885 (ngày nay cách Móng Cái 20 km), là một thiên đường cướp biển như thế, nơi làm cho Càn Long, Gia Khánh đau đầu vì cung cấp căn cứ cho nhiều nhóm quân sự trong vịnh Bắc Bộ (Robert Antony 2010: 34).    Giữa thế kỉ 16-19, cướp biển là nỗi ám ảnh của miền duyên hải Việt Nam. Trong ảnh (bìa phải) là nữ tướng cướp biển khét tiếng mọi thời đại Ching Shih, với địa bàn hoạt động bao gồm cả biển Đông, làm đau đầu triêu đại nhà Thanh.  Dọc theo hành lang phía Tây, kéo dài hàng nghìn km là hệ thống địa hình phức tạp, đa dạng tộc người, tôn giáo, ngôn ngữ. Trên hành lang này, lịch sử cho thấy nhà nước và xã hội của người Việt phải đối mặt với nhiều thách thức. Hà Nội và vùng châu thổ sông Hồng nhiều lần bị đe dọa từ phía Bắc, Tây bắc, Tây nam. Ít nhất có hai lần các đạo quân Nam Chiếu và Mông Cổ đi dọc theo hệ thống sông Đà và sông Lô để đánh chiếm Đại La/ Thăng Long. Cuộc tấn công ở thế kỷ IX đã phá hủy hoàn toàn hệ thống phòng thủ của nhà Đường, buộc Cao Biền phải xây đê hộ thành Đại La kiên cố (Keith Taylor 1983).  Hành lang biên giới Việt-Trung từng là con đường giao thương quan trọng kéo dài tận phía bắc Lào và Myanmar với hệ thống trao đổi bạc, đá quý, ngựa, trà, muối, đồ sắt… Vào thế kỷ XVIII-XIX, đó là thiên đường của các nhóm di cư, thổ phỉ, và bạo lực xã hội. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, hàng trăm nghìn phu mỏ người Hán tràn vào thượng du Bắc Kỳ (riêng mỏ đồng Tụ Long đã có 100,000 người, theo Lê Quý Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục). Họ là một phần của hàng triệu người di cư dọc theo Quảng Tây, Vân Nam vào cuối thời Thanh. Ảnh hưởng xã hội của họ còn kéo dài cả thế kỷ sau đó khi Nông Văn Vân nổi dậy chống nhà Nguyễn, tập hợp hàng nghìn thợ mỏ người Hoa, và có ý đồ đánh chiếm xuống vùng châu thổ phía Nam với các cuộc tấn công Thái Nguyên và Hưng Hóa. Vào cuối thế kỷ XIX, khu vực này một lần nữa bị xáo trộn bởi hàng vạn tàn quân Thái Bình Thiên Quốc, những người sẽ làm cho quan lại nhà Thanh, triều đình Huế, người Pháp, người Lào, người Thái “mất ăn mất ngủ” (Bradley Davis 2017).  Nguy cơ xung đột cũng đến từ miền thượng du Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Hóa. Các tù trưởng người Lào (và các nhóm cư dân nói tiếng Thái) thường xuyên trong quan hệ căng thẳng với nhà Lê. Cũng tại đây vào những năm 1816-1836, các nhóm ủng hộ hậu duệ của nhà Lê liên minh với các thủ lĩnh Thái, Mường; muốn làm chủ một dải trung du bao quanh châu thổ sông Hồng, sau đó xâm nhập vào từ phía Tây và Tây nam dọc theo sông Đà và vùng thung lũng bắc Ninh Bình (1833-1836).  Tại những cửa ngõ của khu vực có địa hình phức tạp này, trong những năm 1950-1952, các đạo quân của tướng Võ Nguyên Giáp đã triển khai tấn công quân Pháp dọc theo sông Lô, Hòa Bình, Hà-Nam-Ninh, Vĩnh Yên-Phúc Yên.  Nếu như châu thổ sông Hồng bị “đe dọa” bởi các vùng núi và trung du bao quanh thì châu thổ Mekong có những điểm yếu của riêng nó. Đường bộ nối thành phố Hồ Chí Minh với Phnom Penh chưa đến 250 km (5-6 giờ lái xe), và một không gian vùng biên không có chướng ngại tự nhiên. Quân Khmer từng tổ chức đánh chiếm Hà Tiên vào thế kỷ XVIII (Trương Minh Đạt 2008). Đó cũng là điều họ làm vào năm 1979. Quân Siam hơn một lần chiếm Hà Tiên, hai lần xâm lược hạ lưu Mekong. Cuộc xâm lược năm 1834 là một nỗ lực lớn của Bangkok với năm cánh quân, hướng trọng tâm vào các tuyến thủy-bộ dọc theo sông Mekong và vịnh Thái Lan. Ý đồ của họ là lấp kênh Vĩnh Tế, chia cắt hệ thống liên lạc, vận tải quân sự của người Việt nhằm kiểm soát vùng hạ lưu ngập lụt này.  Bờ Tây sông Hậu kéo dài đến Kampot, Kompong (Cambodia), và Trat (Thái Lan) là một ví dụ khác của những vùng đất mới vượt ra ngoài tầm kiểm soát của nhà nước. Từ giữa thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, nơi đây là thiên đường của dân di cư bất hợp pháp, buôn lậu lúa gạo, cướp biển, các hội kín và tổ chức bạo lực người Việt, người Hoa, Khmer… (Thomas Engelbert 2007). Một cách hình ảnh thì đây chính là một “Miền Tây” của lịch sử Việt Nam (như “Miền Tây”trong khung cảnh lịch sử Hoa Kỳ).  Vấn đề quản trị lãnh thổ  Lãnh thổ hình chữ “S” xinh đẹp của Việt Nam là một không gian không dễ điều phối. Lấy năm 1975 làm ví dụ. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa có trong tay cả triệu quân, yểm trợ bằng không quân, nhưng họ lúng túng trong việc đánh-giữ-rút giữa ba vùng: duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, và Đông Nam Bộ. Bất cứ động thái quân sự nào diễn ra ở ba khu vực này đều có nguy cơ đặt Sài Gòn vào thử thách lớn. Chỉ một dấu hiệu đe dọa Tây Nguyên cũng làm cho cả hệ thống phòng thủ hàng trăm km ở miền duyên hải mất tinh thần. Họ bị động ứng phó, ra quyết định rút quân chiến lược, dù còn những kho vũ khí lớn ở vùng duyên hải. Một nỗi lo sợ như thế chắc chắn cũng đã đến với tướng Tassigny và cấp dưới của ông, tư lệnh quân Pháp tại Bắc Bộ Raoul Salan khi châu thổ sông Hồng bị tấn công từ ba phía (1950-1951). Nếu ông ta để mất bất cứ một cửa ngõ nào vào tay tướng Giáp, toàn bộ hệ thống thực dân trong vùng sẽ bị lung lay.  Xuôi về phía Nam, hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh cho thấy hành lang phía Tây có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với an ninh của toàn bộ Việt Nam. Dọc theo sông Mekong, quân Siam từng tổ chức các cuộc xâm lược vào Nghệ An và Hưng Hóa (1834). Chính trên vùng cao nguyên Trường Sơn, bảy năm trước, Huế đã phải một phen “mất ngủ” khi Siam xâm lược Vientiane (1827), và “san phẳng” toàn bộ kinh thành này theo lệnh của vua Rama III (Mayoury and Pheuiphanh Ngaosyvathn 1998). Ngay lập tức Minh Mệnh phải điều các đạo binh, voi đến Nghệ An. Tuy nhiên đó chưa phải là lần cuối. Người Thái đã trở lại vào những năm 1890 và 1940.    Bản tấu của đình thần Huế ngày 17/08/1826, về việc đón tiếp sứ đoàn Siam. Nguồn: Châu bản triều Minh Mệnh, 8: 184-86.  Không phải đến Minh Mệnh mà gần bốn thế kỷ trước, người Việt đã tìm cách chinh phục vùng đất phía tây này nhằm giữ vững an ninh cho vương quốc của mình. Lê Thánh Tông trong một cuộc viễn chinh chưa từng có tiền lệ đã đưa quân sang tận vùng đất được cho là Myanmar ngày nay. Tuy nhiên cuộc hành quân cũng chỉ ra giới hạn của người Việt trong việc mở rộng ảnh hưởng qua bên kia dãy Trường Sơn (John Whitmore 2004). Sau đó là các chúa Trịnh, Tây Sơn cũng đều có những nỗ lực tương tự nhưng không thành công.  “Thất bại” của người Việt trong việc duy trì ảnh hưởng ở Lào và Cambodia biến hai khu vực này thành vấn đề an ninh thường trực từ thế kỷ XVIII. Trung tâm điểm của tương tác này là cuộc cạnh tranh với Thái Lan. Xét về tương quan quân sự, Việt Nam không hề thua kém, thậm chí còn có ưu thế về dân số và tổ chức quân đội. Nhưng người Thái có lợi thế địa hình, dễ dàng xâm nhập vào Lào hay Cambodia. Việt Nam có thể áp đảo trong các chiến dịch tạm thời, tuy nhiên duy trì quân đội và hệ thống tiếp tế liên tục trong thời gian dài trên những địa hình phức tạp là điểm yếu của chúng ta.  Hành lang dài, hẹp ở miền Trung là một “điểm yếu” quan trọng khác của Việt Nam. Nó là cái bẫy đối với nhiều triều đại trong việc lựa chọn vùng đóng đô và tổ chức mạng lưới quân sự. Nguyễn Hoàng gặp vấn đề này khi ông dịch chuyển dinh trấn liên tục dọc theo các cửa sông bị núi chia cắt. Nguyễn Huệ gặp vấn đề nghiêm trọng hơn khi buộc phải lựa chọn Phú Xuân, Nghệ An, hay Thăng Long. Việc ông chọn Nghệ An, dường như là một quyết định đơn thuần mang ý nghĩa khoảng cách địa lý hơn là một tính toán chiến lược kỹ lưỡng.  Gia Long có lí do “chính đáng” khi chọn kinh đô của tổ tiên làm kinh đô của nước Việt Nam thống nhất trải dài hơn 2000 km từ Cao Bằng đến Hà Tiên. Cách Hà Nội 700 km và Sài Gòn 900 km, Huế có thể nhận được báo cáo khẩn từ Hà Nội sau 4 ngày 6 giờ, từ Hà Tiên sau 12 ngày 6 giờ (1836). Có hai điểm yếu làm giảm khả năng cơ động của Huế trong việc cai trị Việt Nam. Thứ nhất, Huế là một đô thị nhỏ hẹp. Sông Hương và các cửa biển xung quanh nông, thường xuyên bị cát bồi. Đó không phải là một nơi lí tưởng cho các hải cảng, tập hợp quân sự, trung chuyển hàng hóa. Thứ hai, người cầm quyền gặp khó khăn khi điều hành nền chính trị từ Huế, đặc biệt là việc quản lí hai đồng bằng đông dân và thịnh vượng ở châu thổ sông Hồng và Mekong. Thực tế là vương triều này tiêu tốn quá nhiều nhân lực vào việc vận chuyển lương thực từ Gia Định đến Huế, và sau đó là ra Nam Định để cung cấp cho binh lính, trả lương cho quan lại, và cứu trợ. Vào đầu thế  kỷ XIX, hằng năm, hàng vạn người và khoảng 650 chiếc thuyền đã tham gia vào hệ thống này, tiêu tốn một phần lớn sức lực, ngân sách.  Mở rộng lãnh thổ là một thành tựu của người Việt. Nhưng từ thế kỷ XV, quá trình này diễn ra quá nhanh và không ổn định làm cho giới cầm quyền lúng túng trong việc quản trị những phần lãnh thổ gia tăng này. Dân cư ở đó dịch chuyển liên tục, tương tác tộc người phức tạp dẫn đến sự đa dạng vùng miền, đan xen cấu trúc kinh tế, chính trị và văn hóa. Các cuộc nội chiến liên tục từ 1533 đến năm 1802, và sau đó là nổi loạn của dân chúng có vẻ như là hệ quả của diễn trình lãnh thổ, dân cư và dịch chuyển cấu trúc quyền lực này.  Việt Nam dễ bị tổn thương bởi thiên tai, dịch bệnh  Hai trận dịch đầu thế kỷ XIX là một thảm họa đối với Việt Nam. Nó cho thấy cách thức xã hội này cực kỳ dễ bị “lây nhiễm” bởi các dịch bệnh “quốc tế”. Thống kê của nhà Nguyễn vào năm 1820 cho thấy 206,835 người chết. Trận dịch thứ hai vào các năm 1839-1840 với hậu quả được báo cáo về Huế một cách không đầy đủ:          Số người chết tại các địa phương trong trận dịch 1839-1840  (Đơn vị: người)          Năm      Thanh Hóa      Bắc Ninh      Hải Dương      Hưng Yên      Nam Định      Sơn Tây          1839             21,500      23, 000                               1840      2, 000                    3, 000      200      4, 900          Nguồn: Đại Nam Thực Lục.  Thiên tai là vấn nạn thường xuyên đe dọa sự ổn định kinh tế và xã hội Việt Nam trong lịch sử. Nền kinh tế dựa trên sản xuất nông nghiệp. Ổn định xã hội dựa trên việc nhà nước tổ chức cuộc sống cho đại đa số nông dân và giữ cho làng xã yên bình. Mỗi khi nước sông Hồng tràn bờ là lúc xuất hiện dòng dân cư lưu tán. Nổi dậy của dân đói và dân bị quan lại địa phương áp bức luôn là vấn đề thường trực nếu nhà nước không sẵn sàng ứng phó. Lưu ý rằng sự yếu kém của quan lại địa phương, nạn cường hào là nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến phản kháng của nông dân, đặc biệt là trong những điều kiện bất lợi về kinh tế. Cuộc nổi dậy lớn nhất ở vùng châu thổ vào đầu thế kỷ XIX của Phan Bá Vành là hệ quả của nạn lụt và đói từ 1824 đến 1826 ở vùng “rốn lũ” của châu thổ: Hải Dương, Thái Bình. Dân chúng bắt đầu kéo sang Nam Định và tràn xuống vùng duyên hải phía nam, nơi họ tập hợp lại và dùng bạo lực chống lại hệ thống điều hành chính trị yếu kém và tư pháp tham nhũng (Vu Duc Liem, Village rebellion).  Không phải nhà Nguyễn ghẻ lạnh các con đê, bỏ mặc dân chúng. Trong vòng 26 năm thời Gia Long và Minh Mệnh (1802-1829), triều đại này đắp mới 144.5 km trong tổng số 952 km đê chính ở Bắc Bộ. Bất chấp những nỗ lực đó, từ 1803 đến 1861, cả vùng hứng chịu 27 trận lụt lớn (Tessier Olivier 2011). Với tần suất hai năm một trận lụt, tỉ lệ này là gần như cao nhất trong gần 1000 năm từ khi người Việt “tiếp quản” vùng châu thổ ở thế kỷ X, đồng thời là nguyên nhân của ít nhất 47 cuộc nổi dậy đầu thế kỷ XIX. Đây là một bài học lớn về quản trị nhà nước ở đồng bằng sông Hồng cũng như cho những thách thức tự nhiên Việt Nam đã và đang đối mặt: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nhiễm mặn, mất rừng, đặc biệt là nguy cơ “xóa sổ” vùng châu thổ Mekong trong một thế kỷ tới do khoảng 20 con đập đã và đang được xây dựng trên dòng sông chính.  Cuối cùng, việc viết những điều này không nhằm phủ nhận sự trường tồn, sức sống dẻo dai, và tinh thần quật cường của người Việt trong hàng nghìn năm qua. Bao nhiêu thế hệ đã ngã xuống để có được một hình hài dân tộc thống nhất. Bao thế hệ đã cùng nhau đoàn kết chống lại ngoại xâm, thiên tai, nội chiến để củng cố độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ cuộc sống yên bình của người Việt. Viết điều này cũng không phải nói rằng người Việt lúc nào cũng là “nạn nhân” của lịch sử, của hoàn cảnh, của người bên ngoài. Chúng ta không quên lịch sử mở rộng lãnh thổ từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX. Điều quan trọng ở đây là đa dạng hóa cách tiếp cận lịch sử Việt Nam và thêm vào đó một nhận thức rằng: bên cạnh một lịch sử quật khởi, dân tộc này có những lúc “yếu đuối” và dễ bị tổn thương. Người Việt cần biết rõ điểm yếu của mình, đặc biệt là từ góc độ quản trị nhà nước, điều hành quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, và để không ai bị bỏ rơi từ quá trình phát triển này.  ——  Tham khảo  Bradley Davis. Imperial Bandits: Outlaws and Rebels in the China-Vietnam Borderlands (University of Washington Press, 2017).  Keith Taylor. The birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983).  Olivier Tessier, “Outline of the Process of Red River Hydraulics Development During the Nguyễn Dynasty (Nineteenth Century),” in Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta, ed. Mart A. Stewart and Peter A. Coclanis (Springer, 2011), 45–68.  Thomas Engelbert. “Go West” in Cochinchina. Chinese and Vietnamese Illicit Activities in the Transbassac (c. 1860-1920s). 南方華裔研究雜誌, 第一卷, 2007: 56-82.  Vũ Đường Luân, “Contested Sovereignty: Local Politics and State Power in Territorial Conflicts on the Vietnam-China Border, 1650s–1880s,” Cross-Currents: East Asian History and Culture Review 5, no. 2 (2016): 497–533.  Vu Duc Liem. “The Age of Sea Falcons: Naval Warfare in Vietnam, 1771-1802,” in Warring Societies of Pre-Colonial Southeast Asia: Local Cultures of Conflict Within a Regional Context, ed. Kathryn Wellen and Michael Charney (Copenhagen: Nordic Institute of Asian Studies, 2017), pp. 103-129.  Vu Duc Liem. Village rebellion and social violence in early nineteenth century Vietnam, in A Violent World? A Global History of Early Modern Violence and its Restraint, eds., Erica Charters, Marie Houllemare, and Peter Wilson (Manchester University Press, sắp xuất bản).  Tom Fawthrop. Killing the Mekong, Dam by Dam, https://thediplomat.com/2016/11/killing-the-mekong-dam-by-dam/    Author                Vũ Đức Liêm        
__label__tiasang Việt Nam – nơi tôi gửi gắm tình yêu      Pierre Darriulat sinh ngày 17/02/1938 tại Paris, trong một gia đình nhỏ, bố là quân nhân và mẹ làm nghề thợ may. Gia đình ông có nguồn gốc ở vùng Tây Nam nước Pháp, nhưng Paris hoa lệ mới là mảnh đất chôn rau cắt rốn và nuôi nấng ông từ bé đến năm 20 tuổi. Cũng từ nơi đây, trong một sự tình cờ – ngẫu nhiên khi lựa chọn Đại học Bách khoa Paris, ông bắt đầu bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học. Sau gần nửa thế kỉ cống hiến cho khoa học thế giới, ông đã đến Việt Nam trong một sự tình cờ khác, gặp gỡ người phụ nữ của đời mình và lựa chọn nước Việt làm điểm cuối cùng, gửi gắm tình yêu khoa học còn lại trong việc đào tạo những thế hệ trẻ. Ông tên là Pierre Darriulat – ông đã được xếp vào hàng mười ba “siêu sao khoa học dám thách thức vũ trụ”    Tia Sáng số 14/2005, đã có bài viết về nhà vật lý lớn, có tấm lòng rộng mở với nước Việt này. Sáng sáng, ông lại đạp chiếc xe có nhiều bộ phận tự chế lắp, có lẽ cũng là chiếc xe đạp lạ lùng có một không hai trên đất Hà Nội, đi từ đường Âu Cơ xuôi chiều xuống tận Hoàng Quốc Việt – đến Viện Khoa học Kĩ thuật Hạt nhân (Viện KHKTHN), nơi ông được tiếp đón như một người thân,  người thầy, người cha của những nhà khoa học trẻ. Các nhà khoa học trực tiếp làm việc chung với ông trong phòng thí nghiệm, như Phạm Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thảo… đều chưa tới ba mươi tuổi và đã có những công trình dưới sự hướng dẫn của thầy Pierre được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế, họ gọi ông một cách trìu mến và thân thiết là “Bác Pierre”. Năm 1999, nhân chuyến du lịch ở Việt Nam, Pierre Darriulat đã nhận lời mời làm việc “không lương” tại Viện KHKTHN. Với Pierre, những chức danh như Viện sĩ Thông tấn, Viện sĩ viện hàn lâm, giáo sư, những đề cử Nobel… đều chỉ là những cái đã ở phía sau lưng. Trước mắt ông, chỉ có duy nhất niềm đam mê khoa học là vô giá. Và, không “tự huyễn hoặc mình” hay “không thực sự chơi sang” như ngôn từ ông nhấn mạnh,  nhà vật lý ấy tự xem mình đã già, đã về hưu, không còn ấp ủ một mong muốn nghiên cứu về vấn đề gì nữa, ngoài ấp ủ ý định nhen nhóm và vực dậy ngành nghiên cứu khoa học cơ bản của nước Việt, để ít nhất là nó sẽ bình đẳng và đối thoại được ngang tầm quốc tế. Có lẽ vì vậy mà ông rất yêu quý và gần gũi những học sinh (các nghiên cứu sinh cao học vật lý) trong phòng thí nghiệm như những đứa con cưng.  Nhiều người giải thích sở dĩ ông có một tình yêu lớn dành cho Việt Nam, là bởi quê hương của vợ ông, bà            Pierre trên chiếc xe đạp tự chế lắp        Hoàng Thị Nga, nguyên Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, là nước Việt. Nhưng Pierre Darriulat khẳng định ngay rằng ông lấy vợ là một người phụ nữ, chứ không phải là một người Việt, ngẫu nhiên mà cô ấy là người Việt. Cũng không phải ông đến Việt Nam vì đơn thuần ông rất yêu hai đứa trẻ của vợ, Đạt và Quỳnh Nga, ông muốn vui chơi cùng chúng, giúp vợ dịch những cuốn sách bà yêu thích sang tiếng Pháp. Tất cả những điều đó ông đều có thể làm cùng gia đình nhỏ của mình tại Saclay hoặc Berkeley, nơi ông đã từng học tập, làm việc, hoặc tại CERN (Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu) Thụy Sỹ, hay ở Paris quê nhà… Những nơi ông đã có nhiều gắn bó và bất kì ở chốn nào ông cũng đều được chào đón trân trọng.  Trò chuyện giữa căn phòng thí nghiệm về khoa học thiên văn trị giá khoảng 1 triệu đô la, quà tặng cho Việt Nam mà ông đã mất nhiều năm tâm huyết kêu gọi bạn bè quốc tế các nơi tài trợ, gửi thiết bị về, Pierre Darriulat hào hứng kể cho tôi nghe về thời học Đại học Bách khoa Pari. Thực ra, thuở nhỏ, mơ ước của ông là theo ngành Y. Ông học đều tất cả các môn, không khá nhất một môn nào, luôn đứng ở vị trí 2-3 trong các lớp. Hình như bất kì ở đâu, hoặc trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc với công trình nghiên cứu nào, cho dù ông có là người rất xuất sắc, thì ông cũng chưa bao giờ đứng nhất. Ngay cả trong việc thi đua đưa ra thành tựu nghiên cứu hạt W và hạt Z, công trình của nhóm ông mặc dù hoàn thiện trước nhưng lại chấp nhận báo cáo sau nhóm của bạn ông, và  ông đã chỉ dừng lại ở mức được đề cử giải Nobel. Thực tế, Pierre đã từng đăng kí theo ngành Y. Nhưng có những lời khuyên đưa ra, ông học khá tự nhiên, tại sao không theo ngành làm khoa học. Ý tưởng làm khoa học “hay hay”, thế là ông đồng ý vào ĐH Bách khoa. Một cách tự nhiên, ông đã hoàn thành khóa học đại học chỉ trong hai năm. Sau đó, có một người ở Saclay đến quảng cáo về làm khoa học, họ đang rất cần những người trẻ tuổi. Ông không thực sự năng động trong tìm kiếm công việc cho tương lai, nhưng những gì họ đưa ra thật đúng với ý muốn của mình, vì vậy, ông đã đồng ý, mặc dù không hề biết trước chuyện gì chờ đợi phía trước, ví dụ như phải mặc đồng phục chẳng hạn… Kể đến đây, Pieree cười thật sảng khoái. Không hiểu sao, với ông, quãng đời nào đi qua ông cũng đều cho là mình đã hạnh phúc. Dường như ông luôn mãn nguyện với thực tại, với mọi thứ quanh mình, không cưỡng cầu, không vọng tưởng. Thái độ an nhàn, tự tại của ông khiến những người gần ông, quanh ông cũng như cảm nhận được niềm hạnh phúc, thanh thản. Ông là đứa trẻ hạnh phúc vì khi thế giới đại chiến xảy ra, ông vẫn còn quá nhỏ để nhận biết được những tang tóc, bất hạnh. Ông là một chàng trai sinh viên hạnh phúc vì chẳng có gì ngáng trở cuộc đời ông, ông luôn học tập tốt, được thầy cô yêu mến. Ông cũng là một quân nhân hạnh phúc vì sau thời gian làm việc ở Saclay với kết quả xuất sắc trong nhóm chuyên ngành thực nghiệm, ông đã chọn Hải quân để thực hiện nghĩa vụ quân sự của mình. Khá trẻ, học giỏi, chưa có bạn gái, lại luôn được độc lập tự do không bị bố mẹ can thiệp trong mọi quyết định, ông được quyền chọn tàu và ông đã chọn Adventure, sống một cuộc sống lái tàu, đánh cá, đối mặt với biển nhiều ngày đêm như mong ước của ông trong quãng thời gian sang Algeria, và từ đây, đi đến những vùng đất khác như NewFoundland, North Cape và Greenland. Chuyến đi sang Algeria, nước nghèo và yếu thế trong cuộc chiến với Pháp thời đó đã để lại trong ông những kí ức, khiến ông thấy yêu Việt Nam và gắn bó với đất nước này lâu hơn khi đến đây. Sau thời gian trong quân ngũ, ông đã trở lại Saclay làm việc, lập gia đình đầu tiên của mình rồi mới qua hai năm làm tiến sĩ.  Mãi đến năm 1965, Pierre mới bắt đầu làm việc ở CERN trong công trình về vi phạm CP với C. Rubia (1) – một trong những nhà vật lý xuất sắc nhất thời đại. Bốn năm sau đó, ông kí hợp đồng dài hạn và tại đây, ông bắt đầu có nhóm riêng của mình là ISR năm 1971. Sau đó, ông lãnh đạo nhóm UA2, cùng thi đua với UA1 do C. Rubbia cầm đầu trong chương trình tìm ra hai hạt W và Z mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Pierre còn thực hiện nhiều khám phá vật lý với thí nghiệm này như vi phạm  đối xứng CP, vật lý Kaon, hoặc các thí nghiệm lĩnh vực siêu dẫn mà ông luôn mong muốn khám phá. Bởi, bản chất của người làm khoa học là không ngừng khám phá. Điều này rất đúng với Pierre Darriulat.  Không hiểu sao, bỗng nhiên tôi chợt thấy hình như chẳng có gì cách biệt giữa một nhà khoa học từng là Giám đốc khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu với “cậu bé” Pierre đang ngồi trước mặt, hồn nhiên bày tỏ thái độ và sẵn sàng tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình. “Cậu bé” Pierre, ở ngoài tuổi bảy mươi, vẫn luôn thấy khó hiểu tại sao lịch sử lại có thể bất công như thế đối với con người Việt Nam hồn hậu. Và ông cũng lấy làm lạ tại sao Tết cổ truyền của Việt Nam lại gợi nhớ trong ông Noel ở Paris đến thế, dù nó không đông vui nhộn nhịp bằng. “Cậu bé” ấy còn rất thích đón Tết Việt Nam, đơn giản, vì “cậu” sẽ được những người hàng xóm mời đủ mọi loại mứt “ngon nhất trần đời” – nó rất hợp với tính hảo ngọt của “cậu”…  Từ bỏ quá nhiều thứ, chẳng hạn như sở thích vẽ tranh, hay những người thân của ông, hai người em một là GS triết học, một là GS lịch sử, để được đến với đất nước Việt Nam xa xôi, làm việc trong một căn phòng thí nghiệm bé nhỏ mà mọi trang thiết bị đều có được do ông kêu gọi, cơ sở hạ tầng không gì đáng kể, nhưng giá trị tinh thần đối với ông thì thật lớn lao. Điều tồi tệ nhất theo ông là khi không có việc gì để làm. Vì vậy, cho dù không được Chính phủ, Nhà nước hay bất kì đơn vị hữu trách nào ở Việt Nam tạo những điều kiện, chế độ ưu đãi, nhưng ông vẫn cảm thấy hài lòng và thực sự hạnh phúc với sự tự nguyện của mình. “Tôi đã ở xa tình trạng của tuổi già và không cảm thấy có giới hạn tuổi tác trong nghiên cứu khoa học” – chỉ riêng điều ông nói ấy thôi, cũng cho thấy một mong muốn cống hiến chẳng bao giờ ngơi nghỉ đang tuôn chảy trong tâm hồn nhà vật lý lớn yêu nước Việt này.  ————    (1) Carlo Rubbia (Nobel 1984, nguyên Giám đốc CERN. Người tìm ra các hạt W và Z, lượng tử chuyển tải tương tác điện yếu).    Lê Mỹ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Việt Nam ở đâu trong hệ thống trích dẫn của khu vực?      Trong đợt xét duyệt tháng 12/2016, Việt Nam có ba tạp chí tham gia và chỉ một trong số đó được cơ sở dữ liệu khoa học Trung tâm Trích dẫn ASEAN (ASEAN Citation Index) chấp nhận với điểm số vừa đủ đạt chuẩn. Để so sánh, trong cùng đợt xét duyệt, Thái Lan có 32 tạp chí đạt chuẩn, Malaysia có 50, Indonesia có 25 (đều đã có mặt trong hệ thống Scopus), Singapore có năm (cũng đều đạt chuẩn Scopus).      Giáo sư Narongrit Sombatsompop, Chủ tịch TCI và ACI, thuyết trình tại hội thảo “Hệ thống trích dẫn khoa học ASEAN và cách thức gia nhập mạng lưới hệ thống dữ liệu trích dẫn quốc tế” tại Hà Nội, tháng 6/2015. (Ảnh: ĐH Kinh tế Quốc dân)  Trung tâm Trích dẫn Thái Lan TCI (Thai Citation Index) được Giáo sư Narongrit Sombatsompop đề xuất năm 2001 trong một dự án nghiên cứu của Đại học Công nghệ Thonburi (KMUTT) nhằm đánh giá hệ số ảnh hưởng (impact factor) của các tạp chí khoa học Thái Lan. Ông nghiên cứu 68 tạp chí và kết luận rằng hầu hết tạp chí Thái Lan còn cách rất xa các tiêu chuẩn quốc tế. Hệ quả tất yếu là trên bình diện quốc tế không mấy ai biết người Thái đang nghiên cứu những gì, với chất lượng đến đâu – một tình trạng rất giống với Việt Nam hiện nay. TCI được kỳ vọng là giải pháp thay đổi điều đó.  Không được biết đến nghĩa là không tồn tại  Năm 2004, Quỹ Nghiên cứu khoa học Thái Lan (Thailand Research Fund – TRF) và KMUTT bắt đầu cung cấp tài chính để thành lập và vận hành TCI. Cơ sở dữ liệu này giúp cộng đồng khoa học dễ dàng tìm kiếm và tiếp cận các công trình khoa học đã được công bố trên tạp chí của Thái Lan, đồng thời qua các thông số về trích dẫn, đánh giá được chất lượng của các công trình cũng như các tạp chí được lưu trữ trong kho dữ liệu.  Nhờ có cơ sở dữ liệu này mà các hệ thống tạp chí khoa học Thái Lan bắt đầu được đánh giá và phân loại một cách khoa học và minh bạch. Những tạp chí hoạt động tốt, được trích dẫn thường xuyên, nhanh chóng thu hút thêm độc giả, có thêm bài viết tốt và tiếp tục cải thiện chất lượng. Số lượng tạp chí Thái Lan đạt chuẩn quốc tế vì vậy cũng tăng lên.  Thành công của TCI khiến các nước láng giềng phải quan tâm và đến năm 2011, Malaysia và Indonesia lần lượt khởi động các dự án trung tâm trích dẫn quốc gia (National Citation Index – NCI) của riêng mình. Trong khi đó, Philippines chờ đợi để chọn áp dụng nguyên mẫu mô hình TCI hoặc MCC (Malaysian Citation Center).  Cơ sở dữ liệu cấp khu vực    Ban điều hành ACI và đại diện các nước thành viên tại Hội nghị ACI lần thứ tư, tổ chức tại Bangkok ngày 15/12/2016, diễn ra song song với Hội thảo chuyên đề Tạp chí khoa học Thái Lan lần thứ 11. (Ảnh: BTC)  Với 440 tạp chí khoa học và 200 trong số đó xuất bản trực tuyến chính thức, TCI hoạt động ổn định và hiệu quả. Và Giáo sư Sombatsompop tiếp tục đưa ra một sáng kiến táo bạo hơn: xây dựng một cơ sở dữ liệu chung cho toàn bộ khu vực ASEAN (ASEAN Citation Index – ACI), làm cầu nối giữa các NCI của các nước thành viên với các cơ sở dữ liệu quốc tế như ISI hay Scopus.  ACI vẫn có chức năng lưu trữ, tìm kiếm bài báo và trích dẫn, giúp phân loại và đánh giá chất lượng tạp chí khoa học của các nước ASEAN tương tự như TCI hay các NCI khác, nhưng để có mặt trong cơ sở dữ liệu này, các tạp chí khoa học cần phải đạt những tiêu chuẩn cao hơn về hình thức và nội dung, tiệm cận tiêu chuẩn của Scopus.  Mục tiêu của ACI là sớm có được 500 tạp chí khoa học đạt chuẩn, trở thành một cơ sở dữ liệu đủ lớn để liên kết với Scopus. Được biết, đến cuối năm 2016, ACI đã đạt được hơn một nửa số con số đó.  Nhưng hành trình của ACI không phải chỉ toàn hoa hồng. Thậm chí ý tưởng của Giáo sư Sombatsompop ban đầu còn bị phản đối. Các quốc gia như Singapore hoàn toàn không quan tâm vì họ đã vượt xa tầm ASEAN trong lĩnh vực tạp chí khoa học. Scopus thì không muốn hỗ trợ vì cơ sở dữ liệu còn quá nhỏ.  Chỉ đến khi NCI của Malaysia, Indonesia và Philippines hoạt động hiệu quả thì ACI mới thực sự được quan tâm. Ngay cả Singapore cũng quyết định không thể đứng ngoài lâu hơn và đã bắt đầu tuyển chọn những tạp chí thuộc các cơ sở dữ liệu như Scopus và ISI để gia nhập ACI. ACI không chỉ là một cơ sở dữ liệu đơn thuần nữa mà trở thành cơ hội tuyệt vời cho việc hợp tác nghiên cứu ở tầm khu vực.  Việt Nam ở đâu    Mới đây, ĐH Quốc gia Hà Nội đã xây dựng thử nghiệm cơ sở dữ liệu chỉ số trích dẫn Việt Nam (Vietnam Citation Index – VIC) ở phạm vi hẹp.  Trong đợt xét duyệt tháng 12/2016, Việt Nam có ba tạp chí tham gia và chỉ một trong số đó được chấp nhận với điểm số vừa đủ đạt chuẩn (15/20). Hai tạp chí còn lại lần lượt đạt 11/20 và 12/20, không khác nhiều so với đánh giá sơ bộ của Giáo sư Sombatsompop tại Hội thảo “Hệ thống trích dẫn khoa học ASEAN và cách thức gia nhập mạng lưới hệ thống dữ liệu trích dẫn quốc tế” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội trước đó nửa năm.  Cả hai tạp chí Việt Nam bị loại đều mất điểm nặng ở hạng mục website (không cung cấp đủ thông tin, không có chức năng gửi bài trực tuyến), chính sách tạp chí (thiếu nhất quán, không rõ ràng) và trích dẫn tài liệu tham khảo (thiếu nhất quán và không theo chuẩn mực nào). Đây cũng là những điểm hạn chế chính được chỉ ra tại hội thảo.  Để so sánh, trong cùng đợt xét duyệt, Thái Lan có 32 tạp chí đạt chuẩn, Malaysia có 50, Indonesia có 25 (đều đã có mặt trong hệ thống Scopus), Singapore có năm (cũng đều đạt chuẩn Scopus).  Tính đến nay, Việt Nam có ba tạp chí được ACI chấp nhận, chỉ hơn Lào, Campuchia, Myanmar và Brunei.  So với các quốc gia phát triển hơn trong khu vực, Việt Nam không chỉ thua xa về sử dụng tiếng Anh trong nghiên cứu khoa học mà còn thiếu hệ thống xuất bản trực tuyến1. Trong khi Thái Lan có ThaiJO, Malaysia có My Jurnal, Philippines có E-Journal thì Việt Nam chưa có một nền tảng nào, dù chỉ là mã nguồn mở. Điều này khiến cho số đông tạp chí khoa học Việt Nam vẫn làm việc rất thủ công và tùy tiện, mà tình trạng trích dẫn không theo chuẩn mực và phát hành chậm phổ biến là những bằng chứng rõ nhất.  Trong khi đó, Trung tâm Trích dẫn Việt Nam (VCI) cũng mới chỉ dừng lại ở cam kết “sẽ xây dựng đề án trong thời gian tới” của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo.  Đi tìm chất lượng  Trong bối cảnh ấy, Việt Nam lại phải đối mặt với một thách thức không kém phần phức tạp: các nhà xuất bản / tạp chí giả mạo trên internet.  Các tạp chí này thường quảng cáo là thuộc một cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế nào đó, có hệ số ảnh hưởng (impact factor) rất cao. Họ cho phép truy cập miễn phí (open access) nhưng thu tiền của tác giả để đăng bài với lời hứa hẹn sẽ phản biện nhanh, công bố sớm. Mức phí thường là vài trăm đô-la Mỹ. Dĩ nhiên là không có quy trình phản biện nào cả, hoặc nếu có thì rất sơ sài.  Các tạp chí này phổ biến đóng ở Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước châu Phi (dù họ quảng cáo là đặt trụ sở ở một nước phát triển nào đó) khiến cho việc can thiệp pháp lý rất khó khăn, gần như là không thể vì chi phí lớn và thời gian quá dài.  Nhưng vấn đề là, dù không ít nhà khoa học thiếu kinh nghiệm công bố quốc tế đã bị lừa, có nhiều người lại coi đây là cơ hội khi họ không thể đăng bài ở các tạp chí thực sự có chất lượng.  Với việc nâng dần các tiêu chí về công bố quốc tế trong các chương trình đào tạo bậc tiến sĩ cũng như trong đấu thầu đề tài hoặc xét học hàm giáo sư – phó giáo sư, Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn trong khâu kiểm soát chất lượng.  Một trong những giải pháp quan trọng và khả thi nhất là Việt Nam phải xây dựng được danh sách những tạp chí đảm bảo chất lượng (tương tự như các danh mục mà quỹ NAFOSTED đã công bố) và chỉ chấp nhận các công trình công bố trên tạp chí thuộc danh sách ấy.  Các tác giả khi có ý định công bố công trình của mình cũng nên tham khảo kỹ “Danh sách Beall”, danh sách các tạp chí khoa học “đáng ngờ” do Jeffrey Beall, một chuyên gia thông tin thư viện thuộc Đại học Colorado, Denver công bố và vẫn đang cập nhật thường xuyên.  Với 334 tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước đưa vào danh sách xem xét, tính điểm, Việt Nam không hề thua kém các nước láng giềng về quy mô hệ thống tạp chí khoa học.  Ngoại trừ vấn đề ngôn ngữ (xuất bản bằng tiếng Anh), các tạp chí Việt Nam hoàn toàn có thể cải thiện mạnh mẽ chất lượng và hình thức để đạt điểm chuẩn của ACI trong vòng một vài năm. Quan điểm này được chính Giáo sư Sombatsompop đồng tình.  Với ba tạp chí khoa học đã được ACI chấp nhận và hai đại diện chính thức tại Ban điều hành ACI, không thể nói rằng các tạp chí trong nước thiếu thông tin và kinh nghiệm nữa.  Vấn đề có lẽ lại xoay quanh câu hỏi quen thuộc: Các tạp chí khoa học Việt Nam có thực sự muốn thay đổi hay không?  ——   1Bên cạnh đó, Luật Báo chí của Việt Nam cũng không cho phép các tạp chí xuất bản hoàn toàn bằng tiếng Anh mà bắt buộc phải xuất bản tiếng Việt rồi mới được dịch sang tiếng Anh. Đây cũng là một rào cản lớn đối với các tạp chí khoa học.    Trung tâm Trích dẫn ASEAN (ACI) được thành lập và có ban điều hành từ năm 2013, chính thức xét duyệt tạp chí từ năm 2014, do Quỹ Nghiên cứu khoa học Thái Lan tài trợ đến hết năm 2016; từ năm 2017, kinh phí sẽ do các nước thành viên đóng góp dựa trên số tạp chí tham gia kho dữ liệu này. Chủ tịch ACI là Giáo sư Narongrit Sombatsompop; ban điều hành gồm thành viên các nước ASEAN, mỗi nước được cử hai người do Bộ Giáo dục của nước đó giới thiệu. Mỗi năm ACI mở một đợt xét duyệt với hạn chót là ngày 15/11. Những tạp chí có trong danh mục Scopus hay ISI đương nhiên được chấp nhận, những tạp chí khác sẽ được xét duyệt theo các tiêu chí của ACI.      Author                Hoàng Minh        
__label__tiasang Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong quản lý rác thải nhựa      Các dòng sông châu Á, trong đó có sông Cửu Long, đã góp phần vận chuyển nhiều rác thải nhựa ra đại dương nhiều hơn các dòng sông châu Âu. Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu Hà Lan qua công bố “Abundance of plastic debris across European and Asian rivers” (Sự phong phú của rác thải nhựa trên khắp các con sông châu Âu và châu Á) mới xuất bản trên tạp chí Environmental Research Letter.      Là nghiên cứu đầu tiên về rác thải nhựa trên sông, công trình này đề cập đến hiện trạng đang tồn tại: một lượng lớn rác thải nhựa trôi nổi tại 24 địa điểm ven sông ở bảy quốc gia châu Âu và châu Á. Đề cập đến ý tưởng này với phys.org, Caroline van Calcar – tác giả thứ nhất, làm việc ở trường đại học Công nghệ Delft  cho biết: “Rác thải nhựa trên đất liền được đổ ra sông qua các đại dương, bị nghi ngờ là nguồn đóng góp chính của rác thải nhựa đại dương. Do đó, cần có sự thúc đẩy giải quyết rác thải nhựa trên quy mô toàn cầu”.  Tuy nhiên, không dễ để tìm ra bằng chứng về khả năng phát thải rác thải nhựa từ sông, sau đó “so sánh một cách trực tiếp số lượng rác thải nhựa trên sông thuộc các khu vực khác nhau của thế giới”.  Các nhà nghiên cứu đã lựa chọn sông Rhine (phần chảy qua Hà Lan), sông Thames (Anh), sông Seine, Rhône (Pháp), sông Tiber (Italy), sông Cửu Long (Việt Nam), sông Chao Phraya (Thái Lan), sông Pahang (Malaysia), sông Klang, sông Kuantan (Malaysia), sông Ciliwung, Pesanggrahan và Kanal Banjir Timur (Indonesia).  Ở Việt Nam, lý do Caroline van Calcar và Tim van Emmerik chọn sông Cửu Long là vì các phân lưu của sông Mê kông chảy trên khu vực ĐBSCL và TPHCM được dự báo thuộc nhóm các con sông phát thải nhiều nhất châu Á và đoạn sông chảy qua TPHCM – một trong những thành phố lớn của Đông Nam Á và là nơi nước thải từ các khu công nghiệp và vùng đô thị dày đặc ít được xử lý triệt để. Các địa điểm ven sông được họ chọn là khu vực cầu Thủ Thiêm, cầu Nguyễn Hữu Cảnh, cầu Tân Thuận (TPHCM), cầu Quang Trung, bến Ninh Kiều (Cần Thơ), nơi từng được Tim van Emmerik, Kiều Lê Thủy Chung và đồng nghiệp chọn làm địa điểm nghiên cứu của “Macroplastic and microplastic contamination assessment of a tropical river transversed by a developing megacity” (Đánh giá ô nhiễm rác thải nhựa của một dòng sông nhiệt đới do tác động của một siêu đô thị đang phát triển) trên Environmental Pollution, “Seasonality of riverine macroplastic transport” (Tính mùa vụ của vận chuyển rác thải nhựa trên sông) trên Scientific Reports.  Sau khi so sánh kết quả thu được ở các con sông lớn ở châu Âu, nơi được quản lý và kiểm soát khá chặt chẽ với các con sông lớn ở châu Á, nơi chưa có những giải pháp hiệu quả để quản lý rác thải nhựa, các nhà nghiên cứu phát hiện ra lượng rác thải nhựa ở châu Á nhiều gấp 30 lần so với châu Âu. Nếu tính theo trung bình mỗi giờ thì lưu lượng rác thải nhựa trên nhiều dòng chảy ở Indonesia và Việt Nam gấp bốn lần so với các dòng chảy ở Italy, Pháp và Hà Lan.  Các nguyên nhân ảnh hưởng đến lượng vận chuyển nhựa sự quản lý chất thải, vị trí của các thành phố, đập, thời tiết (mùa mưa, lũ lụt). Các loại rác thải nhựa trên sông chủ yếu là các loại nhựa nhiệt dẻo PET (polyethylene terephthalate), polystyrene (PS), nhựa polystyrene giãn nở (EPS), nhựa polyolefin cứng (POhard), polyolefin mềm (POsoft)…  Trong công bố, họ nhận xét “điều này cho thấy sự phức tạp về nguồn gốc và thành phần của các loại rác thải nhựa”.  TS. Tim van Emmerik, trường đại học Wageningen, nói trên phys.org: “Theo những ước tính dựa trên mô hình hiện nay, 10 dòng sông bị ô nhiễm nhất trong số 20 dòng sông được liệt kê phần lớn đều ở châu Á  và chiếm từ 67 đến 95% quy mô rác thải nhựa toàn cầu. Tuy nhiên lần đầu tiên, kết quả của chúng tôi cho thấy bằng chứng, các dòng sông Đông Nam Á vận chuyển một lượng đáng kể nhựa ra đại dương”.  Do đó theo các tác giả, việc triển khai những giải pháp kiểm soát hoặc hạn chế rác thải nhựa trên sông của khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hết sức khó khăn. Caroline van Calcar lưu ý một vấn đề quan trọng khi thực thi các giải pháp là cần xác định được thành phần và nguồn phát thải vì rác thải nhựa có nhiều điểm khác biệt về số lượng, thành phần ở một số vị trí trên sông và “ngay cả việc ở trên các con sông khác nhau trên cùng một quốc gia cũng khác nhau”.       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia già hóa nhanh nhất thế giới      Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, nhưng cửa sổ vàng này sẽ đóng lại ngay khi chúng ta bước qua mốc “cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” như dự định đặt ra trong thập niên tới. Thiếu hụt nguồn nhân lực sẽ đặt ra thách thức rất lớn cho quá trình tăng trưởng của Việt Nam. Đây là những thông tin mới trong báo cáo “Việt Nam thích ứng với xã hội già hóa” của Worldbank gần đây.      Nguồn: Adam Jones, Wikimedia Commons.  Cụ thể, chúng ta chỉ còn cơ cấu dân số trẻ với nguồn lực lao động dồi dào trong chưa đầy 15 năm nữa, vì đến năm 2035, Việt Nam sẽ trở thành nước có dân số già, quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và ở mức độ trầm trọng. Thực ra, những dấu hiệu già hóa đã có từ trước đó: Từ năm 1980 đến năm 2015, dân số cao tuổi của Việt Nam tăng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các nhóm nhân khẩu học khác. Tốc độ già hóa nhanh của Việt Nam được dự báo sẽ còn tăng tốc trong thời gian tới, sẽ biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia già hóa nhanh nhất thế giới (Pháp cần 115 năm để chuyển đổi sang cơ cấu dân số già, Hoa Kỳ 69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc 26 năm, còn Việt Nam sẽ chỉ cần 20 năm).  Trước chiều hướng này, Báo cáo ước tính dự kiến đến năm 2049, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người thuộc nhóm người cao tuổi. Nếu trong giai đoạn cơ cấu dân số trẻ, tính đến năm 2014, số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) đạt 6,31 triệu người (6,7% dân số) thì theo kịch bản mức sinh trung bình dự đoán đến năm 2049, số người cao tuổi sẽ tăng mạnh lên 19,6 triệu người, cao hơn gấp ba lần so với năm 2014 và sẽ chiếm khoảng 18,1% dân số.  Già hóa đồng nghĩa với việc lực lượng lao động của Việt Nam dự kiến sẽ giảm gần một phần trăm mỗi năm trong 3 thập kỷ tới, tạo ra những cơn gió ngược bất lợi đối với nỗ lực nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Cho đến nay Việt Nam vẫn đang tăng trưởng dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ. Từ năm 1990 đến năm 2018, có gần 25 triệu người Việt Nam đến độ tuổi lao động, tương ứng với mức tăng trưởng lực lượng lao động trung bình hằng năm khoảng 2,5 phần trăm và khiến cho lực lượng lao động của Việt Nam tăng gần gấp đôi.   Vì thế, khi Việt Nam chuyển sang cơ cấu dân số già, nhóm tác giả báo cáo dự đoán, tốc độ tăng trưởng dài hạn trong giai đoạn 2020–2050 có thể bị chậm lại 0,9 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, việc đáp ứng nhu cầu của một xã hội già hóa cũng được dự báo sẽ tiêu tốn thêm từ 1,4% đến 4,6% GDP. Ví dụ, trong ba mươi năm tới, chi tiêu hằng năm cho chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi được dự kiến sẽ tăng gấp bốn đến năm lần tính theo tỉ lệ trên nền kinh tế.  Với tốc độ già hóa nhanh và mức thu nhập tương đối thấp như vậy, Việt Nam sẽ cần sự thay đổi lớn trong chính sách hưu trí nhằm mở rộng hệ thống hưu trí để có thể bao phủ phần lớn dân số, trong đó có những người ở khu vực phi chính thức hầu như không được hệ thống an sinh hiện nay bao phủ. Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Việt Nam cũng cần phải được định hướng lại một cách căn bản, theo hướng chú trọng hơn vào chăm sóc ban đầu và giảm phụ thuộc vào chăm sóc tại bệnh viện, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ sở y tế và tăng cường các biện nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Đồng thời, Việt Nam sẽ cần phải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về chăm sóc người cao tuổi, do già hóa nhanh chóng cùng với mô hình chăm sóc dựa vào gia đình truyền thống có tính chất không chính thức ngày càng trở nên căng thẳng do quá trình đô thị hóa.  Còn ngay bây giờ, Việt Nam sẽ tận dụng khoảng thời gian vàng ít ỏi còn lại trước khi chuyển sang giai đoạn già như thế nào? Không còn con đường nào khác là phải đầu tư vào nguồn vốn con người bằng giáo dục và đào tạo, đào tạo lại kỹ năng cho người lao động.     Author                Bảo Như        
__label__tiasang Việt Nam sẽ rơi vào cảnh hạn hán ?      Biến đổi khí hậu có phải chỉ gắn liền với sự gia tăng của các cơn bão, tình trạng ngập lụt ở đô thị hay sự đe dọa nhấn chìm đồng bằng ven biển của mực nước biển dâng? Có ai tưởng tượng ra một tương lai nào đó, có thể là vào giữa hoặc cuối thế kỷ 21, Việt Nam sẽ rơi vào cảnh hạn hán? Nếu còn chưa nghĩ tới điều đó thì bạn hãy thử làm quen với nó đi, bởi các nhà khoa học đã dự tính đến khả năng này.      Vùng chuyên canh mía ở Phú Yên chết vì hạn hán năm 2019. Nguồn: VOV.  Trong số hơn 60 tỉnh thành của Việt Nam chỉ có Ninh Thuận và Bình Thuận luôn có nóng quanh năm và đặc biệt là lượng mưa thấp nhất cả nước. Đó là vùng khô hạn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên trong tương lai, liệu sẽ có nhiều nơi khác lâm vào hoàn cảnh tương tự? Chúng ta có nên sợ hãi sớm trước nguy cơ rủi ro hạn hán, thiếu nước ở những vùng vốn là vựa lúa, vựa tôm cá hay vựa cây trái?    Đây là câu hỏi đặt ra trước một tương lai ấm lên của Trái đất có thể khiến những điều dường như huyễn tưởng đến với mọi vùng đất. Việt Nam cũng không ngoại lệ.     Để “nhìn trước” tương lai, các nhà nghiên cứu chỉ có một cách là dựa vào các phương pháp tiếp cận khoa học với những mô hình tính toán và dữ liệu thu thập để dự tính những kịch bản ở hàng chục năm đến hàng trăm năm sau.    Những kịch bản này, dù bắt nguồn từ giả định nhiệt độ trong tương lai có thể tăng lên 1,1 đến 2,60C hay 2,6 đến 4,80C (so với trung bình thời kỳ 1986 – 2005) đều dẫn đến kết cục tương đồng: sự gia tăng của hạn hán ở khắp đồng bằng sông Hồng, Bắc miền Trung, Tây Nguyên và cả đồng bằng sông Cửu Long ở giữa thế kỷ và cuối thế kỷ 21. Đó là một phần kết luận của nghiên cứu xuất bản trên tạp chí International Journal of Climatology “Projected evolution of drought characteristics in Vietnam based on CORDEX-SEA downscaled CMIP5 data” (Dự tính diễn biến của các đặc trưng hạn ở Việt Nam dựa trên dữ liệu chi tiết hóa của dự án CORDEX-SEA)1.      Theo các kịch bản dự báo, độ dài các đợt hạn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Nam Bộ chắc chắn sẽ dài hơn vào giữa thế kỉ, còn vào cuối thế kỉ thì lượng mưa sẽ giảm nhiều hơn ở Nam Bộ. Điều đó cho thấy rủi ro hạn hán có thể gia tăng ở các vùng vốn là những vựa lúa của Việt Nam.      Hạn hán nhìn gần     Nghiên cứu dự tính khí hậu giữa thế kỷ (2046–2065) và cuối thế kỷ 21 (2080 – 2099) đề cập đến một khía cạnh của biến đổi khí hậu: hạn hán. Giáo sư Phan Văn Tân (Khoa Khí tượng và Thủy văn, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), tác giả chính của nghiên cứu, cho biết “Nói đến biến đổi khí hậu là nói đến sự thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác của hệ thống khí hậu, làm ảnh hưởng đến rất nhiều yếu tố liên quan. Trong số đó, nhìn chung, người ta thường hay quan tâm đến nhiệt độ và lượng mưa bởi khi thay đổi, nó sẽ kéo theo những thay đổi khác, chẳng hạn như mưa tăng hay giảm có thể tác động đến đời sống tự nhiên và xã hội”.     Theo góc nhìn của các nhà khí hậu/khí tượng học, biến đổi khí hậu dẫn đến hệ quả là sự phân bố lại năng lượng trên toàn bộ hệ thống Trái đất, dẫn đến làm thay đổi chế độ hoàn lưu của khí quyển và đại dương và do đó, làm thay đổi cơ chế tạo ra mưa – một hiện tượng mà tự nó đã vô cùng phức tạp nay lại được biến đổi khí hậu chi phối khiến cho “thiên biến vạn hóa” theo nhiều cách khác nhau như tăng giảm lượng mưa hay thay đổi địa điểm, thời điểm phân bố… khác nhau trên những vùng địa lý khác nhau và không tuân theo nhịp điệu mùa. Chúng ta hãy thử tưởng tượng, khi mưa trở thành hiện tượng cực đoan, chỉ cần tăng về lượng là có thể gây ra lũ lụt còn nếu giảm về lượng thì dẫn đến thiếu nước. “Đến thời điểm nào đó, tự dưng mưa giảm so với điều kiện trung bình, sẽ tạo ra hiện tượng thiếu nước, tất yếu dẫn đến hạn hán (drought), tức là sự thiếu hụt nước trong một khoảng thời gian nhất định, còn khô hạn (aridity) là tình trạng ít mưa kéo kéo dài triền miên”, giáo sư Phan Văn Tân giải thích.     Nếu nhìn bề ngoài, hạn hán chỉ là chuyện thiếu hụt nước mưa nhưng trên thực tế, nó là những thang bậc khác nhau và mức độ tác động khác nhau. Ở nấc thứ nhất là hạn khí tượng – đơn thuần liên quan đến việc hụt lượng mưa so với trung bình nhiều năm, nhưng nó dẫn đến sự mất cân bằng giữa lượng nước tích lũy trong đất và nhu cầu nước của cây trồng, dẫn đến nấc thứ hai là hạn nông nghiệp. Theo hiệu ứng domino này, nếu sự thiếu hụt nước kéo dài hơn dẫn đến mực nước sông suối hạ thấp sẽ dẫn đến hạn thủy văn, và khi sự thiếu hụt mưa dẫn đến tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt thì đó là hạn kinh tế xã hội. Giáo sư Phan Văn Tân nói “Chúng tôi quan tâm đến hạn khí tượng vì nó là nguồn gốc của ba loại hạn còn lại, đặc biệt hạn kinh tế xã hội”.     Ông và các thành viên thực hiện nghiên cứu để giải đáp câu hỏi “trong tương lai, nếu nhiệt độ tăng cao và lượng mưa giảm thì liệu có hạn hán xảy ra ở Việt Nam không và nếu xảy ra thì như thế nào, ở mức độ nào so với quá khứ”? “Thực ra mưa ít hay mưa nhiều không quan trọng, quan trọng là lượng mưa ở mức độ như thế nào so với điều kiện trung bình. Nếu hụt so với điều kiện này thì ắt xảy ra hạn. Đấy là nội dung chúng tôi làm trong vòng ba năm qua”, ông nói.       Vườn cà phê hép khô ở xã Đạ Sal, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Nguồn: Báo Nhân dân.     Chạy đâu khỏi hạn hán     Hạn hán luôn khởi đầu một cách thầm lặng, “khi người ta phát hiện ra là xảy ra hạn hán thì có nghĩa là nó đã tác động thật sự đến môi trường xung quanh rồi”, giáo sư Phan Văn Tân nhận xét. Điểm phức tạp trong nghiên cứu hạn hán là không thể quan trắc được chúng.    Thông thường, để phát hiện ra bản chất và xu hướng của một hiện tượng thiên nhiên nào đó như mưa bão, lũ lụt…, các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu sự biến đổi các hiện tượng ấy trong một khoảng thời gian đủ dài và dựa vào mô hình số trị (numerical model), dữ liệu thu thập và một số bộ công cụ khác. Trong trường hợp này, để hình dung ra những bức tranh hạn hán có thể xảy ra theo từng khu vực của Việt Nam ở giữa thế kỷ và cuối thế kỷ – nói theo ngôn ngữ khí tượng/khí hậu là “dự tính dựa trên các kịch bản” – các nhà nghiên cứu đã sử dụng những công cụ đó tìm hiểu các điều kiện về hạn như sự phân bố theo không gian và thời gian và đánh giá các đặc trưng dự tính của hạn như độ kéo dài các đợt hạn, cường độ, độ khắc nghiệt, sự mở rộng về không gian của hạn, khoảng thời gian chuyển tiếp giữa hai đợt hạn theo hai kịch bản phát thải của toàn cầu là RCP4.5 (tương ứng với nhiệt độ tăng lên 1,1 đến 2,60C) và RCP8.5 (tương ứng với nhiệt độ tăng lên 2,6 đến 4,80C). “Các kịch bản phát thải theo các mô hình khí hậu toàn cầu (GCM) là dành cho toàn cầu. Ở đây, chúng tôi hạ độ phân giải xuống và chi tiết hóa cho khu vực của mình. Với độ phân giải cao hơn đó, chúng tôi mới phân tích được hạn hán của Việt Nam và Đông Nam Á”, giáo sư Phan Văn Tân giải thích.      Giáo sư Phan Văn Tân. Ảnh: Thanh Nhàn.  Một công cụ hữu dụng mà họ sử dụng là chỉ số Palmer (Palmer Drought Severity Index), vốn được phát triển riêng cho xử lý dữ liệu nhiệt độ và lượng mưa để ước tính mức độ hạn hán liên quan. Nếu không có chỉ số Palmer, dữ liệu từ các mô phỏng mô hình khí hậu vùng (RCM) được chi tiết hóa không thể trở thành “những con số biết nói” về độ khốc liệt của hạn hán và những biến thiên của nó theo không gian và thời gian.       “Không thể chắc chắn những kịch bản này có thể xảy ra hay không xảy ra trong tương lai. Thông thường, kịch bản phát thải thấp cho ta thông tin về điều mình muốn xảy ra nhưng chưa chắc đã xảy ra còn kịch bản phát thải cao cho ta thông tin về những rủi ro mà ta cần lường trước. Thông tin, dù bất định hay không bất định, cũng đáng để quan tâm bởi nó chính là gợi ý để giúp chúng ta quản lý rủi ro”. Giáo sư Phan Văn Tân      Khi có các kịch bản trong tay, họ suy nghĩ gì? Đó là những xúc cảm lẫn lộn khó tách bạch bởi hòa trộn giữa niềm vui của người làm nghiên cứu khi đón nhận kết quả sau rất nhiều ngày thu thập dữ liệu, chạy mô hình và nỗi lo của người Việt Nam trước một tương lai nhiều rủi ro. “Kết quả của chúng tôi cho thấy thời gian, mức độ nghiêm trọng và cường độ hạn hán được dự tính sẽ tăng lên ở hầu hết các tiểu vùng khí hậu của Việt Nam. Đặc biệt, hạn hán được dự báo là sẽ gay gắt hơn ở đồng bằng sông Hồng, khu vực Bắc Trung Bộ  và Nam Bộ. Quy mô không gian hạn hán được dự tính sẽ tăng vào mùa khô và cả trong các tháng chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa cũng như những tháng đầu mùa mưa. Ở nhiều khu vực, thời gian giữa các đợt hạn hán bị rút ngắn”, các nhà nghiên cứu viết trong công bố của mình.   Những thông tin rút ra từ các kịch bản dự báo không dễ bị bỏ qua. Theo đó, Việt Nam, vốn đã khắc nghiệt hơn vào mùa hè ở vài năm gần đây, sẽ ngày một nóng lên với mức nhiệt độ tăng 1,5 đến 20C trong một số kịch bản giữa thế kỷ và tăng 3 đến 40C vào cuối thế kỷ. Lượng mưa được dự báo sẽ giảm khoảng 10–20% vào giữa thế kỷ và giảm đến 30% vào cuối thế kỷ. Việc kết hợp giữa nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm tất yếu dẫn đến sự thiếu nước ở các lớp đất mặt. Đây là lý do khiến gia tăng mức độ và cường độ hạn hán, đặc biệt vào những tháng cuối mùa khô và những tháng đầu mùa mưa. “Thông thường, vào tháng nào đó ở mùa khô, việc không mưa ở một vùng dẫn đến việc lượng mưa trung bình tháng đó thấp hơn trung bình nhiều năm. Khi đó hạn sẽ xảy ra. Hạn hán trong mùa khô có tác động xấu hơn mùa mưa vì mùa khô vốn dĩ đã thiếu nước, nếu xảy ra hạn thì càng thiếu nước hơn”, giáo sư Phan Văn Tân giải thích.     Nếu hạn hán xảy ra vào mùa mưa cũng phức tạp không kém. “Về mùa mưa, cơ bản là mưa nhiều nên lượng mưa ít hơn thì người ta cũng không thấy quan trọng lắm. Nhưng về lâu dài, hạn xảy ra vào mùa mưa khiến mực nước giảm, dẫn đến lượng nước bổ cập vào nước ngầm cũng như nước tích lũy trong các hồ thủy điện sẽ giảm, nó sẽ kéo theo những hệ quả khác”, ông nói. Theo nghĩa này, biến đổi khí hậu không chỉ khiến cho mưa trong tương lai không phù hợp với xu thế cũ mà còn có thể khiến tháng nào trong năm cũng có nguy cơ hạn hán, nếu như lượng mưa rơi xuống ít hơn mức trung bình.      Do đó, nguy cơ hạn hán được dự báo có thể xuất hiện ở khắp các vùng ở Việt Nam, đáng chú ý là Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ trong mùa đông từ tháng 11 đến tháng hai vào giữa thế kỷ, theo kịch bản phát thải trung bình. Còn theo kịch bản phát thải cao, “vào giữa thế kỷ, hạn hán tăng lên trong những tháng mùa thu, mùa hè, mùa đông giảm đi và vào cuối thế kỷ, hạn hán tăng lên vào những tháng mùa xuân và mùa đông”, giáo sư Phan Văn Tân nói.    Các khu vực có nguy cơ rủi ro hạn hán này đều nằm trên lưu vực các con sông lớn như sông Hồng-Thái Bình, cụm sông Đông Nam Bộ và lưu vực sông Đồng Nai, nơi cư ngụ của gần 2/3 dân số và đóng góp đến 80% GDP của Việt Nam, theo báo cáo “Việt Nam: Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn” (Worldbank, 2019).     Thích ứng thế nào với một tương lai hạn hán?     Theo các kịch bản dự báo này, “độ dài các đợt hạn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Nam Bộ chắc chắn sẽ dài hơn vào giữa thế kỷ, còn vào cuối thế kỷ thì lượng mưa sẽ giảm nhiều hơn ở Nam Bộ. Điều đó cho thấy rủi ro hạn hán có thể gia tăng ở các vùng vốn là những vựa lúa của Việt Nam”, giáo sư Phan Văn Tân nói.     Rất nhiều hệ quả có thể sẽ tới, nếu theo các kịch bản dự tính này: các hồ chứa thủy điện có nguy cơ không tích được đủ nước (vài năm gần đây, thủy điện Hòa Bình đã phải đối mặt với bài toán này) để phát điện và cung cấp nước cho nông nghiệp (trong khi theo một số dự báo thì nhu cầu năng lượng dự kiến sẽ tăng 2,5 lần từ năm 2015 đến 2035); các mực nước trên các sông chính sẽ ngày càng thấp xuống (vốn dĩ lòng sông đã bị hạ thấp hoặc biến dạng vì nạn khai thác cát), các trạm thủy điện càng khó hút được nước; các nhà máy nước sẽ khó tìm nguồn nước mặt để cung cấp đủ nước sinh hoạt, sản xuất; việc khoan giếng tìm nước có thể sẽ càng phổ biến hơn, dẫu biết sẽ dẫn đến nguy cơ sụt lún đất; các hồ chứa, suối nhỏ sẽ trơ đáy, ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái; tình trạng xâm nhập mặn càng gia tăng ở đồng bằng ven biển (điều thường xảy ra vào mùa khô trong vài năm trở lại đây ở ĐBSCL)…  Trong khi đó, “tăng trưởng kinh tế, thay đổi mô hình tiêu dùng và áp lực gia tăng dân số sẽ tiếp tục làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước ở Việt Nam. Trong vòng 25 năm tới, nhu cầu sử dụng nước hằng ngày của dân cư ở các khu đô thị dự kiến sẽ tăng gấp đôi so với khả năng đáp ứng của hệ thống hiện tại…”, theo báo cáo của Worldbank.    Vậy có cách nào cứu vãn? “Hạn là hiện tượng tự nhiên, chúng ta không thể chống lại được. Tuy nhiên cũng có thể có nhiều cách ứng phó với hạn, giảm thiểu thiệt hại của nó”, giáo sư Phan Văn Tân cho biết.    Trên thế giới, hạn hán cũng là vấn đề đau đầu của nhiều quốc gia mà chưa có cách giải quyết ổn thỏa, ngoại trừ cắt giảm việc sử dụng nước. Tuy nhiên, việc cắt giảm nhu cầu nước sạch là điều không ai muốn. Ví dụ theo thông tin từ Santa Monica Daily Press – một nhật báo ở Santa Monica, California, ảnh hưởng của một đợt hạn hán nghiêm trọng khiến thống đốc bang Gavin Newsom yêu cầu gần 40 triệu cư dân của bang tự nguyện giảm lượng nước sử dụng xuống 15% nhưng trên thực tế thì chẳng mấy người áp dụng3. Một cách khác người ta thường nhắc đến là lọc nước biển nhưng hạn chế của nó là chi phí vẫn còn cao.     Có lẽ, cũng giống như ô nhiễm không khí, tình trạng ô nhiễm chỉ có thể cải thiện đáng kể khi chúng ta tìm ra và hạn chế được nguồn phát lớn nhất. Nếu áp dụng hướng giải quyết này thì cần giảm lượng nước sử dụng ở lĩnh vực nào đầu tiên? Theo báo cáo của Worldbank, lĩnh vực sử dụng nhiều nước nhất ở Việt Nam là nông nghiệp với 81%, tiếp đến là nuôi trồng thủy sản 11%. Với tình hình hạn hán được dự báo, liệu có thể hạn chế được việc sử dụng nước trong nông nghiệp? “Tôi nghĩ với Việt Nam, nông nghiệp là lĩnh vực đặc biệt vì nó gắn liền với sinh kế của khoảng 60% người dân, dẫu tỉ lệ đóng góp vào GDP không cao so với các ngành khác. Vì vậy giải pháp dành cho nó sẽ phải rất cẩn trọng”, giáo sư Phan Văn Tân trầm ngâm nói. “Tất nhiên, vẫn có cách thích ứng cho ngành nông nghiệp ở tầm vĩ mô như thay đổi cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu sản xuất đến tầm vi mô như phương thức canh tác, giống cây trồng…, ví dụ những giống lúa, giống đậu mới có khả năng chịu hạn tốt hơn chẳng hạn”.    Mặt khác, theo gợi ý của Worldbank thì Việt Nam cần có cách sử dụng nước hiệu quả hơn, đặc biệt trong nông nghiệp bởi “lượng nước sử dụng trong nông nghiệp theo truyền thống thường lớn và chủ yếu là tưới các cây trồng cần nhiều nước nhưng có giá trị thấp, điển hình là ngành lúa gạo mà Việt Nam đang là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới”.  ***  Việc dự tính khí hậu trong tương lai bao giờ cũng là những kịch bản giả định (và là những giả định có lý). Giáo sư Phan Văn Tân không quên nhắc đi nhắc lại điều đó “Không thể chắc chắn những kịch bản này có thể xảy ra hay không xảy ra trong tương lai. Kịch bản phát thải thấp cho ta thông tin về điều mình muốn xảy ra nhưng chưa chắc đã xảy ra còn kịch bản phát thải cao cho ta thông tin về những rủi ro mà ta cần lường trước. Thông tin, dù bất định hay không bất định, cũng đáng để quan tâm bởi nó là gợi ý để giúp chúng ta quản lý rủi ro”. Đó là lý do ông tin rằng, các nhà quản lý sẽ cần phải lưu tâm đến những thông tin mà nghiên cứu này đưa ra.     Dự báo luôn chỉ là dự báo nhưng nếu cứ giữ tinh thần “chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe” thì rất có thể khi phát hiện có hạn hán, tất cả đã quá muộn…     Có lẽ, không ai muốn bước tới một tương lai như vậy mà không kịp chuẩn bị gì.   ————-  1. https://rmets.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/joc.7150?af=R  2. https://www.smdp.com/california-backslides-on-water-conservation-amid-drought/210527  Đều xuất bản trên tạp chí International Journal of Climatology nhưng nếu “Projected evolution of drought characteristics in Vietnam based on CORDEX-SEA downscaled CMIP5 data” (Dự tính diễn biến của các đặc trưng hạn ở Việt Nam dựa trên dữ liệu chi tiết hóa của dự án CORDEX-SEA) dự tính hạn hán cho Việt Nam giữa và cuối thế kỷ 21 thì công trình xuất bản trước đó “Space–time variability of drought over Vietnam” (Sự biến thiên theo không gian – thời gian của hạn hán khắp Việt Nam) là đánh giá hạn hán giai đoạn 1980–2014. Cả hai đều là sản phẩm nghiên cứu từ đề tài “Đánh giá sự biến đổi của các đặc trưng hạn hán trên khu vực Việt Nam và Đông Nam Á” (NAFOSTED/2019) do giáo sư Phan Văn Tân chủ trì.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Việt Nam thuộc thế giới Đông Nam Á hay Đông Á?      Việt Nam hiện nay thường được công nhận về mặt chính trị và địa lý là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, từ góc nhìn lịch sử và văn hóa, không có gì rõ ràng rằng Việt Nam nằm trong khu vực “Đông Nam Á”.        (Suy nghĩ về đặc điểm khu vực của Việt Nam từ tài liệu làng xã Huế)    Trong tương quan với thế giới Đông Á và Đông Nam Á           Có thể thấy rõ thực tế này trong di sản tiếng Hán – Việt đang tồn tại trong tiếng Việt. Cho đến thế kỷ 19, việc sử dụng chữ Hán là nguyên tắc trong các tài liệu quan phương của các triều đại kế tiếp nhau Việt Nam. Còn về mặt tư tưởng, các triều đại như nhà Lê và nhà Nguyễn đã chấp nhận Nho giáo như một hệ tư tưởng quốc gia. Trong thời kỳ trung đại, các nhà nước xung quanh Trung Quốc đã ít nhiều bị ảnh hưởng và áp dụng “mô hình quốc gia kiểu Trung Quốc”, và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Do đó, theo quan điểm của “khu vực văn hóa chữ Hán – Nho giáo”, Việt Nam cũng thường được xếp vào khu vực này cùng với Trung Quốc và các nước xung quanh như Nhật Bản và Triều Tiên.    “Khu vực Đông Nam Á” và “khu vực văn hóa chữ Hán – Nho giáo” khác biệt như thế nào? Nói chung, đặc điểm của xã hội Đông Nam Á thường được mô tả bằng thuật ngữ “cấu trúc xã hội lỏng lẻo” (loosely structured social system). Thuật ngữ này đã được John F. Embree đề xuất khi so sánh xã hội Nhật Bản với Thái Lan, và nó mô tả một bối cảnh xã hội trong đó các nhóm xã hội có thành viên cố định là đóng và thưa thớt [Embree; 1950]. Thật vậy, các nhóm dân tộc chủ yếu ở Đông Nam Á có cấu trúc thân tộc song phương, và mô hình các nhóm cộng đồng làng xã đóng kín không mấy phổ biến. Có thể thấy rõ đặc điểm về cấu trúc xã hội, thân tộc thông qua ví dụ về họ ở Đông Nam Á: Người Khmer, dân tộc hệ Malay, người Myanmar, v.v. thậm chí không có khái niệm “họ” (family name); Người Thái Lan bây giờ có “họ”, nhưng thực ra là một kết quả được tạo ra vào đầu thế kỷ 20 bởi chính sách “hiện đại hóa”; “Họ” của người Philippines rõ ràng là kết quả của quá trình thực dân lâu dài  của người Tây Ban Nha. Nói chung, “họ” không phổ biến ở Đông Nam Á trước khi quá trình thực dân hóa của phương Tây bắt đầu.    Từ góc nhìn lịch sử học, Đông Nam Á được cho là có đặc điểm xã hội và văn hóa nêu trên bởi khu vực này thời kỳ tiền cận đại có mật độ dân số thấp hơn đáng kể so với các khu vực khác. Mặt khác, Đông Nam Á là một khu vực quan trọng trong giao thông hàng hải Đông-Tây, và giao thông đường thủy đã được phát triển từ sớm bằng cách sản xuất các sản phẩm nhiệt đới có giá trị. Do đó, Đông Nam Á là một khu vực có xu hướng dịch chuyển dân số cao và khó phát triển các nhóm xã hội có thành viên cố định.    Trong khi đó, ngược lại, Việt Nam có những nhóm xã hội truyền thống mạnh và chặt chẽ, đặc biệt là ở miền Bắc, như nhóm thân tộc phụ hệ được gọi “dòng họ” và nhóm cộng đồng làng xã. Chính những nhóm xã hội truyền thống này đã đóng vai trò chính trong việc duy trì các tài liệu làng xã, đồng thời phân biệt “nội” – “bên trong” và “ngoại” – “bên ngoài” mà một người “ngoài” không dễ trở thành thành viên “nội”. Như vậy, Việt Nam có nhiều đặc điểm không phù hợp với “cấu trúc xã hội lỏng lẻo” của Đông Nam Á. Điều đó giải thích tại sao các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại Nhật Bản lại tiếp cận lý thuyết “xã hội tiểu nông của Đông Á” khi phân tích xã hội Việt Nam thời tiền cận đại.       Hình 1: Bản đồ ranh giới Thanh Phước và các làng xung quanh.  Tuy nhiên, lùi xa về giai đoạn cổ đại và trung đại, có thể nhìn thấy được một khía cạnh khác của xã hội Việt Nam. Ví dụ, trường hợp Hai Bà Trưng cho thấy người Kinh không đi theo một xã hội phụ hệ ngay từ đầu. Các nghiên cứu gần đây của Momoki Shiro về thời Lý – Trần cũng chỉ ra, các vương triều thời đó đã cố gắng tạo ra một triều đại phụ hệ từ tình hình xã hội theo “kiểu Mandala” đặc trưng ở Đông Nam Á, và triều đại phụ hệ không phải là tiêu chuẩn ngay từ đầu [Momoki 2011]. Những điều này cho thấy rằng xã hội người Kinh vốn đã dần dần biến chuyển từ “cấu trúc xã hội lỏng lẻo” kiểu Đông Nam Á sang “cấu trúc xã hội đóng kín chặt” kiểu Đông Á. Tuy nhiên, ngay cả trong giai đoạn thời Lê sơ, có một số nguồn sử liệu cho thấy các đặc điểm Đông Nam Á vẫn hiện diện trong cuộc sống sinh hoạt của người dân thường. Một số ví dụ là điều khoản về thừa kế theo hướng bình đẳng giới trong Lê triều hình luật (Quốc triều hình luật). Về hiệu lực của điều khoản này, trong học giới có vài ý kiến dù chưa có kết luận thống nhất1 nhưng thông qua đó các nhà nghiên cứu đã có lý giải khác nhau về cách Nho giáo thâm nhập vào đời sống sinh hoạt của dân thường đến mức độ nào. Ví dụ, Woodside nghĩ rằng Nho giáo thâm nhập vào làng xã ở miền Bắc Việt Nam trong thời thuộc Minh (năm 1407-1427) [Woodside 1971: 25-50; 169-233]. Trong khi đó, Yu Insun cho rằng, ngay cả trong thế kỷ 17-18, Nho giáo vẫn chưa thâm nhập vào cuộc sống sinh hoạt của dân thường mà người Việt Nam vẫn giữ phong tục Đông Nam Á như kết hôn ở rể [Yu Insun 1990: 134-135].     Lịch sử một ngôi làng: Từ cấu trúc mở sang đóng     Nhìn lại những ý kiến nêu trên, tôi cho rằng mặc dù có sự đồng thuận chung về biến đổi từ xã hội kiểu Đông Nam Á sang kiểu Đông Á, nhưng lại ít ai đánh giá sự biến đổi xã hội này có tác động cụ thể như thế nào với cuộc sống sinh hoạt của cư dân làng xã, và điều đó có ý nghĩa ra sao trong quá trình hình thành văn hóa truyền thống Việt Nam. Điều này đã khiến tranh luận về sự thâm nhập Nho giáo trở nên thiếu trọng tâm. Tôi muốn phân tích về những vấn đề này thông qua thực tiễn về ở thôn Thanh Phước (xã Hương Phong, Hương Trà, Thừa Thiên Huế).2     Theo tài liệu cuối thế kỷ 18 ở Thanh Phước, một người đàn ông tên là Phan Niêm đã theo đoàn quân viễn chinh Champa của vua Lê Thánh Tông và lập làng Thanh Phước vào năm 1472. Những di dân Kinh đầu tiên dường như đã định cư ở nơi được gọi là “Phe Đông” bây giờ (khu vực màu đen trong bản đồ hình 1). Chúng ta có thể suy đoán rằng việc lập làng Thanh Phước là một phần chính sách chuyển cư người Kinh trên lãnh thổ mới. Chúng ta không rõ tình hình của làng từ khi thành lập cho đến nửa đầu thế kỷ 17 do thiếu tài liệu nhưng có thể đoán là sau khi Nguyễn Hoàng tiến xuống phía Nam, dân số xung quanh khu vực Huế ngày nay tăng lên nhanh chóng. Có lẽ, trong làng Thanh Phước, các dòng họ chủ yếu ban đầu – được gọi “họ khai canh” đã tách ra chi ngành. Từ thế kỷ 17 và trở sau, chúng ta có hiểu biết chi tiết về làng này hơn so với thời gian trước. Khoảng những năm 1660, Thanh Phước bắt đầu mở rộng ruộng đất lên phía Bắc. Kết quả này phản ánh qua ranh giới giữa Thanh Phước với làng xã xung quanh được hình thành (như tuyến xanh cây trong bản đồ hình 1), và Thanh Phước cũng bắt đầu tranh chấp ruộng đất với làng xã xung quanh. Ví dụ, Thanh Phước đã bị Tiền Thành kiện hai lần vào đầu thế kỷ 18 (Khu vực màu đỏ trong bản đồ). Có thể đoán là sự phát triển nông nghiệp đã đến tới hạn trong giai đoạn này. Tuy nhiên, dưới triều Nguyễn, từ thế kỷ 19, Thanh Phước trở thành căn cứ của thủy quân để bảo vệ thủ đô Huế và nhà nước cho xây dựng ở đây quan xưởng đóng tàu. Kết quả là, dân số của Thanh Phước gia tăng mạnh mẽ, các khu dân cư mới và nghĩa địa mới được xây dựng nhiều hơn vào nửa đầu thế kỷ 19. Bây giờ, khu dân cư mới này được gọi là “Phe Tây”. Tóm lại, với làng Thanh Phước, việc mở rộng diện tích ruộng đất đã đạt đến giới hạn vào cuối thế kỷ 17. Đến cuối thế kỷ 18, theo đinh bộ thời Tây Sơn, thành viên của Thanh Phước chủ yếu thuộc ba dòng họ là họ Phan, họ Nguyễn, và họ Lê (93%). Xu hướng này không thay đổi trong đinh bộ của năm 1890. Cả hai đinh bộ đều không có người ngoài họ khai canh đăng ký. Nhưng từ thế kỷ 19 trở đi, dân số từ bên ngoài di cư tới gia tăng mạnh mẽ.      Địa bạ năm 1669 (tài liệu cổ nhất tại Thanh Phước).  Xem xét các tài liệu của họ khai canh, chúng ta có thể nhận thấy hai biến chuyển quan trọng từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, phản ánh cách đối phó của ba dòng họ khai canh trước làn sóng nhập cư tới Thanh Phước.    Thứ nhất là biến chuyển của thực tiễn tôn giáo. Đến thế kỷ 18, nghi thức thờ cúng tổ tiên của họ khai canh đã bao gồm khá nhiều yếu tố Đạo giáo. Nhưng, việc xây dựng liên tiếp các nhà thờ họ vào nửa đầu thế kỷ 19 lại chứng tỏ từ đây trở về sau, các nghi thức thờ cúng tổ tiên của họ khai canh có ảnh hưởng của Nho giáo nhiều hơn trước.    Thứ hai là biến chuyển của việc áp dụng nguyên tắc huyết thống phụ hệ. Cho đến thế kỷ 18, những người nhập cư từ bên ngoài có thể sẽ xin nhập vào họ khai canh và được lập “phái” trong họ khai canh và nhìn chung, người ta không phân biệt nghiêm khắc giữa “họ nội” và “họ ngoài”. Nhưng từ thế kỷ 19 trở về sau, nguyên tắc huyết thống phụ hệ được áp dụng chặt chẽ hơn nhiều, người di cư mới và con cháu của họ phải kết hôn với con gái của họ khai canh liền 2-3 đời mới được cho phép nhập vào họ khai canh.    Tóm lại, do hệ quả của phát triển nông nghiệp bị trì trệ và gia tăng áp lực dân số trong làng từ thế kỷ 18, mà Thanh Phước ngày càng có xu hướng đóng cửa với người nhập cư để bảo vệ lợi ích của họ khai canh, rồi dần dần trở thành một không gian kín. Quan trọng là, quá trình “bế quan hóa” không gian làng mạc đã thực hiện thông qua tư tưởng Nho giáo dưới hình thức tăng cường nguyên tắc huyết thống phụ hệ của họ khai canh. Điều này gợi ý là việc “bế quan hóa” không gian làng do những hạn chế trong phát triển nông nghiệp và việc Nho giáo thâm nhập vào cuộc sống sinh hoạt của cư dân thường là hiện tượng xã hội bổ sung nhau. Đồng thời, tình hình nêu trên cho chúng ta biết lý do tại sao nhóm thân tộc phụ hệ có quy mô nhỏ hơn nhiều so với Trung Quốc và Hàn Quốc. Ở làng Thanh Phước những người di cư muốn trở thành thành viên của làng bắt buộc phải trở thành thành viên của một dòng họ khai canh. Điều này có nghĩa rằng họ phải đoạn tuyệt mối quan hệ với quê cũ ít nhất là về mặt hình thức. Giả sử như ở các làng người dân gốc đều tiến hành các biện pháp giống như bảo hộ quyền lợi đã có của bản thân thì chắc chắn khuynh hướng các phạm vi địa lý của các dòng họ theo đơn vị của làng sẽ mạnh lên một cách tự nhiên.    Phân tích sử liệu ở làng Thanh Phước đưa những gợi ý quan trọng để tìm hiểu biến đổi xã hội Việt Nam tiền cận đại từ xã hội cấu trúc lỏng lẻo kiểu Đông Nam Á sang xã hội tiểu nông kiểu Đông Á. Tuy theo sự lệ của Thanh Phước, các nhóm xã hội truyền thống đặc trưng bởi tư cách thành viên đóng kín, như dòng họ và nhóm cộng đồng làng, đã phát triển để bảo vệ đặc quyền của các nhóm cụ thể trong một tình huống xã hội mà phát triển kinh tế đã đạt đến giới hạn của nó và họ không mong muốn tiếp nhận những tác động di cư đến từ bên ngoài. Thời kỳ biến đổi xã hội như vậy được cho là khác nhau theo tiến trình phát triển nông nghiệp, nhưng nó được cho diễn ra vào thế kỷ 19 ở xung quanh Huế và có lẽ vào thế kỷ 17-18 ở đồng bằng sông Hồng.    Biến đổi xã hội như vậy không phải là một hiện tượng duy nhất đối với Việt Nam. Theo Miyajima Hiroshi, một sự biến đổi xã hội tương tự đã xảy ra ở Đông Á trong giải đoạn thế kỷ 16 và 17. Ông lập luận việc thành lập một “xã hội truyền thống” ở Đông Á tiền cận đại, vừa kết nối sự thâm nhập của Nho giáo (Chu tử học) với sự hình thành một xã hội tiểu nông. Trong tương lai, sẽ cần nghiên cứu biến đổi xã hội của Việt Nam tiền cận đại vừa cân nhắc tính đồng bộ với lịch sử Đông Á. Việc này đồng thời làm rõ sự hình thành đặc điểm khu vực của Việt Nam từ góc độ lịch sử.□  ———-  *Nguyên tác bằng tiếng Việt  (Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Việt Nhật – ĐHQGHN).  Trần Anh Đức hiệu đính     Chú thích  1 Ví dụ, Tuyet Nhung Tran [2006] có cái nhìn tiêu cực về quyền sở hữu của phụ nữ tiền cận đại. Mặt khác, Miyazawa [2016] có cái nhìn tích cực về quyền sở hữu của phụ nữ tiền cận đại và chỉ trích cô nghiêm khắc.  2 Về chi tiết, xin xem [Ueda 2019: 286-359].    Author                Ueda Shinya*        
__label__tiasang Việt Nam và Hàn Quốc: Những điểm gặp gỡ trong quỹ đạo lịch sử      Nhìn vào lịch sử từ thời kỳ xây dựng nhà nước độc lập tự chủ đầu tiên cho đến cận đại thì Việt Nam chia sẻ rất nhiều điểm chung về văn hóa, tư tưởng với các nước Đông Á. Phân tích của GS sử học Hồ Tài Huệ Tâm (ĐH Harvard) về đối sánh Việt Nam với Hàn Quốc dưới đây cho thấy, dù cách núi ngăn sông nhưng quỹ đạo lịch sử của hai nước có rất nhiều điểm gặp gỡ.       GS Hồ Tài Huệ Tâm. Nguồn: Báo Dân sinh.  Chữ viết  Năm 1597, khi đi sứ Trung Quốc, Phùng Khắc Khoan (1528-1613) đã có một cuộc trao đổi thơ văn với sứ thần Hàn Quốc Lý Túy Quang [Yi Su Gwang] (1563-1628). Ông viết trong một bài thơ: “Bỉ thử tuy thù sơn hải vực. Uyên nguyên đồng nhất thánh hiền thư” [tôi – ông tuy rằng sông núi khác, nguồn chung cùng một sách thánh hiền]”. Nguồn ông nói đến là Trung Quốc và sách vở thánh hiền là Nho giáo (Tống Nho).  Vào thời điểm hai sứ thần gặp nhau ở Bắc Kinh, chữ viết bản địa đã trở nên phổ biến ở cả hai nước. Ở Hàn Quốc, đó là Hangul [Hàn tự], do vua Triều Tiên Thế Tông [Sejong] (sinh năm 1397, trị vì 1418 – 1450) xây dựng vào năm 1443. Chữ Nôm ra đời ở Đại Việt có phần phức tạp hơn, bắt đầu manh nha từ thế kỷ thứ IX [thành hình vào thế kỷ XII-XIII], nhưng hoàn thiện vào thế kỷ XV, gắn với vai trò của Nguyễn Trãi (1380-1442), một học giả và nhà ngoại giao khi ông sáng tác rất nhiều thơ Nôm và đem lại nguồn cảm hứng để Lê Thánh Tông (sinh 1442, trị vì 1460-1497) và các bề tôi sáng tác bộ “Hồng Đức Quốc âm thi tập”. Do vậy ta thấy các hệ thống chữ viết dân tộc đã nổi lên cùng lúc ở cả Hàn Quốc và Việt Nam và cùng nhận được sự ủng hộ của hai vương triều.  Tuy nhiên, chữ Hán vẫn là chữ viết phổ biến thống trị ở cả hai nước. Nếu tôi có thể nhìn từ quan điểm giới, thì những chữ Quốc ngữ này thể hiện khía cạnh ẩn ngầm về văn hóa, chiều cạnh “nữ tính” – trong khi chữ Hán là biểu hiện công khai và “nam tính”. Trên thực tế, khi Sejong ban hành chỉ dụ về chữ Hangul thì đã có ghi nhận rằng “trước đó phụ nữ và tầng lớp thấp hơn đã sử dụng Hangul để viết thư từ và tiểu thuyết”. Ở Đại Việt, việc sử dụng chữ Nôm rộng rãi nhất trong thế kỷ XVIII, khi mà tỷ lệ biết chữ của nữ giới cũng là cao nhất. Chúng ta thường nhớ đến bản Nôm của “Chinh phụ ngâm khúc” chứ không phải là bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn. Mặc dù phiên bản chữ Nôm bây giờ được cho là của Phan Huy Ích, thực tế việc trong một thời gian dài nó được cho là của Đoàn Thị Điểm là một chỉ dấu cho thấy khuynh hướng chấp nhận việc nữ giới biết chữ.       Các hệ thống chữ viết dân tộc đã nổi lên cùng lúc ở cả Hàn Quốc và Việt Nam và cùng nhận được sự ủng hộ của hai vương triều. Tuy nhiên, chữ Hán vẫn là chữ viết phổ biến thống trị ở cả hai nước. Chữ Hán vẫn là ngôn ngữ viết của giới tinh hoa Hàn Quốc và Việt Nam cho đến thế kỷ XX vì đây là ngôn ngữ của hệ thống giáo dục và cụ thể hơn là các kỳ thi tuyển chọn quan lại.      Nhưng chữ Nôm, cũng như các chữ viết dân tộc vẫn bị giới hạn chỉ trong thơ và tiểu thuyết, vốn bị coi là văn chương giải trí không nghiêm túc, cho đến khi chúng được các nhà cải cách như Lương Khải Siêu cổ động vì giá trị trong xây dựng nhận thức về chủ nghĩa dân tộc (như bài viết của ông năm 1902: “Luận về quan hệ giữa tiểu thuyết với quản trị xã hội”/論小說與群治之關係). Chữ Hán vẫn là ngôn ngữ viết của giới tinh hoa Hàn Quốc và Việt Nam cho đến thế kỷ XX vì đây là ngôn ngữ của hệ thống giáo dục và cụ thể hơn là các kỳ thi tuyển chọn quan lại. Các kỳ thi này đã tồn tại cho đến khi bị bãi bỏ vào năm 1894 tại Hàn Quốc, ở Trung Quốc gần một thập kỷ sau, trong khi duy trì ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam cho tới năm 1915.   Làm thế nào ta có thể đánh giá được vai trò của Triều Tiên Thế Tông và Lê Thánh Tông trong việc thúc đẩy việc sử dụng cả chữ viết dân tộc lẫn chữ Hán? Tôi cho rằng vì cả hai loại văn tự này đều hữu ích cho dự án vương triều nhằm củng cố mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa một bên là nhà nước với xã hội và một bên là giữa chính quyền với bộ máy quan lại. Nhiều khả năng, ở mỗi vương quốc, thông tin phải được truyền đi qua vai trò của giới tinh hoa được giáo dục hoàn toàn bằng chữ Hán – cùng tư tưởng Nho giáo, khiến cho tầng lớp này đóng vai trò như cầu nối giữa nhà nước và dân chúng trong các liên kết xã hội theo chiều dọc, thay vì là chiều ngang. Một phần nguyên nhân đến từ việc sự nổi lên của chữ viết dân tộc tại Hàn Quốc và Việt Nam đã không đi kèm với sự phát triển của xuất bản quy mô lớn.   Cũng chính giới tinh hoa đóng vai trò kết dính xã hội Hàn Quốc và Việt Nam. Là tầng lớp xã hội đạt tầm nhà nước thực sự và duy nhất, giới tinh hoa được rèn nên bởi một hệ thống giáo dục với một hệ giá trị chung. Được cắt đặt để làm việc ở xa bản quán, các vị quan kiêm học giả thay mặt cho vương quyền duy trì vương quốc, thực hiện các chính sách của nhà nước ở tầm địa phương. Những chính sách này không chỉ liên quan đến vấn đề quản trị mà còn liên quan đến văn hóa, đặc biệt là các giá trị Tống Nho nhằm chi phối hành vi của tất cả mọi người, từ người cai trị đến nông dân. Bộ luật Hồng Đức năm 1483 là sự kết hợp của các quy tắc và luật hành chính nhằm điều chỉnh hành vi hàng ngày theo nguyên tắc Nho giáo. Tại Hàn Quốc, Bộ luật Gyeongguk daejeon [Kinh Quốc Đại điển] ban hành hai năm sau đó vào năm 1485 cũng quy định về gia đình và thực hành lễ nghi tương tự.  Không chỉ mang tính cách quốc gia (hoặc tiền-quốc gia), giới tinh hoa Đông Á còn mang tính cách liên quốc gia. Dù không nói cùng ngôn ngữ, họ viết cùng một loại văn tự – một sự chia sẻ vốn dần mất đi theo sau sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc ở thời cận đại. Đó chính là điều mà Phùng Khắc Khoan và Lý Túy Quang đã cùng ca ngợi vào cuối thế kỷ XVI.  Nho giáo  Như tôi đã viết, cả Lê Thánh Tông và Sejong đều có ảnh hưởng tới sự phát triển của Tống Nho tại Triều Tiên và Đại Việt. Trước tiên, hãy cùng nhìn lại lịch sử một cách khái lược. Mặc dù tách biệt về mặt địa lý, nhưng quỹ đạo lịch sử của Hàn Quốc và Đại Việt trong lịch sử trung đại và cận hiện đại có những điểm tương đồng ấn tượng. Vương triều Goryeo [Cao Ly] được thành lập vào năm 918, sau khi triều đại nhà Đường kết thúc vào năm 907. Đây cũng là lúc người Việt Nam tìm cách thoát khỏi ách Bắc Thuộc, và mất vài thập kỷ để ổn định với sự thành lập triều đại Lý vào năm 1009. Triều đại đó đã được nhà Trần tiếp tục nắm quyền cho đến năm 1400, trong khi Vương triều Goryeo bị nhà Choson [Triều Tiên] phế truất vào năm 1392.    Trích tranh “Văn quan vinh quy đồ” (đền Độc Lôi, Nghệ An) hiện trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.   Dưới thời nhà Đường, tôn giáo chủ yếu ở Hàn Quốc, Việt Nam cũng như Trung Hoa là Phật giáo. Phật giáo đến Giao Chỉ đầu tiên dưới thời cai trị của Sĩ Nhiếp. Nhà sư Khương Tăng Hội (mất năm 280 SCN) sinh ở Luy Lâu được cho là người đầu tiên truyền bá giáo lý Phật giáo vào Trung Quốc. Phật giáo sau đó đến Hàn Quốc vào năm 338 SCN, hơn một thế kỷ sau khi xuất hiện ở Giao Chỉ.  Bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII, các nhà Nho tại Trung Quốc nỗ lực tái khẳng định uy quyền của mình – đầu tiên là với Hàn Dũ (năm 715) và sau đó là một loạt các biện pháp trấn áp Phật giáo trong thế kỷ tiếp theo. Đến thế kỷ XI, Tam giáo kết hợp các yếu tố của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo đã chiếm ưu thế ở Trung Quốc và đã mở đường cho tư tưởng Tân Nho giáo – còn gọi là Tống Nho.   Các biện pháp trấn áp Phật giáo ở Trung Quốc đã có tác dụng đẩy nhiều nhà sư đến Việt Nam, do đó dưới triều đại Lý và Trần (1009-1400), Phật giáo duy trì vị thế quốc giáo. Nhưng cũng vào năm 1070, đền thờ Khổng Tử được xây dựng ở Thăng Long, nối tiếp bởi việc thành lập Quốc Tử Giám. Ở Hàn Quốc, dưới triều đại Cao Ly (918-1392), hệ thống khoa cử được thiết lập ra dưới thời vua Gwangong [Cao Tông] (949-975) và trường Gukjagam được thành lập dưới triều vua Seongjong [Thành Tông] (1083-1094), do đó gần như song song với sự phát triển ở Việt Nam. Nhưng từ đây, lịch sử hai vương quốc bắt đầu có những dị biệt.  Năm 1392, triều Goryeo bị thay thế bởi nhà Choson. Triều đại mới được thành lập bởi các thành phần thân Minh trong khi phái đối nghịch lại ủng hộ duy trì liên kết với nhà Nguyên. Tại Việt Nam, nhà Trần dù đánh thắng ba cuộc xâm lược của nhà Nguyên vào thế kỷ thứ XIII, sau đó đã bị suy yếu nghiêm trọng [vào cuối thế kỷ XIV]. Hồ Quý Ly đã phế truất các vua Trần vào năm 1400, tạo tiền đề khiến Đại Việt bị nhà Minh xâm lược và chiếm đóng từ năm 1407 đến 1428. Do đó, khác với nhà Triều Tiên, nhà Lê ra đời với cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của Lê Lợi.  Tuy nhiên, nhiều điểm tương đồng thú vị có thể rút ra từ sự nghiệp của vua Triều Tiên Thế Tông [Sejong] (sinh năm 1398, trị vì 1418-1450) và của Lê Thánh Tông (sinh năm 1442, trị vì 1460-1497). Cùng là hai nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong thời đại này, họ đã trị vì trong một thời gian dài: Sejong 32 năm, Lê Thánh Tông 37 năm. Sejong lên ngôi vương vào năm 1418 ở tuổi 22, khi triều đại vẫn còn non trẻ. Trong 32 năm trị vì của mình, ông đã củng cố quyền lực nhà nước bằng cách đưa Tống Nho thành hệ tư tưởng chính thống. Cụ thể, ông tiếp thu ảnh hưởng của các nguyên tắc Tống Nho về nhân nghĩa, theo đuổi tri thức và cải thiện xã hội. Lê Thánh Tông thậm chí còn trẻ hơn Sejong khi ông lên ngôi hoàng đế (17 tuổi). Ông cũng nắm quyền trong hoàn cảnh bấp bênh hơn nhiều: khác với triều Choson, 20 năm cai trị kéo dài của nhà Minh đã phá hủy mọi tài liệu dùng làm cơ sở để một triều đại ngoại tộc mới lên như triều Lê có thể cai trị đất nước. Hệ quả ngược kéo theo là sau khi giành được sự ổn định, triều Lê Thánh Tông lại trở nên phụ thuộc hơn bao giờ hết vào mô hình Trung Hoa.   Mặt khác, Lê Thánh Tông cũng phải trung hòa giữa quyền lợi của giới quân sự muốn có quyền lợi cát cứ với một triều đình trung ương tập quyền và thống nhất. Mặt khác, sau khi tiến đánh Champa và thâu nạp thêm lãnh thổ mới vào đế chế của mình, ông cần xây dựng một bộ máy hành chính hiệu quả. Bộ luật Hồng Đức không chỉ cung cấp một kế hoạch chi tiết về cách thức quản trị, nó còn có các hướng dẫn chi tiết về ứng xử hằng ngày trong xã hội. Những chỉ dẫn này nhằm vào cả người Việt và nhóm người Champa mới bị khuất phục.    Trích tranh “Hưởng Yến đồ” mô tả tiệc mừng Quan Giám ty đạo Bình An trên sông Taedong (Bình Nhưỡng ngày nay). Tranh Kim Hongdo (khoảng 1745-1806). Nguồn tranh: Bảo tàng Lịch sử Hàn Quốc.   Ta thấy, cả Sejong và Lê Thánh Tông đều sử dụng các nguyên tắc chính trị của Nho giáo và dựa vào hệ thống tuyển chọn quan lại làm phương thức để đảm bảo vận hành bộ máy. Điều này củng cố tầm quan trọng của tầng lớp trí thức, được gọi là Yangban [lưỡng ban] ở Hàn Quốc và Sĩ phu ở Việt Nam.  Tân Nho giáo  Chúng ta cũng cần tránh đẩy đối sánh lịch sử đi quá xa. Lịch sử của Triều Tiên và Việt Nam cũng đi theo những quỹ đạo khác nhau vốn cũng ảnh hưởng lên sự phát triển Nho giáo của cả hai nước. Do đó tôi muốn đề cập tới một số khác biệt cơ bản giữa Nho giáo Hàn Quốc và Việt Nam.  Đến năm 1597, Tống Nho đã là hệ tư tưởng chính thống tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Đại Việt. Thế nhưng ở mỗi nước nó lại có những đặc điểm khác nhau. Keith Taylor đã lập luận rằng nửa phía Bắc của Việt Nam, được gọi là Bắc Hà hoặc Đàng Ngoài nên được coi là một phần của Đông Á, trong khi nửa phía Nam, gọi là Đàng Trong hay Nam Hà thuộc về thế giới Đông Nam Á. Vũ Đức Liêm cho rằng miền Nam Việt Nam đúng hơn là một “vùng xám” vì nơi đây không chỉ là một khu vực gặp gỡ giữa văn minh Trung Hoa với Đông Nam Á mà còn là nơi văn hóa xã hội được định hình bởi nhiều ảnh hưởng đa dạng.  Có lẽ vì vậy, việc so sánh giữa Nho giáo Việt Nam và Hàn Quốc nên được giới hạn ở miền Bắc Việt Nam.   Ngoài vấn đề giới hạn, có một số yếu tố khác biệt nữa. Hàn Quốc được hưởng nhiều thế kỷ ổn định suốt từ 1392 đến năm 1910. Điều này đã hạn chế vai trò của giới quân sự và cho phép nhà nước bổ sung quan lại thông qua khoa cử mà không bị gián đoạn. Qua đó, chúng củng cố vị trí của Yangban cũng như của tư tưởng Tống Nho. Ngược lại, giới Sĩ phu ở miền Bắc Việt Nam nhỏ hơn, lại thường bị thu hẹp ảnh hưởng do các cuộc nổi loạn và chiến tranh liên tục.   Trên thực tế, từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, Đại Việt luôn ở thế giằng co giữa các cuộc nổi loạn và sau đó là chiến tranh giữa các lực lượng Trịnh-Lê, Nguyễn và nhà Mạc. Dù Việt Nam sản sinh ra một số học giả lừng lẫy như Lê Quý Đôn, những dòng dõi tinh hoa truyền đời lại rất ít và thường bị cuốn vào tình trạng hỗn loạn của thời đại. Chúng ta không thấy sự xuất hiện của các trường phái Nho học khác nhau như phái Vương Dương Minh (1472-1529), phong trào Đông Lâm thời Minh hay tư tưởng Silhak [Thực học] ở Hàn Quốc cùng thời kỳ. Nếu như từ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, các chúa Trịnh đã có thể tự duy trì quyền lực ở Đàng Ngoài thì vào những năm 1770, đất nước lại bị tàn phá bởi nội loạn. Bắt đầu ở phía Nam, phong trào Tây Sơn lan rộng lên phía Bắc và chấm dứt chế độ chúa Trịnh. Các cuộc xung đột làm chia rẽ giới sĩ phu đồng bằng, và những ảnh hưởng còn lại tiếp tục bị suy giảm khi kinh đô chuyển từ Thăng Long vào Huế dưới triều Nguyễn.      Hàn Quốc được hưởng nhiều thế kỷ ổn định suốt từ 1392 đến năm 1910. Điều này đã hạn chế vai trò của giới quân sự và cho phép nhà nước bổ sung quan lại thông qua khoa cử mà không bị gián đoạn. Qua đó, chúng củng cố vị trí của Yangban cũng như của tư tưởng Tống Nho. Ngược lại, giới Sĩ phu ở miền Bắc Việt Nam nhỏ hơn, lại thường bị thu hẹp ảnh hưởng do các cuộc nổi loạn và chiến tranh liên tục.      Ưu tiên hàng đầu của nhà Nguyễn sau khi thống nhất đất nước là khôi phục sản xuất nông nghiệp ở phía Bắc, nơi diễn ra hầu hết các cuộc giao tranh. Ngoài ra, nhu cầu nhân viên cho một bộ máy hành chính mở rộng đã thu hút hầu hết những người có học thức. Không còn không gian xã hội cho các học giả độc lập như Cao Bá Quát hay cho các cộng đồng trí thức đa dạng phát triển.  Ngược lại, tầng lớp Yangban Hàn Quốc có không gian phát triển lớn hơn, không chỉ nhờ ổn định chính trị mà còn do tiềm lực kinh tế, đặc biệt nhờ thiết chế nô tì. Xã hội Đại Việt cũng từng có nô tì, chẳng hạn, Hoàng đế Lê Thánh Tông mang về những nô lệ người Chăm từ các cuộc chiến năm 1471; nhưng họ bị giới hạn trong những ngôi làng riêng biệt và không làm lao dịch cho các gia đình sĩ phu. Trong khi đó, chế độ nô tì cho phép Yangban tự duy trì kinh tế và do đó mang lại cho con cháu họ giáo dục tốt nhất. Lý Túy Quang có dòng dõi quý tộc trong khi Phùng Khắc Khoan chỉ có một nền tảng khiêm tốn hơn nhiều. Sự ổn định kinh tế và chính trị cũng cho phép Yangban tạo ra các trường phái Nho học cạnh tranh.  Có những khác biệt lớn đáng chú ý khác trong cấu trúc xã hội tương ứng của hai vương quốc. Ở Hàn Quốc, có bốn tầng lớp: quý tộc Yangban có địa vị cai trị dù chiếm 10% dân số; Chungin [Trung nhân] bao gồm một nhóm nhỏ các quan chức thấp và người có chuyên môn hành chính và kỹ thuật; Tsangmin [Thường dân] là nông dân, người lao động, ngư dân, một số thợ thủ công và thương nhân; và Cheonmin [Tiện dân] là những người bị ruồng bỏ ở dưới đáy. Nô tì có địa vị thấp kém nhất.  Dù Việt Nam cũng phân chia theo các nhóm: sĩ, nông, công, thương – thực tế chỉ hai giai cấp tồn tại mà thôi: văn thân và nông dân. Ngoại trừ một vài làng nghề truyền thống, phần lớn các nghề thủ công chỉ là công việc phụ; thương nghiệp thường chỉ có quy mô nhỏ, đảm nhiệm bởi nữ giới vốn bị giới hạn bởi nguồn lực ít ỏi và thiếu khả năng di động; thương mại quy mô lớn hơn thường được thương nhân người Hoa hoặc phương Tây nắm. Việt Nam cũng như Hàn Quốc, cũng có lớp người bị khinh rẻ nhưng họ không được coi là một nhóm xã hội riêng biệt; trong khi nô lệ chỉ đến từ tù nhân chiến tranh.   Xét trên các điểm nhìn khác nhau về cấu trúc xã hội của hai quốc gia, sẽ rất thú vị khi ta tìm hiểu vai trò của các tầng lớp hoặc nhóm khác nhau và tại sao cách dán nhãn giai cấp xã hội từ Nho giáo lại không có ý nghĩa với các nhóm hay tầng lớp đó. □  (Còn tiếp)  Thu Quỳnh – Tuấn Quang dịch    Author                Hồ Tài Huệ Tâm        
__label__tiasang Việt Nam và Hàn Quốc: Những điểm gặp gỡ trong quỹ đạo lịch sử (kỳ 2)      Những hoàn cảnh xoay quanh cuộc gặp gỡ giữa Phùng Khắc Khoan (1528-1613) và Lý Túy Quang [Yi Su Gwang] (1563–1628), hai sứ thần trong phái bộ Đại Việt và Triều Tiên [Choson] đến triều cống Bắc Kinh thực sự đáng được tìm hiểu.      Sứ thần Đại Việt (mãng bào trắng) và sứ thần Triều Tiên (bên phải ảnh) trong họa phẩm “Vạn quốc lai triều đồ” (1761) thời Thanh. Nguồn: Sina.  Hệ thống triều cống      Hệ thống triều cống mà chúng ta biết đến nhiều nhất được thiết lập dưới thời Minh Thái Tổ vào năm 1368. Khi đó, sứ giả được cử đến các nước như Triều Tiên, Việt Nam, Champa và Nhật Bản – và tất cả các nước này trừ Nhật Bản đã gửi lại triều cống vào năm 1369. Đây cũng chính là dịp Đại Việt được công nhận là một “Văn hiến chi bang”. Trong suốt triều Minh Thái Tổ (từ 1368 đến 1398), Champa đã gửi 19 đoàn sứ, Đại Việt 14 đoàn, Lưu Cầu 20 đoàn và Triều Tiên 20 đoàn. Năm 1400, hai năm sau khi Minh Thái Tổ băng hà, Triều Tiên được phép sang cống từ ba năm một lần lên đến một năm ba lần; và kể từ năm 1531 là một năm bốn lần. Trong khi đó, kể từ 1369 Đại Việt được triều cống ba năm một lần – chu kỳ này về cơ bản được duy trì ngoại trừ một số giai đoạn bất ổn.    Trong khi các sứ bộ của Triều Tiên chỉ phải vượt 950km để đến Bắc Kinh, khoảng cách từ Thăng Long đến Bắc Kinh là gần 2330 km. Do đó, vấn đề quan hệ giữa Trung Quốc và Đại Việt thường được giao cho Tổng đốc Lưỡng Quảng xử lý. Kể cả như vậy thì tình hình chính trị nội bộ vẫn thường làm gián đoạn hoạt động triều cống qua biên giới. Chẳng hạn, sau khi Mạc Đăng Dung giành quyền lực từ nhà Lê sơ vào năm 1527, ông đã tìm kiếm sự công nhận của nhà Minh nhưng chỉ được phong làm An Nam Đô Thống Sứ sau khi ông cắt nộp các phần đất tranh chấp cho Trung Quốc. Thế nhưng vào thời điểm được sắc phong, ông đang hấp hối và không thể nhận ấn tín. Những người kế vị của ông cũng bị từ chối sắc phong vì họ không thể đến cửa khẩu tại Lạng Sơn. Cuối cùng, vào năm 1581 khi một sứ thần triều Minh mang về cống phẩm của con trai và người kế vị Mạc Phúc Nguyên là Mạc Hậu Hợp (1560-1592), Hoàng đế Vạn Lịch [Minh Thần Tông] xuống chiếu phong ông làm An Nam Đô Thống Sứ bất chấp việc ông không đến cửa khẩu.    Cho đến thế kỷ XIX, cả người Việt và người Triều Tiên đều phê phán nhà Thanh. Dù ta không rõ liệu đó là do sự phân biệt sắc tộc này hay bởi vì cả Triều Tiên và Việt Nam đều tự hào rằng họ giữ gìn truyền thống Nho giáo tốt hơn người Mãn. Nhưng rồi Triều Tiên và Việt Nam lại thất bại trong việc chuẩn bị trước các cuộc xâm lược của Đế quốc Nhật Bản và Pháp, mà qua đó đã chấm dứt chế độ triều cống tồn tại hàng thế kỷ.    Mạc Hậu Hợp cũng là vua Mạc cuối cùng. Năm 1592, nhà Mạc bị đẩy ra khỏi Thăng Long và triều Lê được tái lập, cho dù giờ trở thành bù nhìn của Chúa Trịnh. Sứ bộ của Phùng Khắc Khoan là sứ bộ đầu tiên của triều Lê Trung Hưng đã phải trực tiếp đến Bắc Kinh nối lại quan hệ triều cống và giải quyết vấn đề địa vị của tàn dư họ Mạc vẫn còn cát cứ ở biên giới Cao Bằng. Ông chỉ thành công một phần: Vạn Lịch chỉ chấp nhận phong cho vua Lê làm An Nam Đô Thống Sứ chứ không phải An Nam Quốc Vương. Khi Phùng Khắc Khoan phản đối, vua Minh nói rằng đây chỉ là một biện pháp tạm thời xem xét đến tình hình bất ổn chính trị kéo dài của đất nước.  Nhiệm vụ của Lý Túy Quang cũng rất nặng nề. Năm 1592, Toyotomi Hideyoshi đã mở đầu cuộc xâm lược Triều Tiên, và Triều Tiên khi đó đã suy yếu sau nhiều năm ổn định đã chỉ có thể kìm chân quân đội Nhật Bản với sự hỗ trợ của nhà Minh. Sau vài năm hòa đàm cầm chừng, đến năm 1597, Hideyoshi phát động một cuộc xâm lược mới – hay còn gọi là cuộc Chiến tranh Imjin lần thứ hai. Đây chính bối cảnh cho sứ bộ Lý Túy Quang đến Bắc Kinh.    Cũng rất thú vị nếu ta so sánh những gì hai người đã mang về trong thời gian đi sứ. Lý Túy Quang chỉ mới 29 tuổi khi lần đầu tiên đến Trung Quốc; sau đó, ông đi thêm hai lần nữa. Trong một chuyến đi, ông đã gặp linh mục Matteo Ricci (1552-1610) và được Ricci tặng cuốn “Thiên Chúa thực nghĩa” [Ý nghĩa thực của Thiên Chúa]. Ý tưởng của Ricci về sự kết hợp giữa Kitô giáo và Nho giáo ảnh hưởng lớn đến họ Lý – một số sách phương Tây Ricci tặng sau này được ông đưa vào bộ bách khoa toàn thư 20 tập của mình – “Jibong yuseol” [Chi Phong loại thuyết].1   “Thiên Chúa thực nghĩa” cũng là tên cuốn sách mà 2 giáo sĩ Dòng Tên khác là Girolamo Maiorica và Bernardino Reggio tìm cách truyền bá tại Thăng Long khi họ mở một nhà in, bị buộc phải đóng cửa chỉ sau vài tháng năm 1630.2 Những thương nhân Bồ Đào Nha đã đến Việt Nam từ những năm 1550 và ta cũng biết các cộng đồng đạo Kitô đầu tiên được biết đến xuất hiện ở Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVI.3 Dù không rõ một sĩ phu Đàng Ngoài như Phùng Khắc Khoan có biết gì về Kitô giáo không, ông đã 64 tuổi ở thời điểm đến Bắc Kinh và hiển nhiên sẽ ít quan tâm đến tri ​​thức mới kia. Tuy vậy, ông đã mang về từ Trung Quốc kiến ​​thức thực tiễn về nghề dệt lụa, trồng ngô và vừng, cùng các giống lúa mới. Phần lớn di cảo của ông đã không còn đến ngày nay; nếu như Lý Túy Quang để lại những quan sát về Đại Việt, chúng ta không thể biết Phùng Khắc Khoan nghĩ gì về Triều Tiên hay đã báo cáo gì với triều đình Lê-Trịnh.     Đối diện với chủ nghĩa thực dân     Với bối cảnh khác nhau, Triều Tiên và Đại Việt đã có những phản ứng trái ngược trước sự sụp đổ của nhà Minh. Vương triều Choson kiên quyết duy trì sự trung thành với triều đại vốn đã giúp họ đánh bại Hideyoshi cách đây vài thập kỷ, vừa xung đột dai dẳng với tộc Nữ Chân [Jurchen] ở Mãn Châu, đặc biệt từ những năm 1620. Người Việt vì đã chịu đựng 20 năm xâm lược của nhà Minh trong thế kỷ XV, không có nợ ân nghĩa như vậy. Vì lý do thực dụng mà triều đình Đại Việt đã từ chối ủng hộ tàn quân nhà Nam Minh rút chạy về Vân Nam và Miến Điện vì sợ họ có thể tràn vào trong nước.      Chân dung Phùng Khắc Khoan (1528-1613) thờ tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.  Sự trung thành bền bỉ của Triều Tiên với nhà Minh có thể giải thích cho phản ứng của sứ bộ Triều Tiên với sứ bộ triều Tây Sơn tại lễ mừng bát tuần khánh thọ của vua Thanh Càn Long năm 1790.    Như ta đã biết, quân Tây Sơn trong chiến dịch Xuân Kỷ Dậu 1789 đã giáng một thất bại nặng nề cho quân Thanh tiến vào Đàng Ngoài để hỗ trợ cho Lê Chiêu Thống. Và sau khi Nguyễn Huệ xưng đế năm 1788, ông đã phái một sứ bộ do người cháu Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu sang nhà Thanh cầu phong. Sứ mệnh thành công và ông được phong làm An Nam Quốc vương. Đến khi tất cả các nước chư hầu cử sứ bộ sang mừng lễ bát tuần khánh thọ của Càn Long, phái đoàn Đại Việt, thay vì chỉ đưa một sứ thần sang dự, lại được dẫn đầu bởi một quân vương, được ghi trong các tài liệu là “Nguyễn Quang Bình”. Tôi sẽ không tham gia vào các cuộc tranh luận về việc liệu người này có phải là Nguyễn Huệ hay không, điều quan trọng là mọi người tham dự khi đó đều tin đó là Nguyễn Huệ.    Ta hãy đọc một đoạn trích do Từ Hạo Tu [Seo Hosu] (1736-1799), sứ thần Triều Tiên ghi lại cuộc gặp gỡ với vị quốc vương An Nam: “Quốc vương Nguyễn Quang Bình hỏi chánh sứ: ‘Quý quốc có lệ đích thân nhà vua sang chầu Thiên tử hay không?’. Chánh sứ đáp: ‘Đông quốc4 chúng tôi từ khi mở nước đến nay không có lệ đó’. Vua nước kia nói: ‘Nước An Nam từ xưa đến nay cũng không có lệ này. Thế nhưng quả nhân vì ơn lớn như trời cao đất dày của Hoàng thượng nên mới thành kính mà qua chiêm cận là việc xưa nay chưa từng có. Vượt đường sá xa xôi hiểm trở hơn vạn dặm, việc phi thường lẽ nào không báo đáp bằng việc chẳng bình thường’.”    Từ Hạo Tu, sứ thần đại diện cho một vương triều cai trị không gián đoạn suốt từ năm 1392, lên án Nguyễn Quang Bình [Nguyễn Huệ] vì tội “bỏ nghĩa quân-thần5”. Ông viết: “Vì họ Lê hèn yếu nên [Quang Bình] tụ tập dân chúng nổi lên công hãm kinh đô, lại giết vua rồi soán vị”.   Niềm tin của Từ Hạo Tu vào tính không chính danh của nhà Tây Sơn còn được thể hiện trong cách ông mô tả trang phục của sứ bộ. Họ Từ cũng như các thành viên khác của sứ bộ Triều Tiên bày tỏ sự không hài lòng với việc vua và sứ thần Đại Việt chấp thuận mặc trang phục Mãn Thanh, như lời chất vấn của Từ Hạo Tu với Phan Huy Ích: “Tôi hỏi: ‘Từng nghe An Nam sứ thần búi tóc thả ra phía sau, đội mũ sa đen, mặc hồng bào áo thụng, cài trâm đồi mồi vàng, chân đi giày da đen giống như quan phục chúng tôi. Nay thấy quý quốc lại mặc y phục Mãn Châu, lại không bịt đầu, vậy là thế nào? Quan phục quý quốc vốn giống Mãn Châu hay sao?’” Câu trả lời của Phan Huy Ích, theo họ Từ: “Lời nói có chừng lúng túng, vẻ mặt ngượng ngập.”6 Bất chấp sự thất vọng này, các bài thơ của sứ thần Đại Việt như Phan Huy Ích (1751-1822) hay Vũ Huy Tấn (1749-1800) vẫn tiếp tục nhấn mạnh vào sự tương đồng về áo mũ và nghi lễ văn hóa giữa hai nước.       Bài thơ “Đáp Triều Tiên quốc sứ Lý Tuý Quang” của Phùng Khắc Khoan chép trong tập “Hoàng Việt thi tuyển” do Bùi Huy Bích biên soạn. Bản in của nhà Hi Văn Đường, 1825, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam mã R.969. Nguồn: Thư viện số Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm.  Như Phan Huy Ích đã viết: “Đồng phong thiên cổ y quan chế/ Kỳ ngộ liên triều chỉ chưởng đàm/ Tao nhã nghĩ truy Phùng Lý cựu/ Giao tình thắng tự ẩm thuần cam [Nguyễn Duy Chính dịch nghĩa: ‘Áo mũ quan lại đều theo lối từ nghìn xưa/ Cuộc kỳ ngộ cùng một triều, nói chuyện bằng cách viết chữ bằng ngón tay lên lòng bàn tay/ Đối với nhau tao nhã như họ Phùng gặp họ Lý khi trước/ Giao tình còn hơn cả uống rượu ngọt]7‘”. (Ghi chép của Từ Hạo Tu)    Cho đến thế kỷ XIX, cả người Việt và người Triều Tiên đều phê phán nhà Thanh. Dù ta không rõ liệu đó là do sự phân biệt sắc tộc này hay bởi vì cả Triều Tiên và Việt Nam đều tự hào rằng họ giữ gìn truyền thống Nho giáo tốt hơn người Mãn.     Nhưng rồi Triều Tiên và Việt Nam lại thất bại trong việc chuẩn bị trước các cuộc xâm lược của Đế quốc Nhật Bản và Pháp, mà qua đó đã chấm dứt chế độ triều cống tồn tại hàng thế kỷ. Trung Quốc đã cố gắng giới hạn hoặc ngăn cản một cách muộn màng các bước tiến thực dân vào hai nước chư hầu, nhưng trong cả hai trường hợp, các nỗ lực này đều kết thúc trong thảm họa. Chiến tranh Pháp – Thanh 1882 kết thúc với việc Pháp đưa Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào chế độ bảo hộ năm 1885; trong khi Chiến tranh Trung – Nhật 1895 kết thúc với Hòa ước Shimonoseki chấm dứt quyền tôn chủ của nhà Thanh với Lưu Cầu, Đài Loan và Triều Tiên.        Người Đại Việt và Triều Tiên trong “Hoàng Thanh chức cống đồ” (1750) họa phẩm thời Càn Long. Nguồn: Sina.    Trước thất bại này, cả vương triều Choson cũng như triều Nguyễn đều hứng chịu sự chỉ trích giống nhau. Những chỉ trích vẫn được tiếp tục đến ngày nay đều cho rằng hai vương triều đã cố gắng duy trì hệ tư tưởng Nho giáo đã quá lạc hậu.   ***  Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng một câu chuyện riêng tư. Dì tôi, Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, sinh ra ở Nam Kỳ, nơi chế độ thuộc địa Pháp từ những năm 1860 đã giúp chữ Quốc ngữ bắt rễ chắc chắn từ đầu thế kỷ XX. Nhưng vào năm 1927, dì đi đến Quảng Châu năm 1927 để tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội do Nguyễn Ái Quốc đã thành lập trước đó hai năm. Khi đến nơi, bà đã có một cuộc gặp gỡ tình cờ với các nhà hoạt động chống thực dân từ Hàn Quốc. Vì chỉ được giáo dục bằng Quốc ngữ, dì không thể nói chuyện với họ. Thế nhưng, hai thanh niên trong nhóm biết chữ Hán và ngay lập tức hai nhóm đã có thể bút đàm giống hệt như cách Phùng Khắc Khoan và Lý Toái Quang đã từng làm vào năm 1592.    Nếu như kỹ thuật in khắc gỗ dưới thời Đường là phương tiện giúp cho Phật giáo truyền bá được tới quần chúng khi đó phần đa là mù chữ; thì trong thời đại ngày nay, ngôn ngữ hình ảnh của phim ảnh, truyền hình, trò chơi video và internet kết nối mọi người kể cả khi họ không nói cùng ngôn ngữ, hay viết cùng văn tự. Thông qua truyền hình và internet, văn hóa đại chúng Hàn Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa đại chúng Việt Nam. Các sản phẩm văn hóa này không chỉ nhấn vào các vấn đề phổ biến trong các xã hội còn đậm di sản đạo đức Nho giáo, từ các mối quan hệ gia đình đến quan hệ giữa các ông chủ và nhân viên, mà còn cung cấp các mẹo trang trí nhà cửa và thời trang phù hợp cho tầng lớp trung lưu đang phát triển. Người dân Hàn Quốc và Việt Nam không còn phải đến Trung Quốc để gặp gỡ; họ đã có thể kết nối qua thế giới ảo. Tuy vậy, việc kết nối trực tiếp và tham gia trao đổi thông tin và quan điểm, hầu hướng đến mục tiêu chung là kiếm tìm tri thức, đến nay vẫn tỏ ra cực kỳ quan trọng. □  Giới sĩ phu cả Việt Nam và Triều Tiên đều có truyền thống học hỏi lẫn nhau qua sách vở chữ Hán, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi người Triều Tiên muốn học hỏi từ kinh nghiệm của Việt Nam khi đối diện với chủ nghĩa thực dân. Vào năm 1905, một nhà nho cấp tiến Việt Nam là Phan Bội Châu (1867-1940) gặp nhà cải cách Trung Quốc Lương Khải Siêu (1873-1929) tại Nhật Bản. Nhờ cảm hứng từ cuộc gặp này, Phan Bội Châu đã viết tác phẩm nổi tiếng của ông: “Việt Nam vong quốc sử”.8 Lương đã viết lời tựa cho cuốn sách và tổ chức in ấn và xuất bản (tại Thượng Hải). Ngay lập tức “Việt Nam vong quốc sử” được phổ biến rộng rãi tại Triều Tiên, khi mà năm 1905 là năm nước này bị đặt dưới chế độ bảo hộ của Nhật Bản, rồi trở thành thuộc địa bị cai trị trực tiếp vào năm 1910. Nói cách khác, hai nước đã trở thành một phần của các đế chế thực dân khác nhau, và việc so sánh trải nghiệm thuộc địa của hai nước ở nhiều khía cạnh (y tế, kiến trúc, báo chí, phong trào chống thực dân hay sự nổi lên của chính trị hiện đại…) đều là cơ hội lớn cho các nhà nghiên cứu.     Thu Quỳnh – Tuấn Quang dịch     Chú thích:  1 Bộ Bách khoa toàn thư này cũng bao gồm các quan sát về An Nam [Đại Việt] và nhiều nước khác.  2 Vào năm 1573, Macao báo cáo về việc Vua Đàng Trong [Chúa Nguyễn] đã cho các đoàn truyền giáo Dòng Tên vào trong nước; và một thủy thủ kiêm giáo sĩ, tên Ordonez, đã từng sống ở Quảng Nam trong hai năm từ 1590 đến 1592.  3 Tara Alberts “Catholic Written and Oral Cultures in Seventeenth-Century Vietnam”. Journal of Early Modern History. Leiden: Koninklijke Brill 16 (2012):300 390. doi:10.1163/15700658-12342325.  4 Vương triều Chosŏn tự gọi mình là Đông quốc, theo điểm nhìn so sánh với Trung Quốc.  5 Nghĩa quân-thần là một trong năm mối quan hệ đạo đức cơ bản trong Nho giáo [Ngũ luân].  6 Ge Zhaoguang, “Costume, Ceremonial, and the East Asian Order: What the Annamese King Wore When Congratulating the Emperor Qianlong in Jehol in 1790,” Frontiers of History in China 7, no. 1 (2012):148.  7 Toànn bộ các đoạn trích trong bài theo “Núi Xanh nay vẫn đó” của Nguyễn Duy Chính (NXB Văn hóa Văn nghệ TP HCM), 2016.  8 Hai năm trước đó tại Việt Nam, Phan Bội Châu cũng viết một cuốn sách khác, “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” bình luận về việc nước Lưu Cầu [quần đảo Okinawa ngày nay] để mất độc lập vào tay Nhật Bản năm 1879.    Author                Hồ Tài Huệ Tâm        
__label__tiasang Việt Nam và Israel tăng cường hợp tác KH&CN      Trong buổi tiếp ông Effie Ben Matityau – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Israel tại Việt Nam và ông Ilan Maor – Vụ trưởng Vụ Kinh tế III, Bộ Ngoại giao Israel,    Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong đã bày tỏ mong muốn hợp tác của Việt Nam với Israel về KH&CN trên các lĩnh vực chính sách, tổ chức nghiên cứu khoa học; đào tạo trong các lĩnh vực công nghệ cao; thu hút đầu tư công nghệ của Israel… Đại sứ Effie Ben Matityau cho biết, Israel sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ mà Israel có thế mạnh.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Viết về anh, giáo sư Phan Đình Diệu      Thế là Anh đã ra đi.      Giáo sư Phan Đình Diệu. Ảnh: Vietnamnet.  Mấy hôm nay trên báo chí, trên “cộng đồng mạng” tràn ngập những bài viết, những lời bày tỏ tình cảm với Anh. Ai cũng muốn viết gì đó về Anh.  Tôi cũng vậy.  Nhưng viết về Anh thật khó. Không thể nói những lời thừa. Không thể nói những lời mọi người đều đã nói. Con người Anh luôn độc đáo, sâu sắc, chính xác. Rất khó bỏ đi dù chỉ một từ nào đó trong những bài viết của Anh.  Anh độc đáo ngay từ khi chập chững vào làng Toán. Vì thích Số học mà Anh đã tự học tiếng Trung để dịch cuốn Số học của Hoa La Canh. Vì yêu thích sự chính xác mà anh chọn cho mình môn Logic khi đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Chỉ trong 5 năm, anh đã xây dựng nên một ngành mới trong Toán học: Giải tích hàm kiến thiết. Công trình của anh được in  thànhsách (Some questions in constructive functional analysis. Proceedings of the Steklov Institute of Mathematics, No. 114 (1970). Translated from the Russian by J. M. Danskin.American Mathematical Society, Providence, R.I., 1974. iv+228 pp.). Chữ “kiến thiết” được dùng cho những ngành Toán mà ở đó không chấp nhận chứng minh phản chứng: không thể khẳng định một cái gì đó là “tồn tại” nếu điều giả thiết “nó không tồn tại” dẫn đến nghịch lý. Muốn chứng minh “tồn tại”, phải đưa ra thuật toán xây dựng (“kiến thiết”) nó.  Tư tưởng “kiến thiết” đó cũng làm Anh trở nên gần gũi với Khoa học máy tính một cách tự nhiên. Và với nhãn quan sáng suốt của mình, Anh nhận ra ngay từ những năm đầu của thập  kỷ 70, thế kỷ trước, rằng Tin học chính là Khoa học của tương lai, và Việt Nam nhất thiết phải xây dựng ngành Tin học. Có thể nói rằng trình độ Tin học của Việt Nam thời kỳ đó cao hơn nếu so sánh với những nước trong vùng Đông Nam Á. Chúng ta đã từng đi trước, nhưng vì nhiều nguyên nhân nên đã tụt lại phía sau.  Đọc lại những bài viết của Anh về Khoa học, về con đường phát triển của xã hội Việt Nam, không thể không ngạc nhiên về những kiến giải sâu sắc, độc đáo, về tầm nhìn của anh. Sự phát triển, những vấn đề mà xã hội đang phải đối mặt gần như là “minh hoạ” những gì Anh nói đã vài chục năm. Và trên hết, ta cảm nhận tấm lòng Anh, một kẻ sỹ của thời đại mới, luôn trăn trở với con đường đi của đất nước.  Anh không chỉ là nhà khoa học, nhà tư tưởng, Anh là người say mê tất cả những gì thuộc về tri thức nhân loại. Tôi còn nhớ, Anh đã bình rất hay về cảnh đối đáp giữa Khuất Nguyên và Ngư Phủ trên sông Tương (trong một bài viết, hình như đăng trên báo Văn Nghệ). Những lần trò chuyện về Thơ, tôi thấy Anh rất thích Rabindranath Tagore, đặc biệt là những câu:  Đôi mắt lo âu của em buồn,  đôi mắt em muốn tìm vào tâm tưởng của anh  như trăng kia muốn vào sâu biển cả…  Trái tim anh cũng ở gần em,   như chính cuộc đời của em vậy  nhưng chẳng bao giờ em hiểu hết nó đâu.  Hình như Anh luôn có cảm giác người khác không hiểu hết mình. Mà đúng vậy. Anh sâu sắc quá, độc đáo quá, nghĩ xa hơn người khác nhiều quá, để người ta có thể hiểu hết về Anh. Nhưng dù không hiểu hết, Anh vẫn chiếm trọn tình yêu và lòng khâm phục của những người có dịp gần Anh.  Những lời sau đây của Tagore viết về Cái Chết, hình như cũng chính là dành cho Anh:  Khi nghĩ về những năm tháng đã qua,   đã trôi xuôi theo theo giòng chảy   của cuộc sống, và tình yêu,  và cái chết,   tôi thấy sự ra đi vĩnh viễn là tự do biết bao.  Không cần phải nói lời câu mong Anh yên nghỉ. Dường như Anh đã đi xa, để có thể được tự do suy tưởng. Một mình.  Giáo sư Phan Đình Diệu (1936 -2018) – một trong số những cộng tác viên thân thiết của Tia Sáng, mới qua đời ngày 13/5/2018. Ông luôn được biết đến như một nhà khoa học chân chính luôn tận tụy hết lòng vì một nền khoa học, giáo dục lành mạnh, một gương mặt tiêu biểu của giới trí thức với tiếng nói đầy tâm huyết, luôn cất lên thẳng thắn vì sự phát triển tiến bộ của đất nước. Cùng nhiều trí thức khác của Việt Nam, mà nay người còn, người mất, như các giáo sư Nguyễn Văn Chiển, Hoàng Tụy, Phạm Duy Hiển, Hà Huy Khoái…, ông sẽ luôn được độc giả Tia Sáng nhớ đến với những bài viết sâu sắc đầy tinh thần nhân văn. Nhiều bài viết của ông đã được in trong một số tuyển tập về chính sách khoa học và giáo dục do Tia Sáng và Nhà xuất bản Trẻ phối hợp xuất bản.    Author                Hà Huy Khoái        
__label__tiasang Vietnam Summit in Japan 2019: Nơi kết nối và quy tụ cộng đồng trí thức Việt tại Nhật      Với sự tham gia của những chuyên gia giàu uy tín như GS Hồ Tú Bảo, GS Trần Văn Thọ, Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan… cũng như nhiều trí thức trẻ khác, Diễn đàn Vietnam Summit in Japan 2019 mong muốn là nơi kết nối trí thức Việt tại Nhật để thảo luận về những vấn đề tại Việt Nam và đưa ra những giải pháp cụ thể để áp dụng trong thực tế.    Diễn đàn Trí thức Việt Nam tại Nhật Bản – Vietnam Summit in Japan 2019 lần thứ nhất sẽ được tổ chức tại trung tâm hội nghị quốc tế JASSO, thủ đô Tokyo vào ngày 16/11/2019 với chủ đề “Make in Vietnam – Cơ hội và thách thức”.    Diễn đàn do Mạng lưới Học thuật người Việt Nam tại Nhật Bản (VANJ), Cộng đồng chuyên gia người Việt Nam tại Nhật Bản (VPJ) và Hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản (VYSA) phối hợp tổ chức dưới sự bảo trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản. Đây là sự kiện có quy mô lớn nhất từ trước tới nay của cộng đồng trí thức Việt Nam tại Nhật Bản, với dự kiến sẽ nhận được sự tham gia của hơn 500 khách mời là các nhà nghiên cứu và chuyên gia người Việt hàng đầu trong và ngoài Nhật Bản và đại diện các cơ quan bộ ngành của Chính phủ Việt Nam.  Nhật Bản là một trong những điểm đến hấp dẫn của thanh niên Việt Nam nói riêng và người Việt nói chung bởi sự tương đồng văn hóa, nhu cầu về trao đổi khoa học công nghệ và nguồn nhân lực giữa hai nước, trong bối cảnh toàn cầu hoá. Hiện nay có khoảng trên 350 nghìn người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật trong đó có một lực lượng không nhỏ là thành phần trí thức bao gồm các nhà khoa học, nhà nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các chuyên gia tại các công ty hàng đầu ở Nhật cũng như những doanh nhân khởi nghiệp trên nhiều lĩnh vực.  So với những năm 1990 khi cộng đồng trí thức người Việt Nam tại Nhật Bản chỉ có trên dưới 100 người thì có thể thấy cộng đồng trí thức trong những năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng. Với sự phát triển nhanh chóng của đội ngũ trí thức tạo nên đòi hỏi khách quan để thành lập các hội khoa học, trí thức Việt Nam, nổi bật là VANJ, VPJ, VYSA. Sự phát triển này đặt ra nhu cầu lớn về việc xây dựng nên một diễn đàn chung, với vai trò kết nối và quy tụ nguồn tri thức dồi dào của các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp, từ đó đưa ra những sáng kiến giúp xây dựng, phát triển cộng đồng người Việt tại Nhật cũng như góp phần vào sự phát triển đất nước Việt Nam nói chung. Đây là cũng là động lực để 3 tổ chức VANJ, VPJ, và VYSA cùng chung tay tổ chức Diễn đàn Trí thức Việt Nam tại Nhật Bản năm nay.    GS Hồ Tú Bảo (giữa) là một trong số các diễn giả uy tín tại Diễn đàn lần này, dự kiến sẽ trình bày về “Chuyển đổi số hóa – chìa khóa cho sự phát triển của Việt Nam”. Nhiều năm nay, ông cũng đã góp ý nhiều về các chiến lược, kế hoạch chuyển đổi số ở Việt Nam. Trong ảnh, ông phát biểu tại hội thảo “Công nghệ AI và ứng dụng AI tại Việt Nam” vào tháng 5 vừa qua do Mạng lưới học thuật Việt Nam tại Nhật Bản (VANJ) tổ chức. Ảnh: MOST  Diễn đàn Trí thức Việt Nam tại Nhật Bản 2019 sẽ có chủ đề chung là “Make in Vietnam – Cơ hội và thách thức”. Với chủ đề này, diễn đàn mong muốn là nơi kết nối và quy tụ cộng đồng trí thức Việt tại Nhật để cùng thảo luận về những vấn đề tại Việt Nam và đưa ra những giải pháp, từ chính sách vĩ mô đến công nghệ, sản phẩm cụ thể có thể áp dụng tại Việt Nam. Diễn đàn lần này là hoạt động kết nối cộng đồng trí thức Việt Nam tại Nhật lớn nhất từ trước đến nay, và là một xuất phát điểm cho hành trình của cộng đồng trí thức Việt Nam tại Nhật tạo thành mạng lưới kết nối, quan hệ tương trợ lẫn nhau trên tinh thần cùng nhau tiến bộ, thành công. Đồng thời diễn đàn cũng là một tiếng nói chung đóng góp, tham gia vào sự phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.  Diễn đàn đã nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản cũng như Trung tâm đổi mới sáng tạo Quốc gia- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan liên quan trong nước và sự tham gia đông đảo của cộng đồng trí thức Việt Nam tại Nhật Bản.  Thời gian và địa điểm:  ● Thời gian: Ngày 16 tháng 11 (thứ Bảy) năm 2019, 9:30 – 20:00  ● Địa điểm: JASSO International Conference Hall Tokyo Academic Park, 2-2-1 Aomi, Koto-ku, Tokyo 135-8630  Dự kiến, vào phiên toàn thể buổi sáng, các diễn giả có uy tín như GS.TS. Trần Văn Thọ – Đại học Waseda, GS.TS. Hồ Tú Bảo – Viện Toán cao cấp Việt Nam, Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Ông Hoàng Nam Tiến – Chủ tịch FPT Software sẽ giúp chia sẻ các góc nhìn vĩ mô về những cơ hội và thách thức mà nền kinh tế – xã hội Việt Nam đang gặp phải.  Trong phiên thảo luận chuyên đề buổi chiều, hơn 50 diễn giả và người tham gia sẽ cùng thảo luận về 10 chuyên đề dưới đây:  1. Tính riêng tư và bảo mật: Bài toán cho Dữ liệu lớn  2. IoT ở Việt Nam – Bài học từ Nhật Bản  3. Năng lượng Điện tái tạo đối với Việt Nam  4. Thảo luận về hướng đi cho người Việt tại Nhật  5. Đóng góp trí tuệ Việt ở nước ngoài cho sự phát triển của Việt Nam  6. Ứng dụng Công nghệ và Vật liệu mới trong Y tế  7. Cách mạng Công nghiệp 4.0 và công nghệ thông tin Việt Nam  8. Việt Nam hướng tới xã hội carbon thấp: Cơ hội và thách thức  9. Khởi nghiệp tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức  10. Vai trò của Phụ nữ trong Đổi mới sáng tạo  Website và địa chỉ liên hệ:  ● Homepage: http://vietnamsummit.org  ● Email: organizers@vietnamsummit.org    Author                Quản trị        
__label__tiasang Viettel: Sở hữu nhiều bằng sáng chế trong nước và quốc tế      Đến hết tháng 9/2021, Viettel sở hữu 339 đơn đăng ký sáng chế trong nước, 49 đơn đăng ký sáng chế ở Mỹ, trong đó có 44 bằng sáng chế được cấp tại Việt Nam và 7 bằng sáng chế do Cơ quan sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ bảo hộ ở nhiều lĩnh vực khác nhau.      Thế giới có phẳng hay không?   Năm 2014, khi Viettel mới bắt đầu tìm hiểu cách thức sản xuất 4G, thế giới đã đi một chặng rất xa. Theo ông Nguyễn Cương Hoàng – Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Công nghệ cao, khi ấy, Viettel sang Canada tìm đối tác học hỏi. Một lời đề nghị khá hấp dẫn mà Viettel nhận được từ đối tác Tiktelic: nhận chuyển giao công nghệ, 1 năm sẽ có 4G. Vấn đề nằm ở việc, đối tác chỉ chuyển giao thiết bị, thiết kế, không chuyển giao thuật toán.   Như vậy, khi nào cần nâng cấp, Viettel sẽ phụ thuộc vào đối tác, nhất là thời điểm ấy, giới nghiên cứu đã bắt đầu manh nha nói về 5G. Phụ thuộc vào đối tác chưa bao giờ là lựa chọn của Viettel. Ban lãnh đạo Viettel nhanh chóng quyết định đầu tư phòng lab, con người, để làm chủ công nghệ 4G.   Năm 2018, “phương pháp đánh giá chất lượng và cô lập lỗi dựa trên tính toán thông lượng xử lý vô tuyến của tuyến thu hệ thống eNode” với 4 công thức thuật toán ra đời giúp Viettel làm chủ công nghệ 4G. Điều mà các ông lớn viễn thông trên thế giới cũng không tưởng tượng ra được là sau bước chạy đà ấy, năm 2020, Viettel đã phát triển thành công thiết bị mạng cho 5G, bắt kịp những nước đi đầu về 5G trên thế giới như Mỹ, Úc, Nhật Bản và Hàn Quốc.   Trước đó, năm 2011, sau hơn 7 năm sử dụng hệ thống tính cước của các đối tác hàng đầu thế giới nhưng cứ 3 năm phải thay một lần, mỗi lần mất vài tháng đến một năm, ông Tống Viết Trung, khi ấy là Phó tổng giám đốc Tập đoàn Viettel, nói với Ban nghiên cứu sản xuất: “Cứ phụ thuộc vào đối tác như thế này thì giống như bị trói chân, trói tay. Mình phải tự làm thôi”.   Năm 2016, hệ thống tính cước theo thời gian thức vOCS3.0 ra đời, phục vụ cho hơn 170 triệu thuê bao ở 11 quốc gia. Bước ra khỏi ranh giới của một hệ thống tính cước viễn thông, vOCS 3.0 trở thành công nghệ lõi cho việc phát triển Mobile Money và trạm thu phí không dừng ePass…   Những câu chuyện trên cho thấy, thế giới thực tế không hề phẳng như chúng ta vẫn nghĩ. Nguồn mở từ các công ty công nghệ hàng đầu có thể rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí từ ý tưởng đến sản phẩm ra thị trường, nhưng để tạo ra sức mạnh cạnh tranh lại nằm ở công nghệ lõi.  Sức mạnh của sở hữu trí tuệ   Để có thể tiến nhanh và vững chắc, Ban TGĐ Tập đoàn Viettel luôn xác định rõ hướng đi cho nghiên cứu sản xuất: Tự làm là chính, kết hợp chuyển giao công nghệ từng phần; làm chủ thiết kế hệ thống, tích hợp hệ thống và công nghệ lõi, công nghệ nền tảng”.   Gần 20 năm qua với tầm nhìn chiến lược mang tên VTOPIC (gồm các yếu tố: V – Virtual: Sử dụng công cụ mô phỏng để đẩy nhanh quá trình thiết kế; T – latest Technology: đi thẳng vào nghiên cứu các công nghệ mới nhất; O – Open: Tư duy và hành động theo hướng mở; P – People: Thu hút được người tài;  I – Investment: Đầu tư nhanh và đồng bộ cơ sở hạ tầng; C – Challenge: Làm việc khó, thách thức), hàng trăm tỷ đồng được đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nhân lực.  Cùng với đó là hàng trăm nghìn giờ làm việc miệt mài trong phòng lab, nhiều đêm thức trắng, đội mưa đội gió để thử nghiệm thực địa của hàng nghìn người Viettel….  Để gia tăng giá trị cho kết quả nghiên cứu, đặc biệt trong cuộc đua toàn cầu, sở hữu trí tuệ là vũ khí đắc lực nhất. “Những công nghệ cốt lõi được bảo hộ sở hữu trí tuệ để đối thủ không sao chép được tạo ra lợi thế cạnh tranh. Viettel đang trong quá trình tích lũy điều đó” – ông Nguyễn Cương Hoàng nhấn mạnh.  Trong tháng 8 vừa qua, 2 sáng chế “Phương pháp cân bằng tải có trọng số trên các điểm truy cập dữ liệu” và “Bộ ghép lai có cổng tổng và cổng hiệu đồng hướng” đã chính thức được Cơ quan Quản lý sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cấp bằng bảo hộ.   Lũy kế đến hết tháng 8/2021, Viettel có tổng cộng 339 đơn đăng ký sáng chế trong nước, 49 đơn đăng ký sáng chế tại Mỹ. Trong đó, 44 bằng sáng chế được cấp tại Việt Nam và 7 bằng sáng chế được cấp tại Mỹ. Riêng, Tổng công ty Công nghệ cao (VHT) sở hữu 243 đơn đăng ký sáng chế trong nước, 27 đơn đăng ký sáng chế tại Mỹ, trong đó có 33 bằng sáng chế được cấp tại Việt Nam và 6 bằng sáng chế được cấp tại Mỹ.     Sáng chế Phương pháp cân bằng tải có trọng số trên các điểm truy cập dữ liệu.  Nhờ chiến lược đúng đắn và tầm nhìn dài hạn, từ những nhóm nghiên cứu chỉ là “lính mới”, Viettel đã có “trái ngọt”. Sản phẩm của Viettel có mặt ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế số từ giao thông, y tế, giáo dục, quốc phòng….   Là doanh nghiệp sinh ra từ quân đội luôn tự đặt trách nhiệm với Tổ quốc nên với người Viettel một trong những giây phút tự hào nhất chính là “Toàn bộ các hệ thống rada cảnh giới, bảo vệ vùng trời, hệ thống chỉ huy điều khiển tác chiến hay máy bay không người lái đều “Make in Viettel”.   Việc được Tổng quan lực lượng Quân sự 2020 (Military Balance 2020) của Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế (IISS, Vương quốc Anh) xếp hạng là một trong những doanh nghiệp trang thiết bị quốc phòng mới tiêu biểu của khu vực châu Á khiến người Viettel nghĩ đến xuất khẩu một số sản phẩm – điều mà trước kia không ai dám mơ tới.   Trong phát biểu nhân Ngày truyền thống Tập đoàn Viettel, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Viettel Lê Đăng Dũng chỉ rõ: “Một thị trường toàn cầu, nơi mà thay đổi là hằng số duy nhất thì sự sáng tạo là một trong những nền tảng của tính cạnh tranh dài hạn. Sáng tạo chính là sức sống của Viettel”.       Author                Thu Hương        
__label__tiasang Vịnh Rạch Giá: Những đổi thay sau bốn thập niên      Bài viết giới thiệu những đổi thay ở Vịnh Rạch Giá trong 42 năm qua. Rõ rệt nhất là mở rộng đất liền bằng lấn biển. Dấu ấn rõ không kém là các cống sông Kiên, Kênh nhánh của sông Kiên và Kênh Cụt sau khi lần lượt đi vào hoạt động từ năm 2016 đã điều tiết sự trao đổi nước và trầm tích giữa Vịnh và vùng Tứ giác Long Xuyên và đồng thời giao thông thủy giữa Kiên Giang và Bán Đảo Cà Mau. Sau cùng là một số trao đổi và khuyến nghị.    Vịnh Rạch Giá, trao đổi với đất liền  Vịnh Rạch Giá là một phần của Biển Tây tiếp giáp với Đồng bằng sông Cửu Long từ nơi huyện Hòn Đất dôi ra biển xa nhất tại tọa độ (10o25’09.59” N, 104o53’34.46” E) đi qua Thành phố Rạch Giá đến điểm cực Nam của thị trấn Rạch Sỏi (09o53’11.91” N, 105o06’22.54” E). Đường tiếp giáp này cũng là nơi đồng lũ mở Tứ Giác Long Xuyên trổ ra Biển Tây thông qua hai đường nước chính là Kênh Long Xuyên – Rạch Giá và Kênh Cái Sắn – Kênh Cụt.  Vịnh Rạch Giá trao đổi nước với đất liền ĐBSCL thông qua hai kênh này và hai sông Cái Bé, Cái Lớn. Trước năm 2016 sự trao đổi nước không có sự chi phối của công trình tại cửa Vịnh. Các Hình 1a và 2a là ảnh vệ tinh Landsat ngày 25/01/1979 trong đó có hai vùng màu nước đục ở cửa sông Kiên và cửa Kênh Cụt vào thời điểm gần giữa mùa khô 1979-1980.   Cùng với nước, dòng chảy mang theo trầm tích từ sông Hậu trổ ra Biển Tây, đặc biệt quan trọng vào mùa nước nổi hàng năm, và sinh vật của vùng Tứ giác Long Xuyên. Số liệu tập hợp được chưa cho phép tác giả đề cập sâu hơn các trao đổi này.  Ngày 14/12/2016 cống Sông Kiên, ngày 08/09/2017 cống Kênh Cụt, ngày 05/12/2020, cống Kênh Nhánh, và từ tháng 1/2022 hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé, lần lượt đi vào hoạt động. Các cống sông Kiên, Kênh Nhánh, Kênh Cụt ở không xa cửa biển. Cống Cái Lớn, Cái Bé ở cách cửa biển khoảng 11,5 km. Sự trao đổi nước hiện tại là có điều tiết bằng công trình được xây dựng theo Quyết định số 1397/TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt quy hoạch thủy lợi giai đoạn 2012-2020, định hướng đến 2050.  Địa hình đáy Vịnh Rạch Giá  Địa hình đáy Vịnh Rạch Giá khá nông, như được thể hiện trong Hình 1b với số liệu đo đạc trong các năm 2011 – 2013 ở tỷ lệ xích 1/5000. Vùng đáy biển nông mà độ sâu < -2 mét đi ra khá xa cách bờ theo hướng nhìn ra Hòn Tre. Hình 1b.   Hai đường đẳng độ sâu -2 mét tạo thành một luồng sâu dần đến -4 mét, rồi -7 mét, giống như một dạng phễu rót vào sông Cái Lớn, Hình 1b, 1c. Nói một cách khác, trong chiều ngược lại, nước sông Cái Lớn để trổ ra Biển Tây phải vượt qua một dốc khá đứng để ra tới cửa sông.     Chính địa hình tương đối nông với số liệu đo đạc chính thức đã mở đường cho việc lấn biển sôi động dọc bờ Vịnh Rạch Giá kể từ năm 2016 đến nay.  Lấn biển trong Vịnh Rạch Giá  Các Hình 2 a, b, c, d chỉ ra quá trình lấn biển trong Vịnh Rạch Giá từ năm 1979 đến cuối năm 2021 qua ảnh vệ tinh Landsat và Google Earth.      Hình 3 chỉ rõ các khu lấn biển trên ảnh vệ tinh GE 31/07/2021. Diện tích và quá trình hoàn tất các khu lấn biển được trình bày trang Bảng dưới đây.    Nguồn số liệu: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang  Số thứ tự các khu lấn biển được xếp theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Có thể nhận thấy hai giai đoạn lấn biển: giai đoạn 1, trước 2016 (màu xanh lam) và giai đoạn 2 từ 2016 về sau (màu hồng phấn).    Giai đoạn 2 được triển khai rất cấp tập từ 5 năm nay. Hình 4 cho thấy những gì đã được thực hiện trong 19 tháng tại khu lấn biển Hoàng Gia và tại khu lấn biển Phú Quý với vật chất được nạo hút từ đáy Vịnh và thổi vào để tôn nền khu lấn biển (Hình 4d cho KLB Hoàng Gia).     Một hệ lụy là địa hình đáy Vịnh Rạch Giá kể từ khi được đo đạc (2011 – 2013) đã biến dạng với mức độ sâu ở từng nơi tùy thuộc vào khối lượng vật chất đã nạo hút.  Vịnh Rạch Giá – nơi Kênh Cụt, sông Cái Bé, Cái Lớn trổ ra  Hình 5 được trích ra từ ảnh vệ tinh Google Earth ngày 31/07/2021. Thay đổi rõ nét nhất là sự phát triển định cư dọc theo các sông, kênh của thị trấn Rạch Sỏi, của huyện Châu Thành, là việc mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, phát triển chế biến nông thủy hải sản và dịch vụ. Thay đổi nhiều về môi trường là tại các địa bàn A, B, C, D, và E.    + A là địa bàn ở hữu ngạn cửa Kênh Cụt đã lấn hết vùng biển nông < 1 mét. Về cơ bản đã hoàn thành năm 2016. (Ảnh vệ tinh ngày 18/03/2016 và Hình 1c).   + B là địa bàn cửa Cống Kênh Cụt. Chiều rộng thông nước của cống hẹp so với chiều rộng của Kênh Cụt trước cống. Bên ngoài cống trổ ra Vịnh hai bờ Kênh tiếp giáp với hai khu lấn biển A và C. Cống Kênh Cụt đi vào hoạt động từ ngày 08/09/2017.   + C là địa bàn lấn biển ở tả ngạn cửa Kênh Cụt. Ngoại trừ công trình đầu cầu-cống, khu lấn biển, C chỉ bắt đầu được triển khai sau tháng 01/2020 nhưng được tiến hành khá nhanh, lấn hầu hết nơi mà độ sâu nông, < 1 mét (Hình 1c) từ cửa Kênh Cụt đến cửa ra của sông Cái Bé (Hình 5) nhờ nạo hút vật liệu tôn lấp từ “mỏ sét” tại chỗ.   + D là địa bàn của ấp Vĩnh Quới, xã Vĩnh Hòa Phú, ở đầu doi đất giữa hai sông Cái Bé và Cái Lớn. Hình 5b. Người dân định cư phía bên bờ sông Cái Bé nhiều hơn phía bên bờ sông Cái Lớn. Màu nước bao quanh ấp Vĩnh Quới vào ngày 31/07/2021 cho thấy là nước bạc từ Kênh Cụt, chảy xuống đến Chợ Tà Niên, trổ ra sông Cái Bé rồi theo đường nước cắt ngang doi đổ ra sông Cái Lớn.   + E ở bờ trái của sông Cái Lớn trên địa bàn huyện An Biên. Đối chiếu với ảnh vệ tinh Google Earth năm 1985, ấp Vĩnh Quới được bồi ở đầu cồn và phía bờ phải sông Cái Lớn. Bờ trái sông Cái Lớn trên địa bàn E thuộc huyện An Biên thẳng tắp, màu nước sậm sát bờ nhạt dần khi ra tới cửa biến.   Điều này gợi ý cho nhận xét là vách bờ trái sông Cái Lớn dốc đứng và thoải dần sang bờ phải, và đáy sông cạn dần khi chảy dọc ra cửa Biển Tây.    Tác giả chưa sưu tầm được thêm các mặt cắt ngang và dọc ở địa bàn D và E để kiểm chứng ngoài mặt cắt ngang sông Cái Lớn tại trạm thủy văn Xẻo Rô2, song những nhận xét trên đây phù hợp với địa hình đáy vịnh, vách mặt cắt sông dốc đứng, và đáy sông leo dốc từ -10,11 mét đến -7 mét, rồi -4 mét, – … như thể hiện trong Hình 1c.   Thảo luận và khuyến nghị  (1) Lấn biển là sự thay đổi rõ rệt nhất. Cập nhật địa hình đáy và mô phỏng dòng triều trong Vịnh là cần thiết.   Tổng diện tích lấn biển trong Bảng thống kê đến cuối năm 2021 là 1035,63 ha.  Theo tài liệu tham khảo được, các khu Hoàng Gia, Phú Quý sẽ lấn biển ra khá xa, và sau khu lấn biển Tây Bắc Rạch Giá sẽ có một khu lấn biển tương tự tiếp theo về phía Hòn Đất. Tổng số khối lượng cát nạo hút và thổi để tôn nền sẽ càng quan trọng.   Địa hình đáy Vịnh lồi lõm và sâu hơn, dòng chảy trong vịnh khi triều lên và khi triều rút thay đổi là điều chắc chắn. Vì sự ổn định của chính các khu lấn biển cần đo đạc cập nhật địa hình đáy Vịnh hiện có, và mô phỏng dòng triều trong Vịnh trước mỗi khi cần phê duyệt từng dự án hay tổng thể các dự án lấn biển trong tương lai.  (2) Từng bước tiến đến tự động hóa quy trình vận hành các công trình thủy lợi vùng Tứ giác Long Xuyên ban hành kèm theo Quyết định số 3829/QĐ-BNN-TCTL ngày 22/9/2021.  Việc tự động hóa sẽ không đơn giản vì ngoài các yếu tố tất định còn có các yếu tố ngẫu nhiên. Tiến hành từng bước những gì có thể trước để hoàn thiện quy trình và giảm thiểu các sai sót từ con người. Đây cũng là một cách hậu kiểm quy trình. Việc vận hành các cống sông Kiên, Kênh Nhánh và Kênh Cụt nằm ở cuối hệ thống các công trình thủy lợi trong vùng sẽ được hưởng lợi từ việc tự động hóa.      (3) Mở rộng quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi vùng TGLX ra vùng đồng lũ nửa mở TGLX.  Sau khi các cống sông Kiên, cống Kênh Nhánh đi vào vận hành một phần lượng nước trong vùng trước đây đổ ra Vịnh Rạch Giá thì nay chảy dồn về phía Kênh Cái Sắn – Kênh Cụt. Sau khi cống Kênh Cụt đi vào vận hành, lượng nước dồn tăng thêm chảy về phía Nam Kênh Cái Sắn – Kênh Cụt và một phần sẽ theo tuyến qua Chợ Tà Niên để ra sông Cái Bé tại Phà Cây Dương và tại UBND xã Vĩnh Hòa Phú. Điều này giải thích màu nước bao quanh ấp Vĩnh Quới trong Hình 5b.   Do vậy xây dựng quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi cho vùng Tứ giác Long Xuyên là một việc làm đúng nhưng để đủ cần mở rộng ra cả vùng đồng lũ mở Tứ giác Long Xuyên, Vùng II trong Hình 6 3.     Bước tiếp theo sau đó sẽ là kết nối với quy trình vận hành hệ thống thủy lợi Vùng III, đồng lũ nửa kín Tây sông Hậu (nếu có).  (4) Quy hoạch thủy lợi TGLX cần kết hợp với quy hoạch giao thông thủy.   Hệ thống sông kênh chính của vùng TGLX cũng là hệ thống giao thông thủy nối liền Tứ giác với Bán đảo Cà Mau. Một số thủy lộ trổ ra Vịnh Rạch Giá qua Kênh Cụt để vào sông Cái Lớn xuống Cà Mau. Cống Kênh Cụt quan trọng là vì vậy.  Chiều rộng thông nước của cống Kênh Cụt là 66m, chia làm 3 khoang, mỗi khoang rộng 22m. Chiều cao cống là 4,5 mét. Mớn nước của các phương tiện giao thông qua cống không quá 2 mét.  Về kỹ thuật đóng mở cống đã có nhiều cải tiến tích cực. Nhưng chiều ngang 22 mét là hẹp so với chiều rộng của Kênh Cụt trước cống tạo nên dòng chảy siết qua cống trong suốt thời gian mở cống.   Giai đoạn đầu của thời gian mở cống dành cho chiều từ biển vào, giai đoạn sau trong chiều ngược lại trước khi đóng cống. Thời gian ngắn, phương tiện qua lại nhiều, ai cũng tranh thủ qua cho kịp để không phải chờ ngày hôm sau, dòng chảy lại siết nên trong thực tế bốn năm vận hành đã xảy ra không ít va chạm, lật và chìm. (Hình 7).    Có ý thức của người lái phương tiện giao thông thủy, có yếu tố khách quan triều, nhưng cũng có các thông số kỹ thuật của cống và công tác quản lý, điều hành. Do vậy các thông số của cống cần được tính toán trên cơ sở số liệu không chỉ về thủy văn mà còn về số lượng, kích thước, tải trọng, mớn nước của các phương tiện qua lại hai chiều.   Điều này khẳng định quy hoạch thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long cần kết hợp với quy hoạch giao thông thủy.   (5) Cần khắc phục tình trạng thiếu số liệu cơ bản.   Có được số liệu địa hình đáy biển tỉnh Kiên Giang là một động viên đối với người làm công tác nghiên cứu cơ bản ĐBSCL. Lấn biển ở Vịnh Rạch Giá rất mạnh như bài viết đã cho thấy. Vật chất đã nạo hút để tôn nền là bao nhiêu có thể ước tính được, nhưng đến từ đâu, hàm lượng trầm tích trong một mét khối nước trao đổi với Vịnh Rạch Giá là bao nhiêu, và có đo định kỳ hay không thì không sưu tìm được. Tình hình thiếu số liệu về hàm lượng trầm tích hình như không chỉ riêng ở Kiên Giang mặc dù đây là một số liệu cơ bản quan trọng hàng đầu đối với đồng bằng sông Cửu Long.     (6) Vịnh Rạch Giá và các đới nâng, đứt gãy có liên quan  Dựa trên tài liệu từ hàng không (aeromagnetic) đo năm 1967, có nhận định rằng dọc theo bờ Biển Tây, có một đới nâng theo hướng Bắc – Nam, đới nâng Hòn Khoai, và một đứt gãy Tây Bắc-Đông Nam, đứt gãy Veal Renh – Bạc Liêu – Côn Sơn4, hai yếu tố làm cho bồn Cà Mau rộng mở ra Biển Đông. Các nhận định này phù hợp và khớp với các kết quả nghiên cứu địa kiến tạo trên phần lãnh thổ Campuchia 5.     Ảnh vệ tịnh Soyouz 17/06/1983 (trích, Hình 8 trái) và bản đồ đáy biển Kiên Giang (trích, Hình 8 phải) thể hiện đới nâng Hòn Khoai theo hướng Bắc – Nam dọc theo bờ Biển Tây, nguyên nhân chủ yếu của độ nông của Vịnh Rạch Giá. Đứt gãy Tây Bắc – Đông Nam Veal Renh – Bạc Liêu – Côn Sơn giải thích đáy sông Cái Lớn sâu dần từ cửa dọc theo sông vào bên trong đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu.   Các thông tin về Vịnh Rạch Giá trong bài viết này cung cấp bối cảnh khi khảo sát sự biến động của các mực nước đặc trưng từ mực nước giờ tại hai trạm thủy văn Xẻo Rô và Rach Giá, sẽ được trình bày trong một bài viết tiếp theo.  Chú thích:  [1] Giáo sư Tiến sĩ khoa học, Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp nhà nước Điều tra co bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), Trưởng Ban Chỉ đạo nghiên cứu Khai thác Bán đảo Cà Mau (1989-1992).   [2] Mặt cắt ngang sông Cái Lớn tại trạm thủy văn Xẻo Rô ở cách cửa biển 8000 mét ngày 05/12/2020 cho thấy cách bờ trái 100 mét, độ sâu sông Cái Lớn là -9,89 mét và đáy sâu nhất ở đây là -10,11 mét.    [3] Trần Kim Thạch, 1990, Môi trường vật lý đồng bằng sông Cửu Long, trong Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển, Báo cáo tổng hợp của Chương trình khoa học cấp nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long”, Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, tháng 3.1991. Đồng bằng sông Cửu Long: Tài nguyên – môi trường – phát triển (vnulib.edu.vn)  [4] Hồ Mạnh Trung, 1969, Esquisse structurale du delta du Mekong. Discussion du problème pétrolier – Archive Géologique du Vietnam, Saigon, no.12, pp. 195-211)  [5] Carbonnel J.P. 1973, Le Quartenaire cambodgien, Structure et stratigraphie, Cahiers ORSTOM No 60, 1972.    Author                Nguyễn Ngọc Trân        
__label__tiasang Virus COVID-19: Tỷ lệ đột biến cao hơn ít nhất 50% so với ước tính      Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học đến từ Đại học Bath và Edinburgh cho thấy, cứ khoảng một tuần thì virus SARS-CoV-2 sẽ lại đột biến một lần. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với ước tính trước đây của các nhà khoa học, qua đó cho thấy các biến thể mới sẽ có thể xuất hiện nhanh hơn so với những gì chúng ta từng nghĩ.      Một số đột biến của virus giúp chúng tăng khả năng sống sót, tuy nhiên cũng có những đột biến khác lại gây bất lợi và do đó không tồn tại đủ lâu để có thể được giải trình tự. Ảnh minh họa: Catalin/phys.org  Trước đây, các nhà khoc học từng cho rằng, sau hai tuần, SARS-CoV-2 sẽ biến đổi một lần. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Genome Biology and Evolution của Trung tâm Tiến hóa Milner (Đại học Bath) và Khoa Di truyền học Người MRC (Đại học Edinburgh), chúng ta đã bỏ sót rất nhiều đột biến khác đã từng xuất hiện nhưng chưa bao giờ được giải trình tự.  Virus vốn thường xuyên biến đổi, chẳng hạn như khi chúng gặp sai sót trong quá trình sao chép bộ gen và nhân bản virus. Thông thường, khi nói đến chọn lọc tự nhiên, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến các đột biến mới có một điểm cải tiến nào đó khiến cho chúng dễ lây lan hơn, ví dụ như biến thể Alpha và Delta của COVID-19. Đây là “chọn lọc Darwin” hay “chọn lọc dương” (positive selection).  Tuy nhiên, thực ra hầu hết các đột biến lại có hại cho chính virus và làm giảm cơ hội sống sót của chúng – một khái niệm được gọi là chọn lọc thuần (purifying selection) hay chọn lọc âm (negative selection). Do sẽ không tồn tại được đủ lâu trong cơ thể của bệnh nhân nên các đột biến dạng này không được giải trình tự, và do đó chúng đã bị bỏ qua trong các tính toán về tỷ lệ đột biến.  Các phát hiện mới của nhóm nghiên cứu đã củng cố thêm sự cần thiết phải cách ly những người có hệ thống miễn dịch yếu đối với virus. Giải thích về điều này, giáo sư Laurence Hurst tại Trung tâm Tiến Hóa Milner (Đại học Bath), cho hay: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, nếu thời gian mắc COVID-19 của một bệnh nhân kéo dài hơn vài tuần thì có thể sẽ tạo điều kiện cho virus tiến hóa và dẫn đến các biến thể mới”. Chẳng hạn, “biến thể Alpha được cho là bắt nguồn từ sự tiến hóa của virus trong cơ thể của một người mãi không khỏi được bệnh”.  “Thực ra thông tin này cũng không phải hoàn toàn là tin xấu bởi hầu hết mỗi người sẽ truyền bệnh và khỏi bệnh trước khi virus kịp biến đổi đến mức như vậy. Tuy nhiên, ước tính mới về tỉ lệ đột biến đã cho thấy, virus sẽ có nhiều cơ hội tiến hóa ở mỗi người bệnh hơn so với những gì chúng ta từng nghĩ”.  Không chỉ vậy, theo giáo sư Hurst, “với số lượng lớn các bộ gen SARS-CoV-2 đã được giải trình tự hiện nay, chúng ta có thể biết được một số thông tin về số lượng đột biến chưa được biết đến cũng như nguyên nhân tại sao chúng lại bị bỏ sót, mặc dù không thể hoàn toàn nghiên cứu chúng một cách trực tiếp”.  “Trong Thế chiến thứ hai, Mỹ đã mất rất nhiều máy bay khi bay qua Đức. Để biết được cần phải thêm vật liệu chống đạn vào phần nào, họ đã xem xét những chỗ bị hư hại của những chiếc máy bay còn trở về và lý giải, những vị trí không có vết đạn bắn ở những chiếc máy bay ấy chính là những vị trí nguy hiểm nhất. Bởi nếu bị bắn vào những chỗ này thì chắc hẳn chúng cũng sẽ rơi và không thể quay về giống như những chiếc máy bay còn lại”.  “Chúng ta có thể sử dụng thủ thuật tương tự để khám phá ra các đột biến SARS-CoV-2 bị bỏ sót, chẳng hạn: các bộ gen virus được giải trình tự sẽ đóng vai trò là những chiếc máy bay còn sống sót, và ta có thể tìm ra tỉ lệ của tất cả các máy bay sống sót khi bị bắn cũng như lý do tại sao một số chiếc bị rơi”.  Phần lớn các đột biến chọn lọc âm mà các nhà khoa học tìm được là nhờ những lý do có thể đoán trước: ví dụ như các đột biến sẽ khiến cho gene ngắn hơn hoặc làm cho các protein, giống như protein gai, hoạt động kém hiệu quả.  Tuy nhiên, một số đột biến khác lại đem đến một điều bất ngờ. Tiến sỹ Atahualpa Castillo Morales, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Các protein mà virus tạo ra được hình thành từ các amino acid. Giống như gene của con người, gene của virus cũng có những hướng dẫn giúp cho các amino acid kết lại với nhau theo thứ tự. Chúng tôi phát hiện ra sự chọn lọc đã ưu tiên các đột biến sử dụng các amino acid ổn định hơn để không phải tốn nhiều năng lượng duy trì nguồn cung cấp”.  “Chúng tôi cho rằng. điều này xảy ra bởi virus chịu áp lực chọn lọc lớn nhằm tăng khả năng nhân rộng một cách nhanh chóng, và việc chúng sử dụng các amino acid có ‘tuổi thọ’ dài hơn sẽ giúp chúng ít phải chờ đợi nguồn cung cấp hơn”.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-08-mutation-covid-virus-percent-higher.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Virus cũng sống ký sinh      Tạp chí khoa học Nature vừa công bố hai loại virus mới trong điều hòa nhiệt độ: Mamavirus và Sputnik. Mamavirus đã truất ngôi của Mimivirus, loại virus lớn nhất được các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) phát hiện năm 2003.      Sputnik sống ký sinh trong Mamavirus và chỉ nhìn thấy được bằng kính hiển vi điện tử. Sputnik có 21 gene và có khả năng làm vật chủ khổng lồ của mình “bị ốm”. Phát hiện đặc biệt này đã dấy lên một cuộc tranh luận: virus có phải là cơ thể sống? Rõ ràng, virus khổng lồ này là một cơ thể sống vì nó có thể bị ốm. Sputnik có những loại gene phái sinh từ các virus khổng lồ và các virus khác nên có thể thay đổi được “ngôi nhà di động” của mình.    Bạch Dương (Theo TF1)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Virus định hình thế giới của chúng ta? (Phần 1)      Covid-19 là một lời nhắc nhở về sức mạnh hủy diệt của virus, nhưng thực ra chúng cũng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của loài người.      Mặc dù được coi là tác nhân gây bệnh, virus cũng định hình sự tiến hóa ngay từ đầu. Khoảng 8% DNA của chúng ta đến từ virus đã lây nhiễm cho tổ tiên, chúng chèn các gene virus vào bộ gene của chúng ta. Một số gene này đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của phôi thai đang phát triển và nhau thai.    Hãy tưởng tượng Trái đất không có virus  Nếu điều này xảy ra, nó sẽ làm giảm đáng kể sự khốn khổ và cái chết của con người. Chúng ta hãy thử điểm qua: HIV biến mất nên thảm họa AIDS không bao giờ xảy ra; tất cả các rotavirus, những tác nhân khiến hàng trăm nghìn người tử vong mỗi năm tuyệt chủng; Herpes B, do một số con khỉ mang, thường gây tử vong khi truyền sang người cũng biến mất; không ai bị thủy đậu, viêm gan, bệnh zona, hoặc thậm chí cảm lạnh thông thường nữa… Còn Variola, tác nhân của bệnh đậu mùa? Loại virus đó đã bị tiêu diệt trong tự nhiên vào năm 1977, nhưng giờ đây nó đã biến mất khỏi tủ đông lưu trữ bảo mật cao, nơi tồn tại cuối cùng của chúng. Virus SARS năm 2003, báo hiệu kỷ nguyên đại dịch hiện đại, cũng biến mất. Và tất nhiên, virus SARS-CoV-2, gây ra Covid-19 và có nhiều biến đổi đáng kinh ngạc, rất khôn lanh, nguy hiểm, rất dễ lây truyền cũng biến mất. Bạn có cảm thấy thế giới như vậy sẽ tốt hơn?  Thực ra là không.  Kịch bản này phức tạp hơn bạn nghĩ. Thực tế là chúng ta đang sống trong một thế giới của virus bởi riêng các đại dương chứa nhiều hạt virus hơn các ngôi sao trong vũ trụ mà loài người quan sát được. Chúng ta biết là động vật có vú có thể mang ít nhất 320.000 loài virus khác nhau. Khi ta cộng thêm các virus động vật không có vú, thực vật, vi khuẩn trên cạn và mọi vật chủ có thể có khác, tổng số lên đến… rất rất nhiều. Nhiều loại virus trong số đó mang lại lợi ích thích nghi cho sự sống trên Trái đất, bao gồm cả đời sống con người, chứ không gây hại.  Thật ra, chúng ta không thể tiếp tục tồn tại trên trái đất này mà không có chúng, thậm chí chúng ta  không thể tiến hóa nếu không có chúng. Chẳng hạn, có hai đoạn DNA có nguồn gốc từ virus giờ đây nằm trong bộ gene của người và các loài linh trưởng khác, và đáng kinh ngạc là nếu không có hai đoạn DNA này thì việc mang thai không thể xảy ra. Vẫn còn những gene khác được đồng chọn từ virus góp phần vào sự phát triển của phôi, điều chỉnh hệ thống miễn dịch, chống lại bệnh ung thư – những tác động quan trọng chỉ mới bắt đầu được hiểu gần đây. Hóa ra, virus đã đóng những vai trò quan trọng trong việc kích hoạt các quá trình chuyển đổi tiến hóa lớn.     Một thợ lặn tại Aquarium of the Pacific ở Long Beach, California, đưa ra hình ảnh của một loại virus của vi khuẩn của một con cá mập vằn bơi ngang qua. Chúng rất quan trọng đối với hệ sinh thái biển. Nguồn ảnh: Craig Cutler   Virus là một loại ký sinh trùng, chúng ta không thể phủ nhận điều này. Nhưng đôi khi sự ký sinh đó giống như sự cộng sinh, mang lại lợi ích cho cả hai. Giống như lửa, virus vừa tốt lại vừa xấu, có thể mang lại lợi ích hoặc phá hủy. Mọi thứ phụ thuộc vào virus, vào tình huống, và cả vào góc nhìn của bạn nữa. Chúng thực sự là những thiên thần bóng tối của sự tiến hóa, tuyệt vời hoặc khủng khiếp. Và rõ ràng là chúng rất thú vị.  Để đánh giá cao tính đa dạng của virus, ta cần bắt đầu với những điều cơ bản về chúng là gì và không phải là gì.   Chúng không phải là tế bào sống. Tế bào phải chứa bộ máy phức tạp để xây dựng và đóng gói protein, năng lượng cũng như thực hiện các chức năng chuyên biệt khác – tùy thuộc vào loại tế bào. Vi khuẩn cũng là một tế bào, có các thuộc tính tương tự, mặc dù đơn giản hơn nhiều. Trong khi đó, virus không phải là như vậy.  Chỉ nói virus là gì đã đủ phức tạp đến mức các định nghĩa đã thay đổi trong 120 năm qua. Martinus Beijerinck, một nhà thực vật học người Hà Lan, người đã nghiên cứu virus khảm thuốc lá, đã suy đoán vào năm 1898 rằng nó là một chất lỏng lây nhiễm. Trong một thời gian, virus được xác định chủ yếu theo kích thước của nó – một thứ nhỏ hơn nhiều so với vi khuẩn nhưng cũng giống như vi khuẩn, có thể gây bệnh. Tuy nhiên sau đó, một loại virus được cho là một tác nhân siêu nhỏ, chỉ mang một bộ gene rất nhỏ, nhân lên bên trong tế bào sống – nhưng đó chỉ là bước đầu tiên để hiểu rõ hơn.  “Tôi sẽ bảo vệ một quan điểm có vẻ nghịch lý”, nhà vi trùng học người Pháp André Lwoff đã viết trong “Khái niệm về virus ”, một bài luận có ảnh hưởng được xuất bản vào năm 1957, “cụ thể thì virus là virus”. Đây không phải là một định nghĩa quá hữu ích, nhưng là một cách nói khác để cho thấy chúng là “duy nhất” trong một hành tinh có sự sống.   Lwoff biết rằng virus dễ mô tả hơn là định nghĩa. Mỗi hạt virus bao gồm một đoạn các chỉ dẫn di truyền (DNA hoặc RNA) được đóng gói bên trong một viên nang protein (được gọi là vỏ capsid). Trong một số trường hợp, capsid được bao quanh bởi một lớp màng bao, bảo vệ nó và giúp nó bắt giữ tế bào. Virus chỉ có thể sao chép chính nó bằng cách xâm nhập vào một tế bào và lợi dụng chúng để biến thông tin di truyền thành protein.    Một hộp sọ hoàn chỉnh nhất của người Neanderthal từng được tìm thấy, trưng bày trong bảo tàng Musée de l’Homme ở Paris. Khi người hiện đại rời châu Phi, họ lai với người Neanderthal và ngay lập tức có được các gene đã tiến hóa qua hàng trăm nghìn năm. Các nhà khoa học đã tìm thấy 152 gene di truyền từ người Neanderthal (trong người hiện đại) giúp tạo ra phản ứng miễn dịch. Những gene này cho phép tổ tiên của chúng ta chống lại các loại virus mới gặp phải khi di cư tới châu Âu thời đó.  Nếu tế bào chủ không may mắn kháng cự được cuộc tấn công đó, nhiều hạt virus mới sẽ được tạo ra, bắt đầu cuộc xâm chiếm khiến tế bào chỉ còn lại như một đống đổ nát. Thiệt hại đó- chẳng hạn như những gì SARS-CoV-2 gây ra trong các tế bào biểu mô của đường thở của con người – một phần là cách virus trở thành mầm bệnh.  Nhưng nếu tế bào vật chủ may mắn, có thể virus chỉ đơn giản định cư vào tiền đồn ấm cúng này, hoặc không hoạt động hoặc tái cấu trúc bộ gene nhỏ của nó vào bộ gene của vật chủ. Khả năng thứ hai này mang nhiều ý nghĩa đối với sự pha trộn của các bộ gene, đối với tiến hóa. Trong một cuốn sách nổi tiếng năm 1983, nhà sinh vật học người Anh Peter Medawar và vợ ông, Jean, một biên tập viên, đã khẳng định, “Không có virus nào được coi là tốt cả: Người ta đã nói rõ rằng virus là một thứ thông tin xấu được gói gọn trong protein”. Họ đã sai. Rất nhiều nhà khoa học vào thời đó cũng vậy, và có thể ngày nay bất kỳ ai chỉ có kiến thức về virus thông qua những tin xấu như bệnh cúm hay Covid-19 cũng nghĩ như vậy. Nhưng ngày nay một số loại virus được biết là có ảnh hưởng tốt.  Những con virus đầu tiên đến từ đâu?  Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn lại gần bốn tỷ năm, khi sự sống trên Trái đất chỉ mới khởi thủy từ một “lò nung” gồm các phân tử dài, các hợp chất hữu cơ đơn giản và năng lượng.  Giả sử một số phân tử dài (có thể là ARN) bắt đầu tái tạo. Quá trình chọn lọc tự nhiên theo lý thuyết của Darwin sẽ bắt đầu từ khi chúng được tái tạo, đột biến và tiến hóa. Để tìm kiếm “lợi thế cạnh tranh”, một số có thể đã tìm thấy hoặc tạo ra sự bảo vệ bên trong bằng màng và thành, giúp hình thành những tế bào đầu tiên. Những tế bào này đã sinh ra con cái bằng cách phân hạch hoặc tách đôi. Chúng cũng tách ra theo một nghĩa rộng hơn, phân tách để trở thành Vi khuẩn và Cổ khuẩn, hai trong ba lĩnh vực của sự sống tế bào. Thứ ba, Eukarya (nhân thực), xuất hiện sau đó. Chúng bao gồm chúng ta và tất cả các sinh vật khác (động vật, thực vật, nấm, một số vi sinh vật ) được cấu tạo bởi các tế bào có cấu tạo giải phẫu bên trong phức tạp. Đó là ba nhánh lớn trên gốc cây sự sống, như được vẽ hiện nay.  Nhưng virus ở đâu? Chúng có phải là chi chính thứ tư không? Hay chúng là một loại dạng “cây tầm gửi”, một loại ký sinh trùng từ nơi khác đến? Hầu hết các phiên bản của cây sự sống loại bỏ hoàn toàn virus.  Một trường phái khẳng định rằng không nên đưa virus vào cây sự sống vì chúng không sống. Đó là một cuộc tranh cãi kéo dài, xoay quanh cách bạn định nghĩa “còn sống”. Hấp dẫn hơn là cho phép đưa virus vào trong cái khung khái niệm lớn có tên là Sự sống, và sau đó tự hỏi về cách chúng xâm nhập vào.  Có ba giả thuyết hàng đầu để giải thích nguồn gốc tiến hóa của virus. Giả thuyết đầu tiên cho rằng virus đã tồn tại trước các tế bào, bằng cách nào đó tự tập hợp trực tiếp từ “lò” nguyên thủy. Giả thuyết thứ hai đặt ra rằng các gene hoặc đoạn gene bị rò rỉ ra khỏi tế bào, và được bao bọc trong các nắp protein, sau đó đi lừa, tìm ra một ngách mới là ký sinh trùng. Giả thuyết thứ ba cho rằng virus có nguồn gốc khi một số tế bào phải giảm kích thước dưới áp lực cạnh tranh (chúng sẽ dễ dàng tái tạo hơn nếu chúng nhỏ và đơn giản), loại bỏ các gene cho đến khi chúng được giảm thiểu đến mức chỉ bằng cách ký sinh các tế bào khác thì chúng mới có thể tồn tại.   Ngoài ra còn có một giả thuyết thứ tư, được gọi là giả thuyết chimeric, lấy cảm hứng từ một loại yếu tố di truyền khác: transposon (gene nhảy). Nhà di truyền học Barbara McClintock đã suy luận về sự tồn tại của chúng vào năm 1948, một khám phá đã mang lại cho bà giải Nobel. Những yếu tố cơ hội này tiến hóa thành công theo thuyết Darwin chỉ đơn giản bằng cách chuyển từ phần này sang phần khác của bộ gene, trong một số trường hợp hiếm hoi là từ tế bào này sang tế bào khác, thậm chí là loài này sang loài khác, sử dụng tài nguyên tế bào để tự sao chép lặp đi lặp lại. Tự sao chép bảo vệ chúng khỏi sự tuyệt chủng. Chúng tích lũy một cách kỳ lạ. Ví dụ, chúng cấu thành gần một nửa bộ gene của con người. Theo ý tưởng này, các virus sớm nhất có thể đã phát sinh từ các yếu tố như vậy bằng cách mượn protein từ tế bào để bọc bên trong lớp vỏ bọc bảo vệ, một chiến lược phức tạp hơn.    Mimivirus.   Mỗi giả thuyết này đều có giá trị. Nhưng vào năm 2003, bằng chứng mới đã làm nghiêng ngả ý kiến ​​của các chuyên gia về giả thuyết thứ ba: virus khổng lồ. Nó được tìm thấy trong amip, là sinh vật nhân thực đơn bào. Những con amip này được lấy trong nước lấy từ một tháp ở Bradford, Anh. Bên trong một số chúng là đốm màu bí ẩn. Nó đủ lớn để có thể nhìn thấy qua kính hiển vi (virus được cho là quá nhỏ, chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử), và nó trông giống như một vi khuẩn. Các nhà khoa học đã cố gắng tìm kiếm các gene vi khuẩn bên trong nó nhưng không tìm thấy.  Cuối cùng, một nhóm các nhà nghiên cứu ở Marseille, Pháp, đã để thứ lây nhiễm này tiếp xúc các loài amip khác, giải trình tự bộ gene của nó, nhận ra nó là gì và đặt tên nó là Mimivirus, vì nó bắt chước vi khuẩn, ít nhất là về kích thước. Về đường kính, nó rất lớn, lớn hơn những con vi khuẩn nhỏ nhất. Bộ gene của nó cũng rất lớn so với một loại virus, dài gần 1,2 triệu base (so với virus cúm là 13.000, hoặc ngay cả đầu mùa cũng chỉ 194.000). Đó là một loại virus “không tưởng”: có bản chất là virus nhưng quy mô quá lớn, giống như một con bướm Amazon mới được phát hiện với sải cánh dài 4 mét.  Jean-Michel Claverie là thành viên cấp cao của nhóm Marseille, nói rằng việc phát hiện ra Mimivirus “đã gây ra rất nhiều rắc rối.” Tại sao? Bởi vì việc giải trình tự bộ gene đã tiết lộ 4 gene rất bất ngờ — các gene mã hóa các enzym được cho là duy nhất ở tế bào và chưa từng thấy ở virus. Claverie giải thích, những enzym đó là một trong những thành phần dịch mã để lắp ráp các axit amin thành protein.  “Vì vậy, câu hỏi đặt ra là”, Claverie nói, “Virus cần các gene này để làm gì? Trong khi chúng có thể điều khiển tế bào theo ý của mình?”  Thực sự chúng cần gì? Suy luận hợp lý là Mimivirus có các gene này vì chúng như là vật tổ chức, có thể dòng dõi của nó bắt nguồn từ quá trình giảm bộ gene từ một tế bào. (giả thuyết ba)  Mimivirus không phải duy nhất. Các loại virus khổng lồ tương tự cũng sớm được phát hiện ở biển Sargasso (giữa Bắc Đại Tây Dương), và tên ban đầu đã trở thành một chi, Mimivirus, chứa một số loài virus khổng lồ. Sau đó, nhóm nghiên cứu ở Marseille lại phát hiện thêm hai con khổng lồ – một lần nữa, cả hai đều là ký sinh trùng của amip – một con lấy từ trầm tích biển nông ngoài khơi Chile, con còn lại lấy từ một cái ao ở Úc. Lớn gấp đôi Mimivirus, thậm chí còn dị thường hơn, chúng được gán cho một chi riêng biệt, mà Claverie và các đồng nghiệp của ông đặt tên là Pandoravirus, gợi lên chiếc hộp của Pandora, như họ đã giải thích vào năm 2013, vì “những bất ngờ được mong đợi từ nghiên cứu sâu hơn của họ”.  Đồng tác giả chính của Claverie trên bài báo đó là Chantal Abergel, một nhà virus học và sinh vật học cấu trúc (và cũng là vợ của ông). Về các Pandoravirus, Abergel nói, với một nụ cười mệt mỏi: “Chúng rất thách thức”. Bà giải thích rằng thật khó để biết chúng là gì, những sinh vật này – quá khác với tế bào, quá khác với virus cổ điển, mang nhiều gene chưa từng thấy. “Tất cả những điều đó khiến chúng trở nên hấp dẫn nhưng cũng đầy bí ẩn.” Trong một thời gian, bà gọi chúng là NLF: dạng sống mới. Nhưng từ việc quan sát thấy chúng không tái tạo bằng cách phân hạch, bà và các đồng nghiệp của mình nhận ra chúng là virus – loại virus lớn nhất và khó hiểu nhất được tìm thấy cho đến nay.  Những khám phá này gợi ý cho nhóm Marseille một hướng đi táo bạo để giải thích cho giả thuyết giảm thiểu (kích thước). Có thể virus bắt nguồn từ việc khử từ các tế bào cổ đại, nhưng các tế bào thuộc loại này không còn tồn tại trên Trái đất. Loại “tế bào nguyên mẫu tổ tiên” này có thể khác và cạnh tranh với tổ tiên chung phổ biến của tất cả các tế bào được biết đến ngày nay. Có thể những tế bào nguyên mẫu này đã thua cuộc cạnh tranh đó, và bị loại khỏi tất cả các hốc dành cho những sinh vật sống tự do. Chúng có thể đã sống sót khi ký sinh trên các tế bào khác, giảm kích thước bộ gene và trở thành thứ mà chúng ta gọi là virus. Từ cõi tế bào đã biến mất đó, có lẽ chỉ còn lại virus, giống như những cái đầu bằng đá khổng lồ trên Đảo Phục Sinh.  Việc khám phá ra các loại virus khổng lồ đã truyền cảm hứng cho các nhà khoa học khác, đặc biệt là Patrick Forterre tại Viện Pasteur ở Paris, hình thành những ý tưởng mới lạ về virus là gì và vai trò của chúng, trong sự tiến hóa và các chức năng của đời sống tế bào.□  (Còn tiếp)  Đức Phát lược thuật  Nguồn bài và ảnh:   https://www.nationalgeographic.com/magazine/2021/02/viruses-can-cause-great-harm-but-we-could-not-live-without-them-feature/  *Tác giả David Quammen là một nhà khoa học, một cây viết về khoa học nổi tiếng cho các tờ như National Geographic, New York Times, The New Yorker… và hơn mười cuốn sách phổ biến khoa học; tiêu biểu gần đây có cuốn Spillover đề cập tới các bệnh dịch mới nổi từ động vật lây nhiễm sang con người, trong đó có tiên đoán về đại dịch như Covid.     Author                David Quammen        
__label__tiasang Virus định hình thế giới của chúng ta? (Phần 2)      Nhìn những tác động của Covid và các dịch bệnh khác trong ngắn hạn, chúng ta sẽ chỉ thấy “mặt trái” của virus và cầu mong chúng biến mất. Tuy nhiên, trong kỳ trước, David Quammen đã cho chúng ta thấy rằng, nếu nhìn vào lịch sử tiến hóa của loài người sẽ lại thấy virus đã trở thành một phần cuộc sống của chúng ta ngay từ khởi thủy.      Cách đây 150 triệu năm, virus đã lây nhiễm cho động vật có vú và để lại gene dẫn đến một tiến hóa đáng kể: hình thành nhau thai, cho phép chất dinh dưỡng và oxy đến bào thai, đồng thời thải ra ngoài chất thải và khí carbonic. Con người và các loài động vật có vú khác có nhau thai có thể di chuyển cùng con non, giúp chúng ít bị động vật ăn thịt hơn. Ở người, hai gene có nguồn gốc từ virus — syncytin-1 và syncytin-2 — giúp hình thành màng nhau thai bám vào tử cung.   Forterre đề xuất các định nghĩa trước đây về “virus” là không đầy đủ, bởi vì các nhà khoa học đang nhầm lẫn giữa các phần tử virus – các bit được bao bọc bởi capsid của bộ gene, được gọi đúng là virion – với tổng thể của một virus. Ông cho rằng điều đó cũng sai giống như việc nhầm lẫn hạt giống với thực vật, hoặc bào tử với nấm. Ông lập luận rằng virion chỉ là cơ chế phân tán. Tính toàn vẹn thực sự của virus cũng bao gồm sự hiện diện của nó trong tế bào, một khi nó đã chiếm giữ bộ máy của tế bào để tái tạo nhiều virion hơn, nhiều hạt giống hơn của chính nó. Xem hai giai đoạn cùng nhau là để thấy rằng tế bào đã thực sự trở thành một phần trong lịch sử cuộc sống của virus.  Forterre củng cố quan điểm đó bằng cách phát minh ra một cái tên mới cho thực thể kết hợp: virocell. Ý tưởng này cũng vượt qua câu hỏi hóc búa sống hay không sống. Theo Forterre, virus còn sống khi nó là virocell, đừng bận tâm rằng virion của nó là vô tri vô giác.  “Ý tưởng đằng sau khái niệm virocell chủ yếu là tập trung vào giai đoạn nội bào này”, theo Forterre. Đó là giai đoạn tinh vi khi tế bào bị nhiễm, giống như một thây ma, đang tuân theo nhiệm vụ của virus, đọc bộ gene của virus và sao chép nó. Trong quá trình đó, Forterre nói, “các gene mới có thể bắt nguồn từ bộ gene của virus. Và đây là một điểm quan trọng đối với tôi. ” Virus mang lại sự đổi mới, nhưng các tế bào phản ứng với những đổi mới bằng sức phòng thủ của riêng chúng, chẳng hạn như thành tế bào hoặc nhân, và vì vậy đó là một cuộc “chạy đua vũ trang” hướng tới sự phức tạp hơn. Nhiều nhà khoa học đã giả định rằng virus đạt được những thay đổi lớn về mặt tiến hóa của chúng bằng mô hình “virus móc túi (Pickpocketing)”, khiến nó có thể trao đổi gene với tế bào chủ.  Forterre, Claverie và Gustavo Caetano-Anollés tại Đại học Illinois ở Urbana-Champaign nghĩ tới một điều tiếp theo. Đó là, có thể virus đã làm phong phú thêm các lựa chọn tiến hóa của các sinh vật tế bào trong vài tỷ năm qua bằng cách gửi vật liệu di truyền mới vào bộ gene của của vật chủ. Quá trình kỳ lạ này là một phiên bản của hiện tượng được gọi là chuyển gene theo chiều ngang – các gene di chuyển theo chiều ngang, giữa các loài khác nhau (Chuyển gene theo chiều dọc là hình thức di truyền quen thuộc hơn: từ cha mẹ sang con cái).   Để hiểu thêm về quá trình chuyển gene ngang ở người, tôi tiếp tục gặp Thierry Heidmann, người đã sàng lọc bộ gene của con người – tất cả 3,1 tỷ base – để tìm ra các đoạn DNA trông giống như loại gene mà virus sẽ sử dụng để tạo ra vỏ bọc của nó. Họ tìm thấy 20 đoạn cần tìm. Và “ít nhất hai gene được chứng minh là rất quan trọng. Chúng có khả năng thực hiện các chức năng cần thiết cho quá trình mang thai của con người”. Nó là syncytin-1, đã được các nhóm khác phát hiện, và syncytin-2, được ông và cộng sự tìm thấy.   Làm thế nào những gene virus này trở thành một phần của bộ gene người, và chúng đã trở nên thích nghi với mục đích gì? chúng ta lại phải tiếp tục với khái niệm về retrovirus nội sinh của con người.    Các nhà khoa học vẫn đang cố gắng truy tìm nguồn gốc của coronavirus được gọi là SARS-CoV-2. Dơi móng ngựa lớn và tê tê đang được cho là vật chủ. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về sự đa dạng của các loại virus này, hàng chục nghìn bộ gene của virus cúm gia cầm đã được xác định, nhưng chưa đến 100 bộ gene coronavirus được biết đến. Về nguyên tắc, có thể có virus lưu hành ở loài dơi gần giống với SARS-CoV-2 hoặc rất giống với SARS-CoV-2, nhưng chúng ta chưa thực hiện đủ nghiên cứu ở dơi; chúng ta chưa thu thập đủ virus ở dơi, và chúng ta chưa biết. Con dơi này  được thu thập ở Vùng Tashkent của Uzbekistan vào năm 1921; tê tê đến từ tỉnh Quý Châu, Trung Quốc vào năm 1945.  Retrovirus là một loại virus có bộ gene RNA hoạt động ngược so với hướng thông thường (do đó nó tên là retro). Thay vì sử dụng DNA để tạo ra RNA, sau đó đóng vai trò như một sứ giả để tạo ra protein, những virus này sử dụng RNA của chúng để tạo ra DNA và sau đó tích hợp nó vào bộ gene của tế bào bị nhiễm. Ví dụ, HIV là một loại virus retro lây nhiễm vào các tế bào miễn dịch của con người, chèn bộ gene của nó vào bộ gene tế bào. Và vào một thời điểm nào đó, DNA của virus được kích hoạt, trở thành khuôn để sản sinh ra nhiều loại virus HIV hơn, chúng giết chết tế bào một khi chúng bùng phát.  Bước ngoặt xảy ra khi một số retrovirus lây nhiễm vào các tế bào sinh sản – tế bào sản xuất trứng hoặc tinh trùng – và khi làm điều đó, chúng sẽ chèn DNA của mình vào bộ gene di truyền của vật chủ. Những đoạn được chèn vào đó là các retrovirus nội sinh, và khi được tích hợp vào bộ gene người, chúng được gọi là retrovirus nội sinh của người (HERV). Nếu bạn không nhớ gì khác từ bài viết này, bạn có thể muốn nhớ rằng 8% bộ gene người xuất phát từ virus theo cách chèn thông qua retrovirus trong quá trình tiến hóa như vậy. Gene syncytin-2 là một trong những kết quả chèn đó.  Bản chất vấn đề rất đơn giản. Một gene ban đầu giúp virus dung hợp với tế bào vật chủ, tìm đường xâm nhập vào bộ gene động vật cổ đại. Sau đó, nó được tái sử dụng để tạo ra một loại protein tương tự giúp hợp nhất các tế bào để tạo ra một cấu trúc đặc biệt mà sau này chúng ta gọi là nhau thai, mở ra một khả năng mới ở một số động vật: mang thai trong. Sự đổi mới đó là hệ quả rất lớn trong lịch sử tiến hóa, giúp con cái có thể mang con chúng đang phát triển từ nơi này sang nơi khác, bên trong cơ thể của mình, thay vì để chúng ở một nơi dễ bị tổn thương, như đẻ trứng trong tổ chẳng hạn.   Theo thời gian, thiết kế của phương thức sinh sản mới này được cải thiện và nhau thai phát triển. Trong số các gene virus thu được này có syncytin-2, một trong hai gene hợp bào ở người giúp kết hợp các tế bào để tạo thành lớp nhau thai bên cạnh tử cung. Cấu trúc độc đáo đó, trung gian giữa mẹ và thai nhi, cho phép các chất dinh dưỡng và oxy vào, mang các chất thải và carbon dioxide ra ngoài, và có thể bảo vệ thai nhi khỏi bị tấn công bởi hệ thống miễn dịch của mẹ. Đó là một phép màu gần như kỳ diệu của sự thiết kế hiệu quả, trong đó quá trình tiến hóa đã định hình một thành phần virus thành một thành phần của con người. “Gene của chúng ta không chỉ là gene của chúng ta. Các gene của chúng ta cũng là gene retrovirus”, Heidmann nói.    Trái: Một phần SARS-CoV-2 từ chụp cắt lớp điện tử lạnh cho thấy các gai nhô ra ở các góc. Những chiếc gai này có ba khớp – hông, đầu gối và mắt cá chân – cho phép chúng xoay quanh, rất có thể làm tăng tỷ lệ gắn vào tế bào. Phải: Một mô hình phân tử ở độ phân giải nguyên tử cho thấy các protein tạo nên nhánh, với các chuỗi giống hệt nhau được biểu thị bằng màu đỏ, cam và vàng. Chúng được che chắn bởi các chuỗi glycans – các phân tử giống đường có màu xanh lam – che dấu protein khỏi các kháng thể của con người có thể phá hủy nó. Hiểu được cấu trúc của protein gai là chìa khóa để thiết kế vaccine hiệu quả.  Sự đóng góp của virus mang lại cho chúng ta syncytin-2 chỉ là một ví dụ nhỏ trong một tổng thể lớn hơn. Một gene khác là ARC, được biểu hiện để phản ứng với hoạt động của tế bào thần kinh ở động vật có vú và ruồi. Nghiên cứu gần đây của một số nhóm, trong đó có nhóm do Jason Shepherd tại Đại học Utah đứng đầu cho thấy rằng ARC đóng một vai trò quan trọng trong việc lưu trữ thông tin trong mạng nơ ron, hoặc một từ khác miêu tả cho điều đó: bộ nhớ. ARC dường như làm điều đó bằng cách đóng gói thông tin thu được từ kinh nghiệm (thể hiện dưới dạng RNA) thành các túi protein nhỏ để mang nó từ nơ ron này sang nơ ron khác. Các nhà khoa học cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy các mảnh virus được tạo ra bởi một loại virus retrovirus nội sinh khác ở người, được gọi là HERV-K, có trong phôi người ở giai đoạn sớm nhất và có thể có một số vai trò tích cực trong việc bảo vệ phôi thai khỏi nhiễm virus, hoặc giúp kiểm soát sự phát triển của thai nhi, hoặc cả hai.   Tuy nhiên, nhược điểm của sự nhanh nhạy trong quá trình tiến hóa đó là virus có thể chuyển vật chủ từ một loại sinh vật này sang một loại sinh vật khác và trở thành mầm bệnh trên vật chủ mới. Đó chính là sự lây lan và là cách hầu hết các bệnh truyền nhiễm mới của con người phát sinh – với các loại virus có được từ vật chủ không phải là con người.  Trong vật chủ ban đầu – được khoa học gọi là vật chủ chứa – một loại virus có thể đã tồn tại một cách âm thầm và ít tác động, trong hàng nghìn năm. Nó có thể đã đạt đến mức tiến hóa cộng sinh với vật chủ, chấp nhận an toàn để đổi lấy việc không gây ra rắc rối. Nhưng trong một vật chủ mới, chẳng hạn như con người, “giao kèo” này không nhất thiết phải giữ. Virus có thể bùng phát dữ dội, gây khó chịu hoặc đau khổ cho nạn nhân. Nếu virus không chỉ nhân lên mà còn có thể lây lan, từ người sang người, trong số hàng chục cá thể khác, thì đó là một đợt bùng phát. Nếu nó quét qua một cộng đồng hoặc một quốc gia, đó là một dịch bệnh. Nếu nó bao vây thế giới, đó là một đại dịch.   Vì vậy, bây giờ chúng ta quay lại SARS-CoV-2.  Một số loại virus có nhiều khả năng gây ra đại dịch hơn những loại khác. Gần đầu danh sách các ứng cử viên đáng lo ngại nhất là coronavirus, vì bản chất của bộ gene, khả năng thay đổi và tiến hóa của chúng cũng như tiền sử gây ra các bệnh nghiêm trọng cho con người. Nhóm đó bao gồm SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nặng) vào năm 2002-2003 và MERS (hội chứng hô hấp Trung Đông) trong năm 2012-2015. Vì vậy, khi cụm từ “coronavirus mới” bắt đầu được sử dụng để mô tả một thứ mới gây ra các đám bệnh ở Vũ Hán, Trung Quốc, hai từ đó đủ khiến các nhà khoa học về bệnh trên thế giới phải rùng mình.   Coronavirus thuộc một loại virus RNA sợi đơn, giống với các virus như virus Ebola, bệnh dại, sởi, Nipah, hantavirus và retrovirus. Chúng nổi tiếng một phần vì bộ gene RNA sợi đơn thường xuyên bị đột biến khi virus nhân lên, và sự đột biến như vậy cung cấp nhiều biến thể di truyền ngẫu nhiên mà chọn lọc tự nhiên có thể hoạt động.  Tuy nhiên, coronavirus tiến hóa tương đối chậm so với virus RNA. Chúng mang bộ gene khá dài – bộ gene SARS-CoV-2 có khoảng 30.000 base – nhưng bộ gene của chúng thay đổi chậm hơn so với một số bộ gene khác vì chúng có một enzym hiệu chỉnh để sửa các đột biến. Tuy nhiên, chúng cũng có khả năng thực hiện một thủ thuật gọi là tái tổ hợp, trong đó hai dòng coronavirus lây nhiễm vào cùng một tế bào, hoán đổi các phần trong bộ gene của chúng và tạo ra một dòng coronavirus lai thứ ba. Đó có thể là những gì đã xảy ra để tạo ra coronavirus mới, SARS-CoV-2.  Tổ tiên của virus có thể cư trú ở một loài dơi, có thể là dơi móng ngựa – loài này thường mang coronavirus (trước đó các nhà khoa học cũng đã đặt khả năng là tê tê). Các nhà khoa học đang khám phá khả năng này bằng cách giải trình tự và so sánh bộ gene của các loại virus được tìm thấy trong các vật chủ tiềm năng khác nhau. Tuy nhiên tất cả những gì chúng ta biết bây giờ mới chỉ là SARS-CoV-2 tồn tại là một loại virus tinh vi có khả năng tiến hóa hơn nữa.  Virus có thể cho và lấy đi. Có thể lý do khiến khó được chúng lên cây sự sống là vì xét cho cùng, lịch sử sự sống không hoàn toàn có hình dạng giống như một cái cây. Phép loại suy trên cây sự sống chỉ là cách truyền thống của chúng ta để minh họa sự tiến hóa, được Charles Darwin làm đề xuất kinh điển. Nhưng Darwin, vĩ đại như ông, không biết gì về sự chuyển gene theo chiều ngang. Trên thực tế, ông không biết gì về gene. Ông không biết gì về virus. Mọi thứ rất phức tạp, và chúng ta đã nhận ra nó ngay từ bây giờ. □  Đức Phát lược thuật  Nguồn bài và ảnh:   https://www.nationalgeographic.com/magazine/2021/02/viruses-can-cause-great-harm-but-we-could-not-live-without-them-feature/    Author                David Quammen        
__label__tiasang Virus  mới ở Trung Quốc: Các nhà khoa học đi  tìm câu trả lời cho 5 câu hỏi      Các nhà nghiên cứu đang chạy đua để tìm thêm nhiều thông tin về bản chất dịch tễ học và trình tự gene của coronavirus đang lan nhanh ở châu Á và vượt ra ngoài phạm vi châu lục này.      Các giới chức ngành y trên khắp thế giới đang lo ngại về dịch bệnh do loài virus bí ẩn bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng trước. Đã có hơn 500 ca bị lây nhiễm, và 17 ca tử vong. Phần lớn các ca đều được phát hiện ở châu Á và một mới được phát hiện ở Mỹ.  Các nhà nghiên cứu hiện đang cố tìm thêm nhiều thông tin về loài virus này nhằm giải đáp vấn đề là liệu nó có khả năng gây ra một dịch bệnh tương tự như SARS vào năm 2002–2003, xuất hiện từ phía nam Trung Quốc và gây ra cái chết của 774 người ở 37 quốc gia, hay không. Chúng đều thuộc một họ virus lớn gọi là coronaviruses, trong đó có cả những virus gây ra chứng cảm lạnh thông thường.  Nỗ lực để hiểu thêm về dịch bệnh này là vấn đề cốt lõi, bởi vì khối lượng lớn người di chuyển từ thứ 6 cho kỳ nghỉ lớn nhất năm là Tết nguyên đán có thể sẽ làm loài virus này lây lan nhanh hơn và trên diện rộng hơn.  Virus này lan truyền như thế nào?  Vấn đề cấp bách nhất lúc này là xác định con đường lây nhiễm của  dịch bệnh. Chính quyền Trung Quốc đã xác nhận một số ca lây nhiễm do lây từ người sang người nhưng vẫn còn chưa rõ là liệu nó diễn ra theo cách thông thường hay không.  “Những gì cần phải hiểu là liệu sự xuất hiện của virus với tốc độ và quy mô của hiệu suất như hiện nay có bền vững với một dịch bệnh trên người không”, Neil Ferguson, một nhà nghiên cứu dịch tễ học bằng các mô hình toán học  tại Imperial College London, nêu. Việc theo dõi tốc độ các ca mắc bệnh mới xuất hiện và khi các triệu chứng bắt đầu xuất hiện ở từng ca có thể cho các nhà khoa học biết cách virus này có thể truyền qua người sang người và liệu dịch bệnh này có khả năng tồn tại dai dẳng hay không.  Virus này gây chết người như thế nào?    Các mức tỉ lệ cao của bệnh viêm phổi giữa người nhiễm bệnh đầu tiên khiến nhiều nhà nghiên cứu lo ngại là virus ở Vũ Hán hết sức nguy hiểm. Những lo ngại này còn chưa được giải quyết thì nhiều trường hợp khác đã đến. Với ít nhất 17 người chết trong số 500 ca mắc bệnh, virus này không bị coi là nguy hiểm như SARS – vốn khiến 11% người lây nhiễm chết. Nhưng “vẫn còn quá sớm để lạc quan đền tình trạng nghiêm trọng này,” Ferguson nói.  Virus đến từ đâu?  Những người đang nghiên cứu về giả thuyết này đều cho rằng virus bắt nguồn từ một động vật chưa được xác định hoặc nhiều loài vật, sau đó lan truyền cho người tại một chợ bán hải sản và động vật lớn ở Vũ Hán. Việc nhận diện được nguồn lây nhiễm virus từ động vật có thể giúp kiểm soát được dịch bệnh hiện nay và đo lường được hiểm họa của nó — và ngăn chặn về mặt tiềm năng của những dịch bệnh do loài virus này gây ra trong tương lai. Kết quả giải trình tự gene cho thấy virus Vũ hán có mối liên quan với coronavirus vốn lưu hành trên dơi, bao gồm SARS và những thứ liên quan. Tuy nhiên những loài động vật có vú khác cũng là nguyên nhân lan truyền các virus này – SARS chủ yếu lan truyền cho người qua những con cầy hương.  Chợ bán hải sản sống, nơi được xem là xuất phát  của dịch bệnh và giờ đã bị đóng cửa, có bán rất nhiều động vật hoang dại. Theo dấu nhiều trường hợp đến khu chợ này có thể giúp nhận diện ran nguồn, như có thể kiểm tra các con vật từ chợ hoặc các container và lồng nhốt, bởi vật liệu di truyền của virus, Ben Cowling, một nhà dịch tễ học tại trường ĐH Hong Kong, nhận xét.  Chúng ta có thể thấy được gì từ giải trình tự gene của virus?    Kết quả giải trình tự gene của coronavirus Vũ Hán có thể giúp cung cấp manh mối về nguồn gốc và sự lây lan. Các phòng thí nghiệm ở Trung Quốc và Thái Lan đã giải trình tự hệ gene của ít nhất 19 chủng được tìm thấy trên người bị nhiễm bệnh và ngay lập tức công khai chúng. Đấy là “một kết quả xuất sắc có được sau hai tuần chúng tôi bắt tay làm việc,” Trevor Bedford, một nhà di truyền học tiến hóa tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, Washington, hiện đang phân tích các kết quả giải trình tự khi chúng mới được tung ra.  Bedford nói, điều phức tạp nhất trong các trình tự gene này là chúng có sự tương đồng nhau. “Có rất ít sự đa dạng. Tôi chờ đợi thấy nhiều thông tin hơn và tôi nghĩ người khác cũng vậy.” Việc thiếu sự đa dạng di truyền của virus cho thấy tổ tiên chung của các chủng khác nhau lây nhiễm cho người mới xuất hiện trong tháng 11 hoặc 2019, và chúng lan truyền rất nhanh, không hề có nhiều biến dị. Dẫu vậy, Bedford cho biết thêm, các hệ gene không có chỉ dấu là liệu sự lan truyền nhanh chóng của virus trên người hay động vật. Nhà di truyền học tiến hóa Andrew Rambaut tại ĐH Edinburgh, Anh, đã nêu một phân tích vào ngày 20/1/2020 cũng đưa ra vấn đề tương tự.  Bedford nói, với các trình tự gene virus, có thể tìm ra vấn đề là liệu phần lớn các ca nhiễm bệnh đều có nguyên nhân lặp đi lặp lại tín hiệu của virus từ động vật sang con người, với sự lây lan từ người sang người có giới hạn, hay liệu virus lan truyền sang một số lượng nhỏ con người và phần lớn các ca đều có nguyên nhân lây nhiễm thứ cấp từ người sang người? “Tôi nghĩ đây có thể mục tiêu dịch tễ học lớn nhất cho mọi người vào thời điểm này,” ông nói. Thông tin di truyền từ động vật hoặc các loài động vật truyền virus sang con người có thể giúp nhận diện được sự mở rộng lan truyền người sang người, Bedford cho biết thêm.  Nhiều trình tự gene, ông nói, có thể giúp xác định được bất kỳ thay đổi gene nào tạo cơ hội cho virus có được cú nhảy từ động vật sang người. Và nếu cơn bùng phát dịch bệnh kéo dài vì sự lan truyền từ người sang người, Bedford và các nhà di truyền học khác sẽ tìm hiếm các tín hiệu mà virus có các biến dị giúp chúng có khả năng lây nhiễm hiệu quả hơn trên người.  Bedford cảnh báo là những kết luận này vẫn còn là sơ bộ bởi vì vẫn còn ít dữ liệu. “Việc có thêm một số mẫu quan trọng nữa có thể làm thay đổi câu chuyện này một cách đáng kể, ông nói.  Có thể có thuốc được phát triển để điều trị coronavirus?    Chưa có loại thuốc nào chứng tỏ được hiệu quả điều trị SARS hoặc các lây nhiễm do coronavirus hây ra ở người, và chưa có loại vaccine nào có thể ngăn chặn được các nhiễm trùng hô hấp được cấp phép.  Một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật quốc gia về các loại thuốc mới nổi Trung Quốc ở Bắc Kinh đang nghiên cứu để tìm ra các liệu pháp có thể hoạt động bằng việc ngăn chặn thụ thể trên tế bào người mà virus này chọn để thâm nhập cơ thể con người. Với việc so sánh giải trình tự gene SARS và virus Vũ Hán mới cho thấy chúng có liên kết với cùng thụ thể. Họ đang hi vọng khôi phục lại các nỗ lực phát triển phương thức điều trị SARS và áp dụng chúng vào việc làm ra một loại thuốc có thể hiệu quả trên virus Vũ Hán.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00166-6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Virus ở Vũ Hán lây lan nhanh như thế nào?      Các quan chức Trung Quốc đã xác nhận con virus đó đang lan rộng giữa người với người nhưng vẫn chưa rõ quá trình đó diễn ra như thế nào.      Các nhà nghiên cứu đang tập trung vào xác định cách một virus đã lây nhiễm cho hàng trăm người nhanh như thế nào – và làm chết ít nhất 4 người – ở châu Á, lây lan giữa con người. Nhờ có sự công bố dịch bệnh chính thức mà người ta biết thêm thông tin là những người làm trong ngành y cũng đã bị nhiễm bệnh thông qua quá trình chăm sóc. Bản thân điều này cũng là một kiểm nghiệm quan trọng về khả năng mầm bệnh lây lan giữa người với người, đề xuất thêm vấn đề là mầm bệnh đó lây lan với tốc độ nhanh hơn người ta nghĩ trước đây. Tổ chức Y tế thế giới WHO đã kêu gọi tổ chức một phiên họp khẩn cấp để quyết định liệu có công bố cơn bùng phát này ở tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế hay không.  Zhong Nanshan, nhà nghiên cứu về hô hấp phụ trách nhóm chuyên gia của chính phủ về dịch bệnh, đã xác nhận vào đầu tuần là con virus này đang lây lan giữa người và người. Hiện tại, nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà nghiên cứu là tìm ra cách chúng lan truyền như thế nào giữa người với người, Dirk Pfeiffer, một nhà dịch tễ học tại trường ĐH Thành thị Hong Kong, nói. Nó đòi hỏi cần phải có nhiều dữ liệu về các trường hợp nhiễm bệnh hơn, ông bổ sung thêm.  Các quan chức đã xác nhận 15 y tá và hộ lý đã tiếp xúc với người mắc bệnh ở Vũ Hán – và một người đang trong tình trạng nguy kịch. Trước đây, các quan chức Trung Quốc va WHO cho biết chỉ có rất ít trường hợp lây từ người sang người giữa các thành viên trong gia đình nhưng động vật được xem là một nguồn lây nguy hiểm nhất.  Dẫu vậy, sự lây nhiễm của những y tá và hộ lý cho thấy, virus này vô cùng “khôn khéo” trong quá trình lây từ người sang người, Kirsty Short, một nhà vi trùng học tại trường đại học Queensland ở Brisbane, cho biết. Bởi vì các nhân viên y tế là những người đầu tiên tiếp xúc với bệnh nhân nên họ có khả năng bị lây nhiễm nếu một mầm bệnh được truyền giữa con người với con người, bà nói. Nhưng tại thời điểm đó, còn ít thông tin được biết về việc liệu các trường hợp nhiễm bệnh dạng này từ một bệnh viện hay nhiều cơ sở y tế, yếu tố giúp các nhà nghiên cứu xác định quy mô của việc truyền bệnh trên người. “Nếu như ở trong cùng một bệnh viện, điều trị trên cùng bệnh nhân thi nó có thể đưa ra vấn đề là một bệnh nhân đã lây nhiễm cho một số lượng lớn người”, Short nói.  Phản hồi của quốc tế  Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, đã triệu tập phiên họp gồm các chuyên gia y tế vào ngày 22/1/2020 để quyết định liệu có thể tuyên bố cơn bùng phát này là một tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế (PHEIC) – mức cảnh báo cao nhất của WHO, hay không. Nếu đúng là một PHEIC, điều đó có nghĩa là WHO cho rằng dịch bệnh có thể là một rủi ro y tế công cộng của các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến việc thúc đẩy một phản hồi quốc tế, Short nói đây là cốt lõi để cùng giải quyết vấn đề về các loại virus gây nhiễm trùng đường hô hấp xuyên biên giới. Ngay cả nếu hội đồng chuyên gia không xác nhận đây là một PHEIC thì WHO cũng sẽ đưa ra các khuyến nghị để kiểm soát dịch bệnh.  Bộ Y tế Trung Quốc đã phân loại virus này, một chủng coronavirus có liên quan tới SARS, như một dịch bệnh lây nhiễm hạng B. Sự phân loại này có thể giúp chính phủ Trung Quốc đưa ra các quyết định liên quan đến việc ngăn cấm việc di chuyển theo kiểu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, thậm chí cả trong thành phố, và đưa ra những biện pháp khẩn cấp khác có thể ảnh hưởng đến nhịp sống của cả một vùng.  Những quan chức chính phủ mới bắt đầu triển khai việc kiểm soát người ra và vào Vũ Hán, nơi virus được phát hiện đầu tiên vào tháng 12/2019 trên những người tới một khu chợ bán vật sống. Trong tuần tiếp theo đó, nhiều trường hợp mắc bệnh ở các thành phố khác đã được thông báo như Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến; căn bệnh này đã lây nhiễm cho 300 người ở Trung Quốc và một số trường hợp ở một số quốc gia khác như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc.  Trong tuần tới, gần 300 triệu người sẽ di chuyển trên khắp Trung Quốc nhân dịp Tết nguyên đán. “Đây là vấn đề rất lớn khi anh đang có một virus nhiễm trùng đường hô hấp mới nổi có tiềm năng ‘trôi nổi’ khắp các khu dân cư,” Matthew Frieman, một nhà vi trùng học và miễn dịch học tại trường ĐH Maryland, lưu ý.  Kể từ khi dịch bệnh xuất hiện, chính quyền Trung Quốc đã triển khai nhiều biện pháp hiệu quả để nhận diện các ca mắc bệnh, giải trình tự hệ gene mầm bệnh và công bố nó trong cộng đồng khoa học, Frieman nói. “Phần còn lại của dịch bệnh này sẽ thực sự được xác định bằng độ mở thông tin của họ.”  Thanh Phương dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00129-x    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vitamin bổ sung đã hết thời      “Vụ việc này đã kết thúc”, “đủ là đủ” – đánh  giá của các nhà khoa học Mỹ đối với các chế phẩm vitamin rất rõ ràng và  mạnh mẽ: những người trưởng thành, khỏe mạnh không có biểu hiện bị  thiếu chất dinh dưỡng thì không cần dùng thực phẩm bổ sung dù là vitamin  hay các khoáng chất vì chúng không những vô bổ mà trong trường hợp xấu  nhất còn có thể gây hại.    Đánh giá này được thể hiện trong một bài bình luận công bố trên tạp chí chuyên đề quan trọng nhất dành cho các chuyên gia về nội khoa Mỹ “Annals of Internal Medicine”. Trong phần đánh giá nghiên cứu tổng quan và qua hai nghiên cứu mới đây nhất, các tác giả đều đi đến kết luận nghiêm túc: không thể chứng minh tác dụng của các loại vitamin.   Thị trường thực phẩm bổ sung cỡ tiền tỷ   Tuy thiếu bằng chứng về hiệu quả của các loại thuốc vitamin, người tiêu dùng Mỹ và Đức từ nhiều năm nay sử dụng ngày càng nhiều vitamin: Ở Đức khoảng ¼ dân số thường xuyên dùng vitamin dưới dạng thực phẩm bổ sung.  Riêng năm 2010, ngành công nghiệp dược đạt doanh thu trên 900 triệu Euro. Trong khi đó, từ lâu, người ta đã biết về lâu dài, các loại thực phẩm bổ sung có thể gây hại, gần đây nhất cơ quan của EU về an toàn thực phẩm (Efsa), đã cảnh báo nhiều vị cao niên sử dụng quá nhiều chất bổ sung (supplement).   Tình hình ở Mỹ thậm chí còn tệ hơn, mặc dù kết luận của các công trình nghiên cứu về chất bổ sung tiêu cực, nhưng việc tiêu thụ các chất bổ sung lại liên tục tăng, Eliseo Guallar thuộc ĐH Johns Hopkins ở Baltimore và các cộng sự đã đưa vấn đề này vào kết luận bài bình luận của họ trong bài báo nói trên. Hàng năm người Mỹ chi khoảng 12 tỷ USD cho các loại thuốc vitamin và khoáng chất.  Sau đây là những lý do quan trọng nhất được các chuyên gia đưa ra để chống lại các loại thuốc vitamin:  •  Vitamin cho người lớn không có vấn đề về dinh dưỡng: Trong một khảo sát sơ bộ, các nhà khoa học Stephen Fortmann thuộc Kaiser Permanente Center for Health Research ở Portland và các cộng sự đã thu thập, đánh giá dữ liệu của trên 450.000 tình nguyên viên cao tuổi từng dùng riêng lẻ thuốc viên vitamin hay Multivitamin. Kết quả không có bằng chứng về việc Vitamin có thể giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh ung thư hay giảm tử vong nhờ dùng thuốc.   • Chế phẩm Multivitamin chống sự suy giảm trí nhớ: Trong việc đánh giá các dữ liệu từ một công trình nghiên cứu lớn “Physicians’ Health Study II”, các nhà nghiên cứu Francine Grodstein và Jacqueline O’Brien thuộc Bostoner Brigham and Women’s Hospital và các cộng sự đi đến kết luận, các cụ ông trên 65 tuổi không được lợi lộc gì khi dùng lâu dài multivitamin. Các nhà nghiên cứu quan sát khoảng 6.000 thầy thuốc trong khoảng thời gian 12 năm về năng lực của bộ não của những người tham gia thí nghiệm, trong đó một nhóm uống thường xuyên multivittamin còn một nhóm uống thuốc không có chất hữu hiệu, thuốc giả (Placebo). Kết quả thí nghiệm ở hai nhóm không có gì khác nhau.  • Multivitamin bảo vệ chống tái phát nhồi máu cơ tim: Trong một công trình nghiên cứu khá tốn kém Garvasio Lamas thuộc Columbia University Division of Cardiology at Mount Sinai ở Miami và các cộng sự đã tìm hiểu liệu uống Multivitamin liều cao và các khoáng chất sau khi bị nhồi máu cơ tim có tránh được sự tái phát nhồi máu cơ tim hay không.   1.708 nam giới và phụ nữ ở 134 trung tâm nghiên cứu được phát hoặc Vitamin hay thuốc giả Placebo. Mặc dù có nhiều khó khăn vì nhiều bệnh nhân không uống thuốc như chỉ định hoặc bỏ không tham gia thí nghiệm giữa chừng, các nhà khoa học vẫn đi đến kết luận, các loại thuốc này không giảm được nguy cơ tái phát bệnh tim so với cách điều trị thông thường.  Rủi ro đối với Vitamin E, A và Beta-Carotene   Các nghiên cứu tổng quan trước đây và các nghiên cứu mới nhất đều khẳng định kết quả của các nhà phân tích khác và các hướng dẫn, bình luận của các chuyên gia nội khoa. Các công trình nghiên cứu quy mô lớn cho thấy, dùng vitamin E và A (liều cao) cũng như dùng Beta-Carotene có thể gây nguy cơ tử vong cao hơn. Những bằng chứng khoa học thu được đủ để khẳng định không nên dùng thường xuyên thực phẩm bổ sung. Cần sử sự tương ứng khi có những kết quả tiêu cực.   Nhận định cho rằng phần lớn các loại thực phẩm bổ sung không giúp tránh được các bệnh mãn tính hoặc kéo dài sự sống đều đúng đối với người tiêu dùng nói chung – những người không bị thiếu chất dinh dưỡng.  Guallar và nhóm đồng tác giả khuyến cáo các đồng nghiệp cần chú ý đến các kết quả nghiên cứu hiện nay khi tiến hành các nghiên cứu khác. Không có lý do gì để tiếp tục tiến hành các nghiên cứu phòng ngừa lớn đối với các chất chống oxy hóa, a xít folic và vitamin B; riêng với vitamin D thì cần tiếp tục nghiên cứu thêm.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vitamin D giúp giảm nguy cơ mất trí nhớ      Trong máu của người cao tuổi càng ít vitamin  D thì nguy cơ bị bệnh mất trí nhớ (Dementia) càng cao hơn: một công  trình nghiên cứu gần đây ở Mỹ đã chứng minh điều này.     Trong số các loại vitamin thì vitamin D thuộc diện kỳ quặc. Khác với các loại khác, cơ thể con người có thể tự tạo ra vitamin D với sự trợ giúp của tia cực tím (UV) trong ánh sáng mặt trời. Vì vậy về mùa đông, những người ở bắc bán cầu thường bị thiếu vitamin D. Một trong những hậu quả của tình trạng này là xương bị giòn. Một nghiên cứu gần đây còn cho thấy, dấu hiệu não bị tổn thương khi hàm lượng vitamin D thấp.   Theo một công trình nghiên cứu ở Mỹ với sự tham gia của hơn 1.500 người cao tuổi, hàm lượng vitamin D trong máu thấp làm tăng nguy cơ bị bệnh mất trí nhớ. Đây là điều đáng lo ngại vì tỷ lệ người bị thiếu vitamin D ở người cao tuổi khá lớn, theo bài báo của nhóm các nhà nghiên cứu do David Llewellyn thuộc ĐH Exeter công bố trên tạp chí chuyên đề “Neurology”.   Những nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, thiếu vitamin D có thể dẫn đến giảm khả năng nhận thức. Điều này bao gồm cả khả năng học tập, trí nhớ và nhận thức. Để mở rộng sự hiểu biết liên quan đến bệnh giảm trí nhớ, các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu trên 1.658 người ở độ tuổi 74 đã tham gia công trình nghiên cứu về sức khoẻ tim mạch.  Vào thời kỳ bắt đầu tiến hành nghiên cứu, tức khi lấy máu để xác định lượng vitamin D, tất cả những người tham gia thí nghiệm đều không bị giảm trí nhớ. Bình quân 5 đến 6 năm sau, các chuyên gia tâm lý học và thần kinh học đã tái khám cho những người này. Trong khoảng thời gian đó, đã có 171 trường hợp bị bệnh mất trí nhớ, trong đó 102 người bị bệnh Alzheimer.  Kết quả cho thấy, ở những người có chỉ số vitamin D thấp khi kiểm tra máu lần đầu (nồng độ huyết thanh 25-Hydroxyvitamin D từ 25 đến 50 nanomol trên một lít), nguy cơ bị bệnh mất trí nhớ tăng lên 53%. Những người tham gia thí nghiệm mà có chỉ số vitamin D rất thấp (dưới 25 Nanomol trên một lít) thậm chí tăng 125%.  Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, sẽ tìm thấy sự liên quan giữa chỉ số vitamin D thấp với nguy cơ bị bệnh mất trí nhớ và bệnh Alzheimer, tuy vậy họ vẫn bị bất ngờ về kết quả thu được, trong một bản báo cáo, Llewellyn viết: “Sự liên quan này mạnh gấp đôi so với dự đoán của chúng tôi.”  Những kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa đối với bệnh Alzheimer cũng như đối với các dạng mất trí nhớ khác. Ở các nghiên cứu, quan sát khác, những dữ liệu thu được cho thấy có sự liên quan giữa thiếu Vitamin và nguy cơ bị bệnh mất trí tuy nhiên người ta chưa thể chứng minh vitamin D thực sự ảnh hưởng tới nguy cơ bị bệnh mất trí. Sự liên quan này cũng không hề thay đổi sau khi các nhà nghiên cứu đã loại trừ tác động của yếu tố tuổi tác, giới tính và hành vi hút thuốc lá.  Ngoài các yếu tố trên còn có nhiều cơ chế để giải thích về tác động của vitamin D lên bộ não:  •    Vùng Hippocampus ở não, chịu trách nhiệm về hồi ức, tưởng niệm, tại đây có các thụ thể (Rezeptoren) cho Vitamin, một trong những nhiệm vụ của chúng là sản sinh ra các yếu tố tăng trưởng điều tiết thần kinh.  •    Cạnh đó còn có những dấu hiệu cho thấy việc thiếu vitamin D liên quan đến các rối loạn lưu thông máu ở não và đột quỵ. Điều này có thể làm tăng nguy cơ mất trí nhớ.  •    Mối liên quan thứ ba có thể nghĩ đến là hệ thống miễn dịch: khi làm thí nghiệm tế bào, các nhà nghiên cứu quan sát thấy vitamin D kích hoạt hoạt động của đại thực bào (macrophagen), một loại tế bào đặc biệt chuyên dọn dẹp, làm vệ sinh. Loại tế bào này phân huỷ các Amyloid-Plaques, những Amyloid-Plaques này thường tích tụ trong não người bị bệnh Alzheimer.  Liệu một trong những cơ chế này có thực sự là nguy cơ gây bệnh Dementia hay không, thì các nghiên cứu tiếp theo sẽ phải làm rõ – một vấn đề khác cũng rất cơ bản, đó là viên vitamin D – hay thực phẩm giầu vitamin D, thí dụ dầu cá, có làm giảm nguy cơ bị Dementia không?   Theo đánh giá của Women’s Health Initiative thì đối với bệnh Dementia ở phụ nữ, việc dùng vitamin D liều lượng tương đối thấp (400 IU) không có mấy tác dụng – tuy nhiên ở nữ giới lượng vitamin D thường tương đối cao.   “Chúng ta cần phải thận trọng vì nghiên cứu này mới ở giai đoạn đầu”, nhà khoa học Llewellyn nói. Tuy nhiên những kết quả thu được cũng có ý nghĩa khích lệ: “Cho dù chỉ có một số người được hưởng lợi từ nghiên cứu này nhưng do tính nghiêm trọng và đặc tính tốn kém của bệnh Dementia nên ảnh hưởng của vấn đề này đến ngành y tế là rất to lớn.”  Theo Hội Dinh dưỡng Đức thì thông thường lượng thức ăn hàng ngày không cung cấp đủ vitamin D cho con người. Tuy nhiên trong mùa hè con người có thể tự tạo đủ lượng vitamin D cần thiết, nếu ánh sáng mặt trời lan toả trên da. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo Spiegel online, bác sỹ da liễu Jörg Reichrath cho rằng, ít nhất từ 18 đến 20% bề mặt da của cơ thể phải thường xuyên nhận được ánh sáng mặt trời. Trong mùa đông, có thể bổ sung vitamin D cho cơ thể thông qua các loại cá có nhiều chất béo. Bên cạnh đó cũng nên dùng thực phẩm chức năng. Theo Reichrath nếu dùng từ 1.000 đơn vị quốc tế (IE) mỗi ngày thì đã có ảnh hưởng tốt đối với cơ thể, điều này đã được chứng minh. “Tuy nhiên không nên dùng với liều lượng quá cao, chẳng hạn trên 4.000 IE. Liều lượng quá cao có thể dẫn đến tăng quá nhiều lượng calcium trong máu, gây bất lợi cho sức khoẻ.”  Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang VN từng có động đất đến 8 độ Richter?      Các nghiên cứu khoa học khẳng định động đất mạnh nhất tại VN chỉ có thể đạt mức 7,5 độ Richter. Tuy nhiên, sau những nghiên cứu mới nhất và sau một số trận động đất mạnh hơn dự báo xảy ra trên thế giới, PGS.TS CAO ĐÌNH TRIỀU – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Địa vật lý VN – đã đưa ra cảnh báo cần xem lại mức động đất cực đại tại VN.      Ông Triều nói:  – Trước khi xảy ra động đất mạnh tại Sumatra (Indonesia) năm 2004 thì tkhu vực này hầu như động đất rất yếu và sau động đất năm 2004 thì vùng này đã xảy ra rất nhiều trận động đất, thậm chí có cả hoạt động núi lửa. Ở Nhật Bản cũng vậy, sau trận động đất ngày 11-3 cũng đã xuất hiện nhiều trận động đất khác xảy ra tiếp theo.  Tại VN, chúng tôi nghiên cứu thấy vùng ven biển Nam Trung bộ trong thời gian trước năm 2005 gần như không quan trắc thấy động đất nhưng từ năm 2005 trở lại đây đã xuất hiện động đất nhiều. Đấy là bắt đầu thời kỳ hoạt động trở lại của động đất.  * Liệu có phải đó là dấu hiệu sẽ xuất hiện động đất mạnh tại VN?  – Theo nghiên cứu của chúng tôi, có thể đến năm 2015 sẽ có nguy cơ lớn xảy ra động đất mạnh dưới 7 độ Richter ở Tây Bắc. Đây là kết quả nghiên cứu dự báo động đất trung hạn (thời gian từ 5-10 năm).   Nhược điểm của dự báo trung hạn là chỉ dự báo được trong một khoảng thời gian dài và trong một vùng tương đối rộng, không chính xác được điểm nào. Ví dụ muốn nghiên cứu cho vùng Tây Bắc thì phải nghiên cứu sang cả Lào. Còn dự báo ngắn hạn có thể chính xác hơn về vị trí nhưng VN chưa làm được.  * Động đất mới đây tại Nhật Bản đã vượt qua dự báo của các nhà khoa học Nhật Bản, vậy các nhà khoa học VN đặt vấn đề xem lại dự báo động đất cực đại tại VN như thế nào?  – Theo kết quả nghiên cứu được công bố chính thức của Viện Vật lý địa cầu, động đất cực đại tại VN có thể đạt tới 7-7,5 độ Richter đối với khu vực đứt gãy sông Cả (ven biển Nghệ An). Khu vực Tuần Giáo (Lai Châu) có thể xảy ra động đất 7 độ Richter. Đến nay VN vẫn chưa có trận động đất nào mạnh hơn mức các nhà khoa học dự báo.  Nếu mức độ xảy ra trong giới hạn đã dự báo thì không cần thay đổi dự báo, chỉ khi nào động đất xảy ra vượt qua mức đấy thì phải xem xét, đánh giá lại để có thể có kết luận mới về động đất cực đại. Tuy nhiên, trận động đất tại Sumatra năm 2004 là siêu động đất, đã vượt qua dự báo của các nhà khoa học. Trận động đất ở Nhật Bản hôm 11-3 cũng vượt qua dự báo, gây ra sóng thần cao đến 11,5m. Vì thế, chúng ta cũng phải nhìn nhận lại. Các nhà khoa học cần phải tiếp cận những phương pháp mới hơn để cho ra kết quả tốt hơn.  * Nghĩa là rất cần thiết phải xem lại động đất cực đại tại VN?  – Những kết luận chúng ta đưa ra về động đất cực đại trước đây chỉ phản ánh thực tế trình độ khoa học của VN lúc đó nên chúng ta không thể dừng ở đó được. Từ năm 2004 chúng tôi đã tiến hành khảo sát động đất cổ, sóng thần cổ tại VN. Qua quá trình khảo sát, đánh giá động đất cổ trên đứt gãy Phong Thổ (Lai Châu), chúng tôi nghi ngờ cách đây khoảng 480-530 năm từng xảy ra động đất mạnh 8 độ Richter trên đứt gãy này. Hay qua nghiên cứu chúng tôi nghi ngờ từng có sóng thần xảy ra cách đây 3.900-4.100 năm tại vùng ven biển Nghệ An với độ cao của sóng khi vào đến bờ từ 10-15m, tức là phải có động đất mạnh ngoài biển. Nhưng những kết luận này còn cần phải được chứng minh chắc chắn, được khẳng định thì mới công bố và điều chỉnh lại các kết quả nghiên cứu của giai đoạn trước.  * Cơ sở nào để các nhà khoa học nghi ngờ có động đất cổ xảy ra tại Phong Thổ mạnh tới 8 độ Richter?  – Chúng tôi phát hiện những sạt lở rất lớn và thấy rằng chúng chỉ có thể xảy ra trong trạng thái bị tác động đột ngột chứ không phải sạt lở thông thường. Các sạt lở này cũng chỉ có thể được gây nên bởi một trận động đất mạnh. Qua tính toán, chúng tôi nghi ngờ có thể đã xảy ra động đất mạnh 8 độ Richter.  * Các kết luận trước đây về động đất tại VN có đáng tin cậy không?  – VN có trạm quan trắc động đất đầu tiên vào năm 1924 tại Đài vật lý địa cầu Phủ Liễn nhưng năm 1944 trạm đã bị phá hủy do chiến tranh. Năm 1957 trạm mới được khôi phục. Năm 1961 đặt thêm trạm ở Sa Pa. Năm 1967 có thêm trạm ở Bắc Giang. Sau năm 1975 mới hình thành mạng lưới trạm quan trắc. Đến nay cả nước có 24 trạm. Do hệ thống trạm quan trắc hình thành muộn nên đến giờ chúng ta mới quan trắc được động đất mạnh nhất là 6,7 độ Richter xảy ra tại Tuần Giáo năm 1983. Do đó, có thể nói số liệu quan trắc động đất của VN yếu và chỉ trong thời gian ngắn trong khi chu kỳ động đất ở VN có thời kỳ yên tĩnh rất dài.  Về tư liệu lịch sử, chúng ta cũng chỉ có hơn 100 tư liệu ghi lại động đất xảy ra trong quá khứ, trong đó có những tư liệu chúng tôi đánh giá đã có động đất mạnh 6,8 độ Richter xảy ra năm 1935 tại Điện Biên. Nhưng tư liệu cha ông mình viết hơi sơ lược nên khi đánh giá về động đất cực đại ở VN vẫn cần phải xem xét cẩn thận hơn.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Voi mamut mini từng tồn tại ở đảo Crete      Tiến hóa tự nhiên đã tạo ra loài voi tí hon trên hòn đảo của Địa Trung Hải.    Các nhà khoa học nay có thể đưa “voi mamut tí hon” vào danh sách những kỳ vật của tự nhiên, như tôm khổng lồ, hay cá voi tí hon. Các nghiên cứu trên hóa thạch được khám phá vào năm ngoái trên đảo Crete ở Địa Trung Hải cho thấy một loài vật từng bị tuyệt chủng, từng được coi là một loại voi bé, thực ra là một loài voi mamut nhỏ nhất mà đến nay con người mới được biết đến. Một con voi mamut loại này khi trưởng thành chỉ nhỏ bằng một chú voi hiện đại lúc sơ sinh.   Trước đây, những hóa thạch của loài này chỉ là những chiếc răng hóa thạch mà người ta đào được ở đảo Crete vào đầu thế kỷ 20. Tuy những hóa thạch này có những đặc tính giống với voi mamut, các nhà khoa học thời kỳ này lại xếp loài vật này vào một nhánh của loài voi, vì cho rằng voi mamut không thể nào chung sống cùng một nơi với một loài voi khác được biết là đã từng tồn tại ở đảo này. Nhưng qua việc phân tích lại những mẫu này và mẫu răng hàm hóa thạch mới được tìm thấy mùa hè năm ngoái ở cùng địa điểm, người ta thấy rằng cách sắp xếp lằn răng và các khoanh trên men răng chỉ có thể được thấy ở voi mamut, như nhận định của Victoria Herridge, nhà cổ sinh vật học chuyên về các loài có xương sống, từ Bảo tàng Lịch sử London.  Căn cứ vào cỡ răng của sinh vật này, các nhà nghiên cứu vốn đã ngờ rằng nó nhỏ hơn rất nhiều so với voi mamut thông thường, nhưng họ cần một cách ước tính khác đáng tin cậy hơn. Việc khám phá ra một mẩu hóa thạch xương chân trên vào năm ngoái đã giúp Herridge và Adrian Lister, cộng sự từ bảo tàng của bà, làm được việc này. Qua đó, họ tính rằng chú voi mamut mini có lẽ chỉ cao tới 1,13 m ở phần vai, và nặng khoảng 310 kg, như trong công bố online trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B. “Sinh vật này có lẽ nhìn giống một chú voi con Châu Á, nhưng chắc mập hơn và ngà cong hơn”, Herridge nói.   Nhỏ nhưng hoàn chỉnh  Các sinh vật mà Herridge và Lister đặt tên là loài Mammuthus creticus, là loài voi mamut trên cạn nhỏ nhất mà con người được biết đến. Nhiều sinh vật sống trên các hòn đảo, nơi nguồn tài nguyên trong hệ sinh thái bị hạn hẹp hơn so với đất liền, sẽ tiến hóa để có kích cỡ nhỏ, theo lời Herridge.  Các nhà cổ sinh vật học trước đây từng khám phá ra những loài voi mamut nhỏ hơn thông thường trên Đảo Wrangel ở Bắc Cực, phía Đông Bắc của Siberi, và quần đảo Channel gần bờ biển phía Nam của California.  “Mọi thứ bị kẹt ở các hòn đảo đều có thể bị ảnh hưởng”, trở nên nhỏ hơn, theo nhận xét của Martin Sander, một nhà cổ sinh vật học chuyên về các loài có xương sống, từ trường University of Bonn, Đức. Các hòn đảo rải rác ở Địa Trung Hải từng là tồn tại các phiên bản nhỏ của hươu, hà mã, và voi, ông nói. Các nhà nghiên cứu thậm chí còn cho rằng loài Homo floresiensis, một giống người từng sống ở đảo Flores của Indonesia từ 18 nghìn năm trước, cũng có kích thước cơ thể nhỏ vì lý do tương tự.   Cách giải thích phổ biến cho rằng trong những hệ sinh thái nhỏ và bị cô lập, chọn lọc tự nhiên sẽ chỉ để sót lại những cá thể nhỏ hơn để có thể sống với lượng tài nguyên ít ỏi. “Và nếu một loài sinh vật nào đó không thể giảm kích cỡ đủ mức, nó sẽ bị tuyệt chủng”, Sander lý giải. Nhưng cũng có những cách lý giải khác, như luận điểm cho rằng khi ở trên đất liền, một số loài phải tiến hóa to hơn để chống lại các loài ăn thịt, nhưng khi sống an toàn ở đảo qua nhiều đời chúng sẽ tự thu về kích thước nhỏ hơn.    TS lược dịch  http://www.nature.com/news/mini-mammoth-once-roamed-crete-1.10605    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vốn xã hội ở Mỹ đang xuống chăng?      Năm 1995, Giáo sư Robert D. Putman viết một bài trên Tạp chí Dân Chủ (The Journal of Democracy) với tựa đề “Chơi Bowling một mình: Vốn xã hội ở Mỹ đang xuống”. Và đến năm 2000, ông Putman in cả cuốn sách 550 trang với tựa đề Bowling Alone, nhưng với tiểu tựa cân bằng hơn, “Sự sụp đổ và hồi phục của cộng đồng ở Mỹ”. Giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Mỹ phản ứng sôi nổi. “Bowling Alone” (Chơi Bâu linh một mình) trở thành một đề tài tranh luận trên báo chí và các hội nghị. Người ta hỏi nhau: Vốn xã hội ở Mỹ có sút giảm thực như ông Putman thấy hay không?                    Bowling là trò thể thao mỗi người ném một quả bóng nặng cho chạy trên một đường thẳng dài, để làm đổ những cục gỗ đứng ở cuối đường; mục đích làm sao chỉ ném ít lần mà làm đổ hết cả mươi cục gỗ. Nước Mỹ có khoảng 80 triệu người chơi trò này vào năm 1993; có khi họ đi chơi một mình, có khi đi với bạn, hoặc gia nhập những “Hội chơi Bowling” đi giải trí với nhau.  Giáo sư Putman, Đại học Havard, nhận xét rằng số người Mỹ chơi Ném bóng Bowling gia tăng thêm 40% trong thời gian từ 1980 đến 1993; nhưng số hội Bowling thì giảm. Bowling chỉ là một biểu tượng. Putman nêu ra những triệu chứng tương tự: Số cử tri Mỹ chịu đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử giảm đi; số người gia nhập các giáo hội giảm mặc dù số người có tín ngưỡng tăng thêm; số cha mẹ ghi tên vào Hội phụ huynh và giáo viên giảm; các hội Hướng đạo, Chữ thập đỏ cũng bớt hội viên. Người ta đóng góp tiền cho các tổ chức tôn giáo, từ thiện nhiều hơn, nhưng họ không tham dự trực tiếp vào các hoạt động chung như trước. Kết luận: Vốn xã hội ở nước Mỹ đang xuống, ông Putman báo động.  Giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Mỹ phản ứng sôi nổi. “Bowling Alone” trở thành một đề tài tranh luận trên báo chí và các hội nghị. Người ta hỏi nhau: Vốn xã hội ở Mỹ có sút giảm thực như ông Putman thấy hay không? Tổng thống Bill Clinton mời ông Putman đến nhà nghỉ cuối tuần đàm đạo. Năm 2000, ông Putman in cả cuốn sách 550 trang với tựa đề “Bowling Alone”, nhưng với tiểu tựa cân bằng hơn, “Sự sụp đổ và Hồi phục của Cộng đồng ở Mỹ.” Đề tài này được đưa vào các cuộc tranh luận trong cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội năm 2000. Ông Putman đã thành công trong việc “đánh thức dư luận” về vấn đề vốn xã hội ở nước Mỹ.                Vốn xã hội là một từ ngữ được dùng từ đầu thế kỷ trước, nhưng được khai triển đầy đủ thành một khái niệm quan trọng khi có người nghiên cứu nhiều quốc gia phát triển kinh tế nhanh hoặc chậm, mà một yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ phát triển là phong tục, tập quán, nói chung là đời sống văn hóa. Vốn xã hội bao gồm các liên hệ giữa người với người, họ có thói quen tập hợp với nhau hay không, mọi người trong làng xóm có tin nhau hay không, thường hợp tác và giúp đỡ nhau hay không. Một xã hội muốn tiến bộ cần Vốn vật chất, cần Vốn nhân dụng, đó là điều ai cũng biết. Nhưng còn cần một thứ vốn khác, là Vốn xã hội, phi vật chất và không tùy thuộc cá nhân.  Đặc biệt ở Mỹ thì vấn đề Vốn xã hội liên quan tới sự tham dự của người dân trong đời sống chính trị. Từ năm 1970, Giáo sư Putman đã nghiên cứu một chương trình cải tổ hành chính ở nước Ý để trao quyền quyết định cho các hội đồng vùng do dân chúng bầu lên với mục đích giúp guồng máy chính quyền phục vụ nhu cầu các địa phương thích đáng, nhanh chóng hơn. Sau 20 năm theo dõi kết quả của cuộc cải tổ này, ông thấy có nơi thành công, có nơi chậm tiến. Những nơi thành công thì guồng máy hành chính phục vụ dân nhanh và có trách nhiệm hơn; người dân tham dự vào sinh hoạt chính trị nhiều hơn; tương quan giữa dân chúng và các đại biểu chặt chẽ, hữu hiệu hơn; và kinh tế phát triển nhanh hơn. Mặt khác, ông Putman nhận ra nhiều yếu tố xã hội và văn hóa ở các vùng đó khác nhau, có thể giải thích những kết quả chênh lệch trong cuộc cải tổ. Các yếu tố khác biệt đó có thể gọi chung là Vốn văn hóa, mà Putman đo lường qua sự phát triển của xã hội công dân nhiều hay ít. Người mình có khi dịch Civil Society, Société Civile, là “xã hội dân sự.” Nhưng muốn diễn tả đúng ý nghĩa của từ này thì nên gọi là “xã hội công dân.” Các học giả Trung Quốc cũng dùng chữ “công dân xã hội”; ở Đài Loan có khi dùng chữ đó, có khi dịch là “dân gian xã hội”.                Sau khi cuộc nghiên cứu ở Ý được ấn hành dưới tựa đề “Làm sao cho chế độ dân chủ chạy?” (Making Democracy Work) cuốn sách của Putman được coi là một công trình đáng so sánh với những sách loại “cổ điển” của Alexis de Tocqueville viết về chế độ dân chủ ở Mỹ và về cuộc cách mạng ở Pháp, vì đã nêu ra những trọng tâm nghiên cứu mới. Ông tiếp tục nghiên cứu về xã hội Mỹ, khuấy động giới chính trị và xã hội cả nước với hình ảnh “Chơi ném bóng một mình”!  Từ thế kỷ 19, de Tocqueville đã nhận thấy ở nước Mỹ người ta có thói quen họp lại thành những hội tư, với đủ các mục đích từ tôn giáo đến xã hội, thể thao, âm nhạc, giải trí… Người dân bản tính coi việc tự mình đóng góp vào việc chung là tự nhiên, không phải cái gì cũng trông chờ ở guồng máy nhà nước. Nước Pháp thừa hưởng một chế độ quân chủ tập quyền; sau đó là cuộc cách mạng Pháp, rồi Napoléon lại củng cố thêm quyền hành vào Paris, đặt ra một guồng máy hành chính rất mạnh, khiến cho người dân không có thói quen tham gia các hội tư tự nguyện như vậy. Giáo sư Putman nhận thấy cái Vốn xã hội đó ở Mỹ đã tăng lên trong nửa đầu thế kỷ 20, nhưng sau đó bắt đầu giảm.  Điều được Putman nêu lên đầu tiên là tỷ lệ số người đi bỏ phiếu ngày càng thấp. Ông cho là biến số này liên hệ tới các biến số khác, như số người tham gia các hội tư, số người đọc báo… chứng tỏ dân Mỹ bây giờ thờ ơ với “việc chung”, khác ông cha họ vài trăm năm trước. Ông cũng công nhận trong khi số hội viên của các tổ chức tư giảm đi thì cũng có những hội mới ra đời, để bảo vệ môi trường sống (sinh môi) hoặc các bảo vệ nữ quyền, dân quyền. Đặc biệt, Hội những người nghỉ hưu với hơn 33 triệu hội viên có thể coi là đông đảo nhất. Nhưng các hội viên của những tổ chức này thường chỉ góp tiền cho các mục đích chung chứ không tham dự trực tiếp, ít khi hội họp, không lập các chi hội địa phương, nghĩa là vẫn thiếu Vốn xã hội.                  Putman giải thích hiện tượng Vốn xã hội đi xuống này bằng những thay đổi trong đời sống. Phụ nữ thường tham gia các giáo hội, các hội từ thiện và hoạt động lối xóm nhiều; ngày nay phụ nữ đi làm nhiều hơn, họ không có thời giờ. Người ta chậm lập gia đình, bớt lập gia đình, ít con hơn. Người Mỹ thay đổi công việc làm, thay đổi chỗ ở nhiều hơn, không “mọc rễ” ở một nơi như trước. Người ta xem vô tuyến truyền hình, thường ngồi coi một mình, không họp mặt với hàng xóm như cũ, “cá nhân hóa” việc dùng thời giờ rảnh rỗi. Bây giờ lại thêm mạng lưới Internet, càng cá nhân chủ nghĩa hơn. Nói chung, đời sống hiện đại làm Vốn xã hội giảm đi.  Nhiều người không đồng ý với Putman. Có người nêu lên rằng, từ năm 1968, nước Mỹ có 10,299 hội tư nhân, đến năm 1997 con số đó đã tăng lên thành 22,901 hội; không thể nói là hoạt động của các hội tư đã giảm. Nhiều hội lớn trước đây như Hướng đạo, Chữ thập đỏ, Hội Phụ huynh và giáo viên giảm bớt hội viên, nhưng cũng có nhiều hội mới ra đời. Năm 1980, Hội Hòa bình xanh lo bảo vệ sinh môi, chỉ có 250 ngàn hội viên, đến năm 1996 họ có gần 1,7 triệu hội viên. Các phụ huynh học sinh bây giờ tiếp xúc với các thầy cô giáo dưới những hình thức mới, không cần lập hội. Trong khi số Hội Bowling giảm đi thì có thêm biết bao nhiêu Hội Đá bóng, một môn thể thao mới được người Mỹ ưa chuộng. Nói chung, người Mỹ không giảm bớt Vốn xã hội, mà họ thay đổi nội dung của nó mà thôi. Hơn nữa, nếu so sánh với người dân các nước đã phát triển thì dân Mỹ vẫn đứng đầu trong việc tình nguyện tham gia vào những việc có tính chất “công ích”. Tinh thần công dân của người Mỹ vẫn cao. Họ chỉ thua các nước Âu Châu trong hiện tượng ít người đi bỏ phiếu, nhưng cần phải tìm các nguyên do khác gây ra hiện tượng này, chứ không hoàn toàn vì Vốn xã hội đã giảm, chủ nghĩa cá nhân đã tăng.  Nhưng con số hội tư nhân và số người tham dự các hội này, đó không phải là các chỉ số duy nhất để đo lường Vốn xã hội. Khi những hội có mục đích phân biệt mầu da biến mất thì mọi người trong xã hội có thể tin tưởng và hỗ trợ nhau nhiều hơn, Vốn xã hội đã tăng lên. Putman nêu lên con số những cuộc họp mặt bằng hữu hoặc xóm giềng giảm đi, vì người ta ít tổ chức ăn uống, đánh bài, trong đó mọi người có dịp trao đổi ý kiến về các vấn đề chung. Mỗi năm dân Mỹ chơi với nhau khoảng 500 triệu ván bài, nhưng mỗi năm đang giảm 25 triệu ván! Nhưng mặt khác, mọi người lại trao đổi ý kiến với nhau bao nhiêu chuyện trên Internet. Cứ có một biến cố, như chuyện một công ty Ả rập mua quyền khai thác 6 bến cảng ở Mỹ; hay vụ Phó Tổng thống Cheney đi săn bắn lầm vào bạn, là hàng triệu người lên mạng trao đổi ý kiến với nhau. Như vậy thì cái Vốn xã hội vẫn lớn nhưng biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi.  Các cuộc thảo luận về Vốn xã hội thường nhìn vào đại thể của từng nước hoặc từng lục địa, người ta biết Vốn xã hội có ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế các quốc gia. Nơi nào con người thích hợp tác với nhau, dễ tin tưởng nhau, và quan tâm đến lĩnh vực chung, thì kinh tế dễ phát triển. Nhưng sau khi có những cuộc thảo luận về Vốn xã hội ở Mỹ, người Mỹ rất thực tế, họ cũng tìm hiểu xem Vốn xã hội góp phần nào vào việc quản lý các xí nghiệp.  Don Cohen và Lawrence Prusak đã xuất bản một cuốn sách về vấn đề này, nhan đề “Good Company”, cái tựa có nghĩa là “Công ty tốt”, nhưng cũng có nghĩa là “Có bạn tốt.” Và tiểu tựa nghe hấp dẫn: “Vốn xã hội giúp công ty chạy như thế nào?” Ông Prusak vốn là Giám đốc Viện nghiên cứu Quản lý Tri thức của công ty IBM. Trong cuốn sách này, hai tác giả đã đưa ra những thí dụ thực tế, rút từ việc quản trị các cơ sở lớn như hãng IBM, UPS và các tổ chức như Ngân hàng Thế giới hay thành phố New York. Tất nhiên, trong một công ty, nếu tạo được bầu không khí tự nguyện hợp tác, tin tưởng, và gây được những mạng lưới kết hợp người với người trong tinh thần tương kính và tín cẩn lẫn nhau, thì công ty hoạt động hiệu quả hơn. Hai tác giả cung cấp các thước đo để một tổ chức có thể đo lường Vốn xã hội bên trong tổ chức.  Những đề tài lớn như Vốn xã hội sẽ còn được các học giả, kể cả các sinh viên cao học và tiến sĩ Mỹ tiếp tục khai thác trong nhiều năm tới.  Quý Đỗ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vòng bán kết cuộc thi Chiếc thìa vàng 2016 khu vực phía Bắc      Ngày 11/10/2016 tại Cung triển lãm Kiến trúc quy hoạch xây dựng Quốc gia, cuộc tranh tài của những đầu bếp tài năng mang tên Chiếc thìa vàng đã bước vào giai đoạn hấp dẫn – Vòng bán kết khu vực phía Bắc.      Với sự tham gia của 54 đầu bếp chuyên nghiệp đến từ 18 đội thi đã xuất sắc vượt qua vòng sơ tuyển ở 3 cụm thi Cao nguyên Bắc bộ, Đồng bằng sông Hồng và Trung Trung bộ. Vòng bán kết đã đem đến những màn tranh tài sôi nổi, gay cấn và hồi hộp. Ngoài các yêu cầu như ở vòng sơ tuyển về sự mới lạ của gia vị, độc đáo của nguyên liệu, ngon miệng, đẹp mắt của món ăn và chuyên nghiệp của thao tác chế biến thì vòng bán kết còn đặt ra những đòi hỏi cao hơn với thực đơn theo chủ đề “Món ăn vàng”.  Kết thúc vòng bán kết khu vực phía Bắc, đội thi đến từ Naman Retreat Resort Đà Nẵng đã giành giải Nhất với thực đơn bao gồm các món: Súp bò Wagyu ăn kèm gan ngỗng Pháp; Hải sản lạnh – Tôm hùm, bạch tuộc, tôm Bắc cực ăn kèm rong biển trứng cá đen; Bồ câu nấu chậm, bắp nghiền, bánh nấm truffle hạt sen nấu rượu đỏ hương vị dừa; Bánh sô cô la mềm xốt kem dừa, bánh mềm hạt hồ trăn, kẹo sô cô la trắng hương dừa. Theo đánh giá của các chuyên gia, “Các thí sinh đoạt giải có cách trình bày bàn tiệc hiện đại và tế nhị. Điều đó chứng tỏ các bạn có chú ý đến các “show” trình diễn món ăn thì mới làm được như vậy. Đặc biệt, việc tìm hiểu và sử dụng các phương pháp nấu hiện đại để bảo đảm chất dinh dưỡng của mỗi món ăn là rất tốt. Các bạn nên giữ tinh thần này để áp dụng nhiều hơn với những nguyên liệu Việt, để nâng tầm cho ẩm thực nước ta ngày càng hội nhập và phát triển.”. Ngoài ra, Ban Giám khảo cũng đã trao giải Nhì cho năm đội, gồm: khách sạn Indochine Palace Huế; Khách sạn Mường Thanh Lào Cai ; Khách sạn Hilton Hanoi Opera; InterContinental Danang Sun Peninsula Resort; Khách sạn Crowne Plaza Danang. Đây là 6 đội thi đại diện cho khu vực phía Bắc tham gia vòng chung kết cuộc thi Chiếc thìa vàng 2016.  Cuộc thi Chiếc thìa vàng 2016 với tổng giải thưởng lên tới hơn 3 tỉ đồng do công ty TNHH Minh Long I và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp ( BSA) phối hợp tổ chức. Tài trợ chính là nhãn hàng Ly’s Horeca; nhà tài trợ vàng là Tập đoàn Pernod Ricard Vietnam; đơn vị đồng tài trợ là Công ty Tân Hợp Thành, Food and Hotel Vietnam, New Viet Dairy và Công ty TNHH Viet Project. Hai đơn vị bảo trợ cấp Quốc gia là Tổng cục Du lịch việt Nam và Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Vòng chung kết cuộc thi sẽ diễn ra vào ngày 07/12/2016 tại Nhà thi đấu Quân khu 7 TP.HCM.    Author                Thúy Ngô        
__label__tiasang VTRS: Công cụ nền tảng cho bảo lãnh công nghệ ở VN      Việc xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ VTRS sẽ giúp định giá công nghệ chính xác, khách quan hơn, đồng thời đặt ra nền tảng đầu tiên phục vụ xây dựng quy trình bảo lãnh công nghệ – bước đi rất quan trọng để các doanh nghiệp có thể làm hồ sơ xin Nhà nước bảo lãnh vay tín dụng đổi mới công nghệ mà không cần thế chấp tài sản.      Công nhân làm việc trong nhà máy của Vinaxuki. Ảnh: http://nld.com.vn.  Năm 2012, Vinaxuki là doanh nghiệp nội đầu tiên công bố sẽ sản xuất chiếc xe ô tô VG150 bằng công nghệ “Made in Vietnam” với tỉ lệ nội địa hoá lên tới 58%. Nhưng năm năm nay, Vinaxuki đã tìm cách xin vay vốn khắp nơi mà không được, dù lãnh đạo công ty nhiều lần cầu cứu các bộ, ngành và cả Thủ tướng Chính phủ. Trong bức thư gửi Thủ tướng Chính phủ vào năm 2014, ông Bùi Ngọc Huyên, chủ tịch Hội đồng quản trị của Vinaxuki, cho biết: “Thiếu nhất là vốn đầu tư và vốn lưu động1”. Mặc dù có dây chuyền sản xuất công nghệ cao nhưng Vinaxuki không thể lấy đó để thế chấp vay vốn vì hiện nay các ngân hàng nhận xét kế hoạch của công ty này là phiêu lưu, không khả thi. Và khi giấc mơ xe Việt vẫn còn dang dở, Vinaxuki đã phải tuyên bố bán nhà máy sản xuất để trả nợ.  Lâu nay các tổ chức tài chính như ngân hàng, quỹ đầu tư đều yêu cầu mọi doanh nghiệp phải tuân thủ theo các quy định tài chính về tài sản thế chấp và khả năng trả nợ dựa trên các hoạt động tài chính đã có. Điều này gây khó khăn cho một doanh nghiệp lớn như Vinaxuki khi cần vay vốn để đầu tư cho công nghệ, dễ hình dung rằng với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa không có tài sản thế chấp, vừa không có lịch sử tín dụng, thì khó khăn lại càng lớn nhường nào.  Trong thời gian qua, vấn đề Nhà nước đứng ra xem xét bảo lãnh công nghệ cho doanh nghiệp đã được nêu ra rải rác đây đó, nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Một trong những trở ngại cơ bản là bảo lãnh công nghệ cần dựa trên một quy trình thẩm định công nghệ và đánh giá rủi ro chặt chẽ, trong khi quy trình thẩm định công nghệ hiện nay của Việt Nam còn khá hạn chế, “các tiêu chí và cách cho điểm chưa đánh giá hết được vai trò và mối tương quan của công nghệ cần đánh giá trong dự án. Việc xây dựng các chỉ tiêu và các trọng số thể hiện trong các phiếu đánh giá còn mang tính chủ quan theo ý kiến chuyên gia và thường cố định trong một thời gian dài với mọi lĩnh vực công nghệ khác nhau2”.  Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra một hệ thống đánh giá công nghệ hữu hiệu nhằm xác định giá trị công nghệ cho doanh nghiệp một cách chính xác và khoa học là việc làm cần thiết và càng cấp bách hơn trong bối cảnh các chương trình quốc gia về KH&CN như Chương trình Đổi mới công nghệ quốc gia, Chương trình Sản phẩm quốc gia, Chương trình quốc gia Phát triển công nghệ cao, các quỹ hỗ trợ như Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia được đưa vào triển khai đều rất cần có quy trình chính xác trong đánh giá công nghệ.  Tại Hàn Quốc, những trường hợp như Vinaxuki hoặc các SME có thể tìm tới Tổng công ty Tài chính công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) đề nghị đánh giá công nghệ và bảo lãnh để vay vốn ngân hàng. Để bảo lãnh được cho doanh nghiệp, KOTEC thẩm định công nghệ dựa vào hệ thống đánh giá KTRS (Kibo Technology Rating System) và quy trình đánh giá rủi ro. Mô hình thẩm định công nghệ của KOTEC được đánh giá “hoàn thiện, chi tiết, và định lượng tới một trình độ mà nhiều nước châu Âu cũng khó đạt được3.” (Hình 1).      Hình 1: Hệ thống đánh giá công nghệ của KOTEC. Nguồn: TS. Nguyễn Đức Hoàng, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ.  Bộ tiêu chí VTRS  Để đánh giá khả năng ứng dụng của KTRS vào thẩm định công nghệ ở Việt Nam cũng như quá trình bảo lãnh công nghệ sau này, từ năm 2014, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ, Quỹ Đổi mới công nghệ thuộc Bộ KH&CN đã hợp tác trao đổi kinh nghiệm với KOTEC để nghiên cứu và xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ VTRS. Tại hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống đánh giá và bảo lãnh công nghệ” ngày 22/11 vừa qua tại Hà Nội, đại diện Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ đã công bố bộ tiêu chí đánh giá công nghệ VTRS của Việt Nam.  VTRS tham khảo bộ tiêu chí đánh giá 34 chỉ số của KTRS nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam và rút lại thành 23 chỉ số đánh giá, trong số đó có tám chỉ số đánh giá khách quan và có thể đo lường được, sáu chỉ số đánh giá khách quan nhưng không đo lường được và chín chỉ số đánh giá chủ quan phụ thuộc vào quan điểm của người đánh gia. Ví dụ: chỉ số “thành tựu phát triển công nghệ” là chỉ số đánh giá có thể đo lường được bằng cách xem xét các sáng chế đã được công nhận của doanh nghiệp; chỉ số đánh giá một cách khách quan về “vòng đời và sự khác biệt công nghệ” được kiểm tra thông qua đánh giá về mặt chi phí, thời gian nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ đã đăng ký; còn chỉ số về “tính hoàn thiện công nghệ và khả năng mở rộng” được đánh giá chủ quan trên các phương diện khả năng sản xuất hàng loạt, khả năng phát triển sản phẩm hay mới chỉ đang trong giai đoạn ý tưởng…  Với 23 chỉ số này, VTRS đánh giá doanh nghiệp chủ yếu trên các khía cạnh: Năng lực quản trị (năng lực của CEO, năng lực quản lý, môi trường phát triển công nghệ), năng lực công nghệ (thông tin phát triển công nghệ, tính hoàn thiện và khả năng phát triển công nghệ, vòng đời và sự khác biệt công nghệ), tính khả thi trong kinh doanh (tính thị trường, năng lực sản xuất, dự báo lợi nhuận) (Hình 2). Các chuyên gia đánh giá công nghệ sẽ sử dụng bộ tiêu chí VTRS này để chấm điểm doanh nghiệp (có thang điểm từ A đến E, trong đó đạt điểm A là đáp ứng tốt nhất từng mục đề ra). Sau đó, các kết quả thu thập được này sẽ được phân tích bằng mô hình phân tích thứ bậc AHP.    Hình 2: Cấu trúc thành phần của VTRS. Nguồn: TS. Nguyễn Đức Hoàng, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ.  Trao đổi với Tia Sáng, TS Nguyễn Đức Hoàng, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ KH&CN, một thành viên của tổ xây dựng VTRS, khẳng định rằng bộ tiêu chí VTRS đã được đưa vào thử nghiệm tại một số doanh nghiệp và cho thấy “đảm bảo tính khách quan khi đánh giá mức độ công nghệ của doanh nghiệp, giúp giảm tối đa tính chủ quan của người đánh giá.” Ông cho biết tổ xây dựng VTRS đã thử nghiệm cho ba chuyên gia cùng sử dụng bộ tiêu chí này để đánh giá công nghệ của một doanh nghiệp, và kết quả cho ra là tương đối giống nhau (cùng ở mức BBB và điểm số dao động từ 79,5 đến 81,9 điểm)”. Cũng tại hội thảo trên, TS Nguyễn Đình Bình, Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, cho biết, sẽ xem xét và phối hợp với Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ sử dụng VTRS để đánh giá thử nghiệm thêm ở một số doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau vào năm 2017.  Đánh giá về nguồn nhân lực để thực hiện VTRS, TS Kim Jonghyun, trưởng ban hợp tác quốc tế của KOTEC, nhận định: “Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng bộ chỉ tiêu cho VTRS. Các bạn hoàn toàn có khả năng tự đào tạo nguồn nhân lực của mình để tiến hành đánh giá doanh nghiệp dựa trên bộ chỉ tiêu này”.  Những thách thức phía trước  Tuy nhiên, để tiến tới xây dựng hệ thống bảo lãnh công nghệ như của Hàn Quốc đang làm hiện nay thì Việt Nam còn “cần phải xây dựng bộ dữ liệu về các doanh nghiệp Việt Nam phục vụ cho việc đánh giá rủi ro”, TS Kim Jonghyun nói – ông cho biết KOTEC có thể đánh giá rủi ro rất tốt vì có nguồn dữ liệu của khoảng 380.000 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp mà họ bảo lãnh vào khoảng 70.000. “Đối với Việt Nam, việc triển khai hệ thống thu thập dữ liệu doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn vì nhiều thông tin còn chưa công khai và đồng bộ”, TS Kim Jonghyun đánh giá.  Một vấn đề khác mà các cơ quan quản lý, quỹ khoa học của Việt Nam phải cân nhắc trong quá trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống bảo lãnh công nghệ là cơ chế hoạt động tự chủ, độc lập và minh bạch về mặt tài chính của cơ quan tiến hành đánh giá và bảo lãnh công nghệ. Theo mô hình của KOTEC thì trong thời gian đầu, KOTEC được nhận nguồn kinh phí từ Chính phủ và từ nguồn phí được trả bởi các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp được bảo lãnh. Nhưng kể từ năm 2010 đến nay, KOTEC không cần đến nguồn tiền từ Chính phủ mà hoàn toàn tự chủ nhờ vào nguồn phí bảo lãnh (KOTEC bảo lãnh công nghệ với điều kiện: các ngân hàng phải trả khoản phí 0,03% tổng số vốn họ cho một doanh nghiệp được KOTEC bảo lãnh vay; các doanh nghiệp muốn được KOTEC thẩm định công nghệ và cấp giấy bảo lãnh phải trả khoản phí 200 USD/ lần đánh giá và cấp giấy bảo lãnh). Đồng thời, nhờ vào quá trình đánh giá công nghệ chặt chẽ, chính xác và minh bạch mà tỉ lệ nợ xấu KOTEC phải gánh hằng năm chỉ rơi vào khoảng 4,2% (KOTEC phải trả nợ cho ngân hàng khi các doanh nghiệp được bảo lãnh công nghệ phá sản nhưng không thể đòi được nợ).  Dù sao, việc xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá công nghệ VTRS là một bước đi quan trọng cho quá trình xây dựng quy trình bảo lãnh công nghệ trong tương lai. Các doanh nghiệp như Vinaxuki chắc chắn đang rất mong chờ sự hình thành hệ thống tổ chức và quy trình bảo lãnh công nghệ với bộ tiêu chí đánh giá công nghệ, đánh giá rủi ro một cách chính xác, để những giấc mơ công nghệ của nhiều doanh nghiệp Việt Nam không còn dang dở.  KOTEC là tổ chức phi lợi nhuận (không có cổ đông) được thành lập từ năm 1989 nhằm bảo lãnh công nghệ để hỗ trợ cung cấp nguồn tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ. Đến 2005, KOTEC xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ KTRS. KTRS được cấp bằng sáng chế từ năm 2007. Cho đến nay, KOTEC đã bảo lãnh cho khoảng 70.000 doanh nghiệp, tổng lượng vốn mà KOTEC bảo lãnh công nghệ vào khoảng 18.000 tỉ USD. Những doanh nghiệp được bảo lãnh này tạo ra doanh thu vào khoảng 80.000 tỉ USD. Chính nhờ những kinh nghiệm trong bảo lãnh công nghệ như vậy, KOTEC đã được rất nhiều nước đề nghị hợp tác chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ xây dựng hệ thống bảo lãnh công nghệ (gần đây nhất, KOTEC hỗ trợ Thái Lan và Philippines, Indonesia).  ——————-  1 http://vneconomy.vn/xe-360/gap-kho-chu-tich-vinaxuki-viet-thu-gui-thu-tuong-2014021810441811.htm  2 Tạ Việt Dũng, Hyung Kyung Jin, Hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm công nghệ: kinh nghiệm của Hàn Quốc và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 17 – 9/2013, Tr. 38 – 41.  3 Theo báo cáo của Terence O’Donnell cho Pro Inno Europe® – một đầu mối hợp tác phân tích đổi mới chính sách của Ủy ban châu Âu, trích theo Tia Sáng, http://tiasang.weboffice.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=36&News=6014.    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Vũ khí hóa học xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử      Thế chiến thứ nhất là thời điểm cả thế giới biết đến khả năng tàn phá của vũ khí hóa học, nhưng thực tế việc sử dụng loại vũ khí này có thể đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử.    Những ghi chép còn lại    Trong văn học phương Tây, một trong những tác phẩm đầu tiên đề cập đến việc sử dụng vũ khí hóa học là thần thoại Hy Lạp về Hercules, trong đó người anh hùng nhúng mũi tên của mình vào máu của Hydra để làm cho mũi tên trở nên độc hại. Trong sử thi Iliad và Odyssey thì Homer nhắc đến những mũi tên tẩm độc.        Các nền văn minh cổ đại phương Đông cũng có các ghi chép về việc sử dụng vũ khí hóa học. Ví dụ, ở Ấn Độ, việc sử dụng chất độc trong chiến tranh được tìm thấy trong cả hai sử thi Mahabharata và Ramayana. Hơn nữa, có thể tìm thấy công thức chế tạo vũ khí độc ở Arthashastra của Kautilya, một luận thuyết tiếng Phạn cổ về thủ công mỹ nghệ Ấn Độ có từ thời Mauryan (từ năm 321 đến 185 TCN).    Ở Trung Quốc, có tác phẩm mô tả binh lính tạo ra khói độc bằng cách đốt mù tạt hoặc các loại cây cỏđộc khác, sau đó dùng ống bơm khói vào các đường hầm do đối thủ đào để đột nhập vào thành phố.    Quay trở lại thế giới phương Tây, việc sử dụng khói độc có thể bắt nguồn từ Chiến tranh Peloponnesian, diễn ra vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Trong một trong những trận chiến giữa người Sparta và người Athen, người Sparta đã đốt hỗn hợp gỗ và lưu huỳnh dưới các bức tường thành Athen, với mục đích dùng khói độc để vô hiệu hóa quân phòng thủ, khiến cho họ không thể chống lại cuộc tấn công của người Sparta.    Các ghi chép lịch sử cho thấy vào năm 189 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã đốt lông gà ở đầu các đường hầm do quân xâm lược La Mã đào để đầu độc quân xâm lược, thậm chí dùng ống thổi để đẩy khói độc vào.    Ở Trung Đông, việc sử dụng các đám cháy hóa dầu có vẻ như khá phổ biến trong chiến tranh cổ đại.    Bằng chứng về việc người cổ đại sử dụng vũ khí hóa học chủ yếu nằm trong các tài liệu sử học, văn học hoặc các ghi chép còn sót lại đến nay. Ngoài ra, còn có các bằng chứng khảo cổ, chẳng hạn như ở Dura-Europostrên bờ sông Euphrates, Syria,từng là thành trì của đế chế La Mãcho đến khi rơi vào tay người Sassani (vương triều Ba Tư khi đó) vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên.    Bằng chứng khảo cổ hiếm hoi    Không có tài liệu nào ghi lại trận chiến cuối cùng giữa binh lính La Mã và Sassani ở Dura-Europos, nhưng khảo cổ học cung cấp manh mối về những gì đã xảy ra. Các nhà khảo cổ Pháp và Mỹ khai quật Dura-Europos trong những năm 1920 và 1930. Một trong những đặc điểm chính của địa hình khu vực là các đường hầm, một do người Ba Tư đào và một khác do người La Mã đào nhằm phản công đường hầm Ba Tư. Các nhà khảo cổ tìm thấy 19 thi thể binh sĩ La Mã nằm chồng chất và 1 thi thể binh sĩ Sassanian trong các đường hầm.    Giả thuyết ban đầu là một trận chiến ác liệt xảy ra trong đường hầm, và binh lính Sassanian đã đẩy lùi được quân phòng thủ La Mã. Sau trận chiến, binh lính Sassanian phá hủy đường hầm phản công bằng cách đốt, bằng chứng là các tinh thể lưu huỳnh và bitum (các sản phẩm có thể xuất hiện từ quá trình đốt cháy) còn lại trong đường hầm.    Tuy nhiên, giả thuyết này có một vài điểm bất hợp lý. Thứ nhất, các đường hầm quá hẹp, rất khó diễn ra các cuộc giao tranh trực tiếp giữa hai bên. Thứ hai, các thi thể La Mã được xếp thành một đống, cho thấy đây không phải vị trí các binh lính La Mã thiệt mạng ban đầu ngay sau cuộc giao tranh. Đến năm 2009, sau khi phân tích lại các bằng chứng, các nhà khảo cổ đưa ra giả thuyết mới về các sự kiện đã xảy ra trong trận chiến cuối cùng này.    Nhà khảo cổ học Simon James tại Đại học Leicester đưa ra giả thuyết rằng binh lính Sassanian đã sử dụng khí độc để tiêu diệt quân phòng thủ La Mã đang di chuyển trong đường hầm. Khi lưu huỳnh và bitum được ném vào lửa, hai chất này trở thành khí axit sulfuric gây ngạt thở. Binh lính Sassanian đốt lửa ở đầu hầm của mình, và binh lính La Mã đi theo đường hầm phản công dẫn vào hầm của binh lính Sassanian, đã chết vì ngạt thở. Người lính Sassanian đơn độc có thể là người đốt lửa và cũng đã chết vì khí độc. Sau khi đường hầm không còn quân lính, người Sassanians xếp các thi thể người La Mã thành đống như một bức tường chắn và tiếp tục kế hoạch đào sập tường thành.    Các phát hiện khảo cổ học tại Dura-Europos tiết lộ rằng chiến tranh hóa học thực sự đã được sử dụng từ thời cổ đại, và cung cấp bằng chứng vật lý đầu tiên về loại hình vũ khí này, thay vì chỉ dựa trên các tài liệu như trước đây. Nhưng vẫn chưa rõ vũ khí hóa học có được sử dụng thường xuyên và phổ biến không, hay chỉ duy nhất ở Dura-Europos? Có lẽ cần nhiều bằng chứng khảo cổ hơn trong tương lai để trả lời.    Vũ khí hóa học thời Trung cổ    Ý tưởng sử dụng vũ khí hóa học tiếp tục phát triển và để lại nhiều dấu ấn rõ ràng hơn theo thời gian. Nhà sử học David Hume kể lại rằng vào triều đại của Vua Henry III (1216 – 1272), hải quân Anh đã đánh bại một hạm đội xâm lược của Pháp bằng súng phun vôi, làm mù mắt kẻ thù.    Vào thế kỷ 15, Leonardo da Vinci đã đề xuất việc sử dụng một hỗn hợp bột kết hợp sulfide, asen và verdigris để gây ra ngạt thở. Nhưng đến nay vẫn chưa rõ liệu vũ khí này có thực sự được sử dụng trong chiến tranh hay không.    Năm 1672, Giáo phận Công giáo La Mã Münster đã sử dụng vũ khí hóa học nguy hiểm chết người trong cuộc vây hãm thành phố Groningen của Hà Lan. Cụ thể là các thùng thuốc nổ chứa đầy Deathly Nightshade, một loại cây thân thảo giải phóng khói độc khi đốt.    Tuy nhiên, phải đến thời kỳ Công nghiệp vào thế kỷ 19, khái niệm hiện đại về “chiến tranh hóa học” mới xuất hiện, cùng với sự phát triển của lĩnh vực hóa học. Chính từ thời điểm này trở đi, nhiều loại vũ khí hóa học chuyên dụng đã được phát triển để gây thương tích và tử vong hàng loạt.    Hồng Minh      Author                .        
__label__tiasang “Vũ khí” mới để ức chế HIV      Các nhà khoa học Mỹ đang thử nghiệm một loại peptide mới (D-peptide) có tác dụng rất mạnh trong việc ngăn chặn HIV xâm nhập tế bào.      Loại peptide này sẽ mở ra cơ hội phát triển thuốc mới chống HIV/AIDS. Theo nhóm nghiên cứu, D-peptide là chất gây ức chế, có khả năng chống vi khuẩn mạnh gấp 40.000 lần so với những loại peptide đã được sử dụng trước đây. Trước khi được sử dụng để phát triển một loại thuốc mới chống HIV/AIDS, D-peptide đang được thử nghiệm tiền lâm sàng để xác định mức độ công hiệu cũng như để biết chúng có độc tính gì hay không.    Q.Thịnh (Theo Science Daily)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Vụ ngụy tạo số liệu chấn động giới nghiên cứu sinh vật biển      Tuần qua, giới khoa học thế giới đang nóng lên vì Science số mới (Số 366, ấn phẩm 6461, trang 20-21) cập nhật một vụ lùm xùm rất lớn – vấn đề ngụy tạo số liệu trong nghiên cứu của TS Oona Lönnstedt, nhà khoa học người Thụy Điển.    Đạo văn (plagiarism), sửa số liệu (data manipulation) và ngụy tạo số liệu (data fabrication) là những hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu khoa học nghiêm trọng. Trong những hành vi này thì sửa số liệu và ngụy tạo số liệu thường gây hậu quả lớn hơn rất nhiều so với đạo văn. Trong khi đạo văn chủ yếu ảnh hưởng tới uy tín của cá nhân nhà khoa học đó thì việc ngụy tạo số liệu không chỉ dẫn tới kết luận sai cho chính nghiên cứu đó mà có thể được trích dẫn, tạo ra hiệu ứng ảnh hưởng tới các nghiên cứu sau đó hoặc thậm chí là đưa ra khuyến nghị và hành động chính sách sai. Tuy nhiên, để phát hiện và ”luận tội” hành vi ngụy tạo hoặc sửa số liệu lại không hề dễ dàng.       Oona Lönnstedt.  Một kết quả đáng kinh ngạc  Năm 2016, bài báo của TS Oona Lönnstedt đăng trên Science gây sốt trong cộng đồng nghiên cứu sinh vật biển. Đó là nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của vi nhựa (microplastics) lên cá vược1. Thiết kế thí nghiệm của nghiên cứu này cũng không có gì đặc biệt nhưng kết quả của nó thì rất đáng ngạc nhiên. Bởi vì hầu hết các nghiên cứu về ảnh hưởng của vi nhựa (microplastics có kích thước nhỏ hơn 5 mm) lên sinh vật biển cho đến giờ đều không tìm thấy ảnh hưởng có hại của microplastics ở nồng độ bình thường tìm thấy trong nước biển (ecologically relevant concentration). Để có thể tìm ra ảnh hưởng có hại của microplastics lên các sinh vật, các nhà nghiên cứu thường phải tăng nồng độ lên so với nồng độ tìm thấy trong nước biển hàng ngàn lần cho đến hàng triệu lần2. Đó chính là vấn đề mà các nhà nghiên cứu độc học môi trường vẫn đang có những tranh cãi rất lớn và gần như chia làm hai nhóm: phần lớn ủng hộ nghiên cứu microplastics và phần còn lại cho rằng đây là vấn đề bị thổi phồng quá mức. GS. Allen G. Burton Jr., tổng biên tập của tạp chí Environmental Toxicology and Chemistry, một trong 2 tạp chí của SETAC đã phải [chán ngấy] thốt lên rằng: “Tại sao các đồng nghiệp tiếp tục thổi phồng các vấn đề về vi nhựa?. Bất cứ chất nào ở nồng độ cao đều có khả năng gây hại tới sinh vật”3.  Nghiên cứu của TS. Oona Lönnstedt là kết quả duy nhất tìm thấy ảnh hưởng có hại của microplastics lên cá vược ở nồng độ đo được ngoài tự nhiên. Cụ thể, nghiên cứu này chứng minh rằng cá vược châu Âu (Perca fluviatilis) khi phơi nhiễm với microplastics trở nên ít vận động, phản ứng kém với các tín hiệu từ sinh vật dữ (predators) và bị predators bắt ăn thịt dễ dàng hơn. Đặc biệt, những con ấu trùng cá vược này thích ăn microplastics hơn là ăn con mồi tự nhiên của chúng.  Nghiên cứu này đã thực sự gây ra bùng nổ thông tin về microplastics trong mấy tháng liền trên toàn thế giới. Nó là bằng chứng rất sắc để tạo ra sự đồng thuận giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và công chúng để tìm ra những giải pháp tức thời cho thảm họa môi trường của microplastics. Nên nhớ, trước đó các nhà khoa học nói về nguy cơ (risk) của microplastics thì bây giờ TS. Oona Lönnstedt chứng minh microplastics là thảm họa thật sự (hazard). Với một đất nước bảo vệ môi trường như Thụy Điển, công bố của Oona Lönnstedt đã ngay lập tức đưa cô lên trở thành ngôi sao sáng chói trên bầu trời khoa học và nhận được nguồn tài trợ rất lớn để tiếp tục hướng nghiên cứu này.      Hạt vi nhựa trong ấu trùng cá vược. Ảnh: Oona Lönnstedt  Ngụy tạo số liệu nhưng không dễ kết tội  Tuy nhiên, ngay sau đó thì các nhà khoa học phát hiện ra nghiên cứu này có vấn đề. Khởi nguồn từ một đồng nghiệp ở Đại học Khoa học và Công nghệ NaUy (NTNU) có thời gian làm thí nghiệm trên trạm nghiên cứu Ar Research Station on Gotland cùng Oona Lönnstedt đã cho rằng Oona Lönnstedt không thể nào thực hiện được một nghiên cứu với số mẫu lớn như vậy dựa trên những gì cô đã thấy trên đảo. Oona Lönnstedt đáp lại là do người đồng nghiệp đó ghen tị với thành tích của mình nên tìm cách tấn công cá nhân. Tuy nhiên, một loạt các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới cùng vào cuộc kiểm tra lại và thấy rằng, chắc chắn có vấn đề. Họ yêu cầu Oona Lönnstedt gửi số liệu gốc nhưng Oona Lönnstedt nói rằng laptop của cô, nơi lưu trữ toàn bộ số liệu gốc đã bị trộm mất, không còn bằng chứng gì. Dưới áp lực của cộng đồng khoa học quốc tế, trường Đại học Upsala nơi Oona Lönnstedt công tác đã tổ chức điều tra và công bố không tìm thấy bằng chứng sai phạm. Nhưng giới khoa học không chịu để yên và tiếp tục lên tiếng, một tổ điều tra độc lập được tiến hành. Những bằng chứng thu được chống lại Oona Lönnstedt một cách rõ ràng nhưng vì không có số liệu gốc để đối chiếu nên cuối cùng Oona Lönnstedt vẫn không bị kết tội mà chỉ có một khuyến cáo chung là những kết quả này có vấn đề.  Science rút bài báo của Oona Lönnstedt và có đăng cả một series các thông tin đi kèm nhưng Oona Lönnstedt chỉ bị “kết tội” chính thức là làm nghiên cứu trên cá mà không có giấy phép từ Ban Đạo đức trong nghiên cứu.  Tuy nhiên, mọi việc không dừng lại ở nghiên cứu trên Science. Các nhà khoa học còn phát hiện ra, nghiên cứu của Oona Lönnstedt thực hiện tại ĐH James Cook (JCU) trong thời gian cô này làm nghiên cứu sinh (2012) cũng có dấu hiệu giả mạo. Khi đó nghiên cứu của cô trên loài cá mao tiên (một loài cá tuyệt đẹp) cho thấy loài cá này sử dụng vây bụng làm tín hiệu để hợp tác trong quá trình săn mồi tập thể và chỉ hướng con mồi. Nó giống như con ong có điệu nhảy “waggle dance” để chỉ cho các ong thợ khác biết vị trí có hoa để đến đó lấy mật và phấn hoa. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Biology Letters4 của Royal Society danh tiếng của Vương quốc Anh. Kết quả nghiên cứu này quá hấp dẫn đến nỗi Oona Lönnstedt còn được tạp chí National Geographic phỏng vấn.    Oona Lönnstedt cũng từng ngụy tạo số liệu khi nghiên cứu cá mao tiên ở Đại học James Cook.  Tuy nhiên nghiên cứu của Oona Lönnstedt công bố sử dụng 86 cá mao tiên sọc và 16 cá mao tiên vây đốm nhưng trong sổ nhật ký thu mẫu thực địa chỉ ghi nhận cô này thu 12 và 3 cá thể cá mao tiên cho mỗi loại. Vì sao các nhà khoa học lại có thể phát hiện được thông tin trong sổ nhật ký thu mẫu? Đó là vì các thông tin này được lưu trữ và công bố công khai trên mạng.      Ở Việt Nam, các cơ sở nghiên cứu, cơ quan tài trợ có thể tạo ra những kho lưu trữ dữ liệu trực tuyến và để mở (open access). Các nhà khoa học nhận tài trợ buộc phải lưu trữ dữ liệu trên những cơ sở dữ liệu này. Những nghiên cứu thuộc phạm trù bí mật quốc gia, bí mật khoa học công nghệ, hoặc liên quan đến những loài sinh vật quý hiếm cần được bảo vệ thì cơ sở dữ liệu có thể đóng băng (embargo) trong giới hạn 2, 5 hoặc 10 năm tùy theo từng chương trình. Thông lệ các tạp chí khoa học quốc tế thường cho phép tác giả đóng băng số liệu gốc trong thời gian tối đa 2 năm kể từ ngày công bố.      Kết quả tranh luận liên quan đến sự kiện này dẫn đến việc GS Peter Ridd, người hướng dẫn của Oona Lönnstedt ở Đại học James Cook bị cho thôi việc vì liên tục chỉ trích vấn đề kiểm soát chất lượng của Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về rạn san hô – Trung tâm nghiên cứu quốc gia của Úc có trụ sở tại JCU. Hai giáo sư đồng hướng dẫn của Oona Lönnstedt ở Canada cũng phải giải trình. Tuy nhiên, sau đó GS Peter Ridd kiện lại JCU và JCU bị buộc phải bồi thường cho GS này 1.2 triệu AUD cho những tổn thất do bị sa thải không đúng luật. Mới đây, JCU đang khiếu nại lại phán quyết của tòa án.  ***  Vụ việc của Oona Lönnstedt không chỉ gây chấn động giới nghiên cứu sinh học mà còn nhận được nhiều sự chú ý của cộng đồng khoa học nói chung, được cập nhật trên nhiều trang thông tin khoa học. Bởi vì hiện tượng ngụy tạo số liệu trong nghiên cứu thường rất ít xảy ra ở các trường đại học, các viện nghiên cứu trên thế giới vì các cơ sở nghiên cứu uy tín thường có quy trình kiểm soát tính minh bạch khoa học rất chặt chẽ. Để tránh những hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu khoa học, hầu hết các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức tài trợ nghiên cứu lớn đều có những khóa học cho sinh viên, những nghiên cứu tập sự. Các nghiên cứu thường được kiểm tra chéo ngay trong chính nội bộ nhóm về quá trình thực hiện công việc và kết quả thí nghiệm. Hầu hết các nghiên cứu đều có sổ nhật ký hằng ngày, nên nếu ai đó muốn sửa đổi hay thay đổi kết quả là việc rất khó thực hiện. Tuy vậy, vụ việc này một lần nữa là bài học để các cơ sở nghiên cứu, các tạp chí khoa học cẩn trọng hơn trong quy trình đánh giá nghiên cứu, quản lý cơ sở dữ liệu gốc của các nghiên cứu, khảo sát.     Bài học cho Việt Nam? Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ việc tranh luận gây ồn ào dư luận về vấn đề đạo văn trong nghiên cứu khoa học. Đạo văn cũng là một vấn đề nghiêm trọng về đạo đức nghiên cứu, nhưng theo quan điểm của người viết bài báo này, thì tác hại của đạo văn so với học thuật thấp hơn nhiều so với tác hại của ngụy tạo số liệu. Nếu đạo văn chỉ là gian lận nghiên cứu khoa học ở trình độ thấp thì ngụy tạo số liệu là gian lận khoa học ở trình độ cao hơn nhiều, tinh vi hơn và nguy hại hơn. Do đó, việc quản lý cơ sở dữ liệu gốc của các nghiên cứu ở Việt Nam cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Các cơ sở nghiên cứu, cơ quan tài trợ nghiên cứu như NAFOSTED, các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia có thể tạo ra những kho lưu trữ dữ liệu trực tuyến và để mở (open access). Các nhà khoa học nhận tài trợ buộc phải lưu trữ dữ liệu trên những cơ sở dữ liệu này. Điều này là rất cần thiết để có thể kiểm tra khi có những vấn đề liên quan đến một đề tài nghiên cứu. Quan trọng hơn, kho dữ liệu trực tuyến này sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu big data (metadata) để hướng tới những nghiên cứu liên ngành, đa ngành hoặc những nghiên cứu phục vụ định hướng chiến lược khoa học công nghệ. Những nghiên cứu thuộc phạm trù bí mật quốc gia, bí mật khoa học công nghệ, hoặc liên quan đến những loài sinh vật quý hiếm cần được bảo vệ thì cơ sở dữ liệu có thể đóng băng (embargo) trong giới hạn 2, 5 hoặc 10 năm (tùy theo từng chương trình). Các tạp chí khoa học quốc tế thường cho phép các tác giả đóng băng số liệu gốc trong thời gian tối đa 2 năm kể từ ngày công bố kết quả nghiên cứu.  —  Tài liệu tham khảo:  1. O. M. Lönnstedt, P. Eklov, Science 352, 1213 (Jun, 2016).  2. R. Lenz, K. Enders, T. G. Nielsen, Proceedings of the National Academy of Sciences 113, E4121 (July 19, 2016, 2016).  3. G. A. Burton, Environ. Sci. Technol. 51, 13515 (2017/12/05, 2017).  4. O. M. Lonnstedt, M. C. O. Ferrari, D. P. Chivers, Biology Letters 10, (Jun, 2014).  Đinh Văn Khương   Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/vu-nguy-tao-so-lieu-chan-dong-gioi-nghien-cuu-sinh-vat-bien/20191017024638339p1c160.htm          Author                Quản trị        
__label__tiasang Vụ nổ “Big Bang” các loài hoa      Từ những cây cúc dại quen thuộc đến những loài phong lan kỳ dị, các loài hoa vô cùng đa dạng với số lượng đông đảo, tất cả chúng đều bùng nổ trong một kỷ nguyên ngắn – một cú “Big Bang” tiến hoá – khoảng 130 triệu năm trước.      Hai báo cáo khoa học công bố mới đây cho thấy đã có một sự bùng nổ số lượng loài trong khoảng thời gian 5 triệu năm, ngay sau khi thực vật xuất hiện trên Trái đất, và tạo ra 5 dòng cây có hoa chính. Tuy nhiên, nguyên nhân của sự bùng nổ đa dạng này vẫn chưa rõ ràng. Theo các nhà nghiên cứu, có thể một sự cố khí hậu lớn đã kích hoạt quá trình này.    Thuận An (Theo LiveScience)           Author                Quản trị        
__label__tiasang Vụ nổ trong quá khứ?      Khoảng 13.000 năm trước, Bắc Mỹ là một miền đất nhộn nhịp. Những lớp băng nhiều nghìn năm tuổi đã tan chảy, và loài người đã đi từ Siberia đến Alaska, rồi tràn xuống sinh sống trên một vùng rộng lớn, từ những khu rừng Canada đến vùng bờ biển Carolina trù phú. Nền văn hóa Clovis đã hình thành nên từ đó. Nhưng chỉ sau hai thế kỷ săn voi mamút, bò rừng bizon và ngựa, nền văn hóa này đã đột nhiên biến mất một cách khó hiểu.    Một câu hỏi lớn được đặt ra: điều gì đã khiến những kẻ săn mồi thông minh nhất của Thế giới Mới biến mất nhanh đến vậy?  Ngày 24/5/2007, trong hội nghị của cộng đồng vật lý địa cầu châu Mỹ ở Acapulco (Mexico), một nhóm hơn hai chục nhà khoa học đã trình bày những nghiên cứu nhằm khẳng định rằng, đã từng có vụ nổ của sao chổi hoặc tiểu hành tinh xảy ra gần 13.000 năm về trước ở mũ băng phía bắc của châu Mỹ. Những mảnh vụn của vụ nổ đã lan tỏa và trút xuống khắp lục địa, đẩy nhiệt độ tụt xuống trong suốt một thiên niên kỷ tiếp theo.           Các quả cầu nhỏ xíu được tìm thấy ở Bắc Mỹ, chúng có thể là tàn dư của vụ va chạm        Trong lịch sử của địa chất học, cũng thỉnh thoảng có một số vấn đề được giải thích theo những lý thuyết về các vụ tấn công của thiên thạch vào Trái Đất như vậy, thậm chí đã có một ý tưởng cho rằng, chính một vụ va chạm thiên thạch đã làm sụp đổ các nền văn minh thời đại đồ đồng. Tuy nhiên, những lý thuyết như vậy chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng khoa học.    Lần này thì tình hình có vẻ khác, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng, lý thuyết của họ giải thích được hàng loạt những bằng chứng quan sát: không chỉ về sự lạnh đi của khí hậu và sự biến mất của những thợ săn Clovis mà còn cả về sự tuyệt chủng gần như đồng thời của những loài thú lớn trên lục địa.  “Khám phá này rất quan trọng,” thành viên nhóm nghiên cứu, James Kennett nói. “Nó giải thích được cả ba bí ẩn lớn nhất mà người ta vẫn thường xuyên tranh cãi trong những thập kỷ gần đây.”   Nhưng lý thuyết này cũng gặp phải một đối thủ cạnh tranh nặng ký. Có một giả thuyết cũng giải thích được một cách logic cả ba bí ẩn này. Đó là sự thay đổi lớn của dòng hải lưu đã làm khí hậu lạnh đi trong suốt một nghìn năm (tình trạng này còn gọi là Younger Dryas). Sự lạnh đi này xóa sổ những thợ săn Clovis. Và nếu không bị săn bắt đến tuyệt diệt thì những con quái vật lớn thời tiền sử cũng không thể tồn tại được trong khí hậu khắc nghiệt.  Phép phân tích địa hóa học đối với các lớp trầm tích tại 25 khu vực khảo cổ ở Bắc Mỹ đã đem lại một bằng chứng mới. Nhóm nghiên cứu báo cáo rằng, các lớp trầm tích chứa những mảnh vụn được tạo ra bởi sự va chạm thiên thạch. Chúng bao gồm những quả cầu nhỏ bằng thủy tinh và carbon, và đặc biệt, hàm lượng nguyên tố iridi cao đến mức chúng không hầu như không thể có nguồn gốc từ Trái Đất. Thêm vào đó, các mẫu đá chứa những lớp màu đen của vật liệu bị carbon hóa, cái đó có thể chứng tỏ rằng, cả lục địa đã bị bốc cháy sau vụ va chạm.  Các chuyên gia khác vẫn đang thận trọng và chờ đợi những phân tích kỹ hơn. Vance Haynes (Đại học Arizona), một nhà khảo cổ đã nghiên cứu về người Clovis được hơn 40 năm nói rằng: “Lý thuyết mới này có thể tin được, nếu các kết quả phân tích địa chất của họ được lặp lại bởi một nhóm nghiên cứu khác.”  “Lý thuyết va chạm của họ không nên bị thờ ơ, nó xứng đáng được nghiên cứu sâu hơn,” Jeff Severinghaus, một nhà khí hậu học ở California nói. Nhưng ông cũng nghĩ rằng, “sẽ là cực kỳ không bình thường nếu một sự kiện như vậy dẫn đến sự thay đổi sâu rộng về khí hậu.” Sự nghi ngờ đó dựa trên phân tích về các lõi băng ở Greenland, chúng chỉ ra rằng, một số hiện tượng lạnh đi đã bắt đầu từ trước vụ va chạm.  Sự tràn nước            Những người Clovis săn bò rừng bizon.        Nhóm nghiên cứu biết rằng, lý thuyết họ vẫn còn những nghi vấn cần phải vượt qua. Đa số họ đều rất hứng thú và tin tưởng. Đối với họ, lý thuyết này vẫn rất hấp dẫn, ngay cả khi nó chưa đủ thuyết phục.  Những lý thuyết trước đây về nguyên nhân gây ra Younger Dryas dựa trên quan điểm cho rằng, đã có một sự đảo ngược xu hướng ấm lên toàn cầu. Vào giai đoạn đó, khí hậu Bắc Mỹ đang ấm lên, các lớp băng tan chảy làm lộ đất đai và giải phóng một lượng nước lớn. Vùng hồ Agassiz với một lượng nước khổng lồ từ băng tan đã phá vỡ một con đập tự nhiên và tràn ra Bắc Đại Tây Dương. Hiện tượng này đã làm chậm lại hệ thống luân chuyển của đại dương, tức là làm chậm lại sự truyền nhiệt lượng từ vùng xích đạo lên phía bắc. Vì nguyên nhân đó, khí hậu đã bị làm lạnh trở lại trong khoảng một thiên niên kỷ.     Lửa và băng  Thay vì sự tràn nước của hồ Agassiz, lý thuyết mới đoán rằng, đã có một vật thể đường kính 5 km đâm vào mũ băng phía bắc, làm tan chảy và gây ngập lụt. Nhưng không có dấu tích rõ ràng nào của vụ va chạm, một cái hố lớn chẳng hạn. Có lẽ là tiểu hành tinh đã nổ ngay trong không trung, hoặc lớp băng đủ dày để che chắn cho mặt đất.  Lý thuyết này có lẽ đã manh nha được vài năm và phát triển với một số những bước ngoặt. Vào cuối thập niên 1990, nhà khảo cổWilliam Topping, lúc ấy đang làm việc ở một khu vực khai quật Clovis (có tên là Gainey) đã đề ra một lý thuyết rằng, Younger Dryas bị gây ra bởi một sao siêu mới (supernova), tức là một ngôi sao đang bùng nổ. Năm 2001, ông và Richard Firestone, một vật lý hạt nhân ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley đã công bố một bài báo về hiệu ứng này, với các số liệu lấy từ các lớp trầm tích ở Gainey.  Các nhà phân tích lập tức xúm phê phán giả thuyết kỳ lạ liên quan đến sao siêu mới. Sau khi phân tích kỹ càng hơn, Firestone đã rút lại công bố này. Nhưng Topping thì vẫn tiếp tục mê mẩn với ý tưởng sao siêu mới và không đồng ý với Firestone. Thế là hai người chia tay nhau, mỗi người đi một ngả.  Firestone cuối cùng đã tham gia “phe” của Kennett, cả hai bọn họ đều nhường công lao chính cho cho người đồng nghiệp Allen West, một nhà địa vật lý tự học ở Arizona, người đã thu thập được nhiều mẫu vật mới. “West là nhà vô địch,” Kennett nói.  Bây giờ, Kennett vẫn còn lầm bầm khó chịu về bài báo năm 2001, nhưng ông cũng nói rằng, ông vẫn tận tâm tận lực vì chất lượng của những nghiên cứu mới. “Tôi sẽ không vội vã kết luận nếu không có đủ dữ liệu.”  Một số dữ liệu được lấy từ một khu vực khai quật Clovis có tên là Murray Springs, nằm ở miền nam Arizona và đã được nghiên cứu từ lâu bởi Haynes. Trầm tích ở đó bao gồm cả các lớp carbon có từ ngay trước thời kỳ Younger Dryas. Bên dưới các lớp đó, West đã tìm thấy các quả cầu carbon nhỏ xíu, có đường kính từ 0,15-2,5 mm, một số chúng là rỗng bên trong. Firestone và West đã dẫn chứng rằng, những quả cầu tương tự cũng đã được tìm thấy tại một cái hố lớn ở Đức, chúng có thể là tàn dư của một vụ va chạm.  Nhóm nghiên cứu cũng thu được các mẫu carbon trông như thủy tinh, có bề mặt được cho là đã bị nóng chảy trong một vụ va chạm, và cả các lớp giàu iridium, một nguyên tố vốn không có nhiều trong vỏ Trái Đất. Một thành viên khác của nhóm, Luann Becker, (người trước đây đã từng tham gia vào những công bố gây tranh cãi về một tiểu hành tinh đã gây ra sự tuyệt chủng ở kỷ Permi-Trias khoảng 250 triệu năm trước) nói rằng bà đã tìm ra các quả cầu carbon cấu trúc fullerene ở khu vực Clovis, có thể làm bằng chứng cho một vụ va chạm.  Kennett cũng đã nhìn thấy những quả cầu nhỏ trong các lớp trầm tích 12.900 năm tuổi trên đảo Santa Rosa, đây cũng là nơi mà những mẫu xương người cổ nhất Bắc Mỹ từng được tìm thấy. Ở phía đông, nhóm nghiên cứu đã phân tích tỉ mỉ những chỗ đất lún hình tròn chạy từ Georgia đến Delaware. Firestone nghĩ rằng, những vịnh ở Carolina có thể là các hố va chạm, gây ra bởi các mảnh vỡ từ vụ nổ trong thời đại Clovis. Mặc dù nhiều người khác vẫn còn chưa tin lắm.  Sự suy giảm dân số  Gần các vịnh, nhóm cũng tìm kiếm bằng chứng ở khu vực khảo cổ Topper, ở đây có rất nhiều dấu tích Clovis. Nhưng Albert Goodyear, một nhà khảo cổ ở Đại học Nam Carolina đã báo cáo ở Acapulco rằng có một sự giảm nhanh dấu tích Clovis ở Topper trong giai đoạn Younger Dryas. Nhóm lập luận rằng, đây là bằng chứng cho thấy sự giảm dân số đột ngột. Nhưng các nhà khảo cổ khác lại nói rằng, họ không tìm thấy bằng chứng nào về sự suy giảm như giống như vậy trong dân số người Anh-điêng cổ (Palaeoindian). Thậm chí khi nền văn hóa Clovis đang biến mất, thì các nền văn hóa khác vẫn tồn tại, vì những lý do vô cùng khó hiểu.  Hội nghị Acapulco có thể khiến các nhà khoa học phải khảo sát lại bằng chứng của họ về những gì đã xảy ra ở Bắc Mỹ vào cuối thời đại băng hà gần đây nhất.         TTD (Theo Nature)    ảnh trên cùng: Lớp trầm tích màu đen ở Murray Springs có thể là bằng chứng về các vụ cháy gây ra bởi va chạm thiên thạch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vụ phun trào của Krakatau cuối thế kỉ XIX: Quan sát  từ Việt Nam      Một thiên tai dữ dội như vậy gần kề với lãnh thổ Việt Nam không thể không làm dấy lên một câu hỏi: các nguồn tư liệu ở Việt Nam thời bấy giờ đã ghi nhận được những hiện tượng gì xung quanh vụ phun trào này?      Một bản in thạch bản miêu tả vụ nổ Krakatau tháng 8/1883. Ảnh từ báo cáo của Hội Hoàng gia London.  Sự kiện núi lửa Krakatau phun trào ở eo biển Sunda năm 1883 đến nay vẫn được xếp hạng là một trong những thảm kịch núi lửa nghiêm trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Vụ phun trào đã dẫn đến các trận sóng thần giết chết hơn 36,000 người tại các thuộc địa của Hà Lan ở Ấn Độ Dương và sinh ra các cơn sóng xung kích được truyền đi bốn lần vòng quanh thế giới.     “Sắc Mặt trời xanh”     Vụ nổ mang tính cao trào của Krakatau (hay còn gọi là Krakatoa) kéo dài từ chiều 26/8 đến rạng sáng ngày 27/8/1883, chưa đầy một tháng sau khi Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi và lấy niên hiệu là Hiệp Hòa. Ngày 20/8, các tàu chiến Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An – một trong các cửa ngõ chính dẫn vào kinh đô Huế, và thất bại của thủy quân nhà Nguyễn buộc triều đình phải ký Hòa ước Quý Mùi vào ngày 25, thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, sáp nhập tỉnh Bình Thuận vào xứ thuộc địa Nam Kỳ. Sau hòa ước này, các quan đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bắt đầu tỏ thái độ chống đối và lên kế hoạch phế bỏ vua Hiệp Hòa, đồng thời bức bách Trần Tiễn Thành, một quan đại thần khác vốn đã giữ chức quản lý Khâm thiên giám từ 1862 (Đại Nam thực lục [ĐNTL], VII, tr. 778). Đây đều là các chi tiết quan trọng liên quan đến ảnh hưởng khí quyển đầu tiên của vụ nổ núi lửa ùa vào vùng trời Đại Nam.    Tháng 9 âm lịch năm Quý Mùi, Đại Nam thực lục có ghi chép như sau:    “Ngày Bính Thìn, sắc Mặt trời xanh (lúc mới sáng thì sắc xanh, rồi dần dần biến ra trắng, người đi đường không có bóng, suốt ngày không lúc nào có ánh sáng). Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết dâng sớ xin vua trách mình, sửa chính sự, sắc cho đình thần xét kỹ có điều gì không hợp lẽ, lập tức tâu lên sửa chữa, ngõ hầu hồi lại ý trời. […] Nhân dụ rằng: Trời với người cảm ứng nhau rất là không sai. Trẫm đức bạc, không cảm cách được lòng trời, cho nên Mặt trời báo cho biết trước.” (ĐNTL, VIII, tr. 596).      Khi nhiều biến cố lịch sử xảy ra trong một thời gian ngắn như vậy, việc các nhà viết sử sau này chép sai ngày giờ xảy ra của một tiếng nổ không liên quan ở ngoài biển là một chuyện không thể tránh khỏi.      Ngày Bính Thìn nêu trên tương đương với ngày 9/9/1883 dương lịch. Do từ “xanh” có thể ám chỉ cả xanh lam và xanh lục, chúng ta không thể dựa ngay vào phần miêu tả này để phác họa lại cảnh bầu trời ngày hôm đó. Ngay cả việc khảo cứu bản gốc bằng chữ Hán cũng không thay đổi được điều gì, vì câu gốc chỉ là “Bính Thìn nhật sắc thanh” (丙辰日色靑), trong đó “thanh” (靑) cũng là một từ chỉ màu sắc mơ hồ như “xanh”. Tuy nhiên, cho dù có là xanh lam hay xanh lục, sắc “xanh” mà Đại Nam thực lục miêu tả vẫn trùng khớp hoàn toàn với các ghi chép khác về bầu trời Trái đất ở thời điểm này.    Theo thống kê từ cuốn sách nghiên cứu về vụ phun trào của Krakatau do Hội Hoàng gia London xuất bản năm 1888, sau khi Krakatau phát nổ ngày 27/8, các hòn đảo ở phía Tây ngọn núi này như Sri Lanka, Seychelles và Mauritius lần lượt ghi nhận Mặt trời có màu xanh lam hoặc xanh lục, và các hiện tượng tương tự tiếp tục được báo cáo từ các vị trí xa hơn về phía Tây, trước khi vòng trở lại tỉnh Iloilo của Philippines vào 6 giờ sáng ngày 9/9 theo giờ địa phương. Phân tích sự khuếch tán của hiện tượng này, nhà khí tượng học Rollo Russell kết luận rằng tác nhân làm thay đổi màu của Mặt trời là đám mây bụi do vụ nổ núi lửa sinh ra, và nguyên nhân khiến Sri Lanka thấy Mặt Trời xanh trước Philippines là do một luồng không khí ở xích đạo đã đẩy đám mây bụi đi vòng quanh xích đạo theo hướng Tây với tốc độ 133 km/h (Russell, 1888, tr. 337). Những giả thuyết như vậy của Russell chính là tiền đề cho các nhà khí tượng học phát hiện ra các dòng tia (jet stream) của Trái đất sau này.    Cũng trong cuốn sách của Hội Hoàng gia London, chúng ta dễ dàng tìm thấy các báo cáo về những hiện tượng khác như Mặt trời có màu bạc, bầu trời có quầng đỏ trước bình minh hoặc hoàng hôn, v.v. Tuy nhiên, lần giở Đại Nam thực lục sau ngày 27/8/1883, không có một ghi chép nào về các hiện tượng tương tự. Điều này có thể được hiểu dựa vào cách phân tích của nhà khoa học E. D. Archibald rằng tất cả đều là do đám mây mù từ vụ nổ của Krakatau, song sự đa dạng về hiện tượng còn phụ thuộc vào độ dày đặc của đám mây ở các vĩ độ nhất định (Archibald, 1888, tr. 302). Chẳng hạn, ở Tokyo, các nhà quan sát thấy bầu trời có quầng đỏ trước bình minh và Mặt trời màu đỏ đồng là bởi đám mây bụi đã phân thành một nhánh dày đặc riêng hướng thẳng tới Nhật Bản. Còn ở Iloilo, Philippines, người ta chỉ thấy Mặt trời có màu xanh là bởi đám mây bụi từ Krakatau tiếp cận Iloilo khi ấy đã khuếch tán đi nhiều rồi. Theo góc nhìn này, có thể lý do Đại Nam thực lục chỉ ghi nhận Mặt trời màu xanh là bởi đây là hiện tượng duy nhất xảy ra khi tầng mây bụi mỏng từ Krakatau cuối cùng cũng tới Huế sau chuyến chu du gần một vòng quanh Trái đất.      Cảnh người Pháp và triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Quý Mùi, chưa đầy 2 ngày trước vụ nổ của Krakatau. Tranh vẽ từ cuốn La guerre du Tonkin của Charles-Lucien Huard.     “Tiếng kêu hình như tiếng súng”     Nếu chỉ khảo cứu tài liệu của triều đình Huế sau ngày 27/8, thật dễ để kết luận rằng sắc xanh của Mặt trời là chi tiết duy nhất được người ở Việt Nam ghi chép lại về các ảnh hưởng tức thì từ vụ nổ của Krakatau. Tuy nhiên, trong cuốn sách của Hội Hoàng gia London, R. Strachey có liệt kê các địa điểm đã nghe thấy tiếng Krakatau phát nổ từ chiều ngày 26 đến sáng ngày 27. Hai địa điểm trong số đó nằm ở xứ thuộc địa Nam Kỳ lúc bấy giờ: Sài Gòn và Vũng Tàu (sách gọi là “Cape St. James”), cùng nghe thấy tiếng nổ vào ngày 27 (Strachey, 1888, tr. 82). Ngoài ra, trong cuốn sách Notes sur l’Annam: Le Khánh-Hòa (An Nam ký sự: tỉnh Khánh Hòa), tác giả Etienne Aymonier cũng viết:    “Trận đánh như sấm rền ở Thuận An, cái hòa ước bảo hộ như sư tử theo sau đó, và trên hết là vụ phun trào ầm ĩ và xa xăm của Krakatoa như thể đang tuyên bố một cuộc bắn phá ghê gớm và đầy bí ẩn… Tất cả kết hợp lại với nhau mà làm dấy lên cơn hoảng sợ đến điên dại ở các viên quan và ở những kẻ cướp – những kẻ tẩu thoát từ Sài Gòn, những kẻ áp bức của Bình Thuận. Đám đông này, hối hả đổi gia sản sang thứ tiền tệ mang đi được, khiến đồng piastre bạc có giá cao ngất ngưởng. Thế rồi vừa thu gom xong chỗ quần áo cũ và giẻ rách, họ kinh hãi chạy hết khỏi Khánh Hòa, như thể một đoàn quân “rợ Tây” đã đuổi đến sát gót”. (Aymonier, 1885, tr. 140)    Chúng ta không thể kiểm chứng được câu chuyện của Aymonier về đám đông chạy loạn từ Khánh Hòa, do không có nguồn nào khác thuật lại một sự việc như thế. Tuy nhiên, vị trí ở vùng Khánh Hòa-Bình Thuận của ghi chép này lại là một điều đáng để tâm, bởi một hiện tượng tương tự cũng đã được ghi nhận trong Đại Nam thực lục:  Nếu âm thanh được ghi nhận trong Đại Nam thực lục không bắt nguồn từ Krakatau, dường như chẳng có cách nào khác để lý giải nó cả. Song một câu hỏi không thể tránh khỏi là: nếu đúng là Đại Nam thực lục đang miêu tả chuỗi tiếng nổ của Krakatau, tại sao lại đặt mốc thời gian gần một năm trước khi sự kiện này thực sự xảy ra như thế? Phải chăng có một sự nhầm lẫn, một sai sót nào đó trong công đoạn thu thập báo cáo về các âm thanh này từ Bình Thuận ra Bắc Kỳ?  “Biển tỉnh Bình Thuận có tiếng kêu hình như tiếng súng (tiếng lớn, tiếng nhỏ xen nhau phát ra suốt ngày, tiếng vang suốt đến Bắc Kỳ)”. (ĐNTL, VIII, tr. 538)  Miêu tả trên được trích từ phần tháng 7 năm Nhâm Ngọ theo lịch âm, tương đương với khoảng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9 năm 1882. Ngay lập tức, chúng ta thấy rằng mốc thời gian của miêu tả này lệch gần một năm so với ngày cao trào của Krakatau (27/8/1883). Song cùng lúc đó, không thể không nhận thấy những điểm tương đồng rõ rệt giữa miêu tả này và ghi chép của Aymonier, từ vị trí nghe thấy các tiếng ồn cho đến cách thức ví von chúng. Bằng cách nào mà Đại Nam thực lục lại miêu tả một hiện tượng tương tự như thứ mà Aymonier quy cho vụ nổ của Krakatau, song hiện tượng trong Đại Nam thực lục lại sớm hơn vụ phun trào gần một năm? Trong bối cảnh các trận hải chiến diễn ra thường xuyên trên vùng biển Đại Nam, quả thật những âm thanh như tiếng súng không phải là chuyện hiếm gặp, song mốc thời gian của miêu tả trong Đại Nam thực lục gần như “lạc quẻ” vì nó không trùng khớp với bất kỳ trận hải chiến nào trên Biển Đông vào thời điểm đó. Ngoài ra, với bối cảnh công nghệ của triều Nguyễn ở thập niên 1880, bằng cách nào mà những người ở Quốc sử quán biết được rằng âm thanh ngoài biển Bình Thuận vang đến tận Bắc Kỳ?    Trong khoảng thời gian đó, tiếng nổ của Krakatau là âm thanh duy nhất có khả năng từ Bình Thuận “vang suốt đến Bắc Kỳ”. Theo ghi nhận của Hội Hoàng gia London, tiếng nổ này lớn đến mức nó làm thủng màng nhĩ của thủy thủ một số tàu trên biển Ấn Độ Dương trước khi vang khắp thế giới nhiều lần liên tiếp. Và bởi đỉnh điểm không phải là một vụ nổ trong chốc lát mà kéo dài từ chiều ngày 26 đến sáng sớm ngày 27, những âm thanh từ Krakatau cũng được các cư dân tại Buitenzorg (Bogor, Indonesia ngày nay) ví với pháo bắn ở cự ly gần (Judd, 1888, tr. 19).     “Có sự gì lạ thì phải chép”     Ghi chép về các hiện tượng thời tiết hoặc thiên văn không phải là điều hiếm gặp trong sử liệu của Việt Nam nói riêng và các nước Á Đông nói chung. Ngay trong Đại Nam thực lục, trước khi bắt tay vào chép Đệ tứ kỷ về thời Tự Đức và Hiệp Hòa (1848 – 1883), Quốc sử quán cũng viết trong phần Phàm lệ: “Về Mặt trời, ngôi sao, gió, sấm, mưa, núi, sông, đất đai, có sự gì lạ thì phải chép”. (ĐNTL, VII, tr. 14). Tuy nhiên, để hiểu rõ việc ghi chép diễn ra thế nào, chúng ta phải tự đặt mình vào hoàn cảnh của Quốc sử quán khi đó và suy đoán xem thông tin về những hiện tượng này đã tới tay các nhà viết sử như thế nào. Những thứ như nguyệt thực, Mặt trời có sắc xanh hay một sao chổi xuất hiện ở bầu trời phía Nam hoàn toàn có thể được những người ở Khâm thiên giám quan sát rồi ghi chép lại ngay cho các nhà viết sử sau này. Song đối với những hiện tượng như các “tiếng kêu hình như tiếng súng” từ Bình Thuận “vang suốt đến Bắc Kỳ”, chúng ta phải tự hỏi người nhà Nguyễn đã làm cách nào, hoặc đã dành bao nhiêu thời gian để thu thập thông tin và tổng hợp được rằng tiếng kêu ở ngoài biển Bình Thuận chính là tiếng kêu được người ở Bắc Kỳ nghe thấy? Không những vậy, sử liệu mà chúng ta đang sử dụng không hề được viết ngay sau khi sự việc xảy ra: dựa theo bài dụ của vua Thành Thái, Đệ tứ kỷ được viết từ khoảng năm 1885-1886 cho đến năm 1894, và được in năm 1899 (ĐNTL, VII, tr. 7-13). Có thể trong quá trình tổng hợp tư liệu, hoặc sau này là quá trình chép sử của Quốc sử quán, đã có một sai sót khiến cho mốc thời gian của sự việc “tiếng kêu hình như tiếng súng” bị lệch một năm so với vụ nổ của Krakatau, ngay cả khi chẳng có cách nào lý giải được một hiện tượng như vậy ngoài vụ nổ nêu trên?    Trong việc nghiên cứu các hiện tượng thời tiết hoặc thiên văn qua sử liệu, nói rằng “ghi chép này chỉ có thể là sự kiện này song thời gian bị chép lệch” thực chất không phải là một cách lập luận quá lạ lẫm. Vào giữa thế kỷ XI, pho sử của nhà Tống và hồi ký của một thi sĩ Nhật Bản đều đồng thuận rằng có một ngôi “sao khách” tỏa sáng rực rỡ ở bầu trời phía Đông vào tháng 7 dương lịch của năm 1054, và dựa vào miêu tả của các sử liệu này, các nhà thiên văn học đã xác định được ngôi “sao khách” này là vụ nổ siêu tân tinh SN 1054 sinh ra Tinh vân Con Cua (Crab Nebula) trong chòm sao Kim Ngưu (Taurus) ngày nay. Song khi khảo sát Khiết Đan quốc ký (契丹國志), một tài liệu thứ cấp của nhà Tống về lịch sử nhà Liêu của người Khiết Đan, các nhà thiên văn học không khỏi bối rối khi thấy Khiết Đan quốc ký cũng ghi nhận một ngôi sao khách ở bầu trời phía Đông, song mốc thời gian lại là ngày 13/11/1053 (Stephenson và Green, 2002). Cuối cùng, các nhà thiên văn học kết luận rằng ngôi sao khách này chính là siêu tân tinh SN 1054, nhưng thời gian đã bị chép lệch sang gần một năm trước. Về lý do dẫn đến sự chép lệch này, đến nay vẫn chưa một tác giả nào đưa ra được lời giải thích.      Để hiểu được một cách bao quát và rõ ràng tất cả các ảnh hưởng của Krakatau tại Việt Nam vào thời điểm đó, nhà nghiên cứu cần phải điều tra cặn kẽ hơn về khí hậu và các điều kiện tự nhiên trong khoảng thời gian sau vụ phun trào.      Tuy nhiên, trong trường hợp của Đại Nam thực lục, nếu chúng ta thực sự tin rằng miêu tả “tiếng kêu hình như tiếng súng” chính là tiếng nổ của Krakatau bị chép lệch một năm, lời giải thích cho sự chép lệch hiển hiện ngay xung quanh miêu tả đó. Thập niên 1880 ở Việt Nam được đánh dấu bởi những biến động lớn về mặt chính trị-xã hội, với các cuộc tấn công liên miên của thực dân Pháp, các tư tưởng trái chiều gây chia rẽ nội bộ triều đình Huế, cũng như các kế hoạch lật đổ và đưa lên ngôi những hoàng thân khác nhau. Ngay trong đoạn văn miêu tả sắc xanh của Mặt trời, chúng ta cũng thấy rõ vai trò của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, hay cụ thể hơn là việc họ lấy ngay hiện tượng thiên văn này làm cớ để thuyết phục vua Hiệp Hòa tự trách mình và sửa chính sự. Có thể cho rằng trong một bối cảnh đầy rẫy những cuộc chính biến như thế, những nhà viết sử buộc phải ghi chép tỉ mỉ hơn về các biến động chính trị-xã hội và ít chú ý đến những hiện tượng xảy ra trên bầu trời, trừ khi các hiện tượng này có một mối liên hệ nhất định với việc triều chính, chẳng hạn như là được các quan đại thần đem ra để nhắc nhở vua tự chỉnh đốn bản thân mình. Ngoài ra, cũng nên chú ý rằng trong khoảng thời gian giữa vụ nổ của Krakatau và lúc Quốc sử quán dưới thời Thành Thái hoàn tất Đệ tứ kỷ, một trận đánh khốc liệt đã xảy ra tại kinh thành Huế vào năm 1885 giữa quân Pháp và quân triều đình nhà Nguyễn do Tôn Thất Thuyết chỉ huy. Nhiều tài sản trong cung đã bị cướp bóc và nhiều tài liệu cũng đã bị thất lạc, bao gồm cả một bộ lịch mà sau này Khâm thiên giám phải làm lại (Hội điển tục biên, X, tr. 121-122). Khi nhiều biến cố lịch sử xảy ra trong một thời gian ngắn như vậy, việc các nhà viết sử sau này chép sai ngày giờ xảy ra của một tiếng nổ không liên quan ở ngoài biển là một chuyện không thể tránh khỏi.    Nói tóm lại, khi xem xét sử liệu của nhà Nguyễn và đối chiếu với các ghi chép của người nước ngoài, chúng ta nhận thấy rằng vụ nổ của Krakatau đã gây ra một số ảnh hưởng tức thì được những người có mặt ở Việt Nam ghi nhận. Đối với ghi chép về sắc xanh của Mặt trời, chúng ta có đủ độ chính xác, cũng như là nền tảng kiến thức để quy cho đám mây tro bụi mà vụ nổ núi lửa sản sinh ra, song đối với ghi chép về âm thanh vang từ Bình Thuận đến Bắc Kỳ, rắc rối về mốc thời gian – mà có lẽ là do bối cảnh chính trị-xã hội – cản trở một kết luận xác đáng. Để hiểu được một cách bao quát và rõ ràng tất cả các ảnh hưởng của Krakatau tại Việt Nam vào thời điểm đó, nhà nghiên cứu cần phải điều tra cặn kẽ hơn về khí hậu và các điều kiện tự nhiên trong khoảng thời gian sau vụ phun trào. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát quy mô nhỏ dựa trên Đại Nam thực lục dường như cũng có lợi ích riêng, vì nó giúp liên hệ lịch sử Việt Nam với lịch sử thế giới cận đại, cũng như thúc đẩy một hướng nghiên cứu mới về các hiện tượng thời tiết và thiên văn trong sử liệu Việt Nam mà đến nay vẫn ít được bàn luận đến.□  —  TÀI LIỆU THAM KHẢO  Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007. Đại Nam thực lục. Hà Nội, NXB Giáo Dục.  Quốc sử quán triều Nguyễn, 2012. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên. Huế, NXB Thuận Hóa.  Stephenson, F.R. & Green, D.A., 2002. Historical Supernovae and Their Remnants. Oxford, Oxford University Press.  Symons, G.J., ed., 1888. The Eruption of Krakatoa and Subsequent Phenomena: Report of the Krakatoa Committee of the Royal Society. London, Trübner & Company.    Author                Nguyễn Bình        
__label__tiasang Vũ trụ đang giãn nở có gia tốc      Một số người cho rằng vũ trụ sẽ có chung cuộc trong lửa, một số người khác lại nói rằng trong băng. Vậy số phận của vũ trụ sẽ như thế nào? Có lẽ vũ trụ sẽ kết thúc trong băng nếu chúng ta tin vào những nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý 2011.     Số phận của vũ trụ  Hàn lâm viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã thông báo trao giải Nobel  Vật lý 2011 cho ba nhà khoa học (ảnh bên, từ trái sang phải): Saul Perlmutter, đề  án SCP (Supernova CosmologyProject), Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence  Berkeley và Đại học California , Mỹ, sinh 1959 Champaign-Urbana, IL,  Mỹ; Brian P. Schmidt , nhóm nghiên cứu HZT (High-z Supernova Search  Team)  Đại học quốc gia Australia, Weston Creek, Australia, sinh 1967,  Missoula, MT, Mỹ, (hai quốc tịch Úc và Mỹ);  Adam G. Riess, nhóm nghiên  cứu HZT, Đại học Johns Hopkins và Viện khoa học viễn vọng vũ trụ,  Baltimore, Mỹ, sinh 1969, Washington, DC, Mỹ. Họ đã nghiên cứu thận trọng nhiều siêu tân tinh (supernovae)[1], trong nhũng thiên hà xa xôi và kết luận rằng vũ trụ đang giãn nở có gia tốc.  Sự phát hiện này thậm chí là một điều kinh ngạc ngay đối với cả các nhà vật lý  Nobel năm nay. Những điều họ trông thấy giống như khi ném một quả bóng lên trời và thay vì rơi xuống đất quả bóng lại càng ngày càng biến nhanh trong không trung, dường như lực hấp dẫn không còn khả năng điều khiển để quay ngược quỹ đạo quả bóng xuống mặt đất. Một tình huống tương tự đã xảy ra cho toàn vũ trụ (Hình 1).          Hình 1. Vũ trụ đang lớn dần.Quá trình giãn nở của Vũ trụ bắt đầu từ vụ nổ Big Bang cách đây 14 tỷ năm song quá trình đó lại chậm dần trong nhiều tỷ năm đầu. Sau đó Vũ trụ lại bắt đầu giãn nở có gia tốc. Gia tốc được cho là có nguyên nhân bởi năng lượng tối mà lúc ban đầu chỉ chiếm một phần nhỏ trong vũ trụ. Vật chất loãng dần vì quá trình giãn nở và tỷ phần của năng lượng tối trở nên áp đảo.          Tốc độ tăng dần của quá trình giãn nở có nghĩa rằng vũ trụ bị đẩy ra xa nhau bởi một dạng năng lượng tối chưa biết tiềm ẩn trong không gian. Năng lượng tối chiếm một phần lớn trong vũ trụ, hơn 70% và năng lượng tối là một điều bí ẩn lớn nhất trong vật lý học hiện đại. Vũ trụ học bị rung chuyển đến tận gốc khi hai nhóm nghiên cứu độc lập với nhau đưa ra những kết quả nghiên cứu giống nhau về hiện tượng giãn nở có gia tốc của vũ trụ vào năm 1998.  Saul Perlmutter lãnh đạo một trong hai nhóm đó trong Đề án vũ trụ học siêu tân tinh (Supernova Cosmology Project-SCP) bắt đầu một thập kỷ trước đây vào năm 1988.   Brian Schmidt lãnh đạo nhóm thứ hai cuối năm 1994 thực hiện đề án Truy tìm siêu tân tinh có z lớn (High-z Supernova Search Team-HZT), trong nhóm này  nhà vật lý Adam Riess đóng vai trò quan trọng. Tham số z là tham số đo độ lệch về phía đỏ (redshift parameter).  Hai nhóm này nghiên cứu vũ trụ bằng cách truy tìm những siêu tân tinh (Hình 2a) ở xa, đó là những sao bùng nổ trong vũ trụ. Bằng cách thiết lập khoảng cách đến các siêu tân tinh và tốc độ chúng đi xa chúng ta các nhà khoa học hy vọng phát hiện số phận của vũ trụ. Họ hy vọng rằng vũ trụ đang giãn nở chậm dần, và điều này có thể dẫn đến sự cân bằng giữa một chung cuộc trong lửa và một chung cuộc trong băng. Song điều họ phát hiện ra lại là một điều trái ngược – quá trình giãn nở đang xảy ra với gia tốc.           Hình 2a . Hình ảnh nghệ thuật của một siêu tân tinh trên bầu trời    Hình 2b . Ánh sáng chuẩn với độ sáng ổn định là cần thiết cho việc đo khoảng cách đến các sao          Vũ trụ đang lớn dần   Đây không phải là lần đầu tiên mà những phát hiện thiên văn làm đảo lộn nhận thức của chúng ta về vũ trụ. Chỉ một trăm năm trước đây vũ trụ được xem như một thực thể bình yên không lớn hơn giải Ngân hà của chúng ta. Đồng hồ vũ trụ gõ nhịp đều đều còn vũ trụ thì vĩnh cửu. Song một chuyển biến cơ bản đã làm thay đổi bức tranh đó.  Đầu thế kỷ 20 nhà thiên văn Mỹ Henrietta Suwan Leavitt đã tìm ra cách đo khoảng  cách đến những sao ở xa. Henrietta Leawitt đã nghiên cứu nhiều sao pun-xa (pulsating stars)[2] gọi là Cepheids [3] và tìm thấy rằng chu kỳ càng dài thì độ sáng càng lớn. Sử dụng thông tin này Leawitt có thể tính được độ sáng nội tại của các Cepheids.  Nếu khoảng cách của một trong các sao Cepheids được biết thì khoảng cách đến các Cepheids khác có thể thiết lập được- độ sáng càng nhỏ thì sao càng ở xa (Hình 2b). Một ngọn nến chuẩn đã hình thành và đó sẽ là thước chuẩn để đo vũ trụ. Sử dụng các Cepheids, các nhà thiên văn đã sớm đi đến kết luận rằng giải Ngân hà chính là một trong những thiên hà trong vũ trụ. Và trong năm 1920 các nhà thiên văn  đã sử dụng kính thiên văn lớn nhất lúc bấy giờ Mount Wilson ở California để tìm thấy rằng hầu hết các thiên hà đều chuyển động xa dần. Họ nghiên cứu đại lượng gọi là độ lệch về phía đỏ ( redshift), độ lệch này  xuất hiện khi một nguồn ánh sáng chuyển động xa chúng ta. Độ dài sóng ánh sáng giãn ra, sóng dài thêm và màu sắc của ánh sáng trở thành  đỏ hơn. Ngoài ra khi một thiên hà càng ở xa thì thiên hà đó  chuyển động ra xa càng nhanh hơn – đó là định luật Hubble. Như vậy vũ trụ càng ngày càng lớn dần.  Hằng số vũ trụ λ  Năm 1915, Albert Einstein công bố Lý thuyết Tương đối Tổng quát và đây là lý thuyết cơ bản để hiểu vũ trụ. Lý thuyết  này mô tả một vũ trụ không giãn nở cũng không co lại. Song sự phát hiện hiện tượng giãn nở của vũ trụ đã gây nhiều khó khăn cho lý thuyết. Để làm dừng hiện tượng giãn nở, Einstein đã thêm một hằng số vào các phương trình của mình, đó là hằng số vũ trụ  l (lambda):   Rab – ½ Rgab +  λ gab = 8πGT ab  trong phương trình trên G là hằng số Newton, Tab là tenxơ năng-xung lượng. Trị số và dấu của hằng số λ dẫn đến những kịch bản khác nhau và được khảo sát bởi George Lemaitre, thầy tu người Bỉ, giáo sư đại học Louvain.  Sau này Einstein cho rằng việc đưa thêm hằng số vũ trụ vào lý thuyết là một sai lầm. Tuy nhiên một điều kỳ diệu là những quan trắc thực hiện trong những  năm 1997-1998 (dẫn đến giải Nobel năm nay) cho phép chúng ta nói rằng việc đưa hằng số vũ trụ vào lý thuyết (ban đầu nhằm một mục đích khác) bây giờ trở nên một điều kỳ diệu, một thắng lợi lớn của vũ trụ học.  Sự phát hiện vũ trụ giãn nở là một bước dẫn nhận thức của chúng ta đến hiện tượng Bigbang, một vụ nổ xảy ra cách đây khỏang 14 tỷ năm. Thời gian và không gian đột hiện và từ đó vũ trụ luôn giãn nở, các thiên hà chuyển động xa nhau ra.  Siêu tân tinh- một chuẩn đo mới của vũ trụ    Khi Einstein loại bỏ hằng số vũ trụ khỏi lý thuyết và công nhận vũ trụ không là một vũ trụ tĩnh (static), ông đã gắn liền số phận của vũ trụ với hình học. Vũ trụ có thể mở hoặc đóng hoặc là một vũ trụ trung gian giữa hai hình học đó tức vũ trụ  phẳng.  Một vũ trụ mở là một vũ trụ trong đó lực hấp dẫn của vật chất không đủ lớn để ngăn lại quá trình giãn nở. Vật chất pha loãng trong không gian. Một vũ trụ đóng là một vũ trụ trong đó lực hấp dẫn có khả năng làm đảo ngược quá trình giãn nở. Vũ trụ đến một lúc nào đó ngừng giãn nở co lại trong một chung cuộc nóng bỏng và khốc liệt gọi là Big Crunch. Nhiều nhà vũ trụ học mơ ước một vũ trụ với hình học phẳng đơn giản hơn và đẹp hơn về mặt toán học, trong vũ trụ phẳng không có chung cuộc trong  lửa và trong băng. Song nếu tồn tại hằng số vũ trụ thì quá trình giãn nở vẫn tiếp diễn ngay cả đối với vũ trụ  phẳng.  Các nhà vật lý đoạt giải Nobel Vật lý năm nay hy vọng tìm thấy vũ trụ  giãn nở chậm lại. Phương pháp họ sử dụng ở đây cũng là phương pháp mà các nhà thiên văn học đã sử dụng hơn sáu thập kỷ trước: định vị các sao và đo sự chuyển động của chúng. Song nói thì dễ mà làm thì khó. Từ ngày Henrietta Leawitt, nhiều sao Cepheids đã chuyển động xa và ở những khoảng cách hàng tỷ năm ánh sáng nên các sao Cepheids không còn trông thấy được nữa.  Phải tìm những chuẩn đo mới.      Siêu tân tinh – những sao bùng nổ- trở thành những ngọn nến quy chiếu  mới. Nhiều kính viễn vọng tinh vi trên mặt đất và trong vũ trụ cộng với những siêu máy tính, những sensor siêu nhạy CCD (Charge-coupled Devices) đã mở ra nhiều khả năng giải quyết bài toán.  Sao lùn trắng bùng nổ  Một công cụ mới nhất của các nhà thiên văn là sự bùng nổ của một loại siêu tân tinh có tên là  siêu tân tinh Ia. Trong một vài tuần lễ một siêu tân tinh loại Ia có thể bức xạ ánh sáng ngang bằng ánh sáng của cả một thiên hà. Loại siêu tân tinh này là sự bùng nổ của một sao đã già rất compắc, nặng bằng Mặt trời nhưng nhỏ bằng Quả đất, một sao lùn trắng (white dwarf)[4]. Sự bùng nổ là bước kết thúc cuộc đời của sao lùn trắng.  Sao lùn trằng hình thành khi  sao không còn năng lượng ở tâm, vì tất cả hydro và helium đã cháy hết trong các phản ứng hạt nhân. Chỉ còn lại carbon và oxygen.  Tương tự như thế Mặt trời của chúng ta trong tương lai xa cũng chia sẻ số phận đó, Mặt trời trở nên lạnh dần và trở thành một sao lùn trắng.  Nhiều sao lùn trắng là thành phần của một hệ sao đôi. Trong trường hợp này trường hấp dẫn mạnh của sao lùn trắng hút dần vật chất của sao đồng hành để lớn dần lên. Và khi sao lùn trắng phình lớn lên cỡ 1,4 khối lượng Mặt trời (giới hạn Chandrasekhar[5]) thì hệ bùng nổ thành một siêu tân tinh loại Ia (Hình 3).          Hình 3. Bùng nổ siêu tân tinh. Một sao lùn trắng cuốn hút lấy vật chất của sao đồng hành trong hệ sao đôi nhờ lực hấp dẫn. Khi sao lùn trằng phình lớn đến cỡ 1,4 khối lượng mặt trời thì nó bùng nổ thành siêu tân tinh loại Ia.          Những sản phẩm nhiệt hạch có bức xạ mạnh và bức xạ này tăng dần nhanh chóng trong những tuần đầu sau vụ nổ và chỉ giảm đi sau vài tháng tiếp theo. Do đó mà cần một cuộc rượt đuổi truy tầm các siêu tân tinh vì sự bùng nổ của chúng tương đối là ngắn ngủi. Trong toàn phần vũ trụ mà ta trông thấy được mỗi phút xuất hiện khoảng mười siêu tân tinh loại Ia. Song vũ trụ quá bao la trong mỗi thiên hà chỉ có chừng một hoặc hai siêu tân tinh trên một nghìn năm. Vào tháng 9/2011 chúng ta may mắn quan sát một siêu tân tinh như vậy trong thiên hà gần Big Dipper . Song phần lớn siêu tân tinh ở xa và mờ. Như vậy ở đâu và khi nào chúng ta nhìn được siêu tân tinh  trên bầu trời?   Một kết luận gây kinh ngạc  Hai nhóm các nhà vật lý hiểu rằng họ phải rà soát cả bầu trời để tìm siêu tân tinh ở xa. Thủ thuật là ở chỗ phải so sánh hình ảnh của hai mảnh trời nhỏ, hình thứ nhất thu được lúc sau trăng non và một hình thu được sau 3 tuần. Tiếp đó so sánh hai hình để hy vọng tìm thấy một điểm sáng – một pixel giữa nhiều pixel khác trên hình CCD- điểm sáng đó có hy vọng là dấu hiệu của siêu tân tinh ở một thiên hà xa xôi (Hình 4).          Hình 4. Siêu tân tinh 1995. Hai hình của cùng một mảnh trời nhỏ thu được cách nhau ba tuần lễ được đem ra so sánh với nhau. Trong hình thứ hai một điểm sáng đã được phát hiện. Đó là dấu hiệu của một siêu tân tinh. Một siêu tân tinh có thể phát ra ánh sáng bằng cả một thiên hà. Phần lớn ánh sáng được phát ra trong các tuần đầu (xem đồ thị ).            Các nhà vật lý có rất nhiều việc phải làm. Cần phải lọc được ánh sáng siêu tân tinh từ ánh sáng phông của thiên hà chủ. Một công việc quan trọng khác là xác định được độ sáng. Những bụi vũ trụ giữa các thiên hà và các sao làm thay đổi độ sáng. Những điều đó ảnh hưởng đến việc xác định độ sáng tối đa của siêu tân tinh. Họ phải thao tác thật nhanh mọi phép đo vì siêu tân tinh  mau tàn dần.  Các nhà vật lý đã tìm ra khoảng 50 siêu tân tinh nằm ở xa với ánh sáng mờ hơn mong đợi. Đây là điều trái ngược với những điều họ hình dung. Nếu quá trình giãn nở mất dần tốc độ thì ánh sáng các siêu tân tinh phải mạnh hơn. Song các siêu tân tinh đang mờ nhạt dần dường như chúng đang chuyển động xa dần càng xa càng nhanh rồi chìm trong thiên hà của chúng. Kết luận đầy ngạc nhiên là quá trình giãn nở không chậm dần mà ngược lại tăng tốc lên.  Từ đây đến vĩnh hằng  Điều gì làm tăng tốc giãn nở của vũ trụ? Đó là năng lương tối, một vấn đề thách thức các nhà khoa học và chắc còn lâu mới có lời giải. Nhiều ý tưởng được nêu ra. Phương án đẹp nhất là tái nhập hằng số vũ trụ Einstein vào lý thuyết, hằng số mà đã có một thời bản thân Einstein muốn từ bỏ (Hình 5). Hiện nay hằng số Einstein có nhiệm vụ khác đó là làm tăng tốc quá trình giãn nở của vũ trụ.          Hình 5. Sự phát hiện quá trình giãn nở có gia tốc của vũ trụ là một sự kiện quan trong của năm 1998 (tạp chí Science). Trên tờ bìa Albert Einstein đang đắm nhìn vào hằng số vũ trụ mà bây giờ đang trở thành hắng số quan trọng trong vũ trụ học.          Hằng số vũ trụ có thể có nguồn gốc từ chân không. Như chúng ta biết trong chân không luôn hình thành các hạt và phản hạt và tạo nên năng lượng. Song một tính toán sơ bộ có thể cho thấy rằng năng lượng tối không tương ứng với năng lượng chân không vốn 10120 lần lớn hơn.  Cũng có thể rằng năng lượng tối không là một hằng số, có thể năng lượng tối biến thiên theo thời gian. Dẫu năng lượng tối là thế nào đi nữa thì năng lượng tối đã cho lời giải thích đối với bài toán mà các nhà khoa học nghiên cứu đã lâu. Theo đồng thuận hiện nay giữa các nhà khoa học thì năng lương tối chiếm khoảng ba phần tư vũ trụ. Vật chất thông thường (thiên hà, các sao, con người, hoa cỏ,…) chỉ chiếm  khoảng 5 % vũ trụ. Phần còn lại là vật chất tối. Năng lượng tối gây lực đẩy, vật chất tối gây lực hút (Hình 6).                 Hình 6. Năng lượng tối chiếm ¾ vũ trụ hiện nay vẫn là một năng lượng bí ẩn.Vật chất thông thường chiếm 5 % phần còn lại là vật chất tối , một loại vật  chất cũng còn bí ẩn như năng lượng tối.          Kết luận   Sự phát hiện quá trình giãn nở có gia tốc của vũ trụ dựa trên những quan sát các siêu tân tinh ở xa bởi ba nhà vật lý: Saul Perlmutter, Brian P. Schmidt và Adam G. Riess là một thành tựu khoa học to lớn gây kinh ngạc giới khoa học. Đây là một đóng góp quan trọng vào vũ trụ học. Ba nhà vật lý trên đã vén một góc màn bí ẩn của vũ trụ hiện đang còn chứa rất nhiều điều mà chúng ta chưa biết. Nhiều vấn đề lớn (năng lượng tối, vật chất tối,…) vẫn còn chờ lời giải trong tương lai.             CC. biên dịch và chú thích  ————-  Tài liệu gốc  The Nobel Prize in Physics (Press Release, Popular Information, Advanced Information-Scientific Background)  Các chú thích  [1] siêu tân tinh (超   新  星) =supernovae là những sao đột nhiên bùng nổ trở nên rực sáng mãnh liệt; có hai loại siêu tân tinh loại I và loại II, loại I có độ sáng nhất và thuộc hệ sao đôi; chữ nova có nghĩa là mới.   [2] pun-xa (pulsar)=sao neutron (với thành phần chính là neutron) có chuyển động quay, phát bức xạ radio vũ trụ với chu kỳ;pun-xa là một loại sao biến đổi (variable star).  [3] Cepheids =những pun-xa khổng lồ có độ sáng thay đổi theo chu kỳ; giữa chu kỳ  và độ sáng có một hệ thức đặc trưng: chu kỳ càng dài thì độ sáng càng lớn (the brighter ones had longer pulses); như vậy chu kỳ quan sát được là chỉ số đo khoảng cách  của sao vì vậy các Cepheids đóng vai trò quan trong trong việc xác định các khoảng cách.  Cepheids được  phát hiện năm 1912 bởi Henrietta Leavitt.  [4] sao lùn trắng = sao ở giai đoạn tiến triển cuối cùng, nếu khối lượng của  sao nhỏ hơn 1,4 khối lượng Mặt trời (giới hạn Chandrasekhar) thì sao có khả năng chống lại sự co hấp dẫn vì những electron tự do tạo nên một áp suất hướng ra ngoài cân bằng được lực hấp dẫn, một sao nóng như vậy gọi là sao lùn trắng.  [5] Giới hạn Chandrasekhar=giới hạn khối lượng của một sao bằng khoảng 1,4 khối lượng Mặt trời, trên giới hạn đó không tồn tại sao lùn trắng.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vũ trụ Dirac-Milne: Đẹp và đơn giản      “Nếu chúng ta xác minh được rằng một phản nguyên tử là phản hấp dẫn thì đây sẽ là một cuộc cách mạng”. Câu nói này dự báo một cuộc tranh luận lớn về phản vật chất: liệu phản vật chất có rơi ngược lên trời hay không?      Chúng ta biết hiện nay vũ trụ được mô tả khá tốt bởi lý thuyết /\CDM (Lambda cold dark matter – Vật chất tối lạnh lambda). Lý thuyết này hiện nay được cho là lý thuyết chuẩn về vũ trụ. Song trong lý thuyết này các nhà vật lý phải đưa vào vật chất tối, năng lượng tối qua hằng số vũ trụ /\ và lý thuyết lạm phát. Ba phạm trù này dường như khó hiểu và cũng chưa được phát hiện trực tiếp. Và một điều không kém phần quan trọng là trong /\CDM có bất đối xứng vật chất (nhiều hơn) – phản vật chất (ít hơn).  Gần đây, các tác giả Aur´elien Benoit-L´evy, Gabriel Chardin và Luc Blanchet đưa ra mô hình vũ trụ DIRAC-MILNE không sử dụng các phạm trù trên và có đối xứng vật chất –phản vật chất. Trong vũ trụ DIRAC-MILNE phản hạt lại có khối lượng âm.  Trong vũ trụ DIRAC-MILNE, số lượng vật chất bằng số lượng phản vật chất, ngoài ra phản vật chất có một khối lượng hấp dẫn chủ động (active) âm. Trong kích thước lớn vũ trụ này, như là trống rỗng hấp dẫn, vì vậy không có quá trình giãn nở cũng như quá trình co lại.  Có 3 khái niệm về khối lượng: khối lượng quán tính; khối lượng hấp dẫn “chủ động-active”, nguồn của trường hấp dẫn; khối lượng hấp dẫn “thụ động-passive”, đây là khối lượng xuất hiện khi đối tượng chịu một lực gây nên bởi một trường hấp dẫn.  Metric FRW (Friedmann-Robertson-Walker )và metric Dirac-Milne  Hãy bắt đầu bằng metric FRW, metric này có dạng như sau: ds2 = dt2 – a(t)2(dχ + sink2 χdΩ2). Trong đó sink =  sinχ lúc k=1, χ lúc k=0, sinh χ lúc k=-1; a(t)= hệ số xích (scale factor).  Nếu số vật chất có khối lượng dương = số phản vật chất có khối lượng âm như trong vũ trụ Dirac – Milne thì điều này dẫn đến Tμν (tensor năng xung lượng) → 0. Và ta có: Tμν = 0 ↔ a(t) ᴕ t và k= – 1. Vậy metric DIRAC-MILNE sẽ là: ds2 = dt2– t2 (dχ2 + sinh2 χdΩ2).  Như thế hệ số a(t) biến đổi tuyến tính theo thời gian.  Vũ trụ /\CDM có không – thời gian cong và tiết diện không gian phẳng, còn vũ trụ DIRAC-MILNE có không – thời gian phẳng song tiết diện không gian cong âm.  Phương trình Friedman trong vũ trụ Dirac – Milne là    Trong đó a0 = trị số hiện tại của hệ số xích. Tích phân phương trình này cho ta tuổi hiện thời tU  của vũ trụ =1/H0.  Chú ý trong /\CDM thì tuổi vũ trụ chỉ xấp xỉ bằng 1/H0.  Bây giờ hãy tính chân trời của hạt (tức khoảng cách mà photon có thể bay đến từ lúc nguyên thủy):    Tích phân này phân kỳ logarithmic trong metric Dirac-Milne, điều này có nghĩa rằng bất kỳ 2 điểm trong không gian đều liên hệ nhân quả với nhau. Vậy trong vũ trụ Dirac-Milne không tồn tại bài toán “chân trời” vì vậy không cần đến lý thuyết lạm phát!  Như vậy trong vũ trụ Dirac – Milne, ta đã loại được 2 phạm trù quan trọng là năng lượng tối và lạm phát.  Trong vũ trụ Dirac – Milne, các tác giả cho rằng vật chất và phản vật chất chiếm 2 vùng khác nhau. Nếu phản vật chất có khối lượng (chủ động) âm thì giữa vật chất và phản vật chất có lực đẩy như vậy tránh được sự va chạm vật chất – phản vật chất.  Quan hệ thời gian-nhiệt độ  Có thể suy được công thức nối liền tuổi vũ trụ với độ lệch đỏ vậy với nhiệt độ    Trong đó T0 = nhiệt độ hiện tại của vũ trụ. Hệ thức trên khác với hệ thức tương ứng của /\CDM (xem hình 1).    Hình 1. Tuổi của vũ trụ như là hàm của nhiệt độ cho vũ trụ Dirac-Milne (đường liền màu đỏ) và cho vũ trụ /\CDM (đường lấm chấm màu xanh).  Như vậy ta thấy vũ trụ Dirac-Milne già hơn vũ trụ /\CDM ở cùng một nhiệt độ.  Cơ sở lý thuyết cho giả định phản hạt có khối lượng âm.  Cơ sở lý thuyết cho giả định này là lời giải Kerr – Newman trong lý thuyết tương đối tổng quát cho một lỗ đen có điện tích và có chuyển động quay (1963-1965). Metric Kerr-Newman chứa 3 thông số: điện tích e, khối lượng m và moment quay.  Biểu diễn trong hệ tọa độ Eddington – Finkelstein metric này có dạng như sau:    Trong đó    Điều quan trong là metric bất biến đối với biến đổi sau     Như vậy xuất hiện sự tồn tại của phản hạt với khối lượng âm.  Khối lượng âm sẽ có ý nghĩa như thế nào?  Để hình dung vấn đề chúng ta có thể liên tưởng đến chất bán dẫn. Trong chất bán dẫn, một lỗ trống tạo nên bởi sự dịch chuyển của một electron có thể xem như một khối lượng âm. Lỗ trống cũng có thể xem như một một vị trí vắng của electron đã dịch chuyển lên giải dẫn điện (bande de conduction). Lỗ trống này mang điện tích dương như một positron. Lỗ trống sẽ có khối lượng âm vì khối lượng này nhỏ hơn khối lượng môi trường chung quanh. Dưới tác động của một điện trường electron và lỗ trống chuyển động theo hai chiều khác nhau và tách biệt nhau dưới ảnh hưởng của hấp dẫn.  Cấu trúc của vũ trụ được cấu thành bởi những vùng có mật độ cao (sur-densité) và những vùng mật độ thấp (sous-densité) là những vùng trống (vide) có kích cỡ khoảng 100 triệu năm ánh sáng. Các vùng trống này hành xử như những bong bóng có khối lượng âm.  Mọi việc xảy ra như chúng ta có 2 metric (xem hình  2). Một hạt trong metric này dường như có khối lượng âm nếu đo đạc nó theo metric kia và chúng ta gặp phải hiện tượng phản hấp dẫn.    Hình 2. Hai metric tạo nên bởi khối lượng dương (trái) và khối lượng âm ( phải).  Trong vũ trụ Dirac-Milne, các tác giả cho rằng một hiệu ứng “phân cực” giữa hai loại hạt trong hai metric sẽ giải thích được các đường cong biểu diễn vận tốc trên quỹ đạo của các thiên hà và do đó loại trừ được phạm trù thứ ba là vật chất tối. [4]  Một số hệ quả trong vũ trụ Dirac-Milne  Vấn đề tổng hợp hạt nhân Big-Bang (tức vấn đề tạo nên những nguyên tố nhẹ)  Trong vũ trụ quá trình này xảy ra vào thời điểm 40 năm thay vì 3 phút trong vũ trụ /\CDM.  Người ta cũng đã thiết lập sơ đồ Hubble của siêu tân tinh SNeIa cho mối liên hệ giữa độ sáng (luminosité) và khoảng cách với kết quả chấp nhận được trong phạm vi các sai số hệ thống.  Trong vũ trụ /\CDM các cấu trúc CBM tạo thành bởi những bất đồng nhất nguyên thủy (inhomogeneités primordiales) vào tuổi 380.000 năm khi vũ trụ trở thành trong suốt). Trong vũ trụ Dirac – Milne, bức xạ nền (CBM) ứng với sự hủy vật chất – phản vật chất trong một vũ trụ chỉ trở thành trong suốt vào thời điểm 14 triệu năm sau Big – Bang.  Thực nghiệm  Tại CERN, người ta tiến hành 3 thí nghiệm (Gbar, Alpha-g và Aegis) để nghiên cứu cách hành xử hấp dẫn của những phản nguyên tử  (xem hình  3).    Hình 3. Dùng hai chùm positron và phản proton tại trung tâm CERN các nhà vật lý tạo ra phản nguyên tử Hydrogene để nghiên cứu phổ điện từ (thí nghiệm Alpha, Asacusa, Atrap) và để xem phản nguyên tử Hydrogene có phản hấp dẫn hay không (bay lên hay bay xuống trong trường hấp dẫn – thí nghiệm Gbar, Aegis và Alpha-g). Hình này lấy từ tạp chí La Recherche tháng 4/2017 [4].  Từ năm 1995, người ta đã chế tạo được những phản nguyên tử, và hy vọng có kết quả ban đầu về phản hấp dẫn vào năm 2018.  ***  Mô hình vũ trụ DIRAC-MILNE tuy còn đòi hỏi nhiều phát triển hơn nữa (lý thuyết và thực nghiệm) song đã chiếm thiện cảm của nhiều nhà vật lý lý thuyết vì vẻ đẹp và tính đơn giản nhờ đối xứng vật chất – phản vật chất. Mô hình này loại trừ được những phạm trù hiện nay vẫn là khó hiểu: vật chất tối, năng lượng tối và lạm phát). Đây quả là những thắng lợi ban đầu đáng khích lệ.  ———-  Tài liệu tham khảo  [1] Aur´elien Benoit-L´evy 1, 2, ∗ and Gabriel Chardin 2, †  1 CEA/IRFU/SPP, 91191 Gif-sur-Yvette, France  2 Universit´e Paris-Sud & CNRS/IN2P3/CSNSM, 91405 Orsay, France  Do we live in a “Dirac-Milne” Universe?  arXiv:0903.2446v1 [astro-ph.CO] 13 Mar 2009  [2] A. Benoit-Levy´ and G. Chardin  Introducing the Dirac-Milne universe  arXiv:1110.3054v2 [astro-ph.CO] 29 Feb 2012  [3] Etude de la concordance d’un univers de Dirac-Milne  sym´etrique mati`ere-antimati`ere  Aur´elien Benoit-L´evy  [4] La Recherche tháng 4 /2017: L’antimatière défie les lois de la physique.       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vũ trụ giãn nở nhanh hơn dự đoán      Theo một nghiên cứu mới đây được đăng tải trên tạp chí The Astrophysical Journal, tốc độ giãn nở thực của vũ trụ có thể còn nhanh hơn từ 5-9% so với hình dung trước đây của các nhà khoa học.    Vũ trụ giãn nở với tốc độ đáng kinh ngạc  Phát hiện đáng kinh ngạc về tốc độ giãn nở của vũ trụ “có thể là manh mối quan trọng cho việc tìm hiểu những phần bí ẩn của vũ trụ, phần chiếm tới 95% của mọi vật và không phát ra ánh sáng, chẳng hạn như năng lượng tối, vật chất tối và bức xạ tối”, theo nhận định của Adam Riess – người đồng đoạt giải Nobel Vật lý năm 2011 cho khám phá về quá trình giãn nở có gia tốc của vũ trụ – trưởng nhóm nghiên cứu về thiên văn học tại Viện Khoa học Kính thiên văn và Đại học Johns Hopkins ở Baltimore.  Để đi đến được phát hiện này, Riess và các cộng sự đã sử dụng kính thiên văn Hubble của NASA để nghiên cứu 2400 sao Cepheid (sao biến quang) và 300 siêu tân tinh loại Ia, đây là những căn cứ cho phép các nhà khoa học đo lường khoảng cách trong vũ trụ. Sao xung Cephieds giúp đánh giá cường độ ánh sáng, và các siêu tân tinh loại Ia – những vụ nổ dữ dội khiến chấm dứt đời sống của các ngôi sao lớn – bùng lên với một độ sáng biểu kiến.  Nhóm nghiên cứu xác định khoảng cách tới 300 siêu tân tinh, nằm ở một số thiên hà khác nhau, rồi so sánh những số liệu này với quá trình giãn nở vũ trụ, được tính toán bằng cách đo sự kéo dãn ánh sáng từ các thiên hà xa xôi khi chúng di chuyển xa dần khỏi Trái đất (dịch chuyển đỏ), để xác định tốc độ nở rộng của vũ trụ – giá trị này là hằng số Hubble – dựa theo tên nhà thiên văn học nổi tiếng người Mỹ Edwin Hubble.  Gần đây, theo nghiên cứu, giá trị cập nhật mới nhất của hằng số Hubble lên đến 45,5 (dặm/s.megaparsec) (1 megaparsec bằng 3,26 triệu năm ánh sáng.) Như vậy, khoảng cách giữa các thiên thể vũ trụ sẽ tăng gấp đôi sau 9,8 tỷ năm ánh sáng nữa kể từ bây giờ, các nhà khoa học cho biết. Các quan sát mới này góp phần củng cố giả thiết vũ trụ sẽ tiếp tục nở rộng mãi mãi. Và tương lai của một vũ trụ nở rộng thì thật ảm đạm: Theo đó, vũ trụ sẽ lạnh dần đi, cuối cùng trở nên quá lạnh để duy trì sự sống. Kịch bản này được gọi là Vụ đóng băng lớn. Ngoài ra, còn một giả định khác do bị giãn nở quá nhanh vũ trụ có thể bị xé toạc thành từng mảnh (Big Rip.)  Con số tăng từ 5 đến 9% so với ước tính trước đây về hằng số Hubble được nhóm nghiên cứu cho rằng do mấy nguyên nhân: năng lượng tối là một lực bí ẩn, được cho là gây ra gia tốc cho quá trình giãn nở vũ trụ, có thể có tác động mạnh mẽ hơn so với các nhà thiên văn vẫn nghĩ; những tác động chưa thể xác định từ những “bức xạ tối” – một kẻ vô danh, thường là những hạt hạ nguyên tử chuyển động cực nhanh hoặc những hạt vẫn tồn tại từ ngay sau vụ nổ Big Bang; có điều gì đó quan trọng đã bị bỏ sót trong thuyết của Einstein về lực hấp dẫn.  “Chúng ta biết rất ít về những phần tối của vũ trụ. Vì vậy, việc tìm hiểu cách thức chúng đẩy và kéo không gian trong lịch sử vũ trụ là nhiệm vụ hết sức quan trọng,” Lucas Macri, đồng nghiên cứu tại Đại học Texas A&M, cho biết.  Phương Thảo dịch theo LiveScience    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vũ trụ là số?      Tạp chí Scientific American số tháng 2/2012 có đăng bài viết «&#160; Is Space  Digital&#160; » của Michael Moyer về một thí nghiệm đang được tiến hành ở  Chicago bởi Craig Hogan( Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn và các hạt  cơ bản, Phòng thí nghiệm gia tốc Quốc gia Fermi, GS Đại học Chicago,  Illinois ) nhằm đo tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise)&#160; biểu hiện&#160; mối  liên quan sâu xa giữa thông tin, vật chất và không thời gian . Nếu tồn  tại tiếng ồn toàn ảnh&#160; thì theo Craig Hogan vũ trụ của chúng ta là số  (digital) và chúng ta có một hình mẫu (paradigm ) mới&#160;&#160; cho vũ trụ quan  của thế kỷ 21. Vũ trụ không&#160; liên tục mà là gián đoạn&#160; gồm bằng những  bit thông tin. Vũ trụ 3D đột sinh (emerge) từ những bit thông tin chứa  trên một mặt 2D.         Craig HOGAN  Thế nào là phương pháp toàn ảnh (holography) ?  Như chúng ta biết trong quang học có phương pháp ghi một vật thể 3 chiều bằng một ảnh 2 chiều  (hologram).Kỹ thuật này gọi là holography (phương pháp toàn ảnh). Chữ holography có gốc từ tiếng Hy lạp holos whole ( toàn thể ) + graphe writing (ghi ảnh). Đây là một phương pháp chụp ảnh hiện đại. Holography được sáng chế năm 1948 bởi nhà vật lý người Hung Dennis Gabor (1900-1079), nhờ thành tích này ông được nhận giải Nobel năm 1971.  Entropy và diện tích chân trời sự cố của lỗ đen  Jacob Bekenstein chứng minh rằng khi một lượng vật chất rơi vào lỗ đen thì entropy của lỗ đen tăng lên để bù trừ vào  entropy do lượng vật chất mất đi. Nói cách khác entropy của lỗ đen và vật chất chung quanh không giảm, đó là định luật 2 trong nhiệt động học lỗ đen. Năm 1970 Hawking & Demetrious Christodoulou (đại học Princeton) độc lập với nhau chứng minh rằng A – diện tích lỗ đen, ở chân trời sự cố (event horizon) không giảm theo thời gian: t2 > t1 ® A(t2) ³ A(t1), từ đó Jacob Bekenstein có cơ sở để đồng nhất entropy với A (thêm một hệ số là 1/4), xem  hình 1.    Hình 1.  Entropy của một lỗ đen tỷ lệ với diện tích bề mặt của chân trời sự cố (tức ranh giới có vào mà không có ra đối với mọi vật, kể cả ánh sáng khi rơi vào lỗ đen). Một lỗ đen với diện tích chân trời sự cố  là A (trong đơn vị diện tích  Planck = 10 – 66 cm 2) sẽ có A / 4 đơn vị entropy. Xét từ quan điểm thông tin  diện tích chân trời được phủ bởi các bit 1 và 0, mỗi bit chiếm 4 đơn vị diện tích Planck.    Hai loại entropy (thống kê & thông tin)     Như chúng ta biết, entropy được biểu diễn qua số trạng thái lượng tử theo công thức:    s- số chiều không gian.  Năm 1948 nhà toán học người Mỹ Claude E. Shannon đã đưa vào thông tin khái niệm entropy. Entropy thông tin trong một thông điệp là số bit cần thiết để mã hoá thông điệp đó. Khái niệm entropy của Shannon làm xích gần vật lý thống kê với thông tin.  John Archibald Wheeler quan niệm rằng “thế giới vật lý là được cấu tạo bằng thông tin với năng lượng và vật chất chỉ là những yếu tố dẫn, những sản phẩm phụ (incidentals)”.  Theo Bekenstein: “Entropy nhiệt động và entropy Shannon là tương đương , số cấu hình tính theo entropy Boltzmann phản ảnh số lượng  thông tin Shannon mà chúng ta cần có để thu xếp một cấu hình” của vật chất và năng lượng.  Sự khác nhau giũa entropy nhiệt động học của vật lý và entropy thông tin của Shannon chỉ là vấn đề đơn vị đo. Entropy nhiệt động học tính bằng đơn vị năng lượng chia cho nhiệt độ trong khi entropy Shannon lại không có thứ nguyên là “bit” của thông tin do đó sự khác nhau chỉ là vấn đề quy ước.  Bekenstein đã giải quyết vấn đề nghịch lý thông tin trong lỗ đen nhờ phát hiện rằng entropy của lỗ đen –có nghĩa là nội dung thông tin của lỗ đen- tỷ lệ với diện tích chân trời.  Nguyên lý toàn ảnh (Holographic principle)   Nguyên lý toàn ảnh được gợi ý ( inspired) từ nhiệt động học lỗ đen và tổng quát hóa cho mọi vật.Trong lỗ đen mọi thông tin của lỗ đen đều được mã hóa trên mặt biên  chân trời sự cố (event horizon).Đây là xuất phát điểm của nguyên lý toàn ảnh.  Các nhà vật lý Leonard Susskind và Gerard’t Hooft muốn tổng quát hóa nguyên lý toàn ảnh từ lỗ đen (Jacob Bekenstein & Stephen Hawking) sang toàn vũ trụ.   Năm1993 Gerard ‘t Hooft đề ra nguyên lý holographic: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý nD trên mặt biên (không gian n chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1)D của hệ nằm trong mặt biên (không gian n+1 chiều).  Theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn.  Năm 1997, tác giả Maldacena (đại học Harvard) đã thực hiện nguyên lý holography nhờ thiết lập mối quan hệ sau[1] :  Một vũ trụ mô tả bởi lý thuyết siêu dây  (như vậy có hấp dẫn) trong một không-thời gian anti-de Sitter 5 chiều  tương đương với một lý thuyết trường lượng tử conform (không chứa hấp dẫn) trên mặt biên 4 chiều của không-thời gian đó (xem hình 2).          Hình 2 . Lý thuyết trường conform (CFT)  trên mặt biên (hologram ) tương đương với lý thuyết dây có hấp dẫn trong không gian anti-de Sitter ( ánh xạ holographic : AdS / CFT )    Vì sao mà nguyên lý toàn ảnh trở nên quan trọng cho vật lý lượng tử?  Vì bài toán số một hiện nay của vật lý là thống nhất được hai lý thuyết lớn nhất của thời đại: lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối rộng thu được nhiều tia sáng từ nguyên lý toàn ảnh.    Có thể tóm tắt ý tưởng chính của nguyên lý toàn ảnh  như sau: thông tin của một vùng không gian có hấp dẫn có thể mã hoá  không có hấp dẫn trên mặt biên của vùng không gian đó, nói cách khác có thể thiết lập một mối tương quan giữa các đại lương trên mặt biên với các đại lượng trong vùng.   Yếu tố quan trọng  ở đây là thông tin.  Từ kỹ thuật đến sinh học, vật lý, thông tin đóng vai trò quan trọng. Các protein không thể nào tổng hợp được nếu không có thông tin từ DNA. Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng entropy của một khối lượng bình thường (không phải lỗ đen) cũng tỷ lệ với diện tích chứ không phải thể tích. Thể tích chỉ là ảo ảnh và vũ trụ thật sự là một hologram đẳng cấu (isomorphic) với thông tin được “ghi khắc” trên mặt biên.   Làm thế nào để biết là chúng ta đang ở trong một hologram?  Tiếng ồn toàn ảnh là gì?  Craig Hogan  đã viết nhiều bài báo tiên đoán sự tồn tại của một tiếng ồn gọi là tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise)  có thể ghi đo được. Tiếng ồn này là biểu hiện của một loại bất định kích cỡ Planck nếu tồn tại một hologram của vũ trụ (xem thêm [2]). Dường như các nhà thực nghiệm đã ghi đo được tiếng ồn này với tần số 300 và 1500 Hertz .  Craig Hogan cho rằng nếu nhìn sâu vào những phân chia vô cùng nhỏ của  không thời gian chúng ta sẽ thấy vũ trụ được chiếm đầy bởi một tiếng ồn nội tại gọi là tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise).   Tiếng ồn đó xuất phát từ những  bit. Chúng ta có khả năng phát hiện tiếng ồn số đó của vũ trụ và tiếng ồn đó chúng tỏ rằng vũ trụ là một vũ trụ số ( universe is digital) [3].  Khi đi vào cấu trúc sâu của không thời gian chúng ta sẽ thấy   vũ trụ được cấu tạo không phải bằng vật chất và năng lượng mà lại bằng những bit. Thông tin hoạt động trên những bit và từ những bit đó tạo nên vũ trụ.  Craig Hogan kiến thiết một thí nghiệm để phát hiện tiếng ồn toàn ảnh.Và nếu vũ trụ được cấu tạo như thế nghĩa là từ các bit thông tin thì diều này sẽ làm thay đổi kiến trúc của vũ trụ.Craig Hogan nghiên cứu những kích cỡ mà ở đấy thông tin tồn tại như những  bit (information lives as bits).  Hấp dẫn lượng tử dẫn đến độ dài Planck  l P = 1,616.10 -33 cm, ánh sáng đi qua độ dài đó trong thời gian  t P=  l P /c = 5.10 -44 sec.  Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin nằm trong kích cỡ Planck.   Leonard Susskind phát biểu rằng chính thông tin làm nên sụ khác nhau giữa các đối tượng.  Theo nguyên lý holographic (nguyên lý toàn ảnh )  nếu ném một vật vào lỗ đen thì vật ấy có thể biến mất song thông tin về vật đó được ghi lại trên một mặt nằm quanh lỗ đen. Thông tin không bao giờ mất. Theo nguyên lý toàn ảnh vũ trụ 3D của chúng ta đột sinh từ thông tin đã được in trên một mặt 2D gọi là tờ ánh sáng (light sheet). Tờ ánh sáng đây là chân trời sự cố của vũ trụ. Chúng ta thực tế là một hình chiếu (projection) Tờ ánh sáng (light sheet) 2D theo nguyên lý toàn ảnh chứa các thông tin về tọa độ của mỗi hạt nằm trong tờ, mỗi electron, quark và neutrino và mọi lực tương tác giữa chúng. Tờ ánh sáng chiếu mọi thông tin nằm trong tờ ra ngoài vũ trụ và tạo nên mọi điều chúng ta thấy. Vũ trụ đột sinh từ các bit 0 và 1. Các nhà khoa học cho rằng vũ trụ hoạt động như một máy tính, thông tin đã tạo nên thế giới vật lý song máy tính đó vẫn còn là một hộp đen đối với họ.  Nguyên lý toàn ảnh có thể là sụ thống nhất của lượng tử và hấp dẫn. Nguyên lý toàn ảnh là một kim chỉ đường  đến hấp dẫn lượng tử.  Nếu vũ trụ là vũ trụ số thì đây là một kim chỉ đường tiếp theo dẫn đến hấp dẫn lượng tử. Trong một vũ trụ số không gian bản thân đã được lượng tử hóa, không gian đột sinh từ những bit lượng tử gián đoạn ở kích cỡ Planck.   Nếu không gian là lượng tử thì phải chịu  sự  bất định (incertainties) của CHLT(Cơ học lượng tử). Ta sẽ có những thăng giáng dạng bọt (foamlike fluctations).  Vì rằng thể tích của vũ trụ rộng lớn hơn diện tích chân trời Hogan hiểu rằng để có cùng một số bit như trên diện tích chân trời thì vũ trụ phải được cấu tạo bởi những hạt (grain) lớn hơn độ dài Planck nói cách khác vũ trụ của chúng ta phải bị nhòe đi (blurry), mờ đi (hình 3). Tương tự như khi  ta xem TV ta thấy mọi vật dường như đều mịn nhưng nếu nhìn sâu vào đó ta sẽ có những pixels.  Thực hiện những thí nghiệm với năng lượng tương ứng với kích cỡ Planck  là điều vô vọng vì chúng ta cần những máy gia tốc lớn bằng cả Thiên hà. Song nghiên cứu những thăng giáng do tiếng ồn toàn ảnh là điều khả thi vì kích cỡ của chúng chỉ bằng khoảng 10 -16 m.  Nếu chúng ta nằm trong một hologram, ta có thể biết được điều đó bằng cách đo độ mờ này.  Báo NewScientist viết rằng có thể vũ trụ là một hologram khổng lồ.    Hình3.  Nếu chúng ta nằm trong một hologram thì chúng ta có thể kiểm nghiệm được điều đó bằng cách đo độ mờ toàn ảnh  (tương tự như độ mờ của một ảnh chiếu).  Nếu xét những vùng không gian rất nhỏ ở kích cỡ Planck dưới quan điểm lượng tử, tất nhiên ta  phải có theo CHLT (cơ học lượng tử) một hệ thức chứa độ dài Planck l P . Trong giả thuyết của mình Hogan đưa ra hệ thức  [z1,z2] = l P L       Như vậy  có một sự thay đổi trong CHLT theo đó toán tử tọa độ (position operators) tại những thời điểm khác nhau có thể không giao hoán và giao hoán tử tỷ lệ với  l P và quãng đường đi L.  Trong đó z1, z2 là tọa độ theo chiều thẳng góc với đường đi của ánh sáng nối liền hai điểm 1 & 2 và   L=khoảng cách không gian giữa 2 điểm 1 & 2.  Trong CHLT thì giao hoán tử trên bằng không. Từ giao hoán tử trên người ta thu được hệ thức bất định  Δz1 Δ z2 > l P L/2   Các hệ thức này dẫn đến một độ mờ bằng  ∆z 2  >  lPL.  Đây là nguồn gốc tiếng ồn toàn ảnh.  Tiếng ồn đó theo Hogan chính là độ mờ (fuzziness) của cấu trúc của không thời gian ở độ phân giải Planck.  Vậy tiếng ồn toàn ảnh chính là độ mờ liên quan đến bất định theo chiều thẳng góc với đường đi của ánh sáng.  Holometer (holographic interferometer)- giao thoa kế toàn ảnh   Nếu thông tin về nội vùng của các lỗ đen được mã hóa trên chân trời sự cố thì rất có thể là mọi thông tin về vũ trụ của chúng ta được mã hóa trên tờ ánh sáng gọi là chân trời của vũ trụ (Universe’s horizon).  Đây có thể nói là một giả thuyết cần kiểm nghiệm, giả thuyết này được xây dựng từ mối tương tự với  lỗ đen.  Nếu vũ trụ là một hình chiếu toàn ảnh từ chân trời vũ trụ thì hình chiếu đó sẽ bị mờ (fuzzy). Mặc dầu mọi thông tin để tạo nên vũ trụ được mã hóa trong những bit kích cỡ Planck trên chân trời vũ trụ, các bit đó trong phép chiếu sẽ được phóng đại theo thời gian giống như một tia ánh sáng xuất phát từ một máy chiếu lên bức tường. Chính độ mờ này (fuzziness) là điều mà Hogan cho là tiếng ồn trong GEO600 .   GEO600 là một dự án  hợp tác giữa  Viện Vật lý hấp dẫn  Max Planck, Đại học Leibniz Hannover, Đại học Cardiff, Đại học Glashow và Đại học Birmingham. GEO600 là một detector dài  600 m, xây dựng tại Hannover (Đức) có mục tiêu tìm sóng hấp dẫn phát ra từ những thiên thể như sao neutron, lỗ đen. Hiện nay GEO600  chưa tìm ra sóng hấp dẫn song  phát hiện  một tiếng ồn không giải thích được trong detector của họ.  Tại Fermilab Hogan xây dựng một thiết bị gọi là toàn ảnh ký (holometer) cũng để ghi  tiếng ồn ấy.                             Hình 4. Giao thoa ký toàn ảnh (holographic interferometer= holometer)    Máy toàn ảnh ký gồm hai giao thoa ký riêng biệt (xem hình 4 ) kết dính với nhau. Trong mỗi giao thoa ký một tia ánh sáng được tách làm đôi và đi theo hai hướng khác nhau. Sau khi đập vào một cái gương các tia sáng lại kết tụ với nhau và độ lệch pha sẽ được đo.  Nhờ có hai giao thoa  ký các nhà nghiên cứu có thể so sánh các kết quả đo. Mọi tiếng ồn với tần suất cao sẽ được ghi nhận như là sự run rẩy của không thời gian hay nói cách khác đó là tiếng ồn toàn ảnh.  Tiếng ồn này có tần số khoảng 1 triệu chu kỳ trong một sec. Nếu quả tiếng ồn này tồn tại thì  thế giới  3D là hình chiếu từ  bản chất thực tại 2D của vũ trụ.   Tính chất phỏng đoán đó lộ rõ hơn ở những khoảng cách lớn. Một thiết bị như holometer có thể đo những khoảng cách theo chiều thẳng góc và đó là đối tượng của một loại bất định mới. Tiếng ồn đó sẽ được thu vào trong một detector.  Trên hình 5 ta có đồ thị tiếng ồn toàn ảnh biểu diễn căn số trung bình bình phương ( rms-root mean square) của các biên độ thăng giáng toàn ảnh thẳng góc.            Hình 5. Đường “tiếng ồn toàn ảnh “ biểu diễn căn số  trung bình bình phương ( rms-root mean square) của các biên độ thăng giáng toàn ảnh thẳng góc.Trục hoành là log của kích thước L của thiết bị( là khoảng đường đi của ánh sáng). Các giao thoa kế laser  tham chiếu là :LISA  Laser Interferometer Space Antenna, LIGO Laser Interferometer Gravitational-wave Observatory, GEO600  Laser interferometer với cánh tay dài  600 m.   Kết luận  Thí nghiệm trên holometer đang tiếp tục tiến hành và nếu tiếng ồn toàn ảnh được khẳng định thì đây là một bước ngoặt quan trong trong vật lý: vũ trụ của chúng ta là số (digital), nghĩa là thực thể cơ bản là nhũng bit thông tin còn vật chất và năng lượng chỉ là những vật dẫn, những sản phẩm tiếp theo. Điều đó cũng có nghĩa là không thời gian không còn liên tục mà gián đoạn nghĩa là tự động được lượng tử hóa. Đây là một ý tưởng dẫn đường đến hấp dẫn lượng tử, một sự thống nhất thuyết lượng tử và hấp dẫn. Mọi vật 3D của thế giới chúng ta đột sinh (emerge) từ các bit thông tin ở độ phân giải Planck nằm trên biên 2D của vũ trụ.                                                                Tài liệu tham khảo & chú thích  [1]  Không gian anti de Sitter (AdS)  n chiều là không gian hyperbolic n chiều tương tự như không gian Lorentz có độ cong âm.   Nhóm conform=nhóm đối xứng gồm các biến đổi kích thước không thời gian+biến đổi Lorentz.Không gian AdS và biến đổi conform xuất hiện  trong ánh xạ AdS / CFT ( Anti de Sitter / conform Field Theory ).   [2] Cao Chi , Vật lý hiện đại , những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh, chương VIII/4, NXB Tri thức, 2011.  [3] Nhiều nhà vật lý chủ trương một khả năng khác là tồn tại những chiều dư (extra dimensions) ngoài không thời gian thông thường (như nhiều lý thuyết đã khẳng định). Những chiều dư này có thể gây nên dộ mờ của không gian 3 chiều trong những vùng rất nhỏ kích cỡ Planck.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Vũ trụ lượng tử      Như chúng ta biết, Max Tegmark đã phân vũ trụ thành bốn mức1, trong đó mức III được gọi là mức Đa thế giới lượng tử (Quantum many worlds). Trong vũ trụ học, lý thuyết lạm phát vĩnh cửu lại dẫn chúng ta đến đối tượng Đa vũ trụ (Multiverse). Một điều đáng ngạc nhiên là hiện nay các nhà vật lý muốn minh giải rằng hai khái niệm đó là một 2,3,4. Nói cách khác, các nhà vật lý muốn ứng dụng Cơ học lượng tử (Quantum mechanics) cho toàn thể vũ trụ. Liệu đây có phải là một bước tiến bộ trong việc làm xích gần hấp dẫn với lượng tử?      Đa thế giới lượng tử  Đây là một ý tưởng mới mẻ và lý thú khi cho rằng Đa thế giới lượng tử và Đa vũ trụ là một. Hai đối tượng đó được nhìn một cách khác nhau chỉ vì quan điểm về vấn đề hấp dẫn và lượng tử chưa thấu đạt.  Nhà vũ trụ học Tegmark xếp các vũ trụ thành bốn mức:  Mức I: khác nhau về điều kiện ban đầu, cách nhau rất xa song cư trú trong một bong bóng (bubble),  Mức II: khác nhau vì trị số các hằng số vật lý và các hạt cơ bản và cấu thành bởi nhiều bong bóng (bubble),  Mức III: không đưa thêm vào những loại vũ trụ mới, song kéo các vũ trụ song song về quanh ta, mô tả nhờ cơ học lượng tử,  Mức IV: khác nhau vì các định luật vật lý ứng với những cấu trúc toán học khác nhau.  Đa thế giới lượng tử chính là các nhánh của hàm sóng của cơ học lượng tử hay các màng song song trong Lý thuyết dây (String theory).  Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy con mèo Schrodinger hoặc chết hoặc sống. Một trong hai khả năng không tồn tại. Song theo diễn dịch của Everett (Everett interpretation) thì cả hai khả năng đều tồn tại tuy nhiên thuộc hai thế giới khác nhau: trong thế giới này con mèo là chết, trong thế giới kia thì con mèo là sống.  Tegmark phát biểu rằng hàm sóng không biểu diễn một tập tưởng tượng nào mà biểu diễn một tập thực tế đồng nhất song tồn tại trong nhiều thế giới.  Đa vũ trụ  Vũ trụ của chúng ta là một trong nhiều vũ trụ khác (suy từ từ Lý thuyết dây và lạm phát vĩnh cửu – eternal inflation).  Trong Đa vũ trụ, khi ta nói một bong bóng đang hình thành và phát triển thì thực chất ở đấy tồn tại một biên độ lượng tử (quantum amplitude) để cho bong bóng đó xuất hiện và phát triển còn các bong bóng khác thì không xuất hiện và phát triển. Điều này tương tự như trường hợp của con mèo Schrodinger.  Trong vũ trụ với ρΛ > 0 (mật độ hằng số vũ trụ Λ ) sẽ xảy ra lạm phát, và một khi đã giãn nở thì vũ trụ đó tiếp tục giãn nở và chúng ta có Lạm phát vĩnh cửu.  Nguyên lý bổ sung  Việc xem Đa thế giới lượng tử bằng Đa vũ trụ dường như phù hợp với ý tưởng về nguyên lý bổ sung (complementarity). Theo Niels Bohr, “ta có thể nghĩ về electron như một hạt hoặc một sóng chứ không bao giờ electron có thể vừa là hạt vừa là sóng trong cùng một lúc”.  Hai tính chất hạt và sóng đều là tính chất của một đối tượng song không thể biểu hiện cùng một lúc được vì thuộc hai thế giới khác nhau.  Đối với một lỗ đen nguyên lý bổ sung là như sau: ta chỉ có thể nói đến một đối tượng đang chuyển động ngoài lỗ đen hoặc trong lỗ đen chứ không thể nói đến chuyển động của đối tượng đó trong lỗ đen và ngoài lỗ đen cùng lúc được.  Theo Susskind, Thorlacius, và Uglum một quan sát viên đứng ngoài lỗ đen không thể nói gì về chuyển động của một đối tượng nào đó trong lỗ đen, anh ta chỉ có thể nói đến các thông tin về đối tượng đó mã hóa trên đường chân trời – Hawking radiation (ngoài lỗ đen).  Ý tưởng này phù hợp với nguyên lý toàn ảnh (holographic principle). Chú ý rằng entropy lỗ đen chỉ phụ thuộc vào diện tích đường chân trời chứ không phụ thuộc vào thể tích nội vùng lỗ đen.  Chúng ta cũng có thể nói đến chân trời vũ trụ (xem hình 1) ngăn cách chúng ta với những vùng vũ trụ chưa biết đến và xem biên chân trời như đường chân trời trong lỗ đen và ta có vùng trong và vùng ngoài của vũ trụ.    Hình 1. Đường lấm chấm trên hình vẽ là đường chân trời vũ trụ  Đa vũ trụ và Đa thế giới lượng tử là một  Các nhà vật lý muốn thay thế đa vũ trụ nằm trong những trạng thái cư trú ở những vùng xa nhau của không thời gian bằng một vũ trụ định xứ (localized) trong đó các trạng thái khác nhau nằm ngay tại đây, quanh chúng ta (mức III của Tegmark) và là những nhánh khác nhau (different branches) của hàm sóng.  Trong khuynh hướng hiện đại các nhà vật lý muốn nâng cao vai trò quan trọng của Cơ học lượng tử trong việc tìm hiểu Đa vũ trụ nằm ở những kích thước rất lớn.  Chúng ta sẽ phải thay đổi một cách cách mạng ý niệm về không thời gian, hấp dẫn và ta sẽ thống nhất Lạm phát vĩnh cửu trong Đa vũ trụ với Đa thế giới lượng tử của cơ học lượng tử.  Ta sẽ phải thay đổi ý niệm về không thời gian, hấp dẫn (sự thay đổi này dẫn đến sự phù hợp với nguyên lý toàn ảnh và nguyên lý bổ sung). Và chúng ta có sơ đồ:  Đa vũ trụ (suy từ lạm phát vĩnh cửu) = Đa thế giới lượng tử (suy từ cơ học lượng tử)= cùng một khái niệm.  Trong lý thuyết trường lượng tử hãy xét tán xạ electron- positron.  Hàm sóng mô tả tán xạ electron- positron cho ta các trạng thái khác nhau của kết quả tán xạ:  Ψ(t = – ∞) = |e+e- > → Ψ(t = + ∞) > = ce |e+e- > + cµ|µ+µ- > +…  Các hệ số c tính theo phương trình Schrodinger.  Trong Đa vũ trụ ta cũng có điều tương tự trên cơ sở khái niệm Đa vũ trụ = Đa thế giới lượng tử:  Ψ(t-to) = |Σ > →                 ↑  eternaly Inflation (lạm phát vĩnh cửu)    Hàm sóng từ lạm phát vĩnh cửu sẽ cho chúng ta nhiều trạng thái mô tả Đa vũ trụ.  Đa vũ trụ tồn tại trong không gian các xác suất. Xác suất trong vũ trụ học sẽ có cùng một cội nguồn như trong cơ học lượng tử.  Hình 2 mô tả sự tiến triển theo thời gian của hàm sóng Ψ(0), khi hàm sóng tiến triển ta sẽ có nhiều trạng thái trong các bong bóng của Đa vũ trụ ở nhiều điểm khác nhau của không thời gian.    Hình 2. Sự tiến triển của hàm   Tóm lại, sự thay đổi quan điểm cách mạng về không thời gian và hấp dẫn trong sơ đồ Đa vũ trụ = Đa thế giới lượng tử cho phép chúng ta đạt được sự phù hợp với hai nguyên lý quan trọng:  * Nguyên lý toàn ảnh (Holographic principle),  * Nguyên lý bổ sung đường chân trời (Horizon complementarity).  Cơ học lượng tử như vậy đóng vai trò quan trọng ngay ở những kích thước rất lớn và vũ trụ trở thành vũ trụ lượng tử (quantum universe). Ý tưởng xem Đa vũ trụ (từ lạm phát vĩnh cửu) và Đa thế giới lượng tử (từ cơ học lượng tử) là một đã giúp lý thuyết tiến lên một bước trong việc thống nhất hấp dẫn và lượng tử.  ————-  Tài liệu tham khảo  [1] Max Tegmark, Our Mathematical Universe, 2014  [2] Quantum Mechanics, Gravity, and the Multiverse  Yasunori Nomura  Berkeley Center for Theoretical Physics, Department of Physics,  University of California, Berkeley,  Theoretical Physics Group, Lawrence Berkeley National Laboratory,  arXiv:1205.2675v2 [hep-th] 30 Jul 2012  [3] Sean Carroll, Are Many Worlds and the Multiverse the Same Idea?  http://www.preposterousuniverse.com/blog/2011/05/26/are-many-worlds-and-the-multiverse-the-same-idea/  [4] Dan Falk, Mutiverse  http://cosmos.nautil.US/feature/88/the-multiple-multiverses-may-be-one-and-the-same       Author                Cao Chi        
__label__tiasang Vũ trụ toàn ảnh: một kỷ nguyên khoa học mới?      Nh&#243;m c&#225;c nh&#224; vật l&#253; Đức v&#224; Anh GEO600 khi đang truy t&#236;m s&#243;ng hấp dẫn đ&#227; ghi đo được một tiếng ồn lạ l&#249;ng m&#224; họ kh&#244;ng giải th&#237;ch được. Nh&#224; vật l&#253; Mỹ CRAIG HOGAN đ&#227; ti&#234;n đo&#225;n sự tồn tại của tiếng ồn đ&#243; v&#224; đồng nhất tiếng ồn đ&#243; với tiếng ồn to&#224;n ảnh (holographic noise) của vũ trụ. Trong vũ trụ to&#224;n ảnh mọi thực thể trong kh&#244;ng gian v&#224; thời gian đều li&#234;n th&#244;ng với nhau (interconnectedness) v&#224; c&#225;ch tiếp cận to&#224;n ảnh&nbsp; gi&#250;p thống nhất&nbsp; hấp dẫn v&#224; lượng tử ( b&#224;i to&#225;n số một của vật l&#253; ) v&#224; rộng hơn cung cấp một tầm nh&#236;n nhất qu&#225;n đối với mọi hiện tượng thuộc vật l&#253;, sinh học, bệnh học, t&#226;m l&#253; học, ngoại t&#226;m l&#253; học (parapsychology)…Vũ trụ to&#224;n ảnh nếu đ&#250;ng sẽ mở ra một kỷ nguy&#234;n khoa học mới c&#243; chiều s&#226;u hơn hiện nay (ScienceDaily Feb.4, 2009).     To see a World in a Grain of Sand              And a Heaven in a Wild Flower,                  Hold Infinity in the palm of your hand        And Eternity in an hour.                           Dịch nghĩa:  Để  thấy Vũ trụ trong một Hạt cát                                          Và  Bầu trời  trong một Đóa hoa Rừng,                              Hãy giữ Vô cùng trong lòng tay bạn  Và Thiên thu trong một khắc đồng hồ.  William Blake (thi sĩ Anh 1757-1827)  Toàn ảnh ( holography) là gì?  Như chúng ta biết trong quang học có phương pháp ghi một vật thể 3 chiều bằng một ảnh 2 chiều  (hologram). Kỹ thuật này gọi là holography (phương pháp toàn ảnh). Chữ holography có gốc từ tiếng Hy Lạp (whole, toàn thể) + graphe (writing, ghi ảnh). Đây là một phương pháp chụp ảnh hiện đại. Holography được phát minh năm 1948 bởi nhà vật lý người Hung Dennis Gabor (1900-1079), nhờ thành tích này ông được nhận giải Nobel năm 1971.                           Hình 1 . Holography trong quang học        Hologram là một ảnh 2D (2 chiều), song khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh 3D (3 chiều) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3D đều được mã hoá trên mặt biên 2D. Như vậy chúng ta có hai thực tại 2D và 3D tương đương với nhau về mặt thông tin (xem hình 1).  Một tính chất quan trọng khác của hologram là nếu chỉ lấy một phần của nó người ta cũng có thể khôi phục được hình ảnh 3D  của vật. Tính chất này   được diễn tả trong mấy vần thơ đề tựa của William Brake ở đầu bài viết ( trùng hợp vì triết lý toàn ảnh), mặc dầu chúng được viết từ nhiều thế  kỷ trước.     Hai kiến trúc sư lớn của toàn ảnh   Hai nhà khoa học, kiến trúc sư của lý thuyết toàn ảnh là: nhà vật lý  David Bohm (Đại học London) và nhà thần kinh học xuất sắc Karl Pribram (Đại học Stanford , tác giả cuốn sách nổi tiếng Các ngôn ngữ của não bộ – Languages of the Brain). Một điều kỳ lạ là hai nhà khoa học này vốn làm việc trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau lại cùng đi đến những  kết luận giống nhau. Bohm  đi đến kết luận về tính toàn ảnh của vũ trụ sau nhiều năm không hài lòng với những giải thích các hiện tượng vi mô theo thuyết lượng tử, còn Pribram – vì sự thất bại của các lý thuyết cổ điển sinh học đối với những bí ẩn trong sinh lý học thần kinh ( neurophysiology).  Cuối cùng họ gặp nhau và cùng hiểu rằng mô hình toàn ảnh cho phép hiểu được một loạt những điều bí ẩn trong vật lý, trong thần giao cách cảm (telepathy), tiên tri (precognition-biết trước sự vật), sự thống nhất con người và vũ trụ (oneness), động học tâm lý (psychokinesis),…  Vũ trụ là một toàn ảnh (hologram)  Khi làm việc tại Phòng thí nghiệm Bức xạ Berkeley về plasma, Bohm đã nhận xét rằng trong trạng thái plasma các electron không hành xử như những thực thể riêng lẻ mà như thành phần của một hệ thống nhất liên thông (interconnected). Điều đáng ngạc nhiên là plasma có thể hút các tạp chất ở biên giống như một trực trùng amip (amoeboid) nuốt chất lạ vào bào nang. Bohm có ấn tượng là biến các electron là một sinh thể. Những ý tưởng đó giúp Bohm tìm ra plasmon, tạo nên tiếng tăm cho nhà vật lý.           Hình2 . Hai cá vàng trên hai màn hình từ hai camera chỉ là hai hình ảnh của một thực thể ở mức sâu hơn.        Bohm đưa ra một ví dụ: hãy lấy một con cá vàng đang bơi trong bể cá cảnh (hình 2) và tưởng tượng rằng bạn chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như vậy, mọi nhận thức của bạn chỉ có được nhờ hai camera tivi A & B quét từ hai góc khác nhau. Khi nhìn vào hai màn hình tivi  bạn lầm tưởng đang quan sát hai con cá vàng. Song theo dõi một lúc bạn thấy rằng có mối liên hệ đồng bộ giữa hai con cá này. Như vậy hai ảnh trên hai màn hình chỉ là hai biểu hiện của một thực thể ở mức sâu hơn, trong trường hợp này thực thể đó là bể cá cảnh với cá vàng bên trong. Tình huống này  giống như hai photon phát ra từ sự phân rã của một positronium.Theo Bohm tồn tại một thế lượng tử chiếm đầy không gian và các hạt liên thông với nhau một cách không định xứ (nonlocal).  Nguyên lý toàn ảnh có thể dẫn đến một triết học sâu sắc. David Bohm (hình 3) quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram). Dường như thực tại có hai mức: một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) /implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) /explicate (unfolded). Một film toàn ảnh (hologram) và hình ảnh nó tạo ra là ví dụ của hai mức tiềm ẩn và tường minh. Cuộn film thuộc mức tiềm ẩn vì hình ảnh được mã hóa trong các dạng giao thoa chứa trong film còn hình ảnh chiếu ra thuộc mức tường minh vì các giao thoa mã hóa được mở ra (unfolded).  Theo David Bohm sóng và hạt đều bị cuộn lại trong một thực thể lượng tử, chỉ có quá trình tương tác mới bộc lộ tường minh một khía cạnh nào đó còn khía cạnh kia vẫn nằm tiềm ẩn. Vì từ toàn ảnh (holographic) có tính tĩnh tại (static) nên để mô tả những quá trình động (dynamic) cuộn lại và mở ra liên tục của thực tại nên David Bohm đưa ra danh từ toàn ảnh động (holomovement)  Bohm quan niệm rằng mọi vật trong vũ trụ đều là những phần tử của một continium [1]. Bohm cho rằng phân biệt thế giới sống (living) và không sống (nonliving) là điều vô nghĩa.   Vì mỗi phần của một bức toàn ảnh (hologram) đều chứa thông tin của toàn ảnh cho nên mỗi bộ phận của vũ trụ đều chứa thông tin của toàn vũ trụ. Điều đó có nghĩa là nếu biết cách tiếp cận thì chúng ta có thể tìm thấy thiên hà Tiên nữ (Andromeda) trong móng ngón tay bàn tay trái [2]. Bài thơ của William Blake (thi sĩ Anh 1757-1827) đề dẫn trên đây diễn tả cùng một ý.   Não bộ là một toàn ảnh (hologram)  Pribram (hình 4) xuất phát từ việc tìm hiểu não bộ lưu trữ trí nhớ bằng cách nào và ở đâu . Trong những năm 1940 người ta tin rằng trí nhớ nằm trong não bộ. Mỗi dấu vết trí nhớ gọi là một engram, tuy chẳng ai biết engram được cấu tạo bằng gì .  Từ năm 1920 Wilder Penfield dường như chứng minh được rằng các engram nằm trong những vùng nhất định của não bộ [3]. Pribram, lúc còn là một nhà phẫu thuật thần kinh nội trú không có một nghi ngờ nào đối với lý thuyết engram của Penfield. Song nhiều điều xảy ra đã làm Pribram thay đổi quan điểm. Tại Phòng thí nghiệm sinh học Yerkes, Florida,  nhà tâm lý thần kinh (neuropsychologist) Karl Lashley đã huấn luyện chuột một số kỹ năng rồi cắt bỏ những phần trong não bộ có thể liên quan đến kỹ năng đó (không một nhà phẫu thuật nào tìm được một vị trí xác định của các engram ). Song một điều ngạc nhiên là dù cắt bỏ bao nhiêu đi nữa kỹ năng được huấn luyện vẫn lưu tồn. Và Pribram đi đến kết luận quan trọng: trí nhớ không được lưu trữ tại một nơi nào cả trong não bộ mà bằng một cách nào đó lan truyền và phân bố trong toàn não bộ.   Vào giữa năm 1960 khi Pribram đọc một bài báo trên Scientific American về cấu tạo của một hologram thì ông hiểu rằng:  não bộ là một toàn ảnh (hologram).  Trí nhớ được xem như là những xung lượng thần kinh đan chéo chằng chịt trong não bộ tương tự như những hình ảnh giao thoa tia laser trên một diện tích của hologram.  Không riêng gì đối với trí nhớ mà đối với các khả năng khác của con người như thị giác và thính giác người ta cũng quan sát được các tính chất toàn ảnh (nhà nghiên cứu Hugo Zucarelli phát triển kỹ thuật gọi là âm học toàn ảnh – holophonic sound, sử dụng tính toàn ảnh của thính giác).  Nếu như một phần của hologram có khả năng tái tạo toàn ảnh của một vật thì mỗi phần của não bộ cũng chứa tất cả thông tin để phục hồi toàn bộ trí nhớ.  Một nhà sinh học là Paul Pietsch (Đại học Indiana) muốn chứng minh rằng Pribram sai đã thực hiện hơn 700 thí nghiệm (cắt lớp, đảo chiều, thay đổi thứ tự, cắt bỏ, thái mỏng) trên bộ não của nhiều con kỳ giông (salamandridae) song lúc đặt lại trong bộ não những gì còn lại thì thấy các con vật vẫn hành xử như không có điều gì xảy ra đối với trí nhớ.   Bohm và Pribram gặp nhau                        Hình 3 . David Bohm (1917-1992)        Hình 4.   Karl Pribram      Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh (the entire universe is a hologram), bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).        Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh (the entire universe is a hologram), bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).  Năm 1982 Alain Aspect (Đại học Paris) đã thực hiện một thí nghiệm có thể nói là quan trọng nhất trong thế kỷ 20, liên quan đến nghịch lý EPR [4], chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định các hạt như electron có thể tức thời liên lạc với nhau (vậy vận tốc truyền thông tin lớn hơn vận tốc ánh sáng) bất kể khoảng cách giữa chúng là 10 m hay 10 triệu dặm.   Theo David Bohm thì thí nghiệm của Aspect càng chứng minh vũ trụ quả là một hologram. Trong nghịch lý EPR , theo Bohm thì Einstein sai lầm vì cho rằng hệ đó là hai hạt riêng lẻ trong khi phải xét chúng như một hệ không phân chia được.  Và không phải các electron đã truyền thông tin cho nhau theo một cách bí ẩn nào đó mà là sự phân cách giữa chúng chỉ là một ảo tưởng. Tại một mức sâu các hạt đó không là những thực thể riêng lẻ mà chỉ là những biểu kiến của một thực thể cơ bản.   Rộng hơn mọi thành phần của vũ trụ ở một mức sâu đều liên thông với nhau (interconnectedness) và ngược lại vũ trụ hiện hữu trong mỗi bộ phận (“whole in every part”). Một ví dụ của mức sâu đó của thực tại chính là cái bể cá cảnh cùng con cá vàng trong ví dụ nói ở trên đây. Theo Bohm ta thấy được những thực thể riêng biệt chỉ vì ta chỉ nhìn được một khía cạnh của thực tại. Các thực thể riêng biệt đó chỉ là những bóng ma (eidolon) còn vũ trụ tự thân là một hình chiếu, nói cách khác là một hologram.  Các electron của nguyên tử carbon trong não bộ của con người liên thông với các nguyên tử của mỗi con cá hồi đang bơi, của mỗi quả tim đang đập và của những vì sao đang chiếu sáng trên bầu trời. Vì sự liên thông phổ quát này mà trong vũ trụ toàn ảnh , thậm chí không gian và thời gian không còn là cơ bản nữa!  Những khái niệm như tọa độ và thời điểm  sẽ không còn ý nghĩa trong một vũ trụ mà không vật gì được tách rời với vật khác trong không gian và thời gian. Tại mức sâu hơn này, thực tại là một siêu hologram trong đó quá khứ, hiện tại và tương lai quyện vào nhau và tồn tại đồng thời. Tại mức sâu siêu hologram  nếu tìm được phương pháp thích hợp chúng ta có thể làm tái hiện được những cảnh tượng từ quá khứ xa xôi.  Sự tổng hợp hệ thống ý tưởng của Bohm và Bribram  dẫn đến là hệ mẫu toàn ảnh HP (Holographic Paradigm). Nhiều nhà khoa học công nhận rằng nhiều hiện tượng ngoại tâm lý học (para-psychological [5]) như thần giao cách cảm, luân hồi, tiên tri… có thể hiểu được nhờ HP.  Thời gian sẽ trả lời HP đúng hay sai song hiện tại HP ,vì hàm lượng triết lý lớn,  đang làm say đắm nhiều  nhà khoa học và là nguồn cảm hứng dồi dào cho điện ảnh (các phim ‘The Matrix’, ‘The 13th Floor’,  Star Trek…) cho nghệ thuật, văn chương.  Cuộc chiến quanh lỗ đen & nguyên lý toàn ảnh   Vì sao mà nguyên lý toàn ảnh trở nên quan trọng cho vật lý lượng tử?[6]  Năm1993 Gerard ‘t Hooft (và có thể cùng thời  Leonard Susskind, một trong những người phát triển lý thuyết dây) đề ra nguyên lý holographic: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý nD trên mặt biên (không gian n chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1)D của hệ nằm trong mặt biên (không gian n+1 chiều).Thông tin trong một thể tích không gian sẽ được lưu trữ bề mặt của thể tích đó, ở đấy một bit thông tin chiếm 1/4 yếu tố diện tích Planck (Bekenstein). Đối với lỗ đen thông tin này sẽ được mã hóa  trên mặt chân trời của lỗ đen.  Theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn!           Hình 5  . Lý thuyết trường conform (CFT)  trên mặt biên (hologram ) tương đương với lý thuyết dây có hấp dẫn trong không gian anti-de Sitter ( ánh xạ holographic : AdS / CFT )        Năm 1997, tác giả Maldacena (Đại học Harvard) đã thực hiện nguyên lý holography nhờ thiết lập mối quan hệ sau:  Một vũ trụ mô tả bởi lý thuyết siêu dây  (như vậy có hấp dẫn) trong một không-thời gian anti-de Sitter 5 chiều tương đương với một lý thuyết trường lượng tử (không chứa hấp dẫn) trên mặt biên 4 chiều của không-thời gian đó (xem hình 5).  Bài toán lớn nhất hiện nay của vật lý lượng tử là thống nhất được hai lý thuyết lớn nhất của thời đại: lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối rộng. Nguyên lý toàn ảnh nói trong bài này có hy vọng là một phương án để làm được điều đó!  Công trình của Maldacena gây một tiếng vang lớn trong giới vật lý lý thuyết, trong vòng 5 năm công trình của Maldacena được trích dẫn trên 5000 lần và được xem như một bước đột phá về quan niệm, tạo nên một cách nhìn mới đối với hấp dẫn và lý thuyết trường lượng tử.  Cuốn sách vừa xuất bản “ Cuộc chiến quanh lỗ đen- La guerre du trou noir ” của Leonard Susskind [6] mô tả lại cuộc tranh luận giữa Stephen Hawking và nhiều người khác thuộc phái phản đối. Stephen Hawking cho rằng lỗ đen là một thực thể vi phạm nguyên lý bảo toàn thông tin trong lý thuyết lượng tử (và trong vật lý nói chung), một thực thể xé nuốt thông tin (dévoreurs d’informations). Song đến năm 2004 thì Stephen Hawking tuyên bố thua cuộc  John Preskin trong một cuộc đánh đố rằng thông tin bảo toàn hay biến mất sau khi lỗ đen bay hơi.   Như vậy bài toán nghịch lý về thông tin trong lỗ đen có thể xem như được sáng tỏ phần nào (thông tin là bảo toàn song thu hồi nó như thế nào?). Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng mọi thông tin trong lỗ đen giờ đây được mã hoá trên diện tích chân trời và thông tin được bảo toàn trong quá trình bay hơi của lỗ đen. Thất bại này của Stephen Hawking càng làm cho giới khoa học chú ý nhiều đến HP.  Một kiểm chứng thực nghiệm: phát hiện tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise) của dự án GEO600?  GEO600 là một dự án  hợp tác giữa  Viện Vật lý hấp dẫn  Max Planck, Đại học Leibniz Hannover, Đại học Cardiff, Đại học Glashow và Đại học Birmingham. GEO600 là một detector dài 600 m, xây dựng tại Hannover (Đức) có mục tiêu tìm sóng hấp dẫn phát ra từ những thiên thể như sao neutron, lỗ đen. Hiện nay GEO600 [7] chưa tìm ra sóng hấp dẫn song rất có thể đã phát hiện một hiện tượng quan trọng nhất trong thế kỷ này. Trong nhiều tháng qua đội ngũ GEO600 đau đầu vì một nhiễu loạn, một tiếng ồn không giải thích được trong detector của họ.          Hình 6 . Craig Hogan        Nếu nhóm GEO600 đã tìm thấy những gì mà Craig Hogan phỏng đoán thì chúng ta đang ở trong một hologram vũ trụ khổng lồ.                  Một điều đáng ngạc nhiên, Craig Hogan (hình 6), Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn các hạt cơ bản, Phòng thí nghiệm Gia tốc quốc gia Fermi , GS Đại học Chicago, Illinois lại tiên đoán được rằng nhóm GEO600 sẽ gặp vấn đề về tiếng ồn lạ lùng này và đưa ra cách giải thích: nhóm GEO600 đã tiến đến giới hạn cơ bản của không thời gian, đã  tiến đến điểm mà continium phẳng phiu của Einstein chấm dứt nhường chỗ cho cấu trúc dạng “hạt” gián đoạn, nhóm GEO600 đã chạm ngõ đến sự thăng giáng “run rẩy” lượng tử của không thời gian, một mức sâu của thực tại trong vũ trụ hologram [8]. Tại những khoảng cách vi mô với kích thước cỡ 10– 35 m ( độ dài Planck) không thời gian có cấu trúc gián đoạn như cấu tạo được bằng những pixel .   GS Bernard Schutz (Viện Thiên văn Hoàng gia Anh) nói: nếu tiếng ồn toàn ảnh được phát hiện thì đây là tín hiệu của một kỷ nguyên mới trong vật lý cơ bản (ScienceDaily,Feb.4,2009). GS Karsten Danzmann, Giám đốc Viện Albert Einstein Hannover dè dặt hơn phát biểu: vấn đề tiếng ồn toàn ảnh đã đặt nhóm nghiên cứu GEO600 vào tâm cơn lốc của một nghiên cứu cơ bản quan trọng của thế kỷ. Nhóm các nhà vật lý GEO600 đang tích cực thu thập dữ liệu để chứng minh liệu tiếng ồn họ thu được có phải là tiếng ồn toàn ảnh hay không?  Nếu nhóm GEO600 đã tìm thấy những gì mà Craig Hogan phỏng đoán thì chúng ta đang ở trong một hologram vũ trụ khổng lồ.  Kết luận   Vũ trụ của chúng ta có thể là một hologram khổng lồ (Our World May Be a Giant Hologram [9]). Nếu điều này đúng thì trước mắt chúng ta là một kỷ nguyên khoa học mới (ScienceDaily,Feb.4,2009) có tầm bao quát một cách thống nhất nhiều hiên tượng (từ vật lý đến các khả năng kỳ diệu của não bộ) mà  khoa học hiện nay  chưa có lời giải thích. Vũ trụ toàn ảnh sẽ có tác động lớn đến triết học và là nguồn cảm hứng của nhiều ngành nghệ thuật. Nhiều nhà khoa học xếp lý thuyết Vũ trụ toàn ảnh ở tuyến đầu tri thức (latest frontier of knowledge), lý thuyết Vũ trụ toàn ảnh có nội dung lớn hàm ẩn cả toán, lý, sinh, triết học…   ———–  Tài liệu tham khảo & chú thích  [1]  David Bohm, Wholeness and the implicate Order, 1980.  [2]  Michael Talbot, The holographic Universe,1996.  [3]  Wilder Penfield, The mystery of Mind, 1975.  [4]  EPR : nghịch lý EINSTEIN, PODOLSKY & ROSEN,   xem Cao Chi , Cơ học lượng tử : từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan (RQM),  KH&TQ số tháng 9 / 2008.  [5] Ngoại tâm lý học (parapsychology) nghiên cứu những khả năng giả đoán của tâm lý: ngoại cảm (telepathy), tuệ nhãn (perceptiveness), tiên tri và hồi tri (precognition   & retrocognition). động học tâm lý (psychokinesis).  [6] La Recherche, Paul Davies & Leonard Susskind, Fevrier 2009 No 427.  [7] http://www.geo600.de  [8] Craig Hogan, Physical Review D, vol 77, p 104031.  [9] Marcus Chown, Our world may be a giant hologram, New Scientist, 15 January, 2009.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Vũ trụ trong chiếc nón lá      Là người từng tham gia đóng góp nhiều năm cho dự án xây dựng máy gia tốc và các hệ đo của nó từ khi hình thành và phát triển, tôi đã theo dõi sự kiện phát hiện mới đây về hạt Higgs boson nhờ máy gia tốc đối chùm hadron khổng lồ (LHC) tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) – một thành tựu lớn của khoa học hiện đại – với nhiều cảm xúc đặc biệt.     LHC đã được thai nghén từ 30 năm trước. Một  thế hệ các nhà vật lý trẻ đã cống hiến phần lớn sự nghiệp khoa học của  mình để xây dựng LHC. Sự cống hiến như vậy cho riêng một dự án kéo dài  trong nhiều năm không phải bình thường trong khoa học. Nó đòi hỏi nhiệt  huyết, sự quyết tâm và niềm tin vào thành công của dự án.  Hai nhà vật lý, Fabiola Gianotti và Joe Incandela, những người đã trình bày kết quả của hai thí nghiệm ATLAS và CMS, là hai đồng nghiệp trẻ của tôi tại UA2 (thí nghiệm mà tôi là phát ngôn viên trong những năm tám mươi). Fabiola tham gia vào thí nghiệm khi cô còn là một nghiên cứu sinh trẻ. Có lần tôi trực vận hành máy gia tốc cùng với cô; hôm đó đường điện bị hỏng do một cơn bão nên máy không thể vận hành được trong khoảng thời gian dài. Chúng tôi không thể làm gì hơn ngoài việc chờ đợi. Lúc đó, Fabiola mang theo cuốn sách Finnergans Wake của tác giả James Joyce. Chúng tôi đã nói rất nhiều về James Joyce và cả tiểu thuyết Ulysses của ông. Tôi rất ấn tượng về cô ấy: ở tuổi cô, tôi thậm chí không biết James Joyce là ai. Còn Joe thì tham gia cùng với chúng tôi khi anh là thực tập sinh sau tiến sỹ. Anh thực hiện nghiên cứu về đơn cực từ Dirac cho luận án tiến sỹ của mình tại Chicago. Mặc dù, Joe không tìm thấy đơn cực từ nào nhưng anh thiết lập được những điều kiện ràng buộc chặt chẽ về sự tồn tại của chúng. Tôi nhớ khi đến thăm Joe vào thời điểm đó, thí nghiệm của anh được bày trên một chiếc bàn, nổi bật lên là một vòng dây lớn và anh ấy gần như chỉ làm việc một mình. Bây giờ, anh làm việc cùng với hàng ngàn cộng sự…  Hai phát ngôn viên hiện nay của ATLAS và CMS, Fabiola và Joe, minh họa rõ nét con đường mà nhiều nhà vật lý và kỹ sư theo đuổi trong suốt ba thập kỷ qua. Con đường dẫn đến thành công của họ quả là dài và đầy khó khăn. Máy gia tốc đối chùm và các hệ đo của nó cực kỳ phức tạp, tất cả các chi tiết đều dùng thứ công nghệ hiện đại nhất, và sự vận hành trơn tru một cách đáng kinh ngạc của toàn bộ hệ thống khiến người ta thán phục. Hoạt động của chúng vượt qua mọi sự mong đợi của mọi người. Đã không ai dám đảm bảo là chúng có thể hoạt động được vì thử thách đặt ra quá lớn. Sự thành công của cỗ máy chứng minh hiệu quả của Khoa học lớn (Big Science), như người ta gọi, đôi khi sẽ không có được nếu không mạo hiểm, nhất là khi khám phá những lĩnh vực tiên phong của khoa học hiện đại, bất kể đó là vật lý hạt hay vật lý thiên văn. Thật hạnh phúc khi được chứng kiến quá trình lao động vất vả và sự kiên trì của không biết bao nhiêu người trẻ tuổi có tài năng và kỹ năng được đền đáp một cách xứng đáng!  Những người không quen thuộc với vật lý hạt có thể khó hình dung được tầm quan trọng của sự kiện này và cách gọi hạt Higgs boson là “Hạt của chúa”, như trên một số phương tiện thông tin đại chúng, không thực sự giúp chúng ta hiểu vấn đề rõ hơn.           Khám phá mới được công bố tại CERN, mặc dù  vẫn cần đặt trên nền tảng chắc chắn hơn, rất có thể là bằng chứng đầu  tiên về phá vỡ đối xứng tự phát dẫn đến việc tạo ra khối lượng nhỏ của  các hạt cơ bản. Nó mở ra hàng loạt tìm kiếm mới về các hạt Higgs boson  khác, các hạt Siêu đối xứng hoặc những đối tượng mới nằm ngoài trí tưởng  tượng của chúng ta.        Chúng ta hãy bắt đầu với cái nhìn tổng quát về cách các nhà vật lý nhìn nhận thế giới. Họ nhìn nhận thế giới như thể được cấu tạo bởi các khối cơ sở mà họ gọi là các hạt cơ bản. Trong các khối cơ sở thì electron của một nguyên tử và các hạt quark trong proton và neutron tạo nên các hạt nhân nguyên tử là những khối phổ biến nhất. Mọi thứ trong Vũ trụ, các ngôi sao, các thiên hà và ngay cả chúng ta cũng đều được tạo bởi những hạt cơ bản này. Kích thước của chúng rất nhỏ so với kích thước của con người: cỡ một phần một tỉ micromét. Khi quan sát các vật với kích thước nhỏ như vậy, người ta thấy rằng chúng hành xử rất khác lạ, vừa như hạt và lại vừa như sóng: do đó người ta buộc phải từ bỏ cả hai khái niệm này và thay vào đó bằng một khái niệm mới: thế giới của vật lý lượng tử. Hằng số Plank, thường được viết là ħ, xác định giới hạn mà bắt đầu từ đó các hiệu ứng lượng tử không còn có thể bỏ qua được. Đối với những vật được tạo nên bởi các hạt cơ bản, như proton và neutron, tích số của khối lượng và kích thước của chúng luôn lớn hơn hoặc bằng ħ. Phát biểu này được gọi là nguyên lý bất định Heisenberg và nó xác định một giới hạn cho thế giới vật lý: Giới hạn Heisenberg.  Ngược lại, ở kích thước lớn hơn, chẳng hạn kích thước Vũ trụ, lực hấp dẫn hoàn toàn chiếm ưu thế, mặc dù với kích thước lượng tử thì nó hoàn toàn không đáng kể. Lực hấp dẫn được mô tả đầu tiên bởi Newton. Đó là lực tỉ lệ với một hằng số phổ quát, ký hiệu là G. Khi một ngôi sao suy sụp vào giai đoạn cuối cuộc đời bởi trọng trường, nếu đủ nặng, nó có thể đạt đến một trạng thái mà trọng lực trở nên mạnh đến nỗi không thứ gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra được. Khi đó nó trở thành một lỗ đen có bán kính gọi là Bán kính Schwarzschild (theo tên của một trong những nhà vật lý đầu tiên mô tả về trạng thái đó). Bán kính Schwarzschild tỉ lệ thuận với khối lượng của sao. Với Mặt trời, bán kính Schwarzschild bằng 3 km nhưng Mặt trời không đủ nặng để có thể đạt được kích thước nhỏ đến như vậy khi chết: do đó Mặt trời sẽ không bao giờ trở thành một lỗ đen. Đối với một vật thể có khối lượng xác định, sẽ là vô nghĩa khi nói về kích thước nhỏ hơn kích thước của lỗ đen tương ứng với khối lượng đó. Điều này xác định một giới hạn nữa của thế giới vật lý, đó là Giới hạn Schwarzschild. Giới hạn Heisenberg bằng tích số kích thước×khối lượng có kết quả là một hằng số (bằng ħ) còn Giới hạn Schwarzschild là tỉ số kích thước/khối lượng và cũng là một hằng số (bằng G).  Giao điểm của hai giới hạn Heisenberg và Schwarzschild tương ứng với kích thước ~10–33 cm và khối lượng ~1019 lần khối lượng của proton. Nó được gọi là thang Plank (Plank scale). Tại đó, như hiện nay chúng ta biết, vật lý lượng tử và thuyết hấp dẫn không tương thích với nhau: để miêu tả các hiện tượng xảy ra tại kích thước này, chúng ta cần một lý thuyết mới mà trong đó cả vật lý lượng tử và thuyết hấp dẫn chỉ là những ước tính xấp xỉ đơn giản áp dụng riêng biệt trong các vùng chịu tác động của chúng. Đã vài thập kỷ qua, nhiều nhà vật lý lý thuyết đã bỏ nhiều thời gian và công sức để xây dựng lý thuyết mới như vậy. Thành phần chính của lý thuyết này là các dây có kích thước cỡ kích thước Plank; đã có nhiều tiến bộ thu được trong lĩnh vực này nhưng vẫn còn rất nhiều điều cần phải làm. Vụ nổ Big Bang cũng đã xảy ra tại quy mô cỡ kích thước Plank: những điều xảy ra tại kích thước Plank có thể là những bí ẩn chính của vật lý hiện đại và người ta hy vọng giải thích được bí ẩn này sẽ đồng thời giải quyết nhiều vấn đề khác có thể ít cơ bản hơn của vật lý.  Để thuận tiện ta biểu diễn chiều dài và khối lượng trong hệ đơn vị mà giá trị của chúng tính theo thang kích thước Plank. Và nếu, thêm vào đó, vận tốc được biểu diễn theo đơn vị vận tốc ánh sáng thì mọi đại lượng vật lý đều trở thành những con số thuần túy. Ta có thể minh họa điều này bằng một sơ đồ dưới dạng một cái nón lá: kích thước Plank là đỉnh nón, hai cạnh bên là Giới hạn Heisenberg và Giới hạn Schwarzschild. Với một vật có khối lượng m và kích thước l, trục giới hạn Heisenberg được biểu diễn là log(l/m) còn trục giới hạn Schwarzschild là ½log(lm). Trong sơ đồ này, những đường thẳng cùng mật độ song song với đáy của hình nón, và tạo thành góc 45o với các giới hạn Heisenberg và Schwarzschild. Vũ trụ, hay chính xác hơn Vũ trụ nhìn thấy (visible Universe), nằm trên giới hạn Schwarzschild. Thực vậy, khi Vũ trụ giãn nở, các thiên hà cách càng xa chúng ta thì giãn nở càng nhanh. Chúng ta không thể nhìn thấy xa hơn khoảng cách tại đó vận tốc giãn nở bằng vận tốc ánh sáng, chúng ta gọi giới hạn đó là “chân trời” và khi đó nói đến “Vũ trụ” thực sự ta chỉ nói về phần Vũ trụ nhìn thấy được hay phần Vũ trụ nằm trong phạm vi chân trời. Những điểm nằm trên đường giới hạn Schwarzschild là các lỗ đen, Vũ trụ cũng nằm trên đường giới hạn Schwarzschild nhưng nó không phải là một lỗ đen vì một lỗ đen được bao quanh bởi không gian trống rỗng, tuy nhiên Vũ trụ nhìn thấy được lại được bao quanh bởi những thành phần giống như thành phần của nó có điều ta không nhìn thấy. Trong hệ đơn vị số thuần túy, khối lượng và kích thước của Vũ trụ bằng nhau và bằng 1060 khối lượng và kích thước Planck. Do đó, mật độ của Vũ trụ, bằng khối lượng chia cho kích thước mũ ba, bằng 10–120. Đó là mật độ tại đáy của hình nón.   Khối lượng của các ngôi sao và các đám khí chỉ chiếm khoảng 4% khối lượng của Vũ trụ và chúng ta vẫn hoàn toàn chưa hiểu được ba phần tư khối lượng của Vũ trụ gồm những gì. Đó là một bí ẩn lớn nữa của vật lý hiện đại. Chúng ta không biết nó là gì, và gọi là “năng lượng tối”. Năng lượng tối được mô tả bởi thuyết tương đối rộng bằng một số duy nhất, Λ, gọi là hằng số vũ trụ. Trong hệ thống đơn vị mà chúng ta đang làm việc, mật độ của năng lượng tối là Λ/8π, điều đó có nghĩa là hằng số vũ trụ có giá trị khoảng bằng 10–120. Do đó, đáy của chiếc nón xác định giới hạn thứ ba của Vũ trụ. Người ta thấy trên giới hạn này, tại giao điểm với giới hạn Heisenberg, là sự tồn tại của hạt nhẹ nhất trong tất cả các hạt cơ bản được biết đến, hạt neutrino. Chúng ta chưa rõ liệu đây là một sự ngẫu nhiên hay có ý nghĩa sâu xa nào đó.  Vậy hạt Higgs boson nằm ở đâu trong bức tranh này?  Khi xem xét những chi tiết nhỏ hơn, chúng ta phát hiện ra những bí ẩn mới. Trong thế giới của lực hấp dẫn, vật chất tối và những điều xảy ra ngay sau Big Bang − sự giãn nở đột ngột của Vũ trụ − là những vấn đề thách thức nhất. Còn trong thế giới lượng tử, cơ chế tạo ra khối lượng là mối quan tâm hàng đầu. Những hạt cơ bản mà chúng ta biết đến có khối lượng cực kỳ nhỏ: hạt nặng nhất trong số chúng, hạt top quark, có khối lượng chỉ là ~10–17 (so với khối lượng Plank, trong hệ đơn vị ta đang sử dụng). Do đó, người ta nghĩ rằng một thế giới với các hạt không có khối lượng là một hình dung gần đúng hợp lý của thế giới thực. Với giả thuyết như vậy, bức tranh về thế giới trở nên đẹp đẽ và đơn giản một cách đáng kinh ngạc và chỉ cần dựa vào một số rất ít nguyên lý cơ bản: đối xứng không−thời gian theo phép quay và phép tịnh tiến (nhóm Poincaré), những đối xứng trao đổi giữa các hạt đồng nhất (cũng có cấu trúc nhóm, SU(3) đối với tương tác mạnh và SU(2)×U(1) đối với tương tác điện yếu) và cái mà chúng ta gọi là bất biến gauge, nghĩa là các quy luật vật lý không phụ thuộc vào những pha cố hữu của vật lý lượng tử. Khả năng dự đoán của lý thuyết này thật đáng kinh ngạc: nó chỉ đòi hỏi sự tồn tại của photon, các hạt boson truyền tương tác yếu, các hạt gluon truyền tương tác mạnh. Lý thuyết này được xác định với độ chính xác tốt hơn 1% bởi hàng trăm thí nghiệm khác nhau,  Tuy nhiên, lý thuyết này không lý giải được khối lượng mặc dù nhỏ của các hạt cơ bản. Ngay khi đặt khối lượng đúng với khối lượng thực của chúng, mặc dù rất nhỏ, lý thuyết này sụp đổ: người ta phải thay đổi lý thuyết để có thể có các hạt cơ bản có khối lượng khác không. Cách đơn giản và tiết kiệm nhất là đưa vào một hạt mới có tính chất đặc biệt. Nó tương tác với tất cả các hạt khác với cường độ tương tác tỉ lệ thuận với khối lượng của các hạt. Hạt này được gọi là hạt Higgs boson và được đề cập tới từ năm 1964 bởi sáu nhà vật lý Robert Brout, François Englert, Gerald Guralnik, Carl Richard Hagen, Peter Higgs và Thomas Kibble. Hạt Higgs có spin bằng 0 và do đó được gọi là hạt vô hướng, trong khi tất cả các hạt cơ bản khác có spin bằng 1 hoặc 1/2. Cái đẹp của nó đến từ thực tế là nó đem lại khối lượng cho các hạt cơ bản nhờ một sự không hoàn hảo nhỏ của đối xứng điện yếu SU(2)×U(1): phá vỡ một cách nhẹ nhàng đối xứng này (có thể quan sát được trong thực tế), và một cách tự nhiên tạo nên khối lượng của các hạt cơ bản. Ý tưởng chi phối cơ chế tự phát khối lượng này rất tổng quát và đẹp, người ta gọi nó là phá vỡ đối xứng tự phát và ngay lập tức nó được cộng đồng khoa học chấp nhận, coi đây chính là cơ chế khả dĩ nhất của Tự nhiên. Lý thuyết này dự đoán tương tác của hạt Higgs boson với các hạt cơ bản một cách chi tiết nhưng lại không dự đoán được chính xác khối lượng Higgs: đó chính là động lực thúc đẩy việc xây dựng LHC, có dải năng lượng phủ trên khoảng rộng để không bỏ lỡ cơ hội tìm thấy hạt Higgs nếu nó tồn tại.  Hạt được tìm thấy tại CERN khá khớp với mô hình này: hạt Higgs được tìm kiếm dựa trên tất cả các tính chất mà lý thuyết đã dự đoán về nó. Tuy nhiên, cần phải kiểm tra thêm để củng cố khám phá này và đảm bảo rằng hạt được phát hiện có đặc điểm hoạt động khớp một cách chính xác với dự đoán từ lý thuyết. Hơn nữa, cơ chế tạo ra khối lượng từ phá vỡ đối xứng tự phát của tương tác điện yếu là rất tổng quát và có thể xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, phức tạp hơn so với hình dung về một loại hạt Higgs boson duy nhất. Ví dụ như một lý thuyết rất nổi tiếng hiện nay, trong đó đưa ra một dạng đối xứng mới của Tự nhiên (chưa được quan sát bằng thực nghiệm) là Thuyết Siêu đối xứng. Lý thuyết này đòi hỏi sự tồn tại của không phải một mà là năm hạt Higgs boson. Bốn hạt nữa có thể vẫn còn ẩn giấu tại vùng khối lượng lớn hơn, chờ đợi sự khám phá tiếp theo của LHC.  Triển vọng về những phát hiện mới trong vùng khám phá mới của vật lý hạt là phần thưởng xứng đáng đền đáp cho tất cả những người đã cống hiến cho công cuộc này trong nhiều thập kỷ qua. Chúng ta hãy chúc cho họ đạt được nhiều thành công hơn nữa!          PHẠM NGỌC ĐIỆP dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang WEF: Sáu công nghệ sẽ gây sửng sốt vào năm 2030      Sáu công nghệ dưới đây sẽ gây kinh ngạc thế giới vào năm 2030, theo khảo sát của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF).    Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã khảo sát hơn 800 chuyên gia và quản lý cấp cao để tìm hiểu tương lai công nghệ thế giới sẽ như thế nào. Clip dưới đây sẽ tiết lộ 6 công nghệ vào năm 2030 có thể khiến chúng ta kinh ngạc, theo bình chọn của những người được hỏi ý kiến.    Nguồn tin: http://khoahocphattrien.vn/Clip/sau-cong-nghe-se-gay-sung-sot-do-chuyen-gia-binh-chon/20180326103843157p936c941.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang WEF: Vấn đề tâm lý mới là cái giá lớn nhất của giãn cách xã hội      Nhìn chung, các nhóm có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần lâu dài là những nhân viên y tế ở tuyến đầu chống dịch, thanh niên dưới 30 tuổi, trẻ em, người già và những người có cuộc sống bấp bênh, ví dụ, do mắc bệnh tâm thần, khuyết tật và nghèo đói.      Ảnh: Gizmodo  Vào giữa những năm 1990, Pháp là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới giải quyết hậu quả của các cuộc tấn công khủng bố và thảm họa bằng cách tiếp cận mang tính cách mạng: Ngoài phân loại và chữa trị tại bệnh viện, Pháp thành lập một đơn vị hỗ trợ tâm lý. Các nạn nhân, nhân chứng không bị thương tổn thể chất được kiểm tra các dấu hiệu chấn thương tinh thần và điều trị. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị các hướng dẫn chuẩn thức về chấn thương R-TEP và chấn thương nhóm G-TEP trong những tình huống đó.  Kể từ đó đến nay, các kịch bản phục hồi hậu thảm họa đều tập trung vào hai việc: một là điều trị y tế, hai là điều trị vết thương tâm lý vô hình.  Trong đại dịch Covid-19 này, thế giới đang vật lộn để chữa trị, chúng ta xây dựng đủ các bệnh viện dã chiến để trị bệnh và ngăn ngừa virus lây lan nhưng sẽ không thể xây dựng được những “bệnh viện” tương tự để giảm bớt căng thẳng tâm lý cho con người – những gì mà chúng ta sẽ phải trả giá trong vòng 3 tới 6 tháng tới, khi các lệnh giãn cách và cách ly xã hội được dỡ bỏ.  “Chi phí” tinh thần do cách ly xã hội  Hiện tại, ước tính 2,6 tỷ người – một phần ba dân số thế giới – đang chịu cách ly xã hội (quarantine) hoặc phong tỏa. Đây được cho là cuộc thử nghiệm tâm lý lớn nhất mà thế giới phải trải qua dù không hề mong muốn.  Một số kết quả nghiên cứu đã đề cập đến hệ quả này. Vào cuối tháng 2 vừa qua, ngay trước khi các nước châu Âu thực hiện các lệnh giãn cách xã hội khác nhau, tạp chí TheLancet đã công bố một tài liệu tổng kết từ 24 nghiên cứu chứng minh các hệ quả tâm lý của cách ly (“hạn chế di chuyển đối với những người nghi nhiễm hoặc đã nhiễm bệnh”). Những phát hiện này đã đem lại những cái nhìn sơ lược về những gì đang xảy ra với hàng trăm triệu hộ gia đình trên khắp thế giới hiện nay.   Nhìn chung là, và có lẽ không ngạc nhiên, những người bị cách ly có khả năng sẽ mắc phải một loạt các triệu chứng căng thẳng và rối loạn tâm lý như tâm trạng không tốt, chứng mất ngủ, căng thẳng, lo âu, tức giận, cáu kỉnh, kiệt quệ tinh thần, trầm cảm và triệu chứng rối loạn căng thẳng hậu sang chấn. Phổ biến nhất là triệu chứng căng thẳng và cáu kỉnh.  Đã có những tài liệu đầu tiên về tác động tâm lý của đợt phong tỏa ở Trung Quốc. Trong trường hợp cha mẹ bị cách ly với con cái, sức khỏe tâm thần bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Một nghiên cứu cho thấy, không dưới 28% cha mẹ bị cách ly có triệu chứng “rối loạn tâm lý liên quan đến sang chấn”.  Gần 10% trong số các nhân viên y tế có “triệu chứng trầm cảm” lên đến ba năm sau cách ly. Một nghiên cứu về các nhân viên y tế chịu cách ly trong đợi dịch SARS cho thấy những ảnh hưởng tâm lý lâu dài như nguy cơ lạm dụng rượu, tự dùng thuốc và có hành vi “né tránh”. Nghĩa là nhiều năm sau khi bị cách ly, có những nhân viên y tế vẫn né tránh tiếp xúc với các bệnh nhân bằng việc đơn giản là không đi làm.  Lý do dẫn tới căng thẳng khi phong tỏa thì nhiều: sợ bị lây nhiễm, sợ ốm đau hoặc mất người thân, rồi những nguy cơ khó khăn về tài chính… và nhiều nữa, đều hiện diện trong đại dịch này.  Khả năng phục hồi hậu đại dịch  Một điều mà chúng ta có thể thấy rõ ràng ở xu hướng nghỉ làm. Mọi người tránh Covid-19 nên làm việc ở nhà hoặc không làm việc. Khoảng 3 tới 6 tháng tới, để phục hồi kinh tế, cần tất cả người lao động quay lại làm việc nhưng có thể sẽ thiếu hụt nguồn nhân lực rõ rệt. Thế giới đã từng chứng kiến những điều tương tự, như thiếu hụt nhân viên các công ty ở khu vực xảy ra thảm họa ngày 11/9 hay thiếu nhân viên y tế ở các khu vực trải qua dịch Ebola, SARS hay MERS.    Biểu đồ cuộc khảo sát của WEF ở Bỉ.  Ngay trước khi phong tỏa, WEF đã tiến hành một cuộc khảo sát ở Bỉ, kết quả cho thấy 32% người được khảo sát được phân loại “có khả năng phục hồi cao” (màu xanh lá cây trong biểu đồ), chỉ có 15% dân số cho thấy mức độ “căng thẳng có hại cho cơ thể” (màu đỏ hồng trong biểu đồ).  Nhưng trong cuộc khảo sát gần đây nhất của WEF sau hai tuần bị phong tỏa, phần màu xanh lá cây đã giảm xuống còn 25% người được khảo sát, còn phần đỏ hồng đã tăng lên 25%. Đây là những người có nguy cơ đau ốm hoặc kiệt sức chưa thể quay lại công việc được sau một thời gian dài. Ngay cả khi tiếp tục làm việc, thì nghiên cứu của Eurofound cho thấy họ cũng giảm tới 35% năng suất lao động.  Và nhìn chung, các nhóm có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần lâu dài là những nhân viên y tế ở tuyến đầu chống dịch, thanh niên dưới 30 tuổi, trẻ em, người già và những người có cuộc sống bấp bênh, ví dụ, do mắc bệnh tâm thần, khuyết tật và nghèo đói.  Không ai ngạc nhiên về những hệ quả này, vì đã có hiểu biết về sang chấn tâm lý lâu dài sau thảm họa từ nhiều thập kỷ trước đây. Nhưng quy mô lần đại dịch này không phải là một làng, một thị trấn hoặc một khu vực, mà 1/3 dân số toàn thế giới đang chịu đựng các tác nhân căng thẳng nặng nề này. Điều cấp thiết lúc này là làm giảm thiểu tác động của phong tỏa.  Các chuyên gia đều khuyến nghị một số giải pháp mà các nước và tổ chức phi chính phủ cần làm ngay:   • Can thiệp để trợ giúp nhu cầu của những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề;  •  Truyền thông cho người dân về các hệ quả tâm lý và ứng phó với sang chấn tâm lý;  • Xây dựng một website về các vấn đề tâm lý xã hội;  • Đảm bảo rằng những người gặp vấn đề nặng nề có thể tìm được địa chỉ hỗ trợ khi cần thiết.  WEF lưu ý rằng trong đại dịch này, đa phần các quốc gia đều hỗ trợ tâm lý cho người dân muộn màng, nhưng muộn còn hơn không.  Bảo Như lược thuật  Nguồn: https://www.weforum.org/agenda/2020/04/this-is-the-psychological-side-of-the-covid-19-pandemic-that-were-ignoring?     Author                Quản trị        
__label__tiasang Wendy Rogers: Nhà đạo đức cấy ghép tạng      Một nhà nghiên cứu đã khám phá những vi phạm đạo đức trong các nghiên cứu về cấy ghép nội tạng của Trung Quốc.      Credit: Chris Stacey, Macquarie University  Trong suốt hai thập kỷ, một cuộc tranh cãi đã diễn ra xoay quanh nguồn gốc của một số gan, tim và thận được dùng trong cấy ghép nội tạng ở Trung Quốc. Ban đầu, chính phủ Trung Quốc phủ nhận rằng các nội tạng này được lấy từ tù nhân; sau đó họ lại thừa nhận. Hiện giờ chính phủ Trung Quốc lại cho biết đã cấm việc lấy nội tạng của tù nhân từ năm 2015, và các nội tạng này do các tình nguyện viên hiến tặng. Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn còn nghi ngờ về điều này.   Wendy Rogers, một nhà đạo đức sinh học ở Đại học Macquarie, Sydney, Úc, đã tìm ra một cách thức mới để giải quyết vấn đề: kiểm tra các công bố nghiên cứu của các bác sĩ cấy ghép Trung Quốc. Kết quả cuộc điều tra do nhóm nghiên cứu của Rogers thưc hiện đã được xuất bản vào tháng 2 năm 2019 (W. Rogers et al. BMJ Open 9, e024473; 2019), đã khiến hơn 20 bài báo về cấy ghép phải rút lại, sau khi các bác sĩ không thể chứng minh rằng những người hiến tặng đã đồng ý hiến tặng các nội tạng sử dụng trong nghiên cứu. “Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nếu biết chuyện gì đã thực sự xảy ra”, Rogers nói.  Việc rút lại của các bài báo này đã mở ra một trong những vụ bê bối lớn về đạo đức sinh học trên thế giới, Yves Monreau, một nhà sinh học tính toán ở Đại học Công giáo Leuven ở Bỉ nhận xét – cho thấy các nhà khoa học và các nhà xuất bản nên nghiêm túc thực hiện vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.  Rogers đã chuyển hướng từ nghiên cứu học thuật sang hoạt động xã hội sau khi xem bộ phim tài liệu “Hard to Believe” trong một hội thảo vào năm 2015, đề cập đến việc cưỡng ép lấy nội tạng của các tù nhân. Năm 2016, cô trở thành chủ tịch (không lương) của Ủy ban cố vấn quốc tế của Liên minh quốc tế nhằm chấm dứt lạm dụng cấy ghép ở Trung Quốc (ETAC), một nhóm vận động phi lợi nhuận ở Sydney. Nhờ một nguồn tin ẩn danh, Rogers đã điều tra một bài báo trên tạp chí Liver International vào năm 2016 và phát hiện thiếu thông tin về người hiến tặng, bài báo đó đã bị rút lại vào năm 2017.  Rogers biết rằng chắc chắn còn nhiều bài báo đang gặp vấn đề tương tự. Cô đã làm việc thâu đêm, trong cả ngày nghỉ cùng một nhóm các nhà nghiên cứu, các tình nguyện viên để chọn lọc hàng ngàn bài báo. Họ đã kết luận rằng có khoảng hơn 400 bài báo đã sử dụng nội tạng từ các tù nhân và không có nguồn rõ ràng. Những bài báo này được xuất bản trong giai đoạn 2001-2017, gồm hơn 85 000 ca cấy ghép. Nhóm của Rogers đã chỉ ra 17 tạp chí đã xuất bản từ 5 bài báo trở nên nhưng chỉ hai tạp chí có phản ứng. Tạp chí PloS ONE đã rút lại 19 trong tổng số 21 bài báo thuộc danh sách của Rogers, hai bài báo còn lại tiếp tục được điều tra. Tạp chí Transplantation đã rút lại 7 bài báo: 5 bài báo nằm trong danh sách của Rogers và 2 bài báo do tạp chí này tự tìm ra. Các tạp chí đã thông báo nguyên nhân rút lại là do các tác giả đã không trả lời hoặc không thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng.  Joerg Heber, tổng biên tập của tạp chí PLoS ONE, nói rằng ông rất biết ơn đội ngũ của Rogers. Tạp chí này hiện đã tăng cường yêu cầu báo cáo trong các bài báo về cấy ghép. Với những tạp chí không phản hồi, Rogers cho biết: “Tôi rất mong họ thực hiện điều này một cách nghiêm túc”.  Thanh An lược dịch       Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-019-03749-0/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang WHO: Chính thức công bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu      Trong một động thái mà nhiều người chỉ trích lẽ ra phải thực hiện một tuần trước đây, WHO đã tuyên bố dịch bệnh do coronavirus mới gây ra tại Trung Quốc là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus đã thông báo tin này trong cuộc họp báo vào tối thứ năm tại Geneva. Dịch bệnh mới, phát hiện lần đầu tại Trung Quốc vào ngày 31/12/2019 đã lây lan qua 18 quốc  gia; 7834 bị nhiễm và 170 trong số họ đều ở Trung Quốc đã chết.        Một nhân viên y tế Nga dùng thiết bị chụp ảnh nhiệt để đo nhiệt độ của hành khách từ Trung Quốc đến sân bay quốc tế Novosibirsk. Nguồn: KIRILL KUKHMAR/TASS VIA GETTY IMAGES  Ủy ban tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh truyền nhiễm của WHO đã nhóm họp vào chiều thứ năm và đề xuất chỉ định dịch bệnh này là một tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế (PHEIC), mức cảnh báo cao nhất của WHO. Đây là lần thứ sáu WHO sử dụng mức này, kể từ khi xây dựng các mức cảnh báo 15 năm trước. Quyết định này đã được “hoàn toàn nhất trí”, ông Didier Houssin, chủ tịch Ủy ban tình trạng khẩn cấp cho biết tại buổi họp báo.    “Nguyên nhân chính đưa đến tuyên bố này là không phải do diễn biến tại Trung Quốc mà bởi diễn biến tại các quốc gia khác,” Tedros nói tại buổi họp báo. “Mối lo ngại lớn nhất của chúng tôi hiện nay là khả năng lây lan của virus tới những quốc gia mà hệ thống y tế yếu kém hơn và vẫn chưa đủ sẵn sàng để đối phó dịch bệnh. Hãy để tôi nói rõ, tuyên bố này không phải là chúng tôi thiếu tin tưởng vào Trung Quốc. Ngược lại, WHO tiếp tục tin tưởng vào năng lực của Trung Quốc trong kiểm soát dịch bệnh.” Tedros cũng xác nhận đã đưa ra nhiều kiến nghị từ ủy ban tình trạng khẩn cấp để kiểm soát dịch bệnh, bao gồm giải pháp phát triển các vaccine, thuốc và chiến đấu với cả sự lan truyền của tin giả.     Tedros cũng nhấn mạnh, WHO cũng kêu gọi hạn chế hạn chế thương mại và đi lại giữa các quốc gia. “Chúng tôi kêu gọi tất cả các quốc gia đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng”, ông nói. “Tuyên bố này sẽ đem lại cho WHO khả năng đặt câu hỏi về các biện pháp đã được thực hiện tại một số quốc gia”.  Những chuyên gia y tế công cộng khác đã hoan nghênh động thái này của WHO. “Tôi nghĩ đây là quyết định đúng đắn. Đây rõ ràng là mối lo ngại quốc tế lớn,” Tom Inglesby, giám đốc Trung tâm An toàn sức khỏe tại trường Y tế công cộng Bloomberg, ĐH Johns Hopkins, cho biết. “Không nghi ngờ gì nữa, tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc tế sẽ giúp gia tăng các biện pháp bảo vệ công dân của chính phủ hơn,” chuyên gia về bệnh truyền nhiễm Jeremy Farrar, người đứng đầu Quỹ Wellcome Trust, nơi tài trợ cho các nghiên cứu về y tế công cộng và y sinh, viết trong một thông báo.  Vào tuần trước, nhiều chuyên gia khác đã đề nghị Ủy ban tình trạng khẩn cấp xác nhận tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế trong hai phiên họp của Ủy ban này. “Tôi nghĩ Tedros đã phải tuyên bố tình trạng này”, Ashish Jha, chuyên gia về y tế toàn cầu tại trường Y tế công cộng Harvard T. H. Chan nói. “Nhưng tôi không nghĩ trì hoãn một tuần lại gây ra nguy hiểm cho thế giới theo nhiều cách như vậy.”  Theo Những quy định Y tế quốc tế (IHRs), một bộ quy tắc ràng buộc về mặt pháp lý đã được thông qua vào năm 2005, tuyên bố về tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế đem lại cho WHO những quyền bổ sung đối với các quốc gia thành viên, trong đó có khuyến nghị về các hạn chế đi lại mà các quốc gia cần phải tuân theo. Tuy nhiên, trên thực tế thì WHO lại có rất ít quyền để thực thi các khuyến nghị đó, ví dụ khi dịch Ebola bùng phát ở Tây Phi, nhiều quốc gia đã đóng cửa biên giới hoặc hạn chế đi lại theo những cách mâu thuẫn với khuyến nghị của WHO.  Dẫu tuyên bố này ít làm thay đổi khía cạnh kỹ thuật trong việc chống lại bệnh dịch nhưng có ý nghĩa về mặt chính trị, Jha nói: “Một PHEIC làm chỉ làm tăng thêm mức độ quyết tâm chính trị trong ngăn ngừa dịch bệnh. Và nó cũng đem lại nhiều quyền lực về mặt đạo đức cho WHO.”  Những PHEIC trước đây gồm cả cơn bùng phát dịch Ebola tại Tây Phi năm 2014, một dịch khác ở Cộng hòa dân chủ Congo (DRC) là dịch cúm, bại liệt năm 2014 và virus Zika năm 2016. Việc lây lan bệnh bại liệt và Ebola tại Congo vẫn đang được WHO coi là PHEIC.  Hệ thống này tự nó cần một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng. Tại phiên họp báo trước vào tối thứ tư, Tedros đã đề xuất cần cân nhắc quyết định có/không PHEIC. “Những quy định Y tế quốc tế IHR bây giờ là PHEIC hay không là PHEIC, liệu là mức cảnh báo màu xanh hay màu đỏ. Tôi nghĩ  chúng ta phải xem xét lại nó,” ông nói, và đề xuất là nên có mức cảnh báo màu vàng giữa hai trạng thái này. “Chúng tôi hi bọng sẽ giải quyết sau một vài cuộc tranh luận nữa.” Ý tưởng này đã được thảo luận trong nhiều năm.  Dẫu chưa ghi nhận ca nào chết vì chủng coronavirus mới ngoài Trung Quốc, nhưng đã có bốn quốc gia xảy ra hiện tượng lây nhiễm người qua người, Tedros nói. “Cách duy nhất chúng ta đánh bại dịch bệnh này là tất cả các quốc gia làm việc cùng nhau trong tình toàn kết và hợp tác. Tất cả chúng ta cùng nhau đối phó với dịch bệnh. ”  Tô Vân dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/01/outbreak-virus-china-declared-global-emergency    Author                Quản trị        
__label__tiasang WHO đánh giá Mu là biến thể đáng quan tâm      Biến thể Mu được phát hiện ở Columbia hồi tháng 1/2021, là thủ phạm gây 39% ca lây nhiễm corona ở nước này. Hiện nay biến thể này thuộc diện biến thể đáng quan tâm, tuy nhiên mức độ lan truyền toàn cầu chỉ chiếm dưới 0,1%.      Lấy mẫu xét nghiệm ở Bogotá, Colombia. Ảnh: Theguardian.  Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá biến thể B.1.621, được gọi là biến thể Mu thuộc diện biến thể đáng quan tâm. Có dấu hiệu cho thấy có khả năng chống chịu với các loại vaccine.  Virus đột biến là chuyện bình thường. Phần lớn các đột biến đều không nguy hiểm  và không thay đổi đặc tính của mầm bệnh. Nhưng trong bối cảnh các ca lây nhiễm corona trên thế giới có xu hướng tăng mạnh thì các chuyên gia lo ngại về khả năng xuất hiện các biến thể virus mới tác động đến hiệu quả của các loại vaccine hiện có. Đấy là lý do vì sao các mầm bệnh liên tục được phân tích và xem xét khả năng đột biến của chúng.  WHO cho biết: “Biến thể Mu có một loạt các đột biến đáng chú ý”. Biến thể này đã xuất hiện ở các quốc gia Nam Mỹ khác cũng như ở châu Âu, ngoài Colombia. Trong khi 39% trường hợp lây nhiễm virus corona ở Colombia là do biến thể Mu, thì mức độ lây lan toàn cầu của biến thể này là dưới 0,1%.  Theo phân loại của WHO, một số biến thể virus có thể rơi vào hai nhóm: “biến thể đáng quan tâm” (VOI) hoặc “biến thể đáng lo ngại”.  Theo Viện Robert Koch (RKI) ở Đức, VOI bao gồm các biến thể virus  “có các đột biến liên quan đến tăng khả năng lây nhiễm và / hoặc phản ứng miễn dịch bị thay đổi”. WHO hiện liệt kê năm biến thể như vậy: Eta, Iota, Kappa, Lambda và kể từ thứ ba  là Mu. Trong báo cáo về biến thể virus mới nhất của RKI (tính đến ngày 14 tháng 7), biến thể Mu không xuất hiện, RKI xếp loại có tổng số mười hai VOI, trong đó có sáu VOI đã được phát hiện ở Đức mặc dù phân bổ trên toàn cầu thấp.  Hiện tại WHO và RKI nhận định có bốn biến thể corona thuộc diện “đáng lo ngại” trong số đó có biến thể- alpha (B.1.1.7) hiện diện ở  193 nước và biến thể delta  (B.1.617) phân bổ ở 170 nước  với đặc tính lây nhiễm cao. Cạnh đó là biến thể Beta (B.1.351) phát hiện lần đầu ở Nam Phi cũng như biến thể Gamma (P.1) xuất hiện đầu tiên ở Brazil.   Gần đây các nhà nghiên cứu Corona cảnh báo khả năng xuất hiện đột biến mới của virus ở nhiều nước. Các ca lây nhiễm còn ít, với các dữ liệu hiện có chưa thể đánh giá chính xác sự nguy hiểm của biến thể này, tuy nhiên có dấu hiệu nguy cơ lây nhiễm sẽ tăng lên.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fwissenschaft%2Fmedizin%2Fcoronavirus-who-stuft-mu-als-variante-von-interesse-ein-a-d11f493d-1151-49ad-9887-a24230042c6    Author                Quản trị        
__label__tiasang WHO khuyến nghị dừng các thử nghiệm chỉnh sửa gene người      Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khuyến nghị về việc chỉnh sửa gene trẻ sơ sinh bằng công nghệ Crispr. Tám tháng sau vụ việc nhà khoa học Trung Quốc Hạ Kiến Khuê tiết lộ tạo ra những đứa trẻ được chỉnh sửa gene đầu tiên trên thế giới, WHO đã chính thức yêu cầu các quốc gia chấm dứt mọi thí nghiệm có thể dẫn đến sự ra đời của nhiều đứa trẻ tương tự trong tương lai.      Nhà sinh học tiến hóa Kathy Niakan (Viện nghiên cứu Francis Crick London) sử dụng kỹ thuật CRISPR để tìm hiểu sự ảnh hưởng của một loại gene tới sự tăng trưởng của tế bào. Nguồn: Francis Crick London  Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom kêu gọi “các cơ quan quản lý tại tất cả các quốc gia không nên cấp phép bất kỳ hoạt động nào trong lĩnh vực này cho đến khi xem xét một cách đầy đủ các tác động của nó.”  Khuyến nghị này do ủy ban tư vấn gồm 18 chuyên gia của WHO về chỉnh sửa gene người, được thành lập vào tháng 12/2019, xây dựng. “Dù không có quyền lực pháp lý thực sự nhưng WHO có trong tay những quyền lực đặc biệt”. Carolyn Brokowski, nhà nghiên cứu đạo đức sinh học tại Trường Y Yale trả lời Wired. “Xét trên tình trạng chưa chắc chắn ở thời điểm hiện tại, thật không có lợi cho bất kỳ quốc gia hoặc tổ chức nào dám đi ngược lại chống chỉ định của WHO. Nhìn chung, tôi hy vọng tuyên bố của WHO sẽ giúp hạ nhiệt các ý định muốn phát triển công nghệ này.”  Fyodor Urnov, nhà nghiên cứu về chỉnh sửa gene tại Viện Khoa học Y sinh Altius ở Seattle và Đại học California, Berkeley, hoan nghênh bước đi của WHO “vì đã đưa ra lập trường đúng đắn của vấn đề”. Từng là đồng tác giả bài bình luận “Không được chỉnh sửa di truyền trên người” trên Nature năm 2015, ông cho rằng công nghệ này không chỉ còn quá sơ khai mà còn không cần thiết về mặt y học, “do đó lập trường của giới chức y tế càng vững chắc thì càng tốt. Tuy vậy, nó vẫn chỉ đủ ràng buộc những người hoạt động trong các khung pháp lý có sẵn, và về lý không thể đối phó với những hành động ‘ngoài luồng’”.  Tại Mỹ, chỉnh sửa tế bào mầm ở người đã bị cấm tại Hoa Kỳ nhờ điều luật ngăn Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) xem xét các đăng ký thử nghiệm lâm sàng liên quan đến phôi người biến đổi gene. Còn ở Nga, ít nhất một nhà khoa học đã bắt đầu lên kế hoạch thử nghiệm Crispr tại các phòng khám thụ tinh ống nghiệm với lý do ngăn ngừa vô sinh di truyền. Dù rất khó hạn chế được hoàn toàn hoạt động chỉnh sửa gene “ngoài luồng” do các thành phần trong công nghệ Crispr có thể dễ dàng mua được qua mạng nhưng lập trường của WHO sẽ thực sự có sức nặng đối với những hoạt động thử nghiệm chỉnh sửa gene ở cấp độ phôi bề nổi.  Hiện tại, khắp thế giới đã có hơn 20 thử nghiệm lâm sàng sử dụng một phương thức chỉnh sửa gene khác ít gây tranh cãi hơn liên quan đến việc thay đổi ADN trong các tế bào soma (tế bào bạch cầu và tủy xương thay vì tinh trùng hoặc trứng). Chỉ trong tuần này, hai công ty chuyên chỉnh sửa gene ở Mỹ đã tuyên bố bắt đầu mở đăng ký điều trị lần đầu cho bệnh nhân. Công ty Editas Medicine hợp tác với Allergen để điều trị một dạng mù lòa di truyền bằng cách đưa các thành phần được chỉnh sửa bằng công cụ Crispr vào mắt bệnh nhân. NPR cũng đưa tin việc hai công ty Crispr Therapeutics và Vertex đã bắt đầu truyền hàng tỷ tế bào được chỉnh sửa bằng Crispr vào các bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm ở Nashville.  Các thành viên của ủy ban tư vấn WHO chưa đưa ra bình luận về các động thái này, nhưng trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 3 trên Science, đồng chủ tịch ủy ban Margaret Hamburg đã cho biết đến thời điểm phù hợp, có thể cho phép thử nghiệm tế bào soma và tế bào mầm, và nhấn mạnh, ủy ban có nhiệm vụ rộng hơn nhiều so với chỉ tạo ra lệnh cấm. Họ có kế hoạch thiết kế các tiêu chuẩn chi tiết – một danh sách những yêu cầu cho các thử nghiệm có trách nhiệm trên người – để buộc các quốc gia tuân thủ. Quá trình này dự kiến sẽ mất thêm 15 đến 18 tháng nữa.  Doudna, nhà hóa sinh tại UC Berkeley hi vọng cơ quan các chính phủ thay vì cố gắng cấm hoàn toàn các nghiên cứu sẽ giúp giám sát việc tuân thủ với các khuyến nghị của WHO. “Vấn đề không phải là cấm đoán, mà là một cuộc đối thoại, và tôi không còn nghi ngờ là mối quan tâm đến nghiên cứu chỉnh sửa tế bào mầm trên người sẽ vẫn còn đó.”  Tuấn Quang dịch  Nguồn: https://www.wired.com/story/the-world-health-organization-says-no-more-gene-edited-babies/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Wi-Fi bị nghi ngờ gây ung thư      V.L Cơ quan bảo vệ sức khỏe Anh (HPA) đang hối thúc chính phủ nước này chính thức mở cuộc điều tra về ảnh hưởng có hại của mạng không dây (Wi-Fi) đến sức khỏe của trẻ em tại các trường học, báo Independent hôm qua cho biết.    Chủ tịch HPA, William Stewart, nguyên là cố vấn khoa học của chính phủ, đồng thời đang chủ trì hai cuộc điều tra về tác hại của điện thoại di động, đã khuyến nghị phải mở rộng phạm vi nghiên cứu sang tác động đến sức khỏe của mạng Wi-Fi sau khi một số nhà khoa học nghi ngờ rằng sóng Wi-Fi có thể gây ra ung thư và lão hóa sớm.  Giáo sư Olle Johannson, thuộc Viện nghiên cứu uy tín Karolinska của Thụy Điển khẳng định có “hàng ngàn” bài viết của các nhà khoa học chứng minh “ảnh hưởng xấu đến sức khỏe” của Wi-Fi. Tại Áo, chính quyền tỉnh Salzburg đã khuyên các trường học không lắp đặt Wi-Fi và thậm chí đang xem xét một lệnh cấm.    V.L (theo The Independent)      Author                Quản trị        
__label__tiasang WIKIPEDIA- Từ điển bách khoa trực tuyến      Mỗi khi lên mạng tra cứu vấn đề gì, ta thường thấy xuất hiện từ mục của Wikipedia. Trang web Wikipedia là Bách khoa thư (BKT) trực tuyến lớn nhất, nguồn tư liệu phong phú nhất toàn cầu hiện nay, cung cấp 2,6 tỷ bài, viết bằng 200 ngôn ngữ. Sau 6 năm ra đời, trang web này đang phát triển với tốc độ mỗi tháng 7%, đổ đồng hàng tháng có 2 tỷ lượt truy cập. Riêng bản tiếng Anh hiện có gần 1 triệu từ mục, trong khi Đại BKT Encyclopaedia Britannica lừng danh ra đời từ năm 1768 tới nay cũng chỉ có 1,2 triệu từ mục.    Wikipedia phát triển nhanh như vậy vì nó là một BKT tự do, mở, do chính bạn đọc tình nguyện biên soạn – điều này chỉ có thể thực hiện được trong thời đại Internet. Nó cũng cho phép bất cứ ai đều có thể sửa nội dung nào mình cho là sai. Nhưng không ai được lưu tên trong phần mình viết hoặc sửa; vì ở đây không có khái niệm sở hữu riêng. Mọi người đều có quyền trích dẫn wikipedia mà không sợ vi phạm bản quyền.    Wikipedia do Jimmy Wales 39 tuổi sáng lập và phát lên mạng ngày 10/1/2001, nay đã là một thương hiệu nổi tiếng. Nhiều nhà quảng cáo muốn được xuất hiện trên website này. Tuy biết đó là một nguồn lợi lớn nhưng Wales không chấp nhận, vì sợ tổn hại tới hình ảnh trang web thiêng liêng của mình. Sứ mạng cuộc đời tôi là làm cho mọi người trên trái đất đều có thể được miễn phí sử dụng BKT. Hãy tưởng tượng khi tất cả mọi người đều được tự do tiếp cận với nguồn tư liệu của toàn nhân loại; đó là điều Wikipedia đang nhằm tới – Wales nói. Anh đang phấn đấu để website này vừa giữ được thương hiệu lại vừa phát triển được, dưới sự tài trợ của tổ chức phi lợi nhuận Wikimedia ở bang Florida, do Wales lập ra. Tháng 3/2007, từ wiki được thừa nhận là một từ mới trong tiếng Anh.  Cũng do biên soạn mở mà Wikipedia bị phê phán là nội dung các mục từ chưa chính xác. Thí dụ một thuộc hạ của cựu Tổng thống J. Kennedy phát hiện thấy trong mục nói về ông lại viết ông là một trong số những kẻ tình nghi ám sát Kennedy. Wikipedia bản tiếng Đức năm 2005 bị khiếu nại vì đã “dán” các mục từ của BKT Brockhaus Enzyklopdie; sau đó Wikipedia phải xóa hết phần đó… Các thí dụ trên cho thấy bạn đọc rất quan tâm đến chất lượng của BKT này.  Dù thế, Robert McHenry nguyên chủ biên BKT Britannica vẫn nhận xét Wikipedia là một “BKT cơ bản trung thực”. Một bản điều tra đăng trên tạp chí Nature số 12/ 2005 cho thấy tính chính xác của Wikipedia chỉ hơi kém Britannica một chút. Jorge Cauz, một manager của Encyclopaedia Britannica ở Chicago nói Wikipedia là một vấn đề được các cuộc họp ban biên tập của ông thường xuyên bàn tới.          Jimmy Wales, nhà sáng lập Wikipedia         Wikipedia thành công lớn là do kích thích được nhiệt tình của những người ủng hộ. Nó có rất nhiều tình nguyện viên tham gia biên soạn, biên tập. Như chị Frieda Brioschi ở Italia mỗi tuần dành 25 giờ biên tập phần tiếng Italia. Các tình nguyện viên còn làm ra những phần mềm biên tập. Cơ quan Wikipedia chỉ có 3 nhân viên ăn lương (2 trợ lý và 1 kỹ sư phần mềm).  Ngoài BKT, Wales còn bắt đầu biên soạn Từ điển Wiki (Wikitionary), Bộ Sưu tập danh ngôn Wikiquote, Học liệu mở Wikiversity Beta, Tủ sách giáo khoa mở Wikibooks, trang web tin tức Wikinews (kết hợp đăng tin của các hãng tin khác nhau, như Đài Truyền hình Bán đảo ở Qatar, đài BBC và Tân Hoa Xã Trung Quốc)… Thật là cả một “đế chế” truyền thông! Song để làm như vậy, Wales cần tìm kiếm nguồn kinh phí. Năm 2005, các bạn đọc quyên tặng được 1 triệu USD;  Yahoo biếu một server và 250 nghìn USD. Ngoài ra, Wales còn lập một công ty kiếm lời lấy tên Wikicities, nhận biên soạn những nội dung chuyên biệt (kể từ tiền cổ cho tới rượu bia… cho các trang web lớn trên thế giới, và nhận đăng quảng cáo, tuy vẫn dùng tình nguyện viên để biên soạn. Có điều Wales không chịu tăng biên chế cơ quan. Anh còn ấp ủ dự định cung cấp miễn phí đĩa DVD Wikipedia cho các vùng chưa có Internet. Sự nghiệp của Jimmy Wales nếu thành công sẽ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài tới các thế hệ học sinh, khi họ tra cứu nguồn kiến thức khổng lồ của nhân loại.  Hôm vừa rồi lên thư viện, khi gõ từ “Đông Kinh Nghĩa Thục” (ĐKNT) trên Google tiếng Việt, tôi thấy màn hình hiện lên duy nhất phần giải thích của Wikipedia. Phần giới thiệu chung viết tạm được tuy quá sơ sài, nhưng khi kích vào tên “Nguyễn Hữu Cầu” trong danh sách các nhà sáng lập ĐKNT thì Wikipedia lại “link” với tiểu sử Nguyễn Hữu Cầu-Quận He, một nhân vật có trước ĐKNT cả thế kỷ. Thấy thế tôi bèn tìm cách sửa. Rất may là Wikipedia có hướng dẫn chi tiết cách làm. Dựa vào trí nhớ, tôi gõ bàn phím được khoảng ngót một trang tiểu sử Nguyễn Hữu Cầu ĐKNT, dưới cùng có ghi tên họ mình và số điện thoại. Nhưng khi trở lại truy cập từ đầu thì thấy Wikipedia vẫn “link” Nguyễn Hữu Cầu với Quận He! Bực quá, tôi làm lại lần nữa, chưa kịp xong thì thư viện đã đóng cửa. Tuần sau, tôi lên mạng, ngạc nhiên thấy phần mình sửa được đăng tải trọn vẹn trên Wikipedia (cho tới khi viết bài này)! Thì ra cái người vô hình nọ của Wikipedia cần có thời gian kiểm định nội dung sửa của tình nguyện viên. Tôi mừng lắm, dù chẳng hề thấy họ liên hệ với mình, và liền gọi điện cho các hậu duệ của mấy cụ sáng lập viên ĐKNT đề nghị họ biên soạn ngay tiểu sử các cụ còn chưa có trong Wikipedia. Cũng qua việc đó, tôi thấy cần thận trọng khi trích dẫn các thông tin từ BKT này. Wkipedia từng tuyên bố rõ ràng là họ không chịu trách nhiệm về các khiếu kiện đối với sự chính xác của nội dung các từ mục.  Sự việc trên cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể và nên tham gia biên soạn BKT trực tuyến Wikipedia, vì nội dung của Wikipedia bản tiếng Việt hiện nay còn quá nghèo nàn, bỏ trống quá nhiều, chưa kể tồn tại không ít sai sót. Phần tiếng Việt của Wikipedia xuất hiện từ tháng 10/2003, hiện nay mới tập hợp được hơn 40 nghìn thành viên có account, họ mới biên soạn được 20 nghìn từ mục, trong khi phần tiếng Bahasa Indonesia có trên 50 nghìn, tiếng Suomi (Phần Lan) và Svenska – hơn 100 nghìn, tiếng Ba Lan – hơn 200 nghìn từ mục… Đặc biệt, một số người không ưa thích chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam đã viết những nội dung rất chối tai. Nếu cứ nhắm mắt để nguồn tư liệu ấy tồn tại trên mạng trong khi hoàn toàn có thể sửa lại cho sát sự thật hơn, thì rõ ràng chúng ta sẽ có lỗi với lịch sử, với hàng triệu người tra cứu và trích dẫn Wikipedia, chủ yếu là thế hệ trẻ.  Khi tham gia biên soạn Wikipedia, tình nguyện viên cần tuân theo các quy chế của trang web này, như không được sao chép nguyên văn những nội dung đã đăng trên sách báo, website (vì như thế dễ vi phạm bản quyền, là điều Wikipedia không cho phép). Có lẽ một điều không cần nói ra là phải cố gắng tránh dùng quan điểm chủ quan của mình nhìn nhận các sự kiện lịch sử, lược bỏ phần sự kiện này, nhấn mạnh phần sự kiện kia, thực chất là xuyên tạc; làm như thế sớm muộn sẽ bị người khác “sửa gáy”.  Hình như trong “Lịch sử văn hóa Trung Hoa”, cụ Đặng Thai Mai có nhắc lại một câu rất hay của Voltaire, đại ý: Từ khi có các nhà viết sử, lịch sử không còn là lịch sử nữa. Có thể chính vì thế mà Wikipedia mong mỏi lịch sử nhân loại sẽ được viết lại một cách ngày càng khách quan, toàn diện, đúng sự thật; để làm như vậy, họ sử dụng đội ngũ biên soạn là hàng triệu người có cùng mục tiêu ấy, không phân biệt quốc tịch, chính kiến. Rõ ràng, mục tiêu cao cả này có thực hiện được hay không thì phụ thuộc vào các tình nguyện viên và ban biên tập Wikipedia; nhưng việc phấn đấu đi tới cái đích ấy lại là nghĩa vụ tự nhận của những ai quan tâm vấn đề này.  Tạp chí TIME thật có lý khi chọn nhân vật của năm 2006 là YOU. Vâng, chính YOU, tức đông đảo quần chúng nhân dân sẽ làm nên tất cả, kể cả việc viết lại lịch sử. Trong thời đại kinh tế tri thức, người dân có khả năng làm chủ nhiều việc; mạng Internet cho họ một phương tiện tự do trình bày quan điểm của mình không ai ngăn cấm nổi. Nhật ký cá nhân trên mạng (blog), đài phát thanh cá nhân trên mạng (podcasting) là vài thí dụ. Nhờ thế, cuộc sống tinh thần của nhân loại đang ngày một phong phú hơn bao giờ hết. Tri thức và phương tiện truyền thông không còn bị một số ít người thao túng để phục vụ lợi ích riêng nữa.    Hồ Anh Hải      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Xã hội”  bí mật  của virus      Các nhà khoa học đang nghiên cứu cách thức virus “giao tiếp” và “hợp tác” với nhau. Giải mã cuộc đối thoại trong thế giới vi khuẩn có thể mang lại những lợi ích đáng kể cho sức khỏe con người.      Minh họa của Karol Banach/ nature.   Khác với những gì chúng ta từng nghĩ   Nhà di truyền học Rotem Sorek nhận thấy những con vi khuẩn của ông đã bị nhiễm bệnh – đúng như ông kì vọng. Ông đã cố tình lây nhiễm chúng với một loại virus để kiểm tra xem liệu những con vi khuẩn ốm yếu chống chọi một mình hay tìm đồng minh.  Nhưng khi ông cùng với nhóm nghiên cứu của mình tại Viện Khoa học Weizmann ở Rehovot, Israel nhìn vào các hũ thủy tinh, họ nhận thấy một điều hoàn toàn bất ngờ: những con vi khuẩn nằm im lìm, ngược lại virus cực kì náo nhiệt: chúng truyền tín hiệu cho nhau bằng một thứ ngôn ngữ phân tử chỉ chúng mới có thể hiểu. Chúng quyết định khi nào nên cùng nhau ẩn mình trong tế bào chủ, khi nào nhân rộng và bùng phát, để tìm kiếm nạn nhân mới.  Đó là một khám phá tình cờ nhưng đã làm thay đổi căn bản những gì các nhà khoa học hiểu về cách thức hoạt động của virus.  Virus lây nhiễm cho vi khuẩn – những sinh vật giống như kẹo mút gai nhọn được gọi là thể thực khuẩn (bacteriophage, hoặc phage) – có cơ chế giám sát khiến chúng xác định ở yên hay tấn công, tùy thuộc vào số lượng nạn nhân mới. Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn luôn nghĩ rằng các quá trình này là thụ động; các thể thực khuẩn dường như chỉ ngồi lại và lắng nghe, chờ đợi tín hiệu của vi khuẩn đạt đến mức nguy cấp nhất trước khi hành động.  Sorek và các đồng nghiệp đã tìm thấy rằng, trái với những gì các nhà khoa học vẫn tin tưởng, các thể thực khuẩn không hề im lìm thụ động mà tích cực “thảo luận” về lựa chọn của chúng. Khi một thể thực khuẩn lây nhiễm vào tế bào, nó sẽ tiết ra một loại protein nhỏ – một peptide chỉ dài sáu axit amin – có tác dụng như một thông điệp gửi đến những người anh em của nó: tôi vừa hạ gục một nạn nhân mới. Khi các thể thực khuẩn lây nhiễm cho nhiều tế bào hơn, thông điệp trở nên lớn hơn, báo hiệu rằng các vật chủ chưa bị lây nhiễm đang trở nên khan hiếm. Các thể thực khuẩn sau đó tạm dừng quá trình ly giải – nói cách khác là sao chép và thoát ra khỏi vật chủ của chúng – thay vào đó ẩn trong trạng thái chậm chạp được gọi là lysogeny.  Các virus hóa ra không hề phụ thuộc vào tín hiệu vi khuẩn để đưa ra quyết định của chúng. Trái lại, chúng tự định đoạt số phận của mình. “Phát hiện này là một khái niệm to lớn, quan trọng và mang tính cách mạng trong virus học”, Cheng Cheng, một nhà vi trùng học cấu trúc tại Đại học Tứ Xuyên, Thành Đô, Trung Quốc, cho biết.  Sorek đặt tên cho chuỗi peptide virus này cái tên là “arbitrium”, dựa theo từ tiếng Latin có nghĩa là quyết định. Nó sử dụng một hệ thống khá giống với hệ thống thông tin liên lạc được vi khuẩn sử dụng – cảm biến đại diện – để chia sẻ thông tin về mật độ tế bào và điều chỉnh lượng virus cho phù hợp. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có người chứng minh được những con virus này có truyền tin dạng phân tử. Và nó phù hợp với một cái nhìn mới về virus – những tác nhân có tính xã hội phức tạp hơn nhiều những gì chúng ta vẫn nghĩ.  Các nhà virus học từ lâu đã nghiên cứu cách cô lập, tấn công các tế bào của từng virus một. Nhưng việc nhiều virus cùng hợp tác để lây nhiễm bệnh cho một vật chủ và phá vỡ hệ thống miễn dịch của nó đã trở nên ngày càng rõ ràng.  Điều này có nghĩa là các thí nghiệm từ trước tới giờ đã đi sai hướng. “Điều này đã làm rung chuyển một trong những trụ cột của nghiên cứu virus học”, Sam Díaz-Muñoz, một nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học California, Davis nhận xét.  Hiểu được thứ ngôn ngữ đằng sau các tương tác virus này có thể cho phép thiết kế các phương pháp điều trị mới cho bệnh ung thư và bội nhiễm. Các khuynh hướng xã hội của virus thậm chí còn giúp giải thích cách chúng trốn tránh hệ thống miễn dịch vi khuẩn, còn được gọi là CRISPR. “Về mặt khái niệm, điều nay thực sự rất quan trọng”, Dioaz-Muñoz nói thêm.  Nhìn sâu vào xã hội virus  Các nhà khoa học lần đầu tiên phát hiện sự kết hợp của virus vào những năm 1940, khi các thí nghiệm riêng biệt của nhà sinh lý học Max Delbrück và nhà vi khuẩn học Alfred Hershey cho thấy hai virus có thể đồng thời xâm chiếm cùng một tế bào và hoán đổi gene. Nhưng theo Dale Kaiser, một nhà di truyền học phân tử tại Đại học Stanford ở California và cũng là người bảo trợ cho Delbrück, những quan sát ban đầu này chỉ đáng chú ý như một phương pháp thử nghiệm.  Cho đến tận năm 1999 mới có người nhận ra mối tương tác này của virus có ý nghĩa như thế nào. Năm đó, nhà sinh vật học tiến hóa Paul Turner, công tác tại Đại học Yale ở New Haven, Connecticut và Lin Chao, công tác tại Đại học California, San Diego, cho thấy các thể thực khuẩn đã tạo ra phiên bản “chiến lược ràng buộc lưỡng nan” (prisoner’s dilemma) của chính chúng, cùng hợp tác theo hoàn cảnh và hành động vì lợi ích của đôi bên.  Nối tiếp sau đó là các thực nghiệm khác về tương tác virus, liên quan đến mầm bệnh gây ra các bệnh như viêm gan, bại liệt, sởi và cúm. Các tương tác này thường xuất hiện ở các chủng virus khác nhau, nhưng đều cùng một mục đích là để thúc đẩy cơ hội sinh sản của chúng. Nhưng cơ sở phân tử của những hợp tác đó – hay những phương thức giao tiếp – phần lớn là khó nắm bắt. Và như Rafael Sanjuán, một nhà di truyền học tiến hóa tại Đại học Valencia ở Tây Ban Nha, đã chỉ ra: Tìm ra cách virus làm điều đó [tương tác] “như thế nào” là vô cùng quan trọng.  Đó là lý do tại sao phát hiện về “arbitrium” thực sự là một bước tiến lớn trong lĩnh vực này. Gần như ngay lập tức sau khi Sorek lần đầu tiên mô tả hiện tượng này, vào năm 2017, bốn nhóm độc lập – bao gồm Cheng và một nhóm do nhà sinh vật học cấu trúc Alberto Marina tại Viện Y sinh học ở Tây Ban Nha – đã bắt tay vào nghiên cứu cơ sở phân tử làm như thế nào các peptide được tạo ra, nhận thấy và thúc đẩy hành động trên các thể thực khuẩn.  Những chi tiết kỹ thuật đó đã giúp giải thích chính xác làm thế nào các peptide ngắn mà Sorek phát hiện ra có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của virus. Tuy nhiên, đối với Marina, đây mới chỉ là điểm khởi đầu của câu chuyện: ông nghi ngờ rằng hệ thống liên lạc có thể phục vụ nhiều chức năng hơn.  Sự nghi ngờ của Marina dựa trên một phát hiện trong một bài báo. Làm việc với Jose Penadés, một nhà vi trùng học tại Đại học Glasgow, Vương quốc Anh, Marina cho thấy thụ thể của arbitrium trong các thể thực khuẩn có thể giao tiếp không chỉ với các gene trong vi khuẩn giúp virus sinh sản mà còn với các đoạn DNA khác không liên quan. Điều đó có nghĩa là hoạt động của nó có thể không bị giới hạn trong quyết định chỉ là “đi” hay “ở” của virus. Các nhà nghiên cứu hiện đang khám phá khả năng ngôn ngữ peptide của thể thực khuẩn có làm thay đổi hoạt động của các gene chính trong nạn nhân của nó hay không. “Nếu điều đó là sự thật”, Marina nói, “bức tranh toàn cảnh sẽ lớn hơn và thú vị hơn rất nhiều.”  Tự mở rộng dựa trên khám phá ban đầu của chính mình, Sorek đã tìm thấy các peptide arbitrium xuất hiện ở khắp mọi nơi. Nhóm của ông hiện đã tìm thấy ít nhất 15 loại thể thực khuẩn khác nhau, tất cả chúng đều có khả năng lây nhiễm cho vi khuẩn đất và sử dụng một số loại peptide ngắn để giao tiếp. Điều đáng chú ý là, Sorek nói, mỗi thể thực khuẩn dường như nói bằng một ngôn ngữ khác nhau và chỉ hiểu một ngôn ngữ riêng của nó. Do đó, việc trao đổi dường như đã phát triển chỉ để cho phép giao tiếp giữa những người thân.   Thể thực khuẩn có thể chỉ giao tiếp với những cá thể cùng loài với chúng, nhưng chúng cũng có thể lắng nghe những ngôn ngữ khác. Nhà sinh vật học phân tử Bonnie Bassler và nghiên cứu sinh Justin Silpe của bà đã phát hiện ra rằng virus có thể sử dụng các hóa chất cảm nhận giao tiếp (quorum-sensing chemicals) do vi khuẩn tiết ra để xác định khi nào là lúc tốt nhất để bắt đầu nhân lên – và giết chết nạn nhân. Các thể thực khuẩn đang nghe lén, và chúng chiếm đoạt thông tin từ vật chủ cho mục đích riêng của chúng – trong trường hợp này, để giết chết vật chủ, Bassler giải thích.  Quá trình “rình mò” ở cấp độ phân tử này xảy ra tự nhiên trong các thể thực khuẩn lây nhiễm cho vi khuẩn gây ra bệnh tả, Vibrio cholerae. Nhưng trong phòng thí nghiệm của họ tại Đại học Princeton ở New Jersey, Bassler và Silpe đã thiết kế các thể thực khuẩn gián điệp có thể cảm nhận tín hiệu từ các vi khuẩn khác, bao gồm Escherichia coli và Salmonella typhimurium, và sau đó xóa sạch chúng. Các virus nà đã trở thành những sát thủ có thể lập trình, được tạo ra để tiêu diệt bất kỳ vi khuẩn nào – theo ý muốn và yêu cầu của người điều khiển.     Vì lợi ích lớn hơn     Một số hợp tác lan truyền có biểu hiện gần như “nghĩa cử hi sinh cao đẹp”. Hai nhóm nghiên cứu độc lập đã báo cáo vào năm ngoái rằng một số thể thực khuẩn sẵn sàng hành động quên mình để vượt qua các biện pháp đối phó của vi khuẩn Pseudomonas.  Các nhóm nghiên cứu – một nhóm do nhà sinh vật học thể thực khuẩn Joe Bondy-Denomy tại Đại học California, San Francisco, dẫn đầu; nhóm còn lại do chuyên gia về hệ miễn dịch CRISPR Edze Westra và nhà virus học Stineke van Houte tại Đại học Exeter, Anh, dẫn dắt – đã quan sát cách virus bắn phá vi khuẩn bằng protein chuyên dụng được thiết kế để phá vỡ hệ thống phòng thủ miễn dịch dựa trên hệ CRISPR của tế bào. Đợt virus đầu tiên tấn công các tế bào, chúng gần như tự sát nhưng cũng làm suy yếu vi khuẩn. Cuộc bắn phá ban đầu đã mở đường cho những virus khác chinh phục kẻ thù. “Những thể thực khuẩn đó phải có mặt và hi sinh, tạo ra các chất chống CRISPR trước khi một thể thực khuẩn khác có thể xuất hiện và tấn công thành công, Bondy-Denomy cho biết.  Trong một nghiên cứu tiếp theo, Westra và nghiên cứu sinh Anne Chevallereau đã chứng minh làm thế nào các thể thực khuẩn thiếu các protein chống lại CRISPR có thể khai thác từ sự hợp tác với các virus khác. Đối với Westra, điều đó cho thấy những hậu quả sâu rộng tiềm tàng của các hành vi tương trợ giữa các virus. “Có rất nhiều đặc điểm mới nổi lên ở quy mô quần thể”, ông cho biết. “Điều quan trọng là chúng ta luôn phải chú ý đến hệ sinh thái của các thể thực khuẩn.”  Những ví dụ về giao tiếp và hợp tác giữa các thể thực khuẩn có lẽ chỉ là phần nổi của xã hội virus, Lanying Zeng, nhà sinh lý học tại Trung tâm Công nghệ Phage của Đại học Texas A & M ở College Station, cho biết. Đây vẫn là một vùng đất chưa được khám phá. Điều tương tự cũng xảy ra đối với các loại virus lây nhiễm các loại tế bào khác – bao gồm cả tế bào động vật và người – chúng đều sử dụng một số chiến thuật xã hội của riêng chúng.  Virus gây viêm miệng mụn nước (VSV), chủ yếu lây nhiễm cho động vật ở trang trại, nhưng cũng có thể gây ra bệnh giống như cúm ở người. Các hạt của mầm bệnh virus này ức chế miễn dịch của vật chủ bằng cách hi sinh cá nhân nhưng có lợi cho cả nhóm, như Sanjuán và các đồng nghiệp đã chỉ ra. Không ai chắc chắn cách thức xảy ra của sự cùng đồng lòng rút lui này, nhưng nghiên cứu đã nêu bật sự đồng lòng “hi sinh lợi ích của cá nhân này” có ý nghĩa như thế nào đối với sự thành công của VSV. Điều đó có thể giúp các nhà khoa học đánh bại virus ở động vật nuôi trong trang trại và tối ưu hóa nó để sử dụng trong vaccine và các phương pháp trị liệu.      Các virus hóa ra không hề phụ thuộc vào tín hiệu vi khuẩn để đưa ra quyết định của chúng. Trái lại, chúng tự định đoạt số phận của mình. “Phát hiện này là một khái niệm to lớn, quan trọng và mang tính cách mạng trong virus học”, Cheng Cheng, một nhà vi trùng học cấu trúc tại Đại học Tứ Xuyên, Thành Đô, Trung Quốc, cho biết.      Hành động tập thể cũng khá phổ biến trong một số các virus gây bệnh khác. Ví dụ, trong bệnh bại liệt, nhiều chủng virus khác biệt về mặt di truyền có thể tụ lại với nhau để hoán đổi các sản phẩm gene và tăng cường khả năng tiêu diệt tế bào người của chúng. Và hai chủng cúm – một loại vượt trội khi xâm nhập tế bào, một loại khác chiếm ưu thế khi thoát tế bào – phát triển tốt khi được duy trì nuôi cấy trong tế bào cùng nhau hơn là so với khi tách rời nhau.  Nhưng trong một môi trường thực tế, khi lấy mẫu bệnh phẩm từ những người bị cúm, họ nhận ra hai chủng virus không cùng tồn tại với nhau. Jesse Bloom tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, Washington, người đứng đầu nghiên cứu, cho rằng điều đó có liên quan đến một số đặc thù của cuộc sống virus cúm – quy mô dân số của nó dao động mạnh đến mức các hạt hợp tác khó có thể duy trì dài hạn. Đối với các virus không bi ảnh hưởng bởi các loại tắc nghẽn truyền dẫn như vậy, sự hợp tác nhiều khả năng có thể được duy trì trong thế giới thực.  Đó chính xác là những gì nhà hiển vi Nihal Altan-Bonnet tìm thấy khi cô nghiên cứu sự lây nhiễm rotavirus giữa những con chuột. Các hạt rotavirus có thể di chuyển cùng nhau giữa các tế bào trong các túi giống như mụn nước, chia sẻ tài nguyên và ẩn khỏi hệ thống miễn dịch của vật chủ. Altan-Bonnet và các đồng nghiệp của cô cũng đã chỉ ra rằng, virus dễ lây nhiễm đối với chuột khi chúng đi theo các cụm hợp tác này hơn là “đánh lẻ”.  Nhiều loại virus gây bệnh khác – bao gồm cả các loại gây ra Zika, viêm gan, thủy đậu, norovirus và cảm lạnh thông thường – hiện cũng đã được phát hiện về việc cùng sử dụng mụn nước để di chuyển.  “Những con virus này rất lén lút”, Altan-Bonnet, người đứng đầu Phòng thí nghiệm Động lực học mầm bệnh tại Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia Hoa Kỳ tại Bethesda, Maryland, cho biết. “Chúng tôi phải nghĩ ra những chiến lược phá vỡ sự hợp tác và tạo nhóm của chúng.”  Đó có lẽ là biện pháp đúng đắn, trừ khi sức mạnh hủy diệt của virus có thể được phát hiện đem lại lợi ích cho con người. Một số nhóm nghiên cứu đang thử nghiệm các thể thực khuẩn như một phương pháp điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn – và hiểu biết về cách chúng giao tiếp với nhau có thể giúp tinh chỉnh các liệu pháp như vậy . Tuy các phương pháp này có lịch sử lâu dài trong y học, chúng chỉ mới bắt đầu được điều khiển để đạt được hiệu quả điều trị thời gian gần đây.  Lợi ích từ các thể thực khuẩn  Một ví dụ điển hình là việc các nhà nghiên cứu đã mô tả việc sử dụng lâm sàng thành công các thể thực khuẩn biến đổi gene để xử lý việc nhiễm vi khuẩn kháng thuốc. Đối với các bệnh nhiễm trùng như thế này, tất nhiên giải pháp lý tưởng là sử dụng virus để tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn. Nhưng trong điều kiện xảy ra việc mất cân bằng vi khuẩn, như mụn trứng cá, một số loại ung thư và bệnh viêm ruột, phương pháp tốt hơn là sử dụng một thể thực khuẩn có thể giúp tại tạo lại sự cân bằng mà không cần tấn công toàn diện.  “Đối với những ứng dụng tinh vi như vậy, việc biết chính xác cách thức virus giao tiếp với nhau có thể thực sự hữu ích trong việc giúp chúng tôi thiết kế các thể thực khuẩn có thể được sử dụng để điều trị bệnh”, Karen Maxwell, nhà sinh học thể thực khuẩn tại Đại học Toronto, Canada cho biết. Do đó, việc thâm nhập vào hệ thống arbitrium có thể giúp đem lại các phương pháp điều trị dễ kiểm soát hơn hoặc thậm chí có thể đảo ngược.    Virus (màu xanh lá cây) có thể lây nhiễm cho vi khuẩn này (màu cam) một cách tốt hơn khi chúng hợp tác với nhau thay vì “đánh lẻ”. Nguồn ảnh: AMI Images / Science Photo Library  Học cách “nói chuyện” kiểu virus cũng có thể cung cấp một loại lợi ích trị liệu khác.”Đây có thể là một sự bổ sung cho bộ công cụ sinh học tổng hợp để giúp điều chỉnh biểu hiện gene vi khuẩn nhằm đạt được kết quả tốt nhất”, theo lời Christopher Alteri, nhà vi sinh học tại Đại học Michigan ở Dearborn.  Sorek đã đưa các arbitrium peptide ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng trong các thể thực khuẩn, đưa chúng vào các sinh vật khác, nơi chúng hoạt động như các công tắc làm tăng hoặc giảm hoạt động của gene. Trong một nghiên cứu đang thực hiện, ông và nghiên cứu sinh Zohar Erez đã đưa cấu trúc của arbitrium vào vi khuẩn Bacillus subtilis, nhằm điều khiển một số gene của nó theo ý muốn. Một ngày nào đó, các vi khuẩn được thiết kế có thể được sử dụng để phân phối thuốc với liều lượng chính xác và đến các địa điểm cụ thể.      Mỗi thể thực khuẩn dường như “nói” bằng một ngôn ngữ khác nhau và chỉ hiểu một ngôn ngữ riêng của nó. Do đó, việc trao đổi dường như đã phát triển chỉ để cho phép giao tiếp giữa những “người thân”.       Hơn nữa, Sorek lưu ý, nếu các hệ thống giống như arbitrium được bảo tồn trong virus ở người – các mầm bệnh như virus HIV và herpes simplex, giống như các thể thực khuẩn, dành phần lớn cuộc sống của chúng ẩn náu trong các tế bào – thì bất kỳ phân tử truyền thông nào cũng thúc đẩy sự ngừng hoạt động, hay trạng thái “ngủ đông” của chúng, ngay lập tức trở thành một loại thuốc.  Hai năm trước, Díaz-Muñoz, Sanjuán và nhà sinh vật học tiến hóa Stu West từ Đại học Oxford, Vương quốc Anh, đã đặt ra 19 thuật ngữ mới – đều liên quan tới xã hội virus học (sociovirology)  – để cung cấp một nền tảng cho dòng nghiên cứu của họ. Hiệp hội Vi sinh học Hoa Kỳ sẽ tổ chức hội thảo đầu tiên dành riêng cho chủ đề này tại cuộc họp thường niên tại San Francisco. Trong xã hội virus học, có nhiều diễn biến tương đồng với sự chấp nhận từ từ các hành vi theo nhóm tương tự  như giữa các vi khuẩn trong những năm qua: tận cho đến khi các nhà nghiên cứu xác định các hóa chất liên quan đến cảm biến đại biểu và đặt tên cho quá trình này, hầu hết các nhà vi trùng học mới chú ý đến hiện tượng đó. Và cũng giống như trong bất kì xã hội nào, thông điệp đang lan rộng với tốc độ đáng kể. □  Hạnh Duyên dịch   Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01880-6    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định điểm cân bằng      Lập một công ty khởi nghiệp (start-up) về phần mềm tối ưu hóa kết cấu chịu lực, ký kết hợp đồng về sản phẩm và dịch vụ với những doanh nghiệp máy móc lớn của Mỹ nhưng TS. Lê Hoài Châu vẫn giữ được sự cân bằng giữa việc tìm tòi những điều mới mẻ thông qua các đề tài nghiên cứu cơ bản và thúc đẩy ứng dụng những kết quả nghiên cứu đó vào thực tế.      Khởi nghiệp từ nghiên cứu  Nghiên cứu về lĩnh vực cơ học tính toán, TS. Lê Hoài Châu đã có quãng thời gian ba năm làm việc với một số doanh nghiệp lớn của Mỹ sau khi hoàn tất chương trình nghiên cứu tại trường ĐH Illinois Urbana-Champaign. Từ một số kinh nghiệm làm việc tại môi trường chuyên nghiệp của ngành công nghiệp chế tạo máy cùng những mong mỏi được đưa những thuật toán tối ưu hóa mà mình đã nghiên cứu vào công đoạn thiết kế, chế tạo sản phẩm đã thúc đẩy TS. Châu nghĩ đến việc mở công ty riêng khi trở về Việt Nam.  Tuy đã mường tượng được những khó khăn gặp do phải tự lực cánh sinh, cáng đáng hết các công việc “không tên” khi mở công ty nhưng chỉ tới lúc lăn vào thực tế, TS. Châu mới thấm thía hết. “Ngoài việc là một start-up hoạt động trong một lĩnh vực còn rất mới ở Việt Nam và nguồn kinh phí đầu tư hoàn toàn từ vốn cá nhân, chúng tôi còn phải đương đầu với nhiều khó khăn, vừa phát triển sản phẩm mới vừa phải tìm cách mở rộng lượng khách hàng để có thu nhập”, TS. Châu chia sẻ. Một trong những khó khăn lớn mà công ty BM Research & Development đang gặp phải là hầu như không tìm được doanh nghiệp Việt Nam nào quan tâm đến ứng dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty bởi một số doanh nghiệp thì chuyên về lắp ráp và buôn bán máy móc, số tự thiết kế phát triển và thương mại hóa máy móc vẫn còn ít ỏi và thường có quy mô nhỏ nên không có đủ tiềm lực đầu tư cho R&D để nâng cao chất lượng sản phẩm.   Vì vậy, công ty của TS. Châu chủ yếu hướng ra thị trường quốc tế, đặc biệt là Mỹ do đã có kinh nghiệm làm việc tại Caterpillar Inc., một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về thiết kế, chế tạo máy. Nhưng việc thâm nhập thị trường lớn như Mỹ không hề đơn giản bởi sẽ phải cạnh tranh với hàng trăm, hàng ngàn công ty sẵn sàng cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tương tự. Vậy BM Research & Development, một công ty được thành lập ở Việt Nam mới có thâm niên hai năm, đã làm những gì để thuyết phục khách hàng tiềm năng? TS. Châu tiết lộ, “Chúng tôi có công nghệ mà các doanh nghiệp cần. Với những kiến thức và phần mềm của công ty, chúng tôi có thể thực hiện được những công việc mà công ty khác không làm được, hoặc có thể làm được nhưng không đạt được chất lượng cao như cách chúng tôi áp dụng”.           Khó khăn mà công ty BM Research &  Development đang gặp phải là tìm kiếm khách hàng trong nước. Hầu như  không tìm được doanh nghiệp Việt Nam nào quan tâm đến ứng dụng sản phẩm  và dịch vụ của công ty bởi một số doanh nghiệp chỉ chuyên về lắp ráp và  buôn bán máy móc, số tự thiết kế phát triển và thương mại hóa máy móc  vẫn còn ít ỏi và thường có quy mô nhỏ nên không có đủ tiềm lực đầu tư  cho R&D, do đó không có nhu cầu tìm hiểu thêm về công nghệ mới để  nâng cao chất lượng sản phẩm.        Đề cập đến sản phẩm mà công ty thực hiện, TS. Châu cho biết, đây hầu hết là những phần mềm chuyên dụng nhằm mô phỏng và tối ưu hóa thiết kế máy móc theo yêu cầu của khách hàng. Để thiết kế ra những chi tiết máy móc tốt, ngày nay các công ty thường sử dụng máy tính để mô phỏng và tính toán kỹ lưỡng tính năng cũng như độ bền của sản phẩm, thay vì phải chế tạo và thử nghiệm nhiều lần. Việc này không những tiết kiệm chi phí sản xuất mà còn rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Hơn thế nữa, khi đã có mô hình mô phỏng trên máy tính, người ta có thể lập trình cho máy tính tự động đánh giá hàng trăm, hàng ngàn các phương án thiết kế khác nhau và tìm ra những bản thiết kế tốt nhất. Đây là một lĩnh vực khá hiện đại, đòi hỏi sự kết hợp của tự động hóa, tính toán mô phỏng và các thuật toán tối ưu thông minh.   Gặp phải không ít khó khăn nhưng BM Research & Development cũng được hưởng một thuận lợi đáng kể là nhiều hãng công nghiệp Mỹ đã bắt đầu đặt cơ sở R&D tại châu Á, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Quốc, do trình độ công nghệ của châu Á có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Xu hướng dịch chuyển này cũng góp phần thúc đẩy quá trình thỏa thuận, thương thuyết hợp đồng của TS. Châu với các khách hàng Mỹ, trong đó có Caterpillar, diễn ra thuận lợi hơn.   Cân bằng giữa nghiên cứu và ứng dụng   Dù cần tập trung vào kinh doanh, chuyên thực hiện các hợp đồng về phát triển sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật với các công ty lớn của Mỹ nhưng TS. Lê Hoài Châu vẫn không quên dành thời gian cho nghiên cứu cơ bản, cụ thể là đề tài về thiết kế vi cấu trúc vật liệu.  Được khởi đầu từ một công bố vào năm 2006, tối ưu hóa kết cấu vi mô vật liệu cũng là một trong những xu hướng mới trong lĩnh vực cơ học tính toán.  Để thực hiện nghiên cứu, TS. Châu đã nhận kinh phí từ DARPA, cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ, để thực hiện dự án “Tối ưu hóa vi kết cấu vật liệu để điều tiết sóng năng lượng” (Material microstructure optimization for linear elastodynamic energy wave management) và công bố trên tạp chí Journal of the Mechanics and Physics of Solids. Thông qua việc điều chỉnh đường đi của sóng năng lượng bằng vi kết cấu vật liệu, người ta có thể tập trung hoặc làm tiêu tan sóng năng lượng, tạo tiền đề cho việc chế tạo những thiết bị bảo vệ con người cũng như khí tài quân sự tốt hơn.  Mối quan tâm với thiết kế kết cấu vi mô cho vật liệu tiếp tục được TS. Châu duy trì khi về nước. Mong muốn tìm thêm điều mới mẻ về lĩnh vực mình quan tâm đã thôi thúc anh nộp hồ sơ lên Quỹ Nafosted. Kết quả là vào tháng 3/2015 vừa qua, đề tài “Thiết kế siêu vật liệu cho đặc tính điều khiển và tàng hình sóng âm bằng tối ưu hóa topology và đồng nhất hóa ngược” đã được Nafosted phê duyệt với thời gian thực hiện trong vòng hai năm và yêu cầu hai bài báo ISI. Trong đề tài này, TS. Châu sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa vi kết cấu vật liệu để có thể tiến tới ứng dụng công nghệ in 3D sản phẩm.   Khi được hỏi vì sao đã chuyên tâm vào phát triển sản phẩm và thực hiện dịch vụ kỹ thuật cho các công ty lớn mà vẫn duy trì được sự say mê nghiên cứu cơ bản, TS. Châu giải thích: “Những điều mới mẻ thu được qua nghiên cứu cơ bản có thể chưa thể phát huy ngay tác dụng nhưng xét về lâu dài, nó lại có ý nghĩa gợi mở cho nhiều ứng dụng trong sản xuất và đời sống xã hội. Ví dụ qua việc thực hiện nghiên cứu, tôi được mở rộng tầm nhìn, có thêm ý tưởng sáng tạo như kết hợp việc thiết kế vi kết cấu vật liệu với công nghệ in 3D để tạo ra những đột phá trong thiết kế sản phẩm. Điều đó sẽ góp phần tạo nên ưu thế của công ty so với nhiều công ty đối thủ khác hoạt động trong cùng lĩnh vực. Hy vọng một lúc nào đó, nếu quy mô công ty mở rộng ra, có người khác thay tôi lo công việc kinh doanh, tôi muốn sẽ chỉ tập trung vào mảng công việc mình yêu thích nhất là R&D”.   Mối quan hệ giữa nghiên cứu và ứng dụng còn có tác động hai chiều, TS. Châu nhận xét. Thông qua việc thực hiện các hợp đồng với các hãng chế tạo máy móc lớn của thế giới, anh có điều kiện kiểm chứng được những kết quả nghiên cứu của mình, đồng thời trả lời được những câu hỏi thiết thực: thực tế đang cần gì, để làm tốt một sản phẩm nào đó cần đến những kỹ thuật gì, sử dụng những bài toán chuyên dụng nào và những vấn đề nào cần đi sâu nghiên cứu… Qua tiếp xúc với thực tế, anh có được những gợi ý về nhu cầu của xã hội với sản phẩm từ lĩnh vực nghiên cứu của mình và tìm hướng giải quyết những đề bài đó bằng nghiên cứu chuyên sâu.  Với kinh nghiệm đã trải qua, TS. Châu cho rằng, điều mà một start-up KH&CN cần không chỉ là những ưu đãi đơn thuần về vốn vay, miễn giảm thuế mà còn cần cả những khuyến khích tinh thần sáng tạo một cách kịp thời. Nếu các cơ quan quản lý nhà nước trân trọng và khuyến khích, tạo điều kiện cho những sản phẩm mới được quảng bá rộng khắp thì các start-up sẽ mạnh dạn hơn trong việc tìm ra cái mới cũng như gia tăng hàm lượng khoa học sản phẩm của mình hơn nữa.          “In 3D, một trong những xu hướng công nghệ  được chú ý nhiều nhất hiện nay, đã loại bỏ được những hạn chế trong cách  chế tạo truyền thống để làm ra các chi tiết máy móc, thành phần thiết  bị tinh xảo ở mức vi cấu trúc (micro structure). Kết hợp với công nghệ  in 3D, phần mềm thiết kế kết cấu tối ưu sẽ phát huy trọn vẹn khả năng  sáng tạo của mình trong việc tạo ra những thiết kế mang tính đột phá”. –  TS. Lê Hoài Châu              Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định đóng góp của KH&CN trong TFP      Những năm gần đây, TFP được các nhà quản lý coi là cơ sở định lượng đánh giá đóng góp của KH&amp;CN vào tăng trưởng GDP, nhưng trong TFP của Việt Nam có bao nhiêu phần trăm từ đóng góp của KH&amp;CN?       Vừa qua, Viện Năng suất Việt Nam tổ chức hội thảo Xác định đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, trong đó tập trung cho chủ đề TFP, nhưng đáng tiếc là vẫn chưa giúp giải đáp câu hỏi quan trọng này.  Trên thực tế, TFP gồm đóng góp của tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, ngoại trừ hai yếu tố về số lượng vốn và số lượng lao động. Mặc dù nhắc đến TFP người ta thường nhắc ngay tới yếu tố KH&CN, bởi tác động của công nghệ giúp cải thiện năng suất sản xuất là điều dễ hiểu, dễ minh hoạ. Nhưng vẫn còn những yếu tố quan trọng khác cũng phải kể đến trong TFP, như tăng cường chất lượng giáo dục có thể giúp tăng chất lượng lao động, cải thiện cơ cấu các ngành kinh tế giúp tăng hiệu quả đầu tư, cải cách hành chính và tăng chất lượng kết cấu hạ tầng giúp hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa thuận tiện hơn, v.v. Thậm chí, những yếu tố khó định lượng như quá trình cải thiện văn hóa doanh nghiệp, tính chuyên nghiệp, cần cù của người lao động, tinh thần đoàn kết của các tập thể, cộng đồng cũng có thể có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.  Trong nhiều trường hợp, việc mặc nhiên giả định rằng TFP chính là phần đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế và bỏ qua những đóng góp ngoài KH&CN kể trên sẽ dẫn tới những đánh giá, nhận định hoàn toàn sai lệch. Đơn cử như nếu nhìn vào Báo cáo năng suất Việt Nam 2014, chúng ta thấy rằng đóng góp trung bình của TFP vào tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2006-2010 là -5,8%, thậm chí có năm đóng góp TFP xuống tới  -18,8%. Sẽ là phi lý nếu cho rằng TFP của những năm này chính là đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng GDP, bởi như thế dẫn tới kết luận rằng KH&CN giai đoạn 2006-2010 không hề có đóng góp gì, thậm chí còn kéo lùi tăng trưởng kinh tế! Đây là ví dụ cho thấy, trong những giai đoạn và điều kiện nhất định, TFP không phản ánh đóng góp của KH&CN, mà chủ yếu là sự phản ánh ảnh hưởng của những yếu tố khác. Với giai đoạn 2006-2010 thì yếu tố đáng nhắc hơn cả trong TFP chính là cơ cấu kinh tế bất hợp lý – một nền kinh tế đầu tư thái quá cho những ngành thiếu hiệu quả như công nghiệp đóng tàu, hay các ngành mang tính đầu cơ như bất động sản.  Vậy trong điều kiện nào người ta có thể coi đóng góp của TFP là phần đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng GDP? Đó là khi các yếu tố phi KH&CN không có gì thay đổi, hoặc có thay đổi nhưng không ảnh hưởng đáng kể tới GDP. Muốn chứng minh điều này người ta sẽ phải thu thập đủ các số liệu và tiến hành các bước phân tích thống kê hồi quy cần thiết. Tuy nhiên, đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nơi các yếu tố về cải cách thể chế, tái cơ cấu các ngành kinh tế, hội nhập thương mại quốc tế, v.v. vẫn đang có nhiều biến thiên và tiếp tục gây tác động quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, thì rất khó tin rằng giả định nêu trên là hợp lý.     Do đó, khi xác định giá trị đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng GDP dựa trên chỉ số TFP, chúng ta sẽ không thể không tính đến phần đóng góp của các yếu tố phi KH&CN, mà phải tách được phần đóng góp của các yếu tố này ra khỏi TFP. Đây là thách thức không nhỏ cho công tác thống kê và phân tích. Đáng tiếc là cho đến nay, các báo cáo như Báo cáo Năng suất Việt Nam, hay các cuộc trao đổi công khai như tại hội thảo xác định đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa đưa ra được những phân tích như vậy.   Như vậy, để đánh giá đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế, chúng ta không thể dựa vào số liệu về phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP theo cách công bố như hiện nay tại Báo cáo Năng suất Việt Nam 2014. Những số liệu ấy không cho biết đóng góp của KH&CN là tương đương, hay cao hơn, hay thấp hơn đóng góp của TFP. Và nếu trong tương lai có lúc nào đóng góp của TFP vào tăng GDP trở thành giá trị âm như cách đây vài năm, nhưng công chúng lại mặc định rằng giá trị âm đó cũng chính là đóng góp của KH&CN, thì rõ ràng ngành KH&CN sẽ chịu tiếng oan không đáng có!      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác định được 120 gene ung thư mới      Một nhóm nghiên cứu quốc tế cho biết họ đã xác định thêm được khoảng 120 gene mới liên quan đến những biến đổi thúc đẩy ung thư phát triển.    Nhóm nghiên cứu gồm hơn 60 nhà khoa học do khoa học gia Michael Stratton thuộc Viện nghiên cứu Welcome Trust Sanger Institute ở Cambridge Anh đứng đầu. Với kết quả này, họ đã bổ sung thêm một số lượng lớn gene ung thư vào con số 350 gene liên quan đến ung thư đã được nhận dạng hiện nay.  “Điều này cho thấy có nhiều gene góp phần thúc đẩy ung thư hơn là chúng ta vẫn nghĩ”, tiến sĩ Andy Futreal, đồng đứng đầu Dự án nghiên cứu gene ung thư thuộc Viện Sanger nói.  Theo các nhà khoa học, tất cả các căn bệnh ung thư đều là kết quả của quá trình tích tụ những biến đổi ở một hay nhiều gene trong số 30.000 gene ở bộ gene người. Những biến đổi này khiến một tế bào tăng lên không thể kiểm soát để hình thành một khối u và khối u này sau đó có thể lây lan sang các phần khác trong cơ thể.  “Phát hiện thêm nhiều gene liên quan đến ung thư, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra thêm nhiều loại thuốc mới chống căn bệnh này”, Stratton nói, tờ Nature số ra ngày 8-3 trích dẫn.  T.VY (Theo Xinhua, Daily Mail)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xác ướp voi mamút con      Sau hàng nghìn năm vùi mình trong tầng băng vĩnh cửu ở tây bắc Siberia, con voi mamút bé nhỏ giờ đây được đưa lên mặt đất, và có thể là mẫu vật tốt nhất thuộc thể loại này.  Cái xác đóng băng đã được gửi tới Nhật Bản để nghiên cứu chi tiết.    Con voi cái 6 tháng tuổi này được tìm thấy trên bán đảo Yamal của Nga và được cho là chết cách đây 10.000 năm. Mắt và vòi của nó còn nguyên vẹn, cùng với một vài túm lông trên cơ thể.  Voi mamút là thành viên đã tuyệt chủng của họ nhà voi. Những con trưởng thành thường có ngà cong và phủ một lớp lông dài bên ngoài cơ thể.  Mẫu vật cao 130 cm, nặng 50 kg, được định tuổi ở cuối kỳ Băng hà cuối cùng, thời điểm mà các loài thú lớn đang biến mất khỏi trái đất.  “Về trạng thái bảo tồn, đây có thể là phát hiện giá trị nhất thế giới”, Alexei Tikhonov, phó giám đốc Viện Động vật học thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, nhận định.  Cho đến nay, người ta mới chỉ biết đến 3 mẫu vật khác của voi ma mút chưa trưởng thành.  Một vài nhà khoa học chan chứa hy vọng rằng việc tìm thấy tinh trùng hoặc các tế bào nguyên vẹn chứa ADN có khả năng di truyền sẽ giúp tái tạo lại loài voi mamút, thậm chí nhân bản chúng.  T. An (theo BBC)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh: Giải pháp hàng đầu nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHQG HN      Một giải ph&#225;p ph&#249; hợp cho sự ph&#225;t triển KH&amp;CN của ta trong giai đoạn tới l&#224; n&#234;n triển khai x&#226;y dựng c&#225;c nh&#243;m nghi&#234;n cứu mạnh để nu&#244;i dưỡng c&#225;c nh&#224; khoa học xuất sắc v&#224; triển khai nghi&#234;n cứu ph&#225;t triển c&#225;c c&#244;ng nghệ cốt l&#245;i. Sản phẩm khoa học trực tiếp của c&#225;c nh&#243;m nghi&#234;n cứu n&#224;y vẫn l&#224; c&#225;c b&#224;i b&#225;o khoa học, c&#225;c ph&#225;t minh s&#225;ng chế, c&#225;c sản phẩm chế thử ở tr&#236;nh độ quốc tế, nhưng trong đ&#243; đặc biệt sẽ c&#243; c&#225;c yếu tố n&#226;ng cao năng lực cạnh tranh về KH-CN của nước nh&#224;, tạo ra c&#225;c sản phẩm mới, chuyển giao tri thức v&#224; c&#244;ng nghệ, g&#243;p phần tăng trưởng GDP v&#224; ph&#225;t triển kinh tế. Đ&#226;y cũng l&#224; &#253; tưởng của c&#225;c chương tr&#236;nh &#8220;pioneer&#8221; m&#224; Bộ KH&amp;CN đang chuẩn bị triển khai.    Yếu tố hàng đầu để có thể hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và công nghệ nguồn (thế mạnh của các trường đại học), thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu đạt trình độ quốc tế, trước hết phải có mô hình tổ chức phù hợp, đầu tư trang thiết bị hiện đại, hợp lý và thực thi chính sách dân chủ, khuyến khích tài năng.   Việc triển khai các mô hình tích hợp đào tạo và nghiên cứu được tiến hành đồng thời với việc xây dựng các nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học đam mê nghiên cứu, có khả năng hợp tác, tránh các yếu tố tạo ra sự níu kéo. Đầu tư nâng cấp để đạt tính đồng bộ cho một số phòng thí nghiệm hiện có, đầu tư mới cho một số phòng thí nghiệm. Ngoài ra, cần có cơ chế tuyển chọn, giao nhiệm vụ khoa học công nghệ cho các nhà khoa học đầu đàn, đầu ngành đang tham gia nghiên cứu khoa học trực tiếp, có biện pháp thu hút các nhà khoa học nước ngoài và quản lí các hoạt động KH-CN theo sản phẩm đầu ra.  Trước yêu cầu phát triển mới của mình, từ năm 2003 ĐHQGHN đã chỉ đạo các đơn vị chú trọng việc xác định các hướng nghiên cứu mũi nhọn, trên cơ sở đó ưu tiên đầu tư để xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Đến nay đã có 29 nhóm nghiên cứu hoàn chỉnh đề án phát triển với định hướng, mục tiêu, lộ trình phát triển rõ ràng. Một số nhóm nghiên cứu khác đang trong quá trình hoàn chỉnh đề án phát triển. Trong số 29 nhóm nghiên cứu nói trên, nhiều nhóm nghiên cứu khác đã đạt được chuẩn 01 bài báo ISI/tiến sĩ/năm. Tiêu biểu như nhóm nghiên cứu khoa học vật liệu của Trung tâm Khoa học Vật liệu (Trường ĐHKHTN) trong vòng 10 năm, từ 1998 đến 2008 với một đội ngũ gồm 8 GS, PGS và 1 TS đã đào tạo được 4 tiến sĩ, 22 thạc sĩ đã công bố được 86 bài báo trên các tạp chí quốc tế, 42 bài tạp chí khoa học trong nước và một số sách tham khảo chuyên khảo. Tuyệt đại đa số các công trình nói trên đều là sản phẩm khoa học chung của cả cán bộ hướng dẫn và học viên cao học, nghiên cứu sinh. Đây có thể coi là một trong những ví dụ điển hình nhất của việc tích hợp giữa NCKH và đào tạo sau đại học.     Hợp tác đại học – viện nghiên cứu – công nghiệp  ĐHQGHN đã áp dụng và vận hành có hiệu quả mô hình “Khoa phối thuộc” và “Phòng thí nghiệm phối thuộc” với các viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp (Viện IMI) thuộc Bộ Công thương để phối hợp tổ chức đào tạo một số ngành/chuyên ngành khoa học – công nghệ mũi nhọn cử nhân ngành Vật lý kỹ thuật (định hướng công nghệ nano) và thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Vật liệu và linh kiện nano, kỹ sư Cơ kỹ thuật và cử nhân Công nghệ Cơ điện tử. Đã huy động được 44 nhà khoa học trình độ cao của các viện làm “giảng viên kiêm nhiệm”, phối hợp tổ chức đào tạo và đã có các sản phẩm đào tạo chung đã tốt nghiệp với hơn 100 thạc sĩ CNTT, 70 thạc sĩ Vật liệu và linh kiện nano; 120 cử nhân Vật lý kỹ thuật (định hướng công nghệ nano và công nghệ nano sinh học), 33 kỹ sư Cơ kỹ thuật; các chương trình đào tạo Công nghệ cơ điện tử, Công nghệ hàng không vũ trụ đã tuyển sinh được hai khóa.  Theo tôi, việc hình thành các tổ chức nghiên cứu mạnh, tích hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học và hợp tác đại học – viện nghiên cứu – công nghiệp là những giải pháp hàng đầu để thực hiện lộ trình đưa ĐHQGHN lên ngang tầm các đại học tiên tiến của khu vực, từng bước tiến tới trình độ quốc tế.   Trích tham luận tại Hội thảo: Định hướng và giải pháp phát triển KH&CN Việt Nam 2010-2020  ——–  *GS.TS Đại học Quốc gia Hà Nội    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng chỉ tiêu tối thiểu về số công bố quốc tế      Rất nhiều ý kiến trên diễn đàn của Tia Sáng đòi hỏi công trình nghiên cứu, đặc biệt là công trình của các nghiên cứu sinh trong nước phải được đăng trên các tạp chí quốc tế. Đó là điều vô lý với Một quốc gia chưa có trường đại học nào nằm trong Top 500 của thế giới, đầu tư cho nghiên cứu thấp như Việt Nam.    Chính vì vậy, chỉ nên yêu cầu bắt buộc chất lượng quốc tế đối với (i) các công trình nghiên cứu được đầu tư thoả đáng hoặc (ii) để bổ nhiệm các chức danh đặc biệt (trưởng khoa, phòng, bộ môn, phó giáo sư, giáo sư.v.v…) Còn với những nghiên cứu ngoài ngân sách nhà nước, hoặc với đầu tư thấp như đào tạo tiến sĩ trong nước hiện nay chỉ nên khuyến khích xuất bản quốc tế, chứ không thể ép buộc.    Để giải quyết các vấn đề trên tôi đề nghị:  1. Chương trình quốc gia về Nghiên cứu và Phát triển Khoa học cần đề ra các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn dựa trên tiêu chuẩn Chỉ số Quốc gia về ISI (Institute for Scientific Information).  2. Quản lý số công trình chất lượng quốc tế theo cơ quan và đề tài nghiên cứu chứ không theo cá nhân làm nghiên cứu. Ví dụ, hàng năm mỗi khoa/phòng ở các viện/trường/trung tâm nghiên cứu cần đăng ký số lượng xuất bản quốc tế theo kỳ hạn; ngắn hạn (trong vòng 1 năm) và trung hạn( 2-5 năm). Số đăng ký này có thể hiệu chỉnh theo từng năm để phù hợp với tình hình thực tế. Nhà nước dựa trên cơ sở đó để phân bổ ngân sách. Ngay cả trong trường hợp ngân sách không đủ, các cơ sở nghiên cứu lớn vẫn cần tự trang trải để thực hiện những yêu cầu tối thiểu về số công trình chất lượng quốc tế do Bộ chủ quản quy định. Ngược lại, các Bộ chủ quản cần nhanh chóng xây dựng những chỉ tiêu tối thiểu về số xuất bản quốc tế này. Chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu bằng ngân sách cũng cần cam kết chất lượng của sản phẩm nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế.  3. Đầu tư xây mới hoặc chỉ định một số khoa/phòng trở thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm. Ở các khoa/phòng này, có thể yêu cầu chất lượng quốc tế đối với hầu hết các công trình nghiên cứu.  4. Nghiên cứu sinh trong nước hợp tác nghiên cứu với các trường/viện nước ngoài hoặc đăng ký tốt nghiệp với xuất bản quốc tế, cần được ưu tiên xét hỗ trợ một phần kinh phí.  5. Xây dựng tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo khoa, trường/viện/trung tâm, phó giáo sư, giáo sư…dựa trên số xuất bản quốc tế. Khuyến khích tuyển dụng những người có công trình chất lượng quốc tế vào các viện/trường/trung tâm nghiên cứu.  6. Loại bỏ yêu cầu học vị tiến sĩ ở các vị trí lãnh đạo không cần những hiểu biết sâu về chuyên môn.  7. Thư viện quốc gia và thư viện của các viện khoa học cần đăng ký tài khoản với các tạp chí trực tuyến chuyên ngành quan trọng trên thế giới với sự tham vấn của các chuyên gia từng ngành.  8. Thành lập Phòng Giám Định Chất lượng Các Công Trình Nghiên Cứu và Cục Xúc Tiến Nghiên cứu, Đổi mới & Phát Triển Khoa học Công Nghệ. Đây là một mô hình phòng đăng ký thuộc Cục Sở Hữu Công Nghiệp, Bộ KHCN (hoặc Bộ GD&ĐT) nhằm giúp các nhà nghiên cứu khẳng định “thương hiệu quốc tế” của mình ngay tại Việt Nam, đồng thời giúp nhà nước dễ dàng quản lý. Trên cơ sở đó có thể rút ra một Ngân hàng dữ liệu các nhà nghiên cứu có công trình quốc tế. Điều này sẽ góp phần tách bạch các nhà nghiên cứu thực với các nhà nghiên cứu trên danh nghĩa. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng các tiến sĩ Việt Nam tốt nghiệp  ở các trường đại học uy tín ở nước ngoài cũng sẽ vui vẻ đăng ký chứng nhận chất lượng các công trình của mình, một khi họ muốn trở về làm việc tại Việt Nam.  * Theo ước tính của Bộ Giáo Dục& Đào tạo, đến năm 2020, Việt Nam cần đào tạo mới hai vạn tiến sĩ, (đa phần được đào tạo trong nước), để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nền kinh tế. Nếu áp đặt một tiêu chuẩn gay gắt về chất lượng thì sẽ không thể đáp ứng đủ số lượng. Bởi lẽ (i) hai vạn là một con số rất lớn. (Từ 1954 đến nay, cả nước ta mới có khoảng một vạn tiến sĩ) (ii) số người đăng ký học tiến sĩ sẽ giảm đi rất nhiều. (iii) cần số tiền đầu tư cực lớn để có số lượng bài báo quốc tế tương ứng.  * Trên thực tế, ở Mỹ, mỗi ngành khoa học có khoảng 500 trường có đào tạo hệ Tiến sĩ, nhưng chỉ khoảng 200 trong số đó yêu cầu luận văn nghiên cứu đạt chất lượng tầm cỡ quốc tế. Ngay trong số 200 trường đầu tiên này, không phải các tiến sĩ ra trường đều có bài đăng tạp chí quốc tế. Điển hình như ngành kinh tế. Hầu hết công trình của nghiên cứu sinh tốt nghiệp từ 200 trường hàng đầu mới chỉ là tài liệu lưu hành trên Internet và đạt tiêu chuẩn cấp trường. Tuy nhiên, dù chưa được các xuất bản uy tín chấp nhận, các công trình cấp trường này cũng rất hữu ích, đóng góp không nhỏ vào các công trình sâu sắc và quy mô hơn của những người kế tiếp. (Đây chỉ là những kinh nghiệm về ngành kinh tế mà tôi biết. Việc xuất bản ở một số ngành khác có thể dễ dàng hơn).  Nguyễn Đa Linh- Nghiên cứu sinh Kinh tế, USA      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng hồ sơ PSSA – Giải pháp mới bảo vệ chủ quyền lãnh hải      Việt Nam đã ký kết tham gia và thực thi nhiều điều ước, công ước quốc tế về môi trường biển như Công ước Luật biển Liên hợp quốc 1982, Công ước đa dạng sinh học, Các công ước của tổ chức Hàng hải quốc tế – (IMO). Tuy nhiên, chúng ta chưa tận dụng được lợi thế nhiều từ các công ước trên. Hiện nay, một số quốc gia đang xem các quy định về Vùng biển nhạy cảm đặc biệt (Particularly Sensitive Sea Areas – PSSA) – tổng hợp của nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển – như giải pháp mới về bảo vệ chủ quyền quốc gia dựa vào khoa học công nghệ về xây dựng khu bảo tồn biển. Đây cũng có thể là một gợi ý cho chúng ta – quốc gia thành viên của IMO.    PSSA do IMO công nhận là vùng biển có giá trị cao về môi trường sinh thái, kinh tế – xã hội, khoa học và giáo dục, chủ yếu là các vùng đã là các khu bảo tồn biển hay khu đa dạng san hô. Hiện tại, đến năm 2011 trên thế giới đã có 13 vùng PSSA tại hầu hết các vùng biển trên thế giới và đã phát huy tác dụng bảo vệ đồng thời tài nguyên và chủ quyền lãnh thổ cho một số vùng đảo, quần đảo như Malpelo (Colombia), Canary (Tây Ban Nha), Galapos (Ecuador), Hawaii (Mỹ).  Khi được ghi danh công nhận là vùng PSSA thì vùng biển đó được Tổ chức thủy đạc quốc tế IHO vẽ ranh giới cụ thể vùng PSSA trên bản đồ Hàng hải thế giới, và IMO công bố cho các quốc gia thành viên về việc hạn chế hay nghiêm cấm hàng hải bắt buộc đối với tầu thuyền qua vùng biển PSSA.  Đảo Malpelo (Colombia) – Một ví dụ của PSSA  Phân tích lợi ích về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên-môi trường biển của các vùng PSSA đã được công nhận, các tài nguyên thiên nhiên được phát triển hơn rất nhiều, nhiều vùng đã trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới sau đó.  Một ví dụ cụ thể về lợi ích PSSA là đảo Malpelo của quốc gia Mỹ Latinh Colombia nằm ở vị trí (3°58’00″N, 81°37’00″W), thuộc phía Đông của Thái Bình Dương, cách bờ biển hơn 500 km. Diện tích vùng biển là 857,5 ha, bao gồm diện tích đảo 0,35 ha và biển là 857,15 ha. Địa hình dao động từ độ sâu 1000 m dưới biển đến độ cao của đảo là 376 m. Malpelo là một đảo cô lập với những vách đá bazan, cằn cỗi, gồ ghề, khắc nghiệt không có điều kiện để cho nhân dân sinh sống, thảm thực vật thưa thớt của nó tùy thuộc vào phân chim và xói mòn hạn chế. Loài thực vật rất ít và nhỏ như dương xỉ, cây họ đậu và cỏ, rêu, địa y và tảo mà cũng phổ biến rộng rãi dưới nước, tài nguyên biển của nó là rất phong phú.  Nhiệt độ nước biển thường giữa 26oC và 28oC, với độ mặn 33-34 ppt và thủy triều dao động từ 0,6 m và 5 m. Hệ thống dòng chảy của vùng biển nhiệt đới phía Đông Thái Bình Dương tạo thành một hành lang sinh thái cho cuộc sống cá, hải sản, một môi trường sống quan trọng đối với các hệ động thực vật và quá trình phân tán các ấu trùng sống ở các rạn san hô, cá và động vật thân mềm xung quanh khu vực. Vùng này có 17 loài thú biển, 7 loài bò sát, 61 loài chim, 394 loài cá, 340 loài động vật thân mềm. Hòn đảo này cung cấp thực phẩm cho các loài thú biển và rùa, và nơi tập tụ của con cá lớn và cá mập biển khơi nhất là vào mùa đông.  Ở tại khu vực đảo không có cảng, mưa là nguồn nước duy nhất. Tại đảo Malpelo không có người dân nào sinh sống, mà chỉ có sáu binh sĩ quân đội quốc gia Colombia, luân chuyển định kỳ sáu tháng, cộng thêm vài người từ tàu hải quân thi thoảng tuần tra.   Trước năm 2002, Malpelo là khu bảo vệ thực vật và động vật cấp quốc gia, ngư dân Colombia và các nước kế cận thường xuyên đi vào vùng biển bất hợp pháp để đánh bắt, tận thu hải sản gây ra sự hỗn độn và tranh giành nhau, ảnh hưởng đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên biển và cả an ninh quốc phòng tại đây. Chính vì vậy Colombia đã nộp hồ sơ trình lên IMO với biện pháp vùng cấm tất cả tầu thuyền các nước qua lại (ATBA) và đã được chấp thuận.  Sau năm 2002, khi được IMO công nhận là PSSA thì tất cả các tầu thuyền đều không được ra vào, trừ tầu có cấp phép và tầu du lịch nhỏ. An ninh quốc phòng và tài nguyên biển được đảm bảo tại vùng biển Malpelo. Các hệ sinh thái biển đã được phục hồi nhanh và năm 2006 vùng này đã trở thành di sản thiên nhiên biển thế giới của UNESCO. Tầu thuyền nhỏ du lịch được qua lại đây với du lịch lặn biển và câu cá thể thao, một số tầu đánh bắt cá vào đây đánh bắt cá theo cấp phép vào một số thời gian nhất định trong năm. Các tổ chức bảo tồn thiên thế giới, Mỹ, Colombia có hỗ trợ kinh phí quản lý bảo tồn và di sản. Vùng Malpelo đã trở thành kỳ quan thiên nhiên biển thế giới.  Việc bảo vệ an ninh chủ quyền khu biển đảo Malpelo từ sau khi được công nhận là PSSA, và sau đó là di sản UNESCO đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.  Gợi ý cho Việt Nam  Vùng biển Malpelo có thể là kinh nghiệm quý để Việt Nam và các nước khác tham khảo trong quá trình làm hồ sơ PSSA cho các vùng biển được bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học cấp quốc gia.                Trường Sa        Vùng biển Việt Nam là vùng biển có tính đa dạng sinh học đặc biệt của thế giới và tuân thủ Công ước đa dạng sinh học và Hướng dẫn Jakarta về đa dạng vùng ven bờ và biển chúng ta phải xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển (CMPA) phục vụ phát triển bền vũng. Tại các vùng biển Việt Nam có 7 khu trong 16 khu bảo tồn biển đã được Chính Phủ ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 là các hải đảo tiền tiêu của Tổ Quốc, và cũng là các đảo thuộc đường cơ sở – biên giới tuân thủ Công ước Luật biển 82 như Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Nam Yết. Tất cả những vùng này đều đủ tiêu chí của IMO để có thể trở thành PSSA.  Với phương tiện, kỹ thuật quân sự hạn chế, tình hình biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, Việt Nam có thể xem xét trong thời gian sớm nhất xây dựng hồ sơ PSSA Trường Sa trình IMO. Nếu được công nhận chúng ta dễ dàng kiểm soát, bảo vệ tài nguyên biển và đồng thời bảo vệ, khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, đảo.   —  Tài liệu tham khảo:  1. IMO, 2007.  2. PSSA- công cụ quản lý môi trường biển. Tạp chí Hàng hải, 12/2010.  3. Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020.  4. Nguyễn Huy Yết, Đặng Ngọc Thanh. Bảo tồn đa dạng sinh học biển Việt Nam. Nhà XB KHTN và CN, Hà Nội.          Author                Dư Văn Toán        
__label__tiasang Xây dựng kính thiên văn lớn để nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ      Nhật Bản đang dẫn đầu trong việc xây dựng một kính viễn vọng tia vũ trụ loại lớn nhằm làm sáng tỏ nguồn gốc của vũ trụ.  &#160;    Ngày 18/3 vừa qua, Viện Nghiên cứu Tia vũ trụ (Institute for Cosmic Ray Research) thuộc Đại học Tokyo đã công bố kế hoạch nghiên cứu xây dựng một kính thiên văn lớn với đường kính mặt gương 23 m. Mặt gương kính viễn vọng được lắp ghép bởi hơn 200 tấm gương hình lục giác, có khả năng quan trắc chuẩn xác được cả các tia gamma chiếu tới trái đất. Kính viễn vọng này sẽ được đặt tại La Palma trên quần đảo Canary ở Tây Bắc châu Phi, nơi mới đây đã đặt một số kính thiên văn cỡ lớn. Công trình sẽ bắt đầu thi công từ tháng Chín năm nay; nếu mọi việc triển khai thuận lợi thì đến tháng 11/2016 có thể hoàn thành.  Viện Nghiên cứu Tia vũ trụ thuộc Đại học Tokyo là một trong số 200 cơ quan/viện thuộc 29 quốc gia hình thành nên dự án Cherenkov Telescope Array nhằm mục tiêu từng bước xây dựng hai mạng lưới kính viễn vọng tia vũ trụ đặt tại hai bán cầu trái đất, tạo điều kiện sử dụng các thiết bị tia vũ trụ thế hệ mới để quan sát toàn bộ bầu trời. Hệ thống thiết bị Cherenkov Telescope Array sẽ vận hành toàn bộ vào khoảng năm 2020. Các nhà khoa học cho rằng dựa vào các số liệu do hệ thống kính thiên văn này quan trắc được, loài người có thể giải đáp những bí ẩn về tia vũ trụ và hố đen, cũng có thể quan trắc được trạng thái ban đầu khi vũ trụ mới sinh ra.  Tia vũ trụ là các hạt năng lượng cao có nguồn gốc tại không gian vũ trụ sâu thẳm và di chuyển đến trái đất chúng ta với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Những nghiên cứu mới đây cho thấy các siêu tân tinh là một nguồn phát ra tia vũ trụ, nhưng không phải là nguồn duy nhất, và giới khoa học đang cố gắng khám phá các nguồn khác.   Viện Nghiên cứu Tia vũ trụ thuộc Đại học Tokyo mô tả các tia vũ trụ là những “sứ giả” được phái đến trái đất để mang tới cho loài người thông điệp truyền từ vùng bên rìa của vũ trụ. Qua việc phân tích tia vũ trụ, các nhà khoa học hy vọng sẽ hiểu biết hơn về quá trình tiến hóa của vũ trụ.  Một nhà nghiên cứu của Đại học Tokyo cho biết, việc khám phá tia vũ trụ và hố đen đòi hỏi nhiều thời gian, đồng thời bày tỏ hy vọng có thể sử dụng các bộ kính viễn vọng khổng lồ nói trên để chứng minh các lý thuyết liên quan và cuối cùng giải đáp các bí ẩn đó.  NH tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng lò phản ứng nghiên cứu mới: Cần tầm nhìn xa      Trong bối cảnh Quốc hội đã có nghị quyết dừng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt sẽ dừng hoạt động trong 10 năm nữa, ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam có cần một lò phản ứng nghiên cứu mới? Đó là một câu hỏi được đặt ra tại hội thảo “Trung tâm KH&CN hạt nhân: Các khía cạnh kinh tế – xã hội và khoa học – kỹ thuật” do Bộ KH&CN phối hợp với Tập đoàn Năng lượng nguyên tử Nga (ROSATOM) tổ chức ngày 10/2.      Lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt.   Việc xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia (CNEST), một tổ hợp nghiên cứu liên ngành hiện đại với tâm điểm là lò phản ứng nghiên cứu đa năng (multipurpose research reactor) có công suất khoảng 15 MW đã được Bộ KH&CN và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) chuẩn bị trong những năm gần đây nhằm góp phần đáp ứng một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình phát triển điện hạt nhân của đất nước, như xây dựng năng lực thiết kế, tiếp thu công nghệ lò phản ứng, thiết bị nhà máy điện hạt nhân, công nghệ chế tạo nhiên liệu hạt nhân, xử lý chất thải phóng xạ; nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc vận hành các nhà máy điện hạt nhân, trong đó có đào tạo nhân lực và tích lũy kinh nghiệm.  Tuy nhiên, sau khi Quốc hội thông qua nghị quyết dừng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận vào cuối tháng 11/2016, vấn đề xây dựng CNEST và lò nghiên cứu mới đã được nhiều nhà quản lý và khoa học của Viện NLNTVN bàn thảo dưới nhiều góc độ như hiệu quả khoa học, khả năng tác động đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, xã hội… nhằm trả lời câu hỏi: có cần thiết xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu mới; và phải chăng nên dành nguồn lực đầu tư cho thiết bị nghiên cứu hiện đại khác? Vấn đề này thậm chí còn thổi bùng nhiều cuộc tranh luận thẳng thắn giữa những nhà quản lý và nghiên cứu của ngành. Tại một trong những cuộc thảo luận như vậy, giáo sư Phạm Duy Hiển, người có công lớn trong việc xây dựng “thương hiệu Đà Lạt” cho ngành NLNTVN, đã lên tiếng: “Một trong những điều kiện để chúng ta đưa tầm nghiên cứu và ứng dụng lên cao hơn nữa là lò phản ứng mới công suất khoảng 10 đến 15 MW… Đối với ngành NLNTVN, đó là sự sống còn”.  Nhìn ra thế giới, “hơn 60 năm qua, các lò phản ứng nghiên cứu đã trở thành những trung tâm đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu suất [nghiên cứu] của KH&CN hạt nhân” như lời giới thiệu của Tổng thư ký Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Yukiya Amano trong tài liệu “Research reactor: Purpose and Future” (Lò phản ứng nghiên cứu: Mục đích và tương lai) xuất bản nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập IAEA. Theo thống kê của IAEA, trên thế giới có 774 lò nghiên cứu đã được xây dựng, 243 lò trong số đó đang hoạt động tại 55 quốc gia1. “Nhiều quốc gia trên thế giới dù chưa phát triển chương trình điện hạt nhân vẫn có lò phản ứng nghiên cứu, đơn cử như Indonesia, ngoài ba lò nghiên cứu sẵn có, đang xúc tiến xây dựng một lò mới làm mát bằng khí”, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện NLNTVN cho biết.  Định hướng nghiên cứu của lò phản ứng mới  Với kinh nghiệm của người đã từng đóng vai trò quan trọng trong quá trình khôi phục lò phản ứng Đà Lạt từ những năm 1980, tại phiên họp Hội đồng KH&CN Viện NLNTVN vào cuối năm 2016, giáo sư Phạm Duy Hiển đã đưa ra một lời khuyên hết sức thiết thực, “chúng ta cần bàn với nhau là sẽ làm cái gì trong 20 năm sau, 30 năm, thậm chí 50 năm sau, vì đầu tư cho một cái lò [phản ứng] là đầu tư [vào những việc] như vậy, còn nếu chúng ta chỉ nhìn vào trước mắt, tính xem làm ra được cái này, cái khác thì không thể đi xa được”. Câu nói của giáo sư Hiển gói gọn những trăn trở của ngành NLNTVN, của cả số ít những người ban đầu còn băn khoăn về sự cần thiết của lò phản ứng nghiên cứu mới.  Theo TS. Trần Chí Thành, do không còn trực tiếp phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân nên một số định hướng nghiên cứu của dự án CNEST được xây dựng năm 2014 phải thay đổi theo hướng “CNEST với lò phản ứng nghiên cứu mới và các trang thiết bị hiện đại đi kèm sẽ tạo điều kiện thực hiện các dự án, đề tài ở tầm cao hơn, đồng đều ở phía Bắc và Nam. Ở phía Bắc, dự kiến thành lập Trung tâm nghiên cứu đánh giá về vật liệu (chủ yếu về thép và hợp kim) và Trung tâm tính toán mô phỏng (hay có thể gọi là Trung tâm nghiên cứu rủi ro) – hai trung tâm vô cùng quan trọng và cần thiết cho ngành hạt nhân và các ngành công nghiệp khác như điện, dầu khí, hóa chất. Ở phía Nam, với lò phản ứng tập trung nghiên cứu khoa học vật liệu chiếu xạ, phân tích kích hoạt neutron, chụp ảnh neutron, nhiễu xạ, pha tạp silicon phóng xạ, vật lý lò phản ứng, sản xuất đồng vị phóng xạ phục vụ y tế và công nghiệp”. Theo gợi ý của ông Mikhail Kalugin, Phó trưởng ban tổ hợp công nghệ hạt nhân Viện nghiên cứu Kurchatov, nếu xây dựng một viện như vậy thì Việt Nam có thể tham khảo định hướng nghiên cứu của Viện Kurchatov.      Theo TS. Trần Chí Thành, CNEST phải trở thành một trung tâm khoa học liên ngành, nơi thực hiện các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; từ vật lý hạt nhân – vật lý lò đến khoa học vật liệu và thử nghiệm; sinh học; sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ, chiếu xạ silic; điện tử hạt nhân; an toàn phóng xạ và cả an toàn hạt nhân; nhiên liệu, hóa học; xử lý chất thải phóng xạ; đào tạo nhân lực NLNT…        Ngành NLNTVN sẽ còn tập trung nghiên cứu các ứng dụng của lò phản ứng mới. Theo giới thiệu của hai chuyên gia công ty Rusatom overseas (ROSATOM)- ông Dmitri Vysotsky, giám đốc phụ trách các hướng lò nghiên cứu và ông Ruslan Kuatbetov, trưởng phòng phát triển sản phẩm lò nghiên cứu, trung tâm sẽ có nhiều tác động về kinh tế – xã hội thông qua việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ hạt nhân trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp. Ví dụ, về sản xuất đồng vị phóng xạ, chất được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh ung thư, hằng năm, CNEST có thể điều trị cho khoảng 10.000 bệnh nhân ung thư, tim mạch thông qua việc xạ trị bằng tia gamma, bức xạ neutron. Đồng vị phóng xạ cung cấp cho các bệnh viện có máy chụp PET/SPECT để mỗi năm mỗi bệnh viện có thể giúp chẩn đoán 15.000 bệnh nhân ung thư, tim mạch, phổi, nội tiết, thần kinh. Đây cũng chỉ là một trong rất nhiều ứng dụng từ lò nghiên cứu mới. Và cũng giống như quan điểm của giáo sư Phạm Duy Hiển, ông Vysotsky cho rằng, “ngay ở thời điểm này, chúng ta chưa thể thấy hết những giá trị mà một lò phản ứng nghiên cứu có thể mang lại”.  Những điều kiện đảm bảo thành công       TS. Trần Chí Thành xếp các yếu tố như quyết tâm của lãnh đạo đất nước, tài chính và quyết định về địa điểm xây dựng lò nghiên cứu mới vào nhóm những thách thức sự thành bại của dự án CNEST. Ông tiết lộ, kinh phí đầu tư sẽ giảm bớt khá nhiều so với dự án được xây dựng trước đây bởi theo tính toán hiện nay, việc loại bỏ một số yếu tố trong dự án đã làm giảm kinh phí từ khoảng 500 triệu USD xuống còn dưới 400 triệu USD và “Nga không đòi hỏi vốn đối ứng nhiều của Việt Nam”. Con số này sẽ còn phụ thuộc vào quá trình đàm phán về công nghệ, thiết kế… giữa hai bên, sau khi đã hoàn tất các thủ tục cần thiết, ông Vysotsky giải thích.  Ngay tại hội thảo ngày 10/2, nhiều thành viên và chuyên gia trong Hội đồng liên ngành thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án CNEST cũng đặt câu hỏi với đại diện ROSATOM về việc liệu có biện pháp nào giúp giảm bớt khoản kinh phí từ một đến hai triệu USD dành cho nhiên liệu vận hành lò phản ứng mỗi năm? Ông Vysotsky cho biết, “khi xây dựng dự án, chúng tôi đã tính đến phương án bù đắp chi phí như triển khai các ứng dụng có giá trị thương mại và thực tế. Nếu làm tốt những ứng dụng này, có thể trang trải ít nhất 60% kinh phí vận hành”. Ông Sergey Musaelyan, giám đốc phụ trách các lò nghiên cứu cỡ nhỏ và trung bình AES Group (ROSATOM), nói thêm, để đảm bảo cho Việt Nam có thể tận dụng tối đa thông lượng neutron ở kênh dẫn mà vẫn tiết kiệm nhiên liệu, ROSATOM đã đề xuất thiết kế vùng hoạt gồm năm kênh ngang và 20 buồng nóng (hot cells)2.  Trả lời Tia Sáng bên lề hội thảo, PGS. TS Nguyễn Nhị Điền hé lộ, “nếu phát huy được hết các tính năng của lò phản ứng mới trong việc sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ và các dịch vụ khác, vẫn có thể tự chủ được kinh phí nhiên liệu”. Đây là một ước tính có cơ sở, bởi theo báo cáo tổng kết của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt năm 2016, doanh thu từ hoạt động triển khai kỹ thuật và dịch vụ đạt 29 tỷ đồng, dù lò Đà Lạt công suất nhỏ 500kW, phổ ứng dụng hẹp và trung bình hằng năm chỉ vận hành khoảng 1.300 giờ, riêng về sản xuất đồng vị phóng xạ mới đáp ứng được 30% nhu cầu trong nước3.  Tuy nhiên, để góp phần đảm bảo thành công cho CNEST, các nhà tư vấn ROSATOM cũng lưu ý, Việt Nam cần bảo đảm được địa điểm xây dựng tối ưu, sự đồng thuận của chính quyền địa phương, sự ủng hộ của người dân sở tại. Sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima vào năm 2011, nhiều người dân Việt Nam vẫn còn sợ hãi về một rủi ro tương tự có thể xảy ra và nghi ngờ vào khả năng an toàn của một lò phản ứng.   ——–  1https://www.iaea.org/OurWork/ST/NE/NEFW/Technical-Areas/RRS/documents/RR_Purpose_and_Future_BODY.pdf  2 Hot-cells: phòng có hoạt độ phóng xạ cao.  3 http://vinatom.gov.vn/tin-tuc-su-kien/tin-tong-hop/hoi-nghi-tong-ket-nghien-cuu-hat-nhan.aspx       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Xây dựng Luật Năng lượng nguyên tử      Sau khi chính thức báo cáo Chính phủ tháng 7/2007, dự thảo Luật Năng lượng Nguyên tử đã được Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện để trình trước kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khoá XII.    Các cường quốc hạt nhân như Nga (Liên Xô trước đây), Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, do chính sách hạt nhân được khởi đầu xây dựng trên tiền đề phát triển tiềm lực quốc gia, trong đó yếu tố quân sự quốc phòng chiếm tỉ trọng lớn nên chương trình hạt nhân được đẩy trước lên một bước so với hệ thống luật pháp về hạt nhân. Song các nước này cũng đều sớm tiến tới việc hoàn thiện hệ thống luật pháp của mình. Đi sau đó là một nhóm các quốc gia đã xây dựng chương trình hạt nhân với mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học công nghệ và đáp ứng nhu cầu năng lượng. Những nước này trong đó có Nhật Bản, Đức, Thụy Điển, Hàn Quốc, Ấn Độ, Brazil…ở những mức độ tuy có khác nhau nhưng nói chung là ngay từ đầu, trước khi các nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được đưa vào vận hành đã xây dựng và ban hành những bộ luật hạt nhân của mình. Có thể nêu ví dụ của Nhật Bản, bộ Luật hạt nhân cơ bản được ban hành năm 1950 trong khi đó nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được đưa vào vận hành năm 1970. Trong khu vực Đông Nam Á, tuy mức độ phát triển còn thấp, Thái Lan đã ban hành Luật Năng lượng Nguyên tử từ năm 1956, Indonesia cũng đã sớm có hệ thống luật hạt nhân và gần đây đã thành lập cơ quan thẩm quyền trực thuộc Tổng thống về quản lý các hoạt động hạt nhân. Ngoài ra hàng loạt Hiệp ước, Công ước quốc tế trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân đã được cộng đồng quốc tế cùng nhau soạn thảo và đi tới ký kết, tham gia như Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân…  IAEA đã xây dựng một hệ thống tài liệu đồ sộ chú trọng hướng dẫn về mặt an toàn cho các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (NLNT) và bảo vệ vật liệu hạt nhân. Cùng với các bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn, quy tắc thì Sách hướng dẫn xây dựng luật hạt nhân và Luật mẫu của IAEA được coi là một cẩm nang pháp lý đưa ra những hướng dẫn chính xác, tương đối toàn diện và đầy đủ về các vấn đề cần phải quy định trong luật NLNT của mỗi quốc gia.  Ở Việt Nam, kỹ thuật hạt nhân đã được ứng dụng từ khá sớm và đã thâm nhập vào rất nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Tuy nhiên, có thể nói hệ thống luật pháp về hạt nhân của ta đã chưa theo kịp thực tế. Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1/1997 là công cụ pháp lý khởi đầu nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, song Pháp lệnh đã không đề cập tới những nội dung cần thiết cho một cơ sở luật pháp của chương trình phát triển năng lượng hạt nhân, cụ thể là việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân.  Do vậy, năm 2002, Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết về Chư¬ơng trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, trong đó có Dự án Luật Hạt nhân. “Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020” cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành tháng 1/2006.  Dưới chỉ đạo của Ban Chỉ đạo xây dựng Luật NLNT và lãnh đạo Bộ KH&CN, Ban soạn thảo đã nghiên cứu các điều ước quốc tế về NLNT cũng như một số mô hình luật của các nước khác nhau để xây dựng Dự thảo Luật Năng lượng Nguyên tử. Nhiều Hội thảo đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia cho dự thảo Luật tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Đà Lạt đã được tổ chức. Ngoài ra còn có một số hội thảo chuyên đề tại Việt Nam với sự tham gia chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và  chuyên gia tư vấn luật của IAEA.  Tháng 7 vừa qua, Bộ KH&CN đã chính thức báo cáo Chính phủ về dự thảo Luật năng lượng nguyên tử. Sau khi được tiếp tục hoàn thiện, Dự thảo Luật Năng lượng Nguyên tử được trình để tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khoá XII, tháng 11.  ——  *Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam      Nguyễn Việt Hùng*       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng một tạp chí KHXH&NV trong nước đạt chuẩn quốc tế      Xu hướng quốc tế hóa trong KHXH&NV đã được thảo luận nhiều năm, chủ yếu bàn ở “chiều xuất” – phương thức thúc đẩy công bố ở các tạp chí quốc tế, mà chưa bàn tới “chiều nhập” – xây dựng tạp chí KHXH&NV trong nước đạt chuẩn quốc tế nhằm thu hút giới học thuật quốc tế.      Các cơ sở nghiên cứu KHXH&NV đều đang nỗ lực theo đuổi các chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu. Ảnh: Một hội thảo bàn về nâng cao chất lượng công bố của trường ĐH KHXH&NV và Nafosted tổ chức vào năm 2016. Ảnh: Bảo Như.   Đối với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, việc xây dựng được một tạp chí trong nước đạt chuẩn quốc tế, được lọt vào cơ sở dữ liệu của khu vực hoặc quốc tế như ISI, Scopus không còn là điều quá hiếm hoi. Vừa qua, tạp chí Khoa học vật liệu và thiết bị tiên tiến của Đại học Quốc gia lọt vào cả hai danh mục ISI và Scopus, hoặc tạp chí của Đại học Đà Lạt cũng lọt vào cơ sở Asian Citation Index của khu vực.  “Đối với các ngành KHXH&NV, việc có một tạp chí quốc tế hóa là rất cần thiết, bởi trong bối cảnh hội nhập, ta không thể nào ‘nói riêng với mình’ được. Nhưng câu hỏi là khi nào trong KHXH có một tạp chí vào danh mục Scopus?” GS.TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng trường Đại học KHXH&NV Hà Nội trăn trở và cho rằng các nhà khoa học, nhà quản lý phải nghiêm túc đánh giá kinh nghiệm quốc tế, tiềm lực, khả năng xây dựng một tạp chí như vậy.  Không thể viết theo cách “cho riêng mình đọc”  Trước tiên, chúng ta trở lại câu chuyện từ … 30 năm trước của Tạp chí KHXH Việt Nam (Vietnam Social Science Review) của Ủy ban KHXH Việt Nam (tiền thân của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ngày nay), hay còn được gọi là “tạp chí ba thứ tiếng”. Cái tên “ba thứ tiếng” này xuất phát từ việc tạp chí được xuất bản bằng cả ba thứ tiếng Anh, Pháp và Nga, đồng thời thể hiện một mục tiêu rất lớn, là sẽ phủ sóng được các nghiên cứu của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nói riêng và của giới KHXH Việt Nam nói chung tới các khu vực sử dụng ba ngôn ngữ này.  “Khi xây dựng tạp chí, Liên Xô có hứa rằng sẽ tài trợ để tạp chí tham gia hội nhập quốc tế. Nhưng sau khi xuất bản được vài số thì nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện (sáng lập và chủ biên Tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và là Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn – nay là Nhà xuất bản Thế giới – PV ) nói rằng ‘viết cho Tây đọc, mà viết như tạp chí ấy, thì Tây không đọc được đâu’ ”, PGS.TS Mai Quỳnh Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, nhớ lại.  Trong khi đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện viết các công trình nghiên cứu được đánh giá là kinh điển về Việt Nam học thì được giới học giả quốc tế đón đọc và trích dẫn rất nhiều. “Những chủ đề ông Nguyễn Khắc Viện viết giống như chủ đề của tạp chí ba thứ tiếng xuất bản thôi, nhưng ông Viện viết cách khác, đúng chuẩn mực quốc tế, không trích dẫn nghị quyết, thì được Tây đọc. Còn tạp chí đó đến nay chỉ còn xuất bản bằng tiếng Anh, và nói thật là trong giới học giả quốc tế, và các giáo sư ở đây cũng không mấy ai còn nhớ đến nó nữa.” PGS Mai Quỳnh Nam nói.  Tức là, bên cạnh việc đầu tư nguồn lực tài chính, tổ chức nhân sự, biên dịch bằng ngôn ngữ quốc tế, thì cần viết sao cho ‘lọt tai’ học giả nước ngoài – đúng thông lệ quốc tế thì chúng ta chưa làm được.  Bốn tiêu chí phổ biến để xây dựng tạp chí quốc tế  Tuy nhiên, ngay cả khi các bài viết theo đúng chuẩn mực quốc tế, thì còn hàng loạt các vấn đề khác liên quan đến tổ chức tờ tạp chí cũng cần theo thông lệ quốc tế. Cho đến tận thời điểm hiện nay, “thì có lẽ phải thẳng thắn là còn … rất lâu nữa chúng ta mới có được tạp chí đạt chuẩn quốc tế. Tôi hiểu được rằng chúng ta đang rất cố gắng, nỗ lực, nhưng nếu nhìn vào [cách thức tổ chức] các tạp chí của chúng ta hiện nay thì chúng ta sẽ không bao giờ đạt được danh mục này” GS.TS Phạm Quang Minh thẳng thắn nhận xét.  Ông phân tích khả năng đó dựa trên bốn tiêu chí phổ biến để xây dựng một tạp chí quốc tế: thứ nhất, nếu tạp chí quốc tế yêu cầu tối thiểu 30% hội đồng biên tập là học giả quốc tế, thì toàn bộ ban biên tập của hầu hết các tạp chí đều là người Việt Nam (gần đây đã có sự điều chỉnh thêm một vài học giả nước ngoài nhưng thực chất chỉ là “đánh bóng” cho tạp chí mà chưa thực sự tham gia vào toàn bộ quy trình xuất bản của tạp chí); thứ hai là phải có học giả uy tín người nước ngoài viết nhưng các tạp chí chưa thu hút được; thứ ba là tạp chí phải ra đúng kỳ hạn; thứ tư là phải có sự phản biện thật sự nghiêm túc theo quy trình, thông lệ phản biện quốc tế. Nhìn trên cả bốn tiêu chí này, thì hiện nay chưa có một tạp chí KHXH&NV trong nước nào có thể đảm bảo.  GS Phạm Quang Minh cũng phân tích trường hợp Tạp chí VNU Journal of Social Sciences and Humanities của trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, mặc dù mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2015, nhưng vẫn đặt kỳ vọng trở thành diễn đàn trao đổi học thuật dành cho các nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế và có mục tiêu trở thành tạp chí quốc tế đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực KHXH&NV vào năm 2025.  Để đạt được mục tiêu này, tạp chí đã xây dựng theo đúng bốn tiêu chí trên, có quy trình biên tập theo tiêu chuẩn quốc tế – với hai vòng bình duyệt khắt khe và tỉ lệ bị từ chối lên tới 60%, đồng thời có một hội đồng biên tập gồm các nhà khoa học trong nước có uy tín quốc tế và 5 học giả lớn từ quốc tế như David Marr, Carlyle Thayer (Australia), Oscar Salemink (Na Uy), Peter Zinoman (Mỹ)… Nhưng trên thực tế, những tên tuổi này cũng mới chỉ là “góp mặt đặt tên” chứ chưa đóng góp được nhiều, các bài viết còn chưa đạt được tỉ lệ trích dẫn cao bởi các nhà khoa học quốc tế, việc tạo ảnh hưởng quốc tế còn rất gian nan.      “Khi nghiên cứu và xuất bản các vấn đề như chính trị học, thể chế, tôn giáo, quyền con người, hay kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… thì chúng ta có phân tích các vấn đề đó đúng theo dòng học thuật quốc tế, để quốc tế quan tâm thực sự không? Khi còn có độ vênh ở chỗ này, thì kỳ vọng của chúng ta cũng vẫn còn xa vời”, PGS. TS Mai Quỳnh Nam      Nên đầu tư vào đâu?  Về mặt nội dung nghiên cứu, các nhà khoa học hoàn toàn tự tin vào khả năng thu hút các học giả quốc tế, bởi vì từ nhiều năm nay, Việt Nam học vẫn là mảnh đất hấp dẫn giới học thuật quốc tế. Ví dụ, những hội thảo lớn về Việt Nam học luôn có mặt các nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới, và các tạp chí quốc tế uy tín vẫn công bố rất nhiều nghiên cứu về Việt Nam.  GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học cho biết, các bài viết về Việt Nam học trên các tạp chí quốc tế có thể đạt được tỉ lệ trích dẫn rất cao – cho thấy mức độ quan tâm với tình hình ở Việt Nam. Đồng quan điểm, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết: “mỗi lần tổ chức hội thảo Việt Nam học, chúng ta đã thu hút được khoảng 200 nhà khoa học quốc tế tham gia, trong đó có khoảng hơn 100 bài nghiên cứu rất xuất sắc”.  Như vậy, thậm chí, không cần nói đâu xa, khi bắt đầu xây dựng tạp chí quốc tế về KHXH&NV của Việt Nam, chỉ cần lấy những bài xuất sắc từ hội thảo Việt Nam học của các học giả quốc tế đăng cũng đã rất thu hút sự quan tâm của quốc tế.  Trên thực tế, không chỉ có các nhà nghiên cứu trong khối ngành KHXH&NV thấy cần thiết phải xây dựng tạp chí đạt chuẩn quốc tế, mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng đã ủng hộ ý định này, theo GS Phan Huy Lê. Ông cho biết, sau 3 kỳ hội thảo Việt Nam học, nhận thấy sự quan tâm rất lớn của các học giả quốc tế tới việc nghiên cứu Việt Nam học cũng như nhu cầu thảo luận của các học giả quốc tế với học giả Việt Nam, ông đã làm tờ trình lên Thủ tướng về việc xây dựng tờ tạp chí KHXH&NV đạt chuẩn quốc tế và đã được phê duyệt.  Tuy nhiên, mặc dù thống nhất được rằng cần phải có một lộ trình xây dựng tạp chí KHXH đạt chuẩn quốc tế, cần có sự đầu tư dài hạn cho một tờ tạp chí có tiềm năng nhất, nhưng các nhà khoa học vẫn chưa thảo luận “ngã ngũ” về việc cần đầu tư vào tạp chí nào hay cần thiết phải xây dựng một tạp chí hoàn toàn mới. “Trước hết, việc này cần phải gắn với trách nhiệm của hai cơ quan luân phiên chủ trì các hội thảo quốc tế về Việt Nam học: Đại học Quốc gia và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Chúng ta từng quyết tâm nhiều và nói nhiều rồi, nhưng cần bắt tay vào làm ngay”, GS Phan Huy Lê nói.  Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đề xuất Quỹ Nafosted, Bộ KH&CN nên có chủ trương hỗ trợ các cơ quan trên trong việc xây dựng một tạp chí mạnh, đạt chuẩn quốc tế trong KHXH&NV. Ông Đỗ Tiến Dũng, giám đốc Quỹ Nafosted cho biết, Quỹ cũng có một khoản hỗ trợ xây dựng các tạp chí trong nước, tất nhiên khoản này không thể đủ để hỗ trợ hoàn toàn cho một tạp chí mới, nhưng có thể hỗ trợ phần nào cho các tạp chí có “tiềm năng”, dưới dạng các chi phí hỗ trợ mời phản biện quốc tế, in ấn, đi hội thảo nước ngoài.  Đồng thời, ông Dũng cũng tin rằng, từ kinh nghiệm của các ngành khoa học tự nhiên là chính các nhà khoa học đã có công bố quốc tế mạnh quay trở lại xây dựng tạp chí trong nước đạt chuẩn quốc tế, thì rất có thể ngành KHXH&NV cũng làm được điều này, sau khi đã có những nhà khoa học công bố trên nhiều tạp chí uy tín.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/xay-dung-mot-tap-chi-khxhnv-trong-nuoc-dat-chuan-quoc-te/20180504100816802p1c160.htm    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Xây dựng năng lực Khoa học Mở      Điều kiện tiên quyết chính để triển khai khoa học mở và Khuyến nghị Khoa học Mở của UNESCO1 thành công khắp trên thế giới là đầu tư vào việc xây dựng năng lực và nguồn nhân lực.    Lịch trình của NLV XDNL KHM của UNESCO. Ảnh: UNESCO  Như các bài viết trước, chúng ta biết rằng, để thực hiện Khuyến nghị Khoa học Mở, UNESCO đã tiến hành năm nhóm làm việc chuyên môn bao gồm: Nhóm làm việc về chính sách và công cụ chính sách về khoa học mở, Nhóm làm việc về Tài trợ và Cơ chế khuyến khích Khoa học mở, Nhóm làm việc về Hạ tầng Khoa học mở và Nhóm làm việc về Xây dựng Năng lực Khoa học mở. Năm nhóm làm việc tượng trưng cho năm thách thức cơ bản trong việc triển khai khoa học mở trên thế giới. Trong đó, có thể nói, Nhóm làm việc về Xây dựng năng lực hóa giải những khó khăn đầu tiên, từ đó mở đường để giải quyết những thách thức khác, đó là thay đổi văn hóa làm khoa học truyền thống để giới học thuật có thể đón nhận những ý tưởng mới từ khoa học mở.  Hoạt động cụ thể của nhóm là xác lập danh mục các khóa học và tài liệu đào tạo sẵn có và xây dựng các khóa học và tài liệu mới, cho các đối tượng khác nhau về Khoa học mở.  Mục tiêu cụ thể của nhóm là đảm bảo tất cả các cá nhân, tổ chức làm khoa học có đủ năng lực hiểu, thiết kế, triển khai, giám sát và theo dõi thực hành khoa học mở sao cho phù hợp với khuyến nghị của UNESCO. Nhóm làm việc Xây dựng Năng lực vừa mới tổ chức hai cuộc họp nhóm vào tháng Năm và tháng chín vừa qua với những bước đi đầu tiên.  Bức tranh khoa học mở trên thế giới  Cuộc họp đầu tiên vào tháng Năm có sự tham gia của gần 100 người hoạt động trong lĩnh vực khoa học mở từ khắp nơi trên thế giới. Qua sự chia sẻ của các diễn giả2, những người tham dự có thể hình dung một bức tranh tương đối tổng quan về hoạt động phát triển năng lực khoa học mở đang diễn ra sôi nổi trên toàn thế giới tại châu Âu, Mỹ La tinh, châu Á- Thái Bình Dương.  Ở châu Âu, trước khi Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO ra đời, Viện Nghiên cứu và Giáo dục Mở phân tán Toàn cầu (IGDORE) đã đứng ra tổ chức các khóa học về các kĩ năng và công cụ khoa học mở và vận động các nhà khoa học tham gia. Các khóa học này đều được tổ chức dưới dạng MOOC (khóa học trực tuyến mở đại chúng). Liên minh châu Âu cũng tài trợ cho một tổ chức là FOSTER, kết nối 11 trường đại học, trải rộng trên sáu quốc gia để tổ chức sự kiện, thiết kế học liệu, mở các khóa học, xây dựng mạng lưới giảng viên nhằm đào tạo về khoa học mở. FOSTER hỗ trợ một loạt các đối tượng, từ cá nhân tới tổ chức, trường đại học, viện nghiên cứu nhưng chủ yếu vẫn là các nhà nghiên cứu trẻ trong việc tiếp nhận và thực thi các quy tắc của khoa học mở. Khác với IGDORE, các sự kiện đào tạo của FOSTER bao gồm cả học trực tuyến, học kết hợp cả trực tuyến và phi trực tuyến, huấn luyện cá nhân, tư vấn, hội thảo – tọa đàm (seminar). Nhưng đáng ngạc nhiên nhất phải kể đến những nỗ lực thúc đẩy năng lực khoa học mở đến từ châu Mỹ La tinh và châu Phi. Mặc dù ở thời điểm diễn ra cuộc họp, các tổ chức đến từ hai châu lục này chưa tổ chức các chương trình xây dựng năng lực khoa học mở một cách đại trà, nhưng họ đã đưa ra kế hoạch hết sức bài bản để thực hiện được mục tiêu đó. Theo như đại diện của La Referencia – Mạng các kho Khoa học mở Mỹ La tinh, họ đã khảo sát nhu cầu về kĩ năng khoa học mở của giới học thuật ở khu vực này và tiến tới việc xây dựng một kho học liệu trực tuyến về vấn đề này. Còn ở châu Phi, phong trào khoa học mở đang diễn ra sôi động trên khắp các khía cạnh: từ tri thức mở, tri thức bản địa mở, hạ tầng nguồn mở cho đến truy cập mở. Trong đó, truy cập mở của họ không chỉ bao gồm truy cập mở hướng tới các bài báo và dữ liệu công bố mà còn có cả bình duyệt mở. Từ trước đến nay, bình duyệt thường được thực hiện đóng, từ danh tính của người bình duyệt đến nhận xét của họ đều không công khai, nhưng với bình duyệt mở, những thông tin này, đến một thời điểm nhất định, sẽ được công bố tới công chúng. Tuy nhiên, những tổ chức về khoa học mở ở châu Phi đang tản mát và riêng lẻ, Tổ chức Truy cập tới Triển vọng và Kho lưu trữ châu Phi đang muốn kết nối, thống nhất các nguồn lực để tổ chức các khóa học và tài liệu đào tạo về khoa học mở. Khu vực châu Á- Thái Bình Dương không có nhiều thông tin, tuy nhiên, ta cũng biết rằng khoảng gần 20% viện nghiên cứu, trường đại học đã và đang tổ chức các hoạt động đào tạo về khoa học mở. Tuy nhiên, chủ yếu là đào tạo về dữ liệu mở, truy cập mở chứ chưa chú ý nhiều đến đánh giá khoa học mở và các dự án mở (cho phép nhiều biên tham gia cùng thực hiện).  Không khó để nhìn thấy rằng, các hoạt động này hiện hướng đến các nhà nghiên cứu là chủ yếu. Lý do là, “gánh nặng” thực hành hoa học mở dường như đang đặt trên vai các thư viện và lãnh đạo trường đại học là chủ yếu. Sẽ là vô nghĩa nếu bản thân các nhà khoa học không tham gia, ít hứng thú hoặc coi nhẹ với phong trào này. Một diễn giả trong buổi báo cáo cho rằng, nhiều khi, các nhà khoa học cảm thấy, “khoa học mở” chỉ là một nhiệm vụ được giao thay vì là phận sự của họ. Thay đổi tư duy và cam kết của nhà khoa học là một trong những điểm thiết yếu để xoay chuyển văn hóa khoa học truyền thống.  Công cụ để nâng cao năng lực khoa học mở  Trong cuộc họp thứ hai, Nhóm làm việc xây dựng năng lực khoa học mở đã đưa ra hai tài liệu quan trọng gồm: Bộ công cụ khoa học mở của UNESCO3 và Bảng chỉ mục các nguồn tài nguyên xây dựng năng lực khoa học mở4.  Hướng dẫn – Bộ công cụ khoa học mở của UNESCO  Xây dựng năng lực khoa học mở gồm hai nội dung chính: (1) nhận thức và hiểu biết về khoa học mở; và (2) bộ kĩ năng, hiểu biết về nguyên lý và nguồn lực cần thiết cho khoa học mở.  Biểu đồ về kĩ năng khoa học mở. Ảnh: Libre  Việc thực hiện các nội dung trên phải dựa trên chín nguyên tắc: (1) nhận biết các tư liệu hiện có; (2) khả năng tùy chỉnh và sử dụng lại; (3) tính linh hoạt; (4) sự tham gia của các đối tượng đích; (5) tính bền vững; (6) tính toàn diện; (7) đa ngôn ngữ và bản địa hóa; (8) khả năng truy cập; (9) giám sát và đánh giá.  Trong số chín nguyên tắc nêu trên, khả năng truy cập, một mặt không chỉ gắn liền với các tài liệu đào tạo về khoa học mở, mà còn với định nghĩa kiến thức khoa học mở và các thành phần của nó5; mặt khác, hầu như toàn bộ nội dung của nguyên tắc này là chưa tồn tại trong cộng đồng khoa học ở Việt Nam; và nó được mô tả và giải nghĩa chi tiết hơn so với các nguyên tắc còn lại. Khả năng truy cập này bao gồm:  Truy cập mở: Các tư liệu đào tạo về khoa học mở đương nhiên phải là các tư liệu mở. Các tư liệu này tuân thủ khuyến nghị về Tài nguyên giáo dục mở của UNESCO6, tức là phải thuộc về phạm vi công cộng (public domain) hoặc được phát hành dưới giấy phép mở, cho phép ai cũng được truy cập miễn phí, tái sử dụng, thay đổi mục đích, điều chỉnh và phát hành.  Các tài liệu được truy cập mở chỉ là bước đầu tiên, để chúng thực sự hữu ích và có ý nghĩa, chúng phải đáp ứng được nguyên tắc FAIR: Tìm thấy được, Truy cập được, Tương hợp được, Sử dụng lại được (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable). Theo đó, tài liệu cần đi kèm mô tả, mã nhận diện cho phép người dùng dễ dàng tìm kiếm trên máy tính. Tài liệu cũng phải dễ truy cập. Điều đó không chỉ thu hẹp trong việc cấp loại giấy phép mở nào mà còn hiểu rộng ra là làm sao để tài liệu đó tiện dụng nhất với đa dạng đối tượng nhất có thể. Định dạng của tài liệu cũng phải đảm bảo tính tương hợp, có nghĩa là có thể đọc được ở bất kì phần mềm nào. Tài liệu cũng cần có hướng dẫn rõ ràng để người học, người đào tạo có thể sử dụng lại, có quy trình và khung thời gian minh bạch về việc đóng góp và cập nhật nội dung tài liệu.  Cấp phép mở: Nghĩa là giấy phép vừa tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người nắm bản quyền của tài liệu nhưng vẫn cho phép cộng đồng truy cập, sử dụng lại, tái sử dụng, điều chỉnh, phân phối tài liệu đó.  Lưu trữ. Cần phải cân nhắc làm sao để các tài liệu đào tạo năng lực khoa học mở được lưu trữ và truy cập lâu dài và tính toán chi phí dành cho kho lưu trữ.  Sự đa dạng các phương pháp và cách tiếp cận học tập. Lý tưởng là người phát triển các tư liệu và hoạt động đào tạo phải cân nhắc khả năng tiếp cận của chúng tới đa dạng người sử dụng trong đa dạng ngữ cảnh. Bởi vậy, nên tổ chức nhiều phương pháp và công cụ đào tạo, bao gồm cả vật lý và số, cả trực tiếp lẫn trực tuyến.  Bảng chỉ mục các nguồn tài nguyên để xây dựng năng lực khoa học mở  Hiện nay đang có khoảng hơn 100 tài nguyên đào tạo về khoa học mở. Hơn 40% tài nguyên này được trình bày dưới dạng các khóa học online, giáo trình chuyên sâu, các module học về khoa học mở và hơn 30% dưới dạng các sổ tay hướng dẫn và sách giáo khoa. Nội dung chủ yếu của các tài liệu này là về truy cập mở tới các tri thức khoa học. Các tài nguyên này chủ yếu bằng tiếng Anh, dành cho các nhà nghiên cứu và các sinh viên thuộc ngành STEM. Không có gì ngạc nhiên khi hơn 90% các tài liệu này do các tổ chức ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ xây dựng và phát triển.  Nhóm làm việc của UNESCO cũng nhận thấy rằng cần phải đa dạng hóa nguồn tài liệu. Nói cách khác, các nước đến từ châu Á, Mỹ La tinh, châu Phi cũng cần đóng góp những tài liệu về khoa học mở để phù hợp với bối cảnh của mình. Hơn nữa, các tài liệu hiện nay cũng đang “bỏ rơi” một số đối tượng như các nhà hoạch định chính sách, các nhà cấp vốn nghiên cứu, các nhà xuất bản,…Và, cũng còn nhiều nội dung về khoa học mở khác mà các tài liệu chưa chạm tới, ví dụ như nâng cao năng lực trong việc theo dõi giám sát thực hành khoa học mở, phần cứng khoa học mở, hạ tầng khoa học mở, tài trợ cho khoa học mở…  Trong cuộc thảo luận về bảng chỉ mục này, có một số ý kiến rất đáng chú ý và giới khoa học Việt Nam có thể học hỏi và thực hành ngay. Chẳng hạn, nếu một tổ chức muốn nâng cao năng lực về khoa học mở, họ có thể bắt đầu từ đâu giữa “biển” hàng trăm nguồn tài liệu như vậy? Hiệp hội Thư viện châu Âu đã xây dựng một biểu đồ rất dễ hiểu về các kĩ năng khoa học mở. Những tổ chức, cá nhân muốn nâng cao năng lực của mình về lĩnh vực này có thể nhìn vào biểu đồ này và xác định mình cần bắt đầu tập trung, ưu tiên vào kĩ năng nào. Hay một ý kiến khác nói rằng, tuy đã có nhiều học liệu về truy cập mở, nhưng còn tài liệu liên quan đến tạp chí săn mồi – một vấn đề nhức nhối trong giới truy cập mở? Tuy chưa có học liệu chính thức nhưng đã có nguồn tham khảo để các tổ chức có thể tự xây dựng tài liệu đánh giá cho mình. Đó là báo cáo của tổ chức IAP (InterAcademy Partnership – Liên hiệp của 140 tổ chức học thuật toàn cầu) về việc đấu tranh với các tạp chí săn mồi. Trong đó, họ đưa ra các tiêu chí “mềm” để đánh giá các tạp chí khoa học liệu có “đáng ngờ” hay không. Gọi là các tiêu chí “mềm” bởi nếu là tiêu chí “cứng” sẽ không tránh khỏi những thiên kiến và nhận định cực đoan (chẳng hạn như mặc định tạp chí nào xuất phát từ Ấn Độ sẽ đều là tạp chí săn mồi).  ***  Mặc dù tài liệu và những ý kiến trong hai buổi họp của Nhóm làm việc về Xây dựng năng lực khoa học mở chưa được UNESCO phát hành chính thức, chúng là tài nguyên rất hữu ích cho bất kỳ bên liên quan nào ở Việt Nam có quan tâm tới việc xây dựng năng lực khoa học mở ngay từ bây giờ, giúp chúng ta có thể có khả năng bám theo với hy vọng bắt kịp với xu thế Khoa học Mở không thể đảo ngược của thế giới ngày nay.□  Các chú giải  1 UNESCO, 2019: Recommendation on Open Educational Resources (OER): https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0, tr. 6.  2 UNESCO, 12/05/2022: Existing initiatives, opportunities and gaps for Open Science capacity building: https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2022/05/Existing%20initiatives%2C%20opportunities%20and%20gaps%20for%20Open%20Science%20capacity%20building.pdf  3 UNESCO, 2022: UNESCO Open Science Toolkit – Guidance:  https://www.dropbox.com/s/h2k76mc6snkwed1/Draft-Open%20Science%20CB%20guide.pdf?dl=0. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/qflcm81mixefxjb/UNESCO%20OPEN%20SCIENCE%20TOOLKIT%20GUIDANCE_Draft_Vi-17102022.pdf?dl=0  4 UNESCO, 26/09/2022: Index of open science capacity building and training modules: https://www.dropbox.com/s/r5hkpvmlekdvaek/OS%20Capacity%20Building%20resource%20index_19Sept.pdf?dl=0  5 Trang Giáo dục Mở – Tài nguyên Giáo dục Mở: Định nghĩa Kiến thức Khoa học Mở: https://giaoducmo.avnuc.vn/khoa-hoc-mo/dinh-nghia-kien-thuc-khoa-hoc-mo-640.html  6 UNESCO, 2019: Recommendation on Open Educational Resources (OER): https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000373755/PDF/373755eng.pdf.multi.page=3. Bản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0, tr. 6.  7 UNESCO, 12/05/2022: First meeting of the UNESCO Working Group on Open Science Capacity Building: https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2022/05/Objectives%20of%20the%20Working%20Group%20on%20Open%20Science%20Capacity%20Building.pdf, p. 17  Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Xây dựng nền văn hóa thống nhất thời đầu Đại Việt      Cho đến trước thế kỷ 10, vùng đồng bằng Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay là nơi tụ họp của các dòng di dân khác nhau. Khi nhà nước Đại Việt được dựng lên và bước vào giai đoạn ổn định, triều đình Lý – Trần thi hành nhiều chính sách góp phần tạo nên “một nền văn hóa Đại Việt” thống nhất. Trong quá trình đó, những yếu tố văn hóa “dị biệt” được chọn lọc và loại bỏ dựa theo mối quan tâm riêng của triều đình.        Trước thế kỷ 10, vùng đồng bằng Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay là nơi tụ họp của các dòng di dân khác nhau. Trong ảnh: Tượng cừu đá ở chùa Dâu, được cho là có niên đại khoảng 2000 năm, gắn liền với huyền sử  về một vị sư người Ấn Độ sang tu hành truyền bá đạo Phật, là chứng tích của dòng di chuyển của các cư dân phía Nam lên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử VN.    Về khái niệm “Việt”     Ở thời điểm hiện tại, nhìn ở góc độ quốc gia, mỗi công dân sống trên lãnh thổ Việt Nam đều luôn coi mình là “người Việt”. Xét hẹp hơn ở góc nhìn lịch sử tộc người, “người Việt” thường được hiểu là nhóm người Kinh, bên cạnh hơn 50 cộng đồng dân tộc thiểu số khác. Trong những nghiên cứu lịch sử thời kỳ nửa đầu thế kỷ 20 về nguồn gốc hình thành dân tộc Việt Nam, Lạc Việt hay được dùng để chỉ một khối cộng đồng dân cư sống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ từ khởi nguyên của lịch sử và là chủ nhân của nước Đại Việt từ thế kỷ 10.1 Tuy nhiên, như chúng tôi đã lược khảo trong kỳ trước, trong giai đoạn Bắc Thuộc, các cộng đồng di dân từ phương Bắc và phương Nam đã liên tục đến lưu trú tại khu vực Đại Việt, hòa cùng với nhóm người bản địa. Thêm vào đó, ở góc độ lịch sử khái niệm, đến khoảng đời Hán, “Việt” không phải để chỉ một tộc người, hay một nền văn hóa bản địa cụ thể nào, thay vào đó, đây là một khái niệm mở nhằm chỉ khu vực phía Nam sông Dương Tử. 2 Một trong những cứ liệu đầu tiên đề cập đến khái niệm “Việt” là trong sách Xuân Thu, để chỉ nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc.3 Câu chuyện của Việt Vương Câu Tiễn gắn liền với sự biến động chính trị của Trung Quốc, nên hầu hết sách vở ghi chép giai đoạn Tiên Tần Lưỡng Hán đều nhắc đến sự kiện nước Việt và đều khẳng định, nước Việt là nước xa xôi ở phía Nam, có phong tục và văn hóa khác với nhà Chu.4 Trong mắt người Trung Nguyên, người sống ở đất Việt “tóc ngắn, xăm mình, mặc quần áo bằng vỏ cây, và sống thành từng nhóm”. 5 Sau khi Việt Vương mất nước, vùng đất này bị nhập vào đất của đế quốc Tần Hán. Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế mở rộng cương vực sâu xuống phía Nam, vùng cũ của nước Việt đã bị sáp nhập vào đất nhà Hán và mở rộng xuống tận Trung Bộ Việt Nam ngày nay.    Sử ký của Tư Mã Thiên gọi chung nhóm nằm ở vùng biên phía Nam của người Hán ở vùng Hoa Nam trở xuống là Bách Việt. 6 Theo sách này, sau khi nước Việt bị đánh bại, con cháu nước Việt phân tán ra các vùng xung quanh. Một số nhà nước ra đời trên nền đất cũ của nước Việt cổ thường dùng tên của sông Âu [thuộc tỉnh Chiết Giang] để đặt tên nước như Tây Âu, hay Đông Âu. Ở khu vực đã vượt ra khỏi biên giới nước Việt cổ, các nước này được coi là hậu duệ của Câu Tiễn, như nước Đông Việt và Mân Việt. 7 Thông qua không gian và huyết thống, Sử ký đã ghi dấu một diễn ngôn: Bách Việt là hậu duệ của nước Việt cổ. Về sau, diễn ngôn này trở nên phổ biến trong các truyền thuyết lập quốc hay nguồn gốc tộc người của các nhóm cư dân sống trên khu vực này. Nhìn chung, cho đến khoảng thời Hán, Việt vốn là một “tha xưng” – tên nhóm bên ngoài dùng để gọi nhóm cư dân bản địa, và dần dần biến thành “tự xưng” – nhóm bên trong tự gọi chính mình.      Tượng vũ công thời Lý trên bệ đá chùa Hoa Long, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc Thanh Hóa. Ảnh: Trần Quang Đức.    Ở khu vực Bắc Bộ Việt Nam, trong giai đoạn Bắc Thuộc, tên “Việt” được sử dụng nhiều trong quốc hiệu hay vương hiệu. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy, các nhóm có tiếp xúc nhiều với nền cai trị của người phương Bắc có xu hướng dùng tên Việt để đặt tên, như Lý Bí từng giữ chức Giám quân của nhà Lương ở vùng Hà Tĩnh, tự xưng làm “Nam Việt Vương”; Triệu Quang Phục tự xưng làm “Triệu Việt Vương”; Đinh Bộ Lĩnh chọn đặt quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, còn phong cho con trai Đinh Liễn là “Nam Việt Vương”. Trong khi đó, tên Việt lại ít được tiếp nhận từ những thủ lĩnh có ít mối liên hệ với chính quyền phương Bắc, như Mai Thúc Loan tự xưng mình là Mai Hắc Đế, Lý Thiên Bảo nổi dậy ở vùng đất Dạ Năng thuộc Lào ngày nay, không thuộc vùng đất Việt thì tự xưng là Đào Lang Vương. Mở rộng ra các vùng khác ở Lĩnh Nam, như Nùng Trí Cao người Tày hoàn toàn không dùng đến yếu tố Việt, mà chỉ tiếp nhận yếu tố tộc người – hay phương hướng Nam – Bắc để đặt tên nước như Đại Lý Quốc năm 1042, Nam Thiên Quốc năm 1048, Đại Nam Quốc năm 1052.8 Năm 1054, nhà Lý đánh thắng Nùng Trí Cao liền đặt đổi tên nước là Đại Việt. Ở một mức độ nào đó, Đại Việt được coi là “tiếm loạn”. Theo góc nhìn truyền thống của thiên triều Trung Quốc, “đại” thường là danh xưng để các nước chư hầu tôn nước của thiên tử, còn việc tự xưng là “Đại Việt” của nhà Lý thể hiện tư tưởng tự coi mình là trung tâm của cả vùng đất Việt, thay vì chỉ là phiên dậu của Trung Nguyên.9      Dưới góc nhìn của người hiện đại, từ thế kỷ 15, mặc dù Đại Việt có hướng mở rộng xuống phía Nam và hòa cùng “văn hóa Đông Nam Á”, nhưng những đặc điểm thiết chế nhà nước và văn hóa lại được xét chung trong “văn hóa Đông Á”.      Năm 1272,  Lê Văn Hưu, khi biên soạn chính sử đầu tiên đã lựa chọn nước Nam Việt của Triệu Đà trở thành điểm mở đầu quốc thống của Đại Việt. Bằng cách này, Lê Văn Hưu đã nối không gian của Đại Việt trong không gian của vùng Nam Việt. Nam Việt vốn chỉ giới hạn với không gian địa lý tương đương với khu vực nằm dưới sự quản lý của Triệu Đà. Sau khi Hán Vũ Đế thôn tính Nam Việt và mở rộng lãnh thổ xuống tận vùng Nhật Nam ở trung phần Việt Nam ngày nay, không gian ứng với vùng Nam Việt cũng được mở rộng theo đó.10 Đến đời Đường thì về cơ bản khái niệm Nam Việt đã hoàn toàn dùng để chỉ một không gian địa lý phía Nam của Bách Việt. Theo sách Thông điển, Nam Việt gắn liền với phía Nam của Ngũ Lĩnh, hay Lĩnh Nam.11 Cách hiểu này về cơ bản được thống nhất cho đến giai đoạn Tống Nguyên. Vì thế, ở thời điểm Lê Văn Hưu biên soạn Đại Việt sử ký, khái niệm Nam Việt đã chuyển từ vùng lãnh thổ của một nước sang không gian địa lý thuần túy ứng với phía Nam của Bách Việt. Không chỉ Đại Việt, mà các khái niệm không gian địa lý và hành chính khác như Giao Chỉ, Lĩnh Nam đều thuộc vào phạm vi của Nam Việt.12 Cho nên khi phong tước vương cho các vua Đại Việt, những năm đầu thời Tống đều là dùng danh hiệu Nam Việt Vương, đến năm 1175 thì mới chuyển thành An Nam quốc vương. Có thể nói, thông qua chính sử của Đại Việt, chính Lê Văn Hưu và các sử gia đời Trần, đã dùng yếu tố “Việt” tạo ra xu hướng định vị kết nối Đại Việt với không gian văn hóa phương Bắc, như Nam Việt hay Bách Việt của các vương triều Đại Việt sau này. Chính vì thế, dưới góc nhìn của người hiện đại, từ thế kỷ 15, mặc dù Đại Việt có hướng mở rộng xuống phía Nam và hòa cùng “văn hóa Đông Nam Á”, nhưng những đặc điểm thiết chế nhà nước và văn hóa lại được xét chung trong “văn hóa Đông Á”.  Nhìn chung, từ sau thế kỷ 10, quân chủ và cư dân vùng Bắc Bộ tự coi mình là chủ nhân của “Đại Việt” hay “Nam Việt”. Nhưng cần chú ý rằng, trước khi những nhận thức về tộc người theo hướng hiện đại được áp dụng, thì Việt, hay Đại Việt – Nam Việt, dùng để chỉ không gian địa lý nhiều hơn là một khái niệm về tộc tính. “Việt nhân” là chỉ nhóm người sống trên đất Việt, chứ không phải tên của một tộc người bất kỳ nào sống trên lãnh thổ của Việt Nam ngày nay.     Hình thành bản sắc Đại Việt     Đến thế kỷ 10, không có một nền văn hóa “Việt” duy nhất và đồng nhất trong khắp vùng Bách Việt hay Nam Việt. Nhà nước Đại Việt ra đời trên một nền dân cư có lịch sử di dân từ các nền văn hóa khác nhau, gồm có nhóm người bản địa – được coi chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn, nhóm di dân phương Bắc mang theo văn hóa Đường – Tống từ Trung Quốc, nhóm di dân phương Nam có nét văn hóa Chăm pa, Ấn Độ (xem lại kỳ 1 “Lược sử về cư dân thời tiền Đại Việt”, trong Tia Sáng số 12/202013).    Chỉ từ thế kỷ thứ 11, khi thể chế của Đại Việt có xu hướng phát triển từ tập quyền thân dân sang mô hình tập quyền quan liêu kiểu Trung Hoa14 thì triều đình Đại Việt mới mở rộng quyền hạn trong việc định hướng thực hành văn hóa của cư dân. Nhà nước quản lý, “nắn chỉnh” có chủ đích, từ định pháp luật cho các hoạt động quản lý nhà nước đến việc thực hành tôn giáo ở làng xã, trang phục hằng ngày, tế lễ trong gia đình… Trong quá trình đó, nhiều yếu tố văn hóa “dị biệt” của các nhóm di dân thời trước dần bị loại bỏ, các yếu tố giao thoa văn hóa của thời Lý – Trần dần thay thế bằng một nền văn hóa Đại Việt thống nhất từ cuối Trần và thời Lê.      Các nhà nghiên cứu đã biết đến những địa danh như thôn Bà Già bên Hồ Tây (nay thuộc đất làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) là nơi an cư của tù binh Chămpa từ thời Lý Thánh Tông. Qua bên kia sông Hồng, đến làng Võng La, một địa bàn ngay sát sông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện trong ngôi chùa làng 2 pho tượng Chămpa chính hiệu, một là tượng thần Shiva, chất liệu sa thạch, một là tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana), tiếc là pho tượng này đã bị đánh tráo từ những năm 1960. Tuy nhiên pho tượng đá còn lại và phiên bản phục chế của pho tượng bị đánh tráo thì không ai có thể nói là không phải của người Chăm. Ảnh: Tượng thần Shiva và Tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana).  Nguồn: TS Nguyễn Tiến Đông.     Đầu thời Lý, các yếu yếu tố văn hóa phương Nam hiện diện phổ biến ở đất Đại Việt. Các vua Lý thể hiện rõ sự ưa chuộng với âm nhạc Chiêm Thành. Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép: Tháng 7, năm 1044, vua (Lý Thái Tông) đem quân vào thành Phật Thệ bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên. Năm 1046, (thời Lý Thái Tông) dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành. Tháng 8, năm 1060, (thời Lý Thái Tông) phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát. Tháng 8, năm 1202, (thời vua Lý Cao Tông) Sai nhạc công chế khúc nhạc gọi là nhạc Chiêm Thành, tiếng trong trẻo, ai oán buồn rầu, người nghe phải chảy nước mắt”. 15    Quý tộc nhà Trần cũng có sự yêu thích với văn hóa người Hồ, như năm 1268, Thượng hoàng Trần Thái Tông, cùng với anh trai là Tĩnh Quốc Công múa điệu múa của người Hồ, Thượng hoàng cởi áo ban cho Tĩnh Quốc Công, sau đó vua cũng múa điệu múa của người Hồ để xin lại chiếc áo ấy. [ĐVSKTT].    Một ví dụ khác cho sự đa dạng văn hóa ở triều Đại Việt là khả năng ngoại ngữ của Trần Quang Khải (1241–1294) và Trần Nhật Duật (1255–1330). Chính sử ghi rất nhiều về quá trình giao lưu văn hóa và khả năng am hiểu phong tục nhiều nước của Trần Nhật Duật: Nhật Duật thích chơi với người nước ngoài, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này hồi Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được người Chiêm cho ở đấy, lấy tiếng Chiêm đặt tên là Đa Gia Ly, sau gọi sai thành Bà Già), có khi ba bốn ngày mới về. Lại hay đến chơi chùa Tường Phù, nói chuyện với nhà sư người Tống, ở lại đến hôm sau mới về. Người nước ngoài đến kinh sư, thường kéo đến nhà ông. Nếu là khách Tống thì ông kéo ghế ngồi gần, chuyện trò suốt buổi, nếu là người Chiêm hay người các man khác, đều theo phong tục nước họ mà tiếp đãi.  Đời Nhân Tông, sứ Sách Man Tích [Singapore] sang cống, không tìm được người phiên dịch, chỉ có Nhật Duật là dịch được. Có người hỏi vì sao ông biết tiếng họ, ông trả lời rằng: Thời Thái Tông sứ nước ấy sang nhân có giao lưu với họ, nên hiểu được đôi chút tiếng nước họ”[ĐVSKTT]. Điều đáng bàn là sử ghi về quá trình Trần Nhật Duật tiếp xúc tự nhiên với các nhóm người có mặt ở lãnh thổ Đại Việt, cho thấy triều đình lúc đó chưa có một chế độ cưỡng chế về văn hóa nào với các cộng đồng di dân.    Nhưng dần dần nhà nước bắt đầu đưa ra những chính sách nhằm tạo ra sự khác biệt giữa nhóm người “người kinh” với các nhóm khác [văn hóa của nhóm “người kinh” chỉ nhóm người trực tiếp nằm dưới sự quản lý của triều đình, không kể các châu mục miền núi hay những vùng chịu sự quản lý theo kiểu lỏng lẻo – ki mi]. Điều này trước hết là để nhận dạng trong giao tranh với người nước ngoài, như năm 1287, Trần Khánh Dư đóng ở Vân Đồn, dân ở đó lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống, may mặc đều dựa vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc. Khi Khánh Dư duyệt quân các trang, ra lệnh “Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón của phương Bắc, sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi, ai trái tất phải phạt”. [ĐVSKTT] Đến năm 1347, nhà Trần xuống chiếu cho quân và dân không được mặc áo chải đầu theo người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm Lào. Trước đó, vào năm 1314-1315, Nguyễn Trung Nhạn đi sứ nhà Nguyên thì đã không còn có thể xướng họa với văn nhân Trung Quốc bằng khẩu ngữ nữa. “Cộng dục hàm bôi chung nhật ngữ. Khước sầu Nam Bắc bất đồng âm.[Những muốn nâng ly trò chuyện mãi. Lại buồn Nam Bắc chẳng cùng âm.]16      Từ thế kỷ thứ 10 trở về sau, các triều đại Việt Nam góp công vào việc tạo nền cho văn hóa Đại Việt chứ không phải ngay từ đầu đã có một bản sắc có tính bản địa và bất biến theo thời gian.      Đến khoảng cuối thời Trần, sự yêu chuộng các yếu tố Chăm – Hồ đã dần mất đi. Các yếu tố gần với bản địa của người Việt cổ, như tục xăm mình, hay các tục hội thề của thời Lý Trần cũng bị loại bỏ. Phật giáo cũng bắt đầu chịu giới hạn của nhà nước, trong khi đó Nho giáo tiến lên vị trí thượng tôn. Kết quả là, đầu thế kỷ 15, một mô hình lý tưởng cho phong tục được cho là “thuần” của Đại Việt là “Y quan Đường chế độ, Lễ nhạc Hán quân thần” [Áo mũ theo chế độ của đời Đường, Lễ nhạc theo chế độ quân thần nhà Hán].17 Cũng kể từ đây đến thời Lê Thánh Tông, mô hình hành chính quan liêu được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, thương mại và di dân chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, vùng đất Đại Việt không còn là nơi cập bến của các dòng chảy di cư. Thay vào đó mảnh đất phương Nam trở thành điểm đến mới cho cả cư dân Đại Việt và di dân phương Bắc.  Như vậy nhìn chung, từ thế kỷ thứ 10 trở về sau, các triều đại Việt Nam góp công vào việc tạo nền cho văn hóa Đại Việt chứ không phải ngay từ đầu đã có một bản sắc có tính bản địa và bất biến theo thời gian. Trên nền tảng văn hóa đó, các vị quân chủ Đại Việt đã xây dựng lên một thực thể chính trị độc lập, đủ sức chống lại những ý định xâm lược của người phương Bắc và không ngừng mở rộng xuống phía Nam, hình thành nên nước Việt Nam hiện đại trong các thế kỉ tiếp theo.□  —-  1 Đào Duy Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Nxb Thế giới Hà Nội, 1950.  2 Brindley, E. (2003 ). Barbarians or Not? Ethnicity and Changing Conceptions of the Ancient Yue (Viet) Peoples, ca. 400-50 BC. Asia Major, 1-32.  3 Nước Việt khi đó nằm ở phía cực Nam của Trung Nguyên. Nước Việt và nước Ngô là hai nước nhỏ vốn không thuộc trong Ngũ Bá của phiên dậu nhà Chu. Nhưng trong giai đoạn cuối thời Xuân Thu (722 – 481TCN) hai nước này dần mạnh lên và bắt đầu giao chiến lẫn nhau. Nước Việt dưới thời của Câu Tiễn (496-465 BC) đánh thắng nước Ngô, và trở thành một trong Ngũ Bá. Sau đó, nước Việt bị nước Sở đánh bại năm 333 TCN, mở đầu cho thời kỳ Chiến Quốc.  4 Brindley, E. (2003 ). Barbarians or Not? Ethnicity and Changing Conceptions of the Ancient Yue (Viet) Peoples, ca. 400-50 BC. Asia Major, 1-32.  5司馬遷.《史記》.越王勾踐世家: 文身斷髮，披草萊而邑焉  6 Hai chữ hán của Việt là 越 hay粵, về căn bản có thể dùng thông nhau hoàn toàn không có ý phân biệt nhóm người “粤Việt ở vùng Phúc Kiến” Lary, D. (1996). The tomb of the king of Nanyue-the contemporary agenda of history: Scholarship and identity. Modern China, 3-27.  7司馬遷，《史記》，越王勾踐世家：楚威王興兵而伐之，大敗越，殺王無彊，盡取笔吳地至浙江，北破齊於徐州。而越以此散，諸族子爭立，或為王，或為君，濱於江南海上，服朝於楚。  其曰百越者，以周顯王時，楚子熊商大敗越，越散處江南海上，各為君長也。  8 Anderson, J. (2007). The Rebel Den of Nung Tri Cao (p.8). Seattle: University of Washington.  9 Trước đó, Đại Việt cũng từng được Lưu Nham sử dụng làm quốc hiệu ở vùng Quảng Châu, khi bị triều Lương Trung Quốc từ chối phong tước Nam Việt Vương, ông cũng tự xưng là Đại Việt Vương năm 917. Nhưng do Lưu Nham không coi mình là người Việt, mà cho tự coi mình là hậu duệ của nhà Hán,[1] và với tham vọng hướng tới Trung Nguyên thay vì Lĩnh Nam, Lưu Nham nhanh chóng đổi thành Đại Hán,[1] hay sử gọi là Nam Hán ( 917 – 971).  10 程爱勤. ( 1995年02期 ). 《后汉书•南蛮列传》所载“南越徼外蛮夷献白雉、白菟”质疑. 《佳木斯大学社会科学学报.  11 唐，杜佑，《通典》, 州郡典 第 一 百 八 十 四: 古南越: 自嶺而南，當唐、虞、三代為蠻夷之國，是百越之地，亦謂之南越 (或云南越之君，亦夏禹之後。按甌越、閩越，禹後少康之庶子所封之地。即南越，非其種也.  12《宋史》-卷四百八十八-列傳第二百四十七 – 外國四元-交趾: 交趾，本漢初南越之地。漢武平南越，分其地爲儋耳、珠崖、南海、蒼梧、郁林、合浦、交趾、九真、日南，凡九郡.  13 https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Luoc-su-ve-cu-dan-thoi-tien-Dai-Viet-25315  14 Phạm Đức Anh, Biến đổi của mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam (thế kỷ X-XIX), Luận án tiến sỹ Lịch sử, DHQGHN, 2014; Nguyễn Minh Tường, Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam (từ năm 939 đến năm 1884), Nxb KHXH, 2015.  15 Trần Quang Đức. “Ngàn năm áo mũ: Lich sử trang phục Việt Nam giai đoạn.” TP Hồ Chí Minh: Nhã Nam (2013).tr.99  16 Phạm Văn Khoái, Cách gọi “Việt âm” trong phức thể danh xưng Việt âm thi tập từ góc nhìn của ngữ văn học chữ Hán Việt Nam trung đại (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 26-35)  17 Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978, tập 3, trang 246.    Author                Trần Thị Xuân        
__label__tiasang Xây dựng nhiều nhà máy thủy điện lớn là nguyên nhân gây ra động đất ở Tứ Xuyên?      Trận động đất ở Vấn Xuyên (Wenchuan) thuộc tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc là một kiểu trừng phạt của thiên nhiên đối với sự phá hoại môi trường do loài người tiến hành. Việc xây dựng nhiều nhà máy thủy điện trên sông Mân Giang (Minjiang) thượng lưu sông Trường Giang đã phá hoại kết cấu địa chất, là nguyên nhân chính dẫn đến trận động đất này.    Đó là quan điểm của nhà địa chất học Dương Dũng – nhân vật hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) nổi tiếng TQ phát biểu trả lời cuộc phỏng vấn điện thoại của báo Liên hợp buổi sáng (Singapore) chiều ngày 12 tháng 5 vừa qua. Ông nói:”Đáng tiếc là dự đoán của chúng tôi đã xảy ra nhanh chóng như vậy… Mong rằng chúng ta sẽ thức tỉnh từ bài học bằng máu này, kiểm điểm lại chủ trương xây dựng nhà máy thủy điện cỡ lớn”.  Mấy năm nay các nhà hoạt động BVMT TQ thường xuyên phản ánh ý kiến cho các cơ quan chính quyền liên quan biết rằng Mân Giang nằm trên dải địa chấn TQ, việc xây dựng nhiều hồ chứa nước tại thượng lưu sông này sẽ gây tổn hại tới kết cấu địa chất và do đó khơi gợi các trận động đất mạnh. Ông Dương Dũng phân tích: huyện Vấn Xuyên nằm trên dải đất đệm giữa cao nguyên Thanh Tạng và đồng bằng Tứ Xuyên, Mân Giang nằm trên dải đứt gãy Long Môn của TQ. Dải đứt gãy này là nơi thường xuyên có các trận động đất mạnh. “Việc nổ mìn khi xây dựng hồ chứa nước ở thượng lưu Mân Giang cũng như bản thân việc làm các hồ này đã phá hoại nghiêm trọng kết cấu địa chất. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây nên trận động đất mạnh này.”  Ông kiến nghị chính quyền kiểm điểm chủ trương xây dựng nhiều nhà máy thủy điện cỡ lớn tại thượng lưu Trường Giang. “Chúng tôi thường xuyên kêu gọi. Đáng tiếc là họ không nghe. Những hồ nước ấy xem ra có vẻ yên lặng nhưng lại tiềm ẩn lắm rủi ro địa chất,”  Nhà địa chất học người Pháp Paul Tapponnier nói: trận động đất ở Tứ Xuyên có liên quan đến sự di chuyển về phía bắc và phía đông của cao nguyên Thanh Tạng. Hãng tin Pháp cho biết Paul Tapponnier là chuyên gia cao nguyên vùng này, ông nói khẳng định sẽ còn có nhiều dư chấn.      Theo “Liên Hợp Buổi sáng”-Nguyễn Hải Hoành dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xây dựng và triển khai Chương trình KH&CN ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững ĐBSCL      Khoa học và công nghệ sẽ là một trong những giải pháp quan trọng trong Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu do Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày 13/4/2019.      Nông dân ấp Tây Sơn 3, xã Đông Yên, huyện An Biên (Kiên Giang) thẫn thờ nhìn lúa chết khô vì thiếu nước và nhiễm mặn. Nguồn: daidoanket.vn  Chương trình hành động đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc triển khai có hiệu quả các chương trình và nhiệm vụ KH&CN trọng điểm trong quá trình thực hiện 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chính trong từng giai đoạn như rà soát, hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách; cập nhật và hệ thống hóa số liệu, dữ liệu liên ngành, tăng cường điều tra cơ bản; xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý thích ứng biến đổi khí hậu; phát triển và huy động nguồn lực… Các chương trình KH&CN sẽ tập trung vào những vấn đề quan trọng: bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, giảm nhẹ các tổn thương, các tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra; nghiên cứu chọn tạo phát triển các giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản có tiềm năng, lợi thế của vùng; nghiên cứu tạo nguồn vật liệu mới thay thế, phục vụ san lấp, xây dựng để hạn chế việc lấy cát từ lòng sông… Về tổng thể, cần nghiên cứu để có thể xây dựng và triển khai Chương trình KH&CN ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL.  Để thực hiện tốt các chương trình và nhiệm vụ KH&CN này, cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ưu tiên bố trí các nguồn lực KH&CN có trọng tâm trọng điểm, tăng cường hợp tác quốc tế song phương, đa phương và với các quốc gia thượng nguồn sông Mekong, thiết lập các khuôn khổ hợp tác mới, qua đó thúc đẩy ứng dụng và chuyển giao công nghệ.  Chương trình hành động tổng thể được phân kỳ thực hiện theo các giai đoạn: đến năm 2020, 2021-2030, định hướng giai đoạn 2031-2050 và đến 2100.   Trong chương trình này, Bộ KH&CN được giao đảm trách một số nhiệm vụ lớn, đó là rà soát hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; triển khai có hiệu quả các chương trình, nhiệm vụ khoa học trọng điểm, ưu tiên bố trí nguồn lực khoa học để đảm bảo phát triển bền vững ĐBSCL; đẩy mạnh nghiên cứu về môi trường phòng chống thiên tai; tăng cường hợp tác quốc tế. Đồng thời Bộ KH&CN phối hợp với Bộ TN&MT xây dựng và triển khai Chương trình KH&CN ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững ĐBSCL.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Xe bay      Một chiếc xe có thể bay lên trên không để tránh kẹt xe, ngập đường…? Chuyện tưởng chỉ có trong phim giả tưởng Hollywood sẽ sớm trở thành hiện thực trong nay mai.    Công ty Moller International (Mỹ) vừa cho biết đã bắt đầu công đoạn sản xuất một chiếc xe nhỏ có hình dạng chiếc đĩa chở được hai người, có thể bay lên và hạ xuống theo chiều thẳng đứng.  Chiếc xe mang mã M200G, tải trọng 113kg, có thể bay lên đến độ cao 3m so với mặt đất nhờ tám động cơ quay. Công ty sản xuất cho biết xe có thể bay trên không từ 45-90 phút với vận tốc tối đa 80km/g.  Với các tính năng hiện đại nhưng cũng có phần lạ lẫm của M200G, nhà sản xuất vì vậy lo ngại sản phẩm sẽ khó được chấp nhận ngay từ đầu. Tổng giám đốc Bruce Calkins cho biết có lẽ trước mắt M200G sẽ dành để phục vụ thú tiêu khiển của khách hàng có tiền, và khi người ta quen dần sự có mặt của nó thì công ty mới tính đến chuyện đưa sản phẩm trở thành phương tiện giao thông.  T.TRÚC (Theo ABC News)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe bus liên tục nạp điện  không dây kiểu mới      Mới đây Hàn Quốc vừa đưa vào khai thác tuyến  xe bus đầu tiên trên thế giới sử dụng loại ô tô chạy điện ắc-quy kiểu  mới, xe vừa chạy vừa liên tục nạp điện cho ắc-quy mà không cần dây dẫn.     Tuyến xe bus dài 12 km đặt tại thành phố Gumi miền Nam Hàn Quốc. Hiện có hai xe bus sử dụng công nghệ này, những người chủ trì dự án hy vọng đến năm 2015 sẽ tăng thêm 10 xe nữa.  Người phụ trách Dự án Online Electric Vehicle (OLEV) – ông Dong-Ho Cho ở Viện Khoa học và Công nghệ cấp cao Hàn Quốc (KAIST) – nói, “Đây là một bước ngoặt của dự án OLEV. Dự án này sẽ được thương mại hóa hơn nữa và sẽ được áp dụng rộng rãi trong ngành vận tải công cộng.”  Ắc-quy nhỏ hơn  Trên tuyến đường đã định, thiết bị thu cảm ứng lắp dưới gầm loại xe bus nói trên khi chạy qua thiết bị có tên Cộng hưởng từ trường hình thành (Shaped Magnetic Field In Resonance) sẽ nhận được điện năng từ dưới đất truyền lên.   Thiết bị đó là một sợi cáp đặt bên dưới mặt đường; nó sinh ra điện-từ trường, làm cho cuộn cảm của thiết bị ở gầm xe cộng hưởng mà sinh ra điện năng. Thiết bị thu đặt cách mặt đường khoảng 17 cm.  Loại xe bus này có thể tiếp nhận điện năng công suất 100 kW, tần số 20 kHz; hiệu suất chuyển điện năng là 85%. Cần phải đào mặt đường ở một số đoạn để đặt cáp. Rãnh chôn cáp chiếm từ 5 đến 15% chiều dài tuyến đường. Do không cần nạp ắc-quy trước khi xe bus xuất phát từ ga-ra nên xe chỉ cần dùng bộ ắc-quy nhỏ bằng 1/3 thể tích lẽ ra phải dùng. Nhờ đó giảm được trọng lượng xe và giảm được lượng khí CO2 thải ra khi ắc-quy nạp điện.  Các nhà nghiên cứu cho biết điện từ trường sinh ra khi nạp ắc-quy không ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.  Tuy nhiên đã có cảnh báo: thiết bị kiểu mới này có giá thành khá cao, xét về tính thực dụng thì không bằng kiểu nạp điện tại địa điểm cố định hoặc nạp điện bằng cáp treo cao. Ông Paul Nieuwenhuis ở Trung tâm nghiên cứu công nghiệp ô tô thuộc Đại học Cardiff nói: “Rõ ràng công nghệ mới này có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong ngành vận tải công cộng, nhưng đối với xe chạy điện loại cá nhân thì việc lắp đặt hệ thống này trên tất cả các đoạn đường sẽ quá tốn kém.”  Công nghệ trưng bày  Trước đây công nghệ nạp điện cảm ứng đã được sử dụng ở một số nơi khác, nhưng chỉ là nạp tại địa điểm cố định. Thí dụ thành phố Turin ở Ý và Utrecht ở Hà Lan đều lắp thiết bị nạp điện cảm ứng tại một số bến đỗ xe bus. Khi xe đỗ, lái xe nghỉ chốc lát, có thể để xe bus được nạp điện.   Hai công ty ARUP và Mitsui đã cộng tác thành lập một công ty liên doanh, dự kiến mùa hè năm nay sẽ thực thi một dự án tương tự tại Milton Keynes (Anh Quốc).  Trường Đại học bang Utah (Mỹ) cũng đang thử khai thác loại xe bus chạy trong khuôn viên nhà trường, có áp dụng công nghệ nạp điện cảm ứng. Nghe nói hiệu suất chuyển hóa năng lượng của loại bus này cao tới 90%.  Một số công ty thì đang thử áp dụng công nghệ nạp điện cảm ứng không dây cho các loại xe hơi khác.   Qualcomm, nhà chế tạo chip máy tính ở London, đang thử nghiệm kỹ thuật nạp điện không dây có tên “Halo” cho hai loại xe Citroen và Rolls Royce.  “Tôi cho rằng cần vài chục năm nữa chúng tôi [Hàn Quốc] mới thực hiện được việc trang bị một hệ thống đường điện khí hóa trên phạm vi cả nước,” ông Ashvin Chotai, Giám đốc điều hành công ty Intelligence Automotive Asia, nói. “Hiện nay công nghệ trên tuyến xe bus này [OLEV] mới chỉ có tính trình diễn chứ chưa có tiềm năng phát triển thương mại hóa,” ông Chotai nhận xét.    Nguyễn Hải Hoành tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe chạy bằng… rượu sake      Một ngày nào đó các tài xế Nhật Bản có thể bơm đầy rượu sake vào xe mình để… chạy. Hiện một dự án tạo nhiên liệu từ rượu sake – loại rượu được làm từ gạo lên men – đang được thử nghiệm ở Shinanomachi, cách thủ đô Tokyo 200 km về phía Tây Bắc.  Tại nơi này, người ta nghe thoang thoảng trong không khí một mùi men-thơm tương tự mùi rượu sake chưa lọc.    “Chúng tôi thích ý tưởng này. Nguồn nhiên liệu này có thể phục hồi… thay cho nhiên liệu hóa thạch hiện đang sắp cạn kiệt”, Shigehiro Matsuki, thị trưởng Shinanomachi nói.  Dự án kéo dài 3 năm này do chính phủ tài trợ, sẽ cung cấp rượu sake giá rẻ với sự giúp đỡ của các nông dân địa phương. Những nông dân này sẽ đóng góp chất thải nông nghiệp như vỏ trấu để sản xuất ethanol.  Nếu dự án này thu hút được các địa phương, nó có thể mở đường cho những nỗ lực tương tự trên khắp Nhật Bản, và khi ấy, “người ta sẽ được nhìn thấy những chiếc xe chạy bằng nhiên liệu sinh học do Nhật sản xuất”, giáo sư Yasuo Igarashi thuộc Trường ĐH Tokyo, người đứng đầu dự án nói.  Nhật Bản, nước tiêu thụ xăng dầu lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu dầu thô và hiện đang bị ảnh hưởng bởi giá dầu tăng cao.  Với mục tiêu cắt giảm khí thải carbon theo nghị định Kyoto, nước này đang chuyển sang nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học. Hiện các tài xế tại Nhật vẫn xếp sau các tài xế ở châu Âu và Mỹ trong việc dùng nhiên liệu xanh.  Tuy nhiên để tạo ra 0,5 lít ethanol cần phải có 1 kg gạo, và đây vẫn là thách thức với những người tiến hành dự án trong việc tạo ra nhiên liệu sinh học giá rẻ có thể cạnh tranh với xăng dầu thông thường, hiện được bán với giá khoảng 135 yen (1,13 USD)/1 lít.  TƯỜNG VY (Theo Reuters)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe cộ phát thải gây ô nhiễm ammonia đô thị nhưng ít được ghi nhận      Phá vỡ các hoạt động xã hội thông thường, ví dụ như việc đi lại, các đợt phong tỏa trong những đợt bùng phát COVID-19 đã trao một cơ hội độc nhất vô nhị để nghiên cứu về những tác động của chúng đến môi trường.      Việc phong tỏa vì COVID đã tạo cơ hội tốt để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về ô nhiễm không khí ở đô thị, đặc biệt các phát thải liên quan đến giao thông. Nguồn: BCC   Các nhà nghiên cứu tại Khoa Kỹ thuật cơ khí, trường đại học Colorado Boulder (Mĩ) đã xuất bản trên tạp chí Environmental Science & Technology Letters một nghiên cứu sử dụng dữ liệu vệ tinh từ trước và trong thời kỳ phong tỏa vào mùa xuân 2020 ở Angeles 1. Họ chứng tỏ là xe cộ đã vượt qua nông nghiệp để trở thành nguồn phát thải chính của ammonia (NH3) trong môi trường không khí đô thị, vốn hình thành các hạt bụi mịn, không chỉ góp phần làm tăng ô nhiễm không khí mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người.  Khi được phát thải vào bầu khí quyển, NH3 được chuyển đổi vào các hạt nhỏ gồm các hợp chất vô cơ, bao gồm ammonium sulfate và ammonium nitrate. Ở quy mô toàn cầu hay quốc gia, phần lớn các ô nhiễm NH3 đều xuất phát từ các nguồn phát thải nông nghiệp như phân gia súc. Nhưng xe cộ cũng góp phần vào vấn đề này bởi các bộ chuyển đổi xúc tác hoặc các hệ giảm thiểu xúc tác có chọn lọc của nó – vốn được thiết kế để giảm thiểu ô nhiễm của chất gây ô nhiễm nitrogen oxide (NOx) bao gồm NO2 – có những ảnh hưởng không mong muốn trong việc tạo ra các phát thải ammonia. Trong các thành phố, thật khó để nói là liệu nông nghiệp hay giao thông phái thải NH3 nhiều hơn và khó có thể đi đến kết luận thủ phạm chính là nông nghiệp, cho dù một số nghiên cứu đã thực hiện đo đạc trong phòng thí nghiệm đã đề xuất giả thuyết này ở một vài thành phố. Daven K. Henze và đồng nghiệp muốn tìm hiểu xem là liệu dữ liệu vệ tinh từ vũ trụ có thể giúp trả lời câu hỏi này được không, bởi về nguyên tắc, một cách tiếp cận có thể được ứng dụng trên diện rộng các vùng đô thị khác nhau khắp thế giới.  Họ đã tập trung vào Tây Los Angeles, nơi các phép đo đạc trên mặt đất đã phát hiện ra phát thải NH3  của xe cộ vẫn còn chưa đánh giá đúng mức. Nhóm nghiên cứu đã phân tích các giá trị đọc của NH3 cũng như NO2. Bởi vì nguồn phát thải chính NO2 trong vùng này là hoạt động vận tải trên đường, hợp chất này có thể dóng vai trò như một sự hiện diện cho những thay đổi trong dung lượng giao thông và là một chỉ dấu về xe cộ trong sự đối lập với phát thải ammonia từ nông nghiệp. Nhóm nghiên cứu đã xác định tương quan của hai nguồn ô nhiễm đó, và đưa các hiện tượng khí tượng vào đó để tính toán tổng lượng phát thải ammonia có thể dò được từ xe cộ lưu thông.  Họ tìm ra là xe cộ tạo ra 60% đến 84% tổng số phát thải NH3 trong khu vực đô thị, phù hợp với ước tính bằng mô hình, nhưng cao hơn từ 13% đến 22% so với ước tính của các cơ quan chính phủ. Các nhà nghiên cứu nói, họ nói phát hiện của họ cho thấy tác động tới sức khỏe của ammonia phát thải từ xe cộ có thể  tương đương với NOx, vốn chưa được ghi nhận đúng đắn và chưa được kiểm soát.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://phys.org/news/2021-11-vehicles-under-recognized-source-urban-ammonia.html  https://www.azocleantech.com/news.aspx?newsID=30692  ———————————-  1. https://pubs.acs.org/doi/abs/10.1021/acs.estlett.1c00730    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe đạp chạy bằng hydro      Công ty Shanghai Pearl ở Trung Quốc vừa trình làng một loại xe đạp chạy bằng khí hydro đầu tiên của nước này, được xem là thân thiện với môi trường.    Điểm khác biệt của chiếc xe đạp này so với với các loại xe đạp điện khác là bình ắc quy và hai bình đựng khí hydro tạo thành hệ thống sản sinh năng lượng để vận hành xe được đặt dưới yên.  Hệ thống cung cấp năng lượng này cũng gọn nhẹ hơn so với hệ thống pin trong các loại xe đạp điện. Báo Shanghai Daily dẫn lời giám đốc công ty cho biết bình ắc quy của xe sử dụng khí hydro để cung cấp năng lượng cho xe nên không thải ra khí gây hại môi trường mà chỉ sinh ra một ít nước. Xe mới chỉ cần 30 phút để nạp lại đầy bình khí hydro so với 3 giờ để sạc bình của một chiếc xe đạp điện.  H.Y      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xe tự lái: Người Đức lo sợ trước ô tô robot      Được coi là công nghệ trong tương lai nhưng xe tự lái lại bị người Đức nghi ngờ.      Một thử nghiệm be bus tự lái ở Đức.   Dù từ lâu ô tô tự lái đã được chào đón trên các tuyến đường giao thông ở Mỹ nhưng người Đức lại không mấy hào hứng với công nghệ này. Thực tế là ôtô-robot vẫn có nhiều vấn đề song ai cũng phải công nhận là nó cũng mang đến nhiều cơ hội to lớn.  Thực sự ô tô tự lái là giấc mơ đã trở thành sự thật của nhiều tác giả viết về khoa học viễn tưởng: Trong Chandler, Mỹ, ô tô tự đi từ điểm A đến điểm B mà không hề có người ngồi trong buồng lái. K.I.T.T., loại xe thể thao mầu đen thuộc dòng Knight Rider còn thường xuyên cứu thế giới.  Tuy nhiên người dân vẫn thờ ơ với công nghệ này, nhất là ở Đức. Một nghiên cứu mới đây của Hội các kỹ sư Đức (VDI) cho thấy, một nửa số người được hỏi cho thấy họ có thể tưởng tượng việc bước lên xe ô tô mà không có người lái, chỉ có khoảng một phần tư hoan nghênh khi buồng lái trên xe buýt hoặc tầu điện hoàn toàn trống vắng.  Người Đức đặc biệt hoài nghi khi đề cập đến bảo vệ khí hậu của ô tô tự lái. Khoảng 42% những người được hỏi tin xe tự lái có thể giảm phát sinh lượng khí thải CO2 trong khi đó các tài liệu chuyên môn lại hết sức ca ngợi về tác động tích cực của xe tự lái đến môi trường. Thí dụ đến năm 2050 có thể giảm lượng khí thải nhà kính tới 7,6% thông qua tự động hóa và kết nối mạng, theo xác nhận của Viện Fraunhofer về nghiên cứu hệ thống và đổi mới theo yêu cầu của Bộ Giao thông liên bang. Nhờ vậy, họ sẽ tiết kiệm tiêu thụ nhiên liệu lên đến 30%.  Ngoài khía cạnh khí hậu, các nhà chế tạo đặc biệt muốn kiếm điểm ở khâu an toàn. Stephan Hönle, phụ trách mảng xe chạy tự động tại tập đoàn Bosch hết lời ca ngợi “ô tô chạy tự động nhờ được giám sát liên tục nên có thể tăng độ an toàn khi giao thông đồng thời do cách chạy xe điều độ nên cải thiện được dòng chảy của xe”. Bosch là một trong các hãng cỡ lớn quan tâm nhiều đến xe chạy tự động. Mới đầu tuần này tập đoàn công nghệ tiết lộ đã hợp tác với Mercedes-Benz khởi động dự án Tự động hóa dịch vụ xử dụng xe chung ở San José.  Tuy nhiên người Đức cũng không mấy thuyết phục về lập luận an toàn này: theo một khảo sát của VDI thì dưới một nửa những người được hỏi cho rằng xe ô tô tự động hoá an toàn hơn xe thông thường. Quan niệm  này càng được khẳng định sau vụ tai nạn chết người của Uber theo đó hồi tháng 3/2018 đã có một người tử nạn vì xe chạy thử do máy tính điều khiển.  Các  nhà chế tạo cam kết, công nghệ sẽ ngày càng tinh xảo hơn vì thế sẽ tránh được những tai nạn tương tự trong tương lai, và họ cho rằng, con người là nhân tố gây tai nạn nhiều nhất và phải chịu trách nhiệm đối với phần lớn các vụ tai nạn giao thông đang diễn ra hàng ngày. “Hành vi của con người, hoặc sai phạm và hạn chế về năng lực là nguyên nhân của 95% các vụ tai nạn giao thông”,  Lutz Eckstein, chủ tịch Hội VDI xe ô to và công nghệ giao thông,  nhấn mạnh. Hội đồng An toàn giao thông Đức (DVR) cũng nêu các con số tương tự trong thống kê về tai nạn giao thông, trên 90 %.  Còn một khía cạnh nữa khiến người Đức băn khoăn khi đề cập đến chủ đề an toàn: tám trong số mười người được hỏi lo ngại về việc xe ô tô bị hacker thao túng. Điều này hoàn toàn không phải là chuyện tưởng tượng: Andy Greenberg, một người Mỹ, năm  2015 đi xe Jeep trên xa lộ, khi đó bọn tin tặc nắm quyền kiểm soát xe của người này. Để khắc phục tình trạng này, VDI đòi  hỏi phải có quy định tối thiểu về an toàn với hệ thống đặc biệt chống lại tội phạm mạng đóng vai trò như tường lửa đối với xe ô tô, tuy nhiên thực tế là còn thiếu các loại hệ thống này.  Khi những vấn đề về kỹ thuật được khắc phục thì các ưu điểm là chủ đạo, VDI bảo đảm như vậy và nhấn mạnh đến các ưu điểm đối với xã hội và với nền kinh tế. Những người có tuổi không còn được phép tự lái xe, nay nhận lại được một chút sự độc lập của mình. Những người lao động đi làm xa cũng đỡ mất thời gian của mình. Những vùng nông thôn cũng sẽ được kết nối với nhau tốt hơn trước, Eckstein cam kết: “Xe bus không người lái không chỉ hỗ trợ giao thông công cộng ở thành phố mà cả ở nông thôn, điều này sẽ giảm thiểu tác động của quá trình đô thị hóa”. Ngay cả tình trạng thiếu triền miên tài xế xe buýt và tầu điện cũng sẽ được hoá giải.  Để thuyết phục người Đức về một tương lai tự động xán lạn, VDI khuyến nghị các hãng chế tạo tiến hành đối thoại với người dân. Dù sao, nếu các dự báo đúng, họ còn có nhiều thời gian. Theo Eckstein, ngay trong năm tới sẽ được trải nghiệm những chức năng đi xe đầu tiên cho phép người lái xe chí ít có những lúc không cần phải chăm chú, tập trung vào việc điều khiển xe. Có lẽ theo vị này thì người ta  sẽ được chứng kiến xe ô tô chạy hoàn toàn tự động trên hệ thống đường giao thông ở Đức sớm nhất là sau năm  2025.  Hönle, chuyên gia làm việc tại tập đoàn Bosch cũng tin rằng, phải sang nửa cuối thập niên tới thì xe ô tô mới có thể tự đi lại trong mọi tình huống giao thông đô thị. Một nghiên cứu dự báo do ADAC đề xuất thì cho rằng  xe ô tô tự hành còn là chuyện của tương lai xa vời. Phải sau năm  2040  mới có thể có một số lượng lớn ô tô có khả năng  hoạt động độc lập ở khắp mọi nơi.  Có nghĩa là vẫn còn nhiều thời gian để các nhà hoạt động về chính sách cũng như giới công nghiệp giải quyết nốt những vấn đề về kỹ thuật và thuyết phục được người Đức về tương lai giao thông ở nước này.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/mobilitaet/autonomes-fahren-die-deutsche-angst-vor-roboterautos/25323248.html          Author                Quản trị        
__label__tiasang Xếp hạng ứng dụng công nghệ thông tin      Theo báo cáo điều tra chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT của Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội Tin học, một số bộ ngành lẽ ra phải ứng dụng CNTT mạnh thì lại nằm ở cuối bảng xếp hạng như Bộ GD&amp;ĐT, Bộ KH&amp;CN, Bộ Công nghiệp, Đài truyền hình Việt Nam.    Chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT được chia 4 nhóm: tỉnh, thành; bộ, ngành; ngân hàng thương mại; tổng công ty 09,91. Theo đó TP Hồ Chí Minh, Bộ Thương mại, Ngân hàng TMCP đô thị Hà Nội, Tổng công ty công nghiệp ô tô xếp đầu các nhóm này.  P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm máu có thể phát hiện nguy cơ mắc các bệnh tim mạch      Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Y tế San Francisco, bang Califonia của Mỹ đăng trên Chuyên san của Hiệp hội Y học Mỹ ngày 10/1 cho biết một cuộc xét nghiệm máu đơn giản có thể giúp phát hiện nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ.    Các nhà khoa học trên đã phát hiện rằng lượng protein NT-proBNP trong máu càng cao, nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đột quỵ và tử vong càng lớn. Theo bà Mary Whooley, trưởng nhóm nghiên cứu, protein NT-proBNP là dấu hiệu của hoóc-môn BNP trong máu và hoóc-môn này sẽ tăng khi tần xuất co bóp tim tăng hay khi con người liên tục trong trạng thái căng thẳng, lo âu và mỏi mệt. Khi thành tim phải chịu một lượng máu lớn hay do thiếu sự tuần hoàn máu do bị bệnh tim, BNP cũng tăng khiến NT-proBNP tăng theo.  Khoảng 26% trong tổng số 987 bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã chết hoặc bị suy tim ở các cấp độ khác nhau trong suốt quá trình nghiên cứu. Những bệnh nhân ở nhóm có lượng NT-proBNP cao có nguy cơ tử vong hoặc mắc các bệnh về tim hoặc đột quỵ cao gấp 3,4 lần so với những bệnh nhân có lượng NT-pro BNP thấp.  Theo TTXVN      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm máu định kỳ giúp phát hiện sớm ung thư buồng trứng      Một thử nghiệm kéo dài 14 năm ở Anh cho thấy  việc định kỳ xét nghiệm máu sẽ giúp phát hiện đến 86% số ca ung thư  buồng trứng (ovarian cancer) trước thời điểm thông thường có thể chẩn  đoán căn bệnh này ở phụ nữ.    Ung thư buồng trứng là căn bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao, bởi lẽ bệnh này rất khó chẩn đoán, khi được xác định là mắc bệnh thì đã quá muộn.  Hơn 46.000 phụ nữ đã tham gia thử nghiệm nói trên, kết quả ban đầu cho thấy phương pháp mới có thể giúp phát hiện sớm các khối u. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu thuộc University College London vẫn hết sức thận trọng về việc liệu việc phát hiện sớm này có cứu sống được thêm nhiều bệnh nhân không.   Nước Anh mỗi năm có khoảng 7.100 phụ nữ bị chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng, trong đó khoảng 4.200 người thiệt mạng vì căn bệnh này.  Triệu chứng ung thư buồng trứng gồm: đau bụng, bụng chướng, khó ăn v.v…, – đều là những triệu chứng thường thấy ở các bệnh khác.  Khối u buồng trứng (ovarian tumours) tiết ra một chất hóa học gọi là CA125. Chất này đã được dùng để xét nghiệm chẩn đoán bệnh nhân có mắc ung thư buồng trứng hay không.  Các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu xét nghiệm máu hằng năm của những phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh và quan sát sự thay đổi hàm lượng chất CA125 trong máu họ. Nếu hàm lượng hóa chất CA125 trong máu tăng lên thì người đó sẽ được kiểm tra tiếp, bao gồm cả biện pháp siêu âm.  Kết quả nghiên cứu, được công bố trên tạp chí Ung thư học lâm sàng (Journal of Clinical Oncology), cho thấy việc định kỳ thử máu cho các phụ nữ này giúp phát hiện sớm được 86% ca mắc bệnh ung thư buồng trứng. Cuộc thử nghiệm kéo dài từ năm 2001 đến năm 2011 này cũng xác định hàm lượng CA125 bao nhiêu thì là cao đối với từng phụ nữ.  Giáo sư Usha Menon ở University College London tỏ ra hết sức lạc quan với kết quả thử nghiệm, bởi về nguyên tắc, càng phát hiện các khối u sớm thì khả năng điều trị thành công sẽ càng cao, tuy nhiên điều ông băn khoăn là kết quả phát hiện như vậy đã đủ sớm để cứu sống bệnh nhân ung thư buồng trứng hay chưa.  Dự án nói trên là cuộc thử nghiệm kiểm tra lớn nhất trên thế giới và cũng là thử nghiệm có sử dụng biện pháp siêu âm thường kỳ cho bệnh nhân. Ủy ban Kiểm tra toàn quốc nước Anh (UK National Screening Committee) đã theo dõi chặt chẽ nghiên cứu này và sẽ xét duyệt một chương trình kiểm tra ung thư buồng trứng khi nào nhận được toàn bộ kết quả thử nghiệm.  Giáo sư Patrick Maxwell ở Hội Nghiên cứu Y học nói: “Những kết quả ban đầu phấn khởi nói trên cuối cùng sẽ trở thành nền tảng cho một chương trình kiểm tra toàn quốc bệnh ung thư buồng trứng.”  Bác sĩ James Brenton, một chuyên gia về ung thư buồng trứng, nói: “Xét nghiệm máu để phát hiện phụ nữ có khả năng bị ung thư buồng trứng mở ra một triển vọng lạc quan, nhưng công trình này cần được tiếp tục thử nghiệm trên các phụ nữ để xem nó có thể cứu được tính mạng của họ hay không.”   NG.H theo bbc.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xét nghiệm trong bệnh thống phong (gout)      Nhiều nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây chắc khó tránh khỏi ngạc nhiên trước tỷ lệ quá cao của chứng thống phong ở nước ta khi bệnh này trước đây được định nghĩa là bệnh thường gặp ở xứ lạnh?! Thật ra không có gì quá khó hiểu nếu thầy thuốc nước ngoài biết thêm về mức độ “siêu lợi nhuận” hiện nay của món hàng bia bọt. Đúng là bia làm tăng acid uric, chất sinh sạn trong khớp, trên đường tiết niệu, dưới da…    Nhưng nếu đổ hết tội cho tật xấu rượu thịt thì không hẳn là khách quan, khi theo kết quả thống kê ở nhiều nước, bệnh thống phong hiện không tha một ai, từ người không hề uống bia cho đến nhà tu suốt đời chay trường. Điều này càng góp phần giải thích tại sao lắm người phải khổ vì lượng acid uric trong máu không chịu dậm chân tại chỗ mà cứ ngang nhiên thừa thắng xông lên.  Đó chưa phải là lý do duy nhất khiến bệnh thống phong có thể tác oai tác quái. Nguyên nhân còn vì không ít thầy thuốc rất dễ quên kiểm soát lượng acid uric trong máu người bệnh. Dữ liệu thống kê thu thập từ nhiều phòng thí nghiệm ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, loại xét nghiệm ít được lưu ý nhất là… acid uric! Chưa dừng lại ở đó, bệnh thống phong dễ trở thành mãn tính do nhiều thầy thuốc sơ sót:  –  Không theo dõi sát sao lượng acid uric trong thời gian điều trị.  –  Không kiểm soát lượng acid uric định kỳ sau thời gian điều trị.  –  Không tiến hành tầm soát tình trạng tăng acid uric trên người có tiền căn hay thân nhân đã gặp vấn đề với acid uric.  Thầy lỡ quên thì chỉ còn trông mong vào trò. Bên cạnh việc chủ động nhắc nhở thầy thuốc đừng quên kiểm soát acid uric khi khám sức khỏe, khi tình trạng mệt mỏi, đau khớp, ngứa ngáy… trở nên rõ nét trong thời gian gần đây, cảm tình viên của rượu bia, người ăn quá nhiều thịt mỡ, đối tượng thường dùng thuốc… nên lưu ý vài điểm quan trọng:  –  Cần tiến hành xét nghiệm acid uric khi đau khớp cấp tính, đặc biệt với dấu hiệu sưng nóng đỏ, đau ở khớp nhỏ như khớp ngón chân, ngón tay, hay khi gặp cơn đau do sạn thận.  –  Nên theo dõi lượng acid uric trong máu để thẩm định tình trạng thoái biến chất đạm, như ở người vừa được xạ trị, giải phẫu, sau chấn thương, trên đối tượng thiếu máu vì bệnh bội nhiễm (sốt rét, sốt xuất huyết) hay do bệnh nội tiết.  Trong điều kiện bình thường, hàm lượng acid uric ở nam giới (3,6 – 8,2mg/dl) cao hơn ở nữ giới (2,3 – 6,1mg/dl). Lượng acid uric ở người lớn tuổi cũng cao hơn ở người còn trẻ. Tuy vậy, lượng acid uric có ý nghĩa bệnh lý, nghĩa là có khả năng kết tinh thể trong khớp, trong thận… khi vượt quá giới hạn 6,5mg/dl.  Bên cạnh bệnh thống phong, acid uric có thể tăng cao trong nhiều trường hợp:  – Lạm dụng chất đạm và chất mỡ trong chế độ dinh dưỡng, đặc biệt ở người béo phì.  – Bệnh tủy xương, ung thư máu.  – Trong thời gian hóa trị hay xạ trị.  – Bệnh di truyền rối loạn biến dưỡng.  – Bệnh nội tiết như bệnh tuyến giáp, tiểu đường.  – Thai kỳ.  – Nhiễm độc kim loại nặng như chì, cadmium.  Ngược lại, acid uric có thể giảm nhiều trên đối tượng:  – lạm dụng thuốc trị thống phong.  – mắc bệnh viêm gan mạn.  – có bệnh rối loạn biến dưỡng chất đạm di truyền.  – bị nhiễm độc kim loại nặng như nhôm, đồng.  Trong cả hai trường hợp, dù tăng hay giảm, đừng mất bình tĩnh khi nhận kết quả xét nghiệm. Trị số acid uric trong máu có thể bị ảnh hưởng sai lệch bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn:  – Chế độ dinh dưỡng quá nhiều chất đạm, đặc biệt là đồ lòng, bột nêm từ thịt, cá mòi, rượu bia…  – Kiêng khem thái quá.  – Dùng thuốc lợi tiểu, chống ung thư, giảm đau, cortisol, loãng máu.  Thêm vào đó, tuy acid uric là nhân tố quyết định, nhưng thầy thuốc sẽ phải kết hợp với một số xét nghiệm khác để xác định mức độ viêm tấy trong trường hợp đau khớp cấp, như:  – Công thức bạch cầu.  – Vận tốc lắng máu.  – Hàm lượng C-reactive protein (CRP).  – Lượng acid uric trong nước tiểu nếu nghi ngờ tình trạng tăng acid uric có liên quan đến quy trình bài tiết chất này qua nước tiểu.  Như thế, nếu chỉ dựa vào acid uric để biên toa thì đúng là phiến diện. Nhưng theo dõi lượng acid uric trong máu là cần thiết. Không chỉ vì bệnh thống phong mà vì tình trạng tăng acid uric trong máu hầu như bao giờ cũng có mối liên hệ không nhiều thì ít với bệnh chứng nào đó, nếu không tiểu đường thì rối loạn chức năng tuyến giáp, nếu không cao huyết áp thì rối loạn biến dưỡng chất béo. Hiểu rõ về acid uric không chỉ để đừng quá sợ bệnh thống phong mà để kịp thời dự phòng nhiều bệnh chứng khác nghiêm trọng hơn nhiều.  Kỳ sau: Xét nghiệm nội tiết tố phụ nữ      P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang XOÀI CÁT HÒA LỘC SOHAFARM      Xoài cát Hòa Lộc ở ĐBSCL nổi tiếng từ lâu ở nhiều nhà vườn trong vùng. Nhưng trồng xoài để đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, đến nay, mới chỉ nông trường sông Hậu ở Cần Thơ làm được một cách bài bản. Mới đây, Sở Khoa học &amp; Công nghệ thành phố Cần Thơ đã quyết định hỗ trợ 0,6 tỷ đồng cho dự án nâng chất trái xoài cát Hòa Lộc mà nông trường đã có đề tài thử nghiệm thành công.    Từ chuyện trái xoài!  Nông trường viên của nông trường Sông Hậu (NTSH), đã không còn lạ với sự có mặt của nhiều cán bộ, kỹ sư nông nghiệp trong thời gian qua. Cứ ngày ngày, họ lại đến những “khu vườn điểm” của nông trường viên, lúi húi ghi chép, phun thuốc xịt lá, theo dõi từng cành xoài, nhánh bông. Ban đầu, cũng vài người thắc mắc. “À. Chúng tôi tiến hành công tác thử nghiệm theo đề tài nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật xử lý tiền thu hoạch để nâng cao phẩm chất, kéo dài thời gian tồn trữ của xoài cát Hoà Lộc”- một trong 3 đề tài phụ trợ cho dự án nghiên cứu để nâng cao sức cạnh tranh của trái xoài, mà NTSH làm “chủ xị” ấy mà”. Câu trả lời của các kỹ sư, tạo sự háo hức quan tâm của rất nhiều nông trường viên. Họ chờ, chờ dự án thành công, đưa vào ứng dụng. Bởi bấy lâu, không nói ra nhưng họ “tủi” lắm. “Cứ thấy trái xoài nào dài ngoằng, ốm nhách là biết của NTSH. Ngon ngọt thật đấy, nhưng ra thương trường thì làm sao bắt mắt được so với xoài Thái?”.  Dự án này, thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan nghiên cứu. Từ Sở Khoa học & Công nghệ Cần Thơ, Sở NN & PTNT Cần Thơ, khoa Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học (trường Đại học Cần Thơ) đến Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (Long Định, Tiền Giang)… Tất cả đều chung sức, cùng NTSH “giải phẩu thẩm mỹ” cho trái xoài cát Hòa Lộc bằng nguồn kinh phí khoảng 400 triệu đồng.  Các nhà khoa học đã mày mò ứng dụng từng chi tiết, từng khâu. Nào là bơm tưới, tỉa cành, tạo tán, áp dụng chế độ dinh dưỡng mới cho cây. Hàng loạt thí nghiệm về ảnh hưởng hóa chất kháng sâu bệnh. Trái xoài hái xuống, được bảo quản trong chế độ lạnh thế nào, nhiệt độ, màng bao ra sao…          Tiến sĩ Toàn cho biết: “Qua kết quả thử nghiệm từ những trái xoài tại nông trường Sông Hậu, cho thấy, “tuổi thọ” của trái sau khi rời cây, kéo dài đến bốn tuần lễ. Bí quyết chính là bảo quản trong nhiệt độ thấp, ức chế quá trình chín. Còn việc áp dụng những kỹ thuật tiền thu hoạch, giúp nâng cao tỉ lệ trái đạt phẩm chất”.  Sau khi thu hoạch, những trái không đạt tiêu chuẩn phải loại bỏ. Tiếp đó, trái được ngâm trong 5- 10 phút với nước nóng 55 độ C. Cộng thêm một sự hỗ trợ của một số chất như benomyl (diệt nấm), chitosan (có trong vỏ tôm… giúp trái không bị mất nước)… thì theo tiến sĩ Toàn, thời gian bốn tuần để giữ trái xoài trong nhiệt độ bảo quản 10- 12 độ C, độ ẩm 90% hoàn toàn không khó. Thậm chí, trong các xe chuyên vận chuyển thủy sản, tại các siêu thị, môi trường bảo quản như vậy là hoàn toàn tạo được.      Bắt đầu từ vụ thu hoạch hồi năm 2003 đến nay, những cây xoài “tham gia dự án” đều cho trái no tròn, bóng vỏ và ít bị rụng non. Kích cỡ, chất lượng thì khỏi nói. To đều hơn, nặng 700- 800gr/trái, ngọt thanh hơn. Điều mà nhiều nông trường viên cho rằng “kỳ lạ”, chính là những trái xoài này bảo quản được hơn 1 tháng, thay vì những trái xoài khác chỉ một tuần. Nông trường viên hân hoan: “Xoài xuất khẩu là đây. Những trái xoài này đã tự khẳng định: “chúng ta” không còn thua ngay trên sân nhà trước xoài Thái nữa”.          Theo chị Trần Ngọc Sương (Ba Sương), Giám đốc NTSH, đây là dự án mà NTSH ấp ủ, tâm huyết từ rất lâu. Nông dân cứ than giá trái cây như nước lớn nước ròng, chính quyền cứ an ủi dân theo con nước ròng nước lớn. Chuyện để đảm bảo lợi nhuận cho nông sản trước áp lực thị trường, chính là giảm chi phí, nâng cao chất lượng. Làm được điều này, cũng thoát dần được “bức tranh” ảm đạm của trái cây Việt Nam khi sản lượng xuất khẩu hàng năm quá khiêm tốn mà thời gian bảo quản chính là một trong các điểm yếu.  Lạc quan!  Tiến sĩ Hà Thanh Toàn- Giám đốc Viện nghiên cứu và Phát triển công nghệ sinh học (Đại học Cần Thơ), một trong những người cùng cộng tác với đề tài nghiên cứu nâng chất xoài cát Hòa Lộc của NTSH, phân tích: “Trái xoài cũng như nhiều loại trái cây nhiệt đới khác, chứa hàm lượng đường cao. Do vậy, trái xoài luôn chín vàng sau khi thu hoạch 3- 4 ngày, và khoảng bốn ngày tiếp đó, vỏ trái bị thâm đen, hư dần. Các nhà xuất khẩu “bó tay”, không thể vận chuyển”.  Hô hào nhiều, nhưng nào ai đứng ra làm. Hiểu điều đó, khi tranh thủ được kinh phí, hồi năm 2001, NTSH đứng ra “mời gọi” các nhà khoa học, bắt tay làm ngay, trước mắt là cho trái xoài. Ai bảo chạy dự án, để tư túi hưởng lợi một mình? Nói riêng cho NTSH cũng phải, bởi chị Ba Sương đã nhiều lần chỉ đạo phải tạo sức cạnh tranh đối với hàng chủ lực nông sản của đơn vị. Nhưng phải kể ra, cho 150.000 cây xoài của NTSH, rồi còn hàng triệu cây ở ĐBSCL. Chị Ba Sương đã nhiều lần khẳng định: “NTSH không “xấu bụng giấu nghề” đối với dự án này”.  Tiến sĩ Hà Thanh Toàn khoe: “Đề tài áp dụng công nghệ sau thu hoạch đã đạt trên 80%. Xoài ở NTSH đang cho trái rất tốt. Chúng tôi đang hoạch định kế hoạch để phát triển áp dụng cho nông dân ĐBSCL ngay sau khi nghiệm thu. Có thể nói, đây là bước đột phá lớn trong việc ứng dụng khoa học vào cây trồng”. Nhất định, những trái xoài cát Hòa Lộc sẽ sắp hàng quảy gánh đi Tây.  Theo Bộ Thương mại: trong bảng xếp hạng trái cây nhiệt đới được ưa chuộng nhất trên thị trường Thế giới, xoài là loại quả chiếm tỉ trọng và giá trị lớn nhất. Nhiều chuyên gia nước ngoài cũng nhận xét: Việt Nam có 3 loại quả là vải thiều (miền Bắc), xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi (miền Nam) có thể trở thành hàng xuất khẩu chủ lực vì mùi vị độc đáo.  Như vậy, NTSH đã đi trước đón đầu. Ngoài xoài, nơi đây đang phát triển mạnh diện tích trồng xen canh bưởi Năm Roi. Và với những thành công từ đề tài nghiên cứu trên, NTSH vừa được sở Khoa học& Công nghệ thành phố Cần Thơ hỗ trợ 0,6 tỷ đồng để nhân rộng dự án.  Không chỉ trái xoài!  Theo thông tin từ Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ, các nhà khoa học tại đây còn tìm ra “công thức” bảo quản cho cả trái thanh long, bưởi Năm Roi, nhón và cam sành.  “Trái bưởi, nhãn và cam sành có thể bảo quản được hai tháng, còn trái thanh long “sống” được đến sáu tuần”- tiến sĩ Toàn, cho biết. Với thời gian như vậy, theo ông, các nhà xuất khẩu trái cây hoàn toàn có thể chủ động tìm kiếm thị trường xuất khẩu thích hợp- trước hết là các nước Châu Á.  Riêng trái thanh long, các nhà khoa học đang tìm bí quyết để tăng thời gian bảo quản đến tám tuần, nhằm đáp ứng xuất khẩu tận Mỹ, Canada…  Điều mà chính ông Toàn còn băn khoăn, là hầu hết những nghiên cứu trên đều không phải theo đơn đặt hàng- tức các nhà xuất khẩu trái cây vẫn thờ ơ hoặc chưa biết. Trong khi đó, việc ứng dụng những công nghệ bảo quản các loại trái cây trên vào thực tế không khó. “Kỹ thuật đơn giản. Còn vốn đầu tư? Như đối với trái xoài, nhà xuất khẩu chỉ cần đầu tư khoảng 100 triệu đồng đã có được một trung tâm tập kết và xử lý bảo quản”- tiến sĩ Toàn, khẳng định.  Thật nghịch lý, khi những nghiên cứu thành công này vẫn được xếp xó tại Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ, dù họ sẵn sàng chuyển giao. Còn các nhà xuất khẩu vẫn than trời, rằng: “Sao trái cây Việt Nam khó mang đi xa vì mau…/.  Hồ Hùng      Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng công nghiệp hạt nhân tiên tiến      Một thế hệ mới các kỹ sư, doanh nhân, các nhà đầu tư đã tích cực nghiên cứu vấn đề thiết kế và thương mại hóa các lò phản ứng tiên tiến. Điều này xuất phát từ một thực tế: cần thiết phải gia tăng điện năng để cung cấp cho 1,3 tỷ người trên thế giới trong tình huống phải giảm phát thải carbon để ứng phó với biến đổi khí hậu.      Nước Mỹ đã đạt nhiều tiến bộ lớn trong  lĩnh vực công nghệ năng lượng từ khai thác năng lượng tái tạo (mặt trời  và gió), tách chiết dầu từ môi trường cát đá bằng thủy lực (hydraulic  fracturing), lưu trữ điện năng bằng ắc quy, phát triển công nghệ điều  nhiệt tự động,…  Các nhà khoa học Mỹ cho rằng trước mắt năng lượng hạt nhân cần phải được phát triển để được lọt vào danh sách các tiến bộ đó.  Một thế hệ mới các kỹ sư, doanh nhân, các  nhà đầu tư đã tích cực nghiên cứu vấn đề thiết kế và thương mại hóa các  lò phản ứng tiên tiến. Điều này xuất phát từ một thực tế: cần thiết  phải gia tăng điện năng để cung cấp cho 1,3 tỷ người trên thế giới trong  tình huống phải giảm phát thải carbon để ứng phó với biến đổi khí hậu.  Tổ chức nghiên cứu mang tên THIRD WAY  (Con đường thứ ba) của các chuyên gia cố vấn cùng với khoảng 50 công ty  sở hữu vốn nhiều tỷ đô la đang phát triển những nhà máy điện hạt nhân  tiên tiến ở Mỹ và Canada. Những doanh nghiệp khởi nghiệp và những nhà  đầu tư lớn như Bill Gates đánh cược vào sự phục hưng hạt nhân với hy  vọng đưa công nghiệp điện hạt nhân đi đầu trong vấn đề cắt giảm phát  thải khí carbon trên thế giới.  Trên cơ sở tình hình công nghiệp hạt nhân  tiên tiến ở Bắc Mỹ, bản báo cáo đề cập đến những thông tin chi tiết về  các công ty, tập đoàn đang thiết kế các lò phản ứng tiên tiến. Đây sẽ là  những tiến bộ trong công nghệ điện hạt nhân sau thời đại vàng (Golden  Age of Nuclear).   Công nghệ mới gồm những lò phản ứng tiền tiến hiệu quả hơn, an toàn hơn, có một phần dấu ấn của LWR (các lò LWR này chiếm 20 % điện năng của Mỹ). Với công nghệ mới này, các nhà máy không chỉ tái sử dụng được nhiên liệu đã cháy mà còn có thêm ưu điểm là kinh phí xây dựng ít hơn và dễ ngừng hoạt động nếu xảy ra sự cố.  Để ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu, thế giới cần 40% điện năng từ các nguồn không phát thải carbon theo đánh giá của IEA. Các tổ chức IPCC của Liên hiệp quốc và EPA của Mỹ cho rằng, chúng ta không thể thực hiện được điều đó nếu chỉ dựa vào năng lượng tái tạo.   Do đó IPCC kêu gọi cần phải xây dựng hơn 400 nhà máy điện hạt nhân trong vòng 20 năm đến. Điều đó có nghĩa phải tăng gấp đôi số nhà máy điện hạt nhân đang vận hành (hiện con số này là 435).  Như vậy năng lượng hạt nhân đang ở vào điểm phục hồi. Và công nghệ tiên tiến sẽ là yếu tố quyết định cho việc vừa ứng phó biến đổi khí hậu vừa thỏa mãn nhu cầu điện năng của thế giới.  Công nghệ hạt nhân tiên tiến  Có hơn 50 dự án của các doanh nghiệp và tổ chức đang thiết kế những lò phản ứng  mô-đun nhỏ (sử dụng một phần thiết kế các LWR đang vận hành). Các nhà máy điện hạt nhân hiện đại sẽ sử dụng nhiên liệu công nghệ mới, chất làm mát như muối nấu chảy, khí nhiệt độ cao, kim loại lỏng thay vì nước dưới áp suất cao và cả lò phản ứng nhiệt hạch để tạo điện năng.    Một mẫu lò phản ứng SMR  Những công ty đó được xây dựng và tài trợ nhờ những nhà cải cách và những nhà đầu tư khi họ thấy lợi ích trong việc đưa ra câu trả lời cho nghịch lý năng lượng toàn cầu: có 1,3 tỷ người cần được tiếp cận với năng lượng đồng thời thế giới vẫn phải giảm phát thải khí carbon.  Bảng danh sách (xem Phụ lục) liệt kê các công ty và tập đoàn ở Bắc Mỹ đang tiến hành thiết kế các loại lò phản ứng hạt nhận tiên tiến. Trong bảng danh sách này, ta thấy mấy đặc điểm:  1. Vị trí các công ty và địa điểm nghiên cứu làm thành một dải rộng quét từ Đông sang Tây nước Mỹ và Canada. Hơn 20 bang tiến hành nghiên cứu năng lượng hạt nhân hiện đại.  2. Trong các phỏng vấn, Third Way đã tiếp xúc với nhiều công ty rất đa dạng, từ những nhà doanh nghiệp tự do, những nhà đầu tư mạo hiểm dựa trên kết quả sản phẩm nghiên cứu (spin-off) của những trường đại học đến những tập đoàn quốc tế.  3. Vấn đề chất làm mát: khi nước thông thường là chất làm mát và làm chậm của đa số LWR hiện nay thì đối với thế hệ các lò phản ứng mới chúng ta có một lựa chọn rộng rãi hơn. Sự lựa chọn đó gồm: kim loại lỏng, khí nhiệt độ cao và muối nấu chảy. Các lò phản ứng mới sử dụng những chất làm mát này an toàn hơn các LWR cũ. Nhiệt độ càng cao của các chất làm mát như helium, kim loại lỏng và muối nấu chảy càng thích hợp cho việc ứng dụng kỹ nghệ xử lý nhiệt độ cao.   4. Song song với việc chuyển biến từ các LWR sang các SMLWR tập thể  Third Way còn được sự đồng tình từ phía các công ty lớn và nhỏ trong vấn đề nghiên cứu lò phản ứng nhiệt hạch. Mặc dầu công nghệ này còn phải được tiếp tục nghiên cứu nhiều để đạt đến giai đoạn thương mại hóa song cơ bản đã có nhiều bước tiến bộ về công nghệ nhiệt hạch.  5. Hơn 50 công ty đã bắt đầu công việc và hy vọng một thập kỷ nữa chúng ta sẽ chứng kiến một ngành công nghệ năng lượng hạt nhân cách mạng hoàn toàn mới.  Sự tiến triển của công nghệ điện hạt nhân  Các loại lò SMR theo định nghĩa của IAEA là loại lò công suất nhỏ hơn 300 MWe (hay nói chung < ¼  kích cỡ của LWR thông dụng), là loại lò có thể đóng vai trò chuyển tiếp đến những loại lò tiền tiến. SMR đang trên con đường tiến đến thương mại hóa.  Nhờ đòi hỏi vốn đầu tư ít hơn, thời gian xây dựng ngắn hơn so với LWR cho nên SMR có thể thay thế các nhà máy điện thải nhiều carbon đã già cỗi.  Thế hệ các lò phản ứng tiên tiến mới có thể vượt qua những thách thức mà ngành điện hạt nhân đối diện: vấn đề xử lý chất thải, vấn đề lan truyền vũ khí hạt nhân và giá thành xây dựng.   Các SMR dễ dàng cung cấp điện năng cho những vùng xa, ít dân, những vùng không nối liền với lưới điện quốc gia. SMR có thể cung cấp nhiệt năng cho các cơ sở kỹ nghệ, cho các nhà máy khử muối (desalination), cho các căn cứ quân sự và còn có thể giúp điều tiết phụ tải điện năng.  Các đặc điểm trong thiết kế hiện đại  Sau đây là những chi tiết định lượng trong quá trình diễn biến từ LWR đến SMR và các lò phản ứng hiện đại.                     LWR      SMR      LPƯ tiền   tiến          Thiết kế      Nước làm   chậm  Phản ứng   phân hạch         Tương tự   LWR song nhỏ hơn và ít phức tạp hơn      Chất làm   chậm: nước, muối nấu chảy, kim loại lỏng, khí          Công suất         800 MWe   đến 1600 MWe      < 300   MWe       2MWe đến 1200 MWe          Giá thành   xây dựng ($/kWe)       2600$ đến 6600 $       3.200$ đến 16.300$      2.500 $ đến 3.900 $          Thời gian   xây dựng      4,5 năm   đến 6 năm       1,5 năm đến 2,5 năm (modun tại xưởng)      1 đến 5   năm (modun tại xưởng hoặc tại chỗ)          Nhiên   liệu cháy (MT/năm)      Trung   bình 20 MT      Nhiều hơn   33,6 MT         Có thể   đến 55 MT             Vận hành       Cần sự   can thiệp con người để đóng lò.Một số có khả năng trì hoãn sự can thiệp của   con người trong trường hợp sự cố      Một số lò   tự động đóng một số khác có khả năng trì hoãn sự can thiệp của con người      Nhiều   thiết kế lò tự động đóng không cần can thiệp          Yếu tố   liên quan đến nguy cơ lan truyền vũ khí hạt nhân      Sử dụng   uranium làm giàu      Sử dụng   uranium làm giàu      Sử dung   uranium làm giàu, uranium nghèo và nhiên   liệu đã cháy                      Về tập thể Third Way (Con đường thứ ba)   Đây là một tập thể chuyên gia cố vấn (think-tank) nhằm khuyến cáo cách ứng phó với những thách thức đối với nước Mỹ về những ý tưởng hiện đại hướng đến một xu hướng trung dung ôn hòa (centrist). Họ khuyến cáo sự tăng trưởng kinh tế tư nhân, khuyến cáo một chiến lược thông minh an toàn, một chính sách năng lượng sạch, một nền chính trị ôn hòa không chia rẽ.   Các khuynh hướng của tập thể Third Way phản biện lại các giáo điều cứng nhắc của phía tả và hữu.   Tập thể này cho rằng con đường thứ ba là con đường đúng đắn loại trừ được các sai lầm của phía tả và hữu. Con đường thứ ba có khả năng tập hợp nhiều người. Tập thể này thường được mệnh danh là “nguồn của những ý tưởng mới mẻ và chính xác” trong các chủ trương.   Trong phạm vi năng lượng THIRD WAY phản biện ý thức hệ cứng nhắc trong ứng phó với thay đổi khí hậu vốn cho rằng chỉ duy nhất năng lượng tái tạo mới là câu trả lời đúng đắn. Họ chủ trương một chương trình năng lượng sạch (Clean Energy Program) trong đó mọi nguồn năng lượng sẽ là câu trả lời cho vấn đề ứng phó biến đổi khí hậu và nhấn mạnh khả năng thương mại hóa năng lượng hạt nhân tiền tiến để giảm bớt khí thải carbon do nhiên liệu hóa thạch.    Nhiều khuyến cáo của tập thể này đã trở thành những khuyến cáo có tính luật pháp và hành pháp.   Họ tin rằng Third Way, trong đó năng lượng hạt nhân đóng một vai trò quan trọng, sẽ là nơi đóng vai trò gợi mở chính sách năng lượng của một quốc gia.  Cao Chi biên dịch  Nguồn: http://www.thirdway.org/report/the-advanced-nuclear-industry  Phụ lục  Các dự án lò phản ứng tiền tiến ở Bắc Mỹ (USA + Canada).   Các cột từ trái sang phải là: tên công ty , địa điểm, loại lò thiết kế            Các chữ viết tắt và các từ chuyên môn tiếng Anh sử dụng trong báo cáo  Coolant- chất làm mát.  EPA (Environmental Protection Agency) – Cục Bảo vệ môi trường Mỹ  Fast reactor – lò phản ứng nhanh  Fission – phân rã hạt nhân  Fusion – tổng hợp hạt nhân (nhiệt hạch)  IAEA (International Atomic Energy Agency) – Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế  IEA (International Energy Agency) – Cơ quan năng lượng quốc tế   IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) – Tổ chức liên chính phủ ứng phó biến đổi khí hậu   Liquid metal – kim loại lỏng  LWR (Light Water Reactor) – Lò phản ứng nước nhẹ  Moderator – chất làm chậm  Molten salt – muối nấu chảy  Nuclear battery – ắc quy hạt nhân  Pebble Bed Reactor – lò phản ứng đáy cuội, lò phản ứng trong đó nhiên liệu là những  hình cầu nhỏ như đá cuội ở đáy vùng hoạt.  PWR (Pressurized Water Reactor) – lò phản ứng nước áp lực  SCR (Supercritical reactors) – lò phản ứng siêu tới hạn hoạt động trong những điều kiện quá tới hạn của áp suất và nhiệt độ  SMR (Small Module Reactor) – lò phản ứng mô đun nhỏ  SMLWR (Small Modular LWR) – lò phản ứng LWR mô đun nhỏ           Xem thêm  Xu hướng Phục hưng điện hạt nhân trên thế giới                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng nóng ấm chững lại và sự xuống cấp chữ tín trong khoa học      Ba năm trước tôi từng viết một bài báo đăng trên tạp chí Tia Sáng1 về biến đổi khí hậu có tựa đề “Biến đổi khí hậu toàn cầu giữa khoa học và chính trị”. Bản báo cáo IPCC lần thứ 5 được công bố gần đây cho thấy chúng ta cần cập nhật và đánh giá lại hiện trạng tình hình.    Trong vòng một thế kỷ gần đây, nhiệt độ bề mặt Trái đất đã tăng khoảng 0,70 C. Đặc biệt trong nửa sau của thế kỷ, mật độ CO2 trong khí quyển tăng nhanh do những hoạt động của con người như đốt nhiên liệu gốc hóa thạch và phá rừng. Tuy nhiên, con người vẫn chưa hoàn toàn chứng minh được có mối quan hệ nhân quả giữa việc tăng hàm lượng CO2 và tăng nhiệt độ toàn cầu. Chúng ta chưa có được những thông tin chi tiết, do chưa đủ hiểu biết về quá trình hình thành mây, vai trò chính xác của nước đối với CO2, về mối tương tác giữa các đại dương và băng ở hai cực.  Với giả định rằng Trái đất là một thực thể đen tuyền vây bọc bởi khí quyển, [tính toán thống kê cho thấy] hàm lượng CO2 tăng gấp đôi sẽ khiến nhiệt độ bề mặt hành tinh tăng xấp xỉ 1,20 C. Nhưng nếu chúng ta điều chỉnh bài toán thống kê với sự gia tăng vai trò của những tác nhân như các đại dương, các đám mây, gió, mức bay hơi của thảm thực vật, v.v, sẽ cho các kết quả thống kê rất khác biệt – giả dụ với mức bay hơi thay đổi khoảng xấp xỉ dưới 5% thì tác động tới nhiệt độ hành tinh đã là rất lớn. Nó cho thấy sự nóng ấm toàn cầu có thể thuần túy do những nguyên nhân mang tính tự nhiên, hoặc thuần túy do con người, hoặc do cả hai – song chúng ta lại chưa biết được tỷ trọng ảnh hưởng của mỗi tác nhân. Hơn nữa, con người có thể mất tới vài thập kỷ thu thập dữ liệu để có những đánh giá xác đáng sát với thực tế.  Tuy nhiên, việc gia tăng nhiệt độ là vấn đề ảnh hưởng tới sinh mạng của rất nhiều người, vì vậy Liên Hợp Quốc đã thành lập Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) có nhiệm vụ đánh giá “những thông tin khoa học, công nghệ, và kinh tế – xã hội liên quan tới nguy cơ con người gây ra biến đổi khí hậu”. Trong Báo cáo Đánh giá lần 4 vào tháng 11 năm 20072, IPCC khẳng định “có 5% khả năng là hiện tượng nóng lên toàn cầu thuần túy chỉ gây ra bởi các tiến trình tự nhiên. Nhiệt độ toàn cầu có thể tăng từ 1,10 C tới 6,40 C trong thế kỷ 21; có trên 90% khả năng sẽ xảy ra thường xuyên hơn các hiện tượng nóng lên, sóng nhiệt, và mưa lớn; có trên 66% khả năng sẽ gia tăng các trận hạn hán, xoáy tụ nhiệt đới, và sóng biển rất lớn; việc xả khí thải CO2 trong quá khứ và tương lai đều sẽ tiếp tục đóng góp vào hiện tượng nóng ấm và tăng mực nước biển trong vòng hơn một thiên niên kỷ”.  Ở đây IPCC phải đối diện một lựa chọn khó khăn: hoặc là làm một báo cáo khách quan và khoa học nhưng không đưa ra được một thông điệp dứt khoát để thuyết phục các nhà làm chính sách; hoặc là đưa ra thông điệp mà họ cho là đúng đắn, để rồi vấp phải sự phản đối của giới khoa học. Thực tế là IPCC đã quyết định chọn lựa chọn thứ hai. Điều này gây ra một hậu quả ngoài dự kiến, đó là tình trạng xung đột và căng thẳng trở nên phổ biến trong cộng đồng làm khoa học. Chưa kể còn liên quan tới những lợi ích chính trị và tài chính rất quan trọng. Thông tin tới công chúng bị phụ thuộc vào giới truyền thông, trong khi Internet trở thành trận địa riêng giữa hai phe, một bên là những người ủng hộ thuyết khí hậu nóng ấm gây ra bởi con người, còn bên kia là những người nghi ngờ. Một số hành vi phản khoa học trở nên phổ biến, như che giấu dữ liệu nhằm bảo vệ cho luận điểm riêng (như vụ tai tiếng Climategate), hoặc xào xáo khoa học vào những hoạt động mang tính phong trào như Greenpeace hay Quỹ World Wildlife (bao gồm cả chủ tịch của IPCC, TS. Rajendra Pachauri. Hậu quả là hình ảnh khoa học trước công chúng trở nên xuống cấp nghiêm trọng.        Cục diện hiện nay?   Sự ổn định tương đối của nhiệt độ bề mặt Trái đất trong vòng 15 – 20 năm qua – người ta gọi đây là một sự chững lại, hay một gián đoạn – có vẻ như sai lệch rõ ràng với những dự đoán theo mô hình đưa ra bởi IPCC (xem hình 1). Bên cạnh đó, một sai lệch thậm chí còn lớn hơn về cái gọi là điểm nóng, một dự đoán khá phổ biến từ các mô hình giả lập biến đổi khí hậu, cho rằng tình trạng nóng ấm sẽ gia tăng mạnh hơn ở các vĩ tuyến khu vực nhiệt đới, hay các vĩ tuyến khu vực giữa của vùng ôn đới, nhưng kết quả quan sát thực tế đã chứng minh hiệu ứng này hoàn toàn không đáng kể (xem hình 2).           Hình 1. So sánh dự đoán từ các mô hình (các đường nét mảnh) với quan sát thực tế (các đường in đậm bên dưới) về xu hướng nhiệt độ vùng khí quyển thấp so với của năm 1979.        Hình 2. So sánh giữa dự đoán từ các mô hình (những đường có nét mảnh) và quan sát trong thực tế (các điểm vuông và tròn bên dưới) về xu hướng nhiệt độ khoảng giữa tầng bình lưu so với của năm 1979.           Một vấn đề nữa, mặc dù không thật sự quan trọng, là sự hồi phục của băng phủ vùng cực trong mùa hè năm 20133, bên cạnh đó là sự vắng bóng những cơn bão lớn4, một mặt gây mâu thuẫn với các dự đoán trước đây, mặt khác làm bùng lên xu hướng phê phán từ phía những người nghi ngờ hiệu ứng nóng ấm toàn cầu, những người gần đây vừa đưa ra một báo cáo tương phản với báo cáo của IPCC, có tựa đề “Xem xét lại biến đổi khí hậu: II” 5. Họ nhấn mạnh vào những sai lệch từ các dự đoán của các mô hình biến đổi khí hậu mà thực tế cho thấy là không hề xảy ra. Ví dụ như những dự đoán về nhiệt độ khí quyển tăng trên 0.30 C so với 15 năm trước, nhiệt độ đại dương tăng trên 0,20 C so với năm 2000, băng ở Nam Cực tan dần vào cuối thế kỷ 20, hay dự đoán rằng nhiệt độ sẽ tăng 30 C khi lượng khí thải CO2 cao gấp đôi thời kỳ tiền công nghiệp trong khi thực tế quan sát cho thấy nhiệt độ chỉ tăng thêm 10 C. Các mô hình này cũng đánh giá quá thấp (bằng 1/3 thực tế) hiệu ứng của việc bốc hơi nước trên bề mặt khi nhiệt độ tăng; giả định sai rằng khí thải CO2 là nguyên nhân duy nhất khiến nhiệt độ tăng từ khi bắt đầu thời đại công nghiệp; lờ đi những biến động mang tính nội tại của các đại dương như AMO và PDO (hay còn gọi là El Niño/La Niña); bỏ qua tác động của chu kỳ mặt trời đối với luồng tia vũ trụ và ảnh hưởng hệ quả tới sự hình thành các đám mây6; mô hình hóa sai lệch những thay đổi do các hạt aerosol (những hạt nhỏ lơ lửng trong không khí); chưa kể các mô hình giả lập này còn bị giới hạn nghiêm trọng bởi những hạn chế trong năng lực tính toán và sự thiên lệch. Trong khi đó, với những nhà khoa học tỏ ra trung dung và khách quan, quan điểm phổ biến vẫn cho rằng con người vẫn chưa đủ kiến thức để đưa ra những dự đoán đáng tin cậy7.  Một sự cố đáng tiếc khác, đôi khi được gọi là Glaciergate, là tuyên bố đáng kinh ngạc mà báo cáo IPCC 2007 đưa ra, rằng khả năng băng phủ dãy Himalaya “sẽ biến mất vào năm 2035 hoặc có thể sớm hơn là rất cao”, vốn là một thông điệp được cắt dán lại từ một kết luận của WWF, tuy chưa hề được các chuyên gia độc lập thẩm định nhưng lại lọt lưới qua hàng ngàn đôi mắt các nhà khoa học của IPCC. Đây là sự cố làm ảnh hưởng tới uy tín của toàn bộ IPCC, đặc biệt với cách phản ứng kiêu ngạo của vị chủ tịch ủy ban này sau khi sự cố này bị phát hiện.    Tháng 3 năm 2010, Hội đồng Học thuật Quốc tế, một tổ chức  có sự góp mặt của vài viện hàn lâm khoa học quốc gia, được yêu cầu thẩm định các quy trình của IPCC; họ đưa ra báo cáo kết luận vào tháng 10 cùng năm8, với sự đánh giá khá công bình, trong đó ngoài việc ghi nhận những thành quả và tán thành trên bình diện tổng thể các kết luận của IPCC, báo cáo còn phê phán nghiêm khắc các hoạt động quản trị, quản lý, và thông tin của tổ chức này.   Hậu quả là ấn tượng của công chúng về khoa học thêm một lần nữa bị xuống cấp.  Báo cáo IPCC lần thứ năm  Trong bối cảnh như vậy IPCC (WG1) đưa ra Báo cáo lần thứ năm9 vào ngày 27 tháng 9, 2013.  Nhìn chung, báo cáo này xác nhận lại những kết luận của báo cáo lần thứ tư được đưa ra từ 6 năm trước. Họ ghi nhận tình trạng chững lại của xu hướng gia tăng nhiệt độ, nhưng mặt khác lại có những nỗ lực vụng về và đáng tiếc để làm giảm thiểu ý nghĩa quan trọng của vấn đề này, thể hiện qua những chỉnh sửa gây khác biệt giữa bản chính thức được công bố cho công chúng so với bản thảo cuối cùng bị rò rỉ trước đó. Về cơ bản họ cho rằng những biến động như vậy trong khoảng thời gian vài thập kỷ là điều bình thường, và không thể được coi là căn cứ để phủ nhận xu hướng nóng ấm toàn cầu trong lâu dài.  Họ nói như sau: “trung bình toàn cục của xu hướng biến thiên nhiệt độ cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các khoảng biến động trong các thập kỷ. Xu hướng nóng ấm trong vòng 15 năm qua, dao động trong khoảng 0.05±0.10oC nhỏ hơn so với khoảng dao động 0.11±0.03oC của xu hướng từ năm 1951 tới nay10.[…] Việc giảm xu hướng nóng ấm được quan sát thấy trong giai đoạn 1998-2012 là do xu hướng giảm bức xạ đồng thời với tác động làm mát của những biến động nội tại, trong đó có thể có sự điều hòa nhiệt trên đại dương (ở mức tin cậy trung bình). […] Có thể tin cậy ở mức trung bình rằng những nguyên nhân gây biến động trong khoảng thời gian thập kỷ là nguyên nhân đáng kể tạo ra khác biệt giữa quan sát thực tế và các dự đoán giả lập; các mô hình giả lập đã không dự kiến tới những thời điểm biến thiên mang tính nội tại. Cũng có thể có phần là từ những thiếu sót, và trong một số mô hình đã có sự dự đoán quá cao tác động từ khí nhà kính cùng những hoạt động của con người. […] So với thời kỳ làm báo cáo đánh giá lần thứ tư, các mô hình khí tượng hiện nay đã có tính đến tác động của mây và các hạt aerosol cùng những tương tác của chúng, nhưng việc biểu đạt và lượng hóa các tiến trình này trong các mô hình vẫn có độ tin cậy thấp. […] Có thể tin cậy ở mức trung bình rằng chu kỳ mặt trời biến thiên 11 năm ảnh hưởng tới những biến động khí tượng trên khoảng thời gian thập kỷ. […] Các tia mặt trời làm tăng cường hình thành các hạt trong tầng đối lưu, nhưng tác động đối với mật độ những tâm điểm hình thành mây là quá yếu để tác động tới khí tượng ở mức quan sát thấy được9”.   Nhìn chung, Báo cáo Đánh giá lần thứ năm đem đến cho người đọc cảm giác trung dung, hài hòa, hoàn toàn tương phản với những nhận định căng thẳng bùng lên từ phía những người ngờ vực sau khi bản dự thảo bị rò rỉ; IPCC ghi nhận rằng các mô hình giả lập đã không phản ánh được tình trạng chững lại của xu hướng gia tăng nhiệt độ, quy nguyên nhân là do các núi lửa, Mặt trời, các hạt aerosol, những biến động của đại dương (dạng như El Niño/La Niña) và tác động bức xạ bên ngoài từ khí nhà kính đã không được giả lập một cách thích hợp.   Mặc dù có thể nhất trí với IPCC rằng tốt nhất nên chờ đến Báo cáo Đánh giá lần thứ sáu trước khi hân hoan về sự chững lại, nhưng chúng ta phải lấy làm tiếc vì họ đã không nhìn nhận rằng cơ sở cho các dự đoán trước đây đã có phần không đáng tin cậy, đặc biệt là các dự đoán trong khoảng thời gian một phần tư cuối của thế kỷ 20, thay vào đó họ lại khẳng định rằng “các mô hình giả lập khí tượng đã phản ánh được các xu hướng biến đổi nhiệt độ bề mặt trên quy mô lục địa trong nhiều thập kỷ […] Có rất nhiều khả năng để cho rằng ảnh hưởng của con người là nguyên nhân chủ chốt gây ra tình trạng nóng ấm kể từ giữa thế kỷ 20 tới nay. […] Việc tiếp tục thải khí nhà kính sẽ gây nóng ấm nhiều hơn cùng những biến đổi trên mọi thành phần của hệ thống khí tượng. Giới hạn biến đổi khí hậu đòi hỏi sự cắt giảm đáng kể và lâu dài đối với khí thải nhà kính”. Thật đáng xấu hổ khi người ta cứ khăng khăng tin tưởng vào các mô hình giả lập bất chấp những khiếm khuyết trong dự báo của chúng so với kết quả quan sát thực tế. Nhiều người sẽ coi đây là một sự thiên lệch và càng củng cố thêm mối nghi ngờ cho những kết luận của IPCC.  Dưới góc độ khoa học, cách trình bày và phương pháp luận của IPCC đáng phê phán. Đáng nói nhất là cách họ đưa ra những con số xác suất vô nghĩa nhằm tạo ấn tượng sai lệch cho độc giả rằng các kết luận được đo đếm với độ chính xác cao. Chẳng hạn họ tuyên bố các xác suất 90% hay 95% cho những mệnh đề mà thực ra không thể đo lường xác xuất một cách thích đáng. Khi một người không biết được mô hình của mình có thiếu sót nào, thì làm sao người đó có thể lượng hóa được thiếu sót này thành xác suất cụ thể? Họ coi việc thiếu mối liên quan chắc chắn giữa những thay đổi từ các tia vũ trụ với sự hình thành mây như cái cớ để bỏ qua sự trùng hợp rõ rệt giữa các chỉ số khí tượng với những luồng tia vũ trụ được quan sát thấy, và về cơ bản họ lờ đi mà không thảo luận đến điều này. Sự thiên lệch lộ liễu kiểu này vốn không phải là hiếm. Người ta thường đưa ra những luận điểm dựa trên sự đồng thuận của nhiều ý kiến và xem đó như một tiêu chí khoa học. Nhưng khoa học không thể chỉ thuần túy dựa trên sự bình bầu. Nếu không chắc chắn về tính đúng đắn của một mệnh đề, chúng ta cần xét đến những mệnh đề hợp lý khác và trình bày chúng ra một cách đầy đủ.    Tình trạng trên làm chúng ta nhớ đến những điều xảy ra trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân hồi thập kỷ 1980, khi những luận điểm thiếu căn cứ và cảm tính trở nên thắng thế trong nhận thức của công chúng mà hệ quả là năng lượng hạt nhân ngày nay bị nghiêm cấm ở một số quốc gia. Chúng ta không nên chỉ trích nhiệt huyết của các nhà hoạt động môi trường, thậm chí không thể phê phán khi họ sử dụng những lý lẽ sai lệch – chẳng hạn luận điểm cho rằng băng trên đỉnh Himalaya đang tan – để đánh động ý thức bảo tồn trong công chúng. Nhưng nếu xu hướng này trở nên quá trớn sẽ dẫn đến những quyết định sai lệch gây hậu quả không thể đảo ngược. Ví dụ như đối với năng lượng hạt nhân là loại năng lượng có tính bền vững, an toàn, và sạch hơn so với việc đốt nhiên liệu gốc hóa thạch, nhưng người ta lại phản đối năng lượng hạt nhân và ủng hộ cho các phương thức cracking khai thác khí tự nhiên, hay khoan sâu xuống lòng biển. Có những người còn vô trách nhiệm tới mức nhảy dù xuống tháp làm mát lò phản ứng hạt nhân [để tạo trong công chúng ấn tượng rằng những nhà máy này không đảm bảo tính an ninh], và đánh đồng sự cố Fukushima gây ra bởi sóng thần với nguy cơ tan chảy lõi lò phản ứng [ở các nhà máy khác]. Năng lượng hạt nhân là một lĩnh vực công nghệ cao đòi hỏi sự quản lý với đầy đủ năng lực và tinh thần trách nhiệm, việc đòi hỏi thay đổi định hướng phát triển ngành này một cách tức thời [như những nhà hoạt động môi trường đang đòi hỏi] sẽ không tránh khỏi những mối nguy hại trong lâu dài.  Thái độ tiêu cực hiện thời của các nhà hoạt động môi trường đối với hiện tượng nóng ấm toàn cầu cũng đang dẫn tới những quyết định sai lệch có thể gây hậu quả không thể đảo ngược. Ở phía bên kia, những người ngờ vực đưa ra những lý lẽ vô trách nhiệm, cho rằng nóng ấm toàn cầu không phải là do hoạt động của con người, rằng CO2 trong khí quyển là điều tốt cho nông nghiệp, thậm chí còn cho rằng thế giới đang bước vào thời kỳ nguội lạnh toàn cầu. Nhưng nhân loại đã tồn tại trên Trái đất khoảng 10 tỷ năm và chúng ta đủ tri thức để biết rằng điểm cân bằng về môi trường là rất mong manh, việc tiếp tục gia tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển với tốc độ như hiện nay là sự vô trách nhiệm, và chúng ta chẳng cần IPCC phải thuyết phục để hiểu ra điều hiển nhiên này.               Còn ở phía ngược lại, các nhà hoạt động môi trường cũng vô trách nhiệm một cách tương tự khi họ gửi tới các nhà làm chính sách những thông điệp quá mức cực đoan, như thông điệp của vị chủ tịch của IPCC trong một hội nghị kỷ niệm 20 năm ngày thành lập tổ chức môi trường Green Cross International, rằng “chúng ta chỉ còn 5 phút trước khi nửa đêm”.               Mặc dù hiển nhiên là chúng ta cần điều chỉnh chính sách năng lượng để phù hợp với những hạn chế về nguồn nhiên liệu gốc hóa thạch và nhu cầu bảo tồn môi trường, nhưng chúng ta cần giữ được cái đầu lạnh và cân nhắc cẩn trọng trước khi đưa ra những quyết định quan trọng cho tương lai. Sự hoảng loạn chẳng bao giờ là tốt. Sự gia tăng thái độ bất chấp lý lẽ mà chúng ta đang phải chứng kiến ngày nay, và sự chia rẽ ngày càng sâu sắc giữa những người theo thuyết nóng ấm toàn cầu với những người nghi ngờ sẽ chỉ mang đến thảm họa.   Sẽ là nguy hiểm nếu chúng ta khẩn trương thái quá trước thông điệp của IPCC. Nó sẽ thúc đẩy những khoản đầu tư khổng lồ, như khoản đầu tư lên tới hai trăm năm mươi tỷ USD dành cho năng lượng tái tạo trong năm 2011; những giải pháp quy mô hành tinh gây tốn kém tới vài phần trăm GDP gây tranh cãi về tính hợp lý; kèm theo đó là những dự án không tưởng được cân nhắc, ví dụ như thả hàng ngàn tấn sulphate sắt xuống biển, thả hàng triệu tấn aerosol lên tầng bình lưu, hay đưa hàng triệu km vuông kính lên không gian để phản quang bảo vệ cho Trái đất. Đến nay, hàng tỷ dollar đã được đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô để phát triển ô tô điện, một điều tối vô lý ở những quốc gia sản xuất điện bằng cách đốt nhiên liệu gốc hóa thạch, chưa kể tới nạn ô nhiễm liên quan tới ắc quy của những chiếc xe này. Chúng ta cần cân nhắc kỹ trước những quyết định như vậy để có thể thực sự yên tâm rằng chúng hợp lý và đảm bảo tương lai lâu dài của hành tinh.     Vấn đề về năng lượng mà các thế hệ tương lai phải đối diện là rất lớn, nhiều khả năng sẽ là một trong những yếu tố chi phối đời sống của con người. Giữa một bên là khẩn trương một cách thái quá và bên kia là ngờ vực một cách vô trách nhiệm, chúng ta cần tìm ra sự cân bằng hài hòa để đưa ra những quyết định hợp lý và sáng suốt. Nhưng mối quan hệ ngày càng rõ rệt giữa IPCC và các nhà hoạt động môi trường khiến tổ chức này càng khó có thể giữ được vai trò trung dung như vậy.   Với tư cách là những nhà khoa học và công dân của thế giới, chúng ta có trách nhiệm ngăn không để cuộc tranh cãi về biến đổi khí hậu trở nên nóng bỏng vượt quá mức độ hiện tại. Năm 2007, cái gọi là Dự án Thỉnh nguyện thư Biến đổi Khí hậu công bố một danh sách với hơn 31 nghìn nhà khoa học, trong đó có hơn 9000 người có bằng tiến sĩ, họ khẳng định rằng “không có đủ bằng chứng khoa học thuyết phục để chứng minh rằng hoạt động xả khí carbon dioxide, methane, hay các khí nhà kính khác, đang hoặc sẽ làm nóng ở mức độ thảm họa đối với khí quyển của Trái đất hoặc gây gián đoạn khí hậu của Trái đất.” Điều này cho thấy sự đồng thuận của giới khoa học đối với IPCC chỉ mang tính tương đối.  Tôi xin kết thúc bài viết này bằng trích dẫn từ Judith Curry11: “quá trình tìm kiếm đồng thuận về quan điểm khoa học đã dẫn tới một hậu quả ngoài mong muốn, đó là sự đơn giản hóa vấn đề và giải pháp một cách quá mức, kèm theo đó là chính trị hóa cả hai một cách thái quá, đem sự thiên lệch vào khoa học và tiến trình xây dựng các quyết sách. Các nhà khoa học không nhất thiết cần phải đồng thuận để đưa ra tiếng nói có tính thuyết phục. Tính thuyết phục phải dựa trên sự đáng tin của các luận điểm, trong đó phải có sự phản ánh rõ rang những điểm chưa chắc chắn, những điểm mơ hồ, và những lĩnh vực con người chưa biết, và phải cởi mở hơn nữa trước những bất đồng. Vai trò của nhà khoa học không phải để phát triển ý chí chính trị phục vụ hành động bằng cách che dấu hoặc đơn giản hóa những điều chưa chắc chắn, dù theo cách công khai hay ngấm ngầm, nhằm thỏa hiệp cho sự đồng thuận. Tiến trình tìm kiếm đồng thuận trong khoa học phải được loại trừ, nhường chỗ cho phương thức thẩm định truyền thống, đó là trình bày mọi luận điểm ủng hộ và phản đối, thảo luận về những điểm chưa chắc chắn, đưa ra suy đoán về các thông số đã biết hoặc chưa biết. Tôi cho rằng một quy trình như vậy sẽ hỗ trợ tiến trình khoa học được nhiều hơn, và hữu ích hơn cho các nhà làm chính sách. Hãy từ bỏ phương thức tìm kiếm sự đồng thuận trong khoa học, nhường chỗ cho những tranh luận, thảo luận cởi mở trên một diện rộng các lựa chọn chính sách giúp giả lập các giải pháp cho địa phương và khu vực, cho những vấn đề có tính đa diện và liên thông nhau xung quanh vấn đề biến đổi khí hậu”.                  THANH XUÂN dịch  ———————–  1 Pierre Darriulat, Khoa học và Chính trị với hiện tượng nóng lên toàn cầu, Tạp chí Tia Sáng, số 18 ngày 20/9/2010.  2 IPCC cứ 6 năm lại công bố một báo cáo đánh giá. Trong đó bao gồm một báo cáo tổng hợp và các báo cáo từ các nhóm chuyên đề: WG1 báo cáo về cơ sở khoa học nền tảng; WG2 báo cáo về những tác động, sự thích nghi, và nguy cơ; WG3 báo cáo về sự giảm nhẹ biến đổi khí hậu; báo cáo từ mỗi nhóm chuyên đề đều kèm theo bản tóm tắt các khuyến nghị cho các nhà quản lý. Mọi báo cáo có thể được tham khảo tại:  http://www.ipcc.ch/publications_and_data/publications_and_data_reports.shtml#.UkYc60b-J1s.  3 http://nsidc.org/arcticseaicenews/  4 http://science.time.com/2013/09/09/a-silent-hurricane-season-ignites-a-debate-over-global-warming/  5 Nongovernmental IPCC (NIPCC), Climate change reconsidered II, http://heartland.org/media-library/pdfs/CCR-II/Summary-for-Policymakers.pdf, September 2013.  6 Điều này đã được bàn chi tiết hơn trong bài báo trước của tôi (chú thích 1) và bài tiếp theo của Nguyễn Văn Hiệp; tham khảo thêm tại http://www.stopgreensuicide.com/  7 Climate Dialogue: On missing tropical hotspot (July 2013), On the readiness of regional models for prime time (May 2013), On long term persistence and trend significance (April 2013), http://www.climatedialogue.org/.  Yale Forum on Climate Change and the Media, Examining the Recent Slow Down in Global Warming, 09/2013, http://www.yaleclimatemediaforum.org/2013/09/examining-the-recent-slow-down-in-global-warming/  8 Inter Academy Council, Climate Change Assessments, Review of the Processes and Procedures of the IPCC, 01/10/2010.  9 IPCC, Assessment Report V, Working Group I, Summary for Policy Makers, http://www.climatechange2013.org/  images/uploads/WGIAR5-SPM_Approved27Sep2013.pdf  10 Những dòng in đậm xuất hiện trong bản dự thảo cuối cùng bị rò rỉ, nhưng không xuất hiện trong bản công bố chính thức.  11 Judith Curry, Consensus Distorts the Climate Picture, The Australian, 21/09/ 2013.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xu hướng Phục hưng điện hạt nhân trên thế giới      Phục hưng hạt nhân (Nuclear renaissance) là xu hướng xuất hiện trên thế giới khi nhiều chính phủ có khuynh hướng xét lại các quyết định từ bỏ hạt nhân và mở cơ hội cho việc xây thêm nhà máy điện hạt nhân. GS Cao Chi đã trao đổi với tạp chí Tia Sáng về vấn đề đang được quan tâm này.     Gần đây, người ta có nhắc đến xu hướng Phục hưng hạt nhân trên thế giới. Theo Giáo sư, chúng ta nên hiểu vấn đề này như thế nào?   Để trả lời câu hỏi này, tôi xin trích dẫn bài viết có đề cập toàn diện đến vấn đề Phục hưng hạt nhân của các tác giả Paul L. Joskow và John E. Parsons (Tương lai của điện hạt nhân sau Fukushima – The Future of Nuclear Power  After Fukushima)1.      Theo các tác giả trên, vấn đề Phục hưng hạt nhân đã xảy ra trước sự cố Fukushima. Có giai đoạn, điện hạt nhân đã gặp khó khăn vì nhiều vấn đề. Số lò phản ứng được xây dựng mới đã giảm xuống. Sau đó trong thập kỷ trước ngay Fukushima, người ta quan sát thấy sự đi lên của điện hạt nhân, nguyên nhân là vấn đề khí thải nhà kính (Green House Gas – GHG) và giá dầu tăng mạnh làm cho điện hạt nhân có giá trở lại. Xem hình 1 ta thấy, sau năm 2003, số các nhà máy điện hạt nhân được xây dựng mới tăng lên. Đó là giai đoạn mà người ta nói đến xu hướng Phục hưng hạt nhân trước Fukushima.          Hình 1. Số nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng qua các năm thể hiện khuynh hướng Phục hưng hạt nhân sau 2003.      Tại Mỹ, 71 lò phản ứng hạt nhân được cấp chứng chỉ và hơn 14 lò phản ứng đang chờ quyết định của Cơ quan Pháp quy Mỹ (Nuclear Regulatory Commission – NRC). Ở Nhật Bản, Pháp, Canada cũng xảy ra những tình huống tương tự. Tại những nước có truyền thồng chống hạt nhân như Đức, Thụy Điển, Ý, Tây Ban Nha và Bỉ cũng xuất hiện khuynh hướng xét lại các quyết định từ bỏ hạt nhân và mở cơ hội cho việc xây thêm những nhà máy điện hạt nhân mới như ở Ý và Tây Ban Nha.      Ngoài ra, những thiết kế  lò phản ứng mới thuộc  thế hệ thứ ba an toàn và rẻ hơn đã được hình thành. Các tổng thống Bush và Obama lên tiếng ủng hộ chính sách phát triển nhất định điện hạt nhân. Trung Quốc dự định gia tăng lượng sản xuất điện năng điện hạt nhân lên 6% đến năm 2020. Ấn Độ cũng có ý đồ tăng cường điện hạt nhân.      Tất cả yếu tố đó dẫn đến hiện tượng Phục hưng hạt nhân sau năm 2003 và trước sự cố Fukushima.      Vậy sau sự cố Fukushima (ngày 11/3/2011), xu hướng Phục hưng hạt nhân trên thế giới có khác trước?      Rõ ràng, sự cố Fukushima đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình Phục hưng hạt nhân của thế giới. Theo ý kiến của các tác giả trên, dù không “giết chết” hiện tượng Phục hưng hạt nhân song sự cố Fukushima cũng đã gây thêm áp lực âm tính lên ngành điện hạt nhân (nguyên văn: the accident at Fukushima will not “kill” the much discussed renaissance of nuclear power, but it adds one more negative pressure on the rate of growth globally).       Ở Mỹ, không nhà máy điện hạt nhân nào phải đóng cửa chỉ vì lý do an toàn. Cơ quan Pháp quy hạt nhân Mỹ đã thanh sát 104 cơ sở và kết luận rằng các cơ sở đó nằm trong phạm vi an toàn. NRC chỉ đưa ra những khuyến cáo nhằm tăng cường các tiêu chuẩn an toàn.      Đức đã đóng cửa tám nhà máy (trong số 17 nhà máy) và tuyên bố rút khỏi hạt nhân vào năm 2022. Hãng Siemens chấm dứt hợp tác với Rosatom trong việc xây dựng thêm nhà máy mới. Thụy Sĩ có quyết định đóng của nhà máy điện hạt nhân cuối cùng vào năm 2034. Pháp sau Fukushima đã khuyến cáo gia tăng các biện pháp an toàn.      Tại Nhật Bản, khoảng 50 nhà máy ngừng hoạt động và chỉ khoảng dưới hơn 10 nhà máy vẫn đang hoạt động nhưng gặp phải sự phản đối của dân chúng. Hàn Quốc khẳng định sẽ kéo dài hoạt động các nhà máy điện hạt nhân. Trung Quốc tuyên bố tăng cường các biện pháp an toàn và xem xét lại vài dự án.      Kết quả thăm dò ý kiến ở Mỹ (Gallup poll) cho thấy, dư luận công chúng (tháng 5/2011, sau sự cố Fukushima) so với dư luận công chúng (tháng 5/2001) về an toàn và xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới không khác nhau nhiều.      Các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Việt Nam và Abu Dhabi có dự án xây các nhà máy điện hạt nhân mới.   Theo giáo sư, sẽ có nhiều hứa hẹn vào tương lai của điện hạt nhân trên thế giới?     Sau sự cố Fukushima, nhiều thiết kế lò phản ứng rất có triển vọng đã được đưa ra. Một ví dụ có thể đưa ra là lò phản ứng muối nấu chảy MSR mới (Molten Salt reactor) của hai kỹ sư Leslie Dewan và Mark Massie đã được công bố. Lò MSR sử dụng một loại dung dịch muối nấu chảy – UF trong muối vừa làm nhiên liệu vừa làm chất làm nguội)2. Những nỗ lực này hứa hẹn vào tương lai của điện hạt nhân và sự Phục hưng hạt nhân trên thế giới.           Hình 2. Biến thiên của điện năng hạt nhân theo các năm, trên tung độ là MToe(Toe=đơn vị năng lượng tương đương của năng lương cung cấp bởi một tấn dầu)     Theo ý kiến của các tác giả Paul L. Joskow and John E. Parsons, có thể kết luận rằng sự cố Fukushima không triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng Phục hưng hạt nhân của thế giới.      Xem hình 2 sau sự cố Fukushima (2011), điện hạt nhân đang trên đường đi xuống. Song phải nói có một điều kỳ lạ là nếu xét toàn cục thế giới thì đây không phải là một sự đi xuống có tính tai biến dẫn đến triệt tiêu mà là một sự đi xuống nhất thời để rồi phục hồi đến một mức nhất định trong tương lai (số liệu được dự đoán mãi đến năm 2095).      Như vậy có thể kết luận rằng, thời Phục hưng hạt nhân là điều có thật tuy với cường độ không cao lắm với những diễn biến dự đoán được trong một tương lai xa.       Trân trọng cảm ơn Giáo sư!   Trang Thúy  thực hiện  Chú thích:    1http://dspace.mit.edu/bitstream/handle/1721.1/70857/2012-001.pdf?sequence=1      2http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=9012     * Có thể tham khảo ý kiến trái ngược với quan điểm các  tác giả Paul L. Joskow and John E. Parsons qua link:  https://en.wikipedia.org/wiki/Nuclear_renaissance           Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuất bản quốc tế: vì tâm và vì tầm      Mới đây, quỹ Nafosted đã bổ sung quy định ứng viên khi xây dựng dự án xin tài trợ từ quỹ phải có ít nhất một công trình liên quan đã được xuất bản trên các tạp chí có uy tín trên thế giới. Đây là định hướng đúng đắn, phản ánh tầm nhìn chiến lược và nỗ lực phát triển nền khoa học trong nước. Mặc dù vậy, có không ít ý kiến quan ngại với quy định này khi cho rằng khó khả thi đối với lĩnh vực khoa học xã hội (KHXH). Bài viết này đưa ra một số thảo luận liên quan đến vấn đề này trong phạm vi khoa học xã hội.    Một cuốn sách có sự tham gia của các nhà KHXH Việt Nam được NXB Spinger xuất bảnThông điệp từ việc “xuất khẩu” chất xám  Sự phát triển của một quốc gia tuyệt nhiên không chỉ căn cứ vào việc họ xuất khẩu được bao nhiêu nông khoáng sản. Trong một thế giới phẳng như hiện nay, xuất khẩu chất xám mới là mục tiêu hàng đầu. Số lượng các công trình khoa học của một quốc gia được công bố trên các tạp chí có uy tín trên thế giới vì thế phải được coi là thước đo quan trọng đối với sự phát triển của chính quốc gia đó. Khó có thể bao biện cho một nền khoa học khi sự hội nhập của nó vào dòng chảy quốc tế hết sức yếu ớt, nhất là khi nơi ấy sở hữu một đội ngũ giáo sư, tiến sĩ hùng hậu bởi khoa học không bao giờ có biên giới.  Việc công bố quốc tế góp phần tạo dựng mối liên kết, hội nhập của KHXH nước nhà với thế giới trong bối cảnh hội nhập toàn diện đang được thúc đẩy ở các quốc gia. Kết quả nghiên cứu giúp công luận quốc tế hiểu biết chính xác, đầy đủ về các đặc điểm lịch sử, văn hoá xã hội của Việt Nam. Đó là cơ sở quan trọng cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác ở bình diện rộng lớn hơn. Các nhà KHXH vì thế chính là những sứ giả tiên phong tạo dựng cầu nối giữa Việt Nam và thế giới.  Sự góp mặt trên diễn đàn học thuật quốc tế của các nhà KHXH Việt Nam cũng tạo ra cơ chế trao đổi, phản biện thông tin đa chiều, dân chủ, minh bạch xuyên quốc gia trong lĩnh vực KHXH. Điều đó cũng phản ánh tâm thế hội nhập của đất nước, trách nhiệm công dân toàn cầu của nhà khoa học. Sẽ là không công bằng khi chúng ta cứ “điềm nhiên” thừa hưởng thành quả khoa học của nhân loại mà “bàng quan” đứng ngoài sân chơi ấy. Các nhà khoa học sẽ không bao giờ lớn nổi nếu cứ tự viết luật chơi cho riêng mình.  Việc chia sẻ kết quả nghiên cứu với cộng đồng học thuật quốc tế cũng đem lại lợi ích không nhỏ cho chính bản thân các nhà khoa học. Kết quả nghiên cứu của họ sẽ được đánh giá khách quan, độc lập hơn. Họ sẽ có cơ hội tiếp cận, xây dựng mạng lưới hợp tác quốc tế cho những nghiên cứu tiếp theo của mình. Chẳng có nhà khoa học nào lại không hạnh phúc khi chia sẻ nghiên cứu của mình, để chúng được biết đến nhiều hơn, trừ phi người ta cảm thấy xấu hổ về chúng.  Những “rào cản thuế quan” cần phải dỡ bỏ  Xu thế “chính trị hoá” khoa học dường như được không ít nhà khoa học lợi dụng đưa ra như biện giải cho việc cả đời mình không có công trình xuất bản quốc tế. Không ít “học giả” giấu kỹ kết quả nghiên cứu của mình dưới chiêu bài “nhạy cảm”. Người ta nhân danh “lợi ích dân tộc” hay “an ninh quốc phòng” để biện hộ cho sự kém cỏi của mình, dẫu họ thừa biết rằng bản thân đang đi ngược lại kỳ vọng của nhà nước, của nhân dân. Trừ một vài trường hợp đặc biệt, hầu hết các nghiên cứu được chính phủ khuyến khích, thậm chí trả thêm tiền cho việc xuất bản quốc tế. Đã đến lúc những vị hay “nhân danh” đó cần phải thay đổi cách nhìn, hoặc tránh sang một bên để người sau tiến bước.  Nuôi dưỡng cho những cách nhìn lệch lạc ấy là việc chúng ta chưa có những chế tài mang tính bắt buộc đối với việc công bố quốc tế ở hầu hết các cơ sở nghiên cứu khoa học. Sẽ là vô cùng phi lí nếu nhà khoa học cứ hết đề tài này lại đến đề tài khác, tiêu tốn ngân sách hàng tỉ đồng mà không thể công bố nổi vài bài trên tạp chí có uy tín. Gốc rễ của vấn đề này phải chăng là tâm lý cả nể, cục bộ, thượng tôn lợi ích nhóm thay vì thượng tôn khoa học trong việc lựa chọn, đánh giá đề tài? Phải chăng vì thế mà chất lượng nghiên cứu vẫn mải nằm trong đám mây mờ mà chỉ một số ít những người cùng lợi ích “múa hát” trong đó?  Sự dễ dãi trong việc biên tập, xuất bản của không ít tạp chí, nhà xuất bản trong nước cũng gián tiếp “góp sức” cho sự thưa vắng của các ấn phẩm quốc tế xuất xứ từ Việt Nam. Đã có không ít lùm xùm liên quan đến đạo văn, sự tẻ nhạt, vụt vặt, vô bổ của nhiều bài nghiên cứu. Hơn thế nữa, hiếm có quốc gia nào mà ở đó chính phủ trả tiền cho các bài viết công bố trên những tạp chí khoa học. Trong nước dễ được in, có nhuận bút, vẫn đủ điều kiện để làm tiếp đề tài, phong hàm, phong chức, người ta dại gì lao tâm khổ tứ cả năm trời cho một ấn phẩm quốc tế?  Công bằng mà nói, ngoại ngữ cũng là một rào cản khiến nhiều nhà khoa học ngại ngần đưa công trình của mình ra quốc tế. Dẫu rằng việc thuê dịch đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết nhưng đạt được trình độ ngoại ngữ căn bản để có thể chủ động trao đổi qua lại với phía xuất bản nước ngoài dường như vẫn còn là giấc mơ chia ở thì tương lai…xa. Sự non kém về ngoại ngữ không chỉ khiến người ta e ngại mà còn mơ hồ về những gì đang diễn ra bên ngoài; khiến người ta bị gạt ra một bên hoặc cứ lầm lũi lê bước sau những bước nước rút thần tốc của đồng nghiệp đâu đó.  Vén mây vì một ngày mai  Đã đến lúc cần phải có những hành động cụ thể mang tính pháp chế đối với xuất bản quốc tế từ những nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Quy định của quỹ Nafosted đề cập ở trên rất đáng hoan nghênh và nhân rộng ra.  Xuất bản quốc tế cần phải coi là tiêu chí bắt buộc để được xét bổ nhiệm học hàm giáo sư, phó giáo sư hay nâng ngạch nghiên cứu, giảng dạy. Các học hàm này không phải là chức danh trọn đời, sau một thời gian nhất định, nếu không có công bố quốc tế, các chức danh này sẽ bị thu hồi. Đây là quy định khá phổ biến trên thế giới, kể cả ở những nước tiếng Anh, Pháp…chỉ là ngoại ngữ.  Đối với các đề tài KHXH cấp Nhà nước (trừ một số đề tài liên quan tới an ninh quốc phòng), cần yêu cầu bắt buộc ứng viên nộp hồ sơ phải có công trình liên quan đến đề tài đã được xuất bản bởi các tạp chí, nhà xuất bản có uy tín trên thế giới. Ngoài báo cáo tổng hợp, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng phải được công bố quốc tế ít nhất một bài.  Các thành viên chủ chốt tham gia đề tài cấp Bộ, cấp nhà nước phải có đủ năng lực ngoại ngữ. Cần nhấn mạnh năng lực ngoại ngữ ở đây tuyệt nhiên không phải chỉ là những tấm bằng mà không ở đâu dễ kiếm như ở ta. Để được nghiệm thu, mỗi đề tài cũng phải trình bày kết quả nghiên cứu của mình ở ít nhất 1 diễn đàn khoa học quốc tế có uy tín liên quan đến đề tài và được ít nhất 3 đánh giá độc lập đến từ các học giả nước ngoài.  Trước mắt, trong điều kiện đa phần các nhà KHXH ở Việt Nam cần hỗ trợ về ngoại ngữ và kết nối với các tạp chí quốc tế, cần có một tổ chức (ví dụ Quỹ Nafosted) có thể thực hiện thí điểm hỗ trợ bằng cách lập ra các nhóm dịch thuật theo từng chuyên ngành. Có thể sử dụng các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài hiện đang công tác trong các viện, trường đại học. Đối với các kết quả nghiên cứu được Quỹ Nafosted đánh giá xuất sắc, Quỹ có thể mời các nhà khoa học có chuyên môn trong và ngoài nước thẩm định và hỗ trợ chuyển ngữ trong thời gian đầu, biên tập và gửi bài viết đi các tạp chí quốc tế. Chúng ta bỏ hàng tỉ đồng cho nghiên cứu thì không nên vì một vài chục triệu găm nghiên cứu ấy trong nước. Chi phí dịch có thể tính vào ngân sách dành cho đề tài.  Quỹ Nafosted cũng có thể làm cầu nối giữa các nhà khoa học và các đơn vị xuất bản quốc tế; cung cấp thông tin, hướng dẫn cho các nhà KHXH về mạng lưới các nhà xuất bản, tạp chí, các chuyên gia quốc tế ngay từ khi họ làm đề cương. Với lộ trình này, hy vọng chúng ta sẽ từng bước vén tan đám mây bấy lâu che phủ những kết quả nghiên cứu chỉ người làm mới biết…    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Xung đột nguồn nước: Đi tìm lời giải?      Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu khiến cơn khát “giọt nước, giọt vàng” xuất hiện thường xuyên ở nhiều vùng đất, qua đó châm ngòi cho những xung đột nguồn nước.     Dòng Vu Gia – Thu Bồn là khởi nguồn của xung đột nguồn nước diễn ra trong nhiều năm. Nguồn: Báo Đà nẵng.  Một tương lai ngày càng khát  Chảy qua hai xã cạnh nhau là Đại Đồng và Đại Quang, huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam), suối Mơ và suối Thơ không chỉ có vẻ đẹp nguyên sơ thu hút nhiều du khách mà còn là nguồn cấp nước quan trọng cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, cuộc sống xoay quanh hai con suối không thơ mộng như cái tên của nó: “Hầu như năm nào ở đây cũng xảy ra xung đột nghiêm trọng vào mùa khô do khan hiếm nước. Cả hai xã đều cho rằng nguồn nước không được quản lý và phân bổ công bằng. Xung đột vẫn diễn ra hằng năm và vẫn chưa tìm được biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương, Chủ tịch Hội đồng Đại học Huế, kể lại sau chuyến khảo sát về tình trạng tranh chấp nước ở khu vực này vào năm 2019.  Thực tế, xung đột nước không phải là câu chuyện của riêng vùng suối Thơ, suối Mơ hay nhiều địa phương ở Việt Nam. Nghe có vẻ trớ trêu nhưng Việt Nam, một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc, đang phải đối mặt với vấn đề này. Một phần nguyên nhân chính là nguồn tài nguyên nước của Việt Nam phân bố không đồng đều về cả thời gian và không gian. Mặt khác, theo đánh giá của các chuyên gia, chỉ có khoảng 37% tổng lượng nước sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, phần còn lại xuất phát từ các lãnh thổ bên ngoài biên giới. Nguồn nước lại phân bố không đều trong năm và không cân đối giữa các vùng, các lưu vực sông khiến cho việc sử dụng nước của các địa phương cho hoạt động kinh tế xã hội càng trở nên căng thẳng. Trong khoảng thời gian 7-9 tháng mùa khô, dòng chảy trên hệ thống sông suy giảm, tổng lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng 20-30% (khoảng 160-250 tỷ m3) so với lượng nước cả năm, trong khi nhu cầu sử dụng nước trong khoảng thời gian này rất lớn. Về mặt không gian, toàn bộ lãnh thổ từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến TP.HCM, “mái nhà” của 80% dân số và hơn 90% hoạt động kinh doanh dịch vụ của cả nước nhưng chỉ có khoảng 40% lượng nước của cả nước, 60% còn lại thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long.  Sự chênh lệch này, kết hợp với hạn hán và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, khiến tài nguyên nước bị suy giảm. Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất vào tháng 3/2021 của Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) cho thấy, mực nước trung bình tháng hai ở lưu vực sông Cửu Long có xu thế giảm dần so với thời điểm cùng kỳ năm trước, 5, 10 và 20 năm trước. Tình hình càng đáng lo ngại khi hạn hán có xu hướng gia tăng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Theo một nghiên cứu dự báo của GS. Phan Văn Tân (Khoa Khí tượng và Thủy văn, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), nếu nhiệt độ trong tương lai tăng lên 1,1 đến 2,6oC hoặc 2,6 đến 4,8oC (so với trung bình thời kì 1986-2005) đều dẫn đến sự gia tăng hạn hán ở khắp đồng bằng sông Hồng, Bắc miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long vào giữa và cuối thế kỉ 21.  Xung đột lợi ích vì nước  Việc tranh chấp nguồn tài nguyên được coi là “máu của sự sống” như nguồn nước là điều không thể tránh khỏi, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Thái Bình Dương (Hoa Kỳ) vào năm 2019, các vụ xung đột liên quan đến nước trên thế giới đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, điểm nóng không phải là khu vực nổi tiếng khan hiếm nước như châu Phi mà lại là châu Á – nơi có số lượng và tốc độ gia tăng xung đột cao nhất trong thời gian gần đây.    Một cơ chế chia sẻ nước chỉ hiệu quả và bền vững nếu có được sự đồng thuận từ tất cả các bên. Tuy nhiên, đây là bài toán nan giải vì chấp nhận chia sẻ cũng đồng nghĩa với việc ảnh hưởng một phần lợi ích.    Xung đột nước đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu, nhưng hạn hán khiến tình trạng này càng thêm nghiêm trọng. Trước đây, “hầu hết xung đột nước diễn ra trong một cộng đồng đơn lẻ, hoặc ở quy mô địa phương và giữa những người có cùng mục đích sử dụng nước. Xung đột giữa các bên sử dụng nước với các mục đích khác nhau ít xảy ra hơn và chủ yếu là do ô nhiễm nước chứ không phải do thiếu nước”, theo một công bố về xung đột nước ở Nghệ An của các nhà nghiên cứu ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam vào năm 2010. Nhưng tình hình giờ đây đã thay đổi: ngược lên vùng Tây Bắc ở Sơn La, hay các tỉnh miền Trung như Nghệ An, Quảng Nam, đến vùng đồng bằng sông Cửu Long đều xảy ra các tranh chấp do thiếu nước, thậm chí nhiều nơi còn dẫn đến xô xát, bạo lực.  Câu chuyện tranh chấp nước giữa Đà Nẵng và Quảng Nam trong những năm gần đây có lẽ là một trong những minh chứng rõ nét nhất về xu thế này. Cách đây 10 năm, khi công trình thủy điện Đăk Mi 4 đi vào hoạt động đã cắt dòng sông Đăk Mi để phát điện nhưng không trả nước về sông Vu Gia mà lại đổ về sông Thu Bồn, khiến cuộc sống của gần 2 triệu người dân ở vùng hạ lưu sông Vu Gia, nhất là thành phố Đà Nẵng bị ảnh hưởng trầm trọng do thiếu nước. Nhiều người phải thức khuya dậy sớm để hứng nước, còn các cơ sở sản xuất phải thay đổi kế hoạch hoạt động để thích ứng với tình trạng thiếu nước. Các đợt hạn hán khiến nguồn nước càng thêm cạn kiệt, Đà Nẵng yêu cầu thủy điện phải trả nước lại cho dòng sông Vu Gia, còn Quảng Nam muốn đổ nước về sông Thu Bồn.  Ngoài phạm vi nội vùng, xung đột nước còn diễn ra ở quy mô xuyên biên giới. Đáng chú ý, các loại xung đột này đều xảy ra với Việt Nam – một trong những quốc gia nằm ở hạ nguồn lưu vực sông Mekong. Khi các đập thủy điện trên dòng Mekong được xây dựng ngày càng nhiều thì mâu thuẫn giữa thượng nguồn và hạ nguồn ngày càng lớn. Ngoài việc chặn nước, ảnh hưởng đến các quốc gia hạ nguồn trong mùa hạn, các đập thủy điện còn ngăn bùn cát, làm biến đổi dòng chảy, gây rối nhịp thủy văn và suy thoái hệ sinh thái trên toàn khu vực. Các quốc gia ở hạ nguồn đã nhiều lần yêu cầu sử dụng công bằng nước sông Mekong, minh bạch thông tin về các đập thủy điện nhưng cũng chẳng có gì thay đổi.  Việc mất an ninh nguồn nước kéo theo mối lo về nghèo đói và bất ổn xã hội. “Đợt hạn hán năm 2015 – 2016 đã khiến sản lượng gạo của Việt Nam giảm khoảng 1,29 triệu tấn, ảnh hưởng đến sinh kế của gần 2 triệu nông hộ nhỏ và hộ nghèo”, theo thống kê của tổ chức nông nghiệp Rikolto (Bỉ). Những người dân ở khu vực suối Mơ, suối Thơ cũng nằm trong số này: “Thông thường, mỗi vụ lúa tôi thường dẫn nước tưới vào ruộng khoảng 11 lần/vụ, nhưng năm 2015 tôi chỉ lấy được có sáu lần. Do vậy, những mảnh ruộng tưới bằng nước suối Thơ chỉ đạt sản lượng 4 tấn/ha vào năm 2015, giảm 1/5 so với năm trước”, một người dân kể lại. Nguy cơ mất an ninh lương thực cũng đe dọa gần một nửa dân số thế giới hiện nay: “Khoảng 3,2 tỷ người đang sống ở các khu vực nông nghiệp, hầu hết là các quốc gia đang phát triển, phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước ở mức cao hoặc rất cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực”, theo báo cáo năm 2019 của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO). Thậm chí, hàng triệu người ở các quốc gia Đông Bắc Phi như Somalia đang phải di cư do các đợt hạn hán hoành hành đã góp phần thổi bùng nạn đói nơi đây.  Ảnh: Đập thủy điện Cảnh Hồng trên thượng nguồn sông Mekong. Nguồn: globaltimes.cn  Đi tìm lời giải  Câu chuyện về xung đột nguồn nước trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu khiến chúng ta phải đặt câu hỏi “Liệu có thể làm gì để đối phó trước tình trạng khan hiếm nước đang ập đến”? “Liệu có giải pháp nào ổn thỏa”? Có lẽ, giải pháp nằm ngay chính mấu chốt của vấn đề, đó là cần phải có các biện pháp kỹ thuật về thu trữ nước. Nhưng điều đó có đủ? “Điều quan trọng là phải quản lý tài nguyên nước hiệu quả và xây dựng cơ chế chia sẻ nước công bằng cho cả con người và sinh thái trong cả hiện tại và tương lai”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương nhận xét. Dù các chính sách về quản lý và chia sẻ tài nguyên nước ở Việt Nam đã có từ lâu song việc thực thi vẫn còn khá hạn chế. “Vấn đề quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam vốn phức tạp do sự chia sẻ chức năng và nhiệm vụ giữa nhiều bộ và cơ quan khác nhau, tạo ra nhiều thách thức trong quản lý tài nguyên nước tổng hợp. Trong khi đó, ở cấp độ địa phương, vẫn còn thiếu các quy định về việc chia sẻ nước cho các mục đích khác nhau nên thường dẫn đến xung đột nguồn nước”, theo công bố của PGS.TS. Huỳnh Văn Chương.  Một cơ chế chia sẻ nước chỉ hiệu quả và bền vững nếu có được sự đồng thuận từ tất cả các bên. Tuy nhiên, đây là bài toán nan giải vì chấp nhận chia sẻ cũng đồng nghĩa với việc ảnh hưởng một phần lợi ích. Với xung đột nước ở lưu vực sông Mekong, các quốc gia hạ nguồn đã thành lập Ủy hội sông Mekong – các thành viên chính là Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia và hai đối tác là Myanmar và Trung Quốc. Dù mục tiêu chính của cơ quan này là thúc đẩy, phối hợp quản lý và phát triển tài nguyên nước bền vững song vì nhiều lí do, bao gồm sự thiếu hợp tác của các quốc gia thượng nguồn, việc chia sẻ công bằng tài nguyên nước ở lưu vực sông Mekong còn rất xa vời.  Tương tự, với dự án xây dựng cơ chế chia sẻ nước ở quy mô nhỏ như suối Thơ và suối Mơ, “nhiều lúc tôi nghĩ không thể thành công được vì rất khó thuyết phục các bên”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương nhận xét. “Ban đầu cả thủy điện và nhà máy nước không đồng thuận, chúng tôi phải mất rất nhiều thời gian đàm phán, dần dần họ cũng thấy được trách nhiệm với cộng đồng và chấp nhận hợp tác. Phải tìm cách để các bên thực sự đồng thuận thì mới có thể ngồi lại với nhau, chứ tự dưng mời các bên đến, phát biểu hoành tráng rằng đề nghị mọi người phải thế này thế kia, thì có khi còn làm xung đột cao trào hơn nữa. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải tiếp cận mềm dẻo và kiên trì, lắng nghe ý kiến của người chịu tác động, bao gồm cả người dân và doanh nghiệp”.  Nhờ đó, một thỏa thuận giữa người dân, nhà máy nước và thủy điện ở khu vực suối Thơ – suối Mơ đã ra đời. “Trong đó, chúng tôi phân vai đầy đủ từ ban quản lý gồm đại diện các bên, tổ điều tiết nước có phó chủ nhiệm hợp tác xã của hai địa phương và cán bộ cấp nước. Cách điều tiết nguồn nước khá linh hoạt, bên nông nghiệp sẽ cắt cử một vài người tri điền đi kiểm tra các cánh đồng từ sáng sớm, chỗ nào thiếu nước thì sẽ thông báo, nhận được sự đồng thuận của các bên thì dẫn nước về tưới tiêu”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương kể lại. Cơ chế tuy đơn giản song lại phát huy hiệu quả lớn: “Kể từ khi triển khai, xung đột nước ở nơi đây đã chấm dứt. Chúng tôi cũng đề xuất họ nên trích ra một khoản kinh phí để duy trì hoạt động sau khi dự án kết thúc. Những năm vừa qua chúng tôi có hỏi thăm thì họ cho biết các bên vẫn hợp tác tốt”.  Đây cũng là cách giải quyết tranh chấp nước ở quy mô lớn hơn – giữa Quảng Nam và Đà Nẵng. Năm 2016, hai bên đã ký kết thỏa thuận phối hợp quản lý lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn. Vào đợt hạn năm ngoái, hai bên đã thống nhất xây dựng các đập ngăn tạm dòng sông Quảng Huế – một nhánh của sông Thu Bồn để chia nước về sông Vu Gia. Nhờ đó, nguồn nước tưới tiêu cho Quảng Nam và nước sinh hoạt cho Đà Nẵng được đảm bảo. “Đây là một ví dụ điển hình rất thú vị mà chúng ta nên tiếp tục nghiên cứu và học hỏi”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương nhận xét.  Tuy vậy khi mở rộng quy mô giải pháp, giải quyết vấn đề xung đột nước ở tầm quốc tế thì câu chuyện phức tạp hơn nhiều. Gần gũi với Việt Nam nhất là vấn đề nước trên dòng Mekong, nơi đã có cả một ủy hội sông Mekong liên quốc gia đã được thiết lập từ nhiều năm nay, với sự tham gia của nhiều quốc gia ven bờ Mekong và được hưởng lợi từ dòng sông hùng vĩ này. Nhưng cơ chế quản lý nước xuyên biên giới lại cần đến rất nhiều khung khổ quốc tế và cả sự tự nguyện của mỗi quốc gia để được vận hành. Do đó, đây vẫn là một câu chuyện dài mà sự hiệu quả trong cơ chế của nó sẽ còn bàn tiếp trong tương lai.  Dẫu nghĩ về một tương lai để cơ chế này thực sự phát huy tính năng của nó thì Việt Nam vẫn cần giải quyết những bài toán liên quan đến nước khác, nhất là khi hạn hán sẽ ngày một xuất hiện dày hơn. Bởi cơ chế chia sẻ nước sẽ mất tác dụng nếu tình trạng khan hiếm nước quá nghiêm trọng. Do vậy, “chúng ta cần áp dụng tích hợp nhiều biện pháp để thích ứng, chẳng hạn như chuyển đổi cây trồng, hoặc sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt, ưu tiên nước sông suối cho nông nghiệp”, PGS.TS. Huỳnh Văn Chương nói.□  ——–  Trước đây, hầu hết xung đột nước diễn ra trong một cộng đồng đơn lẻ, hoặc ở quy mô địa phương và giữa những người có cùng mục đích sử dụng nước. Xung đột giữa các bên sử dụng nước với các mục đích khác nhau ít xảy ra hơn và chủ yếu là do ô nhiễm nước chứ không phải do thiếu nước. Nhưng giờ đây, ngược lên vùng Tây Bắc ở Sơn La, hay các tỉnh miền Trung như Nghệ An, Quảng Nam, đến vùng đồng bằng sông Cửu Long đều xảy ra các tranh chấp do thiếu nước, thậm chí nhiều nơi còn dẫn đến xô xát, bạo lực.    Author                Thanh An        
__label__tiasang Xung quanh “máy phát điện chạy… nước”      Ngày 14/1/2012, tại Trung tâm nghiên cứu và triển khai, trực thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM, đã diễn ra lễ công bố sáng chế “Máy phát điện chạy bằng nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê 1. Nếu như trước đó, tin về máy phát điện chạy nước, dù được đăng tải dồn dập trên nhiều báo chí và thu hút sự quan tâm của dư luận, vẫn bị nhiều nhà khoa học cho là tin tức “giật gân, ly kỳ”, thì với sự công bố chính thức tại Khu công nghệ cao Tp. HCM, sự việc đã trở thành một vấn đề khoa học nghiêm túc. Vì thế, một phân tích mang tính khoa học về “máy phát điện chạy… nước” trở nên cần thiết, nhất là khi có nhiều nhà khoa học tỏ ra hoài nghi tính xác thực của sự kiện này.       Tóm tắt sự kiện  Trong khoảng từ cuối tháng 12/2011 đến khoảng nửa đầu tháng 1/2012, hàng chục tờ báo đồng loạt đưa tin về sáng chế “máy phát điện chạy bằng… nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê, tạo ra một sự quan tâm lớn của không chỉ với đại chúng mà còn cả giới khoa học2,3 . Để tăng tính xác thực, báo điện tử Sài gòn Giải phóng còn đăng kèm video clip giới thiệu sáng chế này của đích thân TS. Nguyễn Chánh Khê thuyết trình4.   Sở dĩ dư luận, trong đó có cộng đồng khoa học, quan tâm đến sự kiện này vì nếu thông tin trên báo chí là xác thực thì đây là một sự kiện khoa học gây chấn động thế giới. Một vài hệ quả của sáng chế này, nếu đúng như báo chí đưa tin, có thể được tóm tắt như sau:  – Nguy cơ thiếu hụt năng lượng do cạn kiệt dầu mỏ và than đá sẽ được khắc phục. Khủng hoảng năng lượng sẽ vĩnh viễn bị đẩy lùi. Chiến tranh vì dầu mỏ sẽ không còn đe dọa thế giới.  – Nạn ô nhiễm môi trường sẽ được khắc phục một phần lớn. Hiện tượng Trái đất nóng lên bởi quá nhiều CO2 sẽ được giải quyết. Các vòng đàm phán căng thẳng về cắt giảm khí thải trở nên không cần thiết. Nghị định thư Kyoto trở nên thừa thãi vì từ nay thế giới sẽ chuyển sang sử dụng hydro thay vì dầu mỏ.  – Một ngành kinh tế mới với thị trường có thể lên đến hàng nghìn tỷ đô-la sẽ ra đời5. Với lợi thế là nơi đầu tiên khám phá ra công nghệ này, Việt Nam sẽ nhanh chóng vượt lên dẫn đầu thế giới về phát triển kinh tế do nắm được công nghệ này.  Chính vì ý nghĩa lớn lao như vậy của sáng chế “máy phát điện chạy… nước”, nên dư luận đã rất quan tâm theo dõi sự kiện này.   Vậy đâu là cơ sở khoa học của sáng chế này?  Phản ứng phân hủy nước  Trái tim của “máy phát điện chạy… nước” là chất khử nano – đôi khi còn được gọi là chất phụ gia hoặc chất xúc tác – dùng để phân hủy nước (H2O) thành khí hydro và oxy. Sau khi đã có khí hydro rồi thì chỉ cần sử dụng pin nhiên liệu để chuyển hóa hydro thành điện. Các pin nhiên liện này là sản phẩm đã được thương mại hóa từ lâu, nên để xem xét tính khoa học của sáng chế này, nhất thiết phải xét đến phản ứng phân hủy nước:  2H2O → 2H2+O2,  ΔG° = 238 kJ mol−1  Ở đây, ΔG° = 238 kJ năng lượng cần thiết để tách một mole nước6. Đây là phản ứng có năng lượng tự do dương và khá lớn, nói cách khác là phản ứng thu năng lượng, nên không thể tự xảy ra. Điều này là hiển nhiên, vì nếu phản ứng phân hủy nước tự xảy ra thì tất cả nước trong các ao hồ, đại đương đã phân hủy thành H2 và O2 hết. Hệ quả là sự sống không tồn tại, và cũng không có chúng ta ở đây để thảo luận về vấn đề này.  Làm thế nào để phản ứng phân hủy nước có thể xảy ra? Không còn cách nào khác là phải cung cấp một lượng năng lượng đủ lớn năng lượng từ bên ngoài để buộc phản ứng phải xảy ra. Giống như một quả táo không thể tự nhảy lên mặt bàn vì đó là một quá trình thu năng lượng, do thế năng của quả táo ở dưới đất thấp hơn thế năng của quả táo trên mặt bàn. Muốn quả táo lên được mặt bàn, không còn cách nào khác là ta phải đưa nó lên, tức cung cấp một năng lượng cho nó, tối thiểu phải bằng sự chênh lệch thế năng giữa đất và mặt bàn. Đây là nguyên lý chung của mọi quá trình vận động trong tự nhiên: Muốn cho một quá trình không tự xảy ra trở thành có thể xảy ra thì bắt buộc phải cung cấp một lượng năng lượng bên ngoài, tối thiểu phải bằng mức chênh lệch giữa hai trạng trái đầu và cuối của quá trình đó.   Trở lại với phản ứng phân hủy nước: Để cho quá trình này có thể xảy ra được, nguồn năng lượng cần cung cấp cho phản ứng có thể là điện năng, nhiệt năng, quang năng… Nếu là điện năng và quang năng thì đó là quá trình điện phân và phân hủy nhiệt thông thường. Còn với quang năng thì quá trình sẽ phức tạp hơn vì phải sử dụng một chất xúc tác trung gian để chuyển từ quang năng thành năng lượng sử dụng được cho phản ứng phân hủy nước. Chất xúc tác cho quá trình đó được gọi là xúc tác quang, vì nó chỉ hoạt động dưới tác dụng của ánh sáng. Cơ chế hoạt động của một chất xúc tác quang, ví dụ TiO2, được mô tả qua sơ đồ hình 1.          Hình 1: Sơ đồ phản ứng phân hủy nước trong quá trình quang điện hóa sử dụng TiO2 làm photoanode (A) và mô hình đoản mạch của quá trình này (B)7.           Nhìn vào hình 1B ta thấy rằng: Khi ánh sáng có bước sóng phù hợp chiếu vào hạt xúc tác thì các điện tử (e–) của chất này sẽ hấp thụ hạt ánh sáng (hν) để chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn có mức năng lượng cao hơn và để lại một lỗ trống (h+) ở vùng hóa trị.   Điện tử ở vùng dẫn khi đó sẽ phản ứng với ion H+ có trong nước để tạo ra khí hydro, còn lỗ trống (h+) sẽ phản ứng với nước để tạo ra oxy. Quá trình này được mô tả bởi các phương trình phản ứng như sau7:  TiO2 + hν → e- + h+  2H+ + 2e− → H2  2H2O + 4h+ → O2 + 4H+  Các ion H+ tiêu tốn sẽ luôn được bù đắp bởi quá trình phân ly của nước:  H2O ↔ H+ + OH–  Do đó phản ứng tổng thể có thể viết thành:  2H2O + 4hν → 2H2 + O2  Với quá trình điện phân thuần túy, các điện tử (e-) được sử dụng để khử ion H+ thành hydro chính là các điện tử của dòng điện, và quá trình này xảy ra ở điện cực, thay vì trên bề mặt xúc tác như trong quá trình xúc tác quang.  Dễ dàng nhận thấy rằng, các chất xúc tác quang chỉ có thể là chất bán dẫn. Vì nếu là kim loại thì chúng không có vùng cấm nên không thể tạo ra cặp điện tử (e–) – lỗ trống (h+) dưới tác dụng của ánh sáng, còn nếu là chất cách điện thì do bề rộng của vùng cấm quá lớn, năng lượng của hạt ánh sáng sẽ không đủ để kích thích điện tử nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn.   Vấn đề còn lại là phải tìm được chất bán dẫn có độ rộng của vùng cấm thích hợp để năng lượng ánh sáng tử ngoại, hoặc tốt hơn hết là ánh sáng nhìn thấy, đủ để kích thích điện tử nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn.  Với TiO2, chất xúc tác quang điển hình đã được nghiên cứu và ứng dụng nhiều, độ rộng vùng cấm là 3.2eV, tương ứng với năng lượng của hạt ánh sáng có bước sóng 387 nm, tức là ở vùng tử ngoại. Như vậy, để cho TiO2 có thể hoạt động như một chất xúc tác quang thì phải sử dụng ánh sáng ở vùng tử ngoại.  Trên lý thuyết, nếu bỏ qua hiện tượng quá thế, ở điều kiện pH=0, do thế khử của H+/H2 là 0 và thế oxy hóa của H2O/O2 là 1.23 eV, nên chỉ cần chất xúc tác có bề rộng vùng cấm lớn hơn 1.23 eV và có biên vùng ở vị trí phù hợp (đáy vùng dẫn thấp hơn thế khử của H+/H2, tức <0 eV và đỉnh vùng hóa trị ở trên thế oxy hóa của H2O/O2, tức >1.23 eV) là phản ứng có thể xảy ra được, hình 2.            Hình 2: Nguyên tắc cơ bản của quá trình phân hủy nước sử dụng hạt bán dẫn làm chất xúc tác7. Bề rộng vùng cấm phải lớn hơn 1.23 eV, đồng thời đáy vùng dẫn thấp hơn thế khử của H+/H2 (0 eV) và đỉnh vùng hóa trị cao hơn thế oxy hóa của H2O/O2, (1.23 eV).           Mức năng lượng 1.23 eV tương ứng với ánh sáng có bước sóng 1008 nm, nằm trong vùng hồng ngoại. Như vậy, về mặt lý thuyết, có thể tìm được một chất xúc tác hoạt động ở vùng ánh sáng nhìn thấy cho quá trình phân hủy nước. Tuy nhiên, tìm được một chất xúc tác như vậy không phải là dễ.  Kể từ khi Fujishima và Honda8 tìm ra hiện tượng phân hủy nước trong quá trình quang điện hóa năm 1972, hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới về năng lượng tái tạo, nhiều thế hệ các nhà khoa và nhiều tiền của đã được Chính phủ các nước đổ ra để nghiên cứu nhằm tìm ra chất xúc tác trong mơ này.   Số lượng các bài báo công bố, với từ khóa “water spliting”, tức “phân hủy nước”, tìm trên cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học (ISI), tăng nhanh kể từ năm 1972, đặc biệt là những năm gần đây. Điều này phản ánh phần nào sự quan tâm của giới khoa học với phản ứng quan trọng này, hình 3.          Hình 3: Số lượng công trình nghiên cứu về phân hủy nước trên các tạp chí ISI: Tìm với từ khóa “water splitting” trong kho dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học (ISI).          Ngoài những yêu cầu về độ rộng vùng cấm và vị trí của biên vùng như đã nói, các chất này còn phải đảm bảo một số đặc tính như có độ hoạt động ổn định, có hiệu suất cao v.v mới có thể đưa vào sử dụng trong thực tế. Chính vì thế, đã hơn bốn thập kỷ trôi qua, một chất xúc tác có thể dùng ánh sáng nhìn thấy để phân hủy nước, với hiệu suất thích hợp, vẫn là ước mơ của các nhà nghiên cứu.   Nhìn vào hình 4 sẽ thấy, dù rất nhiều chất xúc tác đã được nghiên cứu, thì chất đáp ứng được các yêu cầu về độ rộng và vị trí vùng cấm là rất hiếm hoi. Một số hướng tiếp cận như dùng xúc tác dưới dạng composite (xúc tác đa cấu tử) để tạo bậc thang cho điện tử nhảy đa cấp từ vùng hóa trị sang vùng dẫn cũng không đưa lại những kết quả tốt. Việc điện tử và lỗ trống tái kết hợp làm giảm hiệu suất, dù đã được khắc phục phần nào qua việc bẫy điện tử bởi hạt nano kim loại, cũng là một vấn đề nan giải. Chưa kể, nếu xét đến những yêu cầu khác như độ bền, hiệu suất của chất xúc tác… thì vấn đề trở nên khó khăn gấp bội.             Hình 4. Độ rộng và vị trí vùng cấm của một số chất bán dẫn9.             Chính vì thế, hiệu suất của phản ứng phân hủy nước sử dụng xúc tác quang, ngay cả khi dùng đèn tử ngoại công suất lớn làm nguồn sáng, cũng rất thấp. Hình 5 cho thấy hiệu suất phản ứng đối với  một trong những hệ xúc tác điển hình: Pt/TiO2. Hiệu suất tạo ra khí hydro trong phản ứng này nằm trong khoảng vài trăm μmol/h/g, rất nhỏ để có thể quan sát được liên tục bằng mắt thường.          Hình 5: Tốc độ tạo H2 với xúc tác N-doped TiO2 – 0.2%Pt, được xử  lý nhiệt ở các nhiệt độ khác nhau10.          Thành tựu đáng kể nhất trong khoảng thời gian gần đây về phân hủy nước sử dụng xúc tác quang là của nhóm các nhà khoa học ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Dưới sự dẫn dắt của GS. Daniel Nocera , nhóm đã tạo ra những “lá nhân tạo” dùng để thu thập năng lượng của ánh sáng nhìn thấy, đồng thời là xúc tác cho quá trình phân hủy nước. Thành tựu này đã được công bố trên tạp chí Science11, và được cộng đồng khoa học đánh giá như một bước tiến vượt bậc vì các “lá nhân tạo” này không chỉ dùng ánh sáng nhìn thấy mà hiệu suất của quá trình đạt mức cao chưa từng thấy. Tuy nhiên, dưới sự chiếu sáng trực tiếp của một nguồn sáng khá mạnh, lượng hydro được tạo ra trong quá trình này cũng chỉ đủ để sủi bọt lăn tăn chứ không làm sôi sục bình nước như trong sáng chế của TS. Nguyễn Chánh Khê, hình 6.          Hình 6: Thí nghiệm phản ứng phân hủy nước dùng “lá nhân tạo” của MIT 12.          Chất khử hay chất xúc tác?  Điểm quan trọng nhất trong sáng chế “Máy phát điện chạy… nước” của TS. Nguyễn Chánh Khê là hóa chất sử dụng trong phản ứng phân hủy nước, khi thì được mô tả là chất “phụ gia xúc tác”, khi lại là “chất khử nano”, được nhiều báo chí đưa tin là chất xúc tác nano, có vai trò khử nước thành hydro. Vậy đó là chất khử hay chất xúc tác?  Theo định nghĩa chất xúc tác, đó là chất tham gia quá trình phản ứng hóa học ở các khâu trung gian, nhưng không có mặt trong sản phẩm và được bảo toàn sau phản ứng. Như vậy, vai trò của chất xúc tác là làm tăng tốc độ phản ứng hóa học. Nếu một chất đó làm giảm tốc độ phản ứng thì thay vì được gọi là chất xúc tác, nó lại được gọi là chất ức chế.  Với lưu ý rằng, chất xúc tác chỉ làm thay đổi tốc độ của phản ứng hóa học, chứ không thể làm cho một phản ứng từ chỗ không thể xảy ra thành có thể xảy ra. Vì thế, một chất xúc tác chỉ có tác dụng khi ở một điều kiện xác định, phản ứng hóa học đã xảy ra nhưng với tốc độ nhỏ. Khi thêm chất xúc tác, tốc độ phản ứng sẽ tăng, đôi khi đến hàng triệu lần.  Với phản ứng phân hủy nước, xét về mặt nhiệt động học, là không thể tự xảy ra ở điều kiện thông thường, do đó bắt buộc phải dùng năng lượng bên ngoài để “cưỡng bức” cho xảy ra. Tuy nhiên, xem hình chụp hệ thống của TS. Nguyễn Chánh Khê, thấy rằng hệ thống này không dùng bất cứ dạng năng lượng thường thấy nào như điện năng, nhiệt năng. Điều này cũng phù hợp với mô tả của TS. Nguyễn Chánh Khê: “Nó không phải là điện giải, không phải là điện phân, và nó cũng không phải là thủy điện”.  Vậy khả năng còn lại là quang năng. Tuy nhiên, để sử dụng được quang năng thì các bình chứa thường làm bằng thủy tinh, pyrex hoặc thạch anh… và trong suốt để tăng độ truyền ánh sáng. Nhưng các bình nhựa của hệ thống do TS. Nguyễn Chánh Khê sáng chế là bình nhựa có màu xanh tím, có tác dụng như bộ lọc sắc, gây cản trở ánh sáng rất lớn, hình 7. Vậy nếu chất xúc tác TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng là chất xúc tác quang, thì việc sử dụng bình nhựa như vậy là không khoa học. Với chỉ một chút ánh sáng còn lại có thể truyền qua thành bình nhựa, chất xúc tác này có thể làm cho “bình nước sôi sục” cho thấy, nếu đúng hóa chất được sử dụng là chất xúc tác thì đây là một chất xúc tác cực mạnh, chưa từng biết. Một chất xúc tác như vậy quả là một “viên đá thần” và là giấc mơ của nhân loại từ ít nhất là 40 năm nay từ khi Fujishima & Honda phát hiện ra hiện tượng phân hủy nước dưới tác dụng của ánh sáng trên bề mặt xúc tác TiO2 năm 1972, vì nó giúp giải quyết nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ thiếu hụt năng lượng do cạn kiệt dầu mỏ, than đá…  Để minh họa cho hiệu quả của hệ thống, TS. Nguyễn Chánh Khê đã dùng một đèn điện. Dùng mắt thường để quan sát có thể ước lượng rằng, lượng ánh sáng của đèn điện tỏa ra lớn hơn lượng ánh sáng đi vào bình nhựa, điều này trái ngược với nguyên tắc bảo toàn năng lượng.  Ngoài ra, một trong những vấn đề làm đau đầu người làm nghiên cứu về xúc tác là “ngộ độc xúc tác”, tức là xúc tác bị mất hoạt tính do bị các chất bẩn hoặc chính sản phẩm của phản ứng hấp phụ lên bề mặt xúc tác. Trong trường hợp này, việc dùng nước bẩn, nước muối làm nguyên liệu như tuyên bố của TS. Nguyễn Chánh Khê sẽ làm ngộ độc xúc tác nhanh chóng.  Những lập luận này cho thấy, hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng không thể là chất xúc tác được. Khả năng duy nhất còn lại: Hóa chất được sử dụng là một chất khử, có khả năng phản ứng trực tiếp với nước để tạo khí hydro. Điều này cũng đã được đích thân TS. Nguyễn Chánh Khê  khẳng định trong thuyết trình của mình: “Đầu tiên, chúng ta có cái vật liệu nano nó nằm ở tại đây. Nó gọi là chất khử nano. Nó sẽ biến nước thành ra khí hydro. Khí hydro sẽ đi qua bộ phận lọc để làm cho mất nước. Và khí hydro khi mà đi qua đến cái phần này thì nó đi vào trong cái pin” 13.  Chất khử này có thể là các kim loại kiềm và kiềm thổ như Na, K, Ca hoặc một vài hóa chất có khả năng phản ứng với nước như Sodium Silicide (NaSi, Na2Si, Na4Si4). Vì các kim loại kiềm và kiềm thổ rất đắt, phản ứng với nước tạo ra kiềm là chất độc hại, có tính ăn mòn cao, nên sẽ không hiệu quả nếu dùng các chất này làm chất khử. Trong số đó, Sodium Silicide được dùng khá phổ biến để tạo khí hydro vì hiệu quả hơn việc sử dụng kim loại kiềm hoặc kiềm thổ.  Một trong những phản ứng của Sodium Silicide với nước để cho hiệu suất tạo hydro cao nhất là14:  2NaSi + 5H2O → Na2Si2O5 + 5H2   Thực tế, một số công ty như PowerTrekk đã dùng Sodium Silicide để phân hủy nước tạo khí hydro dùng cho pin nhiêu liệu để tạo ra nguồn điện cho các sạc pin điện thoại, với công suất 4Wh15.  Tuy nhiên, NaSi là một chất đôc hại, gây bỏng da, mắt và hệ hô hấp nếu tiếp xúc, lại có khả năng tự bốc cháy (nhiệt độ tự bốc cháy thấp nhất là 260oC), nên cần phải rất cẩn thận khi sử dụng và vận chuyển16. Sản phẩm của phản ứng là Na2Si2O5, một chất có tính kiềm mạnh, nên là một chất độc hại với sức khỏe và môi trường. Phản ứng giữa Sodium Silicide với nước là phản ứng tỏa nhiệt, nên nguy cơ cháy nổ hoàn toàn có thể xảy ra nếu hệ thống phản ứng không tuân thủ những chỉ tiêu kỹ thuật nghiêm ngặt.  Vậy hóa chất mà TS. Nguyễn Chánh Khê sử dụng là gì? Điều này chỉ có TS. Nguyễn Chánh Khê và cộng sự biết, vì không được công khai đề cập trong bất kỳ bài báo nào. Tuy nhiên, việc dùng một hóa chất phản ứng trực tiếp với nước thì thường sẽ khá đắt, chứ không thể “để khởi động hệ thống này và chạy trong vài giờ, chỉ cần một chi phí nhỏ hơn 1000 đồng”17.  Quan trọng hơn, việc dùng một hóa chất làm chất khử để tạo ra hydo thì hóa chất đó chính là nguyên liệu chính để vận hành hệ thống, chứ không phải là nước như công bố. Nhìn bề ngoài, sự nhầm lẫn giữa chất khử và chất xúc tác chỉ là vấn đề ngôn ngữ, nhưng về bản chất khoa học, đây là một điều sai trái, một sự đánh tráo nguy hiểm.   Pin nhiên liệu hydro  Pin nhiên liệu là thiết bị chuyển hóa năng ở trong nhiên liệu thành điện năng thông qua phản ứng hóa học của nhiên liệu đó với tác nhân oxy hóa, thường là oxy trong không khí. Có nhiều loại pin nhiên liệu khác nhau, nhưng phổ biến nhất là pin nhiên liệu hydro, trong đó, năng lượng hóa học của phản ứng oxy hóa hydro thành nước được chuyển thành điện năng:  H2(g) + O2(g) → H2O(l), ΔH = -285.8 kJ mol−1  Phản ứng này có enthalpy âm, tức là phản ứng tỏa năng lượng. Chính phần năng lượng này sẽ được chuyển hóa thành điện năng nhờ pin nhiêu liệu. Nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu hydro được mô tả trong hình vẽ sau:          Hình 8: Sơ đồ nguyên tắc hoạt động của pin nhiên liệu hydro (PEM)18.          Khí hydro khi đến anode, dưới tác dụng của xúc tác, thường là Platinum, sẽ bị tách thành điện tử và ion H+. Điện tử, vì không đi được qua màng điện phân, nên sẽ chuyển sang cathode thông qua mạch ngoài tạo ra dòng điện. Còn ion H+ sẽ khuếch tán qua màng điện phân để sang cathode. Tại đây, cũng dưới tác dụng của xúc tác, ion H+ sẽ tác dụng với điện tử và oxy để tạo ra H2O. Hiệu suất của pin nhiên liệu khá cao, đạt mức 40-65%, nếu kết hợp với tận dụng nhiệt thải, có thể lên đến 85%, tức cao gấp khoảng 3 lần so với động cơ nhiệt.   Pin nhiên liệu dạng PEM19, được dùng nhiều cho các phương tiện vận chuyển vì có nhiều ưu điểm như công suất cao, không tạo ra ô nhiễm môi trường… Nhiều công ty sản xuất ô tô như Toyota, Honda, Hyundai, Daimler, and General Motors đã lên kế hoạch sản xuất xe sử dụng pin nhiên liệu vào năm 2015(20). Tuy nhiên, việc thương mại hóa sản phẩm pin nhiên liệu PEM ở phạm vi lớn vẫn chưa đạt được21. Lý do chính là do giá thành và độ bền của pin chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Với động cơ, pin thương mại phải có khả năng hoạt động trong 5000 giờ liên tục, và 40000 giờ với trạm phát điện, với khả năng suy giảm hiệu suất nhỏ hơn 10%(22). Về giá thành, tuy đã có cải thiện đáng kể, nhưng pin nhiên liệu vẫn còn đắt hơn nhiều sơ với động cơ đốt trong.          Hình 9: Biểu đồ giá thành của pin nhiên liệu dạng PEM 23          Phần lớn các pin nhiên liệu đang sử dụng đều dùng màng Nafion® và xúc tác Pt. Pin nhiên liệu của TS. Nguyễn Chánh Khê cũng thuộc loại PEM đã nêu trên, vì trong triển lãm FC Expo 2011: “TS. Nguyễn Chánh Khê cho biết, tại triển lãm, ông đã đưa ra loại vật liệu dẫn proton mới nhất thế giới đó là than nano lỏng để trực tiếp cạnh tranh với vật liệu Nafion- sản phẩm dẫn proton của công ty Dupont đang độc chiếm thị trường toàn cầu hiện nay. Công ty Dupont hiện bán 3 kg Nafion với giá 105.000 USD trong khi màng dẫn proton do TS Khê chế tạo từ than nano lỏng chỉ dao động trong mức giá khoảng 700 – 1.000 USD”24.   Ngoài ra, “TS Nguyễn Chánh Khê cho biết, dự kiến cuối tháng 8/2011 tới ông sẽ công bố và trình diễn một hệ thống pin có công suất 2.000 W đủ cung cấp điện cho một căn hộ nhỏ”23, nhưng đến nay, vẫn chưa thấy thực hiện.   Công suất của pin nhiên liệu2 của TS. Nguyễn Chánh Khê là 0,13W/cm2. Đây là một công suất tương đối thấp. Trên thực tế, những pin nhiên liệu hydro có công suất 2.5W/cm2, cũng dùng màng Nafion®, đã được chế tạo25.  Cũng liên quan đến pin nhiên liệu, dường như một sáng chế tương tự đã được nộp hồ sơ đăng ký tại châu Âu từ ngày 28.9.2006, bởi TS. Nguyễn Chánh Khê và hai đồng nghiệp26. Tuy nhiên, theo thông báo mới nhất của Phòng Đăng ký Bản quyền châu Âu thì hồ sơ đăng ký này đã bị rút lại từ ngày 3/12/2009. Lý do: Không phản hồi lại thư trao đổi của phòng kiểm tra27.   Thay lời kết  Qua những phân tích ở trên, có thể kết luận rằng: Việc tạo khí hydro từ nước chỉ là sản phẩm của một phản ứng hóa học thông thường giữa một chất khử với nước. Khí hydro được tạo ra này sẽ được đưa qua pin nhiên liệu dạng PEM để tạo ra điện. Do đó, nhiên liệu để vận hành hệ thống phải là chính chất khử đó, chứ không phải là nước. Muốn hệ thống hoạt động liên tục thì chất khử này phải được bổ sung liên tục, vì nó sẽ bị tiêu tốn trong quá trình phản ứng. Pin nhiên liệu mà hệ thống sử dụng có công suất thấp hơn nhiều với pin cùng loại đang được lưu hành.   Ngoài ra, việc đưa tin về những thành tựu nghiên cứu của TS. Nguyễn Chánh Khê từ trước đến nay cũng có nhiều sai lệch. Thực vậy, từ năm 2006, nhiều báo đã đưa tin việc TS. Nguyễn Chánh Khê lần đầu tiên sản xuất thành công ống carbon nano tube hoàn toàn bằng nguyên liệu và công nghệ trong nước28. Nhiều báo còn đưa tin Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã dùng ống carbon nano tube để làm vỏ phi thuyền29.  Trên thực tế, từ năm 2003 nhiều cơ sở nghiên cứu trong nước đã tạo được ống các-bon nano tube nên những tin tức này đã được cảnh báo30. Còn việc NASA có dùng ống cac-bon nano tube để làm vỏ phi thuyền hay không, hoặc ít nhất có hợp tác với Trung tâm Công nghệ cao TP.HCM hay không vẫn còn chưa được kiểm nghiệm. Nhưng sự thực là từ đó đến nay đã gần 5 năm, mặt hàng được hứa hẹn “sẽ mang về siêu lợi nhuận cho đất nước” vì có giá từ “100.000 USD – 800.000 USD/kg” dường như đã chìm vào quên lãng.  Nay với việc công bố sáng chế “máy phát điện chạy… nước”, trước sự nghi ngờ của giới khoa học, thiết nghĩ Khu Công nghệ cao TP. HCM hoặc Bộ Khoa học & Công nghệ cần lập hội đồng đánh giá tính xác thực của sáng chế này.  —————  Tác giả cảm ơn TS. Trương Văn Tân đã đọc và góp ý cho bài viết.  ———-  1 Trung tâm Nghiên cứu & triển khai Khu Công nghệ cao TP.HCM: Công bố sáng chế Máy phát điện chạy bằng nước, ngày 15/01/2012.  2 Điện từ nước – phát minh độc đáo của một nhà khoa học Việt Nam, An ninh thế giới, 26/12/2011.  3 Máy phát điện chạy bằng nước, Tuổi trẻ, 15/1/2012.  4 Sáng chế máy phát điện chạy bằng nước, Sài gòn giải phóng, 3/1/2012.  5 Năm 2011, thế giới khai thác được khoảng 87,5 triệu thùng dầu, trị giá khoảng 3000 tỉ đô-la Mỹ.  6 Vincent Artero và các cộng sự, Angew. Chem. Int. Ed. (2011), 50, 7238 – 7266.  7 Kazuhiko Maeda, J. Photochem. Photobio. C: Photochem. Rev., Vol.12, Iss. 4, (2011), 237–268  8 A. Fujishima and K. Honda, Nature 238 (1972) 37.  9 Dengwei Jing, Int. J. Hydrogen Energy, Vol. 35, Iss 13, 2010, 7087–7097.  10 Bing-Shun Huang, Ming-Yen Wey, Int. J. Hydrogen Energy, Vol. 36, Iss. 16, (2011) 9479–9486.  11 S.Y. Reece, et al., Science, 334 (2011) 645-648.  12 http://web.mit.edu/newsoffice/2011/artificial-leaf-0930.html  13 http://www.youtube.com/watch?v=PDQ5NpHTbbQ  14 James L. Dye et al, J. Am. Chem. Soc., 127 (2005), 9338-9339.  15 http://www.powertrekk.com/  16http://signachem.com/wp-content/themes/signa/pdf/technical-docs/MSDS-SiGNa%20NaSi.pdf  17 Máy phát điện chạy bằng… nước, chuyện lạ…, Sài Gòn Tiếp thị, 9/2/2011.  18 DOE-EERE. FCT fuel cells: types of fuel cells; 2009.  19 Polymer Electrolyte Membrane Fuel Cells  20 Gittleman C, DM, Jorgensen S, Waldecker J, Hirano S, Mehall M. Automotive fuel cell R&D needs. In: DOE fuel cell pre-solicitation workshop. Department of Energy, Lakewood, Colorado, 2010.  21 Yun Wanga et al, Appied Energy, Vol. 88, Iss. 4, (2011), 981–1007.  22 W. Schmittinger, A. Vahidi, J. Power Sources, 180 (2008), 1–14.  23 D. Papageorgopoulos , DOE fuel cell technology program overview and introduction to the 2010 fuel cell pre-solicitation workshop in DOE fuel cell pre-solicitation workshop. Department of Energy, Lakewood, Colorado, 2010.  24 Người chế tạo pin thay xăng,  Người đưa tin, 15/7/2011.  25 Oliver J. Murphy, G. Duncan Hitchens, David J. Manko, J. Power Sources, Vol. 47, Iss. 3, (1994), 353–368.  26 EP1949484 – ELECTROLYTE MEMBRANE FOR FUEL CELL UTILIZING NANO COMPOSITE, xem tại: https://register.epo.org/espacenet/application?number=EP06848660&tab=main   27 Nguyên văn: Despatch of communication that the application is deemed to be withdrawn, reason: reply to the communication from the examining division not received in time [2010/16]  28 TS Nguyễn Chánh Khê và sản phẩm carbon nano tube siêu lợi nhuận,  Người lao động, 9/7/2006.  29 NASA dùng carbon nano tube của VN làm vỏ phi thuyền, Tuổi trẻ, 31/5/2007.  30 Đằng sau nghiên cứu kinh ngạc của TS. Nguyễn Chánh Khê, Tuần Việt Nam, 14/6/2007.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Xuyên Mekong      Khởi nguồn từ Tây Tạng của Trung Quốc, sông Mekong đã thầm lặng chảy suốt chiều dài hơn 4.800 km xuyên qua sáu nước Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam trước khi đổ ra biển Đông qua chín cửa trên sông Tiền, sông Hậu thuộc vùng châu thổ Cửu Long giàu phù sa nông nghiệp và thủy sản của Việt Nam.    Chuyện gì sẽ xảy ra cho các nước ở vùng hạ lưu nếu như những nhà máy thủy điện, những đập thủy lợi lớn đã và đang được xây dựng ở thượng nguồn sông Mekong thuộc Trung Quốc, Lào, Thái Lan… gặp “tai biến”? Hoặc chỉ chuyên tâm phục vụ cho riêng lợi ích của nước mình?  Chuyện gì sẽ xảy ra nếu dịch cúm gia cầm nổi lên ở một làng quê hay một đô thị nào đó ở Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar hay Trung Quốc? Trong khi virus của loại dịch bệnh quái ác này đã làm chết hằng trăm người trên thế giới và còn đang muốn hoành hành “xuyên biên giới” thì đại đa số người dân nghèo ở sáu nước sông Mekong vẫn có thói quen thích “sống chung với gia cầm”?            Ông Toshiyuki Doi thuộc tổ chức Mekong Wacth của Nhật Bản nói về chính sách đầu tư của Nhật đối với 6 nước sông Mekong. ảnh: H.KIM        Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như ở những đô thị lớn người ta vẫn thích ăn thịt rừng, trị bệnh hoặc uống rượu ngâm các loài dược liệu hay động vật quí hiếm sống trong rừng hoặc xài đồ gỗ quí lấy từ rừng? Trong khi đó hàng triệu người dân nghèo sống quanh những cánh rừng dọc sông Mekong, không có cách nào hơn là phải vào rừng để săn thú, tìm dược liệu và chặt phá rừng để cung cấp cho những đường dây buôn lậu đặng đưa những món hàng xa xỉ ấy về cho người thành thị?  Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như vì đói khổ thất nghiệp mà mỗi ngày phải có thêm hằng nghìn trẻ em và phụ nữ ở những làng quê nghèo phải lội đồng, vượt biên giới để rồi sa vào tay những đường dây buôn người quốc tế? Và số phận của họ trong những nhà thổ của các vùng đô thị ở các nước ven sông Mekong, trước sau gì rồi cũng tối tăm, nghiện ngập và khó thoát khỏi HIV/AIDS?  Và chuyện gì sẽ xảy ra nữa đây nếu như những con đường xuyên Á, những khu kinh tế cửa khẩu và chợ biên giới đang mọc lên giữa các nước trong vùng theo kiểu “mạnh ai nấy làm”? Và các nhà đầu tư thì chỉ chăm chăm tới mục tiêu phát triển kinh tế mà bỏ qua số phận hàng triệu người dân nghèo đã phải di dời vì giải tỏa hoặc không còn cơ hội mưu sinh quanh các vùng biên giới ấy?  Vâng, nhiều chuyện lắm, nhiều câu hỏi lắm xung quanh chủ đề “xuyên biên giới” của vùng sông Mekong đã được đặt ra tại một hội thảo mang tên “Mekong trong trí tưởng” vừa được tổ chức tại Bangkok Thái Lan hồi đầu tháng 9 này. Những chuyên gia hàng đầu về môi trường, giáo dục, đầu tư, thương mại, du lịch, xã hội, lịch sử… thuộc một số tổ chức và viện nghiên cứu uy tín của ASEAN, Nhật Bản, Ủy hội sông Mekong, Thái Lan, Singapore, Philippines… đã “chạm” vào những câu hỏi ấy.  Và một câu trả lời chung gợi mở con đường lớn cho bao nhiêu lối đi – đó là: Không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự mình giải quyết được hết những vấn đề đụng tới cộng đồng cư dân sống ven sông Mekong. Sáu nước này phải biết cách bắt tay nhau và liên kết với cả khối ASEAN cùng nhiều tổ chức quốc tế khác để tìm giải pháp hợp tác phát triển.  Câu chuyện “Xuyên Mekong” kỳ này được đặt vào tay của gần 40 nhà báo thuộc sáu nước vùng hạ lưu sông Mekong. Người khởi xướng và tổ chức là hai cơ quan truyền thông quốc tế: Inter Press Service (IPS) và Probe Media Foundation Inc. (PMFI). Nhà tài trợ, không ai khác là Quĩ Rockefeller Foundation. Cả ba cơ quan này đang bắt tay với các nhà báo sáu nước vùng sông Mekong, làm những chuyến “xuyên Mekong” trong vòng bốn tháng tiếp theo.  Mục tiêu cuối cùng của họ: Tìm ra những câu trả lời sống động từ chính trong đời sống cộng đồng dân cư giữa biên giới các nước khác nhau sống ven dòng sông mẹ Mekong. Những bài báo, những phóng sự ảnh, phóng sự truyền hình… sẽ ra đời vào cuối năm nay.  Hi vọng, sẽ có những tia sáng ấm áp đến với mọi người.      Chú thích ảnh trên: Các nhà báo Việt Nam và Trung Quốc tại hội thảo. ảnh: H.KIM  Huỳnh Kim      Author                Quản trị        
__label__tiasang Y học chính xác: Ba thách thức cho Việt Nam      Trong 5 năm vừa qua, rất nhiều nước phát triển đã đưa ra những sáng kiến lớn trong y học chính xác. Năm 2012, Thủ tướng Anh David Cameron đã khởi động dự án 100.000 hệ gene. Mục tiêu chính của dự án là thực hiện giải trình tự 100.000 hệ gene người bệnh, bao gồm cả bệnh nhân mắc bệnh ung thư, bệnh hiếm gặp và mầm bệnh. Dự án được triển khai với sự dẫn dắt bởi Cơ quan Dịch vụ y tế quốc gia (National Health Service – NHS) cùng với sự hợp tác của các bệnh viện hàng đầu trong nước Anh cũng như toàn ngành công nghiệp.      Dữ liệu hệ gene và y học chính xác sẽ có thể làm thay đổi cách mà chúng ta vẫn đang điều trị.  Một trong những người tự nguyện sớm nhất của dự án là một cô gái trẻ mang trong mình một căn bệnh hiếm gặp. Cô có tiền sử bị động kinh, mặc dù đã sử dụng rất nhiều những xét nghiệm và đánh giá di truyền nhưng các bác sĩ thất bại trong việc chẩn đoán bệnh. Quá trình phân tích tin sinh học dựa trên dữ liệu giải trình tự toàn bộ hệ gene của cô và của bố mẹ cô đã phát hiện ra cô bị mất một đoạn lặp của gene SLC2A1. Gene SLC2A1 này đóng vai trò trong việc hấp thụ glucose trong các tế bào não. Hiện tượng động kinh của cô gái đã kết thúc khi áp dùng chế độ ăn ketogenic (chế độ ăn kiêng nhiều chất béo, vừa đủ protein và ít tinh bột). Một ví dụ đáng chú ý khác là trường hợp của ba chị em gái đều mang căn bệnh ung thư vú, trong đó điều rất thú vị là họ không bị di truyền từ đột biến trên gene BRCA1 hay BRCA2. Đây là chỉ hai trong số rất nhiều ví dụ cho thấy rằng giải trình tự toàn bộ hệ gene hay toàn bộ hệ mã hóa protein (exome) cho phép chẩn đoán nhiều bệnh hiếm gặp hoặc ung thư, và xác định phương pháp can thiệp cụ thể. Người ta cho rằng áp dụng y học chính xác có thể giải quyết được 30 – 40% các bệnh hiếm gặp.  Tại nước Mỹ, Tổng thống Barack Obama đã khởi động ra một sáng kiến về y học chính xác (Precision Medicine Initiative – PMI) vào tháng 1 năm 2015 với khoản tài trợ lên tới 215 triệu USD, mục tiệu tập trung chủ yếu vào các bệnh không truyền nhiễm bao gồm các bệnh ung thư và thiết lập một dự án nghiên cứu cộng đồng. Tương tự như dự án 100.000 hệ gene của nước Anh, sáng kiến này sẽ tiến hành giải trình tự toàn bộ hệ gene của những bệnh nhân mang bệnh cụ thể. Dự án này được khởi xướng tại cuộc họp của Tổng thống Barack Obama với một nhóm các nhà khoa học, trong đó bao gồm TS. Francis Collins, sau này là viện trưởng các Viện nghiên cứu y tế quốc gia Mỹ. Mục tiêu quan trọng của dự án là xây dựng một cộng đồng lên tới một triệu người sẵn sàng chia sẻ dữ liệu di truyền của họ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học.      Sáng kiến y học chính xác ở cả Anh và Mỹ đã phản ánh vai trò của chính trị trong việc thúc đẩy y học chính xác tiến tới thực tiễn gần hơn. Nhưng trong cả hai trường hợp, các nhân tố chính cho việc hình thành sáng kiến là các nhà khoa học và các bác sỹ, những người có cùng niềm tin và tầm nhìn để thấy dữ liệu hệ gene và y học chính xác sẽ có thể làm thay đổi cách mà chúng ta vẫn đang điều trị. Hay nói cách khác, tương lai của y học là y học chính xác.      Việt Nam đã đáp ứng thế nào cho việc này? Thực tế thì cũng có một số đơn vị đã áp dụng các phương pháp sàng lọc và các thuốc điều trị đích vào điều trị ung thư và bệnh di truyền hiếm gặp. Tuy nhiên, để có thể triển khai nghiên cứu và ứng dụng y học chính xác cho riêng người Việt, chúng ta cần rất nhiều nguồn lực khác nhau. Một số thách thức có thể được liệt kê như sau.  Thứ nhất, chi phí cho xét nghiệm di truyền hoặc xác định kiểu gene của các bệnh vẫn còn cao (từ 500 đến 2.000 USD) và chưa được chi trả bởi hệ thống bảo hiểm y tế. Một số phòng thí nghiệm có thể thực hiện các xét nghiệm di truyền với chi phí thấp do được hỗ trợ bởi các quỹ nghiên cứu nhưng điều này không bền vững vì nguồn tài trợ có hạn. Cái mà chúng ta cần là hệ thống bảo hiểm y tế hoặc các công ty bảo hiểm tư nhân đưa các xét nghiệm này vào danh mục chi trả.  Thứ hai, giả sử các xét nghiệm di truyền phát hiện được các đột biến có thể điều trị nhắm đích được thì các chi phí tiếp theo cho các thuốc điều trị đích là một con số không hề nhỏ. Hiện nay, hàng loạt các thuốc điều trị đích đều có giá cao so với khả năng chi trả của người bệnh.  Thứ ba, các kết quả xét nghiệm di truyền sẽ ảnh hưởng tới tính pháp lý cho việc chi trả bảo hiểm y tế. Một số nước đã có điều luật cấm việc sử dụng thông tin di truyền để ngăn cản người dân tham gia bảo hiểm nhưng ở Việt Nam thì chưa. Điều này có nghĩa là, nếu ai đó được xác định là đột biến trên gene BRCA1 và có nguy cơ phát triển ung thư vú di truyền thì người đó sẽ không được đồng ý tham gia vào bảo hiểm y tế.  Ba thách thức được đề cập ở phần trên không phải là không thể vượt qua nếu các nhà hoạch định chính sách của chúng ta quyết tâm thực hiện.    ———–  * TS, Trung tâm nghiên cứu tế bào gốc và hệ gene (Bệnh viện đa khoa quốc tế Vimec).            Author                Nguyễn Cường        
__label__tiasang Y học: Người máy trợ giúp bệnh nhân đột quị      Hàng trăm nghìn bệnh nhân tàn tật do chứng đột quị có thể phục hồi được sức khỏe của mình nhờ sự giúp đỡ của các người máy. Theo các nhà khoa học thuộc Đại học Nottingham (Anh), người máy trợ giúp có thể giúp các bệnh nhân đột quị lấy lại khả năng thị lực và đi đứng sau các chấn thương gây ra bởi chứng đột quị.    Sau ba năm nghiên cứu, phương pháp mới sử dụng người máy để điều trị các bệnh nhân đột quị có thể được chính thức đưa ra áp dụng vào cuối năm nay.  Người máy sẽ giúp đỡ các bệnh nhân nhằm phục hồi các chức năng nghe, nhìn và đi lại. Các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng liệu pháp điều trị mới này sẽ cải thiện hoạt động của các chi dưới, dây thần kinh phối hợp các xương chi, xương sống và cả xương hàm của người bệnh. (Scotman)  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang Y học thưởng thức      Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ với vi tính, với kỹ thuật số … thì ngành cận lâm sàng càng chiếm ưu thế. Nếu thầy thuốc ngày xưa hầu như chỉ trông mong vào kinh nghiệm lâm sàng thì nhà điều trị thời nay dường như bó tay trong chẩn đoán nếu thiếu phòng xét nghiệm! Ở nhiều quốc gia đang được tiếng đi trước về y học một bệnh án hoàn toàn không có ý nghĩa nếu không đi kèm kết quả xét nghiệm.    Với người bệnh thì vấn đề lại không dừng lại ở phòng xét nghiệm. Nổi khổ của người bệnh không chỉ bắt đầu ngay từ trong phòng đợi mà bộc phát từ lúc nhận kết quả xét nghiệm, khi nỗi khổ tâm của người bệnh gắn liền với vài con số hay chữ viết tắt nào đó bị đánh dấu xanh đỏ, gạch dưới, hay in đậm nét, qua đó người bệnh không thể phân biệt xấu tốt vì thiếu lời giải thích.  Trong nhận thức đó Tia Sáng Y Học sẽ dành nhiều kỳ cho mục Y Học Thường Thức để lần lượt giải thích ý nghĩa sinh và bệnh lý của một số xét nghiệm sinh hóa thường gặp  Xét nghiệm sinh hóa về chất mỡ trong máu.  Xét nghiệm sinh hóa về chất mỡ trong máu  Trong thời gian gần đây do thông tin phần không chính xác, phần nhiều khi mang tính chất cường điệu nên chất mỡ trong máu, điển hình là cholesterol, thường bị đồng hóa với hình ảnh bệnh lý trên tim mạch. Trên thực tế, không thể chỉ căn cứ đơn phương vào hàm lượng cholesterol trong máu nếu muốn đánh giá chính xác diển biến của quy trình biến dưỡng chất béo trong cơ thể. Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, từ Âu sang Á, đã chứng minh cholesterol không là nguyên nhân mang tính chất quyết định của tình trạng xơ vữa động mạch, mà chỉ là yếu tố đi kèm trong nhiều trường hợp bệnh lý. Rất nhiều nạn nhân của chứng nhồi máu cơ tim hay cao huyết áp không hề bị tăng cholesterol trong máu! Ngược lại, không ít đối tượng có lượng cholesterol trong máu vượt quá trị số bình thường nhưng hoàn toàn không có vấn đề với bệnh tim mạch! Chỉ nói riêng về khía cạnh sinh hóa, nếu muốn có cái nhìn chính xác và khách quan về chất mỡ trong máu người bệnh, thầy thuốc tối thiểu phải căn cứ vào các xét nghiệm dưới đây:  1.  LDL-Cholesterin: là loại chất béo có công năng vận tải hỗn hợp đạm-béo đến tế bào ngoại biên. Nếu vì lý do nào đó mà hàm lượng LDL-Cholesterin tăng quá cao thì chất này có khuynh hướng bám chặt vào mặt trong mạch máu và tạo thành mảng xơ vữa trên thành mạch. Do đó cần theo dõi LDL trên người bệnh tim mạch để so sánh kết quả trước sau.  Trị số bình thường: (thay đổi tùy theo điều kiện cơ tạng cá biệt của mỗi đối tượng)  – dưới 160mg/dl trên người hoàn toàn khỏe mạnh  – dưới 130mg/dl trên đối tượng của tình trạng xơ vữa động mạch  – dưới 100mg/dl trên nạn nhân của bệnh lý động mạch vành tim  Giá trị bệnh lý của LDL-Cholesterin:  – nếu tăng cao hơn bình thường: tăng xác suất ngạnh tắt cơ tim, thận nhiễm mỡ, thiểu năng tuyến giáp.  – nếu giảm thấp hơn bình thường: do bệnh bẩm sinh, bệnh gan, sau thời kỳ suy dinh dưỡng, bệnh ác tính, bệnh do suy thoái hệ miễn nhiễm …  Yếu tố ảnh hưởng trên trị số xét nghiệm của LDL-Cholesterin:  – chế độ dinh dưỡng thiếu chất béo  – lạm dụng thuốc hạ chất mỡ  – hút thuốc lá  – tác dụng phụ của thuốc lợi tiểu    2. Cholesterol làtổng lượng chất béo có cấu trúc cholesterin được hấp thu một phần trực tiếp từ thực phẩm và phần lớn từ quy trình tổng hợp của lá gan. Cholesterol về bản chất là thành phần cần thiết cho cấu trúc của màng tế bào, mật, sinh tố D và nhiều loại nội tiết tố. Tùy theo phản ứng kết hợp với chất đạm mà cholesterol sẽ hiện diện trong cơ thể dưới hai dạng đối kháng: LDL-Cholesterin và HDL-Cholesterin. Tình trạng gia tăng cholesterol là dấu hiệu cho thấy có rối loạn nào đó trong khâu biến dưỡng chất béo và là yếu tố bất lợi cho tim mạch. Cholesterol dù vậy, ngay cả trong trường hợp bội tăng, không có ý nghĩa bệnh lý quyết định trong bệnh tim mạch như cao huyết áp, thuyên tắt mạch vành …  Không thể chỉ căn cứ vào l lần xét nghiệm để kết luận về tình trạng tăng chất mỡ trong máu. Cần kiểm soát xét nghiệm vài lần trước khi quyết định liệu pháp  Cholesterol nên được theo dõi định kỳ để:   phát hiện sớm tình trạng xơ vữa và bệnh lý mạch máu vành tim.  – Kiểm soát hiệu năng của chế độ dinh dưỡng và liệu pháp hạ chất mỡ trong máu  – Theo dõi chức năng gan trên người viêm gan, nghiện rượu …  Trị số bình thường: thay đổi khá nhiều tùy theo chủng tộc  – Thông thường dưới 200mg/dl  Giá trị bệnh lý của Cholesterol:  – nếu tăng cao hơn bình thường: thường là dấu hiệu đi kèm của bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thận nhiễm mỡ, thiểu năng tuyến giáp, lạm dụng chất béo gốc động vật hay bệnh lý di truyền  – nếu giảm thấp hơn bình thường: thường do hậu quả của rối loạn biến dưỡng như cường năng tuyến giáp, sau khi giải phẩu, chấn thương, hay do một số bệnh ác tính.  Yếu tố ảnh hưởng trên trị số xét nghiệm của Cholesterol:  – Chế độ dinh dưỡng quá nhiều chất béo động vật  – Hình thức ăn uống kiêng khem thái quá  – Nghiện rượu  – Rối loạn nội tiết tố: bệnh tiểu đường, bệnh tuyến giáp trạng …  – Thai kỳ  – Do lỗi kỹ thuật của phòng xét nghiệm như cột tĩnh mạch quá lâu khi lấy máu.  3. HDL-Cholesterin: là loại chất béo giữ nhiệm vụ vận chuyển chất đạm và chất béo tích lũy trong mô hay trên thành mạch máu trở về gan để tái tổng hợp. HDL-Cholesterol do đó tuy cũng có cấu trúc của chất béo nhưng lại là yếu tố chủ động bảo vệ tim mạch.  HDL cũng nên được theo dõi định kỳ để:  – đánh giá tiến độ xơ vữa mạch máu  – theo dõi kết quả điều trị rối loạn biến dưỡng chất béo  Trị số bình thường:  – dưới 35mg/dl ở phụ nữ  – dưới 40mg/dl ở nam giới  Giá trị bệnh lý của HDL-Cholesterin:  – nếu tăng cao hơn bình thường: tốt cho hệ tuần hoàn và đặc biệt là mạch máu vành tim.  – nếu giảm thấp hơn bình thường: tăng xác suất của bệnh lý mạch vành.  Yếu tố ảnh hưởng trên trị số xét nghiệm của HDL-Cholesterin: có thể tăng ở người vận động thường xuyên.    4. Triglyceride: là loại chất béo có hại cho cơ thể nhiều hơn có lợi vì khuynh hướng bám vào nơi nào có điểm thương tổn ở mặt trong mạch máu và dẩn đến hiện tượng xơ vữa. Hàm lượng Triglyceride trong máu tùy thuộc vào hai yếu tố:  – mức độ hấp thu từ thức ăn  – tiến độ tổng hợp chất béo của lá gan  Triglyceride có tính chất bệnh lý khi tăng cao hơn định mức bình thường cùng lúc với tình trạng gia tăng chất béo LDL-Cholesterin và giảm thiểu HDL-Cholesterin.  Trị số bình thường:  – dưới 200mg/dl  Triglyceride cần được kiểm soát để:  – Chẩn đoán sớm hiện tượng xơ vữa mạch máu và nhồi máu cơ tim  – Xác định tình trạng rối loạn biến dưỡng chất béo  – Theo dõi hiệu năng của liệu pháp hạ chất mỡ trong máu  Giá trị bệnh lý của Triglyceride:  – nếu tăng cao hơn bình thường: do sai lầm trong dinh dưỡng, nghiện rượu, béo phì, bệnh tiểu đường, suy thận, thiểu năng tuyến giáp, viêm tụy mãn tính, bệnh di truyền.  – nếu giảm thấp hơn bình thường: bệnh di truyền, hậu quả của suy dinh dưỡng, cường năng tuyến giáp, viêm gan mãn.  Yếu tố ảnh hưởng trên trị số xét nghiệm của Triglyceride:  – chế độ dinh dưỡng quá nhiều chất béo  – thai kỳ  – người dùng thuốc ngừa thai, thuốc corticoid, thuốc lợi tiểu, thuốc hạ áp thuộc nhóm ức chế beta  – rút máu quá lâu khi làm xét nghiệm  Vịnh Nghi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý nghĩa việc giải mã genome 36 giống lúa Việt Nam      Trước những thách thức ngày càng lớn đối với an ninh lương thực như các vấn đề về dân số, biến đổi khí hậu, tác hại do sâu bệnh, con người rất cần những tiến bộ công nghệ dựa trên kết quả nghiên cứu giải mã genome các giống cây trồng, trong đó việc nghiên cứu giải mã genome cây lúa được đặc biệt coi trọng ở Việt Nam.&#160;     So với các loại ngũ cốc khác, cây lúa là loài có kích thước bộ gene nhỏ, vì vậy được chọn là loài cây trồng mô hình cho việc giải mã bộ gene đầy đủ phục vụ công tác nghiên cứu về di truyền học, genome học và ứng dụng trong chọn tạo giống. Dự án Quốc tế đầu tiên về giải trình tự hệ gene lúa gạo bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, gồm nhiều phòng thí nghiệm từ các quốc gia khác nhau, dẫn đầu bởi Nhật Bản và các nước khác như Anh, Ấn Độ, Brazil, Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Thái Lan và Trung Quốc và hoàn tất vào năm 2004. Sau khi trình tự chi tiết hệ gene được coi là chuẩn mực vàng của 2 giống lúa Nipponbare thuộc Japonica và giống lúa 93-11 thuộc Indica được công bố (năm 2005), đã có hàng nghìn dòng/giống lúa khác nhau trên thế giới được giải trình tự.   Chiến lược giải trình tự qui mô lớn ứng dụng SNP     Với sự sáng tạo về thiết bị công nghệ trong các máy giải trình tự hiệu năng cao kết hợp với các hệ thống siêu máy tính, việc giải trình tự genome của một giống lúa hiện nay được tính bằng tuần, thậm chí vài ngày. Chính vì vậy, thông tin về trình tự gene giữa các giống lúa có thể được xác định một cách nhanh chóng với chi phí thấp để có thể tìm kiếm các gene mới, lập bản đồ gene, dự đoán chức năng của gene, thiết kế các chỉ thị di truyền phục vụ chọn tạo giống mới. Đặc biệt là việc sử dụng và khai thác các dạng đa hình của nucleotit đơn (SNP) trong việc lập bản đồ kết hợp toàn bộ hệ gene (Genome Wide Association Study – GWAS) cho phép chúng ta đưa được một lượng lớn các locus tính trạng số lượng (QTL – Quantitative Trait Loci) ở mức độ chi tiết vào chương trình chọn giống.   Gần đây, nhiều nghiên cứu về SNPs trên cây lúa đã và đang tiếp tục được thực hiện và ngày càng có nhiều các kết quả nghiên cứu về SNPs trên cây lúa được công bố rộng rãi nhằm phục vụ cho các nghiên cứu về di truyền và chọn giống lúa. Các thông tin về SNPs đã được công bố bao gồm các bộ dữ liệu SNP lớn, các công cụ để xác định các SNP có ý nghĩa cho những mục đích ứng dụng nhất định, và bộ các SNPs được thiết kế chuyên dụng để sử dụng trong nghiên cứu ứng dụng chỉ thị SNP trong chọn giống, xây dựng bản đồ QTL và bản đồ liên kết, nghiên cứu tách dòng gene, nghiên cứu phân tích phả hệ, nghiên cứu xác định giống và xác định độ tinh sạch của nguồn giống.   Dữ liệu SNP đầy đủ của hệ gene là cơ sở để phát hiện các nguồn tài nguyên di truyền tự nhiên có giá trị kinh tế, tạo điều kiện cải tiến cây lúa một cách hiệu quả khi kết hợp với hệ thống chọn giống dựa trên dấu chuẩn di truyền (MAS). Khả năng sử dụng dữ liệu hệ gene lúa phụ thuộc vào hiệu quả của cơ sở thông tin hạ tầng bởi dữ liệu về hệ gene lúa tăng theo cấp số nhân theo từng ngày do sự nỗ lực của rất nhiều nhà khoa học. Trình tự hệ gene là nền tảng cho các phân tích tiếp theo như: xác định từng gene, dự đoán các protein mà gene đó quy định, xác định khi nào và ở đâu gene đó biểu hiện và sự tương tác với từng điều kiện cụ thể. Một trình tự hệ gene lúa tiêu chuẩn là cơ sở để kết nối nhiều nguồn thông tin khác nhau. Hiện nay, các nghiên cứu giải trình tự hệ gene các giống lúa vẫn đang tiếp tục để làm rõ bức tranh về bản chất hệ gene của cây lúa (Sasakiet al.,2002; Yamamoto et al., 2010).  Giải mã gene lúa ở Việt Nam  Việt Nam là một trong những trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền nguồn gene cây lúa. Với nhiều tập đoàn giống lúa địa phương phong phú, đa đạng và rất nhiều nguồn gene lúa có các đặc tính nông sinh học quí (như: chịu hạn, chịu mặn, kháng rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, bạc lá, v.v) nhưng chưa được khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả. Để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn gene lúa bản địa trong các chương trình chọn và lai tạo giống, đòi hỏi phải có những thông tin về phenotype và genotype. Việc giải mã toàn bộ hệ gene của các giống lúa bản địa sẽ cung cấp thông tin ở mức phân tử một cách đầy đủ nhất. Dựa vào trình tự bộ gene có thể lập bản đồ và xây dựng được hệ thống marker phân tử bao phủ toàn bộ genome; chú giải cấu trúc hệ gene; nghiên cứu chức năng sinh học của gene và chức năng của gene trong việc điều hòa hay tương tác với các gene và các phân tử khác; nghiên cứu biểu hiện của gene; xác định các QTL v.v phục vụ công tác chọn tạo giống.  Nhận thức tầm quan trọng của dữ liệu genome lúa, trong các năm 2011-2012 Viện Di truyền Nông nghiệp đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu John Innes (John Innes Centre – JIC) và Trung tâm phân tích genome (The Genome Analysis Centre – TGAC) thuộc Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Sự sống và Công nghệ Sinh học, Vương quốc Anh (Biotechnology and Biological Sciences Research Council – BBSRC) tiến hành giải mã thành công 36 giống lúa bản địa ưu tú của Việt Nam.   Thông qua việc hợp tác nghiên cứu, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã được tiếp cận với các phương pháp giải mã genome tiên tiến, các thiết bị hiện đại nhất của thế giới để có thể chủ động lập bản đồ vật lí, xác định chính xác vị trí gene trên nhiễm sắc thể, phân loại các gene chức năng, tìm kiếm các họ gene, QTLs, phát hiện các gene chức năng mới còn tiềm ẩn trong các dòng/giống lúa bản địa của Việt Nam.  Kết quả bước đầu của đề tài là đã xây dựng được trình duyệt genome và bản đồ các SNPs của các giống lúa bản địa của Việt Nam để công bố ở quốc tế và trong nước, giúp các viện, trường khai thác, nghiên cứu về ứng dụng bioinformatics trong bảo tồn nguồn gene quí, phân loại học, chọn tạo giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu các loại sâu bệnh và điều kiện bất lợi phi sinh học.  Cơ sở dữ liệu của 36 giống lúa đã giải mã và các giống lúa được giải mã là nguồn thông tin quí giá để tầm soát các gene chức năng (kháng rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, chịu hạn, chịu mặn, gene chất lượng, gene thơm…), định vị chính xác các gene đích trên bản đồ, thiết kế các chỉ thị di truyền chức năng (functional marker-FMs) là những chỉ thị di truyền liên kết chặt với các gene đích (khắc phục sự phân li, tái tổ hợp giữa gene đích và chỉ thị di truyền) giúp chọn lọc cá thể mang gene đích một cách chính xác phục vụ công tác nghiên cứu chọn và lai tạo giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng được sâu bệnh hại chính và chống chịu với các điều kiện bất lợi phi sinh học.   Qua nghiên cứu genome của các giống lúa bản địa, chúng ta đã khẳng định được chủ quyền quốc gia về nguồn gốc và sự đa dạng di truyền của nguồn gene lúa của Việt Nam, đồng thời góp phần thúc đẩy thương mại hóa, nâng cao thương hiệu cho sản phẩm lúa gạo của Việt Nam trên thế giới. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để chọn tạo các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt có khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường để sẵn sàng ứng phó với những sự biến đổi khí hậu, giúp nâng cao nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân giúp nông dân, tiết kiệm chi phí thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe người sản xuất và tiêu dùng, góp phần bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh lương thực.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ý tưởng “nghĩa trang” nguyên tử (kỳ cuối)      10.000 năm nữa, những hiểm họa từ chất thải phóng xạ vẫn còn chực chờ con người. Vì vậy nhiệm vụ dành cho đội đặc nhiệm “Human Interference Task Force” là xác định “nghĩa trang” nguyên tử và tìm ra một ngôn ngữ ký hiệu cảnh báo để 10.000 năm sau, con người vẫn còn hiểu được. Họ không ngờ, những đề xuất của mình đã đưa ra một ngành nghiên cứu mới.     Cảnh báo đáng sợ từ “nghĩa trang” nguyên tử  Theo báo cáo cuối cùng của nhóm đặc nhiệm thì trung tâm của cái cơ sở kỳ lạ hiếm có này là một cái đài tưởng niệm gồm ba phần, mỗi phần cao 7 mét để cảnh báo những kẻ đột nhập, để từ xa người ta thấy được các chỉ dẫn đại loại như “Cẩn thận, rác độc hại!” hay “Không đào bới ở đây!”. Lời lẽ được viết trên những phiến đá khổng lồ bằng sáu ngôn ngữ của Liên hiệp quốc: tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ả rập, Nga và Trung Quốc.  Trong trường hợp sau 10.000 năm, các ngôn ngữ này không còn tồn tại, thì phải có những bản vẽ mô tả những hậu quả khôn lường nếu đào bới, trộm cắp ở “nghĩa trang” nguyên tử: Kẻ nào đột nhập vào khu vực kho chứa cuối cùng này sẽ bị nôn mửa, đau đầu chóng mặt, rụng tóc và cuối cùng là chết.  Tuy việc làm mang ý nghĩa sâu xa nhưng trên thực thế, dư luận khen các chuyên gia thì ít mà chê cười thì nhiều. Tạp chí Time tháng 11.1984 đã trích dẫn câu nói của quan chức tại Hạ viện răn dạy, bảo ban như cha mẹ nói với con cái: “Lần sau họ phải cố gắng hơn một chút nữa.”  Ra đời một ngành nghiên cứu mới  Những kiến thức mà nhóm đặc nhiệm thu được đã động viên giới khoa học và thậm chí có một số người muốn làm theo, từ đó đã hình thành một môn nghiên cứu hoàn toàn mới có tên là ký hiệu học nguyên tử – nuclear semiotics.  Hoạt động trong lĩnh vực này, nhà khoa học xã hội Philipp Sonntag ở Berlin muốn thu thập tất cả các thộng tin về rác nguyên tử như bản đồ, các chất, và chỉ tiêu về phóng xạ để tàng trữ trên một “mặt trăng nhân tạo” trong vũ trụ. Ông cho rằng con người tương lai thông minh và việc đi lại trên vũ trụ là chuyện thường ngày nên thông tin vể phóng xạ nguyên tử được lưu trữ ở đây khá an toàn. Ngoài ra, các dữ liệu cũng cần để ở kho lưu trữ cuối cùng, vì nếu tình hình nghiêm trọng thì việc tiếp cận nguồn tư liệu nhanh hơn.  Mèo nhiễm xạ và linh mục nguyên tử  Hai nhà nghiên cứu Pháp và Italia, Françoise Bastide và Paolo Fabbri, còn tiến thêm một bước nữa: họ kiến nghị nên chọn giống một loại “mèo phóng xạ”, những con mèo giống đặc biệt này sẽ thay đổi mầu lông khi ở gần vùng có rác thải phóng xạ – như vậy loại mèo này sẽ trở thành một loại “máy dò tìm sống”.  Một kiến nghị có lẽ ly kỳ nhất chính là của chính giáo sư Thomas Sebeok. Theo ông, nên thành lập một nhóm “linh mục nguyên tử” độc lập với chính phủ và nhóm này kiểm soát mọi kiến thức về sức mạnh hạt nhân và nguy cơ của chúng. Nhóm linh mục bí mật này là gồm các nhà vật lý, các chuyên gia về bệnh phóng xạ, quản lý hành chính và đương nhiên có cả các nhà ký hiệu học cỡ như Sebeok – những sự hiểu biết của nhóm sẽ được truyền đạt tới các thế hệ ưu tú trong tương lai.  Còn đối với bàn dân thiên hạ – được ví như các môn đệ của “giáo phái” nguyên tử – có một “nghi lễ đổi mới từng năm” với các “dấu vết giả” được tạo dựng để tách con người với kho rác thải hạt nhân đầy nguy hiểm. Như vậy là người dân trong tương lai sẽ tìm cách lẩn tránh kho hạt nhân cuối cùng vì… mê tín dị đoan chứ không phải vì những hiểu biết có cơ sở khoa học – chí ít thì đây chính là suy nghĩ mà ông Sebeok đã đưa vào bản báo cáo kết thúc của nhón “Human Interference Task Force”.  Chưa có dấu hiệu về một kho chứa rác thải hạt nhân cuối cùng    Cơ sở Thiết bị thử nghiệm cách ly chất thải (Waste Isolation Pilot Plant) đặt tại bang New Mexico, Mỹ    Cho đến nay thế giới vẫn chưa có kho chứa cuối cùng dành cho rác thải phóng xạ. Năm 2011, chính phủ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố tạm thời ngừng chi ngân sách cho dự án Yucca Mountain. Các chuyên gia dự đoán, việc tìm kiếm có thể sẽ bị kéo dài thêm vài chục năm. Hiện rác thải nguyên tử vẫn chỉ được cất giữ tạm thời.  Tuy vậy ý tưởng về “Human Interference Task Force” có thể sớm được hồi sinh ở Mỹ: Cơ sở Thiết bị thử nghiệm cách ly chất thải (Waste Isolation Pilot Plant) ở New Mexico, một bãi rác thải quân sự có phóng xạ dự kiến biến phương án Stonehenge thành sự thật. Sau khi đóng cửa cơ sở này vào năm 2033, người ta sẽ dựng 32 “đài tưởng niệm” với những bảng cảnh báo trải khắp khu vực này. Toàn bộ thông tin về di sản phóng xạ sẽ được lưu giữ tại một trung tâm thông tin, tương tự như một viện bảo tàng. Chi phí cho kế hoạch này vào những thập niên tới dự tính lên đến một tỷ đôla.  Xuân Hoài – Hoài Trang       Author                Quản trị        
__label__tiasang Yếu tố di truyền trong thể thao      Nhìn qua kết quả các kì Thế vận hội (Olympic Games) trong vòng 30 năm qua, rất dễ ghi nhận một khuynh hướng chung: trong khi sự bình đẳng về cơ hội được thi thố tài năng trong các môn thể thao càng ngày càng được nâng cao và bảo đảm, thì kết quả tranh tài trong các bộ môn thể thao loại “tinh hoa” (elite sports) lại càng ngày càng tập trung theo sắc dân. Nói cách khác, trong một số bộ môn thể thao, vận động viên của một vài sắc dân có khuynh hướng thành công nổi trội hơn các sắc dân khác    Trật tự mới  Vào thời trước Thế chiến thứ hai cho đến thập niên 70, khi mà chính sách kì thị chủng tộc và tình trạng kinh tế nghèo nàn còn là hàng rào hạn chế sự tham gia của người da đen trong các cuộc tranh tài thể thao, danh sách vận động viên đoạt huy chương và danh dự hầu như chỉ có tên người da trắng gốc Âu châu. Nhưng những năm gần đây khi nhiều quốc gia Á châu và Phi châu đã có thể gửi các đoàn vận động viên đi tranh tài thì sự phân phối huy chương trong Thế vận hội đã thay đổi rõ nét. Nếu Adolf Hitler có sống lại chắc cũng cảm thấy hỗ thẹn cho cái thuyết “Người Aryan siêu việt” của ông ta.  Phân tích kết quả các kì Thế vận hội trong vòng 3 thập niên qua cho thấy một vài xu hướng thú vị Như sau:  •    trong những môn thể thao đòi hỏi thể lực của phần trên cơ thể như cử tạ và ném lao, các vận động viên người da trắng hay Âu châu dẫn đầu;  •    trong những môn thể thao đòi hỏi thể lực của phần dưới cơ thể và sự nhanh nhẹn như điền kinh, các vận động viên gốc Phi châu thống lĩnh;  •    trong những môn nhảy cao như bóng rổ, người da đen miền Tây Phi châu lại hầu như làm chủ;    •    trong những môn thể thao cần sự dẻo dai và thẩm Mỹ như nhảy lộn xuống nước, một số môn trượt băng, và thể dục thẩm Mỹ, người Á châu, đặc biệt là người Đông Á, thường đứng đầu danh sách huy chương vàng.                     Sự “phân chia” rõ nét nhất có thể thấy trong các bộ môn điền kinh. Chẳng hạn như trong chạy nước rút 100m, 200m, 400m và chạy việt dã đại đa số [nếu không muốn nói là tất cả] các vận động viên vô địch đều là những người — hoặc sinh trưởng, hoặc có gốc gác — ở các nước thuộc vùng Tây Phi châu.  Mà chẳng phải riêng gì trong Thế vận hội, trong các môn thể thao chuyên nghiệp ở Mỹ, sự có mặt của người da đen cũng rất cao. Người Mỹ gốc Phi châu chỉ chiếm khoảng 13% tổng dân số Mỹ, nhưng họ chiếm gần 90% trong lực lượng vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp. Cần nói thêm là khoảng 40 năm về trước, khi mà sự kì thị chủng tộc còn là một vấn đề, người Mỹ da đen chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số vận động viên bóng rổ. Ngoài ra, trong bộ môn bóng bầu dục (American Football), vài mươi năm trước đây 100% cầu thủ là người da trắng; nhưng nay, 70% cầu thủ là người da đen. Ở Âu châu, các vận động viên gốc Phi châu đang tràn ngập các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, v.v… Dĩ nhiên, chúng ta cũng không nên quên rằng Nigeria và Cameron đang trên đường trở thành hai cường quốc về bóng đá.  Lí do                Có nhiều nguyên nhân kinh tế và xã hội cho xu hướng trên đây. Phi châu không giàu có như các nước Âu Mỹ, nên họ phải chú trọng vào những bộ môn thể thao mà họ có thể tận dụng được với chi phí thấp nhất. Điền kinh và bóng đá là hai môn thể thao không cần đầu tư cao vào cơ sở vật chất, và do đó, rất phù hợp với kinh tế của các quốc gia nghèo. Vì thế, người Phi châu xuất sắc trong hai bộ môn này cũng không phải là điều quá ngạc nhiên.  Nhưng còn có lí do sinh học mà có lẽ ít ai muốn đề cập đến. Mỗi bộ môn thể thao đòi hỏi một khả năng về sinh-cơ lực (biomechanics) và khí lực (aerobics). Hàng trăm nghiên cứu về nhân chủng học trong vài thập niên qua cho thấy rằng các đặc điểm then chốt của người vận động viên như cấu trúc của cơ thể, sự phân bố các cơ bắp, hệ thống nội tiết, công suất của phổi, khả năng sử dụng năng lực, v.v… đều có liên quan tới khả năng và kết quả trong các kỳ tranh tài. Căn cứ trên các dữ kiện về thân thể, người ta có thể đặt giả thuyết là người da đen có nhiều lợi thế hơn người da trắng trong các môn thể thao như chạy đua và nhảy cao. Tính trung bình, các sắc dân Phi châu ở vùng sa mạc Sahara có chung một số đặc tính về cơ thể: mật độ xương cao, tỉ lệ mỡ thấp, chân dài, mông nhỏ, và háng hẹp. Những đặc điểm sinh lý này giúp cho họ những ưu điểm quan trọng trong bộ môn điền kinh. Những dữ kiện này còn giải thích tại sao các sắc dân khác, như người Á châu chẳng hạn, hầu như vắng bóng trong một số bộ môn điền kinh và bóng rổ, vì so với người da trắng và da đen, người Á châu có mật độ xương thấp, chân và tay ngắn, tỉ trọng mỡ thấp, và mông nhỏ.  Để có hiệu quả tối ưu trong các môn thể thao như chạy nước rút và đường dài, vận động viên cần có một hệ thống cơ tốt. Cơ là loại mô có chức năng tạo ra sự chuyển động của cơ thể, giữ vững vị trí cơ thể chống lại trọng lực, tạo chuyển động ở các cấu trúc bên trong cơ thể và làm thay đổi áp suất hay sức căng của các cấu trúc bên trong cơ thể. Trong cơ có các cơ chế chuyển năng lượng hóa học thành năng lượng cơ học. Có thể chia cơ thành hai loại sơ (fibres): sơ có độ co dãn chậm (được gọi là sơ loại I) và sơ có độ co dãn nhanh (sơ loại II). Sơ loại I có chức năng quyết định mức độ chịu đựng, trong khi sơ loại II giúp cho các động tác cần sức mạnh như chạy nước rút hay nhảy cao.  Các vận động viên chạy nước rút có đến 75% (hay cao hơn) sơ loại II (co dãn nhanh). Ngược lại, các vận động viên chạy đường trường thường có đến 75% sơ loại I (co dãn chậm). Người da trắng, tính quân bình, có tỉ lệ sơ loại I ít hơn người da đen gốc Tây Phi châu khoảng 30%.  Thực ra, mô hình về sơ co dãn nhanh hay chậm khá đơn giản. Dựa theo hiệu quả trong qui trình chuyển hóa nội tiết tố, người ta có thể chia các loại sơ co dãn nhanh thành hai loại khác nhau: một loại có hiệu quả cao, và một loại có hiệu quả thấp. Sơ có hiệu quả cao có khả năng thích ứng tốt với môi trường luyện tập; ngược lại, sơ loại có hiệu quả thấp rất “lười biếng”, không phản ứng nhạy trong môi trường chuyển hóa. Điều này giải thích tại sao trong một số người dù tập dợt rất nhiều nhưng kết quả chẳng có gì đáng kể. Chẳng hạn như khi vận động viên chạy cực nhanh, oxygen không tiêu hóa kịp, và vì thế bắt buộc các cơ phải dùng oxygen một cách hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, tập dợt không thể biến các loại co dãn nhanh thành sơ co dãn chậm, hay ngược lại (mặc dù con người có thể mất dần dà và vĩnh viễn các sơ co dãn nhanh vì quá trình lão hóa).  Yếu tố gene                Tại sao sự phân phối mật độ xương và cơ khác nhau giữa người Phi và Âu châu?  Câu trả lời đơn giản là do di truyền. Thực vậy, sự khác biệt về các đặc điểm trên giữa các dân tộc trên thế giới không thể giải thích đơn thuần bằng sự khác biệt về môi trường sống, mà là còn ở yếu tố di truyền. Một số nghiên cứu của người viết bài này và nhiều đồng nghiệp trên thế giới cho thấy các yếu tố di truyền có thể giải thích khoảng 65% tới 85% những khác biệt về mật độ xương giữa các sắc dân trên thế giới. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu nhân chủng học còn ước đoán là các yếu tố di truyền có thể quyết định khoảng 45% sự khác nhau về mức độ phân phối các loại cơ, các yếu tô môi trường quyết định khoảng 40% và phần còn lại (15%) là do các yếu tố liên quan đến các sai số ngẫu nhiên.  Dựa vào sự phân phối của mật độ xương trong dân số, người ta có thể ước đoán là có khoảng 70 đến 100 gene có ảnh hưởng đến sức mạnh của xương. Trong các gene đó, Vitamin D receptor gene (còn gọi ngắn là VDR) giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì xương. Theo nghiên cứu của người viết bài này, có đến 70-75% trong người Phi châu có gene này; trong khi đó, tỉ lệ này trong người Âu châu là 60% và người Á châu chỉ 10%. Những dữ kiện này có lẽ giải thích tại sao người da đen rất kém trong môn bơi lội. Họ thường được mệnh danh là “sinkers” (người chìm). Họ có một bộ xương nặng và hệ thống cơ bắp tương đối dày, làm cho họ khó mà bồng bềnh trên mặt nước được như người da trắng hay Á châu. Trong lịch sử Thế vận hội, chỉ có một người da đen duy nhất chiếm huy chương vàng trong bơi lội: đó là Anthony Nesty (Mỹ) vào năm 1988.  Một số nhà khoa học ở Úc, trong khi tìm di truyền tố gây ra bệnh loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), phát hiện rằng khoảng 20% người gốc Á châu và Âu châu có một loại gene mà họ gọi là “wimp gene” (gene yếu đuối). Gene này có chức năng ngăn chận cơ thể sản xuất ra chất alpha-actinin-3, một nội tiết tố cung cấp sức mạnh trong các cơ co dãn nhanh. Các mẫu máu lấy từ bộ tộc Zulu thuộc dân tộc Bantus (Tây Phi) cho thấy chỉ có 3% mang “gene yếu đuối” này. Phát hiện này có thể giải thích tại sao một số người dù luyện tập cả đời mà vẫn mãi mãi là “người yếu đuối”, trong khi đó có một số người có mức độ phát triển cơ rất nhanh!  Có người suy luận rằng nhu cầu cho một “speed gene” (“gene chạy nhanh”) càng ngày càng mất đi, vì tốc độ đi săn thú vật hay chạy thoát kẻ thù để duy trì sự sống còn không cần thiết nữa!  Nhưng dù cho có đủ thành phần sơ cũng chưa chắc đem lại một sự vận động bền bỉ, bởi vì các gene chỉ quyết định khoảng 25% tính bền bỉ. Như vậy, luyện tập vẫn là một yếu tố quan trọng — nhưng càng quan trọng cho người da đen hơn là cho người da trắng. Nhiều thí nghiệm cho thấy một kết quả chung: chỉ cần tăng cường độ luyện tập khoảng 5%, thể lực của người da đen có thể tăng theo cấp số nhân đến 50%; trong khi đó, dù có tăng cường độ luyện tập ở mức độ tối đa 50%, thể lực trong người da trắng tăng chỉ 5%!  Cần nói thêm là mức độ khác biệt giữa các vận động viên trong các bộ môn thể thao tinh hoa như chạy nước rút cực kì nhỏ; nhỏ đến nổi nếu một vận động viên có một cơ thể hay khả năng dùng các cơ sơ (muscles fibres) hữu hiệu hơn thì kết quả sẽ cực kì quan trọng. Một phần phút hay thậm chí một phần giây đồng hồ có thể quyết định một huy chương vàng hay bạc.  Ý nghĩa                Sự thành công của các vận động viên người Phi châu, dù ở Phi châu hay Mỹ hay bất Âu châu thường là con dao hai lưỡi. Nếu họ thắng, họ trở thành mục tiêu của một suy luận thiếu logic như sau: thể lực và trí lực liên hệ với nhau theo tỉ lệ nghịch; và người da đen có thể lực tốt do trời sinh ra như vậy (đồng nghĩa với di truyền); suy ra, người da đen không thông minh bằng người da trắng!  Cái thông điệp ngầm và thâm hơn là: đứng trên quan điểm di truyền và cơ thể học, người da đen gần gũi với thú vật hơn người da trắng. Nhưng nếu họ không thắng trong một cuộc thi đua, sẽ có người cho rằng vì họ là sắc dân thấp kém, không chịu nổi sự thách thức của cuộc tranh tài, và kém trí lực để đối xử với tình thế căng thẳng.  Ngược lại, có người dùng lá bài kì thị chủng tộc để chế giễu những nghiên cứu về di truyền học như là một trò chơi phản trí thức. Thực vậy, những bàn tán quanh chủ đề di truyền và thể thao dễ đem lại nhiều hiểu lầm đáng tiếc. Trong bài diễn văn đọc tại Hội nghị của Hiệp hội khoa học tiên tiến (Association for the Advancement of Science, Mỹ) vào năm 1955, Roger Bannister, một nhà tâm thần học danh tiếng, đề cập đến sự liên hệ giữa di truyền và thể thao khi ông cho rằng sự khác biệt về cơ thể của người da đen và da trắng có thể là một yếu tố quan trọng trong các cuộc tranh tài điền kinh. Ngay sau đó, ông ta bị đồng nghiệp chế giễu và xa lánh. Có người cho rằng vì người da trắng thất bại trong môn điền kinh, nên họ tìm cách chạy trốn thực tế bằng cách mang khoa học ra giải thích!  Tất nhiên, những mỉa mai trên đây chỉ là những phản ứng đơn giản hóa vấn đề. Sự thực là phần lớn các sắc dân có những đặc tính sinh lí khác nhau. Tất cả những chỉ số về nội tiết, mật độ xương, cấu trúc của cơ, v.v… có liên hệ mật thiết đến mỗi bộ môn thể thao. Đó là sự thật. Những đặc tính sinh lí trên đây là do các gene quyết định. Đó cũng là sự thật. Tuy nhiên, không có lí do gì để tin rằng các gene làm việc độc lập với môi trường. Theo tôi, bí mật cần được khai thác là gene nào hợp (hay không hợp) với môi trường nào để người vận động viên có một năng suất tối đa trong vận động. Tức là, có trong mình những loại cơ và sơ tốt chưa chắc bảo đảm được chức vị vô địch, nếu người vận động viên không tập dượt.  Thực ra, trong bất cứ hoạt động nào, bộ não (chứ không phải tim hay phổi) mới là cơ quan đóng vai trò chủ đạo. Di truyền học không phải là một trò chơi với tổng số 0, với thể lực và trí lực ở hai thái cực đối nghịch nhau. Chỉ có một số gene liên quan đến thể lực, nhưng gần 50% trong số 25.000 gene tạo nên cái cơ quan phức tạp nhất của con người: bộ não. Như vậy, giả thuyết về kém trí lực trong thể thao xem ra khó có thể tin cậy được.  Do đó, chúng ta có thể làm một dự đoán cho kết quả Thế vận hội Bắc Kinh 2008 mà xác suất đúng có thể khoảng 99%: tất cả các vận động viên sẽ vào vòng chung kết của môn chạy đua 100 thước sẽ là những người được sinh trưởng tại, hay có gốc gác ở, các nước thuộc miền Tây Phi châu. Một dự đoán khác: không ai ngoài các vận động viên Tây Phi sẽ giữ danh hiệu không chính thức “Người nhanh nhất thế giới” trong tương lai.  Điều này cũng có nghĩa là nếu chúng ta, người Việt, muốn lập thêm thành tích trong các kì Thế vận hội, tôi nghĩ rằng chúng ta nên tập trung nhân lực và cơ sở vật chất vào những bộ môn như bơi lội, võ thuật, hay những môn hợp với cơ thể của chúng ta hơn: chân tay tương đối ngắn, mật độ xương thấp so với các sắc dân, nhưng bù lại ta có cơ thể dẽo dai, có thể chịu đựng bền bĩ hơn và trí lực khá. Tất nhiên, chúng ta không nên tập trung tài nguyên vào các bộ môn cần lực mạnh cấp thời như chạy đua hay phóng lao!  Nguyễn Văn Tuấn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Yếu tố văn hóa Cham Pa ở kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận      Lời tòa soạn: Như chúng tôi đã đề cập trong những số báo gần đây về vùng Đồng bằng sông Hồng là hợp lưu của những luồng di dân từ hàng ngàn năm trước cho đến đầu thời Đại Việt. Bài viết dưới đây của TS Nguyễn Tiến Đông tiếp tục dòng thảo luận ấy ở một khía cạnh cụ thể hơn: người Cham pa đã đóng góp như thế nào vào không gian văn hóa ngay tại kinh đô Đại Việt và vùng phụ cận.      Ngay trên chính Hoàng thành này, những dấu tích văn hóa Cham Pa đã hiển hiện khi các nhà khảo cổ học khai quật khu di tích 18 Hoàng Diệu. Trong ảnh, sinh viên đại học nghe nhà khảo cổ học Nguyễn Tiến Đông giới thiệu những di tích thời Lý – Trần (Khu A). Ảnh: Viện Khảo cổ học (2004).  Làm nhạt nhòa sự mô phỏng phương Bắc      Ngay từ buổi đầu của nền độc lập, nhà Tiền Lê đã cất quân đi đánh Cham Pa, sử cũ chép rằng:“Năm Nhâm Ngọ thứ 3[982]… Vua thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được. Trước đây, vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ, vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê-mỵ-thuế tại trận; Chiêm thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc…”(Ngô Sĩ Liên 1967).    Chắc chắn trong những năm tháng ban đầu ấy, với những tiếp xúc với Cham Pa, dù thân thiện hay không, thì hình ảnh con người và đất nước Cham Pa đã in dấu ấn vào vị vua đầu triều của nhà Tiền Lê và đi theo ông là những tù binh, cung nữ, cùng những đồ quý giá được đưa về Đại Việt. Trong suốt những năm tháng cuối cùng của thế kỷ 10 dưới triều Tiền Lê đã có hơn một lần người Cham Pa quấy rối bờ cõi và nhân đó quân Đại Việt lại tiến vào Cham Pa, những cuộc tiếp xúc đó ngày càng nhiều hơn, đều đặn hơn và đương nhiên những ảnh hưởng của nền văn minh Cham Pa cũng ngày càng rõ nét hơn vào Đại Việt. Đó là những dấu ấn văn hóa đầu tiên của xứ Cham Pa đến và ở lại trên kinh thành Hoa Lư của Đại Việt. Vì thế chúng ta, sau này còn thấy dấu ấn ấy ở Kinh đô Hoa Lư trên những mặt hổ phù trên kiến trúc, trên những hình chạm trên gạch, những cột kinh khắc chữ Phạn… (Hà Văn Tấn 1997). Và trong những cuộc mở cõi về phương Nam của tiền nhân vào thời Lý trở về sau, những yếu tố văn hóa Cham Pa, cả vật thể và phi vật thể, đã liên tục theo bước chân những đoàn quân chiến thắng trở về và ngày càng để lại dấu ấn hiển hiện rõ ràng hơn, thậm chí còn là nguồn cảm hứng vô bờ cho nền nghệ thuật Đại Việt vào thời kỳ sau.     Tại sao các yếu tố Cham Pa lại ảnh hưởng tới Đại Việt đậm sâu như vậy? Chúng ta không quên rằng ở thời điểm vừa bước ra khỏi một nghìn năm Bắc thuộc, các vị vua Đại Việt phải khẳng định những dấu ấn mới của một quốc gia độc lập. Ngay sau khi lên ngôi vua được một năm, Lý Công Uẩn đã xuống chiếu dời đô về thành Đại La, chắc rằng trong những năm đầu của triều đại nhà Lý, việc xây cất kinh thành mới dựa trên những thành tựu của Đại La cũ phải được thực hiện rất ráo riết và những dấu ấn mới, của một quốc gia độc lập phải được xác lập trên kiến trúc, điêu khắc, và phải khác với một nghìn năm nô lệ phương Bắc. Lý Công Uẩn cùng triều đình thấu hiểu cần phải có một diện mạo mới cho kinh thành, một kinh thành của một dân tộc khát khao tự do, khát khao khẳng định mình với tư cách một quốc gia không chỉ độc lập về hành chính mà còn cả về tâm hồn, nghệ thuật, đặc biệt là nền kiến trúc.                       Vũ nữ trên mô hình tháp bằng gốm men trắng (18 Hoàng Diệu, Hà Nội).  Nhưng tạo được một hình hài riêng như thế nào là một bài toán không dễ, bởi kinh thành Thăng Long được dựng lên bằng tâm hồn Việt, ý chí Việt nhưng rõ ràng những ảnh hưởng từ các nền văn hóa khác là không nhỏ. Đến kỷ nguyên của các triều đại sau, ta sẽ thấy Đại Việt khó lòng thoát khỏi sự mô phỏng“tất yếu” về nhiều phương diện từ người láng giềng khổng lồ phương Bắc ấy (chữ “tất yếu” của GS Trần Quốc Vượng, 2000). Tuy vậy, ngay sau ngàn năm Bắc thuộc, sự kháng cự về văn hóa cũng đã đến kỳ bùng nổ. Bằng tất cả nỗ lực và sự quật cường một nền văn hóa, lòng tự trọng của một dân tộc, thời kỳ Lý – Trần là một cuộc phục hưng mạnh mẽ trong lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử ngàn năm Thăng Long. Và tất nhiên điều đó không thể từ trên trời rơi xuống. Trong giai đoạn này, chúng ta vẫn tiếp nối một văn hóa Đông Sơn rực rỡ còn ẩn chứa, dù bị đứt gãy sau ngàn năm thuộc Bắc kết hợp với những yếu tố văn hóa ngoại lai – đó chính là nguồn cảm hứng từ Cham Pa, một nước láng giềng đã có một nền văn minh phát triển rực rỡ với một nền nghệ thuật làm say đắm lòng người. Từ nguồn văn hóa phương Nam này cha ông chúng ta đã nhận ra đây chính là một trong những yếu tố làm nhạt nhòa sự mô phỏng từ phương Bắc, hay nói theo cách của cố GS Trần Quốc Vượng là việc “giải Hoa hóa”. Nhờ đó tiền nhân chúng ta đã tạo nên một nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, và một kinh đô rất Việt nhưng cũng ẩn chứa nhiều tinh hoa của văn minh bên ngoài.     Ở đây, trong một bài viết nhỏ, tôi chỉ có thể đưa ra một vài chứng cứ về sự hiện diện văn hoá Cham Pa chủ yếu trên vùng Thăng Long và phụ cận.     Những địa điểm Cham Pa ở giữa lòng Thăng Long và phụ cận     Sau những cuộc tiến quân vào Cham Pa, gần như vị vua nào, tướng nào của Đại Việt cũng đều mang về nước rất nhiều quân lính, thợ thủ công, vũ nữ, nhạc công… phục vụ cho một công cuộc xây dựng một nền nghệ thuật mới của Đại Việt. Những khu định cư  mới của người Chăm được thiết lập xung quanh Thăng Long cả Đông, Nam, Đoài, Bắc. Các nhà nghiên cứu đã biết đến những địa danh như thôn Bà Già bên Hồ Tây (nay thuộc đất làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) là nơi an cư của tù binh Cham Pa từ thời Lý Thánh Tông (Nguyễn Vinh Phúc 1977).       Viên gạch khắc chữ Chăm tại 18 Hoàng Diệu.    Chân tảng đá hoa sen tại 18 Hoàng Diệu.  Qua bên kia sông Hồng, đến làng Võng La, một địa bàn ngay sát sông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện trong ngôi chùa làng 2 pho tượng Cham Pa chính hiệu, một là tượng thần Shiva, chất liệu sa thạch, một là tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) tiếc là pho tượng này đã bị đánh tráo từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy nhiên pho tượng đá còn lại và phiên bản của pho tượng bị đánh tráo thì không ai có thể nói là không phải của người Cham Pa (Nguyễn Tiến Đông; Nguyễn Hữu Thiết 2005). Tôi nghĩ rằng đây cũng là một trong những làng của người Chăm xưa được các vua Việt cho định cư.     Bên xứ Bắc, cả một quần thể di tích chùa chiền được khởi dựng từ thời Lý với những chứng cứ về sự có mặt của văn hóa Cham Pa như cột đá chùa Dạm, bệ sen chùa Phật tích, hình tượng chim thần Garuda chùa Phật tích… Chúng ta đều biết ở nhiều ngôi chùa Việt Nam người ta đã thống kê được hàng trăm bệ đá hoa sen mang dấu ấn của văn hoá Cham Pa với những nét chạm khắc tinh xảo mà tôi nghĩ có sự tham gia của các nghệ nhân Cham Pa. Những ngôi tháp cổ như Chương Sơn, Bình Sơn với những đặc trưng về gạch, đất nung và đặc biệt là trang trí rất gần gũi với văn hóa Cham Pa từ lâu đã được nhiều người biết tới và Nguyễn Hồng Kiên đã cho rằng nơi đây có sự góp mặt chung tay xây dựng của những người thợ Cham Pa mà anh còn nói thẳng ra là tù binh Cham Pa (Nguyễn Hồng Kiên 2000).     Ở vùng ven sông Đáy thuộc huyện Đan Phượng, Hà Tây cũ ngoài hệ thống các chùa mà những bệ đá hoa sen ảnh hưởng từ motif bệ thờ Cham Pa đã được nhắc đến, người ta còn thấy những dấu vết các công trình dân sinh như những giếng nước mang đậm tính kỹ thuật của người Cham ở xã Song Phương, điều này cho thấy những người Cham Pa đến Đại Việt không chỉ mang đến những tác phẩm nghệ thuật mà còn mang theo cả những kiến thức, những kỹ thuật phục vụ cho cuộc sống thường nhật của cộng đồng (Nguyễn Tiến Đông; Ogawa Yako 2000).       Chùa Phú Gia (Bà Già tự) ở phường Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội. Ảnh: Thế giới di sản.   Có một nhân vật vừa mang tính vật thể vừa phi vật thể có nguồn gốc Cham Pa mà người ta không thể không nhắc đến ở Đại Việt, đó là những pho tượng Phỗng. Có thể thấy ở bất cứ đâu từ các tỉnh miền núi phía Bắc, đến châu thổ sông Hồng, Thanh Hóa… trong những ngôi chùa, đền, đình đều có sự hiện diện của nhân vật này. Ở làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa trước kia còn có một trò diễn trong lễ hội làng gọi là trò Chiêm Thành, với 14 người tham gia (1 chúa, 1 nàng, 2 phỗng, 10 quân). hai phỗng này làm động tác quỳ dâng hương và động tác quỳ bái rất giống với các pho tượng phỗng Chàm (Nguyễn Xuân Diện 2000).    Phải nói rằng ở trên khắp Đại Việt xưa, sự có mặt của văn hoá Cham Pa là khá phổ biến mà ngày nay chúng ta còn thấy rất rõ. Trong phạm vi của bài viết này không thể kể ra hết được, hơn nữa với kiến thức và sự nghiên cứu vẫn còn hạn hẹp tôi cũng không dám lạm bàn thêm. Nhân nói đến dấu ấn văn hóa phi vật thể của Cham Pa, tôi liều lĩnh nghĩ rằng: Những làn điệu quan họ nổi tiếng của đất Kinh Bắc thoảng đâu đây giai điệu của nhạc Cham Pa. Điệu múa dân gian “Con đĩ đánh bồng” mà chúng được thấy trong các hội làng ở châu thổ Bắc bộ, nhất là bên Kinh Bắc khá giống với điệu Múa bóng ở xóm Bóng, thành hố Nha Trang, một lưu dấu rõ nét của điệu múa Cham Pa (Ngô Văn Doanh 2006). Tài liệu cũng cho biết vua Lý rất mê khúc nhạc Tây Thiên của Cham Pa. Tháng 8, ban ra khúc nhạc và điệu đánh trống của Chiêm Thành khiến nhạc công hát (Ngô Sĩ Liên 1967). Tựu trung, những dấu ấn văn hóa phi vật thể của Cham Pa là khá nhiều, cần nghiên cứu kỹ hơn để có thể có những nhận xét xác đáng.     Dấu ấn văn hóa Cham Pa trên nghệ thuật kiến trúc     Mặc dầu người ta nói nhiều đến sự ảnh hưởng văn hóa từ Cham Pa qua nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc, tuy nhiên vẫn còn là chưa đủ, tư liệu vật chất quả thật không nhiều hơn nữa còn tản mát. Chỉ những năm gần đây, với cuộc khai quật di tích Hoàng Thành Thăng Long ở 18 Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội, một hệ thống di tích kiến trúc và di vật với đủ các loại hình từ gốm sứ, đồ kim loại, mộ táng, đồ gỗ… đặc biệt là những di vật trang trí kiến trúc bằng đất nung, gạch, ngói có trang trí hoa văn, những cấu kiện kiến trúc bằng đá có trang trí rồng, phượng… của Hoàng Thành Thăng Long xưa được các nhà khảo cổ học làm xuất lộ đã cung cấp cho những nhà nghiên cứu một khối tư liệu đồ sộ đủ để khẳng định có một Thăng Long “bằng xương bằng thịt” tồn tại và phát triển không ngừng trong lịch sử.      Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại 18 Hoàng Diệu.    Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại tháp Dương Long.  Trước khi có cuộc khai quật này, những tư liệu vật chất về Thăng Long xưa, đặc biệt là thời Lý – Trần còn quá khiêm tốn, chưa đủ để đưa ra những nhận định táo bạo và chính xác. Nhưng với khối tư liệu mà chúng ta đang nắm giữ, tôi cho rằng: Trên kinh thành Thăng Long xưa, sự hiện diện của văn hóa Cham Pa là rất rõ. Tôi muốn nói về vật liệu kiến trúc và nghệ thuật tạo hình. (Trong phần này tôi chỉ nói đến thời kỳ Lý-Trần).     Vật liệu gạch     Nếu như những viên gạch của thời kỳ Đại La chủ yếu có màu xám với độ nung khá cao, cứng và khó chạm khắc thì gạch của Hoàng Thành Thăng Long thời kỳ này đại bộ phận là có màu đỏ tươi, chất liệu mịn, độ nung không cao và dễ gọt cắt, chạm khắc. Những đặc trưng kỹ thuật này cho thấy đã có sự thay đổi lớn trong kỹ thuật làm gạch để phục vụ cho một ý đồ tạo hình và xây dựng khác với thời trước đó. Tôi cho là kỹ thuật này có thể đã được tham khảo từ kỹ thuật làm gạch của Cham pa, một dân tộc sản xuất và sử dụng gạch bậc thầy ở khu vực. Ý nghĩ này càng được củng cố trong tôi khi phát hiện viên gạch có viết những dòng chữ Chăm trên cả hai mặt gạch. Quan sát thật kỹ có thể nhận ra những dòng chữ  này được viết lên gạch khi còn ở dạng mộc, thậm chí còn chưa khô. Dứt khoát không phải viết khi đã nung. Tôi là người mù chữ Chăm, mà lại Chăm cổ nữa thì càng tịt nên không dám nói gì về nội dung. Nhưng sự xuất hiện của viên gạch này có ý nghĩa cực kỳ to lớn cho việc nghiên cứu. Trước hết nó khẳng định sự có mặt của người thợ Chăm trên Hoàng Thành Thăng Long là sự thật như sử đã chép. Thứ hai, điều này quan trọng hơn với tôi, nó chứng tỏ người thợ Chăm ở Thăng Long không chỉ là người thợ xây mà còn là người làm ra những viên gạch đó, và chính họ đã mang đến Thăng Long kỹ thuật làm ra những viên gạch đỏ tươi, tạo hình đẹp, cùng với màu đỏ của bộ mái tuyệt vời đẹp và rất Việt xây cất lên những kiến trúc lung linh, lộng lẫy của Thăng Long khác xa những viên gạch xám đậm chất phương Bắc trước đó.         Vật liệu đá     Trên kinh thành Thăng Long người ta có thể nhận thấy có rất nhiều cấu kiện kiến trúc bằng đá, chủ đạo là sa thạch, một loại đá rất gần gũi với người thợ Cham Pa, loại đá không có thớ, dễ đục đẽo, tạo hình.                     Lá đề cân trang trí hình chim phượng tại 18 Hoàng Diệu (trái) và Lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên trán các ngôi đền thờ Cham Pa.  Gần như toàn bộ các tảng kê cột của kiến trúc Hoàng Thành đều bằng đá và được chạm hoa sen rất đẹp, nhất là những tảng kê cột thời Lý. Những bệ tượng tạo hình rồng, đặc biệt là những bậc lan can trang trí rồng, phượng, sóng nước, vân mây cực kỳ tinh xảo của thời Lý chắc sẽ có sự can thiệp của người thợ đá Cham Pa, thực hiện những ý tưởng Việt để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời đến vậy.      Nghệ thuật tạo hình     Ở đây tôi không dám lạm bàn quá sâu, đơn giản chỉ vì tôi chưa bao giờ là người nghiên cứu chuyên nghiệp về lĩnh vực này, tuy nhiên với những gì thu lượm, học hỏi được trong những năm vừa qua tôi cũng xin có dăm ba ý kiến.      Tượng Kinari chùa Phật Tích, Bắc Ninh.  – Trước hết về biểu tượng lá đề ở Hoàng Thành, rõ ràng đó là vật trang trí kiến trúc, tuy nhiên nó còn mang tính quyền uy của vương triều. Hình tượng lá đề lớn, có tạo hình rồng hoặc phượng được đặt ở chính giữa bờ nóc của kiến trúc (vị trí của mặt nhật, nguyệt, hồ lô…trên các kiến trúc Trung Hoa hay ảnh hưởng Trung Hoa) là một sáng tạo tuyệt vời của tiền nhân chúng ta, Trung Hoa không có motif này. Nhưng tại sao lại là motif lá đề, tôi mạnh dạn cho rằng nguồn cảm hứng của sự sáng tạo ấy đến từ cái lá nhĩ, hay người Tây gọi là tympan trên trán các ngôi đền thờ Cham Pa. Ở Cham Pa, lá nhĩ trang trí các vị thần, đặt ở trên cửa chính của ngôi đền thờ, còn ở Đại Việt lá đề trang trí linh thú như rồng, phượng, đem đặt chính giữa bờ nóc. Thế là xong, người Chăm không thấy đó là của mình và người phương Bắc cũng chịu, không thể bảo là của họ, và đó chính là Đại Việt. Còn cái lá đề lệch, nhìn qua ta thấy đâu đó phảng phất hình bóng của vật trang trí góc tháp Chăm (người Pháp gọi là pierre d’accent), nhưng cũng không hoàn toàn là vậy, chỉ phảng phất thôi và ở Cham Pa nó được đặt ở các góc tháp, đền để tạo nên sự bay bổng, nhẹ nhõm cho một khối gạch đá khổng lồ. Còn ở đây, nó chạy dọc hai bên bờ nóc, chạy xuống bờ dải cùng với tàu mái lượn lên, với những hàng ngói ống có đầu ngói trang trí phong phú và cái lá đề tinh xảo trên lưng tạo nên một bộ mái cực kỳ mỹ miều và thanh thoát. Thế cũng là ổn, không ai phủ nhận được một bộ mái cung đình Đại Việt. Cái giỏi của cha ông ta là vậy.       Tượng thần Shiva (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Chất liệu đá.  – Lại bàn thêm về một số hình tượng khác như đầu rồng, chúng ta dễ nhận thấy rồng thời kỳ này có cái vòi, cái nanh, cái lưỡi mang dáng dấp của makara Cham Pa (Hà Bích Liên 1998), nhưng rồng của Đại Việt ngậm ngọc và có một cái bờm vút cao nhẹ nhàng bay bổng phía sau gáy, cái đó Cham Pa không có được. Còn cái thân uốn lượn của con rồng thời Lý-Trần, đặc biệt là thời Lý thì đúng là một tuyệt tác của tổ tiên chúng ta. Những mặt hổ phù, dường như cũng mang cảm hứng từ mặt kala của Cham Pa chăng? Và còn Garuda, Kinnara của Cham Pa thì mọi người đều thấy xuất hiện khá nhiều trên các kiến trúc Lý-Trần nhất là các đền đài mà tôi chắc không thiếu được chúng ở tháp Báo Thiên kỳ vĩ nay đã không còn.                       Tượng Makara Cham Pa tại Bảo tàng Điêu khắc Cham Đà Nẵng (trên) và Tượng đầu rồng tại 18 Hoàng Diệu.    Tạm kết      Như trên tôi đã nói, sau một ngàn năm Bắc thuộc, nước Đại Việt ra đời và bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập. Những gì người phương Bắc mang đến và để lại trong nền văn hóa Việt quả thật không nhỏ và nó cũng phần nào, cùng với yếu tố văn hóa nội lực của xứ này tạo nên một bản sắc riêng của phương Nam. Ở đây tôi lại viện dẫn cố GS Trần Quốc Vượng: Sự” mô phỏng” Trung Hoa là một sự tất yếu.    a. Do sự dính líu với Trung Hoa hàng chục thế kỷ Bắc thuộc.    b. Do áp lực thường xuyên của Trung Quốc – dù ẩn tàng hay hiển minh suốt từ sau thế kỷ 10 trở lại đây, ngăn cản sự phát triển của đời sống xứ sở này.    c. Bởi vậy Việt Nam làm bất cứ một cái gì cũng phải để một con mắt về phía Bắc. Trung Hoa thì To, Việt Nam thì Nhỏ: Bắt chước Trung Hoa cũng để tỏ ra”không kém” và “không khác” Trung Hoa, cũng “văn hiến” như Trung Hoa và do đó không cần Trung Hoa cai trị…    Sau thế kỷ 10, thời kỳ phục hồi dân tộc và phục hưng văn hóa dân tộc… Những ảnh hưởng cũ của văn hóa Ấn Độ (Phật giáo và cả Bà La Môn) qua việc thờ Đế Thích và Nhị Thiên Vương (hai thần Nhật Nguyệt đời Lý) cũng như ảnh hưởng mới từ văn hóa Chiêm Thành, Chân lạp – những nền văn hóa cao và không Trung Hoa, trở thành “đối trọng” (contre-poids) của văn hóa Việt Nam có tác dụng trung hòa ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc, tăng cường cái căn cước riêng biệt của Việt Nam… (Trần Quốc Vượng 2000).                     Mặt hổ phù đất nung tại 18 Hoàng Diệu và Mặt Kala trên tường tháp Mỹ Sơn F1.  Đọc những dòng trên tôi thiết nghĩ, việc Đại Việt lấy nguồn cảm hứng từ phương Nam, từ Cham Pa để tạo nên một đối trọng với phương Bắc, một diện mạo mới cố gắng tách khỏi sự ràng buộc trong văn hóa từ phương Bắc cũng là điều tự nhiên, hoàn toàn tự nhiên. Cha ông chúng ta đâu có photocopy Cham Pa, cha ông chúng ta học hỏi tiếp nhận và sáng tạo những tinh hoa ấy dựa trên một nền tảng văn hóa bản địa, trên nguồn lửa từ Mặt trời Đông Sơn bùng phát sau ngàn năm Bắc thuộc tưởng chừng như đã tắt để thắp sáng một ngọn lửa Việt không chỉ trên kinh đô Thăng Long mà còn trên cả xứ sở này.□     ——-  * TS, Viện Khảo cổ học.  Tài liệu tham khảo  1. Ngô Sĩ Liên 1967. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 168, 190.  2. Trần Quốc Vượng 2000. Trên mảnh đất ngàn năm văn vật. NXB Hà Nội, tr. 142, 143,145.  3. Nguyễn Vinh Phúc 1987. Tìm ra thôn Bà Già Hà Nội, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1986, Hà Nội, tr 280-281.  4. Nguyễn Xuân Diện 2000. Những phát hiện mới về loại các tượng phỗng Chàm trong các di tích, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1999, Hà Nội, tr 727-728.  5. Nguyễn Tiến Đông, Nguyễn Hữu Thiết 2005. Hai bức tượng Chăm tại chùa Bạch Sam (Hà Nội), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 2004.  6. Nguyễn Tiến Đông, Ogawa Yako 2000. Hai giếng nước có kỹ thuật Cham Pa ở xã Song Phương (Đan Phượng, Hà tây). trong NHững phát hiện mới về khảo cổ học 1999, Hà Nội, tr 727-728.   7. Hà Văn Tấn 1997. Theo dấu các văn hoá cổ. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 791-793.   8. Nguyễn Hồng Kiên 2000. Có hay không nghệ nhân-tù binh Cham Pa trong việc xây dựng tháp Then – Bình Sơn, trong NPHMVKHC 1999, tr 744-745.  9. Hà Bích Liên 1998. Nhệ thuật cổ Cham Pa – Những dấu ấn của giao lưu văn hóa khu vực,  Nghiên cứu Đông Nam Á số 2-1998, tr 75-80.  10. Ngô Văn Doanh 2006. Lễ vía Bà Thiên Yana với tục thờ Mẫu của người Chăm và người Việt. Nghiên cứu Đông Nam Á số 2-2006, tr 48-53.     Author                Nguyễn Tiến Đông        
__label__tiasang Yohannes Haile-Selassie: Người đi tìm nguồn cội      Nhà cổ sinh học này đã thay đổi phả hệ của loài người nhờ phát hiện về một hộp sọ hóa thạch 3,8 triệu năm tuổi.      Khi đang khảo sát một địa điểm ở vùng sa mạc miền bắc Ethiopia một ngày tháng 2 năm 2016, một khối tròn, xám xám trên mặt đất, chỉ lớn bằng quả cam đã thu hút sự chú ý của Yohannes Haile-Selassie – nhà cổ nhân loại học ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Cleveland – Ohio. Nhô lên khỏi mặt đất khô cằn ở vị trí chỉ cách 3 mét nơi một mảnh xương hàm được một người chăn dê tìm thấy trước đó vài giờ. “Trước khi nhặt nó lên, tôi đã nói: ‘Ôi trời ơi, hẳn phải ra gì lắm đây’.”  Các mảnh hóa thạch cùng nhau tạo thành một hộp sọ hominin (họ người) sơ khai hoàn chỉnh đáng kinh ngạc, mà theo nhóm Haile-Selassie có niên đại 3,8 triệu năm tuổi. Nó thuộc về một loài Australopithecus anamensis (chi Vượn người phương Nam) – một họ hàng lâu đời nhất của loài người hiện đại mà vẫn còn nhiều điều chưa được hiểu rõ. Buổi chiều hôm khi có phát hiện hiếm có, cả nhóm cùng nhau ăn mừng với côca lạnh, bia và nhảy múa.  Hộp sọ, được gọi là ‘MRD’ và được công bố vào tháng 8 năm 2019 trên tạp chí Nature (Y. Haile-Selassie et. al. Nature 573, 214-219; 2019), lần đầu tiên đem đến cho các nhà nghiên cứu khuôn mặt hoàn chỉnh của người họ hàng tối cổ bí ẩn này, mà trước đây chỉ được biết đến nhờ một vài mảnh xương. Các nhà cổ nhân loại học ấn tượng với mẫu vật này đến nỗi một số người còn cho rằng nó ngang hàng với Lucy, bộ xương hóa thạch 3,2 triệu năm tuổi của một loài thuộc họ người gần gũi khác là Australopithecus afarensis. “Đó quả là những đánh giá rất cao từ đồng nghiệp chúng tôi.” Haile-Selassie nói.  GS. Haile-Selassie được coi là một trong những chuyên gia tìm kiếm hóa thạch tài năng nhất trong ngành. Nhiều báu vật đã được phát hiện trong dự án nghiên cứu của ông ở Woranso-Mille, một khu vực nơi có nhiều hóa thạch thuộc họ người rải rác từ thế Pliocene (thế Thượng Tân), một giai đoạn quan trọng trong quá trình tiến hóa của chi Homo và người họ hàng gần gũi của nó là Australopithecus ở khoảng từ 5,3 triệu đến 2,6 triệu năm trước. Ông cũng thuộc lứa những chuyên gia cổ nhân học Ethiopia đầu tiên dẫn đầu các dự án lớn ở trong nước – một thay đổi lớn so với thế hệ trước khi hầu hết các nghiên cứu ở quốc gia nhiều hóa thạch này đều được chủ trì bởi chuyên gia nước ngoài.  Khi Haile-Selassie đang làm Luận án Tiến sĩ vào giữa những năm 1990, tiềm năng của ông đã được biết đến ở cả phòng thí nghiệm lẫn nghiên cứu thực địa, theo Tim White, một nhà cổ nhân loại học tại Đại học California, Berkeley và người hướng dẫn cho Haile-Selassie. Nghiên cứu thực địa ở những khu vực hẻo lánh là vô cùng khó khăn, GS.White nói, nhưng Haile-Selassie đã thực hiện rất thành công: tổ chức nhân sự, thiết bị, phương tiện và giấy phép, trong khi phải sử dụng nhiều ngôn ngữ. “Không phải may mắn mà Yohannes đưa mọi người đến được Ethiopia, với đầy đủ chuyên gia phù hợp giải quyết từng vấn đề như thế.”  MRD có ý nghĩa quan trọng vì nó đến từ một giai đoạn mà hồ sơ hóa thạch hoàn toàn “trắng”, theo GS.Haile-Selassie. Do đó, nó làm thay đổi trật tự của các nhánh cây tiến hóa lâu đời nhất của tông Người. Các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng loài hominin của hóa thạch Lucy đã tiến hóa từ A. anamensis – là một trường hợp ‘kinh điển’ của sự tiến hóa trực tiếp từ loài này sang loài khác, theo Fred Spoor, nhà cổ sinh học tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London. Nhưng Haile-Selassie và cộng sự đã đưa lập luận mới rằng các đặc điểm hộp sọ, cùng với phân tích lại một số hóa thạch hiện có, cho thấy sự tiến hóa của hominin cổ phức tạp hơn nhiềum, với A. anamensis và A. afarensis trùng lặp trong ít nhất 100.000 năm. Cũng rất hiếm khi tìm thấy một mẫu vật nguyên vẹn như vậy. “Mẫu MRD là một mẫu hộp sọ tiêu biểu,” theo GS.White.  Tuy vậy, không phải ai cũng đồng ý với kết luận chấn động mà nhóm Haile-Selassie đề xuất. Nhóm vẫn đang tiếp tục nghiên cứu mẫu hộp sọ để có thêm manh mối về vị trí trong tiền sử của nó, trong khi Haile-Selassie hy vọng sẽ quay lại địa điểm cũ để làm phong phú thêm phát hiện. “Hy vọng rằng phần còn lại của bộ xương vẫn còn ở đó, ai mà biết được,” ông nói.  Trong tất cả khám phá ông có được, “MRD là số một”, Haile-Selassie nói. Để luôn nhớ điều này, ông vừa cho in mã tự này lên biển số xe của chính mình.  Tuấn Quang dịch  Nguồn bài và ảnh: Mười nhân vật ảnh hưởng trong năm theo bình chọn của Nature. https://www.nature.com/immersive/d41586-018-07683-5/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Zhang Rongqiao: Nhà thám hiểm Sao Hỏa      Ông là người đã dẫn dắt sứ mệnh Sao Hỏa đầu tiên của Trung Quốc đi đến thành công.      Vào ngày 15 tháng 5 năm 2021, Zhang Rongqiao đã lau những giọt nước mắt của mình khi chiếc xe tự hành thám hiểm sao Hỏa của Trung Quốc hạ cánh an toàn trên vùng đồng bằng đầy cát ở “hành tinh đỏ”. “Tôi đã vô cùng xúc động”, Zhang, người điều phối sứ mệnh này, nói.  Cuộc đổ bộ đã đánh dấu mốc kết thúc cho một hành trình dài 475 triệu km đầy rủi ro đối với Zhang và Cục Không gian Quốc gia Trung Quốc (CNSA) – đơn vị chưa từng thực hiện thành công sứ mệnh Sao Hỏa nào.  Với thành công này, Trung Quốc là quốc gia thứ hai, chỉ sau Mỹ, hạ được một chiếc xe tự hành xuống sao Hỏa – nơi vốn khét tiếng là hành tinh đã phá tan hy vọng của các cơ quan vũ trụ khi gần một nửa trong số tất cả các sứ mệnh đến Sao Hỏa đều đã thất bại. Zhang bày tỏ, cuộc hạ cánh đã giúp ông thấm thía một câu Đường thi của nhà thơ Giả Đảo “Thập niên ma nhất kiếm” (tạm dịch nghĩa “10 năm chỉ để mài được một thanh gươm ” 1.   Để đạt được thành công, nhóm nghiên cứu của Trung Quốc đã phải đối mặt và giải quyết rất nhiều ẩn số ở một môi trường mà theo Zhang là rất “phức tạp và kỳ lạ”. Với tư cách là nhà thiết kế chính, ông chịu trách nhiệm điều phối một nhóm gồm hàng chục nghìn người tham gia xây dựng và vận hành “Sứ mệnh sao Hỏa”, được đặt tên là Tianwen-1. Dự án này bao gồm một tàu bay quanh quỹ đạo, một tàu đổ bộ và một xe tự hành thám hiểm có tên Zhurong.   Tianwen-1 là một trong ba sứ mệnh đến sao Hỏa vào năm 2021, bên cạnh xe tự hành Perseverance của NASA và một tàu quỹ đạo của các tiểu Vương Quốc Ả rập Thống nhất. Với thành công của sứ mệnh Tianwen-1, Zhang đã trở thành vị anh hùng của Trung Quốc và liên tục xuất hiện trên các phương tiện truyền thông của quốc gia này, tuy nhiên hiếm khi trò chuyện trực tiếp với báo chí bên ngoài Trung Quốc (ông trả lời các câu hỏi của tạp chí khoa học Nature qua email).  Thực tế, yếu tố khoa học chỉ chiếm một phần nhỏ trong mục tiêu của Tianwen-1, bởi mục đích chính của sứ mệnh này là phát triển và thể hiện sức mạnh của Trung Quốc trong lĩnh vực không gian sâu (deep-space). Dù vậy, Zhang cho hay việc thu thập các thông tin phong phú và chất lượng cao từ Sao Hỏa cũng là một yếu tố quan trọng trong sứ mệnh này. Và các nhà nghiên cứu cho rằng, các dữ liệu do sáu công cụ khoa học của xe tự hành và bảy công cụ khác do tàu quỹ đạo tạo ra, sẽ giúp họ có những hiểu biết sâu sắc hơn về những khía cạnh trước đây chưa từng được khám phá ở Sao Hỏa.   Sinh năm 1966 tại thị trấn Anling, miền đông Trung Quốc, Zhang theo học ngành kỹ sư tại Đại học Xidian ở Tây An. Sau đó, ông lấy bằng thạc sỹ tại Học viện Công nghệ Vũ trụ Trung Quốc ở Bắc Kinh, và đã có kinh nghiệm làm việc trong các dự án vệ tinh quan sát Trái đất.  Theo Lu Pan, một nhà khoa học nghiên cứu hành tinh tại Đại học Copenhagen, Zhang có thể là người đóng vai trò quan trọng trong việc khiến Cục Không gian Quốc gia Trung Quốc quyết định gửi cả tàu quỹ đạo, tàu đổ bộ và xe tự hành đến sao Hỏa trong cùng một “chuyến hàng”, từ đó giúp Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên làm được điều này. Các nhà khoa học cũng nói rằng Zhang đã xem xét các dữ liệu đầu vào mà họ cung cấp để lựa chọn công cụ và địa điểm hạ cánh, từ đó giúp đảm bảo rằng sứ mệnh này sẽ mang lại nhiều dữ liệu nghiên cứu nhất có thể.  “Ông ấy đã khuyến khích các nhà khoa học tham gia vào sứ mệnh để có thêm nhiều kết quả khoa học đầu ra hơn”, Wenzhe Fa, nhà khoa học nghiên cứu hành tinh ở Đại học Bắc Kinh, người phân tích các dữ liệu radar từ sứ mệnh sao Hỏa, cho biết.  Được phóng vào ngày 23 tháng 7 năm 2020, Tianwen-1 đã đến “hành tinh đỏ” vào tháng 2, và hạ tàu đổ bộ và xe tự hành vào tháng 5 năm 2021. Tàu vũ trụ này đã đáp xuống một hố va chạm rộng lớn có tên là Utopia Planitia – địa điểm được lựa chọn nhờ có địa hình bằng phẳng và tương đối an toàn để hạ cánh. Kể từ đó, chiếc xe tự hành đã chu du hơn 1,200 m về phía nam và chụp những bức ảnh toàn cảnh cũng như những bức ảnh “selfie”. Hiện nay những bức ảnh này đã được chia sẻ rộng rãi trên mạng.  Đến giữa tháng 9, do Mặt trời đã chắn đường liên lạc giữa Sao Hỏa và Trái đất, Zhurong đã đi vào chế độ ngủ đông, tuy nhiên nó đã quay lại làm việc vào cuối tháng 10. Hiện nay, Zhurong đang hướng tới một khu vực có thể đã từng là bờ biển của một đại dương cổ đại. Đây là nơi mà các nhà nghiên cứu sẽ tìm kiếm manh mối về quá trình tiến hóa của Sao Hỏa.   Cho đến nay, sứ mệnh Tianwen-1 mới đem đến một lượng thông tin khoa học ít ỏi, tuy nhiên những dữ liệu mà các công cụ trên xe tự hành và tàu quỹ đạo thu thập được đã được chia sẻ cho hơn hai mươi nhóm nghiên cứu trên khắp Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, và các kết quả đang dần được hình thành. Các nhà khoa học kỳ vọng rằng các dữ liệu mới sẽ giúp họ có thêm những hiểu biết sâu sắc về địa chất học ở khu vực Utopia Planitia, cũng như số phận của nước ở hành tinh này.  Để sứ mệnh không gian sâu của Trung Quốc đạt được bước tiến lớn về mặt khoa học, quốc gia này sẽ cần phải tái tập trung vào việc thúc đẩy khoa học thay vì chỉ chủ yếu phô diễn kỹ thuật như trước đây. Thực tế, Pan cho biết, sứ mệnh mặt trăng của Trung Quốc cũng đã có sự chuyển hướng như vậy, và “quá trình chuyển đổi sẽ cần nhiều thời gian”.  Theo David Flannery, nhà sinh học vũ trụ ở Đại học Công nghệ Queensland, Brisbane, Úc, khi các sứ mệnh vũ trụ tiếp theo của Trung Quốc được thực hiện thì quốc gia này sẽ có nhiều dữ liệu nghiên cứu đồ sộ hơn. Trung Quốc đang lên kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ trả về mẫu vật (sample-return) ở tiểu hành tinh Kamoʻoalewa vào năm 2024, và ở Sao Hỏa vào trước năm 2030. Không chỉ vậy, ở tầm nhìn xa, Trung Quốc cũng dự định thực hiện các sứ mệnh ở Sao Mộc.  Các nhà nghiên cứu đánh giá, Tianwen-1 là một cú hích lớn đối với lĩnh vực nghiên cứu hành tinh vốn còn non trẻ ở Trung Quốc.  “Hiện nay, một thế hệ các nhà khoa học mới đang dần được hình thành cùng với sứ mệnh này”, Flannery nói.  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-021-03621-0/index.html#section-WLQIN3gbwq  ————————  1. https://www.thivien.net/Gi%E1%BA%A3-%C4%90%E1%BA%A3o/Ki%E1%BA%BFm-kh%C3%A1ch/poem-E-TfJEPuJuMQspGILvBl1w    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 năm Quỹ NAFOSTED: Xây dựng môi trường học thuật theo tiêu chuẩn quốc tế      Tại hội nghị tổng kết báo cáo kết quả 10 năm hoạt động của quỹ Phát triển KH&CN quốc gia ngày 5/11/2018, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh nhận định, sau 10 năm xây dựng, mô hình quản lý hoạt động tài trợ và hỗ trợ cho khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế minh bạch, khách quan, bình đẳng của Quỹ Nafosted đã phát huy được hiệu quả và có sức lan tỏa lớn.    Ghi nhận những đóng góp của Quỹ Nafosted đối với chiến lược KH&CN 2011- 2020 và những tâm huyết của các nhà quản lý, nhà khoa học trong quá trình xây dựng và hình thành mô hình này, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đánh giá, môi trường học thuật khách quan minh bạch đơn giản hóa thủ tục và khuyến khích sáng tạo mà Quỹ Nafosted và cộng đồng khoa học đã góp phần xây dựng lên gắn liền với sự đổi mới mạnh mẽ về phương thức quản lý khoa học, “thực ra từng ấy từ ‘minh bạch đơn giản hóa thủ tục và khuyến khích sáng tạo’ dài chưa đến hai dòng nhưng chúng tôi đã chứng kiến cả một quá trình nỗ lực của các đồng chí”.    Bộ trưởng Chu Ngọc Anh trao tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ” cho các cá nhân có nhiều đóng góp tích cực cho hoạt động của Quỹ.  Xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng nhà khoa học  Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cũng nhấn mạnh đến mô hình quản lý và tài trợ của Quỹ Nafosted, “không phải là mô hình mới đối với quốc tế nhưng để mô hình này được chấp nhận và triển khai ở Việt Nam và đem đến những tác động mạnh mẽ với xã hội trong điều kiện của Việt Nam không phải việc đơn giản”.  Việc “không đơn giản” này đã được Quỹ Nafosted và các hội đồng khoa học ngành thuộc các lĩnh vực KHTN và KHXH&NV kiên trì thực hiện từ những ngày đầu. Theo GS. TS Ngô Việt Trung (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và chủ tịch Hội đồng khoa học ngành Toán, thì nhìn từ bên ngoài, những việc “bình chọn, xét duyệt đề tài phụ thuộc vào các nhà khoa học là bình thường, còn ở nước ta thì không hoàn toàn mới”. Hội đồng khoa học các ngành “nhiều khi phải nghĩ sao cho các đánh giá của mình đưa ra nó khách quan và công bằng, dân chủ. Trong quá trình đấy, chúng tôi luôn nghĩ Quỹ như ngôi nhà của mình, luôn đóng góp ý kiến về phương thức hoạt động để thay đổi, để cho nó phù hợp hơn”. Trong quá trình tương tác với cơ quan quản lý Quỹ, ông nhận xét, “chúng tôi có cảm giác là hoàn toàn được tôn trọng, điều này rất khác với nhiều hoạt động của các hội đồng khoa học khác”.  Trải qua nhiều sóng gió để đưa bằng được tiêu chí về công bố quốc tế và danh mục tạp chí quốc tế ISI có uy tín thành tiêu chí cốt lõi để đánh giá khoa học cùng các đồng nghiệp khác, GS. TS Ngô Việt Trung rút ra một điều là dù “việc nộp hồ sơ xin xét duyệt kinh phí nó ảnh hưởng đến ‘miếng cơm manh áo’ của những anh em thực sự sống bằng nghiên cứu nhưng chúng ta có thể thấy rằng, không có bất kỳ ý kiến nào nói các hội đồng khoa học Quỹ hoạt động không khách quan, không có ý kiến nào nói về tiêu cực. Điều này khác xa với nhiều hội đồng khoa học khác. Chúng ta có thể thấy trên mặt báo chí là có thể tràn đầy ý kiến nói về các hội đồng chức danh rất nhiều tiêu cực, nhưng chúng ta không thấy rằng bất kỳ một ý kiến nào ở trên thông tin đại chúng mà nói về sự tiêu cực trong Nafosted. Tôi nghĩ điều đó phản ánh sự đổi mới KH&CN trong cơ chế tài trợ và quản lý”.  Một trong những điểm nhấn trong quá trình xây dựng mô hình tài trợ cho khoa học của Quỹ Nafosted là việc hình thành giải thưởng Tạ Quang Bửu vào năm 2014. GS. TS Ngô Việt Trung – một trong những người ủng hộ ý tưởng này và góp phần đưa nó thành hiện thực, cũng cho rằng, việc tôn trọng nhà khoa học tiếp tục được thể hiện trong quá trình xét duyệt giải thưởng và bản hội đồng xét duyệt giải thưởng Tạ Quang Bửu, “hoàn toàn do hội đồng khoa học quyết định, chỉ có những nhà khoa học trong đó thì mới có thể bình chọn các hồ sơ và không có ý kiến các nhà quản lý trong đó. Tôi thấy đấy là điều rất mới so với các giải thưởng khác”.  Nhìn nhận một cách khách quan những gì Quỹ Nafosted đã làm được, ông cũng thừa nhận: “Chúng ta nói rất nhiều rằng cơ chế đó là cơ chế mới, nhưng thực ra tôi nghĩ cái này không mới so với nước ngoài. Bài học ở đây là chúng ta phải tiến theo chuẩn mực quốc tế, chúng ta không cần thiết phải làm cái gì mới, những chuẩn mực đó nó vốn rất thông dụng, tất cả các nước như nhau cả”.    Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ” cho GS. TS. Nguyễn Đức Chiến (Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), thành viên Hội đồng khoa học ngành Vật lý Quỹ Nafosted.  Cần đổi mới trong cách thức tài trợ  Những minh chứng về hiệu quả trong tài trợ của Quỹ Nafosted đã được nêu một cách sinh động qua lời phát biểu của PGS. TS Phạm Thành Huy (Viện tiên tiến KH&CN AIST, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội) thông qua ví dụ ngay tại Viện AIST. Trong 5 năm qua, AIST đã có 120 công bố ISI và 80% trong số này là các công trình nghiên cứu được Quỹ Nafosted tài trợ, “tương đương với trung bình 1,5 công bố ISI/cán bộ/năm của Đại học công nghệ Nanyang Singapore”. Kết quả này cho thấy hiệu quả của Nafosted trong các kết quả nghiên cứu và trong việc hỗ trợ các nhà khoa học trẻ. “Chính kinh phí từ các đề tài Nafosted là nguồn động lực giúp chúng tôi thu hút được các cán bộ trẻ về công tác, mỗi nghiên cứu sinh của chúng tôi khi tốt nghiệp đã đáp ứng được tiêu chuẩn trong khu vực và tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT. Trong 10 năm vừa qua, tôi đào tạo được 9 nghiên cứu sinh, trong đó có 8 em là do các chương trình của quỹ tài trợ, 5 trong số 8 em đó hiện nay tiếp tục theo con đường nghiên cứu và trở thành chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu được quỹ tài trợ”, PGS.TS. Phạm Thành Huy nói.  Anh cũng nhắc lại một đề xuất của cộng đồng khoa học với Quỹ năm 2014 là “mong muốn Quỹ mở rộng tài trợ bằng cách đầu tư dài hạn cho các đề tài trọng điểm có thể kéo dài 5, 7 năm thay vì 2, 3 năm như trước đây nhằm tập trung nhân lực giải quyết các bài toán khoa học lớn”. Rút cục, điều đó đã trở thành hiện thực vào năm 2017 khi Quỹ Nafosted đã mở ra chương trình tài trợ phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. PGS.TS. Phạm Thành Huy đánh giá, đây là một trong những biện pháp hứa hẹn thành công, “có nhóm nghiên cứu mạnh đăng ký với Quỹ Nafosted 12 công bố ISI, trong đó có 8 bài thuộc top tạp chí Q1, với đề tài do Quỹ tài trợ. Dù đề tài được thực hiện trong vòng 4 năm nhưng nay sau gần hai năm thực hiện, nhóm này đã gần như đạt được các kết quả đề ra. Các bài nghiên cứu hầu hết là bài trên tạp chí Q1 và có impact factor trên 5”.  Tuy nhiên, anh cho rằng tất cả những đổi mới ấy còn chưa đủ, Quỹ vẫn còn thiếu việc tài trợ vào các đề tài phát triển công nghệ, nghiên cứu ứng dụng để có thể nâng cao hơn tỉ lệ nghiên cứu được đưa vào ứng dụng. Vì thế, anh “hi vọng trong 5 năm tiếp theo bên cạnh tài trợ nghiên cứu cơ bản là các nghiên cứu ứng dụng và trong buổi tổng kết sau sẽ có nhiều hơn các nhà công nghiệp ngồi trong hội trường này. Từ khoa học phát triển thành công nghệ, đưa vào ứng dụng cuộc sống cần có sự sát cánh của các nhà công nghiệp, doanh nghiệp giúp các nhà khoa học bước nhanh hơn trên con đường phát triển công nghệ”.  Quan điểm này của PGS. TS Phạm Thành Huy cũng là quan điểm của GS. TS Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân), thành viên hội đồng khoa học ngành vật lý là có nhiều thành tựu nghiên cứu trong khoa học cơ bản chưa đưa được vào cuộc sống là do Việt Nam chưa chú trọng phát triển công nghệ. Ông rất mong Quỹ Nafosted có chiến lược thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông qua việc đầu tư vào các đề tài khoa học cơ bản có định hướng ứng dụng, quan tâm đầu tư phát triển những lĩnh vực ứng dụng mà Việt Nam hiện rất cần nhân lực, ví dụ như vật lý y sinh – một lĩnh vực gắn liền với công việc điều trị nhiều loại bệnh ung thư ở Việt Nam.  Hoàng Nam  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/thoi-su-trong-nuoc/10-nam-quy-nafosted-xay-dung-moi-truong-hoc-thuat-theo-tieu-chuan-quoc-te/20181206020810836p882c918.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang 10 phương pháp điều hành một viện nghiên cứu      Đâu là phương pháp tốt nhất để điều hành một viện nghiên cứu ? Mỗi nghiên cứu viên có những ý kiến và định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Kinh nghiệm 25 năm xây dựng một trong những viện kinh tế hàng đầu ở châu Âu (Viện Nghiên cứu Kinh tế Thế giới – Institute for International Economic Studies, IIES, Stockholm) được cựu giám đốc, Giáo sư Assar Lindbeck chia sẻ tóm tắt trong 10 điều.                        1. Một viện nghiên cứu nên cố gắng vươn đến những nghiên cứu cận biên (research frontier) của thế giới và từ đó góp phần đẩy biên nghiên cứu này xa hơn. Đây là cách hợp lý duy nhất làm nên sự xuất sắc trong nghiên cứu, và do đó, tránh được những nghiên cứu tầm thường, thậm chí chất lượng kém. Nghiên cứu chất lượng kém còn tệ hơn là không có nghiên cứu gì cả vì nghiên cứu chất lượng kém phát tán những nhận thức sai khiến các nhà nghiên cứu giỏi sau đó phải tốn thời gian để phản bác.  2. Để đạt được những tham vọng đó, khả năng công bố các công trình nghiên cứu trên bình diện quốc tế, đặc biệt tại các tạp chí học thuật danh tiếng rất quan trọng – bởi từ đó, nghiên cứu được đánh giá bởi cộng đồng nghiên cứu thế giới. Bằng không thì có một nguy cơ rất lớn rằng các mục tiêu của các nghiên cứu viên chỉ ở tầm nội địa, vốn thấp hơn. Các lãnh đạo của một viện nghiên cứu rất khó ngăn các nghiên cứu tầm thường công bố nếu viện có một cơ quan xuất bản riêng. Chính vì lẽ đó mà IIES không có các cơ quan xuất bản riêng.  3. Sự có mặt của những nghiên cứu viên khách mời hàng đầu tại viện nghiên cứu rất quan trọng; điều này nhằm nhập thụ kiến thức và giúp tăng cường tầm nổi tiếng trên bình diện quốc tế của viện. Trong suốt thập niên 1970 khi IIES chỉ thuần túy là một viện giảng dạy – nghiên cứu, một số những nghiên cứu viên viếng thăm thường ghé lại khoảng từ 6 tháng hoặc thậm chí một năm đóng vai trò cực kì quan trọng cho việc nâng cấp từ từ năng lực của Viện. Ngày nay, khi mà Viện đã có 7 giáo sư (full professor) (khi so với một giáo sư trước năm 1984), tầm quan trọng của việc có những nghiên cứu viên khách mời ghé lại những khoảng thời gian dài về mặt nào đó giảm đi.  4. Mỗi nghiên cứu viên tại những viện nghiên cứu có tiếng có xu hướng tự phát triển các liên kết nghiên cứu trên bình diện quốc tế cho riêng mình. Các chính trị gia và các nhà quản lý đại học thường tin rằng các mạng lưới nghiên cứu nên được tổ chức, chẳng hạn bằng các thỏa thuận và hợp đồng giữa các viện với nhau. Tuy nhiên, điều mà các nghiên cứu viên cần là các mối hợp tác nghiên cứu ở những nơi khác nhau trên thế giới, điều này thì các thỏa thuận chính thức giữa các đại học thường tỏ ra không hữu dụng. Những hợp tác như vậy, thay vào đó, có thể khởi động bằng việc mời một nghiên cứu viên nước ngoài đến thăm Viện, hoặc bởi một nghiên cứu viên của Viện đến thăm một viện nghiên cứu ở nước ngoài. Những liên kết nghiên cứu thành công phản ánh thông qua mối quan hệ tương tác cá nhân khăng khít giữa các nghiên cứu viên và ở những bài báo viết chung, thay vì giữa những thỏa thuận chính thức giữa các viện. Tham gia trong những dự án nghiên cứu và hội thảo quốc tế, cùng với việc tổ chức các hoạt động tương tự, là một cách khác để kiến tạo ra những liên kết nghiên cứu. Do đó, việc hỗ trợ tài chính cho những hoạt động như vậy là cách tốt nhất đối với các chính trị gia và các nhà quản lý giáo dục nhằm kích thích việc hợp tác nghiên cứu ở tầm thế giới.  5. Nên tập trung các nguồn lực vào một số lĩnh vực nghiên cứu nhất định. Trong suốt 10 năm đầu, IIES tập trung chỉ vào một lĩnh vực duy nhất: lý thuyết kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế cho các nền kinh tế mở. Việc chọn một đề tài như vậy chủ yếu dựa vào khả năng làm mẫu. Điều này xảy ra khi Assar Lindbeck và một vài sinh viên đến Viện vào những năm đầu thập niên 1970 đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này; những nghiên cứu viên khác cùng quan tấm đến lĩnh vực này gia nhập Viện, và việc điều phối các hoạt động nghiên cứu diễn ra như có một bàn tay vô hình thay vì bởi một kế hoạch rõ ràng. Sau đó, IIES đã lần lượt mở rộng tầm nghiên cứu tới một vài lĩnh vực mới, chẳng hạn như mậu dịch thế giới, kinh tế lao động, tổ chức công nghiệp, kinh tế phát triển, và tài chính thế giới, khi mà số nhân viên nghiên cứu gia tăng.  6. Nghiên cứu thành công đòi hỏi khả năng có được một tiềm lực quyết định trong một hoặc vài lĩnh vực. Kinh nghiệm cho thấy cần ít nhất nửa tá người trong mỗi lĩnh vực. Tiềm lực quyết định được định nghĩa, về mặt hoạt động, như là trường hợp khi mà có một xác suất lớn rằng một vài nghiên cứu viên tại Viện thật sự cảm thấy thích thú khi đọc những bản sơ thảo nghiên cứu của nhau. Các buổi thuyết trình sẽ trở nên thú vị hơn nếu ít nhất ba hoặc bốn người cùng quan tâm đến cùng một lĩnh vực. Tần số hợp tác nghiên cứu giữa những nghiên cứu viên tại Viện là một chỉ số cho thấy một mức độ tương tác lớn đã đạt được hay chưa và do đó, có hay không một tiềm lực quyết định thật sự tồn tại. Sự hòa hợp giữa các thế hệ nghiên cứu viên – các nghiên cứu viên giàu kinh nghiệm (các giáo sư), nghiên cứu sinh sau tiến sỹ, và nghiên cứu sinh –  cũng rất hữu ích.  7. Một tương tác mạnh giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu phương pháp luận, ở một mặt, và nghiên cứu ứng dụng, ở một mặt khác, là một yếu tố quan trọng cho sự thành công trong nghiên cứu. IIES lúc đầu thường bị chỉ trích ở Thụy Điển vì đã nhấn mạnh đến lý thuyết quá nhiều. Tuy nhiên, tầm quan trọng của một nền tảng đào tạo vững chắc về lý thuyết và phương pháp luận là một yếu tố chính nằm sau những đóng góp của IIES về nghiên cứu ứng dụng. Không có một nền tảng lý thuyết và phương pháp luận vững chắc, nghiên cứu ứng dụng thường là tầm thường hoặc kém, và giảm chất lượng theo thời gian. Đôi khi ngược lại, những kết quả khảo nghiệm quan trọng của những nghiên cứu viên ứng dụng có tác dụng kiểm nghiệm lại tính hợp lý của các lý thuyết được phát triển bởi những nghiên cứu viên thiên về lý thuyết.  8. Tuyển dụng là một công việc hành chính quan trọng nhất. Nếu tuyển dụng được thực hiện tốt, người  giám đốc có thể tập trung vào công việc chính của mình – tạo ra một bầu không khí nhiệt tình. Để giữ việc quản trị hành chính ở mức thấp nhất, cần để mỗi người tự quản và phân phối những nhiệm vụ hành chính chung đến những thành viên khác nhau trong Viện. Nghiên cứu chất lượng cao đòi hỏi mỗi cá nhân được quyền chọn lĩnh vực và đề tài. Mệnh lệnh và những hệ thống cấp bậc không phù hợp với một môi trường nghiên cứu sáng tạo, nơi mà mỗi người là chủ của chính mình. Một điều quan trọng nữa là việc có những thư kí và phụ tá nghiên cứu giỏi – một điều mà IIES luôn nhấn mạnh. Ít nhất thì các vị khách nước ngoài hài lòng với những dịch vụ cơ bản của Viện.  9. Một viện nghiên cứu sẽ nhận được một thuận lợi lớn nếu nó là một phần của một trường đại học tốt. Điều này cho phép các khoa và ngành khác của trường đại học đóng góp vào những xung lực trí thức mới. Nó cũng cho phép có được một sự tương tác giữa nghiên cứu và giáo dục –  vốn kích thích cả nghiên cứu viên và sinh viên. Những thành viên của IIES trong những năm gần đây đã tăng cường tham gia giảng dạy ở tất cả các cấp bậc của khoa Kinh tế (trường Đại học Stockholm). Các thành viên IIES cũng cố gắng thuyết phục các đồng nghiệp trong các khoa khác về tầm quan trọng của việc những giáo sư trực tiếp tham gia giảng dạy cả ở những bậc đại học và cao học.  10. Cuối cùng, một viện nghiên cứu cho ra những bài báo và cuốn sách không chỉ dành riêng cho cộng đồng nghiên cứu thế giới, mà còn cho quảng đại quần chúng quan tâm đến các vấn đề kinh tế. Đây cũng là một cách mà một viện nghiên cứu, vốn hoạt động nhờ tiền thuế có thể trả ngược lại cho những người đóng thuế theo một cách khá trực tiếp và dễ nhận thấy. Những thành viên của IIES đã thực hiện bằng cách đưa ra các phân tích cho những vấn đề cả về các chính sách kinh tế cho Thụy Điển và kinh tế toàn cầu đương đại. Để không mất đi nhiều thời gian dành cho nghiên cứu hàn lâm các đóng góp này nên được duy trì như một lĩnh vực “tay trái”. Thực ra, việc theo dõi sát các thảo luận về các vấn đề chính sách kinh tế cũng giúp các nghiên cứu viên tìm ra các đề tài phù hợp cho các nghiên cứu hàn lâm.  —————–  * (Đại học Stockholm-Thụy Điển)       Lược dịch từ Principles for Successful Research, Ten Commandments    Author                Quản trị        
__label__tiasang 2022 – Năm quốc tế Khoa học cơ bản      Tại phiên họp ngày 2/12/2021, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chính thức thông qua nghị quyết công bố năm 2022 là Năm Quốc tế Khoa học cơ bản cho Phát triển bền vững (International Year of Basic Science for Sustainable Development 2022 – IYBSSD 2022)1). Có lẽ đây cũng là dịp tốt để chúng ta cùng nhìn lại và suy ngẫm về nền khoa học nước nhà, đặc biệt là khoa học cơ bản (KHCB), cùng vai trò rất quan trọng của khoa học trong giai đoạn phát triển săp tới của đất nước.      Trong phòng thí nghiệm của tập đoàn Viettel. Nguồn: Viettel.  Cho đến nay, những nghiên cứu vật lý cơ bản vẫn là một trong những hướng nghiên cứu cơ bản (NCKH) mũi nhọn của thế giới, cùng đồng hành với nhiều hướng KHCB khác nhau như khoa học vật liệu, hóa học lượng tử, sinh vật học phân tử, y sinh học hiện đại… Tuy nhiên, nhịp sống sôi động của xã hội hiện đại cùng những tư duy thực tế của thị trường đã làm suy giảm đáng kể sự quan tâm của cộng đồng đối với sự phát triển của khoa học nói chung và KHCB nói riêng. Đây là hiện tượng xã hội đặc trưng cho nhiều quốc gia, không chỉ ở các nước nghèo đang phát triển như Việt Nam. Ngay cả Hoa Kỳ, cường quốc khoa học hàng đầu thế giới, đã gần như bị rơi vào thảm họa trong năm 2020 vì đại dịch COVID-19 do những quyết định thực dụng, duy ý chí và coi thường tư vấn từ giới khoa học của Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ trước. Rất may là Chính phủ Mỹ trong nhiệm kỳ hiện tại đã thay đổi cơ bản cách tiếp cận với khủng khoảng dịch bệnh, luôn tham khảo chặt chẽ với giới khoa học chuyên môn trước khi ra những quyết định quan trọng nhằm đối phó với đại dịch. Trong khung cảnh dịch đang hoành hành trên thế giới, giới thiệu về IYBSSD 2022 đã nhắc đến một số phát minh KHCB có vai trò đặc biệt quan trọng trong chống dịch như: quá trình tổng hợp chuỗi enzyme (polymerase chain reaction – PCR) giúp nhân bản nhanh các mảnh RNA hay DNA do các nghiên cứu sinh hóa phát hiện ra năm 1986 hiện được áp dụng trong các kit xét nghiệm PCR; dãy kết đơn phân tử RNA (messenger RNA – mRNA) được nghiên cứu sinh học phân tử phát hiện ra từ năm 1961 là có chức năng tạo trình tự gene (genetic sequence) của tế bào sống, nhờ đó mà NCKH thời covid đã tìm ra cách điều chỉnh chức năng của mRNA (modification of messenger RNA) để chặn quá trình nhân bản corona virus, giúp tạo miễn dịch sau khi đưa vào cơ thể người một lượng mRNA được điều chỉnh dưới dạng vaccine; phương pháp phân tích trình tự gene giúp xác định nhanh các biến thể virus khác nhau cũng được dựa trên cơ sở phát minh của các nghiên cứu cơ bản trong di truyền học giai đoạn 1976-1977…       Sau khi dịch SARS đầu tiên bùng phát ở châu Á năm 2003 đã có một số dự án nghiên cứu sinh học phân tử quan trọng về SARS và vaccine chống virus này được triển khai nhưng vài năm sau đã phải dừng vì không còn được tài trợ (nghiên cứu không còn ý nghĩa “thực tiễn” do virus đã vĩnh viễn biến mất). Bây giờ thì ai cũng có thể thấy cái giá mà nhân loại phải trả cho những quyết định thực dụng sai lầm này.      Sau khi dịch SARS đầu tiên bùng phát ở châu Á năm 2003, đã có một số dự án nghiên cứu sinh học phân tử quan trọng về SARS và vaccine chống virus này được triển khai nhưng vài năm sau đã phải dừng vì không còn được tài trợ (nghiên cứu không còn ý nghĩa “thực tiễn” do virus đã vĩnh viễn biến mất). Bây giờ thì ai cũng có thể thấy cái giá mà nhân loại phải trả cho những quyết định thực dụng sai lầm này. Trong suốt thời gian chống dịch COVID-19, nhiều nhóm nghiên cứu KHCB, đặc biệt là các nhà vật lý và sinh học phân tử2 đã tích cực triển khai những hoạt động nghiên cứu trực tiếp liên quan đến dịch, thí dụ như các nhà vật lý ở Viện Nghiên cứu hạt nhân quốc gia Italy (INFN) đang sử dụng siêu máy tính (thường dùng để xác định vết của Higgs boson trong phổ va chạm hạt nhân năng lượng cao) để tính toán mô phỏng quá trình cuộn gấp enzyme ACE2 trong corona virus – tác nhân gây viêm đường hô hấp ở người nhiễm virus, trong hợp tác nghiên cứu với một công ty công nghệ sinh học nhằm chế tạo thuốc điều trị bệnh nhân covid3. Với ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin (CNTT) trong phòng chống dịch, chúng ta cũng cần nhắc đến phát minh ra mạng Internet của các nhà vật lý thuộc Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) từ những năm 1990, mà nay đã trở thành hạ tầng cơ sở nền tảng cho phát triển và ứng dụng công nghệ số thông minh trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, quốc phòng và chính trị của đa số các quốc gia trên thế giới.     Quay lại với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam, một số nhóm KHCB đã khẩn trương chuyển sang nghiên cứu các đề tài liên quan đến dịch như nghiên cứu khả năng lây nhiễm virus SARS-CoV-2 thông qua tương tác với tế bào người và ảnh hưởng của các biến thể virus lên một số loại kháng thể được thực hiện ở Viện KH&CN Tính toán TP. Hồ Chí Minh4, hay nghiên cứu giải mã gene các biến thể virus tiến hành ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương… Nhìn chung thì mặc dù còn nhiều khó khăn và bất cập, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng KHCB nước ta đã có những bước tiến lớn trong hai thập kỷ qua, Đội ngũ các nhà KHCB đã trưởng thành đáng kể cùng nhiều công trình khoa học có giá trị cao được công bố ở những tạp chí khoa học quốc tế uy tín. Trong chính sách, chiến lược phát triển khoa học của Việt Nam, KHCB đã được đặt ở vị trí quan trọng như đầu tàu và tinh hoa của nền khoa học nước nhà qua những chương trình quốc gia cho phát triển toán học, vật lý, y sinh học… được Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo và phê duyệt.     Tuy nhiên, đã nhiều năm nay chúng ta thấy cộng đồng khoa học và công nghệ (KH&CN) vẫn không có nhiều đóng góp thực sự quan trọng vào quá trình ứng dụng, đổi mới và sáng tạo công nghệ cho phát triển bền vững của đất nước.      Phát triển khoa học cơ bản của Việt Nam      Nhân năm quốc tế KHCB cho phát triển bền vững, tôi muốn chia sẻ những suy nghĩ của mình về vai trò của KH&CN nói chung và KHCB nói riêng của Việt Nam trong quá trình phát triển của đất nước.    Phát triển bền vững chắc chắn không khả thi nếu thiếu công nghệ hiện đại và vì thế mà từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước luôn đề cao chủ trương ưu tiên xây dựng và phát triển một số ngành công nghệ mũi nhọn như CNTT, công nghệ sinh học (CNSH), công nghệ vật liệu (CNVL), công nghệ hạt nhân (CNHN)… và gần đây nhất là chủ trương tăng cường sử dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp. Đây là chính sách thông suốt đúng đắn, có tác dụng rất tích cực đối với sự phát triển của KH&CN nước ta. Cùng với đẩy mạnh đầu tư công cho KH&CN, yêu cầu về các sản phẩm ứng dụng luôn được đặt ra cho các đề tài NCKH trong các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đạt được hiếm khi đi kèm với sản phẩm ứng dụng và sáng tạo công nghệ. Phải chăng hiện trạng này thể hiện sự yếu kém của cộng đồng khoa học Việt Nam như đôi lúc bị “ném đá” trên mạng xã hội bởi những phê phán ngoài luồng.       Đến năm 2025, Việt Nam làm chủ công nghệ sản xuất 10 loại vaccine. Nguồn: moh.gov.vn  Theo suy nghĩ của tác giả thì vấn đề chính nằm ở quan niệm còn khá đơn giản trong quản lý và điều hành KH&CN như một ngành nghề trong kinh tế xã hội, dẫn đến một thiết kế không hoàn hảo và hợp lý của “tòa nhà” KH&CN Việt Nam. Thực ra thì Khoa học và Công nghệ là hai lĩnh vực có liên quan chặt chẽ nhưng vẫn là hai lĩnh vực phát triển khác nhau, thường được tiến hành song song ở các quốc gia phát triển. Việc Việt Nam luôn xếp KH&CN vào chung một lĩnh vực phát triển thực ra không đơn giản hóa việc quản lý, điều hành mà ngược lại dễ đưa tới những hệ quả không có lợi cho sự phát triển toàn diện của KH&CN. Về thực chất, các hoạt động NCKH, nhất là trong lĩnh vực KHCB, luôn hướng tới mục tiêu chính tìm ra những kiến thức, hiểu biết mới về thiên nhiên, kinh tế và xã hội. Lịch sử phát triển của nhân loại đã khẳng định rất rõ vai trò quan trọng của những kiến thức, hiểu biết này đối với sự phát triển của nhiều ngành nghề trong xã hội, đặc biệt là các ngành công nghệ cao trong những thập kỷ gần đây. Trong thời đại hiện nay, mỗi ngành công nghệ hiện đại luôn mang trong mình kiến thức, hiểu biết của các ngành khoa học khác nhau, thí dụ như CNSH (đặc biệt là công nghệ gene) đòi hỏi nhiều kiến thức vật lý lượng tử cùng các phương pháp thí nghiệm và xử lý số liệu của vật lý chất rắn, vật lý nguyên tử và vật lý hạt nhân; CNVL và cơ khí chính xác thì có nhu cầu ngày càng cao đối với các phương pháp tính toán mô phỏng phát triển bởi cộng đồng toán học ứng dụng trên cơ sở công nghệ máy tính hiện đại nhất… Tuy nhiên, nếu đơn giản đòi hỏi phải có các sản phẩm ứng dụng và sáng tạo công nghệ như đầu ra cho những khoản đầu tư trực tiếp cho các đề tài, dự án NCKH trong KHCB hay Khoa học định hướng ứng dụng thì lại là “ngây thơ” và duy ý chí. Thay cho chủ trương và những chính sách chung cho KH&CN, đã đến lúc chúng ta phải xây dựng quyết sách, chiến lược đầu tư phát triển đồng bộ và song song cho KH&CN như hai lĩnh vực tách biệt nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Đặc biệt trong lĩnh vực Công nghệ phải tập trung ưu tiên xây dựng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng tương ứng cho việc tiếp thu, làm chủ và triển khai pilot cho ứng dụng tối ưu những sản phẩm công nghệ hiện đại. Trong khi Việt Nam vẫn đang phần lớn dựa vào công nghệ cao nhập khẩu từ nước ngoài vào cho phát triển kinh tế và xã hội, chủ trương trên lẽ ra phải được triển khai thực hiện xuyên suốt từ nhiều năm trước trong phạm vi liên ngành KH&CN, GD&ĐT… Rất tiếc là một quyết sách quan trọng như vậy cho đến nay vẫn chưa được thực thi và hệ quả dễ thấy nhất là hiện trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên môn, chuyên gia công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ xã hội…       Với quan niệm còn khá đơn giản trong quản lý và điều hành KH&CN như một ngành nghề trong kinh tế xã hội, dẫn đến một thiết kế không hoàn hảo và hợp lý của “tòa nhà” KH&CN Việt Nam.      Chỉ riêng trong lĩnh vực y tế, gần như đa số các công việc chẩn đoán và điều trị hiện nay đang sử dụng rất nhiều sản phẩm công nghệ hiện đại. Các thiết bị kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và xạ trị hiện đại chỉ có thể được sử dụng và vận hành tối ưu bởi đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản trong y vật lý (medical physics), y học hạt nhân và CNHN – những chuyên ngành không có trong chương trình đào tạo của đa số các trường đại học trong nước vì thiếu giáo viên, chuyên gia trong lĩnh vực này. Thậm chỉ, mã ngành đào tạo y vật lý chỉ vừa mới được Bộ GD&ĐT thông qua sau những vận động, khuyến cáo không mệt mỏi trong nhiều năm của một số chuyên gia khoa học hạt nhân thuộc Bộ KH&CN và nay mới được chính thức đào tạo sang năm thứ hai tại một cơ sở đại học dân lập ở TP. HCM. Trong khi đó các thiết bị công nghệ y tế hiện đại vẫn đang tiếp tục được nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam và thường được vận hành bởi đội ngũ những nhân viên không được đào tạo chuyên nghiệp. Đã đến lúc các giới quản lý y tế, KH&CN và GD&ĐT phải cùng bắt tay vào sự nghiệp “trồng người” cho công nghệ cao trong y tế, để người dân Việt Nam có được sự chăm sóc y tế an toàn và tốt nhất cho sức khỏe của mình. Một lĩnh vực khác liên quan là công nghệ y sinh học, tuy là thiết yếu nhưng chỉ mới bắt đầu được xây dựng ở một số cơ sở NCKH trung ương. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam rất cần có một đội ngũ nhân lực trình độ cao cho nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ y sinh học. Trong khung cảnh đại dịch COVID-19, sự thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực này chắc đã có ảnh hưởng nhất định đến lộ trình nghiên cứu và triển khai sản xuất trong nước kit xét nghiệm, vaccine ngừa corona virus… chưa nói là khe hở này còn bị doanh nghiệp tư nhân (công ty Việt Á) lợi dụng nhảy vào trục lợi. Xã hội hóa các hoạt động NCKH và ứng dụng công nghệ là chủ trương đúng đắn và cần thiết, nhưng chủ trương này chỉ có thể được thực thi hiệu quả khi đất nước có đủ thực lực nhân sự KH&CN tương ứng.     Trong những năm gần đây Việt Nam đã thực sự nổi lên như một quốc gia có nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, không chỉ giúp người nông dân thoát nghèo mà còn đang dần đưa nước ta trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Trong khung cảnh này, việc triển khai và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã trở nên cấp thiết nhưng đây lại là thách thức rất lớn cho giới quản lý do sự thiếu hụt nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao đang ở mức rất trầm trọng5. Việt Nam có một truyền thống đào tạo đại học trong lĩnh vực nông nghiệp rất tốt từ nhiều thập kỷ qua, tuy nhiên sang thế kỷ 21 với việc ứng dụng rộng rãi CNTT, CNSH, công nghệ nano… vào các khâu sản xuất nông nghiệp thì rõ ràng các trường đại học nông nghiệp phải cần có sự hỗ trợ tích cực từ các cơ sở đào tạo KH&CN, kỹ thuật… để đào tạo nhân lực có trình độ đáp ứng được nhu cầu phát triển của nông nghiệp. Đặc biệt, nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao không chỉ đơn giản là các chuyên gia công nghệ mà còn phải là đội ngũ các nhà sư phạm giỏi thực hành để trực tiếp tập huấn luyện, chuyển giao công nghệ cho lao động nông nghiệp5.      Việt Nam có một đội ngũ đông đảo các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học vật liệu (KHVL) với trình độ cao ở mức độ quốc tế, nhưng những thành tựu lớn nhất của cộng đồng này vẫn tập trung ở các bài báo công bố trên các tạp chí KHVL quốc tế hay một số giải pháp hữu ích được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Tuy đã có không ít trăn trở nhưng các chuyên gia KHVL nước ta vẫn chưa thể đóng góp được nhiều sản phẩm ứng dụng cho kinh tế xã hội vì ngành CNVL vẫn chưa được thực sự phát triển ở Việt Nam, mặc dù đã được quy hoạch như một trong những hướng phát triển công nghệ ưu tiên. Trong khoảng 10 năm gần đây, công nghiệp vật liệu nước ta đã có những bước tiến đáng kể, nhiều sản phẩm vật liệu công nghiệp cho cơ khí, xây dựng và hạ tầng giao thông… đã được triển khai sản xuất thành công ở trong nước6. Tuy nhiên, đa phần các vật liệu tinh vi hiện đại cho công nghiệp chế tạo, CNTT, y tế… ở nước ta vẫn phải nhập khẩu là chính. Chưa nói đến những bán thành phẩm cho các thiết bị điện tử thông minh … cũng chưa thể được sản xuất ở Việt Nam vì không có cơ sở CNVL tương ứng và phần lớn các sản phẩm điện tử xuất xưởng ở Việt Nam vẫn chỉ được gia công lắp ráp trong nước là chính. Trong khung cảnh này, Việt Nam phải mau có những quyết sách mới cho việc xây dựng nhân lực CNVL trình độ cao cùng hạ tầng cơ sở công nghiệp vật liệu hiện đại6.               Đã đến lúc chúng ta phải xây dựng quyết sách, chiến lược đầu tư phát triển đồng bộ và song song cho KH&CN như hai lĩnh vực tách biệt nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau.      Đến đây tác giả muốn nhắc đến CNTT như một điểm sáng trong phát triển công nghệ cao ở Việt Nam để minh họa cho khuyến cáo chính từ bài viết này. Với đặc thù ứng dụng rộng rãi của máy tính trong cuộc sống từ nhiều thập kỷ qua, mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội luôn có nhu cầu lớn về nhân lực giỏi tin học và môn CNTT đang được đào tạo trong hầu hết các trường đại học, cao đẳng học nghề ở Việt Nam. Đây là sự khác biệt rất lớn so với bất cập nêu trên của các lĩnh vực công nghệ khác, kết quả là lượng nhân lực cho phát triển bền vững CNTT khá dồi dào, đặc biệt trong những năm gần đây khi các tập đoàn viễn thông lớn của đất nước triển khai phát triển và ứng dụng các công nghệ số, học máy (machine learning), trí tuệ nhân tạo (AI)… cho các lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau. Với triển vọng ứng dụng rất sâu rộng của AI, các chuyên gia CNTT giỏi của đất nước hoàn toàn có thể được huy động vào tham gia phát triển, triển khai và ứng dụng các ngành công nghệ khác, cũng như những hoạt động NCKH trong KHCB và Khoa học định hướng ứng dụng. Quá trình xây dựng và phát triển rất thành công của các tập đoàn CNTT lớn như Viettel, VNPT, FPT và chi nhánh viễn thông của VinGroup cho chúng ta những lộ trình hoàn toàn khả thi đối với Việt Nam trong việc thực sự phát triển những ngành công nghệ trọng điểm khác thiết yếu cho sự phát triển bền vững của đất nước.     Quay trở lại với KHCB của Việt Nam, hiện nay số nhân lực khoa học đang làm việc trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong nước không phải là nhỏ, tuy nhiên đa số trong số đó hoặc là tham gia các dự án, đề tài nghiên cứu KHCB hay Khoa học định hướng ứng dụng, hoặc là đang trực tiếp dùng chất sám của mình để triển khai các hoạt động dịch vụ kinh tế, xã hội. Với hàm lượng lớn kiến thức KHCB ẩn trong các công nghệ khác nhau, đội ngũ KHCB của Việt Nam không chỉ tiếp tục trưởng thành trong NCKH mà hoàn toàn còn có thể đóng góp nhiều hơn vào công cuộc đào tạo, phát triển nhân lực công nghệ cao và từ đó có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Để đạt được mục tiêu này, ngoài việc xây dựng quyết sách, đổi mới cơ chế quản lý và đầu tư đồng bộ cho KHCB, chúng ta rất cần tiến hành những hoạt động quảng bá cho trí tuệ Việt Nam, phổ biến kiến thức khoa học phổ thông cho các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Làm sao cho cộng đồng dân chúng thấy rõ được vai trò quan trọng của tri thức và khoa học đối với sự phát triển của dân tộc, đúng với tinh thần của Năm quốc tế KHCB cho phát triển bến vững – IYBSSD 2022 – vừa được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua. □     Tài liệu tham khảo  1 Basic sciences in the age of COVID-19, https://www.iybssd2022.org/en/home/.    2Trần Quang Huy, Đào Tiến Khoa, “Đại dịch COVID-19: Góc nhìn từ vật lý và sinh học cấu trúc”, Tạp chí Tia Sáng số tháng 3/2020, https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Dai-dich-COVID19-Goc-nhin-tu-vat-ly-va-sinh-hoc-cau-truc-23096.  3 Pietro Faccioli, “How theoretical nuclear physics can help discover new drug”, Nuclear Physics News 31 (2021) 29.  4 Hoang Linh Nguyen, Pham Dang Lan, Nguyen Quoc Thai, Daniel A. Nissley, Edward P. O’Brien, Mai Suan Li, “Does SARS-CoV2 bind to human ACE2 more strongly than does SARS-CoV?”, The Journal of Physical Chemistry B 124 (2020) 7336.  5 “Ai đang làm nông nghiệp công nghệ cao”, Báo Nông nghiệp Việt Nam, số ngày 13/01/2020, https://nongnghiep.vn/ai-dang-lam-nong-nghiep-cong-nghe-cao-d255619.html.   6 “Sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp vật liệu”, Trang tin Bộ Công Thương Việt Nam ngày 14/08/2021, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-cong-nghiep/su-can-thiet-phat-trien-nganh-cong-nghiep-vat-lieu.html.        Author                Đào Tiến Khoa        
__label__tiasang 30 năm Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: Những thành tựu      Ngày 20/3/2014 vừa tròn 30 năm kể từ ngày khánh thành Công trình khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, là dịp để chúng ta cùng nhìn lại những thành tựu của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành và khai thác lò phản ứng đầu tiên và duy nhất này của Việt Nam.        Viện Nghiên cứu hạt nhân (NCHN) tại Đà Lạt, là tiền thân của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ngày nay, được thành lập theo Quyết định số 64-CP ngày 26/4/1976 của Thủ tướng Chính phủ. Cơ sở vật chất ban đầu được tiếp quản từ Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử Đà Lạt với thiết bị chính là Lò phản ứng TRIGA Mark-2 công suất 250 kWt, xây dựng từ đầu những năm 1960 và chỉ vận hành trong 5 năm, 1963-1968. Tuy nhiên, trước ngày tiếp quản, tất cả các bó nhiên liệu của lò TRIGA đã được chuyển ra khỏi Việt Nam trả về Hoa Kỳ nên lò không còn khả năng hoạt động.   Với sự giúp đỡ của Liên Xô, ngày 15/3/1982, Công trình Khôi phục và Mở rộng lò phản ứng được khởi công. Sau 20 tháng thi công khẩn trương, Lò phản ứng với tên mới là IVV-9, còn gọi theo địa danh là Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được nạp nhiên liệu loại VVR-M2 có độ giàu cao (36% U-235) và đạt trạng thái tới hạn lần đầu vào lúc 19:50 ngày 01/11/1983. Ngày 20/3/1984, Lò phản ứng được chính thức đưa vào vận hành với công suất danh định 500 kWt, gấp 2 lần so với lò TRIGA trước đây.    Vị trí và sứ mệnh  Nhiệm vụ hàng đầu mà đất nước giao phó cho Viện Nghiên cứu hạt nhân là quản lý kỹ thuật, vận hành an toàn, khai thác có hiệu quả Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt và các thiết bị khoa học và công nghệ khác để phục vụ nghiên cứu khoa học, dịch vụ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các ngành KH&CN hạt nhân.     Qua đó, hoạt động của Viện tập trung vào cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Cụ thể là nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý lò phản ứng, các lĩnh vực hóa phân tích, hóa bức xạ, hóa phóng xạ, sinh học phóng xạ, môi trường và các kỹ thuật đo liều lượng bức xạ. Bên cạnh đó là các nghiên cứu phát triển, nghiên cứu ứng dụng, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực điều chế đồng vị và dược chất phóng xạ, phân tích thành phần và nguyên tố trong các loại mẫu, công nghệ bức xạ, công nghệ sinh học, đánh giá tác động môi trường, sản xuất thiết bị và các lĩnh vực liên quan nhằm phát triển ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.          Ông Hans Blix, Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) thăm Viện NCHN Đà Lạt năm 1991 và đã đánh giá: Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là một trong những lò phát huy hiệu quả nhất trong các nước đang phát triển.         Các chuyên gia Nga tại Bàn điều khiển LPƯ sau khi lắp đặt và thử nghiệm Hệ điều khiển mới thay thế cho hệ điều khiển cũ (2007)          Mặt khác, đối với các cơ quan quản lý, Viện có chức năng hỗ trợ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước và phát triển của ngành trong các lĩnh vực an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, quản lý và xử lý thải phóng xạ, quản lý và vận hành các trạm quan trắc phóng xạ môi trường, kiểm chuẩn các thiết bị đo lường bức xạ và hạt nhân, ứng phó và xử lý sự cố bức xạ và hạt nhân.   Ngoài ra, Viện còn có chức năng hợp tác liên doanh, liên kết với các cơ quan trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh việc chuyển giao và trao đổi các quy trình công nghệ, các sản phẩm của Viện với các cơ sở sản xuất, tổ chức nghiên cứu và đào tạo. Đặc biệt, từ năm 2014, Viện hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm quy định theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP.   Các thành tựu cụ thể  Tính đến cuối năm 2013, Lò phản ứng đã có 37.800 giờ hoạt động an toàn và khai thác có hiệu quả. Chỉ tiêu này cũng là một thành tích chứng tỏ Viện NCHN đã tập hợp được một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đa ngành, được rèn luyện theo tác phong làm việc công nghiệp, làm chủ trong vận hành, bảo dưỡng, đảm bảo kỹ thuật và khai thác các thiết bị khoa học lớn, quan trọng, đó là Lò phản ứng hạt nhân đầu tiên và duy nhất hiện nay của Việt Nam. Đây là cơ sở để tạo dựng niềm tin bước đầu khi Viện tham gia thực hiện các dự án xây dựng lò phản ứng nghiên cứu công suất cao hơn trong tương lai.                  Phục vụ phân tích cho các ngành địa chất, dầu khí, môi trường và xuất khẩu nông sản  Viện đã xây dựng được tổ hợp các phương pháp phân tích: INAA, RNAA, PGNAA, huỳnh quang tia X, đo hoạt độ phóng xạ thấp, nhấp nháy lỏng, sắc ký lỏng, sắc ký khí, sắc ký ion, quang phổ hấp thụ nguyên tử, cực phổ, quang phổ kế vùng khả kiến và tử ngoại, quang kế ngọn lửa, huỳnh quang kế, khối phổ plasma cảm ứng, … Các phương pháp phân tích này cho phép phân tích đến 70 nguyên tố và chỉ tiêu khác nhau, đáp ứng tốt nhu cầu phân tích địa chất, điều tra thăm dò tài nguyên khóang sản, dầu khí, nông nghiệp, sinh học và môi trường, … Trong 30 năm qua, trên 77.000 mẫu các loại đã được phân tích cho các ngành; hiện nay, mỗi năm Viện làm dịch vụ cung cấp cho các ngành trung bình khoảng 60.000 chỉ tiêu phân tích khác nhau. Viện đã được cấp Giấy chứng nhận VietGAP của Sở NN&PTNT Lâm Đồng; phòng thí nghiệm của Trung tâm Phân tích được cấp chứng nhận VILAS-519, Trung tâm Môi trường được cấp chứng nhận  VILAS-525.  Đóng góp cho y tế và các ngành sinh học, nông nghiệp  Đến nay, Viện đã nghiên cứu và điều chế thành công khoảng 30 chủng loại đồng vị phóng xạ và dược chất đánh dấu để dùng trong Y tế và một số ngành kinh tế kỹ thuật khác. Chỉ riêng cho ngành Y tế, đến cuối năm 2013, Viện NCHN đã cung cấp khoảng 5.500 Ci đồng vị phóng xạ các loại: 131I, 32P, 99mTc, 51Cr, 153Sm, 65Zn, … và các kit in-vivo và in-vitro. 07 loại sản phẩm của Viện đã được đưa vào danh mục thuốc của Việt Nam từ tháng 2/2010. Đồng thời, Viện cũng đã tư vấn, thiết kế cho các cơ sở y tế trong nước đầu tư xây dựng các khoa Y học hạt nhân và xạ trị, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh của các khoa y học hạt nhân nói riêng và đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và đồng vị phóng xạ vào các ngành kinh tế – kỹ thuật nói chung.                  Viện cũng đã thành công trong các nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ để bảo quản thực phẩm, khử trùng và biến tính vật liệu. Những kết quả nghiên cứu của Viện đã tạo cơ sở cho việc ra đời các trung tâm chiếu xạ công nghiệp ở phía Nam. Viện đã và đang sản xuất và cung cấp các loại chế phẩm kích thích tăng trưởng thực vật T&D, phòng và trị nấm bệnh thực vật Olicide; polymer trương nước; polymer chịu nhiệt độ và áp suất cao, … Hướng ứng dụng công nghệ bức xạ trong việc chế tạo các chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường cũng được thực hiện.  Trong lĩnh vực Sinh học phóng xạ, Viện đã nghiên cứu và thành công trong việc sử dụng bức xạ gamma gây đột biến tạo các loại giống cây và hoa mới. Công nghệ trồng nấm, đặc biệt là một số loại nấm dược liệu quý đã được nghiêu cứu hoàn thiện và chuyển giao quy trình nuôi trồng cho nông dân áp dụng. Công nghệ nhân giống in-vitro được thực hiện đối với một số cây hoa và cây trồng đặc sản quý hiếm để cung cấp giống sạch bệnh cho nông dân. Viện cũng đang tham gia vào việc bảo tồn giống, bảo tồn đa dạng tài nguyên sinh học thực vật của tỉnh Lâm Đồng nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung.  Phục vụ quan trắc và đánh giá tác động môi trường  Các phương pháp phân tích hạt nhân và hỗ trợ tại Viện NCHN đã rất hữu hiệu trong nghiên cứu và cảnh báo môi trường, đặc biệt là đánh giá ô nhiễm môi trường do tác động sản xuất của công nghiệp. Đến cuối năm 2013, gần 17.000 mẫu môi trường đã được thu góp, phân tích và lưu trữ. Các số liệu này đã đóng góp vào việc hình thành tập hợp số liệu về môi trường nước ta. Trạm quan trắc môi trường do Viện quản lý được công nhận là trạm thuộc mạng lưới quan trắc môi trường Quốc gia. Viện có đủ khả năng và tiềm lực để thực hiện các nhiệm vụ về thiết lập và quản lý các trạm quan trắc môi trường tại 2 địa điểm sẽ xây dựng các nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận.          Trạm quan trắc môi trường trong khuôn viên lò phản ứng Đà Lạt          Các đồng vị phóng xạ môi trường (7Be, 210Pb, 137Cs, …) đã được ứng dụng tốt để đánh giá các quá trình môi trường như trầm tích và bồi lắng của các hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện và xói mòn đất, mất dinh dưỡng đất, … Kinh nghiệm trong nghiên cứu môi trường của Viện đã được phát triển trở thành hướng dịch vụ về đánh giá tác động môi trường (kể cả phóng xạ và không phóng xạ) cho các dự án đầu tư, các công trình giao thông, xây dựng trong các năm qua.   Một số lĩnh vực khác  Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực công nghệ đánh dấu và sử dụng nguồn kín cũng đạt được nhiều kết quả. Viện đã phối hợp với các cơ quan chuyên ngành thực hiện các nghiên cứu ứng dụng về khảo sát, đánh giá sự di chuyển bùn cát trong các luồng tàu (Cảng Hải Phòng, Cảng Cần Thơ, …), phục vụ hữu hiệu cho công tác duy tu nạo vét luồng tàu; khảo sát bồi lắng các lòng hồ thủy điện (Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận – Đa Mi…).          Các chuyên gia Nga tại Bàn điều khiển LPƯ sau khi lắp đặt và thử nghiệm Hệ điều khiển mới thay thế cho hệ điều khiển cũ (2007)          Trong lĩnh vực thiết bị điện tử, Viện đủ năng lực bảo dưỡng nhiều loại thiết bị điện tử, đặc biệt là thiết bị điện tử hạt nhân, bao gồm cả hệ thống điều khiển và công nghệ lò phản ứng; thiết kế, chế tạo các thiết bị điện tử hạt nhân dùng cho y tế, địa chất, hệ điều khiển hạt nhân dùng cho công nghiệp, các khối điện tử của hệ phổ kế hạt nhân dùng cho dịch vụ, nghiên cứu và đào tạo, các máy đo tuổi vàng bằng kỹ thuật huỳnh quang tia X cho các cơ sở kinh doanh vàng bạc đá quý, …          Định liều bức xạ chiếu ngoài bằng kỹ thuật TLD          Một kết quả nổi bật khác là phát triển thành công các phương pháp định liều lượng, kiểm soát bức xạ, xử lý và quản lý thải phóng xạ. Nhiệm vụ này không những giúp Viện đảm bảo an toàn cho nhân viên của mình và môi trường xung quanh mà còn giúp đảm bảo an toàn bức xạ cho khoảng 8.000 nhân viên bức xạ/năm của trên 700 cơ sở bức xạ trong nước.   Kỹ thuật định liều bằng đánh giá sai hình nhiễm sắc thể tế bào lympho máu đã được áp dụng xác định liều chiếu cho các công nhân làm việc trong các vụ sự cố về bức xạ, điển hình là sự cố nguồn phóng xạ năm 2002 tại Công ty Huyndai Vinashin, Khánh Hòa; sự cố mất nguồn phóng xạ vào cuối năm 2007 tại Công ty Cơ khí hàng hải PTSC, Vũng Tàu; sự cố liều cao tại khu vực làm việc vào đầu năm 2008 tại Công ty Lilama, Dung Quất, Quảng Ngãi; sự cố chiếu xạ xẩy ra năm 2012 tại Tổng Công ty Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam, …  Hiệu quả về đào tạo đội ngũ cán bộ   Qua việc thực hiện các đề tài/nhiệm vụ KH-CN, các dự án trong và ngoài nước, đội ngũ cán bộ của Viện tiếp tục được bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, kinh nghiệm và độ thuần thục nghề nghiệp; về mặt học vị, đến nay nhiều cán bộ đã đạt trình độ sau đại học (20 Tiến sĩ, 45 Thạc sĩ). Hằng năm, Viện đào tạo từ 5-7 NCS thuộc các chuyên ngành Vật lý hạt nhân và Hóa phân tích; đồng thời hỗ trợ các cơ sở khác trong nước đào tạo bậc đại học và sau đại học các chuyên ngành vật lý, hóa học, sinh học và môi trường (khoảng 12-15 sinh viên làm luận văn tốt nghiệp Đại học và 7-10 học viên làm luận văn Thạc sĩ). Mở các lớp đào tạo, tập huấn về ứng dụng kỹ thuật hạt, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, công nghệ lò phản ứng, …  Viện NCHN đã có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng tiềm lực vật chất, kỹ thuật, đào tạo nhân lực cho sự phát triển của ngành, góp phần hình thành và mở rộng thị trường ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hạt nhân, là nền tảng cần thiết và niềm tin để Viện tham gia vào các dự án xây dựng và vận hành Trung tâm KH&CN hạt nhân với Lò phản ứng nghiên cứu đa chức năng và dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.   ———  * Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Viện trưởng Viện NCHN          NHỮNG ĐIỂM MỐC THỜI GIAN VỀ LÒ PHẢN ỨNG              * Đầu năm 1960: Khởi công xây dựng Lò phản ứng TRIGA Mark II.              * 26/2/1963: Lò phản ứng TRIGA Mark II đạt trạng thái tới hạn lần đầu.              * 04/3/1963: Lò phản ứng đạt công suất danh định 250 kWt.              * 1963-1968: Lò phản ứng được vận hành với 3 mục đích chính là huấn luyện (Training), nghiên cứu (Research) và sản xuất đồng vị (Isotope Production).              * 1968-1975: Lò phản ứng tạm dừng hoạt động.              * 1974-1975: Tất cả các thanh nhiên liệu được tháo dỡ và chuyển trả về Hoa Kỳ.              * 9/10/1979: Việt Nam và Liên Xô ký Hợp đồng để khôi phục và nâng cấp Lò phản ứng TRIGA Mark II.                * 15/3/1982: Khởi công Công trình khôi phục và mở rộng Lò phản ứng. Lò được đổi tên mới là IVV-9, còn gọi là Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.              * 01/11/1983, 19:50: Lò phản ứng IVV-9 đạt trạng thái tới hạn lần đầu, sử dụng các bó nhiên liệu độ giàu cao (HEU) 36% U-235.              * 20/3/1984: Khánh thành Công trình khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt với công suất danh định 500 kWt.              * Từ 20/3/1984: Lò phản ứng được vận hành với các mục tiêu chính là: sản xuất đồng vị phóng xạ; phân tích mẫu bằng kỹ thuật kích hoạt nơtron; nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng để đưa các tiến bộ của khoa học và công nghệ hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; huấn luyện và đào tạo cán bộ.                   * 9/2007-10/2011: Vận hành với vùng hoạt hỗn hợp gồm các bó nhiên liệu độ giàu cao (36% U-235) và độ giàu thấp (19,75% U-235).              * 30/11/2011, 15:35: Lò phản ứng đạt trạng thái tới hạn lần đầu với vùng hoạt sử dụng toàn bộ nhiên liệu độ giàu thấp (LEU).              * 03/7/2013: Tất cả các bó nhiên liệu độ giàu cao đã được chuyền trả về Liên Bang Nga.                Author                Quản trị        
__label__tiasang 5 kiến nghị về quản lý KHCN trong nông nghiệp      Trong hai mươi lăm năm đổi mới, nhờ vào các yếu tố đầu vào như đất đai, nước tưới, lao động, vật tư…, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã duy trì được mức tăng trưởng cao đều đặn 4-5%, giúp Việt Nam đạt được những thành công đáng kể về phát triển kinh tế xã hội: đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, duy trì mức xuất siêu nông sản…      Tuy nhiên, tới nay, sau khi hầu hết các nguồn lực này đã đến mức giới hạn tăng trưởng của ngành nông nghiệp bắt đầu chững lại và có xu hướng giảm: năm 2008 tăng trưởng GDP của ngành 4,7%; đến năm 2010 còn 2,8%.   Rõ ràng đã đến lúc chúng ta phải chuyển từ một nền nông nghiệp tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu (hiệu quả, năng suất, giá trị gia tăng phải thay thế cho quy mô sản lượng), trong đó động lực của chính sách, hiệu quả của KHCN và các biện pháp quản lý phải trở thành nguồn lực chính tạo nên tăng trưởng.  Trong những năm gần đây, Bộ Nông nghiệp đã thay đổi mạnh công tác quản lý khoa học công nghệ: về tổ chức, đã và đang gom bớt đầu mối từ vài chục viện xuống còn 11 viện chính. Số cán bộ nghiên cứu khoa học tăng lên gần 8.000 người, cán bộ khuyến nông tăng 33.000 người. Đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí cho nghiên cứu cũng tăng mạnh, gấp 10 lần hơn mười năm trước. Dù vậy, những nỗ lực này chưa đem lại thay đổi quan trọng về kết quả khoa học công nghệ.   Cũng giống như tình trạng đã từng diễn ra ở các hợp tác xã trước kia, ở các nông lâm trường quốc doanh và các doanh nghiệp Nhà nước gần đây, yếu tố cản trở lớn nhất cho hoạt động của các cơ quan khoa học công nghệ công lập không phải là kinh phí hay cơ sở vật chất, mà chính là đội ngũ cán bộ thiếu động lực. Cán bộ khoa học, cán bộ khuyến nông không coi mình là chủ nhân của viện nghiên cứu, trạm kĩ thuật. Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học không coi người sản xuất kinh doanh là khách hàng, khoa học công nghệ là hàng hóa.  Cán bộ không coi mình là chủ đơn vị  Mặc dù Nhà nước đã đưa ra Nghị định 115, Nghị định 43, Nghị định 80 để trao quyền tự chủ cho cơ quan sự nghiệp hoạt động khoa học công nghệ công lập, thậm chí cho phép thành lập các doanh nghiệp khoa học công nghệ nhưng những văn bản trên đi vào cuộc sống rất chậm (Nghị định 115 đã phải lùi thời hạn thực hiện từ 2009 tới năm 2013). Cho tới nay, các cơ quan sự nghiệp vẫn tiếp tục quan hệ “xin-cho” với các cơ quan quản lý về nhiều hoạt động tổ chức và tài chính. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là có cơ quan quản lý Nhà nước không muốn mất quyền, một số cán bộ làm công tác quản lý không muốn mất lợi.   Ngược lại, tại nhiều đơn vị khoa học công nghệ công lập cũng có những cán bộ quản lý không muốn bươn chải với thị trường, không ít cán bộ nghiên cứu chỉ quen hoạt động khoa học kinh viện, không quan tâm tới triển vọng ứng dụng của tiến bộ kĩ thuật nên vẫn muốn bám vào bao cấp của Nhà nước. Tình trạng này chẳng khác gì quá trình khó khăn khi chuyển hệ thống doanh nghiệp quốc doanh ra khỏi quản lý trực tiếp của Nhà nước trước đây.  Không hình thành được quan hệ thị trường trong hoạt động KHCN  Mặc dù, đã trải qua 25 năm đổi mới nhưng cơ chế quản lý khoa học công nghệ vẫn mang dáng dấp của kinh tế kế hoạch trước kia. Kế hoạch nghiên cứu khoa học do các cơ quan quản lý Nhà nước lập ra với ý kiến tham mưu của những người đứng đầu các cơ quan nghiên cứu công lập không tính đến yêu cầu thực tế đặt ra hằng ngày từ thực tế sản xuất. Hoạt động đấu thầu cũng tập trung trong phạm vi các đơn vị này và hội đồng chọn thầu, đánh giá nghiệm thu kết quả cũng quanh quẩn trong một số “cây đa cây đề” trên thiếu ý kiến của người trực tiếp sử dụng. Do vậy tình trạng nể nang nhau, thậm chí tiêu cực là khó tránh khỏi. Tương tự như thế, kinh phí khuyến nông cũng được xây dựng bởi các cơ quan Trung ương, triển khai thành các chương trình khuyến nông trọng điểm, giao kinh phí và nội dung từ trên xuống cho từng địa bàn.  Vì thế, đối với người nghiên cứu, sản phẩm cuối cùng chỉ là báo cáo khoa học, mục đích cuối cùng chỉ là được hội đồng thông qua, còn tiến bộ kỹ thuật đó có ứng dụng được hay không, có đem lại lợi ích cho nông dân hay không, lại không là mối quan tâm của họ. Chưa có một cán bộ khoa học, một cán bộ khuyến nông bị trừ lương vì không đem lại tiến bộ kĩ thuật cho nông dân, hay một viện nghiên cứu nào bị giải thể hoặc lãnh đạo bị cách chức vì không có kết quả nghiên cứu được ứng dụng.  5 kiến nghị đổi mới quản lý KHCN trong nông nghiệp  Nếu như thập kỉ 80 chứng kiến công cuộc đổi mới trong hợp tác xã, trả lại quyền tự chủ và trao lại trách nhiệm nuôi sống xã hội cho người nông dân thì đã đến lúc cần có một công cuộc đổi mới trong các đơn vị khoa học công nghệ, trả lại quyền tự chủ và trao cho cán bộ khoa học trách nhiệm cung cấp tiến bộ kỹ thuật cho nhân dân.   Để làm được việc này, cần thực hiện những kiến nghị sau về việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý khoa học công nghệ:  Chia kinh phí khoa học công nghệ thành 3 nhóm: Nhóm 1 phục vụ các nhiệm vụ nghiên cứu mang tầm ngành do lãnh đạo Bộ quản lý, nhóm 2 phục vụ các nghiên cứu đáp ứng các vấn đề cụ thể của sản xuất kinh doanh do đại diện người sử dụng tham gia quản lý; nhóm 3 phục vụ các nghiên cứu có triển vọng về khoa học và các nhiệm vụ khoa học công nghệ thường xuyên do đại diện các nhà nghiên cứu quản lý. Ở mỗi nhóm, từ công tác lập kế hoạch đến phân chia kinh phí và nghiệm thu kết quả do chính người sử dụng kết quả chịu trách nhiệm. Kinh phí được ưu tiên trao cho các đơn vị nghiên cứu có năng lực của ngành, dựa trên hiệu quả đem lại của đơn vị. Ngoài ra, một tỉ lệ nhất định được đấu thầu hoặc trao cho các đơn vị ngoài ngành và ngoài các đơn vị công lập.  Đơn giản hóa thủ tục quản lý tài chính, hướng vào khoán đến sản phẩm khoa học công nghệ cuối cùng: Đối với nghiên cứu ứng dụng, sản phẩm cuối cùng là một giống mới, một mẫu máy mới, hay một kĩ thuật mới… được người sản xuất hoặc cơ quan kiểm định công nhận. Đối với các sản phẩm khoa học công nghệ thường xuyên cũng khoán đến kết quả cuối cùng như: kết quả điều tra khảo sát; kết quả phân tích thị trường, kết quả dự báo dự tính… được các cơ quan sử dụng công nhận. Đối với hoạt động khuyến nông, chất lượng và kết quả cũng phải được đánh giá bởi nông dân hoặc đại diện của họ. Đánh giá này phải ảnh hưởng tới lương bổng, hoặc kinh phí hoạt động của lực lượng khuyến nông.   Có chính sách khuyến khích đặc biệt về vật chất và tinh thần để người nghiên cứu và chuyển giao công nghệ được hưởng lợi từ chính kết quả làm việc của mình. Đặc thù của ngành nông nghiệp là tiến bộ kĩ thuật không thể giữ được bản quyền, vì vậy Nhà nước cần có phương thức thu lại lợi nhuận của người sản xuất kinh doanh thông qua phí, thuế để phân phối lại cho cán bộ nghiên cứu. Bên cạnh đó, đặc điểm của hoạt động khoa học công nghệ là phân tán trên mọi địa bàn, trong khi đời sống của cán bộ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần ban hành chế độ xây dựng và sử dụng nhà công vụ để đảm bảo điều kiện sống cho cán bộ khoa học công nghệ.   Khuyến khích đầu tư tư nhân và quốc tế: Ở các nước phát triển, kinh phí nghiên cứu và chuyển giao khoa học ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp của tư nhân thường cao hơn của Nhà nước. Cần ban hành các chính sách khuyến khích đặc biệt để thu hút đầu tư của các tổ chức quốc tế và tư nhân trong nước vào hoạt động khoa học công nghệ, kể cả việc thành lập cơ quan nghiên cứu, cơ quan khuyến nông, cơ quan dịch vụ khoa học công nghệ, cơ quan kinh doanh sản phẩm khoa học công nghệ. Trước hết, hãy bắt đầu từ việc đơn giản hóa thủ tục, hỗ trợ đất đai và giảm thuế.  Khuyến khích, tiến đến bắt buộc các cơ quan khoa học công nghệ trong nước áp dụng thực hiện theo các tiêu chuẩn về phương pháp nghiên cứu và quản lý, về đội ngũ cán bộ khoa học, về trang thiết bị, về công nghệ của các cơ quan khoa học công nghệ  trong khu vực, sau đó nâng lên mức các viện quốc tế. Thu hút cán bộ được đào tạo tốt từ nước ngoài về tham gia nghiên cứu và quản lý. Đặc biệt ưu đãi các chuyên gia hàng đầu quốc tế. Khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học công nghệ liên doanh với quốc tế.  Đầu tư cho khoa học công nghệ hôm nay cần phải được ưu tiên như đầu tư khai hoang, xây dựng hệ thống thủy lợi trước đây. Tăng mức đầu tư cho khoa học công nghệ từ mức 0.15% tổng ngân sách hiện nay, lên mức 0.4-0.6% ngân sách, như các nước trong vùng. Trong đó, tập trung vào đầu tư phát triển tài nguyên con người. Hỗ trợ cả đào tạo và ưu đãi sử dụng cán bộ, đầu tư trang bị điều kiện làm việc song song cải thiện điều kiện sống.  Đổi mới quản lý khoa học công nghệ là cuộc cải cách toàn diện về đầu tư công, chính sách, tổ chức bộ máy mà bản thân nhiều người trong cuộc không muốn thay đổi. Nhưng nếu buông xuôi chắc chắn chúng ta sẽ phải đương đầu với một tình trạng khủng hoảng hoặc trì trệ chậm phát triển kéo dài. Phương pháp thích hợp nhất là tiến hành đổi mới theo mô hình thử nghiệm. Thành công sẽ đến nếu có quyết tâm chính trị cao của lãnh đạo.   Nếu hoạt động khoa học công nghệ được “chủ nhân hóa, thị trường hóa, tư nhân hóa, quốc tế hóa” thì sẽ huy động được nguồn lực to lớn của xã hội và quốc tế, đưa sản xuất nông nghiệp lên một tầm cao mới.           * Bộ NN&PTNT, hiện có 11 viện nghiên cứu trực thuộc Bộ, trong đó có 2 viện được xếp hạng đặc biệt là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (17 viện, trung tâm thành viên) và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (14 viện, tổ chức thành viên).   * Tổng số cán bộ KHCN làm việc tại các viện hơn 7.930 người, trong đó số cán bộ hưởng lương ngân sách Nhà nước gần 4.600 người (gần 60%); số còn lại do các đơn vị tự lo lương và các chế độ khác. Có 67 GS, PGS; 426 TSKH, TS; gần 1.300 thạc sĩ.   * Tham gia nghiên cứu còn có sự tham gia của các trường đại học, các viện hưởng lương sự nghiệp kinh tế thuộc Bộ, các tổ chức, viện ngoài Bộ. Hiện cả nước có hơn 33.200 cán bộ khuyến nông, 85 người cấp T.Ư, hơn 2.100 người cấp tỉnh, gần 3.800 người cấp huyện, còn lại cấp xã, thôn, bản.  * Trong 1.000 tỷ đồng hằng năm đầu tư cho nghiên cứu, khoảng một nửa là đầu tư cho xây dựng cơ bản; nửa còn lại, thì 50% cho quỹ lương và hoạt động bộ máy, và phần còn lại cho hoạt động nghiên cứu KHCN, trong đó, phần dành cho các đề tài nghiên cứu chưa đến 200 tỷ đồng.               Author                Quản trị        
__label__tiasang 50 năm điện nguyên tử của Đức      Cách đây 50 năm, bang Bayern của Đức đã nổ  phát súng lệnh đầu tiên về năng lượng nguyên tử. Nhưng chỉ mười năm nữa,  với chi phí phá dỡ trên 30 tỷ Euro nước Đức sẽ đoạn tuyệt hẳn với điện  nguyên tử.  &#160;    Ngày 24/6/1962 Tập đoàn điện lực RWE đã thành lập công ty điều hành điện hạt nhân Atomkraftwerk (AKW). Đây là nhà máy điện hạt nhân lớn đầu tiên của Đức. Năm năm sau khi Block A đi vào hoạt động, được coi là bằng chứng về khả năng sử dụng điện hạt nhân phục vụ sản xuất công nghiệp trên diện rộng.   Loại năng lượng được trợ giá  Hồi đó dự trù kinh phí xây dựng AKW ước khoảng 345 triệu DM. Bản thân công ty điện hạt nhân RWE-Bayernwerk phải chịu 1/3 kinh phí xây dựng. Phần còn lại do chính phủ Liên bang và Cộng đồng nguyên tử châu Âu Euratom chi trả.   Chính phủ khuyến khích giới công nghiệp lao vào sản xuất điện nguyên tử. Không khí lạc quan, vui mừng bao trùm ngành năng lượng điện. Những luận cứ ủng hộ điện nguyên tử được chấp nhận: tạo ra được một lượng điện và nhiệt lượng khổng lồ, không sản sinh khí CO2 trong quá trình sản xuất điện, thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu và khí đốt của những nước không ổn định về chính trị, tạo nhiều việc làm mới. Tuy vậy chi phí sản xuất điện hạt nhân thấp, nhưng các ông lớn ngành năng lượng vẫn bán điện nguyên tử theo giá thị trường, ngoài ra Đức không có uran. Và đấy là một lý do để những người phản đối điện nguyên tử thường đề cập đến.  Theo một nghiên cứu của tổ chức Greenpeace thì ngành điện hạt nhân đã được trợ cấp tới trên 100 tỷ Euro – trong khi đó Diễn đàn nguyên tử của Đức được sự ủng hộ của ngành kinh tế năng lượng thì cho rằng con số trên là thổi phồng và số tiền trợ cấp thì chỉ trên dưới 20 tỷ Euro. Diễn đàn nêu lý do về lâu dài giá điện hạt nhân sẽ giảm vả lại trong quá trình hoạt động lại không sản sinh khí độc CO2.  Tuy được chính quyền bang Bayern hết sức ưu ái nhưng đã có thời kỳ điện hạt nhân bị phản đối kịch liệt. Điện hạt nhân đã chia rẽ người Đức: một số người kịch liệt phản đối điện hạt nhân vì sợ tai họa, môi trường ô nhiễm. Số người ủng hộ lại cho rằng điện hạt nhân tạo nhiều công ăn việc làm và thu hút các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên lịch sử 50 năm điện hạt nhân ở Bayern cũng đồng thời là lịch sử chết yểu một loạt dự án. Điển hình là dự án xây dựng công trình tái chế (WAA) ở Wackersdorf. Dân chúng phản đối kịch liệt, lúc đầu còn ôn hòa, nhưng sau thảm họa ở Tschernobyl 1986 thì sự phản kháng đã leo thang. Đã có các vụ đụng độ đẫm máu làm bị thương trên 400 người và nhiều người bị chết. Đến năm 1989 thì dự án này bị đình chỉ vì Pháp đồng ý xử lý rác thải nguyên tử của Đức với giá giảm hơn 30%. Phía Đức mất 3,2 tỷ Mark vì vụ đầu tư này (khoảng1,63 tỷ).   Sau thời kỳ bùng nổ điện hạt nhân trong những năm bẩy mươi thì nay là thời kỳ thoái trào. Đến năm 2022 Đức sẽ đóng cửa nhà máy điện hạt nhân cuối cùng. Công cuộc phá dỡ các AKW cũng sẽ ngốn nhiều tỷ Euro và đây là nhiệm vụ của cả một thế hệ. Một ví dụ, chi phí xây dựng nhà máy điện nguyên tử Würgassen năm 1971 là trên 400 triệu DM. Chi phí để phá dỡ nhà máy này tốn hơn nhiều, dự tính khoảng 700 triệu Euro.      Những nhà máy điện hạt nhân hiện có ở Đức đều đã hết khấu hao, nhà khai thác chỉ cần tính chi phí sản xuất . Giá thành sản xuất một Megawatts giờ điện hạt nhân là 15 đến 20 Euro, ở nhà máy nhiệt điện chạy than hoặc khí thì từ 30 đến 40 Euro.  Nếu để nhà máy điện nguyên tử cuối cùng tiếp tục hoạt động đến năm 2040 thay vì phải đóng cửa vào năm 2022 thì các tập đoàn điện lực sẽ thu được một khoản lợi nhuận lên đến 57 tỷ Euro, nếu giá điện giữ nguyên là 50 Euro một Megawat giờ. Không chỉ có các nhà khai thác mà cả nhà nước cũng được lợi một khoản tiền là 31 tỷ.   30 tỷ để phá dỡ và xử lý  Thay vào khoản thu to lớn đó nay các doanh nghiệp điện lực phải chi khoản tiền khổng lồ để tháo dỡ các nhà máy điện nguyên tử, chi phí cho việc ngừng hoạt động và tháo dỡ cũng như xử lý mỗi nhà máy điện nguyên tử ước khoảng 1,1 tỷ Euro. Bốn tập đoàn điện nguyên tử sẽ phải chi trên 30 tỷ Euro cho việc tháo dỡ và xử lý các nhà máy điện hạt nhân. Hiện nay Đức vẫn tiếp tục tìm địa điểm cất giữ lâu dài chất thải hạt nhân. Đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp vì sự phản ứng của người dân ở gần các địa điểm này.    Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang 60 năm Bộ Khoa học và Công nghệ: Những giá trị cốt lõi cần kế thừa*      Sáu mươi năm trước đây, Ủy ban Khoa học Nhà nước, tổ chức tiền thân của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày nay, được thành lập theo Sắc lệnh số 016-SL ngày 04 tháng 3 năm 1959 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự ra đời của Ủy ban là minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về vai trò động lực của khoa học và công nghệ, trong hoàn cảnh đất nước còn đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ của công cuộc kiến thiết miền Bắc xã hội chủ nghĩa từ nghèo nàn, lạc hậu và đấu tranh trường kỳ giải phóng miền Nam.        Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh  Những giá trị nền tảng  Với sứ mệnh được định hình ngay từ đầu là phục vụ đắc lực ba mục tiêu quốc gia về sản xuất, dân sinh và quốc phòng, trong điều kiện của một nền khoa học – kỹ thuật non trẻ hết sức thiếu thốn về trang thiết bị nghiên cứu và các nguồn lực cơ bản, Ủy ban Khoa học Nhà nước cùng ngành khoa học đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ cấp bách đặt ra trước mắt, đồng thời tổ chức, gây dựng nên những nền móng cơ bản về khoa học và kỹ thuật cho tương lai. Đất nước sẽ không bao giờ quên công lao của các nhà khoa học, nhà quản lý mà tên tuổi đã đi vào lịch sử như Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Lương Định Của, Bùi Huy Đáp,… và cống hiến to lớn thầm lặng của các cán bộ khoa học những thế hệ đầu tiên.  Các cuộc điều tra, khảo sát tài nguyên, khoáng sản ở nhiều miền đất xa xôi của đất nước đã được khởi đầu thực hiện trong thời kỳ này. Nhiều cán bộ kỹ thuật đã được huy động tham gia thiết kế, thi công các công trình lớn như Đại thủy nông Bắc Hưng Hải, khu liên hợp gang thép Thái Nguyên, mỏ Apatit Lào Cai, nhà máy cơ khí Hà Nội; tiếp thu làm chủ kỹ thuật từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để đưa các nhà máy, xí nghiệp này trở thành những cánh chim đầu đàn của nền công nghiệp non trẻ Việt Nam. Trong nông nghiệp, chúng ta đã có các công trình nghiên cứu ứng dụng giống cây mới và quy trình gieo cấy tiên tiến, đảm bảo lương thực chi viện cho quân và dân miền Nam. Các công trình y dược về sốt rét, lây nhiễm, da liễu, ngoại khoa đã phục vụ kịp thời việc chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội trên chiến trường. Hệ thống các công trình nghiên cứu kỹ thuật quân sự chống nhiễu ra đa, cải tiến tên lửa phòng không, rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường là những thành tựu khoa học rất đáng tự hào, góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh kỹ thuật cao của đối phương, hoàn thành sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.&nb      Đất nước sẽ không bao giờ quên công lao của các nhà khoa học, nhà quản lý mà tên tuổi đã đi vào lịch sử như Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Lương Định Của, Bùi Huy Đáp,… và cống hiến to lớn thầm lặng của các cán bộ khoa học những thế hệ đầu tiên.      Bước sang thời kỳ hòa bình, lực lượng khoa học và công nghệ nước nhà lại cùng với nhân dân cả nước nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận đầy khó khăn, thử thách. Từ năm 1980, toàn bộ các tài liệu, tạp chí khoa học, sách tham khảo bằng tiếng Anh không còn được tài trợ và sau khi Liên Xô sụp đổ, số lượng tạp chí khoa học, sách báo, tài liệu tiếng Nga cũng giảm đáng kể. Cơ sở vật chất – kỹ thuật, trang thiết bị nghiên cứu và các nguồn lực đều rất thiếu thốn, nghèo nàn. Đây là thời kỳ tiếp tục thử thách ý chí và nhiệt huyết nghiên cứu của các cán bộ khoa học Việt Nam. Bằng trí tuệ, nghị lực và tinh thần tự trọng, tự cường được hun đúc từ những năm tháng chiến tranh, lực lượng khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ. Chính trong những năm tháng khó khăn này, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đã được huy động tham gia thiết kế, thi công các công trình thế kỷ của Việt Nam, như xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình; khai hoang, cải tạo vùng Đồng Tháp Mười; xây dựng đường dây 500kV Bắc – Nam; khai thác dầu khí ở Biển Đông hoặc chọn tạo mới các giống cây trồng, làm tiền đề cho sự phát triển của các ngành công nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Từng bước, lực lượng khoa học và công nghệ Việt Nam không ngừng học hỏi để trưởng thành, tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng, xóa bỏ cơ chế bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế.    Việc chế tạo thành công Giàn khoan tự nâng Tam Đảo 03 – một công nghệ phức tạp với tiêu chuẩn cực kỳ khắt khe và rất ít nước trên thế giới có thể thực hiện chế tạo –  giúp tiết kiệm hàng chục triệu USD cho ngân sách đất nước.   Tạo thế và lực mới  Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, khoa học và công nghệ tiếp tục có những bước tiến quan trọng về mọi mặt, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng, an ninh. Hành lang pháp lý, cơ chế và chính sách quản lý khoa học – công nghệ được chú trọng đổi mới, hướng đến tiệm cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Đã từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với thực tiễn và thị trường; kiên trì thực hiện trao quyền tự chủ trong khoa học gắn với trách nhiệm giải trình; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư cho khoa học – công nghệ; trọng dụng cán bộ khoa học theo nhóm đối tượng tài năng.    Tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng phát triển. Nếu như trong thập niên 60, cả miền Bắc chỉ có 8 viện nghiên cứu, 6 trường đại học thì đến nay cả nước đã có hơn 4 nghìn tổ chức khoa học và công nghệ, 3 khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 8 khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67 nghìn cán bộ nghiên cứu. Hạ tầng nghiên cứu trong một số  lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, nano, công nghệ tính toán, y học được tăng cường. Nguồn lực thông tin, nền tảng Tri thức Việt số hóa được đầu tư, kết nối và chia sẻ mở trong cộng đồng. Đầu tư từ doanh nghiệp cho khoa học – công nghệ gia tăng mạnh mẽ. Đã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở cả khu vực nhà nước và tư nhân, điển hình như Viện V-KIST, các viện nghiên cứu của VinGroup về dữ liệu lớn, công nghệ cao. Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng.       Hành lang pháp lý, cơ chế và chính sách quản lý khoa học – công nghệ được chú trọng đổi mới, hướng đến tiệm cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.      Trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam được cải thiện rõ rệt. Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp các luận cứ sâu sắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước, khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước, thúc đẩy năng suất, chất lượng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần tạo nên thế và lực mới cho đất nước.   Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng cao, năm 2019 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. Số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam tăng trung bình 26% mỗi năm, lĩnh vực toán học và vật lý luôn đứng ở tốp đầu các nước ASEAN. Việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản phẩm theo chuỗi được đẩy mạnh trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Nhân tố khoa học và công nghệ đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Các nhà khoa học trong nước đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các nhà máy thủy điện lớn, công trình ngầm, nhà cao tầng, cầu dây văng, đường cao tốc đạt chuẩn quốc tế; chế tạo thành công thiết bị cơ khí thủy công và nâng hạ siêu trường, siêu trọng; làm chủ các kỹ thuật tiên tiến trong y tế như ghép đa tạng, sản xuất vaccine.    Kể từ khi vận hành trở lại vào năm 1984, Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã đóng góp lớn vào sự phát triển KT-XH của đất nước. (Ảnh: Quang Nhựt/TTXVN)  Chặng đường phía trước và các giải pháp   Có thể nói, trong điều kiện một nước đang phát triển nguồn lực có hạn, Việt Nam đã có những tiến bộ rất đáng khích lệ, từng bước rút ngắn cách biệt về năng lực khoa học và đổi mới sáng tạo so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, các khó khăn chúng ta phải đối mặt là rất lớn. Năng suất lao động của Việt Nam tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, nhưng vẫn còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Tinh thần khoa học, văn hóa đổi mới sáng tạo chưa thấm sâu vào tư duy, nhận thức cộng đồng xã hội. Khoa học và công nghệ Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế – xã hội.  Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên toàn cầu với các cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi một nước đi sau như Việt Nam cần nhanh chóng đổi mới tư duy, hành động kịp thời, một mặt kiên trì các giải pháp tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong dài hạn, mặt khác bằng mọi giá tìm cách đi riêng để phát triển bứt phá. Để đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trong thời gian tới, cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp sau:       Các thế hệ cán bộ khoa học Việt Nam trong và ngoài nước bằng trí tuệ và tấm lòng tận trung với đất nước, đã đưa nền khoa học và công nghệ nước nhà vượt qua muôn vàn chông gai, thử thách trong thời chiến và phát triển rực rỡ trong thời đại hòa bình và dựng xây đất nước.      1. Trước hết, cần tiếp tục đổi mới hệ thống sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh. Thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia để phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng nhanh.   2. Kích cầu công nghệ và nhu cầu đổi mới sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp đòi hỏi thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế, thương mại, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh. Từ góc độ quản lý khoa học và công nghệ, cần tăng cường năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp thông qua tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ, thành lập viện nghiên cứu, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; mở rộng hình thức tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay từ các quỹ nhà nước đối với các dự án đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác công tư trong triển khai các dự án công nghệ quy mô lớn và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trước hết với các tập đoàn công nghệ công nghiệp lớn trong nước. Về lâu dài, chuyển dịch hoạt động nghiên cứu ứng dụng từ các viện nghiên cứu công lập về khu vực doanh nghiệp như thông lệ quốc tế.    KH&CN đóng góp trên 38% trong sản xuất giống cây trồng. Nguồn: baomoi.com  3. Đối với các trường đại học, nghiên cứu khoa học phải là nhiệm vụ bắt buộc. Đưa nghiên cứu cơ bản về các trường đại học; quan tâm đầu tư kinh phí và cơ sở hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc trong các trường đại học; hình thành các đại học nghiên cứu mạnh ở Việt Nam. Đối với các viện nghiên cứu, thực hiện trao quyền tự chủ tối đa gắn với trách nhiệm giải trình, chịu sự đánh giá độc lập về kết quả hoạt động và công khai kết quả đánh giá. Thúc đẩy gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với khu vực công nghiệp và doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.  4. Tiếp tục đổi mới hoạt động quản lý khoa học và công nghệ theo hướng dỡ bỏ các rào cản, giải phóng tối đa tiềm năng sáng tạo, nới rộng quyền tự do học thuật đi đôi với đánh giá công khai, minh bạch kết quả hoạt động nghiên cứu. Xác định trúng và đúng tầm nhiệm vụ khoa học và công nghệ, xuất phát từ thực tiễn và giải quyết được các yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước, ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp. Gây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh, kết hợp đồng thời biện pháp động viên, khuyến khích và đặt yêu cầu trở lại đối với nhà khoa học; đào tạo, trọng dụng người tài kết hợp với đòi hỏi về tính liêm chính và đạo đức trong nghiên cứu. Đảm bảo phương tiện và môi trường làm việc thuận lợi cho cán bộ khoa học. Đầu tư có hiệu quả cho hạ tầng khoa học và công nghệ, trang thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nguồn lực thông tin và tài chính; tạo lập môi trường học thuật tiên tiến và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lành mạnh.    KHCN và kỹ thuật góp phần đưa ứng dụng công nghệ cao vào các công trình quan trọng của đất nước. Cầu Mỹ Thuận. Nguồn: internet  5. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, đồng thời từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn. Hỗ trợ mạnh hoạt động giao lưu khoa học, trao đổi học thuật tầm khu vực và quốc tế. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới đại diện khoa học và công nghệ Việt Nam ở nước ngoài, nhất là tại các địa bàn trọng điểm. Thu hút, khai thác thế mạnh của đội ngũ các nhà khoa học tài năng là người Việt Nam ở nước ngoài.  ***  Nhìn lại chặng đường lịch sử 60 năm, chúng ta trân trọng và biết ơn sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, các thế hệ tiền bối của Ủy ban Khoa học nhà nước, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Bộ Khoa học, Công nghệ và Mội trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, các thế hệ cán bộ khoa học Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, trong từng thời kỳ lịch sử, đã chung tay viết nên những trang vàng truyền thống của khoa học và công nghệ Việt Nam, bằng cả máu xương và những hy sinh thầm lặng trên con đường sáng tạo, bằng trí tuệ và tấm lòng tận trung với đất nước, để đưa nền khoa học và công nghệ nước nhà vượt qua muôn vàn chông gai, thử thách trong thời chiến và phát triển rực rỡ trong thời đại hòa bình và dựng xây đất nước.    Kíp phẫu thuật lấy – ghép 6 tạng từ một người cho đa tạng bị chết não để ghép cho người bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ảnh: TTXVN  Niềm vinh dự và tự hào đó sẽ tiếp thêm động lực và niềm tin cho lực lượng khoa học và công nghệ nước nhà trong thời đại mới, quyết tâm đoàn kết và nỗ lực sáng tạo để nhân lên gấp bội tiềm năng và nguồn lực trí tuệ Việt Nam, đưa khoa học và công nghệ phát triển lên một tầm cao mới, đóng góp ngày càng to lớn cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững đất nước, xứng đáng với kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. □  —-  * Bài viết đã đăng trên báo Nhân dân ngày 28/11/2019 với tựa đề: Khoa học và Công nghệ Việt Nam: 60 năm xây dựng và phát triển.       Author                Bộ trưởng Chu Ngọc Anh        
__label__tiasang AI nào cho Việt Nam?      Trong khuôn khổ tuần lễ Khoa học dữ liệu do Viện nghiên cứu cao cấp về Toán và trường ĐH Bách khoa HN tổ chức ngày 29/8, GS Hồ Tú Bảo (Viện John von Neumann, ĐHQGTPHCM) đã có buổi nói chuyện tại ĐH Bách khoa HN về AI trong bối cảnh Việt Nam thời kỳ chuyển đổi số.      Giáo sư Hồ Tú Bảo phát biểu tại Diễn đàn ICT Summit 2018. Nguồn: Vietnamnet  Tại buổi nói chuyện đó ông đã nêu một số ý kiến về việc nên chú trọng đầu tư vào những lĩnh vực nào của AI để phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước và tình hình phát triển AI ở Việt Nam.  AI và hạ tầng số  Theo giáo sư Hồ Tú Bảo, AI là lĩnh vực làm cho máy tính và máy móc có những khả năng của trí thông minh của con người, tiêu biểu là khả năng suy luận, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng nhận thức liên quan đến các giác quan của con người, khả năng hiểu ngôn ngữ, và khả năng học tập.  Tuy nhiên, lịch sử hơn 60 năm phát triển của ngành AI đã chỉ ra con đường chính để máy đạt được hầu hết các khả năng AI mong muốn là dựa trên rất nhiều dữ liệu và thuật toán phân tích các dữ liệu này. Vì lý do trên và vì AI đang và sẽ là công cụ chủ chốt của sản xuất và phát triển trong thời chuyển đổi số, trong Diễn đàn ICT Summit 2018 tại Hà Nội vào trung tuần tháng 7 vừa qua, giáo sư Hồ Tú Bảo đã nhấn mạnh nhiệm vụxây dựng hạ tầng số, đặc biệt là hạ tầng dữ liệubên cạnh các loại hạ tầng số quan trọng khác: hạ tầng thiết bị, hạ tầng kết nối, hạ tầng pháp lý, hạ tầng ứng dụng, và hạ tầng nhân lực. Giáo sư Hồ Tú Bảo nói thêm: “Điều quan trọng trong việc xây hạ tầng số là phải xác định được lộ trình cho đúng để không phải xây xong lại phá đi làm lại”.  “Lộ trình đúng” mà ông muốn nêu không chỉ riêng của việc xây hạ tầng số mà còn của những lĩnh vực số khác sẽ xây dựng trên hạ tầng số. Trước hết, hạ tầng số là nền móng để trên đó xây dựng và hoàn thiện chính phủ số, cũng như để các doanh nghiệp từ đó xây dựng nền kinh tế số.  Ông cũng thẳng thắn nêu nhận xét rằng hiện nay nhận thức về hạ tầng số ở ta vẫn hầu như chưa có, chưa đúng và chưa đủ, “hạ tầng mà chúng ta thường nghĩ đến vẫn là hạ tầngtrong thế giới vật lý (physical world), như đường xá, bến cảng, sân bay… mà hầu như chưa có gì về hạ tầng trong thế giới số (cyber world), dù trong thời chuyển đổi số hiện nay ta vẫn đồng thời sống và làm việc trong hai thế giới đó, trong sự liên của chúng.                                                                                        Cần các kho dữ liệu có khả năng chia sẻ và mở  Trong bài viết “Châu Á là nhà tiên phong tiếp theo trong phát triển AI” trên trang news.microsoft.com mới đây, ông Ralph Haupter, chủ tịch Microsoft châu Á lưu ý, việc tạo dựng các cơ sở dữ liệu là cần thiết để phát triển AI, tuy nhiên để tối ưu được các kho dữ liệu này, cần đảm bảo được sáu yếu tố là tính công bằng, sự tin cậy và độ an toàn, bảo mật – quyền riêng tư, tính minh bạch và sự trách nhiệm.  AI cần dữ liệu nhưng ở Việt Nam chưa có nhiều nguồn dữ liệu cần thiết để AI có thể dựa trên đó tạo khả năng thông minh của máy móc, của các hệ thốngđang vận hành xã hội chúng ta. “Từ cấp quốc gia đến địa phương và các bộ ngành, nói chung ta còn thiếu những nguồn dữ liệu cần thiết, thiếu sựkết nối của chúng với nhau”.  Tuy nhiên trong quá trình làm việc giáo sư Bảo cũng gặp được những điểm sáng về xây dựng hạ tầng dữ liệu, một trong số đó là cơ sở dữ liệu của ngành giáo dục và đào tạo. Với nhận thức và nỗ lực, ngành giáo dục đang xây dựng những nguồn dữ liệu cơ bản, chẳng hạn với giáo dục phổ thông đó là nguồn “trường, lớp, thầy, trò”về khoảng 44 nghìn trường, 760 nghìn lớp, hơn một triệu thầy cô và 23 triệu học sinh đã và đang được nhập liệu. Nhiều hiểu biết và quyết định về giáo dục hy vọng sẽ có được khi phân tích nguồn dữ liệu quý báu này.  Phát triển AI theo những hướng nào?  Giáo sư Hồ Tú Bảo đã chia sẻ những suy nghĩ của ông trong tuần lễ Khoa học Dữ liệu, và câu trả lời chung là ta cần những AI gắn với các mục tiêu phát triển của đất nước. Đấy là AI cho một chính phủ điện tử hướng đến chính phủ số, là AI cho nông nghiệp thành thông minh, là AI cho du lịch thành một ngành dịch vụ thông minh, là AI để giao thông an toàn và nhanh hơn, là AI cho chăm sóc sức khoẻ người dân tốt hơn… Những AI này đang cần được nhìn nhận và ưu tiên phát triển hơn các hệ tự động thông minh, vốn rất quan trọng với các nước có nền công nghiệp phát triển nhưng chưa khẩn thiết cho một quốc gia chưa lấy công nghiệp làm trọng tâm phát triển như Việt Nam.  Có thể nói AI ứng dụng được vào bất kỳ lĩnh vực nào nếu ở đó có và chú trọng khai thác c dữ liệu. Những lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước như nông nghiệp, du lịch, giao thông, môi trường, tài chính, y tế… đều có thể có rất nhiều dữ liệu và đều là những mảnh đất quan trọng để trên đó đưa vào giải pháp AI.  Từ đây có thể nhận định rằng trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, lúc này cái AI ta cần nhiều hơn là AI dựa trên khai thác dữ liệu (data-driven AI) trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.  Chẳng hạn đó là AI để tổ chức các kho văn bản của chính phủ, các tỉnh thành, các bộ ngành… để có thể như tìm ra rất nhanh các văn bản liên quan đến một quyết định quan trọng, hoặc trích rút ra các điều khoản từ các văn bản đó cho một nhu cầu nào đó…  Chẳng hạn đó là AI cho nông nghiệp thông minh khi đánh giá được thị trường, đánh giá được cung cầu trong và ngoài nước về các loại sản phẩm để có thể quy hoạch sản xuất, để tránh được mùa mất giá được giá mất mùa… bên cạnh các trang trại thông minh như số đông vẫn đang hướng đến.  Chẳng hạn đó là AI để có thể phát hiện các bất thường trong chi tiêu tiền bạc và sử dụng tài sản nhà nước ngay khi những điều này đang xảy ra.  Chẳng hạn đó là AI để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể làm phân tích kinh doanh khi xây dựng các kế hoạch và đưa ra các quyết định trong sản xuất.  Nói về những điều này, giáo sư Bảo nhắc lại, điều quan trọng là chúng ta phải xây dựng được các cơ sở dữ liệu của quốc gia, địa phương, doanh nghiệp và khai thác được chúng. Đây chính là hạ tầng số thiết yếu của Việt Nam.  Tất nhiên ta cần đào tạo ra lực lượng tinh nhuệ làm AI, cần nối kết được lực lượng AI trong và ngoài nước, và cần một chiến lược AI của Việt Nam.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/ai-nao-cho-viet-nam/2018090610250432p1c785.htm    Author                Thanh Nhàn - Cẩm Tú        
__label__tiasang Alejanrda Melfo: Không thể kết thúc nghiên cứu di sản khoa học ở sông băng      Giữa dòng chảy hỗn loạn của chính trị và kinh tế, các nhà nghiên cứu Venezuela đang phải vật lộn để cứu lấy di sản khoa học ở đỉnh núi băng đang dần tan chảy của đất nước mình.    LTS: Dù cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị ở Venezuela mới bùng phát tới đỉnh điểm vào cuối năm 2018 nhưng những ảnh hưởng của nó đến đời sống khoa học đất nước này đã xuất hiện từ nhiều năm nay. Trả lời Nature năm 2016, nhà hóa học Claudio Bifano cho biết, chỉ có 5% ngân quỹ được đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chương trình giáo dục, nghiên cứu, kiểm soát dịch bệnh và tất cả những gì mà các trường đại học có thể làm. Hậu quả của việc cắt giảm kinh phí đầu tư cho khoa học là, năm 2012, dù số lượng các nhà khoa học vào khoảng 13.000 người nhưng tổng số công bố chỉ tương đương năm 1997, khi Venezuela có chưa đầy 3.500 nhà nghiên cứu và ngân sách đầu tư cho khoa học là 0,3% GDP.   Sự rời bỏ đất nước của các nhà nghiên cứu như những dòng sông băng đang biến mất từng ngày trên các ngọn núi Sierra Nevada khiến khoa học Venezuela rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng mà chưa biết khi nào sẽ có thể lấy lại được sức mạnh của mình.    Alejandra Melfo và Andrés Yarzábal lấy các mẫu vật trên. Nguồn: Ymago Foundation.  Vào năm 1976, Alejanrda Melfo  11 tuổi và gia đình mình hòa vào dòng chảy hàng triệu người Uruguay rời khỏi đất nước đang trong chế độ độc tài quân sự. Melfo còn nhớ niềm vui khi nghe quốc ca Venezuela và nhận ra rằng mái tóc vàng và làn da sáng màu của mình không ăn nhập với những người ở một đất nước, mà các thế hệ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Italia di cư đã tìm thấy chốn trú thân và cơ hội sống.  Khi còn ở tuổi thiếu niên, Melfo và gia đình chuyển đến Mérida – một thành phố có nhiều trường đại học tại các rặng núi phía tây Venezuela và cô trở thành một trong những sinh viên Venezuela gốc nước ngoài của trường Đại học Andes. Với những khoản ngân sách dồi dào từ dầu mỏ, Chính phủ Venezuela đã đầu tư một khoản hào phóng cho nghiên cứu và giáo dục, và danh tiếng khoa học của trường Đại học Andes – trường đại học đầu tiên được kết nối internet ở khu vực Mỹ Latin – vượt ra ngoài phạm vi châu lục. Với Melfo, nó trở thành một ngôi nhà thứ hai: nhà vật lý lý thuyết này trở thành thành viên của khoa trước khi hoàn tất học vị tiến sĩ, sau đó là giáo sư làm việc tại đây trong 25 năm.  Dẫu chính thức về hưu năm 2016, bà vẫn là một trong số ít thành viên của khoa vẫn còn theo đuổi công việc của mình. Dù trong bối cảnh Venezuela đã rơi vào khủng hoảng chính trị và kinh tế, ngôi trường này còn phải chịu đựng cả chuyện tội phạm đường phố và cướp bóc bằng hung khí tấn công trong khuôn viên trường. Nhiều giáo sư và sinh viên rời khỏi trường, để lại những phòng học tối tăm và trống rỗng; khi lạm phát tăng, ngay cả giáo sư cũng chỉ kiếm được vỏn vẹn 3 USD/tháng.  Từng tập trung hết năng lượng vào lý thuyết siêu đối xứng, giờ đây Melfo đang lo ngại: đỉnh núi phía trên thành phố Mérida, nơi có những sông băng còn sót lại của Venezuela, và nếu chúng tan biến, các sinh vật độc đáo nơi đây cũng sẽ biến mất. Bà biết các sông băng của Venezuela chứa đựng một di sản khoa học, và bà quyết định sẽ bảo vệ chúng.  Những di sản văn hóa và khoa học độc đáo  Mérida nằm dưới một cao nguyên ở chân Sierra Nevada de Mérida, một rặng núi có 5 đỉnh cao nhất Venezuela: Humboldt, Bonpland, El Toro, El León, Bolívar, tất cả đều cao gần 5000m so với mực nước biển. Hàng trăm năm qua, các khu vực ở đỉnh Sierra Nevada được bảo vệ khỏi ánh nắng nhiệt đới bằng 50.000 acres băng vĩnh cửu, khu vực này được mở rộng hay thu hẹp tương ứng với các chu kỳ lên xuống của nhiệt độ toàn cầu. Vào năm 1830, khi nhà địa chất học người Ý Agostino Codazzi điều tra khu vực này theo ủy quyền của chính quyền Venezuela độc lập, thời kỳ Băng hà nhỏ (Little Ice Age), vốn kéo dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, đang đến giai đoạn gần kết thúc, và các sông băng đang bị co lại.  Người dân địa phương cũng nhận thấy khác biệt. Tulio Febres Cordero – giáo sư lịch sử, nhà văn và là người kể chuyện về Mérida cũng viết vào năm 1890: “Thời gian gần đây, mọi người đều nói là tuyết tại Sierra đang giảm xuống. Những người lớn tuổi cũng buồn bã chỉ ra là tất cả mọi chỗ có tuyết đều đang biến mất hoàn toàn”.  Trong năm 1910, bản đồ chi tiết của nhà thám hiểm Venezuela Alfredo Jahn đã cho thấy sông băng Sierra Nevada đã rút xuống còn khoảng 2.500 acres. Trong những thị trấn nhỏ trên ngọn núi phía trên thành phố Mérida, một vài người vẫn còn lấy băng làm sinh kế (hieleros): với các loại dao rựa, họ có thể đẽo lấy các chỏm băng từ sông băng, cuốn những khối băng nặng hơn trăm pound trong các lớp lá cây dày rồi cất vào các túi da. Vận chuyển các túi da bằng lừa hoặc gùi trên lưng, các hieleros có thể phải mất 6 giờ để từ đó xuống Mérida. Dù bị hao hụt trên đường đi nhưng các khối băng vẫn có thể dùng để làm kem tại khu vực trung tâm.  Hơn thế kỷ qua, các hoạt động của con người làm gia tăng nhiệt độ trung bình trên quy mô toàn cầu làm gia tăng tốc độ tan chảy của băng tại Sierra Nevada. Năm 2008, nhà sinh thái học Venezuela Ángel Viloria dự đoán là các sông băng của đất nước sẽ biến mất toàn bộ vào năm 2020, khiến Venezuela trở thành quốc gia đầu tiên trên trái đất mất toàn bộ sông băng.  Các quan chức chính phủ đã nhanh chóng phủ nhận dự đoán của Viloria khi cho rằng dữ liệu mà ông trích dẫn không có thật và băng tan không vì các hoạt động của con người mà do chu kỳ nóng lên dài hạn, hay thậm chí một kỷ nguyên mới “lạnh lên toàn cầu” có thể phục hồi được các sông băng.  Rút cục vấn đề lạnh lên toàn cầu đã không đến để cứu vãn tình thế. Từ năm 2009 đến 2011, khi nhà địa chất học Venezula Maximiliano Bezada và đồng nghiệp Mỹ Carsten Braun tiến hành các cuộc điều tra trên mặt đất và không trung về sông băng, họ ước tính diện tích chỉ còn lại 24 acre, tất cả đều trên đỉnh Pico Humboldt.  “Sông băng là một phần nhận diện của các ngọn núi và con người Venezuela, việc biến mất của nó sẽ để lại một khoảng trống – không chỉ là trên thực tế mà có lẽ quan trọng hơn là về mặt tinh thần,” Braun cho biết.  Làm khoa học bất kể điều kiện    Andrés Yarzábal, một nhà vi sinh vật học tại trường Đại học Andes từng nghiên cứu về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Nam Cực, nhận thấy những sinh vật độc đáo có thể biến mất cùng với băng  tuyết. Việc cắt giảm chi tiêu của chính quyền Chávez khiến các khoản đầu tư công cho nghiên cứu hầu như không thể tới tay các nhà nghiên cứu, do đó Yarzábal đành phải xoay xở để có được một số hỗ trợ của Quỹ KH&CN quốc gia cho những gì mà anh gọi là dự án “Vida Glacial”, bao gồm một chuyến thám hiểm tới Pico Humboldt và các sông băng của nó vào năm 2012. Chuyến đi mất 5 ngày trong thời tiết khắc nghiệt và giá lạnh; để tiệt trùng các dụng cụ lấy mẫu, Yarzábal và cộng sự phải hơ chúng trên cả bếp lửa trại trong cái gió lạnh buốt.  Không chỉ quan tâm đến vật lý, Alejandra Melfo đã mở rộng mối quan tâm sang sinh học phân tử và gene, một người bạn đã giới thiệu bà với Yarzábal. Giống như những người khác, bà nhận thấy sự mất mát của tuyết và băng ở Sierra Nevada và bị hấp dẫn cả về nghiên cứu và tính cấp bách của nhiệm vụ mà Yarzábal  thực hiện. Melfo giúp anh tổ chức và tìm kiếm kinh phí đầu tư cho chuyến thám hiểm thứ hai tới khu vực từng là sông băng trên Pico Bolivar. Melfo đã tập luyện cùng một nhà leo núi chuyên nghiệp trong nhiều tháng trước chuyến thám hiểm và thậm chí từng hỗ trợ Yarzábal vượt qua tình trạng say độ cao có khả năng ảnh hưởng đến tính mạng trong cuộc hành trình.    Chỉ còn một số ít các nhà nghiên cứu Venezuela còn ở lại đất nước. Nguồn: The Atlantica.  Cả hai chuyến đi đã tìm được 600 chủng vi khuẩn, hiện giờ được lưu trữ ở các khay đông lạnh sâu tại trường Đại học Andes. Chỉ có khoảng 30% chủng vi khuẩn đã được nhận biết, còn lại phần lớn đều chưa được khoa học biết tới và chúng đều là những vi khuẩn có khả năng phân hủy phốt pho – một dưỡng chất thiết yếu của cây trồng. “Chúng tôi có thể chứng tỏ là chúng có thể hoạt động như những chất kích thích tăng trưởng cây trồng ở nhiệt độ thấp, vì vậy có khả năng hữu dụng như một loại phân bón sinh học”, Yarzábal cho biết. Nhiều loại phân bón có thể cải thiện được việc trồng trọt bền vững ở vùng núi.  Sau  cái chết của Chávez và cuộc bầu cử năm 2013 của người kế nhiệm Nicolás Maduro, việc nghiên cứu khoa học ở Venezuela trở nên nhiều thách thức hơn. Lạm phát khiến các nhà khoa học khó khăn mua các vật tư hóa chất cơ bản của phòng thí nghiệm, và mất ít nhất hàng ngàn đô la để mua đồ ăn, thuốc men và các thiết bị cần thiết cho những chuyến thám hiểm núi băng khác. Nạn cướp bóc đường phố và bạo lực tại Mérida gây nguy hiểm cho các nhà nghiên cứu khi họ làm việc trong các phòng thí nghiệm vào cuối tuần hoặc ban đêm. “Thi thoảng chúng tôi phải dừng thí nghiệm nhiều tuần,” Yarzábal kể.  Cũng giống như Melfo, khi còn nhỏ, Yarzábal từng rời Uruguay tới Venezuela, và nay anh nhận thấy mình phải rời chính đất nước này. Yarzábal đã gia nhập Prometeo – một chương trình thu hút các nhà khoa học tài năng của Chính phủ Ecuador, vì vậy anh và gia đình đã chuyển tới Ecuador trong năm 2014. Hiện giờ anh làm việc tại trường Đại học Cuenca.  Mùa thu trước, chỉ còn duy nhất một nhà vi sinh vật học làm việc trong phòng thí nghiệm của trường Đại học Andes là Johnma Rondón – nhà nghiên cứu trẻ của dự án Vida Glacial. Rondón giúp nhận diện các chủng vi khuẩn từ sông băng – đây là nội dung luận văn tiến sĩ của anh, và có trách nhiệm bảo quản các chủng vi khuẩn này trong phòng thí nghiệm của Yarzábal, một nhiệm vụ không dễ dàng do tình trạng cắt điện thường xuyên ở đất nước. “Nhiều lần vào thứ hai hàng tuần, tôi chỉ thấy lõng bõng nước trong những khay đông lạnh bởi điện bị cắt,” anh kể.  Vào ngày 28/10/2018, đến lượt Rondón cũng rời bỏ Venezuela để trở thành một trong số 3 triệu người Venezuela, tức là 10% dân số di cư. Anh rời phòng thí nghiệm, để lại một số đồ leo núi cho Melfo với hi vọng là bà có thể một lần nữa tới được các sông băng. Melfo ôm anh chia tay.  Những nỗ lực tuyệt vọng  Ở lại Venezuela, Melfo viết blog, không chỉ về các hạt fermions hay các sông băng sẽ không còn tồn tại lâu nữa mà còn miêu tả sự vắng mặt của đồng nghiệp, các phòng thí nghiệm vắng lặng, những ngôi nhà trống rỗng chỉ có người giúp việc tưới cây để đổi lấy chốn trú thân.  Melfo và một số đồng nghiệp trong trường tiếp tục bảo vệ các tủ lạnh này, dẫu tình trạng cắt điện diễn ra thường xuyên hơn và thời gian cắt điện cũng dài hơn. Không còn nguồn lực để tiếp tục làm việc về sinh học phân tử, một lần nữa bà mở rộng các mối quan tâm nghiên cứu, giờ là sinh thái học. Bà có một số sinh viên ngành sinh học còn sót lại, họ đang kiểm tra những tác động của biến đổi khí hậu vào sự đa dạng sinh học trên các vùng núi cao – một phần của dự án Gloria Andes. Họ phải viết các mẫu dữ liệu bằng tay bởi máy in đã hết mực từ lâu. Giày cao su hỏng, lều cắm trại, thậm chí cả găng và khăn quàng cổ đều là đồ đi mượn. Vật tư hóa chất được cất trong hộp các tông từng được dùng để đựng các nguyên liệu thực phẩm trợ cấp của chính phủ. “Người thì góp dầu ăn, người góp gạo và khi có đủ các thứ, chúng tôi lên đường”, Melfo nói. Nếu thời tiết xấu trong cả ngày làm việc ở hiện trường, họ giương ô lên và tiếp tục bởi việc hoãn chuyến đi có thể đòi hỏi quá nhiều tiền.  “Năm năm trước, thậm chí là ba năm trước, chúng tôi còn có học bổng cho sinh viên và kinh phí đi thực địa”, Melfo kể. “Giờ đây chúng tôi là một đất nước nghèo đói, không có tiền cho công việc nghiên cứu”.  Melfo vẫn bền bỉ tìm kiếm đầu tư của quốc tế và sự hỗ trợ cho việc nghiên cứu sông băng ở Venezuela. Bà biên tập cuốn Se Van Los Glaciares (Những sông băng đang tan), gồm các chương do Yarzábal, Bezada và nhiều người khác viết, thu hút sự chú ý của truyền thông quốc tế khi nó được xuất bản vào mùa hè vừa qua. Bà vẫn còn hi vọng trở lại các đỉnh núi cao của dãy Sierra Nevada: bà muốn thấy những loại vi khuẩn nào còn lại trong những tảng băng và băng tiết lộ những gì khi tan rã. Ngay cả khi các sông băng hoàn toàn biến mất, bà cũng sẽ nêu dữ liệu thu thập trong từng thập kỷ và các mẫu vi khuẩn còn sống sót có thể được sử dụng để cho những nghiên cứu so sánh tại vùng Andes cũng như bất cứ nơi nào. “Việc nghiên cứu về sông băng của Venezuela không thể kết thúc”, bà nói.  Melfo dành thời gian trong kỳ nghỉ Giáng sinh cùng gia đình ở Uruguay nhưng bà trở lại phòng thí nghiệm trống rỗng của mình, với những đôi ủng thủng và các tập dữ liệu viết tay. Bà trở lại một cách tự nguyện với đất nước đã mở cánh tay đón mình khi còn nhỏ. Bà nói bà không muốn rời nơi thực sự yêu thương mình hay bỏ lại những sinh viên còn lại, những người vẫn còn tiếp tục thực hiện nghiên cứu của họ. Rặng Sierra Nevada ở Mérida, bà nói, là nhà bà– dẫu cho hiếm khi ở đó còn thấy tuyết rơi. □  Kinh phí đầu tư cho khoa học của Vênzuela ngày càng tụt dốc, ví dụ năm 2018, trường Đại học Trung tâm Venezuela, ngôi trường số một quốc gia này, chỉ nhận được 60% kinh phí đề xuất còn năm 2019 có tới 90% kinh phí đề xuất bị cắt giảm. Hậu quả là các nhà khoa học Venezuela đã tìm cách rời khỏi đất nước, ví dụ theo số liệu năm 2016 của Nature, họ đã mất đi ít nhất 1.500 nhà nghiên cứu. Năm 2016, số lượng công bố quốc tế của Venezuela sụt giảm 40% so với thời kỳ 2008 – 2012, từ 1.600 xuống 1.000. Số lượng những người được đào tạo bài bản ở lĩnh vực khác cũng ra đi. Theo thống kê năm 2013 của tổ chức Piel-Latinoamericana, 1.100 người trong số 1.800 bác sỹ tốt nghiệp các trường đại học y khoa Venezuela đã ở nước ngoài.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.theatlantic.com/science/archive/2019/01/last-glacier-venezuela/579613/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ cần chống quan liêu và lắng nghe nhà khoa học      Không khó để thấy rằng thiếu kinh phí là một trong những lý do khiến nền KH&amp;CN của Ấn Độ chưa thể vươn lên ngang tầm các quốc gia hàng đầu thế giới, khi mà tỷ trọng GDP dành cho R&amp;D của quốc gia này còn dưới 1%. Tuy nhiên, một bài báo đăng trên Nature nhận định rằng dù đầu tư thêm tiền thì cũng chưa thể sớm khắc phục những nhược điểm nhiều mặt của KH&amp;CN Ấn Độ.    Mở đầu bằng sự ghi nhận một số thành tựu của Ấn Độ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, và hàng không vũ trụ, nhưng bài báo mang tựa đề “Một quốc gia có tham vọng” cũng nhanh chóng liệt kê ra bốn điểm yếu nghiêm trọng gây kìm hãm nền KH&CN Ấn Độ là nguồn nhân lực KH&CN còn nhỏ bé, thiếu các đại học chất lượng cao, ngành công nghiệp chế tạo thiếu sức sống, và căn bệnh hành chính quan liêu còn trầm kha. Hậu quả dẫn tới là nhiều nhà khoa học Ấn Độ bỏ ra nước ngoài học tập và làm việc.    Sự hạn chế nguồn nhân lực KH&CN của Ấn Độ – quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới – liên quan mật thiết tới hạn chế về số lượng các trường đại học có chất lượng và vấn đề tạo công ăn việc làm cho nhà nghiên cứu khi họ ra trường. Mặc dù Chính phủ Ấn Độ đã có những bước cải tổ nhằm giải quyết các vấn đề này, cụ thể như xây dựng những chính sách ưu đãi thuế tốt hàng đầu thế giới dành cho các khoản đầu tư R&D, nhưng tác động trong thực tế còn hạn chế.    Vướng mắc nổi cộm dẫn tới tình hình trên là cơ chế hành chính quan liêu, khiến kinh phí nhà nước cấp cho các dự án nghiên cứu bị chậm trễ nhiều tháng, còn thủ tục nhân sự có thể mất tới vài năm. Có tới một phần ba các phòng thí nghiệm quốc gia Ấn Độ dưới sự phụ trách của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp (CSIR) đang thiếu người lãnh đạo lâu dài, thậm chí ngay cả người điều hành hội đồng cũng chỉ đang giữ vị trí tạm thời, bài báo cho biết.     Để khắc phục tình trạng quan liêu trong quản lý KH&CN, Ấn Độ đã có chính sách mời và giao trách nhiệm quản lý cho các nhà khoa học tài năng có kinh nghiệm trong công tác quản lý. Krishnaswamy VijayRaghavan, một nhà sinh học danh tiếng, đã được mời làm Vụ trưởng Vụ Công nghệ Sinh học của Bộ KH&CN Ấn Độ từ năm 2013, hiện đang nỗ lực xây dựng một số đổi mới trong cơ chế chính sách KH&CN, đặc biệt là thay đổi quy trình thủ tục rườm rà trong đăng ký xét duyệt các dự án khoa học.     Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng năng lực, kinh nghiệm của các nhà khoa học trong nước, Ấn Độ chưa thúc đẩy được quan hệ hợp tác với các nhà khoa học uy tín nước ngoài – đặc biệt là chưa phát huy được mối quan hệ gắn bó truyền thống với giới khoa học Anh – trong bối cảnh hợp tác quốc tế trong khoa học của Ấn Độ còn khá hạn chế.    Bên cạnh đó, chính phủ và các cơ quan quản lý của Ấn Độ trong nhiều trường hợp vẫn chưa thực sự lắng nghe tiếng nói của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế, thậm chí còn thể hiện thái độ tiêu cực trước những tiếng nói phản biện, điển hình là trong các lĩnh vực năng lượng, khí hậu, và nhân quyền, nhất là khi những tiếng nói này xung đột với mong muốn của chính phủ là nhanh chóng triển khai các dự án kinh tế. Bài báo đăng trên Nature nhấn mạnh rằng thay vì phớt lờ hoặc hạn chế tiếng nói phản biện, Ấn Độ nên cải thiện quy trình thẩm định nhà nước đối với các dự án, sao cho hài hòa giữa mục tiêu phát triển với bảo vệ con người và môi trường.    Thanh Xuân lược dịch     Nguồn:  http://www.nature.com/news/a-nation-with-ambition-1.17520    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ đặt muốn trở thành một trong năm cường quốc khoa học      Ấn Độ đặt mục tiêu phát triển khoa học trở  thành một trong năm cường quốc khoa học vào năm 2020, và sẽ gấp đôi  nguồn kinh phí cho nghiên cứu lên thành 2% GDP trong vòng 5 năm, theo  tuyên bố của Thủ tướng Manmohan Singh.     Tuyên bố của ông đưa ra trong dịp chính sách mới về khoa học, công nghệ, và đổi mới sáng tạo được công bố tại phiên khai mạc Đại hội Khoa học Ấn Độ tại Kolkata hôm 3/1. Chính sách dự kiến sẽ tăng số lượng nhà khoa học ở Ấn Độ thêm 66% vào năm 2017, và tăng cường sự tham gia nghiên cứu của khu vực tư nhân. Một số mục tiêu trong chính sách mới, bao gồm mục tiêu chi phí, đã được công bố trong Kế hoạch Phát triển Mười hai Năm của Ấn Độ, công bố ngày 27/12/2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ấn Độ với kinh nghiệm tự lực phát triển năng lượng nguyên tử      Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử thế giới đã ghi nhận Ấn Độ, quốc gia xây dựng chương trình năng lượng hạt nhân theo cách thức riêng của mình, đó là triển khai các nghiên cứu cùng với quá trình nội địa hóa công nghệ và gắn kết chặt chẽ với các ngành công nghiệp.      Nhà máy điện hạt nhân Kudankulam. Nguồn: IBG News.  Vào thời điểm mới giành độc lập, nhu cầu năng lượng để phục vụ công nghiệp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đất nước đã trở thành một trong những điểm ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Ấn Độ. Giữa lúc đó, nhà vật lý lý thuyết Homi J Bhabha –người sau này trở thành kiến trúc sư trưởng chương trình phát triển năng lượng nguyên tử (NLNT) Ấn Độ, đã thấy tiềm năng năng lượng từ chuỗi phản ứng phân hạch hạt nhân và sớm nhận ra khi trữ lượng than thấp, chủ yếu tập trung ở phía đông còn tiềm năng thủy điện lại bị phân tán và phụ thuộc vào thời tiết thì với ứng dụng làm ra điện, NLNT sẽ đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Ấn Độ như ông viết trong bức thư gửi Sir Dorabji Tata Trust năm 1944. Với tầm nhìn của mình, Homi J Bhabha đã đặt mốc khởi đầu cho sự phát triển của NLNT Ấn Độ.    Ông đã đề xuất ý tưởng về chương trình điện hạt nhân lên Jawaharlal Nehru – Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, và nhận được sự đồng thuận. Luật NLNT thông qua vào tháng 4/1948, Ủy ban NLNT (nay là Bộ NLNT) được thành lập 4 tháng sau đó (và được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng) đã trở thành những viên gạch đầu tiên xây dựng chương trình NLNT. Kể từ đó tới nay, không chỉ Nehru mà cả những người kế nhiệm ông cũng ủng hộ ước mơ của Homi J Bhabha: đưa NLNT Ấn Độ đạt tầm quốc tế, thậm chí ngang hàng với những quốc gia tiên tiến.  Xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển lực lượng  Hầu hết thành công mà NLNT Ấn Độ có được là từ tầm nhìn và quyết tâm của Homi J Bhabha. Khi bắt tay vào công việc, để có được cái nhìn toàn diện về nguồn nguyên vật liệu, ông đã đề nghị Ban Khoáng sản nguyên tử (Atomic Minerals Division) của Bộ NLNT khảo sát về trữ lượng các mỏ nguyên liệu của đất nước. Kết quả cho thấy, Ấn Độ có rất ít uranium nhưng sở hữu nguồn thorium– những nguyên liệu cần thiết cho các phản ứng phân hạch, lớn bậc nhất thế giới (chiếm 1/3 trữ lượng thế giới). Đây là một trong những lý do quan trọng để ông lựa chọn công nghệ lò phản ứng nước nặng áp lực (PHWR) – sử dụng uranium tự nhiên vì Ấn Độ chưa đủ năng lực tách chiết, làm giàu uranium, và lò phản ứng tái sinh nhanh (FBR) – sử dụng đồng vị thorium, rồi lập một chương trình phát triển gồm ba giai đoạn dựa trên ý tưởng về một chu trình nhiên liệu kín (closed fuel cycle), trong đó nhiên liệu đã qua sử dụng được tái xử lý thành nguồn nhiên liệu mới và kết quả thu được từ giai đoạn này được áp dụng ngay ở giai đoạn kế tiếp.  Để thực hiện được chương trình phát triển ba giai đoạn này, Ấn Độ cần nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở vật chất đủ mạnh. Từ một xuất phát điểm rất thấp, Ấn Độ giải quyết vấn đề này như thế nào?  Trước hết về nhân lực, Homi J Bhabha đã thực hiện bằng nhiều cách: gửi gần 30 nhà nghiên cứu trẻ tới Pháp – nơi ông có nhiều mối quan hệ quốc tế, để học hỏi kinh nghiệm thiết kế lò Rapsodie làm cơ sở cho lò FBR ở Ấn Độ; hợp tác với Canada – nơi cung cấp thiết kế lò nước nặng CANDU và TS. W.B. Lewis (người thiết kế lò) là bạn cùng học ở Cambridge, để nghiên cứu chuyển giao công nghệ; và mời nhiều nhà khoa học ở Anh như Cockcroft, Blackett – nơi ông từng nhiều năm theo học đại học và làm tiến sỹ vật lý lý thuyết, tới Ấn Độ giảng dạy. Từ năm 1957, ông mở những khóa huấn luyện thường xuyên (Training School) về KH&CN hạt nhân cho các kỹ sư và nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và đây là nguồn cung cấp nhân lực chính cho chương trình phát triển điện hạt nhân. Trong cuộc trả lời phỏng vấn trên tạp chí Resonance (Ấn Độ) vào tháng 5/2010, nhà vật lý năng lượng cao B V Sreekantan – học trò và cộng sự của Homi J Bhabha tại Viện nghiên cứu cơ bản Tata (TIFR), đã kể về nỗ lực thu hút nhân tài của vị kiến trúc sư trưởng chương trình NLNT Ấn Độ trong những năm đầu xây dựng, “nhân những chuyến công cán, Bhabha đã chọn được những người xuất sắc nhất trong số những nhà khoa học Ấn Độ đang nghiên cứu tại nước ngoài, mời họ về nước làm việc tại Viện TIFR và Bộ NLNT Ấn Độ. Họ đã trở thành nhân tố chủ chốt của chương trình theo cách như thế”.    Homi J Bhabha trình bày về công nghệ lò phản ứng nghiên cứu CIRUS. Nguồn: Viện Tata.  Với tinh thần tạo điều kiện cho các nhà khoa học và kỹ sư “học qua hành” (learning by doing), vào năm 1956, Bộ NLNT Ấn Độ đã quyết định xây dựng một nhà máy xử lý uranium, cung cấp nhiên liệu cho lò phản ứng nghiên cứu ở quy mô thử nghiệm ở Viện nghiên cứu NLNT (sau được đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Bhabha BARC) tại Trombay, cùng với việc xây dựng lò APSARA – lò nghiên cứu dạng bể bơi. Với nỗ lực này, Ấn Độ đã trở thành quốc gia đầu tiên ngoài Liên Xô cũ đủ khả năng tự thiết kế và xây dựng lò phản ứng. Bốn năm sau, Ấn Độ xây dựng thành công CIRUS – lò nghiên cứu trên cơ sở lò nước nặng của Canada. “CIRUS và APSARA đã trở thành những trung tâm xuất sắc trong đào tạo. Những thực nghiệm từ hai lò phản ứng này đã góp phần đem lại sự tự tin cần thiết cho chúng tôi cũng như hiểu biết về chuyên môn trong thiết kế và vận hành an toàn nhiều lò phản ứng khác”, ông S A Bhardwaj – chủ tịch Cơ quan An toàn hạt nhân Ấn Độ (Nuclear Safety Regulatory Authority of India) và chủ tịch Ban điều hành NLNT Ấn Độ (Atomic Energy Regulatory Board AERB), đánh giá. Trên thực tế, những nghiên cứu trên lò CIRUS giúp Ấn Độ chuẩn bị thành công giai đoạn 1 chương trình điện hạt nhân thông qua việc nắm bắt được những phức tạp trong xử lý uranium tự nhiên cũng như những vấn đề thiết yếu về công nghệ lò PHWR. Do Canada rút khỏi hợp tác về lò PHWR với Ấn Độ vào năm 1974 nên kể từ đó, các nhà khoa học và kỹ sư quốc gia này đã phải tự lực trong thiết kế và xây dựng.  Trong những tài liệu đề cập đến lịch sử phát triển NLNT Ấn Độ, nhiều nhà nghiên cứu Ấn Độ cũng bình luận, năng lực trong tất cả các khía cạnh của R&D, thiết kế vật lý lò, thiết kế kỹ thuật, phân tích an toàn… cũng được khởi đầu từ đây cũng như từ hệ thống các lò phản ứng nghiên cứu mà Trung tâm BARC sở hữu sau này như lò PURNIMA, KAMINI… Những hiểu biết và năng lực trong các lĩnh vực cơ bản của công nghệ hạt nhân của các nhà nghiên cứu và kỹ sư Ấn Độ đã được tích lũy trước khi họ bước vào vận hành những nhà máy điện hạt nhân thực thụ.  R&D gắn kết với công nghiệp  Muốn thực hiện được tốt chương trình điện hạt nhân, cần phải sẵn sàng có một nền công nghiệp phát triển ở trình độ cao về cơ khí, vật liệu thép hợp kim, tự động điều khiển, điện tử, tin học… và những yêu cầu khắt khe và chặt chẽ của công nghệ hạt nhân. Để đáp ứng được điều đó, năm 1967 họ thành lập công ty nhà nước Uranium Ấn Độ (Uranium Corporation of India Limited UCIL) tại bang Jharkhand chuyên khai thác và chế biến uranium; năm 1968 thành lập công ty Tổ hợp Nhiên liệu hạt nhân (Nuclear Fuel Complex NFC) tại thành phố Hyderabad để sản xuất nhiên liệu hạt nhân, các cấu trúc hợp kim zirconium, các vật liệu hình ống của các vật liệu đặc biệt dùng để chế tạo lò phản ứng; năm 1967 thành lập công ty điện tử Ấn Độ (Electronics Corporation of India Limited ECIL) cũng tại Hyderabad sản xuất các thiết bị điện tử hạt nhân, các thành phần thiết bị điện tử, các hệ thống điều khiển điện tử hạt nhân… Giáo sư vật lý lý thuyết Bhalchandra Udgaonkar đã gọi đây là “các công ty spinoff” của Bộ NLNT Ấn Độ. Do trong những năm 1970, các doanh nghiệp Ấn Độ mới chỉ sản xuất được một số sản phẩm nổi bật như đường, phân bón, xi măng và một số loại hóa chất, vì vậy Bộ NLNT Ấn Độ đã chủ động tiến hành đánh giá năng lực của các cơ sở công nghiệp Ấn Độ và lựa chọn các nhà cung cấp có tiềm năng. Tuy nhiên, Bộ NLNT Ấn Độ không để các công ty này phải tự thân vận động. Năng lực sản xuất của họ đã được nâng lên thông qua R&D cùng các viện nghiên cứu hoặc các tổ chức khác của Bộ: Trung tâm BARC, Viện TIFR, Trung tâm nghiên cứu lò phản ứng (sau đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Indira Gandhi – Indira Gandhi Centre for Atomic Research IGCAR), Trung tâm Công nghệ tiên tiến Raja Rammana (Raja Ramanna Centre for Advanced Technology  RRCAT)… Các bên sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và cả kinh phí sản xuất thử nghiệm, một sự kết hợp đầy ý nghĩa trong thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước giữa cơ quan chính phủ, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.        “CIRUS và APSARA đã trở thành những trung tâm xuất sắc trong đào tạo. Những thực nghiệm từ hai lò phản ứng này đã góp phần đem lại sự tự tin cần thiết cho chúng tôi cũng như hiểu biết về chuyên môn trong thiết kế và vận hành an toàn nhiều lò phản ứng khác”. (S A Bhardwaj – chủ tịch Cơ quan An toàn hạt nhân Ấn Độ)      Nỗ lực của các bên tham gia đã được đền đáp: năm 1974 hình thành nhà máy sản xuất nhiên liệu hạt nhân và xây dựng lò luyện nhiệt độ cao để nung kết viên ô xít urani (UO2), trên cơ sở đó Ấn Độ đã thiết kế được nhiều lò nung sản xuất các vật liệu thép hợp kim, nhiên liệu hạt nhân đến các chi tiết, thiết bị, máy bơm chân không, máy quay tốc độ cao, hệ thống điều khiển điện tử… vào những năm 1980.  Cũng xuất phát từ thực tế đó mà sau này, người ta thường xuyên bắt gặp những từ “tự lực” (self-reliance), sản xuất trong nước (indigenous, in-house) trong các báo cáo với Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA) và công bố quốc tế đề cập đến chương trình phát triển NLNT, điện hạt nhân Ấn Độ.   Tác động đến khoa học và ngành công nghiệp  Theo số liệu tổng kết thì chương trình NLNT đã trở thành một chương trình hợp tác đa ngành với sự tham gia của 63 tổ chức trong và ngoài Bộ NLNT. Có lẽ trên đất nước Ấn Độ, hiếm có dự án nào lại gắn kết nhiều ngành khoa học đến thế, không chỉ vật lý hạt nhân, vật lý lò phản ứng, hóa phóng xạ, hóa nước mà còn cả cơ khí, khai mỏ, luyện kim, tự động hóa, điện tử, công nghệ thông tin, khoa học vật liệu… Thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, năng lực nghiên cứu của các lĩnh vực này đã được nâng lên rõ rệt.  Dưới cái nhìn của giáo sư Srikumar Banerjee, khoa học vật liệu và khoa học máy tính là hai ví dụ điển hình về sự “hưởng lợi” trực tiếp từ việc tham gia chương trình điện hạt nhân. Theo phân tích của ông trong bộ sách “Saga Atomic energy in India” (tạm dịch “Câu chuyện về năng lượng nguyên tử Ấn Độ”) – cuốn “lược sử” ngành NLNT nước này, chu trình nhiên liệu kín mà Ấn Độ thực hiện, từ việc khai khoáng, phân tích, tách chiết nguyên liệu uranium, thorium, zicornium… đến lưu trữ nhiên liệu đã qua sử dụng và tái chế thành vật liệu hỗn hợp (MOX fuel) đòi hỏi sự hợp tác của nhiều bên liên quan. Kết quả là trong vòng 6 thập kỷ nghiên cứu về vật liệu hạt nhân ở BARC, họ đã tìm ra được những vật liệu siêu tinh khiết (high pure materials) bằng những kỹ thuật tiên tiến và thiết bị đặc biệt để có thể chế tạo điện những hợp phần thiết bị trong lò phản ứng. Điều đó đã tác động rất lớn đến quá trình phát triển của ngành khoa học vật liệu Ấn Độ và góp phần đưa Ấn Độ trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á Thái Bình Dương về khoa học vật liệu. Viện Công nghệ Ấn Độ xếp hạng 20 trong danh sách các viện nghiên cứu về khoa học vật liệu được trích dẫn nhiều nhất. Còn với ngành khoa học máy tính, họ cũng phải nỗ lực để đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng về năng lực tính toán của cộng đồng khoa học và kỹ sư của chương trình điện hạt nhân, ví dụ chỉ riêng quá trình nóng chảy để sản xuất các loại hợp kim được tạo ra trên cơ sở những kim loại như Ni-Ti, Cu-Zn-Al và Fe thì một mô hình tính toán riêng biệt cho ứng xử cơ nhiệt của hợp kim đã được thiết lập. Trên nền tảng sản xuất các phần cứng điện tử, công ty ECIL đã chế tạo được nhiều phần cứng điện tử cho những ứng dụng xã hội khác.  Trong cuốn “Homi Bhabha and the computer revolution” (tạm dịch “Homi Bhabha và cuộc cách mạng máy tính”) cũng đã đề cập đến Trombay Digital Computer (TDC 12) – một trong những chiếc máy tính đầu tiên của Ấn Độ, do ECIL thiết kế vào năm 1969 như một hệ quả của chương trình.  Nhưng những tác động của ngành NLNT với đất nước Ấn Độ không chỉ có thể, càng không chỉ dừng lại ở mục tiêu sản xuất điện để đóng góp vào việc giữ vững an ninh năng lượng. Chương trình điện hạt nhân đã tác động nhiều mặt đến các ngành công nghiệp nội địa khi đặt ra những yêu cầu buộc phải đáp ứng. “Saga Atomic energy in India” đã nêu, “các công nghệ được phát triển từ quá trình chuẩn bị vật liệu đến sản xuất ở quy mô công nghiệp, từ thiết kế đến chế tạo, từ chuyển giao công nghệ đến việc phát triển trong ngành công nghiệp, Bộ NLNT Ấn Độ đã góp phần sản sinh nhiều công ty spinoff cho đất nước… Và trong chương trình nội địa hóa công nghệ, nhiều ngành công nghiệp Ấn Độ đã được khuyến khích chấp nhận thách thức khi phát triển thiết bị theo những tiêu chuẩn vô cùng khắt khe, điều đó đã góp phần đẩy mạnh nền sản xuất cho đất nước.   ***  Năm 2011, nhà vật lý hạt nhân Siegfried Hecker, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos, đã nhận xét về Ấn Độ trên Physics Today “quốc gia này có chương trình NLNT với nhiều đổi mới sáng tạo và tham vọng về công nghệ bậc nhất thế giới”. Ngày nay, chương trình phát triển ba giai đoạn vẫn tiến về phía trước với những mục tiêu không ngừng được nâng lên: phát triển và thương mại hóa công nghệ lò FBR để nâng mức đóng góp vào kế hoạch năng lượng của đất nước và trở thành nhà cung cấp công nghệ cho thị trường quốc tế.   Thanh Nhàn tổng hợp  ——  Tài liệu tham khảo chính:  1. “Saga Atomic energy in India”. Nguồn: http://www.dae.nic.in/?q=node/91  2. “Indian nuclear power programe: Past, present and future”. Nguồn: https://www.ias.ac.in/article/fulltext/sadh/038/05/0775-0794  3. “Growth of nuclear energy in India: Industrial challenges and prospects”. Nguồn: http://www.cstep.in/uploads/default/files/publications/stuff/CSTEP_Growth_of_Nuclear_Energy_in_India_Report_2013.pdf          Author                Quản trị        
0.14035087719298245
__label__tiasang An toàn của hệ thống điện hạt nhân tại Pháp cần được cải thiện, thông cáo của ASN      PARIS (Reuters) 03/01/2012 – Độ an toàn của các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) của Pháp là ổn thỏa, và không cái nào trong số đó bị yêu cầu dừng chạy ngay lập tức, nhưng cần có những đầu tư để phòng ngừa các tình trạng “cực hiểm”, theo công bố hôm thứ ba của Cơ quan An toàn hạt nhân (ASN) .        ASN chịu trách nhiệm từ tháng ba năm ngoái, sau thảm họa của trung tâm Fukushima, Nhật Bản, việc kiểm định về độ an toàn trước hết cho 79 cơ sở hạt nhân của Pháp, trong đó có 58 lò phản ứng đang hoạt động, lò phản ứng EPR Flamanville đang được xây dựng, và các cơ sở quản lý nguồn nhiên liệu.  “Sau khi đánh giá thêm về an toàn của các trung tâm hạt nhân đáng lưu ý, ASN cho rằng các cơ sở đã được thanh tra thỏa mãn mức độ đầy đủ về an toàn, không cơ sở nào ở trong tình trạng phải bị dừng hoạt động ngay lập tức “, cơ quan này cho biết  trong một thông báo được xuất bản trước khi trình bày các kết quả kiểm định.  “Đồng thời, ASN cho rằng việc tiếp tục hoạt động của các trung tâm này đòi hỏi nâng cao sớm nhất có thể, ngoài biên độ an toàn hiện có, năng lực của các trung tâm này để đối phó được các tình huống cực hiểm.”  Thủ tướng Francois Fillon, trong một tuyên bố, đã yêu cầu các bộ trưởng liên quan “theo dõi sít sao để đảm bảo rằng các trung tâm hạt nhân này thực hiện được đầy đủ toàn bộ các yêu cầu của ASN trong thời gian biểu đã được quyết định.”  Đối với chủ tịch của ASN, André-Claude Lacoste, các biện pháp bắt buộc cho việc vận hành các trung tâm này sẽ là “to lớn”.  “Chỉ cần một ví dụ: một tổ máy phát diesel phụ đề phòng có giá từ 30 triệu đến 50 triệu euros. Mỗi lò phản ứng phải được cung cấp một tổ máy này, và như thế tổng chi phí sẽ vào khoảng hai tỷ euro,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ Le Monde.  NHIỀU TỶ EUROS CHO ĐẦU TƯ  Báo cáo của ASN chi tiết hóa, rằng EDF (hãng điện lực Pháp), nhà điều hành của 58 lò phản ứng, phải trình bày trước ngày 30 tháng 6 tới các năng lực cho phép để thiết lập được một “lõi cứng” trong mỗi trung tâm hạt nhân để “làm chủ được các chức năng an toàn cơ bản trong những tình huống cực hiểm. “  ASN nói thêm trong báo cáo của mình, rằng EDF phải thiết lập dần được từ nay đến cuối năm 2014  “lực lượng phản ứng nguy cấp về hạt nhân”, thiết chế này phải thỏa mãn việc đảm bảo sơ tán các nhóm làm việc khỏi một cơ sở gặp sự cố và cung ứng các nguồn lực ứng phó khẩn cấp trong vòng 24 giờ.  Việc kiểm định trong những tháng gần đây đã tạo nên một cuộc tranh luận về việc có nên đóng cửa nhà máy Fessenheim (Haut-Rhin), trung tâm hạt nhân lâu đời nhất của Pháp, hoạt động từ năm 1978.  Trước khi đưa ra báo cáo này của ASN, bộ trưởng bộ sinh thái, Nathalie Kosciusko-Morizet, đã không loại trừ một quyết định đóng cửa nhà máy này nếu chi phí của việc bảo dưỡng nâng cao an toàn cho nó tỏ ra quá đắt.  “Chỉ có hai giải pháp: hoặc ASN khuyến cáo đóng cửa, và sau đó sẽ đóng cửa, hoặc ASN khuyến cáo các công việc quan trọng phải thực hiện và sau đó sẽ có một sự lựa chọn giữa thi hành công việc đầy đủ, hoặc đóng cửa nếu công việc đó tỏ ra quá đắt “, bà nói trên kênh RMC BFM-TV.  Chỉ còn bốn tháng rưỡi nữa là đến vòng đầu tiên của cuộc bầu cử tổng thống, các kết quả kiểm định của ASN sẽ châm ngòi cho các cuộc tranh luận về tương lai của điện hạt nhân ở Pháp, trong khi một số nước, trong đó có Đức, đã công bố quyết tâm đóng cửa các lò phản ứng của họ sau thảm họa của Fukushima.  Ở Pháp, điện hạt nhân cung cấp gần ba phần tư của sản lượng điện, và khoảng 18% tổng thể năng lượng được tiêu thụ../.  HOÀNG Hồng-Minh chuyển ngữ  Benjamin Mallet và Marc Angrand (http://fr.news.yahoo.com)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Anh: Cấp kinh phí khoa học dựa trên đánh giá mức “ảnh hưởng”      Các nhà cấp kinh phí nghiên cứu ở Anh đã phải vất vả trong 4 năm qua để tìm cách đo lường lợi ích của nghiên cứu đối với xã hội và nền kinh tế, một phần của công cuộc cải tổ hệ thống đánh giá khoa học tại các trường Đại học ở Anh. Nhưng Hội đồng Kinh phí cho Giáo dục cấp cao (HEFCE), tổ chức chịu trách nhiệm chính trong cuộc cải tổ, mới đây cho rằng họ đã tìm ra một phương pháp khả thi.&#160;    Một nghiên cứu tiền trạm kéo dài 1 năm mới được công bố đã cho thấy rằng việc sử dụng các hội đồng kiểm chứng chuyên môn (peer-review panels) trong đánh giá “ảnh hưởng” của các nghiên cứu là “khả thi” và “đáng tin cậy”.   “Chúng tôi xem đây là một thành công,” David Sweeney, trưởng ban nghiên cứu của HEFCE, tuyên bố.   Dự kiến tới năm 2014, phương pháp mới sẽ chính thức được bổ sung vào hệ thống thẩm định nghiên cứu của quốc gia, nhằm giúp phân phối hơn 1,5 tỷ bảng (tương đương 2,4 tỷ USD) hàng năm của ngân sách công dành cho các trường đại học. Ảnh hưởng của nghiên cứu dự kiến sẽ chiếm tới 25% đánh giá chất lượng nghiên cứu của mỗi khoa chuyên môn trong trường đại học.  Nhiều tổ chức khẳng định rằng nay họ đã được giải tỏa mối lo ngại trước đây, rằng việc chú trọng vào ảnh hưởng của nghiên cứu sẽ gây thiên lệch kinh phí cho những nghiên cứu thiên về ứng dụng. Tuy nhiên, một số vẫn băn khoăn về phương thức hoạt động của hệ thống mới.   Đo lường mức ảnh hưởng như thế nào?  Hệ thống được dự trù — được gọi là Cơ sở Ưu điểm Nghiên cứu (REF) — sẽ thay thế cho Quy trình Đánh giá Nghiên cứu (RAE) để trở thành hệ thống thẩm định mới của quốc gia, vốn thiếu khả năng đánh giá hiệu quả đối với xã hội.   Trong nghiên cứu tiền trạm về đánh giá ảnh hưởng, các khoa trong các trường đại học được yêu cầu cung cấp bản đánh giá tác động của một phần mười số nghiên cứu họ tiến hành trong vòng 17 năm qua. Những bản đánh giá này được thẩm định bởi các ủy ban chuyên môn gồm các nhà khoa học trong giới học thuật và các ngành công nghiệp, để xếp hạng từ mức 4 sao (tốt nhất) tới mức không được xếp hạng.   Trong nghiên cứu này, 11 khoa các trường đại học được thẩm định trong đánh giá đối với ngành vật lý, 10 khoa được thẩm định trong đánh giá của các ngành Y, khoa học Trái đất, và khoa học môi trường…  Các tiêu chí đánh giá mức ảnh hưởng sử dụng trong nghiên cứu tiền trạm bao gồm việc giúp hình thành nên các công ty ứng dụng công nghệ, hình thành các cuộc thử nghiệm y tế và phát triển dược phẩm; tác động tới việc hình thành chính sách liên quan tới môi trường; hoặc sự phát triển các sản phẩm và dịch vụ công nghiệp, ví dụ như phần mềm và công nghệ máy tính.   Căn cứ theo các hội đồng đánh giá chuyên môn, “thẩm định của các chuyên gia là cách làm phù hợp để đánh giá mức hiệu quả kinh tế xã hội đối với từng trường hợp hồ sơ”.  Jonathan Grant, chủ tịch của RAND Europe, một công ty tư vấn nghiên cứu có trụ sở tại Cambridge, viết một báo cáo trong năm ngoái chỉ trích REF, nhưng nay cũng nhìn nhận lại rằng: “nếu chúng ta sẽ tiến hành đánh giá ảnh hưởng của nghiên cứu, thì đây chính là cách thực hiện”.   Những lo ngại khác  Nhưng vẫn còn những khó khăn chưa được giải quyết. Có ý kiến nói rằng nghiên cứu tiền trạm đã trả lời được nhiều quan ngại từ phía các trường đại học nhưng cũng chỉ ra rằng những khó khăn vẫn có thể nảy sinh trong việc mô tả các ảnh hưởng trong quá trình hợp tác của các trường đại học với các ngành công nghiệp.  Một số đối tác của Đại học York không thiện chí trong việc công bố các chi tiết cần thiết để mô tả tác động từ nghiên cứu, Anna Grey, nhà quản lý nghiên cứu của Đại học York, người tham gia vào nghiên cứu tiền trạm trong đánh giá đối với ngành vật lý nói. Các thông tin đó bao gồm cả chi tiết về giá trị tài chính tiết kiệm được từ sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra từ kết quả nghiên cứu học thuật của trường đại học.  “Trừ phi chúng ta có thể chứng minh với các công ty rằng thông tin họ cung cấp sẽ được bảo mật, chúng ta sẽ gặp khó khăn trong việc tìm căn cứ xác thực để đánh giá mức ảnh hưởng”, bà nói.  Các vấn đề khác bao gồm cả việc đâu là khoảng thời gian cần thiết để đánh giá ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu tiền trạm cho rằng các tổ chức học thuật nên được phép nộp các kết quả nghiên cứu từ cách đây 15 tới 25 năm. Đối với vật lý, Grey muốn khoảng thời gian là 25 năm.   Một điều chưa chắc chắn khác là chỉ số ảnh hưởng sẽ đóng góp bao nhiêu % tới tổng điểm REF. Grant cho rằng nên là 10 tới 20%, thay vì 25%.            Hiện nay, người ta đang cân nhắc cơ chế chấm điểm REF đối với các tổ chức khoa học, trong đó điểm tính từ số lượng sản phẩm nghiên cứu chiếm tỷ trọng 60%, điểm từ ảnh hưởng của nghiên cứu chiếm 25%, điểm từ môi trường nghiên cứu (chất lượng và tính bền vững của môi trường nghiên cứu) chiếm 15%.          Chi phí của cơ sở thẩm định mới vẫn chưa rõ. Cơ quan HEFCE cho tạp chí Nature biết rằng họ dự kiến chi phí sẽ tương đương với RAE – khoảng 60 triệu bảng cho mỗi đánh giá. Nhưng HEFCE cũng thừa nhận rằng đối với REF “sẽ có thêm nỗ lực trong việc tìm bằng chứng và đánh giá hiệu quả” đối với các trường đại học, nhiều hơn so với dữ liệu người ta cần thu thập cho các đánh giá theo hệ thống RAE.   Rodney Phillips, một nhà miễn dịch học tại Đại học Oxford, người cũng tham gia nghiên cứu tiền trạm đối với lĩnh vực y tế cho biết thay vì làm giảm khối lượng công việc cho trường – động cơ chính của Chính phủ cho việc cải tổ – thì cơ chế mới lại khiến có nhiều việc phải làm hơn so với cơ chế RAE cũ”.   Peter Main, Giám đốc về giáo dục và khoa học tại Viện Vật lý London, nói rằng: “Các trường đại học thường rất coi trọng nguồn kinh phí nghiên cứu, vì vậy có thể sẽ gây sức ép khiến các khoa chuyên môn phải liên tục nghiên cứu theo một số hướng nhất định mà người ta biết là đã từng xin được kinh phí, ngay cả khi ảnh hưởng tiềm năng của những hướng nghiên cứu khác có thể là lớn hơn”.   HEFCE khẳng định rằng cơ quan này sẽ thảo luận về các đề xuất và dự kiến sẽ công bố các quyết định cuối cùng của mình trong tháng 2 năm 2011.   Trần Lê dịch (Nature News)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ðánh giá doanh nghiệp bằng năng lực đổi mới công nghệ      Hiện trạng công nghệ của ngành và lĩnh vực  sản xuất, năng lực thích ứng và khả năng đổi mới công nghệ trong các  doanh nghiệp có thể được kiểm định bằng khả năng cạnh tranh, mức độ tiêu  thụ các sản phẩm sản xuất trong nước trên thị trường trong và ngoài  nước và do đó liên quan đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh  nghiệp.      Thực trạng công nghệ của doanh nghiệp  Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về chuyển giao công nghệ, nếu tính đến năm 2005 chỉ số ứng dụng công nghệ của nước ta chỉ đứng thứ 92/117, chỉ số đổi mới công nghệ có cao hơn nhưng vẫn thấp hơn Thái-lan 42 bậc, tỷ lệ sử dụng công nghệ cao thấp, chỉ vào khoảng 20% trong khi các nước trong khu vực như Philippines là 29%, Malaysia 51%, Singapore 73%. Theo cơ quan tình báo kinh tế (EIU), chỉ số sẵn sàng điện tử của Việt Nam xếp thứ 61/65 quốc gia được điều tra, kém Malaysia 30 bậc và kém Singapore đến 54 bậc.  Sự lạc hậu về công nghệ và kỹ thuật đã và đang tạo ra các sản phẩm thấp và không ổn định, làm hạn chế khả năng cạnh tranh bằng giá (khi giá thành các sản phẩm trong nước thường cao hơn các sản phẩm nhập khẩu từ 20 đến 40%). Ðây là hệ quả việc sử dụng các công nghệ tụt hậu từ hai, ba thế hệ, chưa làm chủ được công nghệ nguồn, chậm đổi mới công nghệ. Một trong những yếu tố quan trọng cho đổi mới công nghệ là nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Theo các số liệu điều tra gần đây cho thấy nguồn lực quan trọng này chỉ chiếm 7,24% lực lượng lao động, trong đó có 71,9% trình độ đại học, 26,9% cao đẳng, 0,9% thạc sĩ, trình độ tiến sĩ là 0,14% và phân bố không đều, ngoài ra còn nhiều bất hợp lý khác trong các doanh nghiệp.  Hiện nay việc chuyển giao công nghệ được thực hiện qua hai hình thức chính là qua các dự án liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (FDI) chiếm tới 90% và thông qua việc mua bán công nghệ trên thị trường chỉ chiếm khoảng 10% còn lại. Tuy nhiên nhiều hợp đồng công nghệ thực hiện theo hình thức thứ nhất cũng chỉ tập trung vào khai thác nhân công rẻ, giá đất thấp, tiêu tốn năng lượng và tránh các tiêu chuẩn môi trường ở chính các quốc gia đầu tư, do vậy hàm lượng công nghệ được chuyển giao còn thấp, chủ yếu là các công đoạn cuối cùng trong chuỗi giá trị.  Xem xét việc sử dụng vốn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển cho thấy chỉ có 87,2% dùng vào mục đích đổi mới công nghệ, nhưng chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với 90,6% tổng nguồn vốn thực hiện. Ðối với các doanh nghiệp nhà nước, do còn vị thế độc quyền nên không chịu sức ép cạnh tranh, có tâm lý dựa dẫm vào sự bảo hộ của Nhà nước, do vậy vốn dành cho đổi mới công nghệ chỉ chiếm 8,7%, doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ chiếm 0,67%, trong khi đó hầu hết các nước phát triển chi phí dành cho nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường, nhu cầu khách hàng chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí nhằm tạo ra công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của khách hàng, làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo vị thế vững chắc trên thị trường.  Từ những nguyên nhân nói trên dẫn đến sức cạnh tranh yếu của các sản phẩm thương mại, dịch vụ dẫn đến hàng tồn kho nhiều, doanh nghiệp bị đình đốn sản xuất, “chết lâm sàng” và phá sản, tình trạng nợ xấu gây khó khăn cho hoạt động đổi mới công nghệ, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.  Doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng nào  Kinh nghiệm từ một số quốc gia có nền kinh tế phát triển dựa trên năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa làm nền tảng, làm trụ cột cho sự phát triển bền vững dựa trên yếu tố công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy khi xuất hiện khủng hoảng cũng là cơ hội để cơ cấu lại hệ thống, tiến hành cải tạo doanh nghiệp, tạo ra các giá trị mới thông qua sự hợp nhất, sử dụng chung thiết bị công nghệ mới, đặt hàng mua chung để giảm chi phí đầu vào khi đổi mới công nghệ. Việc cải tạo, đổi mới doanh nghiệp, hình thành hệ thống mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách khoa học và hợp lý đã tạo ra sức sống mới, giá trị mới cho các doanh nghiệp sau khủng hoảng.  Ðể hiện thực hóa việc đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, cần tiến hành rà soát, phân loại chính xác hiện trạng công nghệ của các doanh nghiệp, xem xét nhu cầu đổi mới công nghệ của ngành, lĩnh vực sản xuất hàng hóa có lợi thế cạnh tranh quốc gia như nông nghiệp, sản xuất công nghiệp phụ trợ. Cần áp dụng các mô hình công ty mẹ, công ty con trong quá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp phụ trợ, hình thành các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong hệ thống công ty mẹ, công ty con.  Trong mô hình này các công ty mẹ sẽ đảm nhận là đầu tiếp thu công nghệ, tiến hành nghiên cứu cải tiến đổi mới và hoàn thiện công nghệ cho phù hợp chiến lược kinh doanh, sản phẩm, thị trường (vai trò tổ chức hoạt động R&D). Sau đó các công đoạn trong quy trình công nghệ mới được triển khai trong hệ thống các công ty con. Như vậy, các công ty con sẽ đảm nhận vai trò tiếp nhận công nghệ, tiếp nhận kết quả R&D, tổ chức sản xuất (bên cầu công nghệ) theo đặt hàng của công ty mẹ. Mặt khác, các công ty con chính là đối tác nêu vấn đề, đề xuất và đặt hàng công nghệ đối với công ty mẹ, qua đó nhanh chóng tạo ra các sản phẩm mới.  Với mô hình này, số lượng các sản phẩm, quy mô của sản xuất theo trình độ công nghệ được cung – cầu sẽ được thực hiện chặt chẽ, phù hợp nhu cầu thị trường, năng lực sản xuất của từng công ty con cũng như khả năng thương mại, năng lực nghiên cứu, đổi mới công nghệ của công ty mẹ.  —  * Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Áp lực từ hợp tác quốc tế      Là một đơn vị nghiên cứu công nghệ định vị sử dụng vệ tinh tại Đông Nam Á, một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng với mọi mặt của đời sống, Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu Phát triển Định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) phải tự tìm hướng đi tiếp theo cho mình để phát triển.    “Phát triển đội ngũ, nhưng phải ‘tinh’”  Vào năm 2008, Liên minh Châu Âu thông qua Chương trình khung thứ 7 về nghiên cứu và phát triển công nghệ (FP7) đã tài trợ Dự án SEAGALvới sự tham gia của 5 nước đối tác Châu Âu và Châu Á. Mục tiêu chính của Dự án là thiết lập một trung tâm quốc tế chuyên về công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (Global Navigation Satellite System – GNSS) đặt tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBKHN) với các hoạt động đa dạng từ nghiên cứu phát triển, đến quảng bá, đào tạo, chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách liên quan đến công nghệ GNSS cho các nước trong khu vực Đông Nam Á. Kết quả của dự án là sự ra đời của Trung tâm Quốc tế NC&PT Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) vào tháng 10/2010. Trung tâm hiện tại có sự tham gia trực tiếp của các đối tác Việt Nam, và Italy thông qua mô hình đồng giám đốc được thực hiện từ tháng 2/2012.   Từ ngày thành lập, NAVIS đã và đang tham gia chủ trì và thực hiện hàng chục đề tài, dự án nghiên cứu khoa học (NCKH) với các đối tác Châu Âu, Úc và Nhật Bản tập trung vào các lĩnh vực: (i) định vị đa hệ thống GNSS; (ii) phương pháp và hạ tầng định vị chính xác (mm/cm); (iii) giám sát môi trường sử dụng GNSS; (iv) các dịch vụ hướng vị trí; và (v) đảm bảo an ninh trong định vị (chống phá sóng, và giả mạo tín hiệu). Trong đó, nổi bật nhất là Dự án FP7 Growing NAVIS, do EU tài trợ, với sự tham gia của 10 đối tác quốc tế từ Châu Âu, Châu Á và Châu Đại Dương, với nhiều hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của Trung tâm, nhằm mục đích phát triển NAVIS thực sự trở thành một trung tâm hàng đầu về công nghệ GNSS tại khu vực Đông Nam Á.           “Tại thời điểm hiện tại, chúng tôi coi hợp  tác quốc tế, cũng như triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học  các cấp là trọng tâm, tuy nhiên, để phát triển bền vững, chúng tôi phải  sống “được” với các sản phẩm nghiên cứu khoa học của mình. Đó vừa là sự  quyết tâm, vừa là trách nhiệm của chúng tôi với sự đầu tư của xã hội!  Không còn cách nào khác!!!”, TS. Tạ Hải Tùng nói.          NAVIS đã và đang chứng tỏ được vai trò quốc tế của mình trong khu vực thông qua ba năm liền tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị, và trường hè quốc tế hàng năm về công nghệ GNSS: NAVIS phối hợp với Diễn đàn định vị đa hệ thống châu Á (Multi-GNSS Asia), Uỷ ban quốc tế của LHQ về GNSS(ICG)… tổ chức Hội nghị cấp vùng Châu Á và Châu Đại dương về công nghệ GNSS (AOR), trong đó, hội nghị AOR-2013 đã được tổ chức thành công tại ĐHBK HN với sự tham gia của gần 200 khách quốc tế đến từ 17 quốc gia và vùng lãnh thổ.  NAVIS cũng trở thành địa chỉ hợp tác về GNSS đáng tin cậy của các tổ chức quốc tế về hàng không vũ trụ trên thế giới, qua việc đang vận hành 2 hệ thống trạm giám sát chất lượng tín hiệu định vị GNSS nằm trong mạng lưới toàn cầu của Cơ quan NC&PT hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA), Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA), cũng như hợp tác chặt chẽ với Trung tâm nghiên cứu hỗn hợp trực thuộc Uỷ ban Châu Âu (EC) trong nghiên cứu tác động của tầng điện ly tại khu vực cận xích đạo lên chất lượng dịch vụ định vị.  Việc hợp tác quốc tế, nhất là trong triển khai các dự án, đề tài NCKH với các đối tác hàng đầu trong lĩnh vực, tạo ra sức ép lớn với NAVIS trong việc thu hút, và phát triển đội ngũ nghiên cứu trình độ cao trong một lĩnh vực công nghệ cao, đầy mới mẻ không chỉ với Việt Nam mà còn trên thế giới. TS. Tạ Hải Tùng – Giám đốc Trung tâm chia sẻ: “Khi mới thành lập, Trung tâm chỉ có duy nhất 2 người được đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực. Làm thế nào để phát triển đội ngũ, mà phải “tinh” với kỹ năng làm việc quốc tế, chứ không chạy theo số lượng, trong bối cảnh không có biên chế nghiên cứu màphải tự chủ về nguồn thu là câu hỏi đau đáu với ban Giám đốc Trung tâm lúc bấy giờ”. Với sự ủng hộ mạnh mẽ của Ban Giám hiệu nhà Trường trong việc cung cấp cơ chế mở, cũng như hỗ trợ hết mình cho hợp tác quốc tế phát triển Trung tâm. NAVIS đã dần dần thu hút được các nhà khoa học trẻ trong trường, những người “bị” thuyết phục bởi kế hoạch và tiềm năng dài hạn của NAVIS để chấp nhận chuyển đổi hướng nghiên cứu theo định hướng của Trung tâm. Tuy nhiên, những người “dũng cảm” như thế không nhiều, vì vậy, NAVIS phải tự xây dựng đội ngũ thông qua đào tạo và giữ lại công tác các sinh viên xuất sắc của Trường ĐHBK Hà Nội và gửi hàng chục sinh viên theo các chương trình thực tập ngắn hạn, Thạc sỹ và Tiến sỹ trong chuyên ngành GNSS tại Châu Âu và Úc. Nhiều người trong số họ đã trở về, đóng góp lớn vào sự thành công bước đầu của Trung tâm. Và thực tế này lại đặt Trung tâm dưới một sức ép mới, làm sao để giữ những con người như vậy.  “Đi bằng hai chân”  Với tầm quan trọng ngày càng gia tăng của định vị sử dụng vệ tinh trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ dẫn đường, theo dõi đối tượng; đến nông nghiệp chính xác, giám sát môi trường, đồng bộ giao dịch tài chính, ngân hàng, viễn thông, năng lượng; cũng như những ứng dụng thiết yếu trong an ninh quốc phòng;nhiều nước trên thế giới đã và đang tự phát triển hệ thống vệ tinh định vị của riêng mình như Galileo (Châu Âu), GLONASS (Nga), Beidou (Trung Quốc), QZSS (Nhật Bản), IRNSS (Ấn Độ)…   Việt Nam chúng ta hiện chưa có hệ thống vệ tinh định vị của riêng mình, và việc sử dụng dịch vụ hoàn toàn dựa vào các hệ thống của nước ngoài. Vì vậy, môi trường định vị đa hệ thống với nhiều lựa chọn về công nghệ và dịch vụ mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Việt Nam trong việc giảm bớt sự phụ thuộc vào một hệ thống riêng lẻ, nâng cao độ chính xác, và đặc biệt là tính sẵn sàng và độ tinh cậy của định vị sử dụng vệ tinh.   Nhận thức được vấn đề đó, NAVIS đã nghiên cứu và chế tạo thành công bộ thu định vị đa hệ thống NAVISOFT. NAVISOFT có thể hoạt động được với tất cả các hệ thống GNSS hiện tại (bao gồm: GPS/GLONASS/Galileo/Beidou), cũng như hệ thống cấp khu vực QZSS của Nhật Bản. Sản phẩm này đặc biệt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực đặc thù, nơi không phải độ chính xác mà độ tin cậy của kết quả định vị mới được quan tâm nhiều nhất. Với sản phẩm này, NAVIS đã được Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) chứng nhận là một trong 50 đơn vị đầu tiên trên thế giới (một trong ba đơn vị tại Châu Á, cùng với Nhật Bản và Trung Quốc) đã sử dụng thành công dịch vụ định vị sử dụng vệ tinh của Galileo.          Bộ thu độ chính xác cao NAVISA với các nghiên  cứu cải tiến phù hợp với điều kiện hoạt động ngoài biển, kết hợp với  các phần mềm xử lý, tính toán dữ liệu có thể giải quyết bài toán quan  trọng liên quan đến theo dõi sự dịch chuyển và cảnh báo an toàn của nhà  giàn chủ quyền trên biển Đông trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt. Tuy  nhiên, quy trình đề xuất, xét duyệt phức tạp, kéo dài, đã cản trở việc  triển khai đề tài, dù ai cũng nhận ra tính cấp bách của nó.        Ngoài ra, người sử dụng thông thường chỉ làm quen với các dịch vụ định vị tiêu chuẩn với độ chính xác cỡ 5-10m, tuy nhiên, hiện tại công nghệ định vị chính xác (precise positioning) rất phát triển, cung cấp cho người sử dụng chuyên biệt trong các lĩnh vực như trắc địa, xây dựng bản đồ, điều khiển phương tiện tự hành… các dịch vụ định vị có độ chính xác rất cao (cỡ mm, cm). Tại Việt Nam, giá thành của các bộ thu định vị chính xác ngoại nhập, đặc biệt các bộ thu cho kết quả theo thời gian thực có giá thành từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng, là cản trở rất lớn tới sự ứng dụng của công nghệ quan trọng này. Trong bối cảnh đó, NAVIS đã chế tạo thành công bộ thu NAVISA với tính năng đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một bộ thu định vị chính xác.“Nhưng con đường đưa sản phẩm KHCN vàothực tiễn không hề đơn giản. Sự cản trở đôi khi đến từ tâm lý nghi kỵ các sản phẩm NCKH do các nhà khoa học Việt Nam tạo ra của các doanh nghiệp cũng như các đơn vị có nhu cầu” TS. Tùng nói. Tuy nhiên, từng bước một, để xây dựng lòng tin, NAVIS tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nhu cầu dùng thử sản phẩm của mình, cán bộ đã đến tận hiện trường để chứng minh năng lực của thiết bị.   Bên cạnh nghiên cứu ứng dụng, NAVIS cũng đang triển khai các định hướng nghiên cứu hàn lâm. Theo TS. Tạ Hải Tùng, “Bây giờ là thời điểm vàng để nghiên cứu định vị sử dụng vệ tinh”. Bởi đến năm 2020, khi các hệ thống ngoài GPS phát triển hoàn thiện, với hơn 30 vệ tinh từ tất cả các hệ thốngxuất hiện đồng thời tại mọi thời điểm (nhiều nhất trên toàn thế giới), Đông Nam Á sẽ là địa điểm “lý tưởng” cho nghiên cứu về định vị. Tuy nhiên do gần xích đạo nơi có tầng điện ly hoạt động bất thường, nênĐNA cũng là nơi có chất lượng dịch vụ định vị không tốt so với các khu vực ở vĩ độ cao. Vì vậy, những mô hình dự báo hoạt động của tầng điện ly của các hệ thống GNSS hiện nay (vốn được thiết kế tối ưu cho khu vực vĩ độ cao) đáp ứng không hiệu quả ở Đông Nam Á. Cùng với các đối tác, NAVIS đang tiến hành các nghiên cứu sử dụng tín hiệu GNSS để phân tích các đặc trưng của tầng điện ly trong khu vực, nhằm mục đích nâng cao chất lượng định vị. Bên cạnh đó, trung tâm cũng triển khai các nghiên cứu quan trọng liên quan tới “an ninh”trong định vị để giải quyết các bài toán liên quan đến phá sóng, và giả mạo tín hiệu GPS, có ý nghĩa tối quan trọng trong an ninh – quốc phòng.  Là một tố chức nghiên cứu trong trường đại học, TS. Tạ Hải Tùng xác định NAVIS sẽ phải tập trung song song nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu hàn lâm mà anh gọi đó là “hai chân” của trung tâm: “Chúng tôi sẽ đầu tư về con người, kết hợp với các dự án trong nước và quốc tế để ‘đi bằng hai chân’. Nhưng về lâu dài, một đơn vị nghiên cứu cần phải có các sản phẩm nghiên cứu cụ thể và phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức để áp dụng vào thực tế. Điều này nếu thành công sẽ tạo ra nguồn thu ổn định lâu dài cho Trung tâm. Từ đó, chúng tôi sẽ đầu tư trở lại cho nghiên cứuhàn lâm, tạo điều kiện phát triển đội ngũ NCKH trình độ cao, sẵn sàng cho những thách thức, và cơ hội phát triển mới”.  ———————–——————  Có thể tham khảo thêm bài viết “Cần công khai, minh bạch trong xét duyệt đề tài” (TS. Tạ Hải Tùng) theo link:    http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8125          Author                Quản trị        
__label__tiasang Argentina: Mong chặn đứng khủng hoảng khoa học      Hàng trăm nhà khoa học Argentine đang hi vọng vào khả năng chặn đứng khủng hoảng khoa học của tân tổng thống quốc gia này, đảo ngược tình thế mà chính quyền bảo thủ của tổng thống Mauricio Macri đã đưa tới.           Tuy nhiên, ưu tiên đầu tiên của Alberto Fernández sẽ là vực dậy nền kinh tế đang chao đảo của Argentina. Và không rõ là những lo ngại của các nhà khoa học sẽ được giải quyết vào thời điểm nào – hoặc hiệu quả ra sao.    Khoa học Argentina đang đứng trước nhiều khó khăn, dù rằng trong quá khứ đã có những giai đoạn được tập trung đầu tư, ví dụ dưới thời tổng thống Cristina Fernández de Kichner – người nắm quyền từ năm 2007 đến năm 2015 ngay sau nhiệm kỳ của chồng mình Nestor Kirchner (2003-2007), đã thiết lập bộ Khoa học đầu tiên của đất nước này. Bà cũng là người tăng số lượng học bổng cho các sinh viên và cam kết tạo thêm nhiều vị trí công việc của Hội đồng KH&KT quốc gia (CONICET). Năm quyền vào tháng 11/2015, tổng thống Macri đã giải thể Bộ Khoa học và cắt các vị trí việc làm mới ở CONICET xuống còn 1/3 ngay trong năm đó. Một số cắt giảm đáng chú ý khác là kinh phí đầu tư cho khoa học khiến cho các phòng thí nghiệm phải nỗ lực xoay xở để duy trì những dịch vụ cơ bản như bảo trì thiết bị, tiền điện nước, an ninh…  Khoảng 11.000 thành viên của cộng đồng khoa học Argentina đã ký tên vào thư ngỏ ủng hộ Alberto Fernández, bức thư do KH&CN Argentina (CyTA) – một nhóm vận động thành lập năm 2016 để phản đối chính sách cắt giảm đầu tư cho khoa học của ông Macri. “Bốn năm bị cắt giảm kinh phí đầu tư đã ảnh hưởng rất nhiều đến công việc nghiên cứu, nó có thể bị chặn đứng với một chính phủ mới”, Rolando González-José, một nhà sinh học tại Trung tâm vùng Patagonia ở Puerto Madryn và thành viên của CyTA, nói.  Nhưng dẫu cho Fernández và Kirchner đều là những người ủng hộ nhiệt thành cho “sự gia tăng hiểu biết” và gia tăng sự đầu tư cho nghiên cứu, thì mọi việc chưa hẳn đã hoàn hảo. Kirchner đã từng đối mặt với vấn đề tham nhũng, bao gồm cả những cáo buộc bà liên quan đến hối lộ và  thao túng dữ liệu tài chính trong thời gian cầm quyền. Và những người bỏ phiếu cũng bị chia rẽ về những người mình ủng hộ, như Macri hay Kirchner, là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế hiện nay của Argentina, khiến cho đồng peso mất giá và lạm phát gia tăng. Ví dụ, nhà sinh học Argentina Marina Simian đã từng thất vọng vì những cắt giảm đầu tư dưới thời Macri và từng tham gia một phiên bản trò chơi “Ai là triệu phú” để có tiền mua hóa chất vật ưự cho phòng thí nghiệm nghiên cứu về ung thư của cô tại trường đại học quốc gia San Martin, đã quyết định bỏ phiếu cho Macri. Nguyên nhân dẫn đến lựa chọn này vì cô lo ngại chiến thắng của Fernández-Kirchner sẽ dẫn đến một chính phủ độc đoán hơn và thiếu minh bạch hơn. Và dẫu cho Simian từng chỉ trích quan điểm về khoa học của Macri nhưng cô cho rằng từ trước khi Marci nhậm chức thì các nhà khoa học đã phản đối về lương thấp và ít tài trợ cho nghiên cứu. “Chúng tôi không rơi xuống địa ngục trong vòng 4 năm qua mà chúng tôi đã ở đó rồi, do đó chúng tôi cảm thấy tình hình càng tồi tệ hơn”.  Mario Pecheny, một nhà khoa học chính trị tại trường đại học Buenos Aires và phó chủ tịch phụ trách các nhiệm vụ khoa học CONICET, nghĩ chiến thắng của Fernández sẽ đóng vai trò tích cực cho khoa học nước này. “Tôi không hoàn toàn đảm bảo chính phủ mới sẽ làm tất cả những gì chúng ta muốn họ làm nhưng tôi nghĩ sẽ có nhiều điểm chính phủ làm thuận lợi hơn cho khoa học phát triển”.  Tô Vân lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2019/10/argentine-scientists-rally-behind-favorite-sunday-s-presidential-election    Author                Quản trị        
__label__tiasang ATOMEXPO 2019: Khoa học hạt nhân với phát triển bền vững      Năng lượng hạt nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy 17 vấn đề của Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) mà Liên hợp quốc đề ra từ năm 2015.      Ông Alexey Likhachev (thứ 2 từ trái sang) Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử Nga, đơn vị tổ chức Diễn đàn phát biểu khai mạc. Ảnh: Thu Quỳnh  Đây cũng là thông điệp Tập đoàn Năng lượng hạt nhân quốc gia Nga ROSATOM nhấn mạnh trong triển lãm ATOMEXPO 2019, diễn ra từ ngày 15 và 16/4/2019 tại Sochi, Nga thông qua chủ đề “Hạt nhân cho cuộc sống tốt đẹp hơn” (Nuclear for better life).  Diễn ra trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang phải cùng tập trung trả lời câu hỏi làm thế nào đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đó và làm thế nào để thiết lập được một cuộc sống ngày càng “xanh” hơn, ATOMEXPO 2019 trở thành mối quan tâm của nhiều nhà hoạch định chính sách, chuyên gia quốc tế, doanh nghiệp, đại diện các tổ chức xã hội từ 74 quốc gia. Ngay cả con số gần một nửa số trong tổng số 3.600 người tham dự là khách quốc tế cũng cho thấy sức hút của sự kiện này.  Một nét đặc biệt trong chương trình ATOMEXPO 2019 là lần đầu tiên có sự điều hành của một ủy ban quốc tế, gồm William D. Magwood IV – tổng giám đốc cơ quan Năng lượng hạt nhân OECD (OECD-NEA), Agneta Rising – tổng giám đốc Hiệp hội Hạt nhân thế giới, Jacques Regaldo – cựu chủ tịch Hiệp hội Những nhà vận hành hạt nhân thế giới, Luis Echávarri – cựu tổng giám đốc OECD-NEA.  Đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu.  Tại phiên họp toàn thể, ông Alexey Likhachev, Tổng giám đốc ROSATOM tin tưởng vào vai trò của năng lượng hạt nhân với xã hội hiện đại: “Mọi khía cạnh trong đời sống con người đều chịu ảnh hưởng của những thành tựu trong lĩnh vực công nghiệp hạt nhân. Và năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình có liên quan đến tất cả các mục tiêu của chương trình phát triển bền vững mà Liên hợp quốc đã đặt ra”. Ông cũng nhấn mạnh đến khía cạnh đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải carbon của nguồn năng lượng này: “Điện hạt nhân là nguồn năng lượng xanh có thể góp phần giải quyết vấn đề thách thức mà lĩnh vực năng lượng thế giới đang phải đối mặt ngày nay là giảm thiểu phát thải CO2”. Đây là lý do để ông hi vọng, “diễn đàn này sẽ trở thành không gian để thảo luận về các công nghệ mới nhất sẽ đặt nền tảng cho tương lai của hành tinh của chúng ta”.  Đồng thuận với quan điểm này, bà Agneta Rising cho rằng giới công nghiệp hạt nhân toàn cầu đã “tạo ra một tiến triển rất lớn” và báo cáo đặc biệt của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2018 cũng đã ghi nhận sự gia tăng của nguồn điện hạt nhân có thể góp phần giúp giữ cho hiện tượng ấm lên của trái đất ở mức dưới 1,50C. Nhắc đến sáng kiến Harmony, bà nêu các mục tiêu của điện hạt nhân là cung cấp 25% tổng điện năng thế giới vào năm 2050 và là một phần trong cơ cấu các nguồn điện năng đa dạng ít phát thải carbon để tránh gây ra những hậu quả tiêu cực với môi trường.  Dự báo trong vòng 20 năm tới, nhu cầu năng lượng trên toàn cầu sẽ tăng mạnh, khoảng 1/3 so với hiện nay. Mức tăng trưởng kinh tế và đời sống người dân được nâng cao lại càng thúc đẩy việc tiêu thụ năng lượng cao hơn. Ông Gerassimos Thomas, phó tổng giám đốc Ủy ban năng lượng của Ủy ban châu Âu lưu ý, hơn một phần ba điện năng do các quốc gia thành viên EU đều là điện hạt nhân. “EU đang đặt ra mục tiêu đầy tham vọng là giảm thiểu phát thải khí nhà kính tới 45% vào năm 2030. Nếu chúng ta đạt được điều đó, và nếu không có thay đổi gì về chính sách năng lượng hiện nay đến năm 2030, thì vào năm 2050, khí thải nhà kính sẽ giảm xuống 60%. Trong tất cả các kịch bản mà chúng tôi đã kiểm tra, châu Âu nói chung cần một lượng lớn năng lượng từ điện hạt nhân. Yêu cầu này ngày càng tăng lên với nhu cầu điện của xe ô tô điện”.  Xung quanh chủ đề đã đặt ra về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và vai trò của KH&CN hạt nhân, 18 phiên thảo luận chung và bàn tròn đã cùng “mổ xẻ” các khía cạnh cụ thể gồm: các vấn đề toàn cầu trong phát triển năng lượng không phát thải carbon, các cách tiếp cận có trách nhiệm với môi trường và tài nguyên thiên nhiên, các ứng dụng của khoa học hạt nhân trong công nghiệp, y học và nông nghiệp, thúc đẩy giải pháp số cho quản lý năng lượng hiệu quả,… Tham dự các phiên thảo luận tại triển lãm, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nhận xét: “Các thảo luận bàn tròn này có số lượng chuyên gia tham dự đông, chất lượng tốt, hướng đến các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hạt nhân, qua đó tạo cơ hội để công nghệ hạt nhân đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển KH&CN để có thể ứng phó với các thách thức toàn cầu hiện nay. Từ đây có thể thấy rõ là điện hạt nhân sẽ cùng năng lượng tái tạo sẽ là giải pháp cung cấp điện năng cho tương lai, chống biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu”.  Cần nhìn nhận đúng vai trò của công nghệ hạt nhân  Trong bức thư chào đón các thành viên đến với ATOMEXPO 2019, tổng thống Nga Vladimir Putin đã khái quát vai trò của công nghệ hạt nhân: “Ngày nay, về cơ bản, công nghệ hạt nhân đã đưa ra những cơ hội mới cho phát triển y học, tạo ra những vật liệu độc nhất vô nhị, những chuyến thám hiểm không gian, sự phát triển ở Bắc cực, và nó cũng giúp củng cố nền tảng điện năng của nền kinh tế”.    Đại diện Viện nghiên cứu năng lượng hạt nhân và Ủy ban quốc gia về năng lượng hạt nhân Brazil nhận giải thưởng ATOMEXPO 2019. Ảnh: Thu Quỳnh  Tại ATOMEXPO 2019, những ứng dụng phi năng lượng của công nghệ hạt nhân trong các lĩnh vực đời sống đã được đề cập tới, đặc biệt trong y học. Y học hạt nhân hiện là một trong những lĩnh vực phát triển năng động nhất hiện nay của y học thế giới. Các phương pháp điều trị của y học hạt nhân đã giúp chống lại các bệnh ung thư và đối phó với các dịch bệnh khác một cách hiệu quả, đặc biệt là khi chưa có một phương thức thay thế nào khác. Với các quốc gia đang phát triển, vốn còn thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất và thuốc men, càng thấm thía điều đó. Trao đổi tại diễn đàn này, ông Roland Msiska, giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử Zambia, đã đề cập đến vai trò của công nghệ hạt nhân với y tế Zambia cũng như sự hỗ trợ của ROSATOM – “một công ty có kinh nghiệm rất lớn trong lĩnh vực này”, theo đánh giá của ông – để thúc đẩy ứng dụng năng lượng hạt nhân trên nhiều khía cạnh: “Chúng tôi đã có cơ hội thiết kế hệ thống y tế của chúng tôi thông qua việc xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân. Trước đây chúng tôi chưa dám nghĩ về điều này. Đây là cơ sở để chúng tôi lập kế hoạch về một tương lai công nghệ hạt nhân cho Zambia cho 100 năm tới”.      “Ngày nay, về cơ bản, công nghệ hạt nhân đã đưa ra những cơ hội mới cho phát triển y học, tạo ra những vật liệu độc nhất vô nhị, những chuyến thám hiểm không gian, sự phát triển ở Bắc cực, và nó cũng giúp củng cố nền tảng điện năng của nền kinh tế” (Tổng thống Vladimir Putin).      Dù còn được ít người biết tới, những đóng góp phi năng lượng của công nghệ hạt nhân vẫn góp mặt vào quá trình phát triển của nhiều quốc gia. Ông Kamlesh Nilkanth Vyas, chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Ấn Độ – quốc gia đang vận hành 22 nhà máy điện hạt nhân và xây dựng trên 10 nhà máy khác để gia tăng sản lượng điện năng, cũng chia sẻ tại diễn đàn: Ấn Độ đã sử dụng công nghệ hạt nhân cho nhiều lĩnh vực khác, ví dụ trong y học hạt nhân để điều trị ung thư, nông nghiệp để bảo vệ mùa màng, xác định nguồn nước, bảo vệ xói mòn đất đai… Ấn Độ cũng là một trong những quốc gia xuất khẩu nhiều trái cây ra thị trường thế giới, đặc biệt là xoài, sau khi đã được chiếu xạ tiệt trùng các mầm bệnh bằng công nghệ hạt nhân.  Tuy nhiên có một vấn đề tồn tại là ngày nay, người ta còn chưa hiểu đúng về công nghệ hạt nhân. Ông Kamlesh Nilkanth Vyas cho rằng, sự sợ hãi điện hạt nhân vì “sợ hãi điều chưa biết rõ” và do đó, “nỗi sợ hãi về hậu quả của phóng xạ cũng là thách thức lớn hiện nay với ngành hạt nhân”.  Vậy cần làm gì để vượt qua những thách thức đó? Quan sát các xu hướng phát triển của công nghệ hạt nhân tại triển lãm, TS. Trần Chí Thành cho rằng, việc phát triển công nghệ hạt nhân trên thế giới hiện nay dều hướng đến vấn đề đảm bảo an toàn – yêu cầu số một của các dự án điện hạt nhân. Đây là vấn đề anh từng chia sẻ sau khi tham dự Diễn đàn kinh tế Saint Peteburg năm 2015, “yêu cầu về an toàn đối với thiết kế công nghệ điện hạt nhân ngày càng cao hơn. Nếu như trước đây, người ta cho rằng xây tổ máy điện hạt nhân giống như mua ôtô, có ôtô sang, có ôtô rẻ hơn, không quan trọng, miễn là chạy được ổn định, thì hiện nay quan niệm này đã không còn nữa. Các nước bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân đều muốn có công nghệ điện hạt nhân tiên tiến và an toàn nhất có thể”.  Theo phân tích của TS. Trần Chí Thành, đối với các dự án hạt nhân, bên cạnh vấn đề công nghệ, cần phải làm tốt một số vấn đề liên quan khác như năng lực của ngành công nghiệp để có thể cung cấp những thiết bị liên quan cho dự án hạt nhân, năng lực quản lý để đảm bảo vận hành thông suốt các dự án, và đặc biệt là nguồn nhân lực, “cần phải được chuẩn bị lâu dài và bài bản”.  Liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của kinh tế xã hội và có sức ảnh hưởng lâu dài, các dự án về công nghệ hạt nhân đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn trong phát triển. Trên cơ sở thành công của các dự án hạt nhân của nhiều quốc gia tham gia ATOMEXPO như Nga, Ấn Độ…, TS. Trần Chí Thành nhấn mạnh đến vấn đề “xây dựng năng lực khoa học hỗ trợ chương trình phát triển điện hạt nhân, coi đó là một phần quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng cho điện hạt nhân. Việc xây dựng và vận hành thành công các tổ máy điện hạt nhân đầu tiên đồng nghĩa với việc thúc đẩy năng lực khoa học công nghệ của đất nước”.  Để ghi nhận sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức đối với quá trình thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và sử dụng các công nghệ hạt nhân vì lợi ích của nhân loại, kể từ 2018, ATOMEXPO đã tổ chức Giải thưởng ATOMEXPO. Trong năm 2019, một hội đồng giải thưởng quốc tế độc lập bao gồm các chuyên gia trong ngành hạt nhân (từ nhiều nước, trong đó Việt Nam có một chuyên gia) đã đánh giá 52 dự án từ 25 quốc gia tham gia cuộc thi. Giải thưởng ATOMEXPO 2019 đã được trao với năm hạng mục: “Công nghệ hạt nhân: Nâng cao chất lượng cuộc sống” (Các dự án trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ hạt nhân cho mục đích phi năng lượng) được trao cho dự án Thiết bị chiếu xạ tia Gamma và di động đa mục tiêu với bộ gia tốc chùm tia điện tử của Viện nghiên cứu Năng lượng hạt nhân và Ủy ban quốc gia về Năng lượng hạt nhân Brazil; “Đổi mới sáng tạo cho tương lai” (các dự án công nghệ đột phá và sáng tạo nhất) – công ty Marubeni Utility Services từ Nhật Bản; “Dự án có khởi đầu tốt nhất” (dự án liên quan đến việc khởi động chương trình quốc gia trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân) – Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi FNPP Tianwan (Trung Quốc); “Dự án được sự chấp thuận của công chúng và truyền thông hiệu quả nhất” – Dự án năng lượng sáng tạo của nhà máy điện hạt nhân Pak Paks (Hungary); “Dự án phát triển nguồn nhân lực tốt nhất” – Dự án quản lý năng lượng hạt nhân của IAEA.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/nhung-nam-dau-xay-dung-vien-nghien-cuu-hat-nhan-da-lat/201903210151263p1c785.htm       Author                Quản trị        
__label__tiasang Bà hiệu trưởng trường Đại học Khoa học      Người hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Khoa học của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là nữ tiến sĩ khoa học Hoàng Thị Nga. Bà đỗ tiến sĩ vật lý tại trường Đại học Sorbonne (Paris).    Khi nhậm chức (cuối năm 1945), bà khoảng 40 tuổi, người đẫy đà, mặt trái xoan trắng trẻo, mắt một mí, môi mỏng và trông hơi giống phụ nữ Nhật. Bà thường mặc bộ đồ tay-ơ, áo vét, váy ngắn màu xám, chân đi giày cao gót, tôi nhớ mang máng là bà để tóc xoăn dài, rẽ giữa và uốn thành hai mảnh vỏ trai úp sau đầu. Khi được tin bà về trường Đại học đã có nhiều bàn tán trong giới sinh viên vì họ đã quen với các thầy giáo Pháp ở trường đại học trước kia – không có thầy giáo Việt Nam ở trường Đại học. Ngay cả thầy Nguyễn Mạnh Tường, đã đỗ tiến sĩ luật khoa, cũng không được nhận vào dạy cho khoa Luật. Nay có giáo viên người Việt mà lại là nữ, đứng trên bục Đại học giảng bài bằng tiếng Việt, quả là một hiện tượng hiếm có.    Ảnh: Bùi Tuấn (VTC news)  Tại buổi khai giảng của trường, bài diễn văn khai mạc của bà ở đại giảng đường đã thu hút đông đảo sinh viên các ngành. Họ đứng chật ních cả hành lang vì tò mò muốn xem và muốn nghe vị nữ tiến sĩ đầu tiên của nước ta giảng bài… Hơn nữa bà còn được dư luận tuyên truyền là “cứng đầu, cứng cổ” dám kiện Chính phủ Pháp về tội thất tín. Ở Paris giới chức Pháp đã hứa cho bà về dạy ở trường đại học nhưng khi về nước, giới chức Đông Dương lại chỉ cho bà dạy ở trường trung học. Bà đã xin trở lại Pháp và kiện chính phủ về tội thất tín, đòi bồi thường mọi chi phí di chuyển… Mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn đối với bà sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.  Hôm tôi lên lớp giờ đầu tiên, bà theo tập tục của trường đại học thời Pháp, dẫn tôi vào lớp và nói “Tôi xin giới thiệu với các bạn thầy Đào, người phụ trách giảng môn sinh học đại cương của niên khóa này”. Hôm sau, tôi hỏi bà tại sao ở Đại học Đông Dương tôi không thấy hiệu trưởng giới thiệu thầy giáo mới? Bà cười: “Ở thuộc địa lâu, họ đã quên mất nghi thức truyền thống đó, có lẽ vì không coi trọng sinh viên”. Có một hôm, bà hỏi tôi: “Ông Đào có thể giải thích cho tôi hiện tượng này không?” rồi bà chậm rãi trình bày như sau:  “Hôm nọ, có một người bạn dắt tôi tới nhà thầy bói Kế ở Khâm Thiên, nổi tiếng là đoán đúng tiền vận, hậu vận của con người. Ông ta hỏi ngày sinh, tháng đẻ rồi bấm ngón tay, lẩm bẩm. Ông ngẫm nghĩ một lúc rồi nói “Lần đầu tiên trong đời, tôi gặp một lá số thế này, rất khó đoán. Đương sự phải là người đỗ đạt cao, cử nhân tiến sĩ, nếu là nam giới thì không lạ, nhưng lại là nữ giới, thế mới kỳ…”. Tôi để ý thì thấy thầy bói Kế mù mắt, chắc chắn không nhìn thấy tôi mà cũng không nghe thấy tiếng tôi – chỉ có nguyên người bạn tôi nói, tôi chỉ ngồi dự thính… Rồi ông thầy tiếp tục nói đương sự có số đi xa…” Bà nói tiếp “Ở Pháp, tôi có biết nhiều thầy tướng mặt, tướng tay, nhưng thầy xem phải là thầy rất giỏi về tâm lý, vừa đoán vừa thăm dò phản ứng của khách. Còn đây, thầy xem là người mù chỉ dựa vào mấy con số mà đoán, thật là lạ”. Tôi trả lời “Đây là tử vi, một chuyên khoa về tướng số đặc trưng của phương Đông. Tôi cũng không hiểu gì nhiều, nhưng xác xuất của nó có vẻ cũng đúng tới 60% – chắc nó phải dựa trên một số qui luật tự nhiên mà hiện nay khoa học chưa rõ”. Trình độ hiểu tử vi lúc đó không cho phép tôi nói gì thêm, tôi chỉ khuyên “Bà ở nhà có điều kiện thì tìm hiểu thêm về nền văn hóa phương Đông, các khoa học huyền bí cổ truyền, chắc sẽ phát hiện nhiều điều thú vị”.  Được độ hai tháng sau khi khai trường, thì tôi không thấy bà đến trường làm việc nữa. Trước đó thường ngày bà đến rất đúng giờ vì nhà bà ở ngay phố Lý Thường Kiệt. Một số thầy giáo trong đó có tôi đã không hiểu tại sao? Ít lâu sau thì nghe tin bà đã rời Việt Nam về Pháp. Sau này, anh Phạm Mậu Quân, thầy giáo ở phòng Vật lý cùng bộ môn với bà có cho biết là anh có tới thăm bà thì được bà kể cho biết là một buổi sáng tới trường, bà bị một anh bộ đội giải phóng người Tày đứng gác cổng trường hỏi, chắc thấy bà quá dị dạng trong bộ Âu phục lạ mắt, “Ê, con me kia đi đâu?”, bà điềm tĩnh trả lời “Tôi là giám đốc trường Đại học Khoa học”. Anh này không chịu, hỏi tiếp “Giấy phép đâu?”, bà nói “Giấy phép tôi để ở nhà”. Anh này khoát tay súng “Không giấy phép, không được vào” và bà đã bỏ về nhà thẳng.  Tối hôm đó bà viết thư từ chức gửi lên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên. Nghe nói, sau vài hôm Hồ Chủ Tịch có mời bà tới gặp Người và thuyết giải nhưng không có kết quả. Bà đã trở lại Pháp tiếp tục làm việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm vật lý Sorbonne. Sau khi biết chuyện này, chúng tôi cảm thấy đây quả là một phụ nữ Việt Nam “Cứng đầu, cứng cổ” danh bất hư truyền.  Trích hồi ký của cố GS Đào Văn Tiến.  Theo http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/ba-hieu-truong-truong-dai-hoc-khoa-hoc/20181227110512906p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba nét nổi bật về Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2016      Trong khuôn khổ các sự kiện nhân Ngày KH&CN Việt Nam, lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu 2016 đã được tổ chức vào ngày 18/5 với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ và nhiều nhà quản lý, nhà khoa học. Năm nay, giải chính giải thưởng Tạ Quang Bửu đã được trao cho GS.TS Nguyễn Văn Hiếu (ĐH Bách khoa Hà Nội), PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), giải trẻ thuộc về TS. Phùng Văn Đồng (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam).    Tia Sáng trích đăng bài phát biểu của GS.TS Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin, ĐHQGHN), Phó chủ tịch Hội đồng giải thưởng Tạ Quang Bửu và diễn từ của GS. TS Nguyễn Văn Hiếu tại lễ trao giải thưởng.  Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh trao giải thưởng Tạ Quang Bửu cho hai nhà khoa học đoạt giải chính GS.TS Nguyễn Văn Hiếu (phải) và PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh (trái).  Nét nổi bật đầu tiên của giải thưởng Tạ Quang Bửu 2016 là khác với các năm trước đây cả hai giải thưởng chính đều thuộc các nhà khoa học có tuổi đời còn trẻ. Điều này một lần nữa khẳng định rằng, cơ hội được nhận giải thưởng chính là như nhau đối với các nhà khoa học “lão làng” đã có bề dày trong nghiên cứu khoa học cũng như các nhà khoa học trẻ.  Điểm nổi bật thứ hai là các công trình khoa học mà tác giả chính của chúng được trao giải thưởng được tài trợ và thực hiện trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu cơ bản thực hiện trong nước. Đặc biệt các công trình khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Hiếu và TS Phùng Văn Đồng có các đồng tác giả hoàn toàn là các đồng nghiệp Việt Nam và hoàn toàn được thực hiện ở Việt Nam, không có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, hai công trình này được trích dẫn nhiều lần kể từ khi xuất bản: công trình khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Hiếu (2012) được trích dẫn 69 lần và của TS Phùng Văn Đồng (2013) được trích dẫn 19 lần (không tính tự trích dẫn). Điều này chứng tỏ các công trình khoa học này được các đồng nghiệp quốc tế rất quan tâm và có ảnh hưởng lớn đến các công trình cùng lĩnh vực nghiên cứu.  Điểm nổi bật thứ ba là các công trình khoa học của hai giải thưởng chính đều thuộc lĩnh vực khoa học thực nghiệm, có ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng rất lớn. Công trình khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Hiếu thuộc lĩnh vực Khoa học Vật liệu (Vật lý) đưa ra phương pháp mới chế tạo nano thứ cấp có khả năng mở rộng được ứng dụng không những trong nano cảm biến nhạy khí mà còn trong nhiều lĩnh vực khác như linh kiện điện tử nano, pin năng lượng. Công trình khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh thuộc lĩnh vực Khoa học Thổ nhưỡng và Đất, nghiên cứu được cấu trúc phytolith được hình thành trong quá trình kết tủa silic ở thân cây lúa, từ đó đề xuất ra quy trình xử lý rơm rạ tránh ô nhiễm môi trường và tăng độ phì cho đất trồng trọt có thể áp dụng được trên quy mô đại trà các vùng đồng bằng trồng lúa.  Ngoài ra, công trình khoa học của nhà khoa học trẻ TS Phùng Văn Đồng thuộc lĩnh vực thiên văn học và vật lý năng lượng cao có ý nghĩa lý thuyết rất cao, góp phần vào việc giải thích cấu tạo vật chất và năng lượng của vũ trụ, đã phát triển và hiệu chỉnh mô hình chuẩn đã có 3-3-1 của vật chất tối trong vũ trụ thành mô hình 3-3-1-1 thông qua sử dụng các tính chất đối xứng.  Quy trình xét chọn công trình đề tặng giải thưởng diễn ra một cách chặt chẽ, khoa học, công khai và minh bạch. Với một Hội đồng giải thưởng chủ yếu gồm các nhà khoa học tiêu biểu, đại diện cho các lĩnh vực khoa học liên quan đến giải thưởng và một số nhà khoa học quốc tế có uy tín, các công trình được đánh giá qua uy tín của tạp chí chuyên ngành mà công trình đã được đăng và nội dung khoa học nổi trội của công trình dựa trên ý kiến của các phản biện và được các hội đồng khoa học chuyên ngành của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia sơ tuyển. Mỗi công trình đều được gửi xin đánh giá của hai nhà khoa học uy tín trong nước và hai nhà khoa học quốc tế uy tín. Và cuối cùng, các công trình được tặng giải thưởng đều nằm trong top đầu của hàng trăm các tạp chí ISI có uy tín trong từng chuyên ngành và mỗi công trình đều có những kết quả ở tầm cỡ quốc tế.  Là người làm nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực vật lý- khoa học vật liệu, tôi nhận thấy, người hoạt động ở lĩnh vực này ở Việt Nam rất khó được tặng giải thưởng danh giá này, vì việc công bố các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam trên các tạp chí đỉnh cao là rất khó và để cộng đồng khoa học quốc tế trích dẫn các công trình thực nghiệm thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam lại càng khó hơn.Giải thưởng danh giá này không những là niềm vinh dự mà còn là động lực mới đối với bản thân cũng như cho các nhà khoa học trẻ ở Việt Nam. Đặc biệt, nó là nguồn cảm hứng và động lực mới cho các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ ĐH Bách khoa HN nói riêng và ở các Viện nghiên cứu, trường đại học của Việt Nam nói chung, tiếp tục đẩy mạnh việc công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế ISI, đưa hệ thống Viện nghiên cứu, trường đại học của Việt Nam tiến kịp các trường đại học uy tín trong khu vực và trên thế giới. Đó cũng là mong muốn lớn nhất của tôi khi tham gia giải thưởng này. Để có được niềm vinh dự trong ngày hôm nay, tôi thấu hiểu rất rõ rằng: ngoài sự kiên trì bền bỉ, đam mê nghề nghiệp và những nỗ lực hết mình của bản thân cũng như các thành viên trong nhóm nghiên cứu của tôi, những nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên đã và đang tham gia nghiên cứu và học tập tại nhóm nghiên cứu. Nếu không có họ, một mình tôi không thể làm nên thành công này.Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED (Bộ KH&CN), nơi đã tài trợ hầu hết cho các công bố quốc tế của tôi và nhóm nghiên cứu từ năm 2010 đến nay, để tôi có được công trình xuất sắc tham gia giải thưởng danh giá này.Nguyễn Văn Hiếu      Author                Quản trị        
__label__tiasang Ba phương án bảo tồn di chỉ Vườn Chuối      Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) đã đưa ra ba phương án nhằm bảo tồn cụm di chỉ Vườn Chuối trước nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn bởi những dự án phát triển đô thị. Nếu không hành động kịp thời, chúng ta sẽ mất đi cụm di chỉ hiếm hoi có các tầng văn hóa nối tiếp từ Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn từ 3500 năm trước ngay giữa lòng Hà Nội.         Công tác khai quật tại Vườn Chuối. Trong ảnh là phát hiện di cốt người tại Vườn Chuối. Ảnh: Nguyễn Văn Thắng.    Còn nguyên vẹn nhất trong số nhiều di chỉ tiền – sơ sử  Sáng 22/10, Viện Khảo cổ học đã công bố báo cáo kết quả khai quật di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối, Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức – một địa điểm được giới khảo cổ học đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chứng minh cho quá trình cư trú lâu dài và nguồn gốc bản địa của người Việt cổ ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng.  Cụm di chỉ này có vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu các giai đoạn văn hóa thời đại Kim khí phát triển liên tục từ Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn ở Hà Nội nói riêng và khu vực miền Bắc Việt Nam nói chung, nhưng Vườn Chuối lại nằm trọn vẹn trong vị trí triển khai các dự án xây dựng khu đô thị và đường vành đai 3.5 của Thành phố. Trong khoảng 10 năm qua, các nhà chuyên môn và những người dân sống tại Lai Xá đã nhiều lần đề xuất mong muốn có một phương án bảo tồn Vườn Chuối, đồng thời trường ĐH KHXH&NV Hà Nội đã tiến hành đào khai quật 8 lần.   Tháng 4/ 2019, Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Nhân học (trường ĐH KHXH&NV Hà Nội) tiến hành đào khẩn cấp để lên phương án bảo tồn, với 2 hố khai quật, mỗi hố 100m22, một hố mở ở đoạn giữa gò Vườn Chuối và một hố mở ở phía nam gò. Các hố thăm dò được thiết kế mỗi hố 4m vuông, gồm 75 hố, mở ở 3 địa điểm gò Vườn Chuối gò Dền Rắn và gò Mỏ Phượng.  Kết quả thu được qua đợt khai quật mới nhất này ghi nhận: Cụm di chỉ Vườn Chuối là một cụm di chỉ cư trú kết hợp mộ táng. Cùng kết quả từ các lần khai quật trước, các hố thăm dò, khai quật ở gò Vườn Chuối, gò Dền Rắn và gò Mỏ Phượng lần này đã góp thêm nhiều tư liệu góp phần làm rõ hơn giá trị lịch sử văn hóa của cụm di tích Vườn Chuối. Những di tích, di vật thu được trong đợt thăm dò, khai quật vừa qua, cùng tư liệu từ các đợt khai quật trước là minh chứng rõ nét nhất cho sự cư trú, triển khai các hoạt động sống thường nhật và các ngành nghề thủ công như đúc đồng, chế tác đồ đá, đồ gỗ, đồ gốm, đan lát, dệt vải… của con người ở cụm di chỉ Vườn Chuối qua các giai đoạn lịch sử từ tiền Đông Sơn tới Đông Sơn. Khai quật phát lộ nhiều vết tích bếp, lò nấu đồng, hố chôn cột, hố đất đen, dải gốm đất nện, cụm gốm, vết tích ao hồ cổ và vết tích động thực vật. Các di vật ở cụm di chỉ Vườn Chuối cho thấy cư dân cổ Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn ở đây đã nắm vững và phát huy đến trình độ rất cao những nghề thủ công chế tác đồ đá, đồ gốm, đồ gỗ, nấu đúc kim loại đồng, xe sợi dệt vải… Nhìn chung hiện nay “ở thủ đô Hà Nội, những di tích Tiền – Sơ sử chỉ còn lại rất ít. Trong khi đó, Vườn Chuối là một cụm di chỉ vẫn còn hiện hữu một cách nguyên vẹn nhất, vẫn còn có thể nghiên cứu lâu dài”, theo đánh giá của PGS.TS Bùi Văn Liêm, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học.    Các hiện vật thời Đông Sơn tại Vườn Chuối được người dân làng Lai Xá thu gom sưu tầm trong nhiều năm qua. Ảnh: Nguyễn Văn Thắng.   Mặc dù vậy, cụm di chỉ Vườn Chuối vẫn chưa được xếp hạng di tích, và đang đứng trước nguy cơ bị xâm lấn. Các gò đất của cụm di chỉ đang nằm trong phạm vi dự án Thăng Long 9 (Khu đô thị Kim Chung Di Trạch). Cảnh quan môi trường khu vực đã thay đổi hoàn toàn do quá trình san lấp tạo mặt bằng xây dựng khu đô thị. Riêng gò Vườn Chuối vẫn còn giữ được hình dạng ban đầu nhưng tình trạng san lấp mặt bằng cũng đã tiến sát đến chân gò. Gò Vườn Chuối còn bị con đường vành đai 3.5 của thành phố Hà Nội cắt qua một nửa gò. Quá trình thi công tuyến đường đã tiến sát chân gò và đang tạm thời dừng lại đợi kết luận của UBND thành phố Hà Nội về phương án bảo tồn di tích.  Không để di sản “đội nón ra đi”  Vì vậy, trong phát biểu tại buổi báo cáo khai quật, PGS.TS Bùi Văn Liêm, trưởng nhóm khai quật lần này tại Vườn Chuối đề xuất ba phương án bảo tồn cụm di chỉ Vườn Chuối. Phương án thứ nhất là bảo tồn nguyên trạng toàn bộ cụm di chỉ Vườn Chuối (Vườn Chuối gần 12.000m2, Dền Rắn gần 3.200 mét vuông; Mỏ Phượng gần 500 mét vuông). Phương án hai là dành một phần diện tích di chỉ Vườn Chuối để dựng bia giới thiệu về cụm di chỉ khảo cổ học, tiến hành xây dựng hồ sơ di tích đề nghị xếp hạng khi đủ điều kiện, thực hiện khai quật di dời di tích trước khi xây dựng công trình khác theo Luật Di sản Văn hóa. Và phương án ba, bảo tồn 6.000 mét vuông nửa phía Đông di chỉ, tiến hành khai quật nghiên cứu 6.000 mét vuông nửa phía Tây di chỉ Vườn Chuối. Ngoài ra, đối với các di chỉ Dền Rắn và Mỏ Phượng, chủ đầu tư dự án xây dựng khu đô thị Kim Chung – Di Trạch cần phải thực hiện khai quật di dời di tích trước khi xây dựng theo Luật Di sản Văn hóa.   PGS.TS Bùi Văn Liêm cũng cho biết, các thành viên trong nhóm nghiên cứu của ông ủng hộ phương án đầu tiên là bảo tồn nguyên trạng toàn bộ cụm di chỉ, khoanh vùng khu vực bảo tồn bằng các mốc giới, trong khu vực di tích không xây dựng bất kỳ công trình kiến trúc nào mặc dù biết rằng nếu đi theo phương án này sẽ có sự xung đột gay gắt giữa di sản văn hóa với mục tiêu phát triển đô thị và hạ tầng giao thông của thành phố Hà Nội. Thế nhưng, nếu con đường được thi công theo phương án đã được phê duyệt như hiện tại thì một nửa diện tích phân bố, tương đương với 6.000 mét vuông di chỉ Vườn Chuối sẽ bị phá hủy hoàn toàn. Phần diện tích còn lại của di chỉ Vườn Chuối, Dền Rắn và Mỏ Phượng là đất dự án xây dựng khu đô thị Kim Chung – Di Trạch. Theo thiết kế, nửa phía đông di chỉ Vườn Chuối là khu công viên cây xanh nhưng không có gì đảm bảo rằng khi đất hoàn toàn thuộc sở hữu của doanh nghiệp sẽ không có chuyện chuyển đổi mục đích xây dựng ở khu vực này.  Một khi bảo tồn nguyên trạng di tích, việc nghiên cứu sẽ được tiến hành dần dần khi có đủ các điều kiện nghiên cứu lý tưởng. Bởi vì theo PGS Bùi Văn Liêm, ngay tại thời điểm hiện nay ngành khảo cổ học Việt Nam vẫn còn đang thiếu một số các phương tiện máy móc hỗ trợ nghiên cứu. Bảo tồn để nghiên cứu lâu dài sẽ tránh được việc làm thất thoát thông tin khoa học còn lưu giữ ở trong lòng đất.      GS Lâm Thị Mỹ Dung lo ngại tình trạng “di sản đội nón ra đi”. Ảnh: Nguyễn Văn Thắng  GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung Giám đốc Bảo tàng Nhân học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội đồng tình với phương án một, nhưng cũng cho rằng cần phải tìm một phương án hài hòa để không ngăn cản quá trình phát triển của thủ đô mà vẫn có thể khai thác và giữ gìn các di sản quý giá, từ đó mới có được sự đồng thuận giữa các nhà quản lý, các nhà khoa học và cộng đồng. Bà cảnh báo về thực trạng xói mòn di sản hiện nay: “Mọi người thường nói rằng, Hà Nội đang có quá nhiều di tích, chỉ cần một nhát cuốc thôi là có thể tìm thấy được rất nhiều di tích khảo cổ học ở các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, cả thành phố Hà Nội, ngoài Hoàng Thành Thăng Long ra thì chúng ta gần như không có một địa điểm khảo cổ học Tiền – Sơ sử nào được bảo tồn và được khai thác một cách hữu hiệu. Chúng ta cứ nghĩ rằng mình có rất nhiều di sản, nhưng thật ra di sản nào cũng đang lần lượt ‘đội nón ra đi’.”  Đề xuất về một phương án nhằm giải quyết cả vấn đề bảo tồn và vấn đề đô thị, TS. Phạm Quốc Quân, thành viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia cho biết: “Tôi cho rằng Vườn Chuối nên trở thành một Công viên Khảo cổ học. Một khu đô thị thì cần phải có không gian xanh, và công viên ấy không chỉ để bảo tồn Vườn Chuối, mà còn trồng những thảm cỏ, trồng những cây rễ nông – bởi những cây này sẽ không bám sâu, gây phá hủy tầng văn hóa.”   “Quan điểm của thôn Lai Xá nói riêng và của xã Kim Chung nói chung là bằng mọi giá phải bảo vệ và bảo tồn được khu di chỉ này”, ông Phí Văn Kim – Bí thư Chi bộ thôn Lai Xá, đại diện người dân Lai Xá cho biết. Ông nhấn mạnh: “Nếu một giữ lại khu di chỉ, tất cả các ban ngành, đoàn thể phải cùng nhau vào cuộc, đưa ra kiến nghị đối với UBND Thành phố Hà Nội. Cần phải có sự can thiệp của UBND Thành phố, như thế mới có thể thống nhất với chỗ đầu tư để điều chỉnh quy hoạch. Một là điều chỉnh quy hoạch, hai là thay đổi hẳn quy hoạch, nơi đây mới có thể trở thành một công viên cây xanh. Đối với người dân địa phương chúng tôi, nơi đây sẽ là một nơi tưởng nhớ cội nguồn của ông cha ta, bởi đây là những người dân đã sống vào 2000 năm trước ở thôn Lai Xá.”  Với giá trị lịch sử văn hóa to lớn đã được chứng thực qua nhiều lần khai quật nghiên cứu từ trước đến nay, cụm di chỉ Vườn Chuối xứng đáng được đưa vào danh mục kiểm kê di tích lịch sử văn hóa và xếp hạng là di tích khảo cổ học của thành phố Hà Nội. Nếu không có một phương án bảo tồn kịp thời, hợp lý, một phần lịch sử của ông cha ta từ Tiền Đông Sơn đến Đông Sơn sẽ chỉ còn tồn tại trên giấy mà thôi.   Anh Thư  Nguồn: Khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học của MICA về gây dựng và phát triển nhân lực      Mô hình phát triển của Viện nghiên cứu Quốc tế về Thông tin đa phương tiện, truyền thông và ứng dụng (MICA) thuộc ĐH Bách khoa Hà Nội cho thấy hợp tác quốc tế có thể là một giải pháp đột phá hữu hiệu giúp phát triển đội ngũ nghiên cứu.      Ngày nay, được biết đến với những công trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, và nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực xử lý thông tin đa phương tiện, với những đề tài nghiên cứu công nghệ cao có tính ứng dụng thiết thực trong đời sống, như nghiên cứu phát triển căn hộ thông minh trợ giúp người mắc bệnh Alzheimer, nghiên cứu hệ thống cảnh báo y tế dựa trên phân tích âm thanh, công nghệ dẫn hướng người mù, v.v. Nhưng trước khi có được những thành công này, MICA đã phải trải qua một quá trình kiên trì xây dựng lực lượng nhân sự của mình từ một đội ngũ ban đầu vô cùng mỏng (tính tại thời điểm thành lập hồi tháng 11 năm 2002, nhân sự của MICA chỉ có hai chuyên gia kiêm cán bộ quản lý). Trong bối cảnh như vậy, một chiến lược phù hợp trong hợp tác quốc tế đã giúp MICA từng bước phát triển và cải thiện thực lực của mình.           Để một mô  hình hợp tác quốc tế thành công, rất cần có những chuyên gia có kinh  nghiệm của nước ngoài làm việc lâu dài ở Việt Nam, gắn bó, coi công việc  gây dựng nên một tổ chức nghiên cứu mạnh ở Việt Nam là đứa con tinh  thần của mình.    GS.TS. Phạm Thị Ngọc Yến – Viện trưởng Viện MICA        Mấu chốt giúp hợp tác quốc tế đem lại thành công cho MICA không phải từ những khoản vốn dồi dào của nước ngoài. GS.TS. Phạm Thị Ngọc Yến – Viện trưởng Viện MICA cho biết, kể từ khi thành lập đến nay, phần vốn từ phía Việt Nam, trong đó bao gồm cơ sở vật chất do ĐH Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) cung cấp cho MICA, luôn chiếm từ 50%-80%. Đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn ban đầu, phần đầu tư từ đối tác bên Pháp thuần túy chỉ là con người và đào tạo, trong đó TS. Eric Castelli là chuyên gia làm việc thường xuyên duy nhất tại Viện ở Việt Nam.   Tuy số lượng cán bộ ban đầu từ phía Việt Nam cũng như Pháp dành cho MICA không nhiều, nhưng họ đều là những con người tâm huyết với công việc, và đây có thể coi là một tác nhân rất quan trọng đem lại thành công cho MICA. Những hạt nhân đầu tiên của MICA, như GS.TS. Nguyễn Trọng Giảng (nay là Hiệu trưởng ĐHBKHN), GS. Yến, và TS. Castelli, đã miệt mài chung tay gây dựng cơ đồ cho MICA. Đặc biệt là TS. Castelli, với kinh nghiệm, trình độ, và uy tín cùng quan hệ học thuật của mình, đã góp phần quan trọng giúp định hình nên một viện nghiên cứu chuyên nghiệp. Ông cũng đã đưa về cho MICA hàng chục dự án nghiên cứu quốc tế, với nguồn kinh phí hàng trăm nghìn Euro.           Giữa các cán bộ, chuyên gia của MICA thường  xuyên diễn ra những cuộc thảo luận, nhằm phát triển các thông tin và ý  tưởng thành những đề tài nghiên cứu. Sự trao đổi một cách cởi mở này là  một cách giúp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên con người của Viện,  không chỉ giúp tận dụng được thông tin mà cả những mối quan hệ học thuật  của từng cá thể.        Tuy nhiên, mọi hoạt động của một cơ quan nghiên cứu chỉ có thể triển khai thực hiện khi đã có một đội ngũ nhân lực mạnh. Trong bối cảnh đội ngũ nhân lực ban đầu quá mỏng, lại không có nguồn tài lực dồi dào để ngay lập tức thu hút các chuyên gia giỏi về làm việc cho mình, MICA đã phải kiên nhẫn tự ươm trồng, gây dựng nhân lực từ những bước sơ khai nhất. Từ lúc thành lập năm 2002 tới 2009, Viện đã phối hợp với đối tác Pháp đào tạo được 15 tiến sĩ, trong đó tất cả đều từng là cử nhân của ĐHBKHN và được hướng dẫn làm luận văn thạc sĩ tại MICA. Trong số 15 tiến sĩ này, 12 người đã quyết định gắn bó làm việc lâu dài với MICA.  Với chế độ lương bổng về cơ bản không có gì khác biệt giữa những cán bộ ở MICA và những cán bộ khác của ĐHBKHN, yếu tố giúp thu hút và giữ chân các nhà nghiên cứu chính là môi trường làm việc chuyên nghiệp, thuận lợi cho công việc. MICA với tư cách là một viện nghiên cứu quốc tế có đủ uy tín và những mối quan hệ học thuật để đăng ký thành công nhiều đề tài, dự án nghiên cứu. Bên cạnh đó, việc tham gia thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu, đặc biệt là các đề tài quốc tế, đã đem lại nguồn kinh phí cần thiết giúp MICA tiếp tục hoàn thiện thêm hệ thống trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất phục vụ cho công việc của các nhà nghiên cứu. Đồng thời, các dự án nghiên cứu cũng giúp bổ sung thêm thu nhập, tăng động lực cùng sự gắn bó của đội ngũ cán bộ, và ngày càng thu hút thêm nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, chuyên gia trong nước cũng như quốc tế, đến thực tập và làm việc ở Viện. Ngày nay, MICA không chỉ đào tạo ra các tiến sĩ người Việt Nam, mà còn phối hợp đào tạo cả những tiến sĩ nước ngoài, từ Pháp, Mỹ, Lào, và Campuchia.            Nghiên cứu, phát triển rôbôt trợ giúp trong bảo tàng tương tác bằng tiếng nói và cử chỉ    Tương tác bằng tiếng nói với rôbôt iRobiQ          Giữa các cán bộ, chuyên gia của MICA thường xuyên diễn ra những cuộc thảo luận, nhằm phát triển các thông tin và ý tưởng thành những đề tài nghiên cứu. Sự trao đổi một cách cởi mở này là một cách giúp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên con người của Viện, không chỉ giúp tận dụng được thông tin mà cả những mối quan hệ học thuật của từng cá thể. Đây là điều quan trọng giúp MICA dành được nhiều dự án nghiên cứu, đặc biệt là trong bối cảnh ngày nay đa số các dự án đều mang tính liên ngành cao, đòi hỏi mỗi viện nghiên cứu phải tìm ra những đối tác có khả năng chuyên môn phù hợp giúp bổ sung thế mạnh cho nhau trong việc đăng ký và thực hiện các dự án.          Các nhà nghiên cứu Việt Nam và Pháp đang phân tích dữ liệu tiếng nói tại Viện MICA (ảnh Eric Castelli)          Trong quá trình hoạt động, MICA vẫn thường xuyên gửi báo cáo về tình hình hoạt động của Viện cho các đối tác nước ngoài là Viện Đại học Bách khoa Quốc gia Grenoble và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học quốc gia Pháp, là những tổ chức có uy tín cao và nhiều kinh nghiệm trong quản lý khoa học, từ đó nhận được những đề xuất, khuyến nghị rất hữu ích từ các tổ chức này. Tuy nhiên, những đối tác nước ngoài cũng thường có những nguyên tắc và mối ưu tiên riêng, và việc dung hòa những đặc thù này với các mục tiêu ưu tiên từ phía Việt Nam là rất quan trọng. Trong trường hợp của MICA, do đối tác nước ngoài đều là những tổ chức thiên về nghiên cứu cơ bản, luôn có những đòi hỏi nghiêm túc về tính học thuật trong các hoạt động và sản phẩm nghiên cứu của MICA, trong khi các nhà quản lý khoa học của Việt Nam lại thường chú trọng hơn tới những sản phẩm có tính ứng dụng cao, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thị trường. Theo GS. Yến, để dung hòa những khác biệt này, điều quan trọng là giữa các đối tác có những thỏa thuận rõ ràng và cụ thể, đi đến những thống nhất bằng văn bản ngay từ ban đầu về định hướng và các nguyên tắc phát triển, hoạt động của Viện.   Như vậy, có thể thấy rằng quá trình hình thành và phát triển của MICA không quá nhanh chóng, nhưng chắc chắn, bền vững, là một mô hình hợp tác quốc tế mà các trường và viện nghiên cứu khác nên xem xét tham khảo. Mô hình ấy chú trọng vào yếu tố con người, luôn tập trung vào việc gây dựng, duy trì tài nguyên con người, bao gồm cả những chuyên gia quốc tế và trong nước, đồng thời xây dựng một môi trường phù hợp để phát huy hiệu quả nguồn lực quý giá này. Theo GS. Yến, để một mô hình hợp tác quốc tế thành công, rất cần có những chuyên gia có kinh nghiệm của nước ngoài làm việc lâu dài ở Việt Nam để giúp gây dựng nên một tổ chức nghiên cứu mạnh. “Có như thế họ mới gắn bó, coi công việc ở Việt Nam là đứa con tinh thần của mình”, GS. Yến nhấn mạnh. Bà cũng cho rằng môi trường ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội, đang ngày một phát triển đi lên, giúp tăng sự thuận lợi để có thêm nhiều chuyên gia nước ngoài tìm đến làm việc tại Việt Nam.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bài học thất bại của Thái Lan*      Thái Lan là trường hợp điển hình đã thất bại trong việc tạo lập một hệ thống sáng tạo/đổi mới của quốc gia (National Inovation System -NIS) do không bắt kịp sự phát triển của công nghệ. Khi chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hóa thì NIS của Thái Lan vẫn còn yếu và rời rạc, làm mất sức cạnh tranh của Thái Lan và đóng góp một phần vào cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á bắt nguồn từ nước này.      Từ những năm của thập kỷ 1980, khái niệm hệ thống sáng tạo/ đổi mới quốc gia (national innovation system -NIS) đã trở nên một nội hàm phổ biến, cốt lõi để phân tích sự biến đổi công nghệ, là yếu tố nền tảng không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế dài hạn của một quốc gia. NIS được định nghĩa là hệ thống các chủ thể và các mối tương tác với nhau của các chủ thể đó, bao gồm tổ chức nghiên cứu,các doanh nghiệp công và tư (lớn hoặc nhỏ), các trường đại học và các cơ quan chính phủ, nhằm mục đích sản sinh các sản phẩm khoa học và công nghệ (S&T) trong khuôn khổ lãnh thổ một quốc gia. Các mối tương tác giữa các chủ thể này có thể là các vấn đề thuộc về kỹ thuật, thương mại, pháp lý, xã hội và tài chính của khoa học và công nghệ mới dưới các dạng thức như sự phát triển, bảo hộ, tài trợ hoặc quy phạm.     Đặc điểm của nền kinh tế Thái Lan   Thái Lan cũng tương tự như các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Đông Á đã chuyển biến từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp sang một nền kinh tế trong đó khu vực công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp chế tạo) chiếm vị trí chủ lực. Đóng góp của ngành nông nghiệp trong GDP đã giảm đáng kể từ gần 40% trong năm 1960 xuống khoảng 10% trong năm 1990, trong khi đó ngành công nghiệp thì tiến theo chiều ngược lại. Xuất khẩu dựa trên nguồn tài nguyên và thâm dụng lao động đã đi xuống trong khi đó xuất khẩu dựa trên cơ sở khoa học và sản phẩm chuyên biệt đã tăng kể từ thập kỷ 90 (xem Bảng 1). Tuy nhiên không thể cho rằng xuất khẩu Thái Lan đã chuyển sang sản phẩm có nhiều hàm lượng chất xám, đòi hỏi có công nghệ tinh xảo để chế tạo ra, bởi chủng loại hàng hóa được gọi là dựa vào công nghệ cao khoa học chỉ là sản phẩm lắp ráp tại chỗ trong khi các linh phụ kiện công nghệ tinh xảo, giá trị gia tăng cao lại là sản phẩm phải nhập khẩu.    Tuy nhiên, bất kể đóng góp của ngành chế tạo trong GDP là bao nhiêu, Thái Lan, với tổng số đất 42% được sử dụng cho mục đích nông nghiệp, vẫn giữ vai trò của mình là bát gạo của khu vực và đóng vai người nắm chìa khóa trong thị trường thực phẩm và nông nghiệp toàn cầu.   Đặc điểm của NIS Thái Lan   Ba đỉnh tam giác biểu diễn ba chủ thể định hình nên NIS của Thái Lan là các doanh nghiệp tư nhân, chính phủ và các trường đại học. (Chủ thể chính phủ được hiểu là tổ chức chính phủ và các đơn vị sự nghiệp công lập như Viện nghiên cứu).   Các doanh nghiệp. Một số nghiên cứu tiến hành từ thập kỷ 80 về các doanh nghiệp Thái Lan nhìn nhận rằng hầu hết các doanh nghiệp có sự phát triển nhưng không hề chịu tăng tiềm lực công nghệ cho lâu dài, và việc học hỏi công nghệ của họ là rất chậm và bị động. Chỉ có một thiểu số nhỏ trong số các chi nhánh lớn các công ty xuyên quốc gia (TNC), các công ty nội địa lớn và công ty vừa và nhỏ là có khả năng nghiên cứu và triển khai, còn tuyệt đại đa số chỉ là đang vật lộn với việc tăng năng lực thiết kế và kỹ nghệ (engineering) mà thôi. Đối với số lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vấn đề then chốt mà họ quan tâm chỉ là tăng đồng hóa, cải tiến các công nghệ đã tiêu chuẩn hóa từ khá lâu. (xem bảng 1). Hầu hết các doanh nghiệp được điều tra chỉ thực hiện các công việc đòi hỏi mức công nghê đơn sơ, đơn cử như kiểm thử sản phẩm. Chưa đầy một nửa các doanh nghiệp là có năng lực thiết kế. Chỉ một phần ba có khả năng kỹ nghệ nguôn. Gần 15% có tiến hành R&D. Điều tra cũng cho thấy con số số doanh nghiệp có sáng tạo/đổi mới (20%) là rất nhỏ nhưng còn nhiều hơn số có R&D (15%).  Điều này xác nhận khẳng định của nhiều nghiên cứu trước đây rằng không giống như trong các nước đã phát triển, ở các nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào việc nhập khẩu công nghệ dưới dạng thiết bị chế tạo và công nghệ chìa khóa trao tay chủ yếu từ nước ngoài hoặc từ đối tác liên doanh. Điều này một phần là do nhiều doanh nghiệp có lịch sử xuất phát từ nền tảng của một công ty buôn bán, họ chú trọng đến việc thu hồi nhanh chứ không quan tâm vấn đề phát triển năng lực công nghệ lâu dài.   Chính phủ. Trái ngược với một số các nước OECD, nơi sự sáng tạo/đổi mới được ưu tiên cao trong chính sách quốc gia, ở Thái Lan không có một chính sách rõ ràng và đồng bộ về sáng tạo / đổi mới của quốc gia. “Sáng tạo/đổi mới”, mặc dù được nói đến trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế Quốc dân và Xã hội (lần thứ tám), nhưng ngay cả về khái niệm thì NIS cũng rõ ràng là không hiểu. Nó chỉ là một từ “thông dụng” trao đổi với nhau giữa các chính khách Thái Lan cho có vẻ sành điệu mà thôi.  Chính sách thúc đẩy phát triển công nghệ hiện diện trên chương trình nghị sự khá muộn ở Thái Lan. Trong giai đoạn bốn kế hoạch phát triển đầu tiên (1958-1981), vấn đề khoa học và công nghệ không được xem là một mục mục riêng. Và cho đến năm 1979, khi Bộ Khoa học, Công nghệ và năng lượng (sau này Môi trường) được thành lập, thì trong Kế hoạch quốc gia lần thứ năm về Phát triển kinh tế-Xã hội (1982-1986) mới đề cao tầm quan trọng của khoa học và công nghệ.   Chính sách công nghiệp của Thái Lan cũng rất rời rạc, không quan tâm đến sự phát triển của năng lực công nghệ bản địa như là một yếu tố tích hợp trong quá trình công nghiệp hóa. Chính sách đầu tư, đặc biệt là xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhằm mục đích đầu tiên chỉ là tạo ra việc làm. Chính sách thương mại, mà công cụ quan trọng nhất ở Thái Lan là thuế, đã không được sử dụng như một công cụ chiến lược để thúc đẩy đổi mới công nghệ như trong các nước NIEs.   Ngoại trừ trường hợp yêu cầu nội địa hóa trong ngành công nghiệp ô tô đã khá thành công, đã nâng tỷ lệ nội địa hóa xe chở người đến 54% trong 1986, Thái Lan không hề đặt những tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc (như xuất khẩu hay nội địa hóa và đích phải đạt về nâng cấp công nghệ) phải tuân thủ để được nhận các ưu đãi của nhà nước giống như chính phủ Nhật Bản (như trường hợp của công nghiệp sợi tổng hợp trong những năm 1950) hay Hàn Quốc (chẳng hạn như trường hợp của ngành công nghiệp đóng tàu những năm 1960). Ở Thái Lan việc chen chân vào những lĩnh vực bảo hộ nghiêm ngặt không phải do năng lực khả năng công nghệ của các doanh nghiệp tiềm năng quyết định mà phần lớn nhờ vào liên kết cánh hẩu với quyền lực chính trị quyết định.  Các tổ chức KHCN công lập (RTOs) là những tổ chức có trách nhiệm trực tiếp phát triển năng lực KH&CN của quốc gia, có một số đặc điểm chung:  Hoạt động chủ yếu tập trung vào R&D, chứ không phải là xây dựng năng lực ở mức thấp hơn, chẳng hạn như đồng hóa và thích ứng công nghệ, thiết kế và kỹ nghệ, mà đó mới chính là ngưỡng công nghệ hầu hết các doanh nghiệp Thái Lan phải đối mặt. Điều này khác biệt so với RTOs của NIEs vào những thập kỷ 1970 và 1980, khi mà trình độ phát triển của họ còn cùng cấp với Thái Lan. Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST), chẳng hạn, họ chú ý tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật và tổ chức cho việc phát triển tiềm lực công nghiệp công nghệ trong nội bộ các doanh nghiệp, như giúp đỡ để giải quyết những vấn đề nẩy sinh trong hoạt động sản xuất.   Mặc dù ngành công nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc đóng góp vào GDP và xuất khẩu, nhưng ngân sách chính phủ Thái dành cho nghiên cứu và phát triển nông nghiệp vẫn nhiều hơn so với công nghiệp. (Năm 1997, R&D chi cho khoa học nông nghiệp được 42%, trong khi đó đối với kỹ nghệ và khoa học ứng dụng chỉ có 6,94% của tổng chi tiêu của chính phủ cho R&D).   Khác với các nước đã phát triển và Các nước công nghiệp mới, kể từ năm 1950 các cấu trúc của RTOS chỉ mở về chiều rộng mà không phải là chiều sâu chuyên môn. Có nhiều tổ chức có chức năng trùng lặp, tỷ dụ như, cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện áp dụng phát triển công nghệ và chuyển giao, thực hiện các nghiên cứu cơ bản… Và dường như chính phủ đã bất lực trong việc tổ chức lại hệ thống này trong hơn 40-50 năm qua.  Trường đại học. Với trường đại học công và 50 trường đại học tư thục, tổng cộng Thái Lan có năng lực của giáo dục là 1.100.000 sinh viên, đại đa số tập trung vào các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Chất lượng của chính các trường đại học và sinh viên tốt nghiệp của các trường này là không cao so với các trường đại học khác ở châu Á. Khả năng nghiên cứu nói chung là không đạt yêu cầu. Ý nghĩa của các nghiên cứu đối với các ngành công nghiệp là khá thấp.     Mối liên kết giữa các chủ thể   Mối liên kết giữa ba chủ thể của NIS Thái nói chung là yếu kém và rời rạc.  Sự yếu kém của liên kết giưa người dùng-nhà sản xuất. Khác với NIS ở các nước đã phát triển, nơi các mối liên kết giữa người dùng với nhà sản xuất   được nhấn mạnh là cơ sở chung cho sự sáng tạo/đổi mới, các Điều tra về R&D/Sáng tạo/đổi mới của Thái Lan cho thấy mức độ liên kết giữa nhà sản xuất và người sử dụng và giữa người sản xuất và các nhà cung cấp là khá yếu. Đó chỉ là những liên kết ngắn và dễ đứt.  Sự yếu kém trong hợp tác giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành công nghiệp và các ngành liên quan. Không chỉ là sự tương tác theo chiều dọc theo chuỗi giá trị là yếu, mối quan hệ ngang giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp hoặc liên quan cũng không được các doanh nghiệp coi là quan trọng. Các tập hợp (Consorsiums) tạo lập bởi sự hợp tác của các doanh nghiệp, nhằm nghiên cứu đạt được một công nghệ cụ thể hoặc là làm một sản phầm nào đó như thường gặp ở Nhật Bản hay Đài Loan, thì lại rất hiếm ở Thái Lan.   Sự tràn ngập công nghệ thấp từ các công ty xuyên quốc gia (TNCs). Thái Lan là một nơi tiếp nhận FDI quan trọng trong khu vực, với số tiền là 7 tỉ USD vào năm 1998. Tuy nhiên, không giống như Singapore, nơi mà môi liên kết chặt chẽ giữa các công ty xuyên quốc gia với các doanh nghiệp luôn được nâng cấp để giúp tăng cường năng lực công nghệ, các liên kết để phát triển công nghệ giữa các TNCs và các công ty con của họ ở Thái Lan chỉ được giới hạn ở cấp độ huấn luyện cho các công nhân sao cho họ có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm mà thôi.   Sự yếu kém trong mối liên kết công nghiệp-đại học. Mối liên kết giữa trường đại học và công nghiệp chủ yếu là đào tạo ngắn hạn, hoạt động tư vấn nghiên cứu đặc biệt dựa trên các kết nối riêng rẽ giữa cá nhân các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp chứ không phải trên cơ sở những cam kết có tổ chức.   Sự yếu kém của kết nối giữa các tổ chức nghiên cứu công lập (RTOs) với các doanh nghiệp. Cuộc khảo sát về sáng tạo đổi mới cho thấy rằng các liên kết giữa RTOs định hướng vào công nghiệp với các doanh nghiệp ở Thái Lan là khá hạn chế. Chỉ có một số lượng nhỏ, tối đa là 20% của 1000 doanh nghiệp được khảo sát đã có sử dụng các dịch vụ của một đơn vị nào đó trong số các RTOs. Hơn nữa, những Doanh nghiệp này thường không xem RTOs là nguồn thông tin quan trọng cho các hoạt động sáng tạo/đổi mới của họ, bởi hầu hết RTOS hoạt động theo “mô hình tuyến tính” của sáng tạo/đổi mới. RTOS của Thái chỉ tập trung vào phát triển công nghệ cho công nghiệp rồi chuyển giao công nghệ đó của họ cho các doanh nghiệp tư nhân, thay vì thúc đẩy chuyển giao nhân sự từ RTOS sang các doanh nghiệp tư nhân, mà chính việc này mới là quan trọng cho phát triển sâu tiềm lực công nghệ trong công nghiệp.  Hoạt động Đào tạo của các tổ chức thuộc chính phủ thất bại trong việc nâng kỹ năng chuyên môn của nhân viên các doanh nghiệp lên mức cao hơn. Chính sách kích thích các doanh nghiệp đầu tư đào tạo và phát triển kỹ năng duy nhất được thiết kế cho phép doanh nghiệp khấu trừ 150% thuế chi phí đào tạo. Theo khảo về sáng tạo/đổi mới, chưa đến 5% doanh nghiệp biết được là có khuyến khích này. Và quan trọng hơn, ưu đãi này lại tài trợ cho các loại đào tạo không nhắm mục tiêu vào các kỹ năng cần thiết để vượt qua ngưỡng của năng lực công nghệ, mà chính là giải quyết thất nghiệp, do đó, nó nhắm vào mục tiêu khá thấp về kỹ năng như đào tạo nghề mộc chẳng hạn. Điều này trái ngược hẳn với các chương trình đào tạo tại Hàn Quốc và Singapore nơi mà sự tập trung đào tạo là nhằm vào loại nghề cao cấp, chuyên ngành và “tiên phong”.  Khuyến khích về tài khóa và tài chính của Chính phủ là không hiệu quả trong việc kích thích nhu cầu của khu vực tư nhân đầu tư phát triển công nghệ. Không có nhiều doanh nghiệp đã sử dụng ưu đãi tài khóa và tài chính của chính phủ là bởi ba lý do chính:  Hầu hết các doanh nghiệp không biết là có ưu đãi. Theo khảo sát về Sáng tạo/đổi mới chỉ 2-3% của các doanh nghiệp biết về sự tồn tại các ưu đãi tài khóa và tài chính; những ưu đãi có xu hướng tập trung vào R&D hẹp, loại ra ngoài một phần rất lớn các hoạt động góp phần phát triển công nghệ như kỹ nghệ và thiết kế. Các đề án khuyến khích này đòi hỏi nhiều thủ tục phiền phức do những quan ngại về tham nhũng và lạm dụng công quỹ. Ví dụ, các tổ chức tài chính đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các loại tài sản thế chấp như đi vay thông thường.  Sự bất tương hợp giữa mức độ phát triển cơ cấu kinh tế và trình độ phát triển của đổi mới/sáng tạo, NIS là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế của Thái Lan bắt đầu vào năm 1997, khi đó sự tăng trưởng của xuất khẩu của Thái Lan là 0%; điều này có nghĩa rằng xuất khẩu Thái Lan bị mất khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng tăng.  Khiếm khuyết cơ bản về cấu trúc của nền kinh tế Thái Lan là không có khả năng tạo lập nền tảng công nghệ sâu, biểu hiện bằng hai chỉ dấu:  * Mặc dù nền kinh tế Thái đã đạt GDP tăng trưởng cao và đã chuyển đổi cơ cấu, nhưng khả năng tạo ra “giá trị gia tăng cho sản phẩm, một việc do năng lực phát triển công nghệ quyết định, lại khá nghèo nàn. Xuất khẩu của đất nước phụ thuộc nặng nề vào linh kiện và vật liệu công nghiệp nhập khẩu.  * Chỉ số của sự đóng góp của riêng phần thay đổi kỹ thuật vào tăng trưởng kinh tế trong khu vực chế tạo và công nghiệp rất thấp. Ví dụ, trong giai đoạn của 1978-1990, tỷ lệ tăng trưởng trong cả hai lĩnh vực là -0,36 và -0,61. Khác hẳn với Hàn Quốc và Đài Loan ở giai đoạn đó hầu hết ngành chế tạo có tăng trưởng dương (+) cho thấy xu hướng đuổi kịp về công nghệ ngày càng tăng.   Kết luận   Từ nghiên cứu này có thể rút ra những bài học có thể là hữu ích cho các nước đang phát triển trong việc thiết lập thành công hệ thống sáng tạo/đổi mới:   1. Chính phủ cần có kế hoạch và áp dụng các chính sách để giúp giải quyết sự yếu kém và rời rạc của NIS, đặc biệt là sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa 3 chủ thể: chính phủ, doanh nghiệp và các trường đại học. Chẳng hạn như khuyến khích sự luân chuyển cán bộ giữa các cơ quan chính quyền với nhau và giữa chính phủ với các doanh nghiệp tư nhân.  2. Việc cải cách thể chế hành chính quan liêu của chính phủ là rất cấp bách, trong đó cơ chế hành chính phải được cách ly khỏi áp lực chính trị của các nhóm quyền lợi đặc biệt, đồng thời, có thể vun đắp tốt cho việc hợp tác với các chủ thể khác của NIS. Ngoài ra cơ chế hành chính cần được điều hành bởi các quan chức chính phủ tận tâm cống hiến cho mục tiêu chung, được tuyển dụng và đề bạt dựa trên năng lực.   Ngoài ra, để thu hút những khuôn mặt sáng giá vào hệ thông hành chính thì tiền lương, đãi ngộ, an sinh nghề nghiệp cũng như sự tôn trọng cần phải gần được như sự chào mời của khu vực tư nhân.   3. Cải cách chính phủ như nói trên không phải là không thể. Dao vậy trước hết có thể tập trung nỗ lực cải cách vào các Bộ khối kinh tế và các cơ quan đóng vai trò quan trọng trong NIS.    Bảng 1: Phân bổ xuất khẩu hàng hóa chế tạo theo chủng loại công nghệ (%)               NHÓM      HÀN   QUỐC      SINGAPORE      ĐÀI   LOAN      THÁI   LAN          Sản phẩm      1980      1990      1999      1980      1990      1999      1980      1990      1999      1980      1990      1999          Dựa vào tài nguyên      9.0      6.8      11.6      44.4      26.9      13.2      9.8      8.2      9.2      21.7      13.8      10.7          Dựa vào lao động      49.2      40.8      23.2      10.6      10.3      7.6      54.3      41.2      31.0      47.0      45.5      35.8          Lặp lại và mở rộng      23.6      19.3      21.0      9.3      5.9      5.5      9.1      10.3      10.6      7.8      6.3      7.7          Sản phẩm chuyên biệt      11.3      15.6      18.7      20.5      22.3      21.2      12.4      20.6      20.4      22.2      14.1      19.5          Dựa vào khoa học      6.9      17.4      25.5      15.1      34.6      52.5      14.5      19.8      28.9      1.2      20.2      26.4                                                           Nguồn: UN Comtrade database                          Hình1: Giá trị gia tăng tính trên một nhân công (US$): So sánh Thái Lan với NIEs     Trần Xuân Hoài lược dịch   * Lược thuật bài nghiên cứu của Patarapong Intarakumnerd, Pun-ARJ Chairatana, Tipawan Tangchitpiboon, Cơ quan quốc gia và Phát triển Công nghệ (NSTDA), 73 / 1 Rama VI Road, Rajdhevee, Bangkok 10400, Thái Lan và Druid / IKE Group, Cục Nghiên cứu Kinh doanh, Đại học Aalborg, Fibigerstræde 4, Aalborg, OE DK9220, Đan Mạch công bố trên tạp chí Research Policy 31 (2002) 1445–1457, 2002 Elsevier Science B.V
__label__tiasang Bài học từ Ấn Độ      Cuối tháng 3 năm 2011 tôi có dịp thăm hai cơ sở nghiên cứu của Ấn Độ: Tata Institute for Fundamental Research (Viện nghiên cứu cơ bản Tata – TIFR) ở Mumbai và Indian Institute of Science&#160; (Viện khoa học Ấn Độ) ở Bangalore. Khi được mời, tôi nhận lời ngay vì Ấn Độ là tổ quốc của nhiều người tôi rất khâm phục, trong đó có Subrahmanyan Chandrasekhar, nhà vật lý được giải Nobel năm 1983 cho công trình về sự tiến hóa của các vì sao, và Mahatma Gandhi, cha đẻ của nước Ấn Độ độc lập. Tôi&#160; học hỏi được thêm nhiều qua chuyến đi này.    Sự phát triển kinh tế của Ấn Độ có phần nào giống của Việt Nam. Từ độc lập đến khoảng 1990 họ theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng từ khoảng 1990 đến nay Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế và hiện nay nước này là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Hiện nay GDP trên đầu người của Ấn Độ vẫn còn rất thấp (theo thống kê của IMF, World Economic Outlook Database 2010, thì chỉ nhỉnh hơn Việt Nam một chút), nhưng nền khoa học của họ rất phát triển.  Cảm giác của tôi khi thăm viện TIFR là sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường có lẽ đã diễn ra khá thuận lợi đối với Viện này. Những tòa nhà kiểu khu tập thể xây những năm 60-70 ở Nga và Việt Nam tồn tại một cách hài hòa bên cạnh các công trình kiến trúc hiện đại.  Cuộc hội thảo tôi tham gia ở TIFR chỉ có ba ngày nhưng đã lôi kéo được nhiều nhà khoa học ở Mỹ và Anh. Nhiều người trong số họ (phần lớn không phải là gốc Ấn Độ!) trước đây đã là postdoc ở TIFR. TIFR lôi kéo được nhiều postdoc phương Tây: thường họ ở đây dưới một năm, sau khi tốt nghiệp PhD và trước khi làm postdoc ở nơi khác. Nhưng chỉ mấy tháng ở Ấn Độ cũng đủ làm cho họ gắn bó nhiều với đất nước này.  Khoa học cơ bản  ở Ấn Độ có uy tín cao trong xã hội trước khi “đổi mới”. Có lẽ ở Việt Nam trước đây cũng đã từng như vậy. Nhưng ở Việt Nam, sự mở của về kinh tế đi cùng với sự giảm sút về uy tín của khoa học cơ bản. Nhiều doanh nhân Việt Nam nay không tin khoa học cơ bản là cần thiết, và phần lớn các sinh viên xuất sắc nhất cũng đi học các ngành khác. Tôi cảm thấy rằng, khác với ở Việt Nam, uy tín của khoa học cơ bản ở Ấn độ không những không giảm sút khi kinh tế của họ chuyển sang kinh tế thị trường, mà còn tăng lên. Khi tôi sang Ấn Độ, nhiều người nói với tôi là tinh thần của những người làm khoa học ở đó cao hơn bao giờ hết, cả vì lương của họ mới được tăng đáng kể và cả vì chính phủ đang đầu tư mạnh mẽ vào khoa học. Cảm giác chung khi gặp giới khoa học ở đây là họ lạc quan về tương lai, “ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay”, một cảm giác mà ở phương Tây không phải lúc nào cũng gặp.  Ở Bangalore tôi thăm Viện khoa học Ấn Độ (Indian Institute of Science). Đây là một viện rất “tinh túy” với lịch sử 100 năm nghiên cứu và đào tạo trên đại học. Nhưng từ năm hoc 2011-2012 họ bắt đầu có chương trình đào tạo cấp đại học. Với chỉ tiêu nhận vào chỉ hơn 100, hiện nay họ đã có hơn 10000 học sinh nộp đơn! Một phần, chắc là do dân số Ấn Độ cao, nhưng sự quan tâm của công chúng vào các ngành khoa học cơ bản chắc chắn là rất đáng kể.           Con đường rợp bóng cây trong Viện khoa học Ấn Độ tại Bangalore          Theo báo chí Mỹ thì mức độ tham nhũng ở Ấn Độ rất cao. Tôi có hỏi một giáo sư Ấn Độ về vấn đề này. Dù khẳng định đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, nhưng ông vẫn lạc quan vì Tòa án Tối cao Ấn Độ là một cơ quan chống tham nhũng rất mạnh mẽ và cũng là một cơ quan rất có quyền lực. Cũng phải nhấn mạnh là Tòa Án ở Ấn Độ là một trong 3 nhánh độc lập của quyền lực. Điều này không khỏi làm tôi suy nghĩ. Muốn chống tham nhũng thì phải có cơ chế để chống, phải có cơ quan vừa độc lập, vừa có quyền và vừa muốn làm điều đó. Tôi mong vào một ngày không xa tôi cũng có thể nói một cách lạc quan như vậy về Việt Nam.  Tôi có nhận xét là người Ấn Độ về nước làm việc rất nhiều (sau khi ở nước ngoài), với lương thấp hơn nhiều lương họ được trả ở phương Tây. Trong khi đó, ở Trung Quốc có rất nhiều vị trí với lương cao ngang ở Mỹ, nhưng chỉ lôi kéo được những người gốc Trung Quốc về làm vài tháng trong một năm thôi, chứ họ không về hẳn (đó là quan sát trong ngành hẹp của tôi thôi). Tôi có hỏi một giáo sư về vấn đề này, thì ông ta nói: đó là vì Ấn Độ có dân chủ. Câu trả lời của ông cũng làm tôi suy nghĩ nhiều. Đôi khi người ta nói dân chủ chỉ là một thứ mà khi kinh tế phát triển lên cao thì dân chúng mới đòi hỏi. Nhưng ở đây ta có một thí dụ rõ ràng về tầm quan trọng của dân chủ ở các nước còn đang ở mức phát triển thấp. Cũng có thể tưởng tượng được là trong cuộc sống hàng ngày thì chế độ chính trị có thể không quan trọng lắm, nhưng trong quyết định lâu dài của một con người, có ảnh hưởng đến tương lai của con cái người ta, thì điều này lại thành rất quan trọng. Tôi nghĩ là Trung Quốc bị thiệt thòi so với Ấn Độ về phương diện này, nhưng bù lại họ có rất nhiều tiền. Những gì diễn ra thời gian gần đây ở Việt Nam không khỏi làm tôi lo lắng. Tôi thấy con đường của Việt Nam giống Trung Quốc hơn Ấn Độ, nhưng tôi tự hỏi Việt Nam làm thế nào có được nhiều tiền như Trung Quốc để lôi kéo người về?  Nếu được hỏi điều gì Việt Nam cần học tập ở Ấn Độ nhất thì tôi sẽ chọn sự nghiêm túc và bài bản trong tổ chức khoa học của họ. Tôi được chứng kiến điều này qua Trung tâm quốc tế về các khoa học lý thuyết (International Center for Theoretical Sciences – ICTS), một viện mới sẽ đặt ở Bangalore. Viện này được xây dựng theo mô hình của Trung tâm quốc tế về vật lý lý thuyết (ICTP) ở Trieste, Ý và Viện Kavli về vật lý lý thuyết (KITP) ở Santa Barbara, Mỹ. Với mục tiêu là nơi giao tiếp giữa khoa học Ấn Độ và khoa học thế giới, và giữa các ngành khoa học ở Ấn Độ, nó sẽ đóng vai trò đưa khoa học Ấn Độ vào một thời kỳ mới, trong đó hợp tác quốc tế và liên ngành rất quan trọng. Việc quản lý Viện là trách nhiệm của một giám đốc và Ban quản lý gồm 12 thành viên; ngoài ra Viện còn nhận được sự giúp đỡ và giám sát chặt chẽ của một Ban tư vấn quốc tế bao gồm 13 nhà khoa học kiệt xuất của thế giới.  Để kết thúc, tôi xin trích từ cuốn sách giới thiệu về Viện ICTS một số câu rất đáng suy nghĩ:  Chỉ có thể đánh giá nghiên cứu cơ bản bằng chuẩn mực thế giới. Sẽ chỉ bõ công làm nếu ta thêm được, dù chỉ một chút thôi, vào kho tàng kiến thức của nhân loại. – Homi Bhabha, nhà vật lý nổi tiếng người Ấn Độ.   ( “Fundamental research can only be judged by world standard. It is worthwhile only if one adds, in however small a way, to the sum total of human knowledge.”)   Một cơ sở khoa học, dù đó là một phòng thí nghiệm hay một viện hàn lâm, phải được chăm sóc tỉ mỉ như ta trồng cây… những cây nổi trội bao giờ cũng cần ít nhất 10 đến 15 năm. – Homi Bhabha  (“A scientific institution, be it a laboratory or academy, has to be grown with great care like a tree… and the few outstanding ones always take at least 10 to 15 years to grow.”)  Nếu một nước lơ là nghiên cứu cơ bản thì nước đó không tránh khỏi bị mất những nhà khoa học trẻ tài năng nhất cho các nước khác. Một nền khoa học khỏe mạnh cũng giống như một cái cây khỏe: không thể nào chặt rễ mà vẫn hy vọng cành mọc xum xuê. – David Gross, Nobel vật lý, là giám đốc viện KITP ở Santa Barbara và là một trong những người đóng góp nhiều ý tưởng cho viện ICTS.   (“If a country neglects basic research it is doomed to be always a follower and not a leader, and it will lose its most talented young scientists who will go elsewhere. Healthy science is like a healthy tree: you cannot destroy the roots and hope that the branches will flourish”)  —  *GS Vật lý, Đại học Washington, Mỹ    Author                Quản trị        
__label__tiasang BALSA Group: Lò luyện kinh nghiệm thực tiễn cho các tiến sĩ      Công ty BALSA Group có chức năng là một cầu nối giữa những sinh viên đang rất cần tích lũy kinh nghiệm, với những công ty mới khởi nghiệp ở địa phương, giúp nuôi dưỡng tinh thần đầu tư khởi nghiệp, và làm giảm rào cản giữa giới học thuật với các công ty.    Các chương trình đào tạo tiến sĩ truyền thống được thiết kế chủ yếu để tạo dựng những sự nghiệp trong các lĩnh vực học thuật. Tuy nhiên, theo nhiều kết quả điều tra khảo sát của Chính phủ Mỹ và nhiều nước khác, chỉ có 66% tiến sĩ theo đuổi các chương trình hậu tiến sĩ sau khi tốt nghiệp; 6 năm sau khi tốt nghiệp, chỉ còn 33% vẫn tiếp tục duy trì những công việc trong giới học thuật. Tỉ trọng các nhà khoa học duy trì sự nghiệp lâu dài trong các ngành khoa học thậm chí còn thấp hơn.   Trong khi đó, rất nhiều sinh viên và người học hậu tiến sĩ bị thiếu chuẩn bị về thông tin trước khi đưa ra quyết định liệu có theo đuổi sự nghiệp học thuật hay không, trong khi những sinh viên tìm kiếm những công việc ngoài lĩnh vực học thuật thường than phiền vì họ có quá ít các cơ hội.  Đa số các chương trình đào tạo hậu đại học đều vô tình gây ảnh hưởng không tốt cho sinh viên, do các chương trình này không chuẩn bị đầy đủ để người học có thể đi theo những sự nghiệp khác ngoài học thuật. Các nhà tư vấn hướng nghiệp thường khuyến khích sinh viên bộc lộ thế mạnh về kỹ năng giải quyết vấn đề, thể hiện mình như những người tư duy sâu sắc, tuy nhiên chẳng mấy sinh viên nhận được những lời tư vấn cụ thể gắn với đời sống thực tiễn – và chẳng có nhà tư vấn nào cung cấp cho sinh viên những kinh nghiệm để chuyển đổi sang các nhóm công việc bên ngoài giới học thuật.    Xuất xứ và phát triển  Nhận thấy nhu cầu của sinh viên muốn tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn và được tiếp xúc với môi trường doanh nghiệp, một nhóm nghiên cứu sinh hậu đại học và hậu tiến sĩ của Đại học Washington tại St. Louis, bang Missouri, Mỹ, đã thành lập BALSA Group, một công ty tư vấn phi lợi nhuận, được điều hành bởi chính các sinh viên này. Từ 6 thành viên sáng lập ban đầu, đến nay số thành viên thường trực hoạt động của BALSA dao động từ 20 tới 30 người, tất cả đều là những sinh viên, nghiên cứu sinh của Đại học Washington. Chức năng của BALSA là chuẩn bị cho các thành viên của mình những kinh nghiệm có thể giúp họ theo đuổi các sự nghiệp học thuật hoặc ngoài học thuật, thông qua công việc thực tập làm dịch vụ tư vấn cho các công ty công nghệ sinh học ở địa phương.           Một số thực tập viên sau khi tham gia các dự án của BALSA đã trở thành các chuyên gia trong những công ty, tập đoàn hàng đầu trên thế giới. Ví dụ như nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ Corinne Cusumano thông qua BALSA đã tư vấn giúp Eyelten Therapeutics đánh giá tính khả thi trong kinh doanh của liệu pháp trị bệnh thoái hóa điểm vàng. Sau đó cô trở thành chuyên gia tư vấn tại công ty Kantar Health, giúp các công ty sinh dược dự đoán hiệu quả kinh doanh các loại thuốc mới. Marie McNeely sau khi hoàn thành một dự án của BALSA với công ty Intuitive Genomics đã tốt nghiệp tiến sĩ khoa học thần kinh, sau đó trở thành chuyên gia phân tích về kinh tế sức khỏe tại Tập đoàn Centene, với nhiệm vụ là đánh giá ma trận sức khỏe của những người nhận hỗ trợ y tế Medicaid. Các thực tập viên khác của BALSA được nhận vào làm ở các công ty như Monsanto, Peabody Energy, hay Janssen Biotech, Tower Watson, v.v. Có những người quyết định chưa đi làm nhưng lại chuyển sang học những chương trình đào tạo danh tiếng về luật và kinh doanh.         BALSA xây dựng các mối quan hệ hợp tác giữa các nhóm sinh viên khoa học với các công ty mới khởi nghiệp hoặc đã có tên tuổi, trong những dự án dài từ 8 đến 12 tuần, trong đó các sinh viên và nghiên cứu sinh sẽ đi làm công việc thực tập tư vấn cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp khách hàng sẽ phải trả cho BALSA mỗi dự án là 1000 USD (doanh nghiệp mới khởi nghiệp sẽ được giảm giá). Việc bỏ ra số tiền này vừa khiến doanh nghiệp khách hàng có động lực hợp tác với các sinh viên, vừa giúp BALSA duy trì sự tồn tại của mình. Mặc dù các sinh viên và nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ làm thực tập tư vấn sẽ không được nhận tiền thù lao, nhưng nguồn thu này của BALSA được tái đầu tư vào tổ chức các sự kiện giúp hình thành mạng lưới xã hội và hướng nghiệp, các hội thảo và tọa đàm về phát triển nghề nghiệp.  Kể từ khi hình thành vào tháng 12 năm 2010 đến nay, BALSA đã hoàn thành được 23 dự án tư vấn cho các doanh nghiệp khách hàng, qua đó cung cấp các cơ hội tích lũy kinh nghiệm cho 85 sinh viên và nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ. Một chìa khóa cho thành công của BALSA là việc hợp tác với DYNALABS, một phòng thí nghiệm phân tích có uy tín, sẵn sàng chứng thực cho chất lượng chuyên môn của BALSA và giúp đỡ về chuyên môn khi các sinh viên và nghiên cứu sinh từ BALSA cần đến. Với sự hỗ trợ, hợp tác từ DYNALABS, BALSA đã vượt qua giai đoạn khởi đầu, chứng tỏ được khả năng của mình trong việc giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, đáp ứng được các nhu cầu từ khách hàng, đồng thời hình thành được một cấu trúc và quy trình vận hành ổn định để tiếp tục thực hiện các dự án tiếp theo.  Một chìa khóa khác cho thành công của BALSA là sớm nhận được sự hỗ trợ từ các vườn ươm công nghệ ở địa phương và các trung tâm hỗ trợ đầu tư. Những đối tác này quảng bá, giới thiệu về BALSA, giúp công ty này nhanh chóng kết nối với các khách hàng, đem lại hàng tá các hợp đồng. Bên cạnh đó, trang web của BALSA rất giàu thông tin, giúp công ty liên tục mở rộng hoạt động một cách có hệ thống và nâng cao thương hiệu.  Sự ủng hộ từ các giáo sư Đại học Washington cũng rất quan trọng, vì các sinh viên và nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ đều cần cân đối giữa những cam kết với BALSA và trách nhiệm học thuật với cơ sở đào tạo. BALSA mời các lãnh đạo của trường – các trưởng khoa của Khoa Y học và Khoa học Sinh dược, Khoa Di truyền, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đầu tư Skandalaris – tham gia vào hội đồng tư vấn của công ty. Hội đồng này không chỉ tạo sự ủng hộ từ các thầy cô giáo và nhà trường mà còn làm tăng tính minh bạch trong hoạt động của công ty.  Lợi ích mang lại  BALSA là một mô hình doanh nghiệp phi lợi nhuận đã chứng tỏ được tính khả thi và bền vững, giúp phát triển tính sáng tạo, chủ động, những năng lực chiến lược và kỹ năng quản lý cho sinh viên và nghiên cứu sinh; đồng thời tạo một cầu nối quan trọng giữa trường đại học và ngành công nghiệp ở địa phương, giúp cung cấp những dịch vụ rất cần thiết cho các công ty địa phương với mức chi phí rất thấp mà những công ty này không thể nào có được từ nơi nào khác.   Cơ hội làm việc ở BALSA giúp các thành viên được rèn luyện để trở thành những người làm việc hiệu quả trong các nhiệm vụ tương tác, hợp tác, lãnh đạo, và quản lý, cung cấp cho họ những thông tin và sự chuẩn bị cần thiết để thích nghi với những thách thức mà công việc tương lai mang lại.   P.V Lược dịch theo   http://sciencecareers.sciencemag. org/career_magazine/previous_issues/articles/2012_04_27/caredit.a1200047    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật KH&CN      Tổ chức KH&amp;CN  được thành lập khi đủ các điều kiện về điều lệ tổ chức và hoạt động,  nhân lực KH&amp;CN, cơ sở vật chất-kỹ thuật; nhiệm vụ KH&amp;CN sử dụng  ngân sách nhà nước cấp quốc gia phải đáp ứng các tiêu chí: có tầm quan  trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong  phạm vi cả nước;…    Đó là một số nội dung quan trọng được đề cập tại Nghị định 08/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KH&CN vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.  Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 11, 12, 15, 25, 30, 32, 41, 43, 46 và một số vấn đề cần thiết khác của Luật KH&CN liên quan đến thành lập tổ chức KH&CN, văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức KH&CN; đánh giá độc lập tổ chức KH&CN; trình tự, thủ tục xác định, phê duyệt nhiệm vụ KH&CN đặc biệt; hội đồng tư vấn KH&CN, tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập; kiểm tra, đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN; thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng ngân sách nhà nước; phát triển thị trường KH&CN.  Thành lập tổ chức KH&CN  Theo Nghị định, về điều kiện thành lập tổ chức KH&CN, ngoài việc nêu tên, mục tiêu, phương hướng hoạt động, người đại diện, điều lệ tổ chức và hoạt động phải nêu rõ lĩnh vực hoạt động, thuộc một trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm; sản xuất, kinh doanh sản phẩm là kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; dịch vụ khoa học và công nghệ. Trường hợp tổ chức KH&CN do cá nhân thành lập thì lĩnh vực hoạt động theo quy định tại Khoản 4 Điều 20 Luật KH&CN.  Điều lệ tổ chức và hoạt động cũng phải nêu rõ vốn điều lệ của tổ chức, bao gồm tiền mặt và các tài sản khác quy ra tiền; nguyên tắc tăng giảm vốn hoạt động và các nguyên tắc về tài chính khác.  Về nhân lực KH&CN, mỗi tổ chức KH&CN phải có ít nhất 5 người có trình độ đại học trở lên, bao gồm làm việc chính thức và kiêm nhiệm, trong đó có ít nhất 30% có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực chủ yếu xin đăng ký hoạt động và ít nhất 40% làm việc chính thức. Nghị định cũng nêu rõ, người đứng đầu tổ chức KH&CN phải có trình độ đại học trở lên, có kinh nghiệm quản lý, năng lực chuyên môn phù hợp.  Về cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức KH&CN phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trụ sở, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị, tài sản trí tuệ, các phương tiện vật chất-kỹ thuật khác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.  Ngoài ra, đối với tổ chức KH&CN công lập còn phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tổ chức khoa học và công nghệ có vốn nước ngoài còn phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Luật KH&CN.  Theo Nghị định, tổ chức KH&CN sẽ bị giải thể trong 3 trường hợp: Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của tổ chức KH&CN mà không có quyết định gia hạn; Theo quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; Bị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động KH&CN. Tổ chức KH&CN chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.  Tổ chức KH&CN Việt Nam thành lập tổ chức KH&CN trực thuộc ở nước ngoài phải có đơn đề nghị kèm theo các tài liệu chứng minh đáp ứng các yêu cầu: có dự án thành lập tổ chức KH&CN trực thuộc ở nước ngoài; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; không vi phạm các điều cấm của Luật KH&CN và các văn bản pháp luật khác liên quan; tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực KH&CN.  Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách quốc gia  Nghị định nêu rõ, nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cấp quốc gia là nhiệm vụ KH&CN đáp ứng các tiêu chí: có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước; có vai trò quan trọng nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia; giải quyết các vấn đề KH&CN liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, liên vùng; phải huy động nguồn lực quốc gia, có thể có sự tham gia của nhiều ngành KH&CN.  Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách cấp quốc gia gồm chương trình KH&CN cấp quốc gia; đề án khoa học cấp quốc gia; đề tài KH&CN cấp quốc gia; dự án sản xuất thử nghiệm cấp quốc gia; đề tài KH&CN, dự án KH&CN theo nghị định thư; đề án khoa học, đề tài KH&CN, dự án KH&CN đặc biệt; đề tài KH&CN, dự án KH&CN tiềm năng cấp quốc gia; nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng nhằm giải quyết yêu cầu khẩn cấp của quốc gia về an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh và phát triển KH&CN.    Giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học  Nghị định cũng dành một phần lớn nói về việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thẩm định cơ sở khoa học, thẩm định công nghệ trong các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế xã hội. Theo đó, việc giao toàn bộ quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được thực hiện theo thỏa thuận giữa đại diện chủ sở hữu nhà nước và tổ chức chủ trì hoặc khi đáp ứng một trong các điều kiện: Tổ chức chủ trì có khả năng ứng dụng hoặc thương mại hóa toàn bộ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Tổ chức chủ trì có khả năng ứng dụng hoặc thương mại hóa một phần kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ không thể phân chia thành từng phần độc lập để ứng dụng hoặc thương mại hóa.  Đại diện chủ sở hữu nhà nước có thể ủy quyền cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN thực hiện đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần kết quả đã đạt được trước khi đánh giá nghiệm thu nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  Việc giao toàn bộ hoặc một phần quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cho tổ chức chủ trì hoặc tổ chức khác theo quy định tại Khoản 5 Điều 41 Luật KH&CN được thực hiện theo thỏa thuận giữa đại diện chủ sở hữu nhà nước và tổ chức đó, trừ trường hợp kết quả nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc phòng, an ninh.  Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, việc giao quyền sử dụng sẽ được thực hiện khi kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cần được ứng dụng rộng rãi để đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội. Đại diện chủ sở hữu nhà nước sau khi chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả nghiên cứu có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và yêu cầu tổ chức được giao quyền sở hữu, quyền sử dụng báo cáo đánh giá hiệu quả việc sử dụng kết quả đó.  Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/3/2014.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ban hành nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN      Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định  chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và công  nghệ. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2013.    Theo Nghị định, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, bao gồm: hoạt động khoa học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật.  Bộ Khoa học và Công nghệ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của QH; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của UBTVQH; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, 5 năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia của ngành thuộc lĩnh vực do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.  Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu 5 năm và kế hoạch khoa học và công nghệ hàng năm, các chương trình nghiên cứu phát triển thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ phù hợp với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ và theo phân cấp, ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 5 năm và hàng năm, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy việc phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật trọng điểm trên cơ sở đổi mới, làm chủ công nghệ, tập trung phát triển công nghệ mới, công nghệ cao…  Nghị định cũng quy định rõ, Bộ Khoa học và Công nghệ có 28 đơn vị trong đó có 22 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo đảm môi trường có tính “nghiên cứu liên tục”      Từ thực tiễn xây dựng một đơn vị đào tạo và nghiên cứu trong trường đại học – Viện Tiên tiến KH&amp;CN (AIST), trường Đại học Bách khoa Hà Nội – một đơn vị trong thời gian hơn năm năm vừa qua đã tiếp nhận nhiều cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài về công tác, trong bài viết này tôi mong muốn chia sẻ một số suy nghĩ về những thuận lợi, khó khăn và những giải pháp trong công tác thu hút, tuyển dụng và phát huy khả năng của các cán bộ khoa học.    Trong những năm qua, một lượng khá lớn sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam đã có cơ hội du học, được đào tạo tại nhiều trường đại học quốc tế có uy tín ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Không chỉ dừng ở các bậc học thạc sỹ, và nghiên cứu sinh tiến sỹ, nhiều sinh viên trẻ sau khi nhận bằng tiến sỹ bằng kiến thức và khả năng xuất sắc của mình đã tiếp tục tìm được tài trợ nghiên cứu sau tiến sỹ, hoặc được tiếp nhận làm cán bộ nghiên cứu, phát triển công nghệ tại các tập đoàn công nghiệp lớn, qua đó có cơ hội tiếp cận những công nghệ mới nhất của thế giới. Sau một thời gian đủ dài, cho đến nay, nhiều trong số cán bộ khoa học này đang tìm kiếm cơ hội trở về công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước. Vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể thu hút và tạo được các điều kiện phù hợp để các cán bộ khoa học trình độ cao này phát huy được kinh nghiệm, trình độ, khả năng của họ, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.   Những yếu tố thuận lợi     Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, Nhà nước đã tăng đáng kể đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng trang thiết bị nghiên cứu cho các viện nghiên cứu, trường đại học – các cơ sở mạnh về nghiên cứu cơ bản, và ứng dụng. Trong nước đã hình thành nên một số đơn vị nghiên cứu, các phòng thí nghiệm đầu tư tập trung và trọng điểm có cơ sở vật chất và trang thiết bị tiếp cận với trình độ khu vực và thế giới, đây chính là yếu tố thuận lợi đầu tiên cho các cán bộ khoa học về nước công tác.            Việc đưa mô  hình tài trợ nghiên cứu sau tiến  sỹ (postdoc) vào các nhiệm vụ khoa học  lớn và giao quyền quyết định  tiếp nhận các nhà khoa học trẻ cho trưởng  nhóm nghiên cứu là hết sức cần  thiết.        Nhiều chính sách đổi mới về quản lý nhà nước về KH&CN do Bộ KH&CN đề xuất, xây dựng đã được Quốc hội, Chính phủ thông qua như Luật KH&CN 2013, trong đó có nhiều chính sách đổi mới về phương thức đầu tư, cơ chế cấp tài chính cho các đề tài, dự án, đến chính sách trọng dụng nhân lực và nhất là sự ra đời của Quỹ Phát triển KH&CN (NAFOSTED), trong đó có sự thay đổi căn bản trong phương thức xét chọn và đánh giá (dựa trên năng lực công bố quốc tế), đã tạo nên một kênh tài trợ hiệu quả cho các cán bộ khoa học trẻ, những người có lý lịch khoa học tốt.        Các viện nghiên cứu, trường đại học trong phạm vi tự chủ và định hướng phát triển thành các đại học nghiên cứu của mình, đã có nhiều giải pháp cụ thể để phát triển hoạt động nghiên cứu. Cụ thể là các chính sách ưu tiên trong tuyển dụng nhằm thu hút các cán bộ trẻ có trình độ cao về làm giảng viên; Các chính sách ưu tiên cho các cán bộ trẻ trong việc đăng ký thực hiện các đề tài nghiên cứu các cấp. Chính sách khen thưởng tác giả các công trình khoa học được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế (SCI), cũng như các các đề tài nghiên cứu ứng dụng đem lại hiệu quả kinh tế cao…      Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các doanh nghiệp trong nước để tồn tại phải cạnh tranh và cạnh tranh thành công với các doanh nghiệp, các tập đoàn đa quốc gia không chỉ có tiềm lực tài chính mạnh mà còn có nhiều ưu thế về thương hiệu, trình độ quản lý cũng như nền tảng khoa học công nghệ cao của sản phẩm. Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển KH&CN nhằm tăng cường nội lực và xây dựng những giá trị cốt lõi cho sản phẩm của doanh nghiệp Việt đang trở nên hết sức cấp bách, và do đó rất cần nguồn nhân lực, cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ và kinh nghiệm làm việc quốc tế.     Những giải pháp     Những yếu tố thuận lợi như trên, bước đầu đã là tiền đề tốt để thu hút các cán bộ khoa học trẻ quyết định về nước công tác, tuy nhiên để có thể tập hợp được một đội ngũ cán bộ khoa học đủ mạnh, có chuyên môn phù hợp và phát huy được khả năng của họ nhằm xây dựng và giải quyết được những nhiệm vụ khoa học, công nghệ lớn, lại là một bài toán mà để giải quyết được, cần có sự nỗ lực của không chỉ những cán bộ khoa học, mà còn của cả các nhà quản lý, lãnh đạo các tổ chức KH&CN, viện nghiên cứu và trường đại học.      Trước hết, sự khác biệt về điều kiện và môi trường nghiên cứu trong nước và quốc tế là một rào cản lớn đối với các cán bộ khoa học đã công tác nhiều năm ở nước ngoài, dẫn tới họ thường gặp rất nhiều khó khăn trong năm công tác đầu tiên khi cần phải học “cách bắt đầu” để khởi tạo những hướng nghiên cứu mới trong nước. Để gỡ bỏ rào cản này, ngoài việc xây dựng môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, hình thành các nhóm nghiên cứu có định hướng, mục tiêu cụ thể, có sự chia sẻ, hỗ trợ của đồng nghiệp, cộng với quyết tâm của chính các nhà khoa học trẻ mới sẽ giúp họ nhanh chóng hoà nhập và tự tin phát huy khả năng của mình. Thực tế cho thấy, nếu đơn vị có thể tạo ra một môi trường đảm bảo tính “nghiên cứu liên tục” cho các cán bộ mới, họ sẽ nhanh chóng vượt qua được rào cản này, và nhiều cán bộ đã có thể có những công trình công bố trên tạp chí SCI những kết quả nghiên cứu trong nước trong thời gian ít hơn một năm.           Cần xây dựng được môi trường nghiên cứu  chuyên nghiệp, hình thành các nhóm nghiên cứu có định hướng, mục tiêu cụ  thể, có sự chia sẻ, hỗ trợ của đồng nghiệp, cộng với quyết tâm của  chính các nhà khoa học trẻ mới sẽ giúp họ nhanh chóng hòa nhập và tự tin  phát huy khả năng của mình.         Trong mô hình các tổ chức nghiên cứu hiện tại, do còn có nhiều ràng buộc vấn đề tổ chức, quản lý nhân sự, cũng như hạn chế về tiềm lực tài chính, người lãnh đạo/trưởng nhóm nghiên cứu khó có thể đưa ra những quyết định ngay lập tức (đủ quyết liệt, đủ nhanh) để giữ chân các nhà khoa học trẻ tài năng làm việc trong đơn vị/nhóm của mình hoặc chưa thể chủ động tạo được những điều kiện cần thiết cho họ khởi tạo hướng nghiên cứu mới. Điều này dẫn tới luôn tồn tại một thời gian trễ khá dài giữa thời điểm tiếp nhận cán bộ và thời điểm cán bộ này thực sự có thể khởi động hướng nghiên cứu của riêng mình. Khoảng thời gian trễ càng dài, sẽ ảnh hưởng tới nhiệt tình và thói quen nghiên cứu liên tục của những cán bộ khoa học trẻ, dẫn tới họ càng khó hoà nhập vào môi trường nghiên cứu trong nước và khó phát huy được khả năng của mình. Để giải quyết vấn đề này, việc đưa mô hình tài trợ nghiên cứu sau tiến sỹ (postdoc) vào các nhiệm vụ khoa học lớn và giao quyền quyết định tiếp nhận các nhà khoa học trẻ cho trưởng nhóm nghiên cứu là hết sức cần thiết. Các tài trợ từ Quỹ NAFOSTED cho các ý tưởng, đề xuất nghiên cứu xuất sắc sẽ thực hiện trong nước của các cán bộ khoa học ngay từ khi họ đang ở nước ngoài cũng sẽ là cầu nối đưa họ trở về và gắn kết với các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước.     Khi quyết định trở về nước làm việc trong môi trường giảng dạy và nghiên cứu, các cán bộ trẻ của chúng ta đã xác định sẽ phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế và thu nhập thấp. Thực tế, với thu nhập khởi điểm của một tiến sĩ chỉ khoảng vài triệu đồng/tháng, trong nhiều trường hợp đã trở thành những khó khăn không thể vượt qua đối với không ít cán bộ trẻ. Chính vì vậy, sự hỗ trợ về tài chính ngoài lương từ các nguồn kinh phí của đơn vị chủ quản hay từ các nhiệm vụ nghiên cứu đang thực hiện tại thời điểm ban đầu là cần thiết và điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự chủ động của các lãnh đạo đơn vị khoa học.      Để giải quyết những nhiệm vụ khoa học lớn, quan trọng, chúng ta cần xây dựng được những nhóm cán bộ nghiên cứu khoa học mạnh. Để làm được điều này, vai trò của tổng công trình sư, trưởng nhóm nghiên cứu trong việc chủ động tìm kiếm, lựa chọn nhân sự, tiếp nhận và tiếp sức cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ có ý tưởng và chuyên môn phù hợp là yếu tố “cần” và hết sức quan trọng.               Một số dữ kiện về Viện Tiên tiến KH&CN (AIST)    Thành  lập hoàn toàn mới năm 2007, với đội ngũ cán bộ ban đầu gồm  hai tiến sĩ.  Trong năm năm sau đó 2009-2014 đã tiếp nhận 23 cán bộ khoa  học có trình  độ tiến sỹ từ nước ngoài về công tác tại Viện. Số công  trình công bố  trên các tạp chí SCI tăng từ sáu bài năm học 2008-2009  lên 27 bài năm  học 2014-2015. Trong năm năm 2010-2015, có tổng giá trị  các hợp đồng  chuyển giao công nghệ và nghiên cứu thử nghiệm cho doanh  nghiệp đạt  khoảng 10 tỷ đồng. Một số sản phẩm nghiên cứu đã được thương  mại hóa ở  quy mô công nghiệp và có mặt trong các sản phẩm xuất khẩu  chất lượng  cao.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Bảo vệ dữ liệu và thông tin cá nhân cho Việt Nam: Đã đến lúc cần có đạo luật riêng      Dữ liệu nói chung và dữ liệu cá nhân đang trở thành “nguồn vốn” hay “tài sản” có tầm quan trọng hàng đầu của nền kinh tế số hay nền kinh tế vận hành trên cơ sở dữ liệu sử dụng công nghệ số. Bài toán đặt ra, do đó là quản trị dữ liệu nói chung và quản lý dữ liệu nói riêng ở cấp độ quốc gia và tổ chức, doanh nghiệp phải được tổ chức, thiết kế và triển khai như thế nào?      Có thể thấy rằng tiếp cận theo hướng nào thì việc định nghĩa dữ liệu, thông tin cá nhân cũng là công việc phức tạp, cho thấy tính tinh vi, nhạy cảm của môi trường tương tác giữa con người với nhau trong kỷ nguyên số và internet.  Sự phát triển của công nghệ số, hạ tầng kỹ thuật mạng internet cần đi kèm với sự đồng bộ về hệ thống chính sách, khung phổ pháp luật, quy chế và năng lực của từng tổ chức và con người. Theo đó, các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết sẽ bao gồm các cơ chế và biện pháp bảo đảm đối với ba trụ cột chính là (i) An ninh mạng, (ii) An toàn dữ liệu cá nhân và (iii) Bảo vệ quyền riêng tư. Mục tiêu của các hoạt động cũng hướng tới khía cạnh: Tạo lập sân chơi kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp sử dụng công nghệ nền tảng để xử lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu; bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu là người dân và tạo cơ hội tham gia chủ động và cùng hưởng lợi của tất cả các bên tham gia.  Hiểu thế nào là dữ liệu, thông tin cá nhân ?  Trong nền kinh tế số, khi một tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu bảo vệ dữ liệu người dùng sẽ gặp phải vấn đề có tính pháp lý, đó là những dữ liệu, thông tin nào của họ sẽ cần được bảo vệ ? Bởi nền kinh tế số được đặc trưng bởi sự truyền tải và giao dịch thông tin xuyên biên giới, quy định pháp luật hay cách hiểu theo tập quán của mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hiểu biết chung về khái niệm “dữ liệu, thông tin cá nhân” do vậy, rất cần thiết.  Trên thế giới, mà cụ thể là Mỹ và châu Âu đang có hai cách tiếp cận trong định nghĩa về dữ liệu, thông tin cá nhân. Nói chung, ở châu Âu, dữ liệu cá nhân (personal data) có ý nghĩa mở rộng hơn so với thông tin cá nhân (personally identifiable information – PII) ở Mỹ.  Cụ thể, theo định nghĩa của Bộ Thương mại Mỹ, PII là những thông tin “có thể sử dụng để phân biệt hay nhận dạng một cá nhân như tên, số an sinh xã hội, hồ sơ sinh trắc v.v.. nói riêng, hoặc khi kết hợp với các thông tin cá nhân hay thông tin nhận dạng khác liên quan hoặc có thể liên quan với một người cụ thể như ngày và nơi sinh, tên khai sinh của mẹ”.  Định nghĩa này phân biệt rất rõ hai tình huống: Một là, thông tin để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác ví dụ họ tên đầy đủ, địa chỉ email, số điện thoại, số định danh cá nhân (số hộ chiếu, số thẻ an sinh xã hội). Hai là, thông tin để nhận dạng một người sẽ bao gồm cấp độ có liên quan (ví dụ họ tên) và cấp độ có thể liên quan bởi phải kết hợp với thông tin khác mới có giá trị nhận dạng (ví dụ ngày tháng năm sinh).  Ý nghĩa pháp lý ở đây là gì? Trong trường hợp một người tình cờ tiếp cận được hai bộ dữ liệu chứa đựng các thông tin khác nhau về một người nào đó, người ấy có thể định dạng được đó là ai khi liên kết hai bộ này với nhau, và khi đó phát sinh vấn đề an ninh dữ liệu. Có nghĩa rằng việc kiểm soát phải được thiết kế làm sao để bảo đảm các bộ dữ liệu ấy không thể hay rất khó khăn để kết hợp với nhau, trong tình huống người tra cứu thông tin có thể tiếp cận các cơ sở dữ liệu của cùng một tổ chức hay sử dụng công cụ tìm kiếm trên internet.  Tại châu Âu, Quy chế bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) do Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu ban hành năm 2016, có hiệu lực từ 25/05/2018 định nghĩa về dữ liệu cá nhân là “bất kể thông tin gì liên quan đến một thể nhân được nhận dạng hoặc có thể được nhận dạng (“chủ thể”); một thể nhân có thể được nhận dạng là người có thể được nhận dạng trực tiếp hay gián tiếp bằng việc tham chiếu số định danh hay một hoặc các yếu tố riêng về vật lý, sinh lý, tâm thần, kinh tế, văn hóa và xã hội”.  Định nghĩa này rõ ràng có sự bao quát rất rộng với bốn thành tố nội dung đáng lưu ý. Một là, “bất kể thông tin gì” có nghĩa rằng cả thông tin có được một cách chủ động và thụ động, bao gồm ví dụ cả ảnh của một người bất kỳ được chụp tự động bởi các camera giám sát. Hai là “liên quan đến” sẽ được hiểu liên quan bằng bất cứ phương diện nào như nội dung của thông tin, mục đích của thông tin hay kết quả của việc sử dụng thông tin v.v.. Ba là, “nhận dạng và có thể nhận dạng” sẽ bao gồm cấp độ rõ ràng tức có đủ yếu tố để phân biệt người này với người khác, và cấp độ không rõ ràng nhưng vẫn khả năng xác định được tùy thuộc vào các điều kiện khác hay ngữ cảnh, ví dụ như nếu ai đó nói về một cá nhân gọi là “sếp tôi” thì người khác có thể nhận dạng đó là ai. Bốn là “thể nhân” là chủ thể dữ liệu, ở đây GDPR lấy theo định nghĩa của Điều 6, Tuyên ngôn phổ quát của Liên Hợp Quốc về Quyền con người, theo đó, chủ thể dữ liệu được bảo vệ là một cá nhân đang sống; tuy nhiên lưu ý là nếu dữ liệu về một người đã chết mà được sử dụng để nhận dạng một người khác còn sống thì cũng thuộc định nghĩa này.  Trong định nghĩa chung về dữ liệu, thông tin cá nhân, cho mục đích bảo vệ ở cấp độ cao hơn, các nước thường có quy định riêng về “dữ liệu, thông tin nhạy cảm”. Tại Mỹ đó là những dữ liệu về y tế, giáo dục, tài chính và công việc, được cho rằng nếu bị tiết lộ sẽ có thể dẫn đến những lạm dụng, tấn công và gây thiệt hại cho người có liên quan. Tại châu Âu, GDPR cũng liệt kê năm loại dữ liệu cá nhân coi là “nhạy cảm” cho mục đích bảo vệ đặc biệt bao gồm: (i) Dữ liệu về chủng tộc, quan điểm chính trị và tôn giáo; (ii) dữ liệu về thành viên công đoàn; (iii) dữ liệu sinh học, sinh trắc học; (iv) dữ liệu sức khỏe; và (iv) dữ liệu về đời sống tình dục cá nhân và tương tự.  Thông tin và dữ liệu cá nhân nhìn từ góc độ khung pháp lý ở Việt Nam  Pháp luật Việt Nam có định nghĩa về thông tin cá nhân. Theo đó, Điều 3, Luật An toàn thông tin mạng 2015 định nghĩa: “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể”. Tuy nhiên trước đó, Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan chính phủ có định nghĩa chi tiết hơn như sau: “Thông tin cá nhân là thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác”.  Ngoài ra, lưu ý rằng một số luật chuyên ngành như Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Quản lý thuế, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm v.v.. cũng có nhưng định nghĩa nhất định về thông tin cá nhân thuộc đối tượng bảo mật trong lĩnh vực có liên quan.  Về quyền riêng tư, theo Điều 38, Bộ Luật Dân sự 2015 của Việt Nam quyền này được hiểu là sự bảo vệ của luật pháp đối với ba đối tượng “bất khả xâm phạm”, đó là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.  Như vậy, kết hợp cả hai định nghĩa nói trên của hai văn bản quy phạm pháp luật, cho thấy “thông tin cá nhân” ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp, trực tiếp và đơn giản hơn so với quy định của cả châu Âu và Mỹ. Theo đó, các thông tin không chính xác, rõ ràng nhưng kết hợp với các thông tin khác để gián tiếp xác định được danh tính một người không được coi là đối tượng bảo vệ. Còn đối với quyền riêng tư thì ngược lại, pháp luật Việt Nam chỉ có quy định rất chung và do đó, có thể suy luận theo hướng mở rộng.  Lưu ý rằng ở các nước, định nghĩa về phạm vi quyền riêng tư luôn luôn khó và phức tạp, tuy nhiên kết hợp với diễn giải của chuyên gia pháp lý và thực tiễn xét xử của Tòa án, người ta có thể xác định ranh giới giữa “bí mật riêng tư” và “thông tin công khai” để giảm thiểu các tranh cãi và tranh chấp. Chẳng hạn, ngoài những không gian được gắn biển rõ ràng là “tư riêng” (private) hay “công cộng” (public), có một nguyên tắc được thừa nhận chung: Đó là những gì thuộc đời sống riêng của anh mà anh không chủ động tuyên bố rõ ràng hay có biện pháp thích hợp để che giấu, làm cho một người khác theo cách thông thường có thể biết được thì anh sẽ không được pháp luật bảo vệ đối với quyền riêng tư ấy. Về khía cạnh này, Điều 16, Luật An toàn thông tin mạng cũng quy định một nguyên tắc rằng: “Cá nhân tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình…”.  Tóm lại, với phân tích ở trên, có thể thấy rằng tiếp cận theo hướng nào thì việc định nghĩa dữ liệu, thông tin cá nhân cũng là công việc phức tạp, cho thấy tính tinh vi, nhạy cảm của môi trường tương tác giữa con người với nhau trong kỷ nguyên số và internet. Một định nghĩa với duy nhất một câu trong quy định của pháp luật Việt Nam rõ ràng chưa đủ để hình dung bản chất của khái niệm, nếu không tìm hiểu, đối chiếu và so sánh với quy định tương tự của các nước.  Cần có một đạo luật riêng về bảo vệ thông tin, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư cho Việt Nam  Xét trên bình diện toàn cầu, tiên phong là châu Âu và Hoa Kỳ, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau giữa hai nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, điểm chung lớn nhất vẫn là sự quan tâm sớm nhất đến bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư. Sự tiệm cận đến gần nhau hơn đang diễn ra theo hướng bảo vệ dữ liệu để phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ quyền riêng tư của con người. Việt Nam là quốc gia có sự quan tâm rất sớm so với các nước có cùng trình độ phát triển đến cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung và công nghệ số, nền kinh tế số nói riêng. Cùng với các ý tưởng chính sách, các cơ sở pháp lý ban đầu cho phát triển giao dịch điện tử, bảo đảm tự do internet và quá trình chuyển đổi số đã được thiết lập, mặc dù cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề ở mức độ nhất định chưa thật sự rõ ràng, rành mạch và có tính chuyên nghiệp cao như thông lệ thế giới. Tuy nhiên, điều này có thể khắc phục thông qua hướng đi chính, thứ nhất cần xây dựng một đạo luật thống nhất cho vấn đề này để khắc phục tình trạng tản mát của nhiều văn bản hiện nay, đồng thời cụ thể hóa và bổ sung các thiết chế thực thi pháp lý mạnh mẽ và chặt chẽ hơn. Thứ hai, cần có một chiến lược quốc gia về dữ liệu đặt nền tảng cho một khung hành động tổng thể ở cấp độ quốc gia, trong đó có sự phối hợp mạch lạc giữa cả ba khu vực nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.  (Luật sư Nguyễn Tiến Lập và nhóm nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông)      Luật sư Nguyễn Tiến Lập – Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông, Hội Truyền thông số Việt Nam *  Dù có ý thức xây dựng và nhắc đến việc Bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư trong nhiều văn bản pháp luật nhưng khung khổ pháp luật Việt Nam về vấn đề này chưa đầy đủ, còn chồng chéo nhất định về nội dung giữa các văn bản có liên quan ở cấp độ luật và nghị định. Đặc biệt là tình trạng nhiều cơ quan chức năng nhà nước cùng tham gia quản lý lĩnh vực này nhưng lại thiếu sự phân định rành mạch về chức năng, nhiệm vụ cũng như chỉ định cơ quan đầu mối phụ trách.  ‘Chẳng hạn như khung khổ pháp luật để bảo vệ quyền riêng tư được tạo ra bởi Bộ Luật dân sự hay các chế tài của Luật xử phạt vi phạm hành chính, không có tính hiệu quả và đầy đủ khi xét tới các giao dịch liên quan trong môi trường là không gian mạng, đối tượng cần bảo vệ là dữ liệu được thu thập xử lý, lưu giữ và chia sẻ bằng công nghệ số. Từ góc độ của Bộ Luật dân sự, quyền riêng tư được coi là quyền nhân thân, thì trong nền kinh tế dữ liệu, một khi dữ liệu cá nhần là tài sản có giá trị thì quyền với dữ liệu đó phải được coi là quyền tải sản. Và dù luật an toàn thông tin mạng đã đề cập đến này nhưng mới dừng ở mức quyền cơ bản và tối thiểu của chủ thể dữ liệu và còn thiếu hẳn cơ chế thực thi quyền một cách hiệu quả”.    Ông Nguyễn Văn Cương – Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp *    Thông tin tin cá nhân trong các văn bản quy định hiện hành cũng đang có 3-4 khái niệm, chưa nhất quán và bao quát hết các vấn đề và đặc biệt chưa phân tầng độ nhạy cảm của thông tin cá nhân. “Ví dụ như danh tính cá nhân có thể mức bảo vệ là một nhưng thông tin sức khỏe, sinh trắc, tài chính thì cần phải bảo mật cao hơn. Điều này không thể quy định chung chung mà cần phải nêu rõ ràng. Hay dữ liệu trẻ em cũng chưa quy định rõ, việc thu thập cần sự đồng ý của những ai: trẻ em, bố mẹ hay người giám hộ?”.  Trong khi đó, chế tài xử lý chưa đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe, dẫn đến không ít doanh nghiệp sẵn sàng ‘đánh đổi vì lợi nhuận’. “Bộ Luật hình sự chưa quy định nào về tội phạm thông tin cá nhân còn mức xử phạt hành chính quá thấp. Ví́ dụ Luật bảo vệ dữ liệu châu Âu GDPR quy định, doanh nghiệp làm lộ dữ liệu người dùng có thể bị phạt tới 4% doanh thu của năm liền kề trước đó. Đây là khoảng trống cần bổ sung.  ——–  Chú thích: * Lược ghi ý kiến tại Hội thảo Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số, ngày 15/7 tại Hà Nội.  Theo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bất hợp lý trong chi NSNN cho KH&CN tại các địa phương      Mặc dù Bộ KH&amp;CN chịu trách nhiệm trước Chính phủ về công tác quản lý KH&amp;CN và ý kiến của Bộ KH&amp;CN là cơ sở để Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ ngân sách Nhà nước cho các hoạt động KH&amp;CN, nhưng trong thực tế chỉ có 30% kinh phí rơi vào những hoạt động do Bộ KH&amp;CN đề xuất.     Như vậy, 70% Ngân sách Nhà nước (NSNN) dành cho hoạt động KH&CN là do chủ kiến của Bộ Kế hoạch và đầu tư mà hoàn toàn không căn cứ theo đề xuất của Bộ KH&CN, theo lời Bộ trưởng Nguyễn Quân – Bộ KH&CN trong Hội nghị Giám đốc các Sở KH&CN được Bộ KH&CN tổ chức hôm 09/03 tại Hà Nội. Bất cập lạ lùng này đã và đang gây ra những xu hướng đáng lo ngại trong thực trạng phân bổ kinh phí khoa học của Nhà nước tại các địa phương.  Theo ông Hồ Ngọc Luật, Vụ trưởng – Trưởng Ban KH&CN Địa phương, những năm gần đây, nguồn kinh phí KH&CN từ NSNN chi cho sự nghiệp khoa học và nghiên cứu phát triển (R&D) đang giảm trong khi chi cho các mục đích dự phòng và quốc phòng an ninh đang ngày càng tăng. Mặc dù xu hướng này không thật sự có lợi cho sự phát triển lâu dài của nền khoa học và công nghệ của nước nhà, nhưng Bộ KH&CN không thể can thiệp hoặc điều chỉnh vì có quá nhiều hạng mục chi NSNN cho KH&CN mà Bộ KH&CN không đề xuất và cũng không được theo dõi quản lý.   Giữa đề xuất của Bộ và các Sở KH&CN về quy mô, nội dung chi NSNN cho KH&CN tại các địa phương và thực tế nguồn kinh phí được phân bổ có sự chênh lệch rất lớn. Đơn cử như ở tỉnh Ninh Thuận, Sở KH&CN đề xuất mức chi cho hoạt động KH&CN năm 2012 là 84 tỷ VND, nhưng thực tế địa phương chỉ được phân bổ 6 tỷ VND, và trong bản thân số tiền được giải ngân này, có tới 4 tỷ VND bị các ban ngành khác ‘mượn tạm’ để chi vào mục đích khác ngoài KH&CN. Như vậy, số tiền NSNN thực chi cho KH&CN ở địa phương chỉ là 2 tỷ VND, và chỉ đủ để trả những khoản nợ từ các dự án KH&CN của năm cũ, ông Lê Kim Hùng, giám đốc Sở KH&CN Ninh Thuận cho biết.  Trái ngược với Ninh Thuận và một số địa phương khác nơi nguồn kinh phí từ NSNN phân bổ cho KH&CN chỉ chiếm vài phần trăm nhu cầu được đề xuất qua Bộ KH&CN, lại có những tỉnh thành nơi nguồn ngân sách cho KH&CN được phân bổ cao gấp vài lần so với nhu cầu đề xuất, trong đó có nhiều nội dung chi nằm ngoài mục đích chi cho KH&CN, ông Hồ Ngọc Luật nhận định.  Trong khi thực trạng chi NSNN cho KH&CN tại các địa phương còn nhiều bất cập, nguồn kinh phí huy động từ các quỹ phát triển KH&CN lại càng hạn chế. Hiện nay, trong số 63 tỉnh thành trên cả nước, mới chỉ có 29 tỉnh thành lập được quỹ này.       Mặt khác, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các hoạt động KH&CN ở địa phương cũng không cao. Theo ông Lương Đăng Ninh, Giám đốc Sở KH&CN Lạng Sơn, bất cập nổi cộm hiện nay tại các địa phương là thiếu cơ sở pháp lý điều chỉnh công tác quản lý KH&CN giữa cấp tỉnh và cấp huyện, trong khi hầu hết mọi hoạt động KH&CN tại các địa phương khi triển khai đòi hỏi sự tham gia của chính quyền cấp huyện. Theo ông Ninh, thực trạng này cùng với yếu kém của các trung tâm ứng dụng công nghệ đã khiến rất nhiều công trình nghiên cứu của các Viện, trường không thể triển khai được ở các địa phương, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.  Theo ThS Bùi Quý Long, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hội nhập KH&CN Quốc tế, hoạt động tư vấn về đầu tư cho KH&CN tại các địa phương còn chịu khá nhiều rủi ro, trong đó đáng kể là những vấn đề như: chính quyền địa phương tự đặt ra những mục tiêu ảo không phù hợp với thực tế; các đơn vị tại địa phương ít có tinh thần cộng tác; hoạt động sản xuất tại các địa phương còn nhỏ lẻ, phân tán, khó tập trung nguồn lực; và phí tư vấn khó thu hồi.   Trước những bất cập trong quản lý KH&CN tại các địa phương, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã yêu cầu các đơn vị của Bộ KH&CN: (1) Sớm nghiên cứu đề xuất từ các Sở KH&CN và các đơn vị quản lý liên quan để sớm đưa ra câu trả lời thích đáng; (2) Nghiên cứu xây dựng các văn bản hướng dẫn các địa phương tự đánh giá năng lực phát triển KH&CN về tổng thể trên địa bàn cũng như từng doanh nghiệp cụ thể, thẩm định giá trị các công nghệ nhằm từng bước hình thành thị trường công nghệ của từng vùng; (3) Tìm hiểu nhu cầu cụ thể của từng địa phương gắn với thực hiện các chương trình KH&CN của quốc gia.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Bất hợp lý trong mô hình đào tạo ở Học viện KHXH?      Theo ý kiến của PGS.TS. Vương Xuân Tình (Viện Hàn lâm KHXH VN), Học viện Khoa học Xã hội (Học viện KHXH) được xây dựng với mục đích chuyên đào tạo sau đại học thay cho nhiệm vụ tương ứng của các viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXH VN), nhưng tổ chức kiểu này lại ngược với mô hình chung của các học viện (graduate academy) trên thế giới, bởi hầu hết các học viện đó thuộc trường đại học mà chức năng cơ bản là phối hợp với các khoa để hỗ trợ học viên hoàn thành tốt luận văn, luận án.    Khai quật di chỉ khảo cổ học tại An Khê, Gia Lai.  Mặt khác, Học viện KHXH đã tách biệt học viên khỏi môi trường học thuật tại các viện chuyên ngành, dẫn tới khó đảm bảo chất lượng đào tạo – điều mà trong thời gian qua, có không ít ý kiến quan ngại rằng Học viện KHXH đang đào tạo quá ồ ạt, không chú trọng đúng mức chất lượng.Nhiều năm trước đây, khi chưa có Học viện KHXH, các viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học. Nhưng kể từ năm 2010, trên cơ sở đề nghị của lãnh đạo Viện Hàn lâm KHXH VN, Học viện KHXH được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 10/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã chịu trách nhiệm đào tạo sau đại học thay cho toàn bộ các viện đó. Thực ra ngay từ khi xây dựng kế hoạch, đã có nhiều ý kiến băn khoăn về mô hình của Học viện KHXH. Qua sáu năm hoạt động, mô hình này ngày càng bộc lộ nhiều vấn đề cần thảo luận.   Trước hết, việc thành lập một Học viện như vậy đã gây lãng phí về cơ sở vật chất và hệ lụy đến người học. Để có điều kiện được học tập, trong các năm qua, ngoài huy động nguồn lực khác, có khóa mỗi nghiên cứu sinh phải đóng tới 20 triệu đồng tiền xây dựng. Và cũng do thiếu nguồn lực nên các học viên còn phải đóng thêm tiền tài liệu. Các học viên đều không phải đóng góp khoản phí này nếu học trước năm 2010, khi cơ sở đào tạo thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành.   Quan trọng hơn, song song với bất cập về nguồn lực vật chất nêu trên, Học viện đã tách học viên sau đại học ra khỏi môi trường học thuật của các viện nghiên cứu. Họ rất khó tiếp cận các sinh hoạt khoa học và tài liệu ở các viện chuyên ngành và có rất ít thời gian trao đổi chuyên môn hoặc làm nghiên cứu tập sự với các chuyên gia của ngành học vì Học viện KHXH không có lực lượng chuyên gia tại chỗ. Dù Học viện cho biết họ có số lượng “giảng viên cơ hữu” rất lớn nhưng thực chất toàn bộ số “giảng viên cơ hữu” này đang làm tại các viện chuyên ngành và chỉ là giảng viên kiêm nhiệm, trên thực tế mỗi khoa đào tạo chỉ có biên chế từ 1-2 người. Các giảng viên kiêm nhiệm này có rất ít thời gian thảo luận chuyên môn và công tác giảng dạy ngay tại học viện. Có giảng viên cho biết, đã sáu năm kể từ ngày là “giảng viên cơ hữu” của Học viện nhưng chỉ được họp bàn về nhiệm vụ chuyên môn duy nhất có một lần.  Bên cạnh đó, mô hình Viện trưởng kiêm Chủ nhiệm Khoa hiện nay cũng tạo nên bất cập trong công tác quản lý khoa học và đào tạo tại các khoa. Trước năm 2010, các Viện trưởng thường đảm trách nhiệm vụ đào tạo sau đại học tại viện chuyên ngành nhưng không gặp nhiều khó khăn bởi khi đó số lượng học viên rất ít (thường đào tạo một tiến sĩ/ năm) và Viện trưởng cũng không mất công sức quản lý cả viện chuyên ngành và một khoa của Học viện KHXH. Đến nay, với bình quân mỗi Khoa phải tuyển sinh khoảng 20 nghiên cứu sinh/ năm, các viện trưởng của các viện chuyên môn gặp rất nhiêu khó khăn khi phải đồng thời làm chủ nhiệm Khoa của học viện KHXH.  Do thiếu nguồn lực như đã nêu nên việc tổ chức các hội đồng của Học viện cũng gặp khó khăn. Có những hội đồng, Học viện KHXH còn mời cả chuyên gia trái chuyên môn hoặc không đủ điều kiện chuyên môn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Và cũng vì thiếu nguồn lực, bộ máy hoạt động của Học viện trên thực tế chỉ đảm nhiệm chức năng hành chính.         Do các bất cập nêu trên, đến nay, dư luận xã hội và không ít các chuyên gia đặt câu hỏi về chất lượng đào tạo của Học viện KHXH, xoay quanh vấn đề chất lượng các luận án. Trong bối cảnh đào tạo hiện nay, không thiếu luận án được hoàn thành do người hướng dẫn, do đồng nghiệp làm thay, hoặc thậm chí do thuê mướn. Tuy nhiên, các hiện tượng liên quan tới luận án chỉ là phần nổi của tảng băng, nửa chìm của tảng băng kia còn là kỹ năng nghiên cứu của học viên được nâng cao phải qua thực hiện các chuyên đề, qua trình bày khoa học, khả năng sử dụng ngoại ngữ…    Ngược với mô hình học viện trên thế giới  Các học viện (graduate academy) trên thế giới đều thuộc một trường đại học hoặc viện nghiên cứu và chưa thấy mô hình nào đồ sộ hơn Học viện KHXH ở Viện Hàn lâm KHXH VN. Nhiệm vụ của các học viện đó không phải trực tiếp đào tạo để cấp bằng, mà chủ yếu phối hợp với các khoa của trường đại học để làm dịch vụ hỗ trợ, tài trợ khoa học cho các học viên sau đại học, dưới các hình thức như cung cấp thông tin học thuật (về các học giả, các khoá học, hội thảo…); thông tin học bổng cho học viên; tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn về chuyên môn sâu hoặc kỹ năng nghiên cứu; hỗ trợ học viên thực hiện luận văn, luận án. Trong các nhiệm vụ này, việc tìm nguồn học bổng để hỗ trợ học viên rất được coi trọng bởi học viện sẽ tăng uy tín và dễ dàng xin nguồn tài chính duy trì hoạt động nếu hỗ trợ được nhiều luận án nghiên cứu có giá trị.   Trên cơ sở những phân tích trên, trách nhiệm đào tạo sau đại học tại Viện Hàn lâm KHXH VN cần được trả lại cho các viện chuyên ngành. Còn Học viện KHXH nên đổi mới theo cách làm của quốc tế, thay vì tập trung cho mục tiêu đào tạo với quy mô rất lớn – chiêu sinh 350 nghiên cứu sinh một năm cho 23 mã ngành – Học viện nên chủ yếu làm dịch vụ hỗ trợ hoạt động đào tạo sau đại học. Đối với quy mô hỗ trợ đào tạo cũng không nên đặt ra định mức chỉ tiêu bao nhiêu học viên một năm, mà nên tùy thuộc vào nhu cầu của các học viên và khả năng của Học viện trong việc thu hút, tập hợp các nguồn lực. Học viện có thể xin kinh phí Nhà nước hoặc nguồn kinh phí của quốc tế để hỗ trợ học viên thực hiện luận văn, luận án theo hướng các đề tài, nhiệm vụ trọng điểm của Viện Hàn lâm KHXH VN. Để làm được điều này – theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan có trách nhiệm phải đánh giá toàn diện những lĩnh vực liên quan đến mô hình Học viện KHXH thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN một cách xác thực để có quyết định phù hợp  Ở  Việt Nam vẫn có cách hiểu về học viện (graduate academy) như một tổ chức chuyên về đào tạo. Nhưng trên thế giới, học viện, điển hình như Học viện Goethe thuộc Ðại học Geothe (Cộng hòa Liên bang Ðức) chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ khoa học rất thiết thực, hỗ trợ học viên sau đại học của trường, như tổ chức hội thảo miễn phí nhằm cung cấp  thông tin về các chương trình đào tạo mở rộng dành cho học viên; tạo cơ hội cho học viên gặp gỡ chuyên gia của tổ chức khoa học và phi chính phủ tại các toạ đàm khoa học; hỗ trợ cho các nghiên cứu viên trẻ khi họ tự thiết lập nhóm nghiên cứu sinh tiến sĩ; giúp học viên xây dựng, duy trì mạng lưới xã hội mang tính liên ngành thông qua các sự kiện khoa học thu hút tất cả học viên từ mọi chuyên ngành; giải đáp thắc mắc liên quan đến chủ đề nghiên cứu và đưa ra gợi ý, định hướng nghiên cứu cho học viên khi họ cần; mở các khoá học ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Đức) để học viên tham gia và tổ chức dịch vụ ngôn ngữ miễn phí giúp học viên kiểm tra tính chính xác của bản thảo luận văn, luận án của họ khi viết bằng tiếng Anh… Có thể tham khảo qua website sau đây của Học viện:http://www.goethe-university-frankfurt.de/54288099/099_mission_and_visionTương tự, có thể tham khảo nhiệm vụ của Học viện thuộc Viện Khoa học Texas (Hoa Kỳ) qua website:http://www.texasacademyofscience. org/graduate-academy      Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu đe dọa di sản thế giới      Nhiều vườn quốc gia, khu di tích và các rạn san hô muôn sắc mầu đang đứng trước nguy cơ biến mất khỏi bản đồ thế giới bởi mực nước biển dâng cao và các siêu bão      Các pho tượng Moai trên đảo Phục sinh cũng có nguy cơ bị nước biển nuốt chửng  Trong báo cáo “Di sản thế giới và du lịch trong bối cảnh biến đổi khí hậu” của UNESCO, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (United Nations Environment Programme) phối hợp thực hiện, ngay cả những  địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới như  Stonehenge, Venice hay Vườn quốc gia Yellowstone vv… cũng bị đe dọa nghiêm trọng.  “Nếu chúng ta không làm gì cả để giảm khí hiệu ứng nhà kính thì chúng ta sẽ bị mất một phần di sản thế giới và các thế hệ tương lai sẽ không còn được chiêm ngưỡng các di sản đó”, ông Adam Markham, một trong những tác giả của bản báo cáo, đã cho DW biết như vậy.  Sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu hiện diện ở khắp mọi nơi, từ Eisfjorden tại Greenland đến các rạn san hô ở Thái bình dương. Ngay cả vùng biển Wadden của Đức cũng không ngoại lệ, đây là vùng bãi triều liên hoàn lớn nhất thế giới, trải dài tới tận Đan Mạch và Hà lan. Bão tố và nước biển dâng cao là những vấn đề chính của Wadden, khiến một số loài chim khó tìm được nơi làm tổ.  Tổn hại đối với ngành du lịch  Báo cáo đã phân tích hiện trạng của 31 di sản thế giới ở 29 quốc gia, qua đó nêu những tổn hại có thể phát sinh và các tác động của nó đến ngành du lịch. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nhiều nước đang phát triển, vốn chủ yếu dựa vào du lịch.  “Một khi các khu vực này bị ảnh hưởng thì khó có thể thu hút được nhiều du khách như trước được nữa. Điều này có thể dẫn đến hậu quả là làm tổn hại đối với kinh tế địa phương”, ông Markham giải thích.  Các di sản thế giới luôn là điểm hấp dẫn khách du lịch, ví dụ đảo Phục sinh ở Chile nổi tiếng thế giới vì các pho tượng Moai, nguồn thu của hòn đảo này phụ thuộc vào lượng khách du lịch đến đây hàng năm (trung bình đạt 60.000 người/năm), còn riêng khâu tham quan người vượn (Gorilla-Trekking) ở Vườn quốc gia Bwindi cũng đem lại cho Uganda 20 triệu  USD hàng năm, tương đương một nửa thu nhập từ du lịch của đất nước này.  Xét trên bình diện toàn cầu thì du lịch thực sự là “con gà đẻ trứng vàng” khi chiếm 9% tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (The gross national income GNI), cứ mười một chỗ làm việc thì có một thuộc lĩnh vực du lịch.  Theo Stefan Gössling, giáo sư tại đại học Lund (Thụy Điển), chuyên gia về biến đổi khí hậu và du lịch, biến đổi khí hậu đã tác động một cách thực sự đến hoạt động du lịch toàn cầu.  Tuy nhiên, chính phủ Australia có phản ứng khá lạ lùng đối với bản báo cáo này: mọi đề cập liên quan đến các di sản thế giới ở Australia đều bị xóa bỏ, ví dụ trên thực tế thì Great Barrier Reef, vùng biển có rạn san hô nổi tiếng bị tẩy trắng nhưng Bộ Môi trường nước này đã đề nghị không đưa vấn đề này cùng một số vấn đề khác vào bản báo cáo. Lý do là người ta sợ nó sẽ làm ảnh hưởng ngành du lịch.  Lợi cho kinh tế nhưng hại cho di sản  Trong những năm qua vùng nội đô của Venedig bắt đầu  bị ngập úng. Về lau dài biến đổi khí hậu làm cho tình trạng này tồi tệ hơn.  Điều chưa rõ ràng là liệu sự ảnh hưởng có bị thổi phồng lên không. Theo giáo sư Gössling, báo cáo này có thể gây tác động tiêu cực đến ngành du lịch thế giới trong một thời gian nhất định: báo cáo có thể hối thúc người ta tranh thủ tới thăm những vùng đất mà báo cáo đề cập trước khi các di sản thế giới ở đây bị tổn hại. Tuy điều đó sẽ giúp cải thiện kinh tế địa phương nhưng cũng có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực vì hoạt động du lịch thường góp phần gây ra ô nhiễm môi trường địa phương và làm tăng tốc biến đổi khí hậu toàn cầu.  Dù được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” nhưng trên thực tế, ngành du lịch tạo ra 5% lượng khí thải carbon trên toàn cầu và xu hướng đó ngày càng gia tăng. Nguyên nhân chính là giao thông hàng không và đường bộ. “Con người chọn lựa các điểm du lịch để tham quan, qua đó làm ảnh hưởng đến chính những điểm du lịch mà chính họ muốn gìn giữ”,  Gössling cho biết.  Tuy khuyến cáo như vậy nhưng giáo sư Gössling cũng không muốn làm điều gì để cản trở con người đi du lịch, “Tôi sẽ rất sung sướng nếu mọi người chọn các điểm du lịch ở gần khu vực mà họ sinh sống – hoặc khi họ đến những vùng đất xa xôi thì nên ở lại đó lâu hơn qua đó cũng giúp hạn chế tác động của các chuyến đi”.  Markham cho rằng, ngay cả khi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là chuyện của tương lai song ngay từ bây giờ con người phải hành động. Nếu các chính phủ cùng cam kết thực thi Hiệp định về khí hậu Pari thì “thực sự có cơ hội để làm chậm lại quá trình biến đổi khí hậu. từ đó góp phần làm giảm tác động xấu của nó. Về một khía cạnh nào đó thì hầu hết các di sản thế giới đều bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và trong tương lai, tác động này sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.”  Xuân Hoài lược dịch theo Tuần kinh tế Đức.       Author                Xuân Hoài        
__label__tiasang Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Những vấn đề lớn cần giải quyết      Biến đổi khí hậu dường như không còn xa lại đối với mọi người dân Việt Nam, và trong nhiều trường hợp nó được vận dụng hoặc vô thức hoặc có chủ ý vào việc giải thích những gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường. Nhưng trên thực tế, biến đổi khí hậu diễn ra ở Việt Nam như thế nào và chúng ta có thể ứng phó gì trước những hệ lụy mà nó gây ra?    Trước hết, chúng ta thấy rằng ở qui mô khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ, cốt lõi của bài toán nghiên cứu biến đổi khí hậu là xây dựng được chiến lược các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu một cách hợp lý, đặc biệt ở những nơi được cho là có mức độ tổn thương cao. Muốn vậy cần có các kịch bản biến đổi khí hậu với đầy đủ thông tin cần thiết, cả về độ phân giải không gian cũng như độ tin cậy và tính bất định của các kịch bản.  Việt Nam với hơn 3000 km bờ biển, nằm trong khu vực châu Á gió mùa, hằng năm phải đối mặt với sự hoạt động của bão, xoáy thuận nhiệt đới, chịu tác động của nhiều loại hình thời tiết phức tạp. Các hiện tượng thiên tai khí tượng xảy ra hầu như quanh năm và trên khắp mọi miền lãnh thổ. biến đổi khí hậu và nước biển dâng dường như đã có những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường. Làm rõ được khí hậu Việt Nam đã, đang và sẽ biến đổi như thế nào, từ đó đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp, chiến lược và kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu biến đổi khí hậu sẽ góp phần phục vụ phát triển bền vững đất nước.  Biểu hiện trong quá khứ và dự tính cho tương lai  Dù được tiến hành từ những thập niên 1990 của thế kỷ trước, nghiên cứu biến đổi khí hậu ở Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm từ sau năm 2000. Các công trình nghiên cứu cũng đã dần dần đi vào chiều sâu về bản chất vật lý và những bằng chứng của sự biến đổi khí hậu. Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy khí hậu Việt Nam đã có những dấu hiệu biến đổi rõ rệt. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.5ºC trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ. Bộ số liệu quan trắc hằng ngày từ mạng lưới các trạm khí tượng trên 7 vùng khí hậu Việt Nam giai đoạn 1961-2007 cho thấy, xu thế tăng của nhiệt độ tại các trạm quan trắc trên lãnh thổ Việt Nam phổ biến vào khoảng 0.15-0.25ºC/thập kỷ và có sự khác nhau giữa các trạm. Khác với nhiệt độ, lượng mưa năm có xu thế giảm ở khu vực phía Bắc và tăng ở phía Nam, nhất là Nam Trung Bộ. Nam Bộ mặc dù có xu thế mưa tăng nhưng hầu như rất nhỏ và không thỏa mãn mức ý nghĩa 10%. Cùng với xu thế tăng của nhiệt độ và sự biến đổi của lượng mưa, các hiện tượng cực đoan liên quan đến chúng cũng đã có những dấu hiệu biến đổi khá rõ: số ngày nắng nóng có xu thế tăng lên và số ngày rét đậm có xu thế giảm đi; lượng mưa ngày cực đại và tương ứng là số ngày mưa lớn tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu; tần suất bão hoạt động có biểu hiện tăng lên ở các vùng biển phía Nam.     Phân bố không gian của biến đổi lượng mưa trung bình tháng trên toàn lãnh thổ Việt Nam dự tính theo tổ hợp các mô hình cho thời kỳ 2046-2065 (MF) và theo các kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5.    Phân bố không gian của biến đổi lượng mưa trung bình tháng trên toàn lãnh thổ Việt Nam dự tính theo tổ hợp các mô hình cho thời kỳ 2080-2099 (FF) và theo các kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5.  Thông thường, dự tính khí hậu tương lai cho một khu vực cụ thể thường được thực hiện bằng cách hạ qui mô động lực (dynamical downscaling) sử dụng các mô hình khí hậu khu vực (RCM) với số liệu điều kiện biên là sản phẩm dự tính của các mô hình khí hậu toàn cầu, hoặc hạ qui mô thống kê (statistical downscaling). Mỗi phương pháp hạ qui mô đều có những ưu, nhược điểm riêng. Với sự phát triển vượt bậc về năng lực tính toán và lưu trữ của các hệ thống máy tính, việc sử dụng các RCMs để hạ qui mô ngày càng được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu biến đổi khí hậu. Trong mỗi mô hình đơn lẻ luôn tồn tại những điểm mạnh và những điểm yếu khiến cho “không một mô hình nào được xem là tốt nhất và việc sử dụng kết quả từ nhiều mô hình là quan trọng”. Nếu sai số của các mô hình khác nhau là độc lập, thì trung bình tổ hợp của các mô hình có thể được kỳ vọng sẽ tốt hơn mỗi thành phần riêng lẻ, do vậy sẽ cung cấp một dự tính “tốt nhất”. Bởi vậy, để giảm bớt tính bất định, với cùng một kịch bản phát thải, sản phẩm dự tính của nhiều mô hình khác nhau thường được sử dụng để xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu. Cách tiếp cận tổ hợp có nhiều ưu điểm nhưng lại rất phụ thuộc vào năng lực tính toán của hệ thống máy tính cũng như đòi hỏi sự đầu tư theo chiều sâu về nhân lực và thiết bị. Ở Việt Nam, việc sử dụng phương pháp tổ hợp để xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu đã bắt đầu được áp dụng cho phiên bản mới nhất.  Tính bất định trong kết quả dự tính khí hậu từ các mô hình khu vực thể hiện không những trong từng trường hợp cụ thể mà còn phụ thuộc cả vào bản thân động lực học và các tham số hoá vật lý của mô hình; phụ thuộc vào khu vực, thời điểm, kích thước miền tính, độ phân giải; phụ thuộc vào các kịch bản phát thải; và phụ thuộc vào điều kiện ban đầu và điều kiện biên từ các mô hình toàn cầu.  Do đó, việc xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu nếu chỉ dựa trên kết quả dự tính của một số ít mô hình có thể sẽ dẫn đến những kết luận không đầy đủ do tính bất định cao của sản phẩm dự tính. Tính bất định không chỉ tiềm ẩn trong sai số của mô hình mà còn chứa đựng trong các kịch bản phát thải. Vì vậy, để có các kịch bản biến đổi khí hậu đủ độ tin cậy cần phải sử dụng sản phẩm dự tính từ nhiều mô hình khác nhau, kể cả mô hình khu vực và mô hình toàn cầu. Trong trường hợp ở đây, do chỉ mới sử dụng sản phẩm của mô hình RegCM với các đầu vào từ 6 mô hình toàn cầu nên chưa đưa ra được độ tin cậy. Tuy nhiên nếu lấy sản phẩm tổ hợp của các mô hình làm căn cứ để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu thì độ tin cậy của kịch bản nhận được vào khoảng 50%.      Nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường sức chống chịu của cộng đồng, nâng cao chất lượng, độ chính xác của các thông tin dự báo thời tiết, khí hậu, thủy văn,…, xây dựng và bảo đảm độ chính xác, độ ổn định của các hệ thống cảnh báo thiên tai,… là những vấn đề mấu chốt của chiến lược thích ứng với sự biến đổi này.      Thông thường, các kịch bản biến đổi khí hậu có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nhưng chung quy lại là để xây dựng kế hoạch, chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu. Bài toán ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Việc giảm thiểu biến đổi khí hậu nói chung mang tính toàn cầu và đòi hỏi phải có sự đồng thuận của cả cộng đồng quốc tế về vấn đề cắt giảm phát thải khí nhà kính. Thích ứng với biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính địa phương mà thông tin từ các kịch bản biến đổi khí hậu là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch, chiến lược. Bởi vậy, để có được kế hoạch, chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu một cách hợp lý cần phải có những kịch bản đầy đủ thông tin về độ tin cậy của từng kịch bản. Những kịch bản có độ tin cậy cao thường được sử dụng để xây dựng kế hoạch, chiến lược dài hạn, tuy vậy không vì thế mà bỏ qua những kịch bản có độ tin cậy thấp. Do tính bất định trong kết quả dự tính của các mô hình nên không thể nói số ít mô hình không đồng thuận với đa số mô hình còn lại là sai. Ngược lại, kết quả của số ít mô hình đó vẫn có thể xảy ra. Việc xây dựng các kế hoạch, chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu có tính đến những kịch bản có độ tin cậy thấp chính là nội dung của bài toán quản lý rủi ro.  Biến đổi khí hậu có thể dẫn đến nhiều tình huống khó lường. Các kết quả dự tính biến đổi khí hậu chính là các khả năng có thể xảy ra. Việc sử dụng kết quả từ nhiều mô hình khi xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu sẽ cho phép nhận diện được những tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Các kế hoạch, chiến lược hành động thích ứng với biến đổi khí hậu có tính đến các tình huống xấu nhất đó sẽ giúp cho các nhà quản lý và cộng đồng có thể chủ động ứng phó. Và như vậy, kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng từ kết quả dự tính của càng nhiều mô hình càng đảm bảo độ độ tin cậy, giảm tính bất định và có đầy đủ thông tin cho bài toán quản lý rủi ro khí hậu.  Chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu  Ở Việt Nam, tác động của biến đổi khí hậu cũng đã được nhận thấy qua nhiều dấu hiệu, bằng chứng. Trước hết, những diễn biến bất thường của thời tiết, khí hậu trong nhiều năm gần đây có thể được cho là có liên quan đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển, đại dương qui mô lớn cũng như sự biến đổi trong hoạt động của gió mùa châu Á. Bão, áp thấp nhiệt đới có xu hướng dịch chuyển về phía Nam và có quĩ đạo phức tạp, khó dự báo hơn. Hạn hán, lũ lụt dường như xảy ra bất thường hơn. Hiện tượng nắng nóng có xu hướng gia tăng cả về cường độ, tần suất và độ dài các đợt. Số ngày rét đậm, rét hại giảm đi nhưng mức độ khắc nghiệt và độ kéo dài các đợt có dấu hiệu gia tăng. Nhìn chung, biến đổi khí hậu dường như đã làm gia tăng những hiện tượng cực đoan, dẫn đến sự gia tăng các thiên tai có nguồn gốc khí tượng, tác động xấu đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội và môi trường. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện, định lượng hóa những tác động đó vẫn đang còn là vấn đề thách thức.  Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu có lẽ cũng cần phải nhìn nhận ở hai góc độ: 1) Tác động của khí hậu biến đổi từ từ (hay biến đổi chậm), chẳng hạn sự tăng lên dần của nhiệt độ, sự giảm đi dần của tổng lượng mưa năm, sự dịch chuyển dần của mùa mưa, mùa nóng, mùa lạnh, hoặc sự dâng lên dần của mực nước biển,…; 2) Tác động của sự biến đổi về mức độ dao động của khí hậu, hay sự biến đổi của biên độ và tần số dao động nhiều năm của các yếu tố và hiện tượng khí hậu. Sự biến đổi này liên quan chặt chẽ với sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu cực đoan. Chẳng hạn, do biên độ dao động của nhiệt độ tăng lên nên số ngày nắng nóng cũng như cường độ của các đợt nắng nóng sẽ tăng lên, kéo dài hơn, số ngày rét đậm, rét hại giảm đi nhưng các đợt rét đậm, rét hại với cường độ mạnh hơn (hay rét sâu hơn) cũng có thể tăng lên,… Sự biến đổi trong dao động mực nước biển cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.&n      Trên phương diện khoa học, nguyên nhân, cơ chế tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam thiết nghĩ cũng là lớp bài toán cần phải được làm sáng tỏ. Chẳng hạn, sự dâng cao đột biến của mực nước biển vào các kỳ triều cường phải chăng là do sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân như biến đổi trong chế độ hoàn lưu khí quyển, sự hoạt động của gió mùa hay các quá trình khác trong đại dương, các quá trình địa chất?      Trong trường hợp thứ nhất (biến đổi chậm), con người và các hệ sinh thái nói chung có thể tự thích nghi dần, nhưng một số loài nếu không có khả năng hoặc không có điều kiện thích nghi sẽ dần biến mất dẫn đến bị diệt vong. Sự nguy hiểm do tác động tiêu cực gây nên bởi sự biến đổi chậm này là chỉ có thể nhận thấy chúng sau một khoảng thời gian đủ dài. Nếu không dự tính được thì hệ quả mang lại sẽ rất nặng nề và khó có thể phục hồi. Chẳng hạn, do nhiệt độ tăng lên, khả năng chứa nước của khí quyển cũng tăng theo; hàm lượng hơi nước trong khí quyển lớn cộng với nền nhiệt cao có thể là môi trường thuận lợi cho việc phát sinh và phát triển các chủng loại virus mới gây bệnh, đối với cả con người và các hệ động thực vật. Chiến lược thích ứng với sự biến đổi này là cần phải xây dựng được các kế hoạch, chiến lược dài hạn mà thông thường được lồng ghép vào các phương án qui hoạch phát triển.  Trong trường hợp thứ hai, sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan là nguyên nhân làm gia tăng các hiện tượng thiên tai, cả về tần suất và cường độ, có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Thiên tai không những làm thiệt hại về người và của mà còn có thể nhanh chóng hủy hoại cả một vùng, một hệ sinh thái nào đó. Tính chất nguy hiểm của những tác động này là thiên tai xảy ra có thể làm bần cùng hóa hoặc tái bần cùng một bộ phận cộng đồng trong vùng chịu ảnh hưởng, thậm chí trong khoảnh khắc có thể làm sụp đổ mọi nỗ lực của chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong trường hợp này là xây dựng các chiến lược, kế hoạch phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường sức chống chịu của cộng đồng, nâng cao chất lượng, độ chính xác của các thông tin dự báo thời tiết, khí hậu, thủy văn,…, xây dựng và bảo đảm độ chính xác, độ ổn định của các hệ thống cảnh báo thiên tai,… là những vấn đề mấu chốt của chiến lược thích ứng với sự biến đổi này.  Thách thức và cơ hội  Có thể nói hiện nay việc nghiên cứu, đánh giá biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu cũng như đề xuất các giải pháp, chiến lược và kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Là một nước thuộc khu vực châu Á gió mùa, nằm kề Biển Đông, một bộ phận của ổ bão Tây Thái Bình dương, hằng năm Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thiên tai có nguồn gốc khí tượng. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, tình hình thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp và có dấu hiệu gia tăng. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã có những tác động xấu và đang đe dọa đến sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu (2008-2013), nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai. Một số cơ quan, ban, ngành chuyên phụ trách về vấn đề biến đổi khí hậu cũng đã được thành lập nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về biến đổi khí hậu và tác động của nó. Nhiều dự án do nước ngoài tài trợ được thực hiện nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, tăng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những tác động của biến đổi khí hậu. Một số đề tài, dự án nghiên cứu đánh giá biến đổi khí hậu và tác động của nó cũng đã được thực hiện dựa trên các nguồn kinh phí của nhà nước và địa phương, trong đó đáng chú ý là nguồn kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và hai Chương trình KH&CN về biến đổi khí hậu (2011-2015 và 2016-2020), nhiều đề tài, dự án đã và đang được triển khai. Khách quan mà nói, các chương trình này đã đem lại những hiệu quả nhất định trong vấn đề nâng cao nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.     Trồng rừng ngập mặn ở Quảng Trị. Nguồn: Báo Đấu thầu.  Về lý thuyết, vấn đề nghiên cứu đánh giá biến đổi khí hậu, tác động của nó và ứng phó với biến đổi khí hậu cần được tiến hành theo một trình tự nhất định. Song những gì đã xảy ra trên thực tế còn tồn tại khá nhiều bất cập. Trước hết, việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cần phải dựa trên thông tin đánh giá biến đổi khí hậu, tức phải biết khí hậu đã và sẽ biến đổi như thế nào. Cho đến nay đã có một số kết quả đánh giá biến đổi khí hậu trong quá khứ và hiện tại, nhưng vẫn chưa đầy đủ, toàn diện so với nhu cầu thực tế, còn việc đánh giá biến đổi khí hậu cho tương lai vẫn đang là một khoảng trống khá lớn. Những gì diễn ra cho thấy điều đó, trước hết nếu không tính đến một số thông báo quốc gia trước năm 2009 thì cho đến nay đã có ba phiên bản về kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam đã được công bố: Phiên bản thứ nhất vào năm 2009, phiên bản thứ hai (cập nhật) vào năm 2012, và phiên bản thứ ba công bố vào năm 2016. Có được các phiên bản này là một nỗ lực lớn của Bộ TN&MT nhưng các kịch bản này đều chưa đề cập (phiên bản thứ nhất và thứ hai) hoặc đề cập nhưng chưa đầy đủ (phiên bản thứ ba) đến độ tin cậy hay tính bất định của chúng. Và do đó cơ sở khoa học để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai khi dựa vào các kịch bản này chưa thực sự thuyết phục. Lý do nằm ở chỗ vì chưa biết được mức độ tin cậy của các kịch bản biến đổi khí hậu nên những thông tin trong các kịch bản còn tiềm ẩn tính bất định lớn và chưa đủ cơ sở vững chắc cho bài toán đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai.  Do đó, vấn đề đầu tiên là phải xây dựng được các kịch bản biến đổi khí hậu có đầy đủ thông tin về độ tin cậy. Độ tin cậy của các kịch bản biến đổi khí hậu chỉ có thể được xác định dựa trên một tập hợp các sản phẩm dự tính khí hậu tương lai.  Nhìn vào các kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam đã được công bố. Phiên bản thứ ba công bố năm 2016 đã đánh dấu một bước tiến bộ lớn trong cách tiếp cận xây dựng kịch bản, trong đó sản phẩm của nhiều mô hình đã được sử dụng. Tuy vậy, với số lượng mô hình còn hạn chế nên chưa có được thông tin về độ tin cậy. Hơn nữa, các kịch bản nói chung vẫn chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho bài toán quản lý rủi ro. Có thể xem đó là một thách thức lớn mà chúng ta cần phải vượt qua.         Trên phương diện khoa học, nguyên nhân, cơ chế tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam thiết nghĩ cũng là lớp bài toán cần phải được làm sáng tỏ. Chẳng hạn, sự dâng cao đột biến của mực nước biển vào các kỳ triều cường phải chăng là do sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân như biến đổi trong chế độ hoàn lưu khí quyển, sự hoạt động của gió mùa hay các quá trình khác trong đại dương, các quá trình địa chất?      Về tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, cho đến nay đã có rất nhiều tài liệu, báo cáo tại các hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế, và cả những báo cáo tổng kết các đề tài, dự án nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu. Các tài liệu này cũng rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ về hình thức, cấp độ và lĩnh vực nghiên cứu. Trong số đó có khá nhiều công trình, tài liệu đưa ra được những bằng chứng cụ thể, rất có sức thuyết phục. Tuy vậy vẫn còn không ít công trình công bố hoặc đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách chủ quan, định tính, hoặc minh chứng chưa rõ ràng, thậm chí hơi khiên cưỡng, gán ép, “qui kết” cho biến đổi khí hậu. Dĩ nhiên rất khó để “bóc tách”, định lượng một cách rạch ròi biến đổi khí hậu đóng góp bao nhiêu phần vào sự biến đổi của một thực thể nào đó, nhưng không phải tất cả các đối tượng nghiên cứu bị biến đổi đều có sự đóng góp của biến đổi khí hậu. Đó cũng là một thách thức lớn, song chúng ta có thể vượt qua nếu biết vận dụng kiến thức một cách đầy đủ, chính xác và khách quan.  Trên phương diện khoa học, nguyên nhân, cơ chế tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam thiết nghĩ cũng là lớp bài toán cần phải được làm sáng tỏ. Chẳng hạn, sự dâng cao đột biến của mực nước biển vào các kỳ triều cường phải chăng là do sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân như biến đổi trong chế độ hoàn lưu khí quyển, sự hoạt động của gió mùa hay các quá trình khác trong đại dương, các quá trình địa chất?  Thích ứng với biến đổi khí hậu cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Với quan điểm nhìn nhận tác động của biến đổi khí hậu ở hai khía cạnh là tác động của sự biến đổi chậm và tác động của các hiện tượng cực đoan, việc thích ứng cũng cần phải có chiến lược, lộ trình và giải pháp phù hợp. Đối với những biến đổi chậm, chiến lược và giải pháp thích ứng phải nhắm tới các mốc thời gian trong tương lai xa hơn được lồng ghép vào trong các dự án qui hoạch, xây dựng và phát triển. Hiển nhiên, trong các dự án qui hoạch phát triển cũng cần xem xét đến tác động của các hiện tượng cực đoan. Thích ứng với các hiện tượng cực đoan gắn liền với bài toán phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai trong đó lớp bài toán dự báo khí tượng thủy văn đóng vai trò quyết định, cả dự báo hạn ngắn và hạn dài. Dĩ nhiên rằng bài toán thích ứng với biến đổi khí hậu chỉ có thể được thực hiện sau khi đã có những thông tin đầy đủ về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai.  Bài toán đánh giá biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu không thể thiếu vai trò hợp tác quốc tế. Bên cạnh những nỗ lực của các nhà khoa học cũng như các cơ quan trong nước, cộng đồng quốc tế đã ra sức hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong nghiên cứu và ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua khá nhiều dự án quốc tế nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu, tăng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu tác động của biến đổi khí hậu. Các đề tài, dự án này nói chung đều có sự tham gia hợp tác của các nhà khoa học từ các nước phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ.    Tình trạng ngập lụt bất thường ở Bảo Lộc, Lâm Đồng năm 2019. Nguồn: Thanhnien.  Nói riêng trong nghiên cứu đánh giá biến đổi khí hậu, Việt Nam đã có những hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học của nhiều nước, trong đó có thể kể đến Anh, Na Uy, Đan Mạch, Australia, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức,… Thông qua những hợp tác đó, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, được cung cấp mô hình, và số liệu toàn cầu phục vụ nghiên cứu mô phỏng khí hậu khu vực và xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam. Một trong những dự án mà sản phẩm được sử dụng để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản 2016 là “Xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu phân giải cao cho Việt Nam” (2012-2013) do AusAID tài trợ với sự hợp tác giữa CSIRO, trường Đại học KHTN, ĐHQGHN và Viện KH Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu.   Quan hệ hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế ngày càng nhiều, sự “ngang bằng”, “bình đẳng” cũng dần dần được thể hiện thông qua các công trình khoa học công bố trên các tạp chí quốc tế, tuy số lượng công trình công bố trên các tạp chí quốc tế trong lĩnh vực biến đổi khí hậu từ các nhà khoa học Việt Nam nói riêng và từ khu vực Đông Nam Á nói chung còn khá khiêm tốn.       Việc nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng chiến lược ứng phó cần phải được thực hiện theo một trình tự nhất định, nhất thiết không được theo cảm tính và quy chụp. Tác động của biến đổi khí hậu cần được xem xét dưới hai góc độ: Tác động của biến đổi chậm và tác động của các hiện tượng cực đoan.      Trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, dân ta có câu “cái khó ló cái khôn”, đứng trước những khó khăn thách thức do tác động của biến đổi khí hậu, con người Việt Nam đủ thông minh để biến cái bất lợi thành cái lợi, biến thách thức thành cơ hội trong quá trình phát triển. Có khá nhiều minh chứng có thể nêu ra, như thay cho việc không thể trồng lúa trên đất nhiễm mặn, người dân đã biến các cánh đồng “nước lợ” thành nơi nuôi trồng thủy sản mà thu nhập có thể còn cao hơn nhiều.  Những bài toán lớn  Biến đổi khí hậu sẽ còn tiếp diễn trên toàn cầu mà Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Việt Nam được xếp vào nhóm những quốc gia chịu tổn thương lớn nhất do tác động của biến đổi khí hậu. Mặc dù vậy, nghiên cứu biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét.  Trong quá khứ, mà ít nhất là trong những thập kỷ gần đây khí hậu Việt Nam đã có những biến đổi rõ rệt, phù hợp với sự biến đổi của khí hậu toàn cầu. Các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan đã và đang có những diễn biến hết sức phức tạp và đã có tác động xấu đến nhiều vùng miền, lĩnh vực. Kết quả dự tính khí hậu trong tương lai cũng cho thấy nhiệt độ sẽ gia tăng và lượng mưa có xu hướng giảm theo chiều hướng tác động xấu. Bởi vậy, đánh giá biến đổi khí hậu, và xây dựng các kế hoạch, chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng thời của tất cả các cấp, các ngành, từ cấp quốc gia đến các thôn bản. □  ——-  *GS. TS Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, trường đại học KHTN, ĐHQGHN    Author                Phan Văn Tân        
__label__tiasang Biến nghịch cảnh thành lợi thế      Sinh ra trong một hợp tác xã nông nghiệp, Shimon Peres cho rằng “nông nghiệp là ngành có đến 95% khoa học công nghệ trong đó, chỉ 5% là sức lao động con người”, và mấu chốt để phát triển là không ngừng thay đổi.     Cũng với góc nhìn đó, ông nhìn thấy tầm quan trọng của công nghệ trong mọi lĩnh vực. Chính ông đã phát triển thành công ngành hạt nhân cho Israel, và trong năm 2005 Israel lọt vào TOP 10 các quốc gia sản xuất năng lượng hạt nhân trên toàn cầu. Nhưng Peres chưa dừng lại ở đó, ông thúc đẩy công tác Nghiên cứu Phát triển của đất nước một cách quyết liệt, đưa Israel đã dẫn đầu thế giới trong tỷ lệ GDP dành cho R&D.  Bên cạnh đó, ông còn hoạch định ra một con đường để các doanh nhân phát triển.   Một doanh nhân Israel từng nói “có nhiều cách để làm kinh doanh, theo đó bạn có thể phát minh ra một sản phẩm gì mới hoặc làm được gì đó mang tính nhân văn. Bạn sẽ có cảm giác mình là một nông dân đang làm kỹ thuật cao, và giá trị đạt bạn được trong cuộc sống không nhất thiết phải là việc kinh doanh thu lợi bao nhiêu tiền cho bản thân”.  Công thức Israel mạnh mẽ như hiện nay là sự pha trộn của lòng ái quốc, nghị lực, liên tục nhận thức về sự khan hiếm và nghịch cảnh của quốc gia, sự tò mò ham hiểu biết của dân tộc Do Thái. Peres nói “đóng góp lớn nhất của Israel cho lịch sử là sự bất mãn liên tục, dân tộc này chẳng bao giờ hài lòng cả. Trong khoa học, đây là đặc trưng quý giá; nhưng trong chính trị thì chưa chắc. Bạn phải thay đổi và lại thay đổi, không ngừng.”   Có thể nói rằng nguyên nhân của sự sáng tạo và tinh thần doanh nhân trong con người Israel là: sự hòa quyện gắn bó mật thiết của các đại học lớn, các công ty tập đoàn lớn, những doanh nghiệp nhỏ mới ra đời và những hệ thống kết nối, phụ trợ trong môi trường kinh doanh: nhà cung cấp, lực lượng lao động, vốn đầu tư mạo hiểm. Không thể không nhắc đến vai trò của Quân đội Israel trong việc hình thành nên lợi thế R&D trong nền kinh tế dân sự. Bên cạnh đó, lý do thành công cũng  phần nào mang tính văn hóa: con người Israel mang tính cá nhân rất cao độ, không lệ thuộc vào tập thể. Điều này không có nghĩa là họ không có tinh thần đồng đội, mà là khả năng lớn để tự mình giải quyết vấn đề. Đó cũng là lý do tại sao các gia đình cũng tự hào khi con cái trưởng thành, phục vụ quân đội xong và là các bác sĩ, kỹ sư; nhưng họ còn tự hào hơn nhiều khi con cái là “những doanh nhân” độc lập. Trở thành doanh nhân mới là chuẩn mực trong xã hội Israel hiện nay. Thành hay bại trong kinh doanh không phải là vấn đề lớn.   Trong kinh doanh nói riêng và mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế nói chung, sự sáng tạo là không giới hạn. Các doanh nghiệp lớn trên thế giới đều đã nhận ra rằng: có một cách rất hay để hưởng lợi sự sáng tạo của người Israel, đó là đi mua lại một doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập của đất nước này. Họ cũng có thể xây dựng nên một trung tâm R&D tại Israel. Các lựa chọn đều phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Quả thật, mọi doanh nghiệp đều biết rằng thế giới liên tục thay đổi và nền móng cho lợi thế cạnh tranh dài hạn phát xuất từ sự sáng tạo. Phải dám sáng tạo.   Tổng thống Peres nói “Thế giới có thể học hỏi Israel, và Israel cũng học được nhiều từ thế giới, nhưng cả đôi bên đều đã học được rằng điều cẩn trọng nhất là sự liều lĩnh”.         ISRAEL, QUỐC GIA HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI               TRONG CÔNG NGHỆ TƯỚI TIÊU              Sau  Chiến tranh giành Độc lập 1948, cộng đồng Israel vẫn loay hoay với vấn  đề tưới tiêu cho nông nghiệp trong điều kiện khô hạn của vùng miền Nam  sa mạc Negev. Mãi đến năm 1965, kỹ sư Simcha Blass và công ty Netafim  (từng được nhắc đến trong các chương đầu của sách này) mới phát minh ra  hệ thống tưới nước “kiểu nhỏ giọt” và giải quyết được triệt để vấn đề  khô hạn cho đất nông nghiệp.               Quả thật, đất nước nào, vùng miền nào cũng  có những khó khăn và hạn chế, nhưng điều đáng quan tâm chú ý của Israel  là: dân tộc này ưa thích giải quyết vấn đề khó – và khi đã vượt qua được  khó khăn thì phải trở thành người dẫn đầu. Người Israel luôn luôn biến  nghịch cảnh trở thành lợi thế. Cho đến tận ngày nay, nhiều du khách còn  phải kinh ngạc khi nhận thấy 95% diện tích lãnh thổ Israel là khô cằn,  nửa khô cằn hoặc rất khô cằn, thế mà Israel lại là quốc gia hàng đầu thế  giới trong công nghệ tưới tiêu, với vô số sáng kiến, giải pháp về nước  và tái xử lý nước. 70% lượng nước sử dụng là nước thải đã qua xử lý.              Dân  Israel đào giếng để tìm nước tưới, họ đào sâu đến hơn nửa dặm, nghĩa là  gấp 10 lần chiều dài sân bóng đá để nhận ra là mạch nước ngầm bên dưới  vẫn nóng và nhiễm mặn. Không dùng để tưới được, họ lấy thứ nước này để  nuôi các loài cá nước ấm. “Không đơn giản chút nào để thuyết phục mọi  người rằng vẫn có thể nuôi cá trong vùng sa mạc”, thế nhưng Israel làm  được. Cá được đem xuất khẩu và nước thải sau quá trình nuôi cá được dùng  làm phân bón cho các hoạt động trồng trọt khác trên cạn.               Một thế kỷ  trước, như nhà văn Mark Twain đã mô tả, Israel chỉ là vùng đất của các  loại chất thải, khô héo và vô dụng. Nhưng hiện nay, đất nước này có 240  triệu cây trồng. Rừng xuất hiện khắp nơi trong lãnh thổ quốc gia, trong  đó lớn nhất là khu rừng Yatir được hình thành ngay trên nền đất khó  trồng cây nhất, từng là khu vực nửa hoang mạc trước kia. Rừng Yatir bắt  đầu được trồng từ năm 1932, sau nhiều lần các nhà nghiên cứu cố gắng  thuyết phục và chứng minh tính khả thi. Hóa ra, 4 triệu cây trong khu  rừng này chỉ sống nhờ lượng mưa khoảng 280 milimet trong một mùa mưa của  cả năm, nhưng chúng lớn nhanh hơn bình thường vì hấp thụ được nhiều CO2  trong bầu không khí của khu vực.            Tổng hợp từ cuốn Quốc gia của các công ty non trẻ của Dan Senor và Saul Singer, do Tập đoàn Trung Nguyên tuyển chọn và biên dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bộ trưởng Nguyễn Quân: Máy móc cũ không thể tạo ra sản phẩm tốt      Trong chương trình “Dân hỏi-Bộ trưởng trả lời” tối 23/8, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho rằng đừng nghĩ thiết bị có tuổi 15-20 năm thì vẫn còn tốt. Những máy móc, thiết bị đó tốt thật, nhưng sẽ không thể sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với những sản phẩm của các nước tiên tiến.      Xin gửi tới Bộ trưởng một câu hỏi mà có lẽ là băn khoăn chung của khá nhiều doanh nghiệp (DN) trước tình trạng nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng thời gian gần đây trở nên khó kiểm soát hơn. Đặc biệt, thậm chí có những DN còn lách luật, vi phạm luật để nhập về những lô hàng đã qua sử dụng, không hợp pháp. Với góc độ là Bộ trưởng Bộ KH&CN, Bộ trưởng cho biết chúng ta có thể có giải pháp gì để góp phần ngăn chặn tình trạng này?  Bộ trưởng Nguyễn Quân: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cũng như thực hiện Luật Thương mại, chúng tôi cùng các bộ, ngành đã xây dựng một thông tư để hạn chế, quản lý việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, gọi chung là thiết bị cũ.  Điều này rất cần thiết vì nếu chúng ta không quản lý thì sẽ dẫn đến DN nhập khẩu về, sau đó đưa vào sản xuất gây ra ô nhiễm môi trường, tiêu hao nhiều năng lượng và có thể là mất an toàn cho nền kinh tế.  Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng là chúng ta chuẩn bị ký kết Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), các hiệp định thương mại tự do với châu Âu. Khi không còn hàng rào thuế quan và chúng ta phải tuân thủ luật lệ của các hiệp định này, việc hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh với nước ngoài là rất quan trọng. Nếu chúng ta dùng thiết bị cũ, dây chuyền cũ thì không thể có được sản phẩm chất lượng tốt, giá thành hạ để có thể cạnh tranh với nước ngoài.  Như Bộ trưởng nói thì Thông tư 20 có thể là giải pháp ngăn chặn nguy cơ biến Việt Nam trở thành một bãi tập kết những rác thải nguy hại, rác thải công nghiệp. Tuy nhiên, năm ngoái, chính Bộ cũng đã khai tử thông tư này bằng một văn bản khác dừng hiệu lực thông tư này?  Đúng là năm 2014, thông tư đã được ban hành. Khi ban hành rồi, có phản ứng của DN, đặc biệt là DN FDI. Bởi vì khi xây dựng thông tư, xây dựng Luật Thương mại thì căn cứ tình hình của nước ta ở thời điểm đó. Những tiêu chuẩn của Thông tư ban hành khá cao nên nhiều DN cảm thấy không thể đáp ứng được.  Tất nhiên, khi đó chúng ta chưa tham gia quá nhiều vào sân chơi chung thiết lập bởi các hiệp định thương mại tự do. Do vậy, các DN rất muốn được tự do nhập khẩu thiết bị cũ. Đồng thời, có những quy định làm cho DN cảm thấy không yên tâm bởi thủ tục rườm rà, thời gian kéo dài, hoặc có những vấn đề không khả thi.  Thực ra, quá trình làm ra một văn bản quy phạm pháp luật cũng rất công phu. Thông tư 20 được xây dựng trong hơn một năm kể từ có Nghị định 187 của Chính phủ triển khai Luật Thương mại.  Chúng tôi đã lấy ý kiến rất nhiều bộ, ngành, DN, kể cả tham vấn Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Tuy nhiên, mong muốn của bộ, ngành ở thời điểm đó là phải kiểm soát chặt việc nhập khẩu thiết bị cũ vì ở giai đoạn đó có rất nhiều tình trạng DN vi phạm dẫn đến ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng.  Vì thế, chúng ta đặt ra vấn đề là thiết bị không được quá 5 năm sử dụng, chất lượng còn lại trên 80%. Phải đáp ứng đồng thời cả 2 tiêu chuẩn đó thì mới được nhập khẩu. Chưa kể chúng ta còn quy định việc giám định nhập khẩu phải do các cơ quan có thẩm quyền chỉ định các tổ chức giám định. Hơn nữa, khâu giám định đánh giá chất lượng còn lại là rất khó khả thi.  Với thông tư mới, tất cả vấn đề đó đã được tháo gỡ.  Đầu tiên, tuổi của thiết bị đã được nới ra, không phải 5 năm mà tới 10 năm. Trong những trường hợp đặc biệt, các bộ quản lý lĩnh vực đó có thể quyết định thời gian còn cao hơn cho phù hợp.  Việc giám định chất lượng còn lại thì chuyển sang quản lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Không phải đánh giá chất lượng còn lại mà đánh giá thiết bị đó dù được sản xuất ở đâu thì cũng phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam. Nếu Việt Nam chưa có quy chuẩn đó thì phải tuân thủ tiêu chuẩn của các nước G7.  Chúng tôi cũng đơn giản hóa tối đa thủ tục thông quan. Đó là nếu như chưa đầy đủ giấy tờ chứng minh tuổi thiết bị cũng như tiêu chuẩn sản xuất thì vẫn có thể đưa về kho bảo quản. Trong thời hạn quy định tại Luật Hải quan, sẽ nộp lại toàn bộ giấy tờ, sau đó mới được thông quan. Chứng thư giám định đó cũng rất đơn giản, bất kể tổ chức giám định nào của Việt Nam đều có thể làm được bởi vì chỉ xác định thiết bị được sản xuất năm nào, theo tiêu chuẩn nào chứ không phải như trước đây phải giám định chất lượng còn lại.  Và như thế sẽ căn cứ hoàn toàn trên hồ sơ DN tự khai, tự chịu trách nhiệm, thưa Bộ trưởng?  DN tự khai mới chỉ là cam kết thôi. Còn khi họ muốn được thông quan thì phải có xác định của cơ quan giám định, những tổ chức giám định của chúng ta hoàn toàn đủ khả năng giám định 2 chỉ tiêu quan trọng nhất của thông tư này là tuổi thiết bị và tiêu chuẩn sản xuất.  Chúng ta có quy định rất cụ thể là các cơ quan giám định phải chịu trách nhiệm. DN có thể cam kết, cơ quan giám định có thể cấp giấy chứng nhận, chứng thư giám định. Nhưng sau này, các cơ quan chức năng phát hiện có sự gian dối khi khai báo hoặc là có việc “chạy” chứng thư giám định, đã có điều khoản yêu cầu DN tái xuất thiết bị và chịu mọi tổn thất, chi phí. Đồng thời, DN có thể phải chịu thêm xử phạt vi phạm hành chính.  Có một thực tế là nhiều DN nhỏ và vừa của Việt Nam không đủ năng lực tài chính để mua máy móc mới, thậm chí không đủ tiền để mua máy móc cũ đã qua sử dụng của các nước tiên tiến vốn dĩ cũng có mức giá rất cao. Họ đã phải chọn giải pháp là mua máy móc mới nhưng giá rẻ của các nước lân cận. Điều này khiến cho DN đặt câu hỏi, liệu việc siết nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng vô hình trung sẽ giúp cho DN của nước ngoài lân cận với nước ta chiếm lĩnh thị trường kinh doanh máy móc này?  Về câu hỏi này, tôi thấy là DN phải tự trả lời. Nhưng tôi có thể nói thế này, trong dự thảo thông tư mới chúng tôi đã quy định các máy móc dù sản xuất ở bất cứ quốc gia nào nếu như phù hợp quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của G7 thì mới đủ điều kiện nhập khẩu thiết bị đó vào Việt Nam. Cho nên, dù sản xuất ở các nước lân cận chúng ta, nhưng đã sản xuất theo tiêu chuẩn của G7, thì tôi tin là có chất lượng rất tốt.  Chúng tôi cũng khuyến cáo DN Việt Nam, trong thời gian tới hãy cân nhắc trước khi nhập thiết bị đã qua sử dụng. Nếu như chúng ta dùng máy cũ, không thể tạo ra sản phẩm mới có chất lượng tốt, giá thành hợp lý. Khi đó nhập thiết bị cũ là chúng ta tự hại mình. Chúng ta nên nhập thiết bị mới, tiên tiến, hiện đại của các nước phát triển.  Còn trong trường hợp nhập thiết bị cũ thì cũng đừng quá lạc hậu, đừng nghĩ rằng thiết bị có tuổi 15-20 năm thì vẫn còn tốt. Những máy móc, thiết bị đó tốt thật, nhưng sẽ không thể sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với những sản phẩm của các nước tiên tiến. Vì vậy, chúng tôi cho rằng thông tư này là hợp lý, sẽ hỗ trợ được cho DN.  Nguồn: http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-Bo-nganh/Bo-truong-Nguyen-Quan-May-moc-cu-khong-the-tao-ra-san-pham-tot/234695.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Bốn vướng mắc cần tháo gỡ      Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1558 về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”, bước đầu tập trung đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại năm trường đại học, như trường KHTN (ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH quốc gia TPHCM), ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Lạt, ĐH Điện lực. Tuy nhiên vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này vẫn còn gặp bốn vướng mắc cơ bản.       Trước hết, đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân phải có một nhạc trưởng đủ năng lực, tâm huyết được Nhà nước tin giao chuyên biệt với trọng trách quản lý, điều hành chương trình đề án nhằm thu thập, tổng hợp các ý kiến, quan điểm từ các Bộ, ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam,… qua đó đề xuất được ý kiến thỏa đáng, thích hợp để cùng giải quyết rốt ráo, triệt để các vấn đề phát sinh.   Thứ hai, chúng ta cần xác định rõ công việc đào tạo nguồn nhân lực ở trong nước và ngoài nước – xác định những vấn đề gì đào tạo ở trong nước và những vấn đề gì cần được đào tạo ở nước ngoài.   Thứ ba, cần có sự đồng bộ giữa hoạt động đào tạo và đầu tư trang thiết bị thí nghiệm. Các trường đại học tham gia đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân hiện nay chưa được đầu tư đầu đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, hoặc phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử, mà vẫn sử dụng những thiết bị được trang bị cũ kỹ, lỗi thời, dẫn tới phải đào tạo “chay”, theo đó chất lượng đào tạo và nghiên cứu tất yếu bị ảnh hưởng.   Thứ tư, cần có chính sách ưu đãi đặc thù thỏa đáng trong vấn đề phát trỉển nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, gây lãng phí nguồn lực, bao gồm cả ưu đãi cho người học và người dạy. Hiện nay chúng ta đã có Nghị định số 124/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 208/2014/TTLT-BTC-BGDĐT quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, song chính sách cho đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy, đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử còn chưa được đề cập.     Khóa bồi dưỡng về phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt  nhân được tổ chức tại Đà Lạt vào ngày 10/8. Nguồn: Viện Nghiên cứu hạt  nhân Đà Lạt  Bốn vấn đề trên cần được giải quyết sớm bởi lẽ nếu còn tồn đọng thì có nghĩa là chúng ta vẫn chưa tôn trọng đúng tinh thần của đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”, và vấn đề đào tạo nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân sẽ tiếp tục còn gặp trở ngại.          Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”  có tổng kinh phí thực hiện là 3.000 tỷ đồng  (trong đó sử dụng từ ngân sách nhà nước là 2.000 tỷ đồng). Giai  đoạn từ 2010 đến 2015: kinh phí thực hiện Đề án là 2.000 tỷ đồng cho  các hoạt động, như:     – Xây dựng văn bản  về cơ chế, chính sách ưu tiên đối với giảng viên, sinh viên, những người  làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;     – Tham quan, khảo sát kinh nghiệm đào tạo nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ngoài;     –  Đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc lĩnh vực  năng lượng nguyên tử, các thiết bị đo đạc hạt nhân, vật tư thiết bị phục  vụ chế tạo mẫu, hệ thống mạng phục vụ nghiên cứu và đào tạo, xây dựng  mới và nâng cấp phòng thí nghiệm, hệ thống che chắn an toàn phóng xạ, hệ  mô phỏng lò phản ứng.            * PGS. TS, Nguyên Phó Trưởng khoa Khoa Kỹ thuật hạt nhân, Trường ĐH Đà Lạt.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Brazil xây dựng một nền khoa học xanh      Nền kinh tế phát triển nhanh và những phát hiện mới về dầu mỏ đã đưa nền khoa học Brazil phát triển lên một tầm cao mới theo hướng một nền khoa học xanh. Để thực hiện được tham vọng đó, Brazil phải vượt qua trở ngại về hệ thống giáo dục còn nhiều bất cập và thành tích khoa học còn khiêm tốn.      Trong giai đoạn từ 1997-2007 số lượng các bài báo khoa học của Brazil trên các tạp chí bình duyệt đã tăng lên mức 19000 bài/ năm. Theo Thomson Reuters, Brazil xếp thứ 13 về số lượng công bố quốc tế, vượt qua Hà Lan, Israel và Thụy Sĩ. Năm nay các trường đại học của Brazil đã tăng gấp đôi số lượng nghiên cứu sinh so với thời điểm năm 2001, các trường đại học tuyển dụng hàng ngàn vị trí mới.   Động lực thúc đẩy khoa học Brazil là chính sách giảm thuế R&D trong những ngành công nghiệp lớn, ngân sách này đã tăng lên 4 tỷ USD từ mức 6.000 triệu USD một thập kỷ trước. Công ty dầu mỏ quốc gia Petrobras đóng góp nhiều nhất. Brazil khởi động lại chương trình nghiên cứu nguyên tử vào năm 2008 sau 20 năm ngưng trệ, và vào tháng 10 một phái đoàn đã tới Geneva để thương thuyết về việc sẽ trở thành thành viên dự bị của CERN. Với tốc độ tăng trưởng hằng năm 7%, quốc gia này có thể trả được mức phí 14 triệu USD/năm.   Các nhà khoa học cho biết, những quan điểm của họ về giáo dục, đổi mới sáng tạo và công nghệ đã được Chính phủ lắng nghe và hi vọng ngân sách vẫn giữ được tăng trưởng trong nhiệm kỳ của Tổng thống mới Dilma Rousseff, phụ nữ đầu tiên đảm nhận vai trò Tổng thống. Theo các thành viên của Hiệp hội vì sự phát triển của khoa học, vào năm 2020, Brazil sẽ phải tăng gấp đôi hoặc gấp ba số lượng sinh viên, bài báo khoa học, ngân sách để trở thành một quốc gia mạnh về khoa học. Các quan chức Chính phủ mong muốn nhìn thấy Brazil nằm trong số 10 cường quốc về khoa học.   Khoa học xanh  Một con số thống kê cho thấy Brazil đã vượt xa các quốc gia châu Mỹ Latinh khác. Brazil hiện chiếm khoảng 60% chi tiêu cho nghiên cứu của toàn Mỹ Latinh và số lượng bài báo của các nhà khoa học Brazil chiếm ½ số lượng của Mỹ Latinh. Và đất nước này có Bộ Khoa học từ năm 1985 trong khi đó Argentina mới chỉ thành lập 3 năm trước đây và Bolivia thì vẫn đang trong quá trình tranh luận. “Brazil là ví dụ điển hình của Mỹ Latinh với việc đầu tư 1% GDP vào nghiên cứu phát triển và Bộ trưởng Bộ Khoa học là một nhà vật lý vẫn tiếp tục công bố. Brazil được xem như một ngọn hải đăng trong khu vực”, Juan Asenjo, Chủ tịch của Viện Hàn lâm khoa học Chilê nói.   Toàn cầu hoá đã tạo ra những thuận lợi cho quốc gia này. Cũng như các quốc gia Mỹ Latinh khác, nghiên cứu của Brazil chủ yếu tập trung vào nông nghiệp, sinh thái và các bệnh truyền nhiễm. Và đứng đầu về số lượng xuất bản liên quan tới đường, cà phê, và cam. Ngành gia súc của Brazil sản xuất ra khoảng 33% tổng giống bò của toàn thế giới. Và số lượng các nghiên cứu tăng lên trong những vấn đề thời sự của thế giới về sản xuất lương thực, thực phẩm, biến đổi khí hậu và bảo tồn. Nhà thần kinh học Nicolelis cho biết ông nhìn thấy cách làm khoa học mới của quốc gia nhiệt đới đang nổi lên: Brazil đang tập trung tiến hành nghiên cứu về năng lượng tái tạo, nông nghiệp, nước và di truyền động thực vật. “Đây là những vấn đề sẽ định hình hành tinh của chúng ta trong tương lai và những người tham gia vào cuộc chơi này là ở đây”.   Nghiên cứu về sinh học cũng là chủ đề nóng. Công ty nghiên cứu về nông nghiệp của Chính phủ Embrapa dự tính sẽ tuyển dụng 700 nhà nghiên cứu mới vào năm nay. Nhu cầu về các nhà nghiên cứu có trình độ tiến sĩ lên cao tới mức các nhà nghiên cứu của công ty này nói rằng rất khó tìm thấy người để cấp học bổng theo học sau tiến sĩ. Embrapa được xem là một trong những công ty nông nghiệp hàng đầu thế giới và ngân sách hiện nay lên tới 1tỷ USD tương đương với ngân sách của Bộ nông nghiệp Mỹ. “Chúng tôi chưa bao giờ thấy nhiều nguồn lực dành cho khoa học đến như vậy trong vòng 5 năm qua”, Maria Fatima Grossi de Sa, nhà di truyển học thực vật nói. Mới đây bà nhận được tài trợ 1,5 triệu USD để nghiên cứu về di truyền của cây bông.   Embrapa sắp khánh thành trung tâm năng lượng nông nghiệp tuyển dụng 100 nghiên cứu  viên với mục đích biến 22 triệu ha đậu tương của quốc gia này thành những sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, ví dụ như nhiên liệu sinh học. “Chúng tôi thu năng lượng Mặt trời và biến chúng thành các dạng năng lượng khác. Chúng tôi nghĩ rằng có thể chuyển từ nền nông nghiệp thực phẩm trở thành nền nông nghiệp năng lượng”, Frederico Durães, Tổng giám đốc của trung tâm nghiên cứu mới.   Dự án này phản ánh sự thay đổi quan trọng trong tư duy của người Brazil: khoa học có thể làm thay đổi nền kinh tế của quốc gia vốn dựa vào các nông sản và tài nguyên. “Brazil mới sẽ trở thành một nền kinh tế tri thức về tự nhiên”, Gilberto Camara người đứng đầu cơ quan hàng không nói.   Tạo ra khác biệt cho nền công nghiệp  Thực tế, hiện tại Brazil chưa thực sự mạnh. Các công bố khoa học của Brazil có chỉ số ảnh hưởng thấp, các bằng sáng chế chiếm số lượng nhỏ. Hệ thống giáo dục bậc tiểu học và trung học ở trong tình trạng rối ren dẫn tới quốc gia của 195 triệu dân luôn trong tình trạng thiếu công nhân kỹ thuật. “Chúng tôi cần phải tỉnh táo và không ngủ quên trên thành tích đã đạt được”, Sidarta Ribeiro, nhà thần kinh học được đào tạo tại Đại học Rockefeller nói. “Về mặt chỉ số ảnh hưởng chúng tôi vẫn đang ở ngoài lề. Do vậy, những thông điệp ra bên ngoài sẽ là chúng tôi quan tâm tới khoa học và chúng tôi đang lớn mạnh”.           Nghiên cứu cây bông chuyển gene          Mục tiêu quan trọng nhất hiện nay là tạo ra sự khác biệt trong sản xuất công nghiệp. Đây thực sự là thách thức đối với quốc gia này. Sự thiếu liên kết giữa khoa học và kinh doanh rất phổ biến ở Brazil. Tại Mỹ, khoảng 80% nghiên cứu là thực hiện cho bên công nghiệp, trong khi đó mức này chỉ là 25% tại Brazil. Chỉ có 103 bằng sáng chế được cấp ở Mỹ trong năm 2009. Các công ty của Brazil chỉ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển bằng ½ mức của các công ty châu Âu. Và họ thường chỉ nhập công nghệ hơn là phát triển nó.   Vào năm 2004 và 2005, Brazil đã thông qua luật miễn thuế đầu tư nghiên cứu phát triển cho các công ty và cho phép Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra những khoản tài trợ cho các công ty, thậm chí là trả lương cho các nhà nghiên cứu bên công nghiệp. Vào tháng 8, bộ này đã thông báo chương trình tài trợ nghiên cứu phát triển lớn trị giá 294 triệu USD để tài trợ cho các dự án đổi mới sáng tạo tại các công ty trong những lĩnh vực chiến lượng bao gồm xe điện, máy điều hòa nhịp tim và công nghệ sinh học trong nông nghiệp…   Vẫn còn quá sớm để đánh giá hiệu quả của những sáng kiến này, chỉ có một số lượng nhỏ các công ty đăng ký giảm thuế. Nhưng phong cách chấp nhận rủi ro khi tiến hành đổi mới sáng tạo theo kiểu Mỹ trước đây vốn bị kỳ thị thì nay đã được đánh giá cao. Các nhà đầu tư mạo hiểm của Brazil đã bắt đầu đặt cơ sở tại Brazil và vào năm 2010 cả IBM và GE đều thông báo những kế hoạch thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển tại đất nước này.   “Chúng tôi đang thiếu văn hoá đổi mới sáng tạo và tinh thần kinh thương. Phải mất nhiều thời gian mới thay đổi được điều này”, Luiz Mello nhà vật lý đã được công ty lớn về quặng sắt của Brazil mời sử dụng 180 triệu USD để thành lập 3 viện nghiên cứu trực thuộc công ty Vale. Mello nói ông được thuê sau khi tiếp cận Roger Agnelli, CEO của công ty này để xin tài trợ cho một chương trình kỹ sư. “Khi tôi nói chuyện với Agnelli, ông này nói muốn có một MIT của Vale. Tôi được mời để lãnh đạo một trung tâm nghiên cứu có thể trở thành một cái gì đó tương tự như Bell Labs hay Xerox PARC”.   Mặc dù việc kinh doanh của Vale sử dụng công nghệ thấp, thường cung cấp lượng lớn quặng sắt cho Trung Quốc và châu Âu nhưng công ty muốn chi tiêu mạnh hơn cho nghiên cứu vì họ đối mặt với sự thiếu lao động có kỹ năng, chịu sức ép lớn từ các nhà môi trường và sự cạnh tranh của các công ty khác trên thế giới. Ba phòng thí nghiệm của Vale sẽ làm tập trung nghiên cứu về đa dạng sinh học, năng lượng tái tạo và công nghệ khai thác mỏ. “Đây sẽ là sự đầu tư “ngẫu hứng” lớn nhất cho nghiên cứu và phá triển mà tôi từng biết ở Brazil”, Mello nói. Vào mùa thu năm nay Mello đã tới thung lũng Silicon để tìm kiếm ý tưởng.  Nguồn nhân lực cho khoa học  Các phòng thí nghiệm mới của các công ty tư nhân và Nhà nước mới thành lập sẽ khuyến khích các trường đại học của Brazil đăng ký bằng sáng chế và thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ, mà phần lớn các trường đại học lần đầu tiên thành lập những văn phòng như thế này. Tại trường Đại học Minas Gerais số lượng đơn xin bằng sáng chế đã lên tới 356. “Những điều này sẽ dẫn tới hiệu ứng lan truyền trong hệ thống. Đã từng có một hiệu ứng tương tự trong công bố công trình khoa học, điều tương tự cũng sẽ xảy ra với đổi mới sáng tạo”, Ado Jorio người điều phối viện xin cấp bằng sáng chế của trường Đại học Minas Gerais nói.           Phần lớn các nghiên cứu về khu vực Amazon đều của các tác giả nước ngoài.          Các nhà nghiên cứu tại Brazil nói nền độc tài kéo dài 20 năm đã làm quốc gia này tụt lại phía sau. Các trường đại học trở nên cảnh giác với các quan điểm chính trị đối lập và các bằng sáng chế không được xem trọng. “Chúng tôi bị tách biệt với các ngành công nghiệp lớn thường chỉ phục vụ cho quân đội. Họ không tiếp cận các trường đại học. Các trường đại học là những không gian đóng, và hiện nay chúng tôi đang phải thay đổi điều này”,  Maria Bernardete Cordeio da Sousa, phụ trách nghiên cứu của trường Đại học Rio Grande du Norte cho biết.   Brazil chưa có nhà khoa học nào đoạt giải Nobel khoa học hay y sinh học trong khi đó Argentina, đối thủ trong khu vực của nước này, có tới 3 giải Nobel. Các nhà nghiên cứu than phiền hệ thống các trường đại học công không khuyến khích sự cạnh tranh, các giảng viên nghiễm nhiên được biên chế sau 3 năm làm việc và đánh giá cao việc xuất bản bằng tiếng Bồ Đào Nha. Thái độ của giới nghiên cứu Brazil những năm qua là tránh cạnh tranh và cúi thấp đầu xuống, chọn những chủ đề ngoài lề. Thay vì cạnh tranh mạnh mẽ trong những chủ đề thời sự với các phòng thí nghiệm bên ngoài, họ hài lòng với những vấn đề địa phương.  Khoa học của Brazil chịu sự mất cân bằng giữa Nam và Bắc, điều mà các quan chức đang cố gắng khắc phục. Phần lớn hoạt động khoa học diễn ra tại 3 bang phía Nam, chỉ riêng trường Đại học Sao Paulo cũng đã chiếm ¼ tổng số công bố khoa học của cả nước. Để đẩy khoa học về những địa phương ít thuận lợi hơn, Chính phủ Brazil đã hỗ trợ xây dựng trường đại học và dành 30% ngân sách nghiên cứu cho các bang phía Bắc và phía Tây. Chương trình năm 2009 có tên “Stipends for everyone” dành các khoản học bổng cho tất cả các sinh viên bậc sau đại học của các vùng xa xôi không cần tính tới sự cạnh tranh về học vấn với các vùng khác.   Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Brazil trở về nước bị thu hút bởi công việc và những khoản tài trợ khởi nghiệp than phiền vẫn còn có quá nhiều trở ngại để có thể tiến hành những nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Sau 11 năm ở Mỹ, nhà sinh học Luciana Relly Bertolini trở về Brazil vào năm 2006 cùng với chồng và bắt đầu thành lập phòng thí nghiệm nhân giống dê chuyển gene. Mặc dù đã được tài trợ, Relly Bertolini nói khối lượng công việc giảng dạy lớn và thiếu cộng sự được đào tạo tốt có nghĩa là khoa học vẫn dậm chân tại chỗ ở đây. Một số nhà khoa học khác thì gặp những vướng mắc với thủ tục hải quan khi đặt mua những thiết bị cho phòng thí nghiệm.   Nhưng sự lo lắng lớn hơn dành cho vùng Amazon, khu rừng nhiệt đới chiếm 49% diện tích của Brazil nhưng chỉ có khoảng 3000 nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ và rất ít người làm nghiên cứu tại chỗ. Mặc dù lớn hơn cả Pháp và Tây Ban Nha cộng lại, khu vực Amazon chỉ có một nhà khảo cổ học thường trú và mặc dù có hệ thống sông ngòi rộng lớn, không có kỹ sư về thủy lợi nào.   Tăng nguồn nhân lực làm khoa học trong vùng có thể giúp tìm thấy những giải pháp cho nền nông nghiệp vốn không bền vững nơi đây. Tuy nhiên, “trong số các báo cáo về vùng Amazon không có tên tác giả người Brazil nào. Điều này thật đáng lo ngại. Chúng tôi cần có người Brazil tham gia vào nhiều hơn nữa”, Jorge Guimarães, Bộ trưởng Bộ Giáo dục nói.  Brazil chưa bao giờ cảm thấy thực sự an toàn về việc kiểm soát vùng đất rộng lớn này. Sự phụ thuộc vào tri thức do bên ngoài tạo ra là vấn đề nhạy cảm với quốc gia này. Tại cuộc hội thảo quốc gia về khoa học và công nghệ vào tháng 5/2010, nhiều nhà khoa học đã lên tiếng phải tạo ra những “ngọn cờ” để tập trung giới khoa học trong cả nước nghiên cứu về khu vực Amazon. Nhiều người mong muốn có thành lập những viện nghiên cứu lớn để nghiên cứu về đại dương, và rừng Amazon theo mô hình của công ty Embrapa – nơi đầu tư nguồn lực tương xứng với tầm nhìn lớn.   Ngọc Tú (Theo Science, 12/2010)        Lấy nguồn thu dầu mỏ đầu tư cho nghiên cứu             Trung tâm nghiên cứu trị giá 700 triệu USD, do công ty dầu khí quốc gia Petrobras đầu tư, đặt tại Rio de Janeiro.                    Ba năm trước, một máy khoan đã chạm vào một mỏ dầu sâu dưới biển Brazil. Công ty gas quốc gia Petrobras đã nhanh chóng xúc tiến việc khai thác dưới lòng biển ước tính chứa tới 80 triệu thùng dầu và khí tự nhiên, gấp 3 lần mỏ dầu ở vịnh Prudhoe, Alaska. Điều này hứa hẹn mang tới sự giàu có cho đất nước và sự kỳ vọng nhờ đó Brazil có thể đạt được những thành tựu lớn trong khoa học công nghệ.               Tổng thống Lula da Silva đã gọi dầu mỏ là nguồn độc lập thứ hai của Brazil và hứa sẽ sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ cho giáo dục và y tế cộng đồng. Nhưng lĩnh vực nghiên cứu phát triển của Brazil sẽ được hưởng lợi đầu tiên. Vào tháng 10 vừa qua, Petrobras đã khai trương một trung tâm nghiên cứu tại Rio de Janeiro trị giá 700 triệu USD. Phát biểu tại buổi khai mạc, da Silva đã nói trong tiếng reo hò của những công nhân, kỹ sư nơi đây rằng, “Brazil sẽ không phải cúi đầu trước bất cứ quốc gia nào”.               Việc khai thác dầu mỏ nước sâu là dự án công nghệ lớn của Brazil và Petrobras đầu tư tiền vào cho các phòng nghiên cứu. Để thu dầu nằm sâu 7km dưới mặt nước biển Petrobras đã đầu tư tạo ra “cú hích” có thể sẽ làm thay đổi bộ mặt khoa học của Brazil.               Petrobras hiện nay chi 1 tỷ USD/năm cho nghiên cứu phát triển bao gồm cả khoản tiền 225 triệu USD rót trực tiếp vào các trường đại học nhằm đầu tư trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm thành lập các trung tâm địa vật lý mới và đào tạo một thế hệ kỹ sư mới.               Petrobras muốn làm thay đổi khả năng về công nghệ của Brazil và giúp xây dựng các phòng thí nghiệm của các trường đại học có thể sánh vai với các quốc gia khác. Trường kỹ sư COPE của Rio là cơ sở đào tạo được hưởng lợi lớn nhất. Petrobras đầu tư cho xây dựng nhiều phòng thí nghiệm tại trường bao gồm cả bể sóng sâu nhất thế giới sử dụng để thử nghiệm các mô hình của thềm chứa dầu. Oscar Rosa Matto, giám đốc phòng thí nghiệm mà Petrobras đã trả 30 triệu USD để xây dựng vào năm 2008, nói: “Khách tham quan nước ngoài của tôi rất ngạc nhiên khi họ nhìn thấy những cơ sở vật chất như vậy tại Brazil”.               Petrobras,công ty đứng đầu thế giới về sản xuất dầu nước sâu đang tiếp cận độ sâu nhưng đang thiếu kinh nghiệm. Những mỏ dầu dưới sâu được phát hiện sau lớp muối-tầng vật chất hữu cơ mất gần 125 triệu năm để hình thành. Một khó khăn khi tiếp cận các mỏ dầu này là phải xuyên qua lớp vỏ địa chất dày và rất khó xác định các tín hiệu động đất. Đây có thể là đề tài mới cho các nhà khoa học nghiên cứu. Có những loại mỏ dầu mới và có nhiều điều có thể học được từ đây.              Một số nhà khoa học hy vọng Brazil không dừng lại ở khai thác dầu mỏ. Họ có thể sử dụng những kiến thức về địa chất dưới đáy biển để trở thành quốc gia đứng đầu về năng lượng sóng và những tri thức mới dưới biển. Có nhà khoa học còn so sánh việc khai thác dưới đáy biển ở Brazil cũng giống như cuộc chạy đua trong không gian mà Mỹ đã từng làm. Và nếu Brazil chỉ dừng lại ở khai thác dầu mỏ đó sẽ là sự mất mát lớn.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Brexit khiến nhiều học giả nghĩ tới việc rời khỏi nước Anh      Một cuộc khảo sát với hơn 1.000 nhà nghiên cứu ở các trường đại học tại Anh cho thấy cuộc bỏ phiếu rời khỏi Liên minh châu Âu trong năm 2016 có thể dẫn đến một cuộc di cư học thuật.    42% giảng viên và các giáo sư đại học được khảo sát nói rằng có nhiều khả năng họ sẽ cân nhắc việc rời bỏ công việc ở Anh như một hệ quả của cuộc trưng cầu dân ý. Tỉ lệ này ở những người tham gia khảo sát là công dân EU sống ở Anh cao hơn nhiều – lên tới 76%. Cuộc khảo sát do Hiệp hội Đại học và Cao đẳng (University and College Union), tổ chức đại diện cho hàng ngàn học giả và có trụ sở đặt tại London, Anh, tiến hành.     Tỉ lệ cân nhắc rời khỏi Anh của các nhà nghiên cứu là công dân Anh: 42%, của các nhà nghiên cứu là công dân EU sống ở Anh: 76%, của các nhà nghiên cứu không phải công dân EU: khoảng 73%. Nguồn biểu đồ: Nature.  Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài từng cho biết họ cảm thấy kém được chào đón ở Anh so với trước đây sau cuộc bỏ phiếu cho Brexit, hoặc giờ đây họ nhìn thấy những cơ hội tốt hơn ở nước ngoài. Cuộc thăm dò mới nhất này chính là một trong những dấu hiệu không thể rõ ràng hơn về sự lây lan cảm giác kém được chào đón trong môi trường học thuật Anh.  Ngoài ra, cuộc khảo sát cho thấy kế hoạch cải cách giáo dục đại học và nghiên cứu đang gây tranh cãi của chính phủ Anh cũng vấp phải sự phản đối kịch liệt từ học giới. Hơn một nửa số người được hỏi cho rằng đề xuất sáp nhập chín cơ quan tài trợ nghiên cứu Anh làm một – hiện đang được thảo luận tại Quốc hội – sẽ đem lại tác động tiêu cực. Chỉ 9% số người được hỏi nghĩ rằng đề xuất đó là một hành động tích cực. Thậm chí một tỉ lệ còn cao hơn số người được hỏi nghĩ rằng những thay đổi khác cũng sẽ mang lại những tác động tiêu cực, chẳng hạn như các dự thảo tạo điều kiện cho việc thành lập mới trường đại học trở nên dễ dàng hơn.  “Mức độ lo ngại của các nhà khoa học về các dự thảo cải cách là nguyên nhân vì sao phải báo động”, trong một tuyên bố, Sally Hunt, Tổng thư ký của Hiệp hội Đại học và Cao đẳng, cho biết. “Chính phủ phải hết sức tập trung giải quyết các tác động của Brexit và nên gác lại dự thảo mang tính gây chia rẽ về cải cách giáo dục đại học”, bà nói.  Bảo Như lược dịch.  http://www.nature.com/news/brexit-vote-drives-uk-academics-to-think-about-leaving-1.21259    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức thư cứu Landau      Sau khi nhà vật lý Lev Landau bị bắt do bị nghi ngờ là gián điệp của Đức, Kapitsa  đã viết thư cho V.M.Molotov, khi đó là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Nhân  dân, để bênh vực cho Landau.    6 tháng 4 năm 1939   Đồng chí Molotov,  Trong thời gian gần đây, khi nghiên cứu hêli lỏng ở gần độ không tuyệt đối, tôi đã tìm ra một loạt các hiện tượng mới có thể sẽ làm sáng tỏ một trong những lĩnh vực bí ẩn nhất của vật lý hiện đại. Trong những tháng tới tôi định công bố một phần những công trình đó. Nhưng để làm được việc này, tôi cần được một nhà lý thuyết giúp đỡ. Ở Liên Xô, người hoàn toàn làm chủ lĩnh vực lý thuyết mà tôi cần là Landau, nhưng hiềm một nỗi là anh ta đã bị bắt từ một năm nay.        Landau bị bắt ngày 28/4/1938. Ngay hôm đó Kapitsa viết một bức thư cho  Stalin, nhưng không có tác dụng. Sau bức thư trên đây, ngày 26/4/1939  Kapitsa được mời đến NKVD để viết đơn bảo lãnh cho Landau ra tù.              Các hiện tượng mới được nhắc đến ở đầu bức thư trên là các hiện tượng  liên quan đến tính siêu chảy. Landau xây dựng lý thuyết siêu chảy của  hêli trong hai bài báo năm 1941 và 1947.        Tôi vẫn hy vọng là anh ta sẽ được thả, vì tôi phải nói thẳng ra rằng tôi không thể tin Landau lại là một tên tội phạm quốc gia. Tôi không thể tin được điều đó vì một nhà khoa học trẻ, tài năng và chói lọi như Landau, mới 30 tuổi đã nổi tiếng châu Âu, ngoài ra lại rất háo danh, và có đầy những chiến tích khoa học đến mức đó thì không thể có sức lực, cảm hứng và thời gian cho những công việc khác. Đúng là Landau có một cái miệng rất độc, và vì lạm dụng nó anh đã tạo ra nhiều kẻ thù luôn sẵn sàng gây khó dễ cho mình. Nhưng dù có tính cách khá xấu mà tôi buộc phải lưu ý đến, tôi chưa bao giờ thấy anh ta làm điều gì khuất tất.  Tất nhiên, nói ra tất cả những điều đó, tôi đang can thiệp vào những việc không phải của mình, vì lĩnh vực này là thẩm quyền của NKVD [Bộ Nội vụ]. Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ là tôi phải nêu lên những điểm bất thường sau:  1.    Landau đã ngồi tù một năm, mà việc điều tra vẫn chưa kết thúc, thời gian điều tra lâu một cách không bình thường.  2.    Tôi, với tư cách giám đốc cơ quan của anh ta, hoàn toàn không được biết anh ta bị cáo buộc tội gì.  3.    Quan trọng là đã một năm nay, không biết vì lý do gì mà khoa học, cả Xô-viết lẫn thế giới, không được có cái đầu của Landau.  4.    Landau rất ốm yếu, nếu anh ta bị bức hại một cách không cần thiết thì rất đáng xấu hổ cho những người Xô-viết chúng ta.  Vì vậy tôi muốn gửi tới đồng chí những yêu cầu sau đây:  1.    Có thể đề nghị NKVD đặc biệt chú ý xúc tiến vụ Landau không;  2.    Nếu không được, thì liệu có thể sử dụng cái đầu của Landau cho công việc khoa học trong lúc anh ta bị giam ở Butyrki [trại giam cách ly để điều tra] được không. Tôi nghe nói các kỹ sư được đối xử như vậy.  P. Kapitsa  Đàm Thanh Sơn dịch từ: Капица П.Л., Письма о науке, 1930-1980 – М.: Моск. рабочий, 1989.    Đọc thêm:  Trích thư Kapitsa gửi vợ: “Không đợi người khác chỉ cho mình phải làm gì” (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=4789&CategoryID=36)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Bức tranh sơ khởi về công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV      Lần đầu tiên có một dự án nghiên cứu đặt mục tiêu vẽ nên bức tranh toàn cảnh về sản lượng/năng suất cũng như mối liên kết giữa các nhà KHXH&NV Việt Nam có công bố quốc tế.      TS Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm ISR, Trưởng Dự án NVSS, thuyết trình tại hội thảo công bố một số kết quả ban đầu của dự án NVSS. Ảnh: Vietnamnet.  Mới đây, Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR (thuộc trường ĐH Thành Tây, Hà Nội) đã công bố những kết quả bước đầu của dự án Mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam – NVSS, một dự án nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích về sản lượng/năng suất công bố quốc tế cũng như tính chất của cá nhân, nhóm nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHXH&NV.  Trước NVSS đã có một vài nghiên cứu định lượng về công bố khoa học và nghiên cứu khoa Việt Nam nói chung, như: Nghiên cứu về công bố khoa học tại Việt Nam nhìn từ dữ liệu của Scopus trong giai đoạn 1996-2003; Nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam; Nghiên cứu về sản lượng khoa học và mối quan hệ của nó đối với nền kinh tế tri thức: phân tích về các nước ASEAN.  Từ đầu năm 2017, nhóm nghiên cứu NVSS đã tiến hành thu thập thông tin của hơn 400 nhà KHXH&NV (quốc tịch) Việt Nam, từng có bài đăng trên các ấn phẩm khoa học thuộc danh mục của Scopus trong vòng 10 năm (2008 – 2017) từ các nguồn, như: website cá nhân và tổ chức của tác giả, Google Scholar, các tạp chí nơi bài đã được đăng, và Scopus. Sau đó, nhóm tiến hành đối chiếu với thông tin của từng tác giả trên mạng để kiểm tra độ xác thực và tạo liên kết giữa các tác giả với nhau, và với tổ chức mà tác giả công tác. Những thông tin thu thập được bao gồm: (i) tuổi, giới tính, vùng miền; (ii) số năm nghiên cứu tính từ khi tốt nghiệp thạc sĩ; (iii) số lần làm tác giả chủ đạo; (iv) số lần làm tác giả cộng sự; (v) số lượng những học giả Việt Nam hợp tác cùng một tác giả; (vi) số lượng những học giả nói chung hợp tác cùng một tác giả; (vii) đơn vị trực thuộc; (viii) lĩnh vực nghiên cứu; (ix) có chức danh GS, PGS hay không…  Kết quả phân tích ban đầu cho thấy:  Về sản lượng và năng suất:  Xuất bản trên các ấn phẩm khoa học của Scopus trong lĩnh vực KHXH&NV của người Việt Nam, mà 60% số họ là người miền Bắc, bao trùm ít nhất 12 lĩnh vực lớn (kinh tế, giáo dục, lịch sử, luật, chính trị, quản trị, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật, triết học, xã hội học, tâm lý học). Người có sản lượng tuyệt đối cao nhất đạt tới 63 bài trong gần 10 năm qua, nhưng sản lượng bình quân chỉ là 3,6.  Tuổi nghề của tác giả bài báo thấp nhất là 2 năm, cao nhất là 64 năm (cao hơn nhiều so với số trung vị là 15 năm). Năng suất nghiên cứu tỷ lệ thuận với tuổi và số công trình nhà khoa học đó chủ đạo, những nhà khoa học có thâm niên từ 15 đến 25 năm thuộc nhóm có công bố quốc tế nhiều nhất. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học trên 40 tuổi có ít công bố hơn các nhà khoa học trẻ hơn. Theo nhóm nghiên cứu, có thể là do trước Đổi mới và trước khi có internet, khả năng tiếp cận môi trường học thuật quốc tế của họ thấp hơn, cũng có thể do họ đã qua thời kỳ hoàng kim trong nghiên cứu của mình và năng suất đã suy giảm.  Xét về năng suất công bố từ góc độ giới thì nam và nữ không có khác biệt lớn, số trung vị của họ đều là 2 và bách phân vị thứ 25 và 75 lần lượt là 1-3 ở nam và 1-4 ở nữ.  Vai trò trong bài báo:  75% các tác giả chưa từng có bài nghiên cứu độc lập nào trong 10 năm qua. Trong hợp tác viết bài, người có số bài giữ vai trò chủ đạo cao nhất là 60, nhưng bình quân toàn mẫu dữ liệu chỉ là 1,77. Số nhà khoa học giữ vai trò chủ đạo trong ít nhất 1 bài chiếm 56%, nhưng trong ít nhất 3 bài chỉ chiếm 19%, trong ít nhất 5 bài chỉ chiếm 9%.  Quan hệ giữa các tác giả bài báo:  Lần đầu tiên, Dự án đã áp dụng phương pháp phân tích lưới (network analysis) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả các bài báo. Theo đó, số kết nối trung bình của mỗi nhà nghiên cứu là 1,95 (nghĩa là cứ mỗi nhà khoa học xã hội Việt Nam sẽ là đồng tác giả với khoảng hai nhà khoa học xã hội Việt Nam khác), mật độ kết nối giữa các thành viên trong một nhóm (tức tỷ lệ số kết nối trên thực tế so với số kết nối có thể có) đạt 47%,  theo nhóm nghiên cứu như vậy là thấp, dẫn đến việc lan tỏa tri thức và chuyên môn bị hạn chế.  Phương pháp phân tích lưới cũng giúp nhóm nghiên cứu xác định được 20 nhóm nghiên cứu mạnh có trung bình 9,7 thành viên; công bố trung bình 4,7 bài trong 10 năm qua.  Nhóm nghiên cứu cho rằng, những gì họ làm được trong tám tháng vừa qua mới chỉ là bước khởi đầu. “Kết quả còn hết sức “sơ khởi”, chủ yếu tạo sự phấn khích cho người làm,” TS Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm ISR, Trưởng Dự án NVSS, phát biểu tại hội thảo công bố những kết quả ban đầu của dự án sáng 7/10 tại Hà Nội. Theo ông, do mới chỉ có các kết quả phân tích kỹ thuật nên dự án chưa thể đưa ra những đề xuất hay gợi ý về mặt chính sách đối với đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực KHXH&NV (đầu tư cho ai và như thế nào cho hiệu quả) và đây sẽ là phần công việc mà nhóm phải tiếp tục hoàn thành từ giờ đến cuối năm, cùng với  việc thu thập thêm thông tin – nhóm ước tính, hiện mới có khoảng 80% tác giả có từ 3 công bố trên các tạp chí thuộc dữ liệu Scopus trở lên có mặt trong mẫu.  TS Vương Quân Hoàng cho rằng, phương pháp nghiên cứu của nhóm có điểm nổi trội ở chỗ mang tính định lượng; giúp quan sát được kết cấu tổng thể lưới, và cấu trúc đầy đủ các nhóm hợp thành. Từ quan sát xu hướng vận hành của các nhóm có thể đưa ra những dự báo, chẳng hạn như về tốc độ tăng trưởng trong công bố của ngành KHXH&VN Việt Nam, mà theo ông sẽ đạt 25%/năm trong thời gian tới “do tốc độ trưởng thành của những người đứng đầu nhóm rất cao”. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra nguy cơ những người có năng suất tốt đó có nhiều khả năng “bị tách bầy” và dẫn ra trường hợp một nhà khoa học “sói đầu đàn” trong nghiên cứu của NVSS mới đây đã được mời sang Úc làm việc và việc “tách bầy” của những người như vậy sẽ làm các nhóm suy yếu do các liên kết trong nhóm đang phụ thuộc nhiều vào họ.  TS Vương Quân Hoàng đặc biệt nhấn mạnh một điều mà ông cho rằng ngày nay đã trở nên phổ biến trên thế giới, đó là một nhà khoa học được coi là bắt đầu trưởng thành khi có ít nhất 3 bài báo được công bố: bài đầu tiên giống như lời chào ra mắt, bài thứ 2 để khẳng định “tôi công bố không phải do ăn may”; bài thứ 3 hàm ý “tôi vẫn có mặt ở đây”.  Thời gian gần đây, ở Việt Nam, công bố quốc tế bắt đầu được coi như một trong những thước đo quan trọng nhất về năng lực và chất lượng nghiên cứu của các nhà KHXH&NV khi xét chức danh giáo sư/phó giáo sư hay tiêu chuẩn nghiệm thu đề tài NAFOSTED…, bên cạnh các tiêu chí về sách/chương sách và chuyên khảo.  Nhóm nghiên cứu cho biết, sở dĩ họ tìm kiếm dữ liệu Scopus thay vì Web of Science bởi các lý do sau đây: 1/ số lượng ấn phẩm khoa học trong dữ liệu Scopus nhiều gần gấp đôi Web of Science (22.600 so với 11.4000); 2/ dữ liệu của Scopus được các chính phủ, trong đó có chính phủ Mỹ, Nga, Tây Ban Nha, sử dụng rộng rãi trong việc xếp hạng, đánh giá khoa học; 3/ Được Quỹ Nafosted sử dụng từ năm 2008; 4/ Độ minh bạch cao; và 5/ Miễn phí. Thông tin thu thập được đều qua bốn nấc kiểm tra: Giữa các nguồn tin; Giữa các trường thông tin; Giữa các thành viên; Kiểm tra ngẫu nhiên và định kỳ.  Dự án NVSS đã dần công bố 04 nhóm kết quả trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo (trong danh mục Hội đồng chức danh GS nhà nước công nhận và tính điểm), European Science Editing (Scopus), F1000Research (Scopus) và Publications (Scopus/Web of Science ESCI):  * http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-8323-vai-quan-sat-ban-dau-tu-du-lieu-scopus-ve-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khxhnv-cua-viet-nam.html  * http://europeanscienceediting.eu/articles/gender-age-research-experience-leading-role-and-academic-productivity-of-vietnamese-researchers-in-the-social-sciences-and-humanities-exploring-a-2008-2017-scopus-dataset/  * https://f1000research.com/articles/6-1559/  * http://www.mdpi.com/2304-6775/5/4/24                        Author                T.T        
__label__tiasang Bụi PM2.5 ở đô thị Việt Nam: Rất đáng lo ngại      Lâu nay, nhiều người sống ở Hà Nội và TPHCM tin rằng, nồng độ bụi PM2.5 nơi mình sống và làm việc đã vượt quá mức cho phép. Nhưng mức vượt hơn này chính xác là bao nhiêu? Liệu có đáng lo ngại cho sức khỏe? Chưa mấy ai biết những thông tin này một cách thấu đáo, cho đến ngày bản đồ nồng độ bụi PM2.5 toàn quốc lần đầu tiên được các nhà khoa học lập ra.      Hà Nội là đô thị có nồng độ bụi PM2.5 cao vào bậc nhất Việt Nam. Nguồn: Vietnamnet.  Nhìn vào tấm bản đồ “mosaic” với những mảnh ghép, phần nhiều là màu cam và đỏ giống như hiển thị vùng nhiễm COVID ở một số tỉnh thành, chúng ta mới thấy không chỉ riêng hai đô thị lớn nhất đất nước mà nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ cũng đều chung một cảnh ngộ, đó là hiện trạng vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (QCVN 05:2013/BTNMT), ở đây là nồng độ bụi PM2.5. Dĩ nhiên, “nếu như chúng ta so sánh giá trị trung bình của bụi PM2.5 hằng năm của các tỉnh với các mức khuyến nghị của WHO vào (5µg/m3) và năm 2005 (10µg/m3) thì sẽ thấy tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều vượt mức đó”, PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN), cho biết.    Mặc dù kích thước chỉ bằng 1/30 sợi tóc người, nhỏ đến mức không thể quan sát bằng mắt thường nhưng những hạt bụi PM2.5 biến thiên theo không gian – thời gian và luôn lơ lửng trong bầu không khí các tỉnh thành đang khiến người ta cảm thấy lo lắng và tự đặt câu hỏi “Liệu có cách nào để giảm thiểu được nó”?    Đó là một câu chuyện dài, hầu hết các chuyên gia tham dự hội thảo “Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020 và ứng dụng dữ liệu vệ tinh trong giám sát và nghiên cứu”*, do Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn), ĐH Công nghệ (ĐHQGHN) phối hợp với Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam (VCAP) và Tia Sáng tổ chức vào ngày 1/12/2021 vừa qua, đều nhận xét như vậy.      Tất cả những con số được thu thập trong năm 2020 cho chúng ta thấy một thực trạng: ở Việt Nam, quy chuẩn về bụi mịn được thông qua vào năm 2013 đã định ra một lằn ranh mà đa phần các trung tâm kinh tế lớn và các thành phố lớn đều vượt khỏi nó.      Nhận diện bức tranh “mosaic”     Có lẽ, phần lớn chúng ta, ai cũng muốn sống ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế xã hội của cả nước bởi sự thuận tiện về nhiều lẽ. Tuy vậy, có một điều mà chúng ta còn chưa thực sự quan tâm nhiều lắm, đó là sự thuận tiện ấy đã được đánh đổi bằng việc phải chấp nhận hít thở bầu không khí có nồng độ bụi PM2.5 vượt quy chuẩn 25μgm3 ở ít nhất bốn tháng trong năm (các tháng 1, 2, 11, 12). Tại hội thảo, PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh, với trải nghiệm của người thu thập và xử lý dữ liệu đa nguồn cùng các đồng nghiệp khác để hình thành bản đồ nồng độ bụi PM2.5 ở phạm vi Hà Nội và toàn quốc năm 2019 và 2020, đã đưa ra một nhận xét “Ô nhiễm bụi PM2.5 ở các đô thị là vấn đề nghiêm trọng. Khi tính toán số đô thị có nồng độ bụi PM2.5 trung bình theo năm, chúng tôi nhận thấy một xu hướng là xếp loại đô thị càng cao thì đô thị càng có nguy cơ ô nhiễm bụi PM2.5”.    Hiện nay ở Việt Nam, Hà Nội và TPHCM được xếp vào diện đô thị đặc biệt, ngoài ra còn có 22 đô thị loại một. Lần lượt từ Bắc vào Nam, hầu hết các đô thị có trong danh sách này đều rơi vào tình trạng ô nhiễm vượt chuẩn về bụi PM2.5. “Có thể lí giải là các đô thị này thường tập trung ở các khu vực có nồng độ ô nhiễm cao, ví dụ như đồng bằng sông Hồng hay miền Đông Nam Bộ”, PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh nói.    Nếu nhìn toàn cảnh, có thể thấy rõ hơn mức trầm trọng của vấn đề, đó là các tỉnh, thành phía Bắc thường có mức bụi mịn cao hơn so với các tỉnh thành phía Nam. Có thể chúng ta không chắc chắn điều đó khi chưa có thông số đo đạc nhưng giờ đây, nhưng con số hữu hình đã có thể giúp chúng ta hình dung rõ hơn cả điều đó. Ngay trong năm 2020, khi nhiều tỉnh thành trên cả nước đồng loạt chấp hành chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về giãn cách xã hội để ngăn ngừa COVID-19, thì có 10/25 tỉnh thành miền Bắc có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm vượt quy chuẩn quốc gia, còn ở miền Trung và miền Nam thì không có tỉnh, thành phố nào rơi vào cảnh ngộ này.    Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm bụi PM2.5 cũng không hoàn toàn đồng nhất giữa các tỉnh thành miền Bắc. Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, khu vực phía Bắc có những vùng đỏ với nồng độ ô nhiễm lên tới 35,8μg/m3 tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và vùng lân cận, như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định…, chiếm 40% tỉnh thành nhưng cũng có những vùng xanh với mức ô nhiễm ở mức thấp hơn quy chuẩn như các tỉnh miền núi như Lai Châu, Điện Biên, Bắc Kạn, Cao Bằng… với nồng độ dưới 10μg/m3 đáng mơ ước.      Một cán bộ kỹ thuật kiểm tra số liệu ở trạm quan trắc. Nguồn: tramquantrac.com    Bên cạnh đó, dù được coi là thấp hơn các tỉnh đồng bằng sông Hồng và lân cận nhưng ba tỉnh ven biển miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đều có nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm cao đến 32,3μg/m3, nghĩa là không ở mức quá xa so với những Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương… Đó là điểm khiến người ta không khỏi lo ngại bởi tình thế này cho thấy phạm vi tồn tại của bụi PM2.5 có xu hướng mở rộng, khiến số người phải sống trong môi trường ô nhiễm lớn hơn suy nghĩ ban đầu của nhiều người.    Nếu đang bi quan và lo lắng về xu hướng này thì ắt hẳn người ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi xuôi về phía Nam, chứng kiến những mảng màu xanh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng rìa của nó trên bản đồ. Có lẽ, với nồng độ bụi PM2.5 vào khoảng 8,5μg/m3, cả vùng đồng bằng châu thổ vựa lúa và vựa cây trái này vẫn là nơi lý tưởng để con người thoát khỏi cảnh “đeo bám” của bụi. Dẫu vậy, khu vực có mật độ dân số cao nhất phía Nam và tập trung nhiều khu công nghiệp như TP. HCM, Bình Dương và Đồng Nai cũng là nơi có nồng độ bụi PM2.5 cao nhất với 29,1μg/m3.    Tất cả những con số được thu thập trong năm 2020 cho chúng ta thấy một thực trạng: ở Việt Nam, quy chuẩn về bụi mịn được thông qua vào năm 2013 đã định ra một lằn ranh mà đa phần các trung tâm kinh tế lớn và các thành phố lớn đều vượt khỏi nó. Mặt khác, sự xáo trộn giữa vùng đỏ, vùng cam với vùng màu xanh yên bình trong một khu vực và thậm chí trong một tỉnh khiến vấn đề ô nhiễm bụi PM2.5 trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Nó cho thấy, trong tương lai, các cơ quan quản lý sẽ buộc phải tính toán và phân định rất kỹ kế hoạch giải quyết vấn đề của bụi mịn ở một vùng hoặc một tỉnh để giải quyết được vấn đề khỏi lãng phí nguồn lực. “Ngay trong các tỉnh thành có nồng độ ô nhiễm cao thì cũng tồn tại một vài điểm xanh, ví dụ như huyện Ba Vì – nơi có nồng độ bụi PM2.5 thấp nhất Hà Nội với 28,15μg/m3. Ngược lại, trong một số tỉnh thành có nồng độ bụi dưới quy chuẩn cũng vẫn có một số khu vực ô nhiễm như ở Bắc Giang, Thái Nguyên”, PGS.TS Nguyễn Thị Nhật Thanh lưu ý.      Theo công bố của của giáo sư Nguyễn Thị Kim Oanh (Viện Công nghệ châu Á, Thái Lan) và cộng sự, đóng góp nguồn thải bụi PM2.5 từ các nguồn sơ cấp, không kể bụi đường và các nguồn khác, trên toàn quốc là 600.000 tấn/năm. Và các nguồn đóng góp chính vào hạt bụi này là hoạt động đốt bỏ phế thải nông nghiệp chiếm 40%, đun nấu dân dụng 17%, giao thông đường bộ 13%, cháy rừng là 12,7%, công nghiệp 11%, nhà máy nhiệt điện 3,3%, đốt rác thải 2%, các giao thông khác 0,6%, đun nấu thương mại 0,4%.      Để định hình nên tấm bản đồ nồng độ bụi PM2.5 này, chị và những đồng nghiệp của mình đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. “Bên cạnh việc kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã có, chúng tôi sử dụng các mô hình học máy thống kê ảnh hưởng hỗn hợp (MEM) để ước tính bản đồ phân bố nồng độ PM2.5, mô hình này được xây dựng trên một dãy dữ liệu chín năm, từ năm 2012 đến năm 2020, với dữ liệu đầu vào từ là các trạm quan trắc tiêu chuẩn, dữ liệu vệ tinh, dữ liệu khí tượng và các số liệu sử dụng đất. Chúng tôi cũng áp dụng một số phương pháp tiền xử lý và lọc số liệu để tính toán các giá trị trung bình năm, trung bình tháng cho các số liệu nồng độ bụi PM2.5 thu được từ các trạm quan trắc tiêu chuẩn và trạm cảm biến (đại sứ quán Mỹ, hệ thống PAM Air…); quy đổi giá trị nồng độ bụi PM2.5 sang chỉ số chất lượng không khí Việt Nam cho một số phần phân tính đánh giá”, chị giải thích.    Việc hiển thị một vấn đề có phần mơ hồ với nhiều người là sự hiện diện của hạt bụi PM2.5 trong bầu không khí rút cục chỉ có thế? Sự phức tạp của bản chất ô nhiễm không khí, đặc biệt ở những vùng đô thị lớn vốn có quá nhiều nguồn phát thải khác nhau cùng tồn tại, cho thấy đây mới chỉ là một trong số nhiều điểm mốc quan trọng cần có trong cả quá trình kiên trì và bền bỉ nghiên cứu về hạt bụi này.     Truy tìm nguồn phát thải hạt bụi     Sự hiện diện của hạt bụi PM2.5 trên khắp các tỉnh thành Việt Nam, đặc biệt tại Hà Nội và TP.HCM, khiến tại hội thảo, đã có nhiều người đặt câu hỏi: vậy chúng đến từ những nguồn nào? Đây cũng là vấn đề tồn tại nhiều năm qua mà vô số đáp án chung chung chỉ đưa ra được trên chục nguồn phát thải và không chắc chắn lắm những chi tiết cụ thể hơn như đâu là nguồn phát thải có đóng góp nhiều nhất vào việc hình thành hạt bụi PM2.5? nguồn nào đáng lo ngại nhất, vì sao? Khi trả lời được những câu hỏi này thì có nghĩa, “lúc đó chúng ta mới biết được nguồn nào là nguồn đóng góp chính, chủ yếu, nguồn nào là nguồn phát thải các chất nguy hại trong môi trường để có những giải pháp quản lý cho đúng chứ không phải bây giờ đùng một cái, chúng ta đưa ra các quy định cấm loại phương tiện này, cấm phương tiện kia”, PGS. TS Hoàng Anh Lê, trưởng bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), từng cho biết như vậy vào cuối năm 2020.    Đây cũng là câu hỏi làm các nhà nghiên cứu trong nhóm thực hiện báo cáo “Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020 sử dụng dữ liệu đa nguồn” đau đầu. Nếu trong bối cảnh Việt Nam hoặc một vài địa phương nào đó đã thực hiện kiểm kê phát thải tổng thể thì câu chuyện này sẽ đơn giản hơn nhiều. Khi ấy, chỉ cần trích xuất số liệu cần thiết từ bộ dữ liệu nguồn “chính thống” của các cơ quan quản lý là có thể đưa và mô hình. Lúc đó, các con số sẽ cho ta thấy “chân tướng” của những phát thải liên quan đến hạt bụi. Tuy nhiên, đến giờ thì Việt Nam vẫn chưa thực hiện một cuộc kiểm kê chính thức nào nên các nhà nghiên cứu đành phải dựa vào chính mình và cộng đồng nghiên cứu về ô nhiễm không khí.      Bản đồ của PAM Air thể hiện không khí ở mức đáng lo ngại. Nguồn: PAM Air.  Rất may là họ đã có được trong tay một số thông tin đáng quý, một trong số đó là kết quả nghiên cứu về tổng lượng phát thải bụi PM2.5, mức đóng góp các nguồn thải bụi PM2.5 sơ cấp từ các nguồn được kiểm kê cho quy mô toàn quốc, và một phần để tính toán cụ thể cho Hà Nội năm 2018 của giáo sư Nguyễn Thị Kim Oanh (Viện Công nghệ châu Á, Thái Lan) và cộng sự thực hiện dựa trên phương pháp “nhân hệ số phát thải của từng nguồn với dữ liệu hoạt động” như giải thích của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Huy (ĐH Tôn Đức Thắng và Viện Công nghệ châu Á) – một trong số bốn tác giả công trình.    Nếu đi vào cụ thể hơn, tập trung vào hai đô thị hàng đầu là TP.HCM và Hà Nội thì mọi thứ lại có vẻ khác biệt. “Một phân tích chi tiết trong nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thị Kim Oanh và cộng sự chỉ ra rằng tại Hà Nội có sự chuyển dịch so với đánh giá trên phạm vi toàn quốc”, PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh nói. Ở Hà Nội, những nguồn phát thải sơ cấp từ vận chuyển dài hạn có nhiều đóng góp vào hạt bụi PM2.5  là các hoạt động công nghiệp đóng góp chủ đạo với 48,3%, tiếp đó là các hoạt động giao thông 21,3% và đốt bỏ phế thải nông nghiệp 20,3% cùng các nguồn còn lại là đun nấu dân dụng 5,6%, đun nấu thương mại 1%, đốt chất thải 0,7%, cháy rừng 0,2%, các hoạt động khác 2,7%.    Đối với TP. HCM, các kết quả nghiên cứu về tổng lượng phát thải bụi PM2.5 và mức đóng góp của các nguồn thải bụi PM2.5 trong năm 2017 của PGS.TS. Hồ Quốc Bằng, Viện Môi trường và Tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) và cộng sự cho thấy, riêng thành phố này có khoảng 4.029 tấn phát thải bụi PM2.5 trong năm 2017. “Các nguồn được chia ra thành các nguồn diện chiếm 23%, nguồn điểm chiếm 32% và nguồn đường (chủ yếu là giao thông) chiếm 45%. Trong đó, ba nguồn phát thải bụi PM2.5 lớn nhất là giao thông đường bộ, dệt may, thực phẩm và hộ gia đình, các nhà hàng, quán ăn”, PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh trích dẫn.     Liệu có cần kiểm kê phát thải?     Việc các nhà khoa học lập bản đồ nồng độ bụi PM2.5 dựa vào thế mạnh của các dữ liệu ảnh vệ tinh – giúp bao quát cả không gian lớn với thông tin về bụi PM2.5 ở những nơi không có trạm đo, kể cả trạm tiêu chuẩn và trạm cảm biến, và giám sát chất lượng không khí ở một khu vực địa lý, và thế mạnh của các số liệu liên tục thu thập từ các trạm đo được bổ sung để phân tích chất lượng không khí cho một vị trí cụ thể, trong một khoảng thời gian cụ thể. Lợi thế của việc áp dụng các phương pháp này là có thể mô tả được sự biến động của ô nhiễm không khí theo điều kiện khí tượng và theo các khu vực địa lý do những mức độ phát thải khác nhau.    Dường như quá ấn tượng trước tấm bản đồ “biết nói” về bụi mịn mà trong phần hỏi đáp của hội thảo, đã có một câu hỏi nêu “Khi có được bản đồ này, chúng ta có cần tiến hành kiểm kê phát thải nữa hay không?”. Trước câu hỏi này, TS. Lý Bích Thủy (Viện Công nghệ Môi trường, ĐH Bách khoa HN) cho rằng, “kiểm kê phát thải luôn cần thiết bởi các nghiên cứu đều có độ bất định nhất định. Tuy chúng ta đã có được thông tin sơ bộ để có thể hiểu được phần đóng góp của các nguồn vào hạt bụi PM2.5 nhưng khoảng sai số vẫn còn hơi rộng”. Theo phân tích của chị, kiểm kê là công cụ hữu hiệu của các nhà quản lý để đánh giá được một cách chính xác hiện trạng ô nhiễm của môi trường, vì vậy việc có được thông tin có độ sát thực và tin cậy là điều quan trọng trong các kế hoạch giám sát môi trường.    Một nhà nghiên cứu ở ĐHQGHN, không tham gia vào thực hiện báo cáo, cũng nhận xét, dù đã tồn tại một số kết quả kiểm kê của các nhà khoa học, dựa trên nhiều cách tiếp cận khác nhau và mỗi phương pháp lại có ưu điểm, nhược điểm riêng, nhưng nhà quản lý vẫn cần tiến hành kiểm kê phát thải một cách bài bản, ví dụ nếu dựa theo cách tiếp cận về hệ số phát thải nhân với dữ liệu hoạt động của một nguồn phát thì hệ số phát thải phải phản ánh đúng bản chất phát thải của nguồn đó. Nhà nghiên cứu này lưu ý, phần lớn hệ số phát thải của các nguồn phát ở Việt Nam vẫn chỉ mang tính kế thừa từ quốc tế chứ chưa được tính toán một cách phù hợp.    Có lẽ, thực trạng ô nhiễm không khí và việc không có được những thông số chuẩn hiện nay về tình trạng này khiến “chúng ta chỉ có thể nói vo là ô nhiễm lắm nhưng lại không có số liệu chính xác. Cho nên giờ chúng ta vẫn còn đang phải thảo luận là nguồn giao thông đóng góp bao nhiêu %, đóng góp như thế nào trong các mùa?”, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam lưu ý. “Tôi cho rằng mọi nước đều phải tiến hành kiểm kê, đấy là việc làm không thiếu được trong quản lý môi trường”.    Việc kiểm kê các nguồn thải liên quan đến hạt bụi PM2.5 sẽ là một câu chuyện dài và cần sự tham gia của rất nhiều bên, đặc biệt là các “chủ nguồn” như các nhà máy, khu công nghiệp… “Dù rằng có nhiều phương pháp đo và việc quan trắc liên tục nhưng tôi cho rằng, kiểm kê ngay tại nguồn mang ý nghĩa quan trọng trong giám sát bởi nó giúp bảo vệ môi trường ngay tại nguồn thải chứ không phải chờ đến khi ô nhiễm mới đưa ra giải pháp xử lý, khắc phục. Khi chúng ta biết chính xác nguồn thải để kiểm soát đầu ra thì có nghĩa là ở những nơi đó, đầu ra là khí sạch”, TS. Đỗ Thị Thắm, ĐH Tài nguyên và Môi trường, nói.    Mặc dù hành trình kiểm kê và đi đến việc giảm thiểu phát thải là một quá trình tốn kém và lâu dài nhưng theo TS. Hoàng Dương Tùng, “qua bản đồ bụi mịn, tôi thấy chúng ta nên tập trung vào các tỉnh, thành phố có vấn đề như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng… Các phương pháp như thế nào cần phụ thuộc vào từng địa phương, ví dụ ở Bắc Ninh thì mật độ giao thông không cao như Hà Nội nhưng tập trung vào khu sản xuất, nhà máy, làng tái chế (giấy, nhựa, kim loại)… Chỉ có giải quyết những vấn đề của từng địa phương theo cách như vậy thì chúng ta mới có thể giảm thiểu phát thải hiệu quả mà không quá lãng phí nguồn lực”. □  ——  * Thuộc dự án “Chung tay vì Không khí sạch” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ, báo cáo “Hiện trạng bụi PM2.5 ở Việt Nam giai đoạn 2019-2020 sử dụng dữ liệu đa nguồn” do ĐH Công nghệ – ĐHQGHN (VNU-UET), Trung tâm Sống và Học tập vì Môi trường và Cộng đồng (Live&Learn) cùng các chuyên gia trong và ngoài nước thực hiện.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Các bộ trưởng nông nghiệp EU kêu gọi nới lỏng quy định  chỉnh sửa gene cây trồng      Tại cuộc họp mới đây của Hội đồng EU, các bộ trưởng nông nghiệp EU đã gia tăng áp lực phải nới lỏng những quy định về sinh vật biến đổi gene (GMO) nhằm cho phép sử dụng công nghệ chỉnh sửa bộ gene trong cây trồng.    Kỹ thuật chỉnh sửa bộ gene có thể giúp giảm sử dụng thuốc trừ sâu trên cây trồng. Ảnh: sciencebusiness.net  Các bộ trưởng hầu như nhất trí rằng, việc sử dụng các kỹ thuật chính xác mới – giúp cho việc chỉnh sửa DNA của thực vật dễ dàng và nhanh chóng hơn – có thể đem lại nhiều lợi ích cho ngành thực phẩm của EU cũng như tăng khả năng phục hồi của lĩnh vực này trong các cuộc khủng hoảng khí hậu và địa chính trị.  Theo một nguồn tin của EU, có 20 quốc gia thành viên ủng hộ việc nới lỏng quy định, tuy nhiên, sáu quốc gia cho rằng phải tiếp cận vấn đề này một cách thận trọng. Do đã chứng kiến những lần phản đối kịch liệt trước đây của công chúng với sinh vật biến đổi gene, sáu bộ trưởng này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc cung cấp đầy đủ thông tin cho công chúng.  Khác với công nghệ GMO thế hệ đầu tiên, việc chỉnh sửa bộ gene hiện nay không yêu cầu phải có bước chuyển gene từ các loài khác. Dù vậy, vào năm 2018, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu đã ra phán quyết rằng các phương pháp chỉnh sửa bộ gene như Crispr-Cas9 (từng đoạt giải Nobel) vẫn sẽ nằm trong phạm vi kiểm soát của luật GMO năm 2001 của EU, dù cho phương pháp này có độ chính xác cao hơn nhiều và không cần phải có gene chỉ thị ngoại lai.  Quyết định này đã dẫn đến việc rất nhiều công ty nghiên cứu ở EU lâm vào tình trạng tê liệt hoặc phải đóng cửa, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như khiến các công ty chuyển địa điểm sang Mỹ hoặc các thị trường khác ngoài châu Âu.  Song hiện nay, trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng liên tục nổ ra, nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông nghiệp EU và đảm bảo thương mại tự do cho các sản phẩm nông sản trên toàn thế giới đã trở thành một ưu tiên mới. “Có thể đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ lại về một số phương pháp sản xuất lương thực truyền thống, và ủng hộ cho các kỹ thuật hiện đại”, Bộ trưởng Nông nghiệp Séc Zdeněk Nekula phát biểu tại cuộc họp Hội đồng.  Hiện nay, Ủy ban đã thực hiện một cuộc tham vấn cộng đồng để tiếp nhận ý kiến góp ý và đang tiến hành đánh giá tác động. Theo các quan chức EU, dự kiến Ủy ban ​​sẽ công bố một dự thảo luật mới vào quý II năm 2023.  Trước đó, vào tháng 9/2021, Vương quốc Anh đã chính thức tuyên bố sẽ nới lỏng các quy định về nghiên cứu cây trồng biến đổi gene. Tuyên bố này khiến cho các nhà khoa học hy vọng rằng EU cũng có thể làm điều tương tự trong thời gian tới.  Một trong những ưu điểm nổi trội của công nghệ chỉnh sửa gene cây trồng là nó giúp nông dân giảm nhu cầu sử dụng thuốc trừ sâu.  Trong bối cảnh hiện tại, châu Âu đang cần tránh sự phụ thuộc vào thuốc trừ sâu và phân bón, đồng thời cần đưa các đặc điểm như khả năng chịu mặn, hạn hán vào cây trồng, tăng giá trị dinh dưỡng cho cây và làm cho thực phẩm có giá cả phải chăng và quá trình canh tác bền vững hơn.  Từ một góc độ nào đó, việc chỉnh sửa bộ gene cũng có thể được coi là tương đương với các kỹ thuật lai tạo truyền thống để tạo ra các đặc điểm mong muốn. Tuy nhiên, công nghệ này khác biệt ở chỗ, nó giúp việc lai tạo trở nên nhanh chóng và chính xác hơn, nhờ đó có thể cung cấp cho chúng ta các giống tốt hơn chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (ví dụ như chỉ mất vài tuần thay vì mười năm như trước đây).  Mặc dù sáng kiến của Ủy ban đã nhận được sự ủng hộ từ các bên liên quan, nhiều người cho rằng cần phải đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.  “Nếu Ủy ban đưa ra dự thảo vào cuối quý II năm 2023 thì sẽ không kịp. Mọi thứ sẽ lại bị trì hoãn một hoặc hai năm nữa trước khi được đưa ra thảo luận với một Ủy ban và Nghị viện mới”, Jorasch nói.□  Mỹ Hạnh lược dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/eu-agriculture-ministers-move-closer-consensus-gene-editing-crops    Author                .        
__label__tiasang Các chính phủ có nguy cơ mất kiểm soát định hướng công nghệ      Tại cuộc họp tại Brussels ngày 20/2/2019, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cảnh báo, do hơn 40% kinh phí đầu tư cho R&D đến từ 200 công ty nên các chính phủ có nguy cơ mất quyền kiểm soát đối với hướng nghiên cứu công nghệ và lo ngại về những mặt trái của công nghệ đang gia tăng.      Kỹ sư phần cứng của Facebook giới thiệu phòng lab phát triển các công nghệ phần cứng như kính thực tế ảo, thiết bị lưu trữ dữ liệu, máy bay không người lái, v.v…  Từ năm 2009 đến 2016, tỷ lệ GDP dành cho R&D ở các nước phát triển giảm bốn phần trăm, từ 31% xuống còn 27%. Trong thời gian này, thay vì trợ cấp trực tiếp như trước, các chính phủ chủ yếu hỗ trợ cho R&D một cách gián tiếp như giảm thuế và gia tăng mối quan hệ hợp tác. Do đó, “chính phủ không phải lúc nào cũng giữ vai trò nhà đầu tư lớn nhất trong hệ thống R&D như trước đây”, theo Michael Keenan – chuyên gia phân tích cao cấp của OECD.  Mặc dù ưu đãi thuế khuyến khích đầu tư vào R&D nói chung, các nhà kinh tế cho rằng ưu đãi thuế thường không có tác dụng thúc đẩy chi tiêu cho các mục tiêu chính sách cụ thể, chẳng hạn như cải thiện khí hậu. “Ưu đãi thuế ít cho phép các chính phủ tác động đến hướng chi tiêu”, ông Keenan nhận xét. Điều này có thể sẽ dẫn đến khả năng các chính phủ đang ít cơ hội gây ảnh hưởng đến cách thức phát triển công nghệ.  Kết luận này gây tranh cãi – và thực sự tại cuộc họp ngày 20/2/2019, nó đã ngay lập tức bị một số quan chức của một số quốc gia và Ủy ban châu Âu phản đối. Tuy nhiên dữ liệu cũng phù hợp với cảm nhận ngày càng rõ ràng hơn của các nhà hoạch định chính sách KH&CN là họ ngày càng có ít kiểm soát với công nghệ hơn so với trước đây.  OECD cho biết, một biểu hiện của vấn đề này là sự lo ngại về hoạt động và ảnh hưởng của Facebook và các công ty công nghệ lớn khác. Lo ngại này là có cơ sở bởi nhiều công ty công nghệ có ngân sách đầu tư cho R&D lớn hơn so với hầu hết các chính phủ và có thể thúc đẩy các công nghệ như xe không người lái sang những hướng mới chưa được luật pháp điều chỉnh.  Dữ liệu của OECD cho thấy, 200 công ty đa quốc gia chiếm 42% kinh phí R&D toàn cầu và chỉ tính riêng lĩnh vực trong máy tính và truyền thông, 200 công ty hàng đầu đóng góp 51% số bằng sáng chế của thế giới.  Góc nhìn trái chiều  Tất nhiên, không phải ai cũng cho rằng đây là một vấn đề. Theo góc nhìn của một quan chức cấp cao của Áo tại cuộc họp, sự sụt giảm trong chi tiêu R&D của chính phủ thực sự phản ánh sự gia tăng của doanh nghiệp – và đó là cách phát triển lành mạnh chứ không có hại. Ở Áo, trong thập kỷ qua, thị phần của các tập đoàn trong đầu tư R&D đã tăng từ 60 lên 66%. Điều này đơn giản là vì ngay cả khi ngân sách Chính phủ Áo dành cho R&D vẫn tăng thì chi tiêu của các tập đoàn còn tăng nhanh hơn, dẫn đến thị phần của chính phủ trong đầu tư R&D giảm.  Theo các nhà phân tích của OECD, mặc dù điều đó đúng ở Áo, ở nhiều nước phát triển khác, số tiền chi tiêu thực tế của chính phủ, thay vì chỉ là điểm phần trăm, vẫn chưa phục hồi sau khủng hoảng năm 2008.  Đồng thời, một số bước phát triển mới có thể giúp các chính phủ giữ vai trò trong R&D. Một ví dụ là áp dụng các công nghệ kỹ thuật số, như trí tuệ nhân tạo và học máy, để theo dõi những gì doanh nghiệp đang làm với tiền đầu tư vào R&D của họ, hoặc để phát hiện các công nghệ và xu hướng mới nổi nhanh hơn. Một cách khác là thúc đẩy hợp tác quốc tế hơn nữa về KH&CN để phối hợp chi tiêu công cho phù hợp với các mục tiêu chung toàn cầu như làm chậm biến đổi khí hậu.  Thật vậy, OECD lưu ý, các chính phủ nói chung dường như quan tâm hơn bao giờ hết đối với việc định hướng công nghệ – để thúc đẩy nền kinh tế của họ hướng tới sự phát triển bền vững, dịch vụ y tế tốt hơn hoặc các nhiệm vụ khác. Nghịch lý là những chính sách này đang được thúc đẩy trong khi chi tiêu chính phủ cho R&D đang giảm. Theo Dominique Guellec, người phụ trách bộ phận KH&CN của OECD, điều này “không hoàn toàn xấu” nhưng có thể ảnh hưởng đến năng lực định hướng công nghệ của các chính phủ.  Khi đánh giá tầm ảnh hưởng của chính phủ đối với công nghệ, thì vấn đề quan trọng là chính phủ có bao nhiêu tiền để chi cho nghiên cứu, Guellec nói. “Sự giàu có có thể không làm cho bạn hạnh phúc, nhưng vẫn rất có ích”.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/cac-chinh-phu-co-nguy-co-mat-kiem-soat-dinh-huong-cong-nghe/201903070351746p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các hướng tiếp cận Trung tâm nghiên cứu mạnh      Nhằm xây dựng ý kiến góp ý cho kế hoạch thành lập các trung tâm nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và quốc tế như mục tiêu đề ra trong Chiến lược Phát triển KH&amp;CN 2011-2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, ngày 24/5 vừa qua tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi cùng một số nhà khoa học từ Đại học Bách khoa Hà Nội.      Đa số các ý kiến thu được từ các nhà khoa học của Đại học Bách khoa Hà Nội trong cuộc tọa đàm vừa qua cho rằng nên đặt ra những mục tiêu khả thi và những tiêu chí cụ thể gắn với thực trạng phát triển KH&CN ở Việt Nam.      Mục tiêu và tên gọi  Theo PGS. TS Phạm Thành Huy từ Viện Tiên tiến KH&CN (AIST), cho rằng gần đây, một số ý kiến bàn về xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhưng tên gọi này dễ gây hiểu lầm cho công chúng cũng như bản thân giới khoa học. Ông cho rằng cần sử dụng đúng tên gọi là trung tâm nghiên cứu mạnh như đã nêu trong Chiến lược Phát triển KH&CN 2011-2020. Việc gọi đúng tên là trung tâm nghiên cứu mạnh cũng nhằm phản ánh mục tiêu có tính thực chất hơn, đó là tụ họp các cá nhân và nhóm nghiên cứu có thực lực nhất nhằm thực hiện những hoạt động nghiên cứu phù hợp với mục tiêu chiến lược KH&CN của quốc gia.  Quan điểm của PGS. Phạm Thành Huy phần nào cũng xuất phát từ một thực tế là phần lớn các hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam chưa ở tầm mức xuất sắc so với quốc tế, và không ít trong số đó thậm chí chưa thực sự đạt những chuẩn mực khoa học chung thông thường. Theo GS. Trần Xuân Hoài, nguyên Viện trưởng Viện Vật lí ứng dụng và thiết bị khoa học, người cùng tham dự tọa đàm, mục tiêu cấp bách nhất đằng sau việc hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc là làm sao tạo dựng cơ chế và điều kiện thuận lợi cho những nghiên cứu trung thực. Ông cho rằng vấn đề quan trọng nhất là bản thân người làm khoa học phải trung thực với chính mình, phải thỏa mãn với việc mình làm, mà cả hai cái gốc này hiện nay ở Việt Nam đều đang thiếu. “Phải xác định đầu tiên là trở thành trung tâm xuất sắc của chính mình trước đã, rồi mới đến của trường, của nước, của vùng, của thế giới, ý kiến cá nhân tôi là hiện nay các nhà khoa học Việt Nam chưa xuất sắc với chính mình”, ông bày tỏ.  Một số nhà khoa học có ý kiến đề nghị bổ sung những tiêu chí rõ ràng hơn cho mục tiêu thành lập các trung tâm nghiên cứu mạnh. TS. Đỗ Văn Nam từ AIST đặt câu hỏi: “thành lập các trung tâm này cho ai?” Theo ông, các trung tâm mạnh cần được ưu tiên dành cho đối tượng là các nhà khoa học trẻ, những người còn dồi dào năng lực nghiên cứu và sáng tạo. Đồng nghiệp của ông ở AIST là TS. Vũ Ngọc Phan thì nhận định các trung tâm mạnh cần đưa ra chuẩn mực so sánh rõ ràng với một quốc gia cụ thể nào đó. “Chúng ta cứ khẳng định một cách chung chung là đạt tầm khu vực hay quốc tế thì không bao giờ có mục tiêu phấn đấu rõ ràng để thực sự tiến lên được”, ông nói.  Theo GS. Nguyễn Đức Chiến, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Kỹ thuật, cần đặt ra những tiêu chí cụ thể cả đầu vào và đầu ra cho trung tâm xuất sắc như số lượng cán bộ tối thiểu và đòi hỏi trong đó phải có một vài cán bộ khoa học xuất sắc đứng đầu; số công bố quốc tế ISI, số patent, số nghiên cứu sinh đào tạo được, số hợp đồng ký với công nghiệp hằng năm, và số doanh nghiệp spin off phát triển ra từ đó. “Đương nhiên để đạt ngay các mục tiêu này sau một hai năm thì khó, nhưng tùy từng nơi, có thể sau 6-7 năm hay 8-9 năm, cần đánh giá lại một lần”, ông nhận định.  Cùng quan điểm rằng các trung tâm nghiên cứu mạnh cần được đặt ra những mục tiêu và tiêu chí cụ thể, nhưng GS. Trần Xuân Hoài cảnh báo rằng những con số như lượng patent hay công bố ISI trên thực tế đều có thể được con người dàn dựng, chẳng hạn như bằng cách tham gia ghé vào các nghiên cứu dùng nội lực nước ngoài, hoặc thậm chí với các nghiên cứu nửa thực nghiệm ở dạng mô phỏng (simulation) thì con số công bố có thể lên rất cao, biến các tổ chức thành những “máy sản sinh bài công bố”.  Nên dựa trên những nền tảng sẵn có  Theo PGS. Phạm Thành Huy, một tổ chức nghiên cứu mạnh không nằm ra ngoài năm mô hình hình thành: từ nhóm nghiên cứu nhỏ; từ viện nghiên cứu lớn; từ phòng thí nghiệm công nghiệp; từ phòng thí nghiệm quốc gia; từ mối liên kết giữa trường đại học và ngành công nghiệp. Ông cho rằng về cơ bản hiện nay có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất là phát triển từ các nhóm nhỏ do các nhà khoa học tự tổ chức. Hướng tiếp cận này không tốn kém, do các nhà khoa học tự đi tìm nhiệm vụ và tự kiếm tiền từ đấu thầu các nhiệm vụ. Trong tiến trình phát triển, các nhóm này sẽ thu hút thêm nhân lực và tiếp tục lớn dần lên.           Kinh nghiệm từ Trung Quốc: dựa trên nền tảng các trường đại học   Năm 1995 Trung Quốc thông qua công trình 211, nội dung là tập trung xây dựng 100 trường đại học (6% tổng số trường trên cả nước) trình độ quốc tế theo định hướng nghiên cứu, mỗi trường chọn một vài ngành khoa học trọng điểm để đầu tư đạt trình độ cao và có các công trình có giá trị, được thế giới biết đến. Họ huy động nguồn vốn khổng lồ cả trung ương và địa phương xây dựng cơ sở vật chất và đào tạo con người. Tuy chỉ gồm 6% số trường trên cả nước nhưng các trường được chọn đã chiếm 85% số ngành khoa học trọng điểm của quốc gia, chiếm 96% số lượng các phòng thí nghiệm trọng điểm, đảm trách 50% hạng mục ngân sách khoa học tự nhiên quốc gia, chiếm 70% kinh phí nghiên cứu của quốc gia. Với sự đầu tư này, đến năm 2005 kinh phí đầu tư cho KHCN của Trung Quốc ở mức thua Mỹ 23,4 lần, nhưng 4 năm sau đó rút xuống còn 6,2 lần. Sau 10 năm những trường kể trên đào tạo 2/3 số sinh viên cao học của cả nước, lực lượng giảng viên có bằng tiến sĩ tăng từ 2% lên 31%, một số trường hàng đầu là 70%.    (Theo GS. Nguyễn Đức Chiến, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Kỹ thuật)         Cách tiếp cận thứ hai phổ biến hiện nay là một trung tâm sẵn có nào đó muốn được tăng cường sức mạnh bằng cách đề nghị Nhà nước cung cấp một khoản kinh phí để mua máy móc thiết bị. Ông cho rằng cần hết sức cẩn trọng với cách tiếp cận này vì các kinh nghiệm cho thấy nhiều khi người ta mua máy móc về chỉ để đắp chiếu. “Nên chăng chúng ta cần một cách tiếp cận khác hơn, đó là lựa chọn người đứng đầu, xây dựng nhóm nghiên cứu lõi mạnh, và khi nhìn thấy tiềm năng của nó thì Nhà nước mới đầu tư để trở thành nhóm nghiên cứu mạnh”, ông nhìn nhận.  Chia sẻ quan điểm với PGS. Phạm Thành Huy, GS. Nguyễn Đức Chiến cho rằng phải tập trung tăng cường xây dựng các đơn vị nghiên cứu mạnh trên cơ sở đơn vị đã và đang hoạt động mạnh. Theo ông, cách làm phổ biến trên thế giới là dựa trên nền tảng là đội ngũ có sẵn, và dùng năng lực nội tại đó để lôi kéo các nhà khoa học từ nước ngoài. GS. Chiến khẳng định ở Việt Nam đã có những đơn vị nghiên cứu mạnh đủ sức hút như vậy, ví dụ như khối vật lý của Đại học Bách khoa Hà Nội trong khoảng 2-3 năm qua đã thu hút được  hơn 20 tiến sĩ trẻ ở nước ngoài, những người vốn không phải do trường gửi đi đào tạo.  Ngoài ra, theo GS. Nguyễn Đức Chiến, trong bối cảnh Việt Nam, muốn được sự ủng hộ của cả cơ quan quản lý và dư luận thì phải làm gì đó cho doanh nghiệp; trừ những nghiên cứu lý thuyết quá, còn lại đều có thể hợp tác với doanh nghiệp. Không chỉ phát triển từ đơn vị có sẵn, các trung tâm nghiên cứu mạnh còn phải là sự liên kết giữa các đơn vị khác nhau. “Ví dụ Đại học Bách khoa có ba viện thì chúng tôi tính có thể lập một trung tâm hoặc một phần của trung tâm xuất sắc khác, bởi đây không phải là tổ chức cứng nhắc, hành chính mà là một trung tâm nghiên cứu khoa học”, ông nói.  Cần cơ chế như thế nào?  Đầu tư dài hạn và có mốc đánh giá cụ thể  Các nhà khoa học nhất trí rằng trên lộ trình xây dựng các trung tâm nghiên cứu mạnh phải đặt ra các mốc thời gian cụ thể và cần cam kết ủng hộ, đầu tư dài hạn của Nhà nước. PGS. Phạm Thành Huy dẫn kinh nghiệm của các phòng thí nghiệm trọng điểm, các trung tâm nghiên cứu xuất sắc của các nước thường có lộ trình 5, 7, hoặc 9 năm – theo ông, thời điểm đánh giá phù hợp cho các đơn vị nghiên cứu ở Việt Nam là 9 năm – và có yêu cầu cụ thể đối với từng mốc. Như vậy, các trung tâm sẽ chỉ được tiếp tục đầu tư khi đạt yêu cầu thẩm định tại các thời điểm đánh giá.   PGS. Huy minh họa bằng kinh nghiệm từ Mỹ, khoảng năm 1972-73 Quốc hội Mỹ tiếp nhận ý kiến xây dựng các viện nghiên cứu liên đại học và công nghiệp. Tiến trình này không được triển khai ngay mà có giai đoạn chuẩn bị 3 năm để xây dựng ba mô hình thử nghiệm. Sau khi có kết quả đánh giá ba mô hình thử nghiệm, người ta mới xây dựng tiêu chuẩn cụ thể. Sau 30 năm, Mỹ xây dựng được hơn 100 viện nghiên cứu liên đại học – công nghiệp, nhưng đến thời điểm đánh giá năm 2008, chỉ còn hơn 30 đơn vị tự sống tự phát triển, còn lại tự giải tán. “Nghĩa là chúng ta phải nhìn nhận các trung tâm nghiên cứu mạnh không chắc sẽ mạnh mãi, và sẽ có những đơn vị buộc phải giải tán; nhưng nhìn xa hơn, những đơn vị sống sót đang là những đơn vị tạo ra rất nhiều patent có giá trị”, PGS. Huy nhìn nhận.   Đầu tư tập trung, không dàn trải  Theo GS. Nguyễn Đức Chiến, Nhà nước đóng vai trò quyết định trong đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu mạnh. Ông cho rằng khi một đơn vị nghiên cứu đạt đến một mức nào đó thì nhà nước phải đầu tư mạnh, và ở nước nào cũng vậy, nếu không có chính sách rất mạnh, rất quyết liệt, tập trung, của nhà nước trong đầu tư cho khoa học thì không thể thành công. “Nếu Nhà nước chỉ ra nghị quyết mà kinh phí vẫn là vấn đề khó khăn thì mọi vấn đề khác chỉ để bàn cho vui”, ông thẳng thắn chia sẻ.  Đối với các trung tâm nghiên cứu có tính ứng dụng cho các ngành công nghiệp, PGS. Phạm Thành Huy cho rằng quy chế nên thật đơn giản, đó là nếu các nhà công nghiệp đầu tư hai đồng thì nhà nước cho một đồng. “Cách làm này cũng giống như sản xuất thử nghiệm của chúng ta, là mô hình trên thực tế ở giai đoạn trước chúng ta đã thử nghiệm nhưng chưa thật sự sâu sắc và quy mô nhỏ hơn nên ảnh hưởng còn ít”, ông nói.    Môi trường cởi mở, phù hợp với đặc thù KH&CN  Có nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề tạo môi trường thoải mái phù hợp cho đặc thù hoạt động KH&CN. Theo GS. Nguyễn Đức Chiến, tổ chức nhân sự của các trung tâm xuất sắc không nên là tổ chức cứng, mà chỉ nên thuần túy là tập hợp của những người làm khoa học xuất sắc trong một lĩnh vực nào đó. TS. Đỗ Văn Nam cho rằng các nhà khoa học cần được tạo một môi trường giao lưu cởi mở và được sự tôn trọng cao từ các nhà quản lý, không cần quá câu nệ về thành tích mà nên để các trung tâm phát triển trong điều kiện tự nhiên. Cùng quan điểm rằng các nhà quản lý cần lắng nghe hơn nữa tâm tư nguyện vọng của các nhà khoa học, TS. Vũ Ngọc Phan khẳng định rằng với tình trạng quan liêu quá phổ biến như hiện nay thì dù có tổ chức nhiều cuộc hội thảo tọa đàm, nhưng các nhà khoa học có nói nữa cũng vô ích nếu các lãnh đạo không nghe thấy, và dù “chúng ta rất muốn xây dựng các trung tâm nghiên cứu mạnh, dù các hiệu trưởng và bản thân Bộ trưởng Bộ KH&CN rất muốn làm nhưng chưa chắc chúng ta đã đi đến kết quả mong đợi”, ông nói.         Năm mô hình thành lập trung tâm nghiên cứu  xuất sắc theo gợi ý của PGS. TS. Phạm Thành Huy, Viện Tiên tiến  KH&CN, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội:   1/ Trung tâm hình thành từ nhóm nghiên cứu nhỏ (cách tiếp cận bottom up)                Được  hình thành từ đề xuất bởi một nhóm nghiên cứu mạnh sẵn có, được dẫn dắt  bởi người đứng đầu là nhà khoa học xuất sắc. Trung tâm nghiên cứu theo  mô hình này có thể tham gia đào tạo nhưng không bắt buộc. Ưu điểm của mô  hình dựa trên nhóm nghiên cứu nhỏ là có cấu trúc linh hoạt, bản thân  các thành viên ngoài mục tiêu phát triển chung của cả nhóm thì có hướng  nghiên cứu mạnh của riêng mình   2/ Trung tâm hình thành từ viện nghiên cứu lớn (cách tiếp cận bottom up hoặc top down)              Được  hình thành từ các nhóm nghiên cứu mạnh, tập hợp lại để thành một viện  lớn hơn hoặc theo định hướng của một trường đại học, bao gồm cả nghiệp  vụ nghiên cứu và đào tạo. Được tổ chức và quản lý chặt chẽ, nhân sự  thường là cố định mặc dù có sử dụng nhân sự của các đơn vị phối hợp liên  quan.                3/ Trung tâm hình thành từ các phòng thí nghiệm công nghiệp (chủ yếu là cách tiếp cận top down)              Đây  là một mô hình ít được biết hơn ở Việt Nam, có cách tiếp cận chủ đạo là  top down, với định hướng nghiên cứu theo sản phẩm. Mô hình này có  nghiệp vụ chính là nghiên cứu, không hoặc ít tham gia đào tạo. Trung tâm  được tổ chức chặt chẽ, tính kế hoạch cao, các mốc thời gian chính xác  cho các nhiệm vụ, có thời điểm kết thúc. Hoạt động của trung tâm có thể  bị dừng trong quá trình triển khai nếu không đạt được các mốc mục tiêu  đề ra. Về nhân sự, mô hình này có sự chuyển đổi linh động cán bộ nghiên  cứu.                 4/ Trung tâm hình thành từ phòng thí nghiệm quốc gia (kết hợp cách tiếp cận bottom up và top down)              Đây  là mô hình trung tâm lớn, có sự kết hợp của các mô hình top down –  nghiên cứu theo nhiệm vụ – và bottom up. Những trung tâm như vậy được  đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng đầy đủ và được gắn với nghiệp vụ đào tạo.  Cấu trúc và tổ chức của trung tâm cần tính chặt chẽ, có tính kế hoạch  cao, và cũng có điểm kết. Về nhân sự, trung tâm có thể linh động trong  luân chuyển cán bộ.                5/ Trung tâm liên kết giữa công nghiệp và đại học (cách tiếp cận top down):              Đây  là một mô hình top down mới đối với Việt Nam, thường xuất phát từ một  dự án nghiên cứu lớn. Trung tâm được xây dựng để giải quyết các vấn đề  cụ thể, định hướng theo nhu cầu của xã hội, có thể cả nghiên cứu cơ bản  và ứng dụng. Vì nằm trong trường đại học nên trung tâm có tham gia đào  tạo. Lãnh đạo trung tâm có thể là người kiêm nhiệm công tác tại trường.  Đối với các đơn vị liên kết thì có hội đồng tư vấn.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Các nhà khoa học yêu cầu được có tiếng nói với Brexit      Hàng trăm ngàn người đã biểu tình ở London để yêu cầu quyền bầu cử đối với các điều khoản của thỏa thuận Vương quốc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit).    Các nhà khoa học đã xuống đường phố London vào ngày 23 tháng 3 trong một cuộc biểu tình lớn, kêu gọi quyền được bỏ phiếu của người dân Anh với các điều khoản của Brexit.    Các nhà khoa học tuần hành chống lại Brexit và nói rằng Brexit sẽ làm hỏng khoa học của Vương quốc Anh và châu Âu.  Một số nhà nghiên cứu mặc áo khoác phòng thí nghiệm, kính bảo hộ và giữ bảng hiệu khi họ diễu hành. Những người khác nói với Nature rằng họ đang biểu tình yêu cầu dừng Brexit. Những nhà khoa học này nói rằng chỉ viễn cảnh của Brexit đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc tuyển dụng, hợp tác các nhà nghiên cứu của EU, và chuỗi cung ứng vật liệu của các phòng thí nghiệm.  Đối với các nhà khoa học, “bất kỳ hình thức nào của Brexit đều xấu”, theo Stuart Conway, một nhà sinh hóa học tại Đại học Oxford, người đã tham dự cuộc tuần hành và muốn người dân Anh có cơ hội bỏ phiếu một lần nữa về Brexit, với lựa chọn ở lại EU.  Cuộc biểu tình của các nhà khoa học được tổ chức bởi nhóm chiến dịch Scientist for EU và là một phần của cuộc biểu tình lớn hơn được điều phối bởi các tổ chức chiến dịch bao gồm Open Britain, một nhóm ủng hộ châu Âu và phản đối các khía cạnh trong thỏa thuận của Thủ tướng Anh Theresa May, Brexit.  Thỏa thuận Brexit, được thống nhất giữa các quan chức Anh và EU vào tháng 11 năm ngoái, đã gây chia rẽ trong các chính trị gia Anh. Thỏa thuận này cho phép Vương quốc Anh rời khỏi EU và bước vào giai đoạn chuyển tiếp 20 tháng trong đó mối quan hệ EU – UK, bao gồm các quy tắc tài trợ khoa học và nhập cư, vẫn giữ nguyên như cũ. Trong thời gian này, hai bên sẽ đàm phán các điều khoản của mối quan hệ tương lai giữa Vương quốc Anh và khối EU.  Phong trào toàn quốc  Các nhà tổ chức biểu tình dự kiến 300.000 người từ khắp Vương quốc Anh sẽ tham gia cuộc tuần hành, bắt đầu gần Công viên London và kết thúc bằng các bài phát biểu tại Quảng trường Quốc hội. Các báo cáo ban đầu về quy của mô đám đông cho thấy có tới 1 triệu người có thể đã tham dự.  Angella Bryan, một nhà khoa học lâm sàng liên kết với Đại học Manchester đã thức dậy lúc 6 giờ sáng để đến London. “Đây là tương lai của chúng tôi và chúng tôi đang lãng phí tiền bạc khi không ở trong EU. Chúng tôi cần phải ở đây và dẹp bỏ Brexit”, cô nói.  Stephen McLaughlin, nhà vật lý sinh học tại Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa ở Cambridge, nói rằng ông  tuần hành để hỗ trợ khoa học Vương quốc Anh. Ông vừa trở về từ một cuộc họp sinh lý học ở Zagreb, nơi tập hợp các nhà nghiên cứu châu Âu và “chúng tôi chia sẻ các ý tưởng, phương pháp tốt nhất và chúng tôi được tài trợ cho các chuyến thăm ngắn hạn”, ông nói. “Điều quan trọng là chúng tôi sử dụng những người hàng xóm của mình  [các nước EU] để tăng cường khoa học Vương quốc Anh”, ông nói thêm. “Tất cả mọi người đều khá lo lắng về những gì sắp xảy ra.”  Susan Lea, một nhà sinh vật học cấu trúc tại Oxford, người đã tham dự cuộc biểu tình cùng với nhóm của cô, nói rằng 3/4 nhóm của cô đến từ bên ngoài Vương quốc Anh. “Chúng tôi gặp vấn đề lớn khi tuyển dụng. Chúng tôi đã có một vài người rút ra ngay trước khi phỏng vấn xin việc”, cô nói. “Châu Âu và sự vận động của các nhà khoa học là cốt lõi đối với những gì chúng tôi làm trong khoa học.”  Suy nghĩ hợp lý  Kể từ trước cuộc trưng cầu dân ý về Brexit vào tháng 6 năm 2016, thời điểm người dân Anh bỏ phiếu thuận cho việc rời khỏi EU với sự chênh lệch nhỏ, các nhà khoa học Anh đã nói rằng Brexit sẽ là một thảm họa cho nghiên cứu. Sự chia rẽ này sẽ phá vỡ sự hợp tác, nhập cư và tài trợ, họ nói, ngoài ra Brexit cũng có thể sẽ loại các nhà khoa học Anh khỏi các chương trình nghiên cứu trị giá nhiều triệu euro của EU, các chương trình đã từng mang lại nhiều lợi ích vượt trội cho khoa học Anh trước đây.  Nhiều nhà khoa học và các nhà lãnh đạo nghiên cứu đã nói rằng chỉ riêng sự bất ổn do Brexit gây ra đã gây thiệt hại cho khoa học của Anh và châu Âu. “Đây là một vấn đề quan trọng đối với các nhà khoa học vì khoa học phải dựa trên những suy nghĩ hợp lý, sự thật, sự hợp tác và cởi mở. Brexit về cơ bản đi ngược lại tất cả những giá trị này”, Jean-Martin Lapointe, một nhà nghiên cứu dược phẩm tại công ty dược phẩm AstraZeneca gần Cambridge. Ông nói rằng mặc dù các nhà khoa học thường không có tiếng nói về chính trị, ông vẫn cảm thấy cần phải tham gia.  Lapointe cho biết thêm, AstraZeneca đã gặp vấn đề với giấy phép và vận chuyển mẫu vì Brexit. “Mọi người đang từ chối thực hiện các kế hoạch liên quan đến việc hợp tác với các địa điểm và quốc gia bên ngoài, và điều này ảnh hưởng lớn đến nhiều khía cạnh trong nghiên cứu của chúng tôi”, ông nói thêm.  Các đàm phán  Cho đến nay, các thỏa thuận của Theresa May không được các thành viên Nghị viện (nghị sĩ) của Anh chấp thuận. Nghị viện Anh đã hai lần từ chối các thỏa thuận được đưa ra.  Nếu thỏa thuận không được thông qua, Theresa May có thời hạn đến ngày 12 tháng 4 sẽ tạo ra một hướng đi mới hoặc Vương quốc Anh sẽ thoát khỏi EU mà không có bất kỳ thỏa thuận thương mại hoặc di cư nào. Nếu không đạt được thỏa thuận, rất có thể Vương quốc Anh sẽ rơi vào hỗn loạn. Kịch bản không có thỏa thuận này sẽ lập tức cắt Anh khỏi các tài trợ nghiên cứu của EU và gián đoạn các thử nghiệm lâm sàng, thu thập dữ liệu và nhập khẩu vật tư phòng thí nghiệm. Mặc dù chính phủ đã đồng ý rằng họ sẽ bù đắp số tiền bị mất từ các khoản tài trợ hiện có của EU, nhưng chi tiết quy trình này vẫn chưa rõ ràng.  Hơn bốn triệu người hiện đã ký một bản kiến nghị trên trang web của Nghị viện yêu cầu dừng Brexit. Các bên đã ký kết bao gồm Venki Ramakrishnan, một nhà sinh vật học cấu trúc đoạt giải Nobel và chủ tịch Hiệp hội Hoàng gia ở London, nhưng ông nói rằng ông ký dựa trên tư cách cá nhân. “Cá nhân tôi không thấy lợi ích gì cho khoa học Vương quốc Anh từ Brexit. Cần phải đảo ngược những thiệt hại về danh tiếng của Vương quốc Anh như một xã hội mở và nơi thu hút tài năng toàn cầu”, ông Ramakrishnan, người không tham gia cuộc biểu tình, nói. Đã đến lúc các chính trị gia “phải xem xét việc đảo ngược hoặc cải thiện hành động tự làm hại ở cấp quốc gia này”, ông nói.  Hoàng Nam dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-00968-3    Author                Quản trị        
__label__tiasang Các quốc gia châu Âu muốn EC quyết định ứng dụng chỉnh sửa gene trong chọn tạo giống      Mặc dù tán thành kế hoạch sản xuất thực phẩm xanh, Bộ trưởng Nông nghiệp các quốc gia EU muốn xác định ảnh hưởng về mặt khoa học trước khi thông qua dự luật và kêu gọi Ủy ban châu Âu (EC) công bố các nghiên cứu về tạo giống chính xác.      Vào ngày 19/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp các quốc gia EU đã đồng thuận về việc ứng dụng những công nghệ tạo giống đổi mới sáng tạo để thúc đẩy sản xuất thực phẩm bền vững thông qua việc chấp thuận kế hoạch “Farm to Fork” (Từ trang trại đến bàn ăn) nhằm cắt giảm 30% phân bón sử dụng và chuyển đổi 25% đất nông nghiệp sang sản xuất hữu cơ.  Các bộ trưởng kêu gọi việc áp dụng “những kỹ thuật và thành tố đột phá mới” để thúc đẩy sản xuất thực phẩm bền vững, miễn là chúng đảm bảo an toàn với con người, động vật và môi trường.  Điều này liên quan đến việc nhân giống chính xác bằng chỉnh sửa gene, cho phép tạo ra những cơ thể biến đổi gene mà không cần đưa gene từ các loài khác vào. Công nghệ này hiện đang bị cấm ở EU sau phán quyết của Toà án Công lý châu Âu năm 2018, theo đó việc chỉnh sửa gene phải tuân theo chỉ thị cấm các sinh vật biến đổi gene của EU năm 2001.  Các nhà nghiên cứu ở 120 viện nghiên cứu trên khắp châu Âu đã yêu cầu EC xem xét lại phán quyết của tòa án, cho rằng việc nhân giống chính xác và chỉnh sửa gene là một cách tăng năng suất chất lượng tương đương các kỹ thuật nuôi trồng truyền thống và có thể gia tăng sự đa dạng nguồn gene cây trồng, giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu, xa hơn nữa là phát triển thực phẩm lành mạnh. Bộ trưởng Nông nghiệp các nước muốn EC hoàn thiện nghiên cứu về thực trạng những công nghệ chỉnh sửa gene mới theo luật của EU vào tháng 4/2021.  Quan điểm của EC hiện nay cho rằng công nghệ tạo giống chính xác sẽ là nền tảng để chuyển sang sản xuất thực phẩm thân thiện với môi trường. Frans Timmermans, Phó chủ tịch EC phụ trách Thỏa thuận xanh châu Âu cho biết EU hướng tới việc trao cho người dân những công cụ để thực hành nông nghiệp chính xác và tận dụng những phát minh khoa học để tạo ra giống cây trồng tốt.  “Điều này sẽ giúp chúng tôi ít phụ thuộc vào thuốc trừ sâu hơn”, Timmermans chia sẻ tại hội nghị Tuần lễ xanh vào tuần trước. “Chuyển sang nông nghiệp sinh thái không có nghĩa là tất cả chúng ta phải gặm cỏ và sống trong hang đá, chúng ta cần sử dụng những công nghệ mới nhất để đạt được mục tiêu này”.  Tuy nhiên, kế hoạch về nông nghiệp sinh thái của EU đã vấp phải sự chỉ trích của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ Sonny Perdue, cho rằng EU khó lòng ứng dụng các công nghệ mới trong nông nghiệp. “Hoa Kỳ lo ngại rằng kế hoạch ‘Farm to Folk’ và chiến lược đa dạng sinh học của EU sẽ ảnh hưởng nhiều đến giao thương và gây nguy hại cho sản lượng nông nghiệp”, Perdue bày tỏ trong một hội nghị trực tuyến với Janusz Wojciechowski, Ủy viên EU phụ trách nông nghiệp.  Tài trợ nghiên cứu của EU  Để theo đuổi kế hoạch “Farm to Fork”, EU sẽ phân bổ 8,9 tỷ euro trong khuôn khổ Chương trình khung Horizon Europe lần thứ 9, cho các dự án về thực phẩm, kinh tế sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản và môi trường.  Một số tài trợ của Chương trình Horizon Europe sẽ được phân bổ thông qua một quan hệ đối tác về hệ thống thực phẩm an toàn và bền vững để giúp các quốc gia thành viên cùng hợp tác về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp theo cơ chế quản lý trên toàn EU. Horizon Europe cũng có một nhiệm vụ nghiên cứu cải thiện tình trạng đất đai và hợp tác nghiên cứu chuyên sâu nhằm giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp vào năm 2030.  Thỏa thuận không ràng buộc  Mặc dù kế hoạch “Farm to Fork” chưa có tính ràng buộc pháp lý, các quốc gia thành viên muốn EC thực hiện “đánh giá tác động một cách khoa học” trước khi đưa vào luật. Hiện tại, các quốc gia thành viên vẫn ủng hộ việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu một cách “cẩn trọng và có trách nhiệm” để làm cơ sở cho các dự thảo luật theo chiến lược “Farm to Fork”.  Bộ trưởng Nông nghiệp các quốc gia EU cho rằng nên đưa mục tiêu và đối tượng của chiến lược “Farm to Fork” vào Chính sách Nông nghiệp của châu Âu (CAP) thông qua các khuyến nghị cụ thể cho từng quốc gia. Tuy nhiên, EC cho biết các khuyến nghị này không ràng buộc về mặt pháp lý. Ít nhất trên lý thuyết, các nghị sĩ EU đã bỏ phiếu về việc cải cách CAP để làm nền tảng cho kế hoạch sản xuất thực phẩm mới.   Các nghị sĩ thuộc Liên minh Đảng Xanh cho biết bản đề xuất sửa đổi của Đảng Tự do, Đảng Bảo thủ và Đảng Xã hội sẽ cho phép EC giải ngân 60% khoản chi trực tiếp của CAP tới những người nông dân không đặt mục tiêu bền vững mạnh, do vậy điều này sẽ làm “giảm bớt” tham vọng của EC.  “Nếu không có mục tiêu ràng buộc về bảo vệ khí hậu, ít dùng thuốc trừ sâu trong trồng trọt và thuốc kháng sinh trong chăn nuôi, CAP sẽ đi ngược lại mục đích của Thỏa thuận xanh”, nghị sĩ Bas Eickhout thuộc Đảng Xanh cho biết. “Ủy ban châu Âu nên xem xét lại đề xuất của CAP để đảm bảo rằng có tính đến đa dạng sinh học và kế hoạch ‘Farm to Fork’ để phù hợp với Thỏa thuận xanh”.  Ngược lại, các nghị sĩ bảo thủ của Nghị viện châu Âu phát biểu rằng EU không thể tăng tính bền vững “bằng cách cấm các thứ linh tinh”, chẳng hạn như thuốc trừ sâu và phân bón.  Thanh An dịch   Nguồn: https://sciencebusiness.net/news/member-states-want-commission-decide-use-gene-editing-animal-and-plant-breeding       Author                Quản trị        
__label__tiasang Các tạp chí quốc gia: Cần tự nâng cao chất lượng xuất bản      Tại cuộc họp triển khai đánh giá xét chọn đề tài nghiên cứu cơ bản trong trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật đợt 1 năm 2019 của Quỹ NAFOSTED ngày 26/1/2019, vấn đề danh mục tạp chí quốc gia có uy tín đã được các thành viên hội đồng khoa học ngành đặt ra bởi theo quan điểm của GS. TS Ngô Việt Trung (Chủ tịch Hội đồng ngành Toán học), nếu làm chậm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiệm thu đề tài do Quỹ tài trợ.      GS. TS Nguyễn Đức Chiến (Hội đồng ngành Vật lý)   Theo thông tư 37/2014/TT-BKHCN về quy định quản lý đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ NAFOSTED tài trợ, một trong những tiêu chí đánh giá kết quả đề tài là chủ nhiệm đề tài phải có công bố trên tạp chí quốc tế và tạp chí quốc gia uy tín. Yêu cầu cần có một bài báo xuất bản trên tạp chí trong nước để nghiệm thu đôi khi gây trở ngại cho nhà khoa học bởi theo ý kiến của GS. TS Nguyễn Văn Tuyến (Phó chủ tịch Hội đồng ngành Hóa học), “dù chúng tôi chỉ mất 1, 2 tháng để hoàn thành việc viết bài nhưng viết xong rồi không có chỗ mà đăng”. Ông phân tích, hiện nay có một bất cập nảy sinh là “một năm ngành Hóa có khoảng 60 đề tài NAFOSTED, tương đương 60 bài trong nước” trong khi ngành Hóa học chỉ có 2 tạp chí quốc gia uy tín, nên “mình không chen chân được với nghiên cứu sinh, không thể có bài báo theo yêu cầu của Quỹ được”. Do đó ông cho rằng, giải pháp cần thiết là Quỹ không nên bắt buộc phải đăng bài trên tạp chí trong nước mà chỉ nên để khuyến khích.  Với kinh nghiệm của người tham gia xét duyệt và nghiệm thu đề tài Quỹ NAFOSTED nhiều năm, GS. TS Nguyễn Đức Chiến (Chủ tịch Hội đồng ngành Vật lý) chia sẻ những suy nghĩ của GS. TS Nguyễn Văn Tuyến. Nhìn từ ngành Vật lý – nơi có số lượng hồ sơ lớn, “có đợt 100, 120 đề tài”, ông cho rằng, “nếu áp dụng quy định mỗi đề tài phải có một công bố trên các tạp chí quốc gia có uy tín thì số tạp chí quốc gia có uy tín ngành Vật lý không thể kham nổi. Chờ thế nào đó để có được bài báo trên tạp chí quốc gia có uy tín cũng là có vấn đề với các chủ nhiệm đề tài”. GS. TS Nguyễn Văn Quảng (Hội đồng ngành Toán học) xác nhận tình trạng tương tự ở ngành toán, “chỉ có hai tạp chí quốc gia uy tín, việc các nhà khoa học ngành toán đăng bài trên các tạp chí này còn khó hơn đăng quốc tế”.  Tuy nhiên, GS. TS Nguyễn Quang Liêm (Hội đồng ngành Vật lý), nêu vấn đề: nếu “bỏ quên” tạp chí quốc gia, không đăng bài trên các tạp chí quốc gia uy tín thì đến bao giờ các tạp chí trong nước mới phát triển được? “Chúng ta cần có sự hài hòa trong yêu cầu công bố trên tạp chí quốc tế và tạp chí quốc gia có uy tín bởi chúng ta cần có đủ bài có chất lượng để đăng trên các tạp chí quốc gia có uy tín thì mới có thể góp phần nuôi dưỡng được chất lượng của các tạp chí này”, ông nói.  Là tổng biên tập tạp chí Advances in natural Sciences (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phối hợp xuất bản với IOP Publishing), ông cũng chia sẻ thông tin: một số tạp chí quốc gia ở trong tình trạng “thiếu bài nên cứ chờ mãi để khi có đủ bài thì xuất bản”, ví dụ Tạp chí Hóa học – Journal of Chemistry do VAST hợp tác xuất bản với NXB Wiley “lúc nào cũng bù đầu vì không lúc nào có đủ bài để đăng” và ngay cả Advances in natural Sciences thì cũng có số không có bài của tác giả Việt Nam. Do vậy ông đề nghị, đây là những tạp chí quốc tế nhưng không loại trừ vai trò “là tạp chí quốc gia mà chúng ta có chủ quyền” nên có thể công nhận những bài đăng ở đó như đăng ở tạp chí quốc gia.  Tuy nhiên, vẫn cần một giải pháp có tính lâu dài mà ông đặt ra là bản thân các tạp chí quốc gia cần phải thúc đẩy mạnh mẽ chất lượng của chính mình, phải xứng tầm với tiêu chuẩn “uy tín”, đồng thời phải tạo điều kiện để các nhà khoa học chưa có thể có được công bố quốc tế thì có thể có nơi đăng tải bài báo.  Hiện giải pháp nâng cao chất lượng của tạp chí trong nước cũng gặp một số thuận lợi về chính sách, trong đó sự hỗ trợ từ chính Quỹ NAFOSTED thông qua quy định của Thông tư 09/2015/TT-BKHCN về quy định quản lý hoạt động nâng cao năng lực KH&CN quốc gia với việc hỗ trợ ở các mục như kinh phí đánh giá chất lượng tạp chí, phí xuất bản, thuê biên tập viên tiếng Anh trong vòng hai năm đầu.  Còn về trước mắt, để đảm bảo được tiêu chí ít nhất các công bố từ đề tài do Quỹ tài trợ đạt tỷ lệ từ 15 đến 20% số bài trong năm, các nhà khoa học thống nhất cần có sự thảo luận kỹ trong các hội đồng để sớm lựa chọn và đề xuất danh mục các tạp chí quốc gia có uy tín với Quỹ, không để ảnh hưởng đến việc nghiệm thu đề tài ở những đợt phê duyệt tiếp theo.       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Cách mạng năng lượng sạch đầy tham vọng của Joe Biden      Joe Biden, người được truyền thông Mỹ tuyên bố là Tổng thống đắc cử, đã lên kế hoạch chuẩn bị cho nền kinh tế Mỹ đạt tiêu chuẩn năng lượng sạch 100% và không phát thải khí nhà kính sau năm 2050.      Một chuyến thị sát pin mặt trời ở Denver, Colorado vào năm 2016 của tổng thống Barack Obama và phó thủ tướng Joe Biden. Nguồn: MIT  Để thực hiện mục tiêu này, đầu tiên ông Biden phải ký một loạt lệnh điều hành, yêu cầu Quốc hội ban hành luật thiết lập một cơ chế thực thi, đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới năng lượng và khí hậu, khuyến khích việc triển khai nhanh chóng các đổi mới năng lượng sạch trên toàn nền kinh tế. Joe Biden và đội ngũ của ông đã đề ra những mục tiêu và biện pháp để nhằm thực hiện tham vọng này như sau.  Về phát thải khí nhà kính  Biden sẽ vận hành toàn cơ quan hành pháp để đạt được tiến bộ và giảm đáng kể lượng khí thải như:  1. Yêu cầu giới hạn ô nhiễm khí methane đối với các hoạt động khai thác dầu khí mới và hiện có.  2. Sử dụng hệ thống mua sắm của Chính phủ liên bang – chi 500 tỷ US$ mỗi năm – để hướng tới các phương tiện sử dụng năng lượng sạch và không phát thải 100%.  3. Đảm bảo rằng tất cả các công sở, tòa nhà phải lắp đặt các thiết bị hoạt động hiệu quả hơn và phù hợp với khí hậu hơn, khai thác sức mua và chuỗi cung ứng để thúc đẩy đổi mới thiết bị.  4. Giảm phát thải khí nhà kính từ giao thông vận tải – đây là nguồn gây ô nhiễm khí hậu gia tăng nhanh nhất của Mỹ – bằng cách duy trì và thực hiện Đạo luật Không khí sạch hiện hành, đồng thời phát triển các tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu nghiêm ngặt nhằm đảm bảo 100% doanh số bán xe hạng nhẹ và hạng trung mới sẽ được điện khí hóa, không có phát thải khí nhà kính và cải tiến hàng năm cho các loại xe hạng nặng.  5. Giảm gấp đôi lượng nhiên liệu lỏng trong tương lai, đưa nông nghiệp trở thành một phần quan trọng của giải pháp chống biến đổi khí hậu. Nhiên liệu sinh học tiên tiến hiện đang gần gũi hơn bao giờ hết khi bắt đầu xây dựng các nhà máy đầu tiên sản xuất nhiên liệu sinh học, tạo ra việc làm và các giải pháp mới để giảm lượng khí thải hàng không, tàu biển…  6. Tiết kiệm tiền cho người tiêu dùng và giảm lượng khí thải thông qua các tiêu chuẩn hiệu quả trong công nghiệp xây dựng và trang thiết bị mới tân tiến hơn.  7. Cam kết rằng mọi khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng của liên bang phải giảm thiểu ô nhiễm khí hậu và yêu cầu bất kỳ quyết định cấp phép nào của liên bang phải xem xét các tác động của phát thải khí nhà kính và biến đổi khí hậu.  8. Yêu cầu các công ty công phải công khai số liệu về hoạt động và chuỗi cung ứng công ty liên quan đến rủi ro khí hậu và phát thải khí nhà kính.  9. Bảo vệ đa dạng sinh học, giúp tận dụng các giải pháp khí hậu tự nhiên bằng cách bảo tồn 30% vùng đất và vùng biển của Mỹ vào năm 2030.  10. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Mỹ bằng cách bảo vệ vĩnh viễn Khu bảo tồn Động vật hoang dã quốc gia Bắc Cực và các khu vực khác bị chính sách hiện nay của Tổng thống Donald Trump ảnh hưởng; cấm khai thác dầu và khí đốt mới trên các vùng đất và vùng nước công cộng, sửa đổi thuế tài nguyên để tính đến chi phí khí hậu và thiết lập các chương trình mục tiêu để tăng cường tái trồng rừng và phát triển năng lượng tái tạo trên các vùng đất và vùng biển của liên bang với mục tiêu tăng gấp điện gió ngoài khơi vào năm 2030.  Chương trình về chống biến đổi khí hậu    Phòng thí nghiệm năng lượng sạch quốc gia Mỹ (NREL) tại Golden, Colorado. Nguồn: NREL   Biden sẽ phải thiết lập một cơ chế thực thi để đạt được mức không có phát thải sau năm 2050. Cơ chế thực thi này sẽ dựa trên các nguyên tắc: Những người gây ô nhiễm phải chịu toàn bộ chi phí của ô nhiễm carbon mà họ thải ra và nền kinh tế Mỹ phải đạt được cắt giảm lượng khí thải trên toàn nền kinh tế chứ không phải chỉ có một số ngành gánh vác gánh nặng cắt giảm này. Cơ chế thực thi sẽ đạt được mức giảm phát thải rõ ràng, ràng buộc về mặt pháp lý với tính toàn vẹn của môi trường.  Chương trình này bao gồm:  1. Đầu tư nhiều vào nghiên cứu và đổi mới năng lượng và khí hậu, cũng như cơ sở hạ tầng và làm cho cộng đồng sạch và có khả năng phục hồi.  Bất chấp những tiến bộ đã đạt được trong việc giảm phát thải trong ngành điện lực, thực tại thì nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm gần 80% việc sử dụng năng lượng toàn cầu. Ngày nay, nước Mỹ đang trên đỉnh cao của những đột phá trong công nghệ, chẳng hạn như pin có thể lưu trữ năng lượng hiệu quả hơn để sử dụng vào những thời điểm nhu cầu cao điểm, các bộ điều khiển và cảm biến hiệu quả hơn cho sản xuất tiên tiến, cách nhiệt hiệu quả hơn và mỏng hơn cho các tòa nhà và cải tiến an ninh mạng cho làm cho mạng thông minh có khả năng phục hồi tốt hơn trước các cuộc tấn công mạng.  Hiện có hơn ba triệu người ở Mỹ làm việc trong nền kinh tế năng lượng sạch. Tuy nhiên, có một cơ hội rất lớn để hồi sinh ngành năng lượng của Mỹ, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng trên toàn thế giới và tái khẳng định vị trí Mỹ là nhà xuất khẩu chung và là nhà xuất khẩu hàng đầu về năng lượng sạch trên thế giới. Và, Joe Biden sẽ đảm bảo rằng việc làm trong nền kinh tế sạch là việc làm tốt.  Để đẩy nhanh tiến độ này, Biden sẽ đầu tư lớn nhất từ trước đến nay vào nghiên cứu và đổi mới năng lượng sạch. Sau Thế chiến thứ hai, đầu tư công vào nghiên cứu và hợp tác giữa các trường đại học và khu vực tư nhân đã thúc đẩy sự đổi mới của Mỹ, dẫn đến tăng trưởng kinh tế và việc làm nhanh chóng, đã tạo ra tầng lớp trung lưu mạnh mẽ. Kế hoạch Biden sẽ tăng gấp đôi cách tiếp cận này để tạo ra các ngành công nghiệp của tương lai bằng cách đầu tư 400 tỷ USD trong vòng 10 năm. Đó là gấp đôi số tiền đầu tư của chương trình Apollo đưa một người lên mặt trăng. Khoản đầu tư này sẽ cho phép Mỹ phát triển những đột phá về công nghệ mới sẽ tạo ra việc làm và giảm đáng kể lượng khí thải.  2. Tập hợp những tài năng hàng đầu của Mỹ để đổi mới về khí hậu. Mỹ đã dẫn đầu về nhiều công nghệ và đổi mới, từ GPS đến mạng máy tính. Biden kêu gọi lập Cơ quan Dự án Nghiên cứu Nâng cao về Khí hậu, một ARPA-C mới, đa cơ quan để nhắm mục tiêu các công nghệ thay đổi trò chơi, giá cả để giúp Mỹ đạt được mục tiêu năng lượng sạch 100%.  Trọng tâm chương trình như sau:  – Lưu tích trữ điện quy mô lưới với chi phí bằng 1/10 so với pin lithium-ion;  – Trong kế hoạch này, Biden kêu gọi phát triển các lò phản ứng modules nhỏ, tiên tiến, an toàn hơn với chi phí xây dựng bằng một nửa so với các lò phản ứng ngày nay, đặc biệt là vì SMR lý tưởng cho việc tải hoặc sao lưu gió, thậm chí tốt hơn khí tự nhiên. Kế hoạch kêu gọi “tận dụng năng lượng không ô nhiễm carbon được cung cấp bởi các nguồn hiện có như hạt nhân và thủy điện”.  – Làm lạnh và điều hòa không khí sử dụng chất làm lạnh không có khả năng làm nóng lên toàn cầu;  – Sử dụng năng lượng tái tạo để sản xuất hydrogen không có carbon với chi phí tương tự như từ khí đá phiến;  – Khử carbon trong năng lượng công nghiệp cần thiết để sản xuất thép, bê tông, hóa chất và tái tạo vật liệu xây dựng trung tính carbon;  – Khử carbon trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp, và tận dụng nông nghiệp để loại bỏ carbon dioxide từ không khí và lưu trữ trong lòng đất; và  – Thu giữ carbon dioxide từ khí thải của nhà máy điện, sau đó cô lập nó ở sâu dưới lòng đất hoặc sử dụng nó để làm các sản phẩm thay thế.  3. Mục tiêu phát thải của các hãng hàng không: Hàng không chiếm gần 2% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu và tỷ lệ đó dự kiến sẽ tăng lên. Thật không may là ngày nay, một số công nghệ hoặc nhiên liệu carbon thấp đã được phát triển để giải quyết thách thức này. Biden nhận ra rằng cần phải thay đổi và sẽ theo đuổi các biện pháp khuyến khích việc tạo ra nhiên liệu mới, bền vững cho máy bay, cũng như những thay đổi khác đối với công nghệ và tiêu chuẩn máy bay cũng như quản lý không lưu.  4. Đẩy nhanh sự phát triển và triển khai công nghệ hấp thụ carbon. Theo Blue Green Alliance, “thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) là một công nghệ đang phát triển nhanh chóng có tiềm năng tạo ra lợi ích kinh tế cho nhiều ngành công nghiệp đồng thời giảm đáng kể lượng khí thải carbon dioxide” Biden chia sẻ mục tiêu của Liên minh Thu giữ Carbon “biến CCUS trở thành một giải pháp khả dụng rộng rãi, hiệu quả về chi phí và có thể mở rộng nhanh chóng để giảm lượng khí thải carbon nhằm đáp ứng các mục tiêu khí hậu giữa thế kỷ”. Hướng tới mục tiêu này, ông sẽ giảm gấp đôi các khoản đầu tư liên bang và tăng cường các ưu đãi thuế cho CCUS. Đồng thời, để đưa các công nghệ thu giữ carbon mới ra thị trường, Biden sẽ tiếp tục tài trợ cho nghiên cứu, phát triển và trình diễn thu giữ carbon.    Phòng thí nghiệm năng lượng hạt nhân Idaho. Ảnh: INL  5. Xác định tương lai của năng lượng hạt nhân. Trong một phần của kế hoạch của Biden có nhãn ‘Xác định Tương lai của Năng lượng Hạt nhân’, kế hoạch nói rằng người Mỹ “phải xem xét tất cả các công nghệ không carbon và phát thải carbon thấp. Đó là lý do tại sao Biden sẽ hỗ trợ một chương trình nghiên cứu thông qua ẨP-C để xem xét các vấn đề, từ chi phí đến an toàn cho đến hệ thống xử lý chất thải hạt nhân, vẫn là một thách thức liên tục đối với điện hạt nhân ngày nay”.  6. Khuyến khích việc triển khai công nghệ sạch trong toàn bộ nền kinh tế của Mỹ. Tạo ra công nghệ sạch tốt nhất, sáng tạo nhất trên thế giới là chưa đủ. Biden yêu cầu cũng cần đảm bảo rằng công nghệ sạch được sử dụng trong các hộ gia đình và ngành công nghiệp để đạt được mức giảm phát thải mạnh mẽ. Với mục tiêu đó, Biden sẽ khuyến khích triển khai công nghệ sạch theo những cách sau:  – Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của các tòa nhà. Dựa trên những nỗ lực của mình trong Đạo luật Khôi phục, Biden sẽ đặt mục tiêu giảm 50% lượng khí thải carbon trong kho dự trữ xây dựng của Hoa Kỳ vào năm 2035, tạo động lực cho các cải tiến sâu rộng kết hợp điện khí hóa thiết bị, hiệu quả và sản xuất điện sạch tại chỗ. Phải xác định các rào cản để giúp bù đắp chi phí trả trước của việc nâng cấp tòa nhà và đưa ra một chương trình quốc gia nhằm mục tiêu cải tiến hiệu quả năng lượng hợp lý trong các ngôi nhà ở Mỹ. Biden sẽ chỉ đạo Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị Hoa Kỳ làm nhà ở cho các cộng đồng thu nhập thấp hiệu quả hơn. Ông sẽ chỉ đạo Bộ Năng lượng Mỹ nỗ lực gấp đôi để tăng tốc các tiêu chuẩn hiệu quả mới cho các thiết bị và đồ gia dụng. Đồng thời, ông sẽ tu chỉnh và đẩy nhanh quá trình xây dựng quy chuẩn và tạo ra một cơ chế tài trợ mới cho các bang và thành phố áp dụng các quy tắc xây dựng nghiêm ngặt và đào tạo các nhà xây dựng và công tác thanh tra.  – Đẩy nhanh việc triển khai xe điện. Hiện có một triệu xe điện trên đường ở Mỹ. Nhưng rào cản chính để triển khai hơn nữa các phương tiện này là thiếu các trạm sạc và sự phối hợp giữa các cấp chính quyền. Với tư cách là Tổng thống, Biden sẽ làm việc với các thống đốc và thị trưởng của các bang để hỗ trợ việc triển khai hơn 500.000 điểm sạc công cộng mới vào cuối năm 2030. Ngoài ra, Biden sẽ khôi phục toàn bộ quỹ tín dụng thuế xe điện để khuyến khích việc mua những loại xe này. Ông sẽ đảm bảo khoản tín dụng thuế được thiết kế cho những người tiêu dùng thuộc tầng lớp trung lưu và ở mức độ cao nhất có thể, để ưu tiên mua các phương tiện được sản xuất tại Mỹ. Và, ông sẽ làm việc để phát triển một tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu mới vượt xa những gì mà Chính quyền Obama-Biden đưa ra trước đây.  – Trao quyền cho cộng đồng địa phương phát triển các giải pháp giao thông. Các cộng đồng trên khắp đất nước đang có nhu cầu ngày càng tăng về các lựa chọn giao thông thay thế và sạch hơn, bao gồm phương tiện công cộng, đường dành riêng cho xe đạp và người đi bộ cũng như các kết nối chặng đầu tiên và chặng cuối. Biden sẽ thay đổi cách tài trợ cho giao thông vận tải địa phương, cho phép chính quyền tiểu bang và địa phương, tiếp nhận ý kiến đóng góp từ các bên liên quan trong cộng đồng, linh hoạt hơn để sử dụng bất kỳ quỹ giao thông mới nào nhằm xây dựng hệ sinh thái giao thông an toàn hơn, sạch hơn và dễ tiếp cận hơn.  – Hợp tác với nông dân và chủ trang trại để thực hành nông nghiệp tốt hơn và triển khai các thiết bị tiêu hủy tạo ra các nguồn thu nhập mới. Đối với các gia đình nông dân, chủ trang trại và chủ đất, chương trình nghị sự về khí hậu không chỉ là trồng thực phẩm bổ dưỡng và làm cho tất cả các gia đình có thể tiếp cận được, mà còn là việc họ có thể dựa vào nguồn nước để trồng lương thực phẩm. Đó là về các trang trại địa phương và thực phẩm tươi sống cho mọi cộng đồng. Biden sẽ xem xét các rào cản quy định đối với những cải tiến mới và đầu tư vào canh tác thân thiện với khí hậu như các chương trình bảo tồn cây che phủ và các hoạt động thực hành khác nhằm phục hồi đất và đưa carbon vào trong đất, và trong quá trình này, ngăn chặn tình trạng cạn kiệt và giúp nông dân triển khai công nghệ mới nhất để tối đa hóa năng suất. Ông sẽ tạo ra những cơ hội mới để hỗ trợ việc triển khai các thiết bị phân hủy methane nhằm thu lại lượng khí thải mạnh và tạo ra điện. Với những nỗ lực này, nông dân có thể được hưởng lợi và giúp dẫn đầu cuộc Cách mạng Năng lượng Sạch.  – Giảm thiểu tác động khí hậu của sự mở rộng đô thị. Chính sách nhà ở có thể được sử dụng như một công cụ để chống lại biến đổi khí hậu và mở rộng tầng lớp trung lưu. Nhiều người Mỹ có thu nhập thấp và trung bình buộc phải sống xa các trung tâm việc làm do chi phí nhà ở cao, không chỉ dẫn đến việc người lao động bị quá tải do đi lại lâu mà còn dẫn đến lượng khí thải cao hơn liên quan đến giao thông gia tăng và thời gian đi làm kéo dài. Việc thay đổi các quy định của địa phương để loại bỏ tình trạng tràn lan và cho phép xây dựng nhà ở dày đặc hơn, giá cả phải chăng hơn gần phương tiện công cộng sẽ cắt giảm thời gian đi làm của nhiều công nhân trong nước đồng thời giảm lượng khí thải carbon của họ. Điều này có nghĩa là các chiến lược giảm phát thải không chỉ chống lại biến đổi khí hậu mà còn tiết kiệm tiền cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình thường cần hỗ trợ để có đủ vốn đầu tư ban đầu. Chính quyền địa phương và các công ty tiện ích đã tăng cường và giúp các hộ gia đình đầu tư vào việc nâng cấp hiệu quả năng lượng bằng cách đưa ra các kế hoạch tài chính linh hoạt và tín dụng thuế.    – Đưa ra chiến lược quốc gia nhằm phát triển lĩnh vực sản xuất carbon thấp ở mọi bang, tăng tốc các công nghệ tiên tiến và đảm bảo các doanh nghiệp và người lao động tiếp cận với công nghệ và kỹ năng mới, với trọng tâm chính là giúp các nhà sản xuất nhỏ và lớn nâng cấp năng lực của họ để có cả tương lai cạnh tranh và carbon thấp.  7. Chiến lược sẽ kết nối các trường đại học nghiên cứu, trường cao đẳng cộng đồng, cơ sở ươm tạo và cơ sở gia tốc, viện sản xuất và người sử dụng lao động, công đoàn, chính quyền tiểu bang và địa phương – một mình hoặc như một phần của hiệp định khu vực – và cung cấp cho họ nguồn kinh phí đáng kể để triển khai kế hoạch tại chỗ để giúp tiểu bang hoặc khu vực của họ xây dựng một tương lai cạnh tranh và ít carbon trong sản xuất phản ánh tác động khí hậu trong cộng đồng địa phương của họ.  8. Các ngành công nghiệp từ dệt may đến máy công cụ đến chế tạo kim loại với công nghệ sản xuất tiên tiến nhất sẽ đủ điều kiện để được cấp vốn để hiện đại hóa, cạnh tranh, tạo việc làm và chuyển sang tương lai năng lượng sạch. Các khoản trợ cấp và tín dụng thuế được phân bổ sẽ có sẵn cho các doanh nghiệp để nâng cấp thiết bị và quy trình, đầu tư vào các nhà máy mở rộng hoặc mới và triển khai công nghệ carbon thấp, miễn là tất cả các bên liên quan đều là một phần của quá trình xác định lợi nhuận cuối cùng cho việc làm, người lao động, năng lượng sạch và đầu tư cộng đồng dài hạn. Khi các bang cảm thấy áp lực hoặc yêu cầu cạnh tranh để ứng phó với tình trạng khẩn cấp về khí hậu có thể đe dọa nền kinh tế địa phương, chiến lược quốc gia của Biden sẽ tài trợ cho các nỗ lực chuyển sang phương pháp tiếp cận sản xuất carbon thấp hoặc cạnh tranh hơn, có thể phát triển trước các chiến lược kinh tế mới, bao gồm triển khai tài trợ liên bang cho công nghệ hoặc trung tâm đổi mới sản xuất.  Khai thác tiềm năng to lớn để Mỹ dẫn đầu nền kinh tế thế kỷ 21  Joe Biden biết rằng ứng phó tình trạng khẩn cấp về khí hậu cũng mang lại cơ hội. Nếu được thực hiện một cách chiến lược, ứng phó với biến đổi khí hậu có thể tạo ra hơn 10 triệu việc làm được trả lương cao ở Mỹ so với 3 triệu người hiện nay, sẽ phát triển một tầng lớp trung lưu mạnh mẽ hơn, hòa nhập hơn mà các cộng đồng trên khắp đất nước, không chỉ ở các thành phố dọc theo bờ biển.  Mỹ có cơ hội lớn để dẫn đầu trong các ngành công nghiệp của tương lai bằng cách tăng cường các ngành công nghiệp mới nổi trong nông nghiệp, năng lượng sạch và sản xuất tiên tiến. Điều này cũng tạo cơ hội cho Mỹ tạo ra những công việc ổn định, được trả lương cao để thúc đẩy năng lượng sạch ở trong và ngoài nước.  Đó là lý do tại sao Joe Biden sẽ đầu tư lớn nhất trong lịch sử vào sự đổi mới của Mỹ – bao gồm nghiên cứu và đổi mới để mở khóa và triển khai các công nghệ không carbon mới cho tương lai, tạo việc làm ổn định với mức lương cao trên khắp Hoa Kỳ và tận dụng tối đa công nghệ không carbon một cách hiệu quả về chi phí và có thể mở rộng để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nước ta.  Joe Biden tin tưởng đến năm 2030 ông sẽ đưa nước Mỹ trở lại vị trí của người lái xe, đưa Mỹ trở thành nước dẫn đầu thế giới về nghiên cứu, đầu tư, thương mại hóa, sản xuất và xuất khẩu năng lượng sạch.  Nguyễn Thị Thu Hà/VINATOM tổng hợp  Nguồn: https://www.nsenergybusiness.com/features/joe-biden-climate-plan-energy/  https://www.nbcnews.com/science/environment/how-biden-s-climate-plan-makes-clean-energy-2035-very-n1234528  https://joebiden.com/climate-plan/  https://www.forbes.com/sites/jamesconca/2020/08/17/what-will-a-biden-harris-administration-do-for-nuclear-energy/       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải cách khoa học ở Trung Quốc      LTS: Hồ sơ dưới đây của tạp chí khoa học Pháp La Recherche được thực hiện cách đây hơn 10 năm (vào nửa cuối năm 1998). Mặc dầu vậy, những gì diễn ra ở Trung Quốc thời đó có những nét tương đồng với tình trạng khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay, chính vì vậy chúng tôi trích dịch và đăng hồ sơ này với hy vọng chúng ta nhìn lại thực tế diễn ra ở Trung Quốc để chiêm nghiệm và rút ra những bài học kinh nghiệm cho riêng mình.       Từ đầu những năm 1980, trường đại học và các tổ chức khoa học tại Trung Quốc đã ở trong tình thế buộc phải cải cách và chính điều này đã làm thay đổi cục diện trong bức tranh toàn cảnh của khoa học Trung Quốc. Hiện nay, hoạt động của các trường đại học và tổ chức khoa học ở Trung Quốc đang theo mô hình tự chủ (do it yourself) và sử dụng các phương pháp đánh giá dựa theo mô hình anglo-saxon.  Tháng 2/1998 tại Bắc Kinh: Lin Quan, Tổng thư ký Hội đồng Khoa học và Công nghệ Nhà nước Trung Hoa chủ trì một cuộc họp báo. Đây là lần đầu tiên, Trung Quốc công bố danh sách các kết quả khoa học chính của năm trước đó, với những thành tựu khoa học và công nghệ đóng góp cho công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác của đất nước đông dân nhất thế giới này.  Kết quả thu được khá ấn tượng: Năm 1997, cả đất nước Trung Quốc đã có 30.566 khám phá khoa học được ghi nhận, trong đó có 2.727 công trình khoa học cơ bản, 26.244 công trình nghiên cứu ứng dụng và 1.595 công trình trong các lĩnh vực khác. Thống kê của Ủy ban này cho thấy 7.000 chương trình ứng dụng công nghệ chính trong các lĩnh vực khác nhau đã đóng góp 104 tỉ nhân dân tệ vào GDP (tương đương 12,5 tỉ USD) của nước này. Trong số các kết quả đã được dẫn ra, đáng chú ý là việc nghiên cứu đông y nhằm “đưa ra các phương pháp điều trị ung thư và quá trình lão hóa của con người”, và các thử nghiệm lâm sàng cho thấy những nghiên cứu các phương thuốc đông y mới đã tỏ ra rất hiệu quả, trên hơn 85% người thử nghiệm, đối với các bệnh như mất ngủ, hồi hộp và sầu cảm (1).  Tiếng nói của người trong cuộc  Trong một bài viết gây chú ý cả cộng đồng khoa học quốc tế lẫn lãnh đạo nước này, một nhà khoa học hàng đầu của Trung Quốc đã bày tỏ nỗi thất vọng trước thực trạng trong nghiên cứu khoa học cơ bản của nước này (2). Người đó chính là nhà nghiên cứu sinh hóa hai lần được vinh danh trên cộng đồng quốc tế Tsou Chenlu, người đứng đầu Ban Khoa học sự sống của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.          Tư tưởng của Khổng Tử vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống người Trung Quốc        Nhận xét đầu tiên của ông: “Ảnh hưởng của Khổng giáo đã giải thích tại sao Trung Quốc không bao giờ mạnh trong khoa học, đặc biệt trong các ngành khoa học trừu tượng”, Đạo Khổng dạy người ta nghệ thuật định vị chính mình theo thứ bậc xã hội, chứ không phải dạy cách khiến người ta tò mò hoặc sáng tạo. Tsou nhận xét rằng trong số bốn phát minh lớn nhất của Trung Hoa cổ đại như la bàn, thuốc súng, giấy và in (thậm chí cả địa chấn học), tất cả đều chỉ là những sáng chế công nghệ chứ chẳng có phát minh nào giải đáp được các qui luật của thiên nhiên. Khoa học hiện đại chỉ tới Trung Hoa vào giữa thế kỷ 19, dưới sức ép của các họng súng đại bác của Anh. Hơn thế nữa, triều đình nhà Thanh hồi đó chẳng hề chú ý gì tới các thành tựu của công nghệ thế giới vào lúc đó, thí dụ như xe lửa, điện và ô tô.  Nhà sinh hóa tiếp tục cho rằng điều tương tự đang diễn ra đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc thời nay. Trong bối cảnh của giai đoạn Trung Quốc đang tiến nhanh vào nền kinh tế thị trường, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc thường chỉ chú trọng tới công nghệ và với khoa học thực sự chỉ là những lời nói suông. Người ta không nói tới khoa học nữa mà chỉ nói tới “keji”, có nghĩa là “khoa học công nghệ” theo nghĩa tích cực của từ này. Hơn thế nữa, “trong những dịp hiếm hoi mà người ta thấy các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhắc tới cụm từ khoa học – công nghệ, người ta thường thấy các yếu tố “công nghệ” luôn đứng đầu. Ngay trong Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, bộ phận khoa học kỹ thuật vẫn là nơi tập trung nhiều nhà công nghệ nhất (173 trên tổng số 604) và sức mạnh của bộ phận này ngày càng tăng sau mỗi năm. Đấy là chưa kể tới Viện kỹ thuật, nơi có tới 439 thành viên là các nhà công nghệ. Như vậy tổng số các nhà công nghệ đã chiếm đa số áp đảo so với 431 nhà khoa học ở các lĩnh vực khác (trên thực tế thì con số này có thể khác vì có người có thể đồng thời là thành viên của cả hai viện nói trên).  Dựa trên suy luận này, Tsou nhận thấy rằng bộ phận truyền thông của Trung Quốc chuyên theo dõi thời sự khoa học và công nghệ trên thực tế chỉ chú ý tới phần công nghệ mà thôi. Ông cho rằng Quĩ Khoa học tự nhiên Quốc gia (FNCS), được thành lập từ năm 1986 dựa trên mô hình Quĩ Khoa học Quốc gia Mỹ chỉ cung cấp tiền, phần lớn cho các nghiên cứu về ứng dụng mà họ mong muốn. Ông cũng chỉ ra rằng trong lần trao giải thưởng khoa học quốc gia gần nhất vào lúc đó, có tới 478 giải thưởng được trao cho các thành tựu về công nghệ, 100 giải cho các sáng chế và chỉ có 51 giải thưởng cho các nghiên cứu khoa học cơ bản.          Tsou Chenlu, nhà khoa học dũng cảm đã nói lên lo âu của mình trước thực trạng phát triển khoa học và công nghệ ở Trung Quốc        Dựa trên các con số thống kê chính thức, Tsou nhấn mạnh rằng chỉ có 7% các chi tiêu quốc gia cho R&D (nghiên cứu và phát triển) được rót vào các nghiên cứu cơ bản (con số thực tế chỉ vào khoảng 6%), điều này khiến Trung Quốc chỉ nằm ở vị trí 14 trên thế giới nếu tính về số công bố khoa học trong các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín. Và chỉ số trích dẫn các nghiên cứu Trung Quốc thì còn thấp hơn nữa.  Nhà khoa học danh tiếng này cũng cho biết các tài trợ lớn cho khoa học (ngoài FCNS) mà các nhà khoa học và các phòng thí nghiệm nhận thường dựa trên các tiêu chí cố định, chủ yếu là dựa trên các quảng cáo mà các nhà nghiên cứu đăng trên các tờ báo lớn. Nhưng rất ít các nhà khoa học Trung Quốc hiểu được luật chơi quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và rất nhiều nhà khoa học Trung Quốc có trình độ tiếng Anh kém khiến họ khó có thể tham gia hiệu quả vào sân chơi khoa học của thế giới.  Ông cũng nhận ra rằng sự gia tăng của thói sính bằng cấp và sự lên ngôi của các ngụy tạo trong khoa học (fausses sciences), cùng với nạn chảy máu chất xám đã khiến các viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và các trường đại học ở Trung Quốc mất đi những cán bộ xuất sắc nhất. “Từ khi Trung Quốc mở cửa ra bên ngoài (dưới thời của Đặng Tiểu Bình, sau năm 1978), tôi đã hướng dẫn và nằm trong hội đồng xét duyệt cho khoảng 50 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Tất cả trong số này đã đi nước ngoài học tiếp sau khi đỗ tiến sĩ và chỉ có 4 người trở về nước”. Ông còn cho rằng tới một nửa số sinh viên của các trường đại học tốt nhất ở Trung Quốc đã đi nước ngoài, thậm chí họ đi ngay trước khi họ nhận bằng đại học.  Ưu tiên phát triển CN  Sự lựa chọn ưu tiên cho công nghệ trên thực tế đã xuất hiện ở khắp các diễn văn chính thức. Cuốn “sách trắng” đầu tiên về “khoa học và công nghệ” được xuất bản ngày 7/4/1998 bởi Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đưa ra các mục tiêu cho các nhà nghiên cứu là thúc đẩy tiến bộ nông nghiệp và công nghiệp trong mọi lĩnh vực. Cái từ “công nghệ” đã xuất hiện ở khắp mọi nơi, mọi văn bản, kể cả ở dòng đề tựa trên cuốn sách trắng của bà Bộ trưởng mới nhậm chức lúc đó Zhu Lilan, vốn là nhà hóa học chuyên nghiên cứu polymer và là vị phó của người tiền nhiệm. Trong chuyến thăm Paris vào lúc đó, vị tân Chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc Lu Yongxiang (56 tuổi) trong các bài phát biểu của mình đã tập trung chủ yếu vào các thành tựu kinh tế và xã hội, phù hợp với các công nghệ mới của thế kỷ 21. Bản thân vị chủ tịch này cũng là một tiến sĩ công nghệ, được đào tạo tại Đức. Cũng như bà Zhu, ông là vị phó của người tiền nhiệm.   Mặc dầu có sự tăng trưởng kinh tế rất nhanh trong vòng 20 năm liền (với mức trung bình 9,8% kể từ cuộc khủng hoảng châu Á 1978) và có thành phố Thượng Hải hiện đại như một thành phố lớn của Mỹ, các nhà lãnh đạo của đất nước đông dân nhất thế giới vẫn coi nước này là một quốc gia đang phát triển. Theo các con số thống kê, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng tới 20% tổng sản phẩm quốc nội, dịch vụ chiếm 30% (so với các con số 2% và 70% ở Pháp). Song Jian, người tiền nhiệm của bà Zhu Lilan luôn nhấn mạnh rằng vấn đề dân số luôn là mối bận tâm lớn nhất của các nhà lãnh đạo khoa học. Với tỉ lệ sinh ở mức 1,8, dân số Trung Quốc được ước tính là sẽ tăng lên 1,5 đến 1,6 tỉ vào năm 2030. Nông nghiệp, sức khỏe và năng lượng do vậy là những ưu tiên lớn nhất và nếu “khoa học không phải là động lực hàng đầu thì nó khó có thể nói là khởi nguồn của việc phát triển các ngành công nghệ cao”, Song Jian nói. Bản thân Viện Hàn lâm Khoa học, trong bản kê tài chính của mình cũng không giấu giếm rằng chi tiêu trong cái gọi là khoa học ứng dụng đã lớn gấp 2 lần, thậm chí 3 lần nếu tính cả các “chi phí thực nghiệm”, các “ứng dụng kết quả R&D”…          Lựa chọn học tập ở nước ngoài là mong muốn của rất nhiều sinh viên Trung Quốc, nhưng câu hỏi sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài là: về nước hay không?          Người ta sẽ khó có thể hiểu được tình trạng hiện nay (của khoa học Trung Quốc) nếu không biết đến các quan niệm cơ bản, cũng như các đường lối chính trong chính sách của đất nước này, những chính sách đã tạo ra khuôn khổ pháp lý và đưa ra lối tư duy mới. Sau khi chế độ Mãn Thanh sụp đổ vào năm 1911, khoa học hầu như không có sự hiện diện ở đất nước này. Phải đợi tới năm 1920 thì những cơ quan, đơn vị nghiên cứu đầu tiên mới xuất hiện và nằm trong các trường đại học (Đại học Bắc Kinh ra đời năm 1898, Đại học Nam Kinh ra đời năm 1902 và Đại học Phục Đán ở Thượng Hải ra đời năm 1905), trước khi hình thành Viện Hàn lâm Khoa học vào năm 1928.  Nhưng cuộc nội chiến, rồi chiến tranh với Nhật Bản đã dẫn tới cuộc cách mạng của Mao Trạch Đông, khi đó khoa học phương Tây bắt đầu bùng nổ ở đất nước rộng lớn này nhưng các kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.  Lúc đầu, mô hình Liên Xô được áp dụng, Viện Hàn lâm Khoa học trở thành một phiên bản của Viện Hàn lâm Xô Viết, bao gồm các viện nghiên cứu trong đủ mọi lĩnh vực khoa học. Một loạt các viện công nghệ ứng dụng ra đời dưới dự bảo trợ của các Bộ quản lý kỹ thuật. Các kế hoạch 12 năm ra đời và song song với đó là sự xuất hiện của một tổ hợp công nghiệp quân sự, rồi sự xuất hiện một hệ thống kinh tế tự cung tự cấp theo kiểu Xô Viết, vừa bí hiểm, vừa hiệu quả. Nhờ hai nhà khoa học Trung Quốc tới Mỹ học tập và trở về nước vào giữa những năm 1950, Trung Quốc đã thử quả bom khinh khí đầu tiên vào 8 năm sau đó, sau khi tự vận hành được tổ máy hạt nhân đầu tiên. Các tên lửa chiến lược cũng như hỏa tiễn Trường Chinh và ngành công nghiệp vệ tinh ra đời từ tổ hợp quân sự công nghiệp này, và giờ đang ở thời kỳ bùng nổ.  Mối bất hòa với Liên Xô bắt đầu vào năm 1960 khi tất cả các chuyên gia và nhà công nghệ Xô Viết, kể cả ở các dự án xây dựng nhà máy đang tiến hành, rút về nước. Chỉ còn một mình, Trung Quốc bắt đầu áp dụng khẩu hiệu “dựa trên sức mình” và đầu tư ồ ạt trong nghiên cứu. Vào khoảng năm 1965, Phương Tây nhận thấy rằng một số tinh hoa trong khoa học Trung Quốc bắt đầu tiếp cận tới trình độ tiên tiến của quốc tế, trong một số lĩnh vực (3). Rồi diễn ra cuộc Cách mạng văn hóa, một cuộc cách mạng mà các nhà lãnh đạo đã chuẩn bị từ trước đó và để được tiến hành cũng mất khoảng thời gian tới 10 năm. Các nhà khoa học Trung Quốc thường buộc phải rời phòng thí nghiệm và biến thành những công nhân. Các viện nghiên cứu được đặt dưới sự kiểm soát của các Ủy ban cách mạng. Ngay cả việc công bố các bài báo khoa học cũng phải dừng lại. Các trường đại học ở trong tình trạng cô lập trong suốt 4 năm trời. Nghiên cứu khoa học được bắt đầu trở lại vào năm 1971 nhưng giới hạn trong các đề tài ứng dụng và bị kiểm soát về mặt chính trị. Phải đợi đến năm 1976, với việc bắt giữ “bè lũ 4 tên”, thì công việc nghiên cứu khoa học mới có thể bắt đầu hoạt động bình thường trở lại. Nhưng lúc này, tuổi của các nhà khoa học đầu ngành đã rất cao, và Trung Quốc đã phải mất đến cả thập kỷ thiếu những nhà khoa học đầu ngành.   Những điều đang diễn ra, trong lĩnh vực khoa học cũng như các lĩnh vực khác là sự tiếp nối đường lối chính trị mà lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đã đề xướng ra từ năm 1978. Vị lãnh tụ tối cao này đã chọn khoa học và công nghệ như một trong các lĩnh vực phát triển của chủ thuyết “bốn hiện đại hóa”. Câu nói bất hủ của nhà lãnh đạo tài ba này là: “Không quan trọng là mèo trắng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột”. Hành động tức thời đã đem lại hiệu quả: một phần tư GDP của Trung Quốc được thực hiện bởi các công ty tư nhân. Sự năng động trong kinh tế đã làm lộ bộ mặt thật của một khu vực Nhà nước đầy nợ nần với hơn một nửa trong số 3.000 công ty Nhà nước luôn thông báo lỗ. Thời buổi kim tiền, trong các chiến dịch tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gương mặt chủ các doanh nghiệp được thay thế bằng các anh hùng lao động trong những năm 1960. Tầng lớp trung lưu bắt đầu xuất hiện với khả năng mua các ô tô đắt tiền đến từ Phương Tây và cả các trang sức quí giá khác. Họ cũng gửi con cái của mình ở các trường học tư, đi nghỉ đông ở Thái Lan. Điện thoại di động xuất hiện ở khắp nơi. Trung Quốc trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới của thứ đồ chơi công nghệ cao được làm từ Phương Tây và Nhật Bản này (4).  Bức tranh kinh tế-xã hội lúc này ở Trung Quốc nhìn khá thú vị: một bên là “một nước đang phát triển” với lối quản lý theo kiểu Xô Viết và bên kia là một đất nước năng động một cách khó tin đang dò dẫm tiến lên trên các hệ thống giá trị cũ kỹ được giới chính trị ủng hộ.  Trong quá trình tự chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, Trung Quốc đã sống hơn 20 năm trong một cuộc cải cách liên tục, trong đó câu khẩu hiệu được sử dụng nhiều nhất là “hãy tự mình làm” (do it yourself), mang đầy hơi hướng Mỹ. Đó cũng chính là điều mà nhà sinh hóa Tsou Chenlu lên án, bởi ông đã thấy mô hình Viện Hàn lâm Khoa học mà mình đã tin tưởng đang sụp đổ dưới chân mình.  Cạnh tranh, tất cả đều cạnh tranh  Trở lại một chút từ căn nguyên: sinh viên. Hệ thống tuyển sinh đầu vào cũ kỹ theo lối xã hội chủ nghĩa dựa trên các kỳ thi tuyển đại học áp dụng cho rất cả các khóa học đại học cũng như các trường đại học. Hệ thống này được hình thành từ năm 1955 rồi bị bãi bỏ trong Cách mạng văn hóa, nhưng rồi lại được khôi phục lại và lần này nằm trong khuôn khổ của một nền kinh tế đang chuyển sang “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tất cả trẻ em được đến trường cấp 1, nhưng chỉ có khoảng 86% học sinh được học tiếp cấp 2, 46% trong số đó được lên cấp 3 và chỉ có 4,5% số học sinh trung học được vào đại học (5).   Trong suốt ba ngày cực kỳ nóng nực của “tháng bảy đen tối”, các học sinh tốt nghiệp trung học tham gia kỳ thi vào đại học. Đây quả là một kỳ thi cực kỳ khó khăn bởi tính cạnh tranh rất cao. Những học sinh giỏi nhất được vào các trường đại học danh tiếng nhất, như Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa ở Bắc Kinh, Đại học Phục Đán ở Thượng Hải, Đại học Nam Kinh hay vào Đại học Khoa học và Công Nghệ Trung Quốc (UCST) ở Hợp Phì, An Huy (trường đại học duy nhất thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc). Và sự cạnh tranh tiếp tục diễn ra ở trong các viện nghiên cứu Nhà nước. Một cuộc cải cách kép quan trọng đã diễn ra trong những năm 1984-1985. Một mặt từ các trường đại học, nơi vốn có nhiệm vụ chính là đào tạo sinh viên giờ cạnh tranh với nhau để có được các phương tiện phát triển các cơ sở nghiên cứu vốn ít ỏi của mình, hoặc xây dựng thêm các cơ sở nghiên cứu mới. Mặt khác là quyết định cải tổ các cơ sở giáo dục theo mô hình Mỹ. Tức là: tài trợ của Nhà nước cho các nghiên cứu khoa học dựa trên hiệu quả hoạt động thực sự của các cơ sở nghiên cứu, dù thuộc Viện Hàn lâm hay các trường đại học. Điều này tạo ra một cuộc cạnh tranh ác liệt giữa các phòng thí nghiệm thuộc hệ thống của Viện Hàn lâm Khoa học cũng như của các trường đại học.          Đại học Phục Đán ở Thượng Hải, một trong những trường đại học tên tuổi tại Trung Quốc          Việc đặt các cơ sở nghiên cứu trong tình trạng cạnh tranh theo cơ chế thị trường đã khiến người ta buộc phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác ngoài việc bám vào “bầu sữa” của Nhà nước. Ngay từ đầu những năm 1980, rất nhiều viện nghiên cứu cũng như các trường đại học đã được khuyến khích để tạo ra các doanh nghiệp trực thuộc, dù chúng có là doanh nghiệp công nghệ cao hay không. Những doanh nghiệp này sinh sôi nảy nở và chẳng bao lâu sau đó có hoạt động cực kỳ độc lập, dù chúng vẫn thuộc các cơ sở nghiên cứu của Nhà nước. 125 viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã sản sinh ra 400 doanh nghiệp. Năm 1996, những doanh nghiệp này tạo ra thu nhập khoảng 265 triệu nhân dân tệ. Còn các doanh nghiệp trực thuộc các trường đại học cũng đạt một doanh số vào năm 1997 là 6,2 tỉ nhân dân tệ.   Riêng nhóm công nghiệp Founder đã có thu nhập lên tới 20 triệu nhân dân tệ và công ty chính của nhóm này là Công ty sinh học Weiming Biotech thì kiếm được tới 3 triệu nhân dân tệ. Còn ở Thượng Hải, thủ đô kinh tế của Trung Quốc, người ta thống kê được khoảng 700 doanh nghiệp khoa học kiểu này vào năm 1992.  Được tạo ra chủ yếu bởi các giáo viên và nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp này thường có nhiều nhiệm vụ (rất nhiều doanh nghiệp trong số đó bị lỗ), nhưng một số nhiệm vụ họ cũng đã đạt được: đó là khuyến khích các nhà khoa học nghĩ tới việc “ứng dụng” và sử dụng tiềm năng khoa học để tạo ra một lĩnh vực công nghệ cao độc lập với các công ty Nhà nước lớn, giúp giảm bớt áp lực của ngân sách Nhà nước, tạo ra công ăn việc làm cũng như thu nhập phụ cho các nhà khoa học, đem lại nguồn thu cho các viện nghiên cứu và các trường đại học. Khởi đầu của trò chơi là ý tưởng tạo ra các công ty spin-off để chúng có thể tự bay bằng đôi cánh của mình, có thể dưới hình thức cổ phần. Rất nhiều doanh nghiệp trong số này hiện đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.           Ngày càng có nhiều phòng thí nghiệm được xây dựng mới và mở cửa tại Trung Quốc chứng tỏ nước này quan tâm và đầu tư ngày càng nhiều cho KH&CN          Ít nhiều, toàn bộ những cải cách này chắc chắn đã đóng góp vào tốc độ tăng trưởng phi mã của nền kinh tế Trung Quốc. Chúng cũng dẫn tới việc cải thiện về chiều sâu chức năng hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và các trường đại học.  Câu hỏi hiện nay là xem liệu khoa học Trung Quốc nhìn trên tổng thể đang ở tình trạng khá hay kém. Điều dễ nhận thấy là sự lo ngại mà Tsou bày tỏ trong bài báo của mình trên tờ Science lại là điều khá phổ biến trong môi trường khoa học cấp cao(6,7). Thậm chí các lãnh đạo ở tầm cao nhất cũng cảm thấy điều này. Tân Thủ tướng Chu Dung Cơ lúc đó cũng đã bày tỏ sự quan tâm tới vấn đề này. Trong buổi họp báo đầu tiên của mình, ông tuyên bố rằng bản thân ông sẽ đứng đầu một Ủy ban khoa học, công nghệ và giáo dục nằm trong Hội đồng Nhà nước nhằm tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách.  Ông khẳng định quyết tâm của mình trước khi được bổ nhiệm là sẽ đưa ra một kế hoạch trợ giúp cho các nghiên cứu cơ bản, trị giá chừng 2,5 tỉ nhân dân tệ trong thời gian 5 năm.   Nhưng những người tiền nhiệm của ông và kể cả Chủ tịch Giang Trạch Dân trong quá khứ cũng đã nhiều lần có những phát biểu và cam kết như vậy. Nhưng vẫn cần phải có sự trợ giúp nào đó của vận động hành lang, dù chi phí ở nơi này không quá đắt như các nơi khác. “Việc tồn tại các tranh luận là điều đương nhiên”, Chen Zhangliang, vị Phó Chủ tịch trẻ đầy sáng lạn của Đại học Bắc Kinh nói. Ông cũng đồng thời là người tham gia rất tích cực vào Công ty Weiming Biotech, nơi ông là một trong những thành viên sáng lập và quản lý Phòng thí nghiệm quốc gia, một phòng thí nghiệm lớn về protein và gene thực vật. “Các phòng thí nghiệm cần có những thiết bị và điều kiện tốt để nghiên cứu. Ngân sách của trường Đại học Bắc Kinh trong những năm vừa qua cũng đã được tăng lên. Hiện vào khoảng 120 triệu nhân dân tệ. Khoản tiền này là tương đối, nhưng không phải là quá nhiều”, ông nói. Đối với Chen Zhangliang, ông rất tin vào đội ngũ làm việc hiệu quả và năng động của mình, những người vừa có thể tạo ra các doanh nghiệp, đàm phán các hợp đồng với lãnh đạo quốc gia và địa phương, tìm kiếm tài trợ từ các quĩ của Trung Quốc cũng như nước ngoài, thậm chí thu hút sự chú ý của các tập đoàn đa quốc gia (thí dụ như Monsanto). Cùng lúc, họ cũng có thể kêu gọi, tập hợp được các nhà nghiên cứu xuất sắc nhất, có khả năng đảm nhiệm được những nghiên cứu khoa học có chất lượng.  Nhưng trường hợp này liệu có là phổ biến? Một nhóm nghiên cứu có thể nói là đứng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, nếu tính về chỉ số trích dẫn khoa học, đó là Phòng thí nghiệm các cấu trúc vi mô các chất rắn của Đại học Nam Kinh đã làm được những điều thần kỳ, nhưng lại sống trong sự nghèo khó. Ở Thượng Hải, một viện nghiên cứu ít nổi tiếng hơn-Viện Huyết học thuộc Đại học Y số 2 đã có những thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học và có thể sống được nhờ vào các nguồn thu. Nhưng đây cũng chỉ là một trường hợp ngoại lệ và đến nay, chất lượng nghiên cứu ở đây đang bị đe dọa đi xuống.  Hiệu quả trong khoa học  Để đánh giá mức độ hiệu quả và sức khỏe của một hệ thống nghiên cứu, cần tính đến 3 tiêu chí: các kết quả thu được, khả năng tài chính có sẵn và khả năng thu hút cũng như giữ chân các nhà khoa học trẻ xuất sắc. Có ba vấn đề nóng bỏng hiện đang xảy ra ở Trung Quốc.  Điểm thứ nhất: sự yếu kém trong sản lượng khoa học. Ngược lại với những điều mà nhà sinh hóa Tsou đã miêu tả, phần lớn các bài báo đến từ Trung Quốc trong các công bố quốc tế có chất lượng đã tăng lên khá nhiều trong 10 năm vừa qua. Theo Cơ quan theo dõi khoa học và kỹ thuật Pháp (OST), nơi tiến hành công việc đánh giá các nghiên cứu khoa học, số lượng các công bố đáng được kể tới của Trung Quốc đã tăng từ mức 2.500 lên tới 6.600 từ năm 1987 đến 1995. Điều này giúp nước này đóng góp từ mức 0,6% lên 1,3% tổng số các công trình khoa học có chất lượng của toàn thế giới(8). Tuy nhiên, sự tương phản là điều dễ nhận thấy nếu đi từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Theo các dữ liệu của OST, người Trung Quốc rất giỏi trong lĩnh vực vật lý (chiếm 3,6% trong tổng số các công bố khoa học của thế giới) và toán học. Điều này có vẻ trái ngược với nhận định của Tsou rằng người Trung Quốc không có năng khiếu đối với các ngành khoa học trừu tượng. Tuy vậy, Trung Quốc lại rất yếu trong các nghiên cứu sinh học cơ bản cũng như nghiên cứu y tế (chỉ chiếm 0,3%). Những dữ liệu quan trọng khác, cũng từ nguồn OST cho thấy một số thụt lùi trong nghiên cứu Trung Quốc nếu so sánh với thế giới trong giai đoạn 1987 đến 1995, thí dụ như miễn dịch học, khoa học trái đất-biển-khí quyển. Một sự tụt lùi mới đây (giai đoạn 1990-1995) của khoa học Trung Quốc là do các tốc độ phát triển trên thế giới quá nhanh, thí dụ như trong các lĩnh vực nghiên cứu ung thư, khoa học thần kinh và sinh học nói chung… Trên tổng thể thì đúng là Tsou có lý: Trung Quốc đóng góp cho khoa học thế giới kém hơn Ấn Độ, một nước có các điều kiện tương đồng về vị trí địa lý và dân số (chiếm 2,1% tổng công bố các công trình khoa học thế giới).          Một giáo sư Trung Quốc đang giới thiệu kết quả nghiên cứu giống lúa được thực hiện tại phòng thí nghiệm của mình          Sự khác biệt này còn lớn hơn đối với Trung Quốc nếu người ta so sánh về sản lượng khoa học với Tổng thu nhập quốc dân: nếu với thang điểm 100, Trung Quốc đạt mức 11 trong khi Ấn Độ ở mức 57(9). Điều này chứng tỏ rằng dường như ít nhất các nhà khoa học Trung Quốc đã yếu thế hơn các đồng nghiệp Ấn Độ của mình trong lĩnh vực ngôn ngữ và văn hóa. Nếu tính mức độ ảnh hưởng (lượng trích dẫn trung bình trong vòng hai năm đối với mỗi công bố khoa học), Trung Quốc và Ấn Độ may thay ở mức tương đương với nhau, khoảng 0,3 vào năm 1995, so với mức 0,9 của Pháp và 1,4 của Mỹ.  Như vậy, sức mạnh đặc thù trong sản lượng khoa học của Trung Quốc cũng đang gia tăng, nhưng ở một mức độ thấp. Thế còn lượng tiền đầu tư cho cộng đồng khoa học? Trên bình diện quốc tế, mặc dù có mức tụt lùi vào những năm 1993 và 1994, chi tiêu quốc gia cho các hoạt động R&D (kể cả chi của doanh nghiệp và Nhà nước) đã có mức gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Nhưng như điều các nhà lãnh đạo khoa học Trung Quốc nhấn mạnh, mức tăng này không nhanh bằng mức tăng của Tổng sản lượng quốc dân. Nếu như phần R&D trong GDP đã giảm từ 1,4% của năm 1985 còn 0,7% vào năm 1990 và 0,5% vào năm 1996, thì mục tiêu chính thức, được đưa ra vào năm 1995 là đạt mức chi cho khoa học khoảng 1,5% GDP vào năm 2000 có vẻ là một điều nhảm nhí.  Nhất là, trừ các trường hợp ngoại lệ khác, thì mức tăng này dường như chẳng liên quan tới các khoản tài trợ cho các nghiên cứu khoa học công ở mức độ cao. Phần nghiên cứu cơ bản trong các chi tiêu R&D chiếm khoảng 6%, theo đánh giá của người Trung Quốc (dữ liệu năm 1996). Các nhà khoa học Trung Quốc mà chúng tôi gặp, những người sử dụng phần nhiều trong số các tài trợ này thì cho rằng con số đó là còn quá ít ỏi.   Điều thú vị là trong cuộc họp báo đầu tiên của mình, Thủ tướng Chu Dung Cơ cho rằng định nghĩa về nghiên cứu cơ bản ở Trung Quốc là điều ít tranh cãi. Quĩ Khoa học Quốc gia Trung Quốc định nghĩa khoa học cơ bản là “nghiên cứu khoa học thuần túy”, chủ yếu là để thỏa mãn khát khao đào sâu kiến thức và “không đóng góp trực tiếp vào các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia” (10).           Đối với nhà khoa học trẻ, làm việc tại các doanh nghiệp đảm bảo một nguồn thu nhập cao hơn so với các công việc nghiên cứu thuần túy          Nhưng ngay trong văn bản đó cũng có đề cập tới một số đề tài nghiên cứu cơ bản “nhằm phục vụ các mục tiêu quốc gia” và cần “gắn các đề tài nghiên cứu này với hoạt động của các doanh nghiệp. Zhang Cunhao, Chủ tịch của FNCS thừa nhận rằng chưa tới 30% số tiền mà tổ chức này cấp phát được đưa tới cho các nghiên cứu “thực sự cơ bản”. Phần còn lại, theo ông là tài trợ cho các nghiên cứu “cơ bản có tính ứng dụng”.  Nhưng trong cái “nghiên cứu cơ bản có tính ứng dụng” này, FNCS tính cả các tài trợ cho nghiên cứu để xây dựng đập Tam Hiệp cũng như các công trình nghiên cứu về nano các bon, công bố trên tờ Science. FNCS cũng tài trợ các đề tài nghiên cứu công nghiệp, cùng với các tập đoàn nước ngoài (có thỏa thuận với Ford và General Motors). Như vậy, ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là khá mờ nhạt và tỉ lệ 6% hay 7% cho đối tượng nghiên cứu này cần phải xem xét lại.  Nhưng người ta có thể tìm thấy con số tương tự như vậy bằng một cách khác. Zhou Guangzhao, vị Chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học cho tới năm 1997 cho chúng tôi biết rằng ngân sách của viện (3,2 tỉ nhân dân tệ vào năm 1996, cho cả nghiên cứu ứng dụng và phát triển) chỉ gần bằng ngân sách nghiên cứu của một trường đại học lớn của Mỹ. Điều này chính xác bởi tổng ngân sách của Đại học Harvard lúc đó vào khoảng 1,5 tỉ USD trong đó ¼ chi cho nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, nếu người ta thêm vào đó ngân sách nghiên cứu khoa học ở mức độ tương tự của 36 trường “đại học trọng điểm” của Trung Quốc, người ta sẽ có một con số cỡ 6 tỉ nhân dân tệ, tức là khoảng 1/3 ngân sách của Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp vào lúc đó.  Nếu người ta tính rằng khoảng 1/3 trong số 6 tỉ nhân dân tệ nói trên thực sự được dành cho các nghiên cứu khoa học có các kết quả công bố quốc tế, thì mức 2 tỉ nhân dân tệ đó cũng chiếm khoảng 6% chi tiêu quốc gia cho R&D.  Thực sự, đó là con số ít ỏi. Chính vì vậy mà phần lớn các phòng thí nghiệm, ngay cả các phòng thí nghiệm được đầu tư nhiều nhất cũng thiếu tiền một cách trầm trọng. Chính vì vậy người ta thấy một tình cảnh chung ở khắp nơi: có viện nghiên cứu bán một tòa nhà trong số cơ sở hạ tầng của mình cho các tập đoàn đa quốc gia, có viện thì cho thuê căng tin để người ta làm nhà hàng. Người ta có thể đưa ra lý do vì thu nhập cơ bản của các nhà nghiên cứu thấp, khó mà so sánh được ở bình diện quốc tế. Nhưng cần phải nhớ là 2/3 các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu phải trả bằng ngoại tệ còn thu nhập thì ngược lại. Và vấn đề thu nhập là con dao hai lưỡi. Nó dẫn tới câu chuyện cực kỳ nhạy cảm mà Tsou Chenlu đã đề cập đến: nạn chảy máu chất xám.  Trở về hay không?  Từ khi mở cửa vào năm 1978, rồi thực sự cởi mở vào từ năm 1985, đã có 290.000 sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học tập và chỉ có 90.000 người trở về nước, bà Yu Wei, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trung Quốc cho biết. Phần lớn trong số sinh viên này (246.000 người) thuộc diện du học tự túc, tức là không dính líu gì đến tài trợ của Nhà nước. “Chúng tôi để họ tự do đi học, với chính sách mở cửa và hy vọng họ sẽ trở về vào một ngày nào đó”, vị Bộ trưởng đồng thời là Viện sĩ Hàn lâm này cho biết. Những ràng buộc chỉ có đối với các sinh viên đi học theo diện tài trợ bởi ngân sách Nhà nước. Những người này buộc phải về nước làm việc trong thời gian chừng khoảng 2 năm, thời gian đủ để trả lại phần tài chính tài trợ cho học bổng của họ. Tuy vậy, cũng chỉ có khoảng 35.000 sinh viên trên tổng số 44.000 người trong diện này trở lại Trung Quốc.  “Vấn đề làm làm thế nào để giữ chân hoặc thu hút các nhà khoa học giỏi nhất của chúng tôi về nước”, bà Yu Wei nói. Trên thực tế thì họ đã làm gì? Chỉ riêng ở Mỹ cho tới năm 1998 đã có 42.500 sinh viên Trung Quốc đến học tập. Một số lượng lớn chỉ đứng sau sinh viên Nhật Bản. Đội ngũ nhân viên gốc Trung Quốc tại các trường đại học có tới 9.200 người. Đây là con số khá ấn tượng bởi nó tương đương với 1/3 số người của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Nếu tính cả con số người Trung Quốc làm việc trong môi trường khoa học ở Canada, châu Âu, Singapore và Nhật Bản…, con số cuối cùng có lẽ chiếm một nửa số người làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.  Điều quan trọng là những sinh viên tốt nhất thì ra nước ngoài học, và số xuất sắc nhất trong những sinh viên này thì ở lại nước ngoài. “Phân nửa số sinh viên của chúng tôi đi nước ngoài sau khi hoàn thành việc học cử nhân hoặc cao học”, Wang Yiping, Phó Chủ tịch Trường Khoa học sự sống của Đại học Bắc Kinh nói. Đây là một trong những chiếc nôi của ngành sinh học Trung Quốc. “Tôi chẳng thấy họ trở về”, ông nói. Bản thân ông thì lại là một ngoại lệ. Ông đã đi trở về từ Pháp vào năm 1994, sau khi làm nghiên cứu ở Viện Pasteur và học tiến sĩ ở Ireland. “Trong ba năm 1995, 1996 và 1997, chẳng có người nào trở về cả”, ông nói. Điều tương tự cũng được chúng tôi nhận thấy ở hầu hết các phòng thí nghiệm trọng điểm mà chúng tôi ghé qua, dù chúng có ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. “Phần lớn những người ưu tú nhất đã ra đi”, Liu Zhongfan, vị Giám đốc 36 tuổi của Trung tâm nghiên cứu các vật liệu thông minh thuộc Đại học Bắc Kinh nói. Nhà khoa học này cũng lại là một trường hợp ngoại lệ. Được đào tạo vật lý và hóa học, chuyên gia về vật liệu nano đã nhận bằng tiến sĩ ở Tokyo. “1/3 trong số 40 người ưu tú nhất trong số 120 người nhận bằng hằng năm tới Mỹ. Đó hầu hết là những người nhận bằng cao học hoặc tiến sĩ”, ông cho biết.  Trở về hay không? Đó là câu hỏi của hầu hết mọi người. Và đây là ý kiến của Liu Zhongfan: “Chúng tôi đang ở trong tình huống mà Đài Loan đã từng gặp cách đây 20 năm. Trong vòng 20 năm tới, mức sống cũng sẽ tương tự dù có ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Đài Loan đi nữa. Lúc đó, các nhà khoa học sẽ trở về”. Li Xing thuộc Trường đại học danh tiếng Thanh Hoa ở Bắc Kinh cũng có ý kiến tương tự. Li đã trở về từ Mỹ, nơi ông đã làm việc trong vòng 8 năm để xây dựng Cernet, mạng lưới thông tin Internet kết nối toàn bộ hệ thống nghiên cứu và giáo dục của Trung Quốc. “Anh thấy ví dụ Đài Loan đấy, thế hệ các nhà khoa học kế tiếp sẽ trở về Trung Quốc để nuôi dạy lũ trẻ ở đại lục mà thôi”, Li nói.  Trước tiên, chất xám không chỉ chảy ra nước ngoài, mà còn từ các cơ sở hàn lâm chảy sang các doanh nghiệp, từ các thành phố bên trong lục địa chảy ra các thành phố ven biển. Một bên là tiếng gọi từ phía nước ngoài, còn bên kia là tiếng gọi từ thị trường. Đơn giản bởi người ta có thể có thu nhập gấp 10 lần hoặc hơn thế nữa nếu làm việc tại Columbia, ở New York hay một đại học của Singapore. Người ta cũng có thể kiếm được nhiều tiền bằng cách làm kinh doanh ở Trung Quốc. Các sinh viên xuất sắc trong khoa học bị cuốn hút bởi các doanh nghiệp lớn, không chỉ bởi các công việc phát triển công nghệ, mà còn bởi các vị trí khác như marketing hay quản lý. Đôi khi tại một công ty chẳng liên quan gì tới các công việc R&D. Lương của các cán bộ khoa học thì khác nhau ở các cơ sở nghiên cứu Nhà nước khác nhau, nhưng mức thu nhập chung trong các cơ sở đào tạo đại học vào khoảng 600 nhân dân tệ/tháng, kém hơn cả mức lương trung bình của một công nhân ở Bắc Kinh, cỡ 1000 nhân dân tệ. Còn lương bình quân của một giáo sư đại học vào khoảng 1.500 nhân dân tệ.  Ở đây, sự so sánh có vẻ khập khiễng bởi hầu hết cán bộ Nhà nước đều được hưởng một căn nhà hầu như miễn phí (tất nhiên thường phải trả giá cao nếu không muốn phải chờ đợi), được cơ quan trả các khoản bảo hiểm xã hội và được hưởng lương hưu khi về già. Nhưng lương trung bình của một nhà quản lý trong công ty ở mức 5.000 nhân dân tệ. “Một doanh nghiệp có thể trả mức lương cao gấp 3 đến 4 lần mức lương của một giáo sư đại học”, Chen Zhangliang nói. “Tất nhiên, họ không được hưởng các trợ cấp bảo hiểm xã hội”. Người Trung Quốc gọi việc ra ngoài làm là “nhảy ra biển”. Trên thực tế thì vấn đề phức tạp hơn nhiều bởi nhiều doanh nghiệp cũng đưa ra các mức trợ cấp xã hội ở mức rất cạnh tranh và đóng bảo hiểm hưu cho người lao động.  Nhờ được hưởng qui chế tự chủ ngày càng lớn, được mời gọi bất cứ nguồn tài trợ nào, các trường đại học và cơ sở nghiên cứu giờ có thể giữ hoặc mời gọi các nhà nghiên cứu có chất lượng bằng cách hứa các mức lương cao hơn mức trung bình hoặc áp dụng các cơ chế thưởng. Trong một số trường hợp, một nhà khoa học làm việc trong một cơ sở nghiên cứu công có thể có mức thu nhập bằng một giám đốc doanh nghiệp. Con số có lẽ lớn hơn nếu mức thu nhập của họ vào khoảng 3.500 nhân dân tệ, chưa tính các khoản trợ cấp xã hội. Phần lớn các nhà nghiên cứu xuất sắc mà chúng tôi đã gặp, với chức danh giáo sư của mình có thể kiếm được mức thu nhập vào khoảng 2.000-3.000 nhân dân tệ/tháng (tính cả tiền thưởng). Đây là mức lương tương đương với một người trẻ tuổi bắt đầu làm việc tại các doanh nghiệp. “Một thanh niên mới ra trường làm việc tại một công ty thương mại hoặc một ngân hàng có thể có mức thu nhập nhiều hơn một giáo sư đại học”, nhà vật lý thiên văn trẻ tuổi Cui Xiangqun, người đứng đầu một dự án lớn về xây dựng kính thiên văn Lamost ở Nam Kinh nói.    Cui cũng là một nhà nghiên cứu đã trở về từ châu Âu sau 9 năm học tập và làm việc trong chương trình ESO ở Munich, nơi xây dựng một kính thiên văn khổng lồ. Cô có thể ở lại châu Âu, nơi mà điều kiện nhập cư khó khăn hơn so với khu vực Nam Mỹ. Một doanh nghiệp Đức đã mời cô làm việc. Nhưng cô nghĩ rằng “tình hình đã cải thiện sau mỗi năm và ngày càng có nhiều người trở về Tổ quốc”.   Một số người đã trở về. Họ trở về từ lời mời của các nhà khoa học đã có tuổi, đáng kính trọng và có ảnh hưởng ở trong nước. Những người này cũng cung cấp các điều kiện làm việc đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà khoa học từ nước ngoài trở về. Thí dụ như làm việc trong một dự án quốc gia như Lamost. Môi trường làm việc căng thẳng, trách nhiệm thì lớn nhưng đó cũng là cơ hội để các nhà nghiên cứu trẻ có thể bước nhanh và có một vị trí xã hội mà trước đó là chỗ của các nhà khoa học đã có tuổi. Chen Zhangliang giải thích điều này một cách thực tế hơn: “Ở nước ngoài, ngay cả khi bạn là nhà khoa học giỏi thì sự cạnh tranh vẫn rất lớn, chúng tôi dễ bị chìm nghỉm trong đám đông các nhà khoa học. Còn khi bạn trở về nước, ngay lập tức bạn có thể đã có một vị trí xã hội tương đối cao”. Khi đề cập tới số lượng các nhà khoa học làm việc tại Mỹ, ông đưa ra nhận xét: “Ở đó, chúng tôi khó có thể hạnh phúc lâu dài bởi có nhiều người giàu hơn chúng tôi. Người ta luôn so sánh với nhau. Nếu bạn thuộc tầng lớn trên, bạn sẽ hạnh phúc hơn”. Bản thân ông ta cũng là một nhà nghiên cứu từng làm việc ở Mỹ trước khi anh nhận được lời mời về Tổ quốc làm việc của đích thân vị Bộ trưởng Khoa học vào thời đó. Bộ trưởng Song Jian còn hứa trao một vị trí then chốt và nhiều điều kiện đặc biệt khác cho ông khi ông về nước. Giờ thì ông phụ trách công việc chọn lựa các hồ sơ và xét duyệt các ứng cử viên tiến sĩ.  Trung Quốc đang cần các nhà nghiên cứu trẻ, lãnh đạo trung ương đã đưa ra một loạt các biện pháp nhằm thu hút các nhà khoa học ở nước ngoài về nước, bằng việc đưa ra các điều kiện làm việc ưu tiên, quyền được tự do ra nước ngoài, và loại bỏ cơ chế bổ nhiệm theo thâm niên, tạo sự cạnh tranh giữa các trường đại học và các tổ chức khoa học trong nước để đảm bảo các công việc tốt hơn cho các nhà khoa học. Về phần mình, các nhà khoa học khi trở về cũng có nhiều sự lựa chọn: làm việc tại các cơ sở khoa học công, hay tại các công ty trong nước hoặc nước ngoài.   Điều đáng ngại trong khi đó lại chính ở việc cuộc cách mạng diễn ra với tốc độ chậm, một phần do sức ì vẫn còn tồn tại, hoặc bởi sự hạn chế trong các chi tiêu tài chính mà người ta rất khó để thoát ra. Việc giảm các vị trí trong biên chế Nhà nước cũng khiến vấn đề nhân sự càng nhức nhối hơn. Cuối cùng, cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực châu Á đã khiến tiến trình cải cách bị chậm lại. Tất nhiên, rồi thời gian cũng sẽ giải quyết được vấn đề. Nhưng mặc dù người ta có thể cảm thấy sự chậm chạp trong đổi mới nhưng rõ ràng Trung Quốc đã có một thu hoạch rõ ràng. Chủ tịch Giang Trạch Dân mới đây đã trích dẫn các câu thơ của Xing Qi, thuộc đời nhà Tống: “Các ngọn núi đã làm tốt công việc của mình và dòng sông thì tiếp tục chảy về phía Đông”…  Hoàng An  dịch   La Recherche, No313-10/1998  ————————-  (1) China Science and Technology Newsletter, 10 mars 1998.   (2) Chen-Lu Tsou, « Science and scientists in China », Science, 24 avril 1998.  (3) E. Signer et A.W. Galston, « Education and Science in China », Science, 7 janvier 1972.  (4) The Economist, 27 juin 1998.  (5) Banque mondiale, China Higher Education, Reform, 1997.   (6)” Science in China, a Great Leap Forvard “, Science, 270, 17 novembre 1995.   (7)” China Still Hopefull Ten Years on “, Nature, 378, 7 décembre 1995.   (8) OST, Fiche-pays, 1998.  (9) OST, Rapport 1998  (10) NNSFC Guide to programs, Fiscal year 1997.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện hiệu quả các viện nghiên cứu  bắt đầu từ việc làm rõ tiêu chí đánh giá      Muốn chỉ ra đâu là những tổ chức nghiên  cứu có chất lượng và hiệu quả, chúng ta cần định nghĩa và phân loại rõ  ràng chất lượng các sản phẩm KH&amp;CN và nguồn nhân lực KH&amp;CN; xác định các tiêu chí phản ánh tính hiệu  quả của tổ chức, trong đó có tiêu chí dựa trên mối tương quan giữa các  yếu tố đầu vào và sản  phẩm đầu ra.&#160;     Cải thiện hiệu quả hoạt động và tái cơ cấu các tổ chức nghiên cứu công lập là mục tiêu được các nhà quản lý KH&CN theo đuổi từ nhiều năm nay, nhất là trong bối cảnh có quá nhiều các viện nghiên cứu khiến nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) đầu tư cho khoa học bị dàn trải đáng kể, điển hình với sự ra đời của Nghị định 115/20015/NĐ-CP nhằm thúc đẩy cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập, giảm sự lệ thuộc vào nguồn kinh phí tài trợ từ NSNN, hay đến nay là chính sách hiện đang được Bộ KH&CN xây dựng hướng đến quản lý việc cấp kinh phí từ NSNN cho các tổ chức nghiên cứu theo sản phẩm đầu ra (đặt hàng đề tài và nhiệm vụ khoa học) thay  vì theo số lượng đầu biên chế.  Tuy nhiên, khi chúng ta chưa đặt ra những tiêu chí rõ ràng để phân loại các tổ chức nghiên cứu, và xác định ranh giới phân biệt giữa tổ chức nghiên cứu yếu kém với các tổ chức nghiên cứu có chất lượng và hiệu quả, thì sẽ không thể đặt ra mục tiêu cụ thể, rạch ròi cho những chính sách nêu trên, vì vậy rất khó để triển khai thực hiện chúng một cách thực chất và triệt để.  Chẳng hạn qua thực tế triển khai thực hiện Nghị định 115, nhiều viện nghiên cứu đến nay vẫn cố tình kéo dài sự lệ thuộc vào bầu sữa của Nhà nước, nhưng đến nay vẫn chưa ai rà soát, đánh giá sản phẩm mà các viện này làm ra, để xác định đâu là những viện làm ra sản phẩm nghiên cứu cơ bản có chất lượng xứng đáng được Nhà nước tiếp tục tài trợ, đâu là những viện bắt buộc phải tự chủ dựa trên các sản phẩm có giá trị thương mại, và đâu là viện yếu kém cần được giải thể hoặc sáp nhập vào tổ chức khác.   Tương tự như vậy, với chính sách quản lý việc cấp kinh phí từ NSNN cho các tổ chức nghiên cứu căn cứ theo sản phẩm đầu ra (cơ chế giao khoán đề tài, nhiệm vụ) mà hiện nay Bộ KH&CN đang xây dựng, nếu chúng ta không xây dựng các tiêu chí phân định đâu là những tổ chức hoạt động có chất lượng và hiệu quả xứng đáng được ưu tiên đăng ký nhận nhiệm vụ của Nhà nước, thì sẽ tồn tại tình trạng đề tài, nhiệm vụ rơi vào tay những đơn vị làm việc yếu kém, gây lãng phí ngân sách và các nguồn lực của Nhà nước.   Muốn chỉ ra đâu là những tổ chức nghiên cứu có chất lượng và hiệu quả, chúng ta cần định nghĩa và phân loại rõ ràng chất lượng các sản phẩm KH&CN và nguồn nhân lực KH&CN (chất lượng nguồn nhân lực không thuần túy dựa trên bằng cấp mà chủ yếu phải dựa trên chất lượng sản phẩm); xác định các tiêu chí phản ánh tính hiệu quả của tổ chức, trong đó có tiêu chí dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào (nguồn nhân lực, tài lực, cơ sở vật chất, v.v) và sản phẩm đầu ra (kết quả nghiên cứu).    Sau khi làm rõ các tiêu chí trên đây, các chuyên gia có thể áp dụng triển khai đánh giá, đưa ra căn cứ xác thực làm cơ sở cho những chính sách, chế tài thưởng phạt thích hợp của Nhà nước. Nếu thực hiện được tốt chính sách này, chúng ta sẽ giải quyết được một loạt các vấn đề khác, như tạo động lực cho các cá nhân, tổ chức KH&CN làm ra sản phẩm nghiên cứu có chất lượng, đồng thời tăng cường sự tự chủ cho các tổ chức KH&CN có hiệu quả – những viện nghiên cứu chứng minh mình hoạt động tốt sẽ được sử dụng nguồn lực được cấp một cách tự chủ, linh hoạt, có thể chủ động tạo ra những cơ chế đãi ngộ tốt hơn và có tính ổn định hơn cho các nhà nghiên cứu.     Việc xây dựng được những bộ tiêu chí phù hợp, có sự điều chỉnh linh hoạt phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng lĩnh vực nghiên cứu là rất quan trọng trong xây dựng Thông tư về đánh giá các tổ chức KH&CN công lập. Vì vậy rất cần sự tham gia ý kiến rộng rãi của giới khoa học và các nhà quản lý giàu kinh nghiệm.              TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện hiệu quả và chất lượng nghiên cứu: Vai trò của các hội đồng ngành      PGS. TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), thành viên của Hội đồng khoa học ngành cơ học và kỹ thuật bình luận về vai trò hội đồng ngành Nafosted trong việc cải thiện chất lượng nghiên cứu và hỗ trợ sự phát triển các lĩnh vực khoa học.    Vào những năm đầu tiên Quỹ Nafosted tài trợ cho các đề tài nghiên cứu, ngành Cơ học được biểu dương là ngành có tỉ lệ bài quốc tế cao nhất trong các ngành khoa học tự nhiên nhưng đến đợt thứ hai thì tỉ lệ này không còn nguyên ý nghĩa, bởi vì nhiều người đã bắt đầu tìm đến những tạp chí quốc tế chất lượng thấp dễ đăng hơn. Sau đó, tiêu cực này được hạn chế bởi việc Quỹ Nafosted yêu cầu mỗi đề tài do Quỹ tài trợ phải có hai công bố ISI. Nhưng lại tiếp tục nảy sinh vấn đề: nhiều chủ nhiệm đề tài đã tìm cách “lách” để bằng mọi cách có công bố trên tạp chí ISI dễ đăng nhất. Dĩ nhiên, khi phát hiện ra, các thành viên hội đồng khoa học đã loại bỏ các công trình đó, không cho nghiệm thu, và rút cuộc họ đã buộc phải ngừng công bố trên những tạp chí như vậy.  Trong quá trình hoàn thiện các tiêu chuẩn về sản phẩm nghiệm thu, Quỹ Nafosted đã hình thành danh sách các tạp chí ISI uy tín, loại bỏ các tạp chí chất lượng thấp, chỉ lấy các tạp chí từ Q3 trở lên và khuyến khích xuất bản công bố trên các tạp chí Q1. Đây là lưới lọc rất tốt. Tuy nhiên, điều đó cũng vẫn chưa thực sự đảm bảo được chất lượng bởi theo thời gian, trong nhóm các tạp chí Q1 thì vẫn xuất hiện một số tạp chí chất lượng không cao và dễ đăng.  Ở ngành cơ học còn có một hiện tượng là có nhà nghiên cứu công bố tới 20 bài một năm, nghĩa là có tốc độ nửa tháng một bài. Nhìn vào đây, chúng ta đều hiểu ngay là “có vấn đề”. Chúng tôi đã từng phân tích 20 bài đó thì phát hiện ra rằng mỗi bài sửa đi một chút kết quả so với bài cũ, ví dụ thay đổi điều kiện biên, phương trình nó hơi khác đi một chút… Trong làng cơ học, vẫn tồn tại những tạp chí chấp nhận đăng những bài na ná giống nhau kiểu như thế. Những trường hợp như thế không nhiều, nhưng vẫn tồn tại và hội đồng khoa học ngành chỉ còn cách tỉnh táo nắm được tình hình mới của các tạp chí ngành mình để không cho “lọt lưới” những công trình kém chất lượng. Tôi thấy may mắn là các hội đồng ngành đã được Quỹ trao cho tối đa quyền để lựa chọn và quyết định điều đó.  Bên cạnh vấn đề về chất lượng công bố, còn một vấn đề đáng nói khác: Trong khi ở nước ngoài, những ngành liên quan đến thực nghiệm có công bố rất nhiều, sau đó mới đến những lĩnh vực thiên về tính toán lý thuyết, thì ở Việt Nam lại ít có công bố quốc tế trong các lĩnh vực thực nghiệm bởi chúng thường bị hạn chế phát triển do cơ sở vật chất vẫn còn thiếu thốn. Dĩ nhiên việc thay đổi thực trạng này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhưng cũng có cách giải quyết trong tầm tay của Quỹ Nafosted. Ví dụ nếu có đề tài thực nghiệm, chỉ có 1, 2 công bố, không phải trên tạp chí thuộc top Q1 mà là SCIE thì vẫn có thể chấp nhận nghiệm thu.  Do đó, trong quá trình tài trợ, chúng ta nên quan tâm đến giải pháp để ưu tiên phát triển những lĩnh vực còn yếu trong mỗi ngành. Tôi biết hội đồng khoa học ngành Vật lý cũng bắt đầu có quy chế, tách phần tính toán lý thuyết khỏi phần thực nghiệm để xếp hạng xét tài trợ. ¨  Sau 10 năm, hàng trăm nhà nghiên cứu trong ngành cơ học đạt tiêu chuẩn về công bố trên tạp chí ISI 5 năm gần nhất – rất nhiều người là tác giả độc lập hoặc tác giả chính, trong khi trước đây chỉ có 21 người đạt tiêu chuẩn này. Từ nhiệm kỳ thứ hai trở đi, hội đồng khoa học ngành bây giờ cũng có chất lượng khác hẳn với nhiều người là giáo sư, phó giáo sư chứ không còn gọi là “tiến sĩ trơn” nữa. Hầu hết những người nhận được tài trợ của Quỹ đều hoàn thành các đề tài, dù có người phải xin gia hạn thêm khoảng 1 năm. Đó là bước tiến rất lớn của ngành Cơ học.      Hoàng Nam ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải thiện hiệu quả việc cấp kinh phí cho khoa học cơ bản      Việc bổ nhiệm nhà nghiên cứu và cung cấp kinh phí nghiên cứu là công cụ làm chính sách cơ bản để phục vụ nghiên cứu khoa học, có tầm quan trọng đặc biệt đối với lĩnh vực khoa học cơ bản ở những quốc gia như Việt Nam, nơi nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước rất khiêm tốn vì còn phải tập trung cho những mục tiêu cấp bách khác. Vì vậy, chúng ta cần có kế hoạch dài hạn trong công tác này để tránh lãng phí các nguồn lực và giúp việc quản lý các dự án được thực hiện một cách trơn tru.     Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách có tầm nhìn rõ ràng về các ngành, lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản dự định được đầu tư kinh phí, đưa ra quyết định chọn lựa những ngành nghiên cứu được tài trợ, sau đó tuyên bố công khai rộng rãi về lựa chọn này.  Để chọn lựa các ngành nghiên cứu khoa học cơ bản được tài trợ, cần dựa trên ba tiêu chí quan trọng: Lĩnh vực nghiên cứu đó sẽ mang lại tri thức mới/tiên phong cho khoa học; có đủ nguồn nhân lực trong nước để hình thành một số nhóm nghiên cứu với đầy đủ kinh nghiệm và động lực để thực hiện các mục tiêu khoa học; nguồn kinh phí và các nguồn lực tối thiểu mà họ cần được tài trợ nằm trong khả năng cho phép của quốc gia.  Hãy ưu tiên các dự án nghiên cứu có tính liên ngành, liên quan đến vài ngành khoa học cơ bản, các công nghệ mới, hoặc có những ứng dụng mang tầm quan trọng quốc gia. Tuy nhiên, những dự án nghiên cứu không đáp ứng các điều kiện kể trên nhưng có giá trị khoa học tiềm năng vượt trội thì không nên bị gạt bỏ.   Hãy ưu tiên những chủ nhiệm đề tài có hoài bão theo đuổi những dự án nghiên cứu quy mô dài hơi hơn nhiệm kỳ công tác của bản thân họ, hơn là những người chỉ theo đuổi lợi ích sự nghiệp riêng của mình. Bởi chúng ta biết rằng không có nhà khoa học giỏi nào lại không quan tâm tới việc gây dựng đội ngũ nghiên cứu giỏi quanh mình, những người sẽ kế thừa và tiếp nối công việc dở dang của họ sau này.  Việc thiếu vắng một chính sách xác định rõ ràng những lĩnh vực nghiên cứu cụ thể được tài trợ là điều gây bất lợi cho sự phát triển của khoa học. Ví dụ điển hình là việc đào tạo các nghiên cứu sinh Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực vật lý hạt cơ bản thực nghiệm, khi những người kết thúc đào tạo trở về đã không được tạo cơ hội để phát huy kiến thức, kỹ năng của mình, khiến các nguồn lực đầu tư cho việc đào tạo họ trước đây hầu như trở nên lãng phí. Điều dễ hiểu là Việt Nam hiện nay không có điều kiện để phát triển ngành vật lý hạt cơ bản thực nghiệm, nhưng lẽ ra ngay từ đầu người ta phải tuyên bố rõ ràng về điều này để tránh những lãng phí về tiền bạc, công sức, và chất xám.   Một nhược điểm của hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam là chú trọng lý thuyết nhiều hơn thực nghiệm, thực chứng (observation), và so sánh. Đây là căn bệnh chung ở các nước đang phát triển nơi sinh viên thường được dạy rằng nếu họ thực sự có tài năng thì hãy trở thành các nhà lý thuyết thay vì làm thực nghiệm. Nhưng bất kỳ nhà khoa học giỏi nào cũng phải biết rằng thực nghiệm/thực chứng và lý thuyết luôn song hành, hỗ trợ bổ sung lẫn nhau.  Chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm từ các nhà khoa học nước ngoài, đặc biệt những người trong khu vực – Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc – có đủ năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ, và quan trọng nhất là có động lực hỗ trợ các nước đang phát triển vì mục đích thúc đẩy chất lượng và sự phát triển chung của khoa học. Chúng ta được biết có những người xuất sắc như vậy, những người quan tâm tới khoa học nhiều hơn lợi ích riêng của bản thân, trong đó có những nhà khoa học Việt kiều mà chúng ta rất nên khai thác, tận dụng.  Trước khi đầu tư tiền bạc vào các cơ sở nghiên cứu, chúng ta phải đầu tư xây dựng các nhóm chuyên gia, những người sẽ sử dụng, vận hành, và bảo trì các cơ sở này. Khi có nhóm chuyên gia rồi hẵng tính đến máy móc, thiết bị, thay vì có máy rồi mới tìm người sử dụng. Đáng tiếc trước đây chúng ta đã có những sai lầm trong vấn đề này, đơn cử như chiếc máy microtron của Viện Vật lý lẽ ra phải được ngừng hoạt động từ 15 năm trước; việc mua chiếc máy pelletron của Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) lẽ ra phải được thảo luận rộng rãi trong giới khoa học, trong đó cần có ý kiến từ các nhà khoa học vật liệu là những người có tiềm năng sử dụng hiệu quả nhất. Cũng trong lĩnh vực vật lý gia tốc hạt, lẽ ra chúng ta phải có ý thức về tầm quan trọng ngày càng gia tăng của các ứng dụng trong các ngành dược học và công nghiệp, để thấy sự cần thiết xây dựng một đội ngũ chuyên gia về khoa học và kỹ thuật gia tốc hạt, điều mà Việt Nam hiện nay đang rất thiếu. Đặc biệt đáng tiếc là chậm trễ trong việc đào tạo các chuyên gia, nhà khoa học cần thiết cho các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai. Chúng ta đã không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của đội ngũ chuyên gia hạt nhân hiện có ở Đà Lạt, những người lẽ ra phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các nỗ lực đào tạo, bởi các trường đại học chỉ có thể đào tạo ở mức hết sức căn bản về cấu trúc hạt nhân, vốn chỉ là một phần nhỏ trong những nội dung chuyên môn cần được đào tạo, và không thể có đủ năng lực để đào tạo xa hơn – việc sắp tới chúng ta sẽ xây dựng một trung tâm đào tạo mới là điều đáng mừng, mong rằng sẽ được chú trọng đầu tư ở tầm quốc gia để có thể tạo ra bước tiến cơ bản về phía trước. Ngoài ra, một ví dụ khác là ngành công nghệ thông tin, nơi chúng ta thiếu kỹ năng và năng lực hơn là máy móc, thiết bị, vì vậy cần chú trọng đầu tư vào chất xám hơn là cơ sở vật chất.  Đa số các ngành khoa học cơ bản hiện nay trên thế giới đều dùng những cơ sở nghiên cứu quy mô lớn, được các quốc gia chung sức vận hành và bảo trì. Thay vì bỏ tiền tự mua những thiết bị tương tự, chúng ta nên tài trợ các nhóm nhà khoa học tiến hành nghiên cứu bằng các thiết bị quốc tế. Một ví dụ là hiện nay chúng ta đang tận dụng được rất ít các thiết bị của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU).  Các nhóm nghiên cứu cần được đánh giá dựa trên kết quả và phải được thưởng xứng đáng bằng cách tăng kinh phí tài trợ khi họ nghiên cứu thành công. Tuy nhiên, việc đánh giá này không thể đơn thuần dựa trên số lượng công bố và trích dẫn, mà phải là những đánh giá có chiều sâu về tiến trình thực hiện các dự án nghiên cứu. Nếu chúng ta thiếu những người có năng lực để tiến hành việc đánh giá này – đây là điều thường gặp trong thực tế – thì nên tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia quốc tế.  Một nguy cơ đáng kể xảy ra khi nguồn kinh phí tài trợ hạn hẹp, đó là xu hướng cấp những khoản nhỏ lẻ rải rác cho quá nhiều các dự án. Vì vậy, chúng ta phải chấp nhận một thực tế là có những nhóm nghiên cứu đạt được nhiều thành công hơn các nhóm khác, do đó xứng đáng được tài trợ cao hơn.  Hiện nay chúng ta đang không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hợp tác nghiên cứu theo nhóm. Cách giám sát từng thành viên cụ thể trong các đề tài nghiên cứu của Nafosted là một ví dụ. Lẽ ra chúng ta phải tin tưởng vào năng lực quản lý của các chủ nhiệm đề tài và phân cho họ quyền chủ động quản lý đề tài một cách độc lập, bởi nếu chúng ta không tin tưởng vào họ thì đề tài của họ phải bị bác bỏ từ đầu.    Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của Nafosted, có thể khẳng định đây là một tiến bộ cơ bản trong việc phân bổ kinh phí khoa học trong nước. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể tiếp tục cải thiện, và nên luôn tìm cách cải thiện để Nafosted vận hành tốt hơn. Việc trì hoãn một năm nguồn kinh phí rõ ràng đã gây tổn hại cho các đề tài của năm ngoái, hơn thế còn ảnh hưởng tới hình ảnh của đất nước, tạo ấn tượng rằng chúng ta không hiểu đúng về tầm quan trọng của khoa học cơ bản và đóng góp của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế cùng các ngành công nghiệp.          PHẠM TRẦN LÊ dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cải tiến cái sẵn có thay vì làm mới      Trong những năm vừa qua ở Việt Nam liên tục có nhiều giống lúa mới ra đời nhưng ít&#160; giống thực sự được phổ biến rộng và tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà nghiên cứu Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu áp dụng những công nghệ tiên tiến sẵn có trên thế giới để cải thiện năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và chất lượng các giống lúa phổ biến mà lâu nay đã được người nông dân chấp nhận.     Đây là một cách tiếp cận hợp lý dễ đem lại  hiệu quả cao mà những nước có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới  vẫn thường áp dụng.  Từ năm 2011 đến nay, một nhóm các nhà nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam (trước đây là Đại học Nông nghiệp Hà Nội) cùng các nhà khoa học Nhật Bản từ Đại học Kyushu và Đại học Nagoya, đã tiến hành dự án nghiên cứu cải tiến một số giống lúa đã tồn tại phổ biến ở Việt Nam thay vì chọn tạo ra giống lúa hoàn toàn mới. Đó là dự án Phát triển cây trồng cải tiến cho trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam, theo kế hoạch sẽ kết thúc vào năm 2015, với mục tiêu cụ thể là xây dựng hệ thống chọn giống lúa bằng việc ứng dụng chỉ thị phân tử, sinh lý-sinh thái để chọn ra các giống lúa thích nghi với điều kiện trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Đầu tiên là những nghiên cứu từ Nhật Bản nhằm xác định các gene mục tiêu như ngắn ngày, năng suất cao, kháng bạc lá và kháng rầy râu, tiếp theo là lai quy tụ cac gene vào các giống lúa ở miền Bắc Việt Nam như IR24, Khang Dân 18 sau đó sử dụng hệ thống chọn lọc kiểu gene công nghệ cao (high throughput genotyping) và nhân nhanh thế hệ tại Sóc Trăng. Sau khi đánh giá kiểu hình, các nhà khoa học tiến hành những nghiên cứu về sinh lý và khả năng thích ứng với các điều kiện sinh thái khác nhau, rồi chọn các dòng triển vọng để tiến hành xây dựng quy trình canh tác phù hợp và hợp tác với các địa phương để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân.          Dự án phát triển cây trồng cải tiến cho trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam được ký kết giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Chính phủ Việt Nam năm 2010 và được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt trong năm 2011. Dự án cũng có sự hợp tác của Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên, Sóc Trăng và một số tỉnh trung du miền núi khác. Kinh phí cho dự án do JICA và Chính phủ Việt Nam tài trợ cho Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đồng thời tổ chức khoa học và công nghệ Nhật Bản (JST) tài trợ cho ĐH Kyushu và ĐH Nagoya.        Qua dự án này, phía Việt Nam khai thác được đáng kể năng lực công nghệ của Nhật Bản trong ứng dụng chọn giống và canh tác lúa, nhằm hiện đại hóa và rút ngắn thời gian chọn giống mới, lĩnh vực mà Nhật Bản có thế mạnh hàng đầu thế giới. Phía bạn hướng dẫn cho chúng ta kỹ thuật phân tích di truyền (hệ thống genotyping), sinh lý, sinh hóa của cây lúa, và cung cấp những trang thiết bị hiện đại có tính đồng bộ cao cho ba phòng thí nghiệm, như hệ thống tách chiết nhanh DNA và hệ thống phân tích đa gene công nghệ cao của phòng thí nghiệm di truyền và chọn giống lúa, hệ thống kho lạnh của phòng bảo tồn quỹ gene, hệ thống sắc ký lỏng, sắc ký khí, phân tích đạm và cation và hệ thống theo dõi khí tượng của phòng sinh lý năng suất cây trồng, v.v. Ngay cả sơ đồ bố trí, lắp đặt, và quy trình sử dụng, khai thác các thiết bị ở Việt Nam cũng được thực hiện một cách bài bản, hoàn toàn tương đồng với các phòng thí nghiệm hiện đại của Nhật Bản, giúp tối ưu hóa các hoạt động và cho phép các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản dễ dàng thích nghi khi tiến hành các hoạt động hợp tác, trao đổi.   Đã có 16 đợt cán bộ Việt Nam được đào tạo ngắn hạn ở Nhật Bản, bên cạnh đó các chuyên gia của Nhật Bản cũng thường xuyên đến Việt Nam để hướng dẫn nghiên cứu. Điều đáng nói là dự án rất chú trọng tới việc tạo điều kiện cho các nghiên cứu sinh tham gia công tác nghiên cứu, qua đó góp phần tạo ra một thế hệ mới các nhà khoa học trẻ là những người sớm có điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến của thế giới để giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam. Đây là điều mà nhiều dự án hợp tác quốc tế khác trong nghiên cứu ở Việt Nam ít chú trọng đến.  Kết quả và triển vọng  Đến nay, dự án đã xác định được chỉ thị phân tử sử dụng trong chọn giống lúa mang các gene kháng bệnh bạc lá (Xa5, Xa7 và Xa21), các gene liên quan đến năng suất hạt (Gn1, WFP1) các gene kháng rầy nâu (BpH25, BpH26 và TSC3); chọn lọc được hai dòng lúa cải tiến từ giống gốc IR24 là DGC19 và DCG66 trong đó DCG19 có thời gian sinh trưởng ngắn 90-95 ngày, năng suất đạt trung bình 6 tấn/ha. DCG66 có khả năng chịu lạnh, thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 100 ngày và năng suất đạt 6,5 tấn/ha; chọn lọc một số dòng lúa cải tiến từ giống lúa Khang dân 18 (KD18) có thời gian sinh trưởng rút ngắn 10-15 ngày và có năng suất tương đương với giống KD18, một số dòng Khang dân 18 có năng suất vượt 10-15% và có khả năng kháng bệnh bạc lá, kháng rầy nâu.  Với kết quả nghiên cứu như vậy, dự án đã xây dựng mô hình canh tác các dòng chọn lọc với diện tích 1ha tại Thái Nguyên và 1ha tại Lào Cai, đồng thời tập huấn cho 200 nông dân ở mỗi tỉnh về kỹ thuật trồng lúa. Mặc dù chú trọng vào mục tiêu ứng dụng trong thực tiễn, nhưng qua dự án, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã công bố được hàng chục bài báo khoa học trong nước và hai bài trên các tạp chí quốc tế ISI, tất cả đều là những bài do các nhà khoa học Việt Nam đứng tên đầu.  Từ những kết quả và triển vọng khả quan của dự án, nhóm nghiên cứu cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam và Nhật Bản nên tiếp tục tiến hành nhiều nội dung hợp tác khác, như hợp tác cải tiến kiểu gene liên quan đến các tính trạng khác của cây lúa như chịu mặn, chịu ngập; chọn giống và xây dựng hệ thống cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu; hợp tác cải tiến kiểu gene các cây rau, hoa, cây ăn quả; nghiên cứu phát triển cơ giới hóa sản xuất và chế biến các sản phẩm có giá trị từ cây trồng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chuyển hướng tới một đích đến cao hơn*      Với vinh dự được nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu, tôi  xin chia sẻ một vài suy nghĩ đối với việc nghiên cứu và công bố kết quả  khoa học cơ bản ở Việt Nam.     Theo thông lệ quốc tế hiện nay, các công bố khoa học và các phát minh, sáng chế được thế giới công nhận là một trong những thước đo quan trọng nhất trình độ khoa học của một quốc gia. Nhận thức được tầm quan trọng này, Bộ  Khoa học và Công nghệ đã có bước đột phá quan trọng hướng tới mục tiêu nâng tầm khoa học của đất nước với việc tạo ra một môt trường thuận lợi cho nghiên cứu cơ bản thông qua việc thành lập Quỹ NAFOSTED. Việc ra đời quỹ này đã thổi một luồng gió mới vào cộng đồng khoa học và tạo ra sự hứng khởi trong con đường nghiên cứu và phát huy sáng tạo của đội ngũ những người làm khoa học cả nước, đặc biệt là các nhà khoa học mới thành danh ở các cơ quan nghiên cứu, các giảng viên trẻ trong các trường đại học. Nhờ những đột phá trong cơ chế tài trợ, hỗ trợ nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ mà số công bố ISI của Việt Nam trong những lĩnh vực được tài trợ đã tăng tới trên 20% hàng năm chỉ sau một khoảng thời gian khởi động ngắn. Đây là thành công lớn đối với các nghiên cứu cơ bản và là định hướng đúng đắn trong quản lý nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ở Việt Nam hiện nay. Thêm vào đó, nó tạo ra động lực mới cho đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam nâng cao đáng kể tư duy khoa học, khả năng hợp tác trong nghiên cứu, kỹ năng viết và công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm quốc tế có uy tín.   Tuy nhiên, dù có những bước tiến mang tính cách mạng nói trên, các công bố kết quả nghiên cứu cơ bản có tính đột phá và mang tầm quốc tế, các phát minh và sáng chế mới có tác động đáng kể tới khoa học và kinh tế xã hội ở Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Thiết nghĩ, đã đến lúc chúng ta cần chuyển hướng tới một đích đến cao hơn, đó là tạo ra ngày càng nhiều những kết quả khoa học có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn và được công bố trong các tạp chí danh tiếng nhất.  Để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, cần  một sự kết hợp đồng bộ những ý tưởng khoa học lớn với bản lĩnh và sự phấn đấu không ngừng của các nhà khoa học trong việc khắc phục những khó khăn hiện tại để theo đuổi những mục tiêu nghiên cứu lâu dài. Các đề án nghiên cứu lớn còn  phụ thuộc vào các nhóm nghiên cứu mạnh với các thí nghiệm được tiến hành trong các phòng thí nghiệm với các thiết bị nghiên cứu hiện đại nhất. Hơn thế nữa, các chương trình nghiên cứu cơ bản lớn thường kéo dài, đòi hỏi những khoản kinh phí không nhỏ cùng một chiến lược đầu tư phát triển nhất quán và kiên định. Đây chính là thách thức lón không chỉ đối với từng cá nhân tham gia nghiên cứu mà còn đối với các cơ quan quản lý và nhà tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học.   (Trích phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu sáng 16/5)       * Tiêu đề do Tia Sáng đặt  Vài nét về tác giả:  PGS.TS Trần Thanh Hải (Trường ĐH Mỏ Địa chất) được trao giải Tạ Quang Bửu 2015 với công bố “The Tam Ky-Phuoc Son shear zone in Central Vietnam: tectonic and metallogenicimplications” (Bản chất đới trượt Tam Kỳ – Phước Sơn ở miền Trung Việt Nam: Ý nghĩa kiến tạo và sinh khoáng của nó). Công trình đã có phát hiện mới quan trọng về lịch sử tiến hóa kiến tạo của địa khối Đông Dương. Đây là vấn đề đã và đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Việc xác định được hoạt động magma-kiến tạo và tạo khoáng vàng xảy ra vào khoảng 400 triệu năm trước đã mở ra một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu tiếp theo về các quá trình kiến tạo và sinh khoáng vàng khu vực Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng.   Công trình đã được đăng trên tạp chí Gondwana Research là tạp chí quốc tế có thứ hạng cao, có uy tín cao trong lĩnh vực địa chất.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần chuyển sang giai đoạn các lộ trình KH&CN      Muốn đạt mức l&#224; nước ph&#225;t triển trung b&#236;nh v&#224;o năm 2020, chỉ c&#242;n 10 năm để Việt Nam r&#250;t ngắn khoảng c&#225;ch hơn 100 năm. Sự&nbsp; lựa chọn chiến lược gần như duy nhất để Việt Nam c&#243; thể đạt được tốc độ đ&#243;, n&#243;i một c&#225;ch h&#236;nh ảnh l&#224; phải đứng tr&#234;n vai người khổng lồ, tức l&#224; tận dụng những th&#224;nh tựu KHCN của nh&#226;n loại để ph&#225;t triển.  Muốn vậy, cần chuyển c&#225;c chương tr&#236;nh KHCN (program) th&#224;nh c&#225;c lộ tr&#236;nh KHCN (roadmap) để tổ chức cho to&#224;n x&#227; hội thực hiện việc ph&#225;t triển ứng dụng KHCN trong x&#226;y dựng kinh tế.     Để đạt được mong muốn đến năm 2020 trở thành nước phát triển trung bình, cho đến nay chúng ta đã khai thác tài nguyên để bán (dầu, than…) gần đạt đến giới hạn. Sản phẩm nông lâm ngư nghiệp phổ thông cũng hầu như chạm ngưỡng. Chúng ta cũng đã xây dựng được một số ngành công nghiệp cơ bản tuy giá trị gia tăng còn thấp. Bây giờ nước ta đã buộc phải bước vào giai đoạn cho nước ngoài cùng khai thác bất động sản, và chỉ trong một thời gian ngắn nữa cũng sẽ hết. Như vậy, để phát triển, ta chỉ còn lại là phát triển công nghiệp có giá trị gia tăng cao, dịch vụ cao cấp và kinh tế tri thức. Tiếc thay, cả ba ngành này đều đòi hỏi khoa học và công nghệ ở trình độ cao (ít nhất là mức trung bình thế giới) và con người được đào tạo tốt. Đó là những thứ mà ta chưa có.  Muốn đạt mức là nước phát triển trung bình vào năm 2020, sự lựa chọn chiến lược gần như duy nhất là phải tận dụng những thành tựu KHCN của nhân loại để phát triển. Nhưng nếu cứ phát triển KHCN theo phương thức và bước đi mà nhân loại nói chung đã trải qua thì tuyệt đối không thể lớn lên đến vai nhân loại được. Có lẽ Việt Nam nên phát triển theo cách song song: một là tìm cách lớn lên đến vai và hai là tìm cách bắc thang hoặc nhảy để leo lên vai người khổng lồ.   Từ trước đến nay, chúng ta mới áp dụng cách thứ nhất cho KH&CN. Nghĩa là ta lập các trường đại học, các viện nghiên cứu… Ta xây dựng các chương trình KHCN, ta hỗ trợ các nghiên cứu và phát triển…, nghĩa là giống như mọi nước đã phát triển trước. Chúng ta mong sẽ lớn lên bằng cách đó. Chúng ta đã và cũng rơi vào các tranh luận muôn thuở như nghiên cứu là gì, cơ bản hay ứng dụng, chuẩn hóa chức danh, đánh giá nhà khoa học… Tất cả đều đúng, đều cần nhưng chẳng thể giúp ta lớn nhanh bằng thiên hạ. Sự thật cho thấy KH&CN của chúng ta đã lớn lên ít nhiều nhưng khoảng cách của chúng ta với thiên hạ ngày càng lùi xa! Và KH&CN vẫn chỉ những vấn đề của người làm KH&CN, không phải là vấn đề của cả xã hội.  Đã đến lúc Việt Nam phải tìm cách bắc thang để leo lên vai nhân loại. Làm như thế nào? Có thể đề cập đến các biện pháp cụ thể như sau:  1. Để yên lòng người, trước hết không xóa bỏ những gì cán bộ KHCN đã có và đã làm được (con người, tổ chức, chương trình…) hơn nữa còn phải tiếp tục phát triển (có cải tiến) những việc làm đó.  2. Giải pháp bây giờ là tổ chức cho toàn xã hội thực hiện việc phát triển ứng dụng KHCN cho xây dựng kinh tế. Nếu như đối tượng thực hiện chỉ là cán bộ KHCN thì chúng ta chỉ cần xây dựng các chương trình KHCN (program). Nay đã đến lúc phải tổ chức thành lộ trình KHCN (roadmap) thì mới huy động được toàn xã hội.   3. Lộ trình KHCN là sự phát triển KHCN một cách cưỡng bức có mục đích kinh tế – kỹ thuật cụ thể và thời hạn rõ ràng. Sở dĩ có thể đặt ra lộ trình vì chúng ta là nước lạc hậu về KHCN, chúng ta phải đạt được một số thành quả chọn lọc, có ích cho ta, mà những thành quả đó nhân loại đã làm được, chỉ có ta chưa học biết cách làm. Ví dụ, trong 3 năm phải giải quyết xong việc dùng nguồn mở trong các cơ sở sử dụng ngân sách, sau năm năm thiết kế (layout) được IC công nghệ 50nm, 7 năm phải giải quyết xong ở mức công nghiệp kháng sinh tổng hợp, hóa dược cơ bản, thuốc Generic, 8 năm chủ động hoàn toàn giống và kỹ thuật một số cây con cho nông nghiệp sinh thái, 10 năm chế tạo công nghiệp tên lửa, máy bay không người lái… Thay cho các viện, trường thì phải tập hợp tất cả mọi lực lượng doanh nghiệp, tổ chức kinh tế – tài chính, cơ sở KHCN thành các Consorsium (tổ hợp) hay Alianz (liên minh) cho từng lộ trình. Mọi biện pháp thực hiện (bình thường và bất bình thường) từ trong và ngoài nước để có được vốn, Licenc, know-how, thiết bị và nhân lực… đều được chấp nhận, miễn sao thực hiện được roadmap. Ở đây, cần áp dụng nguyên tắc mục đích biện minh cho mọi giải pháp!  4. Cần phải quan niệm rằng kinh tế trí thức không chỉ là những ngành mới như công nghệ thông tin, hay công nghệ Nano. Việc thay đổi một cách cơ bản ngành kinh tế cổ điển nhất như nông nghiệp nhờ KHCN thành ra một ngành Nông nghiệp công nghệ sinh học (Bio-Products) sạch, hiệu suất cao, tạo ra thương hiệu Sản phẩm nông nghiệp sinh học cao cấp “Producs of  Vietnam”, cũng chính là một ví dụ kinh tế tri thức.  5. Nhân lực ở đâu để thực hiện lộ trình? Từ mọi thành phần trong nước, mời hoặc mua từ nước ngoài những nhà chuyên nghiệp loại tinh hoa, đặc biệt sử dụng những chuyên gia hồi hưu ở các nước tiên tiến, đó là kho quý của nhân loại mà ta cần tiếp cận ngay.  6. Lấy vốn ở đâu để thực hiện lộ trình?   – Có thể lấy vốn từ bản thân phương tiện sản xuất của lộ trình. Ví dụ, để thực hiện lộ trình Nông nghiệp công nghệ sinh học (tạm gọi) có thể lấy từ chênh lệch địa tô khi thu hồi đất nông nghiệp làm đất đô thị, khu công nghiệp, khu an dưỡng, giải trí…Ví dụ, bồi thường cho nông dân 200.000/m2 chuyển đổi thành đất đô thị rồi bán 10.000.000/m2 thì chỉ cần dành 1% chênh lệch này đầu tư lại cho lộ trình “Nông nghiệp công nghệ sinh học” ngay ở vùng đất bị thu hồi là đủ. Nông dân mất đất vẫn có nghề nông mới sống tốt mà kinh tế tri thức cũng xây dựng được. Quả vậy, ví dụ lấy 1% chênh lệch 100.000ha đất thu hồi để chuyển đổi đã có được xấp xỉ 100 ngàn tỷ đồng (6 – 7 tỷ USD), thừa đủ cho mục tiêu nông nghiệp công nghệ sinh học. Và điều quan trọng hơn nữa, hàng triệu nông dân mất đất lại có một công việc dài hạn kiếm sống cao cấp hơn nhiều.  – Có thể lấy vốn từ chính hiệu quả của biện pháp thực hiện. Ví dụ, một nhóm nhà khoa học đã đề ra một lộ trình KHCN để thực thi văn hóa giao thông, giải quyết tình trạng giao thông lộn xộn ở Hà Nội. Lộ trình này cần 100 triệu USD. Chỉ cần phạt đủ 25% của các vi phạm luật giao thông ở Hà Nội là thu hồi được vốn sau 7 năm. Ứng dụng KHCN ở đây là biện pháp làm sao giáo dục cưỡng chế văn hóa giao thông công cộng, phạt đủ, phạt đúng, nộp phạt dễ dàng, kiểm soát được người giao thông, kiểm soát được CSGT và điều hành được giao thông mà chưa cần phải xây thêm cầu đường.  – Có thể thu xếp vốn bằng các phương pháp truyền thống. Vì lộ trình là để đạt và bắt buộc phải đạt mục đích kinh tế – kỹ thuật cho nên có mức kỳ vọng (expectation) lớn. Bán trước kỳ vọng, hay nói nôm na là vay vốn có bảo lãnh của Nhà nước (nếu thương hiệu của Nhà nước tốt) hay của tổ chức kinh tế thành viên Consorsium. Nên nhớ rằng các sản phẩm tài chính đang được buôn bán trên thế giới thực ra cũng là sáng tạo của giới KHCN mà thôi. Tại sao lại không tận dụng nó cho xây dựng KHCN.  – Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tham gia  – Vốn ngân sách đóng vai trò vốn mồi (seed money) và vốn duy trì dài hạn  7. Tổ chức và định hướng như thế nào?  – Các lộ trình KHCN phải tổ chức và điều hành ở cấp Nhà nước.  – Số lượng các lộ trình trong 10 năm có lẽ không nên quá con số 10. Lộ trình KHCN không có tính chất cát cứ địa phương, đặc quyền hoặc lợi ích nhóm.  – Tất cả các tổ chức, cơ quan quản lý ngành ở mọi cấp đều tham gia xây dựng lộ trình trên cơ sở yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội.  – Mọi thành phần kinh tế, KHCN trong xã hội đều được khuyến khích tham gia một cách bình đẳng.  – Về nguyên tắc, lộ trình là có mục tiêu kinh tế cho nên không cần phân biệt loại hình KHCN nào (cơ bản hay ứng dụng, nghiên cứu hay phát triển đều được), miễn là cùng đến một mục đích kinh tế. Tất cả các loại hình muốn tồn tại, hiển nhiên là phải  định hướng theo mục tiêu, và lấy hiệu quả làm thước đo. Cho nên chúng ta tranh cãi nhiều về hình thức để làm gì. Bản thân việc xây dựng và thực hiện mục tiêu của lộ trình KHCN đã tự động định hướng cho KHCN nước ta trong 10 năm tới, không cần phải tranh cãi nhiều nữa.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có biện pháp khẩn cấp bảo vệ di chỉ Vườn Chuối      Trước hết cho lập hồ sơ đánh giá để sớm đưa di chỉ này vào danh mục di tích lịch sử văn hóa cần bảo vệ khẩn cấp. Cần làm việc ngay với Ban quản lý dự án Thăng Long 9, Tổng công ty Cổ phần Thương mại Việt Nam (chủ đầu tư) để có phương án bảo tồn di chỉ văn hóa này.      Hố khai quật khảo cổ học tại Vườn Chuối. Ảnh: PGS.TS Nguyễn Văn Huy cung cấp.  Di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối, một địa điểm cư trú lâu dài của người Việt cổ, góp phần cung cấp đầy đủ chứng cứ lịch sử về sự có mặt của con người rất sớm trên địa bàn Hà Nội, và có thể chứng minh nguồn gốc bản địa và lịch sử dân tộc Việt Nam thời tiền – sơ sử … có nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn. Trước thực trạng này, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, nguyên Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia và một số nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học đã có tâm thư, lên tiếng kiến nghị Hà Nội cần có biện pháp khẩn cấp bảo vệ khu di chỉ khảo cổ này. Tia Sáng trích đăng ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Huy gửi lãnh đạo thành phố Hà Nội:  “Trong những năm 2009-2011 khi dự án Thăng Long 9 san lấp mặt bằng đã làm phát lộ nhiều ngôi mộ tiền sử cùng với đó là phá hủy một phần di chỉ làm hư hại nhiều hiện vật khảo cổ trên bề mặt di chỉ, các bạn đồng nghiệp của chúng tôi từ các trường đại học và Viện khảo cổ học đã đồng tâm gửi tâm thư lên Cục Di sản văn hóa và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đồng thời báo chí cũng đã có nhiều bài đăng về sự phá hủy của một khu vực khảo cổ học đang diễn ra ở Vườn Chuối. Thời điểm đó sự phá hoại diễn ra ở khu di chỉ khảo cổ học ở Vườn Chuối là một vấn đề “nóng”. Nhưng từ sau thời điểm đó, không biết vì lý do gì sự việc rơi vào yên lặng; cho đến nay rất đáng tiếc vẫn chưa có cơ quan có thẩm quyền nào về văn hóa của Hà Nội tiến hành đo đạc, xem xét để đưa khu di chỉ khảo cổ Vườn Chuối vào danh mục kiểm kê di tích của địa bàn Hà Nội. Các cơ quan như UBND huyện Hoài Đức, UBND xã Kim Chung hay Ban Quản lý Di tích và Danh thắng thành phố Hà Nội, Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội cũng chưa có văn bản nào xử lý vấn đề bảo tồn ở Vườn Chuối.  Theo tôi, trước hết cho lập hồ sơ đánh giá để sớm đưa di chỉ này vào danh mục di tích lịch sử văn hóa cần bảo vệ khẩn cấp. Cần làm việc ngay với Ban quản lý dự án Thăng Long 9, Tổng công ty cổ phần thương mại Việt Nam (chủ đầu tư) để có phương án bảo tồn di chỉ văn hóa này. Nếu không, khi công trường xây dựng triển khai đầu năm 2018 thì di chỉ khảo cổ học quý này sẽ bị phá hủy hoàn toàn”.  PGS.TS Nguyễn Văn Huy.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có chế độ đãi ngộ phù hợp      Chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân của Việt Nam đã kéo theo nhiệm vụ triển khai và nâng cấp công tác nghiên cứu hạt nhân, trong đó có xây dựng và phát triển một trung tâm nghiên cứu hạt nhân quốc gia. Tia Sáng đã trao đổi với PGS.TS Vương Hữu Tấn – Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, xung quanh vấn đề này.    Hiện nay Việt Nam có một Viện nghiên cứu hạt nhân tại Đà Lạt, vốn là cơ sở nghiên cứu từ thời chính quyền Sài Gòn (cũ). Vậy chủ trương thành lập một Trung tâm nghiên cứu hạt nhân quốc gia xuất phát từ cơ sở nào, thưa ông?  Nhân chuyến thăm Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 12/2009 với mục đích đề nghị giúp Việt Nam xây dựng ngành công nghiệp điện hạt nhân, hai Thủ tướng đã thống nhất rằng Việt Nam cần một trung tâm nghiên cứu mạnh về khoa học – công nghệ hạt nhân. Sau các vòng đàm phán, ngày 21/1/2011 hai bên đã ký hiệp định liên chính phủ về xây dựng trung tâm khoa học công nghệ hạt nhân Việt Nam, trong đó giao Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam là chủ đầu tư của công trình. Trung tâm này sẽ là một bộ phận của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, với sự đầu tư rất lớn của Nhà nước, dự kiến khoảng 500 triệu USD. Chúng tôi dự kiến sẽ có những thiết bị nghiên cứu lớn như lò phản ứng và các thiết bị cần thiết khác.   Với mức đầu tư lớn như vậy, Trung tâm sẽ đảm nhiệm những chức năng cụ thể gì?  Phía Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đã xây dựng yêu cầu về mặt kỹ thuật cho Trung tâm này. Thứ nhất, trách nhiệm của Trung tâm là nghiên cứu, đánh giá công nghệ mà đối tác chuyển giao cho Việt Nam, tư vấn cho Chính phủ lựa chọn. Sau đó là tiếp thu, làm chủ và phát triển. Đó là một hướng rất quan trọng.  Hướng thứ hai là hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo an toàn hạt nhân. Ví dụ trong Trung tâm sẽ có những bộ phận nghiên cứu về an toàn hạt nhân, an toàn bức xạ để hỗ trợ cho việc xem xét đánh giá an toàn dự án điện hạt nhân ở Việt Nam. Trung tâm sẽ hỗ trợ cho cả chủ đầu tư lẫn cơ quan quản lý Nhà nước.  Thứ ba là mở ra một số hướng nghiên cứu ứng dụng lò phản ứng, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. Ví dụ: sản xuất chất đồng vị phóng xạ cho y tế. Lò phản ứng lớn như vậy hoàn toàn có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu về đồng vị chất phóng xạ cho ngành y tế Việt Nam, thậm chí có thể xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Với các chùm bức xạ neutron ở lò phản ứng nghiên cứu thì chúng ta sẽ tổ chức các nghiên cứu và ứng dụng khác (chế tạo các vật liệu bán dẫn, sử dụng chùm bức xạ từ lò phản ứng cho kỹ thuật xạ trị neutron,…).   Thứ tư là đào tạo nhân lực. Đấy sẽ là một cơ sở có các chuyên gia giỏi về hạt nhân, đào tạo cán bộ cho các chương trình phát triển điện hạt nhân nói chung của Việt Nam.  Trong một phát biểu gần đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bày tỏ quan ngại về những vấn đề phức tạp có thể phát sinh nếu đặt Trung tâm ở Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh, đồng thời cho rằng nên xây dựng Trung tâm ở Đà Lạt. Xin ông cho ý kiến về việc này.  Địa điểm là một vấn đề rất quan trọng trong xây dựng và phát triển Trung tâm. Có địa điểm thì mới triển khai các bước tiếp theo được. Báo cáo khả thi cũng phải dựa trên địa điểm thì mới thiết kế được. Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam từng đề xuất xây dựng Trung tâm ở Hà Nội. Lý do là địa điểm như vậy sẽ khai thác hiệu quả hơn các thiết bị được đầu tư vào đây, do mục tiêu của Trung tâm gắn liền với hoạt động của rất nhiều đơn vị nghiên cứu, sử dụng là các cơ quan, viện nghiên cứu, trường đại học. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng có ưu thế hơn so với Đà Lạt trong việc thu hút nhân lực chất lượng cao. Các cán bộ giỏi mong muốn tập trung vào hai thành phố đó hơn là đi những nơi xa.   Tuy nhiên, đề xuất trên đây chưa được cấp trên xem xét. Gần đây, trong buổi làm việc với Bộ KH&CN, Thủ tướng khuyên là nên đặt Trung tâm vào Đà Lạt vì ở đó đã có sẵn một trung tâm hạt nhân và lò phản ứng, và người dân địa phương cũng cảm thấy bình thường với sự hiện diện này. Thủ tướng cũng cho rằng việc đi lại cũng không phải vấn đề lớn. Chúng tôi chấp hành chỉ đạo của Thủ tướng và sẽ sớm làm việc với địa phương Lâm Đồng để khảo sát thêm về địa điểm.     Theo kế hoạch đã được phê duyệt thì đến năm 2020 chúng ta đã phải bắt đầu vận hành tổ máy đầu tiên của nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Vậy dự kiến khi nào thì Trung tâm có thể đi vào hoạt động để hỗ trợ cho dự án này?  Chúng tôi muốn Trung tâm phải hoạt động sớm hơn dự án điện hạt nhân, có thể cuối 2013, đầu 2014 là mở rồi. Nhưng bây giờ chúng ta còn rất ít thời gian trong khi có rất nhiều việc phải làm. Chúng tôi mong muốn và đề xuất là muộn nhất đến năm 2018 thì phải đưa Trung tâm vào vận hành, thậm chí một số hạng mục cần phải xây sớm để giúp cho vấn đề triển khai dự án điện hạt nhân nếu có yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật.   Trong năm 2012, chúng tôi cố gắng về cơ bản ra được một khung chung và một số văn bản cụ thể, phục vụ cho giai đoạn từ chọn địa điểm đến làm dự án xây dựng Trung tâm. Sở dĩ chưa triển khai xây dựng nhanh được khung pháp lý vì Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm xây dựng cơ sở pháp lý cho điện hạt nhân. Trước đây khi xây Viện Đà Lạt thì không có văn bản nào, tất cả chúng ta đều dựa vào Nga. Gần đây chúng ta từng bước xây dựng các quy định nhưng vẫn chưa đủ. Hiện nay Viện đã được giao chuẩn bị khung văn bản phục vụ triển khai Trung tâm này, đặc biệt là cho việc xây dựng lò phản ứng mới.   Vấn đề nhân lực cho việc phát triển năng lượng nguyên tử ở Việt Nam đang là lo ngại chính của cả Nhà nước và dư luận, khi nhân lực của chúng ta còn rất  thiếu và yếu. Theo tìm hiểu của Tia Sáng thì một trong những trở ngại chính là chính sách đãi ngộ của chúng ta chưa thực sự thu hút được người giỏi tham gia. Vậy thực trạng chế độ đãi ngộ cho nhân lực trong lĩnh vực hạt nhân ở nước ta hiện nay như thế nào?  Theo kinh nghiệm một số nước, trong những giai đoạn đầu phát triển năng lượng hạt nhân thì Nhà nước thường có chính sách rất ưu đãi. Ví dụ như ở Hàn Quốc vào những năm 1960 khi mới bắt đầu phát triển điện hạt nhân, cán bộ của Viện nguyên tử lương cao hơn rất nhiều so với lương nhân viên làm ở Daewoo hay Samsung. Ở Trung Quốc thời cách mạng văn hóa là thời rất trì trệ nhưng cán bộ về nguyên tử vẫn được quan tâm đặc biệt. Nhờ những ưu đãi như vậy nên ngành điện hạt nhân của họ mới phát triển được.   Ở Việt Nam, trong luật đã có chế độ ưu đãi cho cán bộ nguyên tử, nhưng khi đi vào cụ thể, giải quyết với các bộ ngành rất khó. Đây là bất cập rất lớn, khiến chế độ đãi ngộ cho cán bộ quản lý và nghiên cứu của Nhà nước trong lĩnh vực điện hạt nhân là rất thấp.   Hậu quả là ngay giữa những người cùng làm điện hạt nhân ở Bộ KH&CN và ở EVN đã có khác biệt rất lớn về thu nhập. Ví dụ lương của tôi bây giờ là hơn 5 triệu, nhưng lương một trưởng ban hay phó ban làm ở Ban điện hạt nhân của EVN thì lương gấp khoảng 7-8 lần như vậy. Một số cán bộ ngày xưa phục vụ trong Viện Năng lượng Nguyên tử, nay chuyển sang EVN thì mức lương cũng thành mười mấy triệu, cao hơn hẳn.   Có khác biệt lớn như vậy nên rất khó thu hút được người giỏi về các cơ quan nghiên cứu và quản lý của Nhà nước, và do đó không thể phát triển các cơ quan này được. Cũng vì thu nhập thấp nên sau khi được các cơ quan Nhà nước đào tạo, cán bộ rất dễ chuyển đi làm thuê cho nước ngoài. Sắp tới công trình điện hạt nhân của Nhật, Nga vào Việt Nam thì họ chắc chắn sẽ hút đi một lượng lớn cán bộ của Nhà nước.    Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần có những giải pháp, chính sách thiết thực trong xây dựng đội ngũ khoa học      Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam -HVNNVN) là một trong số ít những trường đại học có những giải pháp hữu hiệu trong tổ chức hoạt động KHCN nên đã đạt được những thành tựu nổi bật trong nghiên cứu triển khai: 7 năm qua, số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài đã tăng lên gần 10 lần; kinh phí khoa học, trong đó có các hợp đồng với các doanh nghiệp, các địa phương, liên tục tăng… đã tạo ra 2 trong số 3 thành tựu nổi bật về các giống cây trồng lai được tạo ra trong những năm gần đây trong ngành nông nghiệp là lúa lai và cà chua lai, đó là giống lúa lai đầu tiên mang tên Vietlai 20, và sau đó là các giống lúa lai mang thương hiệu VL và TH; và các giống cà chua mang tên thương mại HT.  GS.TS Trần Đức Viên, Giám đốc HVNNVN, đã trao đổi với phóng viên Tia Sáng về những giải pháp đó.      Mở đầu cuộc trao đổi, GS.TS Trần Đức Viên cho biết, sau gần 60 năm xây dựng và phát triển, HVNNVN đã hình thành được một đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo với nhiều chuyên gia đầu ngành ở hầu hết tất cả các lĩnh vực của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Rất nhiều các nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau đã được hình thành. Ở đó các nhà khoa học làm việc không bị bó buộc bởi các biên giới hành chính khoa này khoa kia, viện này viện kia, họ cùng nhau nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó dưới sự dẫn dắt của một nhà khoa học đầu ngành. Từ đó hình thành nên các viện, trung tâm nghiên cứu mạnh.  Mọi hoạt động nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ của HVNNVN luôn gắn với các địa phương, các doanh nghiệp, với các điều kiện sinh thái cụ thể, nhờ thế mà có những đóng góp đáng kể vào sản xuất nông nghiệp như có giống lúa do HVNNVN tạo ra đã tồn tại trên cánh đồng của người nông dân gần nửa thế kỷ, và sẽ còn cùng đồng hành với nông dân lâu dài (giống VN10), có giống lúa lai của HVNNVN đã tạo ra “tiếng bom” trong thị trường giống lúa lai ở Việt Nam khi doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra trên 10 tỷ đồng để mua bản quyền (giống lúa lai 2 dòng TH3-3)…  Xin ông cho biết, để có được những kết quả như vậy trong nghiên cứu khoa học, HVNN Việt Nam đã có những giải pháp chủ yếu gì?  Trước hết chúng tôi phải xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu vừa dài hạn vừa cụ thể cho từng nhóm ngành, chuyên ngành và liên ngành, xác định ngành Công nghệ sinh học là ngành nghiên cứu trọng điểm. Gắn nghiên cứu với đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học, nghiên cứu với nhu cầu của các Bộ ngành, địa phương, tổ chức phát triển, cả khu vực kinh tế công và kinh tế tư nhân;        Tin và trọng dụng các nhà khoa học, khẩn trương xây dựng các nhà khoa học đầu đàn là nhiệm vụ trọng tâm. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm với các nhà khoa học, các tổ chức khoa học với sản phẩm đầu ra rõ ràng, cụ thể. Nền khoa học “ăn đong” không bao giờ có thể tạo ra các nhà khoa học đầu đàn. Các nhà khoa học chân chính có tính tự trọng rất cao, không tin họ, không trọng dụng họ thì họ không thể sáng tạo ra các công trình để đời, có những đóng góp thiết thục cho phát triển kinh tế-xã hội của ngành, của đất nước.          Xây dựng và thực thi quy định về nghiên cứu và chuyển giao KH&CN theo hướng phân cấp, minh bạch; đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý KH&CN, quản lý tài chính, quản lý dựa vào chất lượng, nhằm phát huy sức mạnh nội lực và khuyến khích giảng viên, sinh viên, các bộ môn, viện và trung tâm tham gia nghiên cứu và chuyển giao KH&CN, đồng thời, thu hút các tổ chức phát triển trong nước và quốc tế, các địa phương và các thành phần kinh tế đặt hàng và tài trợ cho nghiên cứu;  Tổ chức khai thác tốt các sản phẩm trí tuệ và thương mại hóa các sản phẩm KH&CN của nhà trường. Trao đổi thông tin, xuất bản, đăng ký kịp thời bản quyền các sản phẩm KH&CN của trường trên thị trường trong và ngoài nước;   Và điều hết sức quan trọng là cần hình thành các trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp, các phòng nghiên cứu chuẩn và đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước để thực hiện các chương trình hợp tác, nghiên cứu và chuyển giao KH&CN.  Ông có thể nói cụ thể hơn về việc hình thành các trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp và phòng thí nghiệm chuẩn.  Việc đầu tiên là phải có những giải pháp, những chính sách “cứng rắn” trong xây dựng đội ngũ khoa học, ví dụ như dựa trên quan điểm cán bộ giảng dạy đại học trước hết cần và phải là một nhà khoa học nên Nhà trường đã có quy định như sau 2 năm hết tập sự, cán bộ giảng dạy phải có đầu vào thạc sỹ, người đã có học vị thạc sỹ, sau 4 năm phải có đầu vào tiến sỹ, một trong hai bằng sau đại học, thạc sỹ hoạc tiến sỹ, phải được đào tạo tại các trường đại học thuộc top 200 trên thế giới (theo Times Higher Education World University Rankings). Nhờ vậy số cán bộ giảng dạy có bằng sau đại học, nhất là bằng tiến sỹ, 7 năm qua đã tăng trên 2 lần. Bằng nhiều nguồn lực, HVNNVN cũng tập trung xây dựng các phòng nghiên cứu chuẩn, theo các tiêu chuẩn ISO hoặc theo tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm chỉ định của Bộ NN&PTNT. Các “ông Nghè, ông Cống” sau khi từ nước ngoài về, không có các phòng thí nghiệm như thế để họ thi thố tài năng thì chỉ cần sau 3 năm họ lại về ‘điểm xuất phát’. Đồng thời với việc thành lập các Lab chuyên ngành,  HVNNVN đã cho thành lập nhiều viện, trung tâm nghiên cứu; ở đó có môi trường học thuật chuyên nghiệp, thước đo của cán bộ viên chức ở đó là số công trình khoa học “trình làng”, số tiền từ các nguồn khác nhau “chảy” về viện, về trung tâm, không cần bình bầu nhiều, không cần nhiều loại danh hiệu thi đua khác nhau để đánh giá về một con người. Tất cả các viện, trung tâm nghiên cứu này vận hành theo cơ chế 115, khi thấy không thể tồn tại được thì tự giải thể, không cần qua các vòng xét duyệt hành chính. Mỗi viện, trung tâm khi thành lập thì được “nuôi” 3 năm, sau đó thì dần dần “cai sữa”.   Nhiều cán bộ giảng dạy trẻ, tốt nghiệp tiến sỹ từ các nước phát triển trở về, cảm thấy “chật chội” khi làm việc ở các bộ môn, nơi có tầng tầng lớp lớp các bậc “tiền bối” với các lề thói quản lý cũ kỹ, với các thước đo giá trị con người “không giống ai” thì họ về đây, tình nguyện làm “quân” của một nhà KH đầu ngành, công tâm và minh bạch; ở đó họ được nói lên tiếng nói của họ, được cống hiến, được làm việc trong môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Nhiều người trong số họ đã trở thành các nhà khoa học tên tuổi, đã trở về làm cán bộ quản lý ở nhiều bộ môn, khoa, viện, trung tâm…   Các cán bộ trẻ khi có công bố quốc tế, họ được vinh danh trong ngày Nhà giáo Việt Nam, được thưởng tiền mặt (từ 2007 khi HVNNVN còn mang tên Trường ĐHNN I, mỗi bài báo quốc tế có thuộc ISI, SCI hay Scopus có IF lớn hơn 1,5 đều được thưỏng tiền mặt là 25 triệu), được xét lên lương sớm, được thừa nhận là Chiến sỹ thi đua của năm học, v.v… Ai không chịu nổi sự cọ xát của thử thách này thì lại về bộ môn, về khoa lo giảng dạy các khóa học bình thường, lo ‘gánh’ giờ dạy cho các nhà giáo khác những người chuyên tâm hơn vào NCKH và sáng tạo công nghệ.   Sắp tới, với các khóa đào tạo sau đại học, HVNNVN sẽ áp dụng phương pháp giảng dạy dựa vào kết quả nghiên cứu của bản thân giảng viên và của các đồng nghiệp của họ. Khi ấy, ai không có công trình nghiên cứu thì cũng khó mà giảng dạy sau đại học. Có thể từ những chính sách này mà số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài 7 năm qua đã tăng lên gần 10 lần. Kinh phí khoa học, trong đó có các hợp đồng với các doanh nghiệp, các địa phương, liên tục tăng…   Để giúp các trường/viện nghiên cứu thực hiện tốt vai trò của mình, theo ông Nhà nước cần có cơ chế, chính sách gì?  Để các trường/viện nghiên cứu thực hiện tốt vai trò của mình, trong thời gian tới Nhà nước tập trung tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách quản lý KHCN với các giải pháp then chốt sau:  Đổi mới cơ chế xác định nhiệm vụ khoa học công nghệ theo hướng hình thành các chương trình nghiên cứu lớn, dài hạn gắn với các mục tiêu ưu tiên phát triển ngành nhằm tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ, sẵn sàng chuyển giao ngay cho xã hội, đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất và đời sống.  Tiếp tục quán triệt thực hiện tốt đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế thực hiện các nhiệm vụ KHCN (cơ chế tuyển chọn tổ chức KHCN thực hiện nhiệm vụ, cơ chế tài chính, cơ chế quản lý,…) thuận lợi nhất để các nhà khoa học và các tổ chức KHCN dễ dàng triển khai các nhiệm vụ KHCN.  Tăng đầu tư một cách có trọng tâm, trọng điểm cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tránh dàn trải, cắt lát để KHCN thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng và phát triển nông nghiệp và nông thôn.  Tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tích cực tìm kiếm và hợp tác với các tổ chức quốc tế, đi tắt, đón đầu nghiên cứu các lĩnh vực mới, công nghệ sinh học, công nghệ xanh,… bền vững và an toàn với môi trường. Không thể ‘đi tắt, đón đầu’ một cách đàng hoàng nếu thiếu vắng sự hợp tác quốc tế. HTQT trong KHCN là cách tốt nhất để kéo các chuẩn mực quốc tế về gần mình hơn, và cũng là cách tốt nhất để đưa ta gần gũi hơn với cộng đồng KH quốc tế.  Có cơ chế huy động tốt hơn các doanh nghiệp và toàn xã hội tham gia nghiên cứu và phát triển công nghệ trên cơ sở các đơn đặt hàng với các tổ chức KHCN gắn với sản phẩm ứng dụng cuối cùng.  Các trường đại học phải là các tổ chức KHCN chủ lực, phải được đầu tư xứng đáng, có đội ngũ nghiên cứu viên chuyên nghiệp (hiện nay các trường đại học không có “biên chế” nghiên cứu viên).  Do ta đi sau, nên cần nhập khẩu công nghệ trọn gói, nghĩa là nhập khẩu thiết bị, công nghệ và mời các nhà khoa học của bạn sang cùng nghiên cứu với ta; hoặc là trước khi nhập khẩu thiết bị, cử từ trưởng Lab đến nghiên cứu viên, ký thuật viên sang học trọn vẹn về sử dụng, vận hành, bảo dưỡng… để ta làm chủ công nghệ, biến công nghệ của bạn thành công nghệ của ta.  Xin trân trọng cảm ơn ông.   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần công khai, minh bạch trong xét duyệt đề tài      Ngay từ khi mới thành lập, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về công nghệ định vị sử dụng vệ tinh (NAVIS) đã hoạt động theo cơ chế tự chủ, TS. Tạ Hải Tùng – giám đốc Trung tâm – cho rằng, đó là cách tốt nhất để các viện nghiên cứu ứng dụng có thể phát triển bền vững và tạo ra những sản phẩm có giá trị thực tiễn.&#160;       Theo tôi, tự chủ là khái niệm bao gồm hai mặt quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó, đặt nặng vai trò của người lãnh đạo. Với tự chủ, người lãnh đạo các tổ chức nghiên cứu được tự do (trong tài chính, tuyển dụng, định hướng nghiên cứu) nhưng đồng thời anh ta cũng phải có trách nhiệm duy trì, phát triển đơn vị của mình. Sức ép ấy sẽ tạo ra sự năng động, sáng tạo và viện, tổ chức nghiên cứu vừa sẽ “thoát dần” khỏi “bầu sữa” của nhà nước, vừa tạo ra những sản phẩm khoa học công nghệ có giá trị sử dụng.   Để thúc đẩy quá trình tự chủ của các đơn vị, cách đơn giản nhất có thể thực hiện là công khai và minh bạch hóa quy trình đấu thầu từ đánh giá, xét duyệt đến nghiệm thu các đề tài và dự án cấp nhà nước. Với cách đó, những đơn vị không làm ra sản phẩm sẽ không được tiếp cận với các nguồn vốn từ ngân sách nữa, đồng thời những đơn vị nghiên cứu tốt sẽ chứng minh được năng lực của mình. Thứ hai, nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với các đơn vị nghiên cứu và đóng góp vào các quỹ đầu tư để hỗ trợ các nhóm nghiên cứu với sản phẩm có tiềm năng ứng dụng. Bên cạnh đó, những đề tài ứng dụng (sản xuất thử nghiệm, sản phẩm công nghệ cao) rất cần sự tham gia của doanh nghiệp. Họ không chỉ hỗ trợ kinh phí nghiên cứu mà còn thẩm định khả năng áp dụng sản phẩm công nghệ vào thị trường. Khi chúng tôi thực hiện những đề tài, dự án liên kết với các nước châu Âu, chỉ những đề tài có sự tham gia của doanh nghiệp mới được phê duyệt (vì điều đó chứng tỏ phần nào tính khả thi của dự án). Như vậy, nguồn tài trợ đa dạng đến từ cả ngân sách và doanh nghiệp sẽ góp phần làm minh bạch hóa nền khoa học.            Những đề tài có ý nghĩa với tính mới, tính sáng tạo được đề cao luôn tiềm ẩn rủi ro, vì vậy nếu quá đặt nặng cam kết đến sản phẩm cuối cùng với cơ chế xử lý rủi ro nặng nề thì họ chỉ có thể cam kết những sản phẩm an toàn (hầu hết đã được làm xong, tính mới không còn nhiều).          Hiện nay, với sự ra đời của Luật Khoa học và Công nghệ 2013, chúng ta có hình thức quỹ đầu tư khoa học và công nghệ cũng như cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Với cá nhân tôi, đó là những bước đột phá rất quan trọng, tạo điều kiện rất lớn cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của các nhà khoa học. Tuy nhiên, để tránh rủi ro cho chủ đầu tư, việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện vẫn phải làm liên tục và xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài. Một ví dụ là với các đề tài/dự án nghiên cứu khoa học (NCKH) thuộc Chương trình khung về phát triển KHCN FP7 của Liên minh châu Âu, khi một đề tài được phê duyệt, cơ quan quản lý sẽ cử riêng một cán bộ hành chính và một chuyên gia độc lập cùng lĩnh vực chuyên môn (được thuê riêng) “đồng hành” cùng với nhóm thực hiện đề tài. Vai trò của họ vừa có tính chất giúp cơ quản quản lý giám sát, đánh giá chất lượng công việc, vừa mang tính hỗ trợ nhóm thực hiện để đảm bảo đề tài về đích với các mục tiêu đặt ra ban đầu. Ngoài ra, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, cũng không nên hiểu chỉ có sản phẩm cuối cùng được bảo vệ, đề tài vẫn cần có các sản phẩm trung gian được nộp lên cơ quan quản lý theo đúng hạn đăng ký trong thuyết minh. Dựa vào đánh giá của phản biện độc lập về chất lượng các sản phẩm trung gian, cơ quan quản lý quỹ sẽ quyết định có chi tiếp ngân sách trong giai đoạn tiếp theo hay không. Với các dự án FP7, khi bắt đầu thực hiện, cơ quan quản lý cấp 55% ngân sách (trong đó dành riêng 5% cho quỹ bảo lãnh đề phòng rủi ro), qua đánh giá giữa kỳ cấp tiếp 25%; và cuối cùng khi dự án được nghiệm thu thành công, 20% còn lại sẽ được giải ngân.  Mặc dù tôi rất ủng hộ cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tuy nhiên, qua trao đổi với các đồng nghiệp, tôi cũng hiểu vẫn còn một số băn khoăn về áp lực ra sản phẩm cuối cùng. Vì cần phải khẳng định rằng, những đề tài có ý nghĩa với tính mới, tính sáng tạo được đề cao luôn tiềm ẩn rủi ro, vì vậy nếu quá đặt nặng cam kết đến sản phẩm cuối cùng với cơ chế xử lý rủi ro nặng nề thì họ chỉ có thể cam kết những sản phẩm an toàn (hầu hết đã được làm xong, tính mới không còn nhiều).   Qua tìm hiểu, tôi được biết trên thế giới, vấn đề xử lý các đề tài không hoàn thành nhiệm vụ cũng hết sức phức tạp, vì vậy, quy trình đầu vào, cũng như các bước giám sát và kiểm tra liên tục cần được thực hiện đảm bảo tính minh bạch, có trách nhiệm, cũng như sự liên tục và xuyên suốt như trình bày ở trên. Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng, ở các nước phát triển, các nhà khoa học khi làm đề tài/dự án nghiên cứu không được thêm thù lao, mà chỉ có kinh phí phục vụ mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu, đi lại trao đổi học thuật, và trả lương cho trợ lý nghiên cứu/ nghiên cứu sinh. Vì vậy, họ làm khoa học vì đam mê, và mong muốn mang sản phẩm nghiên cứu phục vụ cộng đồng, chứ không phải vì danh hiệu hay vật chất (những thứ chỉ đến nếu họ có kết quả nghiên cứu tốt). Do đó, nguyên nhân để một đề tài không về đích phần nhiều do yếu tố khách quan, vì vậy, sự trừng phạt cũng không nặng nề (ví dụ: không cho đăng ký đề tài tiếp tục từ ba đến năm năm tiếp theo). Tuy nhiên, ở ta do chế độ lương bổng cho các nhà khoa học quá thiếu hấp dẫn nên thực hiện đề tài vẫn là một nguồn thu nhập chính, do đó đòi hỏi ngay lập tức theo chuẩn quốc tế là không khả thi. Chính vì vậy, trách nhiệm hạn chế rủi ro trong nghiên cứu phần nhiều thuộc về cơ quan quản lý trong việc lựa chọn, thẩm định các đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, cũng như các nhóm nghiên cứu có năng lực và tự trọng nghề nghiệp.  Nghị định 115 của Chính phủ về “Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập” đã ra đời cách đây 10 năm nhưng qua tìm hiểu tôi thấy rằng, vẫn còn không ít các tổ chức nghiên cứu công lập thiếu quyết tâm thực hiện và còn tâm lý ỷ lại vào “bầu sữa” ngân sách nhà nước, tiếp tục kéo dài tình trạng hoạt động không hiệu quả, với một bộ máy nhân sự cồng kềnh. Ở một khía cạnh nào đó, các đơn vị này sống “rất khỏe” từ ngân sách nhà nước nhưng số tiền đó không được phân bổ một cách sòng phẳng.  Những nhà nghiên cứu trẻ thiệt thòi hơn nhiều so với các nhà quản lý và những người nghiên cứu lâu năm. Thực tế này dẫn đến việc rất khó thu hút được những người giỏi có đam mê, với tư duy sáng tạo đột phá trong NCKH và chuyển giao công nghệ. Mặt khác, do những quy định về biên chế của các tổ chức khoa học mang tính hành chính nên người lãnh đạo cũng không thể sàng lọc bớt những cán bộ khoa học thiếu năng lực. Đối với một tổ chức nghiên cứu không tinh nhuệ như vậy, sẽ không dễ dàng để đảm nhận những đề tài, dự án bắt buộc phải cam kết có sản phẩm đầu ra. Ở các tổ chức nghiên cứu này, một trong những giải pháp hàng đầu với quy định biên chế hiện hành, để thúc đẩy tự chủ là phải sàng lọc bộ máy và tuyển dụng những nhà khoa học thực sự có tài năng.           Về mặt cá nhân, tôi không thích dùng từ “trọng dụng” và càng không thích cụm từ “trọng dụng/ưu tiên các nhà khoa học trẻ”. Theo tôi, ngoài việc quan trọng hàng đầu là phải tạo điều kiện để các nhà khoa học có thể sống được bằng nghiên cứu, cần phải đối xử với tất cả các nhà khoa học một cách bình đẳng. Nếu họ có năng lực, tâm huyết và có sản phẩm tốt, dù là ai cũng đều được ưu tiên.        Gần đây, người ta hay nói nhiều đến việc “trọng dụng/ưu tiên các nhà khoa học trẻ”. Về mặt cá nhân, tôi không thích dùng từ “trọng dụng” và càng không thích cụm từ “trọng dụng/ưu tiên các nhà khoa học trẻ”. Theo tôi, ngoài việc quan trọng hàng đầu là phải tạo điều kiện để các nhà khoa học có thể sống được bằng nghiên cứu, cần phải đối xử với tất cả các nhà khoa học một cách bình đẳng. Nếu họ có năng lực, tâm huyết và có sản phẩm tốt, dù là ai cũng đều được ưu tiên. Sự công bằng, bình đẳng đó trước hết nên bắt đầu bằng việc xét duyệt đề tài NCKH, thay vì phụ thuộc vào học hàm, học vị, hội đồng cần đánh giá năng lực dựa trên chất lượng các nghiên cứu và sản phẩm của họ trước đó, cũng như việc xét duyệt phải diễn ra một cách công khai, minh bạch, với vai trò của các phản biện độc lập đến từ nhiều thành phần (nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà quản lý) ở trong nước, hoặc thậm chí từ nước ngoài.  Có thể nói, hoạt động theo cơ chế tự chủ mang ý nghĩa sống còn đối với những đơn vị nghiên cứu ứng dụng – triển khai và phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Bước đầu thực hiện cơ chế tự chủ sẽ có không ít tổ chức nghiên cứu không hoạt động được. Nhưng theo ý kiến cá nhân, chúng ta có thể phải chấp nhận như vậy, thay vì để tồn tại những đơn vị nghiên cứu hoạt động không hiệu quả. Vì tình trạng đó đưa lại một hệ lụy vô cùng nguy hiểm, đó là mất đi lòng tin của xã hội và đặc biệt là doanh nghiệp vào việc làm của các nhà khoa học.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đào tạo các nhóm chuyên gia điện hạt nhân      Dù đã đặt mục tiêu sẽ vận hành nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào năm 2020, nhưng cho tới nay ở VN, điện hạt nhân vẫn là một lĩnh vực còn vô cùng mới mẻ. Qua trả lời phỏng vấn với Tia Sáng, GS Pierre Darriulat đã cung cấp một số thông tin và định hướng mà các nhà quản lý và hoạch định chính sách có thể tham khảo để xây dựng và triển khai thành công chương trình điện hạt nhân của VN.    Hiện nay, Việt Nam đang bước đầu xây dựng chương trình điện hạt nhân. Xin ông cho biết những điều cần đặc biệt lưu ý để chương trình này đạt được thành công?  Hiện nay và trong thời gian tới, nhu cầu năng lượng của Việt Nam là rất lớn. Vì vậy, năng lượng hạt nhân là một lựa chọn khá rõ ràng, đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc và Ấn Độ đang triển khai những chương trình năng lượng hạt nhân đều tham vọng. Tuy nhiên, năng lượng hạt nhân có những đòi hỏi rất khắt khe về trình độ công nghệ và yêu cầu khả năng đảm bảo an toàn vượt xa trình độ hiện nay của Việt Nam.  Có lẽ, các nhà quản lý lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam vẫn chưa đánh giá đúng thực tế này. Không hiểu lý do đơn giản là vì người ta xem nhẹ vấn đề, hay người ta nghĩ rằng đối tác phía Nga sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn hạt nhân. Nếu đúng là do người ta xem nhẹ vấn đề, thì điều này quả là đáng báo động. Còn nếu lý do là họ phó thác cho đối tác phía Nga, thì hậu quả sẽ là tính tự chủ của Việt Nam sẽ bị giảm đi, một vấn đề chính trị mà tôi không đủ chuyên môn để luận bàn, mặc dù rõ ràng đây là vấn đề rất quan trọng.     Dưới góc độ quản lý, một chương trình điện hạt nhân của quốc gia cần phải thuộc trách nhiệm trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, giống như trong giai đoạn bắt đầu của các chương trình AEC của Mỹ, hay CEA của Pháp. Điều này không có nghĩa là Thủ tướng sẽ phân chia trách nhiệm phụ trách cho vài Bộ trưởng các bộ khác nhau (theo ý tôi, điều này sẽ không bao giờ đem lại hiệu quả). Thay vào đó, cần phải có một tổ chức mà những người tham gia phụ trách trong đó sẽ phải báo cáo trực tiếp với Thủ tướng.   Đối với mục tiêu của chương trình, các vấn đề an toàn và truyền thông phải được quan trọng đúng mức. Nhưng tất nhiên, các vấn đề chủ yếu cần phải giải quyết trước mắt vẫn là công nghệ, quản lý con người, và tài chính.   Gần đây, trong một dịp làm việc với Bộ KH&CN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng Việt Nam nên phát triển một trung tâm nghiên cứu hạt nhân quốc gia tại Đà Lạt, trên cơ sở viện nghiên cứu hạt nhân đã có tại đây. Xin ông cho biết quan điểm của mình về việc này?   Đúng là Việt Nam nên khẩn trương thành lập một trung tâm nghiên cứu hạt nhân quốc gia. Bây giờ đã là muộn, nhưng thà muộn còn hơn không. Đà Lạt là địa điểm phù hợp, vì tại đây đã sẵn có một lò phản ứng. Dù chỉ là một lò phản ứng rất khiêm tốn phục vụ nghiên cứu, nhưng người ta vẫn có thể tận dụng để học hỏi được rất nhiều trong quá trình làm quen với công tác vận hành lò phản ứng hạt nhân.   Đà Lạt không phải là Hà Nội hay Sài Gòn, và các chuyên gia sẽ phải có động lực nghề nghiệp nhất định mới có thể quyết định chuyển tới làm việc tại đây, nhưng điều này cũng có ý nghĩa tích cực, vì đa phần trong số họ sẽ là những người chuyên tâm cho công việc, như trường hợp thành phố Novosibirsk của Liên Xô từng thu hút tập hợp được một trong những cộng đồng khoa học ưu tú nhất trên thế giới. Tất nhiên so sánh giữa Đà Lạt và Novosibirsk ở đây là khập khiễng, nhưng nếu thực thi một chính sách tuyển dụng và chương trình đào tạo đúng đắn (sẽ phải nghiêm khắc hơn rất nhiều so với cách thức, tập quán phổ biến hiện nay ở Việt Nam), thì Đà Lạt vẫn có thể trở thành một trung tâm thực sự ưu tú, là hình mẫu cho các trung tâm khoa học khác của đất nước.     Làm thế nào để tuyển dụng được một đội ngũ nhân lực giỏi phục vụ cho trung tâm nghiên cứu hạt nhân?           Chương trình điện hạt nhân thường có có ba chủ thể chính. Một là chủ đầu tư (EVN) mà sau này sẽ là người chủ quản tổ chức vận hành, bảo dưỡng. Hai là cơ quan pháp quy – tổ chức xây dựng các văn bản, thanh tra, kiểm tra, tổ chức hoạt động cấp phép cho dự án. Trong khi ở các nước khác, cơ quan pháp quy này chỉ có một, thì ở nước ta chức năng này đang liên quan tới nhiều cơ quan: Bộ KH&CN cấp phép xây dựng, Bộ Công thương cấp phép vận hành. Chủ thể thứ ba là các cơ quan hỗ trợ kỹ thuật.              (Vương Hữu Tấn – Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam)          Hoạt động tuyển dụng, cần giữ một thái độ rất khách quan, lấy tài năng và chất lượng làm mục tiêu hàng đầu, bên cạnh các tiêu chí quan trọng khác là kiến thức và đạo đức. Nên sẵn sàng tuyển người từ nhiều thành phần, như khu vực tư, hay các trường đại học. Việc tuyển dụng cần được thông qua một hội đồng làm việc rất nghiêm khắc, giữ quy chuẩn đạo đức rất cao, trong đó có sự tham gia của các chuyên gia có uy tín và kinh nghiệm người nước ngoài để tránh xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Trung tâm nên sử dụng nhiều các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là những người từ IAEA. Nên sử dụng cả chuyên gia nước ngoài trong các hội đồng giám sát để hỗ trợ cho công tác quản lý.   Rất cần nghiêm túc cân nhắc cả những Việt kiều có tài năng hoặc kinh nghiệm hữu ích, trên cơ sở đánh giá chính xác những tài năng và kinh nghiệm này, với một thái độ trân trọng rất rõ ràng những người quay trở về để phụng sự Tổ quốc.   Trụ sở điều hành của trung tâm phải có trụ cột là những con người có tầm tri thức cao, có đạo đức và thái độ làm việc nghiêm túc. Trình độ chuyên môn của họ không nên chỉ thuần túy kỹ thuật, cũng không thể chỉ thuần túy là quản lý. Họ nên là những người biết cách tuân thủ các quy định, nhưng cũng biết thay đổi các quy định không phù hợp, và biết cách cải tiến chúng. Họ cần có kinh nghiệm về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực hạt nhân, nhưng cũng phải biết cách làm việc với nhiều cấp đối tượng khác nhau. Đặc biệt là họ cần đặt lợi ích của quốc gia lên trên những tham vọng cá nhân.  Để thu hút được các chuyên gia tốt, mức lương cần phải cao một cách thỏa đáng. Ví dụ, mức lương khởi điểm có thể xấp xỉ 1000 USD/tháng, và sau 5-6 năm có thể lên tới 2000 USD/tháng. Cần có một lộ trình tăng lương rõ ràng trong thời gian khoảng 20 năm được công khai ngay từ đầu với người ứng tuyển. Sau giai đoạn thử việc, người ứng tuyển cần được ký một hợp đồng dài hạn khoảng 3 năm, với khả năng được gia hạn thêm 3 năm tiếp theo, và sau 3 năm đầu tiên sẽ được xem xét ký hợp đồng vô thời hạn.    Công tác đào tạo cán bộ, chuyên gia trong ngành điện hạt nhân đang là một đòi hỏi cấp bách ở Việt Nam. Với một mô hình như trung tâm nghiên cứu hạt nhân thì cần tiến hành theo một lộ trình như thế nào?  Trước mắt, Việt Nam cần ưu tiên đào tạo các kỹ sư và nhà khoa học, tiếp theo mới đến các chuyên gia công nghệ. Trung tâm nên gửi người đi đào tạo ở nước ngoài, nhưng những người được gửi đi bắt buộc phải quay về trong một thời gian đủ dài để hướng dẫn lại những kiến thức mới được đào tạo cho các đồng nghiệp khác trong nước. Bên cạnh đó là mời các chuyên gia nước ngoài có uy tín tới giảng bài nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ trung tâm trong những khoảng thời gian ngắn.   Thông thường, nên duy trì khoảng hai phần ba người của trung tâm thường trực trong nước, và một phần ba đi đào tạo ở nước ngoài, nhưng thời gian mỗi giai đoạn đào tạo nước ngoài của từng người không nên quá một năm. Trung tâm phải có một đời sống khoa học riêng, một bản sắc độc lập thống nhất, và mọi thành viên phải được sự quan tâm, liên lạc, giám sát thường xuyên của trung tâm khi họ đi đào tạo ở nước ngoài. Mục tiêu cần hướng tới là đào tạo các nhóm chuyên gia làm việc cùng nhau, thay vì đào tạo một tập hợp các cá nhân.            P.V thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần đề xuất những chương trình nghiên cứu đáp ứng nhu cầu  cấp bách của đời sống      Tại Phiên họp toàn thể lần thứ nhất tổ chức ngày 22/11 của Hội đồng Chính sách KH&amp;CN Quốc gia (Hội đồng), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gửi gắm ở Hội đồng nhiều kỳ vọng, và đưa ra những yêu cầu nhiệm vụ cụ thể.    Phiên họp toàn thể lần này của Hội đồng có mục đích nhằm thông qua Quy chế hoạt động của Hội đồng trước khi trình Thủ tướng phê duyệt và xây dựng chương trình công tác và phân công nhiệm vụ các thành viên Hội đồng cho nhiệm kỳ 2012 – 2016. Tham dự phiên họp, ngoài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn có Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, các thành viên Hội đồng và lãnh đạo các Bộ, ngành.   Ông Hoàng Văn Phong, Chủ tịch Hội đồng, khẳng định Hội đồng trong nhiệm kỳ lần này sẽ tham gia tư vấn, đóng góp ý kiến cho các đề án bổ sung, sửa đổi một số Luật trong lĩnh vực KH&CN như Luật KH&CN, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Năng lượng Nguyên tử, v.v, đồng thời đóng góp ý kiến vào các đề án thuộc chương trình công tác của Chính phủ và Bộ KH&CN như: xây dựng quy hoạch hệ thống các tổ chức KH&CN; đổi mới mô hình và phương thức hoạt động của các tổ chức KH&CN; chính sách sử dụng nhân lực KH&CN và trọng dụng người tài; chính sách phát triển thị trường công nghệ; đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế tài chính cho các hoạt động KH&CN; đường lối hội nhập quốc tế về KH&CN.   Ngoài ra, có bốn vấn đề mà Hội đồng sẽ tập trung nghiên cứu trong thời gian tới, bao gồm: đánh giá tác động của hệ thống cơ chế chính sách đối với hoạt động KH&CN; chính sách ứng dụng những công nghệ của nước ngoài tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao; chính sách phát triển đội ngũ doanh nghiệp KH&CN; chính sách thu hút các nhà đầu tư công nghệ và nguồn nhân lực công nghệ trình độ cao.  Đa số các đại biểu tham dự phiên họp đều nêu những bất cập của cơ chế tài chính hiện hành dành cho các hoạt động KH&CN, với tình trạng các thủ tục rườm rà chậm trễ gây thiệt hại cho các dự án và lợi ích quốc gia. GS.TSKH Hồ Sĩ Thoảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, chuyên gia cao cấp của Hội đồng, cho rằng trước những bất cập này, các Bộ, ngành, trong đó kể cả Bộ Kế hoạch Đầu tư, đã có những ý thức chuyển biến nhất định nhằm hướng tới cải cách cơ chế và chính sách, trong khi Bộ Tài chính thì “chuyển biến rất ít”.  Ông lấy ví dụ về hạn chế trong cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ qua bất cập trong chính sách thuế nhập khẩu, điều mà ông gọi là “nghịch lý” khi mà một thiết bị công nghiệp như giàn khoan khi nhập khẩu toàn bộ từ nước ngoài về Việt Nam thì không bị đánh thuế, trong khi linh kiện nhập về (để tận dụng công nghệ lắp ráp trong nước, giảm chi phí nhập khẩu cho quốc gia) thì lại bị đánh thuế. Đây là một trong những bất cập của cơ chế tài chính khiến không khuyến khích được nguồn lực của các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu đổi mới công nghệ. Chưa kể thủ tục tài chính quá rườm rà khiến có những doanh nghiệp trích quỹ đầu tư đổi mới công nghệ nhưng không thể tiêu được, điển hình như Tập đoàn Viettel, theo phản ánh của TS. Trương Quang Khánh, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Hội đồng. Những bất cập này trong cơ chế tài chính khiến “công tư không thể hợp tác” trong đầu tư phát triển công nghệ, PGS.TS Nguyễn Đăng Vang, nguyên PCN Ủy ban KHCN&MT Quốc hội, nhận định. Đây là nguyên nhân khiến tỷ trọng đầu tư cho KH&CN của khu vực tư chỉ chiếm 3 phần, trong khi ở các nước có nền KH&CN phát triển hơn tỷ trọng này là 7 phần, ông đánh giá.   Nguồn tiền đầu tư cho KH&CN ở Việt Nam hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào Nhà nước, nhưng bản thân nguồn lực này ngoài vướng mắc về rườm rà trong thủ tục còn phổ biến tình trạng chậm phân bổ kinh phí. GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện KH&CN Việt Nam kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng, phản ánh tình trạng nguồn tiền phân bổ hằng năm cho hoạt động KH&CN quá chậm trễ, ví dụ như liên tiếp trong 2 năm 2011 và 2012, nguồn tiền Ngân sách Nhà nước phải chờ tới tháng 11 mới được phân bổ về.  Tập trung xây dựng cơ chế khoán sản phẩm  Để tạo một cơ chế tài chính khoa học thông thoáng cho các nhà nghiên cứu, các Ủy viên Hội đồng như GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội và GS.TSKH Nguyễn Thu Vân, Giám đốc Công ty Vắcxin và Sinh phẩm số 1, Bộ Y tế, cho rằng Nhà nước cần sớm có cơ chế khoán sản phẩm đầu ra. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng tình với quan điểm này, nhưng ông nhấn mạnh rằng Nhà nước sẽ không thể đầu tư khoán một cách dàn trải, mà cần tập trung đầu tư cho những sản phẩm có tiềm năng thành công và ứng dụng cao nhất.   Về cơ chế khoán theo ông phải có sự phân cấp mức độ rủi ro. Với các công trình nghiên cứu ở cấp cơ sở có thể cho phép một mức độ rủi ro nhất định, nhưng những công trình cấp càng cao thì mức độ rủi ro càng phải thấp đi, đặc biệt là các công trình nghiên cứu cấp Nhà nước, do các nhà nghiên cứu ở cấp độ này có nhiều điều kiện hơn trong việc tổng hợp, tham khảo, và sàng lọc các kết quả nghiên cứu ở những cấp thấp hơn.   Đồng thời, để giảm thiểu rủi ro trong nghiên cứu ứng dụng công nghệ, ông đề nghị các nhà nghiên cứu chọn ra những sản phẩm sẵn có của nước ngoài có khả năng ứng dụng khả thi và đem lại giá trị gia tăng cao ở Việt Nam, sau đó tiến hành nghiên cứu, mổ xẻ ngược, và làm chủ công nghệ. Cách làm này sẽ đem lại tỷ lệ thành công cao.   Giao nhiệm vụ khoa học và thu hút nhà nghiên cứu  Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ra thực trạng là chính quyền các Bộ, ngành, và địa phương hiện nay vẫn chưa có ý thức chủ động đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho ngành và địa phương của mình. Chia sẻ quan điểm này, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng, phản ánh tình trạng nghịch lý, trong khi mà các nhà khoa học không được đặt hàng nghiên cứu, thì các nhà quản lý lại tham gia nghiên cứu một cách tràn lan. Ông lấy ví dụ như trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, các nhà quản lý hiếm khi chủ động đặt hàng các nhà khoa học, nhưng khi muốn tôn vinh di sản thì các nhà quản lý lại lao vào làm nghiên cứu, trong khi các nhà khoa học bị đứng ngoài cuộc.    Nhiều ý kiến đề nghị xây dựng cơ chế thu hút các nhà khoa học có năng lực tham gia vào những nhiệm vụ trọng điểm, và cho họ chế độ đãi ngộ phù hợp, có như vậy mới hình thành nên những nhóm nghiên cứu mạnh. Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ thật xứng đáng cho các nhà khoa học có thành tích công bố khoa học đạt “chuẩn quốc tế”, qua đó tạo thành động lực phấn đấu cho các nhà khoa học trẻ.  Cũng liên quan đến vấn đề xây dựng trung tâm nghiên cứu mạnh, Ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ KH&CN nêu ba điều kiện cần thiết để giúp dự án hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc xây dựng thành công một viện nghiên cứu trọng điểm theo mô hình Viện KIST của Hàn Quốc tại Việt Nam, đó là: một cơ sở pháp lý đặc thù đặc biệt; sự ủng hộ sát sao của Thủ tướng; thu hút thành công đội ngũ các nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam trong nước và nước ngoài. Nếu không có những điều kiện này, mô hình viện KIST sẽ không thể thành công tại Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Quân nhấn mạnh.  Yêu cầu của Thủ tướng  Sau khi lắng nghe những ý kiến của các ủy viên Hội đồng và các đại biểu tham dự phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thẳng thắn nhìn nhận rằng những vướng mắc về cơ chế chính sách và những hạn chế trong nhận thức của các nhà quản lý (chưa có ý thức đặt hàng các nhà khoa học) đã và đang khiến các nguồn lực KH&CN của đất nước chưa được phát huy đúng mức. “Cơ chế của mình kìm hãm sức của mình, gây thiệt hại cho đất nước”, ông nói.  Để giải quyết tình trạng này, Thủ tướng yêu cầu Hội đồng phải đề xuất được những điều chỉnh cụ thể về cơ chế, chính sách KH&CN, theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương VI, đặc biệt trong đó có vấn đề cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho các nhà khoa học và cơ chế chính sách giúp thúc đẩy doanh nghiệp KH&CN, như chính sách về đất đai, thuế, tín dụng v.v.   Thủ tướng lưu ý rằng Việt Nam cần sớm có cơ chế khuyến khích, ưu đãi những sản phẩm KH&CN trong nước có chất lượng tương đương với sản phẩm quốc tế, ví dụ như sản phẩm vắcxin phục vụ chương trình tiêm chủng mở rộng. Đây là sản phẩm mà Thủ tướng chia sẻ rằng những vị khách quốc tế quan trọng như Cựu Tổng thống Bill Clinton, hay doanh nhân/nhà từ thiện Bill Gates khi gặp ông đều bày tỏ sự khâm phục. Thủ tướng yêu cầu rằng những sản phẩm có chất lượng cao như vậy mà “ta làm được thì cần khuyến khích đẩy mạnh, không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu.   Ông nhấn mạnh rằng Hội đồng cần đề xuất những chương trình nghiên cứu đáp ứng nhu cầu cấp bách của đời sống, ví dụ như nghiên cứu công nghệ chế biến để giải quyết vấn đề thất thoát sau thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Từ những đề tài này, Hội đồng cần đề xuất những cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp để giúp nghiên cứu và triển khai thành công.   Thủ tướng cũng yêu cầu Hội đồng nghiên cứu cơ chế xây dựng kế hoạch tài chính cho KH&CN trên khung thời gian 5 năm thay vì hằng năm như hiện nay. Tuy nhiên Ngân sách Nhà nước cho KH&CN sẽ tiếp tục được phân bổ hằng năm tùy theo nhu cầu sử dụng của từng năm; xây dựng những quy định phù hợp trong Luật KH&CN để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho các hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ; đề xuất chính sách đãi ngộ xứng đáng, thể hiện sự trân trọng đúng mức đối với các nhà khoa học tài năng, qua những chính sách cụ thể như mức lương và chế độ nhà ở.  Trả lời đề xuất của Bộ trưởng Nguyễn Quân về dự án xây dựng viện nghiên cứu theo mô hình Viện KIST tại Việt Nam, Thủ tướng khẳng định sự ủng hộ cao của Chính phủ Việt Nam cũng như Chính phủ Hàn Quốc – đặc biệt là Tổng thống Lee Myung Bak – đối với dự án này. Ông yêu cầu Bộ KH&CN sớm đưa ra những đề xuất cụ thể, khẳng định rằng sẵn sàng nhất trí với những đề xuất cấp thiết trong phạm vi thẩm quyền, và sẽ đề xuất trình Quốc hội thông qua những vấn đề nào nằm ngoài thẩm quyền Chính phủ.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần linh hoạt hơn trong xét duyệt đề tài      Với cơ chế đầu tư tài chính và xét duyệt đề tài như hiện nay, sẽ không có nhiều nhà khoa học thành công.      GS.TS Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia lọc hóa dầu, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.  Trên thực tế, Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam đã chuyển đổi theo mô hình 115 ngay từ 30 năm nay còn tính trên giấy tờ chính thức thì từ năm 2008. Và kết quả là cứ 3 đồng ngân sách cấp để nghiên cứu thì chúng tôi “làm ra” được 10 đồng. Tức là có thêm được 7 đồng chuyển từ nghiên cứu sang ứng dụng thực tiễn.  Ngay từ khi thành lập (năm 2004), Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu quốc gia của chúng tôi đã hoạt động theo Nghị định 115. Tức là, không sử dụng ngân sách của nhà nước. Mỗi một đề tài nghiên cứu, chúng tôi đều tiến hành đấu thầu, và khi thương mại hóa được các sản phẩm khoa học thì quay lại tái đầu tư để nâng cấp bộ máy. Muốn khoa học phát triển, yếu tố con người rất quan trọng. Để có thể “giữ chân” nguồn chất xám, đội ngũ nhân lực đã dày công đào tạo qua nhiều năm, chúng tôi phải cố gắng rất nhiều. Không thể áp dụng mức lương bao cấp 3-4 triệu đồng/ tháng cho các nhà khoa học mà phải trả lương rất cao. Thậm chí, khi cần, chúng tôi sẵn sàng vay ngân hàng để trả lương cho cán bộ nghiên cứu trong thời gian chờ đợi nhà nước “rót vốn”.  Về cơ chế phân bổ tài chính, các nhà khoa học đã “kêu” nhiều rồi nhưng không thay đổi được. Thậm chí, thông tư 44 cũng đã được thay bằng thông tư 55 (Thông tư liên tịch Bộ Tài chính – Bộ KH&CN hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước) nhưng trên thực tế, tình trạng không hề được cải thiện. Lâu nay, các nhà khoa học đã nhiều lần kiến nghị nhưng quy trình này vẫn chưa được cải tiến. Cho đến giờ, quá trình triển khai một đề tài nghiên cứu vẫn khiến giới khoa học hết sức vất vả, tốn nhiều thời gian, công sức vì phải phụ thuộc quá nhiều vào thủ tục hành chính cùng các “cửa” xét duyệt. Trước đây, chúng tôi chỉ việc gửi thẳng đề tài nghiên cứu lên Bộ KH&CN, nhưng bây giờ, phải qua rất nhiều các đơn vị xét duyệt, hội đồng, Bộ trung gian, mà có khi đề tài lên đến Bộ KH&CN lại bị “gạt” không rõ lý do. Chưa kể, ngay trong phạm vi Bộ thôi cũng có thêm rất nhiều quy trình phức tạp.   Quá trình chờ xét duyệt mất quá nhiều thời gian, có lúc, kéo dài hai, ba năm. Đối tác của chúng tôi – các doanh nghiệp không thể chờ đợi lâu như vậy được. Do đó, nhiều lúc, chúng tôi phải tự bỏ kinh phí để hợp tác với doanh nghiệp cho đúng tiến độ, rồi hoàn tất thủ tục sau với Bộ. Để các nhà khoa học thuận tiện hơn trong công tác nghiên cứu và đưa thành quả nghiên cứu vào đời sống, tôi rất mong nhà nước bỏ việc đặt hàng qua các tổ chức trung gian mà tiến hành đặt hàng trực tiếp các nhà khoa học. Đồng thời, cho phép các nhà khoa học gửi thẳng đề tài nghiên cứu lên Bộ KH&CN và chỉ qua một “cửa” duyệt, một chữ kỹ. Bởi nếu thời gian chờ đợi duyệt quá lâu, chúng tôi có khả năng phải trả lại đề tài do không đáp ứng được tiến độ.  Ngoài ra, cũng cần linh hoạt hơn trong việc xét duyệt đề tài. Lâu nay, vẫn có lệ, nếu có một nhà khoa học đề xuất nghiên cứu chất A thì từ đấy trở đi, các đề tài khác đều không được “dính” đến chất A. Quy định này rõ ràng “làm khó” các nhà khoa học. Với cơ chế đầu tư tài chính và xét duyệt như vậy, sẽ không có nhiều nhà khoa học thành công. Đơn vị của chúng tôi, để có thể “vượt khó”, đã phải chủ động sáng tạo, chủ động nghiên cứu thì mới vượt qua được những rào cản kể trên.    Author                Vũ Thị Thu Hà        
__label__tiasang Cần loại bỏ các chương trình trùng lặp      Theo ông Hồ Quang Vinh, Phó giám đốc Văn phòng Các chương trình trọng điểm quốc gia (Bộ KH&amp;CN), sẽ có nhiều thay đổi về nội dung chương trình và cách thức điều hành các chương trình KH&amp;CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2016-2020 nhằm hạn chế tối đa những vấn đề tồn tại của giai đoạn trước đó.      Rút gọn chương trình trọng điểm KC  Trải qua năm năm thực hiện, các dự án nghiên cứu từ 10 chương trình trọng điểm KC đã có nhiều đóng góp vào việc nâng cao trình độ KH&CN ở một số lĩnh vực, đặc biệt lĩnh vực Y dược thuộc KC 10, đem lại nhiều sản phẩm ứng dụng trong thực tế. Theo thống kê của Văn phòng Các chương trình trọng điểm quốc gia, các dự án KC đã lai tạo được 68 giống cây trồng vật nuôi mới, 174 công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam, tham gia chuyển giao 700 quy trình sản xuất, trong đó 356 quy trình đã hoàn thiện.      Tuy nhiên theo đánh giá của ông Hồ Quang Vinh, những sản phẩm từ các đề tài nghiên cứu KC vẫn chưa tương xứng với mong đợi của các nhà quản lý khi “không đem lại hiệu quả đột phá cho nền kinh tế, mức đóng góp cho xã hội còn thấp và không tiêu biểu với từng chương trình”, ngoại trừ chương trình KC10. Có những sản phẩm “đặt vào chương trình nào cũng được” như trường hợp dự án lai tạo giống lúa có thể liên quan tới KC 04, KC 06 hay thậm chí một số chương trình lớn cấp quốc gia như Chương trình Nông thôn miền núi, Công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp… Đây là những vấn đề tồn tại không chỉ riêng tại giai đoạn 2011-2015 mà còn ở cả hai giai đoạn trước đó, 2001-2005 và 2006-2010.           Các nhiệm vụ được xây dựng trên  những khung chương trình tuy có địa chỉ ứng dụng nhưng kết quả mới chỉ  tập trung và giải quyết những vấn đề nhỏ của sản xuất, chưa có nhiều  nhiệm vụ hướng vào những vấn đề có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và phạm  vi ứng dụng rộng rãi.        Lý giải về nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này, ông Hồ Quang Vinh cho rằng, việc xác định khung chương trình của nhiều chương trình KC vẫn chưa hoàn toàn gắn với mục tiêu chiến lược của Bộ KH&CN và yêu cầu, dẫn đến sự dàn trải, thiếu tính gắn kết và đồng bộ của các chương trình. Vì vậy, các nhiệm vụ được xây dựng trên những khung chương trình tuy có địa chỉ ứng dụng nhưng kết quả mới chỉ tập trung vào giải quyết những vấn đề nhỏ của sản xuất mà chưa có nhiều nhiệm vụ hướng vào những vấn đề có ý nghĩa lớn về mặt khoa học hoặc có phạm vi ứng dụng rộng rãi.     Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành trong việc thực hiện các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu. Do đó dẫn đến tình trạng cùng một vấn đề như chương trình công nghệ sinh học trong nông nghiệp được nhiều nơi cùng tập trung nghiên cứu, riêng hai Bộ KH&CN và Bộ NN&PTNT cùng triển khai một số chương trình: Chương trình Nông thôn miền núi, Chương trình KH&CN Tây Bắc, Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực NN và PTNT đến năm 2020, Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực thủy sản đến năm 2020… cùng nhiều dự án cấp bộ, ngành khác. Việc trùng lặp về nội dung không chỉ dẫn đến việc “dẫm lên chân nhau” trong nghiên cứu mà còn làm phân tán nguồn lực đầu tư của nhà nước và cho ra những sản phẩm “chỉ khác nhau tên gọi” như nhận xét của ông Hồ Quang Vinh.    Để khắc phục hiện tượng này, trong giai đoạn 2016-2020, mười chương trình KC sẽ được rút gọn  xuống còn năm, các chương trình vẫn tiếp tục thực hiện là: KC 02, KC 05, KC 08, KC09 và KC10. Việc đưa năm chương trình còn lại ra khỏi hệ thống KC không phải loại bỏ những dự án nghiên cứu trong năm lĩnh vực đó mà là tiến hành lồng ghép, chuyển sang những chương trình quốc gia khác hoặc các đề tài độc lập khác…     Cùng với việc rút gọn số lượng chương trình KC, khung chương trình của nó cũng sẽ được tập trung sâu hơn vào những vấn đề KH&CN ưu tiên có nội dung đủ lớn và mang tính liên ngành hoặc tập trung vào những vấn đề mang tính chiến lược của Bộ KH&CN trong việc xây dựng tiềm lực KH&CN.  Thay đổi cách thức điều hành   Để khắc phục những vấn đề tồn tại của chương trình KC giai đoạn 2011-2015, ông Hồ Quang Vinh cho biết, Bộ KH&CN đã đặt mục tiêu: hạn chế tối đa sự trùng lặp các nhiệm vụ thuộc chương trình trọng điểm với các nhiệm vụ độc lập hoặc các nhiệm vụ thuộc các chương trình khác; đưa vào thực hiện ít nhiệm vụ nhưng đúng tầm nhằm đảm bảo hiệu quả nghiên cứu.    Để thực hiện mục tiêu này, việc xác định những nhiệm vụ KH&CN sẽ được thực thi ngay từ khi bắt đầu xây dựng chương trình vào năm đầu tiên, các năm sau chỉ bổ sung những nhiệm vụ còn thiếu hoặc mang tính định hướng cho giai đoạn tiếp theo. Đây cũng sẽ là biện pháp để hạn chế sự manh mún, trùng lặp và tránh tình trạng xé lẻ nguồn lực đầu tư của nhà nước và tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm đồng thời thể hiện cơ chế “đặt hàng” của Bộ KH&CN.     Bên cạnh đó, Bộ KH&CN sẽ tổ chức tuyển chọn hoặc giao trực tiếp nhiệm vụ cho các tổ chức, cá nhân để tạo điều kiện cho họ tập trung nhiều thời gian hơn vào nghiên cứu. Vấn đề kinh phí cũng được giải quyết ngay từ năm đầu kế hoạch và đảm bảo cung cấp hằng năm để các chủ trì bớt thụ động trong thực hiện đề tài.    Về cơ chế tài chính cho đề tài KC, Bộ KH&CN cùng với Bộ Tài chính nghiên cứu phương án khoán đến sản phẩm cuối cùng để có thể đưa vào áp dụng trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên, do trong nghiên cứu khoa học cũng phải tính đến độ rủi ro như trong trường hợp không làm ra sản phẩm cuối cùng hoặc sản phẩm chưa đạt yêu cầu như đăng ký nên cần có chế tài xử lý với văn bản pháp quy hướng dẫn cụ thể.     Cũng theo ông Hồ Quang Vinh, khâu thủ tục trong quá trình thực hiện đề tài KC sẽ được giảm bớt. Bộ Tài chính sẽ cho phép các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học không phải đấu thầu mua sắm nguyên vật liệu, vật tư hóa chất tiêu hao sẽ tạo điều kiện cho các đề tài hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch đã được phê duyệt. “Giảm thiểu được thủ tục ở khâu này, tôi tin rằng sẽ giúp các chủ trì đề tài trong giai đoạn 2016-2020 có nhiều thời gian tập trung hơn vào nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra trong quá trình thực hiện”.         Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ KH&CN quản lý 10  chương trình KC, bao gồm KC 01 Nghiên cứu ứng dụng và phát triển CNTT  và truyền thông; KC 02 Công nghệ vật liệu mới; KC 03 Công nghệ cơ khí và  tự động hóa; KC 04 công nghệ sinh học (tập trung vào công nghệ nền); KC  05 Công nghệ năng lượng; KC 06 công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ lực;  KC 07 Công nghệ sau thu hoạch; KC 08 Công nghệ phục vụ phòng tránh  thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên;  KC 09 Phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển; KC 10  Công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần mở rộng Giải thưởng Tạ Quang Bửu cho tập thể      Trả lời phỏng vấn của Tia Sáng, GS Ngô Việt Trung, Chủ tịch Hội đồng Giải  thưởng Tạ Quang Bửu, cho rằng, Giải thưởng là một bước đi kịp thời nhằm  khuyến khích việc nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam nhưng  cần bổ sung giải thưởng chính cho tập thể có công trình nghiên cứu xuất  sắc.    * Thưa ông, ông có cho rằng đến bây giờ Việt Nam mới có giải thưởng đầu tiên dành riêng cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên là muộn không?  Chúng ta đã có Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước cho khoa học và công nghệ. Những giải thưởng này thường trao cho sự nghiệp khoa học của các cá nhân hay các công trình nghiên cứu tổng quan có ý nghĩa đối với đất nước. Giải thưởng Tạ Quang Bửu khác với các giải thưởng trên ở chỗ nó được trao cho các cá nhân có công trình khoa học xuất sắc mang tầm quốc tế được tiến hành trong 5 năm trước. Có lẽ Bộ KH&CN giới hạn giải thưởng cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên là vì đó là những ngành khoa học ở Việt Nam tiếp cận được trình độ quốc tế nhưng ít được xã hội biết đến và tôn vinh. Nghiên cứu cơ bản đã có những bước phát triển vượt bậc trong những năm qua nhờ những chính sách tài trợ mang tính đột phá của Quỹ phát triển KH&CN quốc gia [NAFOSTED]. Sự phát triển này cũng làm nảy sinh nguy cơ mất cân đối giữa số lượng và chất lượng công bố quốc tế. Vì vậy, sự ra đời Giải thưởng Tạ Quang Bửu là một bước đi kịp thời nhằm khuyến khích việc nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam.  * Xin ông cho biết quy trình làm việc của Hội đồng để chọn ra người nhận giải. Thiếu sự tham gia của các ý kiến phản biện độc lập từ bên ngoài, liệu việc lựa chọn các đề cử có bị ảnh hưởng không?  Việc tuyển chọn Giải thưởng Tạ Quang Bửu được thực hiện hoàn toàn bởi các nhà khoa học tiêu biểu của các ngành khoa học cơ bản mà không có sự tác động và tham gia của các nhà quản lý. Các hồ sơ đăng ký trong mỗi ngành được sơ tuyển bởi các Hội đồng khoa học ngành. Mỗi Hội đồng ngành sẽ đề cử nhiều nhất một hồ sơ lên Hội đồng giải thưởng. Hội đồng giải thưởng bao gồm bảy chủ tịch hội đồng ngành và hai giáo sư Ngô Bảo Châu và Pierre Darriulat. Chủ tịch (và các thành viên) hội đồng ngành được bầu bởi các nhà khoa học cùng ngành và họ thật sự là những nhà khoa học tiêu biểu cho mỗi ngành. Còn hai giáo sư bên ngoài đều là những nhà khoa học tầm cỡ thế giới và có kinh nghiệm đánh giá các hồ sơ giải thưởng. Vì vậy Hội đồng giải thưởng hoàn toàn đủ khả năng xét các đề cử theo các tiêu chí của giải thưởng. Việc có phản biện của các chuyên gia bên ngoài sẽ giúp cho việc đánh giá hồ sơ dễ dàng hơn. Rất tiếc là do thời gian xét chọn giải thưởng năm nay hơi gấp nên Hội đồng giải thưởng không kịp xin phản biện độc lập từ bên ngoài cho các hồ sơ đề cử. Tuy nhiên một số thành viên Hội đồng cũng đã lấy ý kiến từ bên ngoài cho một số hồ sơ và các nhận xét này hoàn toàn trùng hợp với ý kiến chung của Hội đồng giải thưởng.  * Ông nhận xét ra sao về các hồ sơ gửi về cho Ban tổ chức Giải thưởng?  Chúng ta có bảy hội đồng khoa học chuyên ngành, nhưng chỉ có bốn hồ sơ được đề cử. Qua đó có thể thấy các hội đồng ngành sơ tuyển rất có trách nhiệm. Cả bốn hồ sơ đều xuất sắc về nhiều khía cạnh. GS Darriulat có phát biểu rằng lúc đầu ông rất lo là không tìm được công trình xứng đáng nhưng khi nhận được các hồ sơ đề cử thì ông thật sự ngạc nhiên về chất lượng các công trình. Theo ông thì cả bốn hồ sơ đều xứng đáng được giải thưởng và ông hoàn toàn có đủ lý lẽ để thuyết minh ủng hộ từng hồ sơ trước công chúng.  * Xin ông cho biết các hồ sơ được đề cử nhận được mức độ nhất trí như thế nào của Hội đồng? Làm sao để tìm được tiếng nói chung giữa các thành viên hội đồng là những người thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khoa học khác nhau?  Bất kỳ một hội đồng giải thưởng kiểu này cũng sẽ gồm những người thuộc các chuyên ngành khoa học khác nhau. Vấn đề là các thành viên hội đồng khoa học có thật sự là các chuyên gia đầu đàn không. Các nhà khoa học thực sự thì sẽ đủ tầm nhìn và sự công tâm để tìm được tiếng nói chung. Hội đồng giải thưởng thống nhất là năm đầu tiên cần phải chọn được những nhà khoa học với công trình thật tiêu biểu đúng với các tiêu chỉ đề ra. Mọi người đều có những phát biểu rất khách quan về các điểm yếu và mạnh của của từng hồ sơ. Theo quy chế thì ba hồ sơ có số phiếu bấu cao nhất và quá bán sẽ được chọn. Cuối cùng thì hai giải thưởng năm nay được số phiếu gần như tuyệt đối.  * Đánh giá của cá nhân ông đối với hai hồ sơ được trao giải là như thế nào?  Công trình của GS Nguyễn Bá Ân đưa ra một giao thức hiệu quả trong thông tin lượng tử trái ngược với những quan điểm trước đó. Còn công trình của GS Nguyễn Hữu Việt Hưng đặc trưng được tất cả các đồng cấu của đại số Dickson-Mui (mang tên nhà toán học Huỳnh Mùi của Việt Nam). Cả hai công trình đều chứa đựng những ý tưởng độc đáo và đem lại những nhận thức mới về những cấu trúc được nghiên cứu. Những điều này rất khó đạt được trong công bố khoa học và được đánh giá cao nhất trong nghiên cứu cơ bản. Đây có lẽ đó là lý do họ nhận được số phiếu bầu gần như tuyệt đối. Cả hai người đều kiên trì nghiên cứu những vấn đề mũi nhọn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình và nhận được nhiều kết quả mang tầm cỡ quốc tế.   * Theo ông, cần cải thiện những điểm gì trong quy chế để Giải được tổ chức ngày càng tốt hơn trong những năm tiếp theo?  Việc có một số khiếm khuyết trong quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu là không tránh khỏi. Phải trải qua thực tế năm đầu tiên mới thấy rõ những khiếm khuyết này. Thứ nhất, các hồ sơ nên được các tập thể hay cá nhân các nhà khoa học có uy tín đề cử chứ không nên yêu cầu các ứng viên tự ứng cử. Thứ hai là chưa có sự phân biệt các tiêu chí cho giải thưởng chính và giải thưởng trẻ. Giải thưởng chính nên dành cho cá nhân có thành tựu nghiên cứu xuất sắc (cụm công trình) còn giải thưởng trẻ nên dành cho một công trình trong 5 năm trước. Để có nhiều ứng viên cho giải thưởng trẻ, cần nâng giới hạn tuổi lên 35 tuổi. Giới hạn dưới 30 tuổi như nhiện nay sẽ rất khó tìm được ứng viên có công trình tốt. Ngoài ra nên tăng số lượng giải thưởng trẻ cũng như giá trị giải thưởng lên cao hơn nhằm khuyến khích giới trẻ tiến hành những nghiên cứu có chất lượng. Thứ ba là nên bổ sung giải thưởng chính cho tập thể có công trình nghiên cứu xuất sắc. Các nghiên cứu thực nghiệm đều được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học. Nếu không mở rộng giải thưởng cho tập thể thì vô hình trung chúng ta đã loại các hướng nghiên cứu mang tính thực nghiệm, nhất là trong tình hình hiện nay ta rất thiếu những công trình nghiên cứu tập thể mang tầm cỡ quốc tế và xu hướng nghiên cứu tập thể đang ngày càng phát triển trên thế giới.  * Xin trân trọng cảm ơn ông.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một cấu trúc hợp lý của các loại hình nghiên cứu      Để KH&CN có thể đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của đất nước, hai yếu tố nhất thiết phải có: một là có lực lượng làm nghiên cứu và phần lớn nội dung, kết quả nghiên cứu của lực lượng này gắn với các vấn đề của phát triển đất nước, và hai là có lực lượng triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm, đưa ra các giải pháp cho những yêu cầu của phát triển.      Có hai điều liên quan đến yếu tố thứ nhất, một là đào tạo và sử dụng được lực lượng nghiên cứu và hai là cần một cấu trúc hợp lý của các loại hình nghiên cứu tương ứng với định hướng khoa học và công nghệ của quốc gia.  Trên thế giới phổ biến việc chia các nghiên cứu thành ba loại – nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, và nghiên cứu phát triển – và được dùng rộng rãi trong quản lý khoa học và công nghệ.  Nghiên cứu cơ bản (basic research) nhằm tìm ra các hiểu biết nền tảng của khoa học, hoặc làm cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu phát triển (như nghiên cứu đặc tính của các loài cá sống ở các môi trường nước khác nhau ở Việt Nam) hoặc quan trọng nhưng có thể chưa liên quan ngay tới ứng dụng (như nghiên cứu về sự giãn nở của vũ trụ). Nghiên cứu ứng dụng (applied research) nhằm tìm ra các hiểu biết mới làm cơ sở cho các ứng dụng cụ thể (như nghiên cứu dùng xét nghiệm máu để đoán mức độ của bệnh viêm gan mà không cần làm sinh thiết hoặc nghiên cứu tìm ra giống cá tra có thể thích ứng với môi trường ngập mặn). Nghiên cứu phát triển (development research) nhằm tìm ra các hiểu biết mới để tạo ra các sản phẩm cho người dùng (như nghiên cứu chế tạo máy nâng 100 tấn hàng ở cảng biển hay nghiên cứu chế tạo thiết bị đo đường huyết có độ nhạy cao).  Mỗi loại nghiên cứu có các sản phẩm riêng của mình. Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có sản phẩm chủ yếu là các ấn phẩm khoa học (bài báo ở các hội nghị hay các tạp chí, sách chuyên khảo, báo cáo kỹ thuật…), và nghiên cứu phát triển có sản phẩm chủ yếu là các tri thức, các bí quyết để tạo ra sản phẩm, thường được đăng ký thành các bằng sáng chế phát minh hoặc không công bố. Quan trọng hơn là ai, ở đâu làm loại nghiên cứu nào và mỗi quốc gia điều tiết một tỷ lệ nào cho các loại nghiên cứu kể trên?  Nước Nhật từ đầu thế kỷ trước đã có chính sách coi trọng nghiên cứu cơ bản, nhưng tập trung và ưu tiên hơn cho các nghiên cứu phục vụ phát triển công nghiệp. Ngay cả khi kinh tế đã phát triển, các nghiên cứu phục vụ cho các nhu cầu quốc gia vẫn được ưu tiên hàng đầu, như ưu tiên trong những năm này là các nghiên cứu tạo ra các vật liệu mới không phụ thuộc vào đất hiếm phải mua từ Trung Quốc. Tỷ lệ phân bổ kinh phí của các thành phần hoạt động khoa học và công nghệ theo các loại hình nghiên cứu ở Nhật hằng năm chỉ thay đổi chút ít. Có thể thấy hai điều, một là tỷ lệ kinh phí chung cho ba loại nghiên cứu cơ bản, ứng dụng và phát triển tương ứng là khoảng 14%, 23% và 63%, và hai là người làm khoa học và công nghệ ở các tổ chức khác nhau có các loại nghiên cứu đặc trưng của mình. Các đại học chủ yếu làm nghiên cứu cơ bản (55%) và nghiên cứu ứng dụng (36%). Các viện nghiên cứu làm nhiều cả ba loại nhưng tập trung hơn vào nghiên cứu ứng dụng (khoảng 33%) và nghiên cứu phát triển (45%). Các doanh nghiệp chủ yếu làm nghiên cứu phát triển (74%) và nghiên cứu ứng dụng (20%), và chỉ làm các nghiên cứu cơ bản để tìm tri thức nền tảng cần cho sản phẩm của họ và khi không ai khác làm những nghiên cứu này.  Theo tài liệu của Quỹ Khoa học quốc gia của Mỹ (NSF), tỷ lệ kinh phí của ba loại nghiên cứu cơ bản, ứng dụng và phát triển ở Mỹ trong năm 2014 tương ứng là 19%, 19,5%, và 61,5%.  Nói chung, tỷ lệ của ba loại nghiên cứu luôn xác định, định ra cấu trúc nghiên cứu khoa học và có một ý nghĩa quan trọng với hiệu quả nghiên cứu của một quốc gia. Thí dụ, nếu muốn thực hiện ý kiến của Thủ tướng Chính phủ khi thăm hai Viện Hàn lâm của nước nhà vào cuối năm 2016, để giảm những nghiên cứu lưu trữ trong thư viện và tăng các nghiên cứu gắn với thực tế, có thể điều chỉnh tỷ lệ kinh phí của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng hiện nay và  đưa ra những chính sách và cơ chế “kích cầu” tương ứng. Nhiều tập thể và cá nhân nhà khoa học sẽ điều chỉnh mục tiêu và nội dung nghiên của mình theo đầu tư cho các loại hình nghiên cứu.  Cũng cần nói thêm khái niệm R&D – nghiên cứu (R) và phát triển sản phẩm (D) -có nhiều cấp độ nặng nhẹ khác nhau về R hay D tuỳ thuộc doanh nghiệp hay tổ chức làm R&D, nhưng mấu chốt là cái đích đi từ nghiên cứu đến phát triển sản phẩm, là điều đang thiếu ở ta.  Theo [*], số liệu điều tra thống kê R&D của doanh nghiệp Việt Nam năm 2012 cho thấy, “tổng kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ (gồm cả đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ) của 1.090 doanh nghiệp có đầu tư cho khoa học và công nghệ chỉ đạt 5.439 tỷ đồng” (gần bằng số tiền làm 10 km đường cao tốc Bến Lức-Long Thành). Cũng theo [*], trong tổng số mẫu 8.010 doanh nghiệp, chỉ có 1% doanh nghiệp thực hiện cải tiến và tiến hành R&D”.  Qua đó có thể thấy, KH&CN Việt Nam hầu như thiếu vắng thành phần doanh nghiệp, chỉ có thành phần đại học và viện nghiên cứu công, và liên kết giữa các trường và viện với doanh nghiệp còn rất hạn chế. Ở các nước phát triển, chính doanh nghiệp góp phần lớn vào điều chỉnh nội dung và mục đích của người nghiên cứu. Ở ta, do còn thiếu vắng doanh nghiệp trong KH&CN, nên nhà nước cần đóng vai trò điều tiết này nhiều hơn.  Về góc độ quản lý, việc gộp cả “nghiên cứu cơ bản” và “nghiên cứu ứng dụng” theo quan niệm chung trên thế giới vào “nghiên cứu cơ bản” ở ta đã làm mất đi sự phân biệt cần thiết về hai loại nghiên cứu vốn có bản chất khác nhau, dẫn đến thiếu cơ sở để điều tiết và xác định một tỷ lệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, để khuyến khích một số người làm khoa học theo đuổi các vấn đề khoa học cơ bản ở trình độ cao và một số đông hơn theo đuổi việc đặt ra và tìm lời giải cũng ở trình độ cao cho những nghiên cứu ứng dụng.  ————-  Tài liệu tham khảo  * Hoàng Văn Tuyên, “Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, 2016.    Author                Hồ Tú Bảo        
__label__tiasang Cần một cơ quan độc lập, có năng lực và thẩm quyền quản lý an toàn hạt nhân (Kỳ cuối)      Ông Vương Hữu Tấn, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ (Bộ KH&amp;CN), nói về những biện pháp nhằm đảm bảo tính độc lập của cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân.       Kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến về điện hạt nhân trong việc xây dựng cơ quan quản lý quốc gia? Việt Nam học hỏi được những gì từ đó?  Hiện nay thông tin về lĩnh vực này rất cởi mở trên thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận rất dễ dàng. Ngoài ra, IAEA là một kênh hợp tác quốc tế quan trọng nhằm giúp các quốc gia mới bắt đầu phát triển  điện hạt nhân học tập kinh nghiệm về công tác quản lý ba S. Các hệ thống văn bản của IAEA về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân đã được xây dựng rất đầy đủ và IAEA cũng có nhiều kênh hỗ trợ cho công tác đào tạo và xây dựng tiềm lực trong lĩnh vực này. IAEA cũng tổ chức một diễn đàn hợp tác pháp quy hạt nhân giữa cơ quan pháp quy hạt nhân của các nước phát triển và các nước mới đi vào phát triển điện hạt nhân (RCF) nhằm hỗ trợ, chia sẽ kinh nghiệm và điều phối hiệu quả các hợp tác giữa các nước công nghiêp điện hạt nhân phát triển với các nước bắt đầu phát triển điện hạt nhân. Việt Nam đã là thành viên của Diễn đàn này. Năm 2012, chúng ta đã tổ chức Hội nghị của RCF tại Hà Nội với sự tham gia của lãnh đạo cấp cao của các cơ quan phát quy hạt nhân các nước.   Ngoài ra, EC cũng đã hỗ trợ chúng ta một dự án hai triệu Euro nhằm giúp Cục An toàn bức xạ hạt nhân xây dựng năng lực quản lý pháp quy hạt nhân cho giai đoạn đầu tiên của dự án điện hạt nhân. Chúng ta học hỏi được rất nhiều từ IAEA, EC và các nước công nghiệp điện hạt nhân pháp triển về xây dựng khuôn khổ luật pháp, văn bản pháp quy và đào tạo cán bộ.  Một trong những vấn đề công chúng quan tâm là tính công khai và minh bạch trong các hoạt động quản lý, thông tin về an toàn hạt nhân. Vậy làm thế nào để cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân đảm bảo được sự công khai và minh bạch trong quá trình quản lý?  Đây là vấn đề rất quan trọng để tăng cường sự ủng hộ của người dân cho chủ trương phát triển điện hạt nhân. Cơ quan này phải thực sự là người  bảo vệ lợi ích cho người dân đối với các ảnh hưởng của điện hạt nhân. Do đó thông tin liên quan đến an toàn ở tất cả các giai đoạn của việc triển khai dự án điện hạt nhân cần được công khai cho công chúng thông qua Cơ quan pháp quy hạt nhân. Người dân có thể vào trang web của cơ quan pháp quy là sẽ biết được tình hình hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân, cũng như tình trạng phóng xạ môi trường trên toàn quốc hay cụ thể tại từng khu vực của nhà máy điện hạt nhân. Khi có bất kỳ sự cố hay tai nạn đối với các hoạt động ứng dụng bức xạ hay nhà máy điện hạt nhân thì Cơ quan pháp quy phải kịp thời cung cấp thông tin cho công chúng. Cơ quan này cũng sẽ đưa ra các khuyến cáo cần thiết cho công chúng, kể cả kế hoạch sơ tán như thế nào.   Hiện chúng ta đang chuẩn bị sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử cho phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là với Luật Năng lượng nguyên tử mẫu của IAEA. Vì vậy, các yêu cầu về công khai, minh bạch thông tin về an toàn hạt nhân cần phải được đưa vào trong Luật Năng lượng nguyên tử sửa đổi cùng với việc xây dựng một cơ quan pháp quy đủ mạnh về tiềm lực (con người, cơ sở vật chất).    Việc công khai, minh bạch thông tin trong các hoạt động quản lý sẽ góp phần tăng cường sự ủng hộ của người dân cho chủ trương phát triển điện hạt nhân  Chúng ta cần làm thế nào để thực thi tốt cơ chế đó?  Để thực thi tốt cơ chế này, chúng ta phải triển khai công việc đúng theo các quy định của pháp luật về vấn đề này. Do đó phải xây dựng đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan, bao gồm các quy định nguyên tắc trong Luật và các quy định chi tiết trong Nghị định và các thông tư liên quan. Đây là cơ sở để Cơ quan vận hành và Cơ quan pháp quy có căn cứ thực hiện và người dân có căn cứ giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này như thế nào.  Việt Nam cần chuẩn bị những gì cho việc thành lập và kiện toàn tổ chức này, nếu được sự phê chuẩn đồng ý thành lập của chính phủ?   Cục An toàn bức xạ và hạt nhân được thành lập năm 2003 và đã được quy định trong Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008. Tuy nhiên, như đã nói trên, Cục ATBXHN hiện nay chưa tương xứng như một Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia theo yêu cầu của IAEA và kinh nghiệm quốc tế. Hiện nay, Cục đang được giao sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử, trong đó có quy định về Cơ quan pháp quy hạt nhân. Để chuẩn bị cho việc ra đời một Cơ quan pháp quy hạt nhân, theo chỉ đạo của Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia và Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Cục đang xây dựng dự án phát triển Cục An toàn bức xạ và hạt nhân để bảo đảm đủ năng lực về con người và cơ sở vật chất kỹ thuật của một Cơ quan  pháp quy hạt nhân quốc  gia. Khi Luật Năng lượng nguyên tử sửa đổi đi vào hiệu lực thì về cơ bản chúng ta đã có một Cơ quan pháp quy hạt nhân có đủ năng lực để thực thi các nhiệm vụ quản lý về 3 S.  Chúng ta cần có biện pháp gì để đảm bảo tính độc lập của cơ quan này, tránh tình trạng chồng chéo nhiệm vụ với các tổ chức khác về quản lý về an toàn hạt nhân?  Tính độc lập theo hướng dẫn của IAEA và các yêu cầu của Công ước an toàn hạt nhân được thể hiện như sau:  – Chính phủ cần phải bảo đảm tính độc lập hiệu quả trong các quyết định liên quan đến an toàn của Cơ quan pháp quy. Cơ quan này phải có sự tách biệt về chức năng với các tổ chức có trách nhiệm hay lợi ích mà nó có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định của Cơ quan pháp quy.  – Cơ quan pháp quy cần phải thực hiện chức năng nhằm đảm bảo tính độc lập hiệu quả của Cơ quan pháp quy.   – Cần có các biện pháp bảo đảm sự tách biệt hiệu quả giữa Cơ quan pháp quy với các cơ quan chịu trách nhiệm thúc đẩy ứng dụng năng lượng hạt nhân.   – Mỗi quốc gia thành viên cần phải tiến hành các bước đi thích hợp nhằm bảo đảm sự tách biệt hiệu quả giữa chức năng của Cơ quan pháp quy hạt nhân với chức năng của bất kỳ tổ chức hay cơ quan nào chịu trách nhiệm về thúc đẩy hay ứng dụng năng lượng nguyên tử.  Trên cơ sở các nguyên tắc về độc lập nêu trên, chúng ta sẽ xem xét và thiết lạp mô hình tổ chức của Cơ quan pháp quy phù hợp với điều kiện của Việt Nam nhưng vẫn bảo đảm được nguyên tắc độc lập nêu trên của IAEA và yêu cầu của các điều ước quốc tế liên quan.   Cám ơn ông  Thanh Nhàn thực hiện  Đọc thêm: Cần một cơ quan độc lập, có năng lực và thẩm quyền quản lý an toàn hạt nhân (Kỳ I)  Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9167&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một cơ quan độc lập, có năng lực và thẩm quyền quản lý an toàn hạt nhân (Kỳ I)      Ông Vương Hữu Tấn, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ (Bộ KH&amp;CN), trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng về sự cần thiết của một cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân trong quản lý an toàn, an ninh và không phổ biến vũ khí hạt nhân đối với tất cả các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.&#160;      Thưa ông, vấn đề an toàn hạt nhân có ý nghĩa và tầm quan trọng như thế nào đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay?   Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 41 về chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận có công suất khoảng 4.000 MW, công nghệ lò phản ứng nước nhẹ thế hệ hiện đại nhằm bảo đảm tính an toàn và hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã tiến hành triển khai thực hiện thông qua việc hợp tác với Liên bang Nga để xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và với Nhật Bản xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.   Điện hạt nhân gắn liền với văn hóa an toàn nên việc triển khai thực hiện các dự án điện hạt nhân trước hết phải bảo đảm được vấn đề an toàn cho con người và môi trường. An toàn hạt nhân là vấn đề quan trọng cần nhận được quan tâm của các cấp quản lý, các chuyên gia đối với toàn bộ quá trình triển khai thực hiện các dự án, từ khâu lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy, lựa chọn công nghệ đến thiết kế, chế tạo xây dựng, lắp đặt và vận hành nhà máy…   Như chúng ta đã biết, trong lịch sử phát triển điện hạt nhân, sự cố hạt nhân dẫn đến nhiều hậu quả không lường trước được như các sự cố tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, Fukushima là ví dụ.    Việc Việt Nam bắt đầu triển khai dự án điện hạt nhân thì phải xem an toàn hạt nhân là mối quan tâm chung của tất cả mọi người dân và những người trực tiếp thực hiện dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân phải ý thức được trách nhiệm cao nhất của mình đối với việc bảo đảm an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân của chúng ta.  Tại sao Việt Nam phải thành lập cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân?  Việc triển khai thực hiện dự án điện hạt nhân có hai chủ thế chính tham gia vào quá trình này là: 1) Chủ đầu tư hay người vận hành nhà máy điện hạt nhân và 2) Cơ quan pháp quy hạt nhân hay còn gọi là cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân.   Cơ quan pháp quy sẽ chịu trách nhiệm thay mặt cho Chính phủ quản lý hoạt động bảo đảm an toàn của nhà máy điện hạt nhân từ giai đoạn lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng và tháo dỡ nhà máy khi hết hạn sử dụng. Cơ quan này phải xây dựng khuôn khổ luật pháp; thẩm định an toàn, an ninh; cấp các loại giấy phép liên quan như phê duyệt địa điểm, phê duyệt thiết kế, cấp phép xây dựng, cấp phép vận hành, cấp phép chấm dứt hoạt động và tháo dỡ nhà máy khi hết hạn sử dụng; thanh tra và xử lý vi phạm; quản lý về  bảo đảm an toàn bức xạ, phóng xạ môi trường và ứng phó sự cố của nhà máy điện hạt nhân.  Ông có thể lý giải cụ thể hơn các hoạt động của cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân trong việc đảm bảo an toàn và an ninh hạt nhân?  Đây là các hoạt động quản lý nhằm đảm bảo an toàn (safety), an ninh (security) và thanh sát hạt nhân (safeguards), hay theo cách gọi của Cơ quan  Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) thì Cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý về ba chữ S (safety, security và safeguards).     Việc thiết bị phóng xạ của nhà máy thép Pomina 3 bị thất lạc vào tháng 4/2015 gây xôn xao dư luận.  Về an toàn bao gồm an toàn hạt nhân, bảo vệ bức xạ, chiếu xạ nghề nghiệp, chiếu xạ dân chúng, phóng xạ môi trường, chuẩn đo lường bức xạ, kiểm định và hiệu chuẩn, ứng phó sự cố, an toàn vận chuyển, an toàn chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng,…   Về an ninh bao gồm an ninh nguồn phóng xạ, an ninh vật liệu hạt nhân, an ninh cơ sở hạt nhân, bảo vệ thực thể hạt nhân, an ninh vận chuyển,…   Về thanh sát hạt nhân là kiểm soát vật liệu hạt nhân, kế toán và kiểm toán vật liệu hạt nhân, ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, …   Với mỗi một chữ S như vậy thì phải xây dựng đủ hệ thống văn bản quy phạm phục vụ quản lý, xây dựng năng lực để thẩm định an toàn, tổ chức cấp phép liên quan, tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất và hàng năm xây dựng báo cáo quốc gia về công tác quản lý, báo cáo các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan. Để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, các điều kiện hỗ trợ về hợp tác quốc tế, đào tạo cán bộ, thông tin là những hoạt động cần thiết của cơ quan này.  Để đảm bảo thực thi tốt những nhiệm vụ trên, cơ quan này cần được trao những cơ chế gì?  Đầu tiên phải bảo đảm đủ năng lực cho cơ quan quản lý quốc gia về an toàn hạt nhân bao gồm nhân lực, trang thiết bị kỹ thuật và nguồn lực tài chính đầy đủ. Tiếp theo là trao cho cơ quan pháp quy thẩm quyền đầy đủ về cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm, bảo đảm tính độc lập cần thiết để việc ra các quyết định pháp quy của nó như dừng hoạt động của cơ sở, xử phạt vi phạm,…mà không bị bất kỳ cản trở nào từ những người có lợi ích vật chất hay tinh thần có liên quan, không bị chi phối bới các mệnh lệnh hành chính,… Cơ quan này có quyền được trực tiếp báo cáo lên lãnh đạo Chính phủ và Quốc hội  về các vấn đề an toàn bức xạ và hạt nhân của quốc gia. Ngoài ra, cơ quan này được quyền có được các trợ giúp hay hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài để giải quyết các công việc có liên quan đến các quyết định pháp quy, quyền được hợp tác quốc tế trực tiếp với các tổ chức quốc tế và các nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân.  Khuyến cáo của IAEA về vấn đề này?  IAEA đã nhiều lần khuyến cáo chính phủ Việt Nam về sự cần thiết của một cơ quan quản lý quốc gia về hạt nhân. Cụ thể là các Đoàn đánh giá cơ sở hạ tầng năm 2009, 2012 và 2014 cũng như các đoàn đánh giá pháp quy tích hợp của IAEA năm 2009 và 2014 đều đã khuyến cáo Chính phủ Việt nam trước hết phải xây dựng một Cơ quan pháp quy hạt nhân độc lập, có năng lực và thẩm quyền để quản lý an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân đối với các hoạt động của ngành năng lượng nguyên tử, trong đó có các nhà máy điện hạt nhân. Khuyến cáo này dựa trên các nguyên tắc an toàn cơ bản của IAEA cũng như quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể là Công ước An toàn hạt nhân và Công ước An toàn chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Việt Nam là thành viên của IAEA và luôn khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì vậy việc tuân thủ các quy định của quốc tế về vấn đề này là cần thiết và là trách nhiệm của quốc gia. (Còn tiếp)  Thanh Nhàn thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một cơ sở dữ liệu về các nhà khoa học      Cách đây một vài năm, tôi đã đề xuất ý tưởng  thành lập một câu lạc bộ các nhà khoa học, lấy đó làm nơi gặp gỡ và kết  giao giữa những người làm công tác nghiên cứu, qua đó các nhà khoa học  có thể cùng nhau trao đổi, chia sẻ ý tưởng cũng như nêu nguyện vọng hợp  tác nghiên cứu lâu dài. Tuy nhiên điều đó đã không thực hiện được vì  nhiều lý do.      Giờ đây, khi vấn đề khuyến khích và tạo điều kiện cho các tiến sỹ trẻ về nước làm việc một lần nữa lại đặt ra, tôi thấy việc làm thiết thực nhất mà chúng ta nên làm và có thể làm được là tạo dựng một trung tâm tư liệu trên mạng internet, nơi có trách nhiệm điều phối, cập nhật thông tin về các nhà khoa học Việt Nam. Cách thức tạo dựng thông tin của trung tâm tư liệu này cũng nên theo thông lệ quốc tế, theo cách thức mà nhiều trường đại học, viện nghiên cứu trên thế giới vẫn thường làm, nghĩa là giới thiệu hướng nghiên cứu, thành tích, công bố quốc tế, địa chỉ liên hệ- những điều cơ bản nhất về một nhà khoa học mà người ta cần biết khi tra cứu. Việc công khai, minh bạch những thông tin cơ bản về nhà khoa học tự nó cũng gây được sức hút và đem lại hiệu ứng tích cực đối với xã hội. Cần phải nói thêm là ở Việt Nam, công tác thông tin này vẫn chưa được coi trọng đúng mức, dù Bộ KH&CN đã ra quyết định về việc xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu chuyên gia vào năm 2014. Tuy nhiên cách thức thực hiện  việc lập cơ sở dữ liệu này vẫn còn mang tính máy móc, rập khuôn, yêu cầu các nhà khoa học phải kê khai quá tỉ mỉ thông tin cá nhân không cần thiết trong khi việc cập nhật thông tin lại chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Như vậy là quá chậm chạp so với khả năng công bố của nhà khoa học. Nếu khắc phục được những nhược điểm ấy, chúng ta sẽ có một nơi chốn để các nhà khoa học có thể tra cứu, tìm hiểu thông tin cần thiết về những người cùng thuộc lĩnh vực nghiên cứu để chủ động nêu vấn đề hợp tác, giải quyết những vấn đề cùng quan tâm.   Trên thực tế, nhà khoa học nào cũng cần có cộng sự, cần có người hợp tác để thực hiện những đề tài, dự án nghiên cứu. Các nhà khoa học trẻ mới về nước còn bỡ ngỡ với môi trường nghiên cứu trong nước thì việc tham khảo những lời tư vấn của các nhà khoa học đi trước, giàu kinh nghiệm về cách thức tiếp cận các quỹ nghiên cứu, các chương trình khoa học trọng điểm cấp nhà nước, cập nhật những thông tư, quy định về quản lý khoa học… sẽ giúp họ có thể tiếp tục công việc nghiên cứu, không bỏ lỡ thời gian vì những việc nằm ngoài chuyên môn. Tôi biết có nhiều trường hợp các tiến sỹ trẻ dù có nhiều tiềm năng nghiên cứu nhưng cũng phải mất tới vài năm loay hoay định hướng mới có thể bắt nhịp nghiên cứu trở lại vì không được định hướng tốt.   Các nhà khoa học lớn tuổi như tôi cũng rất mong muốn được mở rộng hợp tác với các bạn trẻ để có thêm nhân lực mới, ý tưởng mới cho nhóm nghiên cứu của mình, đồng thời có cơ hội bổ sung thêm nhiều kiến thức, phương pháp nghiên cứu mới mẻ mà các nhà nghiên cứu trẻ mang về từ những trung tâm, phòng thí nghiệm quốc tế.   Theo kinh nghiệm của tôi, việc kết nối bước đầu sẽ gặp một vài khó khăn và cần có cách thức xử lý linh hoạt, ví dụ việc nhận người vào một tổ chức nghiên cứu cũng gặp trở ngại vì biên chế ở các viện nghiên cứu như Viện Cơ học nơi tôi làm việc cũng có hạn và không phải lúc nào cũng có thể lấy kinh phí được cấp để thực hiện đề tài để trả lương cho các thành viên trẻ. Tuy nhiên, nếu có quyết tâm làm khoa học thật sự, chúng ta vẫn có thể vượt qua những khó khăn này, như chấp nhận việc cộng tác bán thời gian của thành viên mới, chấp nhận việc họ dành một phần thời gian làm những công việc khác nhưng vẫn có thể yêu cầu họ làm tốt phần công việc được giao.  Nhìn rộng ra, việc kết nối giữa các nhà khoa học trẻ và “già” không chỉ tránh được hiện tượng lãng phí chất xám mà còn góp phần tạo dựng những nhóm nghiên cứu mạnh tại các trường, viện. Đây cũng sẽ là một trong những yếu tố đem lại sự minh bạch, lành mạnh cho đời sống khoa học Việt Nam.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần một dự án dịch thuật cấp quốc gia về nhân học      Cần triển khai hiệu quả một dự án dịch thuật ở quy mô quốc gia, trong đó quy tụ những chuyên gia dịch thuật, nhà nghiên cứu, những người thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành có tâm huyết tham gia để góp phần đưa nhân học Việt Nam phát triển đúng hướng và từng bước hội nhập với thế giới.     Bắt rễ từ những nghiên cứu dân tộc học thời kỳ thực dân và trải qua thời kỳ ảnh hưởng của nền học thuật Xô-viết, nhân học Việt Nam mới hình thành chừng 10 năm trở lại đây với một đội ngũ các nhà nghiên cứu, phần lớn chuyển từ dân tộc học, văn hóa dân gian, văn hóa học, sử học… sang hoặc các chuyên ngành khác có liên quan ở nước ngoài về. Các công trình nghiên cứu về nhân học của họ cũng mới bắt đầu được xuất bản trên tạp chí hoặc in sách chuyên khảo trong nước và quốc tế, số lượng chưa nhiều và chất lượng không đồng đều.  Vì vậy, dù ghi nhận những kết quả bước đầu nhưng ở góc độ một nhà nghiên cứu, phải thẳng thắn thừa nhận nhiều nghiên cứu nhân học của Việt Nam vẫn còn chưa “tới”, chưa cập nhật và chưa thực sự hội nhập với nền học thuật quốc tế. Có nhà nghiên cứu nhân học Mỹ sau khi đọc một số các bài viết, hay thậm chí những chú thích của hiện vật trong bảo tàng ở Việt Nam có trao đổi với tôi rằng, có lẽ nhiều người trong số họ chỉ “ngồi trong phòng làm việc tại Hà Nội” để tưởng tượng, mô phỏng lại các sinh hoạt, văn hóa, xã hội cộng đồng và đưa ra những quan điểm mang tính áp đặt, những lời nói của người ngoài cuộc. Nói như vậy cũng có phần oan uổng cho các nhà nghiên cứu Việt Nam bởi họ có đi điền dã, lặn lội ở địa bàn nghiên cứu, nhưng sự thực là điền dã chưa đủ, chưa kể còn thiếu những phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, hệ thống lý thuyết cập nhật. Vì vậy, dù cũng thực hiện phỏng vấn, quan sát tham dự, kết hợp lý giải, phân tích nội dung nghiên cứu nhưng các công trình của họ vẫn chưa có độ sâu, chưa làm nổi bật những vấn đề của cuộc sống văn hóa, xã hội.. của cộng đồng cũng như tâm thức của người thực hành, người trong cuộc.  Tôi biết hai khoa Nhân học trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia HN, TPHCM và ở các Viện nghiên cứu cũng ở tình trạng thiếu sách đến mức các giảng viên chủ yếu vẫn phải “giảng chay”, còn sinh viên và nghiên cứu sinh thì rất thiếu một hệ thống tài liệu tham khảo để mở rộng kiến thức.  Trong khi đó, các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài thường mô tả sâu và đề cập kỹ lưỡng đến con người chủ thể – con người hành động, tâm tư của họ, lý giải rất rõ nguồn gốc từng hành động, ý nghĩa từng nghi lễ, … dựa trên các phương pháp tiếp cận hiện đại. Clifford Geertz, nhà nhân học Mỹ nổi tiếng cho rằng nhân học không thể̉ là một ngành khoa học như ngành vật lý với các quy luật và sự tổng quát dựa vào các số liệu thực tế và thực nghiệ̣m. Nghiên cứu văn hóa dù phải dựa vào hiện thực cụ thể của một xã hội, nhưng phải là ý nghĩa do con người sống trong xã hội đó hiể̉u, chứ không phải là những phán đoán chủ quan của nhà nghiên cứu dựa vào số liệu thực tế. Các công trình nghiên cứu của Clifford Geertz luôn liên kết các quá trình tự biết, tự nhận thức, tự hiểu của người bản địa với sự hiểu biết của nhà nghiên cứu về văn hoá của họ. Trong cách tiếp cận này, mỗi vấn đề được phân tích, lý giải bắt đầu từ một tập hợp những nhận thức của người bản địa về vấn đề đó, so sánh với những nhận thức khác của họ, tiếp đến là những nhận thức và tri thức của nhà nghiên cứu (phương pháp, nhận thức, sự hiểu biết) kết hợp với nhận thức của người bản địa về chính văn hoá của họ.  Cuộc thoát ly với những phương pháp nghiên cứu truyền thống đã lạc hậu của nhân học Việt Nam còn diễn ra một cách chậm chạp, ngập ngừng chừng nào các nhà nghiên cứu còn chưa cập nhật các kiến thức mang tính hệ thống, lý thuyết, những quan điểm học thuật quốc tế… Để thúc đẩy quá trình này, bên cạnh nỗ lực tự thân của mỗi nhà nghiên cứu nhân học, họ cần phải được trang bị những bộ sách, những bài viết công cụ mang tính nền tảng của nhân học quốc tế bên cạnh những tài liệu của trường phái Xô-viết để có một hệ thống kiến thức về ngành dân tộc học và nhân học quốc tế trong suốt chiều dài lịch sử phát triển mạnh mẽ từ nửa đầu thế kỷ XX đến nay. Khi nhân học Việt Nam cần nhiều tài liệu tham khảo mang tính học thuật và những công trình nghiên cứu của quốc tế thì những công trình dịch quá ít ỏi, chủ yếu chỉ mới có một số tuyể̉n tập nhân học cùng một số bài nghiên cứu đã được dịch và in riêng lẻ trên các tạp chí chuyên ngành. Tôi biết hai khoa Nhân học trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia HN, TPHCM và ở các viện nghiên cứu cũng ở tình trạng thiếu sách đến mức các giảng viên chủ yếu vẫn phải “giảng chay”, còn sinh viên và nghiên cứu sinh thì rất thiếu một hệ thống tài liệu tham khảo để mở rộng kiến thức.  Đây là lý do khiến một dự án dịch thuật thật sự cần thiết với ngành nhân học Việt Nam. Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã thực hiện phương án này một cách hiệu quả, đơn cử như Trung Quốc, Hàn Quốc đều tiến hành dịch và xuất bản rất nhanh các công trình nhân học mới xuất hiện trên thế giới với sự tham gia nhiệt tình của những nhà nghiên cứu. Ngoài việc bản thân muốn cập nhật tình hình học thuật thế giới, họ còn muốn có thêm tài liệu giảng dạy và phổ biến những hệ thống kiến thức mới cho sinh viên, nghiên cứu sinh trong nước. Trước khi trở về nước làm việc, TS. Laurel Kendall, Chủ nhiệm Khoa Nhân học (Department of Anthropology) Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ (AMNH), New York, đã tặng tôi mấy cuốn sách và dặn: “Hiền, em về nước cũng nên nhớ cập nhật sách mới và học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc. Công trình nào mới về nhân học thế giới là họ cũng dịch luôn ra tiếng Hàn”. Sau đó, mỗi lần sang Việt Nam, món quà quý giá nhất bà thường tặng tôi là một cuốn sách mới.  Ba yếu tố đảm bảo dự án thành công  Cũng như nhiều dự án khác, một dự án dịch thuật muốn thành công cần, tối thiểu phải đảm bảo được ba yếu tố: thứ nhất là tập hợp được những nhà chuyên gia “biết người biết việc”, thứ hai là tuyển chọn được những công trình (sách, bài viết) phản ánh sự phát triển, những quan điểm học thuật trong lịch sử của ngành nghiên cứu, và thứ ba là kinh phí thực hiện.  Ở Việt Nam, với nhiều dự án, có khi người ta mời các nhà quản lý, những chuyên gia chưa thực sự đúng chuyên ngành tham gia, mang tính chất “hợp thức hóa” hơn là nghĩ đến hiệu quả thật sự và cái đích cần đạt được. Kết quả là những dự án đó hoặc được điều hành bởi những người không thạo việc hoặc trở thành nơi tập hợp của các sản phẩm ít giá trị học thuật, ứng dụng thực tế. Như vậy, không những mục đích mà dự án đề ra không thực hiện được một cách hiệu quả mà còn dẫn đến việc lãng phí kinh phí đầu tư của nhà nước.  Để dự án dịch thuật sách nhân học tránh được những tiền lệ đó, ngoài việc tập hợp những chuyên gia dịch thuật, những nhà nghiên cứu tâm huyết thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành nhân học, cần mời thêm một số chuyên gia giỏi ở nước ngoài tham gia tư vấn, chú giải, viết lời giới thiệu các cuốn sách… Chúng ta phải nhìn rộng ra rằng, ngành nhân học thế giới bắt nguồn từ thế kỷ XVIII và đến nay, qua nhiều thời kỳ phát triển, có hàng ngàn cuốn sách, bài viết và được bổ sung không ngừng hằng năm. Giữa hàng vạn công trình như vậy thì chỉ có những nhà nghiên cứu am hiểu hệ thống quan điểm học thuật mới đủ khả năng lựa chọn, tìm ra được những cuốn sách, công trình nào đáng dịch. Việc mời các chuyên gia quốc tế, những giáo sư đầu ngành nhân học tham gia tư vấn cho dự án gần như không mất quá nhiều công sức và tiền bạc, ngoài việc gửi e-mail trao đổi thông tin và nếu có tổ chức thảo luận thì mất tiền vé mời họ tới Việt Nam.  Về bản quyền các cuốn sách được dịch, với một dự án phi lợi nhuận, hoàn toàn mang tính phổ biến kiến thức học thuật và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu như vậy thì đây không phải là vấn đề đáng lo. Hầu hết các nhà xuất bản quốc tế đều rất sẵn sàng không yêu cầu phí bản quyền trước những dự án như thế này, chỉ cần chúng ta nêu rõ mục tiêu phi lợi nhuận của dự án với họ.  Ở Việt Nam, với nhiều dự án, có khi người ta mời các nhà quản lý, những chuyên gia chưa thực sự đúng chuyên ngành tham gia, mang tính chất “hợp thức hóa” hơn là nghĩ đến hiệu quả thật sự và cái đích cần đạt được. Kết quả là những dự án đó hoặc được điều hành bởi những người không thạo việc hoặc trở thành nơi tập hợp của các sản phẩm ít giá trị học thuật, ứng dụng thực tế     Khi mọi vấn đề về học thuật và bản quyền đã được giải quyết, vấn đề còn lại đối với dự án dịch thuật lại là kinh phí thực hiện, vốn được coi là khó hơn cả việc chọn lọc danh sách những công trình cần dịch. Cách đây vài năm, chúng tôi đã đề xuất một dự án dịch tài liệu về nhân học văn hóa, một bộ phận quan trọng của nhân học, với mục tiêu là dịch, hiệu đính, in ấn 12 tuyển tậ̣p, mỗi tuyển tập sẽ có khoảng từ 12-15 bài nghiên cứu hay các chương được chọn lọc trong một cuốn sách chuyên khảo và dày khoảng 500 trang, thời gian thực hiện trong vòng bốn năm với kinh phí khoảng 2,6 tỷ đồng. Số sách dịch sẽ được gửi cho các thư viện của các trường đạ̣i học, viện nghiên cứu Việt Nam. Tuy nhiên đến nay dự án đó vẫn bị gác lại vì không có kinh phí thực hiện.  Vì vậy từ góc độ một nhà nghiên cứu, đặt sự phát triển của ngành nhân học bên cạnh sự phát triển của KHXH&NV cũng như đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, tôi cho rằng, ngành nhân học mới hình thành ở Việt Nam sẽ dần dần hội nhập nền học thuật quốc tế nếu có được một trong những yếu tố mang tính nền tảng – những bộ tuyển tập các công trình chuyên ngành thông qua việc thực hiện nghiêm túc một dự án dịch thuật về nhân học ở tầm quốc gia.  ————  * PGS. TS Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.       Author                Nguyễn Thị Hiền        
__label__tiasang Cần một giải pháp xây dựng  đội ngũ khoa học mới      Từ nhiều năm nay, Bộ KH&amp;CN đã mong muốn có được một chính sách sử dụng, trọng dụng nhà khoa học nhằm tạo điều kiện để nhà khoa học phát huy tối đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng từ kết quả hoạt động KH&amp;CN. Nhưng để những chính sách đó có tính khả thi thì trước hết cần có giải pháp xây dựng một đội ngũ khoa học mới.&#160;     Không chỉ riêng Việt Nam, nhân loại từ lâu cũng đau đầu về việc nghĩ ra cách để đánh giá trình độ tài năng qua bằng cấp và tuyển chọn, bổ nhiệm, từ đó có chính sách ưu đãi và trọng dụng nhà khoa học tài năng:          Khi hiện trạng đã được cải tổ, lực lượng KHCN mới thực sự manh nha và phát triển dần, từ đó mới có đất cho những chính sách ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ phát huy tác dụng.        Với nhóm nước có truyền thống đào tạo giáo dục chính thống lâu đời như nhóm quốc gia châu Âu lục địa (Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nga…) thì họ chọn việc tôn trọng bằng cấp đi kèm với thi cử chặt chẽ và chính danh bổ nhiệm. Ở những nước này, nhân tài trên Đại học (không tính cấp Thạc sĩ) phải được lọc qua hai cấp: Tiến sĩ (gọi chung cho Phó tiến sĩ, Ph.D, Dr.Rer nat…) và mức Tiến sĩ Khoa học (gọi chung cho Tiến sĩ Khoa học, Dr.habil, Dr.d’Etat…). Ở trình độ TSKH là mức tài năng cao nhất cho nghề nghiệp giảng dạy Đại học (Professur) việc bổ nhiệm làm Giáo sư (Professor) là đương nhiên nếu có ghế trống, Tiến sĩ cũng có thể bổ nhiệm GS như là ngoại lệ. Ở những quốc gia này, bổ nhiệm Giáo sư là việc do nhà nước (Liên bang hoặc Bang) thực hiện theo tiến cử của một số nhà khoa học độc lập có uy tín nhất. Ngay Einstein muốn được bổ nhiệm Giáo sư (có ghế hoặc thỉnh giảng) cũng phải hoàn thành luận văn Habilitation. Như vậy, nếu nhà nước muốn giữ quyền tuyển chọn và bổ nhiệm thì bộ lọc nhân tài phải nghiêm cẩn thứ bậc, minh bạch và chặt chẽ.  Ở những quốc gia theo xu hướng thực dụng, đánh giá theo thực lực (nhóm Anglo-Saxon như Anh, Mỹ) thì chỉ có một cấp Ph.D và hoàn toàn phân quyền, cạnh tranh tự do về tài năng. Đại học và Viện Nghiên cứu mọi loại hình sở hữu đều tự trị. Giáo sư là một chức vụ nghề nghiệp, lấy Ph.D là một điều kiện nhưng quyết định lại là tài năng thực sự, do trường tự chọn, tự chịu trách nhiệm và tự bổ nhiệm, hết dạy là hết chức danh. Nhà nước không can thiệp ngoài sự hỗ trợ tài chính theo luật định. Dễ nhận thấy rằng, dù là hệ thống nào thì cũng phải bảo đảm có hai vế: Động lực và Kiểm soát. Nếu động lực, đánh giá là sự ban phát của nhà nước thì bằng cấp phải được kiểm soát chặt chẽ, thực chất, qua nhiều bộ lọc độc lập có trách nhiệm. Nếu bằng cấp là thả nổi thì xã hội và thị trường nhân lực là hệ thống kiểm soát đánh giá theo thực chất, nhà nước không can thiệp. Nhà nước chỉ tạo chính sách để thu hút nhân tài cho quốc gia kể cả rút ruột các quốc gia khác.          Trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam ta thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn.           Dù đã được thiết kế chặt chẽ và hợp lý như vậy nhưng không có hệ thống nào được coi là hoàn thiện mà không phải liên tục cải tiến. Huống hồ trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn.   Những năm gần đây nhiều lâu đài của khoa học cũng không còn tự trọng, chăm lo cho uy tín của mình nữa, vì không ít lãnh đạo các đơn vị nhà nước đó không lo bị xã hội đào thải và chẳng còn động lực gì ngoài đồng tiền. Đến mức như Đại học Quốc gia… thậm chí còn liên kết đào tạo, bán bằng rởm, điển hình như hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ ĐH Irwin (rởm), ĐH Giggs. Có lãnh đạo chuyên ngành ở Viện Hàn lâm nọ được xác định gian trá trong khoa học lại được nhà nước đưa lên nắm giữ những trọng trách như Tổng Cục trưởng chính cái ngành chuyên môn anh ta đã gian trá, hoặc có anh khác lại làm Viện trưởng các Viện lớn hơn nữa… Đó thật sự là nhạo báng nhân tài.  Đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một quá trình dài hạn, có tính thừa kế liên tục. Cha nào con nấy, thầy nào trò nấy… Nếu không nhìn nhận sự thật cay đắng đó và có những quyết sách quyết liệt trong việc thanh lọc lại đội ngũ hiện có và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ mới thì mọi chính sách về ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ KHCN, nếu có đề ra, cũng chỉ là vẽ rắn thêm chân.  Cần phải thành thật nhìn nhận rằng trong đội ngũ cán bộ KH&CN hiện nay, có nhiều người đang thực sự là vật cản vô hình chính yếu đối với mọi hoạt động KHCN. Việc đánh giá, thanh lọc đội ngũ này là cấp thiết nhưng rất khó khăn, nhất là các tổ chức KHCN ở nước ta hiện nay chủ yếu là công lập hoặc nằm trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Tất cả các tổ chức này đã hành chính hóa nặng nề, không thể tự cải tổ được. Do vậy việc cải tổ phải là một quá trình áp đặt từ bên ngoài.   Để thực hiện chính sách cải tổ áp đặt này nhà nước có thể chọn mời cỡ 50-60 nhà khoa học thật sự, đã trực tiếp làm khoa học cho đến nay (kể cả số đã nghỉ), có thành quả cụ thể (không phải chỉ nói hay) đủ uy tín với giới chuyên môn trong và ngoài nước (chứ không phải với quan chức nhà nước). Họ phải không có hoặc không còn có tham vọng quyền lực hành chính. Những nhân vật này sẽ được giao đề xuất một chính sách và giám sát thực thi việc thanh lọc và xây dựng đội ngũ khoa học công nghệ mới một cách thực chất, vô tư.   Khi hiện trạng đã được cải tổ, lực lượng KHCN mới thực sự manh nha và phát triển dần, từ đó mới có đất cho những chính sách ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ phát huy tác dụng.  ***  Mấy năm trước, báo chí Việt Nam viết về câu chuyện “Tiến sĩ trẻ người Việt trên đất Đức” có đăng bức thư của một giáo sư Đức gửi cơ quan ngoại vụ Đức, xin trích1 “…Tôi đã tìm trong hơn 6 tháng qua mà không thể tìm thấy một ứng cử viên nào có khả năng và kiến thức được như vậy trong lĩnh vực này. Vì những lý do đó tôi yêu cầu quý ngài giải quyết nhanh nhất hồ sơ của kỹ sư Hoang Hung Tran.  Tôi muốn lưu ý các ngài rằng, theo kinh nghiệm cá nhân của tôi thu nhận được trong thời gian tôi điều hành một số công ty ở Mỹ thì lĩnh vực trên đây đang là nơi cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty của Mỹ và Đức.  Trong điều kiện nói chung rộng mở rất hấp dẫn của nước Mỹ đối với các kỹ sư nước ngoài thì sẽ có nguy cơ mất kỹ sư Hoang Hung Tran vào tay một công ty hoặc trường Đại học của Mỹ nếu quý ngài giải quyết quá chậm chạp…”  Thư yêu cầu gửi cơ quan ngoại vụ Đức (Auslandsamt) của Giáo sư M. Schroeter, chủ nhiệm bộ môn Vi điện tử (hết trích dẫn).  Bài báo cho biết là lập tức Chính phủ bang Sachsen ký ngay một hợp đồng tuyển dụng nhà khoa học 26 tuổi người Việt này với bậc lương viên chức BAT. Điều đáng chú ý là ngay đối với các kỹ sư Đức trẻ tuổi cũng khó có vị trí như vậy, huống chi là người nước ngoài, nhất là lúc tỷ lệ thất nghiệp của người Đức ở đây cao hơn 15%.    Liên tưởng với câu chuyện hành xử linh hoạt, vì nhân tài này ở nước Đức, một nước điển hình cho quy chuẩn và nguyên tắc cứng nhắc, thử hỏi, liệu có một Giáo sư Việt Nam nào có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam tuyển dụng đặc cách ngay với một chàng trai trẻ tài năng nào đó, người Việt thôi chứ không phải là người nước ngoài, để giữ một trọng trách khoa học với một sự tôn trọng và đãi ngộ thích đáng đủ để giữ chân anh ta lại trong nước. Chưa nói đến sẵn sàng linh hoạt hành xử như người Đức nguyên tắc, mà chỉ riêng việc tin tưởng và tôn trọng ý kiến nhà khoa học cũng là việc hầu như ít thấy ở các quan chức hành chính Việt Nam.   Vì vậy, trong quá trình xây dựng chính sách ưu đãi sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, những ý kiến của những nhà khoa học được giao nhiệm vụ đó và của cộng đồng khoa học, cần được những quan chức quản lý KHCN (như Bộ KH&CN chẳng hạn) tôn trọng, lắng nghe.     —  1 http://www.tienphong.vn/Gioi-Tre/ 62151/Tien-si-tre-nguoi-Viet-tren-dat-Duc.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần những đối sách hợp lý      Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động về vấn đề nguồn nước xuyên biên giới đang và sẽ là những thử thách rất lớn uy hiếp sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam khiến nền nông nghiệp vùng ĐBSCL có thể bị mất bền vững. Các nhà quản lý vĩ mô cần phải sớm nhận thức các nguy cơ này để có những đối sách hợp lý.      Trong khoảng hai thập niên vừa qua, các dấu hiệu của biến đổi khí hậu và nước biển dâng càng lúc càng thể hiện rõ hơn lên vùng đồng bằng, nhiều hiện tượng thiên tai, thời tiết bất thường đã được ghi nhận. Hầu hết mọi hoạt động canh tác nông nghiệp đều bị chi phối lớn do các yếu tố khí hậu. Sự bất thường của thiên nhiên sẽ gây nên những tổn thất về năng suất và sản lượng hoặc làm gia tăng chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Với mức độ gia tăng về tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan đến khu vực sẽ làm gia tăng mối đe dọa an ninh lương thực.   Những phỏng đoán về biến đổi khí hậu  Nhiều nhà khoa học trong Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã được chứng minh có sự liên quan giữa mức gia tăng nồng độ khí thải do các hoạt động của con người và sự nóng lên toàn cầu hiện nay. Từ các kịch bản phát thải khí nhà kính do IPCC đề xuất, nhiều mô hình toán học đã cho thấy nhiệt độ không khí toàn cầu và khu vực tiếp tục gia tăng nhanh trong thế kỷ 21. Sự tăng nhiệt độ không khí làm băng ở hai cực Trái đất và trên các đỉnh núi cao tiếp tục tan chảy khiến mực nước biển tăng lên, khối nước trong các đại dương mở rộng và các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão tố, lũ lụt, hạn hán, … cũng xuất hiện với tần số và cường độ lớn hơn.         Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất Việt Nam. ĐBSCL có 4 triệu ha diện tích đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp là trên 2,4 triệu ha, chủ yếu là sử dụng cho sản xuất lúa (hơn 85%), còn lại là sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, hoa màu và cây ăn trái. Hiện nay, vùng đồng bằng này sản xuất gần 21 triệu tấn lúa/năm, chiếm trên 50% tổng sản lượng lúa cả nước, đóng góp khoảng 90% lượng lúa gạo xuất khẩu ra thế giới. Trung bình mỗi năm, vùng ĐBSCL xuất ra thế giới từ 3,0- 3,5 triệu tấn gạo, đặc biệt năm 1999, lượng gạo xuất khẩu đã đạt đến mức 4 triệu tấn.               Nằm ở hạ lưu cuối cùng của hệ thống sông Mekong, có địa hình rất thấp và phẳng (độ cao trung bình phổ biến ở mức 1,2 – 1,5 m so với mực nước biển), vùng đồng bằng hiện đang chịu hai tác động dòng chảy, dòng chảy của sông Mekong từ thượng nguồn đổ về và dòng triều do tác động biển xâm nhập vào đất liền. Trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 là thời gian vùng đồng bằng bị ngập lũ, còn từ tháng 1 đến tháng 4 là thời đoạn vùng đồng bằng bị tác động mạnh mẽ của hiện tượng xâm nhập mặn và khô hạn.            Theo kết quả phỏng đoán các biến đổi khí hậu ở ĐBSCL từ các mô hình toán (chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ, Việt Nam và Trung tâm START vùng Đông Nam Á của Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) cho thấy, trong khoảng thập niên 2030 – 2040, nhiệt độ trung bình cũng như nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất trong vùng ĐBSCL đều gia tăng, phổ biến tăng khoảng 2°C. Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả khác từ kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam và một số mô hình khí hậu khu vực. Các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế cũng cho biết, khi nhiệt độ về đêm của không khí tăng lên 1°C, năng suất lúa sẽ giảm đi khoảng 10%. Giả thiết điều này xảy ra, vùng ĐBSCL có thể mất từ 2 – 4 triệu tấn lúa mỗi năm chỉ riêng do sự nóng lên của nhiệt độ khu vực.           Lũ nhỏ năm 2010 khiến nông dân Cần Thơ gặp khó khăn hơn vì thiếu nước và phù sa  (Ảnh Lê Anh Tuấn, 2010)          Mô hình cũng phỏng đoán trong khoảng 30 năm tới, tổng lượng mưa trung bình trong vùng ĐBSCL cũng sẽ giảm sút phổ biến từ 10 – 20% khiến việc cung cấp nước ngọt cho canh tác lúa thêm khó khăn. Điều đáng lưu ý là sự phân bố mức giảm sút này thay đổi theo tháng        Hiện Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ đang có một chương trình hợp tác quốc tế với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI, Viện Nghiên cứu Lúa ĐBSCL, Viện Quy hoạch hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ, Viện Khoa học Nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, và các nhà khoa học Úc để nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu lên ĐBSCL và tìm ra các giải pháp thích ứng cho hệ thống canh tác trên nền lúa. Dự án này kéo dài 5 năm với kinh phí 5 triệu dollar Úc do Chính phủ Úc tài trợ.         trong mùa mưa. Các tháng đầu mùa vụ Hè Thu như tháng 4, tháng 5 và qua giữa tháng 6, lượng mưa có thể giảm sút từ 20 – 40% khiến việc gieo sạ, phát triển chồi của cây lúa bị ảnh hưởng. Các tuần lễ từ giữa đến cuối tháng 7, hạn Bà Chằn thêm gay gắt khiến việc trổ đòng của lúa bị tác động. Nhưng đến cuối mùa mưa, lượng mưa gia tăng dần lên, đôi khi có những cơn mưa có cường độ lớn bất thường cộng thêm lũ về, khiến việc thu hoạch lúa Hè Thu thêm khó khăn, tỷ lệ thất thoát sẽ gia tăng và chi phí xử lý sau thu hoạch sẽ làm thu nhập của nông dân giảm đi. Mưa và nhiệt độ thay đổi thất thường cũng sẽ gây ra những sự bùng phát khó lường của sâu bệnh, nấm bệnh hại lúa. Lượng mưa giảm đáng kể trong mùa khô khiến hạn hán và sự xâm nhập mặn thêm trầm trọng làm ảnh hưởng đến canh tác lúa vụ Đông Xuân. Ngoài ra, sự gia tăng khô hạn trong mùa khô và giảm sút lượng mưa trong đầu mùa mưa sẽ làm tăng sự nhiễm phèn, độc chất của phèn sẽ ảnh hưởng lớn đến cây lúa nhất là giai đoạn đầu, thậm chí sẽ làm chết hàng loạt mạ mới gieo sạ nếu không có đủ nước để rửa phèn. Nếu không có biện pháp chủ động về nguồn nước tưới, sự giảm sút và sự thay đổi thất thường lượng mưa ở ĐBSCL sẽ làm cho thu nhập của nông dân giảm đi khoảng 20 – 40 % so với hiện nay. Nông dân phải gia tăng chi phí cho việc bơm nước tưới lúa, gia cố kênh mương trữ nước, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, thay đổi cơ cấu canh tác, chi phí xử lý sau thu hoạch.             Đê ngăn mặn và chống xâm thực biển ở Bạc Liêu .                (Ảnh Lê Anh Tuấn, 2010)            Hiện tượng nóng lên toàn cầu hiện vẫn tiếp tục tiếp diễn ngày càng nghiêm trọng. Hệ quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu là sự tan băng và nước biển dâng khiến nhiều vùng đất thấp sẽ bị ngập chìm và xâm nhập mặn. Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu đã từng cảnh báo vùng ĐBSCL là một trong ba vùng đồng bằng ven biển sẽ bị tác động nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên cộng đồng dân cư so với các nơi khác trên thế giới. Theo phỏng đoán từ nay đến cuối thế kỷ này, trường hợp mực nước biển trung bình dâng lên từ 0,75 m đến 1 m, sẽ có ít nhất 25% diện tích đất nông nghiệp vùng ven biển ĐBSCL sẽ bị chìm ngập và khoảng 75% diện tích canh tác hiện nay sẽ bị nhiễm mặn mùa khô và khoảng 40-50% diện tích nông nghiệp bị ảnh hưởng của nước mặn ngay cả trong mùa mưa, khó có thể trồng lúa được. Điều này có thể tạo nên một nguy cơ là sản lượng lúa của khu vực sẽ giảm đi ít nhất một nửa và Việt Nam có thể sẽ là một quốc gia không có lúa xuất khẩu.   Cần những đối sách hợp lý  Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động về vấn đề nguồn nước xuyên biên giới đang và sẽ là những thử thách rất lớn uy hiếp sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam khiến nền nông nghiệp vùng ĐBSCL có thể bị mất bền vững. Các nhà quản lý vĩ mô cần phải sớm nhận thức các nguy cơ này và phải có những đối sách hợp lý cho vấn đề.         Do nhu cầu phát triển kinh tế và năng lượng cũng như đối phó các vấn đề về biến đổi khí hậu, các nước thượng nguồn sông Mekong càng quyết liệt trong việc khai thác nguồn tài nguyên nước trên sông Mekong như việc xây dựng các đập nước nhà máy thuỷ điện trên dòng chính và dòng nhánh như trường hợp ở Trung Quốc, Lào và Campuchia, kế hoạch chuyển nước sông Mekong qua các lưu vực khác để sử dụng như Trung Quốc và Thái Lan triển khai, tại Campuchia cũng đang chuẩn bị mở rộng các hệ thống thuỷ nông để gia tăng việc thâm canh sản xuất lúa và nuôi trồng thuỷ sản khiến nguồn nước sông Mekong sẽ bị đe doạ hơn bao giờ hết.         Đối với sản xuất lúa, cần phải có những điều chỉnh lịch thời vụ kịp thời, đẩy mạnh nghiên cứu tìm ra các giống lúa mới có thể chịu đựng khô hạn, nhiễm mặn tốt hơn. Trong canh tác lúa, biện pháp tưới tiết kiệm nước sẽ là một giải pháp giúp nông dân giảm chi phí sản xuất và phù hợp với sự suy kiệt nguồn nước.   Cần xây dựng các công trình như ngăn mặn, giữ ngọt, khai thác nước ngầm, nạo vét củng cố hệ thống kênh mương nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng nước, xây dựng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, dòng chảy) nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt.   Ngoài ra, nên có những tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và các nhà quản lý, tập huấn phương pháp lồng ghép biến đổi khí hậu và kế hoạch phát triển của địa phương. Các địa phương nên phối hợp với các nhà khoa học để tìm ra những biện pháp thích nghi hợp lý cho cộng đồng. Việc tăng cường hợp tác khoa học với các tổ chức trong và ngoài nước cũng cần đẩy mạnh để có những chia sẻ thông tin và kiến thức nhằm ứng phó hợp lý nhất cho vấn đề nóng về biến đổi khí hậu.   Các giải pháp cho vấn đề sản xuất lượng thực ở Đồng bằng sông Cửu Long không những có ý nghĩa đối với việc an ninh lượng thực quốc gia mà còn là một bảo đảm cho nguồn cung lương thực cho thế giới, cứu sống nhiều người ở các quốc gia đói nghèo khác nữa.   ——-  * TS. Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần phân định rõ thế nào là đề tài khoa học      Tôi cho rằng, việc đầu tiên chúng ra cần phải phân định rõ thế nào là nghiên cứu khoa học và thế nào là nghiên cứu nghiệp vụ của bản thân  từng cơ quan. Ví như cái bàn cái ghế đều quan trọng, chúng ta đều cần cả. Nhưng đáng lẽ cái  gọi là cái bàn thì chúng ta lại gọi là cái ghế, rồi chúng ta lại than phiền không có chỗ mà viết, dù có đủ sách vở, bàn giấy. Tình trạng của chúng ta cũng giống như vậy.    Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu. Nhưng rồi, việc đó của họ lại thành một đề tài khoa học cấp Nhà nước, được cấp kinh phí, theo tôi dự đoán là khoảng gấp mười, gấp trăm các đề tài nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhiều cơ quan khác cũng có tình trạng đó. Họ đã được Nhà nước cấp cho bao nhiêu phương tiện để làm nhiệm vụ của mình, nhưng rồi họ lại “biến” nhiệm vụ đó thành không biết bao nhiêu đề tài nghiên cứu (vì chúng ta quản lý không minh bạch nên khó mà biết được số lượng thế nào). Chẳng hạn như việc nghiên cứu, giảng dạy và viết sách giáo khoa là việc hết sức quan trọng cho giáo dục. Việc đó cần được Bộ Giáo dục khuyến khích và có kinh phí khuyến khích. Nhưng việc đó là thuộc Bộ Giáo dục. Về phương diện khoa học, không thể coi sách giáo khoa là một công trình khoa học được. Trừ khi trong sách giáo khoa đó có nhiều điểm mới về khoa học thực sự có thể coi là công trình khoa học.  Tôi rất thấy làm lạ khi có nhà báo đưa cho tôi một tập các đề tài khoa học của thành phố Hà Nội, trong đó, nhiều đề tài đọc đầu đề lên đã thấy không đâu trên thế giới này coi là đề tài khoa học. Đấy là ở cấp thành phố. Ở cấp Bộ, tôi chắc cũng có nhiều trường hợp như thế. Tôi dự tính đến 70-80% kinh phí khoa học là để cấp cho các “đề tài” kiểu đó. Còn lại khoảng 20-30% cấp cho đề tài khoa học công nghệ. Bản thân tôi rất coi trọng tất cả các công trình nghiên cứu nghiêm túc ở tất cả các ngành. Tôi không gộp những cái đó vào đây, nhưng quả thật có nhiều công trình không có một giá trị gì cả. Đã vậy lại nhận kinh phí gấp trăm gấp ngàn lần các đề tài khác.  Liên quan đến vấn đề này là việc đánh giá và xem xét hiệu quả các công trình khoa học. Hiện nay xã hội chúng ta có nhiều cách đánh giá khoa học mà tôi cho là quá ấu trĩ. Có người nói, bao nhiêu công trình nghiên cứu khoa học công bố báo này, báo kia trên quốc tế nhưng có tác dụng gì trong nước đâu, cũng chẳng làm ra cơm áo gì. Đó là những quan niệm hết sức sai lầm. Tất cả các nước trên thế giới, đến 90% các công trình nghiên cứu cũng không ra cơm ra áo ngay được. Khoa học là cả một hệ thống. Sở dĩ bây giờ có nhiều thành tựu khoa học kỳ diệu, như là về sinh học, giải mã bản đồ gene người, phóng vệ tinh, thám hiểm cái này cái nọ, máy tính…, đó không phải chỉ do công lao của những người làm trong lĩnh vực ấy. Có một nhà toán học suốt đời không quan tâm và cũng chẳng hiểu gì về máy tính. Ông chỉ chuyên nghiên cứu về lý thuyết đồ thị Graph. Nhưng khi ông mất đi, chính các nhà công nghệ thông tin đã nói rằng, ông là một trong những người đã giúp ích nhiều nhất cho sự phát triển của công nghệ thông tin.  Vì vậy, cần có sự phân biệt giữa Khoa học cơ bản và Khoa học ứng dụng. Trong toán học cũng đã từng có sự phân biệt đó, nhưng rồi người ta nhận thấy: không có cách nào phân chia rạch ròi toán ứng dụng và toán lý thuyết. Chỉ có hai loại: toán tốt và toán tồi. Tôi cho rằng điều đó đúng với khoa học nói chung. Tại sao lại đòi hỏi những nghiên cứu khoa học phải tiến hành làm ra ngô ra khoai ra lúa ra gạo ngay. Nếu như thế thì không chỉ có ta không làm được mà trên thế giới không có nước nào làm được điều đó. Đó là đòi hỏi những cái không thể, vì như vậy là tách từng cái một ra khỏi hệ thống. Tuy không trực tiếp làm ra lúa ra gạo, nhưng trên thế giới này, nếu không có 90% những công trình không có tác dụng ấy thì cũng không thể có 10% các công trình ứng dụng kia.  Gần đây, tôi thấy có những bước tiến lớn đáng vui mừng trong quản lý nghiên cứu cơ bản của Bộ KH&CN, dù rằng, chúng ta cần phải cải tiến nhiều nữa, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai. Thay vì nói chuyện chiến lược, hãy nói chuyện soạn thảo và thực hiện nghiêm túc các chính sách cụ thể.   Ngoài ra, còn có một vấn đề lớn về môi trường và điều kiện làm việc của nhà khoa học. Đây là vấn đề không phải chỉ riêng của Bộ KH&CN mà là của cả xã hội, mà theo tôi, nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tiền lương và tham nhũng gây nên. Như trong ngành giáo dục, tính ra số tiền Nhà nước và các địa phương đầu tư cho giáo dục cũng như nhân danh đầu tư cho giáo dục, nếu quản lý tốt và không có tham nhũng thì có thể nói là thừa để đảm bảo mức sống hợp lý cho giáo viên cũng như cán bộ giảng dạy ở đại học, để cho họ có thể sống bằng đồng lương và tập trung làm công việc của họ thay vì phải làm tay trái, thậm chí phải làm nhiều việc phi đạo đức (nhiều người làm như vậy mà bản thân họ cũng rất đau lòng).  Muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học thì một điều không thể không làm là cần chấm dứt tình trạng lấy một phần không nhỏ kinh phí nghiên cứu khoa học để bù đắp thêm cho tiền lương. Nhưng muốn làm được điều đó thì trước hết lương phải thỏa đáng, phải căn cứ vào trình độ, kinh nghiệm của nhà khoa học, và như vậy phải đánh giá đúng trình độ nhà khoa học ấy. Ở tất cả các nước văn minh mà tôi đã có dịp đến, tôi đều thấy các giáo sư, các nhà khoa học sống trên mức trung bình. Họ không phải làm những việc khác ngoài nghiên cứu. Còn kinh phí khoa học của họ phần lớn để đi trao đổi, nhận nghiên cứu sinh, làm thêm thí nghiệm… chứ không phải để bổ sung vào tiền lương.  Chính sách tiền lương hiện nay của chúng ta là một nguyên nhân chủ yếu đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực. Và một hậu quả khác là, vì cơ chế đó cho nên nhiều nghiên cứu không phải là khoa học cũng xưng là khoa học và nhận kinh phí. Đặc biệt là những đề tài động đến những chuyện to tát như đường lối của Nhà nước, chính trị, xã hội… rất dễ được cấp tiền “nghiên cứu”.  ——————-  * Lược ghi phát biểu tham luận tại Hội thảo: Định hướng và Giải pháp phát triển KH&CNViệt Nam 2010 – 2020​       Author                Hoàng Tuỵ        
__label__tiasang Cần tận dụng tối đa sự hỗ trợ chuyên môn từ quốc tế      Việt Nam nên tận dụng tối đa sự hỗ trợ chuyên môn từ quốc tế, đồng thời đảm bảo chương trình hạt nhân của mình tuyệt đối minh bạch. Nếu không làm vậy, kết quả sẽ là thảm họa. Sẽ là có tội nếu ai đó kiêu ngạo cho rằng Việt Nam không cần phải thể hiện trước Thế giới khả năng sẵn sàng của mình trước khi bước chân vào cuộc chơi này.        Trong một bài báo gần đây trên Tia Sáng, tôi đã bình luận về những phản ứng [của công chúng và giới chuyên môn] sau sự cố Fukushima, và thử tìm ra các bài học, trong đó có những điều có thể được rút ra và đặt vào bối cảnh của Việt Nam. Sau bài báo này và qua những khuyến nghị từ hội nghị cấp bộ trưởng được IAEA tổ chức gần đây tại Vienna từ ngày 20 tới 24 tháng 6 năm 2011, Tạp chí Tia Sáng đã đề nghị tôi bày tỏ rõ hơn những quan điểm của mình về cơ hội Việt Nam gia nhập câu lạc bộ năng lượng hạt nhân.  Trước hết, tôi xin phép trình bày lại những luận điểm chính trong bài báo trước của mình. Đối với phương Tây, sự cố Fukushima làm dấy lên làn sóng phản đối năng lượng hạt nhân, mà tuy đa phần là cảm tính, nhưng cũng không thể xem nhẹ. Sự thiếu vắng thái độ có trách nhiệm đối với năng lượng hạt nhân – hay nói cách khác là sự thiếu một quyết tâm làm chủ năng lượng hạt nhân thay vì chống lại nó – đã lên tới mức khiến người ta chỉ muốn vứt bỏ cho xong. Không ai có thể áp đặt năng lượng hạt nhân vào một xã hội chối bỏ nó.        Rõ ràng là từ lâu đã cần phải có một chương trình đào tạo nghiêm túc, cần những chính sách thu hút nhân tài, và cần có một Viện chuyên đào tạo và phát triển năng lực cho các nhà khoa học, kỹ sư, và nhà quản lý, những người vận hành nhà máy hạt nhân. Nhưng dù có muộn còn hơn không.         Tuy nhiên, ở Châu Á, cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ, những luận điệu từ các nhóm tổ chức phương Tây chống năng lượng hạt nhân, đề cao năng lượng tái sinh lại không có mấy tác dụng. Dù người khác muốn hay không, Ấn Độ và Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục phát triển các chương trình năng lượng hạt nhân của mình. Việt Nam ở cùng một bối cảnh điều kiện địa chính trị và kinh tế tương đương cũng có thể gia nhập câu lạc bộ điện hạt nhân. Tuy nhiên đây là một thử thách lớn đối với Việt Nam trong việc chuẩn bị các điều kiện cần đáp ứng, mà tới nay chúng ta vẫn chưa thấy những dấu hiệu cho thấy thử thách này được giải quyết với mức quyết tâm cần thiết.    Tôi không đủ tư cách khẳng định Việt Nam nên hay không nên theo đuổi một chương trình năng lượng hạt nhân. Đây là một quyết định chính trị, đòi hỏi một tầm nhìn về một tương lai địa chính trị và kinh tế của quốc gia vượt quá khả năng và kiến thức của tôi. Nhưng điều tôi có thể nêu ra, là những quan điểm về các điều kiện mà Việt Nam cần đáp ứng nhằm đảm bảo một sự vận hành an toàn.   Trong bài báo trước, tôi đã viết, “Mọi vấn đề liên quan tới năng lượng hạt nhân phải được xem xét trong điều kiện kinh tế, công nghệ và xã hội cụ thể. Việc cần thiết và khẩn cấp hiện này là phải xác định ngay những vấn đề mà Việt Nam đã có sự chuẩn bị để giải quyết và những lĩnh vực chuyên môn khác có thể cần. Sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn; nguy cơ mất tự chủ trong lĩnh vực này không phải là nhỏ. Phải đánh giá cẩn thận đội ngũ nhân viên có tài, có chuyên môn về công nghệ hạt nhân để xác định không chậm trễ quy mô của việc đào tạo tăng cường rõ rằng là rất cần thiết. Người dân cần phải được chuẩn bị kỹ lưỡng để hiểu và chấp nhận quyết định khởi động chương trình điện hạt nhân. Các hệ quả ngắn hạn và dài hạn về tài chính cũng cần phải được hiểu rõ trong bối cảnh kinh tế hiện nay của đất nước. Việc quy hoạch dự án phải được đặt dưới điều kiện rằng mỗi bước thực hiện phải được bảo đảm rằng đất nước đã sẵn sàng đạt được nó một cách thành công.  Các quyết định không được sao chép từ các nước khác. Mỗi vấn đề phải được đánh giá và thấu hiểu trong điều kiện và đặc trưng riêng của Việt Nam”.  Chỉ chăm chăm phê phán là điều vô ích; người ta phải có tinh thần xây dựng. Đây là tinh thần tôi muốn đạt được khi viết những dòng trên đây. Nhưng khi đọc qua những dòng này, rõ ràng người ta dễ có ấn tượng (rất có thể là ấn tượng sai) rằng, cho tới nay, chưa có điều kiện trong những điều được nêu trên đây đã được nỗ lực giải quyết với mức quyết tâm cần thiết. Còn nếu có, thì có lẽ công chúng vẫn chưa nhận ra. Từng vấn đề được nên trên đây cần phải là mục tiêu của một kế hoạch, và kế hoạch này phải được quảng bá đầy đủ tới công chúng. Người ta có thể lo ngại rằng dù bây giờ làm thế thì cũng đã là muộn. Rõ ràng là từ lâu đã cần phải có một chương trình đào tạo nghiêm túc, cần những chính sách thu hút nhân tài, và cần có một Viện chuyên đào tạo và phát triển năng lực cho các nhà khoa học, kỹ sư, và nhà quản lý, những người vận hành nhà máy hạt nhân. Nhưng dù có muộn còn hơn không.   Công chúng không thể bị đẩy ra ngoài cuộc, chúng ta đã học được bài học về tầm quan trọng của sự chấp thuận từ công chúng đối với chính sách hạt nhân của quốc gia. Nhưng không dễ để duy trì thành công kênh thông tin giữa nhà chức trách và công chúng. Chúng tôi đã thất bại trong công tác này ở các nước phương Tây.  Fukushima đã gây ra một hiệu ứng tâm lý rất mạnh (chưa kể những bài học rút ra từ hậu quả của sóng thần). Việt Nam nên tận dụng những kết luận của cuộc Hội thảo tại Vienna để tích cực dựa vào các chuyên gia nước ngoài giúp đánh giá mức độ sẵn sàng của mình [cho việc xây dựng một chương trình hạt nhân]. Cụ thể, Hội nghị này đã nhấn mạnh rằng “các nước mới theo đuổi các chương trình hạt nhân nhất thiết phải thực hiện đầy đủ Các Tiêu chuẩn An toàn IAEA, gắn các bài học rút ra từ tai nạn Fukushima vào sự phát triển chương trình hạt nhân của mình và nhằm thể hiện khả năng hoàn toàn sẵn sàng vận hành các nhà máy hạt nhân trước khi tiến hành khởi động lò phản ứng hạt nhân đầu tiên”. Hội thảo cũng khẳng định rằng “IAEA có thể hỗ trợ bằng cách tiến hành thẩm định độc lập đối với các báo cáo đánh giá an toàn [hạt nhân] quốc gia, thông qua dịch vụ từ các nhóm chuyên gia quốc tế, qua đó sẽ công bố công khai các kết quả. Điều này có thể giúp tăng cường tính công khai và đáng tin cậy của những báo cáo đánh giá an toàn [hạt nhân] quốc gia.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần tăng cường đặt hàng vaccine trong nước      Nhà nước đã có những khoản đầu tư đáng kể cho những cơ sở sản xuất vaccine, nhưng chưa khai thác đúng mức dẫn đến lãng phí và thiệt hại cho chính ngành công nghiệp này.      Là một quốc gia đông dân cư, hằng năm vẫn thường xuyên đối diện với những bệnh lây lan như bệnh chân tay miệng, sốt xuất huyết, cúm, nhu cầu tiêm phòng các loại vaccine của người dân là rất cao. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các doanh nghiệp sản xuất vaccine của Việt Nam như Vabiotech hiện đang sản xuất với công suất rất thấp so với công suất tiềm năng.  Sự hình thành một doanh nghiệp  Vabiotech là doanh nghiệp được hình thành từ một bộ phận của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (Viện VSDTTW). Các chuyên gia của Vabiotech vốn là những cán bộ của Viện, và ngay từ những năm 90, họ đã bắt đầu nghiên cứu, sản xuất ra những sản phẩm vaccine có khả năng thương mại hóa. Đó là kết quả từ những chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cho những loại vaccine như viêm não Nhật Bản, tả, viêm gan B, viêm gan A. Trước khi đưa ra thị trường, mỗi một loại vaccine này đều phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm lâu dài, thường là tới 10 năm. Trải qua nhiều năm tự lực nghiên cứu và thử nghiệm sản xuất như vậy, đội ngũ chuyên gia của Vabiotech ngay từ thời kỳ thuộc Viện VSDTTW đã là những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong nghề.   Hoạt động thương mại hóa sản phẩm ở Viện VSDTTW trong thời kỳ ấy diễn ra chưa theo quy củ, chưa tiến hành thực địa lâm sàng một cách bài bản. Họ hoàn toàn không nghiên cứu gì về thị trường và xác định giá bán một cách khá mày mò. “Nghe theo kinh nghiệm thầy của mình là người từng làm việc ở Nhật, chúng tôi đặt ra mức giá bán bằng khoảng 10 lần chi phí sản xuất”, GS.TS. Nguyễn Thu Vân, hiện là Tổng Giám đốc Vabiotech, chia sẻ.   Mặc dù kinh doanh và sản xuất một cách không bài bản như vậy nhưng người dân và các trung tâm y tế dự phòng thường xuyên tìm đến mua các sản phẩm vaccine, tạo ra lượng cầu ngày một tăng.   Sau khi những hoạt động kinh doanh, sản xuất này ngày một phát triển, Thanh tra Chính phủ đã khuyến nghị Viện VSDTTW cho tách một bộ phận ra để thành lập doanh nghiệp theo tinh thần Quyết định 68/1998/QĐ-TTg về việc thí điểm thành lập doanh nghiệp Nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu. Ý tưởng này đã được Bộ Y tế hoàn toàn ủng hộ, và tới năm 2000 Công ty vaccine Sinh phẩm số 1 (tức Vabiotech) đã chính thức ra đời.   Mặc dù giai đoạn khởi đầu nan là không tránh khỏi, nhưng với sự đoàn kết của một tập thể những cán bộ, chuyên gia tâm huyết và có năng lực, Vabiotech đã phát triển tự lập vững vàng. Từ chỗ không có một đồng tiền mặt trong tài khoản vào lúc mới ra đời, ngày nay Vabiotech đã hoàn toàn trưởng thành, trở thành một doanh nghiệp hằng năm dành khoảng 7-10 tỷ đồng chuyên cho nghiên cứu và phát triển. So với cách thức hoạt động theo mô hình bao cấp Nhà nước trước đây, hoạt động theo mô hình doanh nghiệp đem lại sự chủ động và linh hoạt về nguồn tài chính dành cho hoạt động nghiên cứu. Cơ sở có thể linh hoạt tự cân đối để tạo nguồn kinh phí ổn định dành cho nghiên cứu và mua nguyên vật liệu, thay vì phụ thuộc vào những khoản tạm ứng và giải ngân cho các đề tài nghiên cứu của Nhà nước như trước đây.    Hiện nay, Vabiotech có riêng một bộ phận nghiên cứu chính thức và phối hợp với các cán bộ khoa học của các phòng ban khác trong công ty cùng nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới tạo thành một đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học gồm các nhà nghiên cứu lành nghề  với 02 giáo sư, 01 phó giáo sư, 10 tiến sĩ, 18 thạc sĩ, và nhiều cử nhân, có khả năng nghiên cứu mọi loại vaccine trong nước có nhu cầu. “Những gì đã thành công nghệ trên thế giới thì doanh nghiệp chúng tôi đều làm được”, GS. Nguyễn Thu Vân tự tin khẳng định.  Khoản đầu tư 28 triệu USD của Nhà nước và những bất cập  Năm 2007, thông qua các dự án ODA ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc, Nhà nước đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng cho Vabiotech một nhà máy sản xuất vaccine với chi phí lên tới trên 28 triệu USD. Dự án được lập từ giai đoạn 1994-95, và tới năm 2004 mới chính thức khởi công, đúng ra thì chủ đầu tư và Nhà nước đã có đủ cơ sở dữ liệu về dịch tễ học và những cân nhắc, tính toán cần thiết để dự án đạt hiệu quả cao tương xứng với số tiền mà Nhà nước bỏ ra.          Nguồn đặt hàng từ Nhà nước không chỉ hạn chế  về số lượng, mà còn thấp về mức giá quy định, đặc biệt là phần chi phí  dành cho lương cán bộ sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp thường xuyên  phải tự ứng tiền trước để sản xuất vaccine, và buộc phải tìm cách cân  đối từ nguồn thu kinh doanh từ khu vực ngoài Nhà nước.        Tuy nhiên, hiện nay nhà máy vẫn đang chỉ hoạt động tới 10% công suất, trong khi vẫn ngốn một khoản tiền không nhỏ để doanh nghiệp vận hành và bảo trì thường xuyên. Chi phí lớn khiến về mặt kinh doanh, doanh nghiệp hầu như không có lãi, mặc dù hoàn toàn không phải gánh vác khoản vay ODA của Chính phủ.   “Chúng tôi thiếu kinh nghiệm khi đề xuất dự án”, GS. Nguyễn Thu Vân thẳng thắn nhận định. Tuy nhiên, sự kém hiệu quả của dự án không hoàn toàn là trách nhiệm của những người đề xuất dự án. Nguyên nhân cơ bản hơn là Nhà nước thiếu một chính sách toàn diện về sản xuất và cung ứng vaccine1. Thiếu sót này khiến những người đề xuất và các cơ quan phê duyệt dự án đều thiếu một cơ sở cần thiết để ước tính nhu cầu đặt hàng sản phẩm của doanh nghiệp sau khi nhà máy hoàn tất xây dựng và đi vào hoạt động. Hậu quả là sau khi nhà máy đi vào hoạt động, Nhà nước không đặt hàng đúng với khả năng cung ứng của doanh nghiệp, vẫn ưu tiên sử dụng nguồn vaccine viện trợ từ nước ngoài trong khi nguồn cung cấp này không phải khi nào cũng ổn định, từ đó dẫn đến tình trạng nhà máy hoạt động với công suất rất thấp, trong khi người dân có lúc vẫn thiếu nguồn vaccine.  Nguồn đặt hàng từ Nhà nước không chỉ hạn chế về số lượng, mà còn thấp về mức giá quy định, đặc biệt là phần chi phí dành cho lương cán bộ sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp thường xuyên phải tự ứng tiền trước để sản xuất vaccine, và buộc phải tìm cách cân đối từ nguồn thu kinh doanh từ khu vực ngoài Nhà nước.   Cho một tầm nhìn xa hơn  Sự thiếu hiệu quả trong đầu tư của Nhà nước cho ngành sản xuất vaccine không chỉ dừng lại ở dự án xây dựng nhà máy tại Vabiotech, mà vẫn tiếp tục lặp lại ở những nơi khác, mà điển hình là dự án viện trợ không hoàn lại của JICA, Nhật Bản, cho Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất vaccine và sinh phẩm Y tế (Polyvac). Lẽ ra dự án tài trợ của nước bạn với một dây chuyền công nghệ tiên tiến phải đem lại lợi ích to lớn cho người dân và cơ sở sản xuất, nhưng hoàn toàn trái lại, dự án này đã gây ra không ít tốn kém, khi chi phí sản xuất vaccine ở đây thậm chí còn cao hơn so với vaccine nhập ngoại. Sở dĩ có nghịch lý này là vì Nhà nước không đặt hàng đủ, khiến công suất dây chuyền sản xuất được cung cấp cho Polyvac được khai thác ở mức quá thấp, đẩy chi phí vận hành lên quá cao.   Những bất cập trên đây cho thấy Nhà nước cần ngay lập tức xây dựng một kế hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất vaccine, trong đó có sự phân phối hợp lý thị phần phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp trong nước (cách thức quản lý của Nhật Bản là một trong những mô hình đáng học hỏi, theo GS. Nguyễn Thu Vân). Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến tới xuất khẩu sản phẩm vaccine cho các tổ chức quốc tế, qua đó gia tăng được quy mô sản xuất để hạ chi phí và giá thành sản phẩm. Đơn giá đặt hàng của Nhà nước cũng cần phải được điều chỉnh để không bị thấp hơn chi phí sản xuất, vì về lâu dài Nhà nước sẽ không thể tiếp tục áp đặt mức giá quá thấp, khi mà các cơ sở sản xuất được cổ phần hóa và người sở hữu cổ phần là các nhà đầu tư thuộc khu vực ngoài Nhà nước. Khi ấy, mức giá đặt hàng quá thấp sẽ khiến các bên không thống nhất được về lợi ích, và hậu quả có thể là lượng vaccine sản xuất ra không đáp ứng đủ được nhu cầu của người dân.   Vấn đề quy mô sản xuất ở mức thấp hiện nay của các cơ sở sản xuất vaccine trong nước cho thấy Nhà nước cần tăng lượng đặt hàng, trong đó tối thiểu phải có những đơn đặt hàng sản xuất sản phẩm vaccine dự phòng cho các đại dịch. Chính sách này không chỉ làm việc đầu tư có hiệu quả và khai thác đầy đủ công suất thiết kế tại các cơ sở sản xuất vaccine mà còn giúp tăng cường bảo vệ sức khỏe cho người dân. Việc Nhà nước đặt hàng vaccine dự trữ (an ninh quốc gia về bảo vệ sức khỏe con người) là hoạt động thông thường của nhiều quốc gia trên thế giới, và đây cũng là một chính sách quan trọng mà WHO đã khuyến cáo Việt Nam. Ngoài ra, tùy vào tình hình thực tế, Bộ Y tế cần có sự chủ động hơn trong việc đặt hàng các cơ sở nghiên cứu và sản xuất ra những loại vaccine giúp phòng ngừa những bệnh dịch đang phổ biến, như chân tay miệng và sốt xuất huyết, hiện đang gây ảnh hưởng không nhỏ cho sức khỏe người dân, tổn thất cho nền kinh tế.         Một số thành tựu đáng chú ý của Vabiotech              Theo GS. Nguyễn Thu Vân, đề tài đạt hiệu quả lớn nhất mà các chuyên gia  làm việc cho Vabiotech (trước kia làm việc cho Viện VSDTTW) đã làm được  là nghiên cứu và sản xuất thành công vaccine viêm não Nhật Bản. Đây là  công trình đoạt giải thưởng Nhà nước, đã giúp giảm tỷ lệ trẻ em mắc bệnh  từ 20% vào năm 1997 nay xuống còn 2-3%.                Một công trình tiêu biểu khác là nghiên cứu và sản xuất thành công  vaccine viêm gan B, giúp giảm trẻ em mắc bệnh từ 20% vào năm 1997 nay  xuống còn khoảng 4%.              Tuy nhiên, cả hai công trình này đều được sự chuyển giao công nghệ từ  Nhật Bản, GS. Nguyễn Thu Vân lưu ý, thông qua hoạt động tham quan cơ sở  sản xuất của nước bạn.              Một công trình đáng chú ý khác hoàn toàn do Vabiotech tự lực nghiên cứu  là vaccine H5N1, với cách làm hoàn toàn khác quốc tế (để phù hợp với  những điều kiện khách quan của Vabiotech tại Việt Nam). Dự kiến vaccine  này sẽ được phép sử dụng đại trà từ năm 2013.              Vabiotech cũng đã hoàn thành các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về  vaccine cúm đại dịch A/H1N1; vaccine phòng bệnh viêm màng não mủ  Haemophilus influenza týp b (Hib); vaccine dại trên tế bào Vero các giai  đoạn tiền lâm sàng và chuẩn bị tiến hành thử nghiêm lâm sàng trong thời  gian tới.          —    1. Xem thêm bài Việt Nam cần một chiến lược sản xuất vaccine đăng trên Tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 20/06/2012, online ngày 22/06/2012 tại: http://www. tiasang.com.vn/Default.aspx ?tabid =110&News=5301&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần tập trung trở lại vào nghiên cứu cơ bản      Khảo sát tại 12 quốc gia cho thấy sự không hài lòng của các nhà khoa học với chính phủ chỉ ưu tiên nghiên cứu khoa học với thành tích ngắn hạn.      Việc chính phủ nhiều nước không ngừng đòi hỏi nghiên cứu phải sớm đem lại lợi ích kinh tế tức thì đã đe dọa sự tự do học thuật của các nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới. ông Patrick Monfort, Tổng thư ký của Liên minh Quốc gia các nhà nghiên cứu khoa học Pháp (SNCS-FSU), một trong những nhà khoa học thuộc các tổ chức khoa học hàng đầu thế giới đã cảnh báo như vậy.  Ông còn cho rằng các chính phủ không chỉ thúc ép việc tập trung vào nghiên cứu ứng dụng mà còn đưa ra nhiều quy định, thủ tục hành chính trong việc xin cấp vốn cho các dự án nghiên cứu. Các chính sách này được cho là “hướng tới tăng cường sự đổi mới để thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các nhà nghiên cứu trong việc xin tài trợ đề án”, nhưng điều đó lại ảnh hưởng xấu tới tự do học thuật.  Ông Monfort đã tổng hợp các kết quả của một cuộc khảo sát từ các tổ chức giáo dục và nghiên cứu mà SNCS-FSU thực hiện ở Pháp và 11 quốc gia khác –bao gồm Argentina, Canada, Đan Mạch, Ý, Bồ Đào Nha, Nga, Senegal, Serbia, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ cùng ý kiến của tổ chức Giáo dục Quốc tế (Education International – EI), một hiệp hội bao gồm 401 đoàn thể giáo dục ở 171 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ kết quả đáng chú ý của cuộc khảo sát, Ông Monfort nói rằng SNCS-FSU và công đoàn giáo dục sau đại học Pháp SNESUP-FSU sẽ kêu gọi một chiến dịch quốc tế nhằm giải quyết vấn đề này khi Hội thảo Nghiên cứu và Giáo dục sau đại học của EIdiễn ra tại Accra trong tháng Mười Một tới.  Hiện nay, xu hướng tài trợ cho nghiên cứu ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau, nhưng ở mọi nơi, các tổ chức nghiên cứu đều đang phải cải tổ nhằm đưa khoa học vào sự quản lý chặt chẽ hơn của chính phủ, Ông Monfort nói và đưa ra ví dụ cụ thể là các nhà khoa học Canada phải đối mặt với một loạt các khó khăn đặc biệt khi chính phủ siết chặt không chỉ việc cấp vốn nghiên cứu, mà còn cả sự tự do trình bày quan điểm ý kiến của họ.  Những điều kiện để bảo đảm cho các nhà khoa học làm việc đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra từ năm 1974. Nhưng, trước bối cảnh hiện nay, họ đang tiến hành tham vấn sâu rộng vấn đề này với mục tiêu sẽ cập nhật và làm phong phú thêm văn bản quy chế vào năm 2017.  Geneviève Fioraso, Bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu Pháp, không đồng ý với các kết luận của SNCS-FSU, ít ra là về trường hợp của Pháp bởi “Pháp là một quốc gia tin tưởng và đầu tư vào nghiên cứu công ích,” bà nói với tạp chí Nature. Bà còn cho biết rằng chính phủ Pháp đã dành 16,5 tỷEuro (tương đương 21,6 tỷ đô la Mỹ) cho nghiên cứu công trong năm nay, đó là 0,8% tổng sản phẩm quốc nội – so với mức trung bình 0,7% trong 34 quốc gia thành viên của OECD. “Chúng tôi đã duy trì mức này bất chấp việc phải đối mặt với những rào cản đặc biệt khó khan về kinh tế”, Fioraso nói.  Pháp cũng nhận thức được tầm quan trọng của những đột phá trong nghiên cứu cơ bản. Vì vậy, “một nửa ngân sách nghiên cứu của Bộ là dành cho các nghiên cứu cơ bản”.  Bà nói  Bà Fioraso cũng đồng ý với các tổ chức công đoàn rằng việc cấp vốn nghiên cứu sẽ cần được sắp xếp hợp lý để các nhà nghiên cứu “có điều kiện dành phần lớn thời gian và năng lực của mình để duy trì và phát huy những thế mạnh của khoa học Pháp “. Cơ quan Nghiên cứu Quốc gia Pháp (ANR) trong tháng 7 năm 2013 đã đơn giản hóa các thủ tục lựa chọn cấp vốn cho cho các loại đề án nghiên cứu ở tất cả các ngành khoa học – và bà Fioraso còn cho biết rằng việc đó đã cho thấy kết quả thấy ngay: “Cho đến nay, 28% các nhóm nghiên cứu nộp đề cương chi tiết các dự án đã nhận được vốn tài trợ, so với mức 16,5% các nhóm nghiên cứu ANR được cấp vốn theo hệ thống trước đó. “  Nhưng Sciences en Marche, một nhóm các nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch biểu tình trong tháng Chín và tháng Mười, không cho rằng tình hình đã được cải thiện. Ngược lại, họ cho biết chỉ có 8,5% số dự án năm nay trình lên ANR sẽ được tài trợ. Tình hình tại các trung tâm nghiên cứu công ích mà ANR cấp vốn tài trợ chủ yếu đang ở mức “thảm họa”. “Nhiều trung tâmnghiên cứu thậm chí không cònđủ vốn để tiếp tục hoạt động.”     Hoàng Tuấn Anh (lược dịch)     Nguồn:     http://www.nature.com/news/put-focus-back-on-basic-research-say-science-unions-1.15817      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thành lập một số ủy ban khuyến nghị chính sách khoa học      Từ kinh nghiệm hạn chế của tôi trong việc thẩm định các dự án nghiên cứu Nafosted về vật lý hạt nhân và vật lý hạt, tôi xin có một số ý kiến gửi gắm tới các nhà hoạch định chính sách khoa học Việt Nam ở tầm trách nhiệm cao hơn nhằm cải thiện công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong nước.      Ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong y học. Ảnh: Vinmec.  Theo tôi, lĩnh vực nghiên cứu của Việt Nam mà tôi quen thuộc nhất là vật lý hạt nhân, vật lý hạt và vật lý thiên văn, hiện đang bị hạn chế do thiếu một chính sách rõ ràng và thiếu tầm nhìn hướng tới tương lai. Điều này thể hiện khá rõ trong:  Giáo trình giảng dạy vật lý hạt nhân đã không được cập nhật gì nhiều so với những gì tôi học về vật lý hạt nhân cách đây sáu mươi năm, trong khi tình hình chung của ngành ngày nay đã hoàn toàn thay đổi: với sự ra đời của thuyết sắc động lực học lượng tử (QCD), ngành vật lý thiên văn lên ngôi, các chùm phóng xạ trở nên sẵn có, và cuộc cách mạng trong ứng dụng hạt nhân, cụ thể là năng lượng hạt nhân và ứng dụng hạt nhân trong lĩnh vực y học… đã thúc đẩy mạnh mẽ động lực giảng dạy vật lý hạt nhân; tuy nhiên ở Việt Nam phần lớn những điều này chưa được quan tâm.  Trong ngành vật lý hạt, một nỗ lực đáng ghi nhận là đã xây dựng được một nhóm nghiên cứu tại Viện Vật lý ở Hà Nội, với một môi trường nghiên cứu hiệu quả. Chúng ta nên khuyến khích và ủng hộ việc hình thành những nhóm nghiên cứu tương tự khác. Tuy nhiên, trong ngành vật lý hạt thực nghiệm, dù trong khoảng hơn 20 năm chúng ta không ngừng gửi học viên đi làm nghiên cứu sinh tiến sỹ ở nước ngoài nhưng chúng ta hầu như chưa thu được mấy kết quả từ khoản đầu tư quan trọng này, cũng như chưa phát huy tri thức và kinh nghiệm mà những học viên này tích lũy được. Đáng ra, với tiềm lực như vậy, chúng ta có thể xây dựng một nhóm nghiên cứu giỏi [người Việt Nam] để hợp tác tiến hành các thí nghiệm vật lý hạt tại Nhật Bản, Trung Quốc, hay CERN, nơi các máy gia tốc hiện đại nhất đang hoạt động.  Vật lý thiên văn, hiện là lĩnh vực tiên phong và đang được tích cực phát triển ở đa số các quốc gia, nhưng về cơ bản đang không được quan tâm ở Việt Nam.  Với từng lĩnh vực như vậy, chúng ta cần đánh giá thực trạng để cân nhắc kế hoạch phát triển khả thi trong những năm tới, ví dụ như một kế hoạch phát triển trong mười năm cùng tầm nhìn hai mươi năm tới. Cũng từ đánh giá này sẽ cho thấy: cần nỗ lực mạnh mẽ để hỗ trợ việc hình thành các nhóm nghiên cứu, thay vì như tình trạng hiện nay các cá nhân tài năng phân tán rải rác; cần xây dựng một số trung tâm xuất sắc để thu hút các sinh viên Việt Nam và mời những nhà nghiên cứu Việt kiều giỏi nhất về nước làm việc (điều tương tự đã thành công ở Trung Quốc cách đây khoảng 20 năm); việc gửi học viên ra nước ngoài là lãng phí tiền bạc và chất xám nếu không tạo điều kiện phù hợp cho họ tiếp tục phát triển khi về nước (ngày nay chúng ta chưa làm được điều này, tình trạng chảy máu chất xám một cách đáng buồn vẫn tồn tại và trong thời gian trước mắt chưa có dấu hiệu cho thấy sự cải thiện); chúng ta cần xác định rõ đâu là lĩnh vực được nhà nước hỗ trợ và có cam kết chắc chắn (người học khi lựa chọn tương lai của mình cần cảm thấy tin tưởng là những điều được nhà nước hứa hẹn hôm nay sẽ không thay đổi trong ngày mai); trong những lĩnh vực được nhà nước ưu tiên hỗ trợ, cần làm rõ đâu là những lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu chủ đạo mà người học nên theo đuổi; và điều hết sức thiết yếu là cần một chính sách nhân sự minh bạch hoàn toàn dựa trên kết quả công việc.  Theo thông lệ ở đa số các nước, để xây dựng đánh giá như vậy [cho từng/nhóm lĩnh vực khoa học] cần thiết lập một số ủy ban nhằm đưa ra các khuyến nghị với Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (và/hoặc tới Thủ tướng Chính phủ). Ủy ban này họp định kỳ hàng năm, các ủy viên nên là những nhà khoa học có tầm uy tín quốc tế, có lẽ tối đa là năm người, trong đó một hoặc hai người là Việt kiều. Họ được lựa chọn căn cứ trên kinh nghiệm thực hiện công tác đánh giá, phẩm chất liêm chính không thỏa hiệp, và tâm huyết hướng tới giúp nền khoa học Việt Nam tiến bộ. Các thành viên trong ủy ban được cung cấp tài liệu trước cuộc họp, và bắt đầu bằng việc lắng nghe các bài thuyết trình mở từ các nhà khoa học trong lĩnh vực được đánh giá. Sau đó trong các cuộc họp kín, họ tiếp tục nghe các nhà hoạch định chính sách khoa học cùng một số ít các nhà khoa học hàng đầu trong ngành. Một nhà khoa học có trình độ người Việt Nam có vai trò là thư ký, với năng lực đủ để trả lời đa số các câu hỏi cụ thể mà các thành viên ủy ban đặt ra. Ủy ban sẽ xây dựng báo cáo đưa ra các khuyến nghị tới Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, và Viện Hàn lâm KH&CN. Báo cáo này nên có một phần nội dung công khai trước công chúng, và một phần là nội dung mật dành riêng cho các bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, và chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.  Quy trình này là chuẩn mực ở nhiều quốc gia và được biết đến rộng rãi bởi nó giúp mang lại sự tiến bộ một cách hiệu quả. Bản thân tôi từng là thành viên, đôi khi là chủ tịch, của những ủy ban như vậy ở Anh, Bỉ, Canada, Hà Lan, và một số nước khác. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng vai trò của ủy ban đã đến lúc cần thiết với Việt Nam và sẽ đóng vai trò quan trọng giúp cải thiện công tác quản lý khoa học trong nước. Cũng từ kinh nghiệm của mình, tôi biết rằng các quy trình tương tự có thể được áp dụng một cách hữu ích với các ngành khoa học khác, kể cả khoa học xã hội.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Cần thay đổi chiến lược tạo giống lúa      Theo PGS. TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cần điều chỉnh chiến lược tạo giống lúa và thắt chặt hơn nữa mối liên kết giữa nhà nghiên cứu với doanh nghiệp để xây dựng thành công thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam.    Tiêu chuẩn hóa hạt gạo     Từ nhiều năm nay, vấn đề xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề cập tới bởi nếu không có thương hiệu thì lúa gạo Việt Nam vẫn sẽ chỉ xuất khẩu với giá rẻ. Trên thị trường quốc tế, lúa gạo Việt Nam thường được “định vị” ở quãng 300 đến 350 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine (Thái Lan) 850 USD/tấn và gạo Basmati (Ấn Độ) 1.100 USD/tấn. Về thực chất, chúng ta mới chỉ xuất đi được sản phẩm vốn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước chứ không phải là sản phẩm thị trường cần. Nguyên nhân của vấn đề này bắt rễ từ chính hoàn cảnh của Việt Nam. Trước đây, để giải bài toán an ninh lương thực, chúng ta buộc phải ưu tiên số lượng trong sản xuất lúa gạo với những giống lúa cao sản ngắn ngày. Chỉ từ những năm 2000, chúng ta mới tính đến nâng cao chất lượng lúa gạo với các giống thơm, ngon cơm và tiến đến mục tiêu tăng hiệu quả sản xuất để xuất khẩu. Vì vậy, vấn đề tạo dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam lâu nay vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ và quyết liệt.             Muốn xây dựng thành công thương hiệu phải đảm bảo các chỉ tiêu về cả chất lượng lẫn số lượng, nếu tốt về chất lượng nhưng không đảm bảo về số lượng thì thương hiệu đó không có ý nghĩa lớn trên thị trường quốc tế.           Do phải giải quyết bài toán an ninh lương thực, Việt Nam có xuất phát điểm thấp hơn quốc gia cùng khu vực là Thái Lan, vì vậy chiến lược gia nhập thị trường quốc tế của Việt Nam và Thái Lan cũng có phần khác biệt. Họ tạo ra thương hiệu gạo Jasmine không phải bằng giống mới mà vẫn sử dụng nền tảng loại giống truyền thống như tám thơm của Việt Nam, giữ nguyên chất lượng độ dẻo, độ thơm của hạt gạo và chỉ cải tiến thêm tính kháng, tính chống chịu với các loại rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, chịu hạn, virus… Không tạo ra giống mới nên Thái Lan không phải làm lại chất lượng và không mất thời gian tạo dựng lại thị trường, qua đó thời gian tiếp cận thị trường của họ dễ dàng hơn chúng ta.     Khi bắt tay vào làm thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam, chúng ta gặp thêm một khó khăn nữa là gạo Việt Nam xuất khẩu vẫn chưa được tiêu chuẩn hóa, ví dụ gạo được xuất đi thị trường quốc tế không thuần nhất về giống mà có lẫn vài ba, thậm chí cả chục loại khác nhau trong một bao. Trên thực tế, gạo có thương hiệu, bán được giá phải đạt những tiêu chuẩn cụ thể, chặt chẽ của hạt gạo với độ ổn định cao về chiều dài, đường kính, độ trong, độ bóng, tỷ lệ bạc bụng, tỷ lệ hạt gẫy, độ ẩm, tạp chất, hàm lượng các chất, mùi thơm… Những tiêu chuẩn của hạt gạo phụ thuộc rất lớn vào việc nó hướng đến phân khúc thị trường nào, đáp ứng thói quen tiêu dùng của ai bởi yêu cầu của mỗi thị trường rất đa dạng, ví dụ cùng phân khúc thị trường cao cấp như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản thì thị hiếu mỗi nơi cũng có phần khác biệt. Ở khâu xác định phân khúc thị trường, theo tôi không ai làm giỏi hơn doanh nghiệp, những người có khả năng đánh giá và dự báo được mức độ tiêu dùng của các thị trường tiềm năng. Trên cơ sở yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp sẽ có quy trình chuẩn bị thương hiệu lúa gạo cho phân khúc đã chọn theo yêu cầu của thị trường.    Ở đây nảy sinh một vấn đề, đối với các mặt hàng công nghiệp có thể sản xuất hàng loạt, việc điều chỉnh sản phẩm theo yêu cầu thị trường có phần dễ thực hiện nhưng với giống lúa thì không hề đơn giản. Việc chọn tạo một giống lúa phải mất từ tám đến 10 năm, trong đó vài năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rồi sản xuất thử nghiệm trên năm, bảy ha; sau đó cũng phải có thời gian để nông dân chấp nhận giống để có thể triển khai canh tác rộng rãi trên diện tích lớn mấy nghìn ha… Muốn xây dựng thành công thương hiệu phải đảm bảo các chỉ tiêu về cả chất lượng lẫn số lượng, nếu tốt về chất lượng nhưng không đảm bảo về số lượng thì thương hiệu đó không có ý nghĩa lớn trên thị trường quốc tế. Như vậy, việc xây dựng thương hiệu cho giống lúa phải là vấn đề mang tính chiến lược lâu dài và đồng bộ.     Điều chỉnh chính sách tạo giống     Nhìn nhận lại công tác chọn tạo giống lúa Việt Nam nhiều năm qua, có thể thấy chính sách bảo hộ bản quyền cho các tác giả tạo giống đem lại những tác động to lớn như thế nào. Trước kia, do chưa có chế độ bản quyền nên giống lúa làm ra không phải của ai, ai cũng dùng được nên không tạo ra được động lực hay khuyến khích người tạo giống. Từ khi chế độ bản quyền được ban hành, người tạo giống đã có quyền chuyển nhượng, thương mại hóa giống lúa và các doanh nghiệp cũng bắt tay vào đầu tư cho công tác nghiên cứu tạo giống. Nếu cách đây 10, 15 năm, Việt Nam chỉ có một số  ít các đơn vị tạo giống là các viện nghiên cứu, thì nay đã có hàng trăm nơi tạo giống, trong đó nhiều công ty tư nhân chưa từng tạo giống bao giờ. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ở khu vực miền Bắc, tỷ lệ giống lúa do viện/trường nghiên cứu chỉ chiếm 28,9%, ở miền Trung tỷ lệ thấp hơn 10%, còn miền Nam là 76%.     Bên cạnh đó, cơ chế thông thoáng về xuất nhập khẩu và quy định nhập khẩu giống cây trồng của Việt Nam cũng cho phép các công ty nước ngoài đưa nhiều giống mới vào thị trường nội địa. Tất cả những nguyên nhân này dẫn đến sự bùng nổ giống lúa trên thị trường Việt Nam. Cũng theo số liệu thống kê, năm 2005-2010: khảo nghiệm 213 giống, công nhận tạm thời 157 giống; năm 2008-2012: khảo nghiệm 2.553 giống, công nhận 157 giống cấp vùng, 108 giống quốc gia – nghĩa là cứ trung bình mỗi năm 20 giống mới ra đời. Giống tạo ra nhiều nhưng trụ lại trong đời sống sản xuất không được bao nhiêu, và chính số lượng này cộng với số giống vẫn đang phổ biến đã làm hoa mắt nông dân khi chọn giống vào canh tác.     Mặt trái của thắng lợi về cơ chế bản quyền giống là có quá nhiều giống lúa lưu hành, dẫn đến tình trạng “loạn” giống khiến các nhà chuyên môn khó kiểm soát tình hình. Ở đây, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm của Thái Lan. Họ có đủ tiềm lực khoa học, kinh nghiệm và kinh phí đầu tư để làm ra được giống lúa mới ưu việt hơn, chất lượng cao hơn giống Jasmine. Tuy nhiên khi giải bài toán thương hiệu, tính đến mức độ ảnh hưởng tới thị trường xuất khẩu nếu thay giống này bằng giống mới khác, họ đã quyết định không đưa ra giống mới mà vẫn giữ giống cũ. Nhờ vậy họ sẽ không mất thời gian để nông dân chấp nhận giống mới và điều quan trọng hơn là không mất kinh phí để xây dựng thương hiệu và để thị trường quốc tế chấp nhận thương hiệu giống mới (kinh phí dành cho xây dựng lại thương hiệu, làm quen thị trường…).             Các nhà khoa học chỉ có thể giải quyết được một khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo là tạo ra được giống lúa nhiều ưu điểm, còn việc tạo ra thương hiệu phải có sự góp sức của doanh nghiệp.           Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần tập trung lựa chọn được các giống phù hợp, giải quyết được những yêu cầu về chất lượng, năng suất, kiểu dáng sản phẩm, tăng cường tính kháng đa yếu tố với những yếu tố bất lợi của môi trường như bệnh rầy nâu, bạc lá, đạo ôn, khô vằn, chịu hạn, chịu mặn… Hiện nay các loại giống lúa của Việt Nam chỉ giải quyết được tính kháng một cách đơn lẻ nên có hiện tượng giống kháng bạc lá “chịu chết” trước rầy nâu, giống có khả năng ức chế đạo ôn lại không thể hiện được khả năng chống chịu trước bệnh khô vằn… Nhìn sang Thái Lan, họ đã tạo ra giống “siêu Jasmine” bằng cách đưa nhiều tính chống chịu vào bộ gene của hạt giống nhưng vẫn giữ được những đặc tính giống tốt cơ bản của Jasmine mà thị trường đã chấp nhận. Để làm điều này, Thái Lan đã đầu tư một triệu đô la/năm cho công tác nghiên cứu (chưa kể đến lương và trang thiết bị phòng thí nghiệm) trong vòng 15 năm.    Hiện tại, khoa học Việt Nam bắt đầu có khả năng giải quyết được vấn đề này, thực hiện nhiều phương pháp đưa các đặc tính chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường, kháng sâu bệnh vào giống mà vẫn đảm bảo giữ nguyên được chất lượng hạt gạo, kiểu dáng thương mại của sản phẩm. Tuy nhiên để làm tốt hơn điều đó, cần giải quyết hai vấn đề: đầu tư quyết liệt công tác nghiên cứu chọn tạo giống và phải có đề bài đặt hàng rõ ràng với những yêu cầu cụ thể [về kích thước hạt gạo, độ trong, độ dẻo, tỷ lệ amylose…] từ doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Các nhà khoa học chỉ có thể giải quyết được một khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo là tạo ra được giống lúa nhiều ưu điểm, còn việc tạo ra thương hiệu phải có sự góp sức của doanh nghiệp.     Chiến lược tạo giống do đó cần phải thay đổi: viện/trường không cạnh tranh với doanh nghiệp mà ngược lại, hỗ trợ doanh nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Nếu cả viện và doanh nghiệp cùng chạy đua tạo giống sẽ dễ tạo ra hiện tượng chồng chéo, giảm sức mạnh doanh nghiệp, lãng phí nguồn lực xã hội. Do đó, viện nghiên cứu chỉ làm những việc mà doanh nghiệp không làm (vì không thu được lợi nhuận) và không làm được. Viện làm đúng chức năng của mình là đơn vị công ích phục vụ doanh nghiệp, tiến tới tập trung vào tạo nguồn vật liệu và phương pháp chọn tạo giống thay vì tự chọn tạo giống.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thiết, nhưng không thực tế      Việc mời chuyên gia quốc tế tham gia các Hội đồng khoa học ở Việt Nam hiện nay là ý tưởng tốt nhưng không thực tế. Quả thực rất khó mời và thuê các chuyên gia giỏi đủ mọi lĩnh vực và đủ tâm huyết, đặc biệt trên các lĩnh vực gần với công nghệ và ứng dụng cần nhất với Việt Nam hiện nay (trừ một số ít có thể các trường hợp đang làm việc dài hạn ở Việt Nam).      Các nhà khoa học quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia giỏi, hầu hết đều bận rộn với công việc của mình và không quan tâm đến một nền khoa học còn yếu như Việt Nam, đồng thời cũng không hiểu tình hình cụ thể ở Việt Nam. Một số có quan hệ cá nhân nhất định với một số người ở Việt Nam để có thể được lôi kéo vào thì vẫn không thể đủ đại diện công bằng cho mọi lĩnh vực trong từng ngành, mà chưa chắc đã có đủ tầm chuyên môn, và chưa hẳn sẽ có đủ sự khách quan do có thể bị chi phối bởi những quan hệ với các cá nhân người Việt. Thuê những chuyên gia giỏi sẽ tốn kém, và tìm ra người chúng ta cần cũng không dễ.        Chúng ta cũng nên mời các chuyên gia quản lý khoa học quốc tế tới làm công tác tương tự hay cố vấn cho các cơ quan quản lý KH&CN của Việt Nam. Đây là khâu yếu nhất của Việt Nam, nhưng là bản lề cho đổi mới công tác quản lý KH&CN nước nhà.        Hiện thực hơn là đòi hỏi công bố/sáng chế quốc tế ở mọi lĩnh vực để có thể dựa vào hệ thống phản biện quốc tế của các tạp chí quốc tế có uy tín. Các tạp chí quốc tế biết ai là các chuyên gia giỏi từng lĩnh vực để chọn người đánh giá, và các chuyên gia quốc tế đều chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình. Đây cũng là cách làm hiệu quả, không tốn kém, và song hành với quốc tế. Các Hội đồng NCCB của Nafosted đang thực hiện đúng tinh thần này – dựa chủ yếu vào các kết quả công bố trên các tạp chí có uy tín SCI, SCI E của các chủ trì đề tài. Bản thân các Hội đồng cũng được thành lập dựa trên thành tích công bố quốc tế khách quan. Tinh thần của Nafosted cần được noi gương ở mọi hội đồng khác hiện còn rất yếu về chuyên môn theo các chuẩn mực quốc tế.  Tuy nhiên, chúng ta có thể mời các chuyên gia quốc tế giỏi, có tâm huyết với Việt Nam tham gia tư vấn ở các mức độ khác nhau cho các Hội đồng (chứ không phải là thành viên cố định lâu dài), kể cả hội đồng nghiên cứu cơ bản. Họ phải thuyết phục được các đồng nghiệp Việt Nam bằng cả uy tín và lý lẽ của mình. Các chuyên gia này cần sẵn lòng tham gia, và cần gửi tới hồ sơ, lý lịch khoa học, danh mục công trình để cho thấy họ thực sự nổi trội hơn các đồng nghiệp Việt Nam, và tự nguyện hoặc không đòi hỏi quá nặng về chi phí.  Chúng ta có thể mời các chuyên gia quốc tế độc lập thẩm định trực tiếp các đề tài công nghệ-ứng dụng kinh phí lớn. Đây là khâu yếu của chúng ta với nhiều tiêu cực hiện hữu. Tuy nhiên tìm kiếm chuyên gia quốc tế khách quan và phù hợp không dễ. Chúng ta có thể nhờ các cơ quan bạn, như Science Foundation của Mỹ, hay các cơ quan tương ứng của Hàn, Singapore, Nhật, Úc, …, hay Editors của các tạp chí nổi tiếng nhất từng lĩnh vực giúp đỡ vì họ thường có sẵn các danh sách chuyên gia. Vấn đề tiếp theo là chúng ta thỏa thuận cụ thể với các chuyên gia đó.   Nên thuê các chuyên gia quốc tế giỏi, đặc biệt trên các lĩnh vực ứng dụng và công nghệ để họ lãnh đạo các trung tâm nghiên cứu lớn, các phòng thí nghiệm trọng điểm của Việt Nam. Cái này ai cũng biết là đáng đồng tiền bát gạo, và chúng ta nên làm nếu chúng ta thực sự muốn vươn lên.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thiết xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân      Việc triển khai dự án xây dựng Trung tâm  KH&amp;CN hạt nhân (TTKH&amp;CNHN) với lò phản ứng công suất 15-20 MW  cho đến nay vẫn còn một số ý kiến băn khoăn là trong bối cảnh hiện nay  liệu có cần thiết phải xây dựng một trung tâm như vậy không, bởi nó đâu  có trực tiếp phục vụ cho sự phát triển của nhà máy điện hạt nhân; và nếu  cần thiết thì xây dựng TTKH&amp;CNHN ở đâu là thích hợp?    Tuy vậy phần đông các nhà khoa học cho rằng Việt Nam cũng như bất kỳ một nước nào đã lên đường hạt nhân (go nuclear) đều rất cần thiết có một TTKH&CNHN tầm cỡ quốc gia, với nhiệm vụ là nghiên cứu và phát triển (R&D) khoa học và công nghệ hạt nhân nhằm tiến đến nắm được những điều cơ bản trong lĩnh vực hạt nhân (năng lượng và phi năng lượng) và đào tạo nhân lực có trình độ cao đủ khả năng giải quyết những vấn đề do ngành hạt nhân Việt Nam đặt ra, góp phần xây dựng ngành hạt nhân hoàn chỉnh và vững mạnh. Do vậy các nước đã có điện hạt nhân hoạt động lâu rồi họ vẫn phải xây dựng những trung tâm như thế.   Vấn đề đặt ra là lấy đâu nhân lực để vận hành TTKH&CNHN và trung tâm đó cần được xây dựng ở đâu?  Với Việt Nam, đây phải là kế hoạch lâu dài nhưng rất cấp thiết và là nhiệm vụ của cả hệ thống (theo khuyến cáo của IAEA) và chính TTKH&CNHN sẽ là một phương thức trước mắt cần thiết hơn bao giờ hết để đào tạo nhân lực. Nhân lực hạt nhân không thể từ trên trời rơi xuống! Nếu quá trình xây dựng TTKH&CNHN đòi hỏi 5 đến 7 năm thì trong thời gian đó ta phải dần dần, liên tục và khẩn trương đào tạo nhân lực từng người một. Mỗi người là một viên đá quý cho TTKH&CNHN.   Trước mắt, cần ưu tiên gấp rút đào tạo người và xây dựng một số bộ phận cơ bản của TTKH&CNHN, như các bộ phận chuyên môn về vật lý hạt nhân, vật lý lò, sinh y hóa, môi trường và sự cố, và các bộ phận phụ trách đào tạo, hành chính, nhân sự, v.v. Trong đó, cần đầu tư cho trung tâm đào tạo những trang thiết bị làm mô phỏng, cho phép tiến hành đào tạo lý thuyết gắn liền với thực hành. Kế hoạch đào tạo phải được xây dựng một cách bài bản, khoa học, có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan sử dụng nhân lực hạt nhân. Đồng thời, cũng phải có sự liên kết, hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo quốc tế uy tín để có thể gửi người đi đào tạo ở nước ngoài.   TTKH&CNHN sẽ phải là nơi giao lưu thường xuyên của các nhà khoa học lý thuyết và thực nghiệm trong nước và nước ngoài, đến và đi liên tục, giảng dạy và nghiên cứu thường xuyên. TTKH&CNHN sẽ phải  là một địa điểm thuận tiện, có đủ điều kiện sinh hoạt,nghiên cứu, thông tin, một môi trường, một không khí khoa học, hợp tác và khẩn trương. Cần đặt TTKH&CNHN ở một địa điểm thỏa mãn các điều kiện đó. Nếu đặt ở một địa điểm xa xôi, heo hút thì e rằng ta đã vô tình hạn chế khả năng của TTKH&CNHN, và biến một TTKH&CNHN năng động có ý nghĩa chiến lược quốc gia thành một TTKH&CNHN chỉ  thuận  tiện  cho một  cuộc sống dưỡng  sinh.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Cần thoát khỏi sự tự ti trong quản lý khoa học và giáo dục      Sau nhiều thập kỷ đến nay, tư tưởng tự ti và tự kiềm tỏa hầu như vẫn đè nặng trong các cơ chế, chính sách quản lý khoa học và giáo dục (KH&amp;GD). Điều kỳ lạ là tư tưởng này được quán triệt từ vi mô đến vĩ mô, được mỗi cá nhân chấp nhận một cách rất tự giác. Dưới đây là một số ví dụ.      1. Quy hoạch trường/viện  Luật Khoa học Công nghệ và Luật Giáo dục đều quy định khi lập trường, lập viện phải theo quy hoạch. Điều này mới nghe tưởng rất ngăn nắp, nhưng nghĩ kỹ thì rất có vấn đề vì khoa học cần có tính mới trong khi quy hoạch là một phương án được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về KH&GD ở một thời điểm cố định nào đó. Như vậy, giả dụ trường nào đó muốn mở ngành đào tạo về công nghệ Nano, hoặc một nhà vật lý nào đó muốn lập một viện về công nghệ Nano, là một ngành công nghệ mới, sẽ không được chấp thuận, vì chưa có trong quy hoạch. Như vậy, quy hoạch viện/trường, quy hoạch ngành đào tạo là tạo ra một dây thòng lọng để tự trói tay mình.  2. Biên chế cơ hữu  Muốn mở ngành đào tạo, ngoài việc phải căn cứ quy hoạch, còn một điều kiện nữa, thoạt nghe tưởng rất đúng: đó là phải có một số nhân lực chuyên môn của ngành đó trong biên chế cơ hữu của đơn vị đào tạo. Điều này có nghĩa: Nước Việt Nam chỉ được đào tạo những ngành đã cũ, đã có sẵn chuyên gia.  Cách đây ít năm, tôi đến tìm hiểu công tác đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách Công nghệ và Đổi mới (Technology Policy and Innovation) ở Đại học Roskilde (Đan Mạch) và thật ngạc nhiên là nó chẳng giống gì ở ta cả: giám đốc chương trình được mời đến từ Thụy Điển; các vị giảng viên được mời đến từ Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Điển; chỉ có một ông giáo sư thuộc “biên chế cơ hữu” của đại học Roskilde, nhưng lại là người Italia. Tôi hỏi đùa các vị ấy, làm thế nào xin cấp phép đào tạo khi các vị không có “biên chế cơ hữu”? Ông giám đốc chương trình cười rất hóm hỉnh “Đây là Đan Mạch, chứ không là Việt Nam”.   3. Xin cấp mã ngành đào tạo  Mã ngành về hình thức là một dãy số tương ứng với tên gọi của ngành mà đơn vị của bạn được cấp phép đào tạo. Mã ngành được xây dựng căn cứ vào việc chuẩn hóa và thống nhất hóa một ngành đào tạo sẵn có, căn cứ vào sự hiểu biết của nhà quản lý về ngành đó ở một thời điểm xác định. Như vậy, các đơn vị sẽ không thể đăng ký đào tạo các ngành mới chưa được cơ quan quản lý chuẩn hóa mã ngành.  Quy trình này ngược. Đáng ra nơi nào đó muốn mở ngành đào tạo mới thì xây dựng chương trình, rồi đăng ký với cơ quan quản lý để được cấp “mã ngành”. Tương tự như việc người dân xây nhà và đến cơ quan quản lý đô thị để được cấp số nhà. Cơ quan quản lý không thể làm ngược lại, nghĩa là chỉ cho phép những nhà tương ứng với các số nhà nhất định nào đó được xây dựng.   4. Phong giáo sư/Phó giáo sư  Ở Việt Nam, nay việc phong hàm giáo sư/phó giáo sư (GS/PGS) (nay được gọi là “công nhận chức danh GS/PGS” nhưng về bản chất vẫn không đổi) đòi hỏi bạn phải khai báo thành tích: đã đào tạo được bao nhiêu tiến sỹ, thạc sỹ (nghĩa là ngành cũ đã có sẵn), viết được bao nhiêu bài báo trên những tạp chí chuyên ngành (cũng là những ngành cũ đã có sẵn tạp chí), nghiên cứu được bao nhiêu đề tài, trong đó đề tài cấp nhà nước được đánh giá cao hơn cấp bộ, cấp bộ cao hơn cấp cơ sở. Còn những đề tài cấp cá nhân, như kiểu Học thuyết Tiến hóa của Darwin thì bị loại là cái chắc (!)  Như vậy, Việt Nam chỉ phong GS/PGS cho những nhà khoa học đang nghiên cứu, giảng dạy ở các ngành khoa học đã có sẵn, không hề có chuẩn đánh giá cho những nhà nghiên cứu mà các trường có thể mời về để bổ nhiệm GS/PGS nhằm giúp nhà trường mở ra những ngành đào tạo mới.  ***  Tất cả những vấn đề được nêu trên đây, thoạt nghe có vẻ đúng về mặt chủ trương, nhưng nghĩ sâu một chút mới thấy nó dường như cam phận đi sau thiên hạ về KH&GD giữa một thế giới đang không ngừng phát triển.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cảnh giác với những tạp chí “ăn xổi”      Giới khoa học lên tiếng về một số tạp chí trong danh mục ISI, Scopus có tốc độ nhận bài nhanh chóng, bình duyệt qua loa và yêu cầu mức phí xử lý đăng bài rất cao.    Lời tòa soạn: Với mong muốn tiêu chí công bố quốc tế thực sự phản ánh đúng chất lượng nghiên cứu, trong thời gian qua các nhà khoa học Việt Nam đã liên tiếp đóng góp ý kiến để xây dựng các danh mục tạp chí uy tín, qua đó góp phần hỗ trợ các cơ quan quản lý khoa học tham khảo và lựa chọn. Chúng tôi đã nhận được ý kiến của các nhà khoa học, nhấn mạnh đến việc nên tiếp tục rà soát, sàng lọc thêm để tránh những trường hợp các tạp chí thu phí cao, bình duyệt sơ sài nhưng có thể lọt vào danh sách tài trợ của các cơ quan quản lý khoa học trong khu vực công. Trong số báo này, TS Hoàng Xuân Trung, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội (KHXH) Việt Nam chỉ ra một số trường hợp tạp chí có vấn đề về chất lượng và cần xem xét lại khi đưa vào danh sách các tạp chí quốc tế uy tín. Chúng tôi đăng ý kiến của anh để các nhà khoa học và nhà quản lý cùng thảo luận về trường hợp này.    TS Hoàng Xuân Trung trong một hội thảo kinh tế vào tháng 11 năm 2019.  Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý khoa học trong nước đã liên tục cập nhật yêu cầu công bố quốc tế trên danh mục các tạp chí uy tín nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của các nghiên cứu khoa học. Đặc biệt Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã đánh dấu sự thay đổi mang tính đột phá trong lĩnh vực KHXH khi thông qua quy định các chủ nhiệm đề tài do Quỹ tài trợ phải có công bố bài báo trên tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục ISI, Scopus hoặc thuộc 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Thực tế những năm qua cho thấy chính những yêu cầu đầu vào và đầu ra khắt khe như vậy đã giúp nâng cao được chất lượng nghiên cứu khoa học và hướng tới chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực KHXH của Việt Nam.  Việc sử dụng danh mục ISI hay Scopus là một bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế rằng danh mục ISI hoặc Scopus cũng chỉ là một “lưới lọc” có tính tương đối, nên vẫn để lọt những tạp chí không đảm bảo chất lượng. Điều này là do gần đây trên thế giới xuất hiện các nhà xuất bản (NXB) và tạp chí rởm (predatory) đồng thời với xu hướng xuất bản mở1. Việc xuất hiện các NXB và tạp chí rởm là một thực tế hết sức đáng lo ngại và đã được nhiều cơ quan, trường đại học cũng như cá nhân các nhà khoa học cảnh báo2. Những nội dung trao đổi ngắn gọn dưới đây nhằm giúp các nhà khoa học Việt Nam chưa có kinh nghiệm nhận biết để tránh những tạp chí và NXB này, đồng thời giúp cơ quan tài trợ bớt lãng phí nguồn lực để đầu tư đúng địa chỉ.  Có khá nhiều chỉ dấu để xác định một tạp chí rởm, một NXB không nghiêm túc3, nhưng một đặc điểm chung là thời gian trung bình tính từ lúc gửi bài đến khi nhận được bình duyệt phản biện (review) và chấp nhận đăng bài rất nhanh. Trong nhiều trường hợp, thời gian bình duyệt có thể chỉ là 1 tuần và chấp nhận đăng trong vòng một tháng. Quá trình bình duyệt là một công đoạn cực kỳ quan trọng để đảm bảo chất lượng nghiên cứu khoa học, chất lượng của tạp chí. Do thời gian tính từ khi nộp bài đến khi xuất bản là quá ngắn, điều có thể dự đoán là các tạp chí rởm (hoặc tạp chí chất lượng thấp) sẽ thường bỏ qua quá trình bình duyệt, hoặc chỉ thực hiện một cách chiếu lệ. Xin lưu ý, trong các ngành khoa học nói chung và ngành kinh tế nói riêng, thông thường phải mất từ nửa năm tới một năm mới có thể bình duyệt và đăng bài. Do đó, những tạp chí mở thu phí rất cao nhưng bình duyệt một cách quá nhanh chóng có thể coi như máy hút tiền của các tác giả muốn đăng bài báo. Một chỉ dấu khác có thể nói lên chất lượng của tạp chí, đó là việc các tổng biên tập (editors) đăng bài báo của mình tại tạp chí mình làm biên tập một cách tràn lan. Thông thường, khi một nhà khoa học chịu trách nhiệm là tổng biên tập của một tạp chí nào đó thì họ sẽ hạn chế việc đăng công trình của mình tại tạp chí đó, do vấn đề đạo đức và mâu thuẫn lợi ích.  Một đặc điểm nổi bật nữa của những tạp chí rởm này là việc thu phí xuất bản. Khác với việc các tạp chí truyền thống thu phí xuất bản mở (Gold open access) qua đó tác giả chấp nhận đóng tiền sau khi bài báo của mình đã được chấp nhận đăng để độc giả có thể tiếp cận bài báo của mình mà không phải trả phí đặt mua tạp chí (subscription fees), các nhà xuất bản đáng ngờ sẽ thu một khoản phí gọi là “Phí xử lý đăng bài” (Article Processing Charge – APC) đối với tất cả các bài báo họ chấp nhận đăng. Phí chấp nhận đăng bài khá cao, dao động từ 20 triệu VNĐ đến 40 triệu VNĐ, thậm chí có tạp chí lên đến 60 triệu. Chúng ta đều biết truy cập mở (OA – Open Access) giúp cho các nghiên cứu hàn lâm được phổ biến nhanh chóng hơn cho cộng đồng, hiện nay nhiều nước và cơ quan tài trợ nghiên cứu cách thức thúc đẩy OA để các nhà khoa học (đặc biệt là ở các nước kém phát triển) có thể tiếp cận các kết quả nghiên cứu thông qua OA. Nhưng dù xuất bản theo hình thức truyền thống hay truy cập mở thì các tạp chí đều phải đặt yêu cầu bình duyệt chặt chẽ, đảm bảo chất lượng lên hàng đầu.  Cần lưu ý rằng “phí xử lý đăng bài” ở trên khác với phí nộp bài mà nhiều tạp chí uy tín trong lĩnh vực KHXH vẫn thu. Phí nộp bài không ảnh hưởng tới quyết định bài có được đăng hay không, và sẽ thường được nhiều tạp chí hàng đầu trên thế giới yêu cầu tác giả phải nộp phí gửi bài (mức giá khoảng 2 triệu VNĐ) nhằm giảm bớt những bài gửi đến có chất lượng thấp, từ đó đỡ tốn nguồn lực cho việc thẩm định bài viết.    Số 1 tháng 2 năm 2020 của Sustainability đăng 531 bài. Trước đó, số 1 tháng 1 của tạp chí này đăng 442 bài.  Chúng tôi xin nêu ra hai ví dụ cụ thể tiêu biểu về các tạp chí và NXB đáng ngờ.  Multidisciplinary Digital Publishing Institute (MDPI) là một trong những nhà xuất bản thuộc kiểu tác giả phải trả tiền đăng bài báo. Nhà xuất bản MDPI được Shu-Kun Li, sinh ra ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc thành lập. MDPI được đăng ký chính thức ở Thụy Sĩ, văn phòng biên tập đặt ở Trung Quốc, Tây Ban Nha, Serbia và Anh Quốc. Văn phòng hoạt động chủ yếu ở Trung Quốc. Tổng số tạp chí của nhà xuất bản này là 227. Các tạp chí này sẽ có các mức phí đăng bài báo khác nhau nhưng đều cao so với các nước đang phát triển. Ví dụ, Tạp chí Sustainability thuộc MDPI có mức phí đăng bài là 1800 CHF (Franc Thụy Sĩ), tương đương 43 triệu VNĐ. Số lượng tổng biên tập của tạp chí này là 11, thành viên ban biên tập lên đến 1.549 người, một con số đáng kinh ngạc! Một tháng Tạp chí ra 2 số, mỗi số có khoảng 400-500 bài báo được đăng, như vậy một tháng có khoảng 800-1000 bài, một con số khủng khiếp mà không có một tạp chí uy tín nào có thể sản xuất được trong một năm chứ chưa nói đến một tháng. Tốc độ gửi bài và nhận bài rất nhanh, trong vòng khoảng 1,5 tháng hoặc nhanh hơn. Doanh thu một tháng của Tạp chí này trung bình khoảng 38 tỷ đồng (đây là một tạp chí của nhà xuất bản MDPI, nếu tính cho 227 tạp chí thì doanh thu một tháng khủng đến mức nào). Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dựa trên lệ phí đăng bài, nên điều dễ hiểu là NXB này tìm cách đăng càng nhiều bài càng tốt. Chính điều này đã gây ra sự tranh cãi về chất lượng của những tạp chí thuộc MDPI. GS Mark Lubell – giám đốc Trung tâm Hành vi và Chính sách Môi trường của trường Đại học California, Mỹ thẳng thắn nhận xét “MDPI hoàn toàn ăn thịt người. Nhóm của tôi từ chối đăng bài trên các tạp chí thuộc MDPI. Các nhóm nghiên cứu khoa học khác cũng nên tẩy chay”4. Tương tự, GS Marc Bellemare – tổng biên tập Tạp chí American Journal of Agricultural Economics, tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp (do NXB thuộc trường Đại học Oxford ấn hành) – cũng cho rằng “Tôi vui mừng khi tôi không phải là người duy nhất nghi ngờ về NXB MDPI”5.  Nếu các cơ quan quản lý khoa học không loại bỏ những tạp chí thuộc NXB MDPI khỏi danh mục tạp chí quốc tế uy tín thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của cơ quan tài trợ và mục tiêu lâu dài trong việc hướng đến các tạp chí theo chuẩn quốc tế. Đồng thời, vô hình trung chúng ta lãng phí tiền của mà chỉ đem lại nguồn lợi lớn cho cơ quan xuất bản đặt tại Trung Quốc, trong trường hợp của MDPI.  Tương tự như vậy, các tạp chí thuộc Growing Science (http://growingscience.com/) cũng cần phải loại bỏ khỏi danh mục tạp chí uy tín. Mặc dù không khẳng định thu tiền phí đăng bài nhưng Growing Science lại thu tiền dưới dạng sửa bài, đây là một cách thu phí tiền đăng bài một cách tinh vi. Điều nổi bật của những tạp chí thuộc Growing Science là thời gian gửi bài và đăng bài rất nhanh, khoảng 1 tháng.  MDPI, Growing Science6 và Frontier7 đều đã từng nằm trong danh sách nhà xuất bản rởm theo danh sách của chuyên gia thư viện Jeffrey Beall (ĐH Colorado, Denver, Mỹ). Đến năm 2015, dù không còn nằm trong danh sách Beall nhưng MDPI vẫn bị nhiều tai tiếng và được coi là một nhà NXB tiệm cận rởm (border line predatory) theo đánh giá của Hội đồng xuất bản quốc gia Na Uy8. Để tạo cảm giác an tâm và xây dựng uy tín giả, MDPI thực hiện chính sách miễn phí cho các học giả ở các nước phát triển trong khi lại tính phí các học giả ở các nước đang phát triển.  Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao lại lựa chọn các tạp chí đăng bài phải mất phí, mà không lựa chọn các tạp chí truyền thống, có uy tín, có quá trình bình duyệt nghiêm túc và hoàn toàn không mất phí đăng bài. Có một số lượng rất lớn các tạp chí không thu phí đăng bài ở các lĩnh vực và chuyên ngành khác nhau, với thứ hạng từ thấp tới cao, là những tạp chí nghiêm túc vì họ không có động cơ moi tiền của tác giả. Như vậy một tiêu chí quan trọng để loại các tạp chí này là chỉ công nhận công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI/Scopus không mất phí xử lý đăng bài.  Trong bối cảnh Việt Nam hãy còn là một nước nghèo, nguồn lực cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế chúng ta không nên lựa chọn các tạp chí đó.  Để tạo dựng một nền học thuật nước nhà mang tính lành mạnh, đồng thời hướng tới chất lượng bài báo đăng tạp chí quốc tế ngày càng được nâng cao, thì việc loại bỏ những tạp chí “ăn xổi” như đã lấy ví dụ ở trên ra khỏi danh mục tạp chí uy tín của quỹ là hết sức cần thiết.  TS. Jampel Dell’Angelo, ở Viện Nghiên cứu môi trường ĐH Amsterdam, phó tổng biên tập Tạp chí World Development (tạp chí xếp hạng thứ 32/347 trong lĩnh vực kinh tế theo cơ sở dữ liệu của Clarivate Analytics) đã đưa ra lưu ý với các nhà nghiên cứu trẻ và sinh viên về tường hợp xuất bản trên các tạp chí thuộc MDPI: “Vấn đề chính là quy trình bình duyệt của MDPI không nghiêm ngặt. Lợi nhuận và tiền nhanh làm hạ thấp đi tiêu chuẩn nghiêm ngặt của khoa học. Cá nhân tôi không coi trọng các bài báo ở MDPI và tôi cũng cảm thấy rằng nhiều học giả khác cũng không coi trọng họ. Tôi không bình duyệt cho họ, không chấp nhận thư mời vào hội đồng biên tập nào của họ, từ chối đăng bất kỳ bài báo nào mà tôi làm đồng tác giả ở bất kỳ tạp chí nào của họ. Và đây là lời khuyên tôi dành cho các sinh viên và đồng nghiệp của mình”.  Ngày 15/4 vừa qua, TS Dani Barrington, Giảng viên của trường Dân số và sức khỏe toàn cầu, thuộc ĐH Western Australia và Giảng viên mời tại ĐH Leeds, Anh đã cho biết trên trang của ĐH Leeds9 về trường hợp bà được mời chủ biên cho một số tạp chí đặc biệt về chủ đề ‘Thất bại’ của Tạp chí International Journal of Environmental Research and Health, trực thuộc MDPI. Tuy nhiên, chính sách của tạp chí này có sự phân biệt đối xử giữa học giả từ nước phát triển và nước đang phát triển. Cụ thể, theo chính sách của Tạp chí này, khi được mời làm chủ biên khách mời thì bà được quyền được xuất bản miễn phí 1 bài đồng thời được mời 4 tác giả khác đăng bài miễn phí. Dani viết thư hỏi Tạp chí liệu chính sách này có miễn phí cho các tác giả khách mời từ các nước đang phát triển không. Tạp chí cho biết chính sách miễn phí này chỉ ưu tiên cho các học giả từ các nước phát triển, còn các tác giả từ các nước đang phát triển thì có thể giảm giá, chứ chưa có chính sách miễn phí. Quá thất vọng, Dani đã cố thuyết phục Tạp chí rằng chính sách miễn phí nên dựa vào chất lượng bài viết, chứ không phải trao đặc quyền các nhà khoa học ở các nước phát triển – những người có thể không quan tâm đến việc được hưởng chính sách đăng miễn phí này. Bà lập luận rằng, với tư cách là chủ biên, bà muốn mời các tác giả từ các nước thu nhập thấp và trung bình để có thể đa dạng hóa các kinh nghiệm về ‘thất bại’ bằng tiếng nói địa phương – những kiến thức vốn còn thiếu hụt về chủ đề này. Tuy nhiên, chủ trương của Tạp chí vẫn là ưu tiên miễn phí cho các tác giả từ các nước phát triển để tăng độ bao phủ của số đặc biệt và mở ra cơ hội phát triển sau này. Sau khi nhận được câu trả lời củaInternational Journal of Environmental Research and Health, Dani và các cộng sự từ chối làm biên tập viên khách mời cho Tạp chí này. Nguyễn Trung Kiên (NCS,ĐH Monash, Úc)  Tài liệu tham khảo  https://core.ac.uk/download/pdf/43497765.pdf  http://www.sun.ac.za/english/research-innovation/Research-Development/Documents/Predatory%20publishing%20in%20South%20Africa_17%20August%202017.pdf  https://ideas.repec.org/a/eee/infome/v12y2018i4p1296-1311.html  https://journals.sagepub.com/doi/full/10.1177/1350507619878820  https://www.4open-sciences.org/articles/fopen/full_html/2018/01/fopen180001s/fopen180001s.html  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6550518/  Chú thích:  1https://journals.sagepub.com/doi/full/10.1177/1350507619878820  2https://www.universityaffairs.ca/features/feature-article/beware-academics-getting-reeled-scam-journals/  3 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5493175/  4https://twitter.com/EnvPolicyCenter/status/1271721187211571200?fbclid=IwAR2raGuZuI0m5lKn6u-E1SZbyA1QdTGioNSV35abz-fkoEL7nL0UXjieb5k  5https://twitter.com/marcfbellemare/status/1272249524539600897?fbclid=IwAR2LUYkDUVVMsid2693S1LZ2BPMx4-1GDubIbHLSNN-DTCmKpEgtj_raGUk  6 https://predatoryjournals.com/publishers/#G  7https://predatoryjournals.com/publishers/#F  8 The National Publication Committee of Norway stated that they shared Fosso’s and Nøland’s concerns over MDPI and described it as a “borderline publisher” that “deftly makes sure not to fall in the ‘predatory publisher’ category” and that “superficially meets the criteria” for level 1 status, and noted that Norway will introduce a new “level X” for questionable publishers in 2020.  9https://wash.leeds.ac.uk/what-the-f-how-we-failed-to-publish-a-journal-special-issue-on-failures/?  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/canh-giac-voi-nhung-tap-chi-an-xoi/20200617012258193p1c785.htm?fbclid=IwAR1wcHWkSskdqh7Ub9tJBpE-URm8li-YnDA0AIa2RbLVbiAF26hRbmxRU3A    Author                Quản trị        
__label__tiasang Canh tân và tri thức từ phía người dân      Theo Curtis Carlson, trong một thế giới mà nhiều người được học hành và có các phương tiện công nghệ với giá thấp thì tri thức, sự canh tân từ phía dưới, từ người dân tuy có xu hướng hỗn độn, thiếu trật tự logic, nhưng thông minh. Còn tri thức, sự canh tân từ trên xuống thường trật tự hơn, nhưng sơ cứng và vô hiệu quả.     Gần đây, trước những biến động xã hội lớn trên thế giới với sự tham gia của công nghệ và đổi mới (technology and innovation), Curtis Carlson, Giám đốc điều hành của công ty SRI International ở Thung lũng Silicon ở Mỹ, vừa đưa ra định luật Carlson. Nội dung chính của định luật này là: trong một thế giới mà nhiều người được học hành và có được các phương tiện công nghệ với giá thấp (cheap innovation tools) thì tri thức, sự canh tân từ phía dưới, từ người dân (bottom-up innovation) tuy có xu hướng hỗn độn, thiếu trật tự logic, nhưng thông minh. Còn tri thức, sự canh tân từ trên xuống (top-down innovation) thường trật tự hơn, nhưng sơ cứng và vô hiệu quả.   Theo Carlson, ngày nay, sự canh tân, dòng chảy của tri thức nên “đi xuống” chứ không “đi lên” (moving down, not up). Canh tân, tri thức phải từ phía người dân vì toàn dân thông minh hơn một nhóm người nhỏ và vì ngày nay, họ đã có các công cụ để sáng tạo và kết nối, hợp tác với nhau.    Lý do  Công nghệ thông tin-truyền thông (CNTT-TT) phát triển bùng nổ từ cuối thế kỷ 20 đến nay đã biến đổi hoàn toàn hoạt động sáng tạo, hợp tác và tương tác xã hội của con người. Nó trở thành cơ sở hạ tầng cần thiết nhất để đem tri thức, tư tưởng canh tân đến cho từng con người, ngoài ý muốn, sự bưng bít của từng nhà nước. Ban đầu CNTT-TT phát triển mang tính thị trường, nhưng về sau, tác dụng truyền bá tri thức, canh tân ngày càng được chú trọng. Chính vì vậy, ngoài các CNTT-TT chuyên dụng, đắt tiền cho nghiên cứu-sản xuất, người ta chú trọng tạo ra các công nghệ giá rẻ để hầu như ai cũng có thể có được. Họ không kinh doanh trên giá rẻ của sản phẩm CNTT-TT mà chú trọng đến các thông tin mà CNTT-TT đem đến cho con người cái gì. Các nhà nước chuyên chế, thường là nước đang phát triển, hấu như bắt buộc phải sử dụng và không thể từ bỏ được các CNTT-TT này. Ngày nay, thông tin, tri thức vượt qua mọi rào cản do con người đặt ra.   Chỉ vài năm nữa, công nghệ đám mây (cloud computing) sẽ còn đưa tri thức, sự canh tân thăng hoa và làm các nền toàn trị bất lực hơn nữa. Internet lúc đó, một mặt, như một máy tính ảo khổng lồ về cả khả năng xử lý và lượng thông tin. Mặt khác, giá truy cập sẽ rất rẻ vì đã được chế tạo dùng chung cho cả thế giới. Người dân chỉ cần mua một thiết bị truy cập internet với giá rất rẻ, có thể gọi là công cụ “lên mây”, để có thể đứng trên vai các khổng lồ của tri thức nhân loại và tung tăng tương tác với nhau.   Sự toàn cầu hóa của trí tuệ, sự tương ngộ của các tư duy khác biệt, sự tương tác rộng khắp, sự hội lưu của tri thức, ý tưởng của cả loài người sẽ tạo ra một sự cộng năng (synergy) chưa từng có, cả về khối lượng và về thuộc tính mới, mà con người chưa tiên lượng được. Một điều chắc chắn rằng: cho đến “vụ nổ lớn” đó (Big Bang), các thể chế, dù quốc gia hay quốc tế, chưa đủ cơ sở vật chất và năng lục để quản lý được khối tri thức và dẫn dắt được tư duy như vậy. Bàn tay vô hình (invisible hand) lúc này chơi xúc xắc với loài người. Nhưng ván xúc xắc của cả loài người nhất định sẽ thông minh hơn ván bài của vài cá nhân hay nhà nước chuyên chế đơn lẻ.     Gợi suy  Định luật Carlson đem lại một số gợi suy về khoa học-công nghệ-đổi mới (science-technology-innovation) và đặc biệt là tác dụng xã hội của nó.   Các thể chế sơ cứng, e dè cái mới, bưng bít thông tin, đừng ngăn cản canh tân công nghệ từ phía người dân. Nếu không hoạch định được sự canh tân từ trên xuống một cách hiệu quả thì tạo điều kiện tốt nhất để người dân, doanh nghiệp của người dân, tiếp cận thông tin, tri thức, đặc biệt là tri thức chung của nhân loại.  Các nhà nước, các định chế quốc tế hoạt động đúng theo tôn chỉ, ngày nay cũng trở nên sơ cứng, chưa theo kịp được sự bùng nổ về tri thức, ý chí canh tân của người dân, của xã hội. Họ chưa quản lý, định hướng, dẫn dắt được, chứ chưa nói đến khai tâm, khai lộ và thổi hồn cho thời kỳ phục hưng của tri thức, khoa học-công nghệ-đổi mới rộng khắp đang diễn ra.  Ngày nay, quốc gia, vùng miền hay khu vực, muốn phát triển phải dựa vào công nghệ và đổi mới. Sự phát triển trong giai đoạn này không còn đơn thuần là sự gia tăng về số lượng, ví dụ: phần trăm tăng trưởng, mà là sự thay đổi về triết lý, quan niệm về phát triển, về việc trả lời câu hỏi như: thế nào là phát triển? Phát triển để làm gì? Hoàn cảnh đang bắt loài người tái tư duy về con đường của mình. Chúng ta đang bước nhanh, nhưng cần biết đi về đâu. Chuyển đổi căn bản về mô thức đang thách thức loài người. Để làm được điều này, sự canh tân, mà ở đây chủ yếu là canh tân công nghệ (technological innovation), phải là một hoạt động, một lối sống của xã hội loài người. Cách mạng khoa học-công nghệ, công cuộc canh tân, không còn ở phạm vi quốc gia như ở các thế kỷ trước mà của cả loài người để mang lại sự biến đổi xã hội sâu rộng trên quy mô toàn cầu.   Định luật Carlson đem lại thông điệp rằng: tri thức, sự canh tân từ phía người dân là thông minh, tất yếu và không một nền chuyên chế nào ngăn cản nổi.  —  *  Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN    Tài liệu tham khảo:  – http://www.nytimes.com/2011/06/05/opinion/05friedman.html?_r=3  Thomas Friedman: Advice for China, The New York Times, 4-6-2011  -http://www.dailymotion.com/video/xhstpf_curtis-carlson-what-singapore-can-teach-us-innovators_news, phỏng vấn Curtis Carlson: Singapore dạy gì cho các nhà canh tân Mỹ? Tạp chí The Economist, 2011  – Phỏng vấn Dr. Curtis Carlson: Five disciplines of Innovation, 2008       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấp kinh phí theo chất lượng dự kiến công bố      Theo PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Trung tâm Nghiên cứu liên ngành, ĐH Công nghệ TPHCM), Quỹ Nafosted nên qui các giải pháp nâng cao chất lượng công bố vào trong  phần thuyết minh kinh phí thực hiện đề tài, đó là cấp kinh phí theo  chất lượng bài báo dự kiến công bố.        Việc khuyến khích các chủ nhiệm đề tài Nafosted nâng cao chất lượng công bố là một việc nên làm nhưng theo tôi cũng không dễ để có ngay được phương án toàn diện và thỏa đáng cho vấn đề này. Vì vậy tôi cho rằng, Quỹ Nafosted nên qui các giải pháp vào trong phần thuyết minh kinh phí thực hiện đề tài, đó là cấp kinh phí theo chất lượng bài báo dự kiến công bố. Lấy ví dụ, nếu trong thuyết minh, chủ trì đề tài đăng ký kết quả dự kiến xuất bản trên các tạp chí thuộc top 5 đến 10% nhóm Q1 (High Quality Publications – Bài báo chất lượng cao, dựa trên danh sách tạp chí uy tín do Quỹ đang soạn thảo trong thời gian gần đây) thì kinh phí đi kèm sẽ cao hơn hệ số k so với đăng trên tạp chí thuộc nhóm 40-50%. Dĩ nhiên, chủ trì đề tài phải là tác giả chính hoặc tác giả liên hệ. Theo thống kê mà tôi đã khảo sát thì với hầu hết các tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF và h-index cao, sự biến động về thứ hạng của nó không quá lớn, hiếm có trường hợp từ top 5-10% bị tụt xuống nhóm 40-50% chỉ trong vòng hai năm, quãng thời gian thực hiện đề tài do Quỹ tài trợ. Do đó, các chủ trì đề tài cần lưu ý chọn những tạp chí ISI tốt để công bố.  Một lưu ý khác, vì đã cố định hệ số lương dựa trên vai trò các thành viên trong đề tài nên hệ số k sẽ được tính toán sao cho tổng kinh phí đăng ký không vượt quá tổng kinh phí qui định.  Thanh Nhàn ghi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cấp phép mở      Cấp phép mở là điều kiện tiên quyết  để khoa học có thể đến và làm lợi cho xã hội.       Ảnh: NeoScientia www.neoscientia.com/ciencia-abierta.   Kiến thức Khoa học Mở là gì?     Khuyến nghị Khoa học Mở (KNKHM) của UNESCO1 đã được 193 quốc gia thành viên của nó nhất trí thông qua ngày 23/11/2021 đã khẳng định Khoa học Mở là xu thế phát triển không thể đảo ngược của thế giới. Trong đó, kiến thức khoa học mở là một trong bốn trụ cột của Khoa học mở, được định nghĩa như sau:    Kiến thức khoa học mở (KTKHM) tham chiếu tới việc truy cập mở tới các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu, siêu dữ liệu, tài nguyên giáo dục mở, phần mềm và mã nguồn và phần cứng mà chúng sẵn sàng trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền và được cấp phép theo một giấy phép mở cho phép truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh và phân phối theo các điều kiện nhất định, được cung cấp cho tất cả mọi người bất kể xuất thân của họ.     Những KTKHM nào nằm trong phạm vi công cộng?     Định nghĩa ở trên cho thấy, KTKHM có thể nằm trong phạm vi công cộng (PVCC). Có hai dạng kiến thức khoa học (tài nguyên/tác phẩm) nằm trong PVCC, tương ứng với hai dòng trên cùng của Hình 2, dù ở dạng kỹ thuật số hay không, cụ thể là:      Để hàng triệu người yên tâm tải về và đọc cuốn sách mà bạn là tác giả mà không sợ vi phạm bản quyền và các quyền liên quan của bạn, bạn cần cấp phép mở cho cuốn sách đó.      – Các tài nguyên/tác phẩm đang nằm sẵn rồi trong PVCC: là khi chúng đã hết thời hạn bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ. Khi số hóa một tài nguyên/tác phẩm đang nằm sẵn rồi trong PVCC thì phiên bản được số hóa của nó thường được gắn dấu phạm vi công cộng (Public Domain Mark). Đây là trường hợp duy nhất không có việc cấp phép mở cho tài nguyên/tác phẩm.  – Các tài nguyên/tác phẩm được (các) tác giả gắn giấy phép CC0. Bằng cách cấp phép mở với giấy phép CC0, (các) tác giả khước từ các quyền bản quyền/các quyền liên quan của mình và hiến tặng tài nguyên/tác phẩm của mình vào PVCC.    Các tác phẩm hết thời hạn bảo hộ của Luật và đang nằm sẵn rồi trong PVCC thường có trong các thư viện, kho lưu trữ hoặc viện bảo tàng. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, hầu như tất cả các tác phẩm do các tác giả Việt Nam sáng tạo ra từ năm 1900 trở về trước dọc theo lịch sử vài ngàn năm của Việt Nam, là nằm trong PVCC, vì chúng đã hết thời hạn bảo hộ của Luật. Chúng đều là các tài nguyên rất tốt cho khoa học – giáo dục – văn hóa, đặc biệt cho việc nghiên cứu trên nhiều khía cạnh dựa vào lịch sử vài ngàn năm của Việt Nam. Bất kỳ ai trong số gần 8 tỷ người trên thế giới cũng đều có quyền tự do không mất tiền để truy cập tới chúng một cách hợp pháp. Phiên bản số hóa của các tác phẩm đang nằm sẵn rồi trong PVCC cũng nên tiếp tục nằm trong PVCC, như của Europeana2, một kho di sản văn hóa nổi tiếng của châu Âu.     Lợi ích của cấp phép mở, đặc biệt khi được số hóa/chuyển đổi số     Nếu bạn có một cuốn sách in là kết quả của một nghiên cứu khoa học của bạn, bạn không thể cùng một lúc cho hai người mượn cùng cuốn sách đó để họ đọc nó. Nhưng nếu nó được số hóa và được đặt, ví dụ, trong thư viện số của cơ sở nghiên cứu của bạn trên Internet, thì cùng một lúc hàng triệu người có thể tải nó về và đọc nó. Đây chính là sức mạnh của số hóa và chuyển đổi số.    Tuy nhiên, để hàng triệu người yên tâm tải về và đọc cuốn sách mà bạn là tác giả mà không sợ vi phạm bản quyền và các quyền liên quan của bạn, bạn cần cấp phép mở cho cuốn sách đó, ví dụ, bằng một giấy phép Creative Commons. Bằng cách này, bạn sẽ biến cuốn sách từ dạng ‘Tất cả các quyền được giữ lại’ (All Rights Reserved) thành dạng ‘Một số quyền được giữ lại’ (Some Rights Reserved) và cho phép trước các độc giả của bạn để tải về/sao chép/chia sẻ và đọc nó, mà họ không cần phải xin phép bạn thêm nữa, vì khi họ có được nó, họ biết chính xác bạn giữ lại (các) quyền gì, và cho phép họ trước rồi (các) quyền gì thông qua giấy phép mở được gắn với cuốn sách đó.      Hình 1. Kiến thức Khoa học Mở với 5 thành phần.  Là tác giả của cuốn sách, bạn có quyền chọn bất kỳ giấy phép mở nào bạn muốn để gắn vào cuốn sách đó. Ví dụ, nếu bạn muốn càng nhiều người đọc cuốn sách của bạn càng tốt, bạn có thể gắn giấy phép Creative Commons Attribution (CC BY). Giấy phép này sẽ cho phép các độc giả các quyền tự do không mất tiền để truy cập, sử dụng lại, tái mục đích, tùy chỉnh, phân phối lại cuốn sách của bạn, nhưng họ phải thừa nhận ghi công cho bạn vì bạn chính là tác giả của cuốn sách đó, nếu không thì họ có thể bị cả thế giới coi là ‘ăn cắp’, là vi phạm bản quyền tác giả của bạn.    Có vài điểm lưu ý ở đây, đó là:     1. Như trên Hình 2, hai giấy phép Creative Commons (CC) nằm dưới cùng không phù hợp để cấp phép mở cho tài nguyên/tác phẩm/dữ liệu hay bất kỳ kiến thức khoa học nào để nó được gọi là KTKHM, vì CC BY-ND và CC BY-NC-ND là hai giấy phép không cho phép người sử dụng tùy chỉnh và/hoặc sửa đổi tài nguyên/tác phẩm/dữ liệu hay bất kỳ kiến thức khoa học nào (có yếu tố ND – không phái sinh), và điều này là trái với định nghĩa KTKHM được nêu ở trên. Xem Hình 3 để dễ hình dung.      Hài hòa hóa quyền lợi của các bên liên quan tới KHM là vấn đề quan trọng cần được giải quyết, để không xảy ra trường hợp từng bên liên quan tới KHM chỉ muốn tối đa hóa lợi ích của mình mà không cần quan tâm tới và gây thiệt hại cho lợi ích của các bên liên quan khác, cũng như cho cả xã hội.      2. Một lưu ý khác nữa, là các giấy phép mở Creative Commons thường không được sử dụng để cấp phép mở cho phần mềm và phần cứng để chúng được gọi là phần mềm nguồn mở và phần cứng nguồn mở/phần cứng mở một cách tương ứng. Để có thêm thông tin về cấp phép mở cho phần mềm và phần cứng, vui lòng xem các bài: Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 2)3 và Phần cứng nguồn mở: Đổi mới sáng tạo tốc độ cao4.    3. Các giấy phép mở Creative Commons phù hợp với KTKHM cũng là các giấy phép y hệt phù hợp với Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM).     Khuyến khích các tác giả cấp phép mở cho kiến thức khoa học?     Vậy làm thế nào để khuyến khích các tác giả cấp phép mở cho các kiến thức khoa học là kết quả từ các nghiên cứu khoa học của họ?    Câu hỏi này có thể trả lời bằng một câu hỏi như sau: Bạn lấy tiền ở đâu để tiến hành nghiên cứu khoa học và để tạo ra các kiến thức khoa học đó?    Trong thực tế, một mặt, có không ít các nhà nghiên cứu khoa học có tư duy mở và/hoặc có mong muốn tác phẩm của mình tạo ra được càng nhiều người đọc càng tốt, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học trẻ, những người bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, bất kể họ sử dụng nguồn tiền nào để tiến hành các nghiên cứu khoa học đó. Mặt khác, cũng có không ít các nhà nghiên cứu khoa học chưa/không muốn chia sẻ mở các kết quả nghiên cứu khoa học của mình vì nhiều lý do khác nhau, dù các dự án và các kết quả nghiên cứu khoa học đó không có liên quan gì tới các vấn đề cấm kỵ như an ninh quốc gia hay quyền riêng tư của công dân, ngay cả khi tiền để họ tiến hành nghiên cứu khoa học đó là từ tiền của người đóng thuế thông qua cấp vốn nhà nước.      Hình 2. Phổ các giấy phép mở Creative Commons.  Theo đoạn 12 KNKHM của UNESCO, có rất nhiều bên liên quan tới Khoa học Mở, gồm: các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và học giả, các nhà lãnh đạo ở các cơ sở nghiên cứu, các nhà giáo dục, nhân viên hàn lâm, các thành viên của các hội nghề nghiệp, sinh viên, các tổ chức của các nhà nghiên cứu trẻ, các chuyên gia thông tin, các thủ thư, những người sử dụng và công chúng nói chung, bao gồm các cộng đồng, những người nắm giữ kiến thức bản địa, và các tổ chức xã hội dân sự, các nhà khoa học máy tính, các lập trình viên phần mềm, những người viết mã, các nhà sáng tạo, các nhà đổi mới, các kỹ sư, các nhà khoa học công dân, các học giả pháp lý, các luật sư, các thẩm phán và nhân viên dân sự, các nhà xuất bản, các ban biên tập và các thành viên của các hiệp hội nghề nghiệp, các nhân viên kỹ thuật, các nhà cấp vốn nghiên cứu và các nhà hảo tâm, những người làm chính sách, các hiệp hội học tập, các nhà thực hành từ các lĩnh vực nghề nghiệp, các đại diện của khu vực tư nhân có liên quan tới khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.    Hài hòa hóa lợi ích các bên liên quan tới KHM vượt ra khỏi cộng đồng khoa học truyền thống và mở rộng tới Khoa học Công dân    Các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và học giả, dù được thừa nhận có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất ra các kiến thức khoa học từ các nghiên cứu của họ, thì họ chỉ đại diện cho vài trong số rất nhiều bên liên quan của Khoa học Mở như được nêu ở trên. Lợi ích mà họ mang lại cho quốc gia và xã hội Việt Nam, cần phải được cân đo đong đếm và so sánh với lợi ích của các bên liên quan khác, và trong tổng thể nghiên cứu bức tranh chi phí/lợi ích ứng dụng và phát triển Khoa học Mở ở Việt Nam, hài hòa với lợi ích của các bên liên quan khác, đặc biệt khi tiền để họ nghiên cứu khoa học là lấy từ tiền của người dân đóng thuế thông qua việc nhà nước cấp vốn, những người đã trả tiền rồi để họ nghiên cứu, và vì thế cũng trả tiền rồi cho các kết quả nghiên cứu của các dự án nghiên cứu của họ – các xuất bản phẩm nghiên cứu, các dữ liệu nghiên cứu và các thành phần khác của kiến thức khoa học.      Hài hòa hóa quyền lợi của các bên liên quan tới KHM là vấn đề quan trọng cần được giải quyết, để không xảy ra trường hợp từng bên liên quan tới KHM chỉ muốn tối đa hóa lợi ích của mình mà không cần quan tâm tới và gây thiệt hại cho lợi ích của các bên liên quan khác, cũng như cho cả xã hội.      Cùng lúc, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và học giả cũng là những người sử dụng các kiến thức khoa học khác, rất nhiều trong số đó là KTKHM tới từ sự hào phóng của cộng đồng các nhà khoa học mở, các nhà thực hành khoa học mở và của toàn thể thế giới nguồn mở với các xuất bản phẩm và dữ liệu nghiên cứu được cấp phép mở, các TNGDM, phần mềm nguồn mở/mã nguồn mở, và phần cứng mở. Vì thế, giả thiết bạn không tán thành với việc cấp phép mở cho các kiến thức khoa học là kết quả nghiên cứu khoa học của riêng bạn, thì điều đó có thể đồng nghĩa với việc bạn tự mình giới hạn khả năng tiếp cận KTKHM của thế giới không chỉ đối với bản thân bạn, mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới việc tiếp cận tới các KTKHM của các bên liên quan khác, nhất là khi tiền để bạn nghiên cứu khoa học được lấy từ tiền của người đóng thuế và các nghiên cứu/kết quả của các nghiên cứu đó không liên quan tới an ninh quốc gia và quyền riêng tư của công dân. Giả thiết khác không dám bàn tới ở đây, vì nó rất không công bằng, là khi bạn không tán thành với việc cấp phép mở cho các kiến thức khoa học là kết quả nghiên cứu của riêng bạn, nhưng bạn lại vẫn muốn/thích sử dụng các KTKHM do những người khác tạo ra.  Hài hòa hóa quyền lợi của các bên liên quan tới KHM là vấn đề quan trọng cần được giải quyết, để không xảy ra trường hợp từng bên liên quan tới KHM chỉ muốn tối đa hóa lợi ích của mình mà không cần quan tâm tới và gây thiệt hại cho lợi ích của các bên liên quan khác, cũng như cho cả xã hội.    Một ví dụ tốt trong việc hài hòa hóa lợi ích của các bên liên quan tới KHM để chúng ta tham khảo là cách xử lý của nhóm nghiên cứu Finch5 của Vương quốc Anh, khi Chính phủ Anh đã tập hợp các bên liên quan chính trong một nghiên cứu khoa học nhằm mục đích tạo sự đồng thuận trong việc hài hòa hóa quyền lợi của các bên liên quan chính đó bằng việc đưa ra 10 điểm khuyến cáo cho việc xây dựng chính sách Truy cập Mở – nền tảng của chính sách Khoa học Mở – cho Vương quốc Anh vào năm 2012.    Ngoài ra, phải kể đến một trong bốn giá trị cốt lõi của Khoa học Mở là sự đa dạng và tính hòa nhập của nó, bao gồm những người bản địa và các cộng đồng địa phương, và các tác nhân xã hội, như các bên liên quan được nêu ở trên, để “phát triển các phương pháp tham gia và các kỹ thuật thẩm định mới để kết hợp và đánh giá các đầu vào từ các tác nhân xã hội vượt ra khỏi cộng đồng khoa học truyền thống, bao gồm thông qua khoa học công dân, các dự án khoa học dựa vào nguồn đám đông, sự tham gia của các công dân vào các cơ sở lưu trữ do cộng đồng sở hữu, và các dạng khoa học có sự tham gia khác”.    Cấp phép mở cho kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn – từ tiền của người đóng thuế với vai trò dẫn dắt của nhà nước    Quay lại với việc cấp phép mở cho kiến thức khoa học là kết quả của nghiên cứu khoa học được nhà nước cấp vốn, KNKHM của UNESCO có đoạn như sau:    “Đảm bảo nghiên cứu được nhà nước cấp vốn được triển khai dựa vào các nguyên tắc của khoa học mở phù hợp với các điều khoản của Khuyến nghị này, đặc biệt đoạn 8, và kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, bao gồm các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu mở, phần mềm nguồn mở, mã nguồn và phần cứng mở, là được cấp phép mở hoặc được hiến tặng vào phạm vi công cộng.”    Đoạn 8 chính là đoạn nêu các trường hợp ngoại lệ, như các nghiên cứu và kết quả nghiên cứu khoa học thuộc về bí mật quốc gia hay quyền riêng tư của công dân và một số trường hợp đặc biệt khác.      Hình 3. Các giấy phép mở Creative Commons nào là phù hợp với KTKHM.  Như vậy câu hỏi ở trên đã có câu trả lời, đó là: một khi bạn sử dụng tiền do nhà nước cấp, tức là tiền của người dân đóng thuế, để nghiên cứu khoa học, thì có nghĩa là những người dân đóng thuế đã trả tiền rồi cho bạn để bạn được nghiên cứu và họ cũng trả tiền rồi cho bạn để các kết quả nghiên cứu của bạn cần phải được cấp phép mở và phục vụ trở lại cho những người đóng thuế và cho xã hội, một khi các nghiên cứu đó không có liên quan gì tới vấn đề an ninh quốc gia và quyền riêng tư của công dân.    Nói một cách khác, khi bạn dùng tiền thuế của người dân qua việc cấp vốn của nhà nước để tiến hành nghiên cứu khoa học, thì, như được chỉ ra trong KN KHM của UNESCO: “kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, bao gồm các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu mở, phần mềm nguồn mở, mã nguồn và phần cứng mở, là được cấp phép mở hoặc được hiến tặng vào phạm vi công cộng”.    Việc cấp phép mở cho kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn cũng sẽ giúp loại bỏ việc người đóng thuế có thể phải trả tiền hai lần (Double Dipping) hoặc thậm chí, như đã được chứng minh, tới bốn  lần cho sản phẩm nghiên cứu khoa học6.      “Kiến thức khoa học từ nghiên cứu được nhà nước cấp vốn, bao gồm các xuất bản phẩm khoa học, dữ liệu nghiên cứu mở, phần mềm nguồn mở, mã nguồn và phần cứng mở, là được cấp phép mở hoặc được hiến tặng vào phạm vi công cộng” – Khuyến nghị Khoa học mở của UNESCO.      Điều này cho thấy vai trò của nhà nước trong việc dẫn dắt ứng dụng và phát triển KHM quan trọng như thế nào, đặc biệt trong việc ưu tiên sử dụng tiền đóng thuế của người dân để ứng dụng và phát triển KHM vì lợi ích của người dân và của xã hội.    Không phải chỉ có các chính phủ, nhà nước dẫn dắt và hỗ trợ tích cực cho việc ứng dụng và phát triển KTKHM, mà thực tế của thế giới đã chứng minh, nhiều tổ chức phi lợi nhuận và thiện nguyện cấp tiền cho nghiên cứu khoa học cũng có yêu cầu các nhà nghiên cứu khoa học và các tổ chức nghiên cứu và triển khai nghiên cứu khoa học nhận tiền từ họ để nghiên cứu phải cấp phép mở cho các kết quả nghiên cứu để chúng được bất kỳ ai trên thế giới cũng có quyền tự do không mất tiền để truy cập tức thì tới chúng ở thời điểm xuất bản. Liên minh S (cOAlition S), một nhóm 27 nhà cấp vốn nghiên cứu quốc gia, các tổ chức quốc tế và châu Âu và các quỹ từ thiện đã đưa ra Kế hoạch S (Plan S)7 vào tháng 9/2018, theo đó, từ năm 2021, tất cả các xuất bản phẩm khoa học là kết quả từ nghiên cứu được nhà nước và các tổ chức thành viên của Liên minh S trợ cấp phải được xuất bản trên các tạp chí hoặc các nền tảng tuân thủ truy cập mở, với ưu tiên cấp phép mở bằng giấy phép CC BY8.    Một ví dụ khác về ứng dụng và phát triển KTKHM, góp phần cứu sống vô số mạng người trên khắp thế giới, là sáng kiến Cam kết COVID-19 Mở (Open COVID-19 Pledge)9, một sáng kiến được khởi xướng vào tháng 4/2020, kêu gọi các tổ chức khắp trên thế giới làm cho các bằng sáng chế và bản quyền của họ sẵn sàng tự do không mất tiền để đấu tranh với đại dịch COVID-19 bằng việc cấp phép mở với ba loại giấy phép COVID mở. Cho tới nay, ước tính có khoảng 500.000 bằng sáng chế và nhiều bản quyền đã cam kết mở công khai để đối phó với COVID-19 từ nhiều tổ chức và/hoặc các tập đoàn/công ty khắp trên thế giới, trong đó có các tập đoàn lớn như Amazon, Facebook, HP Enterprise, IBM, Intel, Microsoft .v.v. □  Để khoa học và giáo dục của Việt Nam phát triển phù hợp với xu thế không thể đảo ngược của KHM và TNGDM, có thể triển khai:  1. Xây dựng chính sách cấp phép mở quốc gia như là ưu tiên số một vào lúc này.  2. Xác định rõ và xây dựng danh sách kiến thức khoa học là kết quả của các nghiên cứu khoa học nào được nhà nước cấp tiền sẽ phải được cấp phép mở để trở thành các KTKHM để chia sẻ mở cho bất kỳ ai muốn sử dụng chúng.  3. Chính phủ có biện pháp để hài hòa hóa lợi ích của các bên liên quan tới khoa học mở nhằm khuyến khích truy cập mở tới KTKHM là kết quả nghiên cứu được nhà nước cấp tiền.  4. Xây dựng và ban hành chính sách KHM quốc gia dựa vào việc bám sát và tùy chỉnh bảy khía cạnh mục tiêu và lĩnh vực hành động được nêu chi tiết trong KN KHM của UNESCO, bao gồm việc yêu cầu các nhà nghiên cứu khoa học và các bên nhận tiền từ nhà nước để tiến hành nghiên cứu khoa học phải cấp phép mở cho kiến thức khoa học là kết quả của nghiên cứu khoa học đó, phù hợp với danh sách phân loại được xác định trước rồi ở mục 2 ở trên, cùng với việc thừa nhận, thưởng cùng với các ưu đãi khác có liên quan một cách xứng đáng để khuyến khích và phát triển sự nghiệp nghiên cứu khoa học mở của họ.    F. Các chú giải:  1 UNESCO, 2021: UNESCO Recommendation on Open Science: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000379949. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/l3q04t99nil5mgo/379949eng_Vi-25112021.pdf?dl=0  2 Lê Trung Nghĩa, 2021: Công nghệ mở trong các cơ sở văn hóa và giáo dục: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/cong-nghe-mo-trong-cac-co-so-van-hoa-va-giao-duc-513.html  3 Lê Trung Nghĩa, 2021: Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 2): https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-phan-2-471.html  4 Lê Trung Nghĩa, 2021: Phần cứng nguồn mở: Đổi mới sáng tạo tốc độ cao: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/phan-cung-nguon-mo-doi-moi-sang-tao-toc-do-cao-487.html  5 Dame Janet Finch CBE, 2012: Accessibility, sustainability, excellence: how to expand access to research publications – Report of the Working Group on Expanding Access to Published Research Findings. Bản dịch sang tiếng Việt: https://www.dropbox.com/s/a33nqbqxz31s3ck/finch-report-final-Vi-30082016.pdf?dl=0  6 Lê Trung Nghĩa, 2021: Truy cập mở kim cương và cái đích của chuyển đổi số trong xuất bản học thuật: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/truy-cap-mo-kim-cuong-va-cai-dich-cua-chuyen-doi-so-trong-xuat-ban-hoc-thuat-426.html  7 cOAlition S: Making full and immediate Open Access a reality: https://www.coalition-s.org/  8 cOAlition S: cOAlition S develops “Rights Retention Strategy” to safeguard researchers’ intellectual ownership rights and suppress unreasonable embargo periods. Bản dịch sang tiếng Việt: https://giaoducmo.avnuc.vn/truy-cap-mo/lien-minh-s-phat-trien-chien-luoc-duy-tri-cac-quyen-de-bao-ve-cac-quyen-so-huu-tri-tue-cua-cac-nha-nghien-cuu-va-bai-bo-cac-giai-doan-cam-van-vo-ly-265.html  9 Lê Trung Nghĩa, 2021: Khoa học Mở, Truy cập Mở và tác động của đại dịch COVID-19: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Khoa-hoc-Mo-Truy-cap-Mo-va-tac-dong-cua-dai-dich-COVID19-28215  Giấy phép nội dung: CC BY-SA 4.0 Quốc tế     Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Câu chuyện hợp tác      Chúng ta đôi khi được nghe câu chuyện “một  người Việt giỏi bằng ba người Nhật riêng lẻ, nhưng ba người Việt nhóm  lại thì lại thua xa ba người Nhật cùng thuyền”. Câu chuyện này vừa nôm  na vừa phóng đại. Nhưng nó lại phản ánh chính cái hiểu biết nôm na của  người kể chuyện!    Chỉ có ông Thánh Gióng thì chiến đấu được một mình! Vì ông Thánh Gióng là giấc mơ của con người chăn trâu thổi sáo một mình thời ngày xưa.  Trong một xã hội đã phát triển lên, tài năng của một con người không phải là ngồi cắn bóc hạt bí một mình cho thật nhanh, mà là năng lực tham gia hợp tác của anh ta vào các hoạt động của các tổ chức xã hội, nhiều khi rất phức tạp.  Với một cầu thủ bóng đá sáng chói như chàng Zidane trước đây, nếu một siêu câu lạc bộ mua chàng về đầu tuần, thì cuối tuần chàng có thể đã phải lĩnh chân đội trưởng và thi đấu ngay ở đỉnh cao truyền hình trên toàn cầu! Từng đấy tiền một năm cho một hợp đồng khủng mua chàng, bạn thử chia ra xem một ngày là bao nhiêu tiền trôi đi, khác gì như nước chảy qua cầu?   Vậy thì cái năng lực lớn nhất của chàng Zidane là cái năng lực gì?  Là chàng phải có đủ năng lực hợp tác tức thì ở trình độ chót vót với các chỉ đạo viên, với các đồng đội mới tinh của mình, thậm chí chưa rành ngôn ngữ tự nhiên với nhau.  Chàng phải hiểu rất nhanh đội bóng mới, trong toàn bộ, trong chiến lược chiến thuật, trong đấu pháp, hiểu biết cặn kẽ ban lãnh đạo, các chỉ đạo viên, rồi các cầu thủ. Không chỉ hiểu biết về kĩ thuật, phải hiểu biết về mọi phương diện, kể cả tâm lý, tính tình, tài năng và thói dở chứng của từng cá nhân. Rồi phải tìm ra và xây dựng nên cái vai trò trọng yếu của mình, cách thức tham gia vào đội bóng như thế nào, cách thức phối hợp ra sao, v.v. Làm thế nào để thu phục được mọi người, làm thế nào để đưa vào áp dụng thành công những đề xuất mới, những yêu cầu mới của riêng mình. Tất cả diễn ra trong tư duy đã đành, mà phải thực hiện được ngay trong cuộc chơi thể chất.   Và không chỉ Zidane! Tất cả những người khác trong câu lạc bộ đội bóng cũng phải giải lại bài toán của cả đội, của riêng mình, để thực hiện được một cuộc hợp tác toàn diện mới với sự xuất hiện của chàng Zidane.  Cuối cùng là kết quả mùa thi đấu đang thách thức. Kết quả đó là một đống tiền được hay mất, là giá trị, giá cả của từng cầu thủ cũng như của từng chỉ đạo viên trên thị trường bóng đá thế giới.  —-  Vậy thì chúng ta đã hình dung ra rõ hơn sự khó khăn, sự thách thức, và sự hấp dẫn của việc hợp tác. Và khi đánh giá năng lực của một con người, ta phải đánh giá được cái năng lực hợp tác của con người đó, cái đó mới là cái thật khó và thật là quý giá.  Cho nên với ngày hôm nay thì câu chuyện được đưa đẩy “một người Việt giỏi bằng ba người Nhật riêng lẻ” tưởng là cụ thể, mà lại hóa ra lại là cực kì ngô nghê.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Cây sắn: Cần sự đối xử công bằng      Không còn là thứ củ cứu đói mùa giáp hạt, cách đây gần 10 năm, sắn từng đường hoàng bước vào câu lạc bộ “cây trồng tỷ đô” của Việt Nam. Tuy nhiên, sự đầu tư còn khiêm tốn khiến cây sắn Việt Nam đang thiếu cơ hội quý để có thể vượt qua thân phận “chiếu dưới” thành cây “đổi đời”.      Nông dân huyện miền núi Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, nơi có 4.000 ha trồng sắn, thu hoạch sắn với năng suất từ 20 đến 25 tấn/ha. Nguồn: danviet.vn  Ngoại trừ số ít người làm nghiên cứu chuyên sâu, không nhiều người ở Việt Nam biết đến sắn (hay còn gọi là khoai mì), một loại cây lương thực có nguồn gốc từ Nam Mỹ, không phải là cây trồng bản địa. Thậm chí dù được du nhập vào Việt Nam qua ngả Trung Quốc vào cuối thế kỷ 19 nhưng đến nay, tên gọi sắn tàu (ám chỉ nguồn gốc nhập từ Trung Quốc) đã phai nhạt dần trong ký ức mọi người. Thay vào đó, cây sắn “chết danh” với cái nhìn về một loại cây trồng của người nghèo như câu dân ca “Đói thì ăn sắn ăn khoai, Đừng thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”.    Tuy nhiên, công bố mới của các nhà nghiên cứu Viện Di truyền nông nghiệp, Viện Nông nghiệp Việt Nam (Bộ NN&PTNT)… và các đồng nghiệp quốc tế “Cassava breeding and agronomy in Asia: 50 years of history and future directions” mới xuất bản trên Breeding Science Preview, một tạp chí thuộc nhóm Q1 của Hội Giống cây trồng Nhật Bản, đã cho chúng ta một góc nhìn khác về cây sắn1. “Từ một cây không là gì trở thành cây đóng góp cả tỷ đô la, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người, sắn thực sự là một loại cây phát triển rất thành công ở Việt Nam nhưng đáng buồn là đến nay, nó vẫn không được đối xử một cách công bằng. Kinh phí đầu tư cho nó hết sức thiếu thốn, không những thiếu cho việc mở rộng diện tích trồng mà cả đầu tư vào nghiên cứu cũng thiếu”, giáo sư Lê Huy Hàm, nguyên Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp và là một trong những đồng tác giả công trình, nhận xét về vị trí của cây sắn qua lịch sử 50 năm tồn tại một cách bền bỉ của nó bên cạnh những loại cây lương thực khác.          Số phận long đong của cây sắn khiến cho việc đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu trên loại cây trồng này chưa được các nhà quản lý thực sự chú trọng, dù những đề xuất của các nhà khoa học đều xoáy quanh những vấn đề thiết thực cho cây sắn: giống, đất trồng, sâu bệnh, phương thức canh tác…         Thân phận “chiếu dưới”     Có lẽ, không ai ở Việt Nam xa lạ với cây sắn. Giáo sư Lê Huy Hàm cho biết “Ngày xưa, các cụ lấy sắn cắm làm rào giậu, sau để đấy vài năm moi lên là có củ. Nó dễ như thế, cắm xuống không chăm sóc mà vẫn có ăn, không cây nào được như nó cả. Năm nay được giá thì thu hoạch ngay, nếu không được giá thì cứ để nguyên đấy, sang năm đào lên vẫn không hỏng”. Đặc tính dễ thích nghi riêng có khiến loại cây trồng của người nghèo này được người nông dân tận dụng cả những diện tích rất nhỏ, trồng phổ biến ở trên nhiều vùng khác nhau, từ trung du miền núi, cao nguyên đến đồng bằng.    Tuy vậy, trước những năm 1990, sắn không được coi là một loại cây lương thực có giá trị kinh tế cao bởi chủ yếu củ sắn sau khi được đào lên đều trải qua công đoạn chế biến rất đơn giản thành sắn luộc hoặc bột sắn, nguyên liệu làm một số loại bánh trái truyền thống. “Với giống ‘sắn tàu’, ‘sắn nếp’ sẵn có, năng suất của sắn chỉ ở mức 5 đến 7 tấn củ/ha. Lúc đó chúng ta chưa có công nghệ chế biến nên sắn củ chưa biến thành sản phẩm đáng giá gì cả, chủ yếu phơi khô và ăn tươi”, giáo sư Lê Huy Hàm giải thích vì sao vào giai đoạn đó, sắn mới chỉ là loại cây ‘bên lề’ danh sách cây lương thực quan trọng.  Thân phận của cây sắn chỉ bắt đầu thay đổi vào đầu những năm 1990 với sự nhập cuộc của Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) – một thành viên thuộc Nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (CGIAR). CIAT đã phối hợp với nhiều đơn vị nghiên cứu của Việt Nam nhập một số giống sắn mới có năng suất cao hơn vào Việt Nam. “Sự phát triển của các giống mới đã đưa năng suất trung bình của cả nước lên tới khoảng 19 tấn/ha/năm, trong đó ở các tỉnh miền Nam như Tây Ninh chẳng hạn, năng suất còn lên tới hơn 30 tấn/ha/năm. So với trước thì tình hình đã khác hẳn, việc trồng sắn trở nên có hiệu quả kinh tế hơn”, ông nói. Đây là lý do để diện tích trồng sắn của Việt Nam đã tăng lên: trên toàn quốc có 270 địa điểm thuộc 43 tỉnh thành trồng sắn với 128 giống khác nhau.      Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ (Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam) đang xem xét các cây sắn trong phòng thí nghiệm. Nguồn: nongnghiep.vn  Trong cuộc trò chuyện, nhiều lần ông Lê Huy Hàm nhắc đến giai đoạn hoàng kim của cây sắn vào những năm 2000 – 2010. Nhờ những đột biến về sản lượng thu hoạch và sự phát triển của các công nghệ chế biến mới ở Việt Nam, tinh bột sắn trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành như công nghiệp thực phẩm (mì chính, bánh kẹo…), công nghiệp giấy (nguyên liệu tạo chất bao phủ bề mặt, giấy không tro, tã giấy…), công nghiệp khai khoáng (tuyển nổi quặng, dung dịch nhũ tương khoan dầu), công nghiệp hóa mỹ phẩm (đồ trang điểm, phụ gia xà phòng, kem dưỡng da, tá dược…), công nghiệp xây dựng (chất kết dính nhiều loại vật liệu, phụ gia sơn…), công nghiệp dệt (hồ sợi, in màu…)… Bên cạnh việc cung cấp khoảng 30% tổng lượng sắn cho thị trường trong nước, sắn còn được xuất khẩu đi nước ngoài. Vào năm 2012, khi đem về cho Việt Nam nguồn thu 1,35 tỷ USD từ xuất khẩu, chủ yếu dưới dạng tinh bột và sắn lát, sắn chính thức trở thành một trong năm loại cây xuất khẩu quan trọng, đem lai nguồn thu trên một tỷ đô la cho Việt Nam cùng với lúa gạo, cà phê, cao su, điều2. “Nhờ đó, Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan, về xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn. Trồng sắn trở nên kinh tế hơn, thậm chí ở thời kỳ ‘hoàng kim’ của sắn, người dân còn nhổ cà phê đi trồng sắn”, giáo sư Lê Huy Hàm kể lại thời khắc ngắn ngủi mà cây sắn được đánh giá cao.    Vào giai đoạn phát triển nóng của sắn, người trồng đã nhanh chóng mở rộng diện tích bằng nhiều cách, trong đó có cả việc xâm phạm đất rừng. Theo dẫn chứng từ cuộc tọa đàm “Phát triển sắn và bảo vệ rừng ở Việt Nam: Thực trạng và ý nghĩa về chính sách” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Tổ chức Forest Trends tổ chức vào năm 2015, hơn 2.200 ha đất lâm nghiệp trong ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (Tánh Linh, Bình Thuận) bị phá để lấy đất trồng các loại cây trọng điểm như cao su, sắn 3.      Giống là vấn đề quan trọng với những cây trồng chủ yếu là giống lai như sắn bởi nếu không đầu tư nghiên cứu liên tục, các giống sắn sẽ nhanh chóng thoái hóa theo thời gian.      Tuy nhiên, niềm vui về cơ hội đưa sắn khỏi vị trí “chiếu dưới” kéo dài không lâu do các diện tích trồng sắn bị thu hẹp lại do cơ quan quản lý và cơ quan truyền thông đưa ra cảnh báo về việc trồng sắn gây bạc màu đất, bằng chứng là những nơi trồng sắn sau 4 vụ thì đất bị cạn kiệt dinh dưỡng, không trồng được cây khác. “Kết luận như vậy là cảm tính, chưa căn cứ vào nghiên cứu nào cả. Cây trồng nào cũng lấy đi dinh dưỡng của đất, muốn kết luận sắn làm nghèo đất thì phải đối chứng với các loại cây khác, phân tích hàm lượng dinh dưỡng của đất trước và sau khi trồng”, giáo sư Lê Huy Hàm nhận xét về nỗi hàm oan của cây sắn trong quá khứ. Theo giải thích của ông, mọi người đổ oan cho cây sắn là do “thứ nhất thấy tán nó không phủ kín đất nên bảo đất dễ bị rửa trôi, thứ hai là cứ chỗ đất cằn nhất, dốc nhất thì người ta cắm cành sắn vào, thành ra họ tưởng đất cằn và bạc màu là do sắn”.    Vào thời điểm đó, những tiếng nói ngược lại với số đông đều lạc lõng, không được ai để tâm. “Hôm có hội nghị về sắn trên Phú Thọ, chị giám đốc một trung tâm khuyến nông ở Phú Thọ bảo ‘từ tấm bé, mảnh ruộng trước nhà tôi đã trồng sắn rồi. Bây giờ nhà tôi trồng sắn vẫn có ăn thì bạc màu chỗ nào, đấy là người bạc chứ không phải đất bạc’”, ông kể lại và rút ra một nhận xét thấm thía “Người ta đã ‘đổ lỗi’ cho cây sắn quá nhiều…”.      Chị Nguyễn Thị Hoa ở xã Hòa Sơn, huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận) buồn rầu với cảnh ruộng sắn bị nhiễm bệnh khảm lá. Nguồn: nhandan.vn  Phải đến cuối năm 2015, cây sắn mới được “rửa oan” qua lời nhận lỗi của ông Cao Đức Phát – lúc đó là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT – trong một hội nghị về sắn: “Sắn là cây trồng đem lại cơ hội lớn để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân. 10 năm trước, tôi đã ký chỉ thị yêu cầu các địa phương kiểm soát diện tích trồng sắn vì hại đất. Tuy nhiên, vài năm gần đây, chúng tôi đã khẳng định cây sắn không có lỗi, do đó chúng ta phải có cách tiếp cận mới về cây sắn để có cách ứng xử phù hợp”.     Những đầu tư cần thiết cho cây sắn     Công trình nghiên cứu về sự tồn tại của cây sắn ở Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á của các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế cho thấy một bức tranh khá rộng và đầy đủ về những hoạt động nghiên cứu để phát triển cây sắn một cách bền vững cũng như cách thức đầu tư của từng chính phủ. Trong các hoạt động nghiên cứu về cây sắn, đặc biệt phát triển các giống sắn sản lượng cao, ở phần lớn các quốc gia châu Á đều có sự hỗ trợ của CIAT. “Nghiên cứu về sắn thì mình vẫn còn làm chưa nhiều, chủ yếu là các viện nghiên cứu quốc tế, trung tâm nghiên cứu quốc tế như CIAT họ rả rích làm từ những năm 1980, 1990”, giáo sư Lê Huy Hàm kể về những tư liệu mà ông và đồng nghiệp thu thập trong quá trình thực hiện đề tài này.    Số phận long đong của cây sắn khiến cho việc đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu trên loại cây trồng này chưa được các nhà quản lý thực sự chú trọng, dù những đề xuất của các nhà khoa học đều xoáy quanh những vấn đề thiết thực cho cây sắn: giống, đất trồng, sâu bệnh, phương thức canh tác… “Tôi còn nhớ năm 2008, anh Triệu Văn Hùng lúc bấy giờ là Vụ trưởng Vụ KH&CN (Bộ NN&PTNT) đọc thống kê xuất khẩu sắn là 800 triệu USD và bảo ‘có lẽ cây nào ít đầu tư thì hiệu quả cao hơn’”, giáo sư Lê Huy Hàm kể về hiểu lầm đáng tiếc của nhà quản lý với cây sắn, dù trong đó tiềm ẩn một sự thật: sự thừa nhận của nhà quản lý về việc chưa quan tâm đầu tư cho cây sắn.    Tuy nhiên, ông chỉ ra một hiểu lầm của nhà quản lý: những gì đạt được bước đầu của Việt Nam với cây sắn không phải ngẫu nhiên mà đều do được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài, “người ta đã len lỏi làm từ lâu rồi, mình được hưởng lợi từ những cái đấy”, ví dụ các giống sắn cao sản được trồng ở Việt Nam đều là giống ngoại nhập. Trong công bố cũng nêu rõ, 85% các khu vực trồng sắn ở Việt Nam đều được trồng bằng những giống được cải tiến, trong đó giống KM94 (KU50) từ Thái Lan và đưa vào Việt Nam từ năm 1992, chiếm ưu thế với 45% diện tích canh tác.    So với nhiều người, quãng thời gian tập trung vào cây sắn của giáo sư Lê Huy Hàm chưa nhiều nhưng cũng tạm đủ để ông rút ra một kết luận “Nói chung là kinh phí thiếu, không những thiếu cho đầu tư phát triển cây sắn mà với các công việc nghiên cứu KH&CN về cây sắn đều thiếu cả. Chúng tôi muốn làm nghiên cứu nhưng hầu như ít được phê duyệt, muốn làm thì phải hợp tác quốc tế, kết nối được thì được”.    Trong bối cảnh chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng, các nhà khoa học Việt Nam vẫn cặm cụi làm các đề tài nghiên cứu “nhân giống sắn, chuyển gene sắn, nhập các giống sắn về để thích nghi chuyển giao cho các nước” thông qua những hợp tác quốc tế với CIAT và Viện nghiên cứu Hóa Lý RIKEN (Nhật Bản), theo giáo sư Lê Huy Hàm. “Hiện nay ngay tại Viện Di truyền nông nghiệp, chúng tôi có phòng thí nghiệm sinh học phân tử cây sắn có đủ nhân lực và thiết bị, một cơ sở nghiên cứu hợp tác ba bên là Viện Di truyền, CIAT và RIKEN”. Công trình xuất bản trên Breeding Science Preview là một kết quả hợp tác như vậy.    May mắn là trong thời gian gần đây, ông và cộng sự đã được Bộ NN&PTNT giao một đề tài nghiên cứu về khảm lá sắn (Sri Lanka Cassava Mosaic Virus SLCMV), một loại bệnh nguy hiểm lan truyền qua trung gian bọ phấn trắng (Bemisia tabaci) và qua hom giống lấy từ cây bị bệnh. Thời gian thực hiện sẽ kéo dài trong vòng 5 năm và bắt đầu từ năm 2020. “Trước kia chúng ta vẫn trồng quảng canh, giờ trồng thâm canh, bệnh tật trên sắn tăng lên gấp 4-5 lần, nhiều bệnh mới xuất hiện. Nguyên nhân là trước kia một cánh đồng chỉ có vài ba thửa trồng sắn, nếu nó bị bệnh không lan rộng được nhưng bây giờ cả cánh đồng trồng sắn, một nơi bị bệnh thì nó lây hết ra. Thứ hai là bây giờ trao đổi quốc tế nhiều lắm, các nhà máy chế biến của mình mua sắn từ Campuchia về để chế biến ở Tây Ninh, nếu nguồn bị bệnh thì bệnh cũng theo về”, ông Lê Huy Hàm nói về những rủi ro có thể đến với cây sắn. Không riêng gì Việt Nam, những quốc gia trồng sắn ở châu Á hay châu Phi cũng đều đau đầu vì các loại bệnh như vậy mà chưa có được cách xử lý.    Đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong câu chuyện đầu tư nghiên cứu cây sắn để hạn chế được những rủi ro trong quá trình canh tác và đem lại một tương lai bền vững hơn cho cây sắn. “Chúng ta phải đầu tư nghiên cứu theo nhiều hướng như chọn tạo những giống sắn mới có năng suất cao, hàm lượng tinh bột lớn, kháng các loại sâu bệnh hoặc đầu tư vào công nghệ chế biến hiệu quả và ít ô nhiễm hơn”, giáo sư Lê Huy Hàm cho biết. Giống là vấn đề quan trọng với những cây trồng chủ yếu là giống lai như sắn bởi nếu không đầu tư nghiên cứu liên tục, các giống sắn sẽ nhanh chóng thoái hóa theo thời gian. “Hiện nay các giống sắn cũ đang bị giảm năng suất và hàm lượng tinh bột. Nhiều loại dịch bệnh mới xuất hiện trên cây sắn như bệnh chổi rồng, bệnh khảm lá sắn cũng gây thiệt hại nặng nề, một khi đã mắc thì chỉ có cách tiêu hủy toàn bộ. Cây sắn mắc bệnh này sẽ không có củ hoặc cho củ nhỏ, hàm lượng tinh bột thấp”, ông Phạm Vũ Hà, Tổng thư ký Hiệp hội sắn Việt Nam cho biết.    Hiện tại, mọi người đều mong đợi những ứng xử với cây sắn cần được thay đổi như câu nói của nguyên Bộ trưởng Cao Đức Phát bởi nếu cây sắn có một tương lai tươi sáng hơn thì cuộc sống của hàng triệu người trồng sắn và sự thịnh vượng của ngành chế biến các sản phẩm từ sắn sẽ ổn định hơn. Đôi khi, điều mà những người trồng sắn cần không chỉ là một giống sắn tốt mà cần cả kỹ thuật canh tác. Ví dụ một bài viết năm 2008 về cây sắn trên blog của TS. Hoàng Kim, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về cây sắn ở Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, từng nhận được rất nhiều câu hỏi về kỹ thuật canh tác của nhiều người trồng sắn ở Huế, Gia Lai,… Mãi tới 10 năm sau, những độc giả mới vẫn đặt ra những câu hỏi y hệt.    Rõ ràng, cây sắn đang chờ đợi một “phương thuốc thần” từ khoa học để thoát khỏi thân phận “cây của người nghèo”, điều mà khoa học có thể góp phần giải quyết nếu có sự đầu tư từ nhà nước.  —  1.https://www.jstage.jst.go.jp/article/jsbbs/advpub/0/advpub_18180/_pdf/-char/en  https://congthuong.vn/nam-2012-kim-ngach-xuat-khau-nong-lam-thuy-san-dat-khoang-2754-ty-usd-12604.html  2.https://www.moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/tinh-hinh-san-xuat-xuat-khau-san-nam-2013-102827-22.html  3.http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2015-07-17/nganh-nong-nghiep-de-nghi-ngan-chan-tinh-trang-san-can-rung-22805.aspx?google_editors_picks=true  Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến sắn hiện nay đang gặp khó khăn về nguyên liệu đầu vào. Cả nước hiện có 120 nhà máy sản xuất tinh bột sắn với công suất hơn 15 triệu tấn, trong khi đó tổng sản lượng sắn trung bình mỗi năm là 8,8 triệu tấn củ tươi/năm, theo báo cáo của Hiệp hội Sắn Việt Nam năm 2018. Như vậy, công suất chế biến đã vượt gần gấp đôi so với nguồn nguyên liệu. Theo ông Phạm Vũ Hà, phần lớn các nhà máy chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam phải nhập khẩu sắn lát từ Lào và Campuchia. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ bởi tinh bột sắn chiếm 72% cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm sắn của Việt Nam. “Cây sắn chưa được đầu tư tương xứng với giá trị mà nó mang lại cho kinh tế”, ông Phạm Vũ Hà nhận xét.  Bản thân Hiệp hội sắn cũng đang nỗ lực xoay xở. Hiện nay 90% sản phẩm sắn của Việt Nam được xuất sang Trung Quốc, việc phụ thuộc vào một thị trường khiến giá sắn dễ bị biến động. Trước đây, Trung Quốc là một thị trường dễ tính nhưng thị trường này đang ngày càng cạnh tranh hơn. Họ tăng cường nhập khẩu sắn của Lào, Campuchia, đồng thời siết chặt các quy định về bao bì, nhãn mác, thông tin sản phẩm sắn của Việt Nam. “Việc mở rộng thị trường thị trường ngoài Trung Quốc là yêu cầu bắt buộc, muốn vậy, phải nắm bắt được thông tin thị trường, tùy theo nhu cầu để nâng cao chất lượng, phát triển các sản phẩm chế biến sâu từ sắn. Bước đầu chúng tôi đã xây dựng tiêu chuẩn quốc gia TCVN về tinh bột sắn năm 2014, hiện nay chúng tôi đang nghĩ cách, làm thế nào để có được cơ chế, trích một phần nguồn thu từ xuất khẩu sắn để tái đầu tư lại cho ngành sắn như hỗ trợ người trồng sắn, thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu”, ông Phạm Vũ Hà cho biết.    Author                Thanh Nhàn – Thanh An        
__label__tiasang CERN – Chặng đường 60 năm      Nhân dịp Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu (CERN) kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, một vài người bạn đề nghị tôi chia sẻ ký ức của mình về những ngày tươi đẹp trong hơn 30 năm làm việc tại cơ quan này. Đúng là tôi đã vô cùng may mắn được sống và làm việc tại một môi trường như vậy trong suốt những ngày tháng ấy. CERN đã cho tôi rất nhiều mà những điều tôi đem lại cho CERN lại rất ít, bởi vậy tôi có thể ca ngợi sự ưu việt của tổ chức này mà không e ngại người khác cho rằng mình tự phụ.      Điều đầu tiên đến trong tâm trí tôi khi nhớ về CERN là phẩm chất tuyệt vời của những người tôi được gặp ở đây, từ các sinh viên đến những nhà khoa học đoạt giải Nobel, từ các kỹ sư đến những nhà quản lý, tất cả đều có chung một thái độ nghiêm túc cả về học thuật lẫn đạo đức, cùng cống hiến hết mình cho thành công của tổ chức, và cùng có chung một tình yêu dành cho khoa học.   Vào thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, tôi may mắn được tham gia vào một trong những thí nghiệm thành công nhất mà CERN từng thực hiện, chính là thí nghiệm đã khám phá ra các hạt boson truyền tương tác yếu và những tia hạt tương tác mạnh (hadronic jets), qua đó cho thấy cấu trúc bên trong của các hạt proton là các parton. Cùng tham gia nỗ lực này với chúng tôi là những sinh viên và nghiên cứu sinh sau tiến sỹ trẻ tuổi giỏi nhất trên khắp thế giới. Cách đây không lâu, vào ngày 4/7/2012, thật xúc động khi chúng tôi được chứng kiến hai người trong số họ, Fabiola Gianotti và Joe Incandela, lúc này là phát ngôn viên của thí nghiệm ATLAS và CMS, báo cáo về khám phá hạt Higgs boson sử dụng Máy gia tốc Đối chùm Hạt tương tác mạnh (Large Hadron Collider).        Chúng ta không nên phấn đấu vì vinh quang, mà nên vì những mục tiêu cao quý hơn, như tự do, công bằng hay sự xuất sắc về chuyên môn; vinh quang sẽ tự tìm đến khi ta thành công, như một phần thưởng miễn phí kèm theo, nhưng ta không nên coi vinh quang là mục đích.        Tôi cũng có may mắn được làm việc cùng những nhà khoa học sau này đoạt giải Nobel như Carlo Rubbia, Jack Steinberger, Burton Richter, Georges Charpak, đồng thời được kết bạn với nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel khác như Jim Cronin, Leon Lederman, Tiny Veltman, Martin Perl hay Sam Ting. Gần gũi với họ thật là một trải nghiệm đáng giá, không chỉ vì lợi ích rõ ràng khi được làm việc cùng với họ, mà còn bởi sự giải thiêng kèm theo đó. Ý tôi là, những ai không may mắn được làm việc bên các nhà khoa học danh tiếng này thường hình dung về họ như những vị thần cao vời, và điều đó không hề có lợi cho các sinh viên, khiến họ nghĩ rằng ở những vị thần này có gì đó vô cùng đặc biệt và việc trở thành giống như họ là điều bất khả thi. Nhưng khi đã có dịp làm việc cạnh các nhà khoa học này, ta sẽ nhận ra họ cũng là người giống như tất cả chúng ta, ngoại trừ thực tế là họ có thái độ nghiêm túc hơn, quyết tâm hơn để đạt được thành công, cống hiến nhiều hơn trong công việc, hăng say hơn trong nỗ lực giải mã các bí mật của tự nhiên, và sẵn sàng lao động hết mình hơn.   Không phải là những thần tượng mà các nhà khoa học đó là những tấm gương sáng để chúng ta học hỏi, và chính điều ấy khiến họ đáng được chúng ta tôn trọng hơn so với các vị thần thánh cao vời. Để làm nên những khám phá thay đổi lịch sử của ngành vật lý đòi hỏi rất nhiều may mắn, nhưng phẩm chất khác biệt mang tính quyết định ở các nhà khoa học này là họ không bỏ lỡ cơ hội. Đó là khi nảy sinh những sai lệch giữa dự báo của lý thuyết hiện có với kết quả thực tiễn, họ không chần chừ tạm gác những vấn đề đó sang một bên mà quyết tâm theo đuổi đến cùng để tìm ra bí ẩn đằng sau.   Rất nhiều người bạn và đồng nghiệp tuyệt vời của tôi đến từ khắp nơi trên thế giới. Làm việc trong một môi trường quốc tế như vậy khiến chúng tôi phần nào trở thành những công dân toàn cầu. Khi còn là sinh viên, khẩu hiệu của trường đại học nơi tôi học là “Vì Tổ quốc, Khoa học và Vinh quang”. Nhưng không lâu sau, tôi nhận ra sự phù phiếm đằng sau cái gọi là vinh quang; chúng ta không nên phấn đấu vì vinh quang, mà nên vì những mục tiêu cao quý hơn, như tự do, công bằng hay sự xuất sắc về chuyên môn; vinh quang sẽ tự tìm đến khi ta thành công, như một phần thưởng miễn phí kèm theo, nhưng ta không nên coi vinh quang là mục đích. Sống và làm việc tại CERN, tôi nhận ra phụng sự Tổ quốc cũng không còn là mục tiêu chính yếu; bởi ở nơi đây tôi đã sát cánh cùng rất nhiều người bạn tốt là những đồng nghiệp từ nước Đức, kẻ thù một thời của thế hệ chúng tôi trong Chiến tranh thế giới thứ II, cũng là kẻ thù gây ra những hi sinh của ông cha chúng tôi trong cuộc đại chiến trước đó. Làm việc bên họ, chúng tôi nhận ra Tổ quốc thực sự của chúng ta là Trái đất chứ không phải là một quốc gia riêng lẻ nào. Tất nhiên, khi ta mang lại lợi ích cho Trái đất thì các quốc gia cũng đều được lợi. Khi tôi làm việc tại CERN, tác động của toàn cầu hóa chưa rõ ràng như bây giờ; sự hình dung về một siêu quốc gia của chúng tôi cũng chỉ mới dừng lại ở phạm vi châu Âu. Những người sáng lập ra CERN tin tưởng mạnh mẽ vào một châu Âu thống nhất và chúng tôi cùng chia sẻ với giấc mơ của họ. Chúng tôi không hề nghĩ đến việc châu Âu có thể đem lại cho mình những gì – khác với cách nghĩ phổ biến của các nước châu Âu ngày nay– mà chỉ nghĩ tới những gì bản thân mình có thể cống hiến cho châu Âu, nghiễm nhiên coi rằng tất cả những gì có ích cho châu Âu thì sẽ đều có ích cho chúng tôi.   Tất nhiên tình yêu dành cho Tổ quốc riêng của mỗi người cũng xứng đáng được ca ngợi, tương tự như tình yêu mỗi người dành cho miền quê, ngôi làng, hay gia đình riêng của mình; đó là những cộng đồng sinh ra chúng ta, được xây dựng bằng máu và nước mắt, là nền tảng để chúng ta sống một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng tình yêu quê hương đất nước không nên đi kèm theo sự căm ghét các quốc gia láng giềng, các ngôi làng láng giềng, hay những gia đình láng giềng. Khi xuất hiện sự căm ghét thì tất yếu sẽ dẫn đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tác nhân của những trang sử đen tối nhất trong lịch sử loài người.    Một giá trị quan trọng khác của CERN đó là tổ chức này đã tập hợp nhiều người thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau lại gần nhau, sống trong môi trường đó chúng tôi được dạy về sự tôn trọng lẫn nhau, không có sự phân biệt giữa các nhà vật lý, các kỹ sư, hay các nhà quản lý. Là một người làm về thực nghiệm nhưng tôi rất thân với các nhà lý thuyết như Maurice Jacob, Jacques Prentki, John Ellis. Mỗi khi một câu hỏi nào đó, tôi có thể thoải mái hỏi họ tại phòng làm việc hay tìm đến căng tin của CERN, vốn nổi tiếng là nơi giao lưu của nhiều kiểu người có kỹ năng và tài năng khác nhau. Những “nhà vật lý máy móc” (“machine physicists”) là biệt danh chúng tôi thường gọi những người phụ trách thiết kế, chế tạo, vận hành, và bảo dưỡng các cỗ máy gia tốc, là một cộng đồng đặc biệt với các tài năng xuất chúng như Simon van der Meer hay John Adams.         Sống và làm việc tại CERN, tôi nhận ra phụng sự Tổ quốc cũng không còn là mục tiêu chính yếu… Chúng tôi nhận ra Tổ quốc thực sự của chúng ta là Trái đất, không phải là một quốc gia riêng lẻ nào. Tất nhiên, khi ta mang lại lợi ích cho Trái đất thì các quốc gia cũng đều được lợi.        CERN còn có một phẩm chất riêng biệt mà tôi chưa từng thấy ở những nơi khác, đó là chất lượng bộ máy quản lý. Là một tổ chức còn non trẻ nên sự quan liêu với những quy định trói buộc thường gắn với các tổ chức già nua chưa có cơ hội để phát triển tại CERN. Do đó, CERN có một bộ máy quản lý nhỏ gọn, với một bộ nội quy không quá một trăm trang, nhưng hoạt động rất hiệu quả. Các hoạt động trong tổ chức được vận hành trơn tru dưới tay các nhà quản lý, trong mọi lĩnh vực, từ tài chính đến nhân sự, hoạt động của họ đều xuất phát từ tinh thần phục vụ tận tụy. Với tinh thần đó, họ không tuân thủ các quy định một cách máy móc như các robot, mà thường vận dụng chúng một cách thông minh. Điều đó khiến chúng ta không khỏi liên tưởng tới đời sống hằng ngày, nơi những con người tuyệt vời nhất thường chỉ mong muốn làm công việc phục vụ cho cộng đồng, trong khi những người tầm thường lại thích thể hiện quyền lực của mình bằng cách hành xử như những bạo chúa nhỏ mọn.  Trong bảy năm, tôi được giao làm giám đốc nghiên cứu trong ban giám đốc của CERN, và tôi được chứng kiến một tinh thần phụng sự rất đặc thù, yếu tố tạo thành động lực trong công việc của chúng tôi ở đây. Một trong các nhiệm vụ của tôi là tham dự các cuộc họp Hội đồng, trong đó mỗi quốc gia thành viên có hai đại biểu, gồm một nhà khoa học và một nhà quản lý, có chức năng định hướng cho hoạt động của CERN. Tham dự các cuộc họp này là một cơ hội khác để tôi được gặp những con người tuyệt vời, thường là các nhà khoa học hoặc các nhà ngoại giao, tất cả đều có chung một mục tiêu: hỗ trợ cho công cuộc nghiên cứu khoa học tiến triển. Các nhà quản lý khoa học tốt là những người làm việc với tinh thần này, điều đó có nghĩa là không thiên vị khoa học một cách thiếu công bằng so với các lĩnh vực hoạt động khác mà luôn coi tri thức như một mục tiêu đấu tranh cao quý.  Đó quả là những ngày hạnh phúc. Trong số ba thành tố trong khẩu hiệu ở trường đại học của tôi, Khoa học thực sự là mục tiêu được chúng tôi cống hiến cuộc đời, thời gian, và những nỗ lực của mình. Trong thời gian tôi làm việc tại CERN, ngành vật lý hạt đã trải qua một cuộc cách mạng cơ bản với sự ra đời của Mô hình Chuẩn. Các nhà khoa học thế hệ tôi đã rất may mắn được chứng kiến một tiến trình khám phá tri thức tự nhiên kỳ diệu như vậy trong cuộc đời khoa học của mình. Và cũng thật đáng kể khi tiến trình này không chỉ có ở ngành vật lý hạt mà thậm chí còn diễn ra ở mức độ cao hơn với các ngành thiên văn và khoa học sự sống. Kết quả là ngày nay, trong ba ngành này, mặc dù vẫn còn nhiều câu hỏi khoa học chưa tìm ra lời giải, nhưng không có câu hỏi nào có thể coi là vĩnh viễn không thể giải đáp. Thế giới quan của con người ngày nay đã thay đổi đáng kể. Chúng tôi quả là may mắn khi có cơ hội được góp phần nhỏ bé vào tiến trình phát triển đó của khoa học, và hi vọng rằng thế hệ các nhà khoa học tiếp theo cũng có được may mắn như chúng tôi.                             PHẠM TRẦN LÊ dịch        Carlo Rubbia              Nhà vật lý hạt và phát minh người Ý Carlo Rubbia, sinh năm 1934, đã giành giải Nobel Vật lý năm 1984 cùng Simon van der Meer cho nghiên cứu dẫn đến phát hiện về hạt W và hạt Z tại CERN.               Tốt nghiệp đại học tại Pisa, năm 1957 Carlo Rubbia chuyển sang Mỹ và bắt đầu làm thí nghiệm về các tương tác yếu tại Đại học Columbia. Năm 1970, ông được chỉ định chức danh Giáo sư Vật lý Higgins tại Đại học Harvard, nơi ông giảng dạy trong 18 năm, song song với công việc nghiên cứu tại CERN. Năm 1989, ông được chỉ định là Tổng Giám đốc Phòng thí nghiệm CERN.               Các nghiên cứu của GS Rubbia tập trung vào vấn đề cung cấp năng lượng cho tương lai và đặc biệt chú trọng phát triển các công nghệ mới cho những nguồn năng lượng tự tái tạo, ví dụ như phương pháp làm tăng mật độ năng lượng mặt trời (method for concentrating solar power) ở nhiệt độ cao, hay máy khuếch đại năng lượng – một phương pháp sản xuất năng lượng nguyên tử an toàn, sử dụng các công nghệ tăng tốc hiện đại.              Hiện tại, Carlo Rubbia đang giữ chức danh Giám đốc Khoa học của Viện Nghiên cứu Bền vững Cấp cao tại Potsdam, Đức.    Georges Charpak              Nhà vật lý người Pháp Georges Charpak (1924-2010) là người gần đây nhất (1992) giành giải Nobel Vật lý một mình cho sáng chế và sự phát triển các máy dò hạt của ông, đặc biệt là buồng tỷ lệ nhiều dây (multiwire proportional chamber) khi nghiên cứu tại CERN và ESPCI ParisTech.              Sau khi nhận bằng Tiến sĩ Vật lý nguyên tử tại Collège de France, từ năm 1959 George               Charpak bắt đầu làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS) và sau đó là CERN tại Geneva cho đến khi nghỉ hưu năm 1991. Các công trình nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu vào Vật lý hạt nhân và Vật lý hạt năng lượng cao.               Là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ năm 1985, GS Charpak cổ động mạnh mẽ cho năng lượng nguyên tử.   Jack Steinberger              Sinh năm 1921, nhà vật lý gốc Do Thái Jack Steinberger, cùng với Leon Lederman và Melvin Schwartz, đã giành giải Nobel Vật lý năm 1988 cho phương pháp chùm neutrino và chứng minh được cấu trúc song tuyến (doublet structure) của lepton thông qua sự khám phá ra hạt neutrino muon.              Steinberger nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Chicago năm 1948 với khám phá rằng các hạt muon của tia vũ trụ phân rã thành ba chứ không phải hai hạt. Phát hiện này đã đặt nền tảng thí nghiệm cho khái niệm về một tương tác yếu phổ quát, một trong bốn lực cơ bản trong tự nhiên.               Sau khi làm việc tại Viện Cao học Princeton và Đại học California, Berkeley, Steinberger chuyển đến Đại học Columbia năm 1950, nơi ông nghiên cứu và giảng dạy trong suốt 18 năm.               Đến năm 1968, GS Steinberger bắt đầu làm việc tại CERN, Thụy Sĩ. Tại đây ông thực hiện thí nghiệm sử dụng phát minh buồng tỷ lệ nhiều dây của Charpak và đạt được một số kết quả quan trọng về các kaon trung tính vào đầu những năm 1970, ví dụ như quan sát sự phân rã hiếm của kaon trung tính thành một cặp muon, sự phụ thuộc vào thời gian của sự bất đối xứng cho những phân rã semileptonic, và sự đo đạc chính xác hơn của khác biệt về khối lượng của kaon trung tính.             Author                Quản trị        
__label__tiasang CERN đã cho tôi nhiều  khoảnh khắc đáng nhớ      Là nhà khoa học Việt Nam liên tục tham gia các thí nghiệm ở CERN – phòng thí nghiệm vật lí hạt lớn nhất thế giới, từ năm 1990 đến nay, TS Nguyễn Mậu Chung, Khoa Vật lý, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, chia sẻ với Tia Sáng những câu chuyện về quãng thời gian ông gắn bó với CERN và quan điểm của ông về việc Việt Nam có nên tham gia quy chế thành viên của CERN hay không.      Tất cả đều bình đẳng trước khoa học  Ông có thể kể cho độc giả của Tia Sáng biết công việc của ông gắn bó với CERN như thế nào không?    Năm 1990, tôi nhận học bổng của Liên bang Thụy Sỹ sang học tập tại thành phố Lausanne. Sau một năm thử thách, tôi chính thức được chấp nhận làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Bách khoa Liên bang Lausanne (EPFL) với đề tài luận án tiến sĩ nhằm xác định bằng thực nghiệm hàm phân bố quark và gluon trong proton và đánh giá hằng số tương tác mạnh thông qua việc phân tích số liệu được ghi nhận bởi thí nghiệm UA6 khi proton va chạm với antiproton năng lượng 450 GeV trong máy gia tốc SppS tại CERN. Kể từ đây con đường nghiên cứu khoa học của tôi gắn bó với CERN.   Sau khi bảo vệ tiến sĩ, tôi tiếp tục công việc của mình tại EPFL, đồng thời tham gia thí nghiệm NOMAD (Neutrino Oscillation MAgnetic Detector) tại CERN nhằm phát hiện dao động neutrino bằng cách sử dụng chùm neutrino muon của CERN. Phát hiện dao động neutrino cho phép xác định khối lượng neutrino, góp phần làm sáng tỏ bản chất của vật chất tối trong vũ trụ.   Từ năm 2000, tôi tham gia thí nghiệm LHCb (Large Hadron Collider beauty), hoạt động trong nhóm Lausanne, nhằm nghiên cứu bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất.   LHCb là một trong bốn thí nghiệm chủ yếu thực hiện trên LHC – máy gia tốc lớn nhất trên thế giới hiện nay, có chu vi 27 km – và các chùm proton va chạm đối đầu với năng lượng trong hệ khối tâm 9 TeV. Thí nghiệm bắt đầu thu nhận số liệu từ năm 2009 và hiện chúng tôi đang phân tích số liệu thu nhận trong năm 2012. Năm nay, LHC tạm dừng để sửa chữa và nâng cấp thiết bị, và sẽ khởi động lại với năng lượng 14 TeV. Thí nghiệm LHCb sẽ hoạt động ít nhất 15 năm, và đang có kế hoạch nâng cấp cảm biến (detector). Kết quả của thí nghiệm sẽ cho phép loại bỏ sự sai khác giữa Mô hình Chuẩn và vũ trụ học về bất đối xứng vật chất và phản vật chất.   Thách thức chủ yếu khi làm việc ở CERN là gì, thưa ông?  Thách thức lớn nhất ở đây là kiến thức. Vì các thiết bị thí nghiệm có kích thước lớn, phần nhiều lại là đơn chiếc, nên chúng tôi phải tham gia công việc chế tạo, thử nghiệm, lắp đặt, vận hành và thu nhận số liệu. Số liệu thu được cũng khổng lồ nên chúng tôi bắt buộc phải thành thạo việc lập trình để phân tích số liệu, rút ra các kết quả vật lý. Và tất nhiên, quan trọng hơn cả là phải có đủ trình độ chuyên môn vật lý hạt để có thể làm việc với các đồng nghiệp từ nhiều quốc gia khác nhau.   Một khi đã được chấp nhận vào CERN thì bạn sẽ được đáp ứng mọi điều kiện về nghiên cứu khoa học nhưng ngược lại, công việc của bạn phải cho ra kết quả cụ thể. Cùng điều kiện làm việc như nhau nhưng khi người bên cạnh ra kết quả mà mình không ra thì “rất dễ bị tự kỷ”, như một sinh viên của tôi tâm sự.   Bên cạnh đó, trong các thí nghiệm lớn, tinh thần làm việc theo nhóm đóng vai trò hết sức quan trọng vì không ai có thể làm việc một mình. Thí nghiệm đầu tiên tôi tham gia chỉ có 40 người, thí nghiệm thứ hai có khoảng 170 người, còn thí nghiệm LHCb hiện nay có đến 800 người, nếu chúng tôi không cùng chung suy nghĩ thì không thể làm việc với nhau được.  Phải mất khoảng bốn năm, sau khi đã tham gia đầy đủ cả ba công đoạn chủ yếu – mô phỏng thí nghiệm, chế tạo và vận hành thiết bị, và phân tích dữ liệu – tôi mới tự tin bắt nhịp vào công việc và cảm nhận được cái hay khi đọc các tài liệu gốc.     Điều ấn tượng nhất khi làm việc ở CERN là gì, thưa ông?  Điều tuyệt vời nhất là chúng tôi hoàn toàn bình đẳng trước khoa học. Nếu ý kiến của bạn xác đáng, thì dù bạn là ai, ý kiến của bạn cũng được thừa nhận. Và ngược lại, chúng tôi coi là đương nhiên việc ai cũng có thể mắc sai lầm, kể cả những người xuất chúng nhất. Khi làm việc, chúng tôi toàn tâm toàn ý cho công việc nhưng khi đã bước ra ngoài phòng thí nghiệm, chúng tôi không bao giờ nói chuyện vật lý nữa, như một cách để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động. Ở đây bạn cũng sẽ có cơ hội gặp gỡ nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới, trong đó có những người đoạt giải Nobel như Samuel Ting, Carlo Rubbia…  Điều thú vị nữa là, trừ lúc bạn đang tham gia lắp đặt thiết bị hay trực máy để thu nhận số liệu, còn lại bạn hoàn toàn được chủ động với thời gian làm việc của mình. Một số người bạn của tôi thường đến đêm mới đến trung tâm làm việc vì lúc đó máy chủ chạy nhanh nhất.  CERN cũng cho tôi không ít khoảnh khắc đáng nhớ. Chẳng hạn, năm 1995, tại buổi công bố về phát hiện quark top, tôi tình cờ ngồi cạnh một cụ già mặc áo phông quần soóc đặt câu hỏi cực hay. Mãi đến khi kết thúc seminar, tôi mới nhận ra đó chính là Jack Steinberger, nhà vật lý đoạt giải Nobel đầu tiên đến Việt Nam. Ở CERN là vậy, nhìn bề ngoài rất khó biết ai là ai, nhưng khi vào việc, các nhà khoa học lớn đặc biệt đòi hỏi rất cao, và nhiều khi cách góp ý của họ rất dễ gây sốc. Tôi từng chứng kiến một nữ giáo sư cùng nghiên cứu sinh của mình sau khi từ phòng của một nhà vật lý được giải Nobel đi ra thì cả hai đều khóc, vì những gì ông nói đã xóa sạch công sức làm việc của hai thầy trò cả tháng trời, nhưng điều quan trọng là ông ấy đã nói đúng.  Tôi cũng không thể quên ngày tôi còn đang tham gia thí nghiệm NOMAD thì nghe được thông tin không chính thức hiện tượng dao động neutrino mà chúng tôi tìm kiếm trong sáu năm đã được phát hiện bởi thí nghiệm Super Kamiokande tại Nhật Bản. Hầu như tất cả đều bàng hoàng, bản thân tôi và các đồng nghiệp cùng lứa tuổi đều không còn tâm trạng nào để đến phòng thí nghiệm vào ngày hôm sau.   Cái giá để làm việc ở một môi trường khoa học đỉnh cao  Chúng tôi được biết mới đây Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên (Bộ KH&CN) tổ chức họp với một số chuyên gia, trong đó có ông, để bàn về việc liệu Việt Nam có nên tham gia cơ chế thành viên của CERN hay không. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?  CERN được chính thức thành lập từ năm 1954 với mục đích tạo môi trường làm việc cho các nhà khoa học, ngăn chặn việc chảy máu chất xám của châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ II. Ngoài các nước thuộc châu Âu, CERN chỉ kết nạp thành viên hai quốc gia có mối quan hệ văn hóa sâu sắc với lục địa này là Israel và Thổ Nhĩ Kỳ. Bên cạnh đó, CERN có quy chế quan sát viên dành cho các nước không phải thành viên châu Âu với những quy định cụ thể về nghĩa vụ tài chính; đến nay đã có các nước như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Australia… tham gia. Việt Nam là nước đang phát triển, dân số đông, có truyền thống hiếu học, con người cần cù, thông minh nên tôi cho rằng việc Việt Nam tham gia vào hoạt động khoa học của CERN là vấn đề được đặt ra một cách tự nhiên.   Là người gắn bó với CERN nhiều năm, về mặt tình cảm, bản thân tôi cũng rất muốn Việt Nam trở thành quan sát viên của CERN. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của đất nước về tài chính, cơ chế quản lý và nhiều mặt khác, cá nhân tôi thấy việc chúng ta tham gia vào CERN ngay lúc này là không khả thi. Việc này chắc chắn sẽ xảy ra nhưng nên vào một thời điểm thích hợp hơn. Cuộc họp tại Bộ KH&CN cũng ghi nhận nhiều ý kiến trái ngược, nhưng kết luận chính thức sẽ được đưa ra tại một cuộc hội thảo khác trong tương lai với sự tham gia rộng rãi của nhiều nhà quản lý và nhà khoa học.   Nếu trở thành quan sát viên tại CERN, Việt Nam sẽ có nghĩa vụ về tài chính như thế nào đối với tổ chức này?   Nếu trở thành nước quan sát viên, Việt Nam sẽ phải đóng góp một phần cho kinh phí hoạt động của CERN thông qua lệ phí hằng năm – một con số không nhỏ đối với chúng ta. Thêm vào đó, khi tham gia một thí nghiệm, các nước quan sát viên còn phải đóng lệ phí ban đầu cho toàn bộ nhóm và hằng năm phải đóng lệ phí thành viên chính thức cho các nhà khoa học (khoảng 10 nghìn USD/người/năm).   Để dễ hình dung hơn, tôi xin lấy thí dụ như thế này. Sau khi đã trở thành quan sát viên, nếu chúng ta muốn lập nhóm Hà Nội tham gia vào thí nghiệm A, thì phải đóng lệ phí ban đầu cho toàn bộ nhóm Hà Nội, nếu muốn thêm nhóm Bắc Ninh tham gia vào thí nghiệm B cũng phải đóng lệ phí như vậy. Lệ phí này không phải do CERN mà do từng thí nghiệm quy định nên số tiền thay đổi tùy theo mức độ quan trọng và quy mô của thí nghiệm, đối với những thí nghiệm lớn tập trung, lệ phí lên đến vài chục nghìn USD. Nếu một nhà khoa học tham gia cả nhóm Hà Nội và nhóm Bắc Ninh thì phải đóng lệ phí thành viên cho cả hai thí nghiệm A và B, nghĩa là số tiền lên đến 20 nghìn USD/người/năm. Đó là chưa kể số tiền dành cho việc đi lại và ăn ở của các nhà khoa học trên một đất nước có mức sống cao như Thụy Sỹ.   Như vậy, từ trước đến giờ ông vẫn phải đóng phí để được làm việc tại CERN?  Theo cơ chế của CERN, nghiên cứu sinh không phải trả lệ phí thành viên tham gia thí nghiệm (vì được tính theo thầy hướng dẫn) nhưng khi đã có bằng tiến sĩ thì chúng tôi phải trả tiền để được làm việc ở đây. Ngoài ra, theo quy định, mỗi năm các thành viên phải tham gia trực tiếp vào thí nghiệm tại CERN trong một thời gian nhất định, và tất nhiên chúng tôi cũng phải tự lo sinh hoạt phí cho khoảng thời gian đó. Nhân dịp này tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với các đồng nghiệp và bạn bè ở Lausanne và CERN, không có sự giúp đỡ của họ, tôi đã không thể tiếp tục công việc của mình ở CERN.    Giá trị mang lại cho một nhà khoa học Việt Nam như ông khi làm việc tại CERN là gì?  Công việc tại CERN là công việc nghiên cứu cơ bản, các thí nghiệm tại đây đều kéo dài nhiều năm, nhưng nếu thành công thì ý nghĩa của nó có thể có giá trị lâu dài hơn thế. Được tham gia và đóng góp vào những thí nghiệm có ý nghĩa như vậy đem lại niềm vui và sự đam mê khó tả. Ở đây, các nhóm làm thí nghiệm đều biết rõ giá trị hướng nghiên cứu của mình, hiểu được đóng góp của mình cho kiến thức chung của nhân loại. Bản thân tôi rất vui khi thấy tên cơ quan mình công tác với địa chỉ Hanoi, Vietnam xuất hiện trên các bài báo được công bố của thí nghiệm LHCb tại CERN.   Ông có khuyến khích các học trò của mình xem CERN như là một mục tiêu phấn đấu không?  Cách đây mấy chục năm, tôi chọn theo chuyên ngành vật lý một phần vì niềm đam mê của tuổi trẻ và một phần, có lẽ, do không có đủ thông tin. Khi đó đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, còn tôi vừa rời quân ngũ trở lại môi trường đại học với khao khát làm việc mà không cần tính đến điều kiện thực tế. Tôi không nói với các sinh viên rằng các em đừng theo đuổi nghiên cứu cơ bản, nhưng luôn nhấn mạnh, nếu các em thật sự say sưa, thật sự chịu được khó, chịu được khổ thì hãy theo. Còn không, nên chọn một chuyên ngành vừa sức và dễ được thừa nhận hơn để giảm bớt những vất vả và áp lực không cần thiết cho chính mình và gia đình. Bay lên cao đã rất khó nhưng hạ cánh còn khó hơn, nhiều việc không thể làm lại khi qua một lứa tuổi nhất định.   Ở đây, cũng nên nhắc lại rằng, ngay sau khi được thành lập, hoạt động của CERN đã đi xa hơn lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tập trung sâu vào  nghiên cứu năng lượng cao vốn chủ yếu liên quan đến tương tác giữa các hạt. Phòng thí nghiệm do CERN điều hành do đó được biết đến như phòng thí nghiệm vật lý hạt, một lĩnh vực tương đối hẹp, trên thế giới cũng chỉ có tổng cộng khoảng 7.000 nhà khoa học về lĩnh vực này. Không ít các đồng nghiệp của tôi ở CERN đã chuyển sang làm nghề khác như giáo viên trung học, hay làm việc ở ngân hàng, bệnh viện…    Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.          Thái Thanh thực hiện  Đọc thêm:  * Niềm tự hào của khoa học châu Âu  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8044  * CERN – Chặng đường 60 năm  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8035      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chậm và có chọn lọc      Trung Quốc, một trong những nước có chính sách hộ khẩu (hokou) tương tự Việt Nam cũng đang trong quá trình cải cách chính sách này với tiêu chí “chậm và có chọn lọc” sau rất nhiều thảo luận gay gắt giữa một bên đấu tranh nhằm xoá đi rào cản mà chính sách hộ khẩu gây ra với một bên lo sợ mở cửa chính sách hộ khẩu sẽ làm gia tăng gánh nặng cho các đô thị.      Di dân, vấn đề lớn của đô thị Trung Quốc. Nguồn ảnh: www.npr.org  Hệ thống hộ khẩu của Trung Quốc (hokou) khiến người di cư gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính để chuyển cư đến đô thị và kết quả là từ nhiều năm nay lao động nhập cư không thể tiếp cận các dịch vụ công, thậm chí con cái của họ gặp rất nhiều khó khăn để đi học ở thành phố nơi gia đình họ đang sinh sống và làm việc.  Năm 2012, Zhan Haite, một học sinh đã lập blog để đưa các thông tin về việc hệ thống hộ khẩu hiện nay đã hạn chế cơ hội giáo dục cho trẻ em và chỉ ra sự phân biệt đối xử. Có luồng ý kiến ủng hộ cho rằng Zhan nên có quyền học ở một trường cấp ba tại Thượng Hải, nơi cô bé lớn lên, tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác – phần nhiều là những cư dân có hộ khẩu ở Thượng Hải cho rằng những người như Zhan là mối đe doạ cho các cơ hội giáo dục của trẻ em có hộ khẩu thành phố. Trong trường hợp này, chính những người hàng xóm có hộ khẩu sống gần kề với những người di cư lại là những người đối đầu mạnh mẽ nhất với công cuộc cải cách hộ khẩu.   Hiện nay, giải quyết vấn đề hộ khẩu – rào cản cho hội nhập vào đời sống đô thị của nhiều di dân nhằm đáp ứng mục tiêu đô thị hoá đang đặt ra của Trung Quốc đã trở thành đề tài được thảo luận thường xuyên. Nhiều ý kiến trên các báo lớn của Trung Quốc đã gọi vấn đề hộ khẩu là một rào cản lớn cho quá trình đô thị hoá lấy con người làm trung tâm của Trung Quốc. Giới lãnh đạo nước này đã tuyên bố sẽ cho phép người lao động nhập cư trở thành cư dân đô thị theo “một lộ trình phù hợp” trong vòng năm năm tới.  Vào năm 2015, Hội đồng Nhà nước của Trung Quốc tuyên bố kế hoạch cải cách hệ thống hộ khẩu – sẽ cấp giấy phép cư trú tại đô thị cho khoảng 100 triệu người di cư – một con số khổng lồ. Trên thực tế con số này vẫn ít hơn nhiều so với 274 triệu lao động di cư của Trung Quốc vào năm 2014 nhưng điều này phù hợp với quan điểm của giới lãnh đạo nước này về cải cách hệ thống đăng ký hộ khẩu theo lộ trình phù hợp với chiến thuật chậm và ổn định (slow-and-steady) mà Trung Quốc đã áp dụng cho đến nay. Căn cứ vào kế hoạch trên, cải cách hộ khẩu sẽ nhắm tới một số người di dân nhất định –những người di cư “phù hợp”, có mong muốn nhập cư, có việc làm, trình độ học vấn và nhà ở. Các thành phố lớn như Thượng Hải và Bắc Kinh sẽ có các tiêu chuẩn khắt khe nhất, còn các thành phố nhỏ hơn sẽ có các quy định dễ dàng hơn với người di cư muốn xin hộ khẩu.  Thay vì thúc đẩy nhanh quá trình cấp hộ khẩu cho người di cư, chính quyền áp dụng chiến thuật chậm và có chọn lọc vì các đô thị có thể bị quá tải bởi những luồng di dân mới.  Bảo Như lược dịch  Nguồn: http://thediplomat.com/2016/02/chinas-plan-for-orderly-hukou-reform/    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Chất xám CNTT – cần được tự do, tôn trọng và bảo vệ      Những năm gần đây, ở Việt Nam đã bắt đầu có những doanh nghiệp đưa các giải pháp CNTT ứng dụng vào các ngành công nghiệp cùng những lĩnh vực thiết thực của nền kinh tế và đời sống. Tuy nhiên, Nhà nước cần những chính sách hữu hiệu để củng cố, phát huy nguồn chất xám còn ít ỏi nhưng rất quan trọng này.&#160;&#160;      Tuyến đường ống dẫn dầu từ cảng biển Quảng Ninh do Liên Xô hỗ trợ Việt Nam xây dựng năm 1969 dài hàng trăm km chạy qua Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, và Hà Nội. Thời chiến tranh lưu lượng vận chuyển còn ít, hàng tuần mới có một lần bơm tải nên các loại xăng dầu vẫn có thể dùng chung một đường ống. Còn ngày nay, lưu lượng xăng rất lớn và có nhiều chủng loại khác nhau nên việc sử dụng chung một đường ống khiến nguy cơ bị pha tạp các loại xăng là không tránh khỏi, trong khi chi phí để làm thêm vài ba đường ống là vô cùng tốn kém. Vì vậy, năm 1999, một nhóm chuyên gia trẻ của Trung tâm Tin học và Tự động hóa của Petrolimex đã được đề nghị thực hiện một đề tài nghiên cứu giải quyết bài toán tách xăng vô tình bị trộn lẫn trong quá trình vận chuyển trong đường ống.  Chất xám thế hệ trẻ cần được tạo môi trường tự do để phát huy  “Khi đó, đây là một vấn đề rất mới, chúng tôi đã mời các chuyên gia của công ty Emerson, nhà cung cấp giải pháp tự động hóa có uy tín toàn cầu, cùng hợp tác giải quyết nhưng chính họ cũng lắc đầu vì chưa gặp bao giờ” – có lẽ vì trên thế giới ít có trường hợp nào sử dụng một đường ống vận chuyển cho nhiều loại xăng dầu như ở Việt Nam – theo lời một chuyên gia thuộc thế hệ 7X trong nhóm các nhà nghiên cứu của Trung tâm Tin học và Tự động hóa của Petrolimex đứng đằng sau công trình nghiên cứu này. Kết quả là họ đã nghiên cứu thành công và đưa ra giải pháp vận dụng lưu lượng kế khối không mấy tốn kém, giúp hệ thống này đến nay vẫn vận hành ổn định, cho phép “đường ống có thể bơm tải liên tục 1 tiếng một lần”, vị chuyên gia CNTT của thế hệ 7X cho biết.  Công trình nghiên cứu này mang đến niềm tin cho nhóm nghiên cứu trẻ vào năng lực chất xám của bản thân mình trong lĩnh vực CNTT phục vụ tự động hóa, một lĩnh vực nghiên cứu đem lại giá trị gia tăng rất lớn và rất cần thiết cho sự phát triển các ngành công nghiệp. Tuy nhiên, đáng tiếc là nguồn kinh phí Nhà nước dành cho những nỗ lực nghiên cứu của họ là rất hạn chế. Cơ chế tài chính của Nhà nước ép nhà nghiên cứu phải tuân thủ theo những khung chi phí đầu vào cố định mà không gắn với hiệu quả và giá trị mà sản phẩm nghiên cứu đạt được.  Bên cạnh đó, sự cứng nhắc trong khuôn khổ hành chính cũng làm giảm đi động lực sáng tạo. Vì vậy, mặc dù Trung tâm Tin học và Tự động hóa của Petrolimex là nơi được đầu tư khá bài bản, nhưng để có thể độc lập tự chủ phát huy năng lực, nhóm nghiên cứu trẻ đã quyết định tự đứng ra thành lập doanh nghiệp riêng, qua đó để cho thị trường tự do quyết định mức tưởng thưởng xứng đáng với những thành quả nghiên cứu của mình.   Đầu năm 2008, chính họ đã cứu nguy ngoạn mục cho Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại khi đưa ra giải pháp truyền tín hiệu không dây để giải quyết sự cố đứt cáp quang truyền tín hiệu cho băng tải nhiên liệu. Đây là một sự cố gây thiệt hại lớn cho nhà máy vì buộc băng chuyền phải ngưng hoạt động, mà nếu chờ đợi nhà cung cấp sản phẩm sang sửa chữa thì thời gian ngưng phát điện có thể lên tới hàng tháng, chưa kể chi phí thay thế mỗi met cáp quang bị đứt lên tới hàng chục nghìn USD. Chỉ trong khoảng 2 tuần, nhóm nghiên cứu đã xác định phương pháp khử nhiễu – nhiễu điện từ của cầu trục băng tải với dòng điện 6 KV là rất lớn – thử nghiệm và lắp đặt bàn giao sản phẩm thành công. “Ban đầu phía nhà máy nhiệt điện không tin chúng tôi làm được vì khoảng cách truyền tín hiệu không dây lên tới 2 km, thậm chí sau 15 ngày sản phẩm của chúng tôi đã chạy rồi mà họ vẫn không hoàn toàn tin hệ thống sẽ vận hành ổn định”, một thành viên trong nhóm kể lại. Thực tế đã chứng minh sau 6 năm giải pháp vẫn hoạt động an toàn, không để xảy ra sự cố, thành viên này cho biết.  Đến nay, họ tiếp tục đưa ra các giải pháp công nghệ phục vụ cho hoạt động công nghiệp của các doanh nghiệp lớn khác như Nhiệt điện Uông Bí, Xi măng Tam Điệp, Xi măng Hà Tiên, cùng nhiều doanh nghiệp xăng dầu ở miền Bắc, v.v. Giải pháp tự động hóa của họ giúp dự đoán và can thiệp sớm để điều chỉnh những sai sót tự phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp, giúp giảm hao phí cho các nhà máy. Thị trường tự do đem lại cho họ nguồn thu hằng năm đạt hàng chục tỷ đồng, tạo ra mức thu nhập không thua kém so với khi làm thuê cho các công ty nước ngoài.  Việc những chuyên gia CNTT rời bỏ các cơ sở nghiên cứu của Nhà nước không phải là hiện tượng cá biệt, không chỉ xảy ra với các tổ chức nghiên cứu công lập, mà với cả các doanh nghiệp lớn có vốn Nhà nước. Ông Hoàng Nguyên Vân, một chuyên gia khác cũng thuộc thế hệ 7X, từng rời bỏ vị trí Phó Tổng giám đốc một doanh nghiệp thuộc tập đoàn FPT quy mô 250 người để đứng ra thành lập Công ty CP Giải pháp Công nghệ Savis Việt Nam (SAVIS). Ông Vân cho biết môi trường quản lý nhiều cấp bậc theo kiểu tập đoàn lớn khiến các đề xuất từ dưới lên chậm được xem xét thông qua, làm giảm sự linh hoạt của cả bộ máy, và bỏ lỡ các cơ hội trên thị trường. “Đối với những người trẻ tuổi, rất khó để họ chấp nhận bỏ qua các cơ hội”, ông Vân lý giải về quyết định bước ra khỏi FPT để tự thành lập doanh nghiệp của riêng mình. Mới thành lập từ năm 2011 nhưng SAVIS là một doanh nghiệp giàu tiềm năng hiện đang cung cấp sản phẩm phần mềm và giải pháp tích hợp cho các cơ quan lớn của Nhà nước và một số chính quyền địa phương.  Khi khách hàng còn sính ngoại, và chưa hướng tới những lợi ích lâu dài  Môi trường tự chủ động nghiên cứu, sản xuất, và kinh doanh mang lại sự tự do cần thiết cho những chuyên gia như Vân để họ có cơ hội được theo đuổi tới cùng những ý tưởng, hoài bão riêng. Tuy nhiên, để sống được chỉ nhờ vào chất xám bản thân là một thách thức không nhỏ trong thị trường CNTT còn đầy khiếm khuyết ở Việt Nam, nơi ý thức tôn trọng chất xám còn rất hạn chế. Nhiều khách hàng trong ngành CNTT thiếu sự tôn trọng cần thiết dành cho loại hình sản phẩm này, coi đây là thứ hàng hóa chỉ cần mua một lần, cốt tìm mua nơi nào cung cấp và cài đặt với giá rẻ nhất, và suy nghĩ mặc định rằng sau đó nhà cung cấp sản phẩm đương nhiên sẽ phải bảo trì, cập nhật, nâng cấp cho mình với chi phí không đáng kể. Đa số khách hàng chưa có ý thức chọn lựa nhà cung cấp sản phẩm CNTT như một người cùng đồng hành trong lâu dài, một đối tác giúp họ chọn được sản phẩm không chỉ phục vụ tốt nhất trước mắt mà còn tối ưu cho những giai đoạn phát triển tiếp theo. “Làm phần mềm không khó, cái khó là chọn được phần mềm tối ưu cho triển khai, giảm thiểu chi phí ban đầu và hằng năm tiếp theo, đồng thời dễ dàng tích hợp hiệu quả với các nhu cầu phát sinh về sau”, theo lời ông Vũ Quốc Huy, giám đốc khối sản phẩm phần mềm của SAVIS.  Về phía các doanh nghiệp CNTT, ý thức tôn trọng chất xám còn hạn chế và sức ép cạnh tranh gay gắt khiến họ sẵn sàng chụp giật ý tưởng, sao chép, xào xáo sản phẩm của nhau, cốt sao đáp ứng được nhu cầu trước mắt của khách hàng. Hậu quả là trên thị trường tràn ngập những sản phẩm may đo na ná như nhau, với giá cả bị dìm xuống mức tối thiểu, trong khi lợi ích lâu dài của khách hàng không được đảm bảo.   Bên cạnh đó, tâm lý sính ngoại lâu nay rất phổ biến ở Việt Nam càng gây thêm nhiều thiệt thòi cho các doanh nghiệp CNTT trong nước và bản thân khách hàng. Một mặt, khách hàng trong khu vực Nhà nước lẫn tư nhân luôn tìm cách ép giá các nhà cung cấp sản phẩm trong nước, nhưng với các nhà cung cấp nước ngoài, họ dễ dàng tin tưởng chất lượng sản phẩm và trả giá cao hơn, mà không ý thức được rằng khi đã lệ thuộc vào công nghệ do nước ngoài cung cấp thì sau này sẽ phải trả những chi phí rất lớn cho việc bảo trì và nâng cấp. Họ cũng không biết rằng sản phẩm mình được cung cấp nhiều khi chỉ mang nhãn mác của nước ngoài, còn phần ruột bên trong thực chất được làm ra bởi các doanh nghiệp Việt Nam, những người buộc phải cam chịu phận làm thuê do không cạnh tranh nổi với thương hiệu của nước ngoài.   “Thay vì lãng phí ngân sách cho những đề tài nghiên cứu đút trong ngăn kéo trong khi vẫn chịu nhiều tốn kém cho các nhà thầu nước ngoài, vì sao Nhà nước không giao khoán kinh phí các dự án cho các doanh nghiệp trong nước kèm theo những điều khoản hợp đồng ràng buộc chặt chẽ, để họ có cơ hội cống hiến trực tiếp chất xám của mình mà không phải gia công cho nước ngoài”, ông Hoàng Nguyên Vân đặt câu hỏi.     Tác động tới chất lượng và sự phát triển nguồn nhân lực R&D  Trong môi trường liên tục phải xoay xở đáp ứng những sản phẩm may đo theo nhu cầu nhất thời của khách hàng và làm gia công cho nước ngoài, những người làm CNTT ở Việt Nam thường tích lũy được nhiều những kinh nghiệm mang tính chắp vá, nhưng ít khi đào sâu vào một sản phẩm chuyên biệt để có những sáng tạo đích thực đem lại giá trị gia tăng đáng kể. “Có những người nhiều năm làm thuê cho nước ngoài, gia công đủ mọi thứ sản phẩm, cái trước không liên quan tới cái sau, để rồi cuối cùng nhận ra mình không hề có thế mạnh gì”, ông Vũ Quốc Huy nhận định.   Công ty SAVIS nơi ông Huy làm việc có thuận lợi hơn các doanh nghiệp CNTT khi đã thoát khỏi phương thức làm sản phẩm may đo, cạnh tranh bằng cách tập trung nghiên cứu và phát triển một nhóm sản phẩm chuyên biệt để có thể kế thừa trên những sản phẩm cũ, liên tục cập nhật, nâng cấp chất lượng, nghiên cứu ra sản phẩm mới tối ưu hơn, và nhờ đó mà trình độ nhân lực R&D cũng thường xuyên đươc nâng cao. Đây cũng là doanh nghiệp CNTT chưa từng bị lỗ kể từ khi thành lập, doanh thu mỗi năm lên tới vài chục tỷ đồng, với đội ngũ làm R&D của SAVIS lên tới vài chục người, với mức thu nhập trung bình tháng mỗi người trên mười triệu đồng, chưa kể mỗi năm hàng chục người đươc công ty tài trợ đi đào tạo lấy các chứng chỉ quốc tế chuyên ngành.    Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp CNTT nào cũng có được duyên may như SAVIS, nơi có cơ hội phục vụ cho các khách hàng lớn như Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, là những cơ quan, tổ chức sẵn sàng đầu tư để được cung cấp những sản phẩm có giá trị lâu dài. Đa số các doanh nghiệp CNTT khác phải chấp nhận làm những sản phẩm mang tính thời vụ ngắn hạn, và phải thường xuyên đối diện với nguy cơ bị đối thủ xào xáo lại sản phẩm của mình. Đội ngũ làm R&D cao cấp của họ vì vậy cũng rất nhỏ để tránh bị thiệt hại về ý tưởng, chất xám khi người làm từ công ty này chuyển sang công ty khác.     Thiệt hại quyền sở hữu trí tuệ   Hằng năm, SAVIS chi hàng tỷ đồng cho hoạt động R&D nhưng từ năm thành lập 2011 đến nay doanh nghiệp mới đăng ký bảo hộ một bằng sáng chế. Thời gian làm thủ tục đăng ký quá lâu là lý do ông Hoàng Nguyên Vân đưa ra giải thích sự không mặn mà trong việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp của mình. Nhiều doanh nhân CNTT khác thậm chí còn chưa từng đăng ký bản quyền cho sáng chế nào, do hoài nghi về hệ thống pháp lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện hành, cho rằng nó khó lòng bảo vệ hữu hiệu được những ý tưởng đơn giản, dễ sao chép, nhưng có vai trò then chốt cho các giải pháp công nghệ.           Một nhóm lập trình của Công ty SAVIS             Nhưng khi không đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp CNTT càng dễ trở thành nạn nhân bị vi phạm bản quyền, nhất là khi mỗi lần cần thuyết phục khách hàng tiềm năng sử dụng giải pháp công nghệ của mình, họ phải giải trình sơ bộ về nguyên lý và cách thức, và thực tế là đã có trường hợp khách hàng lấy chính những chất xám này để đặt đầu bài cho doanh nghiệp CNTT khác thực hiện với mức chi phí giao thầu thấp hơn.   Để tự bảo vệ mình, rõ ràng các doanh nghiệp CNTT cần có ý thức đăng ký bảo hộ sáng chế, nhưng phía các cơ quan chức năng cũng có trách nhiệm nâng cao hoạt động tuyên truyền về những chủ trương, chính sách quản lý Nhà nước bảo vệ và hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ – cho đến nay, SAVIS cùng nhiều doanh nghiệp CNTT khác vẫn chưa đăng ký trở thành doanh nghiệp KH&CN và ý thức còn rất mơ hồ về những chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho các đối tượng này.  Bên cạnh đó, cũng cần sớm có những cơ quan đóng vai trò trung gian hướng dẫn và giám sát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các quyền lợi chính đáng khác trong quá trình đàm phán và thực hiện các hợp đồng kinh tế. Lâu nay chúng ta thường nói rằng thị trường công nghệ Việt Nam chưa phát triển vì thiếu những tổ chức trung gian định giá công nghệ – một vấn đề còn rất mơ hồ vì giá cả trên thị trường phụ thuộc đáng kể vào sự đàm phán thuận mua vừa bán giữa các bên, và mỗi giao dịch lại có một đặc thù riêng – nhưng thực tế cho thấy việc tăng cường các tổ chức trung gian để hướng dẫn và giám sát việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có vai trò còn quan trọng hơn, nếu làm tốt sẽ giúp tăng cường lòng tin giữa doanh nghiệp công nghệ và khách hàng, thúc đẩy đáng kể động lực đầu tư nghiên cứu cho các doanh nghiệp công nghệ, và đem lại nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Á bỏ xa châu Âu và Mỹ về đầu tư cho R&D      Lạm phát đã ăn lạm vào khoản chi thực tế cho  nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) của Mỹ và châu Âu. Trong khi đó Trung Quốc lại đầu tư rất  mạnh vào cuộc cạnh tranh quốc tế vì sáng chế phát minh.     Chi cho nghiên cứu ở Mỹ và châu Âu giảm. Đây là kết quả nghiên cứu của R&D Funding Forecast thuộc Viện Battelle của Mỹ và tạp chí chuyên đề R&D Mag. Theo đó , đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ở hai nơi này không theo kịp mức lạm phát. Trong khi đó chi cho nghiên cứu trên thế giới tăng khoảng 3,7 %, chủ yếu là nhờ Trung Quốc – nước trong hơn mười năm qua đầu tư cho nghiên cứu luôn ở mức hai con số.  Trong năm 2013, tổng đầu tư của các doanh nghiệp và chính phủ trên toàn thế giới cho lĩnh vực nghiên cứu là 1,5 nghìn tỷ USD. Trong đó phần chi cho nghiên cứu về công nghệ thông tin và truyền thông chiếm tỷ trọng lớn nhất. Công nghệ Nano, năng lượng tái sinh và sự phát triển công nghệ điện toán đám mây và phần cứng được coi là các ngành công nghiệp mũi nhọn.  Cách đây mười năm, Liên minh châu Âu đề ra mục tiêu dành 3% tổng sản phẩm quốc nội cho nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên EU chỉ đạt được mức 1,88%, thấp hơn nhiều so với dự kiến. Theo báo cáo, nguyên nhân chính của tình trạng này là do khủng hoảng nợ nhà nước và khủng hoảng tài chính. EU phấn đấu đến năm 2020 đạt chỉ tiêu này. Trong khi đó, Nhật Bản vẫn giữ được mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đạt 3,5% tổng sản phẩm quốc nội.  Doanh nghiệp Đức chi cho nghiên cứu nhiều nhất châu Âu  So sánh giữa các nước châu Âu với nhau thì Đức đang dẫn đầu. Đức là nước có nhiều công bố nhất về nghiên cứu, gấp đôi so với Pháp. Do nhu cầu cao về công nghệ năng lượng tái sinh nên đầu tư nghiên cứu ở mảng này lớn nhất.   Các doanh nghiệp Đức, so sánh giữa các nước châu Âu với nhau, cũng đầu tư mạnh nhất cho công tác nghiên cứu. Trong mười doanh nghiệp đầu tư mạnh nhất cho nghiên cứu và phát triển ở châu Âu thì một nửa là doanh nghiệp Đức, dẫn đầu là tập đoàn công nghiệp ô tô VW.   Các tác giả của công trình nghiên cứu đã thăm dò ý kiến của hơn 900 nhà khoa học ở hơn 70 nước. Ở Đức các nhà nghiên cứu chủ yếu phàn nàn về việc hỗ trợ đầu tư thường không đủ độ dài cần thiết. Bản thân các tác giả cũng có nhận xét tương tự. Họ đã đề cập trong báo cáo “Nghiên cứu và phát triển không phải là công cụ để người ta có thể ngày một ngày hai thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế”.   Mỹ vẫn đứng hàng đầu về đầu tư cho nghiên cứu  Nếu tính theo con số tuyệt đối thì Mỹ vẫn đứng vị trí hàng đầu về chi cho nghiên cứu và phát triển, 423 tỷ USD. So với năm 2012, con số này chỉ tăng 1,2 %. Nhưng với lạm phát ở mức 2%, thực tế đầu tư cho nghiên cứu của Mỹ bị giảm. Hơn một nửa khoản đầu tư xuất phát từ công nghiệp.   Theo nghiên cứu của R&D Funding Forecast, trong giới khoa học, các nhà nghiên cứu Mỹ vẫn đứng ở vị trí hàng đầu ở tám trong 10 lĩnh vực mũi nhọn, như hàng không, quân sự và hóa học. Tuy nhiên tác giả của nghiên cứu dự báo, đến năm 2023, Trung Quốc sẽ giành vị trí hàng đầu của Mỹ. Đang có sự dịch chuyển trong số 40 quốc gia đầu tư nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển. So sánh với năm 2012 thì Hy Lạp không còn trong danh sách và hai nước Iran và Pakistan đã có tên trong số 40 nước đầu tư nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển.     Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Châu Âu sẽ quy định chặt chẽ công nghệ AI có rủi ro cao      Ủy ban Châu Âu mới tiết lộ kế hoạch kiểm soát chặt chẽ trí tuệ nhân tạo (AI) của mình, khác với cách tiếp cận công nghệ tương đối thoáng ở Hoa Kỳ và Trung Quốc.      EC sẽ soạn thảo các luật mới – trong đó có lệnh cấm đối với hệ thống AI dạng “hộp đen” mà con người không thể giải thích – để quản lý những công nghệ có rủi ro cao như thiết bị y tế và xe tự lái. Mặc dù các quy định rộng và chặt chẽ hơn bất kỳ quy tắc nào từng có của EU, trong cuộc họp báo tuyên bố kế hoạch, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen cho biết mục tiêu của họ là “thúc đẩy niềm tin chứ không phải sự sợ hãi”. Kế hoạch này cũng gồm các biện pháp nâng cấp cho Chiến lược AI của EU năm 2018 và dự kiến bơm hàng tỷ euro vào R&D trong thập kỉ tới.  Tuy  vậy, đề xuất này chưa chốt hẳn. Trong 12 tuần tiếp theo, các chuyên gia, nhóm vận động hành lang và công chúng có thể cân nhắc kế hoạch trước khi việc soạn thảo luật cụ thể được nghiêm túc bắt đầu. Bất kỳ quy định cuối cùng nào cũng cần Nghị viện châu Âu và chính phủ các quốc gia phê duyệt – điều này khó có thể xảy ra ngay trong năm nay.  Châu Âu đang có cách tiếp cận AI thận trọng hơn so với Hoa Kỳ và Trung Quốc. EC hy vọng quy định này sẽ giúp châu Âu giành được lòng tin của người dùng, từ đó thúc đẩy việc áp dụng AI rộng rãi hơn. Ủy ban châu Âu muốn ràng buộc các quy tắc khi sử dụng AI có rủi ro cao trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giao thông vận tải hoặc tư pháp hình sự. Tiêu chí xác định rủi ro sẽ bao gồm nhiều cân nhắc, chẳng hạn liệu ai đó có thể bị tổn thương (ví dụ trường hợp xe tự lái, thiết bị y tế) hoặc bị mất tiếng nói nếu phải chịu ảnh hưởng từ các quyết định của máy tính (ví dụ trường hợp AI tuyển dụng nhân sự hoặc kiểm tra công việc)  Đối với các kịch bản rủi ro cao, Ủy ban muốn ngăn chặn các AI “hộp đen” bằng cách yêu cầu phải có sự giám sát của con người. Các quy tắc cũng sẽ chi phối việc sử dụng tập dữ liệu lớn để huấn luyện hệ thống AI, đảm bảo dữ liệu từ nguồn hợp pháp, có thể truy xuất nguồn gốc và có phạm vi đủ rộng để huấn luyện.   Luật cũng sẽ thiết lập việc ai chịu trách nhiệm cho hành động của hệ thống AI, ví dụ như công ty sử dụng hoặc công ty thiết kế ra hệ thống đó. Việc phát triển các ứng dụng rủi ro cao phải được chứng minh tuân thủ các quy tắc trước khi được triển khai tại EU. Ủy ban cũng lên kế hoạch cung cấp các chứng nhận “AI đáng tin cậy” để khuyến khích tự nguyện tuân thủ sử dụng AI có độ rủi ro thấp. Nếu một hệ thống AI được chứng nhận bị phát hiện vi phạm quy tắc có thể bị phạt tiền.  Ủy ban cho biết sẽ “khởi động một cuộc tranh luận rộng rãi tại châu Âu” về hệ thống nhận dạng khuôn mặt, một kiểu AI nhận biết được từng người trong đám đông mà không cần được đồng ý. Mặc dù các nước EU như Đức đã công bố kế hoạch triển khai hệ thống nhận diện khuôn mặt, nhưng các thành viên của ủy ban cho biết các hệ thống này thường vi phạm luật riêng tư của EU, gồm cả những quy tắc đặc biệt dành cho cảnh sát thi hành nhiệm vụ.  Theo Pauwels, một cựu quan chức của Ủy ban, ngành công nghiệp AI đến nay đã chứng tỏ rằng nó “thiếu tầm nhìn chuẩn tắc một cách tràn lan”. Nhưng Vestager nêu, đã có 350 doanh nghiệp cho biết sẵn sàng tuân thủ các nguyên tắc đạo đức do nhóm tư vấn AI đưa ra.  Kế hoạch AI mới này không chỉ bao gồm các quy định. Ủy ban sẽ đưa ra một “kế hoạch hành động” về việc tích hợp AI vào các dịch vụ công cộng như vận tải và chăm sóc sức khỏe. Nó sẽ nâng cấp cho Chiến lược phát triển AI từng công bố năm 2018 có mức đầu tư nghiên cứu trị giá 1,5 tỷ Euro. Ủy ban đang kêu gọi thêm R&D – cho các trung tâm kiểm nghiệm AI xuất sắc và một thỏa thuận đối tác công nghiệp AI mới có thể có mức đầu tư hàng tỷ Euro. Bên cạnh đó, EU cũng phác thảo một chiến lược riêng nhằm thúc đẩy chia sẻ dữ liệu để hỗ trợ một phần cho sự phát triển của AI.  Ngô Hà dịch  Nguồn: www.sciencemag.org/news/2020/02/europe-plans-strictly-regulate-high-risk-ai-technology)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chảy máu chất xám do Brexit khiến khoa học Anh gặp rủi ro      Nền khoa học Anh đang phải đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám cao vì nhiều nhà nghiên cứu trẻ hàng đầu đang rời khỏi Vương quốc Anh. Ngoài ra, tương lai của một số dự án quốc tế lớn do Anh dẫn đầu cũng đang gặp nguy hiểm do EU chậm trễ cấp vốn, bao gồm các dự án y tế nhằm giải quyết những vấn đề sức khỏe toàn cầu như sốt rét – phải đối mặt với nguy cơ bị hủy bỏ.     Sau Brexit, các bộ trưởng đã chấp nhận một thỏa thuận cho phép Anh tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong các chương trình nghiên cứu lớn của châu Âu. Nhưng sau đó, các cuộc đàm phán về Bắc Ireland gặp thất bại, dẫn đến thỏa thuận trên bị trì hoãn. Kết quả là hàng chục nhà khoa học vừa nhận tài trợ của EU vào đầu tháng hai vừa qua đã bị thu hồi tài trợ chỉ vài ngày sau đó.   Nhóm nghiên cứu của GS. Chris Drakeley tại Trường Vệ sinh và Y học Nhiệt đới London (LSHTM) đã nhận được thư chúc mừng kèm quyết định tài trợ 8 triệu euro từ chương trình Horizon của EU cho dự án sốt rét. Họ đã xây dựng chương trình nghiên cứu nhằm xác định những người bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax – có thể nằm im trong gan của bệnh nhân nhiều năm trước khi phát bệnh. “Sau đó vài ngày, chúng tôi nhận được một thư mới nói rằng Vương quốc Anh hiện không đủ điều kiện để tham gia”, Drakeley nói.   Drakeley hiện đang cố gắng tìm kiếm các thỏa thuận hợp tác mới trong EU để đảm bảo dự án của mình có thể được tiến hành. Tuy nhiên, ông cũng chia sẻ với tờ Observer rằng “tất cả đều rất bất định”.  EU có hai cách tiếp cận chính để tài trợ nghiên cứu trong chương trình Horizon. Một là trao các khoản tài trợ có uy tín cao của Hội đồng nghiên cứu châu Âu (ERC) cho cá nhân nhà nghiên cứu. Hai là trao thưởng cho các nhóm nghiên cứu muốn kết hợp các bên để cùng nghiên cứu, chẳng hạn như dự án sốt rét. Sau Brexit, Anh đồng ý trả 15 tỷ bảng Anh trong bảy năm để tiếp tục thực hiện các kế hoạch này. Dù đã được chấp thuận một năm trước nhưng hiện nay, thỏa thuận này lại bị đình chỉ.   “Các nhà khoa học Anh hiện đang ở trong tình thế không nhận được tài trợ từ EU và không có tài trợ từ Chính phủ Anh để lấp đầy khoảng trống đó”, Liam Smeeth, Giám đốc LSHTM cho biết. “Mọi thứ sẽ sụp đổ và gây hại cho nền khoa học Anh. Chúng tôi là một siêu cường toàn cầu về nghiên cứu, và giờ đây vị trí đó đang tuột khỏi tầm tay. Điều này cũng sẽ dẫn đến mất niềm tin và mất các đối tác tiềm năng trong những hợp tác tương lai”.   Nguy cơ không chỉ giới hạn trong khoa học tự nhiên. Viện Hàn lâm Anh quốc cho biết khoảng một phần ba nghiên cứu khảo cổ của Anh nhận tài trợ từ châu Âu, trong khi các nghiên cứu về văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại, luật và triết học cũng chủ yếu nhận tài trợ theo cách này. “Nếu không còn nguồn này, chúng tôi sẽ thực sự đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám”, Hetan Shah, giám đốc điều hành của Viện Hàn lâm cho biết.   Chính phủ nói rằng họ đang cố gắng tìm cách bù đắp các khoản tài trợ bị thất thoát cho các nhà nghiên cứu ở Anh. Tuy nhiên, các nhà khoa học cấp cao cho biết quyết định không chắc chắn này đang gây thiệt hại lớn. Họ cũng chỉ ra rằng các khoản tài trợ của Hội đồng nghiên cứu châu Âu rất có uy tín, nhận được tài trợ là một bước tiến đối với sự nghiệp của một nhà nghiên cứu trẻ. Do vậy, một khoản tiền tài trợ thay thế khó có thể đủ hấp dẫn để giữ chân họ ở lại Anh.     Điều này cũng được John Dainton, người sáng lập Viện Cockcroft, một trung tâm nghiên cứu máy gia tốc hạt ở Cheshire, nhấn mạnh. Nơi đây đã thu hút hàng chục nhà nghiên cứu trẻ hàng đầu trên khắp thế giới trong nhiều năm. “Bây giờ tất cả đều đang bị đe dọa,” Dainton nói. “Các nhà nghiên cứu trẻ sẽ không thấy lí do gì để ở lại và làm việc ở một quốc gia nằm ngoài rìa châu Âu và đang trôi dạt vô định vào Đại Tây Dương. Điều này rất đáng lo ngại”. □  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2022/feb/27/uk-scientists-fear-brain-    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Cháy” vắcxin: vẫn là câu chuyện thiếu chiến lược      Thời điểm này, khi nguy cơ các loại dịch bệnh đang tăng thì Việt Nam lại rơi vào tình trạng thiếu trầm trọng vắcxin, nhất là các loại vắcxin “5 trong 1”, “6 trong 1” và thủy đậu. Điều này càng làm tăng những nghi ngại sẵn có về công tác quản lý vắcxin, đặc biệt là về việc thiếu một chiến lược sản xuất và sử dụng vắcxin dài hạn.&#160;    Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi  với GS. TSKH Nguyễn Thu Vân, nguyên Giám đốc Công ty Vắcxin và Sinh phẩm  số 1 (Vabiotech), để tìm hiểu về vấn đề này.  Xin bà cho biết đâu là nguyên nhân của tình trạng thiếu vắcxin ở nước ta thời gian gần đây?  GS.TSKH Nguyễn Thu Vân: Thật ra, nói rằng nước ta “thiếu vắcxin” là chưa chính xác. Hiện nay trong chương trình Tiêm chủng mở rộng, 11 loại vắcxin cơ bản lúc nào cũng có và hoàn toàn là vắcxin do Việt Nam sản xuất. Các loại vắcxin được viện trợ từ nước ngoài là “5 trong 1” cũng có trong chương trình nhưng các bà mẹ ngần ngại không cho con mình đi tiêm đúng đợt do một số sự cố đã xảy ra với trẻ sau khi tiêm vắcxin trước đây. Vì trẻ không được tiêm chủng nên các bệnh dịch lại dễ quay trở lại hơn, dẫn đến tình trạng mọi người đổ xô cho con đi tiêm dịch vụ khi thấy dịch có chiều hướng bùng phát, ví dụ như gần đây là dịch sởi. Quy trình nhập khẩu vắcxin phải qua nhiều bước kiểm định chặt chẽ và phải có kế hoạch trước cho các nhà sản xuất, vì vậy các nhà sản xuất và nhập khẩu không thể cung cấp vắcxin theo nhu cầu đột phát trong một sớm một chiều được. Như vậy, thực chất tình trạng ở nước ta hiện nay là vắcxin trong chương trình Tiêm chủng mở rộng thừa, trong khi vắcxin dịch vụ thiếu.  Bà đánh giá thế nào về độ an toàn của các loại vắcxin đang được sử dụng ở Việt Nam?          Thực chất tình trạng ở nước ta hiện nay là vắcxin trong chương trình Tiêm chủng mở rộng thừa, trong khi vắcxin dịch vụ thiếu.          Tất cả các loại vắcxin được cấp phép sử dụng, dù là vắcxin ngoại hay do Việt Nam sản xuất, đều phải qua nhiều bước kiểm định, thử nghiệm lâm sàng và đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế và an toàn sử dụng. Do đặc tính của vắcxin, những phản ứng không mong muốn trong tiêm chủng là thường gặp, ví dụ như sốt, đau bụng, nặng hơn là dị ứng… Một số trường hợp gặp phải những phản ứng mạnh hơn và nguy hiểm đến tính mạng có thể là do trẻ bị ủ một bệnh nào đó từ trước, bị trùng lặp với một bệnh bẩm sinh nào đó, hoặc do không được chăm sóc kĩ lưỡng sau khi tiêm. Ở Việt Nam thời gian gần đây có xảy ra một số trường hợp trẻ em tử vong sau khi tiêm vắcxin, nhưng điều tra đã cho thấy, trong tất cả các trường hợp đã xảy ra cho đến nay, không có trường hợp nào mà nguyên nhân liên quan đến vắcxin. Ví dụ như trường hợp ba trẻ sơ sinh tử vong sau khi tiêm chủng ở Bệnh viện Hướng Hóa, Quảng Trị hồi tháng 5 năm 2013 là do cán bộ y tế tiêm nhầm thuốc. Nhưng đến tháng 4 năm nay, nguyên nhân mới được công bố chính thức. Như vậy việc điều tra và thông tin không được kịp thời đã gây hoang mang cho người dân trong cả một năm trời.   Như vậy, các nhà quản lý đã không có phương án nào ứng phó kịp thời với việc người dân thấy bệnh dịch bùng phát mới đổ xô cho con đi tiêm phòng, dẫn đến tình trạng “cháy” vắcxin?  Đúng như vậy. Đáng ra thì chúng ta đã có thể giải quyết được phần nào tình trạng này nếu nhà quản lý có chiến lược và ngân quỹ cho việc dự phòng vắcxin, cụ thể là đặt hàng nhà sản xuất đảm bảo cung cấp một số lượng vắcxin dự phòng nhất định- tức là vẫn phải mua để dự phòng dù có thể không dùng đến. Nhưng hiện tại Nhà nước chưa có một chiến lược sản xuất và sử dụng vắcxin lâu dài mà vẫn buông lỏng cho thị trường tự điều tiết nên rất bị động và không ứng phó được với những tình huống bệnh dịch khẩn cấp.  Vậy nhà quản lý cần một chiến lược sản xuất và sử dụng vắcxin cụ thể như thế nào để tránh trường hợp thiếu vắcxin đột biến tương tự xảy ra trong tương lai?  Việt Nam hiện đang rất cần một chiến lược có tính dài hạn, định hướng rõ cần phát triển những loại vắcxin gì, số lượng, chủng loại, tiến độ, đặt hàng và sử dụng như thế nào v.v. Hiện tại chương trình Tiêm chủng mở rộng của nước ta vẫn đi theo định hướng của quốc tế, sử dụng các loại vắcxin do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo theo từng đợt chiến lược và tận dụng nguồn viện trợ vắcxin không hoàn lại từ họ. Nhưng sau một thời gian, nếu các tổ chức quốc tế cắt tài trợ thì ta sẽ phải hoặc tự bỏ tiền ra mua vắcxin nước ngoài nếu trong nước chưa sản xuất được, hoặc tự sản xuất vắcxin trong nước. Nếu không có chiến lược dài hạn và chuẩn bị từ trước nguy cơ thiếu vắcxin, bùng phát bệnh dịch sẽ rất dễ xảy ra. Bài toán ở đây là làm sao để chúng ta có thể chủ động điều tiết nguồn vắcxin để không bị phụ thuộc hoàn toàn vào cả viện trợ lẫn thị trường nhập khẩu.   Liệu các cơ sở sản xuất vắcxin trong nước có đủ năng lực để đáp ứng các yêu cầu mà bài toán này đặt ra?            Nhà nước chưa có một chiến lược sản xuất và sử dụng vắcxin lâu dài mà vẫn buông lỏng cho thị trường tự điều tiết nên rất bị động và không ứng phó được với những tình huống bệnh dịch khẩn cấp.        Hiện nay chúng ta có tổng cộng bốn cơ sở sản xuất vắcxin trong nước và đã tự sản xuất được toàn bộ 10 loại vắcxin cơ bản bao gồm vắcxin viêm gan B, viêm não Nhật Bản, “3 trong 1 Bạch hầu-Uốn ván-Ho gà”, Bại liệt, Sởi, Lao, Tả, Thương hàn.  Hiện tại công ty Vabiotech đang thử nghiệm lâm sàng vắcxin viêm màng não mủ (Hib), và cũng chuẩn bị triển khai nghiên cứu sản xuất vaccine “5 trong 1”. Như vậy nước ta hoàn toàn có khả năng tự cung cấp vắcxin, nhưng trước hết ta cần một chiến lược có tầm nhìn dài hạn để phát triển hệ thống sản xuất vắcxin trong nước. Một cái khó là bản thân WHO cũng thay đổi các loại vắcxin sử dụng theo từng giai đoạn (ví dụ như hiện tại đang là giai đoạn 2011-2020). Bởi vậy, Nhà nước cần dựa vào định hướng của WHO nêu trong Kế hoạch Hành động vắcxin Toàn cầu (Global Vaccine Action Plan) để giao nhiệm vụ nghiên cứu và đặt hàng sản xuất các loại vắcxin cụ thể theo giai đoạn cho các cơ sở. Thực tế là các cơ sở trong nước đang gặp nhiều khó khăn: do đơn đặt hàng, đầu ra ít nên không nuôi dưỡng được cơ sở và lại càng không có khả năng đầu tư để nghiên cứu tiếp.     Vậy tại sao các cơ sở sản xuất vắcxin trong nước chưa đẩy mạnh việc xuất khẩu, tiến tới cung cấp số lượng lớn cho quốc tế để giúp duy trì hoạt động?  Thật ra chúng tôi đã xuất khẩu vắcxin sang một số nước như Ấn Độ, Hàn Quốc, Philippines, Sri Lanka v.v., nhưng đều là những giao dịch mang tính thỏa thuận song phương. Để cung cấp vắcxin lượng lớn cho WHO đòi hỏi nước ta phải có hệ thống quản lý chất lượng vắcxin đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay Cơ quan Quản lý Vắcxin Quốc gia (NRA) của ta và các cơ sở sản xuất còn chưa đủ tiêu chuẩn tiền thẩm định (prequalification) của WHO. Cơ quan Quản lý Vắcxin Quốc gia đang cố gắng có được chứng chỉ tiền thẩm định trong năm nay và sau đó thì các cơ sở mới có thể được xét cấp chứng chỉ này.    Về phía các cơ sở sản xuất vắcxin của Việt Nam cần khắc phục những mặt hạn chế gì trước khi đạt tiêu chuẩn tiền thẩm định của WHO?  Các cơ sở sản xuất vắcxin của chúng ta vẫn còn những hạn chế về nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất, các khâu quản lý hồ sơ thẩm định, quản lý vắc xin, v.v. Trong vòng 2-3 năm tới, chúng ta sẽ phải tiếp tục khắc phục các mặt hạn chế này để đạt các tiêu chuẩn mà WHO đặt ra.    Xin trân trọng cảm ơn bà.   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chế tài để sàng lọc      Tại buổi tọa đàm đầu năm với Bộ trưởng Bộ  KH&amp;CN Nguyễn Quân, PGS.TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền cho  biết, theo các chuyên gia Nhật Bản và Đức, Việt Nam hiện có tới 600  viện nghiên cứu; 1.670 tổ chức KHCN Trung ương và địa phương là quá nhiều  và quá lãng phí với một đất nước GDP dưới 200 tỉ USD.     Cũng theo ông Hàm, nền khoa học của Việt Nam đang phải nuôi quá nhiều người – trong đó có không ít người không thực sự làm khoa học khiến chế độ đãi ngộ cho từng cá nhân nhà khoa học là quá thấp, khó có thể an tâm lao động sáng tạo cùng với không ít tiêu cực trong xét duyệt, nghiệm thu các đề tài, chương trình nghiên cứu, mua sắm trang thiết bị.    Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả họat động khoa học, trước hết cần sàng lọc đội ngũ nhân sự trong giới khoa học, tập trung kinh phí cho những người có sản phẩm khoa học đích thực để họ có thêm thu nhập và yên tâm tập trung trí lực vào chuyên môn, đồng thời giữ vững được đạo đức khoa học của mình.  Trong thực tế, các nhà làm chính sách đã và đang có những nỗ lực điều chỉnh cơ chế quản lý khoa học theo xu hướng sàng lọc đội ngũ các nhà khoa học. Bộ KH&CN gần đây đã bước đầu giao kinh phí theo nhiệm vụ, và hiện đang xây dựng chính sách trọng dụng, đãi ngộ các nhà khoa học. Theo đó những người càng làm ra nhiều công trình, sản phẩm có chất lượng thì càng được nhận nhiều tiền, những người không làm ra sản phẩm sẽ không có kinh phí và dần mất đi chỗ đứng.  Nhưng bản thân tiến trình sàng lọc này cũng đứng trước nguy cơ bị sai sót, thiên lệch, vì các họat động bầu chọn các nhà khoa học được hưởng các chế độ đãi ngộ của Nhà nước, hay việc cấp kinh phí cho các đề tài khoa học và đánh giá con người dựa trên sản phẩm vẫn có thể phạm sai lầm nếu được thực hiện bởi những hội đồng khoa học làm việc trên tinh thần xuề xòa, nể nang.   Đã có nhiều sáng kiến được đề xuất nhằm giải quyết vấn đề này, ví dụ như đưa các nhà khoa học quốc tế vào tham gia các hội đồng khoa học trong nước nhằm nâng cao tính nghiêm túc và chuyên nghiệp, hoặc để các tổ chức nghiên cứu tự thanh tra lẫn nhau nhằm phát hiện ra những sai phạm trong các đề tài nghiên cứu mà hội đồng bỏ qua trong quá trình thẩm định – gần đây trong cuộc họp đầu năm với Bộ KH&CN, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng phát biểu rằng giới khoa học cần tăng cường vai trò tự giám sát lẫn nhau vì các cơ quan quản lý Nhà nước không thể phát hiện được hết các sai phạm trong tất cả mọi đề tài nghiên cứu.  Tuy nhiên, những giải pháp kể trên chỉ có thể giúp nhận biết những trường hợp sai phạm, và điều này là chưa đủ để sàng lọc đội ngũ làm khoa học nếu những người vi phạm không bị xử lý hoặc răn đe một cách thích hợp.   Vì vậy, giải pháp ưu tiên hàng đầu cho vấn đề sàng lọc đội ngũ làm khoa học là các cơ quan Nhà nước xây dựng và thực hiện một chế tài xử lý nghiêm khắc tất cả những trường hợp vi phạm chuẩn mực đạo đức khoa học. Đây là điều không dễ dàng nhưng tất yếu phải làm nếu chúng ta không muốn tiếp tục chung sống với tình trạng đạo đức khoa học bị suy thóai, các tổ chức nghiên cứu nặng gánh với những con người không thực sự làm việc, nguồn kinh phí cho những người làm khoa học thực sự bị cắt giảm và tiến trình tự chủ tự chịu trách nhiệm bị trì hoãn.               TS    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ số IF và số trích dẫn là  những tiêu chí cần được xét đến      Mặc dù có một số khả năng ngoại lệ hi hữu như đã đề cập, nhưng về cơ bản việc đánh giá chất lượng bài viết căn cứ trên IF của tạp chí là điều khá hợp lý.    Đối với một bài báo công bố trên tạp chí quốc tế ISI, chúng ta có bốn khả năng sau đây:   1.  Bài báo công bố trên tạp chí có IF rất cao và được trích dẫn nhiều.  2.  Bài báo công bố trên tạp chí có IF rất cao, nhưng ít được trích dẫn.   3.  Bài báo công bố trên tạp chí có IF không cao nhưng được trích dẫn nhiều.   4. Bài báo đăng trên tạp chí có IF nhỏ và được trích dẫn ít.  (IF là tỉ lệ của tổng các trích dẫn trong các tạp chí ISI với tổng số bài của tạp chí đó.)  Ở đây, loại bài báo thứ nhất là quá tốt và không phải bàn cãi. Với các bài báo loại thứ hai, có thể đó cũng là bài báo có kết quả là tốt, nhưng ít được trích dẫn vì nhiều lý do như lĩnh vực nghiên cứu không có nhiều người làm và quan tâm,… Nhưng ngược lại cũng không loại trừ khả năng đó là bài báo có nội dung không xuất sắc, nhưng phản biện sơ xuất cho đăng vì thấy tác giả là người nghiên cứu nhiều kinh nghiệm.   Còn với loại bài thứ ba, thường thì đó là bài báo có chất lượng, nhưng không được đăng trên tạp chí có IF cao vì tên tuổi tác giả chưa mấy người biết đến, và ý tưởng của bài báo còn quá mới mẻ. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng những trường hợp như vậy là không nhiều, và những ý tưởng khoa học hay phải dựa trên nền khoa học cơ sở vững chắc để đảm bảo tính khả thi – ở Việt Nam, không ít các nhà tự học đã đưa ra những ý tưởng khoa học điên rồ, làm mất khá nhiều công sức của các cơ quan khoa học Việt Nam (bản thân người viết bài này cũng có lần được đọc ý tưởng xây nhà chống bão bằng cách cho ngôi nhà có thể tự quay!!)  Cuối cùng là loại bài thứ tư, vừa không được đăng trên tạp chí có chỉ số IF cao, vừa ít được trích dẫn. Trong số này vẫn có thể có khả năng hi hữu đó là các công trình khoa học hay, bởi có ý kiến cho rằng có thể đương thời mọi người chưa hiểu hết giá trị của công trình và phải đến mấy chục năm sau ý tưởng đó mới được sử dụng.  Điều này hoàn toàn có thể, nhưng phải nhấn mạnh rằng, với việc phân nhánh sâu sắc của khoa học hiện nay thì điều nói trên là hầu như không còn, và theo quan điểm của người viết bài này các công trình khoa học hay thì thường được trích dẫn nhiều.  Như vậy, có thể nói rằng trong đa số các trường hợp, chỉ số IF của tạp chí càng cao thì bài viết đăng trên đó càng có giá trị. Mặc dù có một số khả năng ngoại lệ hi hữu như đã đề cập, nhưng về cơ bản việc đánh giá chất lượng bài viết căn cứ trên IF của tạp chí là điều khá hợp lý. Trong ngành vật lý năng lượng cao của tác giả tạp chí với IF < 0,5 khác một trời một vực với tạp chí lớn hơn 4 – qua đó chúng ta cũng thấy rằng không thể đánh đồng chất lượng các tạp chí SCI/ISI, vì tùy theo IF cao hay thấp mà đó là thượng vàng hay hạ cám.   Nhưng phải lưu ý là: IF các ngành có thể rất khác nhau. Với những ngành ít biến động như Toán, các tạp chí sẽ có IF thấp hơn so với những ngành mà quan điểm có thể thay đổi hằng năm như Y học, Thiên văn học và Vật lý năng lượng cao.   Tuy nhiên trong từng ngành các chuyên gia đều có thể kể ra những tạp chí uy tín hàng đầu. Đăng được một bài trong các tạp chí uy tín phải tốn rất nhiều công sức và đối với một số người là ngưỡng khó có thể vượt qua. Một số ý kiến cho rằng việc đánh giá chất lượng công trình do Quỹ NAFOSTED tài trợ ở mỗi ngành nên tính theo mức chỉ số IF của tạp chí ở cấp trung bình của ngành đó, quy thành một đơn vị bài báo và tổng bài báo đăng ký sẽ tương đương với tổng số IF mà các công bố của ứng viên phải đạt được. Ví dụ: Nếu một ứng viên đăng ký 2 bài ISI, lấy bài báo trung bình của ngành có IF = 1, vậy ứng viên phải có tổng IF =2. Kết quả là: Nếu đề tài công bố 1 bài có IF=2 hoặc 4 bài có IF=0,5 sẽ đều được tính là hoàn thành chỉ tiêu đặt ra. Cách tính này sẽ giúp năng cao các công trình khoa học mà không chạy theo số lượng các công bố như hiện nay.   Hiện nay, qua giai đoạn đầu của Quỹ NAFOSTED, chúng ta tạm chấp nhận việc đặt chỉ tiêu nghiệm thu các đề tài theo số lượng công bố trên các tạp chí ISI, nhằm tăng các công bố khoa học quốc tế, và cũng để cho các tác giả quen dần với việc đăng bài trên các tạp chí quốc tế. Nhưng rõ ràng trong tương lai, chúng ta phải chú trọng năng cao chất lượng công bố khoa học, và khi đó việc tính tới IF cùng số trích dẫn sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng đề tài.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chỉ số trích dẫn ISI và việc đánh giá khoa học Việt Nam      Điểm quan trọng nhất tạo nên tên tuổi của ISI chính là vì họ đã đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đó là việc đưa ra đánh giá tổng quan một công trình khoa học, một tạp chí khoa học hay một nhà khoa học chỉ bằng một con số. Việc đánh giá cũng tỏ ra hết sức khách quan và minh bạch. Vấn đề là ở chỗ nó có chính xác không và nó có thể bị lợi dụng không. Do vậy việc sử dụng dịch vụ của ISI trong đánh giá khoa học là cần thiết, nhưng việc dựa hoàn toàn vào dịch vụ này trong đánh giá nghiên cứu là sai lầm lớn hơn nhiều so với việc hoàn toàn không sử dụng nó.    ISI và những hệ lụy  Được thành lập từ năm 1960, Viện Thông tin khoa học (ISI) ngày nay là một công ty con của Thompson Reuters Corporation. Công ty này cung cấp dịch vụ  tra cứu thông tin khoa học. Ý tưởng cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin khoa học không phải là ý tưởng mới của ISI. Chẳng hạn trong Toán học, nó đã được thực hiện từ năm 1931 bởi tạp chí mang tên ZentralBlatt MATH của Đức. Hiện nay trong toán học có tới 3 tạp chí tra cứu thông tin thường gọi là tạp chí review: ZentralBlatt MATH, Mathematical Review của Mĩ (xuất bản từ năm 1940) và Referativny Zhurnal của Nga (xuất bản từ năm 1952)1. Ngoài những thông tin cơ hữu về một công bố, dịch vụ quan trọng nhất mà các tạp chí này cung cấp là một bài bình luận (review) về nội dung của công bố đó, do một nhà khoa học gần chuyên ngành với các tác giả viết. Đã có không ít trường hợp các công trình “lọt lưới phản biện” được công bố nhưng cuối cùng bị phê phán hoặc chỉ ra chỗ sai trên các tạp chí review. Đối với một nhà toán học, bị phê phán trên một tạp chí review là một thất bại rất nặng nề, đôi người còn vì thế mà tiêu tan cả tiền đồ.  Cho tới cách đây 20 năm trong giới toán có lẽ không ai biết tới ISI. Điểm mới của ISI so với các tạp chí tra cứu ngành toán tại thời điểm đó là dịch vụ tra cứu điện tử. Có thể nói ISI đã đi trước một bước. Năm 1997 khi tôi tới làm việc tại ICTP tôi đã được các đồng nghiệp bên Vật lý giới thiệu về ISI. Khi đó họ cung cấp cho ICTP dịch vụ dưới dạng đĩa CD, với một cái giá cắt cổ mà chỉ có những trung tâm “thừa tiền” như ICTP mới chịu nổi. Tôi có thử tra cứu dịch vụ ISI nhưng chỉ cho vui. Vì dịch vụ này chỉ cho tôi biết một bài có bao nhiêu trích dẫn, còn bản thân nó nói gì thì không biết. Vì vậy nó gần như vô nghĩa cho việc nghiên cứu.  Mặc dù các nhà vật lý lý thuyết và các nhà toán học là những người đầu tiên ứng dụng Internet vào dịch vụ khoa học với website đăng tải tiền ấn phẩm xxx.lanl.gov2 của Mĩ. Các tạp chí tra        Cho tới tận ngày hôm nay, đa số các nhà toán học ở Châu Âu hay Mĩ, Nhật, không quan tâm tới ISI. Cách đây vài năm tôi có trao đổi với vài đồng nghiệp gần gũi, đều là biên tập của hai ba tạp chí thuộc hạng tốt nhất trong ngành toán. Tôi phải giải thích khá lâu họ mới “à”, “ừ” và nhớ mang máng là có nghe đâu đó về Viện ISI. Xin mở ngoặc thêm rằng nhưng người này là những chuyên gia đầu ngành, vì thế họ biết rõ tạp chí nào là tạp chí tốt, thậm chí họ còn biết tạp chí nào triển vọng sẽ tốt lên hoặc ngược lại, tạp chí nào có tiếng nhưng đang trên đà đi xuống. Dĩ nhiên mối quan tâm của họ chỉ dừng lại ở vài chục tạp chí tốt nhất. Theo thiển ý của tôi, Toán học ở Châu Âu, Mĩ, Nhật, đã vượt qua “ngưỡng” ISI.        cứu ngành Toán và Lý đã chậm chân hơn so với ISI trong việc ứng dụng Internet vào dịch vụ tra cứu khoa học. Nhưng điểm quan trọng nhất tạo nên tên tuổi của ISI chính là vị họ đã đáp ứng được yêu câu của các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đó là việc đưa ra đánh giá tổng quan một công trình khoa học, một tạp chí khoa học hay một nhà khoa học chỉ bằng một con số. Việc đánh giá cũng tỏ ra hết sức khách quan và minh bạch. Không cần bất cứ một hội đồng nào, chỉ cần một cô thư ký thạo việc cũng có thể sắp hạng tất tật các nhà khoa học từ trên xuống dưới.  Không có gì phải phàn nàn về sự minh bạch cũng như khách quan của chỉ số này, nếu so sánh với những phương pháp đánh giá trước đó. Vấn đề là ở chỗ nó có chính xác không và nó có thể bị lợi dụng không. Hãy tưởng tượng tại một cuộc thi Piano, người thắng cuộc sẽ là người chơi lâu nhất. Rõ ràng tiêu chí “chơi lâu nhất” là một tiêu chí rất minh bạch nếu so sánh với các tiêu chí truyền thống khác. Và với tiêu chí này thì chẳng cần ban giám khảo nào nữa cả. Tất nhiên với thời gian ta sẽ cần bác sỹ, để kiểm tra xem các nghệ sĩ Piano có sử dụng doping hay không. Tình trạng “doping trích dẫn” cũng đang xảy ra trong khoa học.  Có lẽ các nhà toán học, trong đó có cả các nhà thống kê học, là những người dị ứng nhất với “chỉ số trích dẫn” của ISI. Liên đoàn Toán học thế giới (IMU), cơ quan có uy tín nhất của cộng đồng toán học thế giới3 , đã lập ra một ủy ban điều tra về sự lạm dụng chỉ số trích dẫn. Ủy ban này, năm 2008 đã đưa ra một báo cáo dài 26 trang4 , chỉ trích nặng nề chỉ số này. Những kết quả chính mà họ rút ra không nằm ngoài suy nghĩ chung của cộng đồng toán học: Chỉ số trích dẫn là một chỉ số cần thiết để góp phần đánh giá một công trình khoa học, một tạp chí hay một nhà khoa học. Nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu chỉ sử dụng duy nhất chỉ số này để đánh giá, vì nó, như tất cả các chỉ số thống kê khác, không thể đưa ra được đánh giá chính xác cho một cá thể. Ngoài ra sự chính xác cũng như khách quan của nó cũng không được kiểm chứng.  Gần đây hơn ông Douglas Arnold, Chủ tịch Hôi toán Ứng dụng và Toán công nghiệp thế giới (SIAM) – một hội thành viên của IMU, có bài viết nhan đề “Khi sự chính trực bị tấn công”, đề cập đến những hệ lụy của chỉ số trích dẫn5 . Trong bài viết của mình Arnold đã chỉ đích danh một tạp chí của một nhà xuất bản uy tín đã ngụy tạo trích dẫn. Ông còn đưa ra cảnh báo về khả năng một nhóm các nhà khoa hay tạp chí cộng tác trong việc ngụy tạo trích dẫn: người này trích của người kia, tạp chí này trích của tạp chí kia, và ngược lại.  ISI để đánh giá khoa học Việt Nam?  Việc Quỹ NAFOSTED sử dụng tiêu chuẩn có công trình đăng trên các tạp chí được ISI thống kê như là một tiêu chí cứng để quyết định việc tài trợ nghiên cứu cho một nhà khoa học, tuy còn thô, nhưng tại thời điểm được sử dụng nó là một tiêu chuẩn khá khách quan và minh bạch. Có thể ví tác động của tiêu chí này tới khoa học Việt Nam như một loại kháng sinh đặc trị cho một cơ thể bị bệnh. Tuy nhiên sẽ có một số  nguy cơ xấu của việc chỉ dựa một mình vào tiêu chí này để đánh giá và xét duyệt đề án, cá nhân:  – Tất cả các chỉ số đều có thể được ngụy tạo. Một khi chỉ số trích dẫn theo ISI được coi là then chốt trong việc đánh giá khoa học, sẽ có rất nhiều tạp chí tìm cách được vào danh sách thống kê của ISI. Họ sẽ tìm nhiều cách để làm việc này, trong đó có thể có cả những cách không đàng hoàng như ngụy tạo trích dẫn, vận động hành lang với các hội đồng xét duyệt của ISI, đưa ra các điều kiện tài chính với ISI như cam kết sử dụng dịch vụ…  – Nếu chất lượng nghiên cứu được đo bằng số công trình, các tác giả sẽ có khuynh hướng chia nhỏ các kết quả để đăng thành nhiều công trình, chạy theo những vấn đề dễ để nhanh chóng có công bố. Đặc biệt phong cách này sẽ dễ được những nghiên cứu viên mới vào nghề tiếp thu, hệ quả là khoa học Việt Nam có thể tăng về lượng nhưng không tăng, thậm chí giảm về chất. Hãy lấy ví dụ của Ngô Bảo Châu. Công trình dày 200 trang của anh, nếu không được cộng đồng quốc tế công nhận qua giải Fields thì cũng chỉ được hội đồng toán của NAFOSTED cho tối đa là 2 điểm. Có nhà khoa học nào tại Việt Nam ở thời điểm này dám bỏ ra 2-3 năm viết một công trình 200 trang để nhận 2 điểm?  – Các tạp chí khoa học của Việt Nam đang bị ảnh hưởng rất tiêu cực bởi tiêu chí ISI. Khi mà không có một tạp chí khoa học nào của Việt Nam nằm trong danh sách ISI thì việc công bố công trình ở các tạp chí đó gần như là vô nghĩa đối với NAFOSTED. Vì thế thậm chí các công trình của nghiên cứu sinh cũng sẽ được gửi ra nước ngoài nếu chúng có một chút chất lượng. Thực tế này đang xảy ra tại hai tạp chí toán uy tín nhất của Việt Nam. Mặc dù Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang thực hiện các đề án nâng cao chất hai tạp chí này với kinh phí không hề ít so với tổng kinh phí mà NAFOSTED dành cho ngành toán trong 2 năm qua, tình hình cũng chưa có mấy khả quan.  Một số nhà khoa học cho rằng việc các tạp chí Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tiêu chí ISI chẳng có gì đáng quan tâm. Quan điểm của họ là: Tôi đăng nhiều bài trên tạp chí ISI chứng tỏ tôi        Việc các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, sử dụng các thông tin về trích dẫn từ ISI để đánh giá khoa học là điều dễ hiểu. Nền khoa học ở đó yếu, dễ xảy ra tình trạng vàng thau lẫn lộn. Bản thân các nhà quản lý chịu sức ép từ nhiều phía. Một cách tự nhiên họ sẽ thiên về sử dụng những hệ thống đánh giá “nhập khẩu”, đã có tên tuổi, nhãn mác. Cũng như với các mặt hàng “tầm trung” khác, các nước này trở thành thị trường tiêm năng nhất của ISI.        giỏi, anh chỉ có bài trong nước rõ ràng anh kém, trắng đen rõ ràng. Nói cách khác, đối với họ, các tạp chí trong nước hoàn toàn không có ý nghĩa. Theo tôi, suy nghĩ có một phần đúng nhưng vô trách nhiệm. Mục đích cuối cùng của chúng ta là có một nên khoa học đích thực, có vị trí trong khu vực và trên thế giới, chứ không phải là một nhóm các nhà khoa học có nhiều công bố ISI được vinh danh dài dài. Nếu chúng ta khuyến khích các nhà khoa học trẻ tìm mọi cách công bố công trình với mác ISI để có nhiều tài trợ nghiên cứu, chúng ta sẽ chỉ lãng phí tiền để tạo ra một tầng lớp ăn bám cổ cồn trắng chứ không bao giờ đạt được mục đích về một nền khoa học tiên tiến. Tôi có thể chỉ ra đích danh một nhóm nghiên cứu trong một lĩnh vực hẹp của toán học ở một nước đang phát triển, có rất nhiều công bố, nhưng đa số là giấy lộn. Lý do của tình trạng này là số tiền tài trợ nghiên cứu của họ được tính theo số công bố khoa học.  Một số kiến nghị  Từ những suy nghĩ trên, tôi xin đưa ra một số kiến nghị với Quỹ NAFOSTED nói riêng cũng như cho công tác quản lý khoa học nói chung, theo thứ tự ưu tiên của tính cấp thiết.  1. Tiếp tục sử dụng tiêu chí cứng ISI để đảm bảo chất lượng sàn. Có thể yêu cầu các nhà khoa học chứng tỏ khả năng nghiên cứu của mình bằng khả năng công bố trên các tạp chí ISI, tối thiểu a công trình trong vòng b năm, các số a, b cụ thể phụ thuộc vào thực trạng khoa học của từng ngành. Nhưng ngoài đòi hỏi tối thiểu này cần có chính sách đặc biệt để động viên các nhà khoa học công bố trong nước, trên những tạp chí “điểm” của các ngành. Chẳng hạn coi các tạp chí này ngang hàng với các tạp chí ISI. Thậm chí đối với những nhà khoa học đã có thành tích công bố rất tốt, nên có cơ chế đặc biệt để khuyến khích họ công bố trong nước nhiều hơn6.  2. Thực trạng của các ngành khoa học Việt Nam khác nhau, một số ngành tiếp cận hơn tới trình độ khu vực và thế giới như Toán học và Vật lý. Vì thế hệ thống tiêu chuẩn cần được cân nhắc sao cho phù hợp với từng ngành, tránh tình trạng cào bằng, đẩy anh này lên nhưng lại vô tình gạt anh kia xuống. Các hội đồng ngành là bộ phận tham mưu tốt nhất về các tiêu chí cho ngành của mình.  3. Cố gắng giảm tình trạng đếm cơ học trong đánh giá nghiên cứu (nếu chỉ đếm số công trình thì không cần gì tới chuyên gia). Với một vài ngành          Sẽ rất nguy hiểm nếu chỉ sử dụng duy nhất chỉ số ISI để đánh giá, vì nó, như tất cả các chỉ số thống kê khác, không thể đưa ra được đánh giá chính xác cho một cá thể. Ngoài ra sự chính xác cũng như khách quan của nó cũng không được kiểm chứng.          như Toán học và Vật lý, chuẩn ISI là quá thấp, vì thế cần có các chuẩn đánh giá mịn hơn. Cụ thể đưa ra phân loại tạp chí thành 4-5 nhóm để tham khảo trong việc đánh giá chất lượng công bố. Danh sách này có thể do hội đồng khoa học ngành lập và tham khảo thêm ý kiến của phản biện nước ngoài để tăng tính khách quan7 . Với những ngành khác cũng có thể lập bảng phân loại cho các tạp chí ở trình độ tương ứng với thực trạng của ngành.  4. Chủ trương “thưởng theo công trình” có thể được sử dụng để động viên các nhà khoa học, đặc biệt là những người mới vào nghề, công bố ở các tạp chí có chất lượng. Tuy nhiên cần tránh tình trạng “đếm bài ăn tiền”. Chẳng hạn có thể hạn chế số bài được thưởng trong một năm, mặt khác chú ý nhiều hơn tới chất lượng của công trình như trong đề xuất 3. ở trên.  5. Hoàn thiện quá trình đánh giá khoa học theo hướng lấy chuyên gia đánh giá làm nòng cốt. Những đánh giá về một nhà khoa học cụ thể chính xác nhất là những đánh giá do những đồng nghiệp cùng chuyên ngành của anh ta, trong nước hoặc quốc tê, đưa ra. Đánh giá của một cá nhân bao giờ cũng có vẻ chủ quan hơn những con số thống kê, nhưng nếu những đánh giá đó được gắn liền với trách nhiệm và uy tín của người đánh giá thì nó chính xác hơn nhiều. Cuối cùng thì những nhà quản lý khoa học phải dựa vào chính những nhà khoa học để thực hiện công việc quản lý của mình. Vì bản chất của việc quản lý khoa học là để tạo điều kiện cho các nhà khoa học phát huy được hết khả năng của mình.  Chú thích:   1Các địa chỉ mạng là: http://www.zentralblatt-math.org/portal/en/ http://www.ams.org/mathscinet và http://www.viniti.ru/pro_referat.html    2Dịch vụ này ra đời trước cả dịch vụ sex trên mạng, xem http://en.wikipedia.org/wiki/Arxiv   3Nơi trao giải thưởng Fields.    4Xem bản dịch trên Thông tin Toán học www.vms.org.vn    5Xem bản dịch trên Thông tin Toán học www.vms.org.vn    6Trong những năm 30 chính quyền Xô Viết đã cấm các nhà khoa học của mình công bố ra nước ngoài, điều đó đã góp phần tạo ra chất lượng cho các tạp chí Xô Viết.    7Chẳng hạn, Quỹ nghiên cứu của Úc, Australian research council, có một bảng xếp hạng tạp chí của nhiều ngành, có thể tham khảo.       Author                Phùng Hồ Hải        
__label__tiasang Chìa khóa của những vấn đề lớn      Các nhà khoa học đang giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và một số vấn đề nan giải khác rất ưa chuộng nghiên cứu liên ngành, tuy vậy vẫn còn nhiều ý kiến phản đối mạnh mẽ xu hướng “lấn sân” này.      Những mô hình liên ngành sơ khai  Không dễ gì mà xin được khoản tài trợ 40 triệu USD để xây dựng một viện nghiên cứu trong trường đại học. Đó là thách thức cho Theodore Brown, Phó hiệu trưởng nghiên cứu tại ĐH Illinois ở Urbana–Champaign, khi ông tìm cách xin tài trợ từ một nhà hóa học kiêm doanh nhân thành đạt Arnold Beckman, vốn là cựu sinh viên của trường. Brown đã xây dựng một dự án vô tiền khoáng hậu, một mô hình viện nghiên cứu mà vào thời kỳ đó rất khó để xin tài trợ từ các kênh thông thường, bởi nó thách thức cách phân chia ngành học đã trở thành đặc điểm cơ bản của rất nhiều trường đại học thời hiện đại, quy tụ các thành viên của các khoa khác nhau vào cùng làm việc trong những dự án chung. Brown cho rằng điều này sẽ cho phép các thành viên giải quyết những vấn đề khoa học và xã hội lớn hơn so với khi họ làm việc trong từng ngành riêng rẽ. “Những vấn đề đang thách thức chúng ta hiện nay – những vấn đề thực sự đáng được giải quyết – rất phức tạp và đòi hỏi những công cụ trí tuệ và thiết bị tinh vi, không có chỗ cho một cách tiếp cận hạn hẹp. Cấu trúc khoa ngành truyền thống của các trường đại học sẽ không dẫn đến được những nghiên cứu cộng tác, liên ngành,” ông nói.   Đây là một ví dụ sơ khai về tiến trình thúc đẩy các nghiên cứu liên ngành mà ngày nay đang lan rộng ở khắp các trường đại học trên toàn cầu.   Brown không hoàn toàn đơn thương độc mã. Cùng thời gian đó, Viện [nghiên cứu liên ngành] Santa Fe cũng được thành lập ở New Mexico), và Brown là người đã ủng hộ xu hướng này khi nó gặp sự phản kháng mạnh mẽ. Các trưởng khoa lo ngại sẽ mất đi các giảng viên của mình cùng với trợ cấp của họ. Một số đồng nghiệp chế giễu ý tưởng tạo ra những không gian làm việc mở để thúc đẩy sự tương tác giữa các sinh viên sau đại học, cho rằng trong môi trường huyên náo như vậy thì sẽ không thể làm việc nghiêm túc được. Ngoài ra, còn có định kiến rằng nghiên cứu liên ngành chỉ dành cho những người không đủ giỏi trong chuyên ngành của mình, như một nhà vật lý nổi tiếng đã từng tuyên bố.  Nhưng Beckman, người vốn có quan điểm riêng rằng lẽ ra các trường đại học phải được chính quyền bang hỗ trợ phần lớn, lại thích ý tưởng của Brown và đã cam kết tài trợ toàn bộ khoản tiền 40 triệu USD được yêu cầu – lúc bấy giờ là khoản tài trợ tư lớn nhất cho một đại học công ở Mỹ. Sau một vài năm chuẩn bị bận rộn, Viện KH&CN Tiên tiến Beckman (Beckman Institute for Advanced Science and Technology) rộng 29.000m2 ra đời.   Nhận vị trí lãnh đạo Viện lúc đó chính là Brown, bởi Viện gặp khó khăn trong việc tuyển được một giám đốc đủ khả năng và chịu đánh cược với mô hình mới này. Chẳng mấy chốc, Viện bắt đầu nhận được những khoản tài trợ lớn từ các tổ chức như Bộ Quốc phòng và Quỹ Khoa học Quốc gia, từ đó cũng bớt đi những lời chỉ trích. Đến năm 1993, khi Brown rời Viện, các đại học hàng đầu khác bắt đầu cử người đến học hỏi mô hình này.   Truyền thống phân chia khoa học thành các ngành riêng biệt   Truyền thống phân chia kiến thức học thuật thành những phạm trù riêng biệt đã có từ thời Plato và Aristotle, nhưng đến thế kỷ 16, Francis Bacon và các nhà triết gia khác bắt đầu lo lắng cho sự phân chia rời rạc của kiến thức. Một vấn đề đặt ra cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học là: có quá nhiều thông tin trải rộng khắp các lĩnh vực mà không một người nào có thể bao quát xuể. Nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Peter Weingart của ĐH Bielefeld (Đức) lấy luận thuyết phân loại sinh học Systema Naturae của Carl Linnaeus làm ví dụ: từ phiên bản đầu tiên vào năm 1735 đến phiên bản cuối cùng năm 1768, danh mục liệt kê đã tăng từ 10 lên thành 2.300 trang, bao gồm 7.000 loài.   Vào thế kỷ 19, ranh giới phân chia các ngành trong trường đại học hiện đại bắt đầu bén rễ. Cùng với sự đẩy mạnh hỗ trợ nghiên cứu khoa học ở các quốc gia, đặc biệt là ở Mỹ, các ngành học tăng vọt cả về số lượng lẫn sức mạnh sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Theo Vincent Lariviere, nhà khoa học thông tin tại ĐH Montreal (Canada), đó là thời điểm các trường đại học tăng vọt theo cấp số nhân, và quy mô các trường được mở rộng nhờ tăng thêm số lượng các khoa.  Weingart cho rằng những căng thẳng thời Chiến tranh Lạnh cũng đóng vai trò trong sự phát triển xu hướng nghiên cứu theo chuyên ngành ở Mỹ. Thời kỳ đó, trong khi Liên Xô hướng khoa học đến ứng dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội, ví dụ như cải thiện nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực, thì Mỹ lại thể hiện quan điểm ngược lại, cho rằng phải cởi trói và tăng cường nghiên cứu cơ bản. Vô hình trung điều này cổ xúy cho nghiên cứu theo chuyên ngành biệt lập, bởi nghiên cứu cơ bản không chịu áp lực phải hướng đến tính liên ngành như các nghiên cứu ứng dụng. Do vậy, số lượng các chuyên ngành ở Mỹ ngày càng nở rộ khi các lĩnh vực đơn lẻ liên tục được phân chia nhỏ hơn.   Sự trỗi dậy của xu hướng liên ngành   Là một phong trào học thuật, xu hướng liên ngành bắt đầu phát triển từ những năm 1970. Lariviere cho rằng sự phát triển đó một phần là nhờ vào các thư viện, nơi bắt đầu tăng dự trữ tạp chí đặt định kỳ và cải thiện khả năng các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận các tạp chí thuộc các lĩnh vực khác, ví dụ một nhà vật lý hạt có thể dễ dàng tham khảo các tạp chí về sinh học. Hơn nữa, Mỹ cũng bắt đầu chuyển hướng tập trung từ nghiên cứu cơ bản sang những vấn đề xã hội như bảo vệ môi trường, những vấn đề khó có thể được giải quyết bởi một lĩnh vực riêng lẻ.   Năm 1994, một cuốn sách có tầm ảnh hưởng lớn được tài trợ một phần bởi Hội đồng Hoạch định và Phối hợp Nghiên cứu Thụy Điển mang tựa đề The New Production of Knowledge (Cách sản sinh tri thức mới) của NXB Sage đã tiên đoán trong tương lai, khoa học ngày càng mang tính liên ngành, khi mà khoa học tìm cách giải quyết các vấn đề liên quan đến xã hội. Lariviere cho rằng, cuốn sách đó có tầm ảnh hưởng đặc biệt đến chương trình hỗ trợ tài chính Fifth Framework của Liên minh châu Âu từ năm 1998 đến 2002, trong đó chú trọng các nghiên cứu liên ngành, định hướng theo vấn đề cụ thể cần giải quyết.   Chẳng mấy chốc, các viện nghiên cứu liên ngành bắt đầu mọc lên trên khắp thế giới, mỗi viện có cơ cấu và mục đích riêng. Một trong những viện đầu tiên là Viện Sante Fe, thành lập năm 1984, chuyên ứng dụng toán cao cấp và các kĩ năng điện toán vào một loạt các lĩnh vực khác. Các viện như Viện Nghiên cứu Ung thư Tích hợp David H. Koch thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), hay Janelia Research Campus ở Ashburn (Virginia) chuyên nghiện cứu khoa học thần kinh, thì giải quyết các vấn đề nằm trong một lĩnh vực nhưng lại yêu cầu những nghiên cứu từ các lĩnh vực khác. Một số viện như Viện Bền vững Monash ở Úc thì tập trung vào những vấn đề rất cụ thể.   Xu hướng liên ngành cũng đang phát triển ở châu Á. Năm 2000, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia của Trung Quốc (NSFC) đã đặt ra chiến lược cho nghiên cứu liên ngành, và các trường đại học đã cho ra đời một số trung tâm nghiên cứu liên ngành trong vòng một thập kỷ qua, trong đó có Học viện Nghiên cứu Liên ngành Tiên tiến thuộc ĐH Bắc Kinh. Ông Yonghe Zheng, Phó tổng giám đốc Vụ Chính sách Khoa học của NSFC, cho biết, quỹ còn lên kế hoạch mở thêm các dự án liên ngành nữa trong những năm tới. “Trung Quốc là một nước đang phát triển, bởi vậy các trường đại học và viện nghiên cứu có thể nhanh chóng thành lập các trung tâm mới phản ánh được xu thế nghiên cứu liên ngành mới này,” ông nói.   Ở Singapore, ĐH Công nghệ Nanyang đã thành lập Khoa sau đại học Liên ngành (Interdisciplinary Graduate School) từ năm 2012, với số sinh viên hiện nay là 335 người trong tổng số 2.000 sinh viên sau đại học tại trường. Chương trình sau đại học liên ngành của Nanyang, mà trường tự xác nhận là chương trình đầu tiên thuộc loại này ở châu Á, được thiết kế một phần nhằm mở rộng những chọn lựa gây quỹ của trường, chủ nhiệm chương trình Bo Liedberg cho biết. Giới doanh nghiệp thường tập trung vào các vấn đề thực tế liên quan đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, bởi vậy một chương trình liên ngành có thể đẩy mạnh sự cộng tác với các doanh nghiệp.  Việc chú trọng vào nghiên cứu liên ngành như một nguồn tăng thu nhập là khá phổ biến. Merlin Crossley, Trưởng khoa Khoa học sự sống của ĐH New South Wales (Úc), cho biết: “Tôi luôn nhận được áp lực phải lập các mối liên kết liên khoa, liên viện. Ví dụ, khi tôi muốn xây một tòa nhà mới thì sẽ dễ xin tài trợ hơn nếu tôi có nhiều đồng minh hơn.” Tài trợ liên bang của ĐH Bang Arizona đã tăng 162% từ năm 2003 đến 2012 nhờ việc đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành trong toàn trường.   Tuy nhiên, bất chấp những áp lực này, sức lan tỏa của nghiên cứu liên ngành vẫn còn khiêm tốn. Ngoài một vài trường như Nanyang hay Durham, vẫn còn hàng trăm đại học chưa thay đổi nhiều. Ở hầu hết các viện, sự phân chia khoa ngành vẫn còn chiếm vị thế chính. Đối với một số nhà khoa học thì đây là một thất vọng lớn.  Những trở ngại thường gặp   Sự chuyển đổi sang làm nghiên cứu liên ngành ở nhiều tổ chức nghiên cứu gặp không ít trở ngại. Sai lầm thường thấy nhất ở nhiều chương trình liên ngành là chưa nhận thức hết sự cần thiết của việc huy động lòng quyết tâm cá nhân và xây dựng các mối quan hệ gắn kết cần thiết giữa các nhà nghiên cứu để có thể có được một dự án liên ngành thành công. Laura Meagher, một nhà tư vấn chuyên huấn luyện các nhóm liên ngành ở St Andrews (Anh), chia sẻ, mọi người thường nghĩ chỉ cần gộp hồ sơ các nhà khoa học vào với nhau là có một dự án liên ngành thành công, nhưng thực ra phải mất nhiều thời gian để có thể xây dựng được mối quan hệ cần thiết giữa các nhà khoa học cùng làm việc trong một nhóm.  Khi áp lực phải hợp tác đến từ chỉ đạo phía trên, việc chú trọng vào xây dựng mối quan hệ của đội ngũ có thể bị lơ khiến dự án thất bại. Một ví dụ điển hình về tính nhạy cảm của các mối quan hệ trong một dự án liên ngành có thể thấy ở Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Anh, nơi tổ chức và thực hiện các nghiên cứu về năng lượng bền vững từ năm 2004. Mark Winskel, nhà khoa học xã hội và chính trị tại ĐH Edinburgh đã đánh giá công việc của Trung tâm trong 10 năm qua và cho biết, năm năm đầu tiên Trung tâm hoạt động rất tốt, công bố được một xuất bản quan trọng là Năng lượng 2050, trong đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu của mình và đưa ra được các khuyến nghị. Nhưng trong năm năm tiếp theo, kết quả lại không được như ý. Winskel đã tiến hành khảo sát các thành viên và thấy rằng những thay đổi trong cấu trúc của Trung tâm nhằm hướng tới một cộng đồng rộng hơn (ví dụ như đưa ra nhiều vòng tài trợ mới ngay giữa giai đoạn năm năm lần thứ hai) đã làm ảnh hưởng đến một số mối quan hệ lâu dài từ trước. Việc cố gắng đa dạng hóa cộng đồng các học giả và lĩnh vực nghiên cứu đã làm Viện trở nên ít gắn kết hơn. Rút kinh nghiệm từ bài học này, trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2014, Trung tâm chủ trương giữ ổn định cho các mối quan hệ hợp tác.  Đặc biệt ở các ngành xã hội, các nhà khoa học thường phải đối mặt với sự thiếu gắn kết này hơn. Khi nhà tài trợ muốn nhấn mạnh vào các tác động xã hội của nghiên cứu mà họ tài trợ, các nhà khoa học xã hội thường được huy động để đánh giá những tác động rộng hơn của dự án. Nhưng nhiều nhà khoa học cảm thấy bị xúc phạm nếu họ được đề nghị tham gia chỉ để đáp ứng vấn đề mang tính hình thức đó trong khi lại không được cống hiến những đóng góp thực sự về chuyên môn.   Một số nghiên cứu của Anh đã cho thấy các nhà khoa học xã hội thường ít muốn tham gia vào các dự án liên ngành hơn các nhà nghiên cứu ở những lĩnh vực khác. Một trong những sai lầm nằm ở cái gọi là “quyền bá chủ của khoa học tự nhiên”. Những ngành này thường được coi trọng hơn các lĩnh vực mang nhiều tính định tính như các môn khoa học xã hội, và được các nhà tài trợ và cả nhà nghiên cứu coi là nghiêm túc hơn. Sự mất cân bằng này đã gây nhiều thất vọng và làm suy yếu sự hợp tác. Các nhà khoa học tự nhiên thường ngây thơ cho rằng họ có thể tự thiết kế và tiến hành các khảo sát về ý kiến cộng đồng nhờ các công cụ Internet như SurveyMonkey, nhưng trên thực tế, các chuyên gia trong lĩnh vực khảo sát xã hội cho biết những phép đo lường của khoa học xã hội rất phức tạp và không dễ thực hiện.   Sự thiếu tôn trọng lĩnh vực của nhau sẽ gây nhiều khó khăn trong quá trình tương tác giữa các nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau. Các nhà kỹ thuật sinh học thường phản đối việc các đề tài nghiên cứu của họ được xét duyệt bởi hội đồng các nhà sinh học, bởi họ hay xem thường những mục tiêu nghiên cứu và đo lường kỹ thuật. Ngược lại, cũng có những hội đồng kỹ thuật sinh học xem thường những hạn chế của nghiên cứu lâm sàng.  Tình hình xuất bản cũng khá lẫn lộn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu liên ngành đã than phiền rằng những bài báo của họ khó được công bố trên các tạp chí chuyên ngành hàng đầu. Có nhà nghiên cứu liên ngành thì cho rằng sự nổi lên của các tạp chí liên ngành là có ích cho lĩnh vực của mình, nhưng cũng lo ngại về chất lượng một số bài báo được đăng trên những tạp chí này. Người ta cũng phân vân liệu có phải là khôn ngoan không khi đào tạo các sinh viên sau đại học theo hướng liên ngành trước khi họ thực sự được tôi luyện trong một chuyên ngành.   Nhiều người xem xu thế nghiên cứu liên ngành ở các viện vẫn đang trong quá trình thử nghiệm. Một số viện đang thử nghiệm nhiều cách thức mới trong tổ chức nghiên cứu, một số khác lại tìm cách thay đổi phương thức đánh giá các nghiên cứu. Ở nhiều quốc gia, cuộc thử nghiệm làm nghiên cứu liên ngành mới chỉ bắt đầu. Đơn cử như ở Nhật Bản, tại một số viện nghiên cứu như RIKEN ở Wako đã bắt đầu hình thành những nhóm nghiên cứu liên ngành gồm các nhà vật lý, hóa học và sinh học lý thuyết, nhưng ở  một số trường đại học hàng đầu như ĐH Tokyo, xu hướng làm nghiên cứu chuyên ngành vẫn rất phổ biến.   Khánh Minh  và  Bùi Thu Trang lược dịch  Nguồn:http://www.nature.com/news/how-to-solve-the-world-s-biggest-problems1.18367#auth-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chiến lược KH&CN: Những điểm chính      Mới đây Thủ tướng đã phê duyệt Chiến lược phát triển KH&amp;CN giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020, KH&amp;CN Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP…    Với quan điểm phát triển khoa học và công nghệ để tạo được bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chiến lược tập trung thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, gắn nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp, các ngành.    Mục tiêu cụ thể Chiến lược   1. Đến năm 2020, khoa học và công nghệ góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10 – 15%/năm giai đoạn 2011 – 2015 và trên 20%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình 15 – 17%/năm.  2. Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng trung bình 15 – 20%/năm. Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2011 – 2015 tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006 – 2010, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 2 lần so với giai đoạn 2011 – 2015, trong đó đặc biệt tăng nhanh số lượng sáng chế được tạo ra từ các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước.  3. Phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020. Bảo đảm mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm.  4. Đến năm 2015, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 9 – 10 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.          … Chiến lược phát triển KH&CN giai  đoạn 2011 – 2020 được xây dựng trên cơ sở những bài học qua quá trình  thực hiện Chiến lược Phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 được Thủ  tướng Chính phủ phê duyệt năm 2003.               Chiến lược lần này bên cạnh việc khắc phục những hạn chế trong giai đoạn  trước, đã có được tầm nhìn mới, giải pháp mới phù hợp với bối cảnh  trong nước, khu vực và thế giới; xác định được khâu then chốt, tháo gỡ  căn bản những nút thắt để phát triển KH&CN phục vụ CNH, HĐH…   Thứ trưởng KH&CN               Nghiêm Vũ Khải khoa        Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 11 – 12 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.  5. Đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ; 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; 30 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.  Đến năm 2020, hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ; 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.    Định hướng nhiệm vụ phát triển KH&CN  Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN. Về tổ chức KH&CN, tái cấu trúc và quy hoạch lại hệ thống tổ chức KH&CN quốc gia theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, trùng lặp và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, các ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế; Tập trung đầu tư phát triển Viện KH&CN Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam trở thành hai tổ chức KH&CN hàng đầu quốc gia và ASEAN; Nâng cao năng lực của các trường đại học về nghiên cứu cơ bản; Xây dựng tại mỗi vùng kinh tế trọng điểm ít nhất một tổ chức KH&CN mạnh gắn với tiềm năng, lợi thế của vùng, liên kết chặt chẽ với các trường đại học để đào tạo nhân lực, thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Khuyến khích, hỗ trợ hình thành, phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệpKH&CN; Phát triển mạnh doanh nghiệp KH&CN, chủ yếu từ các trường đại học, viện nghiên cứu.   Cơ chế hoạt động KH&CN  Triển khai mô hình hợp tác công-tư trong lĩnh vực KH&CN; phát triển các hình thức hợp tác nghiên cứu, đổi mới công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực giữa khu vực công và tư; chuyển cơ chế cấp phát tài chính để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN sang cơ chế quỹ; triển khai nhanh chóng và đồng bộ hệ thống các quỹ KH&CN sang cơ chế quỹ; triển khai nhanh chóng và đồng bộ hệ thống các quỹ KH&CN bao gồm các quỹ quốc gia, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; chuyển các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật; thực hiện nghiên cứu ứng dụng KH&CN theo đặt hàng của Chính phủ, các bộ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức khác.   Phát triển đồng bộ KHXH&NV   và các hướng công nghệ ưu tiên (gồm công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo máy-tự động hóa và công nghệ môi trường).   Giải pháp chủ yếu   Tập trung nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án KH&CN quốc gia và nâng cao năng lực KH&CN quốc gia; đổi mới cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước cho KH&CN, huy động các nguồn lực xã hội cho KH&CN; xây dựng đồng bộ chính sách thu hút, sử dụng cán bộ KH&CN; phát triển thị trường KH&CN…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ điện tử ở Bahrain: Thay đổi tư duy cung cấp dịch vụ công      Thành công của Chính phủ điện tử ở Bahrain đến từ chiến lược phát triển toàn diện ngay từ đầu, hướng đến cung cấp trải nghiệm dịch vụ khách hàng tiện ích nhất nhằm đem lại sự hài lòng của người dùng.    Là một quốc gia Ả Rập với diện tích bé nhỏ nhưng Vương quốc Bahrain đang được đánh giá là một quốc gia tiên phong trong xây dựng Chính phủ Điện tử trên thế giới (Năm 2016, xếp hạng 24 toàn cầu về Chỉ số Phát triển Chính phủ Điện tử do Liên Hiệp Quốc xây dựng). Sáng kiến Chính phủ Điện tử của Bahrain đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế và là quốc gia Ả Rập đầu tiên được đánh giá là “Quốc gia hiệu quả rất cao trong Chỉ số Phát triển Chính phủ Điện tử”. Bahrain là một ví dụ minh họa điển hình cho cách chính phủ đã tự nhận thức được mối quan hệ nhà cung cấp – khách hàng trong cung ứng dịch vụ công, từ đó mang đến sự hài lòng và niềm tin của công dân.  Chiến lược hệ thống toàn diện ngay từ đầu  Việc phát triển Chính phủ Điện tử là một thách thức đối với cả quốc gia phát triển và đang phát triển, bởi nó đòi hỏi nhiều nguồn lực phức tạp. Dù nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của Chính phủ Điện tử nhưng nhiều nỗ lực để thực hiện nó đã không thành công như mong đợi. Điều này thường do một lý do duy nhất: Hệ thống không đủ toàn diện. Một số chính phủ lo lắng “làm nhiều, sai nhiều” – cho rằng không có đủ khả năng để quản lý một hệ thống Chính phủ Điện tử nhiều hạng mục, vì thế chỉ thực hiện các hoạt động ở quy mô nhỏ và tách biệt nhau.  Ngay từ khi xây dựng Chính phủ Điện tử, Bahrain đã xác định chiến lược của mình là “trở thành người dẫn đầu về Chính phủ Điện tử” và xây dựng một cổng điện tử quốc gia duy nhất, tích hợp tất cả các dịch vụ công do các bộ, cơ quan chính phủ cung cấp, nhằm phục vụ cả cá nhân, nhân viên chính phủ, doanh nghiệp và khách du lịch bằng việc cung cấp các dịch vụ bằng cả tiếng Ả Rập và tiếng Anh, phản ánh cách tiếp cận hiện đại trong thế giới toàn cầu, nơi di cư và đa văn hóa ngày càng phổ biến. Nhờ vậy, dù mới được thành lập vào năm 2007 với 30 dịch vụ ban đầu, giờ tổng số dịch vụ đã lên tới hơn 300, thực hiện 15 triệu giao dịch với tổng giá trị 11 triệu USD, chiếm đến 90% tổng giao dịch ở Bahrain.  Ngoài ra, Bahrain tiến hành chính sách “không có cửa sai” cho phép người dùng tiếp cận dịch vụ ở nhiều kênh khác nhau. Các dịch vụ công này không giới hạn trên nền tảng web mà còn qua cổng thông tin trên di động, các kiosk dịch vụ điện tử (nhắm đến các khách hàng không có khả năng truy cập internet) và trung tâm liên hệ 24/7 quốc gia. Nước này còn phát triển thẻ căn cước thông minh cho cả cư dân bản địa và nước ngoài, mang tới cơ hội cho người dùng chỉ cần đăng nhất một lần duy nhất để có thể truy cập được nhiều dịch vụ cùng lúc. Còn hiện tại, mỗi dịch vụ được cung cấp như một hệ thống tách biệt và yêu cầu nhập lại dữ liệu mỗi lần truy cập.    Bộ trưởng Bộ Y tế Bahrain khởi động dịch vụ E-Birth trên ki-ốt dịch vụ Chính phủ điện tử. Nguồn: keybs.net  Tư duy nhà cung cấp dịch vụ  Bản thân việc Bahrain nỗ lực cung cấp ngày càng nhiều dịch vụ tiện ích cho công dân đã thể hiện tư duy tiến bộ của chính phủ nước này – tự nhìn nhận mình với tư cách nhà cung cấp dịch vụ. Hài lòng của khách hàng là trọng tâm không đổi trong xây dựng chiến lược Chính phủ Điện tử. Công dân liên tục được tham gia vào sự phát triển Chính phủ Điện tử – từ việc xây dựng chiến lược bằng cách phản hồi lại dự thảo của chính phủ, đến việc cải thiện chất lượng dịch vụ thông qua đánh giá trong quá trình sử dụng. Thậm chí, năm 2013, đơn vị phụ trách Chính phủ Điện tử của Bahrain còn thuê công ty kiểm toán hàng đầu thế giới – Ernst & Young thực hiện nghiên cứu hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ công được cung cấp.  Cổng điện tử quốc gia có chức năng chat trực tuyến với phó thủ tướng và các cơ quan chính phủ khác và chương trình Chính phủ Điện tử có mặt khắp nơi trên các trang mạng xã hội như Facebook và YouTube. Ngoài ra còn có các tính năng khác như diễn đàn mở, blog, thăm dò trực tuyến, bản tin điện tử và các dịch vụ tương tác khác liên quan đến công dân trong việc ra quyết định của Chính phủ. Kết quả là tỷ lệ hài lòng của khách hàng đã tăng từ 85% vào năm 2011 lên đến 91% vào năm 2016.  Bahrain cũng thực hiện nhiều chiến dịch marketing, khơi dậy nhận thức để quảng cáo và phổ cập về Chính phủ Điện tử, bao gồm quảng cáo in, truyền thông đại chúng, băng rôn, video xã hội và truyền thông trực tuyến.  Chiếc áo che đậy  Bất chấp những thành tích cao trong chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Bahrain, hiệu quả của nó trong việc giảm tham nhũng, củng cố chất lượng chính phủ và phát triển kinh tế – như ý nghĩa của việc phát triển chính phủ điện tử mà Liên Hiệp Quốc đề xuất, lại vô cùng hạn chế. Nguyên nhân được cho là xuất phát từ đặc thù chuyên chế chính trị ở quốc gia vùng vịnh này – Bahrain ở dưới sự cai trị của chế độ Al-Khalifa – một nền quân chủ lập hiến do quốc vương đứng đầu với quyền lực hành pháp rộng lớn thuộc về Quốc vương (bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, chỉ huy quân đội, chủ toạ Hội đồng Tư pháp Tối cao, Hội đồng Cố vấn của nghị viện và giải tán Hội đồng Đại diện). Năm 2011, Bahrain đã thẳng tay đàn áp những người nổi dậy trong cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập – đòi quyền tự do ngôn luận, nhân quyền và chống tham nhũng, và bị nhiều nước lên án do những hành vi tra tấn, trả thù người đối lập chính trị.  Chính bản chất độc tài chuyên chế này đã khiến cho việc xây dựng chính phủ điện tử mới chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin cho công dân mà không phải để tạo ra kênh giao tiếp hai chiều giữa công dân và chính phủ, thậm chí còn kiểm soát và chọn lọc chặt chẽ các nguồn thông tin sẽ chia sẻ với người dân. Về bản chất, việc phát triển chính phủ điện tử ở Bahrain chỉ nhằm để thể hiện cho công dân thấy “chính phủ đang sẵn sàng lắng nghe và phục vụ công dân”, qua đó tăng cường lòng tin của dân đối với nền chính trị hiện có nên GS.Jonas Linde (ĐH Bergen, Nauy) ví von là “Chiếc áo của nhà độc tài”.  Theo Báo Khoa học và Phát triển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ Hàn Quốc đầu tư 4,5 tỷ USD cho KHCN, truyền thông năm 2020      Hàn Quốc sẽ đầu tư 5.192,9 tỷ won (4,5 tỷ USD) cho các dự án nghiên cứu và phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong năm 2020.      Bộ Khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông Hàn Quốc ngày 1/1 công bố “Kế hoạch thực hiện tổng hợp dự án nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật, ICT năm 2020”.  Trong năm nay, Chính phủ dự kiến đầu tư 1.531,2 tỷ won (1,3 tỷ USD) vào nghiên cứu cơ bản, tăng 319,8 tỷ won (276,4 triệu USD) so với ngân sách năm ngoái, nhằm xây dựng môi trường, hạ tầng nghiên cứu cơ bản sáng tạo và vượt bậc hơn nữa. Chính phủ cũng sẽ đầu tư 1.600 tỷ won (1,4 tỷ USD) cho nghiên cứu công nghệ gốc, như công nghệ y sinh học, vật liệu nano, công nghệ vũ trụ, năng lượng nguyên tử.  Ở lĩnh vực ICT, Chính phủ sẽ tập trung bồi dưỡng các ngành công nghiệp có nền tảng là mạng viễn thông di động thế hệ thứ 5 (5G). Chính phủ sẽ đầu tư tổng cộng 87,9 tỷ won (76 triệu USD) để phát triển công nghệ liên quan tới thiết bị mạng, smartphone thế hệ mới, thiết bị thực tế ảo (AR), thực tế ảo tăng cường (VR), robot kết nối (Connected Robot), bảo mật thông tin, điện toán biên (Edge computing), dựa theo “Lộ trình công nghệ nghiên cứu và phát triển 5G + ICT” lập ra hồi tháng 7 năm ngoái. Ngoài ra, Chính phủ sẽ đầu tư 10 tỷ won (8,6 triệu USD) để phát triển các trang thiết bị, phụ tùng, thiết bị đầu cuối 5G.  Chính phủ sẽ hỗ trợ phát triển công nghệ mạng viễn thông di động thứ 6 (6G) nhằm duy trì vị thế đi đầu thế giới ở lĩnh vực viễn thông di động, lập dự án phát triển công nghệ trọng tâm 6G quy mô 1.000 tỷ won (864,3 triệu USD), xúc tiến nghiên cứu tính khả thi, đầu tư 900 triệu won (777,8 triệu USD) cho dự án nghiên cứu chung về mạng 6G với Phần Lan.  Ngay trong tháng này, Bộ Khoa học sẽ tổ chức các buổi giới thiệu tại Seoul và thành phố Daejeon để hướng dẫn nội dung, bài toán cụ thể của các dự án nghiên cứu và phát triển, thời gian và quy trình tuyển chọn đơn vị tiến hành.  Cũng trong kế hoạch trên, Bộ Khoa học quyết định sẽ giảm nhẹ gánh nặng thuế, tích cực hỗ trợ xuất khẩu để bồi dưỡng các ngành công nghiệp liên quan tới dịch vụ mạng 5G. Cụ thể, Chính phủ sẽ mở rộng tỷ lệ khấu trừ thuế khi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực mạng 5G từ 1% lên 2%, giảm thuế đăng ký giấy phép kinh doanh đối với các trạm thu phát 5G mới. Bên cạnh đó, Bộ Công nghệ sẽ phối hợp với Tổng công ty bảo hiểm thương mại Hàn Quốc xúc tiến các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 5G xuất khẩu ra thị trường nước ngoài từ năm sau.  Nguồn: http://world.kbs.co.kr/service/news_view.htm?lang=v&Seq_Code=44035    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính phủ với “Hàng hóa công”      Đầu tư cho khoa học cơ bản rất tốn k&#233;m nhưng kh&#244;ng đem lại lợi &#237;ch cho một c&#225; nh&#226;n hay tập đo&#224;n kinh tế, nhưng n&#243; rất quan trọng đối với sự ph&#225;t triển của cả x&#227; hội, cho n&#234;n khoa học cơ bản được c&#225;c nh&#224; kinh tế đặt cho c&#225;i t&#234;n l&#224; &#8220;h&#224;ng ho&#225; c&#244;ng&#8221;, v&#237; dụ như ngọn hải đăng, hay một hệ thống quốc ph&#242;ng. V&#236; vậy khoa học cơ bản chỉ c&#243; thể ph&#225;t triển được khi c&#243; sự hỗ trợ của Ch&#237;nh phủ. Vấn đề đặt ra l&#224; Ch&#237;nh phủ n&#234;n đầu tư v&#224;o đ&#226;u, v&#224; ở mức độ n&#224;o?     Đầu tiên, tôi cho rằng các nước phát triển có trách nhiệm phải hỗ trợ cho khoa học cơ bản vì lợi ích tổng thể của xã hội. Thứ hai, một cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản nếu được duy trì hoạt động thì sẽ giúp bảo tồn và nuôi dưỡng sự phát triển công nghệ mới. Vai trò của việc làm nghiên cứu trong đào tạo các nhà khoa học – những người sau này có thể sẽ chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp – và trong sự tạo thành mạng lưới nghiên cứu, là vô cùng quan trọng. Việc ở gần các trung tâm nghiên cứu sẽ đem lại lợi ích trực tiếp khi người ta khai thác sản phẩm nghiên cứu, và khai thác các khám phá ngoài dự kiến (những công ty ra đời từ việc tận dụng những khám phá ngoài dự kiến thường xuất hiện ở đâu đó gần các trung tâm như vậy). Chẳng phải tình cờ khi Thung lũng Silicon ở gần Đại học Stanford, hay cụm các công ty công nghệ cao ở sát thành phố Boston (đáng tiếc là không dễ tìm ra ví dụ tương tự ở châu Âu, do văn hoá kinh doanh yếu hơn ở các đại học và trung tâm nghiên cứu của châu Âu).   Tuy nhiên, ta có thể hỏi, ở nước Nhật thì sao?     Vào những năm 1980, khi người Nhật chỉ thiên về hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm hơn là khoa học cơ bản nhưng họ đã chiếm lĩnh nhiều thị trường công nghệ, kể cả những lĩnh vực rất tinh xảo như bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM), và người ta thậm chí tự hỏi ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ liệu có cơ may sống sót. Nhưng thực tế thì ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ đã không bị diệt vong, và trong lúc người ta tiên đoán về sự lụi tàn của nó, thì các nhà nghiên cứu Mỹ từ 1989 đã làm cuộc cách mạng, tạo ra những thị trường mới với công nghệ sinh học, đa phương tiện, phần mềm máy tính, và liên lạc điện tử, … Cùng thời gian đó, nền kinh tế Nhật thụt lùi dần. Vì thế Chính phủ Nhật trong Kế hoạch Cơ bản cho Khoa học và Công nghệ, công bố vào 1996, đã dự tính tăng hỗ trợ kinh phí cho khoa học cơ bản thêm 50% trong vòng 5 năm.           Các tiêu chí truyền thống để đánh giá kết quả khoa học, và sự đóng góp của người tham gia nghiên cứu, vẫn là những tiêu chí tốt nhất có thể có, mà theo quan điểm của tôi thì chúng nên tiếp tục được sử dụng – dù sao thì tiền của vẫn có sẵn hơn chất xám, kể cả trong thời đại mọi người đều lo lắng tới hiệu quả tài chính như hiện nay.        Có thể khẳng định rằng trường hợp của nước Nhật không hề cung cấp căn cứ cho giả thuyết rằng giảm kinh phí đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là một chủ trương khôn ngoan.     Ngành khoa học cơ bản nào nên được đầu tư?  Tôi đã khẳng định rằng những cân nhắc trên lợi ích kinh tế và văn hoá dẫn tới kết luận rằng kinh phí của Nhà nước nên hướng tới khoa học cơ bản thay vì ứng dụng. Tuy nhiên, nếu chúng ta chấp nhận lối tư duy kinh tế như vậy, thì cũng lại nên tiếp tục vận dụng chúng cho những cuộc thảo luận về điều phối kinh phí giữa các ngành khoa học cơ bản khác nhau.   Trước đây tôi đã nhắc tới việc Faraday có thể thấy trước ứng dụng của điện năng, nhưng năm 1867, 9 năm sau khi Faraday qua đời, một cuộc hội thảo của các nhà khoa học Anh đã đi tới kết luận rằng “tuy chúng ta không thể khẳng định điều cần tiếp tục nghiên cứu là gì, nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng không có căn cứ nào cho thấy điện có thể được sử dụng như một nguồn năng lượng khả thi”. Cũng tương tự như vậy, chúng ta biết rằng Thomas Watson, cha đẻ của IBM, khẳng định vào năm 1947 rằng “một máy tính độc lập sẽ có thể giải quyết mọi tính toán khoa học quan trọng trên thế giới”, nhưng ông ta cũng không thể nhìn ra được các chức năng khác của máy tính.  Việc không thể đoán trước kết quả, mà từ đầu tôi đã quy thành một nguyên nhân khiến trách nhiệm thuộc về Nhà nước trong việc hỗ trợ kinh phí cho khoa học cơ bản, cũng khiến cho trong thực tế, sẽ không khả thi và rất nguy hiểm nếu cố gắng phân phối kinh phí cho khoa học cơ bản dựa trên kỳ vọng về giá trị kinh tế. Các tiêu chí truyền thống để đánh giá kết quả khoa học, và sự đóng góp của người tham gia nghiên cứu, vẫn là những tiêu chí tốt nhất có thể có, mà theo quan điểm của tôi thì chúng nên tiếp tục được sử dụng – dù sao thì tiền của vẫn có sẵn hơn chất xám, kể cả trong thời đại mọi người đều lo lắng tới hiệu quả tài chính như hiện nay.  Thực tế rằng các kết quả nghiên cứu cơ bản là không thể đoán trước được, không có nghĩa là các động cơ kinh tế hướng tới lập giải pháp cho những vấn đề ứng dụng cụ thể đều là phù phiếm. Các nhà khoa học thế kỷ 19 đã rất cố gắng tìm biện pháp làm đông nitơ, nhưng đều thất bại cho tới khi Đại chiến Thế giới lần thứ I khiến nước Đức mất đi những đất đai màu mỡ, và rồi giải pháp được nhanh chóng tìm thấy. Ở Mỹ, nền khoa học, công nghệ, và tiền bạc, kết hợp với ý chí chính trị đã đưa con người lên Mặt trăng trước 1970. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu khi nào thì những động cơ như vậy đem lại hiệu quả, khi nào thì không. Tổng thống Nixon từng vận động cuộc chiến chống lại ung thư, mô hình hoá theo đúng các bước dẫn tới thắng lợi của chương trình không gian, nhưng cuối cùng phải thất bại. Lý do thật rõ ràng. Những nguyên lý cần thiết liên quan tới việc đưa người lên Mặt trăng đã được thấu hiểu kỹ trước khi chương trình không gian bắt đầu, trong khi tri thức của chúng ta về các nguyên lý sinh học đằng sau sự sinh trưởng và đột biến gene vẫn còn rất giới hạn.        Những người cống hiến cao nhất [cho các ngành công nghiệp] là những nhà khoa học tận tâm làm nghiên cứu, chứ không phải những chuyên gia công nghệ, hay các kỹ sư.                                               J. Baruch        Điều này liên quan tới vấn đề kinh phí cho các nghiên cứu ứng dụng. Tôi đã khẳng định rằng, nhìn chung Chính phủ nên tránh sang một bên để thị trường hoạt động, mặt khác chú trọng dành kinh phí cho những lĩnh vực có tính chất “hàng hoá công cộng”, bởi vì lợi ích của chúng có tính dài hơi hoặc phi thương mại, chẳng hạn như các nghiên cứu về môi trường, hay quản lý giao thông. Những nghiên cứu gần với nhu cầu thị trường thì có thể và nên để cho doanh nghiệp đầu tư hỗ trợ. Kết luận này cũng tương đồng với quan điểm của J. Baruch trong một bài tạp chí (1) mà tôi sẽ trích ra một số ý sau đây.  Những công ty lớn như 3M, IBM, Siemens, Ford, … thường đầu tư cho việc cải tiến công nghệ hiện hành mà hiệu quả có thể đoán trước và định giá chính xác, và không muốn sự trợ giúp từ giới học thuật, vì sẽ phải san sẻ bớt lợi nhuận. Giới học thuật cũng thường không hứng thú với những sự hợp tác như vậy. Chỉ có ngoại lệ khi giới học thuật cần cải tiến công nghệ hiện hành để phát triển ra dụng cụ mới phục vụ công tác nghiên cứu (điển hình là trường hợp của các nhà vật lý lượng tử). Khi đó sẽ có lợi ích tương hỗ đáng kể và có sự phối hợp hiệu quả giữa cải tiến công nghệ vì lợi nhuận với cải tiến công nghệ phục vụ nghiên cứu. Thật vậy, theo Baruch thì “những người cống hiến cao nhất [cho các ngành công nghiệp] là những nhà khoa học tận tâm làm nghiên cứu, chứ không phải những chuyên gia công nghệ, hay các kỹ sư. Chính các nhà nghiên cứu mới là những người không muốn bị phân tán khỏi công việc của mình, để có thể tập trung giải quyết những vấn đề công nghệ rất thông thường.”          Những hậu sinh của dòng họ Newton (nếu như ông này ngày nay còn ai đó thừa tự) có lẽ sẽ giàu to nếu như giải tích học có thể được cấp patent, để rồi họ có thể được trả tiền mỗi khi ai đó vận dụng giải tích học, nhưng toán học không phải là thứ có thể được cấp patent.              Rất ít nhà khoa học nhìn thấy trước được thành quả của Faraday, người khi phải trả lời câu hỏi của Gladstone “điện có công dụng gì?”, đã nói rằng “sẽ tới một ngày mà ngài có thể đánh thuế nó”. Điển hình hơn là nhận xét của Rutherford, tác giả của khám phá ra hạt nhân. Vào giữa thập kỷ 1930 ông từng khẳng định “bất kỳ ai trông đợi vào một nguồn năng lượng từ sự chuyển hoá hạt nhân đều đang nói chuyện trên trời”.              Ngành cơ khí lượng tử đã mang lại công nghệ điện tử hiện đại và tia laser, nhưng ngay cả với lợi ích rộng rãi của ống ngắm (một ứng dụng phổ biến của laser), đầu tư cho các nghiên cứu phục vụ cơ khí lượng tử hoàn toàn không đạt hiệu quả về tài chính; tri thức gặt hái được không thể được bảo mật, thời gian ứng dụng quá lâu, và kết quả quá khó để dự đoán.        Đã có thời gian khi mà Chính phủ Mỹ và các nước chủ trương hướng tới điều phối kinh phí cho khoa học cơ bản chủ yếu dựa trên thành quả khoa học. Ví dụ như ở Vương quốc Anh, báo cáo OECD Toàn cảnh Khoa học và Công nghệ năm 1978 nói rằng “các mục tiêu cho khoa học và công nghệ sẽ không được quyết định từ các tổ chức quản lý khoa học của Chính phủ… với nhận thức rằng ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản tốt nhất là được quyết định bởi chính các nhà khoa học…” Nhưng điều này đã thay đổi. Báo cáo Trắng về Khoa học và Công nghệ đệ trình lên cấp thẩm quyền của Vương quốc Anh năm 1993 được xây dựng trên cơ sở định hướng để khoa học và công nghệ phục vụ cho sự thịnh vượng. Người ta đề ra những mục tiêu ưu tiên cho chương trình “hoạch định công nghệ”, với sứ mệnh là làm sao “đảm bảo rằng chi tiêu của Chính phủ cho khoa học và công nghệ hướng vào việc đóng góp tối ưu cho thành quả kinh tế và ‘chất lượng đời sống’”. Thực tế là dù sau đó chương trình hoạch định công nghệ đạt những kết quả tích cực, thì chúng lại gây tổn hại cho khoa học cơ bản. Do vậy hiện nay Hội đồng Nghiên cứu Anh đã buộc phải cân nhắc lại nhiều mục tiêu của chương trình hoạch định công nghệ bởi các mục tiêu này rõ ràng có thể đã ngăn cản Thomson nghiên cứu ra electron!  Lời kết  Từ 1945 tới thập kỷ 1980, quan điểm hỗ trợ khoa học cơ bản nhìn chung được ủng hộ tích cực ở đa số các nước phát triển. Trong giai đoạn này, có sự đồng thuận rộng rãi dành cho các quan điểm được tổng hợp trong một báo cáo nổi tiếng năm 1945, của một nhóm dẫn đầu bởi Vannevar Bush, cố vấn khoa học cho Tổng thống Mỹ. Tựa đề báo cáo là “Khoa học – Biên giới Vô tận”. Báo cáo này khẳng định rằng chi phí cho nghiên cứu cơ bản, dù sớm hay muộn, đều sẽ đóng góp vào sự giàu có, sức khoẻ người dân, và an ninh của quốc gia, và rằng người ta không nên quá lo lắng liệu những lợi ích này sẽ xuất hiện chính xác dưới hình thức nào và vào lúc nào.   Chủ trương cấp kinh phí lớn cho khoa học cơ bản được duy trì lâu nhất ở Đức và Mỹ, cuối cùng đã kết thúc vào khoảng năm 1990. Với trường hợp của Đức, nguyên nhân là do chi phí lớn ngoài dự kiến cho việc thống nhất đất nước. Với Mỹ, nguyên nhân là do sự tăng quá mức của thâm hụt ngân sách liên bang, kết hợp với quan điểm cho rằng mô hình của Nhật đã chứng minh triết lý đầu tư cho khoa học cơ bản là sai lầm.   Ngày nay, có thể thấy ở tất cả các nước có tên trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), một nhận thức mới của xã hội về khoa học dường như đang hình thành. Minh chứng là bản Báo cáo Trắng của Vương quốc Anh, như đã đề cập, và các hoạt động hoạch định, với chủ đích là các Chính phủ sẽ đầu tư vào nghiên cứu cơ bản chỉ khi có thể được cho thấy rằng nó sẽ có khả năng tạo ra lợi ích trực tiếp và cụ thể, dưới hình thức là đóng góp cho sự thịnh vượng hay cải thiện chất lượng đời sống.        Khoa học cơ bản rất quan trọng, về mặt văn hoá cũng như kinh tế. Khoa học cơ bản nên được hỗ trợ từ các Chính phủ, ưu tiên hơn so với hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, và các nước phát triển không nên nhường trách nhiệm cho nước khác. Các nỗ lực định hướng nghiên cứu khoa học cơ bản theo mục tiêu kinh tế thường là vô ích, và có thể phản tác dụng.        Đây là một chủ trương tiêu cực. Việc đòi hỏi rằng khoa học cơ bản chỉ được cấp kinh phí nếu quá trình đóng góp lợi ích cụ thể của nó có thể thấy trước được, là sai lầm, và có thể đem lại tác dụng ngược về mặt kinh tế. Tuy nhiên, xu thế trên dường như không thể xoay chiều, như được thể hiện trong trích dẫn sau đây từ một bài tạp chí công bố trên tờ Research Europe, ngày 05/06/2008:    “Khi lãnh đạo tổ chức nghiên cứu lớn nhất của Đức tiến hành bước đi đột ngột vào tháng 1, với việc viết một lá thư ngỏ tới Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu Liên bang, đề nghị ông ta thay đổi ngược lại [chính sách đã đề ra], thật khó hình dung tác động sắp tới sẽ thế nào. Liệu Jürgen Rüttgers có tiếp tục thực thi chính sách giới hạn kinh phí nghiên cứu cơ bản và dồn thêm tiền vào các nghiên cứu hướng theo mục tiêu kinh tế, hay ông ta sẽ lưu tâm lời kêu gọi của cộng đồng nghiên cứu khoa học Đức và chịu ngừng lại? Kết quả nay đã rõ ràng. Rüttgers không thay đổi đường lối một chút nào để làm hài lòng Deutsche Forschungsgemeinschaft (Tổ chức Nghiên cứu Đức) và các đồng minh của nó trong giới khoa học”.   Như những lời khôn ngoan trong bài ‘Khoa học – Biên giới Vô tận’: “dưới sức ép đòi hỏi thành quả ngay lập tức, trừ phi có những chính sách chủ động ngăn chặn lại, khoa học ứng dụng nhất định sẽ tống tiễn khoa học thuần tuý”. Nếu bạn, cũng như tôi, tin tưởng nồng nhiệt vào giá trị của khoa học cơ bản, thì chúng ta không thể bỏ cuộc trong việc bảo vệ những vai trò của nó trong sự phát triển của nhân loại.    —————  1) Why Should Companies – Large or Small – Work with the Universities? J. Baruch, Physics in Business 14, 4, 1997.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách di cư lao động nông thôn-đô thị còn thiếu công bằng      Di cư từ nông thôn đến các đô thị đang là một xu hướng mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội nhưng đồng thời cũng tạo ra sức ép và những hệ lụy tiêu cực tại các thành phố. PGS.TS Nguyễn Văn Chính, chuyên gia nhân học phát triển (Khoa Nhân học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội)1 phân tích thực trạng và đề xuất hướng giải quyết cho thực trạng này qua bài phỏng vấn sau đây của Tia Sáng.      PGS.TS Nguyễn Văn Chính.  PV: Thưa ông, có ý kiến cho rằng di dân đang gây áp lực rất lớn cho các đô thị (sức ép về kinh tế, quá tải về hạ tầng, môi trường), và khiến cho bộ mặt thành phố trở nên “nhếch nhác” hơn. Ông đánh giá gì về ý kiến này?  PGS.TS Nguyễn Văn Chính: Dòng người di cư từ vùng nông thôn đổ về các thành phố lớn rất đa dạng về loại hình và phức tạp về thành phần. Cho đến nay các thành phố chỉ có ước lượng sơ bộ mà không có được con số thống kê chính xác về số lượng người di cư từ nông thôn đến sinh sống và làm việc trong thành phố. Điều này cho thấy một mặt tình hình di cư lao động tự do rất khó nắm bắt, mặt khác cũng phản ánh một thực tế là công tác quản lý của bộ máy chính quyền đô thị là có vấn đề.   Sức ép về môi trường, nhà ở, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội do di cư lên khu vực đô thị là có thật. Ở cả ba thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh (HCM) và Đà Nẵng mà tôi có theo dõi thì đều thấy các nhà quản lý kêu ca nhiều về lao động nhập cư. Họ có xu hướng xem tình trạng nghèo nàn trong dịch vụ xã hội và tình trạng xô bồ về trật tự xã hội hiện nay ở các đô thị như là hệ luỵ của tình trạng di cư không được kiểm soát. Cách suy nghĩ như vậy đã hàm chứa ngụ ý phải thắt chặt di cư vào các đô thị. Cho đến nay, các thành phố lớn đều muốn làm như vậy, vin vào lý do làm sạch đường phố, làm cho cuộc sống đô thị tốt hơn, đáng sống hơn. Tuy nhiên, tôi cho rằng cách tiếp cận như vậy là thiếu công bằng và rất phiến diện, vì nó chỉ nhìn thấy tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn-đô thị mà quên mất vai trò quan trọng và những đóng góp tích cực của người di cư lao động tại các thành phố.   Như vậy, quan điểm tiêu cực về di dân ở đô thị là một cái nhìn định kiến và một chiều. Để có cái nhìn khách quan, chúng ta cần xem xét cả những chiều cạnh khác. Vậy theo ông, đâu là mặt tích cực của di dân?  Trước hết, các thành phố lớn của Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa rất mạnh mẽ. Thực chất của đô thị hóa là quá trình biến đổi dân số cơ học, chất lượng sống và lối sống của người dân. Những người vốn là nông dân làm nông nghiệp, do quá trình đô thị hóa, mất ruộng đất nên phải tìm kiếm sinh kế mới từ hoạt động phi nông nghiệp, và dần dần trở thành thị dân. Cùng với quá trình đô thị hóa là sự gia tăng dòng di cư nông thôn đô thị. Đấy là quy luật tất yếu. Dân cư ở các đô thị luôn có tính năng động, và các thành phố thường xuyên tiếp nhận những dòng dịch chuyển dân số đến và đi. Các thành phố lớn thường đóng vai trò là những trung tâm kinh tế văn hóa của đất nước hoặc của một vùng, vì thế nó thường xuyên đón nhận những thành phần tinh hoa của xã hội tìm đến, nhưng cùng với họ là những người lao động nghèo mong tìm kiếm đổi đời nơi đô thị. Các nhà quản lý đô thị dường như chỉ muốn đón nhận dòng di cư thứ nhất, tức tầng lớp tinh hoa, nhưng lại tìm cách ngăn chặn dòng di cư của lao động nghèo. Như vậy là bất công, là đi ngược lại quy luật phát triển và quá trình đô thị hóa. Chính Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói rõ điều này khi ông nhận xét về các dịch vụ công cho người di cư tự do ở đô thị.    Trong khi thừa nhận những sức ép mà di cư lao động tự do gây cho khu vực đô thị, tôi cho rằng cần có cái nhìn công bằng với những người lao động nông thôn ở thành phố. Lao động di cư đang đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đô thị hoá. Thứ nhất, họ là lực lượng lao động rất tiềm tàng cho các cơ sở sản xuất  quy mô vừa và nhỏ hay các cơ sở sản xuất hộ gia đình ở khu vực đô thị vì nó giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa giá rẻ. Trong nhiều trường hợp, lao động di cư thậm chí còn là lực lượng tiềm tàng tham gia vào cho đội ngũ công nhân xây dựng của các tập đoàn xây dựng lớn ở các thành phố. Thứ hai, lao động tự do làm nghề giúp việc gia đình, bán hàng và các loại hình dịch vụ khác nhau ở thành phố đã giúp cho các hộ gia đình trung lưu mới nổi có thể yên tâm làm việc. Cuối cùng, lao động phổ thông là một bộ phận cấu thành của mọi nền kinh tế. Một thành phố chỉ tiếp nhận lao động trình độ cao là điều không tưởng. Xã hội ta đang trong quá trình phân hóa giàu nghèo rất mạnh, và không phải ai cũng học đại học, cũng là kỹ thuật viên cao cấp để được nhập cư như đòi hỏi của các thành phố lớn. Vậy ai sẽ làm nghề quét rác, dọn vệ sinh, làm các công việc nặng nhọc như xây dựng và công nhân các xí nghiệp đang không ngừng mở rộng ở thành phố? Tôi muốn nhấn mạnh thêm là tình trạng ruộng đất bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đang bị thu hẹp rất nhanh do đô thị hóa và hiện đại hóa. Do vậy, đa dạng hóa hoạt động kinh tế ở khu vực nông thôn và dịch chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp là quá trình tất yếu. Nếu chúng ta không có một chiến lược giúp con em nông dân mất ruộng đất được đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp mà chỉ đền bù cho họ một ít tiền để họ tự xoay xở thì dòng di cư nông thôn đô thị sẽ còn tăng mạnh mẽ hơn mà không có quy định nào kìm chân họ được.   Cuối cùng, tôi muốn nói rằng di cư lao động tự do góp phần cải thiện cuộc sống của nhiều hộ gia đình nông dân. Thu nhập từ lao động phi nông nghiệp giúp họ có thêm nguồn tiền mặt trang trải nhu cầu giáo dục, chữa bệnh, đi lại, và đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và dịch vụ ở quê nhà. Phần lớn lao động tự do không có xu hướng định cư lâu dài tại đô thị. Họ đến để tìm kiếm việc làm và tăng thêm thu nhập. Chừng nào cuộc sống của họ ở các làng quê được ổn định thì chừng đó, dòng di chuyển lao động tự do sẽ giảm.  Từ nhiều năm nay, thành phố nào cũng ngăn di dân vào đô thị bằng biện pháp hành chính chứ không thấy có các giải pháp khác về kinh tế hoặc tạo điều kiện để quản lý người di cư tốt hơn. Như TP HCM những năm trước đây và Đà Nẵng gần đây đã đưa ra yêu cầu người lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật hoặc tốt nghiệp đại học trở lên mới được nhập cư. TP Hà Nội cũng ngăn dòng di cư tự do bằng Luật Thủ đô. Quan điểm của ông về các biện pháp này?  Quan điểm của tôi là phải nhìn vấn đề di dân trong tổng thể của quá trình đô thị hoá và phát triển đô thị, phải nhìn lợi ích của các đô thị từ nhiều mặt, ví dụ như nhu cầu của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, của các hộ gia đình trung lưu ở đô thị, và nhu cầu lao động phổ thông của đô thị nói chung, đồng thời xem xét quyền việc làm và di chuyển của người lao động. Chính sách đô thị của Việt Nam trước đây nói chung là lo ngại đô thị hóa, sợ lối sống thị dân. Tình hình giờ đây đã đổi khác. Tuy vậy, tỷ lệ thị dân của Việt Nam vẫn còn rất thấp. Hơn 70% dân số vẫn sống ở khu vực nông thôn nhưng nông nghiệp không phát triển. Đô thị hóa và hiện đại hóa là xu hướng tất yếu, nhưng tại sao lại ngăn di cư lao động tự do vào thành phố?  Đó là lối tư duy rất ngắn hạn, tư duy cục bộ, địa phương và thiếu tầm nhìn. Tôi muốn nói rằng, các nhà quản lý biện bạch rằng họ muốn thành phố sạch, đẹp, thu hút khách du lịch nhưng lại đối xử bất công với người lao động nghèo, tước đi của họ cơ hội cải thiện cuộc sống và góp phần phát triển triển đô thị. Tôi cho rằng thành phố muốn phát triển thì phải cần lao động di cư. Vấn đề đặt ra là cách giải quyết mâu thuẫn này như thế nào mà thôi.  Theo như ông nói thì dường như người di cư vào các thành phố đang bị “bên lề hóa” trong  chính sách phát triển đô thị. Để thay đổi thực trạng này cần bắt đầu từ đâu, thưa ông?  Phải nói rằng thành phố nào cũng có quy định về di cư lao động, thậm chí là quá nhiều. Chính quyền các cấp từ phường đến tỉnh/thành, các ban ngành của thành phố như lao động, công an, quản lý trật tự đô thị, v.v.  đều có những công văn chỉ thị liên quan đến người lao động nhập cư. Cũng đã có nhiều nghiên cứu khoa học về người lao động di cư tự do ở các thành phố, tiêu tốn nhiều tiền của nhà nước. Thế nhưng những nghiên cứu như vậy dường như chả có tác động nào, hay nói cách khác, những đề xuất của giới nghiên cứu chả mảy may làm rung động các nhà quản lý và làm người chính sách. Dường như họ ở hai thế giới khác nhau nên chả bao giờ gặp nhau. Các nhà làm chính sách ngồi trong phòng máy lạnh và sản xuất ra các chính sách. Các nhà nghiên cứu nói cho gió bay lên giời. Nhưng phải nói rằng nếu không có nghiên cứu, nếu không xuất phát từ quan điểm và nhận thức đúng về lao động nhập cư thì chính sách sẽ không bao giờ đi vào cuộc sống. Quan sát của tôi cho thấy là cho đến nay các chính sách liên quan đến lao động nhập cư chỉ nặng về biện pháp hành chính, làm khó cho người lao động mà chưa quan tâm đến tâm tư, nỗi khốn khó trong cuộc sống của người lao động cũng như vai trò của họ đối với sự phát triển của đô thị. Nói cách khác, chính sách đối với lao động phổ thông nhập cư đang còn thiếu hơi thở của cuộc sống. Tôi luôn tự hỏi tại sao chính quyền các thành phố lại đối xử lạnh lùng với người nhập cư, tìm cách ngăn cản họ, thay vì tạo điều kiện cho họ làm việc tốt hơn, có tổ chức hơn, góp phần tích cực hơn vào quá trình đô thị hóa và phát triển? Cách tiếp cận chính sách của chúng ta hiện nay vẫn chỉ dựa vào hệ thống chính quyền quan liêu và lãnh cảm. Tôi nghĩ đã đến lúc chính sách nhập cư phải hướng đến người lao động, phải tạo ra một cơ chế để người lao động có tổ chức của chính mình bằng cách cho người lao động được lập các hội đoàn của chính họ, giống như công đoàn của những người lao động di cư, để họ có cơ hội tự quản, chủ động tuân thủ pháp luật và tự bảo vệ quyền lợi của mình. Cho đến nay, người lao động tự do ở các thành phố không chỉ đang bị bỏ rơi, mà còn bị phân biệt đối xử, chẳng ai bảo vệ họ. Hãy cho họ có cơ hội được tự bảo vệ quyền lợi của chính mình trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành. Những người phụ nữ, trẻ em và lao động nghèo giúp việc trong các gia đình bị lạm dụng, bị bóc lột sức lao động, bị đối xử bất công nhưng chẳng có tổ chức nào lo cho họ. Những người lao động tự do theo mùa vụ được các nhà thầu khoán tập hợp lại đang làm việc quần quật trên các công trường xây dựng nhưng sau đó lại trở về với vị trí là một nông dân. Những sự việc như vậy chỉ được công luận quan tâm khi báo chí phát hiện vấn đề, và khi ấy thường đã là quá muộn.  Xin cảm ơn ông đã chia sẻ!  1Độc giả có thể tham khảo thông tin chi tiết hơn về vấn đề di cư lao động từ khu vực nông thôn đô thị đến Hà Nội  trong các bài viết gần đây của PGS Nguyễn Văn Chính:   1) Cấu trúc và giải cấu trúc bản sắc văn hoá Hà Nội, In: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội; tr. 163-192.. (Link: http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/520-cu-truc-va-gii-cu-truc-bn-sc-vn-hoa-ha-ni-pgsts-nguyn-vn-chinh).  2) Những người di cư tự do trong không gian đô thị. In: Võ Quang Trọng & Amarewar Galla (Cb.), Bảo tàng và Nhân học Đô thị. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội, 2009: tr. 242-262    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Chính sách đồng bộ – nền tảng cho tiến trình tự chủ của các tổ chức KH&CN      Chính sách thúc đẩy tiến trình tự chủ của các tổ chức KH&amp;CN và hình thành, phát triển các doanh nghiệp KH&amp;CN được kỳ vọng sẽ giúp các nhà khoa học tự đứng trên đôi chân của mình bằng cách đưa những kết quả nghiên cứu vào phục vụ nhu cầu thực tiễn của đời sống. Tuy nhiên, để triển khai thành công các chính sách quan trọng này, cùng với các tổ chức KH&amp;CN, nhà khoa học có quyết tâm và nỗ lực thực hiện, Nhà nước cần xây dựng, và ban hành các chính sách đồng bộ.     Đây là nội dung có thể rút ra từ phiên họp thường kỳ lần thứ IV ngày 25/4 tại Hà Nội của Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia (Hội đồng) bàn về kết quả thực hiện, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập và tình hình phát triển các doanh nghiệp KH&CN, trong đó Hội đồng đã lắng nghe đại diện Vụ Tổ chức Cán bộ – Bộ KH&CN, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, cùng lãnh đạo một số đơn vị KH&CN báo cáo về thực trạng chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và tình hình phát triển các doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP.   Kết quả đạt được là hiện nay 100% các tổ chức KH&CN của Nhà nước đã được tự chủ trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN – họ có quyền chủ động trong việc xác định các nhiệm vụ KH&CN (ngoài các nhiệm vụ được Nhà nước giao và đặt hàng), ký hợp đồng, liên kết hợp tác thực hiện các nhiệm vụ và dịch vụ KH&CN, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được sử dụng con dấu của đơn vị sự nghiệp công lập cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định. Theo báo cáo của Bộ KH&CN, trong năm 2013 nhiều tổ chức có nguồn kinh phí từ các nhiệm vụ và dịch vụ KH&CN lớn hơn rất nhiều lần so với kinh phí hoạt động thường xuyên do Nhà nước cấp. Một số tổ chức như Viện Khoa học Vật liệu, và Viện Công nghệ sinh học (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ (thuộc Vinacomin), v.v có nguồn thu từ các nhiệm vụ KH&CN từ vài chục tới hàng trăm tỷ đồng.    Về hoạt động của các doanh nghiệp KH&CN, theo báo cáo của Cục Phát triển Thị trường và doanh nghiệp KH&CN – Bộ KH&CN, một số doanh nghiệp đã hoạt động rất thành công, chú trọng vào việc đầu tư, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đồng thời sản xuất kinh doanh có hiệu quả mang lại nguồn doanh thu và lợi nhuận rất lớn như Công ty CP giống cây trồng Trung ương, Tổng công ty giống cây trồng Thái Bình, Tổng công ty vật tư và phân bón Nghệ An, Công ty Thiên Dược, v.v. Một số doanh nghiệp KH&CN đã quan tâm xây dựng mối quan hệ hợp tác với các viện, trường theo cơ chế đặt hàng nghiên cứu, thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển, đồng thời chú trọng tới việc xây dựng thương hiệu và đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, góp phần vào công cuộc xây dựng thị trường KH&CN còn rất sơ khai của Việt Nam.     Những tồn tại, thách thức   Theo báo cáo của Bộ KH&CN việc thực hiện Nghị định 115 mặc dù đã đạt được một số thành công nhất định nhưng còn gặp nhiều khó khăn, trước hết do năng lực nghiên cứu triển khai của các tổ chức KH&CN còn hạn chế, doanh thu và nguồn kinh phí hạn hẹp, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu còn thiếu và lạc hậu, số lượng cán bộ có trình độ, năng lực và kinh nghiệm đang bị mai một dần, v.v. Trong khi đó, nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các tổ chức KH&CN thực hiện quyền tự chủ theo Nghị định 115 vẫn chưa thực sự đi vào đời sống.   Khó khăn chung trong việc triển khai Nghị định 115, Nghị định 80, và Nghị định 96 của Chính phủ, theo PGS Chu Tuấn Nhạ, chuyên gia cao cấp của Hội đồng, là sự thiếu thống nhất, đồng bộ với một số Luật hiện hành (như Luật Đất đai, Luật Cán bộ Công chức), trong khi các cấp cơ quan Nhà nước chưa có ý thức tuân thủ cao đối với các chính sách KH&CN của Chính phủ, luôn mang tâm lý “ăn cây nào rào cây ấy”, làm khó dễ cho các tổ chức KH&CN thực hiện quyền tự chủ và các doanh nghiệp KH&CN. Đồng tình với quan điểm này, bà Vũ Thị Kim Ngọc, Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Phân tích thí nghiệm TP. HCM, có nơi các cơ quan chức năng thậm chí không hề quan tâm tới sự tồn tại của Nghị định 115, khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều vướng mắc khi đề nghị được áp dụng các chính sách của Nhà nước tại những quy định của Nghị định này, như quy định về miễn giảm thuế, quyền trích lập quỹ, quyền hưởng ưu đãi về thuế, quyền tự chủ về tổ chức, v.v.  Họ viện cớ rằng Nhà nước chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định cụ thể, bà Ngọc cho biết.  Trong điều kiện hạn chế như vậy, số lượng các doanh nghiệp KH&CN được thành lập còn khá ít ỏi – tính đến hết tháng 3 năm 2014 mới có gần 100 doanh nghiệp đã được cấp hoặc đã thẩm định hồ sơ, chờ cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN. Số lượng các tổ chức KH&CN của Nhà nước chuyển đổi tự chủ thành công cũng chưa đạt tiến độ mong muốn. Nhiều tổ chức KH&CN ngại chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ vì vẫn mong muốn được Nhà nước tài trợ tiền lương và nguồn kinh phí hoạt động bộ máy thường xuyên. Trong số 571 tổ chức KH&CN của Nhà nước mới chỉ có 249 tổ chức (44%) được phê duyệt sang loại hình tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, và việc phê duyệt này nhiều khi mang tính hình thức để đối phó với quy định về thời hạn thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP – trong số 249 tổ chức tự chủ này vẫn có tới 84 tổ chức vẫn được các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục cấp nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên.   Trong khi đó, vấn đề tồn đọng, dôi dư những người lao động kém hiệu quả chưa được giải quyết, và lực lượng cán bộ nghiên cứu giàu năng lực vẫn tiếp tục mai một do tuổi tác cao hoặc chuyển ra ngoài làm để được hưởng nguồn thu nhập và những điều kiện làm việc tốt hơn.  Các giải pháp được đề xuất  Để có thêm các tổ chức KH&CN tự chủ và các doanh nghiệp KH&CN thành công, đa số các thành viên Hội đồng cho rằng sẽ cần có giải pháp từng bước, trước mắt là tăng cường các điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức KH&CN thực hiện tự chủ thành công, thông qua việc xây dựng, triển khai một số chính sách giúp Luật KH&CN sửa đổi đi vào đời sống, như cập nhật, gia tăng mức chi thường xuyên, thực hiện cơ chế quỹ KH&CN và khoán chi tới sản phẩm cuối cùng, v.v. Theo ông Hoàng Văn Phong, Chủ tịch Hội đồng, những chính sách ưu đãi cho các tổ chức KH&CN tự chủ và doanh nghiệp KH&CN phải được tính toán chi tiết, cụ thể, ví dụ đối với chính sách miễn giảm thuế Bộ KH&CN cần phối hợp làm rõ với Bộ Tài chính về những khoản chi được miễn, lý do được miễn. Những quy định rõ ràng và minh bạch như vậy sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụng thực hiện chính sách của nhà nước tại các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, đồng thời tăng sự công bằng, giảm những vướng mắc và tiêu cực.  Bản thân Bộ KH&CN cũng cần sự minh bạch trong việc xây dựng các quy định phân loại mức độ tự chủ tại các tổ chức KH&CN, đưa ra các tiêu chí rõ ràng và phù hợp nhằm đánh giá tính chất đặc thù sản phẩm nghiên cứu mà các tổ chức này làm ra trong thực tế, từ đó xác định đâu là những tổ chức nghiên cứu cơ bản cần được Nhà nước tài trợ nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên, và đâu là những tổ chức làm nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ KH&CN có nghĩa vụ tự chủ toàn phần hoặc một phần. Theo ông Nguyễn Hữu Quang, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp – Viện Nghiên cứu hạt nhân, hiện nay đang tồn tại những tổ chức khoa học chỉ có một vài người thực sự làm nghiên cứu cơ bản, nhưng toàn bộ bộ máy tổ chức vẫn đang được ngân sách Nhà nước (NSNN) bao cấp, gây ra sự thiếu công bằng, tâm lý ỷ lại, và lãng phí nguồn lực hạn chế của Nhà nước dành cho KH&CN.   Ngược lại, một số quan điểm cho rằng Nhà nước cũng không nên bắt buộc các tổ chức KH&CN phải tự trang trải kinh phí toàn bộ, vì nhiệm vụ chính của chúng là làm công tác nghiên cứu, không thể đòi hỏi có sức cạnh tranh như với các doanh nghiệp KH&CN. Đối với các tổ chức KH&CN làm nghiên cứu ứng dụng, theo ông Nguyễn Văn Hòa, Viện trưởng Viện Cây ăn quả Miền Nam, Việt Nam nên học tập theo kinh nghiệm từ New Zealand áp dụng mức tài trợ kinh phí hoạt động thường xuyên trong khoảng 50 – 60%, do đặc thù nghiên cứu ứng dụng luôn có những rủi ro không tránh khỏi.  Tuy nhiên, để giảm gánh nặng đối với NSNN và tăng hiệu quả sử dụng kinh phí nghiên cứu của Nhà nước, ông Trần Văn Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Đầu tư và phát triển Công nghệ Bách khoa Hà Nội, cho rằng Nhà nước cần tăng cường thu hút nguồn đầu tư của xã hội cho các hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ, trong đó thay vì tài trợ toàn phần cho các đề tài nghiên cứu và triển khai, Nhà nước nên có chính sách ưu đãi để mời các doanh nghiệp đầu tư vào các đề tài đã được Nhà nước thẩm định – doanh nghiệp chỉ phải bỏ tiền sau khi đề tài có kết quả thành công.  Vấn đề tồn đọng, dôi dư cán bộ nghiên cứu kém hiệu quả  Đây là một trong những tồn tại khiến các nhà quản lý mong muốn thúc đẩy việc tự chủ các tổ chức KH&CN – người ta kỳ vọng rằng các tổ chức KH&CN được tự chủ sẽ chủ động hơn trong việc sắp xếp bộ máy, thay thế những cán bộ kém hiệu quả tại các vị trí làm nghiên cứu bằng những người có năng lực, trình độ cao hơn – nhưng lâu nay đã trở thành điểm nghẽn, khi việc thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy của các tổ chức KH&CN vẫn bị trói buộc trong những quy định của Luật Cán bộ Công chức hiện hành.   Trước tình trạng này, theo ông Đỗ Hữu Hào, ủy viên Hội đồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương, Nhà nước cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tiến trình tự chủ tại các tổ chức này, sau đó chuyển đổi chúng thành những doanh nghiệp KH&CN được cổ phần hóa, từ đó quyền tự chủ trong quản lý nguồn nhân lực và chế độ lương, thưởng, đãi ngộ nguồn nhân lực KH&CN sẽ tiếp tục được nâng cao thêm một bước.  Tuy nhiên, giải pháp này chỉ có tính khả thi ở những tổ chức KH&CN đủ năng lực và có tính chất phù hợp để chuyển đổi thành tự chủ hoàn toàn. Đối với những tổ chức KH&CN thiên về nghiên cứu cơ bản, hoặc những tổ chức mang gánh nặng quá lớn từ đội ngũ lao động dôi dư hiện có thì triển vọng để tự chủ thành công và tiến tới chuyển thành doanh nghiệp KH&CN là điều không thể xảy ra.  Vì vậy, chắc chắn trong thời gian tới Nhà nước sẽ phải nghiên cứu xây dựng những quy định đồng bộ, thống nhất, cho phép các cơ quan, tổ chức KH&CN được quyền quản lý nhân sự một cách chủ động và linh hoạt hơn. Như một số thành viên Hội đồng đã chỉ ra, chúng ta nên học tập kinh nghiệm từ những nước có nền quản lý KH&CN tiên tiến hơn, nơi lượng biên chế cố định không quá nhiều, phần lớn cán bộ nghiên cứu làm việc theo hợp đồng lao động và chế độ đãi ngộ được căn cứ theo sản phẩm thực tế mà họ mang lại.                           Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách hộ khẩu: Cần bỏ rào cản “ngụ cư”      Trong hơn 50 năm qua, hộ khẩu đã được sử dụng làm công cụ quản lý xã hội, kế hoạch hóa kinh tế và kiểm soát di cư, đặc biệt là trong thời bao cấp nhưng cũng tạo ra rất nhiều rào cản đối với những người không có hộ khẩu thường trú tại nơi đang cư trú. Trong một nghiên cứu mới đây về Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam [1], các nhà khoa học đã chỉ ra những bất hợp lý trong chính sách hộ khẩu và đưa ra các gợi ý cải cách chính sách này.      Người lao động tự do. Nguồn: Lao động và xã hội.  Năm 2014, công luận xôn xao vì Đỗ Hồng Sơn, một học sinh trung học ở Hà Nội bị đình chỉ học ở trường công và phải chuyển sang một trường dân lập vì không có hộ khẩu thường trú. Đó chỉ là một trường hợp điển hình về việc hộ khẩu đã trở thành rào cản cho quyền bình đẳng tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục của nhiều người dân không có hộ khẩu thường trú tại nơi đang cư trú. Tự bao lâu, những người không có cuốn sổ ấy đã gặp rất nhiều khó khăn phiền toái liên quan đến thủ tục hành chính vô hình trung trở thành những “công dân hạng hai” trong tiếp cận nhiều dịch vụ công, vẫn bị phân biệt “chính cư – ngụ cư” như hàng nghìn năm phong kiến.  Từ nhiều năm nay, cơ sở dữ liệu điều tra dân số ở Việt Nam theo hướng dẫn của Tổng cục thống kê (GSO) (2) hầu như bỏ sót nhiều cư dân đăng ký tạm trú. Chỉ đến năm 2016, lần đầu tiên nghiên cứu Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam (3) đã ước tính được tổng số người không có đăng ký thường trú tại năm tỉnh/ thành phố điều tra là 5,6 triệu người. Theo đó, khoảng 18% tổng dân số Hà Nội, 36% dân số thành phố Hồ Chí Minh và 72% dân số Bình Dương không có hộ khẩu thường trú. So với những người có hộ khẩu thường trú, 5,6 triệu người này đã chịu nhiều thiệt thòi trong tiếp cận các dịch vụ công.  Bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công  Hiện nay, mặc dù những người tạm trú đã dễ tiếp cận với dịch vụ công hơn so với trong quá khứ nhưng chính sách hộ khẩu vẫn tạo ra rào cản lớn khiến họ phải chịu thêm nhiều phí tổn để được sử dụng các dịch vụ y tế, giáo dục…. Về giáo dục, “trẻ em không có hộ khẩu thường trú gặp khó khăn khi đăng ký học trường công, do đó, trẻ em tạm trú thường phải học ở các trường tư với chi phí cao hơn rất nhiều so với trường công mà có thể chất lượng không bằng”, TS. Vũ Hoàng Linh, chuyên gia kinh tế của WB, tác giả chính của nghiên cứu này cho biết. Thống kê trong nghiên cứu này cho thấy có tới 52% trẻ em có hộ khẩu tạm trú phải học mẫu giáo ở các cơ sở tư thục trong khi con số này ở trẻ có hộ khẩu thường trú là 29%. Các tính toán về mặt kinh tế cũng cho thấy chi phí giáo dục ở các trường tư cao hơn trường công ở mọi cấp học, có thể gấp đôi hoặc gấp ba. Đặc biệt là ở bậc Trung học phổ thông, trẻ có hộ khẩu tạm trú ít nhập học hơn hẳn so với trẻ có hộ khẩu thường trú (chỉ có 30% trẻ tạm trú nhập học THPT trong khi con số này ở trẻ thường trú là 89%). Tương tự, về y tế, những người tạm trú vẫn thường khó tiếp cận với bảo hiểm y tế hoặc phải chi trả viện phí cao hơn do hiện nay sổ hộ khẩu vẫn được sử dụng để xác định mua bảo hiểm y tế hộ gia đình. Kết quả thống kê trong nghiên cứu này chỉ ra có tới hơn ¼ số trẻ nhỏ tạm trú thiếu bảo hiểm y tế mặc dù hiện nay đã có chính sách phổ cập bảo hiểm y tế. Như vậy, những rào cản dành cho các gia đình thiếu hộ khẩu không chỉ khiến người lớn mà cả trẻ em trong các gia đình này phải gánh chịu những thiệt thòi không đáng có, và mọi khó khăn đó sẽ “di truyền” tới thế hệ thứ ba, thứ tư nếu gia đình họ còn tiếp tục chưa có hộ khẩu.  Không chỉ có vậy, hầu như người tạm trú ít có cơ hội tham gia vào các tổ chức đoàn thể, các hoạt động xã hội hoặc đóng góp ý kiến chính sách tại nơi họ đang cư trú, trừ ngoại lệ là tham gia công đoàn. Tỉ lệ tham gia thấp này phản ánh mối quan hệ lỏng lẻo giữa người tạm trú và cộng đồng, qua đó cho thấy các mối quan hệ xã hội của người tạm trú ít ỏi hơn nhiều so với người có hộ khẩu thường trú. Hạn chế về mạng lưới xã hội với cộng đồng nơi cư trú khiến người tạm trú, đặc biệt là những di dân, thường xuyên di chuyển và ít có cơ hội cập nhật thông tin về các dịch vụ công đồng thời khó tiếp cận bảo trợ xã hội.  Người không có hộ khẩu thường trú cũng luôn vướng phải phiền hà khi thực hiện các thủ tục hành chính tại nơi cư trú đồng thời phải chi nhiều phí tổn không chính thức nếu muốn trở thành dân “chính cư” thông qua việc sở hữu tấm sổ hộ khẩu. Rõ ràng, chính sách hộ khẩu hiện nay với mục tiêu chính là quản lý dân cư đã vô hình trung “đẩy” những người chỉ có đăng ký tạm trú, đặc biệt là di dân tự do, ra bên lề những hoạt động xã hội tại những nơi họ đang cư trú mặc dù họ đang là những tác nhân tích cực đóng góp vào sự phát triển xã hội (4).  Hai gợi ý cải cách chính sách hộ khẩu  Trong bối cảnh tính năng động xã hội ngày càng gia tăng, dòng dịch chuyển dân cư ngày càng mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu của phát triển kinh tế xã hội, chính sách hộ khẩu hiện nay “gây nhiều phiền nhiễu hơn là có ích, nó không phải là một công cụ hữu hiệu và hiện đại để quản lý dân cư. Theo chúng tôi, cần cải tiến hệ thống này thành một công cụ quản lý dân cư hiện đại phù hợp với quá trình mở cửa kinh tế của chúng ta. Trong nghiên cứu này, chúng tôi gợi mở hai định hướng chính để cải cách chính sách hộ khẩu, hai định hướng cải cách này có thể đồng thời tiến hành cùng nhau”, TS. Vũ Hoàng Linh cho biết.  Với quan điểm không nên coi hộ khẩu là một biện pháp hạn chế di cư, gợi ý thứ nhất mà nghiên cứu này đưa ra là nới rộng các quy định hiện hành, đơn giản hóa thủ tục cấp hộ khẩu cho những người tạm trú có nhu cầu đăng ký hộ khẩu thường trú. Cụ thể, nên rút ngắn hoặc bãi bỏ yêu cầu về thời hạn cư trú khi người dân đăng ký hộ khẩu, đồng thời không nên cho phép chính quyền các địa phương đặt ra những điều kiện với người nộp đơn đăng ký thường trú. Trước đây, Luật cư trú 2006 có các điều khoản tương đối thoáng, tạo điều kiện cho công dân xin hộ khẩu thường trú nhưng sau đó Luật cư trú sửa đổi năm 2013 lại xiết chặt một số quy định, đồng thời cũng cho phép một số thành phố được phép đưa ra các quy định riêng trong đăng ký hộ khẩu thường trú (5) nhằm giảm áp lực di dân vào thành phố. Nhưng trên thực tế, biện pháp hành chính xiết chặt đăng ký hộ khẩu thường trú chỉ cản trở người di cư tiếp cận các dịch vụ công chứ không ngăn được các dòng di dân tràn vào thành phố.  Có khá nhiều nước có hệ thống đăng ký theo nhân khẩu (hộ gia đình) như ở Pháp, Đức, Nhật Bản, theo đó các hộ gia đình được xem như một đơn vị hành chính pháp lý nhưng không gắn với nơi ở. Hệ thống này được sử dụng để đăng ký sinh, tử và hôn nhân nhưng không gắn kết với nơi ở hay việc cung cấp các dịch vụ xã hội. Trên thế giới chỉ có rất ít các quốc gia có hệ thống đăng ký cư trú vừa gắn với việc cung cấp dịch vụ xã hội và vừa quy định hạn chế việc thay đổi đăng ký. Việt Nam và Trung Quốc là hai ví dụ nổi bật, cả hệ thống hộ khẩu của Việt Nam và hukou của Trung Quốc thực hiện đồng thời hai chức năng đăng ký theo hộ gia đình và theo nơi cư trú.  Nguồn: Báo cáo Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam tr.5 – 6.  Chú thích:  1 Nghiên cứu do Ngân hàng thế giới tại Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đồng thực hiện, Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản năm 2016.  2 Các điều tra Mức sống hộ gia đình ở Việt Nam (VHLSS) từ 2004 đến nay sử dụng danh sách hộ gia đình theo hộ khẩu làm cơ sở chọn mẫu, điều này dẫn tới việc hầu như bỏ sót những người không có hộ khẩu ở địa phương.  3 Bằng phương pháp chọn mẫu và tính quyền số khảo sát – Quyền số khảo sát được tính toán dựa trên xác suất lựa chọn. Tham khảo phụ lục Báo cáo Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam, tr81 – 82.  4 Những người đăng ký tạm trú, gồm phần lớn là người di cư là động lực, đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội bởi quá trình dịch chuyển lao động góp phần đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao ở các khu vực thiếu hụt lao động như khu công nghiệp, đô thị…Báo cáo Di cư trong nước và Phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam: Kêu gọi hành động, Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, 2010.  5 Điển hình, Luật thủ đô năm 2012 thắt chặt đáng kể các yêu cầu nhập hộ khẩu thường trú ở Hà Nội: Yêu cầu phải sống liên tiếp ba năm ở Hà Nội (so với yêu cầu trong cả nước là 2 năm), cho phép UBND TP Hà Nội được quy định các yêu cầu về nhà ở với người xin hộ khẩu. Còn năm 2011, TP Đà Nẵng ban hành Nghị quyết 23/2011/ NQ – HĐND từ chối cấp hộ khẩu thường trú cho những người ở nhà thuê, không có việc làm hoặc có án tích (sau đó Bộ Tư pháp yêu cầu sửa đổi vì văn bản này trái luật, năm 2014 Đà Nẵng chỉ yêu cầu người xin hộ khẩu đảm bảo diện tích nhà thuê tối thiểu 22m2/ người).    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Chính sách hỗ trợ đầu tư R&D của Hàn Quốc      Hàn Quốc có được những thành tựu vượt bậc về phát triển kinh tế và khoa học công nghệ một phần là nhờ những định hướng đúng đắn từ rất sớm của Chính phủ Hàn Quốc trong thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&amp;D). Những chính sách đó rất đáng để chúng ta nghiên cứu và áp dụng.    Chính sách hỗ trợ tài chính cho đầu tư R&D  Để thực hiện hiệu quả chính sách này, điều kiện cần đầu tiên là Bộ KH&CN cùng Bộ Tài chính phối hợp xác định rõ mục tiêu đầu tư thế nào là đầu tư cho R&D? Nhân sự làm việc như thế nào là tham gia nghiên cứu R&D? (Bài học từ Hàn Quốc cho thấy bằng cấp cao không quan trọng, báo cáo về sản phẩm thực tiễn mới quan trọng). Trang thiết bị nhập khẩu như thế nào là phục vụ đầu tư R&D? (Tránh tình huống xe hơi siêu sang cũng được nhập về phục vụ R&D).    Khi có một hệ thống khái niệm minh bạch, rõ ràng về đầu tư R&D, chúng ta có thể bắt đầu xây dựng hệ thống chính sách tài chính hỗ trợ ưu đãi. Hệ thống khái niệm càng rõ ràng thì việc áp dụng càng nhanh chóng, chính xác, giảm thời gian thủ tục hành chính cho cơ quan chức năng lẫn đối tượng thụ hưởng hỗ trợ.   Đối tượng thụ hưởng hỗ trợ ở đây phải là các doanh nghiệp hoặc các viện, tổ chức nghiên cứu hoạt động theo hình thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.  Hàn Quốc có một hệ thống chính sách đa dạng hỗ trợ tài chính cho R&D, từ hỗ trợ trả lương chuyên viên nghiên cứu tới giảm thuế thu nhập, giảm thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ nghiên cứu. Đây là những chính sách hoàn toàn khả thi và khá gần gũi với các chính sách tài chính hỗ trợ cho các ngành công nghiệp của Việt Nam mà chúng ta có thể áp dụng (cụ thể xem box).       Hệ thống ghi nhận công nghệ mới  Để bảo đảm việc hỗ trợ tài chính cho đầu tư R&D được chính xác, Hàn Quốc có hệ thống ghi nhận công nghệ mới, gọi là hệ thống chuẩn KT, được xác lập bởi Bộ Khoa học và Công nghệ, và thuộc trách nhiệm quản lý của Tổ chức Công nghệ Công nghiệp Hàn Quốc. Hệ thống này hỗ trợ những sản phẩm công nghệ mới đang trong giai đoạn tiếp cận thị trường. Bất kỳ công nghệ mới nào đạt chuẩn KT thì công ty phát kiến sẽ được hỗ trợ dưới dạng quyền ưu tiên bán cho các cơ quan Nhà nước; quyền ưu tiên đăng ký kinh phí từ quỹ hỗ trợ phát triển của Chính phủ và các quỹ phát triển công nghệ của các ngân hàng thương mại; quyền ưu tiên quảng bá tại những chiến dịch truyền thông hội chợ triển lãm công nghệ.     Cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D          Một số ví dụ về chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho đầu tư R&D:   Hỗ trợ trả lương: Hỗ trợ 80% tiền lương hằng năm cho mỗi chuyên gia, tối đa là 30 nghìn USD trong 2 năm đầu tiên.               Hoàn  thuế :  Hoàn 15% chi phí đầu tư cho R&D và đào tạo nhân lực trong  mỗi năm đóng thuế; hoặc hoàn 40% chi phí trung bình hằng năm của 4 năm  gần nhất đầu tư cho R&D và đào tạo nhân lực.    Giảm thuế nhập  khẩu: Giảm 80% thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ nghiên cứu: hóa chất,  hàng hóa sơ chế đầu vào, nguyên vật liệu, và vật mẫu.               Miễn thuế của địa phương: Miễn thuế VAT, thuế trước bạ đối với nhà cửa và đất đai phục vụ các mục tiêu R&D.   Miễn  thuế thu nhập cá nhân cho kỹ sư nước ngoài: Trong 5 năm với chuyên gia  phục vụ R&D trong lĩnh vực công nghiệp cần sử dụng nhiều công nghệ  trong danh sách được Nhà nước quy định.         Ở Việt Nam, việc vay vốn từ các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, là không dễ dàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là các doanh nghiệp KHCN, vì các khoản vay này luôn bị các ngân hàng coi là có tính rủi ro cao, do các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều bất trắc và dễ tổn thương trước các biến động từ thị trường và nền kinh tế.   Vì vậy, để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ, các quỹ đổi mới CN quốc gia cần đưa vào vận hành cơ chế cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D. Cơ chế này cần có một quy trình xét duyệt bảo lãnh đòi hỏi linh hoạt, nhưng không được thiếu tính chính xác, chặt chẽ và được kiểm toán đầy đủ. Nếu không thì việc duyệt bảo lãnh biến thành cơ chế xin cho tùy hứng, tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh.  Ngược lại, nếu cơ quan duyệt bảo lãnh vì sợ trách nhiệm mà làm việc quá chặt tay, thì các dự án đầu tư R&D – dù có triển vọng tốt nhưng trong bản chất tự thân đã có tính mạo hiểm – sẽ không có được bảo lãnh, và không huy động được nguồn vốn cần thiết.  Việt Nam có thể tìm hiểu giải pháp cho vấn đề này qua mô hình Kotec của Hàn Quốc.   KOTEC (quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ Hàn Quốc) cung cấp dịch vụ bảo lãnh tín dụng công nghệ. Khoản bảo lãnh này có nhiều hình thức, nhưng mục tiêu chung là đảm bảo các tổ chức cho vay thu hồi khoản nợ trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán. Nhờ vậy khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án triển vọng tốt nhưng không có đủ tài sản thế chấp, hoặc không có hồ sơ tín dụng đầy đặn phù hợp để chứng minh uy tín trả nợ.     Quy trình cấp bảo lãnh tín dụng công nghệ như sau. Một người đi vay nếu không đáp ứng các tiêu chí cho vay có thể được ngân hàng giới thiệu sang KOTEC. Các chi nhánh của KOTEC sẽ độc lập nghiên cứu hồ sơ để thẩm định uy tín tín dụng của người đi vay, khả năng trả nợ, mục đích khoản vay, và quan trọng nhất là tính chất cải tiến công nghệ mà việc sử dụng vốn vay mang lại. Trong đa số các trường hợp, ngân hàng sẽ tin vào kết luận thẩm định của KOTEC trước khi đưa ra quyết định cho vay. Nếu được KOTEC chấp thuận, người đi vay sẽ quay lại ngân hàng cùng với thư bảo lãnh của KOTEC. Việc cấp bảo lãnh này cũng đòi hỏi người đi vay phải trả phí bảo lãnh, tỉ lệ tương ứng theo quy mô khoản vay.    Đồng thời, để quá trình thẩm định và cấp bảo lãnh được bảo đảm tính công bằng và minh bạch, KOTEC thành lập ra Văn phòng Chi nhánh Từ xa (Cyber Branch Office) cung cấp dịch vụ tự thẩm định tài chính, trong đó một doanh nghiệp có thể tự đánh giá uy tín tài chính của mình qua một phần mềm mô hình mô phỏng thẩm định tín dụng mà doanh nghiệp tự điền thông tin tài chính đầu vào. Kết quả đánh giá sau đó sẽ được hiển thị công khai qua internet.  Đối với các trung tâm, chương trình nghiên cứu tại các vùng miền  Từ nhiều năm nay năng lực nghiên cứu triển khai, đổi mới công nghệ của các sở KH&CN và công nghiệp địa phương vừa rất hạn chế vừa phân tán, dẫn đến tình trạng hiệu quả đầu tư của nhà nước thấp, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các địa phương. Trong khi đó hầu như ở các địa phương của chúng ta đều có các viện nghiên cứu, trường đại học. Liệu có thể tận dụng những đơn vị này để thực hiện chức năng nghiên cứu vùng miền, cải tiến công nghệ cho địa phương? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần học hỏi mô hình hoạt động các trung tâm nghiên cứu vùng miền của Hàn Quốc.   Thành lập các Trung tâm Nghiên cứu Vùng miền   Các Trung tâm Nghiên cứu Vùng miền – Regional Research Center (RRC) được thành lập vào năm 1995 để nghiên cứu đặc thù riêng của vùng miền, củng cố năng lực nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng tại các tỉnh, và khai thác, liên kết với các ngành công nghiệp chủ đạo của từng địa phương.   Các RRC thẩm định các kế hoạch R&D cải tiến công nghệ ở từng địa phương, lựa chọn những kế hoạch phù hợp, và ký thỏa thuận cung cấp kinh phí từng năm một. Sau 3 năm sẽ thẩm định đánh giá lại một lần nữa, và có thể gia hạn nguồn kinh phí tới 9 năm tiếp theo.  Các trung tâm Cải tiến Công nghệ Địa phương (TIC/TBI/TP)   Mỗi trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước đều có một TIC. Những TIC này kết nối với nhau để hợp tác nghiên cứu, chia sẻ nguồn lực, và hợp tác đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, tập đoàn địa phương. Trung bình hằng năm Chính phủ hỗ trợ cho các TIC 1 tỷ Won để mua trang thiết bị phục vụ nghiên cứu (mỗi TIC được hỗ trợ như vậy trong 5 năm), trong khi các trường đại học và chính quyền địa phương có nghĩa vụ cung cấp đất, cơ sở nghiên cứu, chi phí vận hành, và chi phí nghiên cứu.              THANH XUÂN  (Toàn bộ nội dung được lược dịch và tổng hợp từ các trang điện tử của Bộ Kinh tế Tri thức Hàn Quốc và Quỹ Bảo lãnh tín dụng công nghệ Hàn Quốc)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách hỗ trợ toàn diện cho doanh nghiệp KH&CN      Sau gần 5 năm triển khai thực hiện, Nghị định 80/2007/NĐ-CP vẫn chưa thực sự đi vào đời sống khi các hoạt động hình thành, phát triển các doanh nghiệp KH&amp;CN vẫn chưa diễn ra tích cực và phổ biến như mong muốn.     Từ thực tế này, ngày 11/4 vừa qua, Tạp chí  Tia Sáng đã tổ chức tọa đàm với sự tham gia của một số nhà quản  lý, giám đốc doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế, v.v, nhằm đánh giá lại  tính thực tiễn của khái niệm doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.  Nghị định 80/2007/NĐ-CP (Nghị định 80) ra đời năm 2007 nhằm mở đường cho việc hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, là những doanh nghiệp có vai trò thúc đẩy áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào thực tế sản xuất kinh doanh. Theo TS. Lê Đăng Doanh, đây là một trong những giải pháp cần thiết giúp nâng cao năng lực sản xuất theo hướng phát triển kinh tế bền vững hơn, dần dần thoát ra khỏi hướng phát triển dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ.  Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ – Bộ KH&CN, khái niệm doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam đồng nghĩa ở mức độ nhất định với khái niệm tương tự của Trung Quốc. Đây là đội ngũ những doanh nghiệp đi tiên phong trong việc đổi mới công nghệ sản xuất, từng bước hấp thụ, tiếp thu, và làm chủ nhiều công nghệ của thế giới, đưa nền công nghiệp Trung Quốc ra khỏi trì trệ lạc hậu, trở nên có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên toàn cầu.   Tuy nhiên, bài học Trung Quốc không dễ áp dụng ở Việt Nam. Theo TS. Lê Đăng Doanh, động cơ mạnh mẽ để các doanh nghiệp nghiên cứu đổi mới công nghệ xuất phát từ chỗ thị trường Trung Quốc rất rộng lớn, khiến những cải tiến về hiệu quả và chất lượng sản phẩm sau khi đổi mới công nghệ sẽ dễ dàng đem lại lợi ích kinh tế rất cao.   Khác với Trung Quốc, thị trường Việt Nam có quy mô nhỏ hẹp, lại phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ chính những sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc. Điều này khiến các doanh nghiệp và các nhà đầu tư Việt Nam không mấy mặn mà với việc áp dụng những nghiên cứu cải tiến công nghệ. Thay vào đó họ chủ yếu cạnh tranh nhau bằng giá, hoặc tìm đến những cách thức kinh doanh không bền vững nhưng dễ kiếm lời hơn trong ngắn hạn, ví dụ như đầu cơ và đánh quả bất động sản.  Cần một chính sách toàn diện   Hiện nay, Việt Nam đã áp dụng một số chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Theo ông Trần Xuân Đích, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN, hiện nay Nhà nước đã áp dụng chính sách cho phép doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư vào các hoạt động đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp KH&CN cũng được hưởng mức thuế suất ưu đãi nếu đáp ứng được những tiêu chí về mức doanh thu và tỷ trọng hàm lượng sản phẩm KH&CN.    Tuy nhiên, dù đã có những chính sách ưu đãi này của Nhà nước nhưng trong thực tế có rất ít doanh nghiệp thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, và cũng chưa có nhiều doanh nghiệp KH&CN được thành lập. Theo TS. Lê Đăng Doanh, đằng sau hiện tượng này là một căn bệnh trầm kha của kinh tế Việt Nam. Ông nhận định rằng chừng nào nhà đầu tư còn thấy dễ dàng kiếm tiền bằng đầu cơ, đánh quả ngắn hạn, trong khi những người sản xuất ra hàng hóa, sản phẩm thực sự trong nền kinh tế lại chịu rất nhiều khó khăn- trong đó không ngoại trừ những khoản lãng phí về thời gian, tiền bạc do nạn tiêu cực, tham nhũng- thì rất khó để khuyến khích việc đầu tư vào đổi mới công nghệ sản xuất.   Vì vậy, theo TS. Lê Đăng Doanh nhận định, Nhà nước cần áp dụng một khung chính sách đồng bộ toàn diện, nhằm làm giảm nguồn lợi từ những hoạt động kinh doanh, sản xuất mang tính đầu cơ ngắn hạn. Ví dụ, có thể áp dụng chính sách thuế của Mỹ đối với bất động sản, trong đó áp dụng mức thuế rất cao đối với những giao dịch mua bán bất động sản dạng đầu cơ. Về lâu dài, Nhà nước cần tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho doanh nghiệp nói chung, thông qua triệt để giải quyết nạn tham nhũng và tích cực hoàn thiện xây dựng Nhà nước pháp quyền.  Đối với những giải pháp trước mắt, TS. Lê Đăng Doanh lưu ý rằng Việt Nam cần tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ. Không thể khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ khi mà “sản phẩm mới làm ra hôm trước, hôm sau đã có người làm giả”. Bên cạnh đó, TS. Lê Đăng Doanh coi vấn đề huy động tài chính là rào cản đầu tiên đối với các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, vì đặc thù rủi ro cao. Ông cho rằng Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện những dự án nghiên cứu có tính khả thi cả về công nghệ lẫn thương mại, dưới hình thức cho vay từ quỹ đầu tư mạo hiểm, với phương châm “chỉ cần 20% thành công là đã đủ đền bù cho 80% thất bại”. Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Hữu Thái Hòa, Giám đốc Chiến lược của tập đoàn FPT, cho rằng Nhà nước nên đưa vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ trong chiến lược tài chính quốc gia, với những chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy các ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn thực hiện những dự án đổi mới công nghệ.    Còn thiếu sự phân khúc đối tượng   Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, đối tượng áp dụng chủ yếu của Nghị định 80 là các cơ quan, tổ chức, nhóm nghiên cứu KH&CN có ý định thành lập doanh nghiệp để kinh doanh trên sản phẩm nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, qua quá trình triển khai Nghị định 80, thực tế cho thấy chưa có nhiều những đơn vị nghiên cứu đủ sức đứng ra tự chủ kinh doanh theo hình thức thành lập doanh nghiệp KH&CN.   Nhận định về thực tế trên, ông Thái Hòa cho rằng không dễ để những doanh nghiệp khởi nghiệp vừa đầu tư nghiên cứu về công nghệ, vừa xây dựng kế hoạch kinh doanh và thu xếp vốn đầu tư. Trong khi đó, nếu Nhà nước cung cấp những gói hỗ trợ lớn hơn thì sẽ không đủ nguồn lực, vì đối tượng đăng ký rất rộng. Vì vậy, theo ông Thái Hòa, Nhà nước nên có những chính sách linh hoạt theo từng phân khúc đối tượng.  Ví dụ, với các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp từ các nhóm nghiên cứu, ông Thái Hòa cho rằng Nhà nước chỉ nên đứng vai trò thu xếp, giới thiệu để nhóm nghiên cứu và nhà đầu tư gặp được nhau. Còn đối với các doanh nghiệp đã có tên tuổi và chỗ đứng, nếu có nhu cầu về kinh phí để đầu tư nghiên cứu công nghệ thì Nhà nước có thể hỗ trợ một phần nhất định, nhưng nguyên tắc là hỗ trợ rất chọn lọc, để làm sao kinh phí được sử dụng cho những dự án có tính đột phá cao, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng hoặc cả ngành thay vì chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu là những doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước thì các khoản đầu tư đổi mới công nghệ cần được giám sát kỹ lưỡng – ngay cả khi kinh phí đầu tư hoàn toàn do doanh nghiệp tự bỏ ra – nhằm đảm bảo tính hiệu quả, vì đồng tiền từ khối doanh nghiệp này là về bản chất là tiền của Nhà nước, rất khác với “đồng tiền mồ hôi nước mắt” của những doanh nghiệp tư nhân.  Nhìn một cách tổng quan, ông Thái Hòa cho rằng việc ra đời Nghị định 80 và tiếp theo là Nghị định 96/2010/NĐ-CP (bổ sung một số nội dung cho Nghị định 80 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP) là cần thiết. Tuy nhiên, khi mà khái niệm doanh nghiệp KH&CN và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước được quy định trong các văn bản này vẫn còn chưa có sự phân khúc rõ ràng, và trong bối cảnh chưa có đủ những nghiên cứu mang tính định vị để biết rõ từng ngành công nghệ của Việt Nam đang đứng ở đâu, cần ưu tiên cho công đoạn đổi mới công nghệ nào – ví dụ, xác định nên tập trung tiếp thu và làm chủ công nghệ nước ngoài hay nên tập trung nghiên cứu đổi mới sáng tạo – thì hiệu quả của việc triển khai các Nghị định này chắc chắn sẽ còn nhiều hạn chế.             PV lược thuật       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách hợp tác quốc tế về KH&CN của Israel      Là đất nước có tiềm lực mạnh về KH&CN, Israel luôn quan tâm hợp tác với các quốc gia, khu vực và tổ chức quốc tế.      Hằng năm Israel chi tới 4,2% GDP cho R&D của khu vực dân sự, một tỷ lệ vào hàng cao nhất trên thế giới. Tính theo sản phẩm KH&CN trên đầu người, Israel đứng thứ 13. Đội ngũ nhà khoa học và chuyên gia của Israel rất đông đảo, lên tới 140 người/10.000 lao động, cao hơn nhiều so với các nước phát triển khác như Mỹ và Nhật Bản. Trong ảnh: Khách tham quan khám phá công nghệ hàng không tại Bảo tàng Khoa học Bloomfield ở Jerusalem. Nguồn: israel21c.org.  Những mối quan hệ hợp tác điển hình  Tính đến năm 2015, Viện Hàn lâm Khoa học và Nhân văn Israel đã ký kết thỏa thuận hợp tác chính thức với 38 cơ sở nghiên cứu (phần lớn là các Viện Hàn lâm quốc gia) tại 35 nước châu Âu, Bắc và Nam Mỹ, Ấn Độ và Đông Nam Á. Mỹ là đối tác quan trọng số một của Israel trong hợp tác KH&CN. Hai quốc gia thành lập những quỹ tài trợ nghiên cứu chung ở tầm quốc gia cho các tổ chức nghiên cứu và các ngành công nghiệp, nông nghiệp, bên cạnh đó còn có những thỏa thuận hợp tác song phương giữa Israel với nhiều tiểu bang trên các lĩnh vực khác nhau. Tương tự như với Mỹ, Israel cũng hợp tác hình thành những quỹ tài trợ nghiên cứu chung với Đức, Canada, Hàn Quốc, Singapore.  Israel đặc biệt chú trọng quan hệ hợp tác với châu Âu. Từ năm 1996, họ đã tham gia vào Chương trình khung cho Nghiên cứu và Sáng chế của châu Âu, đến nay đã có hàng nghìn dự án thu hút sự tham gia của nhiều trung tâm nghiên cứu nhà nước và tư nhân. Israel cũng đồng thời là thành viên của nhiều tổ chức và dự án nghiên cứu lớn ở châu Âu, đáng kể như European Research Council, European Biology Laboratory hay Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu (CERN), Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Châu Âu… Năm 2012, Viện khoa học Weizmann cùng với Đại học Tel Aviv được chọn để trở thành một trong các thành viên chủ chốt của dự án Hạ tầng tích hợp cho Sinh học cấu trúc (Integrated Structural Biology Infrastructure) với sự tham gia của những trung tâm nghiên cứu danh tiếng ở Pháp, Đức, Ý và Anh. Israel cũng là thành viên điều phối của dự án Elixir, chuyên sắp xếp, thu thập, quản lý chất lượng và lưu trữ dữ liệu lớn từ những phòng thí nghiệm trên lĩnh vực khoa học sự sống ở châu Âu.  Trong lĩnh vực nông nghiệp, một đối tác quan trọng hàng đầu của Israel là Ấn Độ. Từ năm 2006, hai quốc gia đã thỏa thuận cùng đóng góp hàng chục triệu USD dành cho đào tạo, chủ yếu trên lĩnh vực công nghệ sữa, trồng trọt và nước tưới nông nghiệp. Năm 2013, hai nước đạt thỏa thuận thành lập 28 trung tâm nghiên cứu xuất sắc về nông nghiệp, trong đó có 10 trung tâm chuyên về các sản phẩm xoài, lựu và quít. Những trung tâm này đã đi vào hoạt động từ tháng 3/2014 và cung cấp cho nông dân Ấn Độ những khóa đào tạo miễn phí về áp dụng tiến bộ kỹ thuật như thâm canh, tưới nhỏ giọt và cải tạo đất.  Ngoài hợp tác song phương, Israel còn thúc đẩy những mối quan hệ hợp tác ba bên. Cụ thể là tam giác hợp tác khoa học giữa Mashav (Israel), GIZ (Đức) và Bộ Lương thực và Nông nghiệp Ghana nhằm đem lại chuỗi giá trị cao cho sản phẩm quít tại Ghana và cải thiện đời sống nông dân tại quốc gia châu Phi này. Tương tự như vậy, từ năm 2013, Canada, Trung Quốc và Israel cũng hợp tác thành lập một tam giác nghiên cứu chung về những ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp. Việc xây dựng những tam giác hợp tác như vậy là điều các đối tác tiềm năng của Israel rất nên quan tâm, bởi điều đó có thể sẽ gia tăng sự linh động trong huy động nguồn lực quốc tế để khai thác tài nguyên tri thức chất lượng cao mà Israel đang sẵn có.  Hải Đăng tổng hợp       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách Khoa học xã hội tại Canada      Tại Canada, chính sách nhà nước đối với KHXH có một số điểm chính như coi trọng cả nghiên cứu cơ bản lẫn nghiên cứu ứng dụng, bảo đảm cho KHXH phát triển không chịu sự chi phối của các yếu tố phi khoa học, coi trọng công bố ở cả các tạp chí khoa học lẫn sách được xét duyệt gắt gao qua phản biện kín… mà chúng ta có thể cân nhắc học tập.      GS.TS Lương Văn Hy  Độc lập với quản lý nhà nước  Thứ nhất, nhà nước Canada không có những viện và cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội trong guồng máy nhà nước. Khi cần đến KHXH để giải quyết những vấn đề chính sách, nhà nước có thể thành lập ủy ban hoạt động trong một vài năm, thường có một số các nhà làm chính sách cũng như các nhà khoa học xã hội từ các đại học làm thành viên. Hoặc nhà nước cũng có thể ký hợp đồng (contract) với các nhà khoa học xã hội hay các Trung tâm/Viện nghiên cứu (hầu hết nằm ở các đại học), để nghiên cứu, tổng hợp thông tin, và đề xuất giải pháp cụ thể. Lý do quan trọng là ở Canada, cũng như Mỹ, Anh Quốc, Úc, và một số nước khác, từ lâu đã có những đại học nghiên cứu (research university) mạnh, với một đội ngũ những nhà nghiên cứu kiêm giảng viên mạnh và với những Viện và Trung tâm nghiên cứu nằm trong các đại học nghiên cứu này.      Chính phủ hay các quan chức của chính phủ không và không thể can thiệp vào các quyết định tài trợ cho các đề án nghiên cứu khoa học.      Thứ hai, chính sách của nhà nước Canada rất coi trọng KHXH cơ bản, điều đó được thể hiện qua cơ chế tài trợ nghiên cứu khoa học (grant). Nhà nước Canada tài trợ cho KHXH chủ yếu thông qua Hội đồng KHXH và nhân văn Canada (Social Sciences and Humanities Research Council of Canada, SSHRC). Hàng năm, chính phủ  Canada rót tiền trực tiếp vào SSHRC và để  Hội đồng tự quyềt định  các khoản tài trợ cho  những đề án có giá trị khoa học cao mà Hội đồng đã xét duyệt. Những năm gần đây, mức tài trợ hàng năm của chính phủ Canada cho SSHRC vào khoảng 350 triệu dollars Canada một năm, với khoảng 80% cho khoa học xã hội và 20% cho các ngành nhân văn1. (Tỷ lệ này một phần phản ảnh thực trạng là nghiên cứu khoa học xã hội thường đòi hỏi dữ liệu được thu thập một cách khoa học từ cuộc sống và việc thu thập dữ liệu này nói chung tốn kém hơn ở các ngành nhân văn nhiều). Về cơ cấu, Hội đồng Khoa học xã hội và nhân văn Canada có các tiểu ban theo từng chuyên ngành hay  nhóm ngành, mỗi tiểu ban có khoảng 10 thành viên, đều là các giáo sư của các đại học, có nhiệm kỳ giới hạn, có toàn quyền quyết định về việc tài trợ cho các đề án nghiên cứu khoa học. Các đề án này của các nhà nghiên cứu nộp lên SSHRC để xin tài trợ sẽ được gửi đi cho nhiều giáo sư ở các đại học trong và ngoài nước (phần lớn là ngoài nước) phản biện kín và cho điểm. Các tiểu ban quyết định tài trợ dựa vào tiềm năng đóng góp cho khoa học của các đề án. Ứng dụng không phải là tiêu chí quan trọng hàng đầu. Rất nhiều đề án khoa học cơ bản không đề cập đến ứng dụng thực tiễn vẫn được tài trợ tốt vì tiềm năng đóng góp cho sự phát triển của khoa học xã hội về lâu dài, chứ không phải để giải quyết những vấn đề trước mắt cho xã hội.  Minh bạch khi xét duyệt tài trợ  Hội đồng KHXH và nhân văn Canada nhận tiền của chính phủ, nhưng vận hành hoàn toàn độc lập với chính phủ. Qua trải nghiệm của tôi tại một trong những tiểu ban của Hội đồng này, chính phủ hay các quan chức của chính phủ không và không thể can thiệp vào các quyết định tài trợ cho các đề án nghiên cứu khoa học. Chính phủ có thể khuyến khích nghiên cứu một vài vấn đề mà chính phủ ưu tiên cao bằng cách rót thêm tiền cho một vài mảng đề tài (thí dụ như văn hóa và xã hội những người bản địa, người di dân vào Canada và tiến trình thích nghi với xã hội Canada, hay kinh tế số [digital economy], vv.). Cũng để giảm thiểu tác động của những yếu tố khác phi khoa học đến quyết định tài trợ, một thành viên của một tiểu ban phải tự động và tạm thời ra khỏi phòng họp khi một đề án khoa học của một đồng nghiệp cùng đại học với thành viên này, hay đã từng cộng tác với thành viên này, hay đã từng là nghiên cứu sinh hay thầy dạy của thành viên này, được tiểu ban thảo luận. Thành viên này cũng không được bỏ phiếu cho điểm trong những trường hợp này. Mức độ cạnh tranh khá cao, và trong những năm gần đây, chỉ khoảng một phần tư những đề án nộp cho Hội đồng Khoa học Xã hội và Nhân văn Canada được tài trợ, với thời gian tài trợ thường là từ 3 đến 5 năm cho 1 đề án và tối đa là 400 ngàn dollars Canada cho một đề án nghiên cứu. Cách tài trợ này bảo đảm cho khoa học được phát triển mà không chịu sự chi phối của những yếu tố phi khoa học, và cũng tạo điều kiện cho sự phát triển nghiên cứu và khoa học, cả khoa học cơ bản chứ không chỉ khoa học ứng dụng, ở một số đại học nghiên cứu hàng đầu ở Canada.  “Báo cáo” kết quả nghiên cứu: coi trọng xuất bản  Khác với nghiên cứu theo hợp đồng, trong tài trợ khoa học, nhà khoa học được tài trợ chỉ cần một thông báo rất ngắn đến cơ quan tài trợ là đã hoàn tất đề tài nghiên cứu. Hội đồng KHXH và Nhân văn Canada không đòi các nhà khoa học nhận tài trợ nộp báo cáo hay sản phẩm khoa học cho Hội đồng mà chỉ cần công bố những kết quả nghiên cứu trên những tạp chí chuyên môn và in sách (các nghiên cứu khi xuất bản thành sách hay tạp chí được đánh giá cao khi phải qua tiến trình phản biện kín của một số nhà khoa học ở các nơi trên thế giới – người phản biện cũng không biết tác giả là ai và tác giả cũng không biết người phản biện là ai,  để giảm thiểu tác động của những yếu tố ngoài khoa học vào việc thẩm định kết quả nghiên cứu). Tuy công bố dưới dạng bài trong tạp chí chuyên ngành là phổ biến, nhưng trong KHXH, một dạng công bố cũng phổ biến là sách và các chương sách. Tiến trình phản biện kín cho các bài tạp chí khoa học hay sách rất mất thời gian, vì ngay cả khi một bài được các người làm phản biện kín đánh giá chung là tốt, các tác giả cũng thường phải tu sửa và nộp lại bài của mình để được xem xét lần nữa trước khi được đồng ý in. Trong KHXH, ở những tạp chí khoa học và nhà xuất bản rất có uy tín, từ lúc nộp bài đến lúc in thường phải mất từ 1 đến 3 năm.  Do đó, nếu là một đề tài nghiên cứu 3-5 năm thì may ra có bài hay chương sách đã được in từ những kết quả nghiên cứu ban đầu. Nhưng nếu là đề tài 1-2 năm thì kỳ vọng khi kết thúc đề tài, nhà khoa học có bài tạp chí hay sách xuất bản mà đã qua phản biện kín gắt gao  là không hợp lý. Và một khi đề tài kết thúc, có thể vẫn còn rất nhiều bài và chương sách hay sách được in ấn từ một công trình nghiên cứu, nhất là từ những công trình nghiên cứu khoa học cơ bản. Do đó, để đánh giá hiệu quả của một công trình nghiên cứu thì không thể xem số bài đã được xuất bản khi công trình kết thúc. Kết quả của một công trình nghiên cứu được thẩm định qua việc 5-10 năm sau khi kết thúc, có bao nhiêu bài tạp chí khoa học và sách/chương sách đã được xuất bản qua tiến trình phản biện kín, và tác động của những bài và chương sách này trong khoa học qua việc được trích dẫn đến mức nào. Trong bối cảnh này, một tiêu chí quan trọng khi quyết định tài trợ là người lập đề án đã có bao nhiêu bài tạp chí khoa học và chương sách/sách đã được đăng sau khi đã qua tiến trình phản biện kín.  Ngoài SSHRC, Trung tâm Nghiên cứu phát triển quốc tế (International Development Research Centre – IDRC) của Canada cũng tài trợ cho nghiên cứu KHXH  nhưng lại đưa tiêu chí ứng dụng của nghiên cứu KHXH  lên hàng đầu khi xét tài trợ. IDRC tập trung tài trợ cho nghiên cứu phát triển, từ nghiên cứu về nông nghiệp đến môi trường đến kinh tế hay thể chế văn hóa xã hội liên quan đến phát triển. Chính phủ Canada tài trợ cho IDRC khoảng 190 triệu dollars Canada hàng năm trong những năm gần đây. IDRC cũng tập trung tài trợ cho các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển (trong một số trường hợp, có sự hợp tác với các nhà khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở Canada).   Phạm trù Khoa học xã hội: Trong học thuật tại Canada cũng như trong khối Anh ngữ, KHXH gồm những ngành khoa học cơ bản như kinh tế học, xã hội học, nhân học, tâm lý học, chính trị học, địa lý học, cũng như một số ngành khoa học xã hội ứng dụng như giáo dục, luật học, ngoại giao, phát triển quốc tế (development studies), chính sách và hành chính công, truyền thông, quy hoạch đô thị và vùng, quản trị kinh doanh và thương mại, an sinh và công tác xã hội. KHXH được phân biệt với những ngành nhân văn như tôn giáo học, triết học, văn học, ngoại ngữ, mỹ thuật, nghệ thuật, vốn được xem là những ngành khó hay không thể phân định đúng sai giữa những quan điểm hay cách diễn giải khác nhau. Phân định lằn ranh giữa các ngành KHXH và các ngành nhân văn, cũng như giữa KHXH và khoa học tự nhiên, chỉ là tương đối: phân ngành ngôn ngữ học thần kinh (neurolinguistics) trong ngôn ngữ học (một ngành thường được sắp vào khối ngành nhân văn) lại có tương quan chặt chẽ với não tủy học; hay nhân học sinh thể (biological anthropology), tuy được xem là một phân ngành của ngành nhân học, nhưng lại thường được xem là một phần của khoa học tự nhiên khi xem xét tài trợ nghiên cứu2. Cũng có những ngành hay mảng nghiên cứu được xem là ở giữa hay là điểm giao thoa giữa các khối ngành: sử học thường được xem là ở giữa KHXH và các ngành nhân văn, hay môi trường học (environmental studies) là một lĩnh vực liên ngành, kết hợp KHXH và khoa học tự nhiên.  ————  * GS.TS Nguyên Trưởng khoa Nhân học, Đại học Toronto, Canada.  1 Ngân sách này gồm cả một khoản tiền khá lớn dùng để cấp học bổng cho học viên Cao học, nghiên cứu sinh Tiến sĩ và hậu Tiến sĩ.  2 Các nhà nhân học sinh thể nghiên cứu về tác động của gen và sinh học nói chung đến thể dạng, hành vi, và sức khỏe của con người và các loài linh trưởng, trong quá khứ (từ góc độ tiến hóa) cũng như hiện tại.    Author                Lương Văn Hy        
__label__tiasang Chính sách mới trong phê duyệt đề xuất nghiên cứu của Úc: Một ý tưởng tồi tệ      Chính phủ Úc đang thiết lập một kế hoạch kiểm tra về “ý nghĩa ở tầm quốc gia” của các đề xuất nghiên cứu đang chờ được cấp kinh phí vào năm sau. Phản đối quyết định này, các nhà khoa học cho rằng, về lâu dài có thể nó sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín khoa học của Úc.      Cựu bộ trưởng Bộ Giáo dục Simon Birmingham đã loại 11 dự án nghiên cứu trong lĩnh vực nhân văn. Nguồn: Nature  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Dan Tehan nêu trong một thông báo ngày 31/10/2018. “Giá trị của các dự án nghiên cứu đặc biệt có thể được các nhà khoa học – những người đề xuất dự án để xin tài trợ, nhìn thấy một cách rõ ràng nhưng không phải bao giờ cũng rõ ràng với người không thuộc giới hàn lâm”, ông giải thích vì sao chính phủ Úc lại đưa ra chính sách này.  Việc kiểm tra sẽ được áp dụng cho những hồ sơ đề xuất dự án nghiên cứu với Hội đồng nghiên cứu Úc (ARC), một quỹ đầu tư cho khoa học lớn trong cả hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, nơi có 3 tỷ đô la Úc dành cho nghiên cứu trong vòng 4 năm tới. Số tiền tài trợ cho các dự án được phê duyệt thường từ 30.000 đến 8 triệu đô la mỗi năm.  Chính sách mới đã được loan báo chỉ vài ngày sau khi có thông tin là cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Simon Birmingham – giờ là Bộ trưởng Bộ Thương mại, đã dùng quyền hạn của mình để loại 11 hồ sơ đề xuất nghiên cứu đã được ARC chấp thuận tài trợ sau khi các hội đồng xét duyệt độc lập thông qua vào năm 2017 và 2018.  Các dự án bị loại đều trong lĩnh vực nhân văn, và mang những tên gọi như “Giá cả, kim loại và các vật liệu trong trao đổi toàn cầu” (Price, metals and materials in the global exchange), “Truyền thông thể thao xanh” (Greening media sport) và “Hollywood đỏ: Phong cách Cộng sản trước danh sách đen thời kỳ 1917-1950” (Red Hollywood: Communist Style Before the Blacklist, 1917-1950)… Căng thẳng lên tới cao độ khi ông Birmingham nói các trường đại học Úc cần cảm thấy “xấu hổ” nếu tìm thấy “1,5% ít ỏi hiệu quả nghiên cứu trong đó”.  Ông Birmingham không nêu rõ nguyên nhân vì sao ông lại “đóng cửa” tài trợ với những dự án này. Vào ngày 26/10/2018, ông đã viết trên tài khoản Twitter cá nhân của mình “tôi hoàn toàn chắc chắn là những người đóng thuế Úc thích tiền của họ được sử dụng vào những nghiên cứu khác hơn là tài trợ cho dự án như “Nghệ thuật hậu phương Đông của eo biển Gibralta” tốn 223.000 đô la”.  Phát biểu với báo chí, ông Birmingham nói, “tôi tự tin với mỗi trường hợp dự án bị loại để mỗi người nộp thuế ở Úc có thể tin tưởng hàng triệu đô la đã được chuyển thẳng cho các nghiên cứu khác chứ không phải cho các dự án được ưu tiên một cách sai lầm.” Ông cho biết thêm, 99,7% kinh phí từ những dự án bị loại đã được trao cho các dự án khác.  Ảnh hưởng đến uy tín học thuật  Hầu hết những nhà khoa học đều cảm thấy chính sách mới của chính phủ như “một sự can thiệp chính trị” và “đáng bị chỉ trích”. “Thay vì trao quyền đánh giá lợi ích và tác động quốc gia của các đề xuất nghiên cứu cho các hội đồng chuyên gia của ARC thì họ lại giao cho các quan chức đánh giá xét duyệt, điều đó không làm tăng thêm giá trị của các đề xuất mà chỉ là tăng thêm thủ tục hành chính?”, Viện Hàn lâm Khoa học nhân văn Úc bình luận trên tài khoản Twitte của viện. Còn giáo sư Peter Doherty, người giành giải Nobel Y sinh năm 1996, đã coi chính sách mới này là “một ý tưởng tồi tệ”.  Theo các chuyên gia giáo dục đại học, hành động của cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Simon Birmingham có thể làm hủy hoại danh tiếng quốc tế của mô hình đầu tư cho nghiên cứu và làm xói mòn sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế của đất nước này. Ít nhất đã có một nhà nghiên cứu Úc, ông Mark Steven tại trường Đại học New South Wales đã chuyển đến trường Đại học Essex, Anh làm việc vì bị từ chối cấp kinh phí cho nghiên cứu “Hollywood đỏ: Phong cách Cộng sản trước danh sách đen thời kỳ 1917-1950” trị giá 335.000 USD.  Trong một lá thư mở từ các trường đại học Úc, tất cả 39 trường đại học đã lên án quyết định của Birmingham, và cho rằng “quyết định phủ quyết của Bộ trưởng về cấp kinh phí nghiên cứu đã làm xói mòn danh tiếng về tính xuất sắc trong nghiên cứu của chúng tôi”.  Các nhà hàn lâm cho rằng cựu Bộ trưởng Birmingham cần phải tôn trọng những đề xuất của hội đồng khoa học và cảm thấy lo lắng về các quyết định của ông không được công khai vào đúng thời điểm. Vicki Thomson, người đứng đầu ban điều hành Nhóm 8 Đại học (Go8) – một liên minh gồm 8 trường đại học nghiên cứu Úc, lo ngại về sự ảnh hưởng của quyết định với hệ thống bình duyệt Úc. “Hậu quả là nó đem lại sự nghi ngại của quốc tế về các quá trình phê duyệt nghiên cứu của chúng ta”, bà nói với The PIE News.  Đồng tình với ý kiến này, giáo sư John Shine – Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Úc, nêu quan điểm của mình: nếu chính phủ “điều chỉnh việc phân bổ ngân sách nghiên cứu với các ưu tiên quốc gia và các chủ đề chiến lược thì họ cũng cần có những tiêu chí như vậy trong khi kêu gọi đề xuất. Trong số các tiêu chí để xét duyệt thì việc đánh giá độc lập phải là yếu tố trung tâm của việc phân bổ ngân sách.”  Ông phân tích, “các nhà khoa học phải được tự do để theo đuổi các hướng nghiên cứu mà họ thấy đó là quan trọng và có ý nghĩa. Họ được đào tạo để thấy được những vấn đề hoặc khoảng trống trong kho tàng học thuật và có thể xác định điều đó một cách tốt nhất và nghiêm ngặt nhất. Rất nhiều giá trị từ nghiên cứu đã góp phần cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách và công chúng do bản chất của nghiên cứu là không thiên vị. Không nên làm tổn hại điều đó”.  Còn Emma Johnston, chủ tịch tổ chức KH&CN Úc, nơi quản lý đến 70.000 nhà khoa học trên khắp đất nước, bình luận: “Thông qua các hành động của mình, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã mở cánh cửa cho ảnh hưởng chính trị vào thế giới học thuật. Khi nghiên cứu xuất sắc nhất không nhận được tài trợ, nó sẽ đe dọa đến khả năng cạnh tranh của chúng ta như một quốc gia đổi mới sáng tạo trên quy mô toàn cầu”.  Các nhà khoa học Úc đang kêu gọi Bộ trưởng Bộ Giáo dục Dan Tehan giữ cho việc xét duyệt của các hội đồng khoa học vẫn còn nguyên ý nghĩa trong quá trình cấp kinh phí của ARC 2019.  Thanh Nhàn tổng hợp từ Nature, The NEW Pie  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách nào thu hút nhân lực khoa học?      Chính sách đối với trí thức khoa học có lẽ là một trong những vấn đề được bàn thảo tốn nhiều giấy mực nhất.    – Có ý kiến cho rằng, lương cho trí thức hiện nay quá thấp, phải trả cho trí thức theo một chế độ đặc biệt ưu đãi. Nhưng ưu đãi thế nào?  – Có ý kiến cho rằng, điều kiện sinh hoạt và làm việc của trí thức hiện còn rất nhiều khó khăn, cần có chính sách tháo gỡ khó khăn cho họ. Vậy tháo gỡ khó khăn đó bằng cách nào?  – Có ý kiến cho rằng hiện nay các nhà lãnh đạo sử dụng trí thức không đúng thực tài, phải có chế độ để tự động sàng lọc nhân tài, lại có ý kiến là nhà nước phải có chính sách thu hút nhân tài. Vậy làm thế nào thu hút được và sử dụng được những trí thức có thực tài?  – Có ý kiến đòi hỏi phải có chế độ lương đặc đãi đối với lớp trí thức “cao cấp”, như là giáo sư và phó giáo sư (GS/PGS)  Vân vân và vân vân  Vì vậy, để Nghị định của Chính phủ quy định chính sách ưu đãi, sử dụng và trọng dụng nhà khoa học do Bộ KH&CN soạn thảo có tính khả thi, cần được thảo luận trong cộng đồng khoa học.  Cách đây mấy năm đã đưa bàn về chế độ lương “đặc đãi” cho GS/PGS ở Quốc hội, nhưng bàn đi bàn lại mãi, cuối cùng câu chuyện đành xếp lại vì chưa có sức thuyết phục trên các diễn đàn.  Lùi xa mấy thập niên về trước, từ đầu thập niên 1970, thế hệ chúng tôi đã được chứng kiến những cuộc tranh luận về các chế độ “đặc đãi” tương tự như thế. Đến năm 1976, Nhà nước quyết định phân phối nhà cho “cán bộ khoa học và kỹ thuật (KHKT)” để giải quyết bớt khó khăn trong sinh hoạt của anh chị em, để họ có thêm điều kiện làm nghiên cứu khoa học. Sau khi có quyết định thì mới xuất hiện khó khăn: Quỹ nhà để phân phối chỉ có mấy chục căn hộ, mà đối tượng gọi là “Cán bộ KHKT” thì có đến hàng ngàn. Vậy phân cho ai?. Sau khi bàn soạn rối bời thì đi đến quyết định, cái đối tượng gọi là “Cán bộ KHKT” được giới hạn trong nhóm gồm những người có bằng tiến sỹ và phó tiến sỹ (TS/PTS).      Khi “thu hút nhân tài” và “đãi ngộ” theo cái mà nhiều người vẫn gọi là theo “chủ nghĩa bằng cấp” thì sẽ kéo theo hệ lụy là mua bằng cấp kém chất lượng. Đây không phải là “Bằng giả”, mà là “Bằng thật”, nhưng trong ngôn ngữ Việt hiện đại mới xuất hiện một khái niệm rất thú vị, rất dí dỏm, nghe rất hài hước, nhưng rất chuẩn xác đó là “Bằng đểu”.      Sau khi các TS/PTS được phân phối nhà, thì các kỹ sư bậc cao có ý kiến “Chúng tôi trực tiếp sản xuất còn quan trọng hơn TS/PTS”, thế là trong danh sách “Cán bộ KHKT” được nối dài thêm “Kỹ sư từ bậc 3 trở lên”. Sau khi kỹ sư 3 được giải quyết thì công nhân bậc 7 đòi quyền lợi. Họ nói: “Bọn kỹ sư là lý thuyết chỉ tay năm ngón, chúng tôi mới là người lao động trực tiếp làm ra của cải vật chất”… thế là danh sách được bổ sung thêm “Công nhân từ bậc 6 trở lên”.  Sau khi công nhân bậc 6 trở lên được đưa vào danh sách, thì các anh trung cấp kỹ thuật phản ứng: “Kỹ sư là anh lý thuyết chỉ tay năm ngón, công nhân là bọn chỉ biết làm theo quy trình… Đầu tắt mặt tối sớm khuya lăn lộn chỉ đạo quy trình sản xuất là chúng tôi. Hà cớ gì chúng tôi không được xem là cán bộ KHKT”… Quá trình phản ứng kéo dài tiếp cho đến bác sỹ… “Bọn họ chỉ trông coi máy móc, chúng tôi trông coi tính mạng con người”… Rồi đến cánh giáo viên… “Bác sỹ chỉ trông coi phần xác, chúng tôi mới chính là người chăm sóc phần hồn”.  Thế là ông nhà nước lâm vào một tình cảnh đại lúng túng, không biết xử lý ra sao, đành làm nốt một đợt năm 1977 là chấm dứt.  Tôi xin nêu sự kiện thứ hai. Mấy năm lại đây có phong trào các tỉnh công bố chính sách “Thu hút nhân tài”, chẳng hạn, có tỉnh thu hút bằng cách: “Nếu có bằng tiến sỹ về thì được 100 triệu đồng”, “Nếu có bằng thạc sỹ thì 60 triệu”, “Nếu có bằng cử nhân thì 40 triệu”, “Nếu là giáo sư thì 150 triệu”, “Nếu là phó giáo sư thì 120 triệu”. Khi làm việc với các vị có trách nhiệm trong tỉnh thì được biết là, một năm sau khi chính sách được công bố, tỉnh đã có được một thành tích rất khả quan, được cấp trên tuyên dương trong các bản báo cáo của tỉnh, là đã thu hút được hàng trăm nhân tài các hạng. Chúng tôi hỏi tiếp: “Anh chị em đó đã làm gì cho tỉnh”… Thế là như bị đánh vào chỗ đau, vị lãnh đạo cấp sở này mới trút bầu tâm sự rất dài dòng, tôi tạm lược kê tóm tắt mấy sự kiện sau: (1) Một số tiến sỹ, thạc sỹ thất nghiệp ở các tỉnh khác, được thu hút về đây, chưa biết bố trí vào đâu vì phân phối cho cơ quan nào người ta cũng trả lại. (2) Một cử nhân đỗ thủ khoa ở Hà Nội được nhận về một thời gian lại bỏ đi vì chê là công việc tẻ nhạt, vân vân và vân vân. Chúng tôi hỏi tiếp vị giám đốc sở: “Loại người nào được gọi là nhân tài để địa phương thu hút?” Ông trả lời “Chúng tôi lấy tiêu chuẩn là bằng cấp”.Vậy ra bằng cấp là nhân tài (!)  Tôi ngẫu nhiên lại gặp một sinh viên cũ, là thạc sỹ rất trẻ trong danh sách các “nhân tài” mới được “thu hút” về tỉnh. Khi hỏi thì tôi được biết, sau khi được biết chủ trương này của tỉnh, thì cô quyết định phải kiếm ngay một mảnh bằng thạc sỹ. Tôi hỏi cô bảo vệ thạc sỹ ở đâu, thì cô cho biết ở một trung tâm bồi dưỡng giáo viên thuộc một trường đại học lớn ở Hà Nội. Tôi hỏi “Tại sao cô lại chọn trung tâm này, nơi nổi tiếng là chất lượng đào tạo rất kém”Cô xác nhận là ở đây đào tạo rất ẩu. Cô cho biết, khi trình luận văn cho thầy cô, thì được thầy cô giao hẹn: “Thầy cô chỉ sửa lỗi chính tả thôi đấy nhá”. Khi thấy tôi lắc đầu ái ngại thì cô cho biết, là cô cũng hiểu như thế là không đúng, nhưng vẫn theo học, vì giá đào tạo thạc sỹ ở đây là rẻ nhất.  Kết luận của chúng tôi là, khi “thu hút nhân tài” và “đãi ngộ” theo cái mà nhiều người vẫn gọi là theo “chủ nghĩa bằng cấp” thì sẽ kéo theo hệ lụy là mua bằng cấp kém chất lượng. Đây không phải là “Bằng giả”, mà là “Bằng thật”, nhưng trong ngôn ngữ Việt hiện đại mới xuất hiện một khái niệm rất thú vị, rất dí dỏm, nghe rất hài hước, nhưng rất chuẩn xác đó là “Bằng đểu”.  Ở nước ta còn một hiện tượng nữa, là cứ nghe thấy ở đâu đó “quốc tế” trao cái bằng này, cái giải nọ thì một số cấp quản lý  như bắt được vàng, vội vã vinh danh, cấp nhà cấp đất, phong tước phong hầu, cấp nọ cấp kia…, rồi các đương sự đưa ra những lời hứa hẹn nghe rất mùi mẫn …  Nhưng rồi ba bốn mươi năm chẳng thấy họ có cái giải “quốc tế” nào như Nhà nước kỳ vọng. Thế là lại đi truy tầm những gương mặt mới, và bi kịch vẫn lặp lại như lần đầu tiên. Có nghĩa, cái cách “trọng thị” theo kiểu đó là không trúng rồi.  Tóm lại, với những ví dụ nêu trên đây, tôi muốn khẳng định rằng, cơ quan nhà nước các cấp của chúng ta đã có nhiều biện pháp ưu đãi, trọng dụng, và trọng thị nhưng kết quả vẫn chưa làm cho khoa học và giáo dục nước ta phát triển, mà ngược lại, hầu như chỉ đưa lại hệ lụy.  Vậy phải làm như thế nào?  Tôi rất nhớ, một lần vào dịp gần tết năm 1988, ba vị ủy viên Bộ Chính trị, là Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Tâm và Trần Xuân Bách, mời một số anh chị em trí thức khoa học đến phòng họp của Ban Bí thư để gặp gỡ cuối năm và hỏi ý kiến về chính sách đối với trí thức khoa học. Buổi đó tôi nhìn chỉ thấy khoảng chưa đến hai mươi người, họp mặt trong một không khí rất cởi mở và thân tình.  Hôm đó ba vị hỏi rất nhiều chuyện về chính sách đối với giới trí thức khoa học. Khi một vị hỏi về “Chính sách đãi ngộ”, ông nói rõ “Đãi ngộ”, thì tôi nhớ chị Hoàng Xuân Sính bật dậy khỏi chỗ ngồi và nói với tình cảm rất bức xúc. Tôi không nhớ nguyên văn lời chị, nhưng nhớ chuẩn xác ý tứ của chị: Chị nói rất rành rẽ, ý là “Xin Nhà nước đừng đãi ngộ chúng tôi”. Các vị lãnh đạo sửng sốt như nghe phải một lời giận dỗi. Nhưng không. Chị không hề giận dỗi. Chị nói tiếp “Chúng tôi không muốn nhận đãi ngộ, mà chúng tôi cần trả lương cho đúng với lao động”. “Ai trong chúng tôi không lao động xứng đáng thì dù bằng cấp cao Nhà nước đừng có trả lương”. Chị nói tiếp: “Nhưng không chỉ có trả lương, mà chúng tôi cần thái độ của Nhà nước đối với các công trình khoa học và công nghệ”. Chị dẫn sự kiện một chuyên gia kỹ thuật mang từ Pháp về một bộ hồ sơ kỹ thuật về chế tạo máy bay, thì gặp khó dễ ở sân bay, phải đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp thì bộ hồ sơ kỹ thuật đó mới qua được cửa khẩu. Chị nói “Ở các nước khác, khi các chuyên gia ‘ăn cắp’ được hồ sơ kỹ thuật thì đại sứ quán của họ chuyển về, nhưng ở ta thì, trong số những sứ quán mà chị biết, thì không thấy sứ quán nào nhận làm việc đó. Tôi nghe có tiếng cười và xì xào bình luận: “Là vì họ còn bận đi buôn!”.  Trong các luận văn thạc sỹ về quản lý khoa học và công nghệ mà tôi hướng dẫn, một vài luận văn đã đi theo hướng thu hút nhân lực (chứ không phải nhân tài, vì khái niệm này hiện còn rất tù mù) theo các dự án phát triển của địa phương. Hướng nghiên cứu này được các hội đồng cho là một phương hướng triển vọng.  Tôi nhớ hồi đầu thập niên 1980, tôi có cơ hội làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái (khi đó còn gọi là Ban Khoa học và Kỹ thuật của Tỉnh), thì được biết, tỉnh Yên Bái khi đó đã có mười mấy dự án phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, và mời tham gia rất nhiều chuyên gia trong tỉnh và ngoài tỉnh. Mặc dầu thời đó tỉnh còn rất nghèo, nhưng các chuyên gia được nhận kinh phí và điều kiện làm việc rất ưu tiên. Kết thúc công việc thì ai lại về nhà nấy, không cơ quan nào bị gây sức ép về bổ nhiệm hoặc đề bạt cán bộ.  Đó là một hướng thu hút nhân lực rất triển vọng mà chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện trong tầm tay.  Ai cũng biết Albert Einstein, là cha đẻ của thuyết tương đối vĩ đại. Nhưng ít người biết rằng Ông cũng là người mở đường cho các lý thuyết về nhiệt học và nguyên tử. Công trình nghiên cứu đầu đời của Einstein năm 1905 lúc 26 tuổi có nhan đề “Một phương pháp mới xác định kích thước phân tử”. Đây chính là luận văn tiến sĩ, dày 21 trang của Einstein. Khi ông nộp cho Trường Đại học Zurich Thụy Sĩ thì bị loại và gửi trả lại với lý do luận văn quá ngắn. Sau này, Einstein đã cười toáng lên kể lại với mọi người rằng Ông chỉ viết thêm đúng có một dòng thôi, nộp lại và được chấp nhận. Dễ hiểu rằng lần đầu, chỉ những viên chức hành chính kiểm tra theo chuẩn, không đạt theo quy định độ dài, nên loại ngay. Lần sau, công trình khoa học may mắn đến tay những người đủ sức đánh giá chất lượng, nên lập tức được thông qua. Nếu máy móc theo quy chuẩn số trang luận văn, Einstein sẽ không bao giờ là tiến sĩ, và chắc là không có giáo sư Einstein rồi thiên tài Einstein cũng đã bị chôn vùi từ lâu, may ra chỉ còn lại một Einstein viên chức hạng 2 ở phòng thẩm định sở hữu trí tuệ tại Bern!       Author                Vũ Cao Đàm        
__label__tiasang Chính sách tái đầu tư thúc đẩy công nghiệp hàng không Ấn Độ      Ấn Độ có chính sách yêu cầu mọi công ty quốc tế bán hàng cho Ấn Độ buộc phải tái đầu tư trong nước    Hình ảnh trên đây là máy bay Rudra, một trong những chiếc máy bay chiến đấu hiện đại do hãng Hindustan Aeronautics Limited (Hal) chế tạo. Rudra được trang bị những công nghệ tiên tiến bao gồm kính trắc viễn laser và hệ thống tầm nhìn cảm biến nhiệt giúp phát hiện các mục tiêu trong những điều kiện thời tiết khác nhau. Được trang bị loại tên lửa 70mm, tên lửa điều khiển chống tăng và tên lửa không đối không, dự kiến Rudra sẽ đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp quân sự của Ấn Độ. Hal là công ty nhà nước cung cấp chính cho lực lượng vũ trang quốc phòng của Ấn Độ và là nhà sản xuất máy bay lớn nhất và lâu đời nhất ở quốc gia này. Trong 60 năm qua, Hal đã chế tạo hơn 3.500 máy bay chiến đấu các loại.   Hal cũng đã giúp xây dựng một ngành công nghiệp hàng không ở thủ phủ Bangalore của bang Karnataka, nơi sản xuất tới hơn ¼ các loại thiết bị và tàu vũ trụ của Ấn Độ. Bây giờ bang Karnataka đang hy vọng thu hút nhiều khoản đầu tư hơn nữa để biến khu Bangalore này thành trung tâm hàng không vũ trụ. Phòng thí nghiệm vũ trụ quốc gia (NAL), Cơ quan R&D quốc phòng (DRDO) và Cơ quan nghiên cứu không gian Ấn Độ (ISRO) đều có các văn phòng đại diện tại Bangalore. Các hãng tư nhân hàng đầu như Boeing, Airbus, Honeywell và and GE Aviation cũng đặt chi nhánh tại đây.    Hãng Infosys cũng có mặt ở Bangalore  Hiện nay Ấn Độ vẫn là một trong những nhà nhập khẩu thiết bị quốc phòng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, giờ đây điều đó đang thay đổi dần dần, khi các bang ra chính sách yêu cầu mọi công ty quốc tế bán hàng cho Ấn Độ buộc phải tái đầu tư trong nước. Điều đó có nghĩa là các công ty nước ngoài phải tìm kiếm đối tác ở các doanh nghiệp quy mô lớn và nhỏ trong nước. Gần 80% tiền tái đầu tư quốc phòng kiểu này là ở lĩnh vực hàng không vũ trụ, giúp ngành công nghiệp hàng không nước này thực sự bùng nổ. Ví dụ, vào năm 2009, chính phủ Ấn Độ ký kết một hợp đồng với hãng Boeing để mua 08 máy bay trinh sát biển tầm xa P-8I và máy bay chống tàu ngầm. Dự án này thực sự đã giúp ích cho nhiều nhà cung cấp Ấn Độ.    Gần đây Hàng không Ấn Độ đã đặt hàng hơn 20 máy bay phản lực tiên tiến Hawk từ hãng BAE Systems của Anh, và với chính sách tái đầu tư, những chiếc máy bay này đang được lắp ráp ở Ấn Độ. Ấn Độ cũng đang hoàn tất một hợp đồng lên tới 10 tỷ USD để mua 126 chiếc máy bay chiến đấu đa chức năng hạng trung. Nhà thầu nào dành được hợp đồng đó sẽ phải liên doanh cùng với Hal chế tạo những chiếc máy bay phản lực này. Trong tương lai, ước tính có gần 75% doanh nghiệp hàng không vũ trụ sẽ vươn tỏa ra ngoài bang Karnataka khi có ngày càng nhiều hãng sản xuất toàn cầu vào Ấn Độ. Rõ ràng Karnataka đang cất cánh, có thể sẽ thành một trung tâm sản xuất giá thành rẻ, hay là một khu vực thiết kế công nghệ cao cho thế giới.   Thanh Hải lược dịch     Nguồn: http://www.bbc.co.uk/news/business-19661474    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chính sách ứng phó COVID-19 của Thụy Điển: Canh bạc rủi ro      Thụy Điển vẫn ứng phó với đại dịch một mình một kiểu – theo đuổi miễn dịch cộng đồng. Giới khoa học rất quan tâm, bởi nếu cách làm này thành công sẽ khiến nhiều nước phải nhận thức lại về cách chống dịch của mình. Tuy nhiên, bài viết mới đây trên Science cho thấy, Thụy Điển đã phải trả một giá rất đắt cho chính sách khác biệt của mình, và tạo ra những rạn nứt đau đớn trong cộng đồng khoa học.      Người dân ở Stockhom vẫn không đeo khẩu trang, ảnh vào tháng 9/2020. Các quan chức y tế Thụy Điển vẫn cho rằng việc đeo khẩu trang cho cảm giác an toàn giả tạo, khiến mọi người quên biện pháp giãn cách xã hội. Nguồn ảnh: Euronews  Ngày 5/4, Anders Tegnell, trưởng nhóm dịch tễ học của cơ quan y tế công cộng Thụy Điển, đã gửi email đến Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật châu Âu (ECDC) để bày tỏ sự quan ngại về đề xuất đeo khẩu trang nơi công cộng vì cho rằng tình trạng lây lan qua không khí vẫn chưa được xác nhận rõ ràng, bằng chứng yếu, khuyến cáo này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin giữa người dân và nhân viên y tế. Đến ngày 8/4, ECDC vẫn công bố các khuyến nghị mới, trong đó “nên xem xét việc đeo khẩu trang nơi công cộng, đặc biệt ở không gian kín, đông người”. Tegnell phản hồi rằng họ vẫn không đồng tình với ECDC sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng.  Cách tiếp cận của Thụy Điển với đại dịch khác biệt so với toàn bộ phần còn lại của thế giới. Chính phủ không ban hành lệnh phong tỏa, giữ các trung tâm chăm sóc ban ngày và các trường tiểu học mở cửa. Trong khi các đô thị khắp nơi trên thế giới gặp cảnh đìu hiu thì người Thụy Điển và chuyện trò trong quán cà phê và tập thể dục trong phòng gym. Các quốc gia khác vừa ngưỡng mộ vừa cảnh giác với cách tiếp cận khác biệt này. Các chuyên gia đang tranh luận liệu chiến lược trên có thực sự xuất sắc, hay kiến trúc sư trưởng của nó, Tegnell, đã thất sách.  Nước này không hoàn toàn phớt lờ mối đe dọa. Mặc dù các cửa hàng và nhà hàng vẫn mở cửa, nhiều người Thụy Điển vẫn ở nhà, với tỷ lệ tương tự các nước láng giềng, theo một cuộc khảo sát và dữ liệu di động cho thấy. Chính phủ cũng ban hành một số biện pháp nghiêm ngặt từ cuối tháng ba, bao gồm lệnh cấm tụ tập hơn 50 người và hạn chế đến thăm viện dưỡng lão.   Tuy nhiên, sự khác biệt trong chính sách của Thụy Điển vẫn rất nổi bật, bởi họ muốn tránh làm gián đoạn cuộc sống hằng ngày, và hy vọng cả nước sớm đạt được “miễn dịch cộng đồng” bằng cách trả một cái giá chấp nhận được sớm hơn nơi khác.   Chính phủ không khuyến khích người dân đeo khẩu trang, vì nghĩ việc này đem lại cảm giác an toàn giả tạo, hoặc gây lo sợ dịch bệnh quá mức, trong khi đeo sai cách là tình trạng phổ biến. Họ thậm chí đã khiển trách và sa thải các bác sĩ khăng khăng ủng hộ việc đeo khẩu trang, mặc dù các bác sĩ nước này chỉ nói những gì các đồng nghiệp quốc tế đang nói.  Cho đến tháng trước, chính sách chính thức của Thụy Điển vẫn khẳng định người nhiễm không triệu chứng rất khó lây lan virus. Vì vậy, thay vì được cách ly hoặc yêu cầu ở nhà, những trường hợp tiếp xúc gần người bệnh vẫn đi học và đi làm nếu không biểu hiện triệu chứng. Tỷ lệ xét nghiệm của Thụy Điển vẫn thấp hơn nhiều các nước khác, người bị nhiễm phải tự thông báo tình trạng bệnh đến người mà họ tiếp xúc, trong khi Na Uy và Đức có những đội chuyên trách truy vết những người có khẳ năng bị phơi nhiễm. Cách tiếp cận này thậm chí còn nhận được một số lời ca ngợi, trong đó có Scott Atlas, thành viên nhóm ứng phó coronavirus của Tổng thống Donald Trump. Đặc biệt, chính sách được công chúng Thụy Điển ủng hộ rộng rãi.       Ngay cả khi “miễn dịch cộng đồng” đủ mạnh để tránh làn sóng lây lan tiếp theo, nhiều nhà khoa học vẫn không muốn các nước học theo cách làm của Thụy Điển để phải trả cái giá quá đắt như vậy.      Cộng đồng khoa học và y tế Thụy Điển đã nổ ra cuộc tranh luận sôi nổi về chiến lược cá biệt này. Nhóm Vetenskapsforum Covid-19 (Diễn đàn khoa học Covid-19)  gồm nhiều nhà khoa học đã gay gắt phê bình cơ quan y tế công cộng của nước này, Folkhälsomyndigheten (FoHM). Họ cho rằng cái giá của cách tiếp cận này quá cao. Tỷ lệ tử vong tích lũy của Thụy Điển ngang ngửa với Mỹ, nơi đã có chính sách phản ứng tệ hại trước đại dịch. Virus gần như tự do lây lan bên trong các viện dưỡng lão, chừng 7% trong 14,000 người sống ở đây đã qua đời vì coronavirus. Hiện nay số ca nhiễm đang gia tăng nhanh chóng vùng đô thị Stockholm, nơi 1/4 dân số Thụy Điển sinh sống.  Lena Einhorn, một tác giả và nhà làm phim có bằng bác sĩ và tiến sĩ chuyên ngành virus và ung thư, lo lắng viết email cho Tegnell hỏi về mức độ sẵn sàng của Thụy Điển trước cảnh báo của Lancet về tình trạng lan tràn của virus trên toàn thế giới. Tegnell nói mô hình dự báo phức tạp này có quá ít dữ liệu. Bà tiếp tục nhấn mạnh mức độ dễ lây lan từ những người nhiễm không triệu chứng, đề nghị hạn chế du lịch từ Trung Quốc, và chỉ dừng chất vấn khi Tegnell trích dẫn sự phản đối của WHO đối với biện pháp này.   Cuối tháng hai, vào kỳ nghỉ giữa năm học, ngay trong đợt bùng phát dịch ở miền Bắc nước Ý, hàng nghìn gia đình vẫn đi trượt tuyết trên dãy Alps. Họ đã băn khoăn nên đi hay không cho đến khi cơ quan y tế bảo rằng “Không, đừng hủy chuyến đi của bạn.” Và khi họ trở về, họ tự hỏi mình có nên tự cách ly hay không, nhưng Cơ quan Y tế công cộng Thụy Điển FoHM vẫn trấn an đừng nên lo lắng.   Einhorn cùng nhiều chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, virus và dịch tễ đều đứng ngồi không yên trong lúc 30,000 người vẫn hồn nhiên tham dự vòng chung kết quốc gia của cuộc thi âm nhạc Eurovision.   Đến ngày 12/3, khi số ca mắc mới vượt quá năng lực xét nghiệm, FoHM yêu cầu các bác sĩ chỉ xét nghiệm cho những người có biểu hiện bệnh nghiêm trọng. Nhà miễn dịch Cecilia Söderberg Nauclér từ viện Karolinska nói họ cần 500 giường hồi sức tích cực ICU trong khi Stockholm hiện chỉ còn có 90 giường. Trong cùng ngày, nước láng giềng Na Uy phong tỏa biên giới, đóng cửa trường học, cơ sở kinh doanh.  Tuần sau đó, Tegnell thông báo Thụy Điển sẽ cố gắng “làm phẳng đường cong”, nhằm tránh quá tải cho hệ thống y tế. Chính phủ giới hạn các cuộc tụ tập tối đa 500 người, nhưng nhà trẻ và trường học đến lớp 9 vẫn mở cửa, bậc học cao hơn sẽ được dạy trực tuyến. FoHM khuyến nghị mọi người nên làm việc tại nhà, nhưng năng lực xét nghiệm vẫn hạn chế và những trường hợp tiếp xúc gần không được yêu cầu ở nhà trừ khi họ có triệu chứng.     Lena Einhorn (ảnh trái) là thành viên của Vetenskapsforum Covid-19, một nhóm chỉ trích mạnh mẽ chính sách của người đứng đầu cơ quan y tế công cộng Thụy Điển, Anders Tegnell (ảnh trên phải) và người tiền nhiệm, Johan Giesecke (ảnh dưới,  phải). Ảnh: Astrid Eriksson Tropp/CC3.0; Anders Wiklund/Getty Images; IBL/Shutterstock.  Chẳng bao lâu sau, số ca nhiễm tăng vọt. Cuối tháng ba, mỗi ngày có hơn 30 ca nhập ICU. Đến đầu tháng tư, Thụy Điển ghi nhận 90 ca tử vong mỗi ngày. Theo nhiều nhà phê bình, con số chưa phản ảnh đúng thực tế, vì nhiều người chết chưa được xét nghiệm. Các bệnh viện không quá tải như tại New York hay miền Bắc Ý vì nhiều bệnh nhân nặng không nhập viện, có lẽ vì chỉ thị ngày 17/3 yêu cầu các bệnh viện tại Stockholm không nhập ICU các bệnh nhân trên 80 tuổi hoặc BMI >40 vì khả năng phục hồi thấp. Hầu hết các viện dưỡng lão không trang bị thiết bị cung cấp oxy, nên nhiều người đã được tiêm morphine giảm đau. Báo chí đã kể về những trường hợp tử vong sau khi bị từ chối nhập ICU vì bệnh viện nghĩ họ còn quá trẻ để gặp biến chứng nghiêm trọng của Covid-19.    Ngày 25/3, khi số ca mắc mới vượt quá 300 mỗi ngày, khoảng 2000 nhà khoa học ký một thư ngỏ kêu gọi các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn. Một bài nghiên cứu bởi 22 nhà nghiên cứu đăng trên báo Dagens Nyheter ngày 14/4 đã chỉ trích gay gắt sự thất bại của cơ quan y tế công cộng, yêu cầu các chính trị gia phải can thiệp. Báo cáo lưu ý rằng tỷ lệ tử vong tại Thụy Điển tương đương Ý và gấp 10 lần Phần Lan. Bài báo chê trách các quan chức của FoHM “đến nay không thể hiện được năng lực trong việc dự báo và hạn chế dịch bệnh”.  Bài báo ngay lập tức bị phàn nàn là đáng xấu hổ, thiếu tôn trọng các nhân viên y tế công cộng vì sự tấn công trực diện như vậy vi phạm chuẩn mực văn hóa tối thượng ở Thụy Điển, thêm nữa họ không phải là các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực, và đã chọn lọc trích dẫn số liệu các ngày cao điểm. Göran Hansson, Tổng thư ký Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, thì cho rằng sự tranh luận là cần thiết. “Có lẽ Thụy Điển có văn hóa đồng thuận quá mức… Thảo luận khoa học là điều lành mạnh”, im lặng mới là điều cần tránh.  Brusselaers, thành viên Vetenskapsforum cho biết bà phải đối mặt với phản ứng dữ dội từ các đồng nghiệp, bị chủ nhiệm khoa công khai khiển trách là “kẻ gây rối, nguy hiểm cho xã hội”. Họ cho rằng mọi người cần gắn bó và bảo vệ FoHM. “Chưa bao giờ cảm thấy mình là người nước ngoài”, nhưng hoàn cảnh mới khiến cô quyết định về nước để làm việc tại Đại học Antwerp, Bỉ, tuy vẫn giữ nhóm nghiên cứu tại Viện Karolinska.    Biểu đồ: Nguồn số liệu: Science, Văn phòng thống kê quốc gia Anh.      Tác động tiêu cực của cách tiếp cận mà Thụy Điển áp dụng là rất rõ ràng. Tổng cộng có 94.000 người đã mắc bệnh, ít nhất 5.895 người đã tử vong. Tỷ lệ tử vong 590 ca trên 1 triệu dân ở đây ngang với Hoa Kỳ (591) và Ý (600), gấp nhiều lần so với Na Uy (50), Đan Mạch (108) và Đức (113).      Agnieszka Howoruszko, một bác sĩ nhãn khoa cũng bị khiển trách vì đeo khẩu trang khi khám bệnh. Nhưng bà vẫn giữ vững lập trường, từ chối làm việc nếu không được đeo khẩu trang. Cuối cùng người quản lý phòng khám cũng chấp nhận, vì nhiều bệnh nhân ở đây là người cao tuổi và thuộc nhóm nguy cơ cao.   Dorota Szlosowska, một bác sĩ hô hấp viết cho Science rằng lý do bà không được gia hạn hợp đồng là “cứ đi vòng quanh với một chiếc khẩu trang” khiến và trở nên không thân thiện. Björn Lindström, một bác sĩ nhãn khoa khác đã mạnh dạn viết cho tờ Dagens Nyheter giải thích lý do ông trở thành người duy nhất đeo khẩu trang vì không muốn vi phạm đạo luật an toàn bệnh nhân của Thụy Điển, phòng ngừa lây nhiễm cho bệnh nhân khi được chăm sóc.   Và điều gì phải đến cũng đã đến. Các ổ dịch bùng phát bên trong bệnh viện mặc dù họ đã tuân thủ chính sách của FoHM. Hiện tại có 17 ổ dịch như vậy đang được điều tra. Bệnh viện khu vực Ryhov ở  Jönköping thông báo 20 bệnh nhân và 40 nhân viên đã nhiễm bệnh trong đợt bùng phát hồi tháng năm, trong đó 5 ca tử vong. Ít nhất 3 bệnh nhân tử vong vì Covid-19 sau khi nhiễm bệnh tại bệnh viện Đại học Lund.   Quyết định không đóng cửa trường học của FoHM càng làm dịch bệnh thêm lan rộng. Lúc trẻ em chưa được xét nghiệm mặc dù có biểu hiện bệnh, tỷ lệ nhiễm ở trẻ em tại Thụy Điển tương đương Phần Lan, nơi thực hiện đóng cửa trường học. Đến khi FoHM cho phép xét nghiệm trẻ em có biểu hiện bệnh, số ca tăng vọt lên 100 ca vào tuần thứ hai của tháng sáu. Rồi đến tháng bảy, FoHM lại đảo ngược hướng dẫn lần nữa, không tiến hành xét nghiệm ở trẻ em. Dữ liệu gián tiếp chứng minh trẻ em Thụy Điển mắc bệnh nhiều hơn đáng kể so với Phần Lan. Tại Thụy Điển, 14 trẻ nhập khoa ICU, 70 trẻ gặp hội chứng đáp ứng viêm toàn thân, so với 1 và 5 trẻ ở Phần Lan.   Tác động tiêu cực của cách tiếp cận mà Thụy Điển áp dụng là rất rõ ràng. Tổng cộng có 94.000 người đã mắc bệnh, ít nhất 5.895 người đã tử vong. Tỷ lệ tử vong 590 ca trên 1 triệu dân ở đây ngang với Hoa Kỳ (591) và Ý (600), gấp nhiều lần so với Na Uy (50), Đan Mạch (108) và Đức (113).    Một cặp đôi cao tuổi đang dùng bữa tách biệt với những thành viên còn lại của gia đình. Nhiều người Thụy Điển giảm tiếp xúc xã hội mặc dù chính phủ không yêu cầu. Ảnh ngày 18/4/2020. Ảnh: David Lidstrom/Getty Images.  So với số ca tử vong trung bình các năm trước, số ca tử vong vượt mức [được quy kết cho Covid-19] ở Thụy Điển tuy thấp hơn Anh và xứ Wales (nơi mức phí y tế cao nhất châu Âu) nhưng vẫn cao hơn Đức và các nước Bắc Âu khác. Cộng đồng nhập cư ở Thụy Điển chịu ảnh hưởng nặng nề, 111 người từ Somalia và 247 người từ Syria tử vong so với mức trung bình 5 năm trước tuơng ứng là 34 và 93 người.  Tegnell nhiều lần nhấn mạnh, Thụy Điển có cách tiếp cận tổng thể, cân bằng giữa nguy cơ do virus và thiệt hại từ các biện pháp kiểm soát dịch bệnh. Chiến lược của họ là ưu tiên bảo vệ người cao tuổi và nhóm nguy cơ cao, đồng thời làm chậm sự lây lan đủ để tránh tình trạng quá tải bệnh viện. Tegnell cho rằng cách tiếp cận này bền vững hơn các biện pháp khắc nghiệt của các nước khác. Ông lấy làm tiếc về con số tử vong trong các viện dưỡng lão, và nói đáng ra Thụy Điển cần hỗ trợ tài chính dễ dàng hơn cho nhân viên chăm sóc tại gia. Tegnell cho biết tỷ lệ lây lan trong viện dưỡng lão nay đã thấp hơn trong cộng đồng, và nghi ngờ rằng cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở các nước khác sẽ đạt mức tương đương Thụy Điển. Einhorn cảm thấy điều này quá vô lý. “Tôi sẽ ngả mũ bái phục nếu Na Uy bắt kịp Thụy Điển về tỷ lệ tử vong do Covid-19”.  Nhiều người chỉ trích FoHM đang cố gắng đạt “miễn dịch cộng đồng”. Thủ tướng Anh Boris Johnson cũng từng đùa giỡn với ý tưởng này, nhưng cuối cùng đã bác bỏ nó (sau khi chính ông cũng mắc Covid-19). Thủ tướng Hà Lan trước đây cũng cho rằng phương pháp này không làm tổn thương nền kinh tế.  Các nhà khoa học dự đoán cần 40-70% dân số đạt miễn dịch mới đủ ngăn chặn sự lây lan của virus. Nhưng nếu tỷ lệ đó đạt được không nhờ vaccine thì đồng nghĩa với số lượng tử vong quá cao, và kéo theo nhiều hệ lụy lâu dài.   Tegnell luôn phủ nhận việc FoHM theo đuổi mục tiêu “miễn dịch cộng đồng”. Nhưng các rò rỉ cho biết ông từng thảo luận về vấn đề này, và suy đoán “việc giữ cho các trường học mở cửa giúp đạt đến miễn dịch cộng đồng nhanh hơn”. Khi các đồng nghiệp Phần Lan cho biết đóng cửa trường học có thể làm giảm 10% tỷ lệ lây nhiễm ở người cao tuổi, Tegnell đã trả lời “10% liệu có đáng không?”.  Lãnh đạo tiền nhiệm của Tegnell là Johan Giesecke, giáo sư dịch tễ học tại viện Karolinska, nay đã về hưu, cũng bảo vệ cho chiến lược của FoHM. Ông cho rằng 98-99% người nhiễm bệnh không nhận ra mình bị nhiễm, vậy nên ngăn chặn sự lây lan là vô ích, nên tập trung vào việc chăm sóc các nạn nhân kém may mắn.   Giesecke, đồng thời là thành viên nhóm tư vấn của WHO về bệnh truyền nhiễm, cũng tư vấn cách tiếp cận tương tự cho các chính phủ khác. Ngày 23/9, ông nói với Ủy ban Quốc hội Ireland rằng nên hướng tới lây nhiễm có kiểm soát ở người dưới 60 tuổi và ở mức độ chấp nhận được ở người trên 60 tuổi. Tuy nhiên sau đó ông vẫn cho rằng Chính phủ Ireland chịu trách nhiệm cho các chính sách của mình. Trong một bài báo trên Lancet, Giesecke tuyên bố 21% dân số Stockholm đã nhiễm bệnh, Tegnell thì dự báo tỷ lệ này đạt 40% vào cuối tháng năm. Khi các số liệu cho thấy con số thực sự chỉ là 6%, Tegnell giải thích rằng khả năng miễn dịch rất khó đo lường. Đến giữa tháng sáu, chỉ 12% dân số Stockholm và 6-8% dân số Thụy Điển có kháng thể với virus.  Lợi ích của “miễn dịch cộng đồng” vẫn còn đang gây tranh cãi và chưa rõ ràng. Từ số ca mắc mới kỷ lục 1,698 ca ngày 24/6, đến đầu tháng chín chỉ còn khoảng 200 ca mỗi ngày, tỷ lệ xét nghiệm dương tính thấp kỷ lục, đạt 1.2%. Nhưng nguyên nhân chính ở đây có thể là kỳ nghỉ hè truyền thống của Thụy Điển, khi hàng trăm nghìn người rời đô thị đi dã ngoại. Và khi kỳ nghỉ kết thúc, số ca mắc mới tăng lên 633 ca, trong ngày 25/9. Số ca mắc mới của Stockholm tăng gấp ba trong vòng hai tuần.  “Thí nghiệm” của Thụy Điển sắp dừng lại, vì nước này đang lặng lẽ điều chỉnh chính sách cho phù hợp với các nước láng giềng. Họ tăng tỷ lệ xét nghiệp ngang bằng với Na Uy, mặc dù chỉ bằng 1/4 Đan Mạch. Khuyến nghị không xét nghiệm cho trẻ em 6-16 tuổi đã được loại bỏ lần hai để giúp các em có triệu chứng được trở lại trường sớm hơn nếu kết quả âm tính. Trẻ em dưới 6 tuổi vẫn không được xét nghiệm trừ khi bệnh nặng.   Số ca mắc giảm xuống cho phép áp dụng hệ thống theo dõi tiếp xúc dành cho các bệnh khác để theo dõi Covid-19. FoHM cũng đã yêu cầu người thân của người bệnh cần ở nhà trong bảy ngày ngay cả khi không có triệu chứng (mặc dù trẻ em vẫn đến trường). Hansson và đồng nghiệp kiến nghị FoHM nên giảm 50% hành khách trên phương tiện giao thông công cộng, khuyến cáo đeo khẩu trang và cách ly tất cả khách du lịch đến từ vùng đang bùng phát dịch. Ngày 25/9, Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển đã tập hợp một nhóm chuyên gia để so sánh phản ứng của Thụy Điển với các quốc gia khác nhằm chuẩn bị cho các tình huống khủng hoảng tương lai.  Hansson cho rằng FoHM nên lắng nghe ý kiến của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước một cách cẩn trọng hơn. Ông hy vọng những rạn nứt sẽ được hàn gắn. Nhưng không phải ai cũng lạc quan như ông, ít nhất ba thành viên của Vetenskapsforum đang cân nhắc rời khỏi Thụy Điển như Brusselaers. Ngay cả khi “miễn dịch cộng đồng” đủ mạnh để tránh làn sóng lây lan tiếp theo, nhiều nhà khoa học vẫn không muốn các nước học theo cách làm của Thụy Điển để phải trả cái giá quá đắt như vậy.  Cao Hồng Chiến lược dịch  Science DOI: 10.1126/science.370.6513.159    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chợ đen các  bài báo khoa học  ở Trung Quốc      Tạp chí Science số ra ngày 29/11 vừa qua đã đăng bài viết của tác giả Mara Hvistendahl (với sự hỗ trợ của Li Jiao và Ma Qionghui) kể về cuộc điều tra của các nhà báo trong suốt 5 tháng, qua đó phơi bày ra ánh sáng một chợ đen đáng kinh ngạc ở Trung Quốc, nơi người ta mua bán, trao đổi các nghiên cứu khoa học như những hàng hóa thông thường.     Giả sử bạn là một nhà nghiên cứu muốn có bài đăng trên một tạp chí khoa học nổi tiếng, nhưng lại gặp khó khăn do thiếu thời gian (hay tiền bạc, tài năng, hoặc tâm huyết) nên không thể hoạch định và triển khai thí nghiệm, phân tích các kết quả, viết thành bài báo, để gửi tới các tạp chí bình duyệt. Bạn có thể giải quyết vấn đề này ở chợ đen Trung Quốc, nơi một số tổ chức môi giới chuyên nghiệp cho bạn xem danh sách các bài báo hiện đang được thẩm định bởi các tạp chí khoa học, và đơn giản là bạn chỉ cần trả tiền để được bổ sung tên vào danh sách các tác giả.   Tại trụ sở của một tổ chức ở Thượng Hải, Mara Hvistendahl được xem một quảng cáo, và được giới thiệu về một nghiên cứu cách thức giảm sức chống chịu của những tế bào ung thư khi trị liệu. Tổ chức môi giới nói rõ với Mara rằng chỉ cần bỏ ra 90 nghìn tệ (tương đương 10 nghìn 8 trăm euro) là có thể đứng tên đồng tác giả thứ nhất. Sau này, nghiên cứu kể trên được đăng ở Tạp chí Hóa sinh & Sinh học Tế bào (Journal of Biochemistry & Cell Biology), trong danh sách tác giả đứng đầu có cái tên Wang Yu, nhưng khi người ta liên hệ với vị tác giả đứng đầu còn lại thì bản thân vị này cũng không biết Wang Yu là ai.  Trên chợ đen còn có một dạng dịch vụ khác, đó là trả tiền “chui” cho một sinh viên hay một nhà nghiên cứu, để viết một bài báo dựa trên nguồn dữ liệu mà có khả năng là hoàn toàn bịa đặt; hoặc dựa vào dữ liệu lấy của một nhà khoa học khác; hoặc được một phòng thí nghiệm dàn dựng ra kết quả như mong muốn. Đóng vai nhà nghiên cứu, Mara Hvistendahl và đồng nghiệp liên lạc 27 đầu mối bán nghiên cứu khoa học (trong đó có nơi thật, có nơi giả) để điều tra về giá mua hoặc đặt hàng nghiên cứu. Chỉ có 5 trên 27 đầu mối từ chối làm việc này. Với số còn lại thì giá là khoảng từ 1600 đến 26.300 USD (con số sau nhiều hơn cả 1 năm lương của một số giáo sư đại học Trung Quốc).  Chi phí này có vẻ quá lớn, nhưng dường như vẫn có những người chấp nhận cuộc chơi, bởi những sức ép đặc thù trong môi trường học thuật ở Trung Quốc. Theo Cong Cao, một chuyên gia nghiên cứu về khoa học Trung Quốc ở Đại học Nottingham, “các nhà nghiên cứu Trung Quốc được thăng tiến căn cứ trên những công bố của họ ở các tạp chí SCI” trong vòng 5 năm gần nhất, trong đó phải là những công trình mà họ là tác giả đứng đầu. Tương tự như vậy, ở một số trường đại học, các nghiên cứu sinh chỉ có thể trở thành tiến sĩ sau khi có ít nhất một nghiên cứu khoa học được xuất bản. Người ta thường nói “công bố hay là chết”, hoặc là “công bố để thăng tiến”.  Người ta vẫn đang đặt những câu hỏi về tác động thực sự của thị trường chợ đen đối với nền khoa học Trung Quốc. Bao nhiêu phần trăm các nghiên cứu là qua giao dịch mua bán? Liệu tỉ lệ này có tăng nhanh gần đây? Trong thực tế, số lượng các công bố khoa học ở Trung Quốc đã bùng nổ trong những năm qua, từ con số 41.417 năm 2002 thành 193.733 năm 2012, đưa Trung Quốc thành nước thứ hai sau Mỹ về số lượng công bố khoa học.  Ngoài ra vẫn còn những câu hỏi khác. Vì sao các nhà khoa học là tác giả thực sự của các nghiên cứu không lên tiếng tố cáo khi các tác giả rởm được có tên trong công trình của họ? Những kẻ môi giới liệu có được sự đồng lõa tiếp tay từ các tạp chí khoa học? Các tác giả rởm lấy nguồn tiền ở đâu để chi trả cho những kẻ môi giới mức phí rõ ràng vượt quá khả năng một cá nhân thông thường? Liệu nguồn tiền kinh phí nghiên cứu từ các tổ chức khoa học có được sử dụng cho mục đích này?                 Thanh Xuân lược dịch theo passeurdescience blog  http://passeurdesciences.blog.lemonde.fr/2013/12/01/un-scandaleux-marche-noir-de-la-science-en-chine/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chống gian dối, bảo vệ liêm khiết khoa học      Gian dối khoa học cũng cùng một loại bệnh như tham nhũng. Cho nên việc chống gian dối trong khoa học để bảo vệ sự trung thực, liêm khiết khoa học là yêu cầu bức thiết, cần quyết liệt ngay từ sớm, đừng để nó phát triển đến giai đoạn di căn không kiểm soát nổi.&#160;    Một hình thức khá phổ biến của gian dối khoa học là đạo văn. Căn bệnh này trong xã hội ta đã từng bị phát hiện từ  nhiều thập kỷ trước, khởi đầu trong toán học. Lý do có lẽ vì trong toán học, khi một kết quả khoa học bị phát hiện là sao chép từ một công trình đã công bố thì rất khó chối cãi được.      Dù sao thì những vụ đạo văn trong khoa học tự nhiên thuở ấy vẫn còn hiếm. Một phần vì thuở ấy các nhà khoa học ta chưa có nhiều công trình công bố quốc tế, và cũng chưa bị nhiều áp lực phải có công bố quốc tế.      Nhưng khoảng mươi năm nay, tình hình đã thay đổi. Do xu thế hội nhập, công bố quốc tế ngày càng quan trọng đối với nhà khoa học. Từ đó đã nảy sinh không ít hiện tượng tiêu cực, và đạo văn xuất hiện ngày càng nhiều.      Cách đây ba năm trong ngành vật lý từng có môt vụ đạo văn rất tai tiếng. Một bài nghiên cứu vật lý của một số tác giả Việt Nam đã được đăng trực tuyến trên một tạp chí quốc tế có uy tín nhưng sau đó không lâu đã bị gỡ, với cáo buộc nặng nề là sao chép từ công trình của các tác giả khác ở nước ngoài. Tạp chí quốc tế có uy tín tất nhiên có cơ chế bình duyệt khắt khe, nhưng cũng không thể tránh khỏi thỉnh thoảng có trường hợp bài kém hoặc đạo văn vẫn lọt lưới. Có điều khi đã phát hiện ra có đạo văn thì họ xử lý thẳng tay, không chút nể nang, vì đó cũng là cách bảo vệ uy tín của tạp chí.     Tiếp theo vụ đạo văn tai tiếng trong vật lý, năm sau (2012) trong toán lại xảy ra một vụ lùm xùm về đạo văn. Tuy vụ này chưa gây tai tiếng trên quốc tế vì cả bài gốc lẫn bài sao chép đều là của các tác giả Việt Nam và đăng ở những tạp chí không mấy tiếng tăm, nhưng đáng tiếc việc xử lý trong nước không dứt khoát nghiêm minh, để tranh cãi kéo dài quá lâu làm mọi người tham gia ý kiến đều mệt mỏi, cuối cùng đành bỏ cuộc.             Điều nguy hại nhất hiện nay là hiện tượng bùng nổ đạo văn trong khoa học xã hội. Theo báo chí,  trong vòng 3-4 năm gần đây đã có đến hàng chục vụ luận án tiến sĩ về khoa học xã hội bị phát hiện đạo văn. Do vậy  muốn bảo vệ liêm khiết khoa học thì cần tôn trọng những chuẩn mực về công bố quốc tế ngay cả trong lĩnh vực khoa học xã hội.         Mà vấn đề thật ra cũng đâu có phức tạp gì lắm.  Khi ông A đăng một bài báo mà hết ¾ là sao chép nguyên si từ một bài báo khác đã công bố trước thì theo chuẩn mực quốc tế dứt khoát về lý đó là đạo văn, chưa cần xét nguyên nhân. Nhưng sau một hồi truy tìm được biết nội dung phần bài mà ông A sao chép là kết quả chung của một nhóm nghiên cứu trong đó A có tham gia tích cực, nhưng khi công bố kết quả này thì ông B là người hướng dẫn nhóm đã phạm sai lầm không ghi A là đồng tác giả. Như vậy cả hai người đều vi phạm đạo đức khoa học vì đã tìm cách tước đoạt kết quả nghiên cứu của nhau. Lẽ ra cả hai đều cần đăng bài công khai giải trình và nhận lỗi trước công luận thì việc cũng chỉ dừng ở đó. Nhưng đáng tiếc chúng ta đã không làm được như vậy. Vụ lùm xùm không được xử lý đúng đắn đã tạo một tiền lệ không hay về bảo vệ sự liêm khiết khoa học.     Điều nguy hại nhất hiện nay là hiện tượng bùng nổ đạo văn trong khoa học xã hội. Theo báo chí,  trong vòng 3-4 năm gần đây đã có đến hàng chục vụ luận án tiến sĩ về khoa học xã hội bị phát hiện đạo văn. Đặc biệt đáng chú ý, có một luận án tiến sĩ từng được bảo vệ xuất sắc cách đây mười năm (và tác giả nhờ đó đã được công nhận chức danh PGS), bỗng nhiên bị phát hiện có đến 1/3 nội dung sao chép nguyên si từ một công trình của một tác giả khác đã công bố trước. Ở nước ngoài trong trường hợp này vị tiến sĩ bị phát hiện đạo văn thường tự giác nhận lỗi và từ chức ngay chứ không cần đến tòa án phán xử. Nhưng ở nước ta,  với nhận thức kém cỏi về đạo đức khoa học người bị phát hiện đạo văn chẳng những không nhận ra lỗi mà còn kịch liệt phản đối, thậm chí kiện cả ra tòa cơ quan hữu trách đã xử lý họ.       Công bằng mà nói, đạo văn không hoàn toàn chỉ là vấn đề ý thức đạo đức khoa học. Có thể còn do nhận thức chưa đúng đắn, chưa chặt chẽ về đạo đức nghề nghiệp, hay do trong một vài ngành chưa có chuẩn mực rõ về cách viết, cách công bố một công trình nghiên cứu khoa học. Nhiều người đạo văn dù biết rõ hành vi đó cũng xấu xa như ăn cắp, nhưng cũng nên tin rằng có người khác chỉ đạo văn một cách vô tư, không hề nghĩ rằng sao chép một kết quả nghiên cứu khoa học đã được công bố vào một bài được ký tên mình chẳng khác gì công khai chiếm hữu kết quả đó. Trong khoa học tự nhiên, một luận án tiến sĩ mà có đến 1/3 sao chép nguyên si từ công trình của người khác thì dù có ghi rõ nguồn trích dẫn hay không cũng đều không thể coi là công trình nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng trong khoa học xã hội có vẻ điều đó chưa được coi là hiển nhiên lắm. Ngoài ra, đối với công bố quốc tế trong khoa học thì từ lâu đã có những quy ước cụ thể, tuy bất thành văn nhưng đã được chấp nhận rộng rãi, về cách bố cục, cách dẫn nhập vào đề tài được khảo sát, cách trích dẫn tư liệu, v.v. sao cho rạch ròi đâu là kết quả của chính tác giả, đâu là kết quả của người khác. Có thể do chúng ta ít có công bố quốc tế về khoa học xã hội nên chưa quan tâm đúng mức đến các quy ước đó chăng.      Dù sao muốn bảo vệ liêm khiết khoa học thì cần tôn trọng những chuẩn mực về công bố quốc tế ngay cả trong lĩnh vực khoa học xã hội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ động kết nối để vươn xa      Trong khi đa số các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà nước còn đang rất lúng túng trong việc thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005-NĐCP thì Viện Nghiên cứu Ngô đã không chỉ tự lực tồn tại mà còn đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, vươn lên chiếm tới hơn 40% thị phần ngô giống trên cả nước.  &#160;    Nguyên nhân dễ thấy nhất cho thành công trong sản xuất kinh doanh của Viện Nghiên cứu Ngô là bề dày kinh nghiệm. Theo TS Mai Xuân Triệu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô (Viện), ngay từ năm 1981 khi mới được chuyển hóa từ Trại Nghiên cứu Ngô Sông Bôi thành Trung tâm Nghiên cứu Ngô Sông Bôi (tiền thân của Viện ngày nay), cơ sở đã chủ động tổ chức sản xuất các giống thuần phục vụ nhu cầu của bà con nông dân theo cơ chế gán thu bù chi. Sản phẩm khi ấy là những giống ngô thụ phấn tự do, có năng suất cao hơn các giống địa phương và đã được thị trường dễ dàng chấp nhận. Đến giai đoạn 1992-1995, Viện đã làm chủ được công nghệ chọn tạo và sản xuất giống ngô lai và tổ chức chiếm lĩnh thị trường trong nước, đồng thời xuất khẩu sang một số nước trong khu vực. Hiện nay, các giống ngô lai của Viện chiếm tới 90% lượng giống lai của Việt Nam.  Từ năm 2005 tới nay, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ngô giống của Viện tăng khá đều đặn, từ 6,1 tỷ VND năm 2005 lên 21,6 tỷ VND năm 2009, trước khi chững lại ở con số này. Mỗi năm doanh thu của Viện lên tới hàng trăm tỷ VND, đồng thời sản phẩm của Viện giúp người trồng ngô trong nước mỗi năm tiết kiệm được 80– 90 tỷ VND.          Viện Nghiên cứu Ngô đã lai tạo và chuyển  giao vào sản xuất hàng chục giống ngô lai được công nhận giống quốc gia.  Một số giống ngô lai thế hệ mới tiêu biểu đã được công nhận là giống  quốc gia đang được mở rộng thị trường đưa vào sản xuất trong những năm  gần đây như: LVN885, LVN61, LVN68, LVN66, LVN145, LVN45, LVN146, LVN154,  LVN37, LVN184, SB099, Đường lai 10, Nếp lai số 1, Nếp lai LSB4 (không  quy ước), giống nếp tổng hợp VN2 và VN6. Viện đã bán bản quyền 7 giống  ngô lai cho các công ty trong và ngoài nước: LVN14, LCH9, LVN154,  LVN145, LVN66, LVN37, LVN68. Hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm  nghiên cứu của Viện đã góp phần chủ động lượng giống ổn định giá bán hạt  giống ngô lai trong nước, đem lại cho Viện doanh thu 100 – 120 tỷ VND  mỗi năm.        Tuy nhiên, con đường phát triển kinh doanh của Viện cũng đòi hỏi phải vượt qua không ít thử thách. “Chúng tôi cũng phải trả giá nhiều”, TS Mai Xuân Triệu chia sẻ. Tổn thất trong nghiên cứu ứng dụng ngành nông nghiệp thường không nhỏ, và rủi ro là không thể tránh khỏi. Theo TS Triệu, “xác suất thành công trong nghiên cứu ngô giống của Mỹ là 6 phần vạn, còn ở Việt Nam là 3 phần vạn”. Chẳng nói đâu xa, ngay trong năm nay, do thời tiết nắng nóng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, ngô giống của Viện sản xuất tại Gia Lộc– Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng bị chết phấn và không kết hạt được. Chỉ cần khoảng chục hecta thất bại như vậy đủ để gây thiệt hại hàng tỷ đồng, TS Triệu cho biết.  Mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước  Đặc thù kinh doanh vốn luôn có rủi ro, trong khi giai đoạn ban đầu còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm về các hoạt động đầu tư và thị trường, các quy định và cơ chế quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, đây là những khó khăn cơ bản mà các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ ở Việt Nam lâu nay vẫn gặp phải và không dễ vượt qua. Bên cạnh đó, một trở ngại khác cho các tổ chức này khi muốn chuyển sang tự chủ là “đa số các nhà khoa học không thích làm kinh doanh” mà thường chỉ muốn tập trung vào chuyên môn nghiên cứu, TS Triệu nhận xét.   Trong điều kiện hạn chế như vậy, giải pháp giúp Viện triển khai được các nghiên cứu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh là kết nối với các doanh nghiệp kinh doanh ngô giống trong nước. Trong thời kỳ đầu, những mối liên kết và giao dịch giữa Viện và các doanh nghiệp này chủ yếu qua 1 trong 3 hình thức: doanh nghiệp mua giống bố mẹ và trả tiền bản quyền cho Viện; doanh nghiệp mua giống bố mẹ của Viện để sản xuất hạt giống và bán lại cho Viện một phần; doanh nghiệp trực tiếp gia công sản xuất hạt giống cho Viện. Sau này, trải qua quá trình phát triển và thích nghi với thị trường, mối quan hệ giữa Viện và các doanh nghiệp chuyển sang 2 hình thức chính, đó là doanh nghiệp mua bản quyền giống và công nghệ của Viện, hoặc doanh nghiệp mua quyền sử dụng. khai thác sản phẩm nghiên cứu của Viện và trả dần theo hiệu quả kinh doanh mà sản phẩm đó mang lại.   Những mối giao dịch và liên kết với các doanh nghiệp như trên đã giúp Viện triển khai nhanh được các kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất mà không phải đầu tư quá nhiều vốn, đồng thời giúp đội ngũ cán bộ, chuyên gia có nhiều cơ hội tích lũy thông tin và kinh nghiệm qua cọ xát thực tế, cả về chuyên môn nghiên cứu lẫn sản xuất, kinh doanh.   Sự cần thiết hình thành một doanh nghiệp riêng  Mối quan hệ giao dịch và liên kết giữa Viện và các doanh nghiệp trong nước đã giúp Viện phát triển tích cực, nhưng không phải mối quan hệ nào cũng bền vững. Về lâu dài đã nảy sinh những hiện tượng tiêu cực, như tình trạng một số doanh nghiệp vi phạm bản quyền và hợp đồng của Viện, thậm chí làm giả, làm nhái sản phẩm của Viện. Ngoài ra, cơ sở chế biến và bảo quản yếu kém đã gây nhiều hạn chế cho chất lượng và hình thức sản phẩm của các công ty trong nước và làm giảm khả năng chiếm hữu thị trường của các giống ngô mà Viện tạo ra.  Trong khi đó, vào những năm đầu thập kỷ 90, các công ty nước ngoài đã bắt đầu thâm nhập vào thị trường Việt với công nghệ chế biến và bảo quản hạt giống cao hơn công nghệ của Việt Nam, tạo ra sản phẩm tốt hơn, trực tiếp đe dọa thị phần của các công ty trong nước. Một báo cáo của Viện đánh giá rằng nếu thị trường Việt Nam rơi vào sự thao túng của các công ty nước ngoài, giá ngô giống sẽ tăng cao thêm 30 – 50%. Hoạt động canh tác sản xuất ngô trong nước sẽ bị lệ thuộc, mất đi sự chủ động.  Để tồn tại trước sức ép cạnh tranh từ các công ty nước ngoài, Viện không thể hoàn toàn trông chờ vào các mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước – vốn chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ với năng lực còn nhiều hạn chế –  mà phải tự mình chủ động vươn lên, nỗ lực cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất kinh doanh.   Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi hoạt động sản xuất kinh doanh của Viện đạt tới ngưỡng 1000 tấn/năm, đã xuất hiện những hạn chế nội tại, rõ rệt nhất là những giới hạn về quản lý và thiếu thốn cơ sở trang thiết bị phục vụ cho chế biến, bảo quản. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của cán bộ Viện trong thời kỳ này thuần túy mang tính kiêm nhiệm, không chuyên, nên hiệu quả công việc không được gắn với cơ chế pháp lý ràng buộc. Bên cạnh đó, chênh lệch thu nhập ngoài lương giữa các đơn vị và cá nhân trong Viện khó có thể được điều tiết linh hoạt, làm giảm động lực của các cá nhân trong công việc. Ngoài ra, còn xảy ra tình trạng cạnh tranh cùng loại sản phẩm giữa các đơn vị trực thuộc Viện, gây ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của cả tập thể.   Chính những khó khăn và bất cập như trên đã thúc đẩy Viện thành lập một doanh nghiệp riêng, và tới tháng 6/2005, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Tư vấn và Đầu tư phát triển Ngô (CIMDE) được ra đời.  Hướng tới hình thành doanh nghiệp cổ phần  Việc hình thành công ty CIMDE đã cho phép Viện thực hiện những khoản đầu tư đáng kể nhằm nâng cao năng lực sản xuất, ví dụ như đầu tư cho hệ thống thiết bị sấy và chế biến với giá trị lên tới 40 tỷ VND, theo lời ThS Trần Thẩm Tuấn, giám đốc công ty. Sự cải tiến về công nghệ và trang thiết bị này không chỉ làm tăng chất lượng cũng như độ ổn định của sản phẩm ngô giống, mà còn giúp giảm thiểu chi phí vận hành sản xuất. Ưu điểm này đã góp phần quan trọng đem lại lợi thế cạnh tranh rất lớn về giá cho sản phẩm của Viện và công ty, ThS Tuấn nhận định, với mức giá chỉ bằng 2/3 mức giá sản phẩm của các công ty liên doanh với nước ngoài, trong khi chất lượng hoàn toàn tương đương.      Những hiệu quả mà công ty mang lại cho Viện là “rất rõ rệt”, TS Mai Xuân Triệu đánh giá, với mức thu nhập cho cơ sở tăng gấp 3 lần, tốc độ ra giống mới tăng từ 3 tới 4 lần. Trước khi có công ty riêng, sản lượng ngô giống xuất xứ từ Viện (do Viện trực tiếp sản xuất hoặc do các doanh nghiệp mua giống bố mẹ của Viện về sản xuất) chỉ ở tầm 1300 – 1400 tấn/năm. Ngày nay, theo ThS Tuấn, sản lượng đã lên tới 4000 tấn, trong đó 2000 tấn do công ty sản xuất, 1000 tấn do Viện sản xuất, và 1000 tấn còn lại do các doanh nghiệp mua giống bố mẹ của Viện về sản xuất.           Một trong những mục tiêu đặt ra hiện nay của  Viện Nghiên cứu Ngô là góp phần phấn đấu đến năm 2015 đưa diện tích ngô  của cả nước đạt 1,3 triệu tấn với năng suất bình quân 45-50 tạ/ha và  đến 2020 đạt 1,4-1,5 triệu ha, năng suất bình quân 55–60 tạ/ha, tổng sản  lượng 8-9 triệu tấn ngô, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho chế biến  thức ăn chăn nuôi, các nhu cầu khác trong nước và từng bước tham gia  xuất khẩu.         Mặc dù đạt được những kết quả ấn tượng như trên nhưng Viện vẫn thẳng thắn nhìn nhận rằng công ty của mình vẫn tồn tại nhiều điểm yếu như sức cạnh tranh còn hạn chế so với tiềm năng, mức tăng trưởng không bền vững, tổ chức khó ổn định. Nguyên nhân cơ bản nhất ở chỗ công ty vẫn là một đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và bị ràng buộc bởi những quy định pháp lý liên quan. Điều này khiến công ty rất thiếu khả năng chủ động trong những quyết định về nhân sự, chi phí hoạt động, và đầu tư đổi mới công nghệ. Do cơ chế trói buộc như vậy nên dù rất cần những chuyên gia am tường về thị trường trong nước và quốc tế nhưng công ty vẫn phải tự lực dựa vào đội ngũ cán bộ nhân viên của mình thay vì thuê chuyên gia bên ngoài, ThS Tuấn cho biết.   Bên cạnh đó, hằng năm Viện vẫn phải có những đối sách điều chỉnh để vừa hài hòa thu nhập giữa những người làm việc trong công ty với những đơn vị trong Viện – hoạt động nghiên cứu cơ bản ở Viện cũng như ở các cơ quan nghiên cứu khoa học khác của Nhà nước luôn đối diện với tình trạng thu không đủ bù chi, và mức lương cho các nhà nghiên cứu còn rất thấp – vừa không triệt tiêu động lực của người nhận khoán ở công ty.  Mong muốn của TS Mai Xuân Triệu là Nhà nước tạo điều kiện và nguồn lực thích đáng để một mặt các đơn vị của Viện yên tâm tiến hành những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công ích phục vụ quốc dân, mặt khác Viện có thể tách biệt hoàn toàn mảng sản xuất kinh doanh thông qua thành lập một công ty cổ phần, trong đó cổ phần của Viện được chiếm khoảng 30 – 40%. Hoạt động theo hình thức tham gia công ty cổ phần dự kiến sẽ giúp chủ động hơn trong các vấn đề đầu tư, vận hành, nhân sự, và giúp Viện kết nối dễ dàng hơn với những đối tác có lợi thế về xúc tiến chiếm lĩnh thị trường.     Bài học rút ra  Sau hơn 3 thập kỷ tổ chức sản xuất kinh doanh, có thể rút ra một số kết luận từ mô hình của Viện mà các cơ sở khoa học công nghệ trong nước, đó là trong giai đoạn khởi đầu khó khăn, khi còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh, thì mối liên kết giữa cơ sở với các doanh nghiệp có thể sẽ rất hữu ích, giúp các bên tận dụng được lợi thế của nhau (nhà nghiên cứu có bí quyết công nghệ, doanh nghiệp có vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh và đầu mối tiêu thụ trên thị trường), đồng thời cùng chia sẻ được rủi ro. Những mối liên kết này sẽ giúp cơ sở khoa học tập trung được cho chuyên môn nghiên cứu, hoặc cũng có thể tích lũy thêm kinh nghiệm, vốn, những mối quan hệ trong sản xuất kinh doanh, để đến khi gặp điều kiện thuận lợi thích hợp thì có thể tự lực hình thành doanh nghiệp riêng.   Thực tế hoạt động của CIMDE cũng đã cho thấy, khi quy mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ hẹp thì mô hình công ty TNHH Nhà nước một thành viên có thể tạm chấp nhận được, nhưng về lâu dài mô hình này chịu quá nhiều những ràng buộc pháp lý của một đơn vị sự nghiệp Nhà nước khiến hoạt động của doanh nghiệp thiếu sự chủ động và linh hoạt. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế và xã hội đang cần có nhiều doanh nghiệp hoạt động năng động trong lĩnh vực triển khai ứng dụng công nghệ, Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thật thông thoáng, và các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện tối đa để giúp các doanh nghiệp này nhanh chóng cổ phần hóa thành công.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chủ động mới chỉ là điều kiện cần      Từ 3 hecta đất trồng được Đại học Nông nghiệp hỗ trợ, PGS. TS. Phan Hữu Tôn cùng một số đồng nghiệp đã tự bỏ tiền túi ra để xây dựng khu thực nghiệm của Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Nguồn gene Cây trồng.&#160; Chủ động và say sưa trong nghiên cứu là phương châm hoạt động của họ. Tuy nhiên, để Trung tâm đứng vững, chỉ những phẩm chất đó không thôi thì chưa đủ.      Không thể bị động chờ đề tài, dự án  Từ Nhật trở về nước vào năm 1996, cùng với những người trong Khoa Nông học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam), TS Phan Hữu Tôn đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng mới bằng phương pháp công nghệ sinh học. Đến nay, từ các nghiên cứu của mình, TS. Tôn đã chọn tạo năm giống lúa được công nhận cấp quốc gia bao gồm: TN 13-5 (2004), N91 và nếp NV1 (2011), T65 và nếp NV3 ( 2012). Các giống này có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn và kháng được nhiều loại bệnh như bệnh bạc lá và đạo ôn như giống TN13-5, N91 và T65. Hai giống trong số đó, NV1 và NV3 đã được bán bản quyền với giá hơn 600 triệu/giống và hiện đang được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, trung du, miền núi phía Bắc.  Nguồn thu từ thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu như vậy chưa phải là nhiều, vì vậy trong thực tế, 70-80% kinh phí chi cho các hoạt động của Trung tâm là từ các đề tài, dự án của Nhà nước. Tuy nhiên, ngay cả khi chưa có dự án hỗ trợ của Nhà nước, TS. Tôn vẫn luôn sẵn sàng tập trung đầu tư nghiên cứu vào những hướng nghiên cứu tiềm năng có triển vọng ứng dụng rộng rãi. “Tiêu chí lựa chọn nghiên cứu của tôi là tập trung nghiên cứu chọn tạo giống mới những cây chủ lực quan trọng trong nông nghiệp Việt Nam. Mình phải chủ động chứ không thể bị động chờ đề tài, dự án” – TS. Tôn nhấn mạnh.        Học ở Nhật từ năm 1989 đến năm 1996, khi về nước, ông Phan Hữu Tôn được giao phụ trách dự án JICA của chính phủ Nhật (trị giá 6 triệu USD, hỗ trợ cho ba khoa của trường Đại học Nông nghiệp). Đồng thời, ông cũng là người thành lập khoa Công nghệ sinh học tại trường. Đến năm 2003, khi dự án JICA kết thúc, khoa Công nghệ Sinh học được “kế thừa” phòng thí nghiệm JICA khá hiện đại, đáp ứng đủ yêu cầu cho việc chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử DNA (là phương pháp nghiên cứu một đoạn gene để xác định tính trạng sinh vật), nuôi cấy mô và bảo tồn nguồn gene. Thực hiện dự án JICA trong bảy năm, từng đi dọc Việt Nam, sang cả Lào, Campuchia thu thập nguồn gene được gần 1000 giống lúa, TS. Phan Hữu Tôn nhận thấy tính thiết yếu của công việc lưu trữ, bảo tồn nguồn gen trong việc chọn tạo thành công giống mới theo mục tiêu. Đó là lí do ông Tôn cho ra đời Trung tâm bảo tồn và phát triển nguồn gen cây trồng.           Không chỉ làm về lúa, TS. Tôn còn mở rộng đối tượng nghiên cứu sang các cây ăn quả, thực phẩm khác như cà chua, cam-quýt, khoai tây, ngô, bông, đậu tương và cây thuốc như nghệ. Ông chú trọng vào nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu được nhiều loại sâu bệnh, là những đặc tính thiết yếu của một giống để có thể thương mại hóa hay nói cách khác, để Trung tâm có thể bán được bản quyền giống. “Ngay cả khi lựa chọn cây chủ lực quan trọng, cũng không có gì chắc chắn là sẽ “xin” được đề tài, dự án” – TS Tôn nói. Chính vì vậy, lựa chọn hướng nghiên cứu hợp lí là điều kiện cần để đề phòng không có dự án, nhóm nghiên cứu vẫn có thể thu lại phần nào số vốn đã bỏ ra nhờ vào việc bán các sản phẩm nông nghiệp.   Bốn cây: ngô, đậu tương, bông, khoai tây trên gần mười loại cây đang được Trung tâm tiến hành nghiên cứu vẫn dựa trên “tiền túi” của những người sáng lập chứ chưa có đề tài, dự án triển khai. Ngoài ra, trong số các dự án Trung tâm tiến hành, với đề tài “Nghiên cứu chuyển gene vào dòng cây vô phối tạo cam, quýt không hạt” đã nghiệm thu từ năm 2013 nhưng những người sáng lập Trung tâm vẫn bỏ tiền của mình ra để tiếp tục nghiên cứu, thuê vườn để thử nghiệm một số dòng giống tốt, không hạt, chọn lọc từ nguồn gene đang sở hữu để hy vọng có khả năng nhân rộng và phát triển ra sản xuất.  Nhà nước cần đặt hàng để đưa sản phẩm nghiên cứu đến tay doanh nghiệp  Những dự án của TS. Tôn cho ra đời nhiều giống cây mới có giá trị thiết thực trong sản xuất bởi chúng  đều là những giống cây chống chịu với nhiều loại sâu bệnh nên giảm thiểu chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tạo nông sản sạch nhưng vẫn có chất lượng cao. Với đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua chín chậm kháng virut xoăn vàng lá”, sản phẩm giống mới tạo ra sẽ giúp người nông dân bán cà chua với giá cao hơn vào thời kì trái vụ do cà chua có thể bảo quản được đến hai-ba tháng và khi muốn, người dân có thể xử lý để kích thích trái chín. Bên cạnh đó, virut xoăn vàng lá ở cà chua là virut chưa có hóa chất nào trị được nên giống cà chua này làm tăng năng suất khoảng 1,5 lần (từ 45 tấn/ha trung bình lên khoảng 60 tấn/ha). Hay, như công trình nghiên cứu khoai tây (vẫn chưa có dự án nào hỗ trợ) sẽ cho sản phẩm khoai tây chống bệnh sương mai (một loại nấm khiến lá, củ khoai bị thối, thường phát sinh trong điều kiện nhiệt độ thời tiết từ 22-23oC, nếu nặng có thể khiến người nông dân mất trắng vụ).  Tuy nhiên, TS. Tôn cho biết thường phải mất trung bình từ bảy-tám năm mới có thể chọn tạo được một giống mới ngay cả khi có sự trợ giúp của công nghệ sinh học. Chi phí để tạo ra một giống mới không hề nhỏ. Với Trung tâm của ông, mỗi năm cần khoảng ba-bốn tỉ đồng một chi phí hoạt động bao gồm tiền điện nước và tiền sửa chữa máy móc trang thiết bị phòng thí nghiệm; tiền thuê nhân công chăm sóc đồng ruộng, vườn cây; tiền hóa chất và cả tiền lương chi trả cho 10 nhân viên…Nếu không có kinh phí của đề tài thì đồng nghĩa với việc bảy-tám năm nhưng cũng không có gì chắc chắn rằng tiền bán bản quyền và giống cây có thể đủ để bù đắp cho các chi phí đã bỏ ra. Đó còn chưa kể, từ một giống mới được công nhận tạm thời cho đến khi được công nhận chính thức là một quy trình dài hơn hai năm bao gồm quá trình trồng thử nghiệm ở quy mô nhỏ, lẻ ở các ruộng, vườn cây và nhân rộng ở quy mô lớn hơn (vài trăm hecta) cũng đều phải cần đến kinh phí ứng trước.         Với điều kiện kinh phí hạn chế, không thể trực tiếp đến từng địa phương để thu thập các nguồn gen cây trồng nhưng hiện nay trung tâm đã có 3000 mẫu giống lúa; 500 mẫu giống cà chua; 150 dòng giống cam quýt trong đó có nhiều giống không hạt và kháng greening; 800 giống khoai tây; 600 dòng giống ngô; 400 mẫu giống đậu tương; 300 mẫu giống bông vải và khoảng 200 mẫu giống nghệ khác nhau…  TS. Tôn tự hào rằng, Trung tâm của mình có số lượng giống có thể không nhiều hơn nhưng đa dạng và phong phú hơn nhiều Trung tâm/viện có chức năng bảo tồn nguồn gene cây trồng khác. Phần lớn các giống cây trồng hiện nay mà ông có là những giống tốt ở nước ngoài. Để có được điều này, TS. Tôn đã nhờ sự giúp đỡ của những mối quan hệ mà ông có được từ những năm thực hiện dự án JICA, những khóa nghiên cứu ngắn hạn tại Mỹ và thời gian phụ trách quan hệ quốc tế ở Đại học Nông nghiệp Hà Nội.          Trong khi đó, theo TS. Phan Hữu Tôn, các doanh nghiệp thường không hỗ trợ Trung tâm trong quá trình chọn tạo giống mới mà chỉ mua khi đã có sản phẩm: “Kinh doanh nông nghiệp chủ yếu là bản quyền giống chứ chưa đến mức đặt hàng trước. Khi chưa có giống trong tay, họ sẽ không đầu tư cho mình”. Vừa qua, công ty Dược Bắc Ninh cũng yêu cầu Trung tâm của ông tạo ra một giống nghệ có năng suất và hàm lượng curcumin cao nhưng vẫn chưa dám mạnh dạn đặt hàng, đầu tư toàn bộ quy trình chọn tạo giống.  Hiện nay, 100% các đề tài mang tính đặt hàng mà Trung tâm trúng thầu đều là các đề tài cấp Bộ và cấp nhà nước.  Chính vì vậy, công tác đặt hàng của Nhà nước là rất quan trọng đối với hoạt động của Trung tâm, bởi qua đó, Trung tâm mới có thể đưa ra được các sản phẩm cụ thể, làm cơ sở để các doanh nghiệp cân nhắc triển khai áp dụng. Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nguồn gene cây trồng hiện đang sở hữu một nguồn gene lớn nhiều loại cây trồng rất đa dạng và phong phú, trong số đó có nhiều dòng giống chứa những gene đặc hữu. Với lợi thế này, ông Tôn khẳng định, chỉ cần đặt ra yêu cầu về các tính trạng từ trước, Trung tâm của ông hoàn toàn có thể tạo ra những giống cây trồng mới như mong muốn.   Cứ làm rồi sẽ có kết quả  Hiện nay, Trung tâm đang tiến hành ba đề tài cấp nhà nước và cấp Bộ. Nhưng với chi phí điều hành ít nhất là 200 triệu/tháng, kết thúc năm 2014, nếu không đấu thầu được thêm đề tài, Trung tâm sẽ không thể đứng vững. TS. Tôn kể: “Bạn không tưởng tượng được chúng tôi làm thế nào đâu: vất vả, say sưa. […] Từ Giám đốc trở xuống, làm việc như điên. Phó Giám đốc cũng phải chạy ra ngoài đồng cuốc ruộng. Chúng tôi không có kế toán, phải tự mình làm hết, tính toán chi li từng tí một.” (vị Phó Giám đốc Trung tâm ra ngoài đồng cuốc ruộng được ông nhắc đến ấy chính là Tống Văn Hải, từng tốt nghiệp loại xuất sắc Đại học Nông nghiệp năm 2002, sau đó từ bỏ lời mời của một công ty Nước ngoài để cùng TS. Tôn thành lập Trung tâm Nghiên cứu).   Học tập và nghiên cứu tại Nhật bảy năm,  TS Tôn cho rằng, ông hợp với người Nhật ở tinh thần làm việc hết mình, luôn đổi mới sáng tạo: “Người Nhật luôn tự hỏi, hôm nay đã làm được gì, ngày mai phải đổi mới những gì, làm thế nào để tốt hơn.[…] Chúng tôi phải làm tới nơi tới chốn, làm việc phải có hiệu quả, nếu không thì không có đề tài, không có đề tài thì không có nguồn thu”. TS. Tôn nghĩ nhiều đến sự bấp bênh của Trung tâm vì phụ thuộc quá nhiều vào khả năng tìm đề tài nhưng ông không bao giờ nghĩ đến thất bại của công việc nghiên cứu. Ông cho rằng, chỉ cần nhẫn nại là sẽ luôn tìm ra sản phẩm. “Nếu mình làm kiên trì, chăm chỉ, chịu khó, sát sao liên tục trong bảy-tám năm là sẽ có kết quả. Không có cái nọ thì có cái kia. Cứ làm thật nhiều. Trong 3000 mẫu giống lúa kia, tạo ra được năm, sáu giống lúa đạt theo mục tiêu là điều không hề khó. Vấn đề là phải ‘làm’ ” – PGS. Tôn chia sẻ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chức danh khoa học không thể xin – cho      Nói về dự thảo Nghị định Quy định chính sách sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ đang trình Chính phủ, Bộ trưởng KH&amp;CN Nguyễn Quân cho biết,  không thể xin – cho các chức danh như “Nhà khoa học đầu ngành”, “Nhà  khoa học trẻ tài năng”…    Thưa Bộ trưởng, dự thảo Nghị định Quy định chính sách sử dụng, trọng dụng nhà khoa học nhận được sự hoan nghênh của dư luận. Song không ít nhà khoa học cũng quan ngại, việc hành chính hóa các chức danh như nhà khoa học trẻ tài năng, nhà khoa học đầu ngành dễ dẫn đến “lạm phát” các nhà khoa học này, Bộ trưởng có thể cho biết ý kiến về vấn đề này?  Trong quá trình dự thảo Nghị định, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cân nhắc và nghiên cứu ý kiến đóng góp của các nhà khoa học.  Ở đây, các nhà khoa học được coi là đâu ngành, nhà khoa học trẻ tài năng phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí.  Ví dụ, các nhà khoa học đầu ngành, bên cạnh gần chục tiêu chí theo quy định của Nghị định như đang đương chức, đứng đầu một cơ sở nghiên cứu hoặc đào tạo; là tác giả chính của bài báo khoa học được đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế có uy tín, chủ biên sách chuyên khảo, sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ; tham gia hoặc chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ hợp tác quốc tế… thì quan trọng nhất, phải được sự tôn vinh của chính các nhà khoa học trong giới.  Ví dụ, nhà toán học đầu ngành, ngoài việc đáp ứng các tiêu chí quy định phải được Ban chấp hành Hội Toán học Việt Nam tín nhiệm thông qua hình thức bỏ phiếu và phải đạt quá 2/3 số phiếu mới được vinh danh. Một hội chuyên ngành không thể tôn vinh 5-7 nhà khoa học đầu ngành được. Vì thế, khó có nguy cơ tràn lan các nhà khoa học đầu ngành.  Nhà khoa học trẻ tài năng cũng như vậy, phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí như dưới 35 tuổi, có công trình đạt giải thưởng trong nước hoặc quốc tế có uy tín, có bài báo công bố quốc tế hoặc sáng chế được đánh giá tốt…  Với các tiêu chí ấy, theo thống kê của chúng tôi, số lượng các nhà khoa học trẻ tài năng sẽ không nhiều.  Tôi cũng phải nói thêm, nhà khoa học trẻ tài năng không phải đương nhiên được ưu đãi.  “Nhà khoa học đầu ngành, phải có sự tôn vinh của những người trong giới mà sự tôn vinh, tín nhiệm ấy không thể mua được. Hơn nữa, nhà khoa học có tự trọng cao, nói thực là họ khác với quan chức, quan chức có thể chạy để có cái nọ, cái kia nhưng các nhà khoa học sẽ không chạy để lấy chức danh đầu ngành đâu”. – Bộ trưởng Bộ KH và CN Nguyễn Quân.  Bên cạnh điều kiện cần là đáp ứng các tiêu chí thì điều kiện đủ là đề xuất nghiên cứu của anh phải được cơ quan có chức năng đánh giá tốt, cần thiết cho xã hội mới được hưởng các chính sách ưu đãi, trọng dụng. Tôi tin rằng, với các nhà khoa học trẻ tài năng, nếu chọn đúng người, giao đúng việc sẽ có sản phẩm khoa học tốt.  Nhiều nhà khoa học cũng bày tỏ, việc hành chính hóa các chức danh nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học tài năng có thể dẫn đến cơ chế xin cho?  Không thể xin cho, như tôi đã nói, thứ nhất nhà khoa học đầu ngành hay nhà khoa học trẻ tài năng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đặt ra mới được tôn vinh mà các tiêu chí ấy thì không thể xin, cho.  Thứ hai, nhà khoa học đầu ngành, phải có sự tôn vinh của những người trong giới mà sự tôn vinh, tín nhiệm ấy không thể mua được.  Hơn nữa, nhà khoa học có tự trọng cao, nói thực là họ khác với quan chức, quan chức có thể chạy để có cái nọ, cái kia nhưng các nhà khoa học sẽ không chạy để lấy chức danh đầu ngành đâu.  Vậy theo Bộ trưởng, Nghị định khi đi vào thực tế sẽ tạo ra bước đột phá gì cho phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam?  Dự thảo Nghị định Quy định chính sách sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ hiện đã trình Chính phủ. Nếu được ban hành sẽ tạo ra mấy đột phá quan trọng như:  Thứ nhất, số lượng các sản phẩm khoa học của chúng ta những năm tới sẽ tăng rất nhanh và chất lượng tốt hơn vì các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học trẻ tài năng được ưu tiên giao các nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, có thể đứng đầu các nhóm nghiên cứu hoặc được tạo điều kiện thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ, tiến hành các đề tài nghiên cứu mới.  Thứ hai, chúng ta sẽ sớm có những nhà khoa học tầm cỡ quốc tế, có thể coi như những tổng công trình sư. Hiện nay Việt Nam gần như không có tổng công trình sư. Vì thế chúng ta chưa có được những công trình tầm cỡ do người Việt Nam tự làm.  Nói chung một tổng công trình sư phải có tầm cỡ quốc tế vì những công trình lớn bây giờ mang tầm quốc tế cả trong thiết kế và công nghệ. Với Nghị định này, chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ sớm có những tổng công trình sư như thế.  Xin cảm ơn Bộ trưởng!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúc Xuân 2019      Tết đến xuân về là cơ hội để chúng ta bày tỏ một cách rõ ràng những hy vọng, để những giấc mơ của mình được “nâng cánh”.      Minh hoạ: Lê Thiết Cương.  Đêm qua, tôi mơ thấy mình qua đời.  Linh hồn tôi tiến về phía một cái cổng lớn trang hoàng bằng những chiếc đèn led đầy màu sắc, khi lại gần, chúng bắt đầu nhấp nháy. Vừa đến nơi, một giọng nữ ngọt ngào cất lên từ một chiếc loa vô hình nào đó như những thông báo ở sân bay: “Chào mừng quý vị đã đến với thế giới bên kia. Trước khi vào cửa, xin hãy nhập những thông tin cần thiết chỗ bàn phím bên tay phải. Cổng sẽ tự động mở khi bạn hoàn thành”. Quả đúng là có một bộ bàn phím và một màn hình cạnh cửa. Tôi nhập tên mình, tích vào ô giới tính “Nam” mặc dù không chắc điều đó vẫn còn phù hợp. Tôi nhập ngày, tháng, năm sinh của mình nhưng không biết phải gõ gì cho ô ngày mất. Sau ba lần thử không thành công, tôi đã nhấp vào tùy chọn Câu hỏi thường gặp (FAQ) và biết rằng nếu không biết ngày mất của mình thì có thể để trống ô đó và tôi đã làm như vậy. Câu hỏi tiếp theo là: “Số điện thoại di động*?”. Dấu hoa thị, như được giải thích trong phần chú thích, có nghĩa là ô bắt buộc phải điền. Vì chưa bao giờ sở hữu một chiếc điện thoại di động, tôi đã gõ 999 nhưng bị từ chối vì không đủ số; tôi đành gõ thêm một cách ngẫu nhiên cho đến khi được chấp nhận. Câu hỏi tiếp theo là “Tôn giáo?”. Tôi gõ “Không” nhưng một hộp thoại xuất hiện: “Xin vui lòng nhập một trong những tôn giáo sau: Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo”. Không thấy có dấu hoa thị, tôi bỏ trống ô này. Cho mục: “Quốc tịch*?” Tôi nhập “Pháp” nhưng bị từ chối với thông báo: “Bạn đã không phải là người Pháp hơn 50 năm nay; vui lòng nhập đúng thông tin”. Chà, tôi đành thử “Việt Nam” và, hết sức ngạc nhiên, nó hoạt động. Một lá cờ Việt Nam xuất hiện, bao phủ toàn màn hình và dưới ngôi sao vàng tại trung tâm tôi đọc được: “Nếu là Đảng viên, nhập 1, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, nhập 2”. Tôi gõ 0. Tiếp theo, đi kèm với giai điệu của bản Tụng ca niềm vui (Ode to Joy) của Beethoven là dòng thông báo: “Nếu đã đăng ký tại nghĩa trang Lạc Hồng Viên1, Kỳ Sơn, hãy nhập mật khẩu và số thẻ căn cước, cổng sẽ tự động mở”. Cùng lúc đó, một khuôn mặt tươi cười xuất hiện trên quảng cáo của Google với giọng nói vang lên “Lạc Hồng Viên Vĩnh Hằng trực tuyến, hơn 100’000 lượt likes và theo dõi”. Tiếp đến là: “Nghề nghiệp?” Ngay khi vừa nhập “nhà vật lý”, tôi được hỏi có đóng phí thường niên cho Hội Vật lý Việt Nam không; đã khai là người Việt, tôi cảm thấy nếu giải thích thì quá phức tạp vì thực ra tôi là người Pháp và Hội Vật lý Việt Nam không chấp nhận thành viên là người nước ngoài… Tôi bỏ trống ô đó. Câu hỏi tiếp theo là đã từng đọc sách báo, tài liệu tuyên truyền tư tưởng chính trị đi ngược đường lối chưa; sợ thú nhận rằng mình đã từng đọc những loại sách báo như vậy, tôi bỏ trống ô này. Câu hỏi cuối cùng về “Thành phần?”. May mắn thay, tôi nhớ đến Điều 2 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam về liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức; nhưng cảm thấy có lẽ quá tự phụ khi tự nhận là công nhân hay trí thức, đồng thời nhớ ra rằng ông bà mình đã từng là nông dân ở vùng tây nam nước Pháp nên tôi nhập “nông dân”, hy vọng có ông bà là nông dân là cái cớ tốt. Nhưng màn hình lại thông báo: “Vui lòng nhập đúng thông tin”… và một lần nữa, tôi phải để trống.  Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy đã hoàn thành hết các bước, nhưng một thông báo mới lại xuất hiện: “Để đảm bảo thông tin cung cấp, vui lòng trả lời ít nhất một trong ba câu hỏi sau đây*: 1) tên người bạn đầu tiên của bạn là gì? 2) tên con thú cưng đầu tiên của bạn là gì? 3) đội bóng yêu thích của bạn là đội nào?” Tôi chưa bao giờ có thú cưng và cũng không phải là người hâm mộ bóng đá, nhưng tôi nhớ một vài người bạn thời thơ ấu của mình như Philippe, Eric, Jacques… Ngay khi gõ “Jacques” và nhấn “Nhập” màn hình lại nhấp nháy: “Xin lỗi, chúng tôi không thể để bạn vào vì có quá nhiều ô bị bỏ trống”.  Tôi bừng tỉnh, phần nào cảm thấy nhẹ nhõm, và sực nhớ tới lời mời viết một vài dòng chúc Tết hạnh phúc tới độc giả của Tia Sáng; chủ đề của năm nay là “Xã hội trong kỷ nguyên số”.  Tôi không biết viết gì. Tôi có ấn tượng rằng thế giới, dù là số hay không, đang phần nào ngoài tầm kiểm soát. Có quá nhiều giấc mơ của chúng ta đã trở thành “ảo tưởng quá khứ”, chẳng hạn như ảo tưởng rằng “tất cả các quốc gia” có thể “hợp nhất” trong khi: nước Mỹ của Trump đang xây dựng bức tường bao ở biên giới phía Nam hay nước Anh của Nigel Farage đang quay lưng lại với châu Âu. Thậm chí, ở rất nhiều nơi trên thế giới dân chủ cũng trở thành ảo tưởng; ở Mỹ, dân chủ đã trở thành một nền chính trị với một chính phủ trong tay các tỷ phú và chủ nghĩa dân túy đang tồn tại và phát triển ở khắp mọi nơi, điều này cho thấy việc người dân dễ bị lừa mị như thế nào. Trong khi đó ở Việt Nam, chúng ta đã không thể ngăn chặn, hay thậm chí làm chậm, nạn chảy máu chất xám mà đất nước đang phải hứng chịu. Chúng ta cũng không thành công trong việc đem lại những hỗ trợ cần thiết cho thế hệ trẻ để họ có thể đối mặt với thế giới đang liên tục thay đổi. Toàn cầu hóa đã cho chúng ta thấy những bất công sâu sắc đang thống trị trên hành tinh này, là nguyên nhân của những cuộc di dân và chiến tranh. Với tình hình như vậy, lạc quan giả tạo là vô trách nhiệm nhưng bi quan cũng là điều không nên: Tết đến xuân về là cơ hội để chúng ta bày tỏ một cách rõ ràng những hy vọng, tránh để những giấc mơ của mình trở thành ảo vọng, mong cho những giấc mơ được “nâng cánh” như khẩu hiệu của viện nơi tôi đang làm việc. Việt Nam cũng có một khẩu hiệu quốc gia rất ý nghĩa: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Hãy đừng quá tham vọng, chúng ta chỉ đơn giản mong rằng ba từ này được để ý, và không bị lãng quên; hãy làm cho những từ ngữ đó trở thành hiện thực chứ không chỉ là khẩu hiệu. Độc lập khỏi chủ nghĩa thực dân mới của các công ty đa quốc gia luôn thèm khát khai thác lao động giá rẻ của đất nước. Tự do nói những gì muốn nói và làm theo những gì đã nói, tự do tiếp nhận thông tin cho bản thân để biết người khác nghĩ gì, để được trang bị tốt hơn chống lại bất công và bảo vệ những giá trị mà chúng ta tin tưởng. Hạnh phúc khi thấy nụ cười của trẻ thơ hay ngắm Mặt trời mọc, hạnh phúc khi được sống trong hòa bình bên những người mình yêu thương, hạnh phúc khi vẫn còn sống.□  Phạm Ngọc Điệp dịch  ——–  1 https://english.vietnamnet.vn/fms/vietnam-in-photos/109099/photos–the-largest-cemetery-in-southeast-asia.html      Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Chúng ta hiểu gì về Trung Quốc?      Có lẽ là không nhiều lắm!          Xe tải nối nhau chở nông sản qua cửa khẩu sang Trung Quốc. Ảnh: Dân Việt.   Vào năm 2012, tình trạng cấm biên ở cửa khẩu quốc tế Móng Cái diễn ra từ tháng 3 đến tháng 10, chưa bao giờ lâu đến như vậy1. Hàng ngàn container, phần lớn là hàng đông lạnh bị ách lại tại đây. Các cơ quan chức năng tìm mọi cách để đưa hàng hóa sang các lối cửa khẩu khác, nhưng chỉ giải quyết được 1/30 số hàng đang lưu kho. Ngoài ra toàn bộ các dịch vụ lo giấy tờ xuất nhập khẩu ở Móng Cái – nguồn sinh kế của nhiều người dân ở thành phố này bị đình trệ.  Đến bây giờ, tình trạng ách tắc tại các cửa khẩu mỗi mùa nông sản vẫn là nỗi lo thường trực của người dân. Thậm chí trong dịp Tết Nguyên Đán vừa rồi, Thủ tướng đã phải đăng đàn để chỉ đạo thông quan cho các hàng hóa xuất khẩu2. Đó chỉ là một ví dụ cho thấy một động thái nhỏ từ phía Trung Quốc có thể ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế – xã hội của Việt Nam. Nó khiến dấy lên câu hỏi, chúng ta đã hiểu gì về tư duy, hành vi và lựa chọn của quốc gia này để có thể “chung sống” với họ?  Có lẽ là không nhiều lắm!  Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng. Vì vậy, nhu cầu nghiên cứu Trung Quốc của Việt Nam là “tự thân”, “thường xuyên” của ông cha ta trong suốt chiều dài lịch sử để “thích ứng”. Kể từ sau khi hai Đảng thành lập và trở thành đảng cầm quyền, Trung Quốc và Việt Nam lại càng có nhu cầu “trao đổi và tham khảo kinh nghiệm của nhau”, bởi hai nước cùng chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước. Trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ với tham vọng trở thành một đế chế siêu cường, thì nghiên cứu về Trung Quốc học càng trở nên hết sức cần thiết.  Có những điều kiện đặc biệt như vậy, nhưng Việt Nam chưa tổ chức nghiên cứu người láng giềng này một cách đúng mức. PGS. Jonathan London, nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc, Đại học Leiden, Hà Lan cho rằng: “Những nhà nghiên cứu Việt Nam ở một vị trí mà lẽ ra phải có một hiểu biết sâu sắc hơn các quốc gia khác về Trung Quốc, nhưng lại hiếm khi có cơ hội triển khai và công bố những nghiên cứu sử dụng những phương pháp và tiêu chuẩn được công nhận trên thế giới”.     Thiếu liên kết và thông tin     Hiện nay, nghiên cứu Trung Quốc học được tập trung ở một số nơi, trong đó lâu đời và có nhiều dấu ấn hơn cả là Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc và Bộ môn Trung Quốc học, trực thuộc Khoa Đông phương học, đặt tại trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, còn Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc thuộc trường Đại học KHXH&NV TP. HCM mới thành lập ba năm nay và chưa có kết quả nổi bật. Ngoài ra, số đơn vị, chương trình nghiên cứu khác như Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), ĐHQGHN thường phân tích cập nhật tình hình kinh tế Trung Quốc; các khoa dạy ngôn ngữ Trung văn thuộc Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN hoặc Đại học Hà Nội tập trung vào giảng dạy, giao lưu về ngôn ngữ chứ không nghiên cứu khu vực học. Việc nghiên cứu về Trung Quốc của các bộ ngành như Ngoại giao, Công an, Quốc phòng… thường tập trung vào các đối sách chứ không nhằm nghiên cứu liên ngành và toàn diện về Trung Quốc. Để nghiên cứu cơ bản tốt, các đơn vị chuyên nghiên cứu về Trung Quốc như Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm KHXH tập trung vào các chương trình nghiên cứu lớn gồm: Nghiên cứu Trung Quốc truyền thống; Nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại, đặc biệt là cải cách mở cửa; Nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, ngoài ra nghiên cứu phát hiện và cảnh báo sớm những nguy cơ có thể xảy ra, như chiến tranh thương mại Mỹ – Trung hiện nay sẽ đem lại các nguy cơ gì về kinh tế xã hội.  Mặc dù nghiên cứu cơ bản về Trung Quốc học có vai trò là “đầu vào” cho các tư vấn, tham mưu chính sách của các bộ, ngành nhưng việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị nghiên cứu với nhau và với các cơ quan tư vấn chính sách còn chưa tốt. Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc thuộc ĐHQGHN được mở ra từ năm 2016 với kỳ vọng triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu có tính liên ngành, xây dựng và kết nối chuyên gia nhưng cũng chỉ tập hợp lực lượng nghiên cứu Trung Quốc họp một lần duy nhất để bàn bạc … rồi cho đến nay chưa thấy khởi động lại. Theo GS. Đỗ Tiến Sâm, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu của Trung Quốc, cơ quan nghiên cứu và tham mưu chính sách cần ngồi lại với nhau một cách “phi chính thức chứ không nhất thiết phải có cơ chế cứng nhắc” để cùng phân tích nhận định tình hình, khoảng 3 – 6 tháng một lần, nhưng cũng chưa thực hiện được. Các đơn vị tham mưu thuộc các bộ, ngành có nguồn tin riêng cũng như cập nhật thường xuyên từ các địa phương, còn các cơ quan nghiên cứu về Trung Quốc lại thường xuyên giao lưu học giả, nên có rất nhiều thông tin có thể chia sẻ cho nhau, cùng nhau phân tích. Tuy nhiên, có điều đáng tiếc là, “nhiều thông tin từ phía các cơ quan tham mưu thường khó tiếp cận”.      Những tiểu thương buôn bán hàng qua cửa khẩu Móng Cái. Ảnh: Nguyễn Văn Chính.   Mặt khác, việc đầu tư cho nghiên cứu khu vực học về Trung Quốc có thể nói là “nghèo nàn” và chưa có một chiến lược bài bản. Nhiều sản phẩm nghiên cứu về Trung Quốc là nghiên cứu “chay”, tức là mới chỉ dừng ở chỗ tìm hiểu thông qua các nguồn tài liệu bằng tiếng Trung qua các trang mạng, chứ ít có điều kiện đi khảo sát thực tế tại Trung Quốc. Chỉ có một vài nhà nghiên cứu kỳ cựu mới đủ năng lực và kinh nghiệm xin các quỹ kinh phí cho khảo sát và giao lưu học thuật quốc tế. Cho nên, khi trao đổi với chúng tôi, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá, ấn phẩm duy nhất có tính hàn lâm về nghiên cứu Trung Quốc hiện nay là Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc cũng có nhiều công bố dựa vào nguồn tư liệu cấp hai, thậm chí là công bố các vấn đề về Trung Quốc “thông qua con mắt của người Trung Quốc”. Những thành tựu đáng kể hiện nay về nghiên cứu Nho học Trung Quốc phần nhiều nhằm thông qua đó để hiểu về Nho học Việt Nam truyền thống, hoặc chuyển tải các nghiên cứu Nho học của Việt Nam ra nước ngoài, hơn là hình dung một cách đầy đủ về Nho học Trung Quốc, theo một nhà nghiên cứu đề nghị giấu tên của trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.      Ấn phẩm duy nhất có tính hàn lâm về nghiên cứu Trung Quốc hiện nay là Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc cũng có nhiều công bố dựa vào nguồn tư liệu cấp hai, thậm chí là công bố các vấn đề về Trung Quốc “thông qua con mắt của người Trung Quốc”.      Mặc dù ít ỏi như vậy, hiện chỉ có Viện Nghiên cứu Trung Quốc là có nguồn đề tài nhất định, và thường xuyên từ hệ thống đề tài cấp viện, cấp bộ… về nghiên cứu Trung Quốc, còn đa số giảng viên ở các trường đại học thường phải kiêm nhiệm công tác giảng dạy và cũng không có đề tài thường xuyên mà phải “bươn chải” để có được xuất bản phẩm. Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc của Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội có hàng chục đầu sách về Nho học, trong đó nhiều sách là kết quả hợp tác với Đại học Bắc Kinh và Đại học Quốc gia Đài Loan, chủ yếu gắn với sự nỗ lực vận động của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, hiện nay là Giám đốc ĐHQG HN, kiêm Chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm. Trong khi đó, Đại học Sư phạm Hà Nội từng thành lập Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc nhưng từ lâu cũng phải dừng hoạt động và giám đốc Trung tâm chuyển hướng sang nghiên cứu Hàn Quốc học – theo TS Nghiêm Thúy Hằng, Bộ môn Trung Quốc học, Khoa Đông phương học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. “Không được đầu tư, để các nhà khoa học tự bơi, tự đi tìm kinh phí nghiên cứu, thì nhà khoa học chỉ … bơi được thế thôi”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói.  Việc đào tạo nghiên cứu khu vực học về Trung Quốc ở Việt Nam cũng đang thiếu bài bản. Thông thường, để có được một số nhà nghiên cứu “sắc nhọn” về Trung Quốc học hay bất cứ một khu vực nào khác, các cơ sở đào tạo cần phải nhận được “đơn đặt hàng” của các cơ quan nghiên cứu hoặc bộ ngành để tuyển chọn sinh viên xuất sắc. Số sinh viên này được đào tạo ở trong nước với những nhà khoa học thực sự am hiểu Trung Quốc và sau đó sẽ được cử đi nước ngoài rồi về với những địa chỉ sẵn sàng nhận họ trở lại. Hiện nay nguồn kinh phí từ các quỹ quốc tế cho nghiên cứu sinh nghiên cứu về Trung Quốc rất dồi dào, vì “cả thế giới đang phải nghiên cứu Trung Quốc”, nhưng vấn đề đặt ra là nghiên cứu xong các em sẽ về đâu? TS. Nghiêm Thúy Hằng đặt câu hỏi. Nhiều học viên của bà sau khi được đào tạo bài bản xong đã đi tìm kiếm công việc khác hoặc chỉ dạy ngoại ngữ là “rất phí”. Hoặc nhiều người đi theo con đường nghiên cứu nhưng cứ phải “lờ phờ” với nguồn kinh phí ít ỏi cho tới khi tự mình tìm kiếm hoặc đứng tên được đề tài cấp bộ, và con số đó không nhiều, chỉ đếm trên đầu ngón tay trong số nhà nghiên cứu về khu vực học vẫn còn ít ỏi ở Việt Nam. Trong khi đó, các chuyên viên ngoại giao hầu hết được tuyển chọn chỉ với tiêu chí thành thạo tiếng Anh. “Thứ quan trọng nhất không phải tiếng Anh mà là hiểu biết về sự tương đồng và khác biệt giữa các quốc gia, giữa các nền văn hóa, nhất là trong bối cảnh xung đột về ý thức hệ và giá trị cốt lõi giữa các quốc gia, các nền văn minh. Do đó, học khu vực học, là để có căn cốt văn hóa, có mẫn cảm khoa học, giúp đủ phẩm chất, đáp ứng nhu cầu công việc [công tác ngoại giao]”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói.  Nghiên cứu “khu vực học được coi như là công nghệ trong KHXH&NV, học hỏi tất cả những thành tựu mới nhất của các ngành KHXH&NV, sau đó giải bài toán thực tế liên quan đến những quyết sách, vận mệnh, lợi ích quốc gia”, để tạo ra một “vũ khí lợi hại nhắm tới thay đổi tư duy con người, khiến cho con người đáng lẽ ra không đồng ý thì nay lại đồng ý” đã trở thành một chiến lược được đầu tư bài bản, không chỉ bởi các nước hùng mạnh, mà còn cả các tập đoàn như Ford, Rockefeller. Những bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy vai trò của khu vực học, như cuốn sách “Hoa cúc và gươm” của Ruth Benedict đã giúp cho Mỹ thực sự hiểu Nhật Bản và trả lời được câu hỏi “ Nếu Mỹ ném bom nguyên tử thì Nhật hoàng có đầu hàng hay không?”, từ đó có chiến lược và quyết sách mang tính quyết định trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai. Không chỉ “nhất thời” như vậy, công trình so sánh văn hóa này của bà Benedict đã trở thành kinh điển, gối đầu giường cho những người làm chính trị ở Mỹ và cả Nhật Bản trong nhiều năm sau. Ngay cả Trung Quốc, trước khi tiến hành chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, GS Đái Khả Lai và các cộng sự ở Đại học Trịnh Châu tiến hành các nghiên cứu về Việt Nam, biên soạn “sách trắng” và sau này nhóm của ông còn sản xuất cả các tài liệu ngụy tạo lịch sử về Trường Sa và Hoàng Sa. Còn Việt Nam thì sao? Nhìn thẳng thắn như PGS.TS Nguyễn Văn Chính, trường ĐH KHXH&NV HN, thì Việt Nam chưa hình thành cái gọi là Trung Quốc học theo nghĩa đầy đủ và toàn diện của từ này, mà mới chỉ có nghiên cứu về Nho học, Hán nôm học mà thôi.  Không thể ngày một ngày hai mà có những câu trả lời ngay lập tức, có những thành tựu nghiên cứu đóng góp vai trò quan trọng cho việc xây dựng chiến lược quốc gia được. “Không thể chỉ “hớt váng” mà có khu vực học. Khu vực học là một ngành học rất ‘lâu công, đắt tiền’ và cần đầu tư bài bản từ đào tạo cho tới thành lập nhóm nghiên cứu – vừa có nhà nghiên cứu khu vực học là trưởng nhóm, vừa có các thành viên từ các chuyên ngành KHXH&NV khác”, TS. Nghiêm Thúy Hằng nói. “Và nghiên cứu là để nhằm tạo ra ‘công nghệ’ hữu dụng cho các chính sách chứ không phải nghiên cứu để chơi”. Trước hết, cần có định hướng với nhu cầu thực sự, đặt hàng các nhà nghiên cứu trả lời những câu hỏi quan trọng. Thay cho tình trạng hiện nay là, mỗi khi xây dựng các chiến lược, thì chỉ có các chuyên viên ở các bộ ngành tiến hành, đến sát ngày ra văn bản mới bắt đầu lấy ý kiến các nhà nghiên cứu. Nếu vẫn còn tư duy theo kiểu “ăn đong” tuỳ tiện như vậy thì sẽ gây  thiệt hại cho đất nước, khó có chính sách bền vững, khó lòng  giải mã  văn hóa để có ứng xử phù hợp, đối thoại thành công và chung sống hài hòa với các quốc gia khác, tối ưu hóa lợi ích quốc gia.      “Việt Nam chưa hình thành cái gọi là Trung Quốc học theo nghĩa đầy đủ và toàn diện của từ này, mà mới chỉ có nghiên cứu về Nho học, Hán nôm học mà thôi.” PGS.TS Nguyễn Văn Chính, trường ĐH KHXH&NV HN         Vắng bóng trên các diễn đàn quốc tế?     TS. Nghiêm Thuý Hằng chia sẻ, không chỉ bà mà nhiều nhà nghiên cứu nhận định, từ trước đến nay, Viện nghiên cứu Trung Quốc của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam mới chỉ chủ yếu kết nối với giới học giả Trung Quốc, còn chưa có điều kiện tiếp xúc với các nhà Trung Quốc học của Mỹ và các nước phương Tây khác vì kinh phí và rào cản ngôn ngữ. Nhiều công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc phần nhiều tham khảo từ nguồn sách báo tiếng Trung. GS. Đỗ Tiến Sâm cho biết, những người vừa có chuyên môn về một lĩnh vực, vừa biết tiếng Trung vừa biết tiếng Anh như TS. Phạm Sỹ Thành (VEPR) là “hiếm” trong giới nghiên cứu trẻ về Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, khi chia sẻ với chúng tôi, TS. Thành cho biết mình còn ít công bố quốc tế vì những lí do liên quan đến công việc tư vấn cho các công ty bên ngoài.  “Trong khu vực học cần phải kết nối với Mỹ, Nga, Ấn Độ, Đài Loan” – TS. Nghiêm Thuý Hằng nhấn mạnh nhiều lần. Mỹ được coi là một trong những “cường quốc” về Trung Quốc học, khởi nguồn từ những năm 1950. Tất cả các “ngõ ngách” của Trung Quốc đều ghi dấu chân của học giả Mỹ, kể cả những vùng “nhạy cảm” như Tân Cương và khu tự trị Tây Tạng. Người Mỹ đã có được cái nhìn sâu sắc và chi tiết về gần như tất cả các khía cạnh của Trung Quốc truyền thống và đương đại3. Các trường Đại học lớn của Mỹ từ công lập đến tư nhân, các think tank, quỹ tư nhân đều đổ tiền cho Trung Quốc học. Rất nhiều sinh viên Trung Quốc tài năng có chuyên ngành về Hoa Kỳ học được tuyển luôn cho các chương trình Trung Quốc học ở Mỹ, nơi họ có lợi thế không phải bàn cãi.      Hội thảo “Chuyển đổi phương thức phát triển của Trung Quốc” năm 2014 do Viện Nghiên cứu Trung Quốc tổ chức. Tại đây, đại sứ Trung Quốc  tại Việt Nam Hồng Tiểu Dũng đã trình bày về những vấn đề đặt ra trong quá trình đi sâu cải cách toàn diện và chuyển đổi phương thức phát triển gần đây ở Trung Quốc. Nguồn: vnics.org.vn  Thế nhưng, giới học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam có vẻ xa lạ với phương Tây. Bill Hayton, nhà báo và nhà nghiên cứu tại một trong những think tank có ảnh hưởng nhất thế giới – Chatham House, tác giả của hai quyển sách Việt Nam: Con rồng trỗi dậy và Biển Đông – Sự tranh giành quyền lực ở châu Á, trả lời chúng tôi: “Ngoại trừ một hai ngoại lệ, nếu có học giả Việt Nam nào có thể bình luận về chính trị khu vực mà các nhà báo quốc tế có thể phỏng vấn, thì họ là những người làm việc ở nước ngoài. Những nghiên cứu của Việt Nam về Trung Quốc tìm đỏ mắt cũng không thấy”. Còn PGS Jonathan London chỉ thấy những mẩu bình luận cảm tính về Trung Quốc trên báo nước ngoài của các học giả Việt Nam chứ không phải là các nghiên cứu khoa học có bình duyệt. Nếu công bố quốc tế của Việt Nam gọi là có liên quan đến Trung Quốc thì phần lớn là về Biển Đông.  Một vấn đề khác mà các học giả phương Tây nhận định, là nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam bị hạn chế tự do học thuật. Bill Hayton thì cho rằng ông không thể phỏng vấn người Việt Nam ở trong nước về vấn đề chính trị khu vực, một phần lớn là do họ luôn đề nghị giấu tên và không thể nói một cách tự do và độc lập như các học giả nước ngoài. Jonathan London thì cho rằng, những nghiên cứu phản biện Trung Quốc dễ bị coi là “nhạy cảm”. Ông lấy ví dụ, những nghiên cứu so sánh những hành động của Trung Quốc hiện nay với những động thái của các quốc gia được cho là bành trướng sức mạnh đế quốc trong lịch sử sẽ bị kiểm duyệt ở Việt Nam, điều mà không nhà nghiên cứu nghiêm túc nào có thể chấp nhận.  Trong khi đó, Trung Quốc đã có một bề dày lịch sử trong lĩnh vực Đông Nam Á học, khởi đầu từ trước những năm 1950 – 60, học hỏi phương pháp và quan điểm tiếp cận từ Xô Viết, để phục vụ việc xây dựng chính sách ngoại giao. Thời điểm bấy giờ có bốn cơ sở đào tạo và nghiên cứu của địa phương, chủ yếu tập trung vào dạy ngoại ngữ của các nước Đông Nam Á, nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, lịch sử Đông Nam Á và chính sách ngoại giao của nước này. Tuy nhiên, đến năm 1980-90, ngành học này mới trở thành đầu tư mũi nhọn của Trung Quốc, bùng nổ và được giảng dạy rộng rãi ở hơn mười trường đại học uy tín, lớn nhất của nước này, từ học vị cử nhân đến tiến sĩ và các viện nghiên cứu quốc gia trực thuộc Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại Trung Quốc, nghiên cứu mọi khía cạnh đa dạng của khu vực này từ ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, ngoại giao, luật… Mỗi đại học và viện nghiên cứu như vậy đều có từ một đến hai tạp chí khoa học uy tín trong lĩnh vực Đông Nam Á học. Ở thời điểm này, phương pháp nghiên cứu của họ đã được cập nhật và theo tiêu chuẩn cũng như lý thuyết của phương Tây. Các đơn vị nghiên cứu ở trung ương tập trung vào những vấn đề cấp khu vực nhưng các đơn vị nghiên cứu địa phương tập trung vào từng quốc gia.  Các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, không phân biệt ở tỉnh hay trung ương, thường xuyên được mời tham vấn chính sách cho chính phủ và ảnh hưởng của họ lên hoạt động ngoại giao của Trung Quốc. Cụ thể là phần lớn những điều khoản Trung Quốc đặt ra trong Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là do các học giả Đông Nam Á học của nước này đề xuất.  Việt Nam là một trong số những quốc gia trong Đông Nam Á được Trung Quốc quan tâm đặc biệt. Từ những năm 1950 – 60, các trung tâm, viện nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc đều dạy tiếng Việt. Hai trường Đại học lớn của Trung Quốc là Đại học Trịnh Châu (Hà Nam) và Đại học Bắc Kinh đều có bộ phận nghiên cứu Việt Nam học. Riêng Đại học Trịnh Châu, “bộ phận” này là một viện nghiên cứu độc lập, được thành lập từ những năm 1980. Theo một khảo sát trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á từ 1992 – 2004 của hai nhà nghiên cứu John Wong và Lai Hongyi, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia được nghiên cứu nhiều thứ hai, sau Indonesia. Các sinh viên học ngành Việt Nam học nói chung, đều được tuyển chọn, mỗi đợt chỉ khoảng trên dưới 10 sinh viên, vài năm một lần. Đến năm thứ hai đại học, Bộ Ngoại giao sẽ về tận trường đặt hàng những người xuất sắc, tài trợ học bổng để đi học ở Việt Nam một thời gian, về sau trở thành người điều hành các chiến lược ngoại giao. Theo TS. Nghiêm Thúy Hằng,  nhiều  đại sứ Trung Quốc hay cán bộ ngoại giao Trung Quốc ở Việt Nam từng được đào tạo bài bản về Việt Nam học từ những giáo sư hàng đầu Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh, Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh hoặc các đại học nổi tiếng khác. Bản thân Trung Quốc cũng mời người Việt Nam sang dạy về tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ở nhiều trường đại học, theo diện chuyên gia với mức lương vài chục triệu đồng/tháng (bao chỗ ở). Trung Quốc cũng tận dụng những sinh viên, nghiên cứu sinh người Việt Nam học tập tại Trung Quốc nghiên cứu về Việt Nam. GS. Đỗ Tiến Sâm kể rằng, ông bất ngờ khi thấy nhiều luận án, luận văn  về Việt Nam bằng tiếng Trung  lại do học viên và nghiên cứu sinh người Việt Nam du học tại Trung Quốc thực hiện với sự hướng dẫn của các giảng viên Trung Quốc.  Oscar Salemink, một nhà Việt Nam học hàng đầu và cũng thực hiện một số nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng, sự phiến diện trong nghiên cứu về Trung Quốc sẽ ngăn cản Việt Nam có chiến lược và động lực để hiểu biết sâu sắc hơn về quốc gia này, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang trên đà lấy lại vị trí “cường quốc” trên toàn cầu (bên cạnh Mỹ và vượt qua Nga, Ấn Độ, châu Âu): Việt Nam không may bị rơi vào trò chơi địa chính trị của nước này nhưng đồng thời cũng gặp may hưởng lợi về kinh tế khi ở gần một nước lớn đang phát triển. Làm sao để thăng bằng trên vị trí này phụ thuộc nhiều vào chiến lược nghiên cứu Trung Quốc học của Việt Nam. □  —–  1https://laodong.vn/archived/doi-ben-cung-thiet-vi-cam-bien-tai-cua-khau-mong-cai-672292.ldo  2https://tuoitre.vn/thu-tuong-chi-dao-thong-quan-hang-hoa-xuat-khau-tai-tan-thanh-20180209092327679.htm  3https://www.chronicle.com/article/Chinas-Deficit-in-American/123884    Nghiên cứu Trung Quốc: Cần một sự đột phá   Trong bối cảnh mới, khi cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nghiên cứu, dự báo về sự điều chỉnh chiến lược và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ là hết sức cần thiết. Hơn lúc nào hết chúng ta rất cần một sự “đột phá” về thể chế quản lý trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ, để có thể “kết nối”giữa các nhà nghiên cứu về Trung Quốc thuộc các bộ ngành khác nhau, giữa trong nước với nước ngoài, nhằm tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. GS. Đỗ Tiến Sâm    Author                Thu Quỳnh - Hảo Linh        
__label__tiasang Chúng ta phải thay đổi      Cuối tháng Ba vừa rồi, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã thay mặt Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020 (Chương trình). Chỉ cần thực hiện thành công một phần những mục tiêu cụ thể thì đã là một bước tiến quan trọng đối với ngành vật lý của quốc gia.     Bộ KH&CN cùng Bộ GD&ĐT và các bộ, ngành khác sẽ có trách nhiệm tổ chức thự hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên về cơ bản, trọng trách chủ yếu vẫn thuộc về chúng ta, các nhà vật lý. Chính chúng ta có trách nhiệm cùng nhau vận động giới vật lý cả nước đưa ra những hành động thiết thực để giúp ngành vật lý của quốc gia phát triển đúng định hướng. Nếu không, Chương trình sẽ chỉ là một ước mơ, và các mục tiêu của Chương trình sẽ không bao giờ đạt được.    Vốn dĩ, về cơ bản, Việt Nam phải xây dựng nền khoa học hiện đại từ con số không. Trước cách mạng, đất nước hầu như không hề có nền khoa học. So với các quốc gia như Nhật Bản, truyền thống khoa học của Việt Nam rất non trẻ; thậm chí đa phần chỉ mới bắt đầu từ sau thời kỳ Đổi mới. Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ của Việt Nam, với tiềm năng rất lớn về cả kỹ năng chuyên môn và tài năng, cần phải được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển và trở thành nhân tố chính cho sự phát triển khoa học của đất đước. Vai trò của họ phải được thể hiện rõ và gắn bó mật thiết ngay từ đầu với mọi hành động triển khai thực hiện Chương trình.     Lâu nay tôi vẫn thường có cơ hội đề xuất một số ý tưởng có thể hỗ trợ cho sự phát triển nền khoa học đất nước, với nội dung hoàn toàn phù hợp với những gì Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020 hướng tới, như các đề xuất về đơn giản hóa quy trình thủ tục cấp bằng tiến sĩ, về xây dựng một trung tâm quốc gia đào tạo về ứng dụng công nghệ hạt nhân, về chấm dứt việc cử sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài trong những lĩnh vực chưa thuận lợi để phát triển ở Việt Nam, v.v. Tôi cho rằng đây chỉ là một số trong nhiều chủ đề mà giới khoa học Việt Nam, trong đó mọi nhà khoa học vật lý, kể cả những người đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ, thạc sĩ, đều nên tham gia thảo luận một cách thực sự cởi mở, bởi họ chính là những người cần được biết rõ nhất về định hướng phát triển khoa học mà quốc gia lựa chọn theo đuổi.    Hai năm trước, trong một hội nghị ở Buôn Ma Thuột, tôi trình bày báo cáo: Vật lý hạt nhân, Vật lý hạt và Vật lý thiên văn: lựa chọn nào cho Việt Nam? Nhưng rồi báo cáo này không được đưa vào kỷ yếu hội nghị, chỉ vì nó bàn về chính sách khoa học thay vì trình bày các kết quả nghiên cứu chuyên môn, một lý do thật thiếu thuyết phục. Gần đây hơn, trong một hội nghị về vật lý hạt nhân tổ chức vào đầu tháng Tám tại Đà Nẵng, tôi cũng trình bày báo cáo: Vì sao cần học vật lý hạt nhân? Mục đích của tôi khi viết những báo cáo này không nhằm trình diễn kiến thức, mà chỉ thuần túy nhằm thúc đẩy những thảo luận trong giới khoa học về những vấn đề mà tôi cho rằng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển khoa học của đất nước. Song thật đáng tiếc, điều tôi mong muốn ấy đã không đạt được.     Với Chương trình lần này, mỗi cộng đồng các nhà khoa học trong từng lĩnh vực khoa học vật lý trong nước đều sẽ có cơ hội tự đề ra những kế hoạch của riêng mình, với những chi tiết về cách thức triển khai Chương trình đối với từng nội dung cụ thể. Những kế hoạch ấy tất nhiên phải được công khai, tự do tranh luận trong cộng đồng chung của giới vật lý.    Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi mình, làm đúng với cách hành xử của những nhà khoa học thực sự, đó là cởi mở, công khai. Để nền khoa học Việt Nam có chỗ đứng trong nền khoa học quốc tế như mục tiêu cụ thể mà Chương trình đã đặt ra, tất yếu phải có một cuộc cách mạng trong giới khoa học, trong đó phải có sự tham gia của mọi cá nhân nhà khoa học. Toàn thể cộng đồng phải có cùng động lực từ một khát vọng chung, nếu chúng ta muốn phát triển tiến bộ. Thiếu điều ấy, chúng ta chỉ là một khối rời rạc, hỗn độn, trì trệ.     Thanh Xuân dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Chúng tôi trông chờ ở các bạn      Gặp gỡ gần 150 tài năng KH&amp;CN chiều 9/11 tại Hà Nội, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã chia sẻ một số thông tin mới về tình hình KH&amp;CN, phần nào cũng chính là lời giải đáp cho không ít khúc mắc của những bạn trẻ mà ông kỳ vọng sẽ có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước trong những thập niên tới.    Mục tiêu cao hơn năng lực?  Bộ trưởng cho biết, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vừa mới đây, nhiều đại biểu tỏ ra băn khoăn, nghi ngờ mục tiêu đến năm 2020, KH&CN Việt Nam sẽ đứng trong nhóm các nước dẫn đầu ASEAN vì các nước mà ta phải vượt qua có GDP cao hơn ta ít nhất ba lần.   “Liệu mục tiêu đó có quá cao và vượt khả năng của chúng ta không? Hiện Việt Nam đứng thứ sáu cả về tiềm lực kinh tế và trình độ KH&CN, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines. Nhưng có những cơ sở cho thấy ta có quyền hy vọng đạt được mục tiêu này,” Bộ trưởng nói.   Theo ông, những cơ sở đó là, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống về luật pháp KH&CN tương đối hoàn thiện, mọi lĩnh vực hoạt động KH&CN đều đã được luật hóa – Việt Nam là một trong 10 nước trên thế giới có luật về năng lượng nguyên tử, là một trong những nước đầu tiên có luật riêng về công nghệ cao. Việt Nam cũng đã hình thành được hệ thống các tổ chức KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế. Trước năm 2000, Việt Nam chỉ có 200 tổ chức KH&CN, nay đã tăng lên 1.600, trong đó có đến 900 thuộc khu vực ngoài nhà nước. Đội ngũ cán bộ khoa học có 30 nghìn tiến sĩ, 100 nghìn thạc sĩ với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng góp phần tạo ra được những sản phẩm xuất khẩu được thế giới chấp nhận. Ngành đóng tàu Việt Nam đứng hàng thứ năm thế giới, hiện nay về vấn đề kinh doanh có thể gặp khó khăn nhưng về kỹ thuật có những tiến bộ vượt bậc không thể phủ nhận: đã đóng được tàu hàng 53 nghìn tấn, tàu chở được từ 6.500 ô tô trở lên, tàu pháo cho hải quân, tàu chở dầu… mà ở châu Á không phải nước nào cũng làm được. Việt Nam hiện cũng đang dẫn đầu ASEAN trong lĩnh vực dầu khí, đã chế tạo được giàn khoan tự nâng 90m nước và năm nay dự kiến chế tạo giàn khoan 120 m nước để có thể hoạt động ở vùng biển sâu và xa bờ hơn…  “GDP Việt Nam đứng thứ sáu trong số các nước ASEAN, nhưng không có quốc gia nào có GDP 1.000USD/người/năm mà có được nền khoa học như Việt Nam,” ông khẳng định. Tuy nhiên, ông cho rằng, để vượt qua Indonesia và Philippines về thứ hạng KH&CN thì giai đoạn từ nay đến năm 2020, đội ngũ các nhà khoa học sẽ phải nỗ lực vượt bậc.  Dòng quan trọng trong Nghị quyết TƯ 6  Trả lời câu hỏi, mô hình Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Nafosted) đã giải quyết được một số khúc mắc về thủ tục tài chính cho những người làm nghiên cứu cơ bản, nhưng đến bao giờ mô hình này mới được nhân rộng, Bộ trưởng cho biết Nafosted bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2008 với cơ chế phê duyệt đề tài đến đâu chi đến đó, quyết toán theo hợp đồng, nhà khoa học không phải lo hóa đơn chứng từ, định mức chi tiêu cũng cao hơn so với định mức của kho bạc. “Nếu các bạn bám sát thời sự thì sẽ biết trong Nghị quyết TƯ 6 về phát triển KH&CN mới đây có dòng ‘Mở rộng áp dụng cơ chế tài chính của quỹ phát triển khoa học và công nghệ.’ Chỉ gần 20 chữ vậy thôi nhưng chúng tôi đã phải tốn rất nhiều công mới đưa được vào. Đây sẽ là cơ sở để nhiều quỹ phát triển KH&CN của địa phương, ngành, và doanh nghiệp đã ‘tích’ được như quỹ của Viettel trị giá gần 500 tỷ đồng, quỹ của PetroVietnam trị giá gần 2.000 tỷ đồng có cơ chế để ‘tiêu’ được,” ông vui mừng thông báo.    Như thế không phải là đãi ngộ  Bộ trưởng cũng chia sẻ, mấy chục năm qua, việc nhìn nhận về vai trò của KH&CN đối với phát triển KT-XH đã có những thay đổi, từ chỗ là then chốt, sang nền tảng, rồi động lực và đến nay là quốc sách, nhưng trên thực tế không phải lúc nào KH&CN cũng được coi trọng như trong các văn kiện. “Cán bộ đã vất vả, cán bộ khoa học còn vất vả hơn vì chỉ có lương, không có bất kỳ phụ cấp nào – dù là phụ cấp thâm niên, nghề nghiệp, hay dưỡng liêm. Người ta nói cán bộ khoa học có tiền làm đề tài nhưng con số này chỉ chiếm 10% thôi; mà đề tài cấp ngành, cấp bộ – vốn chiếm đến 90% – có kinh phí rất thấp. Cũng có nhà khoa học được địa phương trải thảm đỏ mời về, được hứa hẹn mức lương cao, cấp đất xây nhà nhưng cả năm không thấy ai giao nhiệm vụ, kết quả là họ phải lặng lẽ ra đi. Đó không phải cách đãi ngộ tốt.” Theo Bộ trưởng, điều quan trong nhất đối với nhà khoa học là được làm việc trong cộng đồng của mình, trong môi trường học thuật tự do và cởi mở, và được cung cấp đầy đủ trang thiết bị nghiên cứu.  Tuy không thể đặt vấn đề nâng lương cho nhà khoa học vì nó động chạm đến toàn bộ hệ thống phúc lợi xã hội, nhưng cần phải xây dựng một môi trường để nhà khoa học có thể sống được, như ca sĩ sống được nhờ giọng hát thì nhà khoa học phải sống được nhờ nghiên cứu của mình. Bộ trưởng cho biết, Luật KH&CN sửa đổi, dự kiến được thông qua vào tháng 5 năm tới, có một nội dung quan trọng, đó là giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu bằng tiền ngân sách cho tác giả. “Trước nay nhà khoa học vẫn phải bán chui kết quả nghiên cứu, nhưng sắp tới họ có thể đàng hoàng bán kết quả đó hoặc dùng nó để góp vốn với doanh nghiệp,” ông nói.  Điểm yếu về công bố quốc tế và sáng chế  Khoa học Việt Nam lâu nay vốn mang tiếng là nghiên cứu để bỏ ngăn kéo nhưng theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, thực tế không đơn giản như vậy. Bên cạnh những nghiên cứu phải đem bỏ ngăn kéo vì không có giá trị, còn có những nghiên cứu thành công nhưng không tìm được nguồn lực đầu tư.   Bộ trưởng cũng thừa nhận khoa học Việt Nam còn ít các công trình công bố quốc tế nhưng không ít đến mức như báo chí nói “tổng số công bố quốc tế của Việt Nam không bằng của riêng Đại học Chulalongkorn”. Con số sáng chế của người Việt Nam đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ vào khoảng 100 mỗi năm, chứ không phải là “đếm trên đầu ngón tay” như thông tin trên báo chí. Ông lưu ý rằng, cần phải xem xét con số đó trong bối cảnh đầu tư cho KH&CN của Việt Nam mới đạt mức 10USD/người/năm.  “Đã có người đặt vấn đề bỏ qua nghiên cứu cơ bản, chỉ tập trung vào tiếp nhận và làm chủ công nghệ của nước ngoài. Nhưng nếu chỉ đi học lại cái của người khác thì làm sao có sáng chế được,” Bộ trưởng nhấn mạnh.  Nhìn nhận thực trạng công bố quốc tế và sáng chế như một yếu kém của đội ngũ làm khoa học, ông đồng thời cho biết: “Sắp tới, sẽ không còn kiểu đầu tư dàn trải nữa mà tập trung vào những đề tài, dự án lớn, để bên cạnh sản phẩm khoa học sẽ có các nghiên cứu công bố quốc tế hoặc các sáng chế.”  Điều ước cho VKIST  Nói về một trong những dự án lớn là dự án xây dựng VKIST theo mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST), một viện nghiên cứu hàng đầu trên thế giới, nơi nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel đến nghiên cứu và giảng dạy, và có nhiều đóng góp cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước, Bộ trưởng nhận xét, có ba yếu tố giúp Viện KIST thành công, đó là Viện được phép hoạt động theo luật riêng; có người đứng sau là Tổng thống, giúp Viện vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn của thời kỳ hậu chiến; có đội ngũ các nhà khoa học được trọng dụng và sử dụng một cách tối ưu, chủ yếu là các nhà khoa học từ Nhật và Mỹ về. “Họ có mức lương cao gấp ba lần các nhà khoa học khác. Khi các nhà khoa học ngoài viện KIST tỏ ý bất mãn thì Tổng thống Park Chung-hee nói: Các anh hãy làm việc như người ta để được hưởng mức lương đó chứ đừng bắt họ hưởng mức lương của các anh và làm việc như các anh.”  Bộ trưởng cho rằng, để xây dựng VKIST thành công cũng phải hội tụ được ba yếu tố đó, đặc biệt là yếu tố con người. “Chúng tôi sẽ nỗ lực ở góc độ xây dựng chính sách, còn ở góc độ làm chuyên môn, chúng tôi trông chờ rất nhiều ở các bạn,” ông nói với các tài năng trẻ KH&CN.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình 68 đã mang lại  lợi ích cho nhiều doanh nghiệp      Sau 5 năm (2005-2010) thực hiện Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (gọi tắt là Chương trình 68) với 3 nội dung chính là nâng cao nhận thức của xã hội, hỗ trợ xác lập bảo hộ và thực thi quyền, khai thác thông tin SHTT (thương mại hóa tài sản trí tuệ), theo ông Nguyễn Quân, Thứ trưởng thường trực Bộ KH&amp;CN, kiêm Trưởng ban chỉ đạo Chương trình, chúng ta đã đạt được một số thành tựu nhất định, tuy vậy còn 2 vấn đề hết sức quan trọng là thực thi quyền và thương mại hóa tài sản trí tuệ chưa triển khai được trên thực tế.  Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quân về những nguyên nhân và giải pháp khắc phục những hạn chế trên trong giai đoạn tiếp theo của Chương trình.        Theo ông cho đến nay xã hội và Nhà nước ta đã quan tâm tới vấn đề Sở hữu trí tuệ (SHTT) như thế nào?  SHTT là một câu chuyện rất mới đối với Việt Nam. Trước khi chúng ta gia nhập WTO, không chỉ người dân mà ngay cả các nhà khoa học, các doanh nghiệp Việt Nam cũng không mấy quan tâm đến (SHTT) vì cho rằng SHTT chỉ thiết thực ở những nước có nền công nghiệp phát triển. Nhưng khi chúng ta bắt đầu đàm phán để gia nhập WTO, để đáp ứng điều kiện tiên quyết mà các nước thành viên WTO (đặc biệt là Hoa Kỳ) đặt ra trước khi chấp nhận một nước thành viên mới là vấn đề tôn trọng quyền SHTT, Việt Nam đã bắt tay vào việc xây dựng Luật SHTT. Sau một thời gian rất ngắn, năm 2005, Luật được ban hành và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo Luật vừa mang tính khoa học vừa có nhiều qui định tiến bộ. Lần đầu tiên, luật pháp Việt Nam chính thức công nhận trí tuệ là tài sản, và Nhà nước phải bảo hộ tài sản trí tuệ của mọi tổ chức cá nhân, trong đó có doanh nghiệp.  Chính sự ra đời của Luật SHTT là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự bùng nổ về số lượng các hồ sơ đăng ký xin bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt là ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với số lượng đơn xin đăng ký sáng chế của nước ngoài gấp khoảng 10 đến 20 lần so với đơn của người Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước tuy số lượng đơn đăng ký còn ít so với nước ngoài, nhưng số lượng ngày càng tăng với tốc độ rất nhanh. Nếu trước năm 2000, hằng năm chúng ta chỉ cấp được vài bằng sáng chế, thì hiện nay con số đã lên tới hàng trăm. Còn việc cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa, thì hiện nay Cục SHTT đang bị quá tải với khối lượng khoảng 30.000 đơn/năm, không đáp ứng kịp nhu cầu của doanh nghiệp.  Do SHTT có vai trò quan trọng như vậy nên Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt cho Bộ KH&CN thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010.  Vì sao trước đây Chương trình lại chỉ giới hạn trong việc hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp?    Hầu hết các doanh nghiệp trong thời kỳ này chưa có khái niệm và ít quan tâm đến quyền SHTT, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu, điều đó ảnh hưởng nhiều đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước với nhau và với doanh nghiệp nước ngoài. Chính vì thế, Chương trình đã đặt trọng tâm vào việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp.  Có thể nói qua 5 năm thực hiện, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã được hưởng lợi từ thành quả của chương trình 68. Chính vì vậy, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình 5 năm 2011-2015, trong đó đối tượng của Chương trình không chỉ là các doanh nghiệp như giai đoạn trước đây mà sẽ bao gồm mọi thành phần trong xã hội.     Xin ông cho biết một số kết quả chính đã đạt được của chương trình 68?  Do nguồn lực và kinh nghiệm có hạn, nên Ban điều hành Chương trình 68 mới triển khai được 2 nội dung chính:   1. Nâng cao nhận thức xã hội, doanh nghiệp về SHTT như đã hợp đồng với các cơ quan truyền thông, nhất là đài truyền hình Trung ương và địa phương, đã xây dựng chương trình Chắp cánh thương hiệu trên VTV3 và những chuyên mục về SHTT trên các tờ báo lớn, báo điện tử. Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ cán bộ phụ trách về SHTT ở các Sở Khoa học và Công nghệ, bước đầu đưa chương trình đào tạo về SHTT vào các trường đại học và cao đẳng.                   2. Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý. Về việc này, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng kể. Ví dụ, tại Hội nghị về chỉ dẫn địa lý các nước ASEAN năm 2009, Việt Nam được đánh giá là quốc gia dẫn đầu với 12 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, dù chúng ta là nước đi sau trong lĩnh vực này. Tới nay Việt Nam đã có 19 sản phẩm đặc sản của các địa phương được hướng dẫn làm hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, đóng góp lớn cho sản xuất hàng hóa và xuất khẩu của địa phương. Ví dụ như thanh long Bình Thuận được thị trường Mỹ chấp nhận. Vải thiều Lục Ngạn, những năm trước tới mùa thu hoạch, nông dân phải bán đổ bán tháo vì Trung Quốc hạn chế nhập khẩu do chưa có xuất xứ hàng hóa, gần đây sau khi có văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, vải thiều Lục Ngạn đã xuất khẩu được khối lượng lớn, giá tăng 30-40% so với trước đây. Hoặc như khi chúng ta đã có bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho cam Vinh, giá sản phẩm cam Vinh trên thị trường đã tăng 25-30%.   Với bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, có thể nói sau 5 năm triển khai chương trình, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhận thức về sự cần thiết đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Hằng năm, số đơn xin đăng ký và số văn bằng được cấp tăng đều với tốc độ khoảng 20%.   Theo đánh giá của ông, hai nội dung là thực thi quyền và thương mại hóa tài sản trí tuệ hầu như chưa triển khai được trong thực tế. Vì sao?   Đối với thực thi quyền SHTT, Việt Nam hiện đã có Luật SHTT nhưng luật này vẫn chưa hoàn toàn đồng bộ với các luật khác, nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Hình sự. Ngoài ra Việt Nam còn thiếu các văn bản dưới luật và thiếu các chế tài để xử lý vi phạm. Năm 2009 chúng ta đã trình sửa đổi bổ sung một số điều trong Bộ Luật Hình sự, nhờ đó đối với những vụ vi phạm quyền SHTT gây thiệt hại kinh tế quy mô lớn chúng ta đã có thể xử lý được bằng các biện pháp hình sự cần thiết. Đây là điều được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.  Một khó khăn lớn khác là những người làm việc tại các tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra,…hầu như chưa được đào tạo về lĩnh vực SHTT. Hệ thống giám định1 về SHTT của chúng ta hiện nay còn rất yếu kém, ngoại trừ Viện Khoa học SHTT của Bộ KH&CN, trong khi chúng ta chưa có một tổ chức ngoài Nhà nước nào làm về lĩnh vực này.   Chính vì thiếu các tổ chức và cá nhân đủ điều kiện làm công tác giám định nên các vụ việc tranh chấp về SHTT không thể xử lý được, cùng lắm chỉ có thể xử phạt hành chính. Và nếu doanh nghiệp không chấp nhận kết luận xử phạt, muốn khiếu nại thì cấp tòa án cao hơn cũng không có khả năng xem xét quyết định lại, khiến các doanh nghiệp – đặc biệt là khối doanh nghiệp nước ngoài – chưa yên tâm với hệ thống thực thi quyền SHTT của ta.  Mặt khác doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về những công nghệ của nước ngoài đã hết thời gian bảo hộ (hoặc đang được bảo hộ ở nước ngoài nhưng chưa đăng ký bảo hộ tại Việt Nam) nên hạn chế việc áp dụng vào sản xuất. Hoặc ngược lại, nhiều khi chúng ta bỏ tiền nhập khẩu cả những công nghệ trong nước đã có sẵn từ kết quả của những đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước.   Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chúng ta rất thiếu hệ thống những tổ chức trung gian (môi giới, tư vấn, giám định, định giá, kiểm định…) ngoài một vài tổ chức của Nhà nước tập trung ở các thành phố lớn.  Ông có thể nói cụ thể hơn về những khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ của ta hiện nay?   Việc định giá tài sản SHTT ở nước ngoài thường thông qua các sàn giao dịch, các sàn đấu giá, nhưng ở nước ta thị trường công nghệ còn rất sơ khai nên chưa có hình thức này. Vì vậy, nhà nghiên cứu rất khó tìm được người mua để có thể bán sản phẩm nghiên cứu của mình. Và khi tìm được doanh nghiệp có nhu cầu mua thì nhà nghiên cứu cũng không tự đánh giá được giá trị tài sản trí tuệ của mình là bao nhiêu để có thể bán (hoặc góp vốn vào doanh nghiệp). Hệ lụy là nhiều kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước không định giá được để chuyển giao cho doanh nghiệp. Trong thực tế, tác giả có đã chuyển giao “chui” công nghệ thuộc sở hữu của Nhà nước cho doanh nghiệp theo một giá thỏa thuận nào đó thông qua hợp đồng. Điều này là không hợp pháp, dẫn tới tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước thì bị chiếm dụng.   Vừa qua, các vấn đề khiếm khuyết về hệ thống định giá và cơ chế chuyển giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước đã được đề cập một phần trong các Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP, nhưng các nội dung này vẫn chưa được cụ thể hóa. Khi sửa đổi bổ sung Luật SHTT năm 2009, chúng ta đã định đưa vào một chương về định giá tài sản trí tuệ, nhưng cuối cùng chưa làm được vì còn vướng những quy định khác và vấn đề còn quá mới mẻ, phức tạp…  Vậy trong Chương trình giai đoạn 2010-2015, chúng ta sẽ triển khai những giải pháp chủ yếu nào để khắc phục những hạn chế của chương trình trong giai đoạn 2005-2010 ?  Ban chỉ đạo Chương trình sẽ tập trung vào một số giải pháp chính sau:  1. Trước hết chúng ta cần tiếp tục công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về SHTT, đưa nội dung về SHTT vào chương trình đào tạo ở các trường luật, để đội ngũ những người xây dựng luật và thi hành luật trong lĩnh vực SHTT phải có kiến thức chuyên môn tối thiểu về SHTT, sớm phối hợp với các cơ quan tư pháp tổ chức những khóa đào tạo cấp tốc cho đội ngũ thẩm phán trong các tòa dân sự, hình sự để có thể xử được các vụ tranh chấp về SHTT. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức SHTT cho các cơ quan thực thi quyền (thanh tra, kiểm sát, cảnh sát điều tra, quản lý thị trường, …)  2. Đào tạo và xây dựng một hệ thống các tổ chức giám định về SHTT, trong đó có sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội để hình thành một hệ thống tổ chức giám định mạnh. Như vậy mới có cơ sở để xác định tính chất và mức độ các vi phạm về SHTT, giúp các tòa án xử lý hiệu quả các vụ tranh chấp liên quan.    3. Về định giá tài sản SHTT. Vừa qua, Bộ KH&CN đã tổ chức một số hội thảo quốc tế về vấn đề này, thu hút sự quan tâm của những chuyên gia và tổ chức có kinh nghiệm trên thế giới như Tổ chức SHTT Thế giới WIPO, Phòng Thương mại châu Âu. Qua đó, chúng ta đã tiếp cận được về phương pháp luận. Vấn đề còn lại là cần chuẩn bị mọi mặt về nhân lực, trang thiết bị, và cơ sở dữ liệu để có thể xin phép Nhà nước cho thành lập cơ quan định giá, tiến tới tổ chức sàn đấu giá tài sản trí tuệ.      4. Xây dựng cơ chế giao quyền SHTT có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước cho các tổ chức và cá nhân để chuyển giao cho doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khoa học.   5. Cục SHTT sẽ thành lập một đơn vị chuyên khai thác kho sáng chế của nước ngoài để giới thiệu cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận khai thác, đặc biệt là những công nghệ đã hết thời gian bảo hộ của nước ngoài, hoặc những công nghệ chưa đăng ký bảo hộ tại Việt Nam; đồng thời giúp các doanh nghiệp tránh được nguy cơ vi phạm bản quyền mà có khi tiền phạt cao gấp nhiều lần lợi nhuận.  6. Hình thành các tổ chức trung gian (giám định, định giá, tư vấn, môi giới…) trong thị trường công nghệ. Bộ KH&CN đang xây dựng đề án về phát triển thị trường công nghệ. Nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đề án có thể giúp hình thành mạng lưới các tổ chức trung gian, giúp kết nối nhu cầu doanh nghiệp với các kết quả nghiên cứu của các Viện, trường.   Xin cảm ơn Thứ trưởng!                                                   P.V thực hiện  —————-  1. Trưng cầu giám định là căn cứ để tòa án sử dụng nhằm đánh giá mức độ vi phạm trong một vụ án       Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình các Trung tâm cách tân ở Nhật      Kế hoạch Cơ bản về Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản giai đoạn 2005-2010 định nghĩa cách tân như “sự đổi mới để hoà hợp các khám phá khoa học và phát minh công nghệ, và thúc đẩy chúng để tạo ra các giá trị mới cho xã hội và kinh tế”, đồng thời khẳng định KH&amp;CN chính là nền tảng của cách tân.     Những kế hoạch về khoa học và công nghệ    Tiếp nối những kế hoạch trước, trong vòng 20 năm qua nước Nhật đã xây dựng bốn Kế hoạch Cơ bản về Khoa học và Công nghệ (Science and Technology Basic Plans) cho các giai đoạn 1996-2000, 2001-2005, 2006-2010 và 2011-2015. Các kế hoạch này được công bố rộng rãi và gần đây có trên trang Web (http://www.mext.go.jp/) của MEXT (Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ).  Mỗi năm MEXT đều công bố sách trắng (white paper) về chính sách và nhiệm vụcủa khoa học và công nghệ, nhấn mạnh khía cạnh trọng tâm và các nội dungđể thực hiện trong năm. Chẳng hạn trọng tâm 5 năm vừa qua là:  2009 – Hướng tới nền khoa học và công nghệ cách tân của Nhật Bản trong thời kỳ quá độ toàn cầu  2010 – Những ranh giới mới cần mở rộng bởi các nguồn nhân lực chất lượng cao  2011 – Khoa học và công nghệ cần được tạo ra và thúc đẩy gắn với xã hội  2012 – Hướng tới một xã hội ổn định và dễ phục hồi – Những bài học sau động đất lớn  2013 – Khoa học và công nghệ như nền tảng của cách tân.  Nếu đọc sách trắng của những năm này, có thể thấy hai từ xuất hiện rất thường xuyên là “xã hội” (society) và “cách tân” (innovation). Từ “xã hội” cho thấy sự phát triển của khoa học và công nghệ được yêu cầu phải gắnvới sự phát triển của xã hội. Từ “cách tân” cho thấyđây là yếu tố dẫn dắt sự phát triển của nước Nhật.  Cách tân là gì?   Từ “cách tân” được Joseph Schumpeter -một trong những người ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 trong kinh tế học- định nghĩa lần đầu trong cuốn sách “Lý thuyết về phát triển kinh tế” của ôngxuất bản năm 1911. Schumpeter cho rằng các yếu tố nội tại như cách tân trong kinh tế đóng vai trò chủ đạo hơn các yếu tốbên ngoài như tăng trưởng dân số hay biến đổi khí hậu. Ôngxem cách tân là việc tạo ra các thứ mới hoặc tạo ra các thứ đã có bằng các phương pháp mới. Schumpeter chỉ ra các thí dụ của cách tân như (1) phát triển các sản phẩm mới bởi hoạt động sáng tạo, (2) đưa ra các phương pháp sản xuất mới, (3) nuôi dưỡng các thị trường mới, (4) tạo ra các nguồn lực mới, (5) đổi mới tổ chức. Schumpeter còn đưa ratrong kinh tế khái niệm “sáng tạo thay thế” (creative destruction), tức việc các doanh nhân từ bỏ các giá trị đang có để tạo ra giá trị mới, vàcho rằng đây chínhlà cội nguồn của sự tăng trưởng kinh tế.   Khái niệm “cách tân” đã được định nghĩa và bàn luận ở rất nhiều sách báo và tài liệu suốt cả trăm năm qua, là yếu tố dẫn dắt sựphát triển của nhiều quốc gia, đặc biệt trong thời kỳ toàn cầu hoá và khi khoa học và công nghệ phát triển vũ bão. Không nhằm vào bàn luận khái niệm “cách tân”, ta có thể hiểu giản dị nhưng đúng bản chất rằngcách tân chính là“tạo ra cái mớiđể đổi mới” hoặc “đổi mới bằng cách tạo ra cái mới”. Việc tạo ra Facebook cho con người chia sẻ các liên hệ toàn cầu, hay bản phối khí của Nguyên Lê cho bài hát “Chiếc khăn piêu” của Doãn Nho viết 50 năm trước và cách hát của Tùng Dương … là những thí dụ về cách tân.  Cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa sáng tạo (creation) và cách tân (innovation).Sáng tạo liên quan tới việc làm ra những thứ mới, có thể là những kiệt tác, nhưng không nhất thiết những thứ này tạo ra sự thay đổi. Cách tân cũng về việc làm ra những thứ mới, nhưng đấy là thứ mới có thể tạo ra thay đổi lớn theo hướng tốt lên. Một nghệ nhân gốm sứ có thể sáng tạo ra nhiều kiệt tác riêng biệt có giá trị rất cao, nhưng một sự cách tân trong nghề gốm sứ có thể phải liên quan đến cách làm ra được những đồ gốm sứ kiểu mới rất trong và mỏng hoặc những màu men đẹp và lạ, và do vậy tạo ra một dòng sản phẩm mới hấp dẫn cho nghề này.  Nhìn nhận vai trò của khoa học và công nghệ trong cách tân   Kế hoạch Cơ bản về Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản giai đoạn 2005-2010 đã phân tích rõ tầm quan trọng của việc đảm bảo tính thịnh vượng bền vững của nền kinh tế và cuộc sống của người dân nhờ và khẳng định khoa học và công nghệ như nền tảng của cách tân. Kế hoạch này cũng nêu rõ những nội dungđể thực hiện cách tân đất nước trong nhiều lĩnh vực của kinh tế và xã hội nhằm đạt được sự vượt trội trong cạnh tranh công nghiệp và giải quyết những vấn đề xã hội. Bản kế hoạch này định nghĩa cách tân như “sự đổi mới để hoà hợpcác khám phá khoa học và phát minh công nghệ, và thúc đẩy chúng để tạo ra các giá trị mới cho xã hội và kinh tế”.    Làm sao để khoa học và công nghệ thành nền tảng của cách tân?   Trả lời câu hỏi này hoàn toàn không đơn giản. Một trong những cách làm là tạo ra các “cú hích” của phát triển khoa học và công nghệ, nghĩa là trước hết phải cách tân chính việc tổ chức các hoạt động khoa học và công nghệ, nhằm vượt qua những rào cản về cơ chế, tổ chức và xác định được tốt nhất các nội dung nghiên cứu phải làm.  Trong thập kỷ trước nước Nhật đã thực hiện chương trình về các Trung tâm Xuất sắc (COE, Center of Excellence) và trong thập kỷ này nước Nhật bắt đầu chương trình mới về các Trung tâm Cách tân (COI, Center of Innovation).  Chương trình các Trung tâm Xuất sắc ở Nhậtlà một hoạt động cách tân việctổ chức đề tài khoa học và công nghệ. Các đề tài nghiên cứu lớn theo cách truyền thống thường được tổ chức như sau: để nghiên cứu một việc A người ta tập hợp những người làm nghiên cứu giỏi về A từ nhiều nơi khác nhau trên cả nước trong một đề tài. Đây là cách tốt để tạo ra kết quả cho A nhưng hạn chế ở chỗ không giúp tạo được những “cú hích” để tăng sức mạnh và sức cạnh tranh chung cho các cơ sở khoa học. Một Trung tâm Xuất sắc ở một đại học hay cơ sở nghiên cứu khi được MEXT tuyển chọn là một đề tài khoa học lớn do các nhà khoa học ở chính cơ sởđó cùng liên kết thực hiện với sự tài trợ của nhà nước.   Chương trình các Trung tâm Cách tân(COI) của Nhật có tên “Chương trình Khởi nghiệp vàCách tân Triệt để dựa vào Khoa học và Công nghệ” (Center of Innovation: Science and Technology-based Radical Innovation and Entrepreneurship Program) viết tắt là COI-STREAM.Chương trình COI-STREAM nhằm thúc đẩy các hợp tác mang tính cách tân giữa công nghiệp và đại học để xác định và thực hiện những mục tiêu mà mỗi thành phần riêng rẽsẽ không thể thực hiên được.COI-STREAMtuyển chọn và tài trợ một số COI tiến hành nghiên cứu các vấn đề có thách thức và rủi ro cao nhưng với kỳ vọng trong vòng 10 năm sẽ cókết quả ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội.   COI-STREAM được tiến hành như sau. Vào tháng 4.2013, MEXT lập ra một Hội đồng Quản trị các COI gồm năm thành viên từ công nghiệp và hai từ giới hàn lâm. Có bốn thước đo cho việc thiết lập các COI, một là tầm nhìn(vision) về xã hội trong 10 năm tới từ những đặc điểm xã hiệ nhiện tại, hai là những vấn đề (issue) xã hội cần giải quyết, ba là lộ trình (agenda) về những nghiên cứu có ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội, và bốn là những mục tiêu (subject) nghiên cứu cụ thể. Từ những ý tưởng được đề xuất về tầm nhìn, Hội đồng Quản trị các COI đã chọn ra ba tầm nhìn chủ đạo: (1) Đảm bảo sức khoẻ con người trong một xã hội đang già hoá, (2) Thiết lập một môi trường sống chất lượng cao, (3) Xây dựng một xã hội bền vững. Hội đồng Quản trị các COI lập ra ba “Nhóm đánh giá Tầm nhìn” cho ba tầm nhìn kể trên, mỗi nhóm ba người.  Từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 8 năm 2013 có 190 đăng ký đề án lập COI và 12 đề án đã được chọn. Mỗi năm mỗi COI này được cấp cho tới 10 triệu USD cho R&D và 1 triệu USD cho quản lý, trong giai đoạn nhiều nhất là 9 năm.Tổng kinh phí của COI-STREAM trong năm tài chính 2013 là 108 triệu USD.  Nguyên tắc cơ bản là các COI phải được thực hiện trên sự kết hợp Công nghiệp-Đại học dưới “cùng một mái nhà” (xây dựng cơ sở nghiên cứu mới) với kinh phí được tài trợ từ Chính phủ. Chương trình COI-STREAM khá phức tạp. Ngoài 12 COI kể trên, MEXT còn chọn:  •    11 COI-S (COI-Satellites) là các COI vệ tinh của một số trong 12 COI và được chia kinh phí từ các COI này;   •    14 COI-T (COI-Trials) là các đề án chưa được chọn đợt đầu nhưng có triển vọng, được nhận kinh phí cho tới 1 triệu USD/năm trong vòng hai năm cho R&D để chuẩn bị và tiếp tục đăng ký;   •    5 COI-T Satellites (COI-T-S) được chọn và chia kinh phí với một số COI-T;  •    2 COI A-STEPS (COI-AS). A-STEP là chương trình chuyển giao công nghệ do Tổ chức Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) quản lý từ năm 2011, và MEXT chọn 2 COI-AS tài trợ trong khuôn khổ của chương trình A-STEP.   Thấy gì từ câu chuyện cách tân xứ họ  Thứ nhất, COI-STREAM là một cách tân trong quản lý và thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ hướng đếnnhững vấn đề thiết yếu của xã hội. Đấy là những điều đang được xã hội Nhật Bản quan tâm hàng đầu như sự già hoá dân số, mất phương hướng của tuổi trẻ, thảm hoạ thiên nhiên… Chương trình nàycòn được giải thích như sau. Với một tổng kinh phí cho khoa học và công nghệ cố định, MEXT đã giảm phần kinh phí R&D cơ bản cấp đều hằng năm cho mỗi giáo sư đại học. Phần kinh phí từ việc cắt giảm này được dùng để lập ra các COI, là nơi giới nghiên cứu của đại học và doanh nghiệp cần phải tìm cách gắn kết để thực hiện những nghiên cứu cótác động đến kinh tế và xã hội. Việc cách tân trong quản lý này làm cho các cơ quan khoa học và người nghiên cứu khoa học phải năng động hơn và phải hướng nghiên cứu mình đến những đề tài có ý nghĩa hơn (theo các tiêu chí về tầm nhìn, vấn đề, lộ trình, mục tiêu kể trên), nôm na là phải cách tân chính bản thân mình.  Thứ hai, là mọi việc định làm, cách làm và kinh phí của COI-STREAM đều minh bạch và công khai. Nếu không cónhững thông tin công khai này thì bài này không thể viết được.  Mùa Xuân đến và ta nghĩ gì về chuyện cách tân của đất nước?  —  * Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản  Tài liệu tham khảo  1.    Science and Technology as a Foundation for Innovation(2013) http://www.mext.go.jp/english/whitepaper/1338098.htm  2.    Toward a Robust and Resilient Society – Lessons from the Great East Japan Earthquake (GEJE) (2012)–http://www.mext.go.jp/english/whitepaper/1323541.htm  3.    Science and Technology to Be Created and Promoted together with Society Preface(2011) http://www.mext.go.jp/english/whitepaper/1324365.htm  4.    A New Frontier to Be Extended by Value-creating Human Resources -How Science and Technology Should Be for Japan to Make a New Start (2010) http://www.mext.go.jp/english/whitepaper/1302537.htm  5.    Towards Japan’s Own Innovative Science and Technology across the Threshold of Global Transition (2009) http://www.mext.go.jp/english/whitepaper/1302525.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình  điện hạt nhân  Việt Nam: Những điều kiện để thành công      Ngày 24/5 vừa qua, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân có cuộc tọa đàm với các nhà khoa học, chuyên gia trong các lĩnh vực nghiên cứu hạt nhân nhằm trao đổi, tìm những giải pháp hỗ trợ triển khai chương trình điện hạt nhân Việt Nam. Bài viết sau đây tổng hợp những ý kiến rất đáng quan tâm của GS. Pierre Darriulat về một số điều kiện cần để đảm bảo thành công của chương trình.     Sự thành công của chương trình điện hạt nhân ở mọi quốc gia đều đòi hỏi những nỗ lực tối đa của các nhà khoa học, trước hết là trong công tác đào tạo các chuyên gia, kỹ sư vận hành nhà máy điện hạt nhân. Nếu không làm tốt công tác đào tạo, các nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào sự quản lý của các cán bộ hành chính thiếu trình độ chuyên môn, kết hợp với chuyên gia nước ngoài, là những người không thể có nhiều tâm huyết như các nhà khoa học trong nước đối với các vấn đề quan trọng như an toàn hạt nhân, thông tin liên lạc với công chúng, xây dựng phát triển nguồn nhân lực KH&CN, v.v. Thiếu sự tham gia của các nhà khoa học trong nước dẫn đến chủ quyền của Việt Nam trong các dự án điện hạt nhân sẽ bị suy giảm và nguy cơ tai nạn hạt nhân sẽ cao hơn.    Vai trò của tổng công trình sư  Điều chúng ta cần nhất hiện nay là một tổng công trình sư thực sự chịu trách nhiệm thay vì một hội đồng – một dự án điện hạt nhân có tầm quan trọng lớn lao với nền kinh tế và sự phát triển đất nước, đồng thời có tính nhạy cảm cao đối với công chúng, không thể được quản lý bởi một hội đồng.   Người tổng công trình sư nhất thiết phải là người: có tri thức khoa học và sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực điện hạt nhân, thấy được sự cần thiết của chương trình điện hạt nhân nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng để phát triển đất nước; có đủ kinh nghiệm về quản lý các dự án quy mô lớn, am hiểu tầm quan trọng của từng cấu phần dự án, gồm các khía cạnh khoa học, kỹ thuật, quản trị, và tài chính; có tầm nhìn rộng về chính sách của đất nước trong các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường, và địa chính trị…; đồng thời là người có ý thức cao về công tác thông tin tới công chúng, duy trì hình ảnh tích cực của chương trình điện hạt nhân, và đặc biệt nhạy cảm với các vấn đề an toàn hạt nhân.   Người đó phải được giao điều hành một cơ quan đủ mạnh, ví dụ như các ủy ban năng lượng nguyên tử ở Mỹ, Anh, và Pháp khi các nước này bắt đầu khởi động các chương trình năng lượng nguyên tử của họ. Và trên hết là phải nhận được sự tôn trọng từ cả Bộ KH&CN và Bộ Công thương, đồng thời được quyền báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ là người trực tiếp chỉ đạo các bộ trưởng và lãnh đạo các, ban ngành.  Đào tạo nhóm chuyên gia điện hạt nhân  Bên cạnh đó, Việt Nam cần tập trung xây dựng một trung tâm quốc gia, với nhiệm vụ duy nhất là đào tạo một nhóm các nhà khoa học và kỹ sư phục vụ cho chương trình điện hạt nhân – khi chưa thực sự đầu tư cho nguồn nhân lực thì việc sử dụng ngân sách nhà nước cho bất kỳ hoạt động nào khác của chương trình điện hạt nhân đều chỉ mang lại sự tốn kém vô ích. Mặc dù trung tâm này có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu đào tạo của Bộ KH&CN và các bộ, ngành liên quan, nhưng người lãnh đạo trung tâm phải báo cáo trực tiếp với tổng công trình sư của chương trình điện hạt nhân quốc gia.  Tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết đào tạo theo nhóm thay vì tách biệt từng cá nhân, nhằm xây dựng những đội ngũ cán bộ, chuyên gia tốt nhất. Đào tạo theo nhóm nghĩa là học viên không được gửi ra nước ngoài trong thời gian quá dài. Họ cần phải trở về trung tâm sau mỗi đợt tập huấn ở nước ngoài (khoảng một năm hoặc ngắn hơn) và tham gia vào một tiến trình giảng dạy và học liên tục. Sự tương tác và trao đổi kinh nghiệm như vậy sẽ tạo lập các mối liên kết gắn bó giữa các thành viên trong nhóm, xây dựng một phông văn hóa chuyên môn chung. Trung tâm cần theo dõi sát sao tiến trình học tập của từng học viên khi họ ở nước ngoài và tổ chức các bài giảng, hội thảo để họ có nhiều cơ hội tham gia thuyết trình, giảng dạy. Nên mời các chuyên gia quốc tế trong các khoảng thời gian ngắn hạn (thông thường khoảng một tháng) để họ thuyết giảng và tương tác gần gũi với học viên.  Thầy và trò tại các trung tâm đều phải là những người xuất sắc. Không chỉ giỏi chuyên môn, họ còn phải là những người nhiệt thành và trung thực. Chúng ta cần tạo dựng một trung tâm được hình thành bởi lòng khát khao phục vụ tổ quốc thay vì lợi ích của các cá nhân. Việc tuyển chọn thầy và trò phải tuân thủ những quy định chặt chẽ, công khai minh bạch.  Cán bộ của trung tâm không nên chỉ là các nhà kỹ trị, mà phải gồm những người có tầm nhìn phong phú trong các lĩnh vực, vấn đề liên quan tới nhà máy điện hạt nhân, như vấn đề an toàn, thông tin, tương tác với công chúng, và các chuyên gia địa chính trị châu Á am hiểu về Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc. Đương nhiên chúng ta cần những chuyên gia am hiểu các vấn đề kỹ thuật như xử lý chất thải hạt nhân, các công nghệ tiên tiến như lò phản ứng tái sinh, các máy gia tốc tạo ra nhiệt hạch, v.v. Nếu có thể thì nên thành lập một hội đồng tư vấn quốc tế và có sự tham gia của chuyên gia quốc tế (không chỉ là chuyên gia Nga) trong các hội đồng tuyển chọn nhân sự.  Việc thu hút thầy và trò giỏi đòi hỏi sự lên kế hoạch dài hạn (ví dụ một kế hoạch chi tiết cho 5 năm tới được gối đầu với một kế hoạch 5 năm kế tiếp có mức độ chi tiết cụ thể thấp hơn) về nhân lực và tài chính, để họ thực sự tin tưởng vào tính nghiêm túc của chương trình đào tạo và sự quyết tâm của Nhà nước phát triển nguồn nhân lực chương trình điện hạt nhân của quốc gia.  Một số đề xuất khác  Một điều vô cùng cấp bách là xây dựng một kế hoạch triển khai có tính hiện thực cao, được tuân thủ nghiêm ngặt thay vì liên tục bị trì hoãn. Kế hoạch này phải được công bố công khai rộng rãi nhằm tăng uy tín, lòng tin từ công chúng đối với chương trình điện hạt nhân.  Việc xây dựng những quy định quản lý Nhà nước đối với chương trình điện hạt nhân phải vô cùng thận trọng để tránh sự áp đặt gây trì trệ và quan liêu. Thủ tục hành chính nên được đơn giản hóa tối đa – hoạt động hành chính chỉ nên nhằm mục đích phục vụ thay vì mục đích kiểm soát.  Cần ưu tiên phát triển năng lực, trình độ để quản lý chương trình điện hạt nhân thành công trong lâu dài, tuy nhiên, cũng phải tìm ra những giải pháp để bù lấp các khoảng trống trước mắt, cụ thể như cần cân nhắc tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài, Việt kiều, khi không có giải pháp khả thi nào khác.  Chính sách, chế độ đãi ngộ các chuyên gia cần kết hợp cả hợp đồng có thời hạn và hợp đồng vô thời hạn, với mức lương đủ sức hấp dẫn. Điều này đặc biệt cần trong bối cảnh hiện nay khi chúng ta phải đối diện với những thực tế đáng buồn và có hại cho nền khoa học nước nhà, chẳng hạn những thạc sỹ chuyên ngành kinh tế, marketing, quản lý dự án, v.v có thể có mức lương cao gấp ba lần lương một giáo sư đại học giàu kinh nghiệm. Chúng ta cần tạo mức thu nhập đủ cao cho chuyên gia, cán bộ (ít nhất gấp 5 lần mức lương thông thường) làm việc cho chương trình điện hạt nhân quốc gia, là những người đã chứng tỏ được năng lực, trình độ của mình sau giai đoạn thử thách ban đầu. Điều này vô cùng quan trọng để thu hút các nhà khoa học, kỹ sư giỏi nhằm đảm bảo thành công của các dự án điện hạt nhân.  Công tác thông tin và quan hệ với công chúng của chương trình điện hạt nhân còn những hạn chế cơ bản phải được khắc phục cải thiện. Ví dụ điển hình như việc đề xuất địa điểm thích hợp cho việc xây dựng lò phản ứng nghiên cứu mới ở Đà Lạt bị ủy ban nhân dân của địa phương từ chối, hay việc mới đây chúng ta tổ chức Ngày KH&CN Việt Nam lần đầu tiên nhưng đáng tiếc không hề có các hoạt động giới thiệu thông tin về chương trình điện hạt nhân.        Nhận  xét về đề nghị bổ nhiệm một tổng công trình sư chuyên trách chương  trình điện hạt nhân của Việt Nam như GS. Pierre Darriulat trình bày  trong bài viết này, GS. Phạm Duy Hiển cho rằng đây là một ý kiến đúng  đắn cần thiết và là điều thông thường ở những chương trình điện hạt nhân  của các quốc gia khác.               Tuy nhiên, GS. Phạm Duy Hiển cũng chỉ ra một  trở ngại cơ bản cho đề nghị này trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, đó  là nhiều khả năng cơ chế quản lý hành chính hiện hành ở nước ta sẽ đòi  hỏi tổng công trình sư đó phải đang giữ một vị trí cao – tương đương cấp  lãnh đạo một Bộ, ngành – trong bộ máy quản lý của Đảng và Nhà nước.  Nhưng không một cá nhân nhà lãnh đạo cấp cao nào như vậy ở nước ta có đủ  kinh nghiệm, tri thức khoa học, cùng các tri thức liên quan để có thể  đảm nhiệm công việc tổng công trình sư cho chương trình điện hạt nhân  Việt Nam. Mà nếu Nhà nước bổ nhiệm một người thiếu năng lực vào vị trí  này thì chương trình điện hạt nhân của chúng ta sẽ rất khó được triển  khai một cách hiệu quả, chưa kể còn mang đến những nguy cơ tiềm ẩn không  nhỏ.                    PHẠM TRẦN LÊ dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình hợp tác công tư Horizon: Hiệu quả đã là đủ?      Không ai phủ nhận được tính hiệu quả từ các sáng kiến hợp tác nghiên cứu công tư của Horizon 2020 – chương trình Khung về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Hội đồng châu Âu. Tuy nhiên, công cụ quản lý mới nhằm gắn kết các nguồn lực trong các trường viện và giới công nghiệp châu Âu đã thực sự hoàn hảo? Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách của Hội đồng châu Âu trước khi quyết định cắt giảm hoặc ghép các sáng kiến với nhau ở giai đoạn tới.      Các chương trình hợp tác công tư của Horizon nhằm mục tiêu kết nối các nhà nghiên cứu với giới công nghiệp để tạo ra những công nghệ đột phá. Nguồn: People Matters  Từ thành công của ba chương trình bắt đầu vào năm 2009, Hội đồng châu Âu quyết định mở các chương trình hợp tác công tư (Public Private Partnerships) trị giá 6,2 tỷ euro thuộc Horizon 2014-2020, bao gồm: Các nhà máy của tương lai (Factories of the Future), Những tòa nhà hiệu quả năng lượng (Energy-efficient Buildings), Sáng kiến Xe xanh châu Âu (European Green Vehicles Initiative), Công nghiệp chế tạo phát triển bền vững (Sustainable Process Industry), Các công nghệ quang tử (Photonics), Robotics, Tính toán tính hiệu năng cao (High Performance Computing), Các mạng lưới 5G tiên tiến cho internet tương lai (Advanced 5G networks for the Future Internet).  Các chương trình này được tiến hành trên cơ chế hợp tác công tư với sự tham gia của các công ty, trường đại học, các phòng thí nghiệm công và cả các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vừa và nhỏ (SMEs), nhiều tổ chức khác, cùng thực hiện những nghiên cứu nhằm tạo ra những công nghệ mang tính đột phá, đặc biệt tăng sức cạnh tranh quốc tế trong tương lai cho công nghiệp châu Âu. Để được nhận tài trợ cho đề xuất nghiên cứu từ những chương trình này, các doanh nghiệp sẽ phải bỏ vốn đối ứng và được tự do lựa chọn các đối tác nghiên cứu. Thiết lập các chương trình này, EU mong muốn đầu tư vào các ngành công nghiệp chủ chốt, thông qua đó hỗ trợ các doanh nghiệp thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và ngay lập tức được họ hưởng ứng. Năm 2014, số lượng doanh nghiệp tham gia và đóng góp kinh phí cho Horizon 2020 đã tăng lên.  Hiệu quả của các chương trình hợp tác công tư  Bắt đầu từ năm 2013, đến nay, các chương trình hợp tác này của Horizon đã đi một nửa chặng đường. Để đánh giá nhanh về tác động toàn diện của các chương trình, một nhóm nghiên cứu độc lập đã thực hiện báo cáo “Đánh giá giữa kỳ về các mối quan hệ hợp tác công tư theo hợp đồng trong Horizon 2020” (Mid-term review of the contractual Public Private Partnerships (cPPPs) under Horizon 2020), công bố vào cuối tháng 9/2017 – một bức tranh tương đối toàn diện với những ưu điểm và nhược điểm về một công cụ chính sách quản lý mới của châu Âu.      Sự gắn kết giữa các bên tham gia đã tạo ra một làn sóng đổi mới sáng tạo lan tỏa từ các trường đại học, các phòng thí nghiệm công đến phần lớn các ngành công nghiệp quan trọng ở châu Âu, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.      Theo các chuyên gia, có thể nhận thấy những hiệu quả trực tiếp của các chương trình này thông qua các chỉ số Đo lường hiệu quả công việc (KPIs) như đầu tư của khu vực tư nhân, số lượng nghề nghiệp và các chương trình được tạo ra mức tăng trưởng doanh thu; thu nhập tăng lên của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; số lượng đổi mới sáng tạo được đưa ra thị trường. Họ nhận thấy, nếu xét trên bình diện đầu tư tư nhân thì hầu hết các chương trình hợp tác đều khá thành công, ví dụ Chương trình Công nghiệp chế tạo phát triển bền vững – một liên minh gồm 8 lĩnh vực nhỏ hơn của ngành công nghiệp chế tạo châu Âu là xi măng, gốm sứ, hóa chất, kỹ thuật, khai thác khoáng sản và quặng, kim loại màu, thép và nước – thu hút sự tham gia của 450.000 công ty, cung cấp việc làm cho 6,8 triệu lao động và đem lại khoảng 1,6 tỷ euro lợi nhuận, trong đó 11,2% thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ; hay chỉ tính riêng năm 2015 thì Chương trình Robotics đã thu hút được khoản kinh phí đầu tư 568 triệu euro của các công ty tư nhân. Nếu xét trên bình diện đổi mới sáng tạo thì Chương trình Công nghiệp chế tạo phát triển bền vững tạo ra 141 công nghệ mới (32 công nghệ vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện); Chương trình Những tòa nhà hiệu quả năng lượng: trung bình mỗi dự án thuộc chương trình tạo ra 3,3 hệ thống và công nghệ mới; Sáng kiến Xe xanh châu Âu: từ 21 dự án tạo ra 29 công nghệ đột phá; Chương trình Các nhà máy của tương lai: 295 hệ thống và công nghệ mới từ 46 dự án. Nếu xét trên bình diện việc làm thì cứ mỗi dự án của Chương trình Các nhà máy của tương lai, lại tạo ra trung bình 4,87 loại công việc mới hay mỗi dự án Chương trình Những tòa nhà hiệu quả năng lượng tạo ra 1,7 loại công việc mới.  Hiệu quả từ một phương thức hợp tác còn ở một số khía cạnh khác, đó là sự gắn kết giữa các bên tham gia thực hiện ngày một chặt chẽ hơn, tạo ra một làn sóng đổi mới sáng tạo lan tỏa từ các trường đại học, các phòng thí nghiệm công đến phần lớn các ngành công nghiệp quan trọng ở châu Âu, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ – những công ty rất năng động trong đổi mới đầu tư và nắm bắt xu thế của thị trường. Ông Jean-Eric Paquet, Tổng giám đốc Bộ phận Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Hội đồng châu Âu mới nhận xét trong một phiên họp diễn ra vào tháng 7/2018: “Không có một chương trình nào trên thế giới cho phép tạo ra nhiều hợp tác như thế giữa ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu như Horizon”.  Giáo sư Jonathan Knowles của trường đại học Helsinki (Phần Lan) thừa nhận một vấn đề trong quá khứ, “trước đây, chúng tôi không cố gắng giới thiệu tất cả công việc và kết quả nghiên cứu mà chúng tôi đã làm ra với công chúng và doanh nghiệp. Cả hai phía – doanh nghiệp và giới hàn lâm – đều từng rất ngạo mạn, nhưng bây giờ thì đã khác, hãy nhìn vào cách chúng tôi làm việc cùng nhau”.  Những vấn đề chưa được giải quyết  Các chuyên gia thực hiện báo cáo cũng cho biết, họ phát hiện ra một số vấn đề nảy sinh, đầu tiên là việc xây dựng lộ trình cụ thể cho từng chương trình cần được thiết kế rõ ràng hơn và giới thiệu được đến nhiều bên hơn, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; vì hiện nay chúng chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các tổ chức tư nhân phi lợi nhuận tham gia như mong muốn của Hội đồng châu Âu. Bên cạnh đó, họ cũng nhận thấy một số vấn đề khác như mối liên kết giữa các chương trình hợp tác công tư Horizon với những chương trình khác của Hội đồng châu Âu và ảnh hưởng của các chương trình này lên chính sách khoa học và công nghiệp của các quốc gia thành viên châu Âu còn mờ nhạt. Các thành viên Hội đồng châu Âu cảm thấy không phải các quốc gia thành viên nào cũng có được vai trò đáng kể trong các chương trình hợp tác công tư, do đó nhiều quốc gia có các trường, viện hoặc doanh nghiệp tham gia những chương trình này dường như không quan tâm đến tiến độ công việc. Ví dụ trong số các chương trình hợp tác công tư có những dự án như thử nghiệm lâm sàng ở Hạ Sahara – châu Phi, dự án về an ninh lương thực, dự án về đo lường hay đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghệ cao, các bên tham gia thuộc quốc gia châu Âu đều phải rất vất vả mới có sự hỗ trợ về kinh phí và chính sách của chính phủ. Năm 2017, ông Pascal Lamy, nguyên ủy viên phụ trách vấn đề thương mại của Hội đồng châu Âu đã nêu quan điểm trong báo cáo về nghiên cứu do Hội đồng châu Âu tài trợ: “Các quan hệ đối tác giữa những cơ quan của mỗi chính phủ quốc gia thành viên EU được thiết lập dựa trên các mối hợp tác sẵn có nhưng lại không ảnh hưởng đến chính sách và chiến lược phát triển chung của các quốc gia này”.  Có nên cắt giảm?  Những vấn đề tồn tại của các chương trình hợp tác công tư Horizon khiến Hội đồng châu Âu cân nhắc vấn đề: có nên cắt giảm chúng trong giai đoạn mới 2021 – 2027 của Horizon? Trước khả năng này, các nhóm ngành sản xuất xe điện, sản xuất chip điện tử, các công ty dược phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác đang nỗ lực tìm cách để duy trì bằng được các chương trình mình đang tham gia để tiếp tục nhận nguồn tài trợ của EU cho các hoạt động đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ mới.  Để sẵn sàng cho điều này, Hội đồng châu Âu vừa soạn thảo văn bản pháp lý cho chương trình nghiên cứu tiếp theo của Horizon Europe. Qua trao đổi với đại diện ngành công nghiệp và nghiên cứu trong cuộc họp tại Brussels vào đầu tháng 7/2018, ông Jean-Eric Paquet hé lộ “sẽ có những thay đổi”, và không chắc chắn sẽ giữ lại mối quan hệ đối tác nào. Theo ông, áp lực đòi hỏi khép lại một số chương trình đang tăng lên khi “nhiều quốc gia thành viên EU đang chờ đợi việc đánh giá lại các chương trình hợp tác”.  Christian Naczinsky, Bộ trưởng Bộ Khoa học, nghiên cứu và kinh tế Áo, bình luận, cần phải có một tiêu chí quan trọng và xác đáng để kết thúc một chương trình. Một quan chức Hội đồng châu Âu cho rằng công việc đó không dễ dàng bởi các chương trình hợp tác công tư đang phát triển lớn mạnh như “những con khủng long” với hàng trăm ngàn tổ chức, doanh nghiệp cam kết tham gia và đầu tư vào các hoạt động mang tính lâu bền. Ông Paolo Annunziato, Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu hàng không vũ trụ Ý nhấn mạnh: “Các chương trình này đều đang triển khai kế hoạch của mình. Các chương trình góp phần tăng cường cam kết đầu tư vào nghiên cứu của giới công nghiệp”.      “Không có một chương trình nào trên thế giới cho phép tạo ra nhiều hợp tác như thế giữa ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu như Horizon” Jean-Eric Paquet      Phản hồi những ý kiến này, ông Jean-Eric Paquet cho rằng, một số chương trình hợp tác có thể sẽ phải sáp nhập để “có những ngân sách đầu tư lớn hơn và trên diện rộng hơn”, tuy nhiên ông cũng chưa cho thấy một tín hiệu rõ ràng về việc sáp nhập như thế nào “Chúng tôi sẽ làm điều đó như thế nào ư? Tôi cũng chưa rõ… [nhưng] trong 6 tháng tới, chúng ta sẽ phải tập hợp nhiều mối hợp tác công tư để có thể tạo nên sự khác biệt”. Bản thân ông Daniel Gauthier, người phụ trách chương trình Các ngành công nghiệp chế tạo phát triển bền vững của Horizon, cũng không tiết lộ nhiều: “Tôi sẽ không trộn lẫn mọi thứ lung tung. Chúng tôi cần dựa trên những phương pháp tiếp cận phù hợp với đặc trưng của các ngành riêng biệt và liên ngành”.  Tuy nhiên tất cả các bên liên quan đều nhất trí ở một điểm: cần thiết duy trì những chương trình hợp tác công tư trong giai đoạn tới của Horizon. Thông qua chính sách đầu tư kinh phí và khuyến khích hợp tác của Hội đồng châu Âu, một hệ sinh thái sống động với sự tham gia của nhiều thành phần đã được tạo ra và tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, không riêng ngành công nghiệp.  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn: https://publications.europa.eu/en/publication-detail/-/publication/6de81abe-a71c-11e7-837e-01aa75ed71a1/language-en;          Author                Quản trị        
__label__tiasang Chương trình NEST      Mới đây Tia Sáng đã giới thiệu tới bạn đọc bài viết1 của GS. Pierre Darriulat, trong đó có kiến nghị về việc đào tạo nhóm chuyên gia điện hạt nhân của Việt Nam, một vấn đề được công chúng và nhiều chuyên gia đặc biệt quan tâm. Dưới đây là những thông tin sơ bộ về Chương trình đào tạo chuyên gia điện hạt nhân (NEST) của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.    Mục tiêu dự kiến của NEST trong thời gian từ nay đến năm 2020 là đào tạo được khoảng 40 chuyên gia đầu ngành đạt trình độ tiến sỹ trong một số lĩnh vực chiến lược của điện hạt nhân, bao gồm an toàn điện hạt nhân, thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân, vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu, kinh tế điện hạt nhân, cùng một số lĩnh vực khác. Yêu cầu đặt ra cho các chuyên gia sau khi được đào tạo cụ thể như sau.   Về an toàn điện hạt nhân: Hiểu các vấn đề về thiết kế an toàn, các hạn chế thiết kế an toàn; Nắm vững các phương pháp phân tích an toàn, các hạn chế của các phương pháp; Nắm rõ về quản lý tình trạng khẩn cấp v.v.   Về thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân: Nắm vững về quá trình thiết kế nhà máy điện hạt nhân, các hệ thống, các hạn chế, sự lựa chọn và chấp nhận, đánh giá; Hiểu về công nghệ nhà máy điện hạt nhân, xây dựng, thử nghiệm, giám sát chất lượng.   Về vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân: Hiểu về vận hành nhà máy điện hạt nhân (bao gồm điều khiển và kiểm tra, yếu tố con người); Pháp quy, kiểm tra, bảo dưỡng (bao gồm đánh giá không phá hủy), lão hóa của vật liệu v.v.   Về nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu: Hiểu về nhiên liệu và vật liệu hạt nhân; Tối ưu hóa thay đảo nhiên liệu; Nắm vững về các chu trình nhiên liệu hạt nhân, bao gồm các nhiệm vụ về an ninh và không phổ biến vũ khí hạt nhân.   Về kinh tế điện hạt nhân: Nắm rõ kinh tế hạt nhân, kinh tế năng lượng, các hậu quả kinh tế, chu trình nhiên liệu, chu trình đời sống nhà máy, đánh giá tài sản, đánh giá rủi ro.   Các vấn đề khác: Bao gồm các lĩnh vực về địa điểm, vật lý lò hạt nhân, cơ khí, thủy khí, điều khiển, máy tính, môi trường v.v.             Mười chủ đề đầu tiên cần gửi người đi đào tạo chuyên sâu bao gồm: Địa điểm nhà máy điện hạt nhân và các sự kiện bên ngoài;  Đánh giá  độ nguy hiểm động đất và lũ lụt; Xây dựng nhà máy: Giám sát chất lượng, kiểm tra; Thiết kế hệ thống  đo lường  điều khiển số, tính năng vận hành,  độ tương thích, độ ổn định; Phân tích độ tin cậy của con người (yếu tố văn hóa); Phân tích an toàn xác suất mức độ 1: Đánh giá hệ thống an toàn thụ động; Phân tích an toàn xác suất mức độ 2: Quản lý sự cố nặng; Phân tích an toàn xác suất mức độ 3: Tác động môi trường và giảm thiểu hậu quả sự cố nặng; Nhiên liệu hạt nhân và vật liệu chiếu xạ, tính năng và mức độ hư hỏng; Phân tích chu trình nhiên liệu, bao gồm các nhiệm vụ về an ninh và chống phổ biến vũ khí hạt nhân; Kinh tế điện hạt nhân, bao gồm đánh giá hậu quả các hiện tượng cực đoan.          Chương trình dự kiến sẽ lựa chọn các kỹ sư mới tốt nghiệp loại giỏi, có ngoại ngữ tốt, từ các trường  đại học Việt Nam (có thể là thạc sỹ, hay tiến sỹ), có chuyên ngành phù hợp (với điện hạt nhân), sau đó tiến hành đào tạo trong nước trong vòng 9 tháng. Đồng thời chương trình sẽ lựa chọn các giáo sư nước ngoài giỏi trong lĩnh vực điện hạt nhân (chủ yếu từ Hoa Kỳ, châu Âu) để thiết lập quan hệ để gửi sinh viên sang đào tạo. Điểm thuận lợi là tham gia chương trình còn có GS. Đinh Trúc Nam từ Đại học Quốc gia Bang Bắc Carolina, một người có quan hệ rộng với nhiều giáo sư, chuyên gia giỏi hiện nay ở Hoa Kỳ. Các học viên xuất sắc nhất từ chương trình đào tạo 9 tháng sẽ được chọn để gửi sang đào tạo với các giáo sư nước ngoài theo chủ đề đã được lựa chọn. Các học viên chương trình 9 tháng nếu không được chọn gửi đi học nước ngoài sẽ được tiếp nhận vào làm việc tại Viện NLNTVN nếu đáp ứng yêu cầu.   Bên cạnh đó, chương trình còn tổ chức các khóa đào tạo hạt nhân 9 tháng trong nước, lựa chọn các học viên là các kỹ sư mới tốt nghiệp (loại giỏi), hoặc thạc sỹ hay tiến sỹ, có chuyên ngành phù hợp, có ngoại ngữ tốt. Mỗi học viên sẽ có một hoặc nhiều giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ, là những cán bộ Viện NLNTVN (kể cả cán bộ đã nghỉ hưu) hoặc các trường đại học, cơ sở nghiên cứu khác trong nước, hoặc các giáo sư nước ngoài tham gia trong chương trình. Chương trình học sẽ có 2 học kỳ, trong đó Học kỳ 1 gồm các khóa cơ bản về hạt nhân và điện hạt nhân; Học kỳ 2 là chương trình nâng cao, bao gồm các bài tập lớn và đề án theo chuyên đề cần thiết, bổ ích để đạt được mức độ cần thiết trước khi gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Để thực hiện  được chương trình này, cần xây dựng chương trình đào tạo và xây dựng  đội ngũ giáo viên hướng dẫn (cả trong nước và ngoài nước theo hình thức hướng dẫn từ xa).   Việc có được học bổng hay hỗ trợ của Nhà nước hấp dẫn để thu hút người giỏi vào lĩnh vực hạt nhân là cần thiết, nhằm đảm bảo được đầu vào tốt cho khóa đào tạo 9 tháng. Dự kiến kinh phí cho chương trình Đào tạo chuyên gia điện hạt nhân khoảng 12-15 triệu USD cho đến năm 2020.              Số thứ tự      Lĩnh vực chiến lược      Đào tạo      Đào tạo tổng                        giai đoạn 1      cộng                                          1      An toàn điện hạt nhân      3      10                                          2      Thiết kế và xây dựng nhà      2      5                 máy điện hạt nhân                                                        3      Vận hành và bảo dưỡng nhà      2      5                 máy điện hạt nhân                                                        4      Nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu      2      7                                                            5      Kinh tế điện hạt nhân      1      3                                                 6      Các lĩnh vực khác      –      10                                                 Tổng cộng:      10      40                                          Số lượng chuyên gia cần đào tạo trong 10 năm tiếp theo theo các lĩnh vực chiến lược     —-  1 Pierre Darriulat, Chương trình điện hạt nhân của Việt Nam: Những điều kiện để thành công, Tạp chí Tia Sáng số 11, 05/06/2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyển đổi để nâng cao hiệu quả hoạt động      Nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản trong quản lý KH&amp;CN, ngày 28/9/2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&amp;CN, trong đó đưa ra giải pháp có ý nghĩa đột phá: “Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức KH&amp;CN công lập”.    Thực hiện giải pháp này, Bộ KH&CN đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập với nhiều quan điểm và nội dung quy định của Nghị định đã được cộng đồng khoa học đánh giá là một cuộc cách mạng trong quản lý và được coi như Khoán 10 trong hoạt động KH&CN. Sau khi Nghị định 115 được ban hành, Bộ KH&CN đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng, ban hành tám Thông tư và một Quyết định để hướng dẫn chi tiết triển khai một cách có hệ thống và đồng bộ cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập.   Sau 10 năm triển khai thực hiện, theo số liệu tổng hợp từ báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương đến 31/12/2014, trong tổng số 642 tổ chức KH&CN công lập (gồm 473 tổ chức thuộc các Bộ, ngành và 169 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), có:  – 488 tổ chức đã được phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ (đạt 76%), trong đó có 380 tổ chức thuộc các Bộ, ngành và 108 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  – 154 tổ chức đang xây dựng hoặc đang trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ, trong đó có 93 tổ chức thuộc các Bộ, ngành và 61 tổ chức thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.   Như vậy, đến nay còn 154 tổ chức chưa được phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, mặc dù Nghị định 115 sửa đổi quy định hạn cuối cùng các tổ chức phải được phê duyệt đề án là ngày 31/12/2013.                 488 là số tổ chức KH&CN công lập đã chuyển đổi sang cơ chế tự chủ trong tổng số 642 tổ chức KH&CN công lập.            Nhằm xác định những nguyên nhân dẫn đến việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN công lập vẫn chưa đạt được những mục tiêu đã đề ra và tìm giải pháp thúc đẩy vấn đề trên, Bộ KH&CN đã phối hợp với Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội đã tổ chức “Hội nghị toàn quốc về thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học công lập” với sự tham gia trực tuyến của 63 tỉnh thành. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT Phan Xuân Dũng và Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân đã chủ trì và điều hành hội nghị.     Hầu hết ý kiến của các đại biểu tại hội nghị đều khẳng định tính đúng đắn của Nghị định 115, đồng thời chỉ ra một số nguyên nhân, khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện như chậm ban hành văn bản hướng dẫn thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật, tiềm lực KH&CN còn hạn chế… nhưng trước hết là do chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị định 115 đối với sự phát triển KH&CN, từ đó thiếu quyết liệt và nghiêm túc trong chỉ đạo thực hiện của nhiều ngành, địa phương.  Phát biểu kết thúc hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng nhiều người vẫn chưa hiểu rõ mục đích và động cơ của việc thúc đẩy tự chủ của các tổ chức. “Tôi khẳng định, tự chủ không phải để giảm chi cho KH&CN. Tổng chi phí cho KH&CN ở nước ta không thua kém nhiều nước phát triển trong khu vực, dù rằng hằng năm ngân sách Nhà nước dành cho KH&CN mới đạt 2% nhưng đó chưa phải là tất cả vì ngoài Nhà nước còn có đầu tư của doanh nghiệp và cộng đồng cho KH&CN, tự chủ không phải là siết biên chế và giảm số người làm KH&CN bởi mục tiêu của Nhà nước luôn là làm sao tăng số nhà khoa học và tăng kinh phí làm KH&CN; nếu giảm, có chăng chỉ là việc sử dụng kinh phí, lãng phí; giảm số người làm việc không hiệu quả trong bộ máy làm KH&CN. Tôi cũng muốn nói thêm rằng, tự chủ không phải là giảm số biên chế để cải cách tiền lương. Hiện nay, tổng số biên chế (trong đó có biên chế được mô tả, được giao theo quy định của Bộ Nội vụ và biên chế tự quyết của tất cả các đơn vị công lập) là 2,6 triệu người. Trong riêng khối KH&CN, chúng ta có 62.010 người, tức là mới chỉ chiếm có 2.5% tổng biên chế của tất cả các đơn vị trên cả nước.   Chúng ta đề ra quy định phải tự chủ trong các tổ chức KHCN không phải để làm một mô hình khác thế giới mà để khắc phục những bất cập để lại từ một thời gian dài bao cấp dẫn đến việc: Mặc dù cố gắng nhưng nguồn lực đầu tư cho KH&CN không được sử dụng một cách hiệu quả, không tạo được động lực để các thành phần ngoài nhà nước đầu tư cho KH&CN.   Từ những điều kể trên, theo tôi, chúng ta đừng bàn việc tự chủ là đúng hay sai mà chắc chắn đó là việc chúng ta phải làm, nếu chúng ta thực sự mong muốn đất nước có một nền KH&CN phát triển”.           Chìa khóa và cũng đồng thời là vấn đề cốt tử để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong thời điểm này, theo như tôi nhận thức, đó là sự minh bạch hóa trong mọi hoạt động KH&CN từ việc ra đầu bài (tức là đăng kí đề tài, nội dung) đến quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả đề tài. Điều này đầu tiên phải được thực hiện ở Bộ Khoa học và Công nghệ và xuống đến cơ quan quản lí khoa học các cấp. –  Trích ý kiến của Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam.          Để thực hiện được mục tiêu hết năm 2015 tất cả các viện nghiên cứu công lập phải chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cùng với việc nâng chất lượng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chính thức đề nghị “Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với Bộ, ngành có liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành “Nghị định 115 mới” nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Nhưng với nghị định này, chúng ta cần rút kinh nghiệm không để xảy ra trường hợp nghị định đợi thông tư rồi mấy năm nữa cũng chưa thực hiện được. Tôi đề nghị  Nghị định 115 mới khi được ban hành sẽ kèm thêm tất cả các thông tư hướng dẫn tổ chức thực hiện (và tốt nhất là đưa luôn vào nghị định)”.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyện làm dự án      Gần đây, chúng ta có quỹ Nafosted (National Foundation for Science and Technology), với mục đích tương đồng với NSF (Quỹ khoa học quốc gia cúa Mỹ). Về cơ bản, hai quỹ hoạt động khá giống nhau nhưng ở một số bước có sự khác biệt.&#160;       Xét duyệt dự án của NSF  NSF (National Science Foundation) là quỹ khoa học quốc gia của Mỹ. Nó được thành lập năm 1950, với mục đích là tài trợ các nhà khoa học tại Mỹ trong các nghiên cứu độc lập của họ. Hiện tại số tiền tài trợ hàng năm chừng 7 tỷ USD, trong đó hơn 80% là vào thẳng các dự án (grants) từ các trường đại học và viện nghiên cứu.          Viết một dự án kỹ  lưỡng rất tốn thời gian.  Ngay cả những nhà nghiên cứu hạng nhất, khi viết dự án, cũng thường mất  đến cả tháng. Tuy nhiên, một tháng đó cũng rất có lợi cho họ, ở chỗ họ  có thời gian cân nhắc kỹ càng các đề tài, đề tài nào khả thi, đề tài nào  có thể làm với ai, đề nào nào thích hợp với sinh viên nào. Vô hình  chung, nó tạo  ra một kế hoạch  làm việc khá cụ thể cho tương lai.        Đối với các giáo sư ở Mỹ, nộp dự án cho NSF (hay một số tố chức tương tự có qui mô nhỏ hơn) là việc  ích nước lợi nhà. Lợi nhà là một khi dự án  được chấp nhận tài trợ, nhà khoa học được thêm một hai tháng tiền lương, được tiền để tài trợ cho sinh viên, mua trang thiết bị và  đi  hội nghị. Hơn nữa, trường đại học được hưởng trực tiếp một khoản rất lớn từ tiền dự án của các giáo sư. Tùy từng ngành, số tiền này có thể lên đến 30% tới 50% (hay hơn nữa) giá trị của dự án. Vì vậy, các trường lớn có hẳn một đội nhân viên cứ đến mùa dự án là giục dã các giáo sư cho khỏi quên, và giúp họ nộp hồ sơ đúng thời hạn. Giáo sư có nhiều dự án  được tài trợ thường được trường đại học ưu ái. Ngoài danh tiếng và giá trị khoa học ra,  trong không ít trường hợp, số tiền trường thu  từ các dự án nhiều hơn lương của các giáo sư này rất nhiều. Bởi vậy, có nhiều dự án thành công là một yếu tố quyết định trong việc tuyển chọn hay thăng tiến của các giáo sư ở các trường đại học. Nó cũng ảnh hưởng đến uy tín của nhà nghiên cứu trong con mắt đồng nghiệp.  Dự án quan trọng vậy, nên việc nộp và xét dự án khá kỳ công. Trong ngành toán,  cách đây chừng 15 năm, số người được duyệt chừng 1/3 số người nộp, hiện tại con số này chỉ còn 1/5,  tính cạnh tranh rất cao. Mỗi dự án thường có thời hạn ba năm, đôi khi trong một số trường hợp đặc biệt có thể dài hơn.  Phần nội dung của dự án có độ dài tối đa 15 trang, phần lớn người viết dùng hết giới hạn này, cộng thêm phần trích dẫn  từ 50 đến 150 bài báo. Nội dung phải đạt được các yêu cầu sau:  (0) Tóm tắt nội dung và thành tựu của dự án vừa hoàn thành (nếu có).  (1) Nêu các vấn đề sẽ được nghiên cứu một cách mạch lạc.  (2) Giải thích tại sao các vấn đề này lại hay và quan trọng.  (3) Các phuơng pháp và ý tưởng đã được dùng để tấn công vấn đề này hay các vấn đề tương tự. Mặt mạnh và hạn chế của các phương pháp này.  (4) Đề cập được một số phương pháp hay ý tưởng mới.  (5) Ứng dụng và đào tạo.  Một số khó khăn của  việc viết dự án:  (A) Chọn vấn đề. Nếu vần đề  tầm thường, không được nhiều người quan tâm, thường rất khó được chấp nhận. Vấn đề mà về cơ bản đã được giải quyết rồi, dự án chỉ làm thêm một số bước kỹ thuật thường cũng không được ủng hộ. Nhưng nếu vần đề nổi tiếng quá, rất dễ bị đặt câu hỏi “nhưng anh/chi ấy đã bao giờ giải quyết được các vấn đề lớn tương tự chưa ?”  (B) Cách diễn giải. Dự án phải được viết  rất mạch lạc, dễ hiểu. Mấu chốt ở đây là ban duyệt dự án sẽ gồm chừng 10-15 thành viên, và nếu may mắn chỉ có một hai người cùng chuyên ngành hẹp với bạn thôi. Nếu người đọc không hiểu thì đó là lỗi của người viết. Bạn có thể vùng vằng “ngôn ngữ toán học của tôi cao quá, ủy ban không hiểu”, đó là việc của bạn, còn việc ủy ban không duyệt thì đó là việc của họ.  (C) Hiệu quả trong ứng dụng và đào tạo. Ở các trường đại học, nghiên cứu đi liền với giảng dạy, nên dự án cần chỉ ra tác dụng của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này. Điều này một phần nào bắt buộc các giáo sư mang những kiến thức mới nhất đến cho sinh viên. Trong thời gian gần đây, hiệu quả ứng dụng của công trình, ngay cả trong những lĩnh vực được coi là lý thuyết như toán cũng rất  được coi trọng.  Viết một dự án kỹ lưỡng rất tốn thời gian. Ngay cả những nhà nghiên cứu hạng nhất, khi viết dự án, cũng thường mất đến cả tháng. Tuy nhiên, một tháng đó cũng rất có lợi cho họ, ở chỗ họ có thời gian cân nhắc kỹ càng các đề tài, đề tài nào khả thi, đề tài nào có thể làm với ai, đề tài nào thích hợp với sinh viên nào. Vô hình chung, nó tạo  ra một kế hoạch  làm việc khá cụ thể cho tương lai.  Như đã nói ở trên, việc xét dự án thông qua các ủy ban ngành (panel). Các ủy ban ngành do NSF chọn ra, thường có từ 10-15 người và thay đổi hàng năm. Một ngành khoa học lớn (như Toán hay Vật Lý) có thể có tới cả chục ủy ban ngành cho các hướng nghiên cứu khác nhau (chẳng hạn có các ủy bang riêng biệt cho đại số, xác suất, hình học). Ủy ban thường họp vào cuối năm, là mùa bận rộn của NSF.  Các thành viên đến trụ sở NSF ở Arlington, một thị trấn ngoại vi thủ đô Washington, họp kín chừng 3 ngày liền. Để bảo đảm tính công bằng, NSF có những nguyên tắc chặt chẽ, chẳng hạn khi thảo luận dự án của giáo sư A, tất cả những thành viên có  liên hệ với A (như người cùng trường, thầy giáo hay học sinh cũ, hay người cùng nghiên cứu trong vòng 4 năm) không được tham gia vào cuộc thảo luận và không được bỏ phiếu. (Đơn giản là họ bị mời ra ngoài hành lang.) Những nhà nghiên cứu trẻ, đang bắt đầu sự nghiệp khoa học, thường có một số ưu thế trong bước xét duyệt. Ngoài ra, còn có những loại dự án chỉ dành cho những người trẻ tuổi, đôi khi dưới dạng một giải thưởng (như NSF Career Arward).  Sự khác biệt giữa Nafosted và NSF  Gần đây, chúng ta có quỹ Nafosted (National Foundation for Science and Technology), với mục đích tương đồng với NSF (Quỹ khoa học quốc gia cúa Mỹ). Đây là một bước tiến quan trọng, rất đáng khích lệ,  trong việc đẩy mạnh phát triển nghiên cứu tại Việt Nam. Dĩ nhiên, do chênh lệch giữa  hai nước, số tiền giành cho mỗi dự án ở Việt Nam (về giá trị tuyệt đối) không thể so với Mỹ. Nhưng nếu tính  tương đối (dựa theo thu nhập trung bình) thì sự trợ giúp của Nafosted rất có giá trị.            Thành công của dự án, đôi khi được  xét trên số bài đăng ở tạp chí ISI. Tiêu chí này hơi khiên cưỡng. Ta nên  lưu ý có nhiều tạp chí ISI tiêu chí cực thấp. Vì vậy chỉ đếm số bài có  thể dẫn đến việc phấn đấu đạt chuẩn một cách hình thức. Một bài báo nếu  đã đăng trong vòng 3-5 năm mà không có ai sử dụng hay trích dẫn, thì dù  đăng ở tạp chí nào, giá trị khoa học của nó cũng rất đáng hồ nghi.           Về cơ bản, hai quỹ hoạt động khá giống nhau. Nhưng ở một số bước có sự khác biệt.  Môt số lần tôi được mời phản biện cho các dự án Nafosted, thì thấy nội dung viết rất sơ sài. Các dự án đều  hết sức ngắn, từ 1 đến 2 trang,  đọc rất khó hiểu, hay đôi khi không có gì để hiểu hay thảo luận cả. Không biết tình hình được cải thiện chưa nhưng không thể biết những  dự án như vậy  sẽ được thông qua hay bác bỏ trên cơ sở gì.  Thành công của dự án, đôi khi được xét trên số bài đăng ở tạp chí ISI. Tiêu chí này hơi khiên cưỡng. Ta nên lưu ý có  nhiều tạp chí ISI tiêu chí cực thấp. Vì vậy chỉ đếm số bài có thể dẫn đến việc phấn đấu đạt chuẩn một cách hình thức. Một bài báo nếu đã đăng trong vòng 3-5 năm mà không có ai sử dụng hay trích dẫn, thì dù đăng ở tạp chí nào, giá trị khoa học của nó cũng rất đáng hồ nghi.   Việc phải hoàn lại (một phần)  tiền trong trường hợp không thành công, có thể  làm người nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ chưa có kinh nghiệm, rất do dự khi nộp dự án, và vô tình tạo ra quyền lực cho những người nghiệm thu dự án. Thông qua dự án là chấp nhận đầu tư vào nhà khoa học, và đầu tư thì ở đâu cũng có thể có rủi ro. Ở NSF, một dự án không thành công đơn giản sẽ làm cho các dự án tiếp theo rất khó được chấp thuận. Đó là một cái giá rất nặng buộc các nhà nghiên cứu phải toàn tâm toàn ý với dự án của mình.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Chuyến thăm Obninsk của Bác Hồ và ngành năng lượng nguyên tử VN      Có những ngành, những lĩnh vực khoa học Việt Nam mà quá trình hình thành gắn liền với các sự kiện quan trọng của đất nước. Năng lượng nguyên tử cũng nằm trong số đó, khi những manh nha đầu tiên cho ngành được gợi ý từ chuyến thăm và làm việc tại Liên Xô từ ngày 12 đến 19/7/1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.      Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng D.I. Blokhintsev (ngoài cùng bên phải), người thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân Obninsk, và E. P Slavsky, Bộ trưởng Bộ Chế tạo máy cỡ trung bình Liên Xô (đội mũ trắng). Nguồn: Rosatom.  Một năm sau Hiệp định Geneve, đoàn đại biểu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã đến thăm đất nước Xô viết. Đây là chuyến đi mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ hai quốc gia như trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với hãng thông tấn Pháp AFP: “Lãnh đạo Việt Nam tin tưởng rằng, với sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô, nhân dân Việt Nam sẽ chữa lành những vết thương chiến tranh và tái thiết cuộc sống hòa bình”.  Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ cấp cao Việt Nam đã tới thăm, tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm tại nhiều nhà máy, viện bảo tàng, trường đại học ở các trung tâm văn hóa, kinh tế và giáo dục của Liên Xô thời đó, như công trình xây dựng Nhà máy thủy điện Angar, Nông trường Dzerzhinsky, Hợp tác xã “Theo con đường của Stalin” ở tỉnh Irkutsk; Bảo tàng Địa chất học, Nhà máy chế tạo máy hạng nặng Ural (Uralmash) tại thành phố Sverdlovsk; trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow, Triển lãm nông nghiệp toàn Liên Xô tại thủ đô Moscow; Nhà máy điện hạt nhân Obsnink tại tỉnh Kaluga… Mỗi công trình đều đem lại nhiều gợi ý về công cuộc “tái thiết cuộc sống hòa bình” cho Việt Nam bởi theo giáo sư GS, TS Demidov Valery Viktorovich (Trường Quản lý Siberia, Học viện Kinh tế quốc dân và Công vụ Nga), ThS. Cao Duy Tiến (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), sau chuyến đi này, đất nước đã tiến hành “khôi phục và xây dựng 25 cơ sở công nghiệp và công ích, trong đó có Nhà máy thiếc ở Cao Bằng, Nhà máy cơ khí ở Hà Nội, Nhà máy cá hộp ở Hải Phòng v.v..” cũng như gửi các đoàn cán bộ, sinh viên đào tạo trong nhiều lĩnh vực tại Liên Xô.  Trong số các điểm đến tại Liên Xô, Obninsk, nhà máy điện hạt nhân nối lưới điện quốc gia đầu tiên trên thế giới, nơi xứng đáng với tên gọi “thành phố khoa học” ở thành phố Obsnink, Kaluga, là một điểm đặc biệt không chỉ với đoàn lãnh đạo Việt Nam mà còn với các đoàn lãnh đạo nhiều chính phủ trên thế giới với những tên tuổi như J. Nehru (Ấn Độ), A. Sukarno (Indonesia), Kim Il Sung (Triều Tiên), Josip Broz Tito (Nam Tư)… cũng như nhiều nhà khoa học lớn đương thời như Juliot Curie, F. Perrin (Pháp), Homi Bhabha (Ấn Độ), G. Seaborg (Mỹ)… Trong “Bài học và di sản của nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới”, L.A. Kotcheikov – nhà vật lý kỹ thuật từng đảm trách nhiều chức vụ tại nhà máy điện hạt nhân Obsnink, trong đó có vị trí kỹ sư trưởng – ước tính trong vòng 20 năm vận hành đầu tiên, nhà máy đã đón tiếp 60.000 vị khách, trong đó có 9.000 khách quốc tế.  Bản thân sự tồn tại của nhà máy điện hạt nhân Obninsk đã là một niềm tự hào của nền khoa học Xô viết và báo hiệu cho sự phát triển của ngành công nghệ hạt nhân Nga sau này. Từ một nơi hẻo lánh với vài chục nóc nhà bằng gỗ kiểu Phần Lan, những phòng thí nghiệm nghiên cứu về vật lý hạt nhân, phát triển các phương pháp phân tách đồng vị phóng xạ, phát triển các thiết bị đo đạc phụ trợ… được thành lập vào những năm 1940 đã đưa nó trở thành một trong những “tiền đồn” của khoa học hạt nhân Liên Xô. Cũng như Dubna, Obsnink quy tụ nhiều tài năng của khoa học Nga và nhiều người đã trưởng thành từ đây dưới sự dẫn dắt của nhà vật lý lý thuyết và thực nghiệm Dimitri Ivanovich Blokhintsev, người được Igor Kurchatov chọn vào đội ngũ các nhà khoa học thực hiện chương trình phát triển khoa học hạt nhân Liên Xô. Thông qua phòng thí nghiệm số V tại Obninsk, nơi thiết kế nhiều loại công nghệ lò phản ứng với chất tản nhiệt là nước nặng, nước nhẹ, beryllium, nghiên cứu uranium tự nhiên, uranium được làm giàu…, Blokhintsev đã trực tiếp thiết kế và xây dựng nhà máy Obninsk, chứng kiến nó đạt tới trạng thái tới hạn đầu tiên vào ngày 6/5/1954 và nối lưới điện vào ngày 27/6/1954. Sau đó, ông trở thành giám đốc đầu tiên của Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna, thành lập vào ngày 26/3/1956 mà trong đó, Việt Nam là một trong số 18 thành viên sáng lập và GS Lê Văn Thiêm là đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Dubna trong thời kỳ đầu.  Tại chuyến đi thăm nhà máy điện hạt nhân Obninsk của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đích thân Blokhintsev và Ephim Pavlovich Slavsky, Bộ trưởng Bộ Chế tạo máy cỡ trung bình Liên Xô (Bộ phụ trách ngành công nghiệp hạt nhân) – một trong những người chỉ đạo chương trình phát triển hạt nhân Xô viết và tạo điều kiện cho Igor Kurchatov thực hiện những nhiệm vụ đầu tiên ở Phòng thí nghiệm số 2 của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, cơ sở để ông thiết kế và lắp đặt máy gia tốc hạt đầu tiên, hoàn thiện và hạ thủy tàu Lenin, tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Liên Xô, và nhiều nhiệm vụ khác… – tháp tùng đoàn và giới thiệu về những tiềm năng to lớn của từ những ý tưởng cơ bản về chuỗi phản ứng uranium và khái niệm lò phản ứng hạt nhân mà Kurchatov và người cộng sự Georgy Flyorov khám phá từ năm 1939. “Hạt nhân không phải là một chiến binh mà là một người thợ”, câu nói của Kurchatov đã được thể hiện rõ nét trong ứng dụng của năng lượng nguyên tử ngay tại nhà máy Obninsk này.  Những ấn tượng từ chuyến thăm Obninsk của Chủ tịch Hồ Chí Minh chắc hẳn đã mở ra những gợi ý về cơ hội phát triển một lĩnh vực mới cho Việt Nam. Cả PGS. TS. Nguyễn Mộng Sinh (nguyên Viện Phó Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt) và TS. Võ Văn Thuận (nguyên Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân) đều nhớ lại, chỉ một năm sau khi Viện Dubna được thành lập, một đoàn cán bộ trẻ Việt Nam gồm ba người là Nguyễn Đình Tứ, Dương Trọng Bái và Nguyễn Hữu Công đã được cử sang Dubna học tập. Tham gia Phòng thí nghiệm Năng lượng cao Veksler và Baldin (VBLHE), ông Nguyễn Đình Tứ đã gặt hái được rất nhiều kiến thức hữu dụng về vật lý hạt nhân thực nghiệm. Kể từ đó, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu vật lý hạt nhân, vật lý lý thuyết Việt Nam như Nguyễn Văn Hiệu, Phạm Duy Hiển, Cao Chi, Võ Thị Hồng Anh, Đào Vọng Đức, Đoàn Nhượng, Ngô Quang Huy, Trần Thanh Minh, Nguyễn Tắc Anh, Nguyễn Mộng Sinh, Võ Văn Thuận, Lê Hồng Khiêm… đã học tập dưới sự hướng dẫn trực tiếp của nhiều nhà khoa học lớn, ví dụ giáo sư Phạm Duy Hiển làm việc tại Phòng thí nghiệm Các phản ứng hạt nhân Flerov (FLNR) và được chính giáo sư Georgy Flyorov – người được đặt tên cho nguyên tố 114 và đặt tên cho phòng thí nghiệm này, dẫn dắt.  Khi về nước, họ đã trở thành những người đặt nền móng và tham gia xây dựng ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam, trong đó GS. TS Nguyễn Đình Tứ là Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đầu tiên và GS. TS Phạm Duy Hiển, Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, là người đóng vai trò quan trọng trong khôi phục và triển khai các nghiên cứu, ứng dụng trên lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt – lò phản ứng được Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá là cơ sở nghiên cứu được khai thác hiệu quả bậc nhất tại các quốc gia đang phát triển. □  —  Tài liệu tham khảo:  1. “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các chính khách Nga giai đoạn 1954 – 1969”. ThS. Lường Thị Lan (Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch). Nguồn: https://bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/8103-chu-tich-ho-chi-minh-voi-cac-chinh-khach-nga-giai-doan-1954-1969.html  2. “Báo chí Nga viết về chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Liên Xô năm 1955”. GS. TS Demidov Valery Viktorovich (Trường Quản lý Siberia, Học viện Kinh tế quốc dân và Công vụ Nga), ThS.  Cao Duy Tiến (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Nguồn:  http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nhan-vat-su-kien/item/1107-bao-chi-nga-viet-ve-chuyen-tham-cua-chu-tich-ho-chi-minh-den-lien-xo-nam-1955.html  3. “Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới”. Nhiều tác giả. Nguồn: http://elib.biblioatom.ru/text/pervaya-atomnaya-elektrostantsiya_2014/  4. “The Soviet Atomic Project: How the Soviet Union Obtained the Atomic Bomb”. Lee G. Pondrom.      Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Chuyển từ song phương, riêng lẻ sang trọng tâm, trọng điểm, mang tầm quốc gia      Cuối tháng 3 đầu tháng 4 vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam có chuyến thăm và làm việc tại nước CH Ấn Độ nhân kỉ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược nhằm cụ thể hóa những chương trình hợp tác giữa hai Chính phủ đã nêu trong tuyên bố chung Việt Nam – Ấn Độ trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng nước Cộng hòa Ấn Độ, TS. Manmohan Singh vào tháng 7 năm 2007.  Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Chu Ngọc Anh, thành viên của đoàn về một số kết quả đã đạt được trong hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước qua chuyến thăm của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.      Xin Thứ trưởng cho biết một cách khái quát về mối quan hệ hợp tác KH&CN giữa hai nước.  Việt Nam và Ấn Độ đã có quan hệ hợp tác về KH&CN từ năm 1978, thông qua hiệp định về hợp tác khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ. Hiệp định này là cơ sở để thành lập Tiểu ban hợp tác KH&CN Việt Nam – Ấn Độ. Đến nay, hai bên đã tiến hành được 8 khóa họp và đã triển khai được 13 dự án nghiên cứu chung thuộc các lĩnh vực công nghệ thông tin, nông nghiệp, chăn nuôi, viễn thám và bảo vệ môi trường… Đặc biệt, Chính phủ Ấn Độ đã viện trợ cho Việt Nam dự án siêu máy tính PARAM do Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam tiếp nhận, quản lý. Thông qua các dự án hợp tác, Ấn Độ giúp Việt Nam đào tạo và nâng cao trình độ cho các nhà khoa học trẻ thuộc các lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm. Ngoài ra, phía Ấn Độ cũng sẵn sàng hỗ trợ xây dựng công viên KH&CN, đầu tư vào các khu công nghệ cao của Việt Nam.  Dự kiến, khóa họp thứ 9 Tiểu ban hợp tác KH&CN Việt Nam – Ấn Độ sẽ được tổ chức vào quý III – 2012 tại Hà Nội để điều chỉnh, thông qua chương trình hợp tác giai đoạn 2012 – 2020, với trọng tâm là tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực vừa là thế mạnh, vừa là truyền thống của hai bên như công nghệ sinh học ứng dụng trong nông nghiệp, dược phẩm và y tế; công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano (đặc biệt là vật liệu nano); công nghệ vũ trụ, công nghệ viễn thám ứng dụng trong dự báo thiên tai, bảo vệ môi trường, công nghệ thông tin (đặc biệt là dịch vụ phát triển và xuất khẩu phần mềm); công nghệ tính toán hiệu năng cao (sử dụng siêu máy tính), công nghệ sản xuất siêu máy tính và một số lĩnh vực nghiên cứu phát triển (R&D) khác như thương mại hóa kết quả nghiên cứu, …   Vậy trong chuyến thăm Ấn Độ vừa qua của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, trên cơ sở phương hướng giữa hai bên, chúng ta đã đạt được những thỏa thuận cụ thể gì về hợp tác KH&CN?  Trong chuyến đi của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ KH&CN Việt Nam và Ấn Độ đã rà soát và có những điều chỉnh nhất định trong định hướng hợp tác chuẩn bị cho khóa họp Tiểu ban hợp tác KH&CN vào quý III năm 2012; đồng thời, đã cùng với phía bạn xác định được một số lĩnh vực trọng tâm trong hợp tác, phục vụ cho lợi ích của cả 2 bên, trên cơ sở là những lĩnh vực có thế mạnh của bạn; đồng thời đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển KH&CN và nền kinh tế của chúng ta. Cụ thể là:  – Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ nano trong sản xuất vật liệu, thiết bị phục vụ trong quốc phòng, y tế, nông nghiệp, công nghệ thông tin – viễn thông, hóa chất… Trong lĩnh vực này hiện Ấn Độ đã có tới gần 500 sản phẩm hàng hóa ứng dụng công nghệ nano, đã sản xuất được loại máy bay có vỏ làm bằng vật liệu nano có thể tránh được sự phát hiện của radar.  – Công nghệ sinh học bao gồm sinh học phân tử, CNSH trong nông nghiệp, CNSH trong y dược, và CNSH phục vụ môi trường. Ngoài CNSH trong nông nghiệp luôn đứng hàng đầu trên thế giới (hiện bạn đang triển khai cuộc cách mạng xanh lần thứ hai), CNSH trong y dược của bạn cũng phát triển rất cao. Với  khoảng 17.000 loại thảo dược quý, các công ty dược của Ấn Độ đã có sản phẩm bán trên thị trường của 125 quốc gia . Ấn Độ đã sản xuất được loại thuốc chống ung thư ruột kết Biocon, doanh số đạt 15 tỷ USD.  – Hải dương học, bao gồm các lĩnh vực cảnh báo động đất và sóng thần, thăm dò địa chấn dưới đại dương,…  Bên cạnh 3 lĩnh vực nêu trên, Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh đến một số lĩnh vực khác như công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ và viễn thám (thiết kế, sử dụng vệ tinh, xây dựng trung tâm viễn thám), đầu tư một số dự án tại các khu công nghệ cao, công nghệ thông tin của Việt Nam và nghiên cứu Ấn Độ học và Việt Nam học tại mỗi nước.          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thăm               Trung tâm nghiên cứu Không gian Ấn Độ            Xin Thứ trưởng cho biết phương thức hợp tác giữa ta và Ấn Độ trong trong thời gian tới?  Về phương thức hợp tác, ta và bạn thống nhất, sẽ chuyển từ phương thức hợp tác song phương giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ mang tính đơn lẻ sang phương thức hợp tác trọng tâm, trọng điểm ở tầm quốc gia. Ví dụ: Về công nghệ nano, trước kia một số cơ quan nghiên cứu của ĐHQG TP. Hồ Chí Minh và Viện KH&CN Việt Nam đã có những hợp tác song phương với một số viện nghiên cứu của Ấn Độ. Trong chuyến thăm lần này, Phó Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ KH&CN – cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN, sẽ đóng vai trò thúc đây và hỗ trợ hợp tác; Viện KH&CN Việt Nam và 02 Đại học Quốc gia –  03 đơn vị chủ lực của quốc gia trong lĩnh vực công nghệ nano, sẽ là cơ quan trực tiếp tìm kiếm đối tác mạnh, vấn đề chúng ta quan tâm để triển khai. Cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2012, theo chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Quân, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Viện KH&CN Việt Nam, Viện vật liệu nano của Nhật Bản và một số tổ chức quốc tế khác tổ chức một hội nghị quốc tế về nano. Qua đó, chúng ta sẽ xác định được các hướng ưu tiên và phương thức hợp tác cụ thể giữa ta và Ấn Độ.  Trong 3 lĩnh vực trọng tâm hợp tác giữa hai nước, theo tôi, lĩnh vực cấp thiết nhất đối với chúng ta chính là lĩnh vực CNSH trong nông nghiệp – một trong những yếu tố quyết định trong tái cơ cấu nền sản xuất nông nghiệp nước ta.   Đúng vậy. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng đã chỉ đạo trong hợp tác về CNSH ưu tiên hàng đầu là CNSH trong nông nghiệp. Chính vì thế, trong chuyến thăm này, Thứ trưởng Bộ NN&PTNN Bùi Bá Bổng đã có buổi làm việc song phương với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ấn Độ về hợp tác trong khai thác, phát triển các nguồn gen bản địa, cây trồng chuyển gen, các giống lúa chịu mặn; nghiên cứu về đánh giá tổn thất sau thu hoạch; sử dụng hệ thống GIS trong quản lý đất đai, nguồn nước và giám sát biến đổi khí hậu, … Ngược lại Ấn Độ cũng đề nghị ta giúp bạn kinh nghiệm nuôi cá tra, cá basa và tôm thương phẩm. Sắp tới, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ấn Độ sẽ sang Việt Nam cụ thể hóa lĩnh vực hợp tác này với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.   Cảm nghĩ của Thứ trưởng trong tiếp xúc, làm việc với bạn qua chuyến đi thăm này?  Tôi đã đi Ấn Độ lần đầu tiên vào khoảng năm 1995 và sau hơn 15 năm có điều kiện thăm lại tôi nhận thấy bạn đã tiến rất xa về KH&CN, đã trở thành một cường quốc KH&CN trong một số lĩnh vực. Trong suy nghĩ của tôi, để đạt được những thành tựu như vậy hẳn các viện, trường, trung tâm nghiên cứu của bạn phải có một cơ sở vật chất hiện đại. Nhưng thực tế, khi đến thăm một số cơ sở nghiên cứu hàng đầu của bạn như Trung tâm Khoa học sự sống tôi có cảm nhận cơ sở hạ tầng và các điều kiện cho nghiên cứu của họ so với một số cơ sở nghiên cứu của ta cũng không hơn, phải chăng những thành tựu họ đạt được có phần đóng góp rất lớn từ những nhân tố khác. Đó là điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên và không khỏi liên tưởng đến những việc cần phải làm để KH&CN nước nhà có thể thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế, xã hội.   Bạn đã thể hiện một thiện chí rất cao trong hợp tác. Điều này thể hiện ở quá trình trao đổi không chỉ trong khuôn khổ những nội dung hai bên đã chuẩn bị trước mà còn đề xuất thêm những vấn đề thấy cần hợp tác vì lợi ích của hai bên. Chính vì vậy, riêng lĩnh vực hợp tác KH&CN đã đạt được kết quả cao hơn so với dự kiến trước chuyến đi.   Theo Thứ trưởng chúng ta cần phải làm gì để những cơ hội hợp tác thuận lợi đó trở thành hiện thực?  Cốt lõi nhất là trong từng dự án cụ thể, chúng ta cần tìm được những tổ chức và con người có đủ năng lực và phẩm chất để làm đối tác với bạn. Tiếp đó là với mỗi dự án lớn cần có một số cơ chế, chính sách đặc thù, nhất là cơ chế tài chính để bảo đảm bố trí được nguồn lực thích hợp cho quá trình triển khai thực hiện.   Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN. Khi Đề án được phê duyệt sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để thực hiện hiệu quả chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ nói riêng và phát triển KH&CN Việt Nam nói chung.   Xin cảm ơn Thứ trưởng!   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang CimaVax: Không chỉ là chuyện nghiên cứu vaccine      Ý chí của những nhà hoạch định chính sách và nỗ lực của các nhà nghiên cứu đã đưa Cuba trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tìm ra CimaVax – vaccine ung thư phổi không tế bào nhỏ. Không chỉ là loại chế phẩm có khả năng giúp ngăn chặn căn bệnh hiểm nghèo là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tử vong cao thứ 4 Cuba, CimaVax còn đem đến cơ hội có thêm nguồn thu mới cho nền kinh tế Cuba.      Một nhà nghiên cứu Trung tâm Miễn dịch học phân tử Cuba. Ảnh: The Cuban Handshake.  Trong buổi làm việc với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tại thủ đô Havana vào cuối tháng 3/2018, TS. Angelina Díaz García, giám đốc Trung tâm Công nghệ ứng dụng và phát triển hạt nhân (Ủy ban Năng lượng hạt nhân và công nghệ tiên tiến Cuba), đã cho biết: “Cuba bị cấm vận nên nhiều thứ [chúng tôi] tự phải làm. Tuy tự lực nhưng chủ trương của Nhà nước Cuba là phải làm ra những sản phẩm có chất lượng cao và đạt tầm quốc tế”. Câu nói của bà Angelina Díaz García đã gói gọn bí quyết thành công của khoa học Cuba nói chung và lĩnh vực nghiên cứu phát triển vaccine nói riêng – nơi Cuba có những sản phẩm thật sự đạt tầm quốc tế như CimaVax, loại vaccine được USAToday ca ngợi là “đột phá” hay đồng nghiệp tại Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park (Mỹ) nhận xét “độc tính thấp, chi phí sản xuất và bảo quản thấp”.  Câu chuyện về vaccine CimaVax bắt đầu từ công trình “Vaccine ung thư trên cơ sở yếu tố tăng trưởng biểu bì để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ” (Epidermal growth factor-based cancer vaccine for non-small-cell lung cancer therapy) xuất bản trên tạp chí Annals of Oncology vào tháng 3/2003 của các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Miễn dịch học phân tử tại Havana, Cuba. Thông tin này ngay lập tức “gây sốc” bởi người ta khó tin vào việc một trung tâm nghiên cứu của một quốc gia bị Mỹ cấm vận từ năm 1960 và mới được thành lập năm 1994 lại trở thành kẻ tiên phong về vaccine ung thư phổi – dạng ung thư thường gặp và gây tử vong thứ hai thế giới chỉ sau bệnh tim mạch. Việc tìm hiểu về ung thư phổi ẩn chứa thách thức bởi bản thân cơ chế hình thành và tiến triển của bệnh ung thư phổi rất phức tạp, liên quan đến nhiều dạng đột biến di truyền, mỗi loại đột biến lại có quá trình diễn biến bệnh rất khác nhau.  Nghiên cứu và phát triển vaccine theo tiêu chuẩn quốc tế  Bài báo của nhóm tác giả ở Trung tâm Miễn dịch học phân tử Cuba đã mô tả việc họ dùng loại vaccine trên cơ sở các yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF) để tăng cường hệ miễn dịch, ngăn chặn các khối u phát triển và điều trị thử nghiệm trên 40 bệnh nhân. Tuy lường trước sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn thiện và phát triển vaccine nhưng TS. Gisela González, người theo đuổi dự án từ năm 1992, không thiếu quyết tâm. Bà và các đồng nghiệp của mình, trong đó có TS. Tania Crombet Ramos – người sau này sẽ trở thành giám đốc Trung tâm, đã nỗ lực làm tất cả để thực hiện ước mơ của mình.  Một trong những thuận lợi ít ỏi mà họ có là sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo. Dù được thành lập vào giữa thời kỳ “đen tối” của đất nước nhưng Trung tâm Miễn dịch học phân tử là một phần quan trọng trong chiến lược đầu tư vào KH&CN của Chính phủ Cuba – chiến lược đưa ngành công nghệ sinh học đạt tầm thế giới với khoản đầu tư được cho là tốt nhất có thể.  Nhưng bản thân lợi thế này cũng chưa đủ sức lý giải thành công của các nhà nghiên cứu Cuba bởi ít ai bên ngoài Cuba biết được trên thực tế họ đã phải vật lộn với những khó khăn như thế nào trong quá trình nghiên cứu sản phẩm. Theo một số công trình nghiên cứu của họ được xuất bản trên các tạp chí quốc tế thì tính từ năm 1995 đến năm 2009, họ đã thực hiện tới 5 pha dự án để tối ưu loại vaccine này.        “Cuba bị cấm vận nên nhiều thứ [chúng tôi] tự phải làm. Tuy tự lực nhưng chủ trương của Nhà nước Cuba là phải làm ra những sản phẩm có chất lượng cao và đạt tầm quốc tế”. (TS. Angelina Díaz García, giám đốc Trung tâm Công nghệ ứng dụng và phát triển hạt nhân).      Từ góc độ của người có kinh nghiệm hợp tác kinh doanh vaccine với Cuba trong 10 năm qua, anh Đỗ Tiến Đạt – giám đốc Công ty Vaccine và sinh phẩm số 1 (Vabiotech), cho rằng, không riêng gì CimaVax mà với các loại vaccine khác, Cuba “làm nghiên cứu rất bài bản, họ cũng tự lực trong đánh giá các công nghệ, đánh giá đặc tính sản phẩm”. Theo anh, nguyên nhân sâu xa là “họ buộc phải tự chủ và bản thân các nhà khoa học của họ cũng phải cố gắng để có được một sản phẩm tốt phục vụ cho chính người dân”.  Trên The Guardian, TS. Gisela González khẳng định, các vaccine Cuba xuất khẩu đều được sản xuất trong nước.  Có một sự thật là Cuba chưa từng chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine cho đối tác nào và họ chỉ xuất khẩu vaccine thương mại ra một số thị trường quốc tế nên ít ai nắm được tường tận công nghệ của họ. Tuy nhiên với cái nhìn tỉ mỉ và tinh tế của một người từng làm nghiên cứu về vaccine trước khi đảm nhiệm công việc quản lý, anh Đỗ Tiến Đạt phân tích, việc thực hiện nghiên cứu một cách bài bản của Cuba được thể hiện ở hai yếu tố: 1. Nghiên cứu cơ bản tốt vì “muốn thử nghiệm cái gì thì cũng phải chắc chắn về mặt công nghệ” và họ xem xét rất kỹ bản chất dịch tễ học của bệnh tật nên “sản phẩm của họ có chất lượng và có nội hàm khoa học rất cao”; 2. Ý thức phải làm ra sản phẩm tốt nên họ vừa nghiên cứu cơ bản tốt để có bài báo, vừa có phát minh, sáng chế đi kèm. Ví dụ từ bài báo đầu tiên năm 2003, chỉ 6 năm sau, họ đã có trong tay 18 bài báo trên các tạp chí có hệ số IF cao và 4 phát minh cùng nhiều bằng độc quyền sáng chế ở Cuba và nhiều quốc gia khác.  Khi so sánh nỗ lực của Cuba với các nhà sản xuất hàng đầu thế giới trong việc tìm ra vaccine ung thư phổi, anh Đỗ Tiến Đạt cũng nêu thêm nhận xét, tuy không bì được về kinh phí đầu tư so với các nhà sản xuất nhưng thuận lợi cơ bản của Cuba là có những cơ chế thuận lợi hơn để tiến hành thử nghiệm trên người- bước quan trọng trong phát triển và sản xuất vaccine, trong khi tại các quốc gia phát triển, bước này có những quy định ngặt nghèo và tốn kém. Anh cho rằng, bản chất của vấn đề là “họ phục vụ lợi ích của người dân, họ lại là những người làm nghiên cứu cơ bản rất giỏi nên họ kiểm soát được quá trình đó rất tốt”.  Do đó, theo nhìn nhận của anh, “Cuba là điển hình gần như duy nhất trên thế giới về tự lực trong nghiên cứu và sản xuất vaccine”.  Chiến lược thúc đẩy của chính phủ  Trong bài báo “Cuba lần đầu cho phép sử dụng vaccine điều trị ung thư phổi” trên The Guardian năm 2008, TS. Gisela González giới thiệu, sản phẩm này đã được điều trị thử nghiệm tại Canada và Anh. Bà dự đoán nó sẽ được thử nghiệm ở Mỹ trong vài năm tới. Trên thực tế, phải tới năm 2015, sau nới lỏng lệnh cấm vận của Tổng thống Mỹ Obama, công việc đó mới được thúc đẩy: tháng 10/2015, được sự chấp thuận của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA), Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park bắt đầu thử nghiệm lâm sàng CimaVax trên người bệnh Mỹ.    CimaVax là vaccine ung thư phổi đầu tiên trên thế giới. Ảnh: The Cuban Handshake.  Vậy điều gì thuyết phục các quốc gia phát triển như Canada hay Anh đưa CimaVax vào thử nghiệm lâm sàng trước khi Cơ quan quản lý Dược và thiết bị y tế Cuba cho phép sử dụng vaccine rộng rãi? Câu trả lời là trong quá trình nghiên cứu, Trung tâm Miễn dịch học phân tử đã tư vấn cho Cơ quan quản lý Dược Cuba thiết kế một chiến lược mang tính toàn cầu, bắt đầu từ việc xây dựng các hệ thống quản lý chất lượng, thông số kỹ thuật đi kèm đến việc chuẩn hóa các bước phát triển và sản xuất sản phẩm đạt yêu cầu về năng lực sản xuất thuốc tốt (GMP), thực hành lâm sàng tốt (GCP)– những tiêu chuẩn hết sức chặt chẽ của WHO về chất lượng sản phẩm. Rút cục, quy trình từ phòng thí nghiệm đến sản xuất trên quy mô công nghiệp này đã được Cuba xây dựng một cách tỉ mỉ với mục tiêu sẽ áp dụng trong phát triển các sản phẩm tương tự.  Hơn thế, tầm nhìn xa trông rộng đã đem lại cho Cuba “vũ khí” lợi hại khác, đó là việc được Tổ chức Y tế thế giới WHO công nhận đạt tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý vaccine quốc gia (NRA). Ông Rafael Pérez Cristiá, giám đốc Cơ quan quản lý Dược và thiết bị y tế Cuba trong một cuộc phỏng vấn trên Focus năm 2016 đã cho biết, WHO cấp phép tiêu chuẩn NRA cho Cuba ngay từ năm 2000 (để so sánh, có thể thấy mãi đến năm 2015, Việt Nam mới được WHO trao tiêu chuẩn NRA, chậm hơn Cuba 15 năm).  Nhờ hội tụ đủ những kinh nghiệm quản lý đến những nghiên cứu, thử nghiệm đã được chứng thực, vaccine của Cuba mới được quốc tế chấp nhận thử nghiệm lâm sàng. Việc chấp thuận cho các đối tác nước ngoài khác tham gia cùng cũng là một bước nhảy về tư duy phát triển của Cuba: 1. Bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ thông qua các bằng sáng chế được quốc tế công nhận; 2. Diện thử nghiệm được mở rộng ở nhiều quốc gia khác mà không phải mất thêm kinh phí; 3. Hoạt động hợp tác này cho phép họ có cơ hội trao đổi thường xuyên với những chuyên gia quốc tế nhằm tăng thêm hiểu biết, kinh nghiệm, đặc biệt là kinh nghiệm về quản lý vaccine.  ***  Khi được hỏi, điều gì rút ra được sau 10 năm hợp tác kinh doanh vaccine với Cuba, anh Đỗ Tuấn Đạt cho biết, đó là kinh nghiệm về việc tự chủ, tự quyết về công nghệ đi kèm với tầm nhìn của nhà quản lý về vai trò của vaccine.  Vai trò của vaccine ở đây không chỉ nằm ở ý nghĩa góp phần phòng chống và chữa trị bệnh tật mà còn là sự đóng góp vào nền kinh tế. Ngay từ năm 2008, TS. Tania Crombet đã dự báo vào khả năng “cung cấp vaccine cho bất cứ bệnh nhân nào bởi nhiều người khác cũng muốn được điều trị tại Cuba. Nếu được Cơ quan quản lý dược và thiết bị y tế chấp nhận, chúng tôi sẵn sàng đón nhận bệnh nhân quốc tế”. TS. Danay Saavedra, một thành viên của Trung tâm cũng nhận xét, “phát triển vaccine là chính sách của Chính phủ Cuba để góp phần bảo vệ sức khỏe người dân cũng như phát triển nền kinh tế”.  Nếu mọi chuyện thuận lợi thì cơ hội xuất khẩu vaccine và một số dược phẩm khác của Cuba vào thị trường Mỹ, và có thể là châu Âu, sẽ rộng mở. TS. Gisela González ước lượng, thị trường vaccine ung thư sẽ đạt tới quy mô hàng tỉ USD. Hiện tại, người ta mới biết đến nền công nghiệp y tế của Singapore nhưng trong tương lai, khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ, có khả năng sẽ thêm Cuba. Do đó, vaccine có thể là một nguồn thu quan trọng của nền kinh tế Cuba, sau xì gà và đường.  Một trong những cách thức thúc đẩy công nghệ sinh học, y tế phát triển của Cuba là đầu tư nâng cấp các tạp chí chuyên ngành trong nước thành tạp chí quốc tế. Trong tổng số 24 tạp chí Cuba được hệ thống Scimago xếp hạng có 22 tạp chí thuộc các lĩnh vực này (hai tạp chí còn lại là toán học và vật lý lý thuyết). Tuy phần lớn các tạp chí này chỉ xếp hạng Q4 nhưng việc một quốc gia cấm vận có tới 24 tạp chí quốc tế được Scimago công nhận cũng là một niềm tự hào.  —-  Tham khảo:  http://scielo.sld.cu/scielo.php?script=sci_arttext&pid=S1027-28522009000400009  https://www.wired.com/2015/05/cimavax-roswell-park-cancer-institute/  https://www.raps.org/regulatory-focus%E2%84%A2/news-articles/2016/9/destination-cuba-regulator-prepares-for-influx-of-novel-us-pharmaceuticals  http://www.scimagojr.com/journalrank.php?country=CU       Author                Anh Vũ        
__label__tiasang CNEST: Phép thử quan trọng trong chương trình ĐHN của Việt Nam      Để phát triển tiềm lực khoa học kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và Tập đoàn ROSATOM (Nga) hiện đang nghiên cứu xây dựng Trung tâm Khoa học và công nghệ hạt nhân (CNEST), một bước đi quan trọng hỗ trợ cho chương trình điện hạt nhân của quốc gia.       Việc xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân (Center for Nuclear Energy Science and Technology — CNEST) được phía Nga đề xuất từ tháng 12/2009 và được Việt Nam nhất trí, cụ thể hóa thành Hiệp định Liên chính phủ được hai nước ký kết vào tháng 11/2011. Theo đó, CNEST sẽ được xây dựng với tổng giá trị đầu tư khoảng 500 triệu USD do Nga cho vay với lãi suất ưu đãi, nhằm giải quyết vấn đề nhân lực cho ngành hạt nhân, đồng thời là nền tảng để hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, công nghệ nhằm bảo đảm an toàn cho vận hành kinh tế và hiệu quả các nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam. Việc hình thành và phát triển CNEST cũng giúp tăng cường hợp tác, phối hợp nghiên cứu giữa các trường, viện nghiên cứu, và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, đào tạo, nhất là trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử, và các ngành liên quan đến điện hạt nhân, đồng thời giúp mang lại những giá trị kinh tế – xã hội, như lợi ích kinh tế từ hoạt động sản xuất đồng vị phóng xạ. Đặc biệt thành công của CNEST là rất cần thiết để tăng cường sự tin tưởng của công chúng và cộng đồng quốc tế về việc Việt Nam có thể thực hiện thành công, đảm bảo an toàn và khai thác hiệu quả chương trình điện hạt nhân.     Phương án cơ cấu và hoạt động  Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (Viện NLNTVN) đã phối hợp cùng các nhà khoa học của ROSATOM nghiên cứu xây dựng phương án cơ cấu của CNEST – đã được Thủ tướng Chính phủ nhất trí – gồm hai cơ sở, một ở Đà Lạt, một tại Hà Nội. Cơ sở tại Đà Lạt sẽ là một trung tâm nghiên cứu hạt nhân mới, hiện đại tập trung tại một địa điểm, bao gồm lò nghiên cứu công suất khoảng 10-20 MWt, cùng các phòng thí nghiệm và thiết bị liên quan đến nghiên cứu, ứng dụng từ việc khai thác lò nghiên cứu này. Chức năng của cơ sở này là nghiên cứu, ứng dụng trong các lĩnh vực công nghệ neutron, khoa học vật liệu, đồng vị phóng xạ, ứng dụng bức xạ trong y tế, nông nghiệp, cũng như các lĩnh vực hỗ trợ điện hạt nhân như vật lý lò, xử lý chất thải phóng xạ, điều khiển và đo lường, bảo vệ phóng xạ và môi trường, dịch vụ kỹ thuật.         Thành công của CNEST là rất cần thiết để tăng cường sự tin tưởng của công chúng và cộng đồng quốc tế về năng lực khoa học công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân của Việt Nam.              ———————–              Sau khi CNEST được xây dựng và đi vào hoạt động, các tổ hợp nghiên cứu trong nước sẽ phối hợp với CNEST triển khai nghiên cứu, đào tạo nhân lực, tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh trực tiếp hỗ trợ cho chương trình điện hạt nhân.        Cơ sở thứ hai nằm ở Hà Nội có thể được đặt tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, hoặc tại một vài cơ sở nghiên cứu hiện có của Viện NLNTVN ở Hà Nội hiện đang thực hiện một số hướng nghiên cứu mới. Chức năng, nhiệm vụ của cơ sở tại Hà Nội là hỗ trợ chương trình điện hạt nhân trong các lĩnh vực: Công nghệ và an toàn điện hạt nhân (trong các lĩnh vực cơ, thủy nhiệt, phân tích an toàn), khoa học vật liệu, công nghệ hóa học, công nghệ chiếu xạ và hạt nhân, bảo vệ bức xạ và quan trắc môi trường, quản lý chất thải phóng xạ, đào tạo nhân lực (thiết bị mô phỏng), dịch vụ hạt nhân (như dịch vụ kiểm tra không phá hủy), trung tâm tính toán mô phỏng, cũng như khoa học cơ bản (vật lý hạt nhân).  Sau khi CNEST được xây dựng và đi vào hoạt động, các tổ hợp nghiên cứu trong nước sẽ phối hợp với CNEST triển khai nghiên cứu, đào tạo nhân lực, tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh trực tiếp hỗ trợ cho chương trình điện hạt nhân. Bộ KH&CN (Viện NLNTVN) đang xây dựng một chương trình dài hạn, mời các giáo sư, các nhà khoa học hàng đầu trong ngành hạt nhân đến Đà Lạt cộng tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo, trong đó sẽ có các giáo sư, các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực hạt nhân của Nga, Mỹ, Nhật Bản, châu Âu và các nước khác.   Như vậy, khi lò nghiên cứu mới đi vào hoạt động, lò nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt hiện nay sẽ được chuyển đổi mục đích, hợp tác với các trường đại học, trở thành cơ sở đào tạo là chính – cũng trong khuôn khổ dự định này, Đại học Đà Lạt sẽ xây dựng một khoa công nghệ điện hạt nhân có uy tín, có tính quốc tế hóa cao, sử dụng tiếng Anh trong đào tạo chuyên gia, đội ngũ cán bộ.                    Thách thức trong vấn đề chuẩn bị nhân lực   Ngoài những thách thức cơ bản như thiết kế, xây dựng đảm bảo tính an toàn, hiệu quả của lò hạt nhân nghiên cứu mới cùng các thiết bị khác của CNEST, giải đáp thỏa đáng các lo ngại về tính an toàn nhằm xây dựng lòng tin của công chúng, một khó khăn không nhỏ khác trong quá trình xây dựng, phát triển CNEST chính là vấn đề đào tạo cán bộ, chuẩn bị nguồn nhân lực.   Hiện nay, một số giải pháp chuẩn bị nhân lực được cân nhắc cho cơ sở của CNEST ở Đà Lạt – có tổng nhu cầu nhân lực đến năm 2020 khoảng 400 người – theo đó sẽ cho phép Viện Nghiên cứu hạt nhân (Viện NCHN) Đà Lạt và các các đơn vị khác trong Viện NLNTVN tiếp nhận thêm người trong các lĩnh vực truyền thống hiện nay và các lĩnh vực sẽ ưu tiên cho CNEST, đồng thời gửi các sinh viên đi học nước ngoài từ trình độ đại học theo các chuyên ngành không thể đào tạo trong nước như chiếu xạ vật liệu, nghiên cứu cấu trúc vật liệu, sản xuất nguồn phóng xạ kín, vật lý chất rắn, chiếu xạ pha tạp silic, … với điều kiện cam kết vào Đà Lạt công tác sau khi tốt nghiệp. Viện Nghiên cứu lò hạt nhân NIIAR tại Dimitrovgrad sẽ hợp tác với Viện NLNTVN trong nhiệm vụ đào tạo này. Các giải pháp này sẽ giúp CNEST đến năm 2020 có 350 người. Bên cạnh đó, một số phòng thí nghiệm của Viện NCHN Đà Lạt có thể chuyển cả thiết bị và nhân lực (dây chuyền sản xuất đồng vị phóng xạ, phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân, điện tử hạt nhân, …) sang CNEST, đưa tổng số nhân lực lên khoảng 400 người, đáp ứng nhu cầu đề ra.        Tầm quan trọng của Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt                 Có vai trò là thành phần chính của CNEST, Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt sẽ gồm bốn tổ hợp chính, trong đó quan trọng nhất là Tổ hợp Lò phản ứng nghiên cứu mới và trang thiết bị liên quan, gồm lò phản ứng nghiên cứu có công suất nhiệt dự kiến là 15 MWt, các phòng thí nghiệm để nghiên cứu vật lý và kỹ thuật lò phản ứng nghiên cứu, an toàn hạt nhân, kỹ thuật thực nghiệm, công nghệ neutron gồm: pha tạp vật liệu, chiếu xạ đá quý (gemstone coloration), xạ trị bằng kỹ thuật bắt nơtron của đồng vị 10B,… và đào tạo nhân lực với thiết bị mô phỏng lò phản ứng nghiên cứu.               Bên cạnh đó, Tổ hợp Khoa học vật liệu (chiếu xạ) nghiên cứu vật liệu chiếu xạ, với các phòng thí nghiệm nghiên cứu không phá hủy mẫu (NDT), phân tích cấu trúc, nghiên cứu các tính chất vật lý, thử cơ học, … trên các vật liệu chiếu xạ. Tổ hợp Sản xuất đồng vị phóng xạ (ĐVPX) gồm các phòng thí nghiệm và các dây chuyền sản xuất đồng vị phóng xạ hở, sản xuất các nguồn phóng xạ kín, và sản xuất các dược chất phóng xạ. Tổ hợp Kỹ thuật và công nghệ, gồm các phòng thí nghiệm và các dây chuyền quản lý và xử lý thải phóng xạ, an toàn bức xạ và quan trắc môi trường, phục vụ kỹ thuật, xưởng cơ điện, đào tạo nhân lực, …              Điểm thuận lợi cơ bản cho hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân tại Đà Lạt là sự hỗ trợ trực tiếp từ Viện NCHN Đà Lạt, nơi có lò phản ứng công suất 500 kWt với đủ nhiên liệu để vận hành đến khoảng năm 2030, phục vụ lý tưởng cho công tác nghiên cứu và đào tạo. Lâu nay Viện NCHN Đà Lạt vẫn duy trì hoạt động các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu và dịch vụ phân tích, sản xuất đồng vị phóng xạ, nghiên cứu vật lý hạt nhân, an toàn bức xạ, xử lý thải phóng xạ, quan trắc môi trường, v.v. (ngoại trừ một số lĩnh vực chưa có hoặc còn hạn chế như nghiên cứu vật liệu chiếu xạ, nghiên cứu cấu trúc vật liệu, sản xuất nguồn phóng xạ kín, chiếu xạ pha tạp silic), có thể xem là “mô hình thu nhỏ” của Trung tâm KH&CN hạt nhân trong tương lai.          Đối với các tổ hợp cơ sở của CNEST tại phía Bắc – đến năm 2020 Tổ hợp Nghiên cứu an toàn điện hạt nhân cần tổng cộng 70 người còn Tổ hợp Nghiên cứu khoa học vật liệu cần khoảng 190 người – Việt Nam cũng sẽ phải khẩn trương thực hiện một số biện pháp cấp bách. Viện NLNTVN sẽ mời chuyên gia Nga sang làm việc, tham gia đào tạo cán bộ cùng các nhóm nghiên cứu liên quan đến hai cơ sở sẽ được xây dựng tại Hà Nội. Những sinh viên đang học các ngành liên quan tại Liên bang Nga cần sớm được gửi sang học tập và tham gia công việc thực tế tại các cơ sở nghiên cứu của Nga là Viện Thiết kế hạt nhân GIDROPRESS, Viện Đo lường, điều khiển tự động VNIIAES  hay Viện Khoa học vật liệu, luyện kim SNIITMASH khi các chuyên gia của các viện nghiên cứu thiết kế này thực hiện nhiệm vụ thiết kế, xây dựng các thành phần thiết bị cho CNEST. Những kỹ sư trẻ mới tốt nghiệp loại giỏi, có ngoại ngữ tốt từ các trường đại học Việt Nam sẽ được gửi đi đào tạo thạc sỹ (và sau đó là tiến sỹ nếu có khả năng) tại Mỹ, châu Âu  và Nhật Bản). Để hiện thực hóa nhiệm vụ này, Chính phủ cần có một chương trình học bổng đặc biệt để thu hút cán bộ khoa học trẻ, tài năng.  —-  * Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam        Bốn nhiệm vụ chính của CNEST:                 1) Hỗ trợ trong việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật, công nghệ và đào tạo nhân lực cho các dự án điện hạt nhân của Việt Nam; 2) Xây dựng tiềm lực trong nước để có thể tiến hành thiết kế, tiếp thu công nghệ lò phản ứng và các thiết bị của nhà máy điện hạt nhân cũng như tiếp thu công nghệ chế tạo nhiên liệu hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ; 3) Nghiên cứu, thí nghiệm các quá trình vật lý trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử góp phần khai thác an toàn và hiệu quả các nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam; 4) Tiến hành các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng ở trình độ kỹ thuật hiện đại phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam.          Định hướng hoạt động chuyên môn của CNEST               hỗ trợ phát triển điện hạt nhân                 (1)  Công nghệ nhà máy điện hạt nhân, ổn định và phân tích rủi ro;               (2)  Vật lý hạt nhân, vật lý neutron, vật lý lò;               (3)  Nhiên liệu hạt nhân và vật liệu, vật liệu chiếu xạ;               (4)  Hóa phóng xạ và các sản phẩm phân hạch;               (5)  Cơ, thủy nhiệt và phân tích, đánh giá an toàn;               (6)  Cơ học, cấu trúc và hóa học liên quan đến chất tải nhiệt;               (7)  Điều khiển, đo lường và sự ổn định của chương trình máy tính;               (8)  Dự báo liên quan đến các trạng thái nhà máy điện hạt nhân;               (9)  Sự cố nặng và kế hoạch tình trạng khẩn cấp;               (10) Yếu tố rủi ro bên ngoài (động đất, lũ lụt, nguy cơ cháy nổ v.v.);               (11) An toàn bức xạ, quan trắc, bảo vệ môi trường;               (12) Các yếu tố con người, thiết bị mô phỏng và đào tạo;              (13) Xử lý, vận chuyển và lưu giữ chất thải phóng xạ;               (14) Khoa học sức khỏe, sinh học phóng xạ và sinh thái học phóng xạ;               (15) Phân tích về hệ thống hạt nhân (kinh tế, an ninh, rủi ro).               Mặc dù trong giai đoạn đầu Việt Nam chưa thể xây dựng được năng lực khoa học cần thiết cho tất cả các hướng trên đây, nhưng sẽ dần dần xây dựng năng lực của từng ngành khi có điều kiện.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế mới để thúc đẩy khoa học Nga phát triển      Tại phiên điều trần trước quốc hội Nga, Viện sĩ Grigory Trubnikov, giám đốc Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (JINR) nêu một số sáng kiến, bao gồm các gói hỗ trợ và phát triển các trung tâm khoa học quốc tế ở Nga, đồng thời giới thiệu “hộ chiếu khoa học” để đơn giản hóa việc xuất nhập cảnh vào Nga, cũng như cơ chế quản lý trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu khám phá.      Mới đây, Viện sĩ Grigory Trubnikov, giám đốc Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (JINR) đã tham gia phiên điều trần trước quốc hội với chủ đề “Tiềm lực về nhân sự khoa học của đất nước: hiện trạng, xu hướng phát triển và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng”. Ông Valentina Matvienko, Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga, chủ trì. Viện sĩ Grigory Trubnikov đã trình bày trước các thượng nghị sĩ một số sáng kiến, bao gồm các gói hỗ trợ và phát triển các trung tâm khoa học quốc tế ở Nga, đồng thời giới thiệu “hộ chiếu nhà khoa học” để đơn giản hóa việc xuất nhập cảnh vào Nga, cũng như cơ chế quản lý trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu khám phá.  Trong bài phát biểu của mình, Viện sĩ Grigory Trubnikov đã ghi nhận vai trò cốt lõi của các dự án khoa học quốc tế ở Dubna, Gatchina, Protvino, Sarov, Hồ Baikal, Đảo Russky, và những dự án khác đối với sự phát triển đất nước. Ông lưu ý “Nhờ có Viện JINR, khoa học của nước Nga đã phát triển vươn ra khắp năm châu. Trong khuôn khổ sự hợp tác giữa Nga với các nước thành viên, cùng với các quốc gia khác như Đức, Trung Quốc, Pháp,… việc xây dựng tổ hợp máy gia tốc để có thể nghiên cứu về các đặc tính của vật chất baryon đậm đặc NICA (Nuclotron-based Ion Collider fAсility) trên quy mô toàn cầu đang được hoàn thành. Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm quốc tế trên quy mô lớn đã được tiến hành tại các cơ sở đang hoạt động như: Cơ sở nguyên tố siêu nặng, lò xung nhanh, tổ hợp tính toán siêu hội tụ. Mô hình trung tâm khoa học liên chính phủ đã chứng minh tính hiệu quả to lớn của nó, và đó là lý do chúng tôi sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và cơ hội hợp tác nhằm phát triển các trung tâm quốc tế tại Nga, đồng thời nâng cao trình độ nhân lực cho các cơ sở này. Với chúng tôi, nhân viên là yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công của dự án”.  Ngoài ra, Viện sĩ Grigory Trubnikov cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận có hệ thống trong hợp tác quốc tế và phát triển ngoại giao khoa học để đạt được các mục tiêu chiến lược mà ban lãnh đạo khoa học và công nghệ đã đặt ra. Cơ sở cho cách tiếp cận như vậy đã được đề cập trong “Khái niệm Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN”.  Giám đốc JINR cũng cho rằng: “Việc đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học Nga và những cộng sự đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong mỗi dự án. Cần tạo ra cơ sở pháp lý hiện đại cho hoạt động của các trung tâm nghiên cứu quốc tế ở Nga, đồng thời đưa ra “hộ chiếu khoa học” nhằm đơn giản hóa thủ tục nhập cảnh cho các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia khác. Chúng ta không thể sớm hoàn thành những nhiệm vụ đột phá sáng tạo nếu không tạo điều kiện cho việc di cư “thông minh” thông qua “hành lang xanh”, mà trước hết, cần dành ưu tiên đặc biệt cho các đối tác có kinh nghiệm làm việc tại các trung tâm khoa học hàng đầu và các nhà nghiên cứu đã lựa chọn Nga làm điểm đến để thực hiện những dự án tham vọng, cùng với các dự án được ưu tiên trong Chiến lược Phát triển KH&CN”.  Các hoạt động khoa học cần phải được đặt ở vị trí ưu tiên đặc biệt trong các chế tài lập pháp bởi đây là những hoạt động đặc biệt nhằm tạo ra tri thức và thúc đẩy phát triển. Viện sĩ Grigory Trubnikov cho biết: “Để các tổ chức và nhóm nghiên cứu có thể tập trung làm việc và tăng cường hiệu quả hoạt động cần có một cơ chế quản lý: loại bỏ việc kiểm soát qua các chỉ số trung gian để chuyển sang tập trung đánh giá kết quả cuối cùng; đồng thời đảm bảo quyền lợi đối với những rủi ro trong nghiên cứu cơ bản và khám phá; khởi động các chương trình nghiên cứu dài hạn trong các khung nhiệm vụ cấp quốc gia để giải quyết các bài toàn mở; cho phép đồng tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu khoa học từ các nguồn ngân sách và ngoài ngân sách khác; chuyển giao liên ngân sách không rào cản và tăng cường hỗ trợ các thành phố khoa học; nới lỏng các quy định mua sắm đối với thiết bị khoa học đặc biệt và các vật liệu/chất thử sử dụng trong nghiên cứu. Sự phát triển khoa học và công nghệ đòi hỏi thực hiện vô điều kiện các cơ chế quy định đã đề ra”.  Sự kiện cũng có sự tham gia của Bộ trưởng Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga, ông Valery Falkov, Chủ tịch RAS Alexander Sergeev, Chủ tịch Liên minh Hiệu trưởng Liên bang Nga, Hiệu trưởng MSU (Moscow State University), ông Victor Sadovnichy, Thống đốc vùng Novosibirsk, ông Andrey Travnikov, cùng với đại diện các tổ chức khoa học và giáo dục, và cộng đồng chuyên gia.  Trần Thiện Phương Anh dịch  Nguồn: https://vinatom.gov.vn/chu-tich-jinr-phat-bieu-truoc-hoi-dong-lien-bang-nga/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế nghiệm thu… phế phẩm      Việc đầu tư và tài trợ cho nghiên cứu ở lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn có rất nhiều bất cập. Thay vì nghiệm thu các sản phẩm khoa học đã được công bố, nhiều nơi hội đồng khoa học chiếu lệ chấp nhận những sản phẩm sơ thảo theo lối đếm trang đếm dòng. Vô hình trung, chúng ta đang tạo ra những quy cách nghiệm thu phế phẩm, chứ không phải là sản phẩm khoa học.    Tôi được biết, trong mỗi cơ quan nghiên cứu khoa học hằng năm đều có ngân sách đầu tư có hạn định một cách vừa phải và khiêm tốn. Những luồng ngân sách đầu tư phải giải trình rất nghiêm túc theo quy định giải ngân, nhưng nhiều khi lại không dựa trên thực tế công việc, khiến các cơ quan chuyên môn, các nhà quản lý cấp dưới và các nghiên cứu viên công chức phải nghĩ ra mọi thủ thuật biến báo nằm ngoài phạm vi bình xét của đạo đức nghề nghiệp. Việc đầu tư có kế hoạch, có hạn định (không được làm nhiều hơn, cũng không được làm ít hơn) khiến cho mỗi cơ quan lại có một kiểu giải ngân riêng.  Ở một số viện, số tiền rót cho khoa học được bổ theo tiêu chí “nhân đạo”, tức là ai cũng như ai, bất luận là giáo sư hay cử nhân mới ra trường, đều được hưởng thêm số tiền đề tài cơ sở khoảng hơn 20 triệu/ năm/ người. Bởi lãnh đạo các cơ quan này chủ trương rằng, ai cũng có con cái, ai cũng phải sống, và nhu cầu dân sinh tối thiểu như nhau. Một mức thu nhập thêm tuy rằng không nhiều, nhưng cũng khiến cho sự công bằng về thu nhập được thực thi một cách nghiêm túc.   Ở một số cơ quan khác, thì ngược lại, những người có học hàm học vị lại được ưu đãi hơn. Vẫn với ngân sách chừng ấy, Giáo sư, Tiến sĩ, những người có thâm niên công tác và các chức sắc sẽ có nguồn kinh phí khấm khá hơn so với những nhân viên nghiên cứu mới vào nghề. Bởi người lãnh đạo cơ quan cho rằng, đó là điều xứng đáng cho năng lực làm việc và quá trình phấn đấu. Nhưng dù có sân siu như vậy, số tiền các thành phần ưu tú hơn kia thu nhập cũng chỉ nhích lên dăm chục triệu/năm/ người. Nguồn kinh phí nghèo nàn đầu tư cho Khoa học xã hội khiến cho khuôn mặt chung, sinh khí chung của các cơ quan nghiên cứu trở nên tẻ nhạt hơn bao giờ hết. Đám nghiên cứu viên trẻ thấy mình không có chút cơ hội nào để kiếm sống và tồn tại thì coi cơ quan như một chỗ ghé chân an toàn trong cơ chế, còn thì tất cả phải bung ra ngoài bươn chải, làm đủ mọi nghề, từ làm gia sư, luyện thi, cho đến làm thông ngôn, làm bồi bút viết thuê luận án.   Tuy nhiên, việc quản lý chất lượng của những chuyên đề này mới đáng nói. Sau khi đăng kí đề tài xong, đến cuối năm thì hội đồng khoa học của nhiều cơ quan tự “đóng cửa” nghiệm thu. Hơn nữa, kết quả được nghiệm thu chỉ ở dạng “bản thảo thô”, còn nghiên cứu đó có tác dụng hay không, có ý nghĩa ra sao hoặc có được đăng trên các tạp chí chuyên ngành hay không thì cơ quan quản lý “không xét đến”. Chính vì cơ chế đầu tư cho ra sản phẩm thô để “nuôi sống” nhau từng năm chứ chưa bao giờ đầu tư một sản phẩm chất lượng để có thể công bố trên các tạp chí như vậy nên các viện nghiên cứu và trường đại học thuộc khối Khoa học xã hội và Nhân văn nói chung chỉ nghiệm thu “phế phẩm”. Không có gì lạ khi có nhiều cán bộ mang danh “nghiên cứu viên” hay giảng viên đại học không có nổi một bài đăng trên tạp chí nghiên cứu trong nước chứ chưa nói đến nước ngoài.  Mặt khác, các cơ quan nhà nước cũng không có cơ chế để tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, các giảng viên công bố những công trình lớn hơn một bài viết khoa học. Nhiều luận án tiến sĩ sau khi bảo vệ mãi mãi nằm trong thư viện mà không bao giờ được xuất bản. Nơi thì lấy lý do không có ngân sách để đầu tư xuất bản. Người thì xấu hổ bởi luận án cũng chỉ là một thứ bài tập viết lách đã được hội đồng chiếu cố thông qua. Cũng không thiếu kẻ mừng thầm với lỗ hổng ấy, bởi những trang luận án mang tên họ chỉ là những sản phẩm cóp nhặt, xé bìa, sang tên đổi chủ. Càng tù mù thì càng dễ sống. Những người làm việc nghiêm túc thì chỉ còn cách tự xắp xếp ngân khoản cá nhân, tự phát vốn in ấn, phát hành để khỏi phí công lao nghiên cứu, hầu mong mình có đóng góp gì đó với xã hội.  Sự ưu đãi của nhà nước cho các ấn phẩm khoa học (sách vở, chuyên luận) thường chỉ dừng lại đối với các công trình cấp bộ được hội đồng đánh giá là có chất lượng. Nhưng phần lớn các đề tài cấp bộ cũng chỉ là đặc ân dành cho những người đã có thâm niên công tác, có vai vế trong hệ thống, có kinh nghiệm giải ngân. Những điểm không minh bạch trong cơ chế đấu thầu xin – cho khiến cho các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trở thành những nơi trì trệ, hủ lậu.   Mấy năm trở lại đây, Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ quan đi đầu trong việc “khoán sản phẩm tinh” (sản phẩm đã xuất bản). Tức là, cơ chế nghiệm thu nội bộ đang được dần dần thay thế bằng các cơ chế mới tích cực hơn. Mỗi giảng viên ngoài nhiệm vụ đứng lớp, mỗi năm phải có số lượng bài nghiên cứu công bố nhất định trên các tạp chí chuyên ngành. Ngoài ra, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng có cơ chế khuyến khích công bố quốc tế bằng cách quy đổi sang tiền thưởng, mỗi bài quốc tế sẽ được nhà trường trao thêm “nhuận bút” với giá trị vài chục triệu đồng.  Nhưng những điểm sáng như thế mới chỉ đang le lói!  Bên cạnh đó, trong khối giảng dạy đại học, việc đầu tư cho biên soạn giáo trình trước nay vẫn đang bị kìm hãm trong cơ chế. Với số ngân sách 20 triệu đồng cho một đề tài biên soạn giáo trình, hầu hết các giảng viên đại học đều không có đủ nghị lực, sức lực để cống hiến cho công việc khó khăn này. Điều đó dẫn đến rất nhiều môn học đại học vẫn đang được dạy bằng các “bài soạn viết tay”, các giáo trình nội bộ chưa công bố. Tôi còn nhớ thời học đại học, cô giáo tôi cầm một xấp giấy ngả màu từ thời bao cấp được viết bằng bút mực ngòi gai, cô “giảng bài” bằng cách đọc tất cả các câu chữ, dấu chấm dấu phẩy, cho gần trăm sinh viên ở dưới chép lại. Đúng hôm trời nóng, cô vuốt tóc trượt tay, cả xấp bài giảng bay tan tác trên bục giảng. Cả lớp không ai dám cười, mấy bạn gái đầu bàn te tái chạy lên giúp cô, còn cô bình thản nhặt lại những mảnh vụn thời gian.   Tôi nghĩ, việc nhà nước không chú trọng đầu tư cho các giảng viên soạn giáo trình hay cao hơn nữa là nghiên cứu khoa học, vô hình trung đã tạo ra những con người “tròn vo cơ chế”. Có nhiều lúc lũ sinh viên chúng tôi cực đoan gọi họ là những “người đi bán họng”, bởi ngoài việc ra rả trên giảng đường, mỗi năm cả ngàn tiết (từ đại học cho đến tại chức, và các lò luyện thi), họ chẳng còn phương thức mưu sinh nào khác. Về sau, khi bản thân đã trở thành giảng viên đại học, tôi thấy những ngôn từ thời sinh viên thật “ác độc”. Sự thương cảm, chán nản và bất lực dần thay thế cho những nhận xét nông nổi trước kia.   Sống đã không đủ thì đừng có bắt người ta yêu nghề và làm khoa học cho đến nơi đến chốn. Một cơ chế như thế sẽ chỉ tạo ra các giảng viên phế phẩm, với những bài giảng phế phẩm, và buồn đau hơn nữa là rất nhiều sinh viên/ con người phế phẩm. Vì thế, cần phải có các hành lang pháp lý và tài chính cụ thể, để mỗi một đề tài, giáo trình phải có một khoản đầu tư trực tiếp cho việc công bố ngay từ khâu xét duyệt. Công bố không còn là vấn đề quyền lợi của nhà nghiên cứu nữa mà chính là vấn đề thiết thân của chính nhà nước. Bởi một khoản kinh phí đã đầu tư thì phải có một sản phẩm tương ứng thu về cho xã hội. Nếu chỉ đầu tư mà không có chế tài bắt buộc phải xuất bản và không có kinh phí xuất bản tương ứng, chúng ta mãi mãi sẽ chỉ nghiệm thu những phế phẩm mà thôi.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ chế Quỹ: Vì sao khó thực hiện?      Với tổng giá trị là 110 triệu USD, đối tượng thụ hưởng bao trùm từ các nhà khoa học, viện nghiên cứu cho đến doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và với cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng cử viên, dự án FIRST (Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ) được kỳ vọng sẽ có một cơ chế thông thoáng. Nhưng mọi chuyện đã không diễn ra như mong đợi.         Dự án FIRST ký thỏa thuận tài trợ cho công ty thú y Maphavet – một trong những công ty đầu tiên nhận hỗ trợ từ FIRST. Ảnh: FIRST.  Có hiệu lực từ tháng 10/2013 nhưng đến tháng 8/2014, FIRST mới mở đợt kêu gọi đầu tiên. Và theo kế hoạch của FIRST, trong khoảng sáu tháng sau là dự án này sẽ ký được những hợp đồng tài trợ đầu tiên. Tuy nhiên, cuối cùng, quy trình này đã kéo dài trong vòng hai năm và nhiều dự án được lựa chọn đến gần đây mới nhận được kinh phí.  Ngay sau FIRST là sự ra đời của Quỹ Đổi mới Khoa học Công nghệ Quốc gia (NATIF) vào đầu năm 2015 với cam kết vốn ngân sách cấp cho Quỹ hằng năm là 1000 tỷ đồng (khoảng gần 50 triệu USD) có vai trò cho vay, bảo lãnh cho vay và hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cũng giống như FIRST, NATIF đi vào hoạt động một cách chậm chạp. Sau hai năm thành lập với vài trăm hồ sơ gửi đến, NATIF mới giải ngân không đáng kể cho vỏn vẹn hai doanh nghiệp.  Câu chuyện của FIRST và NATIF đặt ra câu hỏi về tính khả thi của “cơ chế quỹ” mà Bộ KH&CN đã theo đuổi trong nhiều năm.  Những kỳ vọng bị cản trở bởi cơ chế tài chính  Tiếp phóng viên Tia Sáng với một tâm thế rất tự tin, ông Suhas D. Parandekar, chuyên viên cao cấp và người phụ trách dự án FIRST của World Bank cho biết, đóng góp lớn nhất của FIRST là tạo ra một cơ chế tuyển chọn đề tài một cách công khai, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng cử viên thông qua việc công bố tiêu chí rõ ràng, tất cả những người trong cộng đồng khoa học đều có thể tiếp cận bình đẳng và lập ra một hội đồng đánh giá, lựa chọn khách quan, công tâm bao gồm các chuyên gia uy tín của Việt Nam và thế giới. Nhưng cuối buổi nói chuyện, ông thừa nhận rằng, điều này khó mà có ý nghĩa gì nếu như quy trình xét duyệt và kiểm soát tài chính còn phức tạp như hiện nay, đặc biệt trong một số lĩnh vực đang phát triển nhanh trên thế giới: “Nhận được tài trợ để mua được thiết bị đề xuất thì cũng là lúc họ tung ra thế hệ máy kế tiếp có tốc độ xử lý nhanh gấp 4-5 lần. Cuối cùng, thiết bị mua được đã khấu hao hết trước cả khi mình kịp dùng nó”.  Ông Suhas phân trần với Tia Sáng rằng dĩ nhiên cần phải có một cơ chế kiểm soát tài chính chặt chẽ để tránh gian lận và thất thoát ngân sách nhưng dù thế nào nó không nên cản trở việc nghiên cứu của đối tượng thụ hưởng. Ông so sánh hệ thống kiểm soát tài chính của Việt Nam cũng như hệ thống an ninh của một ngôi nhà mà chủ nhân của nó phải mất 15 phút để mở cửa trong khi đồ đạc của họ chẳng đáng giá đến mức phải mất công, mất sức đến vậy: “Cái bạn muốn là hệ thống đó phải đơn giản với bạn và tạo khó khăn cho tên trộm nhưng cuối cùng có khi lại dễ với trộm mà khó với chủ nhà”.  Sự bất cập trong xét duyệt kinh phí đề tài đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cộng đồng khoa học. Cốt lõi của sự bất cập này là sự kiểm soát kinh phí chi li từ nội dung cho đến từng thiết bị, hóa chất, nguyên vật liệu (và sau khi đã được phê duyệt thì lúc thực hiện dự án phải làm chính xác tuyệt đối, không thay đổi gì so với nội dung đã đề ra). Lấy ví dụ về trường hợp của dự án liên quan đến việc sản xuất đèn LED phục vụ nông nghiệp, thủy sản của Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông. Về mặt nguyên tắc, sau khi một dự án nhận được sự đồng thuận của tổ thẩm định kỹ thuật (TEC), họ sẽ trải qua một quá trình thương thảo (due diligient) để đảm bảo số tiền tài trợ sẽ được sử dụng hợp lý. Tuy nhiên, quá trình này thực sự trở thành hoạt động can thiệp quá sâu vào các phương án kỹ thuật của doanh nghiệp, với những yêu cầu giải trình về tỉ lệ nội địa hóa, về quy mô pilot, về thông số kỹ thuật chi tiết sản phẩm đầu ra…Theo lịch trình của FIRST, quá trình này chỉ diễn ra trong tám tuần nhưng trên thực tế trường hợp của Rạng Đông đã kéo dài…hai năm. “Tất nhiên là đơn vị sản xuất cần phải cam kết là sản phẩm của Dự án phải đáp ứng yêu cầu thị trường, phù hợp với người dùng và điều kiện của Việt Nam. Các chuyên gia tham gia quá trình thương thảo của FIRST cần phải thống nhất lựa chọn một số tiêu chí nhưng họ lại có những yêu cầu giải trình quá cụ thể, như một sản phẩm đã thương mại hóa rồi cho sản phẩm của dự án mang tính đổi mới sáng tạo” – Anh Dương Đức Duy, Trưởng Ban Quản lý dự án của Rạng Đông cho biết.  Phản hồi về trường hợp của Rạng Đông, ban quản lý dự án FIRST chia sẻ rằng, tiền của FIRST về cơ bản là tiền ngân sách nên cách lập dự toán phải theo những quy tắc của  Việt Nam chứ không có cơ chế “đặc thù”. Chị Nguyễn Thu Oanh, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án FIRST cho biết, như vậy, trong một nhiệm vụ khoa học, mỗi hoạt động như thuê chuyên gia nước ngoài, tổ chức hội nghị hội thảo, mua sắm thiết bị đều gắn liền với một thông tư, nghị định. Trường hợp của FIRST có lẽ không xa lạ gì với cộng đồng khoa học trong việc tài trợ cho việc thương mại hóa các nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.      Những chương trình tài trợ cho việc thương mại hóa các nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, R&D của doanh nghiệp từ ngân sách nhà nước như FIRST và NATIF luôn được kỳ vọng sẽ có một cách thức hoạt động thông thoáng như quỹ Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED nhưng dường như cuối cùng lại trở về với cơ chế cũ vì bị ràng buộc bởi các văn bản pháp luật liên quan đến việc sử dụng ngân sách.        Đó mới là bước đầu của quy trình cấp vốn, các quy định quản lý quá trình triển khai thực hiện dự án cũng còn nhiều vướng mắc, mà theo anh Phan Hồng Sơn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ NATIF, “nếu doanh nghiệp mà biết thì họ sẽ không mặn mà với Quỹ nữa”. Thông tư 15 và 16 của Bộ KH&CN ra đời năm 2014 lần lượt đặt ra hai vấn đề sau khi đề tài dự án kết thúc: Quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu giữa nhà nước và doanh nghiệp sẽ được phân định như thế nào? Các thiết bị được mua sắm trong đề tài, dự án là của nhà nước hay của doanh nghiệp? Và, câu trả lời cho hai câu hỏi này lại dẫn đến những câu hỏi khác đi vào ngõ cụt: để phân chia quyền sở hữu trí tuệ giữa nhà nước và doanh nghiệp thì cần đánh giá, định giá công nghệ nhưng ai sẽ làm công việc này? Còn nếu như các thiết bị máy móc mua sắm trong quá trình triển khai dự án không thể “cho không doanh nghiệp” thì bán cho ai? (Câu hỏi thứ hai phần nào đã được giải quyết khi trong kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV vừa họp tháng 6/2017 vừa qua Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Quản lý tài sản công. Theo đó, các thiết bị, máy móc và các tài sản hình thành là kết quả của các đề tài, dự án KHCN có sử dụng ngân sách nhà nước do doanh nghiệp thực hiện thì khi kết thúc sẽ được giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng nhưng vẫn được coi là tài sản công, doanh nghiệp không được phép bán hay chuyển giao cho đơn vị khác).  PGS. Trần Quốc Thắng, nguyên giám đốc Ban quản lý dự án FIRST cho biết: “Nếu muốn đổi mới, rất mới [cơ chế tài chính] thì phải sửa rất nhiều luật, ngoài những luật về hoạt động khoa học công nghệ ra còn Luật Ngân sách”.  Điều ông nói không chỉ đúng với riêng FIRST mà bản thân NATIF cũng không thể thực hiện chức năng cho vay và chức năng bảo lãnh cho vay vì Luật Ngân sách yêu cầu các quỹ của Nhà nước phải bảo toàn vốn. Nếu dự án được vay vốn ngân sách mà thất thoát, không thu hồi được vốn thì sao? “Thì ông quản lý quỹ có thể bị truy tố” – Anh Phan Hồng Sơn cho biết.  Con người: chuyển từ tâm lý “xin cho” sang tâm lý phục vụ  Tuy nhiên, cơ chế không phải là yếu tố duy nhất cản trợ hoạt động của quỹ. Từ trước đến nay, khi nhắc đến “cơ chế quỹ” trong KH&CN, người ta thường chỉ nhấn mạnh đến một cách quản lý tài chính mới đối với các đề tài KH&CN. Trên thực tế, còn cần phải chuyển từ cơ chế xin-cho từ trên xuống, một chiều sang một cơ chế đối thoại bình đẳng, cởi mở giữa đơn vị cấp vốn và đơn vị thụ hưởng. Điều này càng được thể hiện rõ ràng đối với các dự án tài trợ cho R&D của doanh nghiệp có giá trị hợp đồng lớn (lên đến vài triệu USD) và thường phải trải qua quá trình thương thảo về khả năng tài trợ của quỹ và khả năng đối ứng vốn của doanh nghiệp. Chẳng hạn, theo lời của anh Phan Hồng Sơn, “Có khi doanh nghiệp đề nghị được tài trợ 5 đồng, nhưng đối chiếu với các quy định quản lý thì Quỹ chỉ có thể tài trợ 3 thôi”.  Yêu cầu này đòi hỏi những người quản lý các quỹ tài trợ cho KH&CN hiện nay, phần lớn là công chức – viên chức nhà nước đa số từng chỉ có kinh nghiệm với quy trình tài trợ phân bổ kiểu cũ phải thay đổi cách nhìn và cách làm việc của mình với đối tượng đang và sẽ tài trợ. Theo anh Phan Hồng Sơn, quỹ cần hiểu rõ đối tượng được tài trợ và Quỹ mong muốn đạt được kết quả gì khi tài trợ cho doanh nghiệp để có phương thức quản lý phù hợp. “Ví dụ như đối tượng viết hồ sơ là doanh nghiệp mà quỹ yêu cầu họ viết theo biểu mẫu không khác gì một giáo sư trong trường đại học hay một tiến sỹ ở viện nghiên cứu thì có phù hợp hay không?”  Bên cạnh đó, ông Suhas nhấn mạnh, kênh truyền thông của Quỹ đóng vai trò hết sức quan trọng và điều này thuộc về trách nhiệm của ban quản lý quỹ. Theo ông Suhas, truyền thông không chỉ thể hiện ở việc quỹ quảng bá mình để thu hút sự chú ý của các ứng cử viên tiềm năng mà còn ở việc Quỹ tương tác với những người thụ hưởng như thế nào để họ thấy quỹ hoạt động minh bạch; quyết định của quỹ khách quan, công bằng; không khiến ai cảm thấy rằng phải “quen biết ai đó” mới được nhận tài trợ.  Xóa bỏ nguyên tắc “bảo toàn vốn”  Cơ chế và con người là hai yếu tố được nhiều người cho là mang tính quyết định đến thành bại của các quỹ tài trợ cho KH&CN. Tuy nhiên, trong tình hình ở Việt Nam hiện nay, nếu chỉ giải quyết dưới góc độ cơ chế và con người mà không thay đổi quan điểm đầu tư cho KH&CN như một dịch vụ công thì các quỹ KH&CN có thể hoạt động nhưng không có tác động lớn tới việc thay đổi bức tranh đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.  Từng tham gia nhiều dự án do nhà nước tài trợ, Rạng Đông cho rằng nguyên tắc tài trợ bằng tiền ngân sách chưa hợp lý: “Như tôi hiểu thì [cơ quan quản lý yêu cầu] khi mà lập đề tài thì sản phẩm đã phải định hình cụ thể, phải có các thông số xác định rồi, rủi ro của nó rất ít” – Anh Dương Đức Duy nói và cho rằng điều đó là không thể khi chưa hề có một sản phẩm tương tự với những gì Rạng Đông nghiên cứu tại thị trường Việt Nam để đối chiếu, so sánh.  Theo ông Trần Đắc Hiến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ KH&CN, giám đốc Ban quản lý dự án BIPP (Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp), về bản chất, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu triển khai là một dạng đầu tư mạo hiểm, thất bại có khi rất cao nhưng điều bất cập là “Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành không cho phép đầu tư mạo hiểm vì đó là tiền của dân đóng góp. Nếu xảy ra thất bại, thất thoát thì có thể sẽ bị xử lý trách nhiệm, thậm chí bị xử lý hình sự”.  Với hành lang pháp lý hiện nay của Việt Nam, ban quản lý của những quỹ sử dụng tiền từ ngân sách khó có thể dám đầu tư, cho vay, bảo lãnh cho vay mà chỉ có thể tài trợ. Tuy nhiên, dưới cái ô quan điểm “bảo toàn vốn”, hoạt động tài trợ hay việc sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động KH&CN chỉ có thể hướng tới những đề tài, dự án nghiên cứu an toàn, ít tính đột phá. Hai ví dụ minh họa cho điều này là công cụ VTRS do Hàn Quốc hỗ trợ NATIF xây dựng dựa trên công cụ KTRS của quỹ KOTEC phục vụ cho việc bảo lãnh doanh nghiệp vay ngân hàng, được các chuyên gia lĩnh vực đầu tư mạo hiểm đánh giá là sẽ chỉ tài trợ được cho việcmua công nghệ về để ứng dụng, ít đổi mới sáng tạo; thông tư khoán chi 27 được ban hành để giảm bớt thủ tục, giấy tờ cho các nhà khoa học khi nghiệm thu đề tài nhưng lại yêu cầu người nộp đề xuất phải biết rõ, biết chắc chắn (nếu không muốn nói là biết trước) kết quả nghiên cứu của mình.  Vậy, nếu như chấp nhận đầu tư cho KH&CN như một ngoại lệ của sử dụng ngân sách nhà nước, không yêu cầu “bảo toàn vốn” thì làm sao để giải quyết vấn đề về rủi ro đạo đức, ngăn chặn những khả năng trục lợi từ ngân sách? Không phải là Nhà nước can thiệp nhiều hơn mà một trong những giải pháp là quỹ phải có tính độc lập hơn. Lấy ví dụ về trường hợp của cơ quan có cơ chế tài chính thông thoáng nhất hiện nay là Quỹ KH&CN Quốc gia NAFOSTED, GS. Svend Otto Remøe, cố vấn đặc biệt của Hội đồng nghiên cứu Na Uy (RCN), cơ quan quản lý toàn bộ ngân sách dành cho KH&CN của nước này, từng có nhiều lần làm việc với NAFOSTED, ông cho biết, mô hình của NAFOSTED không nhất thiết phải phân biệt nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng và được độc lập hơn trong việc ra quyết định.  Hiện nay NAFOSTED mặc dù là quỹ KH&CN Quốc gia nhưng thuộc quản lý của Bộ KH&CN, ngoài việc phải đề nghị lên Bộ để xin cấp vốn hằng năm, các quy chế của quỹ hiện nay phải thông qua Bộ phê duyệt. Trong khi đó, các quỹ khoa học quốc gia trên thế thế giới đa số hoạt động như một cơ quan độc lập, không trực thuộc bộ ngành nào.  Anh Phan Hồng Sơn, từng là giám đốc NAFOSTED chia sẻ rằng, đây là một trong những lí do khiến những quỹ khoa học nước ngoài cảm thấy e dè khi hợp tác với NAFOSTED vì “họ cảm thấy các quyết định của quỹ có thể bị chi phối bởi Bộ”. Ông Remøe gợi ý rằng, mấu chốt để nhà nước quản lý các quỹ khoa học một cách hiệu quả nằm ở cơ chế báo cáo (reporting system). Theo ông, Bộ KH&CN sẽ đưa ra chính sách chung cho quỹ và xác định những mục tiêu kỳ vọng trong một thời gian dài có thể là 10 năm hoặc hơn và để cho quỹ thực hiện điều đấy. Định kỳ, quỹ sẽ phải báo cáo Bộ dựa trên form mẫu có sẵn với các chỉ số cụ thể để đánh giá, đồng thời có những cuộc đối thoại thường xuyên giữa Bộ và quỹ. Ngoài ra, Bộ KH&CN tuyệt đối không can thiệp vào những quyết định của quỹ.  Bên cạnh đó, đi kèm vai trò độc lập hơn, quỹ cần phải có quy mô lớn hơn để tạo điều kiện cho ban quản lý có đủ quyền hạn. Ông Remøe cảnh báo, hiện nay, quy mô của NAFOSTED còn quá nhỏ, không có khả năng tài trợ tập trung cho một hướng nghiên cứu lâu dài, liên quan đến nền kinh tế – xã hội của đất nước mà chỉ có thể tài trợ dàn trải nên trong tương lai, hiệu quả đầu tư cho khoa học như vậy sẽ rất thấp.  Anh Nguyễn Hồng Trường, Phó chủ tịch quỹ đầu tư mạo hiểm IDGVV – được biết đến như một đơn vị tiên phong trong việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam, cho biết thêm, khi từ bỏ nguyên tắc “bảo toàn vốn”, dưới áp lực “rủi ro đạo đức”, Nhà nước sẽ phải tìm người quản lý quỹ giỏi, có đạo đức tốt và có chính sách đãi ngộ tốt với họ, trao cho họ quyền ra quyết định đi kèm với trách nhiệm giải trình. “Bức tranh thực ra đơn giản nhưng vấn đề là chúng ta có chịu thay đổi tư duy hay không mà thôi” – Anh Trường nói.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Cơ chế tài chính: Nút thắt của mô hình quỹ      Nếu không có một cơ chế tài chính hợp lý, sẽ rất khó để các quỹ và dự án mang tính thí điểm về chính sách đầu tư cho đổi mới sáng tạo và thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ do Bộ KH&CN quản lý đạt được mục tiêu đề ra.      Dự án nghiên cứu công nghệ chế tạo vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại Dự án FIRST tài trợ, Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet thực hiện. Nguồn: Marphavet  Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2018 và triển khai kế hoạch công tác năm 2019 của Khối Ban và Quỹ (Bộ KH&CN) vào chiều ngày 17/12/2018, không hẹn mà gặp, cả Quỹ Đổi mới KH&CN quốc gia (NATIF) và Dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, KH&CN (FIRST) đều đề cập đến cơ chế tài chính – yếu tố dẫn đến những khó khăn bủa vây quanh việc họ tài trợ cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới của các doanh nghiệp tư nhân.  Mặc dù trong một vài năm trở lại đây, chủ trương của Bộ KH&CN là “lấy doanh nghiệp làm trung tâm” cho các hoạt động phát triển và ứng dụng KH&CN nhưng với các doanh nghiệp tư nhân – đối tượng thụ hưởng quan trọng của cả NATIF và FIRST, thì dường như đều rất khó tiếp cận với nguồn vốn hoặc nếu tiếp cận được thì lại rơi vào tình cảnh khó giải ngân.  Doanh nghiệp khó tiếp cận  Không phải tới buổi họp tổng kết chiều ngày 17/12, người ta mới biết đến hiện trạng doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn do NATIF và FIRST quản lý và số doanh nghiệp “qua cửa” xét chọn cũng không nhiều. Ở hội thảo “Đổi mới công nghệ: Vai trò của doanh nghiệp, tổ chức KH&CN và cơ quan quản lý” do NATIF tổ chức vào tháng 11/2017, nhiều doanh nghiệp cho biết, mặc dù đã thực hiện một số đề tài cấp bộ, cấp viện hàn lâm và quen với cơ chế tài chính, cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước nhưng vẫn thấy khó đáp ứng được những yêu cầu của Quỹ.  Chính những trở ngại trong các quy trình xét chọn về cả nội dung công nghệ lẫn tài chính khiến có doanh nghiệp như Nafoods – một công ty xuất khẩu nước ép chanh leo cô đặc, đã quyết định không xin tài trợ để xây dựng tổ hợp sản xuất và chế biến hoa quả xuất khẩu từ NATIF nữa vì “nếu chờ Quỹ thì chắc nhà máy vẫn còn chưa khánh thành được” như lời phát biểu của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty.  Trong cuộc họp tổng kết, ông Nguyễn Đình Bình, giám đốc NATIF cũng thừa nhận thực trạng, kể từ giai đoạn chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 2016, đầu năm 2017, “chúng tôi đã chọn được 184 đề xuất từ 300 hồ sơ đề xuất gửi đến và tiến hành ký 27 hợp đồng tài trợ. Hiện còn có 57 nhiệm vụ đang được thẩm định để có thể tiến hành ký hợp đồng”. Báo cáo tổng kết năm 2018 của NATIF nêu, Quỹ đã tổ chức thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu lần 1, giám sát, kiểm tra công tác đấu thầu cho 20 nhiệm vụ và cho đến thời điểm hiện nay, Quỹ mới trong giai đoạn triển khai thực hiện 3 đề tài và 1 dự án cấp bộ.  Tình hình của FIRST dường như có vẻ sáng sủa hơn NATIF khi hợp phần “Tài trợ cho nhóm hợp tác nghiên cứu về KHCN và đổi mới sáng tạo” của họ đã lựa chọn được 18 nhóm liên kết bao gồm 70 doanh nghiệp cùng 19 viện nghiên cứu, 11 trường học và 6 bệnh viện phối hợp thực hiện dự án, trong đó có những dự án “triệu đô đình đám” như “Nghiên cứu và phát triển công nghệ, sản xuất, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm LED dùng trong chiếu sáng nhân tạo nông nghiệp công nghệ cao tại thị trường Việt Nam” với Nhóm hợp tác do Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đứng đầu, “Nghiên cứu công nghệ chế tạo vaccine phòng bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) cho lợn nuôi trang trại” với nhóm hợp tác do Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet đứng đầu. Thoạt nhìn bên ngoài thì như vậy nhưng theo những gì ông Lương Văn Thắng, Giám đốc Ban Quản lý FIRST, báo cáo thì trong bối cảnh chuẩn bị kết thúc dự án vào năm 2019, “tổng giải ngân đến thời điểm này mới chỉ hơn 35% và hy vọng đến ngày 31/1/2019, mức độ giải ngân sẽ đạt 45% theo chỉ đạo của Thứ trưởng Phạm Công Tạc cũng như cam kết với World Bank”.  Vướng mắc trong giải ngân  Các doanh nghiệp được NATIF hay FIRST phê duyệt hồ sơ, dù ở lĩnh vực hoạt động nào, cũng đều gặp nhau ở một điểm: vướng mắc trong giải ngân, chậm tiến độ thực hiện dự án. Ông Lương Văn Thắng báo cáo, mặc dù “đầu tư cho các doanh nghiệp cũng có những điểm sáng ban đầu, thực sự bỏ tiền để tham gia quá trình thương mại hóa công nghệ, FIRST bỏ 1 đồng thì các doanh nghiệp cũng bỏ ra 1 đồng” nhưng tiến trình giải ngân cũng chậm chạp. Theo giải thích của ông Thắng, FIRST phải hoạt động trên những quy định của World Bank, của nhà nước, “những hành lang pháp lý theo các dạng như vậy khiến cơ chế ở FIRST gặp rất nhiều khó khăn” trong khi “cơ chế giám sát trong FIRST rất khủng khiếp, chúng tôi tính có 8 tầng giám sát, từ World Bank giám sát sang, các quy định nội bộ của Việt Nam, nhất là khi sử dụng ngân sách quốc gia để tài trợ cho doanh nghiệp tư nhân”. Trao đổi bên lề cuộc họp, ông Lương Văn Thắng chỉ nói thêm một cách ngắn gọn về nguyên nhân chậm giải ngân là “chưa có sự hài hòa trong các quy định quản lý tài chính, ở đây là quy định của World Bank với những quy định của Việt Nam về quản lý dòng vốn từ World Bank và những quy định về việc đầu tư cho các hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo của Việt Nam”.  Do đó, ông Lương Văn Thắng cũng thừa nhận quy trình tiếp cận vốn do FIRST quản lý của các doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục.  Trong khi đó, câu chuyện của NATIF lại mang màu sắc khác. Theo ông Nguyễn Đình Bình, mặc dù “về cơ bản cũng có đủ các văn bản pháp lý về chức năng tài trợ để quỹ có thể triển khai tài trợ” nhưng trên thực tế vẫn “chưa có kinh phí để thực hiện”. Trong báo cáo năm 2018, NATIF cho biết năm 2018, Quỹ chỉ giải ngân được 4 nhiệm vụ mới cho 3 công ty TNHH một thành viên Thế hệ mới Phú Thọ, công ty cổ phần Beton 6, công ty 3T Robotic.      “Chưa có sự hài hòa trong các quy định quản lý tài chính, ở đây là quy định của World Bank với những quy định của Việt Nam về quản lý dòng vốn từ World Bank và những quy định về việc đầu tư cho các hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo của Việt Nam” (ông Lương Văn Thắng, giám đốc Ban Quản lý FIRST)      Ông Bình phân trần khó khăn mà NATIF đang phải đối mặt, “các dự án của chúng tôi đã qua 1 năm, đến thời kì kiểm tra tiến độ, đánh giá để giải ngân lượt 2, thế nhưng không có kinh phí đi kiểm tra tiến độ. Nếu không kiểm tra được thì không thể giải ngân được lần 2”. Khó khăn này không chỉ mình NATIF phải hứng chịu mà cả doanh nghiệp cũng liên đới. “Dự án của doanh nghiệp đi rất nhanh, họ thực hiện được phần việc sử dụng tiền đối ứng rồi, họ chưa dùng tiền của mình. Thế nhưng đến lúc mình kiểm tra thì mình lại không đánh giá được, không công nhận được những chứng từ trên phần việc họ thực hiện. Vì mình chưa công nhận cái này thì họ thực hiện được cái tiếp theo”, ông Bình nói.  Thiếu kinh phí tài trợ cũng là nguyên nhân khiến trong 3 đề tài và 1 đề án cấp bộ đang được Quỹ triển khai thực hiện, chỉ có 1 đề án đang có tiền để thực hiện, 3 đề tài tuy hết thời gian thực hiện nhưng không đủ tiền giải ngân.  Vì đâu nên nỗi?    Công ty Robot 3 T là một trong số ít những công ty được NATIF giải ngân. Nguồn: Công ty Robot 3T  Khó khăn của FIRST và NATIF đều được mọi thành viên tham gia cuộc họp ngày 17/12 chia sẻ. Khác với Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED) – nơi cơ chế vận hành đi vào nề nếp sau 10 năm hoạt động và đối tượng thụ hưởng chủ yếu vẫn là các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, cũng khác với Dự án Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) – vốn “không phải là một thiết chế tài chính” như chia sẻ của chị Nguyễn Thị Thu Hương, giám đốc IPP, cả NATIF và FIRST đều đi tiên phong trong đầu tư vào hoạt động đổi mới sáng tạo và R&D cho doanh nghiệp tư nhân trong khi cơ chế tài chính cho các hoạt động đó còn chưa rõ ràng là theo Luật KH&CN hay Luật Ngân sách nhà nước.  Theo diễn giải của NATIF, theo quy định tại thông tư liên tịch số 120/2014/TTLT/BTC-BKHCN thì “Quỹ được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phi hoạt động thường xuyên như đối với đơn vị sự nghiệp theo đúng quy định hiện hành”, tuy nhiên theo điều 12 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP của chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Ngân sách nhà nước lại quy định “ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách”. Do đó, thực trạng của NATIF theo ông Nguyễn Đình Bình là “khi chiểu theo Luật Ngân sách nhà nước thì Quỹ đương nhiên là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước nên Bộ Tài chính không phê duyệt kinh phí”.  Ở góc độ một người quản lý một tổ chức “vận hành theo cơ chế quỹ”, TS. Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc NAFOSTED, nhận xét với cơ chế tài chính của tổ chức quỹ như NAFOSTED hay NATIF thì “thực ra vẫn còn độ vênh về cơ chế giữa hoạt động Luật KH&CN và Luật Ngân sách…” Tuy đã hoạt động 10 năm nhưng mô hình mà NAFOSTED đang triển khai cũng như mô hình của NATIF vẫn còn chưa được phân biệt một cách rõ ràng là “quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hay là đơn vị sự nghiệp”. Anh phân tích, “mỗi cái đều có khó khăn riêng”, giả thử chọn một trong hai mô hình cũng “đều rất khó để hoạt động” vì “quỹ thì không được bổ sung vốn còn nếu là đơn vị sự nghiệp thì phải cấp kinh phí theo cơ chế dự toán”. Nếu rơi vào trường hợp thứ hai thì chắc chắn NAFOSTED sẽ khó giữ được sự thông thoáng trong giải ngân và nghiệm thu đề tài mà “khối lượng công việc để giải quyết vấn đề của một đề tài sẽ lên gấp ba lần, ví dụ như Quỹ hỗ trợ Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp có 7, 8 nhiệm vụ thôi nhưng khối lượng công việc này so với các đề tài của Quỹ thì phải lên tới 100 nhiệm vụ”, TS. Đỗ Tiến Dũng cho biết.  Tuy cùng gặp khó khăn trong cơ chế nhưng với FIRST, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn bởi Dự án sẽ kết thúc thời gian hoạt động vào năm 2019, còn với NATIF thì dường như không có đường lùi. Để có thể thực hiện tốt mục tiêu như kỳ vọng, có lẽ NATIF cần được vận hành theo những cơ chế đổi mới hơn, không chỉ ở cơ chế tài chính, cấp phát kinh phí mà còn ở quy trình xét duyệt, thẩm định dự án.  Qua ba vòng kêu gọi, FIRST đã lựa chọn được 18 nhóm liên kết bao gồm 70 doanh nghiệp, 19 viện nghiên cứu, 11 trường đại học và 6 bệnh viện cùng phối hợp các tiểu dự án. Việc tài trợ cho các nhóm liên kết là cơ hội để các tổ chức KH&CN hợp tác với các doanh nghiệp và cùng nhau phát triển năng lực sáng tạo, tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các khách hàng hiện tại và tương lai, đồng thời thu hút 19 tỷ đồng tiền vốn đối ứng thực hiện các tiểu dự án từ khu vực doanh nghiệp. Một số tiểu dự án đã mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế xã hội như nghiên cứu tảo xoắn làm thực phẩm chức năng: tảo bột, tảo tươi từ tảo Spirulina; sản xuất tảo sử dụng làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; Quy trình công nghệ sản xuất tảo; Sản phẩm chế phẩm từ tảo Spirulina để sử dụng xử lý nước thải trong nuôi trồng thủy sản; sản xuất phân bón hữu cơ từ tảo Spirulina và các phụ phẩm trong nuôi trồng tảo; đã triển khai thực hiện trên quy mô công nghiệp.     Theo: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/co-che-tai-chinh-nut-that-cua-mo-hinh-quy/20181220104738254p1c785.htm    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Có hay không có “văn hóa đạo văn” ở Việt Nam?      Trong một bài viết gần đây(1), tiếp theo bài trên Tia Sáng(2), bà Vũ Thị Phương Anh, Giám đốc trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo của Đại học Quốc gia TP.HCM, cáo buộc rằng tồn tại ở Việt Nam một “văn hoá đạo văn”. Bà còn cho rằng văn hóa đạo văn đã tồn tại lâu ở châu Á. Nhưng tôi nghĩ luận điểm đó không đúng, vì Việt Nam không có văn hóa đạo văn.         Vụ một bài báo khoa học của nhóm tác giả thuộc Viện Vật lý TP.HCM bị rút xuống vì đạo văn đã gây ra một làn sóng tranh luận về đạo văn. Có người cho rằng ở Việt Nam tình trạng đạo văn đã bắt nguồn từ lúc tiểu học, khi học trò phải học thuộc lòng những bài văn do thầy cô chỉ định. Dần dần theo thời gian, học thuộc lòng trở thành một thói quen, một văn hóa. Bà Vũ Thị Phương Anh đi xa thêm một bước khi cho rằng “Văn hóa đạo văn” do đó đã tồn tại lâu đời ở Việt Nam và Á châu. Bà còn định nghĩa “văn hóa đạo văn” là “[…] một thói quen, một cách làm mà ai cũng thấy là bình thường, cả người vi phạm lẫn người bị vi phạm (dù tất nhiên người bị vi phạm sẽ không cảm thấy thoải mái gì cho lắm)”.  Bà Vũ Thị Phương Anh không phải là người đầu tiên nói rằng người Việt có thói quen đạo văn. Một vài học giả phương Tây cũng từng viết trên giấy trắng mực đen rằng sinh viên châu Á hay có thói quen đạo văn, nhưng họ không bao giờ dám viết rằng châu Á có “Văn hóa đạo văn”. Nhưng cũng có rất nhiều chuyên gia, học giả phương Tây chỉ ra rằng những luận điểm về sinh viên châu Á đạo văn chỉ là một tuyên truyền, một kiểu rập khuôn, gắn ghép, hàm ý nói xấu sinh viên châu Á.      Ở đây, tôi muốn chỉ ra rằng Việt Nam không có văn hóa đạo văn. Chúng ta cần phải hiểu rõ thuật ngữ “văn hóa” trước khi tố cáo Việt Nam có văn hóa đạo văn. Văn hóa theo định nghĩa chuẩn là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử.   GS Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” đã đưa ra 4 điều kiện của văn hóa: đó là hệ thống, giá trị, nhân sinh và lịch sử. Tính hệ thống bao gồm những tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, phong tục hay những thói quen mà con người tiếp nhận trong quá trình tiến hóa. Giá trị tính phản ảnh ở chữ “văn” và “hóa” trong “văn hóa”. Văn có nghĩa là đẹp, hóa là “biến thành”. Văn hóa là biến thành cái đẹp. Văn hóa do đó phải có giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ và giá trị vật chất. Tính nhân sinh của văn hóa thể hiện nó là một hoạt động do con người sáng tạo ra, khác với tự nhiên. Sau cùng là tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ văn hóa bao giờ cũng được tích lũy qua nhiều thế hệ.   Đạo văn trong khoa bảng và học thuật có nghĩa rộng hơn là những gì bà Vũ Thị Phương Anh viết. Theo định nghĩa của Hội giáo sư đại học Hoa Kỳ (American Association of University Professors) đạo văn có nghĩa là lấy ý tưởng, phương pháp, hay từ ngữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả (taking over the ideas, methods, or written words of another, without acknowledgment and with the intention that they be taken as the work of the deceiver).   Có nhiều hình thức đạo văn, mà có thể ngay cả thầy cô ở các nước phương Tây cũng không hiểu. Những hình thức sau đây được xem là đạo văn: sao chép hay sửa câu văn, mã máy tính, tác phẩm nghệ thuật, hình ảnh, hay các dữ liệu từ sách, tạp chí, internet mà không ghi nguồn; sử dụng bài làm của đồng môn để nộp cho thầy cô. Trình bày báo cáo hay bài giảng bằng powerpoint ở một hội thảo có sử dụng ý tưởng, số liệu, hình ảnh, câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn thì có thể xem là một hình thức đạo văn. Nói tóm lại, đạo văn là một hình thức ăn cắp, cướp công, hay lấy công trình của người khác mà không ghi nguồn.   Đối chiếu khái niệm văn hóa và định nghĩa tôi trình bày trên, chúng ta dễ dàng thấy Việt Nam không tồn tại cái gọi là “văn hóa đạo văn”. Đạo văn trong tiếng Việt có nghĩa “ăn cắp”. Ăn cắp là một ý nghĩa tiêu cực, không thể xem là một nét văn hóa được. Sao chép hay lấy từ ngữ của người khác không thể nào là một thói quen mang tính hệ thống, không phải là hành vi đẹp, cho dù nó là sản phẩm của con người hay được tích lũy. Hiểu văn hóa như thế chúng ta thấy rõ ràng rằng thói quen cóp nhau trong học trò cũng không hội đủ 4 điều kiện để gọi đó là một văn hóa.  Đạo văn ở Việt Nam chưa bao giờ được chấp nhận là điều bình thường. Học trò đều biết ăn cắp văn là xấu và cố giấu giếm thầy cô việc làm sai trái đó. Không học trò nào dám nói với thầy cô rằng họ đã đạo văn cả. Học sinh nước ta có thể có thói quen học thuộc lòng bài, nhưng không ai dám nói đó là của mình. Mỗi khi phát biểu ý của ai, chúng ta vẫn nghe “Theo …” hay lấy ý của các nhà hiền triết như “Khổng Tử nói …”.   Nếu đạo văn là một văn hóa, và văn hóa là cái gì “di truyền” từ trong tâm, thì sinh viên châu Á nhận thức đạo văn là điều chấp nhận được, còn sinh viên Âu Mỹ không chấp nhận đạo văn. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn(3) có mô tả một nghiên cứu thú vị ở Úc so sánh nhận thức về đạo văn giữa du học sinh châu Á và sinh viên Úc, kết quả cho thấy không có khác biệt nào đáng kể giữa hai nhóm sinh viên về nhận thức về đạo văn. Kết quả này cho thấy giả thuyết văn hóa đạo văn hoàn toàn không có cơ sở khoa học.   Chưa có cơ sở khoa học nào để nói rằng đạo văn trong sinh viên Á châu cao hơn sinh viên Âu Mỹ. Đạo văn không phải là một cái gì đặc thù Việt Nam. Thật vậy, tôi chưa thấy một nghiên cứu khoa học nào nói rằng tần số đạo văn trong sinh viên châu Á nhiều hơn sinh viên Âu Mỹ. Ở các nước châu Âu và Mỹ, học sinh, sinh viên cũng đạo văn rất nhiều. Có cả thầy cô, giáo sư phương Tây cũng đạo văn.   Theo một nghiên cứu của Trung tâm Liêm chính trong học thuật (Center for Academic Integrity), 80% sinh viên Mỹ thú nhận từng “ăn gian” và đạo văn ít nhất một lần. Một điều tra toàn quốc Mỹ cho thấy 54% sinh viên, học sinh thú nhật đạo văn từ internet, và 74% thú nhận từng đạo văn ít nhất một lần trong năm qua. Nếu cách hiểu của bà Vũ Thị Phương Anh là chuẩn, chúng ta cũng có thể nói rằng châu Âu, Mỹ, Úc, và toàn thế giới đều có “văn hóa đạo văn”!    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đạo văn trong sinh viên và học sinh. Các chuyên gia giáo dục nước ngoài đã tiến hành nhiều nghiên cứu tìm hiểu động cơ nào dẫn đến sinh viên và học sinh đạo văn. Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy động cơ phổ biến nhất là áp lực muốn có điểm cao trong học hành, không hiểu rõ thế nào là đạo văn, thiếu thì giờ để làm bài. Đối với sinh viên và học sinh mà tiếng Anh là ngoại ngữ, một nguyên nhân khác là do thiếu khả năng diễn đạt tiếng Anh một cách chuẩn mực. Đó chính là những nguyên nhân dẫn đến đạo văn. Vấn đề tiếng Anh cũng chính là một trong những lý do mà tác giả Lê Đức Thông đã đạo văn trong bài báo khoa học vừa bị rút xuống.   Nói tóm lại, hoàn toàn chưa có một chứng cứ khoa học nào để nói rằng đạo văn xuất phát từ thói quen học thuộc lòng. Cũng không có bất cứ một chứng cứ khoa học nào để nói rằng Việt Nam có “văn hóa đạo văn”. Đạo văn xuất phát từ kém hiểu biết về qui ước và chuẩn mực đạo đức học thuật, áp lực trong học hành và kém kỹ năng tiếng Anh.   Thay vì cáo buộc Việt Nam có “văn hóa đạo văn”, tôi nghĩ nhóm của bà Vũ Thị Phương Anh nên thực hiện những nghiên cứu khoa học để tìm hiểu tại sao sinh viên học sinh nước ta đạo văn, và đối chiếu với những lý do tìm thấy trong sinh viên học sinh nước ngoài. Những nghiên cứu như thế sẽ đóng góp tích cực cho giáo dục nước nhà hơn là những ý kiến không có cơ sở khoa học.   —–  (1) http://sgtt.vn/Khoa-giao/132031/Phong-chong-dao-van-tu-goc-nhin-van-hoa.html  (2) http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=3616  (3)http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1137-dao-van-van-de-van-hoa-hay-kien-thuc-               Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ học kỹ thuật: Chưa gắn với thực nghiệm và công nghệ      PGS.TSKH Phạm Đức Chính (Viện Cơ học) bày tỏ quan điểm về dự định chế tạo ô-tô nội địa của năm công ty ô-tô Việt Nam trong bối cảnh đa số các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực Cơ học kỹ thuật ở nước ta là mô phỏng và tính toán, hiếm có đề tài gắn với thực nghiệm và công nghệ.    Trong tám lĩnh vực nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam được Nafosted tài trợ thì lĩnh vực Cơ học kỹ thuật (Engineering) là một trong những lĩnh vực khiêm tốn nhất, cả về số đề tài được tài trợ lẫn số bài báo ISI được công bố. Tính về tỷ lệ số bài ISI của ngành Cơ học kỹ thuật so với mức trung bình các ngành ở Việt Nam thì cũng thấp hơn tỷ lệ tương ứng ở nhiều nước trong khu vực (ở Singapore – nước có nền khoa học và công nghệ mạnh nhất khu vực – Engineering là lĩnh vực dẫn đầu về số bài báo, và cả về tài trợ). Điều này tôi cũng đã đề cập trong các bài viết từ mấy năm trước. Điều đó cho thấy chúng ta còn có sự thiên lệch giữa các lĩnh vực trong nghiên cứu ở chuẩn quốc tế – yếu nhất là ở các lĩnh vực gần với ứng dụng và công nghệ.  Cụ thể hơn, khi xem xét các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực Cơ học kỹ thuật ở Việt Nam thì thấy đa số là mô phỏng và tính toán, hiếm đề tài gắn với thực nghiệm và công nghệ. Lý do có thể nằm ở cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, và hơn nữa chúng ta cũng chưa có chính sách khuyến khích và đầu tư đồng bộ hiệu quả để đạt tới các kết quả công nghệ cụ thể. Một số đề tài liên quan ít nhiều tới thực nghiệm (như các đề tài của PGS Phạm Hồng Phúc, TS Mai Phú Sơn, và PGS Lại Ngọc Anh,…) phải sử dụng kết quả từ bên ngoài, hoặc phải tìm cách ra nước ngoài làm thực nghiệm. Đề tài của PGS Lại Ngọc Anh (ĐH Bách khoa Hà Nội) về các môi chất trong động cơ đốt trong chẳng hạn, là đề tài duy nhất trong ngành Cơ được Hội đồng ngành và Quỹ Nafosted duyệt tài trợ cho sang Đức một tháng làm thực nghiệm. TS Mai Phú Sơn (Viện Cơ học) nghiên cứu công nghệ gia cố độ cứng cho vỏ ô-tô, nhưng phải kết hợp thực hiện nhiệm vụ đề tài của mình qua các chuyến đi cộng tác có thời hạn với bạn ở Hong Kong. PGS Phạm Hồng Phúc (ĐH Bách khoa Hà Nội) phải qua Nhật thực nghiệm với sự giúp đỡ của thầy… Nhưng nếu cứ phải ra nước ngoài làm thực nghiệm thì sẽ có rất nhiều hạn chế do khó kiếm nguồn kinh phí, mà cũng khó mà làm nên công nghệ gì trong tư cách lẻ loi như vậy. Một dự định hợp tác giữa nhóm chúng tôi ở Viện Cơ học và nhóm chế tạo máy bay nhỏ bên Viettel cuối cùng không thực hiện được do thiếu các thiết bị thử nghiệm cơ học vật liệu cần thiết.  Khi Vinashin được thành lập và quảng cáo rầm rộ, tôi đã kỳ vọng, với lợi thế của tập đoàn nhà nước lớn, họ sẽ theo gương Hong Kong đào tạo bài bản từ công nhân kỹ thuật tới kỹ sư thiết kế, đồng thời đầu tư đồng bộ cả cơ sở vật chất cho nghiên cứu phát triển, để tạo nên một nền công nghệ có sức cạnh tranh thực thụ. Nhưng thực tế không diễn ra như vậy. Trong cộng đồng Cơ học kỹ thuật Việt Nam hầu như không nghe thấy gì đáng kể về các nghiên cứu cơ học liên quan tới tàu thủy và các công nghệ phụ trợ. Giáo sư Việt kiều Nguyễn Đăng Hưng về nước lập ra một công ty tính toán cơ học thực hiện các hợp đồng quốc tế, trong đó có các tính toán cơ học ô-tô cho Mercedes-Benz, đã tìm mọi cách tiếp cận với Vinashin nhưng không được. Sau này, vì khó kiếm được việc thường xuyên từ nước ngoài để nuôi 30 nhân viên, ông phải nhượng lại công ty cho một chủ mới ở nước ngoài, dù vẫn thấy tiếc. Lê Hoài Châu – một tiến sĩ trẻ từ Mỹ về (anh vừa nhận được đề tài Nafosted đợt năm nay) – đã lập công ty tính toán thiết kế tối ưu cho các kết cấu chịu lực, nhưng vẫn là làm các hợp đồng cho Mỹ. Anh cũng nhờ tôi giới thiệu với cộng đồng Việt Nam các chương trình mô phỏng hiện đại của mình, trong đó có cả bức tranh chuyển động của ô-tô, nhưng chưa mấy ai trong nước thể hiện sự quan tâm. Tất nhiên mô phỏng – tính toán chỉ là một phần của vấn đề, bên cạnh đó còn có các nội dung thực nghiệm khác cũng về cơ học, ví dụ như chế tác cơ khí.  Không có những công nghiệp hiện đại song song tồn tại, cơ học Việt Nam không thể phát triển và đóng góp thiết thực cho đất nước. Bởi vậy quyết tâm chế tạo ô-tô thương hiệu Việt Nam của năm doanh nghiệp ô-tô và cơ khí mới đây là rất đáng khích lệ, nhưng cần có sự phối hợp với nhà nước và các nhà khoa học để có được một chiến lược phát triển hiệu quả dẫn tới thành công và tránh vấp ngã như Vinashin.  VKIST là một nguồn hy vọng. Tôi cho rằng các đại học quốc tế đã và đang thành lập cũng nên xác định các vấn đề công nghệ ưu tiên cụ thể riêng cho từng trường, trong thỏa thuận với đối tác nước ngoài, có tính đến thế mạnh của họ. Phải đặt nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ lên hàng đầu chứ chỉ dạy học suông sẽ không có nhiều tác dụng.   Các đồng nghiệp Nafosted nói nhiều tới xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, thiên về lập nhóm các nhà khoa học có cùng một hướng chuyên môn để tăng tương tác hỗ trợ lẫn nhau và tạo ra sự chú ý tầm quốc tế. Tôi thì cho rằng, cần ưu tiên hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành hướng tới một công nghệ cụ thể. Nếu ý định chế tạo ô-tô hay tàu thủy Việt Nam thực sự là nghiêm túc thì chúng ta cần giúp tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh phục vụ cho các mục tiêu cụ thể đó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cơ học tính toán: hướng đến nghiên cứu ở các viện chuyên ngành      Các mô hình lý thuyết của cơ học tính toán có thể ứng dụng trong thiết kế các sản phẩm ngành xây dựng, cầu đường, chế tạo máy, y tế…, góp phần đem lại những ưu điểm về độ bền, thẩm mỹ, tính hiệu quả của sản phẩm, đồng thời tiết kiệm được nguyên vật liệu, thời gian và kinh phí đầu tư. Tuy nhiên để thuyết phục doanh nghiệp sử dụng kết quả nghiên cứu của cơ học tính toán, trước hết các nhà nghiên cứu cần nâng cao uy tín khoa học của mình.      Không có nhà khoa học Việt Nam nào được mời tham gia dự án công trình cầu Nhật Tân dù về nguyên tắc, chúng ta có thể đảm trách một số công việc ở giai đoạn thiết kế. Nguồn: Zing.vn  Điểm mạnh của cơ học tính toán Việt Nam  Ngành cơ học – cũng như nhiều lĩnh vực khác, phát triển theo ba hướng chính là lý thuyết, thực nghiệm và tính toán, trong đó cơ học tính toán là lĩnh vực Việt Nam tiếp cận trình độ thế giới nhanh nhất và tốt nhất. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua hoạt động của Quỹ NAFOSTED những năm gần đây: cơ học tính toán có đề tài được tài trợ nhiều nhất, số lượng nhà nghiên cứu tham gia đông đảo nhất và công bố cũng áp đảo với 3/4 công bố ngành cơ học.    Điểm mạnh của cơ học tính toán là có thể giúp các nhà nghiên cứu kiểm chứng được các phán đoán lý thuyết, góp phần giải quyết nhiều vấn đề của thực nghiệm – vốn không phải thế mạnh của Việt Nam, và đưa cơ học vào các thiết kế ứng dụng cụ thể. Với nền tảng là những chương trình và công cụ tính toán rất mạnh, cơ học tính toán có đủ “đất” phát triển cho những người giỏi và cả những người có trình độ trung bình mà trong đó sự khác biệt giữa họ chính là sự vững vàng về nền tảng kiến thức và sự sáng tạo, đủ khả năng thiết kế được những mô hình phù hợp với yêu cầu của các bài toán chuyên biệt về kết cấu vật liệu, cấu trúc của các công trình hiện đại, kết nối từ khâu thiết kế đến chế tạo sản phẩm như in 3 D…  Thêm một thuận lợi cho Việt Nam là cơ học tính toán là một hướng phát triển mạnh của cơ học thế giới, số lượng tạp chí quốc tế trong lĩnh vực này cũng khá lớn nên các nhà nghiên cứu Việt Nam có nhiều điều kiện xuất bản các công trình của mình và bắt kịp các đồng nghiệp quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có một số gương mặt nổi trội như PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng (Đại học Công nghệ TPHCM), PGS. TS Lê Văn Cảnh (Đại học Quốc tế, ĐH Quốc gia TPHCM), PGS. TS Nguyễn Thời Trung (Đại học Tôn Đức Thắng), TS. Lê Hoài Châu (công ty MB R&D)… Đặc biệt, theo xếp hạng của Web of Sciences, trong ba năm liền từ 2014 đến 2016, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng đều lọt vào tốp các nhà khoa học có công trình được trích dẫn nhiều nhất thế giới. Với quan hệ quốc tế rộng, ở tuổi 40, Hùng có được hơn 100 bài báo quốc tế chuẩn SCI-SCIE, hơn 4.000 trích dẫn và chỉ số H là 40. Không chỉ có công bố tốt, họ còn là những người đi đầu về ứng dụng cơ học tính toán tại Việt Nam: PGS. TS Lê Văn Cảnh chuyên về kết cấu công trình, nền móng, nổi bật có công trình tính toán kết cấu nền móng cho Trung tâm thương mại siêu thị ôtô Trường Hải tại Cần Thơ, giúp tiết kiệm kinh phí xây dựng đến 5 tỉ đồng, PGS. TS Nguyễn Xuân Hùng tính toán khả năng chịu lực của thiết bị in 3 D trong y tế, TS. Lê Hoài Châu thành lập công ty BM R&D, một startup thực hiện hợp đồng thiết kế về tối ưu kết cấu chịu lực của các chi tiết, thiết bị máy móc với các hãng chế tạo máy, ô tô của Mỹ…  Giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu  Những năm gần đây, với hoạt động đầu tư cho khoa học cơ bản của Quỹ NAFOSTED, nghiên cứu trong lĩnh vực cơ học đã có một số thành tựu kể trên nhưng chủ yếu mới quy tụ ở các nhà nghiên cứu thuộc Viện Cơ học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và một số trường đại học còn các viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện KH&KT Xây dựng, Viện KH&KT Giao thông vận tải, Viện thiết kế và chế tạo tàu thủy, Viện Cơ khí… với những nghiệm vụ nghiên cứu gắn với ứng dụng thì số lượng công bố quốc tế rất ít dù ở những viện này không thiếu tiến sĩ trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài về và từng có công bố quốc tế.    Đây là một phần nguyên nhân khiến cho các nhà cơ học tính toán Việt Nam vẫn chưa có đủ uy tín quốc tế nên hầu như không được mời tham gia tư vấn cho phần lớn các dự án xây dựng lớn ở Việt Nam như cầu đường, chung cư…, ví dụ công trình cầu Nhật Tân do đơn vị tư vấn thiết kế Chodai – Nippon Engineering Consultants thực hiện không có bất cứ nhà khoa học Việt Nam góp mặt, cho dù về nguyên tắc thì chúng ta có đủ năng lực đảm trách một số công việc ở giai đoạn thiết kế, xác định các kết cấu chịu lực tốt nhất cho từng chi tiết, hạng mục công trình để đảm bảo độ an toàn mà vẫn tiết kiệm được nguyên vật liệu, rút ngắn thời gian thi công.  Nguyên nhân gì khiến không khí nghiên cứu khoa học các viện nghiên cứu chuyên ngành đó trầm lắng? Theo tôi có ba nguyên nhân chính:  Thứ nhất có lẽ NAFOSTED vẫn còn chưa có chính sách mở rộng, hướng đến các viện chuyên ngành, trong khi khối lượng các viện của các Bộ, ngành như thế này rất lớn, vì thế nhiều viện vẫn còn chưa biết đến sự tồn tại của một quỹ đầu tư cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam như NAFOSTED.  Thứ hai, bản thân các viện chuyên ngành đó chưa có chính sách khuyến khích đội ngũ anh em làm nghiên cứu, chưa đòi hỏi  nâng cao chất lượng nghiên cứu thông qua xuất bản công trình trên các tạp chí quốc tế khi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, vì thế tinh thần phải nghiên cứu khoa học và có công bố quốc tế chưa thật sự lan tỏa. Cùng vì lẽ đó mà nhiều anh em cứ về tới Việt Nam là không còn quan tâm đến nghiên cứu mà chỉ xoáy vào thực hiện “đề tài”, “nhiệm vụ” hoặc theo đuổi một số “phi vụ” – những công việc không đem lại đủ dữ liệu và tầm khoa học để cho ra được công bố.  Thứ ba, cơ chế “đặt việc” không có sự cạnh tranh, không công khai để có thể chọn được những nhà nghiên cứu có nhiều mô hình tính toán tốt và có nhiều sáng tạo.  Vì những nguyên nhân này mà đến nay, cơ học tính toán nói riêng và ngành cơ Việt Nam nói chung còn phát triển chưa rộng khắp và chưa đủ mạnh. Ngay cả ở cấp độ nghiên cứu, khi thực hiện một số đề tài nghiên cứu cơ bản, tôi cũng rất cần hợp tác với nhiều nhà cơ học tính toán ở một số lĩnh vực liên quan để kiểm chứng lại một số vấn đề của lý thuyết đặt ra, hay đưa lý thuyết vào ứng dụng, nhưng tôi cũng rất khó tìm được người phù hợp với mục tiêu của mình. Nếu môi trường nghiên cứu được mở rộng và phát triển mạnh thì những vấn đề như thế này sẽ dần được giải quyết, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, qua đó chúng ta sẽ có nhiều chuyên gia uy tín hơn và đủ năng lực tư vấn hơn.  Do đó, chúng ta phải làm khoa học thật nghiêm chỉnh, phải có chỗ để những người khoa học giỏi làm đầu tàu thật sự. Khi khoa học thực sự phát triển, nhà khoa học đủ tốt và uy tín thì ta mới có thể làm việc thực sự với doanh nghiệp trong và ngoài nước được, vì giỏi thì doanh nghiệp mới tin và mời tư vấn, tham gia giải quyết các vấn đề của họ.    Author                Phạm Đức Chính        
__label__tiasang Cơ hội và thách thức cho KH&CN trong tái cấu trúc kinh tế      Để thực hiện được nhiệm vụ “tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng” mà Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 mới đây đã đề ra, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ của KH-CN, tri thức trong tất cả các giai đoạn của hoạch định chính sách, dự án, từ khâu cải cách thể chế ở tầm vĩ mô đến tầm vi mô.      Kết luận Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã mạnh mẽ khẳng định yêu cầu: “tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, … tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất: tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công;  cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước”. Lần đầu tiên, Tổng Bí thư cũng thăng thẳn đề ra yêu cầu khắc phục “tư duy nhiệm kỳ” và “lợi ích nhóm”. Những yêu cầu này xuất phát từ thực tế kinh tế-xã hội của đất nước là hiệu quả đầu tư rất thấp, chi phí đầu tư quá cao, chi phí sản xuất và tiêu hao năng lượng, điện, nước, tài nguyên, vật liệu đều rất cao trong tất cả các ngành từ nông nghiệp đến công nghiệp, xây dựng v.v., vừa gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, vừa không tạo ra năng lực cạnh tranh cần thiết trên thị trường trong nước và thế giới. Kinh tế Việt Nam đã phải cần một lượng đầu tư, tiền, tín dụng cao hơn hẳn các nước trong khu vực để đạt được tốc độ tăng trưởng chỉ bằng họ nhưng lạm phát, nhập siêu, bội chi ngân sách, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài tăng lên nhanh chưa từng thấy. Việt Nam phải thực thi những cải cách mạnh mẽ và có hiệu lực, nếu không tình hình kinh tế- xã hội sẽ có thể diễn biến rất phức tạp.   Điều hiển nhiên là đã có những con người, cơ chế, chính sách nhất định dẫn đến tình trạng rất đáng lo ngại trên. Để thay đổi mô hình tăng trưởng gắn liền với tái cơ cấu kinh tế cần thay đổi mạnh mẽ về cơ chế, chính sách do những người cải cách thực hiện. Rõ ràng rằng không thể thay đổi mạnh mẽ mà không thay đổi tư duy, cơ chế, chính sách. Trong toàn bộ quá trình này KH-CN thuộc tất cả các bộ môn có cơ hội đóng góp to lớn và cũng đứng trước những thách thức không nhỏ.  Để thực hiện được nhiệm vụ đúng đắn được đề ra trên đây, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ của KH-CN, tri thức trong tất cả các giai đoạn của hoạch định chính sách, dự án, từ khâu cải cách thể chế ở tầm vĩ mô đến tầm vi mô.  Nhiệm vụ đầu tiên là phải mở rộng dân chủ, thực sự thu hút các nhà khoa học, chuyên gia độc lập để phân tích chính xác, khoa học, khách quan thực trạng kinh tế, những nguyên nhân trực tiếp và căn nguyên sâu xa dẫn đến thực trạng được phát hiện. Những nhận định của Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng là những căn cứ quan trọng để tiếp tục đào sâu, chỉ rõ những cơ chế chính sách nào đã tạo ra cơn đại hồng thủy về đầu tư, vay nợ tràn lan với trình độ KH-CN rất lạc hậu. Cần phải làm rõ những cám dỗ nào đã dẫn đến tình trạng các tập đoàn kinh tế nhà nước đua nhau dùng tiền vốn của nhà nước lập các công ty con, cháu, đầu tư ra ngoài ngành trong khi nhiệm vụ chính còn rất nhiều bất cập. Cần làm rõ những “nhóm lợi ích” nào đứng đằng sau việc đua nhau xây cảng biển, sân bay, thủy điện, cho nước ngoài thuê rừng v.v. bất chấp các kiến nghị của các nhà khoa học và các chuyên gia. Chính sự cám dỗ và động lực vật chất ngắn hạn đó đã giết chết động lực đầu tư vào KH-CN, nâng cao năng lực nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường. Chừng nào không thay đổi được xu hướng kiếm được lợi nhuận dễ dàng bằng cách khai thác tài nguyên, khai thác mỏ, phá rừng với chi phí rất thấp thì động lực vận dụng KH-CN, sáng tạo, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống để tăng trưởng lâu dài không có chỗ đứng.  Để thực hiện những cải cách đúng đắn đã được nêu trên, trước hết, rất cần lập ra Ủy ban Cải cách Kinh tế của Bộ Chính trị, có quyền hạn và nhiệm vụ thích đáng, tổ chức việc nghiên cứu, giao nhiệm vụ, giám sát, thúc đẩy việc thực thi các cải cách cho Chính phủ và bộ máy các cấp thực hiện. Ủy ban này sẽ thực hiện dân chủ rộng rãi, huy động các nhà khoa học trong nước và ngoài nước, thực hiện công khai minh bạch, huy động sự tham gia sôi nổi, năng động của các đoàn thể, các tổ chức, hiệp hội chuyên môn cũng như các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân. Trong toàn bộ quá trình này, KH-CN, các hiệp hội và chuyên gia có vai trò rất to lớn trong việc xác định được nguyên nhân và tìm ra giải pháp phù hợp với tình hình đất nước.   Trong ba khâu đột phá quan trọng được Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định, rõ ràng khâu cải cách doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là cải cách các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước là then chốt và trọng yếu nhất, vì khu vực này đang nắm giữ những đỉnh cao chỉ huy của nền kinh tế và những ngành công nghiệp, dịch vụ có ‎ nghĩa quyết định hiệu quả, năng suất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thay vì bổ nhiệm các chủ chốt bằng những quyết định không có điều kiện ràng buộc, thiếu công khai, minh bạch cần chuyển sang tuyển chọn công khai các ứng cử viên từ các nguồn trong xã hội trên cơ sở cạnh tranh nhằm đáp ứng những yêu cầu nhất định đối với tập đoàn hay tổng công ty do các chuyên gia đề xuất như yêu cầu tăng năng suất lao động, tăng tỷ suất lợi nhuận, đổi mới KH-CN, giảm tiêu hao năng lượng, vật tư, ô nhiễm môi trường, tăng xuất khẩu v.v.. mà doanh nghiệp cần đạt được.Các chức danh chủ chốt cần được bổ nhiệm công khai trên cơ sở hợp đồng trách nhiệm có thời hạn, thực thi các yêu cầu nêu lên. Nếu thực hiện trên mức cam kết sẽ được thưởng, nếu không thực hiện được sẽ phải thay đổi. Bằng cách đó có thể tạo ra luồng sinh khí mới trong khu vực kinh tế trọng yếu này.  Hy vọng những cải cách mạnh mẽ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ tạo ra động lực và môi trường thuận lợi để phát huy KH-CN.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Cớ sao phải lo?      Nhà nước đã chọn được nhà toán học người  Việt xuất sắc nhất theo đúng nghĩa của từ này để lãnh đạo Viện Nghiên  cứu Cao cấp về Toán, cái viện đáng lẽ ra đã được thành lập từ thời Thủ  tướng Võ Văn Kiệt, cớ gì mà chúng ta phải lo lắng nhiều như vậy trong  cái thời điểm mà có biết bao chuyện phải lo như lúc này?      Tôi xin tự giới thiệu là người của cái Viện Toán “cũ”, mà theo cách gọi đùa (khiến nhiều người tưởng thật) của anh  Ngô Việt Trung là “Viện Toán sơ cấp” sau khi Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) được thành lập với Ngô Bảo Châu là Giám đốc khoa học và GS Lê Tuấn Hoa là Giám đốc điều hành.      Quy chế hoạt động của VIASM có thể xem trên mạng  http://vms.org.vn/news/QD2343TTG.PDF  Nhưng chắc nhiều người không có thời gian đọc, vậy tôi xin có vài dòng vừa chủ quan (vì là người làm toán) vừa khách quan (vì không nằm trong cái viện mới đó).     Trước hết xin nói về tiền. 650 tỷ cho 10 năm, vị chi là 65 tỷ hàng năm, gấp khoảng 10 lần kinh phí Viện Toán “sơ cấp” hiện nay. Tôi cứ giả sử cái Viện “sơ cấp” hiện nay của tôi được cấp chừng ấy kinh phí, thì theo tỷ lệ, lương tôi được khoảng 40 triệu một tháng. Chừng đó là số lương mà Đại học Tân Tạo trả cho một số Ph.D. xuất sắc về Toán mới từ nước ngoài về. Như vậy, nếu mà Viện Toán “sơ cấp” hàng năm được nhận 65 tỷ thì cũng chưa phải là cái gì quá khủng khiếp khiến báo chí tốn nhiều giấy mực tới vậy. Mặt khác cũng xin lưu ý rằng chi phí xây dựng 1 km đường (như con đường Xã Đàn ở Hà Nội) là 100 tỷ (tính theo thời giá khi xây con đường đó). Như vậy VIASM trong 10 năm có kinh phí của 6,5 km đường.     Vấn đề không phải là bao nhiêu tiền, mà là tiêu như thế nào. Cái mà thiên hạ lo lắng, ngoài con số tiền tỷ không lồ là lời phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về sự tự chủ của Viện. Theo như báo chí thì Phó Thủ tướng khẳng định Chính phủ không yêu cầu VIASM phải nghiên cứu cái gì, việc sử dụng số kinh phí trên như thế nào là quyền của GS Ngô Bảo Châu và Hội đồng khoa học*…             VIASM không có khả năng đóng góp vào việc  sản xuất xe máy ở Việt Nam hay “mua vui cho mọi người trong vài trống  canh” nhưng đóng góp của nó cho cộng đồng toán học Việt Nam, qua đó ảnh  hưởng tích cực tới chất lượng giảng dạy Toán học ở bậc đại học, cho đào  tạo giáo viên phổ thông,…, là hoàn toàn hiện thực. Và đó cũng là mục  đích, nhiệm vụ của VIASM.        Tôi có may mắn được nghe bài phát biểu đó của Phó Thủ tướng. Tôi không ghi âm và không chép nhưng cái mà tôi hiểu qua lời phát biểu là tinh thần tôn trọng quyền tự quyết của VIASM, đặc biệt là trong nghiên cứu. Đối với tôi đó là một thắng lợi. Cantor nói: “Bản chất của Toán học là tính tự do của nó” (The essence of mathematics is its freedom). Toán học không phải là một khoa học làm ra sản phẩm trực tiếp cho xã hội, vật chất cũng như tinh thần. Cái mà nhiều người lo lắng là tại sao nước ta, một nước chưa phát triển, lại xài sang như vậy – bỏ ra tới 6,5 km tiền đường để đầu tư vào Toán học, một ngành, theo nhiều người, là chẳng có ích gì cho Kinh tế-Xã hội cả? Tôi xin chép nguyên văn một đoạn trong Điều 3 (Nhiệm vụ) của Quy chế hoạt động của VIASM.     b) Tạo điều kiện làm việc thuận lợi để nâng cao trình độ các nhà toán học trẻ của các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ sở ứng dụng Toán học trong cả nước;  c) Tạo điều kiện làm việc thuận lợi để các nhà toán học Việt Nam có năng lực trở thành các chuyên gia quốc tế;  d) Hỗ trợ thiết lập và tăng cường hợp tác nghiên cứu và đào tạo của các nhà toán học trong nước; hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài;  đ) Hỗ trợ và thúc đẩy hợp tác giữa Toán học và các ngành khoa học có liên quan như: Vật lý, Khoa học máy tính, Khoa học trái đất, Khoa học sự sống, Kinh tế…     Như vậy mục tiêu đầu tiên của cái viện mới này là nâng cao “chất lượng nghiên cứu” của cộng đồng toán học, cái “chất lượng” này sẽ ảnh hưởng tích cực tới chất lượng giảng dạy toán học ở đại học và phổ thông. Tại thời điểm này tôi có thể khẳng định rằng một Ph.D. về toán với đúng nghĩa của từ này có thể xin việc tại bất cứ khoa Toán nào ở các trường đại học của Việt Nam. Điều đó phản ánh thực tế: nền giáo dục và khoa học của Việt Nam đang thực sự thiếu những người có trình độ về Toán. Như vậy VIASM không có khả năng đóng góp vào việc sản xuất xe máy ở Việt Nam hay “mua vui cho mọi người trong vài trống canh” nhưng đóng góp của nó cho cộng đồng toán học Việt Nam, qua đó ảnh hưởng tích cực tới chất lượng giảng dạy Toán học ở bậc đại học, cho đào tạo giáo viên phổ thông,…, là hoàn toàn hiện thực. Và đó cũng là mục đích, nhiệm vụ của VIASM.     Quay lại cái chuyện Phó Thủ tướng giao toàn quyền tự chủ cho VIASM, tôi cũng xin chép nguyên văn một đoạn khác trong Quy chế:  Điều 6. Đánh giá hoạt động:  Kết quả hoạt động của Viện sẽ được đánh giá định kỳ 03 năm một lần theo thông lệ quốc tế với sự tham gia của các nhà toán học hàng đầu của Việt Nam và các nhà toán học quốc tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập trên cơ sở đề nghị của Giám đốc khoa học.     Theo thiển ý của tôi, Nhà nước đã chọn được nhà toán học người Việt xuất sắc nhất theo đúng nghĩa của từ này để lãnh đạo cái viện đáng lẽ ra đã được thành lập từ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cớ gì mà chúng ta phải lo lắng nhiều như vậy trong cái thời điểm mà có biết bao chuyện phải lo như lúc này?     —  (*) Thông báo tài trợ nghiên cứu của VIASM có thể xem trên trang web của Viện.          * GS.TS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học:   Số  tiền 650 tỷ là dành cho Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển  toán học đến năm 2020. Phần lớn số tiền này sẽ dành cho việc xây dựng  trụ sở Viện toán cao cấp. Để thấy số tiền này có lớn không ta chỉ cần so  với kinh phí 450 tỷ xây Trường trung học phổ thông Amsterdam.   Kinh phí hàng năm của Viện Toán cao cấp  được cấp theo Chương trình hoạt động cụ thể hàng năm và phải tuân thủ  định mức chi tiêu đã được Nhà nước quy định. Ví dụ như định mức thù lao  nghiên cứu được dựa theo mức của Đại học quốc tế ỏ TP. HCM (thua xa Đại  học Tân Tạo). Có thể thấy ngay kinh  phí hoạt động hàng năm của Viện toán cao cấp không thể “cao cấp” được.  Ví dụ như kinh phí được duyệt cho năm 2012 là 15 tỷ. Số tiền này có lẽ  chỉ bằng kinh phí chi cho 3 giáo sư toán học ở các nước phương Tây làm  việc hàng năm.   Kinh phí hoạt động như vậy quá nhỏ so với  kinh phí hoạt động năm 2011 của các Viện nghiên cứu cao cấp tương tự ỏ  các nước châu Á(quy ra đồng Việt Nam): Viện toán Lahore (Pakistan): 40  tỷ; Viện toán INSPEM (Malaysia): 40 tỷ; Viện toán Viện hàn lâm Đài Loan:  riêng tiền thư viện hàng năm là 20 tỷ; Viện nghiên cứu cao cấp Hàn  Quốc: 400 tỷ cho 3 ngành Toán, Lý, Tính toán (100 cán bộ nghiên cứu); Viện Tata ở Mumbay (Ấn Độ): 600 tỷ cho 4 ngành Toán, Lý, Tin học và Sinh vật.     * PGS.TS Trần Minh Tiến, Viện Vật lý:   Tôi nghĩ Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán  đã là việc xong rồi, bàn ra tán vào cũng không có ích gì nữa. Giá như  trước khi quyết định thành lập, Chính phủ lấy ý kiến rộng rãi của cộng  đồng khoa học thì có lẽ bây giờ, và mai sau sẽ đỡ có ý kiến dị nghị hơn.  Tôi thấy chung quy dư luận hay dị nghị này nọ chẳng qua là do công luận  thiếu niềm tin vào cộng đồng khoa học nói chung và cộng đồng toán học  nói riêng. Có thể có những lý do khác nhau khiến công luận không có niềm  tin đó. Quá khứ là một lý do. Lý do khác là có những việc làm khiến  công luận không thể đặt niềm tin được, tôi lấy ví dụ, Hội Toán học từng  đề nghị đưa một số người, theo những cách đánh giá nào đó, là chưa xứng  đáng, vào Hội đồng Học hàm ngành toán. Ngoài ra, bây giờ tôi mới biết  con số 650 tỷ này còn cho xây dựng cơ bản nữa, mà mọi người đều biết  thất thoát trong xây dựng cơ bản được thừa nhận là 40%. Thành ra tiên  trách kỷ, hậu trách nhân.     Thôi đành hy vọng Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán sẽ lấy lại được niềm tin của công chúng vào khoa học.        * GS.TS Lê Tuấn Hoa, Giám đốc điều hành VIASM:               Vì  là người trong cuộc, tôi không muốn lên tiếng. Chỉ quyết cùng với các  nhà toán học xây dựng thành công VIASM. Chúng tôi rất biết, nó ra mắt  chưa có nghĩa là đã thành công. Còn khi nào thấy thành công thì chỉ có  thời gian mới trả lời được. Mọi lí lẽ chúng tôi có đưa ra cũng chỉ là biện minh.   Tất nhiên Ban Giám đốc và Hội đồng Khoa  học, ban tư vấn có chiến lược phát triển đàng hoàng, nhưng công bố cũng  phải theo tình hình triển khai. Chúng tôi cũng không chạy theo số lượng,  vì ai đó dự Forum trước lễ ra mắt quốc tế của VIASM nghe báo cáo đã  thấy: Malaysia có tạp chí toán ở SCI-E, Viện Toán ở Lahore của Pakistan  có số bài báo khoảng trên 200 ở SCI-E trở lên trong năm 2010, còn KIAS  của Hàn Quốc chỉ có chưa đến 40 (mà anh Ngô Việt Trung đã thống kê, ngân  sách của họ là 20 triệu USD). Tất nhiên là do cách tính của mỗi nơi.  Nhưng ai cũng biết Hàn Quốc tiến như thế nào trong 20 năm qua và vai trò  của KIAS, KAIST như thế nào. Tôi chỉ bổ sung thêm một điều: VIASM sẽ  chỉ được hưởng cỡ một nửa trong số 650 tỷ của Chương trình Toán. Con số  650 tỷ hay một nửa của nó có giải  ngân được hay không thì không ai biết được. Dù sao chăng nữa điều đó  không quan trọng. Nếu làm được việc có ý nghĩa thì gần 400 tỷ (như dự  định ban đầu) hay có tất cả 650 tỷ đến 2020 vẫn là quá ít. Còn không làm  được gì, thì dù có 10 tỷ cũng là xa xỉ.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Có sự thiên vị trong các khoản tài trợ uy tín của châu Âu ?      Theo một nghiên cứu về vòng tài trợ năm 2014, nhiều khả năng là các khoản tài trợ uy tín của Liên minh châu Âu – vốn dành cho các nhà khoa học ở giai đoạn đầu sự nghiệp – được các ủy ban xét duyệt tài trợ trao cho những ứng viên có mối liên hệ với cơ quan nghiên cứu của một số thành viên trong ủy ban xét duyệt.      Sự thiên vị dường như chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học sự sống, KHXH&NV. Nguồn: Nature    Có hai điểm đáng chú ý là tác động này dường như chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học sự sống, KHXH&NV; bản thân nghiên cứu này hiện nay vẫn chưa được bình duyệt. Tuy nhiên, “những phát hiện này cần được xem xét một cách nghiêm túc”, đồng tác giả nghiên cứu, Peter van den Besselaar, một nhà khoa học xã hội tại ĐH Tự do Amsterdam, cho biết.     Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy bằng chứng về sự thiên vị trong các khoản tài trợ ở những quốc gia châu Âu, nhưng “tôi rất ngạc nhiên khi hiện tượng này lại được ghi nhận ở mức cao đến vậy trong khoản tài trợ của ERC”, Giovanni Abramo, giám đốc nghiên cứu công nghệ tại Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (CNR) của Ý, cho biết.     Khoản tài trợ ‘khởi đầu sự nghiệp’ ERC là một trong những chương trình tài trợ dành cho các nhà khoa học trẻ có uy tín nhất trong giới học thuật, trao đến 1,5 triệu euro trong vòng năm năm cho các tiến sĩ trẻ tài năng đã hoàn thành chương trình đào tạo nghiên cứu sinh từ bảy năm trở lại. Van den Besselaar và Charlie Mom – một nhà tư vấn nghiên cứu đang làm việc tại Amsterdam, đã cùng đánh giá sự thiên lệch trong phân bổ các khoản tài trợ giai đoạn 2014, với 3.207 người nộp hồ sơ xin tài trợ và 375 người nhận được tài trợ.     Các tác giả đã xem xét thứ mà họ gọi là “hiệu ứng thân cận với người trong hội đồng Quỹ” – nếu người trong hội đồng ‘ở chung nhà’, nghĩa là đến từ cùng một trường đại học hoặc cơ quan nghiên cứu của ứng viên; hoặc đến từ ‘tổ chức chủ trì’ nơi người trong ứng viên dự định thực hiện nghiên cứu – thì sẽ gây ra các tác động như thế nào.     Họ phát hiện ra, với tất cả các lĩnh vực, những ứng viên ở ‘chung nhà’ và ‘tổ chức chủ nhà’ với một thành viên trong hội đồng trở lên thì khả năng nhận được tài trợ sẽ cao hơn 40% so với nhóm còn lại. Những trường hợp này chủ yếu nằm ở những người nộp đơn dự định sẽ sử dụng khoản trợ cấp tại cơ quan mà họ đã đăng ký. Tỷ lệ thành công của những người nộp đơn kể trên cao hơn khoảng 80% so với mức trung bình trong lĩnh vực khoa học sự sống, 40% trong lĩnh vực KHXH&NV nhưng điều này dường như lại khá mờ nhạt trong lĩnh vực vật lý và kỹ thuật.     Van den Besselaar thừa nhận, “hiệu ứng thân cận với hội đồng Quỹ” cũng chưa chắc là bằng chứng của thiên vị, bởi những người nộp đơn chất lượng nhất có xu hướng tập trung tại một số cơ quan nghiên cứu nhất định. Để kiểm tra điều này, họ đã đánh giá xem liệu những người nộp đơn có mối quan hệ gần với một người trong hội đồng thì có điểm tốt hơn trên các thước đo về thành tích nghiên cứu học thuật hay không. Phân tích cho thấy, những người nộp đơn thành công và có quan hệ với thành viên hội đồng, lại đạt điểm kém hơn về các chỉ số thành tích so với những người nộp hồ sơ nhận được tài trợ mà không có quan hệ với thành viên hội đồng, và thậm chí còn thấp hơn một số ứng viên không được nhận tài trợ. Tuy vậy, “không thể giải thích ‘hiệu ứng than cận với hội đồng Quỹ’ bằng cách chỉ ra thành tích của những người nộp hồ sơ”, Van den Besselaar nói.  Ngược lại, những ứng viên có quan hệ dường như xuất bản thường xuyên hơn trên các tạp chỉ có chỉ số IF cao và có nhiều hợp tác hơn với những nhà nghiên cứu từ các tổ chức xếp hạng cao. Tuy nhiên, các tác giả đã phân loại hai thước đo này như là dấu hiệu của danh tiếng hơn là thành tích.     Theo chính sách của ERC, nếu một thành viên hội đồng làm việc trong cùng một tổ chức với người nộp đơn, ERC sẽ không cho phép họ – trừ một số trường hợp ngoại lệ – tham gia xét duyệt và yêu cầu họ rời khỏi các cuộc họp khi thảo luận về hồ sơ của ứng viên này. Van den Besselaar và Mom không trực tiếp quan sát các hội đồng làm việc để biết rằng liệu họ có tuân thủ quy tắc này hay không.     Trong tuyên bố qua e-mail, ERC cho biết không thể bình luận gì vì nghiên cứu này chưa được bình duyệt. □  Hà Trang dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-021-01362-8             Author                Quản trị        
__label__tiasang Con đường hội nhập thế giới của khoa học Việt Nam      Hai thập kỷ hội nhập với thế giới về kinh tế đ&#227; gi&#250;p cho Việt Nam phần n&#224;o tho&#225;t khỏi cảnh ngh&#232;o đ&#243;i bế tắc của những năm 1980. Để trở th&#224;nh một nước văn minh, Việt Nam cần hội nhập một c&#225;ch to&#224;n diện, kh&#244;ng chỉ về kinh tế m&#224; c&#242;n về những mặt kh&#225;c, trong đ&#243; c&#243; khoa học. Việt Nam đ&#227; đạt được một số th&#224;nh t&#237;ch khoa học trong những thập kỷ qua, v&#224; đ&#227; c&#243; những biểu hiện t&#237;ch cực trong việc hội nhập thế giới, v&#237; dụ như việc gửi SV v&#224; NCS đi đ&#224;o tạo ở c&#225;c nước ti&#234;n tiến theo chương tr&#236;nh 322, việc th&#224;nh lập Đại học quốc tế Việt-Đức, việc h&#236;nh th&#224;nh Quĩ ph&#225;t triển khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ quốc gia, việc Bộ KH&amp;CN mua quyền truy cập điện tử tới hơn 2000 tạp ch&#237; quốc tế, việc trực tuyến h&#243;a c&#225;c tạp ch&#237; khoa học của Việt Nam, v.v. Tuy nhi&#234;n, nền khoa học Việt Nam c&#242;n rất nhiều vướng mắc trong quản l&#253;, v&#224; th&#224;nh t&#237;ch c&#242;n rất khi&#234;m tốn.                 Quốc tế hóa khoa học  Trong báo cáo của Đại học Harvard gửi Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng [1] có viết: “Sử dụng mọi thước đo khách quan, dường như nền khoa học và công nghệ của Việt Nam là một thất bại”. Theo một thống kê của GS Phạm Duy Hiển [2] dựa theo cơ sở dữ liệu ISIKOWLEDGE, tổng số bài báo khoa học công bố quốc tế của Việt Nam trong năm 2007 là 691 bài, chưa bằng 1% của Trung Quốc (81006 bài). Ngay ngành toán học của Việt Nam, được coi là ngành khoa học phát triển tốt nhất, cũng có vị trí rất khiêm tốn trên thế giới [3,4]. Nếu nhìn sang các ngành khoa học khác, ví dụ như cơ học, tình hình có vẻ còn khó khăn hơn nhiều [5]. Con đường hội nhập thế giới của khoa học Việt Nam ắt hẳn còn rất dài và có nhiều trở ngại, cần nhiều thời gian (có thể hàng chục năm hay hàng thế hệ), cần những sự thay đổi đột phá rất lớn, và phụ thuộc nhiều vào tầm nhìn và độ tâm huyết của đội ngũ lãnh đạo ở Việt Nam. Những thế hệ lãnh đạo khoa học mới phải là những trí thức đã từng làm khoa học nghiêm chỉnh thực sự, có tầm nhìn xa và đủ bản lĩnh để tạo ra những thay đổi cơ bản trong việc quản lý khoa học.  Để Việt Nam thực sự hội nhập với thế giới về khoa học, một trong những chiến lược quan trọng nhất là cần phải quốc tế hóa khoa học. Cụm từ quốc tế hóa khoa học mà tôi muốn dùng ở đây bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có:  – Nâng tỷ lệ đầu tư cho khoa học lên ngang tầm quốc tế  – Học tập những mô hình quản lý và phát triển khoa học đã thành công trên thế giới, xóa bỏ những cơ chế vướng mắc cản trở khoa học của Việt Nam.  – Đi theo chuẩn mực quốc tế về chất lượng của các công trình khoa học, bằng cấp khoa học, tạp chí khoa học, và sự trung thực trong khoa học.  – Đi theo chuẩn mực quốc tế về môi trường làm việc khoa học, trong đó có cả điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về lương bổng, và điều kiện về tự do tư tưởng trong khoa học.  – Thu hút các nhà khoa học quốc tế (trong đó có Việt kiều) đến làm việc hay hợp tác ở Việt Nam, tăng cường tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế ở Việt Nam, thiết lập các trung tâm khoa học quốc tế ở Việt Nam, với sự tham gia của các tổ chức quốc tế hoặc của các nước khác  – Khuyến khích các nhà khoa học Việt Nam đi hội nghị và hợp tác khoa học ở nước ngoài, và tham gia vào các hiệp hội khoa học trên thế giới.  – Cập nhật các tri thức khoa học thế giới và tìm cách ứng dụng chúng vào Việt Nam, và đóng góp các nghiên cứu của Việt Nam hoặc về Việt Nam cho thế giới.           – Đưa vào sử dụng những công nghệ thông tin hiện đại nhất phục vụ cho việc hợp tác, trao đổi, tìm hiểu và truyền bá thông tin và kiến thức khoa học, khuyến khích mô hình “online” (như online cooperation, online conference) trong khoa học, v.v.  Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ muốn bình luận thêm một chút một vài điểm trong những điểm vừa nêu ở trên.                     Một rồng hay mười giun?    GS Hoàng Tụy [6] và nhiều trí thức khác từng có những nhận xét rất chua xót về tình trạng kém chất lượng trong khoa học và giáo dục, bằng rởm, danh hão ở Việt Nam. Đôi khi tôi tự hỏi tình trạng đó có phải là một trong những nét đặc trưng của “người Việt Nam xấu xí” chúng ta không ? Trong văn học dân gian Việt Nam có chuyện về một ông trạng nguyên (Trạng Quỳnh) có một lần thi vẽ tranh với Sứ Tàu. Sứ Tàu còn đang mải miết vẽ chưa xong đầu của con rồng, thì Trạng Quỳnh đã dùng 10 đầu ngón tay vẽ nguyệc ngoạc ra 10 con giun. Tôi không hiểu tại sao dân gian ta lại thích câu chuyện đó đến vậy (có thể tại những lý do lịch sử), nhưng quả thực nếu cách cư xử của ông trạng Việt kia là nét đặc trưng văn hóa của người Việt thì thật đáng buồn: ông trạng Việt không có thực tài (trong hội họa), nhưng thích lươn lẹo, coi thường chuẩn mực về chất lượng, để hòng đạt một danh hão “chiến thắng Sứ Tàu”.  Những xu hướng 10 giun có nguy cơ làm hại đất nước chúng ta trong mọi lĩnh vực, và chúng ta cần tìm cách rũ bỏ được cái văn hóa 10 giun đó. Trong khoa học cũng có nhiều biểu hiện của xu hướng 10 giun. Ví dụ như tình trạng “tiến sĩ giấy”. Dự án “đào tạo 20 ngàn tiến sĩ trong vòng 10 năm” được Nhà nước đề xướng cách đây ít lâu, nếu không cẩn thận cũng sẽ làm sinh ra thêm hàng ngàn tiến sĩ giấy. Chi phí đào tạo một người từ trình độ đại học loại giỏi lên thành tiến sĩ theo chuẩn quốc tế có thể tính trong khoảng 100 ngàn USD Mỹ. Nếu muốn có 20 ngàn tiến sĩ theo chuẩn quốc tế thì chi phí sẽ tính bằng tiền tỷ USD, chia cho 10 năm ra được con số hàng trăm triệu USD một năm. Con số này rất lớn và không khả thi so với tổng ngân sách chi cho khoa học hiện tại (khoảng 400 triệu USD một năm). Nhưng nếu đào tạo không theo chuẩn mực quốc tế, thì kết quả sẽ là có quá nhiều tiến sĩ hữu danh vô thực, và càng nguy hiểm hơn nữa nếu như chính những tiến sĩ hữu danh vô thực này lại là những người sẽ nắm quyền lãnh đạo.  Tuy về số lượng người làm khoa học ở nước ta chưa nhiều, nhưng cái chúng ta thiếu nhất không phải là số lượng, mà là chất lượng. Theo GS Phạm Duy Hiển và TS Phạm Đức Chính [7] thì về kết quả khoa học chúng ta thua xa Thái Lan, tuy rằng nếu tính về “số người làm khoa học” thì chúng ta nhiều hơn họ những 3,3 lần (21 ngàn người so với 6400 người). Bởi vậy chúng ta cần đặt vấn đề phát triển về chất trong khoa học lên hàng đầu. Thay vì muốn có thêm 20 ngàn tiến sĩ trong vòng 10 năm, tại sao chúng ta không quyết tâm sao cho các tiến sĩ mới ở Việt Nam đều đạt chuẩn mực quốc tế và có lương tối thiểu 20 ngàn USD một năm (xứng đáng với trình độ và hiệu quả lao động của họ) ?   Để đảm bảo chất lượng quốc tế cho những tiến sĩ bảo vệ trong nước, Việt Nam cần khắt khe hơn trong các yêu cầu về khoa học, và đồng thời đầu tư nhiều tiền của hơn cho mỗi nghiên cứu sinh. Ví dụ cần quốc tế hóa các hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ, với ít nhất 2 thành viên là các nhà khoa học nước ngoài có uy tín, và người bảo vệ phải có ít nhất một bài báo khoa học đăng trên một tạp chí quốc tế có uy tín. (Có những tiêu chuẩn trên thế giới để giúp đánh giá thế nào là “có uy tín”). Để đạt được bằng “tiến sĩ quốc tế” như vậy ắt hẳn các nghiên cứu sinh cùng thầy hướng dẫn của họ sẽ phải chọn những đề tài khoa học nghiêm chỉnh hơn, mất nhiều thời giờ nghiên cứu hơn. Đổi lại, họ cần được cấp kinh phí tốt hơn, và những người sau khi đã có bằng tiến sĩ “tiêu chuẩn quốc tế” thì cần có mức lương xứng đáng và điều kiện làm việc thích hợp để họ có thể phát huy khả năng của họ, đem lại hiệu quả lao động cao.    Không chỉ trong việc đào tạo tiến sĩ, mà trong mọi việc khác liên quan đến khoa học, Việt Nam cũng cần đi theo chuẩn mực quốc tế về chất lượng. Ví dụ cơ chế xét duyệt phong GS hay PGS hiện tại có xu hướng chạy theo danh hão và rất hình thức, cần được thay đổi. Theo cơ chế hiện tại, một người không có trình độ khoa học nhưng muốn được phong GS hay PGS, có thể đăng mấy “công trình” không ai quan tâm đến trong một tạp chí “vườn” không có phản biện, các “công trình” đó vẫn được được hội đồng xét chức danh tính điểm cho đủ điểm về khoa học. Trong khi đó một người có trình độ và đóng góp thực sự về khoa học thì có khi lại khó được phong GS hay PGS vì không thỏa mãn một vài điều kiện hình thức. Mới đây tôi nghe nói đến dự án “Trung tâm tiến sĩ Việt Nam” mà cười ra nước mắt. Không cần phải là tiến sĩ cũng có thể nhận thấy sự phù phiếm của cái dự án “có một không hai trên thế giới” này [8]. Tôi rất e ngại là cái dự án đó cũng sẽ thành một thứ 10 giun, làm thỏa mãn danh hão của một số người nào đó và giúp một số người khác chiếm dụng một mảnh đất của Nhà nước có giá trị đến hàng trăm triệu USD. Giá như khu đất đó được dùng cho các nhu cầu thực sự của khoa học và những người làm khoa học thì có lẽ có ích hơn nhiều.                         Học tập Senegal?      Các nhà khoa học và giảng viên đại học ở Việt Nam có lương quá thấp so với thế giới, không chỉ so với những nước hiện giàu hơn ta nhiều như Mỹ hay Thái Lan, mà ngay cả so với những nước nghèo như Senegal hay Pakistan. Theo một thống kê của Quĩ tiền tệ Quốc tế IMF, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam, Pakistan và Senegal năm 2007 tính theo PPP (purchasing power parity – điều chỉnh theo giá cả sinh hoạt từ con số GDP) lần lượt là 2589 USD, 2594 USD và 1692 USD (xem [9]), có nghĩa là Pakistan nghèo gần như Việt Nam (và mất ổn định hơn Việt Nam) còn Senegal nghèo hơn Việt Nam. Tôi từng đi công tác tại Dakar (thủ đô của Senegal) năm 2007 và có cảm nhận rõ ràng là Dakar chưa phát triển bằng Hà Nội hay Sài gòn. Thế nhưng lương giảng viên đại học trung bình ở Dakar được khoảng 1500 USD một tháng (và các giảng viên đại học ở Senegal đã từng bãi công đòi tăng lương từ mức trung bình dưới 1000 USD lên mức như vậy). Pakistan còn trả lương cho các nhà khoa học cao hơn nữa, và họ mời nhiều nhà khoa học nước ngoài đến giảng dạy với mức lương cạnh tranh với Âu-Mỹ. Trong khi đó, lương của các giáo sư đầu ngành của Việt Nam kể cả phụ cấp cũng không quá 5-600 USD một tháng. Gần đây TP. HCM có dự án trả “mức lương đặc biệt” cho các chuyên gia Việt kiều được mời về công tác tại Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán, nhưng cái mức đặc biệt đó cũng không quá 1000 USD một tháng, không bằng học bổng của một nghiên cứu sinh ở nước ngoài.   Lương của những người làm khoa học ở Việt Nam cũng quá thấp so với những người có trình độ tương đương làm các ngành khác. Ví dụ một chuyên viên kiểm toán làm cho một công ty kiểm toán nước ngoài ở Việt Nam có mức lương một vài nghìn USD một tháng, một kỹ sữ tin học lành nghề cũng dễ dàng có lương trên 10 triệu VND một tháng. Chẳng nhẽ một giáo sư lại không có hiệu quả lao động bằng họ ? Nếu quả thật là hiệu quả lao động của các giáo sư kém vậy, thì cái chức danh giáo sư có nghĩa lý gì ? Còn nếu như giáo sư là quan trọng, thì tại sao lại bị đối xử kém như vậy ?  Các nước khác trên thế giới khác với Việt Nam ở chỗ nào? Ở chỗ họ thực sự coi trọng chất xám, coi trọng khoa học, thể hiện cụ thể bằng việc trả lương xứng đáng cho các nhà khoa học và giảng viên đại học. Đó cũng là con đường mà Hàn Quốc đã lựa chọn từ cách đây mấy chục năm khi nước này còn nghèo. Tại sao Việt Nam không làm được như họ? Theo tôi không có nguyên nhân khách quan nào (nếu Senegal còn làm được, không có cớ gì mà Việt Nam không đủ tiền để làm), mà chỉ toàn những nguyên nhân chủ quan như: những người lãnh đạo chưa thực sự coi trọng khoa học, và chúng ta chưa đủ quyết tâm chính trị hay bản lĩnh trí thức để đấu tranh và xây dựng một chế độ đãi ngộ hợp lý hơn. Chúng ta đã nhiễm thói “ăn giả làm giả” nên sẽ khó chuyển sang chế độ “ăn thật làm thật” trong khoa học.  Hồi nhỏ, tôi có hay nghe thấy một bác thợ thủ công hàng xóm hát nghêu ngao “ít tiền thì ít thù lao, ít cơm ít gạo thì tao ít làm”. Hồi đó tôi nghĩ bác này hơi “phản động”, nhưng sau mới thấy câu hát của bác là chân lý hết sức giản dị. Nếu Nhà nước trả quá ít tiền cho các nhà khoa học, thì điều tất yếu là họ cũng ít làm. Các giảng viên đại học lương không đủ nuôi vợ con, ắt hẳn sẽ phải nghĩ nhiều việc tay trái, ít có thời giờ cho sinh viên và cho khoa học. Hậu quả là một sự giảm sút hiệu quả lao động, lãng phí chất xám rất lớn trên phạm vi toàn quốc. Cái tiền “tiết kiệm” được do trả lương ít không bù lại được cái sự lãng phí do hiệu quả lao động giảm đi có khi chỉ còn dưới 1/10 tiềm năng. Nếu nói về khía cạnh kinh tế thì việc trả lương thấp (cộng với các điều kiện làm việc kém) như hiện nay là một chính sách phản kinh tế, vô cùng lãng phí tiềm năng khoa học. Cũng chính vì chính sách đãi ngộ quá kém, nên Viện khoa học Việt Nam rất khó thu hút các nhà khoa học trẻ có triển vọng vào làm việc, như GS Ngô Việt Trung [4] hay TS Phạm Đức Chính [5] đã phản ảnh.   Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân gần đây có tuyên bố Bộ sẽ thưởng 1000 USD cho mỗi bài báo khoa học đăng ở tạp chí quốc tế. Có nhiều tranh cãi xung quanh việc này [10], và chưa biết nó sẽ được thực hiện ra sao, nhưng tôi thấy đây là một cử chỉ có tính thiện chí của Bộ. Tuy nhiên đây không phải là một biện pháp đủ mạnh để kích thích nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, mà may ra chỉ phần nào làm giảm khó khăn vật chất của những người vẫn đang nghiên cứu thật sự. Công sức bỏ ra để có một bài báo khoa học quốc tế là rất lớn (trung bình phải mất hàng nghìn giờ lao động của một nhà khoa học có trình độ quốc tế, chưa kể các chi phí khác), lớn hơn rất nhiều lần so với con số 1000 USD.  Việc thay đổi cơ chế đãi ngộ trong khoa học theo tôi sẽ rất phức tạp, sẽ không tránh khỏi nhiều tranh cãi và bất bình, nhưng đó là một việc hết sức cần thiết, và nếu chúng ta có quyết tâm chính trị thì chắn chắn sẽ thực hiện được, sẽ không thiếu gì những biện pháp thực tế và khả thi.                   Tự do tư tưởng      Có lần GS Hà Huy Khoái [11] phát biểu “Việt Nam chưa có khoa học xã hội”, gây ra khá nhiều phản ứng. Ở Việt Nam có nhiều giáo sư, tiến sĩ về các khoa học xã hội, mà nói là “chưa có khoa học xã hội” thì cũng hơi quá. Nhưng ngay những nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng phải thừa nhận rằng, nếu như các ngành khoa học tự nhiên ở Việt Nam chưa đạt chuẩn mực quốc tế, thì các ngành khoa học xã hội còn yếu hơn nữa. Ngoài các khó khăn chung, thì các ngành xã hội có thêm một khó khăn nữa là phải “gò ép” các nghiên cứu sao cho phù hợp với các “tư tưởng chỉ đạo” đã được định sẵn. Một lần tình cờ trong năm 2008 tôi có gặp một lãnh đạo một viện kinh tế ở Việt Nam, và hỏi anh ta là viện có góp ý gì cho Chính phủ về những chính sách kinh tế vĩ mô chưa hợp lý (gây ra khủng hoảng tài chính đầu năm 2008) không ? Anh ta trả lời là “có biết là sai, nhưng không dám góp ý”. Trong việc Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, có một số nhà khoa học về kinh tế và địa lý nhận thấy những sự bất hợp lý, nhưng cũng không ai dám làm một bài phân tích nào trái ngược với đường lối đã định.  Trong lịch sử thế giới không thiếu những ví dụ về việc “tư tưởng định sẵn” (prejudice) cản trở khoa học phát triển. Nhà thờ thiên chúa giáo đã từng cho Giordano Bruno lên giàn thiêu vì những lý thuyết thiên văn học “tà đạo”, Liên Xô đã từng tiêu diệt bộ môn di truyền học vì coi môn đó là “phản động”. Ngày nay, ở các nước tiên tiến, không ai ngăn cản các nhà khoa học hay trí thức tự do suy nghĩ theo hướng của họ, và họ có thể lên tiếng phê phán bất cứ ai. Ví dụ như GS người Mỹ Joseph Stiglitz, giải Nobel về kinh tế 2001, là người thường xuyên phê phán các chính sách của Chính phủ Mỹ, và nước Mỹ và thế giới biết ơn ông ta đã làm như vậy. Việt Nam cũng cần phải tiến tới chuẩn mực tự do tư tưởng như vậy, nếu muốn phát triển một nền khoa học đạt tầm thế giới.     Đầu tư cho khoa học      Tôi có lần tình cờ đọc được câu thơ không biết của ai: “Bắc thang lên hỏi ông Giời, tiền cho khoa học có đòi được không ?” Nó phản ảnh một hiện thực đáng buồn, là quá nhiều đề tài khoa học ở Việt Nam không nghiêm chỉnh, không ra kết quả mới gì, nghiệm thu xong là “cất đi”. Tôi quen một người có lần phải đi nghiệm thu một số đề tài trong một ngành ứng dụng. Người này mang về cho vợ (không cùng chuyên môn) nghiệm thu. Vợ hỏi làm sao đánh giá được thì chồng trả lời “cứ điền đại vào, vì cái nào cũng giống cái nào thôi mà, xong rồi xếp xó mà”.  Tiền đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện ở mức hơn 400 triệu USD một năm. So với chuẩn quốc tế thì còn rất thấp, vì 400 triệu USD bằng xấp xỉ 0,5% GDP, trong khi các nước tiên tiến đầu tư đến 3% GDP cho khoa học. Nhưng điểm đáng chú ý hơn nữa là một phần không nhỏ số tiền này bị biến tướng đi, không còn là tiền cho nghiên cứu khoa học và công nghê thực sự, mà trở thành tiền phụ cấp khó khăn cho những cán bộ lương quá thấp, hay tiền để chia chác giữa những người có quyền, và bởi vậy hiệu quả thì thấp mà tham nhũng thì nhiều.  Benjamin Franklin đã từng nói: “An investment in knowledge pays the best interest” (đầu tư vào hiểu biết cho lợi nhuận cao nhất). Câu nói đó càng trở nên đúng trong thế kỷ 21, thế kỷ của kinh tế dựa trên hiểu biết. Việt Nam cần học tập các nước khác trong việc tăng mạnh đầu tư cho khoa học và công nghệ (theo mức trung bình của thế giới so với GDP, thì Việt Nam cần đầu tư không phải 400 triệu USD, mà là 2 tỷ USD một năm, cho phát triển khoa học và công nghệ), và đồng thời tăng hiệu quả đầu tư qua việc thay đổi cung cách quản lý, xử lý tận gốc những cơ chế gây ra lãng phí và tham nhũng. Cần đối xử đàng hoàng hơn với các nhà khoa học, minh bạch hơn, công khai hơn trong mọi khâu quản lý, xử lý công bằng những hiện tượng gian trá, khuyến khích mọi người đi theo xu hướng làm thật ăn thật.      Một số tài liệu tham khảo:  [1] Lựa Chọn Thành Công – Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam – Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020 (báo cáo của Đại Học Harvard gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng), http://www.diendan.org/viet-nam/lua-chon-thanh-cong/   [2] Phạm Duy Hiển, Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây, Tia Sáng, 10/11/2008, http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=3&News=2518  [3] Nguyễn Tiến Dũng, Một vài suy nghĩ về toán học Việt Nam, 02/2006, http://zung.zetamu.com/ToanHocVietNam.pdf  [4] Đối thoại với GS Ngô Việt Trung, một chuỗi 4 bài, vietimes, 07/2008:  1: http://www.vietimes.com.vn/vn/doithoaiviet/5276/index.viet  2: http://www.vietimes.com.vn/vn/doithoaiviet/5283/index.viet  3: http://www.vietimes.com.vn/vn/doithoaiviet/5284/index.viet  4: http://www.vietimes.com.vn/vn/doithoaiviet/5285/index.viet  [5] Phạm Đức Chính, Cơ học Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Tia Sáng, 05/11/2008, http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2509  [6] Hoàng Tụy, Để có lớp trí thức xứng đáng, Tia Sáng, 06/12/2008, http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2572  [7] Phạm Đức Chính, Vì sao khoa học Việt Nam chưa phát triển, http://www.vietnamnet.vn/khoahoc/2008/05/782005/  [8] Trần Quang Đại, Dự án Trung tâm Tiến sỹ Việt Nam, xin đừng vội vã !, Dân Trí, 51/10/2008, http://dantri.com.vn/c202/s202-255464/du-an-trung-tam-tien-si-viet-nam-xin-dung-voi-va.htm  [9] http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_(PPP)_per_capita  [10] Nguyễn Quang A, Thưởng 1000USD/bài báo – không phải việc của Nhà nước, 15/10/2008, http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/thuong1000usdkhongphai.htm  [11] Phỏng vấn GS Hà Huy Khoái http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/04/562806/            Author                Quản trị        
__label__tiasang Còn thiếu chính sách khuyến khích hợp tác lâu dài      Để có những sản phẩm nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm và tiến bộ khoa học thế giới, đặc biệt là tận dụng khai thác các mối quan hệ hợp tác nghiên cứu dài hạn giữa trong nước và quốc tế. Trong đó, một lĩnh vực hợp tác đặc biệt quan trọng là nghiên cứu về giống cây trồng.     Hợp tác nghiên cứu về giống cây trồng không chỉ giúp nâng cao năng suất, sản lượng của những nông sản thế mạnh sẵn có mà giúp mở ra những hướng phát triển và ngành xuất khẩu quan trọng mới. Một ví dụ điển hình là ngành xuất khẩu sản phẩm sắn. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sắn Việt Nam đạt hơn 800 triệu USD – đưa nông sản này từ đó đến nay trở thành một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm gần đây, sau lúa gạo và cà phê (mỗi năm trên 1 tỷ USD) – là một bất ngờ hoàn toàn ngoài dự liệu của các nhà quản lý. Ẩn sau thành công bất ngờ ấy là những đóng góp thầm lặng của các chuyên gia quốc tế từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT). Những cống hiến của CIAT cho ngành sắn Việt Nam trong suốt hai thập kỷ, đem vào những giống sắn mới giúp sản lượng sản xuất tăng gấp bốn lần và có hiệu quả cao trong chế biến xuất khẩu, làm thay đổi năng suất và lợi nhuận cho hàng trăm nghìn nếu không nói là hàng triệu hộ gia đình sản xuất nhỏ trên cả nước1, là minh chứng thuyết phục cho tầm quan trọng của những hoạt động hợp tác quốc tế mang tính lâu dài trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp.  Theo PGS. Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp –nơi CIAT đặt văn phòng đại diện khu vực châu Á (Đông Nam Á) tại Việt Nam đồng thời cùng viện RIKEN (Nhật Bản) tham gia tổ chức một phòng thí nghiệm quốc tế chọn giống phân tử sắn – những cơ hội hợp tác lâu dài với các chuyên gia quốc tế trong nông nghiệp là hết sức quý giá, giúp cung cấp, bổ sung cho các nhà khoa học Việt Nam nhiều kinh nghiệm và tri thức công nghệ tiên tiến, đồng thời trực tiếp tham gia làm ra các sản phẩm nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực.          Trong bối cảnh có nhiều mặt hạn chế về điều kiện vật chất, việc thu hút được các đối tác quốc tế quan trọng đến mở 3 phòng thí nghiệm chung có thể coi là một thành công không nhỏ của Viện Di truyền Nông nghiệp, đồng thời cũng cho thấy trình độ, năng lực chuyên môn của Viện đã đủ sức thuyết phục các đối tác, khiến họ chấp nhận những khó khăn khách quan để đến hợp tác với Viện trong lâu dài. Năng lực nghiên cứu của Viện được thể hiện rõ nhất qua nhiều thành tựu, kết quả nghiên cứu, điển hình như các giống lúa đặc sản từ QR1 tới QR15 cho gạo chất lượng cao– trong đó một số giống đã được triển khai hứa hẹn nhiều triển vọng, có giống đã được công nhận là giống quốc gia – hay các giống lúa chống mặn, chống ngập, chống sâu bệnh; các giống đậu tương của Viện đã được triển khai tới 52% diện tích trồng trên toàn quốc và 70-80% diện tích trồng ở miền Bắc; các giống nấm được triển khai tới 90% doanh nghiệp, hộ gia đình (diện tích trồng) toàn quốc; các giống cam, quít không hạt được kỳ vọng sẽ thay đổi ngành công nghiệp cam (trồng hoa quả), hiện đã được trồng ở Nghệ An, Hòa Bình, Lào Cai và đang lan rộng trên các tỉnh miền Bắc, v.v. Những kết quả nghiên cứu của Viện không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng giống cây trồng mà còn giúp bà con nông dân được tiếp cận với những giống sạch, góp phần khắc phục tình trạng sử dụng tràn lan những giống cây nhiễm khuẩn nhập khẩu.        Tại Viện Di truyền Nông nghiệp (Viện), ngoài sự có mặt của các chuyên gia CIAT còn có nhiều chuyên gia quốc tế từ các tổ chức đối tác nước ngoài khác. Họ đã cùng mở ra các phòng thí nghiệm chung tại Viện, bao gồm các phòng thí nghiệm Việt – Pháp, Việt – Mỹ, và Việt – Nhật, đồng thời đầu tư vào đó hàng triệu USD giá trị trang thiết bị, nguyên vật liệu di truyền, và chi phí đào tạo, chưa kể mang đến cho Viện những giá trị tri thức và các kết quả từ các hoạt động hợp tác nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu từ quan hệ hợp tác nghiên cứu giữa hai bên sẽ được chia sẻ về bản quyền khi sử dụng ở nước thứ 3, đồng thời cho phép nông dân Việt Nam được sử dụng miễn phí, theo lời PGS. Lê Huy Hàm. Ông cho rằng đây chính là nguyên nhân khiến các nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan và các nước khác luôn tìm mọi cách thu hút các tổ chức nghiên cứu quốc tế thành lập phòng thí nghiệm chung đặt tại quốc gia mình. Đơn cử như Trung Quốc đặt ra chính sách ưu đãi đặc biệt cho các phòng thí nghiệm chung với đối tác quốc tế, không chỉ cung cấp nhà, xưởng, con người, mà còn sẵn sàng trả một nửa chi phí hoạt động, PGS. Lê Huy Hàm cho biết.  Tuy nhiên, khác với các quốc gia kể trên, Việt Nam hầu như chưa có chính sách nào để khuyến khích cho sự hình thành và họat động của các phòng thí nghiệm chung giữa tổ chức nghiên cứu trong nước với đối tác quốc tế. Điều này khiến Viện phải trông cậy nhiều vào nguồn lực của các đối tác bởi nguồn kinh phí mà Nhà nước cấp cho Viện hằng năm là rất ít ỏi, mặc dù “Viện đã khai thác hết những cơ chế, chính sách hiện hành mà Nhà nước cho phép”, theo lời PGS. Lê Huy Hàm. Ông biết cách đây chưa lâu nguồn kinh phí Nhà nước cấp cho Viện trên đầu người tính ra chỉ đạt 37,6 triệu/năm, không đủ để trả lương, chỉ mới hai năm trở lại đây Nhà nước mới cấp đủ để trả lương và có thêm khoảng 600 triệu đồng duy trì các hoạt động khác. “Với nguồn kinh phí khiêm tốn như vậy, chúng tôi phải cố hết sức để tạo ấn tượng bình thường khi đón các đối tác đến làm việc với mình”, PGS. Lê Huy Hàm nói.   Do Việt Nam chưa có quy định pháp lý nào về danh phận cũng như chính sách ưu đãi cho các phòng thí nghiệm hợp tác quốc tế và các tổ chức khoa học quốc tế tại Việt Nam nên các chuyên gia nước ngoài sang công tác ở Viện không được tạo bất cứ điều kiện thuận lợi nào, thậm chí nhiều khi gặp khó khăn về thủ tục làm visa. Các trang thiết bị khoa học, phương tiện đi lại phía bạn mang qua cửa khẩu vẫn phải đóng thuế nhập khẩu. Chưa kể khi sang Việt Nam họ còn phải tự bỏ tiền đi ở trọ ngoài vì Viện không có nhà công vụ.  PGS. Lê Huy Hàm kiến nghị Nhà nước sớm có quy định về tư cách pháp lý của các phòng thí nghiệm chung, các tổ chức khoa học quốc tế đóng tại Việt Nam, từ đó áp dụng những chính sách ưu đãi phù hợp cho các chuyên gia và tổ chức nghiên cứu của nước ngoài tới hợp tác làm việc ở Việt Nam. Ông cũng cho rằng Nhà nước nên hỗ trợ để các tổ chức nghiên cứu trong nước có thêm “kinh phí đối ứng” tại các phòng thí nghiệm chung, một mặt làm tăng nguồn lực cho các phòng thí nghiệm, mặt khác giúp các tổ chức nghiên cứu trong nước nâng cao vị thế và dễ thu hút các đối tác quốc tế phù hợp đến hợp tác với mình.  Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù nghiên cứu ứng dụng trong nông nghiệp.Theo PGS. Lê Huy Hàm, khác với các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước phát triển nơi một phần lớn kinh phí Nhà nước được cấp cho các nghiên cứu cơ bản, các viện nghiên cứu nông nghiệp ở Việt Nam chịu sức ép buộc phải cho ra những sản phẩm có địa chỉ ứng dụng. Điều này là cần thiết nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng kinh phí nghiên cứu của Nhà nước, nhưng trong nghiên cứu nông nghiệp cần cho phép khung thời gian tài trợ dài hạn hơn, vì trước khi cho triển khai ứng dụng trong thực tiễn các nhà khoa học luôn cần những nghiên cứu thăm dò vừa tốn kém vừa có độ rủi ro cao.  Nhằm đảm bảo hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phục vụ nông nghiệp có tính trọng tâm cao và sớm mang lại hiệu quả thực tiễn, trong giai đoạn tới Nhà nước nên khuyến khích các mối hợp tác nghiên cứu tập trung vào những mục tiêu sản phẩm nông nghiệp phù hợp với nhu cầu và tình phát triển kinh tế trong nước. Bài học từ Viện Di truyền Nông nghiệp là luôn lựa chọn những đối tác có lợi thế chuyên môn sâu phù hợp với sản phẩm mục tiêu hướng đến. Ví dụ Viện tập trung hợp tác với CIAT nghiên cứu về giống sắn, hoặc hợp tác với Trung tâm Quốc gia Công nghệ sinh học đậu tương của Đại học Missouri (Mỹ) để nghiên cứu với đậu tương, hay hợp tác với Viện Nghiên cứu Phát triển của Pháp và Đại học Montpellier 2 nghiên cứu về gene lúa chịu hạn.   Hiện nay Viện đang xúc tiến hợp tác với  đối tác Pháp trong lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo, nhân giống cà phê. Ngoài ra, PGS. Lê Huy Hàm cho biết Viện đang hướng tới nghiên cứu sâu hơn về giống cây trồng phục vụ ngành thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, và cỏ chăn nuôi là những sản phẩm nông nghiệp mà Việt Nam có nhu cầu cao trong trước mắt cũng như lâu dài và hiện đang rất thiếu.         CIAT và ngành sắn Việt Nam              Những năm gần đây ngành sắn Việt Nam được chứng kiến những bước phát triển ngoạn mục. Sản lượng sắn năm 2009 của Việt Nam đạt 9,45 triệu tấn, tăng vọt so với mức xấp xỉ 2 triệu tấn năm 2000. Năng suất sắn tăng từ mức trung bình 8,36 tấn/hecta năm 2000 (thấp hơn mức 8,65 tấn/hecta của châu Phi cùng thời gian) lên 16,3 tấn/hecta năm 2009 và đến năm 2012 đạt 18,2tấn/hecta (cao hơn hẳn mức 10,77 tấn/hecta ở châu Phi và 12,92 tấn/hecta ở châu Mỹ cùng thời gian). Mặc dù mức năng suất trung bình như vậy vẫn thấp hơn so với một số nước trong khu vực, như Ấn Độ đạt 36,47 tấn/hecta, Cambodia đạt 21,3 tấn/hecta, Indonesia đạt 20,3 tấn/hecta, Thái Lan đạt 19,3 tấn/hecta, nhưng tại Việt Nam hiện nay cũng đã có nhiều hộ gia đình đạt tới sản lượng 36 – 50 tấn/hecta.               Để có được những thành quả trên, không thể không nhắc đến những nỗ lực của các chuyên gia CIAT trong hợp tác nghiên cứu, truyền bá kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực, từ kỹ thuật canh tác, phòng chống sâu bệnh, kết nối nông dân với thị trường, và đặc biệt là đưa vào Việt Nam nhiều giống sắn mới cho kỹ thuật cao. Hàng trăm nghìn hecta trên cả nước đã được đưa vào các giống sắn mới, chủ yếu gồm các giống KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7. Bên cạnh đó CIAT còn đưa vào Việt Nam hàng chục nghìn hạt giống KM140, KM98, KM98-7-5, và nhiều loại khác để thử nghiệm phục vụ ngành sản xuất ethanol.               Tính đến nay, các giống sắn mới từ CIAT đã được triển khai trên 90% diện tích canh tác cả nước, góp phần quan trọng giúp sắn trở thành một trong những nông phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Việc phát triển, sản xuất các sản phẩm tinh bột sắn, thức ăn gia súc, và nhiên liệu ethanol được các nhà nghiên cứu cho rằng đã mang lại nhiều công ăn việc làm, thu hút đầu tư nước ngoài, đóng góp vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số vùng nông thôn – hiện nay Việt Nam có 13 nhà máy sản xuất nhiên liệu ethanol, 66 nhà máy sản xuất tinh bột quy mô công nghiệp, và hàng nghìn cơ sở chế biến khác.             —-  1 Phát biểu của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng của Bộ NN&PTNT ghi nhận công lao của CIAT nhân dịp kỷ niệm 45 năm ra đời tổ chức này hồi 2012.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố quốc tế: Để thoát bẫy trung bình ?      Một thách thức đang đặt ra cho học thuật Việt Nam là làm thế nào để tránh công bố trên các tạp chí chất lượng kém? và hơn nữa là làm thế nào để có đủ nguồn lực cho các nhà khoa học hướng đến các nghiên cứu chất lượng ngày càng tốt hơn?     Một số tạp chí quốc tế thuộc tập đoàn xuất bản Springer Nature.  Đánh giá công bố: Không có một khuôn chung  Trong vài năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện hiện tượng công bố các bài báo trên các tạp chí rởm, được bình duyệt qua loa, thậm chí không bình duyệt. Chưa có một con số thống kê chính thức nào về số lượng công bố trên các tạp chí như thế này nhưng qua nhiều cuộc họp và những tranh luận trên mạng xã hội như facebook, nhiều nhà khoa học uy tín đã phản ánh nhiều trường hợp công bố trên các tạp chí chất lượng kém, về hiện tượng đầu nậu săn mồi sản xuất hàng trăm bài báo mỗi năm, mua bán bài báo chất lượng kém, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các nhóm thảo luận về liêm chính khoa học.  Trong bối cảnh đó, mô hình xuất bản quốc tế lại đang có nhiều thay đổi. Trước đây chỉ có một hình thức xuất bản truyền thống, tạm gọi là xuất bản đóng bởi người đọc phải trả phí mới được đọc các bài báo đã xuất bản còn nhà nghiên cứu không mất phí nộp bài, các nhà khoa học tham gia vào quá trình bình duyệt không được trả phí và thường có thời gian bình duyệt lâu. Thì nay một hình thức xuất bản mới được hình thành, tạm gọi là xuất bản mở vì người đọc không phải trả phí đọc bài báo đã xuất bản, còn nhà nghiên cứu nộp bài mất phí để được bình duyệt, thời gian bình duyệt nhanh chóng hơn. Nhiều địa chỉ xuất bản săn mồi lợi dụng hình thức xuất bản mở để dễ dàng đăng bài báo ngay cả khi không cần bình duyệt hoặc bình duyệt qua loa.  Hiện tượng này xuất hiện khiến cho môi trường học thuật ở Việt Nam trở nên phức tạp hơn nhiều, nhất là khi cả giới nghiên cứu và quản lý khoa học vẫn còn băn khoăn tranh cãi ở việc đánh giá giá trị của các công bố khoa học. Những luồng ý kiến trái chiều về việc “đếm bài đo thành tích”, lấy các chỉ dấu IF (hệ số ảnh hưởng) hay citation (trích dẫn) làm thang đo vẫn còn chưa ngã ngũ. Nguyên nhân là vì giữa các ngành, thậm chí là trong một ngành, nhưng giữa khối lý thuyết và thực nghiệm có quá nhiều điểm khác biệt, không có một chiếc thước chung ngang bằng sổ thẳng giữa các ngành, giữa từng chuyên ngành, theo lý giải của GS Lê Văn Cường, Trường Kinh tế Paris (PSE), Đại học Paris 1 Pantheon-Sorbonne. Ông cho biết, có những chuyên ngành trong khoa học, một nhà nghiên cứu có thể đạt trích dẫn lên đến hàng nghìn, hàng chục nghìn, nhưng có chuyên ngành chỉ có lượng trích dẫn rất ít. Do đó, không thể so sánh lượng trích dẫn của GS. Ngô Bảo Châu – khoảng 1300 trích dẫn, với một nhà khoa học kinh tế có 10.000-15.000 trích dẫn. Sự bất đối xứng này còn hiển hiện ngay trong nhóm ngành Kinh tế: nghiên cứu lý thuyết có lượng trích dẫn và hệ số ảnh hưởng thấp hơn nhiều so với nghiên cứu thực nghiệm.    Đối với các công bố trên các tạp chí mở phải đóng phí, không nên sử dụng ngân sách nhà nước để tài trợ, vì có nhiều lựa chọn các tạp chí tương tự mà không phải đóng phí. GS. Phan Dương Hiệu    Trong một cuộc tọa đàm bàn tròn quy tụ các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài*, làm việc trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau – từ vật lý, kinh tế, toán học đến sử học – phần lớn các ý kiến đều đồng thuận là với một nền khoa học mới bước đầu hội nhập như Việt Nam, không dễ giải quyết cả hai vấn đề trên cùng lúc. Một số ngành khối ngành KHTN như toán, vật lý, hóa học… quy tụ được cộng đồng nghiên cứu giàu kinh nghiệm cọ xát với môi trường học thuật quốc tế trong nhiều thập kỷ và được nhiều nhà khoa học uy tín quốc tế dẫn dắt nên đã định hình được những quy chuẩn nhất định khi công bố. Nhưng mặt khác, các ngành thuộc khối ngành KHXH&NV lại chưa xây dựng được cộng đồng khoa học có mức độ hội nhập sâu rộng, chưa có nhiều kinh nghiệm phân biệt được “bẫy” của các tạp chí, nhà xuất bản chất lượng kém. Ở một số lĩnh vực, không chỉ ít người có khả năng dẫn dắt, cộng đồng nghiên cứu còn mỏng, mà còn xuất hiện pseudo – leader (giả dẫn đầu trong khoa học) không có công bố nghiêm túc nhưng vẫn tạo được ảnh hưởng. Khi đó, không chỉ khó phân biệt thật giả, mà con đường bước qua “bẫy số lượng công bố trung bình” để nuôi dưỡng các công bố chất lượng cao trở nên khó khăn hơn rất nhiều.  Cuộc tranh luận trong lòng cộng đồng khoa học Việt Nam về việc phân biệt các tạp chí thật – rởm và tạp chí ở vị trí “giáp ranh” (borderline) dấy lên một hai năm nay khiến các hội đồng khoa học của Quỹ NAFOSTED, nơi thường tiên phong thảo luận về cách thức quản lý mới trong khoa học, đã đưa ra đề xuất tiếp tục chọn lọc, sửa đổi danh mục tạp chí uy tín, đồng thời có những khuyến nghị về việc đăng bài ở các tạp chí mở, tránh các tạp chí săn mồi. Trước khuyến nghị đó, gần đây Quỹ NAFOSTED đã ban hành Danh mục tạp chí có uy tín trong lĩnh vực KHTN và kỹ thuật và Quy định về Liêm chính nghiên cứu áp dụng đối với các nhiệm vụ KH&CN (tháng 2/2022) với mong muốn thúc đẩy môi trường khoa học trung thực, minh bạch và khả tín. Danh mục này đã loại bỏ 25% số lượng các tạp chí trong danh mục SCIE thuộc nhóm cuối theo xếp hạng của Web of Science, quan trọng hơn, loại bỏ mọi tạp chí được xếp vào dạng “ăn thịt”, “săn mồi” xuất bản bài báo… Nhiều nhà khoa học trong nước hy vọng tuyên bố của Quỹ NAFOSTED sẽ mở rộng ra và trở thành yêu cầu chung của các cơ quan tài trợ khoa học trong nước.  TS Trần Thị Hồng Hạnh, Viện Hóa sinh biển (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Ảnh: Viện Hàn lâm KH&CN  Đây là cách làm cần thiết nhưng có lẽ còn chưa đủ với đặc thù của từng ngành, bởi một danh sách chung khó lòng bao phủ hết vì có thể “có tạp chí tốt cho ngành này nhưng lại không đủ tốt cho ngành khác”, GS Phan Dương Hiệu, Trường Viễn Thông thuộc Đại học Bách Khoa Paris, Pháp cho biết. Nhìn nhận một cách thấu đáo hơn, sự quyết liệt ấy vô hình trung đã loại đi nhiều không gian học thuật của các nước Đông Á – vốn cũng có truyền thống nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn về Việt Nam – nếu các nhà quản lý và các nhà khoa học khác ngành chỉ nhìn vào các chỉ mục của ISI/Scopus và khối các tạp chí bằng tiếng Anh, Pháp, theo nhận định từ một “người trong cuộc”, PGS.TS Trần Trọng Dương, Viện Hán Nôm, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.  Do vậy, để “dung hòa” được cả việc chọn lọc tạp chí và đáp ứng được đặc điểm của từng ngành, GS. Phan Dương Hiệu đã đề xuất một cách làm phù hợp: các ứng viên đề xuất đề tài thì đồng thời tự đề xuất danh sách tạp chí uy tín mà họ dự định sẽ công bố. Khuyến nghị này của GS. Phan Dương Hiệu dựa trên nguyên tắc của lý thuyết trò chơi “người đăng ký không muốn chịu sự rủi ro về việc đưa tạp chí rởm vào trong danh sách trước khi đề tài được đánh giá vì nguy cơ một người trong hội đồng nhìn thấy tạp chí không phù hợp sẽ loại đề tài”. Các hội đồng hoàn toàn có thể mời các chuyên gia đủ năng lực, thậm chí là chuyên gia quốc tế thẩm định đâu là tạp chí tốt theo các chuyên ngành hẹp.    Ở một số lĩnh vực, không chỉ ít người có khả năng dẫn dắt, cộng đồng nghiên cứu còn mỏng, mà còn xuất hiện pseudo – leader (giả dẫn đầu trong khoa học) không có công bố nghiêm túc nhưng vẫn tạo được ảnh hưởng. Khi đó, không chỉ khó phân biệt thật giả, mà con đường bước qua “bẫy số lượng công bố trung bình” để nuôi dưỡng các công bố chất lượng cao trở nên khó khăn hơn rất nhiều.    Tuy nhiên, đối với các công bố trên các tạp chí mở phải đóng phí, GS. Phan Dương Hiệu duy trì quan điểm: không nên sử dụng ngân sách nhà nước để tài trợ, vì có nhiều lựa chọn các tạp chí tương tự mà không phải đóng phí. Hoặc nhà nghiên cứu phải giải thích được lý do mình lựa chọn tạp chí mở này. Khuyến cáo như vậy sẽ hạn chế được việc lạm dụng ngân sách tài trợ để đăng tràn lan ở các tạp chí mở chất lượng kém.  Kết quả phụ thuộc vào chính sách đầu tư  Câu chuyện của khoa học Việt Nam, một nền khoa học mới hội nhập theo tiêu chuẩn quốc tế được hơn hai thập niên, không chỉ dừng ở đó. Có một vấn đề khác, thường được nhắc đến trong nhiều hội thảo lớn nhỏ, là làm thế nào có được các công bố đột phá thực sự rất quan trọng trên bình diện quốc gia. Cần phải sớm có định hướng cho những nghiên cứu chất lượng bởi theo GS. Lê Văn Cường “Có thể chúng ta nghĩ là lượng sẽ biến thành chất nhưng để điều này tự diễn ra thì rất khó, chất là chất mà lượng là lượng”. Cùng chung quan điểm này, GS.Bs. Đinh Xuân Anh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng Viện Trường Đại học Y khoa Corse, Pháp nhận xét “đứng từ bình diện quốc gia, nếu chúng ta cứ mải chạy theo số lượng thì mãi mãi cứ làng nhàng, lúc đó thì nguyên cả nền khoa học không phát triển. Chúng ta cần người dẫn đầu”. Ông lấy ví dụ về môi trường học thuật của Harvard, để dự tuyển vào đây, ứng viên chỉ cần nộp 12 bài quan trọng nhất, có thể IF cao hay thấp không cần thiết nhưng phải có đóng góp thực sự cho khoa học. Còn sau con số 12 bài đó thì dù có đăng 12 nghìn bài cũng không có ý nghĩa gì nữa.  Việc có nhiều công bố đột phá rất có thể là cơ hội mở đường cho khoa học Việt Nam có được những nhà khoa học lớn, có thể dẫn dắt các ngành. Nhưng trên thực tế, câu chuyện phức tạp hơn nhiều. Ở mỗi mức độ nghiên cứu, theo GS. Nguyễn Tiến Dũng, Đại học Toulouse, có thể tạm phân loại gồm các nhà nghiên cứu đã đến ngưỡng trưởng thành “dẫn dắt” (leader), “môn đệ” (follower) hay chỉ ở mức độ “tham quan” (tourist) lại có thể công bố ở những tạp chí top đầu ngành hay là những tạp chí chỉ yêu cầu mức độ chất lượng bài ở mức vừa vừa. “Một nền khoa học luôn cần có cả ba nhóm này. Nhà khoa học dẫn dắt đủ khả năng, được nuôi dưỡng để theo đuổi các tạp chí top field có thể mở ra khuynh hướng mới để phát triển của ngành; đa phần còn lại của giới khoa học – là các môn đệ để thực hiện các bài toán chi tiết, các thao tác cụ thể; và cả những người “tham quan khoa học” một đời chỉ công bố một vài bài báo nhưng những hiểu biết khoa học ấy lại hữu ích cho công việc hằng ngày của mình”, ông lý giải.  Với nhóm ngành KHXH&NV, việc đưa ra các danh sách quá tập trung vào chỉ mục ISI/Scopus và tạp chí tiếng Anh vô hình trung sẽ loại đi những môi trường học thuật quan trọng khác như khối Đông Bắc Á. Trong ảnh: Sách Nghiên cứu thư tịch chữ Hán Đông Á và từ thư cổ Hán Nôm Việt Nam (東亞漢籍與越南漢喃古辭書研究), Hà Hoa Trân, Nguyễn Tuấn Cường chủ biên, Bắc Kinh: Trung Quốc Xã hội khoa học Xuất bản xã, 2017.  Do đó, chúng ta cũng phải chấp nhận thực tại này. “Không thể nào tránh khỏi việc có những người sẽ công bố ở tạp chí làng nhàng, vì người trẻ ban đầu chưa thể nộp được tạp chí tốt. Nhưng khi người đó tiến bộ từ từ thì có thể dần sẽ có bài tốt hơn, có thể sẽ có những bài được top field. Nhà nghiên cứu tầm nào thì in tạp chí ở tầm đó”, GS. Trần Nam Bình, Đại học New South Wales, Úc cho biết. “Do đó, cần chính sách đầu tư phù hợp với từng nhóm”.  Những điều các nhà khoa học nêu rất đáng suy nghĩ, bởi sau lứa những tên tuổi lớn như Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu…, làm sao ở Việt Nam có nhiều nhà khoa học “leader”, tạo cú hích cho nhiều công bố đột phá? GS. Trần Nam Bình lưu ý, để bước được qua ranh giới “làng nhàng” thì không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của cá nhân nhà khoa học là đủ. Vì trên thực tế mỗi cá nhân nhà khoa học chịu sự chi phối của một hệ thống các chính sách quản lý khoa học, các áp lực của cơ quan chủ quản trong việc giao chỉ tiêu số lượng công bố để tham gia cuộc cạnh tranh vị trí xếp hạng – vốn cũng lấy các chỉ số trắc lượng khoa học làm xương sống cho đánh giá năng lực. Việc người nghiên cứu coi trọng và tìm mọi cách để đảm bảo chất lượng khoa học của các bài tạp chí hay chỉ thuần túy chạy theo số lượng công bố “đếm đầu bài nhận tiền” có liên quan chặt chẽ tới cách đánh giá kết quả, thành tích khoa học, cách đầu tư cho khoa học tính đến sự khác biệt về chất lượng hay “đổ đồng”.  Vì vậy, GS. Phan Dương Hiệu khuyến nghị, cần có chính sách đặc thù cho các nhóm đã có thể đăng bài top field tới mức không cần có ràng buộc về điều kiện thời gian hay số lượng bài quá chặt chẽ, “5 – 10 năm có công bố đột phá cũng được”, vì các nhà khoa học đầu ngành đã tự định hình được hướng đi và trách nhiệm của mình với cộng đồng khoa học. “Còn với nhóm mới vào thì vẫn có chính sách khuyến khích họ đăng ở các tạp chí không phải top đầu ngành nhưng là các tạp chí nghiêm túc. Việc có nhiều bài ở các tạp chí nghiêm túc tuy chất lượng không quá cao nhưng cũng đẩy mạnh nền khoa học lên. Đây cũng là việc có ích chứ không phải chỉ cố gắng công bố ở các tạp chí top field để rồi cả đất nước chỉ có những bài đếm trên đầu ngón tay thì theo thời gian có khi lại làm nền khoa học đi xuống”, GS. Phan Dương Hiệu nói.  Vài năm gần đây, một số thành viên trong các hội đồng ngành của NAFOSTED, như PGS.TS Đặng Hoàng Minh (Đại học Giáo dục, ĐHQG HN), Hội đồng Ngành Tâm lý học đề nghị rằng “sau một thời gian thực hiện chính sách tài trợ cho các đề tài với yêu cầu đầu ra là bài báo quốc tế, và đã tạo một số lượng công bố quốc tế nhất định, Quỹ nên nghiên cứu đến phương án cần phân tầng, phân lớp đề tài”. PGS.TS Trần Đình Phong, Đại học Việt Pháp (USTH) cũng đề xuất mô hình tài trợ ba mức giống cách mà Quỹ của Hội đồng Khoa học châu Âu (European Research Council -ERC) thực hiện. Ví dụ đề tài nhóm 1 được tài trợ ngân sách lớn hơn, thời gian dài hơi hơn, dành cho các nhà khoa học uy tín đã có bài ở các tạp chí tốt thuộc tốp đầu của các ngành, nhằm khuyến khích và yêu cầu họ chú trọng đến chất lượng sản phẩm nghiên cứu, luôn đặt mục tiêu phải nghiên cứu có tiếng vang và chỉ hướng tới những tạp chí rất uy tín (và cũng chỉ cần một bài cho một đề tài); còn đề tài nhóm 2, ngân sách thấp hơn, thời gian có thể ngắn hạn hơn, dành cho các nhà nghiên cứu trẻ, công bố ở các loại tạp chí mức thấp hơn.    Nếu với công bố quốc tế, chúng ta cứ mải chạy theo số lượng thì mãi mãi cứ làng nhàng, lúc đó thì nguyên cả nền khoa học không phát triển. Chúng ta cần người dẫn đầu. GS.BS Đinh Xuân Anh Tuấn    Việc điều chỉnh chính sách phù hợp với thể trạng nội lực của các nhóm có ý nghĩa rất quan trọng, nó sẽ quyết định tới đầu ra của công bố, kể cả công bố trong các nhóm ngành KHXH&NV, được cho là ít tốn kém hơn các ngành KHTN. Một nhà nghiên cứu kinh tế giấu tên, thuộc top 5 nhà kinh tế công bố tốt nhất ở Việt Nam và thường đặt chủ đích hướng tới công bố ở các tạp chí top field cho biết, anh rất mong muốn được đầu tư nghiên cứu dài hơi cho “ra tấm ra món”, nhưng hiện nay cách tài trợ khoa học, kể cả của Quỹ NAFOSTED khiến anh không đủ thời gian và ngân sách theo đuổi những đề tài lớn. Quỹ thời gian hai năm và ngân sách eo hẹp thường khiến anh phải xoay sang công bố ở những tạp chí vừa vừa thay vì chỉ tập trung theo đuổi top field. Hay gần đây, TS Khuất Thu Hồng xin tài trợ NAFOSTED để nghiên cứu về nam giới và nam tính nhưng không đủ ngân sách để thực hiện khảo sát cỡ mẫu mong muốn nên đã phải xin tài trợ thêm từ Australian Aid.  Trước những thảo luận này, những dịch chuyển về mặt chính sách đã manh nha xuất hiện. Cơ quan tài trợ có nhiều đổi mới như Quỹ NAFOSTED đã bắt đầu cố gắng tạo ra thay đổi, bằng việc thí điểm tài trợ cho các nhóm nghiên cứu mạnh trong khối KHTN với thời gian tài trợ dài hơn. Hy vọng rằng những bước đi đầu tiên này sẽ mở đường cho một cơ chế tài trợ phù hợp hơn, để giới khoa học trong nước thoát “bẫy” công bố trung bình. □  ———-  Lời cảm ơn: Tác giả trân trọng cảm ơn sự tư vấn về nội dung của các giáo sư GS. Trần Nam Bình (Kinh tế), GS. Phạm Minh Châu (ngành Hóa học), GS. Trần Chung, (Kinh tế), GS. Lê Văn Cường (ngành Kinh tế), GS. Nguyễn Tiến Dũng (Toán học),  PGS. Trần Trọng Dương (Lịch sử), GS. Phan Dương Hiệu (Mật mã), GS. Đinh Xuân Anh Tuấn (Y khoa), GS. Phạm Xuân Yêm (Vật lý) thông qua tọa đàm bàn tròn thảo luận về chất lượng công bố quốc tế do GS. Lê Văn Cường tổ chức.     Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Công bố quốc tế: Phải là đích đến      Cho đăng một bài báo trên tạp chí quốc tế là ghi nhận kết quả toàn phần hay một phần của một công trình nghiên cứu cá nhân hoặc tập thể, là một trong những khâu mấu chốt đánh dấu sự hoàn tất của công trình nghiên cứu khoa học, là việc tối quan trọng cho một dự án nghiên cứu thuộc bất cứ lĩnh vực nào, tự nhiên hay xã hội nhân văn. Và nếu câu hỏi đặt ra là “Công bố quốc tế có cần thiết với nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&amp;NV của Việt Nam hay không?;“ thì câu trả lời đã được hoàn thành. Vậy thì câu hỏi tiếp theo sẽ là “Làm thế nào để được đăng hay công bố?”.       1. Câu trả lời sẽ không đơn giản chỉ là chọn ý tưởng và chủ đề để viết, phương thức viết, cách liên lạc, trao đổi với các tạp chí hay thậm chí “chiến thuật” tiếp cận với các tạp chí hàng đầu…, mà nó nằm trong các thao tác của cả quá trình nghiên cứu, tương ứng với tiêu chí lựa chọn đăng của các tạp chí. Tiêu chí của họ luôn dựa vào những hạng mục căn bản sau : 1/ phù hợp hay tương hợp với lĩnh vực chuyên môn của tạp chí, 2/ bài báo phải đề xuất hay đặt ra được một luận đề mới và việc giải quyết, chứng minh một cách thuyết phục luận đề này sẽ là đóng góp mới về phương pháp lẫn nội dung cho chuyên ngành, 3/ và sau đó là văn phong, cấu trúc của bài viết. Trong đó, tiêu chí một là điều kiện tiên quyết, tiêu chí ba là nghiễm nhiên và tiêu chí thứ hai chính là điểm cần thêm chút bình giải để hiểu được vì sao cần có sự tương ứng giữa mục đích và thao tác nghiên cứu với tiêu chí chọn đăng trong lĩnh vực KHXH&NV.  2. Tại các diễn đàn khoa học và cả những cuộc gặp gỡ của giới nghiên cứu tại Việt Nam, chúng ta thường bắt gặp ý kiến than phiền từ giới làm nghiên cứu trong nước quanh việc gặp khó khăn khi cho xuất bản trên tạp chí quốc tế một công trình nghiên cứu KHXH&NV về những vấn đề nội tại của Việt Nam. Vì sao phải có sự e ngại này nếu đề tài nghiên cứu là phát kiến mới ?! Điều quan trọng là người nghiên cứu có ý thức đặt Việt Nam trong bối cảnh cùng nhiều quốc gia khác đang phải đối diện trước nhiều thực trạng giống nhau như môi trường, di dân, đô thị hóa, bất cập trong giáo dục đào tạo, chênh lệch giàu nghèo, bình đẳng giới… Bối cảnh của Việt Nam tạo nên đặc trưng hay đặc tính riêng cho đề tài nghiên cứu chính là cách đặt Việt Nam ở vị trí là một đất nước mang nhiều định chế khác nhau (chỉ tính riêng từ Thế kỷ 20 đến nay): từng là một nước bị trị, một đất nước với hai thể chế chính trị đối lập nhau, một nước với nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, quốc gia đang trỗi dậy nằm trong vòng quay của toàn cầu hóa. Một bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội phức hợp và khá độc đáo như thế luôn tạo ra sự “tò mò” hay hứng thú khoa học, tuy nhiên với một điều kiện luôn đi kèm, là đề tài, luận đề nghiên cứu phải là đóng góp mới cho học thuật.  3. Nhưng trên thực tế, một thực trạng chung cho tất cả người nghiên cứu trên toàn thế giới, vẫn có những tạp chí quốc tế không chấp nhận xuất bản các bài nghiên cứu hoặc là do phạm vi phản ánh của vấn đề quá hẹp hay quá rộng, hoặc không phù hợp với xu hướng/quan điểm của tạp chí, hoặc do không “lọt” vào kế hoạch sách xuất bản theo năm đã được định hình từ trước…  Có nhiều cách để nhà nghiên cứu Việt Nam tìm ra giải pháp. Giải pháp “gần” là chỉnh sửa bài viết như yêu cầu của tạp chí. Giải pháp “xa”, không chỉ có lợi trước mắt là được đăng bài, mà còn là tạo quan hệ nghề nghiệp, thiết lập mạng lưới nghiên cứu mà tác giả là một mắt lưới, sâu xa hơn là định vị vị trí của mình trong giới chuyên môn để gây dựng sự nghiệp nghiên cứu. Theo hướng này, nhà nghiên cứu phải đi trình bày nghiên cứu của mình tại các hội thảo quốc tế hay hội nghị chuyên ngành quốc tế, đây chính là một dạng công bố. Vì thông thường sau đó ban tổ chức sẽ cho in thành dạng sách kỷ yếu hoặc các tạp chí quốc tế chuyên ngành sẽ “xin” đăng những bài tham luận mới mẻ và xuất sắc nhất trong hội nghị. Tham gia những hội thảo, hội nghị này, nhà nghiên cứu nên tranh thủ giới thiệu đề tài của mình để được trao đổi, thảo luận với các đồng nghiệp và nhất là những chuyên gia đầu ngành, xin lời khuyên của họ về “chiến thuật” nên gửi xuất bản ở tạp chí nào, nên chọn đề tài nào, cách viết như thế nào cho loại tạp chí nào… Rất có thể chính một vài chuyên gia đầu ngành sẽ nằm trong hội đồng thẩm định của một số tạp chí quốc tế chuyên ngành.      Đa số công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam trong nước khó được đăng trên trường quốc tế là vì chúng ta thiếu những tham chiếu, tham khảo học thuật của những công trình mang vai trò mở đường, định hướng hay lật lại vấn đề cho một dòng hay trào lưu nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV.      4. Nếu phải tìm thêm nguyên nhân của việc đa số công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam trong nước khó được đăng trên trường quốc tế có thể nêu một thực tế là chúng ta thiếu những tham chiếu, tham khảo học thuật của những công trình mang vai trò mở đường, định hướng hay lật lại vấn đề cho một dòng hay trào lưu nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV. Những trào lưu nghiên cứu và tư tưởng học thuật vốn vô cùng phong phú và chuyển động theo từng thập niên nhưng quan điểm học thuật tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ nay đã đặt hệ tư tưởng Lênin-Macxit ở vị trí độc tôn mà chưa chú ý đến các học thuyết khác. Tình hình này đã chuyển biến và có nhiều thay đổi theo hướng tiếp cận với sự đa dạng và cập nhật các học thuyết trên thế giới, tuy nhiên, tình trạng chậm chạp, hay thậm chí lạc hậu vẫn tương đối phổ biến.  Trên đường tìm cách khắc phục sự “so le” như vừa nêu, chúng tôi khuyến nghị rằng chúng ta cần tìm hiểu những dạng “công thức” mà các bài báo muốn đăng trên các tạp chí quốc tế. Thứ nhất là dạng bài viết diễn giải, bình luận công trình của một vài học giả tiên phong về mặt lý thuyết hay phương pháp học rồi phân tích, đánh giá, so sánh các công trình đó lẫn nhau và bước tiếp theo, tác giả chọn (hay không chọn) hướng đi của công trình nào đó và giải thích, thuyết minh vì sao. Thứ nhì là dạng bài báo thuần túy chứng minh và công bố một vấn đề lý thuyết hay phương pháp luận hoàn toàn mới đóng vai trò mở đường một định hướng nghiên cứu mới. Thứ ba là những bài viết giới thiệu, phân tích một nghiên cứu trường hợp (study case) hay thực địa (field study) vốn mang sẵn những đặc tính mới, độc đáo và lần đầu tiên được công bố. Tính mới của những đề tài trong lĩnh vực KHXH&NV về Việt Nam hoàn toàn có thể nằm ở dạng thứ ba này. Ngoài ra, rất nhiều đề tài nghiên cứu muốn giải đáp được cần được soi chiếu bằng phương pháp luận của nhiều chuyên ngành khác, mà chúng ta vẫn quen gọi là phương pháp nghiên cứu liên ngành hay đa ngành. Chẳng hạn, lý giải cho thấu đáo hiện tượng người Việt Nam, bất kể mọi thành phần xã hội, từ mười lăm năm trở lại đây, tin vào tâm linh và tham gia các hoạt động tâm linh (cúng bái, lên chùa, lễ cầu siêu, lễ lên đồng…) thì cần được dựa vào lý luận của những ngành xã hội học, nhân chủng học, tôn giáo học… Hay hiện tượng giáo dục tư phát triển liên tục và dưới nhiều hình thức (số lượng trường tư ở các cấp tăng, lớp – trung tâm học thêm cũng tăng) cũng cần được soi chiếu bởi các ngành kinh tế học, lịch sử giáo dục, xã hội học…      Nếu một cơ quan hay một thiết chế chuyên ngành yêu cầu các nhà nghiên cứu Việt Nam trong lĩnh vực KHXH&NV phải có công bố quốc tế thì bản thân họ cũng nên đồng hành và trợ giúp những nhà nghiên cứu này. Bằng nhiều cách, ít nhất có hai cách cấp thiết : 1/ tăng cường trình độ ngoại ngữ tiếng Anh cho các nhà nghiên cứu, và 2/ lập ra một đội ngũ dịch giả chuyên môn cùng làm việc với tác giả để dịch các bài báo khoa học ra tiếng Anh hoặc Pháp.      5. Nếu một cơ quan hay một thiết chế chuyên ngành yêu cầu các nhà nghiên cứu Việt Nam trong lĩnh vực KHXH&NV phải có công bố quốc tế thì bản thân họ cũng nên đồng hành và trợ giúp những nhà nghiên cứu này. Bằng nhiều cách, ít nhất có hai cách cấp thiết : 1/ tăng cường trình độ ngoại ngữ tiếng Anh ở các kỹ năng đọc và viết thông qua những khóa tập huấn cho các nhà nghiên cứu, và 2/ lập ra một đội ngũ dịch giả chuyên môn cùng làm việc với tác giả để dịch các bài báo khoa học ra tiếng Anh hoặc Pháp. Nước Pháp có nền nghiên cứu khoa học phát triển nhưng lĩnh vực KHXH&NV vào nhiều năm trước, chủ yếu viết và in trong giới Pháp ngữ đã tạo ra hiện tượng người biết tiếng Pháp đọc người viết tiếng Pháp, nên khi đem ra “cân đo” trên bảng xếp hạng quốc tế, “bóng dáng” học thuật Pháp không được nổi bật. Nhưng từ mươi năm lại đây, giới học thuật Pháp không còn bám vào “thành trì” Pháp ngữ mà họ đã có ý thức phải viết và công bố bằng tiếng Anh. Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đã đề xuất những biện pháp rất cụ thể như trợ giúp tài chính cho dịch các bài báo (đặc biệt của những nhà nghiên cứu trẻ) sang tiếng Anh.     Các viện hay trung tâm nghiên cứu hàng đầu hoặc các trường đại học lớn ở Việt Nam nên có những quy chế và đầu tư riêng dành cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu sinh và nghiên cứu viên trẻ. Trước hết là phải đào tạo họ giỏi những ngoại ngữ quan trọng như Anh, Pháp, Trung… và coi đây là một trong những công cụ nghề nghiệp. Đồng thời cũng nên dành một khoản tài chính để cử họ đến trình bày tham luận tại những hội nghị chuyên ngành quốc tế mang tính định kỳ (một hoặc hai năm/lần). Thứ nữa, phải tạo ra một quy chế riêng cho những giảng viên – nghiên cứu viên tại những đại học lớn bằng cách như giảm giờ dạy hay tăng lương để họ không phải đi dạy thêm, dạy tại chức tại các tỉnh, để họ có thời gian, trí lực dành cho nghiên cứu.  Trước khi có khả năng được công bố tại các tạp chí quốc tế danh giá nhất, các nhà nghiên cứu Việt Nam trong nước hoàn toàn có thể tự giới thiệu các công trình của mình cho các tạp chí quốc gia nước ngoài. Gần như những nước có nền nghiên cứu phát triển đều có các tạp chí chuyên ngành như Lịch sử, Xã hội học, Quốc tế học, Nhân chủng học, Dân tộc học… Một nhà xã hội học hay dân tộc học Việt Nam có thể gửi bài đến tạp chí chuyên ngành này của Pháp, Anh hay Mỹ, Nhật… Đây có thể coi là công bố ở ngoại quốc, là bước đệm cho công bố quốc tế ở những tạp chí danh giá hàng đầu thế giới.  Với tư cách là nhà nghiên cứu, “Làm thế nào để bài báo của tôi được đăng ở ngoài nước?” không chỉ là một câu hỏi mà hơn thế còn là mục đích hướng tới của nghiên cứu. Nghiên cứu có thể là một nghề, nhưng nếu có niềm say mê thì đó gần như là nghiệp, đi trọn cuộc đời và vượt qua mọi trở ngại.  ——–  * TS Nguyễn Thụy Phương hiện là giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn minh Á Đông, ĐH Paris Diderot. Tác giả từng đoạt giải Best Paper Award tại Hội nghị quốc tế lần thứ 34 International Standing Conference for the History of Education (Genève, 2012) qua bài tham luận này “The rivalry between the French and American educational missions during the Vietnam War (1955-1975)”, được đăng tại Tạp chí Paedagogica Historica  (International Journal of the History of Education), Special Issue 1-2, Volume 50, 2014.    Author                Nguyễn Thụy Phương        
__label__tiasang Công bố quốc tế trong KHXH&NV: Bài toán “con gà quả trứng”      Lựa chọn tạp chí nào để xuất bản các công trình của mình và cách nào loại trừ được các tạp chí yếu kém khỏi danh mục tạp chí uy tín là nội dung cuộc trao đổi của Tia Sáng với giáo sư Lâm Thị Mỹ Dung (ĐH KHXH&NV Hà Nội).      GS Lâm Thị Mỹ Dung.  Chủ đề chất lượng các công bố quốc tế cũng như tiêu chí lựa chọn các tạp chí phù hợp để đăng bài và đánh giá các danh mục ấy đang được các nhà nghiên cứu khoa học rất quan tâm. Quan điểm của bà và các đồng nghiệp quốc tế trong lĩnh vực khảo cổ học như thế nào?     Nhìn từ góc độ nhà nghiên cứu trong ngành khảo cổ học thì có thể thấy có hai dạng lựa chọn để công bố: Thứ nhất là những dạng công bố nghiên cứu chuyên sâu, trên các tạp chí chuyên ngành hẹp chỉ dành cho giới nghiên cứu khảo cổ học ở cả trong nước và quốc tế. Thông thường, chúng tôi ưu tiên công bố trên các tạp chí này những nghiên cứu theo hướng mình chuyên tâm cả đời, vì đấy mới là nơi có đúng đối tượng độc giả đọc nghiên cứu chuyên sâu của ngành. Bên cạnh đó sẽ có những bài công bố ở các tạp chí mang tính phổ quát có nội dung đề cập ở phạm vi rộng, mang tính liên ngành.    Chúng tôi cần cả hai dạng công bố này vì dạng một là để thảo luận với các chuyên gia trong ngành mình, còn dạng hai là để thảo luận với các liên ngành khác và xa hơn nữa là đóng góp vào việc truyền bá tri thức khoa học nói chung ra công chúng. Nhưng khi đánh giá vai trò của một chuyên gia thì các hội đồng sẽ đánh giá chủ yếu dựa trên các bài công bố ở tạp chí chuyên ngành mà anh theo đuổi. Mặt khác, các hội đồng xét duyệt đề tài các cấp, các quỹ chủ yếu là theo ngành và chuyên ngành.     Có ý kiến cho rằng cần phải tiếp tục chọn danh mục tạp chí uy tín, trong đó có tính trọng số cho các tạp chí theo các mức độ khác nhau?    Để đảm bảo chất lượng công bố quốc tế, tôi nghĩ việc chọn và thảo luận danh mục tạp chí, thậm chí nếu có đòi hỏi tính trọng số cho các tạp chí thì vẫn là chưa đủ, đúng hơn là phải tính trọng số cho từng công bố. Bởi vì bạn cũng biết, có những tạp chí có dấu hiệu rởm rõ ràng có thể loại trừ được ngay, thì vẫn có nhiều tạp chí cao thấp làng nhàng ở các ranh giới khác nhau. Trong xu thế vẫn đương hỗn loạn như thế khó mà ngăn được các nhà khoa học công bố ở các địa chỉ khác nhau cũng như khó mà lựa chọn ra được danh mục tạp chí tốt ngay.    Do vậy, bản thân các hội đồng phải đọc, phải đánh giá dựa trên từng bài bên cạnh việc kiểm tra xem bài báo đó được đăng ở đâu, đăng kiểu gì. Nếu trong hội đồng không đủ người để đọc các công bố ở các ngành hẹp thì phải mời chuyên gia bên ngoài, ví dụ như Hội đồng ngành của tôi vừa rồi đã phải gửi các công bố của ứng viên cho các nhà khoa học ngoài hội đồng thẩm định và liên lạc với một số đồng nghiệp ở nước ngoài để xác định mức độ uy tín của tạp chí hay nhà xuất bản mà ứng viên đăng bên cạnh việc các thành viên hội đồng thẩm tra dựa vào nhiều kênh khác nhau. Trong hội đồng chức danh liên ngành Sử năm nay đã có thêm thành viên là nhà khoa học nước ngoài. Các hội đồng của chuyên ngành và liên ngành mà tôi tham gia ở Nafosted hay Hội đồng chức danh giáo sư mấy năm nay số hồ sơ không nhiều, đấy cũng là điều kiện để việc đánh giá thẩm định kỹ hơn tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra.    Ở mức cuối cùng, để đảm bảo chất lượng chính cho các nghiên cứu, vẫn cần tới trách nhiệm và vai trò của hội đồng khoa học.     Gần đây trên thế giới có hiện tượng là các siêu tạp chí đa ngành (mega journal) mới nổi, thường chấp nhận đăng nhiều bài, có tốc độ đăng bài nhanh, không quá đòi hỏi các công bố phải thực sự mới mẻ, đột phá. Theo bà, ngành của bà và giới KHXH&NV sẽ “chọn mặt gửi vàng” như thế nào?    Vì ngành của tôi tương đối đặc thù nên tôi chỉ có thể nói kinh nghiệm của mình mà khó đại diện cho các ngành khác. Về phía cá nhân mình, tôi vẫn chọn các tạp chí trong chuyên ngành của mình, và nếu có điều kiện thì sẽ viết thêm các bài cho các tạp chí liên ngành. Nhưng có lưu ý rằng, đây là các tạp chí có mức độ bình duyệt chặt chẽ chứ không phải là “đồ ăn nhanh”. Bởi vì, có thể ở một số lĩnh vực khác, các chủ đề khác cần đăng nhanh, ví dụ như khoa học ứng dụng hoặc là chủ đề dịch bệnh Covid-19 … nhưng khoa học cơ bản như ngành của chúng tôi thì không thể bình duyệt và đăng nhanh chỉ trong một vài tháng như vậy được.    Hiện nay cũng có hiện tượng một số nhà xuất bản rất tích cực gửi nhiều thư mời chào công bố, tôi thường từ chối ngay. Ví dụ, năm 2018, tôi đi hội thảo Khảo cổ học Đông Nam Á ở Bangkok, vừa về tới Hà Nội thì đã nhận được một đống thư mời chào đăng bài cho số đặc biệt, và ban tổ chức hội thảo phải gửi cho tất cả các nhà khoa học nói rõ là họ không gửi những lá thư mời chào như vậy, đề nghị các nhà khoa học không đăng ở đó, mà các bài của hội thảo sẽ được chọn và phản biện theo quy trình để đăng trên tạp chí chuyên ngành của khu vực. Nói vậy để thấy rằng có khá nhiều cá nhân và tổ chức nước ngoài sẵn lòng cung cấp dựa trên nhu cầu phải xuất bản quốc tế của các nhà khoa học không chỉ Việt Nam.    Tôi vẫn nói với các bạn trẻ là “mình nghiên cứu mãi mới được một vấn đề, vậy thì hãy cố gắng chọn lọc ở các tạp chí vừa tầm với mình nhưng phải đảm bảo các tiêu chí bình duyệt và độc giả của các tạp chí ấy là ai, đăng ở đó thì các nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực mình quan tâm có trích dẫn, thảo luận lại với mình hay không”.    Bạn đã hỏi danh mục tạp chí có uy tín thì tôi nói luôn là các danh mục của Quỹ Nafosted hay thông tư hướng dẫn của Hội đồng Chức danh giáo sư vẫn chưa thực sự phù hợp với bức tranh của ngành KHXH&NV, ví dụ hội đồng ngành của tôi đã phải loại trừ những ứng viên, hoặc các bài công bố chất lượng tốt ở các tạp chí tốt của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… vì nó không nằm trong danh mục tạp chí được tính là có uy tín, mặc dù đó đều là những công trình nghiêm túc. Đây cũng là vấn đề được đưa ra thảo luận nhiều, nhưng có lẽ là vẫn phải thảo luận nữa, tiếp tục thu hẹp lại một số tạp chí chưa tốt nhưng ngược lại là phải mở ra một số tạp chí khác nữa hay chương sách ở các nhà xuất bản có uy tín mà giờ chưa có trong danh mục.      Có một chiến lược, với nguồn lực con người được đào tạo, có liên kết ngành sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ và có nhiều công bố quan trọng. Ảnh: Bãi cọc Cao Quỳ, Hải Phòng mới được phát hiện vào năm 2019, từng được dự đoán rằng là một phần của thế trận cọc Bạch Đằng trước đây nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi bỏ ngỏ. Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.   Chính vì các tiêu chí đó đang quá ngặt nghèo nên thời gian gần đây các bạn trẻ cũng không mấy khi dám nộp hồ sơ xin đề tài ở ĐHQG hay Nafosted. Vì một số bài họ viết không được chấp nhận trong danh mục uy tín nữa, trong khi với các bạn trẻ trong KHXH&NV, để điền dã, khảo sát, khai quật, thu thập số liệu, phân tích … cho đến lúc đăng được một bài là mất mấy năm rồi chứ không ít.    Bà vừa nhắc tới việc có ít hồ sơ xin tài trợ trong KHXH&NV vì chưa đạt tiêu chuẩn. Vậy khó có thể ngay lập tức đòi hỏi ngành này phải hội nhập khi chưa có sự chuẩn bị nền tảng và bài bản?    Nhìn chung chúng ta vẫn đang loay hoay không thoát ra được những hạn chế cũ, một mặt mong muốn đáp ứng được những chuẩn mực của quốc tế để nâng lên gần tiệm cận với trình độ của thế giới, mặt khác lại muốn thúc đẩy một quy trình quá nhanh. Mấy năm trước chưa có bài nào, năm nay đã đùng một cái muốn đăng tới mấy bài thuộc danh mục ISI, Scopus, thì làm sao có thể đáp ứng được, nhất là với những nhà khoa học trẻ. Chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm, có nhiều liên hệ với các nhóm nghiên cứu khác trên thế giới, được một số cộng đồng học thuật biết đến rồi mà vẫn cần thời gian chứ đừng nói tới người trẻ.    Hầu như chúng ta chưa có lộ trình khoa học từng bước một ngay từ khâu lên kế hoạch nghiên cứu. Ví dụ trong nghiên cứu khảo cổ, một đề tài hầu như chỉ dành kinh phí cho đi khai quật là chính, còn quy trình để phân tích ra được những hiện vật mang về từ khai quật có thể mất cả mấy năm trời thì phải huy động nhiều nguồn lực, nhiều chuyên gia và nhiều lab khác nhau thì lại không được đề ra trong kế hoạch. Ngay một nghiên cứu phức hợp di tích thuộc thời đại kim khí ở Đầu Rằm, Quảng Ninh của chúng tôi, chỉ riêng phân tích vỏ sò hay xương động vật hoặc hàng trăm mẫu than đã cần chuyên gia riêng. Để đăng tải quốc tế không phải chỉ có khai quật lên rồi báo cáo là đăng được, mà cần phải đảm bảo nhiều khâu, từ việc lấy số liệu có đúng quy trình không? có thể kiểm tra chéo không? phân tích ở phòng thí nghiệm nào? Nguồn nhân lực của anh có được đào tạo bài bản từ trước để “đọc” được các thông tin ấy hay không? Chưa kể, một thách thức lớn nữa là về cơ bản chúng ta mới hội nhập chưa lâu, chưa cập nhật nhiều lý thuyết và phương pháp mới, thậm chí mang nhiều định kiến trong nghiên cứu.    Đơn cử như cả bạn và tôi đều tin Cổ Loa chắc chắn là của An Dương Vương rồi, vì chúng ta được dạy như thế nhưng không bao giờ đặt câu hỏi tại sao lại của An Dương Vương, những câu chuyện về An Dương Vương được hình thành từ khi nào? Chỉ cần một nhà nghiên cứu phương Tây hỏi câu ấy thôi là phải xem lại quá trình nghiên cứu và cách đặt vấn đề. Hoặc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở vùng Mê Linh được cho là dựa trên nền tảng của văn hóa Đông Sơn bản địa, nhưng ở Mê Linh không có nhiều di tích Đông Sơn  và chúng ta phải xem kỹ địa danh và phạm vi của địa danh cổ. Nghiên cứu chính là quá trình hoài nghi và lý giải những hoài nghi. Nhưng suốt một thời gian dài chúng ta ít hoài nghi!     Vấn đề thứ hai, nhìn vào bối cảnh các đơn vị nghiên cứu KHXH trong nước thì sẽ thấy điểm khó nữa là mỗi nơi làm một kiểu: Có những đơn vị như ĐHQG HN khi làm đề tài nghiên cứu khoa học cần phải có công bố quốc tế, thì ở một số nơi khác không coi trọng mà vẫn chỉ tập trung đề cao nhiệm vụ chính trị và công bố trong nước.     Vậy chiến lược thúc đẩy công bố được vạch ra như thế nào?     Phải thành thật mà nói, chúng ta nói thúc đẩy công bố quốc tế trong KHXH&NV nhưng chưa có một chiến lược bài bản. Kết quả phần lớn là nỗ lực của từng cá nhân là chính, chưa hình thành các định hướng lớn cần các nhóm mạnh, liên ngành cùng tham gia giải quyết. Nhưng để đưa ra được những định hướng nghiên cứu thì chúng ta lại vướng bài toán “con gà quả trứng” là không chỉ nguồn nhân lực của từng ngành chưa thực sự được đào tạo bài bản mà tính liên ngành còn yếu, chưa có nhiều nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành, liên quốc gia trong KHXH.     Nhưng cũng quay trở lại chiến lược, vì chúng ta không có chiến lược nghiên cứu chung và tổng thể từ đầu nên không có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực mới là điều quan trọng bậc nhất, chẳng hạn khi những người làm khảo cổ rất cần sự tham gia ngay từ đầu và toàn thời gian của chuyên gia cổ nhân học, môi trường cổ, động vật, thực vật cổ, bảo tồn, thực nghiệm… thì gặp phải tình trạng thiếu hụt nhân lực và phương tiện, thành ra phải nhờ cậy vào chuyên gia và các phòng thí nghiệm nước ngoài.      Bên cạnh việc đăng bài quốc tế để hội nhập thì phải quyết liệt nâng cao chất lượng các tạp chí trong nước. Trong ảnh: Tạp chí KHXH&NV của ĐH Quốc gia Hà Nội, dù mới thành lập năm 2015 nhưng đã đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 đạt tiêu chuẩn thuộc danh mục các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới.     Vậy theo đánh giá của bà thì việc công bố trong nước có vai trò gì?    Tôi và các đồng nghiệp đã nói rất nhiều lần, đầu tiên là phải nâng cao chất lượng các tạp chí trong nước. Đây mới là vấn đề  của mình. Vì mình đăng chủ yếu trong nước, cho nên nếu anh không nâng cao chất lượng, không xiết chặt đầu vào và quy trình phản biện thì vô hình trung anh nhất bên trọng anh nhất bên khinh à? Tạp chí của quốc gia, cho sự nghiệp khoa học của đất nước này tại sao không được quan tâm? Mặt khác, nâng cao tiêu chuẩn công bố trong nước tiệm cận với thế giới thì mới trở thành bước đệm cho nhà nghiên cứu “tập dượt” tới không gian học thuật quốc tế được. Như vậy bên cạnh việc đăng bài quốc tế để hội nhập thì phải quyết liệt nâng cao chất lượng các tạp chí trong nước.    Suy cho cùng, không nhất thiết chỉ có duy nhất công bố quốc tế, nhất là công bố ở các tạp chí top đầu ở Âu Mỹ. Anh có thể công bố ở tạp chí Khảo cổ học trong nước hoặc tạp chí của một nước Đông Nam Á khác nhưng sẽ được đồng nghiệp trong khu vực thảo luận lại, thì đó là điều có giá trị cả. Bởi vì, thông thường, điều đầu tiên mà giới nghiên cứu khảo cổ học quốc tế đến đây là tìm mua tạp chí Khảo cổ học để xem các nhà khoa học Việt Nam đang nghiên cứu gì. Mặt khác, chính họ khi nghiên cứu về Việt Nam đều có kế hoạch đăng bài đăng trên tạp chí Việt Nam bên cạnh việc đăng tạp chí quốc tế. Các nhà nghiên cứu ấy cũng muốn đăng ở đây như là đóng góp lại cho Việt Nam, vì nghiên cứu cuối cùng là để phục vụ cho chính cộng đồng cư dân ấy. Nhìn những nghiên cứu đăng trên tạp chí quốc tế về khảo cổ học Việt Nam, chúng ta dễ thấy rằng rất nhiều trích dẫn từ các bài tạp chí của các nhà khoa học Việt Nam xuất bản ở Việt Nam và bằng tiếng Việt!  Đó cũng là lý do để chúng ta tập trung nâng cao chất lượng học thuật của những bài nghiên cứu đăng trong nước!     Thời gian gần đây, tôi thường cùng thảo luận với các nhà khoa học trong khu vực Đông Nam Á và chúng tôi cùng đặt câu hỏi, tại sao không thể phát triển được tờ tạp chí để chính giới học thuật trong khu vực này có thể thảo luận cùng nhau, thay vì trước đây mỗi nước cứ độc lập nghiên cứu đăng bằng thứ tiếng riêng của mình, để rồi sau đó cứ phải đọc về chính khu vực mình, chính người láng giềng của mình thông qua con mắt các nhà nghiên cứu phương Tây. Và kết quả rất đáng khích lệ đó là tạp chí của SEAMEO SPAFA, Tổ chức khu vực về khảo cổ học và Nghệ thuật đã vừa được lập chỉ mục trong Scopus và Thư mục các tạp chí truy cập mở.    Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi!□     Thu Quỳnh thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Công bố quốc tế: Vẫn chuyện lượng hay chất      Tại buổi tổng kết hoạt động năm 2014 và  phương hướng hoạt động năm 2015 của Quỹ Phát triển KH&amp;CN quốc gia  (Nafosted) đã có một số quan điểm khác nhau trong đánh giá công bố quốc  tế từ các nghiên cứu do Quỹ tài trợ.    Báo cáo tổng kết năm 2014 của giám đốc Quỹ Nafosted Đỗ Tiến Dũng cho thấy, số lượng công bố quốc tế từ các đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ tiếp tục tăng so với các năm trước nhưng theo đánh giá của một số nhà khoa học, sự tăng trưởng về số lượng này vẫn chưa đi cùng với chất lượng, thậm chí đã xuất hiện xu thế “xé lẻ” đề tài để có nhiều công bố quốc tế hơn, đáp ứng đủ chỉ tiêu theo quy định của Quỹ.   PGS. TS Đặng Quang Á (Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và TS Đồng Văn Quyền (Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) chỉ ra, điều đó thể hiện phần nào qua hệ số trích dẫn từ những công trình do Quỹ Nafosted tài trợ vẫn còn thấp. Theo thống kê trích dẫn trung bình bài báo ISI từ nguồn ISIKNOWLEGE năm 2014, hệ số trích dẫn này mới đạt con số 0,29 lần. “Vì Việt Nam đã qua giai đoạn cần sự kích thích số lượng công bố quốc tế, Quỹ Nafosted nên có biện pháp phù hợp để tăng chất lượng các công bố do Quỹ tài trợ lên”, TS Đồng Văn Quyền nói.    Tuy nhiên, từ góc độ của một nhà nghiên cứu có năng suất công bố quốc tế cao hàng đầu ở trường ĐH Bách khoa Hà Nội, PGS. TS Nguyễn Văn Hiếu (Viện Đào tạo Quốc tế về Khoa học Vật liệu) lại có ý kiến trái ngược. “Nhiều nhà khoa học lo ngại về chất lượng công bố quốc tế từ đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ và cho rằng chúng ta đang chạy theo số lượng. Nhưng thực chất, số lượng công bố trên các tạp chí ISI của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp, thấp ngay cả so với khu vực Đông Nam Á. Theo thống kê ISIKNOWLEGE thì năm 2014, Việt Nam có tổng số 2.301 công bố, xếp hạng tư khu vực, sau Singapore – 12.387 công bố, Malaysia – 10.208 công bố, và Thái Lan – 6.633 công bố. Nếu tính theo tỷ lệ công bố trên tổng số dân hơn 90 triệu người thì rõ ràng chúng ta kém quá xa Singapore (hơn 5 triệu dân), Malaysia (hơn 30 triệu dân) hay Thái Lan (hơn 66 triệu dân).”    PGS Nguyễn Văn Hiếu giải thích thêm về sự liên hệ giữa chất lượng và số lượng công bố quốc tế: “Nếu chưa có bài báo 1, 2 điểm thì chúng ta khó có thể có được bài báo 10 điểm, trừ một số trường hợp đặc biệt xuất sắc. Việc bắt đầu có công bố trên các tạp chí chưa có hệ số ảnh hưởng IF cao cũng giúp các nhà khoa học trẻ Việt Nam làm quen dần dần với môi trường nghiên cứu quốc tế”. Việc đi từng bước cũng là điều tất yếu với các nền khoa học bởi “cách đây năm năm, đến một cường quốc khoa học của châu Á như Hàn Quốc vẫn còn chưa nghĩ nhiều đến những tạp chí có hệ số IF cao. Nếu một viện nghiên cứu hoặc một trường đại học tự hạn chế mình công bố trên các tạp chí ISI có hệ số IF khiêm tốn, thì sẽ còn rất lâu chúng ta mới có được kết quả như của Hàn Quốc. Và với một môi trường nghiên cứu như trường đại học mà một năm có dưới 100 công bố quốc tế thì không còn là trường đại học nữa”.    Theo giám đốc Đỗ Tiến Dũng, số lượng công bố quốc tế từ các đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ có mức tăng trưởng tốt nhưng bản thân điều đó cũng bộc lộ một số hạn chế như nhiều nhà khoa học đã đề cập trong buổi tổng kết năm 2014 hay nhiều hội thảo trước đó. Vì vậy, Quỹ Nafosted đã đề ra nhiều mục tiêu để nâng cao chất lượng của các công bố quốc tế ngay trong năm 2015. Trước mắt, Quỹ sẽ có chính sách khuyến khích các tác giả có bài báo được đăng tải trên các tạp chí ISI có hệ số ảnh hưởng IF cao, có uy tín. Ví dụ, với những đề tài có bài báo chất lượng cao, Quỹ Nafosted và Hội đồng đánh giá chuyên môn sẽ xem xét công nhận một bài báo thay vì hai như quy định.            Vì Việt Nam  đã qua giai đoạn cần sự kích  thích số lượng công bố quốc tế, Quỹ  Nafosted nên có biện pháp phù hợp để  tăng chất lượng các công bố do Quỹ  tài trợ lên”. – TS Đồng Văn Quyền        Giải đáp câu hỏi của TS Lê Mai Hương (Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện KH&CN Việt Nam) và một số nhà khoa học khác: đâu là tiêu chí của một tạp chí ISI có uy tín, giám đốc Quỹ Nafosted Đỗ Tiến Dũng cho rằng do đặc thù của các ngành khác nhau nên hội đồng đánh giá có thể áp dụng tiêu chuẩn một cách linh hoạt theo từng ngành cụ thể; đồng thời trong danh mục các tạp chí ISI mà các nhà quản lý Quỹ Nafosted và các Hội đồng đánh giá đã lựa chọn trong những năm qua sẽ tiếp tục được tinh học, loại bớt các tạp chí ISI có chất lượng thấp. Các tạp chí tham khảo phải thuộc danh mục tạp chí SCI và SCIE (đối với với lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật) và thuộc danh mục AHCI và SSCI (đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn). Ngoài ra sẽ bổ sung danh mục tạp chí Scopus (Hà Lan), vốn có phổ rộng hơn nhưng có sự giao thoa với ISI cũng rất lớn. Danh mục tạp chí quốc tế cũng có thể xét đến những tạp chí của các trường đại học thuộc tốp 100, tốp 50 khu vực.    Một nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình tài trợ của Quỹ Nafosted trong năm tới là hỗ trợ hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh ở các trường/viện, trước mắt sẽ là năm nhóm về khoa học cơ bản, trên cơ sở những quy định, tiêu chí về nhóm nghiên cứu mạnh được Quỹ xây dựng trong năm 2014. Việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh không chỉ góp phần đem lại khả năng triển khai các hướng nghiên cứu đỉnh cao, tiến tới hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các trường phái khoa học mà còn góp phần tạo ra động lực cho các nhà khoa học Việt Nam nâng cao chất lượng các công bố quốc tế.     Author                Quản trị        
__label__tiasang COVID-19 có làm giảm đầu tư cho khoa học cơ bản?      Ngay thời điểm thế giới còn ngổn ngang lo âu về Covid-19, các nhà khoa học châu Âu đã cùng gặp nhau ở câu hỏi: Khoa học cơ bản có bị bỏ rơi sau khi các quốc gia châu Âu cũng như thế giới đều tập trung vào đầu tư cho vaccine chống coronavirus và những nghiên cứu liên quan?      Y học sẽ nhận dược đầu tư lớn của EU sau đại dịch Covid-19. Nguồn: euronews.com  Một bức thư ngỏ với hơn 2000 chữ ký của các nhà khoa học, trong đó nhiều người đoạt giải Nobel, Kavli cùng những hiệu trưởng các trường đại học lớn của châu Âu, mang tên “Những người bạn của Ủy ban nghiên cứu châu Âu ERC” đã chuyển khuyến nghị của họ tới ERC: dù phải ưu tiên giải quyết những vấn đề của Covid-19 nhưng đây không phải là thời điểm cắt giảm đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Có hai lý do để họ lo ngại: thứ nhất theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Hợp tác và phát triển châu Âu (OECD), đại dịch làm các nền kinh tế lớn trên thế giới thiệt hại ít nhất 15% GDP, trong đó chỉ số này ở Pháp, Đức, Ý, Anh và Mỹ có thể sẽ là 25%; thứ hai là sẽ khó đạt tới con số 94 tỷ Euro dự kiến cho Horizon Europe tới – chương trình đầu tư cho khoa học lớn nhất của châu Âu với chu kỳ bảy năm, bởi áp lực dồn tiền vào tái cấu trúc lại nền kinh tế châu Âu thời kỳ hậu coronavirus.  Do đó, qua thư ngỏ, các nhà khoa học cũng cho rằng ERC đã trở thành yếu tố chính tăng cường sức mạnh nghiên cứu của châu Âu. Hiện tại chỉ chiếm 7% dân số thế giới nhưng châu Âu là một trong ba vùng có công bố quốc tế chất lượng cao của thế giới. Hiệu quả của ERC đã được chứng thực ở một loạt con số khác: 75% các dự án đều mang lại đột phá hoặc khoa học tiên tiến; 7 giải Nobel, 4 giải Kavli, 4 huy chương Field cùng nhiều giải thưởng quan trọng khác; hơn 9.500 nhà nghiên cứu xuất sắc đã được tài trợ với 2/3 trong số đó dưới 40 tuổi; các dự án thu hút 70.000 nhóm nghiên cứu, phần nhiều là nghiên cứu sinh và postdoc, qua đó xây dựng được đội ngũ các nhà nghiên cứu xuất sắc thế hệ mới; các dự án của ERC đem lại hơn 100.000 bài báo, trong đó hơn 5.500 bài trên các tạp chí được trích dẫn nhiều nhất thế giới, và hơn 1.200 bằng sáng chế có tính ứng dụng và hơn 100 bằng sáng chế mang tính mạo hiểm.      Các chính phủ trên toàn cầu đã phải điều chỉnh các chính sách đối với nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trước tác động của đại dịch. Hội đồng châu Âu cho biết, việc có thể đầu tư công và tư vào R&D ở châu lục này sẽ giảm đi 3,9 tỷ Euro và chỉ chiếm 1,3% tổng số dự tính đầu tư của năm 2020.      Tuy nhiên điều ERC mang lại cho các nhà nghiên cứu không chỉ là kinh phí mà còn là cơ hội để họ tự do theo đuổi những nghiên cứu thuần túy thỏa mãn trí tò mò khoa học. “ERC ủng hộ nghiên cứu mở rộng những biên giới hiểu biết thông qua tài trợ cạnh tranh trên tất cả mọi lĩnh vực. Rộng mở với các tài năng trên toàn thế giới, ERC còn là công cụ sống còn để giúp châu Âu thu hút và duy trì các tài năng sáng chói và qua đó góp phần xây dựng châu lục này thành một quyền lực khoa học”.   Vậy mà giờ đây, tất cả những điều đó đang đứng trước nguy cơ bị đại dịch đẩy lùi khỏi vị trí quen thuộc.   Bóng đen khủng hoảng  Nỗi lo ngại của các nhà khoa học không phải không có cơ sở. Bản thân họ đã phải chịu đựng “sự tác động rất lớn” lên các dự án, theo đánh giá của các nhà quản lý những cơ sở nghiên cứu, dù họ đã cố gắng tìm ra những cách có thể để đem lại khả năng truy cập dữ liệu cũng như tiến hành thực nghiệm. Hiệp hội các cơ sở nghiên cứu ở quy mô châu lục của châu Âu (ERF) đã mở ngay một cuộc khảo sát nhanh để tìm hiểu xem những tác động của đại dịch lên các cơ sở máy gia tốc, tia X, synchrotron… – những nơi không chỉ quy tụ những nhà vật lý mà còn cả các nhà khoa học vật liệu, sinh học, y học, doanh nghiệp… Kết quả cho thấy 2/3 số trung tâm này đều đóng cửa, chỉ còn 1/3 ít nhất vận hành một phần, nghĩa là cung cấp dịch vụ cho những người còn ở lại các trung tâm này thực hiện thí nghiệm, nghiên cứu, và vào trung tuần tháng 5/2020 thì con số này đã tăng lên một nửa. Lệnh cấm đi lại và những quy định an toàn mới từ các chính phủ khiến các nhà nghiên cứu không thể mang mẫu thí nghiệm đi tới bất cứ nơi nào.   “Chúng tôi đã từng phải làm tất cả để nghĩ ra hình thức tương tác mới trong khi đại dịch diễn ra ngoài kia,” Andrew Harrison, giám đốc điều hành The Diamond Light Source ở Anh, nói. Thế nhưng đây chưa phải là tất cả, đại dịch còn gây lo ngại cho ông và các nhà quản lý khác về một tương lai nhiều bất trắc. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế sẽ tác động đến các cơ sở nghiên cứu lớn trước tiên và Harrison lo ngại là kinh phí sẽ có thể hụt đi trong tương lai. Sự đầu tư bền vững của chúng sẽ phụ thuộc vào việc các quốc gia đáng giá được giá trị của khoa học cơ bản trong vấn đề xử lý khủng hoảng y tế toàn cầu và những đóng góp xây dựng các giải pháp xanh cho nền kinh tế xã hội. “Tôi nghĩ là các trung tâm lớn như chúng tôi sẽ phải tiếp tục chứng minh là mình có đủ khả năng và cần thiết để giúp giải quyết những thách thức lớn như thế này,” Harrison nói.   Đồng nghiệp của ông, Jana Kolar, giám đốc điều hành Liên doanh Cơ sở nghiên cứu châu Âu (CERIC-ERIC) cũng đồng ý với nhận định này. Bà tin tưởng, các trung tâm nghiên cứu đều cần thể hiện được mình có thể giải quyết được những thách thức mới khi những ưu tiên đầu tư đang thay đổi. “Mô hình bền vững của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở: chúng tôi cần hiểu được những gì các chính phủ muốn và qua đó cung cấp tất cả những gì tốt nhất có thể”.   Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học không lạc quan như vậy, họ lo ngại đến một tương lai u ám hơn. Đây là lý do mà họ tập hợp lại và viết thư gửi Ủy ban nghiên cứu châu Âu, trong thư có nhấn mạnh đến “một trong những câu chuyện thành công của EU trong thập kỷ qua chính là hoạt động đầu tư cho khoa học của Hội đồng nghiên cứu châu Âu. Với cách thức đầu tư độc nhất vô nhị, không bị những can thiệp chính trị ảnh hưởng khi chỉ tập trung vào các ý tưởng khoa học, cách tiếp cận từ dưới lên và hướng đến sự xuất sắc, các tài trợ của ERC đã trở thành một trong những tài trợ nghiên cứu có uy tín bậc nhất thế giới”.     Cơ sở Elettra synchrotron tại Trieste, Ý. Nguồn:elettra.trieste.it.  Dag Rune Olsen, hiệu trưởng trường Đại học Bergen Nauy và là một trong những người khởi thảo thư ngỏ, cho rằng các nhà nghiên cứu cần cùng nhau “đấu tranh” bảo vệ khoản đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Ông trả lời Science|Business, “Với những  gì đang diễn ra, có lẽ nghiên cứu cơ bản không phải là ưu tiên hàng đầu của các cơ quan quản lý nữa. Tầm nhìn ngắn hạn trong đầu tư cho khoa học là mối nguy hiểm lớn nhất khi chúng ta phải đối phó khủng hoảng. Do đó, chúng tôi thiết lập cuộc vận động để đưa vấn đề này ra bàn bạc trở lại”.   Olsen, một nhà nghiên cứu về ung thư, nhấn mạnh đến điều mà có thể các nhà quản lý không để ý đến: nhờ có nghiên cứu dài hạn mà chúng ta biết được rất nhiều thông tin để có thể kiểm soát dịch bệnh, “chúng ta không thể hiểu được hệ miễn dịch hoặc không có khả năng thực hiện các xét nghiệm, sản xuất vaccine nếu không có nghiên cứu cơ bản”.  Hứa hẹn của các nhà quản lý  Có vẻ như những ý kiến của các nhà khoa học đã làm lay động các nhà quản lý. Một trong những điểm hứa hẹn nhất là Horizon Europe – chương trình tới sẽ khởi động vào năm 2021 và kết thúc năm 2027, “sẽ được tăng cường sức mạnh đầu tư”, sau khi khoa học đã “chứng minh được giá trị của mình trong suốt khủng hoảng Covid-19, bà Ursula von der Leyen, Chủ tịch EC nói. Sẽ có thêm một khoản tiền vài tỉ euro cho nghiên cứu, đến từ khoản ngân sách được dành để phục hồi nền kinh tế châu Âu sau đại dịch.       “Trong quá trình thực hiện nghiên cứu cơ bản do sự dẫn dắt của trí tò mò, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới để giải quyết những thách thức như đại dịch có thể tới trong tương lai – lịch sử khoa học đầy rẫy những ví dụ như vậy. Do đó thay vì cắt giảm kinh phí, chúng ta cần gia tăng đầu tư thêm cho khoa học cơ bản”. Giáo sư Nils Christian Stenseth của trường Đại học Oslo ở Na Uy.      Chương trình Horizon Europe mới về cơ bản được ấn định là 94,1 tỉ euro, sau khi được phác họa vào năm 2018. Nó là một bước tiến so với chương trình hiện nay với 77 tỉ euro (sẽ kết thúc vào tháng 12/2020). Tuy nhiên không cần đến đại dịch thì số liệu kinh phí đã liên tục tăng và giảm trong các buộc bàn thảo hai năm qua và trong một phiên họp gần đây của EU thì con số này chỉ còn 87 tỉ euro.  Do đó, tuyên bố của bà Ursula von der Leyen đã đem lại hi vọng về việc bảo toàn, thậm chí là gia tăng, con số 94,1 tỉ euro. Giải quyết những lo ngại là ngân sách phục hồi kinh tế châu Âu sẽ đi kèm với một cấu trúc các điều khoản phức tạp, bà hứa hẹn “sẽ có thêm nhiều tài trợ và ngân sách sẽ bao gồm cả những đầu tư sớm vào ngay năm nay”.   Bà Ursula von der Leyen cũng đã nêu những đặc điểm chính của ngân sách, trong đó có khoản đầu tư dành riêng cho chương trình y tế nhằm giám sát mức độ sẵn sàng của các hệ thống chăm sóc sức khỏe, củng cố đầu tư cho y tế gắn liền với những chương trình khác. Các khoản hỗ trợ vùng cũng sẽ được đặt lên hàng đầu, trên cơ sở “mức độ nghiêm trọng của đại dịch” mà các quốc gia phải đối mặt. Điều đó sẽ là cơ hội cho Tây Ban Nha, Italy… vào danh sách các quốc gia sẽ nhận thêm đầu tư cho nghiên cứu, đồng thời cũng làm giảm bớt lo ngại về năng lực của các quốc gia thành viên EU nghèo sau khủng hoảng. “Mọi quốc gia thành viên đều bị nhiễm bệnh bởi con virus này nhưng năng lực phản hồi của mỗi quốc gia, mỗi nền khoa học đều rất khác biệt,” bà Ursula von der Leyen nói về căn nguyên của việc xác định các phần hỗ trợ khác nhau.  Dĩ nhiên, việc đầu tư mang tính chiến lược của EU sẽ là đầu tư trên nhiều khía cạnh, ví dụ như phát triển và sản xuất các kháng sinh, khuyến khích các công ty châu Âu có những sản phẩm mới, “châu Âu phải có khả năng tự chế tạo ra các loại dược phẩm cần thiết”, bà Von der Leyen nói. Cuộc khủng hoảng Covid-19 đã cho thấy sự phụ thuộc của châu Âu vào các nhà cung cấp nước ngoài, với 3/4 loại chống đông máu của Ý, gần một nửa kháng sinh của Đức, Ý và Pháp đều từ Trung Quốc. Do đó, để có thể tự chủ về dược phẩm, cần gia tăng hợp tác hơn nữa giữa các nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu của châu Âu. Điều này có thể được khuyến khích hơn khi được chính sách hỗ trợ đầu tư của EU đối với việc nâng cao năng lực của hệ thống y tế châu Âu ủng hộ.   EU sẽ không bỏ quên những lĩnh vực khác của khoa học. “Sớm hay muộn thì chúng ta sẽ tìm ra một vaccine cho coronavirus nhưng chúng ta không có vaccine cho biến đổi khí hậu. Do đó châu Âu cần một kế hoạch phục hồi cho tương lai”, bà Von der Leyen nhấn mạnh đến ý nghĩa đầu tư này.  Tuy nhiên, đây mới chỉ là những đề xuất cho khung tài chính của ERC, nó sẽ còn cần đến những thảo luận tiếp tục cho đến tháng 8 tới để định hình. Có thể từ nay đến đó sẽ có nhiều thay đổi và không ai biết tương lai của khoa học châu Âu sẽ ra sao, các nhà nghiên cứu đều lo ngại như vậy.   Cựu chủ tịch ERC Helga Nowotny nói: “Các nghiên cứu tiên phong do ERC tài trợ là mạch sống của tương lai chúng ta. Thông thường, khoa học sẽ đem lại giải pháp còn sự chuẩn bị phải đến từ xã hội. Anh sẽ không bao giờ biết khi nào anh cần tri thức tích lũy được từ nghiên cứu, Covid-19 đã minh họa cho chúng ta thấy điều đó”. □  Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:   https://sciencebusiness.net/news/research-get-more-money-revised-eu-budget-says-commission-president  https://sciencebusiness.net/covid-19/news/interview-we-should-tackle-covid-19-head-now-not-time-cut-basic-research  https://www.universityworldnews.com/post.php?story=2020041615404989    Author                Quản trị        
__label__tiasang Crowd-funding trong khoa học      Để khắc phục tình trạng thiếu hụt kinh phí đầu tư cho những dự án nghiên cứu, các nhà khoa học có thể tìm vốn từ cộng đồng thông qua phương thức crowd-funding (huy động vốn đám đông), theo gợi ý từ Nature.       Gregory Vaughan, nhà nghiên cứu nông học tại trường Đại học Sư phạm và Công nghệ Colombia, đã nhận được 308 triệu peso (168.000 USD) tài trợ từ chính phủ Colombia cho nghiên cứu về cây dong riềng vùng Andes (Canna indica). Nhưng trong đơn đề xuất tài trợ, Vaughan đã không tính đến phần kinh phí khoảng 2,7 triệu peso (1.500 USD) cho những thí nghiệm phân tích giá trị dinh dưỡng của củ dong riềng. Vì vậy để có ngay kinh phí thực hiện  thí nghiệm đúng mùa thu hoạch, Vaughan đã thử nghiệm một hình thức xin tài trợ khác là crowd-funding trên Indiegogo, một website từng tổ chức thành công nhiều cuộc huy động vốn liên quan đến khoa học, y tế và phát triển công nghệ. Chỉ trong vòng hai tuần rưỡi, Vaughan đã thu được hơn 2.000 USD – vượt mục tiêu đề xuất.   Tận dụng mạng xã hội  Vaughan chỉ là một trong số rất nhiều nhà khoa học tìm vốn qua hình thức crowd-funding. Trên thực tế, phương thức này đã bùng nổ trong nhiều năm gần đây, khi việc xin tài trợ cho các dự án nghiên cứu ngày càng trở nên khó khăn.   Tuy có một vài hạn chế như không thể thay thế được những khoản tài trợ chính do số lượng tiền ít hay không dễ thu hút vốn cho các nghiên cứu cơ bản nhưng crowd-funding vẫn là một hình thức huy động vốn hiệu quả, đặc biệt với những dự án về y tế.   Để thành công với phương thức crowd-funding, các nhà khoa học cần quảng bá dự án trên mạng xã hội, đặc biệt là hợp tác với những người giàu kinh nghiệm về huy động vốn, nhằm cho công chúng thấy tính thực tế và hiệu quả của dự án, từ đó có thể thu hút được sự chú ý của cả những người ít quan tâm đến khoa học.   Khi quyết định tìm vốn cho dự án, nhà nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu cần xác định một số kinh phí cụ thể – các nhà vận động giàu kinh nghiệm khuyên nên đưa ra mức 5.000 USD cho lần huy động vốn đầu tiên – và chọn lấy một diễn đàn, thường là các website nổi tiếng về crowd-funding như Indiegogo, Kickstarter, RocketHub hoặc FundaGeek để vận động tài trợ. Phần lớn các website này đều có quy mô lớn, có nhiều tiêu chí linh hoạt để chấp nhận hoặc từ chối một đề xuất dự án trong thời gian ngắn. Cuộc vận động có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tháng, phụ thuộc vào số tiền muốn huy động và quy định của website.   Mức tính phí phải trả cho các website khi đăng tải đề xuất về dự án thường dao động từ 2 đến 4% tổng mức vốn huy động cho một đề xuất thành công hoặc 10% nếu thất bại. Mục đích của nó chỉ nhằm khuyến khích các nhà vận động đưa ra một khoản tiền không quá lớn và không để dự án kéo dài quá lâu.   Website sẽ cung cấp một trang riêng cho mỗi dự án và những thông tin, hình ảnh được đưa lên đóng vai trò quyết định thành bại của cuộc vận động, do vậy Danae Ringelmann, nhà sáng lập của Indiegogo có trụ sở ở Los Angeles, California, và New York, khuyên, phần thông tin về dự án cần có thêm hình ảnh, clip sinh động đủ sức thuyết phục và dễ hiểu. Nó cũng cần cập nhật thông tin về những phát hiện mới, hoặc tiến trình công việc của nhóm nghiên cứu nhằm đảm bảo với công chúng là dự án đang tiến triển và có nhiều sức hút.   Ngoài ra, theo nhà sinh thái học Jai Ranganathan ở Đại học California, Santa Barbara, đồng sáng lập SciFund Challenge, một trang về crowd-funding cho các dự án khoa học, các nhà nghiên cứu cần tăng cường giao tiếp với cộng đồng qua các phương tiện truyền thông: gửi các thông cáo báo chí tới các tờ báo cũng như cả các blogger.             Erik Cox, người sáng lập dự án The Open Science Space (Không gian khoa học mở), nơi crowd-funding cho các dự án nghiên cứu cơ bản, cho rằng huy động vốn đám đông đã giúp khai thông một nguồn lực tài chính dồi dào từ công chúng nhưng nó đòi hỏi các dự án kêu gọi vốn cũng phải hoàn toàn mở, chẳng hạn:               – Minh bạch trong phương pháp thực nghiệm, quan sát và thu thập dữ liệu;              – Sẵn sàng công khai và kết nối dữ liệu nghiên cứu khoa học;              – Sử dụng các ứng dụng trên website để đem lại thuận lợi cho hợp tác trong khoa học;              – Truy cập mở các công trình khoa học;               – Chia sẻ các nguồn lực trong khoa học.              (Nguồn: blogs.nature.com)        Nghệ thuật thuyết phục  Phần lớn những cuộc huy động vốn crowd-funding đều có quà tặng để khuyến khích công chúng ủng hộ dự án, ví dụ công ty uBiome gửi bộ kit lấy mẫu vi sinh vật cho những ai ủng hộ mức 79 USD để công ty giải mã trình tự gene của họ. Với dự án về cây dong riềng thì “bất kỳ ai đóng góp trên 20 USD sẽ nhận được lời cảm ơn qua blog của tôi,” Vaughan cho biết, và các nhà tài trợ sẽ được ghi nhận công lao khi công trình được công bố. Đối với mức quyên góp trên 500 USD, ông tặng nhà hảo tâm một tour du lịch có hướng dẫn viên nếu tới thăm Colombia.   Tất nhiên, không nên xem crowd-funding như một hình thức thay thế những khoản tài trợ của các quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học bởi theo quan điểm của Maria Zacharias, phát ngôn viên Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF), những nghiên cứu mà nó hỗ trợ ít khi cùng thang giá trị với những dự án đã “qua cổng” ủy ban chuyên môn, biên tập viên tạp chí khoa học và chuyên gia bình duyệt của các quỹ tài trợ.  Thực tế cho thấy, “crowd-funding hoạt động tốt nhất như một phương thức bổ sung (top-up),” Simon Vincent, người tài trợ nhiều nhất cho tổ chức từ thiện Nghiên cứu về ung thư Anh ở London, nhận xét. “Nó cũng như một tiện ích phụ thêm vào (add-on), một cách làm mới để thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng vào các dự án nghiên cứu”. Và để đạt được mục tiêu đề ra, việc huy động vốn đòi hỏi nhiều nỗ lực.   Hagop Panossian, chủ tịch Viện Phân tích nghiên cứu và Kế hoạch cho Armenia (ARPA) tại Tarzana, California, đã mở một cuộc vận động trên Indiegogo nhằm kiếm 25.000 USD cho một nghiên cứu về trình tự DNA, tập huấn và cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu ở Armenia. Ông đã đưa những thông tin về dự án lên website của ARPA, gửi e-mail tới 6.500 địa chỉ để cập nhật thông tin và đề xuất. Con trai ông cũng đưa thông tin lên twitter về tiến trình của cuộc huy động vốn, làm một video và công bố trên Indiegogo.   Panossian đã nhận được 27.515 USD từ cộng đồng. Ông cho biết thật không hề dễ dàng để mọi người góp tiền cho cái máy giải trình tự DNA. “Nếu gây vốn cho những dự án dễ khơi gợi lòng trắc ẩn như vì trẻ em mồ côi thì sẽ dễ dàng hơn nhiều”.   Nhưng ngay cả dự án về bệnh ung thư cũng không dễ khiến người ta mở ví. Liz Scarff, nhà chiến lược truyền thông xã hội ở London và đồng sáng lập cơ quan truyền thông kỹ thuật số Fieldcraft, từng đưa lên Indiegogo một dự án gây vốn mang tên iCancer, quyên 2 triệu USD cho một nhóm nghiên cứu Thụy Điển thử nghiệm lâm sàng một loại virus có thể hỗ trợ điều trị ung thư thần kinh nội tiết, một loại ung thư hiếm gặp, từng khiến Steve Jobs qua đời vào năm 2011. Cuộc vận động đã kết thúc sau bốn tháng và thu được hơn 250.000 USD, bao gồm cả những khoản ủng hộ trực tiếp cho nhóm nghiên cứu, nghĩa là còn xa mới đạt mục tiêu.   Để hoàn tất kế hoạch, Scarff và bạn bè hướng đến các nhà hảo tâm khác tại Mỹ, Anh và Thụy Điển. Thời gian tới, bà sẽ phân số tiền huy động ra những khoản nhỏ hơn trong mỗi lần quyên góp thay vì quyên góp toàn bộ số tiền trong một lần. “Nếu tái khởi động dự án vì khoa học này, tôi sẽ chia nó làm nhiều phần, không chỉ để dễ thành công hơn mà còn giúp cho dự án liên lục phát triển”.   Những rào cản pháp lý  Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng crowd-funding cũng ẩn chứa không ít rủi ro. Việc nói với cả thế giới về một dự án nghiên cứu không khác gì tạo cơ hội cho người khác… chôm ý tưởng, đồng thời cũng ẩn chứa nhiều cạm bẫy pháp lý.   Các nhà huy động vốn cũng nên biết rằng thu nhập từ crowd-funding cũng phải chịu thuế. Những người có kinh nghiệm thường khuyên các nhà nghiên cứu đang làm việc trong trường đại học hoặc viện nghiên cứu cần quyên góp dưới tên tổ chức của mình như đối với việc xin tài trợ thông thường.   Bryan Sullivan, luật sư thương mại tại Early Sullivan Wright Gizer & McRae ở Los Angeles, cảnh báo, mặc dù ở Mỹ chưa có luật riêng nhằm quản lý việc huy động vốn từ cộng đồng, nhưng các nhà vận động cũng cần thận trọng trong lời kêu gọi của mình để tránh nguy cơ phải đối mặt với việc kiện cáo do miêu tả không đúng thực chất dự án. Ông cũng khuyên các nhà vận động không nên rạch ròi việc phân bổ ngân sách để họ có thể sử dụng khoản tiền quyên được cho việc quản trị dự án hoặc cho các khoản chi khác. Các nhà nghiên cứu cũng không nên đề cập một cách chắc nịch về kết quả sẽ đạt được: “Bạn cần nói, ‘chúng tôi tin tưởng rằng kết quả nghiên cứu có thể chứng tỏ…’ hoặc ‘theo quan điểm của chúng tôi, kết quả nghiên cứu có thể…’. Không nên phát ngôn một cách khinh suất,” Sullivan nhấn mạnh.  Dẫu vậy với những ai có nhiều người ủng hộ thì tiềm năng về crowd-funding là rất lớn. Các nhà nghiên cứu thường quen viết dự án trình lên các quỹ tài trợ xét duyệt. Giờ đây họ có thể lập kế hoạch crowd-funding để định lượng sự ủng hộ của công chúng về nghiên cứu của chính mình. Điều đó  giúp “lên dây cót tinh thần” cho các nhà khoa học và cho phép họ tự chủ trong dự án nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, theo Ringelmann, việc quyết định có thực hiện dự án hay không được trao lại cho công chúng, sẽ góp phần đem cho họ sức mạnh tác động vào tiến trình phát triển của khoa học”.          Anh: Huy động vốn đám đông để phóng tàu lên Mặt trăng              Các nhà khoa học Anh đã bắt đầu khởi động dự án “Lunar Mission One” (Sứ mệnh Mặt trăng 1) trên Kickstarter. Dự án sẽ kéo dài 10 năm, quyên góp kinh phí từ cộng đồng để thiết kế, xây dựng, và phóng một con tàu vũ trụ lớn không chỉ có khả năng bay tới Mặt trăng mà còn có thể khoan thăm dò bề mặt hành tinh này.               Để khởi động dự án, các nhà khoa học Anh cần 600.000 bảng, và để phóng con tàu, họ cần khoảng 3 tỷ bảng nữa. Lý giải nguyên nhân vì sao các nhà khoa học Anh phải “nhờ cậy” tới vốn đám đông, ông David Iron, cựu sỹ quan Hải quân Hoàng gia Anh và là CEO của Lunar Missions Ltd, cho biết: “Chính phủ ngày càng khó khăn trong việc tìm kinh phí cho các dự án thăm dò không gian bởi những hoạt động nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức và tăng cường sự hiểu biết của con người này lại không có lợi nhuận thương mại song hành”.              Bên cạnh những mục đích chính của dự án, những người huy động vốn còn muốn chôn một chiếc hộp, tạm gọi là hộp nhớ kỹ thuật số (digital memory box), lưu trữ dữ liệu về lịch sử Trái đất. Sau giai đoạn quyên góp ban đầu, phần kinh phí còn lại sẽ được huy động bằng việc bán các hộp nhớ kỹ thuật số, trong đó sợi tóc của mỗi nhà tài trợ sẽ được lưu lại và đưa lên Mặt trăng. Nhóm nghiên cứu khẳng định, khoảng 1% dân số thế giới có đủ khả năng mua được chiếc hộp đặc biệt này.               “Dự án quả thật nhiều tham vọng và thách thức nhưng tính chất văn hóa và khoa học đặc biệt của nó có thể thu hút sự quan tâm, ủng hộ rộng rãi của mọi người,” Martin Rees, phi hành gia, cựu chủ tịch Hội Khoa học Hoàng gia Anh, lạc quan.                   (Nguồn: telegraph.co.uk)                                                                                                                Thanh Nhàn dịch                                                                                                      Nguồn: nature.com      Author                Quản trị        
__label__tiasang CSDL Quốc gia về KH&CN: Minh bạch hóa và chấm dứt tình trạng cát cứ thông tin KH&CN      Mở hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&Cn không chỉ để các nhà quản lý khoa học và nhà nghiên cứu khoa học dễ dàng tiếp cận thông tin mà còn giúp minh bạch hóa nền khoa học, chấm dứt tình trạng cát cứu dữ liệu nghiên cứu khoa học ở các đơn vị, bộ, ngành hiện nay. Báo Khoa học và Phát triển đã có cuộc trao đổi với ông Trần Đắc Hiến, Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ (NASATI), Bộ KH&CNvề lộ trình thực hiện dự án này.          Thứ trưởng Phạm Công Tạc dự Khai trương Điểm truy cập mở Thông tin KH&CN quốc gia tại NASATI ngày 17/5/2017. Nguồn: CESTC  Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Trần Đắc Hiến, Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASATI), Bộ KH&CN về vấn đề này.  Hiện nay nhiều nhóm nghiên cứu khoa học chia sẻ rằng, việc tiếp cận các dữ liệu về nghiên cứu, quản lý KH&CN khá là khó khăn, thường phải tới trực tiếp NASATI để đọc hoặc phải tới chính cơ quan nghiên cứu để “xin đọc” các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp Quốc gia nhưng không phải khi nào cũng dễ dàng được các cơ quan nghiên cứu đó cung cấp. Vậy CSDL quốc gia về KH&CN sẽ giải quyết vấn đề đó như thế nào?  Lần đầu tiên việc xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN được quy định một cách có hệ thống tại Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về Hoạt động thông tin KH&CN và Thông tư số 10/2017/TT-BKHCN ngày 28/6/2017 của Bộ KH&CN về xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng, duy trì và phát triển CSDL quốc gia về KH&CN với 10 CSDL thành phần, tức là bộ dữ liệu thông tin về: các tổ chức KH&CN; cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; nhiệm vụ KH&CN; công bố khoa học và chỉ số trích dẫn khoa học; thống kê KH&CN; công nghệ, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ; thông tin về khoa học và công nghệ trong khu vực và trên thế giới; doanh nghiệp KH&CN; thông tin sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng.  Sau khi được xây dựng và hoàn thiện, các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân có thể tìm thấy đầy đủ thông tin về các vấn đề nêu trên. Chẳng hạn, đối với Cơ sở dữ liệu về Nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sẽ có các thông tin về: tên nhiệm vụ, cơ quan tổ chức chủ trì, tổ chức phối hợp triển khai, cơ quan chủ quản; chủ nhiệm nhiệm vụ và các cá nhân tham gia chính; phương pháp nghiên cứu; thông tin về kết quả, sản phẩm; kinh phí thực hiện; tình trạng nhiệm vụ (đang tiến hành hay đã kết thúc, đã được ứng dụng chưa); địa chỉ và quy mô ứng dụng; hiệu quả ứng dụng và tác động đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Hoặc cơ sở dữ liệu về Công bố khoa học và chỉ số trích dẫn khoa học, trong đó có thông tin nhan đề; mô tả nội dung, chủ đề; tài liệu tham khảo; thông tin về chỉ sổ trích dẫn khoa học; toàn văn hoặc liên kết tới nguồn toàn văn của công bố khoa học…  Vậy theo ông, việc xây dựng và hoàn thiện CSDL quốc gia về KH&CN sẽ mang lại những tác động tích cực gì cho công tác quản lý và hoạt động KH&CN ở Việt Nam?  Thứ nhất, thông tin từ CSDL quốc gia về KH&CN là nguồn thông tin chính thức để phục vụ công tác hoạch định chiến lược, chính sách, quản lý và điều hành hoạt động KH&CN của các bộ, ngành, địa phương.  Thứ hai, thông tin từ CSDL quốc gia về KH&CN sẽ là nguồn thông tin tham khảo chính thức và quan trọng phục vụ các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN nói chung, nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ.  Thứ ba, hệ thống CSDL quốc gia về KH&CN góp phần minh bạch hóa việc tài trợ công cho hoạt động nghiên cứu triển khai cũng như kết quả của hoạt động này. Việc công khai các nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN (bao gồm kết quả của các nhiệm vụ đã triển khai và các nhiệm vụ đang triển khai) sẽ bảo đảm khắc phục được sự chồng chéo, trùng lặp các nhiệm vụ KH&CN gây lãng phí nguồn lực; đồng thời chấm dứt tình trạng “đạo văn” trong nghiên cứu khoa học hoặc cho phép thực hiện những nhiệm vụ không có ý nghĩa lý luận và thực tiễn chủ yếu là để tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho cán bộ nghiên cứu, qua đó sẽ góp phần quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu triển khai và hiệu quả sử dụng NSNN đầu tư cho KH&CN.  Hiện nay NASATI đang có những cơ sở dữ liệu KH&CN gì?  Việc xây dựng CSDL về KH&CN đã được NASATI tiến hành từ năm 1987 với 02 cơ sở dữ liệu chính là Nhiệm vụ KH&CN và Công bố KH&CN Việt Nam. Đến nay đã hình thành được CSDL về nhiệm vụ KH&CN với trên 25.000 nhiệm vụ các cấp đã thực hiện; trên 4.000 nhiệm vụ đang thực hiện và khoảng 1.000 nhiệm vụ có kết quả được ứng dụng vào thực tiễn; CSDL về công bố KH&CN với trên 240.000 bài báo khoa học tập hợp từ 236 tạp chí KH&CN (chiếm khoảng 70% tổng số tạp chí KH&CN trong cả nước).  Ngoài ra, NASATI cũng cung cấp quyền truy cập vào CSDL của các nhà xuất bản lớn trên thế giới như các CSDL: Science@Direct, SpringerLink, Proquest Central…  Chúng tôi được biết NASATI mới được Bộ giao thực hiện Dự án “Xây dựng hệ thống trao đổi và tích hợp các CSDL của Bộ KH&CN”, ông có thể chia sẻ về dự án này không?  Hiện nay, ngoài CSDL về KH&CN đang có tại NASATI còn có các CSDL chuyên ngành của các đơn vị khác thuộc Bộ như Cục Sở hữu Trí tuệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN… Vì thế, để khắc phục tình trạng cát cứ về thông tin KH&CN, bảo đảm công khai, minh bạch về thông tin KH&CN, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng thông tin KH&CN phục vụ hoạt động nghiên cứu triển khai và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Bộ, Lãnh đạo Bộ đã giao NASATI chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng hệ thống trao đổi và tích hợp các CSDL của Bộ, thực hiện trong 2 năm 2018 và 2019. Sau khi có quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án của lãnh đạo Bộ, NASATI đang tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy định của pháp luật.  Được biết, NASATI đang thực hiện dự án “Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KH&CN và đổi mới sáng tạo” (FIRST-NASATI), vậy dự án FIRST – NASATI có vai trò gì trong việc xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN?  Cuối năm 2016, NASATI nhận được tài trợ của Dự án FIRST để thực hiện tiểu dự án FIRST-NASATI, với nguồn vốn ODA từ Ngân hàng Thế giới, trong khuôn khổ Tiểu dự án có nội dung xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN. Đến nay đã tổ chức Hội thảo về Xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN với sự tham dự và đóng góp ý kiến, kinh nghiệm của nhiều chuyên gia ở trong và ngoài nước; thuê đơn vị tư vấn thiết kế kiến trúc mô hình CSDL, nội dung CSDL, định hướng nền tảng công nghệ cơ bản của mô hình CSDL và đề xuất phương án triển khai. Tuy nhiên, do công tác đấu thầu bị chậm nên đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các hạng mục của Tiểu dự án.  Hiện nay, NASATI đang tích cực triển khai các nhiệm vụ trên tinh thần tận dụng tối đa nguồn lực của Tiểu dự án để xây dựng hệ thống CSDL quốc gia về KH&CN bảo đảm hiện đại và đồng bộ, sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng. Kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, việc xây dựng CSDL quốc gia nói chung, về KH&CN nói riêng cũng cần có thời gian, sự đầu tư thích hợp và việc không ngừng nâng cấp, hoàn thiện về công nghệ.  Vậy ông có đề xuất giải pháp gì về công tác phối hợp để nâng cao hiệu quả việc xây dựng và hoàn thiện CSDL về KH&CN không?  Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ, các Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN và Thông tư số 10/2017/TT-BKHCN đã quy định nội dung và trách nhiệm của các bộ, cơ quan, đơn vị, đầu mối thông tin KH&CN trong việc tạo lập, cập nhật, phát triển và hoàn thiện CSDL quốc gia về KH&CN, trong đó NASATI là đơn vị chịu trách nhiệm đầu mối quản lý, vận hành CSDL quốc gia về KH&CN. Trong thời gian tới chúng tôi sẽ tích cực đôn đốc và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để xây dựng hệ thống CSDL quốc gia về KH&CN. Tuy nhiên, cũng cần có chế tài xử lý thích hợp đối với những tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc trách nhiệm xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.  Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!  Minh Thuận – Bảo Như thực hiện  Trong kết luận sau buổi Đối thoại giữa các nhà khoa học với Bộ trưởng Bộ KH&CN và Phó thủ tướng Vũ Đức Đam vào ngày 11/4/2018, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã yêu cầu: Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp xử lý hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết để đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách, quy trình, thủ tục trong các khâu đề xuất, xét duyệt, thực hiện, đánh giá, nghiệm thu đề tài, nhiệm vụ KH&CN với tinh thần: + Công khai minh bạch mọi khâu liên quan đến nghiên cứu KH&CN. Quá trình thẩm định, bỏ phiếu đánh giá thuyết minh và kết quả đề tài từ khâu đăng ký đến nghiệm thu, công bố kết quả đề tài, nhiệm vụ KH&CN cần được cộng đồng khoa học tham gia góp ý, đánh giá, phản biện. + Kết nối cơ sở dữ liệu khoa học trong nước và quốc tế để các nhà khoa học tiết kiệm thời gian, công sức, tránh trùng lặp trong nghiên cứu, giải quyết những vấn đề đã được nghiên cứu, công bố hoặc chỉ cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.      Nguồn:  Báo Khoa học & Phát triển    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc chiến chống Covid 19: Có thể tin khoa học Trung Quốc?      Khoa học Trung Quốc thường bị gạt ra ngoài lề và thậm chí không được tin tưởng ở phương Tây. Nhưng liệu đại dịch có làm thay đổi vị thế của nó trên thế giới?      Một nhà nghiên cứu SinoVac researcher đang điều chế vaccine Covid-19. Khoảng 90% nhân công của công ty này và gia đình họ đều đã được tiêm thử vaccine này. Nguồn: Ng Han Guan/AP  Phương Tây đánh giá siêu cường khoa học Trung Quốc  Kate Mason, một nhà nhân chủng học tại Đại học Brown ở Rhode Island và là tác giả của cuốn Sự thay đổi truyền nhiễm, cho biết: “Trung Quốc đã chuyển từ vị trí của một học sinh sang vị trí của giáo viên”. Dịch bệnh hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (Sars) năm 2002-2003 ở Trung Quốc đã biến đổi cách quốc gia này quản lý sức khỏe cộng đồng. Sau Sars, bà cho biết, các chuyên gia phương Tây đã đến Trung Quốc để giúp nước này xây dựng một hệ thống y tế dựa trên bằng chứng, với các thông tin cung cấp từ các nghiên cứu quốc tế. Hệ thống đó hiện vẫn đang tồn tại, với biểu tượng dễ thấy nhất là Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc ở Bắc Kinh, và lần này là các chuyên gia Trung Quốc chính là người đã ra nước ngoài để hướng dẫn. Mason nói: “Đó là một năm tốt đẹp đối với Trung Quốc”.   Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mục tiêu dẫn đầu thế giới về khoa học. Họ đã và đang trên đường đạt được điều đó trước đại dịch. Năm năm trước, họ còn không xuất hiện trong 10 quốc gia hàng đầu cho bảng xếp hạng đại học; năm nay, họ leo lên vị trí thứ sáu chung cuộc. Họ đứng thứ hai trên thế giới về sản lượng các ấn phẩm khoa học và kỹ thuật, sau Liên minh châu Âu nhưng trước Hoa Kỳ, và tác động của nghiên cứu Trung Quốc – được đo bằng tỷ lệ các bài báo được trích dẫn nhiều – tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2016, tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với Mỹ và EU, lần lượt tăng khoảng 10% và 30% so với cùng kỳ, nhà khoa học chính trị và người theo dõi Trung Quốc Anna Ahlers của Viện Lịch sử Khoa học Max Planck (MPIWG) ở Berlin cho biết. Bắt đầu từ những năm 1980, Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư rất nhiều vào cơ sở hạ tầng, giáo dục đại chúng và đào tạo một đội ngũ các nhà nghiên cứu tinh thông trên tất cả các ngành STEM. Sau đó, 20 năm trước, trọng tâm của nó đã chuyển hướng ra ngoài – để đạt được sự nổi tiếng toàn cầu. Trong số các sáng kiến được đưa ra trong giai đoạn mới này là các chương trình tuyển dụng nhân tài từ nước ngoài, chẳng hạn như Kế hoạch Ngàn Nhân tài, và trong nước, một hệ thống khuyến khích các nhà khoa học xuất bản. Những điều này mang lại hiệu quả, như được phản ánh trong bảng xếp hạng, nhưng chúng cũng có những hậu quả tiêu cực. Áp lực xuất bản – với số tiền thưởng lớn trả cho các nhà khoa học cho các bài báo xuất hiện trên các tạp chí khoa học hàng đầu – đã làm gia tăng gian lận trong học tập. Trong khi đó, Kế hoạch Ngàn Nhân tài đã bị Mỹ, Canada và các nước khác chỉ trích là phương tiện cho hoạt động gián điệp và trộm cắp tài sản trí tuệ – những lời chỉ trích đã được chứng minh bởi các trường hợp như chuyên gia công nghệ nano của Harvard Charles Lieber, người bị bắt hồi đầu năm nay với cáo buộc nói dối về sự tham gia của mình trong chương trình.       Một mặt, chúng ta phải thừa nhận rằng sự hiểu biết về Covid-19 và loại virus gây ra nó sẽ ít hơn rất nhiều nếu không có nghiên cứu của Trung Quốc. Mặt khác, những lo ngại có cơ sở về sự tham gia một chế độ độc đảng với sự coi thường nhân quyền không phải là không có cơ sở. Thêm vào đó, lợi ích quốc gia và cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung càng làm bức tranh phức tạp trở nên xáo trộn hơn.      Những căng thẳng này phản ánh sự xung đột sâu sắc ở phần còn lại của thế giới liên quan đến việc Trung Quốc nổi lên như một siêu cường khoa học. Đại dịch đã làm nổi bật điều đó bằng cách nhấn mạnh rằng không thể ngăn chặn vi rút và khoa học trong biên giới một quốc gia.   Kế hoạch Ngàn Nhân tài phản ánh rõ rệt những căng thẳng này. Nhiều quốc gia giàu có đã thu hút nhân tài từ nước ngoài – trên thực tế, chính Hiệp hội Hoàng gia Anh đã đặt ra thuật ngữ “chảy máu chất xám” để mô tả sự di cư của tài năng Anh đến Mỹ và Canada trong những năm 1950 và 1960. Nhưng những câu hỏi đã được đặt ra về cách Trung Quốc sử dụng tài năng và công nghệ đi kèm với nó. James Jin Kang, một chuyên gia an ninh mạng tại Đại học Edith Cowan ở Perth, Australia, cho rằng, bất kỳ ai mua công nghệ được phát triển ở Trung Quốc nên lo lắng về quyền riêng tư dữ liệu và đại dịch đã khiến Trung Quốc dễ dàng tuyển dụng các nhà khoa học đang làm việc tại nhà hơn, do đó ít phải chịu sự giám sát của thể chế hơn bình thường.  Thành công có đủ phá vỡ “định kiến”?   Cách tiếp cận khoa học mà không quá quan tâm đến đạo đức khoa học của Trung Quốc đã thu hút sự chú ý theo một cách khác với việc, hiện nay, với việc triển vọng nước này là quốc gia đầu tiên phê duyệt vaccine chống lại Covid-19, và có thể phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả cho căn bệnh này, càng trở nên rõ ràng hơn. Mason nói: “Trung Quốc đang đạt được tốc độ rất tốt. “Nếu trận đấu thiên về tốc độ, họ sẽ giành chiến thắng”. Không còn nghi ngờ gì nữa, đảng đang thúc đẩy các nhà khoa học của mình, khiến một số người đặt câu hỏi rằng những con đường tắt nào đang được sử dụng trong quá trình này.    Charles Lieber bị buộc tội nói dối về các liên kết với Chính phủ Trung Quốc vào đầu năm nay.  Ahlers cho biết, các quy tắc đạo đức luôn tồn tại trong giới học thuật ở Trung Quốc, mặc dù việc thực thi chúng đôi khi còn lỏng lẻo – như được minh họa bằng trường hợp của He Jiankui, nhà khoa học năm 2018 tuyên bố rằng đã chỉnh sửa gene của trẻ sơ sinh con người lần đầu tiên. Tuy nhiên, điều này cũng đưa ông đến với một bản án tù. Người ta cũng chú trọng nhiều hơn đến lợi ích tập thể so với các nước phương Tây, do đó việc thử nghiệm vaccine Covid-19  trên quân nhân – có thể được coi là không thể chấp nhận được ở châu Âu hoặc Mỹ – nhưng lại được chấp nhận nhiều hơn ở Trung Quốc. Tuy nhiên, Yangyang Cheng, một nhà vật lý tại Đại học Cornell ở New York và đôi khi là người chỉ trích chính quyền Trung Quốc, đã chỉ ra các cuộc tranh luận về điều gì là đạo đức đối với vaccine cũng đã diễn ra sôi nổi ở Mỹ và người phương Tây cần tự hỏi bản thân họ thực sự lo ngại về điều gì khi họ nhìn về phương Đông. “Họ lo ngại vì nó đang được thực hiện một cách phi đạo đức hay vì nó đang được thực hiện ở Trung Quốc?” Bà đặt câu hỏi. “Tôi nghĩ rằng hai điều này thường được kết hợp với nhau”.  Cheng đã bất ngờ khi tâm lý “bài Trung Quốc” được thể hiện ở phương Tây kể từ khi bắt đầu đại dịch này, bắt đầu bằng việc xem xét kỹ thói quen ăn uống của người Trung Quốc, và chế nhạo các thành viên của cộng đồng người Hoa ở nước ngoài chuẩn bị cho một đại dịch từ rất lâu trước những người đồng hương không phải là người Trung Quốc của họ – những người thường coi Covid-19 là một vấn đề chỉ có ở Trung Quốc.   Christos Lynteris, một nhà nhân chủng học y tế tại Đại học St Andrews, đồng tình: “Không chỉ có tàn dư mà thực sự là chứng bài Trung Quốc rất tích cực ở phương Tây”.   Ông nói, điều đó thật đáng tiếc vì nó có thể ngăn cản các nhà quan sát nước ngoài có cái nhìn rõ ràng về cách Trung Quốc đang thay đổi và những vấn đề mà nước này phải đối mặt. Đối với Harry Yi-Jui Wu, một nhà sử học y học tại Đại học Hồng Kông, những điều này bao gồm việc người dân Trung Quốc – bao gồm cả các nhà khoa học, đang dần cảm thấy thoải mái hơn. Trước những năm 1980, khoa học là một doanh nghiệp tập thể, được nhà nước công nhận. Sau đó, nó phát triển theo chủ nghĩa cá nhân và thiên về thương mại. Wu nói: “Các nhà khoa học tự hào trong việc xuất bản trên các tạp chí có tác động cao và đạt được bằng sáng chế. Mặc dù vẫn có sự can thiệp chính trị trong việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và trong quá trình xuất bản, bản thân khoa học – việc thu thập và phân tích dữ liệu – được tiến hành tương đối tự do. Lynteris nói: “Đây là những nghịch lý rất phổ biến trong các chế độ độc tài hoặc toàn trị. Chế độ cũng đã thực hiện các điều chỉnh đối với chiến lược của mình, để giữ trong tầm mắt mục tiêu cuối cùng là lãnh đạo khoa học toàn cầu. Chẳng hạn như đầu năm nay, họ đã cấm thưởng cho các ấn phẩm, thay vào đó khuyến khích các nhà nghiên cứu tập trung vào tác động và xuất bản nhiều hơn trên các tạp chí Trung Quốc. Họ có nỗi sợ riêng về gián điệp nước ngoài. Dự thảo luật bảo mật dữ liệu được công bố trong năm nay có thể hạn chế việc chia sẻ dữ liệu quốc tế được tạo ra ở Trung Quốc. Sonia Qingyang Li của MPIWG đã viết trong một bài báo sắp xuất bản về sự lung lay mà Trung Quốc đang nắm giữ về mặt khoa học, tác động của những thay đổi như vậy “có thể sẽ được cảm nhận trên toàn cầu”.      Khả năng tự quyết ngày càng tăng của các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã được tiết lộ bởi đại dịch này. Một phòng thí nghiệm ở Thượng Hải đã cố gắng nâng cao cảnh báo về loại virus mới, và cuối cùng đã bị đóng cửa vào đầu tháng Giêng.      Khả năng tự quyết ngày càng tăng của các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã được tiết lộ bởi đại dịch này. Như nhà báo khoa học Debora Mackenzie đã ghi lại trong cuốn sách Covid-19 của mình, một phòng thí nghiệm ở Thượng Hải đã cố gắng nâng cao cảnh báo về loại virus mới, và cuối cùng đã bị đóng cửa vào đầu tháng Giêng. Nhưng Cheng cũng cho rằng việc kiểm duyệt có thể được bắt nguồn từ chính quyền địa phương, chứ không phải trung ương. Bà nói: “Chính phủ trung ương không trực tiếp chỉ đạo việc kiểm duyệt đó. Nhưng nó đã tạo ra một môi trường sợ hãi và căng thẳng, trong đó các chính trị gia địa phương có động cơ để trấn áp bất kỳ tin xấu nào”.  Tuy nhiên những căng thẳng xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh hấp dẫn của Trung Quốc. Ahlers cho biết, Chương trình Ngàn Nhân tài đã đạt mức trần trong việc tuyển dụng nhân tài từ nước ngoài trở về. Trong số các học giả Trung Quốc trở về, các nhân tài chủ yếu là các giáo sư đã nghỉ hưu. Bà nói thêm: “Trung Quốc đang bỏ lỡ các nhà khoa học trung niên năng động, đã và đang phát triển năng lực chuyên môn.”     Phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 4 tại Viện Nghiên cứu vi sinh ở Vũ  Hán, Hồ Bắc. Nguồn: Héctor Retamal/AFP via Getty Images  Những căng thẳng này sẽ được giải quyết như thế nào? Trong vòng 20 năm, Kang dự đoán, đại dịch có thể tạo cơ hội để thiết lập các quy tắc cơ bản của một mối quan hệ mới thoải mái hơn. Nhiều người Trung Quốc cảm thấy tự hào về cách mà chính phủ của họ đã xử lý cuộc khủng hoảng, đặc biệt là khi họ so sánh với phản ứng của các chính phủ ở các quốc gia được cho là tiên tiến. “Nhiều người bạn của tôi là giáo sư cũng nói rằng chúng tôi đã làm tốt, chúng tôi đã làm gương – tại sao phương Tây không muốn học? Đó có phải là điều đáng tự hào?”, nhà kinh tế Dabo Guan của Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh và Đại học College London cho biết. Và các nhà khoa học y sinh nổi tiếng của Trung Quốc đã bày tỏ sự thất vọng và khó chịu trước sự thù địch dai dẳng của phương Tây. Ahlers cho biết: “Họ thấy tiêu chuẩn kép hiện hữu trong cách chúng ta nhìn nhận về Trung Quốc và những gì chúng ta đang làm.”   Venki Ramakrishnan, người đoạt giải Nobel và là chủ tịch của Hiệp hội Hoàng gia, nói: “Chúng ta nên hoan nghênh sự phát triển của Trung Quốc trong khoa học.” Đối với ông, điều đó có nghĩa là Trung Quốc nên được tự do tuyển dụng ở nước ngoài, như các quốc gia phương Tây đã làm trong nhiều thập kỷ. “Nhưng đồng thời,” ông nói thêm, “chúng ta nên bảo vệ những gì chúng ta coi là giá trị của mình, mà tôi tin là những giá trị phổ quát – chúng không phải là của phương tây để bảo vệ. Chúng là những giá trị đảm bảo cho khoa học và thực sự giúp nhân loại phát triển mạnh mẽ ”.  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn: https://www.theguardian.com/science/2020/oct/11/china-coronavirus-covid-19-medical-research    Author                Quản trị        
__label__tiasang Cuộc hôn phối đã được xếp đặt      Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia (CNRS) là hiện thân của nền khoa học Pháp. Chiếm gần ¼ kinh phí chi cho nghiên cứu khoa học với 30.000 nhân viên và 1.250 phòng thí nghiệm. Dưới làn sóng chỉ trích của Chính phủ và dư luận, hiện CNRS đang đứng trước bước ngoặt về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, và… Và liệu nó có trở thành người bà con nghèo nàn trong liên minh bắt buộc với các trường đại học không?    Trung tâm nghiên cứu thừa thãi quốc gia? Hay trung tâm cải cách treo? Đó là những biệt hiệu châm chích CNRS. Từ bảy mươi năm nay, hoặc gần như thế, những lời chỉ trích tương tự cũng nhắm đến các cơ quan nghiên cứu công lập Pháp: thụ động, quản lý yếu kém, không có khả năng hợp tác với các trường đại học hay các công ty… “Liệu có cần đến CNRS không?”, tháng 11/1985 người Pháp đã tự hỏi như vậy trên diễn đàn của đài TF1; lúc ấy, cánh tả chuẩn bị lên nắm quyền định giải tán nó; mười lăm năm sau, Bộ trưởng Claude Allègre lật lại chức danh “nhà nghiên cứu suốt đời” của những người làm công tác nghiên cứu tại trung tâm này; về phần François Fillon, Thủ tướng Pháp đương nhiệm có ý định biến nó thành “cơ quan hỗ trợ phương tiện nghiên cứu” cho các trường đại học. Trước hành động được xem như sự phá hoại có chủ ý, toàn bộ CNRS, từ nghiệp đoàn, ban điều hành đến các trưởng đơn vị nghiên cứu, đã phát động một cuộc phản đối quyết liệt.     CÁC ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU HỖN HỢP  Nút thắt của vấn đề chính là mối quan hệ giữa CNRS với các trường đại học. Nó chưa bao giờ đơn giản và cũng chẳng thân thiện gì. Những người bảo vệ cho CNRS lập tức nhắc lại rằng trung tâm này được thành lập năm 1939 chính là để vực dậy nền khoa học Pháp đang ngủ quên trong các trường đại học, nền khoa học ấy đến tận bấy giờ vẫn chưa biết đến công nghệ gene hay vật lý lượng tử. Năm 1966, chính vì muốn đưa công tác nghiên cứu do các quan chức quá thờ ơ với khoa học điều hành, trở lại các trường đại học, các đơn vị nghiên cứu hỗn hợp (ĐVNCHH) đặt dưới sự quản lý của cả Trung tâm và một cơ sở đào tạo đại học mới được thành lập. Hiện có 940 đơn vị loại này trên tổng số 1.250 phòng thí nghiệm của CNRS.  “Tất cả đã là quá khứ!”, Giám đốc các trường đại học hiện nay bẻ lại. Tuy nhiên, không vì thế mà dẹp bỏ các ĐVNCHH nổi tiếng đã được nhân rộng từ những năm 1990. Các trường đại học “trưởng thành” sau đạo luật Pécresse mong muốn quản lý các đơn vị này: “Đối với các trường đại học, hiện chẳng ích lợi gì nếu duy trì một cơ quan điều phối nghiên cứu khoa học quốc gia hoàn toàn mang tính chất đại cương”, Jacques Fontanille, Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu thuộc hội đồng các giám đốc đại học giải thích. Nói một cách cụ thể: CNRS lo việc của CNRS (những lĩnh vực nghiên cứu cần các trang thiết bị đồ sộ như kính viễn vọng, siêu máy tính hay máy gia tốc phân tử), chúng tôi [các trường đại học] lo việc của chúng tôi miễn chúng tôi được cung cấp nhân sự và phương tiện. Đó cũng chính là các đề xuất của Tổng thống Nicolas Sarkozy trong chiến dịch tranh cử và là công việc mà Bộ trưởng phụ trách Giáo dục đại học và Nghiên cứu khoa học Valérie Pécresse được giao nhiệm vụ triển khai.    LÀN SÓNG PHẢN ĐỐI      Để đạt được mục đích trên, từ nhiều tháng nay, bà Bộ trưởng đã không ngừng thăm dò dư luận: liên tục khép lại và mở ra các trận chiến mới.  Trận thứ nhất vào tháng sáu năm 2007 khi bàn thảo đạo luật Pécresse về quyền hạn và trách nhiệm của các trường đại học. Sao không chuyển giao trách nhiệm quản lý nhân sự của CNRS cho các trường đại học? Ý kiến này nhanh chóng bị bác bỏ trước làn sóng phản đối của nghiệp đoàn … và các trường đại học từ chối gánh thêm trách nhiệm đó. Trận thứ hai diễn ra vào quý ba. Tại cuộc họp hội đồng quản lý CNRS hôm 18 tháng 10/2007, các đại diện của Bộ đã không bỏ phiếu thông qua bản kế hoạch chiến lược với lí do nó không đề cập đến mối quan hệ với các trường đại học. Thêm một làn sóng phản đối nữa. Do đó, bức thông điệp khẩn của Yves Langevin, Chủ tịch hội đồng các giám đốc phân ngành của Ủy ban Nghiên cứu khoa học quốc gia (Cơ quan thẩm định của CNRS) trịnh trọng cảnh báo (Chính phủ) đừng “chuyển giao quyền quản lý toàn Bộ các ĐVNCHH hiện nay cho các trường đại học”.              Logo của CNRS nổi tiếng trong cộng đồng KH thế giới        Trước làn sóng phản ứng mạnh mẽ, thêm một lần nữa, Valérie Pécresse lại lùi bước. Bà liên tục phát biểu những lời trấn an dư luận, phủ nhận ý muốn giải tán CNRS và bổ nhiệm cựu thứ Trưởng phụ trách Nghiên cứu khoa học François d’Aubert làm Chủ tịch Ủy ban xem xét tương lai các ĐVNCHH. Trung tuần tháng tư, ủy ban này đề nghị duy trì các đơn vị này. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến tháng 04/2008, trận chiến thứ ba đã được phát động. Sau khi Nicolas Sarkozy đọc diễn văn hôm 28 tháng giêng khẳng định “sứ mệnh thực sự” của các cơ quan nghiên cứu là “chỉ đạo các nghiên cứu tiến hành trong các trường đại học”, Valérie Pécresse đã gửi một bức thư công vụ cho Chủ tịch CNRS, Catherine Bréchignac, để yêu cầu bà này đưa ra các đề xuất theo hướng đó. Và nhằm đạt mục đích một cách chắc chắn, một số đại diện Nhà nước tại cuộc họp hội đồng quản lý Trung tâm để xem xét đề xuất của ban Chủ tịch theo thư công vụ của bà Bộ trưởng diễn ra ngày 27 tháng 3 phải công khai im lặng.  Tuy nhiên, trò thao túng ấy đã vấp phải một trở ngại: Catherine Bréchignac (không công bố quan điểm chính trị của mình) dẫu đã tham gia soạn thảo mảng nghiên cứu khoa học trong chương trình tranh cử Tổng thống của đảng UMP [đảng của Tổng thống Nicolas Sarkozy và đảng chiếm đa số ở Quốc hội] năm 2005 cũng không mảy may có ý phá hoại CNRS. Đối với nhà nghiên cứu “chủ nhà” này, cuộc chiến bà theo đuổi ở một trận tuyến khác. Năm 1999, khi đang giữ chức tổng giám đốc CNRS, bà đã phản đối thành công ý định của Bộ trưởng Claude Allègre muốn giảm vai trò của Trung tâm theo hướng có lợi cho các trường đại học. Dù một năm sau bà bị cách chức nhưng đổi lại bà rất được các đồng nghiệp trong cơ quan quý trọng. Chín năm sau, Claude Allègre tham vấn cho Tổng thống và Catherine Bréchignac đứng đầu CNRS vào năm 2006…     CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỘC LẬP  Đầu tháng 6, lúc bài báo này được đăng trên tờ La Recherche, các đề xuất của Catherine Bréchignac đang được thảo luận nội bộ và sẽ chỉ được thông qua vào cuộc họp hội đồng quản lý ngày 19 tháng 6. Nhưng, một vài định hướng lớn đã được công bố. Theo yêu cầu của bà Bộ trưởng, Catherine Bréchignac đề nghị tổ chức CNRS thành các viện nghiên cứu theo mô hình của Viện vật lý hạt nhân và vật lý phân tử quốc gia (IN2P3) và Viện khoa học vũ trụ quốc gia (INSU) thuộc CNRS hơn là thành các khoa.  Liệu đây có phải một sự tái cơ cấu hành chính đơn thuần? Không hẳn! Hiện nay, IN2P3 và INSU rất tự chủ vì hai viện này quản lý các trang thiết bị đắt đỏ (kính viễn vọng, máy gia tốc phân tử, tàu thám hiểm đại dương) và việc sử dụng chúng phải được lên kế hoạch trong khoảng thời gian cả chục, hai chục năm: một mô hình “hiệu quả” trong lĩnh vực ấy nhưng không thể “chuyển giao” cho mọi ngành được, một văn bản có chữ kí của hàng trăm giám đốc phòng thí nghiệm của Trung tâm tố cáo tính “mơ hồ” của dự án ấy nhấn mạnh.  Thế thì, sự tái cấu trúc ấy liệu có ích gì? Những người phản đối nghi ngại CNRS không thể tiếp tục điều hành các viện này được. Chẳng hạn, theo mô hình trên chỉ huy dưới đã được tiến hành ở Cơ quan Nghiên cứu khoa học quốc gia (ANR – một cơ quan hành chính chịu trách nhiệm tài trợ các dự án nghiên cứu), Bộ chỉ đạo trực tiếp hoạt động của CNRS. Hiện nay, trong một chừng mực nào đó, ban điều hành Trung tâm có thể dành nhân sự và ngân sách cho khoa này nhiều hơn khoa khác tùy theo ưu tiên của Trung tâm. Đối với các viện nghiên cứu độc lập, việc điều hành sẽ rắc rối hơn … hoặc thậm chí tuyệt đối không thể được vì giám đốc mỗi viện do Chính phủ bổ nhiệm và sẽ đàm phán ngân sách trực tiếp với Bộ.     CNRS BỊ BÁN ĐỨNG?          Các nhà nghiên cứu CNRS biểu tình ở Paris        CNRS sẽ bị “bán đứng”. “Chúng ta hãy cứu lấy Nghiên cứu khoa học”. Quan điểm này là khoa xã hội và nhân văn. Thường xuyên bị Frédéric Joliot công kích là CNRS không ở đó để “tài trợ các tiểu thuyết”, nhưng khoa này chỉ được C. Bréchignac bảo vệ một cách yếu ớt vì bà đã làm một phép tính đơn giản: đây là khoa có số người về hưu trong những năm tới nhiều nhất và cũng là khoa có tỉ lệ nhà nghiên cứu thuộc CNRS trong các ĐVNCHH thấp nhất. Do vậy, dự án chuyển giao một phần khoa này cho các trường đại học ra đời với hi vọng có thể bổ sung một số vị trí sẽ được bỏ trống cho các ngành khoa học xã hội.  Trở lại vấn đề then chốt. Đó là mối quan hệ giữa CNRS và các trường đại học, theo đó cần phải “hiện đại hóa quan hệ đối tác” như từ V.Pécresse dùng trong thư gửi C. Bréchignac. Nhưng bằng cách nào? Trước tiên, nó dính đến sự nghiệp của mỗi người. Các giảng viên trẻ phàn nàn 192 giờ dạy mỗi năm ngốn hết thời gian của họ và khiến họ không có nổi một, hai năm làm việc liên tục cho một cơ quan nghiên cứu. Ngược lại, các nhà nghiên cứu của CNRS không muốn giảng dạy thường xuyên hơn. Nếu 60% các nhà nghiên cứu đi dạy thì họ thường chỉ đảm nhận các môn trình độ cao về chuyên ngành của họ. Để khuyến khích họ ở lại trên bục giảng lâu hơn thì phải tăng thù lao đáng kể. Giải pháp này đã được C. Bréchignac tính đến nhưng cuối cùng bị bác bỏ vì quá tốn kém. Thay vào đó là giải pháp tạo ra các “chức danh giáo sư CNRS”. Nó giúp một vài nhà khoa học trẻ đậu cả kì thi tuyển nghiên cứu viên và giảng viên làm việc 5 năm ở CNRS trước khi về lại trường đại học. Ít người nghĩ phương pháp này đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề. Thứ nhất, hầu hết những người giành thắng lợi ở hai kì thi (hơn 1/3 trên tổng số 400 nhà nghiên cứu được CNRS tuyển dụng mỗi năm) đều chọn Trung tâm. Do vậy, không dễ gì thuyết phục họ vừa giảng dạy vừa làm việc ở CNRS. Thứ hai, ai sẽ đề ra yêu cầu tuyển dụng? CNRS hay các trường đại học? Hay cuối cùng Bộ cũng quyết định ngay cả khi luật quy định quyền hạn và trách nhiệm của các trường đại học ra đời. Trong việc này, CNRS cũng có khả năng tiến hành chính sách khoa học của riêng mình. Thứ ba, sắp đặt như thế, trong ngắn hạn, sẽ dẫn đến nguy cơ “chảy máu chất xám”, như lời của Y. Langevin: các nhà khoa học kì cựu của CNRS sẽ chạy sang các trường đại học sau năm năm làm việc ở Trung tâm.  Vấn đề chia sẻ quyền lực quản lí các ĐVNCHH cũng được đặt ra. Ủy ban Aubert đề nghị nên duy trì các đơn vị này và giảm số lượng cơ quan bảo trợ xuống còn hai (một trường đại học và một cơ quan nghiên cứu) trong đó chỉ một cơ quan đảm nhận việc quản lý. Vấn đề nhiệm kì quản lí ở đây đặt ra thách thức đáng kể. Hiện nay, giám đốc một ĐVNCHH nắm hai “tay hòm chìa khóa”: một là kinh phí do trường đại học cấp, một do cơ quan nghiên cứu cấp. Vốn sung sướng khi có thể lèo lái hai hệ thống nổi tiếng tệ hại đó, phần lớn các giám đốc đơn vị nghiên cứu không phàn nàn gì. “Để có các kì nghỉ, để thay thế một nhân viên đau ốm, chúng tôi thích yêu cầu trường đại học hơn. Ngược lại, CNRS lại giỏi quản lí các hợp đồng với châu Âu hơn”, một giám đốc ĐVNCHH nhận định. Tuy nhiên, văn hóa khéo xoay xở ấy cũng kéo theo những sai lệch, những lỗi do trùng khớp lên nhau (đối tác của một ĐVNCHH thường không biết danh sách nhân sự đã được các đối tác khác bổ dụng cho phòng thí nghiệm), những lãng phí đáng tiếc. Do vậy, Bộ muốn chấm dứt tình trạng trên bằng cách giao toàn quyền quản lí cho một đối tác có cơ sở hạ tầng: đại đa số là các trường đại học.     QUẢN LÍ YẾU KÉM  Thế nhưng, công tác quản lý của các trường đại học thì như thế nào? “Thường là yếu kém”, các giám đốc phòng thí nghiệm than phiền. “Từ năm 2006, Đại học Nice và CNRS thử nghiệm giao quyền quản lí cho một đối tác duy nhất: 8 trên 17 ĐVNCHH được giao cho trường đại học và 9 đơn vị còn lại do CNRS phụ trách. Kết quả: các đơn vị do trường đại học quản lí nhanh chóng thừa nhận mình đã “gặp vận đen”: không thể tiếp nhận đơn đặt hàng vào kì nghỉ của các trường đại học bởi các phòng quản lí đều đóng cửa chẳng hạn”, một nhà nghiên cứu người Nice phát biểu. Hiểu sâu xa hơn, một nhà quản lý duy nhất đồng nghĩa chỉ một đối tác phải trả các khoản đóng bắt buộc đánh trên đầu số hợp đồng các nhóm nghiên cứu của đơn vị đó nhận được. Khoản đóng góp (vừa được nâng từ 11 lên 15%) chỉ của riêng  ANR trong năm nay lên đến 90 triệu Euro, gần bằng số tiền CNRS đầu tư cho các phòng thí nghiệm của mình (trừ khoảng đầu tư cơ bản). Như thế, các khoản này có thể sẽ rơi vào tay các trường đại học trở thành người quản lý phần lớn các ĐVNCHH!  Bộ Đại học và Nghiên cứu Khoa học nói sẽ chờ đợi chi tiết các đề xuất của CNRS trước khi dứt khoát vấn đề tiền bạc tế nhị này. Ban Chủ tịch Trung tâm vốn khéo léo tung hứng sự phản đối các đề án chính phủ của đa phần nhà nghiên cứu nỗ lực giữ lại sáng kiến trên bằng cách tăng cường các hướng cải cách.  Tuy nhiên, cũng như ở CNRS, chính vào thời điểm này, hội đồng quản lý các trường đại học sẽ quyết định tương lai các chính sách cải cách của Chính phủ. Thật vậy, các cải cách này dựa trên việc các trường đại học đều có một hội đồng quản lí mạnh mẽ và hiệu quả. Ấy vậy mà, do luật về quyền hạn và trách nhiệm của các trường đại học quy định số ghế của giáo sư và phó giáo sư như nhau nên nhiều trường đại học và những trường nổi tiếng (Paris-VI-Pierre-et-Marie-Curie, Paris-X Nanterre, Paris XII, …) đang đứng trước các hội đồng bị “cuộc chiến đẳng cấp” giữa hai đội ngũ có nền tảng đối lập nhau chia rẽ. Liệu các hội đồng này có khả năng đề ra một chính sách khoa học thực sự cho các trường đại học không? Nhất là mười hai trường đại học lớn nhất, tại đó có đặt một nửa số văn phòng các ĐVNCHH? Nếu các hội đồng này không làm được, các trường đại học sẽ không thực sự học được cách tự chủ và CNRS có thể vui mừng vì có thể bảo vệ được Trung tâm.  Hồ Thủy An dịch từ La Recherche 6/2008  Nicolas Chevassus-au-Louis*      Author                Quản trị        
__label__tiasang Cứu nguy sông Sài Gòn – cần một giải pháp tổng hợp      S&#244;ng S&#224;i G&#242;n với chiều d&#224;i gần 110km, chảy qua 3 tỉnh T&#226;y Ninh, B&#236;nh Dương v&#224; TPHCM, l&#224; nguồn cung cấp&nbsp; nước sinh hoạt quan trọng nhất cho hơn 10 triệu d&#226;n trong lưu vực, đang bị nước thải từ c&#225;c hoạt động c&#244;ng nghiệp, nu&#244;i trồng thuỷ sản, v&#224; cả sinh hoạt từ c&#225;c khu d&#226;n cư đầu độc ở mức độ b&#225;o động khẩn cấp. Với viễn cảnh n&#224;y th&#236; chẳng bao l&#226;u nữa s&#244;ng S&#224;i G&#242;n c&#243; thể sẽ trở th&#224;nh s&#244;ng Thị Vải thứ hai như Gi&#225;o sư – tiến sĩ L&#226;m Minh Triết đ&#227; nhận định: “nếu kh&#244;ng cương quyết thực hiện (việc bảo vệ nguồn nước)&nbsp; th&#236; s&#244;ng S&#224;i G&#242;n cũng sẽ trở th&#224;nh “d&#242;ng s&#244;ng chết” trong tương lai gần.    Nhiều cuộc hội thảo đã diễn ra, nhưng những gì các nhà khoa học nêu ra đến nay chỉ dừng lại với việc và cảnh báo tình trạng ô nhiễm sông Sài Gòn và xác định các nguyên nhân chứ chưa có liều thuốc cụ thể cho căn bệnh ô nhiễm này. Vậy liệu có giải pháp tổng thể nào cho vấn đề này không?  Với một dòng sông như sông Sài Gòn – chảy qua địa phận nhiều tỉnh, để giải quyết vấn đề ô nhiễm thì việc quản lý không thể thực hiện đơn giản phân khúc địa lý theo kiểu hành chinh được. Rõ ràng là “nước chảy bèo trôi”, một sự cố gây ô nhiễm ở Tây Ninh, Bình Dương (thượng lưu) có thể dễ dàng lan toả tới TP. HCM (hạ lưu). Chuyện ô nhiễm kênh Ba Bò là một ví dụ sống động nhất. Việc chỉ lo xử lý nước sông ở tại TP. HCM sẽ chỉ là giải quyết phần ngọn, không bao giờ giải quyết dứt điểm được vấn đề. Do đó, cần phải thực hiện ngay việc quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu vực.   Việc quản lý tổng hợp sông theo lưu vực là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây. Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp lưu vực sông (Integrated river basin management: IRBM), đó là một quá trình bao gồm quản lý kết hợp gìn giữ và phát triển thống nhất tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan khác trong lưu vực nhằm tối ưu hoá các lợi ích về kinh tế, xã hội có được từ nguồn nước; giúp nhận diện, ngăn ngừa, xử lý các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, bảo đảm tính bền vững của hệ thống môi trường của toàn lưu vực.  Vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông ở đây phải bao gồm:  Việc quản lý, bảo vệ, trồng mới rừng đầu nguồn sông Sài Gòn, góp phần bảo đảm cho sông có nguồn nước sạch và ổn định;   Việc quy hoạch xây dựng các công trình dọc theo dòng sông, đặc biệt là việc xây dựng các cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm;  Việc sử dụng nguồn nước cho tất cả các mục đích: công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi trồng trọt, nước cấp sinh hoạt, thuỷ điện… góp phần duy trì nguồn nước được dồi dào, ổn định theo mùa;   Việc sử dụng nguồn nước cấp và quan trọng hơn là nước thải ra trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, nông nghiệp (nước chảy tràn do mưa, nước xả ra từ ruộng có thể chứa một lượng thuốc bảo vệ thực vật đáng kể); nước thải từ hoạt động mang tính chất dịch vụ như y tế (bệnh viện), du lịch (khách sạn, nhà hàng), chợ… và cả nước thải  sinh hoạt từ các khu dân cư. Dần dần tiến đến xử lý cả nước thải sinh hoạt, không cho phép thải trực tiếp vào sông. Thực hiện điều này sẽ giúp đảm bảo nước được sử dụng hợp lý, bền vững, đồng thời hạn chế được nguồn gây ô nhiễm đối với sông Sài Gòn.  – Và quan trọng nhất là: quản lý nước thải và xử lý nước thải từ các khu công nghiệp. Cần có biện pháp buộc các khu công nghiệp phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải chung cho toàn khu; các nhà máy phải đấu nối dẫn nước thải về hệ thống xử lý; với nhà máy có trạm xử lý riêng thì cần tăng cường kiểm tra chất lượng nước thải;    – Quản lý, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực giữa các nhóm lợi ích khác nhau (như nuôi trồng thuỷ sản với hoạt động sản xuất, trường hợp Vedan và các hộ nuôi tôm, cá là một ví dụ)  Để thực hiện tốt việc quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu vực cần có một  bộ máy hiệu quả. Cụ thể là cần có một Ủy ban Lưu vực sông Sài Gòn đủ mạnh bao gồm đại diện các tỉnh, các ngành và cả đại diện người dân có lợi ích chung trên lưu vực và được hoạt động độc lập trên cơ sở Luật Tài nguyên nước và Luật Môi trường. Đứng đầu Uỷ ban sẽ là một Chủ tịch UBND tỉnh, thành và hoạt động theo chế độ luân phiên. Ủy ban sẽ làm nhiệm vụ xây dựng, quản lý quy hoạch lưu vực sông, điều phối tài nguyên nước, môi trường trên toàn lưu vực trên cơ sở tối ưu hóa đảm bảo hợp lý lợi ích hợp lý giữa các lĩnh vực và các vùng dùng nước, bảo vệ và kiểm soát môi trường nước, hệ sinh thái rừng đầu nguồn, cập nhật bổ sung các phát sinh trong quá trình quản lý, cấp phép theo phân cấp. Uỷ ban sẽ hoạt động bằng nguồn kinh phí đóng góp theo tỷ lệ lợi ích của các địa phương và các ngành sử dụng nước và chịu sự quản lý Nhà nước của ngành quản lý nhà nước về tài nguyên nước.   Bên cạnh đó, cần lưu ý một số công cụ hữu ích có thể sử dụng để tăng hiệu quả  của việc quản lý chất lượng nước trong vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông là:  – Mô hình hoá (Modelling):là phương pháp sử dụng các công cụ toán học và tin học áp dụng vào môi trường để xây dựng phần mềm mô tả diễn biến chất lượng môi trường dưới tác động của một hay một số tác nhân có khả năng tác động đến môi trường. Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc mô tả, dự báo, kiểm soát ô nhiễm mà phương pháp quan trắc hoặc đo đạc thông thường khó thực hiện được. Phương pháp này cho phép thay thế một phần phương pháp quan trắc hoặc đo đạc thường đòi hỏi thời gian và kinh phí lớn.  – Chỉ số chất lượng nước ( WQI: Water Quality Index). Có rất nhiều thông số về chất lượng nước (gồm các thông số hoá học như: COD, BOD­5, DO, pH, tổng N, các kim loại nặng …; các thông số vật lý như: độ dẫn điện, chất rắn lơ lửng…; các thông số sinh học như:Colifom, Fecal streptococus, tổng số vi khuẩn hiếu khí…) việc có quá nhiều thông số chi phối, quyết định đến chất lượng nước như vậy dẫn đến việc với câu hỏi như chất lượng nước tuần nay (hoặc hôm nay) thế nào thì khó có thể đưa ra được một câu trả lời ngắn gọn, súc tích (như: khá hay tốt chẳng hạn). Các nhà khoa học trong mấy thập kỷ gần đây đã đưa ra được một phương pháp cho phép giải quyết vấn đề đó: xây dựng và sử dụng Chỉ số chất lượng nước (WQI). Một số thông số đại diện quan trọng (theo đặc điểm nguồn nước, mục đích sử dụng) được chọn ra để khảo sát và tổng hợp thành một chỉ số duy nhất: chỉ số chất lượng nước. Phương pháp này cho phép trả lời được câu hỏi tại một thời điểm nào đó chất lượng nước như thế nào, ví dụ. WQI = 90 -100 điểm: loại I : rất tốt (không ô nhiễm hoặc ô nhiễm rất nhẹ); WQI = 80 -90 loại II: Tốt (ô nhiễm nhẹ)…   Hy vọng rằng, nếu được áp dụng thì giải pháp quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu vực sẽ giúp kiểm soát và khắc phục dần tình trạng nguy kịch vì ô nhiễm của sông Sài Gòn, và xa hơn nữa sẽ giúp cho toàn lưu vực sông có được một sự phát triển bền vững trên cơ sở một dòng sông Sài Gòn xanh và sạch.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu KHXH&NV      30 năm trước, chúng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới, nhưng cho đến hôm nay, mặc dù đạt được nhiều thành tựu và tiến bộ, phải thừa nhận là quá trình đổi mới đã diễn ra với tốc độ rất chậm, dẫn đến Việt Nam bị tụt hậu ngày một xa so với thế giới và ngay với các nước trong khu vực. Vì thế, ở thời điểm hiện tại, chúng ta cần phải tiến hành công cuộc đổi mới mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn nữa. Tôi nghĩ, không bộ nào khác mà chính là Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một trong những bộ dẫn đầu và tiên phong về đổi mới.      GS. TS Phạm Quang Minh  Để đáp ứng nhu cầu đổi mới trong khoa học xã hội và nhân văn, tôi cho rằng cần phải quốc tế hóa các hoạt động khoa học. Trong chiến lược quốc tế hóa và hội nhập quốc tế về khoa học nói chung, công bố quốc tế là một trong những thước đo rất quan trọng, vì nhờ các công bố quốc tế, thế giới mới hiểu về Việt Nam và Việt Nam mới tiếp cận được thế giới. Ví dụ, lâu nay, chúng ta đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhưng lại rất ít có các bài viết trên các tạp chí quốc tế nghiên cứu về Biển Đông, trong khi Trung Quốc có rất nhiều bài. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, việc “giao lưu” hai chiều giữa ta và bên ngoài có lẽ tốt hơn so với lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Tôi có cảm giác là các nhà khoa học xã hội của ta đang lạc lõng trong thế giới nghiên cứu khoa học, không đối thoại được với bên ngoài do rào cản về ngôn ngữ, giới hạn về phương pháp luận và phương pháp, về tư duy. Để xóa bỏ ranh giới, cần phải giới thiệu, nếu cần thì dịch, các kết quả nghiên cứu mới của các nhà khoa học thế giới với Việt Nam. Còn với tình trạng như hiện nay, nhiều nhà khoa học Việt Nam hoàn toàn không biết thế giới đang làm gì, không biết họ nghiên cứu gì về Việt Nam và ngược lại.  Việc thực hiện chủ trương công bố quốc tế đối với khoa học xã hội nhân văn vẫn còn rất nhiều khó khăn. Ví dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội giao chỉ tiêu cho Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn của chúng tôi mỗi năm phải công bố 34 bài báo trên tạp chí ISI/SCOPUS. Tuy nhiên, trên thực tế, tổng cộng mỗi năm chúng tôi có trung bình 40 bài công bố quốc tế, nhưng trong số đó chỉ có khoảng 5-6 bài trong các tạp chí ISI/SCOPUS. Trong vòng gần 10 năm nay, tình trạng này vẫn thế. Thời gian đầu, Nhà trường tặng thưởng cho mỗi cán bộ có bài công bố quốc tế mức thưởng 5 triệu đồng/bài, riêng các bài ISI/SCOPUS được thưởng lúc đầu là 10 triệu, sau đó nâng lên 15 triệu đồng/bài. Nhưng nâng tiền thưởng không đồng nghĩa với việc nâng được số bài lên được. Tiền thưởng chỉ có ý nghĩa khích lệ tinh thần cho các nhà khoa học. Vì vậy, ngoài khuyến khích, chúng tôi đang suy tính có nên thực hiện giao “khoán” công bố quốc tế đến từng PGS, GS giống như chúng ta đã thực hiện “khoán 100” rồi “khoán 10” đến hộ gia đình và người lao động trong nông nghiệp. Mặc dù khó khăn, nhưng chúng ta phải rất kiên quyết, chứ không thể duy trì tình trạng trì trệ hiện nay. Nhiều nhà khoa học sau khi được phong hàm PGS, GS là “ngồi im” hết vì có ý nghĩ là đã hoàn thành nhiệm vụ. Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 1.100 GS, hơn 9.000 PGS, nhưng tính ra chưa tới 40% số này có công trình công bố quốc tế.   Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, ngoài sự nỗ lực của cá nhân các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu, còn cần tới một chính sách quản lý khoa học hợp lý hơn. Về đầu tư cho khoa học, để thúc đẩy khoa học xã hội nhân văn, rất cần thiết phải tập trung đầu tư hơn nữa cho khối ngành này, không thể để cho tình trạng mất cân đối về đầu tư giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội như hiện nay (Khoa học tự nhiên 60 thì khoa học xã hội chỉ được 4). Cần xóa bỏ ngay nhiều quan niệm sai lệch như không cần học ai, nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn chỉ cần “tờ giấy và cái bút” hoặc khoa học xã hội nhân văn không sản xuất ra của cải vật chất, nên không cần đầu tư gì cả. Chính vì những quan niệm sai lệch này mà hiện nay chúng ta đang phải trả giá đắt cho sự lạc hậu, tụt hậu không chỉ của khoa học xã hội nhân văn mà của cả sự phát triển của xã hội.  Mặt khác, cũng cần thực hiện “cởi trói” trong tư duy học thuật, không thể tiếp tục cách suy nghĩ một chiều cũ kỹ và áp đặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu về khoa học xã hội. Nhìn ra thế giới, các giải thưởng quốc tế cho nghiên cứu trong khoa học xã hội về Việt Nam trong 10 năm gần đây đều thuộc về các nhà khoa học nước ngoài với những nghiên cứu mới mà ở ta bị coi là “nhạy cảm”, “đụng chạm”. Rõ ràng, nếu vẫn giữ tư tưởng cũ kỹ, không dám đi vào những đề tài có tính mới với tư duy mới, tiếp cận mới, phương pháp và nguồn tài liệu mới, thì chúng ta chắc chắn không thể nào thúc đẩy nghiên cứu khoa học xã hội và đối thoại được với thế giới.    Author                Phạm Quang Minh        
__label__tiasang Đặc điểm môi trường nghiên cứu của đại học và công ty      Những năm gần đây ở các nước phát triển và một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc…các công ty lớn ngày càng chú trọng đầu tư vào nghiên cứu. Vì vậy, với nhiều nhà nghiên cứu, quyết định làm nghiên cứu trong môi trường nào không phải dễ dàng. Cần phải hiểu rõ về đặc điểm của hai môi trường và sở thích riêng của cá nhân trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Trong bài này, thông qua một số câu hỏi của chúng tôi, anh Phan Dương Hiệu sẽ giúp chúng ta có một cách nhìn về vấn đề này tại Pháp.    Sự khác biệt giữa hai môi trường…  Khác biệt lớn nhất giữa nghiên cứu hàn lâm và công ty là về mức độ tự do tư tưởng, ở cả hai khía cạnh: tự do định hướng cho bản thân và tự do trao đổi với cộng đồng. Một người làm nghiên cứu trong trường đại học có thể hoàn toàn tự do chọn hướng đi cho mình, anh ta có thể nghiên cứu bất kể chủ đề gì mình ưa thích. Trong khi đó, người làm nghiên cứu trong công ty dù sao vẫn bị chi phối về chiến lược phát triển chung của công ty. Ngoài ra, người làm nghiên cứu trong trường đại học có thể tự do hoàn toàn trao đổi ý tưởng của mình với đồng nghiệp và viết bài đăng báo khi hoàn thành công trình. Nhưng khi làm nghiên cứu trong công ty  không được tự do trao đổi ý tưởng, và khi đã có kết quả thì thường phải đăng ký bằng sáng chế (patent) cho kết quả đó để công ty có hoàn toàn bản quyền về nó và ở Pháp, chỉ khi bằng sáng chế được ghi nhận (quá trình này thường kéo dài ít nhất là 6 tháng) thì mới có thể gửi bài đăng báo. Chừng nào bằng sáng chế chưa được cấp thì anh ta không được trao đổi kết quả với bên ngoài.  Về thời gian dành cho nghiên cứu, nhiều người vẫn nghĩ chắc chắn đó là lợi thế của trường đại học, nhưng thực tế chưa hẳn đã như vậy. Trong đại học ngoài nghiên cứu có rất nhiều công việc đi kèm như lên lớp giảng bài (trừ một số ngoại lệ, ở Pháp nhiều người làm nghiên cứu trong đại học và là thành viên của CNRS – trung tâm nghiên cứu quốc gia – không bắt buộc phải dạy), hướng dẫn tốt nghiệp và tham gia rất nhiều các cuộc họp… Do vậy, thời lượng dành cho nghiên cứu có thể chỉ từ 30-50% thời gian làm việc và có thể ít hơn các nghiên cứu viên trong công ty. Tại các công ty có chú trọng đến nghiên cứu, đơn cử France Telecom, bộ phận R&D cũng chia thành nhiều lớp, trên 50% phải làm thiên về nhiều hơn đến phát triển ứng dụng, khoảng 30-40% vừa làm nghiên cứu vừa làm cầu nối với ứng dụng và có một bộ phận nhỏ được dành tới 90% thời gian cho nghiên cứu, không phải bắt tay làm ứng dụng mà chỉ cần thỉnh thoảng trao đổi với các nhóm ứng dụng.  Về điều kiện làm việc, có lẽ không có quá nhiều khác biệt. Tuy nhiên, những người làm nghiên cứu cần môi trường ứng dụng ngay kết quả của mình có thể tìm thấy ở công ty một môi trường phù hợp hơn. Khi công ty nhìn thấy một hướng đi triển vọng thì họ sẽ trợ giúp tuyệt đối cho anh ta phát triển nó. Trong những ngành cần có thiết bị và phương tiện để tiến hành các thí nghiệm (ví dụ một mạng lớn các máy tính với tốc độ tính toán cực mạnh để thực hiện một thuật toán tấn công một hệ thống bảo mật), anh ta có thể có nhiều lợi thế so với điều kiện làm việc trong trường đại học. Ngoài ra, làm trong công ty có thể được tiếp xúc với những hệ thống thực tế mà môi trường bên ngoài khó tiếp cận (do các công ty không công bố giải pháp của mình).          “Sự khác biệt lớn nhất giữa hai môi trường là mức độ tự do. Tôi nghĩ đó là điểm cơ bản trong khoa học. Do đó sau một thời gian ngắn trải nghiệm nghiên cứu trongR&D, tôi đã quay lại môt trường đại học. Điều thứ hai là tôi luôn ưa thích môi trường trẻ trung sôi động của trường đại học, thích được truyền kiến thức mình tích lũy được cho các bạn sinh viên trẻ. Tiếp xúc, trao đổi với họ tôi cũng cảm thấy mình trẻ hơn, năng động hơn và do đó có khí thế hơn trong công việc”.  Phan Dương Hiệu, tốt nghiệp tiến sĩ tại  Ecole normale supérieure, từng làm nghiên cứu phát triển (R&D) tại France Telecom và hiện là maître de conferences (giảng viên nghiên cứu chính thức) tại trung tâm nghiên cứu LAGA, ĐH Paris 8-13.          Thu nhập cũng là một điểm khác biệt khi làm cho công ty có ưu thế hơn. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch không lớn nên thường đó không phải là một yếu tố quyết định cho sự lựa chọn làm trong trường đại học hay trong công ty của một người.      …Và những lợi ích khi hai bên cùng cộng tác  Tại  Pháp, trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi (Mật mã – Cryptology) quan hệ cộng tác giữa trường đại học và công ty khá là khăng khít, và được thực hiện qua nhiều kênh. Kênh đầu tiên và phổ biến hơn cả do chính Nhà nước khuyến khích để những dự án chung giữa trường đại học và công ty có điều kiện phát triển. Nhiều dự án quốc gia được nhà nước hỗ trợ tài chính theo cách: cung cấp toàn bộ chi phí cho phía trường đại học và hỗ trợ 40-60% cho chi phí tham gia của công ty. Điều này đưa tới lợi ích cho cả công ty, trường đại học và nhà nước. Về phía trường, các nghiên cứu viên có điều kiện để phát triển một nhóm nghiên cứu theo hướng của mình: có điều kiện áp dụng các ý tưởng của mình vào thực tế thông qua các công ty, có chi phí tuyển post-doc, nghiên cứu sinh, có chi phí cho các thành viên trong nhóm tham gia các hội nghị quốc tế, có điều kiện tổ chức các hoạt động khoa học… Các nghiên cứu viên của công ty tìm được tự do hơn trong nghiên cứu. Do nhà nước đã trả chi phí cho công ty nên họ có thể có 50% thời gian tham gia dự án nghiên cứu, và đó là lúc họ có được bầu không khí tự do đáng mơ ước để làm và trao đổi khoa học. Còn bản thân các công ty không mất gì nhiều: một số thành viên mất thời gian tham gia dự án nhưng chi phí đã được nhà nước bù đắp, và hơn hết họ sẽ được nhiều cái lợi lớn là những giải pháp cần các nghiên cứu chiều sâu của họ sẽ được một lực lượng đông đảo các nhà khoa học, của công ty họ và của các trường đại học tham gia giải quyết.  Với nhà nước thì thực chất họ đã chi khoản tiền phát triển khoa học theo một cách hợp lý hơn là chia đều cho tất cả các nghiên cứu viên. Các thành viên trong trường đại học ở Pháp có sự đảm bảo suốt đời về công việc. Điều đó có mặt tốt và không. Tốt là nhà khoa học yên tâm hoàn toàn để làm khoa học mà không chịu sức ép mất việc. Và không tốt là dẫn đến có những người sau khi đã có vị trí có thể yên tâm “ngồi chơi” không làm khoa học. Để khuyến khích những người thực sự làm khoa học, nhà nước cấp rất nhiều kinh phí cho những người năng động. Xây dựng phát triển dự án với các công ty và các trường đại học khác là một hình thức nổi bật giúp các nghiên cứu viên đại học có thêm chi phí để phát triển nhóm và phát triển sâu và rộng hướng nghiên cứu của mình.  Ngoài ra tất nhiên còn có nhiều kênh kết hợp khác giữa đại học và công ty: công ty mời các nghiên cứu viên nhiều kinh nghiệm làm cố vấn, các trường kết hợp “chiến lược” với công ty để gửi sinh viên của mình tới thực tập và sau đó công ty có thể tuyển họ làm việc…          Author                Phan Dương Hiệu        
__label__tiasang Đặc thù hay đa dạng ?      Cuộc sống rất đa dạng và chúng ta phải tôn trọng tính đa dạng của nó thì mới phát triển được. Vì vậy, khi xây dựng một chính sách hay qui định, dù là chung hay riêng, phải thấy rõ tính đa dạng để có những điều khoản phù hợp. Khi đó, đặc thù sẽ trở thành điều bình thường và nếu không cụ thể thì sự đa dạng sẽ trở thành “đặc thù, đặc biệt”.     Ảnh minh họa: DĐDN.  Cùng với sự phát triển của xã hội, pháp luật ngày càng được tôn vinh. Đương nhiên khi đó, bình đẳng, qui chuẩn là tối cần thiết. Nhưng hiểu thế nào là bình đẳng, chuẩn mực lại không hề đơn giản, thậm chí vô cùng phức tạp. Tầm thường hóa các khái niệm này dễ dẫn đến những qui định máy móc để rồi vượt qua chúng sẽ không khác gì leo lên đỉnh núi Fansipan hay thậm chí Himalaya. Dưới đây, tôi mạn đàm đến mấy ví dụ.  Như chúng ta đã biết, sau một thời gian phong học hàm/chức danh phó giáo sư, giáo sư, các bộ tiêu chuẩn đã được xây dựng, và ngày càng hoàn thiện. Mục đích của các bộ tiêu chuẩn rõ ràng rất tốt, nhằm đảm bảo chất lượng của đội ngũ giáo sư/ phó giáo sư. Chỉ có điều, dù đã sửa đổi nhiều lần nhưng ý tưởng chủ đạo là bộ tiêu chuẩn phải áp dụng cho tất cả các ngành, lĩnh vực khoa học thì không thay đổi! Vì phải có chuẩn như nhau này nên khi xây dựng văn bản, ai cũng đề xuất và mong cái “đặc thù” của ngành mình được chấp thuận như chuẩn mực chung. Kết quả cuối cùng ai cũng thấy: mỗi ngành chỉ được thông qua vài “đặc thù” thôi, và do vậy ai cũng thấy mình thiệt.  Vấn đề chính ở đây là chúng ta đã tầm thường hóa chuẩn mực, chỉ nói đến đặc thù mà quên mất tính đa dạng. Cũng như cuộc sống, khoa học rất đa dạng, và do đó mới phát triển. Đặc thù của từng ngành, thậm chí ngành khoa học chính là sự đa dạng của khoa học. Trong trường hợp này, hiểu bình đẳng chính là hiểu và chấp nhận tính đa dạng của từng ngành. Như vậy, chuẩn phải là chuẩn cho từng ngành mới đúng, mới sát.  Lý tưởng nhất là việc đánh giá các ứng viên dựa hoàn toàn vào chất lượng, nội dung khoa học của từng người như ở các nước phát triển, nơi không chỉ có nhiều chuyên gia giỏi mà còn sử dụng chuyên gia trên toàn thế giới, không phân biệt biên giới hay khác biệt chính trị, tôn giáo. Ở nơi đó, các chỉ số trích dẫn hay SCI, SCI-E, … ít có giá trị, thậm chí bị cấm nói đến. Ở nước ta dĩ nhiên không thể máy móc theo gương các nước phát triển, chỉ dựa hoàn toàn vào các hội đồng, chuyên gia. Không nói cũng dễ thấy, chấp nhận điều đó sẽ dẫn đến lạm phát giáo sư, phó giáo sư. Cho nên, vẫn phải có chuẩn; nhưng phải là chuẩn cho từng ngành.    Chúng ta đã tầm thường hóa chuẩn mực, chỉ nói đến đặc thù mà quên mất tính đa dạng.    Ví dụ tiếp theo là chuẩn luận án tiến sĩ. Theo mô hình Liên Xô cũ, mỗi luận án cứ phải có tối thiểu hai bài báo. Theo thời gian, qui định về tạp chí của từng ngành, từng cơ sở đào tạo ngày càng khắt khe. Tôi cứ tưởng những qui định như vậy là hiển nhiên. Mãi đến khi trưởng thành hơn, trao đổi với các đồng nghiệp trên thế giới, ở các ngành khác nhau, tôi mới biết: ở hầu hết các nước khoa học phát triển, người ta chỉ chấm nội dung luận án, không quan tâm đã được đăng báo hay sẽ đăng báo hay không. Thành viên hội đồng, đặc biệt là giáo sư hướng dẫn, chịu trách nhiệm chính về nội dung luận án. Vậy lấy gì đảm bảo cho chất lượng? Chính uy tín của người hướng dẫn. Ai cho ra lò tiến sĩ kém chất lượng thì sẽ mất uy tín. Mà mất uy tín thì rồi chẳng ai theo học nữa vì theo để rồi sau khi có tấm bằng, không nơi nào tuyển dụng. Vậy có bằng tiến sĩ để làm gì (ngoại trừ cho oai thì không bàn)? Tất nhiên, khi giáo sư kém chưa lộ diện cũng có vài người bị mắc lưới. Nhưng trên đời làm sao mà tránh hết những éo le như vậy.  Như vậy, cách tiếp cận ở đây không chỉ đề cao đặc thù từng chuyên ngành mà còn đề cao từng cá thể – một mức độ đặc thù hay tôn trọng đa dạng cao hơn nhiều. Trong cái sự đề cao tính đa dạng này, rất thú vị là sự bình đẳng lại đạt được ở mức độ gần như tuyệt đối: “ai giỏi sẽ được tạo cơ hội, được trọng dụng”!  Tất nhiên ở nước ta, cũng như chuyện phong giáo sư, phó giáo sư, không có chuẩn sẽ thêm nhiều tiến sĩ giấy. Nhưng cũng nên nghĩ đến chuyện chấp nhận tính “đặc thù”, hay đúng hơn là chấp thuận tính đa dạng.  Chuyện tiếp theo là phải trả học phí để được học, dù là cấp nào. Vào thời bao cấp làm gì có học phí, thậm chí ai có điều kiện đi học ở nước ngoài (tại các nước xã hội chủ nghĩa) còn có thể tiết kiệm được học bổng (dù rất ít ỏi) để về hỗ trợ gia đình. Cho nên, đến khi kinh tế thị trường thâm nhập, phải vô cùng vất vả thì việc thu học phí mới trở thành thường lệ, bắt đầu từ các trường tư sang trường công. Trớ trêu thay, đến lúc này thì chuyện cấp học bổng trở thành vấn đề nan giải. Để thu hút sinh viên, học viên giỏi, một số nơi cấp học bổng – nhưng thực ra chỉ là giảm bớt học phí! – và chuyện cấp học bổng, kể cả cho cao học hay nghiên cứu sinh, cũng khiến người ta thấy vô lý, bất công. Ở nước ta, đặc thù như vậy không thể được chấp nhận. Vì vậy, Trung tâm UNESCO về Toán đặt tại Viện Toán học không có cách nào tuyển cao học, nghiên cứu sinh từ các nước trong khu vực như đã cam kết với UNESCO. Bởi có ai biết đâu, tại các nước khoa học phát triển, những nơi học phí rất cao, người ta lại cấp nhiều học bổng rất hấp dẫn đủ sống và không thu học phí để thu hút tài năng từ khắp nơi, trong đó có cả Việt Nam! Họ đâu có dại. Từ số những nghiên cứu sinh, học viên cao học đó, sẽ có một số vô cùng xuất sắc, sau này bổ sung cho đội ngũ chuyên gia xuất sắc của họ. Mặt khác, ngay cả khi làm nghiên cứu sinh hay học cao học, những học viên đó đã được tham gia các dự án khoa học và có thể đem lại nhiều thành quả. Hóa ra, chính sách đặc biệt cấp học bổng cho những cá thể tiềm năng như vậy, trên thực tế lại là cách sử dụng nhân lực khoa học một cách hiệu quả, không mấy tốn kém, không chỉ lợi lâu dài mà cả trước mắt.    Ở nước ta, cũng như chuyện phong giáo sư, phó giáo sư, không có chuẩn sẽ thêm nhiều tiến sĩ giấy. Tuy nhiên cũng nên nghĩ đến chuyện chấp nhận tính “đặc thù”, hay đúng hơn là chấp thuận tính đa dạng.    Dù có thể kể ra nhiều ví dụ khác nhưng tôi chỉ muốn bổ sung thêm hai ví dụ thuộc về quản lí. Nhiệm vụ chính của nghiên cứu viên, dù là chính hay cao cấp, thì vẫn là nghiên cứu khoa học ở trình độ càng cao càng tốt. Không hiểu căn cứ vào cơ sở khoa học nào, mà năm 2016 Bộ KH&CN ban hành và yêu cầu những người muốn được nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp phải có “Chứng chỉ bồi dưỡng chức danh nghiên cứu khoa học”. Dĩ nhiên trong các chương trình đó, mục tiêu chung và cụ thể được nêu rất rõ ràng nhưng tôi rất hoài nghi tính thiết thực và hiện thực của nó. Chẳng hạn, tôi không thể tin người nghiên cứu Toán có thể viết bài tốt hơn, sau khi học Chương trình bồi dưỡng chung đó với mục tiêu ghi rất rõ: “c) Phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học; kỹ năng tổng hợp, phân tích thông tin, điều tra, khảo sát, phục vụ nghiên cứu khoa học. Nâng cao kỹ năng tổ chức hoạt động KH&CN; phát triển kỹ năng viết các bài báo khoa học và các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản khác”. Một người làm Toán không thể góp ý (chứ đừng nói dạy) cho người làm Vật lý bất kì một thứ gì để thực hiện  một trong các mục tiêu vừa nêu và ngược lại. Làm sao lại có thể nghĩ ra một cái chung chung như vậy?  Một ví dụ khác là qui định chuẩn cho các tổng biên tập, phó tổng biên tập tạp chí khoa học, thậm chí tạp chí khoa học quốc tế – nơi mà trình độ chuyên môn là tiêu chuẩn số một, với mục đích tổ chức đánh giá được chất lượng của bài báo gửi đăng để có chấp nhận đăng hay không. Tiêu chuẩn tiếp theo chính là khả năng mời được hội đồng biên tập có uy tín cao, để từ đó có thể mời các nhà nghiên cứu giỏi gửi bài đăng. Gọi là tiêu chuẩn, chứ thực ra đó là hai tiêu chí, và việc lựa chọn hoàn toàn dựa trên tư vấn của các nhà khoa học đầu ngành, chứ không thể có một tiêu chuẩn tường minh nào cả. Và có lẽ đó là những tiêu chí duy nhất. Thế thì không thể hiểu nổi tại sao lại áp dụng các tiêu chuẩn rất khắt khe về tổng biên tập đối với một tờ báo hay tạp chí có tính chính trị rất cao với tạp chí thuần khoa học, không có nguy cơ lộ bí mật quốc gia hay sai phạm pháp lí?  Các nhà lãnh đạo đã nhiều lần nói, đại ý: qui định do con người xây dựng lên, nên khi thấy bất cập thì cần kiên quyết điều chỉnh, sửa đổi. Tại sao lại lấy những qui định như vậy để tự bó tay, bó chân chúng ta?  Chỉ đạo như vậy, nhưng trên thực tế, sửa đổi một cái gì đã có khó gấp trăm lần so với xây dựng cái mới.□    Author                Lê Tuấn Hoa        
__label__tiasang Đãi ngộ theo hiệu năng  làm việc của nhà khoa học      Mục đích của việc ưu đãi, trọng dụng các nhà  khoa học và công nghệ chính là việc tạo cho các nhà khoa học cơ hội  phát huy tài năng, sự đam mê và môi trường làm việc minh bạch, lành  mạnh, công bằng – yếu tố quyết định hiệu năng làm việc của họ.    Hiệu năng làm việc của nhà khoa học và công nghệ được đánh giá bởi sản phẩm đầu ra của họ. Đó là các bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế, các bằng phát minh sáng chế, là việc giải quyết các vấn đề công nghệ cụ thể, dưới sự điều phối trực tiếp hoặc sâu xa của các quy luật kinh tế thị trường.  Các giải pháp công nghệ này phải được doanh nghiệp sử dụng và đưa vào thương mại hóa. Do đó, giá trị của các hoạt động công nghệ phải được định lượng. Nếu không, giải pháp này sẽ không có giá trị. Chính vì thế, với các hoạt động công nghệ, nhà nước chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ về cơ chế và hành lang pháp lý, và một phần đầu tư nghiên cứu ban đầu, còn thực hiện phải do các doanh nghiệp hoặc cá nhân được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động công nghệ này thực hiện, và đóng góp đầu tư.   Vì thế, thay vì chỉ chú trọng vào một số ưu đãi vật chất theo vị trí đảm nhiệm, có thể dẫn đến bất công, cần cải thiện việc tuyển dụng và đánh giá tài năng; giữ sự đam mê bằng cách giúp nhà khoa học sống được bằng lương; và đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, minh bạch và công bằng để cho tất cả các nhà khoa học, không phân biệt thâm niên và vị trí đảm nhiệm.  Nếu nhìn vấn đề theo cách này, thì toàn bộ nội dung của việc Nghị định về việc sử dụng và trọng dụng các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có thể rút ngắn lại để gói gọn trong 2 điểm sau, mà vẫn đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của việc trọng dụng này, và trực tiếp nâng cao hiệu suất làm việc của nhà khoa học:   Với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học có công bố trên các tạp chí quốc tế (ISI), nhà nước sẽ được hỗ trợ kinh phí công bố khoa học và được tưởng thưởng, chẳng hạn 2000 USD/bài báo khoa học, không phân biệt tuổi tác, vị trí quản lý và nơi làm việc. Điều này sẽ khuyến khích các nhà khoa học tập trung làm việc, và hưởng ưu đãi trực tiếp dựa trên kết quả làm việc của mình một cách minh bạch và công bằng.   Với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, nếu đề tài được xét duyệt, nhà nước sẽ hỗ trợ, chẳng hạn 50% kinh phí nghiên cứu triển khai, phần còn lại sẽ đến từ doanh nghiệp hoặc cá nhân được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động công nghệ đó. Điều này sẽ đảm bảo sự nghiêm túc của doanh nghiệp trong các hoạt động công nghệ, cũng như cam kết trong việc đưa giải pháp công nghệ ra thị trường.   Ngoài ra, cũng cần lưu ý thêm rằng, bên cạnh các yếu tố vật chất thì tinh thần tự do học thuật và cạnh tranh lành mạnh mới là những điều quan trọng nhất để thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển.                                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Đằng sau sự cố Fukushima      Năng lượng hạt nhân là một vấn đề kinh tế – chính trị lớn của thế giới hiện nay. Nó có tác động khác nhau đến các nước phát triển và đang phát triển. Sự cố gần đây tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản, đã tạo nên một làn sóng phản ứng gay gắt trên toàn thế giới, đòi hỏi cần phải có những nhận định về nó.      Khái quát tóm tắt tình hình ở các nước phát triển  Các nhà vật lý hạt nhân cùng thế hệ với tôi đã trưởng thành, trở thành các nhà khoa học, song hành cùng sự phát triển của nhà máy điện hạt nhân và các ứng dụng khác vì mục đích hòa bình − như chúng ta vẫn nói – của năng lượng hạt nhân. Một thập kỷ sau, chúng tôi đã được chứng kiến sự ra đời của Câu lạc bộ Rome do Aurelio Peccei với những bày tỏ lo ngại nghiêm túc về “Giới hạn của sự phát triển” (The Limits to Growth). Tại thời điểm đó, chúng tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng: điện hạt nhân sẽ giải quyết vấn đề về suy giảm nguồn dự trữ nhiên liệu hóa thạch và điện hạt nhân sẽ là chìa khóa cho nhu cầu phát triển đang bùng nổ của hành tinh. Người ta kỳ vọng trong vòng vài thập kỷ, năng lượng nhiệt hạch sẽ mang đến cho nhân loại một nguồn năng lượng sạch, không giới hạn. Dĩ nhiên, chúng tôi nhận thức được những đòi hỏi khắt khe về an toàn khi vận hành các lò phản ứng hạt nhân, nhưng chúng tôi đã nghĩ rằng, đó là vấn đề có thể giải quyết được và theo thời gian chúng tôi sẽ tiếp tục cải thiện khả năng kiểm soát năng lượng hạt nhân. Sự kiện Hiroshima và Nagasaki đã để lại dấu ấn sâu sắc lên tất cả chúng ta, nhưng chúng tôi đã mong đợi rằng, việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình sẽ có thể xua đuổi những ám ảnh đó và rằng, lãnh đạo các quốc gia sẽ đủ thông minh để không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân nữa. Điểm cuối cùng, chúng tôi cho rằng mình có nghĩa vụ giáo dục công chúng, xua tan tâm lý sợ hãi trước bức xạ nguy hiểm vô hình. Chúng tôi đã nghĩ rằng có thể làm được điều đó.  Nhiều năm sau đó, chúng tôi vẫn yên tâm vào những điều mình tin tưởng và vẫn bị thuyết phục rằng năng lượng hạt nhân thực sự tốt cho hành tinh này. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, cái nhìn của chúng tôi về tương lai hồi đó khá đơn giản.  Không lâu sau, người ta nhận ra rằng giữ plasma ổn định trong tokamak (thiết bị dùng từ trường giữ plasma để tạo phản ứng nhiệt hạch hạt nhân) khó hơn so với dự đoán. Khi tôi ra trường, năm 1958, các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực nhiệt hạch hạt nhân đã cố gắng thuyết phục chúng tôi tham gia vào lĩnh vực đó vì nhiệt hạch sẽ cứu thế giới: đó là nguồn năng lượng của tương lai và những trở ngại nó đang phải đối mặt sẽ được giải quyết chỉ trong vòng 20 năm. Tuy nhiên, hơn nửa thế kỷ sau, không ai có thể khẳng định được chắc chắn về một ngày như vậy; thậm chí không ai dám chắc rằng chúng ta sẽ có lúc điều khiển được nhiệt hạch hạt nhân.  Nhiều vấn đề mới không được nghiêm túc lường trước đã xuất hiện trong công tác quản lý nhà máy điện hạt nhân. Trong đó, quan trọng nhất là những câu hỏi về rác thải hạt nhân: chúng ta nên làm gì với nhiên liệu đã sử dụng? Cất giữ vật liệu cực kỳ nóng như vậy một cách an toàn hàng thế kỷ và phải đảm bảo chúng không làm ô nhiễm môi trường là những vấn đề khó chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Nhiên liệu hạt nhân qua sử dụng gần đây được cất giữ trong các bể nước, được thiết kế để lưu giữ tạm thời, nhưng thực tế chúng được giữ ở đó dài hơn so với dự kiến. Chúng ta đã thấy rằng, tại Fukushima, những bể chứa nhiên liệu đó là mối nguy hiểm tiềm tàng khi hệ thống làm lạnh không hoạt động.  Việc tháo dỡ những lò phản ứng hạt nhân đã hết hạn sử dụng hóa ra lại đắt đỏ và tốn thời gian hơn nhiều so với dự kiến và các quốc gia có xu hướng giữ lại các nhà máy này và tiếp tục cho chạy mặc dù tuổi đời của chúng đã vượt tuổi giới hạn thiết kế tối đa, bất chấp những điểm sai sót, ví dụ các vết rạn nứt trên cấu trúc lò.  Đã có những sự cố mà tâm lò phản ứng bị nóng chảy một phần đã xảy ra. Trong đó được biết đến nhiều nhất là sự cố tại Three Mile Island, Chernobyl và bây giờ là Fukushima. Nguy hiểm chính −có thể nói là duy nhất− trong một sự cố hạt nhân là việc rò rỉ chất phóng xạ từ lõi nhà máy điện ra môi trường. Cho đến nay vụ tai nạn tồi tệ nhất là vụ Chernobyl. Tại thời điểm đó, quyết định di tản dân ra khỏi vùng ô nhiễm không được thực hiện đủ sớm và, nghiêm trọng hơn, vụ tai nạn đã sinh ra một đám mây phóng xạ phóng vào khí quyển làm ô nhiễm nhiều vùng của các quốc gia lân cận, đặc biệt là Belarus. Luôn có nhiều điều cần phải rút kinh nghiệm từ những tai nạn này và trong những năm qua nhận thức về tầm quan trọng của tính an toàn ngày càng tăng. Kết quả là thiết kế lò phản ứng cho những thế hệ lò tiếp theo đã liên tục chú ý đến vấn đền an toàn.  Ban đầu, dự trữ uran được cho là đủ và sẽ không bao giờ trở thành vấn đề khó khăn. Tuy nhiên, phí khai thác mỏ tăng nhanh hơn so với dự kiến và do đó những nguồn quặng mới, bao gồm cả loại được lọc ra từ nước biển, đang được xem xét. Con người nghiên cứu ra  các lò phản ứng tái sinh, tạo ra vật liệu có thể dễ dàng tách bóc hơn, đem lại những đóng góp đáng kể cho lời giải đối với cả hai vấn đề: lưu trữ vật liệu thải và dự trữ nhiên liệu. Tuy nhiên, ngày nay, việc sử dụng những lò phản ứng loại này vẫn còn rất hạn chế.  Gần đây, khoảng 14% lượng điện của thế giới được tạo nên bởi các nhà máy điện hạt nhân. Lượng điện này ít hơn so với mong đợi vì nhu cầu năng lượng tăng chậm hơn so với dự kiến và vì những nguồn nhiên liệu hóa thạch mới đang được khai thác mặc dù với giá cao hơn đáng kể so với những nguồn trước đây.  Phong trào chống hạt nhân  Trớ trêu khi gợi lại rằng, phong trào chống hạt nhân bắt đầu vào năm 1950 với Bản kiến nghị Stockholm được nhiều nhà khoa học, trí thức và nghệ sỹ ký dưới sự khởi xướng của Frederic Joliot-Curie. Bản kiến nghị kêu gọi cấm tuyệt đối vũ khí hạt nhân. Phong trào chống hạt nhân dần dần mở rộng ra và bao gồm cả năng lượng hạt nhân mà ngày nay nó trở thành chủ đề chính của phong trào. Trong bài báo này, tôi không định phân tích luận điểm của những người ủng hộ và chống hạt nhân nhưng tôi muốn bình luận về thành công không mong muốn của phong trào chống hạt nhân và vai trò chính mà nó đã đóng trong việc làm chậm sự phát triển và tiến bộ của lĩnh vực năng lượng hạt nhân. Những luận điểm được sử dụng dù đúng hay sai ở một mức độ nào đó đã trở nên không còn quan trọng. Quan trọng là sức mạnh chính trị của chúng.  Quản lý lành mạnh năng lượng hạt nhân ở tầm quốc tế đòi hỏi sự ủng hộ của một xã hội trưởng thành và có trách nhiệm, nhận thức rõ được sự nguy hiểm tiềm tàng của công nghệ hạt nhân, cam kết nỗ lực tiến bộ không ngừng trong việc kiểm soát, chấp nhận dành đủ các nguồn lực vì mục đích này và cho đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để giải quyết những vấn đề mà công nghệ hạt nhân đang phải đương đầu, như an toàn, chất thải hạt nhân và nguồn nhiên liệu. Dù có muốn hay không, chúng ta vẫn chưa có được một xã hội như thế.  Không ai có thể quyết định cho số đông điều gì tốt cho họ. Người cố gắng thực hiện điều đó, dù động cơ là tốt tới đâu, chỉ đơn giản xuất hiện như một kẻ ngạo mạn. Người ta không nên áp đặt năng lượng hạt nhân vào một xã hội đang muốn từ chối nó. Càng không thể chấp nhận việc đưa công nghệ hạt nhân vào một xã hội đầy sự thù địch và bất đồng vì những động cơ xấu, phi lý, hoặc cảm tính. Sự cố gần đây tại Fukushima đưa ra một cơ hội để đo mức độ hiếu chiến và kém hiểu biết được thể hiện trong những cuộc đối thoại giữa những người ủng hộ và chống nó. Động đất và sau đó là sóng thần đã lấy đi sinh mạng của hơn hai mươi lăm nghìn người Nhật, nhưng các phương tiện truyền thông lại chỉ tập trung vào Fukushima mặc dù sự thật là chưa có một nạn nhân nào thiệt mạng vì nó.  Sự bất ngờ tại Fukushima là sức mạnh của sóng thần, chứ không phải tai nạn hạt nhân. Nhưng một nhà lãnh đạo quốc gia đáng kính như bà Angela Merkel lại sử dụng nó làm nguyên do để tuyên bố lệnh cấm năng lượng hạt nhân tại đất nước mình. Bà là một người có năng lực và cũng được thông tin đầy đủ về sự việc; bà biết rất rõ những rủi ro cố hữu trong việc khai thác nhà máy điện hạt nhân; bà là một nhà lãnh có trách nhiệm; bà hiểu phải hành động thế nào khi đã chấp nhận những rủi ro như vậy; bà biết tuy sóng thần và động đất khó có khả năng xảy ra ở Đức, nhưng mối đe dọa về một cuộc tấn công khủng bố vào nhà máy hạt nhân luôn hiện diện và tồn tại ở mọi nơi. Lẽ ra dù điều gì có xảy ra ở Fukushima cũng không thể tác động làm bà thay đổi suy nghĩ về một vấn đề có tầm quan trọng như vậy cho nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, thực tế là nó đã tác động. Các nhà lãnh đạo quốc gia làm những gì họ nghĩ là tốt cho đất nước của mình, cho dù hợp lý hay không. Và chính trị thường không hợp lý.  Ngày nay rõ ràng rằng, chúng tôi, những nhà vật lý, đã thất bại trong nỗ lực trước đây nhằm xua đi những ý nghĩ tiêu cực của cộng đồng về công nghệ hạt nhân. Ý nghĩ cho rằng cung cấp thông tin thích hợp về lĩnh vực này thì có thể xóa đi nỗi sợ hãi sâu sắc về bức xạ hạt nhân và phản ứng hủy diệt, nhưng thực tế không diễn ra như vậy. Sự thù địch chống lại năng lượng hạt nhân đã ảnh hưởng vô cùng bất lợi tới tiến trình phát triển của nó. Một số nước đã ra lệnh cấm năng lượng hạt nhân và giảm mạnh nhân lực hoạt động trong ngành này. R&D về nhà máy điện tái sinh đã bị dừng hoặc bị làm chậm lại một cách nặng nề, mặc dù trước đó đã có nguồn đầu tư lớn cho sự phát triển của nó. Quyết định này có thể được thực hiện trong giây lát, nhưng để phục hồi sự chậm trễ mà nó gây ra phải mất hàng thập kỷ. Trong những năm gần đây, khi ngành công nghiệp điện hạt nhân đã viện tới hiện tượng nóng lên toàn cầu làm động lực cho “thời kỳ phục hưng hạt nhân”, nhưng nhiều quốc gia đã nhận ra rằng, họ đã bỏ phí nhiều thời gian khi làm chậm tiến trình phát triển của công nghệ hạt nhân. Ngày nay, sau sự cố Fukushima, ai có thể biết điều gì sẽ xảy ra với sự phục hưng này?   Thế giới phương Tây hiện chia thành hai trường phái đối lập nhau và không thể đối thoại. Bất kỳ phát biểu nào của những người ủng hộ năng lượng hạt nhân đều trở nên đáng ngờ với đa số công chúng. Fukushima đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện rõ mức độ sâu sắc của sự đối nghịch này. Trong điều kiện như vậy, chúng ta thực sự băn khoăn liệu năng lượng hạt nhân có thể có tương lai ở các nước phương Tây hay không.  Các vấn đề gây tranh cãi   Để hiểu rõ toàn cảnh vấn đề ta nên xem xét lại một cách ngắn gọn các vấn đề gây tranh cãi chính.   Một điều quan trọng là việc đánh giá số người chết do những tai nạn hạt nhân lớn gây ra. Chẳng sung sướng gì khi phải đề cập đến con số này, như thể chúng ta là những kế toán, nhưng cái tôi nhấn mạnh ở đây là số người chết trực tiếp vì tai nạn hạt nhân tương đối ít. Thực tế, số người chết trung bình trên một Gigawatt (GW) điện do nhà máy điện hạt nhân là rất nhỏ so với số ca tử vong để tạo ra cùng một lượng điện từ than và dầu. Nhưng tranh cãi xuất hiện khi nhìn dưới góc độ thời gian hạn dài. Bức xạ, giống như nhiều chất ô nhiễm hóa học, có thể gây hại cho một số tế bào và các tế bào đó lại không thể tự sửa chữa lại một cách hoàn chỉnh dẫn đến ung thư hay dị tật mà hậu quả của nó có thể xuất hiện ở thế hệ tiếp theo hoặc sau nữa. Nghiên cứu những hiệu ứng như vậy chỉ có thể được thực hiện một cách thống kê và đòi hỏi thời gian dài trước khi có thể rút ra kết luận đáng tin cậy. Điều đó làm giảm đi sự tin cậy vào năng lượng hạt nhân và xuất hiện những phát biêu gây tranh cãi từ cả những người muốn giảm thiểu và nâng cao quan điểm về hậu quả của nó.  Nguyên nhân thứ hai gây tranh cãi là sự thiếu minh bạch trong thông tin. Năng lượng hạt nhân khi nằm trong tay một Chính phủ, Chính phủ đó sẽ bị nghi ngờ che giấu sự thật vì lợi ích quốc gia; còn khi nó nằm trong tay tập đoàn công nghiệp, tập đoàn đó bị nghi ngờ che giấu sự thật vì lý do tài chính. Mặc dù rất nhiều tổ chức kiểm soát độc lập đã ra đời nhưng sự tin tưởng của xã hội vào những báo cáo chính thức vẫn liên tục giảm. Sau sự cố Fukushima đã có nhiều cuộc biểu tình diễn ra; và khi không biết tin vào ai người ta thường chọn giải pháp an toàn.  Một mối lo lắng thứ ba thể hiện bởi phe chống điện hạt nhân là việc phổ biến vũ khí hạt nhân, cụ thể họ lo sợ rằng kiến thức trong công nghệ hạt nhân có thể được sử dụng để sản xuất vũ khí. Sự lo lắng đó được thể hiện trong việc làm chậm hoặc dừng hẳn sự phát triển dạng lò tái sinh nhanh. Mức độ nghiêm trọng của việc này vẫn còn gây tranh cãi.  Nhiều vấn đề khác cũng gây tranh cãi, chẳng hạn như vấn đề, đã được đề cập ở trên, về chứa chất thải hạt nhân hoặc sự bất công mà phe chống hạt nhân và đặc biệt là những viện như Greenpeace (Hòa bình xanh) sử dụng khi so sánh năng lượng hạt nhân với năng lượng hóa thạch hoặc với các nguồn năng lượng tái tạo.   Trước khi kết thúc chủ đề này, ta cũng nên chú ý rằng năng lượng hạt nhân, mặc dù đang được công chúng chú ý, không phải là vấn đề gây lo lắng duy nhất trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân. Những vấn đề đặt ra cho việc giải giáp các kho vũ khí hạt nhân hiện có − con số thường được trích dẫn khoảng từ 30’000 đến 40’000 − là rất lớn và đây là vấn đề vẫn chưa tìm được giải pháp thỏa đáng.  Sự sợ hãi cho rằng những kẻ khủng bố có thể sử dụng vũ khí hạt nhân cũng là mối quan tâm lớn. Cách thức có thể từ việc dùng chất phóng xạ để đầu độc cá nhân ví dụ như vụ dùng Poloni năm 2006 với với Alexander Litvinenko, cho tới đe dọa của tổ chức khủng bố Al Qaeida rằng nếu Osama Bin Laden bị bắt hoặc bị giết một quả bom nguyên tử sẽ nổ tung một nơi nào đó ở châu Âu và gây ra một trận “bão hạt nhân”.  Sơ suất và thiếu năng lực có thể gây ra những hậu quả khủng khiếp. Một số trường hợp nhầm lẫn gây chiếu quá liều bức xạ làm chết người trong xạ trị đã được báo cáo. Cuối cùng, ta nên nhớ rằng hiện có hàng triệu nguồn phóng xạ đang được sử dụng cho nghiên cứu, công nghiệp và y tế. Vài phần nghìn trong số này đang bị thất lạc không thể quản lý được.     Bài học cho Việt Nam?   Những nước đang phát triển, đặc biệt các nước châu Á đang nổi lên, nhìn chung thường coi năng lượng hạt nhân là một yếu tố đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Từ tổng quan trên đây về tình hình ở phương Tây, có vẻ rõ ràng rằng các nước này có nhiều điều cần phải học hỏi từ những kinh nghiệm của các nước phát triển về những việc cần thực hiện trên khía cạnh kỹ thuật, và những điều không nên làm trên khía cạnh chính trị.  Tôi có thể minh họa một cách đơn giản sự khác biệt giữa lợi ích của các nước phát triển và các nước đang phát triển bằng việc thuật lại một cuộc phỏng vấn mà tôi đã được xem trên truyền hình nhân sự cố Fukushima. Một phụ nữ trẻ người Canada, nếu tôi nhớ không nhầm có liên hệ với viện Greenpeace, đã giải thích rằng Fukushima đã làm cho thế giới thấy rõ rằng năng lượng hạt nhân đã nên bị cấm; khi được hỏi về những gì nên được dùng để thay thế nó, cô đã đề cập đến nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió, và nhấn mạnh về sự cần thiết trong việc tiết kiệm năng lượng bằng những hành động tích cực như cách nhiệt những ngôi nhà của chúng ta. Đó là điều không đáng trách và thậm chí có phần lãng mạn. Không ai phủ nhận rằng chúng ta nên tránh lãng phí năng lượng và năng lượng mặt trời và gió nên được sử dụng bất cứ nơi nào có thể. Tuy nhiên, điểm mà cô gái đã quên là: tiêu thụ điện trung bình của người dân Canada cao hơn 27 lần so với Việt Nam, 38 lần so với Ấn Độ, 122 lần so với Bangladesh và 500 lần so với Ethiopia. Sự chênh lệch như vậy làm cho phát biểu của cô rõ ràng là không phù hợp với những người không có may mắn được sống ở những nơi đặc quyền đặc lợi của thế giới. Bài học cô đưa ra cho những quốc gia này, đơn giản là không đứng đắn.  Các nước đang phát triển rất cần các nguồn năng lượng mới để có thể bắt kịp sự chậm trễ của họ và để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Vì thế năng lượng hạt nhân, ít nhất trong một vài thập kỷ tới, sẽ là giải pháp khả thi duy nhất. Các cuộc tranh luận về hạt nhân đang diễn ra ở các nước phát triển dường như không phù hợp với họ.  Thật vậy, Ấn Độ đã đưa ra một chương trình lớn về nhà máy điện hạt nhân tái sinh nhiệt nhanh mặc dù có nhiều lo ngại cho rằng công nghệ này đặt ra nhiều vấn đề về  an toàn cũng như về phổ biến vũ khí hạt nhân ở các nước đang phát triển. Tại Trung Quốc, khoảng năm 2040, các lò phản ứng nước áp lực dự kiến sẽ chững lại ở khoảng 200 GW và các lò phản ứng nhanh dần dần gia tăng từ năm 2020 đến ít nhất 200 GW vào năm 2050 và 1400 GW vào năm 2100. Quy hoạch phát triển này có thể chậm lại một chút sau sự cố Fukushima, nhưng chắc chỉ một chút. Trung Quốc đang đối mặt với nhu cầu rất lớn về năng lượng và về cơ bản không có lựa chọn nào khác ngoài năng lượng hạt nhân. Nhiều lo lắng cho rằng phát triển quá nhanh có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng: khi bị áp lực, người ta có thể phải cắt xén và thỏa hiệp về an toàn, chọn giải pháp rẻ hơn kém an toàn hơn so với giải pháp đắt hơn và an toàn hơn; thời gian để đào tạo ra đủ đội ngũ nhân viên lành nghề và giàu kinh nghiệm sẽ ngắn hơn; tham nhũng, thường xuất hiện ở các nước đang phát triển, cũng là một mối đe dọa, ví dụ gần đây về một cựu lãnh đạo Tập đoàn Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc đã nhận một khoản tiền hối lộ gần một triệu USD.   Việt Nam đang phát động chương trình năng lượng hạt nhân cũng trong hoàn cảnh đó. Rõ ràng phải thực hiện chương trình này với tất cả yêu cầu về sự nghiêm túc, khả năng và kỹ năng. Những người chịu trách nhiệm cho lĩnh vực này phải nhận thức được các vấn đề hiện hữu và phải có kiến thức sâu, hiểu biết rõ về tình hình. Để đào tạo ra các nhà vật lý, kỹ sư và nhà quản lý cần cho sự thành công của dự án đầy tham vọng như vậy là một thách thức lớn của đất nước.  Không thể đem Việt Nam so sánh với Trung Quốc hay Ấn Độ. Mọi vấn đề liên quan tới năng lượng hạt nhân phải được xem xét trong điều kiện kinh tế, công nghệ và xã hội cụ thể. Việc cần thiết và khẩn cấp hiện này là phải xác định ngay những vấn đề mà Việt Nam đã có sự chuẩn bị để giải quyết và những lĩnh vực chuyên môn khác có thể cần. Sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn; nguy cơ mất tự chủ trong lĩnh vực này không phải là nhỏ. Phải đánh giá cẩn thận đội ngũ nhân viên có tài, có chuyên môn về công nghệ hạt nhân để xác định không chậm trễ quy mô của việc đào tạo tăng cường rõ rằng là rất cần thiết. Người dân cần phải được chuẩn bị kỹ lưỡng để hiểu và chấp nhận quyết định khởi động chương trình điện hạt nhân. Các hệ quả ngắn hạn và dài hạn về tài chính cũng cần phải được hiểu rõ trong bối cảnh kinh tế hiện nay của đất nước. Việc quy hoạch dự án phải được đặt dưới điều kiện rằng mỗi bước thực hiện phải được bảo đảm rằng đất nước đã sẵn sàng đạt được nó một cách thành công.  Các quyết định không được sao chép từ các nước khác. Mỗi vấn đề phải được đánh giá và thấu hiểu trong điều kiện và đặc trưng riêng của Việt Nam. Sẽ có nhiều lựa chọn khó khăn. Sẽ không luôn rõ ràng lựa chọn nào là đúng. Chỉ cần tráo đổi hai chữ cái đầu tiên của từ hạt nhân (nuclear) là bạn nhận được từ không rõ ràng (unclear) …                                                                                                            Phạm Ngọc Điệp dịch      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá các tổ chức KH&CN: Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra      Đánh giá các tổ chức KH&amp;CN là một nội dung cải cách quan trọng, giúp Nhà nước tăng cường giám sát hiệu quả các hoạt động và nguồn ngân sách cấp cho các đơn vị, đồng thời giúp các đơn vị tự nhìn ra các điểm mạnh/điểm yếu để tự cải thiện mình. Để tìm hiểu về thực trạng và triển vọng đánh giá các tổ chức KH&amp;CN Việt Nam, tạp chí Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ. Sau đây là nội dung trao đổi giữa phóng viên cùng TS. Trần Hậu Ngọc, Viện trưởng, và bà Nguyễn Thị Thu Oanh, Phó Viện trưởng.     Xin ông/bà cho biết về thực trạng công tác đánh giá các tổ chức KH&CN ở Việt Nam?    Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Việc đánh giá các tổ chức KH&CN là vô cùng cần thiết vì kết quả hoạt động  của họ quyết định sự thành bại trong việc thực hiện chiến lược KH&CN của quốc gia. Tuy nhiên, lâu nay chúng ta chưa thực sự tiến hành đánh giá các tổ chức KH&CN một cách độc lập, khách quan. Hằng năm, các tổ chức chỉ xây dựng báo cáo tổng kết để đánh giá kết quả hoạt động của mình. Báo cáo chủ yếu tập trung vào những thành tích và  các mặt tích cực, với những đánh giá không dựa trên một bộ tiêu chí nhất quán, toàn diện. Các cơ quan quản lý  chỉ mới tập trung quản lý chặt ở khâu đầu vào là con người và tài chính, nhưng khâu đầu ra là kết quả nghiên cứu thì công tác quản lý còn rất lỏng lẻo.    Sau khi Thông tư về đánh giá tổ chức KH&CN (hiện đang trong quá trình dự thảo) được ra đời và triển khai, các tổ chức KH&CN của chúng ta sẽ được chú trọng đánh giá theo những mục tiêu nào?  TS. Trần Hậu Ngọc: Căn cứ theo Luật KH&CN hiện hành, việc đánh giá tổ chức KH&CN nhằm vào 3 mục đích cơ bản, đó là tạo cơ sở xếp hạng tổ chức KH&CN, phục vụ hoạt động hoạch định chính sách phát triển KH&CN và quy hoạch mạng lưới các tổ chức KH&CN, tạo cơ sở cho việc xét duyệt các đề tài, nhiệm vụ và kinh phí cho các tổ chức KH&CN.           Các cơ quan quản lý chỉ mới tập trung quản lý chặt ở khâu đầu vào là con người và tài chính, nhưng khâu đầu ra là kết quả nghiên cứu thì công tác quản lý còn rất lỏng lẻo.        Vì sao việc xếp hạng các tổ chức KH&CN được Luật KH&CN hiện hành xếp vào mục tiêu đầu tiên của công tác đánh giá tổ chức KH&CN, và liệu việc xếp hạng này có khả thi hay không?  Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Theo quan điểm của chúng tôi, nhu cầu xếp hạng kể trên xuất phát từ thực tế là ở Việt Nam có quá nhiều các tổ chức KH&CN,  Bộ, ngành nào cũng có nhu cầu quản lý một số viện nghiên cứu, dẫn tới không tránh khỏi sự trùng lặp– cùng lĩnh vực chuyên môn nhưng tồn tại các viện thuộc các Bộ, ngành khác nhau. Ở các nước có nền KH&CN phát triển, các viện nghiên cứu không phân theo phạm vi quản lý của các Bộ, ngành, mà phân theo loại hình hoặc lĩnh vực nghiên cứu, ví dụ ở CHLB Đức, các viện được phân thành 3 nhóm chính: nghiên cứu cơ bản (Hiệp hội Max-Planck), nghiên cứu ứng dụng (Hiệp hội Leibnitz và Helmholtz) và nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ (Hiệp hội Fraunhofer). Ở Hàn Quốc, các viện được phân thành 5 nhóm theo lĩnh vực nghiên cứu: nghiên cứu KH&CN cơ bản, nghiên cứu KH&CN công nghiệp, nghiên cứu công nghệ công, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu kinh tế và xã hội.    Theo kinh nghiệm ở các nước có nền quản lý KH&CN phát triển, các tổ chức KH&CN được đánh giá theo tiêu chí nào?  Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Kinh nghiệm từ CHLB Đức cho thấy họ chú trọng vào ba nhóm tiêu chính,  đó là kết quả KH&CN (công bố khoa học, sáng chế và chuyển giao công nghệ), năng lực nghiên cứu (năng lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu so với trong nước và quốc tế), tổ chức và quản lý (cách thức tổ chức và sử dụng các nguồn lực). Tuy nhiên, khi đánh giá các tổ chức KH&CN của Việt Nam, chúng ta không thể chỉ dùng những tiêu chí này – các chuyên gia đã áp dụng các tiêu chí của Đức để đánh giá thử một số  tổ chức KH&CN của Việt Nam nhưng không phù hợp  – bởi năng lực nghiên cứu của các viện nghiên cứu ở nước ta nhìn chung còn rất hạn chế, nhiều viện có số lượng công bố quốc tế và bằng sáng chế quá ít. Vì vậy, chúng tôi phải bổ sung thêm một số tiêu chí khác, ví dụ như tiêu chí về dịch vụ KH&CN.  Lâu nay việc triển khai thực hiện Nghị định 115 về tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các viện nghiên cứu gặp nhiều khó khăn vì không ít viện tự coi mình thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản nên không thể sống thiếu nguồn kinh phí tài trợ của Nhà nước. Liệu khi triển khai công tác đánh giá các tổ chức KH&CN chúng ta có thể làm rõ về bản chất thực sự của các viện này?  TS. Trần Hậu Ngọc: Việc đánh giá các tổ chức KH&CN có thể giúp xác định được tính chất của từng viện nghiên cứu, làm cơ sở để các cơ quan quản lý tham khảo và đưa ra những  giải pháp quản lý phù hợp. Đây là vấn đề ảnh hưởng tới quyền lợi của nhiều viện nghiên cứu, nhưng là điều cần thiết để cải thiện tính hiệu quả trong công tác quản lý của Nhà nước.  Việc đánh giá các tổ chức KH&CN khi triển khai sẽ gặp những khó khăn, thách thức gì?  Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Khó khăn rõ ràng nhất là chúng ta có quá nhiều tổ chức KH&CN, không thể ngay lập tức triển khai đồng loạt mà bước đầu chỉ có thể làm thí điểm ở một số ngành. Khó khăn thứ hai là hiện nay đa số các tổ chức nghiên cứu không có trong tay dữ liệu để cung cấp phục vụ công tác đánh giá, – nếu không có dữ liệu thì việc đánh giá hoàn toàn không có ý nghĩa. Như đã đề cập, các nhà quản lý và các viện nghiên cứu của chúng ta chỉ chú trọng vào quản lý đầu vào là con người và tài chính, còn khâu đầu ra là các kết quả nghiên cứu thì chưa được quan tâm, do đó dữ liệu về kết quả nghiên cứu không được  thu thập và khai thác  một cách hệ thống.  Khó khăn cơ bản nữa là làm sao tạo động lực để các tổ chức KH&CN tự giác phối hợp trong công tác đánh giá.    Vậy chúng ta tạo động lực để các tổ chức KH&CN hợp tác trong công tác đánh giá bằng cách nào?  Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Trước hết việc đánh giá phải được thực hiện  công bằng, khách quan  và kết quả đánh giá có giá trị hữu ích để giúp các tổ chức KH&CN tự nhìn thấy điểm mạnh, điểm yếu của mình, làm cơ sở cho việc tự cải thiện hoạt động, tổ chức của họ. Bên cạnh đó, công tác đánh giá phải mang tính ràng buộc, gắn với chế tài thưởng phạt minh bạch, rõ ràng.          Việc đánh giá các tổ chức KH&CN có thể giúp xác định được tính chất của từng viện nghiên cứu, làm cơ sở để các cơ quan quản lý tham khảo và đưa ra những  giải pháp quản lý phù hợp.           Theo tinh thần Luật KH&CN hiện hành, kết quả đánh giá các tổ chức KH&CN là cơ sở cho việc xét duyệt các nhiệm vụ KH&CN. Nhưng không ít các tổ chức KH&CN của chúng ta đang sống dựa trên nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên do Nhà nước tài trợ thay vì các nhiệm vụ KH&CN, như vậy kết quả đánh giá có thể dẫn tới chế tài thưởng phạt nào dành cho họ?  TS. Trần Hậu Ngọc: Hiện nay Bộ KH&CN đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng một cơ chế tài chính mới cho các tổ chức KH&CN, trong đó nguồn kinh phí tài trợ của Nhà nước không căn cứ theo số lượng biên chế mà chỉ căn cứ trên kết quả hoạt động. Ngoài ra, với những tổ chức KH&CN có tính chất đặc thù với nguồn tài chính chủ yếu là kinh phí hoạt động thường xuyên tính theo đầu biên chế do Nhà nước tài trợ, việc đánh giá vẫn có thể áp dụng cho những đối tượng này và nếu kết quả đánh giá cho thấy họ hoạt động không hiệu quả thì đó có thể là cơ sở để các cơ quan chủ quản cấp trên đưa ra những giải pháp can thiệp, điều chỉnh cần thiết.   Dự kiến khi nào thì việc đánh giá tổ chức KH&CN sẽ bắt buộc áp dụng cho tất cả các tổ chức KH&CN công lập?  TS. Trần Hậu Ngọc: Theo tinh thần Luật KH&CN hiện hành, các tổ chức KH&CN phải được đánh giá để phục vụ công tác quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay các cơ quan quản lý KH&CN vẫn chưa có qui định cụ thể về chu kỳ đánh giá của các tổ chức KH&CN. Vấn đề này, Ban Soạn thảo thông tư qui định việc Đánh giá tổ chức KH&CN đang nghiên cứu để kiến nghị các cấp có thẩm quyền quyết định.     Khi tiến hành triển khai đánh giá tổ chức KH&CN, làm cách nào để đảm bảo công tác này diễn ra một cách công bằng và khách quan?   Bà Nguyễn Thị Thu Oanh: Kết quả đánh giá phải công khai, (tuy nhiên để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, thường không công bố cụ thể ý kiến đánh giá của ai). Đồng thời cần có sự đồng thuận về kết quả  đánh giá giữa cơ quan thực hiện đánh giá và tổ chức bị đánh giá. Đối tượng  bị đánh giá phải có quyền phản hồi , chỉ ra những nội dung đánh giá chưa phù hợp, thiếu khách quan. Tương tự như vậy, trong quá trình xây dựng các tiêu chí và phương pháp đánh giá, chúng tôi cũng lấy ý kiến từ các tổ chức KH&CN và triển khai đánh giá thử ở một số tổ chức nghiên cứu.  Công tác đánh giá sẽ phải bắt đầu từ đâu?  Bà Nguyễn Thị Thu Oanh:  Theo tôi, trước mắt các viện nghiên cứu của một số ngành trọng điểm sẽ được hướng dẫn để tiến hành tự đánh giá, sau khi việc tự đánh giá này đã trở nên quen thuộc và đi vào nề nếp thì chúng ta mới có thể triển khai đánh giá độc lập và trên diện rộng. Chúng ta có thể thử nghiệm công tác đánh giá và chế tài thưởng phạt  qua nguồn kinh phí phân bổ ở một số viện nghiên cứu lớn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các viện nghiên cứu có kết quả hoạt độngtốt luôn muốn được đánh giá để thể hiện năng lực của mình.  Xin trân trọng cảm ơn ông, bà.                                                                    THANH XUÂN  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam      Đánh giá tổ chức nghiên cứu là việc phân tích một cách hệ thống hiệu quả hoạt động, điểm mạnh, điểm yếu, và lợi ích mà các tổ chức nghiên cứu mang lại cho khoa học và kinh tế – xã hội. Đây là công tác rất cần thiết để các tổ chức nghiên cứu tự cải thiện mình, đồng thời giúp các nhà quản lý nhận biết tình trạng hoạt động của các tổ chức nghiên cứu, xác định được đâu là những tổ chức hoạt động hiệu quả hoặc không hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay Việt Nam còn rất hạn chế cả về kinh nghiệm và năng lực trong công tác này.     Mỗi quốc gia đều có phương pháp riêng trong việc tổ chức đánh giá các tổ chức nghiên cứu của họ. Một vài quốc gia ưu tiên đánh giá trên quy mô rộng, một số khác lại không muốn đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực vào công việc này. Nhìn chung, những phương pháp tốn ít công sức không cung cấp được nhiều thông tin có độ tin cậy cao về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải thiện và những tiềm năng của tổ chức nghiên cứu. Những phương pháp đòi hỏi nhiều công sức, nguồn lực, và thời gian đánh giá thường đem lại thông tin đáng tin cậy hơn và đầy đủ hơn về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải tiến và tiềm năng của tổ chức.      Lựa chọn phương pháp đánh giá tổ chức nghiên cứu      Phương pháp bình duyệt (peer review): những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu của một tổ chức nghiên cứu sẽ đến thăm tổ chức từ 1-3 ngày. Trước đó tổ chức phải chuẩn bị tất cả các dữ liệu cần thiết. Hai bên sẽ thảo luận về chiến lược KH&CN, cách thức hoạt động, quản lí, kết quả hoạt động, v.v, của tổ chức. Thông tin và kết luận từ buổi làm việc là cơ sở để nhóm bình duyệt chuẩn bị một bản báo cáo đánh giá bao gồm các nội dung thu thập được và những ý kiến đánh giá. Lợi thế của phương pháp này là tốn ít thời gian và cơ quan đánh giá tận dụng được kiến thức của các chuyên gia. Tuy nhiên, các chuyên gia phải là người có kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực được đánh giá. Do phương pháp này thường không áp dụng đánh giá định lượng nên không thể xếp hạng các tổ chức theo thứ tự.     Có 2 cách để tổ chức bình duyệt. Cách thứ nhất là mỗi lần tổ chức bình duyệt thì mời các chuyên gia khác nhau tham gia thực hiện. Tuy nhiên, những tổ chức như Hiệp hội Max-Planck lại có xu hướng thành lập các ủy ban tư vấn đánh giá là những chuyên gia cố định, thường xuyên tham gia các buổi đánh giá định kỳ. Lợi ích của việc mời chuyên gia cố định là các thành viên sẽ hiểu rõ hơn về các viện và có điều kiện để xem xét các khuyến nghị từ những lần đánh giá trước đó đã được thực hiện hiệu quả như thế nào.             Ở Đức, không có một quy định nào của Nhà nước về đánh giá viện nghiên cứu. Mỗi tổ chức nghiên cứu lựa chọn phương pháp đánh giá riêng cho mình.              Một ví dụ điển hình là tổ chức nghiên cứu cơ bản hàng đầu ở Đức, MaxPlanck-Society, với hơn 80 viện và ngân sách năm 2011 đạt hơn 1,7 tỉ Euro. Để đánh giá liên tục hiệu quả hoạt động khoa học của các viện thuộc tổ chức này, mỗi năm có khoảng 35-40 cuộc bình duyệt được triển khai. Những cuộc bình duyệt này được thực hiện bởi hội đồng khoa học bao gồm các chuyên gia được mời từ bên ngoài, được thiết lập cho mỗi viện. Các hội đồng khoa học đến thăm và đánh giá hoạt động của các viện. Để chuẩn bị cho những buổi đánh giá tại chỗ, viện phải chuẩn bị một bản báo cáo tình hình cụ thể, miêu tả các chiến lược và kết quả hoạt động khoa học, cơ sở hạ tầng, tình hình nguồn nhân lực của viện, cung cấp tài liệu chi tiết.          Phương pháp đánh giá audit (evaluation audit): là phương pháp sử dụng đội ngũ các chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp thực hiện đánh giá. Loại đánh giá này sử dụng các phương pháp luận đánh giá tiêu chuẩn cao cùng với các bảng câu hỏi, bộ dữ liệu, báo cáo phân tích và các mẫu biểu để thuyết trình về kết quả đánh giá. Lợi ích của phương pháp này là không tốn nhiều công sức nhưng đưa lại kết quả có độ tin cậy, cho phép đo lường, so sánh hiệu quả làm việc giữa các viện khác nhau.      Phương pháp tự đánh giá (self-assessment): Các tổ chức được cung cấp một mẫu hướng dẫn tự đánh giá và hoàn thiện mẫu này, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để chứng minh cho những đánh giá mà tổ chứcđưa ra. Lợi ích của phương pháp này là không tốn nhiều công sức của cơ quan đánh giá, tuy nhiên kết quả thu được chỉ thực sự hữu ích khi tổ chức cung cấp thông tin đáng tin cậy và thực hiện tự đánh giá một cách nghiêm túc.     Hai tiêu chuẩn – chín yếu tố     Cách thức quản lý các tổ chức nghiên cứu và cấu trúc KH&CN của Việt Nam khác với các nước phương Tây nên để phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, những phương pháp này cần phải được điều chỉnh cho phù hợp, ví dụ: rất nhiều dữ liệu được sử dụng để đánh giá ở các nước phát triển không phù hợp khi áp dụng ở Việt Nam. Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý ở các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia đánh giá và các bên liên quan khác cần thời gian để làm quen với phương pháp đánh giá và học cách áp dụng công cụ này một cách hiệu quả.     Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ  đã phân tích các phương pháp luận được sử dụng ở các quốc gia khác và phối hợp với các chuyên gia CHLB Đức xây dựng  phương pháp đánh giá và thực hiện đánh giá thí điểm bốn tổ chức nghiên cứu đầu tiên trong năm 2013. Kết quả thực tiễn cho thấy Việt Nam không thể lặp lại bất kì một phương pháp luận đánh giá nào của các nước khác, mà cần phải có phương pháp luận riêng của mình. Phương pháp luận đó phải đáp ứng được những điều kiện sau: 1) Có tính thực tế, đơn giản và dễ thực hiện; 2) Phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội, khung hành chính và chính trị của Việt Nam. Do vậy, Viện đã xây dựng phương pháp luận dựa trên ý tưởng một tổ chức nghiên cứu hoạt động hiệu quả phải đạt được chín yếu tố thành công. Nếu một tổ chức hoàn thành tốt tất cả các yếu tố đó, tổ chức có kết quả hoạt động tốt, tạo ra những kết quả có giá trị, có chiến lược và nguồn lực mạnh. Mức độ đạt được của chín yếu tố thành công này được đo lường theo các tiêu chí cụ thể. Kết quả của tất cả các tiêu chí được tổng hợp và đưa ra một thang đo hiệu quả  hoạt động tổng thể của tổ chức. Phương pháp này cho phép nhận định những điểm mạnh, điểm yếu, yêu cầu cải tiến, nhưng đồng thời cũng cho phép đo lường định lượng hiệu quả hoạt động  và so sánh với các tổ chức khác, chín yếu tố cụ thể như sau.     Chiến lược phát triển      Mục tiêu là đánh giá liệu tổ chức có làm đúng các nhiệm vụ nghiên cứu không, có tổ chức thực hiện một cách hệ thống để phát huy hết khả năng, năng lực và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả không? Tổ chức được đánh giá phải trình bày các tài liệu, văn bản giải thích chiến lược nghiên cứu và các kế hoạch phát triển năng lực, tiềm lực của tổ chức. Các chuyên gia sẽ xem xét chiến lược này để thẩm định tính hợp lý và khả thi.      Hiệu quả hoạt động và đầu ra nghiên cứu khoa học     Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có tạo ra các kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị không. Tiêu chuẩn quốc tế  đo lường các kết quả này là các ấn phẩm khoa học và sự công nhận từ các nhà nghiên cứu khác (ví dụ: bằng sự trích dẫn).       Hiệu quả hoạt động và đầu ra công nghệ     Mục đích là đánh giá xem tổ chức có tạo ra  những công nghệ có giá trị và hữu ích đối với kinh tế và xã hội không, hay có chuyển giao những công nghệ đó một cách hiệu quả và thương mại hóa chúng thành công không. Với những quốc gia có hệ thống KHCN phát triển, thường thì số bằng sáng chế của tổ chức được sử dụng để đánh giá đầu ra công nghệ. Nhưng cách đánh giá này không thể sử dụng được ở Việt Nam, vì số bằng sáng chế được đăng ký ở Việt Nam vẫn còn rất ít, và các nhà nghiên cứu thường không đăng ký bằng sáng chế cho sáng chế của mình. Vì thế cần xem xét thêm các dữ liệu khác, như nguồn thu mà tổ chức đạt được hằng năm từ việc bán hay cấp phép công nghệ của tổ chức đó (bởi vì chỉ khi nào tổ chức tạo ra nhiều công nghệ và có giá trị cao mới có thể tìm được khách hàng sẵn sàng chi trả).       Dịch vụ KH&CN      Mục đích là để đánh giá liệu tổ chức có cung cấp các dịch vụ có giá trị dựa trên năng lực chuyên môn của mình, ví dụ như kiểm tra và đo lường các dịch vụ kỹ thuật, đề xuất các giải pháp hoặc ý kiến tư vấn (một loại dịch vụ KH&CN điển hình là tư vấn cho các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách), v.v. Cách đánh giá đơn giản các dịch vụ KH&CN của tổ chức, ví dụ là số lượng và loại hình dịch vụ đã cung cấp (tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách, tư vấn cho các doanh nghiệp, v.v…) và/hoặc thu nhập hằng năm từ các dịch vụ như vậy.       Đào tạo, giảng dạy     Mục đích là đánh giá xem tổ chức có thực hiện công tác đào tạo (thường là đào tạo sau đại học) cho sinh viên và/hoặc tổ chức các khóa đào tạo cho các bên liên quan khác (ví dụ như cho lãnh đạo doanh nghiệp hay chính phủ). Cách đánh giá là xem xét số lượng học viên là nghiên cứu sinh Thạc sĩ và Tiến sĩ đang được đào tạo, số lượng tốt nghiệp hằng năm, số lượng khóa đào tạo và/hoặc các cán bộ đã qua đào tạo.       Nguồn nhân lực      Mục đích là để đánh giá xem đội ngũ cán bộ khoa học của tổ chức có đủ năng lực, kiến thức khoa học và trình độ cần thiết để tiến hành các nghiên cứu hiện đại hay không. Một phương pháp đánh giá điển hình trình độ của cán bộ là bằng cấp được chứng nhận (ví dụ như % Tiến sĩ và Thạc sĩ, % cán bộ tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng ở nước ngoài, v.v…). Phương pháp đánh giá cơ cấu nguồn nhân lực là xem xét tỉ lệ của Giáo sư,  Phó giáo sư, Tiến sĩ và Thạc sĩ, tỉ lệ cán bộ làm nghiên cứu trên tổng số cán bộ và độ tuổi của họ…       Trang thiết bị khoa học và cơ sở hạ tầng     Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có những trang thiết bị khoa học hiện đại cần thiết để thực hiện các nghiên cứu tiên tiến nhất và liệu cơ sở hạ tầng khoa học của tổ chức (ví dụ như phòng thí nghiệm, thông tin, tài liệu khoa học…) và cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị, vv…) có đầy đủ không. Điều này có thể được đánh giá tốt nhất bởi những nhà khoa học cùng ngành. Các chỉ số hữu ích để đánh giá bao gồm tuổi thọ trung bình của thiết bị, khấu hao hằng năm, kinh phí để duy trì bảo dưỡng  hoặc hiện đại hóa trang thiết bị.      Tài chính     Mục đích là đánh giá xem nguồn kinh phí của tổ chức có đủ để thực hiện các nhiệm vụ và cơ cấu kinh phí có phù hợp không (ví dụ: tổ chức có được đảm bảo kinh phí chi thường xuyên, có tạo được nguồn thu từ các đề tài, dự án, từ việc chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ không, v.v…?)              Ai thực hiện việc đánh giá?              Một số quốc gia thành lập các tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp, ví dụ như Trung tâm đánh giá KH&CN Trung Quốc – NCSTE hay Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp – AERES. Một số tổ chức nghiên cứu cũng đã thành lập các đơn vị của riêng mình chuyên trách việc đánh giá, ví dụ đơn vị đánh giá thuộc Viện Nghiên cứu khoa học công nghiệp và công nghệ cao quốc gia Nhật Bản (AIST), tuy nhiên các đơn vị chuyên trách này cũng thường xuyên mời các chuyên gia bên ngoài tham gia đánh giá để đảm bảo tính công bằng, khách quan.            Hợp tác và quốc tế hóa      Mục đích là đánh giá xem tổ chức có hợp tác đầy đủ với các nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam và nước ngoài, có tham gia thực hiện các dự án nghiên cứu cũng như trao đổi với các nhà nghiên cứu quốc tế để hoàn thiện nghiên cứu không. Cũng cần xem xét liệu tổ chức có hợp tác hiệu quả với những người sử dụng kết quả nghiên cứu (ví dụ với các doanh nghiệp) để đảm bảo rằng kết quả nghiên cứu là hữu ích và chúng được chuyển giao thành công không. Các phương pháp điển hình để đánh giá mức độ hợp tác của tổ chức bao gồm số lượng và mức độ của sự hợp tác với các nhà nghiên cứu khác (đánh giá theo mức độ hợp tác: các thỏa thuận chính thức và các dự án hợp tác có tầm quan trọng cao hơn những cuộc thăm viếng ngắn hạn), số lượng và quy mô của của các thỏa thuận hợp tác chính thức với các doanh nghiệp, v.v… Phương pháp điển hình đánh giá mức độ quốc tế hóa của tổ chức là số lượng và thời gian làm việc của cán bộ thuộc tổ chức tại các viện nghiên cứu ở nước ngoài hoặc của các nhà nghiên cứu nước ngoài làm việc tại tổ chức, nguồn thu đạt được từ các dự án quốc tế hằng năm, thành viên các hiệp hội và mạng lưới nghiên cứu quốc tế,…     Về cơ bản, chín yếu tố kể trên có thể được sử dụng để đánh giá tất cả các loại hình tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên, khi áp dụng cần phải điều chỉnh phù hợp với từng loại tổ chức dựa trên bản chất hoạt động và lĩnh vực nghiên cứu của họ. Ví dụ, nếu đánh giá tổ chức nghiên cứu cơ bản, kết quả nghiên cứu khoa học là đầu ra quan trọng nhất, nhưng đối với tổ chức nghiên cứu ứng dụng thì cần chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ mới và nguồn thu từ việc thương mại hóa chúng.     Quy trình triển khai     Để đánh giá chín yếu tố kể trên, chúng ta sẽ sử dụng nhiều tiêu chí, bao gồm cả định tính và định lượng.     Đánh giá định lượng được sử dụng để đo lường việc đáp ứng các tiêu chí bằng cách tính điểm. Các tổ chức nghiên cứu được đánh giá theo thang điểm từ 1 (là khi kết quả hoạt động kém, không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ) tới 5 (là khi kết quả hoạt động xuất sắc, có thể so sánh với đẳng cấp cao của thế giới)     Tổng điểm của tổ chức được tính bằng cách cộng trung bình điểm đạt được của chín yếu tố được đánh giá. Để tính toán theo tầm quan trọng khác nhau, điểm số của từng yếu tố được tính theo trọng số. Trọng số này khác nhau đối với từng loại viện khác nhau, ví dụ: với tổ chức nghiên cứu cơ bản, đầu ra khoa học (ấn phẩm khoa học) có trọng số cao nhất, nhưng với tổ chức nghiên cứu ứng dụng, đầu ra công nghệ (sáng chế) có trọng số cao nhất.                       Đánh giá định tính được thực hiện khi chuyên gia đánh giá đưa ra những bình luận để giải thích điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu cải thiện cho từng lĩnh vực đánh giá. Những giải thích định tính này rất quan trọng với ban lãnh đạo tổ chức bị đánh giá, giúp họ hiểu được cách nâng cao kết quả hoạt động của đơn vị mình.     Nhóm đánh giá từ bên ngoài sẽ trình bày kết quả đánh giá với ban lãnh đạo của tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Cả hai bên thảo luận kết quả và đi đến thống nhất trước khi nhóm đánh giá bên ngoài xây dựng báo cáo cuối cùng. Để kết quả đánh giá cuối cùng có hiệu lực, dự thảo báo cáo cuối cùng phải được thảo luận với tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Tổ chức có thể đưa ra phản hồi và trình bày quan điểm của mình và nếu không đồng ý với ý kiến của chuyên gia đánh giá thì những điểm khác biệt sẽ được thảo luận cho tới khi cả hai bên đi đến thống nhất.             Ví dụ về một tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp: Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp – AERES                AERES được thành lập căn cứ theo điều luật về các chương trình nghiên cứu ở Pháp  năm 2006 và đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2007. Luật này cho phép AERES thực hiện những nhiệm vụ sau:               Đánh giá các tổ chức và viện nghiên cứu, viện đào tạo đại học, các quỹ và tổ chức hợp tác khoa học, các viện và cục nghiên cứu quốc gia Pháp;              Đánh giá các hoạt động nghiên cứu được thực hiện bởi những đơn vị nghiên cứu trên. AERES trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện đánh giá với sự hỗ trợ của những tổ chức nghiên cứu sử dụng những quy trình được AERES chấp nhận;              Đánh giá chương trình giảng dạy của các viện đào tạo đại học;              Phê duyệt các quy trình đánh giá cán bộ của các viện và tổ chức nghiên cứu, đưa ý kiến về tình hình thực hiện những quy trình đó.              Năm 2012, kinh phí hoạt động của AERES là 12 triệu EURO, với 71 cán bộ biên chế, 125 cán bộ khoa học làm kiêm nhiệm (các cán bộ nghiên cứu, giáo sư) và 1738 chuyên gia bên ngoài làm việc theo các dự án đánh giá. Trong năm 2011-2012, AERES đã đánh giá 5 viện nghiên cứu lớn, 222 đơn vị nghiên cứu và hơn 800 chương trình giáo dục đại học.          Báo cáo đánh giá cuối cùng sẽ được hoàn thiện và đệ trình cho các cơ quan liên quan, trong đó cung cấp những thông tin chi tiết về kết quả hoạt động thực tế của tổ chức và mức độ hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao; điểm mạnh và điểm yếu thực tế của tổ chức; cơ hội để nâng cao kết quả hoạt động khoa học và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở báo cáo này, các Bộ và các cơ quan quản lý biết về kết quả hoạt động và tiềm năng của tổ chức nghiên cứu, đồng thời bản thân tổ chức nghiên cứu cũng nhận ra những cải cách cần thiết để giúp tổ chức mình trở nên mạnh hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn.     Để đảm bảo công tác đánh giá tổ chức nghiên cứu được thực hiện hiệu quả và có chất lượng, việc đánh giá phải được lập kế hoạch và thực hiện bởi các chuyên gia đánh giá có kinh nghiệm, do vậy chúng ta cần phải xây dựng và phát triển năng lực và trình độ đánh giá, hình thành cơ sở pháp lý, xây dựng hướng dẫn, các mẫu biểu đánh giá. Đồng thời các tổ chức nghiên cứu cần nhận thức đúng về lợi ích của việc đánh giá để có sự hợp tác, phối hợp, trao đổi tối đa với các chuyên gia đánh giá, bởi công tác đánh giá chỉ có thể thực hiện được nếu tất cả các bên tham gia đều hợp tác và cung cấp các thông tin, dữ liệu cần thiết, và cùng biết cách sử dụng kết quả đánh giá.             Đánh giá các viện nghiên cứu Chính phủ ở Hàn Quốc              Văn phòng Thủ tướng Chính phủ bắt đầu thực hiện đánh giá viện nghiên cứu Chính phủ (GRIs) lần đầu tiên năm 1991. Dựa trên kết quả của những đánh giá này, một vài viện nghiên cứu chính phủ đã phải giải thể, tái cơ cấu hoặc hợp nhất. Từ năm 1999 đến năm 2005, có 4 hội đồng nghiên cứu được thành lập. Mỗi hội đồng thực hiện đánh giá viện nghiên cứu chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu của họ.              Kể từ năm 2006, Hàn Quốc giới thiệu một hệ thống đánh giá viện nghiên cứu chính phủ dựa trên hiệu quả hoạt động, theo đó việc hoàn thành các nhiệm vụ,  mục tiêu, công tác quản lý của mỗi viện nghiên cứu chính phủ đều được đánh giá. Việc cấp kinh phí hoạt động cho các viện có thể tăng hoặc giảm dựa trên kết quả của những đánh giá này.          Trong bối cảnh chúng ta không có đủ chuyên gia có khả năng áp dụng các phương pháp phức tạp và tinh vi, các tổ chức KH&CN và những đối tác khác cũng chưa quen tham gia vào các công việc đánh giá, chúng ta nên bắt đầu đánh giá theo những cách thức thiết thực và đơn giản, có thể dễ dàng thực hiện trong khả năng hiện có. Các phương pháp tinh vi hơn có thể được thực hiện sau này khi đã có nhiều kinh nghiệm.  Đọc thêm:  * Đánh giá các tổ chức KH&CN: Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7700  * Cải thiện hiệu quả các viện nghiên cứu bắt đầu từ việc làm rõ tiêu chí đánh giá  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7692    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá định lượng ấn phẩm nghiên cứu khoa học      Bài viết này trao đổi một vấn đề thời sự của phát triển khoa học về đánh giá các ấn phẩm khoa học, sản phẩm chính của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.    1. Giới thiệu  Các hoạt động liên quan đến khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất, trong đó hoạt động nghiên cứu được chia thành ba loại hình được thừa nhận rộng rãi, gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển. Nghiên cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu cơ bản khác, như việc chứng minh ức đoán Poincaré trong toán học hay việc tìm các genes gây ra bệnh tật trong y học. Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra tri thức để làm các ứng dụng đặt ra từ thực tế như việc tìm cách làm ra nước ngọt ở vùng. Nghiên cứu phát triển nhằm tìm ra tri thức sản xuất trong việc làm các sản phẩm cụ thể, như việc làm một hệ nhận dạng tiếng Việt hay việc một công ty dược phẩm nghiên cứu tìm cách chế ra một loại thuốc mới.  Ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến, nghiên cứu phát triển thường chiếm tỷ lệ khoảng hai phần ba toàn bộ hoạt động và kinh phí nghiên cứu, là loại hình nghiên cứu chủ yếu của các doanh nghiệp và thường có tỷ lệ cao nhất ở các viện nghiên cứu. Kết quả của loại nghiên cứu này tiềm ẩn trong các sản phẩm hoặc dưới dạng các đăng ký phát minh. Trong khi đó nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là các loại hình chủ yếu của đại học và có tỷ lệ cao ở các viện nghiên cứu, có kết quả chủ yếu ở dạng các ấn phẩm khoa học. Hình bên nêu một thí dụ về tỷ lệ kinh phí đầu tư cho các loại hình nghiên cứu phân theo các tổ chức tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ tại Nhật Bản trong năm 2005 [5]. Nghiên cứu phát triển ở ta có tỷ lệ còn thấp do phần lớn các doanh nghiệp chưa đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ, và sâu xa hơn do ta hầu như chưa có công nghiệp chế tạo.                       Bài viết này trao đổi một vấn đề thời sự của phát triển khoa học về đánh giá các ấn phẩm khoa học, là sản phẩm chính của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng (chủ yếu là các bài báo, ngoài ra là sách chuyên khảo, báo cáo kỹ thuật, …).  Kết quả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của một cá nhân, một đại học hay viện nghiên cứu, … được đánh giá bởi số lượng ấn phẩm và chất lượng của chúng. Số lượng các ấn phẩm khoa học có thể đếm được khá dễ, nhưng đánh giá chất lượng của chúng lại không đơn giản. Có hai phương pháp đánh giá các ấn phẩm khoa học. Một là đánh giá chủ quan qua một hệ thống bình duyệt bởi con người (peer review), và hai là đánh giá khách quan dựa trên các độ đo được tính toán tự động. Đánh giá chủ quan bởi hệ thống bình duyệt của con người, còn gọi đánh giá định tính, có thể cho phân tích sâu và xác đáng nhưng tốn kém tiền bạc, cần nhiều thời gian, và phụ thuộc nhiều vào chủ quan và hiểu biết của người đánh giá. Đánh giá khách quan, còn gọi đánh giá định lượng, dựa trên các độ đo (metrics) xác định từ các nguồn dữ liệu khoa học, được thực hiện tự động nên nhanh và rẻ, cung cấp những thông tin hữu ích, nhưng cũng còn dễ bị hiểu sai và dùng sai.  Ba độ đo đánh giá định lượng đang được dùng phổ biến gồm chỉ số trích dẫn (citation index) cho các ấn phẩm khoa học, hệ số ảnh hưởng (impact factor) cho các tạp chí, và gần đây là chỉ số H (h-index) cho các nhà khoa học. Cần chú ý là chỉ gần đây các độ đo này mới có thể tính được tự động do tiến bộ của công nghệ thông tin, đặc biệt là Web. Thêm nữa, cả hệ số ảnh hưởng và chỉ số H đều được định nghĩa dựa trên chỉ số trích dẫn (citation-based metrics), do đó mang theo mọi hay dở của chỉ số trích dẫn. Việc hiểu rõ những điểm hay và hạn chế của các độ đo định lượng đang được bàn luận nhiều trên báo chí khoa học quốc tế, được quan tâm trong giới khoa học ở nhiều nước phát triển. Hiện nay nhiều tổ chức và quốc gia có xu hướng dùng các phương pháp đánh giá định lượng, khách quan để bổ sung hoặc là cách thông dụng thay cho đánh giá định tính, chủ quan.   Bài báo này giới thiệu ba độ đo tiêu biểu kể trên, cung cấp các thông tin chọn lọc quan trọng để hiểu chúng, nhấn mạnh những đặc điểm cần chú ý và nêu một số ý kiến bàn luận.  2. Về các độ đo  2.1  Chỉ số trích dẫn  Chỉ số trích dẫn (citation index) của một ấn phẩm, do Eugene Garfield đề xuất năm 1955, là số lần ấn phẩm này được trích dẫn, được tham khảo trong tất cả các ấn phẩm khác [7]. Từ đó đến nay, chỉ số trích dẫn đã được dùng làm một độ đo quan trọng để đánh giá các công trình nghiên cứu, là cơ sở để định nghĩa các độ đo khác cho các tạp chí và nhà khoa học. Câu hỏi có thể làm ta ngạc nhiên là tại sao một chỉ số đơn giản như vậy lại được dùng rộng rãi cho đến nay để đo chất lượng và giá trị các công trình khoa học? Có thể nói chỉ số trích dẫn được “tin dùng” do dựa trên một giả định được thừa nhận rộng rãi, là các nhà khoa học có ảnh hưởng hơn, các công trình quan trọng và có giá trị sử dụng hơn thường được trích dẫn nhiều hơn. Nói nôm na, chỉ số trích dẫn đo mức độ “hữu xạ tự nhiên hương” của các ấn phẩm.                   Đặc điểm đáng chú ý nhất là chỉ số trích dẫn chỉ có ý nghĩa so sánh trong từng ngành khoa học.   Điều đã biết này được khảo sát định lượng gần đây qua thống kê số lần trích dẫn trung bình của các bài báo trong các ngành khoa học. Theo [1], các bài báo trong các ngành khoa học về sự sống (life sciences, như sinh học phân tử và tế bào, y sinh học) có trung bình khoảng 6 trích dẫn, trong vật lý và hóa học khoảng 3 trích dẫn, trong toán học, tin học và khoa học xã hội khoảng 1 trích dẫn (hình vẽ). Theo các số liệu thống kê trên −để có một định ý và giả sử số trích dẫn trong các ngành tăng một cách tuyến tính− trong một chừng mực nào đấy có thể xem bài báo ngành toán có trích dẫn mười lần là được trích dẫn nhiều trong ngành này như một bài trong ngành vật lý được trích dẫn khoảng ba chục lần hay một bài trong ngành khoa học sự sống được trích dẫn khoảng sáu chục lần.  Có nhiều lý do dẫn đến sự khác biệt lớn như vậy giữa các ngành về chỉ số trích dẫn của các ấn phẩm khoa học, mà chủ yếu do khác biệt về “văn hóa ngành”. Văn hóa này phụ thuộc vào bản chất khoa học, cách làm và cách công bố nghiên cứu. Trong khi cần những nghiên cứu nghiêm túc về khác biệt chỉ số trích dẫn trung bình giữa các ngành, người viết nêu ý kiến riêng của mình dưới đây và cho rằng mỗi người đọc nên thử tự lý giải điều này. Các nghiên cứu thực hiện trên các ý tưởng trừu tượng, lập luận và tính toán như trong toán học, vật lý lý thuyết hoặc tin học, thường ít liên quan, ít “dựa” hơn vào các nghiên cứu khác cùng lĩnh vực. Các nghiên cứu chủ yếu bằng thực nghiệm, thường cần nhiều liên hệ và so sánh với các nghiên cứu cùng lĩnh vực về phương pháp và kết quả, và do vậy khi khẳng định tính mới mẻ của kết quả và để thuyết phục cần đưa ra nhiều trích dẫn (chứng cớ) hơn.   Đặc điểm quan trọng thứ hai cần biết rõ là các chỉ số trích dẫn tính được từ các nguồn khác nhau thường khác nhau và có sai số.   Sau khi nêu khái niệm chỉ số trích dẫn, Garfild xây dựng Viện Khoa học Thông tin ISI (Institute for Scientific Information)−gần đây sát nhập vào tập đoàn Thomson Reuters− và thiết lập các cơ sở dữ liệu ISI, trong đó tiêu biểu là:  • Cơ sở dữ liệu Chỉ số Trích dẫn Khoa học SCI (Science Citation Index), từ 1964, hiện có 3773 tạp chí của 100 ngành và cơ sở dữ liệu SCIE (SCI mở rộng, Science Citation Index Expanded) với 8207 tạp chí của 150 ngành;   • Cơ sở dữ liệu Chỉ số Trích dẫn Khoa học Xã hội SSCI (Social Sciences Citation Index), từ 1973, hiện có 2697 tạp chí và 3500 công trình của 50 ngành;   • Cơ sở dữ liệu Chỉ số Trích dẫn Nghệ thuật và Nhân văn A&HCI (Arts & Humanities Citation Inde), từ 1978, hiện có 1470 tạp chí và 6000 công trình khác.   Ngoài ra, cũng cần kể đến cơ sở dữ liệu Chỉ số Trích dẫn Tuyển tập Hội nghị CPCI (Conference Proceedings Citation Index) chứa thông tin của hơn 110,000 tuyển tập hội nghị kể từ năm 1990 của 256 ngành thuộc về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn (chú ý là uy tín của các tạp chí ISI và hội nghị ISI khác nhau đáng kể). Các cơ sở dữ liệu ISI tuyển chọn các tạp chí ảnh hưởng nhất của các ngành. Từ 1997, bảy cơ sở dữ liệu ISI được chuyển lên mạng dưới tên Web of Science (http://isiwebofknowledge.com).       Quãng trên dưới mười năm trở lại đây, Web đã cho ra đời hơn 100 cơ sở dữ liệu và công cụ cho phép tìm kiếm chỉ số trích dẫn, như arXiv, CiteSeer, ScienceDirect, SciFinder Scholar, PubMed, … Trong số này, Scopus của Elsevier (http://info.scopus.com, từ 2004) và Google Scholar của Google (http://scholar.google.com, từ 2005) cùng với Web of Science đang là ba hệ phổ biến nhất [3]. Scopus chứa thông tin của 16.500 tạp chí, 600 ấn phẩm nghề nghiệp, 350 loạt sách chuyên khảo, khoảng 3,6 triệu bài báo từ hội nghị. Google Scholar chứa thông tin của hầu hết các tạp chí có thẩm định của các nhà xuất bản lớn tại châu Mỹ và châu Âu, các báo cáo kỹ thuật, luận văn, sách và nhiều loại tài liệu khác (Google Scholar không công bố danh sách các tạp chí của mình).   Cần lưu ý là chỉ số trích dẫn của mỗi ấn phẩm khoa học tính từ các nguồn kể trên thường khác nhau vì chúng có số lượng tạp chí, kỷ yếu hội nghị, … khác nhau. Một thí dụ là cuốn sách Quantum Computation and Quantum Information của M. Nielsen và I. Chuang (xuất bản năm 2000, Cambridge University Press). Tính đến năm 2007, từ Web of Science cuốn sách này được trính dẫn hơn 2800 lần, nhưng từ Scopus số trích dẫn là 3150, và từ Google Scholar có 4300 trích dẫn [14]. Một khảo sát khác phân tích chỉ số ảnh hưởng của 328 bài báo từ ba tạp chí y học hàng đầu trong thời gian 6 tháng của mười năm về trước [11]. Các tác giả chỉ ra số lượng trích dẫn của các bài báo này từ ba nguồn kể trên là rất khác nhau: từ Web of Science có 68.088 trích dẫn, từ Scopus có 82.076 trích dẫn và từ Google Scholar có 83.538 trích dẫn (gấp 1.226 lần so với Web of Science).   Các công cụ tìm kiếm (search engine) thường cho kết quả đúng về chỉ số trích dẫn của một bài báo trên một cơ sở dữ liệu cố định do tên của bài báo thường là duy nhất và xác định, nhưng không luôn cho kết quả đúng với các độ đo liên quan tới một tác giả cụ thể như tổng số trích dẫn hoặc số ấn phẩm của một tác giả có trích dẫn nhiều hơn một ngưỡng nào đó (như chỉ số H), do nhiều tác giả có thể có tên trùng nhau hoặc giống nhau khi viết tắt.  Có hai độ đo cơ bản về chất lượng của các công cụ tìm kiếm là độ chính xác (precision) và khả năng tìm hết (recall). Độ chính xác là tỷ lệ của số tài liệu tìm được và tìm đúng trên số tài liệu tìm được, còn khả năng tìm hết là tỷ lệ của số tài liệu tìm được và tìm đúng trên toàn bộ số tài liệu cần tìm. Các công cụ tìm kiếm hiện nay cho kết quả của hai độ đo này chưa cao. Trong việc tính hệ số trích dẫn, độ chính xác thấp chủ yếu do các hệ tìm kiếm tự động hiện chưa phân biệt được các tác giả có tên trùng nhau hay giống nhau, và khả năng tìm hết của các hệ còn thấp chủ yếu do các cơ sở dữ liệu hiện nay không có được tất cả các ấn phẩm có trích dẫn đến bài báo đang xem xét.   Độ chính xác khi tìm chỉ số trích dẫn của các tác giả có tên phổ biến nói chung thấp hơn của các tác giả có tên ít gặp. Thí dụ khi tìm trên Google Scholar tổng số bài được trích dẫn của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, ta gõ tên “Nguyen Anh Tuan” và hệ tìm được 100 bài báo có trích dẫn. Thường thì không phải tất cả 100 bài này đều của Nguyễn Anh Tuấn. Giả sử trong số 100 này chỉ đích thực có 60 trong số tất cả 80 bài có trích dẫn của Nguyễn Anh Tuấn, và trong số 40 bài còn lại có 5 bài của tác giả Nguyễn Ánh Tuấn, 35 bài của tác giả Nguyễn Anh Tuân. Khi này, độ chính xác về trích dẫn của Nguyễn Anh Tuấn do hệ tìm được là 60/100 = 0.6 và khả năng tìm hết là 60/80 = 0.75. Khi tìm trên Google Scholar chẳng hạn cho tác giả Khuất Phương Trưởng (Khuat Phuong Truong), độ chính xác thường sẽ cao hơn.    2.2 Hệ số ảnh hưởng của tạp chí  Hệ số ảnh hưởng (impact factor, viết tắt IF) của một tạp chí được định nghĩa, thừa nhận và dùng rộng rãi lâu nay. Hệ số này của một tạp chí thay đổi theo từng năm, và hệ số ảnh hưởng của một tạp chí T trong năm N được tính bằng tỷ số A/B, trong đó A là tổng số lần trích dẫn, tính trong tất cả các ấn phẩm của năm N, đến các bài đăng trên T trong hai năm liên tiếp ngay trước N, và B là tổng số các bài đăng trên T trong hai năm này. Nếu trong hai năm 2007 và 2008 tạp chí T đăng tất cả 100 bài báo, và có 250 lần các bài trong số 100 bài này của T được trích dẫn trong tất cả các bài ở các tạp chí, hội nghị, … của năm 2009, thì hệ số ảnh hưởng của T trong năm 2009 sẽ là 250/100 = 2,5. Tạp chí Physical Review Letters có IF năm 2009 là 7,180 có nghĩa là về trung bình mỗi bài báo của tạp chí này công bố năm 2007 và 2008 được trích dẫn 7,180 lần trong năm 2009. Người ta thường chỉ nói hệ số ảnh hưởng của một tạp chí và không nêu cụ thể một năm nào đấy. Nhưng thực ra hệ số này có thể thay đổi rất nhiều theo thời gian, thí dụ tạp chí Bioinformatics có IF theo ISI là 4,328 vào năm 2008, 4,894 năm 2007, 5,742 năm 2004, 6,701 năm 2003, 4,615 năm 2002, và 3,421 năm 2001.  Hệ số ảnh hưởng của tạp chí được dùng cho nhiều mục đích, như cho biết uy tín và sự phát triển của tạp chí, nhà khoa học chọn tạp chí gửi bài, nhà quản lý dùng để đánh giá hiệu quả nghiên cứu của các nhà khoa học, như cơ sở để xét biên chế, giải thưởng, cấp duyệt kinh phí. Hệ số ảnh hưởng của tạp chí còn được dùng để đánh giá các khoa, trường và viện nghiên cứu, đo hiệu quả khoa học của các quốc gia.   Điều đầu tiên cần biết rõ là hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng khác nhau giữa các ngành.  Chẳng hạn theo JCR (Journal Citation Reports) của Web of Science, vào năm 2008 tạp chí của ngành y có IF cao nhất là 74,575 (CA: A Cancer Journal for Clinicians của Hội Ung thư Mỹ), IF thứ nhì là 50,017 (The New England Journal of Medicine), … và IF thứ 100 cũng là 3,733 (Epilepsia, xếp thứ 739 trong toàn bộ tạp chí của JCR). Trong ngành toán lý thuyết, tạp chí có IF cao nhất là 3,806 (Communications on Pure and Applied Mathematics, xếp thứ 711 trong JCR), thứ nhì là 3,5 (Bulletin of the American Mathematical Society, xếp thứ 851 trong JCR) , … và thứ 100 là 0,584 (Monatshefte Fur Mathematik, xếp thứ 5248 trong JCR). Có sự khác biệt này là điều dễ hiểu, vì hệ số ảnh hưởng của tạp chí được tính dựa trên chỉ số trích dẫn của các bài báo của tạp chí, và như đã phân tích ở phần trên, chính sự khác biệt của “văn hóa ngành” đã tạo ra số trích dẫn rất khác nhau này.                   Trong [2], các tác giả khảo sát sự khác nhau của hệ số ảnh hưởng của tạp chí theo thời gian và giá trị IF trung bình của tạp chí trong các ngành. Hình bên trích từ [2] cho thấy hệ số ảnh hưởng trung bình của các tạp chí trong ngành sinh học phân tử và tế bào là 4,763, trong y học là 2,896, trong hóa học là 2,61, trong vật lý là 1,912, trong tin học và toán học tương ứng là 0,631 và 0,566. Một cách giải thích nôm na có thể chấp nhận trong một chừng mực nào đấy về những con số này là−giả sử IF tăng tuyến tính trong các ngành− một tạp chí có IF khoảng 9,5 trong ngành sinh học phân tử và tế bào có ảnh hưởng ở ngành này quãng như ảnh hưởng của một tạp chí có IF 6 trong ngành y (truyền thống), một tạp chí có IF 4 trong ngành vật lý hay một tạp chí có IF quãng 1,2 trong ngành toán và tin học.   Mặc dù được dùng rộng rãi lâu nay, cách tính hệ số ảnh hưởng của tạp chí có một số hạn chế [6], [14], tiêu biểu là:  • Hệ số ảnh hưởng của một tạp chí chỉ cho ta giá trị trung bình về ảnh hưởng của các bài báo trong tạp chí đó. Giá trị trung bình này thường bị ảnh hưởng rất nhiều bởi một số ít bài có trích dẫn cao (như các bài đánh giá tổng quan) hoặc bởi quá nhiều bài không có hoặc có trích dẫn thấp. Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng trong công thức tính hệ số ảnh hưởng IF, nếu các bài được xếp theo thứ tự của số trích dẫn, thì 15% bài báo đầu đóng góp 50% số trích dẫn, 50% bài đầu đóng góp 90% số trích dẫn, và các bài ở nhóm 50% đứng đầu có trích dẫn khoảng 10 lần hơn các bài ở nhóm 50%. Rõ ràng, hệ số ảnh hưởng của một tạp chí không phản ánh chính xác được ảnh hưởng của từng bài cụ thể đăng trong tạp chí này.  • Việc dùng trích dẫn trong thời gian 2 năm sau khi công bố (citation window) để tính IF là ngắn và sớm đối với một số ngành, tức công thức này chưa tính được hệ số ảnh hưởng thật của nhiều tạp chí (gần đây một vài hệ thống như JCR có đưa thêm vào hệ số ảnh hưởng tính trong thời gian 5 năm, ở đó hệ số ảnh hưởng của tạp chí trong một số ngành tăng lên và trong một số ngành giảm đi rõ rệt).   • Hệ số ảnh hưởng này chưa tính được đến những bài của một tạp chí được dùng nhưng không được trích dẫn.   • Hệ số ảnh hưởng của tạp chí biến động đáng kể từ năm này qua năm khác, biến động nhiều hơn ở các tạp chí nhỏ hơn (tuy hệ số ảnh hưởng hay được nói đến như một giá trị không đổi) [2]. Thí dụ tạp chí Bioinformatics kể trên có IF năm 2003 lớn gần gấp đôi IF năm 2001.  • Chỉ một phần nhỏ các tạp chí tham gia vào việc tính hệ số ảnh hưởng. Có tất cả khoảng trên 100 nghìn tạp chí các loại trên đời và các ấn phẩm ở bất kỳ tạp chí nào trong chúng cũng đều phải trích dẫn, nhưng các hệ cơ sở dữ liệu của ISI, Scopus, … chỉ chứa khoảng 10-15 nghìn tạp chí hàng đầu của các ngành. Thêm nữa, các tạp chí không xuất bản bằng tiếng Anh hoặc tạp chí của các ngành “thiểu số” cũng ít khả năng nằm trong số này, và do vậy việc tính chỉ số trích dẫn và hệ số ảnh hưởng rõ ràng chưa toàn vẹn.   Chính Campbell, trưởng ban biên tập của tạp chí danh giá Nature, cũng cho rằng nên quan tâm đến chính giá trị của bài báo hơn là việc bài báo được đăng ở đâu [6].  2.3 Chỉ số H  Nếu chỉ số trích dẫn được dùng để “đo” các bài báo và hệ số ảnh hưởng “đo” các tạp chí,  người ta còn muốn có những độ đo cho chính người làm nghiên cứu. Một cách là dựa trên số lượng các ấn phẩm và chất lượng của chúng qua chỉ số trích dẫn hoặc ảnh hưởng của nơi chúng được công bố. Một trong các độ đo là chỉ số H (h-index) đề nghị bởi nhà vật lý J.E. Hirsch vào năm 2005 [9], định nghĩa như sau: Một người có chỉ số H là N nếu đã xuất bản N bài báo có chỉ số trích dẫn ít nhất là N, và các bài còn lại có chỉ số trích dẫn nhiều nhất là N. Nếu một người công bố 40 bài báo, trong đó 9 bài có nhiều hơn 10 trích dẫn, 5 bài có 10 trích dẫn và 26 bài còn lại có ít hơn 10 trích dẫn, thì chỉ số H của người này là 10.  Ưu điểm cơ bản của chỉ số H là việc tính đến sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng các công trình của người làm nghiên cứu, và tính toán đơn giản (như hệ QuadSearch dựa trên Google Scholar khá dễ dùng http://delab.csd.auth.gr/~lakritid/index.php?lan=1&s=2). Với những ưu điểm này, chỉ số H nhanh chóng được dùng phổ biến. Tuy nhiên, có những đặc điểm của chỉ số H cần được nhận biết rõ.   • Chỉ số H dựa trên chỉ số trích dẫn, và do đó chịu ảnh hưởng của toàn bộ những hạn chế của chỉ số trích dẫn nêu ra ở phần trên. Trước hết do sự khác biệt về chỉ số trích dẫn ở các ngành, chỉ số H có ý nghĩa hơn với những người thuộc cùng một ngành và khi so sánh những người khác ngành cần chú ý đến sự khác biệt này. Thêm nữa cần chú ý rằng khi tính tự động chỉ số H, độ chính xác và khả năng tìm hết thường không cao. Do sự trùng tên họ của người châu Á khá phổ biến, những chỉ số H được tính ra (nếu không kiểm chứng kỹ) thường cao hơn giá trị thật.   • Chỉ số H đánh giá thành quả một nhà khoa học nhưng không phân biệt được sự đóng góp khác nhau của các tác giả trong một công trình. Đây là một chuyện không đơn giản. Trong [16], các tác giả phân ra bốn cách viết thứ tự tên tác giả trong các ấn phẩm khoa học: Một là theo thứ tự đóng góp do các tác giả xác định (quence-determined credit); Hai là theo thứ tự chữ cái của tên khi các tác giả xem đóng góp mọi người như nhau (equal contribution norm); Ba là theo thứ tự “đầu-cuối” với nhấn mạnh rằng tác giả đầu (thường là nghiên cứu sinh) và cuối (thường là thầy cô hướng dẫn hay người phụ trách đề tài) là quan trọng nhất, và những người ở giữa theo đóng góp; Bốn là theo thứ tự đóng góp do các tác giả xác định một cách định lượng, (percent contribution indicated). Cách tính chỉ số H không phân biệt được sự đóng góp của các tác giả, đặc biệt trong các ngành có nhiều tác giả trong mỗi ấn phẩm.  • Chỉ số H không đánh giá được các tác giả có một số ít công trình ảnh hưởng rất lớn trong khoa học nhưng không công bố nhiều ấn phẩm.  • Chỉ số H không phân biệt được các trích dẫn phê bình. Trong [13], Lawani tóm tắt sáu lý do trích dẫn một bài báo: (a) Ghi nhận công trạng của tác giả, (b) Thể hiện sự kính trọng tác giả, (c) Nói về phương pháp liên quan, (d) Cung cấp thông tin nền có ích, (e) Trích dẫn để phê phán, (f) Trích dẫn để làm cơ sở cho bài báo. Như vậy các trích dẫn bởi lý do (e) không tăng mà chỉ giảm giá trị của bài báo, nhưng vẫn luôn được tính thêm vào thành tích của tác giả khi tính chỉ số H.   Có những cố gắng để khắc phục các hạn chế kể trên của chỉ số H, như chỉ số G (g-index) đề xuất năm 2006 bởi Leo Egghe. Giả sử các ấn phẩm của một tác giả được xếp theo thứ tự giảm dần của chỉ số trích dẫn, khi này chỉ số G chính là số lớn nhất sao cho G bài báo đầu tiên có trích dẫn trung bình lớn hơn G. Chỉ số G này đề cao giá trị của những bài báo có rất nhiều trích dẫn trong đánh giá một tác giả.  3. Một vài nhận xét và ý kiến  Phần này nêu vài nhận xét về những độ đo đánh giá định lượng và vài ý kiến bàn luận.  (1) Cần hiểu rõ đặc điểm và dùng đúng các độ đo đánh giá định lượng: Các độ đo đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu và việc có thể dùng chúng dễ dàng là một bước tiến rất lớn. Tiến bộ này cho phép người quản lý và nhà khoa học có thể có những nhìn nhận sâu hơn và chính xác hơn về hoạt động nghiên cứu. Khái niệm các độ đo về chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng và chỉ số H đều đơn giản và dễ hiểu, nhưng để biết đặc điểm của chúng cũng cần một chút nỗ lực tìm hiểu. Chẳng hạn việc tính chỉ số trích dẫn của một ấn phẩm và hệ số ảnh hưởng của một tạp chí trên một cơ sở dữ liệu về cơ bản là chính xác, nhưng các chỉ số liên quan tới một cá nhân cụ thể như số lượng ấn phẩm, chỉ số H, tổng số trích dẫn, … thường cao hơn giá trị thật do các hệ tìm kiếm chưa phân biệt rõ được tên người. Hiểu rõ đặc điểm các độ đo này ta sẽ dùng chúng đúng hơn, như lý giải kết quả tính toán có thể sai đúng ra sao, kiểm tra các chỉ số khi cần thiết, không so sánh chúng giữa các lĩnh vực khác nhau một cách thô sơ, …   (2) Nên dùng kết hợp nhiều độ đo đánh giá định lượng: Không nên chỉ đánh giá nghiên cứu dựa trên riêng một độ đo nào, vì như đã chỉ ra mỗi độ đo đều có những hạn chế. Nên kết hợp nhiều độ đo, vì mỗi độ đo cho ta nhìn thấy một khía cạnh của kết quả nghiên cứu. Chẳng hạn đối với một người làm nghiên cứu, chỉ số H cho một ý niệm cơ bản về cân bằng số lượng và chất lượng công bố, các hệ số ảnh hưởng của tạp chí cho một ý niệm về uy tín nơi các kết quả được công bố, và chỉ số trích dẫn cho thấy kết quả nghiên cứu của người này có ảnh hưởng như thế nào.     (3) Có thêm thẩm định của chuyên gia khi cần: Vì các độ đo đánh giá không thể “đo” được hết mọi khía cạnh tinh tế của kết quả nghiên cứu, khi phải đánh giá kỹ một kết quả nghiên cứu rất cần có phân tích của các chuyên gia trong ngành. Chẳng hạn các công cụ hiện nay khi tính chỉ số trích dẫn, và do đó chỉ số H, vẫn chưa phân biệt các trích dẫn của chính tác giả (self citation) hay các trích dẫn để phê phán, hoặc đóng góp của mỗi tác giả trong một bài báo nhiều tác giả. Chẳng hạn khó có thể nói một người làm nghiên cứu cơ bản lâu năm là xuất sắc nếu giá trị các độ đo này đều thấp, nhưng cũng chưa hẳn có thể nói ngay một người làm nghiên cứu là xuất sắc khi thấy giá trị các độ đo này cao, đặc biệt khi các công bố thường cùng nhiều tác giả. Khi này cần đến ý kiến chuyên gia trong ngành. Lưu ý là khi tham khảo các độ đo định lượng, các chuyên gia cũng dễ có ý kiến xác đáng hơn.  (4) Cần chú ý đến ảnh hưởng của khác biệt văn hóa ngành lên các độ đo và số lượng ấn phẩm: Sẽ rất dễ sai nếu so sánh một cách thô sơ hiệu quả của người làm nghiên cứu ở những ngành khác nhau khi dựa trên số bài báo hay các độ đo đánh giá định lượng kể trên. Có thể nêu thêm ít nhất ba điểm về khác biệt văn hóa ngành liên quan đến số lượng ấn phẩm và các độ đo đánh giá định lượng. Một là một số tạp chí trong một số ngành đòi hỏi mỗi bài báo phải giới hạn trong vòng ba bốn trang, viết theo một cấu trúc nhất định, để có thể công bố nhanh trong vòng vài tháng sau khi gửi bài. Ở một số ngành khác (lại như toán học chẳng hạn), mỗi bài báo thường dài ít nhất khoảng mươi trang, và thời gian từ lúc gửi đến lúc được đăng thường là hai hoặc ba năm. Hai là các bài báo nghiên cứu lý thuyết như trong toán học thường có trung bình (và phần lớn) hai tác giả, nhưng trong nhiều ngành khoa học thực nghiệm các bài báo thường có nhiều tác giả. Giả sử số tác giả trung bình của các bài báo trong ngành A là sáu và ngành B là hai, và giả sử cần một năm để làm được một bài báo, thì có thể nói nôm na rằng việc người làm nghiên cứu trong ngành A về trung bình có số ấn phẩm gấp ba lần số ấn phẩm của một người làm nghiên cứu trong ngành B cũng là chuyện thường tình. Và do vậy số trích dẫn và chỉ số H của người làm nghiên cứu trong ngành A cũng thường cao hơn. Ba là một số ngành như công nghệ thông tin coi việc công bố kết quả nghiên cứu ở các hội nghị khoa học hàng đầu là quan trọng và có giá trị không kém việc công bố ở các tạp chí có ảnh hưởng cao. Việc hội nghị khoa học có vai trò khác nhau giữa các ngành có liên quan đến các độ đo đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, do hầu hết các cơ sở dữ liệu chưa có thống kê hoặc chưa phân biệt được rõ về thứ hạng của các hội nghị quốc tế.  (5) Những “sân chơi” khác nhau và những “sân chơi” mới: Trong [12] các tác giả chỉ ra khoảng 90% các bài báo công bố trên các tạp chí khoa học không bao giờ được trích dẫn, và khoảng 50% các bài báo không bao giờ được ai khác đọc ngoài chính tác giả và những người phản biện. Như ở trên đã nói, các cơ sở dữ liệu phổ biến chứa thông tin của khoảng 15 nghìn trong số trên 100 nghìn các loại tạp chí, và các chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng, chỉ số H ta có cũng chỉ được tính từ các nguồn này. Đẳng cấp của các tạp chí được đánh giá bởi hệ số ảnh hưởng, và “sân chơi” của các tạp chí hàng đầu khá khép kín, nên chừng hơn 80 nghìn tạp chí luôn không được xếp hạng. Các hội nghị khoa học cũng rất thượng vàng hạ cám dù luôn có trong tên cụm từ “hội nghị quốc tế”. Dù xếp thứ hạng các hội nghị có phần khó hơn xếp hạng các tạp chí, đã có những cố gắng trong nhiều ngành để chia các hội nghị thành các nhóm có uy tín khác nhau, chẳng hạn cộng đồng nghiên cứu và giáo dục ngành khoa học máy tính Australia đã đưa ra bảng xếp hạng các hội nghị của ngành (http://core.edu.au/index.php/categories/conference%20rankings). Một hiện tượng có thể quan sát được là một số cộng đồng khoa học, vốn không dễ dàng thâm nhập được vào các “sân chơi” của các tạp chí hàng đầu, đã tạo ra những “sân chơi” mới của mình, chẳng hạn như WASET (World Academy of Science, Engineering and Technology, http://www.waset.org), WSEAS (World Scientific and Engineering Academy and Society, http://www.worldses.org/wseas.htm). Tiếc là chất lượng hội nghị và tạp chí của các cộng đồng này nói chung chưa cao, hay cách mời chào ráo riết của họ trên mạng cũng góp phần làm tăng sự nghi ngại về chính họ. Nhiều cơ sở nghiên cứu ở nước ngoài đã khuyến cáo thành viên của mình không gửi bài đến những nơi này.   (6) Không ngừng cải tiến các độ đo: Bài này lưu ý nhiều về những đặc điểm của các độ đo định lượng, và cũng muốn thêm rằng đang có nhiều nghiên cứu để tạo ra những độ đo tốt hơn, như chỉ số G bổ sung cho chỉ số H kể ở trên. Có những đề nghị cùng với chỉ số trích dẫn nên dùng thêm số lần tải bài báo (download count) và từ đó cải thiện các độ đo liên quan. Một thí dụ khác là hệ số riêng. Xuất phát từ những hạn chế của chỉ số trích dẫn, như không phân biệt trích dẫn từ các nơi có uy tín khác nhau, Bergstrom [4] đã đề xuất khái niệm hệ số riêng (eigenfactor), dựa trên một ý tưởng thú vị. Khi xem các trích dẫn đến một bài báo hay bài báo này trích dẫn nơi khác cũng giống như các đường dẫn đến hay đường dẫn đi từ một trang Web, tác giả đã áp dụng thuật toán nổi tiếng PageRank, nền tảng tìm kiếm của Google, để tính hệ số riêng của mỗi ấn phẩm như cách tính tầm quan trọng cho mỗi trang Web của Google. Chỉ số riêng hiện được bổ sung trong Web of Science, và được nhiều người xem là hợp lý hơn hệ số ảnh hưởng vì có tính đến tầm quan trọng của các trích dẫn. Hy vọng chúng ta sẽ thấy những độ đo tốt hơn trong một tương lai gần.  (7) Thông tin khoa học ngày càng phong phú và minh bạch: Người làm nghiên cứu khoa học ngày nay thật may mắn vì có thể có được rất nhiều, thậm chí là hầu hết, tài liệu liên quan đến việc mình muốn làm. Tuy vậy, sự đầy đủ và bình đẳng thông tin không chỉ đem đến cơ hội mà cả những thách thức. Dễ thấy là số ấn phẩm liên quan đến mỗi nghiên cứu cần theo dõi, cần trích dẫn cũng tăng lên nhanh. Điều rất đáng chú ý là tính minh bạch của thông tin được cải thiện rất nhiều. Dường như mọi sai đúng về thông tin khoa học đều có thể kiểm chứng. Ngày nay các tạp chí hay hội nghị dễ dàng xác định những vi phạm như đạo văn hoặc nộp một bài nhiều nơi cùng một lúc. Hầu hết mọi công bố khoa học có giá trị của bất kỳ ai trong vòng mấy chục năm qua đều có thể tìm thấy. Khi tính minh bạch của thông tin tăng lên thì những gì chưa trung thực dễ lộ ra. Những gì ít minh bạch xưa kia có thể sẽ không sửa hoặc phủ nhận được vì “bia Web vẫn còn trơ trơ”. Người liên quan đến khoa học nhưng ít có tính tôn trọng sự thật hoặc hay nói quá hoặc có chút tính toán để tự đề cao chắc đều nên chú ý một điều là ngày nay các thông tin khoa học đều có thể dễ dàng kiểm chứng trên Web và qua các độ đo định lượng.                   (8) Về một số đánh giá tình hình nghiên cứu của ta: Trong những năm qua đã có một số tác giả ở trong và ngoài nước dùng các độ đo đánh giá định lượng để khảo sát và đánh giá tình hình nghiên cứu của ta, tiêu biểu như các tác giả Phạm Duy Hiển và Nguyễn Văn Tuấn (Tuan’s blog). Các khảo sát này sử dụng dữ liệu từ các nguồn ISI, Google Scholar, Scopus, … và đưa ra những so sánh kết quả và khả năng nghiên cứu giữa Việt Nam và các nước xung quanh. Một số người nghi ngại khi thấy số ấn phẩm của đại học Chulalongkorn của Thái Lan nhiều lần hơn số ấn phẩm của các cơ sở nghiên cứu và đại học hàng đầu của ta, và cho rằng các cơ sở dữ liệu ISI không đáng tin cậy. Như đã trình bày ở trên, các cơ sở dữ liệu phổ biến hiện nay chỉ chứa thông tin các tạp chí ảnh hưởng nhiều trong các ngành và các độ đo còn những hạn chế, nhưng chúng đều được xây dựng trên các tiêu chí rõ ràng, vô tư với mọi người, mọi quốc gia và nếu có các sai số cũng không làm lượng công bố của ta tụt xuống vài lần. Bảng số liệu mới dưới đây, dịch từ [15], so sánh số lượng bài báo có thẩm định quốc tế (TĐQT) năm 2008 của bốn đại học hàng đầu của ta (hai Đại học Quốc gia, Đại học Bách Khoa và Sư Phạm Hà Nội), Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và hai Đại học Chulalongkorn và Mahidol hàng đầu của Thái Lan. Mỗi người làm quản lý hoặc nghiên cứu khoa học của ta chắc đều có những suy nghĩ về những con số này. Dựa trên cơ sở dữ liệu Scopus, cổng thông tin SCImago Journal & Country Rank (http://www.scimagojr.com/index.php) gần đây đã cung cấp và so sánh xếp hạng các tạp chí và hiệu quả nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, của mọi quốc gia dựa theo nhiều chỉ số. Có thể thấy ở đây những thông tin đáng lưu tâm về việc khoa học và công nghệ của ta được họ xếp ở thứ hạng nào so với các nước khác, nói chung hay nói riêng từng ngành.  (9) Về Quỹ NAFOSTED, SCI và SCIE: Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED đã tạo ra một bước tiến rất tích cực trong đánh giá và đầu tư cho các nghiên cứu khoa học cơ bản của ta, do đã dùng các công bố có trong cơ sở dữ liệu SCI và SCIE làm điều kiện cần để xét tuyển đề tài và tiêu chí giao nộp sản phẩm. Cần chú ý là ISI chọn các tạp chí vào SCI và SCIE không chỉ dựa theo giá trị của hệ số ảnh hưởng trong từng ngành mà còn một số yếu tố khác nữa. Như đã phân tích, bản thân SCI và SCIE cũng có khác biệt với các cơ sở dữ liệu lớn khác. Sau thời gian đầu dựa vào các cơ sở dữ liệu này do sự cần thiết, Quỹ NAFOSTED nên chăng nghiên cứu để bổ sung một vài cơ sở dữ liệu khác, dùng thêm độ đo khác để việc tuyển chọn và tiêu chí giao nộp sản phẩm mềm dẻo, thích hợp hơn nhưng vẫn giữ được chất lượng cao? Cũng cần chú ý là nếu xét theo hệ số ảnh hưởng, các tạp chí đứng cuối ở SCIE có giá trị thấp hơn nhiều so với các tạp chí SCI. Nếu không có những điều chỉnh thích hợp, NAFOSTED rất có thể sẽ thu được rất nhiều kết quả công bố ở phía cuối của SCIE, và có thể không hẳn thành công như mong đợi.  (10) Liên hệ với tình hình của ta: Cuối cùng và quan trọng hơn cả, là sau khi tìm hiểu kỹ hơn về các độ đo đánh giá nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ta cần dùng chúng một cách thích hợp trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Nghĩ đến việc này đầu tiên chắc là người làm quản lý khoa học và công nghệ. Một vài ý kiến sơ bộ có thể như sau. Một là nên từng bước định ra những cách thích hợp để dùng các độ đo định lượng và số lượng ấn phẩm có trong các cơ sở dữ liệu được chọn lọc kỹ như ISI hay Scopus để đánh giá hoạt động khoa học. Tuy nhiên, phải hết sức cẩn trọng khi dùng chúng để đánh giá các nhà khoa học và các tổ chức chuyên ngành. Hai là khi vẫn chỉ có một số ít kết quả nghiên cứu của ta vào được các tạp chí tốt như của SCI, SCIE, cần có đầu tư tăng chất lượng một số tạp chí hàng đầu trong nước, để tạo ra chỗ công bố kết quả khác nhau cho một số đông người làm nghiên cứu. Ba là về nguồn lực con người, rất nên xem xét dùng các độ đo này một cách thích hợp trong việc đánh giá để xét tuyển các vị trí giáo sư-phó giáo sư, bổ sung hoặc thay cho cách “tính điểm” xưa nay để đề cao chất lượng nghiên cứu khoa học.    4. Kết luận  Bài này giới thiệu khái niệm và một số đặc điểm cơ bản của các độ đo tiêu biểu dùng để đánh giá các ấn phẩm nghiên cứu khoa học, gồm chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng và chỉ số H. Hai đặc điểm của các độ đo này được nhấn mạnh: sự khác nhau của chúng giữa các ngành và một số lý do của việc chúng có thể được tính hoặc giải thích chưa chính xác.   Mặc dù các độ đo đánh giá định lượng nghiên cứu khoa học còn những hạn chế như đã phân tích, cần nhấn mạnh rằng khả năng tính được chúng tự động là một bước tiến nhiều ý nghĩa và việc sử dụng chúng đang là xu thế trong phát triển khoa học. Hiểu rõ và dùng đúng các độ đo định lượng để đánh giá kết quả nghiên cứu có tác dụng thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ của chúng ta.  Tài liệu tham khảo chính  1. Adler, R., Ewing, J., Taylor, P., “Citation Analysis”, Statistical Science, 24(1), 1-14, 2009.  2. Althouse, B.M., West, J.D., Bergstrom, T.C., and Bergstrom, C.T., “Differences in Impact Factor Across Fields and Over Time”, Journal of the American Society for Information Science and Technology, 60(1), 27-34, 2009.   3. Bakkalbasi, N., Bauer, K., Glover, J., Wang, L., “Three Options for Citation Tracking:  Google Scholar, Scopus and Web of Science”, Biomedical Digital Libraries, 3(7), 1-8, 2006.  4. Bergstrom, C.T., “Eigenfactor: Measuring the Value and Prestige of Scholarly Journals, College & Research Library News, 68(5), 2007.  5. Hồ Tú Bảo, “Tổ chức và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học ở Nhật”, Tạp chí Tia Sáng, 8.2008.  6. Campbell, P., “Escape from the Impact Factor”, Ethics in Science & Environmental Politics, 8, 5-7, 2008.   7. Eugene Gafield, “Citation Indexes for Science: A New Dimension in Documentation through Association of Ideas”, Science, 122(3159), 1955.  8. Harzing, A. K, Wal, R., “Google Scholar as a New Source for Citation Analysis”, Ethics in Science & Environmental Politics, Vol. 8, 61-73, 2008.  9. Hirsch, J.E., “An Index to Quantify an Individual’s Scientific Research Output”, Proceedings of the National Academy of Sciences, 102 (46), 16569–16572, 2005.  10. Iglesias, J.E., Pecharromen C., “Scaling the h-index for Different Scientific ISI Fields”, Scientometrics, 73(3), 303-320, 2007.  11. Kulkarni, A.V., Aziz, B., Shams, I., Busse, J.W., “Comparisons of Citations in Web of Science, Scopus, and Google Scholar for Articles Published in General Medical Journals”, The Journal of the American Medical Association, 302(10), 1092-1096, 2009.  12. Kumar, M.J., “Evaluating Scientits: Citations, Impact Factor, h-Index, Online Hits and What Else?”, IETI Technical Review, 26(3), 165-168, 2009.  13. Lawani S.M. “Citation Analysis and the Quality of Scientific Productivity”, BioScience, 27, 26-31, 1977.  14. Meho, L. I., “The Rise and Rise of Citation Analysis”, Physics World, 20(1), 32-36, 2007.  15. Pham Duy Hien, “A Comparative Study of Research Capacities of East Asian Coun-tries and Implication for Vietnam”, Higher Education, Springer, Feb. 2010.  16. Tscharntke, T., Hochberg, M.E., Rand, T.A., Resh, V.H., Krauss, J., “Author Se-quence and Credit for Contributions in Multiauthored Publications”, PLoS Biology, 5(1), 0013-0014, 2007.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá ĐMST doanh nghiệp: Những kết quả bước đầu      Những năm gần đây, chính phủ đã đặt ra nhiệm vụ phải đổi mới sáng tạo (ĐMST) mạnh mẽ và nhấn mạnh phải lấy doanh nghiệp là trung tâm của ĐMST. “Nhưng trước khi bắt họ ‘gánh’ vị trí trung tâm đó thì cần biết hiện nay sức khỏe của họ như thế nào, họ có gánh nổi vai trò đó hay không?”    Câu hỏi mà TS Tạ Bá Hưng, ban quản lý dự án FIRST đã đề cập đến một hiện trạng: trong khi nhu cầu thông tin về ĐMST trong doanh nghiệp là rất cấp bách thì thông tin mà chúng ta có hiện nay lại không nhiều. Hầu hết chỉ đến từ các cuộc điều tra, thống kê về doanh nghiệp nói chung, trong đó có tính đến yếu tố đầu tư cho R&D cho doanh nghiệp hoặc các nội dung có liên quan. Trong bối cảnh đó, Tiểu dự án 1(b) “Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KH&CN và đổi mới sáng tạo” là một tiểu hợp phần thuộc Hợp phần 1 “Hỗ trợ cơ sở để hoạch định chính sách và thí điểm chính sách KH&CN” của Dự án FIRST (gọi tắt là Tiểu dự án FIRST-NASATI) do Cục Thông tin KH&CN quốc gia tổ chức điều tra thử nghiệm về ĐMST trong các doanh nghiệp.  Cuộc điều tra thử nghiệm này có quy mô 8000 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở các quy mô lớn, vừa và nhỏ ở cả ba khu vực: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Điều tra tập trung vào các doanh nghiệp chế biến chế tạo, “vì đây là nhóm cần hấp thụ công nghệ nhiều nhất, và các nước cũng thường tập trung điều tra vào nhóm này khi đánh giá về ĐMST trong doanh nghiệp”, TS. Hồ Ngọc Luật, chuyên gia tư vấn cho tiểu dự án này cho biết trong buổi công bố kết quả điều tra ban đầu của nghiên cứu này vào ngày 28/8 vừa qua.  Doanh nghiệp chưa thực sự đầu tư “vào gốc”  Nhìn vào bức tranh chung mà nhóm nghiên cứu đưa ra, Việt Nam không thua kém nhiều nước trong khu vực về đầu tư cho ĐMST (12 nước trong khu vực và trong khối OECD được chọn lọc để đối sánh trong nghiên cứu này). Cụ thể, Việt Nam có tỉ lệ các doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình lần lượt là 32.4% và 39.8%, cũng gần bằng Phần Lan (lần lượt là 36.5% và 35.1%) hay kém Philippines một chút (tương ứng là 37.6% và 43.9%). Hầu như các doanh nghiệp được khảo sát đều đề cao ý thức phải liên tục ĐMST, với khoảng 62% doanh nghiệp chế biến chế tạo có ĐMST trong giai đoạn 2014-2016. Tuy nhiên, nhìn vào từng hoạt động đầu tư cho ĐMST, thì hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở nỗ lực chiếm lĩnh “phần ngọn” thay vì đầu tư vào “phần gốc”.  Một tỉ lệ rất lớn các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới quy trình thông qua việc “Đầu tư vào công nghệ mới được gắn liền với hàng hóa, máy móc, thiết bị” (39,4%) hoặc thông qua “Nâng cấp/chỉnh sửa công nghệ, thiết bị hiện tại” (39.3%), trong khi đó chuyển giao công nghệ từ các tổ chức khoa học và công nghệ công lập và các tổ chức khác ngoài công lập đều dưới chỉ ở mức 0.3% và 0.6%. “Nghĩa là các doanh nghiệp chỉ mua công nghệ về áp dụng chứ không/ ít có cải tiến, nghiên cứu”, TS. Hồ Ngọc Luật nhận xét.    Bảng 1: Phương thức thực hiện đổi mới Quy trình công nghệ. Nguồn: TS Hồ Ngọc Luật.  Trong khi đó, cơ cấu bình quân kinh phí chi các hoạt động phục vụ ĐMST năm 2016 của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng nghiêng chủ yếu về mua sắm công nghệ, máy móc và thiết bị (65.5%), còn mua lại các kết quả nghiên cứu và phát triển của các tổ chức khác chỉ chiếm 0.8%, mua quyền phát hành, bản quyền, sáng chế cũng chỉ chiếm 3.4%. Ở khía cạnh này, Việt Nam đứng chót hoặc gần chót bảng so với 12 nước được so sánh trong nghiên cứu này.  “Anh đã không thể tự nghiên cứu rồi lại còn không mua thì lấy đâu ra mà ĐMST? Việc chi tiền mua trang thiết bị cho thấy có đầu tư đổi mới nhưng tầm nhìn vẫn còn hạn hẹp. Một khi người ta đã bán trang thiết bị cho ta thì nghĩa là họ đã chuẩn bị nghiên cứu, tung ra những kết quả khác hiện đại hơn rất nhiều và chắc chắn ta sẽ không thể đưa ra sản phẩm có thể cạnh tranh được với họ”, TS Tạ Bá Hưng bình luận. Ông cho rằng các doanh nghiệp Việt vẫn đang tưởng mình “múa tay trong bị” trong khi đúng ra đây là thời điểm cần phải đầu tư và hình thành thị trường mua bán tài sản trí tuệ, giải pháp hữu ích chứ không phải ăn sẵn công nghệ. Mà dẫn chứng rõ ràng là thất bại của Hanel trong sản xuất và tung ra ti vi màn hình lồi vào thời điểm mà các nước tiên tiến đã sản xuất được ti vi màn hình phẳng và màn hình cong.    Bảng 2: Tỷ lệ % các doanh nghiệp mua kết quả NC&PT. Nguồn: TS. Hồ Ngọc Luật.  Mặt khác, những con số nói trên cũng phần nào phản ánh năng lực và mối liên kết của các viện, trường đối với khu vực doanh nghiệp. TS Tạ Bá Hưng nhận xét, trong khi thực lực của các doanh nghiệp chưa đủ vững để nghiên cứu phát triển sản phẩm, doanh nghiệp thì vẫn rất đói công nghệ, mà tỉ lệ chuyển giao chỉ dưới 1% có nghĩa là cần đặt lại năng lực nghiên cứu của các viện, trường. “Hoặc là các trường, các viện làm ra sản phẩm nhưng không có gì để mua, hoặc là các trường, viện chưa có kết quả có thể bán được. Trong khi đó, chúng ta đầu tư rất nhiều cho các đề tài KC, KX [các Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước] nhưng khả năng hỗ trợ cho các trung tâm của ĐMST lại không ăn thua” – TS. Tạ Bá Hưng thẳng thắn nói.  Nghịch lý doanh nghiệp lớn càng nhận hỗ trợ nhiều  Trong bối cảnh hệ sinh thái ĐMST vẫn non yếu như vậy, các chính sách hỗ trợ ĐMST được đưa ra là rất cần thiết nhưng chưa thực sự nhắm trúng đích. Tỷ lệ doanh nghiệp nhận được hỗ trợ từ phía Nhà nước còn thấp: nhìn chung, mới chỉ có khoảng ¼ số doanh nghiệp nhận được hỗ trợ từ nhà nước cho các hoạt động ĐMST. Cụ thể, tỷ lệ các doanh nghiệp được hưởng các chính sách về tín dụng hay chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ chỉ từ 10% đến 17%; tỷ lệ các doanh nghiệp được hỗ trợ tư vấn kỹ thuật hay thực hiện nhiệm vụ KH&CN chỉ 3% đến 6%. Đồng thời, hiện nay “đang có một nghịch lý là doanh nghiệp càng lớn thì càng nhận được nhiều hỗ trợ. Trong khi đó chính sách của ta khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ”, theo TS. Hồ Ngọc Luật.  Những doanh nghiệp chưa nhận được bất kỳ hình thức hỗ trợ nào của nhà nước cho biết những lý do chủ yếu là: 1) chưa biết về các hình thức hỗ trợ của nhà nước; 2) các hình thức hỗ trợ không liên quan đến nhu cầu của doanh nghiệp; 3) doanh nghiệp không biết đến các đầu mối kết nối với các hình thức hỗ trợ; 4) quy trình xét duyệt hỗ trợ rất phức tạp.  Ngoài ra, báo cáo này còn đem tới những thông tin rất đáng chú ý về các khía cạnh khác trong đầu tư cho ĐMST của doanh nghiệp. Do đó, TS Đoàn Trần Nghiệp, Phó Vụ trưởng vụ thống kê doanh nghiệp, Tổng cục thống kê kiến nghị cần sớm nghiên cứu, đưa vào ứng dụng mở rộng kết quả nghiên cứu này tại Việt Nam.  Tuy nhiên, đây mới chỉ là một nghiên cứu bước đầu thử nghiệm, nên ban quản lý tiểu dự án FIRST – NASATI cho biết sẽ tiếp tục nhận ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các cơ quan thống kê để chuẩn bị cho cuộc nghiên cứu ở quy mô rộng hơn trong năm 2019. “Phương pháp luận thử nghiệm lần này có thể tiếp tục áp dụng cho các cuộc điều tra tiếp theo về ĐMST trong các doanh nghiệp không?”, TS. Hồ Ngọc Luật đặt câu hỏi và mong muốn các nhà khoa học, các chuyên gia về ĐMST sẽ tiếp tục cùng thảo luận trong thời gian tới.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/danh-gia-dmst-doanh-nghiep-nhung-ket-qua-buoc-dau/2018082908478164p1c785.htm    Author                Bảo Như        
__label__tiasang Đánh giá khoa học: Một vài tham khảo từ nước Đức      Ở nước Đức, phần lớn các viện/trung tâm nghiên cứu không nằm trong trường đại học hoặc doanh nghiệp đều quy tụ vào bốn hiệp hội nghiên cứu, bao gồm: Helmholtz, Max Planck, Fraunhofer, và Leibniz. Mặc dù có điểm chung là được bao cấp phần lớn kinh phí hoạt động nhưng do có định hướng nghiên cứu khác nhau nên việc đánh giá hiệu quả hoạt động của bốn hiệp hội này được tiến hành theo những cách thức không giống nhau. Xét trên bối cảnh hầu hết các viện nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay cũng chủ yếu sống bằng ngân sách nhà nước thì những kinh nghiệm về hoạt động đánh giá khoa học của bốn hiệp hội ở Đức mà bài viết dưới đây giới thiệu, có thể là một tham khảo hữu ích, nhất là khi hoạt động đánh giá khoa học còn hết sức mới mẻ ở nước ta.    Hiệp hội Helmholtz: Nghiên cứu theo những chiến lược dài hạn  GS.TS Jan-Martin Wiarda, Giám đốc truyền thông và Quan hệ báo chí, Hiệp hội Helmholt, cho biết, đây là hiệp hội nghiên cứu lớn nhất ở Đức, xét về ngân sách và đội ngũ. Năm 2014, ngân sách của Hiệp hội là 3,8 tỷ euro, trong đó 70% do Chính quyền Liên bang và chính quyền các bang sở tại cấp, 30% còn lại do các trung tâm thành viên tự tìm kiếm qua các hợp đồng nghiên cứu. “Khác với những nơi đề tài nghiên cứu do nhà khoa học tự do lựa chọn, chúng tôi nghiên cứu những vấn đề mà chính phủ cho rằng sẽ trở thành những thách thức đối với xã hội trong nay mai, chẳng hạn như có thể khai thác những nguồn năng lượng bền vững nào để đáp ứng nhu cầu giao thông ngày càng cao của con người, hay làm sao điều trị những bệnh nan y,” ông Wiarda nói.   Hiệp hội chia các vấn đề thành sáu lĩnh vực nghiên cứu: Năng lượng; Môi trường; Y học; Vũ trụ; Giao thông; và Cấu trúc vật chất, trong đó lĩnh vực Cấu trúc vật chất quy tụ nhiều trung tâm nghiên cứu nhất, bảy trên tổng số 18 trung tâm của Hiệp hội, và cũng được phân bổ ngân sách cao nhất – gần 500 triệu euro cho năm 2014. “Những vấn đề chúng tôi nghiên cứu mang tính chiến lược quốc gia nên chúng tôi được trang bị những thiết bị lớn, đắt tiền, thậm chí có những thiết bị là duy nhất trên thế giới,” ông Wiarda cho biết thêm. “Chúng tôi cũng mời gọi nhiều nước cùng hợp tác vì một chương trình nghiên cứu có nhiều nước tham gia thì chi phí sẽ giảm.”          Mỗi năm nước Đức chi khoảng 79,5 tỷ euro cho  các hoạt động R&D, tương đương gần 3% GDP, trong đó các doanh  nghiệp chiếm 67%; các trường đại học chiếm 18%; các tổ chức nghiên cứu  ngoài doanh nghiệp và trường đại học chiếm 15%, trong đó riêng bốn hiệp  hội Helmholtz, Max Planck, Fraunhofer, và Leibniz chiếm 75%.               (Nguồn: Về Hiệp hộiHelmholtz,               GS.TS Jurgen Mlynek, Chủ tịch               Hiệp hội Helmholtz)        Mấy năm gần đây, thay vì rót tiền về cho các trung tâm, Hiệp hội chuyển sang phân bổ ngân sách theo chương trình nghiên cứu và các chương trình phải cạnh tranh với nhau để được cấp kinh phí. Thay đổi này được coi là bước cải tổ quan trọng nhất của Hiệp hội kể từ khi ra đời vào năm 2001. Hiện nay Hiệp hội đang thực hiện 28 chương trình nghiên cứu, hầu hết đều là các nghiên cứu liên ngành và có sự phối hợp giữa các trung tâm, và cứ năm năm một lần, chúng lại được đánh giá về mặt khoa học và chiến lược để làm cơ sở cho việc phân bổ ngân sách cho năm năm tiếp theo. “Một chương trình không được đánh giá là hiệu quả thì không có nghĩa nó sẽ bị cắt ngân sách và đóng cửa. Kết quả đánh giá chỉ quyết định ngân sách cho chương trình đó sẽ tăng hay giảm mà thôi. Vả lại các chương trình nghiên cứu ở Helmholt đều thuộc loại dài hạn nên có thể điều chỉnh dần sau mỗi đợt đánh giá,” ông Wiarda cho biết.  Chịu trách nhiệm về việc đánh giá là một Hội đồng (Senate) gồm khoảng 20 thành viên hoàn toàn đến từ các thành phần bên ngoài Hiệp hội, trừ Chủ tịch Hội đồng chính là Chủ tịch Hiệp hội. Hội đồng gồm hai thành phần chính, trong đó có các thành viên được bầu chọn từ giới khoa học trong và ngoài nước, từ giới doanh nhân và công nghiệp; và những thành viên mặc định bao gồm đại diện của Chính phủ Liên bang, chính phủ một số bang, Quốc hội, Bộ Giáo dục và Nghiên cứu, Bộ Tài chính; các thành viên Hội đồng có nhiệm kỳ ba năm. Hội đồng sẽ tổ chức cho các chuyên gia độc lập trong và ngoài nước đến các trung tâm tiến hành đánh giá tại chỗ và viết báo cáo, làm cơ sở để Hội đồng ra khuyến nghị gửi lên Chính phủ Liên bang và chính phủ các bang về việc nên cấp ngân sách cho các chương trình nghiên cứu như thế nào trong giai đoạn tiếp theo.   Một chương trình nghiên cứu có thể có sự tham gia đánh giá của hàng trăm chuyên gia. Chẳng hạn, chương trình nghiên cứu “Từ vật chất đến vật liệu và cuộc sống” của DESY – trung tâm gia tốc hạt lớn nhất nước Đức1 – được đánh giá trong bốn ngày từ 14 đến 17/4/2014 với sự tham gia của khoảng 200 chuyên gia. Những đoàn chuyên gia đánh giá quy mô như vậy thường được gọi vui là “đoàn lữ hành”. “Công tác đánh giá rất tốn kém khi phải thuê hàng trăm chuyên gia độc lập, tuy nhiên khoản tiền bỏ ra là xứng đáng,” ông Wiarda nhận định.   Đợt đánh giá gần đây nhất của Hiệp hội Helmholtz sẽ kết thúc vào cuối năm nay, kết quả dự kiến được công bố vào tháng 10/2015 và nếu cần thiết, sẽ được chỉnh sửa một lần nữa vào tháng 1/2016.    Bốn hiệp hội nghiên cứu lớn của CHLB Đức – một vài con số              Hiệp hội      Ngân sách/ tỷ euro      Đội ngũ (khoảng)      Viện/Trung tâm          Helmholtz      3,8       35.670      18          Max Planck      1,7      17.000      82          Fraunhofer      1,9      23.000      67          Leibniz      1,5      17.000      86          Nguồn: GWK Monitoring Report, 2013     Hiệp hội Max Planck: Thuần túy nghiên cứu cơ bản  Kể từ khi thành lập vào năm 1948 đến nay, đã có 18 nhà khoa học thuộc Hiệp hội Max Planck được trao giải Nobel, chỉ xếp sau Đại học Harvard. Theo truyền thống hơn 100 năm, ngày nay Hiệp hội Max Planck vẫn duy trì hoạt động như một viện nghiên cứu cơ bản thuần túy. Cũng theo truyền thống đó, các nhà khoa học ở đây được tự quyết định chủ đề nghiên cứu mà không chịu sự chi phối của bất kỳ định hướng chính trị hay kinh doanh nào cũng như được toàn quyền chọn những người cùng làm việc trong nhóm của mình. 82 viện thuộc Hiệp hội được Chính phủ Liên bang và chính phủ 16 bang hỗ trợ 80% ngân sách để nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Hiệp hội đặc biệt đặt trọng tâm nghiên cứu vào những vấn đề mới mẻ, hoặc những vấn đề đòi hỏi nhiều thời gian và tiền bạc. Phổ nghiên cứu của Hiệp hội liên tục được mở rộng: các viện mới được thành lập để tìm câu trả lời cho những vấn đề khoa học có tầm ảnh hưởng lớn trong tương lai, đồng thời cũng có những viện phải đóng cửa khi lĩnh vực nghiên cứu của họ đã được triển khai rộng rãi tại các trường đại học, dành ngân sách cho những viện khác.   Rất nhiều ý tưởng nghiên cứu của Hiệp hội có tiềm năng thị trường, nhưng để thương mại hóa chúng là một quá trình gian nan và kéo dài. Chẳng hạn, những nghiên cứu ban đầu của Max Planck và Albert Einstein về vật lý lượng tử cũng phải mất khoảng 50 năm mới được ứng dụng vào công nghệ bán dẫn và công nghệ laser – những công nghệ quan trọng đã góp phần biến đổi thế giới. Để tăng cường việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng, gần đây Hiệp hội Max Planck đã mở rộng hợp tác với Hiệp hội Fraunhofer ở một số lĩnh vực như khoa học máy tính, khoa học vật liệu, nano và công nghệ sinh học, và năng lượng tái tạo.  Nhờ nguồn tài chính công, Hiệp hội có thể tiến hành những nghiên cứu nhằm mở rộng tri thức mà không bị ràng buộc bởi yêu cầu phải có tính ứng dụng cụ thể nào. Để chứng tỏ xứng đáng với đồng tiền thuế của dân, từ những năm 1970, Hiệp hội đã xây dựng và liên tục điều chỉnh một quy trình công phu nhằm đánh giá hiệu quả nghiên cứu của các viện thành viên mà cơ quan thực hiện chính là Hội đồng Cố vấn Khoa học (Scientific Advisory Board). Hội đồng này hiện có khoảng 750 thành viên, trong đó hơn 97% đến từ các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu nằm ngoài Hiệp hội Max Planck và hơn 75% là người nước ngoài. Cũng chỉ những nhà khoa học có trình độ và kinh nghiệm ngang hàng với giám đốc các viện thành viên của Hiệp hội mới được mời tham gia vào Hội đồng. Cứ hai năm, Hội đồng lại tiến hành đánh giá các viện như một biện pháp kiểm soát chất lượng và việc sử dụng ngân sách của các viện. Ngoài ra, mỗi năm, 300 thành viên của Hội đồng sẽ tham gia khoảng 40 cuộc thanh tra khác tới các viện.   Quy trình đánh giá được bắt đầu bằng việc mỗi viện chuẩn bị báo cáo mô tả tình trạng hiện tại của mình về các mặt nghiên cứu, sáng kiến mới, hợp tác với bên ngoài, các công bố khoa học, bố trí nhân sự, việc thu hút vốn từ khu vực doanh nghiệp, mức độ bình đẳng về cơ hội, các hoạt động chuyển giao…   Tùy theo quy mô của viện, báo cáo có thể dày từ 100 đến 600 trang. Sau khi báo cáo được chuẩn bị sẵn sàng, người của Hội đồng, gồm khoảng 35-40 người, sẽ có mặt tại viện để thảo luận chi tiết mọi khía cạnh của báo cáo với giám đốc viện, lãnh đạo các nhóm nghiên cứu độc lập, và các nhà nghiên cứu trẻ trong vòng hai-ba ngày. Người dẫn đầu đoàn đánh giá sau đó sẽ soạn một báo cáo chi tiết về năng lực của viện, cả định tính lẫn định lượng, cùng các đề xuất, khuyến nghị để gửi lên Chủ tịch Hiệp hội. Chủ tịch Hiệp hội sẽ cho ý kiến về báo cáo đó rồi chuyển lại cho viện để viện có phản hồi thích hợp. Tất cả những ai quan tâm đến kết quả đánh giá đều  được tham khảo tài liệu này để có thể đưa ra nhận xét từ góc độ của mình. Đây là việc làm nhằm bảo đảm tính minh bạch của quá trình đánh giá trước tất cả những người tham gia. Chủ tịch Hiệp hội sẽ cân nhắc ý kiến phản hồi của các viện khi hoạch định bước chiến lược tiếp theo của Hiệp hội.  Do việc lên kế hoạch chiến lược cần một cái nhìn tổng quát nên Hiệp hội còn tiến hành đánh giá mở rộng, tức là hoạt động của các viện cùng lĩnh vực nghiên cứu sẽ được so sánh với nhau và được phân tích trên bối cảnh quốc gia và quốc tế. Tiêu chí cho đánh giá mở rộng là các thành tựu khoa học, mức độ hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực, triển vọng phát triển về trung hạn. Mục đích của đánh giá mở rộng là để xem xét khả năng phối hợp giữa các viện hoặc để phát hiện những vấn đề chung nảy sinh trong quá trình vận hành hay sự chồng chéo, giẫm lên chân nhau.  Hoạt động đánh giá ở Hiệp hội Max Planck còn bao gồm cả việc đánh giá giám đốc các viện nghiên cứu trước khi họ được bổ nhiệm do người đứng đầu mỗi viện có vai trò quyết định và trực tiếp đối với định hướng và chất lượng nghiên cứu của viện đó. Một hội đồng gồm các đương kim giám đốc và cựu giám đốc các viện cùng một số nhà khoa học danh tiếng bên ngoài Hiệp hội sẽ tiến hành đánh giá các ứng viên một cách tỷ mỷ và bao quát về năng lực, ý tưởng nghiên cứu, và các nguồn lực mà họ đòi hỏi, để chọn ra một ứng viên tiềm năng. Sau đó, hội đồng này (mà thành phần hoàn toàn khác với Hội đồng Cố vấn Khoa học) sẽ mời khoảng 15 nhà khoa học uy tín cho ý kiến về ứng viên tiềm năng. Chỉ khi Hội đồng và các nhà khoa học không bày tỏ ý kiến nào nghi ngờ thì việc bổ nhiệm mới được xem xét.   Hiệp hội Max Planck tin rằng việc bảo đảm chất lượng nghiên cứu thông qua hoạt động đánh giá thường xuyên theo các tiêu chuẩn chặt chẽ là yếu tố quyết định cho phép Hiệp hội duy trì vị thế hoàn toàn tự chủ của mình.  Hiệp hội Fraunhofer: Nghiên cứu theo định hướng ứng dụng  Hiệp hội Fraunhofer là hiệp hội nghiên cứu ứng dụng lớn nhất châu Âu, bao gồm 67 viện và đơn vị nghiên cứu thành viên nằm rải rác khắp nước Đức với hơn 23 nghìn người. Ngân sách hằng năm của viện vào khoảng 2 tỷ euro, trong đó chỉ có chưa đến 30% do Chính quyền Liên bang và chính quyền các bang sở tại cấp, phần còn lại đến từ các nghiên cứu theo hợp đồng với doanh nghiệp (chiếm khoảng 26%) và khu vực công.   Hiệp hội tập trung vào sáu lĩnh vực: vật liệu; vi điện tử; công nghệ thông tin và truyền thông; khoa học sự sống; ánh sáng và bề mặt; sản xuất; an ninh và quốc phòng, góp phần thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Đức. Cùng với khách hàng của mình, Hiệp hội phát triển và tối ưu hóa các công nghệ mới và quy trình sản xuất, bao gồm cả việc sản xuất các nguyên mẫu và sản xuất hàng loạt. Thông qua hoạt động nghiên cứu theo hợp đồng, Hiệp hội trở thành nhà cung cấp công nghệ mới và bí quyết, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có bộ phận R&D riêng của mình.  Để chiêu mộ các dự án nghiên cứu xuất sắc từ bên ngoài, Hiệp hội Fraunhofer có chương trình tài trợ nghiên cứu hằng năm và việc lựa chọn dự án nào sẽ do Ủy ban Đánh giá Nội bộ (Internal Evaluation Committee) gồm khoảng năm thành viên quyết định. Ủy ban này sẽ chấm điểm các ứng viên và dự án của họ, chẳng hạn, ứng viên sẽ được chấm điểm về các mặt: thành tựu nghiên cứu, sự nhạy bén với thị trường, kỹ năng lãnh đạo và tổ chức, năng lực chịu trách nhiệm, khả năng truyền cảm hứng…; còn dự án đề xuất sẽ được chấm điểm về các mặt: chủ đề, ý tưởng, tầm nhìn chiến lược, tiềm năng thị trường, phương pháp quản lý dự án. Nếu vượt qua vòng đánh giá, mỗi dự án sẽ được cấp vốn tối đa 2,5 triệu euro trong năm năm cùng các điều kiện làm việc sẵn có tại Hiệp hội.  Ngoài Ủy ban Đánh giá Nội bộ, Hiệp hội Fraunhofer không có bộ phận đánh giá chuyên trách nào tương tự như Senate ở Hiệp hội Helmholtz hay Scienticfic Advisory Board ở Hiệp hội Max Planck. Theo ông Patrick Ziegler, Phòng Dự án của Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Nghiên cứu, một viện thuộc Hiệp hội Fraunhofer sẽ được đánh giá là hoạt động hiệu quả khi 2/3 ngân sách của nó đến từ các hợp đồng nghiên cứu, trong đó phần hợp đồng với doanh nghiệp phải chiếm ít nhất 22%. Tuy không tự tổ chức đánh giá định kỳ nhưng Hiệp hội có trách nhiệm chuẩn bị các báo cáo phục vụ việc đánh giá theo yêu cầu từ chính phủ. Trong những cuộc đánh giá này, một ủy ban gồm khoảng 10 chuyên gia, chủ yếu là các chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp, do Bộ Giáo dục và Nghiên cứu chỉ định, sẽ họp riêng với Ban Điều hành Hiệp hội và họp nhóm với những người đứng đầu các viện thành viên để có thể đưa ra đánh giá toàn diện về các mặt tổ chức, cấu trúc, chất lượng và mức độ phù hợp của các nghiên cứu… cũng như đề xuất những lĩnh vực mà Hiệp hội nên tăng cường hoặc thu gọn.   Hiệp hội Leibniz: Cung cấp hạ tầng nghiên cứu  Ông Wiarda cho rằng, “Nếu Hiệp hội Max Planck thuần túy nghiên cứu cơ bản và Hiệp hội Fraunhofer thuần túy nghiên cứu ứng dụng thì hai hiệp hội Helmholtz và Leibniz nằm ở giữa – nghiên cứu cơ bản hướng đến ứng dụng. Tuy nhiên, trong khi Helmholtz thiên về khoa học tự nhiên thì Leibniz thiên về khoa học xã hội.”  Hiệp hội Leibniz gồm 86 viện cỡ vừa, trong đó có 17 viện liên quan đến hạ tầng nghiên cứu (thư viện, trung tâm thông tin, sản xuất tinh thể, nuôi dưỡng linh trưởng) và tám bảo tàng khoa học. Trong tổng ngân sách 1,5 tỷ euro của Hiệp hội, gần 80% là do Chính phủ Liên bang và chính phủ các bang cấp.   Hoạt động đánh giá ở Hiệp hội được áp dụng đối với các viện thành viên theo quy trình và những tiêu chí tương đối giống như ở Hiệp hội Max Planck, nhưng khoảng cách giữa hai lần đánh giá có thể kéo dài đến bảy năm. Một hội đồng (Senate) gồm các thành viên không thuộc Hiệp hội chịu trách nhiệm thiết kế quy trình và tiêu chí đánh giá, trong đó hai tiêu chí được nhấn mạnh là đề bạt các nhà nghiên cứu trẻ và bình đẳng giới. Một ủy ban gồm khoảng 40 nhà khoa học bên ngoài và đại diện của chính phủ do hội đồng nói trên thành lập sẽ trực tiếp về viện thực hiện các bước đánh giá, đồng thời chuẩn bị các văn bản để Hội đồng trình lên cơ quan chức năng của chính phủ xem xét liệu việc cấp kinh phí cho các viện có xác đáng hay không.  ***  Qua những gì trình bày ở trên, có thể thấy, hoạt động đánh giá ở Đức, dù áp dụng đối với viện/trung tâm/chương trình nghiên cứu hay cá nhân nhà khoa học thì đều có điểm chung là phải do các chuyên gia bên ngoài thực hiện. Những chuyên gia đánh giá vừa đóng vai trò nhà phê bình, vừa đóng vai trò nhà tư vấn đối với đối tượng được đánh giá. Và có lẽ cũng không võ đoán khi nói rằng những hiệp hội được bao cấp nhiều kinh phí hoạt động thì trách nhiệm giải trình việc sử dụng tiền thuế của dân càng cao.   Những chuyên gia Đức mà chúng tôi có dịp gặp gỡ, trao đổi về hoạt động đánh giá khoa học ở đây đều cho rằng hoạt động này vô cùng phức tạp, thậm chí có người “than”, “chúng tôi phải viết quá nhiều báo cáo mà không chắc chúng có được đọc hết hay không”. Còn một nhà nghiên cứu ở Đại học Bách khoa Hà Nội từng có năm năm học tập và lấy bằng tiến sĩ ở Đức thì nhận xét, “Những quy trình phức tạp dễ gây cảm tưởng có những bước thừa, nhưng thực tế cho thấy, khi các bước của quy trình được tuân thủ nghiêm ngặt, mà người Đức thường chọn cách này, thì mọi hoạt động diễn ra rất trôi chảy và hiệu quả.”   —————-  1 DESY có khoảng 2.000 nhân viên và ngân sách hằng năm khoảng 192 triệu euro.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá nghiên cứu khoa học?      Để có được một thang đo hợp lý trong khi xem xét các đề xuất xin tài trợ là một câu chuyện rất dài dòng, phức tạp, và thậm chí “nhạy cảm” trong truyền thống quản lý nghiên cứu khoa học ở nước ta. Vì vậy trong bài này tác giả chỉ xin bàn về một chủ đề rất hẹp, nhưng lại là gốc gác của toàn bộ ý tưởng về quản lý nghiên cứu khoa học, từ cấp các vị viện trưởng cho đến các tầng nấc cao hơn trong hệ thống quản lý khoa học. Đó là đánh giá nghiên cứu khoa học thế nào, kể từ khâu thẩm định đề cương nghiên cứu cho đến khi đánh giá kết quả nghiên cứu, hiệu quả và hệ luỵ của nghiên cứu.      Vậy đánh giá nghiên cứu khoa học thế nào?  Hiện nay ở nước ta, việc đánh giá các công trình khoa học được sử dụng nhiều nhất trong những trường hợp sau:  1. Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học.  2. Xét phong chức danh khoa học – giáo sư, phó giáo sư, và  3. Đánh giá các luận văn khoa học, từ khóa luận cử nhân, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đến đồ án tốt nghiệp của sinh viên các ngành kỹ thuật.  Việc đánh giá được thực hiện trong khuôn khổ các hội đồng, chẳng hạn, hội đồng nghiệm thu đề tài, hội đồng chức danh giáo sư, hội đồng bảo vệ luận văn.  Trong quá trình đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học, các hội đồng đã sử dụng những thang đánh giá như sau:  Để nghiệm thu đề tài các hội đồng sử dụng thang đánh giá 4 mức: Xuất sắc, Khá, Đạt và Không đạt. Việc đánh giá ở mức nào mang nặng cảm tính, chưa có tiêu chuẩn cụ thể để xếp hạng đánh giá.  * Để đánh giá luận văn, các hội đồng sử dụng thang điểm 10, rồi cũng chia các loại: Xuất sắc, Khá, Đạt, Không đạt. Việc xét cho điểm cũng không dựa trên tiêu chuẩn cụ thể, mà chỉ thảo luận một cách cảm tính trong hội đồng. Vì thế mới diễn ra tình trạng “lạm phát” luận văn xuất sắc như báo chí đã nêu.  * Để xét phong chức danh giáo sư, phó giáo sư, các hội đồng sử dụng thang điểm quy ước để đánh giá các công trình khoa học: Bài báo khoa học được tính 1 điểm, 1 cuốn sách được 4 điểm, đề tài cấp nhà nước được tính 4 điểm, đề tài cấp cơ sở được tính bằng 2 điểm, v.v…   * Để tính các khoản thu hồi cho các dự án sản xuất thử thử nghiệm, các chủ nhiệm đề tài tính toán “hiệu quả kinh tế” mà dự án sản xuất thử thử nghiệm mang lại.  Qua thực tế vận dụng các thang điểm đánh giá trên đây, chúng ta thấy các tiêu chuẩn đánh giá chỉ mới quan tâm đến “giá trị” và “hiệu quả” một cách cảm tính. Nhìn chung các thang đánh giá, chúng ta có thể thấy bộc lộ rõ một số nhược điểm sau:  * Tiêu chí đánh giá không rõ: Xuất sắc, Khá, Đạt, Không đạt. Những tiêu chí này chỉ mới mang ý nghĩa cảm tính, chưa có những chuẩn cụ thể để đánh giá. Hiện nay chúng ta cũng đã dùng những thang điểm rất cụ thể và tưởng chừng rất hợp lý, nhưng cũng còn rất nhiều chuyện đáng bàn. Tác giả xin đề cập trong một dịp khác.  * Giá trị khoa học được tính điểm theo “cấp” của đề tài. Hiện nay, đề tài “cấp nhà nước” được tính điểm cao hơn đề tài “cấp bộ”; Đề tài “cấp bộ” được tính điểm cao hơn đề tài “cấp cơ sở”; Còn những sáng tạo khoa học “cấp cá nhân” thì không có chỗ đứng nào trong cái thứ bậc tôn ty hành chính phong kiến này. Tiêu chuẩn này sai ở chỗ, đề tài của các cấp thường nhằm giải quyết một nhu cầu thực tế (về công nghệ, kinh tế hoặc xã hội) của cấp đó, không nhất thiết yêu cầu trình độ khoa học cao. Chẳng hạn, đề tài cấp nhà nước về chống cháy rừng, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều ngành và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, môi trường và xã hội, nhưng làm sao có thể so sánh được với đề tài “cấp cá nhân” như nghiên cứu về giá trị thặng dư của Marx hoặc lý thuyết tương đối của Einstein?  * Tính điểm công trình khoa học: Giá trị bài báo khoa học được tính bằng 1 điểm, trong khi một pho sách khoa học được tính bằng 4 điểm. Một cuốn sách có thể là sản phẩm của nhiều năm nghiên cứu, còn một bài báo có thể chỉ là một ý tưởng nảy sinh tại một khoảnh khắc ngắn ngủi.Làm sao lại có thể đánh giá 4 bài báo = 1 cuốn sách? Ngược lại, hoàn toàn có thể có bài báo có giá trị khai phá, mở ra những lĩnh vực khoa học mới, không cuốn sách nào có thể so sánh được. Trong khi đó, cũng có những quyển sách chắp vá tùy tiện, đạo văn, tác giả của nó không xứng đáng được xem xét.  * Nhìn nhận lệch lạc về hiệu quả kinh tế mà khoa học mang lại. Có người còn nói: “Khoa học hãy chứng minh sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế bao nhiêu, chúng tôi sẽ quyết định đầu tư cho khoa học bấy nhiêu”.   * Theo đặc điểm của nghiên cứu khoa học, hoạt động sản xuất thử thuộc giai đoạn “Triển khai” , không thể tính được hiệu quả kinh tế. Hoạt động này bao gồm 3 giai đoạn: (1) Sản xuất một mẫu sản phẩm mới (prototype). Đối với loại hoạt động này, nhà nghiên cứu phải sử dụng cả trăm triệu đồng chỉ để tạo ra một (01) mẫu sản phẩm; (2) Sau khi tạo ra mẫu sản phẩm, nhà nghiên cứu phải làm pilot (instalation pilot) để xây dựng quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm này; (3) Sau khi hoàn thiện được công nghệ, nhà nghiên cứu phải tiến hành sản xuất loạt thử nghiệm (série “0”) để xác nhận tính khả thi của công nghệ. Rõ ràng rằng, sản phẩm thuộc 2 giai đoạn đầu chưa có tính thương mại. Chỉ có sản phẩm sản xuất série “0” mới có thể “tranh thủ”, “tận dụng” bán ra thị trường, nhưng giá trị bán sản phẩm không thể bù lại khoản chi phí đã đầu tư để tạo ra chúng. Tại các nước phát triển, Nhà nước không thu hồi khoản này, cũng không cho “ăn chia”, mà cho sử dụng để trang bị cho cơ sở R&D.           Trong những điều kiện để các ứng viên được nộp đơn xin cấp tài trợ nghiên cứu, chúng ta có thể đọc được một đòi hỏi sau đây: “… Có  học vị tiến sỹ hoặc học hàm phó giáo sư, giáo sư; có kết quả nghiên cứu  chuyên ngành phù hợp… được công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành  quốc tế uy tín (các tạp chí do Viện thông tin khoa học quốc tế ISI xếp  hạng) trong khoảng thời gian 05 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ”2.     Đọc những điều kiện này, chúng ta có thể  thấy một yêu cầu rất cao cho các ứng viên, làm cho cơ quan tài trợ yên  tâm là đã “chọn đúng được mặt” để mà “gửi vàng”. Tuy nhiên nếu suy nghĩ  sâu một chút thì chúng ta lại nhận ra một khía cạnh đáng suy nghĩ khác,  đó là nếu cứ theo tiêu chí này, thì những người thuộc giới trẻ chưa có  công trình công bố ở đâu, chưa có bằng tiến sỹ và hàm giáo sư và phó  giáo sư, … thì dù có tư tưởng khoa học hay đến mãy cũng cứ xin đứng chầu  rìa… quay trở lại cái thời Bolyai cố len chân để công bố những tư tưởng  mới mẻ của Hình học non-Euclide, đến mức phải “len lén” công bố dưới  dạng một Phụ lục (Appendix) trong một cuốn sách của người cha.        * Ngoài ra, trong việc đánh giá các công trình khoa học ở nước ta, chúng ta còn phải nói đến các yếu tố mang tính tâm lý, xã hội khác, như hội đồng gồm những thành viên “chiến hữu” hoặc sự vị nể vì những điều “tế nhị” trong đánh giá.  Những vướng mắc nêu trên hoàn toàn có thể giải quyết được bằng cách đưa ra những cách tiếp cận và tiêu chuẩn đánh giá khách quan một công trình khoa học.  Phân loại đánh giá nghiên cứu khoa học  Từ thực tiễn tổ chức nghiên cứu khoa học, chúng tôi thấy luôn tồn tại 4 loại công việc liên quan tới đánh giá nghiên cứu khoa học: (1) Thẩm định một đề xuất nghiên cứu; (2) Đánh giá kết quả nghiên cứu ngay sau khi hoàn thành đề tài (Output), chưa xét đến khả năng áp dụng kết quả nghiên cứu; (3) Đánh giá hiệu quả (Outcome) và hệ luỵ (Impact) của nghiên cứu, sau khi công trình được đưa vào áp dụng; và (4) Nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu.  1. “Thẩm định” là xem xét đề tài trước khi được thực hiện. Kết luận của thẩm định là: đề tài có đáng được thực hiện hay không?  2. “Đánh giá kết quả nghiên cứu” là xem xét chất lượng của bản thân sản phẩm nghiên cứu, chưa xem xét hiệu quả áp dụng.  3. “Đánh giá hiệu quả và hệ luỵ của nghiên cứu” là xem xét ý nghĩa các tác động sau khi áp dụng các kết quả của đề tài vào đời sống xã hội. “Nghiệm thu” là công việc của bên giao đề tài.  xem xét có chấp nhận sản phẩm trình nộp của bên thực hiện đề tài hay không.    4. Cần phân biệt đánh giá kết quả, đánh giá hiệu quả và hệ luỵ của nghiên cứu. Hiệu quả và hệ luỵ chưa thể thấy được sau khi công việc nghiên cứu thu được kết quả. Hiệu quả và hệ luỵ chỉ có thể dự kiến và chỉ có thể thấy rõ sau khi đưa kết quả vào áp dụng. Hiệu quả và hệ luỵ có thể có cả dương tính, khi tác động diễn ra theo chiều hướng phù hợp với mong đợi của người nghiên cứu; có thể có cả âm tính, khi tác động diễn ra ngược lại với mong đợi của người nghiên cứu; Song cũng có thể xuất hiện những tác động ngoại biên (side effect), khi tác động diễn ra ngoài dự kiến của người nghiên cứu. Ví dụ, thuốc aspirin chữa cảm sốt (hiệu quả dương tính), có hại đối với người đau dạ dầy (âm tính), có tác dụng ngăn ngừa xơ vữa động mạch (ngoại biên).  Kết quả nghiên cứu có thể chỉ đơn giản là được công bố, mang lại cho xã hội những hiểu biết mới, gọi là hiệu quả thông tin; Kết quả nghiên cứu có thể làm xuất hiện một hướng công nghệ mới, gọi là hiệu quả công nghệ (chưa bàn đến việc áp dụng công nghệ vào sản xuất); Sau này, khi áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, dẫn đến hiệu quả tính được thành tiền, gọi là hiệu quả kinh tế; Cũng có những tác động về mặt xã hội rất lớn lao, chẳng hạn, văn hóa, y tế, an ninh, quốc phòng,… nhưng không thể tính được thành tiền, gọi đó là hiệu quả xã hội.  Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học  Để đánh giá khách quan các công trình khoa học, chúng tôi đề nghị xây dựng một hệ thống đánh giá khoa học với một số cách tiếp cận và tiêu chí phù hợp với tính chất của hoạt động NCKH và đặc điểm của sản phẩm NCKH.  Trước hết, hệ thống đánh giá khoa học được hiểu bao gồm: thẩm định đề cương nghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu, đánh giá hiệu quả nghiên cứu và nghiệm thu đề tài.   Thứ hai, hệ thống đánh giá khoa học còn bao gồm những tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá. Vấn đề là cụ thể hóa những chỉ tiêu của từng loại đánh giá đã nêu trên đây.  Thứ ba, hệ thống đánh giá còn bao gồm một thiết chế về tổ chức: đánh giá bằng phương pháp chuyên gia, bằng phương pháp hội đồng, hoặc phương pháp kết hợp chuyên gia với hội đồng.  Thứ tư, cách thức quyết định của 4 loại trên đây cũng khác nhau: Quyết định nghiệm thu dựa trên nguyên tắc biểu quyết đa số; Kết quả thẩm định được trình bày dưới dạng ghi nhận các ý kiến đánh giá của chuyên gia và của hội đồng để cơ quan tài trợ quyết định; Đánh giá kết quả và đánh giá hiệu quả thì không biểu quyết mà chỉ ghi nhận các ý kiến, rồi công bố để các đồng nghiệp sử dụng như một tư liệu nghiên cứu.  Vấn đề của các cơ quan quản lý KH&CN là cần đưa ra các thang đánh giá phù hợp với yêu cầu của thẩm định, nghiệm thu, đánh giá kết quả nghiên cứu và đánh giá hiệu quả nghiên cứu.  Những nội dung về phương pháp đánh giá và tiêu chí đánh giá các loại kết quả nghiên cứu, hiệu quả nghiên cứu và hệ luỵ của nghiên cứu tác giả xin bàn đến trong một dịp khác.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Đánh giá sự trưởng thành của một nền khoa học      Liệu có thể đánh giá thực lực nền khoa học Việt Nam theo số bài đăng trên hai tạp chí Science và Nature?    Cuối năm 2011, Viện hàn lâm Phần Lan tổ chức một buổi tổng kết thành quả nghiên cứu khoa học của Phần Lan trong thời gian gần đây. Viện yêu cầu thành viên của các hội đồng nghiên cứu chuẩn bị bài tham luận và phát biểu tại buổi tổng kết này. Nội dung chủ yếu tập trung vào khả năng cạnh tranh của Phần Lan về nghiên cứu khoa học so với các nước trong khu vực và trên trường quốc tế.  Viện hàn lâm Phần Lan không phải là một tổ chức nghiên cứu khoa học, mà chỉ là cơ quan quản lí các hoạt động khoa học cấp quốc gia của Phần Lan. Các dự án nghiên cứu hầu hết được thực hiện tại các đại học.  Chúng tôi có sự quen biết đặc biệt với một thành viên của Hội đồng Khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật thuộc Viện, nhiệm kỳ 2010 – 2012, hiện là một giáo sư tại Đại học Oulu. Ông đã chuẩn bị một bài báo cáo mà trong đó ông đưa ra thống kê số lượng bài báo khoa học của Phần Lan trên hai tạp chí Nature và Science. Vị giáo sư này có nhờ chúng tôi giúp ông tra cứu kết quả thống kê trên, và đồng thời so sánh kết quả này của Phần Lan với các nước trong khu vực Bắc Âu và trên toàn thế giới.   Chúng tôi tò mò nên hỏi vị giáo sư “Tại sao chỉ Nature và Science?“. Ông cho biết “việc công bố trên hai tạp chí lừng danh này chỉ là điều kiện đủ để đánh giá thành tựu khoa học của một nước, chứ không phải điều kiện cần” và ông nói tiếp “có thể đánh giá mức độ trưởng thành của nền khoa học của một quốc gia dựa trên số lượng bài báo khoa học công bố trên hai tạp chí Nature và Science.“  Thú vị với nhận định của vị giáo sư, chúng tôi đã thống kê tốp 10 nước có số số lượng bài báo trên Nature và Science cao nhất, và một số nước trong khu vực Đông Nam Á.  Xếp hạng của Việt Nam so với khu vực            Trong 7 bài của Việt Nam, với 3 bài trên  Science và 4 bài trên Nature, thì không hề có bài báo nào trong đó tác  giả Việt Nam nào là tác giả chính.        Dữ liệu dưới đây được truy xuất từ Web of Knowledge (nơi thống kê và xếp hạng đầy đủ nhất các tạp chí khoa học quốc tế) trong 10 năm gần nhất, 2001 – 2011 và ngày truy xuất là 02.1.2012. Chỉ các bài báo khoa học (articles – một trong 17 loại ấn phẩm) theo cách phân loại của Web of Knowledge mới được tính. Chúng tôi cũng có kèm theo dân số (theo CIA.gov và ons.gov.uk đối với Anh) của nước được liệt kê. Kết quả thu được như sau:  Tốp 10 nước đứng đầu:            Xếp hạng      Tên nước      Số bài báo      Dân số          1      Mỹ      13228      313.232.044          2      Anh         3035      52.234.000           3      Đức      2586      81.471.834          4      Pháp      1776      65.312.249          5      Nhật      1623      126.475.664          6      Canada      1209      34.030.589          7      Thụy   Sĩ      963      7.639.961          8      Hà   Lan      824      16.847.007          9      Úc      767      21.766.711          10      Ý      743      61.016.804            Một số nước trong khu vực Đông Nam Á:            Xếp hạng      Tên nước      Số bài báo      Dân số          1      Singapore      103      4.40.737          2      Indonesia      37      245.613.043          3      Thái   Lan      35      66.720.153          4      Philippines      16      101.833.938          5      Malaysia      12      28.728.607          6      Việt   Nam      7      90.549.390            Việc dựa trên số lượng bài bào trên hai tạp chí lừng danh Nature và Science để đánh giá mức độ trưởng thành của nền khoa học của một nước có thể chỉ là ý kiến riêng của vị giáo sư trên, có thể không phải là chuẩn mực do Viện hàn lâm Phần Lan đặt ra. Tuy nhiên ông có chia sẻ “hầu hết các viện hàn lâm trên thế giới làm như thế”.  Thông tin về con số bài đăng khá khiêm tốn của Việt Nam trên đây có thể giúp mọi người thấy rằng sự “trưởng thành” (theo cách hiểu của vị giáo sư Phần Lan nói trên) của khoa học nước nhà là khá khiêm tốn so với khu vực. Chưa kể đến thực tế là trong 7 bài của Việt Nam, với 3 bài trên Science và 4 bài trên Nature, thì không hề có bài báo nào trong đó tác giả Việt Nam nào là tác giả chính (first authors, corresponding authors). Thậm chí trong một bài trên Science vào năm 2007, có đến 444 tác giả tham gia và họ đến từ 90 quốc gia khác nhau.      Ý kiến của các nhà khoa học và các nhà quản lí khoa học   Để giúp cung cấp cho bạn đọc quan điểm của một số nhà khoa học và nhà quản lí khoa học Việt Nam về việc đánh giá thực lực nền khoa học dựa trên số bài đăng trên hai tạp chí Nature và Science, chúng tôi đã phỏng vấn một số người và được phản hồi như sau.    Phó giáo sư Phan Thanh Bình (Giám đốc ĐHQG TP.HCM):   Tôi rất thú vị, và nhất trí, với ý kiến của vị GS Phần Lan, khi ông cho rằng số bài báo được công bố trên 2 tạp chí Nature và Science của các nhà khoa học của một đất nước có thể xem như điều kiên ĐỦ để góp phần đánh giá thành tựu, mức độ trưởng thành của nền khoa học của đất nước đó. Điều dĩ nhiên trước khi nói đến điều kiện ĐỦ thì ta phải có điều kiện CẦN!           “Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta đang  còn phải lo nhiều đến điều kiện CẦN ! Nhưng không vì thế các nhà khoa  học Việt Nam không nghĩ đến điều kiện ĐỦ. Nhưng cái CẦN lại kéo theo cái  ĐỦ.”        Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta đang còn phải lo nhiều đến điều kiện CẦN ! Nhưng không vì thế các nhà khoa học Việt Nam không nghĩ đến điều kiện ĐỦ. Nhưng cái CẦN lại kéo theo cái ĐỦ.   Theo tôi, ý kiến của vị Giáo Sư ĐH Oulu là chấp nhận được và có thể hiểu một cách khác như sau: nhìn vào việc phát triển khoa học cơ bản của một đất nước, chúng ta có thể biết được trình độ phát triển cùa nền khoa học của đất nước đó.   Tuy nhiên, một cách khoa học, cũng cần cân nhắc đến cái CẦN và cái ĐỦ giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, giữa điểu kiện ĐỦ của khoa học và yêu cầu đối với điều kiện ĐỦ của một đất nước đang phát triển như Việt Nam.   Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu (Nguyên chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam):  Việc một quốc gia đã công bố nhiều công trình trên hai tạp chí lừng danh này (Nature và Science) là một bằng chứng rõ rệt về trình độ khoa học cao của quốc gia đó.  Tôi biết rõ một quốc gia vào thời kỳ mà quốc gia đó nằm trong top 5 nước hàng đầu thế giới về khoa học nhưng chỉ có rất ít bài đăng trên hai tạp chí nói trên, và trong 10 năm qua chưa nằm trong top 10 nước có nhiều công bố trên hai tạp chí nói trên nhưng dứt khoát hiện nay đang có nền khoa học hơn hẳn nước Úc mà tôi cũng biết khá rõ: đó là nước Nga.   Riêng đối với Việt Nam thì con số chỉ có 7 bài đăng trên hai tạp chí nói trên phù hợp với tình trạng tụt hậu không đáng có của khoa học Việt Nam, một điều làm cho giới khoa học Việt Nam chúng ta phải băn khoăn, lo lắng.    Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (Nguyên trưởng khoa Cơ học Phá huỷ, ĐH Liège, Bỉ):   Quan điểm của vị giáo sư Phần Lan về tầm quan trọng của hai tạp chí Nature và Science là không sai, đăc biệt ông nhấn mạnh ở điền kiện đủ chứ không cần. Vì có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học lừng danh có cống hiến quyết định cho khoa học thế giới, nhưng lại chưa từng công bố trên hai tạp chí này.  Ảnh hưởng sâu rộng của hai tạp chí này phát xuất từ tính nghiêm túc ngay từ ngày sáng lập, nhưng cũng từ chỗ hai tờ báo lừng danh này thường đăng tải những công trình tổng quát hay khi có chuyên môn lại phải có ảnh hưởng phổ quát. Thông thường những bài nghiên cứu mũi nhọn ít người đọc thì đã có những tạp chí chuyên ngành, ngày càng vừa hẹp, vừa sắc bén.  Theo nhật báo “le Monde” của Pháp số ra ngày 1/4/2011, chính Nature đã công bố bảng sắp hạng về nguồn gốc số tác giả đã đăng tải trên báo mình. Xin ghi lại đây 10 nguồn sắp đầu bảng này:  1.    Đại học Harvard, Mỹ   2.    Trung tâm nghiên cứu quốc gia Pháp   3.    Viện nghiên cứu Max Planck, Đức  4.    Đại học Stanford, Mỹ  5.    Viện công nghệ Massachusetts (MIT), Mỹ   6.    Đại học Tokyo, Nhật   7.    Viện nghiên cứu sức khoẻ quốc gia, Hoa Kỳ (National Institutes of Health)  8.    Đại học Yale, Mỹ  9.    Đại học Công nghệ California, Mỹ   10.    Đại học Columbia New York, Mỹ  Trừ ngoại lệ Trung tâm nghiên cứu quốc gia Pháp không phải là đại học mà là một tổ chức tầm cỡ quốc gia hay viện Max Planck, bản sắp hạng trên đây khá trùng hợp với bản sắp hạng chất lượng các đại học lớn trên thế giới.  Cũng đừng nên tuyệt đối hoá Nature và Science. Họ đã từng mắc sai lầm nghiêm trọng. Thí dụ trong năm 2000-2001 Narure đã cho đăng công bố bài của Jan Hendrik Schön có dữ kiện bị đánh tráo. Hay khi Nature từ chối đăng bài của hai tác giả Paul Lauterbur and Peter Mansfield để họ phải đăng báo khác, rồi sau đó hai tác giả này đã nhận được giải Nobel (2003).  Vài trò khiêm tốn của các tác giả Việt Nam trên bảng xếp hạng của “Web of Knowledge” phải làm cho chúng ta lo ngại. Đến như Philippines mà cũng có hơn gấp đôi chúng ta về số lượng công bố khoa học trên báo chí sáng giá của thế giới. Những số liệu được tập hợp này ngày càng cho thấy vị thế hạn chế của khoa học Việt Nam, trong khi xu hướng phát triển tiếp theo vẫn chưa xuất hiện những cải tổ quyết liệt trong giáo dục hay tổ chức nghiên cứu khoa học với kết quả đủ thuyết phục để cho thấy chúng ta bắt đầu đi đúng hướng.   GS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và Khoa Y thuộc ĐH New South Wales, Úc):  Science và Nature là hai diễn đàn khoa học quốc tế nổi tiếng, vì hai tập san này chỉ công bố những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng và mang tính đột phá (ground breaking). Thật ra, bản chất của hai tập san này là magazine (chứ không phải journal), nhưng uy danh của họ không hề bị ảnh hưởng vì chữ magazine! Có công trình đăng trên Nature và Science là một vinh dự lớn và triển vọng có giải thưởng quan trọng cũng rất cao. Thật vậy, rất nhiều tác giả được trao giải Nobel từng có bài công bố trên hai tạp chính danh tiếng này. Chính vì thế mà một số nhóm xếp hạng đại học thường dựa vào số công trình khoa học được công bố trên Nature và Science này như là một trong những thước đo về chất lượng nghiên cứu khoa học.  Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng Nature và Science không phải là tập san có chỉ số ảnh hưởng lớn nhất trong khoa học. Nếu chấp nhận impact factor (IF) là một chỉ số phản ảnh mức độ ảnh hưởng của một tập san thì IF năm 2011 của Nature là 27.95 và Science là 23.3.  Những chỉ số này vẫn còn thấp hơn một số tập san nổi tiếng khác như New England Journal of Medicine (29.1) hay Cell (29.2).  Ngoài ra, còn một số tập san nổi tiếng khác (chỉ tính trong ngành Y) như JAMA, PNAS, Lancet,  v.v. cũng công bố nhiều công trình quan trọng đẳng cấp giải Nobel. Do đó, theo tôi, không chỉ giới hạn các công trình trên Nature và Science để đánh giá một nền khoa học. Tôi đồng ý với nhận định rằng những bài báo trên Nature và Science là điều kiện đủ, nhưng chưa cần, để đánh giá thành tựu khoa học của một quốc gia.   Riêng trường hợp Việt Nam, cũng đã có những công trình trên Science, Nature, New England Journal of Medicine, Lancet, v.v.  Nhưng rất tiếc là những công trình này không phải của người Việt Nam, mà thường hợp tác với đồng nghiệp ngoại quốc (chứ không phải “nội lực”).  Điều này cũng có thể hiểu được vì Việt Nam ta thiếu những phương tiện làm nghiên cứu đẳng cấp cao, và phải hợp tác với đồng nghiệp ngoại quốc.  Hiện nay, khoảng 80 đến 85% những bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế là do hợp tác với các nhà khoa học ngoại quốc. Thật ra, số nhà khoa học Việt Nam có thể độc lập từ ý tưởng, phương pháp, đến khả năng viết một bài báo hoàn chỉnh bằng tiếng Anh không nhiều. Tuy nhiên, tôi nghĩ trong tương lai, nếu có chính sách đúng và hợp lí, số nhà khoa học độc lập ở Việt Nam sẽ tăng nhanh.”   —-  * TS. Lê Văn Út (ĐH Oulu, Phần Lan), TS. Nguyễn Xuân Hưng (ĐH Strasbourg, Pháp)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Danh mục tạp chí quốc tế có uy tín      Việc đưa ra các tiêu chuẩn cứng trong việc đánh giá chất lượng nghiên cứu là việc không thể tránh khỏi ở một đất nước mà khoa học chưa phát triển như nước ta. Dĩ nhiên sẽ có những bất cập khi dùng tiêu chuẩn cứng trong các danh mục ISI có uy tín và quốc tế có uy tín.    Thế nào là danh mục đúng?   Việc lập danh mục tạp chí có uy tín là một việc rất phức tạp, ví dụ như ai đó có thể cho rằng tạp chí nào đó tốt, sau đấy lại có người cho tạp chí khác cũng tốt cũng cần đưa vào, cứ như thế không bao giờ dừng. Hay nói chuyện SCI và SCI-E, nếu đưa cả SCI-E vào thì danh mục tạp chí ISI có uy tín sẽ quá nhiều còn việc đưa thêm xếp hạng của Scimago chỉ cốt có được một bộ lọc tốt hơn. Bất hợp lý lúc nào cũng có và bất hợp lý lớn nhất là tại sao có tạp chí được tính gấp đôi so với một tạp chí có uy tín gần tương đương. Nhưng những quyết định cấp tiến như vậy sẽ khuyến khích mọi người bỏ công sức để có những công bố có chất lượng tốt hơn.   Theo quan điểm của tôi, vấn đề ở đây là Quỹ NAFOSTED phải đưa ra được một phương án đánh giá thỏa mãn được các tiêu chí sau đây:  1) Áp dụng cho tất cả các ngành, tránh tình trạng mỗi ngành đưa ra những tiêu chuẩn riêng.  2) Không nên để các hội đồng ngành thêm bớt các tạp chí vào trong danh mục vì mỗi hội đồng từng nhiệm kỳ không bao gồm đại diện đủ các chuyên ngành. Không thể tránh khỏi chuyện người chuyên ngành nào thì chỉ thay đổi danh mục có lợi cho chuyên ngành đó. Cũng vì lý do này mà cộng đồng khoa học cũng không thể bầu chọn các danh mục tạp chí có uy tín được.  3) Không thể dùng chỉ số ảnh hưởng (impact factor) để xếp hạng tạp chí trong cả ngành vì mỗi chuyên ngành đều có cách trích dẫn khác nhau.   4) Quỹ có thể dễ dàng lập các danh mục hằng năm và ai cũng có thể biết trước được tạp chí nào thuộc danh mục nào.  Xét về phương diện quản lý thì việc khó nhất là đạt được sự đồng thuận của tất cả các ngành. Đại diện hội đồng khoa học các ngành NAFOSTED đã thống nhất chọn phương án sau đây (sau rất nhiều cuộc thảo luận trực tiếp và qua mạng):  – Tạp chí ISI có uy tín = SCI giao với Q1 trong từng chuyên ngành của Scimago.   – Tạp chí quốc tế có uy tín = SCIE giao với Q1+Q2 trong từng chuyên ngành của Scimago.  Danh sách tổng hợp là hợp của tất cả các danh sách trong từng chuyên ngành. Khi lập danh sách thì Quỹ có làm thống kê các công bố trước đây và thấy cách làm này hợp lý, xét về nhiều phương diện. Tuy nhiên phương án này đã bị loại và thay thế bằng danh mục tạp chí quốc tế có uy tín với các tạp chí thuộc nhóm  Q1+Q2+Q3 của ISI.   Tuy nhiên, hội đồng ngành có thể đặc cách nghiệm thu các bài báo đăng trong các tạp chí dạng trên nếu thấy nó xứng đáng. Tương tự, các hội đồng ngành cũng có thể không nghiệm thu các bài báo đăng trong danh mục quốc tế có uy tín và phán xét của hội đồng sẽ đóng vai trò quyết định.  Tác động của danh mục tạp chí với chất lượng nghiên cứu  Cộng đồng khoa học trong nước cũng biết tác hại của chuyện đếm bài ISI. Ngồi trong hội đồng khoa học ngành nên tôi biết được thêm rất nhiều tạp chí ISI làng nhàng mà trước đây mình không biết là nó tồn tại. Nhiều người trẻ và giỏi chỉ còn chăm chăm “sản xuất” bài báo vì nhiều trường đại học thưởng rất cao các bài báo ISI (lên đến hàng chục triệu) cho cả người ngoài trường miễn là người đó ghi địa chỉ của trường. Trách họ thế nào đây khi mà chuyện đó thực sự liên quan đến miếng cơm manh áo.  Việc đếm bài nghiệm thu chắc còn kéo dài, đến bao giờ chắc sẽ phụ thuộc vào tình hình phát triển ở nước ta. Ở một số nước Đông Nam Á, họ thậm chí chỉ đếm bài mà không có hội đồng xét duyệt như ở Việt Nam và ngay cả ở Nhật Bản, họ cũng để ý đến công bố ISI. Tại hội nghị hình học đại số Đông Á do Viện Toán tổ chức năm ngoái 2018, Đinh Tiến Cường đề xuất việc xuất bản một số báo Acta đặc biệt. Ông Yujiro Kawamata lập tức hỏi ngay là tờ Acta có nằm trong danh mục ISI hay không, và ông ấy nói rằng các nhà toán học trẻ ở Nhật chắc là không gửi bài đăng được vì Acta không nằm trong danh mục ISI. Tôi sững sờ cả người vì một người giỏi như ông ấy còn quan tâm đến chuyện này.  Để đẩy cao chất lượng nghiên cứu, các nhà khoa học đã kiến nghị Bộ KH&CN phải có biện pháp khuyến khích để nâng cao chất lượng công bố. Vì thế, Quỹ mới có quyết định lập hai danh mục quốc tế có uy tín và ISI có uy tín (tạm gọi là A và A1). Danh mục A có thể hiểu là danh mục các tạp chí ISI loại đi các tạp chí chất lượng thấp. Còn danh mục A1 gồm những tạp chí ưu tú của A. Đăng bài trong A1 được tính bằng 2 bài trong A. Đến đây lại nảy sinh vấn đề thế nào là thấp, thế nào là ưu tú. Ban đầu Quỹ xét theo chỉ số ảnh hưởng (impact factor), cứ tạp chí nào xếp trong tốp 3/4 (Q1+Q2+Q3) là A và trong top 1/4 (Q1) là A1. Do chỉ số này phản ánh cơ học tần suất được trích dẫn của từng tạp chí, nên những chuyên ngành nào có “văn hóa trích dẫn” ít sẽ rất thiệt thòi. Ví dụ như không có bất kỳ một tạp chí hàng đầu nào của các chuyên ngành toán lý thuyết nằm trong A1 (gồm đại số, hình học, số học, tô pô, tổ hợp, chiếm khoảng 50% số lượng công bố trong nước), một số tạp chí này còn không thuộc loại A vì nằm trong Q4 của ISI. Sau đó Quỹ cho phép các hội đồng ngành bổ sung hay loại bớt các tạp chí trong hai danh mục A và A1. Nhưng thực tiễn cho thấy mỗi nhiệm kỳ hội đồng lại đưa ra các danh sách khác nhau. Việc thảo luận bổ sung hay loại bớt tạp chí nào rất mệt mỏi và tốn thời gian, thậm chí cũng không xác đáng và công bằng. Để khắc phục chuyện này có thể xét theo impact factor của Scimago vì Scimago chia nhỏ các ngành ra nhiều chuyên ngành. Ví dụ như ISI chia toán ra làm toán lý thuyết và toán ứng dụng, còn Scimago chia toán ra thành 10 chuyên ngành. Ngoài ra Scimago còn tính impact factor theo trọng số uy tín của các tạp chí trích dẫn nên phản ánh tốt hơn chất lượng tạp chí. Chỉ cần nhìn vào xếp hạng của Scimago trong toán học là thấy thứ tự các tạp chí của họ đúng hơn hẳn so với ISI.   Do đó, Quỹ cần có các tiêu chuẩn cứng cho các danh mục tạp chí có uy tín và tất nhiên sẽ có tranh cãi về chuyện này rồi vì ai cũng chỉ nhìn thấy “bầu trời” hay “hòn đảo” của mình thôi.   Cuối cùng là Quỹ cũng có quy định mỗi đề tài phải có ít nhất một phản biện từ nước ngoài. Nhưng thực tế là gửi 5 thư mời phản biện bên ngoài thì gần như 90% không có hồi âm và trong những người đồng ý nhận xét thì phần lớn cũng không gửi nhận xét (đúng hạn) mặc dù ta đã nhắc họ rất lịch sự. Chuyện này cũng rất mất thời gian. Đấy là còn chưa nói đến họ không hiểu thực tế VN nên nhiều khi đưa ra những nhận xét chỉ đúng với hoàn cảnh bên ngoài. Việc mời phản biện bên ngoài vẫn đang được thực hiện.    Với trình độ phát triển và tình hình cụ thể Việt Nam hiện nay, cách làm tham khảo rộng rãi ý kiến cộng đồng khoa học của Quỹ là phù hợp. Quả là nhiều nơi ở Việt Nam đang “đếm bài”, chạy theo số lượng nhằm nâng vị trí bảng xếp hạng ĐH. Tuy nhiên Quỹ không làm như vậy mà chỉ yêu cầu mỗi đề tài tối thiểu 2 bài loại 2 (hoặc 1 bài loại 1)  trong 2 năm, để giúp các chủ trì tập trung vào chất lượng. Anh có thể đăng ký tới 3, 4 bài, với kinh phí được tăng thêm nhưng không tới 2 lần đề tài bình thường (trong khi lương chủ trì vẫn giới hạn một mức tối đa như nhau) – và cần được Hội đồng ngành đánh giá thông qua về chất lượng. Tất nhiên một bài loại 2 nhưng chất lượng tốt, chủ trì có thể đề nghị hội đồng khoa học ngành xem xét đánh giá như 1 bài loại 1 để nghiệm thu đề tài. Ngược lại, 1 bài loại 1 nhưng cũng có thể bị hội đồng đánh trượt nếu thấy không xứng đáng. Tôi cho rằng, nếu 1 chủ trì đăng bài theo 1 hướng mới, độc và 1 tạp chí mà ở VN hiếm ai đăng được thì dù là bài SCIE cũng xứng đáng để hội đồng xem xét nghiệm thu. Hội đồng cũng có thể mời thêm đánh giá quốc tế cho các trường hợp cần thiết. PGS.TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)    Tạp chí quốc tế uy tín (khoảng ¾ danh mục SCIE đối với lĩnh vực KHTN) được sử dụng để đánh giá đầu vào và đầu ra chương trình nghiên cứu cơ bản. Đối với đánh giá đầu vào, điều kiện có công bố quốc tế uy tín đối với chủ nhiệm đề tài là tương đối cơ bản, có thể đáp ứng đối với đa số các nhà khoa học đang thực hiện công tác nghiên cứu liên tục. Điều kiện này cũng là bộ lọc rất tốt, giúp giảm bớt nhiều hồ sơ không phù hợp. Đối với đánh giá kết quả, do danh mục tương đối rộng, bao hàm đại đa số các tạp chí khoa học có chất lượng, điều kiện này không ảnh hưởng đến việc các chủ nhiệm đề tài chọn các tạp chí có chất lượng để công bố. Các tạp chí 1 2 3 hay A B C đều thuộc danh mục tạp chí quốc tế có uy tín mới ban hành. Tất nhiên, việc đánh giá đầu vào hay đầu ra phụ thuộc chính vào các thành viên hội đồng khoa học ngành và đánh giá của chuyên gia phản biện (các hồ sơ đều có chuyên gia phản biện ngoài hội đồng; khoảng 20% hồ sơ có phản biện quốc tế). Trong nhưng năm qua, khoảng 40-60% hồ sơ hợp lệ (có công bố quốc tế uy tín) được tài trợ, tương ứng với việc các hồ sơ đủ điều kiện cứng, được xem xét, đánh giá chủ yếu bởi hội đồng khoa học và chuyên gia. Các kết quả nghiên cứu đầu ra có nội dung và chất lượng không phù hợp, hoặc không do thành viên của nhóm nghiên cứu thực hiện, không được HĐKH chấp nhận dù có đăng trong danh mục quy định. Tạp chí ISI uy tín (khoảng ¼ danh mục SCIE đối với khoa học tự nhiên) nhằm khuyến khích các nhóm nghiên cứu công bố trên tạp chí khoa học chất lượng cao. Đây là định hướng quan trọng trong giai đoạn hiện nay (tương tự tăng cường số lượng nhóm nghiên cứu, công bố ISI giai đoạn trước). Hiện tại, phương án ban hành đã khá tối ưu trong các phương án đặt ra tuy nhiên vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Các hội đồng khoa học và cơ quan điều hành Quỹ vẫn tiếp tục tham khảo, trao đổi để đề xuất phương án phù hợp. TS. Đỗ Tiến Dũng (Giám đốc Quỹ NAFOSTED)      Có lẽ vấn đề lớn nhất vẫn là các hội đồng ngành của Quỹ NAFOSTED có được trao quyền quyết định cao nhất về đánh giá chất lượng khoa học công trình công bố không. Có lẽ có tâm lý e ngại nhất định, khi đánh giá chất lượng khoa học công trình công bố, phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của một nhóm người. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu công khai, minh bạch, trao đổi thẳng thắn thì sẽ không có những trường hợp như đã xảy ra ở các hội đồng giáo sư. Tôi thấy vừa kết hợp giữa bản danh sách tạp chí uy tín của Quỹ NAFOSTED, vừa trao quyền quyết định cho các hội đồng ngành đánh giá chung cuộc các trường hợp bị vướng giữa các bản danh sách, vừa công khai, minh bạch, trao đổi quá trình đánh giá các công trình công bố thì nói chung câu chuyện cũng ổn, chúng ta cũng đỡ vướng xây dựng các danh sách tạp chí hợp ý tất cả mọi người, và cũng không để các hội đồng ngành quyền sinh quyền sát tuyệt đối, và tác giả cũng được có ý kiến phản hồi cũng đỡ phải tâm tư. PGS. TS Trần Minh Tiến (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)    Author                Ngô Việt Trung        
__label__tiasang Danh tiếng chưa cao      Giải thưởng Chất lượng Quốc gia của Việt Nam đã được quốc tế thừa nhận trong hệ thống Giải thưởng Chất lượng Châu Á Thái Bình Dương; hằng năm được trao theo Quyết định của Thủ tướng; từ tên gọi tới cách tổ chức thực hiện đều đã được quy định cụ thể trong luật; các tiêu chí đánh giá dựa trên chuẩn mực từ Giải thưởng Malcolm Baldrige uy tín của Mỹ; vậy mà sau 20 năm hoạt động, uy tín của nó lại rất hạn chế.      Lẽ ra, đó phải được coi là tấm giấy thông hành đáng tự hào cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, khi doanh nghiệp rất cần những chứng nhận cho thấy họ đã được thẩm định, đánh giá kỹ lưỡng dựa trên những tiêu chí phù hợp với thông lệ quốc tế.  Tuy nhiên, trên thực tế trong hàng trăm nghìn công ty trên cả nước, mỗi năm trung bình chưa đầy 100 doanh nghiệp đăng kí tham dự Giải thưởng Chất lượng Quốc gia và trong đó thường không có mặt các tổng công ty, tập đoàn lớn.  Vậy phải chăng nguyên nhân do Giải thưởng Chất lượng Quốc gia thiếu tính thực chất, đưa ra những tiêu chí rất hay nhưng công tác thẩm định thì qua loa, hời hợt, mang lại những kết quả đánh giá thuần túy có tính hình thức?  Thực tế hoàn toàn trái lại. Thống kê của Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam cho thấy, hầu hết doanh nghiệp tham gia giải thưởng đều đánh giá cao tính khách quan, chính xác của giải trong đánh giá doanh nghiệp, và cho biết những kết quả đánh giá ấy là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục tự hoàn thiện mình. Đặc biệt, theo tìm hiểu của phóng viên Tia Sáng, các doanh nghiệp cho biết các hội đồng của giải thưởng làm việc hết sức nghiêm túc và kỹ lưỡng.    “Rất khắt khe”…  Khi được phóng viên hỏi bộ phận phụ trách giải thưởng của Traphaco – một doanh nghiệp đạt hơn 20 giải thưởng các loại liên quan đến chất lượng, là họ nghĩ gì về giải thưởng quốc gia thì họ đều nhìn nhau cười: “Khó nhất trong các giải thưởng […] Kĩ nhất trong các giải thưởng. […] Không có giải nào mà chúng tôi tốn nhiều thời gian như cho giải thưởng này.”  Các tiêu chí của Giải thưởng Chất lượng Quốc gia được đánh giá là khá cấp tiến bởi nó không đánh giá chất lượng của riêng sản phẩm mà của tất cả các hoạt động của công ty. Ông Nguyễn Nam Hải, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng cho biết: “chúng tôi định nghĩa chất lượng sản phẩm là thỏa mãn nhu cầu khách hàng”, được thể hiện qua 7 tiêu chí “giống như vành bánh xe quay quanh các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, giữ doanh nghiệp vận hành trơn tru”, bao gồm: 1) Vai trò lãnh đạo; 2) Hoạch định chiến lược; 3) Định hướng vào khách hàng; 4) Đo lường, phân tích và quản lý tri thức; 5) Định hướng vào nguồn nhân lực; 6) Quản lý quá trình hoạt động; 7) Kết quả hoạt động. Trong đó, kết quả hoạt động được đánh giá cao nhất (45% số điểm).  Quy trình xét duyệt giải thưởng diễn ra trong khoảng 10 tháng, tính từ thời điểm nộp hồ sơ. Trong hồ sơ, doanh nghiệp phải trả lời 200 câu hỏi tương ứng với 7 tiêu chí của giải thưởng. Sau đó sẽ có hai vòng thẩm định bao gồm của Hội đồng tỉnh/thành phố (có 5-7 chuyên gia, đánh giá độc lập với nhau kéo dài bốn tháng) và Hội đồng quốc gia (có 9-11 chuyên gia, do Bộ KH&CN thành lập, thẩm định khoảng một tháng). Ở vòng thẩm định cuối cùng, các chuyên gia tới doanh nghiệp thường có các tư vấn, gợi ý và khuyến cáo để doanh nghiệp cải tiến hoạt động tốt hơn. Giữa hai vòng thẩm định này sẽ có vòng Hiệp y kéo dài năm tháng, doanh nghiệp sẽ nộp tất cả các giấy tờ, chứng chỉ để chứng minh các ứng dụng phương pháp quản lí tiên tiến của mình lên Ủy ban thi đua khen thưởng của tỉnh/thành phố để chứng nhận. Tổng số điểm chấm là 1.000 điểm nhưng kể cả các doanh nghiệp đạt giải Vàng cũng chưa bao giờ đạt điểm tối đa.   Giá trị lớn nhất mà doanh nghiệp thu được từ quy trình khắt khe trên đây chính là sự cải thiện chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình dựa trên sự định hướng từ các tiêu chí của giải thưởng. Trong cuộc khảo sát tất cả các doanh nghiệp đạt giải vàng do ban tổ chức giải thưởng thực hiện, 77%  trong số đó đang áp dụng toàn bộ tiêu chí của giải thưởng trong quản lý, vận hành. Ông Trần Ngọc Nguyên, Tổng GĐ Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn chia sẻ, công ty ông tiết kiệm được 5.000 tỷ đồng nhờ áp dụng các tiêu chí của Giải thưởng Chất lượng Quốc gia.  … nhưng danh tiếng chưa cao  Tuy là một giải thưởng ở tầm cỡ quốc gia và mang lại giá trị thiết thực cho doanh nghiệp như vậy, nhưng Ban Tổ chức còn khá lúng túng trong công tác truyền thông, quảng bá. Năm nay, họ đã nỗ lực thay đổi, thay vì chỉ tập trung vào lễ trao giải (mà “có lẽ là không có ai nhớ” – theo lời ông Nguyễn Nam Hải), họ triển khai một chuỗi gồm sáu sự kiện bao gồm các tọa đàm có sự tham gia chia sẻ của một vài doanh nghiệp đoạt giải. Tuy nhiên, những sự kiện này chủ yếu vẫn theo hình thức cũ, phần lớn thời gian dành cho “từng người lên đọc báo cáo – cả hội trường ngồi nghe” thay vì tập trung cho thảo luận. Giữa thời gian diễn ra sự kiện, phần lớn hội trường về hết, chỉ còn “trơ trọi” các diễn giả.         Giải thưởng Chất lượng Quốc gia đã  qua 20 năm phát triển nhưng đến nay vẫn chưa có một đánh giá cụ thể về  hiệu ứng của giải thưởng.         Cũng cần phải nói thêm rằng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia đã qua 20 năm phát triển nhưng đến nay vẫn chưa có một đánh giá cụ thể về hiệu ứng của nó. “Những doanh nghiệp được giải thưởng cách đây 20 năm, bây giờ liệu họ còn có thể được giải vàng nữa không? […] Có thể các tiêu chí không thay đổi về câu chữ nhưng trong bối cảnh mới, cách hiểu đã thay đổi hoàn toàn” – Ông Nguyễn Nam Hải cho biết. Trong những sự kiện chào đón giải thưởng gần đây, mặc dù có sự chia sẻ của các doanh nghiệp được giải nhưng chủ yếu chỉ loanh quanh giới thiệu công ty và nói qua một vài ứng dụng công nghệ trong quản lý.   Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp cũng cảm thấy có phần “bất công” khi vượt qua nhiều yêu cầu khắt khe của giải thưởng nhưng không được các cơ quan nhà nước ghi nhận thành những chính sách ưu tiên cụ thể, nhất là trong đấu thầu các dự án công. “Chỉ nhận giải thưởng không mà bán hàng thì vẫn không đấu thầu được… thì rất khó” – Ông Nguyễn Huy Văn, Phó Tổng Giám đốc Traphaco chia sẻ với Tia Sáng.              Gợi ý từ giải thưởng Malcolm Baldrige   Giải  thưởng Malcolm Baldrige ở Mỹ có một phương thức khá hữu hiệu để nâng  cao uy tín của mình, đồng thời lan tỏa nhận thức của các doanh nghiệp  trong việc ứng dụng các tiêu chí của giải thưởng vào việc tự đánh giá và  tự hoàn thiện mình, đó là yêu cầu các doanh nghiệp đạt giải phải có  trách nhiệm chia sẻ những gì họ học được từ giải thưởng với các doanh  nghiệp khác, bằng cách tổ chức các seminar hoặc gửi nhân viên đến nói  chuyện với các công ty khác. Phó Tổng giám đốc phụ trách chất lượng của  Motorola, Richard Buetow nói rằng, nhân viên của công ty có tới 352 bài  phát biểu trong các hội nghị và các công ty lớn trong một năm, trả lời  các câu hỏi từ hơn 1,162 công ty và hằng tháng tổ chức một cuộc họp dài  năm tiếng với 150 giám đốc của các công ty khác. 1              —-  1 http://archive.fortune.com/magazines/fortune/fortune_archive/1990/04/23/73432/index.htmđốc               Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức học thuật trong KHXH&NV và những khoảng trống      Đằng sau hiện tượng đạo văn trong Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) là những khoảng trống về đạo đức học thuật, cụ thể là các quy định và thực hành đạo đức học thuật còn đang có những khiếm khuyết.      Bản đồ đạo văn. Việt Nam ở mức độ 15% (qua dữ liệu của arXiv). Nguồn: Fastcompany.  Chúng ta dễ dàng tìm ra thông tin về một số vụ đạo văn trong KHXH&NV gần đây ở nhiều cấp độ khác nhau. Các vụ việc đều thu hút sự quan tâm của không chỉ giới học thuật, mà còn là tâm điểm của báo chí, công luận. Chưa có một nghiên cứu tổng thể, quy mô nào về tình trạng đạo văn hay sự vi phạm tính liêm chính học thuật nói chung trong KHXH&NV ở Việt Nam, nhưng sự hiện diện công khai của những “chợ luận văn”, “chợ luận án”, “chợ giáo án” trên mạng, những trường hợp mắc lỗi đạo văn xảy ra không chỉ ở sinh viên, nghiên cứu sinh, mà còn ở các nghiên cứu viên hay cả những cá nhân từng được đánh giá là có tiếng nói trong giới học thuật cho thấy tính nghiêm trọng của vấn đề này.  Câu chuyện đạo văn không chỉ có “mình ta ta biết” mà còn bị giới học thuật quốc tế “điểm huyệt”. Bài viết “Một bản đồ đạo văn khoa học vòng quanh thế giới”1 vào năm 2014 trên tờ Fastcompany đã trình bày một bản đồ thể hiện tần suất đạo văn của các nước trên thế giới qua khảo sát của Science từ những bài công bố quốc tế nộp qua cổng arXiv.org. Và màu sắc của Việt Nam trong bản đồ này là đỏ đậm – tức là tần suất đạo văn của các tác giả Việt Nam qua những bài công bố quốc tế được nộp qua cổng arXiv vào khoảng 15% (mức cao nhất của bản đồ này là 20%). Việt Nam dường như là một điểm nóng của tình trạng đạo văn so với các nước khác.   Tuy nhiên, đó mới chỉ là những con số phản ánh bề nổi của tảng băng chìm. Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân từ gốc rễ của vấn đề.  Liêm chính học thuật: Chưa có quy định đầy đủ và “lạc điệu”  Thực tế, tuy đạo văn là một trong những lỗi vi phạm nghiêm trọng nhất đối với tính liêm chính học thuật (scientific intergrity) nhưng không phải là lỗi duy nhất ảnh hưởng tới tính liêm chính của nền học thuật KHXH nói riêng hay học giới Việt Nam nói chung. Nhìn toàn diện hơn, các hành vi vi phạm tính liêm chính học thuật còn bao gồm gian lận, giúp người khác vi phạm, bịa đặt, làm sai lệch thông tin… và tính liêm chính học thuật là cách hành xử ngay thẳng và trong sạch trong học thuật thì lại chưa hề được quy định rõ ràng, có hướng dẫn và được thực hành thường xuyên, một cách có hệ thống ở Việt Nam. “Các yêu cầu về liêm chính học thuật chưa được pháp điển hóa và phổ biến đầy đủ”, như nhận định của PGS.TS Vũ Công Giao, chủ nhiệm Bộ môn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Khoa Luật ĐHQG tại Hội thảo “Đạo đức nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV Việt Nam: Những cách tiếp cận và khả năng triển khai”, do ĐH KHXH&NV Hà Nội tổ chức ngày 29/12/2018. Cụ thể, ông cho biết, Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ quan chủ quản trong lĩnh vực này chưa ban hành một văn bản pháp luật nào cụ thể về liêm chính học thuật. Duy nhất trong quy chế đào tạo sau đại học, thì liêm chính học thuật chỉ là một nội dung rất nhỏ trong đó (trong khi đó nhiều nước có quy chế riêng).      Đạo đức nghề nghiệp phải được giảng dạy trong các trường, được phổ biến trong các hội và phải ‘thấm’ trong các nhà khoa học, trở thành một nếp văn hóa trong hành xử. PGS.TS Nguyễn Văn Chính      Còn hầu hết các trường đại học, viện nghiên cứu mới chỉ đề cập đến liêm chính học thuật trong một số điều khoản của quy chế đào tạo mà chưa có văn bản riêng đi cùng với hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Những trường lớn như ĐHQG Hà Nội hay ĐHQG TP Hồ Chí Minh có một số hướng dẫn về phòng chống đạo văn, cách trích dẫn, chống sao chép… tuy nhiên những hướng dẫn đó còn một khoảng cách khá xa so với những quy định về liêm chính học thuật trong nghiên cứu mà các nước phát triển đề cập. Chỉ có một số trường như Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Đại học Hoa Sen, Đại học Duy Tân đã ban hành quy tắc riêng về đạo văn, liêm chính học thuật cũng như sử dụng phần mềm chống đạo văn (phổ biến như Turnitin hay iThenticate) để kiểm tra. Rõ ràng, việc thiếu các quy định pháp luật của nhà nước cho tới các hướng dẫn cụ thể từ các cơ sở khoa học và giáo dục như vậy gây khó khăn cho việc ngăn ngừa và xử lý vi phạm.    Đạo văn là  lỗi quan trọng nhưn không phải điều đáng quan tâm duy nhất khi nói tới đạo đức học thuật. Ảnh: Internet.   Ở các cơ sở đào tạo, việc phổ biến các nguyên tắc liêm chính học thuật thường được lồng ghép vào môn phương pháp nghiên cứu khoa học. Nhưng theo PGS.TS Vũ Công giao, môn này thường chỉ bắt buộc giảng dạy ở cấp thạc sĩ và tiến sĩ, còn ở cấp cử nhân, sinh viên không biết về các nguyên tắc liêm chính học thuật. Hơn nữa, môn này tuy bắt buộc giảng dạy bậc thạc sĩ và tiến sĩ nhưng cũng nặng về lý thuyết, ít bài tập thực hành. “Nếu theo cách dạy và học như vậy, thì không thể nào có liêm chính học thuật tốt được. Nhìn chung, những hạn chế trong việc pháp điển hóa và giảng dạy liêm chính học thuật dẫn tới hậu quả là hầu hết sinh viên, nghiên cứu sinh, giảng viên, nghiên cứu viên (thậm chí nhiều nhà khoa học trong các hội đồng thẩm định) đều chưa hiểu biết đầy đủ và chính xác về các yêu cầu, nguyên tắc của liêm chính học thuật, kể cả những yêu cầu cơ bản như trích dẫn tài liệu tham khảo”, PGS.TS Vũ Công Giao nói.  Hướng tới một văn hóa coi trọng đạo đức học thuật  Nhưng hiểu về đạo văn mới chỉ là một phần “ngọn”, hay ban hành các quy định chặt chẽ về việc phải đảm bảo tính liêm chính học thuật và xử lý khi vi phạm cũng chỉ mang tính “kỹ thuật”, mà vấn đề không thể thiếu đối với một nền học thuật là làm thế nào xây dựng, đảm bảo được một văn hóa coi trọng đạo đức học thuật. Và trên thực tế, trong KHXH&NV, vấn đề đạo đức học thuật có hàm nghĩa rộng hơn rất nhiều, nó phải là bộ quy tắc ứng xử với các nguyên tắc phổ quát như không gây hại, đem lại lợi ích cho cá nhân, cho cộng đồng, cho các nhà nghiên cứu, trung thực và công bằng – nghĩa là phải giúp đảm bảo quyền của tất cả các chủ thể có liên quan tới các nghiên cứu được thực hiện trên con người.  Theo PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Khoa Nhân học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, đúng ra, ở Việt Nam các bộ quy tắc đạo đức này phải được xây dựng bởi các hội khoa học, các hội này quản lý hội viên bằng quy tắc đạo đức, và đồng thời các quy tắc này phải được đưa vào chương trình giảng dạy và đào tạo, tập huấn ở tất cả các cơ sở đào tạo nghiên cứu. Các trường đại học ở các nước phát triển đều thành lập hội đồng đạo đức để xét duyệt nghiên cứu KHXH, đặc biệt là nghiên cứu có liên quan tới dữ liệu nhân thân, các nhóm yếu thế trong xã hội. Nhưng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay chỉ có các nhà nghiên cứu khối ngành y sinh học mới có các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu và các quy định mang tính pháp lý. Còn “các ngành khác thuộc khối ngành khoa học KHXH&NV lại chưa có quy chuẩn, và các nhà khoa học đang thực hiện nghiên cứu khoa học dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức thường nhật – tự thực hiện những gì họ tự cảm thấy có giá trị cho cá nhân mình và cho cộng đồng mà thôi”, theo lời TS. Trần Văn Kham, Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội và là chủ nhiệm đề tài “Đạo đức nghiên cứu trong khoa học xã hội Việt Nam hiện nay: hiện trạng và định hướng chuẩn hóa (mã số 504.01-2016.09)”do Quỹ NAFOSTED tài trợ. Các tạp chí khoa học là nơi công bố kết quả nghiên cứu trong nước cũng không có quan điểm, quy định rõ ràng về vấn đề này. Theo khảo sát của TS Trần Văn Kham và cộng sự, trong số 387 tạp chí khoa học được đưa vào danh sách tính điểm của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, chỉ có 6 tạp chí có liên kết quốc tế và đã được lọt vào danh mục Scopus đưa ra những tuyên bố về đạo đức học thuật hay xung đột lợi ích trong hướng dẫn nộp bài.      Cộng đồng học thuật có vị trí, vai trò đặc biệt với các xã hội – với tính chất là cộng đồng tìm hiểu, phổ biến các giá trị tinh thần cao cả cho xã hội nên liêm chính học thuật là điều kiện nền tảng, thiết yếu để cộng đồng học thuật có thể giữ được niềm tin của công chúng, từ đó duy trì các hoạt động chuyên môn của mình. Nếu như đánh mất sự liêm chính, thì cộng đồng học thuật sẽ không thể hoàn thành vai trò truyền bá, chứ không nói tới vai trò kiến tạo tri thức cũng như các giá trị tinh thần tốt đẹp cho xã hội. Hơn thế, khi đánh mất sự liêm chính, thì cộng đồng học thuật không chỉ đánh mất vị trí, vai trò của mình mà còn gây ra tác động rất tiêu cực tới sự phát triển của xã hội. Sự tha hóa, suy thoái của cộng đồng học thuật là một trong những biểu hiện rõ ràng, nổi bật của sự tha hóa, suy thoái của xã hội. PGS.TS Vũ Công Giao      Các trường đại học giảng dạy KHXH&NV ở Việt Nam đều chưa từng có hội đồng đạo đức và cũng ít khi giảng dạy về các nguyên tắc đạo đức học thuật. Mới đây, chỉ có trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, đang tiên phong trong việc thúc đẩy thành lập hội đồng đạo đức học thuật nhưng cũng còn phải “dò dẫm” bởi thiếu các quy định mang tính pháp lý và chưa từng có tiền lệ trong khối ngành KHXH&NV. Còn nếu muốn giảng dạy, các giảng viên phải tìm các bộ quy tắc đạo đức học thuật ở các quốc gia có nền KH&CN phát triển để cho sinh viên tham khảo. Chẳng hạn, một số đơn vị ý thức rõ vấn đề này như Khoa Xã hội học, Khoa Nhân học, Đại học KHXH&NV Hà Nội đều phải sử dụng bộ quy tắc đạo đức (Code of Ethics) của Hội Xã hội học Mỹ và Hội Nhân học Mỹ để giảng dạy.    Nghiên cứu các nhóm yếu thế trong xã hội cần được thông qua bởi hội đồng đạo đức. Ảnh: Cộng đồng LGBT trong ngày Vietpride 2018. Nguồn: Giadinhmoi.  “Thấm” trong cộng đồng học thuật và xã hội  Việc thiếu giảng dạy, thiếu các bộ quy tắc ứng xử và quy định liên quan đến hội đồng đạo đức này khiến các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu viên trẻ rất lúng túng, thậm chí dễ mắc sai phạm, ảnh hưởng tới nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu, nhất là khi liên kết với các nhóm nghiên cứu quốc tế và công bố quốc tế. TS. Trần Văn Kham cho biết, anh đã từng bị một số tạp chí KHXH quốc tế có uy tín từ chối thẳng thừng vì nghiên cứu xã hội học của anh được thực hiện ở Việt Nam mà không thông qua một hội đồng đạo đức nào. Một nghiên cứu sinh tại Đại học Leeds, Anh cũng cho biết, các thông tin về đạo đức nghiên cứu hoàn toàn là “khoảng trống” đối với chị và đã rất bất ngờ khi được yêu cầu phải xét duyệt đề tài bởi hội đồng đạo đức của trường Leeds.  Mặt khác, các nghiên cứu không tuân theo chuẩn mực đạo đức nào cũng tác động không tốt tới người được nghiên cứu (dù cố ý hay vô ý). Trên thế giới, khi chưa có những quy định cụ thể, cũng đã có không ít các nghiên cứu được thực hiện tưởng chừng như nhân danh khoa học với mục đích tốt đẹp nhưng lại gây nguy hiểm, ảnh hưởng tới quyền lợi của con người. Đây là điều chưa được chú ý đến trong phần lớn giới học thuật và xã hội ở Việt Nam. Chẳng hạn, gần đây, “có một bạn nghiên cứu trẻ muốn tham gia nghiên cứu với chúng tôi và thực hiện nghiên cứu về ‘tình một đêm’. Đề tài hết sức thú vị, nhưng sau đó tôi không thể chấp nhận cho bạn ấy tiếp tục thực hiện để công bố được, vì thay vì thực hiện phương pháp quan sát tham gia trong nhân học, thì bạn ấy lại tự mình tham gia vào ‘tình một đêm’. Khi đó, anh ta đã vi phạm đạo đức nghiên cứu”, TS. Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đời sống xã hội (Viện SocialLife), TP Hồ Chí Minh kể. Vấn đề là nghiên cứu viên nam trẻ kia đã không được dạy về các nguyên tắc đạo đức ở trường đại học trước đó. TS. Nguyễn Đức Lộc cũng cho chúng tôi biết, để đảm bảo tính đạo đức của các nghiên cứu về nhóm LGBT mà Viện SocialLife sắp thực hiện, do ĐH KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh không có hội đồng đạo đức học thuật, nên các anh sẽ phải nộp hồ sơ thẩm định về đạo đức học thuật tại Đại học Y Hà Nội.  Trong khi đó, cũng có ý kiến băn khoăn rằng, việc đề xuất các hội khoa học, trường cần phải xây dựng và giảng dạy các bộ quy tắc đạo đức này là “nhiêu khê”. Bởi vì hiện nay vấn đề đạo đức “đã được thể chế hóa trong các Luật KH&CN, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Giáo dục. Cách làm tốt nhất là tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về các luật. Thứ hai, lồng ghép các tiêu chuẩn về đạo đức học thuật vào trong các hội đồng thẩm định, hội đồng biên tập chứ không nên lập thêm các hội đồng đạo đức vì quá phiền toái và tăng thêm thủ tục hành chính cho nghiên cứu khoa học”, GS.TS Lê Văn Hùng, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói.  Nhưng “các quy định mang tính nguyên tắc trong các bộ luật đó không đưa ra hướng dẫn cụ thể về thực hiện đạo đức học thuật. Chẳng hạn, nếu không dựa vào bộ quy tắc đạo đức học thuật của bên y sinh mà chỉ có các quy định trong Luật Y tế, thì sẽ không có căn cứ nào để bảo vệ quyền và lợi ích cho các  bên tham gia vào nghiên cứu y sinh học cả. Do vậy, cần thiết phải rà soát lại hệ thống các quy định hiện hành”, theo ông Đinh Việt Hải, Phòng Đào tạo, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. Mặt khác, “các hội đồng đạo đức có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện các nghiên cứu ở những nhóm yếu thế. Hội đồng này không chỉ có vai trò ‘xét duyệt’ mà còn hướng dẫn các nhà nghiên cứu thực hiện đúng các quy chuẩn đạo đức”, theo PGS.TS Đặng Hoàng Minh, trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.      Cần phải xem xét, liệu các nghiên cứu tư vấn chính sách của các cơ quan nghiên cứu (trực thuộc hai viện hàn lâm và các bộ ngành) phục vụ cho các quyết định chính sách của quốc gia có đảm bảo các vấn đề đạo đức nghiên cứu không hay là còn tạo ra các khoảng trống để rồi chúng ta lại phải đi giải quyết hậu quả do những tư vấn đó mang lại. Ông Đinh Việt Hải      “Nhìn chung, đây không phải vấn đề của thực thi pháp luật và việc thành lập hội đồng đạo đức tùy thuộc vào các ngành học, hoàn cảnh cụ thể của các trường. Vấn đề là đạo đức nghề nghiệp phải được giảng dạy trong các trường, được phổ biến trong các hội và phải ‘thấm’ trong các nhà khoa học, trở thành một nếp văn hóa trong hành xử”, PGS.TS Nguyễn Văn Chính nói.  ——–  Chú thích  1 https://www.fastcompany.com/3039921/a-map-of-scientific-plagiarism-around-the-world  Một số dấu mốc quan trọng trong lịch sử đạo đức nghiên cứu   * Năm 1947, 10 điều luật Nuremberg quy định những nguyên tắc căn bản đầu tiên để đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia các nghiên cứu y sinh học (luật Nuremberg ra đời sau quá trình Đức Quốc xã thực hiện rất nhiều nghiên cứu khác nhau trên con người để tăng sự sống cho các quân nhân Đức, phát triển và thử nghiệm một số vaccine cho các quân nhân Đức cũng như các thực nghiệm chứng minh người Đức vượt trội hơn so với các dân tộc khác hay không và đã bị kiện ra tòa).  * Năm 1964, luật Nuremberg được cụ thể hóa thành tuyên bố Helsinki (và cho đến nay đã được cập nhật 6 lần) để triển khai từ các điều khoản của Luật Nuremberg.  * Năm 1979, báo cáo Belmont về các nguyên tắc và chỉ dẫn trong nghiên cứu để bảo vệ con người (báo cáo ra đời sau vụ bê bối về thực nghiệm giang mai ở Tuskegee, bang Alabama, Hoa Kỳ. Nghiên cứu này khiến những người da đen tham gia nghiên cứu bị mắc bệnh giang mai mà không được chữa trị cũng như không được thông báo về việc chữa trị. Vụ việc này từ năm 1932 nhưng phải tới 1972 mới được công bố).    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Đạo đức nghiên cứu: Không thể khoan nhượng      Giới khoa học và biên tập viên tạp chí ngày càng hoài nghi về khả năng của các viện nghiên cứu Trung Quốc đảm bảo được sự trung thực trong khoa học. Để cứu vãn uy tín, các trường đại học và viện nghiên cứu Trung Quốc đang phải đối diện với một cuộc chiến không khoan nhượng.    Yang Wei từng là một nhà khoa học vật liệu trước khi trở thành hiệu trưởng trường Đại học Chiết Giang (ZJU), Hàng Châu, Trung Quốc. Sau 2 năm giữ cương vị này, ông phải đối mặt xử lý một vụ sai phạm trong khoa học, cũng là một bước ngoặt cho nhiệm kì hiệu trưởng của ông. Đầu tháng 10 năm 2008, biên tập viên tạp chí Tim Mạch quốc tế đã phát hiện ra những số liệu trong một bản thảo của ông He Haibo – một nhà khoa học nghiên cứu y học cổ truyền Trung Quốc được ZJU thuê vài tháng trước đó – trùng lặp đến mức đáng nghi ngờ với những số liệu trong một bài báo mà ông He đã xuất bản ở một nơi khác. Đối mặt với vấn đề này, ông He nhanh chóng thừa nhận sai phạm bằng một bản thú tội dài 12 trang gửi tới ông Yang vào ngày 26/10.  Vụ việc này không chỉ làm tám bài báo khác từng được công bố phải bị rút xuống, mà còn trở thành một thảm họa truyền thông quốc tế đối với ZJU, một trong những trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất Trung Quốc, đồng thời cũng là một trong những trường đại học thành công nhất trong hoạt động công bố kết quả nghiên cứu khoa học. Các bài báo đã khai thác vào điểm yếu của một hệ thống quản lý lỏng lẻo từng trao vai trò lãnh đạo cho những người như ông Li Lianda– trưởng khoa Khoa học dược phẩm, cũng là người phụ trách ông He – tuy hầu như không có mặt ở phòng thí nghiệm và không am hiểu nghiên cứu của ông He, nhưng lại là đồng tác giả trong một số nghiên cứu của ông này. “Họ đã phạm lỗi đạo văn, ngụy tạo, và làm sai lệch. Một trường hợp sai phạm điển hình” – ông Yang nói.   Đối mặt với một trong những sai phạm được công khai rộng rãi nhất trong lịch sử khoa học gần đây của Trung Quốc, hiệu trưởng Yang biết rằng phải hành động nhanh chóng. Ông đích thân viết thư gửi tất cả biên tập viên của các tạp chí liên quan. Họ đã cung cấp bản sao của các văn bản chuyển giao bản quyền kèm theo tất cả chữ kí của các đồng tác giả, và ông Yang đã gửi chúng đi giám định ở trung tâm chữ viết quốc gia. “Hầu hết chữ kí đều giống chữ của chính ông He. Thậm chí tôi cũng có thể nhận ra điều đó” – ông Yang nói.  Tháng 3 năm 2009, ZJU đã sa thải He, và chấm dứt hợp đồng với Wu Limao – đồng tác giả với ông He trong một số bài viết và là người phụ trách phòng thí nghiệm khi ông Li vắng mặt, đồng thời cách chức trưởng khoa của ông Li.  Hiệu trưởng Yang không dừng lại ở đó: ông đã khởi động một chiến dịch để ZJU phản ứng hiệu quả hơn với các sai phạm. Được sự hợp tác từ một đồng sự tận tụy khác có tên là Yuehong (Helen) Zhang trong việc phát hiện và xử lý những sai phạm ở các tạp chí của trường đại học, và được sự hỗ trợ từ một nhóm các nhà quản lý đại học, những người cùng chia sẻ quyết tâm và cam kết của mình với một chính sách không khoan nhượng với các sai phạm, ông Yang hi vọng sẽ biến ZJU thành một điển hình gương mẫu có thể giúp làm sạch tiếng xấu của Trung Quốc qua nhiều các sai phạm trong khoa học. Trong 5 năm qua, tiếng xấu đó đã càng trầm trọng thêm bởi một loạt những vụ việc tai tiếng nghiêm trọng, khiến cho giới khoa học và biên tập viên tạp chí ngày càng hoài nghi về khả năng của các viện nghiên cứu Trung Quốc đảm bảo được sự trung thực trong khoa học.  Ông Yang – người hiện đang đi khắp đất nước để diễn thuyết về đạo đức khoa học – đã gây dựng danh tiếng như một người tận tụy nhất trong số các nhà cải cách. Các cộng tác viên của ông rất ấn tượng. “Ông ấy cam kết sẽ làm sạch môi trường nghiên cứu ở Chiết Giang”, theo lời Mark Frankel, giám đốc Chương trình Luật, Trách nhiệm và Tự do khoa học tại Hiệp hội Mỹ Vì Sự Tiến bộ của Khoa học (AAAS) ở Washington DC, người đang làm hợp tác với ông Yang trong nỗ lực cải thiện đạo đức nghiên cứu. “Điều ấn tượng nhất là những người ở Trung Quốc mà tôi làm việc cùng đã cởi mở và sẵn lòng thừa nhận rằng một vấn đề nghiêm trọng đang tồn tại và rằng họ cam kết sẽ thay đổi điều đó cho thế hệ các nhà khoa học trẻ hơn” – ông nói.  Vấn đề có quy mô trên diện rộng  Không có thống kê toàn diện nào về mức độ của những sai phạm trong nghiên cứu ở Trung Quốc – và ít bộ, ngành, các cơ quan hay trường đại học thông tin vụ việc ra công luận. Tuy nhiên, các cuộc điều tra và bằng chứng mà người ta truyền tai nhau đã làm lộ ra một căn bệnh trầm kha, cho thấy rằng sinh viên Trung Quốc ngày nay đang vừa học kiến thức, vừa học cả những hành vi phi đạo đức khoa học. Trong một cuộc điều tra không được công bố vào năm 2008 tiến hành với 1.641 sinh viên của 10 trường đại học, ông Cao Nanyan – một chuyên gia về đạo đức nghiên cứu tại ĐH Thanh Hoa, Bắc Kinh đã thu được kết quả là hơn 20% sinh viên thừa nhận đã thay đổi những dữ liệu không khớp với mong đợi của họ. 60% nghiên cứu sinh tiến sĩ cho biết đôi khi họ chứng kiến những hành vi sai trái nhưng chỉ có 5% trong số đó báo cáo sự việc. Ông Cao đã tìm ra căn cứ cho thấy mức độ thỏa hiệp của sinh viên với những hành vi sai trái đã tăng lên theo thời gian họ đi học.   “Bằng chứng này cho rằng bạn càng dây dưa lâu trong hệ thống này thì bạn sẽ càng ít có khả năng và động cơ để theo đuổi những quy chuẩn tốt trong nghiên cứu khoa học” – nhận định từ bà Daniele Fanelli, một nhà khoa học xã hội tại ĐH Edinburgh, Anh, người đang nghiên cứu về mật độ các sai phạm khoa học. Bà Fanelli cho biết số liệu của ông Cao “rõ ràng là đáng lo ngại vì chúng cho thấy mức độ sai phạm cao hơn nhiều trong khi mức độ báo cáo sai phạm lại thấp hơn nhiều, nếu so với kết quả trong các cuộc điều tra ở các quốc gia phương Tây”.          Tháng 10 năm 2008, Yuehong (Helen) Zhang là  biên tập tạp chí khoa học đầu tiên ở Trung Quốc sử dụng CrossCheck, một  công cụ giúp dò tìm ra các nội dung đạo văn trong các bài báo khoa học.  Sau hai năm, bà tổng kết rằng 31% trong số 2233 bài báo gửi đăng tới tạp  chí của bà,  Journal of Zhejiang University – Science, chứa những nội  dung đạo văn. Sau khi công bố điều này trên tạp chí Nature năm 2010 (Y.  Zhang Nature 467, 153; 2010), Zhang đã bị phê phán rất nhiều trên các  blog. “Nhiều người chỉ trích tôi, nói rằng tôi không yêu nước. Nhưng tôi  không quan tâm. Tôi tin mình đã làm điều đúng đắn. Nó sẽ giúp khoa học  Trung Quốc trở nên lành mạnh hơn”.        Ông Cao và các chuyên gia khác về sai phạm trong nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân cụ thể. Hệ thống nghiên cứu của Trung Quốc đang phát triển rất nhanh, các trường đại học đang vội vã vật lộn để đào tạo các thế hệ sinh viên, các nhà khoa học và các nhà quản lý. “Là một hệ thống nghiên cứu lớn và mới phát triển, Trung Quốc không có được sự kiểm soát đối với các chương trình nghiên cứu như ở phương Tây” – ông Nicholas Steneck, người nghiên cứu về đạo đức nghiên cứu tại ĐH Michigan ở Ann Arbor cho hay. Một số nhà nghiên cứu đơn giản là không biết gì về các quy định trong nghiên cứu – ông Zhong Haining, một nhà thần kinh học được đào tạo ở ĐH Thanh Hoa và hiện đang bắt đầu một phòng thí nghiệm tại ĐH Khoa học và Y tế Oregon ở Portland cho biết. “Những quy định hướng dẫn của Nhà nước về các sai phạm trong nghiên cứu có thể có (hoặc không) tồn tại, nhưng nếu nó tồn tại thì đã không được công khai lắm, ít nhất là không được chú trọng nhiều trong đào tạo” – ông cho biết.  Ông Steneck cũng cho rằng những vấn đề này có thể bắt nguồn từ một sự thiếu trung thực trên diện rộng trong quản lý Nhà nước và điều này gây khó khăn trong việc xây dựng một văn hóa nghiên cứu trung thực. “Thật khó để có sự liêm chính trong nghiên cứu nếu như sự liêm chính trong những lĩnh vực khác của cuộc sống đang bị đặt câu hỏi” – ông nói.  Chính phủ, các trường đại học và các viện nghiên cứu đã ban hành nhiều các chính sách về đạo đức nghiên cứu trong thập kỉ qua. Tuy nhiên, việc thực hiện lại là một vấn đề khó khăn, theo ông Mu-ming Poo, giám đốc Viện Khoa học thần kinh ở Thượng Hải nhận định. Ví dụ, hầu hết các tổ chức quản lý kinh phí khoa học của Trung Quốc đều không có những bộ phận thường trực để giải quyết các sai phạm một cách có hệ thống và minh bạch như cách thức mà Vụ Đạo đức Nghiên cứu của Bộ Y tế và dịch vụ nhân sinh Mỹ đang cố gắng làm. “Rất ít người trong cơ quan tài trợ hoặc trong cộng đồng khoa học sẵn lòng làm ‘đao phủ’ để thực thi các quy định một cách nghiêm túc” – ông Poo nói. Ông dẫn chứng tới một cuộc điều tra về một vụ sai phạm mà theo ông là khá rõ ràng. Kết quả của vụ này là một nhà nghiên cứu đã bị sa thải nhưng lại sớm tìm được một công việc khác và tiếp tục nhận được những khoản kinh phí lớn tài trợ cho nghiên cứu. “Về cơ bản là không có những hình phạt cho các sai phạm khoa học. Sự dễ dãi và nhân nhượng trong cộng đồng này thực sự làm tôi lo lắng” – ông Poo chia sẻ.  Hành động  Tháng Giêng năm 2009, trên cơ sở những bài học kinh nghiệm từ vụ việc của He, hiệu trưởng Yang đã thành lập một ủy ban đạo đức nghiên cứu và một nhóm điều tra ở ZJU. Tháng 3 năm đó, tại một cuộc họp bàn về trường hợp của ông He, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trung Quốc đã kêu gọi một chính sách không khoan nhượng với các sai phạm – và ông Yang đã thực hiện đúng theo yêu cầu này. Ông đã ban hành một loạt các quy tắc để hướng dẫn hành xử trong các vấn đề tác quyền, trích dẫn. và các thủ tục gửi bài nghiên cứu, trong đó có việc cấm việc gửi bài viết điện tử bởi một tác giả không phải là tác giả đứng tên phản hồi (corresponding author). Điều này đã giải quyết được một trong những vấn đề quan trọng trong trường hợp của ông He, trong đó ông He và một số sinh viên đã tốt nghiệp đã gửi các bài viết từ một tài khoản dưới tên của một tác giả đứng tên phản hồi là Wu. Ông Yang đã thay hầu hết các trưởng khoa bán thời gian [vừa làm quản lý vừa làm chuyên môn] ở ZJU bằng các trưởng khoa chuyên trách quản lý để tránh lặp lại những vấn đề xảy ra khi vắng mặt lãnh đạo vắng mặt như trường hợp của ông Li. Ông cũng ban hành các quy trình thủ tục điều tra mới và xác lập khung hình thức kỉ luật.  Tất cả những chuẩn bị này đã giúp ông Yang sẵn sàng cho một vụ việc lớn thứ 2 vào giữa năm 2010, khi trưởng ban biên tập của một tạp chí được Springer xuất bản đã liên lạc với ông Yang và nói rằng mức độ đạo văn và ngụy tạo trong một bài viết của một nhà nghiên cứu từ ZJU là vô cùng nghiêm trọng, đến mức Springer phải cân nhắc việc ngăn chặn tất cả các bài viết gửi đi từ ZJU tới 2.000 tạp chí y học, công nghệ và khoa học của nhà xuất bản này. (Ông Yang từ chối nêu tên nhà nghiên cứu và vị trưởng ban biên tập). “Đây là một áp lực. Chúng tôi phải thuyết phục họ rằng chúng tôi có thể giải quyết được trường hợp này” – ông Yang nói.  Lần này ông Yang đã sẵn sàng. Ông đã sa thải nhà khoa học chính tham gia, cắt giảm lương và quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ của tác giả đứng tên phản hồi. “Springer đã hài lòng” – ông Yang cho biết.  Ông Yang cho biết trong 2 năm qua, ông đã xử lý mạnh tay tương tự với 40 trường hợp sai phạm khác ở ZJU. Hơn 20 nhà nghiên cứu đã bị xác định là sai phạm sau các cuộc họp hội đồng quản lý trường đại học này. Với 10 trường hợp liên quan tới các sinh viên tốt nghiệp gần đây, có hơn một nửa trong số đó mất bằng. Một người đã kiện ZJU nhằm đảo ngược phán quyết về tội đạo văn nhưng kết quả là cô này đã thua kiện. Nếu công trình được hoàn thành trong suốt thời gian đào tạo có sự gian lận thì “bằng đã cấp phải bị tước bỏ” – ông Yang nói chắc chắn.  Trong các trường hợp liên quan tới các giảng viên, có 3 người đã bị sa thải, 4 người phải đối mặt với biện pháp kỉ luật bao gồm cắt giảm lương, số còn lại bị cảnh cáo nội bộ hoặc công khai. Một số tạm thời bị cấm tham gia đảm nhận hướng dẫn các nghiên cứu sinh tiến sĩ.  Tuy nhiên, luật pháp và các biện pháp trừng phạt chỉ đi được nửa chặng đường trong việc giải quyết vấn đề – việc ngăn ngừa từ xa cũng rất quan trọng. Tại ZJU, ông Yang đã thiết lập một hệ thống tư vấn cho các giảng viên trẻ về đạo đức nghiên cứu. Kể từ năm 2009, đại học này đã tổ chức hơn 10 seminar và bài giảng về đạo đức nghiên cứu với sự tham gia của hơn 1.000 người. Ông Yang cũng tiếp tục đi nói chuyện tại các trường đại học trên khắp đất nước. “Chúng tôi phải dạy họ trung thực. Chỉ nhận thức về các quy tắc đạo đức thôi là chưa đủ. Bạn cần phải hiểu nó thực sự” – ông Gong Ke, hiệu trưởng ĐH Nankai, Thiên Tân cho hay. Ông Ke là người cùng ông Yang và AAAS đang soạn một cuốn sách viết về các sai phạm khoa học, có thể được sử dụng để dạy về đạo đức nghiên cứu ở Trung Quốc và Mỹ.  Tiến bộ chậm  Ông Yang cho rằng còn quá sớm để nói về việc những nỗ lực của ông có hiệu quả hay không. Luôn có e ngại rằng dạy con người về sai phạm có thể chỉ khiến những kẻ ương ngạnh càng thêm tiểu xảo – như trường hợp của những người cố đánh lừa phần mềm phát hiện đạo văn bằng phần mềm của riêng họ. “Nhưng ít nhất họ nhận thức rõ hơn rằng họ đang làm những việc sai trái” – ông Yang nói.  Ông Yang không phải là người duy nhất cố gắng làm sạch môi trường khoa học Trung Quốc. Các trường đại học khác đã thiết lập các khóa học đạo đức và tăng cường công tác điều tra. “Các cảnh sát trực tuyến” tích cực của Trung Quốc đang tìm ra những gian lận – như blog XYS của Fang Shimin, vốn nổi tiếng vì sự kiên trì đeo đuổi các vụ sai phạm trong khoa học. Các bài viết trên trang web này thảo luận những vấn đề về dữ liệu cũng như sự khác biệt giữa hồ sơ của các nhà nghiên cứu và thành tựu thực tế của họ. Ông Fang chưa tin rằng ZJU đang điều tra chặt chẽ tất cả các trường hợp sai phạm mà họ cần phải điều tra. “Tôi chưa tin rằng lời nói của ông ấy là thật sự nghiêm túc” – Fang nói về Yang. Nhưng Fang cũng đồng ý rằng đã nhìn thấy sự cải thiện trong 11 năm kể từ khi ông bắt đầu đơn độc phát động ‘cuộc chiến’ chống lại các sai phạm. Ông nói rằng ngày nay các phương tiện truyền thông đã sẵn sàng hơn trong việc đưa tin về những sai phạm và kêu gọi cải cách, và “Chính phủ ít nhất cũng thừa nhận là có vấn đề”.  Theo ông Frankel, những hướng dẫn nghiệp vụ về đạo đức khoa học mới được áp dụng hiện nay ở Trung Quốc, “chỉ mới đơn thuần là bước khởi đầu”. “Họ đã áp dụng những cách thức, quy trình điều tra tương tự như ở Mỹ nhưng còn thiếu kinh nghiệm và nhân lực cần thiết để có hiệu quả thực sự, và quá trình này sẽ mất nhiều thời gian”, ông nói.  Thậm chí những nỗ lực cao nhất của các nhà quản lý như ông Yang có thể vẫn chưa đủ để thay đổi cách hành xử đã ăn sâu, nhận xét từ bà Sheila Bonde, một nhà khảo cổ học kiêm sử gia tại ĐH Brown ở Providence, đảo Rhode, người đang cộng tác với ZJU để mở một khóa học về đạo đức. “Dạy sinh viên về đạo đức khi họ đã bước chân vào các phòng thí nghiệm là quá ít, quá muộn và quá cụ thể”, bà nói. “Cần phải có một cuộc thảo luận rộng hơn về những lựa chọn đạo đức trong các vấn đề kinh tế, chính trị, học thuật ở Trung Quốc, và điều này phải bắt đầu sớm hơn nhiều trong cuộc sống của các sinh viên”.1             Nguyễn Thảo lược dịch               Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo đức trong nghiên cứu và đào tạo      Khoa học đòi hỏi đạo đức và sự liêm chính. Nghiêm ngặt tri thức và đạo đức luôn đi cùng nhau. Cách duy nhất để ngăn chặn sự lừa đảo, dối trá và tham nhũng xen lẫn vào các trường học, phòng thí nghiệm và đại học, là làm gương cho sinh viên. Không làm được điều đó, chúng ta sẽ không bao giờ xây dựng được đội ngũ trí thức tinh túy mà Việt Nam trong tương lai xứng đáng có được.    Trong bài phát biểu trước sinh viên trường Caltech nhân dịp khai giảng năm học 1974-1975, Feynman đã nói với họ2, “điều mà tất cả chúng tôi hy vọng các bạn đã học được qua nghiên cứu khoa học ở trường – dù chúng tôi chưa bao giờ nói ra một cách rõ ràng nó là gì, nhưng hy vọng các bạn hiểu được điều đó qua tất cả các ví dụ về thực hành nghiên cứu khoa học. Đó là liêm chính khoa học, một nguyên tắc của tư duy khoa học gắn với sự trung thực tuyệt đối.” Sau khi minh họa điều mình nói về liêm chính, ông đã kết thúc bài nói của mình với những lời lẽ sau: “Cuối cùng tôi chỉ ước cho các bạn một điều – chúc các bạn may mắn được làm việc ở một nơi nào đó, nơi mà các bạn có thể tự do gìn giữ sự liêm chính như tôi đã nói, và không bị áp lực bởi nhu cầu giữ địa vị trong tổ chức đó hoặc bị áp lực bởi các nguồn tài trợ,… mà mất đi sự liêm chính. Tôi ước các bạn có được sự tự do đó.”   Tôi cũng xin trích dẫn lời của François Jacob3: “Quy tắc của cuộc chơi, trong khoa học, là: không dối trá; không dối trá về ý tưởng, và cũng không ngụy tạo căn cứ thực tế. Cam kết này vừa mang tính tư duy khoa học vừa mang tính đạo đức. Người lừa dối  đang đánh mất mục tiêu, dần dần không thể thoát ra được sai lầm. Anh ta đang tự sát.”   Nhiều trí thức Việt Nam nổi tiếng vì dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, đôi khi phải trả giá bằng cả sự nghiệp hoặc thậm chí mạng sống của mình, trong đó nổi tiếng nhất dĩ nhiên là Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Nhiều người đã kịch liệt phản đối những tác hại của sự trái đạo đức và sự xuống cấp của văn hóa khi đạo đức bị xâm phạm. Trong lịch sử Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện4 đã mô tả tình trạng đại học Việt Nam ở thế kỷ XVIII như sau: “Những học giả am hiểu Nho giáo đã không còn tin vào những giá trị mà họ đang dạy học trò […] Khi chế độ suy tàn, những kỳ thi và cuộc thi đã không còn kiểm soát được nữa […] Gian lận thường xuyên xảy ra, khiến bằng cấp bị mất giá. Kết quả dẫn đến sự nổi lên của các quan lại quan liêu, kém năng lực, vô liêm sỉ, tham tiền và danh, thiếu những phẩm chất đạo đức của thế kỷ trước.”   Chúng ta cũng nhớ đến những lời của Hồ Đắc Di5: “Nghiệp vụ của giảng viên và bác sỹ bao hàm một sự rộng lượng sâu sắc, hơn tất cả các ngành khác. Bác sỹ đem lại cho con người cuộc sống, giảng viên đem lại kiến thức. Cả hai ngành đều đòi hỏi những người thực hành chúng có một tâm hồn trong sáng […] Tài chưa đủ mà đức cũng không để ai có thể chê trách được.”   Trong xã hội Việt Nam ngày nay, cũng có nhiều tiếng nói nhắc nhở chúng ta về tầm         Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt1     Hồ Chí Minh        quan trọng của việc hun đúc đạo đức như vậy trong thời điểm mà nghiên cứu và giáo dục đang phát triển rất nhanh. Khoan nói đến những hành vi sai trái hiển nhiên nhất6, chúng ta xem lại ngay bài phát biểu của Hoàng Tụy  nhân dịp ông nhận giải thưởng Văn hóa Phan Chu Trinh cho nỗ lực không mệt mỏi cho việc nâng cao chất lượng giáo dục trong các thập niên qua: “Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tùy thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến  khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại”7.   Gian lận trong khoa học xảy ra với nhiều mức độ, sắc thái khác nhau, có khi rất nghiêm trọng, có khi đáng tội nghiệp. Một ví dụ nổi tiếng về gian lận nghiêm trọng là trường hợp Lyssenko, anh hùng của Liên bang Xô Viết, Chủ tịch Viện Hàn lâm Lê Nin về Nông nghiệp, Giám đốc Viện Gene thuộc Viện Hàn lâm Khoa học trong suốt 25 năm. Được chế độ từ thời Stalin cho đến Khrushchev ủng hộ, ông ta đã kìm hãm sự phát triển của ngành gene di truyền của Xô Viết trong suốt ba mươi năm, áp đặt gian lận và sai lầm giáo điều của mình. Những ví dụ về gian lận một cách tội nghiệp thì thường đáng cười. Có nơi thì một nhà sinh học sơn vào phía sau khối u của những con chuột thí nghiệm và tuyên bố đã quan sát thấy sự xuất hiện đó. Có nơi thì nhà khảo cổ học đem chôn một cái vò vào một hôm rồi đào nó lên vào hôm sau.   Ở giữa hai thái cực đó, gian lận tồn tại ở dạng tinh vi hơn. Nó thường bắt đầu bằng sự bất cẩn đơn giản, từ đó tạo nên những kết luận sai lầm. Sự bất cẩn có thể trở thành lừa dối khi người ta không gửi kết quả đến những nơi phản biện nghiêm túc và nghiêm khắc hơn. Không hiếm ví dụ về các nhà khoa học cứ khăng khăng bảo vệ sai sót của mình và tiếp tục tuyên bố rằng họ đã có những phát minh quan trọng. Sự hứng khởi khi đột nhiên đứng dưới ánh sáng của thành công làm họ mất đi tư duy phản biện, dẫn họ đến việc lừa dối. Tôi dẫn ra ba trường hợp đã được lưu lại trong nhiều tài liệu: đó là trường hợp nhiệt hạch lạnh với Fleischmann và Pons vào năm 1989, họ tuyên bố tạo ra đơteri trong điện cực palađi với năng lượng thấp một cách nực cười8; rồi về khả năng nhớ của nước, năm 1988, với Benveniste, làm loãng một dung dịch kháng thể trong nước cho đến điểm không có một phân tử kháng thể nào còn lại và tuyên bố rằng nước vẫn giữ tính chất của dung dịch ban đầu9; bằng chứng về khả năng truyền nhớ hóa học trong hiện tượng ăn thịt đồng loại của giun không ký sinh và chuột cống, những phản xạ thu được có vẻ được truyền đến các đối tượng thí nghiệm trong điều kiện cho ăn nhất định10.   Một dạng gian lận phổ biến là đạo văn. Luôn tái diễn tình trạng một số nhà khoa học gửi đăng bài báo chép từ bài của người khác mà ký tên mình. Những hành vi này là không thể chấp nhận được. Thành công của Wikipedia và các phương tiện lưu trữ thông tin khác trên mạng Internet, cùng với sự dễ dàng của việc “cắt và dán” đã tạo điều kiện phát triển cho những thói xấu này. Tôi đã chứng kiến có sinh viên trình bày luận văn tốt nghiệp làm theo kiểu đó mà không hiểu một từ trong những phần đã chép. Ta phải phân biệt khi gặp những tình huống đó: nên khuyến khích sinh viên sử dụng các phương tiện có sẵn trên mạng để tăng cường hiểu biết nhưng người hướng dẫn phải đảm bảo rằng sinh viên của mình thực hiện việc đó với khả năng phán xét tốt, hiểu điều được viết ra và trích dẫn nguồn sử dụng một cách đầy đủ. Một lý do khác thúc đẩy thói gian lận đó là chính sách “đăng bài hay là chết (publish or perish)” mà một số tổ chức tài trợ đang theo đuổi. Dù chúng ta hết sức ủng hộ những nỗ lực tìm cách đánh giá theo những tiêu chí khách quan, nhưng những hội đồng khoa học chịu trách nhiệm không nên bám theo quy định một cách mù quáng mà phải xem: chất lượng quan trọng hơn số lượng. Qua tất cả các điểm này, chúng ta thấy rằng rõ ràng còn chỗ để Việt Nam có thể cải thiện và tất cả chúng ta nên cảm thấy có trách nhiệm trong việc khuyến khích thúc đẩy những cách làm đúng đắn hơn và chỉ bảo sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc tôn trọng giá trị sở hữu trí tuệ.   Một dạng dối trá phổ biến khác, trông có vẻ ít đáng trách hơn nhưng tôi cảm thấy nó đặc biệt tệ hại đó là việc sử dụng những thuật ngữ khoa trương mà đằng sau chẳng có gì ngoài lời nói. Người ta đặt tên cho một viện hoặc một lớp học ở đại học những cái tên của những lĩnh vực khoa học danh giá và rất mốt, tuy nhiên kiến thức được dạy lại thậm chí chưa đạt mức cơ bản cần biết trước khi bước vào những lĩnh vực đó. Làm sao người ta có thể hy vọng đào tạo sinh viên ở môi trường như vậy hiểu được những điều cơ bản về đạo đức?   Một việc nữa cũng đáng bị chỉ trích liên quan đến việc đánh giá sinh viên đại học. Luận văn tốt nghiệp đại học và cao học luôn được cho điểm từ 8 đến 10, thường là từ 9 đến 10. Như vậy không còn chỗ cho việc đánh giá sự khác biệt giữa kiến thức và sự kém hiểu biết, không có cách nào phân biệt được một sinh viên thông minh, xuất sắc với một sinh viên bình thường. Một lần, tôi hướng dẫn một sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và tôi cho đó là một sinh viên bình thường, tôi được giáo sư phụ trách nói rằng điểm thấp nhất phải cho là 9 vì sinh viên đó thuộc bộ môn lý thuyết và theo truyền thống sinh viên ở bộ môn đó không bao giờ được điểm thấp hơn 9! Mặc dù bị phản đối nhưng cuối cùng sinh viên đó cũng nhận được điểm 10. Chúng ta đã nghe Nguyễn Khắc Viện nói thế nào về học giả thể kỷ XVIII, chúng ta phải đảm bảo rằng học giả của thế kỷ XXI không giẫm lên vết xe đổ!   Việt Nam đang đối mặt với thách thức làm sao để nâng cao chất lượng đại học và nghiên cứu tới chuẩn mực quốc tế cao nhất có thể được, và quyết tâm của Chính phủ để đạt được mục tiêu đó đã được tuyên bố nhiều lần và rất rõ ràng. Do đó, chúng ta phải đảm bảo rằng đạo đức cũng phải được cải thiện một cách song hành vì nếu đạo đức không được cải thiện thì không thể nào có sự tiến bộ.                                              Phạm Ngọc Điệp   dịch  —  Tài liệu tham khảo  1. Hồ Chí Minh, bài nói chuyện về Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, 1952.   2. Richard P. Feynman, Surely you’re joking Mr Feynman, Bantam New Age books, New York, 1986.  3. François Jacob, Le Jeu des Possibles, Fayard, 1981.  4. Nguyen Khac Vien, Vietnam, A Long History, The Gioi, Ha Noi, 1993.  5. Hàm Châu, Hồ Đắc Di, Science and Conscience, Vietnamese Studies 175/1 (2010) 30.  6. Nguyễn Đình Cự, Corruption in general education in Vietnam, 2007, UK Department for International Development (DFID) report, http://www.viet-studies.info/Corruption_in_education_report.pdf.  7. Hoàng Tụy, Diễn từ nhân dịp được trao giải thưởng Phan Chu Trinh, tháng 3 2011.  8. Fleischmann and Pons, Journal of Electro analytic Chemistry, 261 (1989) trang 301.  9. P. Kourilsky, La Science en Partage, Editions Odile Jacob, Paris, 1998.  10. R. Sommer, James McConnell (1925-1990), American Psychologist 6 (1991), trang 650 trong đó có chú thích kèm theo.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo liên ngành ở Việt Nam      Đào tạo liên ngành được xem là một xu thế tất yếu của thế kỷ XXI. Việt Nam có nằm trong dòng chảy chung đó?       Năm 2011, Đại học Quốc gia Hà Nội khai giảng khóa đầu một chương trình có cái tên rất lạ: Thạc sĩ khoa học bền vững. Nhìn vào điều kiện dự thi, chúng ta còn ngạc nhiên hơn: sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành khoa học môi trường, khoa học trái đất, khoa học cơ bản, kĩ thuật, công nghệ; khoa học xã hội và nhân văn, luật, kinh tế, xã hội học; nhân học, tâm lí học, khoa học chính trị, công tác xã hội; khoa học giáo dục, báo chí tuyên truyền đều có thể dự thi. Tại sao lại có chuyện sinh viên từ các lĩnh vực hoàn toàn trái ngược là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội lại cùng có thể học chung với nhau (thậm chí là học chung ngay lập tức, không cần phải học thêm bất kỳ môn cầu nối nào) trong cùng một chương trình thạc sĩ như vậy?  Nhưng Đại học Quốc gia Hà Nội không sáng tạo điều gì mới cả – có đến cả trăm trường đại học trên thế giới đã và đang làm “cái việc lạ lùng” đó. Trong số các trường nổi tiếng mở chương trình Master in sustainability science như ở Đại học Quốc gia Hà Nội, có thể kể tên một số trường tiêu biểu như Đại học Cambridge (Anh), Đại học Sydney (Úc), Đại học Liên Hợp Quốc (Nhật) hay Đại học Maastricht (Hà Lan)… Thường thì học viên tốt nghiệp các chương trình này có thể học tiếp lên tiến sĩ để trở thành các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học bền vững hoặc nếu muốn đi làm ngay có thể tham gia vào hệ thống hành chính công, các tổ chức phi chính phủ hay công ty tư vấn/thiết kế giải pháp cho vấn đề phát triển bền vững.   Như vậy, đúng như lời quảng cáo của chương trình Thạc sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội, ngành khoa học bền vững ra đời nhằm đáp ứng một nhu cầu cấp thiết của cuộc sống là làm sao “nhận thức đúng đắn, sâu sắc và toàn diện hơn bản chất của tính bền vững, nhận diện các rủi ro và tìm ra các giải pháp khả thi nhằm giải quyết các vấn đề đe dọa đến sự phát triển bền vững của các tổ chức, quốc gia và cả thế giới loài người”. Để làm được điều này thì cần một kiến thức tổng hợp liên ngành, vì vậy, việc sinh viên từ các ngành khác nhau như đề cập ở trên đều có thể thi vào chương trình Thạc sĩ này cũng là điều dễ lý giải.   Khoa học bền vững không phải là ngành đào tạo duy nhất theo hướng liên ngành ở Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng cũng như ở các trường đại học nói chung trong cả nước hiện nay. Xin thử điểm qua một số chương trình tiêu biểu có tên gọi cũng lạ nhưng cũng không kém phần thiết thực cho đời sống: Thạc sĩ quản trị an ninh phi truyền thống của Đại học Quốc gia Hà Nội (liên ngành giữa quản trị, an ninh, công nghệ thông tin…), Cử nhân quản lý thể thao của Đại học Tôn Đức Thắng (liên ngành giữa quản lý, kinh doanh và thể chất thể thao), hay Cử nhân quản lý hệ thống thông tin của Học viện Ngân hàng (liên ngành giữa công nghệ thông tin và quản trị kinh doanh)…   ———————–  * Nghiên cứu sinh Đại học Văn hóa Trung Hoa, thành viên Nhóm Đối thoại Giáo dục.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo những nhà nghiên cứu trẻ đạt tầm quốc tế      Một trong những mục tiêu quan trọng mà dự án Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia cần đạt được là đào tạo, bồi dưỡng những nhà nghiên cứu trẻ có khả năng đạt tầm quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu về phóng xạ môi trường. Đây cũng là điều chúng tôi hướng đến khi thực hiện các dự án nghiên cứu, để qua đó có được những gương mặt triển vọng bổ sung vào đội ngũ các nhà khoa học của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM).      TS. Trần Chí Thành (thứ hai từ phải sang) trong phiên họp với chủ đề “Đông Nam Á đã sẵn sàng cho điện hạt nhân chưa?” tổ chức tại Singapore năm 2015. Nguồn: siew.sg  Theo kinh nghiệm mà chúng tôi có được trong quá trình triển khai các dự án ở nhiều hướng nghiên cứu khác, việc đào tạo nhân lực là điều không dễ thực hiện bởi để có được một hệ thống cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị hiện đại trong bối cảnh kinh phí đầu tư không nhiều đã là chuyện khó nhưng để có được những con người có khả năng thực hiện nghiên cứu và tiến tới đảm trách các hướng nghiên cứu ưu tiên của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam lại càng khó hơn.  Trong quá trình chuẩn bị cho dự án Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, chúng tôi càng nhận thấy sự cần thiết của việc đào tạo nguồn nhân lực. Gần đây, trong một lần làm việc với Sở Tài nguyên và môi trường một địa phương, chúng tôi được biết các cán bộ của Sở cũng tiến hành quan trắc phóng xạ môi trường khá đều đặn nhưng công việc đơn thuần chỉ dừng lại ở mức đo đạc và ghi lại số liệu. Bản thân họ cũng không biết dùng số liệu thu thập được để làm gì, có tin cậy không, phân tích và đánh giá chúng ra sao. Rõ ràng để làm được điều này, cần phải có những nhà chuyên môn được đào tạo bài bản, có trình độ cao, biết phân tích và giải mã số liệu thu được, đưa những số liệu đó thành các tài liệu tham khảo hữu dụng, phục vụ những đề tài nghiên cứu sau này, không chỉ ở tầm quốc gia mà còn ở tầm quốc tế.  Ở đây có một câu hỏi đặt ra, việc thiết lập dự án Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia đòi hỏi những năng lực chuyên môn nào của các nhà nghiên cứu? Đối với VINATOM, có thể thấy mấu chốt của dự án này nằm ở hai khía cạnh: 1. Năng lực thiết kế, chế tạo một số thiết bị quan trắc cũng như nội địa hóa một phần các thiết bị ngoại nhập, đặc biệt là thiết bị đo xenon; 2. Năng lực giải các bài toán ngược từ các con số, dữ liệu máy móc thu thập được để trong trường hợp xảy ra sự cố phát tán phóng xạ từ một cơ sở hạt nhân nào đó trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, xác định sớm phóng xạ từ đâu đến, mức độ trầm trọng của sự cố, khả năng phóng xạ phát tán, từ đó có phương án ứng phó phù hợp…  Tuy xác suất xảy ra rò rỉ phóng xạ là vô cùng thấp, nhưng vẫn “có thể”, và gần chúng ta như từ các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành, thậm chí có thể từ tàu ngầm hạt nhân, hay tàu sân bay ngoài Biển Đông. Điều đó càng bức thiết hơn khi hiện nay, các nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc gần Việt Nam đã đưa vào vận hành, Campuchia cũng đang tích cực chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân.  Để đáp ứng được những yêu cầu này, chúng tôi đã xây dựng được một nhóm các nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (các đơn vị khác trong VINATOM phối hợp) có khả năng thiết kế, chế tạo thiết bị quan trắc phóng xạ, từng chế tạo và lắp đặt nhiều thiết bị như cảnh báo phóng xạ treo tường, phổ kế gamma xách tay, hệ thống đo độ tập trung tuyến giáp, máy đo phóng xạ điện tử… Thông qua việc thực hiện đề tài KC 05.16/11-15 “Nghiên cứu chế tạo thiết bị quan trắc và cảnh báo phóng xạ”, một thiết bị đo suất liều trực tuyến cần thiết cho dự án, nhóm nghiên cứu này đã đào tạo được ba thạc sỹ trẻ trong lĩnh vực điện tử hạt nhân. Trên cơ sở này, chúng tôi hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo của các thành viên trẻ thông qua việc làm chủ thiết kế thiết bị đo xenon. Khi quyết định lựa chọn nhà cung cấp thiết bị đo xenon, chúng tôi sẽ cử một, hai thành viên có khả năng nắm bắt công nghệ tới quốc gia sản xuất (và nước khác) để học hỏi. Nhiệm vụ của họ lúc đó sẽ là nghiên cứu cách thiết kế, vận hành và bảo dưỡng để sau đó tiến hành nội địa hóa, lắp đặt một số chi tiết thiết bị… Đây cũng là cách Hàn Quốc từng áp dụng thành công khi học hỏi phương pháp thiết kế, chế tạo thiết bị đo xenon của Nga cách đây nhiều năm và giờ đây, chúng ta cũng nên vận dụng nó, không chỉ để tiết kiệm kinh phí mà còn chủ động trong việc bảo dưỡng, vận hành máy móc. Về lâu dài, việc tạo điều kiện cho các gương mặt trẻ tiếp cận công nghệ tiên tiến cũng sẽ là cơ hội để chúng tôi đẩy mạnh việc xây dựng dần nguồn nhân lực về điện tử hạt nhân, qua đó có thể sản xuất ra nhiều thiết bị ứng dụng trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp…      Chúng tôi cho rằng không đơn giản là cứ làm ra các trạm quan trắc, mua trang thiết bị đắt tiền và cử ai đó đến làm việc, điều quan trọng là phải có những nhà nghiên cứu có thể hiểu các con số và sử dụng được nó, để các con số phục vụ con người một cách hiện quả nhất. TS. Trần Chí Thành         Về năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực phóng xạ môi trường, hiện nay, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã tập hợp và xây dựng được một nhóm nghiên cứu về phóng xạ môi trường với sự tham gia của Giáo sư Phạm Duy Hiển, TS. Nguyễn Hào Quang và một số nhà nghiên cứu từ các Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt… Họ sẽ là những người đảm trách chính công việc phân tích, xử lý số liệu mà các thiết bị máy móc đặt ở các trạm quan trắc gửi về, công việc mà bài viết “Thổi hồn vào những con số để chúng biết nói”1 của giáo sư Phạm Duy Hiển đã nhắc đến. Với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong thời gian qua khi thực hiện nhiều nghiên cứu về phóng xạ môi trường, đội ngũ nghiên cứu ở lĩnh vực này là thế mạnh của Viện, tuy nhiên điều chúng tôi lo ngại nhất là hầu hết các thành viên của nhóm đều đã khá lớn tuổi. Vì vậy việc bổ sung thêm những gương mặt mới, những nhà nghiên cứu trẻ có khả năng đảm trách công việc và đủ khả năng học hỏi kinh nghiệm, kiến thức từ những người đi trước là điều hết sức cần thiết. Đây cũng là điều quan trọng đặt ra cho chúng tôi khi thực hiện dự án này và thậm chí là quan trọng với cả tương lai của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam trong việc đào tạo cán bộ nguồn để duy trì và phát triển hướng nghiên cứu ưu tiên. Trong những năm gần đây, việc đào tạo cán bộ của Viện Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Chúng tôi đã cử khoảng 15 đến 17 gương mặt trẻ tiềm năng đi làm nghiên cứu sinh ở Mỹ, Nga, Nhật Bản… nhưng hầu hết đi theo hướng nghiên cứu phân tích an toàn nhà máy điện hạt nhân. Chúng tôi đặt hy vọng trong quá trình thực hiện dự án sẽ phát hiện và đào tạo được thêm một số nhà nghiên cứu trẻ.  Do đó, khi đề xuất dự án Mạng lưới quan trắc phóng xạ và cảnh báo môi trường quốc gia, chúng tôi cho rằng không đơn giản là cứ làm ra các trạm quan trắc, mua trang thiết bị đắt tiền và cử ai đó đến làm việc, điều quan trọng là phải có những nhà nghiên cứu có thể hiểu các con số và sử dụng được nó để các con số phục vụ con người một cách hiệu quả nhất.  ————-  * Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam.  1.Tạp chí Tia Sáng số ra ngày 5/8  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=987    Author                Trần Chí Thành        
__label__tiasang Đào tạo phải song hành cùng nghiên cứu *      Điều đặc biệt cần lưu ý trong phát triển  nguồn nhân lực điện hạt nhân là mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu và  đào tạo: nghiên cứu chính là công cụ và cơ sở cho đào tạo.       Điều đặc biệt cần lưu ý trong phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân là mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu và đào tạo: nghiên cứu chính là công cụ và cơ sở cho đào tạo. Lâu nay, điểm yếu của chúng ta là nghiên cứu khoa học và đăng tải bài báo chưa trở thành nhu cầu thực sự của một bộ phận cán bộ nghiên cứu. Tỷ lệ công trình đăng tải trên tổng số công bố còn thấp, đặc biệt là tỷ lệ số bài báo trên mỗi đề tài/kinh phí đề tài còn rất khiêm tốn. Sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, triển khai và đào tạo còn yếu.   Để thay đổi thực trạng này trong phát triển nhân lực điện hạt nhân, trước hết cần xác định đúng những hướng nghiên cứu và đào tạo chính yếu phục vụ cho ngành, đó là: (1) An toàn điện hạt nhân, (2) Thiết kế và xây dựng nhà máy ĐHN, (3) Vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân, và (4) Nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu.   Trên bốn lĩnh vực này, yêu cầu đặt ra cho đội ngũ nhân lực được đào tạo như sau:   •  An toàn điện hạt nhân: Học viên phải hiểu rõ các vấn đề về thiết kế an toàn và các hạn chế của chúng; nắm vững các phương pháp phân tích an toàn; hiểu rõ về quản lý tình trạng khẩn cấp.  •  Thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân: Nắm vững về quá trình thiết kế, hệ thống, lựa chọn, chấp nhận và đánh giá nhà máy điện hạt nhân; hiểu rõ về công nghệ, có khả năng tham gia xây dựng, thử nghiệm, giám sát chất lượng nhà máy điện hạt nhân.   •  Vận  hành  và  bảo  dưỡng  nhà  máy  điện hạt nhân: Hiểu rõ về vận hành, kiểm tra, bảo dưỡng, lão hóa vật liệu nhà máy điện hạt nhân; các vấn đề pháp quy liên quan.   •  Nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu: Hiểu rõ về nhiên-vật liệu hạt nhân; tối ưu hóa thay đảo nhiên liệu; nắm vững về các chu trình nhiên liệu.   Đối với Viện Nghiên cứu hạt nhân tại Đà Lạt, hiện nay những yêu cầu mới đang được đặt ra trong công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho chương trình điện hạt nhân, ngoài các lĩnh vực nghiên cứu truyền thống đã đạt được một số thành tựu, sắp tới chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu về vật lý hạt nhân, vật lý neutron và Vật lý lò phản ứng để hỗ trợ kỹ thuật cho nhà máy điện hạt nhân: nghiên cứu kiểm chứng các bài toán mẫu cho các mô hình lý thuyết được sử dụng để  tính  toán cho lò phản ứng năng lượng (LPƯNL); phát  triển  các  thí  nghiệm trên lò phản ứng nghiên cứu (LPƯNC)  để  kiểm  tra  giới  hạn  an  toàn  cho  LPƯNL  về truyền nhiệt; sử dụng kỹ thuật ghi hình ảnh bằng neutron (neutron imaging) để thu được các số  liệu cần thiết về dòng chảy đa pha trong bài toán thủy nhiệt phục vụ cho việc phân tích an toàn, v.v..   Những giải pháp cần cân nhắc là tập hợp lại đội ngũ làm nghiên cứu về vật lý hạt nhân; tách nhóm nghiên cứu vật lý lò ra khỏi công việc vận hành thường xuyên; lập nhóm nghiên cứu neutron để tìm hiểu và chuẩn bị cho các kỹ thuật neutron mới bao gồm:   Kỹ thuật chụp ảnh neutron cho phép kiểm tra các thanh nhiên liệu hoặc dò tìm khuyết  tật  trong  các  vật  liệu,  linh  kiện  điện  tử,  kiểm  tra  chất  lượng  thiết  bị  hạt  nhân, kiểm tra các turbine khí nhiệt độ cao, kỹ thuật chụp ảnh neutron động;   Kỹ thuật kiểm tra và hiệu chuẩn dụng cụ hạt nhân: Trong vùng hoạt của LPƯNC cho phép tiến hành chiếu xạ thử nghiệm vật liệu và hiệu chuẩn các thiết bị ghi đo bức xạ dùng trong nhà máy điện hạt nhân;   Kỹ thuật thử nghiệm nhiên vật liệu hạt nhân: Nghiên cứu sự biến đổi thành phần và cấu trúc bên trong của viên gốm nhiên liệu; chiếu xạ để đánh giá tính toàn vẹn vỏ bọc thanh nhiên liệu khi xảy ra tai nạn/sự cố; nghiên cứu sự phát tán phóng xạ ra bên ngoài.   Tựu trung lại, chúng ta cần duy trì một tầm nhìn dài hạn ít nhất là 10-15 năm trở lên cho việc nghiên cứu, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở nhận diện đúng nhu cầu của chương trình điện hạt nhân, cân đối và đánh giá trước một cách thận trọng những khả năng nghiên cứu và nhu cầu phát triển và đào tạo cũng như thời gian cần thiết để thực hiện nghiên cứu, đào tạo và  phát triển nhân lực trong bối cảnh ràng buộc của yêu cầu quy phạm ngày càng chặt chẽ.     * Trích tham luận tại tọa đàm, tựa đề do Tia Sáng đặt      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo tiến sĩ các ngành nhân văn: Có bột mới gột nên hồ      Nhìn chung, với các ngành nhân văn, mục tiêu hội nhập quốc tế là cần thiết nhưng cần phải có lộ trình cụ thể, không thể nóng vội trong một vài năm. Trước mắt, vấn đề cấp bách là đặt ra yêu cầu về công bố quốc tế đối với bản thân những người hướng dẫn và đào tạo nghiên cứu sinh (NCS).      Nguồn ảnh: iStock.  Thông tư 18 mới đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo tiến sĩ đã đưa ra một phổ đầu ra rất rộng, bao phủ từ khối KHXH&NV đến tự nhiên, gây tranh cãi lớn vì giữa các ngành vốn tồn tại nhiều khác biệt. Trong phạm vi các ngành KHXH&NV, tôi cho rằng trong điều kiện hiện nay, việc chưa bắt buộc NCS có công bố quốc tế trước khi tốt nghiệp là điều phù hợp.      Để có thể công bố một nghiên cứu, dù ở trong hay ngoài nước, các NCS cần đến sự tư vấn, định hướng của thầy hướng dẫn. Họ chỉ có thể bắt tay vào viết sau khi đã học hết các môn bắt buộc, bảo vệ thành công đề cương và hoàn thành nghiên cứu thực địa để có tư liệu cần thiết. Điều đó có nghĩa, nhanh nhất phải từ năm thứ 3 NCS mới có thể bắt đầu viết bài dựa trên nghiên cứu của mình. Như vậy, họ sẽ khó có đủ thời gian để kịp đáp ứng yêu cầu xuất bản quốc tế, và gần như chắc chắn không thể xuất bản trên các tạp chí quốc tế uy tín, bởi ngay cả với bài đạt chất lượng, thời gian để được in có khi tính hàng năm.      Quan trọng hơn, yêu cầu công bố quốc tế đối với NCS càng khó khả thi trong điều kiện hiện nay khi các thầy hướng dẫn chưa có công bố quốc tế và thông tư không yêu cầu bắt buộc người dạy, người hướng dẫn hay phản biện, chấm luận án phải công bố quốc tế. Thậm chí, trong vòng 10 năm qua, từ quan sát, tôi đã nhận thấy không ít GS, PGS không có bất kỳ công bố khoa học nào suốt nhiều năm liền nhưng vẫn tham gia giảng dạy tiến sỹ, tham gia các hội đồng chấm luận án. Một khi các GS và PGS không cập nhật tri thức thông qua những ấn phẩm của mình, họ không thể có đủ năng lực hướng dẫn NCS công bố khoa học, càng không đủ kinh nghiệm để tư vấn cho học trò xuất bản trên các tạp chí quốc tế nghiêm túc, nơi chỉ chấp nhận bài viết có đóng góp mới về mặt tư liệu, lý thuyết.      Việc nâng cao tiêu chuẩn thầy hướng dẫn là một đòi hỏi cấp bách, bởi đó là yếu tố tiên quyết quyết định chất lượng đào tạo. Vì vậy, tôi rất ngạc nhiên khi Thông tư 18 yêu cầu hướng hướng dẫn chỉ cần đáp ứng điều kiện tối thiểu là có công bố trong nước trong thời gian 5 năm vừa qua. Thực tế, việc bắt buộc người hướng dẫn NCS và tham gia chấm luận án tiến sỹ có công bố quốc tế là yêu cầu cần thiết, hợp lý và “vừa sức” bởi vì nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hiện nay đã yêu cầu người có bằng TS xuất bản khoảng 2-3 bài/năm và yêu cầu xuất bản với PGS, GS còn cao hơn nhiều.       Thực tế, việc bắt buộc người hướng dẫn NCS và tham gia chấm luận án tiến sỹ có công bố quốc tế là yêu cầu cần thiết, hợp lý và “vừa sức”      Một điểm bất hợp lý khác của thông tư 18 là yêu cầu về ngoại ngữ với cả người hướng dẫn và NCS. Với người hướng dẫn, thông tư 18 đưa ra những quy định hết sức chung chung, không rõ ràng, không cụ thể hóa bằng các chứng chỉ uy tín. Về phía NCS, để từng bước hội nhập, có năng lực cập nhật thông tin, trao đổi khoa học, NCS cần có trình độ tiếng Anh đủ để đọc, viết và trao đổi, ít nhất là trong phạm vi chuyên ngành của mình, nhưng quy định yêu cầu ngoại ngữ của Thông tư 18 là một bước thụt lùi so với thông tư 08 ban hành năm 2017 – quy định các ứng viên NCS phải có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL IBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS từ 5.0 trở lên hoặc Chứng chỉ TOEIC từ 500 điểm trở lên do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 2 năm. Đây là yêu cầu phù hợp nhất là khi tiếng Anh đã được giảng dạy từ cấp tiểu học trên cả nước.      Bên cạnh đó, để đảm bảo tính minh bạch, sau khi luận án được thông qua, danh tính của các thành viên hội đồng, người tham gia phản biện cần phải được công bố trên bìa của luận án. Điều này sẽ góp phần tăng tính trách nhiệm, công tâm của các thành viên đánh giá chất lượng của luận án. Ngoài ra, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của những thành viên này, nhất là trong trường hợp sau khi luận án được thông qua lại bị phát hiện tình trạng đạo văn, kém chất lượng. Cũng cần lưu ý là người hướng dẫn, phản biện, thành viên hội đồng đánh giá luận án tiến sỹ ở Việt Nam được trả tiền để hỗ trợ nghiên cứu sinh, điều ít thấy ở các cơ sở đào tạo nước ngoài.     ***   Có ý kiến lo ngại về việc khó tìm đủ người có năng lực và kinh nghiệm công bố quốc tế tham gia đào tạo trong các ngành nhân văn bởi đa phần các GS, PGS gạo cội chưa có công bố quốc tế. Tôi cho rằng đây không phải là vấn đề lớn. Từ năm 2000 đến nay, đã có hàng nghìn nhà khoa học khối nhân văn được cử ra nước ngoài học NCS và phần lớn đã trở về nước, đang làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Đa phần họ đã có xuất bản quốc tế, trình độ ngoại ngữ tương đối tốt, hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc giảng dạy, hướng dẫn NCS. Họ chính là lực lượng có nhiệm vụ thổi luồng gió mới vào việc nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm sao để thu hút tối đa lực lượng này tham gia vào việc đào tạo tiến sỹ bởi theo quan sát của tôi, lực lượng này dường như vẫn chưa được trao nhiều cơ hội trong một môi trường “trọng xỉ”.     Với yêu cầu xuất bản trong nước, quy định tối thiểu NCS chỉ cần đạt tổng 2 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định nhưng theo tôi các trường cần cụ thể hóa hơn. Để đạt được điểm quy định trên, NCS chỉ phải công bố từ 2 -3 bài trên các tạp chí chuyên ngành. Các trường cần có quy định bắt buộc 1 bài trong số đó phải tổng hợp, phân tích, đánh giá những vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án mà nghiên cứu sinh đang theo đuổi. Điều đó có nghĩa NCS phải đọc và tổng kết được những quan điểm chính liên quan đến nội dung đề tài của mình, vốn đã được giới học giả trong và ngoài nước đề cập đến. Yêu cầu này giúp NCS có được phông kiến thức cần thiết để triển khai, phát triển, sáng tạo thêm cho nghiên cứu của mình. Ở nhiều trường đại học trên thế giới, chương tổng quan đóng vai trò hết sức quan trọng, nó phản ánh năng lực tổng hợp, phân tích, tư quy phản biện và phông kiến thức của NCS. Đáng tiếc, ở nhiều cơ sở đào tạo trong nước, phần tổng quan thường được viết hết sức hời hợt, chiếu lệ, mang tính liệt kê hơn là phân tích, đánh giá, so sánh.    Author                Nguyễn Công Thảo        
__label__tiasang Đào tạo tiến sĩ: Để có đầu ra mong muốn      Lời tòa soạn: Bộ GD&ĐT mới ra thông tư hướng dẫn về đào tạo tiến sĩ, trao quyền tự chủ cho các trường đảm bảo chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh (NCS), chấp nhận NCS công bố cả trong nước thay vì chỉ công bố quốc tế như 4 năm trước. Thay đổi này gây tranh cãi khi có những người lo ngại khung tối thiểu là công bố trong nước sẽ làm giảm chất lượng đầu ra của đào tạo tiến sĩ, đồng thời lại có ý kiến cho rằng sự thay đổi là cần thiết vì NCS các ngành nhân văn rất khó có thể đáp ứng yêu cầu công bố quốc tế. Tuy nhiên đa số các ý kiến thống nhất cho rằng không thể dùng chung một khung đầu ra cho tất cả các ngành. Bên cạnh đó việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ không chỉ phụ thuộc vào phương thức kiểm soát chất lượng đầu ra mà còn đòi hỏi những cải thiện cơ bản trong chương trình đào tạo, chất lượng người thầy hướng dẫn, môi trường học thuật và những thay đổi trong nhận thức xã hội về mục đích và bản chất của việc đào tạo tiến sĩ.    Gốc rễ của đào tạo không phải chỉ là chuyện đăng bài báo khi bảo vệ luận án mà ở quá trình đào tạo, kiến thức mà người thầy có thể trang bị thực sự cho nghiên cứu sinh.     Phải có đánh giá tác động của các quy chế   Mới đây, Bộ GD&ĐT ra thông tư hướng dẫn mới về quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (gọi tắt là quy chế 2021), đã khiến giới học thuật liên tục bàn luận xung quanh một số điểm điều chỉnh “mức sàn công bố” của nghiên cứu sinh (NCS) tiến sĩ và người hướng dẫn giảm xuống chỉ cần tối thiểu có công bố trên các tạp chí trong nước đạt 0,75 điểm theo danh mục của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước, so với thông tư hướng dẫn ra đời vào năm 2017 (gọi tắt là quy chế 2017) yêu cầu phải có hai bài tạp chí quốc tế hoặc hội thảo quốc tế. Liệu quy chế mới này, hoặc quy chế cũ có ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo trong nước là một câu hỏi mà nhiều người đặt ra.   Đa phần giới khoa học đều đã thống nhất, việc quốc tế hóa đào tạo nghiên cứu sinh là bắt buộc nhưng để thay đổi các tiêu chí đầu ra của chương trình đào tạo NCS theo tiêu chí đó, cần có sự khảo sát kỹ lưỡng về hiện trạng đào tạo, khả năng đáp ứng của các trường, các ngành. Nếu như hầu hết các ngành khoa học tự nhiên đều đạt được sự đồng thuận về tiêu chuẩn công bố quốc tế của NCS thì đối với phần lớn các ngành khoa học xã hội vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi.   Đối với quy chế 2017, để đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nó tới chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh thì thời gian 4-5 năm kể từ 2017 tới nay là quá ngắn, thậm chí có nhiều NCS theo quy chế này còn chưa tốt nghiệp. Có lẽ chúng ta cần phải thêm năm năm nữa để đánh giá, xem xét chất lượng luận án của nghiên cứu sinh cùng với chất lượng, số lượng các bài đã công bố của họ trước và sau khi bảo vệ luận án. Chúng ta có thể xem xét những NCS theo quy chế 2017 có tiếp tục công bố quốc tế sau khi tốt nghiệp hay không và so sánh họ với nhóm NCS không theo quy chế 2017.  Mặt khác, cũng cần khảo sát NCS vào học theo quy chế 2017 để đánh giá thực trạng đào tạo khi áp dụng chuẩn cũ, những khó khăn mà học viên cũng như giảng viên hướng dẫn gặp phải khi hướng tới tiêu chuẩn công bố quốc tế.   Về tổng thể, cá nhân tôi nghĩ rằng quy chế 2021 hạ mức sàn chuẩn đầu ra có lẽ sẽ làm giảm chất lượng nghiên cứu cũng như đào tạo NCS. Việc yêu cầu xuất bản quốc tế sẽ hướng sinh viên vào việc quan tâm nhiều hơn đến các nghiên cứu hiện nay trên thế giới và nỗ lực hơn trong việc đọc tài liệu và viết bài báo bằng tiếng Anh. Tuy nhiên “hàng rào kỹ thuật” đầu ra này cũng là biện pháp tạm thời. Bởi vì gốc rễ của đào tạo không phải chỉ là chuyện đăng bài báo trước khi bảo vệ luận án mà ở kiến thức trang bị thực sự cho NCS như thế nào và người hướng dẫn ra sao. Ở châu Âu hay Mỹ, hầu hết các trường không yêu cầu NCS có công bố trước khi tốt nghiệp, vì họ tin vào chất lượng đào tạo và hướng dẫn nghiên cứu của giáo viên. Về lâu dài để hướng tới công bố quốc tế thì phải đảm bảo nhiều yếu tố như chương trình đào tạo đạt gần với tiêu chuẩn quốc tế, trình độ của giáo viên hướng dẫn, cũng như bản thân NCS dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu.  Với một số quốc gia ở châu Á như Đài Loan, Thái Lan và Malaysia thì chất lượng đào tạo tiến sỹ chưa được đồng đều như châu Âu và Mỹ. Để nâng cao chất lượng đào tạo thì các quốc gia này đặt mục tiêu công bố quốc tế cho các nghiên cứu sinh và coi đó là mục tiêu hoàn thành, đảm bảo luận án có chất lượng thông qua các bài báo từ luận án được thẩm định bởi các phản biện độc lập. Để làm được, họ cần có đội ngũ giáo viên hướng dẫn có kinh nghiệm và năng lực, cũng như các điều kiện học tập và khuyến khích phù hợp. Tuy nhiên trong tương lai khi mà việc đào tạo giáo dục ở các nước này đạt tiêu chuẩn như châu Âu hoặc Mỹ thì tôi nghĩ rằng họ cũng sẽ bỏ điều kiện công bố quốc tế đối với NCS.    Hình 1: Dữ liệu Tổng Điều tra doanh nghiệp năm 2017 thì  tỷ lệ giám đốc tốt nghiệp thạc sỹ và tiến sĩ ở các doanh nghiệp nhà nước cao gấp khoảng 10 lần so với các doanh nghiệp tư nhân.  Nâng cao chất lượng đào tạo  Hai yếu tố quan trọng nhất trong đào tạo NCS là các môn học cơ sở và chất lượng của giảng viên hướng dẫn. Hiện nay mặt bằng công bố quốc tế cũng như đào tạo trong các lĩnh vực khác nhau rất khác nhau, khó có một quy định, “hàng rào kỹ thuật” nào đủ bao trọn tất cả mọi ngành. Tôi muốn nói cụ thể về trường hợp của ngành kinh tế, đào tạo NCS còn chịu nhiều hạn chế như các môn học còn chưa theo kịp tiêu chuẩn quốc tế, không đào tạo NCS bằng tiếng Anh, và giảng viên hướng dẫn thì không phải ai cũng có nhiều kinh nghiệm công bố quốc tế.        Cũng cần khảo sát NCS vào học theo quy chế 2017 để đánh giá thực trạng đào tạo khi áp dụng, những khó khăn mà học viên cũng như giảng viên hướng dẫn gặp phải khi hướng tới tiêu chuẩn công bố quốc tế.      Để công bố quốc tế được thì các kiến thức từ bậc thạc sĩ cũng như các môn học bắt buộc ở bậc tiến sĩ cần được xây dựng theo tiêu chuẩn gần với quốc tế. Ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển, các môn học bắt buộc ở bậc đào tạo tiến sĩ trong ngành kinh tế thường rất khó, yêu cầu sự nỗ lực và tập trung của NCS. Một số môn học yêu cầu NCS đọc nhiều bài báo để cập nhật phương pháp và các chủ đề nghiên cứu gần đây. Một khi đã hoàn thành các môn học này thì NCS có thể nắm vững kiến thức và công cụ để tự tin tiến hành nghiên cứu và viết luận án. Việc hoàn thành các môn học cũng là minh chứng cho khả năng, sự nghiêm túc cũng như sự nỗ lực của NCS. Những NCS không hoàn thành tất cả các môn học theo yêu cầu thì có thể dừng việc học tiến sĩ sau một năm và nhận chứng chỉ các môn học đã hoàn thành, tránh bỏ nhiều năm để nghiên cứu nhưng cuối cùng không bảo vệ được luận án. Như vậy, nếu muốn nâng cao chất lượng tiến sĩ thì cần phải cải tiến hệ thống các môn học bắt buộc ở bậc học này. Một số môn học có thể hoàn toàn sử dụng giáo trình nước ngoài, và được giảng dạy bằng tiếng Anh. NCS cần phải được yêu cầu đọc và thảo luận nhiều hơn các bài báo quốc tế trong chuyên ngành của mình.   Con đường đi tới chuẩn hóa đào tạo tiến sĩ ở nước ta đang vấp phải một thực tế tiếp theo là không phải ai đi học tiến sĩ cũng để làm công việc học thuật. Như truyền thông phản ánh, bằng tiến sĩ vẫn được mọi người cho rằng là một ưu điểm trong thăng tiến công việc ở các cơ quan nhà nước mặc dù các vị trí quản lý cần nhiều kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng quản lý chứ không phải kiến thức hàn lâm. Đơn cử theo Dữ liệu Tổng Điều tra doanh nghiệp năm 2017 thì  tỷ lệ giám đốc tốt nghiệp thạc sỹ và tiến sĩ ở các doanh nghiệp nhà nước cao gấp khoảng 10 lần so với các doanh nghiệp tư nhân (xem Hình 1). Một khi đã cho rằng học tiến sĩ để “thăng quan tiến chức’’ thì chất lượng khó lòng được đảm bảo. Do vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ thì theo tôi, chúng ta nên thay đổi tư duy cho rằng những người có học vị cao như tiến sĩ sẽ làm quản lý tốt hơn. Đó không phải là căn cứ để bổ nhiệm hay bầu cán bộ quản lý.   Nếu như Quy chế đào tạo tiến sỹ 2021 có thể yêu cầu NCS dành toàn thời gian cho việc học tập và nghiên cứu thì sẽ góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo. Ở các quốc gia châu Âu hay Mỹ, học tiến sĩ thường là toàn thời gian. NCS thậm chí được coi như một cán bộ nghiên cứu của khoa hay dự án nghiên cứu tại nơi đào tạo. Do vậy, ở nước ta các cơ quan nên cử cán bộ đi học tiến sĩ dưới dạng toàn thời gian, không yêu cầu NCS đến cơ quan làm việc cho đến khi tốt nghiệp tiến sĩ.   Cũng như chúng ta đã biết, có lẽ vì môi trường học thuật chưa tạo được sự tin tưởng lẫn nhau nên NCS phải chịu nhiều ràng buộc, quy định mang tính hình thức liên quan đến đánh giá chất lượng luận án. Một số quy định về đào tạo tiến sĩ quá chặt chẽ và có phần không cần thiết. Một ví dụ điển hình là các NCS phải xin 15 ý kiến về luận án từ các nhà khoa học và tổ chức, mà việc này mang nặng tính hình thức. Theo tôi việc xin ý kiến này cần được loại bỏ để cho NCS dành nhiều thời gian cho việc chỉnh sửa luận án, thay vì đến từng nơi xin ý kiến như vậy. □  Công bố quốc tế: Đi dần từ số lượng tới chất lượng   Với các ngành KHXH trong nước, công bố quốc tế mới chỉ được nhắc tới nhiều trong khoảng vài năm trở lại đây nên mức độ quốc tế hóa còn chậm, một số ngành rất ít công bố quốc tế, chất lượng công bố còn chưa đồng đều. Nhưng trong quá trình phát triển của các ngành, cũng phải chấp nhận có số lượng trước, khi đã có số lượng nhất định rồi mới nâng cao chất lượng được. Khi hầu hết các nhà khoa học đều có thể xuất bản quốc tế được rồi thì họ sẽ nghĩ tới việc chuyển từ số lượng sang chất lượng công bố. Với NCS cũng vậy, ngay từ đầu đòi hỏi công bố trên tạp chí chất lượng rất cao ngay thì khó, nhưng nếu nỗ lực và dành thời gian cho việc học tập và nghiên cứu thì một NCS có công bố trong danh mục Scopus cũng là điều khả thi. Có ý kiến cho rằng một số chuyên ngành hẹp đặc thù của Việt Nam thì gặp rất nhiều khó khăn trong công bố quốc tế. Tuy nhiên tôi cho rằng kiến thức và phương pháp nghiên cứu mới là những điều mà NCS cần đạt được sau khi tốt nghiệp. NCS nên chọn những chủ đề rộng, được nhiều người quan tâm cho luận án, còn những chuyên đề hẹp họ có thể thực hiện sau khi tốt nghiệp, trong những đề tài được sự tài trợ của nhà nước hay các tổ chức quốc tế. Đối với cá nhân tôi, nếu hướng dẫn NCS, tôi vẫn hướng tới việc để cho NCS nỗ lực công bố quốc tế trước khi bảo vệ luận án.    Author                Nguyễn Việt Cường        
__label__tiasang Đào tạo và huấn luyện hạt nhân: Những điều cần lưu ý theo khuyến nghị của OECD (Kỳ 1)      Trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, trước các tác nhân như gia tăng nhu cầu năng lượng, sự quan tâm nhiều hơn tới vấn đề biến đổi khí hậu, những quan ngại đến an ninh nguồn cung, nhu cầu ổn định giá năng lượng trong dài hạn, v.v. đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu nhân lực của ngành hạt nhân cả về chất và lượng. Trước tình hình đó, từ năm 2012 OECD đã xây dựng một báo cáo&#160; với những khuyến cáo đến nay vẫn còn hữu ích cho các quốc gia đã có hoặc đang dự định phát triển công nghiệp hạt nhân.&#160;     Nhu cầu liên tục về nguồn nhân lực   Những đặc điểm đặc biệt của năng lượng hạt nhân và chu trình nhiên liệu làm tăng thêm các yêu cầu đặc thù đối với đào tạo và huấn luyện. Ở tất cả các quốc gia có chương trình hạt nhân, thậm chí là trước khi xem xét việc bắt đầu xây dựng và không phụ thuộc vào chính sách quốc gia, đã có nhận thức rõ ràng về việc hạt nhân phải được vận hành và duy trì an toàn, kể cả khi đã chấm dứt hoạt động. Yếu tố cần thiết cho việc triển khai và vận hành an toàn các cơ sở hạt nhân, cũng như nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân là lực lượng lao động có kiến thức và kỹ năng.   Lực lượng lao động hạt nhân ở thế kỷ 21 là một cộng đồng có ý nghĩa quốc tế, thương mại và nghiên cứu. Dù còn thiếu dữ liệu số chi tiết ở mức quốc gia và toàn cầu, những khảo sát hiện hữu được thực hiện ở một số quốc gia cho thấy, ở phạm vi toàn cầu, nhu cầu việc làm trong tương lai là từ hàng chục đến hàng trăm nghìn người có kỹ năng làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến hạt nhân. Điều này có nguyên nhân đáng kể là do mức độ gia tăng người nghỉ hưu theo dự báo trong số lực lượng lao động hiện có.   Các nghiên cứu gần đây của nhóm nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Li et al., 2009) mô phỏng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực theo một số kịch bản ở Liên bang Nga và Hoa Kỳ. Hình E.1 chỉ ra nhu cầu dự báo đối với nhân viên vận hành (tức là, nhân viên vận hành cần có để vận hành nhà máy sau giai đoạn xây dựng) đối với trường hợp của Hoa Kỳ, khi các nhà máy được xây dựng bổ sung tham gia thị phần. Minh họa nhu cầu lực lượng lao động của Hoa Kỳ với xuất phát điểm là 56.000 người (vào năm 2006), đồ thị thể hiện riêng biệt nhu cầu thay thế người nghỉ hưu và nhu cầu tăng thêm cho tới năm 2030, xấp xỉ 19.000 vị trí mới, tổng cộng là 63.000 tuyển dụng mới (19.000 + 44.000 thay thế người nghỉ hưu). Kết luận chính của phân tích này cho thấy nhu cầu lớn về đào tạo và huấn luyện nhân viên mới.    Hình E.1: Dự báo nhân lực vận hành cần thiết cho thị phần điện hạt nhân ở Hoa Kỳ  Nguồn: Li et al. (2009).   Chú giải trong hình: Nuclear power plant workforce – Nhân lực nhà máy điện hạt nhân; Existing workforce – Lực lượng lao động hiện có; Workforce baseline – Đường cơ sở về lực lượng lao động; Total workforce – Lực lượng lao động tổng cộng; New – Mới; Replacing – Thay thế; Year – Năm.  Nói chung, nhu cầu kỹ năng hạt nhân được đặt tương phản với lực lượng lao động bị già hóa cho thấy, cần có giải pháp có hiệu quả để duy trì được lực lượng lao động có kỹ năng và năng lực chuyên môn tương xứng, và đáp ứng được dòng tuyển dụng mới ổn định trong dài hạn. Các quyết định về chính sách cần được đề xuất cho hiện tại, để có được cơ sở hạ tầng đào tạo và huấn luyện hạt nhân tương xứng cho vài chục năm sau. Sự chậm trễ và thay đổi về chính sách sẽ tác động bất lợi cho việc bảo đảm lực lượng lao động hiệu quả.   Tính xuyên quốc gia của nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân ngày càng tăng. Đồng thời, việc triển khai hạt nhân dân sự và chuỗi cung ứng có liên quan cũng được quốc tế hóa. Kết quả là, nhu cầu lực lượng lao động hạt nhân toàn cầu ngày càng tăng.   Lực lượng lao động có năng lực chuyên môn là nguồn lực then chốt   Công nghiệp hạt nhân được đặc trưng bởi yêu cầu về trình độ kỹ năng tổng thể và an toàn ở mức cao. Mối quan ngại nổi bật trong công nghiệp hạt nhân là an toàn, không chỉ bởi lợi ích riêng của ngành, mà còn vì tính nhạy cảm ở khía cạnh chấp nhận của công chúng và, nói một cách chính thức, là vì quy định pháp quy của quốc gia, của khu vực và các thỏa thuận quốc tế. Không được xem nhẹ tầm quan trọng của đào tạo và huấn luyện trong việc bảo đảm an toàn. Với tất cả những lý do này, hành vi an toàn được xem là kỹ năng then chốt song hành với chuyên môn kỹ thuật đặc thù đối với công việc. Người quản lý và lãnh đạo có vai trò chủ chốt trong việc mô hình hóa những hành vi phù hợp, hỗ trợ đào tạo và huấn luyện hạt nhân, nhằm tạo lập và duy trì văn hóa an toàn vững chắc.   Việc nhận diện được những mức độ “hạt nhân hóa” đa dạng trong công nghiệp cần thiết song hành với việc huấn luyện kỹ năng hạt nhân đặc thù và văn hóa an toàn, bổ trợ cho các kỹ năng công nghệ và quản lý khác. Hiểu biết chung về hạt nhân là điều tiên quyết đối với tất cả lực lượng lao động và tùy thuộc vào yêu cầu riêng của công việc mà một số người cần có chuyên môn hạt nhân đặc thù ở mức cao hơn.   Năng lực chuyên môn được phân loại theo ba nhánh cần cho việc vận hành nhà máy điện hạt nhân, bao gồm:   •    Nhân lực “hạt nhân” được đào tạo chính thức chuyên sâu trong các lĩnh vực hạt nhân (ví dụ: công nghệ hạt nhân, hóa phóng xạ, bảo vệ bức xạ, v.v.);   •    Nhân lực “hạt nhân hóa” được đào tạo và huấn luyện chính thức trong các lĩnh vực có liên quan (phi hạt nhân) (ví dụ: cơ khí, điện tử, công trình dân dụng, hệ thống), nhưng họ cần có kiến thức về môi trường hạt nhân, ở đó có sử dụng chuyên môn của họ;   •    Nhân lực “hiểu biết hạt nhân” có hiểu biết hạt nhân để làm việc trong công nghiệp (ví dụ: thợ điện, cơ khí, thợ các nghề khác và nhân viên hỗ trợ).   Tháp năng lực chuyên môn trong hình E.2 minh họa điều này. Nói chung, số lượng nhân lực tăng dần từ đỉnh xuống đáy.     Hình E.2: Tháp năng lực chuyên môn  Chú giải trong hình: Nuclear – Hạt nhân; Nuclearised – Hạt nhân hóa; Nuclear-aware – Hiểu biết hạt nhân; Education – Đào tạo; Training – Huấn luyện.   Thông thường, từ đáy dịch chuyển lên đỉnh Tháp, việc đạt được năng lực chuyên môn thay đổi từ thông qua huấn luyện tập trung vào công việc, một hoặc nhiều nhiệm vụ cụ thể, cho đến thông qua đào tạo, phát triển các nguyên tắc cơ bản chuyên sâu hơn; mà nếu những chuyên môn đó được thu nhận một cách đúng đắn, thì có thể áp dụng chúng trong các tình huống thường là ít lường trước hơn.   Đôi khi, đào tạo và huấn luyện được sử dụng như hai quá trình khác biệt, nhưng xoắn quyện vào nhau, để chuẩn bị lực lượng lao động chuyên môn hạt nhân. Thông thường, cách tiếp cận đào tạo được sử dụng cho cả lộ trình chuyên nghiệp, còn các yếu tố huấn luyện rõ rệt hơn thì được sử dụng khi vào nghề. Tuy nhiên, hiện nay, các cách thức đó ít bị phân tách cứng nhắc hơn, mà có sự giao thoa ở mức độ cần thiết, để phát triển nhu cầu của người lao động. Trong một số tình huống, công nghiệp giải quyết thiếu hụt lực lượng lao động kỹ thuật bằng cách tuyển dụng những người có chuyên môn phù hợp trong các lĩnh vực có liên quan, nhưng chưa có nền tảng về hạt nhân và truyền thụ kiến thức nền tảng cho họ thông qua huấn luyện đặc thù. Công nghiệp cũng bổ sung nhân lực thông qua chuỗi cung ứng các nhà thầu lớn; trong đó, điều cần gấp là thiết lập và duy trì văn hóa an toàn bền vững. Theo tài liệu Hoàn thiện hiệu suất hoạt động của con người và tổ chức năm 2009 của Ủy ban về an toàn các cơ sở hạt nhân (CSNI) của NEA, thì đây là chủ đề được các tổ chức có thẩm quyền về an toàn đánh giá thường xuyên.   Các chuyên gia ở đỉnh Tháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo nghiên cứu, phát triển và thiết kế, để vận hành an toàn cơ sở hạt nhân. Hầu hết các cán bộ quản lý nhà máy điện hạt nhân có thể được phân loại vào thành phần ở đỉnh Tháp (được nhấn mạnh trong tài liệu Nguyên do của sự quan ngại). Họ có vai trò chủ yếu trong việc chuyển giao văn hóa an toàn hạt nhân cho tất cả lực lượng lao động. Thông thường, điều kiện tiên quyết, đó là những người được đào tạo về công nghệ hạt nhân và/hoặc vật lý hạt nhân, hoặc là những người có kinh nghiệm ứng dụng hạt nhân phi năng lượng (ví dụ trong hải quân hạt nhân). Họ thường được đào tạo tại các trường đại học, thông qua chương trình đại học hoặc cao học. Thêm vào đó, tùy thuộc vị trí làm việc, họ có thể được huấn luyện trên thiết bị mô phỏng (ví dụ đối với nhân viên vận hành lò phản ứng) và huấn luyện theo công việc – on-the-job – chuyên biệt để đạt được chuyên môn đầy đủ ở cấp chuyên gia.   Chương trình tiến sĩ là cần thiết để đào tạo các chuyên gia và các nhà nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân, và là không thể thiếu để hỗ trợ nghiên cứu – phát triển trong công nghiệp, tại các viện nghiên cứu, cũng như ở các trường đại học.    Từ sau báo cáo năm 2000 của NEA, những mối quan ngại tiếp theo dần được làm rõ, chú trọng đến việc không có đủ nhân viên vận hành và kỹ thuật viên hỗ trợ cho các nhà máy điện hạt nhân, khi các nhà máy được kéo dài thời gian hoạt động. Ví dụ tại Hoa Kỳ, các khảo sát lực lượng lao động công nghiệp chỉ ra rằng, chính việc kéo dài thời gian vận hành nhà máy điện hạt nhân đã góp phần lớn nhất vào nhu cầu lực lượng lao động trong ngắn hạn. Nhìn toàn cảnh về các nhà máy được xây dựng mới và tăng trưởng công nghiệp hạt nhân quy mô toàn cầu, thậm chí cần có sự chú ý nhiều hơn đối với việc huấn luyện phần lớn hơn lực lượng lao động hạt nhân ở phần đế của Tháp, thường là với thời gian ngắn.   Thông thường, cần nhiều thời gian để đào tạo và huấn luyện hạt nhân, nên việc thiết lập và dự phòng cung ứng lực lượng lao động hạt nhân phù hợp đòi hỏi được lập kế hoạch một cách có hệ thống từ hàng chục năm trước. Ở khía cạnh đó, những chính sách hạt nhân làm ngược lại, có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng. Tình trạng suy giảm toàn cầu có nguyên nhân từ khủng hoảng tài chính dai dẳng và những tiếng nói phản đối bị đánh thức bởi thảm họa Fukushima Daiichi; làm tăng thêm các bất định và có thể làm trầm trọng thêm các thiếu hụt hiện tại. Thực vậy, các quyết định thay đổi hoặc trì hoãn của chính phủ có tác động như cơ chế cản trở đầu tư, việc làm và có ảnh hưởng tai hại đối với sự quan tâm, sự ràng buộc của những người trẻ đối với công nghiệp.   Vì vậy, sự can thiệp có tính chất gắn kết của chính phủ, công nghiệp, các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu – phát triển là cần thiết để ngăn chặn sự thiếu hụt về nguồn nhân lực tại một số quốc gia cũng như duy trì nguồn cung nhân lực có kỹ năng và năng lực chuyên môn. Sự kết hợp này là điều cần thiết để bảo đảm nguồn tuyển dụng mới ổn định trong dài hạn và phù hợp, để bù đắp vào lực lượng sẽ nghỉ hưu.   (Còn tiếp)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo và huấn luyện hạt nhân: Những điều cần lưu ý theo khuyến nghị của OECD (Kỳ 2)      Nhìn lại sự phát triển trong 10 năm qua, thực tế ở các quốc gia cho thấy, các bên có liên quan đã bắt đầu có những nỗ lực trong đào tạo nhân lực. Báo cáo năm 2000 của NEA cho thấy, các quốc gia đã nhận biết được thách thức, và đạt được một số tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, về tổng thể, vẫn còn có quan ngại là việc cung cấp nguồn nhân lực tại các quốc gia phát triển chương trình hạt nhân vẫn chưa đạt được yêu cầu đặt ra ở tất cả các lĩnh vực.      Chính phủ  Tại nhiều quốc gia, chính phủ xác định khuôn mẫu đào tạo. Vì vậy, dù hành động của các bên liên quan là quan trọng nhưng nếu không có sự tham gia mạnh mẽ của chính phủ thì khả năng thay đổi hệ thống đào tạo sẽ bị giới hạn. Tuy nhiên, ở mọi phương diện, chính phủ đã có rất ít hành động mang bản chất dài hạn hơn và chiến lược hơn.  Kinh nghiệm chỉ ra rằng, quan trắc tích cực nhu cầu và khả năng đáp ứng là bước đi cơ bản trong phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, vấn đề này phải được thực hiện liên tục với các đánh giá được thực hiện đều đặn và thường xuyên cho việc lập kế hoạch một cách có hệ thống.          Chính phủ cần cam kết liên tục và ổn định trong lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực dài hạn, vượt hơn các thăng giáng của chu kỳ kinh tế. Sự tham gia của chính phủ cần bao gồm quan trắc đều đặn, tích cực đối với nhu cầu và khả năng đáp ứng, cũng như phân bổ tài chính hỗ trợ các chương trình đào tạo, nhằm cung cấp phương tiện phát triển và duy trì chuyên môn ở cấp độ chuyên gia.           Tại một số quốc gia, chính phủ đánh giá lực lượng lao động được ủy quyền. Trong một số trường hợp, kết quả và khuyến cáo rút ra từ các khảo sát đó đã khởi đầu những quyết sách của chính phủ nhằm giải quyết các thiếu hụt phát sinh. Các hội đồng và cơ quan quốc gia được thành lập (ví dụ ở Pháp, Nhật Bản và Anh) để nghiên cứu thị trường lao động và lập kế hoạch lực lượng lao động. Việc này đã chứng minh hiệu quả trong việc bắt đầu các hành động thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực của chính phủ.  Một số chính phủ đã cung cấp hỗ trợ đặc thù cho các chương trình đại học và nghiên cứu, góp phần đảo ngược sự suy giảm đóng góp nguồn nhân lực cho công nghệ hạt nhân. Trong nhiều trường hợp, chính sách bấp bênh hoặc thiếu chiến lược dài hạn đối với chương trình đào tạo điện hạt nhân góp phần sản sinh ra (nếu có) những cách tiếp cận và hệ thống phát triển nguồn nhân lực kém, không đồng bộ hoặc không phù hợp.  Đào tạo  Các trường đại học cũng có cố gắng hoàn thiện trong 10 năm qua, với một số khóa đào tạo hạt nhân mới và tiên tiến được khởi động trong bối cảnh toàn cầu tăng lên. Trong một số trường hợp, ghi nhận khi có ngân sách và hỗ trợ của chính phủ, các chương trình đào tạo đã thành công trong đảo ngược xu hướng suy giảm tuyển dụng sinh viên xảy ra trong những năm 1980 và 1990 như những gì đã diễn ra ở Hoa Kỳ và Pháp. Triển vọng các nhà máy điện hạt nhân xây mới, các chủ đề nghiên cứu thu hút sự chú ý và các dự án quốc tê đã lôi cuốn thêm một số lượng đáng kể sinh viên.           Các trường đại học cần tăng cường hợp tác với ngành công nghiệp, để mở rộng hơn nữa phạm vi các khóa đào tạo và đem lại sự linh hoạt hơn cho sinh viên khi tham gia hoạt động tại các nhà máy điện hạt nhân.         Các cố gắng được điều phối đã chứng minh là công cụ hiệu quả để khuyến khích hoặc duy trì các chương trình đào tạo hạt nhân. Các học viện đã đạt được điều này, đôi khi có kết hợp với các đối tác (ví dụ như các trung tâm nghiên cứu), thông qua việc thành lập mạng lưới, tiến hành các chương trình quốc tế, hoặc thông qua việc hợp nhất các khóa đào tạo, tạo ra sức sống ở các quốc gia có chương trình hạt nhân mờ nhạt hoặc ít có nhu cầu về chuyên gia.   Đáng chú ý là việc thành lập ở một số quốc gia các tổ hợp liên đại học và các trường liên kết cho phép tương tác sớm với sinh viên trẻ. Một số trường đại học cam kết với các trường kỹ thuật giải quyết nhu cầu tăng thêm về kỹ năng nghề và kỹ thuật. Một số khóa đào tạo được phân chia đặc thù cho “hạt nhân hóa” các chuyên ngành phi hạt nhân.   Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, nguồn cung chưa đạt tới mức bền vững đáp ứng nhu cầu trong tương lai.           Chính phủ cần hỗ trợ các học viện và sinh viên công nghệ hạt nhân ở các trường kỹ thuật để bảo đảm có sẵn lực lượng lao động được phát triển đầy đủ cho cả sự nghiệp hạt nhân.          Các cơ sở nghiên cứu  Nói chung, trong phạm vi toàn cầu, có sự tăng trưởng việc tích hợp các cơ sở nghiên cứu và các học viện quốc gia. Có thể nhận thấy một cách rộng khắp các chương trình nghiên cứu lớn, việc gia tăng sự tham gia vào các sáng kiến quốc tế và sự can dự nhiều hơn của chính phủ, công nghiệp, các học viện vào nghiên cứu và đào tạo. Tất cả những điều đó có thể làm tăng đáng kế sức hấp dẫn đối với sinh viên có năng lực cao và cán bộ nghiên cứu trẻ, hoàn thiện việc đào tạo họ. Cần tiếp tục cách tiếp cận cộng tác này.           Cần mở rộng cửa các cơ sở nghiên cứu phù hợp cho mục đích đào tạo và huấn luyện, cần tăng cường phối hợp quốc tế cho việc sử dụng đó. Chính phủ cần cố gắng hỗ trợ tài chính cho các cơ sở hạ tầng hiện có.        Các tổ chức nghiên cứu hợp tác với các trường đại học và các bên có liên quan, cụ thể là thông qua việc tham gia trực tiếp vào chương trình giảng dạy; xúc tiến và thực hiện các khóa đào tạo, các semina cho các cử tọa khác nhau; bảo đảm điều kiện nội trú; cung cấp các phòng thí nghiệm đủ thiết bị và hướng dẫn sinh viên trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu; cấp giải thưởng, tài trợ, học bổng; tổ chức các chuyến tham quan.   Trên cơ sở hoạt động gần đây của Diễn đàn Công nghệ năng lượng hạt nhân bền vững của EU, một cuộc khảo sát đã được tiến hành trong các quốc gia NEA để đo lường mức độ sẵn sàng và mức độ sử dụng cơ sở hạ tầng nghiên cứu hạt nhân cho đào tạo và huấn luyện. Chủ đầu tư hoặc các nhà vận hành cơ sở được đề nghị cung cấp thông tin thông qua khảo sát thăm dò. Cuộc khảo sát đã chỉ ra quan ngại đối với số lượng và việc sử dụng các lò phản ứng nghiên cứu ở một số quốc gia. Các vòng tuần hoàn thủy nhiệt ít nhạy cảm hơn đối với vấn đề lỗi thời và vì thế, có rất ít sự quan tâm đến tình trạng sẵn sàng và vấn đề lão hóa. Dù vậy, chúng được sử dụng rất không đúng mức cho việc đào tạo và huấn luyện. Cần tận dụng lợi thế đầy đủ của các cơ sở hiện hữu, bao gồm cả cơ sở hạ tầng nghiên cứu công nghiệp hiện có. Các khuyến cáo dưới đây được đề xuất trên cơ sở kết quả của nghiên cứu này.           Các viện nghiên cứu và học viện cung cấp các buổi học thí nghiệm, bao gồm cả các hệ mô phỏng máy tính, cần chủ động thu thập và chuẩn bị các tài liệu sư phạm (sách, phần mềm) để hỗ trợ các buổi học thí nghiệm đó.        Các mô hình máy tính và các mô phỏng máy tính không thể thay cho các buổi học thí nghiệm, nhưng chúng có thể tăng cường hiểu biết lý thuyết. Vai trò của các hệ thống mô phỏng trong huấn luyện là bắt buộc ở một số quốc gia và ngày càng được phổ cập. Tuy nhiên, khảo sát chung cho thấy, chúng được sử dụng trong đào tạo và huấn luyện chỉ như nội dung bổ sung cho huấn luyện thực hành.  Báo cáo Xây dựng năng lực hạt nhân của NEA đã xem xét việc suy giảm tình trạng tài chính của các viện nghiên cứu; ở nhiều quốc gia, do ngân sách công bị cắt giảm, do cuộc đua khắc nghiệt của phân khúc thị trường hẹp, ở đó họ bán dịch vụ và sản phẩm của họ. Dù rằng, triển vọng có vẻ như được cải thiện ở một vài quốc gia, khi tài chính được cấp trực tiếp cho nghiên cứu – phát triển và hỗ trợ cơ sở hạ tầng nghiên cứu, nhưng vẫn có quan ngại, do nhiều cơ sở đắt tiền và duy nhất đã được đưa vào sử dụng từ những năm 1960. Một số đã hầu như bị đóng cửa, một số đáng kể khác sẽ bị đóng cửa sau vài năm.            Chú ý đặc biệt cần được hướng đến nhu cầu của các trường đại học được tiếp cận các thiết bị đo hạt nhân có liên quan, các cơ cấu tới hạn, bao gồm các lò phản ứng nghiên cứu, để tiến hành các nghiên cứu và tăng cường đào tạo. Việc hỗ trợ cơ sở hạ tầng cần được bảo đảm để duy trì các cơ sở hạt nhân hiện có, để có thể tân trang hoặc thay thế khi chúng bị lỗi thời.          Ở khía cạnh này, có thể lưu ý ví dụ ở Hoa Kỳ, Bộ Năng lượng hỗ trợ hơn 20 lò phản ứng nghiên cứu ở các trường đại học và cấp kinh phí cho các nghiên cứu năng lượng hạt nhân, nâng cấp thiết bị ở các trường (Còn tiếp).  Đọc thêm:   Đào tạo và huấn luyện hạt nhân: Những điều cần lưu ý theo khuyến nghị của OECD (Kỳ 1)   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8961      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo và huấn luyện hạt nhân: Những điều cần lưu ý theo khuyến nghị của OECD (Kỳ cuối)      Điện hạt nhân đã trở thành hoạt động kinh doanh quốc tế, chịu ràng buộc của các thỏa thuận quốc tế. Các tổ chức cộng tác toàn cầu đã được thành lập với cam  kết tăng cường đào tạo quốc tế và lãnh đạo ứng dụng hòa bình khoa học  và công nghệ hạt nhân, như trường Đại học hạt nhân thế giới và Học viện  Lãnh đạo năng lượng hạt nhân châu Âu.       Công nghiệp  Nhìn chung, cam kết của công nghiệp là vững chắc và mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực. Vài năm gần đây, do triển vọng hồi sinh của ngành hạt nhân, các đối tác công nghiệp chủ yếu đã thành công trong việc tăng tốc tuyển dụng lao động ở phạm vi toàn thế giới.  Đôi khi, các sáng kiến của công nghiệp cũng đã dẫn đến những ví dụ đáng khen ngợi về hợp tác với các trường đại học và các đối tác khác, như cấp kinh phí chủ trì, tài trợ cho các chương trình đào tạo và nghiên cứu, tham gia trực tiếp vào phát triển và thực hiện các khóa đào tạo, bảo đảm điều kiện nội trú; trong một số trường hợp, công nghiệp còn mở cửa các cơ sở hạ tầng nghiên cứu cho sinh viên.          Những mạng lưới đã phát triển cho các chương trình đào tạo, cũng cần được mở rộng cho việc huấn luyện kỹ thuật.           Ở một số nước, công nghiệp cũng tham gia vào quá trình quan trắc nhu cầu và đáp ứng nguồn nhân lực, liên kết có hiệu quả với các trường đại học và các trường cộng đồng địa phương để giải quyết các thiếu hụt phát sinh ở các mức độ khác nhau. Một lưu ý đặc biệt là sự tham gia và sáng kiến của công nghiệp trong việc thiết lập mạng lưới đào tạo nhiều bên. Sự cộng tác của các cơ sở, các trường kỹ thuật của Hoa Kỳ đã lập ra Chương trình giảng dạy hạt nhân thống nhất, nhằm giải quyết nguồn cung kỹ thuật viên ở Hoa Kỳ. Một số mạng lưới hiện hữu như Mạng các trường đại học tiên tiến trong công nghệ hạt nhân và Mạng đào tạo hạt nhân châu Âu đang xem xét mở rộng phạm vi đào tạo nhân viên kỹ thuật. Các hoạt động này được hỗ trợ hoàn toàn.  Hấu hết các đối tác công nghiệp chủ yếu đã phát triển và duy trì quá trình huấn luyện nghề nghiệp nội bộ chặt chẽ, nhằm chuẩn bị nhân lực và bảo đảm cho việc luân chuyển nhân lực nội bộ. Trong một số trường hợp, các trung tâm và chương trình huấn luyện lớn được thiết lập để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng cao và đa dạng. Tuy nhiên, như đã thảo luận ở trên, thiếu hụt vẫn còn kịch tính; ở một số quốc gia, công nghiệp chưa thể giữ được các chuyên gia và chịu thất thoát kỹ năng hạt nhân sang các lĩnh vực khác, hoặc thất thoát sang các quốc gia khác trong ngữ cảnh toàn cầu hóa tăng cao.  Thông thường, nếu các điều kiện thuận lợi được làm rõ, thăng tiến trong lĩnh vực hạt nhân bảo đảm triển vọng hấp dẫn của nghề nghiệp ổn định cao và dài hạn, thì những điều đó sẽ thể hiện điểm mạnh của công nghiệp.           Nhằm thu hút và giữ được các chuyên gia trẻ  có năng lực cao, ngăn chặn chảy chất xám sang lĩnh vực khác hoặc quốc  gia khác, công nghiệp cần bảo đảm sự trả công cạnh tranh, khả năng thăng  tiến và được công nhận.          Một thách thức liên tục mà công nghiệp hạt nhân phải đối mặt là duy trì và thường xuyên tăng cường văn hóa an toàn. Đây là điều rất khó đo lường. Thách thức xa hơn, đó là một số ít nguồn cung đa quốc gia phải đương đầu với nhiều các tiêu chuẩn, quy chuẩn khác nhau, cũng như tính đa dạng của chuỗi cung ứng toàn cầu.  Quốc tế hóa  Khuynh hướng chung đặc trưng cho cả lĩnh vực là tính quốc tế hóa lớn và vẫn đang tăng lên. Ở một thị trường hợp nhất với số ít các đối tác bán công nghệ toàn cầu, với ngày càng nhiều các dự án nghiên cứu – phát triển được thực hiện xuyên biên giới, những năm gần đây đã chứng kiến mức độ toàn cầu hóa tăng cao trong công nghiệp và chuỗi cung ứng hạt nhân dân sự. Điện hạt nhân đã trở thành hoạt động kinh doanh quốc tế, chịu ràng buộc của các thỏa thuận quốc tế. Việc hợp tác pháp quy quốc tế, các nghiên cứu – triển khai cơ bản, cũng như chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp, bao gồm các cơ sở, đối tác bán hàng, nhà thầu chế tạo, thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng và tháo dỡ.  Liên quan đến tính quốc tế hóa tăng cao, những vấn đề mới cũng nổi lên, như tính di động của sinh viên và nguồn nhân lực, kiểm soát chất lượng đào tạo và huấn luyện, hiểu biết nhiều hơn đối với các hồ sơ công việc hạt nhân khác nhau, nhu cầu tổ hợp các chuyên môn hạt nhân chuyển giao được và kiến thức an toàn hỗ trợ cho chuối cung ứng quốc tế.  Điều này làm thúc đẩy nhiều sáng kiến quốc tế. Những chương trình mới đa dạng của các cơ quan quốc tế và liên chính phủ đưa ra các phương tiện để các tổ chức có thể sử dụng hoặc cộng tác để nghiên cứu, đào tạo, huấn luyện và quản lý tri thức ở nhiều cấp độ trong phạm vi quốc tế. Các chương trình đó cũng cung cấp công cụ để các tổ chức có thể thu hút và đóng góp cho nghiên cứu thị trường lao động về nhu cầu và đáp ứng nguồn nhân lực năng lượng hạt nhân.           Chính phủ cần khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ  các sáng kiến và chương trình quốc tế, thúc đẩy sự bình đẳng thực chất  trong đào tạo, huấn luyện được thực hiện ở các quốc gia khác nhau và  đóng góp chung vào việc tăng cường khả năng phát triển nguồn nhân lực.        Trong vài năm gần đây, các tổ chức cộng tác toàn cầu đã được thành lập với cam kết tăng cường đào tạo quốc tế và lãnh đạo ứng dụng hòa bình khoa học và công nghệ hạt nhân, như trường Đại học hạt nhân thế giới và Học viện Lãnh đạo năng lượng hạt nhân châu Âu. Vai trò của Ủy ban Châu Âu trong việc hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực được chú ý đặc biệt và kết quả là có nhiều sáng kiến mới, như: Mạng đào tạo hạt nhân châu Âu, Tổ chức đào tạo phân hạch châu Âu, Quan trắc nguồn nhân lực châu Âu trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân và Trường an toàn và an ninh hạt nhân châu Âu.   Trong bối cảnh mới này, cùng với nhiệm vụ của các quốc gia có chương trình hạt nhân, nhà cung cấp và các bên bán công nghệ có trách nhiệm phát triển lực lượng lao động chuyên môn cho các quốc gia tiếp nhận công nghệ. Nhiều thỏa thuận song phương và đa phương được thiết lập tại các mức khác nhau (tổ chức, học viện, công nghiệp) và nhiều dự án đào tạo và huấn luyện xuyên quốc gia được khởi động tại một số nước. Tuy nhiên, dù các cấu phần quốc tế có xuất hiện trong công nghiệp hạt nhân và tăng thêm trong đào tạo, thì cuối cùng, trách nhiệm đối với đào tạo quốc gia vẫn thuộc về chính phủ cụ thể.  Các nước có hoạt động hạt nhân quốc gia, có cơ sở và nguồn lực mạnh đã khởi động các chương trình “huấn luyện giảng viên” bổ sung cho các chương trình tương tự của các tổ chức quốc tế (đặc biệt là của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế). Các chương trình này được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ của các quốc gia quan tâm, được cải biên đặc thù theo nhu cầu và hệ thống đào tạo của mỗi quốc gia, nhằm hình thành tổ hợp mạnh nguồn nhân lực bản địa.  Sức thu hút của các chương trình xuyên quốc gia, cũng như của các mạng lưới vùng và quốc gia được hưởng lợi thường xuyên nhờ các phương tiện công nghệ hoàn thiện thêm. Các hệ thống liên lạc, các công cụ CNTT mới hấp dẫn hơn đối với các thế hệ trẻ và việc phổ biến chúng đem lại nhiều phương pháp học tập mới mẻ và hiệu quả. Các nguồn web và việc học tập từ xa, kết hợp cả cho đào tạo và các viện nghiên cứu, cũng như cho các chương trình huấn luyện công nghiệp cũng tăng lên. Điều đó cũng góp phần tăng nguồn sinh viên tiềm năng. Thông qua việc học tập từ xa, sinh viên có thể tham gia khóa học dù không có mặt ở trường. Tuy vậy điều này cũng làm nảy sinh một số vấn đề về tính đồng bộ và khả năng cấp chứng chỉ khóa học.  Phân loại công việc  Nhận thức được vấn đề quốc tế hóa đang nổi lên đối với lực lượng lao động và ưu tiên bao quát toàn bộ là bảo đảm an toàn; từ kinh nghiệm của một số quốc gia, nhóm chuyên gia có trách nhiệm đối với nghiên cứu này đã nghiên cứu và phân loại tập hợp các vị trí công việc có yêu cầu đáng kể về chuyên môn hạt nhân trong công nghiệp hạt nhân. Cố gắng này đặt cơ sở cho việc phát triển hệ thống phân loại hồ sơ công việc hạt nhân, đó là khung phân loại công việc.  Tất nhiên, hệ thống phân loại được đề xuất chỉ là danh nghĩa. Nó không thể là giải pháp cuối cùng hoặc duy nhất, nhưng nó cung cấp bước đi đầu tiên trong trợ giúp phát triển việc phân loại.          Văn hóa hợp chuẩn và cấp chứng chỉ đã được  thiết lập rõ ràng trong đào tạo. Cần xem xét điều đó trong huấn luyện và  xem xét thiết lập việc hợp chuẩn và cấp chứng chỉ độc lập cho tổ chức  huấn luyện và tổ chức nhân sự.         Các đặc điểm của công việc hạt nhân được hình thành từ các hoạt động chính liên quan đến xây dựng, vận hành và chấm dứt hoạt động lò phản ứng thương mại và nghiên cứu; được một số công ty tiến hành phân tích. Chúng có thể được sử dụng như nền tảng ban đầu để các tổ chức hoặc chính phủ thiết lập các yêu cầu riêng của mình.  Phân tích tính phổ biến dẫn đến các nhận xét và khuyến cáo sau đây:  •  Trong phạm vi toàn cầu, năng lực chuyên môn kỹ thuật và pháp quy làm rõ một cách kiên định và nổi bật các đặc điểm công việc hạt nhân. Văn hóa an toàn hạt nhân có liên hệ không thể tách rời với cả hai nhóm năng lực này.  • Dù được thực hiện trong tổ chức hoặc ở bên ngoài, thì thông tin, lời khuyên, hướng dẫn khi huấn luyện, đặc biệt những nội dung liên quan đến năng lực chuyên môn kỹ thuật và pháp quy có thể hoàn thiện thông qua hợp chuẩn huấn luyện.  •   Việc huấn luyện hạt nhân và phát triển lực lượng lao động được hướng dẫn bởi một số giới hạn các tiêu chuẩn quốc tế về nghề nghiệp,  dù rằng cũng có các tiêu chuẩn quốc gia, như các tiêu chuẩn được Viện Vận hành nhà máy điện hạt nhân ban hành ở Hoa Kỳ.   •  Ngoài Ủy ban Hợp chuẩn hạt nhân quốc gia ở Hoa Kỳ và Học viện Kỹ năng quốc gia ở Anh, không còn cơ quan quốc gia hợp chuẩn huấn luyện hạt nhân độc lập ở đâu khác.  •  Việc phân loại, như công cụ phát triển lực lượng lao động, có thể hỗ trợ lập kế hoạch lực lượng lao động trong việc dựng lên các kịch bản chi tiết cung cấp và nhu cầu kỹ năng, trong việc phát triển các tiêu chuẩn huấn luyện, và như cấu trúc của các hệ thống quản lý bảo đảm năng lực chuyên môn, như tổ chức hồ sơ hạt nhân.  •  Cả chính phủ và người sử dụng lao động đều có thể có lợi ích khi tiếp cận tin tức thị trường lao động chất lượng cao và các tiêu chuẩn huấn luyện. Nó có thể cung cấp thông tin, ví dụ như, về việc can dự chính sách có mục tiêu như các chỉ thị huấn luyện, hoặc ưu tiên hóa nguồn lực cho đào tạo bậc cao hơn, và cho nghiên cứu.  •  Việc phổ biến các hướng dẫn quốc tế đối với huấn luyện và bảo đảm năng lực chuyên môn sẽ hỗ trợ người sử dụng lao động trong lựa chọn hoặc thiết kế chương trình phát triển lực lượng lao động phù hợp.  Văn hóa an toàn thấm vào các đặc điểm công việc hạt nhân. Về mặt này, phân loại được đề xuất làm nổi bật không chỉ việc xem xét bảo đảm năng lực chuyên môn ở các lĩnh vực trước, mà còn năng lực chuyên môn kỹ thuật và pháp quy có liên quan đến an toàn.             Cần xem xét việc tổ  chức khung huấn luyện “hiểu biết hạt nhân cơ sở” với nội dung phù hợp  bao gồm cả các lĩnh vực hạt nhân và các mức nghề nghiệp.            Tài liệu tham khảo  Li, N., C. Dale, K. Kern and S. Scott (2009), “Los Alamos Nuclear Enterprise Resource and Infrastructure Model (LA-NERIM)”, Los Alamos National Laboratory, Proc. International Congress on Advances in Nuclear Power Plants 2009 (ICAPP 2009), 10-14 May 2009, Shinjuku, Tokyo, Japan.  Đọc thêm:   Kỳ 1: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=8961  Kỳ 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=8966&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đào tạo về năng lượng nguyên tử được nhiều ưu đãi      Người đi đào tạo trong lĩnh vực năng lượng  nguyên tử sẽ được miễn học phí và ở ký túc xá miễn phí; được cấp sinh  hoạt phí hàng tháng; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng theo mức đào tạo  và xếp loại học lực;…    Những ưu đãi nói trên được đưa ra trong Nghị định của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, bắt đầu có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/12/2013.  Nghị định này áp dụng đối với người đi đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đáp ứng bốn điều kiện: Là công dân Việt Nam đang học tập, nghiên cứu, làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; Đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tuyển chọn đi đào tạo, bồi dưỡng; Có phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tinh thần trách nhiệm cao; Có đủ sức khỏe để tham gia học tập, nghiên cứu, làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.  Theo Nghị định, sinh viên đào tạo trình độ cao đẳng ở trong nước được miễn học phí và ở ký túc xá miễn phí; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 1,5 mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) nếu xếp loại học lực giỏi trở lên; bằng 1,0 mức lương cơ sở nếu xếp loại học lực khá.  Ngoài miễn học phí và ở ký túc xá miễn phí, sinh viên đào tạo trình độ đại học ở trong nước cũng được cấp sinh hoạt phí hàng tháng với mức cao hơn, bằng 2,5 mức lương cơ sở nếu xếp loại học lực giỏi trở lên; bằng 1,5 mức lương cơ sở nếu xếp loại học lực khá. Việc xét cấp sinh hoạt phí được tiến hành theo học kỳ của năm học, một năm học xét hai lần.  Sinh viên đào tạo trình độ đại học còn được xem xét tuyển chọn đi thực tập 6 tháng ở nước ngoài nếu năm cuối của chương trình đào tạo đạt học lực khá trở lên. Mọi chi phí thực tập ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm. Đồng thời, nếu tốt nghiệp đạt loại giỏi trở lên, các sinh viên này còn được chuyển tiếp học cao học và làm nghiên cứu sinh ở trong nước và nước ngoài, được ưu tiên tuyển chọn vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, không phải qua thời gian thử việc.  Học viên cao học, nghiên cứu sinh đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ trong nước được miễn học phí và ở ký túc xá miễn phí; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 3,5 lần mức lương cơ sở; được giữ nguyên lương trong thời gian đào tạo; tham dự hội nghị, hội thảo khoa học trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ngoài; chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học các cấp; đi thực tập 6 tháng ở nước ngoài trong năm cuối của chương trình đào tạo. Mọi chi phí thực tập ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm; hỗ trợ kinh phí bằng 30 lần mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức đối với một công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế trong danh mục ISI.  Giảng viên, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và kỹ thuật làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn.  Ngoài quy định mức ưu đãi, hỗ trợ đào tạo ở trong nước, Nghị định cũng quy định nhiều ưu đãi, hỗ trợ đào tạo ở ngoài nước. Cụ thể, sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh theo học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở ngoài nước được cấp 02 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông đối với sinh viên và nghiên cứu sinh, 01 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông đối với học viên cao học trong quá trình học để đi và về Việt Nam; được cấp lệ phí làm hộ chiếu, visa.  Đồng thời, được cấp sinh hoạt phí bằng 1,2 lần mức sinh hoạt phí cao nhất hiện đang cấp cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Việt Nam đi học ở nước ngoài theo các Đề án đào tạo của Chính phủ Việt Nam; được mua bảo hiểm y tế mức tối thiểu do nước sở tại quy định áp dụng chung cho công dân nước ngoài đến học tập;…  Giảng viên, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và kỹ thuật làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn ở ngoài nước được hưởng các chế độ theo quy định hiện hành, giữ nguyên lương và các chế độ theo quy định trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn ở ngoài nước.  Nguồn kinh phí để thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại Nghị định này do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong dự toán hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đạo văn và tác giả ma trong học thuật: vấn đề hệ thống      Bài báo khoa học “Was the fine-structure constant variable over cosmological time?” của nhóm tác giả Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao (Viện Vật lý TP.HCM), Nguyễn Thế Hùng (Viện Vật lý Hà Nội) và Trần Văn Hùng (Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ) đã bị tập san EPL rút xuống vì lí do đạo văn. Vụ đạo văn làm chấn động dư luận học thuật Việt Nam này đã cung cấp 3 bài học cần thiết&#160; trong quản lí khoa học: quản lí nghiên cứu sinh, qui trình xuất bản bài báo khoa học, và đạo đức khoa học, nhằm tránh hay giảm thiểu những trường hợp tương tự trong tương lai.    Đạo văn được xem là một trong 3 trọng tội trong khoa học. Hai trọng tội kia là giả tạo dữ liệu và sửa dữ liệu. Trọng tội là vì đặc điểm của đạo văn là đánh cắp, và đánh cắp là một hành động không thể chấp nhận trong đạo đức khoa học.Từ điển American Heritage định nghĩa động từ plagiarize (đạo văn) là “đánh cắp và sử dụng ý tưởng hay tác phẩm của người khác làm của mình”. Từ điển Oxford định nghĩa danh từ plagiarism là “lấy hay sử dụng ý tưởng, tác phẩm, công trình sáng tạo của người khác làm của mình”. Trong khoa học, đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.  Hiểu theo những định nghĩa trên thì việc làm của nhóm tác giả trong bài báo rõ ràng là đạo văn. Điều đáng buồn ở đây là trước đây, một tác giả trẻ trong bài báo đó đã bị cảnh báo về đạo văn.  Thật vậy, trong một thư gửi cho tác giả, ông tổng biên tập của tập san Monthly Notices of the Royal Astronomical Society viết:  “We have received the referee’s comments on this paper, and these are summarised below. The referee notes that there are many instances of text are simply copy-and-pasted from existing literature. We note also that we have had a number of previous submissions from you, and that for two of these (MN-09-1683-MJ “SEARCH FOR TIME VARIATION OF THE FINE-STRUCTURE CONSTANT USING EMISSION LINE MULTIPLETS” and MN-09-1684-MJ “WAS THE FINE-STRUCTURE CONSTANT VARIABLE OVER COSMOLOGICAL TIME?”) the comment was made that substantial portions of the text were copied, often without attribution, from the publications by others, and so presented as if it were your own work. As was pointed out to you in connection with these earlier papers, this is not acceptable practice. In particular you would be unable to certify, as we require, that the paper is original work. Despite this warning, you have submitted this paper which also violates accepted scientific practice. Because of this, we are rejecting this paper and, furthermore, will not consider ANY future submissions from you for publication in MNRAS.  I have copied this letter to RAS Editorial Office Manager and to the Head of your Institute.  Yours sincerely,  RF Carswell  Editor-in-Chief  Monthly Notices of the Royral Astronomical Society”  (Tạm dịch: Chúng tôi đã nhận được lời nhận xét của người duyệt bài. Trong đó nêu rõ có nhiều đoạn trong bài viết chỉ đơn giản là chép lại từ những bài báo khoa học khác. Trước đây, chúng tôi đã nhận được một số bài ông gửi và hai bài trong số đó là: “SEARCH FOR TIME VARIATION OF THE FINE-STRUCTURE CONSTANT USING EMISSION LINE MULTIPLETS” và “WAS THE FINE-STRUCTURE CONSTANT VARIABLE OVER COSMOLOGICAL TIME?”. Người duyệt bài cũng đã nhận xét, những phần chính yếu của bài viết được chép lại, thường không có chú thích nguồn gốc, được trình bày như là của ông. Đây là cách hành xử không thể chấp nhận được. Đặc biệt, ông không thể xác nhận đây là nguyên bản của ông. Mặc dù đã có cảnh báo từ phía chúng tôi nhưng ông vẫn nộp bài báo vi phạm nguyên tắc khoa học này. Do vậy, chúng tôi rút lại bài báo và hơn nữa chúng tôi sẽ không xem xét bất cứ bài báo nào của ông gửi cho tạp chí của chúng tôi.)  Qua lá thư này, chúng ta thấy tác giả đã hơn một lần bị cảnh cáo về đạo văn, nhưng vẫn tiếp tục phạm phải lỗi lầm nghiêm trọng đó. Điều này cho thấy tác giả chẳng biết gì hay bất chấp những chuẩn mực về đạo đức khoa học, mà cứ tiếp tục chạy theo việc công bố bài báo khoa học. Hệ quả là tổng biên tập của một tập san khoa học phải viết thẳng thừng rằng sẽ không xét duyệt bất cứ bài báo nào của tác giả trong tương lai. Tôi cũng đã và đang làm biên tập trong tập san khoa học, nhưng chưa thấy một lá thư nào viết với giọng văn hết sức “trực tiếp” như thế này.  Tất cả phải chịu trách nhiệm  Tôi thấy có 3 ngạc nhiên trong sự việc: sự độc lập của tác giả, qui trình xuất bản bài báo khoa học, và tập san khoa học EPL. Điều đáng ngạc nhiên thứ nhất là tác giả trẻ này là một “junior scientist” (chứ chưa phải là postdoc) mà lại làm việc gần như độc lập với các nhà khoa học cao cấp trong viện. Anh ta gửi bài cho tập san khoa học mà chẳng ai hay biết! Thông thường, trước khi một bài báo khoa học được gửi đi cho một tập san, nhóm tác giả phải xem qua và chỉnh sửa cho hoàn chỉnh. Nhưng trong trường hợp này, theo như thư của GS Nguyễn Mộng Giao (và ông có trả lời phỏng vấn trên báo chí) là ông không hề biết tên ông có trong danh sách tác giả; ông thậm chí không biết 2 tác giả kia là ai!  Đó không phải là cách làm nghiên cứu khoa học theo nhóm mà tôi từng biết.  Điều ngạc nhiên thứ hai là hình như viện chẳng có qui trình quản lí việc xuất bản bài báo khoa học. Nếu là một viện nghiên cứu nghiêm chỉnh thì phải có qui trình (protocol) quản lí nghiên cứu sinh, quản lí công trình khoa học, chứ đâu thể để cho nghiên cứu sinh độc lập muốn làm gì thì làm, chẳng ai hay biết. Trước khi công bố công trình nghiên cứu khoa học, tác giả nhất định đã phải trình bày (hay đề cập đến) trong các seminar hay họp phòng thí nghiệm hàng tuần, chứ không thể nào đột nhiên công bố cứ như là trên trời rớt xuống đất được! Đây chính là một thiếu sót mang tính hệ thống.  Điều ngạc nhiên thứ ba là tập san EPL cho đăng bài mà không có giấy tờ chuyển nhượng tác quyền (copyright transfer) gì cả! Thông thường, sau khi bài báo đã qua khâu bình duyệt (peer review), thì khâu kế tiếp là thủ tục hành chính và pháp lí. Trong thủ tục này, nhà xuất bản gửi cho mỗi tác giả một bản copyright transfer và một bản gọi là conflict of interest (mâu thuẫn quyền lợi, đặc biệt rất quan trọng trong y khoa) để mỗi tác giả điền vào, kí tên, và gửi cho tòa soạn tập san. Không có hai bản này, tập san dứt khoát không công bố bài báo, bởi vì nếu công bố mà không có sự chuyển nhượng bản quyền của tác giả thì nhà xuất bản có thể bị kiện ra tòa như bỡn. Ấy thế mà trong trường hợp này, một tác giả nói rằng chưa hề thấy và chưa hề kí vào bản chuyển nhượng tác quyền! Nếu chưa bao giờ kí thì tại sao tập san EPA dám công bố? Tôi thấy đây là trường hợp rất hi hữu.  Cố nhiên, không loại trừ trường hợp tập san làm ẩu hoặc tác giả đầu giả mạo chữ kí của các tác giả khác. Dù sao đi nữa thì đây cũng là một điều hết sức ngạc nhiên và hiếm thấy trong lịch sự tập san khoa học.  Do đó, với những phân tích trên, tôi nghĩ trách nhiệm trong trường hợp này không thể chỉ qui về anh Lê Đức Thông, mà là tất cả tác giả có tên trong bài báo đều phải nhận lấy trách nhiệm. GS Nguyễn Mộng Giao đã giải thích rằng ông không có dính dáng gì đến bài báo, và trong một thư riêng, anh Lê Đức Thông cũng khẳng định như thế.  Nhưng cách biện minh vẫn thiếu tính thuyết phục. Trả lời trên báo Thanh Niên, GS Giao nói “Tôi xin khẳng định, bài báo này không có một chữ nào của tôi mà hoàn toàn là do Thông tự viết, tự ý cho tên tôi vào rồi gửi đăng báo.” Thế nhưng ngay sau đó ông lại nói “Sau khi bài báo được đăng Thông có cho tôi biết nhưng thời điểm đó tôi cũng chả quan tâm vì có quá nhiều việc phải làm. Thêm nữa, tôi cũng tin tưởng vào chất lượng bài viết khi nó đã được đăng trên một tạp chí uy tín. Tôi cũng nghĩ rằng nhiều khi học trò mượn tên thầy để vào bài viết của mình nên cho qua”! Nói cách khác, ông biết bài báo đã công bố, biết mình có tên trong đó, nhưng vì cả tin vào tập san, không kiểm tra xem bài báo viết gì. Có thể là sai lầm trong phán xét, nhưng cũng có thể là do quá dễ dãi – một điều cấm kị trong khoa học. Đây có thể xem là hiện tượng “tác giả ma” (ghost authorship) trong khoa học.  Một đồng tác giả khác cũng có vài nhận xét rất lạ lùng. Vẫn theo Thanh Niên một đồng tác giả lại cho rằng “Thực ra nói là đạo văn cũng hơi quá bởi trong bài viết có một phần khi trích dẫn Thông đã không nêu rõ nguồn tài liệu tham khảo.” Thật là kinh ngạc khi đọc những dòng chữ này! Trích dẫn mà không ghi nguồn thì theo định nghĩa tôi trình bày trên là đạo văn, chứ không thể nói khác đi được.  Đó là định nghĩa mà bất cứ nhà khoa học nào cũng biết. Câu phát biểu này chứng tỏ người phát biểu cũng chưa am tường thế nào là đạo văn! Tác giả này cũng nói rằng ông không hề viết một chữ trong bài báo, nhưng khi biết bài báo đã đăng thì ông cũng không … phản đối. Không đóng góp một chữ nào cho bài báo mà vô tư nhận danh tác giả thì đó chính là một vi phạm đạo đức khoa học. Khi bài báo chưa được phát hiện có vấn đề thì lặng lẻ đứng tên (và được biểu dương), nhưng khi bài báo được phát hiện có vấn đề thì lại biện minh rằng mình không có can dự trong đó! Trong khoa học không thể nào có tiêu chuẩn kép như thế.  Sự cố trên cho thấy khi vinh quang ai cũng đứng ra nhận công, nhưng khi có vấn đề ai cũng bỏ chạy, và như thế là một sự thiếu công bằng. Một tác giả không đóng góp một chữ hay một số liệu nào cho công trình trên được Viện khoa học công nghệ biểu dương vì bài báo, nhưng khi có vấn đề thì anh ta lại nói khác đi, thậm chí còn nói “bài báo được chọn để biểu dương một cách ngẫu nhiên”! Đã chọn để biểu dương thì làm sao có thể nói là ngẫu nhiên được? Thật là trớ trêu! Tôi nghĩ rằng tất cả các tác giả phải chịu trách nhiệm trước “sự cố”, chứ không thể và không nên qui trách nhiệm và lỗi lầm cho anh Lê Đức Thông.  Bình tâm nhìn lại sự việc tôi thấy anh Lê Đức Thông là một người ham học, thông minh, nhưng thiếu đạo đức khoa học. Một người mới là sinh viên đại học mà đã có ý tưởng táo bạo, dám dấn thân làm nghiên cứu, chủ động liên lạc các nhà khoa học đàn anh, v.v… thì quả thật là đáng khen. Chẳng những có ý tưởng mà anh ta còn làm nghiên cứu và cố gắng công bố kết quả trên tập san quốc tế. Thử hỏi trong giới nghiên cứu sinh, chứ chưa nói đến sinh viên, ngày nay có mấy người như thế. Thế nhưng Thông lại ở trong một môi trường học thuật thiếu sự quản lí chặt chẽ, và hình như cũng chưa ai trang bị cho anh ta về đạo đức khoa học, nên đã dẫn đến hệ quả bi thảm như vừa qua. Cố nhiên, sự việc xảy ra là một vấp ngã của một cá nhân, nhưng tôi thấy Thông là nạn nhân của hệ thống khoa học thiếu qui chuẩn đạo đức.  Và bài học  Mỗi sự cố đều để lại cho chúng ta vài bài học, và theo tôi, có 3 bài học chính từ trường hợp đạo văn chúng ta đang bàn:   1. Quản lí nghiên cứu sinh. Các trung tâm nghiên cứu, kể cả đại học, phải có qui trình quản lí nghiên cứu sinh chặt chẽ hơn. Quản lí ở đây không có nghĩa là gây thêm thủ tục hành chính rườm ra và nặng nề thêm cho nhà nghiên cứu, mà là tạo ra môi trường sinh hoạt khoa học cởi mở, trong đó có seminar thường xuyên để nghiên cứu sinh trình bày kết quả nghiên cứu, có sự trao đổi thường xuyên giữa nghiên cứu sinh và giáo sư về tiến trình của dự án nghiên cứu, v.v…  2. Quản lí bài báo khoa học từ trung tâm nghiên cứu. Đây là vấn đề sở hữu trí tuệ. Trước khi một bài báo gửi đi mang tên của trung tâm nghiên cứu, thì tác giả cần phải báo cho trung tâm biết bài báo gửi cho tập san nào và kết quả công bố ra sao. Ở Viện Garvan của chúng tôi, mỗi bài báo còn phải qua phản biện của 2 người trong Viện và tác giả phải cung cấp thông tin cho Viện trước khi gửi ra ngoài.  Tuy rằng bình duyệt nội bộ có thể thiếu thực tế ở Việt Nam, nhưng một cơ chế quản lí bài báo gọn nhẹ như thế thiết tưởng cũng cần thiết để bảo đảm chủ quyền tri thức cho các viện nghiên cứu ở Việt Nam.  3. Đạo đức khoa học. Làm nghiên cứu khoa học, cũng như bất cứ ngành nghề nào, cũng cần phải có những chuẩn mực về đạo đức (ethical codes). Những chuẩn mực này bao gồm thành thật tri thức, cởi mở, khách quan, cẩn thận, ghi nhận công trạng thích hợp, v.v… Ở các nước phát triển, nghiên cứu sinh trước khi làm nghiên cứu đã được giáo sư thường xuyên nhắc nhở những chuẩn mực này, nên họ không còn xa lạ gì với đạo đức khoa học. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chuyện đạo đức khoa học chẳng mấy được quan tâm và đã trở thành một “văn hóa thiếu thành thật tri thức”, làm kìm hãm phát triển khoa học.    Tiếng Latin có câu Verba volant, scripta manent (mà tôi hiểu nôm na là Lời nói sẽ theo gió cuốn bay đi, cái còn lại là chữ viết trên giấy trắng mực đen).  Câu chữ của nhà khoa học là cái còn lại với đời sau khi nhà khoa học khuất bóng trên cõi trần, là thể hiện sự đóng góp vào tri thức cho nhân loại, là cái manent hay di sản của khoa học.  Sở dĩ học thuật có uy tín là vì nó được xây dựng trên nền tảng sáng tạo tri thức mới qua khám phá dữ liệu mới, cách làm mới, cách diễn giải mới cho một dữ liệu cũ.  Những tri thức mới được lưu trữ cho đời sau.  Do đó, lấy ý tưởng hay chữ nghĩa của người khác làm của mình không thể xem là đóng góp cho tri thức khoa học, mà là một trọng tội vì nó làm lung lay niềm tin vào khoa học.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Đất lành” AIST      Không phải sự dồi dào kinh phí cũng như những ưu đãi đặc biệt nào mà chính sự minh bạch và tự do trong môi trường học thuật đã trở thành một trong những yếu tố chính khiến các nhà nghiên cứu trẻ quyết định trở về để gắn bó lâu dài với Viện KH&CN Tiên tiến AIST (Đại học Bách khoa Hà Nội).      PGS. TS Phạm Thành Huy và một số thành viên Viện AIST.  Dù mới thành lập được 10 năm, còn khá “trẻ” so với nhiều viện nghiên cứu trong và ngoài trường Đại học Bách khoa Hà Nội nhưng vài năm trở lại đây, AIST đã được biết đến như một cơ sở nghiên cứu quy tụ được nhiều nhà nghiên cứu trẻ, tài năng được đào tạo bài bản ở nước ngoài trở về. PGS. TS Phạm Thành Huy, Viện trưởng AIST tiết lộ, 90% số lượng các nhà nghiên cứu của Viện thuộc diện này. “Có lẽ khó giải thích được cặn kẽ nguyên nhân nào khiến các bạn ấy lựa chọn AIST nhưng tựu trung lại, các bạn ấy tin vào con người và môi trường làm việc ở đây, và cảm nhận mình có thể hòa nhập một cách nhanh chóng mà không mất thời gian ‘thăm dò’”, anh cho biết.   Chủ động tìm người  Ở thời điểm ban đầu, Viện AIST không có lợi thế về danh tiếng hay bề dày thành tích, thậm chí “khi mới thành lập, Viện chỉ có 4, 5 người, trong đó có 2 tiến sỹ, không hề có trang thiết bị vật chất nào, tất cả đều trắng trơn”, PGS. TS Phạm Thành Huy nhớ lại.  Với các ngành khoa học thực nghiệm, thiết bị máy móc là điều kiện tiên quyết để thực hiện nghiên cứu, vì thế nhiều nhà nghiên cứu thường tìm hiểu cơ sở vật chất của đơn vị mình định đầu quân trước khi nộp hồ sơ. PGS. TS Lê Thị Lý (Đại học Quốc tế, ĐHQG TPHCM) từng kể về trường hợp một nhà khoa học trẻ tài năng với nhiều công bố trên các tạp chí có hệ số IF cao ở Pháp về đã không chọn trường vì lý do thiết bị máy móc trong các phòng thí nghiệm ở đây không phù hợp với định hướng nghiên cứu của anh. Vậy bằng cách nào, AIST tuyển chọn được người? PGS. TS Phạm Thành Huy chia sẻ, “bọn mình cố gắng đón tiếp các bạn ấy một cách nồng nhiệt và chân thành, đồng thời thuyết phục các bạn ấy rằng AIST là một nơi có thể làm việc được, tuy chưa thể bằng nước ngoài nhưng trong tương lai gần thì chúng ta có thể cùng nhau xây dựng được một cơ sở và một môi trường làm việc tốt”.  Thông thường, khi chuẩn bị về nước, các nhà nghiên cứu trẻ có rất nhiều phương án lựa chọn và AIST cũng chỉ là một trong những gợi ý về cơ hội việc làm ở Việt Nam. Để “thăm dò”, họ gửi email trước và chờ phản hồi của nhà tuyển dụng. Một số đơn vị nghiên cứu trong nước chưa chú trọng đến việc trả lời những email như thế này nhưng AIST hồi âm tất cả các thư, “dù bận mấy mình cũng trả lời trực tiếp để các bạn ấy yên tâm. Các bạn ấy viết thư gửi ba bốn nơi nhưng cũng có những trường hợp mình là người duy nhất trả lời thì đương nhiên là họ chọn về đây”, PGS. TS Phạm Thành Huy kể. Đó cũng là trường hợp của TS. Nguyễn Thị Khôi, một nhà nghiên cứu trẻ từng làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Sandia Mỹ (Sandia National Laboratories – SNL) và có công bố trên những tạp chí uy tín như Physical Review Letters, ACS Nano, Journal of the American Chemical Society…, hiện là thành viên Phòng thí nghiệm Nano Quang điện tử của Viện.  Tuy nhiên, AIST cũng không chịu ngồi yên chờ email gửi đến. PGS. TS Phạm Thành Huy cho biết, anh đã chủ động “nghiên cứu” hồ sơ của các ứng cử viên tiềm năng trước khi họ liên lạc với Viện nên “việc các bạn ấy ở đâu, làm gì thì ít nhiều mình cũng đều có thông tin, và ngay từ khi các bạn ấy có ý định trở về cũng đều biết”. Các nhà nghiên cứu trẻ thường làm việc tản mát ở nhiều quốc gia khác nhau, vậy AIST nắm thông tin về họ thông qua kênh nào? PGS. TS Phạm Thành Huy lý giải, thực ra, anh em làm trong lĩnh vực vật lý, khoa học vật liệu cũng không nhiều, “nếu tuổi gần bằng nhau thì đều biết nhau cả”, vì thế anh vẫn thường nhận được thông báo từ bạn bè ở nước ngoài “có bạn này, bạn kia sắp về đấy, anh thử trao đổi với các bạn ấy xem”, hoặc có giáo sư nước ngoài viết thư giới thiệu “bạn đó đang làm hồ sơ xin sang Mỹ nhưng tôi thấy phù hợp với Việt Nam”… Trước những lời “mách nước” như thế, anh đều chủ động tìm đọc lý lịch khoa học của những ứng viên tương lai đó, nếu thấy trường hợp nào tiềm năng và phù hợp với Viện thì chủ động viết thư mời. “Đó là ‘cái mẹo’ tìm người của mình”, PGS. TS Phạm Thành Huy cười.  Tạo môi trường thông thoáng, minh bạch  Tuyển được người giỏi đã khó, giữ chân được họ lại còn khó hơn, nhiều viện nghiên cứu của nhà nước đã thấu hiểu được điều này. PGS. TS Đỗ Hùng Mạnh đã rút ra bí quyết “giữ người” sau nhiều năm phụ trách Phòng Vật liệu từ và siêu dẫn (Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), “khi chưa giúp nhau được gì nhiều thì chúng ta [nên] hỗ trợ nhau bằng cách tạo ra môi trường làm việc tốt, trao đổi học thuật thẳng thắn, chia sẻ việc sử dụng thiết bị để phục vụ nghiên cứu” 1.  Đó cũng là cách mà Viện AIST đã áp dụng và coi là ưu tiên số một. “Mình luôn cố gắng để các bạn ấy cảm thấy ở Viện có ít hàng rào hành chính nhất. Ngay từ khi mới đến, mỗi người đều cảm nhận rằng mình được đón tiếp, được ký hợp đồng, được trao đổi về công việc một cách thoải mái”, PGS, TS Phạm Thành Huy nói.  Nói thì dễ nhưng để làm được việc này cũng không đơn giản. Nhiều năm qua, trong hệ thống quản lý của khoa học Việt Nam vẫn tồn tại sự đan xen giữa công tác hành chính và nghiên cứu học thuật, vì thế nhiều khi các nhà nghiên cứu khi chủ trì một đề tài nào đó thường mất rất nhiều thời gian cho việc kê khai thủ tục hành chính, giấy tờ, hóa đơn…, thậm chí dù đã chuẩn bị sẵn tâm lý, nhiều tiến sỹ trẻ ở nước ngoài về cũng không khỏi ngỡ ngàng và bối rối về thủ tục khi thực hiện những đề tài đầu tiên. Để góp phần tháo gỡ khó khăn này, PGS. TS Phạm Thành Huy đã bàn bạc với bộ phận hành chính của Viện đơn giản hóa thủ tục, “gánh” hết những khâu liên quan đến chứng từ để các nhà nghiên cứu dành toàn thời gian cho các công việc chuyên môn. Lâu dần, mọi việc cũng vào nếp, anh nói, “bộ phận hành chính ở đây có thể sẽ bận nhiều việc hơn so với nơi khác nhưng điều quan trọng là ai cũng cố gắng làm tốt công việc của mình để tạo điều kiện cho nhau làm việc tốt hơn”.  AIST là một đơn vị đào tạo (sau đại học), nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, nguồn kinh phí chủ yếu của viện đến từ hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Chủ trương của Viện là công khai mọi hoạt động thu chi tài chính, “chi bao nhiêu tiền và vào những việc gì thì mọi cán bộ đều có thể biết hết được, mình không có gì phải giấu giếm anh em cả”, PGS. TS Phạm Thành Huy thẳng thắn chia sẻ.  Cũng là người làm việc nhiều năm ở Hà Lan, PGS. TS Phạm Thành Huy hiểu được mong muốn của các nhà nghiên cứu trẻ là được làm việc ở một môi trường mang tính học thuật đúng nghĩa của nó, nghĩa là được tự do trao đổi ý tưởng nghiên cứu, phản bác những vấn đề mà mình thấy chưa đúng. Anh cho biết, những “rào cản” về thứ bậc quản lý hay tuổi nghề đều bị loại bỏ trong những tranh luận chuyên môn, “ở đây [mọi người] đều có thể trao đổi [với nhau] hết sức thẳng thắn, kể cả khi viện trưởng nói chưa đúng thì cũng bị các bạn ấy ‘ý kiến’ ngay. Nhưng chả ai vì thế mà giận dỗi hay để bụng gì cả”.  Nhờ vậy AIST, theo nhận xét của PGS. TS Phạm Thành Huy, vốn “không có lợi thế về kinh tế, tằn tiện và tiết kiệm được bao nhiêu thì cũng để nuôi máy nuôi móc hết”, đã quy tụ được 27 nhà nghiên cứu, số lượng công bố hằng năm cũng đều xấp xỉ ở mức 27 bài báo ISI.  Vai trò của người dẫn dắt  Đằng sau những việc đã làm được của AIST là những nỗ lực hết mình của viện trưởng Phạm Thành Huy, tuy nhiên anh không coi đó là “công lao” của mình mà chỉ cho đó là việc đương nhiên phải làm. Thái độ khiêm tốn, cầu thị và hết mình vì công việc của anh đều được các nhà nghiên cứu trẻ trân trọng. TS. Nguyễn Thị Khôi chia sẻ, một trong số lí do chị về AIST là do người lãnh đạo ở đây có tầm nhìn. Theo đánh giá của chị, PGS.TS. Phạm Thành Huy là một người công bằng, sẵn sàng giao cơ hội cho những người trẻ và tập hợp được một đội ngũ trẻ, có sức bật, dám liều, dám thử2.  Có lẽ, nếu không có những phẩm chất như vậy, khó có người phụ trách nào dám nhận những nhà nghiên cứu không chỉ ít kinh nghiệm làm việc mà còn có hướng nghiên cứu khác so với Viện như PGS. TS Phạm Thành Huy. TS. Nguyễn Đức Dũng, một tiến sỹ trẻ ở Nhật Bản về và hiện là trưởng phòng Phòng thí nghiệm Hiển vi điện tử và vi phân tích (BKEMMA-AIST), là một trường hợp như vậy. Khi còn ở Osaka, anh nghiên cứu về vật liệu từ, siêu dẫn nên “cũng lo khi lúc mới về AIST thấy tất cả đều xoay quanh vật liệu quang, bán dẫn…” và ngay cả PGS. TS Phạm Thành Huy cũng thấy “chưa có gì để bạn ấy triển khai nghiên cứu đúng theo những gì bạn ấy đã làm ở Nhật cả”. Thế nhưng ký ức từ cậu sinh viên Nguyễn Đức Dũng 7, 8 năm trước làm bài thi vào Viện ITIMS (Đại học Bách khoa Hà Nội) rất thông minh, hào sảng cùng với “chất” đam mê nghiên cứu cơ bản đã khiến anh quyết định mời về phụ trách TEM, một thiết bị tối tân bậc nhất của Viện. Cảm nhận của anh đã không chệch hướng: sau gần 5 năm làm việc với TEM, hiện TS. Nguyễn Đức Dũng đã trở thành chuyên gia hàng đầu Việt Nam về thiết bị này và mới có công bố trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF 12.  Việc quản lý gần 30 con người đều là những tiến sỹ giỏi và cá tính là chuyện không dễ, PGS. TS Phạm Thành Huy thừa nhận, “thực ra làm lãnh đạo ở Viện này chỉ có khổ chứ không có sướng. Mình ở đây đóng vai trò phục vụ, tạo điều kiện cho các bạn ấy yên tâm làm việc thôi”. Vai trò phục vụ ở đây theo anh là “suốt ngày trả lời và tư vấn” và “cái khổ” của người lãnh đạo AIST bắt đầu từ khi tuyển dụng vì các nhà nghiên cứu trẻ “đến gặp mình phỏng vấn tuyển dụng nhưng thực ra là không phải mình phỏng vấn các bạn ấy mà là đến để phỏng vấn mình”. Có trường hợp, anh bị “phỏng vấn ngược” tới 50 câu, ngồi cả một buổi để “trả lời tất cả mọi chuyện một cách thẳng thắn”.  Có lẽ chưa ở đâu, viện trưởng lại là người tiếp nhận và giữ hồ sơ gửi đến, thông thường việc đó của bộ phận hành chính. PGS. TS Phạm Thành Huy giữ rất kỹ chồng hồ sơ đó, anh thuộc từng người, kể cả những bạn chưa về Viện ngay và trao đổi với họ, “anh coi em như người của Viện, bao giờ kết thúc công việc ở nước ngoài, em có thể về đây làm việc”, đồng thời giữ cả mối liên hệ với cả những người không về viện mà chọn một nơi khác để thi thoảng mời họ đến cùng tổ chức seminar, workshop như người một nhà.  10 năm gây dựng Viện AIST, PGS. TS Phạm Thành Huy rút ra một kinh nghiệm, “máy móc là một chuyện thôi, con người mới là quan trọng. Nếu mình có được người giỏi thì những thứ khác sẽ đến”.  —  1. http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Moi-truong-hoc-thuat-mo-10785  2. http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/dieu-hap-dan-nam-o-su-thay-doi-8978       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Đầu ra cho các nghiên cứu KHXH&NV      GS.TS Trần Ngọc Vương (Khoa Văn học, ĐH KHXH&amp;NV, ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, các vấn đề lý thuyết về KHXH&amp;NV chủ yếu phục vụ cho các lĩnh vực công ích, các tổ chức/cơ quan quản lý nhà nước, xã hội, chứ không phải doanh nghiệp, nên các tổ chức/cơ quan đó phải có trách nhiệm khai thác, sử dụng các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&amp;NV.    Trong quản lý và nghiên cứu khoa học, minh bạch là một đòi hỏi bắt buộc. Có minh bạch, chúng ta mới biết các khâu từ đề xuất, thực hiện, đến nghiệm thu đề tài… có được giao đúng người đúng việc không, hiệu quả đến đâu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đòi hỏi này mới được thực thi nửa vời. Lấy Quỹ NAFOSTED làm thí dụ. Ở quỹ KH&CN rất được tín nhiệm này, mặc dù tiêu chí để lựa chọn thành viên cho các hội đồng khoa học được công bố rõ ràng trên website – đó phải là những nhà khoa học có thành tích nghiên cứu xuất sắc trong năm năm gần nhất, thể hiện qua các kết quả nghiên cứu được công bố quốc tế – nhưng trên thực tế, tiêu chí này vẫn bị vi phạm, có những vị nhiều năm không có công bố nào có tiếng vang vẫn được chọn vào hội đồng. Vì hồ sơ khoa học của họ không được công khai trên website của Quỹ nên không dễ gì cho những người muốn lên tiếng phản đối. Việc chọn hội đồng khoa học, theo tôi cần công khai lấy ý kiến của những người cùng giới chuyên môn, chỉ có sự đồng thuận giữa những người cùng giới chuyên môn mới đủ thẩm quyền. Xét cho cùng, trong sự vi phạm ở đây có sự liên đới và bảo vệ lẫn nhau, tôi giúp anh lần này, anh sẽ giúp tôi lần khác.   Rồi còn việc thẩm định đề tài, về nguyên tắc là phải độc lập và kín, nhưng thường xuyên các chủ đề tài lại biết ai thẩm định mình và theo quán tính, họ sẽ xoay xở. Sự quen biết, tình nghĩa theo kiểu làng xã khiến những người thẩm định đề tài rất khó ăn nói, khó trả lời một cách vô tư, lạnh lùng. Sự cả nể trên thế giới đâu cũng có nhưng ở những nước tâm lý làng xã đậm quá thì mặt trái của nó càng bộc phát.   Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, tôi nghĩ còn có những đòi hỏi rốt ráo hơn đòi hỏi về sự minh bạch, đó là trình độ của giới nghiên cứu, mà ở đây tôi chỉ xin đề cập giới nghiên cứu KHXH&NV. Có thể nói, nguồn nhân lực cho các ngành KHXH&NV hiện nay ngày càng có xu hướng thu hẹp và kém tinh hơn trước. Khoảng vài chục năm nay, do quá trình chuyển đổi xã hội, các bậc phụ huynh muốn hướng con em mình đến những ngành nghề dễ kiếm việc làm và có thu nhập khả dĩ, bởi vậy, nguồn tinh hoa phổ thông được hướng vào một số trường thỏa mãn mong muốn chính đáng đó của các bậc phụ huynh mà hầu hết các trường KHXH&NV không thể đáp ứng được. Thế nên dù có năng lực, năng khiếu, ngay từ nhỏ, các em vẫn bị gia đình lái ra khỏi các lĩnh vực KHXH&NV. Lối thi cử theo lối học thuộc cũng góp phần làm cho việc tuyển sinh vào các ngành KHXH&NV trở nên kém hấp dẫn. Trong khi đó, cách đây mấy chục năm, những người vào được khoa Văn của ĐH Tổng hợp cảm thấy vinh dự không kém gì những người vào được khoa Toán của trường này và sinh viên các khoa đó phần lớn đều tự tin, chủ động với tương lai của mình.  Tình trạng này xuất phát từ thực tế, mặc dù các ngành KHXH&NV xa gần, ít nhiều đều liên quan đến các chính sách xã hội và chính trị nhưng các viện/trường chịu trách nhiệm về các ngành KHXH&NV lại không thường xuyên được tham gia sâu vào quá trình giải quyết những vấn đề quốc kế dân sinh hay những vấn đề hàng đầu về phát triển quốc gia. Các vấn đề lý thuyết về KHXH&NV chủ yếu phục vụ cho các lĩnh vực công ích, các tổ chức/cơ quan quản lý nhà nước, xã hội, chứ không phải doanh nghiệp, nhưng lại chưa được các tổ chức/cơ quan đó khai thác và sử dụng. Bởi vậy không có nhiều cơ hội tốt về công ăn việc làm cho những người theo đuổi ngành KHXH&NV. Dễ hiểu vì sao ngày nay người ta không thể thấy ở giới nghiên cứu KHXH&NV niềm tự hào, thậm chí tự phụ, “kiêu khí” như ở ngành IT hay các ngành được tiếng là “hot” khác. Việc đãi ngộ thông qua thu nhập từ nghiên cứu khoa học cho những người thực sự tài năng trong các khoa học tự nhiên và kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay đã ít nhiều được cải thiện, nhưng “người tài” trong KHXH&NV, dù số lượng ngày càng ít, tỷ lệ ngày càng thấp, thì “thân phận” xem ra cũng chưa thấy khá hơn.  Để giải quyết bài toán này, Nhà nước phải có những thay đổi rõ rệt về chính sách, các tổ chức/cơ quan nhà nước phải trở thành nơi sử dụng kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu KHXH&NV, và các nhà nghiên cứu KHXH&NV phải được tham gia sâu hơn vào các quyết sách của nhà nước. Theo như tôi được biết, nước Mỹ chi hàng chục tỷ USD để mời các trí thức hàng đầu phản biện, phê phán các chính sách của liên bang, nói ngoa một chút là “chửi được trả tiền”. Ở Việt Nam, một số người trong chúng tôi cũng được hỏi ý kiến đấy, nhưng bao giờ cũng kèm theo câu chốt, “nói là việc của các anh, còn sử dụng đến đâu là trách nhiệm của chúng tôi”. Những ý kiến đóng góp của chúng tôi rất ít khi được công bố rộng rãi, bởi vậy tôi từng bị các đồng nghiệp cảnh báo, “cẩn thận kẻo anh bị biến thành vật trang trí đấy”.               TT ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư bền bỉ của chính phủ      Dù vẫn bị coi là “thực dụng kiểu Mỹ” nhưng các chính sách đầu tư cho khoa học cơ bản thông qua các quỹ như National Science Foundation (NFS), National Institutes of Health (NIH)… cho thấy, điều làm nên sức mạnh của nền khoa học hàng đầu thế giới này là sự tài trợ bền bỉ và hào phóng của chính phủ.      Ít ai biết rằng, xuất phát từ các nghiên cứu cơ bản đầu tiên với các nhà khoa học máy tính Terry Winograd và Hector Garcia-Molina ở Đại học Standford, Larry Page và Sergey Brin đã thành lập và phát triển Google.    Trên thế giới, giữa các quỹ đầu tư cho các nghiên cứu cơ bản, đều do chính phủ tài trợ như Norges forskningsråd (NFR) của Na Uy, Danmarks Frie Forskningsfond (DFF) của Đan Mạch, Fonds voor Wetenschappelijk Onderzoek – Vlaanderen (FWO) của Khối Flander – Bỉ, hay Czech Science Foundation (GACR) của Cộng hòa Séc, thì NSF là quỹ ở tầm quốc gia có tổng kinh phí đầu tư bậc nhất. Được thành lập năm 1950, một trong các tiêu chí chính của NSF là thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học, hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản để tạo ra các tri thức có thể thay đổi tương lai. Đây cũng là một tiêu chí cao nhất và giữ vững gần như xuyên suốt lịch sử của NSF. Mặc dù là một Quỹ nghiên cứu khoa học độc lập nhưng ngân sách của NSF đến từ Ngân sách Liên bang. Ngân sách hằng năm của NSF khoảng trên dưới 8 tỉ USD, chiếm tổng số khoảng 24% toàn bộ các nghiên cứu cơ bản do các Bang và Liên bang tài trợ. Chi phí quản lý của NSF rất ít, chỉ khoảng 6% tổng kinh phí, còn lại 94% số tiền trên sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các nghiên cứu.  Hằng năm, NSF tài trợ khoảng 10,000 hồ sơ, 30.000 giáo sư, nghiên cứu viên sau tiến sỹ (postdoc), nghiên cứu sinh, và sinh viên. 72,186 nghiên cứu do NSF tài trợ được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế năm 2018 (theo số liệu của Web of Science, tra cứu ngày 29/07/2019). 236 nhà khoa học nhận tài trợ của NSF đã được giải Nobel: vật lý 69, hóa học 61, y học 49, kinh tế 57 (xem thêm thông tin tại https://www.nsf.gov/news/news_summ.jsp?cntn_id=100683).  Mỗi năm NSF nhận khoảng 50,000 các hồ sơ xin đề tài (proposals). Toàn bộ các hồ sơ xin đề tài được nộp trực tuyến. Sau thời hạn nộp hồ sơ, chủ nhiệm từng chương trình nghiên cứu sẽ gửi hồ sơ đến các nhà khoa học để phản biện độc lập. Có 5 tiêu chí quan trọng nhất để xét chọn hồ sơ tài trợ là:  1. Intellectual merit  2. Khả năng mở rộng kiến thức cho nhân loại  3. Mức độ ảnh hưởng rộng  4. Khả năng mang lại lợi ích cho xã hội  5. Có khả năng đạt được những thành quả cụ thể cho xã hội.  NSF sẵn sàng hỗ trợ các nghiên cứu ở những lĩnh vực mới, những nghiên cứu có độ rủi ro cao và những nghiên cứu cần sự hợp tác đa ngành. Những nghiên cứu được NSF tài trợ không chỉ hướng đến mang lại những đột phá về tri thức và đóng góp cho nước Mỹ mà cho toàn thế giới.  Chính phủ Mỹ là nhà đầu tư bền bỉ của NSF bởi ở cả Mỹ và nhiều nước, rất khó huy động kinh phí cho nghiên cứu cơ bản từ các nguồn vốn từ đầu tư trực tiếp bởi các nguồn đầu tư này thường đòi hỏi có sản phẩm đầu ra có khả năng ứng dụng càng nhanh càng tốt. Thậm chí ngay cả đầu tư cho khoa học ứng dụng, nhà nước vẫn phải tham gia tài trợ. Ví dụ, Na Uy có một quỹ tư nhân rất lớn đó là Fiskeri- og havbruksnæringens forskningsfinansiering (gọi tắt là FHF) tài trợ cho các nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Nhưng trên thực tế, FHF là một công ty TNHH nhà nước thuộc sở hữu của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Thủy sản, và được ngành công nghiệp tài trợ thông qua một khoản 0,3 % thuế xuất khẩu thủy sản Na Uy. Mục tiêu của FHF là tạo ra giá trị gia tăng cho ngành thủy sản thông qua nghiên cứu và phát triển (Research and Development). FHF thường “đặt hàng” và cấp kinh phí cho các nghiên cứu mang tính ứng dụng, giải quyết các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp thủy sản của Na Uy.    NSF tài trợ cho những nghiên cứu cơ bản mà các nhà đầu tư tư nhân thường hiếm khi bỏ tiền, bởi sẽ không nhìn thấy hiệu quả đầu tư hay ứng dụng ngay lập tức. Hình ảnh cho thấy sự thay đổi về tình hình lũ lụt ở Carolina, được trích rút từ một nghiên cứu của viện Hải dương học (Institute of Marine Sciences), do NSF tài trợ. Nghiên cứu này khảo sát dữ liệu lịch sử trong vòng 120 năm để chỉ ra tình trạng lũ lụt, ngày càng tồi tệ hơn do liên quan tới biến đổi khí hậu, được xuất bản trên tạp chí Scientific Reports.  Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản có nguồn kinh phí chủ yếu từ ngân sách quốc gia và không có điều kiện đòi hỏi đầu tư ngược từ thành quả của các nghiên cứu. Tuy nhiên, sau gần 70 năm đầu tư cơ bản, NSF đã cho thấy sự đúng đắn trong chính sách của mình thông qua hiệu quả đầu tư khoa học mang lại tác động lâu dài cho xã hội (return on investments – return on investment – ROI). Một trong những ví dụ nổi tiếng liên quan đến hai nhà sáng lập của Google, Larry Page và Sergey Brin. Hai ông từng là sinh viên làm việc trong đề tài NSF tài trợ cho Đại học Stanford năm 1994 do hai giáo sư Terry Winograd và Hector Garcia-Molina là chủ trì. Tổng số tiền tài trợ cho đề tài khoa học này là 4.5 triệu USD (https://www.nsf.gov/discoveries/disc_summ.jsp?cntn_id=100660). Từ các nghiên cứu đầu tiên của Larry Page và Sergey Brin trong đề tài khoa học này, họ đã thành lập và phát triển Google. 25 năm tính từ thời điểm nghiên cứu đầu tiên được thực hiện, Google hiện nay có giá trị lên tới trên 1240 tỉ USD và tạo việc làm cho trên 100,000 người.   NAFOSTED hiện đang được tổ chức và vận hành rất tương đồng với các quỹ khoa học quốc gia của các nước phát triển. Mô hình đúng đắn này cần được mở rộng cho các quỹ nghiên cứu khoa học của Việt Nam (mặc dù vẫn còn vài điểm cần cải thiện như quá trình quản lý tài chính của NAFOSTED có thể đơn giản hơn để giảm nhiều thời gian cho các nhà khoa học và tăng thời gian cho họ tập trung vào nghiên cứu).   Thực tế trên thế giới cho thấy, không quốc gia nào có một con đường phát triển nền công nghiệp vững chắc và sở hữu những công nghệ tiên tiến lại có nền khoa học cơ bản yếu kém. Quan điểm đầu tư trực tiếp vào các nghiên cứu ứng dụng có thể thu hồi nhanh vốn nghiên cứu khoa học và thành công tức thời không sai. Tuy nhiên, nếu đây là chiến lược chủ đạo trong nghiên cứu khoa học mà thiếu chiều sâu về các đầu tư nghiên cứu cơ bản thì giống như xây nhà từ nóc hoặc xây lâu đài trên nền móng bằng cát. Kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang thay đổi với một tốc độ chóng mặt, việc làm chủ một kỹ thuật hay công nghệ hiện đại chỉ có thể đảm bảo thành công tức thời nhưng sẽ trở nên lạc hậu sau năm, mười năm. Không có nền tảng khoa học cơ bản đủ tốt thì rất khó có khả năng thích ứng với sự thay đổi về công nghệ và kỹ thuật. Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là đầu tư cho tương lai, nó là sự nghiệp của 10 năm, 100 năm xây dựng nền khoa học của một đất nước. □  —–  Tài liệu tham khảo  Các thông tin về NSF được tham khảo và tổng hợp trực tiếp từ website của NSF (https://nsf.gov/ ).  (1) https://www.forskningsradet.no/en/footer/tildelingsbrev/  (2) https://tradingeconomics.com/norway/gdp  (3) https://www.fhf.no/fhf/about-fhf-english/  TS Đinh Văn Khương hiện là research scholar do chương trình nghiên cứu của NSF cho ĐH Washington State và ĐH Stanford tài trợ. Anh từng chủ trì một số đề tài nghiên cứu cơ bản của các quỹ nghiên cứu khoa học quốc tế (Marie Curie, British Ecological Society), tham gia các đề tài nghiên cứu của FWO, NFR, NSF, là phản biện độc lập cho các Quỹ GACR, National Geographic và British Ecological Society. Tác giả cảm ơn Hoàng Thị Mỹ Dung, NCS Đại học Bergen, Na Uy và giảng viên ĐH Nha Trang, đã cung cấp thêm các thông tin cho bài viết.          Author                Đinh Văn Khương        
__label__tiasang Đầu tư cho khoa học là con đường duy nhất giúp nông nghiệp phát triển      “Khi nền nông nghiệp đã khai thác đến mức  tối đa tài nguyên đất, nước, sức lao động và muốn tăng trưởng ổn định,  bền vững thì không có cách nào khác là phải đầu tư cho khoa học,” đó là  chia sẻ của TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược  phát triển nông nghiệp, nông thôn chung quanh bài toán  phát triển “tam nông” ở Việt Nam thời  gian tới.    Mất cân đối cơ cấu kinh tế dẫn đến mất cân đối cơ cấu xã hội  – Công bố về “Bức tranh nông thôn, nông dân Việt Nam nhìn từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình” do viện công bố gần đây, với những đánh giá bức tranh “tam nông” có nhiều nét ảm đạm hơn so với thời gian trước đó có làm ông thấy bất ngờ?  – Tôi hoàn toàn không bất ngờ bởi hai lý do. Thứ nhất: Từ năm 2008 đến nay, kinh tế thế giới suy thoái ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, kéo theo cả lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Thứ hai: Qua gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong giữ vững an ninh lương thực, xuất khẩu, bảo đảm an sinh xã hội… Tuy nhiên, đầu tư công cho nông nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung là chưa tương xứng khiến khả năng cạnh tranh của nông sản ngày càng yếu đi, đặc biệt là khi phần lớn tài nguyên đất, nước, lao động, khoáng sản chuyển dần ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp hoặc khai thác tới hạn.    – Ông có thể dẫn chứng cụ thể hơn về tình hình này?  – Nghiên cứu của viện chúng tôi phối hợp với các đơn vị bạn tại 12 tỉnh đại diện cho khắp các vùng, miền trên cả nước cho thấy, thu nhập và chi tiêu của hộ nông dân tăng mạnh trong giai đoạn 2006-2010 nhưng tốc độ giảm dần trong những năm gần đây. Tỷ lệ hộ nghèo giảm ít trong giai đoạn 2010-2012 đi cùng với hộ tái nghèo tăng; thu nhập từ nông nghiệp giảm dần trong khi đó thu nhập từ phi nông nghiệp chỉ tăng nhẹ. Hiện nay, nông dân còn đối mặt với nhiều rủi ro trong sản xuất, đời sống và phần lớn phải tự xoay xở, bươn chải để giải quyết khó khăn. Trong số hộ được điều tra, có tới 50% phải vay nợ và chủ yếu là vay tư nhân với lãi suất “cắt cổ”, vay từ ngân hàng chỉ chiếm khiêm tốn hơn 13%; có 20% số hộ trong diện điều tra có ít nhất một người di cư chính thức hoặc không chính thức và 60% là di cư tạm thời…  – Nhiều khu vực nông thôn đang trong tình trạng “001683”, tức là không có thanh niên, không công nghiệp, chỉ có thể tổ chức ngày Tết Thiếu nhi 1-6 và ngày Phụ nữ 8-3 vì lao động nam giới đã di cư lên đô thị kiếm sống. Đây rõ ràng là những con số “biết nói” và đáng để suy nghĩ.   – Đằng sau công thức dí dỏm này là tình trạng mất cân đối cơ cấu kinh tế dẫn đến mất cân đối cơ cấu xã hội. Cụ thể: Muốn phát triển một nền kinh tế ở nông thôn ổn định và hiệu quả thì phải tiến hành đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn. Chúng ta phải đưa về đây các trường đại học, khu dân cư, bệnh viện lớn và nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ song song với phát triển khu công nghiệp, chế xuất. Khi đó, nông dân có điều kiện tham gia các lĩnh vực phi nông nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn với tinh thần “li nông bất li hương”. Như vậy là kết cấu nông thôn được giữ nguyên, có già, trẻ, trẻ em, phụ nữ, nam giới…, dẫn đến kết cấu xã hội nông thôn sẽ không có sự xáo trộn. Đáng tiếc, điều đó không diễn ra ở nước ta theo một kết cấu hài hòa như thế, hình thành ở nông thôn một xã hội trì trệ bị tách ra khỏi xã hội năng động ở đô thị.    Thu hẹp diện tích trồng lúa là cần thiết  – Phải chăng, đỉnh điểm của thực trạng sản xuất nông nghiệp không đủ nuôi sống người dân chính là việc ở không ít địa phương, người nông dân đã bỏ ruộng. Dưới góc độ chuyên gia nông nghiệp, ông có bình luận gì về hiện tượng này?  – Tôi không muốn đề cập đến hiện tượng mà muốn lý giải vì sao lại có chuyện trên. Thật không có gì lạ khi người nông dân bỏ ruộng để đi tìm cuộc sống tốt hơn ở đô thị. Ở nước ta, kể cả trong trường hợp năng suất lao động cao thì quy mô sản xuất nhỏ bé cũng không đủ cho nhu cầu ngày càng tăng, thế mà trong điều kiện sản xuất nông nghiệp được đầu tư ít, khoa học – công nghệ (KHCN) lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém thì năng suất trong lao động nông nghiệp rất thấp. Quy luật diễn ra thì như thế nhưng kết cấu kinh tế của chúng ta lại không cân đối, bảo đảm để số lượng lao động đẩy ra từ nông nghiệp tương đương với sức hút vào của các ngành nghề phi nông nghiệp, do đó đa số nông dân ra đô thị kiếm việc phải đương đầu với nhiều rủi ro, làm việc không có lợi tức, không có nghiệp đoàn, không được rèn luyện tay nghề và có thể bị cho nghỉ việc bất kỳ lúc nào. Căn nguyên của tình trạng này là do chúng ta không quy hoạch gắn bó giữa nông thôn và đô thị nên người nông dân phải chấp nhận “li nông” kèm với “li hương”.    – Thưa ông, trở lại bài toán tranh luận “nóng” ở thời điểm hiện nay là có nên thu hẹp diện tích sản xuất lúa gạo hay không để dành quỹ đất canh tác cây trồng khác và đẩy giá trị xuất khẩu tăng lên. Đánh giá của ông về vấn đề này thế nào?  – Trước đây, tôi không ủng hộ cách đặt chỉ tiêu cứng về diện tích sản xuất lúa gạo thì bây giờ cũng không ủng hộ đặt chỉ tiêu cứng diện tích phải thu hẹp lại. Tôi cho rằng, lúa gạo là hàng hóa nên hãy để quan hệ cung cầu thị trường tự điều tiết. Chúng ta nên rút dần cách đặt vấn đề sản lượng, tốc độ tăng trưởng phải đạt một con số nào đó. Cũng không nên đặt vấn đề phải trồng cây gì, nuôi con gì một cách cứng nhắc mà cũng để thị trường tự điều tiết. Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhà nước phải cân đối cân bằng an ninh lương thực. Qua tính toán về biến đổi khí hậu, tăng trưởng dân số, tăng trưởng thu nhập thì thấy rằng diện tích sản xuất lương thực của chúng ta hiện nay là khá lớn so với nhu cầu. Diện tích ấy đồng nghĩa phải duy trì với xuất khẩu lượng lớn mà trong điều kiện thị trường lương thực bị can thiệp nhiều bởi chính sách tự vệ thương mại thì hiệu quả kinh tế sẽ không cao. Do đó, về nguyên tắc thì nên chuyển sang sản xuất một số cây trồng khác để tiết kiệm nước, tài nguyên khác nhằm đem lại hiệu quả cao hơn trồng lúa.    – Vậy diện tích đất dôi ra nên đầu tư cụ thể theo hướng nào?  – Thị trường sẽ quyết định. Không bao giờ cho rằng người lãnh đạo hay nhà khoa học nên chỉ bảo người nông dân nên trồng cây gì, nuôi con gì và đó không phải là việc của Nhà nước. Việc của Nhà nước là tạo hành lang pháp lý thuận lợi, cung cấp những dịch vụ công phía sau cho người dân; đẩy mạnh công tác chế biến, kho tàng bến bãi, an toàn vệ sinh thực phẩm… Tất cả những thứ chúng ta đang sản xuất mà an toàn, sạch, chất lượng cao, giá hợp lý thì vẫn có thị trường.  – Nhưng nếu không có định hướng thì có thể sẽ tiếp tục rơi vào viễn cảnh vải thiều, cà phê… trồng xong rồi không tiêu thụ được và phá bỏ…  – Tôi xin nhắc lại, trong cơ chế thị trường không nên định hướng số lượng mà hãy định hướng chất lượng. Chúng ta không nói không có định hướng mà phải đi vào định hướng từ nhu cầu thị trường.     Chưa “nhón chân” cũng không “lội ruộng”  – Không còn nghi ngờ gì nữa, muốn ngành nông nghiệp phát triển, người nông dân có đời sống khấm khá thì khoa học nông nghiệp (KHNN) phải đi trước một bước. Quan điểm của ông ra sao về chính sách đầu tư cho KHNN những năm qua?  – Trong điều kiện của nước ta, xét về động lực thì KHCN là lối thoát duy nhất để nông nghiệp Việt Nam phát triển, tăng trưởng ổn định. Vì sao thế? Vì đất sản xuất của chúng ta ngày càng ít đi, nước cũng thế, các loại tài nguyên khác đều mất dần. Những lợi thế không tồn tại đương nhiên là ngành nông nghiệp khó tăng trưởng. Đầu vào duy nhất, là vô tận và có khả năng phát huy được nữa chính là KHCN. Vì tầm quan trọng của KHCN như thế nên thời gian qua, Nhà nước đã chú ý đầu tư trụ sở, trang bị cho KHCN nói chung và KHNN nói riêng nên so với thế giới thì thấp kém nhưng so với nội lực của chúng ta thì đó là sự cố gắng to lớn.   Hiện ngành nông nghiệp có khoảng 6.000 – 7.000 người chuyên làm công tác nghiên cứu. Lực lượng này mỗi năm được đầu tư khoảng 500 tỷ đồng, cộng với 500 tỷ đồng của khuyến nông thì con số khoảng trên 1.000 tỷ đồng. Tôi nghĩ, dù còn nhiều thiếu thốn nhưng tiền và cơ sở vật chất không phải là yếu tố cản trở ngành KHNN. Cái cản trở chính của chúng ta là cơ chế làm việc, cơ chế quản lý. Toàn bộ nền kinh tế của ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nhưng cơ chế quản lý dịch vụ công của chúng ta, trong đó có KHCN vẫn là hình bóng của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp. Các kế hoạch khoa học được nhà khoa học, cơ quan quản lý đề xuất hằng năm giao xuống các đơn vị dưới dạng các đề tài. Các đề tài này thực hiện với sự kiểm soát rất chặt chẽ về thủ tục thanh quyết toán; soi xét từng hóa đơn, vé xe, tàu… trong khi hiệu quả nó đem lại cho sản xuất lại không được đánh giá đầy đủ, nói cách khác là thứ yếu. Thường một đề tài được đánh giá bởi hội đồng các nhà khoa học nhưng không thấy vai trò của nông dân, doanh nhân trực tiếp thụ hưởng tiến bộ kỹ thuật, vì thế các kết quả nghiên cứu chủ yếu phục vụ mục tiêu giải ngân, ít vào đời sống mà không ai phải chịu trách nhiệm gì. Với một hệ thống mang tính quan liêu, không gắn với thực tế, thiếu yếu tố thị trường thế thì không ngạc nhiên là KHNN yếu kém.   – Đánh giá một cách khách quan thì KHNN nước nhà đang “nhón chân” hay “lội ruộng” thật sự cùng người nông dân, thưa ông?  – Rõ ràng, nếu các nhà khoa học được đánh giá bởi cũng chính bằng hội đồng các nhà khoa học thì điều quan tâm của họ là quan hệ của họ với đồng nghiệp, cấp trên. Nếu nhà khoa học được đánh giá bằng người nông dân sử dụng tiến bộ của họ thì chắc chắn lúc đó nhà khoa học không những “lội ruộng” mà họ sẽ xắn tay áo lên cùng sản xuất, kinh doanh, cùng nếm trải những khó khăn để tìm ra giải pháp cùng với nông dân. Còn nếu nhà khoa học gắn chặt với quyền lợi với thu nhập của nông dân thì lúc ấy họ gắn là một với mọi cố gắng của nông dân.   Chính sách nông nghiệp chậm đổi mới  – Trong 10 năm trở lại đây, chính sách nông nghiệp nào theo ông là thành công nhất?  – Điều đó không nằm trong một văn bản cụ thể nào. Theo tôi, chính sách tốt nhất chúng ta tạo ra được là tạo cho nông dân, doanh nhân một định hướng về động lực là họ làm gì thì được hưởng đó. Vì thế cho nên nông dân, doanh nhân thời gian qua đã huy động hết nội lực của mình trên đồng ruộng, khai thác tối đa tự nhiên để sản xuất nông nghiệp. Dù có không ít khó khăn nhưng nhiều mặt hàng nông sản của ta vẫn đứng vào tốp đầu thế giới. Tuy nhiên, nếu không có hỗ trợ, đầu tư thỏa đáng cho nông nghiệp thì đấy là chính sách hy sinh tạm thời để chiến thắng và chấp nhận thương vong, dẫn đến tình trạng người nông dân chúng ta đang bị kiệt sức. Chính sách đó phải đổi mới càng sớm càng tốt.  – Ông nhận định bức tranh “tam nông” Việt Nam 10 năm tới sẽ ra sao?  – Tôi không phải là thầy bói! Việc phát triển “tam nông” phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Khách quan thì phụ thuộc vào kinh tế thế giới, nếu kinh tế thế giới phát triển thì cầu nhiều, giá cao dẫn đến sản xuất có lợi. Ngoài ra, vấn đề biến đổi khí hậu cũng sẽ tác động lớn đến sản xuất và đời sống. Yếu tố chủ quan cũng có nhiều bất định. Đó là quan điểm phát triển của chúng ta cũng biến động, không ổn nên mới phải đặt vấn đề tái cơ cấu kinh tế. Thật sự chúng ta đã coi trọng, đặt phát triển nông nghiệp ngang với công nghiệp hay chưa? Vì nói đến công nghiệp thời gian qua hầu như không nói đến sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc nông nghiệp, chế biến nông sản xây dựng kho tàng bến bãi phục vụ sản xuất nông sản. Nếu đô thị chỉ phát triển theo cách lấy đất nông thôn rồi đổ thải về nông thôn thì câu chuyện khác. Có thể nói những “ẩn số” đó chúng ta không tự quyết và đoán định được. Tuy nhiên, thời điểm này mọi người đã nhìn về nông thôn, nghĩ về nông dân thì chúng ta cố mà nắm bắt lấy thuận lợi ấy, đừng để tuột mất cơ hội như những lần trước.  – Xin trân trọng cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư cho nhóm  nghiên cứu khởi phát      Bài viết dưới đây kiến nghị giải pháp phát triển các nhóm nghiên cứu khoa học từ việc đổi mới cấp đề tài xây dựng nhóm nghiên cứu qua việc tham khảo mô hình các nước có nền khoa học tiên tiến.    Một nhà khoa học sau khi trải qua những đào tạo cơ bản (đại học, sau đại học) và qua thời gian thực tập (hậu tiến sĩ) sẽ bắt đầu bước vào giai đoạn nghiên cứu độc lập (nếu đủ khả năng theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu). Đó là thời điểm mà nhà khoa học bắt đầu tìm các nguồn tài trợ để lập một nhóm nghiên cứu của riêng mình, bao gồm kinh phí xây dựng cơ sở vật chất cho nhóm nghiên cứu (phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu đồng bộ…), nhân sự cho nhóm nghiên cứu (cộng sự, nhân sự làm việc dưới quyền: các nghiên cứu viên, sinh viên, kỹ thuật viên…) và kinh phí duy trì cho nhóm nghiên cứu (tiền trả lương cho nhân sự, tiền chi cho các hoạt động nghiên cứu,…). Do đó, ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới, luôn có các quỹ cấp tiền cho các nhà khoa học thiết lập những bước ban đầu cho sự nghiệp nghiên cứu của mình. Quỹ này có thể từ chính các cơ sở nghiên cứu, khi đăng tuyển dụng nhà nghiên cứu sẽ cam kết cấp kinh phí để ban đầu cho các ứng viên trúng tuyển. Hoặc từ các quỹ chính phủ cấp cho ứng viên dưới dạng các “học bổng” hay “đề tài” (fellowship, fund). Lúc này, cơ sở nghiên cứu (trường đại học, viện nghiên cứu) sẽ đóng vai trò các nơi bảo trợ cho fellowship của ứng viên.   Một nước nhỏ trong khối ASEAN là Singapore đang có chương trình khá hiệu quả mang tên “National Research Fellowship” (NRF) nằm trong Quỹ Nghiên cứu Quốc gia (National Research Foundation) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Singapore, dành cho ứng viên bắt đầu trở thành các lãnh đạo nghiên cứu được bắt đầu từ năm 2007. NRF có thể cấp cho nhà khoa học một đề tài ban đầu tối thiểu 3 triệu SGD trong vòng năm năm, có thể coi là tạm đủ để thiết lập một nhóm nghiên cứu nhỏ, với khả năng mua sắm những thiết bị nghiên cứu cơ bản và trang trải kinh phí duy trì hoạt động của nhóm nghiên cứu. NRF xét duyệt hai lần một năm dựa trên hồ sơ cá nhân ứng viên, phản biện đề tài và kế hoạch nghiên cứu, và nhận hồ sơ thông qua cơ sở nghiên cứu bảo trợ cho ứng viên. Ứng viên NRF (phải dưới 40 tuổi) ở các trường đại học ở Singapore sẽ có hợp đồng (tenure track) 5-6 năm cho vị trí giảng sư (assistant professor). NRF là một trong những “con bài” chính của Singapore trong việc thu hút nhiều nhà khoa học trẻ xuất sắc đến đầu quân trong những năm qua.   Cũng tương tự như vậy, Hội đồng Nghiên cứu Úc (Australia Research Council) cũng có rất nhiều chương trình cấp kinh phí cho các nhà khoa học bắt đầu nghiệp nghiên cứu độc lập.   Xa hơn về phương Tây, Hội Hoàng gia London (Royal Society London) – Hiệp hội khoa học tương tự như Hàn lâm Viện quốc gia Anh quốc cũng là nơi tạo ra nhiều “fellowship” cấp cho các nhà khoa học bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu độc lập. Hệ thống fellowship của Royal Society London phân thành nhiều nhóm, có thể dành cho nhà khoa học bắt đầu nghiệp khoa bảng (early career schemes), hoặc dành cho nhà khoa học đang ở độ chín sự nghiệp (senior career schemes), hoặc cho nhóm các ngành khoa học có định hướng công nghiệp hoặc các đề tài dành riêng cho mua sắm có cơ sở vật chất nghiên cứu (Research and infrastructure schemes). Các đề tài cấp bởi Royal Society cùng với cấp kinh phí nghiên cứu, kinh phí mua sắm cơ sở vật chất nghiên cứu còn trả tiền lương cơ bản cho nhà khoa học chủ trì đề tài. Cùng với Royal Society, các quỹ nghiên cứu của Chính phủ Anh cũng có rất nhiều fellowship tương tự.   Các trường đại học ở các nước phát triển (Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…) luôn cam kết đầu tư một đề tài ban đầu cho các ứng viên là các lãnh đạo khoa học mới được tuyển dụng. Đề tài này được dùng để mua sắm cơ sở vật chất cơ bản ban đầu cho nhóm nghiên cứu, chi trả chi phí nhân công và hoạt động nghiên cứu của nhóm.  Thực trạng ở Việt Nam  Ngoài những rào cản về cơ chế, cung cách làm việc thì các nhà khoa học khi bắt đầu sự nghiệp khoa học luôn gặp vấn đề khó khăn về việc xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng nhóm nghiên cứu. Cách để một người làm khoa học bắt đầu sự nghiệp là nộp hồ sơ thi tuyển công chức (thường là giảng viên- ở các trường đại học, hay nghiên cứu viên – ở các viện nghiên cứu) để có biên chế chính thức, sau đó sẽ xin các đề tài nhằm trang trải kinh phí nghiên cứu. Việc xin các đầu tư lớn đối với các nhà khoa học trẻ mới bắt đầu sự nghiệp để xây dựng một nhóm nghiên cứu ở Việt Nam là rất khó và Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) hiện nay có thể coi như một nơi “cứu trợ” nhằm trang trải một phần nhỏ kinh phí nghiên cứu với các đề tài khoảng 2-3 năm. Họ buộc phải sử dụng các trang thiết bị sẵn có (thường không đồng bộ) tại cơ sở làm việc, tức là phải “nắn bóp” nghiên cứu sao cho phù hợp với trang thiết bị hiện có, thay vì xây dựng cơ sở vật chất đồng bộ để theo đuổi các hướng nghiên cứu mà họ đang làm chủ trước đó.   Do vậy, rất cần một chương trình lớn đầu tư từ chính nguồn ngân sách của chính phủ tài trợ cho các nhà khoa học trẻ có năng lực nhằm xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh lãnh đạo bởi các nhà khoa học trẻ sẽ là một chìa khóa giải quyết vấn đề.    Một số giải pháp  Bộ Khoa học và Công nghệ có thể mạnh dạn đổi mới NAFOSTED, song song với việc cấp các đề tài thường niên như đã có tiền lệ, nên xây dựng một quỹ học bổng (ví dụ như đặt tên là NAFOSTED Research Fellowship) cấp một lượng kinh phí lớn cho các ứng viên bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu độc lập (early stage career). Fellowship có thể kéo dài năm – sáu năm, bao gồm kinh phí mua sắm các trang thiết bị để thiết lập một nhóm nghiên cứu ban đầu, một phần lương cơ bản cho ứng viên, trợ cấp (nếu có), tiền lương chi trả cho nhân công tham gia đề tài (bao gồm một – hai nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, một – hai nghiên cứu sinh tiến sĩ…), tiền chi phí cho nghiên cứu (running cost), chi phí xuất bản, công bố khoa học, tham gia hội thảo khoa học, chi phí mời chuyên gia… Để nhận được fellowship, ứng viên cần có đủ kinh nghiệm làm nghiên cứu sau khi có bằng tiến sĩ (ví dụ như thời gian làm hậu tiến sĩ từ hai – ba năm), có lý lịch khoa học mạnh (với quá trình đào tạo tốt, có kinh nghiệm làm việc liên tục với đầu ra là sản phẩm khoa học…) cộng với một kế hoạch nghiên cứu (hay đề cương nghiên cứu) đủ mạnh cho một hướng nghiên cứu theo đuổi lâu dài.   Quy trình đánh giá lý lịch khoa học và kế hoạch nghiên cứu thay vì sử dụng hội đồng ngành toàn quyền chấm điểm quen thuộc lâu nay, nên thay bằng phản biện bởi chuyên gia độc lập (ví dụ ba phản biện kín). Và tất nhiên, ứng viên cần được cơ sở nghiên cứu xác nhận làm nơi bảo trợ cho fellowship này. Và thời gian của fellowship cũng chính là thời gian ứng viên “tập sự” ở ngạch “giảng sư – assistant professor” (nếu ở trường đại học) trước khi có thể bổ nhiệm chính thức thành các Phó Giáo sư, hay Giáo sư. Và ứng viên khi nhận được fellowship này có toàn quyền chọn đội ngũ cộng sự cho hướng nghiên cứu mình theo đuổi (tất nhiên quy trình tuyển dụng nên theo chuẩn quốc tế). Và để đúng mục tiêu xây dựng nhóm nghiên cứu từ các nhà khoa học trẻ có năng lực, tuổi của ứng viên nên hạn chế (ví dụ dưới 40 tuổi). Với thời giá hiện nay, có thể mạnh dạn cấp kinh phí từ 1-2 triệu USD cho mỗi fellowship trong vòng năm – sáu năm cho các ứng viên có đủ năng lực. Nếu như mỗi năm cấp cho 25 ứng viên thì sẽ tiêu tốn 25-50 triệu USD mỗi năm, và số tiền này hoàn toàn trong khả năng của ngân sách (có tổng đầu tư lên tới 750 triệu USD đầu tư mỗi năm)1 nếu như ngân sách được sử dụng một cách hợp lý, giảm bớt lãng phí ở bộ máy hành chính. Tất nhiên đây chỉ là một con số mang tính chất tham khảo. Chi phí tối thiểu nên được tính toán một cách cụ thể các chi phí cần thiết (cơ sở vật chất, thù lao, phụ cấp…) từ việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia khoa học có kinh nghiệm.  Để có thể làm như vậy thì trước hết cần minh bạch hóa các khâu xét duyệt, chuyên nghiệp hóa các khâu phản biện xét duyệt đề tài; đồng thời cần cải cách thủ tục nộp hồ sơ, giảm bớt các giấy tờ phiền hà, tạo ra hệ thống nộp hồ sơ hoàn toàn bằng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử. Bên cạnh đó, sử dụng hợp lý nguồn đầu tư ngân sách nhà nước sẽ góp phần giảm lãng phí, tăng cường kinh phí đến tay người làm khoa học. Ngoài ra, kêu gọi sự ủng hộ đầu tư từ khối tư nhân, doanh nghiệp sẽ tạo thêm những nguồn lực đáng kể.  Trên đây là một giải pháp cụ thể trong việc đầu tư khoa học với kỳ vọng có thể hút được nguồn chất xám chất lượng cao đang làm việc ở nước ngoài, cũng như khích lệ các nhà khoa học trẻ đang gặp nhiều khó khăn trong nước. Minh bạch hóa các khâu xét duyệt, chuyên nghiệp hóa các khâu phản biện xét duyệt đề tài sẽ là chìa khóa thành công của ý tưởng.  —  1 “Để được nghiên cứu, nhà khoa học phải biết “lách””, VietnamNet.vn 11/04/2013. Theo Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân: “Trong 2% ngân sách nhà nước (khoảng 15.000 tỉ đồng) chi cho KH-CN, thì 90% trong số này dành cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Tức nguồn này chủ yếu để nuôi bộ máy các cơ quan nghiên cứu của Nhà nước (hơn 6.000 người làm NCKH và 1.600 tổ chức KH-CN từ trung ương đến địa phương) và đầu tư trang thiết bị… Trong khi, phần dành cho hoạt động NCKH chỉ có 10% (khoảng 1.500 tỉ đồng) và chi cho tất cả các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ đến cấp cơ sở…”. Có nghĩa là tổng số tiền đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam không nhỏ, nhưng việc sử dụng bất hợp lý dẫn đến số tiền thực chi cho các hoạt động khoa học còn lại không nhiều.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư cho những gì thật sự thiết thực      Chúng ta đều biết trong thực tế đang tồn tại  tình trạng có những thiết bị đắt tiền phục vụ nghiên cứu khoa học không  được sử dụng đúng mức, thậm chí hoàn toàn bị đắp chiếu. Trong bối cảnh  hiện nay khi lẽ ra các nguồn lực dành cho nghiên cứu phải được đầu tư  cẩn trọng và quản lý nghiêm ngặt, thì sự lãng phí tiền của như vậy là  điều không thể chấp nhận. Là nhà khoa học, chúng ta có trách nhiệm lo ngại về vấn đề này.      Sẽ là vô trách nhiệm nếu ta không quan tâm, gây ra ấn tượng xấu trong công chúng về những yếu kém, hoặc thậm chí cả tệ tham nhũng trong giới KH&CN. Vậy chúng ta phải làm gì để những sai phạm như vậy không tái diễn?   Trong nhiều trường hợp, chuyện thường gặp là lãnh đạo một đơn vị KH&CN nào đó, nhận thấy khả năng xin được kinh phí nhà nước, và bằng cách này hay cách khác, đưa ra quyết định mua sắm thiết bị mà ông ta tin rằng sẽ giúp gia tăng uy tín của đơn vị mình và tạo cơ hội để thu hút các nhà khoa học trẻ.  Tuy nhiên, lẽ ra quy trình đưa ra những quyết định như vậy không nên theo chỉ đạo từ trên xuống, mà phải theo ý kiến đề xuất từ dưới lên. Cách làm đúng ở đây là phải một cộng đồng các nhà khoa học – không nhất thiết đông người mà có thể chỉ cần một nhóm nhỏ – đề xuất đơn vị mua về một thiết bị mới, kèm theo đó là văn bản nêu rõ các luận cứ, ý nghĩa, tầm quan trọng của thiết bị này. Nội dung văn bản ấy phải được công khai, cho phép các cá nhân và cộng đồng các nhà khoa học khác có cơ hội được thông tin và bày tỏ ý kiến riêng. Trong trường hợp đó là một thiết bị đòi hỏi nguồn lực lớn dành cho việc mua sắm, khai thác, hay bảo dưỡng, thì việc mua thiết bị này phải được đem ra thảo luận trước các cơ quan, tổ chức KH&CN hữu quan, và cần tham vấn ý kiến các chuyên gia nước ngoài.   Như tôi vẫn thường nhận xét trong các bài báo liên quan tới chủ đề này, chúng ta trước hết cần ưu tiên đầu tư cho chất xám hơn là đầu tư vào trang thiết bị. Một thiết bị tối tân bóng bẩy liệu có giá trị gì nếu chẳng ai sử dụng đến nó? Lẽ ra, chúng ta cần dành kinh phí để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo trong nước, xây dựng những nhóm nghiên cứu có năng lực để thu hút các nhà nghiên cứu trẻ được đào tạo từ nước ngoài và tận dụng tốt nhất tri thức, kỹ năng của họ. Chúng ta cần dành kinh phí tạo điều kiện thu hút tài năng trẻ tham gia các dự án khoa học quan trọng trong các ngành năng lượng, vũ trụ, điện tử công nghệ cao, tin học, di truyền học, v.v, thay vì để cho chất xám thế hệ trẻ tập trung hết vào một vài ngành như ngân hàng, tiếp thị. Chúng ta cần kinh phí để tăng lương cho các nhà nghiên cứu làm khoa học đích thực, tránh để họ vì mưu sinh mà phải lãng phí thời gian vào các nghề tay trái cho thu nhập cao hơn.   Gần đây, tôi được đọc một báo cáo về lĩnh vực ứng dụng phóng xạ trong y tế của bác sỹ, giáo sư Mai Trọng Khoa1, phê phán tình trạng “thiếu bác sỹ và kỹ sư y tế, thiếu kiểm soát chất lượng và bảo dưỡng đối với các thiết bị bức xạ và suy trình sản xuất thuốc có phóng xạ, thiếu đào tạo một cách bài bản cho đội ngũ làm thuốc có phóng xạ.” Kiến nghị của vị bác sỹ này là gì? Mua sắm một máy siêu gia tốc cyclotron mới? Một cơ cở chiếu xạ để điều trị khối u ung thư? Không, đây là một người có trách nhiệm, đưa ra kiến nghị cho những gì mà ông biết là thiết thực cho việc đào tạo bác sỹ, kỹ sư, kỹ thuật viên, y tá trong lĩnh vực này: cấp học bổng, tổ chức các lớp học ngắn hạn, tọa đàm khoa học, chương trình trao đổi chuyên gia, các khóa đào tạo, tổ chức các nghiên cứu liên trung tâm, v.v.   Công chúng cũng như Nhà nước luôn mong chờ ở cộng đồng các nhà khoa học sự nghiêm khắc, chuẩn mực, và sự quản lý một cách phù hợp đối với các nguồn kinh phí đầu tư cho khoa học. Là những nhà khoa học, chúng ta không được quên điều này, và cần hành xử có trách nhiệm nếu thật sự muốn giành được lòng tin và sự ủng hộ.   Thanh Xuân dịch  —————-  1Pr. MD PhD Mai Trong Khoa, Final report of Vietnam National Project Coordinator, Kathmandu, Nepal, 28-29 Novemner 2013, http://www.rcaro.org/ attach/filedownloads/do_dwn/no/16571.      Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Đầu tư cho viện/trường: Những hạn chế đáng tiếc      Bên cạnh những ưu điểm lớn, mô hình Nhà nước đầu tư tập trung cho các viện nghiên cứu, trường đại học mua sắm thiết bị hiện đại cũng đang bộc lộ một số hạn chế như thiết bị không hoạt động đúng như thiết kế ban đầu, thiếu kinh phí bảo dưỡng, và chưa phát huy hết hiệu suất sử dụng do thiếu mối liên kết với doanh nghiệp và thiếu các đơn đặt hàng dài hạn.    Với mục tiêu nâng cao chất lượng nghiên cứu, tạo ra và đưa nhanh các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, Nhà nước đã đầu tư một lượng kinh phí lớn xây dựng một số viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, và phòng thí nghiệm tại nhiều viện nghiên cứu và trường đại học.   Việc đầu tư cho các viện nghiên cứu mặc dù được tiến hành theo một số cách tiếp cận khác nhau tuy nhiên mô hình chủ đạo là Nhà nước đầu tư tập trung cho các cơ sở mua sắm các trang thiết bị nghiên cứu theo định hướng phát triển một ngành, một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Ưu điểm của mô hình này là với suất đầu tư lớn, các viện nghiên cứu có thể hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu trong một thời gian ngắn; và các thiết bị nghiên cứu được đầu tư mới hiện đại tương đương với khu vực và thế giới và hệ thống thiết bị đầu tư khá đồng bộ. Cho đến nay, nhiều viện nghiên cứu/phòng thí nghiệm với cơ sở trang thiết bị nghiên cứu hiện đại đã được hình thành và bước đầu vận hành hiệu quả giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, mô hình đầu tư xây dựng này đã bộc lộ một số hạn chế mà nếu được khắc phục kịp thời sẽ giúp làm tăng hiệu quả đầu tư, cũng như khả năng vận hành của các viện nghiên cứu.  Không hoạt động đúng như thiết kế ban đầu     Vấn đề đầu tiên, đó là việc thiết kế tổng thể và xây dựng lộ trình đầu tư của các dự án xây dựng phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu. Trong điều kiện lực lượng cán bộ nghiên cứu còn khiêm tốn về số lượng, và còn ít kinh nghiệm về tổ chức quản lý các phòng thí nghiệm tập trung cũng như vận hành các thiết bị công nghệ cao, luôn có một xác suất đáng kể các thiết bị được đầu tư hoạt động không đúng như thiết kế ban đầu, hoặc không đủ điều kiện vận hành. Việc xây dựng được một thiết kế tổng thể và một lộ trình đầu tư phù hợp, có tương quan hợp lý giữa lực lượng cán bộ và số lượng trang thiết bị được đầu tư sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc tiếp nhận và đưa các thiết bị được đầu tư vào hoạt động một cách hiệu quả. Ngoài ra, việc tìm được những người đứng đầu có kinh nghiệm, có tri thức khoa học và am hiểu sâu sắc về lĩnh vực được đầu tư phát triển, và có thể đảm bảo thời gian làm việc xuyên suốt thời gian đầu tư của dự án cũng là một yếu tố quan trọng cho sự thành công.   Thiếu kinh phí bảo dưỡng   Một vấn đề khác mà nhiều viện nghiên cứu đã gặp phải chính là việc đảm bảo hoạt động cho phòng thí nghiệm và các thiết bị nghiên cứu hiện đại được đầu tư ngay trong quá trình và sau khi kết thúc dự án. Trong mô hình hiện nay, kinh phí đầu tư từ ngân sách Nhà nước (NSNN) chỉ được sử dụng cho việc mua thiết bị nghiên cứu, trong khi kinh phí cho việc đảm bảo hoạt động thiết bị sẽ do đơn vị được đầu tư đối ứng. Về lý thuyết, mô hình này sẽ giúp nâng cao tính tự chủ, và trách nhiệm của đơn vị được đầu tư trong việc đảm bảo hoạt động và vận hành khai thác hiệu quả thiết bị được đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều các thiết bị nghiên cứu công nghệ cao có giá thành lên đến hàng chục tỷ đồng, đòi hỏi không chỉ điều kiện vận hành ngặt nghèo, mà còn cần chi phí vận hành hằng năm lên đến nhiều tỷ đồng. Hợp đồng bảo dưỡng định kỳ và thay thế phụ kiện đối với các thiết bị này, cũng có thể lên tới hàng chục nghìn USD/năm cho các hợp đồng kéo dài 3-5 năm (sau thời gian bảo hành). Yêu cầu kinh phí như trên là rất lớn và ngoài khả năng đáp ứng của hầu hết các viện nghiên cứu, cũng như rất lớn so với kinh phí nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu được cấp từ NSNN. Do đó, để tránh lãng phí do các thiết bị không thể vận hành vì thiếu kinh phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu đầu tư tập trung và trọng điểm, những chính sách hỗ trợ cụ thể theo một lộ trình thời gian dài hạn (5-10 năm) của Nhà nước là hết sức cần thiết trước khi các đơn vị này có thể tự vận hành bằng kinh phí thu được từ các hoạt động nghiên cứu theo hợp đồng, hay dịch vụ nghiên cứu. Đây cũng là chính sách hiện đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới đối với các trung tâm/viện nghiên cứu tập trung nhằm đảm bảo cơ sở hạ tầng hỗ trợ nghiên cứu phát triển công nghệ mới (ví dụ mô hình MESA + Institute for Nanotechnology – Hà Lan; National NanoFab Center –Hàn Quốc).  Chưa phát huy hết hiệu suất sử dụng   Trong giai đoạn vừa qua, đa số các phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu được đầu tư nằm ở các viện nghiên cứu, trường đại học – các cơ sở mạnh về nghiên cứu cơ bản, và đây được xem là bước đi cần thiết nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ, chất lượng và năng lực nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, để có thể phát triển được các công nghệ ứng dụng, giải quyết bài toán sản phẩm ở quy mô công nghiệp, có giá trị gia tăng, và cạnh tranh quốc gia cao trong giai đoạn sắp tới, Nhà nước cần chú trọng đầu tư xây dựng các viện/trung tâm nghiên cứu có tính mục tiêu sản phẩm và có sự gắn kết với các tập đoàn, công ty công nghiệp lớn. Việc thành lập các viện nghiên cứu này phải đảm bảo hội tụ nhu cầu của cả hai phía (viện/trường và công ty/tập đoàn công nghiệp) và nguồn vốn đầu tư và phát triển phải đến từ nhiều phía, bao gồm đóng góp của các tập đoàn/công ty (chủ yếu), hỗ trợ của Nhà nước và vốn đối ứng của chính bản thân các viện/trường.  Đối với các viện nghiên cứu/phòng thí nghiệm đầu tư tập trung, trọng điểm, các phòng thí nghiệm hoạt động theo phương thức mở cung cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu (R&D), hiệu quả và hiệu suất sử dụng các trang thiết bị được đầu tư phụ thuộc vào số lượng các dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu (của các cán bộ trong và ngoài đơn vị) thực hiện tại các cơ sở này, cũng như số lượng đơn đặt hàng, số lượng các hợp đồng chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp/công ty/tập đoàn kinh tế. Cho đến nay, do chính sách kinh phí ngắn hạn, hầu hết các nhiệm vụ nghiên cứu chỉ kéo dài hai-ba năm, các nhiệm vụ nghiên cứu còn mang nhiều tính đơn lẻ, giải quyết những vấn đề nhỏ, cụ thể mà chưa được định hướng tập trung để giải quyết những bài toán lớn đi từ nghiên cứu phát triển công nghệ đến sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển KH&CN dài hạn, cần gắn việc thành lập các viện nghiên cứu với định hướng hỗ trợ phát triển công nghệ và nhân lực trình độ cao cho một ngành công nghiệp, một lĩnh vực cụ thể (với sự đóng góp tài chính của chính những đơn vị này). Việc xây dựng các chương trình nghiên cứu dài hạn, các dự án nghiên cứu trọng điểm (5, 7, 9 năm) nhằm tập trung nhân lực giải quyết những bài toán khoa học lớn, nghiên cứu phát triển công nghệ gốc, và tạo ra các sản phẩm mới, sản phẩm quy mô quốc gia do đó cũng là hết sức cần thiết.     —————–  * Viện trưởng Viện Tiên tiến KH&CN (AIST), ĐH Bách khoa Hà Nội    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư nghiên cứu các virus nguy hiểm: Nên hay không?      Không chỉ ở các quốc gia nghèo mà ngay cả Mỹ – quốc gia dành nhiều ngân sách cho KH&CN bậc nhất thế giới, vẫn không ngừng tranh cãi về vấn đề: nên hay không nên đầu tư cho các nghiên cứu về các virus nguy hiểm?      Nghiên cứu để cho các mầm bệnh trở nên nguy hiểm hơn có thể giúp các nhà khoa học sẵn sàng đối phó với dịch bệnh. Nguồn: Nature.  Gần hai tháng trước cơn bùng phát dịch bệnh do 2019-nCoV gây ra, chủ đề gây tranh cãi này đã xuất hiện một cách lặng lẽ trên New York Times với thông tin về Predict, một chương trình nghiên cứu do Chính phủ Mĩ rót kinh phí để nhận diện các virus gây bệnh trên động vật nhưng có thể lây nhiễm cho người và dẫn đến một dịch bệnh mới, vừa bị quyết định dừng lại sau một thập kỷ hoạt động. Dennis Carroll, cựu giám đốc Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) – cơ quan điều hành Predict – đã từ chức sau khi chương trình bị đóng lại. Ông giải thích, một số quan chức liên bang cảm thấy USAID đầu tư cho khoa học tiên tiến như dò tìm các mầm bệnh lạ, các virus nguy hiểm là không phù hợp.  Các nhóm chuyên gia của Predict đã nghiên cứu nhiều dịch bệnh bí ẩn ở nhiều quốc gia, trong đó có vụ 3.000 con chim hoang dã sống ở một hồ Mông Cổ chết, ngăn chặn bệnh dịch nguy hiểm ở một vườn thú Campuchia vì nguồn thức ăn – những con gà nhiễm cúm, hay nhận diện những virus từ dơi mà đội bóng đá thiếu nhi Thái Lan có thể bị phơi nhiễm khi bị mắc kẹt trong hang động ở Thái Lan.&nb      “Tự nhiên là ‘kẻ khủng bố sinh học’ tột bậc và chúng ta cần phải đi trước nó một bước” bằng việc thực hiện nghiên cứu “để giúp chúng ta nhận thức tốt và nhận diện được các chủng virus mới”. TS. Samuel Stanley      Do đó, việc kết thúc chương trình “chắc chắn là một mất mát”, Peter Daszak, chủ tịch EcoHealth Alliance, một NGO về sức khỏe toàn cầu và nhận được kinh phí tài trợ của chương trình, nhận xét. “Predict là một cách tiếp cận để ‘đón đầu’ các bệnh dịch, thay vì ngồi chờ chúng xuất hiện và sau đó phát tán. Đấy mới chính là giá đắt”. Câu nói này của ông hàm ý đến việc trong 10 năm hoạt động, Predict chỉ tiêu tốn của Mĩ 207 triệu USD nhưng đem lại những khám phá có thể dẫn đến nhiều cách mới trong ngăn chặn những lan truyền dịch bệnh trên người do virus gây ra, trong khi “Mĩ phải dành 5 tỷ USD để chống lại dịch Ebola ở Tây Phi. So với đó, những chi phí đầu tư này còn ít hơn nhiều”.  Tuy nhiên, vấn đề có đơn thuần chỉ là chuyện tiền bạc?   Chủ đề tranh cãi nhiều năm  Trên thực tế, việc có nên đầu tư tiếp cho các nghiên cứu về các virus nguy hiểm là vấn đề trở đi trở lại trong cộng đồng khoa học Mĩ và các nhà hoạch định chính sách. Vào ngày 17/10/2014, Chính phủ Mĩ loan báo tạm dừng đầu tư cho nghiên cứu mới với mục tiêu khiến các virus hiện hành trở nên độc hại hơn hoặc có thể được lan truyền nhanh hơn vì nhiều lời phàn nàn về những mối nguy có thể khơi mào thành đại dịch. Sau đó vài hôm, Viện nghiên cứu Y tế Mĩ (NIH) đã loan báo lệnh tạm hoãn đầu tư cho 21 dự án nghiên cứu, bao gồm cúm mùa và phát triển vaccine.   Thông tin này khiến một số người hài lòng. “Tôi nghĩ đây thực sự là tin tốt,” Marc Lipsitch, một nhà dịch tễ học tại trường Y tế công cộng Harvard tại Boston, Massachusetts, từng kêu gọi nhiều năm về việc giám sát các nghiên cứu như thế. “Tôi cho rằng chúng ta cần phải cân nhắc trước khi hành động.” Tuy nhiên Arturo Casadevall, một nhà vi trùng học tại trường Y khoa Albert Einstein ở New York, gọi đây là một “hành động thiếu cân nhắc” vì “thực sự không có bằng chứng cho thấy các thực nghiệm đó lại gây nguy hiểm bởi rất nhiều thực nghiệm diễn ra trong các phòng thí nghiệm được bảo vệ một cách chặt chẽ.”  Ba năm sau đó, chính quyền liên bang lại đưa ra thông báo về một chính sách mới với một quy trình đánh giá rủi ro và lợi ích tiềm ẩn liên quan đến các nghiên cứu về dịch bệnh nguy hiểm này. Trong thông báo của NIH, chính sách mới được ấn định để “tăng cường tìm hiểu về các mầm bệnh có tiềm năng gây dịch” tuy nhiên bất kỳ quyết định tài trợ cho các dự án về gia tăng độc lực cho virus hoặc khiến nó lây nhiễm nhanh hơn bằng kỹ thuật di truyền cần phải được các chuyên gia cấp cao của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mĩ đánh giá.       Các thực nghiệm tạo ra các virus được biến đổi có thể dẫn đến việc phát tán những mầm bệnh một cách tình cờ, thường là một nhân viên của phòng thí nghiệm vô tình bị nhiễm rồi bất cẩn ra ngoài. Richard Ebright, trường ĐH Rutgers.      Nhiều nhà khoa học đánh giá cao quyết định này đối với tương lai của nghiên cứu. Virus tiến hóa một cách liên tục. Ví dụ, một mẫu cúm A H5N1 đã được tìm thấy chứa một đột biến mới, và mẫu thứ hai chứa một đột biến hoàn toàn khác biệt, về nguyên tắc một đột biến kép H5N1 có thể xuất hiện trong tự nhiên. Những người đề xướng thí nghiệm lập luận, bằng việc tạo ra nhiều đột biến kép trong phòng thí nghiệm, các nhà vi trùng học có thể tìm hiểu là liệu nhiều đột biến kép có thể tồn tại và nếu có thì độc lực như thế nào, khi đó liệu nó có thể lây nhiễm từ người sang người hay không. Hoặc các nhà vi trùng học có thể tạo ra các đột biến chưa từng có trong tự nhiên, và một lần nữa nêu ra một manh mối là liệu những vật đột biến như thế có thể sống sót, chúng độc như thế nào, cần bao nhiêu đột biến để tạo ra một loại H5N1 nguy hiểm. TS. Samuel Stanley, hiệu trưởng trường ĐH Stony Brook và chủ tịch Hội đồng cố vấn khoa học quốc gia về An ninh sinh học Mĩ cho rằng, “Tự nhiên là ‘kẻ khủng bố sinh học’ tột bậc và chúng ta cần phải đi trước nó một bước” bằng việc thực hiện nghiên cứu “để giúp chúng ta nhận thức tốt và nhận diện được các chủng virus mới”.  Rất nhiều nghiên cứu như thế này “đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta nhận diện, thấu hiểu và phát triển các chiến lược và biện pháp hiệu quả chống lại những mầm bệnh đang tiến hóa một cách nhanh chóng và ẩn chứa mối nguy hiểm cho y tế công cộng,” TS. Francis Collins, giám đốc NIH viết trong thông báo về việc tháo rào cản cho nghiên cứu virus nguy hiểm, và cho biết thêm ông tự tin là các nghiên cứu có thể được thực hiện theo cách “an toàn, an ninh và có trách nhiệm.”    2019 – nCoV. Nguồn: TS Linda Stannard/UCT/Science.  Các quyết định về tài trợ của NIH sẽ được đặt trên cơ sở là liệu nghiên cứu đó có thực sự là khoa học và liệu mầm bệnh mà các nhà khoa học đề xuất tạo ra là “một nguồn đáng tin cậy về một dịch lớn trên người có khả năng xảy ra trong tương lai” hay không. Nó có thể bao gồm cả những nghiên cứu về những biến đổi di truyền cho phép virus Ebola được lan truyền thông qua các hạt lơ lửng trong không khí, những gì đóng vai trò thiết yếu trong lan truyền dịch bệnh mà các nhân viên y tế công cộng cần phải biết, theo nhà dịch tễ học Michael Osterholm tại trường ĐH Minnesota.  Những quyết định đó cũng cần phải dựa trên những nguy hiểm tiềm năng “khi so sánh với những lợi ích tiềm năng mà xã hội cho là hợp lý”. Và các nhà khoa học đề xuất nghiên cứu với mục tiêu làm cho virus nguy hiểm hơn cần chứng minh được với Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mĩ tính khả thi, các cách thức hiệu quả để có được những thông tin mới.  “Con người là tác nhân lan truyền virus hiệu quả hơn cả sol khí” vì có thể vượt qua cả những lớp ngăn vật lý của một phòng thí nghiệm, giáo sư Marc Lipsitch nói. Từng tính toán độ rủi ro trong lây nhiễm virus từ một phòng thí nghiệm, ông cho biết điều này lớn hơn những gì chúng ta biết và “rủi ro sau sự tình cờ đều là kết quả từ những lỗi lầm của con người.” Có lẽ, ông muốn hàm ý đến hai phòng thí nghiệm được NIH tài trợ đã làm phát tán virus cúm A H5N1 mà họ đang nghiên cứu ra ngoài môi trường năm 2011 khiến các con chồn sương bị lây nhiễm.   Tuy vậy ông vẫn đánh giá chính sách mới là một bước tiến nhỏ khi thiết lập được một quy trình chính thức để đánh giá liệu các đề xuất gây tranh cãi có nên nhận được tài trợ của chính phủ hay không. Nhưng do virus biến đổi gene có nguy cơ tạo ra đại dịch một cách ngẫu nhiên nên gần như chúng ta khó có thể làm gì để cải thiện sự chuẩn bị cho đại dịch.   Cần minh bạch hóa nghiên cứu về virus nguy hiểm  Trong những ngày bệnh dịch do 2019-nCOV bùng phát, một phiên họp giữa Hội đồng cố vấn khoa học quốc gia về An ninh sinh học Mĩ và Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mĩ đã diễn ra trong vòng hai ngày với nội dung về vấn đề là liệu có phải công khai công việc phản biện kín của một hội đồng liên bang chuyên đánh giá các rủi ro và lợi ích của những thực nghiệm do NIH tài trợ hay không. Các thành viên đều cho rằng, họ sẵn sàng mở để có một số thay đổi trong quá trình xét duyệt và lưu ý là tình trạng nguy hiểm hiện nay do một virus mới ở Trung Quốc đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một chu trình phê duyệt nghiên cứu suôn sẻ. “Nếu chính sách đầu tư cho các nghiên cứu về virus nguy hiểm cần được củng cố thì chúng tôi cũng sẽ làm theo,” Christian Hassell, cố vấn khoa học chính của Văn phòng trợ lý đặc trách sẵn sàng và hồi đáp (Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mĩ) cho biết.  Việc tiếp tục đầu tư cho các nghiên cứu về virus là việc nên làm nhưng nhiều nhà nghiên cứu dịch bệnh Mỹ cho rằng cần thúc đẩy sự minh bạch trong xét duyệt để công chúng hiểu tại sao chính phủ lại tài trợ cho nghiên cứu liên quan đến các mầm bệnh chết chóc hoặc dễ lây lan, Thomas Inglesby, giám đốc Trung tâm An ninh Y tế tại trường Y tế công cộng Bloomberg của ĐH Johns Hopkins, nói. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng Chính phủ Mĩ nên sẵng sàng mở hơn và công khai hơn với công chúng lời giải thích khi nào chấp thuận đầu tư cho những nghiên cứu như vậy, nêu rõ những ai quyết định tài trợ cho nghiên cứu đó và có hẳn một thông báo chính thức khi nào nghiên cứu đó bắt đầu. Luciana Borio, cựu giám đốc bảo vệ sinh học tại Hội đồng An ninh Nhà Trắng gợi ý với NIH một mô hình mà Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mĩ áp dụng là công khai thông tin về các nhà bình duyệt và nguyên nhân dẫn đến các quyết định của họ.  Carrie Wolinetz, Phó giám đốc phụ trách chính sách khoa học của NIH, cho biết, NIH cũng đã thực hiện được một số yêu cầu công khai như thông báo các đề xuất về nghiên cứu virus nguy hiểm lên trang web giống như những đề xuất khác do NIH tài trợ. Bà cũng thừa nhận là “có đủ chỗ cho thảo luận về việc công khai và thời điểm công khai” về các nghiên cứu này là cần thiết.      Việc tiếp tục đầu tư cho các nghiên cứu về virus là việc nên làm nhưng cần thúc đẩy sự minh bạch trong xét duyệt để công chúng hiểu tại sao chính phủ lại tài trợ cho nghiên cứu liên quan đến các mầm bệnh chết chóc hoặc dễ lây lan. Thomas Inglesby, ĐH Johns Hopkins.      Tuy nhiên cũng có  những ý kiến cho rằng, sự minh bạch lớn hơn có thể gây khó khăn cho việc thông qua những nghiên cứu cần thiết. Christian Hassell, người đồng thời là chủ tịch ủy ban đánh giá rủi ro của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mĩ, phần trần “ủy ban đánh giá không phải là một nhóm cố định mà là một nhóm  gồm “nhiều nhà nghiên cứu sung sức đang làm việc tại tổ chức khác nhau. Ông lo ngại việc công khai tên tuổi có thể làm “nguội” nhuệ khí của họ. Tuy nhiên, Bộ sẽ mở với những quá trình phê duyệt các dự án hợp tác công tư PPP, từ việc công khai hơn các quyết định của mình để đưa các nhà khoa học không thuộc các tổ chức của chính phủ vào ủy ban, ngay cả việc một số bước công khai như vậy cần phải có sự cho phép của Quốc hội. “Chúng tôi cam kết tăng cường sự minh bạch”, Hassell nói.  Mặt khác, Kenneth Bernard, một thành viên Hội đồng cố vấn khoa học quốc gia về An ninh sinh học Mĩ và là cựu cố vấn an ninh sinh học của Tổng thống Mĩ George W. Bush, cho rằng việc đưa ra quá nhiều thông tin có thể khiến quốc gia khác có một ấn tượng xấu về bản chất tự nhiên của các nghiên cứu mà Mĩ ủng hộ. “Việc chống lại các mối hiểm nguy sinh học bằng việc phát triển các biện pháp đối phó có nhiều điểm giống như chương trình phát triển vũ khí sinh học”, ông lưu ý.  Bernard cũng cho biết thêm là việc công khai bình duyệt các đề xuất với một lượng lớn người như quan điểm của nhiều nhà khoa học có thể gây rủi ro cho nhiều dự án. “Nếu anh mở một quá trình bình duyệt cho một bình duyệt công khai, thì 100% cơ hội sẽ không được chấp thuận nếu đó là một thảo luận đủ nghiêm túc cho một vấn đề nghiêm túc là mầm bệnh dịch tiềm năng”, Bernard nói, “Khoa học không thể tiến hành theo cách như vậy được.” □  Anh Vũ tổng hợp từ NYT, Scientific American, Science, Nature    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư nghiên cứu đánh giá phát tán phóng xạ môi trường: Liệu có cần thiết?      Nếu trong tương lai không có bất cứ sự cố hạt nhân nào xảy ra và ảnh hưởng đến Việt Nam thì sự tồn tại một nhóm nghiên cứu, hay nhìn rộng ra là cả một hướng nghiên cứu về đánh giá phát tán phóng xạ môi trường, có thực sự cần thiết?      TS. Nguyễn Hào Quang (bên trái) và các thành viên trong nhóm nghiên cứu đánh giá phát tán phóng xạ tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Nguồn: Viện NLNTVN   Câu trả lời là có. Cái nhìn có phần đơn giản của người ngoài ngành mới chỉ lướt qua bề mặt dễ đánh lừa của sự việc mà chưa thấy cái lõi bên trong. “Tuy dừng chương trình phát triển điện hạt nhân nhưng Việt Nam vẫn cần phát triển năng lực đánh giá phát tán phóng xạ bởi hai lẽ: thứ nhất, chúng ta ở gần một số nhà máy điện hạt nhân đang vận hành; thứ hai là sự phát triển của khoa học hạt nhân khiến nhiều quốc gia có thể sở hữu nhiều thiết bị, máy móc vận hành bằng năng lượng hạt nhân ở nhiều quy mô khác nhau. Vì vậy, mình phải có năng lực ghi đo, phân tích số liệu và dự báo được đường đi và mức độ của dòng chảy phóng xạ để mình có kế hoạch ứng phó sự cố thích hợp cũng như tránh được ‘sự cố truyền thông’ do thiếu thông tin tin cậy”, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Viện NLNTVN), cho biết, về ý nghĩa của sự tồn tại này.  Vượt thoát khỏi “truyền thống”  Đánh giá phát tán phóng xạ môi trường là một lĩnh vực khoa học quan trọng của công nghệ hạt nhân thế giới. Ở Việt Nam, tuy đã có nền tảng ban đầu do giáo sư Phạm Duy Hiển xây dựng nhưng tất cả những gì mà Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam có vẫn còn rất sơ khai, TS. Trần Chí Thành cho biết như vậy khi nhìn lại quá trình phát triển của hướng nghiên cứu này.   Điều khiến anh và nhiều nhà khoa học khác suy nghĩ là dù vào năm 2010 đã có quyết định 1636/QĐ-TTg về quy hoạch mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia đến năm 2020, nhưng nội dung vẫn chỉ chủ yếu tập trung vào xây dựng mạng lưới và lắp đặt thiết bị mà “không có ai nói đến việc phải gây dựng được đội ngũ, đặc biệt về tính toán mô phỏng,  không ai tính đến yếu tố con người cả”. Khi chưa có được năng lực như quốc tế thì chúng ta phải tự xây dựng năng lực, đó là quyết tâm của Viện khi giao xây dựng đề xuất “Nghiên cứu, đánh giá khả năng phát tán và ảnh hưởng của phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Cảng Phòng Thành và Xương Giang đến Việt Nam” cho TS. Nguyễn Hào Quang – một người theo đánh giá của TS. Trần Chí Thành là “khi thôi làm quản lý để tập trung nghiên cứu trở lại, anh làm việc rất nghiêm túc và say mê”.       TS. Trần Chí Thành đã đề cập đến mục tiêu hình thành được một nhóm nghiên cứu về phát tán phóng xạ ở Viện NLNT Việt Nam có cả ba năng lực quan trọng là tính toán mô phỏng, ghi đo quan trắc và chế tạo thiết bị. “Nếu chỉ phát triển mô hình tính toán không thì không bao giờ chúng ta có thể thu được kết quả chính xác cả. Để kiểm chứng độ chính xác của mô hình, chúng ta cần bổ sung và đối chiếu với số liệu ghi đo thực tế hoặc thực nghiệm. Mặt khác, năng lực chế tạo thiết bị có thể đem lại khả năng tự chủ về thiết bị cũng như năng lực bảo hành, sửa chữa thiết bị, tránh trường hợp không có dữ liệu một cách liên tục”.      Vào thời điểm bắt đầu, ngay cả người đã tích lũy được kinh nghiệm về phóng xạ môi trường như TS. Nguyễn Hào Quang cũng cảm thấy ngần ngại trước một bài toán khó về nhiều mặt: “Mình cũng biết là bắt tay làm đề tài thì lực lượng cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực này cũng chưa nhiều và chưa thạo nghề nên cũng chưa dám đặt ra những mục tiêu gì quá lớn”.   Với bài toán phát tán phóng xạ trong môi trường không khí, anh và đồng nghiệp phải chạm đến những điều rất cơ bản của cơ học dòng chảy trong khí quyển, nơi những dòng chảy rối liên tục luân chuyển. Trong khi đó, có một thực tế là một số nghiên cứu trước đây ở Viện NLNT về lan truyền phát tán phóng xạ trong không khí chủ yếu là dựa trên dữ liệu thu thập được qua ghi đo và sử dụng mô hình đơn giản kiểu Gaussian. “Mô hình luồng khí Gaussian là mô hình tất định. Nó không mô tả hiện tượng ngẫu nhiên của quá trình phát tán mà chỉ xác định được phân bố nồng độ trung bình của chất nhiễm bẩn. Dữ liệu khí tượng đưa vào mô hình này là dữ liệu khí tượng cục bộ và không nhiều chiều, không tính đến phân bố của các tham số khí tượng theo các lớp. Mô hình này không cho phép ta đưa nhiều tham số mô tả sự vận chuyển của khí quyển, do đó không phù hợp để giải quyết các vấn đề tính toán phát tán phóng xạ (nếu có) từ các nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc tới Việt Nam”, TS. Nguyễn Hào Quang nhận xét. Mặt khác, việc ghi đo quan trắc mặc dù có ưu điểm là phản ánh giá trị thực, đúng nồng độ phóng xạ nhưng lại có nhược điểm là đầu tư trang thiết bị và tiến hành đo đạc phức tạp và tốn kém.  Trên thế giới, để giải quyết những bài toán phát tán, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các mô hình, phần mềm mô phỏng hết sức đa dạng để dự báo sự lan truyền và vận chuyển của các khối khí mang nhân phóng xạ. Đây là gợi ý để nhóm nghiên cứu do TS. Nguyễn Hào Quang dẫn dắt đã chọn một cách tiếp cận khác “truyền thống”: bên cạnh chọn một mô hình phù hợp để mô phỏng và tính toán bài toán của mình, họ mời các nhà nghiên cứu về khí tượng/khí hậu của Viện Vật lý địa cầu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cùng giải quyết bài toán. “Bản chất của lĩnh vực nghiên cứu này là liên ngành, chỉ có ngành hạt nhân giải quyết thì không bao giờ có được kết quả tốt cả”, TS. Trần Chí Thành nói.   Cách tiếp cận mới lại đòi hỏi một điều kiện mới, đó là hệ thống tính toán hiệu năng cao (HPC) để chạy các mô hình tính toán và xử lý lượng dữ liệu lớn. Trong thời gian đầu, khi Viện NLNT Việt Nam chưa có hệ HPC, nhóm nghiên cứu phải thực hiện tính toán trên hệ máy tính của trường Đại học Bách khoa HN và sau là Viện Vật lý địa cầu. TS. Nguyễn Hào Quang nhận định “Kể  từ khi Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam lắp đặt hệ HPC, mọi tính toán đều được bọn mình đưa về viện để chủ động tính toán. Dù khó có thể phân định rạch ròi là HPC đóng góp bao nhiêu phần trăm vào đề tài nhưng có thể nói, không có nó thì không có kết quả ngày hôm nay”.    Xây dựng “truyền thống” mới   Kết quả ngày hôm nay mà TS. Nguyễn Hào Quang đề cập đến không chỉ bao hàm các lá phiếu đánh giá kết quả khi nghiệm thu đề tài. “Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là mình có được năng lực nghiên cứu thông qua việc áp dụng một phương pháp và công cụ mới để giải quyết được vấn đề có ý nghĩa không chỉ với ngành hạt nhân”, anh nói.   Với người làm nghiên cứu, những vỡ vạc, thậm chí là cả sai lầm, có trong quá trình đi tìm lời giải cũng thực sự có giá trị bởi đó là chỉ dấu cho những hiểu biết và kinh nghiệm tích lũy của người trong cuộc. “Khi quan sát những kết quả mà cộng đồng khoa học quốc tế thu được bằng việc truy ngược, đánh giá tổng lượng phóng xạ phát ra trong sự cố Fukushima, bọn mình đã hiểu là họ nỗ lực đến thế nào. Tuy nhiên khi bước vào cuộc, bọn mình mới hiểu thêm rằng tính toán sự phân bố của tổng lượng phóng xạ theo thời gian xảy ra sự cố thậm chí còn thách thức hơn!”, anh nêu một ghi nhận của mình. Việc thực hiện nghiên cứu này còn tạo cơ hội để anh trao đổi với các đồng nghiệp Thái Lan trong Mạng lưới nghiên cứu về an toàn điện hạt nhân Đông Nam Á (Asean Nuclear Power Safety Research Network ANPS) về các phần mềm dùng để mô phỏng phát tán phóng xạ. “Bọn mình nhận thấy là các phần mềm khác nhau đều cho kết quả phù hợp về xu thế ảnh hưởng của phóng xạ. Tuy độ sai lệch không nhiều lắm nhưng nó cũng cho thấy một số phần mềm đơn giản không thể phát hiện được sự thay đổi trong đường đi của các luồng khí phóng xạ và việc đánh giá thời gian vận chuyển của các khối khí cũng khác nhau”.   Việc thực hiện đề tài theo cách như vậy đã giúp cho những đơn vị thực hiện đề tài có một nguồn nhân lực mới: Viện NLNTVN đào tạo được hai nghiên cứu sinh (một đã bảo vệ tiến sĩ) và Viện Vật lý địa cầu một nghiên cứu sinh. “Hai bạn trẻ làm về vật lý hạt nhân nguyên tử của chúng tôi đều có khả năng thực hiện các mô phỏng tính toán trên phần mềm FLEXPART. Một phần kinh phí thực hiện đề tài đã được trích rút để cử các bạn ấy sang Áo học hỏi. Tôi cho rằng trong tương lai, khi phần mềm này được cập nhật thì các bạn ấy phải theo dõi và cập nhật các phiên bản mới để ứng dụng vào nghiên cứu”, TS. Nguyễn Hào Quang chia sẻ.   Năng lực mới có giúp các nhà nghiên cứu của Viện tự tin giải quyết được những bài toán phức tạp hơn trong tương lai? Tuy vui mừng trước kết quả thu hái được nhưng TS. Nguyễn Hào Quang vẫn cảm thấy mình mới ở những bước đi đầu trên một chặng đường mới “Tuy bọn mình tự cho là có thể tự tin xử lý một số tình huống phát tán phóng xạ nhưng mới chỉ phản ánh được cái xu thế chính của phát tán thôi. Do đó, bọn mình biết rằng vẫn cần tiếp tục phát triển năng lực vẫn còn ở mức rất khiêm tốn”.   Khi nói những lời chia sẻ rất thật này, anh và nhóm nghiên cứu không giấu giếm về những điều mình còn chưa làm được, đó là tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thu được từ mô phỏng với dữ liệu quan trắc thực địa. Tuy nhiên đây cũng là thách thức chung mà cộng đồng hạt nhân cũng như cộng đồng khí tượng/khí hậu đang gặp phải. Giáo sư Phan Văn Tân (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), một nhà nghiên cứu đầu ngành về khí tượng/khí hậu, cũng từng thừa nhận như vậy khi đề cập đến sự sai khác giữa các mô hình động lực mô tả các hình thế có thể gây ra các hiện tượng thiên nhiên như gió, mưa, bão… với thực tế. Có lẽ, cũng như bất cứ nhà nghiên cứu nào hay sử dụng công cụ mô hình mô phỏng, họ không quên câu nói của nhà thống kê học người Anh George Edward Pelham Box “Tất cả các mô hình đều sai nhưng có một số [trong đó] hữu ích”.  Làm gì để nâng cao năng lực?  Việc nâng cao năng lực liệu có chỉ phụ thuộc vào người trong cuộc? Trên thực tế, câu chuyện về xây dựng năng lực nghiên cứu trong bối cảnh nguồn lực đầu tư chưa thực sự dồi dào là điều còn thách thức hơn nhiều bài toán phức tạp. Ai cũng hiểu rằng, không thể ngày một, ngày hai gây dựng được năng lực tốt trong nghiên cứu trong khi lại rất có thể dễ dàng mất năng lực ấy đi trong ngày một ngày hai nếu nó không được nuôi dưỡng đầy đủ. Đây chính là điều mà TS. Nguyễn Hào Quang suy nghĩ “Nó như bài toán ánh xạ 1-1, nếu không có được sự tiếp nối từ những đề tài do nhà nước tài trợ thì rất khó để chúng tôi duy trì được năng lực nghiên cứu”. Sự tăng tiến về năng lực đòi hỏi phải có những bồi đắp bền bỉ theo thời gian. Câu chuyện này cũng tương tự như sự phát triển phần mềm mã nguồn mở FLEXPART, từ phiên bản đầu tiên được thiết kế chuyên biệt cho đơn vị NBC của quân đội Áo cách đây 20 năm đến phiên bản 9.02 hiện nay với nhiều tính năng và độ ổn định cao mà nhóm nghiên cứu lựa chọn sử dụng là cả một quá trình cộng đồng cùng đóng góp, đem lại cho mô hình những tính năng mới, có thể mô tả và tính toán quỹ đạo chuyển động tầm gần và tầm xa của phóng xạ trong bầu khí quyển.    Một trong ba mục tiêu của Viện NLNTVN đề ra là thiết kế, chế tạo thiết bị ghi đo phóng xạ.  Có lẽ, việc nuôi dưỡng và phát triển năng lực nghiên cứu ấy không có gì khác ngoài việc trao cho nó một môi trường nghiên cứu liên tục và đặt ra cho nó những vấn đề mới phải giải quyết. Trong một cuộc trao đổi gần đây với Tia Sáng, TS. Trần Chí Thành đã đề cập đến mục tiêu hình thành được một nhóm nghiên cứu về phát tán phóng xạ ở Viện NLNTVN có cả ba năng lực quan trọng là tính toán mô phỏng, ghi đo quan trắc và chế tạo thiết bị. “Nếu chỉ phát triển mô hình tính toán không thì không bao giờ chúng ta có thể thu được kết quả chính xác cả. Để kiểm chứng độ chính xác của mô hình, chúng ta cần bổ sung và đối chiếu với số liệu ghi đo thực tế hoặc thực nghiệm. Mặt khác, năng lực chế tạo thiết bị có thể đem lại khả năng tự chủ về thiết bị cũng như năng lực bảo hành, sửa chữa thiết bị, tránh trường hợp không có dữ liệu một cách liên tục”, anh  giải thích.  Thói quen làm việc một cách lặng lẽ, ít màu mè của những người làm nghiên cứu hạt nhân đôi khi là điểm trừ của họ. Người ngoài hiếm khi hiểu được ý nghĩa của những nỗ lực từng bước đạt được năng lực “ba trong một” đó. Cũng như việc tích cóp từng ngày một những hiểu biết về công nghệ sản xuất vaccine cúm trên trứng gà có phôi theo tiêu chuẩn GMP WHO trong cả thập kỷ để Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) trong vài tháng phát triển vaccine đại dịch COVID-19, họ chỉ có thể đưa ra những tư vấn cần thiết cho các nhà quản lý khi năng lực của họ được gìn giữ và phát triển. Giữa bối cảnh muôn hình vạn trạng của thực tế, đôi khi giải đáp kịp thời những “tình huống vu vơ” như ‘sự xuất hiện của Iodine-129 ở vùng biển phía Tây Philipines trên Biển Đông vào cuối năm 2020 có phải là kết quả từ hoạt động hạt nhân của con người không?’ là ánh xạ của những tích lũy bền bỉ.   Những tình huống như vậy có thể sẽ không hiếm, ví dụ có thể vào một ngày nào đó, các thiết bị quan trắc phóng xạ ghi nhận được những thông số bất thường thì các nhà nghiên cứu phải trả lời được câu hỏi về nguồn gốc của chúng: phát tán từ đâu? Sự sẵn sàng nào cũng có giá của nó bởi tình huống kích thích trí tò mò này chính là một thách thức không nhỏ bởi nó là một dạng của bài toán ngược (inverse problem) – những vấn đề tính toán các nhân tố nhân quả (causal factors) dựa theo tập hợp các quan sát những đại lượng do chúng gây ra. “Giải bài toán ngược dạng này không đơn giản là đi ngược lại về thời gian tìm về điểm xuất phát mà còn phải tính đến những tính chất bất định trong đặc điểm của nguồn phát của các tham số khí tượng. Nếu thiếu đi một dữ liệu của một điểm quan trắc từ mặt đất lên trên độ cao bên trên thì việc suy ngược rất hạn chế”, TS Nguyễn Hào Quang chia sẻ về một trong những nhiệm vụ trong tương lai mà anh và cộng sự cần phải giải quyết. “Mình nghĩ rằng bọn mình hoàn toàn có thể làm được điều này, tuy nhiên cũng cần phải có thời gian để tìm hiểu thêm và khám phá chức năng này trên mô hình bọn mình đang sử dụng”.   Nhưng đâu chỉ có mỗi sự bất định của nguồn phát, chắc hẳn tới đây anh còn phải tính đến sự bất định trong việc kết nối ở một hướng nghiên cứu liên ngành mà người tham gia không chỉ ở một viện nghiên cứu. “Quả thực đây cũng là một thách thức rất lớn. Đánh giá phát tán phóng xạ phụ thuộc rất lớn vào các chuyên gia khí tượng nên việc duy trì nhóm này cũng phải liên quan rất nhiều đến họ”, anh nói và cho rằng, cần đặt sự hợp tác của hai bên “dưới mũ” của một chương trình nào đấy và coi đó là một sự “ràng buộc” để có thể cùng giải quyết vấn đề chung.   Không thiếu những điều như thế mà họ sẽ phải gặp trong tương lai. “Dù có hay không có chương trình như vậy thì hướng nghiên cứu này vẫn phải tiếp tục được duy trì và phát triển. Mọi thứ vẫn phải tiếp tục, chỉ có điều nếu có các chương trình hỗ trợ thì việc phát triển sẽ nhanh và tốt hơn thôi”, TS. Nguyễn Hào Quang cho biết.  Rõ ràng, không có gì mà người ta hoàn thành với niềm say mê và kiên trì lại không mang về giá trị. “Điểm thưởng” mà anh nhận được ở thời điểm này là thư mời của IAEA về việc tham gia đoàn chuyên gia quan trắc và đánh giá xả thải nước từ nhà máy Fukushima. Nó đã bổ sung thêm một lý do nữa vào sự cần thiết cần phải đầu tư vào năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực này của Việt Nam. “Trong bối cảnh có nhiều khó khăn thì để làm được một việc có ý nghĩa không bao giờ đơn giản. Tuy nhiên tôi thấy việc mở hướng nghiên cứu này sẽ đem lại cho chúng ta những người có năng lực tốt. Đặc biệt trong thời gian tới, nếu chúng ta chuẩn hóa được dữ liệu ghi đo trên nhiều loại thiết bị khác nhau trong vòng mấy chục năm qua và dùng AI để phân tích chúng thì chắc chắn sẽ làm giàu thêm năng lực của chúng ta”, TS. Trần Chí Thành nói. □    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Đầu tư và cơ chế tài chính: Kìm hãm khoa học phát triển      Mới đây Bộ KH&amp;CN đã phối hợp cùng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng tổ chức hội thảo “Đầu tư và cơ chế tài chính phát triển KH&amp;CN”  – một khâu đột phá nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động  khoa học, giải phóng sức sáng tạo của các tổ chức và nhà khoa học – để  góp phần vào việc chuẩn bị nội dung cho Hội nghị TƯ 6 về KHCN.     Đầu tư cho KH&CN còn hạn chế và dàn trải  Theo số liệu báo cáo của Bộ KH&CN, số liệu tuyệt đối về tổng chi cho KH&CN đã tăng từ 5.890 tỷ đồng năm 2006 lên 14.442 tỷ đồng vào năm 2011, đạt mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước (NSNN), tương đương 0.5 – 0.6% GDP. Trong đó chi đầu tư – phát triển chiếm tỉ trọng bình quân 35.5% và chi thường xuyên 48%, đạt mức 5.019,7 tỷ đồng vào năm 2011.   Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho rằng, “mức đầu tư cho KH&CN đạt 0.5 – 0.6% GDP là không thấp so với các quốc gia trên thế giới. Nhưng con số tuyệt đối tính trên đầu người dân cũng như tổng đầu tư xã hội cho KH&CN vào loại thấp nhất khu vực và thế giới (mức bình quân của các quốc gia trên thế giới là 1.9% GDP, trong đó các quốc gia phát triển chi tới 2.7 – 3.5% GDP cho KH&CN).   Dù được coi là quốc sách hàng đầu, nhưng đại diện của Liên hiệp các hội KH&KT (VUSTA) cho biết, đầu tư hằng năm cho KH lại xếp dưới cả các ngành văn hóa – thể thao, thủy lợi, hóa học…   Không những thế, theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông, việc sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN lại quá dàn trải: “Việc đăng ký đề tài đều được thông báo đến cho 29 Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành, Đơn vị nào cũng muốn có một chút tiền. Chúng tôi ở vị trí chia tiền, quyết định để ai, cắt ai là rất khó. Không có nước nào, đặc biệt là các nước đang phát triển lại đầu tư vào hầu hết các ngành, lĩnh vực mà phải có mũi nhọn, trọng điểm”.   Đồng tình với quan điểm của ông Đông, đại diện của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ông Lê Bộ Lĩnh khẳng định: “Với số tiền 400 tỷ/năm mà phải chi cho tới 7.500 cán bộ khoa học và 150 tổ chức khoa học nông nghiệp cùng hàng nghìn đề tài khoa học. Tất cả mọi nơi đều kêu thiếu tiền, đầu tư như vậy sao có hiệu quả”.           2% GDP vào năm 2020 là mục tiêu đầu tư toàn xã hội cho KH&CN    (Theo Chiến lược Khoa học và Công nghệ 2011 – 2020)        Cùng với đầu tư dàn trải, theo GS. Nguyễn Văn Hiệu  quản lý vốn đầu tư cho KH&CN còn bất hợp lý, thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, các TP trực thuộc trung ương có quyền hạn quyết định các dự án đầu tư lớn cho KH&CN, dẫn đến lãng phí lớn. Ông dẫn chứng: trong phạm vi lĩnh vực nghiên cứu của tôi đã có trường hợp hai Bộ cùng quyết định đầu tư hai dự án gần giống và đơn vị được đầu tư lại không có người có năng lực sử dụng hiệu quả các thiết bị, dự án đầu tư đó. Cách đầu tư như vậy không phải là cá biệt, dẫn đến tình trạng có những dự án trị giá tới trên 50 tỷ, thậm chí trên 200 tỷ đã đắp chiếu từ nhiều năm nay. Ngoài phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia do Bộ KH&CN quản lý, có vốn trên 50 tỷ, thì lại còn ba dự án khác có vốn lên tới 500 tỷ, tức là gấp 10 lần phòng TN trọng điểm quốc gia, mà tôi tin là Bộ KH&CN không được biết. “Vì vậy tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ cần giao cho Bộ KH&CN chủ trì quyết định mọi dự án đầu tư cho KH&CN từ ngân sách Nhà nước”.   Khó huy động được vốn tư nhân  Tại hội thảo, Bộ trưởng Nguyễn Quân đưa ra một con số ấn tượng: tổng đầu tư xã hội cho KH&CN của Việt Nam (800 triệu USD) còn thấp hơn tổng đầu tư cho KH&CN của Tập đoàn SamSung (Hàn Quốc) với mức 1 tỷ USD/năm. “Thông thường các ở các quốc gia, mức đầu tư của xã hội cho KH&CN lớn gấp 2, 3 lần, cá biệt có quốc gia gấp 5 – 10 lần NSNN” – ông cho biết. Trong khi đó, số liệu được báo cáo tại hội thảo cho thấy, chỉ có 25% tổng đầu tư toàn xã hội cho KH&CN của Việt Nam đến từ khu vực tư nhân. Nguyên nhân của tình trạng này được các đại biểu đánh giá là một phần do chính sách KH&CN hiện nay chưa khuyến khích được doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN, phần chủ yếu do đa số doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn ít, năng suất lao động thấp nên không có khả năng đầu tư lớn, dài hạn cho KH&CN.   Hiện nay, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cho phép các doanh nghiệp được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho KH&CN. Quy định này được các đại biểu đánh giá là không hiệu quả, do không có tính chất bắt buộc và không có chế tài đối với các doanh nghiệp vi phạm. Hầu hết các doanh nghiệp không trích hoặc trích không đủ. Bên cạnh đó, với những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nếu có trích đến 10% lợi nhuận trước thuế thì khoản trích ấy cũng chỉ từ vài chục đến vài trăm triệu đồng, không đủ để đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của chính doanh nghiệp.   Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, “Chúng tôi kiên trì theo đuổi ý tưởng các doanh nghiệp phải dành ít nhất 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho phát triển KH&CN của chính doanh nghiệp và đóng góp cho sự phát triển KH&CN, trong đó xây dựng cơ chế để các doanh nghiệp có thể tự sử dụng khoản kinh phí 10% hoặc đóng góp nguồn kinh phí này cho các quỹ phát triển KH&CN địa phương”.     Cơ chế tài chính bất cập  Một trong những bất cập trong cơ chế tài chính là việc cấp phát kinh phí cho các dự án, đề tài thường đến tay các nhà khoa học chậm hàng năm vì để phê duyệt kế hoạch nghiên cứu hàng năm thì Bộ KH&CN phải xây dựng kế hoạch trước khoảng 18 tháng để chuyển Bộ Tài chính trình Chính phủ. Điều đó có nghĩa là để có các nhiệm vụ KH&CN năm 2011 – 2012 Bộ KHCN phải chuẩn bị kế hoạch từ cuối năm 2009 và hoàn thành muộn nhất ngày 31.7.2010. Nhưng đến tháng 7.2011, Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt Quyết định về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2011 – 2015, và Bộ Tài chính yêu cầu các nhiệm vụ KHCN của 2011 – 2012 phải tuân thủ các quy định trong quyết định của Thủ tướng. Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, “Chúng tôi đã phải giải trình với lãnh đạo Chính phủ rằng chúng ta không thể hồi tố bằng một quyết định ra ngày 25.7.2011 đối với các nhiệm vụ đã được phê duyệt trước ngày này. Cuộc tranh cãi này đã kéo dài đến tận tháng 2.2012 chúng tôi mới được giao kinh phí các nhiệm vụ năm 2011. Còn 92 nhiệm vụ của 2012 cho đến nay vẫn chưa được giao kinh phí và vẫn đang chờ ý kiến của Thủ tướng”.   Một bất cập khác của cơ chế tài chính là rất nhiều nội dung chi quan trọng nhưng chúng ta chưa quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật cho nên khi chúng ta thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, các đề tài dự án, có nhiều nội dung chúng ta không được thanh quyết toán, ví dụ: chi thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài, chi đăng ký sáng chế hoặc công bố quốc tế, chi dự phòng lạm phát, chi tuyên truyền kết quả nghiên cứu,… Thêm vào đó là những thủ tục thanh quyết toán quá chi li, cứng nhắc, khiến từ nhiều năm nay không ít nhà khoa học buộc phải nói dối, buộc phải chia đề tài nghiên cứu thành rất nhiều chuyên đề để có được một bản quyết toán “đẹp” với kho bạc. Cách làm này là một trong những nguyên nhân khiến “chất lượng nhiều đề tài nghiên cứu thấp” (ý kiến của Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng tại Hội thảo).  Cơ chế khoán được đề cập đến trong các thông tư liên tịch của Bộ Tài chính và Bộ KH&CN được nhiều đại biểu đánh giá là một cải tiến đáng kể về cơ chế tài chính, tuy nhiên lại gặp không ít khó khăn khi triển khai trong ngành nông nghiệp. Theo đại diện của Bộ NN&PTNN, “Đối tượng nghiên cứu của ngành nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi, sản xuất mang tính mùa vụ, chu kỳ kinh doanh dài; nhiều đề tài nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi không thể cho kết quả ngay trong năm. Vì vậy việc quyết toán theo năm tài chính là bất hợp lý”.   Đáp lại những phản ánh của các đại biểu về cơ chế tài chính bất cập hiện hành, bà Nguyễn Thị Minh – Thứ trưởng Bộ Tài chính trần tình: “Hiện nay chúng ta chưa có một bộ tiêu chí nào để kho bạc kiểm soát chi một cách thuận tiện cho nhà khoa học, đồng thời bảo đảm sự minh bạch trong chi tiêu,… Chúng ta phê  bình người làm kiểm soát chi, nhưng Bộ Tài chính chỉ góp một tiếng nói hoàn thiện, chứ không nghĩ ra cơ chế tài chính. Cơ chế tài chính là do các nhà khoa học nghĩ ra, đề xuất để làm sao phục vụ tốt nhất cho hoạt động nghiên cứu khoa học”.   Nhằm khắc phục những tồn tại này, Bộ KH&CN đã đề xuất giải pháp và nhận được sự ủng hộ của nhiều đại biểu tại hội thảo, theo đó, nhà nước cần chuyển cơ chế cấp phát tài chính cho các Quỹ khoa học công nghệ. Hiện Bộ KH&CN có Quỹ phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED) và Quỹ đổi mới KH&CN quốc gia, có chức năng xét duyệt các đề tài khoa học. Tuy nhiên, do việc cấp phát kinh phí cho đề tài vẫn thông qua kho bạc, nên các quỹ này không phát huy được hiệu quả như mong muốn. Việc chuyển giao chức năng cấp phát kinh phí cho các quỹ sẽ giải pháp cơ bản các vướng mắc về thủ tục tài chính hiện nay.         GS. Vũ Cao Đàm: Phải thay đổi từ tầm triết lý   Ở Việt Nam hiện nay, nhà nước đang chỉ huy  khoa học. Tất cả chúng ta quan niệm cứ nói đến khoa học là nói đến nhà  nước, đến xin tiền nhà nước, nhà nước bao cái này, nhà nước làm cái  kia,… Thực chất là chúng ta mang rất đậm dấu ấn nhà nước làm khoa học,  chỉ huy khoa học.    Ở các nước khoa học phát triển, nhà nước không chỉ huy khoa học, mà để cho khoa học tự trị. Tôi nghĩ phải có quan điểm thì khoa học mới phát triển được.    Gian dối, suy thoái đạo đức chẳng qua là cái  ngọn. Cái gốc là toàn bộ thiết chế quản lý của chúng ta đặt các nhà  khoa học tự nguyện đặt mình ở vị trí của kẻ đi xin xỏ, xin được đãi ngộ,  xin được trọng dụng, xin được trọng đãi. Đấy là những hệ khái niệm  không có trong khoa học tự trị, không có trong hệ thống mà nhà khoa học  muốn được tôn trọng. Đây là vấn đề rất mấu chốt, khi giải được bài toán  khoa học tự trị thì tự nó giải được bài toán về cơ chế tài chính cho  khoa học.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đầu tư vào con người song song với việc thay đổi cơ chế quản lý khoa học      Quản lý khoa học chỉ phát huy tốt và hiệu quả trong một cơ chế mở với điều kiện trong đó mọi người làm việc thành thật trong tinh thần tin cậy lẫn nhau.    Trong nông nghiệp, người ứng dụng kết quả nghiên cứu là doanh nghiệp và người sử dụng sản phẩm khoa học một cách đại trà là nông dân. Công tác nghiên cứu ở đại học và viện nghiên cứu quan trọng đã đành, mà công tác giáo dục nông dân – là thành phần chủ lực trong sản xuất nông nghiệp – để họ trở thành những người có trình độ cao, tay nghề vững để tham gia vào chuỗi giá trị cũng quan trọng không kém.  Qua kinh nghiệm về quản lí khoa học ở Úc, ngân sách nhà nước mỗi năm chi 5-6 tỷ đô la (chiếm 5% GDP) cho nghiên cứu khoa học. Ngoài việc xây dựng cơ chế hoạt động chặt chẽ, minh bạch cho các cơ quan tài trợ và quản lí dự án khoa học, để cơ chế quản lí khoa học hiệu quả, Nhà nước phải chú trọng đào tạo con người và xây dựng xã hội với những đặc tính: 1) Xem nghiên cứu là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để đánh giá giáo viên/nghiên cứu viên và đại học/viện nghiên cứu; 2) Phải giới hạn giờ dạy của giáo viên đại học, và không cho phép công chức làm việc “ngoài luồng”. Muốn vậy lương phải đủ sống; 3) Nghiên cứu phải là một hoạt động trực tiếp/gián tiếp tăng thêm thu nhập cho giáo viên/nghiên cứu viên; 4) Xây dựng thang điểm lương riêng cho thành phần giáo viên/nghiên cứu viên để giữ chân những nhà khoa học tốt, dày kinh nghiệm trong nghiên cứu.   Quản lý khoa học chỉ phát huy tốt và hiệu quả trong một cơ chế mở với điều kiện trong đó mọi người làm việc thành thật trong tinh thần tin cậy lẫn nhau.  (*) ĐH Nông nghiệp Hà Nội, Đại học RMIT – Úc    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đẩy lùi cơ chế “xin cho”      Sự ra đời của Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc  gia là một bước đổi mới quan trọng được kỳ vọng sẽ tạo ra sự chuyển biến  lớn về chất trong việc hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu và  phát triển, ươm tạo, chuyển giao, phổ biến nhân rộng công nghệ mới, giảm  bớt đáng kể nguy cơ sử dụng kinh phí nhà nước sai mục đích, kém hiệu  quả, bởi người được vay vốn từ Quỹ bắt buộc phải tính toán sử dụng hợp  lý để có thể hoàn trả khoản vay. Bên cạnh đó, mô hình quản lý quỹ lần  này đã áp dụng những tiến bộ từ kinh nghiệm quản lý kinh phí KH&amp;CN  trên thế giới, đặc biệt là sự giảm nhẹ vai trò của nhà quản lý hành  chính, tăng cường tiếng nói của nhà khoa học và doanh nghiệp trong hội  đồng quản lý quỹ, qua đó giảm bớt đáng kể nguy cơ lạm quyền từ nhà quản  lý hành chính.     Tuy nhiên, các nguy cơ gắn với cơ chế xin cho vẫn đang tồn tại, trước hết ở hoạt động hỗ trợ tài chính theo hình thức tài trợ và cho vay.  Với hình thức cho vay thì nguy cơ xảy ra  chuyện “xin cho” không nhỏ khi mà tiêu chí phê duyệt, nghiệm thu các dự án cho vay là không dễ thẩm định, ví dụ tiêu chí yêu cầu các dự án tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới phải đạt những giá trị gia tăng tối thiểu. Đây là yêu cầu hợp lý, nhưng đòi hỏi năng lực thẩm định của hội đồng đánh giá phải rất cao, và một đội ngũ hỗ trợ chuyên nghiệp để thu thập, tổng hợp đầy đủ những dữ liệu cần thiết không chỉ về công nghệ mà cả tài chính, thị trường để phục vụ công tác đánh giá, dự báo (chưa kể sẽ có nhiều trường hợp không thể tổng hợp được đầy đủ dữ liệu như mong muốn). Tương tự như vậy, công việc dành cho các nhà kiểm toán cũng rất nhiều, dễ có nguy cơ xảy ra sơ sót, thiếu thông tin để kết luận trong công tác thẩm tra.    Với hình thức tài trợ, người được tài trợ không chịu sức ép phải hoàn trả kinh phí cho Nhà nước, trong khi sản phẩm của hoạt động được tài trợ lại không dễ được thẩm định, khó áp dụng chế tài kiểm soát hiệu quả, đặc biệt với những hoạt động thuộc diện được tài trợ như đào tạo cán bộ KH&CN phục vụ chuyển giao, ứng dụng công nghệ, thuê chuyên gia tư vấn kỹ thuật trong và ngoài nước. Chúng ta không rõ cơ cấu vốn của quỹ dành cho hình thức tài trợ này là bao nhiêu, nhưng hi vọng rằng tỉ lệ vốn đó là không lớn, bởi tỉ lệ vốn tài trợ không hoàn lại cho các hoạt động như vậy càng cao thì nguy cơ của cơ chế xin cho càng nhiều, chưa kể áp lực cân bằng tài chính cho quỹ càng tăng.  Ở cả hai hình thức tài trợ và cho vay, việc đưa ra các quyết định khách quan, chính xác là nhiệm vụ rất nặng nề cho các hội đồng KH&CN của quỹ, nhưng tất cả các ủy viên hội đồng KH&CN đều do một người đề cử là giám đốc quỹ. Việc này tập trung quá nhiều trách nhiệm không hợp lý lên vai giám đốc quỹ, bởi nhiều dự án khác nhau sẽ đòi hỏi sự hiểu biết tường tận về các chuyên gia công nghệ, tài chính, thị trường trong nhiều lĩnh vực đặc thù chuyên biệt. Như vậy dễ xảy ra việc chọn không đúng người vào vị trí chuyên gia, và sự lựa chọn dễ mang tính hình thức. Nên chăng cần có những vị trí phụ trách cố định cho những lĩnh vực riêng biệt khác nhau, là những người am hiểu và có thẩm quyền lựa chọn các chuyên gia trong lĩnh vực riêng của mình, đồng thời có những tiếng nói phản biện của chuyên gia độc lập bên ngoài, thay vì giao toàn bộ trách nhiệm lựa chọn, đề cử chuyên gia lên vai một người duy nhất (kể cả khi người đó có một đội ngũ nhân viên tư vấn dưới quyền thì tính khách quan vẫn chưa thể đảm bảo).  Thực tiễn sẽ tiếp tục chỉ ra những vấn đề mới, thách thức mới của quỹ, nhưng trước hết, các vấn đề trên đây là những thách thức đầu tiên mà quỹ cần giải quyết tốt, để đảm bảo chúng ta không thay thế hình thức xin cho cũ bằng một hình thức xin cho mới.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề bạt chức danh khoa bảng      Ở trong nước việc đề bạt chức danh khoa học c&#242;n &#8220;v&#224;ng thau lẫn lộn&#8221;, chưa t&#236;m hết thực t&#224;i l&#224; do quy tr&#236;nh x&#233;t duyệt v&#224; &#8220;hệ thống&#8221; ti&#234;u chuẩn thiếu t&#237;nh khoa học, kh&#225;ch quan v&#224; &#8220;chưa r&#245; r&#224;ng&#8221;. Xin n&#234;u một v&#224;i kinh nghiệm của nước ngo&#224;i đề &#8220;nh&#236;n người c&#242;n nghĩ đến ta&#8221;.    Đối với người chưa quen với hệ thống khoa bảng, chức danh giáo sư thường được hiểu là dành cho những người làm công việc giảng dạy đại học, nhưng trong thực tế ngày nay, chức danh này còn được tiến phong cho những người làm nghiên cứu khoa học. Do đó, cũng như nhiều đại học khác, UNSW có chính sách công nhận cống hiến của nhiều thành phần khác nhau, và họ đề ra 3 ngạch để đề bạt chức danh giáo sư: ngạch nghiên cứu (research track), ngạch giảng dạy (teaching track), và ngạch hỗn hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy.   Những ngạch này có những tiêu chuẩn tiến phong khác nhau. Vì thế, ứng viên phải rất cẩn thận chọn ngạch mình muốn được xét duyệt. Chẳng hạn như nếu chuyên về giảng dạy mà chọn ngạch nghiên cứu thì chỉ có chuốc lấy thất bại. Tỉ lệ thành công từ associate professor lên professor theo tôi xem qua kết quả trong quá khứ dao động từ 60 đến 70%.      Tiêu chuẩn             Các đại học ở Úc và Anh có 4 bậc khoa bảng: lecturer, senior lecturer, associate professor (hay reader), và professor. Nhưng ở các đại học Mỹ có 3 chức danh professor: đó là assistant professor, associate professor, và professor. Ở cả hai hệ thống, professor là chức danh cao nhất trong hệ thống học hàm đại học. Ở Úc, cũng như ở Mỹ, một khi người có chức vụ (position) assistant professor, hay associate professor, hay professor, thì danh xưng (title) vẫn là professor.           Mỗi chức vụ đều có những tiêu chuẩn riêng, mà những tiêu chuẩn này cũng khác biệt giữa các đại học. Do vậy, một giáo sư ở trường A chưa chắc sẽ được bổ nhiệm ở trường B. Tiêu chuẩn đề bạt vào các chức vụ khoa bảng tùy thuộc vào từng ngạch. Trong ngạch nghiên cứu, có 4 tiêu chuẩn chính: thành tựu nghiên cứu khoa học (research), lãnh đạo (leadership), giảng dạy (teaching), và phục vụ (services). Mỗi tiêu chuẩn được đánh giá bằng 4 bậc như sau:   · Cống hiến trung bình (sustained contribution) – tức là những đóng góp ở mức độ kì vọng của chức vụ hiện tại;   · Cống hiến giỏi, tốt (superior contribution) – tức là những đóng góp ở mức trên trung bình;   · Cống hiến xuất sắc (outstanding contribution) – tức là những đóng góp trên trung bình của chức vụ mà ứng viên muốn được đề bạt;   · Cống hiến nổi bật (outstanding plus contribution) – tức là những đóng góp đem lại tên tuổi cho trường đại học, những đóng góp thuộc vào hàng “top 5%” của chuyên ngành.   Về tiêu chí để đề bạt từ associate professor lên professor thì ứng viên phải chứng minh mình ở bậc tối thiểu là outstanding về nghiên cứu + trung bình về giảng dạy + trung bình về phục vụ. Rất khó để xếp một ứng viên vào bậc nào, nhưng càng khó hơn khi trường đòi hỏi mỗi ứng viên phải tự mình đánh giá!   Mới đọc qua thì khá dài dòng và phức tạp như thế, nhưng tiêu chuẩn chính để đề bạt vẫn là: thành tựu nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, và phục vụ. Chỉ tiêu chính để đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học là số lượng cùng chất lượng các công trình nghiên cứu, và bằng sáng chế.   Số lượng công trình nghiên cứu. Không có một qui định cứng nào trên giấy trắng mực đen là phải có bao nhiêu bài báo để đủ tiêu chuẩn đề bạt, nhưng hình như có những “qui ước” bất thành văn mà phần lớn người trong hệ thống khoa bảng đều biết qua:  ·                     Lecturer phải có >10 công trình đã công bố;  ·                     Senior lecturer: >20 công trình;  ·                     Associate professor: >50 công trình;  ·                     Professor: >80 công trình.   Cần nói thêm rằng những tiêu chuẩn theo qui ước bất thành văn này cũng tùy thuộc vào trường đại học, thậm chí tùy khoa. Trường lớn và lâu đời thường đòi hỏi cao hơn, trường nhỏ và chưa có tiếng thường có tiêu chuẩn thấp hơn. Ngay trong một trường, khoa luật có thể có tiêu chuẩn khác với khoa y, và tiêu chuẩn khoa y cũng không giống khoa kĩ thuật.   Ở các trường danh tiếng như Harvard, Stanford, Yale, UCLA, v.v… mà tôi có đồng nghiệp (và từng làm người bình duyệt đơn đề bạt của họ) thì tôi thấy phần lớn các associate professor đều có trên 50 công trình, và professor đều có trên 100 công trình khoa học và là những người có “high profile” trong chuyên ngành qua những hoạt động trong hiệp hội chuyên môn.   Chất lượng nghiên cứu khoa học. Hội đồng khoa bảng dựa vào những chỉ số như hệ số ảnh hưởng (impact factor, IF) của tập san và chỉ số H của cá nhân ứng viên. Không có con số cụ thể về IF để đánh giá chất lượng cao hay thấp, bởi vì IF quá tùy thuộc vào từng bộ môn khoa học, nhưng nói chung, hội đồng chú ý đến những bài báo được công bố trên những tập san hàng đầu trong chuyên ngành. Chỉ số H rất quan trọng, vì đây là chỉ số quyết định một phần sự thành bại của ứng viên. Các trường đại học danh tiếng và lớn ở Mỹ thường đòi hỏi ứng viên phải có chỉ số H tối thiểu là 15 (thường là 20) để được đề bạt chức danh professor.   Không có ngưỡng cụ thể về số bằng sáng chế bao nhiêu để đề bạt, nhưng hội đồng khoa bảng rất chú ý đến những nghiên cứu làm thay đổi định hướng của chuyên ngành, những nghiên cứu mở ra một hướng đi mới cho khoa học, những nghiên cứu mà kết quả được ứng dụng rộng rãi và đem lại lợi ích cho công chúng.   Tiêu chuẩn lãnh đạo ở đây không phải là lãnh đạo hành chính, mà là đi đầu trong một lĩnh vực nghiên cứu. Không có những thước đo cụ thể về tiêu chuẩn này, nhưng những “tín hiệu” sau đây được xem là liên quan đến “lãnh đạo”: được mời viết xã luận (editorial), bình luận (commentary), bài tổng quan (invited review), được mời thuyết giảng trong các hội nghị lớn tầm quốc tế (còn gọi là invited lecture, keynote lecture, v.v…) mà ban tổ chức tài trợ hoàn toàn, được mời tham gia soạn thảo chương trình khoa học cho hội nghị, đóng vai trò chủ tọa hội nghị, v.v…   Phục vụ cho chuyên ngành. Hội đồng thường xem xét đến những đóng góp cho các tập san khoa học trong vai trò phản biện, bình duyệt (referee hay reviewer), hay cao hơn là được mời làm thành viên của ban biên tập cho tập san, hoặc cao hơn là đóng vai trò tổng biên tập và phó biên tập của các tập san khoa học quốc tế. Phục vụ trong các hiệp hội khoa học cũng được xem là một chỉ tiêu quan trọng. Ngoài ra, hội đồng cũng xét duyệt đến những cống hiến bình duyệt đơn xin tài trợ, tham gia bình duyệt luận án tiến sĩ cho các đại học nước ngoài, tham gia bình duyệt đơn xin đề bạc của đồng nghiệp nước ngoài. Đó là những “chỉ tiêu” được xem là đóng góp, phục vụ cho chuyên ngành.   Ngoài các tiêu chuẩn chính trên đây, ứng viên còn phải báo cáo về thành tích thu hút tài trợ cho nghiên cứu (grant, funding), về số nghiên cứu sinh tiến sĩ và hậu tiến sĩ đã đào tạo trong thời gian qua, và những hợp tác quốc gia và quốc tế. Những “chỉ số” này cũng nói lên một phần mức độ tích cực hoạt động khoa học của ứng viên, nên hội đồng đề bạt cũng xem đó là những tiêu chuẩn cần thiết cho một professor.   Qui trình đề bạt   Qui trình đề bạt nói chung khá đơn giản (ít ra là đơn giản hơn so với Việt Nam), nhưng chuẩn bị hồ sơ và dữ liệu mới tốn nhiều thời gian. Nói tóm lại chỉ có 3 bước chính: đầu tiên là đệ đơn (nộp hồ sơ xin đề bạt), sau đó là bình duyệt, và sau cùng là phỏng vấn ứng viên.   Hồ sơ đề bạt gồm có 4 phần: (a) một đơn xin đề bạt; (b) một cái form liệt kê công trình khoa học; (c) một form hành chính chủ yếu lí lịch khoa học; và (d) một dossier gồm bản sao những công trình khoa học chính mà ứng viên xem là điểm nổi trong sự nghiệp của mình (họ không đòi phải photocopy hàng trăm hay chục bài báo, họ chỉ muốn xem cao lắm là 5 bài tiêu biểu mà thôi).   Đơn xin đề bạt. Ứng viên phải soạn một đơn xin đề bạt (application for promotion). Trong đơn này, ứng viên phải giải trình thành tích khoa học của mình một cách cụ thể dựa theo những tiêu chuẩn trên. “Cụ thể” ở đây có nghĩa là phải trình bày những số liệu, biểu đồ, phân tích nhằm thuyết phục hội đồng khoa bảng rằng ứng viên đạt tiêu chuẩn của một giáo sư. Đơn có thể chia thành 5 phần:   · Nghiên cứu khoa học và thành tựu (research achievements and outputs). Trong phần này, ứng viên trình bày những thành tựu chính của mình là gì, đã công bố bao nhiêu bài báo khoa học, chỉ số trích dẫn (citation index), hệ số ảnh hưởng (impact factor), chất lượng nghiên cứu, mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu, và khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu.   · Lãnh đạo (leadership). Một professor phải là một nhà lãnh đạo khoa học. Do đó, trong phần này, ứng viên phải trình bày bằng chứng cho thấy mình là chuyên gia hạng đầu ngành, được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận qua những bằng chứng cụ thể như được mời nói chuyện trong các hội nghị mà do ban tổ chức chi trả, hay được mời làm chủ tọa trong các hội nghị quốc tế.   · Giảng dạy và đào tạo (teaching and mentorship). Trong phần này, ứng viên phải trình bày dữ liệu về số sinh viên cấp thạc sĩ và tiến sĩ mà mình đã hướng dẫn thành công. Những sinh viên này hiện giờ ở đâu, làm gì, thành đạt gì trong sự nghiệp. Ngoài ra, ứng viên còn phải trình bày số nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) đến “đầu quân” làm việc cho nhóm của mình, và sự nghiệp của các postdoc này hiện nay như thế nào. Trong phần này, ứng viên cũng có thể viết về những khóa học ngắn hạn hay những seminar mang tính giáo dục cho đồng nghiệp mà ứng viên đã thực hiện.   · Phục vụ (services). Một nhà khoa bảng không phải chỉ ngồi trong tháp ngà, mà phải có cống hiến cho xã hội và cho chuyên ngành. Do đó, trong phần này, ứng viên phải trình bày bằng chứng về những đóng góp của mình cho chuyên ngành qua những việc làm như bình duyệt bài báo khoa học cho các tập san và phục vụ trong ban biên tập tập san. Ngoài ra, ứng viên phải cho biết trong thời gian qua đã có đóng góp gì cho xã hội qua những lần xuất hiện trên báo chí và hệ thống truyền thông, đóng góp gì cho chính sách y tế hoặc chính sách khoa học của Nhà nước, hay những đóng góp cho bạn bè và đồng nghiệp quốc tế.   · Định hướng tương lai (future direction). Trong phần này, ứng viên phải trình bày những định hướng trong tương lai nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của chính mình, và góp phần nâng cao tính cạnh tranh của trường đại học mình đang phục vụ.   Tất cả những điểm trên đây chỉ giới hạn trong vòng 10 trang giấy, kể cả 1 trang tóm lược (summary). Trang tóm lược này rất quan trọng, vì phần lớn người bình duyệt chỉ đọc trang này để đánh giá xem ứng viên có xứng đáng hay không, rồi mới đọc tiếp 9 trang sau. Ứng viên chỉ được viết đơn với kiểu chữ có kích thước font là 11 hay 12, chứ không cho “ăn gian” dùng font nhỏ hơn để “chèn” nhiều nội dung hơn người khác!   Danh sách công trình khoa học. Ngoài đơn xin đề bạt, ứng viên phải liệt kê tất cả những công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố. Những công trình này không tính đến những bài báo trong các hội nghị (“abstracts” hay “proceedings”). Mỗi công trình phải được viết theo kiểu tài liệu tham khảo (tức tên tác giả, tựa đề bài báo, tập san, năm và số trang). Ngoài những chi tiết này, ứng viên còn phải cho biết vai trò của mình trong công trình là gì, hệ số ảnh hưởng (impact factor) của tập san là bao nhiêu, và bài báo đã được trích dẫn bao nhiêu lần tính từ ngày công bố. Chính hai chỉ số sau này làm cho ứng viên phải tốn rất nhiêu công sức và thời gian, vì phải truy tìm trong cơ sở dữ liệu của Viện thông tin khoa học (ISI). Tuy nhiên, trường đại học sẵn sàng tài trợ cho chi phí này, nên ứng viên không tốn tiền để thu thập thông tin. Kinh nghiệm của tôi là có thể nhờ đồng nghiệp hay thư viện giúp đỡ thì sẽ tiết kiệm nhiều thì giờ cho các việc khác.   Trong form này, ứng viên còn phải đề ra 5 công trình tiêu biểu cho sự nghiệp của mình. Ứng viên có thể trình bày ngắn gọn về ý nghĩa và tầm quan trọng của từng công trình, mình đóng vai trò gì trong đó, và đã được cộng đồng khoa học đón nhận ra sao. Tất nhiên, tất cả lí giải đều phải kèm theo bằng chứng cụ thể về chỉ số trích dẫn, chứ không phải nói suông.   Ứng viên phải nộp bản sao của những công trình nghiên cứu tiêu biểu này (và một số công trình khác mà ứng viên thấy cần thiết) tại văn phòng của khoa trưởng. Việc nộp các bản sao này nhằm mục đích nếu thành viên trong hội đồng khoa bảng muốn đọc hay đánh giá thì có thể xem qua những bài báo.   Bình duyệt   Bình duyệt đơn được thực hiện qua 2 phía: cá nhân và đại học.   Về phía cá nhân, ứng viên có quyền chọn cho mình 4 người bình duyệt (referee), và trường đại học có trách nhiệm phải gửi hồ sơ đến 4 người bình duyệt này. Bốn người này có thể là đồng nghiệp của ứng viên, và cũng có thể là người nước ngoài hay ngoài trường đại học.   Về phía đại học, ứng viên phải đề cử 4-6 người bình duyệt cho trường đại học chọn. Phải nói rõ tại sao đề cử mấy người này. Dựa vào danh sách này, hội đồng đề bạt sẽ chọn 2 hoặc 3 người bình duyệt hồ sơ. Ứng viên không biết hội đồng sẽ chọn ai trong danh sách. Phần lớn trường hợp, hội đồng chỉ chọn các nhà khoa học nước ngoài, chứ ít khi nào chọn người trong nước.   Như vậy, tính trung bình một đơn đề bạt được 6-7 người xét, trong số này ứng viên biết chắc 4 người (mà mình chọn) còn 2-3 người kia thì ẩn danh. Mỗi người bình duyệt sẽ viết một báo cáo đánh giá ứng viên dựa vào các tiêu chuẩn (nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lãnh đạo, phục vụ) và tiêu chí (trung bình, giỏi, xuấc sắc, nổi trội) mà trường đại học đưa ra. Một trong những điểm mà trường yêu cầu người bình duyệt phải chỉ ra cho được là ứng viên tương đương với ai (cụ thể là những giáo sư nào, tên tuổi, ở đâu, địa chỉ) trong ngành trên thế giới. Đây cũng là cách trường muốn kiểm tra và so sánh thêm về thành tích khoa học của ứng viên. Đến phần cuối của báo cáo bình duyệt, hội đồng khoa bảng yêu cầu người bình duyệt phải xếp hạng ứng viên vào hạng mấy trên thế giới (chuyên ngành): top 1%, 5% 10%, hay 20%.   Báo cáo của những người này rất quan trọng. Chỉ cần 1 người chất vấn là đơn của ứng viên có thể có vấn đề. Chỉ một người trong số 6-7 người bình duyệt đó đánh giá ứng viên không xứng đáng với chức danh thì coi như ứng viên sẽ thất bại trong đề bạt.   Do đó, việc chọn người bình duyệt rất quan trọng. Tôi đã từng nghe những câu chuyện thật nhưng có khi đau lòng, về tình đồng nghiệp có khi biến thành thù địch. Có một câu chuyện nổi tiếng mới xảy ra khoảng thập niên 1990, và vẫn còn lưu truyền trong giới khoa bảng như là một bài học. Câu chuyện về một chuyên gia miễn dịch học xin đề bạt lên chức vụ giáo sư, anh ta tiến cử 4 người bình duyệt cho mình, những người này anh ta quen biết khá thân và thậm chí từng làm chung trong vài dự án. Khi báo cáo bình duyệt về, có một báo cáo nói rất tốt về anh, nhưng vị đồng nghiệp chẳng hiểu vì lí do gì viết một câu cực kì bất lợi: “thành tích khoa học của giáo sư A rất tốt, nhưng nếu giáo sư ở trường tôi thì ông sẽ chẳng khó thành giáo sư!” Chỉ một câu như thế, hội đồng khoa bảng đã không đề bạt anh ta. Bài học quan trọng là: chọn người bình duyệt cẩn thận!   Sau khi nhận được các báo cáo này, hội đồng khoa bảng sẽ tổ chức một buổi phỏng vấn ứng viên. Hội đồng sẽ chọn 7-8 giáo sư, trong số này 3 người ngoài trường và ngoài khoa, để làm phỏng vấn ứng viên. Buổi phỏng vấn chỉ 40-50 phút, và thường đặt dưới sự chủ tọa của khoa trưởng. Phỏng vấn đều có thu âm và ghi chép lại, để phòng ngừa khi có khiếu nại thì Hội đồng đề bạt có thể xem lại những câu hỏi và trả lời xem có công bằng hay không.   Từ ngày nộp đơn đến ngày phỏng vấn là khoảng 6 tháng. Sau khi phỏng vấn, họ sẽ viết một đề nghị lên hiệu trưởng đại học để chính thức công bố kết quả. Ứng viên còn phải chờ 1 tháng sau thì mới có kết quả chính thức, và kết quả này do hiệu trưởng đại học công bố cho toàn trường biết.   Nếu thất bại (không được đề bạt), ứng viên có quyền khiếu nại và yêu cầu đánh giá lại. Trong trường hợp này (hiếm xảy ra), hội đồng khoa bảng sẽ chuyển hồ sơ của ứng viên đến một hội đồng khác mà trong thực tế là một hội đồng khoa bảng mới để xem xét hồ sơ.   Những bài học chung   Bây giờ, nhìn lại những qui trình xin chức fellow và professor, có thể rút ra một số bài học đáng chú ý. Nhưng “bài học” lớn hơn, theo tôi, là qui trình và thủ tục làm việc mà các nhà quản lí khoa học và khoa bảng trong nước có thể rút ra và tham khảo.             Ở trong nước, thời gian gần đây, có nhiều phàn nàn về thủ tục tiến phong các chức danh khoa bảng như giáo sư hay phó giáo sư. Người ta cho rằng thủ tục quá rườm rà mà lại thiếu minh bạch. Lại có người cho rằng tiêu chuẩn tiến phong không hợp lí (như tính số điểm bài báo nước ngoài bằng điểm bài báo trong nước), và do đó, vô hình chung làm cho chức danh giáo sư bị hạ thấp hay xem thường. Gs Hoàng Tụy nói nếu làm đúng thì chắc có đến 1/3 giáo sư hay phó giáo sư bị bãi nhiệm.   Nhìn qua thủ tục đề bạt ở nước ngoài và bên VN tôi thấy cũng có vài khác biệt đáng kể. Khác biệt thứ nhất là ở nước ngoài không có “đăng kí” tại cơ sở (tức trường) để được đề bạt, có lẽ vì chức danh khoa bảng ở nước ngoài là do trường tiến phong, còn ở trong nước thì do một hội đồng quốc gia xét. Ở nước ngoài có phỏng vấn ứng viên, nhưng ở trong nước thì không có phỏng vấn. Ở Úc không có bỏ phiếu kín, mà chủ yếu là qua bình duyệt của đồng nghiệp.   Còn về tiêu chuẩn cũng có khác nhau khá nhiều giữa Việt Nam và ở nước ngoài. Chẳng hạn như ở VN người ta tính toán điểm chi li cho từng bài báo, còn ở nước ngoài thì chỉ dựa vào các chỉ số như H hay chỉ số trích dẫn như là tham khảo chứ không phải để định đoạt được hay không được tiến phong.   Hy vọng rằng những kinh nghiệm trên đây cung cấp vài thông tin cần thiết cho các nhà quản lí giáo dục trong nước trong quá trình hoàn thiện qui trình tiến phong các chức danh khoa bảng và giúp nước ta từng bước hội nhập với quốc tế.           Thứ nhất là không có những tiêu chuẩn cứng nhắc theo kiểu cân đo đong đếm. Trái với các tiêu chuẩn đề bạt trong nước về đề bạt chức danh khoa bảng bằng cách tính điểm bài báo, ở nước ngoài hay cụ thể là UNSW người ta không có những điểm cụ thể, mà chỉ đánh giá mang tính nửa lượng nửa chất. Về lượng, họ xem xét đến hệ số ảnh hưởng của tập san, chỉ số trích dẫn của các bài báo khoa học đã công bố, và nhất là chỉ số H của ứng viên. Họ không đề ra những con số bài báo cụ thể phải là bao nhiêu để được đề bạt. Những chỉ số chỉ mang tính tham khảo, vì họ còn phải đánh giá số lượng bài báo được mời đóng góp hay những lần giảng tại hội nghị quốc tế được ban tổ chức mời và chi trả.   Thứ hai là vận dụng tối đa hệ thống bình duyệt (peer review). Không như ở một số nước việc bình duyệt chức danh khoa bảng được thực hiện bằng cách bỏ phiếu kín, ở UNSW và nhiều trường ở Mỹ, người ta sử dụng hệ thống bình duyệt do chính các đồng nghiệp của ứng viên làm. Triết lí đằng sau cách làm này là chỉ có đồng nghiệp cùng chuyên môn với ứng viên là những người đánh giá chính xác nhất về thành tựu và uy tín của ứng viên. Ngoài ra, để cho đồng nghiệp trong và ngoài đánh giá còn đảm bảo tính khách quan trong quá trình đề bạt.   Thứ ba là tính minh bạch. Tất cả các chi tiết về thủ tục và tiêu chuẩn đề bạt cho từng chức vụ đều được phổ biến trên Internet. Họ còn cho biết tiêu chí cho từng cấp bậc để ứng viên chuẩn bị. Ngoài ra, danh sách những người trong hội đồng phỏng vấn và lĩnh vực nghiên cứu của họ cũng được công bố cho ứng viên biết trước. Điều đáng nói là thành phần hội đồng phỏng vấn được tuyển chọn sao cho đảm bảo bình đẳng giới tính, khoa học và ngoài khoa học, trong và ngoài đại học, v.v… Tính minh bạch còn thể hiện qua qui định ứng viên có quyền được xem các báo cáo bình duyệt của đồng nghiệp. Nhưng trong thực tế, rất ít ứng viên muốn đọc những báo cáo này, bởi vì thường thường họ đều được đồng nghiệp cho biết trước!   Thứ tư là chuẩn bị tốt cho ứng viên. Trường đại học xem đội ngũ professor là một nguồn tài nguyên quan trọng (một critical mass), cho nên họ có trách nhiệm phải vun bồi đội ngũ này. Tôi chỉ có thể nói họ chuẩn bị rất tốt cho ứng viên. Trước khi đệ đơn và phỏng vấn, UNSW tổ chức đến 2 buổi seminar cho công việc này. Buổi seminar thứ nhất nói về thủ tục và hồ sơ xin đề bạt. Trong seminar này, họ mời phó hiệu trưởng và những người đã từng được đề bạt trước đây đến nói chuyện và chia sẻ kinh nghiệm về cách trình bày đơn xin đề bạt và cách trình bày hồ sơ sao cho có hiệu quả.   Để đảm bảo buổi phỏng vấn thành công, một seminar thứ hai về cách trả lời phỏng vấn được thực hiện rất công phu. Họ mời những người từng được đề bạt trước đây nói về những “thủ thuật”, phương pháp, thậm chí cách thể hiện cơ thể (body language) trong phỏng vấn; cách biến câu hỏi khó thành câu trả lời thuận lợi cho mình. Sau đó, họ tổ chức một cuộc phỏng vấn thử (rehearsal interview). Thực tế, buổi tập dượt phỏng vấn thử (rehearsal interview) thật có ích, bởi vì qua đó, có thể chuẩn bị những câu hỏi và biết cách hành xử trong khi trả lời phỏng vấn. Điều ấn tượng nhất là họ chỉ dẫn rất nhiệt tình, chứ không dấu diếm gì cả. Ngay cả những câu hỏi cũng được chuẩn bị trước rất bài bản!  ——————————————————–  Có thể xem qua qui trình đề bạt tại UNSW ở đây. Còn về tiêu chuẩn ở các trường y bên Mĩ có thể xem qua các tài liệu sau đây: Duke University, Harvard University, Yale University, UCLA.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Để các nhà khoa học trẻ toàn tâm toàn ý nghiên cứu      Nhân cuộc gặp giữa Thủ tướng với các nhà khoa học trẻ sẽ được Bộ KH&amp;CN tổ chức vào đầu tháng Chín, Tia Sáng đã có buổi trao đổi với Bộ trưởng Nguyễn Quân về việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp, đặc biệt là tạo ra một mô hình tổ chức nghiên cứu áp dụng những thông lệ quốc tế cho phép các nhà khoa học trẻ có thể “toàn tâm toàn ý cho việc nghiên cứu”.      Trước hết, xin Bộ trưởng cho biết mục đích của cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng với các nhà khoa học trẻ?   Có thể nói dư luận xã hội trong nhiều năm gần đây thường có những đánh giá chưa thật toàn diện, khách quan về những thành tựu của nhà khoa học Việt Nam, trong đó có những nhà khoa học trẻ, mặc dù trên thực tế, họ có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của đất nước. Tiếp nối thành công của buổi gặp gỡ giữa lãnh đạo Chính phủ với các nhà sáng chế không chuyên tổ chức vào tháng Năm vừa qua, chúng tôi muốn tiếp tục tổ chức buổi gặp gỡ tương tự với các nhà khoa học trẻ xuất sắc. Đó là những người dưới 35 tuổi, có những thành tựu trong nghiên cứu khoa học như: có các công bố quốc tế trên các tạp chí ISI uy tín, có sáng chế đăng kí trong nước hoặc nước ngoài, giải thưởng khoa học uy tín trong và ngoài nước, hoặc mang lại nhiều lợi ích cho xã hội trong việc tham gia các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ và cấp Quốc gia. Qua những tấm gương sáng đó, chúng tôi muốn xã hội có cái nhìn khách quan toàn diện hơn về vai trò và sự đóng góp của các nhà khoa học trẻ đối với sự phát triển của đất nước; đồng thời tôn vinh, khích lệ họ tiếp tục theo đuổi con đường lao động sáng tạo.  Ngoài ra, qua buổi gặp, chúng tôi cũng mong muốn các nhà khoa học trẻ đề đạt trực tiếp các tâm tư, nguyện vọng đến Thủ tướng và các vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. Tôi tin rằng cuộc gặp gỡ, trao đổi cởi mở, dân chủ như vậy sẽ rất hữu ích cho tiến trình hoàn thiện các cơ chế, chính sách KH&CN, tạo cho các nhà khoa học trẻ một môi trường làm việc thuận lợi, để họ có thể toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu.   Qua những buổi tiếp xúc với các nhà khoa học trẻ và các nghiên cứu sinh ở trong và ngoài nước, điều gì khiến Bộ trưởng cảm thấy ấn tượng và tâm đắc nhất?  Trong một số chuyến công tác, điều tôi dễ nhận thấy ở các bạn trẻ Việt Nam đang làm việc ở Silicon Valley, các tập đoàn lớn của Mỹ, hay các bạn trẻ đang học tập, nghiên cứu ở Canada, cũng như các bạn trẻ đang hoạt động trong viện nghiên cứu và các trường đại học ở Việt Nam, đó là tầm trí tuệ và sự năng động của họ. Vì thế có rất nhiều bạn trẻ đã được nhận vào làm việc ở các tập đoàn lớn của thế giới như Microsoft, Google, Facebook, Yahoo, Apple và được đánh giá rất tốt. Ở Silicon Valley, một số bạn trẻ thành công và dần được nắm giữ những vị trí quan trọng trong những tập đoàn lớn của Mỹ. Có những nhóm bạn trẻ đã làm được sản phẩm uy tín quốc tế cao, ví dụ như sản phẩm Misfit được xếp hạng là một trong 10 sản phẩm công nghệ tiêu biểu của Mỹ năm 2013. Còn ở trong nước, ngày càng có nhiều nhà khoa học trẻ được giao làm chủ trì, chủ nhiệm các đề tài cấp Nhà nước, các chương trình trọng điểm cấp Quốc gia. Đặc biệt số nhà khoa học trẻ được tài trợ kinh phí nghiên cứu từ quỹ Nafosted đã góp phần đáng kể vào sự phát triển vượt bậc trong nghiên cứu cơ bản của Việt Nam trong những năm gần đây.   Nhưng thưa Bộ trưởng, vì sao với tiềm năng lớn như vậy, vai trò, vị thế của các nhà khoa học trẻ dường như còn khá mờ nhạt trong nền KH&CN Việt Nam?  Theo tôi, có một số nguyên nhân chính sau:  Từ nhiều năm nay, không ít người được đào tạo ở nước ngoài đã ở lại hoặc tìm đến những nước có nền KH&CN phát triển để nghiên cứu và làm việc. Các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn FDI cũng thu hút một lượng lớn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà nghiên cứu từ các viện nghiên cứu và các trường đại học. Chính vì vậy, ở các tổ chức nghiên cứu công lập của nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ giỏi ở độ tuổi từ 40 – 55 là rất ít. Tình trạng này đang dần được cải thiện do có một số đổi mới trong hệ thống quản lý GD&ĐT, KH&CN và kinh tế – xã hội, nhiều bạn trẻ tâm huyết với đất nước cũng trở lại làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập cùng với việc chúng ta khuyến khích thành lập các tổ chức KH&CN ngoài nhà nước.   Chúng ta vẫn chưa tạo được môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học nói chung và giới trẻ nói riêng do còn bị “ám ảnh” nặng nề của hệ thống quản lí cũ. Những người trẻ không có nhiều cơ hội để tiếp cận các chương trình KH&CN các cấp, các tài trợ của Nhà nước và xã hội cho hoạt động nghiên cứu và cũng chưa có chính sách, cơ chế bảo đảm thu nhập xứng đáng từ lao động trí tuệ của họ.   Nhận thức và sự quan tâm của xã hội dành cho KH&CN còn ở mức rất thấp. Vì vậy các nhà khoa học trẻ chưa có điều kiện để giới thiệu và ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình trong sản xuất kinh doanh trong nước. Không ít công nghệ của họ không được sử dụng ở Việt Nam nhưng lại được chào đón ở nước ngoài.   Do tâm lý nể nang các nhà khoa học “đàn anh”, cùng với các tiêu chí cứng nhắc hình thức như bề dày kinh nghiệm, có học hàm, học vị trong công tác xét duyệt các đề tài khoa học, nên đa số các đề tài dự án lớn chỉ được trao cho những nhà khoa học “cây đa cây đề” về lĩnh vực ấy, dù trong số các đề tài, dự án đó, nhiều nhà khoa học trẻ hoàn toàn có đủ điều kiện làm chủ nhiệm. Ngoài ra, không ít nhà quản lý khoa học vẫn quan niệm nhà khoa học trẻ là “trẻ người non dạ” nên chưa tin tưởng trao cho họ thực hiện những nhiệm vụ KH&CN trọng điểm do Nhà nước tài trợ. Các hạn chế này khiến các nhà khoa học trẻ khó thể hiện được tài năng của mình.   Nhiều cán bộ trẻ từng có thời gian dài làm việc và học tập trong môi trường năng động, sáng tạo ở một số quốc gia có nền KH&CN phát triển, thường hòa nhập khó khăn với môi trường làm việc trong nước có sức ì rất lớn. Theo Bộ trưởng, giải pháp đột phá nào có thể phá vỡ sức ì này?  Ngoài việc xây dựng các hệ thống cơ chế chính sách mới làm thay đổi toàn diện hệ thống quản lí KH&CN trong nước theo xu hướng tiếp cận với kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế thì Bộ KH&CN rất muốn xây dựng một số tổ chức KH&CN theo mô hình tiên tiến tương tự với tổ chức KH&CN của các nước phát triển với những điều kiện làm việc tốt nhất. Việc Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập viện nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc (V-KIST) là một trường hợp như vậy. Viện đó sẽ được Nhà nước hỗ trợ trong 10 năm đầu để đáp ứng nhu cầu phát triển cả về xây dựng cơ bản cũng như nâng cao năng lực và xây dựng đội ngũ cán bộ của viện. Sau đó, viện sẽ tồn tại và phát triển dựa vào hợp đồng nghiên cứu với các tập đoàn trong và ngoài nước. Chúng tôi cũng đang cùng Bộ Tài chính xây dựng quy chế tài chính phù hợp với quy mô và đặc thù của V-KIST để những nhà khoa học ở đây có thể “toàn tâm toàn ý cho việc nghiên cứu” với điều kiện làm việc tối ưu: phòng thí nghiệm hiện đại, các đồng nghiệp có cùng trình độ và cùng chí hướng, và điều kiện sinh hoạt đảm bảo cả về thu nhập và ăn ở đi lại, tương đương với một số viện tiên tiến ở các nước trong khu vực.   Một khi V-KIST thành công, thì những kinh nghiệm trong xây dựng và hoạt động của V-KIST sẽ được nhân rộng áp dụng ở các tổ chức KH&CN công lập của Việt Nam để chúng ta có được một hệ thống các tổ chức KH&CN, viện, trung tâm nghiên cứu có tính tự chủ cao hoạt động theo cơ chế hợp đồng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp, của xã hội. Chắc chắn hệ thống các tổ chức KH&CN như vậy sẽ là môi trường tốt nhất cho hoạt động sáng tạo của các nhà nghiên cứu trẻ.  Xin Bộ trưởng cho biết tầm nhìn dài hạn của Nhà nước trong phát triển nguồn lực nhà khoa học trẻ tuổi?   Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012, Hội nghị TW6, khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, là chính sách trọng dụng và sử dụng cán bộ và một trong ba đối tượng cần “có chính sách trọng dụng đặc biệt” là các cán bộ KH&CN trẻ tài năng (bên cạnh cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia)  Vì vậy khi xây dựng luật KH&CN 2013 trình Chính phủ và Quốc hội, Bộ KH&CN đã đưa ra một điều khoản về chính sách trọng dụng và sử dụng các cán bộ trẻ tài năng. Mới đây, trong Nghị định 40/2014/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định việc sử dụng, trọng dụng các cá nhân hoạt động KH&CN cũng có nhiều nội dung liên quan đến cán bộ trẻ như: giao cho họ quyền tự chủ cao; tạo điều kiện cho họ tiếp cận, tham gia các chương trình KH&CN cấp quốc gia, thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu thuộc Quỹ Đổi mới KH&CN Quốc gia, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, thực hiện việc chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp; tạo điều kiện cho họ tham gia các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.  Bộ KH&CN cũng đã kết hợp với Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ xây dựng một thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết Nghị định 40/2014/NĐ-CP nhưng chưa ban hành được vì chưa đạt được sự đồng thuận cao. Chúng tôi đang thúc đẩy để ban hành sớm thông tư này vì nó bao gồm những chính sách rất cụ thể về tài chính, tổ chức, biên chế, sẽ có tác dụng rất mạnh đối với việc thúc đẩy các cán bộ trẻ tham gia vào các hoạt động nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN công lập.   Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!           Do tâm lý nể nang các nhà khoa học “đàn  anh”, cùng với các tiêu chí cứng nhắc, hình thức như bề dày kinh nghiệm,  có học hàm, học vị trong công tác xét duyệt các đề tài khoa học, nên đa  số các đề tài dự án lớn chỉ được trao cho những nhà khoa học “cây đa  cây đề” về lĩnh vực ấy, dù trong số các đề tài, dự án đó, nhiều nhà khoa  học trẻ hoàn toàn có đủ điều kiện làm chủ nhiệm. Bên cạnh đó, không ít  nhà quản lý khoa học vẫn quan niệm nhà khoa học trẻ là “trẻ người non  dạ” nên chưa tin tưởng trao cho họ thực hiện những nhiệm vụ KH&CN  trọng điểm do Nhà nước tài trợ.          Nhóm phóng viên  thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Để có thể trở thành Thung lũng Silicon      Margaret O’Mara (tạp chí Foreign Policy) phân tích thành công của thung lũng Silicon và đưa ra lời khuyên dành cho những thành phố đang có ý định trở thành thành phố công nghệ trong tương lai.      Từ những năm 1960, các nhà lãnh đạo thế giới như Pháp, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc… đã có những chuyến thăm viếng Thung lũng Silicon với mong muốn phỏng theo mô hình này xây dựng những khu công nghệ cao của mình.   Trong vòng 1 thập kỷ, Chính phủ Pháp đã tạo nên được một trung tâm công nghệ cao Sophia Antipolis, dọc theo Cote d’Azur. Các công ty đa quốc gia thành lập chi nhánh ở đây. Hiện nay đây là một trung tâm thương mại thế giới nhưng không phải là trung tâm của đối mới sáng tạo. Trung Quốc đã xây dựng những khu nghiên cứu phát triển trên diện tích rộng, nơi chỉ một thập kỷ trước đây là một cánh đồng trồng lúa và nhãn, với nhiều không gian mở, thư viện tốt với nhiều phòng thí nghiệm mới, công nghệ cao gần hai trường Đại học Thanh Hoa và Bắc Kinh, hi vọng sẽ thu hút những kỹ sư, nhà khoa học tài năng để thúc đẩy hoạt động kinh doanh công nghệ cao. Khi tôi hỏi các kỹ sư của Trung Quốc giỏi giang, làm việc chăm chỉ rằng họ có ý định ở lại đây lâu dài hay không? Họ trả lời: Không đời nào.   Nguyên nhân của sự không thành công của các khu công nghệ cao trên là do nhiều người không hiểu được bí mật của Thung lũng Silicon là ở chỗ nó không dự định trở thành thành phố silicon. Thung lũng tồn tại và phát triển vì những yếu tố ngoài dự định ban đầu của những người khởi đầu xây dựng.   1. Cung cấp tiền cho những người tài năng và để họ tự do hoạt động   Thung lũng Silicon là kết quả của hơn 60 năm đầu tư của cả tư nhân và Nhà nước. Chính phủ Mỹ là nhà đầu tư mạo hiểm đầu tiên của thung lũng, nuôi dưỡng hệ thống đổi mới sáng tạo thông qua việc tài trợ nghiên cứu khoa học trong hai thập kỷ đầu của chiến tranh lạnh do lo sợ về sức mạnh khoa học của Nga. Phần lớn khoản tiền này chảy vào các trường đại học nghiên cứu. Bắc California trở thành quê hương của hai trường đại học danh giá của Mỹ: Đại học Stanford và Đại học California, Berkeley. Các cố vấn khoa học của Tổng thống Eisenhower viết trong bản báo cáo thường niên năm 1960, “các trường đại học là những tổ chức trọng yếu cho niềm hy vọng của dân tộc, và phải được đối xử một cách đúng đắn”.   Washington đưa ra yêu cầu và kiểm tra nhưng không tiến hành quản lý việc nghiên cứu. Chính phủ trở thành một trong những đối tác quan trọng của những công ty thành công như Hewlett Packard và Varian Associates. Năm 1971, với sự đồng ý của Chính phủ cho phép phát triển mạnh ngành công nghiệp điện tử ở ngoại ô phía Nam của San Francisco, nhà báo Don Hoefler đưa ra tên gọi “Thung lũng Silicon”. Cái tên này được dùng từ đó tới giờ. Sau một thời gian, những hợp đồng của Chính phủ giảm đi tuy nhiên những cơ hội thương mại mới được mở ra. Và các khoản tiền đầu tư đến với các doanh nghiệp tại Thung lũng Silicon. Mô hình đầu tư mạo hiểm này được tạo cho Bay Area, nơi có truyền thống mạo hiểm từ ngày nước Mỹ đổ xô tới bờ Tây tìm vàng, với một cộng đồng nhà đầu tư sẵn sàng đặt cược vào những doanh nghiệp mới của những ông chủ phần lớn bị xem là những kẻ nổi loạn, kẻ ngoại đạo và thậm chí mới chỉ vừa qua tuổi teen.   Sự táo bạo, cơ chế trọng dụng nhân tài của Thung lũng Silicon  đã tạo ra cơ hội tuyệt vời cho những nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách của Chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng ở đây với những chính sách thoáng về người nhập cư, thu hút sinh viên nước ngoài tài năng từ những nước như Trung Quốc, Ấn Độ. Theo một nghiên cứu của trường Đại học Berkeley, hơn một nửa công ty tại Thung lũng Silicon là do người nước ngoài thành lập.   2. Tìm ra được một trường đại học hàng đầu   Những trường đại học hàng đầu không chỉ có giá trị như là trung tâm nghiên cứu mà còn là mạng lưới quan hệ cần thiết cho hoạt động kinh doanh.   Thật khó có thể nghĩ Stanford-một cơ sở giáo dục bình thường  của những năm 1950 có thể trở thành một trung tâm công nghệ. Tuy nhiên, trường đại học đã tận dụng được khoản tiền nghiên cứu lớn trong giai đoạn chiến tranh lạnh để trở thành trung tâm khoa học và công nghệ. Vào năm 1951, những người lãnh đạo của trường nhận ra có thể thu hút các cựu sinh viên của trường tới khu nghiên cứu Palo Alto được xây dựng ngay gần kề trường đại học với mục đích thu hẹp khoảng cách giữa bên công nghiệp và nghiên cứu hàn lâm. Và Frederick Terman, Hiệu trưởng trường Đại học Stanford, đã mời được những cựu sinh viên tài năng của mình bắt đầu sự nghiệp tại đây trong số đó phải kể tới William Hewlett và David Packard. Stanford tiếp tục trở thành cỗ máy sản xuất nhân tài và những ý tưởng thông minh cho Thung lũng Silicon. Những CEO của các công ty công nghệ xuất thân từ Stanford nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Một vài những người đứng đầu công ty Google và Yahoo! đã từng là sinh viên của trường đại học này.   3. Đừng quên vị trí đóng vai trò quan trọng   Thung lũng Silicon trở nên thịnh vượng vì nó có những ưu điểm thu hút những người tài năng lựa chọn làm nơi sinh sống. Những năm 1950, 1960, hàng nghìn người Mỹ đã chuyển từ vành đai sắt thép (Rust Belt) tới vành đai Mặt trời (Sun Belt) và từ thành phố về vùng ngoại ô. Thung lũng đúng là nơi mà họ khao khát: cách xa những thành phố nhộn nhịp, có nhiều đất trống để xây nhà, đường, các khu văn phòng. Các thành phố công nghiệp bờ Đông không có được ưu điểm này. Những vị trí khác như Philadelphia, Baltimore có những trường đại học hàng đầu nhưng những khu vực dân cư trong thành phố khó có thể có được nhịp sống họ mong muốn. Thung lũng Santa Clara có thời tiết đẹp, khuyến khích các hoạt động ngoài trời, những trường học tốt và đất đai rộng rãi.  Tại Thung lũng Silicon, mọi người không phải quan tâm tới những vấn đề khác ngoài công việc của họ. Tiền kiếm được dễ dàng, các vấn đề xã hội cách xa hàng nghìn dặm. Và quan trọng hơn, thành công sẽ nối tiếp thành công.   Bí mật của Thung lũng Silicon là ở chỗ nó không dự định trở thành thành phố silicon. Thung lũng tồn tại vì những động lực khác mạnh hơn: chi tiêu cho khoa học trong Chiến tranh lạnh, GDP cao, tỷ lệ di cư-nhập cư cao, tính mạo hiểm, năng lực lãnh đạo, thời tiết thuận lợi…   Tin tốt cho những người muốn xây dựng Thung lũng Silicon là họ không còn ở thời những năm 1950. Toàn cầu hóa đã thay đổi sân chơi, công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách giữa con người. Thung lũng Silicon góp phần tạo nên một chuỗi cung cấp công nghệ trong đó nhiều thành phố hiện nay đóng vai trò quan trọng. Các kỹ sư viết mã tại Bangalore, các chuyên gia công nghệ thông tin trả lời điện thoại tại Bucarest, các con chip silicon được sản xuất tại Singapore, các công ty mạng xã hội phát triển tại Sao Paulo. Không thể có chuyện điều kỳ diệu chỉ xảy ra ở một nơi duy nhất.   Tuy nhiên, việc lựa chọn vị trí vẫn đóng vai trò quan trọng và những yếu tố đúng đắn khác sẽ tạo nên sự khác biệt. Một vài câu chuyện thành công của các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới trong vòng hai thập kỷ qua như ở Ireland, Ấn Độ là kết quả của những chính sách hợp lý của Chính phủ từ việc giảm thuế, bỏ bớt các rào cản đầu tư nước ngoài– chứ không chỉ dừng lại ở xây dựng các trung tâm nghiên cứu.   Không phải tất cả mọi nơi đều có thể là Thung lũng Silicon, cũng như không phải tất cả mọi nơi đều phải trở thành như vậy. Một môi trường lý tưởng cho các doanh nhân có thể là nơi sỏi đá hay thành thị, không nhất thiết phải là một công viên văn phòng yên tĩnh, ngập cỏ của Thung lũng Santa Clara.                Ngọc Tú lược dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để đạt thành tích khoa học vượt trội tại châu Á      LTS: Liệu Châu Á có thể trở thành đối tác mạnh về khoa học trong thế kỷ XXI? Trên tạp chí Science, Alice Huang và Chris Tan phân tích những nỗ lực trong phát triển tiềm lực khoa học&#160; của các quốc gia Châu Á và đưa ra một số khuyến nghị để các quốc gia&#160; này&#160; có thể đạt được những thành tựu khoa học tầm cỡ. TS Nguyễn Đức Thái (Trưởng bộ môn CN Sinh học – Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh) đưa ra những đề xuất cho Việt Nam.      Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề hóc búa đang đặt ra mà phần lớn những vấn đề này đều đòi hỏi các giải pháp khoa học và kỹ thuật. Châu Á chiếm 2/3 dân số của thế giới có thể là nơi cung cấp tài năng để giải quyết các vấn đề này. Châu lục này có lợi thế về vị trí địa lý, dân số trẻ và sự phồn vinh đang tăng dần lên. Các quốc gia châu Á rất tôn trọng học thuật. Khoảng hơn 400.000 sinh viên châu Á đang theo học tại các trường đại học của Mỹ. Nhiều sinh viên trong số này vẫn đang sinh sống và làm việc tại Mỹ, nhưng hiện nay số lượng trở về nước đang tăng dần lên. Một vài quốc gia châu Á lên kế hoạch xây dựng những cơ sở nghiên cứu cơ bản để đón nhận những người trở về này và tăng cường năng lực khoa học. Tuy nhiên, chúng tôi cảm nhận rằng các quốc gia châu Á có một vài khuyết điểm chung về cách suy nghĩ và điều này đang hạn chế tiềm năng phát triển của họ. Dưới đây, chúng tôi chỉ đưa ra những vấn đề mà chúng tôi nghĩ có thể tránh được hoặc vượt qua. Quan điểm của chúng tôi là của những nhà khoa học, quản lý làm việc phần lớn ở phương Tây nhưng hiểu biết về các nền văn hóa và lịch sử châu Á. Chúng tôi tin rằng thành công có thể được củng cố ở các quốc gia châu Á khi đi theo tám khuyến nghị chúng tôi đưa ra sau đây:  1. Thay đổi cách học vẹt bằng cách dạy phương pháp học chủ động cho học sinh từ giai đoạn đầu  2. Khuyến khích óc sáng tạo  3. Cho phép những nhà nghiên cứu trẻ độc lập trong nghiên cứu ngay khi họ kết thúc giai đoạn học tập  4. Tài trợ cho nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ, độc lập để tạo nền tảng rộng hơn cho nghiên cứu, sáng tạo   5. Nuôi dưỡng các nhà khoa học trẻ trong môi trường cởi mở khuyến khích quan hệ hợp tác quốc tế  6. Dựa vào sự tinh thông của các nhà nghiên cứu cao cấp – những người hiểu rõ văn hóa quốc gia – để xây dựng các chính sách khoa học quốc gia   7. Thiết lập cơ chế tài trợ nghiên cứu cạnh tranh và minh bạch dựa vào thành tích khoa học  8. Hình thành văn hóa khoa học đề cao nhân cách và sự trung thực   Đầu tư của châu Á vào khoa học cơ bản hiện đại chỉ mới bắt đầu 25 năm nay. Sau khi đã đầu tư đáng kể và xây dựng và trang thiết bị, các quốc gia châu Á đang tiến tới giai đoạn nhận ra rằng rất cần phải xây dựng văn hóa nghiên cứu để có thể cạnh tranh được với thế giới.   Trong quá khứ, giữa các cơ sở nghiên cứu của châu Á vẫn thiếu sự hợp tác, tương tác, đặc biệt thông qua các kênh quốc gia. Nhưng từ những năm 1990, qua những mối quan hệ mới được thiết lập trong nghiên cứu, chúng tôi quan sát thấy tinh thần bằng hữu giữa các nhà khoa học tại nhiều viện nghiên cứu của châu Á. Các nhà khoa học của 14 quốc gia cùng chia sẻ những giá trị và tầm nhìn đã cùng nhau thành lập mạng lưới sinh học phân tử khu vực châu Á Thái Bình Dương năm 1997. Mạng lưới này có thể là giai đoạn bắt đầu cho việc thiết lập mối quan hệ đối tác giữa các nhà khoa học châu Á cũng giống như tổ chức Sinh học phân tử của châu Âu. Sự phát triển chưa từng có này đã cho thấy sự hợp tác quốc tế – một trong những yếu tố quan trọng cho phát triển khoa học châu Á đang được hình thành.   Một giải pháp để các quốc gia có thể phát triển tư duy sáng tạo trong khoa học là thu hút những nhà khoa học của họ được đào tạo ở nước ngoài trở về. Từ năm 1982 tới năm 1989, 422 sinh viên từ Trung Quốc đã sang Mỹ học tiến sĩ thông qua Chương trình hợp tác đào tạo ngành hóa sinh của Trung Quốc và Mỹ (China – United States Biochemistry Examination and Application – CUSBEA). Hiện nay, cả Trung Quốc và Singapore đều tập trung vào nhóm này và hy vọng có thể thu hút họ trở về châu Á. Khoảng 30 người trong số CUSBEA và một số nhà khoa học khác của Trung Quốc tại Mỹ gần đây đã trở về Trung Quốc. IMCB (Viện sinh học phân tử và sinh học tế bào) của Singapore cũng tuyển một vài nhà khoa học của chương trình CUSBEA. Tuy vẫn sớm để đánh giá nhưng sự trở về của các nhà khoa học này đã phần nào cho thấy có thể chỉ mất một thế hệ để xây dựng nền nghiên cứu khoa học cạnh tranh với điều kiện những nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản được trao cho cơ hội tiến hành những chương trình nghiên cứu độc lập.   Rất khó để nhảy cóc tới sự “trác việt” (excellence), tuy nhiên có thể đầu tư mạnh hơn cho khoa học và tiếp tục giải quyết những bất cập. Khi quan sát khoa học châu Á chúng tôi nhận thấy có nhiều nét tương đồng trong cách hoạch định chính sách. Chính sách khoa học vẫn theo kiểu từ trên xuống và liên quan tới các nhà chính trị, quan chức Nhà nước, chỉ có một số ít trong số này có học vấn về khoa học. Các công chức thường chỉ tính tới tiền thu lại từ các khoản đầu tư cho khoa học. Những người này thường đưa ra các thước đo của họ để tính năng suất và thành công trong khoa học. Nhiều quan chức châu Á nhận thấy các khám phá khoa học không mang lại lợi nhuận tức thì so với số tiền đầu tư trong những năm họ đang đương chức. Sự thất vọng có thể dẫn tới việc điều chỉnh lại ưu tiên đầu tư của Chính phủ làm ảnh hưởng tới những phòng thí nghiệm mới thành lập và làm cho các nhà khoa học bất an.   Có thể nhận thấy hiện nay các nhà khoa học lớn tuổi chiếm số lượng lớn trong cộng đồng nghiên cứu châu Á, các nhà khoa học mới trở về và các nhà khoa học thăm viếng chỉ chiếm thiểu số. Tại Singapore, có một nhóm bổ trợ nữa  đó là nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu cao cấp phương Tây được tuyển vào các vị trí làm bán thời gian hoặc toàn thời gian và được giao cho nhiệm vụ thúc đẩy các nỗ lực khoa học. Nhiều người trong số họ đã qua tuổi về hưu. Quản lý những nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học này ở bất cứ thời điểm nào cũng đều khó khăn, đặc biệt là theo kiểu điều hành từ trên xuống.   Cách quản lý tập trung, từ trên xuống tiếp tục ảnh hưởng tới sự phát triển của khoa học tại châu Á, nó là nguyên nhân của cuộc tranh luận xung quanh việc khoa học tầm cỡ (big science) là xu thế của tương lai hay những phòng thí nghiệm nhỏ, độc lập sẽ mang tới nền khoa học sáng tạo. Quảng bá khoa học “hoành tráng” dễ dàng hơn không chỉ vì nó thời thượng mà còn vì còn dễ nhận ra về mặt tính toán. Tuy nhiên cần phải cảnh báo các quốc gia châu Á nếu họ chi quá mạnh tay để tài trợ cho những dự án khoa học “hoành tráng”  vì những cơ sở vật chất sẽ cũ đi và bước tiến nhanh chóng của khám phá khoa học sẽ làm cho chúng trở nên lạc hậu. Thậm chí, điều này có thể thu nhỏ nền tảng cho đổi mới sáng tạo mà châu Á đang cần phải mở rộng.   Tại Singapore còn có cuộc tranh luận là liệu nên phụ thuộc vào các nhà khoa học phương Tây đã thành danh lãnh đạo hay xây dựng năng lực lãnh đạo với những nhà khoa học trẻ trở về. Sự cân bằng là cần thiết mặc dù chúng tôi tin rằng phải giao quyền cho những nhà khoa học trẻ trở về. Các nhà khoa học đã thành danh với kinh nghiệm phong phú có thể đưa ra những lời khuyên cần thiết liên quan tới các chính sách phát triển quốc gia và đào tạo nhà khoa học trẻ. Nhưng các nghiên cứu trẻ lại là một sự đặt cược đảm bảo hơn cho những đột phá. Họ thường có những kiến thức nghiên cứu mới nhất cũng như tham vọng và nguồn năng lượng để thành công.                   Châu Á có thể đi theo xu hướng khuyến khích các nghiên cứu mới bằng cách tài trợ cho số lượng lớn các nhà nghiên cứu trẻ trở về nước, làm cho họ có thể tiếp cận được với quỹ tài trợ không dựa vào mối quan hệ mà dựa trên thành tích nghiên cứu và hiệu quả làm việc. Nếu không có những con đường tiến thân rõ ràng cho các nhà khoa học tại châu Á, những người giỏi, tài năng sẽ không lựa chọn sự nghiệp khoa học.   Thật không may, tại châu Á, sự ngưỡng vọng tri thức được dịch đơn giản là sự tôn thờ các giải Nobel và các cơ hội học tập tại các trường đại học hàng đầu. Các nhà khoa học đoạt giải Nobel và những giáo sư nổi tiếng của các trường đại học phương Tây được xem có thẩm quyền cao nhất về tri thức. Những khoản tiền lớn đã và đang được chi với hy vọng sẽ nhanh chóng kết nối các viện khoa học châu Á với các trường đại học nổi tiếng thế giới.   Làm thế nào châu Á có thể nuôi dưỡng năng lực khoa học với sự thiếu tin tưởng vào tài năng của mình đến vậy? Nếu không thay đổi thì chủ nghĩa thực dân về trí tuệ (intellectual colonialism) sẽ trở thành rào cản cho châu Á trong cuộc “trường chinh” xây dựng tiềm lực khoa học. Tham vọng của châu Á là xây dựng những cơ sở nghiên cứu có tính cạnh tranh có thể sẽ đạt được nếu những nhà nhà quản lý, lãnh đạo khoa học được đào tạo, được khai sáng mạnh lên hoặc trở về đất nước, và được trao quyền để phục vụ cho lợi ích của đất nước.   Nguyệt Hà lược dịch (Sicence, Vol 329)        Những đề xuất cho Việt Nam      Bài tham luận trên tạp chí Science số tháng 9 vừa qua của Alice Huang và Chris Tan phân tích về những nỗ lực và đưa ra một số khuyến nghị để đạt được những thành tựu khoa học tầm cỡ và đột phá cho các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam chúng ta. Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu sinh học trong vùng đã khắc phục nhiều trở ngại để đạt được những cột mốc khoa học quan trọng. Tiêu biểu là Singapore với những cơ sở đại học và nghiên cứu tiêu chuẩn quốc tế; Trung Quốc đã xây dựng những cơ sở hạ tầng vững chắc và nhiều thành tựu lớn lao; Hàn Quốc đã có nhiều thành quả có tính cạnh tranh cao về nghiên cứu và kĩ thuật sinh học v.v… Tuy nhiên, hệ thống khoa học ở các nước châu Á vẫn còn nhiều khuyết điểm và khó khăn cần vượt qua để tiềm năng trí tuệ và tài nguyên lớn lao của nhiều quốc gia trong vùng có thể được phát triển toàn diện.        Nhận xét đáng lưu ý là một trong những rào cản của tiến bộ khoa học ở châu Á là sự tồn tại văn hóa ngoại lai, tôn trọng thành tích nước ngoài hơn chính kết quả của mình, được trích ở phần kết luận như sau:      “Làm thế nào châu Á có thể nuôi dưỡng năng lực khoa học với sự thiếu tin tưởng vào tài năng của họ đến vậy? Nếu không thay đổi thì chủ nghĩa thực dân về trí tuệ (intellectual colonialism) sẽ trở thành rào cản cho châu Á trong cuộc “trường chinh” xây dựng tiềm lực khoa học. Tham vọng của châu Á là xây dựng những cơ sở nghiên cứu có tính cạnh tranh có thể sẽ đạt được nếu những nhà nhà quản lý, lãnh đạo khoa học được đào tạo, khai sáng mạnh lên hoặc trở về đất nước, họ được trao quyền để phục vụ cho lợi ích của đất nước”.        Tác giả Chris Tan là một tên tuổi uy tín và quen thuộc ở châu Á về Công nghệ sinh học (CNSH). Ông là người đã thiết lập trung tâm CNSH quốc gia Singapore và hiện là cố vấn của nhiều chương trình Biotech ở châu Á. Ông đã qua Việt Nam dự hội nghị lần thứ 8 của Hội Mạng lưới Sinh học Á châu (A-IMBN) tai TP HCM cách đây 5 năm. Chúng tôi thiết nghĩ tác giả và cộng sự đã cho chúng ta nhiều nhận định hữu ích để suy xét và áp dụng trong nỗ lực triển khai khoa học phục vụ Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta cần thực tế và linh động khi ứng dụng các đề nghị trên bởi mỗi quốc gia có những ưu và khuyết điểm riêng. Dưới đây tôi thử phân tích 8 đề nghị nêu trên trong bối cảnh những ưu và khuyết điểm của khoa học Việt Nam hiện nay.        1. Dạy phương pháp học tích cực cho học sinh ngay từ giai đoạn đầu: Ở Việt Nam, điều này sẽ cần thời gian và tổ chức và gồm hai giai đoạn. Giai đoạn một, bỏ lối dạy từ chương và giai đoạn hai là tổ chức lối dạy tích cực dùng suy luận.để giải quyết vấn đề (problem solving). Trên thực tế,  lối dạy tích cực ở bậc đại học cần có cơ sở hạ tầng tốt, các đại học Việt Nam sẽ cần hỗ trợ của những nước phát triển vì họ đã khai triên phương pháp này từ nhiều năm qua.    2. Khuyến khích trí sáng tạo: Rất cần thiết ở Việt Nam để khai triển tiềm năng lớn lao của CNSH. Tuy nhiên việc sáng tạo cần được đặt trên nền tảng của sự hiểu biết tường tận. Nhưng ý kiến sáng tạo mà thiếu hiểu biết và kinh nghiệm sẽ mang lại nhiều rủi ro trong nghiên cứu, tốn kém về kinh phí và khó đạt thành công.       3. Ủng hộ những tư duy và nghiên cứu độc lập: Chúng ta nên đặt ưu tiên cho những cơ sở có truyền thống vững vàng và có các định hướng mới để giới trẻ có thể tham gia hiệu quả. Ở các nước tiến bộ, họ có cơ sở hạ tầng nghiên cứu vững chắc và giới trẻ được huấn luyện theo tiêu chuẩn nên khả năng làm việc rất cao và hữu hiệu. Chúng ta chưa có các cơ sở hạ tầng này, nên giới trẻ chưa thể tự phát và tự khai triển được.    Tư duy độc lập và tự chủ trong khoa học rất quan trọng để mang lại kết quả thiết thực cho Việt Nam. Hiện có nhiều nghiên cứu và ứng dụng ở trong nước dựa theo kết quả từ nghiên cứu nước ngoài nên thiếu tính độc lập để triển khai các đối tượng nghiên cứu phong phú ở Việt Nam. Như vậy sẽ khó mang lại những ứng dụng hữu ích cho các vấn đề sinh học ở môi trường và chủng tộc Việt Nam. Quan trọng hơn nữa cần cởi bỏ quan niệm lệ thuộc vào kết quả nghiên cứu ở nước ngoài vì quan trọng và giá trị hơn nghiên cứu các đề tài ở Việt Nam. Sinh học phải là một mẫu số chung về giá trị cho mọi nơi.        4. Phân chia tài trợ cho nhiều nhóm để khuyến khích ganh đua, thay vì xây dựng một vài trung tâm lớn. Với tài khóa 600 triệu USD cho phát triển khoa học ở Việt Nam, việc chia sẻ cho nhiều nhóm sẽ ít hiệu quả. Để có hiệu năng cao, tài trợ nên tập trung cho một số trung tâm có chủ đề ưu tiên và có tác động lan tỏa.                     5. Tìm kiếm và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Rất cần thiết và ngày nay, cộng đồng khoa học thế giới là một tập thể rất gần gũi nhau. Các liên hệ quốc tế nên được khai triển dựa trên tinh thần thân hữu và hợp tác tích cực trong các nghiên cứu, thay vì nhằm nhu cầu ngắn hạn. Theo nguyên tắc này thì các mối quan hệ sẽ có ý nghĩa cao đẹp, bền vững và nhiều hiệu quả hơn cho việc phát triển khoa học chung và cho Việt Nam nói riêng.    6. Các bậc tiền bối có vai trò hướng dẫn và tạo tinh thần khoa học phục vụ quốc gia cho giới trẻ. Lý tưởng phục vụ phát triển Việt Nam cần được đề cao và là chủ đề ưu tiên để thu hút những người trẻ ở trong và ngoài nước tham gia tích cực vào các công trình khoa học. Phát triển khoa học để xây dựng đất nước là một cuộc cách mạng, và không có gì mạnh bằng tinh thần và lý tưởng phục vụ quốc gia, dân tộc.         7. Các chương trình tài trợ và kết quả cần được thông báo rộng rãi. Điều này sẽ giúp tạo hiệu năng cao nhất cho nguồn tài trợ vốn đã giới hạn cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.   8. Tuyên dương sự tự trọng và ngay thẳng trong sinh hoạt khoa học. Tôn trọng sự thật là đức tính cần thiết của người làm khoa học. Cần tránh những tuyên dương đánh bóng cá nhân vì sẽ gây hiểu lầm và sai lệch về mục đích của các công trình khoa học.       Trào lưu và nhu cầu cải tiến khoa học Việt Nam hiện đang rất cao. Tránh được những khuyết điểm và triển khai tối đa những ưu điểm là bước quan trọng để chúng ta đóng góp tích cực vào tiến bộ khoa học Việt Nam.                 TS Nguyễn Đức Thái– Trưởng Bộ Môn CN Sinh học, Khu CNC, TP. Hồ Chí Minh                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để quyết tâm tự chủ không thành kêu gọi suông      Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa có những quy định hữu hiệu trong việc sàng lọc, loại bỏ các tổ chức KH&amp;CN công lập hoạt động yếu kém cũng như một bộ phận cán bộ là những người “không làm mà vẫn hưởng lương”, theo đó tạo môi trường hoạt động thông thoáng, minh bạch cho khoa học Việt Nam. Vì vậy theo ông Trần Đắc Hiến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ KH&amp;CN), một Nghị định thay thế sẽ được Bộ KH&amp;CN trình Chính phủ vào cuối năm nay.      Quyết tâm tự chủ hóa mới có thể tái cơ cấu nền KH&CN thành công   PV: Thực tế cho thấy mặc dù Nghị định 115 đã đem lại những điều kiện thông thoáng, thuận lợi, giúp không ít tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ thành công, nhưng cho đến nay còn nhiều tổ chức hầu như chưa thực hiện chuyển đổi. Theo ông đâu là nguyên nhân chủ yếu?  Ông Trần Đắc Hiến: Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu là nhiều tổ chức KH&CN công lập của chúng ta không có năng lực tự chủ, thiếu quyết tâm tự chủ, tư tưởng bao cấp còn ảnh hưởng nặng nề. Để khắc phục tình trạng này, không cách nào khác, trước hết, chúng ta phải thúc đẩy quyết tâm tự chủ, bắt đầu từ quyết tâm chính trị thông suốt giữa các cấp lãnh đạo tới các bên liên quan và tinh thần quyết liệt dám đương đầu với khó khăn để thực hiện đến cùng cơ chế tự chủ của người lãnh đạo các tổ chức KH&CN công lập cũng như các nhà khoa học làm việc trong các tổ chức này. Tiếp đến là tăng cường năng lực tự chủ cho các tổ chức KH&CN công lập bằng cách quy hoạch lại hợp lý, đồng bộ gắn với tái cấu trúc mạnh mẽ hệ thống tổ chức KH&CN công lập để có điều kiện đầu tư tập trung, có hiệu quả từ ngân sách nhà nước cho các tổ chức này, khắc phục tình trạng dàn trải, manh mún hiện nay. Cả hai nhân tố: quyết tâm tự chủ và quy hoạch lại phải được thúc đẩy song hành, bởi chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau.  Xin ông làm rõ mối liên quan giữa quyết tâm tự chủ hóa các tổ chức KH&CN công lập với việc quy hoạch lại các tổ chức này.  Thực tế cho thấy, chỉ những tổ chức KH&CN công lập có đủ năng lực, tiềm lực về cơ sở vật chất và nhân lực mới có thể tự chủ, còn các tổ chức yếu kém sẽ tìm cách tiếp tục tồn tại dựa vào hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, chỉ khi có quyết tâm tự chủ chúng ta mới có thể giải thể các tổ chức yếu kém, không hiệu quả, đồng thời cơ cấu lại những tổ chức có tiềm năng phát triển để tập trung nguồn lực đầu tư đủ mức cần thiết nhằm tăng quy mô và tiềm lực để các tổ chức này càng lớn mạnh, có thể đạt trình độ khu vực và quốc tế sau một vài năm. Ngược lại, nếu chúng ta không có một quy hoạch lại hợp lý các tổ chức KH&CN công lập thì nguồn lực Nhà nước đầu tư cho các tổ chức này sẽ vẫn manh mún, dàn trải, khiến họ tiếp tục yếu đuối, không đủ năng lực tự chủ, và như vậy quyết tâm tự chủ trở thành lời kêu gọi suông.   Làm sao để tránh tình trạng không làm vẫn hưởng lương?     Được biết Bộ KH&CN đang xây dựng Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định 115 trên tinh thần của Nghị định 16/2015/NĐ-CP [quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập], ông có thể cho biết nội dung cụ thể nào của Nghị định 16 là quan trọng nhất sẽ được kế thừa để áp dụng với cơ chế tự chủ cho các tổ chức KH&CN?          Mục tiêu hình thành một loạt các tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới vào năm 2020 mà Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 đề ra sẽ khó thành công nếu chúng ta không kiên quyết thực thi việc quy hoạch lại hệ thống các tổ chức KH&CN đi kèm với trao quyền tự chủ thực sự cho các tổ chức KH&CN công lập. Nâng cao tính tự chủ ở các tổ chức KH&CN công lập là một trong những điều kiện cần quan trọng hàng đầu để họ có thể chủ động nâng cao năng lực và cải thiện những nhân tố khác để có thể đạt trình độ quốc tế.         Nghị định 16 đưa ra cách phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập sát thực, phù hợp và khả thi hơn so với Nghị định 115. Nghị định 115 phân loại theo tính chất hoạt động của tổ chức KH&CN là làm nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng – trên nguyên tắc các nghiên cứu cơ bản thường khó có khả năng thương mại hóa, vì vậy cần được Nhà nước hỗ trợ nhiều hơn. Còn các tổ chức nghiên cứu ứng dụng thì phải chuyển sang diện tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên tại một thời điểm nhất định (31/12/2009 tại Nghị định 115, sau đó được dời sang 31/12/2013 tại Nghị định 96/2010/NĐ-CP). Điều này dẫn tới bất cập vì đa số các tổ chức làm nghiên cứu ứng dụng đều lập luận rằng bản thân họ cũng làm nghiên cứu cơ bản, và dựa vào đó để đòi hỏi tiếp tục được Nhà nước bao cấp. Nay với cơ sở từ Nghị định 16, mức tài trợ của Nhà nước cho các tổ chức công lập sẽ được phân loại dựa trên khả năng tự chủ về mặt tài chính chứ không phải ở tính chất làm nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng.  Như vậy, chúng ta cần làm rõ hơn về khái niệm tự chủ ở đây. Khi Nhà nước vẫn tiếp tục tài trợ cho các tổ chức KH&CN công lập, chỉ là thay đổi về tiêu chí nhận tài trợ, thì sao có thể nói là họ đã chuyển sang tự chủ?    Khái niệm tự chủ ở đây có nghĩa là các tổ chức công lập sẽ tự nuôi sống mình nhờ hình thức khoán dựa trên kế hoạch làm nhiệm vụ chuyên môn, hay nhiệm vụ theo chức năng của tổ chức, thay vì cấp khoán kinh phí theo đầu biên chế của tổ chức. Với các tổ chức KH&CN công lập chưa tự trang trải được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên (do nhiệm vụ không mang lại nguồn thu tự thân, hoặc nguồn thu không đủ để bù chi) thì Nhà nước sẽ cấp bù phần kinh phí còn thiếu qua nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng để bảo đảm hoạt động thường xuyên của tổ chức. Tất nhiên, các nhiệm vụ cần trải qua đầy đủ các quy trình xét duyệt, giám sát, nghiệm thu để bảo đảm minh bạch và hiệu quả. Cơ chế cấp kinh phí theo nhiệm vụ như vậy sẽ đem đến hai tác động: (1) Xóa bỏ tư duy bao cấp về kinh phí cấp theo đầu biên chế như trước đây và bảo đảm công bằng trong hoạt động KH&CN, khắc phục tình trạng không làm việc nhưng vẫn hưởng lương; (2) Trao quyền tự chủ cao và mạnh hơn cho người đứng đầu tổ chức với phương châm quyền tự quyết định tùy thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của đơn vị – đơn vị nào càng giảm sự lệ thuộc vào kinh phí tài trợ của Nhà nước thì càng ít bị ràng buộc bởi sự kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời được quyền tự chủ trong quản lý càng cao, thậm chí họ có quyền tự quyết định quy mô nhân sự của tổ chức, thành lập mới hoặc mở rộng các bộ phận trực thuộc nhằm giải quyết yêu cầu công việc đặt ra.   Vì sao quyền tự chủ trong quản lý của các tổ chức KH&CN công lập tùy thuộc vào mức độ tự chủ tài chính?   Điều này chạm đến vấn đề cốt lõi mang tính khách quan của tự chủ, bởi xét đến cùng, tự chủ về tài chính của tổ chức là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và quyết định nhất của sự tự chủ. Tổ chức KH&CN nào chưa tự chủ được về mặt tài chính thì những quyền tự chủ còn lại chỉ mang tính hình thức mà thôi.  Tuy nhiên trong thực tế, các tổ chức nghiên cứu cơ bản thường lệ thuộc nhiều vào kinh phí Nhà nước do không thể hoặc khó thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhưng chính họ lại cần tự do học thuật cao nhất?  Đối với các tổ chức nghiên cứu cơ bản, họ cũng cần lập kế hoạch và dự toán cho từng nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng trong kế hoạch như mọi tổ chức khác, trên cơ sở đó, cơ quan chủ quản sẽ xem xét cấp kinh phí thực hiện. Quyền tự do học thuật ở đây vẫn được đảm bảo, bởi các nhà khoa học trong các tổ chức này hoàn toàn được đề xuất các nhiệm vụ KH&CN để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và cấp kinh phí thực hiện nếu đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật.  Đối với các tổ chức KH&CN công lập làm nghiên cứu ứng dụng, với cơ chế mới họ vẫn có thể tồn tại nhờ thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước phê duyệt. Vậy đâu là động lực để họ tự nguyện từng bước rời xa bầu sữa Nhà nước để có thể tự lực sống nhờ vào thương mại hóa sản phẩm?  Khi xây dựng văn bản, chúng tôi cũng đã tính đến trường hợp nhiều tổ chức nghiên cứu ứng dụng tiếp tục tìm cách dựa dẫm tối đa vào nguồn lực đầu tư từ Nhà nước. Động lực để họ xa rời xu hướng này chính là gắn năng lực tự chủ về tài chính với quyền tự chủ quản lý như đã đề cập trên đây, cụ thể như quyền tự quyết định số người làm việc, mức lương trong đơn vị… Một nét đổi mới khác của nghị định thay thế Nghị định 115 là tạo điều kiện để các tổ chức tự trang trải toàn phần cũng có quyền bình đẳng trong đăng ký, đề xuất các nhiệm vụ do Nhà nước tài trợ kinh phí. Điều này cũng là một động lực cho các tổ chức hướng tới tự chủ về tài chính, bởi tự chủ tài chính không hề làm giảm cơ hội nhận thêm kinh phí tài trợ của Nhà nước cho các nhiệm vụ được Nhà nước giao. Có thể nói, Dự thảo Nghị định mới tạo ra một “sân chơi” sòng phẳng và minh bạch để các tổ chức KH&CN công lập và cơ quan quản lý lựa chọn và quyết định cho mình một hình thức phù hợp, hiệu quả nhất trong tổ chức và hoạt động.  Nêu vấn đề để thực hiện được chứ không phải cho đẹp văn bản  Việc thực hiện Nghị định 115 trên thực tế cũng đã gặp nhiều vướng mắc do sự không tương thích với các quy định quy phạm pháp luật ở tầm trên nghị định, như Luật Cán bộ Công chức hay Luật đất đai. Vậy khi soạn thảo nghị định mới, Bộ KH&CN có cân nhắc đến vấn đề này?     Đúng là có tình trạng nêu trên do một số nội dung tiến bộ của Nghị định 115 lại chưa đồng bộ với những quy định khác của pháp luật, ví dụ theo tinh thần Nghị định 115, một viện nghiên cứu trong nước có thể mời một chuyên gia uy tín của nước ngoài về làm lãnh đạo viện, nhưng quy định của pháp luật về cán bộ, công chức lại không cho phép điều này khi quy định lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập là công chức, và công chức phải là công dân Việt Nam. Tương tự như vậy, quyền sử dụng đất của tổ chức KH&CN công lập theo quy định của Nghị định 115 cũng bị vướng mắc với quy định của pháp luật về đất đai… Vì vậy, khi soạn thảo Nghị định mới, chúng tôi chọn cách đưa vào những vấn đề có thể triển khai thực hiện, tránh đưa những vấn đề tưởng chừng rất hay nhưng chỉ có tác dụng làm đẹp văn bản chứ không thể thực hiện. Tuy nhiên mặt khác, với những nội dung của Nghị định 115 có tính tiến bộ nhưng lại đang vướng mắc do không tương thích với các quy định pháp luật hiện hành, chúng tôi sẽ không loại bỏ mà chỉ thay thế bằng những nội dung mang tính “để mở sẵn”- chẳng hạn như quy định rằng các nội dung này sẽ được căn cứ theo các quy định pháp luật hiện hành. Bằng cách đó, khi các luật liên quan được sửa đổi, Bộ KH&CN sẽ đề xuất để tháo gỡ các vướng mắc nêu trên.   Nghị định lần này về cơ chế tự chủ nếu có triển khai thành công sẽ có khả năng tác động sâu rộng tới các tổ chức và cá nhân nhà khoa học. Vậy cộng đồng khoa học Việt Nam đã có phản hồi gì với các nhà soạn thảo Nghị định lần này?  Trong quá trình soạn thảo nghị định, Bộ KH&CN đã tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo để lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà quản lý, đồng thời cũng gửi Dự thảo Nghị định để xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương, tổ chức KH&CN công lập quy mô lớn… Chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết cộng đồng khoa học Việt Nam đều mong muốn việc quản lý được thực hiện theo thông lệ quốc tế, áp dụng cơ chế tự chủ để qua đó minh bạch hóa các hoạt động KH&CN, thanh lý được những hoạt động đội lốt khoa học và những người đột lốt nhà khoa học và xóa bỏ những gian dối trong hoạt động KH&CN.   Xin cảm ơn ông.   Nhóm phóng viên tạp chí Tia Sáng          Bốn loại hình tổ chức KH&CN công lập được phân loại theo tinh thần của               Nghị định 16/2015/NĐ-CP       1. Tổ chức tự trang trải toàn bộ kinh phí đầu tư phát triển và chi  thường xuyên. Đây là tổ chức giống doanh nghiệp và cần được trao quyền  tự chủ giống như doanh nghiệp.       2. Tổ chức tự trang trải được toàn bộ kinh phí chi thường xuyên nhưng  vẫn phụ thuộc nguồn ngân sách nhà nước về đầu tư phát triển cho cơ sở  vật chất, nhà xưởng…      3. Tổ chức tự bảo đảm một phần kinh phí chi thường xuyên, như các tổ  chức có hình thức thu phí, lệ phí hằng năm mà nguồn thu phí theo quy  định pháp luật được giữ lại theo tỷ lệ cho phép để dành cho trả lương,  khấu hao máy móc, các chi phí trung gian, v.v.       4. Tổ chức được Nhà nước đàm bảo chi thường xuyên, như các viện nghiên  cứu khoa học tự nhiên cơ bản. Nhiệm vụ nghiên cứu của họ là do Nhà nước  tài trợ theo hình thức khoán, bởi tính chất các kết quả nghiên cứu của  họ không thể trực tiếp đưa vào thương mại hóa trên thị trường.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Để thành công trong khoa học?      Trước đây, tôi có dịch một bài viết cũng khá hài hước là “Làm cách nào để thành công trong khoa học”.&#160; Nhiều người đọc bài đó cười một mình, nhưng cười xong thì lại hỏi một cách nghiêm chỉnh: làm thế nào để thành công trong khoa học một cách chân chính? Đó cũng là câu hỏi mà người viết bài này thường gặp khi tiếp xúc với các nghiên cứu sinh và những bạn mới khởi đầu sự nghiệp khoa học.&#160;                                   Trong thực tế, đã có vài bài báo, chẳng hạn như hai bài của Jonathan W. Yewdell (1,2), bàn về câu hỏi đó và cung cấp một số lời khuyên tốt.  Tuy nhiên, những lời khuyên trong hai bài báo đó mang tính “phải đạo”, tức là viết cho “đại chúng” với những lời khuyên chung chung, chứ không cụ thể và không hẳn cho người Việt.     Có lẽ câu hỏi đầu tiên cần phải đặt ra là: thế nào là thành công trong khoa học?  Giới khoa học đã phát triển những thước đo để định lượng sự thành công của một nhà khoa học.  Những thước đo này bao gồm các chỉ số cụ thể như số công trình khoa học, chất lượng công trình khoa học, đạt chức danh giáo sư, thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và được trao giải thưởng trong chuyên ngành (3).  Một đo lường thành công khác là dựa vào lí thuyết vị lợi (Utilitarian theory), tức là dựa vào khái niệm cái gì tốt phải tốt hay đem lại phúc lợi cho cộng đồng (4).  Để đáp ứng định nghĩa “thành công” trên, tôi sẽ lấy kinh nghiệm cá nhân cọ xát với môi trường và văn hóa khoa học ở nước ngoài để cung cấp cho các bạn một số lời khuyên cụ thể như sau:   1. Nên chọn cho mình một chương trình học, một hướng đi. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là mình phải biết mình muốn làm gì và hoàn thành cái gì trong cuộc đời, để từ đó chọn cho mình một hướng đi, một môn học cho thích hợp. Có hướng đi, rồi mới đặt ra “outcome” (chỉ tiêu về thành quả) là gì, và cứ thế mà phấn đấu.  Nhiều bạn trẻ khi học xong không biết mình muốn làm gì, và mất định hướng, và đó là một điều đáng tiếc. Theo tôi, định hướng chung là đem lại phúc lợi cho cộng đồng, cho dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Và, trong điều kiện hiện nay, tôi nghĩ làm gì để đưa đất nước mình lên một tầm cao hơn trên trường quốc tế là một định hướng chung mà các bạn trẻ nên nghĩ đến. Từ định hướng chung rồi sẽ vạch ra những định hướng cụ thể cho từng cá nhân.        Một trong những vấn đề thường hay thấy ở giới trẻ là họ mất định hướng. Nhiều sinh viên sắp tốt nghiệp cho biết họ cảm thấy bỡ ngỡ, không biết ngành nghề mình chọn có “đúng” hay không.  Từ hoang mang dẫn đến nghi ngờ về văn bằng. Có người thậm chí nghĩ rằng mình đã lãng phí thời gian theo học đại học! Tuy nhiên, theo tôi, học hành không bao giờ là một sự lãng phí. Sau khi đã xong chương trình bậc cử nhân, bất cứ ngành nào, người tốt nghiệp đã có một kiến thức về thế giới quan, được rèn luyện để có một cái nhìn tổng thể hơn và được trang bị một tư duy logic và phân tích, tức là những kiến thức và kĩ năng cơ bản rất quan trọng cho bất cứ công việc nào. Chẳng hạn như sinh viên ngành xã hội học, thậm chí nhân văn, vẫn có thể áp dụng những kiến thức và kĩ năng xã hội nhân văn vào những công việc liên quan đến khoa học thực nghiệm. Có một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những bác sĩ y khoa giỏi thường là những người có bằng cấp cử nhân về nhân văn (arts) trước khi theo học y khoa. Do đó, tôi thấy học bất cứ ngành nào, nếu học cẩn thận và chuyên sâu, vẫn rất có ích cho công việc hằng ngày dù công việc đó không đúng với ngành nghề mình tốt nghiệp.    2. Phải kiên trì theo đuổi định hướng của mình.  Trong khi học hành hay làm nghiên cứu, điều đại kị là bỏ cuộc, vì do nản chí hay do lí do nào khác.  Trong quá trình làm khoa học, có thể vài kết quả không xảy ra như ý muốn của mình, hay trong quá trình học hành nhiều khi thành quả không như mình mong đợi, và nên xem đó là chuyện bình thường.  Quan trọng nhất là không nên đầu hàng với khó khăn, mà phải suy nghĩ tìm cách khắc phục khó khăn.  Nguyễn Bá Học từng nói “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.  Người phương Tây cũng có câu tương tự: “If there is a will, then there is a way” (nếu có ý chí thì phải có hướng đi). Do đó, không nên vì một vài thất bại mà thối chí, mà phải kiên trì theo đuổi mục tiêu cho bằng được. Có thể không thể hoàn thành bây giờ, nhưng vẫn phải đặt mục tiêu dài hạn cho tương lai.     3. Chọn trường hay trung tâm tốt. Những trường hay trung tâm tốt, có tiếng trên thế giới là những nơi lí tưởng để học hỏi và làm việc. Người Việt chúng ta có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, và tôi thấy đây là một câu nói rất thích hợp cho các bạn đang trong quá trình phấn đấu để chọn cho mình một nơi để trao dồi kiến thức và đóng góp cho khoa học. Trong bất cứ ngành nào cũng có nhiều trường đào tạo tiến sĩ hay thạc sĩ, nhưng chất lượng không đồng đều nhau. Trường tốt và có đẳng cấp quốc tế thường đòi hỏi nghiên cứu sinh cao hơn trường bình thường. Trong bóng đá người ta phân biệt giữa đẳng cấp và phong độ; một phân biệt tương tự cũng áp dụng trong khoa học.     Các trường và trung tâm có tiếng là nơi mà sinh viên có cơ hội gặp và trao đổi ý tưởng với những người rất thông minh, hoặc những người ở một “đẳng cấp quốc tế” mà mình có thể học rất nhiều từ họ. Còn những trường xoàng xĩnh thì cơ hội tiếp cận tri thức khoa học tiền phong rất thấp. Đối với nghiên cứu sinh Việt Nam thì có lẽ đây là điều hơi khó, bởi vì nhiều khi người ta cho học bổng mà mình không có lựa chọn, nhưng vẫn phải suy nghĩ đến “hậu sự”, khi tốt nghiệp mình sẽ tiếp cận hay làm việc ở một nơi có tiếng tốt.      4. Nên chọn thầy cô tốt. Những thầy cô “tốt” ở đây không chỉ là những người có tiếng trên trường quốc tế, mà còn là những người có cách đào tạo nghiên cứu sinh tốt. Thầy cô có tiếng chỉ làm những nghiên cứu tiền phong và có giá trị cao, và họ ở một đẳng cấp rất khác với đám đông. Làm việc hay theo học với thầy cô nổi tiếng, nghiên cứu sinh có lợi thế là cũng được “thơm lây”, được hưởng lợi từ danh tiếng của thầy cô mình.      Thầy cô danh tiếng là một điều tốt, nhưng tử tế là một điều tốt khác. Trong khoa học, có nhiều dạng thầy cô, trong đó có thể kể đến 3 dạng chính: linh hoạt, độc tài, và vua chúa. Thầy cô linh hoạt là người chỉ định hướng cho nghiên cứu sinh, ít can thiệp, và hay tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tự do theo đuổi ý tưởng của mình. Thầy cô độc tài là người đòi kiểm soát tất cả những gì nghiên cứu sinh làm và phải làm theo ý của họ, dứt khoát không cho nghiên cứu sinh tự do theo đuổi ý tưởng của mình. Dạng thứ ba là những thầy cô có tính vua chúa, xem nghiên cứu sinh như là nô lệ, là máy sản xuất bài báo để cho họ tiến thân hay hưởng lợi từ công trình của nghiên cứu sinh. Những thầy cô cấp giáo sư thực thụ thường là người linh hoạt, còn dạng độc tài và vua chúa thường là giáo sư cấp thấp hay những người đang phấn đấu để thành giáo sư thực thụ. Trong thời đại Internet, không khó mấy để nhận ra những người thầy cô có tiếng, nhưng khó mà biết thầy cô đó thuộc dạng linh hoạt, độc tài, hay vua chúa. Thật ra, có thể nhìn qua các bài báo trước của các giáo sư và xem vị trí tác giả của họ cũng có thể đoán được họ thuộc thầy cô dạng gì.     5. Phải tương tác và hợp tác với đồng nghiệp. Tôi nghiệm ra một điều là để nâng cao năng suất khoa học, nhà khoa học phải tương tác và hợp tác với đồng nghiệp khác chuyên ngành. Nhiều ý tưởng hay thường xuất phát từ những mối tương tác như thế. Không bao giờ chỉ chăm chăm nhìn vào vấn đề theo cái nhìn của ngành mình, mà phải hỏi các đồng nghiệp ngành khác xem họ nghĩ gì về ngành mình và cách làm của mình. Chẳng hạn như các chuyên gia ngành vật lí có khi có những ý tưởng hay cho ngành y khoa, và trong thực tế sự phối hợp của hai ngành này đã dẫn đến nhiều khám phá quan trọng.      6. Lúc nào cũng nhìn về cái “big picture”- bức tranh lớn. Làm khoa học, như chúng ta biết là tập trung vào những vấn đề nhỏ, rất chi li, rất chi tiết (gọi là reductionism), nhưng nếu chỉ vùi đầu vào những chuyện như thế thì khó mà đi xa được. Vì thế, dù tập trung tâm trí và sức lực vào “chuyện nhỏ”, nhưng lúc nào cũng phải có cái nhìn tổng thể của chuyên ngành để biết mình đang ở đâu và đặt công trình của mình trong bối cảnh của bức tranh toàn cục. Có cái nhìn toàn cục cũng là một cách định hướng tốt cho giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ.     7. Nắm lấy phương pháp. Khoa học nói cho cùng là vấn đề phương pháp. Người nào nắm lấy được phương pháp, người đó sẽ ở vị trí “thượng tôn”. Nắm lấy phương pháp và kĩ thuật dễ giúp cho mình trở thành một người độc lập, không phụ thuộc vào người khác. Tôi thấy nhiều nhà khoa học cấp giáo sư phương Tây họ nói rất giỏi, nhưng khi đụng đến phương pháp thì họ rất yếu. Làm chủ được phương pháp và kĩ thuật, nhà khoa học có trong tay một “vũ khí” hay một phương tiện quan trọng để có thể thích ứng trong nhiều tình huống. Điều này đòi hỏi nghiên cứu sinh cần phải học từ căn bản, chứ không phải chỉ ứng dụng những gì người khác đã làm sẵn. Nắm lấy được phương pháp còn có hiệu quả là sau này nghiên cứu sinh có thể trở thành độc lập và huấn luyện lại cho thế hệ sau.      8. Tập thói quen hoài nghi và đặt vấn đề, phát hiện vấn đề. Nhiều phát hiện qui luật bình thường trong khoa học bắt đầu từ những quan sát bất bình thường. Do đó, phải tập cho mình một tính hoài nghi, không phải là kiểu hoài nghi bác bỏ ý kiến người khác (tức không phải như cynicism), mà là đặt câu hỏi tại sao: tại sao có sự bất bình thường. Từ đó, tìm hiểu, suy nghĩ, và tìm cách giải thích sự bất bình thường.      Ngoài một số sinh viên xuất sắc của ta, tôi thấy đứng trên bình diện quần thể mà nói, sinh viên Việt Nam nói chung thiếu kĩ năng đặt vấn đề và đó là một khiếm khuyết khi theo học hậu đại học. Ở những năm đầu đại học sinh viên Việt Nam học tương đối giỏi, nhưng khi lên đến cấp nghiên cứu sinh (tức lúc đòi hỏi một sự độc lập trong học hành và sáng tạo) thì sinh viên Việt Nam yếu kém rõ rệt. Điều này đúng vì mỗi khi tôi đọc lại sách xưa thấy người xưa cũng nhận xét như thế rồi. Chẳng hạn như cách đây hơn 60 năm, cụ Đào Duy Anh, khi nhận xét về tính cách của người Việt, đã viết: “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lí. Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động… Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc”. Vì số nghiên cứu sinh ít, và cũng không bao nhiêu người theo đuổi con đường khoa bảng, nên chúng ta không có nhiều nhà khoa học.      Có lẽ chúng ta không có thói quen hoài nghi. Có thể nói từ xưa, nước ta không có một truyền thống khảo cứu khoa học. Hệ thống giáo dục của nước ta ngày xưa được bắt chước theo mô hình giáo dục của Trung Quốc. Hệ thống này đòi hỏi người học sinh phải tuân theo sách vở một cách máy móc, và không khuyến khích sự tự do tìm tòi, thử nghiệm, hay chất vấn. Khi người Pháp vào Việt Nam,  mục tiêu của hệ thống giáo dục Pháp là đào tạo những thầy thông, thầy phán, hay quan chức để thực thi đường lối chính sách của người cai trị. Ngay cả ngày nay báo chí nêu hiện tượng người ta theo học thạc sĩ hay tiến sĩ chỉ vì để thăng quan tiến chức, chứ không phải để làm khoa học. Hậu quả là định hướng học tập đó làm cho người học sinh tiêm nhiễm cái tâm lí hám danh và sính bằng cấp, học ra để làm quan, làm ông nghè hay nhằm giật được một mảnh bằng để làm rạng danh gia đình hay khoe cùng người hàng xóm, chứ không nhằm đóng góp kiến thức hay mang lại phúc lợi cho xã hội và nhân loại. Hệ quả là sinh viên không được khuyến khích đi tìm hiểu những sự việc, hiện tượng chung quanh chúng tôi xảy ra như thế nào và tại sao? Kết quả cuối cùng là nhiều thế hệ sinh viên không có cơ hội nghiên cứu khoa học, và kiến thức về người Việt Nam và đất nước Việt Nam lại nằm trong tay của người nước ngoài.     9. Rèn luyện kĩ năng thông tin và truyền đạt. Đây là một điểm yếu của nghiên cứu sinh người Việt mình. Tôi thấy có nhiều sinh viên làm giỏi, nhưng đến khi trình bày những nghiên cứu thì họ trở nên lúng túng, có khi ngờ nghệch! (Trong khi đó, có không ít nghiên cứu sinh Mỹ hay Úc họ nói cực kì hay, nhưng làm thì rất dở!) Do đó, để thành công trong khoa học, không thể nào xem nhẹ các kĩ năng về thông tin và truyền đạt. Tôi vẫn nghĩ các đại học Việt Nam nên có những lớp học dạy cho sinh viên những kĩ năng về thông tin để họ không bị thiệt thòi khi ra “đấu trường” quốc tế. Tôi có nhiều kinh nghiệm và bài học “đau thương” về vấn đề này khi mới vào học, nên tôi rất tâm huyết và quyết tâm chia sẻ nhiều bài học với các bạn trẻ hơn để họ không phải như tôi mấy chục năm về trước.      10. Lúc nào cũng giữ mình đứng vị trí trên hay tiếng Anh gọi là “stay above”. Trong hoạt động khoa học, nhất là đối với giới trẻ, đôi khi có những va chạm và tranh chấp với đồng nghiệp khác, hay bị đồng nghiệp chỉ trích. Ngày xưa, lúc còn trẻ, tôi rất hăng tranh luận trên các tập san khoa học (và cũng bị người khác chỉ trích). Lúc đó, sếp tôi dạy cho là phải “stay above” (chắc cũng giống như cách hành xử của người “quân tử” ngày xưa), tức là phải đứng trên những tranh chấp đó, và tập trung vào việc mình làm, chứ không nên dính dáng vào những tranh luận có thể làm giảm sự tập trung và làm lạc định hướng của mình.      Riêng đối với các bạn nữ, tôi có lời khuyên như thế này: trong khoa học, không có thái độ “thục nữ”, mà phải tỏ ra mình ngang hàng với nam giới. Truyền thống Việt Nam và Á châu thường khuyên nữ giới nên có thái độ thục nữ, như ăn nói nhỏ nhẹ, nhường nhịn, khiêm cung, v.v… Nói chung là những lời khuyên khá… thụ động. Thật ra, những lời khuyên đó cũng chẳng có gì quá đáng hay sai, nhưng tôi thấy không thích hợp trong hoạt động khoa học. Có lẽ từ những lời khuyên “thục nữ” đó dẫn đến hệ quả là nhiều nghiên cứu sinh nữ khi ra nước ngoài học có thái độ nhún nhường so với đồng môn nam giới, ít tranh luận, hay tranh luận thì nói… nhảm. Đó là một sự thiệt thòi. Nhưng trong khoa học không có những vị trí của thục nữ, mà là bình đẳng và đối đầu với dữ liệu thực tế. Trong khoa học, nữ (hay nam) nên tỏ ra quả quyết (assertive) và kiên trì trong thảo luận, chứ không nên nhún nhường bất cứ ai. Xin nói lại là kiên định và quả quyết – chứ không phải gây hấn hay hung dữ (aggressive)!   Trong thời đại ngày nay, tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc học hành và làm việc. Có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh là ngôn ngữ của khoa học và học thuật ngày nay. Các hội nghị quốc tế đều dùng tiếng Anh.  Hầu hết các tạp chí khoa học quốc tế cũng dùng tiếng Anh là ngôn ngữ chuyển tải thông tin. Vì thế, để thành công trong khoa học, các bạn trẻ phải quyết tâm (xin nhấn mạnh: tôi nói “quyết tâm”) học tiếng Anh cho thật tốt, không để mình bị thiệt thòi so với các đồng nghiệp phương Tây.   Trên đây là những lời khuyên cụ thể xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân. Chắc chắn những lời khuyên trên chưa đầy đủ, nhưng cũng cung cấp cho các bạn một số thông tin để định hướng trở thành một nhà khoa học thành công – thành công hiểu theo nghĩa đem lại phúc lợi cho cộng đồng và đất nước. 1    Đọc thêm:   1.  Yewdell JW.  How to succeed in science: a concise guide for young biomedical scientists. Part I: taking the plunge. Nature Reviews Molecular Cell Biology 9, 413-416.   2.  Yewdell JW.  How to succeed in science: a concise guide for young biomedical scientists. Part II: making discoveries. Nature Reviews Molecular Cell Biology 9, 491-494.  3. Resnik DB. The Ethics of Science: An Introduction (Routledge: London and New York, 1998)  4.  Goodin RE.  Utility and the Good’ trong P. Singer (ed.) in A Companion to Ethics (Blackwell, 1991)  Bài liên quan:  Làm cách nào để thành công trong khoa học?  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=3368        Author                Quản trị        
__label__tiasang Để tự chủ thành công      Trong khi phần lớn các tổ chức KH&amp;CN công lập trên cả nước còn chậm trễ trong triển khai cơ chế tự chủ theo Nghị định 115 của Chính phủ năm 2005, chưa thể dựa vào nguồn kinh phí từ các đề tài, nhiệm vụ, và thương mại hóa kết quả nghiên cứu để tự nuôi mình, thì Học viện Nông nghiệp Việt Nam bằng những chính sách hợp lý đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ, từng bước “cai sữa” thành công cho nhiều đơn vị nghiên cứu của mình.       Không chờ tới Nghị định 115 năm 2005 của Chính phủ về quy chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN, ngay từ năm 2000 Học viện Nông nghiệp Việt Nam (khi đó là Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã chủ động thử nghiệm cơ chế tự chủ với đơn vị tiên phong đầu tiên là Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp, để rồi tiếp tục lan tỏa sang các đơn vị khác. Đến nay, Học viện đã có tới 17 Viện và Trung tâm nghiên cứu triển khai tự chủ thành công. Nhưng nguyên nhân mấu chốt khiến các tổ chức này tự chủ thành công là (1) người đứng đầu là một nhà khoa học có uy tín, có sức cảm hóa và tập hợp các nhà khoa học khác, dám dấn thân chỉ để khẳng định các nhà khoa học Việt Nam có thể sống đàng hoàng, tử tế bằng khoa học; (2) có chiến lược dài hạn và trung hạn rõ ràng, khả thi, không bị các chương trình KH&CN kiểu ăn đong ở đâu đó lôi cuốn, (3) môi trường làm việc chuyên nghiệp trên tinh thần “tình cảm trong sáng, kinh tế sòng phẳng” với tất cả mọi người, (4) liên tục chăm lo xây dựng đội ngũ, (5) thước đo giá trị của các thành viên là các công bố quốc tế và lượng tiền mang về trung tâm. Họ đã dũng cảm thoát ra khỏi bầu sữa do ngân sách Nhà nước tài trợ để được tự do nghiên cứu những gì họ tự thấy là cần cho dân cho nước, cần cho sự hội nhập quốc tế.   Mỗi viện/trung tâm nghiên cứu khi mới thành lập phải đệ trình và bảo vệ thành công đề án; và khi được Hội đồng Khoa học và giáo dục chấp nhận thì họ được “nuôi” ba năm, sau đó từ từ cai sữa trong hai năm tiếp theo để sau năm năm thành lập, tất cả các viện/trung tâm này tự sống bằng chính tiềm lực KH&CN của mình. Không những thế, từ năm thứ năm họ còn phải có trách nhiệm đóng góp vào Quỹ Khoa học và Công nghệ của Học viện. Sắp tới, để các viện/trung tâm không bị phân tâm vì hạn chế thu nhập cho cán bộ nghiên cứu, Học viện sẽ áp dụng chính sách mỗi viện/trung tâm nghiên cứu được hưởng năm suất ‘biên chế’ do kinh phí của Học viện chi trả với một điều kiện, trong ba năm liên tiếp buộc phải có ít nhất một công bố trên các tạp chí ISI, hoặc ít nhất một sản phẩm khoa học ứng dụng phục vụ nhu cầu kinh tế – xã hội được thừa nhận rộng rãi. Mỗi bài báo quốc tế, mỗi sản phẩm được xã hội thừa nhận được Học viện thưởng 25 triệu đồng và tác giả của các công trình đó được mặc nhiên thừa nhận là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và được xét lên lương sớm nếu không có các vi phạm pháp luật hoặc vi phạm các quy định của Học viện.        Tiếp tục bao cấp cho những đơn vị kém hiệu quả thì sẽ không đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự công bằng, khiến những đơn vị khác sẽ mất đi động lực phấn đấu để tự chủ.        Chính sách tài trợ ưu đãi dựa trên các sản phẩm công việc như vậy đã thúc đẩy một số tổ chức nghiên cứu của Học viện vừa làm tốt việc nghiên cứu, vừa có những sản phẩm ứng dụng hữu ích cho xã hội. Ví dụ Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học Khoa Thú y – một đơn vị vẫn đang được Học viện tài trợ một phần nhưng chuẩn bị bước vào giai đoạn “cai sữa” hoàn toàn – là nơi vừa làm nghiên cứu với nhiều đề tài cấp Nhà nước và công bố quốc tế, đồng thời có nhiều ứng dụng thực tiễn với vài nghìn mẫu phân tích mỗi năm theo nhu cầu của doanh nghiệp và người nông dân. Hiện nay, Phòng đang nghiên cứu để cùng công ty RTD sản xuất ra vắcxin bệnh tai xanh ở lợn made in Vietnam, một công trình dự kiến được hoàn thành trong 2015-2016, sẽ mang lại những lợi ích kinh tế – xã hội to lớn, không chỉ giúp người nông dân có thêm nguồn vắcxin bảo vệ đàn lợn, mà còn tiết kiệm cho đất nước một khoản đáng kể do lâu nay vẫn phải nhập khẩu vắcxin chống tai xanh từ Trung Quốc.   Tuy nhiên, trong thực tế, tự chủ hóa các đơn vị nghiên cứu là một tiến trình cam go, đầy chông gai và thách thức. Sau giai đoạn được Học viện bao cấp, ngoài 17 viện/trung tâm có thể tự đứng vững trên trên đôi chân của mình, đã có ba trung tâm thất bại, đó là những đơn vị không thể tự nuôi được mình, cũng không có sản phẩm nghiên cứu các công bố quốc tế trên tạp chí ISI hoặc các sản phẩm ứng dụng phục vụ xã hội. Cả ba đơn vị này đều đã phải giải thể, những người lãnh đạo và bộ máy nhân sự phải điều chuyển sang những công việc khác.“Nếu chúng tôi không làm như vậy mà vẫn tiếp tục bao cấp cho những đơn vị kém hiệu quả thì sẽ không đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự công bằng, khiến những đơn vị khác sẽ mất đi động lực phấn đấu để tự chủ”, một lãnh đạo của Học viện cho biết.   Những tác nhân mấu chốt để tự chủ thành công  Ngoài yếu tố áp lực buộc phải tự chủ, thì một tác nhân khác đóng vai trò quyết định là ở người lãnh đạo các đơn vị. “Người đó phải có năng lực tổ chức chuyên nghiệp và đặc biệt là phải biết thu hút, trọng dụng nhân tài, biết dấn thân để khẳng định mình, khẳng định hướng nghiên cứu của mình và của đơn vị mình”. Muốn vậy thì không chỉ cần kỹ năng quản lý mà còn đòi hỏi năng lực chuyên môn cao. Người đứng đầu không có công trình công bố quốc tế trên các tạp chí ISI thì rất khó thuyết phục các đồng nghiệp của mình có công bố quốc tế;  đồng thời phải từng được đào tạo và nghiên cứu ở môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Chính vì vậy, cán bộ nghiên cứu của Học viện phải có tối thiểu một bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ (tốt nhất là có cả bằng Thạc sỹ và Tiến sỹ) do các trường đại học nằm trong top 200 trường đại học nước ngoài do tạp chí Times Higher Education (The World University Ranking) xếp hạng cấp. Không phải tất cả, nhưng phần lớn các nhà khoa học này đều có tư duy sáng tạo, có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động nghiên cứu một cách chuyên nghiệp, bài bản từ những nền KH&CN phát triển.            TS. Đỗ Đức Lực, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, giới thiệu một cơ sở nghiên cứu               giống lợn chất lượng cao của Bỉ. TS. Lực cho biết giống lợn này mang lại cho người nông dân doanh thu cao hơn các giống thông thường của Việt Nam khoảng 3-5 nghìn đồng/kg.          Bên cạnh đó, tổ chức KH&CN cần xây dựng từ đầu những mục tiêu phát triển và một kế hoạch tổng thể hợp lý. Do có chiến lược phát triển đúng đắn, với những nỗ lực thực hiện bền bỉ qua từng nhiệm vụ KH&CN, các viện/trung tâm nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã từng bước tích lũy được các hệ thống trang biết bị tương đối hiện đại so với các nước lân cận trong cùng khu vực. “Một số nhà khoa học từ các nước Đông Nam Á như Malaysia khi đến làm việc tại phòng thí nghiệm của Học viện đã nói rằng các trang thiết bị mà chúng tôi đang có là niềm mơ ước của họ”, một trưởng phòng thí nghiệm tự hào chia sẻ.  Các tổ chức nghiên cứu phải xây dựng cho mình một quy chế hoạt động hợp lý, trong đó các chế độ lương, thưởng phải công khai, minh bạch, tương xứng công bằng với kết quả công việc. Về phía Học viện cũng có những chính sách thưởng – phạt phân minh đối với các tổ chức nghiên cứu.  Cuối cùng, để đảm bảo tính ổn định, bền vững, và sự phát triển lâu dài, Học viện yêu cầu các viện/trung tâm nghiên cứu trích lập quỹ do viện/trung tâm quản lý (Quỹ phát triển KH&CN, Quỹ khen thưởng, Quỹ ổn định thu nhập, Quỹ phúc lợi, …) với sự giám sát của Học viện, nhằm dự phòng cho các khoản kinh phí khấu hao trang thiết bị, đầu tư mới, các nghiên cứu mang tính thử nghiệm mở đường, v.v.  Các hiệu ứng lan tỏa tích cực  Tiến trình tự chủ hóa đã tạo động lực để các trung tâm nghiên cứu tiến hành những hoạt động nghiên cứu một cách thực chất, đồng thời cho phép họ tự do, chủ động xây dựng đội ngũ các nhà khoa học giàu năng lực, với một cơ chế hoạt động linh hoạt phù hợp với đặc thù các hoạt động KH&CN. Bên cạnh đó, còn giúp tăng cường tính độc lập vốn rất cần thiết ở các tổ chức khoa học, ví dụ các trung tâm, phòng thí nghiệm có thể tiến hành phân tích và trực tiếp đưa ra những kết luận mang tính độc lập theo yêu cầu của người dân và các doanh nghiệp, thay vì bị ràng buộc bởi các quy định về chia sẻ những thông tin gắn với các đề tài, nhiệm vụ KH&CN của Nhà nước.         Các tổ chức nghiên cứu phải xây dựng cho mình một quy chế hoạt động hợp lý, trong đó các chế độ lương, thưởng phải công khai, minh bạch, tương xứng công bằng với kết quả công việc.        Đồng thời, sự tự chủ cũng cho phép Học viện và các trung tâm nghiên cứu tạo một môi trường phát triển thích hợp cho các nhà khoa học trẻ, khi một phần nguồn kinh phí trích lập từ các trung tâm nghiên cứu được Học viện phân bổ vào các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu cấp trường, với giá trị có thể lên tới 400 triệu đồng cho mỗi đề tài. Đây chính là sân chơi phù hợp để các nhà khoa học trẻ, đặc biệt là những người được đào tạo ở nước ngoài về, đề xuất các ý tưởng nghiên cứu– Học viện tạo điều kiện cho mọi ý tưởng nghiên cứu hữu ích có khả năng ứng dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam. Qua đó, các nhà khoa học trẻ có thể tích lũy thêm những kinh nghiệm và điều kiện cần thiết trước khi đăng ký các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và đề tài của Quỹ Nafosted. Đây là chính sách tạo bước đệm cần thiết, mà nếu không có thì các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở quốc tế sẽ rất khó để thích nghi với môi trường nghiên cứu trong nước, và chỉ sau vài ba năm họ sẽ thui chột, lãng phí tài năng và những kiến thức chuyên môn tích lũy từ nước ngoài.                 Nhóm PV Tia Sáng thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Để xây dựng một tạp chí  khoa học đẳng cấp quốc tế      Dư luận ồn ào gần đây về việc tranh chấp quyền sở hữu tạp chí Asian-Pacific Journal of Computational Engineering giữa GS. Nguyễn Đăng Hưng và Đại học Tôn Đức Thắng đã ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của giới khoa học Việt Nam, đồng thời cho thấy có những sự hiểu sai về quyền sở hữu một tạp chí đẳng cấp quốc tế. Để làm rõ vấn đề này, nhóm phóng viên Tia Sáng đã có cuộc phỏng vấn GS. Hoàng Tụy, người từng tham gia ban biên tập của một số tạp chí toán học quốc tế.    Xin giáo sư cho biết để hình thành một tạp chí khoa học theo thông lệ quốc tế, người ta thường làm như thế nào?  GS. Hoàng Tụy: Từ xưa, các tạp chí khoa học vốn do các đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội khoa học lập ra và tự xuất bản. Đến bây giờ số tạp chí như vậy vẫn rất nhiều. Nhưng khi đã xuất hiện những nhà xuất bản (NXB) lớn chuyên kinh doanh việc xuất bản và phát hành sách và tạp chí khoa học, thì nhiều tạp chí thấy việc tự xuất bản và phát hành không hiệu quả bằng hợp tác với một NXB có uy tín để nhượng hẳn việc xuất bản và phát hành tạp chí cho NXB. Trong trường hợp này,  tạp chí vẫn thuộc quyền chủ quản của tổ chức đã lập ra nó, NXB chỉ lo việc xuất bản. Cũng có trường hợp một nhóm nhà khoa học về một chuyên ngành nào đó muốn ra một tạp chí về chuyên ngành đó thì sau khi thỏa thuận với nhau về tổng biên tập (TBT) và thành phần ban biên tập thì TBT chịu trách nhiệm thay mặt đứng ra thương thảo với NXB để lập ra tạp chí. Khi đó tạp chí là của NXB (tức là bản quyền thuộc NXB), tuy NXB vẫn không can thiệp vào việc tổ chức biên tập, việc này vẫn để thuộc quyền TBT. Trong mọi trường hợp, mỗi bài được đăng đều do tác giả ký nhượng bản quyền bài đó cho tổ chức (NXB, trường, viện) chủ quản tạp chí đó.    Trong khoảng chục năm gần đây đã ra đời loại tạp chí truy cập tự do (open access). Bài muốn đăng ở tạp chí loại này thì tác giả phải trả tiền cho NXB, nhưng khi đã đăng thì có thể truy cập tự do trên mạng. Trái với các tạp chí thông thường đã có trước đây là loại phải “đặt mua”, bài đăng ở đây thì tác giả không mất tiền để được đăng, nhưng độc giả phải trả tiền đặt mua từng năm, hoặc truy cập từng bài. Ngày nay các tạp chí loại “đăt mua” quá nhiều rồi, lập ra thêm một tạp chí loại đó rất khó tiêu thụ, cho nên các  NXB thường khó nhận xuất bản thêm tạp chí mới loại này. Trái lại  kinh doanh tạp chí tự do truy cập (TDTC) thu lãi lớn, cho nên các NXB dễ chấp nhận. Cũng vì lẽ đó, thị trường tạp chí TDTC rất sôi động, đã xuất hiện những NXB chỉ chuyên cho ra tạp chí TDTC. Trong tình hình đó tất nhiên nảy ra xu hướng thương mại hóa tiêu cực, cho nên có những tạp chí TDTC có chất lượng rất thấp.       Vậy thưa giáo sư, chúng ta đã có những mối quan hệ hợp tác giữa các trường/viện trong nước và các nhà xuất bản quốc tế để xây dựng tạp chí khoa học như vậy chưa?  Tạp chí Vietnam Journal of Mathematics là ví dụ về một tạp chí loại “đặt mua”  trước đây do ta tự xuất bản, từ vài năm nay đã do NXB Springer hợp tác với ta xuất bản. Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica cũng như vậy. Phía ta là chủ của tạp chí, cử TBT và Ban Biên tập, phụ trách toàn bộ nội dung tạp chí và bản thảo điện tử, còn Springer lo việc xuất bản và phát hành, theo những điều khoản đã thỏa thuận. Một ví dụ khác là gần đây, có tờ Vietnam Journal of Computer Science là một tạp chí TDTC đã ra đời, do Đại học Nguyễn Tất Thành (ĐH NTT) mời được GS Nguyễn Ngọc Thanh, một nhà khoa học Việt kiều Ba Lan có tiếng nhận đứng ra làm TBT và thành lập ban biên tập, đồng thời cử một người của ĐH NTT làm assistant editor (trợ lý biên tập), rồi  liên hệ với Springer đề nghị NXB này nhận thành lập tạp chí theo những điều kiện trên. Trong trường hợp này, Springer là chủ của tạp chí và xuất bản tạp chí với sự hợp tác của  ĐH NTT (điều này được ghi rõ trên trang bìa của tạp chí).   Giới khoa học Việt Nam luôn mong đợi sự ra đời những tạp chí trong nước được lọt vào danh sách ISI, trong đó người ta thường kỳ vọng nhiều ở toán học và vật lý là những ngành mà Việt Nam có thế mạnh. Vậy vì sao trong hai ngành này chúng ta vẫn chưa xây dựng được các tạp chí trong danh sách ISI?    Trước đây chúng ta có những khó khăn, hạn chế rất lớn về nguồn lực, khả năng và điều kiện kỹ thuật trong việc xuất bản các tạp chí khoa học có chất lượng cao, cả về nội dung và hình thức. Ví dụ như  hai tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics tuy đã ra đời được mấy chục năm nay, nhưng trước đây điều kiện thông tin liên lạc còn hạn chế, kỹ thuật in lạc hậu, việc xếp chữ mang tính thủ công nên rất khó cho việc in ấn các ký hiệu toán học, báo thường xuyên phát hành trễ, giấy in xấu, chữ in lèm nhèm nên bán rất khó khăn, chủ yếu chỉ dùng để trao đổi với các đại học nước ngoài mà cũng vô cùng vất vả và khó khăn. Dễ hiểu là trong những điều kiện đó làm sao thu hút được bài vở có chất lượng. Dù vậy ngay thời đó, hai tạp chí đó cũng đã được Math Review điểm duyệt thường xuyên và cũng đã có một số ít bài được đồng nghiệp quốc tế quan tâm, trích dẫn và đánh giá cao.   Hơn chục năm nay, hai tạp chí toán của ta đã được cải tiến đáng kể, về cả nội dung và hình thức đang tiến nhanh tới chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, trở ngại vẫn còn nhiều. Bên cạnh đó, việc đăng bài trên các tạp chí quốc tế gần đây được coi là điều kiện để được xét duyệt các đề tài nghiên cứu – ví dụ Quỹ Nafosted yêu cầu các đề tài trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đều phải có công bố quốc tế trên các tạp chí ISI. Việc xét chức danh PGS, GS cũng dần dần đi theo xu hướng đó. Phải nói đó là xu hướng lành mạnh, tích cực. Nhưng đồng thời, mặt trái của nó là đối với những nhà khoa học có năng lực, đăng bài trên tạp chí trong nước ít nhiều là một sự hi sinh. Không mấy người thích đăng ở tạp chí trong nước, những bài viết tốt đều tìm cách đăng ở tạp chí nước ngoài, khiến chất lượng bài đăng trên các tạp chí trong nước không cao. Tất nhiên đây cũng là điều tự nhiên, từ trình độ lạc hậu đi lên không thể tránh được những chuyện như vậy.   Vì sao một số tạp chí của các nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan có chất lượng không hơn tạp chí của Viện Toán học nhưng vẫn được nằm trong danh sách ISI?  Chuyện này tôi nghe nói nhiều, nhưng thật tình tôi chưa có dịp kiểm chứng. Ở Thái Lan hay Malaysia, những người lập ra tạp chí phần lớn học từ Mỹ về và khi trở về nước họ vẫn giữ mối quan hệ tốt với thầy, bạn ở Mỹ. Đất nước họ từ lâu đã hội nhập quốc tế, tờ báo của họ ít nhất về hình thức không khác quốc tế mấy. Nhờ những yếu tố đó, việc được lọt vào danh sách ISI thuận lợi hơn ta nhiều. Chưa kể, tiền bạc cũng đóng vai trò nhất định. Tôi nghĩ việc có tạp chí lọt vào danh sách ISI hay có đại học lọt vào tốp mấy trăm trong các bảng xếp hạng quốc tế, ta cũng chỉ nên quan tâm vừa phải thôi. Một số nước phát triển dùng một bảng xếp hạng các tạp chí khoa học, không phụ thuộc danh sách ISI mà chỉ căn cứ trên chất lượng thật, chia các tạp chí trên thế giới làm bốn hạng: A* cao nhất, rồi đến A, B, C; C là hạng cuối trong thang đó. Trong bảng này các tạp chí của Malaysia và Thái Lan được xếp cùng hạng C với hai tạp chí của ta. Cho nên tôi có đề nghị Nafosted nên tham khảo bảng này, thay vì chỉ chú ý ISI.  Theo giáo sư, chúng ta cần có những giải pháp gì để các tạp chí khoa học trong nước được xuất bản bởi những nhà xuất bản nổi tiếng – một trong những yếu tố quan trọng để tạp chí dễ vào danh sách ISI?   Chỉ có cách là chúng ta tự cải thiện năng lực của mình và tăng cường các mối quan hệ với cộng đồng khoa học quốc tế, từ đó giành được sự quan tâm của những nhà xuất bản quốc tế có uy tín cùng tham gia xuất bản và quảng bá các tạp chí khoa học của Việt Nam. Chẳng hạn, mấy năm qua, mối quan hệ giữa Viện Toán học và giới toán học quốc tế có cải thiện rõ rệt do một số nhà toán học của ta tạo được uy tín tốt với cộng đồng toán quốc tế. Đặc biệt đối với các NXB lớn như Springer, nhiều nhà khoa học của ta có vai trò trong ban biên tập của nhiều tạp chí của họ, hoặc có sách chuyên khảo do họ xuất bản. Bên cạnh đó, một số thành tích nổi bật của các nhà toán học của ta thời gian gần đây, những hội thảo quốc tế về Toán có chất lượng cao do ta tổ chức, có sự tham gia của nhiều người nổi tiếng thế giới, kể cả Chủ tịch hay Tổng Thư ký Hội Toán quốc tế, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại đã gây ấn tượng khiến hai năm gần đây, tạp chí Vietnam Journal of Mathematics do phía Việt Nam tự xuất bản đã được xuất bản bởi Springer.    Với những tiến bộ đáng kể ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, cùng với giới khoa học của chúng ta cũng có ý thức chăm lo hơn đến chất lượng của tạp chí mình, tôi tin trong vòng ít năm nữa ta sẽ có tạp chí lọt vào danh sách ISI.  Xin trân trọng cảm ơn giáo sư!         Là người từng được mời tham gia ban biên tập hoặc làm tổng biên tập  một số tạp chí khoa học quốc tế, xin giáo sư chia sẻ về khó khăn lớn nhất mà ông từng trải qua trước đây khi hợp tác làm các tạp chí khoa học quốc tế?  Tôi nhớ lần đầu tiên tôi được mời tham gia một tạp chí quốc tế là năm 1976. Hôm ấy, ở Budapest, trong phiên họp toàn thể của Hội thảo Quốc tế về Qui hoạch Toán học (mathematical programming), sau khi đọc xong báo cáo mời tôi vừa trên diễn đàn bước xuống thì Balinski, TBT tạp chí MP (Mathematical Programming), đến gặp và tỏ ý mời tôi tham gia ban biên tập của tạp chí. Thời đó, liên hệ với Phương Tây rất khó, các nhà khoa học muốn hợp tác chuyên môn với nước ngoài phải xin phép trước, mà việc này phải qua nhiều tầng nấc, nhiều cơ quan, mất rất nhiều thời gian vẫn không chắc được chấp thuận, cho nên tôi đành nhận liều với Balinski. Hai tuần sau, họ gửi bài cho tôi xử lý với tư cách thành viên ban biên tập, nhưng phải đến 3 tháng sau tôi mới nhận được bài. Hóa ra là một bài khá dài, tôi phải chọn it nhất hai chuyên gia am hiểu nhờ họ bình duyệt, rồi trên cơ sở đó viết đề nghị TBT đăng hay không đăng. Rõ ràng việc quá khó, tôi đành nghĩ cách tự làm cái việc bình duyệt đó, nhưng nhờ hai bạn đồng nghiệp trong nước đứng tên. Tôi đang loay hoay với mấy việc đó thì bỗng nhận được thư của TBT phê bình thời hạn xử lý bài báo đã hết lâu rồi mà họ vẫn chưa nhận được đề  nghị của tôi, cách làm việc chậm trễ như vậy không thể chấp nhận được, cho nên có lẽ họ phải tính đến chuyện chia tay với tôi. Tôi bực quá, bèn viết thư phản đôi, báo cho họ biết bản thân tôi trước đó đã gửi đến MP một bài báo để nhờ đăng nhưng sau mãi 8 tháng vẫn chưa nhận được tin tức gì từ tòa soạn thì chẳng sao cả mà khi với tư cách một người trong ban biên tập xử lý bài chỉ chưa đầy 5 tháng đã bị phê bình gay gắt như thế tôi cảm thấy bị xúc phạm bởi sự kỳ thị, cho nên nếu dừng hợp tác tôi cũng chẳng tiếc gì. Sự phản đôi có tác dụng ngay, TBT viết thư xin lỗi và từ đó quan hệ giữa chúng tôi khá tốt đẹp.              Cho nên một trong những khó khăn lớn nhất cho các nhà khoa học trong nước thời đó khi hợp tác với nước ngoài là vấn đề thông tin liên lạc. Cũng vì khó khăn này mà tôi phải từ chối làm TBT cho tạp chí JOGO (journal of Global Optimization) về tối ưu toàn cục mà chỉ nhận làm cố vấn biên tâp (advisory editor). Số là năm 1986, lần đầu tiên cộng đồng Tối ưu toàn cục gặp nhau ở Nhật đề nghị lập tạp chí về Tối ưu toàn cục và mời tôi làm TBT. Công việc TBT đòi hỏi phải thường xuyên liên hệ qua thư từ với các tác giả, với các thành viên ban biên tập và nhà xuất bản. Nhưng thời đó chưa có e-mail mà một thư từ nước ngoài đến VN thường mất vài tháng, nếu may mắn không bị mất; thư từ từ trong nước gửi ra nước ngoài cũng mất từng ấy thời gian, cho nên thường chúng tôi phải đợi có khách nước ngoài đến VN thì dồn hết các thư cần gửi để đưa nhờ họ về nước gửi hộ. Đó là một trở ngại lớn, cần phản ảnh lên cấp trên mới mong giải quyết được, nên cứ mấy tháng tôi lại tập hợp tất cả các phong bì của các thư từ nước ngoài gửi đến, trên đó có dấu bưu điện ghị ngày gửi từ nước ngoài và ngày trong nước nhận được, thường cách nhau 3-4 tháng, có khi nửa năm. Tôi đưa lên cho cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tất cả những gói phong bì đó để báo cáo và nhờ Thủ Tướng giải quyết. Ông ấy gọi Tổng cục Bưu Điện đến chỉ thị phải tìm cách khắc phục, nhưng mấy năm trời vẫn không thay đổi được chút nào. Vấn đề là thời đó ta bị cô lập nặng nề, mọi thư từ từ nước ngoài gửi đên VN đều phải qua Bangkok, rồi từ đó họ phải đợi dịp mới chuyển đến VN được. Chưa kể thời bao cấp, bưu điện của chính chúng ta cũng làm việc rất tài tử.                    Nhóm PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đề xuất các công ty gây ô nhiễm cần thu hồi và lưu trữ carbon      Theo tiến sĩ Myles Allen tại Đại học Oxford, các công ty hưởng lợi từ việc khai thác nhiên liệu hóa thạch – các công ty dầu mỏ, khí đốt và than đá quanh thế giới – phải trả tiền cho khối lượng khí carbonic tương đương được lưu trữ trong đất.    Công nghệ thu lại và lưu trữ khí carbonic đang tiến bộ, hiện nay về mặt kỹ thuật là khả thi, tiến sĩ Myles Allen cho biết.    “Chúng ta có công nghệ rồi – điều luôn thiếu là chính sách hữu hiệu. Thất bại là chính sách chứ không phải công nghệ”, ông nói.    Các công ty hưởng lợi từ việc khai thác nhiên liệu hóa thạch – các công ty dầu mỏ, khí đốt và than đá quanh thế giới – phải trả tiền cho khối lượng khí carbonic tương đương được lưu trữ trong đất, đây phải là điều kiện để họ được phép hoạt động, ông bàn luận.    Allen cùng bốn nhà khoa học khác từ Oxford, Mỹ và Hà Lan là tác giả của bài báo được đăng trên tạp chí Environmental Research Letters, trình bày ý tưởng về việc trách nhiệm mở rộng của các nhà sản xuất nhiên liệu hóa thạch.        Theo “nghĩa vụ thu hồi carbon”, tất cả nhiên liệu hóa thạch được khai thác hay nhập khẩu vào một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia phải được bù lại bằng cách lưu trữ dưới lòng đất một lượng carbon dioxide tương đương với lượng khí thải từ các nhiên liệu đó. Áp dụng tuần tự theo thời gian, quy tắc này sẽ khiến 100% lượng khí thải được lưu trữ vào năm 2050, giúp thế giới đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.    Không như thuế carbon ngăn cản việc dùng nhiên liệu hóa thạch bằng cách tăng giá, các tác giả của bài báo lập luận, hệ thống mà họ đưa ra sẽ đảm bảo trung hòa được tác động đối với khí hậu, đồng thời chi phí cho việc này sẽ nằm trong chi phí sản xuất nhiên liệu hóa thạch.    Theo bài báo, hiện tại công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon vẫn rất tốn kém, nhưng trong vài thập niên nữa chi phí sẽ giảm mạnh. Việc này sẽ cho phép lưu trữ carbon dioxide trong “địa quyển” (dưới lòng đất) thay vì trong sinh quyển (rừng và thảm thực vật), nơi vốn phải chịu áp lực do nhu cầu cần quá nhiều đất để trồng lương thực trên khắp thế giới.    “Khi tạo ra quá nhiều carbon dioxide thì bạn sẽ phải cất giữ nó ở đâu đó, bạn lại không thể trông chờ vào sinh quyển, vì còn cần sinh quyển để sản xuất lương thực. Bởi thế nó sẽ phải đi xuống lòng đất. Đây là một chính sách rõ ràng sẽ mang lại kết quả mà chúng ta cần,” Allen nói.    Song Allen từng thất bại khi cố gắng biến ý tưởng này thành chính sách vào năm 2015. Trên danh nghĩa, đề xuất của ông nhận được sự ủng hộ của chính phủ và phe đối lập, nhưng cuối cùng vẫn thất bại do các thủ tục của quốc hội và không được xem xét lại.    Cùng biểu thuế carbon đối với các sản phẩm có cường độ carbon cao (CBAM), giải pháp thu hồi carbon có thể mang lại hiệu quả nhờ phạt tiền hay ngăn nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch từ các quốc gia không áp đặt một số hình thức nghĩa vụ giảm carbon đối với các ngành công nghiệp của họ.    Hugh Helferty, giám đốc nghiên cứu chiến lược đã nghỉ hưu tại ExxonMobil, một tác giả của bài báo, cho rằng, nếu muốn duy trì mục tiêu 1,5 độ C thì bằng cách nào đó ta phải tính được chi phí để loại bỏ carbon.    “Ai sẽ trả đây? Là người nộp thuế, hay nhà sản xuất, hoặc nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng nhau trả?” ông nêu câu hỏi. “Nhà sản xuất và người dùng nên là người trả chi phí này, chứ không phải người đóng thuế. Điều đó đặt nỗ lực giảm khí thải vào đúng chỗ.”    Một số nhà khoa học khác không tham gia vào bài báo hoan nghênh ý tưởng này.    Theo tiến sĩ Hannah Chalmers, Phó Giáo sư về hệ thống năng lượng bền vững tại Đại học Edinburgh, “Việc đưa ra trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất với nhiên liệu hóa thạch sẽ là một yếu tố xoay chuyển tình thế để chúng ta ứng phó thành công với thách thức cung cấp năng lượng carbon thấp, giá cả phải chăng.”    Paul Ekins, Giáo sư về chính sách tài nguyên và môi trường tại Đại học London, thì cho rằng: “Chúng ta cấp thiết phải có các chính sách giảm phát thải khí CO2 mới. [Đề xuất này] cung cấp một cách xây cơ sở hạ tầng lưu trữ và thu hồi lượng lớn carbon cần thiết để đạt được mục tiêu 1,5 độ C, theo các mô hình hiện nay. Các cuộc họp [về khí hậu của Liên Hợp Quốc] cần khẩn trương bắt đầu thảo luận về các biện pháp như vậy trước khi không còn cơ hội đạt được mục tiêu”.    Phạm Hài    Author                .        
__label__tiasang Để xuất thí điểm đổi mới quản lý khoa học công nghệ trong nông nghiệp      Ngày 23/9, Bộ KH&amp;CN đã tổ chức hội thảo Đối mới cơ chế tài chính và chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học trong nông nghiệp và nông thôn, trong đó vấn đề cơ chế tài chính và những vướng mắc trong việc thực hiện tự chủ hóa hoạt động khoa học công nghệ của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu thu hút nhiều tranh luận của các đại biểu.    Tại tọa đàm, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách phát triển nông thôn, cho rằng những tồn tại trên đây khiến cán bộ khoa học không có động lực để “hăng say nghiên cứu”, sản phẩm nghiên cứu không gắn với địa chỉ sử dụng. Ông đề nghị các Bộ, ngành sớm phối hợp để thực hiện việc thí điểm cơ chế khoán theo sản phẩm, cải thiện chế độ đãi ngộ nhà khoa học, đưa đại diện của doanh nghiệp, nông dân vào các hội đồng giao đề tài và nghiệm thu sản phẩm, và sớm có những quy định giúp đơn giản hóa việc thành lập, tổ chức, hoạt động các doanh nghiệp khoa học công nghệ.  TS. Nguyễn Quốc Vọng, chuyên gia về quản lý hệ thống chất lượng và an toàn nông sản cho rằng cần chất lượng các nghiên cứu khoa học về nông nghiệp ở Việt Nam, trong đó cần có sự nghiêm túc kiểm tra chất lượng các nghiên cứu và các chế tài xử lý những nghiên cứu không nghiêm chỉnh. Ông cũng đề nghị cần có chế độ đãi ngộ phù hợp để giữ chân các nhà khoa học tại các viện nghiên cứu, đồng thời có khung bậc lương độc lập giữa nhà quản lý và cán bộ nghiên cứu tại các viện này, qua đó tạo động lực cho nhà khoa học toàn tâm gắn bó lâu dài với công tác nghiên cứu.          Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dành tới 10% kinh phí nghiên cứu cho các tổ chức nghiên cứu ngoài Bộ, trong đó có các trường đại học và tổ chức phi chính phủ. Đây có thể là tín hiệu tốt ở mức khởi đầu cho xu hướng đa dạng hóa thành phần sử dụng kinh phí Nhà nước trong nghiên cứu khoa học công nghệ.          Phản hồi ý kiến cho rằng cơ chế tài chính hiện nay gây hạn chế cho việc tự chủ trong nghiên cứu khoa học, ông Lại Văn Dương, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính, cho rằng các nhà khoa học chưa tận dụng hết cơ chế hiện nay, ví dụ như Quyết định 846 của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/06/2011 đã quy định về việc thực hiện thí điểm đặt hàng một số sản phẩm khoa học công nghệ của Bộ NN&PTNT.  Theo bà Nguyễn Thị Xuân Thu, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, công tác dự thảo thông tư hướng dẫn Quyết định 846 của Thủ tướng đang được Bộ NN&PTNT tích cực triển khai. Tuy nhiên, để thành công trong việc thí điểm đặt hàng sản phẩm khoa học công nghệ, bà cho rằng cần có những định mức cụ thể rõ ràng trước khi khoán sản phẩm. Bên cạnh đó, cần có tiêu chí cụ thể trong việc chọn đơn vị để áp dụng mô hình thí điểm. Bộ NN&PTNT sẽ lựa chọn các đơn vị nghiên cứu “căn cứ theo lộ trình ưu tiên của Bộ”, cụ thể là các đơn vị nghiên cứu về giống và công nghệ sinh học.  Tổng kết Hội thảo, Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Quân khẳng định Bộ KHCN sẽ kiên trì theo đuổi những cải cách trong quản lý khoa học công nghệ mà Bộ đã đề xuất. Ông cũng nhấn mạnh rằng các nhà khoa học trước hết cần tự mình mạnh dạn đổi mới, vì khung pháp lý hiện nay thực ra đã ít nhiều có sự cởi mở, ví dụ như “không có sự phân biệt đối xử” giữa tổ chức nghiên cứu công lập và tổ chức nghiên cứu tư nhân, các doanh nghiệp và đại diện nông dân hoàn toàn có thể tham dự các hội đồng, và các cơ quan khoa học ngày nay hoàn toàn có thể đứng ra thành lập các công ty cổ phần để kinh doanh sản phẩm nghiên cứu. Tuy nhiên hiện nay, theo Bộ trưởng, dù khung pháp lý và cơ chế của Nhà nước đã có nhiều cởi mở, song hệ thống hành chính cấp cơ sở ở Việt Nam vẫn còn những hiện tượng quan liêu. Ví dụ như các cục thuế, các sở kế hoạch đầu tư, và các cơ quan an ninh địa phương vẫn gây khó khăn cho các đơn vị sự nghiệp trong việc đăng ký thành lập các doanh nghiệp khoa học công nghệ, đòi phải có hướng dẫn hoặc chỉ đạo của các cơ quan cấp trên phụ trách trực tiếp, trong khi thực tế là Chính phủ và các Bộ, ngành đã có những quy định hiện hành đầy đủ. Vì vậy, phải làm sao nhanh chóng “thấm được tư duy đổi mới” vào bộ máy các cấp cơ quan hành chính.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ĐH Mỹ trước chính sách hạn chế ảnh hưởng của nước ngoài      Đây là cách các trường công lập chấp hành những quy định mới của chính phủ nhằm hạn chế sự ảnh hưởng vào quá trình nghiên cứu từ nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc.      Biểu đồ (A)và (B) thể hiện phân phối niềm tin về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ truyền nhiễm của corona virus, được đo trong mẫu đại diện (N = 915) dân cư Mỹ vào ngày 4/3/2020. Nguồn: Đại học Warwick  Vi phạm không thể chấp nhận  Vào năm 2018, Viện Y tế quốc gia Mỹ (NIH) lần đầu tiên thừa nhận đang xem xét kỹ lưỡng vấn đề hợp tác và tài trợ nước ngoài trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung. NIH cho biết đang điều tra khoảng 180 nhà khoa học ở 84 viện, trường, trong đó bao gồm các nhà nghiên cứu đã nộp đơn xin tài trợ của NIH và một nhà tài trợ nước ngoài để xin tài trợ cho cùng dự án, hoặc các nhà bình duyệt đã gửi thông tin mật từ các đơn xin tài trợ cho những đối tượng nước ngoài.  Nhiều cơ quan và các ủy ban trực thuộc chính phủ khác cũng đã có phản ứng. Vào tháng 12/2020, Quỹ khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) công bố báo cáo về vấn đề này do nhóm cố vấn khoa học xuất sắc JASON thực hiện. Năm ngoái, Bộ Năng lượng đã cấm các nhà thầu và nhân viên tham gia một số chương trình tài năng của nước ngoài.   Rõ ràng các trường đại học cũng đang thay đổi thái độ. Bốn nhà quản lý trong số những người mà Nature liên hệ, bao gồm đại diện ĐH bang Washington ở Pullman, ĐH bang Oklahoma ở Stillwater và ĐH Bắc Texas ở Denton, cho biết đã có những cuộc họp thường xuyên với nhân viên phụ trách liên hệ của FBI ở địa phương với mục tiêu là giúp các cơ quan mật vụ làm quen với phong cách của trường đại học.   Các trường đại học cũng đang thay đổi hướng dẫn đi lại, trong đó ĐH Bắc Texas đang xem xét việc áp dụng hạn chế đi lại tới “một số địa điểm nước ngoài cụ thể – nơi công nghệ có thể bị xâm phạm”.   Melur Ramasubramanian, Phó hiệu trưởng nghiên cứu tại ĐH Virginia cho biết trường đã có sẵn một số cách thức, gồm một trang web hướng dẫn cách giải quyết lo ngại ảnh hưởng của nước ngoài và một trang web liệt kê chính sách về liêm chính trong nghiên cứu. Ngoài ra, trường cũng có một số điện thoại dành cho những ai muốn cung cấp thông tin ẩn danh. Ramasubramanian nhấn mạnh, trường cũng có email riêng cho những câu hỏi về công khai quan hệ với nước ngoài hoặc xung đột tiềm năng.  Ủy ban liên hợp về môi trường nghiên cứu thuộc Văn phòng chính sách KH&CN Nhà Trắng, bao gồm cả những người đứng đầu các cơ quan tài trợ khoa học lớn, đang hướng tới nỗ lực hài hòa các chính sách này nhưng hiện tại vẫn chưa ban hành các hướng dẫn.  Sự thắt chặt quản lý của chính phủ làm dấy lên lo ngại các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc, cùng một số nhà nghiên cứu nước ngoài nói chung, đang bị nhắm đến một cách bất công. Roger Wakimoto, Phó hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu ở ĐH California hồi đáp Nature: trường đại học của ông đã gửi một bản ghi nhớ tới tất cả thành viên khoa, nhấn mạnh không chấp nhận sự phân biệt chủng tộc.  Áp lực gia tăng  Các câu trả lời được đưa ra khi một loạt vụ việc làm gia tăng áp lực lên các quản trị viên ở các viện, trường, điển hình là việc bắt giữ Charles Lieber – nhà hóa học ở ĐH Harvard vào tháng 1/2020. Lieber bị buộc tội đã khai báo không trung thực với Chính phủ Mỹ về việc tham gia một chương trình tài năng ở Trung Quốc, qua đó nhận được hàng trăm ngàn USD tài trợ nghiên cứu.  Vụ bắt giữ Lieber đã khiến các nhà khoa học và nhà quản lý suy nghĩ về tầm quan trọng của khai báo bắt buộc. Tuy nhiên nỗi lo sợ bị tố giác có thể khiến các nhà nghiên cứu ngần ngại trong việc báo cáo các nguồn tài trợ bên ngoài. “Nhiều người cũng bàn đến việc ân hạn, khoan hồng hoặc giảm phạt cho những người từng vi phạm nhưng đứng ra trình diện”, David Conover, Phó hiệu trưởng về Nghiên cứu & Đổi mới sáng tạo ở ĐH Oregon ở Eugene cho biết. □  Thanh An dịch            Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00646-9    Author                Quản trị        
__label__tiasang Di chỉ KCH Vườn Chuối: Một khoảng trống trong thực thi luật di sản      Di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối rất quan trọng trong hệ thống các di tích khảo cổ học tiền Đông Sơn cho tới Đông Sơn ở phía Bắc. Đây là một địa điểm cư trú lâu dài của người Việt cổ góp phần cung cấp đầy đủ chứng cứ lịch sử về sự có mặt của con người rất sớm trên địa bàn Hà Nội mà hơn nữa còn chứng minh nguồn gốc bản địa và lịch sử dân tộc Việt Nam thời tiền-sơ sử, đã qua 8 lần khai quật… nhưng chưa được xếp hạng và sắp bị xóa sổ.    Đã qua tám lần khai quật  Vườn Chuối là tên gọi của một di chỉ nằm trong một phức hợp các di tích khảo cổ học tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức có niên đại đặc biệt với thành phố Hà Nội, đánh dấu sự có mặt của con người trên địa bàn Hà Nội ít nhất cũng từ 3500-2000 năm cách ngày nay. Đó là một dấu mốc đặc biệt hiếm hoi với lịch sử Hà Nội. Nếu xét về mặt văn hóa khảo cổ học trên cả nước thì phức hợp di chỉ này có niên đại từ giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên, cho tới Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn và sau Đông Sơn. Đó là các di chỉ: Gò Mỏ Phượng, Gò Rền Rắn, Gò Chùa Gio, Gò Chiền Vậy và Gò Vườn Chuối. Trong số phức hợp di chỉ khảo cổ này, Gò Vườn Chuối là di chỉ khảo cổ học quan trọng nhất.  Địa điểm Vườn chuối đã được phát hiện đầu tiên vào năm 1969 và cho tới nay di chỉ Vườn Chuối đã trải qua tám đợt khai quật, đó là các cuộc khai quật trong các năm: 1969, 12/2001, 12/2009, tháng 6 – 7/2011, tháng 12/2011, tháng 12/2012, tháng 12/2013 và mới nhất gần đây là tháng 12 năm 2014. Báo cáo kết quả khai quật của những lần khai quật ở Vườn Chuối đều đã được lưu giữ ở các cơ quan quản lý về di sản văn hóa, và lưu ở thư viện khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV (ĐHQGHN). Trước hết, chúng tôi muốn lưu ý rằng, khu vực khảo cổ học Vườn Chuối cùng với các di chỉ khảo cổ học liền kề thuộc địa phận thôn Lai Xá là rất quý và hiếm với thành phố Hà Nội nói riêng và quốc gia nói chung.  Nguyên vẹn, đầy đủ và có niên đại sớm  Di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối rất quan trọng trong hệ thống các di tích khảo cổ học tiền Đông Sơn cho tới Đông Sơn ở phía Bắc, bởi vì trong hơn 100 di tích di chỉ khảo cổ học được thống kê có niên đại trong giai đoạn này ở khu vực Hà Nội (từ sau 2008)1 thì chỉ có 2-3 di tích có niên đại cư trú lâu dài hàng ngàn năm. Và Vườn Chuối là 1 trường hợp hiếm như vậy. Khu vực Vườn Chuối quý, hiểm và có giá trị đặc biệt bởi:  Có một địa tầng văn hóa dày và kéo dài hơn 1700 năm: Có ba di chỉ trong phức hợp di chỉ này vẫn còn khá nguyên vẹn. Phức hợp các di chỉ khảo cổ này có niên đại kéo dài từ 4000 năm cho đến 1800 năm cách ngày. Các nhà khảo cổ thuộc trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) đã phát hiện ra 3 tầng văn hóa liên tiếp ở di chỉ này từ văn hóa Đồng Đậu (3500-3000 năm), văn hóa Gò Mun (3000-2500 năm) cho đến văn hóa Đông Sơn (2500-1800 năm) cách ngày nay, thậm chí là thời Bắc thuộc. Đây là một địa điểm cư trú lâu dài của người Việt cổ góp phần cung cấp đầy đủ chứng cứ lịch sử về sự có mặt của con người rất sớm trên địa bàn Hà Nội mà hơn nữa còn chứng minh nguồn gốc bản địa và lịch sử dân tộc Việt Nam thời tiền-sơ sử. Ngoại trừ di chỉ Đình Tràng nằm trong khu di tích Quốc gia đặc biệt Cổ Loa, rất hiếm có thể tìm ra một di chỉ khảo cổ học tiền-sơ sử nào như khu Vườn Chuối. Mở rộng ra cả khu vực miền Bắc, ở Vĩnh Phúc có một di chỉ khảo cổ tiền sử khác đã được xếp hạng di sản văn hóa cấp quốc gia là di chỉ Đồng Đậu (thị trấn Yên Lạc, Vĩnh Phúc). Vườn Chuối trong so sánh với Đồng Đậu về mặt giá trị nghiên cứu, giá trị lịch sử là tương đương nhau, vậy mà Vườn Chuối không may mắn được các cơ quan quản lý văn hóa chú ý đến như Đồng Đậu và đang có nguy cơ xóa sổ hơn bao giờ hết.  Giá trị của di chỉ khảo cổ học của Vườn Chuối được thể hiện qua những con số: qua tám lần khai quật với diện tích gần 300m2 trong tổng số 1900m2 của di chỉ, các nhà khảo cổ đã phát hiện được 29 ngôi mộ tiền sử (chủ yếu là mộ thuộc văn hóa Đông Sơn có đồ gốm và vũ khí đồng được chôn theo); gần 15 vạn mảnh gốm cùng với gần 50 hiện vật gốm vỡ và nguyên vẹn; 216 hiện vật bằng đồng; 11 hiện vật bằng sắt; hơn 1000 hiện vật bằng gỗ và nhiều hiện vật bằng xương. Đây là những con số thống kê rất lớn đối với một di chỉ khảo cổ học. Và tất cả các số liệu này mới chỉ là những con số thống kê của di chỉ Vườn Chuối, nếu cộng thêm 4 di chỉ khác là Gò Mỏ Phượng, Gò Chùa Do, Gò Chiền Vậy, Gò Rền Rắn thì số lượng sẽ là rất lớn.  Vài nét về bộ sưu tập các hiện vật  Đồ đá chủ yếu là công cụ sản xuất (như rìu, bôn, chày-bàn nghiền, đục, khuôn đúc đồng bằng đá) và vũ khí (như qua đá và mũi tên đá 3 cạnh). Đồ trang sức đá được phát hiện với số lượng lớn, chủ yếu là vòng đá và khuyên tai được làm từ đá ngọc Nephrite với màu sắc đa dạng. Hiện vật đá ở Vườn Chuối cung cấp tư liệu về nguyên liệu đá và các kỹ thuật chế tác các sản phẩm bằng đá như: ghè đẽo, mài, khoan, cưa, bổ, chuốt bóng, tiện… Cư dân Vườn Chuối đã sử dụng những kỹ thuật đó ở mức độ thành thạo, từ đó tạo ra nhiều loại hình hiện vật có hình dáng đẹp, tính thẩm mỹ cao, trong đó điển hình là các loại đồ trang sức.    Khuyên tai làm từ đá ngọc Nephrite  Đồ gốm được phát hiện với số lượng lớn nhất với rất nhiều đồ dùng sinh hoạt như nồi, bình còn khá nguyên vẹn và hàng trăm nghìn mảnh gốm của các thời kỳ văn hóa khác nhau. Ngoài ra, các loại hình gốm khác như bi gốm cũng được phát hiện với số lượng khá lớn; chân chạc gốm dùng để nấu bếp cùng được phát hiện lẻ tẻ. Các loại hình gốm như nồi, bình, bát,… cùng các motif trang trí hoa văn là những tư liệu sinh động phản ánh đời sống vật chất và thẩm mỹ của người Việt cổ.  Đồ đồng được tìm thấy với loại hình đa dạng. Vũ khí như mũi tên, lao, giáo, dao, tấm che ngực; đồ dùng sinh hoạt chủ yếu là thìa, nồi, móc câu, lưỡi cày, rìu. Các loại hình đồ đồng định hình cùng với xỉ đồng được phát hiện với số lượng lớn là minh chứng của quá trình luyện kim đồng tại khu vực. Đồ sắt được tìm thấy lẻ tẻ và thường trong tình trạng không còn nguyên vẹn khó xác định hình dáng và công năng do bị oxi hóa nặng.  Đồ gỗ là nhóm công cụ tìm thấy khá nhiều, chúng thường được vót nhọn ở một đầu và nhiều hiện vật có hình dáng giống chiếc cọc. Hiện nay chúng tôi chưa thể xác định được công năng của chúng. Dấu vết các loài thực vật họ dâu, xoài, xoan, sen và các loại cây có gai được phát hiện nhiều ở Vườn Chuối. Những dấu tích này giúp ta hình dung ra môi trường tự nhiên của Vườn Chuối xưa.  Đồ xương phát hiện được rất ít, và chúng thường được mài nhọn một đầu và thân có hình ống tròn. Vì số lượng phát hiện hạn chế, hình dạng không phong phú nên các nhà khảo cổ vẫn chưa xác định được công năng sử dụng của chúng.    Cọc gỗ, vòng gỗ  Các loại hình hiện vật được phát hiện ở Vườn Chuối là một nguồn tài liệu có giá trị đối với nghiên cứu và trưng bày bảo tàng. Hiện vật khảo cổ Vườn Chuối là một nguồn tài liệu giá trị cho việc diễn giải lịch sử dân tộc thời tiền sử. Trước hết, đối với khảo cổ học, việc nghiên cứu địa tầng và nghiên cứu chất liệu làm ra hiện vật, nghiên cứu chức năng, hình dáng, kích thước, màu sắc và hoa văn trang trí trên các hiện vật sẽ giúp các nhà khảo cổ phục dựng một cách chính xác đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Việt cổ. Thông qua những dấu vết vật chất khác như xương động vật (như xương voi) và các dấu vết thực vật họ xoan, họ xoài, họ dâu thu được, các nhà khảo cổ phần nào mô tả được bức tranh về môi trường động thực vật thời tiền sử. Cũng giống như con người hiện hiện đại, người Việt thời tiền sử họ cũng phải ăn để sống, cũng phải tạo ra những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày phục vụ nhu cầu ăn uống, nhu cầu thẩm mỹ và đời sống tinh thần. Hơn 50 bình, nồi gốm còn khá nguyên vẹn cùng hơn 15 vạn mảnh gốm và các hiện vật gốm khác như bi gốm, chân chạc gốm cùng hàng trăm mảnh vòng đá, công cụ đá là những chứng cứ vật chất sinh động giúp hình dung đời sống của người Việt cổ. Xung đột và chiến tranh trong xã hội thời tiền sử cũng có thể được phần nào phản ánh qua việc nghiên cứu vũ khí đồng và sắt,…  Bên cạnh đó, nhiều vấn đề nghiên cứu khác liên quan đến di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối vẫn chưa được lý giải như: Đời sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ ở Vườn Chuối thay đổi như thế nào qua các giai đoạn Đồng Đậu-Gò Mun-Đông Sơn? Nguyên liệu đá ngọc Nephrite quý hiếm được sử dụng để chế tác đồ trang sức ở Vườn Chuối được lấy từ đâu? ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam hay ngay từ thời tiền sử, con người đã có sự giao lưu, trao đổi nguyên liệu với cư dân bên ngoài Việt Nam?2 Hình dáng, chất liệu và hoa văn trang trí của đồ gốm thay đổi và phát triển như thế nào từ giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun cho tới Đông Sơn? Làm sao để phân biệt được gốm qua các thời kỳ sớm-muộn? Sự phân hóa xã hội ở Vườn Chuối được phản ảnh như thế nào qua cách thức mai táng, chôn cất người chết cùng các hiện vật bằng đồng có giá trị? Hiện nay chưa có nghiên cứu tổng thể nào về Vườn Chuối được xuất bản thành sách và đăng trong tạp chí chuyên ngành ngoại trừ các báo cáo khai quật. Do vậy, tư liệu địa tầng và hiện vật ở Vườn Chuối là rất tiềm năng cho nghiên cứu khảo cổ học nói riêng và lịch sử nói chung.  Đối với trưng bày bảo tàng và công tác giáo dục quần chúng, những tư liệu hiện vật và địa tầng ở Vườn Chuối có thể được khai thác nhằm phục vụ nhu cầu tham quan bảo tàng. Các trưng bày chuyên đề riêng về di chỉ Vườn Chuối hay các bộ sưu tập hiện vật Vườn Chuối sẽ cung cấp cho người dân địa bàn Hà Nội những kiến thức và hiểu biết căn bản nhất về đời sống vật chất-tinh thần và những biến đổi xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Bảo tàng Hà Nội là đơn vị lưu giữ hiện vật khai quật thu được ở Vườn Chuối, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có cuộc trưng bày hoặc chuyên đề trưng bày liên quan đến hiện vật và di chỉ Vườn Chuối được thực hiện. Bên cạnh đó, nhà văn hóa thôn Lai Xá cũng lưu giữ một số hiện vật do người dân địa phương thu được khi canh tác nông nghiệp ở khu vực Vườn Chuối. Sẽ là lãng phí tài nguyên nếu những nguồn tư liệu khảo cổ này không được Bảo tàng Hà Nội và phòng văn hóa địa phương khai thác nhằm đưa di sản đến gần hơn với người dân trên địa bàn thành phố.  Nhìn dưới góc độ quản lý tài nguyên văn hóa hiện đại và nếu coi di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối là một di sản văn hóa thì đây được xem như là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo.  … Nhưng chưa được xếp hạng và sắp bị “xóa sổ”  Hiện tại Vườn Chuối đang có nguy cơ bị xóa sổ bởi dự án Thăng Long 9 (Khu đô thị Kim Chung Di Trạch). Tuy nhiên, theo khoản 2,3 của Điều 37 Luật di sản văn hóa, thì chỉ có những di chỉ thuộc diện quy hoạch khảo cổ (tức là được đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa bàn Hà Nội) mới được thăm dò, khai quật trước khi triển khai dự án.  Một thực tế khác là mặc dù được khai quật nhiều đợt từ năm 1969 đến năm 2001, nhưng Vườn Chuối vẫn chưa được xếp hạng di tích ở bất cứ cấp độ nào (cấp tỉnh, quốc gia và quốc gia đặc biệt). Như vậy, Vườn Chuối không thuộc diện Quy hoạch khảo cổ của địa bàn Hà Nội vì không nằm trong danh mục kiểm kê di tích. Và vì không thuộc diện Quy hoạch và không có trong mục kiểm kê di tích nên nghiễm nhiên Vườn Chuối bị máy ủi, máy xúc san phẳng không thương tiếc. Và nếu không có việc phát hiện ngôi mộ cổ và rất nhiều mảnh gốm và hiện vật đá được phát hiện trong quá trình san lấp mặt bằng của máy ủi tại Vườn Chuối năm 2010 của các cán bộ trường Đại học KHXH &NV (ĐHQGHN) cùng với sự phản ánh của báo chí truyền thông thì có lẽ đã không có cuộc khai quật vào tháng 6-7 năm 2011 ở Vườn Chuối (với 300m2) diễn ra với kinh phí và cấp phép từ phía Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp phép. Mặc dù đây là cuộc khai quật lớn nhất, nhằm mục đích đánh giá quy mô, giá trị và diện tích phân bố của di chỉ Vườn Chuối làm cơ sở cho việc bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích nhưng sau khai quật cho tới nay, Vườn Chuối vẫn không được công nhận là di tích, và không có trong danh mục kiểm kê di tích.  Những câu hỏi mà chúng tôi đặt ra, viết tâm thư từ trước đợt khai quật năm 2011 đến nay vẫn còn nguyên vẹn, đó là: Những người làm quản lý văn hóa đã ở đâu? Đã làm gì để bảo vệ di sản? Vì sao Vườn Chuối là một di chỉ quan trọng nhưng vẫn chưa được công nhận, xếp hạng và có chủ trương bảo tồn?  Một số hiện vật phát hiện được tại di chỉ Vườn Chuối:      Nồi gốm    Các mảnh của khuôn đúc đồng       Mũi tên, mũi lao    Rìu, đục, dao và kiếm    Rìu, bôn bằng đá    Bức ảnh này chỉ rõ: có 2 tầng văn hóa trong 1 hố khai quật năm 2013. Tầng văn hóa Đông Sơn nằm phía trên. Tầng Văn hóa Gò Mun nằm phía dưới.  Nguồn ảnh trong bài: Nguyễn Huy Nhâm.  ———-  Chú thích:   1 Số liệu thống kê tính đến năm 2011.  Bản đồ thống kê các di tích khảo cổ thời kỳ kim khí, nguồn từ Nguyễn Đức Chung, Ban Quản lý danh thắng Hà Nội.  2 Theo những nhà nghiên cứu địa chất, các mỏ đá này phân bố tập trung ở một số vùng ở Trung Quốc như Tân Cương, Thượng Hải, Thành Đô, Đài Loan…Ở Việt Nam tới nay chưa tìm thấy được mỏ đá ngọc. Tuy nhiên, trong những mỏ đá vôi ở vùng Thủy Nguyên, Hải Phòng, Hoành Bồ, Đông Triều (Quảng Ninh) hay vùng núi Tây Bắc Việt Nam…có khả năng cũng có các mỏ đá ngọc.    Author                Nguyễn Huy Nhâm        
__label__tiasang Đi thăm bác Pierre      Cách đây hơn một năm, GS. Đàm Thanh Sơn có gửi cho tôi một số bài viết của GS. Pierre Darriulat về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Đọc thấy thú vị quá nên hè vừa rồi, tôi có liên lạc với bác Pierre và xin phép đến thăm phòng thí nghiệm của bác.    Trong tiếng Việt, chữ “bác” khi được dùng ở ngôi thứ hai song song với ngôi thứ nhất là “tôi”, thể hiện sự thân mật, bình đẳng. Nó được dùng ở ngôi thứ ba như một tiền tố không thể thiếu của tên riêng, chỉ trong trường hợp ngôi thứ ba là đối tượng của tình cảm yêu thương, kính trọng đặc biệt của ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Ngày xưa chúng ta có bác Hồ, bác Tôn. Bây giờ, các bạn trẻ yêu Vật lý ở Việt Nam có thêm một bác tây phương phi là bác Pierre.  GS. Pierre Darriulat là một nhà vật lý thực nghiệm tên tuổi. Ông là một trong những nhân vật chính trong cuộc hành trình khám phá ra hạt boson W và Z, tác nhân của lực tương tác yếu.   Quá trình GS. Darriulat trở thành bác Pierre bắt đầu từ cách đây khoảng mười năm, khi ông về hưu từ viện CERN. Bác Pierre mang sang Việt Nam sách, dụng cụ thí nghiệm để xây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu tia vũ trụ và tình yêu để bắt đầu cuộc sống trên một lục địa xa lạ.  Cách đây hơn một năm, GS. Đàm Thanh Sơn có gửi cho tôi một số bài viết của GS. Pierre Darriulat về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Đọc thấy thú vị quá nên hè vừa rồi, tôi có liên lạc với bác Pierre và xin phép đến thăm phòng thí nghiệm của bác.  Bác Pierre có một cái nhìn không khoan nhượng về khoa học Việt Nam về những người làm khoa học ở Việt Nam. Tôi tin rằng sự tha hóa của đạo đức khoa học, và đạo đức nói chung đã làm bác Pierre thất vọng. Nhưng nụ cười đôn hậu thường trực trên môi bác, cùng với những đôi mắt sáng ngời của những bạn trẻ xung quanh bác, làm tôi tin rằng sự thất vọng đã không làm bác thôi hy vọng.  Buổi trò chuyện với những nhà vật lý trẻ làm việc tại Phòng thí nghiệm Tia vũ trụ làm buổi sáng trôi rất nhanh. Chị Tuyết Nhung, tiến sĩ mới toanh, trình bày công việc nghiên cứu chung của phòng thí nghiệm. Câu chuyện rắc rối về bằng cấp của Nhung không khỏi làm tôi suy nghĩ đến trường hợp của anh Trần Ngọc Nam. Cả hai đều là những thành công đáng tự hào của chương trình đào tạo phối hợp Việt-Pháp. Sau những năm làm việc ở Việt Nam dưới sự hướng dẫn của GS. Darriulat và ở Pháp, Nhung bảo vệ luận án của ở Paris. Theo thỏa thuận về hợp tác đào tạo, chị Nhung sẽ nhận bằng tiến sĩ của cả Pháp và Việt Nam. Trong thực tế, ĐHQGHN không hào hứng lắm trong việc cấp bằng tiến sĩ cho chị Nhung. Trường hợp của anh Nam, xảy ra cách đây mấy năm có phần còn oái oăm hơn. Sau khi đã viết xong luận án tiến sĩ, nhận được ý kiến rất tốt của phản biện, việc bảo vệ ở Pháp chỉ còn tính chất hình thức, Nam quyết định quay về Việt Nam để bảo vệ luận án tiến sĩ ở Việt Nam để tôn trọng một thỏa thuận có từ trước. Khi về Hà Nội, Nam được biết là bằng thạc sĩ của Pháp không được ĐHQG công nhận, và vì thế Nam đã phải thi lại bằng thạc sĩ Việt Nam rồi sau đó mới tính tiếp chuyện bảo vệ tiến sĩ. Cuối cùng thì Nam cũng đã bảo vệ tiến sĩ, nhưng với cái giá là bốn năm mất đi cho những lý do lẩm cẩm. Bốn năm mà anh có thể đã làm được nhiều việc khác.  Một luận án tiến sĩ với nội dung khoa học nghiêm túc là một sản phẩm đáng tự hào của bất kỳ trường đại học nào. Tại sao thay vì làm hết sức để có thêm nhiều tiến sĩ thật “made in Vietnam”, ta lại đặt ra vô số qui định để cản trở nó ?  Cái làm tôi thực sự băn khoăn sau buổi nói chuyện sáng hôm ấy là điều kiện sống và làm việc của các bạn trẻ bắt đầu làm khoa học ở Việt Nam. Sau đó, tôi có tâm sự với một lãnh đạo một doanh nghiệp về việc nhà nước không có chính sách học bổng cho nghiên cứu sinh làm luận án trong nước. Tôi cho rằng đây là một bất cập, thiếu công bằng so với học bổng nghiên cứu sinh du học. Anh bạn tôi cho rằng, hầu hết người đi làm nghiên cứu sinh trong nước vì không biết làm gì khác. Câu trả lời của anh, có chủ ý gây sốc, vẫn là một biểu hiện sinh động cho sự mất lòng tin trầm trọng đối với nghiên cứu khoa học trong nước. Một biểu hiện sinh động khác, mà các học trò trẻ của bác Pierre cho tôi biết, các doanh nghiệp tư nhân cũng như nhà nước ngày một mê tín giải pháp chìa khóa trao tay, không cho các nhà khoa học dù một cơ hội nhỏ, tham gia vào việc cài đặt, vận hành, sử dụng.  Ngược lại với trào lưu chung, bác Pierre đã đặt lòng tin vào những bạn trẻ mới bước chân vào con đường khoa học. Bên cạnh lòng tin, bác đã làm hết khả năng của mình để tạo ra điều kiện cho họ sống và làm khoa học thật sự.  Để duy trì hy vọng, thực ra chúng ta không có lựa chọn nào khác.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điểm mới trong thuyết minh đề tài và khoán chi      Tại Hội thảo “Giới thiệu và hướng dẫn tham gia các Chương trình KH&CN Quốc gia” vừa qua do Văn phòng các Chương trình KH&CN quốc gia tổ chức, đã đưa ra nhiều điểm mới, thuận tiện hơn cho doanh nghiệp khi tiến hành các thủ tục thanh quyết toán.    Dự án cánh tay Robot của VNRobotics tạo điều kiện thực hành cho sinh viên các ngành cơ khí, điện tử được Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đầu tư  Sau một số năm thực hiện các chương trình KH&CN quốc gia, có một nghịch lý là: Trong khi, các chương trình, dự án nghiên cứu ứng dụng KH&CN rất cần sự tham gia của doanh nghiệp vì chỉ doanh nghiệp mới có hiểu biết về thị trường, đánh giá được tiềm năng của dự án và đủ khả năng để tiếp tục đầu tư, đưa sản phẩm ra thị trường thì doanh nghiệp lại không muốn tham gia vì cho rằng quy trình tham gia và thủ tục thanh quyết toán của nhà nước quá phức tạp. Chính vì vậy, hội thảo “Giới thiệu và hướng dẫn tham gia các Chương trình KH&CN Quốc gia” được tổ chức nhằm kết nối các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp để giải đáp thắc mắc về quy trình tham dự các dự án này.   Doanh nghiệp dễ giải ngân hơn  Hiện nay, có sáu Chương trình KH&CN Quốc gia mà Văn phòng các Chương trình KH&CN đều lấy doanh nghiệp làm trung tâm nhằm đổi mới công nghệ, đầu tư “tới ngưỡng” để ra được sản phẩm có hàm lượng KH&CN cao có thể thương mại hóa. Trong đó, có bốn chương trình dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: Chương trình tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài đến năm 2020, Chương trình hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương về KH&CN đến năm 2020, Chương trình 592 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Các doanh nghiệp có kết quả nghiên cứu tốt có thể đăng kí tham gia chương trình này và nhà nước sẽ hỗ trợ để doanh nghiệp đó phát triển thành doanh nghiệp KH&CN hoặc hình thành nên một doanh nghiệp spin-off).  Hai chương trình còn lại dành cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn kết hợp với các viện trường đầu tư các dự án lớn bao gồm: Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 (tập trung vào bốn lĩnh vực: Công nghệ thông tin, Vật liệu mới, Công nghệ sinh học, Tự động hóa) và Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020.  Vốn nhà nước sẽ được hỗ trợ theo nguyên tắc: Với các hoạt động nghiên cứu, nhà nước sẽ hỗ trợ 100% kinh phí, kể cả công lao động, nguyên vật liệu. Với hoạt động sản xuất thử nghiệm, nhà nước hỗ trợ tối đa 50% tổng kinh phí (và đối với vùng nông nghiệp khó khăn thì có thể hỗ trợ đến 70%). Với các dự án đưa vào sản xuất, đưa ra thị trường thì nhà nước hỗ trợ nguyên vật liệu khi sản xuất lô số không là 30%. Ngoài ra, nhà nước cũng hỗ trợ 100% trong việc đào tạo cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật viên và xây dựng các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu mạnh để kết hợp với các đơn vị triển khai.   Quy trình đăng ký tham gia các chương trình trên được thực hiện theo Thông tư 07 của Bộ KH&CN. Theo đó, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu đặt hàng sẽ xem điều kiện của mình phù hợp với khung chương trình nào và gửi đề xuất nhiệm vụ lên các bộ, ngành, địa phương. Sau đó, các bộ, ngành, địa phương sẽ tập hợp các nhiệm vụ này và gửi lên Bộ KH&CN. Thông qua một hội đồng tư vấn và các chuyên gia độc lập, Bộ KH&CN sẽ xác định nhiệm vụ nào sẽ triển khai. Tiếp theo, Bộ KH&CN sẽ công khai các nhiệm vụ được phê duyệt và các cá nhân, tổ chức sẽ tham gia nộp thuyết minh. Thuyết minh này sẽ được Hội đồng khoa học khác tuyển chọn và đánh giá. Nếu được, sẽ có một hội đồng thẩm định kinh phí của dự án. Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tổng hợp, Bộ KH&CN Hoàng Minh Thức cho biết, nếu các cá nhân, tổ chức có vướng mắc gì về quy trình có thể liên hệ trực tiếp với Vụ.  Buổi hội thảo còn giới thiệu hai thông tư mới về tài chính mới có hiệu lực trong năm 2016 là Thông tư 55 và Thông tư 27. Trong đó, Thông tư 55 có nhiều điểm mới trong quy định về thuyết minh các đề tài: các nhà khoa học không phải “chẻ nhỏ” đề tài thành các chuyên đề trị giá 10-20 triệu đồng nữa mà chia thành các nội dung thực hiện với chi phí tùy ý. Thông tư này cũng tạo điều kiện để các đơn vị thuê chuyên gia nước ngoài dễ dàng và cho phép đơn vị chủ trì sử dụng tùy ý 5% kinh phí tài trợ (không quá 200 triệu đồng). Thông tư 27 về khoán chi cho phép các nội dung chi được điều chỉnh trong quá trình thực hiện đề tài, dự án và nếu doanh nghiệp tiết kiệm được khoản nào thì cũng được tùy ý sử dụng cho hoạt động của mình. Tuy nhiên, ông Hoàng Minh Thức cũng nêu rõ là tiền đầu tư này không được khuyến khích để mua trang thiết bị, máy móc, vật tư sản xuất.  Nếu doanh nghiệp thất bại?  Trong buổi hội thảo, ông Nguyễn Xuân Lưu, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam, từng tham gia dự án cơ khí trọng điểm quốc gia chia sẻ rằng, công ty ông gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện thanh quyết toán. Thông tư 93 (có quy định về khoán sản phẩm) đi vào cuộc sống rất khó khăn vì Bộ KH&CN không đủ sức mạnh tác động tới Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước nên có tới ba bên kiểm tra chứng từ và mỗi bên kiểm tra một kiểu. Ông đề xuất sắp tới, Bộ nên tập hợp các đơn vị đang thực hiện các nhiệm vụ quốc gia, trình bày những vướng mắc, khó khăn và đề xuất cụ thể để gửi lên Bộ Tài chính và nên ban hành một bộ hồ sơ mẫu thanh toán.  Với đề xuất này, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho biết, Thông tư 27 (thay thế Thông tư 93) đã được Bộ KH&CN và Bộ Tài chính cam kết thực hiện từ mức cơ sở. Đồng thời, Kho bạc Nhà nước và Bộ Tài chính đang triển khai việc tập huấn cho các cán bộ thực hiện thông tư trên. Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng nói thêm rằng, vì thông tư mới có hiệu lực vào đầu năm nay nên cần thời gian để đi vào thực tế.  Chị Nguyễn Thị Hương Liên, phụ trách nghiên cứu ở Công ty dược Sao Thái Dương hỏi: “Bộ KH&CN có chấp nhận cho nhà khoa học thất bại hay không? Và mình đặt mục tiêu nghiên cứu sản phẩm này, nhưng khi nghiên cứu phát hiện ra một cái mới thì Bộ KH&CN có chấp nhận cho tôi báo cáo kết quả phụ nhưng ý nghĩa lại lớn hơn rất nhiều, cònmục tiêu ban đầu thì thất bại không?”  Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho rằng: “Câu hỏi rất khó trả lời, vì theo các văn bản hiện nay, thì chúng ta gần như chỉ có thành công thôi. Còn không thì phải có hội đồng đánh giá, xem nguyên nhân khách quan, chủ quan như thế nào đó, không loại trừ khả năng hoàn trả lại toàn bộ ngân sách nhà nước…” Một cán bộ của Văn phòng các chương trình KH&CN quốc gia bổ sung thêm: “Khi thực hiện dự án là các đơn vị ký kết một hợp đồng với Bộ KH&CN. Dự án thất bại thì mình hiểu rằng mình không đạt được sản phẩm như hợp đồng đã ký kết. Sau đó, Bộ sẽ có một hội đồng đánh giá, cái việc do nguyên nhân khách quan thì Bộ không thu hồi kinh phí còn nếu do nguyên nhân chủ quan thì nhà nước sẽ thu hồi. Điều này là để tránh khả năng trục lợi ngân sách nhà nước. Còn về điều chỉnh kết quả nghĩa là điều chỉnh lại hợp đồng, thì đương nhiên lại thông qua hội đồng đánh giá của Bộ”.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Điện hạt nhân phải đi kèm với văn hóa an toàn      Theo quan điểm của PGS. TS Nguyễn Mộng Sinh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, công nghệ càng phức tạp, càng tinh vi thì càng tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ mất an toàn trong vận hành và sử dụng.&#160;    Thưa ông, vì sao điện hạt nhân phải gắn liền với văn hóa an toàn?  Điện hạt nhân là một ngành công nghiệp năng lượng rất phức tạp dựa trên việc sử dụng nhiệt năng được giải phóng từ quá trình tự phân hạch và phá vỡ hạt nhân nguyên tử của nhiên liệu hạt nhân để chuyển hóa thành nhiệt năng. Bản thân phân hạch là một quá trình tự phát, xảy ra theo quy luật thống kê. Sản phẩm phân hạch, phá vỡ và chuyển hóa hạt nhân nguyên tử là các chất phóng xạ, phát ra bức xạ ion hóa với cường độ, năng lượng và thời gian tồn tại khác nhau nhưng nhìn chung là độc hại đối với cơ thể sống.   Điện hạt nhân là sản phẩm tổ hợp, kết hợp, phối hợp  của nhiều bộ môn, chuyên ngành, nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp khác nhau nhằm phục vụ cho việc điều khiển các phản ứng phân hạch hạt nhân, phản ứng dây chuyền, không cho các phản ứng này ở những mức danh định, cô lập các sản phẩm của chúng, khai thác sử dụng năng lượng được giải phóng ra một cách an toàn nhất, hiệu quả nhất.  Hệ kỹ thuật công nghệ càng phức tạp, càng tinh vi thì càng có khả năng ẩn chứa, tiềm ẩn những yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ mất an toàn trong vận hành và sử dụng.  Điện hạt nhân không phải là ngoại lệ, vì vậy khi sản xuất và sử dụng điện hạt nhân phải nghĩ đến việc đảm bảo an toàn ở mức cao nhất.  Văn hóa an toàn có thể được hiểu một cách đơn giản đó là những gì con người sáng tạo ra và sử dụng nhằm làm cho cuộc sống và hoạt động của mình chắc chắn hơn, yên ổn hơn, trọn vẹn hơn, không bị đe dọa bởi mối nguy cơ, nguy hiểm nào.  Từ cách tiếp cận và lý giải như trên, việc gắn điện hạt nhân với văn hóa an toàn đã trở thành lẽ đương nhiên, là sự gắn kết ràng buộc hữu cơ, là sự tồn tại song hành không thể khác được.    Vậy văn hóa an toàn trong điện hạt nhân bao gồm những yếu tố gì, trong đó vấn đề nào là quan trọng nhất?  Văn hóa an toàn nói chung cũng như văn hóa an toàn của điện hạt nhân nói riêng gồm hai thành phần chủ yếu:  Hợp phần thứ nhất là khuôn khổ, là cơ cấu của một hệ thống tổ chức cần có để thực hiện nhiệm vụ đặt ra với sự phân cấp, phân nhiệm rõ ràng, tường minh cùng những mối quan hệ hữu cơ bên trong hệ thống. Hợp phần thứ hai là thái độ quan điểm cách hành xử của toàn thể cán bộ, nhân viên, người lao động tham gia thực hiện các công việc, hoạt động ở các cấp trong hệ thống luôn hướng đến mục tiêu chất lượng, hiệu quả, an toàn; sẵn sàng phấn đấu để đạt và thụ hưởng các lợi ích chung của cả hệ thống cũng như lợi ích riêng của mỗi cá nhân.  Xét từ góc độ cam kết trách nhiệm thì văn hóa an toàn của điện hạt nhân bao gồm ba thành tố: thứ nhất là sự cam kết ở cấp độ hoạch định chính sách; thứ hai là sự cam kết của người lãnh đạo chỉ huy, quản lý và thứ ba là sự cam kết của các cá nhân.  Trong tất cả các vấn đề đặt ra, có thể coi quản lý an toàn là vấn đề quan trọng nhất của văn hóa an toàn điện hạt nhân. Sở dĩ như vậy vì quản lý an toàn có bốn chức năng then chốt.  Chức năng thứ nhất liên quan đến chính sách và việc hoạch định chính sách. Nó bao gồm việc xác lập mục đích an toàn, định lượng mục tiêu và thứ tự ưu tiên, hoạch định chương trình công tác nhằm đạt được các mục tiêu và sau đó các mục tiêu trở thành các đối tượng để đo đạc và kiểm định.  Chức năng thứ hai là tổ chức và giao tiếp tức là việc thiết lập các tuyến rõ ràng về trách nhiệm và quan hệ giao lưu hai chiều, nhiều chiều ở tất cả các cấp.  Chức năng thứ ba là quản lý hiểm họa, tức là việc bảo đảm sao cho tất cả các hiểm họa được nhận biết một cách tường minh, các nguy cơ được giám sát, cách thức kiểm tra nguy cơ được xác lập, được áp dụng và là đối tượng để đo đạc, kiểm định.  Chức năng thứ tư là quan trắc, theo dõi, xem xét việc thực thi an toàn; việc tồn tại, đồng hành và thực thi cả ba chức năng trước. Việc quan trắc phải bao gồm các bước cụ thể, chính xác nhằm kiểm định, đánh giá việc thực hiện các chương trinhg, kết quả tính toán lợi ích và hiệu quả mỗi chương trình.   Để đảm bảo văn hóa an toàn điện hạt nhân, Việt Nam cần phải thực thi những bước đi như thế nào về xây dựng lực lượng, hệ thống văn bản pháp quy…?  Để tiến tới việc xây dựng và đưa vào vận hành, khai thác sử dụng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Việt Nam đã và đang thực hiện những bước đi đầu tiên khá thận trọng, hướng đến việc đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả của chương trình, trong đó chú trọng đến việc xây dựng lực lượng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy. Đó là những cố gắng lớn!    Yếu tố con   người ẩn chứa, định hình hoặc được thiết lập tại   bất kỳ giai đoạn nào đó   trong “cuộc đời” của một cơ sở   hạt nhân. Ảnh: Đội ngũ vận hành   lò phản ứng hạt nhân   Đà Lạt đang hướng dẫn sinh viên thực tập đưa lò  đạt  tới   trạng thái tới hạn. Nguồn: Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt  Tuy nhiên theo cách nghĩ của tôi, có một số vấn đề dường như vẫn chưa được lưu ý ngay trong những bước đi ban đầu này.  Thứ nhất, đó là chưa có một cách nhìn nhận, một cách tiếp cận mang tính hệ thống và toàn diện tập hợp tất cả các khía cạnh liên quan đến việc đưa điện hạt nhân vào Việt Nam như một vấn đề, một nhiệm vụ chiến lược quan trọng tầm cỡ quốc gia. Chưa thấy rõ một tuyên cáo, một cam kết rõ ràng ở cấp hoạch định chính sách. Chưa thấy định hình rõ ràng minh bạch một hệ thống tổ chức chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu lực để chỉ huy, điều hành quản lý toàn bộ các hoạt động có liên quan ngay từ đầu. Chưa có một chương trình, kế hoạch tổng thể chung của quốc gia cho toàn bộ hệ thống với những tính toán kỹ lưỡng, có tính thực thi cao cho mỗi bước đi cho từng giai đoạn cụ thể.  Thứ hai, nếu coi văn hóa là nền tảng phát triển của xã hội thì cũng phải coi văn hóa an toàn, văn hóa an toàn hạt nhân là nền tảng cơ sở  của việc xây dựng và phát triển điện hạt nhân ở nước ta. Điều này có nghĩa là muốn xây dựng điện hạt nhân thì trước hết phải lo xây dựng và bảo đảm văn hóa an toàn trong tất cả các lĩnh vực, các cấp, các ngành, các tổ chức đơn vị được hoặc sẽ được thu hút, tham gia vào các công việc liên quan đến điện hạt nhân.  Với quốc gia mới phát triển chương trình điện hạt nhân như Việt Nam, những vấn đề nào của văn hóa an toàn cần được đặc biệt lưu ý? Việt Nam có thể học hỏi những gì từ kinh nghiệm của các quốc gia có nền công nghiệp điện hạt nhân tiên tiến của thế giới?  Khi trả lời câu hỏi trước tôi có đề cập đến hai vấn đề cần lưu ý khi thực thi những bước đi ban đầu của chương trình Điện hạt nhân.  Vấn đề cần được đặc biệt lưu ý của văn hóa an toàn là yếu tố con người. Suy cho cùng, tất cả các sự cố, tai nạn hiểm họa đều trực tiếp hoặc gián tiếp do con người gây ra và là hậu quả hành vi của con người.   Với điện hạt nhân, yếu tố con người ẩn chứa, định hình hoặc được thiết lập tại bất kỳ giai đoạn nào đó trong “cuộc đời” của một cơ sở hạt nhân, tính từ khi quyết định việc xây dựng lập luận chứng khoa học – công nghệ, luận chứng kinh tế – kỹ thuật đến thiết kế, xây dựng, lắp ráp, hiệu chỉnh, thử nghiệm, đạt công suất, vận hành, khai thác, kéo dài thời hạn khai thác sử dụng cho đến khi kết thúc khai thác, ngừng hoạt động, tháo dỡ công trình, lưu giữ chất thải hạt nhân. Yếu tố này đóng vai trò chủ đạo và là yếu tố quan trọng nhất.  Trên bình diện văn hóa an toàn thì tâm lý và tư cách cá nhân của tất cả các cá thể tham gia vào xây dựng điện hạt nhân luôn được coi là các nhân tố chủ yếu đảm bảo cho an toàn của điện hạt nhân. Nhìn một cách tổng thể, cơ sở để đảm bảo an toàn được quyết định bởi hành vi của các cá nhân riêng biệt dưới tác động, ảnh hưởng của quan điểm, động cơ của mỗi người hoặc một nhóm người. Đồng thời, sự hình thành nhân cách và tư chất cá nhân như cơ sở của động cơ, hành vi cá nhân lại chịu ảnh hưởng quyết định bởi môi trường chính trị xã hội, truyền thống, đặc điểm dân tộc và nền giáo dục mà cá nhân được tiếp thu, thụ hưởng.  Xây dựng nền văn hóa an toàn cho điện hạt nhân thực sự không dễ dàng!  Các quốc gia đi trước trong xây dựng, phát triển điện hạt nhân đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, nhiều bài học quý báu. Việt Nam là quốc gia đi sau trong tiến trình phát triển điện hạt nhân, nếu biết cầu thị thì có thể học hỏi được nhiều điều có ích, đặc biệt trong những điều kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế, khi an toàn của điện hạt nhân trở thành mối quan tâm chung có ý nghĩa toàn cầu và tính công khai của thông tin liên quan đến an toàn điện hạt nhân được nhìn nhận như một trong những nguyên lý cơ bản của văn hóa an toàn!  Xây dựng và phát triển điện hạt nhân phải dựa trên ba cột trụ chủ yếu. Đó là an toàn (bao gồm an toàn kỹ thuật, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an toàn môi trường), lợi ích kinh tế và sự đồng thuận, tin tưởng của người dân. Đó cũng là kinh nghiệm và bài học tổng thể nhất, bao trùm nhất mà ta cần tiếp thu.      Trân trọng cảm ơn ông!  Trang Thúy thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều chỉnh mục tiêu Chiến lược KH&CN sát thực tế hơn      Sau năm năm thực hiện Chiến lược phát triển KH&amp;CN giai đoạn 2011 – 2020 (gọi tắt là Chiến lược), bên cạnh những kết quả tích cực như dự kiến, vẫn còn một số mục tiêu được đánh giá là chưa đạt. Do đó, Bộ KH&amp;CN sẽ đề xuất với Chính phủ cho phép điều chỉnh mục tiêu Chiến lược giai đoạn từ 2016- 2020 cùng với các mục tiêu và giải pháp phù hợp với tình hình mới.      Mục tiêu và kết quả thực tế   Trong phiên họp sơ kết năm năm thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020, diễn ra vào ngày 25/12 vừa qua, Bộ KH&CN đã nhìn nhận và đánh giá lại những kết quả đạt được ở giai đoạn đầu Chiến lược, với đánh giá chung là trong thời gian qua KH&CN đã có những đóng góp thiết thực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật KH&CN đã tiếp tục được hoàn thiện, tiềm lực KH&CN quốc gia từng bước được nâng cao, khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được rút ngắn đáng kể. Một số kết quả cụ thể đáng chú ý như gia tăng số lượng công bố quốc tế trong giai đoạn 2011-2015 gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, đạt tốc độ tăng bình quân 19,5%/năm, đưa Việt Nam xếp hạng 59 thế giới (tăng 10 bậc so với giai đoạn 2006-2010); tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị của quốc gia và doanh nghiệp đạt 10,68%/năm; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt tỷ trọng đóng góp vào năm 2013 đạt 28.7% (năm 2012 là 19,1%); số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ tăng 62% so với giai đoạn 2006-2010… Đây là những lĩnh vực hứa hẹn khả năng sẽ đạt được mục tiêu đề ra vào năm 2020 của Chiến lược.    Tuy nhiên trên một số lĩnh vực, kết quả còn chưa đạt mục tiêu Chiến lược đề ra, điển hình là các mục tiêu về số lượng cán bộ nghiên cứu KH&CN, số cơ sở ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao, số tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và quốc tế…. Ví dụ cho đến cuối 2015 mới có chín cơ sở ươm tạo được xây dựng và hình thành trên toàn quốc, chưa bằng 1/3 mục tiêu đã định, và việc hướng tới mục tiêu hình thành 60 cơ sở ươm tạo vào năm 2020 xem ra bất khả thi. Về chất lượng ươm tạo, phần lớn các cơ sở này mới dừng lại ở mức cho thuê mặt bằng, máy móc mà chưa phát huy được vai trò như tư vấn, đào tạo, kết nối nhà đầu tư với doanh nghiệp, khuyến khích chuyển giao công nghệ…     Về mục tiêu hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới năm 2015 và 60 tổ chức năm 2020, trên thực tế qua đánh giá thí điểm 66 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, ĐH Quốc gia TPHCM, ĐH Quốc gia HN, ĐH Bách khoa HN, Việt Nam hiện mới có sáu tổ chức đạt trình độ khu vực và quốc tế, tám tổ chức khác có thể đầu tư để đạt trình độ khu vực và quốc tế vào năm 2020.    Ngay trong một số mục tiêu được nhận định là đạt yêu cầu thì vẫn tồn tại những điểm yếu. Ví dụ về tốc độ đổi mới công nghệ và thiết bị, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ, chỉ khoảng 20% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến nhưng chủ yếu cũng là các công ty nước ngoài. Thậm chí, trong số các doanh nghiệp tích cực đổi mới công nghệ thì tỷ trọng nhập khẩu công nghệ từ các quốc gia tiên tiến như Nhật Bản, Mỹ và một số quốc gia châu Âu cũng rất thấp nên mức độ hiện đại cũng chỉ ở tầm trung bình của thế giới. So với 140 quốc gia được xếp hạng, mức độ sẵn sàng về công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chỉ xếp thứ 92, mức độ hấp thụ công nghệ hạng 121, khả năng tiếp cận công nghệ mới hạng 112.   Những tồn tại vướng mắc  Khó khăn trong việc thực hiện Chiến lược đã được Bộ KH&CN phân tích, đánh giá khách quan và thẳng thắn, trong đó đã chỉ ra một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là tình trạng hệ thống thông tin, thống kê kinh tế – xã hội và KH&CN còn nhiều hạn chế, dẫn tới một số mục tiêu, chỉ tiêu còn duy ý chí, thiếu tính khả thi và khó đánh giá kết quả thực hiện.    Bên cạnh đó là những vấn đề về tiềm lực KH&CN quốc gia, cơ chế quản lý Nhà nước, sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa các bộ, ngành… Thậm chí còn tồn tại vướng mắc về quan điểm giữa một số Bộ, ngành, nhất là về vấn đề đầu tư, tài chính, ngân sách cho KH&CN và chính sách trọng dụng cán bộ KH&CN. Đặc biệt về cơ chế quản lý hoạt động KH&CN, vẫn còn thiếu các chính sách, giải pháp tạo đột phá trong những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế. Ông Nguyễn Phú Cường, Vụ trưởng Vụ KH&CN Bộ Công Thương cho biết, những tồn tại về cơ chế quản lý và sự phối hợp liên bộ khiến nhiều đơn vị của Bộ này trong triển khai các dự án hợp tác với Bộ KH&CN đã phải mất khá nhiều thời gian chờ các thủ tục phê duyệt hay gặp nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai… “Vì vậy, tiến độ thực hiện dự án thường không khớp với kế hoạch, cụ thể như với các dự án về giàn khoan tự nâng 120 m nước Tam Đảo 5”.    Mặt khác, việc huy động các nguồn lực xã hội và doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN vẫn chưa hiệu quả do còn nhiều vướng mắc trong thực hiện chính sách ưu đãi của Nhà nước cho đầu tư KH&CN. Mối liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo, giữa nghiên cứu với thị trường, giữa nhà khoa học với doanh nghiệp còn yếu mà nguyên nhân là nhiều doanh nghiệp chưa thực sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường, chưa coi việc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa là giải pháp sống còn. Phần lớn doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa nên việc huy động tài chính, nhân lực cho đổi mới công nghệ càng khó khăn.     Về phía các viện nghiên cứu, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu ở một vài viện nghiên cứu hoặc tổng công ty, không chỉ nghèo nàn, xuống cấp mà còn lạc hậu, dẫn đến việc khó triển khai các dự án KH&CN được giao. Tuy nhiên, theo đánh giá của một số nhà khoa học có uy tín, vấn đề đáng quan ngại nhất đối với các trường/viện nghiên cứu của Việt Nam không phải là hạn chế đầu tư về trang thiết bị, mà là sự thiếu đầu tư đồng bộ cho con người/chất xám, hoặc đầu tư cho trang thiết bị mà thiếu sự tham vấn ý kiến (kèm theo ràng buộc về trách nhiệm sử dụng) của giới chuyên môn. Đơn cử như GS. Pierre Darriulat trong một số ý kiến chia sẻ trên tạp chí Tia Sáng trong những năm gần đây phản ánh tình trạng mua sắm những trang thiết bị đắt tiền trong khi chưa có người sử dụng, hoặc thậm chí ra quyết định mua sắm mà không tham khảo ý kiến của giới chuyên môn.  Một số phương hướng, giải pháp thực hiện Chiến lược  Để triển khai tốt Chiến lược giai đoạn 2016 – 2020, Bộ KH&CN đề xuất với Chính phủ điều chỉnh Chiến lược với các mục tiêu và giải pháp khả thi, phù hợp với tình hình mới, đồng thời đưa ra một số giải pháp trong việc phối hợp với các bộ, ngành liên quan: đưa một số chỉ tiêu phát triển KH&CN vào hệ thống các chỉ tiêu KT – XH hằng năm và năm năm của Chính phủ trình Quốc hội; triển khai cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước trích đủ 3-10% thu nhập tính thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp theo đúng quy định của Chính phủ; thành lập các quỹ phát triển KH&CN ở địa phương và đưa vào hoạt động để hỗ trợ kịp thời cho việc triển khai các nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn tỉnh, thành phố, bố trí đủ 2% ngân sách địa phương hằng năm chi cho hoạt động KH&CN, bảo đảm chi đúng mục đích và hiệu quả.    Bộ KH&CN cũng kiến nghị Chiến lược cần tiếp tục tập trung phát triển mạnh nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng để phục vụ trực tiếp và thiết thực cho nhu cầu doanh nghiệp, chú trọng lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, tỷ trọng nội địa lớn, trong đó có các lĩnh vực phát huy lợi thế nền nông nghiệp nhiệt đới và các ngành dịch vụ có thế mạnh của Việt Nam.    Để tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, Bộ KH&CN tiếp tục kiến nghị đẩy mạnh thực hiện một số chính sách đã được khởi xướng lâu nay, như hình thành một số viện, đại học nghiên cứu theo mô hình tiên tiến của thế giới; phát triển mạnh hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học, đẩy mạnh liên kết giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa đại học và doanh nghiệp; hỗ trợ phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh; cụ thể hóa và đưa vào thực thi các chính sách sử dụng, trọng dụng cán bộ KH&CN…      Về cơ chế quản lý hoạt động KH&CN vẫn cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, phù hợp với đặc thù hoạt động KH&CN và thông lệ quốc tế: đẩy mạnh cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KH&CN gắn với trách nhiệm sử dụng kết quả; áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; đảm bảo cấp phát tài chính kịp thời, phù hợp với tiến độ đặt hàng và phê duyệt; tăng cường kinh phí đối ứng từ doanh nghiệp cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ,…             “KHÔNG CÓ CHẾ ĐỘ PHẢN BIỆN KÍN”   Tránh dàn  trải, minh bạch hóa, nhân rộng mô hình tiến bộ là ba trong số những ý  kiến của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.              Để  nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước cho các chương trình,  nhiệm vụ KH&CN, Bộ KH&CN cần tìm cách tập trung nguồn lực đầu tư  cho “rất ít [chương trình/nhiệm vụ] trọng điểm thực sự đúng nghĩa, đầu  tư tạo đột phá đúng nghĩa” và nỗ lực cao nhất để tạo ra kết quả như mong  đợi.              Quá trình tuyển chọn nhiệm vụ, đề tài KH&CN, quá trình xét  duyệt, nghiệm thu và đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường phải “hoàn  toàn minh bạch”. Muốn vậy thì cách duy nhất là cộng đồng khoa học tự  giám sát lẫn nhau bằng cách công khai tất cả mọi công việc, kể cả phản  biện – “không có chế độ phản biện kín” ở đây – bởi “không một ai, tổ  chức nào đủ lực lượng để đi thanh tra, giám sát” các đề tài đã được xét  duyệt và thực hiện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin có thể giúp minh  bạch hóa mọi ý kiến của các nhà khoa học tham gia hội đồng tuyển chọn  hay xét duyệt các đề tài nhiệm vụ. Như vậy, dư luận công chúng sẽ biết  được ngay nhà khoa học “phản biện trách nhiệm, có chuyên sâu về chuyên  môn hay là cũng xuê xoa”.              Ngoài ra, trong định hướng phân bổ nguồn  lực từ các quỹ KH&CN cho các đề tài khoa học, nên ưu tiên hơn nữa  cho các trường đại học. Còn đối với các viện nghiên cứu, tới đây khi đã  hình thành một viện nghiên cứu theo hướng tiến bộ như VKIST thì cần phải  nhân ra, lan tỏa tới các viện khác, chưa áp dụng được ở các viện lớn  thì với các viện nhỏ của hai viện Hàn lâm, trước hết là trong Bộ  KH&CN.”    (Tóm tắt một số ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội  nghị Sơ kết năm năm thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn  2011 – 2020 và tổng kết công tác năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm  2016).            Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều gì ngăn cản Romania gia nhập cộng đồng khoa học châu Âu?      Sự thiếu khả năng quản lý các dự án khoa học lớn cộng với sự tùy tiện và quan liêu khiến một số quốc gia đang phát triển ngày một lâm vào trì trệ, bất chấp việc có những cơ hội đem lại sự phát triển trong tương lai, không chỉ cho khoa học mà cho cả đất nước.      Các nhà quản lý EU trao đổi với các nhà khoa học Romania về dự án ELI. Ảnh: spotmedia.ro  Đó là câu chuyện của Romania, một quốc gia Đông Âu đang muốn có được sự chuyển mình trong khoa học và mong muốn gia tăng vị thế của mình trong bản đồ khoa học châu Âu. Đây là lý do để họ tham gia The Extreme Light Infrastructure (ELI), một dự án lớn của EU do Diễn đàn Chiến lược về các cơ sở hạ tầng nghiên cứu châu Âu nhận diện như một ưu tiên hàng đầu từ năm 2006 với tổng kinh phí của dự án là 875 triệu euro. 13 quốc gia châu Âu tham gia dự án với mong muốn xây dựng cơ sở nghiên cứu này ở Đông Âu để cân bằng phân bố các cơ sở nghiên cứu trên khắp lục địa này.   Theo truyền thống, EC thiết kế các gói đầu tư để hỗ trợ những khu vực nghèo cải thiện cơ sở hạ tầng và kinh tế. Các khoản đầu tư thường phân bổ vào những dự án về cơ sở hạ tầng cơ bản ở các quốc gia châu Âu kém phát triển nhưng nay EU muốn thay đổi, khuyến khích việc sử dụng kinh phí cho các dự án thúc đẩy khoa học, phát triển cơ sở hạ tầng khoa học ở các vùng và khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia.   Thay vì phải đi tới các quốc gia mạnh để tiến hành nghiên cứu, các nhà khoa học ở khu vực Đông và Trung Âu có thể tham gia tạo thành các nhóm nghiên cứu và mời các đồng nghiệp quốc tế tới để cùng nhau giải quyết những vấn đề mới của khoa học laser, trải rộng từ các câu hỏi cơ bản như tại sao vũ trụ lại bị vật chất lấn át? Tại sao phản vật chất lại bị triệt tiêu? Cái gì bao trùm cả vật chất tối và năng lượng tối? cho đến những câu trả lời cho chính cuộc sống hiện tại, ví dụ như tạo ra những công nghệ nào có thể xử lý được chất thải phóng xạ? làm thế nào để tạo ra các phương pháp điều trị phóng xạ hiệu quả nhất? và thậm chí mở ra nhiều bí mật khác về thế giới xung quanh chúng ta…   Năm 2011, EC đã chấp thuận khoản đầu tư 325 triệu euro cho ELI ALPS, trụ cột đầu tiên của dự án này ở Prague, Czech với mong muốn có được chùm ánh sáng laser ở phạm vi 10-picosecond (10−13 giây) để gia tốc các chùm hạt tới mức năng lượng đủ cao để có thể nghiên cứu sự tương tác của chúng. ELI Beamlines, cơ sở khác ở Szeged, Hungary với kinh phí 240 triệu euro sẽ tạo ra những luồng xung ngắn hơn ở mức attosecond (10−18 giây), cho phép các nhà vật lý chụp ảnh được động lực của các electron trong nguyên tử, phân tử, plasma và trạng thái đậm đặc.  Là trụ cột thứ ba, ELI-NP – dự án về phòng thí nghiệm có chùm laser mạnh nhất thế giới đặt tại Viện Nghiên cứu vật lý và Kỹ thuật hạt nhân quốc gia Horia Hulubei (IFIN-HH) của Romania, cơ sở nghiên cứu mang tên nhà vật lý hạt nhân Romania có nhiều đóng góp trong lĩnh vực quang phổ tia X. Ngày 18/9/2012, EU đã chấp thuận dành 180 triệu euro (tương đương 310 triệu USD) chỉ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công trình. ELI-NP sẽ tạo ra những luồng xung laser tới 10 petawatts (1016 watts), gấp 10 lần sức mạnh hiện tại của các thiết bị laser tiên tiến nhất, đủ để tìm hiểu những cấu trúc nội tại của các hạt nhân nguyên tử.  44 viện nghiên cứu ở 13 quốc gia thành viên EU đã tham gia lập kế hoạch ELI-NP, dự kiến hoàn thành vào năm 2017. Khi hoàn thành, cộng đồng nghiên cứu quốc tế sẽ được sử dụng miễn phí các thiết bị ở ELI-NP còn các công ty tư nhân sẽ phải trả tiền để được sử dụng nó. Việc chi trả để sử dụng các thiết bị sẽ do hội đồng khoa học quốc tế đánh giá.  Sau những niềm vui trong ngày khởi công, những gì diễn ra trên thực tế trong những năm sau đó lại không hoàn toàn như mong đợi. Đến nay chỉ có hai cơ sở ở Hungary và Czech đã hoàn tất với sự hợp tác khá suôn sẻ với các đối tác nước ngoài, bất chấp một số điều tiếng về sự can thiệp của chính quyền Viktor Orbán với dự án ELI Beamlines. “Khi dự án ELI bắt đầu, chúng tôi nỗ lực làm tất cả mọi thứ ở mức cao khả năng gấp 10 lần”, Pavel Bakule, người phụ trách dự án ELI ALPS ở Czech nói với Laserfocusworld.com còn Georg Korn, giám đốc khoa học của ELI Beamlines thì cho rằng “xây dựng điều gì đó mới mẻ là một công việc thú vị. Mục tiêu rất tham vọng nhưng chúng tôi vẫn cố gắng đi đúng hướng”. Thậm chí, những kết quả nghiên cứu đầu tiên đã được công bố trên cơ sở hợp tác của ELI Beamlines và các đồng nghiệp quốc tế ở Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Lawrence Livermore, Phòng thí nghiệm Rutherford Appleton (Anh)…   Rắc rối ở Romania  “ELI-NP sẽ cho phép chúng tôi thực hiện nghiên cứu một dạng vật lý hạt nhân hoàn toàn mới mà hiện nay chưa đủ khả năng thực hiện,” nhà khoa học phụ trách dự án là Nicolae-Victor Zamfir, Viện trưởng viện Horia Hulubei gần thủ đô Bucharest, hào hứng nói với Nature trong ngày khởi công công trình cách đây tám năm. “Năng lượng của các luồng xung tia laser sẽ hầu như ở cấp độ cực mạnh đến mức các liên kết hạt nhân cũng sẽ bị chúng làm nhiễu loạn”.  Cũng trong ngày khởi công công trình, Dragos Ciuparu, một nhà kỹ thuật hóa học tại trường Đại học Dầu khí ở Ploieşti đã tham gia vào việc tư vấn và hỗ trợ chính quyền Romania về mặt khoa học của dự án từ năm 2010, hi vọng vào khả năng ELI-NP sẽ giữ các nhà nghiên cứu ở lại đất nước, vốn đang trong tình trạng chảy máu chất xám. “Chính quyền sẽ phải đầu tư rất mạnh vào cộng đồng vật lý để có thể tận hưởng được lợi ích mà công trình tiên tiến này mang lại”.    Dự án ELI sẽ giúp các nhà khoa học nghiên cứu những vấn đề mới của khoa học laser. Nguồn: Nature.  Được mong đợi như vậy nhưng ELI-NP lại là dự án gây thất vọng nhất. Mối bất hòa giữa các nhà nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm và các nhà phát triển nguồn gamma của nó khiến ngưng trệ quá trình thực hiện. Vào năm 2014, EuroGammaS, một nhóm hợp tác quốc tế, đã thắng thầu hợp đồng xây dựng hệ thống cơ sở vật chất ở Măgurele, Bucharest. Căng thẳng đã bùng lên với dự án này từ ít nhất 18 tháng trước và vào tháng 11/2018, ông Nicolae-Victor Zamfir, người phụ trách dự án, đã hủy bỏ hợp đồng.  Nguyên nhân là những cơ sở lắp đặt các nguồn gamma, tia X… đều phải đáp ứng được những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt về an toàn. EuroGammaS cho rằng tòa nhà đặt nguồn gamma ở Măgurele phải được thay đổi về kết cấu để đạt các quy định về an toàn cho nhân viên và tuân theo những điều kiện cần thiết với thiết bị phức tạp này (tòa nhà này thực chất là một khối bê tông có gắn các thiết bị giảm chấn động đất với 12 tầng hầm nên cần có 1.100 giếng để giảm mực nước ngầm). Tuy nhiên ông Zamfir cho rằng ông không đủ thẩm quyền để thay đổi và cũng không quan trọng để thay đổi, bất chấp EuroGammaS đề xuất sẽ trả thêm tiền.   Rắc rối xuất hiện vào năm 2018 khi EuroGammaS từ chối lắp đặt thiết bị laser vì cho rằng tòa nhà không đạt yêu cầu kỹ thuật và ông Zamfir hủy hợp đồng để gọi một nhà thầu mới. Do đó, EuroGammaS đã kiện Viện Nghiên cứu vật lý và Kỹ thuật hạt nhân quốc gia ra tòa án Romania vào tháng 10/2019.  Ông Zamfir, người khiến dự án ELI-NP chậm trễ, mới đây chịu thêm nhiều rắc rối. Vào tháng 7/2020, công đoàn các nhà khoa học tại Viện Horia Hulubei đã đưa ra cáo buộc ông tội tham nhũng. Tháng 2/2020, Tổng thư ký ủy ban khoa học nhà nước Dragoş Ciuparu thông qua quyết định tái bổ nhiệm ông Zamfir ở tuổi 68 vào vị trí viện trưởng – cao hơn giới hạn cho một vị trí ở một đơn vị công tới ba năm.    Trong buổi công khai ý kiến trước công luận, 45 người đại diện cho 250 nhà khoa học ở IFIN-HH phản đối việc gia tăng thời gian tại vị của Zamfir và kết tội việc đồng lõa của Dragoş Ciuparu và Zamfir làm ảnh hưởng đến tương lai của khoa học đất nước. Họ cho rằng việc tái bổ nhiệm Zamfir là trái luật bởi ông ta không đủ khả năng quản lý một viện nghiên cứu quan trọng như IFIN-GG. “Nhiều nhà khoa học ở IFIN-HH không còn muốn Zamfir dẫn dắt họ bởi ông ta đã làm ảnh hưởng đến nghiên cứu khoa học và hủy hoại nhiều cơ hội khi tham gia dự án tia laser châu Âu của Romania”, George Epurescu, một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Laser, Plasma và phóng xạ quốc gia gần Bucharest, nói. “Chúng tôi không tin vào sự tái bổ nhiệm này là đúng luật”.   Một số nhà nghiên cứu tại IFIN-HH cho biết, vài tháng trước, Zamfir đã tự thực hiện một số quyết định với danh nghĩa cá nhân và tổ chức có khả năng ảnh hưởng đến kết quả khoa học và hợp tác quốc tế, dẫn đến gia tăng những căng thẳng giữa các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Vào tháng tư, ông Zamfir giải thể hội đồng khoa học viện, lấy cớ là hội đồng này chỉ được các nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm bầu ra nên cần có hội đồng khác được đầy đủ các nhà khoa học khác bầu chọn.  Cựu chủ tịch hội đồng khoa học viện, giáo sư Livius Trache đã trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài qua email về sự tồn tại của “một cuộc chiến giữa nhà quản lý và các nhà nghiên cứu tại Viện”, chỉ trích phong cách quản lý của Zamfir và hành động giải thể hội đồng phi lý của ông ta, đồng thời nhấn mạnh giá trị của dự án ELI-NP khiến cần phải “giải cứu” nó khỏi sự quản lý tồi.   Vào 24/7/2020, Zamfir sa thải Trache bởi vì “vi phạm nghiêm trọng quy định về việc cấm lan truyền tin giả về viện”, theo lời giải thích của ông ta với Nature. Các đồng nghiệp quốc tế bênh vực Trache, gửi thư ngỏ với chữ ký của 66 nhà vật lý thuộc 16 quốc gia tới Bộ trưởng Bộ Khoa học và Thư ký ủy ban khoa học nhà nước vào ngày 9/8/2020, kêu gọi phục hồi chức vị của “một nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế về vật lý hạt nhân và vật lý thiên văn tại IFIN-HH”.   Ông Zamfir thì bác bỏ mọi cáo buộc của các nhà khoa học về khả năng quản lý tồi và cho rằng “IFIN-HH đang ở trình độ của một trong những cơ sở nghiên cứu xuất sắc bậc nhất châu Âu cũng như thế giới. Trong nhiệm kỳ của tôi, công việc đầu tiên là tăng cường mối hợp tác, đưa viện trở thành một phần của cộng đồng khoa học châu Âu và thế giới”.    Nicolae-Victor Zamfir (trái), Viện trưởng Viện Horia Hulubei, bị cáo buộc làm ảnh hưởng đến dự án ELI cũng như đến Viện. Nguồn: sciencebusiness.net.  Tuy nhiên, các nhà khoa học thế giới thì lo ngại về sự tùy tiện trong hợp tác của ông Zamfir. Vào tháng 11/2019, Zamfir đã phá vỡ một thỏa thuận hợp tác với Viện Nghiên cứu Laue-Langevin (ILL), một tổ chức quốc tế cung cấp các chùm tia neutron cho nghiên cứu ở Grenoble, Pháp. Các nhà nghiên cứu ở ILL cho rằng Zamfir hủy không cho mượn những máy dò rất quan trọng nhằm cải thiện độ chính xác một thiết bị mới ở ILL về cấu trúc hạt nhân nguyên tử, dẫu đã ký một thỏa thuận chính thức với ILL về việc này. Giáo sư Silvia Leoni tại Viện Nghiên cứu vật lý hạt nhân Ý ở Milan và là thành viên của hội đồng cố vấn khoa học của ILL nói “chúng tôi đang chờ những chiếc máy dò đó tới” và việc không thực hiện thỏa thuận dẫn đến “thiệt hại cho ILL là ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu”.  Hậu quả nhãn tiền  Dường như không thể chờ trước sự chậm trễ của Romania, vào tháng 7/2020, Czech và Hungary đã quyết định đưa riêng hai dự án của mình thành một liên doanh cơ sở hạ tầng nghiên cứu châu Âu mới (European Research Infrastructure Consortium ERIC). Do đó, Romania đang bị đe dọa mất vai trò chủ chốt trong pha sau của dự án – việc lập bộ phận có tư cách pháp nhân với chức năng giám sát hoạt động ở ba địa điểm là Romania, Czech, Hungary và chịu trách nhiệm huy động 75 triệu euro để vận hành ELI, phần lớn từ phí thành viên của những quốc gia tham gia như cách đã áp dụng thành công ở CERN – trung tâm vật lý hạt nhân châu Âu. Đã gần hoàn thành dự án xây dựng nên Czech và Hungary muốn thúc đẩy việc thành lập một cơ quan quản lý cấp chính phủ mà không cần đến Romania, vì như thế họ sẽ có cơ hội chào đón cộng đồng khoa học quốc tế tới làm việc vào năm tới. Tuy nhiên, mong muốn này cũng chạm đến một vấn đề: một tổ chức điều phối như vậy cần có ít nhất ba quốc gia chủ chốt tham gia. Do đó, Italy, quốc gia cùng với Pháp, Đức và Anh tham gia điều phối sự phát triển của dự án ELI – cho rằng sẽ can thiệp để thúc đẩy việc thành lập ERIC ngay trong năm nay. “Chúng tôi tin tưởng vào giá trị mà những nghiên cứu tiên phong có thể thực hiện ở ELI, và ở Italy, chúng tôi có một cộng đồng đông đảo và đa dạng các nhà khoa học có khả năng khai thác nó”, Massimo Inguscio, chủ tịch Hội đồng nghiên cứu Italy (CNR) cho biết. Còn Allen Weeks, người được EU đề cử làm Giám đốc điều phối dự án ELI cũng mong muốn “các đồng nghiệp Romania sẽ có khả năng khai thác các vấn đề và họ sẽ có triển vọng tham gia ERIC vào năm nay”.  EU cố gắng dàn xếp mọi chuyện nhưng không thành công. Vào tháng 1/2020, Corina Creţu, cố vấn vùng Đông Âu của EU và Carlos Moedas, cố vấn phụ trách khoa học của EU, đã đạt tới một thỏa thuận với đại diện của Romania, Pháp và Italy. Một văn bản kết luận cuộc trao đổi này cho thấy các bên đồng ý với việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, IFIN-HH cần thay đổi kết cấu tòa nhà đặt nguồn gamma như yêu cầu và EuroGammaS phải dừng kiện cho đến khi hết giai đoạn hòa giải. Romania không ký vào thỏa thuận này và thậm chí khi EU cùng các Bộ trưởng Bộ Khoa học Pháp và Italy viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Khoa học Romania Nicolae Hurduc để kêu gọi ông phản hồi thì ông này vẫn im lặng.   Tình trạng này khiến các quốc gia tham gia ELI lo ngại. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Czech gửi thư tới ông Hurduc là trong phiên họp toàn thể dự án ELI vào tháng 10 tới, Pháp, Italy, Đức và Anh sẽ cùng biểu lộ “những quan ngại sâu sắc” về việc này và có thể là tình trạng bất ổn này khiến nhiều quốc gia xem xét lại khả năng tham gia dự án ELI-ERIC trong tương lai gần.   Theo một báo cáo vào ngày 14/7/2020 của ủy ban Cố vấn khoa học và kỹ thuật quốc tế cho dự án ELI (International Scientific and Technical Advisory Committee ISTAC), nỗ lực vào năm 2018 của EU để hòa giải vụ việc và để EuroGammaS lắp đặt nguồn γ “đã bị Romania từ chối”. ISTAC kết luận “việc quản lý ELI-NP cần thể hiện được sự tin cậy và năng lực để có thể vận hành một cơ sở nghiên cứu theo một cách minh bạch và có thể kiểm tra được”. Sandro de Silvestri, một nhà vật lý của trường Đại học Bách khoa Italy ở Milan và là chủ tịch ISTAC nói “chúng tôi đều hy vọng ELI-NP sẽ vẫn đủ khả năng tham gia ELI ERIC, sau khi giải quyết được tất cả các vấn đề”.   Romania là quốc gia có mức đầu tư cho R&D thấp nhất châu Âu với mức 0,5% GDP, theo số liệu của EU vào năm 2017. Tình trạng càng khốc liệt hơn khi vào năm tiếp theo, chính phủ đã hai lần cắt giảm ngân sách dành cho khoa học tới hai lần để dành ngân sách cho những khoản đầu tư khác. Theo bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo dựa trên nhiều chỉ số về năng lực điều hành, đầu tư vào các lĩnh vực, giáo dục, sở hữu trí tuệ… của EU năm 2018, quốc gia này cũng ở vị trí thấp nhất. Các nhà khoa học Romania thất vọng vì chính phủ không đạt mức đầu tư cho khoa học như hứa hẹn trong Chiến lược nghiên cứu và đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2014 là 0,83% GDP vào năm 2019 và 0,97% năm 2020.  Khi vấn đề còn chưa được giải quyết thì người thiệt thòi nhất trong vụ rắc rối này là các nhà nghiên cứu tại Viện IFIN-HH, nơi có từ 10 đến 15% thành viên tham gia vào sự án ELI-NP. Họ lo ngại đến tương lai của dự án: khả năng Romania sẽ mất đi nguồn tài trợ của EU, sự đóng góp của các quốc gia thành viên và phải tự trả kinh phí vận hành – khoảng 30 triệu euro mỗi năm. “Toàn bộ ngân sách quốc gia cho các dự án khoa học theo phương thức cạnh tranh trong ba năm tới, từ lĩnh vực vật lý, sinh học đến nghệ thuật chỉ khoảng 6 triệu euro”, Octavian Micu, một nhà vật lý tại Viện nghiên cứu Khoa học không gian ở gần Bucharest, nói. “Nó chỉ bằng một phần năm so với con số 30 triệu euro mà Romania có thể phải trả hằng năm để vận hành ELI-NP khi không còn là thành viên của ERIC”.   Và bây giờ, với những bê bối về năng lực quản lý cũng như việc để tồn tại sự tùy tiện trong điều hành các viện nghiên cứu, Romania đang tự làm ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học của mình. □     Anh Vũ tổng hợp   Nature, sciencebusiness.net, spotmedia.ro, transylvanianow.com       Author                Quản trị        
__label__tiasang Điều kiện để phát triển khoa học: Năng lực và sự liêm chính      Vừa qua, Ban biên tập Tia Sáng hỏi ý kiến tôi về sự ảnh hưởng của cái gọi là các siêu tạp chí (megajournal) đến thực trạng xuất bản khoa học. Phải thú thực tôi không phải là người quá am hiểu về các siêu tạp chí, các lĩnh vực khoa học mà tôi quen thuộc xưa nay cũng không cần đến loại hình xuất bản mới này, tuy nhiên tôi vẫn sẵn lòng chia sẻ suy nghĩ của mình bởi đây dù sao cũng là một vấn đề quan trọng cần được giới khoa học quan tâm thảo luận.    Tò mò tìm hiểu để biết ai đang sử dụng các siêu tạp chí, tôi xem qua danh sách các công bố xuất xứ từ Việt Nam xuất hiện trên PLOS ONE, một trong những tạp chí lớn và nổi tiếng nhất trong các siêu tạp chí. Tôi tìm thấy 147 bài báo1, trong đó 146 thuộc lĩnh vực y tế và sức khỏe, một bài báo thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Với các lĩnh vực mà tôi quen thuộc nhất, vật lý thiên văn, vật lý hạt nhân, và vật lý lượng tử, tôi không tìm thấy bài nào. Tôi và các cộng sự của mình chưa bao giờ công bố trên các siêu tạp chí, và cũng chưa từng trích dẫn bài báo nào từ các tạp chí này. Tôi chỉ tiếp xúc với các siêu tạp chí qua việc họ thường xuyên gửi email mời tham gia vào các ban biên tập của họ, và ngay lập tức tôi chuyển chúng vào hòm thư rác.    Trước khi đến làm việc ở Việt Nam, tôi hoạt động trong ngành vật lý hạt nhân, vật lý lượng tử, và vật lý vật chất ngưng tụ, nhu cầu học thuật của tôi và các cộng sự được đáp ứng chỉ với một nhóm nhỏ các tạp chí quen thuộc (ngoài ra còn có các tập Kỷ yếu và Đánh giá, ví dụ như Annual Reviews). Ngày nay, trong ngành vật lý thiên văn, tôi cũng chỉ sử dụng một nhóm nhỏ các tạp chí tương tự2, bên cạnh một Bản tin (Newsletter) hằng tháng tập hợp các bài báo xuất bản trong lĩnh vực nghiên cứu sao già. Quan trọng nhất, giới vật lý thiên văn sử dụng nhiều đến arXiv, kênh thông tin vô cùng thiết yếu trong các lĩnh vực mà tôi quen thuộc.       Truy cập mở vàng là các tạp chí cho phép truy cập mở tức thời mọi bài báo trên trang web của nhà xuất bản, nhưng yêu cầu tác giả phải trả phí, hình thức này có lúc bị phê phán vì tạo khe hở cho những phương thức tiêu cực từ cả phía nhà xuất bản lẫn các tác giả, chính từ hình thức truy cập mở vàng đã sinh ra cái ngày nay chúng ta gọi là các siêu tạp chí.      ​Đây là kho tư liệu truy cập mở tập hợp các bản điện tử của các bài báo trước khi công bố, nơi đa số các nhà toán học và vật lý tự lưu trữ bài nghiên cứu của mình song song với việc xuất bản trên các tạp chí bình duyệt. Kho tư liệu này không có sự bình duyệt, nhưng các nhà vận hành vẫn rà soát khá hiệu quả các lỗi ngụy tạo hoặc đạo văn. Nó hoàn toàn miễn phí cho người sử dụng, với nguồn kinh phí hằng năm khoảng 800 nghìn USD, được chi trả hai phần ba bởi đóng góp tình nguyện từ các tổ chức thành viên (chủ yếu là các đại học và viện nghiên cứu), còn lại một phần ba được tài trợ bởi đại học chủ quản (Cornell) cùng Quỹ Simons.  Nhưng cho phép tôi dừng chia sẻ dưới góc nhìn của cá nhân hay của các đồng nghiệp, mà thử tiếp cận vấn đề xuất bản khoa học với cái nhìn rộng hơn.         Nguồn ảnh minh họa: Getty Images    ​Hai thập kỷ vừa qua chứng kiến sự gia tăng thúc đẩy các chính sách khuyến khích truy cập mở trên khắp thế giới. Về nguyên tắc, đây là điều tốt, như đánh giá từ Hội nghị Khoa học Thế giới năm 1999, “quyền bình đẳng trong truy cập khoa học không chỉ là một điều kiện xã hội và đạo đức về phát triển con người, mà còn thiết yếu để phát huy đầy đủ tiềm năng cộng đồng khoa học trên toàn thế giới và định hướng tiến bộ khoa học đáp ứng các nhu cầu nhân loại”. Tuy nhiên, riêng trong lĩnh vực xuất bản khoa học, truy cập mở được thúc đẩy chủ yếu bởi sự thuận tiện trong ứng dụng Internet.  Cuối thế kỷ trước, với sự xuất hiện máy tính cá nhân, hoạt động xuất bản khoa học được chứng kiến một cuộc cách mạng: các nhà khoa học tự mình đánh máy và chỉnh sửa các công trình nghiên cứu mà không cần đến đội ngũ hỗ trợ như trước đây. Việc chuyển đổi từ ấn phẩm giấy sang bản điện tử được tiến hành nhanh chóng, dẫn tới vai trò các thư viện và tạp chí khoa học bỗng cần phải xem xét lại. Theo đó là sự ra đời của xuất bản truy cập mở, cho phép truy cập không giới hạn qua Internet tới các nghiên cứu khoa học đã qua bình duyệt, với hai hình thức khác nhau, được gọi là các phiên bản “vàng” và “xanh”3.  Truy cập mở xanh, ví dụ như arXiv, cho phép nhà khoa học tự lưu trữ mọi bài báo khoa học, bao gồm cả những bài tạp chí đóng. Truy cập mở vàng là các tạp chí cho phép truy cập mở tức thời mọi bài báo trên trang web của nhà xuất bản, nhưng yêu cầu tác giả phải trả phí, hình thức này có lúc bị phê phán vì tạo khe hở cho những phương thức tiêu cực từ cả phía nhà xuất bản lẫn các tác giả, chính từ hình thức truy cập mở vàng đã sinh ra cái ngày nay chúng ta gọi là các siêu tạp chí.      Khoa học liệu có thực sự luôn cần công bố nhanh hay không? Ngành vật lý lượng tử từng đạt được tiến bộ trong thập kỷ 60 và 70 nhanh vượt trội so với trong bốn thập kỷ gần đây; bất chấp thực tế là xuất bản khoa học thời ấy được tiến hành theo cách cổ điển cũ kỹ và tốc độ chậm hơn nhiều so với ngày nay.      Chất lượng xuất bản khoa học đang đi xuống?     Trên nguyên tắc, nhìn nhận một cách lý tưởng thì lẽ ra tiến bộ công nghệ của Internet và máy tính cá nhân nên dẫn tới sự biến mất các tạp chí khoa học: một hệ thống kho lưu trữ các bản điện tử, như arXiv, vốn đòi hỏi kinh phí hoạt động hết sức tối thiểu vẫn có thể đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta. Không may là thực tế khác xa kỳ vọng này. Giống như trong nhiều lĩnh vực khác, sự xuất hiện đột ngột các kênh thông tin tức thời và phổ biến rộng rãi mang lại cả điều tốt lẫn điều xấu. Cuộc cách mạng xuất bản khoa học đã sinh ra các nhà xuất bản săn mồi (predatory) vừa kiếm chác từ công trình của nhà khoa học vừa tạo điều kiện cho những tác giả vô liêm sỉ bỏ qua những quy tắc đạo đức khoa học cơ bản nhất, và cho phép các nhà quản lý khoa học kém cỏi đánh giá kết quả khoa học dựa trên những căn cứ vô nghĩa.    Giá trị tích cực từ cuộc cách mạng này liệu có nhiều hơn giá trị tiêu cực là điều còn phải tranh cãi. Tuy nhiên, với góc nhìn cá nhân của một người lớn tuổi, tôi thú thực là mình cảm thấy nền xuất bản khoa học của nửa thế kỷ trước có lẽ lành mạnh hơn so với ngày nay. Quan điểm này dựa trên ba vấn đề: bình duyệt, đánh giá, và gian lận.    Bình duyệt chính là yếu tố khiến các tạp chí truy cập mở vàng và các siêu tạp chí hấp dẫn các nhà quản lý khoa học và gián tiếp tác động tới các tác giả. Nếu các bài báo của một tạp chí được coi là đã qua bình duyệt bởi các học giả, nhà quản lý khoa học sẽ coi đó là một tạp chí có chất lượng; và các tác giả thường sẽ muốn công bố ở tạp chí nào được nhà quản lý khoa học coi trọng. Bình duyệt là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng một nhà khoa học khi phải đưa ra quyết định dẫn tới sự thăng tiến của người đó, hay đánh giá chất lượng của một nhóm hay một tổ chức nghiên cứu khi phải đưa ra quyết định về kinh phí tài trợ. Điều đó có nghĩa là năng lực và đạo đức của một đối tượng phải được đánh giá dựa trên ý kiến của những nhà khoa học độc lập với đối tượng ấy, ví dụ như một hội đồng đánh giá gồm các nhà khoa học quốc tế uy tín. Nhưng một tạp chí chưa chắc đã đánh giá đúng chất lượng của bài báo được công bố, thậm chí không đánh giá được tính đúng, sai của một lý thuyết, ngay cả với những tạp chí uy tín nhất. Những lý thuyết về nhiệt hạch lạnh, ký ức của nước, hay khả năng học tập của giun planaria đều từng được công bố trên những tạp chí uy tín trước khi bị chứng minh là sai, và điều đó là bình thường: tính đúng, sai không phải là quyết định của một nhóm biên tập mà là quyết định của cả cộng đồng độc giả khoa học. Tôi không cần các biên tập viên hay các nhà phản biện quyết định thay cho mình về chất lượng mọi nội dung khoa học; chính tôi phải làm được điều ấy; vì sao họ làm tốt hơn tôi cơ chứ? Vai trò của nhóm biên tập chỉ nên giới hạn ở việc rà soát nội dung tạp chí để tránh đạo văn và các loại gian lận, tránh những sai sót trong quy cách, và để tránh những nội dung tầm thường rõ rệt. Đây cũng chính là cách các nhà vận hành arXiv đang làm một cách hiệu quả.      Khai trương tờ Scientific African, một tạp chí mở, đa ngành. Nguồn: newscientist.    Các tạp chí thích khai thác các nhà khoa học trong vai phản biện để quyết định chất lượng khoa học của một kết quả công bố, đơn giản vì điều ấy có lợi cho uy tín của bản thân tạp chí, cái sẽ mang lại tiền bạc cho các nhà xuất bản; nhưng chúng ta đâu cần quan tâm tới tiền bạc và uy tín của họ? Chỉ có các nhà quản lý khoa học quan tâm tới uy tín của tạp chí, vì nó có thể được đo bởi những chỉ tiêu kiểu như chỉ số ảnh hưởng (impact factor), mang lại cho họ ảo tưởng rằng chất lượng khoa học là điều có thể đo lường được theo cách đó: khi thiếu năng lực đánh giá, người ta buộc phải dựa vào thủ thuật như vậy.  Thật không may, điều này đã trở thành thông lệ phổ biến trên thế giới; nửa thế kỷ trước, danh sách tác giả các bài báo mà tôi làm đồng tác giả thường được liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái; ngày nay để được các nhà quản lý khoa học tôn trọng bạn phải là tác giả thứ nhất. Do vậy, các hội đồng khoa học phải có trách nhiệm đưa ra đánh giá về chất lượng một công bố khoa học một cách độc lập với các chỉ số ảnh hưởng của tạp chí cho xuất bản công bố ấy, và độc lập với danh sách tên tác giả: những thành viên của mỗi hội đồng khoa học phải làm đúng chức trách của mình, đưa ra ý kiến với tư cách một nhà khoa học đúng nghĩa thay vì đo đếm các chỉ tiêu như một robot.      Cuộc cách mạng xuất bản khoa học đã sinh ra các nhà xuất bản săn mồi (predatory) vừa kiếm chác từ công trình của nhà khoa học vừa tạo điều kiện cho những tác giả vô liêm sỉ bỏ qua những quy tắc đạo đức khoa học cơ bản nhất, và cho phép các nhà quản lý khoa học kém cỏi đánh giá kết quả khoa học dựa trên những căn cứ vô nghĩa.      Nhiều tác giả lựa chọn công bố trên các siêu tạp chí và nhiều tạp chí truy cập mở vàng (tất nhiên bình duyệt ít nghiêm ngặt hơn so với các tạp chí danh tiếng) vì bài của họ đã bị từ chối, hoặc họ nghĩ rằng sẽ bị từ chối bởi các tạp chí danh tiếng, không chỉ do chất lượng công bố mà có thể còn do bản thân những người làm biên tập và phản biện cho các tạp chí danh tiếng quá thường xuyên lợi dụng sự phản biện ẩn danh để hành xử theo lối kẻ cả, kiêu ngạo, hay tệ hơn nữa là thiên lệch chống lại đối thủ hoặc thiên vị ưu đãi cho đối tác, người quen. Những hành xử này gần đây bị phê phán công khai trong giới vật lý thiên văn và một cuộc tranh luận đang diễn ra dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế.    Chất lượng bình duyệt ngày nay cũng không còn nghiêm ngặt như trước đây. Từ tháng 1 tới tháng 8 năm 2013, John Bohannon nộp một bài báo giả khoa học tới 304 tạp chí sở hữu bởi các tạp chí truy cập mở thu phí. Bài báo được cố tình viết với những lỗi khoa học nghiêm trọng và lộ liễu lẽ ra phải bị từ chối nhanh chóng bởi các biên tập viên và người làm bình duyệt, nhưng đã có tới 60% các tạp chí đồng ý cho đăng.      Việc xuất bản kèm đóng phí không phải là điều nên khuyến khích với các đại học, viện nghiên cứu và cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu. Đất nước cần đầu tư nhiều hơn cho chất xám của thế hệ trẻ, hơn là lãng phí vào những trang thiết bị đắp chiếu hoặc trả tiền cho các nhà xuất bản. Thế hệ trẻ mới thực sự là tài sản của quốc gia.      Quá thường xuyên có tình trạng người làm phản biện cho các tạp chí danh tiếng chậm trễ quá hạn thời gian phải đưa ra trả lời. Đây là một lý do khác để bảo vệ cho quyết định công bố trên các tạp chí truy cập mở. Nhưng khoa học liệu có thực sự luôn cần công bố nhanh hay không? Ngành vật lý lượng tử từng đạt được tiến bộ trong thập kỷ 60 và 70 nhanh vượt trội so với trong bốn thập kỷ gần đây; bất chấp thực tế là xuất bản khoa học thời ấy được tiến hành theo cách cổ điển cũ kỹ và tốc độ chậm hơn nhiều so với ngày nay: khi muốn xin bản thảo trước khi đăng của một công trình, chúng tôi phải liên hệ tác giả bằng thư tay qua bưu điện, bởi nào có email; chúng tôi phải đến thư viện của viện nghiên cứu để tìm hiểu các kết quả công bố mới nhất; chúng tôi phải nhờ các bộ phận đánh máy và kẻ vẽ mỗi khi muốn chỉnh sửa bài báo. Ngày nay, mỗi khi đọc một số thảo luận trên các mạng xã hội, tôi chỉ ước sao tốc độ truyền thông của chúng ta chậm lại; như vậy sẽ khiến người ta suy nghĩ kỹ càng, thấu đáo trước khi bày tỏ quan điểm bản thân. Khi tôi còn là đứa trẻ, mẹ tôi vẫn thường bảo hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói điều gì đó…     Đạo đức và lòng tin     Hình thức gian lận trong khoa học thường gặp hiện nay vẫn là đạo văn và công bố vài phiên bản của cùng một nội dung trên các tạp chí khác nhau. Các nhà khoa học cũng có thể gian lận trong quá trình nghiên cứu, như bỏ qua dữ liệu không có lợi cho kết luận của họ, chỉ giữ lại những dữ liệu có lợi; đây hẳn là điều đáng lên án, nhưng quyết định cuối cùng không phải ở tạp chí mà ở cộng đồng độc giả khoa học. Tất nhiên, nếu gian lận bị phát hiện rõ ràng thì các biên tập viên tạp chí phải từ chối đăng bài ngay lập tức. Tuy nhiên, trách nhiệm chính của biên tập các tạp chí là phát hiện những lỗi mang tính chuyên môn hơn. Đối với đạo văn, họ có thể dùng công cụ phần mềm, hiện hoạt động khá hiệu quả nhưng vẫn có thể bỏ qua những gian lận không rõ ràng. Tôi còn nhớ một bài báo của hai giáo sư người Việt Nam, có nội dung khá vô lý, được sao chép và chỉnh sửa đôi chút từ các bài báo khác. Bài báo đó được nộp tới vài tạp chí, trong đó một tạp chí uy tín của Nhật Bản là Progress in Theoretical Physics đã không phát hiện ra sự gian lận, điều này có thể thông cảm được, nhưng điều khó có thể biện minh là họ cũng không nhận thấy sự phi lý trong nội dung bài báo. Khi phát hiện được điều này thì đã quá muộn, bài báo đã xuất bản và họ buộc phải tiến hành gỡ bài.      Nguồn minh họa: wsj.com  Không may là đạo đức khoa học ở Việt Nam không như chúng ta mong muốn. Liêm chính học thuật và đạo đức là những phẩm chất cơ bản của khoa học và nhân văn, các trường đại học phải là những ngôi đền liêm chính. Nhưng thực tế không được như vậy, khi có những người không tôn trọng các giá trị đạo đức khoa học mà chẳng hề bị trừng phạt và vẫn vui vẻ theo đuổi sự nghiệp học thuật. Văn hóa tham nhũng vốn là nguy cơ lớn của đất nước lẽ ra phải bị ngăn chặn ngoài bức tường các trường đại học, nhưng trên thực tế điều ấy cũng không làm được. Một số trường đại học trả tiền cho các nhà nghiên cứu ở nước ngoài để được gắn tên trường với công bố khoa học của những người đó, một cách để giúp trường tăng thành tích và xếp hạng quốc tế, dù trên thực tế những người kia chẳng hề có đóng góp gì cho nội lực chuyên môn của trường. Căn bệnh chạy theo thành tích ảo như vậy vẫn tồn tại, lẽ ra phải là chủ đề thảo luận trong các tổ chức, hiệp hội học thuật, nơi có trách nhiệm đưa ra những hành động ngăn chặn những sai phạm học thuật cơ bản, nhưng trên thực tế họ không làm được như vậy. Toàn thể cộng đồng khoa học lẽ ra phải thấy lo ngại và hành động gay gắt để chống lại những vấn nạn đó, nhưng họ cũng không làm vậy. Trong khuôn khổ bài báo này, tôi xin không nói thêm về sự lỏng lẻo trong đạo đức học thuật ở các trường đại học Việt Nam, độc giả quan tâm có thể tìm thấy nhiều nghiên cứu riêng về chủ đề này4.      Một tạp chí chưa chắc đã đánh giá đúng chất lượng của bài báo được công bố, thậm chí không đánh giá được tính đúng, sai của một lý thuyết, ngay cả với những tạp chí uy tín nhất. Vai trò của nhóm biên tập chỉ nên giới hạn ở việc rà soát nội dung tạp chí để tránh đạo văn và các loại gian lận, tránh những sai sót trong quy cách, và để tránh những nội dung tầm thường rõ rệt. Đây cũng chính là cách các nhà vận hành arXiv đang làm một cách hiệu quả.      Ba năm trước, tạp chí Nature công bố một bài báo5 lên án hành vi của các tạp chí săn mồi: “có hàng nghìn tạp chí khoa học không quan tâm gì về chất lượng. Chúng tồn tại chủ yếu để thu tiền từ các tác giả. Những tạp chí ‘săn mồi’ này thể hiện kế hoạch kinh doanh đáng ngờ, bình duyệt sơ sài hoặc không có bình duyệt, không liêm chính học thuật và không minh bạch. Xu hướng truy cập mở mặc dù có mục đích tốt đẹp, nhưng vô tình đã dung chứa những nhà xuất bản ký sinh như vậy. Những tạp chí rởm có thể giả mạo những tạp chí thu phí nghiêm túc. […] Nhiều tạp chí săn mồi với mục đích làm tiền thường tích cực đeo bám mời chào, tuyển dụng các nhà khoa học để dựng lên các ban biên tập có vẻ như nghiêm túc. […] Một số nhà khoa học muốn chơi khăm từng thành công cài cắm những tên tuổi hư cấu vào các ban biên tập như vậy, tuy nhiên chưa ai rà soát thực trạng này một cách có hệ thống. Nhưng chúng tôi đã làm được. Chúng tôi gài bẫy bằng cách nộp một hồ sơ hư cấu cho vị trí biên tập viên của 360 tạp chí, bao gồm cả những tạp chí nghiêm túc và những tạp chí nghi ngờ là săn mồi. Cuối cùng 48 tạp chí chấp thuận. Nhiều tạp chí cho thấy tính chất con buôn còn nhiều hơn chúng tôi hình dung ban đầu”.  Trong một bối cảnh hỗn loạn như vậy, việc xuất bản kèm đóng phí không phải là điều nên khuyến khích với các đại học, viện nghiên cứu và cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu. Phí xuất bản thường trên 1000 USD với mỗi bài báo và có thể lên tới trên 5000 USD, trong khi lương tháng các đồng nghiệp trẻ của tôi thấp hơn 200 USD. Lý trí thường tình hẳn cho thấy, tốt hơn là dành tiền cho nhà khoa học, thay vì đút vào túi các nhà xuất bản. Khi xuất bản với vai đồng tác giả cùng các nhà khoa học từ các nước phát triển, chúng ta có trách nhiệm giúp họ hiểu về tình cảnh nhà khoa học ở Việt Nam và đề nghị họ trả giúp phần chi phí xuất bản. Đất nước cần đầu tư nhiều hơn cho chất xám của thế hệ trẻ, hơn là lãng phí vào những trang thiết bị đắp chiếu hoặc trả tiền cho các nhà xuất bản. Thế hệ trẻ mới thực sự là tài sản của quốc gia.      Khoa học không nên trở thành công cụ kiếm tiền cho các nhà xuất bản. Giới khoa học nên đủ tự trọng để tôn trọng những quy tắc đạo đức căn bản và nghiêm khắc trừng phạt những gian lận. Các cơ quan đánh giá kết quả khoa học cũng phải đủ năng lực để không còn phải dựa vào các chỉ số ảnh hưởng và trích dẫn.         Trước khi kết thúc, tôi muốn đề cập về các tạp chí khoa học trong nước. Tôi được biết các nhà toán học Việt Nam xuất bản hai tạp chí đẳng cấp quốc tế. Các ngành khoa học vật liệu cũng có tờ Journal of Science: Advanced Materials and Devices. Tuy nhiên, ngành vật lý cơ bản chưa có tạp chí ở đẳng cấp như vậy. Tôi quen thuộc với hai tạp chí liên quan đến ngành vật lý là Communications in Physics (Com. Phys.) và Vietnamese Journal of Science, Technology and Engineering (VJSTE). Những tạp chí này nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc công bố của các nhà vật lý trong nước, qua đó tạo động lực để họ lựa chọn công bố ở đây, và ngược lại các nhà vật lý trong nước cũng nên giúp các tạp chí nâng cao chất lượng các công bố. Nhưng thực tế không được như vậy. Lẽ ra, các tạp chí phải hiểu và quen thuộc với cộng đồng các nhà vật lý, đặt lòng tin ở nhân cách và năng lực ở những người xứng đáng; ban biên tập của họ phải có những nhà khoa học giỏi đủ khả năng nhanh chóng đánh giá chất lượng các bài báo; nhưng thay vào đó trên thực tế họ luôn cần đến hai phản biện để đánh giá các bài báo, trong khi ở những tạp chí uy tín mà chúng tôi thường lựa chọn công bố chỉ cần một phản biện. Cũng thật khó tin là với tạp chí Com. Phys. khi gần đây chúng tôi nộp bài, người ta đã lựa chọn một trong hai phản biện là một người còn đang làm nghiên cứu sinh! Điều này phản ánh rõ bầu không khí đầy ngờ vực trong môi trường làm khoa học trong nước; người ta cần đến hai phản biện bởi không tin vào sự đánh giá và trung thực của riêng bất kỳ ai. Các cơ quan cấp kinh phí nên khuyến khích các công bố chất lượng cao xuất bản ở các tạp chí trong nước. Quỹ Nafosted cũng có chính sách này, nhưng nhìn chung người ta không tạo đủ động lực, cho rằng các tạp chí trong nước có chỉ số ảnh hưởng và trích dẫn thấp. Đây không phải là cách làm đúng để phát triển khoa học về lâu dài.  ***    Để kết thúc, tôi cho rằng trong một môi trường khoa học lý tưởng, các nhà khoa học sẽ không còn cần đến các tạp chí nữa. Những tiến bộ về kỹ thuật máy tính và mạng lưới thông tin khiến vai trò các tạp chí trở nên dư thừa. Một kho tư liệu các bản điện tử như arXiv lẽ ra có thể thỏa mãn mọi nhu cầu của chúng ta. Cũng giống như cách các cơ quan quản lý và hiệp hội thường dành kinh phí để tổ chức các hội thảo và xuất bản kỷ yếu, họ cũng có thể tài trợ cho các kho tư liệu điện tử kể trên, và đôi khi tài trợ cho các công bố có qua bình duyệt. Khoa học không nên trở thành công cụ kiếm tiền cho các nhà xuất bản. Giới khoa học nên đủ tự trọng để tôn trọng những quy tắc đạo đức căn bản và nghiêm khắc trừng phạt những gian lận. Các cơ quan đánh giá kết quả khoa học cũng phải đủ năng lực để không còn phải dựa vào các chỉ số ảnh hưởng và trích dẫn.  Nhưng thế giới thực chúng ta đang sống còn xa mới đạt tới lý tưởng ấy. Nó thiếu vắng cả năng lực lẫn sự liêm chính. Bài học tôi rút ra là chúng ta cần cố gắng tối đa để tiếp cận những chuẩn mực về năng lực và liêm chính, nếu không nền khoa học sẽ chẳng thể tiến bộ.  Thanh Xuân dịch   —-  1 https://journals.plos.org/plosone/browse/vietnam?sortOrder=MOST_VIEWS_ALL_TIME&resultView=list&page=16  2 Các tạp chí tôi thường đọc trước đây là Physical Review, Physical Review Letters, Nuclear Physics, Physics Letters và Zeitschrift für Physik; sau này trong ngành vật lý thiên văn tôi thường sử dụng các tạp chí Astronomy & Astrophysics, Astrophysics Journal, Monthly Notices of the Royal Astronomical society và Research in Astronomy and Astrophysics.  3 Trên thực tế không chỉ đơn giản phân ra hai loại xuất bản này, tuy nhiên chúng ta có thể chấp nhận bỏ qua điều này trong phạm vi những nội dung thảo luận của bài báo.  4 https://www.researchgate.net/publication/266069603_Corruption_in_Vietnamese_Higher_Education; https://wenr.wes.org/2017/12/understanding-the-causes-and-social-costs-of-academic-corruption; https://towardstransparency.vn/wp-content/uploads/2019/02/Education-Phase-I-Full-Report_FINAL_ EN. pdf;  http://factsanddetails.com/southeast-asia/Vietnam/sub5_9f/entry-3447.html.  5 https://www.nature.com/news/predatory-journals-recruit-fake-editor-1.21662. See also:  https://www.researchgate.net/publication/263604049_Five_Predatory_Mega-Journals_A_Review  https://guides.lib.jjay.cuny.edu/c.php?g=399417&p=3262493    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Định hướng ưu tiên các ngành, lĩnh vực nghiên cứu cơ bản      Bên cạnh những con số hết sức ấn tượng  về công bố quốc tế của các đề tài Nafosted&#160; mà vài năm trước đây các nhà quản lý và khoa học không dám nghĩ đến là  những cảnh báo của nhiều nhà khoa học có uy tín về vấn đề quá chạy theo  thành tích và số lượng mà chưa quan tâm đúng mức đến định hướng và chất  lượng nghiên cứu.     Với chức năng tài trợ cho nghiên cứu cơ bản (điều 3 Nghị định 23/2014/NĐ-CP) thông qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam, sau hơn năm năm hoạt động, Quỹ Nafosted đã góp phần quan trọng cải thiện không khí học thuật ở các viện nghiên cứu và trường đại học, đưa số công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam “tăng với tốc độ 17%/năm; toán và vật lý lý thuyết không còn áp đảo nữa, nhiều ngành khoa học khác đã có trên mặt tiền của thế giới” (GS Phạm Duy Hiển – Tia Sáng, 20/6/2014). Và theo dự báo, đến năm 2020, Việt Nam có thể công bố 7.000 bài báo SCI.     Nhưng bên cạnh những con số hết sức ấn tượng mà vài năm trước đây các nhà quản lý và khoa học không dám nghĩ đến là những cảnh báo của nhiều nhà khoa học có uy tín về vấn đề quá chạy theo thành tích và số lượng mà chưa quan tâm đúng mức đến định hướng và chất lượng nghiên cứu. Điều này do một số quy định trong quản lý hoạt động của Quỹ chưa hợp lý, và một số nguyên nhân khác, nhưng trước hết là Quỹ Nafosted chưa đưa ra được một tầm nhìn, một chính sách ưu tiên các dự án nghiên cứu có tính liên ngành giữa nghiên cứu cơ bản và các công nghệ mới, hoặc các nghiên cứu có tính ứng dụng quan trọng1. Ví dụ như một số chương trình dài hạn có tính ứng dụng cao của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu đã không được Quỹ chấp nhận tài trợ vì theo quy chế Quỹ chỉ tài trợ cho các chương trình không quá hai năm2.  Để nâng cao hiệu quả tài trợ của Quỹ Nafosted, Bộ KH&CN đang tiến hành lấy ý kiến các nhà khoa học để hoàn thiện thông tư, Quy định quản lý đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên – kỹ thuật do Quỹ Nafosted tài trợ, với nhiều thay đổi so với quy định cũ theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, đề cao tính độc lập và sự tin cậy ở các nhà khoa học, tạo thêm nhiều thuận lợi trong việc nghiên cứu triển khai các đề tài được Quỹ tài trợ như: quy định về tiêu chuẩn và nhiệm kỳ của hội đồng khoa học; tăng thời gian thực hiện các đề tài nghiên cứu lý thuyết lên trên 30 tháng, đề tài nghiên cứu thực hiện lên trên 40 tháng; bổ sung một số tiêu chí cụ thể trong xét duyệt, nghiệm thu các đề tài; đặc biệt là một số quy định mà các nhóm nghiên cứu mạnh cần đáp ứng để có thể được tài trợ, đó là có nhiều nội dung nghiên cứu lớn có tính đột phá với nhiều thành viên tham gia thực hiện làm cơ sở cho việc hình thành các trường phái khoa học ở Việt Nam,v.v.  Tuy nhiên, trong việc nâng cao hiệu quả tài trợ của Quỹ Nafosted, vấn đề quan trọng hàng đầu là Quỹ và các cơ quan quản lý KH&CN cấp trên cần sớm hình thành một tầm nhìn dài hạn, đưa ra những định hướng và mục tiêu cụ thể cho các ngành, những lĩnh vực khoa học cơ bản, trên cơ sở ưu tiên các chương trình, dự án liên ngành có tính ứng dụng cao; đồng thời, theo GS. Pierre Darriulat, chúng ta phải sớm xây dựng và ban hành tiêu chí xét chọn các ngành nghiên cứu cơ bản được tài trợ, kèm theo đó là phương pháp đánh giá kết quả nghiên cứu của từng ngành, nhất là với các nhóm nghiên cứu mạnh. Việc đánh giá này không chỉ đơn thuần dựa trên số công bố quốc tế và trích dẫn mà phải là đánh giá có chiều sâu về quá trình thực hiện dự án.  Với những giải pháp như vậy, chúng ta mới có cơ sở để hi vọng trong những năm tới, thành tích của Quỹ Nafosted không chỉ là số lượng công bố quốc tế khoa học cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, mà còn là những bước đột phá trong một số chương trình, đề án nghiên cứu quan trọng, trong đó có những ứng dụng triển khai mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn.          Tia Sáng  1 Xem thêm: Cải thiện hiệu quả việc cấp kinh phí cho khoa học cơ bản  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=36&News=7498    2 Xem thêm: PTNTĐ: Cơ chế sàng lọc và tiêu chí đánh giá  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7729      Author                Quản trị        
__label__tiasang Định nghĩa lại sai phạm trong khoa học      Để giảm sai phạm trong khoa học, cần đảm bảo rằng nhà nghiên cứu không thể nói dối bằng cách cố tình cung cấp thiếu thông tin.      Trước tình trạng những kết quả nghiên cứu sai sót, thiên lệch, và giả mạo, sự ứng phó của cộng đồng khoa học hiện nay còn rất yếu. Chỉ có những trường hợp nghiêm trọng quá mức là bị phát hiện và trừng trị, còn những trường hợp sai phạm ở mức độ nhẹ hơn hầu như lọt lưới, và cho đến nay hầu như chưa có một giải pháp nào chống lại những công bố thiên lệch. Vì vậy tại hội nghị toàn cầu lần thứ 3 về Đạo đức Nghiên cứu sẽ được tổ chức tại Montreal, Canada từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 5 năm 2013 tới đây, các đại biểu sẽ thảo luận về những giải pháp cho vấn đề này.     Trên tạp chí Nature và nhiều diễn đàn khoa học khác, người ta thường đưa ra những đề xuất như cải thiện công tác hướng dẫn và đào tạo, cho phép nhà nghiên cứu công bố những kết quả không hợp lý (negative result). Nhằm giảm thiểu những trường hợp các nhà nghiên cứu bóp méo thông tin để đạt được những kết quả có vẻ hợp lý, giảm nhẹ áp lực đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có công bố, yêu cầu đăng ký trước thông tin về các công trình nghiên cứu1, tập huấn về đạo đức, và đảm bảo những chế tài trừng phạt nghiêm khắc.    Tất cả những điều trên đều quan trọng, tuy nhiên dường như người ta đã quá đề cao lợi ích của việc tác động tới tâm trí của nhà nghiên cứu mà quên mất rằng những kiến thức khoa học là đáng tin cậy không phải vì các nhà khoa học thông minh, khách quan hay trung thực hơn những người khác, mà bởi những phát kiến của họ luôn được công khai đối diện với sự phê bình và các thử nghiệm độc lập tái hiện lại quy trình tiến hành nghiên cứu. Do đó chìa khóa chống lại sai phạm trong khoa học không phải chỉ chú tâm vào [kiểm soát/đánh giá] hành vi của các nhà khoa học, mà nên tập trung vào [kiểm soát/đánh giá] những sản phẩm thông tin mà họ cung cấp.    Với việc định nghĩa sự sai phạm trong khoa học căn cứ trên các hành vi của nhà nghiên cứu, như cách làm hiện nay ở mọi quốc gia, chúng ta buộc phải dựa vào những người đứng ra tố cáo để phát hiện ra sai phạm, trừ khi sự sai phạm ấy tự thân bộc lộ một cách hiển nhiên ngay trên những gì được tác giả công bố. Rất hiếm khi những trường hợp sai phạm có người đứng ra làm chứng; và nhiều cuộc điều tra cho thấy rằng khi người ta biết một hành vi sai trái của một đồng nghiệp, họ hiếm khi trình báo. Những người làm công tác thanh tra do đó đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn là làm sao tái hiện được những gì mà một nhà khoa học đã làm, xác minh được rằng hành vi ấy là sai so với những quy chuẩn trong hoạt động nghiên cứu, và xác định liệu sự sai lệch ấy có nhằm mục đích lừa dối hay không. Khó khăn ấy khiến chỉ có một số ít những trường hợp rõ ràng nhất bị phơi bày.    Ví dụ như vụ bê bối của Diederik Stapel, nhà tâm lý học người Hà Lan từng có không ít tiếng tăm, tới năm ngoái bị người ta phát hiện đã ngụy tạo dữ liệu nghiên cứu trong gần 20 năm. Ông ta đã làm điều đó bằng cách nào? Thứ nhất, Stapel luôn luôn tự mình thu thập các dữ liệu, qua đó loại trừ hoàn toàn khả năng có nhân chứng. Thứ hai, các nhà nghiên cứu khác không có động cơ để thực hiện lại những thí nghiệm của ông ta, và nếu có làm thì họ cũng không đủ thông tin để lý giải sự khác biệt trong kết quả với những kết luận trong nghiên cứu của Stapel. Và thứ ba, quan trọng nhất, là Stapel hoàn toàn được phép không cung cấp trong công bố của mình những chi tiết cụ thể có khả năng bộc lộ những gian dối và sai sót trong thống kê.    Nhằm giải quyết vấn đề này, đầu tiên chúng ta cần tái định nghĩa sự sai phạm trong khoa học: “đó là tất cả những sự cung cấp thiếu hoặc gây hiểu nhầm các thông tin cần và đủ cho việc thẩm định tính chính xác và tầm quan trọng của nghiên cứu, ở mức độ phù hợp cần thiết với bối cảnh của nghiên cứu được công bố”.    Một số người sẽ cho rằng định nghĩa này quá rộng. Tuy nhiên, nó không hề rộng hơn so với định nghĩa về sự giả mạo được Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Hoa Kỳ sử dụng: “Ngụy tạo các nguyên liệu, phương tiện hay quá trình nghiên cứu; hoặc thay đổi hay bỏ qua những dữ liệu, kết quả, khiến cho việc nghiên cứu không được phản ánh chính xác trong biên bản nghiên cứu”. Định nghĩa này chỉ ra một cách rõ ràng rằng khi nào có một sự khác nhau giữa những gì được báo cáo và những gì nhà nghiên cứu đã làm trong thực tế, thì đó là sai phạm trong khoa học.    Nhiệm vụ chính của các biên tập viên và các trọng tài là bảo đảm rằng các nhà nghiên cứu tuân theo những quy định về báo cáo thông tin. Họ phải hướng dẫn các nhà nghiên cứu làm theo những bản hướng dẫn thích hợp, thậm chí trước cả khi việc nghiên cứu được bắt đầu, và bảo đảm rằng mọi thông tin chi tiết cần thiết đều được cung cấp đầy đủ theo yêu cầu quy định trong bản hướng dẫn. Nếu tác giả từ chối hay không thể tuân theo, bài báo (hoặc đơn đăng ký tài trợ kinh phí) của họ sẽ bị từ chối. Mỗi công bố khoa học cần nêu rõ quá trình nghiên cứu tuân theo những bản hướng dẫn nào.    Bằng việc thống nhất các quy định báo cáo thông tin, sự công bằng được nâng cao, trong khi quyền tự chủ trong khoa học vẫn được đảm bảo. Ví dụ như nhà khoa học vẫn được toàn quyền quyết định liệu có cần dò tìm qua các phép thử nhằm đạt được ý nghĩa thống kê như mong muốn (“fishing” for statistical significance) hay không, nhưng bản hướng dẫn sẽ yêu cầu nhà khoa học phải cung cấp danh sách mọi phép thử được thực hiện, qua đó cho phép độc giả nhận biết được nguy cơ về những kết quả thống kê không khách quan.  Những bản hướng dẫn được biên soạn cẩn trọng có thể khiến việc ngụy tạo và đạo văn trở nên khó khăn hơn, bằng cách yêu cầu công bố những chi tiết có thể kiểm chứng. Những chi tiết ấy sẽ giúp phát hiện những dấu hiệu đáng nghi vấn như bỏ quên tên tác giả (ghost authorship: bỏ qua không ghi nhận công lao của người có cống hiến quan trọng cho nghiên cứu được công bố), lợi dụng các trợ lý, giả thuyết hậu nghiệm (post hoc hypotheses: đặt ra giả thuyết mang tính chữa cháy nhằm hợp lý hóa dữ liệu thu được), hoặc cố tình loại bỏ những dữ liệu thống kê ngoài mong muốn của tác giả.    Các bản hướng dẫn vừa là tài liệu học tập cho các nghiên cứu sinh, vừa giúp họ luyện tập bằng cách thực hiện lại các nghiên cứu đã được công bố. Nên có những quỹ đặc biệt dành riêng cho những người độc lập tiến hành tái thử nghiệm những kết quả nghiên cứu chưa được thẩm định lại.     Cách nỗ lực phòng chống các sai phạm trong khoa học hiện nay đang bị lạc mục tiêu: cộng đồng khoa học đang cố gắng kiểm soát hoạt động nghiên cứu theo cách giống như kiểm soát hoạt động ở những ngành nghề khác, trong khi nghiên cứu khoa học có đặc thù hoàn toàn khác. Độ tin cậy của các “sản phẩm” khoa học được đảm bảo không phải do hoạt động của từng cá nhân, mà phải thông qua một tiến trình đối thoại tập thể.   Hữu Quang dịch theo bài viết của Daniele Fanelli, Nature số 494, 149 (ngày 14 tháng Hai năm 2013)    http://www.nature.com/news/redefine-misconduct-as-distorted-reporting-1.12411    —-    1  Việc đăng ký trước thông tin về các công trình nghiên cứu cũng nhằm tăng khó khăn trong việc ngụy tạo thông tin và quy trình tiến hành nghiên cứu.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đoạn tuyệt bắt chước và phát huy sáng tạo      Ngày càng có nhiều doanh nghiệp ở những  nước chuyên sao chép công nghệ chú trọng đến nghiên cứu, sáng chế sản  phẩm. Tại các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Mexico và Nam Phi,  cả doanh nghiệp và chính phủ đều ý thức được rằng: muốn phát  triển bền vững phải sáng tạo.    Kết quả là đã có một sự vươn lên mạnh mẽ về nghiên cứu và phát triển ở những nước vốn bị coi là sa mạc về giáo dục: hiện tại các trường đại học ở Ấn Độ đào tạo khoảng 500.000 kỹ sư và chuyên gia IT hàng năm. Trong khi đó con số này ở Đức là 80.000.   Từ 1997, chi cho nghiên cứu của Thổ Nhĩ Kỳ tăng hàng năm là 7%, còn chi cho nghiên cứu của Mỹ chỉ tăng 1%/năm. Theo nghiên cứu của Hội đồng khoa học Anh thì trong năm tới các nhà khoa học Trung Quốc sẽ có nhiều bài báo được công bố hơn so với Mỹ, đến năm 2020, xuất bản phẩm khoa học của Brazil có khả năng sẽ vượt Nhật Bản.     Bản đồ thế giới về công nghệ đã thay đổi mạnh mẽ khi Trung Quốc xây dựng Trung tâm công nghệ nano lớn nhất nước tại Tô Châu, các nhà nghiên cứu ở New-Delhi, Ấn Độ, phát triển các loại thuốc chữa bệnh mới, và các doanh nghiệp Mexico bán ra thế giới bộ phận của tuốc bin hay vật liệu composite cho các nhà du hành vũ trụ. Còn Hàn Quốc và Đài Loan đã thành công trong lĩnh vực điện tử giải trí và công nghệ bán dẫn.   Trong những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đã chi nhiều tỷ Euro để thúc đẩy nghiên cứu công nghệ nano. Năm 2011, các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố nhiều hơn các đồng nghiệp Mỹ 20% bài báo về chủ đề này. Chính phủ TQ cũng có những chủ trương tương tự đối với các công nghệ tương lai khác như nghiên cứu về tế bào gốc hay năng lượng xanh.  Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực công nghệ phần mềm và phát triển thuốc chữa bệnh. Đầu năm 2012, Ấn Độ tự phát triển một loại thuốc trị bệnh sốt rét với giá một viên chưa tới một Euro, chỉ bằng một nửa so với các loại thuốc hiện có trên thị trường. Ấn Độ không chỉ chú trọng khuyếch trương công nghệ cao mà còn chú ý cả đến những sản phẩm mới phục vụ thị trường các nước nghèo, nơi mà người tiêu dùng không mua nổi sản phẩm giá quá cao của các tập đoàn phương tây.  Các lò IT của Ấn Độ như Infosys và Wipro đang hoạt động mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới để đào tạo lực lượng chuyên môn. Infosys đã mở một trường Cao đẳng kỹ thuật ở thành phố Mysore với trên 10.000 sinh viên – tương đương số sinh viên tại trường Cao đẳng Kỹ thuật và Kinh tế Berlin. Infosys được coi là một tấm gương sáng về xây dựng cơ sở đào tạo do doanh nghiệp tự đầu tư.  Ở Brazil, các nhà công nghệ sinh học thuộc hãng mỹ phẩm Natura Cosméticos đang nỗ lực phát triển các sản phẩm mới về chăm sóc cơ thể và đã đưa tập đoàn Natura Cosméticos đứng ở vị trí thứ tám trong danh sách của “Forbes” về những doanh nghiệp sáng tạo nhất trên thế giới, đứng trước cả các đối thủ cạnh tranh của phương Tây như Beiersdorf và L’Oréal.  Mexico cũng đang nỗ lực vươn lên, theo hãng tư vấn Mỹ ICF AeroStrategy, ngành công nghiệp vũ trụ và hàng không nước này trong hai chục năm qua đã đầu tư cho các cơ sở sản xuất mới trên 33 tỷ đôla, nhiều hơn Mỹ và Nga. Hiện nay khoảng 200 doanh nghiệp Mexico xuất khẩu kỹ thuật từ các bộ phận của tuốc bin cho đến vật liệu cômpôsit để làm thân và cánh máy bay trị giá trên 3 tỷ đôla mỗi năm.  Các nước mới nổi trong thời gian gần đây đạt được một số tiến bộ tuy nhiên nhưng nhìn chung cần phải nỗ lực rất nhiều để phát triển khoa học, kỹ thuật và cẩn trọng để tránh những sự cố công nghệ đáng tiếc.  Nguyễn Xuân Hoài dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp CNTT cần ưu đãi gì?      Để cạnh tranh và tồn tại, các doanh nghiệp công nghệ thông tin là phải trích một phần đáng kể trong lợi nhuận để đầu tư cho phát triển và đổi mới sản phẩm, và chấp nhận mức rủi ro không nhỏ. Đặc thù này đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi hợp lý hơn so với hiện nay.     “Nếu không đầu tư đổi mới mà chỉ duy trì nguyên trạng, chi phí hoạt động hằng năm của chúng tôi sẽ chỉ trong khoảng 10-15% doanh thu”, khẳng định của Nguyễn Xuân Tài, CEO Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ thông tin Naiscorp. “Nhưng nếu làm như vậy, sản phẩm của công ty sẽ không có gì thay đổi, và khách hàng cùng các nhà đầu tư sẽ từ bỏ mà đi”.   Đây là lý do các công ty công nghệ thường phải dành một phần lớn các nguồn thu cho đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D), đổi mới sản phẩm và dịch vụ. Lợi nhuận cũng phần lớn được dành cho các khoản đầu tư R&D trong năm, hoặc được tiết kiệm để dành cho đầu tư R&D những năm sau.   Điều này cũng có nghĩa là các công ty công nghệ rất hạn chế trong việc chia cổ tức cho các cổ đông. Công ty Microsoft ra đời từ năm 1975, nhưng phải tới năm 2003 mới chia cổ tức lần đầu. Công ty Apple – công ty có giá trị lớn nhất thế giới hiện nay – trong năm nay tiến hành chia cổ tức cho các cổ đông, nhưng lần trả cổ tức gần nhất trước đó là từ năm 1995, tức là trong vòng 17 năm cổ đông của Apple không hề được nhận cổ tức.  Hầu hết các nhà đầu tư trên thế giới khi đầu tư vào một công ty công nghệ không trông đợi nhiều vào nguồn thu từ cổ tức, mà thường kỳ vọng vào lợi nhuận sau này khi bán lại cổ phần cho người khác. Kỳ vọng này sẽ thành hiện thực nếu công ty hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo được sức hút trên thị trường khiến càng nhiều các nhà đầu tư khác quan tâm và đẩy giá cổ phiếu lên cao. Tuy nhiên, do thiếu thông tin nên những phân tích đánh giá giá trị cổ phiếu công ty công nghệ chịu nhiều tác động mang tính cảm tính, điển hình là trường hợp giá trị cổ phiếu của Facebook trượt sâu tới 50% chỉ sau vài tháng lên sàn gần đây.  Đối với các nhà đầu tư Việt Nam, việc đầu tư tiền vào các công ty công nghệ vẫn là một điều mới mẻ. Đa số các nhà đầu tư khi tiến hành một khoản đầu tư trung hạn và dài hạn thường nghĩ tới những tài sản cố định và bền vững, như vàng hoặc bất động sản. Nếu ai đó muốn đầu tư trung hoặc dài hạn vào một công ty thì họ sẽ mong muốn đó một công ty hoạt động có tính ổn định cao, như các công ty khai thác mỏ, hay công ty chế biến thức ăn gia súc chẳng hạn. Trong khi đó, các công ty công nghệ ở Việt Nam, một mặt chưa được đại chúng biết đến nhiều, mặt khác đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ luôn phải đối diện với những biến động rất nhanh về thị hiếu và nhu cầu của thị trường, gây rủi ro không nhỏ khiến ngay cả những người am hiểu cũng phải dè dặt trước khi quyết định bỏ tiền ra đầu tư.   Hạn chế này khiến ở Việt Nam chỉ có một số ít các nhà đầu tư vào những công ty công nghệ. Họ là những người chuyên nghiệp, hiểu biết rất rõ về các vấn đề đặc thù trong đầu tư kinh doanh công nghệ. “Khi chúng tôi trình bày dự án của mình, họ nắm bắt rất nhanh, và đưa ra quyết định đầu tư hoặc không đầu tư một cách mau lẹ”, anh Tài cho biết.   Rủi ro…   Ưu thế của các công ty công nghệ thông tin khi khởi nghiệp là chi phí ban đầu không cần phải quá nhiều. Những ý tưởng công nghệ và nỗ lực nghiên cứu thường xuất phát từ sự say mê của một số cá nhân chủ chốt đóng vai trò sáng lập doanh nghiệp và về cơ bản đã hình thành từ trước khi doanh nghiệp được thành lập. Những chi phí vận hành thông thường cũng rất thấp vì các doanh nghiệp này không cần nhiều đất hay diện tích văn phòng. Họ cũng không cần nhiều máy móc thiết bị, toàn bộ quy trình nghiệp vụ thường được số hóa và tự động hóa, còn các phần mềm thì đã được lưu trữ và chạy trên điện toán ‘đám mây’. Đây là lý do chi phí để duy trì ‘nguyên trạng’ ở một công ty như Naiscorp chỉ bằng 10-15% doanh thu, như CEO Nguyễn Xuân Tài đã khẳng định trên đây.   Tuy nhiên, chi phí dành cho đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm ở các công ty công nghệ thường khá lớn, với những chi phí dành cho nghiên cứu ý tưởng, thiết kế sản phẩm cho người sử dụng, thiết kế hệ thống, điều tra và phát triển thị trường, v.v. Những chi phí này đẩy tổng chi phí hoạt động hằng năm ở một công ty như Naiscorp lên trung bình khoảng 80% doanh thu, anh Tài cho biết. Với 20% tiền thu được còn lại, công ty để dành dự phòng, hoặc dành cho những khoản đầu tư năm sau.  Phần dự phòng này rất cần thiết, các công ty công nghệ thông tin không tránh khỏi những rủi ro do sức ép cạnh tranh và biến động của thị trường. Naiscorp từng dành rất nhiều nguồn lực cho một dự án phát triển sản phẩm, trong đó tạo ra một ngôn ngữ lập trình mới có tên gọi SBML, với tổng thời gian đầu tư là 14 tháng, tổng chi phí lên tới 17-18 tỷ VND. “Đây là một dự án thất bại”, Tài thẳng thắn thừa nhận.   Bài học mà Tài rút ra từ thất bại chiến lược này là không được phép cố gắng dồn hết sức để tạo ra những “sản phẩm hoàn hảo” vì sẽ kéo dài quá lâu thời gian đầu tư, trong khi xu hướng và thời cơ thị trường thường thay đổi rất nhanh. “Bây giờ một dự án nghiên cứu sản phẩm mới của Naiscorp chỉ được phép gói gọn thời gian trong vòng 2 tháng”, anh Tài nói. Có nghĩa là trước mắt chấp nhận tung ra thị trường một sản phẩm “tàm tạm” mang tính tạm thời trước khi đi vào hoàn thiện sản phẩm.   … và hạn chế của sản phẩm công nghệ số  Kinh nghiệm rút ra trên đây của Naiscorp phản ánh một chiến lược tất yếu của nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam, đó là ưu tiên tập trung vào những sản phẩm có khả năng thu hồi vốn nhanh nhất và không đòi hỏi quá nhiều tâm sức nghiên cứu.  Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đó thường là những sản phẩm dịch vụ đáp ứng những nhu cầu mang tính thường xuyên của đại chúng. Trong số những doanh nghiệp công nghệ thông tin tư nhân phát triển mạnh mẽ nhất phải kể đến Tập đoàn VNG, trước kia có tên là VinaGame mà sản phẩm được biết đến nhiều nhất là các trò chơi trực tuyến. Ngày nay VNG có số lượng nhân viên lên tới hàng nghìn người, là gương mặt tiêu biểu đóng góp vào ngành công nghiệp nội dung số Việt Nam có doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm.  Nhưng trong khi phân khúc sản phẩm nội dung số phục vụ nhu cầu giải trí của đại chúng phát triển mạnh thì trên thị trường còn rất thiếu những sản phẩm tạo ra tác động tương hỗ cho các ngành nghề khác, đem lại sự tiến bộ đáng kể trong hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Vì vậy, khó để nói rằng ngành công nghệ thông tin đang là mắt xích quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, và còn xa mới có thể được coi như ‘hạ tầng thông minh’ bên dưới mọi hạ tầng.   Vẫn phổ biến những doanh nghiệp hoạt động theo lối ăn xổi, tức là chỉ nhập khẩu công nghệ của nước ngoài thay vì tự lực nghiên cứu. Doanh số của những doanh nghiệp này có thể rất lớn, nhưng không hề giúp gây dựng và tích lũy lượng chất xám trong nước – yếu tố sống còn cho sự thành bại trong phát triển của ngành công nghệ thông tin quốc gia.  Tuy nhiên, trong một thị trường tự do và nền kinh tế toàn cầu, không thể trách những doanh nghiệp chọn nhập khẩu công nghệ như một giải pháp tối ưu để tiết kiệm chi phí và hạn chế rủi ro do thời gian nghiên cứu quá lâu làm mất cơ hội – trường hợp của Naiscorp là một ví dụ điển hình. Và cũng không thể đòi hỏi một doanh nghiệp công nghệ phải tận dụng 100% công nghệ và kỹ thuật trong nước, khi mà các ngành công nghiệp và công nghệ phụ trợ liên quan của Việt Nam còn non yếu.  Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hợp lý  Qua khảo sát, người viết thấy rằng đa số các doanh nghiệp công nghệ chưa quan tâm nhiều tới các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Họ hầu như không biết tới chính sách Nhà nước miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với 10% lợi nhuận nếu phần lợi nhuận này được dành cho đầu tư R&D.   Sự lơ đễnh này phản ánh ba thực tế: một là chính sách này còn chưa được tuyên truyền rộng rãi; hai là tác động hỗ trợ của nó còn quá nhỏ để các doanh nghiệp công nghệ quan tâm; ba là đa số các doanh nghiệp công nghệ có tuổi đời còn khá trẻ nên phần đầu tư cho tài sản ban đầu chưa khấu hao hết, và giá trị trích khấu hao càng cao thì phần lợi nhuận tính thuế trên sổ sách càng thấp xuống, giúp doanh nghiệp giảm được một phần thuế thu nhập nhất định. Ở điểm thứ 3 này, sẽ nảy sinh một bất cập là doanh nghiệp nào nhập khẩu và mua lại phần mềm từ nơi khác càng nhiều thì giá trị trích khấu hao càng cao, trong khi những doanh nghiệp tự dành chi phí đầu tư nghiên cứu ra phần mềm lại không được hưởng lợi thế này.  Thực tế trên cho thấy, Nhà nước cần tăng tỷ lệ miễn thuế trên lợi nhuận doanh nghiệp dành cho đầu tư R&D, và tăng cường tuyên truyền về chính sách này. Đồng thời, chính sách ưu đãi không thể cào bằng mà nên ưu tiên hơn cho những doanh nghiệp tự lực nghiên cứu, hoặc có sản phẩm đem lại giá trị gia tăng lớn cho phát triển kinh tế đất nước.  Để doanh nghiệp có thể theo đuổi được những dự án làm ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, Nhà nước phải sẵn sàng có những chính sách ưu đãi phù hợp cho những dự án có tính dài hơi. Chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp là cần thiết, nhưng chưa đủ vì những dự án như vậy luôn có mức rủi ro cao hơn.   “Nếu có lợi nhuận, chúng tôi sẵn sàng nộp thuế, nhưng trước tiên phải làm sao để doanh nghiệp tồn tại và thực hiện được những dự án chiến lược”, anh Tài nói. Muốn vậy, Nhà nước sẽ phải có những cơ chế chính sách đồng bộ, như giảm trừ thuế thu nhập cá nhân cho doanh nghiệp khởi nghiệp, giảm trừ thuế xuất – nhập khẩu, cấp bảo lãnh vay vốn và cấp đất cho những dự án công nghệ tiềm năng.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp phải là trung tâm  của Phát triển công nghệ cao      Cuộc tọa đ&#224;m &#8220;Chuyển giao v&#224; Nghi&#234;n cứu triển khai C&#244;ng nghệ cao (CNC) ở doanh nghiệp&#8221; do tạp ch&#237; Tia S&#225;ng tổ chức chỉ g&#243;i gọn trong một buổi s&#225;ng (7/8/2009, tại H&#224; Nội) nhưng đ&#227; gợi mở ra rất nhiều điều. Đại diện một số doanh nghiệp ứng dụng v&#224; sử dụng CNC đ&#227; c&#243; những g&#243;p &#253; rất thiết thực về định hướng ph&#225;t triển CNC ở Việt Nam, về c&#225;ch đưa nhanh nhất CNC v&#224;o cuộc sống, v&#224; đặc biệt l&#224; trao đổi về quan niệm: Doanh nghiệp phải l&#224; trung t&#226;m trong chuyển giao c&#244;ng nghệ, nhất l&#224; trong ph&#225;t triển CNC của đất nước.    Nền tảng pháp lý cơ bản đã đủ  Phát biểu khai mạc tọa đàm, Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho biết trong  5 năm qua, Bộ KH&CN đã tập trung nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện nền tảng pháp lý cho KH&CN, phục vụ công cuộc phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế. 7 bộ luật quan trọng liên quan tới KH&CN đã được soạn thảo, trình Quốc hội thông qua như Luật KH&CN (năm 2000), Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật Chuyển giao công nghệ và Luật Tiêu chuẩn, Qui chuẩn chất lượng (năm 2006), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), Luật Năng lượng nguyên tử và Luật Công nghệ cao (2008).   “Điều này đánh dấu cho nỗ lực của chúng ta trong việc xây dựng nền tảng pháp lý cho các hoạt động KH&CN. Đảng và Nhà nước cũng đã nhìn thấy con đường phát triển đất nước phải thông qua KH&CN, đặc biệt là CNC”, Thứ trưởng Nguyễn Quân nói.              Ông Lý Ngọc Minh và ông Đặng Lê Nguyên Vũ        Luật Công nghệ cao cũng bắt đầu đi vào hiệu lực từ 1/7/2009, nhưng vẫn cần phải đợi Nghị định hướng dẫn để có thể đi vào cuộc sống. Bộ KH&CN hiện đang xây dựng chương trình phát triển CNC song hành cùng 4 đề án lớn khác như đề án Phát triển thị trường công nghệ, đề án Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa, đề án về Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và đề án Hỗ trợ cho các tổ chức KH&CN chuyển đổi sang cơ chế tự chủ và phát triển doanh nghiệp KH&CN.  Theo Thứ trưởng Nguyễn Quân, “Chúng ta khởi động CNC đã khá lâu, từ 10 năm nay nhưng tốc độ phát triển CNC tại Việt Nam lại rất chậm”. Ông lấy một thí dụ cụ thể là 2 khu Công nghệ cao Quốc gia ở Hòa Lạc (Hà Nội) và TP. HCM có tiến độ xây dựng rất chậm. Bên cạnh đó, nhận thức xã hội về CNC, từ các cấp lãnh đạo tới người dân còn có nhiều vấn đề và đặc biệt là Việt Nam còn rất thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển CNC.  Theo Thứ trưởng Nguyễn Quân, CNC đem lại năng suất lao động cao gấp nhiều lần lao động giản đơn. Một ví dụ khách quan được Thứ trưởng đưa ra là chỉ riêng khu CNC Tân Trúc (Hsinchu) của Đài Loan với 100.000 lao động vào năm 2003 đã làm ra một giá trị tổng sản phẩm là 48 tỉ USD. Tức là giá trị sản phẩm/đầu người của Tân Trúc lúc đó đã đạt được gần 500.000 USD, trong khi đó lao động chất lượng cao của Việt Nam tính ra cũng chỉ đạt khoảng vài ngàn USD/năm, khu vực nông nghiệp thì thấp hơn rất nhiều. Như vậy, chỉ có khu CNC Tân Trúc với 100.000 người đã có giá trị sản lượng tương đương với GDP của Việt Nam lúc đó.  Thứ trưởng cho rằng, nếu chúng ta cứ tiếp tục đi theo con đường như chúng ta đã đi trước đây, chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ vượt được ngưỡng của một nước đang phát triển. “Nếu chúng ta không phát triển CNC thì chúng ta sẽ không đạt được mục tiêu định ra là đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp”, ông nói.   “Trong suốt 20 năm qua, chúng ta tăng trưởng chủ yếu dựa vào sự cởi trói của cơ chế và dựa vào cơ bắp, giờ chúng ta chỉ có thể tiếp tục phát triển đất nước, duy trì tốc độ tăng trưởng, thậm chí tăng trưởng cao hơn nếu chúng ta quan tâm đến phát triển KH&CN, đặc biệt là CNC”.  Thay đổi từ đâu?  Giám đốc công ty TNHH Minh Long I, Anh hùng lao động Lý Ngọc Minh khi động đến các vấn đề công nghệ cho công ty đã từng băn khoăn với câu hỏi: “Đổi mới từ đâu?”. Từ vị trí của một chủ doanh nghiệp tư nhân, ông tự trả lời: “Không thể trông chờ vào Nhà nước”. Và ông đã tự tìm tòi, tìm kiếm công nghệ cho doanh nghiệp mình ở bất cứ đâu có thể, đặc biệt là ở các công ty có tiếng nước ngoài. Bởi vậy, ông tìm mọi cách để tiếp cận, tham quan, tìm hiểu các công ty sành sứ lớn trên thế giới dù mọi chuyện chẳng dễ dàng gì. “Có đến 80% các công ty, hãng sành sứ lớn nhất thế giới tôi cũng đã đều đến từ 1-2 lần”, ông tâm sự. Ông đến những công ty này để tìm hiểu công nghệ của họ, học tập và tìm cách tiếp cận các bí quyết, công nghệ các hãng lớn.              Trừ trái qua phải: Ông Đỗ Văn Lộc , ông Nguyễn Văn Viện, ông Nguyễn Tử Quảng và GS Trần Xuân Hoài        Từ các kinh nghiệm riêng của bản thân, ông cho rằng phát triển công nghệ, đặc biệt là CNC ở Việt Nam: “Cần phải đi từ doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp biết mình ở đâu, và cần làm gì”. Theo ông, riêng về CNC hiện nay ở Việt Nam, rất cần một đầu tàu, một kỹ sư trưởng để điều phối chiến lược, chính sách và có các hành động cụ thể và hiệu quả.  Tổng Giám đốc cà phê Trung Nguyên, ông Đặng Lê Nguyên Vũ thì cho rằng cần suy nghĩ lại phương pháp tiếp cận và cách thức đưa ứng dụng công nghệ, trong đó có CNC vào cuộc sống. “Chúng ta phải định vị quốc gia như thế nào đó để có thể đầu tư cho CNC ở từng giai đoạn, phân đoạn và cho từng ngành khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực chúng ta bị giới hạn và trong điều kiện chúng ta vừa hội nhập quốc tế”, ông nói.  Với tốc độ phát triển KH&CN còn thấp như hiện nay, ông Vũ cho rằng Việt Nam không thể tiến hành các bước nhảy vọt. Như vậy, muốn hiện đại hóa đất nước thì ngành đầu tiên cần hiện đại phải là nông nghiệp.  Cùng chia sẻ ý kiến này, TS. Nguyễn Quốc Vọng, (Giáo sư Đại học RMIT, Melbourne, Úc hiện làm việc tại Đại học Nông nghiệp I) cũng cho rằng vai trò của nông nghiệp là rất quan trọng. Ông lấy ví dụ từ Úc, nơi ông từng sinh sống và làm việc: “Một nông dân ở Úc nuôi được 190 người, 31% nông dân Úc có bằng đại học và một nông dân lúc làm ra một khối lượng sản phẩm giá trị cỡ 68.000 đô la Úc/năm”. Chính vì vậy, nghề nông lại là một trong những nghề được yêu thích và có giá nhất ở Úc. TS Vọng cho biết một cuộc điều tra sinh viên ở Úc đã cho ra kết luận khá thú vị: Nghề nông dân được sinh viên Úc đánh giá cao thứ 7 (cao nhất là nghề cứu hỏa và tệ nhất là nghề bán xe hơi) trong số các nghề ở Úc.   Đặc biệt nhất, Úc đã thành công trong việc “biến trí tuệ của người khác thành sức mạnh của chính mình”, thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ việc thành lập Trung tâm xuất sắc Yanco, tuyển chọn các nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới về làm việc, cùng việc ra đời một doanh nghiệp (có tên Hiệp hội Leeton), Úc đã trở thành một nước xuất khẩu gạo. Hơn 90% gạo làm ra ở Úc đã được xuất khẩu và “đây là những loại gạo có giá trị cao nhất thế giới”, TS Vọng cho biết. Không chỉ thế, năng suất gạo của Úc cũng đạt tới 12 tấn/ha, một con số “trong mơ” đối với không ít các nước nông nghiệp hiện nay trên thế giới. Cần nhớ rằng trong số 46 triệu ha đất canh tác, Úc chỉ có 4 triệu ha đất có tưới tiêu và tất cả các cây, con Úc đều phải nhập khẩu.                    Trừ trái qua phải: Ông Lê Đăng Dũng, ông Nguyễn Tăng Cường và TS Nguyễn Quốc Vọng  “Doanh nghiệp phải là số 1, Nhà nước cùng nhà nghiên cứu chỉ giữ vai trò yểm trợ”, TS Vọng nói. Tuy vậy, ông cũng cho rằng Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc tài trợ cho các nghiên cứu khoa học. Đáng tiếc, nhiều nghiên cứu đang thực hiện lại bị “tắc tị” do thiếu kinh phí, hoặc việc chuyển giao công nghệ từ nghiên cứu tới doanh nghiệp giờ vẫn là một hình ảnh mờ nhạt.  “Ở Úc, ngay trước khi nghiên cứu, nhà khoa học đã liên lạc và bắt tay với doanh nghiệp. Nghiên cứu mà không có doanh nghiệp thì chắc chắn sẽ không chuyển giao được”, TS Vọng nhấn mạnh.   Ông cũng phàn nàn rằng thủ tục xin tài trợ ở Việt Nam hiện còn rất nhiêu khê, khiến nhiều nhà khoa học nản lòng. “Một đơn xin tài trợ nghiên cứu khoa học ở Úc chỉ có hai trang, trong khi đó các thủ tục này ở Việt Nam rất nhiều”, ông nói.  CNC là đòn bẩy cho phát triển  Ông Nguyễn Tăng Cường, Giám đốc Xí nghiệp cơ khí Quang Trung (Ninh Bình), cũng là một Anh hùng lao động cho biết thành công mà ông đạt được chủ yếu là từ lòng đam mê cơ khí, chế tạo máy. Trước đây công ty chỉ sử dụng các công nghệ, thiết bị truyền thống của của Nga, đạt được một số thành công nhất định nhưng không thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong năm 2004, công ty may mắn được Bộ KH&CN quan tâm hỗ trợ mua một máy cắt tự động CNC bằng khí CO2. Nhờ chiếc máy này mà năng suất của xí nghiệp đã được tăng lên 20-30 lần so với trước. Từ đó, lãnh đạo cho rằng cần phải đi sâu vào CNC và quyết tâm đầu tư vào các công nghệ gia công chế tạo. Công ty đã mua 50 cụm máy trung tâm gia công kỹ thuật cao như các máy 3 trục, 4 trục, thậm chí cả máy 9 trục…   Ông Cường cho rằng để phát triển được CNC cao ở Việt Nam, cần phải thành lập được các trung tâm chuyển giao công nghệ (mua bán li-xăng) để điều hành, điều tiết các hoạt động công nghệ và triển khai sản xuất theo định hướng ưu tiên của Nhà nước. Riêng trong lĩnh vực cơ khí, để có được nền cơ khí CNC, cần phải phát triển công nghiệp chế tạo khuôn mẫu, phát triển công nghiệp đúc chính xác, phát triển công nghiệp gia công chính xác và phát triển công nghiệp nhiệt luyện.  Ông cho rằng doanh nghiệp cần mua được các công nghệ với giá rẻ nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực CNC vì mua bán CNC không phải là chuyện dễ và chi phí cũng rất cao. Điều này chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của Nhà nước bởi với các chính sách hiện hành, doanh nghiệp vẫn khó có thể tiến hành việc mua, bán công nghệ.   Một thí dụ có tiền cũng không mua được CNC chính là từ kinh nghiệm bản thân của Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sơn Hải Phòng, ông Nguyễn Văn Viện. Lúc nhận thấy doanh nghiệp của mình cần đổi mới công nghệ, mua các bí quyết CNC từ nước ngoài, ông đã tiếp cận tới một tập đoàn hàng đầu trên thế giới trong cùng lĩnh vực. Tuy nhiên, khi thấy doanh nghiệp của ông còn bé, chưa có tiếng tăm và đặc biệt sau khi chứng kiến tận mắt thấy qui mô của doanh nghiệp, đại diện của tập đoàn lớn kia từ chối cung cấp bí quyết công nghệ. Không nản lòng, ông mời người đại diện đó đi chơi, nhưng khéo léo đưa tới các công ty đối tác ở trong nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn. Những lời đánh giá rất tốt về sản phẩm của Sơn Hải Phòng của các đối tác dần dần đã khiến người đại diện tập đoàn lớn kia đổi ý. Sau lần “đi chơi” đó, tập đoàn lớn của Nhật kia đã đồng ý bán bí quyết công nghệ cho Sơn Hải Phòng. Con đường đã mở và thành công cũng đã tới… Các sản phẩm của Sơn Hải Phòng cũng ngày một nhiều hơn, uy tín hơn, từ sơn vỏ tàu biển, sơn chống hà, sơn vạch đường, sơn tĩnh điện… Mỗi loại sơn của doanh nghiệp sản xuất hiện nay đều được mua bí quyết công nghệ từ một nước khác nhau, và đó là các nước có nền công nghệ phát triển cao như Anh, Nhật, Mỹ, Ý…  Lựa chọn công nghệ luôn là vấn đề phức tạp và cứ theo Phó Tổng giám đốc Viettel, ông Lê Đăng Dũng thì: “Mình dốt bao nhiêu thì Tây nó lừa bấy nhiêu”. Bởi vậy, vai trò của lãnh đạo trong doanh nghiệp rất quan trọng. “Muốn có CNC thì lãnh đạo doanh nghiệp phải biết rõ về nó bởi lựa chọn sai thì sẽ chết”, ông nói. Theo ông, sở dĩ Viettel thành công được như ngày hôm nay là vì lãnh đạo công ty đã đi tiên phong trong ứng dụng công nghệ. “Tuy GSM không phải là công nghệ mới và tốt như công nghệ CDMA nhưng lựa chọn GSM là một sự lựa chọn đúng đắn của chúng tôi”, ông bộc bạch. Chính vì làm đúng qui trình: Lựa chọn-mua-làm chủ và sáng tạo mà Viettel đã giải được bài toán về giá, một trong những vấn đề hắc búa nhất trong thời buổi cạnh tranh đầy khắc nghiệt trên thị trường viễn thông của Việt Nam. Cũng chính từ cái quyết định đó mà hàng triệu người tiêu dùng Việt Nam đã hưởng lợi từ chính sách giá rẻ mà Viettel đưa ra, trong một bối cảnh giá cước viễn thông còn khá cao ở Việt Nam trong những năm trước đây.  Làm gì để phát triển CNC?  Một câu hỏi mang tính vĩ mô nhưng rõ ràng các nhà hoạch định chính sách đang loay hoay bởi các chính sách tốt chỉ thực hiện được khi chúng phù hợp và tạo điều kiện cho những người thụ hưởng và liên quan.  Chính sách của Nhà nước về CNC cũng vậy, chúng chắc chắn sẽ đi nhanh vào cuộc sống nếu giải quyết được các bức bối của các nhà nghiên cứu và đáp ứng kỳ vọng của doanh nghiệp, chủ thể quyết định tới sự phát triển CNC ở Việt Nam.  Trở lại câu chuyện tại sao các khu CNC ở nước ngoài thành công rất nhiều, trong khi đó lại rất ì ạch ở Việt Nam, ông Lê Đăng Dũng (Viettel) cho rằng: “Việc chuyển giao công nghệ gốc cần phải đến từ các nước hàng đầu về công nghệ, thí dụ như Mỹ và điều này cần phải đưa vào các chính sách của Nhà nước”. Và “đây là câu chuyện của Chính phủ, chứ không phải chỉ đơn giản của một viện, ngành hay doanh nghiệp nào”, ông nhấn mạnh. Theo ông Dũng, cần lựa chọn một số ngành CNC để ưu tiên phát triển tại Việt Nam, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lĩnh vực gì cũng có nhưng đầu tư không đến nơi đến chốn. Đối với đầu ra, đương nhiên là phải có thị trường và quan trọng nhất là phải xác định công nghệ làm ra bán cho ai (Nhà nước hay doanh nghiệp), từ đó mới tiến hành các nghiên cứu cụ thể.  Ông Đặng Lê Nguyên Vũ thì nhấn mạnh: “Đất nước muốn giàu thì phải lấy kinh tế làm trung tâm. Đối với CNC cũng vậy, nếu muốn phát triển thì cần hoạch định lại, tìm lối ra”. Để làm được như vậy, theo ông cần phải “có những bộ não dẫn đường, đi trước một bước và khuyên chúng ta nên làm thế nào”, tức là việc hoạch định chiến lược của Nhà nước phải rõ ràng, có lộ trình cụ thể và hướng tới doanh nghiệp.  Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Đức Thành cho rằng các trung tâm chuyển giao công nghệ không cần hoàn toàn của Nhà nước mà nên có cả tư nhân. “Chính sách của Nhà nước phải tạo cơ chế để doanh nghiệp phát triển và giữ vai trò điều tiết thị trường, bên cạnh đó cũng cần sự tham gia của trí tuệ các cá nhân”, ông nói.  Còn theo TS Nguyễn Quốc Vọng (ĐHNN1), cần xây dựng niềm tin để tháo gỡ những vướng mắc hiện tại. “Thách thức lớn nhất là nâng cao tinh thần trách nhiệm, xây dựng niềm tin của các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, gắn kết Nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp”.   Về vấn đề cụ thể hóa chính sách CNC, ông Đỗ Văn Lộc, Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao (Bộ KH&CN) cho biết rất cần sự đóng góp của doanh nghiệp, cụ thể là cần ưu tiên phát triển CNC trong lĩnh vực nào, danh mục CNC và các sản phẩm xuất khẩu ưu tiên gồm những gì, hay cải tiến thủ tục giấy tờ nên theo mô hình nào…  Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Đình Tiến trong phần phát biểu bế mạc tọa đàm cho rằng: “Việc phát triển CNC cũng như xây dựng chính sách liên quan chắc chắn không thể thiếu được sự đóng góp của doanh nghiệp. Có thế thì chính sách mới có thể đi vào cuộc sống được”. Ông cũng nhấn mạnh rằng: “Khoa học muốn phát triển thì phải có doanh nghiệp cùng đồng hành và doanh nghiệp phải là trung tâm của mọi đổi mới liên quan tới KH&CN, trong đó có CNC”.  Thứ trưởng cũng cảm ơn tạp chí Tia Sáng đã phối hợp với Bộ KH&CN tổ chức cuộc tọa đàm rất hữu ích và cho biết trong tương lai gần sẽ tiếp tục có các tọa đàm tương tự để “đi đến cùng vấn đề, đưa ra được các chính sách cụ thể và thực tế cho việc phát triển CNC ở Việt Nam”.     THANH HÀ  thực hiện          Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Trụ cột gánh vác đổi mới công nghệ      Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy,  trong bối cảnh biến động lớn của kinh tế thế giới cần hiện đại hóa doanh  nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), xây dựng và phát triển các doanh nghiệp khởi  nghiệp từ viện, trường, doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm, doanh nghiệp  KH&amp;CN để tạo ra sự đổi mới sáng tạo, sự tăng trưởng.    Hiện đại hóa DNVVN tại Nhật Bản  Vào thập niên 1990, sức cạnh tranh quốc tế của kinh tế Nhật Bản suy giảm, số doanh nghiệp di dời cơ sở sản xuất sang Trung Quốc và các quốc gia khác tăng lên, suy thoái kinh tế làm số DNVVN trong 13 năm đã giảm 1/3, do đó nội dung tái thiết kinh tế bằng tăng cường nguyên lý thị trường cạnh tranh, vận dụng nhiều chính sách cạnh tranh đã được áp dụng.   Chính sách cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng chính sách cạnh tranh, phương châm là không đưa ra định hướng cơ cấu kinh tế cụ thể và hướng doanh nghiệp tới đó mà coi trọng hỗ trợ khởi nghiệp hay cải cách từng doanh nghiệp. Cụ thể là hướng tới hoạt động liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp lấy viện nghiên cứu, trường đại học là nguồn lực đổi mới kỹ thuật, công nghệ. Doanh nghiệp khởi nghiệp được xác định là trụ cột sáng tạo trong hoạt động kinh doanh mới, thực hiện đổi mới công nghệ thông qua hoạt động kinh doanh mới của doanh nghiệp mới khởi nghiệp từ công nghệ, kỹ thuật được phát triển tại trường đại học, viện nghiên cứu.   Với việc thực hiện hoạt động sáng tạo kinh doanh mới thông qua các Công ty mới khởi nghiệp từ những hạt giống kỹ thuật nảy nở tại các trường đại học theo mô hình của Mỹ tại Stanford hay Harvard đã mang đến những kết quả thuyết phục. Cụ thể, vào năm 2001 chỉ trong khuôn khổ một đề án mục tiêu đặt ra trong 3 năm thành lập 1.000 doanh nghiệp mới khởi nghiệp từ các trường đại học, viên nghiên cứu nhưng tới cuối tháng 3 năm 2003, số doanh nghiệp mới khởi nghiệp từ trường đại học, viện nghiên cứu đã lên tới 1.099 doanh nghiệp. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp trong số đó đã thất bại và một số trong đó đã được tái sinh qua quá trình ươm tạo lại doanh nghiệp.  Việc chuyển hướng ban hành chính sách cơ cấu kinh tế định hướng phát triển doanh nghiệp mới khởi nghiệp từ viện, trường loại doanh nghiệp KH&CN đã cho thấy trong bối cảnh này không còn có thể trông đợi vào doanh nghiệp lớn như trụ cột gánh vác đổi mới công nghệ, chính sách công nghiệp của Nhật Bản đã buộc phải mở sang lĩnh vực chính sách về DNNVV và đã đem đến sức sống mới cho nền kinh tế đất nước.    Việt Nam đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp KH&CN   Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế việc học tập, áp dụng những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống các DNVVN, doanh nghiệp KH&CN phát triển như Nhật Bản là vô cùng cần thiết. Với các mục tiêu chính đã được đề ra đến năm 2015 xây dựng được 3.000 doanh nghiệp KH&CN, đến năm 2020 xây dựng được 5.000 doanh nghiệp KH&CN, đồng thời với việc đẩy mạnh các giao dịch công nghệ trên thị trường tăng trung bình 15-17%/năm theo Quyết định 418/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam là một nhiệm vụ không hề đơn giản và dễ dàng đạt được.   Qua khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết các địa phương chưa thực sự quan tâm nhiều đến cung cầu trong hoạt động của thị trường công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm, doanh nghiệp khởi nghiệp cho dù ngân sách dành cho hoạt động KH&CN các địa phương vẫn tăng đều trung bình10%/năm trong giai đoạn 2001-2010.  Kết quả đánh giá sơ bộ cũng cho thấy nhiều điểm trong chính sách mới được ban hành khi triển khai vào thực tế đã bộ lộ nhiều hạn chế, thiếu tính hấp dẫn. Cụ thể là, các doanh nghiệp KH&CN sẽ được hưởng các ưu đãi về thuế sau khi được công nhận và sản xuất kinh doanh có lãi trên sản phẩm KH&CN. Thực tế cho thấy đối với doanh nghiệp khởi nghiệp từ viện, trường thì đây không phải là điều thực sự hấp dẫn và quan tâm nhất do yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp hầu như chưa phát sinh. Về vấn đề tiếp cận đất đai tương tự vì phải phụ thuộc vào các nhà đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất.  Đối với việc sử dụng kinh phí nghiên cứu và phát triển công nghệ (địa phương, trung ương) của các doanh nghiệp KH&CN cũng còn nhiều khó khăn do thiếu các văn bản, cơ chế quản lý, chính chưa phù hợp đối với hoạt động của  DNVVN, doanh nghiệp KH&CN, nhất là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ khởi nghiệp.  Để đạt được các mục tiêu mong muốn cần xây dựng và ban hành các chính sách đổi mới cho DNVVN để hiện đại hóa và đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm nhất là một số vấn đề sau:  Một là, đổi mới hình thức, cách thức thực hiện và tăng cường phát triển liên kết giữa doanh nghiệp, viện, trường và các cơ quan công trong nghiên cứu và phát triển công nghệ có định hướng thị trường, sản phẩm.  Hai là, tạo sự thông thoáng, đơn giản, dễ thực hiện việc công nhận và chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp KH&CN trong một số lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ phần mềm, nội dụng số, vật liệu mới, công nghệ sinh học,..    Ba là, nhanh chóng ban hành cơ chế tài chính mới cho DNVVN khi tham gia nghiên cứu và phát triển công nghệ như: áp dụng chính sách tín dụng, bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm bảo lãnh đối với các khoản đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ từ Quỹ Phát triển KH&CN, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia và các Quỹ khác.  Cùng với đó là nghiên cứu áp dụng quy trình chẩn đoán doanh nghiệp áp dụng công nhận doanh nghiệp KH&CN qua đó làm tăng tính hấp dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp KH&CN tiếp cận được với nguồn vốn vay phát triển sản xuất từ ngân hàng phát triển Việt Nam, ngân hàng thương mại khác.          Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ  hai, để tái thiết đất nước Nhật Bản đã nhanh chóng ban hành và thực thi  các chính sách kinh tế hết sức linh hoạt, phù hợp đối với DNVVN. Quá  trình phát triển của hệ thống các chính sách chính đó có thể chia thành  bốn giai đoạn như sau:     – Giai đoạn thứ nhất (1948 -1954): Chính  sách về DNVVN theo hướng dân chủ hoá nền kinh tế. Mục đích của chính  sách ở giai đoạn này là xúc tiến dân chủ hoá nền kinh tế và phát triển  DNVVN độc lập.    – Giai đoạn thứ hai (1955 – 1960): Chuyển  đổi và xác lập chính sách về DNVVN  theo hướng chính sách cơ cấu kinh  tế. Chính sách được ban hành trong giai đoạn này nhằm tập trung điều  chỉnh sự chênh lệch năng suất giữa DNVVN và doanh nghiệp lớn, tăng cường  sức cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp nặng và hoá chất.   – Giai đoạn thứ ba (1970 – 1980): Bước tiến  mới trong chính sách về DNVVN  theo hướng chính sách cơ cấu kinh tế, với  mục đích nhằm thúc đẩy phân công quốc tế và tập trung hóa tri thức cho  DNVVN.    – Giai đoạn thứ tư (từ những  năm 1990 đến nay):  Chuyển đổi, xác lập chính sách về DNVVN theo hướng chính sách cạnh tranh.          * Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN       Author                Quản trị        
__label__tiasang Doanh nhân sẽ tham gia Hội đồng tư vấn KH&CN?      Vụ Pháp chế, Bộ KH&amp;CN đang lấy ý kiến người  dân về Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật KH&amp;CN sửa đổi (có hiệu lực từ  1/1/2014), theo đó 1/3 số thành viên Hội đồng tư vấn KH&amp;CN là đại diện của các tổ chức sản xuất, kinh doanh… tiếp nhận và ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ  KH&amp;CN.    Đề cao vài trò ứng dụng KH&CN trong sản xuất  Hội đồng tư vấn KH&CN do người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN thành lập theo thẩm quyền để tư vấn trong việc xác định, tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN, đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước khi kết thúc nhiệm vụ.  Hội đồng tư vấn KH&CN bao gồm Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN, Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN, Hội đồng tư vấn giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KH&CN và Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN.  Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, hai thành viên là ủy viên phản biện và các thành viên khác. Các thành viên gồm: 1/3 số thành viên là đại diện cho các cơ quan quản lý nhà nước; 1/3 số thành viên là nhà KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có liên quan; 1/3 số thành viên là đại diện tổ chức sản xuất – kinh doanh, các tổ chức khác có liên quan.  Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN, Hội đồng tư vấn giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KH&CN gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, 02 thành viên là ủy viên phản biện và các thành viên khác. Các thành viên gồm: 1/3 số thành viên là đại diện cho các cơ quan quản lý nhà nước;  1/3 số thành viên là nhà KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có liên quan; 1/3 số thành viên là đại diện tổ chức sản xuất – kinh doanh, các tổ chức khác có liên quan nơi dự kiến tiếp nhận, ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN.  Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, 02 thành viên là ủy viên phản biện và các thành viên khác. Các thành viên gồm: 1/3 số thành viên là đại diện cho các cơ quan quản lý nhà nước; 1/3 số thành viên là nhà KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có liên quan; 1/3 số thành viên là đại diện tổ chức sản xuất – kinh doanh, các tổ chức khác có liên quan, tổ chức dự kiến nhận kết quả của nhiệm vụ KH&CN.    Chịu trách nhiệm về ý kiến phản biện  Hội đồng tư vấn KH&CN làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Các thành viên Hội đồng thảo luận công khai về nội dung được giao tư vấn. Ý kiến của các thành viên Hội đồng và kiến nghị của Hội đồng phải được lập thành văn bản. Các thành viên Hội đồng phải chịu trách nhiệm về ý kiến tư vấn của mình.  Hội đồng tư vấn KH&CN cho điểm theo tiêu chí và thang điểm hoặc xếp loại theo quy định của Bộ trưởng Bộ KH&CN.  Kinh phí cho hoạt động của Hội đồng tư vấn KH&CN, kinh phí thuê tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập được dự toán thành một khoản riêng lấy từ kinh phí sự nghiệp KH&CN và giao cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN các cấp quản lý và sử dụng. Thành viên Hội đồng tư vấn KH&CN, tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập được trả thù lao cho việc thực hiện nhiệm vụ từ kinh phí quy định tại Khoản này.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối diện với áp lực tự chủ      Áp lực bắt buộc phải tự chủ sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ giúp các tổ chức nghiên cứu ứng dụng của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đạt được nhiều thành quả nghiên cứu hữu ích cho xã hội. Tuy nhiên, để thích nghi với áp lực tự chủ, các tổ chức nghiên cứu này sẽ phải bám sát vào thị trường, đồng thời tổ chức bộ máy nhân sự của mình gọn nhẹ ở mức tối thiểu.      Bám sát thị trường  “Phải luôn nắm bắt được nhu cầu thị trường và lượng hóa ra con số cụ thể”, đó là một trong những điều cơ bản mà một tổ chức nghiên cứu ứng dụng phải làm được để có thể tồn tại bằng cách thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu của mình, theo lời Vũ Hồng Quảng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam. “Muốn làm được điều này chúng tôi phải liên tục giữ mối quan hệ ngoại giao và cập nhật thông tin từ khoảng 15 doanh nghiệp khách hàng”. Từ những thông tin, dữ liệu cụ thể được cập nhật thường xuyên như vậy, TS. Quảng và các cộng sự của mình có thể nhận biết và dự đoán các nhu cầu của doanh nghiệp, qua đó tập trung nguồn lực của viện vào những hướng nghiên cứu đúng đắn, cho ra đời các sản phẩm nghiên cứu nhiều triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể.  Nguồn thu từ hoạt động thương mại hóa các kết quả nghiên cứu hiện chiếm 50% tổng nguồn thu của Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng – 50% còn lại là nguồn kinh phí từ các đề tài nghiên cứu các cấp. TS. Quảng cho biết trong thời gian tới, viện của ông sẽ tiếp tục nỗ lực nhằm đẩy tỉ trọng nguồn thu từ các hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu lên cao hơn nữa. Vì vậy, ngay trong quá trình lựa chọn và triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu, các chủ nhiệm đề tài của viện đã phải định hình được sản phẩm KH&CN, đồng thời xác định đâu là những địa chỉ thương mại hóa tiềm năng.  Theo TS. Quảng, chỉ nên triển khai một sản phẩm KH&CN khi có cơ sở để đảm bảo rằng nó sẽ chiếm lĩnh thị trường và đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài, bởi chỉ có như vậy thì doanh nghiệp khách hàng mới dám thúc đẩy sản xuất kinh doanh sản phẩm ấy trên quy mô lớn, thu được hiệu quả kinh tế bền vững. Với những sản phẩm có triển vọng như vậy thì tiền bạc không còn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu phải lo lắng, bởi doanh nghiệp sẽ sẵn sàng bỏ tiền đầu tư. Bởi vậy, để các viện nghiên cứu ứng dụng thực hiện tự chủ thành công thì “vấn đề mấu chốt không phải là ở vấn đề tiền bạc, mà là liệu viện nghiên cứu ấy có đủ trình độ, năng lực để làm ra những sản phẩm chất lượng cao và nhiều triển vọng thương mại hóa thành công hay không”, TS. Quảng nhận định.     “Bộ máy nhân sự phải gọn nhẹ tối thiểu”          PGS.TS. Nguyễn Thị Lý Anh        Đây là nhận định của PGS.TS. Nguyễn Thị Lý Anh, Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp – Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Cũng giống như Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng, Viện của bà khi thành lập chỉ vẻn vẹn gồm một nhóm nhỏ ba-bốn người, và trong quá trình phát triển, những người mới luôn được xét tuyển một cách kỹ lưỡng, theo phương châm chỉ tuyển người khi có nhu cầu công việc và thấy rõ được năng lực, khả năng đóng góp của người được tuyển.   Tuy nhiên, dù thế nào thì việc quản lý nhân sự ở một tổ chức KH&CN vẫn không thể có tính sòng phẳng, rạch ròi như với một doanh nghiệp thông thường. Theo TS. Vũ Hồng Quảng, dù ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các tổ chức nghiên cứu tự chủ đã được giao toàn quyền quyết định về nhân sự, nhưng khi cần phải buộc thôi việc những cán bộ hoạt động kém hiệu quả, người lãnh đạo vẫn không tránh khỏi sự khó xử, nể nang bởi tình thầy trò, tình đồng nghiệp, cùng những mối quan hệ tế nhị khác, đặc biệt là trong điều kiện xã hội Việt Nam, nơi chữ “tình” vẫn chi phối mạnh mẽ các hành xử. Trong điều kiện như vậy, việc đảm bảo tính tinh gọn và hiệu quả của bộ máy nhân sự luôn là một thách thức khó khăn.    Tương tự như phương châm tuyển người gắn với nhu cầu công việc, nguyên tắc trong mua sắm trang thiết bị ở các tổ chức KH&CN của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng là mua sắm theo nhu cầu công việc, theo đó những người phụ trách công việc sẽ phải tự đề xuất mua sắm và lên kế hoạch sử dụng các thiết bị một cách thuyết phục, đảm bảo tính hiệu quả trong khai thác, sử dụng.    Vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước, bởi “áp lực quá thì sẽ vỡ”  Các nghiên cứu ứng dụng luôn gắn liền với rủi ro, và dù thành công thì cũng đòi hỏi rất nhiều sự đầu tư về thời gian, công sức, và các nguồn lực khác. “Chúng tôi thường phải mất bảy năm cho mỗi hướng nghiên cứu, trong khi đó mỗi tháng dù không làm gì vẫn phải trả hàng trăm triệu đồng để nuôi bộ máy, và lúc nào cũng phải tính toán, cân nhắc sang năm, rồi năm tiếp theo sẽ đưa ra thị trường những sản phẩm gì”, TS. Quảng nói. Theo ông, áp lực là cần thiết để tạo động lực phấn đấu cho tổ chức KH&CN, nhưng không nên để người lãnh đạo các đơn vị phải chịu áp lực quá lớn, bởi “áp lực quá thì sẽ vỡ”.  Hiện nay, các viện nghiên cứu của TS. Quảng và PGS.TS. Lý Anh đều có mong muốn được chuyển đổi thành những doanh nghiệp KH&CN, bởi khi đó các đơn vị này sẽ được giao tài sản và quyền tự chủ lớn hơn, có khả năng huy động các nguồn lực một cách linh hoạt hơn, qua đó giảm nhẹ áp lực về tài chính đối với tổ chức và người lãnh đạo. Tuy nhiên, trong thực tế tiến trình thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp KH&CN vẫn còn những khó khăn, vướng mắc, và nhiều quyền lợi quy định theo pháp luật hiện hành dành cho các doanh nghiệp KH&CN vẫn chưa đi vào thực tiễn đời sống. Mặt khác, việc chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN nhiều khả năng sẽ làm thay đổi tính chất hoạt động của các viện nghiên cứu nói trên theo xu hướng thiên về vị lợi nhuận, trong khi một tổ chức KH&CN công lập thông thường vẫn gánh vác những nghĩa vụ mang tính công ích, vị học thuật, ví dụ như tham gia đào tạo và làm nghiên cứu cơ bản.  Chính vì vậy, một phương án khác được TS. Quảng và PGS.TS. Lý Anh, cùng một số lãnh đạo các tổ chức KH&CN tự chủ ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam đề xuất, đó là Nhà nước tài trợ một phần kinh phí cho các viện nghiên cứu tự chủ, với điều kiện những viện này đáp ứng một số tiêu chí về chuyên môn, ví dụ như thành tựu, năng lực nghiên cứu, thể hiện ở số lượng các công bố quốc tế trên những tạp chí ISI, hoặc đạt được những kết quả nghiên cứu ứng dụng có giá trị hữu ích đối với xã hội.  Với những viện nghiên cứu đáp ứng được các tiêu chuẩn như vậy, Nhà nước nên tài trợ cho mỗi viện một số biên chế nhất định, qua đó giúp các viện duy trì một bộ khung bộ máy nhân lực ổn định, tránh tình trạng các tổ chức KH&CN phải dành nhiều công sức, thời gian để đào tạo các nhà nghiên cứu nhưng không thể giữ chân họ bởi không có đủ nguồn lực để giúp họ yên tâm công tác, PGS.TS. Lý Anh nói.    Theo TS. Quảng, “Nhà nước có thể tiến hành đánh giá định kỳ các viện ba năm một lần”, như vậy sẽ đảm bảo nguồn kinh phí tài trợ của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đồng thời khiến các viện nghiên cứu luôn có động lực để phấn đấu nằm trong danh sách được Nhà nước tài trợ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối mặt với thách thức,  quyết tâm chuyển sang cơ chế mới      Nghị định 115 ra đời năm 2005 với những quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu tr&#225;ch nhiệm của tổ chức KH&amp;CN c&#244;ng lập được v&#237; von l&#224;&nbsp; &#8220;kho&#225;n 10&#8221; trong lĩnh vực khoa học v&#224; hứa hẹn sẽ mang lại một sự thay đổi lớn nhằm &#8220;cởi tr&#243;i&#8221; chất x&#225;m, bấy l&#226;u nay vẫn luẩn quẩn trong m&#244;i trường quen thuộc của cơ chế bao cấp , nhằm n&#226;ng cao t&#237;nh t&#237;ch cực, năng động v&#224; hiệu quả của c&#225;c tổ chức hoạt động KH&amp;CN. Tuy nhi&#234;n, sau hơn 3 năm thực hiện, một số tổ chức KH&amp;CN dường như &#8220;kh&#244;ng mấy mặn m&#224;&#8221; với c&#225;c quy định c&#243; t&#237;nh đột ph&#225; của Nghị định 115. V&#236; vậy, tốc độ chuyển đổi diễn ra chậm hơn nhiều so với qui định, thậm ch&#237; c&#243; Bộ với h&#224;ng trăm viện nghi&#234;n cứu hầu như vẫn &#8220;&#225;n binh bất động&#8221;.     Trao đổi với Tia sáng, Thứ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, đồng thời là một thành viên của Ban chỉ đạo Nghị định 115 cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân quan trọng là tư duy của các nhà quản lý, nhà khoa học chậm thay đổi, hiểu không đầy đủ hoặc hiểu sai tinh thần chỉ đạo, nội dung của Nghị định 115; bộ máy hành chính quan liêu, hoặc không muốn đổi mới, không muốn mất quyền…  P.V:  Việc các nhà quản lý, khoa học hiểu sai nội dung của Nghị định 115 có phải một phần là do một số thuật ngữ trong Nghị định thiếu rõ ràng?  Thứ trưởng Nguyễn Quân:  Đúng là trong Nghị định 115 có một số thuật ngữ chưa rõ ràng, từ đó làm cho các nhà quản lý và nhà khoa học hiểu nhầm, e ngại, không thấy hấp dẫn về việc chuyển đổi. Ví dụ trong Nghị định có ghi, các tổ chức nghiên cứu phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN được lựa chọn chuyển sang loại hình tổ chức tự trang trải, mà không giải thích từ ngữ khiến các tổ chức KH&CN hiểu “tự trang trải” là tự lo về toàn bộ kinh phí, Nhà nước không hỗ trợ nữa. Lẽ ra, thuật ngữ phải ghi rõ là “tự trang trải về kinh phí hoạt động thường xuyên”, để các nhà quản lý hiểu mọi nguồn kinh phí khác như kinh phí đầu tư phát triển, kinh phí các đề tài dự án nếu trúng tuyển qua tuyển chọn, các nguồn kinh phí hợp tác quốc tế… thì vẫn được ngân sách Nhà nước cấp. Riêng nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên chỉ thay đổi phương thức cấp, trước đây được Nhà nước cấp theo số lượng biên chế, nay sẽ được cấp theo nhiệm vụ được giao. Điều đó đồng nghĩa với việc, nếu tổ chức KH&CN thực hiện tốt công tác cải cách bộ máy làm việc, tinh giảm biên chế, lãnh đạo đơn vị năng động hơn thì chế độ đãi ngộ đối với các nhà khoa học sẽ còn cao hơn trước.   Cũng xuất phát từ sự chưa rõ ràng trong câu chữ nên các tổ chức khoa học nghiên cứu cơ bản và làm chiến lược chính sách cho rằng mình không phải chuyển đổi hoặc không cần làm đề án chuyển đổi, vẫn hoạt động theo cơ chế cũ. Thậm chí một số nhà khoa học còn hiểu lầm rằng Nhà nước bắt buộc các tổ chức KH&CN chuyển thành doanh nghiệp, các nhà khoa học phải làm kinh doanh, bỏ nghiên cứu…  Theo Nghị định 115, các tổ chức KH&CN khi chuyển đổi được thêm nhiều quyền về tổ chức, biên chế, tài chính và tài sản… Vậy vì sao tiến độ chuyển đổi lại diễn ra chậm chạp như vậy?             Tổ chức KH&CN được lựa chọn:                   * Tiếp tục là đơn vị sự nghiệp khoa học của Nhà nước với quyền tự chủ lớn hơn: vừa hoạt động KH&CN, vừa sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp                                                                 * Nếu có nguyện vọng: chuyển thành doanh nghiệp KH&CN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (với hình thức đa sở hữu).            Đúng là nếu hoạt động theo Nghị định 115, tổ chức KH&CN có thêm được rất nhiều quyền như được quyền sản xuất kinh doanh, được cấp phép đăng ký kinh doanh và được hưởng những ưu đãi miễn giảm về thuế thu nhập doanh nghiệp như các doanh nghiệp mới thành lập (miễn 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo) cũng như nhiều ưu đãi khác như có quyền xuất, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm thuộc lĩnh vực chuyên môn, được liên doanh, liên kết sản xuất với mọi tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước… Ngoài ra, tổ chức KH&CN còn được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn khác như được hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án đầu tư đáp ứng các điều kiện và thuộc đối tượng theo quy định; được thanh lý, chuyển nhượng tài sản do đơn vị mua sắm từ nguồn kinh phí tự có; được vay vốn của các tổ chức, cá nhân, vay tín           Khi Tổ chức KH&CN chuyển đổi sang hoạt động theo Nghị định 115, ngoài quyền tự chủ toàn diện về tổ chức, biên chế, tài chính của các đơn vị sự nghiệp, sẽ được:                                         * Quyền SXKD như Doanh nghiệp và được cấp Đăng ký kinh doanh, được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp mới thành lập;                        * Trả lương và thu nhập tăng thêm không giới hạn mức tối đa, mức lương thực tế trong hợp đồng được tính vào chi phí hợp lý trước thuế;                                     * Quyền nâng lương trước hạn và nâng lương vượt 1 bậc trong cùng một ngạch từ NCVC và tương đương trở xuống.                                                               dụng ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng các hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định; được sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp theo quy định.   Trên thực tế, để đến với hàng loạt ưu đãi này, các tổ chức KH&CN phải trải qua một hành trình dài dằng dặc về thủ tục hành chính từ việc xây dựng đề án chuyển đổi cơ chế để được phê duyệt cho đến xin cấp giấy phép kinh doanh và làm thủ tục miễn giảm thuế. Thậm chí, ngay cả khi chấp nhận những thủ tục hành chính ban đầu, thì các tổ chức KH&CN vẫn phải đối đầu với việc có cơ quan quản lý đã vin vào cớ là tổ chức KH&CN không phải là doanh nghiệp nên không cấp giấy phép kinh doanh (Luật Doanh nghiệp không đề cập đến việc cấp giấy phép kinh doanh cho đơn vị là tổ chức KH&CN mà thường chỉ cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp), mặc dù trước đó, các Bộ KH&CN và KH&ĐT đã ban hành văn bản hướng dẫn rất đầy đủ.   Chính sự nhiêu khê, rắc rối trong các thủ tục hành chính giấy tờ đã khiến nhiều tổ chức KH&CN nhụt chí khi thực hiện đúng Nghị định 115.   Một trong những vướng mắc nhất trong quá trình thực hiện chuyển đổi của các tổ chức KH&CN là quyền sử dụng tài sản. Vậy theo Thứ trưởng, vướng mắc này sẽ phải được giải quyết như thế nào?   Với việc được trao quyền tự chủ, tổ chức KH&CN phải có quyền quản lý và sử dụng tài sản được giao. Các tổ chức KH&CN có thể sử dụng các tài sản ấy cho các mục đích nghiên cứu khoa học hoặc là sản xuất kinh doanh (chuyển nhượng, góp vốn liên doanh liên kết…). Nhưng hầu hết cơ quan chủ quản của các tổ chức KH&CN, các địa phương đều không muốn giao tài sản cho các tổ chức KH&CN bởi tâm lý thích an toàn, không muốn thay đổi và nỗi e ngại sợ trách nhiệm, sợ giao tài sản cho các tổ chức KH&CN nếu kinh doanh thua lỗ sẽ mất tài sản Nhà nước. Khi tiến hành phê duyệt đề án chuyển đổi, họ thường trừ lại phần giao tài sản. Vì vậy, quyền tự chủ của các tổ chức KH&CN trong việc sử dụng các tài sản như máy móc trang thiết bị, đất đai… theo đúng mục đích công việc mới chỉ dừng lại trên giấy tờ và mang tính hình thức.   Nghị định 115 cho phép tổ chức KH&CN được sử dụng đất để liên doanh liên kết, sản xuất kinh doanh. Nhưng theo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thuê đất của Nhà nước hoặc phải được giao quyền sử dụng lâu dài (tương tự như mua đất) của Nhà nước. Tuy nhiên, các tổ chức KH&CN không có vốn lưu động, chỉ có thể huy động vốn của cá nhân hoặc đi vay nên khó có thể trả tiền thuê đất của Nhà nước theo đơn giá hiện nay. Vì thế, đã xảy ra trường hợp “lách luật” là có đơn vị chuyển đổi có hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chỉ nộp lệ phí sử dụng đất như các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không sòng phẳng với doanh nghiệp. Đây là một trong những vướng mắc lớn nhất, muốn tháo gỡ cần phải sửa Luật Đất đai.  Xin Thứ trưởng cho biết, vì sao Bộ KH&CN lại trình Chính phủ gia hạn thời gian chuyển đổi đối với các tổ chức KH&CN ở các địa phương đến 31/12/2011.   Với các tổ chức KH&CN ở Trung ương và hai trung tâm lớn là Hà Nội và TP.HCM, việc chuyển đổi có thuận lợi hơn do tiềm lực mạnh, nguồn nhân lực dồi dào, bởi lẽ nhiều TS, cán bộ kỹ thuật… đều tập trung ở đây. Thế nhưng ở các địa phương khác, do chính sách cán bộ vẫn còn chưa hấp dẫn, không đủ sức níu kéo đội ngũ trí thức có trình độ cao, không quan tâm đến việc ưu tiên đào tạo lực lượng cán bộ kỹ thuật, đầu tư cơ sở vật chất tối thiểu cho các đơn vị khoa học. Vì thế tại địa phương, các tổ chức KH&CN khi chuyển đổi không đủ sức duy trì hoạt động vì thiếu nguồn nhân lực, thiếu điều kiện làm việc. Đây cũng là lý do các chuyên gia đề nghị kéo dài thời gian chuẩn bị chuyển đổi của các tổ chức KH&CN cấp cơ sở: xin gia hạn 2 năm, với điều kiện trong 2 năm đấy, Chính phủ, các địa phương cần có chính sách tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực, những nhân tố đảm bảo bước đầu cho các tổ chức KH&CN địa phương đủ sức đứng vững. Ngoài ra chính sách hỗ trợ tinh giảm biên chế của Chính phủ theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP cũng có hiệu lực đến hết 2011 sẽ giúp cho các tổ chức KH&CN chuyển đổi sắp xếp lại bộ máy thuận lợi hơn.  Để có thể hoàn thành việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN trước ngày 31/12/2009 theo quy định của Chính phủ, chúng ta cần phải có những giải pháp gì?              5 VẤN ĐỀ CẦN SỚM THÁO GỠ:              * Giao đất đai và tài sản Nhà nước;                                                                * Đầu tư phát triển;                                        * Đăng ký kinh doanh và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;                  * Chuyển sang cơ chế ký hợp đồng làm việc và chế độ hỗ trợ tinh giảm biên chế;                                                          * Tiền lương và thu nhập tăng thêm.                                                              Trước hết, các cấp quản lý từ Trung ương tới địa phương và thủ trưởng các tổ chức KH&CN phải quyết tâm chuyển sang cơ chế mới, hiểu rõ nội dung Nghị định 115 và những việc phải làm; Có tư duy khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng Đề án chuyển đổi theo cơ chế mới; Dám chịu trách nhiệm và đối mặt với thách thức từ phía cán bộ viên chức của đơn vị mình:  chăm lo đời sống, việc làm, giải quyết chế độ chính sách; Kiên trì thuyết phục và dám đấu tranh với các cơ quan quản lý (Sở, Tỉnh, Bộ, cơ quan chủ quản) để được giao quyền tự chủ đúng như Nghị định 115 quy định.  Về phía Bộ KH&CN và các bộ ngành có liên quan, cần trình Chính phủ sớm ban hành Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 115 và hỗ trợ tổ chức KH&CN làm việc với các cơ quan liên quan để tháo gỡ vướng mắc (về Đăng ký kinh doanh, đất đai, thuế, chế độ đối với cán bộ…); Tăng cường hướng dẫn, tập huấn cho các tổ chức KH&CN của các bộ ngành, địa phương (về xây dựng Đề án, thủ tục chuyển đổi, giải pháp hoạt động theo Nghị định 115); Tăng cường việc giới thiệu các điển hình tốt qua các phương tiện truyền thông, hội nghị để các tổ chức KH&CN trao đổi kinh nghiệm.  Xin cảm ơn Thứ trưởng!  P.V thực hiện                   Nhờ Nghị định 115 mà tổ chức như phòng thí nghiệm Anphalab (tiền thân của TT) mới có cơ hội mạnh dạn chuyển đổi tư cách pháp nhân để chủ động thuê chuyên gia, kêu gọi vốn, mở rộng quy mô nghiên cứu và sản xuất. Tuy  nhiên, thực tế vẫn đang đòi hỏi những cải tiến mạnh mẽ trong môi trường hoạt động KHCN. Thứ nhất, ở Việt Nam hiện nay hầu như chưa có thị trường công nghệ vì Luật Sở hữu trí tuệ chưa thực sự đi vào đời sống. Vì vậy thay vì trực tiếp kinh doanh các bí quyết công nghệ, các cơ quan chỉ mới có thể kinh doanh gián tiếp, qua việc bán sản phẩm có ứng dụng cải tiến công nghệ. Thứ hai, nếu không có chế tài chặt chẽ, và thiếu hoạch định hợp lý về kinh phí Nhà nước cấp cho nghiên cứu, thì sẽ không tận dụng được các nguồn lực và sản phẩm của cơ quan nghiên cứu Nhà nước, và để các lợi ích này thao túng bởi tư nhân. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần phải triệt để cải thiện các khâu giao vốn, thanh quyết toán vốn, và đánh giá chất lượng sản phẩm.  Nguyễn Văn Minh –   Phó Giám đốc Trung tâm Tích hợp CN – Viện ƯDCN            Giống như nhiều cơ quan nghiên cứu khác, TT hiện còn thiếu nhân sự chất lượng cao. Việc nâng cao chuyên môn nghiệp vụ sẽ đòi hỏi thời gian, và không thể hoàn toàn hành xử theo lý mà thiếu đi chữ tình. Trong giai đoạn sắp tới, thiếu vốn, thiếu nhân lực, vậy thì làm cách nào để Trung tâm có thể đứng vững trên thị trường? Cho nên, việc triển khai Nghị định 115 ở Trung tâm chưa thể quyết liệt trong một sớm một chiều. Trước mắt rất cần được hỗ trợ về công tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ.  Giang Đình Khôi-  Giám đốc  Trung tâm Triển khai Công nghệ – Viện ƯDCN              Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới cơ chế hoạch định chiến lược KH&CN      Một trong những nhiệm vụ trọng t&#226;m hiện nay của Bộ KH&amp;CN l&#224; x&#226;y dựng chiến lược ph&#225;t triển KHCN trong giai đoạn 2008-2020. Vấn đề đặt ra l&#224; chiến lược n&#224;y cần được hoạch định như thế n&#224;o để KH&amp;CN thực sự trở th&#224;nh động lực ph&#225;t triển kinh tế – x&#227; hội trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước    Những định hướng phát triển KH&CN và xu thế đổi mới công tác kế hoạch hóa KH&CN ở các nước trong nền kinh tế thị trường cũng như ở hầu hết các nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế là hình thức thể hiện các nhiệm vụ R&D trong kế hoạch KH&CN của từng quốc gia. Các nhiệm vụ này đều xuất phát từ điều kiện, thực tiễn khách quan của từng nước và xu thế phát triển KH&CN trên thế giới, nhằm nâng cao năng lực nội sinh, phát triển các ngành kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, phù hợp với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa theo xu thế của nền kinh tế tri thức của nhân loại đang diễn ra trong thế kỷ XXI. Chẳng hạn như Hungary, Ba Lan, Cộng hòa  Séc… Nhà nước chỉ định hướng ưu tiên cho các chương trình KH&CN quốc gia mang tính chất trọng điểm, liên ngành. Các chương trình, dự án được đa dạng hóa về các nguồn tài chính. Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần kinh phí cho quá trình đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp. Các dự án phát triển công nghệ cao được vay ngân hàng với lãi suất ưu tiên và miễn thuế… Trong nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn được Chính phủ khoanh 10-15% ngân sách chi phí cho nghiên cứu và triển khai của Nhà nước. Cơ chế đặt hàng, đấu thầu, hợp đồng KH&CN cũng như việc hình thành các quỹ trong khoa học và công nghệ được phát triển rộng rãi.  Trong nền kinh tế thị trường, kế hoạch chiến lược phát triển KH&CN chỉ là định hướng. Phải chuyển trọng tâm của cơ chế kế hoạch xuất phát từ các viện, các trường sang khu vực doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới quốc gia. Phải gắn quá trình hoạch định chiến lược với hệ thống đổi mới trong những năm 2010-2020 trong quá trình hội nhập quốc tế. Tạo ra cơ chế gắn kết hữu cơ hoạt động R&D của các viện, các trường đại học với hoạt động đổi mới công nghệ tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ cao trong chuỗi giá trị của sản xuất-dịch vụ-thương mại với hàm lượng chất xám cao trong quá trình trao đổi quốc tế của nền kinh tế mở ở nước ta. Từ khâu xây dựng chiến lược KH&CN đến khâu kế hoạch hóa nên thoát khỏi cách tiếp cận tuyến tính và KH&CN quyết định theo mệnh lệnh từ trên xuống mà phải xuất phát từ thị trường, nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt trong xây dựng các chương trình KH&CN, dự án R&D phải theo liên kết ngang, gắn liền hoạt động R&D của các viện, các trường với khu vực doanh nghiệp tạo ra sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế. Tuy vậy, đối với một số chương trình KH&CN quốc gia quan trọng, ưu tiên thì Nhà nước phải nghiên cứu lựa chọn ưu tiên, trực tiếp điều hành, quản lý theo mục tiêu gắn với thị trường và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở tận dụng và khai thác nhanh, có hiệu quả những thành tựu KH&CN trên thế giới trong nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI.  Vì vậy, chúng ta cần sớm đổi mới cơ chế hoạch định chiến lược KH&CN trong giai đoạn 2008-2020 một cách khoa học, xuất phát từ thị trường, gắn với thực tiễn khách quan của Việt Nam và xu thế phát triển KH&CN trên thế giới.  ————–  * TS. Viện Chiến lược và Chính sách phát triển Khoa học và Công nghệ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới cơ chế hoạt động KH&CN      Trong bài viết dưới đây, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đề cập ba vấn đề lớn giúp đổi mới thành công cơ chế hoạt động KH&amp;CN, đó là: đổi mới phương thức đầu tư xã hội cho KH&amp;CN; đổi mới cơ chế tài chính cho hoạt động KH&amp;CN; và chính sách sử dụng, trọng dụng cán bộ KH&amp;CN.    Đầu tư cho KH&CN: Huy động mọi nguồn lực để phát triển  Tổng đầu tư xã hội cho KH&CN của một quốc gia được tính là tổng kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN trong một năm từ 3 nguồn: Ngân sách nhà nước (NSNN), hoạt động hợp tác quốc tế (vốn ODA, chương trình hợp tác nghiên cứu…) và đầu tư của khu vực ngoài nhà nước (các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân, đặc biệt là doanh nghiệp). Trong nền kinh tế kế hoạch hóa thì NSNN đóng vai trò chủ yếu, vì thế mặc dù Việt Nam đã bắt đầu bước vào nền kinh tế thị trường, chúng ta vẫn mang nặng tư duy dựa vào NSNN và cho đến nay nguồn kinh phí từ NSNN vẫn chiếm khoảng 65% đầu tư xã hội cho KH&CN. Từ khi Luật Khoa học và Công nghệ được ban hành năm 2000 đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, dành 2% tổng chi NSNN hàng năm (tương đương khoảng 0,5-0,6% GDP) cho KH&CN. Kinh phí thu hút được từ hoạt động hợp tác quốc tế có tăng lên hàng năm thông qua vốn hỗ trợ phát triển ODA và các dự án hợp tác nghiên cứu chung, năm 2011 đã đóng góp khoảng 5% tổng đầu tư xã hội. 30% còn lại là nguồn vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước. Tính từ cả 3 nguồn trên, tổng đầu tư của xã hội cho KH&CN trong năm 2011 đạt khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, hay khoảng 1% GDP quốc gia.  Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quốc gia nào có nền KH&CN càng phát triển thì tỉ trọng đầu tư cho KH&CN của khu vực ngoài nhà nước so với NSNN càng lớn, ví dụ ở các nước phát triển như Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, tỉ trọng này thường là 3:1 đến 4:1. Trung Quốc cũng đã đạt được tỉ trọng 3:1 trong năm 2011. NSNN chỉ đảm bảo tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phục vụ lợi ích chung của quốc gia. Điều này đơn giản là vì, dù được Nhà nước quan tâm đến đâu hay hoạt động hợp tác quốc tế tích cực thế nào, thì nguồn lực của cả 2 thành phần này đều có giới hạn, không thể so sánh với tiềm lực dồi dào của khu vực ngoài nhà nước, đặc biệt là của khối doanh nghiệp. Sở dĩ cho đến nay, đầu tư của NSNN vẫn còn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng đầu tư cho KH&CN là do tư duy bao cấp, kế hoạch hóa vẫn còn nặng nề trong nền kinh tế, đặc biệt là trong khối các doanh nghiệp nhà nước. Đầu tư cho KH&CN để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa chưa gắn liền với lợi ích thiết thân của doanh nghiệp. Nhà nước cũng chưa có chính sách thích hợp để doanh nghiệp phải đầu tư cho phát triển KH&CN. Từ góc độ hợp tác quốc tế, tư duy dựa vào viện trợ, tài trợ của nước ngoài trong hoạt động KH&CN đã đến lúc phải được đổi mới bằng tư duy cùng đầu tư và hợp tác nghiên cứu nhằm thu hút nhiều hơn nguồn đầu tư từ nước ngoài.  Làm thế nào để huy động đầu tư xã hội cho KH&CN  Để huy động đầu tư xã hội cho KH&CN, cần phải có những giải pháp mạnh mẽ để tăng cường đầu tư từ cả 3 nguồn kể trên.  Trước hết, với đầu tư từ NSNN, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã yêu cầu: duy trì mức tối thiểu 2% tổng chi Ngân sách hàng năm dành cho KH&CN và phấn đấu nâng cao tỉ lệ này khi điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước tốt hơn. Mặc dù có giá trị tuyệt đối không lớn (khoảng 14.000 tỉ đồng cho năm 2012), nhưng 2% tổng chi NSNN dành cho KH&CN là một tỉ lệ khá cao, thậm chí so với các nước có nền KH&CN phát triển (ngay cả các quốc gia như Mỹ, Nhật bản, Châu Âu, tỉ lệ này cũng chỉ 0,3 – 0,4% GDP quốc gia). Điều này thể hiện sự quan tâm và cố gắng rất lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với KH&CN. Ngay cả khi duy trì ngân sách dành cho KH&CN ở mức 2% thì giá trị tuyệt đối của khoản kinh phí này cũng được tăng lên hàng năm tương ứng với mức tăng của tổng chi NSNN (trung bình 16,5%/năm cho những năm gần đây). Chúng ta sẽ tập trung nguồn NSNN cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng và triển khai các chương trình quốc gia về KH&CN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chú trọng các sản phẩm quốc gia, các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng và đổi mới phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ cho các tổ chức KH&CN công lập.  Đối với hoạt động hợp tác quốc tế, sau khi gia nhập WTO và vượt qua ngưỡng quốc gia kém phát triển, Chính phủ đã quan tâm hơn đến các hoạt động hợp tác nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Chúng ta đã chủ động sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học để đối ứng cho các nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu với đối tác nước ngoài thông qua các đề tài nghiên cứu chung theo Nghị định thư. Đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với sự thay đổi trong chính sách sử dụng ODA của các nước phát triển. Các quốc gia này đang chuyển dần sang hướng hỗ trợ cho KH&CN và giảm dần hình thức tài trợ hoàn toàn, đòi hỏi sự hợp tác bình đẳng, cùng chia sẻ trách nhiệm để cùng có lợi. Đối với ta, trong hợp tác và hội nhập quốc tế theo chiều sâu, cần có kinh phí của mình để chủ động trong việc đặt vấn đề hợp tác, trong đàm phán, trong tìm kiếm đối tác để giải quyết những vấn đề của Việt Nam một cách hiệu quả nhất. Kết quả là trong 5 năm từ 2006 – 2010, thông qua các nhiệm vụ theo Nghị định thư, số kinh phí phía đối tác bỏ ra để cùng thực hiện với ta đạt 128 triệu đô la Mỹ, trong khi số kinh phí đối ứng cấp từ ngân sách sự nghiệp khoa học là gần 365 tỷ VND (khoảng 19,2 triệu USD). Theo tỷ lệ này, 1 đồng kinh phí ta bỏ ra, huy động được 6,6 đồng của đối tác. Số kinh phí này chưa bao gồm các khoản “phi tiền tệ” khác Việt Nam được thụ hưởng như đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ Việt Nam ở nước ngoài, các trang thiết bị nghiên cứu được để lại cho các đơn vị Việt Nam khi kết thúc dự án. Vì vậy, khai thác nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho hoạt động KH&CN sẽ tiếp tục là giải pháp quan trọng trong giai đoạn tới.    Đầu tư từ doanh nghiệp là yếu tố quyết định  Mặc dù đầu tư từ NSNN và hoạt động hợp tác quốc tế trước mắt vẫn có tỉ trọng lớn trong tổng đầu tư xã hội, nhưng khối các doanh nghiệp mới là khu vực có nhiều tiềm lực và tiềm năng nhất để thu hút đầu tư cho KH&CN. Hiện nay, nước ta có hơn 600.000 doanh nghiệp, trong đó có 111 tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước với nguồn lực rất lớn về vốn và nguồn nhân lực (năm 2008, khi xây dựng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã tính toán rằng, nếu tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đều trích 10% lợi nhuận trước thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, thì tổng vốn các quỹ này thu hút được là 13.500 tỉ đồng, gấp 2 lần đầu tư từ NSNN năm 2008 (7.000 tỉ đồng). Như vậy, chỉ cần tất cả các doanh nghiệp trích 10% thu nhập trước thuế để đầu tư cho KH&CN, chúng ta đã có thể hoàn thành mục tiêu tổng đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2010).  Ngoài ra, trong khi phần lớn kinh phí NSNN được dành cho chi thường xuyên của các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập và chi đầu tư phát triển, chỉ có hơn 10% là thực sự dành cho hoạt động nghiên cứu, thì tỉ lệ này ở các doanh nghiệp gần như là 100% cho hoạt động nghiên cứu và phát triển do không phải chi thường xuyên (lương và hoạt động bộ máy) từ nguồn dành cho KH&CN. Việc chi tiêu cho KH&CN từ nguồn vốn của doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn rất nhiều so với sử dụng NSNN, vốn được quản lý rất chặt chẽ theo Luật NSNN với nhiều thủ tục phức tạp. Hơn thế nữa, việc tham gia vào nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích cực đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa. Chính vì những lý do đó mà doanh nghiệp mới là đối tượng chính mà các chính sách của Nhà nước cần hướng tới khi huy động đầu tư cho KH&CN.  Từ năm 2008, việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN đã được quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, tuy nhiên cho đến nay kết quả thu hút đầu tư không đạt được như mong muốn. Nguyên nhân đầu tiên là tư duy của người lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Sau nhiều năm hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hóa với tính cạnh tranh thấp, các doanh nghiệp đã quen với việc kinh doanh không cạnh tranh và không có nhu cầu cải tiến sản phẩm. Các doanh nghiệp nhà nước ỷ lại vào lợi thế độc quyền mà không quan tâm đến việc đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Khi có nhu cầu đổi mới công nghệ thì thường mua công nghệ của nước ngoài thay vì đầu tư nghiên cứu để làm chủ và sáng tạo ra công nghệ mới. Một số tập đoàn, tổng công ty khi được Nhà nước giao cho các viện nghiên cứu thì không đầu tư, không giao nhiệm vụ nghiên cứu, dẫn tới các viện nghiên cứu này phải tách khỏi doanh nghiệp trở về trực thuộc các Bộ. Nguyên nhân thứ hai là phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, mặc dù số lượng doanh nghiệp rất đông đảo, nhưng với doanh thu thấp, năng suất lao động thấp, chi phí hoạt động ngày càng cao, lợi nhuận trước thuế của từng doanh nghiệp là không nhiều. Vì vậy, kể cả khi các doanh nghiệp trích tối đa tỉ lệ mà Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cho phép là 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp thì giá trị của khoản đầu tư này cũng rất nhỏ, không đủ để đổi mới công nghệ. Trong khi đó, chưa có quy định cho phép các doanh nghiệp có thể tự nguyện trích phần đầu tư này cho quỹ phát triển KH&CN của địa phương nhằm “tích tiểu thành đại”. Cuối cùng là các bất cập trong chính sách của Nhà nước đối với việc huy động đầu tư của các doanh nghiệp cho KH&CN. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực năm 2008 chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc doanh nghiệp phải đầu tư cho KH&CN, và các doanh nghiệp chỉ “được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế” cho quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp. Sở dĩ có mức trần 10% vì có ý kiến cho rằng, nếu không giới hạn tỉ lệ này thì có thể các doanh nghiệp sẽ trích phần lớn, thậm chí toàn bộ thu nhập trước thuế cho quỹ phát triển KH&CN, như vậy Nhà nước sẽ mất nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, lo ngại này là không có cơ sở thực tiễn, vì doanh nghiệp nào cũng phải có lợi nhuận sau thuế để đảm bảo tái đầu tư và đời sống người lao động. Hơn nữa, đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho phát triển, kể cả khi các doanh nghiệp trích phần lớn lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho KH&CN nhằm đổi mới công nghệ và thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm thì trong dài hạn, khoản đầu tư này sẽ làm tăng nhanh doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp những năm sau đó và qua đó, doanh nghiệp đóng góp nhiều hơn cho NSNN thông qua thuế. Đó cũng chính là giải pháp nuôi dưỡng nguồn thu cho NSNN. Các quy định hiện hành về quản lý quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp cũng chưa tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng thuận lợi nguồn kinh phí này, ví dụ quy định nếu doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không đến 70% quỹ sau 5 năm từ năm trích lập thì bị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên phần không sử dụng cộng thêm lãi phát sinh (với lãi suất kho bạc) từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó. Và Nhà nước kiểm soát chi đối với 100% kinh phí của quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp như đối với NSNN, trong khi Nhà nước chỉ ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần kinh phí trích lập quỹ, nghĩa là chỉ 25% được coi là NSNN, còn 75% là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Điều này dẫn tới các doanh nghiệp đều không muốn trích lập quỹ.  Chính vì các hạn chế trên mà sau 4 năm từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực, tình hình thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp cho KH&CN vẫn không được cải thiện nhiều so với trước đây. Giải pháp để khắc phục vấn đề này đã được đề ra một cách hệ thống, đồng bộ trong các văn bản quan trọng mà Bộ KH&CN đã xây dựng và trình các cấp thẩm quyền gần đây (Đề án phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế do Ban Cán sự Đảng Bộ KH&CN phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng và trình Hội nghị Trung ương 6 khóa XI; Dự án Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi), trình Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII; Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012; Đề án Đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN đã trình Thủ tướng Chính phủ). Trong đó, hai đề xuất quan trọng nhất là: (1) cần phải Luật hóa quy định có tính bắt buộc các doanh nghiệp trích một tỉ lệ tối thiểu lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho KH&CN. Chính phủ quy định tỉ lệ tối thiểu tùy theo quy mô và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, và không hạn chế tỉ lệ trích tối đa; (2) trong trường hợp doanh nghiệp không có điều kiện hoặc chưa có nhu cầu thành lập quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, thì nguồn kinh phí trích lập được có thể đóng góp cho quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước ở địa phương.  Qua các cuộc thảo luận, trao đổi, xuất hiện một vài ý kiến băn khoăn về các đề xuất này. Có ý kiến cho rằng các vấn đề liên quan đến thuế thì nên được quy định trong các luật chuyên ngành về thuế, không nên quy định trong các luật khác để tránh chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, KH&CN đã được Đảng ta khẳng định là quốc sách hàng đầu. Vì vậy, các quy định về thuế cho hoạt động KH&CN, một lĩnh vực mang tính đặc thù, cũng cần được xây dựng một cách đặc thù trong luật chuyên ngành. Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi), với các quy định cụ thể trên, sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến ngay tại Kỳ họp thứ 4 (tháng 10 – 11/2012) và dự kiến thông qua vào Kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2013), đảm bảo việc sớm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về KH&CN đã được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI). Hơn nữa, thời gian không chờ đợi chúng ta, vì chỉ còn 8 năm cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nếu không ban hành chính sách này kịp thời thì khó đạt được mục tiêu mà Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 đã đề ra là tổng đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và 2,0% GDP vào năm 2020.  Cũng có ý kiến cho rằng, quy định này chỉ có thể bắt buộc được các doanh nghiệp nhà nước, còn đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước thì chỉ nên khuyến khích họ đầu tư cho KH&CN. Tuy nhiên, với chủ trương phải tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm dưới 50% cổ phần, số lượng doanh nghiệp nhà nước và nguồn lực kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước sẽ giảm tiếp trong thời gian tới. Vì vậy, nếu quy định có tính bắt buộc chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước thì chế tài này không thực sự mạnh mẽ hơn những quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, và không thay đổi được thực trạng huy động đầu tư từ doanh nghiệp như hiện nay. Điều đáng mừng là đa số các chuyên gia, các nhà quản lý, đặc biệt là lãnh đạo Bộ Tài chính và Bộ KH&CN đã thống nhất với quan điểm cần có chế tài mang tính bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp trong việc đầu tư cho KH&CN với các tỉ lệ tối thiểu khác nhau do Chính phủ quy định, đảm bảo sự bình đẳng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.  Về ý kiến cho rằng phần kinh phí đầu tư cho KH&CN chỉ nên dành cho quỹ của chính doanh nghiệp mà không nên huy động vào quỹ của Nhà nước ở địa phương, vì như vậy là bắt buộc các doanh nghiệp phải chuyển một phần lợi nhuận trước thuế cho một quỹ của Nhà nước khi doanh nghiệp không có nhu cầu đầu tư cho KH&CN: như đã phân tích ở trên, việc trích quỹ trước hết ưu tiên cho chính doanh nghiệp sử dụng để đổi mới công nghệ, tạo sản phẩm mới. Tuy nhiên đối với phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam, là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, phần trích được từ lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho KH&CN của các doanh nghiệp này không đủ để tự đổi mới công nghệ của chính họ. Đây là lý do chủ yếu của việc phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa thành lập quỹ phát triển KH&CN của mình. Như vậy, nếu chúng ta bắt buộc các doanh nghiệp phải đầu tư cho KH&CN, nhưng không mở ra một kênh khác để doanh nghiệp tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước thì việc thực hiện các quy định của pháp luật là rất khó khả thi. Việc cho phép các doanh nghiệp có thể đóng góp vào quỹ phát triển KH&CN địa phương còn có tác dụng tập trung vốn đầu tư đổi mới công nghệ cho một số doanh nghiệp chủ lực của địa phương, sau đó quỹ của địa phương có thể lần lượt hỗ trợ đầu tư trở lại cho doanh nghiệp với nguồn kinh phí đủ lớn để đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Ngoài ra, theo quy định hiện hành, quỹ của địa phương chỉ được cấp vốn một lần từ NSNN khi mới thành lập. Vốn của quỹ phải được bảo tồn và phát triển thông qua hoạt động. Tuy nhiên, với thực tiễn môi trường kinh doanh ở nước ta hiện nay, các quỹ địa phương rất khó bổ sung thêm kinh phí từ các hoạt động cho vay, tài trợ. Đã có 20 tỉnh, thành phố thành lập quỹ phát triển KH&CN, nhưng nhiều địa phương đang phải đối mặt với khả năng không duy trì được các quỹ này sau một số năm hoạt động do bị mất vốn sau khi tài trợ cho hoạt động nghiên cứu. Chính vì vậy, đóng góp từ các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chính là nguồn duy trì hoạt động cho quỹ phát triển KH&CN địa phương, để qua đó quỹ này có thể đầu tư ngược lại cho các doanh nghiệp khi cần thiết.  Sau khi Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) được ban hành, cần sớm ban hành các văn bản mới quy định về cơ chế tài chính đối với quỹ của doanh nghiệp trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp trích lập và chi tiêu cho KH&CN từ quỹ của mình. Nhà nước chỉ kiểm soát chi tiêu đối với phần mà doanh nghiệp được hưởng lợi về thuế khi trích lập quỹ. Nếu doanh nghiệp đóng góp cho quỹ của địa phương thì phần đóng góp này cũng phải được miễn thuế như đối với trích lập cho quỹ của doanh nghiệp.  Thời gian gần đây, đã có những tín hiệu rất khả quan trong việc huy động đầu tư cho KH&CN từ các doanh nghiệp, điển hình là Tập đoàn Viễn thông quân đội và Tập đoàn Dầu khí quốc gia. Hai tập đoàn này đã thành lập các viện nghiên cứu và phát triển của mình và trích tỉ lệ tối đa được phép hiện nay là 10% thu nhập tính thuế để đầu tư cho các viện nghiên cứu này (với tổng kinh phí gần 4.500 tỉ đồng, xấp xỉ 30% NSNN chi cho KH&CN năm 2012, tương đương toàn bộ đầu tư của doanh nghiệp cả nước cho KH&CN năm 2011). Tuy nhiên, với các chính sách và quy định hiện hành, số lượng doanh nghiệp chủ động đầu tư cho KH&CN mạnh mẽ như hai tập đoàn trên là rất ít ỏi. Chính 2 tập đoàn kể trên cũng phản ảnh là không thể sử dụng hết nguồn kinh phí này. Để đạt mục tiêu của Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 và triển khai hiệu quả Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về KH&CN, những giải pháp quyết liệt như đã nêu ở trên là hết sức cần thiết và cần phải được quy định cụ thể ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động KH&CN. Có như vậy, KH&CN mới có thêm một nguồn lực to lớn để phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  Đổi mới cơ chế tài chính: đòn bẩy trong đổi mới hoạt động KH&CN  Cơ chế tài chính còn nhiều bất cập đang là một trong những lực cản đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN). Để tháo gỡ những bất cập đó, ngành KH&CN đang hướng đến việc đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN, trong đó trọng tâm là đổi mới cơ chế tài chính. Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đã nhận định: “Đổi mới công tác quản lý nhà nước, đổi mới tổ chức, hoạt động và cơ chế, chính sách là khâu đột phá. Tập trung ưu tiên tháo gỡ các vướng mắc trong công tác kế hoạch, đầu tư, tài chính, đặc biệt là cơ chế cấp phát, thanh quyết toán kinh phí cho hoạt động KH&CN”.    Cơ chế tài chính còn nhiều bất cập  Ở các quốc gia có nền KH&CN phát triển, Nhà nước thực hiện giao quyền tự chủ tối đa cho các nhà khoa học với quy định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân bổ ngân sách và giám sát việc thực hiện. Các nhà khoa học có thể đề xuất đề tài, dự án nghiên cứu bất kỳ khi nào cần thiết, hệ thống quỹ về KH&CN sẽ là nơi đánh giá, lựa chọn các nghiên cứu được đề xuất, sau đó tài trợ kinh phí và theo dõi quá trình thực hiện. Các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội có quyền kiểm tra chi tiêu, chống tham nhũng, lạm quyền cũng như kiểm tra việc thực hiện quy định của Nhà nước đối với các cơ sở nghiên cứu và đối với các nhà khoa học. Cơ chế này phù hợp với đặc thù sáng tạo của hoạt động KH&CN đó là tính rủi ro (mạo hiểm), tính trễ và tính thực tiễn. Vì thế, người làm khoa học phải được trao quyền tự chủ cao, nhưng kèm theo đó trách nhiệm nặng nề đối với sản phẩm khoa học của họ, thôi thúc họ dành trọn tâm huyết cho nghiên cứu.  Ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN nói chung và văn bản liên quan đến cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng ngày càng được hoàn thiện. Đã có 8 đạo luật chuyên ngành với gần 300 văn bản hướng dẫn thi hành, tạo lập được hành lang pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động KH&CN. Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn thiếu đồng bộ, chưa cập nhật kịp thời để phù hợp với thực tiễn, tạo ra các vướng mắc cho phát triển KH&CN.  Nước ta đã bước vào nền kinh tế thị trường, nhưng hoạt động KH&CN còn chịu nhiều quy định mang nặng tính hành chính, tư duy của thời bao cấp kế hoạch hóa. Trước hết là công tác xây dựng kế hoạch cho các đề tài, dự án KH&CN hàng năm. Việc áp đặt cơ chế kế hoạch hóa cứng nhắc trong xây dựng các nhiệm vụ KH&CN giống như đối với đầu tư xây dựng cơ bản là điều làm giới khoa học bức xúc nhất hiện nay. Mỗi năm các nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước phải được phê duyệt một lần trước ngày 31/7 của năm trước năm kế hoạch, sau đó tổng hợp vào dự toán Ngân sách nhà nước (NSNN), báo cáo Chính phủ và Quốc hội. Sau khi Quốc hội phê chuẩn dự toán NSNN (thường vào tháng 11 hàng năm), Thủ tướng Chính phủ sẽ giao kinh phí thực hiện cho các Bộ, ngành, địa phương vào đầu năm của năm kế hoạch. Để phê duyệt được danh mục các nhiệm vụ KH&CN theo cách làm này và xây dựng dự toán kinh phí phải trải qua quy trình phức tạp, mất nhiều thời gian: đề xuất nhiệm vụ; thông qua hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ; xây dựng thuyết minh, dự toán; thông qua hội đồng xét chọn, tuyển chọn, các hội đồng thẩm định nội dung, kinh phí; sau đó là phê duyệt. Quy trình này thường mất khoảng 3- 9 tháng. Tuy nhiên sau khi các nhiệm vụ được phê duyệt, thường phải chờ 6-7 tháng mới được giao kinh phí, vì vậy từ khi hướng dẫn lập kế hoạch đến khi có kinh phí để thực hiện, thường mất 9-15 tháng (cá biệt như năm 2011 và năm 2012 phải mất hơn 2 năm). Nhiều nhiệm vụ khi được cấp kinh phí đã không còn tính thời sự hoặc không đủ kinh phí để triển khai do lạm phát cao. Điều này không phù hợp với đặc thù của hoạt động KH&CN, chưa tạo điều kiện cho các nhà khoa học triển khai nghiên cứu kịp thời, hiệu quả.  Cùng với đó, tất cả nhiệm vụ KH&CN khi xây dựng và phê duyệt phải kèm theo dự toán kinh phí chi tiết với các nội dung chi cụ thể theo các định mức được quy định. Đối với những nội dung khoa học nếu không có định mức thì được thực hiện bằng chuyên đề hoặc thuê khoán chuyên môn. Thực tế đối với việc nghiên cứu khoa học, có thể khẳng định không phải tất cả nội dung đều có thể xác định cụ thể được từ trước khi triển khai, ví dụ như cần làm bao nhiêu thí nghiệm, sử dụng hết bao nhiêu nguyên vật liệu để nghiên cứu thành công, v.v. Và nhiều nội dung mang tính sáng tạo trừu tượng không thể có định mức chuẩn được. Hơn nữa, hệ thống định mức thấp và lạc hậu dẫn tới tình trạng các nhà khoa học phải lập dự toán kinh phí bằng cách chia nhỏ nội dung thành hàng trăm chuyên đề để hợp thức hóa chứng từ. Điều này trái với bản chất của hoạt động nghiên cứu là trung thực và làm nản lòng các nhà khoa học.  Một bất cập khác đối với dự toán kinh phí của các nhiệm vụ KH&CN là trong dự toán không có nội dung chi lương và hoạt động bộ máy. Điều này chỉ phù hợp khi tất cả các tổ chức KH&CN đều là tổ chức công lập. Các tổ chức này đã được Nhà nước chi lương và hoạt động bộ máy nên các nội dung chi này không được đưa vào dự toán kinh phí của nhiệm vụ. Tuy nhiên, sau khi Luật khoa học và công nghệ năm 2000 được ban hành, số lượng các tổ chức KH&CN khu vực ngoài nhà nước đã tăng lên một cách nhanh chóng (đến nay đã có trên 900 tổ chức KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế trong tổng số 1.600 tổ chức KH&CN cả nước). Khác với các tổ chức công lập, các tổ chức này không được NSNN đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên. Vì vậy, họ phải tính chi phí tiền lương và hoạt động bộ máy trong dự toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Điều này gây ra sự mất bình đẳng về dự toán kinh phí giữa các tổ chức KH&CN công lập và ngoài công lập khi tham gia tuyển chọn, xét chọn các nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN.  Việc điều chỉnh nội dung và kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN phù hợp với thực tế, đảm bảo hiệu quả nghiên cứu cũng là vấn đề phức tạp và gây mệt mỏi cho giới khoa học. Thông tư 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng NSNN là một bước tiến bộ trong đổi mới cơ chế tài chính, quy định tất cả những nội dung liên quan đến con người đều được khoán, và do chủ nhiệm đề tài, dự án KH&CN quyết định trên cơ sở phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, trên thực tế các kho bạc vẫn kiểm soát chi theo dự toán đã được phê duyệt. Nhà khoa học muốn tạm ứng hoặc quyết toán kinh phí vẫn phải theo đúng các nội dung của dự toán. Khi có biến độ về giá hoặc cần thay đổi nội dung nghiên cứu cho phù hợp, thủ tục xin phép điều chỉnh dự toán lại rất mất thời gian và phức tạp, qua nhiều cấp có thẩm quyền, vì thế các nhà khoa học thay vì xin phép điều chỉnh kinh phí đành phải hợp thức hóa chứng từ cho khớp với dự toán đã được phê duyệt.  Thêm vào đó, thủ tục thanh quyết toán đề tài, dự án hiện vẫn rườm rà, phức tạp. Quy định quyết toán theo năm tài chính (kể cả để chuyển nguồn) làm các nhà khoa học phải mất một phần lớn thời gian vào công việc thanh quyết toán. Có nhiều nhiệm vụ, do nhận được kinh phí chậm, chưa kịp triển khai các nội dung theo dự toán đã đến hạn phải làm quyết toán năm. Các định mức tài chính lại không được cập nhật thường xuyên, nhất là trong bối cảnh lạm phát cao hiện nay. Ví dụ, quy định hiện hành hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng NSNN đã được ban hành từ năm 2007 (Thông tư 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN). Trong khoảng thời gian từ đó đến nay, lương tối thiểu đã tăng gấp 3 lần (từ 350.000đ/tháng lên 1.050.000đ/tháng) nhưng định mức vẫn chưa thay đổi. Với định mức lạc hậu như vậy, việc các nhà khoa học dự một hội thảo khoa học nhưng phải ký 3-4 chữ ký để hợp thức hóa khoản thực chi là việc tương đối phổ biến hiện nay. Các cơ quan quản lý về tài chính đều biết rất rõ và mặc nhiên chấp nhận thay vì nhanh chóng đưa ra các định mức phù hợp hơn. Việc thiếu trung thực như vậy trong các hoạt động nghiên cứu khoa học không phải là hiện tượng hiếm và là việc cực chẳng đã, gây tổn thương lớn đến uy tín và lòng tự trọng của giới khoa học. Ngay cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước khi tham gia hoạt động nghiên cứu cũng đã phàn nàn về việc này.  Bất cập khác trong cơ chế tài chính liên quan đến việc giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu. Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN thì về nguyên tắc kết quả sẽ thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Luật Sở hữu trí tuệ đã có quy định Nhà nước giao quyền sở hữu kết quả KH&CN có nguồn gốc NSNN cho các tổ chức, cá nhân, nhưng trên thực tế chúng ta đang thiếu các hướng dẫn cụ thể để thực hiện quy định này, dẫn tới việc các nhà khoa học, không thể chuyển giao kết quả nghiên cứu của mình một cách hợp pháp để ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, nên phải hợp thức hóa việc bán kết quả nghiên cứu thông qua các hợp đồng kinh tế với giá rẻ, gây thiệt hại cho cả Nhà nước và nhà khoa học. Điều này trên thực tế đã hạn chế việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, dẫn tới hiện tượng “bỏ ngăn kéo” nhiều đề tài khoa học.    Cần cấp thiết đổi mới cơ chế tài chính  Quan điểm xây dựng kế hoạch nhiệm vụ KH&CN như đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản hoàn toàn không phù hợp với đặc thù của hoạt động KH&CN, nếu xét đến tính thời sự, rủi ro và khó định lượng của các nhiệm vụ KH&CN. Ví dụ khi Nhà nước đặt hàng cần nghiên cứu ngay một loại vắcxin phòng bệnh, các nhà khoa học không thể chờ tới 12-18 tháng mới có kinh phí để triển khai. Vì thế, cần nhanh chóng đổi mới công tác xây dựng kế hoạch. Thay vì xây dựng kế hoạch theo năm tài chính hiện nay, các nhiệm vụ KH&CN cần được cấp kinh phí theo tiến độ đề xuất và phê duyệt nhiệm vụ. Để làm được việc này, cơ chế tài chính hiện hành phải được thay bằng cơ chế tài chính áp dụng đối với các quỹ phát triển KH&CN. Trên thực tế, kể từ khi đi vào hoạt động năm 2008, mô hình của Quỹ phát triển KH&CN quốc gia được các nhà khoa học đánh giá rất cao vì có nhiều ưu điểm vượt trội so với cơ chế cấp phát tài chính hiện hành: cấp kinh phí kịp thời với việc phê duyệt nhiệm vụ; không phải quyết toán theo năm tài chính mà theo hợp đồng triển khai nhiệm vụ; cuối năm kinh phí chưa sử dụng hết tự động chuyển nguồn năm sau mà không phải làm thủ tục xin chuyển nguồn. Có ý kiến lo ngại việc cấp kinh phí qua quỹ có thể khó kiểm soát được chi tiêu ngân sách, nhưng cần hiểu rằng quỹ phát triển KH&CN ở Trung ương và địa phương vẫn là quỹ của Nhà nước và có tài khoản ở Kho bạc nhà nước nên NSNN cấp qua quỹ hoàn toàn có thể kiểm soát được, đồng thời phải có quy định chặt chẽ về chế độ báo cáo với cơ quan quản lý tài chính. Đây cũng là cơ chế phù hợp với thông lệ quốc tế, ở các nước phát triển thì quỹ là cơ quan chính thực hiện cấp phát kinh phí cho các đề tài nghiên cứu KH&CN. Để làm tốt việc này, cần thực hiện quy định của Quyết định 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, giao quyền xác định tỉ lệ phân bổ NSNN hàng năm cho hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) và cấp kinh phí này vào hệ thống quỹ phát triển KH&CN hoặc cấp qua kho bạc nhưng theo cơ chế quỹ của nhà nước trong lĩnh vực KH&CN. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức xây dựng và phê duyệt nhiệm vụ theo đặt hàng của Nhà nước và doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.  Đổi mới và bổ sung nội dung của dự toán kinh phí cũng là một trong những giải pháp quan trọng. Cần đưa chi phí tiền lương và hoạt động bộ máy vào dự toán của nhiệm vụ KH&CN để đảm bảo sự bình đẳng giữa tổ chức KH&CN trong và ngoài công lập. Điều này phù hợp với việc thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập và Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP. Theo cơ chế này, Nhà nước sẽ không cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các tổ chức KH&CN công lập theo số lượng biên chế như hiện nay mà chuyển sang cấp kinh phí theo nhiệm vụ, bao gồm cả nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức KH&CN và nhiệm vụ KH&CN (đề tài, dự án KH&CN các cấp). Hiện thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết vấn đề này đang được Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Tài chính tích cực hoàn thiện để ban hành.  Trước mắt, cần rà soát, cập nhật lại toàn bộ định mức chi cho những công việc có thể định mức theo Thông tư 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng NSNN như kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, đoàn ra,… Có phương án điều chỉnh định mức tài chính kịp thời theo chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI) và mức tiền lương tối thiểu để đảm bảo phù hợp với thực tế. Những nội dung chi không thể có định mức trong hoạt động nghiên cứu khoa học cần phải được giao quyền tự chủ, đảm bảo bù đắp được lao động sáng tạo của các nhà khoa học. Đồng thời, bổ sung một số nội dung chi vào dự toán kinh phí, như: đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, tuyên truyền kết quả nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ sau nghiệm thu, thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài, kinh phí dự phòng. Cùng với đó, phân cấp mạnh hơn nữa thẩm quyền điều chỉnh nội dung và kinh phí của đề tài cho Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính.  Cuối cùng, cần đổi mới thủ tục thanh quyết toán, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nhà khoa học, hướng đến kết quả và sản phẩm cuối cùng của nhiệm vụ. Nên đổi mới theo hướng khi kết quả được nghiệm thu thì đề tài tự động được quyết toán, vì trên thực tế, các hóa đơn, chứng từ sẽ không có nhiều ý nghĩa khi kết quả của các đề tài, dự án đã đạt được như cam kết trong hợp đồng, nói khác đi cần thí điểm cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc Nhà nước mua trọn gói kết quả nghiên cứu.  Về việc giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ có nguồn gốc NSNN, như đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất trong dự thảo Luật khoa học và công nghệ (sửa đổi), thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ là đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với những kết quả nghiên cứu được tạo ra từ NSNN. Đại diện chủ sở hữu có quyền giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu cho các tổ chức KH&CN, trong đó ưu tiên tổ chức chủ trì đề tài, dự án. Khi đã được giao quyền sở hữu, tổ chức KH&CN có thể chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp, hay dùng quyền sở hữu tài sản trí tuệ đó như vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp KH&CN. Tất nhiên, cần quy định rõ quy trình, thủ tục giao quyền sở hữu và phân chia lợi ích giữa Nhà nước, tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN, và các tác giả của kết quả KH&CN.  Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa XI đã ban hành Nghị quyết mới về phát triển KH&CN, nhấn mạnh đến việc đổi mới cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN như là một trong những giải pháp đột phá để phát triển KH&CN nước ta trong thời kỳ mới. Để triển khai thành công kết quả của Hội nghị Trung ương 6 và đáp ứng sự mong mỏi của cộng đồng các nhà khoa học, việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng đối với cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN thông qua Luật khoa học và công nghệ (sửa đổi) lần này là hết sức cần thiết và sẽ mang lại nhiều thành tựu KH&CN mới, nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN hiện nay.  Nhân lực Khoa học và Công nghệ: trọng dụng và tôn vinh  Cùng với việc tiếp tục khẳng định Khoa học và Công nghệ (KH&CN) là quốc sách hàng đầu, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa XI đã nhận định “Nhân lực KH&CN là tài nguyên vô giá của đất nước; trí thức KH&CN là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế tri thức”.  Nghị quyết số 27 Hội nghị Trung ương 7 khóa X về trí thức cũng khẳng định: “đầu tư cho nhân lực KH&CN, đãi ngộ người tài là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc”. Đảng và Nhà nước có trách nhiệm và chính sách đặc biệt phát triển, trọng dụng và phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN để KH&CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ 21.  Quan điểm của Đảng ta về nhân lực KH&CN đã được khẳng định ngay từ những năm đầu tiên Việt Nam giành được độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương về trọng dụng nhân tài khoa học, đặc biệt quan tâm tới việc tạo điều kiện và môi trường làm việc tốt nhất cho các nhân tài hoạt động khoa học. Theo Người, phát hiện nhân tài đã khó nhưng việc khó hơn là làm thế nào để đức tài của họ được phát huy cao nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những năm 40-50 của thế kỷ XX, đã có nhiều nhân tài người Việt, khâm phục lý tưởng, hoài bão và nhân cách Hồ Chí Minh, đã từ bỏ cuộc sống giàu sang ở nước ngoài, đi theo Người vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ như Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Tiến sĩ Lương Định Của, nhà văn hóa Phạm Huy Thông… Nhiều người trong số đó sau này đã đảm nhận cương vị chủ chốt về các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa của đất nước và được tôn vinh bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh ngay từ đợt xét tặng đầu tiên cho những công trình khoa học xuất sắc của họ cho đất nước.  Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay, mặc dù các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật luôn quan tâm và đề cao vai trò của nhân tài khoa học, nhưng trên thực tế chúng ta hầu như chưa có chính sách cụ thể nào để thực sự trọng dụng, sử dụng và tôn vinh cán bộ khoa học. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy về chính sách đãi ngộ và trọng dụng cán bộ KH&CN, phải coi đây là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết kịp thời.  Đãi ngộ cần tương xứng với giá trị đóng góp  Một trong những vấn đề các nhà khoa học quan tâm nhất hiện nay chính là việc thiếu các chính sách đãi ngộ gắn với chăm lo bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ trí thức. Không nên quan niệm đãi ngộ giới trí thức giống như các cơ chế, chính sách với người có công hay đối tượng chính sách. Trước khi nghĩ đến đãi ngộ về vật chất, cần tạo điều kiện tốt nhất để nhà khoa học được sáng tạo, cống hiến tài năng, tâm huyết cho đất nước. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế chính sách để nhà khoa học được hưởng thành quả từ lao động sáng tạo, tương xứng với giá trị đóng góp của họ.  Mỗi năm, Nhà nước đầu tư 2% tổng chi ngân sách cho phát triển KH&CN, trong đó gần 90% dành cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên, chỉ còn một khoản kinh phí không lớn cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nếu phân bổ dàn trải như hiện nay sẽ chỉ thu được những công trình không mấy giá trị, thậm chí còn bị “xếp vào ngăn kéo”. Cần thấy rằng nhiều năm qua, việc giao kinh phí nghiên cứu cho các địa phương và các bộ ngành theo kiểu bình quân, dàn trải và không quản lý được hiệu quả đã dẫn tới tình trạng không đủ nguồn lực đầu tư lớn cho những công trình nghiên cứu trọng điểm gắn với nhu cầu thực tiễn, có triển vọng thương mại hóa. Chưa kể cơ chế tài chính chưa phù hợp, đã có những năm số tiền đầu tư cho nghiên cứu khoa học không thể giải ngân hết. Vì vậy, trước hết cần cân đối lại tỷ lệ phân bổ ngân sách, đảm bảo tỷ lệ thích đáng cho nhiệm vụ R&D và tạo điều kiện cho các nhà khoa học được chủ động sử dụng nguồn kinh phí này đi đôi với tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả nghiên cứu, đặc biệt được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả nghiên cứu của họ.  Trong chế độ tiền lương, hiện giới viên chức khoa học đang chịu thiệt thòi là đối tượng làm công ăn lương duy nhất không được hưởng các chế độ phụ cấp đặc thù (phụ cấp nghề, phụ cấp thâm niên…) giống như viên chức của ngành giáo dục, y tế hay các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, tiền lương chỉ là một trong những vấn đề, điều mà các nhà khoa học quan tâm nhiều hơn là điều kiện, môi trường làm việc, tức là họ phải được tin tưởng giao nhiệm vụ, được quyền tự do nghiên cứu và được tạo điều kiện làm việc tốt nhất (như trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, phòng thí nghiệm, thư viện, chủ động trong hợp tác quốc tế, có những đồng nghiệp giỏi cùng chí hướng, được quyền mời chuyên gia trong nước và quốc tế cùng nghiên cứu…). Và để làm việc trong môi trường đó, thì họ cần được quyền tự chủ cao về nhân sự và tài chính khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu như thông lệ ở các nước phát triển.  Nhìn rộng ra các quốc gia khác có thể thấy, bằng việc áp dụng các chính sách ưu đãi trọng dụng cán bộ KH&CN, nhiều quốc gia đã có bước phát triển thần kỳ trong KH&CN cũng như kinh tế. Một ví dụ điển hình là Hàn Quốc, từ đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước đã quyết tâm thực hiện chính sách mời các nhà khoa học Hàn Quốc đang làm việc tại nước ngoài về nước làm việc tại Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST) với chế độ lương cao gấp 3 lần so với các giáo sư trong nước, kèm theo các chế độ đãi ngộ khác về nhà ở, đầu tư cơ sở vật chất. Kết quả là chỉ sau 40 năm Viện KIST đã trở thành 1 trong 10 viện hàng đầu thế giới và Hàn Quốc cũng trở thành quốc gia công nghiệp hóa thành công nhất. Hay như Trung Quốc hiện nay đang cải cách thế chế hóa khoa học và xây dựng hệ thống nhà nước sáng tạo, trong đó tập trung hoàn thiện cơ chế phát triển nhân tài, khuyến khích nhà khoa học tích cực sáng tạo, thu hút các nhà khoa học Hoa kiều về nước làm việc với mức lương cao không kém mức lương của họ ở các nước phát triển… Nhờ đó, đến nay Trung Quốc đã đạt tỷ lệ 43 người làm R&D/1 vạn dân, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới.    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 : cơ hội phát triển mới  Trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cũng nêu rõ, để phát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH từ nay đến năm 2020, con người là nhân tố quyết định. Vấn đề là làm thế nào để con người được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển KH&CN từ nay đến năm 2020.  Trên thực tế đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có chính sách thỏa đáng để đãi ngộ và trọng dụng cán bộ khoa học, chưa thu hút được giới trẻ vào ngành khoa học, đồng nghĩa với việc các cơ quan nghiên cứu không tuyển dụng được người tài. Như vậy, chỉ một vài năm nữa, nếu không có giải pháp hữu hiệu Việt Nam sẽ thiếu hụt trầm trọng đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có trình độ, đồng thời xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám” từ khu vực nhà nước ra doanh nghiệp, ra nước ngoài…  Vấn đề tiếp theo là thời gian từ nay đến 2020 còn rất ngắn, trong khi mục tiêu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại đòi hỏi phải triển khai thành công các chương trình quốc gia về phát triển KH&CN với nhiệm vụ rất nặng nề. Nếu như không kịp thời có chính sách đãi ngộ và trọng dụng nhân tài mang tính đột phá thì không thể có những nhà khoa học đầu ngành, những tập thể khoa học mạnh và chúng ta không thể đạt được mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, sản phẩm công nghệ cao (CNC) và sản phẩm ứng dụng CNC chiếm 40% giá trị sản xuất công nghiệp, Việt Nam có nền KH&CN đạt trình độ những nước dẫn đầu ASEAN…  Nhận thức rõ tầm quan trọng của KH&CN và xuất phát từ tình hình thực tế, vừa qua Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 20 “Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó có những nội dung quan trọng liên quan đến phát triển đội ngũ trí thức :  Thứ nhất là cần “xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ KH&CN; tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để đội ngũ cán bộ KH&CN phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình”.  Thứ hai là “có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao nhiệm vụ chủ trì các nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán bộ KH&CN trẻ tài năng” (mức lương, nhà ở, bổ nhiệm, giao quyền hạn, chế độ tự chủ tài chính…).  Thứ ba là phải “đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ KH&CN. có chính sách tiếp tục sử dụng cán bộ KH&CN trình độ cao đã hết tuổi lao động”. Đồng thời tăng cường bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của tác giả các công trình KH&CN, “hoàn thiện hệ thống chức danh, chức vụ KH&CN. Cải tiến hệ thống giải thưởng KH&CN quốc gia, danh hiệu vinh dự nhà nước cho cán bộ KH&CN ”.  Tập trung ưu đãi 3 nhóm đối tượng chính    Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI, trong Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi), chúng ta cần xây dựng chính sách đãi ngộ một số nhóm đối tượng chính cần được quan tâm đặc biệt, đó là cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao nhiệm vụ chủ trì các nhiệm vụ quan trọng của quốc gia và cán bộ KH&CN trẻ tài năng. Sở dĩ phải tập trung trọng dụng 3 nhóm đối tượng này vì trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, việc đãi ngộ bằng trả lương cao cho tất cả những người làm khoa học là không thể. Chúng ta không chỉ có hơn 6 vạn người làm nghiên cứu chuyên nghiệp, mà hơn 3 triệu người được đào tạo có trình độ đại học đều có khả năng tham gia hoạt động nghiên cứu, và hàng triệu người dân yêu khoa học cũng có cơ hội đóng góp cho khoa học. Vì thế điểm đột phá chính là tạo điều kiện làm việc tốt và môi trường hoạt động khoa học thuận lợi cho giới khoa học, song song với việc trọng dụng và ưu đãi đặc biệt với một số nhóm đối tượng có vai trò tiên phong trong hoạt động khoa học. Cần phải có tư duy mới: Làm thế nào để cán bộ khoa học được sống tốt bằng chính kết quả sáng tạo của mình trong nền kinh tế thị trường, chứ không thể tiếp tục để giới khoa học bị mang tiếng là muốn làm đề tài, dự án để có thu nhập.  Nội hàm của chính sách trọng dụng cán bộ KH&CN, đặc biệt là tiêu chí xác định thế nào là nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học trẻ tài năng sẽ là một vấn đề mà những người làm quản lý KH&CN phải làm rõ. Các nhà khoa học đầu ngành có thể là các chủ nhiệm bộ môn chuyên ngành trong các trường đại học lớn, trưởng phòng thí nghiệm hoặc nhóm nghiên cứu mạnh trong các viện nghiên cứu trọng điểm có nhiều sản phẩm khoa học đạt trình độ quốc tế, các tổng công trình sư giàu kinh nghiệm thực tiễn. Họ cần được ưu đãi về điều kiện làm việc (phòng thí nghiệm, thư viện, internet, phương tiện đi lại…), chế độ lương và phụ cấp xứng đáng, được quyền đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu và chủ trì các nhóm nghiên cứu, tham gia đào tạo đại học và sau đại học, chủ trì các hội nghị khoa học quốc tế, và quan trọng là được giao tự chủ một khoản kinh phí nhất định hàng năm cho hoạt động khoa học của mình (như kinh nghiệm của các nước phát triển).  Còn các nhà khoa học trẻ tài năng là những sinh viên, nghiên cứu sinh giỏi, cán bộ trẻ có kết quả nghiên cứu xuất sắc, giành được các giải thưởng KH&CN trong nước và nước ngoài, có nhiều công trình công bố quốc tế, có phát minh, sáng chế. Nhà nước cần tạo điều kiện cho họ tham gia vào các nhiệm vụ khoa học, được tự chủ một khoản kinh phí nhất định để từ ý tưởng khoa học trở thành một đề tài nghiên cứu đi đến sản phẩm cuối cùng.  Riêng các nhà khoa học được giao nhiệm vụ KH&CN quan trọng của quốc gia thì tiêu chí xác định đơn giản hơn, đó là nhà khoa học được nhà nước giao cho đứng đầu một tập thể nghiên cứu để thực hiện một nhiệm vụ KH&CN có tầm quan trọng đối với an ninh, quốc phòng hoặc phát triển kinh tế, nhằm tạo ra công trình, sản phẩm có giá trị cao theo đặt hàng của nhà nước (ví dụ vắc xin bệnh hiểm nghèo, tên lửa hành trình, vệ tinh viễn thông…). Họ phải có quyền tự chủ cao về tài chính và nhân sự, được chủ động đầu tư trang thiết bị cho phòng thí nghiệm hiện đại hoặc sử dụng miễn phí các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, có thể tiếp cận với mọi nguồn thông tin tư liệu từ các thư viện điện tử, thư viện kỹ thuật quan trọng, được quyền điều động và trả lương theo thỏa thuận cho những nhà khoa học giỏi nhất từ các cơ quan khoa học, thậm chí là thuê chuyên gia nước ngoài tham gia quá trình thực hiện nhiệm vụ. Họ có quyền tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế, mua công nghệ, thuê chuyên gia… bằng nguồn kinh phí được giao tự chủ mà không lệ thuộc vào các thủ tục hành chính.  Bên cạnh đó, phải giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu có nguồn gốc ngân sách nhà nước cho giới khoa học, trước mắt là giao cho cơ quan chủ trì các đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước và tập thể tác giả của đề tài dự án, để họ có quyền chuyển nhượng hoặc góp vốn vào doanh nghiệp, có thể dùng làm vốn để lập doanh nghiệp KH&CN. Và khi giao quyền sở hữu để phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng quy định rõ việc phân chia lợi ích một cách hợp lý giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và nhà khoa học.  Giao biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp cho các trường đại học công nghệ trọng điểm  Luật KH&CN (sửa đổi) lần này cũng đề xuất một vấn đề rất quan trọng, đó là giao các biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp cho các trường đại học công nghệ trọng điểm. Xuất phát từ tình hình thực tế, các trường đại học hầu như chỉ tập trung cho hoạt động đào tạo, còn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thường bị thả nổi mặc dù là một trong hai nhiệm vụ chính trị của cơ sở giáo dục đại học (theo quy định của Luật giáo dục đại học). Vì thế hầu như không gắn kết được giữa nghiên cứu với đào tạo. Nguyên nhân là do tình trạng quá tải trong giảng dạy nên giảng viên không thể bố trí thời gian cho nghiên cứu, kinh phí nghiên cứu cũng eo hẹp nên đề tài nghiên cứu cấp cơ sở có mức kinh phí rất thấp (chỉ vài chục triệu đồng) không đủ để thực hiện đề tài một cách nghiêm túc, và cuối cùng là do các trường đại học không có biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp và không có nguồn kinh phí thường xuyên để chăm lo cho đội ngũ nghiên cứu.  Chính vì vậy, các trường đại học cần có một đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp và cần dành một phần kinh phí sự nghiệp khoa học để hỗ trợ chi thường xuyên và giao đề tài nghiên cứu cho số cán bộ này. Có ý kiến cho rằng số biên chế này sẽ không yên tâm làm nghiên cứu. Tuy nhiên có thể khắc phục tình trạng đó nếu xác định rõ họ vẫn có quyền tham gia vào công tác đào tạo của các trường đại học, nhưng chỉ hạn chế trong việc giảng dạy các chuyên đề cho sinh viên năm cuối hoặc chuyên đề cho học viên cao học hay nghiên cứu sinh.  Ngoài đề xuất giao biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp cho các trường đại học trọng điểm, Bộ KH&CN cũng sẽ hợp tác với Bộ GD&ĐT trong chương trình đào tạo sau đại học dùng ngân sách nhà nước hay hợp tác quốc tế để đào tạo các cán bộ có trình độ cao trong nước hay ở nước ngoài. Đồng thời kiến nghị với Bộ Nội vụ việc bổ nhiệm vào ngạch viên chức nên có những đổi mới để những người có trình độ cao có thể được bổ nhiệm đặc cách hoặc được nâng ngạch, nâng bậc tương xứng với trình độ và đóng góp của họ.  Bên cạnh việc đề xuất có danh hiệu vinh dự Nhà nước cho cán bộ khoa học có những thành tích xuất sắc, cũng cần có hình thức tôn vinh thông qua các giải thưởng về KH&CN cho giới khoa học. Đó phải là hệ thống giải thưởng đa dạng và thiết thực chứ không chỉ là giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước về KH&CN đang được thực hiện 5 năm một lần như hiện nay, mà cần có hệ thống các giải thưởng khác từ cấp cơ sở đến cấp Nhà nước về KH&CN.  Nghị quyết Trung ương 6 đã được ban hành, nhưng việc cần làm ngay hiện nay là phải cụ thể hóa bằng pháp luật và cơ chế chính sách của Nhà nước đối với cán bộ KH&CN. Vấn đề này đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt của các bộ, ngành, địa phương và sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sao cho sớm hình thành được chính sách thực sự trọng dụng và ưu đãi cán bộ KH&CN, chứ không nên chỉ là “trải thảm đỏ” mời họ về và sau đó họ lại lặng lẽ ra đi khi không được tin tưởng giao nhiệm vụ, không được tạo điều kiện làm việc.  Và hơn ai hết, giới khoa học phải tận dụng được vai trò “quốc sách hàng đầu” của KH&CN, làm việc và sáng tạo cho xứng đáng với sự đãi ngộ của Nhà nước, sự quan tâm của Đảng, để tự khẳng định mình và tạo ra được những sản phẩm khoa học ngang tầm khu vực và thế giới, xứng đáng với mong đợi của đất nước và nhân dân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới cơ chế tài chính trong khoa học: Hai giải pháp cơ bản      Sự trì trệ của nền khoa học Việt Nam trong suốt một thời gian dài có phần bắt nguồn từ những bất cập trong quản lý tài chính. Đây vẫn là một trong những tồn tại dai dẳng mà các nhà quản lý chưa giải quyết được triệt để.  &#160;    Vấn đề đổi mới trong cơ chế xét duyệt đề tài và thực hiện khoán kinh phí đã được Hội đồng Chính sách Khoa học Công nghệ Quốc gia đưa ra trong buổi tọa đàm về chính sách tài chính trong KHCN như hai giải pháp cơ bản nhằm góp phần tháo gỡ những vướng mắc trên.  Ít ỏi và rót nhầm chỗ  Tài chính cho hoạt động KHCN, trên lý thuyết đến từ 3 nguồn: Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp. Thống kê cho thấy, tổng đầu tư của 3 nguồn này cho hoạt động nghiên cứu chỉ chiếm chưa đến 1% trên tổng GDP (trong đó từ ngân sách nhà nước là khoảng 0,5% – so với Trung Quốc và Hàn Quốc lần lượt là 2,2% và 4,5% – còn lại đến từ xã hội và doanh nghiệp-cho thấy vai trò mờ nhạt của hai nguồn này).   Tuy nhiên, điều đáng nói là con số 1% không những ít ỏi mà còn bị sử dụng kém hiệu quả, do việc Nhà nước vừa là người xét duyệt vừa là người cấp phát dẫn đến tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi. Hệ quả tiêu cực không tránh khỏi là cơ chế xin cho, trong đó nguy cơ các mối quan hệ cá nhân tác động tới quyết định cấp phát là rất cao.   Ngoài khó khăn về nguồn cung là việc giải ngân nguồn tiền ngân sách Nhà nước gắn liền với những quy định cứng nhắc đòi hỏi tổ chức phải đệ trình dự toán chi tiết kinh phí đề tài. Điều này không phù hợp với thực tế là quá trình nghiên cứu thường kéo dài vài năm (nhất là với những nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp) và đòi hỏi không ít điều chỉnh so với kế hoạch. Như vậy, ngân sách cố định ban đầu phải cắt xén, co kéo để chi cho nhiều hạng mục phát sinh trong thời buổi lạm phát tất yếu sẽ tạo ra những sản phẩm dở dang.   Ông Trương Hữu Trí, Viện trưởng Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp Việt Nam, cho rằng nguồn kinh phí cho công tác nghiên cứu thực chất chảy vào bộ máy hành chính hơn là phân bổ trực tiếp cho những đề tài mới, gây hậu quả là các công trình nghiên cứu không những bị hạn chế về số lượng mà còn yếu kém về chất lượng.           Hiện nay khi có nhiều quĩ mới sắp đi vào hoạt động với vốn điều lệ vô cùng lớn, nếu vẫn duy trì cơ chế “vừa đá bóng vừa thổi còi” thì thất thoát trong việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu là khó tránh khỏi. Bản chất của nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự chính xác và minh bạch, trong khi nguồn chi và cách chi lại không rạch ròi là điều không thể chấp nhận.        Ngoài ra, việc cấp ngân sách còn mang nặng tính hình thức theo kiểu đem con bỏ chợ, cho rằng ngân sách cứ rót xuống là xong mà không quan tâm kết quả đầu ra thế nào. Từ đó xuất hiện tình trạng để đạt được một mục tiêu khoa học đặt ra có rất nhiều đề tài nối đuôi ra đời. Đề tài sau hoặc không tận dụng được kết quả nghiên cứu của đề tài trước, hoặc giẫm chân lên những công đoạn đã được thực hiện, gây lãng phí không chỉ tiền bạc mà còn cả công sức lao động. Theo ông Trương Quang Học (Đại học Quốc gia Hà Nội), tình trạng này giống như việc “đun nước”, đun đi đun lại nước chỉ lục bục mà vẫn chưa sôi.   Ông Nguyễn Minh Hồng, Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông, cho biết việc cho phép chủ nhiệm đề tài quyết định chi lương đã dẫn đến tình trạng chủ nhiệm lạm dụng “ôm” phần lớn công trình, khiến các thành viên khác ngồi không trong tình trạng thiếu thu nhập. Một điều được tọa đàm đặc biệt nhấn mạnh là đồng lương ít ỏi theo biên chế không đủ sống khiến nhiều cán bộ bỏ nghề hoặc không nhiệt huyết công tác. Thực tế trên khiến nhiều người đặt ra câu hỏi tại sao trong ngân sách cấp cho từng đề tài không tính đến mức tiền công lao động phù hợp của các nghiên cứu viên (trong khi điều này đã được thực hiện rất lâu ở trong khu vực và trên thế giới). Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm triệt tiêu động lực của các nhà nghiên cứu.  Đổi mới xét duyệt đề tài  Những bất cập trong cơ chế quản lý và sử dụng tài chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng nền khoa học Việt Nam vẫn ỳ trệ với vô số những kết quả nghiên cứu nửa vời. Vì vậy, các thành viên tham gia tọa đàm đều chung quan điểm cần có sự đổi mới triệt để một cách toàn diện có đồng bộ từ cấp quản lý nhà nước, bắt đầu là khâu quản lý xây dựng đề tài.  Theo ông Trương Quang Học, hiện nay các nhiệm vụ khoa học thường xuất phát từ ý muốn chủ quan của những nhà khoa học mà không đi từ nhu cầu thực tế của đời sống. Với những kết quả nghiên cứu ít giá trị từ những công trình như vậy, nguồn tài chính dù có dồi dào đến mấy, sử dụng có hợp lí đến mấy, cũng không thể coi là đã phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu. Vì vậy cần có sự tăng cường sự bắt tay chặt chẽ giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp sản xuất, để từ đó các nhà khoa học tự xác định được các đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong đời sống hằng ngày, bên cạnh những nhiệm vụ lớn, mang tầm quốc gia do nhà nước giao xuống cơ sở.   Ngoài ra, khâu tiến hành lựa chọn đề tài cũng cần nghiêm túc và minh bạch. Điều này thực sự khó khăn bởi hiện nay, việc lựa chọn đề tài ở Việt Nam thường được tiến hành bởi các hội đồng khoa học không thực sự đảm bảo về chất lượng chuyên môn cũng như tính khách quan trong đánh giá.   Trông chờ cơ chế khoán  Cơ chế “khoán” được đa số đại biểu nêu ra như một bước đi căn bản trong việc cải thiện hoạt động tài chính cho các tổ chức nghiên cứu. Lập luận cho rằng sản phẩm đầu ra cuối cùng là quan trọng nhất, là thước đo cho hiệu quả của công trình khoa học, nên có thể lược bỏ bớt những khâu trung gian nhằm tiết kiệm thời gian và công sức nhận được nhiều sự ủng hộ. Việc đơn giản hóa này sẽ khiến các thủ tục hành chính như hóa đơn, xin xác nhận… ở khâu thanh quyết toán vốn khiến nhiều nhà khoa học không thể tập trung toàn bộ cho công tác chuyên môn, được loại bỏ. Cơ chế khoán nêu trên cũng là công cụ giúp các nhà nghiên cứu lập dự phòng tài chính cho đề tài của mình để đối phó với trượt giá. Mặt khác, nó cũng góp phần đưa dự chi thù lao phù hợp cho cán bộ nghiên cứu vào ngân sách, phần nào giảm nhẹ gánh nặng về áp lực thu nhập.   Tuy nhiên, để đảm bảo cơ chế khoán hoạt động hiệu quả không hề dễ dàng. Nó đòi hỏi khâu quản lý kết quả sản phẩm đầu ra vô cùng nghiêm ngặt. Nếu không, vô hình trung lại trở thành lãng phí và bị lợi dụng, trong bối cảnh cơ chế nghiệm thu phản biện khoa học ở Việt Nam bị không ít những phê phán những năm gần đây.   Mặc dù vậy, về cơ bản các đại biểu đều đồng tình là cần thực hiện khoán, trước tiên là thí điểm, nếu mô hình thành công thì sẽ nhân rộng. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự đồng thuận là nên khoán theo hình thức nào – khoán trắng hay khoán theo tỉ lệ – và nếu khoán cho cán bộ nghiên cứu nhưng kết quả không hoàn thành thì có phải hoàn thu phần nào không, nếu có thì thế nào v.v.  Các đại biểu cũng cho rằng cần phải tách bạch giữa quản lý chính sách và tài chính để tránh tình trạng xin-cho. Hiện nay khi có nhiều quĩ mới sắp đi vào hoạt động với vốn điều lệ vô cùng lớn, nếu vẫn duy trì cơ chế “vừa đá bóng vừa thổi còi” thì thất thoát trong việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu là khó tránh khỏi. Bản chất của nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự chính xác và minh bạch, trong khi nguồn chi và cách chi lại không rạch ròi là điều không thể chấp nhận.   Thanh Hiền  (tường thuật)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới cơ chế tài chính và có chính sách trọng dụng nhà khoa học      Nhân dịp ông Nguyễn Quân, UVTW Đảng, Thứ trưởng thường trực Bộ KH&amp;CN được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN, nhóm phóng viên Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với ông về một số vấn đề liên quan đến hoạt động KHCN trong nước, và một số chính sách, giải pháp cần và sẽ được Bộ KH&amp;CN triển khai trong thời gian tới.    Trong những năm gần đây, cùng với việc Nhà nước tăng ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, và đổi mới cơ chế quản lý khoa học. Nhưng dường như KHCN vẫn chưa tạo được nhiều chuyển biến tích cực. Theo Bộ trưởng đâu là nguyên nhân?   Đúng là cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tạo ra được sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động nghiên cứu KH&CN. Trong khi đó, đòi hỏi đổi mới, nâng cấp trình độ khoa học công nghệ của đất nước đang rất lớn để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội một cách thực chất và bền vững, trong bối cảnh lạm phát cao, nhập siêu tăng mạnh, năng suất thấp, sản xuất đình đốn, đời sống còn rất nhiều khó khăn.          Mức đầu tư cho khoa học công nghệ tính trên đầu người ở Việt Nam khoảng 6 -7 USD/năm, quá thấp nếu so với những nước như Hàn Quốc, với mức chi hằng năm cho đầu tư khoa học công nghệ khoảng 1.000 USD/năm.        Nguyên nhân gây trì trệ trong hoạt động khoa học công nghệ thì có nhiều, nhưng trước hết phải kể đến việc đầu tư cho khoa học công nghệ chưa cao.   Tỷ lệ đầu tư cho khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước tính trên GDP của Việt Nam là 0,5%, không thấp so với thế giới. Nhưng mức đầu tư của xã hội và doanh nghiệp ngoài Nhà nước cho khoa học công nghệ còn rất thấp, khoảng 0,3-0,4% GDP. Như vậy, tổng đầu tư của Việt Nam cho khoa học công nghệ hằng năm vẫn dưới 1% GDP. Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc năm 2010 là 2,2% GDP, của Hàn Quốc là 4,5% GDP. Nếu tới năm 2020, tổng mức đầu tư cho khoa học công nghệ của Việt Nam không đạt 2% GDP, thì rất khó để chúng ta thành công trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.       Hiện chúng ta có không ít tập đoàn và gần 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng vì sao tổng vốn đầu tư đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp này lại thấp như vậy?   Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ, mà thực chất là nhỏ và siêu nhỏ, nên thiếu kinh nghiệm và những nguồn lực cần thiết để đầu tư cải tiến công nghệ.    Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, Luật Thuế doanh nghiệp quy định cho phép ưu đãi doanh nghiệp được huy động tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư phát triển công nghệ. Nếu các doanh nghiệp tận dụng tối đa ưu đãi này thì tổng mức đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ rất đáng kể (theo tính toán của Bộ Tài chính năm 2007, nếu các doanh nghiệp VN đều trích 10% lợi nhuận trước thuế đầu tư đổi mới công nghệ thì sẽ có 13.500 tỷ đồng, cao gấp đôi con số đầu tư cho khoa học công nghệ từ Ngân sách Nhà nước). Tuy nhiên, luật không bắt buộc doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ mà chỉ mang tính chất khuyến khích, nên hiệu quả của chính sách này rất thấp.   Bên cạnh đó, giữa doanh nghiệp và nhà khoa học, các viện nghiên cứu, còn rất thiếu sự gắn kết, và thiếu cả những tổ chức trung gian hỗ trợ cung – cầu để hình thành thị trường công nghệ.     Nhiều nhà khoa học cho rằng trong khi đầu tư cho khoa học công nghệ còn hạn chế, thì việc sử dụng đồng tiền từ ngân sách Nhà nước lại chưa thật hiệu quả, mà một trong những nguyên nhân chính là do cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ vẫn còn nhiều bất cập. Ý kiến của Bộ trưởng?   Chúng ta vẫn đang áp dụng cơ chế tài chính mang nặng tính hành chính khi đầu tư vào khoa học công nghệ. Những quy định hiện hành về sử dụng Ngân sách Nhà nước khi áp dụng vào chi cho khoa học công nghệ bị trở thành cứng nhắc, không gắn với hiệu quả nghiên cứu, và không thể hiện một tầm nhìn xa của một khoản đầu tư mang tính đi trước vì những giá trị kinh tế xã hội lâu dài. Vẫn cứ phải lập kế hoạch ứng dụng công nghệ từ trước một năm rưỡi để được phê duyệt nửa năm trước khi đi vào thực hiện. Trong khi mỗi năm một doanh nghiệp có thể thay đổi, nâng cấp sản phẩm công nghệ đến vài ba lần. Bởi vậy khi kế hoạch đi vào thực hiện thì đã có nhiều vấn đề trở nên không còn thiết thực hoặc lạc hậu.    Tầm nhìn chưa xa nên các chính sách quản lý của chúng ta có khi còn manh mún, tự mâu thuẫn. Chẳng hạn như Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích doanh nghiệp trích nhiều hơn 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho khoa học công nghệ vì sợ thất thu thuế trước mắt. Trong khi đó, tiền từ Ngân sách Nhà nước vẫn đang lãng phí khi rót đều đặn cho những cơ sở khoa học công lập kém hiệu quả, ít cho ra sản phẩm hữu ích.     Vậy cơ chế tài chính cần được đổi mới như thế nào?   Đổi mới cơ chế tài chính cần dựa trên hai nguyên tắc: Đổi mới cơ chế đầu tư, huy động được vốn đầu tư từ các doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân trong xã hội cùng với sự đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát huy các thế mạnh và ưu tiên tính hiệu quả, không trải mành mành; đổi mới quản lý và kế hoạch sử dụng kinh phí sang phi hành chính hóa, giao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà khoa học và đặt mục tiêu là sản phẩm cuối cùng.    Những người quản lý ngân sách Nhà nước đầu tư cho khoa học phải đứng trên quan điểm nhà đầu tư, lĩnh vực nào, nơi nào có khả năng đem lại lợi nhuận hoặc giá trị gia tăng cho xã hội thì nên ưu tiên mạnh dạn bỏ vốn vào, dù đó là cơ sở nghiên cứu công lập hay của tư nhân. Khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, chúng ta chỉ bỏ ra vài chục tỷ đồng để nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân là Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung làm cần cẩu siêu trọng, hệ thống xi-lanh thủy lực, thi công đắp đập bằng công nghệ đầm lăn, làm cần cẩu chân lệch lắp toàn bộ các cửa van để tích nước khi đập chắn còn chưa hoàn thành… nhờ đó giúp công trình phát điện sớm hai năm mang lại hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách, chưa kể đến những lợi ích kinh tế xã hội khác, là một ví dụ điển hình.    Gần đây Chính phủ đã cho phép Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thí điểm đổi mới cơ chế tài chính trong nghiên cứu theo hướng khoán sản phẩm cuối cùng trong ba năm. Bộ trưởng đánh giá ra sao về hướng đi này?    Theo mô hình thí điểm, Nhà nước mua sản phẩm khoa học và ứng trước tiền, quá trình thực hiện theo cơ chế khoán,  quyết toán theo sản phẩm cuối cùng, không đòi hỏi như hiện nay dự toán như thế nào thì phải thực hiện đúng như thế, nếu sai phải xuất toán. Hình thức là ký hợp đồng thỏa thuận, nếu không hoàn thành hoặc sản phẩm đặt hàng không đạt yêu cầu thì phải thu hồi tối thiếu 30% vốn đầu tư.   Tuy nhiên, đến giờ cơ chế này vẫn chưa hoàn tất mặc dù tư tưởng của nó rất tiến bộ. Vì yếu tố cần thiết để thành công là cùng với một cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù nghiên cứu khoa học, phải có những hội đồng khoa học đủ năng lực làm tốt việc xét duyệt thẩm định kinh phí của đề tài và nghiệm thu sản phẩm, điều chúng ta còn đang rất thiếu hiện nay.     Ngoài cải thiện mức đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính, thì chúng ta cần làm gì để nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình, dự án nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước?   Để tổ chức thực hiện tốt các chương trình quốc gia đã và sắp được Thủ tướng phê duyệt, chúng ta cần tập trung các nguồn lực còn hữu hạn vào một số lĩnh vực chọn lọc có tiềm năng thay vì dàn trải, xây dựng những mô hình thành công điển hình để nhân rộng, tạo tác động lan tỏa.    Chẳng hạn như với Chương trình phát triển công nghệ cao, tập trung vào công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, là những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh và không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn; với Chương trình sản phẩm quốc gia, đầu tư nghiên cứu những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và giá trị xuất khẩu lớn, hoặc thay thế nhập khẩu như cần cẩu siêu trường siêu trọng phục vụ ngành đóng tàu và xây dựng thủy điện; một số giống lúa năng suất cao, kháng được sâu bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu; một số loại vaccine cho người và cho gia súc, gia cầm; làm chủ công nghệ thiết kế và xây dựng cầu lớn và hầm; ngoài ra cũng chú trọng một số sản phẩm điện tử công nghệ cao như màn hình tinh thể lỏng và chip điều khiển là những sản phẩm hiện giờ đang phải nhập khẩu nhiều…    Theo Bộ trưởng, để phát huy tối đa tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các nhà khoa học trong việc thực hiện các chương trình kể trên, cần có những giải pháp nào?    Theo tôi, cần tiếp tục thực hiện thành công Nghị định 115/2005/NĐ-CP, hướng tới giao quyền tự chủ cao nhất và triệt để cho các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ công lập.    Hiện nay, về cơ bản, các cơ sở nghiên cứu khoa học đã được tự chủ, nhưng quyền tự chủ quan trọng nhất họ lại chưa thực sự có là tự chủ về tài chính. Vốn quan trọng nhất của các nhà khoa học Việt Nam hiện có là chất xám, họ cần được hỗ trợ nguồn lực tài chính, hoặc có các cơ chế cần thiết để chuyển đổi chất xám thành nguồn lực tài chính. Hiện nay các tổ chức KH&CN chưa được trao quyền tự chủ đối với tài sản (đất đai, máy móc, thiết bị), vì vậy không thể cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn hoặc trực tiếp đem ra sản xuất kinh doanh. Có những máy móc đắt tiền mua về đắp chiếu, trong khi chúng hoàn toàn có thể trở nên hữu ích nếu các tổ chức nghiên cứu có quyền tự do sử dụng khai thác kể cả sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh.    Một bất cập khác là chưa có cơ chế giao quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với các tài sản trí tuệ có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước cho tổ chức KH&CN hoặc cá nhân nhà khoa học là tác giả của kết quả nghiên cứu. Sẽ tốt hơn cho lợi ích nhà khoa học, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích Nhà nước và quốc gia nếu như các tổ chức khoa học hoặc nhà nghiên cứu được quyền đem tài sản trí tuệ để chuyển nhượng hoặc góp vốn vào doanh nghiệp, và có lộ trình hoàn vốn đầu tư ban đầu cho Nhà nước, để rồi sau khi hoàn vốn thì toàn bộ lợi nhuận được thuộc về họ.   Được biết là Bộ KH&CN cách đây vài năm đã trình Chính phủ đề án về chính sách đãi ngộ và trọng dụng cán bộ nghiên cứu khoa học. Xin Bộ trưởng cho biết vì sao đến nay đề án vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt?   Hiện nay, giới khoa học đang chịu thiệt thòi nhiều nhất trong những người làm công ăn lương. Họ không có chế độ đãi ngộ, phụ cấp hoặc các danh hiệu tôn vinh như ngành giáo dục (là ngành có phụ cấp nghề, phụ cấp thâm niên, danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân) hay các ngành thanh tra, kiểm toán, thuế, hải quan… đều có phụ cấp nghề hoặc/và phụ cấp thâm niên.   Chính sách trọng dụng và sử dụng cán bộ KH&CN đã được Bộ KH&CN xây dựng và trình vài lần trong 5-6 năm qua với tinh thần là trong khi chưa có chế độ lương và thu nhập thỏa đáng cho các nhà khoa học, cần giải quyết chế độ đãi ngộ xứng đáng cho một số ít người được giao nhiệm vụ quốc gia và những nhà khoa học trẻ tài năng. Đề án này cho đến nay vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt vì chưa nhận được sự đồng thuận của một số bộ, ngành… Có ý kiến cho rằng ưu đãi cao như vậy là không công bằng trong hệ thống chính trị, cũng có ý kiến lo lắng chính sách đó sẽ bị lợi dụng gây lãng phí và thất thoát ngân sách Nhà nước, có ý kiến lại băn khoăn về cách thức xác định ai là người thực sự có tài năng, ai sẽ được giao nhiệm vụ quốc gia… Thậm chí có ý kiến cho rằng chúng ta còn đang ở trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển thì không nên đầu tư cho nghiên cứu, cứ nhập khẩu công nghệ và ứng dụng tốt là được rồi. Tôi cho rằng các ý kiến đó đều không tích cực. Bởi không phải lúc nào chúng ta cũng mua được công nghệ cần thiết dù có đủ tiền; đồng thời bất kỳ quốc gia nào cũng phải có khả năng tự chủ một số công nghệ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng.    Việc triển khai thành công chiến lược khoa học công nghệ đến năm 2020 đòi hỏi có những mục tiêu và chỉ tiêu thật cụ thể. Đồng thời cần một hệ thống thống kê để theo dõi, đánh giá khách quan tình hình thực hiện các chỉ tiêu này. Xin Bộ trưởng cho biết về thực trạng hệ thống thống kê khoa học ở Việt Nam và tình hình phát triển hệ thống này trong thời gian tới?   Thống kê KH&CN hiện nay là rất yếu. Ví dụ, không ai có thể nói một cách chính xác chúng ta đang có bao nhiêu người trình độ tiến sĩ, thạc sĩ làm việc trong hệ thống KH&CN, bao nhiêu công trình được công bố trong nước và quốc tế hằng năm, tình hình sử dụng ngân sách KH&CN hằng năm như thế nào… Vì thế không ít chương trình, kế hoạch, đề án KH&CN được xây dựng chủ yếu theo kinh nghiệm và định tính như người ta thường nói là “bốc thuốc”.   Nhận thức được tầm quan trọng của thống kê, Bộ KH&CN đã nâng cấp Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia thành Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, có chức năng quản lý Nhà nước về thống kê KH&CN. Đồng thời Bộ cũng yêu cầu các đơn vị khác trong Bộ phải tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu về chuyên gia khoa học, tổ chức KH&CN, các nhiệm vụ KH&CN các cấp, các doanh nghiệp KH&CN,… Hy vọng sau một thời gian, chúng ta sẽ có đủ số liệu thống kê cần thiết để xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch một cách khoa học và thực tiễn.    Gần đây, Bộ trưởng đưa ra ý tưởng “xây dựng một bảo tàng khoa học nhằm nuôi dưỡng sự đam mê khoa học ở thế hệ trẻ”. Vậy chúng ta cần làm gì để hiện thực hóa thành công ý tưởng này?   Bảo tàng khoa học là một công trình có ý nghĩa, giúp nâng cao dân trí, nuôi dưỡng tình yêu khoa học cho thế hệ trẻ. Về lâu dài, bảo tàng khoa học cũng là một di sản, giúp khẳng định tầm văn hóa, không chỉ của một thành phố, mà của cả một đất nước. Vì vậy cần có sự quan tâm của Chính phủ, sự phối hợp nhất trí của các cơ quan chức năng, để việc xây dựng bảo tàng khoa học sớm được nằm trong một quy hoạch tổng thể chi tiết và đồng bộ của hệ thống bảo tàng cả nước, đảm bảo được tính hiệu quả vì lợi ích sử dụng của nhân dân, đồng thời đáp ứng các tiêu chí không thể thiếu về tính khoa học và văn hóa. Từ đó chúng ta mới có thể tính tới một lộ trình triển khai thực hiện thật cụ thể.      Bộ trưởng mong muốn điều gì nhất trong nhiệm kỳ của mình?   Một nhiệm kỳ là quá ngắn ngủi để làm được một việc gì to tát, nhưng tôi sẽ cố gắng cùng với các bộ ngành làm hai việc: xây dựng được cơ chế tài chính thông thoáng, lành mạnh phù hợp với tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu, phục vụ tốt những người làm khoa học. Sau nữa, xây dựng được hệ thống chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học, để những người có tài năng, các tổng công trình sư có đủ điều kiện cống hiến trí tuệ của họ cho đất nước.     Và đối với Tia Sáng?   Tia Sáng cần tiếp tục phát huy thế mạnh của mình là một diễn đàn có uy tín của giới trí thức, có nhiều hơn những ý kiến khách quan, trung thực, sâu sắc, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển khoa học và kinh tế, xã hội của đất nước.       Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.                                                            Chúng ta cần làm gì để khắc phục tình trạng nhập siêu công nghệ thấp từ Trung Quốc?   Chúng ta có thể hạn chế một phần nhập siêu công nghệ thấp của Trung Quốc qua hình thức gia tăng hàng rào kỹ thuật (như khẳng định mới đây của Bộ trưởng Bộ Công thương). Qua đó sẽ giúp hạn chế bớt những sản phẩm không cần thiết, kém chất lượng, thậm chí độc hại. Trong vấn đề này, Bộ Khoa học Công nghệ sẽ tiếp tục chủ trì xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng danh mục các sản phẩm mất an toàn (nhóm 2). Tuy nhiên, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ ngành để tăng cường rà soát, kiểm tra chất lượng sản phẩm trên thị trường cũng như tại các cửa khẩu, để đảm bảo rằng những tiêu chuẩn chất lượng và an toàn này được tuân thủ thực hiện.   Mặt khác, không thể lạm dụng hàng rào kỹ thuật vì khó người thì lại càng khó ta. Hai bên cùng dựng hàng rào kỹ thuật quá cao sẽ làm hạn chế khả năng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là khi chúng ta đang ở trình độ công nghệ thấp hơn, nhiều sản phẩm của ta có chất lượng thấp hơn của nước ngoài. Vì vậy, giải pháp bền vững lâu dài nhất vẫn là tập trung đầu tư cải thiện trình độ công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm trong nước.   Cũng liên quan tới vấn đề nhập siêu, chúng ta cần đặc biệt lưu tâm tới nạn nhập khẩu công nghệ chất lượng thấp qua các dự án đầu tư. Nhiều dự án chưa được các cơ quan quản lý thẩm định đến nơi đến chốn, kể cả những công tác thẩm định cơ bản như đánh giá tác động môi trường. Việc tham khảo ý kiến nhà khoa học để thẩm định công nghệ lại càng sơ sài, thường chỉ khi có hậu quả mới huy động đến sự tham gia của họ. Ngay cả nếu có cơ chế hội đồng thẩm định chất lượng công nghệ thì cũng không hẳn đã hiệu quả vì trong nhiều lĩnh vực chúng ta còn rất thiếu những chuyên gia có đủ trình độ và kinh nghiệm cần thiết. Thiếu người đứng mũi chịu sào nên hội đồng cũng thường là đánh đồng trách nhiệm, không ai phải chịu trách nhiệm đến cùng. Đối tác nước ngoài hiểu rất rõ những yếu điểm đó của chúng ta và biết cách lợi dụng chúng triệt để.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới hệ thống nghiên cứu và quản lý KHCN      Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng hoạt động KH&amp;CN của  Việt Nam chưa hiệu quả so với tiềm năng, nhưng ít  được đề cập  – đó là bản thân nhà khoa học và hệ thống tổ chức nghiên cứu KHCN còn yếu kém.    Trước thực trạng hoạt động KHCN của Việt Nam chưa thực sự hiệu quả so với tiềm năng, ngoài nguyên nhân được nhiều người đề cập là do cơ chế tài chính còn nhiều bất cập, đầu tư cho KHCN còn quá khiêm tốn, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, mức lương cho cán bộ KHCN, được coi như vốn đầu tư cho KHCN nhưng còn quá thấp không đủ sống, không đảm bảo cho bất kỳ nhà khoa học chân chính nào có thể yên tâm để làm việc và sáng tạo, theo tôi, còn có hai yếu tố cơ bản nhưng ít được đề cập đến. Đó là bản thân nhà khoa học và Hệ thống tổ chức nghiên cứu KHCN còn yếu kém.  Trong khi ở hầu hết các nước, một nhà khoa học có khả năng độc lập nghiên cứu thường phải tốt nghiệp tiến sĩ và có thời gian hai năm hậu tiến sĩ (postdoc), mới đạt chuẩn tối thiểu để tuyển chọn vào các vị trí nghiên cứu, thì ở ta một sinh viên mới tốt nghiệp đại học có thể được tuyển vào biên chế của một viện và nghiễm nhiên trở thành một cán bộ nghiên cứu. Ở ta, số nhà khoa học thuộc dạng này lại chiếm tới 70% lực lượng cán bộ nghiên cứu, và họ thực sự trở thành lực cản đối với những nhà khoa học có khả năng thật sự; đồng thời, điều quan trọng hơn là ngay cả những nhà khoa học đạt chuẩn quốc tế cũng rất ít nhà khoa học có được bản lĩnh dấn thân trong nghiên cứu; Hệ thống tổ chức KHCN với các Viện nghiên cứu đông đảo, cơ chế vận hành nặng về hành chính cứng nhắc, cào đều, không gắn kết với giáo dục đào tạo; việc xét duyệt, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu, nhất là trong nghiên cứu triển khai còn thiếu công khai minh bạch.  Vì vậy để nâng cao chất lượng hoạt động KHCN trước hết cần:  Tổ chức lại hệ thống nghiên cứu KHCN: Tổ chức nghiên cứu theo mô hình tiên tiến ở Mỹ và châu Âu, theo đó tổ chức các Viện Nghiên cứu thuộc các trường đại học hoặc các Trung tâm nghiên cứu KHCN. Mỗi Viện nghiên cứu gồm một số Phòng, Ban nghiên cứu (Department), mỗi Phòng nghiên cứu bao gồm một số phòng thí nghiệm cùng chuyên ngành nhưng theo các hướng nghiên cứu khác nhau. Mỗi phòng thí nghiệm do một nhà khoa học đủ trình độ và năng lực quốc tế đứng đầu. Có thể mời các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài hoặc chuyên gia quốc tế đảm nhiệm. Hệ thống các phòng thí nghiệm đạt chuẩn (Key Laboratory) được đầu tư đồng bộ từ con người đến cơ sở vật chất chính là hệ thống nòng cốt cho mạng lưới tổ chức hoạt động KHCN. Mỗi phòng thí nghiệm là một tập thể KH mạnh gồm 3-5 nhà khoa học thuộc diện cứng (permanent staff) và một số cán bộ được Trưởng phòng thí nghiệm tuyển chọn theo nhu cầu và đáp ứng được yêu cầu đề tài, trong đó dành các vị trí postdoc, và nghiên cứu sinh cho những người Việt Nam và quốc tế có phẩm chất và năng lực để thực thi đề tài. Thành lập các Hội đồng thẩm định tổ chức đấu thầu cạnh tranh và bổ nhiệm những người xứng đáng đứng đầu các Viện nghiên cứu và các trưởng phòng thí nghiệm. Trên cơ sở đó, đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ cho các Phòng thí nghiệm (thường khoảng trên dưới 1 triệu USD cho một phòng thí nghiệm nghiên cứu thực nghiệm).  Sắp xếp lại đội ngũ nghiên cứu KHCN: Cần phân loại và sắp xếp lại đội ngũ nghiên cứu KHCN, qua đó mạnh dạn đưa ra khỏi biên chế khoảng 70-75% số người hiện đang trong biên chế cứng hoặc hợp đồng dài hạn, chỉ giữ lại một bộ khung nghiên cứu nòng cốt gồm các nhà khoa học có trình độ và năng lực thật sự (tương đương chuẩn của nghiên cứu viên chính hoặc phó giáo sư trở lên). Ngoài đầu tư cơ sở vật chất, cần có mức lương bảo đảm cho đội ngũ này yên tâm làm việc. Số người dôi ra vẫn hưởng lương như cũ trong thời gian 1-2 năm cho đến khi tìm việc mới.   Chuyển tất cả các Chương trình KHCN trọng điểm sang mô hình Quỹ KHCN quốc gia: Thành lập các Hội đồng xứng tâm và tầm để thẩm định, xét duyệt, đánh giá đề tài theo thông lệ quốc tế.  Định kỳ đánh giá hiệu quả nghiên cứu: Đối với nhà khoa học cần được đánh giá hằng năm hoặc theo tiến độ đề tài, còn đối với các tổ chức KHCN, định kỳ 5 năm thành lập các Hội đồng thẩm định, đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học của các Phòng thí nghiệm, Viện nghiên cứu theo các tiêu chí quốc tế, thậm chí có thể mời cả chuyên gia tư vấn quốc tế tham gia các Hội đồng thẩm định, trên cơ sở thu hút nguồn kinh phí, kết quả nghiên cứu, đào tạo, khả năng phát triển, ảnh hưởng đối với cộng đồng xã hội.  —  * Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới khoa học và công nghệ từ chính sách ưu tiên tài trợ công      Mặc dù Mỹ phải đối mặt với nguy cơ cắt giảm tài trợ nhưng Tổng thống Mỹ Joe Biden đã nêu ra các ưu tiên tài trợ công nhằm đổi mới khoa học và công nghệ, hướng tới mục tiêu cạnh tranh với Trung Quốc và các khu vực khác của châu Á.    Kế hoạch ngân sách của ông Biden chưa đầy đủ chi tiết, nhưng có thể thấy ông đang ưu tiên một số đơn vị như Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) – nơi tài trợ cho khoảng một phần tư nghiên cứu học thuật của Mỹ – được cam kết tăng ngân sách gần 19%. Theo đó, NSF sẽ nhận được 11,3 tỷ USD – gồm 2 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và điện toán lượng tử; 1,8 tỷ USD cho các chương trình nhằm mở rộng và đa dạng hóa lực lượng lao động khoa học; và 1,2 tỷ USD để giúp đưa những đổi mới từ phòng thí nghiệm ra thị trường.        Dù vậy, số tiền thực tế được chuyển đến các cơ quan liên bang trong năm tài chính 2024, bắt đầu vào ngày 1/10 năm nay, vẫn sẽ do Quốc hội Mỹ quyết định.    Nhiều yêu cầu ngân sách của ông Biden cho thấy chính quyền của ông mong muốn đảm bảo Mỹ duy trì khả năng cạnh tranh với Trung Quốc, nước đã đầu tư rất nhiều vào nghiên cứu và phát triển, và các quốc gia công nghệ cao khác.    Một lĩnh vực khác mà Mỹ đang cố gắng đi trước Trung Quốc là thám hiểm không gian. NASA sẽ nhận được 8,1 tỷ USD cho chương trình Artemis, chương trình đang phát triển một loạt tên lửa và tàu vũ trụ để đưa các phi hành gia trở lại bề mặt Mặt trăng. Nếu được chấp thuận, ngân sách cơ quan này sẽ được tăng 500 triệu USD, tương đương tăng 6,6% so với năm ngoái. NASA đặt mục tiêu đưa người lên Mặt trăng sớm nhất là vào năm 2025.    Ngoài tập trung vào đảm bảo khả năng cạnh tranh của Mỹ, đề xuất ngân sách của Biden cũng dựa trên các bài học rút ra từ đại dịch COVID-19 để đầu tư vào khả năng phòng vệ trước những đợt bùng phát dịch bệnh trong tương lai.    Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), từng tuyên bố sẽ cải tổ cấu trúc và quy trình hoạt động, được ông Biden yêu cầu tăng 2,3 tỷ USD tài trợ, tương đương tăng 26%.    Kế hoạch ngân sách cũng kêu gọi dành 20 tỷ USD trong 5 năm để chuẩn bị cho đại dịch. Hơn một nửa số tiền này sẽ được chuyển đến Cơ quan Quản lý Chuẩn bị và Ứng phó Chiến lược, vốn chịu trách nhiệm giải quyết các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng và duy trì kho dự trữ vaccine và phương pháp điều trị của Mỹ.    Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) có thể nhận được 2,7 tỷ USD trong khoản này. Nhưng nhà tài trợ lớn nhất thế giới cho nghiên cứu y sinh này sẽ chỉ được tăng ngân sách khoảng 1,9% theo yêu cầu của Biden. Giới khoa học tỏ ra khá thất vọng về mức tăng dành cho NIH bởi họ cho rằng số tiền này không đủ để NIH đầu tư vào nghiên cứu cơ bản.    Ông Biden có kế hoạch đầu tư khoảng 16,5 tỷ USD cho khoa học khí hậu và đổi mới năng lượng, dành cho nhiều cơ quan.    4 tỷ USD khác sẽ dành cho các công nghệ “đột phá” có thể giúp giảm phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực xây dựng, hàng không, sản xuất và năng lượng nhiệt hạch. Phần lớn số tiền này sẽ đi về Văn phòng Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ. Cơ quan này được tăng gần 9% ngân sách theo kế hoạch mới.    Ngoài ra, ông Biden yêu cầu cung cấp 24 tỷ USD để giúp các cộng đồng trong nước Mỹ chuẩn bị cho các tác động ngày càng tăng của biến đổi khí hậu và 7 tỷ USD khác để giúp các cộng đồng phụ thuộc vào khai thác dầu, khí đốt và than đá chuyển đổi sang năng lượng sạch.    Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ được đề xuất tăng gần 19% ngân sách, lên 12,1 tỷ USD.    Nhìn chung, ngân sách đề xuất của ông Biden được giới khoa học đánh giá là phản ánh các ưu tiên của Đảng Dân chủ và nhấn mạnh khoa học ứng dụng trong việc giải quyết các thách thức quốc gia và toàn cầu.    Ngô Thành    Author                .        
__label__tiasang Đổi mới quan điểm và phương pháp xây dựng kế hoạch KH&CN      Trong bài phát biểu tại Hội nghị tập huấn công tác kế hoạch vừa qua, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đã đề cập đến một số quan điểm nguyên tắc và biện pháp tổ chức trong đổi mới công tác kế hoạch của Bộ KH&amp;CN.  Tia Sáng lược trích một số nội dung chính của bài phát biểu đó với tiêu đề do Tia Sáng đặt.            Nói một cách khái quát, nhiều năm trước, chúng ta làm kế hoạch KH&CN theo cách “từ dưới lên”, bây giờ cần ngược lại – làm “từ trên xuống”.        Trong nhiều năm qua, tính khả thi của kế hoạch KH&CN của chúng ta còn thấp do nhiều nguyên nhân. Trước hết là do chúng ta, từ người lãnh đạo đến cấp chuyên viên, nhận thức không thật đầy đủ vai trò quan trọng của công tác kế hoạch KH&CN, chưa thực sự đầu tư công sức vào công việc này; mặt khác, hầu hết chúng ta chưa được đào tạo một cách bài bản về công tác xây dựng kế hoạch, nên chỉ làm theo cảm tính, kinh nghiệm. Về khách quan, do mấy chục năm qua, với cách làm kế hoạch theo cơ chế kế hoạch hóa, hành chính hóa, đã hình thành nếp làm kế hoạch một cách định tính, năm nào cũng như năm nào, cứ cộng thêm mấy phần trăm vào kế hoạch năm trước là thành kế hoạch năm sau, không xuất phát từ thực tiễn, từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội, từ đánh giá kết quả của các chương trình, dự án đầu tư các năm trước… Cứ làm đại khái như vậy, được cấp bao nhiêu làm bấy nhiêu, không có tầm nhìn dài hạn.   Chính cách làm kế hoạch KH&CN như vậy là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động KH&CN của chúng ta không tương xứng với ngân sách nhà nước đã đầu tư.   Căn cứ cơ bản để xây dựng kế hoạch KH&CN  Hàng chục năm nay, hằng năm Quốc hội và Chính phủ dành 2% ngân sách nhà nước cho KH&CN. Nhưng thực sự được cấp bao nhiêu Bộ KH&CN không được tham gia vào quá trình quyết định. Và từ “cái bánh ngân sách” được cấp ấy, Bộ KH&CN bắt đầu “chia” theo kinh nghiệm và thông lệ, không có tiêu chí, quan điểm nhất quán. Giờ đây, chúng ta phải thực hiện bằng được điều đã được quy định trong Luật KH&CN, và đã thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), Bộ Tài chính là không Bộ, ngành, địa phương nào được tự tiện cắt xén “cái bánh” 2% đó, nói khác đi, từ nay Bộ KH&CN được quyền đề xuất cơ cấu chi, tỷ lệ chi ngân sách để Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT làm căn cứ phân bổ và xây dựng dự toán ngân sách hằng năm cho KH&CN và sẽ kiến nghị xử lý những nơi làm không đúng, không hiệu quả. Trong “cái bánh” đó, chúng ta phải giảm dần tỷ lệ chi cho dự phòng xuống mức hợp lý (trước năm 2010, tỷ lệ này dao động trong khoảng 11-15%; từ năm 2011, tỷ lệ đó tăng nhanh, năm 2013 là 28%, và năm 2014 là trên 32%, chiếm 1/3 ngân sách dự phòng quốc gia, khoảng 6.500 tỷ đồng). Bởi nếu chi dự phòng nhiều như vậy, chúng ta không còn nguồn dành cho đầu tư phát triển và chi sự nghiệp khoa học, cùng các hoạt động KH&CN khác, trong khi Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nhiều Chương trình KH&CN quốc gia đến năm 2020, trong đó có các chương trình lớn, đặc biệt quan trọng cần nguồn vốn lớn. Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh cũng đã thống nhất với kiến nghị của Bộ KH&CN là từ nay đến năm 2020, tỷ lệ chi 2% ngân sách nhà nước cấp cho KH&CN sẽ được điều chỉnh theo cơ cấu 15% dự phòng, 55% cho chi sự nghiệp và 30% cho đầu tư phát triển, trong đó tỷ lệ chi vốn đầu tư phát triển giữa Trung ương và địa phương là 60/40; vốn sự nghiệp khoa học giữa Trung ương và địa phương là 75/25. Nếu không đảm bảo tỷ lệ như vậy thì vốn sự nghiệp KH&CN, trong đó có nguồn vốn cho các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia ngày càng teo dần, trong khi đội ngũ khoa học càng ngày càng đông, các dự án ngày càng nhiều, ảnh hưởng lớn đến tiến độ và hiệu quả thực hiện các chương trình quốc gia, chương trình trọng điểm.          Dự án “Thiết kế và chế tạo chip, thẻ, đầu đọc RFID và xây dựng hệ thống ứng dụng” là dự án có kinh phí lớn nhất của Bộ KH&CN trong 50 năm qua. Chip SG8V1 (trong ảnh), một sản phẩm của dự án, đã được thương mại hóa thành công vào đầu năm 2013, với số lượng đặt hàng sản xuất ban đầu 150.000 con.           Trong việc xây dựng kế hoạch KH&CN, có hai việc trọng tâm mà Bộ KH&CN phải hết sức quan tâm và phải làm tốt, đó là xây dựng kế hoạch chi đầu tư phát triển và chi sự nghiệp khoa học.  Về đầu tư phát triển, trong hai năm vừa qua, Bộ đã yêu cầu Vụ Kế hoạch tổng hợp phải phân loại các dự án đầu tư phát triển do các bộ, ngành, địa phương phê duyệt theo ba danh mục: Loại một là danh mục các dự án đầu tư được ưu tiên. Đó là các dự án phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH&CN của quốc gia và của các Bộ, địa phương (tiêu chí 1) đồng thời đã được phê duyệt theo đúng quy định của Nhà nước (có chủ trương đầu tư, có quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền là Bộ trưởng hoặc Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố) (tiêu chí 2). Loại hai là danh mục các dự án đáp ứng được tiêu chí 1 nhưng còn chưa đáp ứng được đầy đủ tiêu chí 2 (có thể mới có quyết định về chủ trương đầu tư, hoặc mới có nghị quyết của HĐND mà chưa có quyết định phê duyệt của các cấp có thẩm quyền, có thể được hoàn thiện hồ sơ trong thời hạn cho phép). Loại ba là danh mục các dự án đầu tư do Bộ, ngành, địa phương đề xuất nhưng không đáp ứng được tiêu chí 1 (kể cả đã làm đầy đủ thủ tục phê duyệt), đề nghị Bộ KH&ĐT không bố trí vốn đầu tư.   Hằng năm chúng ta phải làm việc với các Bộ, ngành, địa phương để sàng lọc, chọn ra các dự án thuộc ba danh mục nêu trên, để Bộ KH&ĐT căn cứ vào đó sẽ bố trí vốn cho các dự án theo thứ tự ưu tiên từ danh mục loại một đến danh mục loại hai, và kiên quyết không bố trí danh mục loại ba, kể cả còn thừa vốn.   Về vốn chi cho sự nghiệp khoa học, ưu tiên số một là chi lương và hoạt động bộ máy, nhưng cần phải dựa trên số biên chế mà các cấp có thẩm quyền đã giao chứ không phải là con số biên chế ảo do các địa phương và Bộ, ngành tự quyết định. Muốn vậy chúng ta phải nắm thật chắc mức chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN của các Bộ, ngành, địa phương trên cơ sở biên chế Bộ Nội vụ đã giao từ năm 2003, có tính đến một số đơn vị mới thành lập hoặc một số đơn vị được giao thêm chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Nếu không chúng ta sẽ phải dành quá nhiều kinh phí sự nghiệp khoa học để chi thường xuyên cho các viện, trung tâm nghiên cứu…, không còn nguồn chi cho các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng các cấp.  Giải pháp thực hiện         Bộ KH&CN đề xuất cơ cấu chi, tỷ lệ chi 2% ngân sách nhà nước dành cho khoa học để Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm căn cứ phân bổ và xây dựng dự toán ngân sách hằng năm cho KH&CN và sẽ kiến nghị xử lý những nơi làm không đúng, không hiệu quả.         Từ trước đến nay, chúng ta làm kế hoạch theo kiểu hành chính, tức là mỗi năm Bộ KH&CN có công văn hướng dẫn xây dựng kế hoạch gửi các Bộ, ngành, các địa phương, và yêu cầu các Bộ ngành, địa phương báo cáo theo đúng với những chương mục mà chúng ta đã hướng dẫn. Sau đó chúng ta chỉ tổng hợp lại những đề xuất của họ để báo cáo với Bộ Tài chính và Bộ KH&ĐT. Con số trình Quốc hội phê duyệt là bao nhiêu chúng ta hầu như không được thông báo trước và phải chấp nhận sự đã rồi. Nhưng thực hiện quy định mới của Luật KH&CN 2013, bắt đầu từ năm 2016, chúng ta phải làm theo phương thức mới. Trên cơ sở hai nguồn vốn trung hạn về đầu tư phát triển và sự nghiệp khoa học được Chính phủ giao, Bộ KH&CN sẽ thảo luận và giao cho các Bộ, ngành, địa phương một hạn mức vốn trung hạn KH&CN. Chẳng hạn như Bộ Công Thương phải được biết là trong năm năm tới họ sẽ được giao vốn đầu tư phát triển để nâng cao năng lực cho các viện, các trung tâm nghiên cứu của Bộ là bao nhiêu? Vốn sự nghiệp khoa học giao cho họ bao nhiêu? Trong đó chi thường xuyên và chi nhiệm vụ cấp Bộ, cấp cơ sở là bao nhiêu? Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương chủ động phê duyệt các nhiệm vụ hằng năm trong mức khung được giao. Bộ KH&CN tổng hợp kế hoạch của các Bộ, ngành, địa phương báo cáo Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính. Với cách làm như vậy, chúng ta mới khắc phục được cách làm thụ động trước đây, dẫn đến tình huống phê duyệt quá nhiều nhiệm vụ mà không có nguồn vốn đáp ứng, vượt quá khả năng cân đối ngân sách, thậm chí không có tiền chi cho những dự án, công trình trọng điểm trong khi lại phân bổ kinh phí cho các nhiệm vụ không thực sự cần thiết, dàn trải, kém hiệu quả.          Nhóm các nhà khoa học của Viện Công nghệ Vũ trụ (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) chế tạo thành công Pico Dragon, vệ tinh nhân tạo siêu nhỏ đầu tiên của Việt Nam có nhiệm vụ chụp ảnh Trái Đất, đo đạc một số thông số vệ tinh và môi trường vũ trụ bởi các cảm biến gắn trên vệ tinh và thử nghiệm thông tin liên lạc với mặt đất.          Để làm được công tác kế hoạch như thế, hằng năm trước kỳ kế hoạch Vụ Kế hoạch tổng hợp phải cùng các vụ chức năng có liên quan của Bộ đến làm việc với Vụ quản lý KH&CN, Vụ Kế hoạch (Tài chính) của các Bộ, các sở KH&CN, sở Kế hoạch Đầu tư của các tỉnh, yêu cầu họ trước hết phải cung cấp những số liệu về kết quả hoạt động KH&CN của năm trước, sản phẩm của các đề tài, dự án là gì… tổng số biên chế thường xuyên, số dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, chiến lược đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, các dự án đó cần bao nhiêu tiền, giải ngân năm năm hay ba năm, mỗi năm cần bao nhiêu… Báo cáo kế hoạch của các Bộ, ngành, địa phương phải dựa trên cơ sở tính toán khoa học, có số liệu thống kê, trung thực. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể tổng hợp lại để xây dựng được một kế hoạch có tính khả thi, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng chỗ cần ít chúng ta lại giao nhiều và ngược lại, buộc chúng ta phải điều chỉnh kế hoạch.   Có thể nói một cách khái quát, nhiều năm trước chúng ta làm kế hoạch KH&CN theo cách “từ dưới lên”, các Bộ, ngành, địa phương cứ xây dựng kế hoạch không cần biết là mình có bao nhiêu tiền. Rồi Bộ KH&CN tổng hợp lại, chuyển sang Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, sau đó được phân bổ bao nhiêu thì sử dụng bấy nhiêu. Bây giờ cần làm ngược lại – “từ trên xuống”, nghĩa là Bộ KH&CN đề xuất cơ cấu, tỷ lệ chi ngân sách KH&CN để Bộ KH&ĐT và Bộ Tài chính làm căn cứ phân bổ, thông báo trở lại để ta biết năm năm tới và từng năm tiếp theo toàn ngành sẽ được giao “hạn mức” kinh phí bao nhiêu cho các chương trình, dự án. Sau đấy các đơn vị chức năng của Bộ sẽ làm việc với các Bộ, ngành, địa phương, yêu cầu họ xây dựng kế hoạch đúng với phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ năm năm và hằng năm của Bộ, ngành, địa phương mình trong khuôn khổ “hạn mức” kinh phí được giao. Từ đó Bộ sẽ phê duyệt tổng mức đầu tư phát triển, tổng mức sự nghiệp khoa học của họ trong năm năm và hằng năm.              PV  ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam còn yếu      Đổi mới sáng tạo là nguồn lực quan trọng không thể thiếu giúp duy trì tăng trưởng, nhưng Việt Nam cần khơi thông sự phối hợp liên kết trong đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp, nhà trường – nhà nghiên cứu, và Nhà nước.    Một thách thức cơ bản mà thế giới đang phải đối diện ngày nay là suy giảm về tăng trưởng năng suất lao động dẫn tới suy giảm tăng trưởng kinh tế. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), suy giảm về tăng trưởng năng suất lao động đã gây tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2007-2008 trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu1. Nỗ lực của các quốc gia nhằm xoay xở xử lý những vấn đề bề nổi như bất cân bằng về tài chính sẽ không giúp giải quyết được tình trạng này.   Sự chững lại của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm qua cũng không nằm ngoài cục diện chung nói trên. Hiện nay chúng ta thường bàn nhiều về vấn đề tái cơ cấu kinh tế, tưởng chừng đó là chìa khóa vạn năng cho phát triển, nhưng đó mới là giải pháp trước mắt. Tuy tái cơ cấu kinh tế là điều tất yếu, không thể không làm, nhưng về lâu dài chúng ta sẽ vẫn tiếp tục phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào để tạo nguồn lực mới giúp đảm bảo tăng trưởng không bị chững lại. Đồng thời phải làm sao để đương đầu với những thách thức không kém phần nghiêm trọng khác, ví dụ như đối phó biến đổi khí hậu, bảo tồn các nguồn tài nguyên và hệ sinh thái bị suy giảm, v.v.  Câu trả lời cho những vấn đề này là chúng ta sẽ phải tập trung tăng cường hơn nữa những nỗ lực đổi mới sáng tạo.   Hố ngăn cách giữa doanh nghiệp và các trường đại học   Chìa khóa để thúc đẩy đổi mới sáng tạo là gia tăng sự lưu thông, liên kết ý tưởng, và phối hợp thực hiện giữa các phần tử trong xã hội. Tuy nhiên đây chính là một điểm yếu cơ bản của Việt Nam, khi vẫn chưa có sự phối hợp hiệu quả giữa ba đối tượng chính cần tham gia vào những nỗ lực đổi mới sáng tạo là doanh nghiệp, trường học cùng các tổ chức nghiên cứu, và Nhà nước. Đặc biệt là sự phối hợp liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu, còn rất mờ nhạt.          …Các quốc gia không thể chỉ tập trung ưu  tiên nguồn lực đổi mới công nghệ cho các loại công nghệ cao. Những công  nghệ tầm thấp cũng vô cùng quan trọng vì chính chúng giúp thúc đẩy các  hoạt động sản xuất, kinh doanh trên diện rộng, và tạo ra nền tảng cần  thiết trước khi có thể phát triển, ứng dụng những công nghệ cao hơn.        Một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã có ý thức và những nỗ lực nhằm đổi mới sáng tạo, nhưng họ chưa có được sự hợp tác, hỗ trợ cần thiết từ các trường đại học và cơ sở nghiên cứu. Theo một kết quả khảo sát của Chương trình Đổi mới – Sáng tạo do Chính phủ Việt Nam và Phần Lan tài trợ, hơn một nửa trong số 350 doanh nghiệp được khảo sát đã và đang có những hoạt động đổi mới sáng tạo, theo lời ông Hannu Kokko, cố vấn trưởng của Chương trình. Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các chuyên gia nghiên cứu thị trường và tư vấn các giải pháp đổi mới công nghệ. Vì vậy, rất khó để doanh nghiệp xác định được đâu là những công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện và nhu cầu của doanh nghiệp mình, đồng thời không định giá được công nghệ.   Ở các nước phát triển, các trường đại học và các viện nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc tiến hành các nghiên cứu để cung cấp những thông tin hữu ích trên đây cho doanh nghiệp, nhưng ở Việt Nam hoạt động này còn lẻ tẻ, manh mún. Nhiều trường đại học đã có những nghiên cứu mang tính ứng dụng nhưng những nghiên cứu này lại không có địa chỉ sử dụng cụ thể. Chất lượng đào tạo ở các trường đại học vẫn còn hạn chế, thiếu tính gắn kết với thực tế, khiến nhân lực được đào tạo ra thiếu trình độ và khả năng tích cực tham gia vào những hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức trong xã hội.  Vai trò của Nhà nước và kinh nghiệm từ Phần Lan  Ở những nước phát triển như Phần Lan, đầu tư của Nhà nước cho đổi mới sáng tạo là rất lớn, lên tới 2 tỷ Euro hằng năm, ông Hannu Kokko cho biết. Tuy nhiên, lượng đầu tư này chỉ chiếm 30% tổng đầu tư của quốc gia cho đổi mới sáng tạo, 70% còn lại là từ khu vực tư. Điều này cho thấy đổi mới sáng tạo chủ yếu phải xuất phát từ những nguồn lực của thị trường tự do. Phần đầu tư của Nhà nước chỉ nên dành cho những giải pháp đổi mới sáng tạo thuộc khu vực công, hoặc đóng vai trò làm nền tảng ban đầu để tạo định hướng cho khu vực tư tham gia.   Theo ông Hannu Kokko, nguồn đầu tư cho đổi mới sáng tạo ở khu vực tư của Phần Lan thường đòi hỏi huy động tài chính từ các ngân hàng thương mại, và điều này buộc các ngân hàng thương mại phải tự trang bị cho mình những công cụ và năng lực cần thiết cho việc thẩm định dự án đổi mới sáng tạo. Còn đối với các dự án đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp được nhận nguồn đầu tư từ Nhà nước thì nguồn đầu tư này không chiếm 100%, mà thường kèm theo đòi hỏi phần đối ứng từ bản thân doanh nghiệp, và một phần là vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Cách làm này giúp tăng trách nhiệm của doanh nghiệp và san sẻ bớt rủi ro giữa các bên tham gia.  Lâu nay ở Việt Nam, khả năng Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn yếu được cho là nguyên nhân khiến việc mua bán các sản phẩm nghiên cứu giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học, các trường đại học còn hạn chế. Nhưng ông Hannu Kokko lại khẳng định những yếu tố này chưa phải là vấn đề trọng yếu trong việc thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo. Ông chỉ ra rằng đổi mới công nghệ chỉ là một phần của hoạt động đổi mới sáng tạo, và nhiều doanh nghiệp có thể gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình một cách đáng kể chỉ nhờ vào những đổi mới sáng tạo rất nhỏ, không có gì bí mật, và không phải khi nào cũng có thể coi là bí quyết hay sáng chế công nghệ để có thể đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Ông cũng cho rằng các quốc gia không thể chỉ tập trung ưu tiên nguồn lực đổi mới công nghệ cho các loại công nghệ cao. Những công nghệ tầm thấp cũng vô cùng quan trọng vì chính chúng giúp thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên diện rộng, và tạo ra nền tảng cần thiết trước khi có thể phát triển, ứng dụng những công nghệ cao hơn.               Dự  án mang tên “Chương trình Đổi mới-Sáng tạo”, viết tắt là IPP, có mục  tiêu nhằm tăng cường Hệ thống Đối mới -Sáng tạo Quốc gia (NIS) của Việt  Nam. IPP có chức năng hỗ trợ các đối tượng là doanh nghiệp, các cơ quan  quản lý, các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, và những cá nhân có nhu  cầu tìm hiểu và tiến hành các hoạt động đổi mới sáng tạo.     Chi phí thực hiện IPP là 9 triệu Euro, trong đó phía Phần Lan đóng góp  89%, Việt Nam đóng góp 11%. Giai đoạn 1 của chương trình sẽ kết thúc vào  năm 2013, và giai đoạn 2 sẽ tiếp nối trong khoảng 4-5 năm tiếp theo.    IPP đã và đang tiến hành khảo sát thực trạng đổi mới sáng tạo ở Việt Nam  trên quy mô nhỏ, và trong thời gian tới nếu Việt Nam quyết định khảo  sát đánh giá thực trạng đổi mới sáng tạo trên quy mô lớn hơn bằng cách  vận dụng những công cụ thống kê, đánh giá do OECD cung cấp thì IPP sẽ  tham gia với vai trò hỗ trợ và hướng dẫn. IPP cũng có thể tham gia hỗ  trợ Việt Nam triển khai Quỹ Đối mới Công nghệ Quốc gia nếu được yêu cầu.    Ngoài ra, IPP giúp kết nối các cá nhân và tổ chức Việt Nam với những đối  tác từ Phần Lan nhằm thúc đẩy những mối quan hệ hợp tác đổi mới sáng  tạo giữa hai quốc gia.            1 www.oecd.org/dataoecd/50/32/ 45182551.pdf    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới sáng tạo – vì doanh nghiệp như một cơ thể sống      Đó là nhận định của ông Lý Huy Sáng, phó TGĐ công ty Minh Long 1 tại hội thảo “Đổi mới sáng tạo, giải pháp đưa doanh nghiệp Việt vượt khủng hoảng và tiếp tục phát triển” do tạp chí Tia Sáng và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức tại Đại học Bách Khoa TP.HCM hôm 26.4 vừa qua.    Từ câu chuyện của người dẫn đầu…  Theo ông Lý Huy Sáng – một trong 3 thành viên chủ trì của phần 1 hội thảo mang chủ đề “Doanh nghiệp dẫn đầu – Sức mạnh công nghệ trong phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, trong một thị trường đầy cạnh tranh hiện nay. “Khẩu hiệu hành động của Minh Long 1 là Tinh hoa từ đất – Tinh xảo từ người, nhưng làm thế nào để biến cái tinh xảo của bàn tay con người là điểm chốt chặn, còn tất cả các công việc khác thì máy móc, công nghệ có thể thay thế được, vậy mới tạo ra được sản luợng cao cùng chất luợng đồng nhất. Vì sao nhà máy Minh Long 1 luôn trong tình trạng nâng cấp, cải cách liên tục: vì chúng tôi tin rằng doanh nghiệp mình cũng giống như một cơ thể sống, phải luôn luôn phát triển, luôn luôn tái tạo năng lượng, thay đổi từng ngày để tốt hơn lên. Ngoài ra, chúng tôi muốn tự phát triển bằng năng lực của mình chứ không muốn dựa nhiều vào ngân hàng, do đó chúng tôi có kinh phí đến đâu thì đầu tư đến đó, liên tục và bền bỉ chứ không vay tiền làm ồ ạt…”.   Quan điểm này của ông Lý Huy Sáng cũng được ông Đỗ Duy Thái, chủ tịch tập đoàn Thép Việt – Thép Pomina chia sẻ: “Tôi tin rằng công nghệ và đổi mới công nghệ chính là tạo ra sức bật của mỗi doanh nghiệp.” Ông Thái kể lại câu chuyện về cái ngày ông nhìn thấy chiếc máy tính cá nhân, vốn còn rất thô sơ và cồng kềnh: “Tôi bị ngợp bởi sự màu nhiệm của những gì mà máy tính có thể làm được, và tôi biết rằng đây chính là tương lai. Và chúng tôi nhất định theo đuổi con đường áp dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, trong vận hành. Như thế, từng bước Thép Pomina đạt được những bước tiến trong công nghệ và tự hào đang sở hữu những kỹ thuật chế tạo thép hiện đại hàng đầu thế giới. Nhờ đó mới có thể đủ sức cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc để phục vụ một làn sóng xây dựng mạnh mẽ ở Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung”.  Còn ông Trần Thế Cương, giám đốc Trung tâm giải pháp CNTT và Viễn thông của Viettel thì mang đến diễn đàn câu chuyện về triết lý đổi mới sáng tạo mà mỗi thành viên của Viettel đều phải học thuộc lòng: Sáng tạo để phục vụ con người. Theo đó, thì Viettel đề cao sự thử nghiệm, dám chấp nhận thất bại để có thể phát triển: “Cách đây 6 năm, chúng tôi phải đi mua toàn bộ hạ tầng công nghệ thông tin. Làm chủ các công cụ phần mềm này là điều gần như không tưởng với chúng tôi vào thời điểm ấy. Nhưng các lãnh đạo của Viettel thì bảo: cứ làm thử xem, biết đâu lại đuợc. Và bây giờ Viettel “được” thật. Chúng tôi đã có thể tự mình quản lý toàn bộ các yếu tố về công nghệ thông tin, lại còn có thể cung cấp cho bên ngoài, chẳng hạn bán toàn bộ phần mềm quản lý kênh phân phối cho Vinamilk…” – ông Cương trao đổi. Chính trong dự án làm việc với Vinamilk, yếu tố sáng tạo cũng bộc lộ rất rõ: “Thông thường thì các doanh nghiệp phải mua phần mềm của nước ngoài, tốn cả năm trời để cập nhật, chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế doanh nghiệp. Như vậy rủi ro sẽ rất lớn. Vậy nên Viettel chủ động đề nghị: chúng ta ký hợp đồng để Viettel xây dựng hệ thống quản lý kênh phân phối, nhưng chừng nào nó hoạt động hiệu quả thì Vinamilk mới phải trả tiền…”. Bây giờ, phần mềm bán hàng này đã được nhân rộng và phổ biến cho rất nhiều doanh nghiệp khác, bổ sung vào danh sách sản phẩm ngày càng rộng của Viettel.    Đến phát kiến miền Đồng Bằng sông Cửu Long  Một nét rất lạ của Hội thảo “Đổi mới sáng tạo, giải pháp đưa doanh nghiệp Việt vượt khủng hoảng và tiếp tục phát triển”, là ban tổ chức dành nguyên một nửa chương trình cho cuộc trao đổi: “Từ công nghệ sinh học đem lại giá trị gia tăng cho chế biến nông sản của Đồng bằng sông Cửu Long”. Đó là câu chuyện về loại gạo mầm Vibigaba của công ty Bảo vệ Thực vật An Giang mang nhiều chất dinh dưỡng đã triển khai thành những cánh đồng mẫu lớn, quy tụ đông đảo nhà nông tại An Giang cùng nhau xây dựng một thương hiệu mới của hạt gạo. Đó là câu chuyện của ông Kao Siêu Lực, người Việt Nam duy nhất giành hàng loạt giải thưởng quốc tế về làm bánh và được bầu chọn là chủ tịch hiệp hội bánh mì Châu Á. Người làm bánh độc đáo này đã xây dựng thành công quy trình làm bánh mì làm từ gạo huyết rồng. “Tôi cứ trăn trở vì sao xứ mình nhiều gạo ngon như vậy mà phải nhập bột mì để làm bánh, nên đi tìm công thức phối trộn bột gạo vào trong bánh mì. Cuối cùng, tôi chọn gạo huyết rồng vì nồng độ dinh dưỡng cao, lại là nét riêng của nông nghiệp Việt Nam dễ dàng xuất khẩu sang các nước khác. Bánh mì làm từ gạo, là tiết kiệm rất nhiều ngoại tệ để nhập bột mì…” – ông chủ công ty bánh kẹo Á Châu ABC Bakery cho biết.  Hội thảo còn có sự góp mặt của rượu Phú Lễ truyền thống dân gian được những kỹ sư lành nghề từ Pháp chế biến lại để mang tầm vóc của một sản phẩm hiện đại. Ngoài ra, câu chuyện nước tương công nghệ Nhật Bản Tamari được sản xuất đầu tiên cho nhu cầu chữa bệnh của người chủ, sau đó dần biến thành một công nghệ phẩm xuất khẩu đi khắp nơi. Câu chuyện từ đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp tục với những sáng tạo của dòng sản phẩm ăn liền gốc gạo; dòng gạo lứt dinh dưỡng ST đỏ của Sóc Trăng; chuỗi máy nông nghiệp XK qua các nước Asean+1 của CT thiết bị máy nông nghiệp Bùi Văn Ngọ; Cám gạo và các loại mỹ phẩm từ thiên nhiên; Bánh snack gạo của ĐH Nông Lâm TP…  Theo bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao khẳng định: “Hội thảo chỉ mới là một gợi ý để chúng ta có thể bắt đầu một hành trình dài hơn, thúc đẩy công tác đổi mới sáng tạo trong từng doanh nghiệp nhằm tạo lực phát triển mới cho nền kinh tế”.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới trước hết từ những hội đồng khoa học      Trong những cuộc làm việc gần đây của Chính phủ với các Bộ, ngành, các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thường xuyên đề cập tới một chủ trương quan trọng, đó là Chính phủ, các Bộ, ngành, các địa phương cần phải tăng cường đặt hàng cho các nhà nghiên cứu.      Đây là điều đáng mừng cho nền khoa học công nghệ Việt Nam, một mặt thể hiện nhận thức đúng đắn của Nhà nước đối với vai trò trọng yếu của khoa học công nghệ trong việc tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước; mặt khác với một nhận thức đúng đắn như vậy, Nhà nước sẽ có những khoản đầu tư cần thiết để giúp nền khoa học công nghệ Việt Nam có thể bứt phá vươn lên, tạo điều kiện để các nhà khoa học gắn kết hơn với những dự án nghiên cứu hữu ích phục vụ đời sống.  Tuy nhiên, để thực hiện thành công chủ trương đúng đắn nói trên, nhất thiết phải có những hội đồng khoa học với các tiêu chí, quy chế hoạt động, chế độ đãi ngộ, và cơ chế chịu trách nhiệm phù hợp. Đây là điều kiện tiên quyết giúp cho đồng tiền của Nhà nước chi cho khoa học công nghệ được đầu tư đúng hướng, đúng mục đích, đúng đối tượng, đạt hiệu quả cao nhất.  Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, mức đóng góp của khoa học công nghệ cho tăng trưởng GDP của Việt Nam hiện nay là rất hạn chế, khoảng 28%. Trong khi đó, mức chi cho khoa học công nghệ của Nhà nước không hề thấp, khoảng 2% Ngân sách, (tương đương 0,5% GDP). Vẫn biết rằng đầu tư cho khoa học thường mang tính chiến lược dài hạn, không phải khi nào cũng nhìn thấy ngay các lợi ích kinh tế, nhưng những con số trên đây phần nào phản ánh một thực tế là vẫn còn có những đồng tiền chi cho khoa học công nghệ một cách lãng phí, kém hiệu quả, với những sản phẩm nghiên cứu chỉ tồn tại trên giấy. Bên cạnh đó, mức chi của khối doanh nghiệp đầu tư đổi mới khoa học công nghệ còn rất thấp, chỉ khoảng 0,3 – 0,4% GDP; điều này một mặt phản ánh sự hạn chế của thị trường công nghệ, mặt khác cho thấy các doanh nghiệp chưa tin tưởng nhiều ở các nhà khoa học Việt Nam, hoặc không biết phải tin vào ai giữa những mớ nghiên cứu thật giả lẫn lộn.       Tuy nhiên, lãng phí cho một vài cá nhân, một vài đề tài nghiên cứu vẫn còn nhỏ khi so với việc lãng phí do việc xác định không đúng một định hướng nghiên cứu, hay một định hướng đầu tư phát triển của các hội đồng cao cấp thường gồm đại diện của một số cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu, với các thành viên phần nhiều là những cây đa cây đề vừa thiếu những đòi hỏi từ thực tế đời sống, vừa ít cập nhật với thực tiễn phát triển khoa học công nghệ cả trong và ngoài nước.   Hiện nay, nguyện vọng chính đáng của các nhà khoa học là được ghi nhận, đánh giá, và trả công một cách minh bạch, công bằng, dựa trên chất lượng sản phẩm nghiên cứu. Cùng tham gia đoàn làm việc của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân với Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), ông Lê Đình Tiến, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng một trong những mong mỏi tha thiết của các cán bộ nghiên cứu là làm sao “phân loại được các nhà khoa học”, để sàng lọc và ưu tiên đầu tư, đãi ngộ vật chất xứng đáng cho những nhà nghiên cứu mà sản phẩm của họ thực sự cống hiến cho khoa học, hoặc thực sự hữu ích khi ứng dụng vào đời sống. Nhưng làm sao có thể phân loại được nhà khoa học thật, giả khi mà vẫn phổ biến hiện tượng những hội đồng khoa học thẩm định chất lượng sản phẩm nghiên cứu làm việc theo lối “dễ dãi, đầy tính thông cảm” (lời của nhà nghiên cứu kinh tế Trần Đình Thiên).  Với một nguồn lực còn hạn chế để đầu tư cho khoa học công nghệ thì những người làm công tác quản lý hẳn sẽ phải cân nhắc lựa chọn các phương án đầu tư sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Để làm được việc này, họ cần có những hội đồng khoa học đúng nghĩa. Và để có những hội đồng như vậy, người ta cần lựa chọn, đánh giá, quản lý, và giám sát trách nhiệm các hội đồng – từ cấp cao nhất tới thấp nhất – một cách minh bạch, công khai, và chặt chẽ.                                                                 TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Đổi mới vẫn đang nằm cô đơn ở đâu đó      Tác giả Carmine Gallo liệt kê trong cuốn  sách “Steve Jobs – Những bí quyết đổi mới và sáng tạo”* nhận định “Đổi  mới vẫn đang nằm cô đơn ở đâu đó bởi rất ít người dám dũng cảm vứt bỏ  những ý tưởng mới nhưng lại tự tin bảo vệ những gì họ đã chọn trước mọi  chỉ trích. Do đó, rất ít người có khả năng cách tân ở mức độ cao như  Steve Jobs.”    Đã từng đứng bên bờ vực của sự phá sản, dưới sự lãnh đạo và dìu dắt của Steve Jobs, Apple đã trở thành công ty giá trị nhất thế giới. Vậy Jobs đã làm cách nào để thực hiện điều này? Nếu các doanh nhân đang đi tìm cho mình lời giải bài toán về phương thức mới để phát triển thương hiệu, họ có thể học hỏi những bí quyết đổi mới sáng tạo của Steve Jobs, CEO của Apple – người đã được Financial Times bầu chọn là nhân vật của năm 2010.     Bí quyết đầu tiên của Steve Jobs là làm những gì mà mình thích. Không dưới một lần ông chủ của hãng Apple nói với các nhân viên: “Con người, nếu biết đam mê, có thể biến đổi cả thể giới theo chiều hướng tốt đẹp hơn.” Với phương châm số một đó, Steve Jobs đã cống hiến cả sự nghiệp để làm việc ông thích nhất là tạo ra những thành quả đột phá. Sự đam mê nếu được xem là nhiên liệu cho quả tên lửa, thì tầm nhìn sẽ định hướng cho quả tên lửa này nhắm trúng đích. Bí quyết này của Steve Jobs cho thấy một sự thật: Hai con người cùng nhìn thấy một sự vật như nhau, nhưng nhận thức có thể khác nhau dựa trên những tầm nhìn khác nhau.     Nếu bạn còn nhớ, năm 1997, khi Bill Gates nói “Có” với Adobe Flash, Steve Jobs đã quyết định nói “Không”.  Jobs chưa bao giờ “hết hậm hực và căm ghét” Adobe kể từ khi từ chối sử dụng phần mềm của hãng này từ năm 1997 và quyết định phát triển một phần mềm dành riêng cho các thiết bị của hãng sản xuất. Đó chính là lý do vì sao tất cả các sản phẩm của Apple đều không sử dụng Adobe Flash, phần mềm dùng để chơi các file video hay đa phương tiện bất chấp gần như tất cả các sản phẩm khác của thế giới đều hỗ trợ. Cuối cùng, có vẻ như Steve Jobs và Apple đã đúng khi Adobe đã thông báo ngừng phát triển các phiên bản Flash dành cho thiết bị di động.         Thật khó có thể so sánh hai ông chủ của hai hãng “công nghệ khổng lồ” thế giới là Bill Gates và Steve Jobs bởi mỗi người mỗi vẻ.   Bill Gates có “năng lực não bộ” cao hơn hẳn những người khác tuy nhiên ông không có được “bản năng của một người nghệ sỹ” giống như Steve Jobs. Steve Jobs đã rất thành công trong việc đưa “cảm xúc” và “mỹ học” vào công nghệ. Tuy 2 nhân vật này đã khá “xung khắc” nhưng triết lý của họ lại không mấy khác nhau mà sự khác biệt nằm ở tính cách con người hay “bản năng nghệ sỹ”.  Luôn luôn động não là một trong bảy bí quyết sáng tạo và đổi mới của Steve Jobs. Khả năng sáng tạo của con người là vô hạn, khoa học cũng đã chứng minh hiện nay chúng ta sử dụng nguồn năng lượng của não bộ rất ít. Có lẽ vận dụng được nguyên lý này mà Steve Jobs đã đưa vào nguyên tắc thành công của mình nhằm khuyến khích các cộng sự sáng tạo. Và cũng chính yếu tố này tạo cho Apple có được những sản phẩm “để đời”. Ngày nay các phương tiện internet đã hỗ trợ cho chúng ta rất nhiều, tìm kiếm thông tin, tra khảo, học hỏi… nhưng mặt trái của nó có lẽ làm cho chúng ta càng lười biếng hơn, tất cả đều có sẵn hoặc chúng ta thường đam mê với những cái đã có mà thiếu đi tính sáng tạo để nhằm tạo cuộc chơi mới trong cuộc sống cũng như trong thương trường.  Steve Jobs chia sẻ rằng, đối với ông, những ai mua sản phẩm của Apple không phải là người tiêu dùng, “mà là người có ước mơ, hy vọng” và sản phẩm nhằm thỏa mãn ước mơ đó. Đây cũng là nguyên tắc trong đổi mới và sáng tạo của ông “Bán ước mơ, chứ đừng bán sản phẩm”. Ông từng nói: “Nhiều người cho rằng ai điên mới đi mua máy tính Mac, nhưng trong cái điên này chúng ta mới nhìn thấy nhiều thiên tài”. Khi Steve Jobs giúp khách hàng giải phóng thiên tài bên trong con người họ, ông sẽ chiếm được trái tim và khối óc của họ. Nhờ đó, Apple là một trong số ít hãng công nghệ xây dựng được một lực lượng fan đông đảo.  Biết nói không với 1.000 thứ, tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời và làm chủ thông điệp cũng chính là những bí quyết trong đổi mới và sáng tạo của Steve Jobs – người luôn có những tư duy và cách suy nghĩ làm mọi người cảm thấy bị bất ngờ và cảm thấy lạ lẫm, nhưng chính điều này đã mang đến sự thành công cho “triều đại” của Apple. Tác giả Carmine Gallo liệt kê trong cuốn sách “Steve Jobs – Những bí quyết đổi mới và sáng tạo” nhận định “Đổi mới vẫn đang nằm cô đơn ở đâu đó bởi rất ít người dám dũng cảm vứt bỏ những ý tưởng mới nhưng lại tự tin bảo vệ những gì họ đã chọn trước mọi chỉ trích. Do đó, rất ít người có khả năng cách tân ở mức độ cao như Steve Jobs”, quả thật đúng như vậy!  —  * NXB Đại học quốc gia Hà Nội và Alphabooks, 10/2012                             Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối sách của Hàn Quốc trước Trung Quốc      Hàn Quốc đã có sự chuẩn bị từ cách đây gần 10 năm để đối mặt với một Trung Quốc đang phát triển vươn lên mạnh mẽ về kinh tế và KH&amp;CN.    Hàn Quốc đã có sự chuẩn bị từ cách đây gần 10 năm để đối mặt với một Trung Quốc đang phát triển vươn lên mạnh mẽ về kinh tế và KH&CN. Tạp chí Tia Sáng tóm tắt lại một số đánh giá mà đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa thời sự, từ một nghiên cứu do Viện Đánh giá và Hoạch định Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (Korea Institute of Science and Technology Evaluation and Planning – KISTEP) tài trợ, dưới sự bảo trợ của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương thuộc tập đoàn RAND của Mỹ.        RAND Corporation (Reasearch And Development) là một tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu chính sách tầm cỡ toàn cầu. Thuở ban đầu tổ chức này do Công ty Máy bay Douglas thành lập nhằm phục vụ các nghiên cứu và phân tích cho Quân đội Hoa Kỳ. Hiện nay RAND Corporation được Chính phủ Hoa Kỳ và các nguồn vốn từ các tổ chức chính phủ và tư nhân tài trợ cho các nghiên cứu về các vấn đề phi quân sự.              Đã có 32 cá nhân đoạt Giải Nobel làm việc tại RAND trong các giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp của họ. Hiện nay RAND Corporation có khoảng 1700 nhân viên.        Để có sự phát triển thần kỳ về kinh tế, Hàn Quốc không chỉ cần một nền móng vững vàng về công nghiệp và công nghệ, mà còn cần có thị trường phù hợp để xuất khấu hàng hóa, công nghệ, vốn và tri thức. Trung Quốc chính là một lựa chọn lý tưởng. Thị phần của Hàn Quốc trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 1,1% năm 1990 lên 10,5% năm 2002 tức là trung bình tăng 1%/năm.     Từ bổ sung cho nhau chuyển sang cạnh tranh  Trong một giai đoạn nhất định, nền kinh tế của Hàn Quốc và Trung Quốc bổ sung cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh nhau. Sự liên quan và phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế này đã có lúc được mô tả là “cái hắt hơi ở Trung Quốc đồng nghĩa với cơn sốt cảm cúm ở Hàn Quốc”. Các sản phẩm xuất khẩu chính của Hàn Quốc sang Trung Quốc là các cụm tổng thành và các bán thành phẩm khác trong khi xuất khẩu của Trung Quốc sang Hàn Quốc được đặc trưng là các sản phẩm điện tử, hàng dệt may, và các sản phẩm nông nghiệp và khoáng sản. Theo Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc (Korea International Trade Association), 69,4% hàng xuất khẩu của Hàn Quốc sang Trung Quốc năm 2002 là nguyên liệu, cụm tổng thành và thiết bị. Các hàng nhập khẩu này từ Hàn Quốc lại hiện diện trong phần lớn các sản phẩm hoàn tất của Trung Quốc xuất khẩu  ra thế giới. Điều đáng nói là, gián tiếp qua con đường Trung Quốc – công xưởng của thế giới – Hàn Quốc đã xuất khẩu ra thế giới một thị trường rộng lớn hơn nhiều.                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đối thoại với người dân – sự thành bại của một chương trình điện hạt nhân      Kết quả những cuộc đối thoại về mọi vấn đề mà người dân quan tâm, ví dụ như việc xử lý và chôn giữ chất thải hạt nhân, là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự thành bại của một chương trình điện hạt nhân.      Nước Pháp là một trong những quốc gia tổ chức tốt nhất về tuyên truyền và truyền thông điện hạt nhân, giành được sự ủng hộ cao của công chúng nhờ những nỗ lực bền bỉ trong truyền thông theo nguyên tắc minh bạch, trung thực, và dân chủ. Tuy nhiên, họ vẫn không thể tránh khỏi những khúc mắc khi đối thoại với người dân về vấn đề xử lý và chôn giữ chất thải hạt nhân.   Điển hình là những cuộc đụng độ với người dân hồi cuối tháng 11 vừa qua, khi các đoàn tàu chở chất thải đã qua xử lý sang chôn giữ ở Gorleben, Đức, bị người dân cả hai nước Pháp và Đức phản đối gây khó dễ. Hàng trăm người Pháp đã chặn đoàn tàu trong ba ngày, đốt phá các xe cảnh sát, thậm chí đổ đất đá lên đường ray nhằm ngăn đoàn tàu chở 14 tấn chất thải rời nhà ga Vaglones.  Sự kiện này làm chúng ta nhớ lại một giai đoạn kịch tính của truyền thông điện hạt nhân ở Pháp vào cuối thập kỷ 80, khi mà chương trình điện hạt nhân của quốc gia này tưởng chừng đã cất cánh êm thuận thì bị đình lại do ngay khi người ta xây dựng các dự án bãi chứa chất thải hạt nhân ở các vùng hẻo lánh của Pháp, người dân địa phương đã biểu tình phản đối rầm rộ, thậm chí biến thành một số cuộc bạo động.   Trước thời điểm đó, không ai, kể cả các nhà quản lý ngành điện hạt nhân có thể hình dung rằng vấn đề chôn chất thải hạt nhân lại nhạy cảm đến vậy. Pháp là quốc gia hàng đầu thế giới về xử lý và tái chế chất thải hạt nhân. Họ có khả năng tách plutonium, uranium, và các yếu tố nhiên liệu khác ra khỏi chất thải hạt nhân, giúp giảm thiểu khối lượng chất thải này tới mức tổng lượng chất thải sau khi tạo ra nguồn điện hạt nhân phục vụ một gia đình bốn người trong 20 năm chỉ tương đương với dung tích trong một lọ nhỏ bằng cỡ chiếc bật lửa, và người ta cứ nghĩ rằng sẽ chẳng ai phản đối việc chôn cất một lượng chất thải nhỏ như vậy.  Sự việc trầm trọng này được chuyển lên nghị viện Pháp, và ông nghị Christian Bataille được giao phó đứng ra giải quyết. Bataille đã trực tiếp trò chuyện với những người biểu tình phản đối và ông nhanh chóng nhận ra mấu chốt của vấn đề là sai lầm trong truyền thông hạt nhân của Pháp. Trong khi giới chuyên gia và các nhà quản lý về điện hạt nhân Pháp đinh ninh cho rằng chôn chất thải hạt nhân là cách làm an toàn đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, thì nhận thức của người dân địa phương lại cho rằng đây là cách phủi tay cho qua chuyện của chính phủ và ngành điện hạt nhân, hi sinh môi trường để đổi lấy lợi ích kinh tế.  Để giải quyết mâu thuẫn về quan điểm này, Bataille đề ra một giải pháp rất đơn giản, đó là thay đổi khái niệm “chôn giữ”, thay bằng “lưu trữ”. Nghĩa là chất thải hạt nhân sẽ không bị chôn vùi vĩnh viễn, mà lưu trữ theo cách con người vẫn có thể tiếp cận trong tương lai, khi mà trình độ công nghệ đủ cao để xử lý chất thải này theo cách an toàn hơn. “Ngày nay chúng ta lưu trữ các thùng chất thải, vì các nhà khoa học hiện chưa tìm ra cách loại bỏ các tác hại của chúng, nhưng có thể 100 năm nữa họ sẽ tìm ra cách”, ông nói với những người phản đối. Để củng cố thêm lòng tin của dân chúng, Bataille còn vận động cho một dự luật, trong đó lên kế hoạch xây dựng các phòng thí nghiệm chịu trách nhiệm điều tra nghiên cứu về các giải pháp lưu trữ chất thải hạt nhân, từ chôn dưới lòng đất tới tích trữ trên mặt đất, các giải pháp vận chuyển và khử độc, từ đó trình lên chính phủ và quốc hội giải pháp giải quyết tối ưu nhất.  Trong thực tế, trên phương diện kỹ thuật, cho tới nay chưa có quốc gia nào trên thế giới đủ trình độ để xử lý triệt để chất thải hạt nhân. Đây sẽ tiếp tục là gót nhân Achilles của ngành điện hạt nhân, mà nếu không giải quyết được, thì không lấy gì làm chắc là sự phản đối người dân sẽ vĩnh viễn nằm trong vòng kiểm soát và sẽ không bùng phát lan rộng làm đình trệ toàn bộ chương trình điện hạt nhân của Pháp như đã từng xảy ra trong quá khứ.    Tuy nhiên, một điều quan trọng ở đây là ấn tượng tiêu cực của dân chúng về vai trò của chính phủ trong lĩnh vực điện hạt nhân đã được thay đổi. Không còn là những người quan liêu phủi tay cho qua chuyện, mà là những người có ý thức trách nhiệm về việc liên tục theo dõi, giám sát các chất thải hạt nhân. Lòng tin này được gây dựng trước hết từ những chính trị gia như Bataille, những người luôn sẵn sàng đối thoại trực tiếp và lắng nghe để tìm ra giải pháp mà người dân có thể chấp nhận được. Chính điều này đã giúp chính phủ Pháp đạt được mức độ đồng thuận cần thiết trong công chúng để tiếp tục phát triển chương trình điện hạt nhân tới ngày nay.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Đơn giản vì họ hiểu nhau và thích thú cộng tác      Với một “đầu đề” ra trước của doanh nghiệp, các nhà khoa học tự nguyện bỏ kinh phí cùng hợp tác làm chung, sau khi có được kết quả thí nghiệm khả thi để xin tài trợ từ ngân sách, họ mới hợp tác lâu dài và bền vững, đó chính là mô hình nghiên cứu liên ngành độc đáo ở Công ty CP Bóng đèn – Phích nước Rạng Đông, theo chia sẻ của một lãnh đạo Trung tâm R&amp;D của công ty.     Trong nghiên cứu liên ngành, có thể hình dung các ngành khác nhau như các vòng tròn, mà ở vùng giao nhau có thể xuất hiện những vấn đề có tính độc đáo, tính khác biệt, đồng thời mang tính ứng dụng cao.    Ví dụ, đề tài phát triển đèn compact và đèn huỳnh quang chiếu sáng hỗ trợ phát triển cho cây thanh long và cây hoa cúc mà Công ty CP Bóng đèn – Phích nước Rạng Đông chủ trì chính là một đề tài nghiên cứu liên ngành. Các nhà khoa học phía Rạng Đông thấy cần mời chuyên gia nông nghiệp và chiếu sáng trong nông nghiệp ở Viện Sinh học Nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Qua nghiên cứu, các chuyên gia nông nghiệp sẽ đặt ra yêu cầu cụ thể cho thiết bị chiếu sáng, phía Rạng Đông sẽ xem xét liệu có thể làm hay không, nếu làm được thì cần những loại vật liệu gì, trên cơ sở đó lại tiếp tục đặt đề bài cho Viện Tiên tiến KH&CN (Đại học Bách khoa Hà Nội), nơi chuyên nghiên cứu vật liệu. Bên cạnh đó, để thử nghiệm thiết bị chiếu sáng, các nhà khoa học còn phải liên kết với với các đội, hội nông dân địa phương.  Thách thức trong nghiên cứu liên ngành  Trong môi trường nghiên cứu trong nước, nghiên cứu liên ngành là một thách thức vì đòi hỏi mỗi nhà khoa học vừa phải có chuyên môn trong lĩnh vực của mình, vừa có tầm nhìn và một hiểu biết liên ngành.     Đặc biệt, nghiên cứu về công nghệ như ở Rạng Đông sẽ khó khăn hơn nghiên cứu khoa học ở chỗ, sản phẩm cuối cùng không phải là công bố khoa học trên giấy mà là sản phẩm người nông dân sử dụng được, doanh nghiệp bán được và có lãi. Vì vậy, phải có sự bàn bạc kỹ lưỡng với nhau. Ngay từ trước khi tổ chức một đề tài nghiên cứu về công nghệ, đã phải phân định rõ nhiệm vụ của từng thành viên tham gia nhóm nghiên cứu, phần nào các bên làm riêng, và phần nào cần phải trao đổi thống nhất giữa các ngành khác nhau.     Để mọi người thống nhất với nhau không dễ vì họ phải phải tâm đầu ý hợp, phải chia sẻ với nhau, tôn trọng ý kiến của nhau, và thật tâm. Người ngành này phải hiểu người ngành kia, không giấu giếm gì, không có định kiến về ngành nghề. Ví dụ, thông thường một nhà sinh học và một nhà vật lý làm việc với nhau thì mỗi người sẽ nói theo ngôn ngữ chuyên môn của mình, và nếu có bàn cãi về lý thuyết thì mỗi bên đều giữ quan điểm của mình, đó chính là định kiến xuất phát từ nghề nghiệp mà nếu ai cũng khăng khăng giữ thì việc hợp tác không thể thành công.   Quan trọng là thật tâm và thống nhất nguyên tắc hợp tác từ đầu  Phải tìm được những người hiểu ý nhau, mời họ và họ cũng đồng ý với những nguyên tắc làm việc, cách thức, nhiệm vụ và các bước tiến hành, ngay từ đầu.    Cần một người điều phối, và rất may là ở Rạng Đông thì Tổng Giám đốc Đoàn Thăng, một con người trọng thị các nhà khoa học, nói chuyện cởi mở gần gũi, làm điều đó rất giỏi. Các nhà khoa học giới thiệu những chuyên gia có năng lực và ông Thăng sẽ thuyết phục họ về Công ty. Sẽ có một quá trình để họ thử, qua một vài lần làm việc và thí nghiệm với nhau, nếu thấy hợp thì mới làm tiếp. Thường thì hai, ba người mới tìm được một người.    Văn hóa của tổ chức là yếu tố rất quan trọng để thu hút và giữ chân nhà khoa học. Nhiều người nghĩ là vì Rạng Đông trả thu nhập cao cho các cộng tác viên nhưng trên thực tế, nhiều nơi khác còn trả cao hơn. Điều quan trọng là Rạng Đông có một không khí làm việc rất cởi mở, tôn trọng ý kiến của các nhà khoa học. Các nhà khoa học đến và ở lại Rạng Đông không vì những ràng buộc (không hề có hợp đồng lao động hay các khoản kinh phí cấp cho đề tài nghiên cứu, chỉ có lời mời), mà đơn giản vì họ thích thú làm việc với nhau, hợp tác một cách tự nguyện, rồi cứ thế “đẻ ra” các đề tài. Chỉ khi nghiên cứu có kết quả, có tính khả thi cao để đề xuất đề tài thì công ty bắt đầu tạm ứng hỗ trợ tài chính. Và khi được duyệt chương trình đề tài đổi mới công nghệ quốc gia thì các nhà khoa học mới lập hợp đồng chuyên gia, thực chất chỉ mang tính hành chính nhằm quy định về trách nhiệm các bên để hoàn tất việc chuyển tiền và thanh toán.  Kiên nhẫn và tự lực là điều kiện cần  Trong giai đoạn ban đầu kéo dài chừng một – hai năm, các bên có thể phát huy nguồn lực tự có của mình, bao gồm kinh phí từ phía công ty, trường, viện. Khi làm ra kết quả thì đó là hạt mầm kích thích phát triển ra các đề tài khác. Ví dụ như Viện Sinh học Nông nghiệp thì có được những chương trình khác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn còn Viện Tiên tiến KH&CN của Đại học Bách khoa lại được giao một số đề tài của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong nghiên cứu công nghệ, khi có kết quả rồi thì dễ thuyết minh để các cấp quản lí nhà nước tin tưởng và giao thêm nhiệm vụ. Nếu không làm ra kết quả thì rất khó thuyết phục cơ quan hữu quan, bởi ở Việt Nam có nhiều nơi giữa chừng nghiên cứu không thành, phải giải trình và trả lại tiền Nhà nước.    Cũng chính vì vậy, việc thuyết phục cơ quan quản lí nhà nước ủng hộ những nghiên cứu mới mẻ còn khó hơn là kết nối mọi người cùng làm việc. Chẳng hạn, trong nghiên cứu về công nghệ, nhiều giai đoạn cần cấp kinh phí ngay thì họ cứ nhất quyết làm theo các quy định tài chính là cấp từng % kinh phí cố định mỗi năm. Ví dụ ở Rạng Đông, về nguyên tắc, họ ủng hộ nhưng khi thực hiện lại không dám linh động ủng hộ trong phạm vi chức năng của mình, thay vì vận dụng tối đa các “khoảng” trong quy định thì họ luôn giữ ở mức tối thiểu.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đồng bộ chứ không phải then chốt      Không có một vấn đề then chốt trong việc giải quyết cơ chế quản lý khoa học của Việt Nam hiện nay. Giải pháp đưa ra phải là một giải pháp đồng bộ.    Trước tiên các nhà Lập pháp và Hành pháp cần phải hiểu sâu sắc rằng Khoa học-Kỹ thuật không phải là lĩnh vực tạo ra sản phẩm trực tiếp cho xã hội. Ngay cả tại những nước tiên tiến nhất thì một phát minh Khoa học-Kỹ thuật cũng có thể phải chờ tới nhiều thập kỷ mới trở nên có ích trong đời sống. Điều này lại càng rõ ràng ở Việt Nam. Có thể nói tại thời điểm hiện tại, tác động duy nhất của Khoa học-Kỹ thuật tới sự phát triển của xã hội là tạo ra nguồn nhân lực. Chúng ta cần đẩy mạnh phát triển Khoa học-Kỹ thuật không phải cho ngày hôm nay, ngày mai mà là cho các thế hệ sau. Một số nước phát triển rất nhanh như Nhật Bản, Hàn Quốc khiến cho ta có cảm giác họ đã thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu”, nhưng thực ra không phải. Các nước này đã có một chiến lược đào tạo con người từ rất lâu trước khi nền kinh tế của họ trỗi dậy. Chẳng hạn, Nhật Bản đã có người nhận giải thưởng Fields (giải thưởng giá trị nhất của Toán học) từ năm 1954.  Trong quản lý khoa học thì tham nhũng và đầu tư sai mục đích là những trở ngại lớn nhất. Thực tế cho thấy, việc tổ chức những quá trình thẩm định phức tạp, nhiều hội đồng ở nhiều cấp, thuộc nhiều bộ ngành khác nhau không phải là phương thức hiệu quả để đấu tranh với tệ nạn này. Trái lại, cần thực thi chính sách “một cửa” cũng như công khai minh bạch các quá trình thẩm định. Tại các nước tiên tiến đều có một cơ quan (hoặc thuộc chính phủ như NSF của Mĩ, CNRS của Pháp, hay tư nhân nhưng tới tài trợ chính từ nhà nước như DFG của Đức) chịu trách nhiệm chính trong việc điều phối tài trợ nghiên cứu khoa học. Tại các cơ quan này, tiếng nói của các nhà khoa học rất có trọng lượng. Đó là mô mình mà chúng ta nên học tập.    (*) Viện Toán học       Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án Điện hạt nhân: Cần sự điều hành chuyên môn trực tiếp và tập trung      Sau khi đi dự kỷ niệm 30 năm khôi phục lò  phản ứng hạt nhân Đà Lạt về, GS. Pierre Darriulat có trao đổi với tôi  rằng chương trình điện hạt nhân của Việt Nam tiềm tàng rủi ro bởi nhiều  lý do. Tình trạng nhân lực yếu kém chắc chắn là một lý do lớn, nhưng lý  do lớn hơn và nguy hiểm hơn mà không phải ai cũng nhìn thấy là cách điều  hành chương trình này bởi một cộng đồng hành chính phức tạp, thiếu  chuyên môn và thiếu tập trung.     Đây cũng chính là điều mà bản thân tôi đã có khuyến cáo trên tạp chí Tia Sáng cách đây mấy năm, trong đó nhấn mạnh rằng chương trình điện hạt nhân của một quốc gia chỉ thực sự thành công khi được một tổng công trình sư cùng một nhóm các chuyên gia thực sự có trình độ chuyên môn hạt nhân cao lãnh đạo trực tiếp và tập trung. Vài thí dụ điển hình:   * Chương trình điện hạt nhân của Liên Xô trước đây chắc chắn không thể thành công huy hoàng nếu thiếu sự lãnh đạo trực tiếp và bao trùm của Igor Kurchatov – tổng công trình sư của nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Obninsk, máy gia tốc vòng (cyclotron) đầu tiên, lò phản ứng hạt nhân di động trên tàu thủy đầu tiên…  * Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp CEA là Joliot Curie (Giải thưởng Nobel, đồng phát minh ra hạt nhân phóng xạ…).  * Glenn Seaborg (Giải thưởng Nobel, chuyên gia vật lý hạt nhân thực nghiệm…) là chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Hoa Kỳ trong hơn 10 năm quan trọng nhất (1960-1971) và là cố vấn cho mười đời Tổng thống Mỹ, từ Truman đến Clinton, trong các vấn đề hạt nhân.   * Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc ra đời năm 1991 như sản phẩm công nghệ của một cơ quan nghiên cứu duy nhất, Viện 728 (tiền thân của Viện Công nghệ hạt nhân Thượng Hải hiện nay), với sự tham gia chuyên môn rất lớn của các chuyên gia Hoa kiều từ Mỹ và châu Âu.   Trong khi đó, Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận ở Việt Nam được chia ra nhiều mảnh cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau (đa phần không có năng lực chuyên môn hạt nhân) đảm nhiệm. Ban chỉ đạo Nhà nước có vị trí rất lớn nhưng thực chất lại là một ban bệ hành chính với các thành viên là đại diện lãnh đạo của tất cả các ngành liên quan, thực sự không có khả năng tập trung lãnh đạo, điều hành chuyên môn trực tiếp chương trình điện hạt nhân. Nếu tiếp tục lộ trình như thế này, chắc chắn sẽ có rất nhiều bất cập. Trong tình cảnh nhân lực công nghệ hạt nhân của Việt Nam còn yếu như hiện nay, việc mời một số chuyên gia quốc tế trình độ cao vào vị trí lãnh đạo, cố vấn, điều hành chuyên môn trực tiếp lâu dài các chương trình ứng dụng năng lượng nguyên tử (không chỉ điện hạt nhân mà cả các chương trình phát triển nghiên cứu và triển khai kỹ thuật hạt nhân phi năng lượng) chắc chắn là một việc bắt buộc cần thiết.   Thêm vào đó, một lộ trình thống nhất ở tầm quốc gia (có tư vấn của chuyên gia nước ngoài) cho việc đào tạo nhân lực hạt nhân cùng chế độ đãi ngộ thích hợp cho nhân lực đang và sẽ làm việc trực tiếp trong các chương trình phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử phải được Chính phủ thông qua càng sớm càng tốt (dự thảo của Bộ KH&CN chỉ đề nghị phụ cấp thêm 0,7 lần lương viên chức đang thực lĩnh cho các đối tượng này). Trong bối cảnh đó, việc Bộ Công thương dự thảo một Nghị định, quy định phụ cấp lương đặc biệt cho các thành viên của Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận cùng một số ít nhân sự liên quan là một việc làm mang tính cục bộ và không có tầm nhìn phù hợp.   Đọc thêm:  Vật lý hiện đại: Lựa chọn nào cho Việt Nam (Pierre Darriulat )  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=7778&CategoryID=36    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án FIRST: Tăng cường hiệu quả nghiên cứu khoa học      Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua Nghiên cứu, Khoa học và Công nghệ” (FISRT) do Bộ KH&amp;CN chủ trì thực hiện với vốn vay ưu đãi từ WB vừa xây  dựng những cơ chế chính sách, vừa tập trung vào vấn đề như thống kê,  đánh giá trình độ công nghệ để biết được hiện nay chúng ta đang ở đâu, TS. Trần Quốc Thắng, Giám đốc Dự án, cho biết.     Mới đây, tại Hà Nội, Bộ KH&CN đã tổ chức Hội thảo “Khởi động dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ” (FIRST). Dự án có tổng mức đầu tư là 110 triệu USD được thực hiện bằng khoản tài trợ IDA của Ngân hàng thế giới (WB) cho các nội dung nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp,…  Bên lề Hội thảo, TS. Trần Quốc Thắng – Giám đốc Dự án FIRST đã trao đổi với phóng viên một số vấn đề xoay quanh dự án.  – Xin ông cho biết mục tiêu của dự án FIRST?  – Mục tiêu dài hạn của Dự án FIRST là góp phần hỗ trợ nâng cao năng suất, khả năng cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam thông qua việc tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST), tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế.  Dự án tập trung vào ba cấu phần. Cấu phần thứ nhất là hoàn thiện thể chế chính sách và có tính chất thí điểm để  rút kinh nghiệm đưa ra những cơ chế chính sách chung thúc đẩy ĐMST. Ví dụ như, những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, kết hợp với các viện, trường để đổi mới công nghệ. Hoặc các viện, trường cùng các doanh nghiệp kết nối với các nhà khoa học nước ngoài. Cụ thể là kết nối với các nhà khoa học Việt kiều để xây dựng những đề án đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao trình độ sáng tạo công nghệ của các viện, trường.  Dự án tập trung khá mạnh vào cấu phần thứ hai là hỗ trợ cho các tổ chức KH&CN công lập đang chuyển đổi theo cơ chế 115. Tạo cho họ sức bật để kỳ vọng khoảng 5 đến 10 năm nữa chúng ta có từ 10 đến 15 viện nghiên cứu mạnh có đủ năng lực ngang tầm với khu vực và quốc tế. Đồng thời sẽ có nhiều những sáng tạo về công nghệ đóng góp vào ĐMST, hỗ trợ cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp.  Cấu phần thứ ba là của bất kỳ dự án nào đó là quản lý dự án và nghiên cứu một số chính sách có liên quan trong quá trình thực hiện dự án.  – Việt Nam đã có nhiều dự án về đổi mới sáng tạo, vậy điểm khác biệt của dự án này là gì, thưa ông?  – Mục tiêu chung của các dự án ĐMST hiện nay Bộ KH&CN đang thực hiện và hợp tác với các nhà tài trợ quốc tế là nâng cao hiệu quả hoạt động ĐMST tại Việt Nam, hoàn thiện và tăng cường năng lực của hệ thống ĐMST quốc gia. Hay nói cách khác là tăng cường liên kết. Có ba chủ thể trong hệ thống ĐMST quốc gia: Một là cơ quan nhà nước, nơi xây dựng những cơ chế chính sách để thúc đẩy, tạo động lực kết nối giữa các viện, trường, nơi tạo ra tri thức với các doanh nghiệp nơi sử dụng trí thức. Ba chủ thể đó phải có một sự kết hợp hài hòa và tạo động lực để cho mối quan hệ liên kết giữa nơi sản sinh ra tri thức và nơi sử dụng tri thức một cách hiệu quả nhất. Tất cả các dự án đều tập trung như vậy.  Tuy nhiên FIRST có tính chất hệ thống ở chỗ vừa xây dựng những cơ chế chính sách, vừa tập trung vào vấn đề như thống kê, đánh giá trình độ công nghệ để biết được hiện nay chúng ta đang ở đâu. Trên cơ sở đó tập trung vào hỗ trợ một số viện có đủ năng lực, có tiềm năng để viện lớn mạnh lên, gắn với nhu cầu của thị trường, nhu cầu doanh nghiệp. Đồng thời dự án cũng nghiên cứu xây dựng cơ chế tài trợ hỗ trợ cho các doanh nghiệp KH&CN, các doanh nghiệp start-ups, spin–offs… và chuyển giao công nghệ.  – Về việc hỗ trợ chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang 115, dự kiến những viện nào sẽ nhận được sự hỗ trợ từ dự án?  – Thực ra, hiện nay tất cả các viện công lập theo 115 đang có kế hoạch và có những viện chuyển sang cơ chế 115. Khi tham gia vào dự án FIRST, các viện phải thể hiện ý chí quyết tâm, tiềm năng của mình về mặt con người, thành tích, đặc biệt quan trọng là định hướng chiến lược phát triển của viện đó. Chúng tôi mở cửa để tất cả các viện đề xuất dự án. Ban quản lý sẽ xây dựng tiêu chí đánh giá và có một hệ thống chuyên gia đánh giá dự án đó. Sau đó sẽ xếp thứ tự ưu tiên, chúng tôi chọn từ 10 đến 15 viện, ưu tiên một số lĩnh vực như công nghệ sinh học, nông nghiệp, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ cơ khí, tự động hóa. Ngoài ra, một số viện liên quan đến cung cấp những dịch vụ công, chúng tôi cũng quan tâm và có thể có kêu gọi đề xuất.    – Đối với các doanh nghiệp tiêu chí cũng sẽ phải thực hiện như vậy, thưa ông?  – Các doanh nghiệp cũng tương tự như vậy, các gói tài trợ đều phải thông qua những tiêu chí rất cụ thể, thống nhất giữa WB và Bộ KH&CN. Ban Quản lý dự án sẽ đưa ra tiêu chí cụ thể và công khai để cho tất cả các viện, trường, doanh nghiệp cộng đồng nhà khoa học có thể đề xuất dự án.  – Theo ông, khi thực hiện dự án này đâu là thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt?  – Khó khăn của dự án chúng tôi cho rằng việc chọn lựa các viện, trường, đơn vị được tham gia dự án. Vì nhu cầu, mong muốn tham gia rất nhiều nhưng dự án chỉ tài trợ có tính chất đại diện chứ không thể tài trợ hết cho tất cả mọi người mong muốn, nên việc lựa chọn đưa ra tiêu chí là một trong những khó khăn, thử thách đối với chúng tôi. Chúng tôi đưa ra tiêu chí rất cụ thể chính xác và công khai.  – Để đẩy mạnh ĐMST trong doanh nghiệp góp phần hình thành và phát triển đội ngũ doanh nghiệp KH&CN thì cần thực hiện những gì? Liệu dự án FIRST sẽ có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển đội ngũ doanh nghiệp KH&CN không thưa ông?  – Để đẩy mạnh ĐMST trong doanh nghiệp thì bản thân doanh nghiệp phải thể hiện ý chí và phải có năng lực, phải có tư duy khoa học và phải biết tìm được các đối tác là các đơn vị nghiên cứu hoặc các nhà khoa học đặt hàng cho họ, yêu cầu họ giải quyết những vấn đề khoa học cho mình. Thông qua cơ chế của nhà nước hỗ trợ cho sự liên kết đó, lúc bấy giờ mới thành công. Nếu doanh nghiệp làm một mình rất khó vì trong ĐMST thì ngoài ý tưởng ra, việc thực hiện ý tưởng như thế nào và tìm hiểu tính khả thi của ý tưởng đó là cả một chuỗi hoạt động. Tôi nghĩ rằng cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học, viện, trường, các nhà sáng chế với doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp phải biết mình cần cái gì, mình đặt hàng cái gì cho các nhà khoa học, các viện, trường.  -Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án Skolkovo: Giấc mơ của nước Nga hiện đại      Cuối cùng, Nga cũng đã quyết định đầu tư mạnh cho khoa học và công nghệ (KH&amp;CN) nhằm lấy lại vị thế cường quốc về khoa học kỹ thuật từng đạt được trong giai đoạn Chiến tranh lạnh. Được xây dựng trên diện tích 370 héc ta, nằm cách Moscow 20 km về phía Tây, “thành phố đổi mới” trong dự án Skolkovo được xem là thung lũng Silicon theo kiểu Nga, hiện thân của nỗ lực hiện đại hóa nền kinh tế của tổng thống Dmitry Medvedev.      Thung lũng Silicon kiểu Nga  Dự án Skolkovo được Tổng thống Medvedev chính thức thông báo vào cuối tháng 3/2010 với mục đích xây dựng trung tâm công nghệ và sáng tạo tại Nga. Nằm trong những ưu tiên về phát triển kinh tế và hiện đại hóa của Tổng thống Medvedev, dự án Skolkovo sẽ tập trung vào các lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), truyền thông, công nghệ sinh học, năng lượng, hạt nhân. Dự án sẽ được cả các tổ chức tư nhân cũng như Nhà nước quản lý và đầu tư tài chính.   Mục tiêu thứ nhất là tạo ra một phòng thí nghiệm với sự tài trợ của Nhà nước và một tổ hợp kinh doanh, từ đó tạo ra các công ty start-up (công ty đang trong giai đoạn đầu phát triển), dựa trên các công nghệ có sẵn của nước Nga cũng như của các công ty đa quốc gia. Mục tiêu thứ hai của dự án là hình thành một trường đại học nghiên cứu, nơi mà các tiến sĩ khoa học làm việc được đảm bảo có một đồng lương xứng đáng, có các phương tiện nghiên cứu hiện đại và được tiếp cận các siêu máy tính để phát triển ra các công nghệ kinh doanh được trên thị trường. Mục tiêu chung của thung lũng Silicon kiểu Nga là hướng đến thương mại hóa các công nghệ đang được ưa chuộng trong các lĩnh vực năng lượng, y sinh, công nghệ thông tin, viễn thông và kỹ thuật hạt nhân, từ đó có thể đa dạng hóa nền kinh tế của Nga, giúp nền kinh tế này khỏi lệ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt.        6 ưu tiên hiện đại hóa của Tổng thống Medvedev              Tổng thống Nga giải thích chi tiết dự án hiện đại hóa đất nước trong bài viết “Tiến lên nước Nga”, ra ngày 10/9/2009 trên tờ nhật báo Gazeta.ru. Từ nay đến năm 2030, để theo kịp các nước phát triển, Medvedev  loại bỏ mô hình hiện đại hóa cưỡng bức mà Pierre đại đế và Staline đã thực hiện. Những cải cách mới sẽ phát triển từng bước, chín chắn và dài hơi hơn.   1. Dân chủ và giải phóng tiềm năng              Hiện đại hóa về mặt chính trị: trở lại nhiệm kỳ tổng thống 5 năm, trở lại hình thức phổ thông đầu phiếu đối với bầu cử Tỉnh trưởng và Tổng thống, xóa bỏ kiểm duyệt, thay đổi vị trí thống trị của Nhà nước trong lĩnh vực truyền thông, hạn chế vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế (không quá 30% GDP)…  2. Khuyến khích đổi mới sáng tạo              Hiện đại hóa kinh tế diễn ra trên 5 lĩnh vực: sử dụng hiệu quả năng lượng, công nghệ hạt nhân, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng của thông tin trên mặt đất cũng như trong không gian, nghiên cứu về y học và dược phẩm. Việc phát triển các công nghệ đỉnh cao sẽ đi cùng với nỗ lực thương mại hóa. Medvedev dự định tạo ra thung lũng Silicon tại Nga để thu hút các nhà khoa học nước ngoài và ngăn chặn chảy máu chất xám.   3. Tạo sức sống mới cho các vùng miền              Tạo ra các vùng kinh tế liên bang cho phép hướng hành động của các nhà lãnh đạo tới các mục tiêu kinh tế (có thể lên tới 12 vùng kinh tế liên bang). Những người quản lý mới sẽ thay thế những quan chức và cảnh sát hay nhũng nhiễu. Việc phân lại địa giới hành chính này sẽ diễn ra trước tiên ở khu vực Siberie, sông Volga và núi Oural.   4. Cải cách luật pháp và hệ thống xử phạt              Mục đích cuối cùng: làm cho hệ thống xử phạt trở nên nhân đạo hơn. Mục đích trung hạn: hạn chế số lượng người bị giam giữ (ước tính lên tới 884.000 người vào tháng 8/2009). Để làm được điều này cần phải đưa vào những hình thức xử phạt mới công bằng hơn.   5. Tinh giản hệ thống cảnh sát              Lực lượng cảnh sát mật vốn nổi tiếng về những vụ tham nhũng sẽ được tổ chức lại. Một trong những hướng đó là tạo ra lực lượng cảnh sát liên bang chịu trách nhiệm về những vụ án lớn, khác với cảnh sát vùng hoặc thành phố. Quân số của lực lượng cảnh sát sẽ giảm xuống khoảng 20% (khoảng 300.000 người) và bộ máy cảnh sát nội vụ giảm xuống 50% (tương đương 10.000 người). Để tránh tham nhũng, các biện pháp tăng lương, cải thiện điều kiện ăn ở của các cán bộ ngành cảnh sát sẽ được áp dụng.  6. Đổi mới quân đội              Việc bổ nhiệm Anatoli Serdioukov- một công chức ngoài ngành vào vị trí Bộ trưởng Quốc phòng là dấu hiệu báo trước một cuộc cải cách triệt để. Mục tiêu: làm cho lực lượng quân đội thích ứng với các cuộc xung đột của xã hội hiện đại, tối ưu hoạt động của quân đội. Điều này cũng sẽ dẫn tới việc tinh giản bộ máy (sẽ mất đi khoảng 165.000 vị trí sĩ quan).                   (Courrier International)          Trong vòng 3 năm tới, Chính phủ sẽ xây văn phòng, phòng thí nghiệm tại trung tâm Skolkovo. Nếu mọi việc đúng theo kế hoạch thì vào năm 2014, thành phố mới này sẽ là nơi cư ngụ của khoảng từ 30.000-40.000 người.       Hoạt động kinh doanh tại trung tâm đổi mới Skolkovo sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt: tiền thuê đất thấp, miễn thuế thu nhập 10 năm, thuế hải quan được giảm và hạn chế tối đa thủ tục hành chính. Đổi lại, những người hoạt động tại đây sẽ phải phát triển các công nghệ mới để bán cho thị trường thế giới. Vai trò của Chính phủ chỉ đơn giản là cung cấp môi trường nơi những doanh nghiệp đổi mới có thể phát triển tốt.           Steve Jobs giới thiệu sản phẩm iPhone của Apple với Tổng thống Medvedev          Chính phủ hiện vẫn chưa đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để xét duyệt các doanh nghiệp phát triển tại trung tâm đổi mới Skolkovo, nhưng sẽ ưu tiên cho những doanh nghiệp hoạt động trong 5 lĩnh vực mà Tổng thống Medvedev cho là then chốt để thực hiện các kế hoạch hiện đại hóa của mình.   Nhiều nước cũng đã cố gắng bắt chước Mỹ xây dựng Thung lũng Silicon theo kiểu riêng mình. Nga không phải là quốc gia đầu tiên trong số này. Malaysia xây dựng thành phố máy tính Cyberjaya, gợi cảm hứng từ Bay Area (trung tâm công nghệ tại San Francisco). Trung Quốc cũng có cụm công nghiệp cao tại Tianjin, ngoại ô Bắc Kinh, còn tại Pháp, thành phố Sophia Antipolis, gần Nice cũng là một trong những nỗ lực đẩy mạnh công nghệ cao của Chính phủ nước này.           Putin – Medvedev: bảo thủ và hiện đại có thể cùng song hành?      Vladimir Putin và Dmitry Medvedev              Từ khi quốc gia này chọn con đường hiện đại hóa, cặp đôi Putin-Medvedev đã tạo ra nhịp cho sự phát triển. Theo đó, sự bảo thủ của Putin tạo ra nền tảng cho sự ổn định của quốc gia nhưng việc đảm bảo hiện đại hóa thuộc về Medvedev. Đối với nhiều người dân Nga, Putin vẫn là lãnh tụ quốc gia còn Medvedev là hiện thân của sự đổi mới, hình ảnh mà ông có được từ khi còn là Phó Thủ tướng chịu trách nhiệm các dự án quốc gia (tiền thân của các dự án lớn đang được triển khai hiện nay).              Khi Vladimir Putin nói về việc khôi phục sự vĩ đại của nước Nga, ông đã nêu ra một tầm nhìn sâu sắc trong thế kỷ 20 về việc sử dụng sức mạnh Nhà nước, khả năng quân sự và sự dồi dào dầu lửa khiến thế giới phải tôn trọng. Đề cập đến vấn đề này, Tổng thống Medvedev, lại nói về việc xây dựng một thành phố sáng tạo ở khu vực ngoại ô Skolkovo của Moscow, nơi  sẽ trọng dụng những khối óc giỏi nhất của quốc gia để tạo ra những đột phá về KH&CN, nền tảng cho kinh tế tri thức trong thế kỷ 21. Tầm nhìn của Medvedev được thiết kế để giải phóng nước Nga khỏi sự phụ thuộc vào xuất khẩu dầu khí, và để khôi phục sự vĩ đại của một dân tộc đã từng nổi tiếng thế giới về những thành tựu KH&CN.               Hai người đàn ông quyền lực này chia sẻ lĩnh vực hoạt động rất rõ ràng: Thủ tướng chịu trách nhiệm về các vấn đề xã hội, kinh tế trong khi Tổng thống gánh vác trọng trách hiện đại hóa nước Nga. Dĩ nhiên, có những vấn đề thuộc thẩm quyền của cả hai người. Khi đó, đảm bảo sự hài hòa trong phối hợp hành động trở thành thách thức của cả hai để giữ cho nước Nga phát triển một cách ổn định.          Medvedev, tuy chậm chân hơn, nhưng cũng đã tuyên bố rằng dự án này là một niềm hy vọng lớn của nước Nga. Bản kế hoạch phát triển nền kinh tế Nga của ông đưa ra năm 2008, được biết dưới cái tên Chiến lược 2020, đòi hỏi khu vực công nghệ phải chiếm 15% sản phẩm xuất khẩu, hoặc 8-10% GDP vào năm 2020. Hiện nay, tỷ lệ này chỉ khoảng 1% GDP, và phần lớn là nhờ xuất khẩu vũ khí quân sự hạng nặng. Chính vì vậy, Medvedev đang đổ nhiều tỷ USD trong ngân sách Nhà nước vào các dự án KH&CN, bao gồm dự án Skolkovo, dự án quỹ đầu tư công nghệ nano lớn nhất thế giới, và một chương trình lôi kéo những người Nga sống lưu vong và các công ty của họ trở lại quê hương.           Roger David Kornberg và cha Arthur Kornberg          Hút ngược chất xám   Đã từng là quốc gia “cung cấp” rất nhiều nhà khoa học tài năng cho các nước phương Tây, hiện nay Nga đang nỗ lực thu hút dòng chất xám ngược trở lại. Mong muốn thể hiện thông qua sự cởi mở của các nhà lãnh đạo Nga: mời các nhà khoa học có tiếng của thế giới cùng tham gia Ủy ban khoa học của dự án Skolkovo.   Nhà sinh hóa người Mỹ hiện là giáo sư sinh học cấu trúc tại trường Y, Đại học Stanford, Roger David Kornberg được mời làm đồng Chủ tịch Ủy ban KHCN dự án Skolkovo. Zhores Alferov, người giành giải Nobel Vật lý năm 2000, được mời làm Cố vấn khoa học cho trung tâm, và cũng là đồng Chủ tịch Ủy ban khoa học. Chính Alferov đã đề cử Kornberg làm Chủ tịch Ủy ban nói trên vì cho rằng một trong những hướng phát triển hiện đại của nền kinh tế Nga chính là công nghệ y sinh và Kornberg, người được trao giải Nobel Hóa học cho các nghiên cứu về quá trình sao chép thông tin di truyền từ DNA sang RNA là người phù hợp để đảm nhiệm vai trò này.          Chính phủ sẽ phải nỗ lực nhiều để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho “Vườn Silicon” của Nga phát triển      Khu vườn Silicon của Nga              Liệu có thể xây dựng được thung lũng Silicon tại Nga? Đây là câu hỏi mà nhiều người muốn đặt ra cho tổng thống Medvedev sau chuyến thăm thung lũng Silicon của Mỹ hồi tháng 6 vừa qua. Câu trả lời ngắn gọn là không. Tuy nhiên với ý chí chính trị đủ mạnh, Nga có thể tạo ra các điều kiện để cho một phiên bản nhỏ hơn của thung lũng Silicon để nó có thể tự phát triển.               Để làm được điều này, Nga cần có những điều kiện sau đây:               1. Doanh nhân phải được hoạt động tự do, không bị gây phiền hà, nhũng nhiễu bởi các quan chức và cảnh sát tha hóa.                2. Cần phải có chế độ thu hút và đãi ngộ những tài năng khoa học, những người có ý tưởng tốt.               3. Phải có nguồn nhân lực ổn định và tài năng trong các lĩnh vực quản lý, kinh doanh, marketing và bán hàng…               4. Phải có những cố vấn cho doanh nghiệp cũng như khách hàng để mua các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng, với giá cả hợp lý.               5. Phải tạo ra được môi trường có tính tương tác cao để mọi người có thể học hỏi và cạnh tranh với nhau.               6. Phải có tính minh bạch tối đa.               Điều quan trọng nhất vẫn là con người và văn hóa sẽ được thiết lập ở đây. Doanh nhân cần được khuyến khích để chấp nhận rủi ro. Họ cần nhận được trợ giúp và cố vấn để xây dựng những công ty sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ từ các phát minh và thương mại hóa chúng một cách thành công.               Lợi ích của mô hình thung lũng Silicon, bất kể nó được xây dựng ở đâu, chính là việc tạo ra một địa điểm tập trung cao những con người táo bạo và tạo điều kiện để những người này có thể tương tác được với nhau. Tại thung lũng Silicon, mọi người có thể đảm nhiệm nhiều vai trò cùng một lúc: sinh viên, nhà nghiên cứu, doanh nhân, giáo sư, nhà đầu tư. Nó giống như một hệ thống kinh tế sáng tạo: sự tương tác không chỉ dẫn tới sự đổi mới trong sáng tạo mà còn dẫn tới tới thành công trong thương mại. Nếu mọi thứ thuận lơi, Skolkovo sẽ được xây dựng với sự minh bạch. Các hoạt động ở đây sẽ mang lợi ích tới cho toàn nước Nga chứ không chỉ cho một vài doanh nhân, một vài công ty lớn và khách hàng ngoại quốc của họ.               Triết lý quan trọng nhất được sử dụng như là nền tảng cho việc xây dựng thành phố thông minh tại Skolkovo là: các cá nhân có quyền tạo ra các giá trị cho chính họ và cho cả những người khác, các thể chế chỉ đóng vai trò chất xúc tác ban đầu.   (Esther Dyson, The Moscow Times)          Viktor Velselberg, Chủ tịch tập đoàn Renova, người được Forbes đánh giá là một trong 10 nhà tài phiệt giàu nhất nước Nga, được chỉ định làm Tổng chỉ huy Dự án Skolkovo. Medvedev nhấn mạnh nhiệm vụ của Viktor Velselberg không chỉ dừng lại ở việc lên kế hoạch sử dụng vốn Nhà nước mà còn phải đưa ra những công việc cụ thể giúp quản lý dự án một cách hiệu quả. “Chúng ta bắt đầu dự án này không đơn giản chỉ để xây dựng các toà nhà, hay tạo ra các phòng thí nghiệm. Điều quan trọng là tạo ra cơ sở hạ tầng và thu hút những con người sẽ làm việc ở đây. Trung tâm chỉ có thể hoạt động tốt khi hệ thống quản lý của nó được vận hành một cách minh bạch”, ông nói.    Bên cạnh việc lựa chọn nhân sự cấp cao cho dự án, các nhà lãnh đạo Nga chủ động củng cố quan hệ với Mỹ, quốc gia được xem là một trong những đối tác chính của Nga trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.   Đầu năm nay, một số quan chức cao cấp của Nga bao gồm Phó Thủ tướng Igor Shuvalov, Bộ trưởng Tài chính Aleksei Kudrin, đã tham dự buổi hội thảo 2 ngày tại Học viện Công nghệ Massachusettes (MIT), Mỹ. Mục đích của chuyến đi là để tìm hiểu xem tại sao những người Mỹ thành công trong khi phần lớn các quốc gia khác bao gồm cả Nga lại thất bại.           Viktor Velselberg, chủ tịch tập đoàn Renova, một trong 10 người giàu nhất nước Nga, được chỉ định làm tổng chỉ huy dự án Skolkovo          Cuối tháng 6 vừa qua, trong chuyến thăm Mỹ, Tổng thống Nga Medvedev đã gặp gỡ người đứng đầu của các tập đoàn công nghệ của Mỹ tại thung lũng Silicon như Twitter, Cisco, Google, Apple… Trong diễn văn đọc tại Đại học Stanford, Medvedev nói về dự án xây dựng Trung tâm công nghệ tại Skolkovo với mục đích thu hút tài năng và vốn đầu tư cho dự án. Ông cũng thừa nhận khó khăn của Nga trong việc xây dựng “thành phố đổi mới” theo mô hình của thung lũng Silicon. “Nhiệm vụ của Chính phủ là tạo ra các điều kiện thuận lợi cho các công ty start-up. Tuy nhiên, điều này không dễ dàng. Điều quan trọng là tiền phải được chi tiêu đúng cách, được giao cho người xứng đáng và phải có những hệ thống luật pháp phù hợp”.   Bên cạnh tạo ra tiếng vang cho dự án Skolkovo, thành công lớn nhất trong chuyến thăm thủ phủ công nghệ của Mỹ là việc ký kết hợp tác giữa Tổng thống Nga Medvedev và chủ tịch tập đoàn Cisco John Chambers. Cisco đã cam kết đầu tư 1 tỷ USD để tiến hành hoạt động kinh doanh, sáng tạo tại Nga. Như vậy, công ty này đóng vai trò như một đối tác quan trọng giúp Nga hoàn thành được các mục tiêu đề ra.         Công ty Kaspersky              Yevgeny Kaspersky, người sáng lập Phòng thí nghiệm Kaspersky                    Yevgeny Kaspersky, người sáng lập ra phòng thí nghiệm Kaspersky, công ty  sản xuất phần mềm chống virus, mong muốn một môi trường kinh doanh tốt  hơn tại Nga. Ông ủng hộ dự án nhưng cho rằng để thu hút các doanh nghiệp  công nghệ, Chính phủ Nga cần có các chính sách ưu đãi như nhiều quốc  gia công nghiệp khác đã làm như miễn thuế hay tạo ra được cơ sở hạ tầng  tốt…    Yevgeny Kaspersky, sinh năm 1964, tốt nghiệp Đại học Mật mã, tin học và  Truyền thông năm 1991, sau đó làm việc tại một trung tâm nghiên cứu và  phát triển. Tại đây, ông cùng với các đồng nghiệp đã phát triển gói phần  mềm diệt virus (Kaspersky anti-virus). Hiện nay, ông là một trong những  chuyên gia hàng đầu thế giới về an ninh mạng.    Kaspersky bắt đầu công việc kinh doanh tại Moscow vào những năm 1990,  làm việc ngày đêm để nghiên cứu về các virus máy tính nhưng ông chỉ  hưởng lợi được từ khu vực kinh tế đặc biệt dành cho các start-up khi ông  mở văn phòng tại Tianjin vào năm 2003. Chính phủ Trung Quốc đã cho ông  văn phòng miễn phí và miễn thuế trong vòng 1 năm.    Theo Kaspersky, Nga có nhiều tài năng về phần mềm nhưng không có nhiều  dự án kinh doanh thành công. Các tài năng dường như vẫn tập trung một  cách lệch lạc vào hoạt động bất hợp pháp, như tạo ra các loại virus, thí  dụ như virus “Storm” tấn công khắp thế giới, làm 1,5 triệu máy vi tính  bị nhiễm vào năm ngoái.             Ngoài ra, một số tập đoàn lớn như Nokia, Boeing… cũng tuyên bố ý định tham gia vào dự án. Tuy nhiên, phần lớn vẫn đang chờ đợi những bước đi cụ thể của Chính phủ Nga trước khi quyết định hiện diện chính thức tại Skolkovo.   Những trở ngại cần phải vượt qua  Thách thức đầu tiên là bảo vệ các doanh nghiệp mới hình thành trong khuôn khổ của Dự án Skolkovo trước các quan chức Nhà nước và cảnh sát tham lam của Nga. Tiền trợ cấp và các đặc quyền đặc lợi mà Nhà nước Liên Xô đã từng hào phóng cấp cho các dự án khoa học và kinh doanh trước kia thường dẫn đến các vụ “ăn cắp trắng trợn”. Trong một cuộc điều tra gần đây của Pricewaterhouse Coopers về các tội phạm kinh tế toàn cầu, 71% số doanh nghiệp của Nga là mục tiêu của những hành động vi phạm như vậy của cảnh sát hay các công chức Nhà nước (mức tồi tệ nhất trong số 33 nước trong cuộc nghiên cứu). Bản thân Medvedev đã công khai chỉ trích “văn hóa tham nhũng” ở Nga và cố gắng tạo ra các bức tường chắn để bảo vệ Skolkovo, thí dụ như đơn giản hóa các luật về doanh nghiệp, đơn giản hóa chế độ cấp thị thực, tạo ra những ưu đãi về thuế…   Thách thức thứ hai là trong hai thập kỷ tới, tinh hoa giới trí thức của Liên Xô sẽ dần mất đi và để lại một hệ thống giáo dục xuống cấp nghiêm trọng. Phần lớn các viện nghiên cứu truyền thống của Nga đã từng đánh mất nhiều người giỏi nhất vào tay các trường đại học được tài trợ tốt hơn ở phương Tây, và hiện nay không một trường đại học nào của Nga đứng trong top 100 trường tốt nhất của thế giới. Theo thống kê năm 2009, công bố quốc tế trên các tạp chí quốc tế của Nga ít hơn so với Ấn Độ hay Trung Quốc, và người Nga chỉ đoạt 4 giải Nobel trong thập kỷ qua, so với 76 giải Nobel mà nước Mỹ giành được. Trong hệ thống thứ bậc các quốc gia có khả năng cạnh tranh nhất của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Nga đã tụt 12 bậc xuống vị trí thứ 63 kể từ năm 2008, và lĩnh vực CNTT đã tụt 4 bậc, xuống vị trí thứ 74 trong số 134 nước.         Cisco: 1 tỷ USD đầu tư trong vòng 10 năm           Medvedev và chủ tịch Cisco John Chambers                    Thỏa thuận giữa Chủ tịch tập đoàn Cisco và Tổng thống Medvedev nêu rõ 5 bước tiến hành để đảm bảo cho sự thành công của tập đoàn này tại thành phố đổi mới của Nga:              Bước 1: Nỗ lực thu hút tài năng, ý tưởng, và các nguồn đầu tư bằng cách cộng tác với các quỹ đầu tư mạo hiểm. Cisco thông báo sẽ tăng tiền đầu tư mạo hiểm hiện tại cho Nga và đồng thời cũng sẽ tăng số lượng người làm việc cho hệ thống Cisco tại Nga lên 300 người.               Bước 2: Thành lập nền tảng cho đổi mới sáng tạo và kinh doanh mạo hiểm. Cisco cam kết sẽ hiện diện tại Skolkovo. Thỏa thuận hợp tác được ký tạo cơ sở cho sự hợp tác của Cisco với Chính phủ và giới doanh nhân tại Nga.               Bước 3: Tăng cường khả năng nghiên cứu, phát triển của tập đoàn tại Nga. Những nhân sự chủ chốt trong nhóm kỹ sư của Cisco sẽ được gửi tới Skolkovo. Cisco dự định sẽ thành lập một vài công ty start-up tại Skolkovo và góp phần biến Skolkovo thành một trong những khu vực công nghệ phát triển nhất trên thế giới.               Bước 4: Đảm bảo cho sự thành công của các start-up bằng việc cộng tác với các quỹ đầu tư mạo hiểm của Nga. Song song với nỗ lực này, Cisco cũng đã công bố giải thưởng I-Prize trị giá 175.000 USD dành cho một nhóm doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh độc đáo và tham gia vào các công ty start-up, có tiềm năng trở thành những công ty phát triển lớn mạnh trong tương lai của Cisco tại Skolkovo.               Bước 5: Xây dựng mô hình hợp tác với các công ty, quỹ đầu tư mạo hiểm và các công ty công nghệ tại Nga. Cisco mong muốn cùng hợp tác trong những lĩnh vực như phát triển hệ thống lưới (smart grid), dịch vụ tài chính, triển khai băng thông rộng, mạng xã hội để phát triển các sản phẩm xuất khẩu, các giải pháp và mô hình kinh doanh mới.            Sự phản đối của một số quan chức vốn muốn nước Nga luôn ở trong tình trạng ngu dốt cũng là một trong những trở ngại cần phải vượt qua. Medvedev đang đẩy mạnh sự đổi mới KHCN như là một trong bốn trụ cột của chương trình hiện đại hóa của ông, ba trụ cột còn lại là các thể chế, cơ sở hạ tầng và đầu tư. Nhưng sự thật là ông vẫn chưa đạt được nhiều tiến bộ. Nga mới chỉ xây dựng được thêm 1.000 km đường vào năm ngoái, so với 47.000 km đường đã được xây dựng ở Trung Quốc. Cựu nghị sĩ thuộc phe đối lập Vladimir Ryzhkov mỉa mai rằng 4 trụ cột thực sự của chương trình hiện đại hóa của Nga là “sự ảo tưởng, thiếu hiệu quả, không ổn định và không có khả năng”. Yevgeny Gontmakher, Chuyên viên cao cấp của Viện phát triển đương đại, nói rằng sai lầm trong chiến lược của Tổng thống là: “mong đợi các nhà khoa học đến và phát minh ra mọi thứ cho họ”.   Tuy không chủ trương cải cách toàn bộ hệ thống chính trị từ trên xuống dưới một cách triệt để, nhưng rõ ràng Medvedev thấu hiểu thách thức mà ông phải đương đầu, thể hiện trong bản tuyên bố “Tiến lên nước Nga” của ông vào năm 2009: “Các quan chức tham nhũng không muốn có sự phát triển và họ lo sợ về điều đó. Nhưng tương lai không thuộc về họ mà thuộc về chúng ta. Chúng ta sẽ khắc phục được tình trạng lạc hậu và tệ tham nhũng”.   Thắng lợi rất có thể sẽ thuộc về những người mong muốn thấy một nước Nga hiện đại và thông minh. Chúng ta hãy chờ xem.               Ngọc Tú   tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Dự án VTIS- giải pháp minh bạch hóa đề tài nghiên cứu      Ngày 16/3 vừa qua, đại diện của Viện Thông tin KH&amp;CN Hàn Quốc (KISTI), ông Kim Jae Soo, đã có buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Phạm Công Tạc về việc hợp tác triển khai một dự án quản lí thông tin các hoạt động R&amp;D của Việt Nam dựa trên mô hình NTIS của Hàn Quốc. Dự án này được cho là một trong những giải pháp hữu hiệu để minh bạch hóa đề tài nghiên cứu từ ngân sách.  &#160;    NTIS là gì?  NTIS (National Science and Technology Information System – một đơn vị trực thuộc KISTI) là một hệ thống quản lý thông tin các đề tài, dự án R&D của nhà nước được cập nhật liên tục với thông tin được thu thập từ 17 bộ của Hàn Quốc, 125 các cơ quan quản lí khoa học và hàng chục viện nghiên cứu. Hiện nay, số người dân Hàn Quốc đăng kí và sử dụng dịch vụ của NTIS lên tới 66 ngàn và mức độ hài lòng lên đến gần 80% (số liệu năm 2010).   NTIS không phải là hệ thống quản lí thông tin chỉ tương tác một hay hai chiều mà nhiều chiều giữa các bộ, ban, ngành, doanh nghiệp, nhà khoa học và công chúng. Mọi người có thể gửi ý kiến phản hồi trực tiếp trên máy tính để bàn và các thiết bị di động thông minh qua ứng dụng điện thoại và mạng xã hội. Họ chia ra ba gói dịch vụ cung cấp cho từng đối tượng: Các bộ, ban ngành (G2G); Doanh nghiệp và các nhà khoa học (G2B); và công chúng (G2C). Với gói dịch vụ G2G, nhờ liên kết và chia sẻ chiến lược và thông tin về các đề tài nghiên cứu được thực hiện giữa các bộ, NTIS cảnh báo về khả năng trùng lặp dự án và cung cấp thông tin cho các nhà quản lí về kinh phí, tiến trình và kết quả đề tài nghiên cứu. Với gói dịch vụ G2B, NTIS công bố danh sách các thiết bị hiện đại được nhà nước đầu tư để các doanh nghiệp có thể mượn nhằm tiết kiệm chi phí nghiên cứu và thông tin về các nhà khoa học để doanh nghiệp có thể tìm kiếm nhân lực cho R&D. Với gói dịch vụ G2C, NTIS đưa ra thông báo về các đề tài nghiên cứu nhà nước thông qua email hoặc tin nhắn, cung cấp các dịch vụ một cửa tự động thông suốt từ khi thực hiện dự án từ việc đăng kí đề tài, nộp kết quả nghiên cứu cho đến đăng kí sáng chế, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ (tiết kiệm thời gian hai-ba tuần so với trước đây), cung cấp các thông tin phân tích về xu hướng KH&CN, đánh giá các tổ chức KH&CN, nhà khoa học. Tất cả các dịch vụ thông tin của NTIS đều miễn phí và hệ thống này được chính phủ hỗ trợ toàn bộ chi phí hoạt động.   Vai trò cốt yếu của NTIS là tạo ra một cơ chế để những người làm khoa học, quản lí khoa học và cả công chúng có thể chia sẻ và phản biện thông tin một cách minh bạch về các dự án họ đang làm cũng như các cơ sở vật chất và nguồn nhân lực họ đang sở hữu. Sau đó, họ xử lý dữ liệu lớn này thành các thông tin tổng hợp để đưa ra đánh giá, tư vấn. Chính vì vậy, trong vòng năm năm (từ 2008-2013), họ đã tiết kiệm được gần 800 triệu USD cho chính phủ Hàn Quốc thông qua việc ngăn cản thực hiện các đề tài trùng lặp nhiệm vụ và cảnh báo việc mua trùng các thiết bị nghiên cứu đắt tiền, liên kết giữa các viện nghiên cứu cùng quản lý các thiết bị hiện đang không sử dụng.  Con đường từ NTIS đến VTIS  Theo Thời báo Điện tử – Electronic Times (thời báo về KH&CN có lượng ấn hành lớn nhất tại Hàn Quốc hiện nay), Bộ KH&CN và Đầu tư (MSIP) của nước này đã dự định xuất khẩu mô hình NTIS tới Kazakhstan và Việt Nam1. Ở Việt Nam, dự án này có tên là VTIS. Theo đó, một trong những điều đầu tiên cần làm là xây dựng quy chế để thu thập thông tin. Bởi thông tin rải rác ở các cơ quan khác nhau thường không đồng nhất, vì thế việc đưa ra tiêu chuẩn để lựa chọn các đầu mục thông tin và tiêu chuẩn hóa chúng là điều hết sức cần thiết. Khi triển khai NTIS, Hàn Quốc đã thành lập một ủy ban đặc biệt bao gồm thành viên cấp cao của một số bộ, ngành và viện nghiên cứu để đưa ra các quy chế yêu cầu các viện và cơ quan nghiên cứu cung cấp thông tin cho họ.            Ông Kim Jae Soo cho biết dự án VTIS đã đi được 1/3 chặng đường. Triển khai từ năm 2013, đội ngũ thực hiện dự án đã phân tích và nghiên cứu thực trạng quản lý R&D ở Việt Nam và đưa ra sáu nhiệm vụ mà VTIS cần phải thỏa mãn bao gồm:              – Phân phối thông tin KH&CN;              – Xây dựng hệ thống quản lý dự án R&D của nhà nước;              – Xây dựng hệ thống dịch vụ thông tin KH&CN;              – Xây dựng hệ thống quản lý nguồn nhân lực quốc gia về KH&CN;              – Quản lý thành quả nghiêm cứu;              – Xây dựng các nền tảng chung về cơ sở công nghệ.            Theo phân tích của những người thực hiện dự án VTIS từ tháng 8/2013, việc quản lý KH&CN của Việt Nam có nhiều bất cập như: không có hệ thống cung cấp thông tin nghiên cứu thống kê về KH&CN, nhiều dự án bị trùng lặp và thành quả thu được từ các dự án nghiên cứu chưa được quản lý thống nhất và không phổ biến rộng rãi. Chính vì vậy, theo chị Đỗ Trà Giang, một trong những đại diện của KISTI, đồng thời là nghiên cứu sinh Việt Nam tại NTIS,  ngoài bao gồm hệ thống trao đổi thông tin về KH&CN giống như NTIS, VTIS còn cung cấp thêm công cụ quản lí dự án nghiên cứu khoa học cấp nhà nước theo quy trình khép kín từ đăng kí đề tài, chi phí thực hiện, nguồn nhân lực thực hiện dự án đến việc phê duyệt đề tài, các chuyên gia phản biện, nghiệm thu đề tài cho đến kết quả dự án (bài báo, sáng chế…), địa chỉ ứng dụng để duy trì tính thống nhất và minh bạch. Vì vậy, đó là lí do dẫn đến việc vào tháng Bảy năm 2014, Bộ KH&CN và Đầu tư Hàn Quốc đã đề xuất KOICA (Cơ quan Hợp tác quốc tế của Hàn Quốc) cấp vốn ODA cho dự án VTIS với kinh phí khoảng năm triệu USD.  Nhưng dự án này chưa được thông qua do nó không thuộc ba lĩnh vực Hàn Quốc ưu tiên hợp tác với Việt Nam hiện nay là môi trường, đào tạo nghề và cơ sở hạ tầng giao thông. Tuy vậy, theo đại diện của KISTI, dự án VTIS vẫn có thể được triển khai vào năm 2017 nếu Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đưa dự án này vào danh sách đối tượng ưu tiên nhận hỗ trợ ODA. Để làm được điều này, Bộ KH&CN Việt Nam cần thảo luận với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đề nghị sự ủng hộ từ văn phòng KOICA tại Hà Nội. Nếu không được chấp thuận, VTIS sẽ phải triển khai với quy mô nhỏ trước (với vai trò là một tiểu dự án của NASATI) bằng vốn vay từ Ngân hàng Thế giới và dựa vào kết quả đạt được để tiếp tục xin cấp vốn ODA từ KOICA.   Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc cho rằng, VTIS là một dự án cần thiết trong quản lí khoa học ở Việt Nam. Vì thế, Bộ KH&CN sẽ trao đổi với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và KOICA Việt Nam. Theo ông, việc xúc tiến dự án V-TIS có hai thuận lợi chính. Đó là, Bộ KH&CN có mối quan hệ khá chặt chẽ với KOICA Việt Nam (thông qua việc là đối tác trong việc xây dựng đề án VKIST) và với Việt Nam, từ tháng 1/2012 đầu tư cho công nghệ thông tin cũng được tính là đầu tư cho cơ sở hạ tầng.  1 Theo chị Đỗ Trà Giang, Kazakhstan đã mua lại bản quyền NTIS và đang triển khai mà không cần sự trợ giúp của KOICA.     ——————-—————————-  * Bài viết có sử dụng tư liệu do NTIS cung cấp.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Đưa công nghệ hiện đại tới người dân Việt      Một trong những nội dung mà đề án tái cơ cấu nền KH&amp;CN cần tập trung vào là chiến lược đưa các công nghệ hiện đại của thế giới về phục vụ người dân Việt.      Sau gần chục năm triển khai Nghị định 115 nhằm đổi mới cơ bản cơ chế quản lý và vận hành nền khoa học và công nghệ (KH&CN) nước nhà, từng bước đưa KH&CN trở thành động lực then chốt thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước, thực trạng hiện nay của KH&CN vẫn chưa thực sự có được nhiều biến đổi như mong muốn, với vai trò còn mờ nhạt và thiếu chủ đạo trong việc triển khai, ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại của thế giới trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội. Trong khung cảnh này, việc xây dựng một đề án tái cơ cấu nền KH&CN nước nhà do Bộ KH&CN đang tiến hành, với sự đóng góp trực tiếp của các nhà khoa học tâm huyết trong và ngoài nước, là rất cấp thiết.      Một trong những nội dung mà đề án tái cơ cấu KH&CN phải tập trung vào là chiến lược và những bước đi cụ thể trong việc triển khai ứng dụng của các dạng công nghệ hiện đại nhất của quốc tế cũng như những sản phẩm công nghệ mới được phát minh trong nước vào phát triển kinh tế và xã hội. Nhân đây cần khẳng định sự ra đời của Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia là bước đi đầu tiên rất quan trọng theo hướng này. Tuy nhiên, ngoài mục tiêu chung hỗ trợ cho vay vốn để các doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu công nghệ hướng tới ứng dụng công nghệ mới, Quỹ cần có chương trình cụ thể sao cho cộng đồng khoa học nước nhà tham gia tích cực hơn vào việc đưa công nghệ hiện đại vào Việt Nam. Thực tế hiện nay là, trừ một số rất ít các nhà khoa học đang miệt mài nghiên cứu tạo ra một vài sản phẩm công nghệ, đa số chúng ta vẫn khá thờ ơ với việc làm sao triển khai và ứng dụng được những thành tựu công nghệ hiện đại nhất của thế giới ở Việt Nam. Chỉ riêng đối với cộng đồng các nhà vật lý Việt Nam, rất nhiều sản phẩm công nghệ mang trong mình thành tựu của vật lý hiện đại (từ điện thoại di động, TV thông minh cho tới các thiết bị điều khiển, tự động hóa trong công, nông nghiệp, các thiết bị chẩn đoán, điều trị trong y tế…), nhưng việc đưa các thành tựu công nghệ mới này vào Việt Nam dường như vẫn là lĩnh vực tự xoay sở của các doanh nghiệp cũng như là nơi “làm ăn” béo bở của các công ty môi giới trung gian. Kết quả là nhiều cơ sở trong nước đã từng bị lừa trả tiền thật để mua các công nghệ cũ (đa phần công nghệ đã bị thải loại ở những nước phát triển) để sử dụng trong sản xuất, kinh doanh trong nước. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sản xuất của nền kinh tế nước nhà đang ở mức rất thấp so với quốc tế.           Đa số chúng ta vẫn quen với cách làm việc thụ động theo quy trình “bao cấp”, chỉ coi trọng việc thực hiện các kế hoạch và nhiệm vụ do lãnh đạo cấp trên đề ra, thiếu sự mạnh dạn cũng như tâm huyết đề xuất đưa công nghệ hiện đại nhất của ngành mình vào phục vụ cộng đồng người dân Việt.           Trong lĩnh vực khoa học hạt nhân, cụ thể hơn là vật lý hạt nhân (VLHN), những ứng dụng phi năng lượng vô cùng quan trọng của VLHN trong các lĩnh vực khác nhau cho đến nay vẫn chỉ hiện diện khá manh mún, thiếu một chương trình tầm quốc gia. Tháng 5/2007, tôi được mời tham gia hội nghị VLHN quốc tế lớn nhất thế giới INPC tổ chức ở Tokyo nhân dịp 100 năm ngày sinh của Hideki Yukawa, nhà vật lý đầu tiên của Nhật Bản được trao giải Nobel. Tôi đã khá ngạc nhiên khi được nghe một diễn giả khẳng định trong một báo cáo ở phiên toàn thể (với sự hiện diện của Nhật Hoàng) rằng đóng góp lớn nhất của VLHN cho nhân loại là những ứng dụng công nghệ hạt nhân trong y học. Thực tế, công nghệ soi chiếu, chẩn đoán của y học hiện đại hoàn toàn dựa vào ứng dụng của VLHN trong các hệ soi chiếu như SPECT hay PET. Đặc biệt, công nghệ PET (positron emission tomography) được phát minh từ những năm 1960 và được sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển từ đầu thập kỷ 1980, nhưng chỉ năm 2009 mới được đưa vào Việt Nam hoàn toàn qua đầu tư tư nhân, không có vai trò tư vấn hay hỗ trợ nào từ cộng đồng các nhà khoa học hạt nhân nước nhà. Thành tựu vô cùng quan trọng khác của VLHN ứng dụng là việc sử dụng chùm bức xạ hạt từ máy gia tốc proton hay carbon vào điều trị u bướu, được triển khai rộng rãi ở các nước phát triển từ những năm 1980 cũng như ở những nước nghèo đang phát triển từ đầu thế kỷ 21. Tuy nhiên, cộng đồng bệnh nhân ung thư của Việt Nam (tăng trung bình hơn 200 nghìn ca mỗi năm) cho đến nay vẫn chưa có điều kiện điều trị tại một cơ sở gia tốc như vậy trong nước. Sự ưu việt của công nghệ điều trị u bướu dùng chùm bức xạ hạt từ máy gia tốc (liều xạ mạnh tập trung phá hủy gọn tế bào ung thư) so với những phương pháp xạ trị thông thường (liều xạ yếu, thiếu tập trung và lại có ảnh hưởng phá hủy đối với các tế bào lành xung quanh) được minh họa như hình bên.      Đa số chúng ta vẫn quen với cách làm việc thụ động theo quy trình “bao cấp”, chỉ coi trọng việc thực hiện các kế hoạch và nhiệm vụ do lãnh đạo cấp trên đề ra, thiếu sự mạnh dạn cũng như tâm huyết đề xuất đưa công nghệ hiện đại nhất của ngành mình vào phục vụ cộng đồng người dân Việt. Tuy nhiên một số ý kiến của giới VLHN nước nhà cũng đã rất băn khoăn tại sao cho đến nay Nhà nước chưa có chương trình quốc gia xây dựng một trung tâm ứng dụng gia tốc hadron trong y học với giá thành chỉ bằng khoảng 20% chi phí xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân với lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mới (mà mức độ cần thiết đối với cộng đồng người Việt chắc chắn không cấp thiết bằng một trung tâm gia tốc hadron, nhưng lại đang được tiến hành triển khai rất nghiêm túc và khẩn trương theo quyết định chính trị của lãnh đạo cấp trên). Thời gian gần đây đã có những đề xuất từ giới chuyên môn của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đề nghị xây dựng một trung tâm gia tốc quốc gia trên cơ sở vốn ODA của đối tác Nhật Bản và phía bạn đã có những phản hồi rất thiện chí. Tuy nhiên, đề án đó không được giới quản lý KH&CN thực sự quan tâm, hơn nữa lãnh đạo ngành lại luôn phải tập trung vào nhiệm vụ và chức năng chính là hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình điện hạt nhân tương lai. Mặc dù chi phí không phải là lớn đối với một dự án quốc gia, việc xây dựng một trung tâm gia tốc cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng y học vẫn nằm ngoài tầm đầu tư tư nhân. Kết quả là cộng đồng bệnh nhân ung thư ở Việt Nam chắc còn phải khắc khoải chờ nhiều năm nữa cho đến khi có cơ hội được điều trị với chùm hadron từ máy gia tốc.      Rõ ràng chúng ta cần phải có ngay những chương trình, chính sách đầu tư cụ thể (do Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia chủ trì triển khai) để động viên và khuyến khích nỗ lực từ các nhà khoa học trong và ngoài nước trong việc đưa các công nghệ hiện đại của thế giới về phục vụ người dân Việt. Đây cũng phải là một nội dung quan trọng cần được xét đến trong quá trình xây dựng đề án tái cơ cấu nền KH&CN nước nhà.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Đừng chỉ chạy theo những con số      Một góc nhìn khác về cuộc chạy đua số lượng công bố quốc tế và các chỉ số khác trong khoa học ở các nước đang phát triển.    Chú trọng vào chỉ số này, giảm chỉ số kia?  Năm ngoái, Indonesia đã vượt qua Thái Lan và trở thành nước thứ ba (sau Malaysia và Singapore) có số lượng công bố quốc tế cao nhất tại Đông Nam Á. Riêng trong năm 2016, số lượng công bố quốc tế của Indonesia là 11,470, gấp nhiều hơn hai lần so với Việt Nam – là nước đang xếp thứ năm trong khu vực. Điều này tạo ra hi vọng rằng quốc gia này có thể đuổi kịp các nước phát triển khác. Con số này của Thái Lan là 11, 331, của Malaysia là 28,546 và của Singapore là 32,504. Đó dường như là một cái kết tốt đẹp cho đầu tư gia tăng số lượng công bố quốc tế trong nhiều năm nay của Chính phủ Indonesia.    Số lượng công bố quốc tế và chỉ số trích dẫn của một số nước trong khu vực ASEAN  Một bài báo trên tờ The Conversation vừa qua đã đưa ra một góc nhìn khác về thành tích khoa học của Indonesia. Các nhà khoa học Indonesia không vội lạc quan, họ cho rằng đằng sau con số ấn tượng như vậy là câu hỏi về chất lượng nghiên cứu và chính sách hỗ trợ khoa học của chính phủ. Trên thực tế, câu chuyện của Indonesia cũng có nhiều nét tương đồng với các quốc gia đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam cũng đang kêu gọi thúc đẩy mạnh mẽ số lượng công bố quốc tế.  Số lượng công bố chưa đủ để nói lên bức tranh khoa học của một nước. Ở Indonesia, dù số lượng công bố cao nhưng chỉ số trích dẫn của nước này lại thua xa không chỉ so với những “đối thủ” mà nó đang cố gắng vượt qua, mà còn cả những nước xếp sau như Việt Nam. Trong khi đó, chỉ số này hiện nay lại có tính trọng yếu trên các bảng xếp hạng đại học (Ví dụ bảng xếp hạng The Times Higher Education bao gồm năm chỉ số, giảng dạy, nghiên cứu, chỉ số trích dẫn, hợp tác quốc tế và doanh thu từ khối công nghiệp). Chỉ số trích dẫn quá thấp của Indonesia cho thấy các nghiên cứu của nước này không nằm trong mối quan tâm chung của các nhà khoa học toàn cầu và như vậy, dù công bố quốc tế ngày càng tăng, khoa học nước này vẫn có nguy cơ trở thành “ốc đảo” với thế giới. Phần lớn các nghiên cứu của Indonesia chỉ khu trú trong một trường đại học trong nước và rất ít liên kết với nước ngoài. Thậm chí, tỉ lệ các công bố liên kết với nước ngoài của Indonesia đang trên đà lao xuống dốc.  Trường hợp của Indonesia là một minh họa cho việc, chạy theo chỉ số này có thể dẫn đến sự sụt giảm của chỉ số khác quan trọng hơn và cuối cùng chẳng đem lại lợi ích cho cộng đồng khoa học cũng như cho sự phát triển của nền khoa học quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề lại không nằm ở việc phải chú trọng quan tâm và tăng cường tất cả các chỉ số đánh giá mà phụ thuộc vào mục đích phát triển khoa học của một quốc gia: chạy theo các chỉ số để làm đẹp hình ảnh hay muốn tạo ra các công bố chất lượng đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước?  Trong bài báo trên The Conversation, tác giả gợi ý rằng Indonesia không cần phải cạnh tranh với Thái Lan, Singapore, Malaysia mà cần hợp tác khoa học với họ, cần những chương trình hợp tác liên ngành với các nhà khoa học trong nước, cần các chương trình hỗ trợ nghiên cứu dài hạn và cơ chế phê duyệt tài trợ nhanh chóng. Hình thức cấp vốn cho các nhiệm vụ khoa học của Indonesia hiện nay cũng giống như Việt Nam đó là cấp theo từng năm và thời gian từ khi đề tài được chấp thuận cho đến lúc thực sự nhận được vốn mất rất nhiều thời gian. Nếu như làm được như vậy thì các công bố có giá trị, chỉ số trích dẫn vì thế cũng tăng lên một cách tự nhiên.    Nên có những chương trình hợp tác giữa các nhà khoa học trong nước và nước ngoài thay vì tạo sự cạnh tranh không cần thiết  giữa họ  Lắng nghe các nghiên cứu  Tăng vị trí của mình trong các bảng xếp hạng và các chỉ số đo lường không phải là câu chuyện của riêng Indonesia mà còn là “nỗi ám ảnh” của đa số các nước đang phát triển, đang nóng lòng muốn thể hiện mình trên trường quốc tế. Cải thiện số lượng các công bố – đầu ra dễ thấy nhất của việc nghiên cứu khoa học là phương thức dường như đơn giản nhất để thể hiện tham vọng này. Indonesia đã treo thưởng tới hơn 7000 USD tiền mặt (khoảng 10 lần tháng lương của một nhà khoa học) nếu họ có bài báo được đăng trên tạp chí có ảnh hưởng cao. Các trường Đại học ở Thái Lan và Việt Nam cũng tiến hành một chiến lược tương tự. Tuy nhiên, một bài báo khác trên Nature cho rằng, các nhà quản lý khoa học ở các nước đang phát triển dường như quên mất rằng, đầu ra của các công bố khoa học không chỉ thể hiện ở các bài báo khoa học mà còn ở các khuyến nghị chính sách. Giữa các nhà khoa học và các nhà làm chính sách vẫn có một khoảng cách quá xa.         Các nhà quản lý khoa học ở các nước đang phát triển dường như quên mất rằng, đầu ra của các công bố khoa học không chỉ thể hiện ở các bài báo khoa học mà còn ở các khuyến nghị chính sách. Giữa các nhà khoa học và các nhà làm chính sách vẫn có một khoảng cách quá xa.      Chính phủ Indonesia từng nỗ lực trong nhiều năm liền để phòng chống bệnh giun chỉ bạch huyết (lymphatic filariasis) – một căn bệnh khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Các nhà khoa học ở Đại học Indoneisa đã khuyến nghị chính phủ không nên tuân theo đề xuất của Tổ chức Y tế thế giới, là hằng năm cấp phát một loại thuốc để ngăn chặn loài giun Wuchereria bancrofti – tác nhân chủ yếu gây ra các chủng bệnh giun chỉ trên toàn cầu, có vòng đời kéo dài từ 9-12 tháng. Nhưng những nhà khoa học ở Indonesia đã chứng minh rằng, chủng bệnh giun chỉ phổ biến nhất ở Indonesia lại được gây ra bởi một loại giun khác, tên là Brugia malayi có vòng đời ngắn hơn và loại thuốc mà WHO đề xuất không có tác dụng bởi nó vẫn cho loài giun này thời gian để phát triển và phát tán. (Nghiên cứu này đã được xuất bản trên tạp chí Clinical Infectious Deseases của Đại học Oxford) Tuy nhiên Bộ Y tế của Indonesia lại lờ đi và không thay đổi phương án của WHO.  Một ví dụ khác ở Việt Nam đó là nước ta rất cần sự tham gia của các nhà khoa học trong quy trình quản lý rủi ro thiên tai. Khu vực từ Hà Tĩnh đến Thừa thiên Huế là nơi dễ bị tổn thương nhất từ hiện tượng El Nino và nhiệt độ nước biển nóng lên nên tình trạng thiên tai lũ lụt ở đây sẽ diễn ra nghiêm trọng hơn trong thời gian tới. Hiện nay, việc đối phó với tình trạng này vốn được thực hiện một cách bị động và triển khai chủ yếu nhờ vào kinh nghiệm của các cán bộ hành chính và thường “trở tay không kịp” khi có sự cố xảy ra. Trong khi đó, cách tiếp cận hiện nay trên thế giới là tập trung vào công tác chuẩn bị kĩ lưỡng đòi hỏi sự tham gia của các nhà khoa học ngay từ đầu: xây dựng hệ thống quan trắc khí tượng và bản đồ ngập lụt, hệ thống thông tin cảnh báo sớm nhưng Việt Nam dường như còn xa lạ với cách tiếp cận này.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Đúng người đúng việc      Trong lĩnh vực khoa học, nơi các hoạt động thường có tính quy chuẩn và yêu cầu đối với những phẩm chất đạo đức -&#160; như tính trung thực và tinh thần công tâm vì lợi ích chung –&#160; được đặt lên cao nhất, yêu cầu giao tiền vào đúng người và đúng việc càng phải được coi trọng hàng đầu. Thế nhưng quyền phân bổ tiền luôn là thứ quyền lực chính trị hàng đầu mà mọi cơ quan quản lý đều muốn nắm giữ tối đa.      Ở Việt Nam, lâu nay Bộ KH&CN vẫn thường phàn nàn rằng Bộ Kế hoạch & Đầu tư nắm quá nhiều quyền lực trong việc làm kế hoạch phân bổ kinh phí và tham khảo một cách rất hạn chế những ý kiến đề xuất từ phía Bộ KH&CN. Tuy nhiên, dù cơ quan nào nắm quyền lực này thì quyết định phân bổ kinh phí cho hoạt động KH&CN ở nước ta vẫn mang nặng tính xin cho, thiếu một cơ sở khoa học thuyết phục, và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những tác nhân phi khoa học.  Một ví dụ điển hình thường thấy là hiện tượng các tổ chức nghiên cứu của chúng ta liên tục tìm cách ‘lobby’ nhằm nâng cao tính chính danh cùng tầm ảnh hưởng chính trị, có thể từ một phòng thí nghiệm nhỏ trở thành trung tâm nghiên cứu, từ trung tâm trở thành viện nghiên cứu, từ tổ chức mẹ lại tiếp tục đẻ ra các tổ chức con, v.v.  Nghiễm nhiên đi kèm với sự tăng tiến về địa vị và mở rộng về quy mô là sự gia tăng về biên chế bộ máy cùng những quyền lợi khác, tất yếu đều dẫn tới sự gia tăng về nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước mà không nhất thiết đi kèm với tăng tiến về chất và lượng trong sản phẩm nghiên cứu.   Trong khi đó, ở những nước có nền quản lý KH&CN phát triển người ta không xếp hạng các tổ chức nghiên cứu theo cơ chế xin cho thuần túy, mà căn cứ mật thiết vào sản phẩm đầu ra, buộc các tổ chức này phải thường xuyên nỗ lực cạnh tranh nhau để giành được nguồn kinh phí phục vụ cho sự phát triển của mình. Một trung tâm nghiên cứu có thể tạm thời được coi là xuất sắc và được hưởng nhiều ưu đãi hơn những trung tâm khác nhưng sẽ không thể duy trì đặc quyền đó nếu không quản lý và phát triển một cách khôn ngoan để rồi bị bắt kịp và tụt hậu so với các đối thủ.    Đương nhiên, để có thể cạnh tranh tự do lành mạnh thì các tổ chức nghiên cứu nói trên phải được quyền tự chủ về tổ chức nhân sự, việc đánh giá sản phẩm đầu ra phải căn cứ trên những tiêu chí công khai rõ ràng, và quan trọng nhất là việc thẩm định đánh giá các dự án/sản phẩm nghiên cứu phải được thực hiện bởi những hội đồng vừa có đủ chuyên môn, vừa được quản lý một cách chặt chẽ và thống nhất.   Ở Việt Nam hiện nay, duy mới chỉ có Quỹ Nafosted phần nào đáp ứng được đòi hỏi về tính thống nhất trong quản lý phân bổ kinh phí cho nghiên cứu KH&CN. Nhưng quy mô của Quỹ còn rất nhỏ, không đáng kể so với nguồn lực dành cho nghiên cứu KH&CN hiện vẫn đang được phân bổ căn cứ theo những quyết định của vô số các hội đồng nằm phân tán rải rác trong khắp các Bộ, ngành, địa phương. Hậu quả của tình trạng này là nguồn lực của Nhà nước dành cho KH&CN được đầu tư một cách vừa tràn lan vừa manh mún, và không một cơ quan nào thực sự phải chịu trách nhiệm giải trình.  Để thoát khỏi tình trạng phân bổ kinh phí cho KH&CN quan liêu như hiện nay, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là phải sớm chuyển sang thực hiện mô hình quỹ KH&CN quốc gia. Đó là một mô hình mà hầu hết các quốc gia phát triển đang thực hiện có hiệu quả, do vừa đảm bảo tính thống nhất trong quản lý – một cơ quan giải trình duy nhất – vừa đảm bảo sự linh hoạt để phù hợp với đặc thù riêng của hoạt động KH&CN, và cho phép sự tham gia của các nhà khoa học hàng đầu vào các quyết sách chiến lược trong chi tiêu ngân sách Nhà nước cho khoa học để giảm thiểu ảnh hưởng từ những tác nhân phi khoa học ngoài mong muốn – các nhà khoa học đầu ngành hoàn toàn có thể tham gia vào hội đồng điều hành quỹ thay vì chỉ có tiếng nói hạn chế trong vai trò tư vấn hoặc trong tư cách khách mời tại những cuộc hội thảo đơn lẻ rời rạc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Edison của Y học      Các nghiên cứu cơ bản thường tốn kém, rủi ro, dễ bị giới doanh nghiệp tránh né hợp tác nên nhiều cơ hội tiềm năng không được khai phá. Nhưng vẫn có những người phá cách, đó là nhà hóa học Bob Langer, Học viện Công nghệ Masachuset (MIT), người biến phòng thí nghiệm của mình trở thành một trong những cơ sở nghiên cứu năng suất và lợi nhuận cao nhất thế giới bằng cách tự bắc cầu vượt qua “thung lũng chết” đưa nghiên cứu cơ bản đến thị trường.      Bob Langer là người tiên phong trong lĩnh vực phân phối thuốc phóng thích có kiểm soát và kỹ nghệ mô. Ảnh minh họa của Wired.   Một buổi sáng vào năm 2016, James Dahlman đến văn phòng của Bob Langer tại Viện Nghiên cứu tích hợp về ung thư Koch của MIT để nói lời từ biệt với người hướng dẫn của mình.    “Hãy là điều gì đó thật lớn lao, thực sự thay đổi thế giới,” Bob Langer nói.    Đó không chỉ là lời truyền cảm hứng cho học trò cũ. Đó là lý tưởng dẫn dắt chính bản thân Langer, một kỹ sư hóa học và là người tiên phong trong lĩnh vực phân phối thuốc phóng thích có kiểm soát và kỹ nghệ mô, trong suốt sự nghiệp bốn thập kỷ của ông tại MIT. Phòng thí nghiệm của ông (Langer’s Lab) là một trong những đơn vị nghiên cứu năng suất nhất trên thế giới.    Bất kỳ nhà lãnh đạo các nhóm tinh hoa thuộc các lĩnh lực khác nhau: học thuật, doanh nghiệp, chính phủ, đều có thể học hỏi nhiều điều từ mô hình quản trị của Langer. Ông đưa ra cách tiếp cận năm mũi nhọn đẩy nhanh nhịp độ nghiên cứu và vượt qua được “thung lũng chết” ngăn cách học thuật và thương mại hóa, để đưa ra được sản phẩm ứng dụng vào đời sống thực. Ông có phong cách lãnh đạo hài hòa giữa tự do và hỗ trợ, tích cực đưa ra các phương pháp tạo thuận lợi cho sự hợp tác đa ngành, đồng thời thu hút được nhân sự khoa học và các khoản tài trợ ngắn hạn.      Ông đưa ra cách tiếp cận năm mũi nhọn đẩy nhanh nhịp độ nghiên cứu và vượt qua được “thung lũng chết” ngăn cách học thuật và thương mại hóa, để đưa ra được sản phẩm ứng dụng vào đời sống thực.      Langer đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc: Chỉ số H-index đo lường số lượng xuất bản khoa học được trích dẫn của ông ở mức 230, cao hơn bất kỳ kỹ sư nào từ trước đến nay. Với hơn 1.100 bằng sáng chế mà ông được cấp phép sử dụng trực tiếp và thứ cấp cho hơn 300 công ty công nghệ sinh học, hóa chất, dược phẩm, thiết bị y tế, đã khiến ông có biệt danh “Thomas Edison của y học”. Một mình hoặc cộng tác, phòng thí nghiệm của ông đã tạo ra 40 công ty, trong đó 39 đang tồn tại độc lập hoặc được sáp nhập, mua lại, với tổng giá trị khoảng 23 tỷ USD, chưa bao gồm Living Proof, công ty chuyên về các sản phẩm tóc mà Unilever mua lại với giá không được tiết lộ.    Sản phẩm cuối cùng của phòng thí nghiệm chính là con người. Khoảng 900 nhà nghiên cứu sau đại học đã tiếp tục sự nghiệp nổi bật của mình trong các lĩnh vực học thuật, kinh doanh và đầu tư mạo hiểm: 14 người là viện sĩ Viện Kỹ sư quốc gia, 12 người là viện sĩ Viện Y học quốc gia Hoa Kỳ.     Tập trung vào các vấn đề tạo tác động lớn     Một trong những thần chú của Langer khi lựa chọn dự án: Hãy xem xét tác động tiềm tàng đối với xã hội, chứ không phải tiền bạc. Ý tưởng ở đây là khi bạn tạo ra được thứ gì đó thật đặc biệt, khách hàng và tiền sẽ tự tìm đến. Đó là sự khác biệt sâu sắc so với cách tiếp cận của doanh nghiệp: Nếu ý tưởng về một sản phẩm hoàn toàn mới đến mức không thể dự đoán được lợi nhuận mà nó có thể đem về (điều mà hầu hết mọi nghiên cứu tham vọng đều phải trải qua), họ sẽ không theo đuổi hoặc từ bỏ ngay khi vướng trở ngại.    Đối với Langer, “tác động” nghĩa là số người mà một phát minh có thể giúp đỡ. Theo công ty đầu tư mạo hiểm Polaris Partners, các doanh nghiệp về khoa học sự sống xuất phát từ phòng thí nghiệm của ông có tiềm năng chạm đến cuộc sống của 4.7 tỷ người. Ví dụ, năm 1996, phòng thí nghiệm đã tạo ra tấm wafer có thể cấy vào não để phân phối thuốc hóa trị vào trực tiếp bề mặt u nguyên bào thần kinh đệm. Một phương pháp khác – vừa được bàn giao cho Sigilon, một doanh nghiệp mới có trụ sở tại Cambridge, MA – có tiềm năng chữa bệnh đái tháo đường type 1, được phát triển thông qua hợp tác của các nhà nghiên cứu từ các trường đại học khác nhau. Họ tìm cách bọc các tế bào beta tụy trong màng polymer để bảo vệ chúng khỏi hệ miễn dịch, đồng thời cho phép chúng phát hiện nồng độ đường huyết để phóng thích lượng insulin thích hợp.    Với các dự án cụ thể và tham vọng như thế, đúng vậy, khách hàng tự tìm đến: các tổ chức, các công ty, nhà khoa học từ phòng thí nghiệm khác, cơ quan chính phủ, bao gồm cả Viện Sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ NIH. Các tổ chức và công ty đang tài trợ 63% trong ngân sách hằng năm 17.3 triệu USD của phòng thí nghiệm, từ quỹ Bill & Melinda Gates, quỹ ung thư tuyến tiền liệt, cho đến tập đoàn dược phẩm Novo Nordicsk và Hoffmann-La Roche. Dan Hartman, Giám đốc Phát triển tích hợp và Bệnh sốt rét của quỹ Gates và là người liên lạc với phòng thí nghiệm cho biết: “Một lý do chính khiến chúng tôi quyết định làm việc với Bob là thành tựu của anh ấy về nghiên cứu kiểm soát sự phân phối thuốc trong cơ thể”. “Năng lực sáng tạo và trình độ kỹ thuật chuyên môn không hề bị phóng đại quá mức”.      Nữ hoàng Anh trao giải thưởng về kỹ thuật và đổi mới sáng tạo Queen Elizabeth Prize for Engineering cho Langer vào năm 2015. Theo tờ Wired thống kê, Langer  đã được trao 220 giải thưởng khác nhau.   Tiêu chí thứ hai để lựa chọn dự án là phải phù hợp với các lĩnh vực cốt lõi của phòng thí nghiệm: phân phối thuốc, phát triển thuốc, kỹ nghệ mô, vật liệu sinh học.     Thứ ba, ông luôn đánh giá liệu các thách thức y học và khoa học có thể vượt qua được bằng cách áp dụng rộng rãi các kiến thức khoa học đương đại, phòng thí nghiệm có thể tự lực hay cần phối hợp với các đơn vị khác.     Cách tiếp cận này đối lập với quy trình tuyến tính ba bước: Nghiên cứu cơ bản (đơn thuần mở rộng tri thức khoa học tự nhiên mà không quan tâm đến khía cạnh thực tế), chuyển hóa nó thành nghiên cứu ứng dụng (cố gắng giải quyết các vấn đề thực tế), rồi mới phát triển thương mại hóa, cuối cùng đạt đến đỉnh cao là sản xuất quy mô hàng loạt. Kể từ chiến tranh, các trường đại học vẫn chiếm khoản lớn nhất trong tổng ngân sách nghiên cứu cơ bản, nhưng các doanh nghiệp cũng góp phần: AT&T, Corning, DuPont, IBM, là những cái tên tiêu biểu. Tuy nhiên, các công ty lớn nhận ra tự mình nghiên cứu là điều quá rủi ro và tốn kém, kết quả chậm và khó đoán, mà chưa chắc đã đem lại giá trị. Thế là họ chuyển sang mua hoặc xin giấy phép các phát minh hoặc đầu tư và thâu tóm các công ty khởi nghiệp, hoặc tài trợ các nghiên cứu hoặc gửi nhà khoa học của họ đến các phòng thí nghiệm học thuật.    Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, một số nhà nghiên cứu đã tiên phong thúc đẩy khoa học cơ bản trong khi giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách. Nhà khoa học chính trị Donald E. Stokes từ Đại học Princeton đã hình tượng hóa không gian làm việc của họ: một “một góc riêng của Pasteur”, nhằm nhắc lại rằng Pasteur luôn theo đuổi hiểu biết cơ bản về vi sinh vật để tìm cách chống lại bệnh tật và ngăn thực phẩm bị hỏng. Tại phòng thí nghiệm của Bell, các nhà khoa học đã có những khám phá cơ bản trong khi cải tiến và mở rộng hệ thống thông tin liên lạc. Cơ quan các dự án nghiên cứu quốc phòng nâng cao Hoa Kỳ DARPA là một trong những tổ chức đổi mới thành công nhất.      Một trong những câu thần chú của Langer khi lựa chọn dự án: Hãy xem xét tác động tiềm tàng đối với xã hội, chứ không phải tiền bạc. Tiêu chí thứ hai để lựa chọn dự án là phải phù họp với các lĩnh vực cốt lõi của phòng thí nghiệm: phân phối thuốc, phát triển thuốc, kỹ nghệ mô, vật liệu sinh học. Thứ ba, ông luôn đánh giá liệu các thách thức y học và khoa học có thể vượt qua được bằng cách áp dụng rộng rãi các kiến thức khoa học đương đại, phòng thí nghiệm có thể tự lực hay cần phối hợp với các đơn vị khác.      Phòng thí nghiệm của Langer cũng thuộc kiểu “một góc riêng của Pasteur”. Mặc dù các nhà nghiên cứu dành phần lớn nỗ lực cho khoa học ứng dụng và kỹ thuật để giải quyết các vấn đề quan trọng, nhưng trong quá trình này, họ thường đẩy xa thêm hiểu biết về khoa học cơ bản. Một trong những khám phá quan trọng nhất của Langer là cách phóng thích các thuốc phân tử lớn trong cơ thể thông qua polymer xốp với liều lượng và thời gian phù hợp trong nhiều năm. Điều này liên quan đến sự mở rộng hiểu biết về lý thuyết thấm trong toán và vật lý.    Rất hiếm các công ty liên kết nghiên cứu cơ bản với các ứng dụng lớn trong thế giới thực. Một số ngoại lệ đáng chú ý – nỗ lực của Corning về truyền tin lượng tử và vật liệu bắt giữ khí CO2, IBM về điện toán nhận thức và thành phố thông minh, Alphabet về chăm sóc sức khỏe và xe tự lái. Nếu giải quyết được các vấn đề lớn của xã hội, bạn thực sự sẽ kiếm được rất nhiều tiền.     Xây cây cầu bắc qua “thung lũng chết”     Chọn đúng dự án để theo đuổi chỉ là bước đầu tiên; con đường hiện thực hóa còn dài và gian nan. Langer đã có công thức đặc trị để các nghiên cứu từ giai đoạn đầu có thể băng qua “thung lũng chết” để đến bước phát triển thương mại.     Tập trung vào “các công nghệ nền tảng” – đa ứng dụng    Nhiều phòng thí nghiệm của doanh nghiệp lẫn học thuật chỉ muốn giải quyết các vấn đề cụ thể trước mắt, trong khi Langer lại có tầm nhìn xa trông rộng. Terry McGuire, đối tác sáng lập của Polaris, cho biết ngoài việc tạo ra thị trường rộng lớn hơn, chiến lược này cũng mở ra các ứng dụng ngoài dự kiến. Ví dụ, Momenta, công ty ra đời năm 2001 để khai thác các phương pháp mới nhằm hiểu biết và điều chỉnh cấu trúc phân tử đường, ban đầu thiết kế các trình tự heparin để điều trị bệnh như ung thư và mạch vành. Tuy nhiên, nó đã sớm nhận ra có thể ứng dụng công nghệ mới để xác lập cấu trúc phức tạp của phân tử lovenox (heparin trọng lượng phân tử thấp). Nghiên cứu này đã tạo ra một sản phẩm sinh học ngăn ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, tạo doanh thu hơn 1 tỷ USD trong năm đầu tiên, và tăng lên nhiều tỷ USD hiện nay.    Các nhà khoa học có thể nghĩ ra nhiều ứng dụng từ một nghiên cứu. Langer đã có ý tưởng về vi mạch cấy ghép có thể giải phóng thuốc trong nhiều năm và có thể điều khiển bên ngoài cơ thể khi xem chương trình truyền hình về chất bán dẫn, ông còn nghĩ đến việc đưa chúng vào ti vi để phát ra mùi hương nhằm nâng cao trải nghiệm người xem.     Đăng ký bằng sáng chế phổ rộng    MIT đã là nơi tiên phong trong việc xin và cấp phép các phát minh học thuật nhưng Langer là một trường hợp đặc biệt xuất sắc vượt trội, ông theo đuổi các bằng sáng chế mạnh. Mục tiêu của ông là giới hạn, hoặc ngăn chặn đối thủ đòi quyền lợi trên các địa hạt mà các công ty sẵn sàng bỏ tiền để thương mại hóa, thường gồm các khoản đầu tư đắt tiền cho thử nghiệm lâm sàng và vượt xa chi phí nghiên cứu ban đầu.       Một “sản phẩm” đáng giá của Bob Langer, Living Proof, công ty chuyên về các sản phẩm tóc mà Unilever mua lại với giá không được tiết lộ. Trong ảnh: Diễn viên Jennifer Aniston, người đồng sở hữu của Living Proof kiểm tra sản phẩm thử. Ảnh: wsj.com.    Xuất bản trên các tạp chí uy tín    Hiện diện trên một tạp chí uy tín như Nature hoặc Science là sự xác nhận và quảng bá cho tính đúng đắn và tầm quan trọng của khám phá, không chỉ đối với học giả khác mà còn với giới đầu tư kinh doanh tiềm năng.     Nhưng đừng đẩy các khám phá ra khỏi phòng thí nghiệm quá nhanh    Lý do rất dễ hiểu: để tăng khả năng hiệu quả và tối thiểu hóa khả năng thất bại khi mở rộng quy mô và thương mại hóa trong tương lai.     Ví dụ một nghiên cứu ứng dụng sóng siêu âm để phân phối nhanh nhiều nhóm thuốc điều trị, gồm thuốc phân tử nhỏ, đại phân tử, nucleic acid, trực tiếp đến đường tiêu hóa thay vì tiêm như trước đây. Mặc dù có những kết quả hứa hẹn ban đầu và các nhà khoa học của phòng thí nghiệm háo hức để thương mại hóa nhưng Langer quyết định trì hoãn. Ông yêu cầu tiếp tục chứng minh tính an toàn của nó trong các nghiên cứu điều trị dài ngày trên động vật kích thước lớn và phát triển các công thức mới để nâng cao hiệu quả phân phối thuốc.    Nghiên cứu bổ sung, không bị sức ép từ thời gian thương mại hóa, đã được đền đáp. Sau hơn 18 tháng, phòng thí nghiệm đã chứng minh công nghệ này có thể phân phối một loại thuốc hoàn toàn mới (nucleic acid không màng bọc), mở ra ứng dụng tiềm năng lớn. Nhóm đã xuất bản nhiều bài báo trên các tạp chí được bình duyệt ngang hàng, cung cấp bằng chứng rằng dữ liệu gốc là đáng tin cậy và có thể tái lập. Chỉ khi đó, Langer mới đồng ý gây quỹ cho một công ty mới, Suono Bio, để tiếp quản công việc phát triển tiếp theo.     Khen thưởng xứng đáng    MIT thưởng cho nhà phát minh 1/3 thu nhập từ tiền bản quyền sau các chi phí và lệ phí. Phần còn lại được chuyển đến các phòng ban hoặc trung tâm nghiên cứu, văn phòng bản quyền công nghệ của MIT và quỹ chung của trường. Trong những thập kỷ gần đây, ngày càng nhiều trường đại học đưa ra các chính sách tương tự, nhưng cách tiếp cận này vẫn rất bất thường trong giới doanh nghiệp.     Sự tham gia của các nhà nghiên cứu trong việc thương mại hóa    Trong thời gian qua, nhiều thành viên của phòng thí nghiệm đã rời vị trí cũ để gia nhập các công ty kế thừa dự án của họ, nơi niềm đam mê của họ trong việc đưa công nghệ ra thị trường cũng quan trọng như việc phát triển trình độ chuyên môn. Langer cho biết “một trong những lý do khiến nhiều công ty thành công là nhờ có sự đồng hành của các học trò của chúng tôi, bởi họ tin tưởng những điều mình đã làm trong phòng thí nghiệm và muốn biến nó thành hiện thực”. Các nhà nghiên cứu khác nhận tư vấn cho các công ty khi vẫn có công việc tại phòng thí nghiệm này hoặc sau khi chuyển sang trường đại học khác. Bản thân Langer tham gia 10 hội đồng quản trị của các công ty khởi nghiệp từ chính nghiên cứu của ông. Các trường đại học ngày càng nới lỏng hạn chế đối với các giáo sư tham gia dự án thương mại, thậm chí còn khuyến khích thông qua các đơn vị ươm mầm và hỗ trợ. Nhưng vẫn còn những cảm xúc lẫn lộn tại nhiều nơi, chưa xây dựng được văn hóa khởi nghiệp giống với MIT. Còn trong giới doanh nghiệp, sự tham gia quá sâu vào quá trình thương mại của các nhà nghiên cứu là điều rất bất thường.       Nguồn ảnh: bostonherald  “Tôi muốn giải quyết các vấn đề có thể thay đổi thế giới và biến nó thành nơi tốt đẹp hơn. Đó là mục đích khoa học xuyên suốt cuộc đời tôi. Các công ty mà tôi giúp đỡ tạo dựng là phần khuếch tán tự nhiên ra đời sống thực. Các công ty có thể áp dụng mô hình và giá trị của phòng thí nghiệm Langer để trở thành nơi tốt đẹp hơn và kiếm được nhiều tiền hơn”. Bob Langer     Xây dựng đội ngũ hợp tác đa ngành    Một nhóm nghiên cứu về một thiết bị phân phối thuốc đường uống nằm sẵn trong dạ dày và từ từ phóng thích thuốc trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng được ra đời với nguyên mẫu ban đầu có thiết kế hình ngôi sao. Sau đó, một kỹ sư cơ khí có kinh nghiệm đã tham gia nhóm và bắt đầu chất vấn. Tại sao không phải hình dạng khác? Nhóm nghiên cứu đã đánh giá một số lựa chọn, bao gồm hình lục giác và nhiều loại hình sao khác nhau, và nhận thấy ngôi sao sáu cánh là tốt nhất để vừa nằm gọn trong viên nang và tồn tại lâu trong dạ dày. Thành viên mới của nhóm cũng đưa ra những cân nhăc về độ cứng của các cánh và trung tâm của ngôi sao, độ mạnh của mảnh đàn hồi (elastomer) ở vị trí tương tác với mô, và kích thước lúc bung ra của thiết bị. Cuộc tranh luận dần chuyển sang bàn về các vật liệu giúp thiết bị tồn tại lâu hơn.    Phòng thí nghiệm “hội tụ” những người có lí lịch khoa học khác nhau, giúp nhóm có hiểu biết mới và cách suy nghĩ mới về cùng một vấn đề. Các nhóm tại phòng thí nghiệm của Langer bao gồm các kỹ sư hóa học, cơ khí và điện tử; nhà sinh học phân tử; bác sĩ lâm sàng; bác sĩ thú y; nhà khoa học vật liệu; nhà vật lý; nhà hóa dược. Danh tiếng của ông đã khiến phòng thí nghiệm thu hút 119 nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới, cùng với 30-40 sinh viên đại học thực tập mỗi học kỳ, trong khi hằng năm nhận 4,000-5,000 đơn đăng ký cho 10-20 vị trí nghiên cứu hậu tiến sĩ cho các vị trí cần kỹ năng chuyên môn cho các dự án cụ thể.    Điều kiện bắt buộc cho các ứng viên là phải có kết quả học tập xuất sắc và động lực cao. Đội ngũ lãnh đạo gồm Langer, Traverso và kỹ sư y sinh Ana Jaklenec (MIT) tìm kiếm những người “tốt bụng, hòa đồng và giao tiếp tốt”, bởi đó là những phẩm chất quan trọng của các nhà nghiên cứu phải liên tục giải thích về lĩnh vực của họ cho đồng nghiệp và tìm cách hợp tác thực hiện hiệu quả các thí nghiệm chung. Hockfield, nhà vô địch trong việc hội tụ nhân sự trong tám năm lãnh đạo MIT, nói rằng sự khác biệt về ngôn ngữ kỹ thuật, phương thức làm việc, giá trị quan và thậm chí cách xác định vấn đề đã tạo ra một trong những thách thức ghê gớm cho các phòng thí nghiệm đa ngành.    Jaklenec cho tôi xem một tấm bảng trắng viết đầy các phương trình từ cuộc họp của hai nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ – một nhà sinh học và một kỹ sư y sinh – họ đang cộng tác trong dự án vaccine bại liệt một liều tiêm tồn lại lâu trong cơ thể và phóng thích dần theo từng đợt. Nhà sinh học đã tìm ra cơ chế của thoái hóa của dòng virus dùng trong vaccine, trong khi kỹ sư y sinh nghiên cứu về ổn định nhiệt. Dữ liệu của cả hai không tương hợp với nhau, hóa ra vì họ đã chạy thử nghiệm ở các nồng độ vaccine khác nhau: kết quả của kỹ sư y sinh được dùng trong lâm sàng, còn của nhà sinh học dựa vào các phương pháp phân tích trong lĩnh vực của cô ấy. Họ đã phải sắp xếp các thí nghiệm để đối chiếu kết quả. Những vấn đề như vậy không phải là hiếm. Traverso nói “thách thức là làm sao để mọi người có tiếng nói chung và hiểu được rằng, đối với một số thứ, không ai là chuyên gia duy nhất”.     Ngay cả khi không có vai trò nào phù hợp rõ ràng với họ, Langer đưa ra những ví dụ về “siêu sao” với lý lịch khoa học bất thường. Traverso nhận bằng tiến sĩ về sinh học phân tử dưới sự hướng dẫn của nhà sinh học ung thư danh tiếng Bert Vogelstein của đại học Johns Hopkins, về xét nghiệm các phân tử mới lạ để phát hiện ung thư đại tràng. Thời điểm liên hệ với Langer, ông đã hoàn thành chương trình nội trú nội khoa tại bệnh viện Brigham & Women’s, Boston và đang cố gắng tìm hiểu xem nên làm gì với học bổng ngành tiêu hóa mới nhận được từ Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Ông nói với Langer rằng mình hứng thú với việc phát triển hệ thống phân phối thuốc trong đường tiêu hóa nhưng lại không phải là kỹ sư. Dù vậy, Langer vẫn thuê ông ấy.     Và Langer đã đặt cược thành công. Traverso đã mô tả khái niệm về các cách tiếp cận khác nhau để phân phối thuốc thông qua các thiết bị trong đường tiêu hóa. Quỹ Gates đã nhìn thấy công trình này có thể giải quyết được các vấn đề mà nó muốn giải quyết tại các nước nghèo và đã cung cấp ngân sách nghiên cứu đáng kể. Các khoản tài trợ cũng đến từ Novo Nordisk để phát triển kim siêu nhỏ để tiêm từ bên trong cơ thể, từ phòng thí nghiệm Charles Stark Draper cho hệ thống viên nang mới, và từ Hoffmann-La Roche cho cách thức phân phối một nhóm thuốc mới.     Luân chuyển liên tục     Như tất cả các phòng thí nghiệm học thuật khác, Langer luôn tiếp nhận rồi chia tay nhân sự của mình. Nghiên cứu sinh tiến sĩ thường ở lại trong 4-5 năm, hậu tiến sĩ trong 2-3 năm, và sinh viên đại học tham gia 1-4 học kỳ. Người mới luôn được đào tạo và mọi người có thể rời đi khi năng suất làm việc đạt đỉnh cao. Langer và đồng nghiệp cho rằng điều này đem lại nhiều điểm tích cực hơn hẳn tiêu cực. Các vấn đề được nhìn nhận dưới những con mắt mới lạ, nên phòng thí nghiệm được “kích thích liên tục”. Sự chuyển đổi nhân sự khá dễ đoán dựa vào thời gian của dự án, thậm chí các khoản tài trợ khổng lồ giúp cho quy mô của phòng thí nghiệm dần mở rộng. Thời hạn của hợp đồng lao động kèm theo thời hạn của dự án (thường 3-5 năm, với các lần gia hạn tùy thuộc sự đáp ứng kết quả) tạo ra áp lực để đạt được mục tiêu.     Dẹp bỏ cấp quản lý vi mô     Dưới sự lãnh đạo của ông, mọi người đều tham gia đưa ra ý tưởng cho các dự án và lựa chọn dự án nào để theo đuổi. “Đó là một nỗ lực tập thể, trao quyền cho mọi người, tất cả đều cảm thấy vai trò của họ quan trọng và có thể đề xuất mọi thứ”. Điều này trái ngược hẳn với hầu hết các phòng thí nghiệm khác, nơi lãnh đạo lựa chọn dự án.    Langer cho mọi người biết các lựa chọn và để họ quyết định nên làm gì. Quyền lực được phân phối trên cơ sở tích lũy ý tưởng và sáng kiến của từng người và nguồn tài trợ và họ thu hút được. Langer cung cấp cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu sinh sau đại học, rất nhiều hướng dẫn ban đầu để đảm bảo rằng họ khởi động thuận lợi và các cấu trúc dự án đạt tối ưu. Ví dụ, khi bắt đầu dự án phát triển thiết bị phân phối thuốc lưu lại trong dạ dày thời gian dài, ông và Traverso quyết định phải tìm hiểu về hai khả năng: cho nó trôi nổi hay bám vào thành dạ dày. Sau khi nghiên cứu tính khả thi, họ chọn theo đuổi phương án trôi nổi trong dạ dày rồi Langer nhường lại phần việc tiếp theo cho cấp dưới. Nhưng ông không nói cho mọi người biết cần phải làm gì, bởi “đánh giá của bài kiểm tra dựa vào đáp án đúng, còn đánh giá trong cuộc sống dựa vào việc bạn có biết đặt câu hỏi có tốt hay không”. Ông không muốn tạo dựng một phòng thí nghiệm mà mọi người làm đúng theo những gì được phân công. Phòng thí nghiệm của ông phải là nơi mọi người giải quyết các vấn đề của chính họ và đó là lý do tại sao họ trở thành những giáo sư và nhà khoa học vĩ đại trong mắt giới doanh nhân.    Nhưng đồng thời, Langer đảm bảo “quyền tự chủ có hướng dẫn” – các nhà nghiên cứu có thể tin tưởng mình và các cộng sự trong mạng lưới nếu họ gặp rắc rối. Năng lực phản ứng của ông đã trở thành huyền thoại. Ông luôn mang iPad theo bên mình để trả lời email trong vài phút. Langer cũng nỗ lực hết mình để giúp những người rời phòng thí nghiệm của mình có được công việc tốt, và vẫn giữ liên lạc với hàng trăm cựu sinh viên, hỗ trợ họ khi cần. Trong cuộc gặp chia tay với James Dahlman được đề cập ở đầu bài viết, ông đã đề nghị được xem các đơn xin tài trợ của Dahlman. Ông kết nối với mạng lưới của mình. Ông đề cập đến nhiều nhà đầu tư mạo hiểm tài trợ cho các công ty khởi nghiệp của mình, như Terry McGuire của Polaris; Noubar Afeyan, của Flagship; và Mark Levin, của Third Rock – với tư cách bạn bè đúng nghĩa.     Đầu tư cho mạng lưới quen biết đã thu lợi dưới hình thức hợp tác nghiên cứu hiệu quả, nhận được giới thiệu các sinh viên xuất sắc tham gia phòng thí nghiệm và nhân lực cho các công ty khởi nghiệp. Langer không chỉ mở đường cho các nhân viên tạo ra các công ty khởi nghiệp mà còn khai thác mạng lưới đó khi cần. Amy Schulman, giám đốc hoặc chủ tịch điều hành của ba công ty khởi nguồn từ phòng thí nghiệm của Langer, cho biết: “mọi người thường liên hệ với Bob khi họ nghĩ đến sự thay đổi công việc, vì ông vô cùng kín đáo và biết rất nhiều cơ hội mới. Đó là cách có qua có lại với nhau”.     Mô hình có thể được nhân lên?      Langer là cá nhân xuất sắc! Ông là phần không thể thiếu trong mô hình “từ nghiên cứu đến sản phẩm thương mại”. Langer là độc nhất, nhưng mô hình của ông thì có thể sao chép nhân lên, vậy khi đó điều gì sẽ xảy ra khi bồi dưỡng các chuyên gia sâu trong một số lĩnh vực để khách hàng tìm với các vấn đề cấp bách của mình? Điều gì sẽ xảy ra khi họ thu hút các siêu sao khoa học bằng các cơ hội giải quyết các vấn đề thay đổi thế giới?    Có lẽ các công ty nên thiết lập hoạt động nghiên cứu như một trạm dừng chân vài năm cho những người giỏi nhất đến để cố gắng làm ra điều gì đó táo bạo. Cách tiếp cận như vậy không chỉ giúp giải quyết các dự án tham vọng hơn mà còn loại bỏ các dự án tầm thường hoặc chậm chạp. Dòng chảy nhân sự sẽ tự nhiên loại bỏ các ý tưởng không còn hợp đối với những cái nhìn tươi mới. □     Cao Hồng Chiến dịch  Số ra tháng 3-4/2017 (trang 134–143) của Harvard Business Review    Author                Quản trị        
__label__tiasang Fête de la Science, ngày hội khoa học kỳ thú      Hàng nghìn sự kiện được tổ chức trong khuôn  khổ Ngày hội Khoa học (Fête de la Science) trên khắp nước Pháp. Hơn một  triệu lượt người tham dự và con số được ghi nhận năm sau đều tăng so với  năm trước. Những nguồn lực nào đã được huy động để làm nên ngày hội  khổng lồ và có sức hút mạnh mẽ này? Tia Sáng may mắn được tham gia Fête  de la Science năm nay cũng như gặp gỡ những người liên quan để tìm hiểu  vấn đề.    Lai lịch một ngày hội  Năm 1991, để đánh dấu 10 năm Bộ Đại học và Nghiên cứu mở cửa khu vườn của mình cho công chúng vào tự do, Bộ trưởng Hubert Curien, cũng là một nhà vật lý lớn của nước Pháp, Chủ tịch Tổ chức nghiên cứu nguyên tử châu Âu (CERN) từ năm 1994-1996, quyết định tổ chức ngày hội “Vinh danh khoa học”. Năm 1992, ngày hội đầu tiên được tổ chức vào tháng Sáu và kéo dài ba ngày. Năm 1998, để thêm nhiều học sinh có cơ hội tham gia, Bộ trưởng Bộ Đại học và Nghiên cứu lúc bấy giờ là Claude Allegre đề nghị kéo dài ngày hội một tuần và đổi tên thành Tuần Khoa học. Từ năm 2000, ngày hội bắt đầu mang tên gọi như ngày nay, Fête de la Science, và cố định vào tháng 10 hoặc 11.   Được tổ chức trên toàn nước Pháp, đây là dịp để cộng đồng khoa học tăng cường sự tương tác với nhau và với công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên, thông qua các cuộc tham quan, triển lãm, trình diễn, thảo luận, thuyết trình… Con số các sự kiện được tổ chức mỗi năm lên đến hàng nghìn, bao trùm mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ… Ước tính mỗi năm có khoảng 7.000 nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên, kỹ sư, nhà công nghệ tình nguyện tham gia làm hướng dẫn viên, diễn giả tại ngày hội…  Tùy theo từng năm mà Fête de la Science có thể mang một chủ đề nhất định, chẳng hạn năm 2009, ngày hội mang chủ đề “Nguồn gốc của sự sống và vũ trụ”, nhân kỷ niệm 400 năm lần đầu Galileo Galilei quan sát vũ trụ bằng kính thiên văn và 200 năm sinh của Charles Darwin. Còn năm nay, ngày hội diễn ra từ ngày 9 đến 13/10, với chủ đề “Từ vô cùng lớn đến vô cùng nhỏ”, gắn với sự kiện phát hiện hạt Higgs.  Trong khuôn khổ ngày hội, có các giải thưởng được trao cho cuốn sách giúp độc giả phổ thông hiểu rõ một tiến bộ khoa học và tác động của nó đối với thế giới; một sản phẩm giúp trẻ em từ 10 đến 15 tuổi hiểu biết và yêu thích một vấn đề khoa học phù hợp với lứa tuổi; một nhóm nghiên cứu/phòng thí nghiệm/cá nhân có cách giải thích sáng tạo và hiệu quả về một công trình nghiên cứu cho công chúng rộng rãi.  Xã hội hóa triệt để  Ngày hội Khoa học là sáng kiến của Bộ Đại học và Nghiên cứu, nhưng làm nên nó có sự góp sức của toàn xã hội. Sự kiểm soát của Bộ chỉ thể hiện ở việc ấn định thời gian tổ chức và hình ảnh nhận diện. Về thời gian tổ chức, phải thuận tiện cho người tham dự, chẳng hạn không trùng ngày lễ, không trùng mùa đông hay mùa thi của học sinh. Về hình ảnh nhận diện, Bộ cung cấp riêng một bộ tài liệu, quy định kích thước và màu sắc cho các áp-phích, tờ rơi, sách mỏng, quầy hàng… để các đơn vị theo đó chủ động thiết kế, bảo đảm một nhận diện thống nhất về ngày hội trên toàn quốc.          “Không phải Bộ Đại học và Nghiên cứu đứng ra tổ chức tất cả các sự kiện mà phần lớn do các đơn vị như viện nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm, bảo tàng, doanh nghiệp chủ động.”              Bà  Perrine Danmanville, giám đốc truyền thông của Bộ Đại học và Nghiên cứu         Năm nay, trong khuôn khổ ngày hội đã diễn ra 2.500 sự kiện. “Không phải Bộ Đại học và Nghiên cứu đứng ra tổ chức tất cả các sự kiện mà phần lớn do các đơn vị như viện nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm, bảo tàng, doanh nghiệp chủ động… Mỗi năm Bộ đều cố gắng cải tiến, làm mới ngày hội, nhưng chỉ bằng cách đưa ra định hướng và cách thức triển khai. Chủ đề chung cho ngày hội có thể có hoặc không, nhưng dù có cũng không mang tính áp đặt,” bà Perrine Danmanville, giám đốc truyền thông của Bộ, cho biết.  Nước Pháp chia thành tám vùng và các Cơ quan Nghiên cứu và Công nghệ vùng (DRRT) mới chính là cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp và có thẩm quyền gắn mác Fête de la Science cho các sự kiện diễn ra trong ngày hội. Việc này giúp bảo đảm không phải đơn vị nào cũng có thể lấy danh nghĩa ngày hội để cung cấp những thông tin sai lệch, theo bà Danmanville.   Về mặt tài chính, Bộ Đại học và Nghiên cứu tài trợ tổng cộng 1 triệu euro cho ngày hội, trong đó 300 nghìn euro dành cho truyền thông, số còn lại dành cho các sự kiện đã được gắn mác ngày hội. Vì phải chia nhỏ nên khoản tài trợ mà mỗi sự kiện nhận được thành ra không đáng kể, chỉ đủ chi phí thuê địa điểm. Mặc dù các đơn vị tổ chức sự kiện còn có thể nhận hỗ trợ từ ngân sách của chính quyền địa phương, nhưng về cơ bản, họ phải chịu trách nhiệm trang trải chi phí – hoặc dùng ngân sách của bản thân, hoặc đi kêu gọi tài trợ… “Không thể ước lượng tổng số tiền cả nước chi cho ngày hội vì nó được huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau, từ chính quyền địa phương, từ các nhà tài trợ, từ bản thân đơn vị tổ chức…” bà Danmanville kết luận.  Hẳn có người sẽ nghĩ, tham gia ngày hội như vậy khác nào “mua việc vào người” thế nhưng các đơn vị vẫn thích “mua việc” vì đây quả là dịp tốt để họ quảng bá hoạt động của mình. “Một mặt công chúng cần thông tin, mặt khác các đơn vị, đặc biệt là doanh nghiệp, cũng cần truyền thông về hoạt động của mình, nhất là về các vấn đề còn gây tranh cãi. Chẳng hạn, vấn đề rác thải năng lượng nguyên tử được công chúng hết sức quan tâm, nhưng khi đề cập vấn đề này, báo chí lại chỉ tập trung nói về mối nguy của nó mà không giải thích các khía cạnh khác như giới hạn của mối nguy, các biện pháp hoặc quy trình xử lý… để công chúng nắm đầy đủ,” bà Sylvane Cesademont, Chánh văn phòng Tổng vụ Nghiên cứu và Phát triển, Bộ Đại học và Nghiên cứu, nói. Được biết, năm nay, trong khuôn khổ ngày hội, 15 nhà máy điện hạt nhân, năm nhà máy thủy điện, và hai nhà máy nhiệt điện thuộc Tập đoàn Điện lực Pháp EDF đã trở thành địa điểm tham quan và triển lãm, giới thiệu các công nghệ mà nước Pháp đang sử dụng để làm ra điện cũng như lịch sử ngành điện lực thế giới và các nhà khoa học của nó.  Các bước thực hiện  Ngày hội mỗi năm chính thức được khởi động từ tháng Tư đến tháng Sáu, khi các Ban điều phối vùng gửi thư kêu gọi tham gia đến các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm, viện bảo tàng, doanh nghiệp… Thời gian này, các dự án sẽ được gửi về Ban điều phối vùng, thường được chỉ định ở một tổ chức khoa học, công nghệ, hoặc công nghiệp phi lợi nhuận. Từ tháng Bảy, sự kiện bắt đầu được truyền thông đến công chúng, thông qua website, áp-phich, tờ rơi… Cũng trong tháng Bảy, hội đồng tuyển chọn dự án được thành lập, bao gồm sáu thành viên, trong đó có ba nhà khoa học, một người từ chính quyền địa phương, một người từ tổ chức phi lợi nhuận chuyên về thúc đẩy khoa học, công nghệ và công nghiệp, và một người từ DRRT. Sau khi có danh sách các dự án được chọn, Ban điều phối vùng sẽ làm đề nghị gửi lên Bộ Đại học và Nghiên cứu xin kinh phí hỗ trợ. Thường là tháng 11, sau khi ngày hội kết thúc, Bộ mới chuyển khoản hỗ trợ để bảo đảm sự kiện diễn ra đúng như cam kết. Cuối cùng, các đơn vị làm báo cáo về công chúng (lứa tuổi; đến ngày hội cùng ai; cảm nhận và kỳ vọng; khả năng quay trở lại vào năm sau…), và chuyển lên Ban điều phối vùng để Ban tổng hợp và gửi về Bộ.           Các nguyên tắc của Ngày hội Khoa học:              ● Tất cả các sự kiện đều phải vào cửa miễn phí              ● Không được quá đông người trong cùng một lúc;              ● Bảo đảm an toàn về vệ sinh và cháy nổ;               ● Có chất lượng khoa học cao;              ● Được thể hiện một cách lý thú và dễ tiếp nhận;               ● Được truyền thông rộng rãi đến mọi người dân, bất kể ngành nghề, tuổi tác.           Trên đây là các bước tổ chức một Ngày hội Khoa học ở vùng do ông Nguyễn Huy Bảo, DRRT Île-de-France, mô tả.  Theo ông Nguyễn Huy Bảo, các dự án nhỏ độc đáo và dễ dàng mang đi trình diễn ở các địa điểm khác nhau sẽ được ưu tiên lựa chọn. “Cũng có khi, nhiều chủ dự án liên kết với nhau để tạo ra những dự án lớn. Nếu được lựa chọn, dự án sẽ được quảng cáo trên các tờ báo phát hành miễn phí ở địa phương,” ông Nguyễn Huy Bảo cho biết thêm.  Khó mà nói có công nghệ tổ chức đặc biệt nào ở quy trình tổ chức Fête de la Science. “Chìa khóa quyết định thành công nằm ở chỗ có những người muốn làm.”, ông Nguyễn Huy Bảo nhấn mạnh. Ngoài ra, ông cho rằng, có ba nguyên tắc cần tuân thủ, đó là tất cả các sự kiện đều phải vào cửa miễn phí nhưng không được quá đông trong cùng một lthời điểm, đồng thời phải bảo đảm an toàn về vệ sinh và cháy nổ; có chất lượng khoa học cao, được thể hiện một cách lý thú và dễ tiếp nhận; được truyền thông rộng rãi đến mọi người dân, bất kể ngành nghề, tuổi tác.     Những gợi ý cho Việt Nam  Khi được biết Bộ KH&CN Việt Nam có ý định tổ chức Ngày hội Khoa học vào tháng 5/2014, các chuyên gia Pháp đã đưa ra một số gợi ý, mặc dù cũng có ý kiến cho rằng tổ chức ngày hội đầu tiên vào tháng Năm năm tới thì có phần vội vàng.  Bà Cesademont ở Bộ Đại học và Nghiên cứu chia sẻ, khoa học rất quan trọng đối với người dân. Điều tra cho thấy người Pháp tin tưởng nhà khoa học và cần nhà khoa học giải thích các hiện tượng xã hội, kinh tế, thế giới… nhưng cùng lúc, họ không tin rằng các nhà khoa học hoàn toàn độc lập và khách quan mà vẫn có sự ràng buộc nào đó khiến họ không giữ được sự trung dung, bởi vậy công chúng cần được gặp gỡ và đối thoại với nhà khoa học để hai bên hiểu nhau hơn và có thể trao đổi trực tiếp với nhau về những vấn đề chưa thống nhất ý kiến. Chiến lược Khoa học và Công nghệ của Pháp đến năm 2020 cũng coi truyền thông nâng cao nhận thức khoa học cho người dân, khơi dậy ham muốn làm khoa học, đặc biệt ở giới trẻ, là một nội dung quan trọng. Ngày hội Khoa học, theo bà, là một cách làm có thể giúp đạt tất cả những mục tiêu nói trên. “Tuy nhiên, để đạt hiệu quả như mong muốn thì nội dung ngày hội phải rất hấp dẫn, thậm chí mang tính giải trí cao. Bên cạnh đó, các trình diễn, trưng bày, trò chuyện khoa học… phải gắn với cuộc sống, cho người dân thấy khoa học ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ như thế nào,” bà nói.  Bà Cesademont nhấn mạnh, ngày hội phải bắt đầu từ nhà khoa học, những người bên cạnh công việc nghiên cứu, phát minh còn có trách nhiệm truyền đạt và giải thích cho công chúng về các vấn đề khoa học và công nghệ một cách dễ hiểu và lý thú. “May mắn là bao giờ cũng có những nhà khoa học nhiệt huyết thích tương tác với công chúng. Ngày hội Khoa học phải tìm ra bằng được những người như thế.” Bà Cesademont gợi ý, Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) có không ít nhà khoa học học tập ở Pháp và chắc chắn đã tham gia Fête de la Science, bởi vậy Bộ KH&CN Việt Nam nên tham khảo họ về cách thức tổ chức và mời họ trực tiếp tham gia ngày hội ở quê hương mình.          “Tham gia  ngày hội đông nhất là các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, nhưng gần  đây số lượng các doanh nghiệp có bộ phận R&D tham gia ngày càng tăng  bởi họ cũng muốn các công nghệ mới của mình được truyền thông rộng  rãi.”               Ông Nguyễn Huy Bảo, Cơ quan Nghiên cứu và Công nghệ vùng (DRRT) Île-de-France        Ông Nguyễn Huy Bảo thì cho rằng, đối với ngày hội đầu tiên, không thể đòi hỏi sự hoàn hảo, chỉ cốt sao năm sau tốt hơn năm trước là được, trong khi đồng nghiệp của ông ở DRRT Île-de-France nói: Trong năm đầu tiên, quan trọng nhất là tập hợp cộng đồng các nhà khoa học, kể cả nghiên cứu sinh vì họ cũng có thể có những ý tưởng tốt. “10 năm trước khi đang là nghiên cứu sinh về toán, tôi đã đóng góp cho ngày hội một ý tưởng trò chơi xuất phát từ đề tài nghiên cứu của mình và được chấp nhận. Bởi vậy rất nên đến các trường đại học, gặp gỡ các giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên để tích lũy ý tưởng,” ông này nói.  Ông Nguyễn Huy Bảo cũng nêu một thực tế, các ngành khoa học xã hội không có nhiều cơ hội tham gia như các ngành khoa học tự nhiên, tuy nhiên chúng vẫn có thể kết hợp với nhau, như nhân chủng học kết hợp với sinh học, để tạo ra những chủ đề thú vị. Ngoài ra, sự phối hợp liên ngành giữa khoa học với nghệ thuật như văn học, kịch nghệ, âm nhạc… thường đem lại hiệu quả đặc biệt. “Tiềm năng của Ngày hội Khoa học rất lớn, thống kê đã chứng tỏ số người tham dự vẫn tăng chứ không giảm,” ông Nguyễn Huy Bảo lạc quan.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu và quá trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân      Đối với một quốc gia triển khai dự án ĐHN  đầu tiên như Việt Nam, việc có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cả về số  lượng, cơ cấu và chất lượng ngay từ giai đoạn đầu của dự án là không thể  thực hiện được. Vì vậy đã có nhiều lo ngại về khả năng Việt Nam  không có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chương trình ĐHN mà trước hết là chuẩn bị cho dự án ĐHN Ninh Thuận 1,  Ninh Thuận 2.      Xuất phát điểm không quá thấp  Theo kinh nghiệm của các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến về ĐHN cũng như hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), nguồn nhân lực có vai trò quyết định đến sự thành công của dự án điện hạt nhân (ĐHN) cũng như của chương trình phát triển ĐHN. Bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi sự phát triển của trình độ KH&CN cũng như của các ngành công nghiệp khác và được tích lũy kinh nghiệm theo thời gian.   Đối với một quốc gia triển khai dự án ĐHN đầu tiên như Việt Nam, việc có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng ngay từ giai đoạn đầu của dự án là không thể thực hiện được. Vì vậy đã có nhiều lo ngại dấy lên về khả năng Việt Nam không có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chương trình ĐHN mà trước hết là chuẩn bị cho dự án ĐHN Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2.   Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn như vậy, Việt Nam vẫn có những thuận lợi mà không phải bất cứ quốc gia nào mới phát triển chương trình ĐHN cũng có được, đó là chúng ta có số lượng khá đông và phong phú về cơ cấu các cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Với 32 năm vận hành lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đảm bảo an toàn, các cán bộ Việt Nam, đặc biệt là Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt), đã tích lũy được những tri thức quý báu về thực nghiệm và tính toán thông số vật lý – kỹ thuật lò phản ứng. Ngoài ra, chúng ta cũng có đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có am hiểu và nghiên cứu nhiều năm về các lĩnh vực liên quan như: cấu trúc hạt nhân, số liệu hạt nhân, an toàn bức xạ, quản lý chất thải, đánh giá tác động môi trường,… Qua đợt phối hợp với IAEA, Hoa Kỳ và Nga thực hiện thành công việc chuyển đổi vùng hoạt nhiên liệu từ độ giàu cao sang độ giàu thấp và chuyển trả nhiên liệu đã cháy về Nga (tháng 7/2013), đội ngũ cán bộ kỹ thuật Việt Nam đã có cơ hội tiếp cận các kỹ thuật về tính toán, thiết kế, lắp đặt, đo đạc thực nghiệm,…lò phản ứng, cũng như đã quản lý và giám sát rất tốt toàn bộ quá trình thực hiện công việc phức tạp này. Bên cạnh đó, trong những năm qua, một số lượng cán bộ kỹ thuật của Việt Nam đã tốt nghiệp thạc sỹ và tiến sỹ tại các nước tiên tiến trong lĩnh vực ĐHN. Hàng trăm lượt chuyên gia nước ngoài đã đến hỗ trợ Việt Nam; hàng trăm lượt cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của các cơ quan chức năng đã được huấn luyện, bồi dưỡng ở nước ngoài nhằm bổ sung kiến thức và kỹ năng cần thiết cho yêu cầu triển khai chương trình ĐHN. Đây là một tiền đề quan trọng trong việc hoàn thiện một số nội dung phát triển cơ sở hạ tầng ĐHN, củng cố niềm tin của công chúng và cộng đồng quốc tế đối với thực tiễn vận hành, quản lý an toàn năng lượng hạt nhân ở Việt Nam.          Nhu cầu tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến  thức, kỹ năng cần thiết phục vụ phát triển ĐHN cho các cơ quan quản lý  nhà nước, nghiên cứu – triển khai và hỗ trợ kỹ thuật lên tới 1000 người  với quy mô gần 3000 lượt người và kinh phí trên 500 tỷ đồng trong giai  đoạn đến năm 2020.         Đồng thời, thành tựu của 20 năm đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đem lại cho Việt Nam một lực lượng kỹ sư công nghệ, cán bộ kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật về xây lắp, cơ khí, tự động hóa, điện tử, hóa học, chế tạo máy,… trưởng thành qua quá trình tham gia những công trình công nghiệp lớn về dầu khí, nhiệt điện, thủy điện,…của đất nước. Khi phát triển chương trình ĐHN, họ sẽ là những nhân tố quan trọng bên cạnh đội ngũ các cán bộ, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, kỹ thuật hạt nhân để trở thành một lực lượng tổng thể phục vụ dự án nhà máy điện hạt nhân.     Một lợi thế nữa là chúng ta có các trường đại học, cao đẳng và trung cấp kỹ thuật về khoa học, kỹ thuật và công nghệ tốt, có kinh nghiệm về đào tạo; tại các bậc học phổ thông đã có sự tiếp cận ban đầu với các kiến thức về vật lý và các kiến thức liên quan. Như vậy, có thể nói hạ tầng cơ sở cho việc đào tạo nhân lực phục vụ chương trình ĐHN là khá tốt. Bên cạnh đó, nhờ sự hợp tác với Liên bang Nga thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2010 đến nay đã có trên 350 sinh viên Việt Nam theo học đại học chuyên ngành ĐHN tại Đại học MEPHI ở Obninsk, lứa sinh viên đầu tiên sẽ tốt nghiệp vào cuối năm 2016.  Kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ĐHN  Theo đánh giá của Bộ KH&CN, nguồn nhân lực cần phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng để phát triển năng lực trong giai đoạn đến năm 2020 là 1.000 người, trong đó 200 người làm công tác quản lý nhà nước, 800 người làm công tác nghiên cứu – triển khai và hỗ trợ kỹ thuật. Trong tổng số 1.000 người, 550 người thuộc Bộ KH&CN, 450 người thuộc các Bộ, ngành và tỉnh Ninh Thuận. Về trình độ chuyên môn, nguồn nhân lực 1.000 người gồm có khoảng 600 cử nhân, 300 thạc sỹ và 100 tiến sỹ các chuyên ngành khác nhau, được bố trí làm việc theo 40 chuyên môn/công việc khác nhau trong lĩnh vực ĐHN, mỗi chuyên môn/công việc có từ 10 – 30 người. Cơ cấu năng lực của toàn bộ nguồn nhân lực và của từng nhóm chuyên môn/công việc cần phải được xây dựng theo cấu trúc hình tháp gồm ba cấp năng lực chủ yếu với số lượng tương ứng cho mỗi cấp.  – Cấp cơ sở: khoảng 500 người có kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết có thể áp dụng trong chuyên môn/công việc phục vụ phát triển ĐHN; tốt nghiệp đại học, kinh nghiệm công tác từ hainăm trở lên; đã qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cơ sở.  – Cấp nâng cao: cần khoảng 400 người, có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích hợp để tạo thành năng lực có thể áp dụng trực tiếp và thường xuyên trong chuyên môn/công việc phục vụ phát triển ĐHN; tốt nghiệp đại học (sau đại học hoặc tương đương đối với người làm chuyên môn/công việc kỹ thuật), kinh nghiệm công tác từ 10 năm trở lên; đã qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao.  – Cấp chuyên gia: cần khoảng 100 người có năng lực chủ trì thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu – triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển ĐHN; tốt nghiệp đại học (tiến sỹ hoặc tương đương đối với người làm chuyên môn/công việc kỹ thuật), kinh nghiệm công tác từ 15 năm trở lên; đã qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu. Trong số đó, một bộ phận chuyên gia có trình độ cao, có năng lực giải quyết các công việc phức tạp, những nhiệm vụ có tính chiến lược, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ quản lý và kỹ thuật.  Với cách tiếp cận như vậy, Cục Năng lượng nguyên tử đã chủ trì, phối hợp xây dựng “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Quản lý nhà nước, nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ chương trình điện hạt nhân đến năm 2020” để lãnh đạo Bộ KH&CN đề xuất lên Chính phủ. Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch là phát triển năng lực của nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu – triển khai và hỗ trợ kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng cho việc triển khai hiệu quả, an toàn, an ninh Dự án ĐHN Ninh Thuận và chương trình phát ĐHN. Các giải pháp chủ yếu để triển khai thực hiện Kế hoạch bao gồm: Rà soát, sắp xếp, bổ sung nguồn nhân lực bảo đảm số lượng và cơ cấu chuyên môn phù hợp; Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển ĐHN; Xây dựng và hoàn thiện chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, nhân lực phục vụ phát triển ĐHN; tăng cường trang thiết bị, phương tiện giảng dạy; Đẩy mạnh và mở rộng hợp tác quốc tế; Thường xuyên áp dụng cách tiếp cận tổng thể trong kế hoạch đào tạo đối với từng đơn vị và từng nhóm chuyên môn/công việc (Systematic Approach to Training).  Điều quan trọng là quá trình đào tạo nguồn nhân lực phải gắn kết việc triển khai kế hoạch với các chương trình nghiên cứu, các nhiệm vụ của thực tiễn quản lý và kỹ thuật của chương trình ĐHN.  Trong kế hoạch này, một số chính sách, quy chế đặc thù nhằm thu hút những người tham gia chương trình ĐHN đã được đề xuất nhằm bổ sung những điều chưa có trong những chính sách ưu đãi đã ban hành trước đó. Những chính sách này đem lại cơ hội được hưởng những chế độ ưu đãi cho người hoạt động trong lĩnh vực ĐHN, thoạt nhìn có vẻ cao hơn so với những người thuộc các lĩnh vực khác nhưng xét về tổng thể, số lượng được hưởng chỉ tập trung vào một số nhóm nhất định nên không đòi hỏi sự đầu tư quá lớn từ ngân sách nhà nước, tránh được nỗi lo lãng phí nguồn vốn. Nếu chưa giải quyết được những vấn đề như vậy thì chúng ta sẽ vẫn chỉ loay hoay quanh những câu chuyện cũ, vấn đề cũ mà không thể giải quyết được triệt để các vấn đề mà thực tế đặt ra.     —————-  * TS., Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử (Bộ KH&CN)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gắn kết với đời sống để tạo sinh lực mới cho ngành Toán Việt Nam      Cuộc tọa đàm “Toán học, cơ hội và thách thức” được Viện Toán học Việt Nam phối hợp với tạp chí Tia Sáng tổ chức nhân Ngày KH&amp;CN Việt Nam 18/5 là cơ hội để các nhà toán học cùng thảo luận, tìm một hướng đi giúp nền toán học nước nhà có giá trị ứng dụng cao hơn, trở nên thiết thực và gần gũi hơn với công chúng.       Qua trao đổi giữa các nhà toán học, có thể thấy một thực tế là lâu nay số lượng và chất lượng đầu vào của ngành toán bị hạn chế, khi những học sinh giỏi, giàu năng lực thường theo đuổi các ngành kinh tế, tài chính, và phần lớn chỉ những người không đủ điểm đỗ vào những ngành này mới theo ngành toán. GS. Nguyễn Hữu Dư, Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Cao cấp về toán, đồng thời là Phó hiệu trưởng Đại học KH Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết có những học sinh từng đoạt giải quốc gia, quốc tế về toán sau khi được tuyển vào Đại học KH Tự nhiên cũng từ bỏ ngành toán để thi vào Đại học Ngoại thương. Còn theo GS. Lê Tuấn Hoa, Viện trưởng Viện Toán học, việc thiếu hụt nguồn nhân lực đầu vào khiến viện của ông rất khó tìm được người để giới thiệu xin học bổng ở những trường đại học nước ngoài danh tiếng và tiếp cận những thầy giỏi hàng đầu trên thế giới, dù những cơ hội như vậy hiện nay ở viện cao hơn rất nhiều so với trước đây.  Xu thế nhân lực trẻ đầu vào cho ngành toán suy giảm là điều đáng lo ngại, giữa bối cảnh ngành toán đang gặp khủng hoảng vì thiếu nguồn nhân lực, không chỉ thiếu những nhà toán học uy tín, tên tuổi mà còn thiếu về số lượng những người làm toán chuyên nghiệp, như nhận định của GS. Lê Tuấn Hoa. Đồng tình với quan điểm này, GS. Nguyễn Hữu Dư cho rằng đa số các trường đại học và viện nghiên cứu đang phải đối diện với thực tế là đội ngũ các nhà toán học đang già đi, với những nhà toán học tuổi 58 – 60 chiếm phần lớn, trong khi đội ngũ kế cận ở độ tuổi 40 – 58 có rất ít.     Vì sao ngành toán ở Việt Nam không hấp dẫn giới trẻ?            Nguyên nhân cơ bản khiến thế hệ trẻ không còn thiết tha với ngành toán xuất phát từ một nghịch lý như GS. Lê Tuấn Hoa đã chỉ ra, đó là cử nhân ngành toán ở Việt Nam khó tìm việc làm, khác với ở các nước công nghiệp phát triển, nơi những người tốt nghiệp đại học ngành toán rất “đắt hàng”, với nhiều cơ hội xin việc làm trong các ngành công nghiệp và doanh nghiệp.   Nghịch lý này dẫn tới một nghịch lý thứ hai, đó là đa số người theo nghiệp toán ở Việt Nam làm việc trong các trường đại học và viện nghiên cứu – trong khi ở Mỹ số người theo đuổi sự nghiệp học thuật sau khi tốt nghiệp tiến sỹ chỉ khoảng một phần ba, số còn lại làm việc trong các ngành công nghiệp, theo nhận xét của PGS. Vũ Hoàng Linh, chủ nhiệm khoa Tính toán và Toán ứng dụng của Đại học KH Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, công việc nghiên cứu, giảng dạy toán trong các trường, viện không phải là một lựa chọn hấp dẫn cho nhiều người, do nguồn thu nhập thấp và các chính sách, chế độ đãi ngộ của Nhà nước còn hạn chế. PGS. Bùi Xuân Hải, Khoa Toán Tin, Đại học KH Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cho biết đơn vị ông từ lâu nay rất thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, mà nguyên nhân chủ yếu do cơ chế Nhà nước về trọng dụng, đãi ngộ nhà khoa học chưa thỏa đáng. Phần lớn các sinh viên giỏi do khoa đào tạo thường tìm cơ hội đi du học, sau đó không quay lại làm việc ở khoa do mức thu nhập quá thấp.  Nguyên nhân cơ bản thứ hai khiến bộ môn toán kém hấp dẫn với giới trẻ là do phương thức giảng dạy còn khô khan, chưa gắn kết với thực tiễn đời sống, bởi “những người dạy toán không giúp người học nhận thấy sự thiết thực của những gì mình dạy; sa đà vào việc tìm cách chứng minh, lập luận chặt chẽ mà ít chú ý tới việc giới thiệu tính ứng dụng của toán”, theo GS. Phạm Thế Long, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự.   Cùng tham gia cuộc tọa đàm, em Nguyễn Huy Tùng, học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Phú, Hải Phòng, đồng thời là thành viên đội tuyển Olympic toán quốc tế cho biết đối với nhiều bạn học cùng lứa của em, những khái niệm cơ bản như đạo hàm, tích phân chỉ là “những thứ tự nhiên nhảy vào sách giáo khoa” buộc học sinh phải học với rất nhiều bài tập phải làm, trong khi rất ít nội dung trong sách giáo khoa giúp học sinh thấy được giá trị ứng dụng của các kiến thức đã học. “Học xong thì tất cả những thứ đó trở thành dĩ vãng, và rốt cục, sau 12 năm học, với nhiều bạn toán chỉ là môn giúp người ta… đếm tiền chứ không phải là một môn giúp con người có những suy luận logic trong đời sống”, em Tùng nói.    Ngành toán cũng cần được “tái cơ cấu”?  Các nhà toán học và chuyên gia cho rằng ngành toán cần một cuộc “tái cơ cấu” toàn diện, theo xu hướng tăng cường gắn kết với nhu cầu ứng dụng các kết quả nghiên cứu nhằm phục vụ thực tiễn đời sống song song với làm nghiên cứu cơ bản. Được biết trong thời gian gần đây, GS. Ngô Bảo Châu và Viện Nghiên cứu Cao cấp về toán đã bước đầu trao đổi với một số tổ chức và doanh nghiệp, tìm kiếm cơ hội cùng hợp tác nghiên cứu đưa các ứng dụng toán vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cụ thể trong đời sống. Ngoài ra, theo GS. Phùng Hồ Hải, Phó Viện trưởng Viện Toán học, một số nhà nghiên cứu toán ứng dụng ở Việt Nam cũng đã bắt đầu tập hợp, mày mò tìm một hướng phát triển để trở thành các nhóm nghiên cứu toán ứng dụng một cách chuyên nghiệp hơn.   Những dự định trên đây mới chỉ đang dừng lại trong các ý tưởng, chưa được triển khai một cách bài bản, có hệ thống. Nhìn chung các tổ chức nghiên cứu còn khá thụ động, dè dặt, lấy lí do là đơn vị mình chưa có đủ người làm toán ứng dụng cũng như nguồn kinh phí hỗ trợ cần thiết của Nhà nước để có thể thay đổi, đột phá. Ngoài ra, một số nhà toán học cho rằng nhu cầu sử dụng chất xám của những người làm toán ứng dụng ở các ngành công nghiệp của Việt Nam còn ở mức độ hạn chế, do đặc thù nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn phát triển chạy theo bề nổi. Theo PGS. Vũ Hoàng Linh, những năm gần đây mới chỉ có các doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực như tài chính, chứng khoán, và công nghệ thông tin bước đầu có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của ngành toán.  Tuy nhiên, đa số các ý kiến đều thống nhất cho rằng bản thân các nhà toán học có trách nhiệm chính trong việc tự tăng cường các tri thức và năng lực nghiên cứu ứng dụng toán học, đồng thời thuyết phục cộng đồng về tầm quan trọng của toán học đối với thực tiễn đời sống. Bước đi cần thiết đầu tiên là trong lĩnh vực giáo dục, bắt đầu ngay từ cải cách sách giáo khoa theo xu hướng chú trọng hơn tới việc giới thiệu những giá trị ứng dụng của toán học trong đời sống. Theo GS. Trần Văn Nhung, Việt Nam không cần lãng phí, tốn kém vào việc tự biên soạn từ đầu những nội dung mới, mà chỉ cần sử dụng lại nội dung những cuốn sách của các nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ và châu Âu – điều mà một nước phát triển trong khu vực như Singapore đã làm – trong đó không chỉ giới thiệu cho học sinh các lý thuyết toán học một cách có hệ thống mà còn đưa vào xen kẽ rất nhiều minh họa sinh động về các tình huống ứng dụng của toán học vào các vấn đề cụ thể trong thực tiễn.            Trong chuỗi các sự kiện được các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ tổ chức để hưởng ứng Ngày KH&CN Việt Nam vừa qua, có thể nói chương trình “Một ngày với toán học” – cuộc tọa đàm “Toán học, cơ hội và thách thức” cũng được tổ chức trong khuôn khổ chương trình này – là một trong số ít những sự kiện được tổ chức thành công nhất, với nhiều hoạt động phong phú vừa có tính chuyên môn vừa đảm bảo sự gần gũi và lôi cuốn đối với công chúng, thu hút được sự tham gia của nhiều sinh viên, học sinh, và các phụ huynh. Những hoạt động như vậy là vô cùng cần thiết trong tiến trình nâng cao nhận thức của công chúng, góp phần thay đổi quan điểm định kiến sai lầm rằng toán học khô khan, buồn tẻ, và không gắn với sự phát triển của cộng đồng, xã hội.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Gần lắm giấc mơ thiên văn Việt Nam      Trước đây, việc học và nghiên cứu  công nghệ vũ trụ ở Việt Nam phải gián tiếp thông qua các ngành liên quan  như vật lý, công nghệ thông tin, viễn thông… Kể từ năm  2012, việc này có thể được thực hiện trực  tiếp nhờ vào chương trình học Vũ trụ và Ứng dụng  (Space and Applications) tại ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Tương  lai nghề nghiệp ngành công nghệ vũ trụ Việt Nam cũng đang rộng mở với nhiều cơ hội.    Những ứng dụng trực tiếp cho kinh tế và xã hội  Thế kỷ 21, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ cũng đang ở trong giai đoạn bùng nổ. Nếu chú ý người ta sẽ nhìn thấy ứng dụng công nghệ vũ trụ ở khắp mọi nơi trong cuộc sống hàng ngày: ti-vi, điện thoại di động, máy tính xách tay, v.v. Không ai mà không biết đến những ứng dụng tuyệt vời của hệ thống định vị được tích hợp trong những chiếc điện thoại nhỏ xíu hay bản đồ điện tử, giúp chúng ta tìm được đến những hang cùng ngõ hẻm nhỏ nhất. Những ứng dụng này có được là nhờ một hệ thống vệ tinh phức tạp đang bay trên bầu trời. Nếu bạn thích du lịch thì chỉ cần lên máy bay, chưa đầy 24 tiếng bạn đã ở phía bên kia của quả đất nhưng những chiếc máy bay sẽ không thể di chuyển dễ dàng như thế nếu thiếu đi các hệ thống kiếm soát hành trình và hệ thống định vị.   Ngày nay việc theo dõi môi trường, rừng, biển, khí hậu, thiên tai cũng đã sử dụng nhiều ứng dụng công nghệ vũ trụ vào một ngành riêng biệt là ngành viễn thám (remote sensing). Viễn thám là ngành nghiên cứu sử dụng các hệ thống dò tìm, đo đạc đặt trên các vệ tinh trên bầu trời để quan sát các khu vực dưới mặt đất. Nhờ vậy mà người ta có thể được thu thập hình ảnh, số liệu một phần diện tích rộng và có một cái nhìn tổng thể hơn.     Trở thành nhà thiên văn học: Ước mơ trong tầm tay  Khoa học và công nghệ vũ trụ là tổng hợp thành quả từ nhiều ngành khoa học và cộng nghệ khác nhau, là biểu tượng của một quốc gia phát triển. Nhận thức được điều đó, Việt Nam đã và đang thúc đấy mạnh mẽ quá trình phát triển ngành công nghiệp vũ trụ nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội cũng như khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên không gian. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành khoa học vũ trụ và làm chủ công nghệ tiên tiến là một trong những ưu tiên hàng đầu.  Ở Việt Nam trước đây, việc học và nghiên cứu công nghệ vũ trụ vẫn phải gián tiếp thông qua các ngành có liên quan đến vũ trụ như vật lý, công nghệ thông tin, viễn thông… Kể từ năm 2012, việc học và nghiên cứu công nghệ vũ trụ có thể được thực hiện trực tiếp nhờ vào chương trình học cử nhân và thạc sĩ Vũ trụ và ứng dụng (Space and Applications) tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội1.  Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (University of Science and Technology of Hanoi, viết tắt là USTH) là trường đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, được thành lập theo sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp. Là trường đại học quốc tế đào tạo theo mô hình châu Âu, trường sẽ được xây dựng tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và hoạt động kết hợp với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong 10 năm đầu. Từ năm học 2012 – 2013, bên cạnh hệ cử nhân, hệ thạc sĩ Công nghệ vũ trụ và ứng dụng bắt đầu được triển khai với hầu hết các giảng viên đến từ Đại học Paris Diderot – Đại học Paris 7, Đài thiên văn Paris (l’Observatoire de Paris), Đại học Paul-Sabatier, École normale supérieur, v.v. Chương trình đào tạo thạc sĩ công nghệ vũ trụ đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam được thực hiện theo Hệ thống chuyển đổi và tích lũy tín chỉ chung châu Âu (European Credit Transfer and Accumulation System, viết tắt là ECTS), được công nhận bởi chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp.   Các hoạt động nghiên cứu và đào tạo sẽ được tiến hành tại một địa điểm và được kết nối với mạng lưới các trung tâm nghiên cứu – đào tạo chất lượng cao ở Pháp và Việt Nam. Chương trình cử nhân kéo dài 3 năm còn chương trình đào tạo hệ thạc sĩ Công nghệ vũ trụ và ứng dụng được chia làm 4 học kỳ trong 2 năm, mỗi học kỳ gồm 30 tín chỉ và tất cả các môn học sẽ được giảng dạy bằng tiếng Anh. Vào học kỳ cuối cùng, sinh viên sẽ được thực tập 8 tháng tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển (R&D labs), các viện nghiên cứu thiên văn học, các tổ hợp công nghiệp hàng không vũ trụ tại Pháp và châu Âu như Đài thiên văn Paris, Tập đoàn Hàng không vũ trụ và Quốc phòng châu Âu (EADS), v.v.  Học viên sau khi bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp sẽ có hai bằng, một bằng của trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội và một bằng của trường đại học Pháp nhận các học viên sang thực tập. Khi tốt nghiệp, học viên sẽ có học vị chuyên ngành Thạc sĩ Khoa học vũ trụ và ứng dụng (Master in Space Science and Applications) hoặc Thạc sĩ Công nghệ vũ trụ (Master in Space Engineering).   Chương trình sẽ cung cấp học bổng cho các học sinh có điều kiện khó khăn để hoàn thành chương trình. Đặc biệt việc thực tập trong học kỳ hai của năm hai thạc sĩ ở Pháp sẽ đươc chính phủ Pháp tài trợ 100%. Các sinh viên có nhu cầu phòng trọ sẽ được sắp xếp tại làng sinh viên quốc tế Thanh Xuân.  Học công nghệ vũ trụ để làm gì?  Phần lớn các bạn trẻ thường hỏi học công nghệ vũ trụ rồi ra làm cái gì? Việc đầu tiên mà các bạn có thể làm đó là tại các trung tâm khoa học liên quan ở Việt Nam như đã kể ở trên. Do đặc thù liên ngành của ngành công nghệ vũ trụ, nếu như bạn đổi ý, với kiến thức được trang bị bạn có thể tìm việc làm ở các ngành kỹ thuật liên quan như điện, cơ khí, hàng không… hay các ngành khác như ngân hàng và tài chính. Theo thống kê mới đây ở Hoa Kỳ thì ngành công nghệ vũ trụ là ngành học ít bị thất nghiệp nhất ở Mỹ2, ngay cả trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay. Ngay cả các bạn học ngành thời thượng thì cũng chỉ 50% đi làm đúng ngành học, vậy tại sao bạn lại không nắm lấy cơ hội để học cái mình thích. Quan trọng nhất, nếu đây là ước mơ trẻ thơ của bạn, hãy nắm lấy.  Tương lai nghề nghiệp ngành công nghệ vũ trụ Việt Nam đang rộng mở với nhiều cơ hội: kỹ sư và nghiên cứu viên tại các viện khoa học như Trung tâm Vũ trụ và Trung tâm Vệ tinh quốc gia; chuyên viên và kỹ thuật viên tại các tập đoàn viễn thông; chuyên viên trắc địa, thăm dò tại các cơ quan khí tượng, các tập đoàn khoáng sản và dầu khí; trở thành giảng viên đại học chuyên ngành thiên văn học, v.v…Sinh viên ngành vũ trụ và ứng dụng cũng có thể trở thành kỹ sư tại các công ty hàng không chuyên sản xuất thiết bị cho máy bay Boeing, Airbus hay các công ty thiết kế và chế tạo ô tô như Mercedes, BMW. Ngoài kiến thức chuyên môn vững chắc, đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội còn đào tạo cho những sinh viên này các kiến thức nền về quản trị, quản lý dự án khoa học, ngoại ngữ và luật pháp.         Việt Nam trở lại sân chơi hàng không vũ trụ   Nhà nước ta đã chính thức tái khởi động  chương trình nghiên cứu vũ trụ sau hơn 20 năm kể từ khi Phạm Tuân, là  người châu Á đầu tiên, mang màu cờ Việt Nam lên bản đồ không gian thế  giới. Ngày 14/6/2006, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược nghiên  cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020″. Ngày 20/11/2006, Viện  Công nghệ vũ trụ (Space Technology Institute – STI) được thành lập trực  thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với mục tiêu trở thành cơ sở  nghiên cứu đầu ngành về công nghệ vũ trụ của nhà nước. Cuối năm ngoái,  Trung tâm Vệ tinh quốc gia Việt Nam (Vietnam National Satellite Centre –  VNSC) được chính thức hoạt động, đặt tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà  Nội. Trung tâm Vệ tinh quốc gia cũng sẽ thực hiện, tiếp nhận, quản lý,  khai thác Dự án xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.   Cách trung tâm Hà Nội 30km, trải rộng trên  diện tích 9ha, Khu Nghiên cứu – Triển khai Công nghệ vũ trụ tại Khu công  nghệ cao Hoà Lạc có tổng vốn 350 triệu đô-la Mỹ từ nguồn vốn vay ODA ưu  đãi của Nhật Bản. Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Hoà Lạc sẽ được lắp đặt  các thiết bị hiện đại hàng đầu Việt Nam và khu vực, sánh tầm nhiều  trung tâm vũ trụ lớn của thế giới. Cùng với việc chủ động giám sát thảm  họa, quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển các ngành khoa học phụ  trợ, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam sẽ là nơi thành lập Trung tâm Quan sát  Trái đất và Phát triển vệ tinh, chuyển giao công nghệ và phát triển  nguồn nhân lực ngành công nghệ vũ trụ, tạo đà phát triển bền vững cho  Việt Nam, thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước châu Á –  Thái Bình Dương.   Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh công tác  nghiên cứu và làm chủ công nghệ chế tạo vệ tinh nhỏ cỡ nhỏ (pico và  mini) với dự án vệ tinh VNRedsat 1 (hợp tác với Pháp) và vệ tinh  VNRedsat 2 (hợp tác với Bỉ), cùng nhiều dự án hợp tác với Cơ quan Hàng  không vũ trụ Nhật Bản (JAXA). Hiện nay, tương lai nghề nghiệp ngành công  nghệ vũ trụ và ứng dụng tại Việt Nam vô cùng rộng mở.           —  * CLB Thiên văn nghiệp dư TP.HCM (HAAC)  1. Thông tin về chương trình học và thủ tục ứng tuyển có thể tham khảo thêm tại trang http://usth.edu.vn/vi/studycourses/mastercourses/master-of-space-and-applications/  2. Theo trang web: http://graphicsweb.wsj.com/documents/NILF1111/#term=         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ghi chép từ Hội nghị Toán học phối hợp Pháp-Việt 2012      Hội nghị Toán học Pháp-Việt (FVC 2012) được tổ chức hồi tháng 8 vừa qua  tại Đại học Sư phạm – Đại học Huế là một dịp hiếm có để nhìn lại quá  trình hợp tác trong nhiều năm qua giữa hai cộng đồng toán học Việt-Pháp  cũng như hướng đến các cơ hội hợp tác về nghiên cứu, đào tạo và triển  khai ứng dụng trong tương lai.    Về mặt lịch sử, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền toán học Việt Nam, Toán học Pháp luôn có một ví trí đặc biệt. Những nhà toán học đầu tiên đặt nền móng cho Toán học Việt Nam đều đã học ở Pháp. Tiêu biểu là giáo sư Lê Văn Thiêm, nhà toán học chuyên nghiệp đầu tiên theo nghĩa là có công trình nghiên cứu ở trình độ quốc tế. Năm 1941 ông thi đỗ vào trường Đại học Cao cấp danh tiếng (École Normale Supérieure) ở Paris, nơi đã đào tạo cho nước Pháp rất nhiều nhà khoa học lừng danh. Giáo sư Lê Văn Thiêm là một trong những người Việt đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sỹ khoa học tại Pháp (năm 1948, khi đó ông mới 30 tuổi). Hưởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, ông và một số nhà khoa học đã về nước và lập nên những trường đại học đầu tiên ở miền Bắc.  Do hoàn cảnh chiến tranh nên các quan hệ giữa Toán học Việt Nam và Pháp bị gián đoạn trong thời gian dài, dầu vẫn có những mối liên hệ gián tiếp. Quan hệ giữa hai bên được nối lại vào khoảng những năm 1965 bởi các giáo sư L. Schwartz, A. Grothendieck, Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Hoàng Tuỵ,… và một số giáo sư là Việt kiều tại Pháp như giáo sư Bùi Trọng Liễu, Lê Dũng Tráng, Nguyễn Thanh Vân. Một số chuyến thăm Việt Nam của các chuyên gia Pháp, trong đó hầu hết là các giáo sư hàng đầu thế giới, đã được tổ chức. Những chuyến thăm ấy luôn đi kèm với các bài giảng về những hướng toán học thời sự của thế giới lúc bấy giờ. Giáo sư A. Grothendieck, huy chương Fields năm 1966, đã sang Việt Nam trong vài tháng trời và giảng bài trong khi bom đạn của quân đội Mỹ đang rơi đầy bên ngoài. Ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy kết quả trực tiếp của những nỗ lực ấy qua một số nhóm nghiên cứu ở Việt Nam có gốc rễ bắt nguồn từ những lớp học như vậy.  Sau những năm 1980, một số nhà toán học Việt Nam có điều kiện sang Pháp thực tập. Đặc biệt là từ sau năm 1990 cho đến nay, đã có hàng trăm người Việt sang Pháp học tập và nghiên cứu toán từ trình độ đại học trở lên. Một bộ phận trong số này khi trở lại Việt Nam là nguồn bổ sung quan trọng cho lực lượng nghiên cứu và giảng dạy trong nước. Về sự hợp tác và giúp đỡ của các đồng nghiệp Pháp, giáo sư Ngô Bảo Châu nhận xét, “nước Pháp tuy không phải là nước có tiềm lực tài chính mạnh nhất nhưng có những con người thực sự có tình nghĩa, tấm lòng đối với Việt Nam”.  Hội nghị phối hợp Pháp-Việt (FVC 2012) là hội nghị chung đầu tiên giữa Hội Toán học Việt Nam và một hội toán học nước ngoài. Trên thế giới, các hội nghị chung (joint meeting) giữa các hội toán học được tổ chức khá thường xuyên. So với các hội nghị thông thường, các hội nghị chung có quy mô về số người tham gia và số chuyên ngành (tiểu ban) lớn hơn nhiều. Những hội nghị như vậy cho thấy mức độ hợp tác sâu sắc và có tính “toàn diện” giữa các nền toán học. Những nước châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, … đều có tổ chức hội nghị chung với các hội toán học Mỹ, Pháp, … Theo lời một số nhà toán học nước ngoài đã tham gia các hội nghị này, FVC 2012 không hề thua kém về quy mô và chất lượng các báo cáo, thậm chí còn lớn hơn một vài hội nghị đã tổ chức.  Gần 450 đại biểu đã tham gia FVC 2012, trong đó có khoảng 70 chuyên gia từ Pháp, 20 chuyên gia đến từ các nước Mỹ, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia, Malaysia, … và khoảng 350 đại biểu Việt Nam từ khắp các miền đất nước và từ nhiều nước trên thế giới. Trong đó có các giáo sư lão thành như giáo sư Hoàng Tuỵ, Nguyễn Đình Trí (Hà Nội), Nguyễn Thanh Vân (Toulouse), P. Cartier (Paris) không quản tuổi cao vẫn đến tham dự hội nghị. 13 báo cáo toàn thể của các chuyên gia (có hai người từng nhận huy chương Fields), một bài giảng đại chúng về toán học thế kỷ XXI và khoảng 200 báo cáo chia thành 14 tiểu ban là những con số ấn tượng của hội nghị lần này. Mỗi tiểu ban do ít nhất một nhà toán học Việt Nam và một nhà toán học Pháp chủ trì, chịu trách nhiệm tổ chức tất cả các hoạt động của tiểu ban. Sự tham dự của các chuyên gia ngoài Pháp và Việt Nam là sự ủng hộ đáng kể đối với việc tổ chức hội nghị và cũng nói nên sự nhìn nhận khác đối với cộng đồng toán học nước ta.   Có hai điểm nổi bật tại FVC 2012 dễ nhận thấy là sự tham gia tích cực và bình đẳng của các nhà toán học Việt Nam trong tất cả các hoạt động của hội nghị và số lượng đáng kể các gương mặt báo cáo viên trẻ người Việt, cả đang làm việc trong nước và ở nước ngoài. Sự tham gia bình đẳng của chúng ta được thể hiện qua việc tổ chức hội nghị, hợp tác với các đồng nghiệp Pháp tổ chức các tiểu ban và đặc biệt là qua các báo cáo và trao đổi học thuật trong suốt thời gian hội nghị. Nếu nhìn vào thời gian và quá trình phát triển của Toán học Việt Nam thì rõ ràng đây là một kết quả đáng chú ý, mặc dù về mặt tổng thể vẫn còn một khoảng cách lớn giữa hai nền toán học. Bên cạnh các hướng nghiên cứu “truyền thống” trong nước, qua các báo cáo đã xuất hiện nhiều hướng nghiên cứu mới và nhiều hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong thực tế. Các báo cáo như vậy phần nhiều được trình bày bởi những gương mặt trẻ, bao gồm cả một số đã làm nghiên cứu chuyên nghiệp được vài năm và một số nghiên cứu sinh tiến sỹ xuất sắc.  Song song với các hoạt động của hội nghị FVC 2012 có hai triển lãm đáng chú ý của viện Nghiên cứu khoa học cao cấp (IHÉS) ở Paris và của nhà xuất bản Springer. Triển lãm của viện IHÉS nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập viện gồm một loạt các bức ảnh của những nhà toán học, vật lý lý thuyết nổi tiếng chụp trong thời gian làm việc tại đây. Triển lãm sách của Springer có lẽ là triển lãm đầu tiên dạng này của Springer ở Việt Nam (đối với Toán). Hoạt động triển lãm sách của các nhà xuất bản tại các hội nghị lớn (ví dụ, đại hội toán học thế giới ICM) là một việc bình thường, tuy nhiên điều đó còn khá mới mẻ ở nước ta. Triển lãm này cùng với sự hợp tác gần đây của Springer để xuất bản hai tạp chí Vietnam Journal of Mathematics và Acta Mathematica Vietnamica cho thấy sự quan tâm của các nhà xuất bản lớn đến Toán học Việt Nam. Sau triển lãm Springer đã tặng lại toàn bộ sách trưng bày cho viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và một vài cơ quan nghiên cứu ở Việt Nam.  Sự thành công của hội nghị Toán học phối hợp Pháp-Việt, tổ chức đúng hai năm sau ngày giáo sư Ngô Bảo Châu nhận huy chương Fields, mang nhiều ý nghĩa. Hội nghị này là một trong những hoạt động chính trong năm của viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, cơ quan được thành lập trong khuôn khổ chương trình phát triển toán học đến năm 2020 của chính phủ và vừa chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm nay. FVC 2012 là một mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai cộng đồng toán học Việt-Pháp, kể từ sự cố gắng hơn nửa thế kỷ trước của các nhà toán học tiền bối. Hội nghị phần nào cho thấy khả năng hợp tác giữa hai bên còn rất lớn, đặc biệt khi nhu cầu về lực lượng giảng viên và nghiên cứu ở trình độ cao của nước ta tăng nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Trong tương lai, chúng ta hoàn toàn có thể mong đợi nhận được nhiều trái ngọt từ những hợp tác ấy.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá của tri thức khoa học và chuyện “chiêu hiền đãi sĩ”      Cuối tháng qua, Thành phố Hồ Chí Minh khởi công xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học với vốn đầu tư 100 triệu USD.&#160; Đó là một phát triển đáng chú ý, vì thành phố quan tâm đến việc phát triển một ngành công nghệ được xem là “mũi nhọn” của thế kỉ 21.&#160; Trong điều kiện cạnh tranh khoa học, chúng ta thử nhìn sang nước láng giềng là Singapore để xem triển vọng của trung tâm CNSH ra sao.&#160; Bài này tìm câu trả lời cho câu hỏi “giá của một tri thức mới là bao nhiêu”, và đối chiếu với tình hình ở Việt Nam, để thấy chúng ta đang đứng đâu trên thang bậc năng suất khoa học.                        Tri thức khoa học  Một tri thức khoa học được “sản xuất” với bao nhiêu tiền?  Câu hỏi này tuy đơn giản những khó có đáp số chính xác.  Cái khó khăn chính là định nghĩa thế nào là tri thức, và chi phí để sản xuất ra một tri thức được tính toán ra sao, và nên bao gồm những khoản chi phí nào.  Một cách đơn giản nhất, tri thức là thông tin mới.  Trong khoa học, thông tin mới được “sản xuất” bằng một qui trình đặc thù, từ ý tưởng, đến giả thuyết, đến thí nghiệm, phân tích, và công bố thông tin (kết quả) dưới hình thức một bài báo khoa học.  (Ở đây, tôi không bàn đến toán học, vì có ý kiến cho rằng toán học không phải là khoa học).   Mỗi khâu trong qui trình đó đều tốn thời gian và tiền bạc. Ngoài ra, các khoản chi phí hỗ trợ cho nghiên cứu như chi phí duy trì phòng lab, phụ tá nghiên cứu, sinh phẩm, v.v… cũng phải tính vào chi phí “sản xuất một bài báo.                            Một trong những môi trường lí tưởng để ước tính cái giá cho một tri thức mới là ngành công nghệ sinh học.  Công nghệ sinh học là một lĩnh vực nghiên cứu với sự tương tác của nhiều bộ môn khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, như y học, sinh học phân tử và di truyền học, toán học, khoa học máy tính, v.v… Đây là một ngành khoa học mới, với tốc độ phát triển rất nhanh, và tiềm năng chuyển giao công nghệ nhanh hơn các ngành nghiên cứu cơ bản.  Do đó, công nghệ sinh học có lẽ là ngành tiêu biểu để chúng ta có thể ước tính chi phí sản xuất tri thức mới.           Theo cách hiểu vừa mô tả trên, có thể xem bài báo khoa học như là một đơn vị của tri thức.  Thật vậy, trong nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học được xem là “đơn vị tiền tệ”, và số lượng bài báo khoa học của một quốc gia được xem là một thước đo về lượng kiến thức khoa học của quốc gia đó.  Cố nhiên, bài báo khoa học ở đây phải hiểu là các công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer review) nghiêm chỉnh, chứ không phải những bài báo khoa học địa phương không qua bình duyệt.  Do đó, một cách đơn giản nhất và có lẽ cũng thực tế nhất là xem bài báo khoa học được công bố trên một tập san khoa học quốc tế là một tri thức mới.      Viện sinh học phân tử và tế bào (IMCB)  Viện sinh học phân tử và tế bào (viết tắt là IMCB – Institute of Molecular and Cell Biology) của Singapore là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học được thành lập vào năm 1987, trực thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS).  Viện được chính phủ Singapore ưu ái đầu tư và phát triển thành một trung tâm hàng đầu về công nghệ sinh học trên thế giới.  Mười năm sau (1997) IMCB trở thành một viện độc lập, không còn trực thuộc NUS.  Những dữ liệu của viện IMCB được công bố trên tập san Scientometrics (1) cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin có ích để hiểu qua quá trình hình thành một viện nghiên cứu nghiêm chỉnh, đẳng cấp quốc tế như thế nào.  Những số liệu của bài báo còn cho chúng ta biết cái giá của tri thức khoa học ở mức độ nào.   Thu hút nhân tài. Có thể nói không ngoa rằng, IMCB được hình thành và phát triển như ngày nay là nhờ vào một chiến lược vận động và thu hút nhân tài từ nước ngoài về Singapore.  Chris Tan, viện trưởng IMCB, viết một cách chân tình rằng “trong giai đoạn đầu, tôi phải đi lạy lục, vay mượn, thậm chí ‘ăn trộm’ nhân tài từ các nơi trên thế giới” để gầy dựng nên trung tâm như ngày nay.   Năm 1991, sau 4 năm thành lập, ICMB có 114 nhà khoa học.  Con số này tăng dần, tuy hơi có chậm, lên 179 vào năm 1996.   Hiện nay, IMCB có 9 nhóm nghiên cứu trong viện, bao gồm các nhóm nghiên cứu di truyền, ung thư, bệnh truyền nhiễm, và nghiên cứu ứng dụng.  Với vị trí như ngày nay, Viện đã có “khoa hiệu”, và không còn trong tình trạng đi “lạy lục” nhân tài như lúc đầu; ngược lại, có người từ nước ngoài về “đầu quân”.  Ông Chris Tan cho biết năm 1997,  khi IMCB có 2 vị trí trống, nhưng có đến hơn 100 ứng viên khắp thế giới gửi đơn xin việc.   Năng suất khoa học.  Dữ liệu trình bày trong Bảng 1 dưới đây mô tả quá trình phát triển về nhân lực, ngân sách và năng suất khoa học của viện IMCB trong thời gian 1991 – 1996 (tức trước khi viện trở thành độc lập).  Năm 1991 IMCB có ngân sách cho nghiên cứu chỉ 19.38 triệu Singapore Dollars (SD), và con số này tăng lên 36.37 triệu SD năm 1996, tức tăng 88%.    |  Bảng 1. Nhân lực, ngân sách, và năng suất khoa học IMCB             Năm      Số nhà nghiên cứu      Ngân sách nghiên   cứu (triệu SD)      Số bài báo khoa học      Chi phí (1000 đôla)   cho mỗi bài báo          1991      116      19.38      44      440.5          1992      147      21.76      46      473.0          1993      159      25.93      54      480.2          1994      165      28.81      59      488.3          1995      161      31.78      41      775.1          1996      179      36.37      61      596            Giá của một tri thức.  Số bài báo khoa học năm 1991 là 44, và tăng gần như liên tục lên con số 61 bài năm 1996 (tăng 38% so với năm 1991).  Tính trung bình, năm 1991, IMCB phải tiêu ra 440,500 SD để sản xuất một bài báo khoa học; con số này cho năm 1996 là 596,200 SD, cao hơn năm 1991 khoảng 35%.      Chất lượng nghiên cứu.  Phân tích chất lượng nghiên cứu được trình bày trong Bảng 2.  Nói chung, chất lượng nghiên cứu như phản ảnh qua chỉ số ảnh hưởng (impact factor – IF) của IMCB có phần tăng trong thời gian 1991-1996.  Tuy nhiên, IF cũng chỉ dao động trong khoảng 5 đến 6, và điều này chứng tỏ chất lượng nghiên cứu của viện vẫn còn trung bình, chứ chưa thể xem là xuất sắc được.  Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 25 (tính đến năm 1996).  Con số này cho thấy nghiên cứu của IMCB có ảnh hưởng, nhưng tầm ảnh hưởng tương đối khiêm tốn, nếu tính thời gian hoạt động 10 năm (từ năm 1987).  Có khoảng 8% bài báo chưa bao giờ được trích dẫn, và con số này thấp hơn 20% trong ngành công nghệ sinh học.    Bảng 2. Chất lượng nghiên cứu khoa học            Năm      Số bài báo khoa học      Impact factor trung   bình      Số lần trích dẫn trung bình       Phần trăm bài báo   chưa được trích dẫn      Số   tiến sĩ đào tạo          1991      44      5.20      32.8      9.1      4          1992      46      5.98      8.4      4.3      8          1993      54      6.63      34.4      9.3      3          1994      59      5.09      25.5      13.6      14          1995      41      6.39      39.4      0.0      12          1996      61      6.20      25.1      8.2      3             Và trường hợp Việt Nam  Những thành tựu và năng suất khoa học của IMCB vừa trình bày trên đây cần phải đặt trong bối cảnh Việt Nam để chúng ta có cái nhìn về năng suất khoa học nước ta.  Trong năm 1996 (tức 14 năm trước), tỉ số bài báo khoa học trên số nhân viên nghiên cứu của IMCB là 0.34.  Nói cách khác, họ cần 3 nhân viên để sản xuất một bài báo khoa học.   Theo phân tích của Gs Phạm Duy Hiển, Viện khoa học Công nghệ Việt Nam (VKHCN) công bố được 98 bài báo khoa học trong năm 2007.  Năm 2007, VKHCN có 2257 nhân viên (1389 công nhân viên trình độ cử nhân và thạc sĩ, 663 tiến sĩ, và 205 giáo sư / phó giáo sư).  Như vậy, tỉ số bài báo khoa học trên số nhân viên là 0.043, hay phải cần đến 23 nhân viên để “sản xuất” một bài báo khoa học (Biểu đồ 1).                   Biểu đồ 1. Số   cán bộ khoa học cần thiết để “sản xuất” 1 bài báo khoa học của Viện nghiên   cứu y khoa Garvan (Úc, 2008), Viện IMCB (Singapore,   1996) và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam (2007)          Tính trung bình, năng suất khoa học của IMCB cao hơn VKHCN gần 8 lần.   Chẳng những kém về số lượng, mà chất lượng nghiên cứu của VKHCN cũng thấp hơn IMCB.  Thật vậy, số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo của VKHCN là 4.3, trong khi đó chỉ số này của IMCB là 25, cao gấp 6 lần Việt Nam.  Tuy nhiên, so sánh này có lẽ chưa công bằng, vì số bài báo khoa học của VKHCN bao gồm các ngành ngoài sinh học, cho nên so sánh số lần trích dẫn chưa hẳn là chính xác.  Nhưng một sự khác biệt đến 7 lần thì khó có thể giải thích do ảnh hưởng của văn hóa ngành, mà rất có thể do chất lượng nghiên cứu của VKHCN còn thấp.          Tính trung bình, năng suất khoa học của IMCB cao hơn VKHCN gần 8 lần.   Chẳng những kém về số lượng, mà chất lượng nghiên cứu của VKHCN cũng thấp hơn IMCB.  Thật vậy, số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo của VKHCN là 4.3, trong khi đó chỉ số này của IMCB là 25, cao gấp 6 lần Việt Nam.  Tuy nhiên, so sánh này có lẽ chưa công bằng, vì số bài báo khoa học của VKHCN bao gồm các ngành ngoài sinh học, cho nên so sánh số lần trích dẫn chưa hẳn là chính xác.  Nhưng một sự khác biệt đến 7 lần thì khó có thể giải thích do ảnh hưởng của văn hóa ngành, mà rất có thể do chất lượng nghiên cứu của VKHCN còn thấp.           Tuy nhiên, công bằng mà nói IMCB vẫn chưa hẳn là một viện đẳng cấp quốc tế.  Trong vòng 10 năm, các nhà khoa học IMCB chỉ viết được 3 bài tổng quan.  Điều này cho thấy các nhà nghiên cứu của IMCB chưa hẳn đạt được đẳng cấp quốc tế, hay chưa được cộng đồng khoa học quốc tế thật sự công nhận.  Cần nói thêm rằng, trung bình một nhà khoa học đẳng cấp quốc tế thường có khoảng 2-3% trong tổng số bài báo khoa học là bài tổng quan được mời viết, còn gọi là “invited review” (2).  Có lẽ kết quả phân tích thú vị nhất là mỗi bài báo khoa học của IMCB tốn 596,200 SD.  Rất khó so sánh con số này với Việt Nam, vì chúng ta chưa biết ngân sách nghiên cứu khoa học của VKHCN là bao nhiêu.  Tuy nhiên, có thể tạm so sánh với một viện nghiên cứu y sinh học Úc để biết đó là giá đắt hay không đắt.  Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Úc) năm 2009 công bố 195 bài báo khoa học (với impact factor trung bình là 8.7), và ngân sách cho nghiên cứu là 44.5 triệu đôla Úc.  Như vậy, tính trung bình mỗi bài báo của Viện Garvan tốn khoảng 276,000 SD.  Do đó, so với Viện Garvan, chi phí sản xuất một tri thức khoa học của IMCB đắt hơn khoảng 2.2 lần.    Tuy nhiên, so sánh về chi phí như trên có lẽ cũng chưa khách quan.  Viện Garvan có lịch sử đến 60 năm, đã có cơ sở vật chất dồi dào và vững vàng.  Trong khi đó, IMCB mới ra đời chưa chưa đầy 30 năm và có lẽ còn trang giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu.                         Mỗi bài báo khoa học của IMCB tốn 596,200 SD.  Trong khi đó mỗi bài báo của Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Úc) tốn khoảng 276,000 SD. Do đó, so với Viện Garvan, chi phí sản xuất một tri thức khoa học của IMCB đắt hơn khoảng 2.2 lần.          Công nghệ sinh học là một khoa học “mũi nhọn” của thế kỉ 21.  Các quốc gia có định hướng kinh tế tri thức đều chú trọng đến đầu tư cho công nghệ sinh học.  Nhưng những so sánh trên cho thấy Nhà nước phải chuẩn bị và sẵn sàng đầu tư cho Trung tâm Công nghệ Sinh học ở TPHCM để có thể cạnh tranh với IMCB trong tương lai.  Việt Nam chưa có một đội ngũ chuyên gia đẳng cấp quốc tế về công nghệ sinh học, và cũng khó có thể tự xây dựng một đội ngũ như Singapore trong vòng 20 năm nếu không có sự hỗ trợ đắc lực từ nước ngoài.  Singapore sẵn sàng đi “lạy lục” và “ăn trộm” nhân tài trên thế giới, nhưng Việt Nam chúng ta và “cơ chế Việt Nam” có sẵn sàng làm như Singapore?    Ý nghĩa cho đặc khu trí thức   Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng có thể nhất trí rằng nước ta không (hay ít ra là chưa) có khả năng cạnh tranh khoa học với các cường quốc khoa học Âu Mĩ, Singapore, và một cường quốc đang trên đường hình thành như Trung Quốc.  Nhưng khía cạnh mà chúng ta có thể cạnh tranh được là chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả để phục vụ cho phát triển kinh tế.  Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có những giáo sư và chuyên gia có kinh nghiệm tốt và uy tín cao trên trường quốc tế.  Và một trong những nguồn nhân lực khoa học đó là các nhà khoa học nước ngoài, nhất là đội ngũ các giáo sư đại học và nhà khoa học gốc Việt hiện đang làm việc tại các nước tiên tiến.  Chúng ta có thể điểm qua kinh nghiệm từ các nước trong vùng xem họ đã thu hút các chuyên gia từ nước ngoài như thế nào, và hi vọng các kinh nghiệm đó sẽ cung cấp cho Việt Nam một vài bài học có ích.  Hàn Quốc, từ những năm đầu thập niên 1990 đã có một chính sách cụ thể để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu.  Ngày nay, khi nói đến sự thành công ngoạn mục của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các giám đốc hãng Samsung, LG và Đại học Quốc gia Seoul đều nhất trí cho rằng chìa khóa thành công của họ là nhờ vào đội ngũ các nhà khoa học Hàn kiều đã góp một phần quan trọng đưa nền công nghệ điện tử và sinh học lên hàng các nước kĩ nghệ tiên tiến.                                               Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD  năm.          Cho đến nay, chính sách tuyển mộ các nhà khoa học Hàn kiều của Hàn Quốc vẫn còn tiếp tục và với nhiều hình thức khuyến khích càng ngày càng hấp dẫn hơn.  Cũng như nhiều Việt kiều khác, giới khoa học Hàn kiều cũng tỏ ra ngần ngại và thậm chí miễn cưỡng quay về Hàn Quốc làm việc, vì họ phải hi sinh nhiều lợi ích tài chính mà họ đang hưởng ở nước ngoài.  Để thu hút những người này, các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ti như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ.  Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD / năm.  Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều (những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.  Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.   Trung Quốc, cũng như Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem đội ngũ khoa học Hoa kiều là một lực lượng quan trọng, một chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học.  Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Nhà nước Trung Quốc chi ra một ngân khoản lớn để thu hút các giáo sư và nhà khoa học Hoa kiều từ các nước Âu Mĩ về Trung Quốc làm việc.  Họ có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.                          Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế.  Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa.  Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học.            Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông, v.v… mà tho đó mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) cho mục đích này.  Để thực hiện việc này, các đại học thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc.  Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc và một số thì tiêu ra từ 3 đến 12 tháng.  Những người về làm việc toàn thời gian được trả lương đến 40.000 USD / năm (lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD / năm).  Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.     Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế.  Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa.  Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học.  Kể từ khi thu hút Hoa kiều về giảng dạy và nghiên cứu, nhiều đại học hàng đầu ở Trung Quốc càng ngày càng nâng thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh, và dựa vào hệ thống tín chỉ của Mĩ, đặc biệt là số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, để đề bạt các chức danh giáo sư (chứ không còn dựa vào thâm niên như trước đây).  Một số trường thậm chí còn có qui định rằng nếu một giảng viên mà sau 6 năm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn phó giáo sư thì sẽ được “mời” nghỉ việc.  Hồng Kông, trước khi được trả về cho Trung Quốc, có một lịch sử lâu dài về việc tuyển dụng các giáo sư và nhà khoa học nước ngoài.  Thật ra, phần lớn (trên 90%) các giáo sư đại học Hồng Kông hoặc là người nước ngoài, hoặc là Hoa Kiều, hoặc là người Hồng Kông được đào tạo từ các đại học Âu Mĩ.  Trước đây, các trường đại học Hồng Kông có chính sách khá rộng rãi và thông thoáng cho các giáo sư nước ngoài (như trả lương tương đương với nước ngoài, tạo điều kiện cư trú ổn định như cấp nhà hay cho thuê nhà với giá thấp, cấp vé máy bay đi và về thăm nhà mỗi năm 2 lần, v.v…).  Sau khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc, do chính sách mới, một số lớn các giáo sư này bỏ Hồng Kông và các trường đại học Hồng Kông trải qua một thời gian suy giảm năng suất khoa học thấy rõ.  Nhận thức được vấn đề, chính phủ mới lại mời các giáo sư quay lại làm việc!  Năm 2006, chính phủ Hồng Kông vừa triển khai một chương trình thu hút nhân tài Hoa kiều từ nước ngoài.  Họ dự tính sẽ thu hút khoảng 1000 đến 2000 nhà khoa học và giáo sư trong vòng hai năm.  Họ còn dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà khoa học được bổ nhiệm là quyền được đem theo người thân gia đình định cư tại Hồng Kông.    Ở Đài Loan, Nhà nước nhận thức rõ yếu tố thành công của kĩ nghệ điện tử Đài Loan trong hai thập niên qua là nhờ vào lực lượng Hoa kiều ở Mĩ, nên họ có hẳn một chương trình dài hạn và dành hẳn một ngân quĩ quốc gia cho các giáo sư thỉnh giảng và nhà khoa học ưu tú từ nước ngoài vào làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và đại học hàng đầu ở Đài Loan.                                Thái Lan, một số đại học hàng đầu thiết lập hẳn những “làng giáo sư”, mà trong đó cư dân chỉ là những giáo sư Thái Lan và giáo sư nước ngoài cùng gia đình của họ cư ngụ trong các villa hoặc biệt thự, với hệ thống điện thoại và internet miễn phí.  Giáo sư cấp càng cao có nhà càng to và càng tiện nghi.  Con của các giáo sư cũng được đi học miễn phí, thậm chí đưa đón cũng miễn phí.            Thái Lan, một số đại học hàng đầu thiết lập hẳn những “làng giáo sư”, mà trong đó cư dân chỉ là những giáo sư Thái Lan và giáo sư nước ngoài cùng gia đình của họ cư ngụ trong các villa hoặc biệt thự, với hệ thống điện thoại và internet miễn phí.  Giáo sư cấp càng cao có nhà càng to và càng tiện nghi.  Con của các giáo sư cũng được đi học miễn phí, thậm chí đưa đón cũng miễn phí.  Mỗi khi một giáo sư công bố được một bài báo khoa học trên tập san quốc tế, họ được thưởng bằng tiền mặt và hiện vật.  Giáo sư công bố được nhiều bài được nâng cấp lên ở nhà kiểu biệt thự; ngược lại, nếu năng suất khoa học kém sẽ bị … xuống cấp.  Có lẽ một chính sách như thế đã góp phần đưa Thái Lan thành một trong những nước có thành tựu khoa học đứng vào hàng số 2 ở Đông Nam Á (chỉ sau Singapore).   Tôi nghĩ một hình thức “làng khoa bảng” như Thái Lan và Hàn Quốc cũng rất cần được tham khảo trong môi trường Việt Nam để thu hút các chuyên gia trong và ngoài nước góp phần nâng cao vị thế khoa học của nước ta trên trường quốc tế.      Tham khảo:   1.  Chu Keong Lee.  A scientometric study of the research performance of the Institute of Molecular and Cell Biology in Singapore. Scientometrics 2003; 56:95-110.   2.  Woodward AM, Hensman S. Citations to review serial. J Documentation 1976; 32:2903.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị kinh tế và văn hóa trong bảo tồn nguồn gene      Tài nguyên di truyền có ý nghĩa quan trọng với một quốc gia, với những giá trị kinh tế gắn liền với tính độc đáo và chất lượng giống cây trồng, vật nuôi; hay giá trị đa dạng sinh học của nguồn gene sinh vật tự nhiên; bên cạnh đó là giá trị văn hóa đáng kể. Nhưng nguồn tài nguyên đó đang ngày một suy giảm do chúng ta thiếu coi trọng và hạn hẹp về tầm nhìn.    Tại Hội nghị Đánh giá kết quả hoạt động KHCN về quỹ gene giai đoạn 2001-2013, nhiều Bộ, ngành đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng suy giảm tài nguyên di truyền, không chỉ là việc mất đi những loài sinh vật quý hiếm trong tự nhiên, mà cả những cây trồng, vật nuôi hằng ngày. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, những áp lực kinh tế thị trường đang làm nguồn tài nguyên di truyền sinh học mất đi rất nhanh. Các giống vật nuôi ngày càng bị pha tạp và giảm tỉ lệ giống thuần chủng do người ta tiến hành lai tạo dùng giống đực ngoại để cải tạo giống địa phương. Các giống cây nội thuần có những tình trạng đặc hữu về khả năng thích nghi, tính chống chịu và kháng bệnh cao nhưng người nông dân bỏ không trồng vì năng suất thấp. Một số nguồn gene có số lượng cá thể quá ít nên khi phát triển nảy sinh vấn đề đồng huyết, cận huyết. Bên cạnh đó, kỹ thuật chăm sóc, bón phân, nền đất cho cây trồng không được sử dụng nguyên bản, khiến giống cây trồng bản địa càng bị thoái hóa.  Tương tự như vậy là tình trạng khai thác, nuôi trồng các giống cây thuốc. Bộ Y tế cho biết từ trước năm 1990 chúng ta đã mất đi nhiều loại cây thuốc do sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch, thu hái theo kiểu tận thu, làm mất khả năng tái sinh tự nhiên dẫn đến cạn kiệt nhanh chóng. Các vùng trồng cây thuốc truyền thống bị thu hẹp hoặc biến mất. Không ít giống cây làm nguyên liệu dược liệu trước đây từng được sản xuất đại trà ở nước ta, nay bị thui chột do tình trạng tái phụ thuộc vào dược liệu nhập khẩu.   Mặc dù các Bộ, ngành đều đã lên tiếng về tình trạng suy giảm tài nguyên di truyền, nhưng đáng tiếc là cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu, thống kê nghiêm túc đầy đủ đánh giá về hiện trạng suy giảm này, hoặc đưa ra những dự đoán về nguy cơ cụ thể tiếp theo trong tương lai, làm căn cứ để các nhà quản lý và hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp kịp thời.           Với nhận thức rằng tài nguyên di truyền cũng gắn với các giá trị văn hóa, chúng ta thấy rằng cần đưa việc quảng bá, bảo tồn nguồn tài nguyên này vào các hoạt động cụ thể về bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa. Những lễ hội dân gian sẽ trở nên sinh động và tăng phần thiết thực hơn nếu trong quy định về tài trợ từ Ngân sách Nhà nước có những quy định yêu cầu nội dung sự kiện phải có phần trưng bày, biểu diễn chế biến các sản vật truyền thống của địa phương, dựa trên nguồn nguyên liệu thực sự là cổ truyền của địa phương và hiện đang có nguy cơ bị mai một hoặc biến mất.           Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia và nhà quản lý, giải pháp cơ bản nhất để thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn tài nguyên di truyền là dựa vào sức dân – vì chỉ có người dân bản địa mới hiểu rõ nhất về các tài nguyên di truyền của địa phương mình – và Nhà nước phải có những chính sách giám sát, điều tiết làm thay đổi lối khai thác mang tính chụp giật theo lợi ích nhất thời như hiện nay, trở thành các phương thức khai thác có tính bền vững lâu dài. Muốn vậy thì Nhà nước cần tài trợ cho các nghiên cứu chỉ ra giá trị kinh tế của một số nguồn gene di truyền chất lượng cao đang bị đe dọa, đưa ra phương thức triển khai bảo tồn có tính bền vững, đặc biệt là những phương án bảo tồn theo hướng xã hội hóa, đồng thời khuyến khích nguồn lực xã hội đầu tư vào những dự án sản xuất kinh doanh giúp bảo tồn nguồn gene bản địa.  Mặt khác chúng ta cũng cần có tầm nhìn xa hơn, thấy rằng đi kèm với những suy giảm về nguồn gene không chỉ là thiệt hại về giá trị kinh tế mà cả những mất mát về tri thức và văn hóa của cộng đồng. Khi các giống cây trồng, vật nuôi mất đi, những kinh nghiệm nuôi trồng – hầu hết mang tính truyền miệng từ đời này sang đời khác – cũng mai một theo, và xu hướng này sẽ càng tăng nhanh do sự thiếu quan tâm của công chúng xã hội.   Với nhận thức rằng tài nguyên di truyền cũng gắn với các giá trị văn hóa, chúng ta thấy rằng cần đưa việc quảng bá, bảo tồn nguồn tài nguyên này vào các hoạt động cụ thể về bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa. Những lễ hội dân gian sẽ trở nên sinh động và tăng phần thiết thực hơn nếu trong quy định về tài trợ từ Ngân sách Nhà nước có những quy định yêu cầu nội dung sự kiện phải có phần trưng bày, biểu diễn chế biến các sản vật truyền thống của địa phương, dựa trên nguồn nguyên liệu thực sự là cổ truyền của địa phương và hiện đang có nguy cơ bị mai một hoặc biến mất. Đồng thời Nhà nước cũng có thể có chính sách khuyến khích người dân dùng những sản vật này trong hoạt động du lịch. Những chính sách có tính xúc tác như vậy kèm theo sự giám sát hợp lý của Nhà nước sẽ giúp vảo vệ bản sắc văn hóa địa phương, làm sống dậy những nghề truyền thống, tăng sức hút du lịch, và đặc biệt tạo động lực để người dân tìm cách bảo tồn giống cây trồng, vật nuôi của quê hương mình.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giá trị lan tỏa của nghiên cứu  do doanh nghiệp tài trợ      Lâu nay tồn tại định kiến cho rằng các doanh nghiệp chỉ tài trợ cho khoa học vì lợi ích thực dụng của riêng họ, bởi vậy giá trị lan tỏa từ những nghiên cứu này thường thấp hơn các dự án do Nhà nước và các tổ chức xã hội tài trợ. Nhưng một nghiên cứu của GS Brian D. Wright và cộng sự ở ĐH California cho thấy định kiến này không có cơ sở.    Vai trò của doanh nghiệp trong mối quan hệ hợp tác với trường/viện vẫn thường gây nhiều tranh cãi. Ví dụ vào năm 2007 khi công ty dầu mỏ BP thông báo sẽ tài trợ 500 triệu USD cho nghiên cứu về năng lượng thay thế cho ĐH California trong vòng 10 năm đã gây ra phản ứng dữ dội do người ta lo ngại tiền của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến môi trường nghiên cứu, nhiều sinh viên, giảng viên đã biểu tình phản đối với mô hình con ngựa thành Troy. Trước đó, thỏa thuận giữa Khoa Thực vật và Sinh học phân tử của trường với hãng dược phẩm Thụy Sỹ Novartis cũng lâm vào cảnh bị phản đối tương tự.   Có nhiều lý do dẫn đến sự thận trọng trong mối liên kết tài trợ cho các nghiên cứu trường/viện. Vì vấn đề lợi ích, các doanh nghiệp thuốc lá, thực phẩm, dược phẩm… đã từng lèo lái các hướng nghiên cứu, thậm chí còn ngăn chặn cả những nghiên cứu không có lợi cho mình. Mặt khác, khi nghiên cứu do doanh nghiệp tài trợ thì họ có quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu và những người khác không có quyền được tiếp cận những kết quả này. Vì vậy, người ta mặc định rằng sáng chế của viện/trường do các công ty tài trợ thường khó tiếp cận thông tin và không mang nhiều giá trị hữu ích cho cộng đồng như các sáng chế do chính phủ và các tổ chức NGO tài trợ.   Nhưng trên thực tế, nhiều ví dụ chứng minh điều ngược lại. Phân tích của GS Brian D. Wright và cộng sự ở ĐH California cho thấy mối liên kết trường/viện và doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể cho tiến trình đổi mới sáng tạo. Theo dữ liệu của chín trường và ba phòng thí nghiệm quốc gia do ĐH California quản lý trong vòng 20 năm qua, phát minh từ mối hợp tác với doanh nghiệp mang lại số lượng bản quyền sở hữu trí tuệ và trích dẫn nhiều hơn hẳn so với các phát minh từ dự án do chính phủ tài trợ. Mặc dù đây chỉ là nghiên cứu tại một trường đại học, nhưng nó góp phần giảm bớt mối lo ngại rằng các viện/trường khi làm nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp sẽ giảm sự đóng góp cho sự phát triển của khoa học và đổi mới sáng tạo.     Thực tiễn bác bỏ định kiến  ĐH California là một tổ chức nghiên cứu lớn so với đa số các tổ chức nghiên cứu khác thuộc khối trường/viện ở Mỹ. Trong năm 1990 đến 2010, kinh phí được cấp cho các trường thuộc ĐH California chiếm tới 9% tổng số ngân sách chính phủ Mỹ đầu tư cho nghiên cứu khoa học cho các trường/viện. Đổi lại, ĐH California cũng có số lượng sáng chế cao hơn bất kỳ viện nghiên cứu nào của Mỹ. Trong danh sách của cơ quan Quản lý Sáng chế và Nhãn hiệu độc quyền Mỹ (US Patent and Trademark Office), sáng chế của ĐH California thường nhiều gấp đôi so với Viện nghiên cứu Massachusetts. Trong tổng số các phát minh của ĐH California qua các thời kỳ, 20% mang lại ít nhất một giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, và gần 25% được cấp bằng sáng chế.  Điều đáng nói là trong số các phát minh từ những dự án có nguồn gốc tài trợ từ doanh nghiệp, có tới 29% mang lại giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ và 35% được cấp bằng sáng chế, cao hơn so với các phát minh được tài trợ dự án theo ngân sách nhà nước (con số tương ứng là 22% và 26%). Với những phát minh được tài trợ từ cả doanh nghiệp và nhà nước thì tỉ lệ còn cao hơn, 36% mang lại giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ và 43% được cấp bằng sáng chế. Tỉ trọng này khá đồng đều giữa các ngành công nghệ khác nhau.   Mặc dù các phát minh từ nguồn liên kết tài trợ có nhiều khả năng được cấp bằng sáng chế hơn nhưng điều đó không có nghĩa là việc liên kết khiến phát minh được bảo hộ nhiều hơn. Thực tế là các doanh nghiệp thường lựa chọn tài trợ những dự án có nhiều tiềm năng đem lại những phát minh được cấp bằng sáng chế hơn.   Các doanh nghiệp tài trợ kinh phí thường muốn độc quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu, tuy nhiên tỉ lệ độc quyền sở hữu trí tuệ ở các nghiên cứu do doanh nghiệp tài trợ (74%) vẫn thấp hơn so với tỉ lệ độc quyền sở hữu trí tuệ ở các nghiên cứu được tài trợ bởi Nhà nước (76%).   Thêm một bất ngờ nữa là những phát minh từ liên kết tài trợ đã góp phần đem lại sự “lan tỏa tri thức” nhiều hơn so với các phát minh được tài trợ từ ngân sách Nhà nước, xét theo tỷ lệ trích dẫn trên sáng chế – là số lượng trích dẫn mà một sáng chế nhận được từ các sáng chế sau này kế thừa kết quả nghiên cứu của nó. Mỗi phát minh từ nguồn tài trợ của doanh nghiệp thường đạt trung bình 12,8 trích dẫn nếu giấy phép được cấp cho bên thứ ba (những sáng chế không chuyển nhượng cho bên thứ ba thậm chí còn đạt tỉ lệ trích dẫn cao hơn), trong khi phát minh từ ngân sách chỉ đạt số lần trích dẫn là 5,6. Thực tế này rõ ràng ngược lại với giả thuyết: phát minh từ nguồn tài trợ của doanh nghiệp thường có phạm vi ứng dụng hẹp và lợi ích thấp hơn so với phát minh từ nguồn kinh phí khác.    Khi doanh nghiệp khích lệ nhà khoa học tìm ra cái mới  Tỷ lệ trích dẫn cao với các sáng chế từ nguồn liên kết tài trợ cho thấy sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp tài trợ cho những nghiên cứu mang tính khai phá, thăm dò. Theo công trình nghiên cứu của nhà xã hội học James Evans tại ĐH Chicago, các doanh nghiệp tìm đến hợp tác với các trường đại học để tìm hiểu thêm những lĩnh vực công nghệ nằm ngoài thế mạnh của doanh nghiệp và sẵn sàng đầu tư cho những nghiên cứu có tính thăm dò – có tính rủi ro cao hơn so với các nghiên cứu ở công đoạn hoàn thiện – để tìm kiếm khả năng thu lợi nhuận.   Thậm chí Evans còn chỉ ra, các doanh nghiệp thường thúc đẩy trường/viện mạnh dạn khám phá những lĩnh vực mới, thoát khỏi thói quen dè dặt thông thường – các nhà nghiên cứu trong giới hàn lâm thường có thiên hướng cẩn trọng, lựa chọn những dự án nghiên cứu hợp với gu của các chuyên gia bình duyệt, tạp chí khoa học, cơ quan tài trợ. Ví dụ, 500 triệu USD mà công ty BP đầu tư cho nghiên cứu của ĐH California là nhằm tập trung vào lĩnh vực nhiên liệu sinh học từ cellulose trong cây trồng và phụ phẩm nông nghiệp, lĩnh vực mà BP hầu như không có chuyên môn, và kết quả đã mang lại nhiều kết quả nghiên cứu hữu ích nhưng hoàn toàn nằm ngoài chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.   Trong nhiều trường hợp, chính việc tạo điều kiện chia sẻ thông tin để tạo ra các phát minh đến từ những nghiên cứu kế tiếp của những nhà nghiên cứu độc lập khác sẽ mang lại giá trị cho doanh nghiệp tài trợ nhiều hơn là lợi ích từ việc giữ độc quyền sáng chế ban đầu mà không hề liên quan đến chiến lược kinh doanh của công ty. Theo nghiên cứu sinh Yongdong Liu (ĐH California), gã khổng lồ về công nghệ thông tin IBM đã chia sẻ miễn phí nhiều phát kiến do họ tài trợ nhưng nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ, tuy nhiên sau đó IBM lại tận dụng được rất nhiều từ những nghiên cứu của những người khác kế thừa từ chính những phát kiến này.   Tìm kiếm phát minh, sáng chế không nhất thiết phải là mục đích chính của các doanh nghiệp. Nhiều khi điều họ muốn là giữ mối quan hệ chặt chẽ, lâu dài với các nhà khoa học hàng đầu và tạo ra những cơ hội để tuyển dụng nhân tài. Ví dụ thỏa thuận hợp tác giữa ĐH California và công ty Novartis không hề mang lại bằng sáng chế nào, và Novartis cũng không gắng sức tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào trong việc lựa chọn các dự án mà công ty tài trợ. Các dự án liên kết trường – doanh nghiệp – Nhà nước thường có tính mục tiêu cụ thể, rạch ròi hơn, dễ đạt kết quả thực dụng hơn, điều đó lý giải tại sao phát kiến từ những dự án có sự tham gia tài trợ đồng thời của Nhà nước và doanh nghiệp thường có xu hướng mang lại các giao dịch thành công trong chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhưng thực tế là số lượng trích dẫn kết quả của những nghiên cứu liên kết này không cao hơn các nghiên cứu khác thuần túy do doanh nghiệp tài trợ.   Như vậy mối liên kết trường/viện và doanh nghiệp không chỉ góp phần tạo ra nhiều phát minh có tính ứng dụng cao mà còn thúc đẩy sự lan tỏa tri thức trong xã hội. Nếu giữ định kiến rằng các doanh nghiệp luôn thực dụng, ích kỷ mà bỏ qua việc hợp tác, các nhà khoa học sẽ mất đi cơ hội được tài trợ cho những dự án mang lại giá trị hữu ích lan tỏa xa hơn lợi ích riêng của bản thân nhà nghiên cứu và nhà tài trợ.              Từ lâu, chính phủ Mỹ đã ủng hộ mối liên kết giữa doanh nghiệp và viện/trường bởi hai nguyên nhân: thứ nhất, chính phủ hy vọng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, qua đó đem lại nhiều cơ hội việc làm, tăng tỷ trọng đầu tư vào sản xuất và tăng giá trị sản phẩm; thứ hai, mối quan hệ hợp tác này cũng làm bớt gánh nặng ngân sách chính phủ Mỹ đầu tư cho khoa học. Gần đây, trong bối cảnh chính phủ Mỹ đã cắt giảm ngân sách đầu tư cho khoa học, các trường/viện buộc phải tìm kiếm tài trợ từ các doanh nghiệp. Theo báo cáo từ Quỹ Tài trợ khoa học Quốc gia Mỹ (NSF), trong năm 2012, các doanh nghiệp đã cung cấp hơn 5% (tương đương 3,2 tỷ USD) cho các nghiên cứu trong trường đại học Mỹ.               Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/technology-transfer-industry-funded-academic-inventions-boost-innovation-1.14874    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giấc mơ hạt nhân của Việt Nam đang trổ hoa dù có những nghi ngại      Một năm sau thảm họa Fukushima, dù cho giấc mơ hạt nhân của Nhật Bản đã tàn và dù có nhiều nghi ngại nhưng Việt Nam vẫn quyết tâm khắc phục mọi khó khăn để thực hiện một trong những chương trình điện hạt nhân tham vọng nhất thế giới, theo tờ Thời báo New York.    Trong một phòng học không có sưởi tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân tại Hà Nội, khoảng 20 cán bộ kỹ thuật trẻ của ngành công nghiệp Điện Hạt nhân (ĐHN) mới phôi thai, vẫn mặc trên mình các áo choàng mùa đông của họ, đang tham dự buổi sáng đầu tiên của một cuộc hội thảo 10 ngày về phóng xạ.  Cuộc hội thảo này do một tổ chức bán công là Cơ quan Năng lượng Nguyên tử của Nhật Bản (JAEA) đỡ đầu đã khai mạc với giáo trình nhập môn Vật lý Phóng xạ 101. Các học viên thu thập những mẫu phóng xạ với sự giúp đỡ của các chuyên gia Nhật rồi đem phân tích trong một phòng thí nghiệm do Nhật Bản xây dựng.  Một học viên, Nguyễn Xuân Thuỷ, 27 tuổi, nói: “Điện hạt nhân rất quan trọng đối với an ninh năng lượng của Việt Nam, nhưng cũng như lửa, nó có hai mặt. Chúng tôi phải học cách lợi dụng mặt tốt của nó.”  Việt Nam đang chuẩn bị để khởi động một trong số những chương trình ĐHN đầy tham vọng và đang đấu tranh để xây dựng từ con số không một đội ngũ chuyên gia để vận hành và điều tiết các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN). Chính phủ đang tăng cường các chương trình giảng dạy kỹ thuật hạt nhân trong các trường đại học và gửi ra nước ngoài đào tạo ngày càng nhiều cán bộ kỹ thuật trẻ, và tuyên bố là Việt Nam sẽ có đủ chuyên gia có trình độ để quản lý một cách an toàn một ngành công nghiệp được dự tính sẽ phát triển từ một lò phản ứng hạt nhân năm 2020 lên 10 lò năm 2030.  Nhưng một số chuyên gia Việt Nam và ngoại quốc nói rằng chương trình quá tham vọng có thể dẫn đến một hình thức điều tiết yếu kém và cũng sẽ có những tình trạng cấu kết giữa các nhà điều tiết và các nhà vận hành, điều đã góp phần gây ra thảm họa ở NMĐHN Fukushima năm ngoái tại Nhật Bản.  GS. Phạm Duy Hiển, một trong những nhà khoa học hạt nhân hàng đầu của Việt Nam, nói đưa ĐHN vào Việt Nam là “ước mơ từ bao năm” của ông. Nhưng ông cho rằng các chương trình của chính phủ thiếu “một sự đánh giá chặt chẽ những vấn đề có liên quan đến ĐHN, đặc biệt là những vấn đề nảy sinh trong các nước kém phát triển.” Cũng như nhiều người Việt Nam khác, ông Phạm Duy Hiển dẫn ra tỷ lệ cao của các tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam, minh chứng rõ rệt nhất cho “một nền văn hoá an toàn tồi tệ” đang tràn ngập lên “tất cả các lĩnh vực hoạt động trong nước.”  Chính phủ Việt Nam sợ rằng đà tăng trưởng mạnh của nền kinh tế sẽ bị nguy hại nếu không có năng lượng do các NMĐHN cung cấp. Việt Nam hiện nay dựa vào thuỷ điện là chính và đến năm 2015 theo dự đoán, sẽ phải nhập năng lượng. Và Nga và Nhật Bản đã trúng thầu để xây dựng hai NMĐHN đầu tiên cho Việt Nam, Hàn Quốc chắc sẽ được chọn để xây nhà máy thứ ba.  Đối với Nhật Bản, hợp đồng này là kết quả của nhiều năm vận động ở cấp cao nhất của chính phủ và của ngành công nghiệp hạt nhân, ngành này đang bị đe doạ ở trong nước do có các phản ứng mạnh của công chúng chống lại ĐHN sau sự cố năm vừa qua. Khoảng 500 cán bộ Việt Nam đã tham dự các cuộc hội thảo do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản tổ chức kể từ năm 2001. Công ty Toshiba chuyên sản xuất nhà máy cũng đã mở những lớp học kéo dài 1 tháng kể từ năm 2006 với mục đích giành được hợp đồng xây dựng.  Cũng như nước Nga đã hứa cho Việt Nam vay từ 8 đến 9 tỷ USD để xây dựng nhà máy thứ nhất, Nhật Bản sẽ cung cấp những khoản tín dụng vay với lãi suất thấp thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản. Nước Nhật cũng sẽ dùng Viện trợ Phát triển Hải ngoại (ODA) cho Việt Nam để xây dựng đường sá, bến cảng và các cơ sở hạ tầng khác phục vụ NMĐHN.  Với các ký ức của thảm hoạ Fukushima vẫn còn nóng hổi ở Nhật Bản, vai trò tích cực của chính phủ Nhật trong việc bán các NMĐHN cho những nước đang phát triển như Việt Nam đã làm dấy lên nhiều chỉ trích gay gắt. Những người phê phán cho rằng các nỗ lực chung của chính phủ và của ngành công nghiệp hạt nhân làm cho người ta nhớ lại sự cấu kết của hai bên đã dẫn đến thảm hoạ Fukushima. Họ nói rằng các khoản vay lãi suất thấp – từ tiền của người dân đóng thuế – chỉ có lợi cho những công ty xây dựng nhà máy có các quan hệ tốt với chính phủ. Kanna Mitsuta, một nghiên cứu viên của cả hai tổ chức Bạn của Trái Đất ở Nhật Bản và Theo dõi Mekong, một tổ chức tư nhân, nói: “Khi nói đến chuyện bán NMĐHN thì thật không phải là một loại kinh doanh có thể đứng vững trên mặt thương mại vì nó luôn luôn cần có nguồn vốn nhà nước tuồn thêm vào.”  Những người chỉ trích nói rằng Nhật Bản và các quốc gia hạt nhân khác đang trong tình thế tuyệt vọng bị bắt buộc phải bán các NMĐHN cho các nước đang phát triển vì giấc mơ hồi phục hạt nhân trong các nền kinh tế tiên tiến đã tàn lụi sau thảm hoạ Fukushima. (Sau thảm hoạ Fukushima, Tokyo đã từ bỏ kế hoạch xây thêm 14 lò phản ứng nữa ở Nhật Bản cho đến năm 2030).  GS. Phạm  Duy Hiển nói: “Tôi không hiểu tại sao nước Nhật lại làm đủ mọi thứ để xuất sang các nước đang phát triển một thứ mà họ đã loại bỏ trong nước họ.”  Những người ở Nhật ủng hộ việc xuất khẩu nhà máy nói là những nước đang phát triển như Việt Nam có quyền lựa chọn ĐHN để mở mang kinh tế như Nhật đã làm trước đây vài thập kỷ. Tadashi Maeda, một quan chức của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật bản và cũng là cố vấn đặc biệt của văn phòng Thủ tướng nói là nếu Nhật quyết định không bán NMĐHN cho họ thì “họ sẽ mua ở một nước khác.” Ông Maeda nói là sai lầm của con người đã đóng góp một phần vào thảm hoạ Fukushima. Nhưng ông cũng thêm rằng, khác với Nhật Bản, lúc ấy đang sử dụng những lò phản ứng cũ kỹ ở Fukushima, Việt Nam sẽ nhận được “những lò phản ứng hiện đại nhất có các trình độ kỹ thuật và an toàn hoàn toàn khác.”  Nhưng ông Trần Văn Phúc, một kỹ sư người Pháp gốc Việt hiện đang làm tư vấn về điện hạt nhân cho Bộ KH&CN Việt Nam nói là ông không hề có nghi ngờ gì về kỹ thuật của Nhật Bản. Ông nói: “Đó không phải là điều mà chúng tôi lo lắng.” Thay vào đấy, ông dẫn ra trình độ của Việt Nam để quản lý và điều tiết một trong số những ngành công nghiệp phức tạp nhất trên thế giới. “Đúng là chính sách quản lý mới làm cho chúng tôi lo ngại. Khi một lò phản ứng hạt nhân hoạt động, các nhà điều tiết phải độc lập, cương quyết và đề cao cảnh giác.” Ông Trần nói, Việt Nam sẽ cần đến hàng trăm chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm để điều tiết ngành công nghiệp hạt nhân của mình. Tại Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân của Việt Nam, “hiện nay chỉ có 30 người đủ trình độ để phân tích các báo cáo an toàn với sự trợ giúp của các chuyên gia.”  Tại Thái An, một thôn nhỏ ở miền Trung Việt Nam được chọn làm địa điểm của NMĐHN Nhật Bản, khoảng một chục người dân được phỏng vấn ngẫu nhiên nói là họ lo lắng về kế hoạch di dời của 700 hộ gia đình trong thôn đến một địa điểm vài cây số trên phía Bắc. Dân làng phần lớn làm nghề đánh cá và trồng nho, nói là thu nhập của họ từ nông nghiệp đã tăng mạnh trong những năm gần đây vì Thái An được nối vào hệ thống nước sạch từ một hồ chứa gần đấy. Họ nói là họ sợ rằng vị trí tái định cư ở gần NMĐHN sẽ có ảnh hưởng xấu đến nghề trồng trọt và đánh bắt cá của mình. Ông Phạm Phong, 43 tuổi, một người trồng nho và là một trong những thí dụ hùng hồn nhất của việc tăng thu nhập ở Đông Nam Á, đã thay chiếc xe máy Trung Quốc rẻ tiền bằng một chiếc Yamaha mới bóng loáng hồi năm ngoái. Ông nói: “Tôi không biết gì về NMĐHN cả. Nhưng khi xem Fukushima trên truyền hình, tôi cũng lo.”  N.T.N. dịch theo New York Times  Nguồn: http://www.nytimes.com/2012/03/02/world/asia/vietnams-nuclear-dreams-blossom-despite-doubts.html?_       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải Nobel chỉ đường cho ta      Qua các công trình đoạt giải Nobel, có thể thấy được những đặc điểm của khoa học hiện đại mà Việt Nam chưa chú tâm phát triển: điều tôi nghĩ đến ở đây là sự cân bằng giữa lý thuyết và thực nghiệm, và tầm quan trọng của cách “làm việc theo nhóm” (teamwork).    Giải thưởng Nobel Vật lý năm nay được trao cho ba nhà vật lý thiên văn chứng tỏ sự phát triển năng động của lĩnh vực này. Như vậy đã có mười bảy nhà vật lý đoạt giải Nobel trong lĩnh vực vật lý thiên văn kể từ năm 1950 và một nửa trong số đó mới được trao trong mười năm trở lại đây. Với xu hướng phát triển của vật lý hiện đại được ghi nhận qua các giải Nobel, chúng ta thấy rằng việc thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu vật lý thiên văn ở Việt Nam là rất cần thiết. Mặt khác, qua các công trình đoạt giải Nobel, có thể thấy được những đặc điểm của khoa học hiện đại mà Việt Nam chưa chú tâm phát triển: điều tôi nghĩ đến ở đây là sự cân bằng giữa lý thuyết và thực nghiệm và tầm quan trọng của cách “làm việc theo nhóm” (teamwork).  Trong khi thiên văn học truyền thống là một trong những ngành khoa học lâu đời nhất trong các ngành khoa học thì vật lý thiên văn hiện đại là một trong những ngành khoa học trẻ nhất. Chưa đầy một thế kỷ trước, Einstein vẫn cho rằng vũ trụ là tĩnh! Nếu như cách đây mười lăm năm, hầu hết các nhà vật lý thiên văn vẫn nghi ngờ về sự tồn tại của lỗ đen, thì ngày nay chúng ta có cơ sở đáng tin từ quan sát để có thể khẳng định rằng tại tâm mỗi thiên hà xoắn ốc đều có một lỗ đen và chúng ta đã có những quan sát rất chi tiết, ở tất cả các bước sóng, về Sagittarius A*, lỗ đen có khối lượng bằng ba triệu lần khối lượng mặt trời ở khu vực tâm Dải Ngân hà (thiên hà của chúng ta). Cách đây một vài thập kỷ, chúng ta chưa biết đến các pulsar, chuẩn tinh, tàn dư vụ nổ siêu sao, tâm thiên hà hoạt động, sao lùn trắng, sao kềnh đỏ, bùng nổ tia gamma và một số vật thể thiên văn khác. Phông nền vũ trụ mới được phát hiện cách đây chưa đến 50 năm và sự thăng giáng mật độ của nó, một yếu tố thiết yếu cho hiểu biết của chúng ta về sự tiến hóa của vũ trụ, mới được phát hiện cách đây chưa đến 20 năm.  Những câu hỏi hóc búa nhất của vật lý hiện đại là những câu hỏi liên quan đến vật lý thiên văn: sự không tương thích giữa hiểu biết của chúng ta về mật độ năng lượng trong vũ trụ và mật độ suy ra từ sự giãn nở của vũ trụ (năng lượng tối); sự không phù hợp giữa những gì chúng ta biết về lực hấp dẫn và chuyển động của các ngôi sao trong các thiên hà và của các thiên hà trong các cụm thiên hà (vật chất tối); cơ chế của sự giãn nở theo hàm e mũ diễn ra một thời gian ngắn ngay sau khi vụ nổ Big Bang (vũ trụ lạm phát) và mối quan hệ của nó với Sự thống nhất lớn (sự hợp nhất ba tương tác mạnh, yếu và điện từ), phá vỡ đối xứng tự phát và cơ chế tạo khối lượng. Trên thực tế, vật lý thiên văn là đầu vào thiết yếu cho những nỗ lực nhằm tìm ra lý thuyết mới thay thế cho thuyết tương đối và thuyết lượng tử ở vùng khối lượng Planck nơi mà hai lý thuyết này trở nên không tương thích với nhau (lý thuyết siêu dây).  Như thường xảy ra với các ngành khoa học trẻ, vật lý thiên văn sử dụng kiến thức từ hầu hết các ngành khác của vật lý: vật lý hạt lý giải cho một phần giây đầu tiên của vũ trụ; vật lý hạt nhân lý giải cho quá trình tổng hợp hạt nhân nguyên thủy, tức là khoảng 3 giây sau vụ nổ Big Bang, và lý giải cho cả vòng đời các vì sao từ khi sinh ra đến khi chết đi; vật lý plasma lý giải cho khí quyển sao, gió sao và môi trường vật chất giữa các sao; vật lý phân tử lý giải cho nghiên cứu vật chất lạnh; vật lý nguyên tử lý giải cho quang phổ học; vật lý chất rắn lý giải cho sao neutron, hành tinh, bụi, vv… lực hấp dẫn lý giải cho động lực học sao và vũ trụ học; và thậm chí cả sinh học cũng góp phần khi chúng ta tìm hiểu nguồn gốc sự sống trên Trái đất. Vật lý thiên văn cung cấp phòng thí nghiệm duy nhất cho nghiên cứu các dạng vật chất ở điều kiện khắc nghiệt đến nỗi ta hoàn toàn không thể có được ở các phòng thí nghiệm trên mặt đất: plasma (ở môi trường giữa hoặc trong các sao), sao lùn trắng (với khí điện tử suy biến), sao neutron … chưa kể đến các lỗ đen.  Sự đa dạng cũng thể hiện ở những công cụ và phương pháp sử dụng trong quan sát vũ trụ bao gồm không chỉ toàn bộ phổ điện từ (sóng vô tuyến, sóng vi ba, tia hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia cực tím, tia X, tia gamma) mà còn cả với tia vũ trụ (hạt nhân và neutrino). Khả năng tiếp cận ra ngoài không gian, một cách bất ngờ trong những năm sáu mươi, đóng vai trò quan trọng cho sự thăng hoa của vật lý thiên văn hiện đại và do đó việc khám phá vũ trụ có thể thực hiện được ở các bước sóng bị hấp thụ bởi bầu khí quyển Trái đất. Sự phát triển đó cũng nhờ các đài quan sát mặt đất khai thác mạnh mẽ những kỹ thuật tinh vi như quang học thích ứng hay giao thoa sóng vô tuyến.  Một lĩnh vực khoa học hấp dẫn đang phát triển nhanh như vậy không thể nào lại thiếu được trong bức tranh khoa học của Việt Nam. Trong khi chỉ những nước giàu, hoặc nhiều nước hợp lại mới có thể phóng vệ tinh hoặc xây dựng những đài quan sát khổng lồ trên mặt đất thì các số liệu mà họ ghi nhận được lại có thể truy cập được bởi bất cứ người nào miễn là người đó có thể tận dụng tốt những số liệu này. Như tôi thường nói, chúng ta đều được mời đến dự tiệc, bầu trời thuộc về tất cả chúng ta và chúng ta đều được tạo ra từ các bụi sao. Đã đến lúc phải nỗ lực phát triển vật lý thiên văn hiện đại ở Việt Nam. Hiện nay trong nước đã có đủ khả năng để tạo nên những hạt giống ban đầu cho nỗ lực này. Một số nhà thiên văn học Việt Nam tầm cỡ quốc tế, đang làm việc ở nước ngoài, có thể hỗ trợ chúng ta. Đến cuối thập kỷ này, Việt Nam cần phải có một Viện Vật lý thiên văn có tầm vóc như một trong những trung tâm khoa học trọng điểm của đất nước.  Xem xét danh sách giải thưởng Nobel trong lĩnh vực vật lý thiên văn khiến tôi có một nhận định nữa: trong mười bảy giải Nobel được trao, chỉ có hai người, Bethe và Chandrasekhar, là các nhà vật lý lý thuyết (ba người nếu kể cả Fowler). Người ta có thể nói điều đó không có gì đáng ngạc nhiên đối với một lĩnh vực khoa học trẻ như vậy. Tôi đề cập đến điều này vì kinh nghiệm đã trải qua của mình với một số trường đại học Việt Nam. Tôi nhớ tới một sinh viên mà tôi cho rằng không xứng đáng nhận điểm tốt. Giáo sư của cậu ta nói với tôi rằng tôi không thể cho cho cậu ấy điểm thấp hơn 9 vì cậu ấy là sinh viên của bộ môn lý thuyết và sinh viên từ bộ môn lý thuyết không bao giờ nhận điểm thấp hơn 9. Sau những luận điểm dài dòng, tôi chấp nhận cho sinh viên đó điểm 9. Nhưng cuối cùng, tôi rất ngạc nhiên, điểm 9 mà tôi miễn cưỡng cho đã biến thành điểm 10 … Khi sinh viên vật lý Việt Nam tốt nghiệp, phần lớn trong số họ bị thuyết phục rằng, nếu giỏi và muốn thành nhà khoa học, họ nên trở thành nhà vật lý lý thuyết; nếu không giỏi nhưng vẫn muốn thành nhà khoa học thì họ nên trở thành nhà thực nghiệm. Rõ ràng, họ không thể tự nghĩ ra một điều kỳ quái như vậy; phải có ai đó, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đã làm cho họ tin như vậy, rằng lý thuyết là phần cao quý của khoa học còn thực nghiệm chỉ là phần tầm thường. Nhưng những người nghĩ như vậy là những người chẳng hiểu gì về khoa học: khoa học tạo bởi sự đối thoại giữa lý thuyết và thực nghiệm, chúng bổ trợ cho nhau. Thực nghiệm cần lý thuyết dẫn đường: khám phá cái gì và tại sao; lý thuyết cần dữ liệu thực nghiệm và quan sát để đưa ra những giải thích đơn giản nhất có thể. Darwin đã viết, trong một bức thư gửi cho Bates, người mới trở về từ chuyến thám hiểm Amazon, “một người quan sát tốt thực sự cũng là là một nhà lý thuyết tốt”. Thật vậy, Darwin đã làm được cả hai điều ấy. Chúng ta phải dạy những điều sau đây cho sinh viên: nếu họ muốn trở thành những nhà khoa học về lý thuyết, tốt hơn hết họ nên tìm hiểu về quan sát và thực nghiệm; nếu họ muốn trở thành những nhà thực nghiệm, họ nên tìm hiểu về lý thuyết. Không nên tạo cho họ ấn tượng rằng có sự phân cấp giữa các lĩnh vực khoa học: luôn có cái đẹp trong bất kỳ ngành khoa học nào miễn là chúng ta khám phá nó với sự nghiêm túc và khéo léo.  Điểm cuối cùng tôi muốn bàn là về “làm việc theo nhóm”. Tất cả tám nhà vật lý đoạt giải Nobel trong lĩnh vực thiên văn trong mười năm qua đều đã và đang làm việc trong các nhóm nghiên cứu, thường trong nhóm rất lớn; những bài báo của họ được ký trung bình bởi khoảng ba mươi tác giả. Tên của họ gắn với những hợp tác nghiên cứu nổi tiếng như Homestake Mine, COBE, Uhuru, Kamiokande, SN Cosmology Project (Dự án Vũ trụ học Siêu sao) và High-z SN Search (Tìm kiếm Siêu sao Dịch chuyển đỏ lớn). Làm việc theo nhóm là cách phát triển của vật lý thiên văn hiện đại; xu hướng tương tự cũng diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác của vật lý, chẳng hạn như vật lý hạt và vật lý hạt nhân. Dù thích hay không, đó là cách duy nhất để có cơ hội tham gia vào các các nghiên cứu tiên phong trong các lĩnh vực này. Vấn đề không phải là tốt hay xấu mà ta chỉ cần làm quen và điều chỉnh phong cách nghiên cứu của mình để phù hợp với thực tại. Việt Nam có nhiều việc phải làm trong mảng này. Ví dụ, trong việc đánh giá nhà khoa học và đề tài nghiên cứu, làm việc theo nhóm chưa được công nhận như nó xứng đáng có được và các nhà vật lý đăng bài hợp tác với người khác cũng chưa được coi trọng. Còn có suy nghĩ rằng thà công bố một bài báo dở một mình hơn là công bố một bài bài báo hay với nhiều đồng tác giả. Tệ hơn nữa, sự cần thiết của việc xây dựng các nhóm nghiên cứu trong vật lý hiện đại không được coi trọng: khi một người nhận được bằng tiến sĩ ở nước ngoài trở về nước, nếu ở mức xuất sắc anh ta nên được khuyến khích xây dựng một nhóm nghiên cứu mới (và nên có những hỗ trợ cần thiết giúp anh ta làm việc đó), hoặc nếu ở mức khá thì anh ta nên được khuyến khích tham gia vào một nhóm nghiên cứu đã có ở trong nước. Điều này đòi hỏi phải có sự lựa chọn những lĩnh vực vật lý mà đất nước mong muốn phát triển và phải có một chính sách khoa học rõ ràng. Nhưng điều thường xảy ra lại là: anh ta bị bỏ một mình, tiếp tục làm việc riêng trong lĩnh vực như khi làm tiến sĩ và duy trì liên lạc với nhóm mà anh đã làm ở nước ngoài. Đó không phải là cách để phát triển nghiên cứu khoa học hiện đại. Ngày nay, việc nhảy ra khỏi bồn tắm và hét lên Eureka của Archimedes đã không còn thích hợp.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp đầu tiên của quản lý Khoa học và Công nghệ      Một hoạt động có tính chất trung tâm của việc nghiên cứu về chính sách KH&amp;CN là đo lường các kết quả của hoạt động KH&amp;CN. Trong một bài viết trên tạp chí “Intern. J. Technology Management”, tác giả đã nhắc đến câu nói của Galileo để lưu ý sự cần thiết và có thể của việc đo lường các hoạt động KH&amp;CN: Hãy đo cái có thể đo được, đếm cái có thể đếm được, và làm cho cái không đo được thành đo được, cái không đếm được thành đếm được.    Hai chỉ tiêu cơ bản đầu tiên để đo các kết quả của nghiên cứu KH&CN là số lượng các công trình công bố trên các tạp chí quốc tế và số lượng patent đăng ký ở các cơ quan patent có uy tín trên thế giới, trước nhất là ở Mỹ và sau đó là ở châu Âu.  Viện Thông tin Khoa học (ISI) của Mỹ xác định một danh mục các tạp chí được gọi là quốc tế và theo dõi số lượng các công trình khoa học của các nước công bố trên các tạp chí đó. Nhiều tạp chí cũng rất có giá trị như các tạp chí của các trường đại học ở Liên Xô (thí dụ MGU) vẫn chưa đủ uy tín để được ISI đưa vào danh mục các tạp chí quốc tế của họ. Không một tạp chí khoa học của Việt Nam nào được nói đến trong danh mục của ISI. Ngành toán học của nước ta đã có một tạp chí được tổ chức theo mẫu mực quốc tế với Ban biên tập gồm các nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới nhưng hình như cũng chưa được ghi vào trong danh mục của ISI.  Một tạp chí khoa học được gọi là quốc tế cần phải có một Ban biên tập gồm những nhà khoa học có tên tuổi thuộc những lĩnh vực được quan tâm của tạp chí và một mạng lưới cộng tác viên trên khắp thế giới có đủ sức đánh giá những công trình khoa học gửi đến tạp chí theo các lĩnh vực đó. Việc đánh giá này đôi khi cũng có nhầm lẫn khiến một số công trình có giá trị bị bỏ qua và tác giả phải chuyển sang một tạp chí khác, thí dụ như công trình của Peter Higgs bị tạp chí “Physics Letters” bác bỏ nhưng sau đó nó được chấp nhận ở tạp chí “Physical Review Letters”. Một thí dụ khác là công trình của Maiman về chế tạo laser đầu tiên trên thế giới gửi tạp chí “Physical Review Letters” bị bác bỏ vì công trình này bị xem là “không cơ bản”.  Theo tôi, để bảo vệ luận án tiến sĩ, tác giả của luận án nhất thiết phải có một công trình được công bố trên một tạp chí nào đó trong danh mục của ISI. Ở Philippines, ngay khi nộp đơn làm luận án tiến sĩ, nghiên cứu sinh đã phải có một công trình công bố trên một tạp chí thuộc danh mục của ISI. Bảo vệ  luận án tiến sĩ và phong học hàm phó giáo sư, giáo sư ở ta hiện nay nếu theo tiêu chuẩn đó có lẽ sẽ làm “rụng” ít nhất 90% vị đang được gọi là tiến sĩ, giáo sư. Các tạp chí của ta theo cách tổ chức Ban biên tập và đánh giá công trình hiện nay có lẽ hầu hết không đáng tin cậy.  Việc xét duyệt các patent ở Mỹ hay châu Âu hiển nhiên cũng được tiến hành theo các tiêu chuẩn chuyên môn rất nghiêm ngặt và các cơ quan xét duyệt patent đều có một mạng lưới cộng tác viên rộng lớn trên khắp thế giới để làm việc này.  Ta lưu ý rằng đăng ký patent là rất cần thiết không chỉ là nhằm bảo vệ sở hữu trí tuệ mà còn là cung cấp thông tin để các nhà đầu tư có thể lựa chọn và mua công nghệ. Một số nhà sáng chế của ta nói là mình có công nghệ nhưng khi hỏi đến patent thì lại không có. Nếu vậy thì nhà đầu tư dựa vào đâu để quyết định có mua công nghệ đó hay không? Ở Ấn Độ, Bộ KH&CN khuyến khích những người có phát minh xin đăng ký patent và giúp họ về các khoản chi phí cần thiết.  Có người nói rằng việc công bố công trình khoa học trên các tạp chí quốc tế và đăng ký patent ở Mỹ hay châu Âu là không cần thiết là những người chẳng hiểu gì về hoạt động KH&CN. Để giải thích cho họ rõ cần phải mất một chỗ khá dài trong báo cáo này nên tôi xin phép được bỏ qua.  Có công trình được công bố trên các tạp chí quốc tế mới chỉ có nghĩa là tác giả của công trình đã được thừa nhận là nhà nghiên cứu có trình độ. Còn công trình đó có giá trị như thế nào thì lại là một việc khác. Khi đó ta cần phải có một chỉ tiêu về tác động của công trình đối với sự phát triển KH&CN trên thế giới. ISI là cơ quan duy nhất hiện nay trên thế giới đã cung cấp được chỉ tiêu đó. Đó là số lần công trình được các tác giả khác sử dụng trong công trình của mình.  Các chỉ tiêu chúng tôi kể trên mới chỉ là một số ít chỉ tiêu mà các nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá các kết quả hoạt động KH&CN. Có một số chỉ tiêu riêng biệt mà các nhà nghiên cứu cần phải tự mình tìm ra, thí dụ như bằng cách đưa ra các bản câu hỏi gửi một số đối tượng (thí dụ một số nhà doanh nghiệp) và phân tích các câu trả lời. Một cách khác là phân tích các công trình trên các tạp chí theo một cách nào đó, thậm chí phân tích cả các quảng cáo về sản phẩm mới để đánh giá tình hình đổi mới công nghệ trong một lĩnh vực nào đó.  Các chỉ tiêu thu được mới chỉ là những dữ liệu ban đầu cần cho nhà nghiên cứu về chính sách KH&CN. Họ còn phải tiếp tục phân tích các dữ liệu đó, thí dụ như một công trình là của một, hai hay một tập thể nhiều người trong đó có nhiều tác giả nước ngoài; công trình là về ý tưởng mới, phương pháp mới hay chỉ là các số liệu đo đạc mới và chính xác hơn; hay chỉ là việc đưa ra một thí dụ cụ thể chứng minh cho một ý tưởng, phương pháp của một công trình cơ bản nào đó. Bản thân số lần công trình được dẫn chứng trong một số trường hợp vẫn chưa đủ để nói lên giá trị của công trình. Để giải quyết vấn đề này, mới đây nhà vật lý Jorge Hirsch đã đề nghị số lần công trình được công bố phải bằng số lần công trình ấy (từng công trình) được dẫn chứng.               Công bố hay là chết, mà anh ta lại không (có công trình) công bố   Tranh vui nước ngoài        Trên đây chúng tôi chỉ nêu một vài vấn đề về đánh giá kết quả KH&CN. Vấn đề này đã được nghiên cứu rất kỹ lưỡng và đã được trình bày trong nhiều tác phẩm của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO và đã được cộng đồng nghiên cứu trên thế giới xem là những bản hướng dẫn để các nước sử dụng và đi đến các số liệu thống nhất có thể sử dụng để so sánh sự phát triển của KH&CN giữa các nước trên thế giới. Tác phẩm đáng chú ý nhất là “Giáo trình Frascasti” của OECD đã được Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN dịch và phát hành. Đây là cuốn sách gối đầu giường của các nhà quản lý KH&CN. Không nắm được các vấn đề chủ yếu trong quyển sách này thì không thể bàn đến việc quản lý KH&CN.  Những chuẩn chung, nước nào cũng cố gắng thực hiện, mà ta lại quản lý KH&CN “theo cách của ta” thì KH&CN của Việt Nam cũng sẽ phát triển “theo cách của ta”, có nghĩa là sẽ tự động tách rời khỏi sự phát triển chung của KH&CN trên thế giới và các nhà nghiên cứu sẽ chẳng biết nói như thế nào về cái gọi là “KH&CN ở Việt Nam”!  Khi Việt Nam gia nhập WTO thì ở giai đoạn đầu thì có thể sẽ có một số người bị thất nghiệp và một số doanh nghiệp bị phá sản. KH&CN Việt Nam một khi hòa nhập với KH&CN thế giới, có nghĩa là việc tiến hành và đánh giá các hoạt động KH&CN phải tuân theo cách làm chung của thế giới thì, theo tôi, chắc chắn sẽ có một số nhà nghiên cứu bị thất nghiệp và một số đề tài nghiên cứu bị phá sản. Tôi e rằng số lượng những người đó và những đề tài đó sẽ rất lớn nhưng đó là một sự may mắn cho dân ta vì những đóng góp của họ cho phát triển KH&CN của đất nước trở nên có ích hơn.  ————    Đặng Mộng Lân      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp đẩy nhanh  tiến độ đào tạo nhân lực ĐHN      Hiện nay chương trình NEST (Chương trình đào tạo chuyên gia điện hạt nhân) đang thiên về đào tạo nhân lực phục vụ các hoạt động nghiên cứu, học thuật, tập trung chính vào đào tạo tiến sĩ với các ứng viên còn khá trẻ. Tuy nhiên, Việt Nam cần một cách tiếp cận khác có tính toàn diện hơn để có thể kịp thời đáp ứng những đòi hỏi cấp bách về nhân lực cho ngành công nghiệp hạt nhân trong điều kiện thời gian hạn chế.     Trước hết, việc xây dựng, đào tạo đội ngũ làm lãnh đạo trong ngành công nghiệp hạt nhân không nhất thiết đòi hỏi phải đào tạo ra những tiến sĩ tốt nghiệp từ trường danh tiếng ở nước ngoài như yêu cầu đối với lãnh đạo các viện nghiên cứu, mà chỉ cần đến trình độ tối thiểu là thạc sỹ quốc tế1, và được huấn luyện để bổ sung những hiểu biết về đặc thù sản xuất, kinh doanh và quản lý cán bộ trong ngành công nghiệp hạt nhân, đồng thời phải chứng tỏ được khả năng lãnh đạo của mình qua các chương trình đào tạo, phát triển tài năng lãnh đạo.  Tái huấn luyện cho những người sẵn có kinh nghiệm           Chương trình NEST nên được bổ sung việc đào tạo một số lượng lớn các thạc sỹ kỹ thuật hạt nhân bởi ngành điện hạt nhân đòi hỏi nhu cầu đào tạo cực lớn. Trước mắt Việt Nam cần 100-200 thạc sỹ kỹ thuật hạt nhân và đây đã là một thách thức không nhỏ. Bên cạnh đó, để vận hành ngành công nghiệp điện hạt nhân một cách có hiệu quả, Việt Nam còn cần thêm 500-1000 thạc sỹ trong các lĩnh vực phi hạt nhân (kỹ thuật điện, kỹ thuật cơ khí, vật lý kỹ thuật, hóa học, khoa học máy tính, khoa học hành vi, v.v.). Chuẩn bị nguồn nhân lực phi hạt nhân, điều này thường bị các nước mới phát triển ngành điện hạt nhân bỏ qua trong các giai đoạn tiến hành đầu tiên. Hi vọng rằng Việt Nam là một ngoại lệ.           Trong điều kiện thời gian bị hạn chế, chúng ta không nhất thiết phải đào tạo kỹ năng lãnh đạo cho những người hoàn toàn chưa có kinh nghiệm, mà có thể tuyển dụng các lãnh đạo sẵn có kinh nghiệm từ các ngành công nghiệp khác như các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hóa chất, kim loại, v.v.  Họ hoàn toàn có thể được đào tạo bổ sung các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để trở thành người lãnh đạo trong ngành công nghiệp điện hạt nhân.   Tương tự như vậy, chúng ta cũng xem xét khả năng tuyển dụng các kỹ sư có trình độ và một số kinh nghiệm làm việc nhất định để huấn luyện bồi dưỡng bổ sung cho họ những năng lực cần thiết trong ngành công nghiệp hạt nhân.   Xét trong khoảng thời gian ngắn hạn thì đây là cách làm tốn kém hơn, bởi sẽ đòi hỏi ít nhất phải trả những khoản lương hợp lý đủ để thu hút các cá nhân, những người đang có sẵn nguồn thu nhập ổn định cho công việc hiện tại của họ. Nhưng về lâu dài cách làm này có thể lại tiết kiệm và hiệu quả hơn, giúp nhanh chóng đào tạo ra những người có năng lực cao mà không phải trả giá cho quá nhiều các sai sót mà những người được đào tạo từ đầu thường gặp phải trong quá trình hoàn thiện năng lực.   Cần chú trọng tới mục tiêu đào tạo ra người có năng lực cao trong thời gian sớm nhất hơn là quan tâm đến chi phí đào tạo, bởi chi phí đào tạo và trả lương cho cán bộ nhiều khi không đáng kể nếu so với những thiệt hại, phí tổn gây ra bởi thiếu người vận hành có năng lực. Có thể lấy ví dụ như ở Thụy Điển, hiệu quả kinh tế từ bốn giờ sản xuất của một lò phản ứng bằng mức lương hàng năm của một chuyên gia hàng đầu được quốc tế công nhận– lưu ý rằng Thụy Điển có mức thu nhập đầu người cao hơn Việt Nam nhưng giá điện tương đương – nghĩa là nếu một chuyên gia có thể làm cho một lò phản ứng bắt đầu sản xuất sớm hơn một tuần, thì toàn bộ tiền lương cả đời của người đó đã được thanh toán! Bởi vậy, chúng ta cần chú trọng tới mục tiêu đào tạo ra người có năng lực cao hơn là quan tâm đến chi phí đào tạo. Trong điện hạt nhân, năng lực luôn luôn là lợi nhuận – đầu tư cũng như chi tiêu vào phát triển năng lực bây giờ chắc chắn sẽ tạo ra nguồn lợi lớn trong một vài năm.  Đa dạng hóa nguồn đào tạo nhân lực ở nước ngoài           Chúng ta cần chú trọng tới mục tiêu đào tạo  ra người có năng lực cao trong thời gian sớm nhất hơn là quan tâm đến  chi phí đào tạo, bởi chi phí đào tạo và trả lương cho cán bộ nhiều khi  không đáng kể nếu so với những thiệt hại, phí tổn gây ra bởi thiếu người  vận hành có năng lực.        Việc gửi các cán bộ ra nước ngoài học tập tại một số nước khác nhau cùng có nền hạt nhân phát triển là một chủ trương đúng đắn, không chỉ giúp Việt Nam tiết kiệm chi phí mà còn mang lại nguồn nhân lực chất lượng cao hơn – tạo cơ hội để các học viên được làm việc với các chuyên gia hàng đầu thế giới trong một vài năm ở nước ngoài sẽ tốt hơn nhiều so với đào tạo họ hoàn toàn ở trong nước từ con số 0.   Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam hợp tác sâu rộng với một nhà thầu duy nhất từ Nga, với 250 sinh viên được đào tạo từ quốc gia này, thì việc cử 40 sinh viên của chương trình NEST đi đào tạo tại các nước khác nhằm nâng khả năng phòng ngừa và ứng phó các sự cố để đảm bảo an toàn điện hạt nhân là rất cần thiết, bởi một nhóm cán bộ là những người từng được giáo dục tại các nước khác nhau, trải qua các hoàn cảnh, kinh nghiệm, môi trường khác nhau sẽ có khả năng ứng phó với các tình huống khó khăn và phức tạp tốt hơn hẳn so với một nhóm người chỉ nghĩ và hành động theo cùng một cách bởi được đào tạo đồng nhất từ cùng một nơi.  Chú trọng đào tạo giáo viên huấn luyện lao động phổ thông  Việc gửi người đi nước ngoài để đào tạo những chuyên môn sâu là điều cần thiết, nhưng đối với lao động phổ thông, mảng nhân lực với số lượng người lên tới hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn, thì đào tạo tại chỗ là bắt buộc do chi phí đào tạo họ ở nước ngoài quá lớn. Việc đào tạo tại chỗ này cũng vô cùng quan trọng, vì năng lực của những lao động phổ thông này sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên hiệu quả vận hành của các nhà máy điện hạt nhân.           Trong tương lai, khi các trường đại học của  Việt Nam đạt tới chất lượng quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân, nên tính  đến phương án hoàn thành học vị tiến sĩ tại Việt Nam. Theo dự đoán của  tôi, để thực hiện được phương án này sẽ mất khoảng 10 năm nữa. Trước  tiên, cần có một thế hệ tiên phong được gửi ra nước ngoài học tập. Sau 5  năm, họ có thể về nước và làm việc như các nghiên cứu viên, và cần thêm  5 năm nữa để trở thành các chuyên gia có thể độc lập hướng dẫn nghiên  cứu sinh tiến sĩ.  Chương trình NEST dự kiến hoàn toàn phù hợp với một  kịch bản như vậy.        Vì vậy, chúng ta cần một chương trình đặc biệt nhằm đào tạo giáo viên, những người sẽ huấn luyện đội ngũ lao động phổ thông. Hiện nay, Việt Nam đã có một số giáo viên kỹ thuật hạt nhân, chỉ cần một nguồn kinh phí không nhiều nhằm bồi dưỡng năng lực của họ chúng ta sẽ gặt hái được những lợi ích đáng kể sau này. Ngoài ra, để tăng số lượng giáo viên chúng ta nên tiến hành tuyển dụng liên ngành: sẽ hiệu quả hơn cả về thời gian và tiền bạc khi tái đào tạo một giáo viên đang giảng dạy một ngành công nghệ khác thành một giáo viên hạt nhân hơn là bắt đầu từ đầu.  Các lớp đào tạo lao động phổ thông, đặc biệt là nhân viên vận hành không chỉ được tổ chức tại các trường đại học, mà ở cả những viện công nghiệp đặc thù. Một chương trình hợp tác chung giữa các trường đại học và viện công nghiệp nhằm phát triển năng lực cho cả hai bên, đồng thời cùng tận dụng khai thác, sử dụng thiết bị của nhau là điều rất cần thiết. Đây không chỉ là vấn đề về chi phí và chất lượng, mà còn là một văn hóa, giúp tránh xu hướng tự cô lập, ly khai giữa trường đại học và các viện công nghiệp xảy ra khá phổ biến ở nhiều nước, một vấn đề thường gây cản trở việc sử dụng hiệu quả nguồn lực của đôi bên. Nếu việc kết hợp thành công, Việt Nam có thể trở thành một mô hình tiêu biểu trong quản lý năng lực hạt nhân.   Trích bài viết của GS. Jan Blomgren, Chủ tịch Viện INBEx, Thụy Điển, gửi ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam sau khi đọc các bài thuyết trình về chương trình NEST do ông Trần Chí Thành, ông Nguyễn Hào Quang (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) và GS. Đinh Trúc Nam (Đại học Quốc gia Bang North Carolina) soạn thảo.       Đọc thêm:  Chương trình NEST (Trần Chí Thành)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7640    —————  1 Ở đây được hiểu là trình độ thạc sỹ của châu Âu hoặc Mỹ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp góp phần nâng cao vị thế  khoa học Việt Nam trên trường quốc tế      Để c&#243; thể n&#226;ng cao vị thế khoa học Việt Nam tr&#234;n trường quốc tế, Nh&#224; nước ngo&#224;i việc cải c&#225;ch hệ thống hoạt động nghi&#234;n cứu khoa học, cần phải bắt đầu ph&#225;t triển c&#225;c chuẩn mực cho c&#225;c nh&#224; khoa học, kể cả ti&#234;u chuẩn gi&#225;o sư, sao cho ph&#249; hợp với c&#225;c chuẩn mực quốc tế v&#224; kh&#244;ng qu&#225; xa rời thực tế ở nước ta. T&#244;i xin gợi l&#234;n một v&#224;i biện ph&#225;p:    1. Hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế (sẽ gọi tắt là “công bố quốc tế”) hay đăng kí bằng sáng chế (patent) như là một tiêu chuẩn để đánh giá (hay “nghiệm thu”?) các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ.  Các nước tiên tiến, các cơ quan tài trợ coi đây là tiêu chuẩn số 1 để xem xét cung cấp kinh phí nghiên cứu.  Ở các đại học Tây phương và ngay cả đại học của các nước trong vùng, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư. Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một “đơn vị tiền tệ”, là viên gạch xây dựng sự nghiệp khoa bảng. Chính vì thế mà trong các đại học tồn tại một văn hóa gọi là “publish or perish” (xuất bản hay là biến mất). Ngay tại viện của chúng tôi đang công tác, nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa học hay nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ không có một bài báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, thì sự nghiệp của họ xem như “có vấn đề”.  Còn ở nước ta, trong thời gian nhiều năm qua, tiêu chuẩn công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế vẫn chưa được công nhận đúng mức. Hệ quả là đến nay chúng ta có một lực lượng giáo sư, kể cả một số “giáo sư hàng đầu”, chưa có công trình nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế. Như một giáo sư nhận xét gần đây: “Chín vị giáo sư tiến sĩ khoa học là thành viên của Hội đồng ngành Cơ học VN không có công bố quốc tế ISI trong 10 năm vừa qua.” Một điều đáng buồn ở nước ta là những nhà khoa học có công trình đăng trên các tập san quốc tế nhiều khi phải bị thiệt thòi so với các đồng nghiệp chưa bao giờ có bài báo đăng trên các tập san khoa học. Chẳng hạn như trường hợp một tiến sĩ ở Qui Nhơn với hơn 10 công trình đăng trên các tập san uy tín ở Âu châu và Mỹ, với thành tích như thế đáng lẽ anh đã trở thành một phó giáo sư ở nước ngoài, nhưng khi xét đề bạt giảng viên ở trong nước thì anh ta lại bị đánh giá là chưa đủ điểm!   Có người viện dẫn lí do rằng chỉ có khoa học cơ bản mới công bố quốc tế, còn họ làm nghiên cứu ứng dụng nên không cần. Thật mà khó chấp nhận cách giải trình này. Ngoài lí do liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, không có lí do gì để biện minh rằng công bố quốc tế chỉ áp dụng cho nghiên cứu khoa học cơ bản hay cho các nước đã phát triển. Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu rất xứng đáng được chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà.  2. Khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án. Đây cũng chẳng phải là một đòi hỏi gì cao siêu hay khắt khe, mà chỉ là một tiêu chuẩn, một yêu cầu phổ biến ở các đại học trong vùng và phương Tây. Dự thảo về đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây cũng có qui định một nghiên cứu sinh tiến sĩ nên có công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên các tập san quốc tế (có bình duyệt nghiêm chỉnh) trước khi bảo về luận án. Nếu tiêu chuẩn hay qui định này được thực hiện tốt, có thể kì vọng rằng sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế sẽ được nâng cao trong vài năm tới.   Một vấn đề khác tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa quốc gia, cần phải đề cập đến ở đây là một số (nếu không muốn nói là nhiều) nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang nghiên cứu hay làm luận án ở nước ngoài và khi công bố ấn phẩm khoa học thường không ghi địa chỉ từ Việt Nam, mà chỉ ghi địa chỉ nơi họ đang theo học. Tình trạng này chẳng những không hợp lí (vì cá nhân nghiên cứu sinh xuất phát từ Việt Nam) mà còn làm ảnh hưởng đến năng suất khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế. Vấn đề này thoạt đầu mới nghe qua như là chuyện nhỏ, nhưng các đại học Tây phương xem là chuyện quan trọng đến nỗi lãnh đạo trường có hẳn những văn bản và điều lệ chính thức yêu cầu các nhà nghiên cứu phải ghi rõ địa chỉ đại học hay viện nghiên cứu mà họ đang công tác hay đang giữ những chức vụ kiêm nhiệm. Do đó, các đại học Việt Nam cần phải khuyến khích, hay nói đúng hơn là yêu cầu, các nghiên cứu sinh của trường ở nước ngoài khi công bố bài báo trên các tập san quốc tế, ngoài địa chỉ của trường họ đang theo học, cần phải đề tên trường Việt Nam vào phần địa chỉ tác giả của bài báo.   3. Có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế. Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nghiên cứu y sinh học tầm quốc tế, các đại học và trung tâm nghiên cứu cần phải tuyển dụng các chuyên gia, giáo sư, hay giảng viên trẻ có tài năng thật sự, và tạo điều kiện cho họ (như thời gian và phương tiện nghiên cứu) và trao cho họ quyền tự do theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu mà họ thích và có khả năng thực hiện. Cần phải có những hình thức khuyến khích tài chính cho các nhà khoa học có công trình trên các tập san quốc tế. Ở một số đại học tại các nước như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, v.v… người ta thưởng khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao. Ngay cả tại Úc, một số trường sẵn sàng tặng hàng ngàn đô-la cho các nhà nghiên cứu có công trình đăng trên các tập san với hệ số ảnh hưởng trên 10.   4. Khuyến khích các tập san khoa học Việt Nam vươn đến tầm quốc tế. Một trong những lí do mà Thái Lan và Singapore có nhiều bài báo khoa học hơn Việt Nam là hai nước này có các tập san khoa học, kể cả tập san y sinh học địa phương, được viết bằng tiếng Anh, có hệ thống bình duyệt và được ISI công nhận. Chẳng hạn như Thái Lan có tập san Journal of the Medical Association of Thailand (Tập san Y học của Hội Y học Thái Lan), tập san ScienceAsia, và Singapore có tập san Annals Academy of Medicine Singapore là diễn đàn của các bác sĩ và nhà khoa học địa phương. Vì các tập san này được ISI công nhận, cho nên các bài báo ở đây được tính trong hệ thống của PubMed.  Ngược lại, ở nước ta, con số các tập san được quốc tế công nhận chỉ “đếm đầu ngón tay”, và hệ quả là con số bài báo công bố trên các tập san Việt Nam không hề được công nhận. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến vấn đề chất lượng, chỉ bàn đến vấn đề chấn chỉnh các tập san sao cho phù hợp với qui trình làm việc của các tập san quốc tế.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp Khoa học Công nghệ cho nông nghiệp VN      Giải ph&#225;p…  Ph&#225;t triển n&#244;ng nghiệp ở n&#244;ng th&#244;n sẽ đồng nghĩa với việc x&#226;y dựng trước hết cho n&#244;ng d&#226;n một kiến thức cao về khoa học c&#244;ng nghệ. Phải ứng dụng những c&#244;ng nghệ trọng điểm của thời đại như c&#244;ng nghệ th&#244;ng tin, c&#244;ng nghệ vật liệu mới, c&#244;ng nghệ sinh học, c&#244;ng nghệ nano, c&#244;ng nghệ thủy canh, c&#244;ng nghệ nh&#224; c&#243; m&#225;i che, c&#244;ng nghệ sau thu hoạch, cơ kh&#237; ho&#225; dụng cụ n&#244;ng nghiệp, ứng dụng quy tr&#236;nh n&#244;ng nghiệp tốt VietGAP… để sản xuất n&#244;ng sản c&#243; năng suất cao, chất lượng tốt, an to&#224;n vệ sinh v&#224; gi&#225; th&#224;nh thấp. Những c&#244;ng nghệ n&#224;y phải được nghi&#234;n cứu, yểm trợ bằng những dự &#225;n &#237;t rườm r&#224; về thủ tục giấy tờ, v&#224; được tr&#236;nh diễn ở những Trung t&#226;m xuất sắc ở mỗi v&#249;ng sinh th&#225;i hoặc ở mỗi địa phương, tạo điều kiện để n&#244;ng d&#226;n học tập v&#224; cập nhật kiến thức. Trung t&#226;m xuất sắc sẽ l&#224; nơi nghi&#234;n cứu, ph&#225;t triển, ứng dụng v&#224; chuyển giao c&#244;ng nghệ mang t&#237;nh đột ph&#225;, giải quyết được nhiều th&#225;ch thức của v&#249;ng v&#224; địa phương m&#236;nh, gi&#250;p ph&#225;t triển to&#224;n diện c&#225;c ng&#224;nh n&#244;ng nghiệp để cạnh tranh tốt với n&#244;ng sản nhập khẩu ở thị trường trong nước, đồng thời l&#224;m tiền đề ph&#225;t triển thị trường xuất khẩu, đưa n&#244;ng nghiệp Việt Nam tiến v&#224;o biển lớn, hội nhập WTO.&nbsp;     Kiến thức cao về khoa học công nghệ sẽ giúp nông thôn biết quy hoạch đất đai, mạnh dạn khoanh vùng để giữ gìn “bờ xôi ruộng mật”, chỉ xây dựng công trường ở nơi thuận tiện, và sân golf  – cũng quan trọng để phát triển du lịch – phải ở nơi không phải đất nông nghiệp, với con số chừng mực bao nhiêu sân là hợp lý.    Kiến thức cao về khoa học công nghệ sẽ giúp nông thôn biết ứng dụng các phương pháp sản xuất hữu cơ, IPM, GAP để bảo vệ môi trường, các phương pháp xử lý làm sạch nước, nâng cao chất lượng nước dùng trong nông nghiệp.  Kiến thức cao về khoa học công nghệ cũng sẽ giúp nông thôn biết ứng phó với thiên tai bão lụt, tìm giải pháp thích ứng khi khí hậu biến đổi, và sẽ cho Việt Nam những giống lúa chống lụt (gene Sub1), chống mặn, phương pháp trồng hoa màu trên cát.  Nông sản Việt Nam được sản xuất, dĩ nhiên ở nông thôn, đã và đang kinh qua muôn ngàn trở ngại vì: 1) hạ tầng cơ sở kém nên vận chuyển khó khăn, 2) kỹ thuật sản xuất thô sơ nên chất lượng chưa đạt, 3) tổ chức hành chính rườm rà nên ngăn cản việc sản xuất tập trung với lượng hàng hoá lớn, 4) giá cả vận chuyển đắt nên giá thành nông sản bị đội lên, khó cạnh tranh ở cả hai thị trường trong và ngoài nước, và 5) thủ tục hải quan chưa gọn nhẹ nên việc xuất khẩu mất tính hấp dẫn, không lôi kéo được đầu tư. Đó là chưa nói đến tình hình nông dân bị thương lái và tổ chức tài chính tại địa phương khống chế, mất cơ hội làm giàu, tạo nên hình ảnh không mấy đẹp khi nói đến nghề nông. Đây là những lý do chính ngăn cản sức bật của nông nghiệp Việt Nam, cho nên phải mạnh dạn phá vỡ những tương quan chằng chịt này để lột xác nông thôn, biến nơi này thành một mảnh đất phì nhiêu, sẵn sàng cho hạt giống khoa học công nghệ sinh sôi nảy nở.    … và Cơ hội              Về mặt chiến lược phát triển nông nghiệp, Việt Nam không thể không tiếp cận với kỹ thuật biến đổi gene vì đây là một trong những thành tựu của khoa học hiện đại. Nghiên cứu, đánh giá cây biến đổi gene cho các loại nông sản quan trọng như lúa, ngô, đậu tương, bông vải, cải dầu và rau quả, cũng như chẩn đoán CÓ hay KHÔNG gene biến đổi trong nông sản hoặc thức ăn nhập khẩu như ngô, đậu tương, sữa, bơ, pho mát, khoai tây chiên… là những việc rất quan trọng mà Việt Nam cần phải làm, sửa soạn cho đến khi giới tiêu thụ thế giới chấp nhận thức ăn biến đổi gene, thì lúc đấy Việt Nam cũng đã có sẵn chuyên viên và các kỹ thuật công nghệ sinh học về giống, tạo giống và nhân nhanh giống biến đổi gene, phục vụ kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam, phát triển xuất khẩu.               Như vậy vào thời điểm này, có lẽ chúng ta chỉ nên triển khai nghiên cứu cây biến đổi gene  ở đại học hoặc viện nghiên cứu vì đây là những cơ quan có chức năng nghiên cứu và phát triển công nghệ, giúp Việt Nam không bị tụt hậu trong bước tiến chung về KHKT của thế giới. Nghiên cứu cây biến đổi gene ở đại học hoặc viện nghiên cứu có lý do tốt giúp Việt Nam giải thích với bạn hàng nhập khẩu Việt Nam vẫn là một quốc gia GM-free. Chúng ta cần phải hết sức thông minh để đi vào con đường GM. Không nên vội vã mà bị rơi vào cái bẫy của những công ty siêu quốc gia khi họ bị mất thị trường Âu châu và Nhật Bản nay quay sang Việt Nam tìm kiếm thị trường mới: Việt Nam cần xây dựng thương hiệu nông sản và thực phẩm made in Vietnam “tươi ngon, sạch đẹp và GM-free”.        Mặc dù còn có nhiều khó khăn trở ngại, cộng thêm với thiên tai bão lũ, hạn hán, rét đậm rét hại… vậy mà trong năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu được 2,87 tỷ USD gạo, 2 tỷ USD cà phê, 1,6 tỷ USD cao su, 1,5 tỷ USD tôm và 1 tỷ USD cá tra. Tổng cộng các mặt hàng nông lâm ngư nghiệp xuất khẩu trong năm 2008 là 16,24 tỷ USD. Đạt được con số này là một kết quả ngoạn mục. Nhưng thực ra đấy không phải do ta đã thành công trong việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, mà do ở thị trường thế giới đang trong thời kỳ thiếu nguồn cung cấp nên đã trả với giá cao hơn. Như vậy rõ ràng cơ hội vẫn còn nhiều do thực phẩm càng lúc càng hiếm và nông sản càng lúc càng trở thành một mặt hàng có giá trị. Nếu nông sản được tăng thêm giá trị (value added) bằng cách chế biến, thì nông sản sẽ có giá trị cao hơn, thu nhập trên một hecta sẽ không thua các mặt hàng công nghiệp.  Với một diện tích đất có thể canh tác không nhiều, chỉ 10-11 triệu ha nhưng lại có một thành phần nông dân trẻ, đông đảo, hùng hậu, Việt Nam phải tính toán để phân bổ hợp lý đất, người và đặt ưu tiên phát triển mặt hàng nông nghiệp nào kinh tế nhất cho thị trường trong và ngoài nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá, thành phần nông dân Nhật đã tụt giảm từ 60% xuống còn khoảng 5-6%. Kết quả là quốc gia này đã gặp muôn vàn khó khăn trong sản xuất vì số nông dân quá ít, phải nhập khẩu đến 60% lương thực cần dùng. Nếu nông thôn Việt Nam quyết tâm lột xác để xây dựng một hệ thống hạ tầng cơ sở tốt, một môi trường sản xuất thông thoáng, và áp dụng một nền khoa học công nghệ cao, thì thành phần nông dân trẻ sẽ trụ lại, xây dựng thành công một đất nước có cả nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, vừa bảo đảm tính bền vững về an ninh lương thực vừa bảo đảm “môi trường xanh” cho Việt Nam.  Dioxin, Vedan… là những bài học xương máu, nên đừng bao giờ quên rằng Nông nghiệp ngoài vai trò làm đầy bao tử, làm ấm cơ thể, còn là bầu không khí trong lành cho buồng phổi nữa.  Thách thức nào cũng khó khăn, nhất là đối với tầm cỡ của một quốc gia, của một dân tộc. Nhưng nếu không nhìn thấy và quyết tâm vượt qua, chúng ta sẽ bỏ mất cơ hội. Đã qua rồi thời kỳ hậu chiến. Cũng qua rồi thời kỳ đổi mới. Việt Nam đã đổi mới và đã đi vào biển lớn. Vậy phải nhìn thẳng vào khó khăn để mạnh dạn dứt bỏ những chính sách vốn xây dựng cho sông, suối nay không còn thích hợp với sóng lớn đại dương. Sự kiện melamine của Trung Quốc, sự kiện cúm lợn ở châu Mỹ… đang tạo thêm cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam. Thời cơ ấy sẽ qua đi nếu ta không kịp thời bắt lấy!   ——————  Trích tham luận tại Hội thảo: Định hướng và Giải pháp phát triển KH&CN Việt Nam 2010 – 2020    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải pháp ngăn chặn chảy máu chất xám: Phải được triển khai ở tầm quốc gia      Vấn đề đặt ra không còn là cứ nhắc đi nhắc lại làm gì để ngăn chặn chảy máu chất xám, điều chúng ta đã biết từ vài thập kỷ nay, mà là lý giải vì sao chưa tìm ra được những giải pháp triển khai có hiệu quả..         Sinh viên chúng ta hằn sâu ý nguyện du học ngay cả khi đã bước chân vào giảng đường đại học trong nước. Nguồn: USTH  Gần đây, chúng ta đọc các câu chuyện trên báo chí, nhắc nhở chúng ta về sự trì trệ này.   Năm ngoái là câu chuyện về giáo sư Trương Nguyện Thành của đại học Hoa Sen ở TP HCM, người trở về từ nước Mỹ để cống hiến cho giáo dục đại học ở Việt Nam; ông được Hội đồng quản trị của trường bầu chọn (16 phiếu ủng hộ, 2 phiếu trắng) làm hiệu trưởng; người ta chú ý đến ông bởi hành xử đôi khi khác thường, và sự khuyến khích sinh viên tư duy độc lập thay vì chỉ nghe lời một cách thụ động; thế rồi cơ quan quản lý giáo dục không đồng ý việc bổ nhiệm hiệu trưởng của ông, với lý do là ông “chưa đủ kinh nghiệm”.  Hằng năm chúng ta nghe về chương trình truyền hình Đường lên đỉnh Olympia, và phàn nàn rằng tốt hơn nên gọi đó là Đường đến Australia, khi mà mười lăm người trong số mười sáu quán quân đi du học Australia mà không trở về. Bản thân chúng tôi biết rõ vấn đề này: năm nào chúng tôi cũng tham gia giúp bồi dưỡng đội tuyển Việt Nam tranh tài tại giải Olympiads Thiên văn học và Vật lý thiên văn quốc tế. Quả là vui khi được góp phần rèn luyện những học sinh mạnh mẽ đầy tâm huyết như vậy. Nhưng khi chúng tôi hỏi về nguyện vọng tiếp theo của bản thân, tất cả đồng thanh trả lời rằng mong muốn đi du học.  Như thường thấy, có quá nhiều điều cần thay đổi, hay ít nhất cần cải thiện, khiến khó để biết đâu là điểm xuất phát, đâu là những việc cần ưu tiên. Tất cả chúng liên quan mật thiết đến nhau. Chúng ta không thể chống tham nhũng mà không cải thiện chế độ lương và đãi ngộ trong khu vực công; hay ngược lại. Vậy nên chúng ta tự bằng lòng với những thay đổi vừa phải, mỗi ngày từng chút một. Nhưng với giáo dục đại học chúng ta không thể quản trị theo cùng một cách như quản lý dự án Metro Hà Nội, theo kiểu trì hoãn hết lần này tới lần khác. Với giáo dục đại học, chúng ta đang lãng phí không chỉ hàng tỷ đô la, mà là trí não của thanh niên, thứ tài sản quý báu nhất của quốc gia. Như tôi thường viết trên Tia Sáng, ưu tiên hàng đầu là làm sao để thế hệ trẻ ý thức được rằng tương lai đang nằm trong tay họ: sẽ chẳng có thay đổi nào nếu họ không quyết tâm tự thay đổi. Mà muốn vậy thì họ phải được khuyến khích tự thay đổi, điều không xảy ra trên thực tế.      Không lâu sau khi đến Việt Nam, tôi có cơ hội gặp lãnh đạo Khoa Vật lý Trường Đại học Khoa học tự nhiên của Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi tôi dạy vật lý thiên văn. Ông bày tỏ niềm tự hào rằng một phần đáng kể sinh viên của mình, sau khi tốt nghiệp đã ra nước ngoài để học lên cao hơn. Tôi bảo ông rằng tốt hơn nên phấn đấu để có thể tiếp nhận nhiều sinh viên quốc tế đến học ở Khoa. Ông nhìn tôi như thể gặp người từ Sao Hỏa.  Gốc rễ của vấn đề là người Việt nhìn nhận đầy bi quan về các đại học trong nước cũng như sự thiếu quyết tâm của các cơ quan hữu quan nhằm giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm. Điều nghịch lý là người Việt thích gửi con em đi du học vì tin tưởng hơn vào chất lượng giáo dục và học thuật của nước ngoài, nhưng về phía các cơ quan quản lý lại xem nhẹ việc lắng nghe những tư vấn chuyên môn từ các chuyên gia quốc tế.  Chẳng ai có chút tin tưởng nào, rằng học sinh, sinh viên Việt Nam cũng thông minh chẳng kém quốc tế, và đã đến lúc vận dụng tài năng của họ để phát triển nền tri thức cùng năng lực trong nước. Hậu quả sinh viên chúng ta hằn sâu ý nguyện du học ngay cả khi đã bước chân vào giảng đường đại học trong nước. Chúng tôi chứng kiến trực tiếp điều này do có quan hệ gần gũi với trường USTH, còn gọi là “Đại học Việt – Pháp”. Sinh viên theo học ở đây vì đó là cơ hội để rời khỏi đất nước; họ sẽ tự thấy mình thất bại nếu phải tham gia một nhóm làm thạc sỹ trong nước trong khi chúng bạn tìm được học bổng du học.  Vì sao tôi quan tâm tới chuyện này. Câu trả lời đến từ tâm can. Hai mươi năm trước, tôi từng hi vọng rằng những đồng nghiệp trẻ của mình cuối cùng có thể được hưởng cuộc sống hạnh phúc mà cha mẹ và ông bà họ không có được. Ngày nay, chứng kiến họ trưởng thành, xây dựng gia đình, niềm hi vọng của tôi không còn đặt nơi họ nữa mà dành cho những đứa con của họ. Chúng cũng thông minh, quả cảm, và nhân hậu như chúng bạn mình ở các nước phát triển: những phẩm chất ấy vốn chẳng có biên giới và không cần đến hộ chiếu. Nhưng chúng không có may mắn được sinh ra phía bên kia ranh giới. Thế hệ trẻ Việt Nam phải gánh chịu những hệ quả lịch sử, khi mà cha ông và thầy cô của họ không có cơ hội được đào tạo đầy đủ trong những thập kỷ chiến tranh và nghèo đói, để rồi dẫn đến một hiện trạng xã hội người ta đua nhau mưu cầu tiền bạc thay vì tri thức.  Sự bất bình đẳng trên thế giới ngày nay hiển hiện rõ ràng đến tất cả chúng ta với những vấn nạn to lớn, khi người từ các nước nghèo tìm cách di cư trong khi các nước giàu tìm cách dựng lên những bức tường chắn, nền dân chủ bị đe dọa bởi trào lưu dân túy. Khi Donald Trump phát biểu tại phiên họp đại hội đồng Liên hiệp quốc rằng “mỗi quốc gia có mặt trong hội trường này có một lịch sử, văn hóa và di sản quý báu xứng đáng được bảo vệ và ca tụng, điều mang đến cho mỗi chúng ta một tiềm năng và sức mạnh độc nhất”, thì liệu ông ta có nhận thức rằng lịch sử, văn hóa và di sản của đất nước Thụy Sỹ là ngồi ôm két sắt nắm giữ của cải trên toàn thế giới, trong khi Bangladesh phải gồng mình chống chịu những cơn lũ lụt ở châu thổ Ganges?  Nếu muốn thế hệ trẻ nắm lấy tương lai trong tay, chúng ta phải khuyến khích họ làm điều ấy. Đây không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Như Phạm Văn Đồng từng nói: tiến hành một cuộc chiến tranh có thể đơn giản, nhưng vận hành một đất nước rất khó. Vinh quang và niềm tự hào của đất nước là đã giành thắng lợi trong nhiều cuộc chiến; nhưng thách thức ngày nay là làm sao giành thắng lợi trong thời bình. Nhìn thấy cỏ phía bên kia xanh hơn, nhưng giới trẻ cần ý thức rằng mình có trách nhiệm tưới tắm cho bờ cỏ của mình xanh tốt hơn, thay vì tìm cách nhảy qua hàng rào. Họ cần ý thức rằng vì tương lai con em mình sau này, cần đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Họ cần có một ý thức trách nhiệm chung để thấy rằng tương lai của đất nước nằm trong tay mình, để có dũng khí và lòng quyết tâm đấu tranh cho sự tiến bộ.  Điều đó đòi hỏi nâng cao ý thức công dân, một nguồn cảm hứng mà chỉ những người lãnh đạo đất nước mới có thể khơi dậy; không một cá nhân riêng lẻ nào, dù dũng cảm và bao dung đến đâu, có thể tự mình đối diện với nhiệm vụ lớn lao đến vậy; giải pháp cho vấn đề đặt ra phải được triển khai ở tầm quốc gia.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Giải phóng khỏi nỗi ám ảnh hệ số ảnh hưởng      Một nghiên cứu gần đây cho thấy, việc đánh  giá các nhà khoa học qua việc công bố công trình nghiên cứu trên các tạp  chí có hệ số ảnh hưởng cao không chỉ khiến các nhà khoa học lãng phí  thời gian mà còn khuyến khích họ thổi phồng công trình của mình, hoặc tệ  hơn, sẽ chỉ tập trung cố gắng vào việc đảm bảo công bố công trình trên  những tạp chí được đánh giá cao.     Đó là lý do vì sao, một năm sau khi công bố, đã có hơn 10.000 cá nhân trong khắp cộng đồng khoa học ký tên vào Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Nghiên cứu (DORA), với mục đích giải phóng khoa học khỏi nỗi ám ảnh hệ số ảnh hưởng, và hy vọng có thể thúc đẩy khả năng sử dụng các phương án thay thế và phương pháp tốt hơn trong đánh giá nghiên cứu, từ đó đem lại lợi ích không chỉ cho cộng đồng khoa học mà còn cả toàn thể xã hội.  Một trong những tổ chức có ảnh hưởng nhất đang thực hiện những bước tích cực hướng đến những cách đánh giá hoàn thiện là Viện Y tế quốc gia Mỹ (NIH) qua thay đổi cụ thể về mẫu lý lịch hoặc “tiểu sử tóm tắt” trong các hồ sơ xin tài trợ. NIH đã quyết định đưa thêm vào bản tóm tắt tiểu sử một phần ngắn, trong đó ứng viên trình bày một cách súc tích những thành tích nghiên cứu khoa học nổi bật nhất của mình để các nhà xét duyệt tài trợ khỏi mất tập trung vào tìm hiểu tạp chí nào từng đăng tải các công bố trước đó [của ứng viên].   Một ví dụ nữa, như tạp chí Science đã nêu, trong một đợt tuyển dụng các vị trí mới của khoa do mình phụ trách, Sandra Schmid thuộc Trung tâm Y khoa Tây Nam của ĐH Texas đã yêu cầu các ứng viên gửi phản hồi cho một loạt câu hỏi về những đóng góp chính của họ trong những giai đoạn khác nhau của sự nghiệp, thay vì một bản lý lịch truyền thống với danh sách các công bố khoa học. Cách tiếp cận tương tự cũng được thực hiện để chọn người nhận giải thưởng Kaluza danh giá dành cho các nghiên cứu sinh.  Một đặc điểm chung của các tổ chức tài trợ có cách thức tiếp cận mới mẻ trong đánh giá nghiên cứu là yêu cầu các ứng viên trình bày chọn lọc các đóng góp nghiên cứu nổi trội nhất trong công trình nghiên cứu của mình, chứ không phải chỉ dựa vào danh tiếng tạp chí đã xuất bản nó. Họ đồng thời còn dựa vào các nguồn lực khác như các bộ dữ liệu, sáng kiến và phần mềm quan trọng – một cách làm đã được Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF) thực hiện từ tháng 1-2013.  Việc càng xuất hiện nhiều phương pháp đánh giá không phụ thuộc vào các hệ số ảnh hưởng và tên tuổi của tạp chí sẽ giúp các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu hơn và giúp xã hội bằng cách đem lại hiệu quả cao hơn cho những khoản đầu tư công trong khoa học.   Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: http://theconversation.com/time-to-discard-the-metric-that-decides-how-science-is-rated-27733)  * Giáo sư Sinh học Tế bào và Phát triển của ĐH Berkeley, California, một trong những tác giả của DORA    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2015: Mỗi công trình đều có những kết quả đỉnh cao      Theo GS Ngô Việt Trung, Chủ tịch Hội đồng  giải thưởng Tạ Quang Bửu, các công trình được xét tặng giải thưởng năm  nay đều nằm trong top 3% danh mục hàng trăm các tạp chí ISI trong từng  chuyên ngành và mỗi công trình đều có những kết quả đỉnh cao.    Niềm vui người nhận giải  Sáng 16/5 tại trụ sở Bộ KH&CN ở Hà Nội đã diễn ra lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu cho ba nhà khoa học có công trình xuất sắc, gồm: GS.TSKH Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin – ĐHQG Hà Nội); GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học – Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam); PGS.TS Trần Thanh Hải (Trường ĐH Mỏ Địa chất); và một nhà khoa học trẻ có công trình xuất sắc là PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp (Viện Toán học – Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam).  Đã trở thành thông lệ, lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu là một trong những sự kiện được chờ đợi nhất trong loạt hoạt động chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam hằng năm.  Đến dự lễ trao giải sáng 16/5 có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân, Thứ trưởng KH&CN Phạm Công Tạc, đại diện gia đình cố GS Tạ Quang Bửu cùng nhiều nhà khoa học thuộc các viện, trường, cơ quan nghiên cứu trong cả nước.  Đọc diễn văn nhận giải, các nhà khoa học đều thể hiện niềm vui và vinh dự sâu sắc khi trở thành chủ nhân của một giải thưởng mà những tiêu chí lựa chọn của nó đã tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ trong giới khoa học, thúc đẩy họ sáng tạo, xây dựng các công trình khoa học chất lượng cao và có sức thuyết phục trên trường quốc tế, như nhận xét của PGS.TS Trần Thanh Hải.   Bên cạnh đó, họ cũng không quên nhấn mạnh niềm hồ hởi chung kể từ khi cơ chế hỗ trợ tài chính của Bộ KH&CN thông qua Quỹ KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) ra đời, “thổi một luồng gió mới” vào sự nghiệp nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có bản thân họ. “Cơ chế minh bạch, dân chủ và công bằng của Quỹ trong việc cấp kinh phí và đánh giá các công trình khoa học đang khích lệ tôi và các nhà khoa học nâng cao chất lượng nghiên cứu và hội nhập với cộng đồng khoa học quốc tế. Nó cũng loại ra khỏi sân chơi những ai đã và đang sử dụng một cách lãng phí tiền thuế của người dân, cho ra nhưng công trình nghiên cứu và triển khai kém chất lượng,” GS.TSKH Đinh Dũng chia sẻ.  Được biết, hai trong số bốn công trình nhận giải năm nay được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí của Quỹ NAFOSTED.  Kết thúc lễ trao giải, Bộ trưởng Nguyễn Quân phát biểu cho biết, năm 2014, lần đầu tiên Việt Nam vượt ngưỡng 2.000 công bố quốc tế trên các tạp chí ISI, đứng thứ tư ở Đông Nam Á, sau Singapore, Malaysia, và Thái Lan. Như vậy, chỉ trong vòng mười năm trở lại đây, Việt Nam đã vượt qua Philippines và Indonesia về số công bố quốc tế trên các tạp chí ISI.  Bộ trưởng cũng nói hết sức chân thành rằng, nếu có những nhà khoa học sẵn sàng dành cả cuộc đời để làm nghiên cứu thì những người làm công tác quản lý như ông phải có trách nhiệm làm hết sức mình để tháo gỡ các rào cản, tạo ra một môi trường nghiên cứu lành mạnh, thân thiện và tự do cho các nhà khoa học.  Bước đầu tạo dựng uy tín   Đây là năm thứ hai giải Tạ Quang Bửu dành cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên được trao như một nỗ lực của Bộ KH&CN nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong bối cảnh số lượng công bố quốc tế của Việt Nam có bước tiến nhảy vọt trong những năm qua dưới sự hỗ trợ của Quỹ NAFOSTED. Tham dự giải có 43 hồ sơ đăng ký thuộc các lĩnh vực: (i) Khoa học tự nhiên: Toán học, Khoa học máy tính và thông tin; Vật lý; Hóa học, các khoa học trái đất và môi trường liên quan; Sinh học, Khoa học tự nhiên khác; (ii) Khoa học kỹ thuật và công nghệ; (iii) Khoa học y dược; (iv) Khoa học nông nghiệp; trong số đó chín hồ sơ đã được các hội đồng khoa học chuyên ngành đề xuất xem xét tại Hội đồng giải thưởng.  Phát biểu tại lễ trao giải, GS Ngô Việt Trung, Chủ tịch Hội đồng giải thưởng, nói về những nét đặc biệt của giải thưởng như sau:  Trước tiên, Giải thưởng Tạ Quang Bửu là giải thưởng quốc gia đầu tiên vinh danh các công bố khoa học xuất sắc mang tầm thế giới.  Thứ hai, đây là giải thưởng duy nhất có Hội đồng xét chọn chỉ gồm các nhà khoa học tiêu biểu, không có sự tham gia của các nhà quản lý thuần túy. Thành phần Hội đồng gồm bảy chủ tịch hội đồng ngành do cộng đồng các nhà khoa học bầu lên và hai nhà khoa học có uy tín thế giới là GS Pierre Dariulat và GS Vũ Hà Văn. Cơ cấu như vậy đảm bảo cho Hội đồng đủ khả năng đánh giá các công trình xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học khác nhau.  Thứ ba, các công trình được đánh giá qua uy tín của tạp chí và nội dung khoa học nổi trội của công trình dựa trên ý kiến của các phản biện. Mỗi công trình đều được gửi xin đánh giá của hai nhà khoa học đầu ngành trong nước và từ một đến ba nhà khoa học có uy tín trên thế giới.  Và cuối cùng, các công trình được xét tặng giải thưởng năm nay đều nằm trong top 3% danh mục hàng trăm các tạp chí ISI trong từng chuyên ngành và mỗi công trình đều có những kết quả đỉnh cao.  Trả lời phỏng vấn của Tia Sáng bên lề lễ trao giải, GS Ngô Việt Trung nhận định, so với năm ngoái, năm nay có nhiều công trình xuất sắc đăng ký tham dự vì giải thưởng bắt đầu đã tạo dựng được uy tín trong cộng đồng nghiên cứu khoa học cơ bản (năm ngoái, chỉ có hai nhà khoa học được trao giải và không tìm ra được người để trao giải Nhà khoa học trẻ). “Uy tín của một giải thưởng không nằm ở giá trị vật chất của giải thưởng mà nằm ở chỗ chúng có được trao cho đúng những công trình xuất sắc nhất hay không. Giải thưởng Fields trong Toán học chỉ có giá trị 15 ngàn USD nhưng được coi là tương đương với giải Nobel,” ông nói.   Nên có giải riêng cho lĩnh vực lý thuyết và thực nghiệm   Bên cạnh đó, GS Ngô Việt Trung cũng nhận xét, quy chế giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay đã có những thay đổi nhằm khắc phục một số bất cập của lần trao giải năm ngoái như cho phép đề cử giải thưởng, nâng hạn tuổi cho giải thưởng trẻ lên đến 34, v.v… Ông cho rằng, tiếp theo, nên trao giải thưởng cho những cụm từ hai đến ba công trình xuất sắc về một đề tài nghiên cứu. “Ví dụ như cá nhân nào có hai công bố trên các tạp chí hàng đầu nên được ưu tiên hơn những cá nhân chỉ công bố một công trình có chất lượng khoa học tương đương.”   Theo vị chủ tịch Hội đồng giải thưởng Tạ Quang Bửu hai nhiệm kỳ liên tiếp, bất cập lớn nhất hiện nay là phân bổ không đồng đều về giải thưởng giữa các lĩnh vực khoa học mang tính lý thuyết và các lĩnh vực khoa học thực nghiệm. “Các nghiên cứu thực nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào máy móc, vật liệu thí nghiệm cũng như vào tập thể các thí nghiệm viên nên khó lòng đạt được những kết quả xuất sắc đủ để công bố trên các tạp chí hàng đầu của thế giới,” ông nhận xét. Vì vậy, theo ông, trong những lần trao giải tới nên có giải riêng biệt cho lĩnh vực lý thuyết và thực nghiệm để các nhà khoa học ở hai lĩnh vực này cảm thấy được khuyến khích như nhau.            Hạng mục “Tác giả của công trình khoa học xuất sắc” (trị giá 200 triệu đồng)   * GS.TSKH Đinh Dũng được trao giải với công bố Dũng, D., &Ullrich, T. (2013). N-Widths and ε-dimensions for high-dimensional approximations (Xấp xỉ và khôi phục tín hiệu có số chiều rất lớn trên lưới thưa).    Công trình là một trong những đóng góp quan trọng nhất đối với bài toán tổng quát về xấp xỉ nhiều chiều, kết nối giữa lý thuyết xấp xỉ hàm nhiều biến kinh điển và các vấn đề hiện đại của toán học tính toán. Lý thuyết xấp xỉ hàm số nhiều biến – cơ sở của toán học tính toán và khoa học máy tính, có nhiều ứng dụng trong giải số phương trình đạo hàm riêng, xử lý ảnh, khôi phục tín hiệu.   Công trình đã được đăng trên tạp chí Foundations of Computational Mathematics, 13(6), 965-1003, là tạp chí đứng thứ năm trong lĩnh vực toán học tính toán do SCImago xếp hạng.   * GS.TSKH Nguyễn Đông Yên được trao giải với hai công trình: Lee, G. M., Tam, N. N., & Yen, N. D. (2012). Stability of linear-quadratic minimization over Euclidean balls và Qui, N. T., & Yen, N. D. (2014). A class of linear generalized equations, gọi chung là cụm công trình “Nghiên cứu tính ổn định và tính ổn định vi phân của một lớp bài toán quy hoạch toàn phương không lồi”. Hai công trình này mở đường cho một lớp bài toán có nhiều ứng dụng trong lý thuyết tối ưu bằng cách đưa ra một khái niệm hoàn toàn mới để giải quyết lớp bài toán đó một cách hiệu quả nhất.   Hai công trình đã được đăng trên tạp chí SIAM Journal on Optimization, là tạp chí đứng thứ sáu về chỉ số ảnh hưởng, thứ bảy về chỉ số trích dẫn trong số 251 tạp chí khoa học chuyên ngành của cơ sở dữ liệu ISI.   * PGS.TS Trần Thanh Hải được trao giải với công bố Tran, H. T., Zaw, K., Halpin, J. A., Manaka, T., Meffre, S., Lai, C. K., …&Dinh, S. (2014). The Tam Ky-Phuoc Son shear zone in Central Vietnam: tectonic and metallogenicimplications (Bản chất đới trượt Tam Kỳ – Phước Sơn ở miền Trung Việt Nam: Ý nghĩa kiến tạo và sinh khoáng của nó). Công trình đã có phát hiện mới quan trọng về lịch sử tiến hóa kiến tạo của địa khối Đông Dương. Đây là vấn đề đã và đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Việc xác định được hoạt động magma-kiến tạo và tạo khoáng vàng xảy ra vào khoảng 400 triệu năm trước đã mở ra một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu tiếp theo về các quá trình kiến tạo và sinh khoáng vàng khu vực Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng.    Công trình đã được đăng trên tạp chí Gondwana Research là tạp chí quốc tế có thứ hạng cao, có uy tín cao trong lĩnh vực địa chất.   Hạng mục “Nhà khoa học trẻ” (trị giá 50 triệu đồng)   * PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp được trao giải Tạ Quang Bửu ở hạng mục Nhà khoa học trẻ với công trình Demailly, J. P., &Phạm, H. H. (2014). A sharp lower bound for the log canonical threshold (Một đánh giá tốt nhất có thể của ngưỡng chính tắc), nghiên cứu một vấn đề quan trọng trong Lý thuyết kỳ dị có ứng dụng trong nhiều ngành toán học khác nhau. Kết quả của công trình tốt hơn hẳn các công trình trước đây và có khả năng giải quyết một giả thuyết được nhiều nhà toán học nổi tiếng trên thế giới quan tâm nghiên cứu là giả thuyết Guedj và Rashkovskii.    Công trình đã được đăng tải trên tạp chí Acta Mathematica, là một trong năm tạp chí toán học đỉnh cao và kinh điển nhất của các tạp chí toán học thế giới.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Giải thưởng Tạ Quang Bửu: Cần động viên mọi lĩnh vực nghiên cứu      Chúng ta có tới tám lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nhưng giải thưởng Tạ Quang Bửu chỉ được trao cho rất ít tác giả.    Sau nhiều năm chuẩn bị với sự vận động và tham gia tích cực của tạp chí Tia Sáng, Quỹ Nafosted, và các nhà khoa học, đặc biệt là với sự quan tâm của Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân, giải thưởng Tạ Quang Bửu năm đầu tiên đã được tổ chức thành công và chọn được hai nhà khoa học – GS. Nguyễn Hữu Việt Hưng và PGS.TS Nguyễn Bá Ân – đại diện từ hai lĩnh vực có truyền thống nghiên cứu cơ bản chuẩn mực quốc tế lâu năm ở Việt Nam là Toán và Vật lý. Cả hai anh đều có được kết quả công bố xuất sắc trong năm năm gần đây và đã được lựa chọn bởi Hội đồng khoa học giải thưởng gồm các nhà khoa học có uy tín lớn trong cộng đồng, bởi vậy các lựa chọn của họ là chuẩn xác và khách quan, điều chưa từng có ở các giải thưởng khoa học và công nghệ khác.  Một chi tiết thú vị là hai bài báo và hai tác giả được giải thưởng tuy cùng phạm trù lý thuyết nhưng ở hai thái cực: GS. Nguyễn Hữu Việt Hưng công bố không nhiều, bài báo có trích dẫn ít nhưng đăng tạp chí có đẳng cấp cao, còn PGS.TS Nguyễn Bá Ân công bố nhiều và có trích dẫn cao (anh Ân đã lập kỷ lục công bố 18 bài ISI cho đề tài hai năm 2009-2011 của Nafosted). Qua đó thấy rằng, như GS Hoàng Tụy đã nói, đánh giá cá nhân qua các con số là chưa đủ mà cần có sự đánh giá chuyên môn tinh tế hơn, và các hội đồng ngành đã làm được việc này.  Hai giải thưởng hẳn đã đem đến sự khích lệ lớn cho cộng đồng các ngành Toán – Lý, nhưng không ít nhà khoa học cho rằng, nó không đủ để đại diện cho mọi lĩnh vực nghiên cứu cơ bản có những phát triển vượt bậc trong năm năm vừa qua, không động viên được những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản có tính ứng dụng. Cụ thể là tác giả bài báo về ô nhiễm Asen ở Việt Nam được đăng trên tạp chí đầu bảng Nature có tính ứng dụng cao đã không được trao giải thưởng.  Mặt khác, chúng ta có tới tám lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nhưng việc lần đầu giải thưởng Tạ Quang Bửu chỉ được trao cho rất ít tác giả với số tiền lớn, dường như phù hợp với truyền thống xây dựng thần tượng nhưng sẽ tạo ra áp lực rất lớn cho người được giải thưởng; đồng thời số đông các nhà khoa học sẽ coi giải thưởng là thứ gì quá xa cách với họ. Vì vậy, để động viên các nhà nghiên cứu trong mọi lĩnh vực từ lý thuyết tới thực nghiệm, ứng dụng…, tôi đề nghị trao mỗi năm tối đa bốn giải thưởng Tạ Quang Bửu, với phân bố chẳng hạn như sau (mỗi ngành tối đa một giải thưởng, tất nhiên có thể có ngành không chọn được giải thưởng cho năm đó):  – Năm chẵn: Toán, Lý, Tin, Y học.  – Năm lẻ: Hóa, Sinh, Trái đất, Khoa học khác.  Việc xét chọn tác giả được trao giải thưởng chủ yếu do Hội đồng ngành đề xuất và được quyết định bởi một hội đồng mang tính danh dự gồm đại diện các hội đồng ngành, Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính, các nhà tài trợ…, do Bộ trưởng Bộ KH&CN làm chủ tịch, thay vì Hội đồng khoa học giải thưởng hiện nay.               Author                Quản trị        
__label__tiasang Giám sát chặt chẽ máy móc, thiết bị, công nghệ nhập khẩu      Bộ KH&amp;CN vừa đề xuất với Chính phủ cấm nhập máy móc, thiết bị, công nghệ đã qua sử dụng của 18 ngành nghề.    Ông Đỗ Hoài Nam – Vụ trưởng Vụ Đánh giá,  thẩm định và giám định công nghệ, Bộ KH&CN cho biết hiện nay, nhiều  nước trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc đã công bố loại bỏ các nhà  máy, công nghệ, thiết bị cũ lạc hậu, kém hiệu quả, tiêu hao nhiều năng  lượng, ảnh hưởng tới môi trường.  Vì vậy Bộ KH&CN đã có cảnh báo tới các bộ, ngành, doanh nghiệp cần giám sát chặt chẽ máy móc, thiết bị, công nghệ, nhập khẩu thuộc bộ, ngành mình quản lý. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ mới hoặc đã qua sử dụng thường gắn với từng hoạt động của doanh nghiệp, của một dự án đầu tư cụ thể. Công tác quản lý và cho phép doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị thuộc trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư.  Trong quá trình thẩm tra, xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan.  Theo quy định nói trên, về lĩnh vực quản lý KH&CN, cần phải có ý kiến của Bộ KH&CN nếu là dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án còn lại cần phải lấy ý kiến của sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi dự kiến triển khai dự án.  Mặc dù vậy, thực tế vẫn diễn ra, không ít chủ đầu tư gửi hồ sơ dự án để thẩm định, phần thuyết minh sơ sài, không chú trọng phần thuyết minh về công nghệ nên bản thân Bộ KH&CN và các Sở KH&CN các địa phương cũng không đủ thông tin để xem xét, thẩm định.  Có nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư không tuân thủ trình tự thẩm tra hồ sơ dự án, nhiều hồ sơ dự án đầu tư không được gửi tới Bộ KH&CN hoặc Sở KH&CN để thẩm định theo đúng trình tự.  Những thực tế nêu trên là một trong các nguyên nhân gây nên sự không kiểm soát được máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng không nhập khẩu theo các dự án đầu tư.  Được biết, Bộ KH&CN vừa đề xuất với Chính phủ cấm nhập máy móc, thiết bị, công nghệ đã qua sử dụng của 18 ngành nghề. Cụ thể thế nào thưa ông?    Ông Đỗ Hoài Nam: Thông qua các cơ quan, đại diện KH&CN của Việt Nam ở nước ngoài, Bộ KH&CN đã có thông tin về việc một số quốc gia đưa ra các cảnh báo và loại bỏ một số nhà máy, công nghệ thiết bị đã lạc hậu, lỗi thời, kém hiệu quả. Đặc biệt, các cảnh báo từ Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc đã công bố việc tiến hành loại bỏ 2.255 xí nghiệp có công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp.  Xuất phát từ thực tế đó, Bộ KH&CN đã có thông báo tới các bộ ngành, địa phương biết và sớm có phương án khuyến cáo doanh nghiệp, trước khi có văn bản chính thức trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất các giải pháp cấp bách trước mắt và lâu dài nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng nhập khẩu công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả vào nước ta.  Các công nghệ, thiết bị được phía cơ quan chức năng của Trung Quốc cảnh báo thuộc vào 18 ngành nghề, lĩnh vực: sản xuất sắt thép, hợp kim, điện phân nhôm, luyện kẽm, sản xuất kính phẳng, sản xuất giấy, bột ngọt, acidcitric, thuộc da, nhuộm, in, sản xuất sợi hóa học…  Trong bài học thực tế của việc nhập khẩu máy móc, thiết bị cho đầu tư sản xuất trong nước, thời gian qua chúng ta đã ghi nhận được những bài học kinh nghiệm đắt giá như việc đầu tư, xây dựng các nhà máy sản xuất mía đường, sản xuất xi măng lò đứng, lắp ráp xe gắn máy… thiết bị và công nghệ của các nhà máy này đều nhập từ Trung Quốc. Hậu quả là hiệu quả sản xuất thấp, tiêu hao nhiều năng lượng, ô nhiễm môi trường, tính cạnh tranh của sản phẩm thấp.    Với các doanh nghiệp khó khăn về vốn, ít có điều kiện đầu tư được công nghệ hiện đại, trong khi đó, công nghệ hiện đại thường giá thành rất cao, mà nhập công nghệ kém sẽ mang nhiều hệ lụy không tốt, làm thế nào hỗ trợ họ giải bài toán này?  Đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa có số liệu đầy đủ và chính xác để đánh giá được bao nhiêu % công nghệ nước ta hiện có là hiệu quả và bao nhiêu % là kém hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, đa phần các công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả thường được các doanh nghiệp quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ đầu tư, sử dụng. Các doanh nghiệp đó do năng lực tài chính, nguồn nhân lực yếu kém…chính vì vậy, họ đã đầu tư sử dụng nhiều công nghệ, thiết bị có chi phí thấp và hiệu quả không cao.  Thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ cũng đã ban hành nhiều cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực KH&CN để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Gần đây, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011- 2020, các Chương trình quốc gia liên quan đến KHCN như: Chương trình Đổi mới Công nghệ quốc gia, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao… Các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ, thể hiện thông qua các đề án, dự án cụ thể sẽ được Bộ KH&CN xem xét và hỗ trợ để có cơ hội đầu tư.  Ngoài ra, nhà nước cũng đã có những hỗ trợ ưu đãi khác cho doanh nghiệp khi đổi mới và chuyển giao công nghệ, như cho phép doanh nghiệp khấu trừ 10% lợi nhuận trước thuế để hình thành quỹ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp mình; với không ít các dự án còn được ưu đãi, giảm thuế đất, chi phí sử dụng hạ tầng…  Để kiểm soát việc nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị từ nước ngoài một cách hiệu quả, phục vụ đúng nhu cầu của thị trường trong nước, theo ông thời gian tới chúng ta cần có các giải pháp nào?  Trước mắt, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Bộ KH&CN về việc tạm ngừng nhập khẩu những máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng mà các nước loại bỏ do lạc hậu, kém chất lượng và gây ô nhiễm môi trường.  Bộ KH&CN cũng đã đề nghị với Chính phủ đưa nội dung quản lý việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ vào dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 12/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Thương mại 2005. Đồng thời nghiên cứu, thực hiện quản lý máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ nhập khẩu theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.  Ngoài ra, Bộ cũng đề nghị với Chính phủ quy định về quản lý các máy móc, thiết bị cần nhập khẩu của các dự án đầu tư; quy định chi tiết thuyết minh về nội dung liên quan đến công nghệ mà chủ đầu tư cần giải trình trong hồ sơ dự án đầu tư gửi thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư.  Vừa qua Thủ tướng đã chỉ đạo các bộ, ngành rà soát lại danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành để sửa đổi, bổ sung những máy móc, thiết bị, dây chuyển công nghệ cần phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu và kịp thời ban hành các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng để quản lý.  Sắp tới, theo chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ KH&CN sẽ thực hiện việc rà soát, đánh giá toàn diện cơ chế quản lý chất lượng đối với máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ nhập khẩu so với yêu cầu thực tế. Căn cứ các quy định của luật hiện hành: Luật Thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Chất lượng sản phẩm, hàng hóa… để thống nhất với các bộ, ngành liên quan thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý chất lượng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ nhập khẩu. Trong trường hợp vượt thẩm quyền, sẽ có báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ.  Xin cảm ơn ông!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Gian lận học thuật ở Trung Quốc:  Nhân rộng sự thành công?      Sự phổ biến của nạn gian lận học thuật có thể gây cản trở cho quá trình đổi mới.        Nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng, thì những thành tựu của giáo dục đại học Trung Quốc thật ấn tượng. Chỉ riêng số lượng thí sinh thi vào đại học của Trung Quốc hàng năm cũng đã đủ làm cho mọi người “kính nể” rồi. Kỳ thi được mệnh danh lớn nhất hành tinh này trong vài năm qua đã thu hút đến gần 10 triệu thí sinh tham dự, trong đó có khoảng 2/3 sẽ có cơ hội trúng tuyển. Cũng vậy, hàng năm số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học của Trung Quốc lên đến trên 6 triệu người, hơn cả toàn bộ dân số hiện nay của Singapore, một nguồn vốn con người khổng lồ mà các quốc gia già cỗi ở phương Tây có nằm mơ cũng không thể thấy được.  Còn về chất lượng giáo dục đại học của Trung Quốc thì sau bao năm đổi mới dưới sự chỉ đạo quyết liệt và sự hỗ trợ khổng lồ về tài chính của nhà nước vẫn chưa đạt được ước mơ đẳng cấp quốc tế. Để giải thích điều này, một trong những lý do mà một số nhà bình luận của phương Tây đã đưa ra là sự thiếu liêm chính học thuật (lack of academic integrity) của các học giả Trung Quốc. Có thể nói, đây là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của giáo dục đại học nói riêng và vị thế quốc gia của Trung Quốc nói chung, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc không có biện pháp để thay đổi.  Quan điểm mà chúng tôi vừa tóm tắt ở trên thể hiện rõ trong bài viết có tựa đề “Academic Fraud in China: Replicating Success” vừa đăng ngày 22/7/2010 trên tờ The Economist. Tựa đề của bài viết này cố ý gợi lại tựa cuốn tự truyện của nhân vật nổi tiếng thành đạt của Trung Quốc là Tan Jun, nguyên Giám đốc điều hành Microsoft tại Trung Quốc. Mỉa mai thay, chính con người tưởng như đã đạt đến đỉnh cao danh vọng này lại vừa bị phanh phui trong một scandal cũng không kém nổi đình đám, trong đó ông đã bị cáo buộc với những chứng cớ không chối cãi được là đã dối trá về bằng cấp Tiến sĩ của mình. Nói ngắn gọn, ông đã “mua bằng” từ một “lò cấp bằng dỏm”, nhưng lại tự nhận là mình lấy bằng Tiến sĩ ở một ngôi trường rất danh giá là Caltech (California Institute of Technology). Vụ việc này om xòm đến nỗi báo chí Việt Nam cũng đã có đề cập đến trong một mẩu tin gần đây1.   Thật rủi ro, cuốn tự truyện về cuộc đời của mình được Tan Jun đặt tựa là  “Sự thành công của tôi có thể được nhân rộng”. Nhân rộng bằng cách nào? Phải chăng ở Trung Quốc, ai cũng có thể tìm được sự thành công bằng con đường gian lận học thuật? Đó là hàm ý trong cái tựa của bài viết ngắn gọn mà sắc sảo trên   tờ Economist đã nêu. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết này đến tất cả bạn đọc.  ———  Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, thường xuyên phát biểu mạnh mẽ về nhu cầu thúc đẩy quá trình đổi mới. Lập luận của ông rất thuyết phục: để giữ vững sự tăng trưởng kinh tế và sự cạnh tranh thì Trung Quốc nhất thiết phải vượt qua nền kinh tế dựa trên sản xuất bằng sức lao động để đi vào nền kinh tế dựa trên tri thức, khám phá, sáng chế và các tiến bộ khoa học khác.  Tuy nhiên, điều này không dễ, trước hết là vì nước này đã quá nổi tiếng về tình trạng phổ biến của các hành vi gian lận trong học thuật và khoa học. Các học giả, cả Trung Quốc lẫn phương Tây, đều xác nhận nạn gian lận đang hoành hành; các hành vi sai trái bao gồm giả mạo dữ liệu, dối trá về bằng cấp, gian lận trong các kết quả thử nghiệm, và đạo văn thì quá thường xuyên.  Đáng chú ý nhất gần đây là trường hợp của ông Tang Jun, một nhà điều hành nổi tiếng, một người tự lập thân và là tác giả một cuốn sách được phổ biến rộng rãi: “Thành công của tôi có thể nhân rộng ra”. Ông vừa bị cáo buộc đã khai man khi tuyên bố mình đã lấy bằng tiến sĩ từ Viện Công nghệ California (Caltech) lừng lẫy. Câu trả lời của ông cho cáo buộc này là nhà xuất bản đã nhầm lẫn, chứ thật ra bằng cấp của  tôi là từ một trường khác của California, ít nổi tiếng hơn so với Caltech rất nhiều lần.   Các trường hợp học giả nổi tiếng khác của Trung Quốc bị cáo buộc đạo văn đã buộc các nhà chức trách nhắc đến việc cần điều tra về vấn đề này. Một học giả phương Tây kể lại một dự án nghiên cứu liên quan đến lãnh vực khoa học xã hội đã hỏng bét ra sao khi việc thu thập dữ liệu được hợp đồng cho một công ty Trung Quốc: các nhà nghiên cứu của công ty này không hề bỏ chút công sức nào để điều tra mà tự mình điền hết vào tất cả các phiếu!  Những ví dụ về sự thiếu trung thực như vậy không chỉ có ở Trung Quốc, nhưng cơ chế bình duyệt (peer-review) yếu kém,  các động cơ sai lầm và sự thiếu kiểm tra về đạo đức học thuật tại đất nước này khiến sự gian lận ở quốc gia này trở nên phổ biến hơn. Theo Tiến sĩ Cao Công, một chuyên gia về xã hội học của Trung Quốc tại ĐH New York (SUNY), nạn gian lận ở TQ xảy ra dễ hơn nơi khác vì các học giả TQ được đánh giá chỉ dựa trên số lượng, chứ không phải là chất lượng, các công trình đã được công bố của họ. Vì vậy, sự tưởng thưởng được trao đi mà thiếu sự kiểm tra chặt chẽ về học thuật. Hơn nữa, các bậc trưởng lão trong khoa học ở TQ rất hiếm khi bị trừng phạt về sự gian lận của mình, và điều này đã tạo ra tấm gương rất rõ ràng để thế hệ trẻ noi theo.           Gần đây là scandal rất “nổi đình đám” về vị nguyên giám đốc điều hành Microsoft tại TQ là Tan Jun, người bị cáo buộc với những chứng cớ không chối cãi được là đã gian dối về bằng Tiến sĩ của mình.          Sự phổ biến của các hành vi gian lận trong học thuật ở TQ có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng không ngờ đến. Tiến sĩ Denis Fred Simon từ trường ĐH Pennsylvania (Penn State) cho rằng các bằng chứng về sự gian lận ngày càng tăng “đã khiến người ta mất niềm tin vào các doanh nghiệp khoa học Trung Quốc nói chung – và tiếc thay điều này tạo nên mối quan ngại về sự an toàn của các sản phẩm Trung Quốc cũng như sự xác thực của các thông tin xuất phát từ Trung Quốc. “  Xét trên khía cạnh thực tế, việc gian lận trong khoa học có thể khiến các nhà khoa học nước ngoài ngại ngùng không muốn đến làm việc tại Trung Quốc, vì họ lo ngại bị dính líu vào các vụ bê bối. Đầu năm nay, sau vụ phát hiện giả mạo số liệu trong 70 bài báo viết về cấu trúc tinh thể do các nhà khoa học TQ nộp cho một tạp chí quốc tế, tờ tạp chí y học Lancet đã kêu gọi chính phủ Trung Quốc “thể hiện vai trò lãnh đạo mạnh mẽ hơn trong vấn đề đạo đức khoa học “. Tờ tạp chí này cũng cho rằng các biện pháp cho đến nay chưa chạm đến gốc rễ nguyên nhân gây ra sự dối trá của một số các nhà khoa học của Trung Quốc.  Một tác hại trực tiếp khác là sinh viên Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng khi xin học đại học ở nước ngoài. Thành viên hội đồng tuyển sinh của các trường cảm thấy khó mà tin được các hồ sơ với điểm thi gần như hoàn hảo và thư giới thiệu với những lời ca ngợi ngất trời của đa số các hồ sơ gửi từ Trung Quốc. Điều đáng nói ở đây là các ứng viên thực sự đủ điều kiện lại có nguy cơ bị từ chối do mối nghi ngờ chung về sự gian lận.  Nhưng ít ra thì sự hội nhập ngày càng tăng của giới học thuật Trung Quốc với thế giới bên ngoài có thể giúp thay đổi tình thế. Khi có thêm các học giả đi học ở nước ngoài và trở về làm việc ở TQ, điều này sẽ tạo ra được các mạng lưới không chính thức có thể giúp bên ngoài kiểm tra chất lượng của các ứng viên. Sự đổi mới này nhỏ thôi, nhưng có lẽ một sự đổi mới thực sự đem lại lợi ích cho Trung Quốc.  Phương Anh dịch  ——————-  1 http://vietnamnet.vn/giaoduc/ 201007/Cuu-Chu-tich-Microsoft-dung-bang-dom-923183/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Gian lận trong nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều      Tình trạng chạy theo thành tích khoa học dựa trên công bố quốc tế&#160; và các con số thống kê mang tính hình thức dẫn đến gian lận đang ngày càng phổ biến trên thế giới, một vấn đề cũng không phải xa lạ đối với Việt Nam.    Năm nay Mặt trời có nhiều biến động mà chúng tôi không lý giải được khi quan sát qua kính thiên văn radio. Vì không phải chuyên gia trong ngành nên chúng tôi liên hệ một số chuyên gia quốc tế đề nghị họ giải thích giúp hiện tượng này. Tuy nhiên không ai lý giải được. Thế nên chúng tôi viết một bài báo kể lại kết quả mình ghi nhận được và gửi tới tạp chí khoa học danh tiếng nhất trong ngành, với hi vọng rằng vị trọng tài của tạp chí sẽ giúp lý giải rõ ràng. Nhưng rồi vị này cũng không làm được, tuy nhiên ông ta đồng ý cho công bố bài báo. Đến đây xuất hiện vị biên tập viên của tạp chí và câu chuyện thực sự trở nên thú vị. Dường như vị này chẳng hề hiểu nội dung bài báo của chúng tôi, nhưng vẫn gửi nó lại kèm theo vài chục yêu cầu về “cải thiện phong cách viết”, như thay cụm từ “một hàm bậc ba” bằng “một hàm lập phương”, hay thay ý “tìm một hiệu ứng công cụ” (instrumental effect) bằng ý “tìm các hiệu ứng công cụ”.   Vậy là do được trả tiền tính theo số lượng điều chỉnh đề xuất nên trí tưởng tượng của ông ta mới có thể sáng tác ra những yêu cầu điều chỉnh tinh tế đến vậy.   Gần đây tôi được dự một hội thảo tổ chức tại một trường đại học ở Hà Nội, một diễn giả được giới thiệu như sau: “diễn giả của chúng ta hôm nay là ông… từ trường đại học…, là tác giả của 163 công bố khoa học, hôm nay ông sẽ trình bày về…”. Cũng gần đây tôi muốn liên hệ với một chuyên gia người Trung Quốc chuyên về lĩnh vực truyền sóng qua tầng điện ly, người mà tôi có biết tên tuổi. Để tìm Email của ông ta, tôi tra cứu trên mạng Internet và tìm thấy ở trang scholar.google.com một số nội dung, bao gồm một tấm ảnh chân dung, tên cơ quan, Email, và một danh mục liệt kê số lượng trích dẫn từ những bài báo do ông viết (406 trích dẫn), chỉ số “h-index” (11), chỉ số “i-index” (14), kèm theo một biểu đồ thể hiện mức tăng giảm trích dẫn qua các năm.    Vậy là những con số thống kê đang ngày càng lấn át…  Hộp thư điện tử của tôi thỉnh thoảng nhận được những lời mời chào tham dự ban biên tập của những tạp chí khoa học mới ra đời, trong những lĩnh vực mà tôi hoàn toàn không am hiểu chuyên môn. Ban đầu, tôi cứ nghĩ người ta gửi thư đến do nhầm lẫn… nhưng hóa ra không phải vậy. Đồng thời, xen giữa những thư có nội dung quảng cáo nước mắm, hay những thư mời tôi liên hệ một cô gái X nào đó đầy trẻ trung quyến rũ đang sẵn lòng trao gửi tình yêu, là những thư đề nghị tôi viết bài công bố trên những tạp chí này.  Vậy là tiếp thị đang ngày càng phổ biến…  Chúng ta chẳng thể trách ai, vì những hiện tượng kể trên tất cả chính do chúng ta không thực sự đào tạo ra các nhà khoa học, và đây chính là hậu quả nhãn tiền.  Báo chí khoa học đang trong cơn khủng hoảng. Số lượng các tạp chí và bài báo vẫn tăng đều đặn hằng năm ở mức 5%, đạt tới gần 30 nghìn tạp chí và 2 triệu bài báo trong năm 2012. Do khách hàng chủ yếu là thư viện các trường đại học, các nhà xuất bản nắm quyền kiểm soát thị trường và tự do tăng giá một cách phi lý (tăng tới 145% ở Harvard). Thị trường béo bở này đã thu hút nhiều những tổ chức được gọi là “nhà xuất bản săn mồi”, nơi đẻ ra những tạp chí chất lượng thấp không có bình duyệt hoặc đòi hỏi rất ít bình duyệt, và sử dụng tên các nhà khoa học đưa vào danh sách biên tập viên và thẩm định viên mà không hề thông báo cho họ biết. Hiện tượng đầu cơ kiếm lời trở nên phổ biến: trong vòng 10 năm qua, Springer, một nhà xuất bản danh tiếng, đã được mua đi bán lại tới ba lần.   Những doanh nghiệp lớn (như Google, Thomson Reuters) đã nghĩ ra những hệ thống đo lường chỉ số ảnh hưởng (impact factor) và chỉ số trích dẫn (citation index) để đánh giá chất lượng các nhà nghiên cứu. Trong thực tế, các nhà nghiên cứu phải làm việc (tạo ra các bài báo khoa học) nhưng không được trả tiền công, thậm chí còn phải trả tiền để được xuất bản. Nếu nhà khoa học không trả tiền thì các thư viện (tức là công chúng trong đó có các bạn và tôi) phải trả, trong khi những kẻ bóc lột (chính là các nhà xuất bản) chỉ việc ngồi thu tiền.   Các cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu và các nhà quản lý khoa học được khuyên là nên dùng chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn để đưa ra những quyết định có tính định đoạt sự nghiệp các nhà khoa học và nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu của họ. Những vị quan liêu rất thích điều này; sử dụng các con số mang lại cho họ cảm giác khách quan. Chẳng cần phải dựa vào đánh giá của chuyên gia, đến robot cũng có thể đưa ra quyết định, đơn giản là chỉ cần áp dụng các quy tắc. Mà quy tắc thì không thể thay đổi linh hoạt, mặc dù người ta vẫn nói là ở một số quốc gia các quy định có thể bị bẻ cong bởi những phong bì trao dưới gầm bàn.  Hậu quả là các nhà khoa học bị áp lực từ các cơ quan cấp kinh phí đòi hỏi họ phải công bố ngày càng nhiều. Để thích nghi, người ta gian lận nhiều hơn. Trong số 2000 bài báo khoa học bị hủy tính từ năm 1977 đến nay, có 866 bài là gian lận, 201 bài do đạo văn. Có bài báo được gửi tới nhiều tạp chí để rồi được vài nơi cùng công bố. Cùng một dự án nghiên cứu có khi được người ta đăng ký ở các cơ quan cấp kinh phí dưới các phiên bản bề ngoài khác nhau, tên gọi khác nhau. Đạo văn trở nên quá dễ dàng với sự hỗ trợ của Internet và thao tác cắt dán đơn giản. Mà như chúng ta đã biết, Việt Nam cũng không ngoại lệ với những vi phạm đạo đức khoa học như vậy.  Trong khi đó, chất lượng bình duyệt đang suy giảm. Từ tháng 1 tới tháng 8 năm 2013, John Bohannon gửi một bài báo khoa học ngụy tạo tới 304 tạp chí sở hữu bởi những nhà xuất bản hoạt động theo phương thức thu tiền người gửi bài và cho phép truy cập mở (fee-charging open access publishers). Bài báo này của John được cố tình đưa vào những sai sót khoa học hiển nhiên mà đáng lẽ các biên tập viên và thẩm định viên phải nhanh chóng bác bỏ trong quá trình bình duyệt, nhưng trong thực tế có tới 60% tạp chí chấp nhận đăng. Tương tự như vậy, một nhóm nghiên cứu người Việt từng tạo ra một bài báo bằng cách cắt dán nội dung các bài báo khác từng được đăng rồi bổ sung thêm những câu văn vô nghĩa, sau đó gửi đăng một số tạp chí bình duyệt và được chấp nhận, trong đó có cả Progress in Theoretical Physics, một tạp chí uy tín của Nhật Bản.  Chúng ta cần áp dụng những điều hay, đồng thời sàng lọc bớt những điều không phù hợp của các tạp chí truy cập mở (hiện vẫn đang là đề tài gây nhiều tranh cãi, bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi nhiều bài viết về vấn đề này trên Internet), tạp chí truy cập không giới hạn qua Internet, tới những tạp chí được giới hàn lâm bình duyệt trong đánh giá hiệu suất của nhà khoa học. Nhưng riêng đối với các cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu, ví dụ như Nafosted cần phải hiểu rõ rằng số lượng công bố khoa học chỉ là một trong nhiều tiêu chí làm căn cứ để tài trợ một nhóm nghiên cứu nào đó. Hiển nhiên là một một nhóm nghiên cứu trẻ đi tiên phong cho một hướng nghiên cứu mới mẻ đáng quan tâm thì cũng xứng đáng được hưởng sự tài trợ cần thiết, cho dù số lượng công bố khoa học mà họ làm ra trong ít năm tới sẽ bị giới hạn – một bài báo hay còn giá trị hơn mười bài báo ở mức độ chấp nhận được.  Chúng ta cũng cần đảm bảo rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tạm thời không áp dụng theo hệ thống xếp hạng Thượng Hải1 vì nó chưa thiết thực với Việt Nam trong khi nền giáo dục còn những thách thức cấp bách hơn. Chúng ta cần đảm bảo rằng sinh viên và các nhà nghiên cứu được truy cập hệ thống tài liệu nghiên cứu khoa học một cách dễ dàng tối đa, không bị trở ngại bởi những lo toan về chi phí; hãy loại bỏ vấn đề tiền bạc ra khỏi việc phổ cập tri thức. Và chúng ta phải đảm bảo rằng ý thức sâu sắc về sự trung thực, đạo đức và tính liêm chính trong khoa học được phục hồi trong các hoạt động học thuật.           Phạm Trần Lê dịch  —–  1 Hệ thống xếp hạng các trường đại học trên thế giới (Academic Ranking of World Universities, viết tắt là ARWU), hay còn gọi là Hệ thống Xếp hạng Thượng Hải, là một ấn phẩm được xây dựng bởi Đại học Giao thông Thượng Hải nhằm xếp hạng các trường đại học trên toàn cầu, được tiến hành từ năm 2003 và cập nhật hằng năm. Từ năm 2009 nó được xuất bản bởi cơ quan Tư vấn Xếp hạng Thượng Hải. Chính phủ Trung Quốc ủng hộ hệ thống xếp hạng này, coi đây là căn cứ đánh giá chất lượng đại học trên thế giới để các đại học Trung Quốc xem xét tham khảo, đặc biệt là trên tiến trình phấn đấu bám đuổi các đại học thế giới trong lĩnh vực khoa học tự nhiên.  ARWU là ấn phẩm đầu tiên xếp hạng đại học toàn cầu và được ghi nhận về tính nhất quán và khách quan khi so sánh với các hệ thống xếp hạng đại học quốc tế khác, nhưng cũng bị phê phán vì quá chú trọng vào các ngành khoa học tự nhiên, và chú trọng chất lượng nghiên cứu hơn chất lượng đào tạo.    (Chú thích của người dịch căn cứ theo thông tin từ Wikipedia)  http://en.wikipedia.org/wiki/Academic_Ranking_of_World_Universities    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giảng dạy và nghiên cứu  ở đại học Mỹ      Vì một số lý do, hoạt động giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ dường như đang bị xem nhẹ so với việc nghiên cứu.      Các  giáo sư đại học có hai trách nhiệm chính yếu: tạo ra các tri thức mới  và đào tạo sinh viên. Mặc dù giáo dục các kỹ năng học tập suốt đời là  những điều tối quan trọng trong thế giới thay đổi nhanh chóng và phụ  thuộc nhiều vào công nghệ, các nhiệm vụ giảng dạy tại nhiều môn khoa học  thường quá tải. Thêm vào đó, hệ thống khen thưởng tại các trường đại  học chú trọng tới những nỗ lực của các giáo sư trong nghiên cứu hơn là  trong giảng dạy, đặc biệt là trong những lĩnh vực có sự tài trợ mạnh mẽ  của các nguồn tài chính bên ngoài. Những điều này đã dẫn tới tại nhiều  trường đại học của Mỹ, các hoạt động giảng dạy có vẻ bị xem nhẹ.  Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng có ít hoặc không có sự liên quan giữa giảng dạy hiệu quả do sinh viên đánh giá và nghiên cứu được đo bằng hiệu quả nghiên cứu và trích dẫn. Tuy nhiên, sự xuất sắc trong nghiên cứu và giảng dạy không loại trừ nhau mà ngược lại còn tương tác cộng năng để cùng nâng cao hiệu quả của cả hai. Sự phân biệt giữa nghiên cứu và giảng dạy nhiều khi chỉ mang tính hình thức, giáo sư giảng dạy sinh viên từ các nguồn tri thức đã biết trong lớp học nhưng cũng dạy cách tạo ra các tri thức mới trong các phòng thí nghiệm.   Văn hóa của trường đại học và các khoa thường không có cách đánh giá, hỗ trợ tương xứng việc giảng dạy tốt. Những đóng góp lớn cho nghiên cứu thường được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như công bố công trình khoa học, thu hút tài trợ và được công nhận ở mức quốc gia cũng như quốc tế. Trong khi đó, giảng dạy ít được đánh giá bên ngoài công chúng cũng như trong trường. Để tạo dựng văn hóa khuyến khích các khoa khoa học cam kết một cách công bằng cho các nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu, các trường đại học phải công nhận, tôn vinh và hỗ trợ nỗ lực của các nhà nghiên cứu là những nhà giáo tài năng và tận tâm.   Một số sáng kiến được đưa ra, mặc dù phần lớn không mới nhưng quan trọng trong bối cảnh giáo dục đại học thay đổi vì những lo lắng đào tạo đủ các nhà khoa học cũng như phổ biến khoa học cho các công dân và vì các nguồn lực dành việc nâng cao chất lượng giáo dục đang được tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.   Nghiên cứu về hoạt động học tập. Không một nhà khoa học nào có thể tham gia vào việc nghiên cứu nếu thiếu sự tìm hiểu những công trình trong lĩnh vực này trước đó, tuy nhiên chỉ có ít giảng viên đọc các nghiên cứu về giáo dục. Các trường đại học có thể xem nghiên cứu về giáo dục như một hoạt động học thuật ví dụ như qua việc tập huấn về giảng dạy cách tiếp cận khoa học dựa trên bằng chứng cụ thể. Việc tập huấn nên đề cập tới lý thuyết giáo dục, các phương pháp thử nghiệm và đánh giá học tập. Các giáo viên phải có thời gian để thử nghiệm những phương pháp mới, xác định các chiến lược mà họ có thể triển khai hiệu quả và tận dụng được nguồn lực cho phép chuyển đổi các nguyên tắc học tập vào thực hành giảng dạy. Những phương pháp này phải bao gồm cả chiến lược khuyến khích sinh viên tham gia vào các khóa học nhập môn.   Tạo ra những giải thưởng vinh danh các giảng viên giỏi. Nhiều trường đại học công nhận các giáo viên xuất sắc với những danh hiệu đặc biệt nhưng với các khoản tiền thưởng khiêm tốn. Sự công nhận rộng rãi tại trường đại học nên bao gồm cả nguồn tài chính dồi dào cho các giáo sư, điều này sẽ giúp hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu đồng thời tiếp tục đóng góp vào giảng dạy. Đưa các cuộc nói chuyện của các nhà khoa học vào loạt bài giảng về khoa học là một cơ hội tốt để giới thiệu phương pháp giảng dạy tiên tiến. Điều này có thể thu hút những nhà tài trợ quan tâm tới việc tài trợ cho các khoa chứng tỏ được sự xuất sắc trong đào tạo các nhà khoa học tương lai. Bên cạnh sự công nhận tại trường đại học, ở cấp độ khoa cũng cần có những giải thưởng ghi nhận thành tích trong giảng dạy cùng với nguồn tài chính do các trưởng khoa cấp để hỗ trợ hoạt động học thuật của người đoạt giải. Điều này không chỉ giúp khoa có những nỗ lực trong giảng dạy duy trì các chương trình nghiên cứu mà còn chứng tỏ cho các đồng nghiệp rằng những nỗ lực để hoàn thành tốt công việc giảng dạy cũng được đánh giá cao.                    Đưa thành tích xuất sắc trong giảng dạy thành tiêu chí thăng chức. Tiêu chuẩn chính cho biên chế và thăng tiến cho thấy giảng dạy và nghiên cứu có mức quan trọng như nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các trường đại học nghiên cứu thăng chức cho giảng viên chủ yếu dựa vào các thành tích nghiên cứu và khả năng thu hút các nguồn tài trợ bên ngoài các trường đại học. Trong khi đó, thăng tiến dựa vào sự xuất sắc trong giảng dạy có thể dẫn tới việc cải thiện chất lượng giáo dục. Chúng ta cần phải đạt được sự nhất trí về các mục tiêu giáo dục khoa học ở các trường và có đánh giá mức độ các giảng viên đạt được những mục tiêu này.   Tạo ra các nhóm thảo luận về phương pháp giảng dạy. Giảng dạy thì thường không có sự theo dõi của các đồng nghiệp. Do vậy, các thành viên mới và cũ cần phải tạo thành những nhóm giảng dạy nhỏ, có sự theo dõi lẫn nhau. Các thành viên có thể dự giờ, đưa ra những nhận xét chỉ ra những chiến lược giảng dạy hiệu quả và sáng tạo và phân tích các bước thực hiện nhằm tăng tính hiệu quả. Sự giúp đỡ từ phía đồng nghiệp sẽ cho thấy khoa đánh giá cao và chia sẻ những trách nhiệm trong việc tạo ra chất lượng cao trong giảng dạy.  Tạo ra các chương trình liên ngành ở bậc học đại học. Nhiều trường đại học chưa chú trọng tới việc khai thác nguồn tri thức ở các khoa khoa học tự nhiên. Phần lớn các trường đại học đều có khoa giáo dục song chỉ có một số là có mối liên quan mật thiết với giảng viên của các khoa khoa học. Trong khi đó sự hợp tác này có thể tạo ra những chương trình sáng tạo về việc thử nghiệm và đánh giá giảng dạy.   Trợ giúp cho hoạt động giảng dạy khoa học hiệu quả. Học viện mùa hè quốc gia tài trợ cho giảng viên của khoảng 100 trường đại học nghiên cứu triển khai các nguyên tắc giảng dạy khoa học. Các trung tâm giảng dạy tại các trường đại học cũng trợ giúp cho giáo sư trong việc đánh giá và đào tạo các trợ giảng. Cách tốt nhất để giảng dạy khoa học là khuyến khích sinh viên làm khoa học. Để đáp ứng cho một số lượng lớn sinh viên, cần phải hỗ trợ các giáo sư-cố vấn cho sinh viên và cung cấp các cơ sở vật chất cho việc giảng dạy và nghiên cứu.   Có sự cam kết của trưởng khoa, hiệu trưởng. Yếu tố chính để tạo ra văn hóa khuyến khích cả nghiên cứu và giảng dạy là nằm ở vai trò của người lãnh đạo. Chủ nhiệm các khoa khoa học tự nhiên, hiệu trưởng các trường đại học cần phải nâng cao chức danh giảng viên-nhà khoa học, nói về tầm quan trọng của giảng dạy hiệu quả, và tạo ra các chương trình khuyến khích đổi mới trong giảng dạy khoa học.   Sự phát triển của các trường đại học nghiên cứu đòi hỏi chúng ta cần phải tăng cường văn hóa đại học theo đó giảng dạy và nghiên cứu không được xem là các nhiệm vụ mang tính cạnh tranh mà là các hoạt động bổ trợ cho nhau cùng hướng tới mục tiêu: tạo ra tri thức mới và đào tạo sinh viên.   Lê Ngọc (Theo Science, 1/2011)        Tại sao dạy học không phải là ưu tiên số 1?                            Với các trung tâm giải trí rộng rãi, các phòng thí nghiệm tiến tiến, cuộc sống tại các trường đại học thực sự khác biệt so với 100 năm về trước. Nhưng có một điều vẫn giữ nguyên: hoạt động giảng dạy. Giáo viên vẫn thiết kế bài giảng, lựa chọn tài liệu, và trong nhiều trường hợp quyết định việc thi cử sẽ tiến hành như thế nào như cách mà họ vẫn làm lâu nay.               Một vài năm gần đây, do Chính phủ chi nhiều tiền hơn cho các hoạt động giáo dục, họ mong muốn có nhiều bằng chứng hơn về chất lượng giáo dục. Nhưng có một trở ngại nảy sinh, đó là văn hóa của các trường. Không phải vì các giáo sư ít quan tâm tới chất lượng hay sinh viên  mà bởi vì các trường nói với họ điều gì là quan trọng. “Các phần thưởng của khoa không có gì liên quan tới việc đánh giá việc học tập của sinh viên”, Adriana Kezar, phó giáo sư về giáo dục đại học tại trường Nam California (USC) nói. “Tôi được thăng tiến là nhờ viết nhiều bài báo chứ không phải là chỉ ra các kết quả của quá trình học tập của sinh viên”.               Cách đánh giá chất lượng ở bậc đại học vẫn là công việc rất khó. Một cuộc điều tra do Viện đánh giá kết quả học tập của quốc gia thực hiện vào năm ngoái đã cho thấy hiệu trưởng của các trường có đào tạo tiến sĩ xem việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên là thách thức số 1 của họ. Các thành viên của khoa từ lâu được hưởng sự tự chủ trong các lớp học, do vậy việc thuyết phục họ thay đổi cách dạy  là rất khó khăn.               Các giảng viên thường là người có tiếng nói cuối cùng và đôi khi là duy nhất về điều đang xảy ra trong lớp học. Chỉ khi giảng viên đi chệch khỏi chuẩn mực thì quản lý mới can thiệp. Một giáo sư tại trường Louisiana đã bị sa thải sau khi cho điểm trượt phần lớn sinh viên trong lớp học nhập môn sinh học vào năm ngoái. Tuy nhiên, về cơ bản, giảng viên có quyền điều hành lớp học theo cách họ thấy phù hợp nhất.               “Nếu sinh viên đạt điểm A trong lớp của tôi, và điểm A trong lớp của anh, chúng ta có thể nói đó là một sinh viên giỏi”, Tierney, giám đốc trung tâm Phân tích chính sách giáo dục đại học tại USC nhận xét. “Nhưng chúng ta không bình luận về việc sinh viên đó đang học cái gì”.               Thực tế là một số giáo sư ít cảm thấy sức ép để thay đổi. Họ cũng quá bận rộn để dành thời gian cho việc đánh giá. Và những câu hỏi “chống đối” thường là, “Tại sao tôi lại phải dành nhiều thời gian làm việc với đồng nghiệp để thu thập tài liệu về kết quả của học tập? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không làm? Không có sinh viên nào tới lớp của tôi? Không có sinh viên nào đăng ký học trường này?”              (Chronicle of Higher Education)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo dục đại học và nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra tri thức mới: Mô hình Trung Quốc      Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tương đồng trong những thách thức phải đối diện suốt bảy mươi năm qua nhằm đuổi kịp trình độ thế giới về nghiên cứu cơ bản và giáo dục đại học. Khác biệt là đến nay Trung Quốc đứng thứ hai thế giới về năng lực tạo ra tri thức mới1. Sẽ hữu ích nếu chúng ta cùng tìm hiểu nhờ đâu đất nước này đạt được thành tựu ngoạn mục như vậy.     Phi hành gia Wang Yaping được nhìn thấy đang “bay” bên trong mô-đun lõi trạm vũ trụ Tianhe. Ảnh: Trung tâm Phi hành gia Trung Quốc  Ở Trung Quốc và các nước dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo như Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, tới tận cuối thế kỷ 19 quan điểm giáo dục được coi là công cụ đào tạo ra tầng lớp tinh hoa điều hành đất nước vẫn được duy trì. Tất nhiên, những giá trị của giáo dục chúng ta tin tưởng hôm nay vốn đã có từ hai mươi lăm thế kỷ trước: Bác Hồ từng nói “Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ” cũng như Khổng Tử từng viết: “Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dung cảm thì không sợ hãi”. Điều thay đổi là nhận thức về đối tượng được thụ hưởng các lợi ích của giáo dục. Năm 1803, tổng giám mục thành phố London tuyên bố điều được cho là nhận thức bình thường của thời kỳ đó: “chính sách an toàn nhất cho Chính quyền và nhà thờ là để mặc các tầng lớp thấp trong sự dốt nát mà tạo hóa đã sắp đặt cho họ”. Các trào lưu Phục hưng và Khai sáng đã bắt đầu nhen nhóm từ thế kỷ 17 và 18, nhưng phải tới thế kỷ 19, số đông trong các xã hội phương Tây mới có ý thức rằng các giá trị công bằng, bình đẳng và tự do không thể chỉ là đặc quyền riêng của tầng lớp thống trị. Cũng phải thêm hơn một thế kỷ sau đó, họ mới ý thức được rằng những quyền lợi ấy không chỉ dành cho người phương Tây mà phải được phổ quát ở cả châu Á, Nam Mỹ và châu Phi.  Để minh họa cho thực tế là chỉ mới gần đây con người mới có ý thức về lợi ích của giáo dục không chỉ dành cho tầng lớp thống trị mà phổ quát cho toàn thể nhân loại, tôi xin đưa ra một vài con số. Vào nửa đầu thế kỷ 20, tỉ lệ mù chữ ở Trung Quốc là 80%, ở Việt Nam là 95%. Ngày nay ở cả hai quốc gia tỉ lệ đó dưới 5%. Năm 1820, chỉ 12% dân số thế giới có thể đọc và viết, ngày nay tỉ lệ đó đảo ngược, năm 2016 chỉ còn 14% dân số mù chữ. Trong vòng 60 năm qua, cứ mỗi năm năm tỉ lệ người biết chữ tăng 4% – từ 42% năm 1960 lên 86% năm 2015. Việt Nam tự hào2, với tầm nhìn và quyết tâm của Bác Hồ, với công cuộc xóa mù chữ mang tính biểu tượng. Tôi vẫn nhớ cảm xúc khi đọc hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình, Gia đình, Bạn bè và Đất nước, về những ngày tháng anh hùng khi cả đất nước nỗ lực phổ cập giáo dục cho toàn dân. Trên bình diện toàn cầu, con người vẫn còn chặng đường dài phía trước: ở vài nước châu Phi, trẻ em chỉ được đến trường trong năm năm; tỉ lệ mù chữ ở những nước này và một số nước Nam Á vẫn trên 50%3.     Trao cho các nhân tài hàng đầu về đổi mới sáng tạo quyền quyết định con đường phát triển công nghệ và sử dụng kinh phí.    Trong thế kỷ 20, mục tiêu biến giáo dục nhanh chóng phổ cập tới số đông trên bình diện toàn cầu đã đặt ra những vấn đề và thách thức, đa số đến nay vẫn còn gây tranh cãi. Để tránh nhầm lẫn, tôi xin phân định khác biệt giữa giáo dục phổ cập đại chúng, giáo dục nhằm phát triển đất nước, và giáo dục nhằm tạo ra tri thức mới.  Trong bài viết này, tôi tập trung bình luận về loại hình giáo dục thứ ba, giáo dục nhằm tạo ra tri thức mới. Nó cũng gần với những bài viết của tôi về nghiên cứu cơ bản. Cùng các đồng nghiệp trong giới khoa học, tôi đã nhiều lần bày tỏ niềm tin rằng khám phá tri thức mới là một trong những nỗ lực nhân bản của con người và là điều kiện tiên quyết cho tiến bộ xã hội. Chúng ta tin tưởng như vậy mà không cần phải minh chứng chi li. Từ khi đến Việt Nam hơn hai mươi năm trước, tôi nhận ra nguyên lý đó không được coi là hiển nhiên ở các nước đang phát triển, vì vậy nó cần được quan tâm đến nhiều hơn. Tôi đã viết vài lần về chủ đề này trên Tia Sáng, cụ thể là bài “Tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản ở các nước đang phát triển”, trong đó nhắc đến cuối tọa đàm tại Quy Nhơn tháng 7/2016, và một bài viết khác tựa đề “Kinh phí cho nghiên cứu cơ bản” với kiến nghị tài trợ thích đáng cho Quỹ NAFOSTED. Tôi không nhắc lại nội dung đã nêu trong các bài viết này, dù phải thừa nhận rằng đến nay trên thực tế chúng ta vẫn chưa đạt được tiến bộ đáng kể nào so với trước đây. Thay vào đó, cách tiếp cận của bài viết này là xem xét những gì đáng học hỏi từ mô hình Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tương đồng trong những thách thức phải đối diện suốt bảy mươi năm qua nhằm đuổi kịp trình độ thế giới về nghiên cứu cơ bản và giáo dục đại học. Khác biệt là đến nay Trung Quốc đứng thứ hai thế giới về năng lực tạo ra tri thức mới4. Sẽ hữu ích nếu chúng ta cùng tìm hiểu nhờ đâu đất nước này đạt được thành tựu ngoạn mục như vậy.   Lịch sử Trung Quốc trong nửa sau thế kỷ 20 là một trong những chương hấp dẫn nhất lịch sử nhân loại. Từ sự ra đời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 cho tới khi bắt đầu đi theo đường lối phát triển thực dụng của Đặng Tiểu Bình sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, đất nước này đã trải qua những thể chế cực đoan, bao gồm công cuộc Đại nhảy vọt (1958-1960) và Cách mạng Văn hóa (1966-1976). Bối cảnh đó không phù hợp để xây dựng một nền văn hóa khoa học hiện đại, tuy nhiên đã đặt nền tảng cho nền khoa học Trung Quốc, phần lớn với sự hỗ trợ và ảnh hưởng từ Liên Xô.  Tàu thăm dò Chang’e-5 trở về mang theo đất và đá Mặt trăng. Ảnh: Nature  Một phần tư cuối của thế kỷ được đánh dấu bởi “Bốn hiện đại” năm 1976: nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, và khoa học công nghệ. Đặng Tiểu Bình đảo ngược các chính sách Cách mạng Văn hóa và dần cải cách mô hình cũ của Liên Xô. Năm 1995, “Quyết định Tăng tốc phát triển Khoa học và Công nghệ” trong đó coi khoa học và công nghệ là động lực chủ đạo, quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội, tiềm lực quốc gia và chất lượng đời sống. Hoạt động nghiên cứu mở rộng ra ngoài các viện nghiên cứu theo mô hình Liên Xô, đi vào các trường đại học và doanh nghiệp tư nhân. Các mô hình hợp tác và dịch chuyển nhân lực nghiên cứu được khuyến khích, lương bổng tương xứng với kết quả, các quyền sở hữu trí tuệ được tôn trọng, môi trường khoa học được bảo vệ, các quan chức được nâng cao nhận thức về khoa học và công nghệ, đưa khoa học vào các quyết sách, sự tôn trọng tri thức và tài năng được cổ xúy bởi tất cả các bên, bao gồm Đảng, công đoàn và truyền thông đại chúng.  Thành công nhanh chóng của nền KHCN Trung Quốc trong hơn ba mươi năm qua đã khiến cả thế giới ngạc nhiên, đã có nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích cơ chế vận hành của nó. Một biểu tượng của thành công hiện tại là bài diễn văn của ông Tập Cận Bình vào tháng 9/20205 tại một diễn đàn khoa học. Sau khi ghi nhận thành tựu phát triển của nền KHCN Trung Quốc trong thập kỷ qua và biểu dương các nhà khoa học, ông khẳng định thế giới đang thay đổi rất nhanh, đòi hỏi cấp thiết nền KHCN đất nước tăng tốc nhằm xác lập quỹ đạo phát triển mới cho nền kinh tế, công nghệp, thương mại và phúc lợi xã hội. Cụ thể, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của những đột phá trong đổi mới sáng tạo và bày tỏ niềm tin rằng “nhiều nhà khoa học và kỹ sư sẽ đảm nhận trọng trách lịch sử này, bền bỉ hướng tới chân trời mới của tri thức KHCN, phục vụ các trận địa kinh tế chủ đạo, các nhu cầu căn bản của quốc gia, phục vụ đời sống và sức khỏe nhân dân, và không ngừng tiến bước theo hơi thở và chiều sâu của KHCN.” Ông Tập đề ra sáu điểm lưu ý.  Một là xác định các lĩnh vực cần sự hỗ trợ KHCN một cách mạnh mẽ, bao gồm nông nghiệp, tài nguyên năng lượng và thiết bị y tế.    Phải khuyến khích các nhà khoa học tập trung vào công việc nghiên cứu và tận hiến cho khoa học, “không đố kỵ và phù phiếm, xem thường danh lợi”.    Hai là tối ưu hóa phân bổ các nguồn lực KHCN, vượt qua tình trạng phân mảnh, thiếu hiệu quả và chồng chéo: “Chúng ta cần các nhà khoa học tài năng phát huy hiệu quả các nguồn lực nghiên cứu khoa học. […] Cần phát huy vai trò quan trọng của các trường đại học trong nghiên cứu, khơi thông nhiệt huyết của các viện nghiên cứu, phát huy sở trường của các nhà khoa học tài năng và tổ chức nghiên cứu, hình thành một lực lượng chiến lược”.  Thứ ba, ông Tập nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản, cội nguồn của đổi mới sáng tạo trong KHCN. Ông nhận định “một mặt, nghiên cứu cơ bản phải đảm bảo các nguyên tắc của quá trình khám phá khoa học, với động lực là niềm khao khát tìm hiểu các bí ẩn của thế giới, khuyến khích tinh thần khám phá tự do, trao đổi và tranh luận đến cùng; mặt khác, được thúc đẩy bởi các vấn đề KHCN quan trọng, từ các vấn đề lý thuyết trừu tượng tới các nghiên cứu ứng dụng cốt lõi. Cần làm sáng rõ các nguyên lý trong khoa học, để nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng thúc đẩy lẫn nhau”. Ông đề cao tầm quan trọng của việc làm rõ định hướng và mục tiêu phát triển của quốc gia trong nghiên cứu cơ bản, gia tăng đầu tư, hướng dẫn và hỗ trợ đầy đủ, xây dựng môi trường nghiên cứu lành mạnh, hoàn thiện cơ chế đánh giá và đãi ngộ trong khoa học, khuyến khích tự do tư tưởng và mạnh dạn sáng tạo trong nghiên cứu, tạo điều kiện cho nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu, tăng cường trao đổi học thuật trong nước với quốc tế.  Thứ tư, tăng cường giáo dục và ươm tạo tài năng: “Nhân tài là tài nguyên số một. Năng lực đổi mới sáng tạo KHCN có gốc rễ trong con người”. Giáo dục đại học cần đẩy mạnh giảng dạy các ngành cơ bản và liên môn, quyết liệt thúc đẩy nghiên cứu cơ bản, định hướng những sinh viên xuất sắc nhất cống hiến trên con đường này. Cần phát triển các trung tâm khoa học xuất sắc và đại học nghiên cứu. “Chúng ta cần quan tâm hoàn thiện các tài năng KHCN trẻ, giúp họ trở thành lực lượng nòng cốt mới của đổi mới sáng tạo KHCN. Tập hợp những người tài năng nhất với tầm nhìn ra thế giới, thu hút các nhân tài xuất sắc từ nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh và hấp dẫn cho nhà khoa học nước ngoài đến làm việc tại Trung Quốc”.  Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm Học viện Khoa học Quân y ở Bắc Kinh, một trong những đơn vị nghiên cứu phát triển vaccine COVID. Ảnh: Theguardian  Thứ năm, cải cách quản lý KHCN trở nên hiệu quả hơn, tin tưởng giao quyền tự trị cao hơn cho các trường đại học và tổ chức khoa học, trao cho các nhân tài hàng đầu về đổi mới sáng tạo quyền quyết định con đường phát triển công nghệ và sử dụng kinh phí. Nội dung của điểm này nhắc lại nhiều nội dung điểm thứ hai.  Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong KHCN bằng cách tích cực hòa nhập mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, thực hiện chiến lược hợp tác quốc tế về KHCN mang tính cởi mở, chia sẻ và cùng có lợi. “Chúng ta cần mở cửa cho các tổ chức KHCN quốc tế đặt cơ sở tại Trung Quốc, tạo điều kiện cho các nhà khoa học nước ngoài giữ vị trí ở các tổ chức KHCN trong nước, đưa đất nước vào vị thế trên trường quốc tế rộng mở cho hợp tác KHCN”.  Sau khi bàn sâu vào sáu điểm nêu trên, ông Tập Cận Bình bàn về các giá trị và đạo đức trong khoa học. Ông nhắc lại vào tháng 5/2021, Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố “Quan điểm về thúc đẩy tinh thần khoa học và tăng cường xây dựng phong cách làm việc và học tập”, cổ vũ tình yêu Tổ quốc, tham vọng xuất sắc, quyết tâm tìm kiếm chân lý, sự thật và liêm chính. Nội dung ca ngợi “một tinh thần tận hiến, không màng danh lợi, nghiên cứu cẩn trọng với tâm trí minh tĩnh; một tinh thần phối hợp với trí tuệ tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đoàn kết, và hợp tác; một tinh thần giáo dục tận tình hỗ trợ những người khác phát triển, khen thưởng và động viên thế hệ trẻ”. Ông nhận định “khoa học không có biên giới, nhà khoa học có Tổ quốc” và bày tỏ hy vọng các nhà khoa học và kỹ sư kế thừa di sản các thế hệ cha anh luôn yêu nước và phụng sự nhân dân, mang những cống hiến khoa học phục vụ sự nghiệp xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại.  Ông Tập đưa ra kết luận với sự ca ngợi phương pháp luận khoa học: đổi mới mang tính nguyên bản, suy nghĩ sáng tạo, lý luận chặt chẽ, không theo lập luận áp đặt của cấp trên, suy nghĩ xa hơn, mạnh dạn thách thức các lý thuyết đã có, tận lực thu thập dữ liệu để xây dựng lý thuyết mới, không ngừng quan sát và thực nghiệm; nghiên cứu cơ bản, ông nói, thường bắt đầu từ trí tò mò tìm hiểu những bí ẩn sâu sắc về tự nhiên, đòi hỏi sự cẩn trọng và tận lực; Trung Quốc phải tạo ra những kết quả nguyên bản tầm cao và tích cực đóng góp vào tiến trình tích lũy và phát triển khoa học. Phải khuyến khích các nhà khoa học tập trung vào công việc nghiên cứu và tận hiến cho khoa học,“không đố kỵ và phù phiếm, xem thường danh lợi”.                      Tháng 1/2022, Luật Phát triển KHCN của Trung Quốc được sửa đổi có hiệu lực12. Trong đó, một trong những mục tiêu tương lai của Trung Quốc được nhấn mạnh là thúc đẩy khoa học cơ bản. bốn trụ cột làm động lực cho chiến lược phát triển khoa học và công nghệ được xác lập gồm: các phòng thí nghiệm quốc gia, các viện R&D quốc gia, các trường đại học nghiên cứu xuất sắc và các tập đoàn khoa học và công nghệ hàng đầu.           “Đảng và chính quyền và cán bộ lãnh đạo các cấp phải nhiệt tình thực hiện chiến lược phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, tôn trọng công sức, trí tuệ, tài năng, sáng tạo, tuân theo các nguyên tắc phát triển khoa học, thúc đẩy sự hình thành nhiều thành tựu KHCN đổi mới sáng tạo, ứng dụng để nâng cao năng suất thực tế. Cán bộ lãnh đạo phải tăng cường học hỏi các tri thức khoa học và quan tâm tới các xu hướng toàn cầu về đổi mới sáng tạo. Tôi tin tưởng rằng các nhà khoa học và kỹ sư trong nước có sự tự tin, quyết tâm, và năng lực tiến lên các đỉnh cao trong khoa học, và đóng góp xứng đáng vào công cuộc vĩ đại đổi mới đất nước Trung Quốc và góp phần xây dựng cộng đồng chung của nhân loại!”  Tôi tin rằng nhiều nhà khoa học Việt Nam khá đồng cảm với nội dung bài diễn văn năm 2020 này của ông Tập Cận Bình. Nội dung cấp tiến của nó khác với cách tiếp cận thận trọng ở Việt Nam. Mặc dù không thể áp dụng nguyên xi những nội dung cụ thể vào bối cảnh có những khác biệt ở Việt Nam, quan điểm mạch lạc và những phân tích thấu đáo của nó nên được coi như một ví dụ tham khảo khi xác định phương hướng chung cho nền KHCN Việt Nam, cụ thể là cho nghiên cứu cơ bản và giáo dục đại học nhằm tạo ra tri thức mới. Nhưng để nói sâu về các hàm ý sẽ cần đến một bài viết khác, với phần còn lại của bài viết này tôi muốn tóm lược những đặc điểm quan trọng nhất để so sánh giữa hai nền khoa học Trung Quốc và Việt Nam6.  Năm 2021, Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong 7 trên 11 lĩnh vực nghiên cứu, xét về mức độ sôi động trong hoạt động nghiên cứu tạo ra tri thức mới7, đạt được điểm số cao nhất trong bảy tiêu chí của Chỉ số Nghiên cứu Dẫn đầu (Research Leadership Index) bao gồm: khoa học nông nghiệp, thực vật và động vật học; khoa học sinh thái và môi trường; y học lâm sàng; hóa học và khoa học vật liệu; toán học; khoa học máy tính; kinh tế, tâm lý và các ngành khoa học xã hội. Nguyên nhân chính cho xếp hạng cao đó là số lượng lớn các công bố có ảnh hưởng về COVID-19, cho thấy khả năng xác định đúng các lĩnh vực nghiên cứu nổi bật, không chỉ ở các nhà khoa học mà cả các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc.   Quả thực nền khoa học Trung Quốc ba thập kỷ qua đã có bước tiến ngoạn mục8. Có được những tiến bộ đó là nhờ hạ tầng hiệu quả. Được sáng lập từ thập kỷ 80, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc (NNSFC) và Chương trình Nghiên cứu Cơ bản Quốc gia đóng vai trò chính trong sự phát triển nhanh chóng của nghiên cứu cơ bản. Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc duy trì một mạng lưới toàn diện về nghiên cứu và phát triển, các tổ chức học thuật khuyến khích thành tích thực tế và hệ thống giáo dục đại học, tập hợp các nhà khoa học và kỹ sư từ Trung Quốc và khắp thế giới cùng giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn. Kiến tạo quan hệ hợp tác giữa các viện nghiên cứu, đại học và doanh nghiệp trên 130 quốc gia bằng cách xây dựng các viện nghiên cứu ở nước ngoài, khởi động các dự án nghiên cứu lớn, thúc đẩy trao đổi và đào tạo tài năng. Hiện Trung Quốc có 495 phòng thí nghiệm trọng điểm nhà nước và 28 quỹ nghiên cứu quốc gia, kết nối gần 800 trường đại học, viện nghiên cứu và công ty. Trung Quốc đã đẩy mạnh hợp tác sâu về nghiên cứu cơ bản và sáng tạo tri thức mới với các dự án quốc tế lớn theo sáng kiến của các nhà khoa học Trung Quốc, như thí nghiệm neutrino với lò phản ứng Daya Bay và kính viễn vọng hình cầu khẩu độ 500m (FAST). Các nhà khoa học Trung Quốc tham gia ngày càng nhiều và đóng vai trò trọng yếu trong các chương trình khoa học quốc tế lớn, bao gồm ITER (lò phản ứng thí nghiệm nhiệt hạch quốc tế) và LHC (Máy gia tốc hạt lớn).        Công nghệ sinh học của Trung Quốc. Nguồn ảnh: C&EN  Tháng mười một năm ngoái, Bắc Kinh chủ trì Diễn đàn Phát triển KHCN Thế giới lần thứ ba9. Đó là một cơ hội để các nhà khoa học Trung Quốc thể hiện quyết tâm hợp tác với các đồng nghiệp quốc tế, đẩy mạnh hợp tác sâu trong các dự án khoa học tiên tiến nhất, cùng giải quyết các thách thức toàn cầu. Họ đặc biệt quan tâm đến việc xóa tan tâm lý e ngại từ bên ngoài rằng khoa học Trung Quốc có thể bị định hướng bởi các tham vọng của chủ nghĩa dân tộc, và có thể xa rời các nguyên tắc của khoa học thế giới về đạo đức, chống xung đột lợi ích, tự do học thuật, bảo vệ dữ liệu và minh bạch. Các chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Hiệp hội KHCN Trung Quốc và Viện Hàn lâm Kỹ thuật Trung Quốc đều đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ ủng hộ khoa học mở và tri thức khoa học mở, ca ngợi hợp tác quốc tế, tôn trọng lẫn nhau, đoàn kết, tin tưởng và cởi mở.  Để minh họa cho các thành tựu quan trọng của Trung Quốc trong việc tạo ra tri thức khoa học mới, tôi có thể nhắc đến một số ví dụ về Chương trình Không gian, phát triển các xúc tác nano, tính toán và viễn thông lượng tử10.  Chương trình Không gian Trung Quốc hiện vẫn đang diễn ra là một thành công ngoạn mục. Gần đây, họ có một tàu vũ trụ hạ cánh ở rìa xa của Mặt trăng, và một xe tự hành đáp xuống sao Hỏa. Họ mang về Trái đất mẫu vật chất đầu tiên từ Mặt trăng sau bốn thập kỷ. Cuối năm 2022, Trung Quốc có kế hoạch mở một trạm không gian phục vụ các dự án nghiên cứu quốc tế, cấu phần thứ nhất được phóng lên từ tháng 4/2021. Nó được thiết kế cho phép ba nhà du hành vũ trụ cùng làm việc trong sáu tháng. Trung Quốc cũng lên kế hoạch khởi công xây dựng một căn cứ trên cực Nam Mặt trăng, làm nơi lưu trú cho các nhà du hành vũ trụ và là địa điểm triển khai các cuộc thám hiểm sâu trong vũ trụ.  Ứng dụng các hạt nano làm xúc tác đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu sôi động nhất của Trung Quốc. Nó có tiềm năng tạo ra những phát kiến quan trọng trong các lĩnh vực công nghệ năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học, lọc nước và sản xuất hóa chất. Các nhà khoa học Trung Quốc đã phát triển các cấu trúc lập phương rỗng kích thước nguyên tử đơn và tích cực ứng dụng vào tăng tốc các phản ứng hóa học. Họ cũng phát triển các xúc tác nano chuyển hóa methane thành ethylene, làm nền tảng cho nhiều loại nhựa ở nhiệt độ trong phòng, một bước tiến quan trọng giúp giảm chi phí. Mỗi năm, các nhà nghiên cứu xúc tác nano đều nổi bật trong số 300 Học giả Trẻ Xuất sắc, những người được nhận tài trợ NNSFC có giá trị từ 300 tới 600 nghìn USD. Cơ hội làm việc và nhận tài trợ tại những cơ sở nghiên cứu tiên tiến đã thôi thúc các nhà khoa học mới nổi của Trung Quốc trong lĩnh vực xúc tác nano về nước làm việc sau khi thụ nghiệp ở nước ngoài. Năm 2011, Trung Quốc vượt qua Mỹ để dẫn đầu thế giới về công bố trong ngành khoa học nano nói chung, và năm 2018 vượt qua Mỹ trong nghiên cứu liên quan tới nano trên 82 tạp chí khoa học uy tín xếp hạng bởi Nature Index.  Hơn hai thập kỷ qua, tính toán lượng tử thu hút sự quan tâm rất lớn từ giới khoa học trên toàn cầu, bởi những đặc tính kỳ diệu và ứng dụng tiềm năng trên nhiều lĩnh vực, từ mã hóa tới máy học và truyền thông lượng tử. Lĩnh vực sau cùng là nơi Trung Quốc đặc biệt xuất sắc, với mạng lưới QKD lớn nhất thế giới nối Bắc Kinh với Thượng Hải, vận hành thành công Micius, một vệ tinh tạo ra các cặp photon rối với các đặc tính quấn vào nhau bất kể khoảng cách. Năm 2017, Micius khiến các cặp đó trở thành chìa khóa mã hóa các trạm mặt đất gần Vienna và Bắc Kinh, cách xa nhau 7400 km. Sự kiện này đưa Trung Quốc lên bản đồ khoa học lượng tử và trở thành quốc gia dẫn đầu trong truyền thông lượng tử. Nỗ lực của họ trong tính toán lượng tử nhanh chóng được tạo đà, với tuyên bố gần đây là nơi đầu tiên trên thế giới tiến hành tính toán trên một hệ thống lượng tử, điều bất khả thi với một siêu máy tính cổ điển, đưa ra thách thức trực tiếp tới phòng thí nghiệm tính toán lượng tử của Google, nơi cũng đưa ra tuyên bố tương tự một năm trước đó.  Xu hướng chảy máu chất xám ở Trung Quốc đã giảm xấp xỉ 20% trong thập kỷ qua. Chính phủ Trung Quốc coi chảy máu chất xám là điểm yếu trong chiến lược cải thiện năng lực công nghệ quốc gia nên đã dành hàng tỷ USD cho kinh phí tài trợ thu hút và giữ chân người tài. Gần đây, tỉ trọng sinh viên Trung Quốc du học trở về gia tăng (83%). Một phần nguyên nhân là mức lương cao hơn cho người làm nghiên cứu postdoc trong nước và môi trường bài Trung căng thẳng ở Mỹ dưới nhiệm kỳ của ông Trump. Các nhà nghiên cứu xuất sắc nhất của Trung Quốc lựa chọn làm việc trong nước do đãi ngộ cao và cách nhìn nhận mới về người làm khoa học trong nước khiến công việc trong nước hấp dẫn hơn.  Tháng 1/2022, Luật Phát triển KHCN của Trung Quốc được sửa đổi có hiệu lực11. Trong đó, một trong những mục tiêu tương lai của Trung Quốc được nhấn mạnh là thúc đẩy khoa học cơ bản. Việc phát triển khoa học cơ bản sẽ phải đạt được nhu cầu của đất nước, đó là tiến bộ khoa học công nghệ của Trung Quốc phải đạt đến một tầm cao mới. Bốn hướng đi được đưa ra: khám phá những công nghệ tiên phong trên thế giới, giải quyết được những thách thức kinh tế, đáp ứng được những nhu cầu chính của người dân trong nước và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, bốn trụ cột làm động lực cho chiến lược phát triển khoa học và công nghệ được xác lập gồm: các phòng thí nghiệm quốc gia, các viện R&D quốc gia, các trường đại học nghiên cứu xuất sắc và các tập đoàn khoa học và công nghệ hàng đầu. Luật này yêu cầu đóng góp của nhà nước trong đầu tư cho khoa học công nghệ phải tăng dần, tính bằng tỉ lệ GDP dành cho R&D và tỉ lệ tài trợ cho khoa học cơ bản trên tổng ngân sách dành cho R&D. Bên cạnh việc hỗ trợ nghiên cứu cơ bản, luật này cũng kêu gọi phải cải cách hệ thống giáo dục cần phải kết hợp lý thuyết với thực hành, nuôi dưỡng năng lực đổi mới sang tạo, tư duy phản biện và sự nghiêm cẩn. Những chính sách mới cũng được đưa ra để bồi dưỡng tài năng Khoa học và Công nghệ bao gồm nâng cao địa vị xã hội của họ, đảm bảo rằng họ có một môi trường phù hợp cho những hoạt động đổi mới sang tạo, với tiêu chí đánh giá và khuyến khích đúng đắn, và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của họ.   Tóm lại Trung Quốc đang làm nên lịch sử với những những tiến bộ chưa từng có trong nghiên cứu cơ bản và giáo dục sau đại học, hướng đến làm chủ những tri thức tiên phong trên thế giới. Hiển nhiên, rất nhiều bài học có thể rút ra từ câu chuyện này mà các nhà làm chính sách ở Việt Nam trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục thực sự nên chú ý một cách nghiêm túc. Nhưng chúng ta cũng không nên vội vẽ ra một bức tranh màu hồng về sự thành công rực rỡ của Trung Quốc trong tương lai. Vẫn còn một con đường dài trước mắt, mà bài phát biểu của Tập Cận Bình cũng đã chỉ ra, đặc biệt là, Trung Quốc đang thiếu những nhà khoa học hàng đầu trong khoa học cơ bản và vì vẫn chưa thể thu hút đầu tư từ khối tư nhân và xã hội vào lĩnh vực này, các nhà khoa học nước ngoài cũng khó khăn để hòa nhập vào cộng đồng khoa học của Trung Quốc. □     Thanh Xuân dịch    Từ 2001 đến 2016, chi tiêu cho nghiên cứu cơ bản ở đất nước này tăng gấp 16 lần. Từ 2007 đến 2017, chỉ số trích dẫn các công bố khoa học quốc tế của Trung Quốc xếp thứ hai trên thế giới. Nó xếp trong tốp 10 về lượng trích dẫn trong 18 lĩnh vực học thuật, xếp thứ ba về số lượng công bố có nhiều trích dẫn. Trung Quốc đã có nhiều đột phá dẫn đầu thế giới về nghiên cứu cơ bản, đóng vai trò ngày càng rõ ràng trong hỗ trợ và định hướng phát triển kinh tế xã hội, trong những lĩnh vực như tăng cường thu hồi dầu, viễn thông băng tần millimeter, gene học chức năng của gạo và bạch cầu.  —–  1 https://opengovasia.com/china-ranks-second-in-frontier-science-technology-research/  2https://saigoneer.com/saigon-culture/20199-b%C3%ACnh-d%C3%A2n-h%E1%BB%8Dc-v%E1%BB%A5,-vietnam-s-revolution-against-the-enemy-of-illiteracy  https://laodong.vn/archived/chuyen-ve-phong-trao-diet-giac-dot-70-nam-truoc-697946.ldo  3 https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_literacy_rate  4 https://opengovasia.com/china-ranks-second-in-frontier-science-technology-research/  5 https://www.newamerica.org/cybersecurity-initiative/digichina/blog/translation-xi-jinpings-sept-2020-speech-science-and-technology/  6 https://issues.org/what-do-chinas-scientific-ambitions-mean-for-science-and-the-world/  What Do China’s Scientific Ambitions Mean for Science—and the World? (April 2021)  7 https://global.chinadaily.com.cn/a/202112/09/WS61b13a34a310cdd39bc7a300.html  Report: China surpasses US in frontier research  8 https://academic.oup.com/nsr/article/5/2/126/4816745  Advancing basic research towards making China a world leader in science and technology (January 2018)  9 http://english.www.gov.cn/news/internationalexchanges/202111/09/content_WS6189c750c6d0df57f98e4b17.html  China to strengthen scientific cooperation (November 2021)  10 https://www.nature.com/articles/d41586-021-01405-0  China’s leading researchers set their sights on new frontiers  China sets lofty goals as it vies for global dominance in the highly competitive fields of quantum science, space exploration and nanocatalysis (May 2021)  11 https://academic.oup.com/nsr/article/9/2/nwac014/6528384  New focus on basic research in China’s advancement in science and technology (February 2022)   12 https://academic.oup.com/nsr/article/9/2/nwac014/6528384  New focus on basic research in China’s advancement in science and technology (February 2022)        Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Giáo dục  đức tính trung thực khoa học      Nhân dịp Bộ KH&amp;CN quyết định thành lập Giải thưởng Tạ Quang Bửu, Tia Sáng xin đăng lại một số bài viết, cảm nghĩ về ông.      Hồi giáo sư Tạ Quang Bửu còn sống, nhưng đã thôi làm Bộ trưởng Bộ Đại học, tôi được ở một khóa Quốc hội và ở trong Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội khóa ấy cùng với ông. Một lần, Ủy ban đó, thực hiện chức năng giám sát của mình, có cuộc họp với Bộ Giáo dục và Bộ Đại học, có mặt cả đại biểu Ban Khoa giáo Trung ương.  Cuộc họp nêu lên một câu hỏi: “Ở bậc đại học, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên là gì?”. Và được đại biểu của cả hai Bộ và cái ban vừa nói trên trả lời rất nhanh gọn: “Thì có gì khó đâu, cứ cho học đúng năm điều Bác Hồ dạy”. Lý do: Ngay người lớn chúng ta đây, thử hỏi đã có ai làm đúng được hoàn toàn năm điều Bác dạy đâu, cho nên sinh viên cũng rất cần học để làm cho tốt, thế là quá đủ rồi!… Tôi nhớ bữa đó mọi người trong ủy ban đều quá ngạc nhiên nhưng mà cũng lúng túng, chẳng biết phản ứng thế nào đây cho tiện, đành im lặng.  Giáo sư Tạ Quang Bửu cũng im lặng hồi lâu, rồi rất chậm rãi, ông nói: “Theo tôi, ở bậc đại học, về đạo đức, cần nhất là giáo dục đức tính trung thực khoa học (la probité scientifique). Người làm khoa học thiếu đức trung thực trong công việc của mình thì có hại cho xã hội không biết bao nhiêu lần hơn người thường”. Lời ông nói, tôi nhớ, từ tốn mà nghiêm khắc, vừa như một lời khuyên, một mong ước, vừa như một cảnh báo… Theo chỗ tôi được biết, sự cảnh báo của ông rồi về sau trong các ngành có liên quan (và cả trong khoa học nói chung), hình như cũng không ai thật sự nhớ và để ý đến nữa, và cũng hình như bây giờ ở đại học trong những nội dung liên quan đến xây dựng đạo đức cho sinh viên chắc là có đủ thứ nhưng lại không có yêu cầu hàng đầu đối với người làm khoa học như giáo sư Tạ Quang Bửu đã nhấn mạnh một cách thâm thúy. Tất nhiên không thể nói nguyên nhân tất cả là ở đây, nhưng một trong những kết quả của việc này là tình trạng gian dối dưới nhiều kiểu khác nhau hiện nay trong khoa học như dư luận ngày càng báo động.  Đương nhiên, gian dối không chỉ có trong khoa học, còn nhiều nơi nặng nề hơn nhiều, tất sẽ có người nói như vậy. Và cũng đúng vậy. Nhưng nếu trong cuộc đời, trong xã hội khó tránh được hết sự gian dối, thì khoa học là nơi cuối cùng tuyệt đối không thể chấp nhận được tình trạng đó. Bản thân khái niệm khoa học đã là đối lập tuyệt đối với gian dối, như nước với lửa. Nếu trong một xã hội mà đến khoa học cũng gian dối, thì tức là đã tới mức nguy cơ cao. Trong đó hư danh cũng là một trong dạng phổ biến.1  —                        GS. Tạ Quang Bửu – nhà quản lý khoa học và giáo dục có tầm nhìn chiến lược  Tạ Quang Bửu (1910-1986) là nhà hoạt động khoa học và giáo dục nổi tiếng, nhà trí thức yêu nước nhiệt thành tiêu biểu cho cả một thế hệ các nhà trí thức Việt Nam đi theo cách mạng, niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam.      Cuộc đời và sự nghiệp      Giáo sư Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910 tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống học hành. Ông mất ngày 21/8/1986.       Nổi danh học giỏi từ nhỏ, đến năm 1929, ông đỗ đầu tú tài bản xứ và tú tài Tây môn toán và đỗ hạng cao tú tài triết. Thành tích tuyệt vời này đã giúp ông nhận được học bổng của Hội Như Tây Du học Trung kỳ để sang Pháp học.      Năm 1934, ông về nước sau 5 năm học ở nhiều trường Pháp và Anh. Liền 7 năm sau đó, ông dạy toán, tiếng Anh cùng nhiều môn phụ tại trường trung học “Thiên hựu học đường” ở Huế, được học trò quý mến vì kiến thức rộng và cách giảng dạy hết sức sinh động.   Lòng yêu nước, căm ghét thực dân đô hộ Pháp của người thanh niên Tạ Quang Bửu đã được nhen nhóm từ thuở thiếu thời dưới ảnh hưởng sâu sắc của những nhà nho yêu nước, trong đó có cụ Phan Bội Châu.       Ông cùng với những người khác thành lập tổ chức hướng đạo, hướng thanh niên Việt Nam theo chủ nghĩa ái quốc, bài thực dân. Những người hướng đạo sinh được rèn luyện cả về thể lực và ý chí trong những điều kiện cực kỳ gian khổ không chỉ vì mục đích làm việc thiện mà còn vì mục đích cao cả hơn, đó là phục vụ Tổ quốc.              Có  những nhân cách và tài năng mà chỉ sau  khi vắng bóng họ người đời mới  thấy hết khoảng trống mênh mông họ để  lại. Anh Bửu là một con người như  thế. Hơn hai mươi năm sau khi anh rời  các cương vị phụ trách về khoa  học và giáo dục, không lúc nào sự thiếu  vắng một người lãnh đạo như  anh, được cảm nhận rõ rệt trong ngành như  lúc này.                                                                Giáo sư Hoàng Tụy        Tháng 1/1946, Tạ Quang Bửu được bầu làm đại biểu Quốc hội ở tỉnh Hà Tĩnh. Ông được cử giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vào tháng 3/1946.       Trong những ngày nước sôi lửa bỏng ấy, Tạ Quang Bửu là một trong những thành viên trong phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Pháp tại Đà Lạt. Ông cùng với các ông Hoàng Xuân Hãn, Phan Phác, Kiều Quang Cung được phân công vào Tiểu ban quân sự do ông Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch. Mặc dù công việc bề bộn nhưng Tạ Quang Bửu vẫn dành thời gian tự học thêm về cơ học thống kê và cơ học lượng tử nhằm tích lũy kiến thức trước khi bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.       Cũng với ý thức như vậy, trong thời gian tham dự Hội nghị Fontainebleau tại Pháp, ông còn tìm mua và đưa về nước rất nhiều sách khoa học kỹ thuật quý giá đối với ngành quân giới trong kháng chiến chống Pháp.       Ngoài ra, ông chính là người tiến cử với Bác Hồ những trí thức Việt Nam đang sinh sống tại Pháp như Phạm Quang Lễ (sau được Bác đổi tên thành Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quý Huân…, những người sau đó đã từ bỏ tất cả để theo Hồ Chủ tịch trở về phụng sự đất nước và dân tộc.      Giáo sư Tạ Quang Bửu tham gia Tổng Quân ủy, làm ủy viên Hội đồng Quốc phòng tối cao và trở thành Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1947 đến tháng 7/1948. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngành quân giới non trẻ đã khiến giặc Pháp kinh hoàng vì những loại vũ khí tự tạo, trong đó phải kể đến công lao của ông.      Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đặt dấu chấm hết cho sự cai trị của Pháp tại Đông Dương. Giáo sư Tạ Quang Bửu có mặt trong đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tới Thụy Sỹ dự Hội nghị Geneva về Đông Dương. Trong Hội nghị này, với tư cách đại diện của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông đã ký Hiệp định đình chỉ chiến sự với tướng Delteil của Pháp.      Hòa bình lập lại, sau khi giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ông đã được Đảng và Nhà nước cử làm Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký Ủy ban Khoa học Nhà nước, rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.      Nhà khoa học – “cây cầu nối khoa học  thế giới với Việt Nam”      Không phải ngẫu nhiên mà mọi người gọi Giáo sư Tạ Quang Bửu là “cây cầu nối khoa học thế giới với Việt Nam.” Những cuốn sách ông viết như “Sống,” “Về các cấu trúc Bourbaki,” “Nguyên tử, hạt nhân, vũ trụ tuyến”… đã giúp nhiều nhà khoa học của Việt Nam tiếp cận được tương đối luận, lý thuyết mật mã di truyền, toán học lý thuyết cũng như khoa học vũ trụ.       Giáo sư Nguyễn Xiển, một người thầy dạy toán kỳ cựu, đã từng nói tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc: “Với những người mở đường như ông Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, chắc chắn Việt Nam sẽ có hàng trăm nhà toán học tài không kém các nước.”      Không những thế, giáo sư Tạ Quang Bửu còn sử dụng thành thạo tiếng Anh, Pháp, Đức, có thể đọc hiểu tiếng Nga, Hán, Hy Lạp cổ, Latinh. Nhà ngôn ngữ học xuất chúng người Mỹ Noam Chomsky sang Việt Nam giảng về ngôn ngữ toán học, đề tài khó đến nỗi cả mấy phiên dịch đành chịu thua. Giáo sư Tạ Quang Bửu đã lên dịch ngay lập tức khiến mọi người đều kinh ngạc.      Nhà giáo dục và nhà quản lý có tầm nhìn chiến lược      Giáo sư Tạ Quang Bửu rất coi trọng việc gắn kết giữa quá trình đào tạo với thực tiễn lao động sản xuất. Ngay trong kháng chiến chống Mỹ, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã cử hàng nghìn lượt cán bộ giảng dạy đi thực tế phục vụ sản xuất và chiến đấu theo ngành nghề. Các trường Đại học Xây dựng, Đại học Giao thông vận tải kết hợp với bộ đội công binh tham gia thiết kế, thi công đường sá, cầu hầm phà, xây dựng đường Hồ Chí Minh.               Thơ tặng GS Tạ Quang Bửu              Một khối nghĩ suy, một khối tình              Nước non là đó, nọ là mình              Đã tròn một cuộc, bầu tâm huyết              Chưa thỏa đôi bề, lẽ tử sinh              Nghĩa nặng nhân tình còn quyến luyến              Ánh ngời tài trí vẫn lung linh              Nỗi đời chất chứa lòng ưu ái              Một khối nghĩ suy, một khối tình.    Phan Đình Diệu                 8-2004        Ông cũng chủ trương giáo dục phải đi trước để chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngay trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, dưới sự chỉ đạo của ông, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã gửi hàng nghìn nghiên cứu sinh, lưu học sinh, thực tập sinh du học ở các nước xã hội chủ nghĩa. Việc hoạch định chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng đất nước đã được chuẩn bị chu đáo.      Do vậy khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã có một lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý đủ sức đảm đương nhiệm vụ xây dựng đất nước. Nhiều cán bộ được đào tạo trong thời gian đó hiện đang giữ vai trò nòng cốt trên các mặt giáo dục, khoa học và quản lý kinh tế-xã hội.       Theo quan điểm của ông, chất lượng giáo dục là ưu tiên chiến lược. Đối với giảng dạy đại học, ông chủ trương dạy đại học là dạy phương pháp. Với mục đích cải tiến phương pháp dạy-học, áp dụng phương pháp dạy-học hiện đại, ông đã trực tiếp thúc đẩy những nghiên cứu về sư phạm đại học, khuyến khích đơn vị đầu tiên nghiên cứu và áp dụng sư phạm đại học là Đại học Sư phạm Hà Nội. Bản thân ông cũng trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như các phương pháp hệ thống, cấu trúc, hành vi…      Chủ trương mở rộng quy mô đào tạo, bằng việc thành lập nhiều trường chuyên ngành với điều kiện sơ tán, đã được phối hợp chặt chẽ với chính sách tuyển chọn mỗi năm hàng trăm sinh viên, cán bộ ưu tú để gửi đi đào tạo tại nước ngoài.       Năm 1971, theo yêu cầu của Hội đồng Chính phủ và Ban Khoa giáo Trung ương, giáo sư Tạ Quang Bửu đã tổ chức việc thi tuyển nghiên cứu sinh đi học ở nước ngoài. Rất nhiều nhà khoa học ưu tú và cán bộ lãnh đạo cao cấp của các cơ quan của Đảng và Nhà nước đã mở đầu con đường khoa học và cống hiến từ những kỳ thi tuyển nhân tài hết sức đặc biệt này.       Với việc đặt ra chế độ thi tuyển công bằng, hợp lý, đề cao thực lực, nhiều con em những gia đình cán bộ viên chức bình thường và những gia đình nghèo vẫn có cơ hội đi học nước ngoài. Cũng trong thời kỳ giáo sư làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, lần đầu tiên Việt Nam tổ chức kỳ thi tuyển vào đại học, và đã đạt được những thành công to lớn.      Viết về Giáo sư Tạ Quang Bửu      Nhiều nhà khoa học lớn trên thế giới, sau khi tiếp xúc với ông đều thừa nhận ông là con người uyên bác: Nhà toán học Pháp L.Schwartz, một người bạn của ông từng đoạt giải Fields nhận xét: “C’ était un homme merveilleux” (Đó là một con người tuyệt vời); Nhà ngôn ngữ học, toán học Mỹ N.Chomsky, người được tạp chí Newsweek đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ XX” đã nhiều lần sang Việt Nam và trò chuyện với giáo sư Tạ Quang Bửu. Trở về Mỹ, N. Chomsky viết một bài báo, trong đó có câu: “Ông Tạ Quang Bửu là người có trí thông minh ghê gớm.”      Nhiều nhà khoa học lớn ở Việt Nam như các viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Đạo; các giáo sư Phan Đình Diệu, Hoàng Xuân Sính, Hà Học Trạc, Nguyễn Văn Trương… đều đánh giá cao công lao to lớn của thầy Bửu trong sự nghiệp khoa học của mình.      Là người liêm khiết trong cuộc sống, trong sáng trong suy nghĩ và hành động, giáo sư đã không màng tới những đặc quyền đặc lợi cho mình và gia đình mình. Suốt đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, giáo sư luôn luôn giữ một nếp sống giản dị, thanh bạch, gần gũi với mọi người.       Người ta thường nhắc đến một đặc quyền duy nhất của giáo sư là quyền được vào tận kho sách của Thư viện Khoa học Trung ương để lục sách và quyền được đem sách về đọc ở nhà cho đến khi dùng xong.      Đối với con cái, giáo sư cũng không dành cho những ưu đãi đặc biệt gì, mặc dù ông đã từng quyết định cử hàng chục nghìn học sinh đi du học ở nước ngoài. Tất cả các con trai của giáo sư đều hoặc đi làm công nhân, hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, rồi mới tiếp tục học đại học trong nước.       Ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng nhất, các Huân chương Kháng chiến hạng nhất… và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về khoa học và công nghệ với “Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học, kỹ thuật hiện đại, chỉ đạo các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”   Thành phố Hà Nội đã đặt tên con đường từ Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo xuyên qua khuôn viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội đến tận phố Bạch Mai là đường Tạ Quang Bửu.   Phương Thảo  TTXVN/Vietnam+  —      Người sáng lập ngành CNTT Việt Nam      Vào những năm 1960 của thế kỷ trước, theo sáng kiến của GS Tạ Quang Bửu, nước ta bắt đầu xây dựng ngành máy tính điện tử mà một trong những việc đầu tiên là nhập một máy tính điện tử cỡ trung bình, máy tính điện tử Minsk-22 của Liên Xô.     Để chuẩn bị cho việc lắp đặt, vận hành và khai thác máy tính điện tử Minsk-22 (tốc độ 6.000 phép tính/giây, bộ nhớ 32Kbytes, làm bằng đèn bán dẫn), Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (KHKTNN) đã cử một đoàn thực tập sinh được tuyển chọn từ nhiều nơi (ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Tổng hợp Hà Nội – nay là ĐH Quốc Gia Hà Nội và từ quân đội) để đi thực tập về máy tính điện tử ở Trung tâm Tính toán Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Moskva.      Giám đốc Trung tâm Tính toán Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô lúc bấy giờ là Viện sĩ hàn lâm khoa học Liên Xô Anatoli Alekxeevich Dorodnitsyn khá thân thiết với GS Tạ Quang Bửu, GS Lê Văn Thiêm.      Để chuẩn bị cho việc tổ chức bảo trì, khai thác máy tính điện tử Minsk-22 và xây dựng đội ngũ cán bộ máy tính, cán bộ điều khiển học, Ủy ban KHKTNN thành lập phòng Toán học Tính toán trực thuộc Ủy ban, là tiền thân của Viện CNTT – Viện Hàn lâm KH&CN ngày nay. Vào khoảng cuối năm 1967, máy Minsk-22 về nước. Lúc bấy giờ GS Tạ Quang Bửu tuy không còn làm phó chủ nhiệm Ủy ban KHKTNN mà đã sang làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp nhưng vẫn rất quan tâm đến xây dựng ngành máy tính ở nước ta. Ông đã có tác động quan trọng trong việc chuẩn bị chỗ đặt máy Minsk-22 ở tầng 1 nhà 39 Trần Hưng Đạo (trụ sở cũ Bộ KH&CN), tạo một thuận lợi lớn cho việc bảo trì, khai thác máy. Quyết định đặt ở đấy là một quyết định táo bạo vì địch có thể bắn phá bất cứ lúc nào. Ủy ban cũng đã chuẩn bị một địa điểm khác, làm một hầm sâu trong khu Đồi thông ở phố Đội Cấn (Về sau này, khi máy ODRA về nước thì được đặt ở đấy).     Khi máy tính điện tử Minsk-22 đã được vận hành, GS đã có tác động với các Bộ, các ngành khai thác máy tính điện tử và nhiều ngành đã khai thác thành công như ngành khí tượng thủy văn, ngành giao thông vận tải, ngành xây dựng kiến trúc… Đặc biệt, máy tính điện tử Minsk-22 trở thành một nơi đào tạo thực hành cho sinh viên nhiều trường đại học. Tuy GS không trực tiếp chỉ đạo và điều hành phòng Toán học Tính toán thuộc Ủy ban KHKTNN, nhưng chúng tôi, những người phụ trách bộ phận này đã không ít lần trực tiếp xin ý kiến GS về vấn đề này vấn đề khác, đặc biệt là việc điều động cán bộ từ các trường ĐH về công tác tại phòng Toán học Tính toán. Chính GS Tạ Quang Bửu đã ký quyết định đưa GS Phan Đình Diệu từ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội (sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học ở ĐH Lomonosov) về công tác tại Phòng Toán học Tính toán – UBKHKTNN.      GS Tạ Quang Bửu thực sự là người đã có những ý tưởng sắc sảo, tiên phong, sáng tạo trong quá trình mở đường cho sự phát triển một lĩnh vực mới mẻ ở nước ta, một ngành mà ngày nay nước ta xem là ngành mũi nhọn – ngành CNTT.              Theo Nguyễn Lãm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư Đào Văn Tiến: Người tiên phong trong bảo vệ thiên nhiên và môi trường      Giáo sư Đào Văn Tiến sinh năm 1920 tại thành phố Nam Định trong một gia đình nho học, trọng lễ nghĩa. Nền nếp gia phong đã rèn luyện ông ngay từ tấm bé tạo nên đức tính chuyên cần, nghiêm túc trong học tập và&#160; cả cuộc đời lao động khoa học sau này của ông. Năm 1942, khi còn là sinh viên trường đại học, ông đã bắt đầu tham gia nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của GS. Boris Noyer, người phụ trách phòng thí nghiệm Sinh học và Y học, trường Đại học Đông dương, cùng đồng nghiệp Việt Nam là ông Đặng Vũ Kha. Đó là công trình nghiên cứu về máu loài ba ba và sử dụng tim của nó trong sinh lý học, công bố trên tạp chí khoa học của trường Đại học Đông dương năm 1943. Năm 1944 ông tốt nghiệp Cao học về Động vật học, được giữ lại làm phụ giáo.&#160;                        Khi đó các môn học ở trường Đại học và các trường học ở nước ta đều giảng dạy bằng tiếng Pháp. Năm 1945 ông cho xuất bản cuốn “Danh từ khoa học – Vocabulaire Scientifique – Vạn vật học (Sinh, Sinh lý, Động vật, Thực vật, Địa chất…)” Nhà xuất bản Minh Tân Paris XIV.  Nội dung cuốn sách là chuyển đổi các danh từ Vạn vật học từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, nhằm mục đích giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thức khoa học bằng tiếng mẹ đẻ. Đây là tập sách thứ hai đối chiếu tiếng Pháp và tiếng Việt về sinh học, sau cuốn Danh từ Thực vật của hai kỹ sư nông học Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn.            .. Tác giả là ông Đào Văn Tiến, một bạn trong đám thanh niên tốt nghiệp đầu tiên ở Đại học Hà Nội về môn Vạn vật học.  … Phép đặt danh từ, ông đã giảng rõ trong lời tựa riêng. Những danh từ đặt ra đây có thể thông dụng được.  … Trong lúc gấp, cần dạy và phổ thông các môn khoa học bằng tiếng ta, tập Danh từ khoa học này, góp với tập trước, sẽ giải quyết tạm được vấn đề danh từ về các khoa học đại cương”.  Trích đề lời tựa cuốn sách của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn           Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo tiếng gọi của Tổ quốc ông lên chiến khu Việt Bắc. Khoác áo lính phục vụ trong Cục Quân y, ông cùng với GS. Từ Giấy biên tập tờ báo Vui Sống. Năm 1949 ông tham gia giảng dạy ở trường Quân Y sĩ do bác sỹ Đinh Văn Thắng làm hiệu trưởng, sau đó là bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ. Đến năm 1951 ông giảng dạy ở trường Khoa học Cơ bản và Sư phạm cao cấp ở Tuyên Quang… Khi trường chuyển sang Khu học xá Nam Ninh Trung Quốc, ông và GS. Lê Khả Kế giảng dạy các môn sinh vật học. Ông cùng các GS. Lê Văn Thiêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Cảnh Toàn, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Tiến Liễu, Dương Trọng Bái đào tạo nhiều học sinh ở khu học xá trở thành các nhà khoa học, nhà giáo dục nổi tiếng, đóng góp rất lớn cho khoa học và nền giáo dục Việt Nam.  Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trường Đại học Sư phạm Khoa học được thành lập tại Hà Nội. Ông trở về giảng dạy tại khoa Khoa học tự nhiên cùng với các ông Lê Khả Kế, Nguyễn Đình Ngỗi, Dương Hữu Thời, Trương Cam Bảo đảm nhận các môn sinh vật học mà hồi đó gọi là vạn vật học. Ông và các đồng nghiệp tiếp thu các phòng thí nghiệm trống rỗng bỏ lại sau khi thực dân Pháp rút khỏi Hà Nội. Tuy thiếu thốn đủ bề, công việc bận rộn, nhưng với tấm lòng hăng hái của lớp thanh niên khi nước nhà mới độc lập, họ ra sức củng cố lại phòng thí nghiệm và trực tiếp giảng dạy lớp học sinh từ kháng chiến trở về và những học sinh học trong thành ở lại. Năm 1956 trường Đại học Sư phạm Khoa học chia thành 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tiếp tục giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trở thành Chủ nhiệm khoa Sinh học.          Tôi đã học tập, làm việc, cộng tác với GS Đào Văn Tiến đúng 40 năm. Ông đã đóng vai trò người thầy, người anh, đã dìu dắt tôi vượt qua các khó khăn về chuyên môn, học tập nghiên cứu giảng dạy, kể cả công tác rèn luyện đạo đức của nhà khoa học yêu nước, yêu nhân dân lao động, yêu sinh viên, tự tin để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đã có nhiều bài học mà tôi được học từ ông. Ở đây, tôi chỉ xin kể lại với các nhà khoa học và sinh viên bài học cuối cùng:  Tôi nhớ vào khoảng năm 1994, lúc này hoạt động xuất bản các tài liệu rất dễ dàng mà lại có “thù lao cao”, ông có nhiều bản thảo khoa học và tài liệu giảng dạy rất tốt, nếu in xuất bản chắc sẽ có đời sống tốt hơn và cũng phục vụ tốt hơn cho giảng dạy và nghiên cứu. Tôi đề xuất “Anh cho xuất bản đi”, ông đã trả lời tôi ngay không do dự “Các tài liệu này chưa đầy đủ, tôi đang bổ sung hoàn thiện, khoa học mà thành “mỳ ăn liền” là hỏng đấy”.  Mai Đình Yên- ĐH Quốc gia               Hà Nội           Trong suốt thời gian công tác ông luôn là nhà sư phạm mẫu mực, nhà khoa học cần cù, trung thực và nghiêm túc. Ông luôn luôn tâm đắc câu nói của GS. Hồ Đắc Di: “Ở đại học không chỉ dạy nghề mà còn phải dạy người” và trong suốt cuộc đời ông đã thực hiện được điều tâm đắc đó.  Ông đã viết trên 20 bài báo về giáo dục thanh niên, nhất là thanh niên làm công tác nghiên cứu khoa học. Ông đã đúc kết 15 năm hoạt động giảng dạy của khoa Sinh vật trường Đại học Tổng hợp HàNội. Mong muốn của ông là xây dựng một đội ngũ khoa học từ lớp thanh niên, năm 1982 ông đã viêt cuốn sách: “Khoa học hoá cách suy nghĩ, làm việc, học tập” với lời đề tặng các bạn thanh niên, niềm hy vọng của đất nước.  Trong lĩnh vực nghiên cứu, từ thập niên 60 thế kỷ trước ông đã định hướng vào công việc thống kê nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước đặc biệt là động vật hoang dã. Ông cùng GS. Đặng Văn Ngữ trực tiếp chủ trì về điều tra động vật, côn trùng và ký sinh trùng các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Ông đã cùng các đoàn khảo sát đặt chân đến các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung như Gia Lai, Kontum… Ông đã phát hiện mô tả nhiều loài động vật mới cho khoa học như: Voọc Hà Tĩnh, Cu li nhỡ… Ông là người đầu tiên viết các khoá tra cứu phân loại các nhóm động vật: ếch nhái, thằn lằn, rắn, rùa, cá sấu và chuột của Việt Nam. Những tài liệu này ngày nay vẫn còn giá trị sử dụng. Ông viết hàng trăm bài báo về nguồn tài nguyên động vật hoang dã, sinh thái, sinh học, tập tính các loài động vật Việt Nam. Đặc biệt cuốn “Khảo sát thú các tỉnh miền Bắc Việt Nam“ là cuốn sách không thể thiếu đối với các nhà nghiên cứu thú. Ông đã tổng kết 15 năm hoạt động nghiên cứu khoa học của khoa Sinh vật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; 25 năm xây dựng và phát triển ngành sinh vật học Việt Nam. Nhiều bài mang tính chiến lược: Tình hình và xu thế hiện đại của khoa học sinh thái học động vật; Cách mạng khoa học kỹ thuật trong sinh vật học hiện đại; Các ngành sinh vật học với nhiệm vụ cách mạng; Triển vọng của ngành sinh vật học Việt Nam… Đặc biệt năm 1994 ông viết bài “Sinh học và đạo lý” trong đó có đoạn: “Tuyển chọn gene đặc biệt của người nào đó. Lấy trứng ở vòi Fallope của một phụ nữ rồi thay nhân bằng nhân tế bào của một người đàn ông nào đó, rồi lại đặt trứng đó vào dạ con phụ nữ để nó phát triển bình thường. Bằng cách này có thể sao bao nhiêu bản tuỳ ý của người đàn ông nhất định.  Kiểu thí nghiệm này đã thành công ở ếch nhái. Muốn thành công ở thú chỉ cần thời gian”. Quả nhiên đúng với dự báo đó, hai năm sau, 1996 con cừu Dolly ra đời.            Tôi còn nhớ cách giảng dạy truyền đạt các kiến thức của thầy cho người học trò luôn gợi mở, khuyến khích tạo cho sinh viên chúng tôi phải biết tìm tòi, suy nghĩ các khía cạnh lý thú của các môn học. Chính vì vậy giờ lên lớp của GS cực kỳ nghiêm túc, nhưng với không khí chan hoà, thoải mái giữa tình thầy trò, giúp sinh viên chúng tôi tiếp thu các kiến thức thầy dạy một cách sâu sắc, qua đó chúng tôi học hỏi nhiều kinh nghiệm quý báu của thầy để trang bị cho mình những hành trang khi ra trường áp dụng vào công việc mà mình đảm trách.  Trong suốt chặng đường hơn 40 năm trong công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và đào tạo, tôi luôn luôn ghi sâu vào tâm của mình những lời chỉ bảo của GS. Đào Văn Tiến, là trong giảng dạy, đào tạo là phải hết lòng vì sinh viên của mình, trong khoa học và công nghệ là phải kiên trì bền bỉ, phải nghiêm túc và trung thực.                       Đặng Huy Huỳnh –               Viện Sinh thái và TNSV             Ông đã tỏ ra lo ngại: “Các thử nghiệm về kỹ thuật gene nêu trên đã đặt vấn đề cho xã hội: Ai xác định được đặc tính ưng ý cho nhiều người? Ai hình dung được tài năng vài chục năm tới đây vẫn giống như ngày nay? Dân số tăng nhanh một cách nguy hiểm, ai dám khuyến khích sao nhiều bản của một người nào đó giả thiết người đó là siêu phàm, ai hình dung được xã hội toàn người siêu phàm hoạt động như thế nào? tổ chức ra sao?  … Kỹ thuật sinh học muốn xáo động vốn gene, loại bỏ gene nay thêm gene khác. Tính đa hình của gene bị ảnh hưởng. Hậu quả như thế nào chưa ai rõ. Cơ chế tác dụng của các gene với nhau cũng chưa được sáng tỏ. Giải thưởng Noben G. Wald đã nói một câu không phải không suy nghĩ: “Tốt nhất đừng có đụng tới bộ máy gene của con người”. Qua bài này cho thấy ông đã cập nhật với khoa học hiện đại và tiên đoán những thành quả mới về sinh sản vô tính ở động vật và con người. Đồng thời cũng tỏ ra lo lắng về đạo lý nếu tiến hành nhân bản con người.  Ông là người quan tâm về môi trường rất sớm khi đất nước còn đang chiến tranh với báo cáo: “Một vấn đề lớn về môi trường đặt ra ở miền Nam Việt Nam” tham gia hội thảo Quốc tế Bảo vệ môi trường tại Herceg Novi tháng 4/1974. Ông viết nhiều bài trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước về bảo vệ thiên nhiên: Việc xây dựng các Vườn Quốc gia và Khu Dự trữ Thiên nhiên; Con người và Thiên nhiên; Quy hoạch và quản lý rừng của đất nước; Một số suy nghĩ về xây dựng và phát triển kinh tế miền núi Tây Bắc Việt Nam; Vài suy nghĩ về trồng cây gây rừng; Tình trạng nguồn lợi động vật hoang dại ở Việt Nam…  Ông từng làm việc và liên hệ qua thư từ với các nhà khoa học ở 25 nước trên thế giới. Ông là thành viên của tổ chức nghiên cứu thú Quốc tế (ITC), Tiếp xúc viên địa phương của Hội Khỉ hầu Quốc tế; Chủ tịch danh dự Tổng hội Sinh học Việt Nam; Hội viên danh dự Hội nghiên cứu thú toàn Liên bang Xô Viết. Ông đã từng giảng dạy tại các trường Đại học Paris 7; Đại học Sư phạm Phnom Penh; trường Sư phạm Antananarivo; Chuyên gia giáo dục Madagasca.  GS. Đào Văn Tiến mất ngày 3 tháng 5 năm 1995 thọ 75 tuổi. Ghi nhận công lao đóng góp to lớn của ông, Nhà nước đã phong tặng ông nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động hạng 3 năm 1983; Nhà Giáo Nhân Dân năm 1989. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I tháng 9 năm 1996.   ———  *PGS. Hội Bảo vệ Thiên nhiên Môi trường     Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996) cho Tập hợp các công trình điều tra cơ bản về động vật học ở Việt Nam (1957-1980) đã đủ nói lên giá trị các thành tựu khoa học của Ông. Tôi chỉ muốn nói ít nhiều về khía cạnh nhân cách của Ông trong giảng dạy, nghiên cứu và đời sống. Ông sống rất khiêm tốn trong căn phòng nhỏ bé được phân ở Hàng Chuối với vợ và hai con. Ông sinh hoạt hết sức giản dị và luôn luôn mặc quần áo dã chiến lăn lộn khắp các miền để điều tra khu hệ hầu hết các loài động vật có xương sống. Ông vừa làm vừa hướng dẫn tỷ mỉ để đào tạo nên những thế hệ các nhà động vật học Việt Nam sau này. Có thể nói việc Ông say mê nghiên cứu trên thực địa đã làm gương cho chúng tôi về phong cách một nhà khoa học, lấy cái mình tìm thấy kết hợp với hợp tác quốc tế (ông thường xuyên có quan hệ với rất nhiều nhà động vật học tại 25 nước trên thế giới) để công bố các công trình khoa học có giá trị đích thực. Ông luôn gắn việc nghiên cứu với các đề xuất tới Nhà nước về các chính sách lớn (như xây dựng các Vườn quốc gia, các Khu dự trữ thiên nhiên, Trồng rừng và bảo vệ rừng, Giữ gìn và phát huy tài nguyên các động vật hoang dã…). Ông không bao giờ làm việc một mình mà bao giờ cũng lôi cuốn các cán bộ trẻ cùng làm để đào tạo các thế hệ kế cận. Trong các giờ lên lớp Ông bao giờ cũng rất gương mẫu, đúng giờ, trình bày mạch lạc và khoa học, giới thiệu nhiều hình ảnh mà Ông đã hợp tác với hai họa sĩ và một nhà nhiếp ảnh chuyên ngành để tạo nên bộ hình ảnh các động vật có thực ở nước ta. Trông dáng bề ngoài Ông rất nghiêm nghị nhưng thực ra lại rất gần gũi, hòa mình với đồng nghiệp và học sinh. Ai cũng yêu mến Ông và mãi cho đến nay tại phòng làm việc cũ của Ông, trước bức tượng đồng bán thân, các học trò của Ông luôn đặt hoa tươi và thường xuyên hương khói để tưởng nhớ Ông. Ông không để lại cho gia đình một tài sản gì có giá trị vật chất nhưng đã để lại một gia đình hạnh phúc với người vợ hiền từng là Trưởng bộ môn ở Viện Công nghiệp thực phẩm và hai người con thành đạt (một Tiến sĩ và một họa sĩ có tài). Ông để lại cho tất cả chúng tôi – những nhà sinh học đã được trực tiếp hoặc không trực tiếp học Ông – một tấm gương tốt đẹp về nhân cách một thầy giáo tận tụy, một cách sống mẫu mực và một tấm gương hoạt động sôi nổi của một nhà khoa học chân chính.                                                                                          Nguyễn Lân Dũng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giáo sư ngành Toán qua 40 năm công nhận      Không kể những lần phong đặc cách, năm 1980 là năm đầu tiên Chính phủ chính thức ban hành quyết định công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư cho các cán bộ làm công tác giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học.      BCH Hội Toán học Việt Nam khoá 1. Hàng đầu (từ trái): Hoàng Tụy (thứ 3), Nguyễn Thúc Hào (4.), Lê Văn Thiêm (5.), Nguyễn Cảnh Toàn (6.), Nguyễn Đình Trí (7.)  Từ đó đến nay vừa tròn 40 năm công tác công nhận/bổ nhiệm chức danh (chức vụ) giáo sư, phó giáo sư Toán. Đây là dịp tốt để tiến hành sơ kết, đánh giá về công tác này, đặc biệt là xem xét ảnh hưởng của nó đối với công cuộc xây dựng và phát triển đào tạo, nghiên cứu của ngành Toán Việt Nam.  Giáo sư ngành Toán  Về tổng thể, đã có 91 người được công nhận giáo sư về Toán, trong đó có 4 giáo sư được công nhận đặc cách. Đó là các giáo sư Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm (trước 1980), Ngô Bảo Châu (năm 2005) và Vũ Hà Văn (năm 2009). GS Tạ Quang Bửu và GS Lê Văn Thiêm là những người xây dựng nên nền khoa học Việt Nam nói chung (chứ không riêng gì ngành Toán), năm phong không được biết chính xác, còn cơ quan công tác lúc đó thay đổi rất nhanh. GS Ngô Bảo Châu và GS Vũ Hà Văn là những nhà toán học xuất sắc, làm việc ở nước ngoài, được công nhận như là một hình thức tôn vinh. Để sự phân tích chính xác hơn, trong các thống kê và nhận xét dưới đây sẽ không bao gồm 4 giáo sư được công nhận đặc cách.  Trong 87 giáo sư, ngoài 6 giáo sư được công nhận tại đợt 1 đương nhiên không qua phó giáo sư, thì chỉ có 9 giáo sư được phong thẳng. Đó là các giáo sư: Nguyễn Hữu Anh, Nguyễn Xuân Lộc, Nguyễn Đình Ngọc (năm 1984), Đinh Dũng, Nguyễn Văn Khuê, Đào Trọng Thi, Trần Đức Vân (1991) và Trần Văn Nhung, Nguyễn Văn Thu (1992). Mới chỉ có 2 nữ giáo sư được công nhận là GS Hoàng Xuân Sính (47 tuổi, năm 1980) và GS Lê Thị Thanh Nhàn (45 tuổi, năm 2015).    Bảng 1: Số giáo sư ngành Toán (so với các ngành khác).     Thống kê ở Bảng 1 cho thấy, số người được công nhận chức danh giáo sư ngành Toán có chiều hướng giảm. Có một số lí do giải thích cho hiện tượng này. Nhưng lí do quan trọng nhất là sau năm 1986, với những biến động khác nhau trong xã hội và trên thế giới, đã có một thời gian dài có sự thiếu hụt khá trầm trọng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu về Toán; tạo nên một khoảng trống khá nghiêm trọng. Rất may trong thời gian 10 năm trở lại đây, với sự ra đời và hỗ trợ đáng kể của Quỹ NAFOSTED, với sự tài trợ của Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010 – 2020 – mà trọng tâm là sự ra đời và hoạt động của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, tình hình đã được cải tạo đáng kể. Tuy nhiên, phải có thêm thời gian để đội ngũ cán bộ trẻ đó phát triển tiếp, tích lũy đủ thành tích để đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của chức danh giáo sư.  Độ tuổi khi được công nhận  Về tuổi khi được công nhận, tuổi bình quân của 87 giáo sư Toán (chính qui) là 51,7. Người trẻ nhất là GS Phạm Hoàng Hiệp (35 tuổi, năm 2017), có lẽ là giáo sư trẻ nhất ở trong nước trong 40 năm qua? Tiếp theo là GS Nguyễn Quang Diệu (37 tuổi, năm 2011), GS Ngô Việt Trung (38 tuổi, năm 1991) và GS Sĩ Đức Quang (38 tuổi, năm 2019). Người cao tuổi nhất là GS Đỗ Văn Lưu (75 tuổi, năm 2019). Như vậy có thể thấy, tuổi trung bình của giáo sư ngành Toán vẫn còn khá cao; dù rằng tương đối thấp so với đội ngũ giáo sư trong cả nước.  Hiện nay  Rất tiếc trong 89 giáo sư làm việc trong nước, có 13 người đã mất (tuyệt đại đa số do tuổi cao, sức yếu). Có 41 giáo sư hoặc đã trên 70 tuổi, hoặc đã quá 60 tuổi và đã về hưu, không còn làm nơi nào cả. Như vậy, chỉ còn 35 giáo sư chưa quá 70 tuổi và còn làm việc (kể cả ngoài công lập). Tuổi bình quân của các giáo sư này là 61 tuổi, và chỉ có 11 giáo sư dưới 60 tuổi. Đây là một con số quá ít cho một nền đại học và một ngành nghiên cứu cơ bản như Toán học trong thời đại cách mạng 4.0.    Hội đồng Chức danh giáo sư ngành Toán, nhiệm kì 2014 – 2018.  Số lượng tuy không nói lên tất cả, nhưng phần nào phản ánh khả năng làm việc của các giáo sư. Theo MathSciNet, nếu tính tổng số bài quốc tế đã đăng trong toàn bộ sự nghiệp cho đến thời điểm này, thì trong 35 giáo sư, người có nhiều công trình nhất là 142 bài, còn người ít nhất là 25 bài. Tính bình quân, mỗi giáo sư công bố 63.6 bài. Tuyệt đại đa số bài được liệt kê là các công bố quốc tế, và ước tính hơn 2/3 số bài được đăng ở tạp chí ISI.  Một vấn đề được dư luận quan tâm tiếp theo là việc nghiên cứu sau khi được công nhận. Ở Việt Nam, có một e ngại là sau khi được công nhận chức danh giáo sư thì nhiều người sẽ thôi làm nghiên cứu. Rất đáng mừng là tất cả 35 giáo sư này vẫn hăng say nghiên cứu. Chỉ có điều rất khó làm thống kê, vì nếu tính số lượng tuyệt đối, thì thông thường những người được công nhận đã lâu sẽ có số lượng cao hơn. Ngược lại, nếu tính tỷ số công trình trên số năm được công nhận, thì ở những người mới được công nhận, thông thường con số sẽ lớn hơn (do lúc mới được công nhận còn trẻ và còn đang sung sức). Theo MathSciNet, người có tỷ số thấp nhất là 0.85 bài/ một năm (GS này đã được công nhận 13 năm), còn người có tỷ số cao nhất là 9 bài/năm (GS này mới được công nhận 1 năm), người có tỷ số cao thứ nhì là 5.61 bài/năm. Điều đó có nghĩa là sau khi được công nhận, mỗi giáo sư bình quân mỗi năm công bố ít nhất gần 1 công trình. Nếu tính trung bình toàn thể 35 giáo sư, thì con số là 2.2 bài/1 năm/1 giáo sư (bằng tổng số bài chia cho tổng số năm – cả hai thông số đều tính từ khi công nhận giáo sư – của tất cả 35 người). Đây là một con số khá cao, chứng tỏ ham mê nghiên cứu và năng lực sáng tạo của các giáo sư sau khi được công nhận vẫn được phát huy, thậm chí trong nhiều trường hợp còn hiệu quả hơn so với trước lúc được công nhận.  Các chuyên ngành có nhiều giáo sư được công nhận gồm có: Lý thuyết Tối ưu, Giải tích phức, Phương trình Đạo hàm riêng, Phương trình vi phần và Hệ động lực, Lý thuyết Xác suất và Thống kê Toán học và Đại số giao hoán.  Thay cho lời kết  Với một đội ngũ giáo sư hiện nay còn ít ỏi như trên đã nêu, có thể nghĩ tới một bức tranh ảm đảm trong việc duy trì, chứ chưa nói đến phát triển ngành Toán học trong tương lai. Vì vậy, việc phát triển đội ngũ, đặc biệt là đội ngũ giáo sư Toán luôn là bài toán thời sự. Theo ước tính của chúng tôi, có khoảng 300 – 350 là phó giáo sư, nhưng chưa là phó giáo sư. Trong số đó, không đến 100 người có tuổi ít hơn 60. Rất may, một số không nhỏ trong số đó còn tương đối trẻ và có thành tích nghiên cứu tốt. Hy vọng trong thời gian sắp tới họ sẽ tiếp tục phát huy được khả năng của mình, để nhanh chóng được công nhận chức danh giáo sư và gánh vác trách nhiệm phát triển nền Toán học Việt Nam của các thầy, cô, các lớp đàn anh để lại.  Khi nói về phát triển của một ngành khoa học, hay một đội ngũ cán bộ khoa học mà chỉ thuần túy nói về số lượng thì rất lệch lạc. Chỉ riêng nói về nghiên cứu, thì không phải cứ số lượng công bố cao hơn là giỏi hơn, tốt hơn. Nhưng cũng không thể nói người có công bố ít lại rất xuất sắc. Đã nói về chất lượng nghiên cứu và ảnh hưởng của ai đó, thì cần đi sâu phân tích, đánh giá các công bố của người đó. Ngay nói về chuyên môn, đóng góp của một cá nhân cũng không chỉ gói gọn trong những công bố khoa học, mà một việc rất có ý nghĩa là xây dựng hướng nghiên cứu và nhóm nghiên cứu. Đôi khi, đây lại là phần đóng góp để đời nhất của một giáo sư đối với hậu duệ của một ngành.  Hơn nữa, việc đóng góp của đội ngũ giáo sư không chỉ bó hẹp trong mỗi phạm vi nghiên cứu. Không có những người tiên phong xây dựng và tạo tiền đề như GS Tạ Quang Bửu và GS Lê Văn Thiêm, thì không thể có nền Toán học hiện nay. Không có những giáo sư đứng đầu dẫn dắt lớp lớp các thầy, cô giáo đào tạo học trò các cấp khác nhau hơn một nửa thế kỉ qua, thì cũng không thể có nền Toán học hiện nay. Không có những người hi sinh sở thích nghiên cứu để làm công tác tổ chức, thì cũng khó có nền Toán học hiện nay. Việc ghi nhận đó cần có sự đánh giá, đóng góp ý kiến của nhiều người, nhất là những bậc cao niên, mới hy vọng vẽ nên một bức tranh tương đối tổng thể. Một cá nhân như tôi, trong điều kiện tìm kiếm tư liệu vô cùng khó khăn, bài viết này chỉ là một đóng góp nhỏ.  Điểm qua lịch sử bổ nhiệm chức danh giáo sư Trước năm 1980, có tất cả 29 nhà khoa học Việt Nam được công nhận chức vụ giáo sư. Trong số đó, ngành Toán học có hai giáo sư là GS Tạ Quang Bửu và GS Lê Văn Thiêm. Năm 1976, Nhà nước mới ban hành Quyết định số 271-CP ngày 1/10/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc công nhận chức vụ Giáo sư và Phó Giáo sư trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thực hiện quyết định này, năm 1980 và 1984, Chính phủ đã hai lần ban hành quyết định công nhận chức vụ khoa học giáo sư và phó giáo sư (sau đó có bổ sung bốn lần vào các năm 1984-1989, nhưng không có Toán). Từ năm 1989, theo Nghị định số 153-HĐBT, ngày 25/9/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Hội đồng xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nước, thì việc xét và ban hành quyết định công nhận chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư do Hội đồng Xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nước đảm nhiệm. Sau đó, Hội đồng này lần lượt được thay đổi tên bằng: Hội đồng Học hàm Nhà nước (năm 1995), Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước (năm 2001) và Hội đồng Giáo sư Nhà nước (năm 2018). Chức vụ khoa học GS, PGS lần lượt được đổi thành chức danh GS, PGS (năm 1989), học hàm GS, PGS (năm 1995) và chức danh GS, PGS. Từ năm 2008, việc bổ nhiệm (chứ không phải công nhận) chức danh GS, PGS lại được sửa đổi, chia thành hai bước: Hội đồng chỉ xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS. Việc bổ nhiệm chức danh GS, PGS là của cơ sở giáo dục đào tạo. Trong giai đoạn đầu trung chuyển, từ năm 2008 – 2011, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định bổ nhiệm; còn từ 2012, thủ trưởng các cơ sở giáo dục đại học ra quyết định bổ nhiệm. Trên thực tế, đã có một vài trường hợp được công nhận đạt tiêu chuẩn, nhưng không được cơ sở đào tạo nơi mình công tác bổ nhiệm. Chính vì vậy, năm được bổ nhiệm và năm được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh có thể khác nhau. Cho đến nay đã có tổng cộng 21 đợt công nhận chức danh GS, PGS (không kể các đợt bổ sung). Các năm 1980, 1984, 1991, 1992, 1996 được xét không thường xuyên. Từ năm 2002, công tác này được tiến hành thường xuyên, chỉ trừ có hai lần gián đoạn (các năm 2008, 2018) để thay đổi qui chế.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Lê Tuấn Hoa        
__label__tiasang Giáo sư Ngô Việt Trung: Nâng dần chất lượng tạp chí theo chuẩn quốc tế      Nâng cấp chất lượng tạp chí trong nước và xây dựng thành tạp chí quốc tế là xu hướng phát triển trong nhiều ngành, khoa học Việt Nam. Trong nhiều cuộc họp của Quỹ Nafosted, một số ý kiến đề xuất Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí mới xây dựng được tạp chí quốc tế. Với kinh nghiệm 15 năm làm tổng biên tập tạp chí Acta Mathematica Vietnamica– một trong những tạp chí quốc tế đầu tiên của khoa học Việt Nam, GS Ngô Việt Trung cho rằng yếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo chất lượng của các công trình được công bố      GS Ngô Việt Trung. Ảnh: Lê Văn.  Lấy tiêu chí khoa học làm đầu  Để trở thành tạp chí quốc tế thì một tạp chí khoa học của Việt Nam cần phải đáp ứng những tiêu chí gì?  Các cơ sở dữ liệu như Web of Science hay Scopus đều đề ra những tiêu chí khá cụ thể, tập trung vào 4 điểm: Thứ nhất phải xuất bản bằng tiếng Anh (hoặc bằng những tiếng quốc tế khác); Thứ hai, phải có ban biên tập uy tín; Thứ ba phải ra đều đặn đúng hạn; Thứ 4 là chỉ số trích dẫn cao. Thông thường họ chờ 1, 2 năm để xét cá ctạp chí có đạt được các tiêu chí trên hay không trước khi quyết định để đưa vào danh mục dữ liệu của mình.  Ba tiêu chuẩn đầu là những tiêu chuẩn mang tính kỹ thuật. Tiêu chuẩn cuối cùng là cái khó đạt nhất ở Việt Nam.  Vậy theo ông, cần phải làm những gì để đảm bảo được chất lượng tạp chí?  Theo kinh nghiệm hàng chục năm tham gia biên tập tạp chí Acta Mathematica Vietnamica, tôi thấy quan trọng nhất là phải chọn được tổng biên tập là một nhà khoa học có uy tín và kiên quyết. Theo cách nói của Viện Toán, người đó phải là người không biết sợ ai cả. Nếu bài gửi đến không được phản biện đồng ý nhận đăng, thì dù tác giả có là của chuyên gia đầu ngành, hay người quen thì tổng biên tập cũng phải từ chối. Có những người rất giỏi nhưng lại rất dễ dàng cho qua những chuyện như vậy. Vì vậy phải chọn người không biết sợ mới giữ được chất lượng tạp chí.  Bên cạnh đó thì tạp chí phải có hệ thống phản biện vừa có chuyên môn tốt,lại vừa nghiêm túc trong đánh giá, xem xét. Cũng như ông tổng biên tập, họ cũng phải là những người không biết sợ vì ở nước mình, người ta thường đoán hay dò hỏi được ai là người phản biện. Khi mới về nước ít lâu, tôi được phân công làm phản biện một bài báo của một cây đa cây đề trong làng toán Việt Nam. Đề tài nghiên cứu của bài báo rất cũ và phương pháp không có gì mới nên tôi đề nghị không nhận đăng. Có lẽ vì vậy mà GS Hoàng Tụy đánh giá tôi là người không biết sợ và cử tôi làm tổng biên tập thay ông năm 1991.  Phải chăng tổng biên tập và làm phản biện cho tạp chí chuyên ngành là công việc luôn phải chịu nhiều áp lực?  Áp lực chứ! Chúng ta phải hiểu là người Việt Nam coi cái danh quan trọng lắm. Nhiều người coi việc không được nhận đăng là mất hết uy tín. Tôi biết một số người còn thù mình vì bài của họ không được nhận đăng. Thực ra, mọi người phải coi đó là chuyện bình thường. Thỉnh thoảng ai cũng có lúc sai và ngay cả phản biện cũng có thể nhận xét không đúng. Tôi đã nhiều lần bị tác giả mắng rằng họ là chuyên gia đầu ngành ở Việt Nam, còn ai có thể biết về chất lượng bài báo của họ hơn họ được mà dám nhận xét không tốt. Cũng có bài báo không được nhận đăng nhưng lại đăng được ở nước ngoài và tác giả công khai phê phán mình. Nhưng mình cũng phải coi chuyện đó là tai nạn nghề nghiệp.  Nhưng với các tạp chí ở giai đoạn đầu xây dựng thì việc đảm bảo chất lượng là điều rất khó?  Tất nhiên các tạp chí trong thời kỳ đầu muốn làm được điều này cũng khó vì đầu vào thấp và không thể loại hết các bài gửi đến theo chuẩn cao nhất được. Tuy nhiên mình phải luôn luôn nghĩ đến việc đẩy chất lượng tạp chí lên dần dần. Nhìn chung chất lượng của tạp chí ngành nào phụ thuộc rất nhiều vào cộng đồng các nhà khoa học của ngành đó. Ngành nào nghiên cứu yếu thì tạp chí ngành đó không thể đạt chuẩn quốc tế được.  Vậy Acta Mathematica Vietnamica vào thời kỳ đầu cũng gặp nhiều khó khăn, vất vả trong việc đảm bảo chất lượng?  Những năm đầu quả thật vất vả. Ngoài chất lượng chuyên môn thì tiếng Anh là cả một vấn đề. Thậm chí phần lớn thời gian của ban biên tập là chữa tiếng Anh các bài gửi nhận đăng cho chuẩn hơn. Hồ sơ của Acta còn lưu những bản thảo được chữa đỏ rực, gần như là phải viết lại tiếng Anh luôn. Bên cạnh đó, mỗi lần in là một lần lo chuyện thuê người đánh máy, lo chọn mua giấy bìa, lo chất lượng in ấn và đóng quyển. Phải kiểm tra gần như từng quyển một. Hầu như số nào cũng có vấn đề.  Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica may mắn có các GS Lê Văn Thiêm và Hoàng Tụy từng là tổng biên tập. Họ đều rất nghiêm khắc về chuyên môn, đặc biệt là GS Hoàng Tụy. Công việc của những người đi sau là giữ được nếp làm việc đó.  Khi chưa thực sự có uy tín như hiện nay thì làm như thế nào mà Acta Mathematica Vietnamica có được bài chất lượng tốt?  Để có được bài tốt, thì tạp chí phải vận động, những người nghiên cứu nghiêm túc viết bài, hay nhờ các nhà toán học đầu ngành vận động hộ. Nhờ quan hệ quốc tế tốt nên Acta Mathematica Vietnamica ngay từ đầu đã có bài của những người rất nổi tiếng, chẳng hạn như của ông Hironaka (Nhật Bản) được giải Field năm 1970 ngay từ năm 1977. Vì thế mà bên ngoài người ta cũng biết đến tạp chí và gửi bài đăng.  Trên đây ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống phản biện. Vậy kinh nghiệm của Acta Mathematica Vietnamica trong việc tìm phản biện giỏi là gì?  Mời phản biện luôn là công việc khó vì làm phản biện không được hưởng lương, không có gì lệnh gì bắt họ phải làm cho mình trong khi làm nhận xét rất mất công, phải đọc bài, có khi cả tháng mới hiểu hết được. Công việc vất vả, nên người ta thường từ chối.  Kinh nghiệm của Acta Mathematica Vietnamica là chỉ nên mời những người thực sự có trách nhiệm. Với phản biện nước ngoài thì cần phải quen biết, từ trước rồi. Khi biết là họ thực sự có thể giúp mình, mình phải viết thư thống thiết mời họ tham gia ban biên tập hay làm phản biện.    Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica online.   Tổng biên tập phải giữ vai trò “điều phối” mời phản biện. Sau một thời gian, nếu nhận thấy có những phản biện dễ tính, cho qua cả những bài chưa đạt yêu cầu thì dù họ có là chuyên gia đầu ngành mình thì mình cũng không mời nữa và tìm người thay thế.  Có nhất thiết phải có phản biện quốc tế để nâng cao chất lượng bài được duyệt đăng?  Tôi phản đối việc bắt buộc phải mời phản biện quốc tế vì thực tế là nhiều khi không thể nào lấy được phản biện quốc tế. Mà mình phải tin vào phản biện trong nước chứ, có thể lĩnh vực bài gửi không gần với hướng nghiên cứu của phản biện nhưng nếu là người có trình độ và trách nhiệm thì họ vẫn có thể đánh giá được bài tốt hay không tốt. Thực ra, nhiều lĩnh vực, có chuyên gia trong nước có trình độ và nghiêm túc. Tại sao mình không tham khảo ý kiến của họ và coi đó là đủ.  Cơ chế quản lý và đầu tư theo lộ trình cho các tạp chí muốn phấn đấu lên tạp chí quốc tế  Trở thành tạp chí quốc tế hiện là mục tiêu của nhiều tạp chí Việt Nam. Ông nhận xét thế nào về xu hướng này?  Về cơ bản, một nền khoa học nên có các tạp chí để phục vụ cho nền khoa học của mình. Các tạp chí của chúng ta phải phấn đấu theo các chuẩn mực quốc tế để khẳng định trình độ phát triển của nền khoa học Việt Nam. Khoa học chúng ta không thể một mình một sân chơi. Các công trình công bố trong nước phải có giá trị khoa học toàn cầu.  Có nên tập trung đầu tư cho các ngành để xây dựng tạp chí quốc tế hay không?  Tôi nghĩ không nên như thế, không thể đầu tư duy ý chí nếu ngành đó còn yếu. Mình phải phấn đấu, từng bước, nâng cao mọi mặt chất lượng tạp chí của mình. Các cơ quan chủ quản cần phải có một lộ trình đầu tư theo từng giai đoạn với các tiêu chí cụ thể. Tạp chí đạt chuẩn sẽ được hỗ trợ cao hơn. Điều này sẽ tạo ra cái đích để các tạp chí phấn đấu. Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đang thực hiện theo phương thức này, trong đó tập trung vào 3 tạp chí đã vào danh mục ISI, Scopus với mức hỗ trợ khá cao. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh là tiền không thể giúp cho một tạp chí mang tầm quốc tế. Nó chỉ giúp giải quyết các vấn đề mang tính kỹ thuật hay mở rộng mối quan hệ quốc tế.  Vậy việc phấn đấu lên tạp chí quốc tế phụ thuộc vào điều gì?  Quan trọng nhất vẫn là chất lượng chuyên môn của các công bố trong tạp chí. Ban biên tập phải có những chuyên gia hàng đầu thế giới tham gia để nâng cao hình ảnh của tạp chí và cũng để thu hút bài gửi đăng từ nước ngoài. Ngoài ra chúng ta phải vận động các chuyên gia trong nước và nước ngoài gửi đăng bài. Một kinh nghiệm hay của Acta Mathematica Vietnamica là vận động các đại biểu quốc tế đến Việt Nam tham dự hội nghị viết bài cho một số báo chuyên đề về chủ đề của hội nghị. Những số chuyên đề này thường có chỉ số trích dẫn cao hơn những số khác vì những bài báo của các đại biểu thường mang tính tổng quan và tính thời sự cao.  Nếu tạp chí đã có uy tín nhất định thì có thể tìm cách hợp tác với một nhà xuất bản quốc tế để họ cho mình vào danh mục tạp chí của họ. Các nhà xuất bản quốc tế bây giờ có nhu cầu mở rộng danh mục tạp chí của mình để bán được các gói ấn phẩm trên mạng. Ví dụ như hai tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics đều hợp tác xuất bản với nhà xuất bản Springer là một trong những nhà xuất bản khoa học hàng đầu thế giới. Họ phụ trách toàn bộ việc đánh máy, in ấn và phát hành ở nước ngoài. Hai tạp chí chỉ phải lo phần chuyên môn và được hưởng một phần lợi nhuận bán tạp chí. Việc hợp tác này thực sự góp phần nâng cao chất lượng tạp chí vì số bài báo gửi đăng tăng vọt và tạp chí có thể chọn được các bài có chất lượng chuyên môn cao hơn so với trước.  Kinh nghiệm ngành toán cho thấy các tác giả trong nước thường có công bố chất lượng chuyên môn cao hơn phần lớn các tác giả nước ngoài và được trích dẫn nhiều hơn. Vì vậy, chúng ta cần có những chính sách khuyến khích các tác giả trong nước gửi đăng các công trình tốt ở các tạp chí quốc gia.  Hiện nay Quỹ Nafosted cũng mong muốn nâng cao chất lượng của các tạp chí trong nước bằng việc yêu cầu mỗi đề tài do Quỹ tài trợ phải có một công trình công bố trong các tạp chí trong nước.  Mục tiêu của Quỹ thì hay nhưng cách thực hiện rất dở vì nó không giới hạn vào các tạp chí đầu ngành. Có nhiều ngành cho phép các đề tài có thể công bố trong tất cả các tạp chí trong nước kể cả của các trường nhỏ ở các địa phương. Điều này có nghĩa là bài kiểu gì cũng đăng được, không cần chất lượng chuyên môn, biến quy định của Quỹ thành một tiêu chuẩn khôi hài, không giúp ích gì cho việc nâng cao chất lượng tạp chí trong nước. Đúng ra thì Quỹ cần quy định rõ mỗi ngành chỉ được nghiệm thu các công bố trong 2-3 tạp chí đầu ngành. Các tạp chí này sẽ nhận được nhiều bài và họ sẽ chọn những bài có chất lượng để đăng. Điều này sẽ bắt buộc các đề tài phải gửi đăng các công trình nghiêm túc và qua đó nâng cao chất lượng các tạp chí đầu ngành.  Có còn biện pháp nào để góp phần nâng cao chất lượng tạp chí nữa không?  Tương tự như vậy, việc tính điểm công trình khi xét GS/PGS cũng chỉ nên hạn chế trong rất ít tạp chí quốc gia. Mỗi ngành cũng chỉ nên có vài tạp chí đại diện thôi để công trình được tính điểm có giá trị thực sự và cũng là để bài tốt cho các tạp chí quốc gia. Nếu tiếp tục các quy định như bây thì sẽ không giúp ích gì cho việc nâng cao chất lượng các tạp chí trong nước, đồng thời góp phần hình thành những tạp chí rác không ai đọc cả. Nguy hiểm hơn là các quy định này sẽ tạo ra thói quen nghiên cứu không nghiêm túc cho toàn bộ nền khoa học Việt Nam. Có một điều là nếu mình dễ dãi, chạy theo hình thức thì mình cũng sẽ làm hại tương lai chính ngành mình luôn.  Xin cảm ơn ông!  Thanh Nhàn thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới khoa học kêu gọi từ chối tài trợ  từ các doanh nghiệp nhiên liệu hóa thạch      TS. Rowan Williams – cựu Tổng Giám mục Canterbury,  nhà khoa học dữ liệu NASA Peter Kalmus, nhà khoa học khí hậu nổi tiếng của Hoa Kỳ Michael Mann cùng gần 500 học giả từ Hoa Kỳ và Anh đã viết một bức thư ngỏ gửi tới tất cả các nhà lãnh đạo trường đại học ở hai nước, kêu gọi họ từ chối mọi khoản tài trợ nghiên cứu khí hậu từ các công ty kinh doanh nhiên liệu hóa thạch.    Trong thư, họ cho rằng việc nhận tiền từ các công ty nhiên liệu hóa thạch thể hiện “một xung đột lợi ích cố hữu”, có thể “tác động tiêu cực” đến các nghiên cứu thiết yếu và “gây tổn hại” cho tự do học thuật. Đối với các công ty, đó là một cơ hội để “tẩy xanh” danh tiếng và làm sai lệch các kết quả nghiên cứu theo hướng có lợi cho họ.  Bức thư so sánh việc này với các chiến dịch thông tin sai lệch của ngành công nghiệp thuốc lá, lưu ý rằng nhiều tổ chức y tế và nghiên cứu công từ chối nhận tài trợ của các tập đoàn thuốc lá vì những lý do này, và kêu gọi hãy hành xử với các khoản tài trợ từ các công ty nhiên liệu hoá thạch theo cách tương tự. “Các nhà khoa học không nên bị buộc phải lựa chọn giữa việc nghiên cứu các giải pháp khí hậu và việc vô tình hỗ trợ công cuộc ‘tẩy xanh’ cho doanh nghiệp, ”những người ký kết viết.  Michael Mann, Giám đốc Trung tâm Khoa học Hệ thống Trái đất tại Đại học Bang Pennsylvania, chia sẻ: “Doanh nghiệp sử dụng việc tài trợ như một cách dàn xếp với những tổ chức học thuật hàng đầu. Đối với những kẻ gây ô nhiễm, kế hoạch này là một mũi tên trúng hai đích: họ mua sự tán thành và ‘tính khách quan’ của các tổ chức nghiên cứu, đồng thời các nghiên cứu thường sẽ biến thành công cụ vận động cho các giải pháp sai lầm và giúp trì hoãn những quy định liên quan đến thu hồi và lưu trữ carbon. Điều này hết sức nguy hiểm”.  Genevieve Guenther, nhà sáng lập kiêm Giám đốc chiến dịch End Climate Silence, cũng bày tỏ quan điểm: “Các nghiên cứu kiểu này cho phép các công ty dầu khí đưa ra những tuyên bố tẩy xanh, với lượng thông tin ‘chọn lọc’ để che giấu các hoạt động gây ô nhiễm và chết người nhất của họ”.  Trong vài năm qua, trước áp lực từ sinh viên và học giả, nhiều trường đại học đã thoái vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhiên liệu hóa thạch ra khỏi quỹ trợ cấp và các khoản tài trợ của trường. Tuy nhiên, đây là lời kêu gọi lớn đầu tiên từ các học giả cấp cao để chiến dịch này tiến xa hơn và cắt đứt mọi quan hệ nghiên cứu với các công ty nhiên liệu hóa thạch.  Không có ước tính rõ ràng về số tiền mà các trường đại học đã nhận từ các công ty nhiên liệu hóa thạch. Theo một điều tra của tờ Observer vào năm ngoái, chỉ riêng các trường đại học Anh đã nhận ít nhất 89 triệu bảng từ các công ty dầu khí trong bốnnăm trước đó.  Tuy nhiên một số nhà khoa học không tán thành với nội dung bức thư. Bob Ward, Giám đốc chính sách tại Viện nghiên cứu về Biến đổi Khí hậu Grantham, cho biết các trường đại học vẫn có thể nhận tài trợ từ các công ty nhiên liệu hóa thạch nếu các doanh nghiệp đó thể hiện cam kết chuyển mình. “Các trường đại học nên cẩn thận khi nhận tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp từ các công ty dầu khí và than không thực sự cam kết với quá trình chuyển đổi năng lượng sạch và đang cố gắng thanh tẩy danh tiếng của họ”.  Người phát ngôn của Đại học Imperial College London, nơi Observer phát hiện đã nhận 54 triệu bảng từ các công ty dầu mỏ kể từ năm 2017, cũng chia sẻ: “Khi làm việc với các công ty năng lượng, chúng tôi hướng tới mục tiêu khử carbon. Chúng tôi đang tận dụng tầm ảnh hưởng và chuyên môn của mình để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi này và tích cực đồng hành với các công ty năng lượng để thúc đẩy họ đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Chúng tôi sẽ theo dõi tiến độ và chỉ tiếp tục làm việc với những công ty thể hiện cam kết và có hành động thiết thực cụ thể”.  Một số học giả cũng cho rằng việc tài trợ là cần thiết để phát triển các công nghệ cho nền kinh tế carbon thấp, và nếu các trường đại học phương Tây từ chối nhận thì khoản tài trợ đó sẽ được chuyển sang các trường ở những nước khác trên thế giới.□  Hà Trang dịch  https://www.theguardian.com/science/2022/mar/21/universities-must-reject-fossil-fuel-cash-for-climate-research-say-academics    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới khoa học quốc tế  đang nhìn về Quy Nhơn      Chỉ ít tháng nữa, Trung tâm Giáo dục và Khoa học Liên ngành (Trung tâm) sẽ được khánh thành ở Quy Nhơn. Người sáng lập dự án là GS Trần Thanh Vân, người đã cùng vợ là bà Lê Kim Ngọc, tạo dựng được uy tín trong cộng đồng khoa học quốc tế nhờ những hoạt động thúc đẩy phát triển KHCN và hợp tác giao lưu giữa các nhà khoa học trong lĩnh vực vật lý hạt, vật lý thiên văn, và sinh học.     Ông đã phát động thành công một số chuỗi hội thảo quốc tế, như Gặp gỡ Moriond (Rencontres de Moriond, Rencontres de Blois) và Gặp gỡ Việt Nam (Rencontres du Vietnam), là các hội thảo nổi tiếng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới khoa học nhờ đạt được những kết quả xuất sắc và cách thức tổ chức hết sức cởi mở thoải mái.   Tham vọng của Trung tâm là trở thành nơi tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, và các trường học, thu hút các nhà khoa học trẻ và già từ khắp nơi trên thế giới trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Qua đó tạo cơ hội cho họ gặp gỡ, trao đổi ý tưởng trong một môi trường vui vẻ thoải mái. Mục tiêu nhằm giúp thúc đẩy phát triển khoa học trong khu vực Vành đai Thái Bình Dương và tăng cường hợp tác giữa các nước đã phát triển với các nước đang phát triển thông qua quan hệ hợp tác ưu tiên.  Địa điểm dự án nằm trên bờ biển, tại cửa một con sông nhỏ, trên một mảnh đất rộng 50 hecta. Trong giai đoạn đầu, dự án xây dựng một tòa nhà hội nghị với một hội trường lớn (350 chỗ ngồi), một phòng hội thảo (150 chỗ ngồi), hai phòng tọa đàm (mỗi phòng 40 chỗ ngồi), các văn phòng là nơi làm việc của nhân viên và các nhà khoa học khách mời, một sảnh tiếp đón, một nhà ăn và một hiên ngắm cảnh góc nhìn rộng. Đây sẽ là nơi tiếp nhận các cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế, những khóa đào tạo dành riêng cho các nghiên cứu sinh tiến sỹ, tổ chức theo chuyên ngành thông thường hoặc theo từng chủ đề. Thông thường, mỗi cuộc hội thảo sẽ tiếp đón khoảng 70 tới 150 người tham dự trong vòng 6 ngày, còn các khóa đào tạo theo chủ đề sẽ dành cho 40 tới 50 nghiên cứu sinh tiến sỹ và hậu tiến sỹ trong vòng 2 tuần.   Sau này, Trung tâm nên được bổ sung thêm một cung thiên văn, một trường kỹ thuật, và một khách sạn resort. Từ ngày 11 tới 17 tháng 8, Trung tâm sẽ khai trương bằng hội thảo quốc tế “Windows on the Universe” (“Những cửa sổ Vũ trụ”). Sự kiện này sẽ đưa nhiều nhà khoa học có tên tuổi – trong đó có vài người từng đoạt giải Nobel – đến với Quy Nhơn, biến nơi đây thành một tiêu điểm thu hút sự chú ý của giới khoa học quốc tế trong vòng vài ngày.  Tuy nhiên, sau khi tiếng chuông đồng hồ điểm vào lúc nửa đêm ngày 17 tháng 8, để cỗ xe ngựa không trở về hình dạng quả bí ngô ban đầu1, cộng đồng khoa học Việt Nam cần gánh vác một vai trò quan trọng nhằm đem lại sức sống thực sự cho Trung tâm. Những hỗ trợ của các nhà khoa học từ nước ngoài, như đến thuyết trình và trình bày các nghiên cứu mới trong các hội thảo, chỉ đem lại lợi ích khi có những nỗ lực từ trong nước nhằm tiếp nối các sự kiện này. Nếu thiếu những nỗ lực như vậy thì chúng ta chỉ làm lãng phí thời gian của nhau, và thật không may đây là điều thường rất hay xảy ra.  Vậy trong thực tế chúng ta cần làm gì? Những cơ quan cấp kinh phí, ví dụ như Quỹ Nafosted, cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động gửi các nhà khoa học trẻ và các nghiên cứu sinh đi đào tạo ở nước ngoài hoặc tham dự các hội thảo trong những lĩnh vực mà các nhà khoa học Việt Nam có thể tham gia; các trường và viện nên khuyến khích những hoạt động tích cực như vậy và giám sát lợi ích thu được bằng cách yêu cầu những người tham gia phải báo cáo lại với các đồng nghiệp dưới hình thức làm tọa đàm, và/hoặc trình bày bài giảng, và/hoặc viết báo cáo bằng văn bản. Các cơ quan cấp kinh phí cũng nên ưu tiên khuyến khích và hỗ trợ việc tổ chức các trường đào tạo và các hội thảo đáp ứng nhu cầu của cộng đồng khoa học Việt Nam. Hay nói cách khác, cộng đồng khoa học Việt Nam nên nhận thức rõ về những lợi thế tiềm năng từ sự ra đời của Trung tâm, và hợp tác với Trung tâm nhằm gặt hái được giá trị cao nhất, thông qua đó xây dựng và thực hiện một chính sách khoa học hiệu quả.  Trên thế giới, đã có nhiều trung tâm ở các địa phương hoạt động thành công, cung cấp cho chúng ta nhiều kinh nghiệm để học hỏi. Trung tâm uy tín nhất có lẽ là Tổ chức Ettore Majorana và Trung tâm Văn hóa Khoa học ở Erice, Sicily. Trung tâm này được thành lập từ 50 năm trước, và kể từ đó hằng năm nó là điểm đến cho các tác giả của những khám phá và sáng chế mới; 76 trong số họ là những người đoạt giải Nobel sau khi tham dự hoạt động tại trung tâm và 49 người đoạt giải Nobel trước khi tham dự. Đây là nơi những nhà khoa học đầu ngành trên thế giới hướng dẫn cho các nghiên cứu sinh đến từ khắp nơi trên thế giới, những người mong muốn được học hỏi các tri thức mới nhất trực tiếp từ chính các tác giả. Có hàng trăm nghìn các nhà khoa học từ một trăm bốn mươi quốc gia đã tham dự vào các hoạt động trên cấp đại học, tụ họp dưới khẩu hiệu trong khoa học không có bí mật và không biên giới. Cộng đồng khoa học này đã nỗ lực phá bỏ những rào cản mang tính ý thức hệ, chính trị, và sắc tộc, những tác nhân vốn không phải là sản phẩm từ khoa học (trích từ lời giới thiệu của Trung tâm Erice). Đúng như tôn chỉ này, Erice đã đóng một vai trò quan trọng giúp nuôi dưỡng mối quan hệ khoa học giữa Đông và Tây trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, và nổi tiếng vì công bố Tuyên bố Erice trong đó đề nghị các chính phủ trên thế giới nghiêm cấm việc che giấu thông tin, bỏ qua các rào cản biên giới quốc gia và thúc đẩy hợp tác hòa bình trong khoa học. Qua nhiều năm, trung tâm này đã dành sự quan tâm đặc biệt cho những vấn đề cấp bách của hành tinh, như hiện tượng nóng ấm toàn cầu, ô nhiễm môi trường, sức khỏe, lương thực và nước, vũ khí hạt nhân, v.v. và không lâu nữa họ sẽ thành lập một phòng thí nghiệm mới chuyên phục vụ những nghiên cứu của mình.  Trung tâm Giáo dục và Khoa học Liên ngành ở Quy Nhơn cũng có thể trở thành một địa chỉ quan trọng trong đời sống khoa học của khu vực ASEAN, hoặc thậm chí của toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nếu các nhà khoa học Việt Nam nhận thức đúng về cơ hội mà trung tâm này có thể mang lại, và sẵn sàng nỗ lực để tận dụng nó một cách tốt nhất vì lợi ích của đất nước.       PHẠM TRẦN LÊ  dịch  —  1 Tác giả dùng hình ảnh ẩn dụ từ tích chuyện Cô bé Lọ Lem được bà tiên trợ giúp bằng cách biến quả bí ngô thành cỗ xe ngựa lộng lẫy đưa cô đến dự tiệc trong hoàng cung.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giới khoa học tiếp tục góp ý cho Nafosted      Sau khi tổ chức tọa đàm về hoạt động của Quỹ  Phát triển KH&amp;CN Quốc gia (Nafosted) hồi đầu tháng 3, Tia Sáng tiếp  tục nhận được các ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề nên xây dựng hội  đồng khoa học như thế nào và tiến hành đánh giá, nghiệm thu công trình  ra sao cho thực chất. Tia Sáng xin trích đăng một vài ý kiến trong số  đó.     Tránh cứng nhắc trong quản lý, đánh giá, nghiệm thu  Các ý tưởng trong một đề án gửi Nafosted không nảy ra qua đêm mà là kết quả của cả quá trình nghiên cứu trước đó, và việc thực hiện các ý tưởng này cũng không thể giới hạn trong hai năm của đề tài. Theo hiểu biết của tôi, thì trong ngành toán, tỷ lệ những công trình được nghiệm thu vừa rồi thực sự được thực hiện trong thời gian 2 năm qua là không nhiều. Những công trình do Quỹ tài trợ sẽ cần thêm một vài năm nữa mới được công bố hết. Như vậy, mâu thuẫn giữa nghiên cứu và quản lý khoa học có lẽ nằm ở ĐỘ TRỄ của kết quả. Nếu như trồng lúa cần 4 tháng để thu hoạch thì ít có nhà toán học nào khẳng định được, nếu đưa tôi tiền thì tôi sẽ chứng minh được định lý này trong vòng 4 tháng.   Tuy nhiên, theo thực tế Việt Nam thì trong thanh toán tài chính luôn đòi hỏi kết quả. Đòi hỏi này cùng sự cứng nhắc trong việc nghiệm thu dẫn đến hậu quả là các đề tài phải chọn mục tiêu thấp, nhằm có thể đáp ứng tiêu chí về số lượng, nhưng sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng. Các đề tài sẽ có khuynh hướng “băm nhỏ” công trình, làm khoa học theo kiểu “ăn đong”. Sau đợt nghiệm thu vừa rồi, có chủ nhiệm đề tài nói với tôi, đợt nghiệm thu vừa rồi “dại”, khai nhiều công trình quá, khai cả những công trình đã được nhận đăng, đáng lẽ để lại vài công trình cho đợt tới.  Để giải quyết những bất cập này, chúng ta phải chấp nhận hiện tượng gối đầu trong nghiệm thu đề tài. Chẳng hạn đưa ra một quy tắc nhất quán, là những công trình đăng trong thời gian từ năm X tới năm Y sẽ được tính để nghiệm thu cho đề tài thực hiện từ năm S tới năm T. Có thể nói một cách không dấu diếm rằng đây là cách để “lách” quy tắc tài chính cứng nhắc. Vì đơn giản chẳng ở nước tiên tiến nào mà tôi biết có chuyện nghiệm thu đề tài khoa học cơ bản. Họ chỉ không tiếp tục tài trợ những đề tài không hoàn thành tốt trong quá khứ.  Để đảm bảo chất lượng tối thiểu của các đề tài, có thể đặt ra một tiêu chuẩn cứng, chẳng hạn hai bài ISI của mỗi đề tài trong hai năm. Nhưng cần tạo điều kiện, để các đề tài đáp ứng được tiêu chuẩn này có thể theo đuổi được những mục tiêu cao hơn ISI. Ngoài ra khi đánh giá chất lượng nghiên cứu của đề tài cũng cần tính đến các công bố trong nước. Nếu chỉ động viên mọi người gửi bài tới các tạp chí ISI trong khi nước ta chưa có một tạp chí nào nằm trong danh sách này thì vô hình trung tiền của Nafosted sẽ làm cho các tạp chí trong nước đã yếu còn yếu hơn. Tư duy cấp kinh phí đề tài theo số công trình ISI theo tôi cũng hết sức sai lầm. Nafosted không “mua” các công trình đó. Nafosted hỗ trợ nghiên cứu cơ bản. Và ở khắp nơi trên thế giới người ta cũng chỉ hỗ trợ nghiên cứu cơ bản. Nghiên cứu cơ bản không dùng để bán.   Mặt khác, việc đặt ra tiêu chuẩn quá cao sẽ biến Nafosted thành sân chơi của một số ít cá nhân xuất sắc. Chúng ta cần những tiêu chuẩn vừa phải để khuyến khích được sự tham gia nghiên cứu khoa học của cả một cộng đồng các nhà nghiên cứu.           Cứng nhắc nhưng cần thiết   Nafosted đã có yêu cầu cứng rất cơ bản là  mỗi chủ nhiệm đề tài phải có công bố ISI trong 5 năm gần nhất. Với các  thành viên hội đồng, chúng ta đặt ra tiêu chuẩn cao hơn một chút – như  phải có bài SCI, là tác giả chính trong 5 năm gần nhất – thì cũng là  bình thường, giúp tăng sự tin cậy của cả cộng đồng khoa học.   Chính cái tiêu chuẩn xem như cứng nhắc nói  trên đối với thành viên các HĐ khoa học của Nafosted, tuy có thể chưa  tạo cơ hội cho một số cá nhân thực sự có năng lực được tham gia, đã giúp  làm nên một bước tiến quyết định cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam mấy  năm qua.   Phạm Đức Chính  Viện Cơ học        Qua đợt nghiệm thu vừa rồi chúng ta thấy vai trò rất quan trọng của các hội đồng khoa học ngành. Ở điểm này, tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng nên chọn thành viên hội đồng chỉ gồm toàn những người có nhiều công bố “đẳng cấp ISI” trong thời gian gần đây. Việc hoàn toàn dựa dẫm vào ISI để đánh giá một nhà khoa học là hết sức nguy hiểm, nhất là khi đó lại là thành viên một hội đồng quan trọng. Chúng ta nên dừng lại ở việc coi ISI như là một trong nhiều tiêu chí đánh giá chất lượng đề tài.  “Tầm” của một thành viên hội đồng không phải chỉ ở số công bố ISI mà là ở khả năng đánh giá ý nghĩa một công trình trong lĩnh vực chuyên môn gần với mình. Để chọn lọc được các nhà khoa học có “tầm” như vậy vào các hội đồng, thay vì dựa vào các tiêu chí cố định, chúng ta nên có sự bình bầu mang tính dân chủ. Mỗi cộng đồng khoa học, như Toán, Lý, hay Hoá, v.v, đều có khả năng đánh giá ai là người xứng đáng tham gia hội đồng.   Ngoài ra, chúng ta cần ghi nhận ý kiến của GS Trần Xuân Hoài và GS Vũ Cao Đàm về việc bỏ các hội đồng khoa học (với cách làm việc hiện nay). Đề xuất này có lẽ là chưa khả thi, nhưng cũng là một tiếng nói cảnh báo. Nếu không có chế tài kiểm soát, các hội đồng có thể có khuynh hướng “độc tài”. Khi có quá nhiều quyền lực thì sẽ dễ xảy ra lạm dụng quyền lực. Một hội đồng “tiên tiến” khi thành lập cũng có thể trở thành “bảo thủ” sau một vài năm hoạt động. Ban giám đốc Quỹ phải có trách nhiệm giám sát công việc của các hội đồng cũng như cân đối quyền lợi của các nhà khoa học trong các ngành khác nhau.  Phùng Hồ Hải  Viện Toán học  —   “Tâm” khó đoán nhưng “tầm” dễ biết  Cả thế giới đều coi đánh giá các công bố khoa học của Thompson ISI là chuẩn mực và vẫn là cơ sở tin cậy để xếp hạng các trường đại học trên thế giới. Trong ISI có hai danh sách SCI và SCI-E (SCI mở rộng), ngay cái tên gọi cũng đã thể hiện đẳng cấp của nó. Đương nhiên, việc so sánh SCI/SCI-E hay IF của các tạp chí cũng chỉ có thể trong từng lĩnh vực chuyên ngành hẹp mà thôi. Không thể vì một vài tạp chí toán nào đó bị Thompson “xếp nhầm” (?) mà cảnh giới cả cộng đồng khoa học phải hạ tín nhiệm của Thompson.   Tôi cho GS Trần Xuân Hoài đã có cái nhìn rất “nhân văn” khi cho rằng: chúng ta hãy nên trân trọng tất cả những nỗ lực để có công bố ISI, đừng quá phân biệt “ít nhiều, to nhỏ” làm sao số lượng công bố ISI tăng lên xứng với “đồng tiền – bát gạo” Nhà nước đầu tư cho Nafosted là tốt rồi. Đương nhiên, bước đầu một vài trường hợp được Nafosted tài trợ nhưng không có sản phẩm là không tránh khỏi, song không vì thế mà giảm niềm tin của cộng đồng khoa học.  Về “sứ mạng” các thành viên trong các hội đồng, tôi nghĩ cũng được Nafosted quy định khá rõ ràng. Tôi không nghĩ một hội đồng hay các thành viên nào đó lại có thể trở thành “các nhóm độc tài” hay trở nên “bảo thủ”. Việc thẩm định và tư vấn cho Quỹ xét chọn tài trợ đã có các tiêu chí khá minh bạch và rõ ràng, ngoài 2-3 người được phân công thẩm định, hồ sơ được thông qua hội đồng đánh giá chung cuộc và quyết định bằng lá phiếu của từng thành viên hội đồng. Thực tế, một vài thành viên hội đồng, có thể vì thiếu thời gian mà đưa ra kết quả thẩm định hời hợt hoặc thiếu chuẩn xác, thì khi báo cáo trước hội đồng đã bị phản biện, phải thay đổi kết quả thẩm định của mình.   Thời buổi này cái “tâm” thì khó biết, nhưng cái tầm thì quá dễ để phân biệt, trong số công bố nếu có nhiều công bố trên tạp chí có đẳng cấp cao hơn thì tầm lớn hơn là đương nhiên.   Về nghiệm thu đề tài, quy trình hiện nay đã khá chặt chẽ. Tuy nhiên không nên máy móc theo kiểu đăng ký bao nhiêu bài ISI thì phải có đủ bấy nhiêu bài mới được nghiệm thu. Như ở hội đồng khoa học sự sống, một số đề tài chỉ có một công bố vẫn được chấp nhận, ngược lại một số có khá nhiều công bố, nhưng chỉ vì “quên” ghi nhận tài trợ của Nafosted nên vẫn không được chấp nhận.    Nguyễn Ngọc Châu  Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật  —  Không nên tuyệt đối đồng nhất học hàm, học vị với trình độ   Đối với chuyên gia đánh giá, có thể thấy tiêu chí lựa chọn của Quỹ khá linh động, mặc dù đặt ra yêu cầu về học hàm, học vị (học vị tiến sĩ hoặc chức danh khoa học phó giáo sư trở lên), nhưng vẫn chấp nhận ngoại lệ và những trường hợp đặc biệt đó sẽ “do Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ xem xét, quyết định”. Ngoại lệ này không được áp dụng đối với chủ nhiệm đề tài (yêu cầu phải có học vị tiến sĩ hoặc chức danh khoa học phó giáo sư trở lên). Thực tế, một số nhà nghiên cứu có nhiều công trình đã được công nhận trong và ngoài nước, hoàn toàn đủ trình độ tổ chức các đề tài theo tiểu chí của Quỹ nhưng lại không có học hàm học vị, đơn cử như các nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, Cao Tự Thanh hay Nguyễn Đình Đầu v.v… Nên chăng, bằng cách nào đó, Quỹ cũng dành một số ngoại lệ cho chủ nhiệm đề tài, như đối với trường hợp chuyên gia đánh giá.  Quy định mức lương căn cứ trên học hàm học vị như hiện nay cũng là bất cập. Sự thật là, ở một số đề tài nhất định, lực lượng nghiên cứu sinh lại là người làm chủ yếu. Cần có những quy định đảm bảo kinh phí được phân bổ theo thực tế công việc cũng như hiệu quả công việc đạt được.          Nafosted nên có kế hoạch tài trợ cho việc  xuất bản các chuyên luận thuộc đề tài đã/đang đăng kí thực hiện. Bởi lẽ,  với khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, chuyên luận có giá trị hơn  rất nhiều so với một bài tạp chí, kể cả tạp chí quốc tế.   Trần Trọng Dương  Viện Nghiên cứu Hán Nôm        Trong lĩnh vực khoa học xã hội, một công trình xử lí tư liệu gốc có thể đóng góp cứ liệu cho nhiều công trình nghiên cứu khác, bởi vậy xử lý tư liệu gốc rất nên được đưa vào hạng mục đầu tư của Quỹ. Chẳng hạn, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã tự đầu tư dịch và in cuốn phần về thời Thành Thái của bộ sử lớn nhất của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục, là cơ sở cho rất nhiều nghiên cứu lịch sử về sau; hoặc như công trình nghiên cứu về địa bạ của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu v.v…  Ngoài ra, không nhất thiết phải có dòng chữ cảm ơn Quỹ đối với các công trình không phải do Quỹ đầu tư xuất bản. Trên thực tế, một số tạp chí chuyên ngành trong nước từ chối đăng dòng chữ này với lý do Quỹ hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu còn họ mới là người xuất bản, và trả nhuận bút. Không ít tạp chí nước ngoài cũng từ chối đăng dòng chữ này. Bởi vậy, chỉ nên quy định về nội dung công trình công bố phù hợp với đề tài là đủ.  Nguyễn Tô Lan  Viện Nghiên cứu Hán Nôm  —    Cần làm rõ hơn tiêu chí bài báo quốc tế  NAFOSTED hiện nay đặt ra yêu cầu có ít nhất một công trình công bố quốc tế hoặc một cuốn sách chuyên khảo đối với các đề tài nghiên cứu KHXH.  Quy định này rất cần thiết để nâng nền khoa học Việt Nam ngang tầm quốc tế, tuy nhiên, hiện NAFOSTED chưa có hướng dẫn chi tiết tiêu chí công trình công bố quốc tế. Nếu hiểu quốc tế là công bố ngoài Việt Nam thì e là chưa đủ vì nếu như vậy thì một công trình công bố tại Somalia hay Lào… cũng được coi là đáp ứng yêu cầu của NAFOSTED chăng?  Theo tôi, chỉ nên giới hạn lại các công trình công bố tại các quốc gia mà Chính phủ gửi cán bộ của mình đi đào tạo theo các đề án 322, 911, 165 mà thôi. Và trong số các công trình công bố quốc tế tại quốc gia này thì cũng cần phải phân biệt rõ tạp chí nào có IF và tạp chí nào không.  Đối với KHXH, việc tiếp tục coi sách chuyên khảo công bố tại Việt Nam là một sản phẩm thay thế công trình công bố quốc tế là cần thiết. Khác với khoa học tự nhiên có tính chung toàn cầu (ví dụ: định lý toán học áp dụng và biểu đạt bằng các ký tự giống nhau trên khắp toàn cầu), khoa học xã hội có những quan tâm đặc thù theo từng quốc gia; một vấn đề KHXH quan trọng ở quốc gia này có thể hoàn toàn không được quan tâm ở quốc gia khác. Vì vậy, một công trình KHXH có thể rất có ý nghĩa với Việt Nam nhưng lại không nhận được sự quan tâm của các tạp chí nước ngoài.  Tuy nhiên, sách chuyên khảo trong nước chất lượng cũng thượng vàng hạ cám. Việc đánh giá là “vàng” hay là “cám” đối với công trình trong nước khá dễ; còn đối với công trình công bố quốc tế bằng các ngôn ngữ không thông dụng thì không phải lúc nào cũng có chuyên gia cùng lĩnh vực và thông thạo ngôn ngữ đó để đánh giá.    Võ Trí Hảo  Khoa Luật kinh tế – ĐH Kinh tế TP.HCM  —  Đọc thêm:   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=4992    Author                Quản trị        
__label__tiasang Giống biến đổi gene: Nên sử dụng hay loại trừ?      Gần đây có không ít ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp bày tỏ sự lo ngại trước quyết định cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cho ngô biến đổi gene của Bộ NN&amp;PTNT, khiến tôi nhớ lại mùa thu năm 2003, nhân dịp tham quan Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học của Giáo sư Marc Van Montagu thuộc Bộ môn Di truyền của Đại học Gent, Bỉ.      Ở đó, tôi đã gặp ông James Taylor, lúc bấy giờ là Phó Giám đốc Tổ chức GreenPeace (Anh Quốc) trong buổi mạn đàm với Tổ chức Dịch Vụ Quốc tế Tiếp nhận những Ứng dụng công nghệ sinh học Nông Nghiệp (ISAAA) mà tôi là một thành viên Ban tín chấp (Board of Trustees). Ông Taylor trình bày quan điểm của GreenPeace chống đối công nghệ sinh học (CNSH) nói chung và sản phẩm của CNSH là giống có gene biến đổi (GMO), với những lập luận lấy từ những quan sát khó chứng minh bằng phương pháp khoa học. Tôi đưa ra trường hợp rau cải trồng tại Đà Lạt bị sâu đo (Plutella sp.) cắn phá khủng khiếp mà không có thuốc trừ sâu nào trị được khiến bà con nông dân phải trộn nhiều loại thuốc với nhau để xịt hằng ngày làm ô nhiễm đất đai và thuốc ngấm vào nước Hồ Xuân Hương, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của thành phố Đà Lạt. Trường hợp này xin ông ấy cho ý kiến trong ba chọn lựa: (1) khuyến cáo dân chúng không nên ăn rau cải Đà Lạt, (2) Ăn rau và sử dụng nước Hồ Xuân Hương có lưu tồn chất độc thuốc trừ sâu, hoặc (3) sử dụng giống rau GMO (có gene Bt trừ sâu đo hữu hiệu). Chần chừ một lát, ông Taylor nói rằng trong tình huống này thì dùng giống rau GMO có lợi hơn biện pháp thuốc trừ sâu. Câu trả lời của ông Taylor làm tôi liên tưởng đến trường hợp nên đi máy bay hay nên tẩy chay hẳn việc sử dụng máy bay, khi ai cũng biết máy bay không phải an toàn 100% mà thỉnh thoảng cũng có tai nạn. Thực tế là mọi người vẫn tự nhiên dùng máy bay để di chuyển chứ không ai lội qua đại dương.    Giống cây trồng biến đổi gene phát triển nhanh   Thế giới ngày càng sử dụng nhiều hạt giống có gene biến đổi (GM) như bắp Bt, bắp kháng thuốc diệt cỏ Roundup, đậu nành Bt, bông vải Bt, cải dầu, cà chua Bt, cà tím Bt… Trong báo cáo mới công bố tháng 2-2014 (James, Clive. 2013. Global Status of Commercialized Biotech/GM Crops: 2013. ISAAA Brief No. 46. ISAAA: Ithaca, NY.) Tiến sĩ Clive James đã tổng hợp toàn cảnh thế giới đang trồng giống cây trồng công nghệ sinh học (giống biến đổi gene, GM), cho thấy Hoa Kỳ là nước dẫn đầu, kế đó là Brazil, Argentina, Ấn Độ, Canada, và Trung Quốc, qua đó chúng ta nhận thấy các quốc gia tiếp cận đỉnh cao khoa học đã mạnh dạn trồng các loại cây trồng biến đổi gene phù hợp nhu cầu của quốc gia họ. Tại một số vùng trồng bông lớn ở nước đang phát triển đang triệt để sử dụng hạt bông vải Bt để giảm sử dụng thuốc trừ sâu đục bông. Đặc biệt là Philippines đã công nhận và cho trồng đại trà giống bắp Bt vì sâu đục thân bắp gây tác hại lớn. Khảo sát vùng trồng bắp Bt đại trà ở Mindanao, Philippines (100 nông dân trồng giống bắp Bt và 300 nông dân trồng giống thường) cho thấy năng suất giống mới Bt cao hơn, giảm tối thiểu chi phí xịt thuốc trừ sâu đục thân bắp đem đến lợi tức tăng hơn 50% so trồng giống cũ. Tuy nhiên sau bảy năm sử dụng giống, đã có dấu hiệu giảm tính kháng sâu trong giống bông vải Bt. Vấn đề mất tính kháng tương tự trong giống bắp Bt có thể sẽ xảy ra trong tương lai.                   Tại Việt Nam, các cơ quan hữu quan của nhà nước đã thông qua chính phủ những qui định khắt khe về an toàn sinh học và qui trình thử nghiệm giống GM. Bộ NN&PTNT đã cho phép trồng thử nghiệm giống bắp GM tại nhiều tỉnh miền Bắc nhưng kết quả trong hai năm qua chưa cho thấy những ưu việt so với giống bắp lai tạo trong nước vì điều kiện trồng của Việt Nam là khô hạn chứ không nhất thiết là có nhiều cỏ dại hay sâu đục thân bắp. Trong khi đó bắp GM chỉ tập trung vào gene chống sâu đục thân và kháng thuốc diệt cỏ Roundup chứ không có gene kháng hạn. Do đó không lý gì ta lại chọn giống bắp GM. Nhưng ta có thể cần đến giống đậu nành Bt vì đậu nành trồng ở Việt Nam có rất nhiều sâu bệnh, nông dân hầu như phải xịt thuốc trừ sâu bệnh nhiều lần trong tuần, rất tốn kém. Nhưng không chắc công ty Monsanto muốn bán đậu nành Bt cho ta, vì không như bắp GM là bắp lai mỗi lần trồng mới là phải mua giống mới, thì giống đậu nành Bt là giống rặc, nông dân có thể tự để giống, không cần mua tiếp của công ty. Công ty Monsanto đã rút giống đậu nành Bt ra khỏi Indonesia vì không bán được hạt giống lần thứ hai (do nông dân chỉ mua một lần rồi họ tự để giống cho mấy lần sau).    Nhận xét chung   Giống GM là đỉnh cao của khoa học hiện đại, không thể phủ nhận được. Các công ty tạo giống GM, như Monsanto, Pioneer, Syngenta, phải tiêu tốn nhiều tỉ đôla để thuê những nhà di truyền chọn giống tài giỏi và mua thiết bị tối tân, làm việc dưới sự kiểm soát ngặt nghèo về an toàn sinh học, để cho ra đời những giống cây trồng có đặc tính chống chịu sâu bệnh và cỏ dại nguy hiểm mà phương pháp lai tạo thông thường không đạt được. Các nhà khoa học phải tìm từ hàng trăm ngàn dòng Bt (Bacilus thurigiensis) để có một dòng ký sinh được trên loại sâu ta muốn diệt trừ. Nếu nông dân tiếp tục trồng giống cũ sẽ phải tiêu tốn tiền của, tổn hại sức khỏe và tổn hại môi trường khi bơm xịt thuốc trừ sâu bệnh cho cây trồng.         Những công ty sản xuất thuốc bảo vệ thực vật châu Âu – luôn rêu rao những tác hại của giống GM qua những nhận xét nhất thời của họ. Tuy nhiên rất ít người có thể chứng minh một cách khoa học về những tác hại này.         Thực tế cho thấy, việc sử dụng giống GM thường mang lại lợi lớn. Tuy nhiên, muốn trồng giống GM, nông dân phải mua hạt mới mỗi khi trồng, không có quyền tự để giống trồng cho mùa tới, vì công ty giống giữ trọn quyền tác giả. Đây là một bất tiện cho nông dân nghèo, vì giá giống GM cao hơn giống qui ước vì công ty phải lấy lại chi phí quá lớn để tạo giống GM.  Điều đáng lưu ý là ở các nơi trồng nhiều giống GM, sự kháng gene Bt đã xảy ra, và gene chống thuốc diệt cỏ Roundup (glyphosate) cũng đang xảy ra. Tin trên Globalresearch News (Canada) vào tháng 1/2014 cho biết nông dân Mỹ đang quay về dùng giống tự nhiên để trồng bắp và đậu nành vì trồng giống Bt không lời như trước nữa. Lý do giá bắp và đậu nành Bt xuất cho Á châu rẻ hơn giống thông thường, và trồng giống Bt bây giờ lại phải tốn thêm phân thuốc. Các công ty giống phải tiếp tục tìm ra những gene mới từ những dòng Bt mới để thay thế. Và như thế thì giá giống GM đã cao rồi, sẽ cao hơn nữa.  Nhiều dư luận, nhất là từ các tổ chức phi chính phủ được sự tài trợ khổng lồ của những “nhà tài trợ vô danh” – được hiểu là những công ty sản xuất thuốc bảo vệ thực vật châu Âu – luôn rêu rao những tác hại của giống GM qua những nhận xét nhất thời của họ. Tuy nhiên rất ít người có thể chứng minh một cách khoa học về những tác hại này. Thực chất đây là một thủ đoạn rào cản của các công ty lớn không muốn để nông sản Mỹ tràn vào lấn át nông sản của châu Âu. Các nhà khoa học hiểu biết về công nghệ sinh học thường ít để tâm vào cuộc chiến không cân xứng này.  Tóm lại  Về mặt khoa học, chúng ta không thể để cho các nước trên thế giới cho rằng Việt Nam không biết tiếp thu thành tựu cao nhất và hiện đại nhất về công nghệ sinh học trong nông nghiệp vì chúng ta hùa theo các lập luận căn cứ trên những sự kiện nhất thời mà loại bỏ giống GM. Ví như ta không thể vì một phi cơ bị rơi chết hết hành khách mà không đi phi cơ khi có nhu cầu.        Về mặt khoa học, chúng ta không thể để cho các nước trên thế giới cho rằng Việt Nam không biết tiếp thu thành tựu cao nhất và hiện đại nhất về công nghệ sinh học trong nông nghiệp vì chúng ta hùa theo các lập luận căn cứ trên những sự kiện nhất thời mà loại bỏ giống GM.        Về mặt kinh tế, thị trường sử dụng giống GM sẽ tự điều chỉnh. Nước Mỹ và nông dân của họ đầu tiên sử dụng giống GM một cách tự do, và sau một thời gian hưởng lợi với giống GM, cũng từ những nông dân hàng đầu đó đã tự nhận thấy những bất lợi khi dùng giống này lâu dài, và họ tự trở về giống thông thường lúc này lại phát triển tốt trong môi trường sâu bệnh và cỏ dại đã tự biến đổi để chống với các gene biến đổi trước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Gỡ bỏ quả bom Thụy Điển      Vì sao các quốc gia phát triển vũ khí hạt nhân, và làm sao để khuyến khích họ từ bỏ việc đó? Đây là một câu hỏi trọng tâm trong quan hệ quốc tế kể từ khi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima và Nagasaki năm 1945. Ngày nay, câu hỏi này nhận được sự quan tâm ngày càng lớn trong bối cảnh thế giới dường như đang bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân mới, sau một thời kỳ cắt giảm thành công. Nhiều chuyên gia quốc tế đang lo ngại sẽ có thêm nhiều quốc gia phát triển vũ khí hạt nhân trong kỷ nguyên mới này. Liệu chúng ta có thể tránh, hoặc ít nhất là hạn chế, sự lan rộng của vũ khí hạt nhân? Một cách để trả lời câu hỏi đó là nhìn vào các quốc gia đã từ bỏ tham vọng hạt nhân. Thụy Điển là một thí dụ rất thú vị. Từ một nước khát khao vũ khí hạt nhân trong thập kỷ 1950, nước này đã chuyển hướng và trở thành một trong những nhà vận động tích cực nhất cho việc giải trừ vũ trang trên thế giới1. Với việc ký Hiệp ước “Không phổ biến vũ khí hạt nhân” vào ngày 19 tháng 8 năm 1968, Thụy Điển chính thức đồng ý không sở hữu vũ khí hạt nhân, mặc dù trong suốt hơn 20 năm trước đó, họ đã liên tục phát triển một chương trình [hạt nhân] cho phép tự sản xuất vũ khí hạt nhân.         Nhà máy điện hạt nhân Ågesta bên ngoài Stockholm. (Nguồn ảnh: Holger Ellgaard, CC BY-SA 3.0.)    Bước đầu của chương trình hạt nhân ở Thụy Điển  Quân đội là cơ quan đầu tiên ở Thụy Điển xem xét khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân. Chỉ hai tuần sau khi hai quả bom nguyên tử được ném xuống Nhật Bản, các lãnh đạo quân đội yêu cầu Cơ quan Nghiên cứu Quốc phòng Thụy Điển (Försvarets forskningsanstalt, FOA), khi đó vừa mới được thành lập, viết một báo cáo về khả năng sử dụng công nghệ mới đó. Năm 1948, báo cáo đầu tiên của FOA về vấn đề hạt nhân kết luận rằng triển vọng cho một chương trình vũ khí hạt nhân là tươi sáng: mặc dù việc xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân đòi hỏi những đầu tư tài chính khổng lồ, trình độ khoa học của Thụy Điển khi đó khá tiến bộ, và Thụy Điển có trữ lượng uranium lớn, dù chất lượng thấp. Việc phát triển một chương trình năng lượng hạt nhân dân sự cũng nhận được sự đồng thuận mạnh ở Thụy Điển. Năm 1947, công ty nhà nước AB Atomenergi (AE) đã được thành lập để phát triển chương trình hạt nhân dân sự.  Năm 1949, FOA và AE ký một thỏa thuận tiếp nghiên cứu và phát triển lâu dài. FOA chịu trách nhiệm chung về nghiên cứu vũ khí hạt nhân, trong khi AE sẽ xây dựng các lò phản ứng và nhà máy sản xuất plutonium và các nhiên liệu hạt nhân. Nói cách khác, chương trình hạt nhân dân sự được thiết kế để có thể dễ dàng phục vụ cho việc chế tạo vũ khí hạt nhân, nếu Quốc hội Thụy Điển (Riksdag) quyết định theo đuổi chúng.  Trong hai thập kỷ 1950 và 1960, Thụy Điển đầu tư rất nhiều cho chương trình kép này. AE xây hai lò phản ứng nước nặng để sản xuất plutonium, một nhà máy uranium và một nhà máy nhiên liệu hạt nhân, còn FOA thiết kế một chương trình phát triển các hệ thống vũ khí. Từ năm 1955, FOA đã kết luận rằng nhờ có nguồn plutonium, Thụy Điển đủ điều kiện kỹ thuật để tự sản xuất vũ khí hạt nhân. Các nhà khoa học của FOA đã thiết kế một chương trình vũ khí hạt nhân với mục tiêu sản xuất 100 vũ khí hạt nhân chiến lược.  Một mục tiêu của các chính trị gia và các nhà khoa học Thụy Điển là tự làm chủ chu trình nhiên liệu. Nhập khẩu uranium quá khó khăn dưới sự kiểm soát ngặt nghèo của Mỹ đối với xuất khẩu nguyên liệu và thiết bị hạt nhân, đặc biệt khi mục đích sử dụng là sản xuất vũ khí. Vì lý do đó, Thụy Điển lựa chọn một công nghệ cho phép các lò phản ứng, dùng nước nặng làm chậm neutron và uranium tự nhiên, không phải làm giàu. AE dự định nhập nước nặng từ Na Uy. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo Na Uy đáp ứng được nhu cầu của Thụy Điển. Nên Thụy Điển mong muốn xây dựng một nhà máy nước nặng qui mô lớn ở thị trấn miền Bắc Ljungaverk.      Truyền thông cũng góp phần quan trọng đưa vấn đề phản đối vũ khí hạt nhân đến với công chúng. Từ năm 1954 đến năm 1959, đã có gần 3000 bài báo [về vấn đề hạt nhân] trên các tờ báo và tạp chí ở Thụy Điển.       Nhưng nhà máy đó đã không được xây; đến giữa thập kỷ 1960, công nghệ nước nặng đã được thay thể bởi công nghệ nước nhẹ. Lò phản ứng nước nặng Ågesta ở phía Nam Stockholm sử dụng nước nặng nhập từ Na Uy và Mỹ, nhưng chỉ cho mục đích dân sự. Một lò phản ứng nước nặng thứ hai, Marviken, được xây ở ngoài thành phố Norrköping, nhưng chưa bao giờ đi vào hoạt động.     Cuộc tranh luận về sở hữu vũ khí hạt nhân     Cho đến giữa thập kỷ 1950, các kế hoạch vũ khí hạt nhân của Thụy Điển chỉ được thảo luận giữa một nhóm nhỏ các chính trị gia, quan chức quân đội và nhà khoa học. Một cuộc tranh luận nghiêm túc công khai giữa các đảng phái chính trị nổ ra vào năm 1954, sau khi một báo cáo của tổng tư lệnh quân đội Thụy Điển, Nils Swedlund, được công bố. Trong bản báo cáo “ÖB-54” này, Swedlund kêu gọi ủng hộ việc sở hữu vũ khí hạt nhân – trước hết có thể được dùng khi bị xâm lược, nhưng cũng có thể phục vụ cho mục đích ngăn ngừa. Đảng Bảo thủ ủng hộ vũ khí hạt nhân, Đảng Tự do thiên về ủng hộ nhưng không kiên quyết, Đảng Trung dung chưa khẳng định quan điểm. Các thành viên đứng đầu Đảng Dân chủ Xã hội của Thủ tướng thì chia rẽ, một số ủng hộ, số khác phản đối. Trong Đảng Dân chủ Xã hội còn có một phái hòa bình phản đối mọi sự mở rộng quân đội. Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Xã hội (Sveriges socialdemokratiska kvinnoförbund, SSKF), do Inga Thorsson đứng đầu, là thành viên của phái hòa bình đó, và sau này trở thành tiếng nói phản đối vũ khí hạt nhân mạnh mẽ nhất.  Thủ tướng Thụy Điển cầm quyền 1946-1969 Erlander có lẽ là người duy nhất có khả năng giải quyết thách thức này. Mặc dù tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế và khoa học chính trị, trước đó ông từng học vật lý ở đại học và quan tâm đến nghiên cứu hạt nhân trước cả khi khi hai quả bom nguyên tử được ném xuống. Trong Chiến tranh Thế giới II, ông thảo luận các kết quả nghiên cứu hạt nhân mới nhất với người bạn học cũ Torsten Gustafson, giáo sư vật lý Đại học Lund. Sau chiến tranh, Gustafson trở thành cố vấn của Erlander về các vấn đề hạt nhân. Trong hồi ký, Erlander kể về việc mình đọc các bài báo khoa học và nói chuyện về ứng dụng, dân sự cũng như quân sự, của nghiên cứu hạt nhân với Gustafson và các nhà khoa học hàng đầu, như hai nhà vật lý đoạt giải Nobel Niels Bohr và Patrick Blackett2.       Thủ tướng Thụy Điển Tage Erlander, năm 1952. (Nguồn ảnh: Wikimedia Commons, PD-US-1996.)    Tại thời điểm đó, Erlander muốn tránh các tranh luận công khai về vấn đề hạt nhân. Quan điểm của ông là nên đạt được sự đồng thuận trong đảng trước khi thương lượng với Đảng Tự do và Đảng Bảo thủ. Tuy nhiên, việc Đảng Bảo thủ thúc đẩy sở hữu vũ khí hạt nhân quyết liệt hơn đã đặt Erlander vào thế khó. Và vì chính đảng của mình cũng đang chia rẽ về vấn đề này, ông không chắc nên trả lời thế nào.  Mặc dù FOA đã bàn về khả năng sở hữu vũ khí hạt nhân được một thời gian, nhưng phải đến tháng 11 năm 1955, chính phủ mới có cuộc họp đầu tiên về vấn đề này, và đến tháng 2 năm 1956, lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội mới chính thức ngồi xuống thảo luận về nó. Trước cuộc họp của đảng, Erlander đã có một số cuộc nói chuyện với những thành viên quan trọng trong đảng đại diện cho các quan điểm khác nhau, để có một bức tranh rõ ràng hơn về tình hình. Dựa trên đó, Erlander chuẩn bị một đề xuất mà ông hy vọng sẽ gỡ được những bế tắc và xung đột.  Trong đề nghị của mình, Erlander cho rằng Thụy Điển có thể hoãn đưa ra một quyết định về vũ khí hạt nhân. Ông đưa ra hai lý do. Thứ nhất, chưa cần phải quyết định tại thời điểm đó, vì chính phủ chưa có hiểu biết đầy đủ về những điều kiện tiên quyết để sản xuất vũ khí hạt nhân. Thứ hai, đàm phán quốc tế về giải trừ vũ khí hạt nhân giữa Liên Xô và Mỹ đang diễn ra, và Thụy Điển không nên làm phức tạp thêm bằng cách quyết định sản xuất vũ khí hạt nhân; điều đó rất có thể làm tăng thêm chạy đua vũ trang trên toàn cầu.  Cuộc họp kéo theo các tranh luận nảy lửa, và sự bất đồng giữa phe phản đối và phe ủng hộ càng làm tăng thêm chia rẽ trong Đảng Dân chủ Xã hội. Đáng chú ý nhất là việc bà Thorsson tuyên bố SSKF sẽ công khai phản đối lựa chọn vũ khí hạt nhân. Bà và một lãnh đạo nữ khác, Bộ trưởng Ulla Lindström, bỏ họp giữa chừng để phản đối. Cuối cùng, Erlander thuyết phục được ban lãnh đạo đảng hoãn quyết định cuối cùng đến năm 1958.     Thời điểm quyết định     Đến năm 1958, các nhà khoa học tự tin rằng Thụy Điển có thể làm bom hạt nhân, nếu muốn. Trong khi đó, vấn đề chính trị ngày càng trở nên gai góc cho Erlander và nội các của mình. Sự chỉ trích ngày càng mạnh trong đảng và trên truyền thông, cùng với một chiến dịch quần chúng phản đối vũ khí hạt nhân, buộc Erlander phải tìm cách thỏa hiệp với các đảng khác trong Riksdag.  Chính phủ Erlander đưa ra hai đề xuất. Đề xuất thứ nhất, được gọi là chương trình thiết bị, sẽ được thực hiện nếu Riksdag lựa chọn vũ khí hạt nhân. Đề xuất thứ hai, chương trình bảo vệ, sẽ được thực hiện nếu Riksdag bỏ phiếu không tán thành. Nó sẽ tập trung vào chuẩn bị cho quân đội sẵn sàng đối phó với một cuộc tấn công hạt nhân, thay vì thiết kế một thiết bị hạt nhân. Nghiên cứu kỹ lưỡng về phòng vệ dân sự và về tiềm lực vũ khí hạt nhân của các quốc gia khác sẽ là cần thiết để Thụy Điển có thể tự bảo vệ trước một kẻ thù có vũ khí hạt nhân. Chính phủ Erlander khuyến nghị thông qua chương trình bảo vệ, với lập luận rằng chưa đến lúc phải đưa ra quyết định cuối cùng về việc phát triển vũ khí hạt nhân tấn công.      Việc sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ làm Thụy Điển dễ bị tấn công hơn, và làm giảm cả an ninh quốc gia lẫn an ninh quốc tế. Thay vì thụ động thay đổi chính sách quốc phòng của Thụy Điển để thích nghi với tình hình quân sự – công nghệ của thế giới, Erlander và Undén quyết định rằng Thụy Điển cần tìm cách xây dựng một trật tự thế giới hòa bình và ủng hộ giải trừ vũ khí trên toàn thế giới.      Tháng 7 năm 1958, Riksdag thông qua một đạo luật tăng thêm ngân sách nghiên cứu quân sự cho FOA. Đảng Tự do và Đảng Trung dung đồng ý với chính phủ Erlander rằng một quyết định về vũ khí hạt nhân ở thời điểm đó là vội vã. Đảng Bảo thủ tuyên bố ủng hộ sở hữu vũ khí hạt nhân chiến lược, dù chưa đòi hỏi một quyết định tức thời.  Trong khi đó, sự phản đối vũ khí hạt nhân ngày càng tăng trong nội bộ Đảng Dân chủ Xã hội gây sức ép lên Erlander, như nhật ký của ông tiết lộ. Ông do dự không biết làm sao giải quyết mối xung đột có nguy cơ chia cắt đảng của mình. Từ năm 1957, chính Erlander bắt đầu nghi ngờ về lựa chọn hạt nhân. Ông viết trong hồi ký rằng mình “cần khá nhiều năm đọc, thảo luận và suy nghĩ trước khi đạt đến được một vị trí khiến tôi hài lòng”3. Một lý do khiến Erlander thận trọng là năng lực và hiểu biết khoa học của ông. Cái gốc khoa học tự nhiên và niềm yêu thích vật lý giúp ông hiểu rõ hơn hầu hết các nhà chính trị cùng thời về những khả năng cũng như những trở ngại của năng lượng và vũ khí hạt nhân.  Erlander không công khai bày tỏ phản đối việc sở hữu vũ khí hạt nhân, kể cả với các lãnh đạo khác của Đảng Dân chủ Xã hội. Thay vào đó, ông ưu tiên giành lấy sự đồng thuận chính trị rộng rãi về vũ khí hạt nhân giữa các đảng Dân chủ Xã hội, Trung dung, và Tự do. Để duy trì vị trí trung lập, Erlander mở ra thảo luận công khai về vấn đề hạt nhân giữa giới chính trị, truyền thông, các tổ chức hòa bình, và các nhóm đối lập.  Quyết định rút khỏi cuộc tranh luận của Erlander cho phép những người phản đối mạnh mẽ nhất trong đảng của ông khởi động các chiến dịch phản đối vũ khí hạt nhân. Thorsson tổ chức các buổi mít-tinh quần chúng, trong khi Bộ trưởng Ngoại giao Östen Undén thúc đẩy những bước đầu giải trừ vũ khí ở Liên Hợp Quốc. Sự phản đối vũ khí hạt nhân cũng có ở bên ngoài các đảng chính trị. Công đoàn, nhà thờ, phong trào hạn chế rượu, và các nhóm hòa bình bắt đầu công khai phản đối lựa chọn vũ khí hạt nhân.      Cung điện các quốc gia tại Geneva, trụ sở châu Âu của Liên Hợp Quốc, một nơi diễn ra nhiều cuộc đàm phán giải pháp cho vấn đề vũ khí hạt nhân, khoảng đầu những năm 1960. (Nguồn ảnh: Becks, CC BY 2.0.)    Năm 1958, 21 người nổi tiếng gồm nhà văn, học giả và cha xứ ký một kiến nghị sau đó trở thành nền móng của Mạng lưới Hành động Phản đối Vũ khí Hạt nhân (Aktionsgruppen mot svensk atombomb, AMSA). Thành viên của mạng lưới khá đa dạng về chính trị, tuy nhiên để tránh bị truyền thông và các đối thủ tấn công, họ không cho phép các Đảng viên Cộng sản tham gia với tư cách diễn giả hoặc có các vị trí quan trọng trong tổ chức. AMSA đưa các học giả nổi tiếng và các nhân vật văn hóa đến các cuộc tọa đàm và tranh luận để trình bày quan điểm phản đối vũ khí hạt nhân. Truyền thông cũng góp phần quan trọng đưa vấn đề phản đối vũ khí hạt nhân đến với công chúng. Từ năm 1954 đến năm 1959, đã có gần 3000 bài báo [về vấn đề hạt nhân] trên các tờ báo và tạp chí ở Thụy Điển4.  Từ tháng 1 năm 1957, Thụy Điển là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và có vai trò lớn trong ủy ban đảm nhiệm các vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân. Cùng tháng, Thụy Điển đưa ra một đề xuất tạm hoãn thử hạt nhân. Trong những năm tiếp theo, Undén làm việc không mệt mỏi để thúc đẩy việc giải trừ vũ khí trên toàn thế giới và có ảnh hưởng lớn đến dư luận Thụy Điển.  Những thay đổi đồng thời diễn ra trong Đảng Dân chủ Xã hội. Tháng 12 năm 1958, Erlander tuyên bố thành lập một ủy ban của đảng để nghiên cứu và đánh giá lựa chọn hạt nhân. Với tư cách chủ tịch ủy ban, ông chỉ định các thành viên thuộc cả hai phe với mong muốn đạt được một vị trí đồng thuận. Trong nghiên cứu hoàn thành cuối năm 1959, ủy ban thảo luận nhiều trở ngại kỹ thuật đối với việc sản xuất vũ khí hạt nhân, cùng với tình hình chính trị quốc tế. Họ kết luận rằng Riksdag có thể trì hoãn đưa ra quyết định ít nhất là đến giữa thập kỷ 1960, khi các diễn biến trên thế giới sẽ trả lời cho câu hỏi liệu Thụy Điển có thể an toàn mà không cần vũ khí hạt nhân. Trong khi chờ đợi, nghiên cứu quốc phòng vẫn cần được tiếp tục.  Dù gặp nhiều khó khăn trong việc phân định nghiên cứu tấn công với nghiên cứu phòng vệ, ủy ban vẫn xác định được một giới hạn: không thực hiện những nghiên cứu có mục đích trực tiếp phục vụ cho sản xuất vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, trong thực tế, FOA vẫn nghiên cứu thiết kế vũ khí và tính toán chi phí sản xuất vũ khí hạt nhân. Khái niệm nghiên cứu phòng vệ đóng vai trò vỏ bọc cho những chuẩn bị liên tục về mặt kỹ thuật để Thụy Điển có thể nhanh chóng chuyển sang phương án vũ khí hạt nhân nếu thay đổi chính sách. Riksdag tiếp tục ủng hộ chính sách tự do hành động đó thêm vài năm nữa5.  Trong khi đó, chiến dịch phản đối tiếp tục thu được thành công. Dư luận bắt đầu ngày càng ngả về phía nói không với vũ khí hạt nhân. Các kết quả thăm dò dư luận thể hiện rõ điều này: năm 1957, có 40% ủng hộ lựa chọn hạt nhân, 36% phản đối và 24% do dự; năm 1965, chỉ có 17% ủng hộ, còn lại 69% phản đối và 14% do dự.     Sự ủng hộ của quân đội yếu dần     Trong khi dư luận chuyển sang phản đối vũ khí hạt nhân, và Thụy Điển ngày càng tích cực tham gia các đàm phán quốc tế về giải trừ vũ khí, bộ tư lệnh quân đội chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng mới. Sự đồng thuận mạnh mẽ trước đó trong quân đội về việc trang bị vũ khí hạt nhân cho các lực lượng phòng vệ Thụy Điển bắt đầu tan rã.      Alva Myrdal, người chủ trì xây dựng và lãnh đạo một chương trình giải trừ vũ khí, vào năm 1966. (Nguồn ảnh: Cơ quan Lưu trữ quốc gia Hà Lan, CC BY-SA 3.0 NL.)    Có một số lý do giải thích sự chia rẽ này. Thứ nhất là học thuyết đáp trả ồ ạt, trong đó các quốc gia dùng vũ khí hạt nhân để phá hủy nặng nề lãnh thổ của kẻ thù trong giai đoạn đầu của chiến tranh, không còn được ưa chuộng dưới chính quyền [Tổng thống Mỹ] Kenedy. Vai trò suy giảm rõ rệt của vũ khí hạt nhân trong tư duy chiến lược của quân đội Mỹ khiến các nhà lập kế hoạch của quân đội Thụy Điển phải tính toán lại. Trong chiến lược mới, vũ khí hạt nhân nhiều khả năng sẽ được sử dụng trên quy mô nhỏ, phụ thuộc vào những đánh giá cụ thể về yêu cầu của tình hình6. Tuy rõ ràng nhượng bộ, các lãnh đạo quân đội vẫn tin rằng cần phải để ngỏ các lựa chọn và tiếp tục thảo luận về khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân chiến lược.  Một lý do khác là mâu thuẫn lớn dần giữa các quân chủng. Cả lục quân và hải quân đều lo ngại trong tương lai sẽ thất thế trong cuộc tranh giành ngân sách, vì phần tài nguyên lớn liên quan đến hạt nhân sẽ được dành cho không quân. Nhưng ngay cả trong không quân cũng có những nghi ngại ngày càng tăng về ưu thế của việc sở hữu vũ khí hạt nhân. Không quân có những dự án tốn kém khác cần ngân sách, chẳng hạn dự án phát triển một máy bay chiến đấu mới. Nếu các dự án hạt nhân được triển khai, có thể dự án máy bay đó sẽ bị ngưng hoặc cắt giảm. Đến năm 1965, quân đội đã lùi xa khỏi vị trí ủng hộ mạnh mẽ ban đầu. Một báo cáo năm 1965 của tổng tư lệnh quân đội nói rằng quyết định hạt nhân là một vấn đề chính trị, và nó đơn thuần yêu cầu ngân sách để tiếp tục các nghiên cứu liên quan đến hạt nhân.     Phản ứng của Mỹ     Để hiểu rõ việc quân đội ngừng thúc đẩy sở hữu vũ khí hạt nhân, cần liên hệ với quan điểm của Mỹ về vũ khí hạt nhân. Hợp tác về hạt nhân giữa hai nước bắt đầu vào cuối những năm 1940, nhưng không bình đẳng. Thụy Điển không chỉ cần Mỹ trợ giúp về hạt nhân, mà cần cả trợ giúp phát triển sức mạnh quân sự. Cái giá của sự hợp tác với Mỹ ngày càng trở nên rõ ràng: phụ thuộc hơn, và hạn chế về khả năng kết hợp các kế hoạch sản xuất vũ khí hạt nhân với chương trình nước nặng dân sự7. Mỹ lo sợ rằng nếu một quốc gia hòa bình và dân chủ như Thụy Điển có vũ khí hạt nhân, nguy cơ lan rộng vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới sẽ tăng đáng kể.  Thụy Điển và Mỹ hợp tác sâu hơn về chính sách quốc phòng trong nửa sau thập kỷ 1950. Rồi Thụy Điển được phép mua và sản xuất các hệ thống tên lửa của Mỹ. Sự phụ thuộc vào công nghệ tên lửa của Mỹ càng khiến Thụy Điển bị hạn chế và tạo ưu thế cho các nhà lãnh đạo Mỹ để thuyết phục Thụy Điển không theo đuổi vũ khí hạt nhân. Đến năm 1960, Chính phủ Mỹ đã chọn chính sách kiên quyết phản đối việc Thụy Điển sở hữu vũ khí hạt nhân.  Chương trình năng lượng hạt nhân dân sự cũng khiến Thụy Điển thêm phụ thuộc vào hợp tác công nghệ với Mỹ. Để hạn chế vũ khí, Mỹ hạ giá uranium đã làm giàu, qua đó làm giảm đáng kể giá nhiên liệu cho các lò phản ứng nước nhẹ. Chính sách đó, có hiệu lực vào cuối thập kỷ 1950, có hai lý do. Thứ nhất, sản xuất nguyên liệu cho vũ khí từ chất thải của lò phản ứng nước nhẹ thì khó hơn là từ chất thải của lò phản ứng nước nặng. Thứ hai, bất kỳ nước nào mua uranium đã làm giàu của Mỹ đều phải đồng ý không sử dụng nó để sản xuất vũ khí8. Mặc cho những hạn chế đó, Thụy Điển quyết định rằng một chương trình nước nặng cho mục đích dân sự là quá tốn kém, trong khi một chương trình nước nhẹ rẻ hơn đang sẵn có. Chính sách mới của Mỹ đã mở cánh cửa để Thụy Điển chuyển sang các lò phản ứng nước nhẹ.  Từ quan điểm của Mỹ, họ sẽ có lợi nếu giúp Thụy Điển trong trường hợp nước này bị Liên Xô tấn công. Một tài liệu năm 1960 của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ viết “trong trường hợp Khối Xô-viết tấn công một mình Thụy Điển”, Mỹ sẽ “sẵn sàng tới trợ giúp Thụy Điển, như một phần của sự đáp trả của NATO hoặc Liên Hợp Quốc đối với hành động tấn công”9.  Không có bằng chứng Mỹ cho Chính phủ Thụy Điển biết về điều đó. Tuy nhiên, bộ tư lệnh có vẻ đã nhận thấy thay đổi trong thái độ của Mỹ và hiểu rằng Thụy Điển đã nằm dưới sự bảo vệ hạt nhân của Mỹ. Niềm tin đó giúp quân đội từ bỏ tham vọng hạt nhân dễ dàng hơn, và cũng khiến phe ủng hộ một Thụy Điển có vũ khí hạt nhân, như Đảng Bảo thủ, từ bỏ các kế hoạch đó dễ dàng hơn.    Đảo ngược thành công  Đầu thập kỷ 1960, các nỗ lực quốc tế dưới sự lãnh đạo của Undén đẩy mạnh phong trào giải trừ vũ khí. Năm 1961, Erlander nói với Undén suy nghĩ của ông rằng việc sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ làm Thụy Điển dễ bị tấn công hơn, và làm giảm cả an ninh quốc gia lẫn an ninh quốc tế. Thay vì thụ động thay đổi chính sách quốc phòng của Thụy Điển để thích nghi với tình hình quân sự – công nghệ của thế giới, Erlander và  Undén quyết định Thụy Điển cần tìm cách xây dựng một trật tự thế giới hòa bình và ủng hộ giải trừ quân bị trên toàn thế giới.      Một chiếc máy bay Saab 32 Lansen. Thụy Điển đã cân nhắc sử dụng máy bay chiến đáu này để chở vũ khí hạt nhân. (Nguồn ảnh: Mattias Björklund, CC BY-SA 3.0.)    Undén chỉ định Alva Myrdal xây dựng và lãnh đạo một chương trình giải trừ quân bị. Myrdal là một thành viên quan trọng của Đảng Dân chủ Xã hội, đồng thời là nhà xã hội học và nhà ngoại giao. Trong cuốn sách The Game of Disarmament của mình, bà viết rằng mình ngay lập tức vạch ra một kế hoạch xây dựng các chiến lược để Thụy Điển có thể thuyết phục các cường quốc hạt nhân giải trừ vũ khí. Dưới sự lãnh đạo của bà, năm 1962, tại Geneva, Thụy Điển trở thành một thành viên của Ủy ban 18 quốc gia về Giải trừ quân bị (mở rộng từ Ủy ban 10 quốc gia trước đó – ND). Ủy ban được Liên Hợp Quốc thành lập để tạo một đối thoại giữa Mỹ và Liên Xô, và tổ chức các cuộc đàm phán giải trừ quân bị. Thụy Điển tích cực đóng góp vào công việc của ủy ban và thúc đẩy thành công chính sách giải trừ quân bị10. Năm 1982, Myrdal được nhận giải Nobel Hòa bình.  Khi Thụy Điển ký Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân và chính thức từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân vào năm 1968, FOA và AE, về cơ bản, đã tập hợp được mọi tài nguyên cần thiết để sản xuất vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, một vài thành phần quan trọng trong dây chuyền sản xuất vẫn còn thiếu: một cơ sở tái chế uranium và một nguồn cung cấp nước nặng. Một bài toán khác chưa có lời giải là hệ thống mang vũ khí hạt nhân. Mặc dù đã có những kế hoạch để hai máy bay chiến đấu sẵn có của Thụy Điển, chiếc Saab 32 Lansen và chiếc Saab 35 Draken, trở thành máy bay ném bom, vẫn cần phát triển thêm về mặt kỹ thuật để thực hiện chúng.  Những quyết định của Erlander không phải là những lý do duy nhất khiến Thụy Điển bỏ kế hoạch vũ khí hạt nhân đã tiến khá xa. Sự kết hợp của nhiều nguyên nhân cuối cùng đã dẫn đến việc từ bỏ lựa chọn hạt nhân: sự phản đối ngày càng tăng của dư luận, mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển năng lượng hạt nhân dân sự và mục tiêu duy trì tự do hành động đối với vũ khí hạt nhân, và chính sách của Mỹ không ủng hộ Thụy Điển sản xuất bom hạt nhân. Dù vậy, khó có thể hình dung Thụy Điển sẽ thay đổi kế hoạch trở thành quốc gia hạt nhân nếu không có tài điều hành của Erlander.  Chúng ta học được gì từ quyết định không sản xuất vũ khí hạt nhân của Thụy Điển? Một bài học là phát triển vũ khí hạt nhân là một quá trình lâu dài và phức tạp về kỹ thuật, ngay cả với một nước đã sẵn có cơ sở hạ tầng hạt nhân. Ở một nước càng cởi mở và dân chủ thì quá trình đó càng tạo điều kiện cho các phong trào phản đối vũ khí hạt nhân của các đối thủ chính trị.  Vì sự phức tạp của quá trình sản xuất, một nước có tham vọng vũ khí hạt nhân có thể phải hợp tác với các nước khác. Sự hợp tác đó dẫn đến phụ thuộc vào các nước có khoa học kỹ thuật phát triển hơn, hoặc phụ thuộc vào các tổ chức đa quốc gia; các nước hay tổ chức đó có thể tác động để nước có tham vọng vũ khí hạt nhân cân nhắc lại về kế hoạch của mình. Thật đáng tiếc là quyết định rút lui mới đây của Mỹ khỏi một thỏa thuận hạt nhân với Iran cho thấy Tổng thống Trump và các cố vấn chưa học được bài học thứ hai. Như câu chuyện Thụy Điển cho thấy, ngoại giao và các thỏa thuận không phổ biến vũ khí là cách đúng đắn, nếu mục đích là để có ít hơn, chứ không phải nhiều hơn, quốc gia vũ khí hạt nhân trên thế giới. □  Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Physics Today 72, 9, 40 (2019); doi: 10.1063/PT.3.4293     Tài liệu tham khảo  1. T. Jonter, The Key to Nuclear Restraint: The Swedish Plans to Acquire Nuclear Weapons During the Cold War, Palgrave Macmillan (2016).  2. T. Erlander, Tage Erlander, 1955–1960, Tiden (1976), p. 245.  3. Ref. 2, p. 75.  4. P. Ahlmark, Den svenska atomvapendebatten (The Swedish Nuclear Weapons Debate), Aldus/Bonnier (1965), p. 9.  5. T. Jonter, Sweden and the Bomb: The Swedish Plans to Acquire Nuclear Weapons, 1945–1972, SKI Report 01:33, prepared for the Swedish  Nuclear Power Inspectorate (September 2001).  6. Kärnladdningsgruppen, Kärnladdningsgruppens betänkande (Re- port of the Nuclear Device Group; February 1962), HH 006, FOA Archives, National Archives of Sweden, Stockholm.  7. T. Jonter, in Security Assurances and Nuclear Nonproliferation, J. W. Knopf, ed., Stanford U. Press (2012), chap. 10.  8. Ref. 7, p. 237.  9. US Department of State, Office of the Historian, “Statement of U.S. Policy Toward Scandinavia (Denmark, Norway and Swe-den),” doc. 300 (6 April 1960), in Foreign Relations of the United States, 1958–1960: Western Europe, vol. 7, part 2 (1993).  10. A. Myrdal, The Game of Disarmament: How the United States and Russia Run the Arms Race, Pantheon Books (1976).    Author                Thomas Jonter *        
__label__tiasang Góp ý cho Viện Toán Cao cấp      Có bốn lý do căn bản để Việt Nam cần hỗ trợ nghiên cứu toán học cả lý thuyết lẫn ứng dụng.      1. Toán học đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Toàn bộ lĩnh vực toán học đều liên quan chặt chẽ với nhau, vì vậy thật khó dự đoán nhánh nào sẽ tạo ra lợi ích kinh tế quan trọng nhất trong tương lai. Ví dụ, tôi được đào tạo theo một ngành rất trừu tượng của toán ở Đại học Princeton, và giảng viên phụ trách luận án của tôi chưa từng làm những vấn đề ứng dụng. Tuy vậy, 10 năm sau khi nhận bằng tiến sĩ, tôi bắt đầu áp dụng kiến thức vào lĩnh vực an ninh máy tính và dữ liệu. Suốt một phần tư thế kỷ qua, toàn bộ công việc của tôi là trong những lĩnh vực ứng dụng.   Tương tự, nhà toán học nổi tiếng Hoàng Tụy nhận bằng tiến sĩ toán thuần túy ở Moscow, hợp tác với những nhà toán học Liên Xô chưa bao giờ làm ứng dụng. Nhưng sau này, ông có đóng góp tiên phong về lĩnh vực tối ưu hóa, tìm kiếm những phương thức hiệu quả nhất để tổ chức các nhiệm vụ hậu cần trong sản xuất, vận tải và liên lạc.  2. Toán học đóng vai trò trung tâm trong văn hóa nhân loại. Toán – như âm nhạc, nghệ thuật, văn học – là ngôn ngữ của tư duy và văn hóa con người. Khi một thanh niên từ Việt Nam giành huy chương Olympic toán học – ví dụ như khi Ngô Bảo Châu được huy chương vàng hai năm liền ở tuổi 16 và 17 – người Việt rất tự hào. Đúng thôi, vì nó có nghĩa là đất nước có danh tiếng cao về toán, và nó chứng tỏ thế hệ trẻ sẵn sàng đóng góp chủ chốt cho kiến thức toán học của thế giới.   Ngược lại, một đất nước không có đóng góp độc đáo cho toán cũng giống như một nước không có nền âm nhạc, nghệ thuật hay văn học của riêng mình.  3. Việt Nam vốn đã có truyền thống mạnh để tiếp tục phát triển. Ở Việt Nam, toán đã có từ thời xa xưa. Hơn 500 năm trước, cái tên Lương Thế Vinh đã được vinh danh trong Văn Miếu. Hơn 60 năm trước, trong cuộc chiến đánh Pháp, Việt Minh ấn hành một sách giáo khoa hình học của Hoàng Tụy để dùng trong vùng giải phóng. Tôi chưa thấy có nơi nào mà nhà xuất bản du kích trong rừng lại in một sách về toán! Và dĩ nhiên, ví dụ gần đây nhất về truyền thống toán học của Việt Nam là giải Fields dành cho Ngô Bảo Châu năm 2010.   4. Một cộng đồng nghiên cứu toán mạnh sẽ thúc đẩy giáo dục về toán. Tại Mỹ, chúng tôi dùng chữ “gateway” (cổng vào) để chỉ toán học vì người trẻ cần được đào tạo tốt về toán để có thể vào học và thành công ở một trong bốn lĩnh vực (khoa học, công nghệ, kỹ sư và toán). Cải thiện giáo dục toán học ở mọi mức độ – tiểu học, trung học, đại học, sau đại học – là rất cần cho phát triển kinh tế và công nghệ của một quốc gia.   Bây giờ chúng ta cần đặt một câu hỏi khác: Việc chính phủ hỗ trợ cho Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) có phải là cách hiệu quả để phát triển toán học?  Cụ thể là, làm sao để tiền bạc không bị lãng phí, và Viện không trở thành một thứ đồ triển lãm cao cấp mà không có mấy lợi ích cho đất nước?  Tôi rất lo ngại nguy cơ lãng phí tiền chính phủ cho những dự án hào nhoáng nhưng không hiệu quả. Ví dụ, tôi đã mạnh mẽ chỉ trích đề nghị của Nhóm Chuyên trách về giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ muốn chính phủ Việt Nam dành 100 triệu đôla cho một liên hợp các trường Mỹ để họ xây một đại học “kiểu Mỹ” ở miền Nam.  Tôi cũng phản đối cái gọi là “chương trình cao cấp”, tức là chính phủ Việt Nam trả bộn tiền cho các giáo sư Mỹ có vài tháng ở Việt Nam dạy các khóa đại học nâng cao. Ở cả hai trường hợp, tôi cho rằng tiền cần dùng để cải thiện lương bổng, điều kiện làm việc, cơ sở vật chất ở Đại học Quốc gia và các đại học công.  Tương tự, tôi tin rằng với VIASM, tiền chủ yếu cần được dùng ở Việt Nam. Ngoại trừ các trường hợp hiếm hoi, Việt Nam không nên trả tiền hậu hĩnh cho người nước ngoài và không nên đài thọ vé máy bay cho họ.  Các nhà toán học thỉnh giảng nên dùng ngày nghỉ của mình và tiền của chính phủ nước họ. VIASM nói chung chỉ nên có sự giúp đỡ mang tính địa phương – ví dụ một phòng trọ trong nhà khách. Ngược lại, VIASM nên rộng lòng cung cấp thời gian nghỉ để nghiên cứu cho các giáo sư đại học Việt Nam. Nghiên cứu của họ có thể được hỗ trợ nhờ thời gian không phải giảng dạy và môi trường nghiên cứu rất tốt ở VIASM.  Để không phí tiền, người ta cần tránh một sai lầm nữa. VIASM không thể trở thành một tổ chức cao cấp tách rời thực tế Việt Nam. Tại nhiều nước, các viện kiểu này dành tài nguyên để tạo quan hệ và uy tín quốc tế, chứ không tham gia mấy vào sự phát triển nội tại của đất nước.  Ví dụ tại Mexico, viện CINVESTAV (Trung tâm nghiên cứu cao cấp) bị chỉ trích vì thiếu quan hệ, cũng như hỗ trợ các khoa học gia Mexico ở các viện khác. Hai năm trước, CINVESTAV tổ chức một hội nghị quốc tế thuộc lĩnh vực của tôi, và sau đó tôi mới biết các đồng nghiệp ở các đại học khác của Mexico không được mời hay thậm chí biết về hội nghị.  Nguy cơ xa rời thực tế là có thật trừ phi có những biện pháp ngăn chặn cụ thể. Có nhiều cách để VIASM hòa nhập với giáo dục và ngành nghề vì lợi ích của Việt Nam.  1. Hỗ trợ toán ở đại học. VIASM nên làm việc chặt chẽ với mọi đại học công để giúp khoa toán cải thiện trình độ nghiên cứu và giảng dạy. Viện nên giúp các giảng viên có cơ hội nghỉ phép để làm nghiên cứu. Ngoài ra, khi các nhà toán học Việt Nam lấy bằng tiến sĩ ở nước ngoài, VIASM có thể đóng vai trò quan trọng giúp thu hút họ quay về. Đầu tiên là trải qua một năm tại Viện, và sau đó về với khoa toán của một đại học công. Bằng cách này, VIASM có thể thúc đẩy đại học và ngăn chặn “chảy máu chất xám”.   Các nhà toán học hàng đầu có quan hệ với VIASM cần vận động chính phủ cải thiện điều kiện cho Đại học Quốc gia và các đại học công. Cố gắng tăng tiền cho VIASM chỉ nên là ưu tiên thấp hơn so với cố gắng nâng cao điều kiện làm việc ở các đại học.  2. Cải thiện việc dạy toán ở mọi mức độ. VIASM nên tạo quan hệ với sinh viên đại học, học sinh cấp hai cũng như người học sau đại học, và tư vấn cho chính phủ về việc đào tạo giáo viên và chương trình học.   3. Khuyến khích giới trẻ đi vào toán học. VIASM nên tổ chức các chương trình đặc biệt cho những bạn trẻ có thành tích thi toán quốc gia, quốc tế để thu hút họ làm việc trong ngành toán và khoa học cơ bản. Quá nhiều những học sinh như thế rốt cuộc đi làm kinh doanh và lãng phí tài năng.   4. Ủng hộ bình đẳng giới trong toán học. Phụ nữ Việt Nam xuất hiện cực kỳ ít trong ngành toán. VIASM cần hợp tác với Hội Phụ nữ Việt Nam để tổ chức các chương trình đặc biệt cho những bạn nữ có khả năng về toán.   5. Hợp tác với các ngành nghề. VIASM nên khuyến khích giới làm toán tham vấn cho các ngành nghề, và đồng thời cũng phải kiểm soát chất lượng tư vấn. Nghĩ là việc áp dụng toán trong ngành công nghiệp phải dựa trên nền tảng khoa học vững chắc. Công chúng và những lãnh đạo ngành không nên bị đưa cho bức tranh phóng đại về khả năng của toán học.   Nhiều nhà toán học đặt nhiều hy vọng vào Viện Toán Cao Cấp dưới sự lãnh đạo của Ngô Bảo Châu. Chúng tôi đã để ý nhiều điểm so sánh giữa Ngô Bảo Châu và nhà toán học huyền thoại Trung Quốc S. S. Chern. Khi ông này làm giám đốc Viện Nghiên cứu Toán ở Berkeley của Hoa Kỳ, ông đã làm việc không mệt mỏi và thành công trong phát triển toán học ở Trung Quốc. Chúng tôi tin rằng Ngô Bảo Châu, giống như ông Chern, sẽ chứng tỏ là một nhà quản lý hành chính tài năng và cũng là nhà toán học xuất sắc.  Khi ta xem triển vọng cho toán và khoa học ở Việt Nam, có nhiều vấn đề trầm trọng nhưng cũng có lý do hy vọng. Chỉ cần nhắc một trong những bức xúc, các giáo sư đại học hầu như chẳng bao giờ gặp sinh viên bên ngoài giờ hành chính hay những dự án đặc biệt. Họ thường làm thêm và không có thời gian, và thường cũng chẳng có văn phòng riêng. Đây là một hệ quả của lương thấp và cơ sở vật chất tồi ở các đại học công.  Nhưng cũng có lý do để hy vọng. Giới trẻ Việt Nam được tiếng trên trường quốc tế là chăm chỉ và được chuẩn bị tốt. Ngay cả trong thập niên 1970, khi tôi lần đầu gặp sinh viên Việt Nam ở Moscow, người Nga luôn ca ngợi họ thuộc số giỏi nhất trong các sinh viên nước ngoài ở Liên Xô. Các gia đình Việt Nam đặt ưu tiên cho giáo dục và đã truyền lại tiêu chuẩn cao cho thế hệ đi sau.  Các giáo viên Việt Nam cũng đều rất tận tụy và nỗ lực. Việt Nam có nguồn nhân lực tuyệt vời để dựa vào. Nếu các lãnh đạo chính quyền và khoa học sử dụng tiền khôn ngoan, họ có thể thúc đẩy những tiến bộ lớn trong giáo dục, khoa học và công nghệ.  —  * Tiến sĩ Neal Koblitz hiện là Giáo sư Toán ở Đại học Washington, Hoa Kỳ.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Góp ý về qui định công nhận chức danh giáo sư      Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ra thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến việc xét duyệt chức danh giáo sư.&#160; Qua thông tư này, Bộ muốn lấy ý kiến của các nhà khoa học và những ai quan tâm đến qui trình xét duyệt chức danh giáo sư. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ bàn đến một vài vấn đề trong việc đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học và cách tính điểm cho ứng viên.        Điều 1, khoản 2 của Thông tư viết: “Tính điểm quy đổi cho mỗi bài báo khoa học đã được công bố chủ yếu dựa vào chất lượng khoa học của chính bài báo, có tham khảo uy tín khoa học của tạp chí công bố bài báo khoa học đó. Mỗi bài báo khoa học được tính từ 0 đến 1 điểm; chỉ bài báo khoa học nào đặc biệt xuất sắc, đăng trên các tạp chí có uy tín khoa học hàng đầu ở trong nước và quốc tế mới có thể được tính đến 2 điểm. Bài báo có đồng tác giả thì điểm của bài báo được chia đều cho các đồng tác giả”.  Có nhiều vấn đề trong điều khoản này liên quan đến cách đánh giá chất lượng và công thức tính điểm.  1. Sự thiếu minh bạch trong đánh giá chất lượng công trình nghiên cứu.  Đọc qui định “Về tính điểm quy đổi cho mỗi bài báo khoa học đã được công bố chủ yếu dựa vào chất lượng khoa học của chính bài báo, có tham khảo uy tín khoa học của tạp chí công bố bài báo khoa học đó” tôi phải hỏi lấy gì để  đánh giá “uy tín khoa học của tạp chí”?  Qui định này lẫn lộn giữa chất lượng một công trình nghiên cứu với chất lượng tập san khoa học.  Hai khía cạnh này rất khác nhau.  Mặc dù trong thực tế chỉ số ảnh hưởng (impact factor, IF) của tập san có mối tương quan cao với chất lượng bài báo khoa học, nhưng vẫn có nhiều trường hợp bài báo có chất lượng thấp trên những tập san có IF cao (và ngược lại).  Không thể lấy IF để đánh giá chất lượng một bài báo khoa học.  2. Đánh đồng tập san trong nước và ngoài nước. Theo như qui định “bài báo khoa học nào đặc biệt xuất sắc, đăng trên các tạp chí có uy tín khoa học hàng đầu ở trong nước và quốc tế mới có thể được tính 2 điểm” thì một bài đăng trên Lancet (tập san y khoa hàng đầu trên thế giới) hay Science (tập san khoa học số 1 trên thế giới) có điểm tương đương với một bài trên tập san Y học Thực hành của Bộ Y tế – một tập san không có trong danh sách ISI (tức chưa được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận).    3.  cách tính điểm cho tác giả của những bài báo có nhiều tác giả.  Bản dự thảo viết “Bài báo có đồng tác giả thì điểm của bài báo được chia đều cho các đồng tác giả”.  Đây là một cách tính toán theo chủ nghĩa trung bình.  Để thấy sự vô lí của qui định này, thử tưởng tượng một trường hợp sau đây: công trình khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của một giáo sư và hợp tác của 5 đồng nghiệp.  Khi công trình công bố, người nghiên cứu sinh đứng tên tác giả đầu, 5 đồng nghiệp đứng tên tác giả theo thứ tự đóng góp từ cao đến thấp, và sau cùng là vị giáo sư. Ở đây, người nghiên cứu sinh là người chủ trì công trình, là người có ý tưởng, ứng dụng phương pháp, soạn bài báo, và công bố.  Theo qui định mới thì số điểm phải chia đều cho 7 tác giả.  Như vậy là bất hợp lí, vì điểm trung bình không phản ảnh sự đóng góp của nghiên cứu sinh.    Cần phải nói thêm rằng vấn đề tác giả còn phụ thuộc vào văn hóa ngành.  Trong những ngành như y sinh học, có nhiều trường hợp tác giả đứng đầu, tác giả cuối, hay tác giả liên lạc (correspondent author) chính là những tác giả chính. Nhưng có ngành khoa học, người ta sắp xếp thứ tự tác giả theo mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu.  Lại có ngành khoa học người ta sắp xếp theo chữ cái của họ của tác giả.  Nói chung, cách sắp xếp tác giả rất phong phú và khác nhau giữa các ngành, không thể nào áp dụng một công thức theo kiểu bình quân chủ nghĩa được.    Qua hai phân tích vừa kể tôi có thể nói rằng cách tính điểm theo quân bình chủ nghĩa chẳng những vô lí, là một sự khuyến khích cho người ta thiếu thành thật và tìm cách lợi dụng hệ thống đề bạt khoa bảng.  Thành tựu khoa học của một nhà khoa học không thể cân đo đong đếm bằng những “điểm”.  Mỗi nhà khoa học theo đuổi một chuyên môn, có khi chuyên môn hẹp, và chỉ có thể những đồng nghiệp trong chuyên ngành mới đánh giá được một phần việc làm của họ. Các chỉ số về ấn phẩm khoa học và tập san khoa học có thể mang tính bổ sung khách quan, nhưng những chỉ số này phải được sử dụng cùng với bình duyệt của đồng nghiệp.    Nói tóm lại, tôi thấy những sửa đổi “Qui định về tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh GS, PGS” có nhiều vấn đề cần phải bàn lại.  Theo tôi, những bất cập và vô lí vừa nêu trên cần phải chỉnh sửa lại cho hợp lí hơn.     Author                Quản trị        
__label__tiasang GS. Goran Roos: Quốc gia không sản xuất thì sẽ không có cơ hội kinh tế nào      Giáo sư Göran Roos, một trong 13 nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất thế giới thế kỷ 21 do tạp chí khoa học về kinh doanh  “Direccion y Progreso” bình chọn, đã khuyến nghị Việt Nam nên tập trung vào sản xuất thay vì dịch vụ. Lĩnh vực sản xuất luôn thúc đẩy năng suất lao động của quốc gia, và càng phức tạp, tinh vi và đòi hỏi kiến thức chuyên ngành sâu sắc thì lại càng tạo ra nhiều công văn việc làm, bao gồm cả ngành dịch vụ liên quan.      Trong khuôn khổ hoạt động đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ hoạch định chính sách của Việt Nam về quản trị đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, giai đoạn II (IPP2) đã mời Giáo sư Göran Roos – một học giả có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế – đến thuyết trình tại Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) về chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh mới của thế giới và các khuyến nghị đối với Việt Nam.  Giáo sư Göran Roos là diễn giả hàng đầu thế giới về phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, một trong các nhà sáng lập ngành khoa học về nguồn vốn trí tuệ hiện đại (Modern Intellectual Capital Science) và là chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này. Ông đã làm việc tại trên 50 nước, tư vấn về chính sách và chiến lược phát triển kinh tế, công nghiệp và đổi mới sáng tạo cho Chính phủ của nhiều nước trên thế giới như Úc, Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Na uy, Anh, Singapore…  Nguồn video: Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Giai đoạn 2 (IPP2), Bộ KH&CN.    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS. TS Phạm Thành Huy: Quỹ ĐMST Phenikaa sẽ hỗ trợ các đề xuất được lựa chọn ở mức cao nhất      Bức tranh đầu tư cho khoa học Việt Nam đã bắt đầu trở nên đa dạng hơn với sự xuất hiện của một số quỹ đầu tư tư nhân trong năm 2019. Tuy chờ đợi vào điều này từ khá lâu nhưng trong cộng đồng khoa học Việt Nam vẫn dấy lên một số câu hỏi: liệu các quỹ tư nhân có cam kết tài trợ cho khoa học đủ lâu dài và đủ mạnh? liệu có chấp nhận mạo hiểm trong đầu tư, đặc biệt với khoa học cơ bản? GS. TS Phạm Thành Huy, Giám đốc Quỹ Đổi mới sáng tạo Phenikaa – một quỹ đầu tư của tập đoàn Phenikaa mới ra mắt vào tháng 11/2019, cho rằng, thực tế sẽ chứng minh tính hiệu quả trong hoạt động của Quỹ cũng như các quỹ tư nhân khác.          GS. TS. Phạm Thành Huy, Giám đốc Quỹ ĐMST Phenikaa.  Khi nhìn vào xuất phát điểm của Quỹ ĐMST Phenikaa, chúng ta có thể thấy nó có điểm khác biệt so với những quỹ đầu tư tư nhân khác: đây là một trong những đơn vị của Tập đoàn Phenikaa, một tập đoàn đi lên từ sản xuất và thành công trong việc làm chủ một công nghệ rất tiên tiến của nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất đá thạch anh nhân tạo, hiện thương hiệu đá thạch anh VICOSTONE của Tập đoàn Phenikaa đã được đăng ký bảo hộ tại 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Do nhận thức rất rõ vai trò của KH&CN nên tập đoàn cho rằng, vấn đề mấu chốt trong việc vươn lên bằng công nghệ và trên nền tảng công nghệ thì cần phải có con người nhưng nhìn chung, những con người làm KH&CN lại chưa được đầu tư đủ, các đề tài mà họ thực hiện vẫn chưa có được nguồn kinh phí đủ lớn và được tiến hành trong thời gian đủ dài để giải quyết trọn vẹn vấn đề.    Xuất phát từ điều đó, Quỹ ĐMST Phenikaa được thành lập với mục đích rất rõ là đồng hành cùng nhà nước, tài trợ các đề tài nghiên cứu cơ bản, ưu tiên những nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng phát triển kết quả nghiên cứu thành công nghệ, startup công nghệ, đầu tư cho con người hoặc tài trợ những giải thưởng để khuyến khích các hoạt động KH&CN. Có một điều đáng chú ý là Tập đoàn Phenikaa sẽ sử dụng lợi nhuận sau thuế để đầu tư cho Quỹ. Theo luật, sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, Tập đoàn có thể tự tiêu số tiền sau thuế cho những nhu cầu của mình nhưng Tập đoàn lại dành để đầu tư cho khoa học, qua đó đóng góp cho cộng đồng, cho xã hội.     Vậy Tập đoàn Phenikaa và Ban giám đốc Quỹ kỳ vọng gì vào Quỹ?    Tôi cho rằng, về bản chất, không chỉ Quỹ ĐMST Phenikaa mà bất kỳ quỹ nhà nước hay tư nhân nào cũng đều mong muốn trở thành nơi thu hút được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu KH&CN, và thu hút được những đề xuất tốt và tìm được các ý tưởng sáng tạo mới, định hướng phát triển KH&CN mới để tài trợ. Và muốn được như vậy, tất cả đều phải gây dựng được niềm tin với các nhà nghiên cứu và thuyết phục họ gửi gắm những ý tưởng và đề xuất các nhiệm vụ, đề tài, dự án KH&CN tới quỹ.      “Quỹ ĐMST Phenikaa cam kết tài trợ đủ mạnh để các nhà khoa học có thể tin cậy gửi gắm các ý tưởng khoa học và dám chấp nhận tài trợ cho các đề tài mang tính đột phá, nghĩa là đi kèm với sự dài hạn và rủi ro. Mục tiêu quan trọng của Quỹ ĐMST Phenikaa là tìm được những người khả tín và làm thực. (GS. TS Phạm Thành Huy)      Đó là lẽ đương nhiên thôi bởi thông qua việc thực hiện các ý tưởng và đề xuất này, các quỹ kỳ vọng có thể góp phần giải quyết được những bài toán lớn cho xã hội, tạo ra đột phá và tạo ra những đóng góp cho xã hội. Kỳ vọng chung của các quỹ là như vậy, không chỉ của riêng Quỹ ĐMST Phenikaa. Thông qua hoạt động của Quỹ ĐMST Phenikaa, chúng tôi mong muốn sẽ tạo ra động lực mới, tạo tiền đề cho các nhà nghiên cứu khoa học nuôi dưỡng đam mê và tự tin dấn thân trên con đường khoa học. Quỹ Phenikaa cũng sẽ là chỗ dựa cho các startup công nghệ, công ty khởi nghiệp (spin off) bắt đầu một hành trình mới trong phát triển công nghệ vị kinh doanh. Ngoài ra, Quỹ Phenikaa còn là một thành tố quan trọng trong Hệ sinh thái Phenikaa được hình thành và phát triển dựa trên sự gắn kết chặt chẽ của ba trụ cột: Doanh nghiệp – Nghiên cứu Khoa học – Giáo dục và Đào tạo. Hệ sinh thái này sẽ tạo thành một chuỗi các mắt xích hoạt động gắn kết cơ hữu, hỗ trợ nhau phát triển bền vững, ươm mầm và phát triển tài năng, khuyến khích tự do sáng tạo, gắn nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với việc giải quyết các yêu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.     Có điểm gì khác biệt giữa Quỹ ĐMST Phenikaa với những quỹ của nhà nước và tư nhân ở Việt Nam?    Tôi cho rằng, điểm khác biệt lớn nhất giữa Quỹ ĐMST Phenikaa với những quỹ của nhà nước và tư nhân hiện có ở Việt Nam là Quỹ ĐMST Phenikaa cam kết tài trợ đủ mạnh để các nhà khoa học có thể tin cậy gửi gắm các ý tưởng khoa học và dám chấp nhận tài trợ cho các đề tài mang tính đột phá, nghĩa là đi kèm với sự dài hạn và rủi ro. Ví dụ nhìn sang một vài quỹ ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy việc tài trợ cho các đề tài mang tính đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản vẫn chưa thực sự nhiều và kinh phí tài trợ cũng chưa quá lớn. Khi chính thức triển khai hoạt động, việc tài trợ cho những nhiệm vụ như thế với Quỹ ĐMST Phenikaa chưa phải là vấn đề lớn. Quỹ sẵn sàng tài trợ cho nhà khoa học thực hiện tới cùng nhiệm vụ, đi kèm với đó là sự đơn giản hóa thủ tục để có thể tiết kiệm nhất về thời gian cho nhà khoa học.    Trong quá trình chuẩn bị, Quỹ ĐMST Phenikaa đã tham khảo rất nhiều mô hình quỹ trong nước và quốc tế để rút ra những bài học kinh nghiệm, những cách thức tài trợ hiệu quả và những khuôn khổ mà ta nên áp dụng…, đồng thời tham khảo rất nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học giàu kinh nghiệm, từng tham gia quá trình xin tài trợ và triển khai những nhiệm vụ tài trợ trong nước và quốc tế.     Ông có nhắc đến vấn đề tạo dựng được niềm tin trong cộng đồng khoa học. Vậy Quỹ ĐMST Phenikaa sẽ làm gì để có được điều đó?    Xây dựng được niềm tin trong cộng đồng khoa học là một việc không dễ làm nhưng cũng không quá khó bởi nó phụ thuộc vào chính các nhiệm vụ và con người cụ thể mà Quỹ sẽ tài trợ. Tôi cho rằng, nếu giới khoa học họ nhìn thấy là mình tài trợ cho những nhiệm vụ của các nhà khoa học nghiêm túc thì họ sẽ tin thôi. Nếu thấy những nhà khoa học thực sự giỏi, đang muốn vươn lên và có nhiều ý tưởng khoa học mới thì việc mình tài trợ cho chính những con người ấy sẽ đem lại hiệu quả, không chỉ là những sản phẩm cụ thể mà còn là điều chứng minh rằng mình thực hiện các cam kết một cách nghiêm túc, còn nếu mình tài trợ cho những đề tài không chất lượng thì chẳng ai người ta còn tin mình nữa.     Bằng cách nào Quỹ ĐMST Phenikaa có thể trao tài trợ cho những đề tài có chất lượng và loại bỏ những đề tài không chất lượng?    Cũng như các quỹ trong nước và quốc tế khác, Quỹ ĐMST Phenikaa cũng sẽ thành lập hội đồng chuyên môn để xét duyệt đề tài. Nhìn chung, về cơ bản thì việc lập các hội đồng khoa học của các quỹ đầu tư cho khoa học đều giống nhau cả. Để có được hội đồng tốt, Quỹ ĐMST Phenikaa sẽ tham khảo các ứng viên qua nhiều kênh khác nhau như lý lịch khoa học, sự giới thiệu của các nhà khoa học có uy tín, những người được các nhà khoa học tin cậy rồi. Tôi nghĩ, các nhà khoa học thực sự muốn đóng góp vào sự phát triển của khoa học sẽ nhận lời tham gia các hội đồng xét duyệt những nhiệm vụ cụ thể của Quỹ.    Tuy nhiên, ở đây có một nét khác biệt về hội đồng khoa học của Quỹ ĐMST Phenikaa với Quỹ NAFOSTED mà cộng đồng khoa học Việt Nam đã quen thuộc: nếu Quỹ NAFOSTED sẽ phải xử lý một số lượng hồ sơ lớn thì với những quỹ mới bắt đầu ra mắt và triển khai tài trợ như Quỹ ĐMST Vingroup (VINIF) hay Quỹ ĐMST Phenikaa, số lượng hồ sơ cần xử lý sẽ ít thôi, ít nhất trong thời gian ban đầu vẫn còn chưa nhiều. Do đó, trừ hội đồng tư vấn cố định thôi chứ hội đồng chuyên môn sẽ rất cơ động và được thành lập dựa theo nhiệm vụ. Ở đây, hội đồng sẽ không có sẵn như Quỹ NAFOSTED mà theo nhóm nhiệm vụ, nhờ vậy mình sẽ mời được chuyên gia phù hợp nhất cho từng đề xuất hoặc nhóm, công việc sẽ linh hoạt hơn.     Vậy công việc sẽ linh hoạt như thế nào?    Chúng ta hãy thử hình dung, đối với những đề xuất mang tính dài hạn và đặt mục tiêu rất tham vọng thì thực sự hội đồng xét duyệt sẽ phải làm việc rất sát sao và lúc đó, hội đồng không chỉ để chấm đỗ hay đạt mà còn để tham gia tư vấn cho các nhà khoa học, qua đấy họ sẽ thấy đề xuất của mình còn thiếu những gì, có thể thêm được những gì để từ đó đề xuất của mình có thể đạt được kết quả mà mình mong muốn. Ở đây, các hội đồng của Quỹ sẽ đồng hành với các nhà khoa học.    Trong quá trình phê duyệt hồ sơ hiện nay, một số quỹ áp dụng xét duyệt theo kiểu “án tại hồ sơ” nên sẽ có đề xuất nhà khoa học có thể bị loại nhưng ở đây, Quỹ ĐMST Phenikaa sẽ cố gắng tạo điều kiện cho các nhà khoa học cơ hội thực hiện các ý tưởng khoa học của mình với sự hỗ trợ tốt nhất có thể và có cơ hội thành công cao hơn.    Mặt khác, với trường hợp những đề xuất mang tính cấp bách và có ý nghĩa thì Ban giám đốc Quỹ có thể quyết định ngay mà không cần đến hội đồng bởi qua hồ sơ, mình có thể biết chắc chắn những người đề xuất làm gì, có xứng đáng nhận tài trợ hay không và ý nghĩa đề xuất của họ như thế nào.     Vậy là ngoài các đợt mở tài trợ hằng kỳ, Quỹ ĐMST Phenikaa sẽ còn “mở cửa” với các đề tài đột xuất?    Ngay sau khi ra mắt vào ngày 26/11/2019 và chưa mở tài trợ thì vào ngày 2/1/2020, Quỹ ĐMST Phenikaa đã tiến hành tài trợ cho dự án đầu tiên, dự án “Phát triển bộ cơ sở dữ liệu khoa học ngành toán Việt Nam“ do Viện nghiên cứu cao cấp về Toán chủ trì với mục tiêu xây dựng bộ cơ sở dữ liệu khoa học ngành toán Việt Nam trên cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế như ISI Clarivate Web of Science, Scopus, Mathscinet, Zeltralblatt, Arxiv nhằm tổ chức nghiên cứu và công bố các ấn phẩm khoa học trong nước và quốc tế theo các chủ đề như năng suất khoa học ngành toán, lịch sử toán học, chính sách phát triển toán học và khoa học nói chung. Đây là việc mà những nhà nghiên cứu ngành toán Việt Nam như giáo sư Ngô Việt Trung, Hà Huy Khoái, Ngô Bảo Châu… đã mong muốn làm từ lâu. Do đó Quỹ có thể quyết định rất nhanh bởi nhà khoa học đề xuất và thực hiện là người có thể tin được. Thực sự là việc tài trợ cho dự án này đã vượt ra khỏi khuôn khổ hành chính và sẽ được Quỹ tài trợ cho đến khi thực hiện hoàn thành các nội dung và đạt được các mục tiêu đã đề ra.      Nhóm nghiên cứu vật liệu MOF của Trung tâm Nghiên cứu vật liệu cấu trúc nano và phân tử (ĐH Quốc gia TPHCM). Nguồn: SGGP.   Nhìn chung, những công việc tài trợ sau này của Quỹ ĐMST Phenikaa cũng sẽ không bị hành chính hóa vì mục tiêu quan trọng là tìm được những người khả tín và làm thực.     Tương ứng với cam kết sẽ tạo điều kiện về thủ tục, về qui trình xét duyệt và kinh phí tài trợ cho các nhà khoa học, Quỹ ĐMST Phenikaa có những yêu cầu gì với họ?    Tôi cho rằng nếu đánh giá ở hồ sơ đầu vào thì một đề tài tốt là đề tài phải có tính khả thi cao nhất đối với những thông số mà họ đưa ra, đối với con người mà họ có và đối với hệ thống trang thiết bị mà họ được trang bị. Còn nếu nhìn nhận ở kết quả thực hiện thì một đề tài tốt cần thực hiện được những mục tiêu mà nhà nghiên cứu đặt ra trong hồ sơ xin tài trợ.     Tập đoàn Phenikaa là nơi rót vốn cho Quỹ ĐMST Phenikaa hoạt động. Vậy tập đoàn có can thiệp vào công việc tài trợ của Quỹ không?     Trong quá trình tìm hiểu các quỹ chính phủ và tư nhân, cả trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy các quỹ ưu điểm là có tính độc lập tương đối cao, đối với cả quỹ có được sự hỗ trợ của chính phủ cũng vậy, không phải vì thế mà nó kém độc lập. Và mọi quỹ đều phải chịu sự kiểm toán của nhà nước. Ví dụ Quỹ NAFOSTED có tính độc lập khá cao về mặt học thuật, do đó Ban quản lý Quỹ ĐMST Phenikaa cũng sẽ tôn trọng tối đa quyết định của các hội đồng chuyên ngành, vấn đề là hội đồng chuyên ngành có đảm bảo tính liêm chính, minh bạch, công minh trong các quyết định của mình hay không.    Nhìn lại quá trình chuẩn bị và hình thành Quỹ ĐMST Phenikaa, chúng tôi thấy thực ra để quỹ được ra đời là kết quả của một quá trình “mang nặng đẻ đau”. Do đó, mọi vấn đề của nó được xem xét rất kỹ với mục tiêu để nó hoạt động tối ưu hoạt động tài trợ của mình. Ngoài ra, tập đoàn coi Quỹ như một luồng năng lượng, mở cho xã hội và ở đây xã hội cũng là mình. Dù tập đoàn chưa quá giàu, việc kiếm tiền bằng sản xuất trên nền tảng khoa học công nghệ khó khăn hơn nhiều tập đoàn khác nên chắc chắn tài trợ sẽ không ồ ạt và nhiệm vụ sẽ được cân nhắc đến nhiều yếu tố khả thi, tác động đến xã hội… Tuy vậy, tập đoàn đã xác định việc đầu tư cho hoạt động KH&CN sẽ là nhiệm vụ mang tính lâu dài và cần được thực thi một cách minh bạch.     Vậy khi nào Quỹ có thể mời các nhà khoa học gửi đề xuất đầu tiên?     Các đợt mở tài trợ sẽ diễn ra hằng năm, dự kiến trong năm 2020 này sẽ rơi vào quý 2. Bây giờ, Quỹ ĐMST Phenikaa đang chuẩn hóa quy chế hoạt động, trang web giới thiệu Quỹ cũng như các quy trình khác… Cũng như với làm khoa học, chúng ta không nên làm nhanh quá mà cần tối ưu các chi tiết, công đoạn, tuy nhiên tôi có thể nói rằng, từ lúc mở tài trợ, tiếp nhận hồ sơ đề xuất đến thông báo kết quả sẽ trong khoảng thời gian nhanh nhất có thể.    Trong mùa đầu tiên này, có thể lượng hồ sơ mà Quỹ nhận được sẽ không nhiều và tôi hi vọng, những người dũng cảm là người có “phần thưởng” bởi theo thời gian thì tỷ lệ cạnh tranh sẽ cao hơn.     Cảm ơn ông. □     Thanh Nhàn thực hiện  Trên thế giới và Việt Nam, KH&CN đang trong quá trình phát triển rất nhanh và một số định hướng nghiên cứu mới được dự đoán sẽ luôn luôn xuất hiện ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Do đó, bất cứ quỹ đầu tư cho khoa học nào cũng nhìn thấy điều đó và sẵn sàng có những điều chỉnh nhất định. GS. TS Phạm Thành Huy cho biết, đối với các quỹ tư nhân, đặc biệt là quỹ sử dụng nguồn lực đầu tư sau thuế như Quỹ ĐMST Phenikaa, thì quyền chủ động trong lựa chọn càng lớn, ví dụ như bổ sung định hướng mới, và quãng thời gian đưa ra quyết định này nhanh. Trên thực tế, Quỹ ĐMST Phenikaa có đặt ra các hướng ưu tiên nhưng vẫn không hạn chế những hướng khác, do đó khi mình thấy những cái mới, những hướng tiềm năng thì dĩ nhiên sẽ đưa nó vào các lĩnh vực tài trợ.  Theo GS. TS Phạm Thành Huy, việc mở rộng phạm vi tài trợ của Quỹ ĐMST Phenikaa còn thể hiện trên một bình diện khác. Nhìn chung, Quỹ có thể đầu tư đủ lớn, đủ dài hạn cho các đề tài nghiên cứu, và Quỹ chưa đặt ra giới hạn trên của kinh phí tài trợ. Nếu như nhận được hồ sơ có nhiệm vụ nghiên cứu quá lớn và có tính khả thi thì Quỹ có thể liên hệ với một số quỹ hoặc tổ chức khác để cùng các bên đồng tài trợ cho nhiệm vụ đó.    Author                Quản trị        
__label__tiasang GS.TS Trần Xuân Hoài: Những trải nghiệm về vật lý, công nghệ và đời sống thực      Ở tuổi 80, sau những trải nghiệm và chiêm nghiệm sự đổi thay của các thế hệ công nghệ lõi, mối liên hệ của nó với phòng thí nghiệm và đời sống thực theo nhiều cách, giáo sư Trần Xuân Hoài (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cho rằng, không có sự phát triển nào của công nghệ mà lại thiếu sự đóng góp của khoa học, và con đường đưa công nghệ vào đời sống thực phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cá nhân lẫn sự thức thời của các nhà quản lý.      GS.TS Trần Xuân Hoài. Ảnh: Hoàng Nam  Theo ông, tốc độ tiến bộ của công nghệ có quyết định sự lựa chọn định hướng vật lý vào đời sống hay là ngược lại?  Hiện tại liên ngành Vật lý và công nghệ thông tin hình như đang có cơn sốt gần như là fashion (thời thượng) về quantum computing (tính toán lượng tử), đến Việt Nam ta chưa phát triển mấy về khoa học mà cũng đang sốt xình xịch. Tuy rất hoan nghênh cho sự nhanh nhạy của các bạn trẻ, chúc các bạn dũng cảm dấn thân, biết đâu đấy, nhưng tôi nghĩ: thảo luận hay tranh luận thì cứ tiến hành nhưng con đường từ ý tưởng ra thành quả khoa học công nghệ đã khó mà từ thành quả đó ra sản phẩm thương mại còn khó hơn và dù đã là sản phẩm thương mại rồi nhưng dùng nó như thế nào, dùng vào đâu thì đòi hỏi một thời gian thử thách rất lâu.  Ông đã chiêm nghiệm điều này từ chính trải nghiệm của mình?  Năm 1971-1972, khi tôi chân ướt chân ráo về Việt Nam đã được biệt phái sang quân đội để tham gia vào nhóm giải mã máy bay F111 cánh cụp cánh xòe vừa bị hạ ở Hà Sơn Bình. Khi máy bay bị trúng đạn, cabin của nó đã tự động tách khỏi thân máy bay bằng một dây thuốc nổ, ngay cả khi có rơi thẳng xuống gần đất thì một tên lửa dưới gầm sẽ khởi động đẩy cabin lên trời và dù tự động bung ra, hạ cánh nhẹ nhàng, phi công có thể mở cửa bước ra như mở cửa ô tô vậy.  Khi đó, ta thu được cabin nguyên vẹn với máy tinh và hệ thống điện tử điều khiển. Các nhà báo vội vàng đăng tỉ mỉ chiến tích này và Liên Xô biết được. Do đó, Thủ tướng Liên Xô điện sang, đề nghị Việt Nam giao ngay lại cho họ. Thủ tướng nước ta lúc đó chấp nhận sẽ giao sau một tháng. Trong thời gian này, nhóm chúng tôi được lệnh phải ngày đêm giải mã công nghệ cho xong… Chuyện dài, chỉ xin kể một chi tiết: tất cả hệ thống máy tính, điện tử tự động của máy bay mà nhóm tôi đo đạc kiểm tra đều dùng linh kiện rời rạc, không chip, không mạch in. Hệ thống cấu trúc ba chiều bằng hàn nối, rất nhỏ gọn, từng khối bọc trong epoxy, ném chó chó chết (các nhóm khác tôi không rõ).  Nên nhớ đó là năm 1971, sáng chế công nghệ mạch in (PCB) như ngày nay đã được cấp cho quân đội Mỹ từ 1956 và mạch IC silicon đã được J. Kilby (Giải Nobel 2000) và R. Noyce phát minh vào năm 1961. Thế đấy, họ chủ yếu dùng công nghệ đã bảo đảm an toàn ổn định từ trước rất lâu rồi, chứ không phải công nghệ mới chục năm tuổi!  Câu chuyện này nói lên điều gì, thưa ông?  Qua câu chuyện về máy bay F111 chúng ta thấy rõ, Không phải mọi công nghệ mới, hay phát kiến mới từ phòng thí nghiệm, dù rất thành công đều được đưa vào ứng dụng ngay mà chỉ được ứng dụng vào từng nhiệm vụ thích hợp. Những nhiệm vụ đòi hòi an toàn 100%, độ ổn định cao, bên vững và lâu dài… thì công nghệ phải được có đủ thời gian để chứng minh, thử thách với nhiệm vụ ứng dụng đặt ra, thật quả không dễ dàng. Những phát kiến như mạch in, chip lúc đó là rất tuyệt, dùng cho dân dụng như cái ti vi, radio thì được nhưng cho những mục đích cao hơn như quân sự, y tế… thì chưa bảo đảm hoàn toàn. Dù đã là sản phẩm thương mại rồi thì cũng vẫn phải tiếp tục đầu tư để cho sản phẩm thương mại được hoàn thiện, tin cậy và tất nhiên giá thành thấp hơn.  Bản thân con chip gắn liền với ngành công nghiệp bán dẫn. Chắc hẳn ông đã chứng kiến quá trình mà nó mới chỉ là ý tưởng trước khi được đầu tư để trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của thế giới?  Cuối thập kỷ 1960, tôi đã được tham dự những cuộc thảo luận chiến lược ở châu Âu về digital IC (vi mạch số) trong dân dụng. Một bên cho rằng digital IC chỉ được dùng trong tính toán, còn điện tử dân dụng thì không, và ủng hộ mạch hybrid digital analoge. Một phe thì ủng hộ phát triển hoàn toàn digital. Cuộc chiến này kéo dài cỡ 20 năm, khi công nghệ IC silicon phát triển mạnh cỡ 100 nm thì vấn đề ADC/DAC (ADC Analoge Digital Converter biến đổi tín hiệu từ tương tự sang dạng số hóa; DAC là biến đổi ngược lại) đã giải quyết xong, điện tử dân dụng hoàn toàn digital hóa như ngày nay. Thú thật lúc đó tôi thiển cận nên theo phe hybrid. Tôi lúc đó chỉ là một nhà khoa học mới vào nghề nên không nhìn xa được cũng dễ hiểu, có lẽ nhiều nhà khoa học nổi tiếng trong phe XHCN, ý kiến của họ có tính dẫn đường (!) cũng nhận định sai, nên phe XHCN dù xuất phát điểm về Điện tử bán dẫn không kém phương Tây, có lẽ do đi sai đường nên tụt hậu nhiều.  Câu chuyện về sự phát triển của những công nghệ nằm ngoài tiên lượng của nhiều nhà khoa học thật thú vị. Có lẽ, không riêng “phe XHCN” mà cả các công ty lớn cũng định hướng sai?  Đúng vậy. Năm 1987, tôi có dịp đến Rochester và vào phòng thí nghiệm của EASTMAN KODAX. Thật là tuyệt vời được vào thăm thế giới máy ảnh và phim ảnh màu Kodax. Đúng là một đế chế khổng lồ về kinh tế, một mỏ vàng về công nghệ mới. Vào quãng cuối thập kỷ 1990, tôi được nhờ làm phiên dịch cho một lãnh đạo AGFA thuyết trình ở Hà Nội về tương lai của phim ảnh. Nội dung chính là chứng minh rằng kỹ thuật phim ảnh nhựa Kodax, Agfa.. là tối ưu, là tương lai, không bao giờ kỹ thuật phim ảnh digital có thể đạt được. Tất nhiên là tôi dịch trung thực và hay nữa dù là nghiệp dư (người phiên dịch chuyên nghiệp họ thuê không biết chuyên môn, dịch không suôn sẻ nên họ mới lôi tôi vốn là người nghe lên dịch hộ). Nhưng khi dịch xong, để giữ thể diện cho diễn giả, tôi chỉ nói nhỏ riêng với diễn giả rằng tôi không tin vào những khuyến cáo của ông lắm.  Tại sao lại như vậy?  À, lúc đó thì tôi đã có nhiều kinh nghiệm hơn, đã đi sâu vào kỹ thuật digital hơn chục năm rồi nên đã có thể tự nhận định được phần nào của xu hướng phát triển. Vì tôi làm nhiều trong lĩnh vực phần cứng cảm biến, biết rằng sự phát triển của cảm biến quang điện còn ở giai đoạn đầu, chắc chắn sẽ phát triển đến mức đủ độ phân giải cao, không kém gì phim ảnh, lúc đó thì phim nhựa sẽ không còn ưu thế về mọi mặt nữa.  Mà đúng thế thật. Kodax và Agfa lừng lẫy đều đã chết vì kiên trì theo hướng phim ảnh nhựa (analog )! Thú vị nhất chính kỹ sư Steven Sasson của Kodak đã phát minh ra máy ảnh digital đầu tiên trên thế giới năm 1975!  Những năm 2000-2010 là thời kỳ nở rộ của kỹ thuật xử lý ảnh/video digital. Cũng có hai phe sống mái với nhau. Cả hai phe thì đều phát triển và áp dụng các kỹ thuật nén-giải video/ ảnh như MPEG 1,2,4 . Nhưng một phe thì chủ trương phát triển phần cứng chuyên dụng. Một phe khác thì cho rằng chỉ cần phát triển tốc độ CPU và dung lượng RAM. Đến nay thì chưa phe nào bị knock-down hoàn toàn nhưng phe CPU đang chiếm thế thượng phong khi công nghệ chips đã tiệm cận 4nm! Phe nào mà chọn sai, phe đó chết. Chết vì chọn sai hướng KH&CN còn khủng khiếp hơn là cạnh tranh kinh tế thị trường! Có những phát kiến cũ, nhưng trong môi trường công nghệ mới lại phát huy tác dụng, cho nên cũng không nên chỉ nhăm nhắm chọn vào những phát kiến mới.  Nghĩa là không có công nghệ nào đi một mình mà thành công?  Đúng thế, phát triển công nghệ là cả một hệ sinh thái, cái này phải dựa vào cái kia và ngược lại. Tôi kể vài thí dụ để các bạn nghe nhé. John Tyldall người Ireland vào 150 năm trước đã tìm ra nguyên lý của sợi quang (1855), và nguyên lý đó thì chỉ cần kiến thức Vật lý lớp 12 cũng đủ giải thích cặn kẽ. Nhà sáng chế John Logie Baird (Scottland) đã dùng nguyên lý đó để truyền ảnh vào năm 1925 tại London… nhưng nếu không có công nghệ LED/LASER và Chips bán dẫn thì không thể có được mạng truyền tải cab quang thần kỳ hiện nay, dù công nghệ thủy tinh có tạo nên sợi quang tuyệt vời đến thế nào chăng nữa.  Hồi cuối thập kỷ 1960 ở Berlin, lần đầu tiên nhóm chúng tôi tổ chức seminar về một vấn đề rất cũ. Nội dung là về những thí nghiệm hóa lý vào năm 1888, của nhà sinh hóa Friedrich Reinitzer (người Áo-Đức) trên các dẫn chất (derivatives) của Cholesterol mà nay có tên gọi là tinh thể lỏng (LD liquid crystal) dòng Cholesterish. Thời đó người ta đang đi tìm các kỹ thuật hiển thị thay cho CRT ( đèn hình sợi đốt), và công ty RCA (Mỹ) từ 1962 bắt đầu chú ý đến LD. Khổ một nỗi là hiệu ứng display của LD phải ở nhiệt độ cao và không ổn định. Mãi đến năm 1973 mới tổng hợp được LD ổn định ở nhiệt độ phòng và những tấm LD-display số 8 đơn sơ mới ra đời. (Nhóm chúng tôi quyết định không nhảy vào LD khoảng 1968). Nhưng để có màn hình tinh thể lỏng như ngày nay thì yếu tố quyết định lại là sự phát triển của công nghệ bán dẫn, đó là công nghệ TFT silicon – Transistor màng mỏng silic.  Tôi có may mắn được trải nghiệm từ ngày đầu trứng nước của công nghệ Silicon, đã tự nhầm lẫn và chứng kiến nhiều sự nhầm lẫn của thiên hạ. Nhưng có một điều cho đến nay vẫn thấy chưa nhầm lẫn, ấy là sự phát triển của công nghệ Silicon Plana – Epitaxie và các biến thế của nó suốt 65 năm qua là nền tảng cuộc cách mạng lần thứ 3.    GS.TS Trần Xuân Hoài thảo luận cùng các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tại Berlin. Ảnh: NVCC  Chứng kiến nhiều sự thăng trầm của công nghệ, có khi nào ông thấy Việt Nam mình bỏ lỡ cơ hội công nghệ nào không?  Bỏ lỡ thì nhiều và do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, ví dụ như nước ta và Hàn quốc vào thập kỷ 1970 cùng bắt đầu bước vào lĩnh vực linh kiên bán dẫn Silicon, trình độ KH&CN như nhau nhưng sau 30 năm thì Hàn Quốc vào top dẫn đầu thế giới, còn ta vẫn chưa tiến lên được trong lĩnh vực này. Cái khác nhau là Hàn Quốc do tư nhân làm chủ đạo, nhà nước hỗ trợ. Còn ta thì chỉ có nhà nước thôi. Chuyện này quá lớn nên thôi không bàn làm gì.  Riêng cá nhân tôi thì tôi tiếc đến đứt ruột việc KH&CN Việt Nam bỏ qua lĩnh vực lưu trữ năng lượng (ES-Energy Storage), nói hẹp và cụ thể hơn là về Pin-Acquy. Cá nhân tôi hơn 30 năm trước đã rất mê lĩnh vực này, đó là lĩnh vực rất cần thiết với cuộc sống hiện tại và tương lai dài hạn, hàm lượng chất xám trong sản phẩm cao, công nghệ không quá cao siêu, thị trường thì vô tận, đa dạng cao thấp gì cũng bán được. Tôi đã khuyến cáo các vị lãnh đạo khoa học nên dẹp những mơ tưởng cao siêu như chạy đua làm nghiên cứu chip bán dẫn, quang điện tử, sensor chính xác… vì trình độ và tính cách người Việt khó kham nổi những công nghệ đó. Bản thân tôi cũng mày mò âm thầm làm về lưu trữ năng lượng nhưng quá đơn độc nên dù cũng chỉ đủ để công bố quốc tế, kiếm được ít đô la của các nhà tài trợ quốc tế để duy trì hoạt động nghiên cứu của Viện trong các lĩnh vực “mỳ ăn liền” mà thôi.  Thêm nữa, công nghiệp nước ta cũng không phát triển lĩnh vực này, chỉ có vài cơ sở nhỏ làm pin Con Thỏ, Con Ó, acquy chì… công nghệ cũ rích từ 150 năm trước. Tôi đã ra sức tuyên truyền, viết báo, viết đề án… nhưng các nhà quyết định chính sách chỉ cười cho là tôi lẩm cẩm, còn giới chuyên môn thì cũng hờ hững vì họ đang mơ mộng những việc cao siêu hơn.  Hãy nhìn xem, Trung quốc cũng chỉ bắt đầu không sớm hơn ta, nhưng nay họ đã dẫn đầu thế giới về sáng chế và sản xuất Pin Lithium, chỉ riêng cho xe điện đã có doanh số gần trăm tỷ đô la. May mà Việt Nam hiện nay có công ty tư nhân là VinGroup đã nhận ra vấn đề và đang đầu tư hàng tỷ đô la vào lĩnh vực quan trọng bậc nhất cho hiện tại và tương lai này. Lưu trữ năng lượng còn chỗ rất rộng cho KH&CN Việt Nam ‘múa gậy vườn hoang’. Chỉ cần các yếu tố là các bạn trẻ quyết tâm dấn thân làm đến nơi đến chốn và thay đổi cơ chế quản lý KH&CN kiểu hành chính sự nghiệp để có các nhà đầu tư tư nhân tham gia.  Hiện tại, người ta nói nhiều đến cuộc cách mạng mới với tính toán lượng tử…  Nói nôm na, cho đến thời điểm làm ra và phát triển cách mạng 4.0 này thì Vật lý và công nghệ chỉ mới tìm hiểu, sáng chế ra những thứ kỳ diệu dựa trên thuộc tính điện từ trường của quá trình chạy lăng xăng và tương tác lẫn nhau cũng như với môi trường xung quanh của một cái hạt bé tí tẹo là anh chàng điện tử – electron. Trong thế giới vi mô thì không phải chỉ có mỗi hạt electron mà còn nhiều hạt khác như photon, neutron… Các thuộc tính và hiệu ứng tương tác các hạt, kể cả Electron, không chỉ có điện từ, mà còn nhiều thuộc tính khác mà ta gọi chung là các trạng thái lượng tử ví dụ như spin, rối lượng tử (quantum entanglement). Nếu dựa trên những hạt và thuộc tính chưa được khai thác này chúng ta sẽ thay đổi nền tảng của công nghệ (ít nhất là của công nghệ máy tính). Có phải là mở đầu một cuộc cách mạng hay không và đến thời điểm này chưa hay chỉ là một sự cải cách?  Với trình độ phát triển hiện nay, các nhà khoa học Việt Nam có thể làm được gì trong cuộc cách mạng mới này?  Thành thực là tôi chưa trả lời được. Điều tôi muốn nói là các nhà KH&CN Việt Nam nên học hỏi đến nơi đến chốn, đánh giá kỹ lưỡng, thực tế hơn.  Cảm ơn ông đã chia sẻ!  Thanh Thu thực hiện  Tôi đã may mắn tham gia khá năng động trong giai đoạn này, tiếc rằng là nằm trong giai đoạn chiến tranh lạnh giữa hai phe, có điều may và điều không may. May là phe nào cũng dồn tiền của cho R&D, đặc biệt là cho quân sự, trong đó Vật lý Bán dẫn và Công nghệ thông tin là hàng đầu. Không may là vô tình những kết quả công sức của mình thời tuổi trẻ bị rơi vào tầm ngắm của quân sự. Cụ thể, công trình lớn nhất mà Tôi đạt được lúc dưới 30 tuổi ngay lập tức khi hoàn thành được/bị xếp vào bí mật (VD= Vertrauliche Dienstsache). Công trình của tôi liên quan đến Radar bán dẫn. Rất tự hào là mình đã làm một việc có ích thực sự. Đây có lẽ là trường hợp duy nhất mà công trình nghiên cứu thực nghiệm của một người Việt được đánh giá như vậy trong khối quân sự Warzsava. Cũng không may và sau này mới thấy hơi tiếc một chút thôi, vì nếu được công bố thì sự nghiệp khoa học và vinh quang cá nhân của tôi có lẽ đã khác nhiều. Phía Đức đã cố thương lượng với phía Việt Nam để tôi ở lại tiếp tục, nhưng không thành, vả lại lúc đó chiến tranh đang cao điểm, tôi cũng sốt ruột muốn về đóng góp sức mình cho tổ quốc (tôi về ít lâu thì biệt phái sang quân đội, tham gia nhóm giải mã cấp tốc F111). Hai bên thống nhất nếu Mỹ chấm dứt ném bom thì tôi sẽ sang ngay, nếu không thì muộn nhất hai năm sau sẽ quay lại. Phía Đức dành cho tôi một ưu đãi là tôi được đến làm viêc, thực tập tại bất kỳ cơ sở công nghiệp bán dẫn-điện tử của Đức để làm quen với thực tế. Ngoài ra họ đã thưởng cho tôi rất hậu hĩnh. Hồi đó nghiên cứu sinh được lĩnh 500 mark, (sinh viên chỉ 300mark), tôi góp quỹ chống Mỹ cứu nước 150 mark, chưa lập gia đình nên tôi chẳng quan tâm tiết kiệm, may mà có số tiền thưởng lớn tôi cũng sắm được xe Simson, xe đạp, nhiều thứ khác nữa xứng danh đi Đức về. (bù lại, tôi đồng ý nộp tất cả sổ thực nghiệm, sổ ghi chép, bản thảo…và ký cam kết). Giờ kể lại vừa buồn cười vừa xấu hổ. So với sự đóng góp hy sinh của bao bạn bè thì tôi là người quá may mắn, đóng góp của mình cho khoa học công nghệ thì có, nhưng là cho thiên hạ, nhưng cho KHCN nước nhà thì chả là cái đinh gì.  Theo KHPT ( https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/gsts-tran-xuan-hoai-nhung-trai-nghiem-ve-vat-ly-cong-nghe-va-doi-song-thuc/20220121114158652p1c160.htm )    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai điều kiện cần      Trong xây dựng và thực hiện các chính sách đổi mới trong  quản lý KH&amp;CN, vai trò trung tâm chủ thể của các nhà khoa học là vô  cùng quan trọng. Chính họ là những người trực tiếp làm ra các sản phẩm  KH&amp;CN, hiểu rõ nhất về thực trạng công việc này với những điều kiện  khách quan và chủ quan, phương thức tổ chức thực hiện hiệu quả nhất để  ra được những sản phẩm tốt, cách đánh giá công bằng những sản phẩm này,  vì vậy hơn ai hết họ có trải nghiệm đầy đủ, toàn diện về các mặt hạn chế  và tiêu cực trong thực tiễn cần được điều chỉnh, những vấn đề và mâu  thuẫn mấu chốt mà chính sách KH&amp;CN của Nhà nước cần giải quyết.     Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy trong quản lý KH&CN, khi thiếu sự tham gia và phát huy vai trò chủ động của các nhà khoa học, không đặt nhà khoa học vào vị trí chủ thể trung tâm trong xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN – phương thức quản lý chỉ có tính top-down mà thiếu tính bottom-up – thì các quyết sách, chính sách điều chỉnh rất dễ sa vào khiên cưỡng, với các mục tiêu bất khả thi, xa rời thực tiễn, không đáp ứng nhu cầu thiết thực của các nhà khoa học, không giúp ích cho công việc của họ. Một ví dụ điển hình là chúng ta đặt mục tiêu trong Chiến lược KH&CN đến năm 2011-2020 rằng “đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ”, mà tính xa rời thực tế của nó thể hiện rõ khi năm 2015 đã đến nhưng chúng ta vẫn đang trong quá trình xây dựng định nghĩa về một tổ chức nghiên cứu đạt trình độ khu vực và thế giới, nghĩa là chưa thể xác định đầy đủ tính khả thi của việc hình thành 30 tổ chức như vậy, chưa biết rõ các tổ chức đó cần những chính sách hỗ trợ ra sao và nguồn lực hỗ trợ cần bao nhiêu v.v.  Kinh nghiệm thực tiễn cũng cho thấy khi các chính sách KH&CN được ra đời từ nguyện vọng của bản thân các nhà khoa học, đồng thời có sự tham khảo đích thực và trực tiếp nhất những ý kiến của họ trong quá trình xây dựng và triển khai chính sách, thì rất dễ tạo ra hiệu quả thiết thực trong cuộc sống. Thành công của một số chính sách như sự ra đời và hoạt động của Quỹ Nafosted hay gần đây hơn là Giải thưởng Tạ Quang Bửu, là ví dụ sinh động cho thực tế này.  Tuy nhiên, việc phát huy vai trò trung tâm của các nhà khoa học trong xây dựng và triển khai các chính sách KH&CN là chưa đủ, mà còn cần có sự đối chiếu, tham khảo những kinh nghiệm, thông lệ, chuẩn mực tiến bộ của quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi, ít nhất là ở các quốc gia có nền quản lý KH&CN tiên tiến, để đảm bảo những chính sách của chúng ta không lạc hậu gây khó khăn cho khoa học Việt Nam trong quá trình tiếp cận, hội nhập quốc tế, đồng thời tránh tình trạng đặc quyền, đặc lợi ngay trong đội ngũ các nhà khoa học tham gia xây dựng và triển khai chính sách. Đơn cử cũng ngay từ Quỹ Nafosted, nếu họ không mạnh dạn áp dụng yêu cầu về công bố quốc tế cho các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, thì chắc chắn các quyết định của những hội đồng ngành ở lĩnh vực này khó hoàn toàn đảm bảo tính khách quan, tránh được sự nể nang những cây đa, cây đề, là tình trạng từng tồn tại rất lâu trước đây.  Năm 2015 đã đến là dấu mốc cho nửa chặng đường thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN 2011-2020. Đây chính là dịp thích hợp để chúng ta nhìn lại quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược; đồng thời nhận diện đâu là những chính sách trong quản lý KH&CN chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng đòi hỏi đổi mới cơ bản, toàn diện tổ chức và hoạt động KH&CN, từ đó tăng cường, phát huy sự tham gia ý kiến của các nhà khoa học, đồng thời tiến hành so sánh, đối chiếu với các thông lệ quốc tế để có thể tiến hành những điều chỉnh kịp thời cần thiết cho những bất cập này.          Phạm Trần Lê    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai khuôn mặt của khoa học châu Âu      Horizon Europe, một chương trình đầu tư cho R&D nhằm tăng cường sức mạnh khoa học và sự gắn kết giữa các quốc gia châu Âu, đang có xu hướng gây chia rẽ lục địa này và tạo ra sự cách biệt giữa các cường quốc phía Tây với các quốc gia nghèo phía Đông.      Dan Nica – một thành viên người Romania của Nghị viện châu Âu (trái) nêu sự bất bình đẳng giữa khoa học Tây Âu và Đông Âu. Nguồn: sciencebusiness.net  Vào cuối tháng 3/2019, một cuộc họp xuyên đêm của Hội đồng nghiên cứu châu Âu diễn ra tại Brussels, quanh các câu hỏi: với châu Âu, một nhà khoa học ở Romania hay Slovakia ‘đáng giá’ bao nhiêu? Các quốc gia Đông Âu có được hưởng lợi thật sự từ chương trình Horizon? Liệu có công bằng trong các dự án đầu tư cho khoa học? Kết thúc phiên họp, những vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ, dù đây đã là phiên họp thứ sáu nhằm chuẩn bị cho một khung chương trình mới Horizon Europe bắt đầu vào năm 2021, được Nghị viện châu Âu đề xuất 120 tỷ euro, nghĩa là gần gấp đôi kinh phí của chương trình cũ.      Về cơ bản, các thành viên từ những quốc gia Đông Âu đều cảm thấy khó chấp nhận sự bất bình đẳng giữa các nhà khoa học khi cùng tham gia các chương trình và dự án do EU tài trợ: trung bình, mỗi nhà nghiên cứu Đông Âu thường được trả lương 3.240 euro/tháng trong khi các đồng nghiệp Tây Âu và Bắc Âu được trả cao hơn hẳn, 5.260 euro/tháng. Một vài người lên tiếng, như vậy là không công bằng. “Tôi nghĩ, không thể phủ nhận nguyên tắc công bằng trong việc chi trả cho những người cùng thực hiện những phần việc tương đương nhau”, Dan Nica – một thành viên người Romania của Nghị viện châu Âu nêu. “Ví dụ có một nhóm nghiên cứu gồm 5 người cùng trình độ thực hiện một dự án, trong đó 3 người từ nước giàu có và 2 người còn lại ở nước nghèo. Vậy có thể biện hộ như thế nào về việc 3 người được trả lương gấp đôi hai người còn lại?”. Ông cho biết thêm, “đây không phải là vấn đề tiền bạc mà là vấn đề danh dự”.     Mặt khác, khi Dan Nica đề xuất nên cắt lại 25% kinh phí các dự án có các nhà khoa học khối Đông Âu tham gia để thúc đẩy hỗ trợ nền khoa học quốc gia đó thì nhiều thành viên của Hội đồng nghiên cứu châu Âu phản đổi: mặc dù khoảng cách về khoa học và đổi mới sáng tạo là điều không nên tồn tại nhưng không thể dùng tiền từ một chương trình đầu tư cho khoa học để xử lý một vấn đề quốc gia bởi đây là nội dung của một chương trình khác – chương trình đầu tư phát triển vùng. “Vậy mục tiêu của việc đầu tư cho R&D là gì?”, Janez Potočnik – một chuyên gia kinh tế Slovenia và cựu thành viên của Hội đồng nghiên cứu châu Âu nêu câu hỏi và trích dẫn nguyên tắc của Horizon, “đó chính là thúc đẩy khoa học và tăng cường tính cạnh tranh của khoa học châu Âu”.      Ông Robert-Jan Smits, cựu Tổng giám đốc Hội đồng nghiên cứu châu Âu và hiện là Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ TU Eindhoven (Hà Lan), cũng thừa nhận, “có nhiều thái cực trong cuộc tranh cãi này. Nó cho thấy nhiều chia rẽ giữa các quốc gia và cho thấy một lần nữa có sự rạn nứt trong lòng châu Âu. Thật không may mắn!”       Châu Âu và hai tốc độ phát triển      Đằng sau những vấn đề mâu thuẫn này là một thực trạng đã tồn tại nhiều năm: khoảng cách về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo (R&I gap) của 15  quốc gia Tây Âu và Bắc Âu, vốn có nền tảng kinh tế và khoa học vững vàng, với 13 quốc gia Đông Âu mới trải qua quá trình chuyển đổi về thể chế và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế – xã hội. Kể từ khi gia nhập Liên minh châu Âu lần lượt vào năm 2004 và 2007, 13 quốc gia phía Đông chưa có được sự hòa nhập đáng kể nào với EU: nếu tính riêng về khoa học thì việc đầu tư cho R&D của họ vẫn ở mức dưới 1% GDP.       Rõ ràng, những người chiếm ưu thế trong các chương trình đầu tư cho khoa học của châu Âu như Đức, Pháp, Anh, Hà Lan hay nhóm quốc gia Bắc Âu đương nhiên thấy vai trò quan trọng của mình trong việc thúc đẩy khoa học, công nghệ và tăng cường tính cạnh tranh của châu Âu. Theo một báo cáo tổng kết của Hội đồng nghiên cứu châu Âu năm 2018, những cơ sở nghiên cứu chiếm ưu thế là Cơ quan Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), Fraunhofer (Đức), và các trường đại học như Cambridge, Oxford (Anh). Những nơi này có khả năng hình thành các liên doanh nghiên cứu và về tổng thể có khả năng chọn lựa được những đối tác nặng ký tham gia dự án của mình. Và thông thường là không có đối tác từ phía Đông.      Không khó để thấy năng lực nghiên cứu của những quốc gia này đã được tích lũy hàng thập kỷ do chính sách đầu tư cho R&D “nặng đô” của đất nước và điều đó hoàn toàn trùng khớp với yêu cầu của chương trình Khung – nguyên tắc cho các chương trình đầu tư cho R&D của châu Âu, và “đương nhiên, những viện nghiên cứu xuất sắc nhất của họ sẽ có lợi thế”, ông Potočnik chỉ ra vấn đề.  Trái ngược với đó, nhiều quốc gia Đông Âu như Slovakia, Romania, Ba Lan hay Hungary không chỉ có chính sách phát triển khoa học một cách cầm chừng, thậm chí bị cắt giảm ngân sách đầu tư cho khoa học mà còn phải đối mặt với tình trạng chảy máu chất xám khi các nhà nghiên cứu rời đất nước sang phương Tây. Không có chút lợi thế nào, họ cũng là những người ít được hưởng lợi từ các chương trình đầu tư của châu Âu: dù chiếm 17% dân số nhưng 13 quốc gia này chỉ nhận được 4,8% tổng kinh phí đầu tư từ các chương trình châu Âu. Thậm chí, một châu Âu hậu Brexit cũng khiến họ phải đối mặt với tình trạng bị cắt giảm kinh phí từ các chương trình đầu tư cho nông nghiệp mà họ vẫn nhận được từ Anh. Rạn nứt Đông – Tây lại thêm sâu sắc. Nói như một quan chức châu Âu là người thuộc khối Đông Âu, “một phần của châu Âu thì hết sức phát triển, phần còn lại thì yếu kém. Đây thực sự là một châu Âu với hai tốc độ phát triển”.       Nghị viện châu Âu đã nhận ra vấn đề này. Tháng 6/2017, Nhóm đánh giá Công nghệ châu Âu (ETAG) đã thực hiện báo cáo “Vượt qua những khoảng cách đổi mới sáng tạo trong 13 quốc gia thành viên EU” (Overcoming innovation gaps  in the EU-13 Member States) và công bố vào tháng 3/2018. Theo đánh giá của nghiên cứu, một số quốc gia như Cyprus, Malta, Romania… có nhiều bất lợi khi tham gia các chương trình đầu tư của châu Âu: thiếu năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ở trình độ cao, số lượng các nhà nghiên cứu trên 100.000 người dân mới chỉ bằng một nửa so với các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu. Số lượng nhà nghiên cứu ở mức thấp có thể là một trong số các nguyên nhân khiến họ không chỉ ít đề xuất xin tài trợ, ít khả năng cạnh tranh trong các chương trình đầu tư của châu Âu mà còn ít kết nối với những cộng đồng nghiên cứu khác. Đây cũng là nguyên nhân giải thích tại sao các mạng lưới của Đông Âu lại thường lỏng lẻo, thiếu linh hoạt và ít ảnh hưởng với các mạng lưới Tây Âu và Bắc Âu.      Trong quá trình tham gia các dự án lớn của châu Âu, các quốc gia như Czech, Ba Lan, Hungary, Romania, Slovakia… bộc lộ thêm một số nhược điểm như thiếu những nhà khoa học có năng lực quản lý dự án tốt, đặc biệt là các dự án có sự tham gia của cả lĩnh vực công và tư trong khi các dự án của châu Âu thường có kinh phí thực hiện lớn, quy mô lớn, phức tạp với sự tham gia của nhiều bên. Giải pháp cho vấn đề này là phải mời chuyên gia ngoài khối Đông Âu quản lý dự án – vốn mất nhiều kinh phí, hoặc các nhà khoa học có kinh nghiệm của đất nước phải tự kiêm nhiệm cả việc quản lý dự án, dù thiếu kỹ năng quản lý và tổ chức – dễ khiến mọi chuyện trở nên rối bời, thậm chí đổ bể.      Bên cạnh đó, phải làm việc trong những cơ sở nghiên cứu thiếu trang thiết bị, môi trường nghiên cứu thiếu minh bạch và hệ thống R&D tản mát, thiếu tập trung vào những hướng nghiên cứu như của đối tác Tây Âu và Bắc Âu nên bản thân các nhà nghiên cứu và nhóm nghiên cứu của họ không có khả năng cạnh tranh. Hội đồng khoa học châu Âu vẫn thường phải hỗ trợ họ trong các đề xuất tài trợ, tư vấn cho họ cách tham gia các chương trình tài trợ hoặc thậm chí tập huấn họ để có phương pháp quản lý dự án hiệu quả.      Một yếu tố quan trọng không kém mà Nhóm đánh giá Công nghệ châu Âu thấy được thông qua phỏng vấn hàng chục nhà nghiên cứu Đông Âu là việc “thiếu những vận động hành lang cho khoa học và điều đó có thể dẫn đến cái nhìn thiên kiến đối với những đề xuất dự án gửi từ Đông Âu và các nhà quản lý Brussels quan tâm nhiều hơn tới các đề xuất từ Tây Âu và Bắc Âu”. Việc thiếu đại diện trong các hội đồng cũng như trong các phiên thảo luận cũng làm giảm đi khả năng thành công của khoa học Đông Âu. Thậm chí, họ còn nhận thấy các chương trình nghiên cứu của châu Âu dường như chỉ cho phép “những thành viên thân thiết” từ Tây Âu tham gia.      Những giải pháp dài hạn     Khoa học châu Âu đang trong bối cảnh chia rẽ mà chưa có giải pháp nào thỏa đáng. Người ta hi vọng mọi khúc mắc có thể giải quyết được ổn thỏa vào mùa đông tới, khi Hội đồng nghiên cứu châu Âu mới được thành lập sau khi Nghị viện châu Âu được bầu lại. Mặc dù được nêu gay gắt trong phiên họp tháng 3 nhưng ai cũng hiểu rằng vấn đề lương bổng có thể sẽ không quá quan trọng bằng việc minh bạch hóa quá trình phê duyệt các dự án, thắt chặt sự liên kết giữa Horizon Europe với các chương trình đầu tư cho khoa học, đầu tư phát triển vùng của châu Âu.      Có thể, những giải pháp mà Nhóm đánh giá Công nghệ châu Âu nêu trong báo cáo sẽ được Hội đồng nghiên cứu châu Âu tham khảo, đó là tạo dựng và khai thác những ngân sách đầu tư cho khoa học xuất sắc; cải thiện việc quản trị những hệ thống nghiên cứu và đổi mới sáng tạo quốc gia; cải thiện việc sử dụng và khai thác chương trình khung của các dự án R&D; tăng cường hiệu quả của các điểm tương tác quốc gia (National Contact Points NCPs) – những tổ chức độc lập có chức năng khác nhau như bộ, viện hàn lâm, viện nghiên cứu… có thể cung cấp thông tin tới Hội đồng nghiên cứu châu Âu; mở rộng các chương trình đầu tư cho các tổ chức khoa học xuất sắc và mở rộng các quốc gia tham gia những chương trình của châu Âu.     Khi các giải pháp vẫn còn đang được cân nhắc thì Hội đồng nghiên cứu châu Âu đã bắt đầu thử nghiệm Alliance4Life, một mô hình nghiên cứu kiểu mẫu dành cho các quốc gia Đông và Trung Âu bắt nguồn từ sáng kiến do Trung tâm nghiên cứu về khoa học sự sống, vật liệu tiên tiến và công nghệ nano châu Âu (CEITEC) đặt tại Czech đề xuất. Chỉ gói gọn trong vòng 2 năm (2018-2019) nhưng Alliance4Life hướng vào giải quyết những vấn đề lớn của vùng: tạo một nền tảng đào tạo, nghiên cứu về khoa học sự sống để thúc đẩy sự gắn kết giữa các trường, viện nghiên cứu Đông – Trung Âu; tạo nền tảng quản lý khoa học minh bạch và tiên tiến với những hoạt động đánh giá dự án, đánh giá tài trợ; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và xây dựng, phổ biến các vấn đề đạo đức sinh học.      Để tránh lặp lại thất bại của nhiều dự án từng triển khai trước đây tại khu vực này, Alliance4Life không hoạt động một cách đơn lẻ mà sẽ có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nghiên cứu châu Âu để kết nối với các dự án khác của châu Âu, đặc biệt Horizon 2020, kết nối với các viện nghiên cứu ở Tây và Bắc Âu, đồng thời mời chính quyền và các cơ quan quản lý khoa học tại các quốc gia Đông và Trung Âu nhập cuộc thông qua các cuộc thảo luận bàn tròn về cải cách chính sách khoa học.      TS. Jiří Nantl, Giám đốc CEITEC cho biết, ý tưởng về Alliance4Life được hình thành từ quan sát của anh: các viện nghiên cứu Đông Âu không chỉ kém trong việc kết nối với các đồng nghiệp phương Tây mà còn gần như không hợp tác với nhau, “ví dụ chúng tôi biết rất ít các viện nghiên cứu của Slovakia, dù chúng tôi từng cùng trên một lãnh thổ trong vòng 30 năm”. Việc tạo dựng sự hợp tác nội vùng – giữa 10 viện nghiên cứu về khoa học sự sống Đông Âu cũng quan trọng không kém với việc gắn kết và mở rộng mạng lưới của Alliance4Life tới Tây Âu bởi theo TS. Jiří Nantl, khi nguồn lực đầu tư hạn hẹp thì việc liên kết để trao đổi thông tin và cùng giải quyết vấn đề lớn cũng có thể đem lại kết quả tốt.     Tuy chưa đến thời điểm kết thúc dự án Alliance4Life để đánh giá hiệu quả của mô hình và sự lan tỏa tinh thần khoa học trong vùng Đông Âu và Trung Âu nhưng theo quan điểm của TS. Mary Anne O’Connell – một nhà nghiên cứu Ireland làm việc tại CEITEC, “có rất nhiều vấn đề cần được rút ra bởi không phải mọi thứ được lên kế hoạch đều có thể thực hiện được ở Đông Âu”. Dĩ nhiên, Alliance4Life sẽ tổng kết và nêu các đề xuất để Hội đồng châu Âu có thể xây dựng một mô hình chuẩn và nhân rộng mô hình này trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác. Ông Kurt Vandenberghe, thành viên Hội đồng cho rằng, một tác động khác của Alliance4Life là góp phần định hình chương trình đầu tư tiếp theo Horizon 2021-2027.      Nhìn nhận tác động hai chiều của Alliance4Life, TS. Jiří Nantl nói: “Thông qua Alliance4Life, đầu tư của châu Âu đã thực sự làm thay đổi môi trường nghiên cứu và hình thành các chính sách, chương trình nghiên cứu của chúng tôi nhưng ngược lại, Alliance4Life cũng làm thay đổi cái nhìn của châu Âu về chúng tôi”.      Anh Vũ tổng hợp  Nguồn:   https://sciencebusiness.net/framework-programmes/news/whats-rd-programme-how-horizon-europe-negotiations-show-mounting-east  http://www.europarl.europa.eu/thinktank/en/document.html?reference=EPRS_STU(2018)614537  https://www.ceitec.eu/global-science-forming-an-alliance4life/t9999  https://horizon-magazine.eu/article/life-scientists-unite-close-eus-innovation-gap.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hai nỗ lực thúc đẩy khoa học của Philippines      Thiết lập chương trình thu hút nhà nghiên cứu về nước mang tên “The Balik Scientist Act” và triển khai hệ thống Hội thảo khoa học vùng (Regional Scientific Meeting RSM), Bộ KH&CN Philippines đang chứng tỏ nỗ lực thúc đẩy nền khoa học vượt qua khó khăn trong hiện tại.      TS. Reina Reyes là một trong số hiếm hoi các nhà nghiên cứu trở về nước. Ảnh: Positively Filipino  Khó khăn đầu tiên mà người ta có thể thấy ở khoa học Philippines chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo số liệu năm 2013 của UNESCO – tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học Liên hợp quốc, cứ một triệu người dân Philippines mới có 189 nhà khoa học trong khi tiêu chuẩn của UNESCO quy định, trong mỗi quốc gia cần phải có ít nhất 380 nhà khoa học trên 1 triệu dân. Nếu so sánh với một số quốc gia có thể thấy con số quá chênh lệch: Malaysia có 2.000 nhà khoa học trên 1 triệu dân, Hàn Quốc – nền khoa học đang phát triển rất nhanh, còn gấp đôi Malaysia: 5.300 nhà khoa học trên 1 triệu dân.  Khó khăn thứ hai mà Philippines đang phải đối mặt là tỷ lệ đầu tư cho R&D tính theo GDP tiếp tục thấp hơn con số 1% – mức chuẩn của UNESCO, và thấp hơn nhiều so với mức đầu tư cho R&D của nhiều quốc gia Đông Nam Á khác. Theo số liệu năm 2013 từ World Bank, Philippines dành khoảng 0.14% GDP cho R&D và Bộ KH&CN nước này cho biết, tổng kinh phí đầu tư tăng lên theo mỗi năm, tuy nhiên vẫn chưa thể vượt quá con số 1%.  Hai khó khăn này đã trở thành nguyên nhân chính khiến khoa học Philippines nhiều năm qua vẫn ở trong tình trạng trì trệ, số lượng công bố thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu yếu kém, do đó dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám. Nhiều nhà nghiên cứu trẻ Philippines ra nước ngoài nghiên cứu và không trở về nước nữa. Chọn cách về nước như TS. Reina Reyes – nhà nghiên cứu vật lý thiên văn có công bố trên Nature năm 2010 về các dải thiên hà cách xa nhau 3,5 tỉ năm ánh sáng đã được kết nhóm lại với nhau đúng như Thuyết tương đối dự đoán, là một trong số những trường hợp hết sức hiếm hoi.  Kêu gọi nhà khoa học hồi hương  “The Batik Scientist Act” của Bộ KH&CN Philippines đã được Thượng nghị viện thông qua vào đầu tháng 3/2018 và sau đó được đệ trình lên tổng thống Rodrigo Duterte. Đây là phần mở rộng của The Batik Scientist Programme từng được quốc gia này áp dụng vào giữa những năm 1970 nhằm khuyến khích các nhà nghiên cứu trở về để hỗ trợ phát triển khoa học trong nước và đóng góp vào nền kinh tế.  Theo ông Joey Salceda – một trong những tác giả chính của chương trình, mục đích chính của “The Batik Scientist Act” là sẽ ưu tiên các chuyên gia tại các lĩnh vực nghiên cứu mà Philippines đang mong muốn thúc đẩy để tạo đột phá như vũ trụ, trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật y sinh, năng lượng trong nông nghiệp, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông, an ninh mạng, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên, y tế, dược phẩm, hệ gene, công nghệ nano, điện tử và bán dẫn.  Theo những ưu tiên mà chương trình đem lại, các nhà khoa học Philippines ở nước ngoài trở về nước làm việc trong thời gian ngắn sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân, có bảo hiểm y tế và được điều trị miễn phí (nếu bị ốm hoặc tai nạn), được cấp chi phí thực hiện các dự án khoa học mà họ thực hiện trong nước, miễn thuế nhập các hóa chất vật tư và thiết bị phục vụ nghiên cứu.  Trong trường hợp trở về nước làm việc trong thời gian dài hoặc định cư vĩnh viễn, chính phủ sẽ tạo điều kiện cho các nhà khoa học được hưởng thêm môt số quyền lợi khác như đảm bảo cơ hội việc làm cho vợ/chồng, trợ cấp học phí cho con, trợ cấp kinh phí tái định cư, trợ cấp nhà ở và tài trợ cho việc thành lập và xây dựng cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu như phòng thí nghiệm.  Gắn kết nghiên cứu với sản xuất  Bên cạnh chương trình khuyến khích nhà khoa học hồi hương, Bộ KH&CN đang bắt đầu một sáng kiến ​​khác nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các viện nghiên cứu và doanh nghiệp.  Ra mắt vào giữa tháng 2/2018, chương trình Đổi mới sáng tạo kinh doanh Philippines (Filipinnovation Entrepreneurship Corps) đã tạo điều kiện đưa các nhà nghiên cứu vào các nhóm doanh nghiệp tư nhân và các chuyên gia, tham gia một khóa huấn luyện kéo dài một tháng. Họ được các chuyên gia từ Đại học George Washington và Đại học John Hopkins Mỹ trực tiếp giảng dạy, qua đó giúp họ có thể xác định giá trị thương mại và ý nghĩa xã hội trong nghiên cứu của mình cũng như việc tìm các đối tác chiến lược để thực hiện ý tưởng nghiên cứu.  Mặt khác, để tạo điều kiện chuyển giao công nghệ trong các trường, viện cho các doanh nghiệp, Bộ KH&CN Philippines nhận thấy cần tổ chức các hội nghị hoặc diễn đàn công nghệ ở các vùng. “Đây là điều quan trọng bởi vì, thứ nhất, nó hỗ trợ sự phát triển của khu vực nông thôn; thứ hai, công nghệ có thể đem lại lợi ích nếu được sử dụng”, ông Engineer Sancho A. Mabborang – giám đốc phụ trách vùng Cagayan Valley của Bộ KH&CN, cho biết trong khuôn khổ một hội nghị vùng Luzon vào cuối tháng 5/2018.  Theo Mabborang, tại các hội nghị vùng có thể trình bày về nhiều vấn đề và nhiều mối quan tâm khác nhau của cộng đồng khoa học, như thành phố thông minh, chất lượng nước và quản lý nước thải đô thị, các hệ sinh thái công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển ngành đường sắt… Và các bên tham gia như chính quyền địa phương, doanh nghiệp… sẽ thấy ở đó những cơ hội, những công nghệ tiên tiến có thể hỗ trợ sự phát triển của địa phương cũng như doanh nghiệp của họ.  Thanh Nhàn tổng hợp  Nguồn: Báo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn chế lãng phí nhờ bản đồ công nghệ       Nếu xây dựng và thực hiện thành công theo một bản đồ  công nghệ phù hợp, Việt Nam sẽ hạn chế được tình trạng đầu tư lãng phí và tình trạng trùng lặp trong các hoạt động R&amp;D.    Ngày 21-8 tại Hà Nội, Hội đồng chính sách KH&CN Quốc gia đã phối hợp với  Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ-Bộ KH&CN tổ chức hội thảo vấn  đề xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ ở  Việt Nam, thu hút sự tham gia của đông đảo đại diện các Bộ, ngành, Viện  nghiên cứu, doanh nghiệp. Chủ tịch Hội đồng chính sách KH&CN Quốc  gia Hoàng Văn Phong chủ trì hội thảo.  Tuy còn mới mẻ với Việt Nam nhưng vấn đề xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Để đáp ứng yêu cầu về cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại trong lộ trình phát triển đến năm 2020, Việt Nam rất cần học hỏi và áp dụng kinh nghiệm từ các quốc gia đó. Theo đánh giá của một số chuyên gia tại hội thảo, nếu xây dựng và thực hiện thành công theo một bản đồ công nghệ phù hợp, Việt Nam sẽ hạn chế được tình trạng đầu tư lãng phí vào những công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả, nhận dạng được những công nghệ quan trọng và các công nghệ sẽ hỗ trợ cho các sản phẩm ưu tiên trong tương lai, tránh tình trạng trùng lặp trong các hoạt động R&D, cho phép Chính phủ tham gia tốt hơn vào các hợp đồng nghiên cứu và phát triển với các ngành công nghiệp và các tổ chức nghiên cứu cụ thể, v.v., theo đánh giá của TS. Đỗ Hữu Hào, ủy viên Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia.      Trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm thành công của quốc tế, Cục trưởng Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ, Bộ KH&CN, Tạ Việt Dũng đã đưa ra khả năng áp dụng vào Việt Nam như phương pháp hình thành vấn đề công nghệ liên quan đến sản phẩm, lĩnh vực lựa chọn (Nhật Bản, Hàn Quóc), đánh giá năng lực năng lực công nghệ, xây dựng nghiên cứu, xác định khoảng cách công nghệ (Australia), đánh giá độ sẵn sàng công nghệ (Singapore). Về nội dung đánh giá hoạt động công nghệ, xây dựng bản đồ công nghệ với gợi ý từ bảng tổng hợp hiện trạng chung của Nhật Bản, quá trình xây dựng lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ trên ba mức độ quốc gia (Hàn Quốc, Nhật Bản), ngành, lĩnh vực (Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản), doanh nghiệp (Hàn Quốc, Singapore).      Theo nhận định của các chuyên gia, để thiết lập bản đồ công nghệ trước hết cần khảo sát, tập hợp số liệu, hiện trạng KH&CN Việt Nam trong các lĩnh vực đầu tư, sản xuất. Trên cơ sở đó so sánh trình độ KH&CN của Việt Nam với các quốc gia khác để xem xét mối liên kết và khoảng cách trong trình độ của hai bên. Để hoàn thiện bản đồ công nghệ cần dự báo được khả năng tăng trưởng, tiềm năng phát triển trong ít nhất 15 năm tới. Bản đồ công nghệ nên được xây dựng theo các cấp độ từ quốc gia đến cấp bộ, ngành, phân ngành và doanh nghiệp.     Để hình thành bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ ở Việt Nam, những giải pháp ban đầu đã được đề cập tới. Theo đó, Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế chính sách để tạo cơ sở triển khai; xác định lĩnh vực, ngành nghề cần ưu tiên; chuẩn bị nguồn lực; nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia; lựa chọn cơ quan đầu mối quản lý; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện kế hoạch xây dựng lộ trình và đổi mới công nghệ.     Tại hội thảo, đại diện các Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp cũng đã đóng góp nhiều ý kiến xác đáng vào vấn đề xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ. Phần lớn các ý kiến đều đồng tình với chủ trương của BTC hội thảo. đồng thời đánh giá cao giá trị thiết thực của bản đồ công nghệ đối với chiến lược phát triển sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp khi cạnh tranh ở cấp quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên vấn đề khiến các đại biểu băn khoăn nhất là tính ứng dụng cao của bản đồ công nghệ khi đưa vào thực tiễn, bởi chỉ một chi tiết không hợp lý sẽ dẫn đến sự phát triển lệch hướng không chỉ của một doanh nghiệp mà còn cả một ngành sản xuất.      Trên cơ sở những ý kiến đóng góp, Chủ tịch Hội đồng chính sách KH&CN Quốc gia Hoàng Văn Phong cho biết, sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp và coi đây là những gợi ý quý báu để cùng với Bộ KH&CN tiếp tục hoàn thiện kế hoạch, sẽ tổ chức thêm các hội thảo lấy ý kiến dóng góp của các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp để thúc đẩy vấn đề xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ ở Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn chế nhà khoa học nước ngoài gây bất lợi cho Indonesia?      Mặc dù một trong các xu hướng của thế giới là mở rộng hợp tác quốc tế nhưng dường như Chính phủ Indonesia lại đi ngược lại điều đó.      Họ đã đưa ra một dự thảo luật bao gồm những quy định khắt khe và cả hình thức phạt như án tù đối với những nhà nghiên cứu nước ngoài dám phá vỡ những quy định này.  Vào tháng 8/2017, bản dự thảo đã được báo cáo tại Hạ viện với những điều luật vô cùng khắt khe như các nhà khoa học nước ngoài sẽ cần giấy phép của chính phủ để thực hiện nghiên cứu và cần một văn bản thỏa thuận chuyển giao đặc biệt để đưa các mẫu vật, mẫu thí nghiệm khỏi Indonesia. Nhà nghiên cứu nào vi phạm các quy định này sẽ bị khép tội hình sự với các hình phạt khác nhau như án tù tối đa hai năm, nộp phạt tới 2 tỷ rupiah Indonesia (tương đương 143.000 USD). Các nhà khoa học quốc tế sẽ phải nộp dữ liệu thô cho Bộ Khoa học; các đồng nghiệp Indonesia sẽ được coi là đối tác ngang hàng trong dự án nghiên cứu; tên các nhà khoa học Indonesia tham gia dự án sẽ được xuất hiện trên các công bố quốc tế.  Dù đây mới chỉ là đề xuất nhưng các nhà khoa học Indonesia vẫn cảm thấy e ngại, nếu được thông qua, nó sẽ cản trở những hợp tác tiềm năng và cả các thực nghiệm cần thiết trong nghiên cứu. Do đó vào tháng tới, đại diện của hai viện hàn lâm khoa học Indonesia sẽ có cuộc găp gỡ các nhà chính trị với hi vọng sẽ thuyết phục họ xem xét kỹ các đề xuất trên.  Berry Juliandi – thành viên của Viện Hàn lâm khoa học trẻ và là nhà sinh học tại trường Đại học Nông nghiệp Bogor, nhận xét: “Những quy định mới sẽ chỉ ngăn cản các nhà khoa học nước ngoài thực hiện nghiên cứu ở Indonesia, và về thực chất thì nó bất lợi cho khoa học Indonesia”. Những đóng góp của các nhà khoa học quốc tế quan trọng với nghiên cứu của đất nước này bởi các tổ chức khoa học quốc tế không chỉ rót nhiều kinh phí mà còn đem đến nhiều công nghệ tiên tiến hơn cho những dự án được thực hiện ở Indonesia, anh nói thêm.Ngoài ra, những quy trình khắt khe của dự thảo còn hạn chế việc thu hút kinh phí nước ngoài trong thực hiện các đề tài nghiên cứu trong khi kinh phí nghiên cứu là vấn đề đau đầu của các nhà khoa học Indonesia.  Bảo vệ khoa học Indonesia?  Các tài liệu của Chính phủ Indonesia giải thích, những quy định này nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường năng lực nghiên cứu của khoa học Indonesia. Việc Chính phủ Indonesia đề xuất những quy định này không phải không có cơ sở. Vào tháng 2/2018, Sadjuga – giám đốc cơ quan sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học Indonesia), phát biểu tại một hội thảo về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu: trong quá khứ, một số nhóm nghiên cứu quốc tế đã “bỏ qua” đóng góp của nhiều nhà khoa học Indonesia và loại tên họ khỏi các công trình. Trong số 832 công bố là sản phẩm của các dự án nghiên cứu quốc tế được thực hiện ở Indonesia giữa năm 2010 và 2016, có 6% không có tên đồng tác giả Indonesia.  Một vấn đề khác là Chính phủ Indonesia e ngại tình trạng đánh cắp sinh học (biopiracy) – một thuật ngữ được dùng để miêu tả việc các nhà nghiên cứu vẫn thường sử dụng những hiểu biết truyền thống hoặc khai thác các nền văn hóa, các nền sinh học bản địa dù không được phép. Họ cho rằng nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài vẫn áp dụng nhiều cách để lấy trộm những nguồn gene quý của đất nước. Indonesia là một trong những khu vực đa dạng sinh học phong phú bậc nhất thế giới, vì thế hằng năm thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài tới thực hiện nghiên cứu, chủ yếu trong lĩnh vực động vật học, thực vật học, sinh vật biển…  Ông Rosichon Ubaidillah – người đứng đầu nhóm nghiên cứu về động vật của Phòng nghiên cứu sinh học thuộc Viện nghiên cứu Khoa học Indonesia (LIPI), cho rằng, “các nhà nghiên cứu nước ngoài có thể đã thu thập tài liệu nghiên cứu một cách hợp pháp nhưng những gì họ làm không phải lúc nào cũng mang tính đạo đức”. Năm 2017, Viện LIPI đã phải hủy bỏ hợp tác khoa học với một tổ chức của Đức vì từ chối thay đổi một thỏa thuận về chuyển giao vật liệu nghiên cứu mà họ cho là bất lợi với Indonesia.  Ủng hộ và phản đối  Bản dự thảo còn yêu cầu các nhà khoa học quốc tế phải đem lại “những sản phẩm có lợi cho Indonesia”. Erik Meijaard, một nhà khoa học về bảo tồn người Hà Lan làm việc tại trường Đại học Queensland tại St Lucia, Australia và hiện đang nghiên cứu về loài đười ươi ở Borneo, nhận xét: đề xuất của Chính phủ Indonesia “không khả thi” với các nhà nghiên cứu quốc tế. “Anh có thể thực hiện một nghiên cứu trong vòng vài năm, tìm ra được một số kết quả nhưng điều đó không có lợi cho Indonesia thì không được quyền công bố ư”. Meijaard cho biết thêm, về tổng thể, dự thảo có vẻ mơ hồ và “chắc chắn khiến các nhà nghiên cứu nước ngoài từ bỏ kế hoạch nghiên cứu ở Indonesia và ngăn cản nhiều người nghiên cứu ở Indonesia nếu không muốn phải đối mặt với nguy cơ không rõ ràng là có thể bị phạt hoặc bị bỏ tù”.      “Dự thảo có vẻ mơ hồ và “chắc chắn khiến các nhà nghiên cứu nước ngoài từ bỏ kế hoạch nghiên cứu ở Indonesia và ngăn cản nhiều người nghiên cứu ở Indonesia nếu không muốn phải đối mặt với nguy cơ không rõ ràng là có thể bị phạt hoặc bị bỏ tù” (Erik Meijaard – Đại học Queensland tại St Lucia, Australia )      Tuy vậy, Muhammad Dimyati – tổng giám đốc phụ trách vấn đề thúc đẩy R&D của Bộ Khoa học Indonesia cho rằng đất nước ông có quyền bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình vì lợi ích của người dân. “Các hình thức trừng phạt này chỉ nhằm mục tiêu nhắc nhở các nhà khoa học về vai trò của họ trong xã hội là tập trung vào tìm kiếm đổi mới sáng tạo để đem lại lợi ích cho con người mà không vi phạm các quy định của quốc gia”.  Không phải tất cả các nhà khoa học đều coi những hình phạt này là sai trái. Laksana Handoko – nhà vật lý tại LIPI ở Jakarta, ủng hộ các hình phạt cho các nhà nghiên cứu mang những mẫu vật ra khỏi Indonesia mà không có thỏa thuận chuyển giao. Đó là hành động ăn cắp, ông bình luận.  Theo quan điểm của Jason von Meding của trường Đại học Newcastle ở Australia, hiện đang nghiên cứu về giảm thiểu rủi ro ở Đông Nam Á, các nhà khoa học ở những nước đang phát triển cần bảo vệ công việc của mình và các nhà khoa học quốc tế không nên sợ hãi dự thảo nếu không làm điều gì sai trái. “Không quá khó khăn để một nhà nghiên cứu có đạo đức tuân thủ các quy định này”, von Meding nói. Tuy nhiên ông cũng nghĩ, sẽ phù hợp hơn nếu những hình phạt ở mức độ thấp hơn tội hình sự.  Thanh Nhàn tổng hợp từ Nature và Asiapacificreport  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/vai-goi-y-de-co-so-du-lieu-khcn-quoc-gia-tiem-can-voi-yeu-cau-cua-cmcn4/2018052303400200p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạn hán ở Cape Town: Đừng đổ lỗi cho biến đổi khí hậu      Kể từ tháng Năm, những cơn mưa mùa đông đổ xuống như một sự “ân xá” cho các công dân của Cape Town, Nam Phi. Thành phố đã chịu đựng hạn hán nghiêm trọng trong ba năm. Sự lo ngại về việc cạn kiệt nguồn nước trong mùa hè có thể tạm lắng xuống trong một năm nữa, hi vọng là thế. Nhưng hiện thành phố vẫn ở trạng thái vô cùng bấp bênh.      Chỉ còn rất ít nước trong đập Theewaterskloof ở Nam Phi trong tháng 5/2017. Nguồn: Nature.  Hiếm ai có thể ngờ rằng trong năm 2013, tình thế hoàn toàn ngược lại. Thời điểm đó, Cape Town là một trong những nơi có lượng mưa lớn nhất trong nhiều thập kỉ. Hồ chứa đã đầy, và các quan chức tuyên bố không cần phải tăng nguồn cung cấp cho đến tận năm 2020.  Sau đó, hạn hán bắt đầu. Mức hồ chứa đã giảm xuống còn 71% vào năm 2015 và 60% vào năm 2016. Khi chúng xuống tới 38% vào năm 2017, ngay khi bắt đầu một mùa hè nóng bức, mọi người bắt đầu hoảng sợ.  Chính quyền thành phố yêu cầu cư dân giảm lượng nước tiêu thụ của họ. Đối với các hộ ngoại thành, điều đó có nghĩa là thay vì sử dụng khoảng 200 lít/người/ngày chỉ còn 50 lít/người/ngày. Mặc dù người nghèo vẫn thường xuyên sống với lượng nước như vậy, những hộ giàu có ở ngoại thành đột nhiên phải từ bỏ việc dùng nước tưới vườn và thu thập nước tắm để phục vụ cho việc xả toa-lét. Thành phố giảm một nửa lượng nước sử dụng xuống chỉ còn hơn 500 triệu lít/ngày và tránh được “Ngày không có nước” (Day zero).  Cape Town là một trong nhiều thành phố đã phải hứng chịu nguồn cung nước giảm sút trong nhiều thập kỉ qua. Trong năm 2014 và 2015, nhiều khu vực của São Paulo ở Brazil chỉ nhận được nước hai ngày một tuần. Một khi các hồ chứa của thành phố đã cạn kiệt nguồn nước sạch, công ty tiện ích phải bơm và xử lý nước ô nhiễm. Trong năm 2008, Barcelona ở Tây Ban Nha đã phải vận chuyển nước từ Marseille, Pháp. Trong suốt hàng chục năm trời hạn hán kéo dài, Úc đã chi hàng tỷ AUD cho các nhà máy khử mặn, hầu hết trong số đó đã không được sử dụng sau khi khô hạn kết thúc.  Điều quan trọng là chúng ta phải rút ra được kinh nghiệm từ Cape Town và các nơi khác. Với việc đô thị mở rộng nhanh chóng như hiện nay, nhiều nơi sẽ phải đối mặt với các thách thức tương tự khi họ cạnh tranh với các khu vực xung quanh để có đủ nguồn nước cung cấp cho người dân. Các thành phố lớn cần phải bắt đầu lập kế hoạch lâu dài, tập trung vào việc giảm thiểu nguy cơ từ bất ổn khí hậu. Thật đáng buồn là sự thiếu hụt nước do thiên tai hoặc biến đổi khí hậu vẫn xảy ra thường xuyên do quản lý yếu kém.  Tầm nhìn ngắn hạn  Các vấn đề của Cape Town phần lớn đến từ sự chuyển hướng quản lý, từ việc dựa trên nghiên cứu khoa học và đánh giá rủi ro sang việc dựa theo “số đông”.  Kể từ những năm 1980, các khu đô thị lớn của Nam Phi đã sử dụng các mô hình hệ thống để hướng dẫn việc quản lý nước. Những mô hình này, do chính phủ quốc gia điều hành, được coi là đẳng cấp thế giới. Chúng lập bản đồ liên kết giữa lưu vực sông, hồ chứa và các kênh truyền dẫn; sử dụng dữ liệu thủy văn trong lịch sử để dự đoán dòng chảy có thể xảy ra. Sau đó, chúng được khớp với các dự báo về nhu cầu để đánh giá dung lượng nước cần dự trữ. Các mô hình hỗ trợ cho việc cung cấp nước theo thời gian thực, cũng như lập kế hoạch trong tương lai. Điều quan trọng là chúng cho phép các nhà lập kế hoạch đánh giá rủi ro của việc không cung cấp đủ nước đối với các đối tượng khác nhau, đánh giá sự hiệu quả cũng như mặt hạn chế của sự ứng phó.      Các thành phố cần phải thay đổi chiến lược, từ việc tập trung giải quyết hậu quả khủng hoảng sang việc quản lý hiệu quả nguồn nước cần thiết cho cuộc sống, sinh kế và môi trường.      Trong suốt hai thập kỷ qua, các nhà hoạch định chính sách đã chú ý đến các mô hình. Họ hướng dẫn các nhà quản lý, ví dụ như về thời gian và địa điểm khai thác nguồn nước, cũng như việc xây dựng các hồ chứa để cho phép Hệ thống cấp nước phía Tây Cape (WCWSS) để đáp ứng nhu cầu gia tăng với việc đô thị mở rộng và công nghiệp phát triển nhanh chóng.  Tuy nhiên việc xây dựng đập bị đình trệ trong những năm 2000, khi các nhà môi trường địa phương vận động chuyển trọng tâm sang bảo tồn và quản lý nhu cầu nước. Sự phản đối đó đã trì hoãn việc hoàn thành đập sông Berg tới tận sáu năm. Được đưa vào hoạt động năm 2009, con đập cuối cùng đã giúp nước lại chảy vào vòi của các hộ dân ở Cape Town trong mùa mùa hè này.  Năm 2009, các mô hình đã chỉ ra sự cần thiết phải tăng lượng nước cung cấp cho Cape Town sau năm 2015, nhưng các quan chức đã bác bỏ khuyến nghị này. Họ rất hoan hỉ với việc trì hoãn các khoản đầu tư lớn (vào việc đó) và dùng tiền cho việc khác. Họ đã bỏ qua việc các nông dân canh tác hoa quả và sản xuất rượu vang (được hưởng 1/3 lượng nước của vùng) không hề sử dụng hết lượng đó trong những năm nhiều mưa, và sử dụng nhiều hơn trong những năm khô hạn.  Giải pháp được đưa ra chỉ mang tính ngắn hạn. Sáu hồ chứa miền Tây Cape cung cấp nước cho thành phố có trữ lượng dưới hai năm: 890 triệu m3, trong khi mỗi năm cả thành phố dùng hết 570 triệu m3. Phải mất hai mùa đông khô liên tiếp, vào năm 2015 và 2016, các nhà chức trách mới nhận ra họ đang đối mặt với một nguy cơ lớn, và bắt đầu hành động: họ cấm việc sử dụng nước nhằm tưới vườn hoặc rửa xe, quảng bá rộng rãi các thiết bị tiết kiệm nước và tăng thuế.    Các nhà chức trách ra sức bảo vệ cho quyết định của mình. Họ thậm chí còn lý luận rằng việc họ không ứng phó được với đợt hạn hán khắc nghiệt như vậy vì “thật không thực tế nếu chi hảng tỷ rand cho việc phòng tránh cho một cơn khô hạn mà có thể chẳng bao giờ đến.”  Thế rồi đều khủng khiếp nhất đã xảy đến – một cơn đại hạn đã xảy ra vào năm 2017, với việc lượng mưa và dòng chảy thay đổi đến chóng mặt từ nơi này sang nơi khác và từ năm này sang năm khác. Từ mức 1250 mm của năm 2013, lượng mưa chỉ còn dưới 500 mm năm 2015 và 700mm năm 2017. Những dòng sông cạn nước, chỉ còn  bằng 20% của chính nó vào thời điểm những năm trước đây.  Điều đáng chú ý là việc ba năm khô hạn liên tiếp không phải là chuyện chưa từng có: thực tế điều này đã xảy ra vào cuối những năm 1930 hay trong năm 2002, 2003 và 2005. Bất chấp việc các mô hình thủy văn đã phản ánh rủi ro này, các nhà lãnh đạo Cape Town vẫn phớt lờ những hậu quả về mặt xã hội và tài nguyên của các quyết định của họ.  Nhưng giờ thì họ đã thấy: tổn thất trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng như các tổn thất gián tiếp (trong ngành du lịch…) đã lên đến hơn 2,5 tỷ rand Nam Phi (181 triệu USD) và giá nước thì tăng thêm 26%. Nếu như cơ sở hạ tầng được đầu tư 1 tỷ rand vào năm 2013-14 để ứng phó với hạn hán, họ sẽ chỉ tốn đến 75 triệu rand mỗi năm để trả lãi – một mức bảo hiểm quá rẻ, ngay cả khi rủi ro là vô cùng nhỏ.  Nhà chức trách ở Cape Town đã cố gắng đùn đẩy trách nhiệm, coi biến đổi khí hậu là một nguyên nhân không thể tránh khỏi của khô hạn kéo dài. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về việc các lưu vực biến đổi khác thường. Ngay lúc này đây, Cape Town đang phải đối mặt với thách thức là khu vực cung cấp nước cho phía Tây Cape có diện tích khá nhỏ.  Giờ đây những nhà quản lý lại sốt sắng trong việc thực hiện các đề án quản lý nước ngầm, tái sử dụng và cung cấp nước mà đã được đưa ra vào năm 2019. Cuộc khủng hoảng đã buộc họ phải xem xét kỹ lưỡng hơn các thách thức trong tương lai.  Vấn đề toàn cầu  São Paulo và Barcelona cũng từng phải chịu đựng những đợt khô hạn kéo dài, và những can thiệp chính trị càng làm trầm trọng thêm sự khủng khoảng. Rủi ro hạn hán của São Paulo đã được chỉ rõ trong các mô hình thủy văn, nhưng việc tranh cãi giữa chính quyền thành phố, tiểu bang và quốc gia đã trì hoãn việc chuẩn bị để ứng phó trong một thập kỷ. Tại Barcelona, sau một chiến thắng bất ngờ trong cuộc bầu cử năm 2004, Đảng Lao động Xã hội Tây Ban Nha đã cho dừng một chương trình về xây đập và vận chuyển đường sông đã được hoạch định từ lâu vì cam kết của các đồng minh trong khu vực.  Trung Quốc là một ví dụ ngược lại. Họ đã thành công trong việc đảm bảo nguồn nước cho một trong những thành phố lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất nhờ vào sự ứng phó thích đáng của chính phủ và các dự án cơ sở hạ tầng lớn: Đập Tam Hiệp, kiểm soát lũ lụt trên sông Dương Tử, và dòng chảy Nam – Bắc nhằm chuyển nước từ sông Dương Tử đến Bắc Kinh kể từ năm 2015. Rõ ràng quốc gia này đã rút ra một số bài học từ Nam Phi kể từ khi ông Wang Shucheng, chủ tịch Hội đập lớn Trung Quốc, tới khảo sát dự án Nước cao nguyên Lesotho vào năm 2002: một mạng lưới đường hầm và đập phân tầng chuyển nước từ núi Lesotho đến khu vực trung tâm đất nước. Khi trở về Trung Quốc, ông Wang đã thực hiện các dự án kỹ thuật lớn cần thiết để củng cố nguồn cung cấp nước song song với việc thực hiện các chương trình dài hạn để giảm ô nhiễm, quản lý nhu cầu và thúc đẩy sử dụng nước hiệu quả.  Quá trình chính trị  Thách thức lớn nhất đối với các nhà quản lý nguồn cung cấp nước đô thị thường là việc kịp thời đưa ra các quyết định chính trị với sự hỗ trợ của cộng đồng.  Không có cách tiếp cận tốt nhất để đạt được điều này. Ngoài việc triển khai các hệ thống quản lý nước mạnh mẽ như Trung Quốc, cải thiện sự hợp tác giữa các tổ chức khác nhau cũng đóng một vai trò quan trọng, vì các con sông thường vượt qua ranh giới chính trị trong khi quản lý nước thường được thực hiện ở lưu vực sông. Cape Town lấy nước từ hai con sông nằm ngoài ranh giới của nó, mỗi con sông được quản lý bởi một cơ quan khác nằm ở những khu vực khác.  Việc theo dõi và mô hình hóa thủy văn cần phải nhận được sự chú ý đầu tư nhiều hơn, hướng dẫn kỹ thuật cần phải là một phần của các quy trình chính trị. Tối thiểu các chính trị gia cần phải biết ai đang xây dựng mô hình và nhận được khuyến nghị từ họ. Việc có những thông tin hiệu quả như vậy sẽ giúp họ hành động phù hợp. Các nhà thủy văn phải cộng tác với các chuyên gia từ khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là kinh tế, chính sách và pháp luật, để phát triển các công cụ quản lý nước mà các nhà ra quyết định và công chúng có thể hiểu và sử dụng.  Cuối cùng, nhà chức trách cũng cần theo dõi và mô hình hoá  hành vi của con người. Thang đo dài hạn về sự can thiệp và ứng phó cần thiết cũng vần được diễn giải dễ hiểu hơn. Cuối cùng, không có chỗ cho những giải pháp ngây thơ như “sử dụng ít nước hơn” và “dựa vào cơ sở hạ tầng tự nhiên”.  Các thành phố cần phải thay đổi chiến lược, từ việc tập trung giải quyết hậu quả khủng hoảng sang việc quản lý hiệu quả nguồn nước cần thiết cho cuộc sống, sinh kế và môi trường. “Ngày không nước” hoàn toàn có thể xảy ra nếu chúng ta thất bại trong việc này.  Hạnh Duyên lược dịch  Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-018-05649-1          Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc đầu tư cho R&D: Năm sau hơn năm trước      Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và  phát triển cao nhất, bên cạnh Thụy Điển, Phần Lan và Nhật Bản.    Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Hàn Quốc (HQ) là một trong những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển cao nhất, bên cạnh Thụy Điển, Phần Lan và Nhật Bản. Một trong những lý do chính là để HQ phải khẳng định mình trước nước láng giềng Trung Quốc đang có những bước phát triển vượt bậc và trước Nhật Bản, quốc gia dẫn đầu về công nghệ.   Trong vòng mười năm, tỷ lệ đầu tư cho KH&CN của HQ đã tăng từ 2,3% lên 3,7% GDP vào năm 2010. Ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu năm 2011 và 2012 tăng lần lượt là 8,7% và 7,3%. Theo kế hoạch tài chính trung hạn thì mức tăng năm 2013 là 6,0%, 2014 là 4,9% và 2015 là 3,0%. Những lĩnh vực được đặc biệt quan tâm là công nghệ thông tin, công nghệ nano,  kỹ thuật môi trường và kỹ thuật năng lượng cũng như công nghệ sinh học.  Năm nay, ngân sách dành cho KH&CN đạt 16 nghìn tỷ Won (khoảng 14 tỷ USD), trong đó gần 5 nghìn tỷ Won thuộc về Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ (MEST), và 4,7 nghìn tỷ Won thuộc về Bộ Kinh tế tri thức (MKE). MEST chịu trách nhiệm về nghiên cứu nói chung trong khi MKE thiên về chính sách phát triển công nghiệp.  Trong khoản ngân sách này thì một phần đáng kể được dành cho nghiên cứu cơ bản, Chẳng hạn, ngân sách cho thành phố miền trung Daejeon, thủ phủ KH&CN của Hàn Quốc, từ nay đến năm 2017 là 5,17 nghìn tỷ Won (khoảng 4,6 tỷ USD), trong đó 456 tỷ Won dành để xây dựng hệ thống gia tốc Ionen KORIA (Korea Rare Isotope Accelerator). Cũng ở Daejeon còn có một dự án quan trọng khác là Viện nghiên cứu khoa học cơ bản (Institute for Basic Science – IBS). Được thành lập từ tháng 11/2011, IBS tương tự như Viện Max-Planck của Đức hay Viện Riken của Nhật. Dự kiến đến năm 2017 sẽ có khoảng 3.000 nhà khoa học làm việc tại 50 trung tâm nghiên cứu thuộc IBS.  Một số lĩnh vực sẽ được Hàn Quốc tăng đầu tư trong năm tới là phát triển laser điện tử tự do là nguồn sáng thế hệ thứ tư (4th Generation Light Source Project), tên lửa đẩy Korea Space Launch Vehicle II (KSLV II) và các công nghệ phục vụ công nghiệp trong tương lai, trong đó bao gồm Giga Korea Project đưa kết nối mạng mobile Internet đạt tốc độ 1 Gigabit/giây vào năm 2020.  Trên bình diện doanh nghiệp, theo Viện Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (Korea Institute for Advancement of Technology – KIAT), 10 doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất cho R&D trong năm 2010 là Samsung Electronics, LG Electronics, Hyundai Motor, Hynix, Kia Motors, LG Display, General Motors Korea, Korea Telecom, POSCO và Samsung Mobile Display – bình quân mỗi doanh nghiệp 760 tỷ Won (khoảng 680 triệu USD).  Xuân Hoài tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hàn Quốc hạn chế các nhà khoa học dự những hội thảo kém chất lượng      Với việc cho ra đời một chính sách mới, Hàn Quốc đang nỗ lực ngăn chặn các nhà nghiên cứu tới những hội thảo không có nhiều giá trị học thuật.      Với việc cho ra đời một chính sách mới, Hàn Quốc đang nỗ lực ngăn chặn các nhà nghiên cứu tới những hội thảo không có nhiều giá trị học thuật.  Bộ Giáo dục Hàn Quốc muốn ngăn chặn các nhà nghiên cứu tham gia các hội thảo được coi là “yếu” và ít giá trị học thuật. Bộ này đã loan báo vào ngày 17/10/2019 là sẽ yêu cầu tất cả các trường đại học chấp thuận các biện pháp đảm bảo cho việc xem xét một cách chặt chẽ việc tham dự các hội thảo quốc tế của các nhà nghiên cứu do trường quản lý nhằm “ngăn cản họ khỏi các hoạt động học thuật kém chất lượng”.  Quy định mới cua Bộ Giáo dục được ban hành sau một báo cáo vào tháng 5/2019 cho thấy 574 giáo sư từ 90 trường đại học khắp đất nước đã tham gia nhiều cuộc hội thảo được đánh giá là “yếu về chuyên môn”.  Người ta cho rằng một vài nhà nghiên cứu đa có dụng ý lựa chọn trả phí tham gia các hội thảo như vậy hoặc xuấy bản công bố trên các tạp chí chất lượng thấp – một vài trường hợp trong số này được coi là “lợi dụng” – bởi đây là cách làm dễ dàng và nhanh nhất để tăng thêm một công trình hoặc một báo cáo hội thảo vào lý lịch học thuật của mình, hoặc tăng thêm kinh nghiệm trong việc trình bày vấn đề khoa học tại các hội thảo quốc tế.  Changgu Lee, một nhà khoa học vật liệu tại trường đại học Sungkyunkwan tại Suwon, đã  đón nhận một cách thoải mái sự giám sát này Bộ Giáo dục. “Nhiều người có vô số tiền nghiên cứu và muốn có một kỳ nghỉ tại một nơi chốn đẹp nhưng lại không muốn quan tâm đến những trách nhiệm học thuật khi đến dự các hội thảo như thế”, ông đề cập đến trường hợp những nhà nghiên cứu chỉ chăm chăm chọn con đường dễ dãi này.  Với chính sách mới, các nhà nghiên cứu sẽ phải điền vào các bản liệt kê trước khi tham dự các hội thảo ở nước ngoài và sau đó gửi các danh sách đó lên trường đại học của mình, nơi các nhà quản lý sẽ dựa vào đó để sàng lọc xem sự phù hợp của các lĩnh vực học thuật và hoạt động nghiên cứu của họ hay không, Bộ Giáo dục đã trả lời Nature bằng văn bản như vậy.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-03372-z       Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạnh phúc của nhà nghiên cứu độc lập*      Ngày 24/3 vừa qua, nhà nghiên cứu thư tịch cổ Trung Hoa Phạm Hoàng Quân đã được trao giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ tám năm 2015 cho những công trình nghiên cứu sử liệu Trung Quốc liên quan đến biển Đông. Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải, ông chia sẻ về những cái sướng cũng như cái khổ từ kinh nghiệm của người đã có gần 20 năm làm nghiên cứu độc lập.      Tôi được sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghiên cứu, bản thân lại không được may mắn học hành chính quy; phương pháp nghiên cứu, các ngành khoa học liên quan và chữ Hán đều mày mò tự học. Ước nguyện của tôi lúc vào đời lại thiên về bộ môn mỹ thuật, một dịp tình cờ, tôi nhận viết một khảo cứu về lịch sử hội họa và thư pháp của Hoa kiều ở Sài Gòn – Chợ Lớn, những tưởng vì sự yêu thích nhất thời viết lách cho vui, không ngờ đó là điểm khởi đầu để tôi gắn với nghiệp nghiên cứu cho đến nay.   Có lẽ một phần do cá tính, một phần do ảnh hưởng bởi đặc thù của bộ môn mỹ thuật, tôi đã chọn nghiên cứu độc lập làm hướng đi cho mình. Nhân đây tôi xin chia sẻ với quý vị đôi điều về những thuận lợi và trở ngại của một người nghiên cứu đơn độc.   Có ba điều rất hay. Đầu tiên là tôi không phải dự các buổi họp, không phải giao tiếp lễ lạt, nghĩa là dành được hết thì giờ cho việc đọc sách, giữ được mạch suy nghĩ không bị gián đoạn. Kế đến là luôn được làm việc trong trạng thái không bị áp lực, không bị khống chế bởi thời gian, tôi được chủ động điều độ thời gian trong việc làm của mình. Điều hay thứ ba là tôi được chọn lĩnh vực hoặc đề tài mà mình thích nhất, và trong đề tài ấy, tôi lại được tự xác định việc nào cần phải làm trước. Ba điều đơn giản vậy thôi nhưng tôi cảm thấy thật là hạnh phúc khi giữ được chúng.                 Trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước, mà trong đó đáng ngại đáng lo nhất là chưa theo kịp trình độ của người Trung Quốc.                 Nhưng bên cạnh đó, nghiên cứu độc lập phải đương đầu với không ít khó khăn. Thứ nhất là chuyện giải quyết nhu cầu cuộc sống cơ bản, giải quyết được vấn đề này thì kế đến là tài liệu sách vở, tư liệu không phong phú dồi dào thì kiến thức hạn hẹp, làm sao nghiên cứu sâu. Mua sách thì tốn kém vô biên, hoàn cảnh của tôi nhiều lúc khát sách tợ như doanh nghiệp khát vốn, tuy nhiên lần hồi tích góp, bè bạn yểm trợ và cộng thêm sự hào phóng của nhiều thư viện điện tử quốc tế, vụ này cũng tạm ổn. Một trở ngại khác lớn hơn là việc tìm tài liệu ở thư viện công, nước ta trước giờ nói chung khắt khe đối với những người không thuộc cơ quan nghiên cứu công, nên đã một thời gian dài tôi không được tham khảo nguồn này, gần đây tuy có được vài ngoại lệ, nhưng tiếc là những ngoại lệ này đến chậm. Những trở ngại ấy tuy không thể làm nản lòng, nhưng có điều đáng tiếc là một số công trình phải chịu mất nhiều thời gian hơn dự tính.  Từ hoàn cảnh của mình, tôi thấy rằng dù cá nhân hay tập thể, muốn có thành tựu nghiên cứu tốt phải hội đủ ba yếu tố là: tinh thần khoa học, năng lực nghiên cứu và sách vở tài liệu, hay nói rõ hơn, sách cùng với tài liệu là vốn liếng cơ bản, năng lực là tay nghề là trình độ, và tinh thần khách quan khoa học là không thiên về cảm tính hoặc bị chi phối bởi tinh thần dân tộc. Chẳng hạn, trong lúc nghiên cứu về lịch sử biển Đông, tôi tìm hiểu, kê cứu, hệ thống và đối chiếu so sánh nguồn sử liệu Trung Hoa chỉ vì muốn hiểu biết cặn kẽ và tường tận những ghi chép trong sử liệu thực. Lúc đọc hiểu tư liệu cũng như lúc phân tích chuỗi sự kiện, tôi không nghĩ mình là người dân của một quốc gia nào, lúc này chỉ có tính khách quan của khoa học dẫn dắt.   Điều băn khoăn khó nói mà tôi cũng muốn chia sẻ là khi nhìn kỹ lại hoạt động học thuật sử học trong bối cảnh hiện nay, trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước, mà trong đó đáng ngại đáng lo nhất là chưa theo kịp trình độ của người Trung Quốc.   Mấy mươi năm qua, nền sử học nước ta đã để quá nhiều khoảng trống trong nghiên cứu cơ bản, riêng ở lĩnh vực nghiên cứu biển Đông, giới sử học trong nước hầu như chưa làm tròn trách nhiệm ở nhiều mặt, chỉ lướt qua công việc dịch thuật, mà sản phẩm của nó là nguồn căn cứ thiết yếu trong nghiên cứu đối sánh, đã thấy còn quá nhiều điểm đáng lo ngại.   Chúng ta chưa có một tổng tập bản dịch và chú giải tư liệu lịch sử Trung Quốc, nhằm nắm rõ thực hư ý nghĩa của sử liệu; chưa dịch công trình nghiên cứu tiêu biểu nào của học giới Trung Quốc hiện nay, để nắm bắt được thông tin mới cũng như theo dõi đà tiến triển qua trình độ học thuật của họ; lại cũng chưa dịch hoặc dịch quá ít ỏi các bài viết, các sách nghiên cứu về quan hệ Trung – Việt, quan hệ Trung – Ngoại, kể từ thời các học giả Viện Viễn Đông bác cổ Pháp khởi sự cho đến nay, trong khi các nghiên cứu này chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan đã được phân tích, v.v; chưa dịch các sách công cụ cơ bản phục vụ cho nghiên cứu, do người Trung Quốc soạn, và mặt khác, cũng chưa thấy dịch hoặc giới thiệu, phổ biến những sách công cụ đồng dạng nói trên bằng Anh ngữ do học giới phương Tây biên soạn.               Lịch sử học thuật sử học Việt Nam thật sự đã để lại nhiều khiếm khuyết, đã để xảy ra tình trạng thiếu hụt kiến thức nền trầm trọng đến mức báo động, lỡ lầm này buộc những người nghiên cứu sử phải nhận trách nhiệm. Trách nhiệm này là trách nhiệm đối với học thuật. Vì rõ ràng không thể lấy lý do bị ràng buộc bởi hệ tư tưởng để bào chữa tất cả những khuyết điểm ấy, bởi trong đó rất nhiều vấn đề thuần khoa học. Chừng nào mỗi người tâm huyết cùng nỗ lực chung tay khắc phục khiếm khuyết của quá khứ, thì nền sử học mới có thể lấy lại thăng bằng, chừng nào người nghiên cứu sử – bất kể công hay tư – ngoài sự miệt mài dốc sức còn nghĩ thêm một điều lấy cạnh tranh học thuật với bên ngoài làm thú vui, thì lúc ấy học thuật sử học mới có đà phấn phát.               Vấn đề nghiên cứu lịch sử biển Đông nói trên thật ra chỉ là một mảng nhỏ trong hoạt động học thuật sử học, nhưng nó cũng phản ánh tình hình chung. Nhìn bao quát, sự thiếu hụt kiến thức bên ngoài đã dẫn đến tình trạng giới sử học cứ mãi nói chuyện trong nhà. Trong khi ở Trung Quốc hiện nay, học giới đã tiến đến hình thành nhóm chuyên gia “dịch bình”, quy tụ những người vừa có nghiệp vụ nghiên cứu vừa rất giỏi ngoại ngữ, chuyên lo chuyện đọc và phê bình riêng các bản dịch sách nghiên cứu sau xuất bản, họ muốn những công trình nghiên cứu tầm cỡ bên ngoài phải đến tay học giới trong nước bằng một bản dịch thật chuẩn xác thật hoàn hảo. Ở Phnom Penh hiện nay, trong nhà sách ngoại văn tại Số 1 đường Norodom, sách nghiên cứu sử nổi bật trong nhiều loại sách nghiên cứu khác, nhẩm tính số lượng nhiều hơn ở Sài Gòn gấp bảy hoặc tám lần…     (Trích diễn từ nhân dịp nhận giải thưởng Phan Châu Trinh)  ————————————————————  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạnh phúc được sống trong một tăng thân khoa học có nhiều tình thương và tuệ giác      Ngày 1-1-1982, khi mới hơn 23 tuổi một chút,  tôi được nhận vào làm việc ở Viện Toán học, Viện Khoa học Việt Nam (nay  là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Làm khoa học cũng  giống như đi tu; mỗi người tu nghiệp nghiên cứu, giảng dạy, và ứng dụng  một môn khoa học nào đó. Trong 33 năm qua, tôi đã may mắn được tu nghiệp  tại Viện Toán học, một đơn vị mạnh của tăng thân khoa học Việt Nam rộng  lớncó rất nhiều tình thương và tuệ giác. Thật hạnh phúc khi được làm  một tế bào nhỏ bé của một cơ thể khỏe mạnh như thế.      Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:  Yêu cành hoa bên những vực sâu   Yêu hoa một phần nhưng chính là yêu sự hái  Biết bao tình yêu còn lại   Nhờ một cành hoa không đâu.  (“Hái hoa”, 12-6-1980)  Bài báo được trao giải hôm nay – mà tôi viết chung với TS. Nguyễn Thành Quí, một giảng viên trẻ của Đại học Cần Thơ – là một trong số những cành hoa không đâu chúng tôi đã hái ở bên vực sâu (bảo là hoa được hái ở trên núi cao – cái đối ngẫu của vực sâu – thì cũng đúng). Vực sâu (hay núi cao) này là  giải tích biến phân, một lý thuyết mà những dòng đầu tiên của sách chuyên khảo có thể đã nói đến sự hội tụ của những dãy véctơ trong không gian đối ngẫu của không gian Banach theo tôpô yếu (được chúng tôi gọi đùa là “tôpô-yếu-làm-sao”, nói đầy đủ là “tôpô-[mà những hiểu biết của chúng tôi về nó mới]yếu-làm-sao”).   Tôi thiển nghĩ rằng để bơi được trong những dòng chính của các lý thuyết khoa học, chẳng còn cách nào khác là phải kiên trì cùng nhau xây dựng một tăng thân khoa học đẹp, có nhiều tình thương và tuệ giác, hội nhập quốc tế sâu rộng, chấp nhận sự cạnh tranh quốc tế khốc liệt về các ý tưởng mới, các kỹ thuật mới.  Nhận giải thưởng hôm nay, tôi nhớ đến một năm học lớp vỡ lòng,7 năm phổ thông đầu tiên học ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ, 3 năm học ở Khối Phổ thông chuyên toán Đại học Sư phạm Hà Nội, 1 năm học Dự bị ngoại ngữ và ôn luyện kiến thức cơ bản ở Đại học Kỹ thuật Quân sự, 5 năm học ở Đại học Tổng hợp Minxcơ, những năm làm nghiên cứu sinh dưới sự dẫn dắt của Giáo sư  Phạm Hữu Sách và Phó Giáo sư Phạm Huy Điển; tôi nhớ ngày mà Giáo sư Trần Đức Vân – khi đó là Viện trưởng Viện Toán học – gửi công văn kính đề nghị Giáo sư Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Viện Khoa học Việt Nam, tài trợ cho tôi một phần kinh phí sang Ba Lan bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học (đề nghị đó đã được chấp nhận)…, và biết bao chuyện khác nữa.   Xin cảm ơn Viện Toán học, Hội đồng ngành Toán của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, và Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã cho tôi vinh dự được nhận giải thưởng này.  Hiểu sâu sắc rằng “ta được làm bởi những cái không phải ta” và “không có ranh giới thực sự giữa ta và người”, nhân dịp này tôi xin được cám ơn cha mẹ tôi, gia đình và họ hàng của tôi, các thầy cô giáo đã từng dạy dỗ tôi, các đồng nghiệp gần xa, bạn bè, và các học trò của tôi đã luôn giúp đỡ, động viên tôi.  Tôi nguyện sẽ tiếp tục làm hết sức mình trong việc nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng toán học, xây dựng nhóm nghiên cứu, và đại diện xứng đáng cho nước nhà ở những tạp chí mà tôi tham gia ban biên tập hoặc làm phản biện, ở những hội nghị khoa học mà tôi có báo cáo.  (Trích phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu sáng 16/5)  Vài nét về tác giả:  GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học – Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam) được trao giải Tạ Quang Bửu 2015 với hai công trình “Stability of linear-quadratic minimization over Euclidean balls” và “A class of linear generalized equations”, gọi chung là cụm công trình “Nghiên cứu tính ổn định và tính ổn định vi phân của một lớp bài toán quy hoạch toàn phương không lồi”. Hai công trình này mở đường cho một lớp bài toán có nhiều ứng dụng trong lý thuyết tối ưu bằng cách đưa ra một khái niệm hoàn toàn mới để giải quyết lớp bài toán đó một cách hiệu quả nhất.  Hai công trình đã được đăng trên tạp chí SIAM Journal on Optimization, là tạp chí đứng thứ sáu về chỉ số ảnh hưởng, thứ bảy về chỉ số trích dẫn trong số 251 tạp chí khoa học chuyên ngành của cơ sở dữ liệu ISI.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Hạt nhân đầu tiên của hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu – khởi nghiệp của đại học Phenikaa: 8 nhóm nghiên cứu mạnh      Việc Đại học Phenikaa thành lập nhóm nghiên cứu mạnh là nhằm tập hợp đội ngũ các nhà khoa học xuất sắc, hình thành những tập thể nghiên cứu mạnh có khả năng giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ lớn, đi từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ.    Đây cũng là hoạt động cần thiết của một đại học để giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, hỗ trợ tích cực hoạt động giảng dạy đại học và sau đại học, gắn kết chặt chẽ đào tạo và nghiên cứu khoa học, qua đó giúp người học tiếp cận với những vấn đề khoa học và công nghệ mới của thế giới và nâng cao khả năng hội nhập quốc tế của trường. Ngày 15/5, Đại học Phenikaa tổ chức lễ công bố quyết định và ra mắt 8 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực Vật liệu nano trong y sinh, môi trường và năng lượng, Hóa dược và Hoạt chất sinh học, Các hệ thống thông tin thông minh và Cảm biến nano, Quang tử và Quang điện tử, Vật lý năng lượng cao và Vũ trụ học, và Phân tích dữ liệu lưới trong Khoa học xã hội.    Lễ ra mắt các nhóm nghiên cứu mạnh Trường đại học Phenikaa.  Các nhóm nghiên cứu mạnh của trường được tuyển chọn thông qua sự đánh giá nghiêm túc, cẩn trọng của Hội đồng xét duyệt bao gồm các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam như GS.TS. Nguyễn Đức Chiến, GS.TS. Mai Thanh Tùng (trường Đại học Bách khoa Hà Nội), GS.TS. Trần Đại Lâm (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), GS.TS. Đào Tiến Khoa (Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân), và GS.TS. Nguyễn Hải Nam (trường Đại học Dược Hà Nội).  8 trưởng nhóm nghiên cứu mạnh được lựa chọn lần này đều là những nhà khoa học xuất sắc với nhiều công bố quốc tế và có nhiều kinh nghiệm dẫn dắt các nhóm nghiên cứu thành công như PGS.TS. Phạm Thành Huy (74 công bố ISI, 8 bằng sáng chế/giải pháp hữu ích), GS.TS. Nguyễn Văn Hiếu (Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2016), PGS.TS. Phùng Văn Đồng (Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho nhà khoa học trẻ năm 2016), TS. Raja Das (JSPS Scholar – Nhật Bản, các năm 2018 và 2019). Các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh được lựa chọn hiện đang là giảng viên cơ hữu và là các trưởng nhóm nghiên cứu tại Đại học Phenikaa.  Đặc biệt, các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Phenikaa được phân ra làm hai loại hình: nhóm nghiên cứu cơ bản và nhóm nghiên cứu ứng dụng. Các tiêu chí đối với trưởng nhóm và các thành viên nghiên cứu chủ chốt thuộc mỗi loại hình cũng khác nhau. Các yêu cầu về kinh nghiệm, năng lực công bố, chất lượng công bố, số lượng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, kinh nghiệm hợp tác với doanh nghiệp, số hợp đồng chuyển giao công nghệ và số lượng trích dẫn của trưởng nhóm nghiên cứu mạnh cũng như các thành viên nghiên cứu chủ chốt được lượng hóa cụ thể.    PGS.TS Phạm Thành Huy – Hiệu trưởng Đại học Phenikaa, Trưởng nhóm nghiên cứu Quang điện tử và Quang tử.  Kết quả nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu mạnh cũng được yêu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng công bố nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển dài hạn và phát huy tối đa năng lực của các giảng viên, nhà khoa học trong Đại học Phenikaa.  Trong 8 nhóm nghiên cứu mạnh được thành lập có 7 nhóm nghiên cứu cơ bản, trong đó có 6 nhóm nghiên cứu về khoa học Tự nhiên và kỹ thuật, công nghệ và 1 nhóm nghiên cứu về Khoa học Xã hội và nhân văn.  Đánh giá về các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Phenikaa, GS. Nguyễn Đức Chiến cho biết: “So với tiêu chuẩn chung về nhóm nghiên cứu hiện nay, Đại học Phenikaa đã đặt ra các tiêu chuẩn rất cao cho vị trí trưởng nhóm đồng thời nêu rõ quy định rất cụ thể vai trò, trách nhiệm của trưởng nhóm và các thành viên nghiên cứu chủ chốt cũng như hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh. Chính vì vậy, các trưởng nhóm được lựa chọn lần này đều là các nhà khoa học có thành tích nghiên cứu rất xuất sắc”.  Yêu cầu cụ thể đối với nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản là mỗi năm phải công bố ít nhất 5 công trình khoa học là các bài báo trên các tạp chí hạng Q1 (theo tiêu chuẩn của SCImago Journal Rankings), hoặc 8 công trình khoa học trên các tạp chí quốc tế ISI/Scopus, trong đó có ít nhất 3 công trình hạng Q1. Mỗi công trình khoa học hạng Q1 có thể được thay thế bằng một sách chuyên khảo. Đối với nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, trong vòng 3 năm phải chuyển giao được ít nhất 1 quy trình công nghệ cho các doanh nghiệp (với tổng kinh phí chuyển giao công nghệ trên 500 triệu đồng), hoặc đăng ký thành công 2 sáng chế/giải pháp hữu ích trong nước hoặc quốc tế.  Nhằm hỗ trợ tối đa cho hoạt động nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu mạnh sẽ được nhận tài trợ từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Tập đoàn Phenikaa cho việc xây dựng các phòng thí nghiệm, mua trang thiết bị, tuyển dụng postdoc (nghiên cứu sau tiến sỹ), học bổng cho NCS tiến sỹ, thạc sỹ và sinh viên. Mức kinh phí đầu tư cho trang thiết bị nói riêng của mỗi nhóm là 4 tỷ đồng cho 3 năm đầu và kinh phí không hạn chế đối với những nhóm nghiên cứu có mục tiêu phát triển công nghệ ứng dụng. Các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh được giao quyền chủ động tối đa trong việc phát triển hướng nghiên cứu và tuyển chọn nhân sự, nhưng phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu. Ngoài ra, hoạt động của các nhóm nghiên cứu mạnh sẽ gắn kết với nghiên cứu của các Khoa và đặc biệt là 3 Viện nghiên cứu của trường: Viện Nghiên cứu Tiên tiến Phenikaa (PIAS – tập trung vào nghiên cứu khoa học cơ bản), Viện Nghiên cứu và Công nghệ Phenikaa (PRATI – tập trung vào khoa học ứng dụng và phát triển công nghệ), Viện Nghiên cứu Nano (PHENA – nghiên cứu về vật liệu và công nghệ nano) – Ba Viện nghiên cứu này đều được xây dựng theo mô hình quốc tế, với sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất từ Tập đoàn Phenikaa.  Các nhóm nghiên cứu mạnh cùng với các Viện nghiên cứu PIAS, PRATI, PHENA chính là những hạt nhân đầu tiên của hệ sinh thái Đào tạo – Nghiên cứu – Khởi nghiệp của Đại học Phenikaa và Tập đoàn Phenikaa nhằm đạt mục tiêu đưa trường trở thành một đại học xuất sắc trong đào tạo và nghiên cứu đạt chất lượng quốc tế.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/hat-nhan-dau-tien-cua-he-sinh-thai-dao-taonghien-cuukhoi-nghiep-cua-dai-hoc-phenikaa-8-nhom-nghien-cuu-manh/2019050903273294p1c160.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hãy ủng hộ sự công khai      Dù vẫn thường dạy bảo con em mình phải biết cách chia sẻ nhưng trong môi trường học thuật, chúng ta lại hành xử ngược lại. Ngay đến các nhà khoa học giàu kinh nghiệm cũng đưa ra những thông điệp rõ ràng: hãy khóa kỹ công trình trên các tạp chí nghiên cứu uy tín phải đặt mua; hãy giữ chặt dữ liệu; ganh đua thay vì hợp tác.     Đây cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến  sự thiếu lành mạnh trong nền văn hóa học thuật của chúng ta. Vì vậy, cần  phải thay đổi nó.  Hằng ngày, chúng ta tìm ra những khám phá đáng kinh ngạc, một vài trong số đó thậm chí có thể cứu mạng người. Nhưng những thông tin khám phá đó, chúng ta lại khóa chặt trong những cuốn tạp chí mà phần lớn người dân không thể đọc được, bởi ở nhiều nơi trên thế giới, đặt mua tạp chí quá tốn kém. Khoản tiền mà một số trường đại học của Mỹ hoặc Anh trả cho một nhà xuất bản trong một năm tương đương với một tỷ lệ không nhỏ ngân sách được cấp hằng năm của các tổ chức nghiên cứu tại những quốc gia kém phát triển hơn (hơn 10% đối với một số tổ chức nghiên cứu ở Mỹ Latin). Kinh phí đặt mua phiên bản điện tử của một tạp chí đẳng cấp có thể tương đương với nguyên năm lương của một nhà nghiên cứu.   Rào cản chi phí hạn chế đổi mới  Thiếu tiếp cận với thông tin sẽ cản trở việc học hỏi, hạn chế đổi mới và làm chậm tiến bộ khoa học. Tôi đã chứng kiến các đồng nghiệp nghiên cứu đề tài sức khỏe cộng đồng phải vất vả lắm mới tiếp cận được những bài báo về những phát triển mới nhất trong lĩnh vực của mình. Bản thân tôi cũng vấp phải những rào cản đó mỗi ngày. Dù đã tìm mọi cách để kiếm được bản gốc của tác giả hoặc xin được bài báo từ những người mà tôi tiếp cận qua email hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng nhưng vẫn có một số bài báo mà tôi không thể tiếp cận được và lúc đó chỉ còn biết tự hỏi rằng liệu có bị sót thông tin quan trọng nào không.   Vì vậy một trong những điều quan trọng nhất trong môi trường học thuật là cam kết công khai các công trình nghiên cứu từ chính bản thân các nhà nghiên cứu.  Tôi là nhà nghiên cứu mới bắt đầu sự nghiệp, và đã cam kết công khai tất cả các công trình nghiên cứu của mình, thôi xuất bản chúng ở những tạp chí truy cập đóng như Nature, Science. Dù các cố vấn và đồng nghiệp vẫn bảo rằng đó là tự sát nghề nghiệp, nhưng tôi không tin như vậy.   Thực tế cho thấy, xuất bản công khai, dù theo hướng các tạp chí truy cập mở (open access) hay tự lưu trữ (self-archiving), đều có thể dẫn đến nhiều trích dẫn hơn và nhiều minh bạch hơn cho nghiên cứu. Điều đó đóng vai trò đặc biệt quan trọng với những nhà nghiên cứu khi nỗ lực khẳng định tên tuổi ở giai đoạn đầu sự nghiệp.   Thật đáng khích lệ là một số tổ chức nghiên cứu khi tuyển dụng, bổ nhiệm, và đề bạt giờ đây đã sử dụng các công trình công bố truy cập mở.  Bình duyệt phải minh bạch   Nhiều nhà nghiên cứu lo lắng về chất lượng bình duyệt ở những tạp chí truy cập mở. Dẫu vậy, vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để so sánh vấn đề bình duyệt giữa các tạp chí truy cập mở với tạp chí đặt mua. Nghiên cứu của John Bohannon trên tạp chí Science năm 2013 cho thấy một vài tạp chí truy cập mở đã dễ dàng chấp nhận đăng một bài nghiên cứu giả (spoof paper)1. Nhưng vẫn có những nhà xuất bản truy cập mở danh tiếng, như Frontiers, Hindawi và  PloS, đã loại bỏ bài báo đó. Gần đây, người ta lại phát hiện hơn 100 bài nghiên cứu giả từ những tạp chí phải đặt mua do Springer và IEEE xuất bản, chứng tỏ những kẽ hở trong hệ thống bình duyệt không phải là chuyện riêng của các tạp chí truy cập mở. Và việc bình duyệt ở những tạp chí truy cập mở thường minh bạch – ban biên tập tạp chí công khai từng phần phê bình và từng thay đổi của bài báo để bất cứ ai quan tâm cũng có thể kiểm chứng.   Dĩ nhiên, sự công khai không chỉ giới hạn ở việc công bố trên những tạp chí truy cập mở. Nếu các nhà nghiên cứu cảm thấy cần thiết phải công bố trên những tạp chí đặt mua thì vẫn luôn có thể chọn hình thức green open access2 và tự lưu trữ một bản sao trong một kho lưu trữ mở. Trong bối cảnh này, điều quan trọng là các tác giả biết rõ quyền của họ và không phó mặc nó cho các nhà xuất bản. Cách tốt nhất để đăng tải bài báo ở nơi mình muốn mà vẫn đảm bảo được quyền công khai là gắn thêm một điều khoản về quyền tác giả (author addendum) khi đưa ra thỏa thuận xuất bản.   Như vậy, xuất bản công khai giúp công trình khoa học hiện diện nhiều hơn, công chúng – những người nộp thuế – có thể truy cập nghiên cứu của bạn, và cơ hội để nghiên cứu của bạn có thể ảnh hưởng tới chính sách của các nhà quản lý sẽ lớn hơn.      Thanh Nhàn dịch  (Nguồn: http://www.theguardian.com/higher-education-network/blog/2014/aug/22/university-research-publish-open-access-journal)  *Nhà nghiên cứu khoa học thần kinh thực nghiệm và điện toán (experimental and computational neuroscience), người nhiệt thành ủng hộ truy cập mở, dữ liệu mở và khoa học mở.  Đọc thêm:   Giải phóng khỏi nỗi ám ảnh hệ số ảnh hưởng   http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&ctl=EditArticle&mid=525&News=7991&CategoryID=36&Insert=1    ———-  1 Bài nghiên cứu do nhà sinh vật học Bohannon và một nhóm các nhà khoa học dựng lên với nhiều lỗi sai trầm trọng trong số liệu và cả thông tin giả về tác giả và viện nghiên cứu. Có thể đọc thêm thông tin tại http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=7748&CategoryID=36.  2 Có hai cách mà các tác giả có thể cung cấp truy cập mở là ‘green’ open access và ‘gold’ open access.   Green open access là tự lưu trữ bài nghiên cứu của mình trên một kho lưu trữ mở. Với cách này, các tác giả dù công bố công trình trên bất kỳ tạp chí nào thì đều tự lưu trữ một bản sử dụng chung miễn phí trong kho lưu trữ của đơn vị mình, kho lưu trữ trung tâm (ví dụ như PubMed Central), hoặc trên một số trang truy cập mở khác.   Gold open access là công bố trên một tạp chí truy cập mở, nơi cung cấp truy cập mở ngay lập tức với tất cả các bài viết của tác giả, thường là trên website của nhà xuất bản. (Theo wikipedia).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế công tác thống kê KH&CN      Trong hai ngày 24-25/11/2014, tại Hà Nội, tiểu dự án FIRST-NASATI đã phối hợp với Cục Thông tin KH&amp;CN Quốc gia, Cục Ứng dụng và phát triển Công nghệ, Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ tổ chức Hội thảo quốc tế: Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế.  Tia Sáng xin lược thuật bài tham luận của TS Lê Xuân Định, Giám đốc Cục Thông tin KH&amp;CN Quốc gia – cơ quan chủ trì tiểu dự án.        Đặt vấn đề  Công tác thống kê KH&CN có chức năng, nhiệm vụ cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và là một trong những cơ sở quan trọng để hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch ngành KH&CN, thiết lập hệ thống quan trắc và đánh giá các chính sách và đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng hiện nay chất lượng, hiệu quả của các thông tin thống kê KH&CN còn hạn chế: Phần lớn các chỉ tiêu thống kê về cơ bản là sơ sài; các báo cáo cung cấp thông tin thống kê mới dừng lại ở mức độ các bảng biểu số liệu thống kê, thiếu phần phân tích; số liệu thống kê thiếu độ tin cậy, tình trạng không thống nhất số liệu giữa các bảng biểu thống kê trong kỳ báo cáo hoặc giữa các kỳ báo cáo với nhau còn xảy ra ở khá nhiều cơ quan đơn vị. Do vậy, các kết quả phân tích từ hoạt động thống kê hiện nay chưa đánh giá được một cách xác thực, toàn diện mức độ kết quả thực hiện nhiệm vụ trong từng lĩnh vực KH&CN, làm cơ sở điều chỉnh các giải pháp, hoạch định chính sách, kế hoạch, tổ chức triển khai công việc trong phạm vi toàn ngành.         Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, công tác thống kê, đo lường, đánh giá KH&CN của Việt Nam hơn lúc nào hết đòi hỏi phải được xây dựng và phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập, đáp ứng yêu cầu quản lý và phục vụ so sánh quốc tế, nhằm cung cấp những số liệu và bằng chứng thuyết phục nhất phục vụ công tác hoạch định chiến lược, chính sách, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các hoạt động KH&CN.   TS Trần Quốc Khánh – Thứ trưởng Bộ KH&CN phát biểu khai mạc hội thảo “Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KHCN và đổi mới sáng tạo”.        Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, hơn lúc nào hết công tác thống kê của KH&CN của Việt Nam phải được xây dựng và phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Và để góp phần thực hiện được nhiệm vụ này, lãnh đạo Bộ KH&CN đã giao cho Cục Thông tin KH&CN Quốc gia chủ trì tiểu dự án: Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Strengthening Results Measurement in Science, Technology and Innovation) thuộc Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ”.    Mục tiêu và nhiệm vụ của tiểu dự án  Mục tiêu:  Nâng cấp và hiện đại hóa việc thu thập, phổ biến và sử dụng các số liệu thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới từ các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu. Các nhiệm vụ cụ thể của Tiểu hợp phần 1(b) bao gồm: (i) tăng cường năng lực và thực hiện công tác thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dựa trên tiêu chuẩn quốc tế; (ii) xây dựng khung giám sát và đánh giá để đo lường hiệu quả của các tổ chức nghiên cứu và phát triển; (iii) xây dựng phương pháp lập bản đồ công nghệ/lộ trình công nghệ và phân tích khoảng cách đổi mới công nghệ đối với các ngành sản xuất được lựa chọn; và (iv) xây dựng ngân hàng dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.  Các nhiệm vụ chính:  Tăng cường công tác thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo theo phương pháp luận OECD và chuẩn mực quốc tế  Với thực trạng của công tác thống kê KH&CN hiện nay, có thể nói công tác này phải được xây dựng lại từ đầu. Trước hết, phải ưu tiên hoàn thiện phương pháp luận thống kê KH&CN phù hợp với tình hình Việt Nam; Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thống kê KH&CN trên toàn quốc; Tiến hành các cuộc điều tra NC&PT và đổi mới sáng tạo; Nâng cao năng lực của hệ thống thống kê KH&CN tại các địa phương, nhằm thực hiện được một số nhiệm vụ cụ thể.    Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá các tổ chức KH&CN  Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập (sau đây gọi là GRIs) có nhiệm vụ xác định và giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội và đưa ra các định hướng phát triển đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Các tổ chức này được hỗ trợ kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước nhằm tạo ra tri thức khoa học và phát triển các công nghệ mà các cơ quan nghiên cứu thuộc khu vực tư nhân không thể đảm nhiệm. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GRIs đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển đất nước, tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu ngày nay, kết quả mà họ tạo ra chưa thỏa mãn  yêu cầu của thực tiễn.   Một trong những nguyên nhân chính là vì các cơ quan quản lý chưa nắm được thông tin về kết quả hoạt động của GRIs một cách hệ thống và kịp thời để điều chỉnh các chính sách hỗ trợ họ hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy cần nghiên cứu xây dựng khung đánh giá GRIs; Tiến hành đánh giá thử nghiệm một số GRIs để các Bộ, ngành và địa phương được những thông tin về kết quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu trực thuộc, nắm được điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề tồn tại từ đó xây dựng các chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ các tổ chức hoàn thành nhiệm vụ.  Lập bản đồ công nghệ  Bản đồ công nghệ, bản đồ lộ trình công nghệ, lộ trình công nghệ là khái niệm đã được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi tại nhiều nước đặc biệt là tại Canada, Úc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore ở nhiều cấp độ khác nhau, và đã trở thành một công cụ kế hoạch hóa quá trình phát triển công nghệ ở tầm chiến lược cho quốc gia, ngành và doanh nghiệp như việc xây dựng bản đồ lộ trình công nghệ quốc gia trong ngành bán dẫn, bản đồ công nghệ trong ngành nhôm của Hoa Kỳ, xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia 2002-2012 của Hàn Quốc…  Trong Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia (Quyết định 677/QĐ-TTg phê duyệt ngày 10/05/2011), việc xây dựng bản đồ công nghệ quốc gia và lộ trình đổi mới công nghệ quốc gia được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, và nền tảng cho việc triển khai chương trình. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu, làm chủ lý luận khoa học và đúc rút các kinh nghiệm thực tiễn việc xây dựng bản đồ công nghệ và lộ trình công nghệ ở các nước, tiến hành thử nghiệm và đúc rút thành quy trình có tính khả thi để chúng ta có thể xây dựng Bộ tài liệu hướng dẫn cho việc lập bản đồ công nghệ và lộ trình công nghệ quốc gia; Xây dựng hiện trạng bản đồ công nghệ quốc gia trong một số lĩnh vực công nghệ; Lập bản đồ công nghệ và lộ trình đổi mới công nghệ cho một số sản phẩm cụ thể. Từ đó xây dựng bản đồ công nghệ quốc gia và lộ trình đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu của Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia.        thực trạng công tác thống kê KH&CN              Hình thức thu thập thông tin thống kê trong ngành KH&CN hiện nay còn rất đơn giản, thiếu đa dạng: chưa áp dụng triệt để các hình thức thu thập thông tin thống kê chính thống là báo cáo thống kê và điều tra thống kê để thu thập thông tin thống kê phục vụ hoạt động quản lý ngành. Việc xử lý và tổng hợp thông tin thống kê cũng mới được thể hiện ở những phương pháp phổ biến, đơn giản;               – Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý thống kê và trực tiếp thực hiện công tác thống kê của ngành KH&CN về cơ bản mới có ở cấp Trung ương, chưa có ở cấp tỉnh/thành phố; chưa hình thành được hệ thống chân rết làm thống kê KH&CN ở các địa phương, cán bộ làm công tác thống kê KH&CN còn thiếu về số lượng, đa số là kiêm nhiệm và yếu nghiệp vụ thống kê, chưa áp dụng chính sách đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác thống kê.                – Thiếu các văn bản quy phạm pháp luật chung quy định thống nhất và hướng dẫn cụ thể về công tác thống kê của ngành KH&CN (trong đó quy định về tổ chức, nhân lực, nhiệm vụ thường xuyên, kinh phí hoạt động, quan hệ về nghiệp vụ và quản lý nhà nước), dẫn tới việc lúng túng về hoạch định nhiệm vụ, tổ chức, kinh phí cho hoạt động thống kê KH&CN cả ở Trung ương và địa phương.              – Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của công tác thống kê KH&CN và cơ chế kiểm tra trong công tác thống kê trong ngành nhìn chung còn rất hạn chế.              – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thống kê còn hạn chế; Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác thống kê KH&CN còn thiếu và lạc hậu.               – Chưa chủ động hội nhập quốc tế về thống kê KH&CN.            Xây dựng Ngân hàng dữ liệu quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo   Cho đến nay, một số đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các Bộ, ngành khác đã và đang xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) khác nhau bao gồm các thông tin và dữ liệu về các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động KH&CN, các sản phẩm KH&CN mà đặc biệt là các patent, thông tin cung, cầu công nghệ, phục vụ doanh nghiệp cả ở trong nước và quốc tế phục vụ cho công tác quản lý và triển khai các hoạt động KH&CN. Nhưng việc xây dựng các CSDL còn nhiều hạn chế do chưa có cơ sở phương pháp luận, tiêu chí dữ liệu, chuẩn dữ liệu thống nhất để giúp định hướng cho việc xây dựng và liên thông/tích hợp các CSDL thành ngân hàng dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, chưa có một hệ tiêu chí chuẩn về cấu trúc dữ liệu và mô hình CSDL để đảm bảo tính tương tác và khả năng trao đổi dữ liệu giữa các CSDL khác nhau trong lĩnh vực KH&CN. Hệ quả là tình trạng các thông tin và dữ liệu cần thiết cho việc triển khai các nhiệm vụ về KH&CN vừa thiếu vừa tản mạn, thiếu tính hệ thống/liên thông, ít được cập nhật. Điều đó đã và đang gây không ít khó khăn không những trong việc xác định các đối tác có tiềm lực mạnh, năng lực thực sự về KH&CN ở cả trong nước lẫn nước ngoài.   Do vậy cần thiết phải xây dựng hệ CSDL Quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo bao gồm các CSDL về nhà khoa học, tổ chức KH&CN, các nhiệm vụ KH&CN, kết quả các nhiệm vụ KH&CN, thống kê KH&CN, tiềm lực KH&CN, patent, cung cầu công nghệ, Techmart ảo, ….) trên nền tảng của các mạng KH&CN tiên tiến (VinaREN, VISTA). Mặt khác, để khắc phục yếu kém về năng lực xử lý, lưu giữ, quản trị dữ liệu thống kê, xây dựng các CSDL thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo, nhằm phục vụ lâu dài, chuyên nghiệp và an toàn về thông tin cho các đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các Bộ, ngành, các địa phương, các doanh nghiệp… cần đầu tư trang thiết bị phần mềm đồng bộ và hiện đại.         Nội dung chính của tiểu dự án              – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo đầy đủ và tương thích quốc tế.              – Xây dựng bảng phân loại về KH&CN đầy đủ, khả dụng và tương thích quốc tế.              – Nâng cao năng lực hệ thống tổ chức làm công tác thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo tại Bộ KH&CN và các Sở KH&CN.              – Hội thảo/Đào tạo nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm thống kê KH&CN tại Bộ KH&CN và các Sở KH&CN, các Bộ, ngành, các Viện nghiên cứu, Trường đại học.              – Triển khai các cuộc điều tra đổi mới sáng tạo, NC&PT, tiềm lực KH&CN.              – Xây dựng ngân hàng dữ liệu quốc gia về KH&CN và đổi mới sáng tạo.        Nhiệm vụ của tiểu dự án cũng chính là nội dung ưu tiên trong kế hoạch tăng cường hiệu quả quản lý KH&CN và dự kiến sẽ được các đơn vị chức năng trong Bộ KH&CN triển khai thực hiện (Trung tâm thống kê KH&CN, Viện Nghiên cứu đánh giá và định giá công nghệ); Nhiệm vụ này sẽ hỗ trợ hoàn thiện môi trường thể chế quốc gia khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của KH&CN qua việc hoàn thiện khung thống kê, đo lường, giám sát và đánh giá KH&CN, trong đó bao gồm kết quả điều tra thống kê và chuẩn hóa số liệu KH&CN, tăng cường liên kết mạnh hơn giữa cung và cầu các sản phẩm KH&CN… qua Ngân hàng dữ liệu KH&CN và đổi mới sáng tạo quốc gia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hiện trạng nghiên cứu biển Đông      Trong khi giới học thuật Trung Quốc đã chuẩn bị một chiến lược nghiên cứu cơ bản dài hơi về biển Đông bằng việc đào tạo các chuyên gia nghiên cứu biển vài ba chục năm trở lại đây, thì Việt Nam do nhiều điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dường như đến giờ mới “tự mở cửa” cho chính mình. Và mặc dù đã được khai phóng tự do trong nghiên cứu học thuật, đã được đầu tư ở nhiều chỗ, song từ góc độ quản lý khoa học, các học giả ở Việt Nam hiện vẫn đang phải tự xoay xở trong những điều kiện khác nhau. Bài viết này là một lược sử diễn giải tình hình nghiên cứu Biển Đông thuộc phạm vi của khoa học xã hội và nhân văn      Một góc huyện đảo Cô Tô, Quảng Ninh Ảnh: Lê Xuân Hùng  Diện tích nước ta bao gồm cả hai phần lãnh thổ và lãnh hải. Diện tích Biển Đông chiếm một tỷ lệ áp đảo so với đất liền. Nhưng các mối quan tâm của nhà nước và giới nghiên cứu tỏ ra tương đối rời rạc, nếu không muốn nói là nhiều khi bị lãng quên, hoặc cố tình quên lãng.  Để lược thuật được tình hình nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam, bài viết này khảo sát trên dưới 12002 công bố khoa học  (chủ yếu bằng tiếng Việt), đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và các ấn phẩm (phần lớn là chuyên luận) được phát hành trong nước khoảng 40 năm trở lại đây (từ những năm 1970 đến 2014). Tiêu chí thống kê bao gồm: (1) đầu mục bài nghiên cứu, hoặc chuyên luận nghiên cứu; (2) Các lần xuất bản, công bố (tính cả trường hợp được tái bản).  Một ví dụ tiêu biểu như sau: “Phạm Hoàng Quân. 2008. Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc. Báo Tuổi trẻ, ngày 5/1/2008, tb. 2012. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển – Viện NC Phát triển TP.HCM. số 1/2012. tb. 2014a. Trong “Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”. Nxb. Văn hóa Văn nghệ. Tp.HCM. tr.7-15”. Đây là một đơn vị điển hình cho mẫu khảo sát. Bài nghiên cứu này được công bố 3 lần ở 3 năm khác nhau (2008, 2012, và 2014) với các mức độ chỉnh sửa, bổ sung khác nhau, được công bố ở 3 kênh xuất bản (báo chí, tạp chí, và chuyên luận). Như thế, bài nhiên cứu này sẽ đồng thời được thống kê ở cả ba năm. Mặt khác, nếu là chuyên luận của một tác giả (một người viết) thì sẽ tương đương với 1 đơn vị; nếu là một tuyển tập bài viết thì các bài viết khác nhau ấy cũng được coi là một đơn vị (như trường hợp các công bố của Phạm Hoàng Quân trong ví dụ trên). Thêm nữa, nếu một chuyên luận được cấu thành từ các chương do nhiều tác giả khác nhau viết, thì mỗi chương sẽ tương ứng với một đơn vị thống kê. Về thời gian khảo sát, chúng tôi chia làm bốn giai đoạn, gồm (1) từ 1970 đến 1975, (2) giai đoạn từ 1980 đến 1984, (3) giai đoạn 1992 đến 1994, (4) giai đoạn từ 2010 đến 2014). Kết quả cụ thể được biểu diễn như biểu chỉ số công bố dưới đây.     Biểu Đồ 1: Số lượng công bố khoa học trong nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam.  Biểu đồ trên cho thấy một hiện trường hiển minh về công bố khoa học trong nghiên cứu Biển Đông. Nếu so sánh công bố về toàn bộ Biển Đông của Việt Nam với các công bố khoa học của Trung Quốc qua 1 từ khóa “Nam Sa” trên CNKI thì có thể thấy sự chênh lệch rõ ràng3 (Xem ảnh 1). Sự chênh lệch này là do nhiều yếu tố. Song nhìn vào tốc độ công bố thì Trung Quốc đã chạy đua trên mặt trận học thuật bắt đầu từ sau sự kiện 1974, và những công bố có hệ thống đầu tiên đã ra hoa kết trái từ thập niên 1980. Việt Nam thì không giống vậy.    Ảnh 1: Thống kê các bài nghiên cứu về Nam Sa của Trung Quốc qua trang CNKI (cập nhật ngày 12/08/2016). Tổng số kết quả tìm được: 80089.  Biển Đông ở Việt Nam có thể chia làm hai giai đoạn chính: (1) Giai đoạn từ thập niên 1990 trở về trước; (2) Giai đoạn từ 2010 trở lại đây. Xin phân tích cụ thể như sau.  Giai đoạn từ thập niên 1990 trở về trước  Đó là giai đoạn gần như không có một chủ trương cởi mở, công khai nào trong việc nghiên cứu biển Đông. Các công bố xuất hiện một cách ngẫu nhiên, chủ yếu thuộc phạm vi khảo cổ học biển đảo và một vài bài lẻ tẻ về lịch sử văn hóa.  Trước tiên là nửa đầu thập niên 1970, hầu như không có công bố. Năm 1972, chỉ có 1 công bố của một học giả quốc tế, đó là bài “Les Portugais sur les Côtes du Viet-Nam et du Campá. Étude sur les routes maritimes et les relations commerciales d’après les sources Portugaises (XVIè, XVIIè, XVIIIè siècles)” đăng tải trên EFEO (Paris) của Pierre Yves Manguin (1972), bài này đã từng được dịch sang tiếng Việt dưới dạng bản dịch lưu hành nội bộ của Khoa Sử (Đại học Tổng hợp Hà Nội). Năm 1975 có số lượng công bố tăng vọt với “Đặc khảo Hoàng Sa” trên tạp chí Sử Địa và cuốn “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratley)” của Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn, đó là do cú huých của sự kiện Hoàng Sa năm 197. Nhưng hầu như kết quả của những nghiên cứu này không được đề cập đến, mãi cho đến cuộc bảo vệ Luận án chính thức của Nguyễn Nhã (2002) tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh4, và được nhắc lại “tên miền” trên Tạp chí Xưa & Nay năm 2014 với sự bổ sung, gia nhập chính thức của các sử gia hàng đầu của Việt Nam đương đại.  Vài ba cuốn sách đáng kể về Biển Đông được xuất bản trong giai đoạn này là “Sách trắng về Biển Đông” của Bộ Ngoại Giao5, “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam” của nhà xuất bản Sự thật năm 1982, với chú thích “Các tài liệu lịch sử chứng minh hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam; Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của nhà cầm quyền Bắc Kinh”. Có thể ngầm hiểu rằng, các cuốn sách này được ra đời trong dư chấn của chiến tranh Biên Giới năm 1979. Phát ngôn chính thức về mặt xuất bản phẩm này là tranh biện của nhà nước trên phương diện ngoại giao, mà không thấy một khuôn mặt học giả nào. Họ có thể đứng đằng sau, hoặc hoạt động bí mật hoặc rơi vào tình trạng vô danh dưới cái tên tập thể. Điều này có nghĩa là, gần như không có các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp được hoạt động một cách công khai trong bối cảnh thời bấy giờ.  Sự kiện sau đó năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi, cũng không thúc đẩy thêm một bước tiến nào trong nghiên cứu Biển Đông. Nhà nước cũng xuất bản một tài liệu ngoại giao là “Sách trắng Bộ Ngoại giao Việt Nam” (1988). Các tư liệu công bố cho thấy, cả một giai đoạn dài từ năm 1975 đến 1980-1990 đều là sự lên tiếng tuyên bố của chính quyền trên các diễn đàn ngoại giao. Còn các nhà nghiên cứu vẫn nằm lẩn khuất đâu đó, với những công bố cực kỳ hạn chế.  Có thể nói giai đoạn 1970 – 1990 là giai đoạn mà nghiên cứu Biển Đông bị lãng quên, hoặc hoạt động không công khai, và có lẽ cả không chiến lược? Nên các công bố chỉ là các nghiên cứu ngẫu nghiên, lẻ tẻ, không hệ thống. Cả hệ thống giáo dục các cấp, từ phổ thông cho đến các đào tạo chuyên gia (Đại học và sau Đại học) về lĩnh vực này cũng đều mờ nhạt. Nhà nước lĩnh vai trò tuyên truyền giáo dục, thực hiện đấu tranh đơn độc trên mặt trận ngoại giao, gần như không cần đến các nghiên cứu khoa học chuyên biệt của giới học thuật?  Giai đoạn từ năm 2000 đến nay  Qua Biểu đồ 1 có thể thấy rõ, chưa bao giờ số lượng công bố về nghiên cứu Biển Đông lại bùng nổ đến vậy. Có ba lý do chính như sau:  (1) Sự cởi mở trong chính sách khuyến khích đầu tư nghiên cứu và công bố của Đảng và Nhà nước;  (2) Các nhóm nghiên cứu chuyên sâu như nhóm Thương mại biển của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhóm văn hóa biển, nhân học biển (tiêu biểu như Phan Thị Yến Tuyết6, Trần Ngọc Thêm,… thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), nhóm nghiên cứu tín ngưỡng biển (như Trần Thị An7, Nguyễn Thanh Lợi, hay Viện Nghiên cứu Văn hóa…) sau một thời gian tích lũy và tự đào tạo nghiên cứu đã bắt đầu có những công bố mang tính hệ thống;  (3) Tác động từ bối cảnh chính trị Biển Đông, khi năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đệ trình bản đồ chữ U (đường đứt khúc 9 đoạn) lên Ủy ban Liên Hiệp Quốc về ranh giới thềm lục địa (CLCS).  Nhân tố cuối cùng có thể nói là tác động quan trọng nhất, dẫn đến việc nghiên cứu Biển Đông trở thành một nhiệm cụ cấp bách có tính thời sự nóng hổi. Các cơ quan nghiên cứu Biển Đông được thành lập ở nhiều nơi trong hệ thống các Viện nghiên cứu, các Trường đại học, như Trung tâm nghiên cứu Biển Đông (thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, VASS), Trung tâm nghiên cứu Biển và Đảo (thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh),…  Các đề tài dự án cũng được dịp bung nở, nhiệm vụ khoa học cũng có thể giao cho bất kỳ ai, miễn là được nhà nước coi là có chức danh khoa học, có chân trong một cơ quan khoa học của nhà nước. Tuy nhiên, số lượng các chuyên gia bài bản, chuyên nhất về Biển đảo như Nguyễn Nhã, Nguyễn Hồng Thao, Hoàng Anh Tuấn,… là tương đối ít ỏi; còn chủ yếu vẫn là các nhà nghiên cứu “thuyên chuyển chuyên môn”- như người viết bài này là một ví dụ. Nhà quản lý có thể nghĩ rằng, một nhà nghiên cứu bất kỳ có chuyên môn về tiếng Hoa, về Hán học, hay lịch sử- văn hóa nói chung đều có thể trở thành một chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông? Điều đó rõ ràng là có thể, bởi khi quốc gia hữu sự trí thức ai cũng có tinh thần tự nhiệm, và có thể xoay xở bằng kỹ năng vốn có của mình. Vì thế các đề tài dự án, các viện nghiên cứu, các nhà nghiên cứu hiện vẫn chỉ đang là thực hiện các nhiệm vụ khoa học trước mắt, mang tính thời sự nóng hổi, như đấu tranh chủ quyền (luật biển), nghiên cứu kinh tế biển, thương mại biển … chứ chưa thấy một chiến lược tổng thể mang tính vỹ mô để thúc đẩy tất cả các chuyên ngành khác nhau trong nghiên cứu Biển Đông.  Đã đến lúc, trên cơ sở chiến lược nghiên cứu biển Đông của Nhà nước, các nhà nghiên cứu phải cùng ngồi lại với nhau để phác thảo nên một lộ trình nghiên cứu dài hơi và tổng thể về Biển Đông; cần phân định rõ các đối tượng trước mắt, các nhiệm vụ lâu dài; với những quy hoạch tổng thể về các phân ngành chuyên biệt trong nghiên cứu biển Đông, để chuyên ngành này có thể phát triển trong vòng 30 đến 50 năm tới, để tránh tình trạng luôn luôn phải ứng phó với những tình huống không lường trước. Đấu tranh trên lĩnh vực học thuật là một nhiệm vụ, tư vấn chính sách cho Nhà nước về lộ trình công việc cũng là một nhiệm vụ không thể không nghĩ đến.  ———————  Chú thích:  1 Xin lưu ý bài viết hoàn toàn mang ý kiến cá nhân, để cùng nhau thảo luận. Không phải mọi ý kiến trong bài này đều mang tính quan phương, mà chỉ là những nguyện vọng của một người mới bắt đầu tìm hiểu vấn đề, khi bắt đầu làm nhiệm vụ.  2Chủ yếu qua Thư mục nghiên cứu Biển Đông (sơ giản), do tôi thực hiện. (tài liệu chưa công bố).  3Riêng vấn đề so sánh này cần phải được nêu chi tiết hơn trong một bài khác.  4Lần đầu tiên ranh giới Bắc- Nam, Ta- Ngụy được xóa bỏ trong một nghiên cứu khoa học?  5Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa- Trường Sa, được công bố các năm 1979, 1981, 1988. [Nguyen Hong Thao. 2012. Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & Spratlys: Its Maritime Claims. Journal of East Asia and International Law, 5(1). Pp.165-211; bản dịch Tr.23. nghiencuuquocte.net].  6Phan Thị Yến Tuyết. 2012. Đời sống xã hội- kinh tế văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ. Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  7Trần Thị An. 2012. Hiển thần và tăng quyền-một khảo sát về tục thờ nữ thần biển ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ/ Turning into Goddess and Empowerment – a survey on the tradition of worshipping sea goddess in the North and Northern Central of Vietnam. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế). Số 8-9/2012. Tr.122-145.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Hiệu quả trong hợp tác với Dubna      Hơn 60 năm là thành viên chính thức của Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna JINR (Nga), Việt Nam mới chỉ khai thác được một phần thế mạnh trong đào tạo nhân lực của Dubna. Vì thế, theo GS. TS. Lê Hồng Khiêm – Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Việt Nam cần phải có một số cơ chế chính sách “đặc biệt” để có thể tận dụng được hệ thống cơ sở vật chất, kinh nghiệm và hiểu biết của các chuyên gia tại một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học hiện đại hàng đầu thế giới này, qua đó giúp nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học.      Đoàn cán bộ của Việt Nam trong chuyến làm việc tại Viện Dubna về hợp tác đào tạo, nghiên cứu.  Ông Lê Hồng Khiêm cho biết, Việt Nam là thành viên của JINR – viện nghiên cứu khoa học quốc tế đa ngành với các lĩnh vực nghiên cứu chính gồm: vật lý lý thuyết, vật lý hạt nhân, khoa học vật liệu, công nghệ thông tin, sinh học, hóa học…. ngay từ khi Viện được thành lập vào năm 1956. 80% kinh phí hoạt động hằng năm của Dubna là từ Chính phủ Nga (trước những năm 1990 là Liên Xô) và 20% còn lại từ kinh phí đóng góp của 18 quốc gia thành viên và các nước cộng tác viên.  Tương ứng với số kinh phí đóng góp, các nước thành viên được cử cán bộ của mình đến JINR làm việc, ví dụ Việt Nam có thể cử tối đa 30 đến 40 người làm việc dài hạn. Với các cán bộ làm việc dài hạn (từ 3 tháng trở lên), JINR sẽ ký hợp đồng làm việc và trang trải toàn bộ kinh phí đi lại, bảo hiểm và lương hằng tháng như các cán bộ của Nga. Viện sẽ bố trí nhà ở và cấp các khoản phúc lợi khác. Với các cán bộ đến công tác ngắn hạn, Viện sẽ hỗ trợ một phần ăn ở (tùy theo khả năng của các phòng thí nghiệm). Cán bộ nghiên cứu của các nước thành viên được sử dụng các thiết bị nghiên cứu rất hiện đại đã được đầu tư trong nhiều năm để phục vụ cho ý tưởng nghiên cứu của mình một cách bình đẳng như với bất kỳ nhà nghiên cứu nào ở đó; đồng thời được hưởng chế độ lương bổng tương đương với họ. Đây là ưu thế lớn nhất của các thành viên chính thức của JINR được hưởng.  Cơ chế hợp tác với JINR  Hợp tác của Việt Nam với JINR có gì khác so với hợp tác với một số trung tâm khoa học lớn của thế giới mà Việt Nam cũng tham gia như CERN (châu Âu) hay Viện RIKEN (Nhật Bản),… thưa ông ?  Hợp tác của Việt Nam với JINR khác hẳn về mặt bản chất so với các hợp tác với một số trung tâm khoa học lớn khác của thế giới như CERN (châu Âu) hay Viện RIKEN (Nhật Bản),… Tham gia vào JINR, Việt Nam được đối xử bình đẳng với các nước thành viên khác trong đó có cả Nga. Các cán bộ của Việt Nam được hưởng lương như cán bộ của Nga và các nước thành viên (chứ không phải học bổng) và các phụ cấp khác. Điều này khác với việc các cán bộ Việt Nam được cấp học bổng đến làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu ở Nhật Bản hoặc châu Âu, khi đó các cán bộ Việt Nam không được nghiên cứu theo ý tưởng riêng của mình mà phải bắt buộc thực hiện đề tài do các nhóm nghiên cứu của bạn đang thực hiện (chứ không phải những đề tài nghiên cứu mà Việt Nam cần). Các cán bộ Việt Nam cũng chỉ nhận được học bổng hoặc trợ cấp từ phía bạn. Mục đích của việc cấp học bổng là tìm người giỏi để làm việc lâu dài nên Việt Nam sẽ rất dễ bị “mất” cán bộ.  Vậy từ trước đến nay, Việt Nam có tận dụng được tốt những ưu thế mà cơ chế thành viên chính thức của Dubna đem lại?  Kể từ khi là thành viên chính thức của JINR, kết quả tốt nhất mà Việt Nam đã thu được chính là đào tạo cán bộ. Trước khi Liên Xô tan rã, Việt Nam đã cử rất nhiều lượt cán bộ sang làm việc dài hạn và ngắn hạn tại các phòng thí nghiệm khác nhau của Dubna. Do trình độ khoa học khi đó còn thấp nên Việt Nam chưa thể thành lập các nhóm nghiên cứu riêng mà chỉ cử cán bộ tham gia vào các nhóm nghiên cứu của Nga và của các nước thành viên khác. Nhìn nhận lại cả quá trình thì có thể thấy nhờ tham gia vào các nhóm nghiên cứu tại JINR mà Việt Nam đã có được một lực lượng cán bộ xuất sắc, trong đó phần lớn là các nhà nghiên cứu đầu ngành. Có thể kể một vài trường hợp rất điển hình như: GS Lê Văn Thiêm (toán học), GS Nguyễn Đình Tứ, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu, GS.VS Đào Vọng Đức, GS Cao Chi (vật lý hạt nhân), GS.VS Đặng Vũ Minh (hóa học)…  Trong phiên họp về chương trình phát triển vật lý đến năm 2020 vào tháng 12/2017, ông có đề cập đến việc khó cử người sang Dubna. Tại sao ít người quan tâm đến Dubna, một trung tâm nghiên cứu vật lý hạt nhân hàng đầu thế giới từng đào tạo nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam xuất sắc?  Hợp tác giữa Việt Nam với JINR có một giai đoạn bị gián đoạn, đó là giai đoạn sau những năm 1990. Khi đó gần như không có người Việt Nam sang làm việc tại JINR. Nguyên nhân là do nước Nga lúc đó đang ở trong tình trạng perestroika (cải tổ), bản thân họ cũng lúng túng, khủng hoảng kinh tế, đầu tư cho khoa học đi xuống, lương cho cán bộ khoa học thấp dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám. Cũng như nhiều viện nghiên cứu khác ở Nga, nhiều nhà khoa học của Dubna bỏ ra nước ngoài làm việc, máy móc thiết bị lạc hậu…  Mặt khác, bắt đầu từ những năm 1990, cơ hội kiếm được học bổng nghiên cứu và đi học của các cán bộ Việt Nam ở nước ngoài bắt đầu rộng mở bởi nhiều quốc gia tiên tiến từ châu Âu đến Nhật Bản, Hàn Quốc… tăng cường cấp học bổng cho Việt Nam. Vì thế, đa số những người giỏi ở Việt Nam chủ yếu sang những nước đó nghiên cứu, học tập chứ không còn sang Nga như trước nữa. Giai đoạn đó kéo dài hơn 10 năm.  Hiện Dubna đã lấy lại vị thế của mình bằng việc tiếp tục có những thành công trong nghiên cứu, trong đó có phát hiện ra những nguyên tố mới từ năm 2005-2010. Vậy tại sao JINR vẫn không phải là sự lựa chọn hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam?  Sự gián đoạn hợp tác và thiếu thông tin trong một thời gian dài khiến JINR không được biết đến nhiều ở Việt Nam. Hiện tại có thể thấy các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam có nhiều cơ hội lựa chọn hơn để nghiên cứu khoa học tại các nước phát triển. Sức hấp dẫn của các trung tâm khác không chỉ ở vấn đề học bổng mà chính là việc được nghiên cứu trong môi trường chuyên nghiệp hàng đầu thế giới, nơi người ta thường nghĩ rằng có điều kiện hợp tác, kết nối với các giáo sư hàng đầu thế giới, có cơ hội nghề nghiệp tốt hơn.  Còn nếu sang Nga thì người ta sợ rằng quan hệ quốc tế sẽ không được mở rộng.  Thực tế thời gian làm việc ở JINR – một viện nghiên cứu uy tín lớn sẽ giúp các bạn trẻ có thể học hỏi và tích lũy kiến thức, có thể có bằng tiến sĩ nếu làm việc có kết quả và đó chính là cơ sở để các bạn trẻ có thể phát triển hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế sau này.  Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác  Hiện việc hợp tác của Việt Nam với JINR có được mở rộng ngoài phạm vi đào tạo?  Kể từ sau năm 2013, Việt Nam bắt đầu gửi lại cán bộ sang JINR với mục tiêu chính là đào tạo lực lượng cán bộ khoa học. Trong một hai năm trở lại đây, bắt đầu xuất hiện một vài đề tài đăng ký ở Việt Nam sử dụng thiết bị nghiên cứu của JINR, ví dụ như Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên nghiên cứu về các thực phẩm chức năng cho các phi công, họ mang các sản phẩm nghiên cứu sang phòng thí nghiệm công nghệ sinh học JINR – nơi các nhà nghiên cứu Nga và quốc tế đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu về tác động của bức xạ vũ trụ với các phi hành gia; nghiên cứu ô nhiễm kim loại trong không khí sử dụng cây rêu làm vật chỉ thị sinh học; hoặc nghiên cứu về vật liệu mới của nhóm các nhà nghiên cứu trường ĐH Duy Tân, ĐH Khoa học Thái Nguyên, Viện Vật lý, Viện Khoa học vật liệu thực hiện, sản phẩm cũng mang sang Dubna để khảo sát các tính chất trên những thiết bị ở đó… Những đề tài như vậy còn rất đơn lẻ.  Nguyên nhân nào khiến việc các nhà khoa học Việt Nam tiến hành nghiên cứu tại Dubna vẫn còn khiêm tốn?  Thứ nhất, xuất phát từ quan niệm của các cơ quan quản lý vẫn xem JINR giống như các viện nghiên cứu khác ở các nước tiên tiến, nơi đã cấp học bổng cho các cán bộ và sinh viên Việt Nam. Do quan niệm như vậy nên các cán bộ khoa học Việt Nam đang làm việc tại JINR không được quyền đăng ký đề tài nghiên cứu, không được hưởng các chế độ về lương và phụ cấp như ở Việt Nam, không được dùng tiền của Việt Nam để trang bị một số dụng cụ nghiên cứu nhỏ cần thiết cho các công việc nghiên cứu của mình,… Những điều này làm cho các cán bộ khoa học có kinh nghiệm nghiên cứu của Việt Nam không muốn đến JINR làm việc và do vậy không có các nhóm nghiên cứu của Việt Nam tại JINR. Các bạn trẻ đến Dubna chỉ có thể tham gia vào các nhóm nghiên cứu nước ngoài.  Thứ hai, nhiều người vẫn quan niệm rằng JINR là nơi chỉ nghiên cứu khoa học hạt nhân, thực tế thì JINR là một viện nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực như: vật lý lý thuyết (lý thuyết chất rắn, lý thuyết trường, lý thuyết quang học, lý thuyết hạt nhân, toán cho vật lý,…), vật lý hạt nhân (dùng neutron và các hạt tích điện từ với dải năng lượng rộng), vật lý năng lượng cao, vật lý neutrino, khoa học vật liệu, hóa học, thiết kế chế tạo máy gia tốc, sinh học và y sinh, môi trường, công nghệ tin học,…    Theo tôi trước hết cần tháo gỡ những bất cập về cơ chế quản lý. Do Chính phủ Việt Nam phải đóng niên liễm hằng năm vào JINR nên phải coi JINR là của Việt Nam. Nếu chúng ta khai thác tốt các thiết bị nghiên cứu và chất xám của Viện JINR thì có thể đẩy mạnh sự phát triển của khoa học Việt Nam. Nếu chúng ta coi JINR là của Việt Nam thì cần có quy định riêng cho các cán bộ Việt Nam làm việc tại đây, cụ thể: xem các cán bộ khoa học của Việt Nam đang làm việc tại JINR như đang làm việc tại phòng thí nghiệm ở Việt Nam và được hưởng đầy đủ các chế độ như ở Việt Nam, đặc biệt vẫn được đăng ký các đề tài nghiên cứu do ngân sách tài trợ. Điều này sẽ giúp cho các cán bộ khoa học có kinh nghiệm đến Dubna làm việc và có thể xây dựng các nhóm nghiên cứu khoa học của Việt Nam tại đây; đồng thời cho phép các cán bộ Việt Nam dùng kinh phí đề tài để trang bị những dụng cụ nghiên cứu cần thiết tại JINR. Mặc dù tại JINR có những thiết bị nghiên cứu lớn và các nhóm nghiên cứu có thể sử dụng chung, tuy nhiên các dụng cụ nghiên cứu của từng nhóm phải tự sắm bằng kinh phí của chính phủ mình.  Cảm ơn ông!   Anh Vũ thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hoạch định Đổi mới-Sáng tạo và nền kinh tế công nghệ      Để hiệu quả, đổi mới sáng tạo về công nghệ  phải được hoạch định dựa trên điều kiện cụ thể của từng nước, từng giai  đoạn. Dưới đây là một số việc cần làm cho đổi mới sáng tạo ở Việt Nam  hiện nay.    Thứ nhất, đưa doanh nghiệp (phi nhà nước) đóng vai trò chính trong quá trình đổi mới sáng tạo công nghệ. Doanh nghiệp là nơi quan tâm nhất đến đổi mới công nghệ để gia tăng lợi nhuận. Việc mua sắm, sử dụng công nghệ có quan hệ trực tiếp nhất tới lợi ích của họ. Doanh nghiệp sẽ trở thành nhà tài trợ, nhà đầu tư lớn nhất cho đổi mới sáng tạo công nghệ và cũng là người thụ hưởng lớn nhất. Nói cách khác: Doanh nghiệp là người “nuôi’ công nghệ và cũng là người gặt hái từ công nghệ. Việc xây dựng chính sách, chiến lược đổi mới sáng tạo chủ yếu là phục vụ cho doanh nghiệp chứ không phải các tổ chức KH-CN nhà nước. Nhưng cái khó là: cơ quan làm chính sách ít biết về kinh doanh nên làm chính sách không đắc dụng cho doanh nghiệp. Khó nữa là: nhà nước phải chuyển từ vai “chỉ đạo” sang vai “phục vụ” cho doanh nghiệp.          Việc xây dựng chính sách, chiến lược đổi mới  sáng tạo chủ yếu là phục vụ cho doanh nghiệp chứ không phải các tổ chức  KH-CN nhà nước.        Thứ hai, đưa tất cả các mối liên kết, các cơ chế liên quan đến công nghệ theo thông lệ của thị trường. Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo cho thấy: điều chỉnh quan hệ, cách thức tương tác với nhau giữa các tổ chức cũng quan trọng không kém việc điều chỉnh bản thân các tổ chức. Các mối liên kết, các quan hệ liên quan đến công nghệ ở nước ta xưa nay chủ yếu do nhà nước thiết lập nên, mang nặng tính duy ý chí của nhà quản lý, tạo ra một môi trường “nhân tạo”, ít mang tính thực tế. Môi trường nhân tạo này không phản ứng kịp với thị trường, ngày càng kìm hãm kinh doanh, sự sáng tạo. Trong một nền kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa càng phát triển, các định chế về quan hệ cùng cách quản lý kiểu cũ này sẽ càng ít hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo, mà ngược lại, càng trở nên cồng kềnh, kìm hãm sự phát triển của công nghệ và không tương thích với các thông lệ quốc tế về phát triển công nghệ.   Cái “cây” công nghệ, hay đổi mới sáng tạo công nghệ, ngày càng khó phát triển trên môi trường sống nhân tạo, xa rời thực tế này. Vì vậy, chỉ nên tiếp tục tiến hành các chương trình, dự án công nghệ sau khi các mối quan hệ, các cơ chế liên quan đến công nghệ đã mang tính thị trường. Nói cách khác, chỉ nên “bón” cho “cái cây” công nghệ sau khi nó đã được “bứng” sang môi trường sống tự nhiên phù hợp, cho dù ban đầu có vẻ còn “khô cằn” hơn môi trường “nhân tạo” vì thiếu sự bao cấp. Khi cái cây công nghệ đã được đặt đúng vào môi trường tự nhiên của nó thì nó sẽ tự bắt rễ, trao đổi chất, tương tác với môi trường và phát triển một cách tự nhiên, ít (hay không) cần can thiệp của nhà quản lý.           Chỉ nên tiếp tục tiến hành các chương trình,  dự án công nghệ sau khi các mối quan hệ, các cơ chế liên quan đến công  nghệ đã mang tính thị trường.        Thứ ba, phải phù hợp với ngoại cảnh (hay các điều kiện bên ngoài). Ta còn hoạch định dựa quá nhiều vào ý muốn chủ quan, trong khi tiềm lực quốc gia khoa học công nghệ nội địa càng yếu thì càng cần phải thích nghi, đáp ứng với bên ngoài. Chỉ dựa vào sức mình thì không thể làm trọn vẹn một chuỗi giá trị của một công nghệ nào mang tính cạnh tranh khu vực hay toàn cầu. Ngày nay, những sản phẩm cạnh tranh nhất được cấu thành bởi các công đoạn tốt nhất được chọn ra ở các nước khác nhau. Quá trình sản xuất ngày càng được “xé” nhỏ ra hơn để có thể thuê khoán được các nhà cung ứng chuyên môn hóa cao hơn.   Nhận biết rõ ngoại cảnh khi hành động mới có thể giúp chúng ta tận dụng được các cơ hội.  Thành công của các nước mới công nghiệp hóa như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan… đều nhờ quan sát bên ngoài và hoạch định chính xác các bước để hòa vào thị trường thế giới. Về công nghệ, nhận biết bên ngoài là nắm được các chu kỳ công nghệ, các xu hướng công nghệ, các cách mạng hay đột phá công nghệ, các “đứt đoạn” (discontinuities) về công nghệ, các chuỗi cung ứng của từng công nghệ, các rào cản của từng thị trường công nghệ, quy luật của dòng chuyển giao công nghệ, các đóng-mở của các cơ hội cửa sổ,…           Xu hướng của toàn cầu hóa là các nền kinh tế  nhỏ sẽ không tồn tại như những thực thể độc lập vì những lĩnh vực cạnh  tranh nhất của nó sẽ gắn với các chuỗi cung ứng bên ngoài của các công  ty đa quốc gia.        Nếu tính kỹ các yếu tố trên, ta sẽ nhận ra các giới hạn của mình và thấy rằng: cánh cửa để đi tới vô cùng hẹp. Qua đó, ta sẽ lọc ra được khá nhiều những công nghệ không nên đầu tư vào vì không phù hợp với các điều kiện khách quan cũng như khả năng của mình, tránh được tình trạng hoạch định dựa theo ý muốn chủ quan gây phung phí nguồn lực cố làm cái ta không thể làm được.   Thứ tư, Chương trình đổi mới sáng tạo hiệu quả nhất là do nhà nước hoạch định (mô hình Từ-Trên-Xuống, top-down). Nhà nước cần hoạch định, điều phối chương trình đổi mới sáng tạo vì một số lý do sau. Thứ nhất, nhà nước thích hợp với việc làm những nghiên cứu mang tính quản lý tổng hợp, mang tính liên ngành cao và mới có chức năng điều chỉnh các mối liên hệ giữa các định chế, bên tham gia trong đổi mới sáng tạo. Thứ hai, nhà nước hoạch định đổi mới sáng tạo thì mới mang lại được những dột phá, những thay đổi cơ cấu lớn, những chương trình kinh tế-xã hội mang tính cách mạng cho đất nước, như công nghiệp hóa,  nâng nền kinh tế lên bậc cao hơn trong chuỗi giá trị, hội nhập vào các chuỗi cung ứng bên ngoài, vv.   Tuy nhiên, cái khó là nhà nước chưa quen với việc tạo ra thị trường, đặc biệt là thị trường công nghệ với các mối liên kết đa ngành và rất chuyên môn của nó. Nếu do những hạn chế này hoặc vì lý do nào đó mà nhà nước không đứng ra điều hành đổi mới sáng tạo theo hướng Từ-Trên-Xuống, thì quá trình này vẫn nên được tạo điều kiện phát triển theo hướng từ-dưới-lên (bottom-up) để đem tri thức, cách kinh doanh hiệu quả đến các tế bào của nền kinh tế.  Thứ năm, bên cạnh đổi mới sáng tạo cho lĩnh vực nội địa, cần có hệ thống đổi mới sáng tạo mở. Hai hệ thống này khá tách biệt nhau. Một là cho nội địa. Hai là cho hợp tác với bên ngoài, tức gắn kết với các chuỗi cung ứng bên ngoài. Đối với hệ thống một, ta tìm các yếu tố bên ngoài để “lắp” vào chuỗi cung ứng ta cần và của ta. Đối với hệ thống hai, ta tìm những “công đoạn” trong nước làm tốt để “lắp” vào chuỗi cung ứng bên ngoài.   Ngành công nghiệp phần mềm của Việt nam hay của Ấn Độ, là một ví dụ điển hình cho việc gắn kết hiệu quả với các chuỗi cung ứng bên ngoài. Một số lĩnh vực hay công đoạn của các nước đang phát triển, ngay cả trong khoa học-công nghệ-sáng tạo, nếu gắn vào chuỗi cung ứng bên ngoài sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn giữ lại trong nước.   Xu hướng của toàn cầu hóa là các nền kinh tế nhỏ sẽ không tồn tại như những thực thể độc lập vì những lĩnh vực cạnh tranh nhất của nó sẽ gắn với các chuỗi cung ứng bên ngoài của các công ty đa quốc gia. Việc các công ty đa quốc gia thâu tóm các công đoạn của các nước chậm phát triển là một điều tất yếu. Ta cạnh tranh được ở một số công đoạn nhất định trong chuỗi giá trị liên quan đến công nghệ như phần mềm, nội dung số, sinh-tin (Bio-Informatics), nano, thiết kế chip, vv. Không phát triển các lĩnh vực này thành những “ngành kinh tế Công Nghệ” thì sẽ lãng phí một nguồn lực lớn.   Những ngành kinh tế công nghệ này khá độc lập, ít liên kết với nội địa mà thường gắn vào các chuỗi cung ứng bên ngoài, gắn với Thị-Trường Tri-Thức, và là một cấu phần trong nền Kinh tế Tri thức Việt Nam. Chúng phân công lao động chất xám ở bất cứ đâu mà nó sinh lợi nhiều nhất.   Nhưng để sự phân công lao động này xảy ra, cũng như để có một nền Kinh tế Tri thức, trước hết cần có một thị trường nhân công có trình độ phù hợp. Vì vậy, nếu chúng ta thấy rằng làm phần mềm hiệu quả hơn làm nông nghiệp, thì việc đào tạo, chuyển dần người làm nông nghiệp sang làm phần mềm (hay những ngành có giá trị gia tăng cao hơn nông nghiệp) cần phải là một nội dung chính của chương trình phát triển kinh tế theo hướng đổi mới công nghệ. Cần thấy rằng: tư duy cố hữu rằng “Việt nam là nước nông nghiệp” là cái “chấp” lớn mà ta tự tạo ra cho mình và đang che tầm nhìn phát triển quốc gia.   Tài liệu tham khảo  – APCTT-ESCAP, 2011: Promotion of national innovation systems in countries with special needs.  – Bell, M. and K. Pavitt (1993b): Accumulating technological capability in developing countries, Proceedings of the World Bank Annual Conference on Development Economics, 1992, Washington, D.C., World Bank.  – Freeman, C. (1994): Technological revolutions and catching up: ICT and the NICs, in J. Fagerberg and others (eds.), The Dynamics of Technology, Trade and Growth, Aldershot, U.K., Edward Elgar Publishing.   – Lall, S. (1992): Technological capabilities and industrialization, World Development, vol. 20, No. 2, Oxford, U.K., Pergamon Press.  – Lundvall, B. (1992): National Systems of Innovation: Towards a Theory of Innovation and Interactive Learning, London,  Pinter Publishers.  – Pérez, C. (2001): Technological change and opportunities for development as a moving target, Cepal review 75, University of Sussex.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học được gì từ mô hình hợp tác xã kiểu Moshav      Bài viết này chỉ ra những điều kiện cần thiết để duy trì sự tồn tại và thành công của Moshav, một mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp ở Israel.      Moshav là gì?  Moshav là một dạng tổ chức hợp tác xã phức tạp của Israel, bao gồm năm thành tố.  Thứ nhất, đây là một tập thể hợp tác toàn diện trên mười lăm phương diện: tín dụng và tiết kiệm, kế toán, hưu trí, bảo hiểm, cung cấp nguyên liệu đầu vào, sản xuất, tưới tiêu, tích trữ hàng, xử lý sản phẩm, tiếp thị, tiêu thụ, xây dựng, nhà ở, vận tải, và các dịch vụ kỹ thuật.  Thứ hai, mỗi Moshav gắn liền với một làng mạc nào đó và mọi dân làng đều là thành viên. Vì vậy, danh tính của Moshav cũng chính là danh tính của một làng cùng toàn thể cộng đồng cư dân.  Thứ ba, Moshav cung cấp toàn diện những dịch vụ cần thiết cho cộng đồng, gồm giáo dục, tôn giáo, văn hóa, hoạt động xã hội, phong trào thanh thiếu niên, thể thao, y tế, công viên, xử lý rác thải, ánh sáng công cộng, đường sá, và các tiện ích cho người cao tuổi. Trưởng làng là người chịu trách nhiệm trong cung cấp các dịch vụ cộng đồng này cũng đồng thời là chủ nhiệm hợp tác xã.   Thứ tư, các thành viên trong cộng đồng đều phải tự nguyện sống trong Moshav và tham gia các hoạt động của nó. Tuy nhiên, mỗi cá nhân tự lựa chọn cách thức làm việc của mình trong mọi khía cạnh công việc: làm những gì họ thấy là hợp lý và phù hợp nhất cho khả năng của mình.     Thứ năm, các thành viên trong Moshav chia sẻ trách nhiệm và hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là khi có khó khăn. Sự chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên cho phép vận hành một cơ chế tín dụng hợp tác, trong đó các thành viên cùng tham gia vay các khoản tín dụng và cùng chia sẻ nghĩa vụ thanh toán.  Tam giác sản xuất đóng vai trò quyết định          Tam giác sản xuất          Mọi hệ thống kinh doanh sản xuất nông nghiệp trên thế giới đều có nền tảng là một tam giác sản xuất. Người nông dân chỉ có thể sản xuất khi có các nguyên vật liệu, và muốn có chúng thì đầu tiên anh ta phải vay được một khoản tín dụng phù hợp. Sau khi sản xuất anh ta tiếp thị ra thị trường, và dùng doanh thu để thanh toán khoản vay. Như vậy, tam giác sản xuất ở đây gồm ba cạnh cơ bản, vay tín dụng, mua nguyên vật liệu, và tiếp thị sản phẩm. Công đoạn sản xuất nằm ở trung tâm của tam giác.   Thiếu đi một cạnh nào đó thì tam giác sản xuất không thể khép kín, và việc kinh doanh sản xuất sẽ không hiệu quả. Tình trạng chung của các hợp tác xã nông nghiệp trên thế giới là người nông dân hành xử riêng lẻ, và như vậy tam giác sản xuất không thể khép kín. Khi đi vay thương mại một cách riêng lẻ, người nông dân phải chịu lãi suất cao; khi mua nguyên vật liệu một cách riêng lẻ họ phải trả giá đắt; còn khi bán sản phẩm một cách riêng lẻ, họ lại bị ép giá thấp.  Ở một số quốc gia, Nhà nước đóng vai trò tổ chức quyết định trên cả ba cạnh của tam giác sản xuất. Tuy nhiên, cách tổ chức này thường rất kém hiệu quả, và người chịu thiệt thòi không ai khác lại chính là nông dân.  Quy trình các bước phát triển hợp tác theo mô hình Moshav         Moshav (מוֹשָׁב) một loại thị trấn hoặc khu định cư của người Do Thái, cụ thể là một loại hợp tác xã nông nghiệp, xuất hiện từ làn sóng nhập cư thứ hai ở Israel hồi đầu thế kỷ 20.                Các moshav cũng giống kibbutz, một hình thức hợp tác xã khác ở Israel, ở khía cạnh chú trọng lao động theo hình thức cộng đồng. Nhưng khác với kibbutz, các thửa ruộng trong moshav được sở hữu riêng bởi từng cá nhân, với diện tích cố định và bằng nhau. Nông dân sản xuất lương thực và thực phẩm trên ruộng của mình theo hình thức lao động cá nhân hoặc tập thể, và dùng lợi nhuận cùng nông sản để tự cung cấp cho mình.              Các Moshav được điều hành bởi những cộng đồng được cư dân bầu lên. Các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng dùng một nguồn thuế đặc biệt. Loại thuế này thu bình đẳng trên mỗi hộ gia đình, tạo ra một hệ thống sản xuất trong đó người nông dân giỏi sẽ được lợi hơn người kém, không như trong các kibbutz nơi (ít nhất là trên lý thuyết) mọi thành viên hưởng chất lượng đời sống như nhau. Nhiều moshav vẫn tiếp tục tồn tại tới nay.               (Wikipedia)        Trong một hệ thống phát triển kinh doanh nông nghiệp, các bước phát triển có tính kế thừa nhau. Bước sau không thể triển khai thành công nếu chưa có bước trước nó.  Bước thứ nhất luôn là xây dựng kỹ năng sản xuất đủ để đảm bảo rằng người nông dân thu sản phẩm giúp cải thiện thu nhập hiện tại. Để làm được như vậy, người nông dân cần được hỗ trợ hướng dẫn ba yếu tố:  i) Những ứng dụng từ kỹ năng quản lý nông nghiệp, và một kế hoạch canh tác phù hợp.    ii) Những hỗ trợ đa dạng từ các chuyên gia; và   iii) Một hệ thống hướng dẫn để tổ chức được những hợp tác xã phù hợp.    Bước thứ hai bao gồm ba yếu tố cấu thành tam giác sản xuất. Cả ba yếu tố này đều chỉ có thể triển khai trên cơ sở đã hoàn tất bước thứ nhất, đó là xây dựng kỹ năng sản xuất. Đồng thời, như đã nêu, ba yêu tố cấu thành tam giác sản xuất có sự lệ thuộc chặt chẽ lẫn nhau.   Bước thứ ba trực tiếp kế thừa từ bước thứ nhất, nhưng không thể tồn tại nếu thiếu bước thứ hai. Bước thứ ba bao gồm hợp tác phát triển hệ thống tưới tiêu, kho chứa, và chế xuất nông phẩm. Mô hình hợp tác trong tưới tiêu là hình thức hợp tác phổ biến nhất trong các cộng đồng nông nghiệp truyền thống.  Bước thứ tư là hợp tác tổ chức tích trữ và vận tải hàng, liên quan trực tiếp tới công tác tổ chức cung ứng hàng ở bước hai.   Bước thứ năm là tổ chức các dịch vụ kỹ thuật liên quan đến vận chuyển hàng hóa. Cũng trong bước thứ năm, người nông dân phải hợp tác để tính toán các hoạt động kế toán, tiết kiệm, và bảo hiểm, liên quan mật thiết tới hoạt động tín dụng trong bước thứ hai.   Bước thứ sáu là xây dựng phát triển cộng đồng dân cư.  Không nhất thiết áp dụng 100% …  Kinh nghiệm từ việc tổ chức các Moshav ở Israel có thể là những bài học hữu ích cho việc tổ chức các làng truyền thống ở những nước Thế giới thứ ba. Tuy nhiên, mỗi Moshav là một tổ chức khá phức tạp, chỉ phù hợp cho những cộng đồng cư dân đã nhất trí và sẵn sàng chung sống theo một hình thức đặc biệt, chấp nhận những nguyên tắc mà sự chung sống ấy đòi hỏi.   Vì vậy, người ta cũng có thể xây dựng các mô hình hợp tác đơn giản hơn. Ví dụ, có thể xây dựng một mô hình hợp tác xã chỉ bao gồm từ bước thứ nhất tới bước thứ tư, trong đó bước thứ hai có thể bỏ qua chức năng hợp tác trong tín dụng và thu mua nguyên vật liệu. Hoặc là tổ chức mô hình hợp tác xã chỉ bao gồm bước thứ nhất và bước thứ ba.   Những công đoạn bị bỏ qua có thể do Nhà nước đứng ra tổ chức, ví dụ như việc cung cấp tín dụng được thông qua một ngân hàng phát triển hợp tác xã, hoặc tổ chức tiếp cận và cung ứng ra thị trường qua một hệ thống phát triển nông thôn thường tồn tại ở các Bộ Nông nghiệp. Những cách thức này có thể tồn tại thành công, miễn là chúng thỏa mãn được nhu cầu của nông dân.  Tóm lại, nguyên tắc cơ bản ở đây là một hợp tác xã chỉ có thể thành công nếu các thành viên cần dịch vụ của nó. Nếu các dịch vụ này có thể được cung cấp theo cách khác, và thỏa mãn được nhu cầu của nông dân, thì mô hình hợp tác xã là không cần thiết.   … nhưng phải tôn trọng quy trình các bước  Tuy nhiên, mọi hình thức tổ chức hợp tác xã trên cơ sở điều chỉnh từ mô hình Moshav vẫn phải tôn trọng thứ tự triển khai các bước như đã nêu, và tốc độ triển khai từng bước phải thật phù hợp.   Trên thế giới, nhiều tổ chức đã thử giới thiệu phân bón cho nông dân sử dụng, nhưng không đem lại kết quả như mong muốn. Do kỹ năng sản xuất còn yếu nên nông dân không thể tăng được sản lượng và qua đó không kiếm ra tiền thanh toán chi phí mua phân bón.     Một ví dụ khác: ở nhiều nước đang phát triển, các ngân hàng của Nhà nước cung cấp tín dụng sản xuất cho nông dân với những điều khoản ưu đãi. Sau khi tín dụng được bơm vào, sản xuất tăng lên, nhưng không ai cung cấp cho nông dân một hệ thống kết nối với thị trường một cách phù hợp. Hậu quả là họ không thể bán được sản phẩm, thua lỗ, và không thể trả được nợ.  Vào thập kỷ 1950, hàng trăm Moshav – được gọi là Moshavim cho người nhập cư – được thành lập ở Israel. Chúng trải qua nhiều thăng trầm và mất nhiều thời gian mới có thể phát triển ổn định, dù đa số cư dân thành viên của các Moshav này đều từng là nông dân từ các nước khác chuyển đến. Tới thập kỷ 1960, với sự hỗ trợ từ các dự án quốc tế, Israel lập ra các hợp tác xã phỏng theo mô hình Moshav ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, những nơi vốn đã có truyền thống làm nông nghiệp. Tuy nhiên, cả hai phong trào mô phỏng theo Moshav nói trên đều không hoàn toàn thành công. Nguyên nhân là tuy được áp dụng ở các cộng đồng đã có truyền thống làm nông nghiệp, nhưng quy trình các bước triển khai Moshav không được tuân thủ một cách chặt chẽ. Ở Israel, để có thể nhanh chóng định cư cho vài chục nghìn người nhập cư, người ta đã bỏ qua những cân nhắc cần thiết. Đối diện với những đòi hỏi cấp bách của thực tế, người ta đã cố tìm ra một giải pháp đáp ứng, và có thể nói là họ đã không thành công.  Lược dịch   theo www.coopgalor.com    Author                Quản trị        
__label__tiasang Học hỏi gì từ kinh nghiệm của Hàn Quốc      Những chính sách hỗ trợ đầu tư R&amp;D của Hàn Quốc là bài học đáng để Việt Nam nghiên cứu áp dụng. Nhưng cụ thể như thế nào?    Đối với các chính sách hỗ trợ tài chính cho đầu tư R&D  Hàn Quốc có một hệ thống chính sách đa dạng hỗ trợ tài chính cho R&D, từ hỗ trợ trả lương chuyên viên nghiên cứu tới giảm thuế thu nhập, giảm thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ nghiên cứu. Đây là những chính sách hoàn toàn khả thi và khá gần gũi với các chính sách tài chính hỗ trợ cho các ngành công nghiệp của Việt Nam.    Điều kiện cần đầu tiên có thể làm là Bộ Khoa học & Công nghệ cùng Bộ Tài chính phối hợp xác định rõ các khái niệm cơ bản và chi tiết liên quan tới đầu tư R&D. Mục tiêu đầu tư thế nào là đầu tư cho R&D? Nhân sự làm việc như thế nào là tham gia nghiên cứu R&D? (Bài học từ Hàn Quốc cho thấy bằng cấp cao không quan trọng, báo cáo về sản phẩm thực tiễn mới quan trọng.) Trang thiết bị nhập khẩu như thế nào là phục vụ đầu tư R&D? (Tránh tình huống xe hơi siêu sang cũng được nhập về phục vụ R&D).    Khi có một hệ thống khái niệm minh bạch, rõ ràng về đầu tư R&D, chúng ta có thể bắt đầu xây dựng hệ thống chính sách tài chính hỗ trợ ưu đãi. Hệ thống khái niệm càng rõ ràng thì việc áp dụng càng nhanh chóng, chính xác, giảm thời gian thủ tục hành chính cho cơ quan chức năng lẫn đối tượng thụ hưởng hỗ trợ.   Đối tượng thụ hưởng hỗ trợ ở đây phải là các doanh nghiệp hoặc các viện, tổ chức nghiên cứu hoạt động theo hình thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Nguồn vốn đầu tư R&D phải do họ tự huy động thay vì là vốn Nhà nước.  Đối với cơ chế cấp bảo lãnh cho các khoản vay đầu tư R&D  Đây là một chính sách giàu tiềm năng ứng dụng, nhưng nếu muốn xây dựng và áp dụng thành công chúng ta còn nhiều điều phải tìm hiểu.   Thành hay bại của chính sách cấp bảo lãnh cho vay đầu tư R&D, mấu chốt là ở tính nghiêm túc và minh bạch của khâu xét duyệt bảo lãnh.   Quy trình xét duyệt bảo lãnh đòi hỏi chuyên môn về tài chính, khoa học công nghệ, thậm chí cả kinh tế ngành, kinh tế vùng. Cơ quan Nhà nước thực hiện một quy trình phức tạp như vậy đòi hỏi một cẩm nang hoạt động linh hoạt, nhưng không được thiếu tính chính xác, chặt chẽ.   Nếu trách nhiệm cơ quan duyệt bảo lãnh không được quy định chặt chẽ, hoặc hoạt động của cơ quan này không được kiểm toán đầy đủ, thì việc duyệt bảo lãnh biến thành cơ chế xin cho tùy hứng, tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh.  Ngược lại, nếu cơ quan duyệt bảo lãnh vì sợ trách nhiệm mà làm việc quá chặt tay, thì các dự án đầu tư R&D – dù có triển vọng tốt nhưng trong bản chất tự thân đã có tính mạo hiểm – sẽ không có được bảo lãnh, và không huy động được nguồn vốn cần thiết.  Việt Nam cần tìm hiểu giải pháp cụ thể của Hàn Quốc cho những vấn đề này.   Đối với các trung tâm, chương trình nghiên cứu tại các vùng miền  Hàn Quốc lập ra các trung tâm nghiên cứu vùng miền, và các trung tâm cải tiến công nghệ địa phương. Trong khi đó ở Việt Nam chúng ta đã có sẵn là hệ thống các viện nghiên cứu, các trường đại học. Liệu có thể tận dụng những đơn vị này để thực hiện chức năng nghiên cứu vùng miền, cải tiến công nghệ cho địa phương? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần học hỏi mô hình hoạt động các trung tâm của Hàn Quốc, nhưng một trong những tiêu chí cần chú trọng hàng đầu là tính cụ thể.   Các trung tâm nghiên cứu vùng miền phải thường xuyên tự đề ra được mục tiêu cụ thể, và liên tục có sản phẩm thực tiễn cụ thể. Ví dụ, sau những đợt thiên tai không lớn nhưng thiệt hại lại nghiêm trọng, thay vì những lời lẽ tự kiểm điểm chung chung, lẽ ra các địa phương phải rút ra được kinh nghiệm chuyên môn rõ ràng, những điều chỉnh cụ thể về quy hoạch vùng miền. Phải có các trung tâm nghiên cứu vùng miền với ý kiến chuyên môn độc lập, chỉ ra nguyên nhân và giải pháp cụ thể gửi tới chính quyền và cơ quan chức năng.   Hiện nay ở nước ta, khi một doanh nghiệp nào đó đệ trình hồ sơ một dự án đầu tư nào đó, chính quyền địa phương dựa vào ý kiến chuyên môn từ các Sở hoặc tùy vào quy mô và tính chất dự án mà lấy ý kiến từ các Bộ. Những ý kiến chuyên môn này thiếu góc nhìn chuyên môn độc lập. Trong xã hội có thể nảy sinh một vài ý kiến cá nhân phản biện riêng lẻ, nhưng chừng đó còn chưa đủ. Ngược lại, chúng ta hoàn toàn không thiếu các viện nghiên cứu, và đang quá thừa những dự án nghiên cứu trên giấy. Đây là một lý do nữa khiến chúng ta cần các trung tâm nghiên cứu độc lập với những mục tiêu cụ thể và sản phẩm cụ thể.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội đồng khoa học vô hình      Ở các nước có nền khoa học phát triển, mọi nhà nghiên cứu thực thụ đều chịu sự kiềm tỏa của những hội đồng khoa học vô hình.    Nói về công tác nghiệm thu đề tài khoa học được Nhà nước cấp kinh phí, có ý kiến cho rằng không nên quá khắt khe bám theo một số tiêu chí cứng nhắc nào đó. Thậm chí, có quan điểm còn đi xa hơn, cho rằng ngay cả vai trò của các hội đồng xét duyệt, nghiệm thu đề tài là không cần thiết. Quan điểm này dựa trên kinh nghiệm làm các đề tài nghiên cứu được tài trợ bởi các quỹ khoa học nước ngoài của một số nhà khoa học trong nước. Họ thấy rằng mình không hề phải đến báo cáo, nghiệm thu trước bất kỳ một hội đồng khoa học nào.  Tuy nhiên, trong thực tế ở các nước có nền khoa học phát triển, mọi nhà nghiên cứu thực thụ đều chịu sự kiềm tỏa của những hội đồng khoa học vô hình:   Tạp chí khoa học là một dạng hội đồng vô hình rất cụ thể và chính danh. Một cách chính tắc, uy tín của nhà nghiên cứu được căn cứ trên hồ sơ những bài báo công bố trên các tạp chí khoa học. Đối với mọi nhà nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu, uy tín khoa học là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới lượng kinh phí và hợp đồng nghiên cứu có thể nhận được, và uy tín đó nhất thiết phải được xây dựng trên hồ sơ những kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học, với những tiêu chí cụ thể như mức độ danh tiếng của tạp chí, số lượng bài đăng, số lượng trích dẫn.   Tạp chí khoa học càng danh tiếng thì càng cẩn trọng trong việc thẩm định các bài báo được gửi đến. Họ phải chọn ra những nhà khoa học có năng lực và chuyên môn phù hợp để thẩm định và phản biện các bài báo. Điều ấy khiến mỗi tạp chí khoa học có vai trò tự thân như một hội đồng khoa học. Tác giả bài báo có thể không bao giờ có dịp trao đổi, đối diện, hoặc được biết đến những người đánh giá, thẩm định mình, nhưng không có nghĩa là hội đồng không tồn tại.  Văn hóa khoa học là một dạng hội đồng vô hình vừa trừu tượng, vừa phổ biến hơn, len vào mọi ngóc ngách của đời sống khoa học. Trước khi trưởng thành, các nhà nghiên cứu tập sự đều phải sống trong một môi trường học thuật nghiêm túc để tự mình trau dồi một văn hóa khoa học, với những chuẩn mực chung mà người trong giới ai cũng phải tôn trọng. Để rồi văn hóa ấy đi vào từng hơi thở, thấm vào từng hoạt động lớn nhỏ của một nền khoa học phát triển. Dù giữa một hội thảo tập trung các chuyên gia hàng đầu, hay giữa hành lang sảnh đường với một vài đồng nghiệp thân tình, hay ngồi đơn độc trước màn hình máy tính trao đổi email với một người trong giới xa lạ bất kỳ, ở mọi nơi nhà khoa học đều có ý thức rằng uy tín học thuật của mình đang dưới một sự giám sát vô hình theo những chuẩn mực rất rạch ròi, không thể nhập nhèm.   Quay lại với câu chuyện xét duyệt và nghiệm thu đề tài khoa học được cấp kinh phí từ những quỹ khoa học của nước ngoài, chúng ta thấy sở dĩ có thực tế là người nhận kinh phí không hề phải trực tiếp đối diện các hội đồng thẩm định, là vì những người xét duyệt đề tài bằng kinh nghiệm và uy tín khoa học của mình, chỉ cần xem hồ sơ công bố khoa học của tác giả đề tài cùng các thông tin sơ bộ về đề tài đăng ký, đôi khi có thể kèm theo một vài trao đổi ngắn gọn qua email với tác giả đề tài, đã có thể biết được liệu dự kiến mục tiêu, nội dung, và tiến trình nghiên cứu đề tài này có khả thi và phù hợp với các chuẩn mực khoa học hay không.   Môi trường văn hóa khoa học đậm đặc, ý thức về những hội đồng vô hình xung quanh, và sự gắn liền giữa quyền lợi với uy tín khoa học buộc người được mời xét duyệt đề tài phải hết sức cẩn trọng, nghiêm túc trong công việc của mình. Do vậy, có những quỹ khoa học không cần tổ chức nghiệm thu đề tài, bề ngoài tưởng là lỏng lẻo, nhưng thực chất vẫn hết sức chặt chẽ.  Ngược lại, trong một môi trường quốc gia đang phát triển và nền khoa học non trẻ như Việt Nam, nơi uy tín và văn hóa khoa học còn chưa được định hình một cách chính danh, thì việc tổ chức các hội đồng với sự tham gia của những học hàm, học vị hoành tráng, nhiều khi tưởng là chặt chẽ nhưng thực chất lại lỏng lẻo. Dẫn đến tình trạng có những nghiên cứu không rõ có đáp ứng được các chuẩn mực học thuật hay không, cũng không rõ có khả thi hay không, nhưng người ta vẫn khẳng định là Nhà nước nên cấp kinh phí hỗ trợ.  Trong điều kiện như vậy, Việt Nam phải cần đến các hội đồng khoa học xét duyệt và nghiệm thu các chương trình, đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, điều kiện chọn các thành viên hội đồng phải rất cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng yêu cầu có công bố quốc tế trong lĩnh vực liên quan trong thời gian tối thiểu là 3-5 năm trở lại đây. Sản phẩm được nghiệm thu cũng phải được kiểm chứng bằng công bố quốc tế. Với những sản phẩm ứng dụng công nghệ, tốt nhất là kinh phí được trả ít nhất một phần từ chính các địa chỉ sử dụng.   Bên cạnh đó, ngày nay trong bối cảnh internet trở thành một công cụ hữu hiệu giúp các nhà khoa học liên lạc, trao đổi, kiểm chứng thông tin, chúng ta hi vọng rằng những hội đồng khoa học vô hình ở Việt Nam, đặc biệt là văn hóa khoa học, sẽ ngày càng lớn mạnh để phát huy vai trò giám sát, giúp nâng cao đạo đức, nhân cách người làm khoa học, giúp khoa học Việt Nam phát triển ngày một lành mạnh hơn.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội đồng ngành phải là các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp      Hội đồng ngành kinh tế là một trong số ít các Hội đồng ngành KHXH&amp;NV của Quỹ Nafosted đề xuất yêu cầu các đề tài nghiên cứu phải cam kết có công bố quốc tế. Tuy nhiên, đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cải thiện mạnh mẽ chất lượng và giá trị đóng góp của các đề tài. PGS.TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng về vấn đề này.    Xin ông cho biết yêu cầu các đề tài Nafosted phải cam kết có công bố trên các tạp chí quốc tế đã được các nhà khoa học trong ngành kinh tế học tiếp nhận như thế nào?     Đa số đều ủng hộ, coi đây là một quy định cần thiết và cần phải được áp dụng sớm, bởi các tạp chí khoa học quốc tế thường có quy trình xét duyệt, thẩm định nghiêm ngặt hơn so với các tạp chí khoa học trong nước, với năng lực thẩm định và phản biện cao hơn, giúp đánh giá chất lượng các đề tài một cách nghiêm túc, khách quan hơn. Mặc dù gần đây các tạp chí khoa học trong nước cũng đã có những tiến bộ nhất định trong công tác thẩm định và phản biện các công trình nghiên cứu, tuy nhiên mức xà mà các tạp chí này đặt ra vẫn thấp hơn so với bình diện chung của quốc tế.       Có ý kiến cho rằng xuất phát từ chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm nghiên cứu của chúng ta có thể có những khác biệt tạo thành rào cản khi công bố ra quốc tế?     Mọi nghiên cứu đều phải xuất phát từ nền tảng khoa học. Chỉ khi nào chúng ta làm rõ nền tảng khoa học của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới biết sự khác biệt ở đây là gì, và liệu có rào cản nào ngăn cách về quan điểm khiến chúng ta không thể công bố quốc tế hay không. Cá nhân tôi cho rằng mọi nghiên cứu đóng góp tri thức mới có giá trị, dựa trên nền tảng khoa học vững chắc, sử dụng phương pháp khoa học đáng tin cậy, thì dù ở đâu cũng được giới khoa học thừa nhận như nhau.      Yêu cầu các đề tài phải đáp ứng tiêu chí về số lượng công bố quốc tế nhìn chung đã giúp tăng chất lượng nghiên cứu, nhưng nhiều chuyên gia cũng lên tiếng chỉ ra một thực tế là yêu cầu này có thể khiến các nhà khoa học chỉ tập trung tiến hành những đề tài quy mô nhỏ có tính an toàn cao, không dám theo đuổi các nghiên cứu dài hơi, có chất lượng cao hơn?     Việc đặt ra yêu cầu về tiêu chí có công bố quốc tế về cơ bản vẫn là điều cần thiết nhằm nâng cao chất lượng của các đề tài nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, ở Hội đồng ngành kinh tế, chúng tôi hiểu rằng mọi nghiên cứu đều có tính rủi ro, không phải nghiên cứu nào cũng thành công. Vì vậy, để giảm áp lực cho nhà nghiên cứu, Hội đồng vẫn có thể xem xét chấp nhận nghiệm thu các đề tài không đạt chỉ tiêu số lượng công bố quốc tế do những nguyên nhân mang tính khách quan.             Mọi nghiên cứu đều phải xuất phát từ nền tảng khoa học. Chỉ khi nào chúng ta làm rõ  nền tảng khoa học của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới biết sự khác biệt ở đây là gì, và liệu có rào cản nào ngăn cách về quan điểm khiến chúng ta không thể công bố quốc tế hay không.         Cũng nên tin vào bản lĩnh của các nhà khoa học đích thực. Chỉ những ai thiếu năng lực mà làm khoa học thì mới “khôn lỏi”, lo tránh rủi ro bằng cách chăm chăm chọn những đề tài không đòi hỏi cao về năng lực sáng tạo nhưng “chắc ăn” về tài chính.     Một số chuyên gia từ các hội đồng ngành của Nafosted thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên cho rằng để khuyến khích các đề tài có chất lượng cao, chúng ta không thể thỏa mãn với việc các đề tài có công bố quốc tế, mà cần có sự sàng lọc kỹ hơn bằng cách phân loại các tạp chí quốc tế và có chính sách phù hợp để thưởng cho những đề tài có công trình công bố trên tạp chí có thứ hạng cao.      Khác với các ngành khoa học tự nhiên, các ngành khoa học xã hội và nhân văn của chúng ta có vẻ như có mặt bằng trình độ tụt hậu so với thế giới ở mức độ trầm trọng hơn. Số lượng các công trình có công bố quốc tế trong ngành khoa học xã hội và nhân văn còn rất hạn chế. Vì vậy, mục tiêu ưu tiên trước mắt của chúng ta trước hết là làm sao có thêm nhiều công bố quốc tế. Tuy nhiên, về lâu dài, việc sàng lọc, phân loại các tạp chí khoa học quốc tế là cần thiết, từ đó có chính sách tưởng thưởng xứng đáng cho những công trình công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế thứ hạng cao, qua đó thúc đẩy các nhà khoa học theo đuổi những đề tài nghiên cứu có chất lượng cao nhất mà họ đủ năng lực thực hiện. Chúng ta cũng nên cân nhắc tổ chức một giải thưởng thường niên để ghi nhận, tôn vinh một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn được công bố trong năm trước có chất lượng khoa học tốt nhất.      Chất lượng các đề tài nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào năng lực thẩm định của hội đồng. Ông đánh giá ra sao về vai trò và năng lực thẩm định của Hội đồng ngành kinh tế của Nafosted hiện nay?     Năng lực thẩm định của hội đồng vẫn còn một số mặt hạn chế. Lẽ ra các thành viên hội đồng phải là các nhà khoa học “chuyên nghiệp”, có đủ điều kiện để liên tục cập nhật, theo sát tình hình phát triển của các chuyên ngành lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên, Hội đồng ngành kinh tế chưa làm được việc này. Không phải với đề tài nào các thành viên hội đồng cũng có đủ thông tin về các chuyên ngành kinh tế liên quan để có thể đưa ra những đánh giá, phân tích lý thuyết chuyên sâu. Vì vậy, vai trò của Hội đồng cơ bản chỉ mới dừng lại ở bước đánh giá chung, từ đó khuyến khích các đề tài mà kết quả có khả năng ứng dụng vào tình hình thực tiễn của Việt Nam, và đưa ra những khuyến nghị giúp nhóm thực hiện đề tài có thể kết nối với các địa chỉ nghiên cứu cần thiết.      Điều này có nghĩa là với những nghiên cứu có tham vọng đóng góp tri thức mới vào hệ thống lý thuyết kinh tế thì năng lực thẩm định của Hội đồng là chưa đủ?     Đúng như vậy. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh thực tế là năng lực nghiên cứu lý thuyết của các nhà kinh tế trong nước còn hạn chế, chưa đủ để cống hiến những tri thức mới cho các ngành kinh tế lý thuyết của thế giới. Việc thay đổi thực trạng này là không dễ dàng, cần một chặng đường dài, đòi hỏi trước hết các sinh viên, nghiên cứu sinh của chúng ta được đào tạo lý thuyết một cách đầy đủ, bài bản hơn.      Trong bối cảnh chung như vậy, giá trị đóng góp của các đề tài kinh tế của Nafosted chủ yếu không phải là những đóng góp về lý thuyết kinh tế học, mà là những giá trị đóng góp vào ứng dụng trong thực tiễn?             Đa phần người ta vẫn ưa làm những nghiên cứu có tính chung chung, nặng chữ nghĩa, nhiều lý sự, hướng tới mục tiêu đề xuất ra các chủ trương, chính sách và giải pháp vĩ mô, đại thể thay vì sử dụng các công cụ và phương pháp hiện đại, ví dụ các mô hình kinh tế lượng, để có những kết quả khách quan có thể kiểm chứng.         Trong thực tế, không phải kết quả nghiên cứu ứng dụng nào cũng được triển khai ứng dụng ra đời sống. Ví dụ, với những đề tài đề xuất các đường lối, chính sách của Nhà nước, chỉ một số ít là được các cơ quan quản lý tham khảo để chuyển hóa trở thành những chính sách, giải pháp triển khai trong thực tế. Còn đối với mảng nghiên cứu phục vụ cho các doanh nghiệp là mảng nghiên cứu rất hữu ích, cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin có giá trị về thị trường, chiến lược sản xuất, kinh doanh, v.v. thì đáng tiếc là số lượng chưa nhiều – đa phần người ta vẫn ưa làm những nghiên cứu có tính chung chung, nặng chữ nghĩa, nhiều lý sự, hướng tới mục tiêu đề xuất ra các chủ trương, chính sách và giải pháp vĩ mô, đại thể thay vì sử dụng các công cụ và phương pháp hiện đại, ví dụ các mô hình kinh tế lượng, để có những kết quả khách quan có thể kiểm chứng. Cách làm theo lối mới này chỉ mới xuất hiện gần đây và tăng lên khá nhanh, tập trung nhiều ở các nhà nghiên cứu kinh tế trẻ, được đào tạo ở các nước phương Tây về.        Vì sao Nafosted tài trợ cho những nghiên cứu xây dựng đường lối, chính sách Nhà nước, khi đa phần các nghiên cứu này là do các cơ quan quản lý đặt hàng các viện nghiên cứu chuyên trách trong ngành của mình?             Cải thiện chất lượng hội đồng là vấn đề cơ bản đầu tiên cần được quan tâm.         Các viện nghiên cứu chuyên trách của các Bộ, ngành bị nhiều giới hạn về thông tin trong lĩnh vực hẹp của mình. Các nghiên cứu của họ dễ sa vào lối mòn do không kịp cập nhật sự phát triển của các thông tin, lý thuyết kinh tế đa dạng trên thế giới. Vì vậy, chúng ta cần những đề tài nghiên cứu mang tính độc lập hơn do các trường, viện, và cá nhân nhà nghiên cứu chủ động đề xuất lên. Quỹ Nafosted là nơi phù hợp để cấp kinh phí cho những nghiên cứu như vậy.      Tuy nhiên, liệu có nhất thiết phải yêu cầu có công bố quốc tế những nghiên cứu ứng dụng trực tiếp phục vụ cho các cơ quan quản lý của Nhà nước và các doanh nghiệp như vậy?     Việc yêu cầu các nghiên cứu ứng dụng như vậy phải có công bố quốc tế là điều bình thường. Ví dụ, những nghiên cứu về chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn có thể có những nội dung phù hợp để công bố trên các tạp chí kinh tế chính trị trong khu vực, chẳng hạn như Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương.      Để sàng lọc các đề xuất nghiên cứu và thẩm định, nghiệm thu kết quả của chúng một cách chính xác, hiệu quả, chúng ta cần cải cách hội đồng ngành kinh tế của Nafosted như thế nào?      Cải thiện chất lượng hội đồng là vấn đề cơ bản đầu tiên cần được quan tâm. Chúng ta phải nâng cao chất lượng của hội đồng bằng cách từng bước đặt ra những tiêu chí nghiêm ngặt hơn đối với các thành viên hội đồng, đòi hỏi họ phải là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp thay vì những nhà khoa học nhưng lại phải dành phần lớn thời gian cho công tác quản lý. Trong Hội đồng, cần sự có mặt các nhà kinh tế trẻ được đào tạo một cách bài bản ở nước ngoài, có công trình công bố trên các tạp chí kinh tế quốc tế uy tín trong thời gian gần đây, bởi họ chính là những người có đủ tri thức nền tảng, đồng thời cập nhật, theo sát các xu hướng phát triển của khoa học kinh tế trên thế giới.             THANH XUÂN  thực hiện     Đọc thêm:  + VN chưa có ý thức xếp hạng các tạp chí KHXH đầu ngành (Đinh Hồng Hải)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7619  + Tính bản địa, một rào cản cho công bố quốc tế trong ngành KHXH&NV (Trần Trọng Dương)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7610  + Không thể “né” mãi (Trần Ngọc Vương)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7602  + Lại bàn về công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế: Nhiều chưa hẳn tốt (Phạm Duy Hiển)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7596    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hội khoa học: Một giải pháp cho sự phát triển của khoa học      Tôi thường bày tỏ quan điểm trên các trang báo rằng chúng ta, các nhà khoa học, nên quan tâm hơn tới sự phát triển và tiến bộ của sự nghiệp khoa học và nghiên cứu trong nước; chúng ta không thể chỉ trông chờ các cơ quan, Chính phủ, hay Đảng, … đưa ra mọi giải pháp cho tất cả mọi vấn đề; chúng ta nên cảm thấy có trách nhiệm chủ động đối diện với các khó khăn gặp phải trong công việc của mình.    Vậy thì làm như thế nào? Ở nhiều nước, các hội khoa học (learned societies) hay các viện hàn lâm đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề này. Họ tạo ra diễn đàn để thảo luận mọi vấn đề cần xem xét. Với tư cách độc lập đối với Nhà nước, họ thực sự tự do; đồng thời họ nhận được sự tôn trọng từ các cơ quan do luôn tiếp cận các vấn đề một cách có trách nhiệm.  Thay vì bị coi như các tổ chức gắn với một số lĩnh vực đặc thù riêng, ví dụ như các thương hội, với mục đích duy nhất là bảo vệ quyền lợi cộng đồng của mình, hội khoa học có vai trò rộng hơn, thường được nhờ tư vấn hoặc tham gia xây dựng chính sách khoa học cho đất nước. Ở Việt Nam, các viện hàn lâm chưa thực sự có vai trò như vậy, đồng thời các viện sỹ cũng chưa được bổ nhiệm dựa theo đề cử của giới khoa học căn cứ trên thành tựu khoa học xuất sắc: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực chất vẫn là một cơ quan Nhà nước phục vụ cho nghiên cứu khoa học, không hề giống với các hội học giả trên thế giới như Hội Hoàng gia Anh, Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ cho các ngành khoa học hay Viện Hàn lâm Nhật Bản. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có các hội khoa học, ví dụ như Hội Toán học Việt Nam hay Hội Vật lý Việt Nam. Sẽ khá thú vị nếu chúng ta tìm hiểu về vai trò, chức năng của chúng.  Một khác biệt giữa hội học giả so với các viện hàn lâm là thành viên của hội học giả có thể là nhà nghiên cứu, giảng viên cấp đại học hay phổ thông, các kỹ sư, và tất cả những ai quan tâm tới khoa học nói chung. Để trở thành thành viên bạn chỉ cần được một hoặc hai thành viên khác giới thiệu và hướng dẫn. Bạn cũng chỉ cần đóng một khoản phí để giúp chi trả cho sinh hoạt của hội. Những người điều hành hội được bầu bởi các thành viên, và thực hiện chức trách của mình một cách tình nguyện, không lương. Nhìn chung, các thành viên quốc tế cũng được tham gia, ví dụ Hội Vật lý Mỹ không lưu hồ sơ về quốc tịch các thành viên của mình, hội này có tới khoảng 12.500 thành viên sống bên ngoài nước Mỹ, chiếm tới 24% tổng số thành viên.  Các hội học giả thường hết sức quan tâm tới các vấn đề về đạo đức. Dù là các hội của Nhật Bản, Mỹ, hay châu Âu, chuẩn mực hạnh kiểm cho mọi nhà khoa học đều là một lý tưởng chung, rằng “sự tốt đẹp của khoa học dựa trên bản thân các nhà khoa học trong việc tạo ra các kết quả khoa học và chia sẻ chúng một cách cởi mở, trung thực, đảm bảo rằng khoa học phục vụ cho lợi ích xã hội, và một nền văn hóa nuôi dưỡng liêm chính học thuật”, hay nói cách khác “mọi người liên quan tới khoa học đều có trách nhiệm đảm bảo khoa học được thực hiện với ưu tiên về chất lượng, với sự trung thực, liêm chính, và chuẩn mực cao về đạo đức”.  Các hoạt động thông thường của các hội khoa học thường bao gồm việc tổ chức các hội nghị, xuất bản các tạp chí khoa học chuyên ngành và phổ thông, trao các giải thưởng và duy trì quan hệ gần gũi giữa các hội học giả với nhau, kể cả trong nước và quốc tế. Một số tổ chức quốc tế có vai trò rất quan trọng theo nghĩa này, như Liên đoàn Thiên văn Quốc tế, Liên đoàn Quốc tế Vật lý Cơ bản và Ứng dụng, hay Liên hiệp các hội Vật lý Châu Á Thái Bình Dương (AAPPS). Ở đây cũng cần nhắc đến Viện Hàn lâm Trẻ toàn cầu (Global Young Academy), một tổ chức hướng tới “trở thành tiếng nói nhà khoa học trẻ toàn thế giới” và liên kết các Viện Hàn lâm Khoa học Trẻ hiện có tại một số quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan, và Philippines. Trao cơ hội lên tiếng cho các nhà khoa học trẻ là điều được quan tâm, chia sẻ rộng rãi giữa các hội khoa học ở nhiều quốc gia tiến bộ, và đã có nhiều nỗ lực nhằm nuôi dưỡng những sáng kiến thúc đẩy tiến trình chung này. Trong khi viết bài báo này, tôi được biết rằng Việt Nam cũng đang thai nghén Viện Hàn lâm Trẻ của Việt Nam (địa chỉ trực tuyến tại vietnamyoungacademy.org), một tổ chức đang trong quá trình xây dựng và đã có danh sách các thành viên, nhà tư vấn, và các bạn bè đối tác. Tuy nhiên, hiện nay tổ chức này chủ yếu vẫn nằm ở nước ngoài, và tôi còn chưa rõ cơ sở pháp lý nào để họ có thể đưa trụ sở về trong nước. Dù sao, điều đó họ cũng cho thấy đã đến lúc các hội khoa học chính thống trong nước cần thực sự lưu tâm.        Về nguyên tắc, các hội khoa học chính là nơi nuôi dưỡng văn hóa trung thực, liêm chính học thuật và đạo đức, và là nơi thực hành quyền dân chủ và tự do ngôn luận, những điều không thể thiếu để giúp khoa học phát triển tiến bộ.      ***  Cần làm gì để giúp các hội học giả của Việt Nam đóng góp chủ động hơn cho sự phát triển khoa học của đất nước? Về nguyên tắc, họ chính là nơi nuôi dưỡng văn hóa trung thực, liêm chính học thuật và đạo đức, và là nơi thực hành quyền dân chủ và tự do ngôn luận, những điều không thể thiếu để giúp khoa học phát triển tiến bộ.  Hiện nay, các hội học giả trong nước đều nằm trong Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và được thành lập bởi Nhà nước. Về nguyên tắc, mối quan hệ như vậy không nên tạo trở ngại, mà ngược lại nên là điều thuận lợi [cho các hội khoa học]. Tuy nhiên, trên thực tế mối quan hệ này khiến các hội học giả trở nên thận trọng hơn mức cần thiết, với xu hướng né tránh làm những việc phải phiền hà xin phép bên trên. Một ví dụ như quy định các thành viên hội phải là công dân Việt Nam, có lẽ xuất phát từ thói quen thời chiến tranh khi những người nước ngoài thường bị nhìn với con mắt nghi ngại. Đến nay lẽ ra quy định này cũng nên thay đổi, nhưng điều ấy có lẽ là bất khả thi. Một ví dụ khác là sự thiếu vắng những tranh luận trong cộng đồng các nhà vật lý về tương lai lâu dài của nghiên cứu cơ bản trong nước. Ít năm trước, tôi trình bày trước Hội Vật lý Việt Nam một bài viết có quan điểm rằng các định hướng nghiên cứu của Việt Nam trên các lĩnh vực vật lý lượng tử, vật lý hạt nhân, và vật lý thiên văn, cần được thảo luận và xem xét điều chỉnh lại. Nhưng một đề xuất như vậy chẳng những bị coi là không đúng về mặt chính trị, mà có lẽ còn là sự cấm kỵ, và bài viết của tôi không được đưa vào kỷ yếu hội nghị.  Đã đến lúc chúng ta cần thay đổi cung cách để khôi phục sự minh bạch, khuyến khích sự sáng tạo, và lắng nghe thế hệ trẻ để nhìn về phía trước với quyết tâm vì sự tiến bộ. Điều đó là vì quyền lợi của đất nước và khoa học, tất cả chúng ta đều là người thắng và chẳng có gì tổn hại từ một cuộc cải cách như vậy. Tất cả những gì chúng ta cần là một quyết tâm từ VUSTA, không chỉ cho phép sự độc lập hoàn toàn từ các hội thành viên, mà còn khuyến khích họ chủ động thể hiện một thái độ trách nhiệm và tích cực trong vai trò của mình là tiếng nói của cộng đồng khoa học mà họ là đại diện.  Với sự đổi mới như vậy, chúng ta có thể sẽ được thấy các hội như Hội Vật lý Việt Nam tổ chức các cuộc tranh luận mở về tương lai ngành của mình, thông tin tới các cộng đồng về các quyết sách của Chính phủ trong lĩnh vực khoa học (thay vì phải để các nhà khoa học Việt kiều làm việc đó như với chiến lược ngành vật lý gần đây), quan tâm tới mối quan hệ với các tổ chức quốc tế mới như Viện Hàn lâm Trẻ toàn cầu, v.v. và tạo cơ hội hình thành một diễn đàn thảo luận cởi mở về định hướng tương lai của ngành. Một đòi hỏi như vậy liệu có là quá nhiều?     Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc lần thứ 13: Một diễn đàn học thuật quốc tế      Không đơn thuần là một “ngày hội” đến hẹn lại lên theo chu kỳ hai năm, kể từ năm 2013, hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc (Vietnam conference on nuclear science and technology VINANST) đã trở thành một diễn đàn học thuật mở theo tiêu chuẩn quốc tế, nơi nhiều vấn đề của Việt Nam có thể được bàn thảo và đón nhận ý kiến phản biện của các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực hạt nhân.      GS Masaki Saito (Nhật Bản), GS Phạm Duy Hiển và TS. Trần Chí Thành điều hành hội nghị.  Trong vòng ba ngày từ 7 đến 9/8/2019 tại Quảng Ninh, Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc lần thứ 13 (VINANST – 13) do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM), Trung tâm quốc tế vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và Sở KH&CN Quảng Ninh phối hợp tổ chức đã mở ra một phạm vi thảo luận rất rộng về những vấn đề thuộc các lĩnh vực chuyên ngành hẹp của năng lượng nguyên tử, từ vật lý thiên văn hạt nhân đến ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như y tế, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường…  Học hỏi và áp dụng chuẩn mực quốc tế  Trao đổi bên lề hội nghị lần thứ 13, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, cho biết, không phải ngẫu nhiên mà hiện nay ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam có được một hội thảo quốc tế, đó là kết quả của cả một quá trình nỗ lực của những người làm khoa học hạt nhân trong vòng ít nhất 6, 7 năm qua, kể từ khi quyết định đưa kỳ hội nghị toàn quốc tổ chức năm 2013 tại Vũng Tàu lên tầm quốc tế.  Quan sát đời sống khoa học ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ những quốc gia đi tiên phong trong việc tạo ra và xuất khẩu các thế hệ công nghệ hạt nhân như Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Canada… đến những quốc gia nhập khẩu và phát triển công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đức…, TS. Trần Chí Thành nhận thấy, mỗi quốc gia đều tạo dựng được “thương hiệu” hạt nhân với những hội nghị quốc tế, ví dụ Đại hội quốc tế về những vấn đề tiên tiến trong các nhà máy điện hạt nhân (International Congress on Advances in Nuclear Power Plants ICAPP), Hội nghị mùa đông của Hội hạt nhân Mỹ (ANS winter&expo), Hội nghị AtomExpo (ROSATOM, Nga), Hội nghị quốc tế về dòng chảy thủy nhiệt, vận hành và an toàn lò phản ứng (NUTHOS Nhật Bản)… “Quốc gia nào cũng cảm thấy tự hào khi xây dựng được những diễn đàn chuyên môn như thế, đặc biệt với các quốc gia đi sau như Nhật Bản hay Hàn Quốc thì mất cả chục năm mới thành công bởi chỉ khi đó, họ mới thực sự khẳng định được uy tín của mình trên quốc tế”, anh giải thích.      Những kết quả báo cáo tại hội nghị sẽ đem lại gợi ý cho việc định hướng các chương trình nghiên cứu và phát triển cũng như triển khai những ứng dụng hiệu quả hơn trong tương lai trên cơ sở phát huy nội lực và hợp tác quốc tế, ngành Năng lượng nguyên tử đang đứng trước cơ hội giải quyết những vấn đề của Việt Nam ở tầm quốc tế, theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc.      Vậy với các quốc gia còn đang từng bước một phát triển năng lượng nguyên tử như Việt Nam, việc tổ chức một hội nghị quốc tế có thực sự cần thiết? Hội nghị quốc tế là một trong những cách làm hiệu quả nhất để các quốc gia có thể quy tụ các nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới, mời họ tới cùng bàn luận về những vấn đề ‘nóng’ trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Do đó, muốn làm khoa học một cách bài bản thì chúng ta cũng phải làm như họ”, anh nhận xét về điều lớn nhất mà các hội nghị quốc tế có thể đem lại cho Việt Nam. Mặt khác, ở Việt Nam, tài liệu về năng lượng nguyên tử nói chung và công nghệ hạt nhân nói riêng còn ít, việc có được một hội nghị quốc tế sẽ là cơ hội để các nhà nghiên cứu trong nước mở rộng hơn hiểu biết của mình và cập nhật những gì thế giới đang làm.  Với quan điểm này, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu của ngành hạt nhân đã cùng ngồi lại bàn bạc và quyết định nâng tầm hội nghị quốc gia mà ngành đang có theo chuẩn mực quốc tế: các báo cáo được viết bằng tiếng Anh, được bình duyệt với sự tham gia của các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực mà ít nhiều đã có công bố quốc tế… “Trong ngành cũng có một số nhà nghiên cứu có nhiều kinh nghiệm hợp tác và xuất bản quốc tế nhưng chưa nhiều, vẫn còn có nhiều anh em ở các viện nghiên cứu còn chưa sử dụng thành thạo tiếng Anh. Đây là lý do mà ở hội nghị năm 2013, chúng tôi mới khuyến khích viết báo cáo bằng tiếng Anh chứ chưa bắt buộc”. Con đường từ quốc gia đến quốc tế của hội nghị ngành hạt nhân đã bắt đầu từ những suy nghĩ và bước đi như vậy. TS. Trần Chí Thành nhìn lại, “Không riêng gì việc anh em phải viết và trình bày báo cáo bằng tiếng Anh mà các công đoạn tổ chức hội nghị theo chuẩn mực quốc tế như thông báo trước thời điểm tổ chức một năm, tiếp nhận các báo cáo gửi đến, mời phản biện (hai chuyên gia/1 báo cáo)… khiến mất nhiều thời gian và công sức chuẩn bị. Bao giờ bắt đầu một sự thay đổi cũng gặp phải khó khăn, anh em đều phải cố gắng thôi bởi với một đất nước chưa phát triển đầy đủ về KH&CN như Việt Nam thì phải tạo được sự thu hút để các chuyên gia quốc tế thấy Việt Nam có tiềm năng gì và cần hợp tác ở chuyên ngành nào để thúc đẩy kết nối”.  Những nỗ lực của cả ngành, không riêng gì những nhà quản lý và nhà nghiên cứu hàng đầu, những người “đã gồng gánh ngành hạt nhân gần 40 năm qua” như cách ví von của giáo sư Phạm Duy Hiển, mà cả những gương mặt trẻ mới bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, đã góp phần đưa một hội nghị quốc gia trở thành một hội nghị quốc tế mà theo đánh giá của giáo sư Phạm Duy Hiển là “tốt lên theo thời gian và nghiêm túc thực hiện theo chuẩn mực quốc tế”.  Những giá trị đem lại  Hội nghị lần thứ 13 diễn ra trong bối cảnh ngành hạt nhân đang có những chuyển biến mới: số lượng và chất lượng các công bố quốc tế ngày một gia tăng; hợp tác quốc tế không ngừng được mở rộng với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các viện nghiên cứu và trường đại học của Nga, Mỹ, Thụy Điển, Nhật Bản, Đức…; và một lực lượng cán bộ nghiên cứu trẻ kế cận mới về VINATOM. Trong chuyển biến đó có tác động tích cực của hội nghị khi tạo cơ hội cho họ được làm việc trong môi trường quốc tế, được các nhà chuyên môn hàng đầu trong từng lĩnh vực nhận xét, phản biện các ý tưởng nghiên cứu và qua đó tiếp cận với các vấn đề mới của thế giới. Ngược lại, chất lượng hội nghị cũng được tăng lên với sự đóng góp của họ, không chỉ ở những báo cáo ngày một chất lượng hơn mà còn cho thấy Việt Nam có một đội ngũ nghiên cứu sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới mà các diễn giả khách mời trình bày.    Nhà nghiên cứu trẻ Hồ Văn Doanh (Viện nghiên cứu hạt nhân) trao đổi với giáo sư Sheldon Lansberger (trường Đại học Texas, Mỹ) bên lề Hội nghị.  Tất cả những điều đó cũng làm thay đổi cái nhìn của các vị khách mời, trong đó có đại diện của IAEA. Mặc dù từ lâu đánh giá Việt Nam có khả năng khai thác hiệu quả lò phản ứng nghiên cứu bậc nhất trong các quốc gia đang phát triển nhưng khi tới dự hội nghị lần thứ 12 vào năm 2017, TS. Najat Mokhtar (lúc đó là Giám đốc Phòng hợp tác kỹ thuật khu vực châu Á Thái Bình Dương, IAEA) vẫn không khỏi cảm thấy ngạc nhiên trước thái độ làm việc nghiêm túc và quan điểm lấy tiêu chuẩn quốc tế làm chuẩn mực ở hội nghị. Đây cũng là một trong những lý do thuyết phục IAEA dành cho Việt Nam một số dự án hợp tác quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong y tế, bảo vệ môi trường cũng như dự án thành phần của Dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia (RCNEST)… Tháng 4/2019 vừa qua, Trung tâm hợp tác IAEA VINATOM về nước và môi trường đã được khai trương như một dấu mốc phát triển và hứa hẹn đem lại những tác động mới của ngành hạt nhân trong đời sống xã hội.      Nếu VINATOM ngày càng có nhiều chuyên gia đầu ngành, nhiều nhà nghiên cứu đạt trình độ quốc tế thì mức tương tác của ngành với các nhà nghiên cứu quốc tế càng gia tăng và càng mở ra nhiều cơ hội mới. Hiện tại, chúng tôi đã nỗ lực làm điều này bằng việc áp dụng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó có việc nêu yêu cầu phải có công bố quốc tế với các đề tài cấp bộ, tuy mới được áp dụng nhưng đã bắt đầu thành nếp ở VINATOM, theo TS Trần Chí Thành      Do vậy, trong khuôn khổ chương trình hội nghị quốc tế ở Hạ Long, hội thảo IAEA “Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và đồng vị cho nghiên cứu về nước và môi trường” được tổ chức như một phiên kết nối giữa các nhà nghiên cứu tiên phong trên thế giới về ứng dụng đồng vị phóng xạ trong đánh giá ô nhiễm dinh dưỡng nước, ứng dụng trong theo dấu động vật di trú và các nhà nghiên cứu Việt Nam, những người đã bắt đầu sử dụng đồng vị bền trong đánh giá tác động đến môi trường từ các hoạt động của con người đến nghiên cứu điều tra tài nguyên khoáng nóng. TS. Trịnh Anh Đức, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm hợp tác IAEA VINATOM, cho rằng, dù diễn ra trong vòng hai giờ đồng hồ nhưng hội thảo đã cho thấy tiềm năng ứng dụng rất rộng của kỹ thuật hạt nhân và điều đó đã góp phần gợi ý cho Trung tâm những tiềm năng hợp tác quốc tế cũng như hỗ trợ việc xây dựng chương trình nghiên cứu, đào tạo chi tiết cho 5 năm tới (2020-2024).  Vẫn cần phải làm tốt hơn  Trở thành diễn đàn quốc tế, Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc đã bắt đầu lan tỏa ảnh hưởng của mình lên đời sống học thuật ngành hạt nhân, khuyến khích sự tham gia của sinh viên ngành hạt nhân từ nhiều trường đại học như Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGTPHCM), Đại học Điện lực… cũng như thu hút các nhà nghiên cứu trẻ các trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, trường Đại học Duy Tân, trường Đại học Đà Lạt, Bệnh viện Bạch Mai… Tuy nhiên, dưới con mắt khe khắt của một nhà khoa học, TS. Trần Chí Thành cho rằng hội nghị cần thu hút được nhiều sinh viên ngành hạt nhân hơn nữa. Nhiều trường, trong đó có Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQGHN), dường như vẫn không thực sự quan tâm đến một diễn đàn học thuật quốc tế ngay tại Việt Nam, anh nêu vấn đề.  Việc duy trì và tăng cường chất lượng của một hội nghị khoa học đa lĩnh vực theo chuẩn mực quốc tế đã tạo nên sức hấp dẫn của diễn đàn học thuật này.  Hội nghị KH&CN hạt nhân lần thứ 13 đã trao giải thưởng báo cáo xuất sắc nhất cho 7 nhà nghiên cứu ở 7 lĩnh vực: Phạm Quang Huy (Viện Nghiên cứu hạt nhân) với “Thiết kế cốc chiếu xạ sử dụng phương pháp màn chắn thử nghiệm pha tạp đơn tinh thể silic trên lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt” (Tiểu ban A Lò phản ứng, điện hạt nhân và đào tạo nguồn nhân lực); La Lý Nguyên (Trung tâm Hạt nhân Tp. Hồ Chí Minh) với “Ứng dụng phương pháp tán xạ tia X góc nhỏ đánh giá ảnh hưởng thăng giáng mật độ điện tử lên các cấu trúc vi mô của màng dẫn proton trong pin nhiên liệu” (tiểu ban B Vật lý hạt nhân, số liệu hạt nhân, mát gia tốc và phân tích hạt nhân); Nguyễn Hào Quang (VINATOM) với “Ảnh hưởng của số hạt mô phỏng đến độ bất định trong mô phỏng phát tán phóng xạ sử dụng chương trình FLEXPART” (Tiểu ban C Ghi đo bức xạ, an toàn bức xạ và quan trắc môi trường); Vũ Hữu Khiêm (Bệnh viện Bạch Mai) với “Ứng dụng kỹ thuật PET/CT mô phỏng lập kế hoạch xạ trị ung thư tại Bệnh viện Bạch Mai” (Tiểu ban D1-D2 Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong y tế, công nghiệp và các lĩnh vực khác); Nguyễn Hữu Quang (Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật hạt nhân trong Công nghiệp) với “Đánh dấu liên giếng- một công cụ đắc lực phục vụ khai thác dầu khí” (Tiểu ban D3-D4 Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp và ứng dụng công nghệ bức xạ); Đặng Văn Phú (Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ bức xạ) với “Chế tạo khung nuôi cấy tế bào từ vật liệu hydrogel gelatin/carboxymethyl chitosan khâu mạch bức xạ”, Koichi Hirota (Viện nghiên cứu phóng xạ tiên tiến Takasaki, Nhật Bản) với “Các ứng dụng chùm tia điện tử để bảo vệ môi trường” (Tiểu ban E Hóa phóng xạ, hóa bức xạ, hóa học hạt nhân, chu trình nhiên liệu, công nghệ vật liệu hạt nhân, quản lý chất thải phóng xạ).  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/hoi-nghi-khcn-hat-nhan-toan-quoc-lan-thu-13-mot-dien-dan-hoc-thuat-quoc-te/20190815100026118p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs): Từ nghiên cứu đến chính sách      Phần lớn các nhà quản lý thường quan tâm đến việc đầu tư vào các công trình nghiên cứu làm ra các sản phẩm cụ thể, trong khi những công trình nghiên cứu cơ bản lại chẳng mấy được quan tâm, mặc dù không ít thông tin và kết luận thuần túy khoa học từ đó đã trở thành căn cứ quan trọng để các nhà quản lý xây dựng chính sách.         Việt Nam sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật dạng POPs để diệt trừ sâu bệnh. Ảnh: Hội Nông dân Việt Nam.    Tuy vậy trong gần 20 năm qua, các nhà nghiên cứu về các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) theo Công ước Stockholm – một hiệp ước toàn cầu ra đời năm 2001 với mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người, đa dạng sinh học và môi trường trước những nguy cơ, rủi ro do các chất POPs gây ra, vẫn âm thầm theo đuổi hướng nghiên cứu này.  Từ những đề tài nghiên cứu đơn lẻ mang tính tiên phong của một vài nhóm nghiên cứu trong nước kết hợp với các đồng nghiệp quốc tế năm 1996 đến những nhiệm vụ khoa học trong hai kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm lần lượt được ban hành vào năm 2006 và 2017 1, những tiêu chuẩn, quy chuẩn, thông tư, nghị định, hướng dẫn kỹ thuật… về khí thải lò đốt chất thải rắn, khí thải công nghiệp sản xuất thép, ngưỡng phát thải Dioxin/furan, ngưỡng đối với các chất PCB trong dầu biến thế, PBDE trong sản phẩm điện tử, danh mục hóa chất hạn chế nhập khẩu… đã ra đời. TS. Nguyễn Anh Tuấn (Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên Môi trường) đánh giá: “Nếu không có các nhà khoa học thì các nhà quản lý không thể nhận diện được rủi ro do hóa chất gây ra. Vì thế, các nhà quản lý rất cần các nhà khoa học, những người có kiến thức và tầm nhìn, chỉ ra những hóa chất có khả năng gây ô nhiễm, khu vực bị ô nhiễm, công nghệ xử lý ô nhiễm và cần những giải pháp gì để giảm thiểu ô nhiễm trong tương lai. Nói một cách đơn giản thì đó là chính sách”.  Nghiên cứu hỗ trợ quản lý  Con đường từ nghiên cứu đến đến chính sách được PGS. TS Dương Hồng Anh (Phòng thí nghiệm trọng điểm CN phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm ĐHQGHN), một nhà khoa học trẻ nhưng đã có thâm niên hơn 15 năm nghiên cứu về các chất POPs, tóm tắt, “bao giờ cũng bắt đầu bằng nghiên cứu để khẳng định chất POPs đó có ở Việt Nam hay không, mức độ thế nào để ‘báo động’ cho cơ quan quản lý tiến hành kiểm kê, đánh giá mức độ tồn tại và khả năng ảnh hưởng tới con ngươi, tới môi trường, [qua đó] ra tiêu chuẩn, quy chuẩn hướng dẫn và lên kế hoạch quản lý, xử lý”.  Mặc dù chỉ gói gọn bằng một câu như vậy nhưng trên thực tế đó là một quá trình kéo dài trong nhiều năm, trải qua nhiều khâu. Ví dụ đối với PCB trong dầu biến thế – hóa chất tiềm ẩn nhiều rủi ro với sức khỏe như nguy cơ gây ung thư, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch và nội tiết, được nhóm nghiên cứu của GS. TS Phạm Hùng Việt (Phòng thí nghiệm trọng điểm CN phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm ĐHQGHN) quan tâm nghiên cứu từ những năm 1996 nhưng phải đến năm 2009 mới bắt đầu có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và 2014 có hướng dẫn kỹ thuật về quản lý an toàn của Tổng cục Môi trường. Để có được những văn bản hướng dẫn này, trong vòng ba năm (từ năm 2012 đến 2014), các nhà quản lý của Tổng cục Môi trường kết hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam và nhiều nhóm nghiên cứu khảo sát các điểm nóng ô nhiễm (hotspot), lấy khoảng 59.000 mẫu trong và ngoài ngành điện lực để phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm, khả năng lan truyền, khả năng biến đổi trong môi trường và kiểm kê PCB trên toàn quốc. PGS. TS Từ Bình Minh (Khoa Hóa, Đại học Khoa học tự nhiên), cho biết: “Việc xây dựng cơ chế chính sách thường [diễn ra] rất lâu và có rất nhiều việc cần làm, trong đó có nhiều hoạt động pilot (thử nghiệm) để chứng minh [ngưỡng cho phép của chất POPs đó là hợp lý], và [trên cơ sở đó] đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn”.  Sự tham gia của các nhà nghiên cứu khiến quy trình xây dựng các văn bản chính sách về các chất POPs chặt chẽ hơn. Trước đây, việc xây dựng một số quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam thường chỉ đơn giản là dịch văn bản tương đương của nước ngoài vì theo PGS. TS Dương Hồng Anh “mình không đủ điều kiện thực nghiệm trong khi họ có đầy đủ số liệu mang tính thống kê để chứng minh ngưỡng quy định đó [về từng chất POPs] là đúng; mặt khác khi ra tiêu chuẩn, quy chuẩn cũng cần tính về mặt kỹ thuật và tài chính có khả năng thực hiện hay không thì mới mang tính thực tiễn, không có lại là duy ý chí hoặc khiến những người không nghiêm túc nghĩ cách lách luật”. PGS. TS Từ Bình Minh bổ sung, “trước thì các nhà quản lý có mời một số chuyên gia phân tích tiêu chuẩn của quốc tế, xong cũng có phân tích – ở đây không phải phân tích mẫu mà phân tích dữ liệu có sẵn, sau đó gần như đưa ra tiêu chuẩn, quy chuẩn luôn mà không có hoạt động pilot để chứng minh điều đó”.  Cách làm đó chỉ thực sự thay đổi vào những năm gần đây khi Bộ Tài nguyên và Môi trường, với vai trò điều phối Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm tại Việt Nam, phối hợp với nhiều bộ ngành thực hiện các dự án tăng cường năng lực quản lý các chất POPs bằng kinh phí từ nhiều nguồn như ngân sách, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), UNDP… “Có dự án thì việc thực hiện nghiêm chỉnh hơn, các nhà nghiên cứu có thể hỗ trợ thêm một số dữ liệu chính để cùng tiến hành đo đạc, đo đạc đủ rồi sẽ ra được tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với Việt Nam vì nhiều ngưỡng không nhất thiết phải theo tiêu chuẩn quốc tế”, PGS. TS Từ Bình Minh, người có kinh nghiệm tham gia nhiều dự án như vậy, nhận xét. Anh lấy ví dụ về dự án xử lý PCB đã tập hợp được một số lượng lớn nhiều cơ quan, nhiều nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia, đồng thời thành lập một tổ liên ngành chéo để kiểm tra việc thực hiện đó. Nhờ vậy, những quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, thông tư quản lý PCB ra đời, tạo thành khung chính sách và pháp lý về PCB tại Việt Nam.  Khoảng cách giữa nghiên cứu và chính sách  Mặc dù sự liên kết giữa các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đã được thiết lập khá chặt chẽ nhưng không phải lúc nào cũng liền mạch. Đôi khi hai bên vẫn còn chưa thật sự ăn khớp về nhận thức, như trường hợp về một số chất POPs “mãi sau này nhà quản lý mới thay đổi cái nhìn” trong khi “thế giới người ta [đã] công nhận từ lâu rồi”, PGS. TS Dương Hồng Anh kể.  Đó là trường hợp nghiên cứu về Dioxin/Furan – các chất U POPs được hình thành và phát thải không chủ định từ quá trình sản xuất công nghiệp như luyện thép, luyện kim màu, lò đốt… Tháng 8/2011 tại hội thảo quốc tế về Dioxin lần thứ 31 ở Bỉ, PGS. TS Từ Bình Minh, TS. Nguyễn Hùng Minh (Phòng thí nghiệm Dioxin, Tổng cục Môi trường)… công bố nghiên cứu về phát hiện các chất Dioxin/Furan ở một số nhà máy sản xuất thép và xi măng. Các nhà quản lý Việt Nam bất ngờ trước thông tin này vì lúc đó vẫn còn chưa phân biệt được Dioxin chất độc màu da cam tồn dư từ chiến tranh và Dioxin từ công nghiệp. PGS. TS Dương Hồng Anh chia sẻ, “mình cứ nói Dioxin là sợ. Nhưng thật ra [trong báo cáo] các nhà khoa học đã chứng minh được: Dioxin xuất phát từ công nghiệp và chiến tranh có phân bố thành phần khác nhau, nếu phân tích cặn kẽ là biết Dioxin đó là ở đâu ra”.  Nhận thức khác nhau giữa các nhà quản lý và nhà khoa học về U POPs khiến các nhà khoa học lúng túng mất một thời gian khá dài. TS. Nguyễn Hùng Minh giải thích, “do lo lắng thái quá mà nhà quản lý sợ gây ra xáo trộn trong dư luận nên chưa thật sự ủng hộ [các nhà khoa học]”.  Sự thiếu ăn khớp giữa các nhà quản lý và nhà khoa học trong lĩnh vực xử lý chất POPs không phải là chuyện riêng của Việt Nam. Từ năm 2003, trong nghiên cứu “Khoa học, chính trị và POPs: Vai trò của những đánh giá khoa học trong hợp tác quốc tế về môi trường”, Henrik Selin và Noelle Eckley cũng chỉ ra sự khác biệt về mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của cả hai phía và chỉ ra cách giải quyết: cần có những cuộc đối thoại để ‘kéo gần’ khoa học và quản lý, trong đó các nhà khoa học có thể đặt câu hỏi về chính sách, tương tự, các nhà quản lý có thể đặt câu hỏi về các giả thuyết và đánh giá khoa học. Các nhà khoa học cũng phải hiểu được những mong đợi và yêu cầu của các nhà quản lý, chẳng hạn như tính hữu ích và sự phù hợp với tình hình thực tế của từng chính sách, ngược lại, các nhà quản lý thay đổi quan điểm và quyết định dựa trên các đánh giá khoa học. Điều cốt yếu mà hai tác giả nhấn mạnh là khoa học cần “nói lên sự thật với những người giữ trọng trách” (speaking  truth to  power)2.  Để đi đến sự hợp tác lý tưởng này, cần có những nhà quản lý hiểu khoa học và những nhà khoa học có kinh nghiệm hiểu các nhà quản lý – điều bắt đầu có ở lĩnh vực quản lý POPs. TS. Nguyễn Hùng Minh, một trong những chuyên gia hàng đầu về Dioxin/Furan ở Việt Nam, rút kinh nghiệm từ trường hợp của chính mình: nhà khoa học không nên bi quan mà cần làm ra những kết quả nghiên cứu chính xác nhất và phải có bản lĩnh để bảo vệ cái mình làm là đúng, “anh cần làm việc với nhà quản lý để chia sẻ số liệu, cung cấp thông tin một cách kiên trì còn việc cái kết quả đó được lấy ra phục vụ truyền thông như thế nào là trách nhiệm của nhà quản lý”. Cũng như với nhiều trường hợp nghiên cứu “nhạy cảm” khác, anh cho rằng, “nếu nhà khoa học ngay từ đầu đã sợ nhạy cảm không làm thì không ai làm cả và nhà quản lý cũng không có thông tin để quản lý”, và hậu quả là “người dân lãnh đủ”.  Từng tham gia nghiên cứu trước khi làm quản lý và cảm thấy mình “gần như đứng giữa các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách cả trong nước và quốc tế”, TS. Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, khi nắm được các thông tin chuẩn xác thì nhà quản lý mới có thể có được những quyết định đúng đắn, kịp thời. “Khi nhận thức được vấn đề thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn, ví dụ vấn đề phát thải trong công nghiệp có Dioxin [thì] không có gì bí mật cả, chúng ta [cần] biết để kiểm soát nó”, anh nói.  Tuy nhiên ở góc độ một nhà quản lý, anh cũng chỉ ra, “từ những công bố khoa học mang tính nhận biết và cảnh báo của một nhóm các nhà khoa học đến [việc xây dựng] chính sách ở tầm quốc gia vẫn còn một khoảng trống ở giữa”.  Việt Nam là nơi sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật dạng POPs để diệt trừ sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp,lưu hành nhiều thiết bị điện như máy biến áp, tụ điện, thiết bị nâng hạ… có chứa PCB – một loại phụ gia của chất cách điện, tồn dư chất độc da cam dioxin từ chiến tranh, phát thải dioxin/furan trong hoạt động công nghiệp, cũng như tiếp nhận rất nhiều rác thải điện tử của thế giới3, sản phẩm chứa các chất PBDPP, PBDE – thành phần của chất chống cháy trên vỏ điện thoại, tivi, máy vi tính…    Vì sao tồn tại khoảng trống đó? Anh lý giải, thông tin mà nhà khoa học có được thông qua nghiên cứu có thể đúng nhưng đã đủ tin cậy để nhà quản lý đề ra chính sách chưa? “Người ta mới phát hiện ở chỗ này chỗ kia có chất POPs gây ô nhiễm thôi, còn ô nhiễm như thế nào, tác động đến môi trường và sức khỏe con người ra sao? Trầm trọng đến mức độ [phải] cấm sản xuất chưa? Có cần thiết phải di dời dân chưa?… Để giải đáp những vấn đề đó, Bộ TN&MT sẽ phải trực tiếp tổ chức điều tra, đánh giá lại.” Theo anh, cái khoảng cách ở giữa chính là những số liệu, bằng chứng “có tính thống kê, có tính tin cậy vì [về] nguyên tắc ban hành chính sách thì phải nhìn được tính tích cực [trong đó] là bao nhiêu?”. Tích cực nhiều hơn thì chính sách được ban hành mới đạt được hiệu quả.  Cần đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu mang tính nhận diện  Quá trình tham gia thực hiện Công ước Stockholm dẫn đến việc hình thành một mạng lưới phòng thí nghiệm có khả năng phân tích một số chất POPs cổ điển ở Việt Nam, trong đó có một số nơi như Đại học Khoa học tự nhiên, Tổng cục Môi trường, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế… Trong đội ngũ những người làm việc ở đây, có rất nhiều nhà nghiên cứu trẻ năng động bắt đầu chuyển sự quan tâm đến đối tượng POPs mới – hay còn gọi là POPs sống (living POPs) có trong thành phần cấu tạo của nhiều loại sản phẩm gia dụng như vải vóc, đồ nội thất, chảo chống dính, đồ điện tử, đồ nhựa…, và có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe nếu bị phơi nhiễm lâu dài.  Hai khó khăn lớn nhất mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt khi theo đuổi các POPs mới; thứ nhất POPs mới xuất hiện trong các mẫu ở mức phần tỷ nên việc phân tích nó đòi hỏi những kỹ thuật mới và thiết bị, chuyên biệt như máy sắc ký khối phổ phân giải cao, sắc ký lỏng ghép nối hai lần khối phổ…; thứ hai kinh phí nghiên cứu đòi hỏi là cao so với nghiên cứu về các đối tượng thông thường.  Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, khó khăn về thiết bị vẫn có thể giải quyết được thông qua mối quan hệ hợp tác quốc tế hoặc mở rộng hợp tác với một số đơn vị trong nước có đầy đủ thiết bị nhưng về kinh phí thì nan giải. PGS. TS Dương Hồng Anh, người vừa đề xuất một đề tài với Quỹ NAFOSTED về POPs mới, nhận xét, “dường như ở Việt Nam hiện nay ưu ái hơn những nghiên cứu ứng dụng để giải quyết các nhu cầu hiện tại hoặc hậu quả của những sự đã rồi mà chưa đánh giá đúng mức việc cần thực hiện những nghiên cứu tiên phong để giúp nhà quản lý nhận diện được nguy cơ trong tương lai, ví dụ trường hợp nghiên cứu “Đánh giá mức độ phát thải và ô nhiễm môi trường của các hợp chất hữu cơ khó phân hủy mới họ brôm (PBDEs)” của PGS. TS Từ Bình Minh cho thấy sự rủi ro về sức khỏe với con người khi bị phơi nhiễm, nếu cộng với khả năng sự bùng nổ của số lượng chất thải điện tử trong vòng 5 năm tới thì rất có khả năng sẽ trở thành những DDT, PCB mới.     Tài liệu tham khảo:  Báo cáo tổng quan 10 năm thực hiện Công ước Stockholm về các hợp chất hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam 2005-2015  (http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/library/environment_climate/report-10-years-pop.html)  ————–  Chú thích:  1. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Quyet-dinh-184-2006-QD-TTg-ke-hoach-quoc-gia-thuc-hien-cong-uoc-Stockholm-cac-chat-o-nhiem-huu-co-kho-phan-huy-13629.aspx  https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Quyet-dinh-1598-QD-TTg-2017-Ke-hoach-quoc-gia-thuc-hien-Cong-uoc-Stockholm-2025-2030-364542.aspx  2. “Khoa học, chính trị và POPs: Vai trò của những đánh giá khoa học trong hợp tác quốc tế về môi trường” (Science,  Politics,  and  Persistent  Organic  Pollutants:  The  Role  of  Scientific  Assessments  in  International Environmental Co-operation). Đọc thêm: http://web.mit.edu/selin/www/pubs/selin-eckleyiea.pdf  3. Theo công bố “Phân tích các cấu trúc tái chế rác thải điện tử ở Việt Nam” (Analysis of recycling structures for e-waste in Vietnam” của Chung Duc Tran và Stefan Petrus Salhofer trên tạp chí Journal of Material Cycles and Waste Management của NXB Springer vào tháng 10/2016 thì rác thải điện tử nhập khẩu xuyên biên giới vào Việt Nam từ nhiều quốc gia khác, ví dụ Campuchia, Nhật Bản, và hàng điện tử đã qua sử dụng từ Trung Quốc (chủ yếu tái xuất sang Trung Quốc). Do nguồn phức tạp và không chính thống nên chưa thể xác định được chính xác số lượng rác thải điện tử từ nhập khẩu vào Việt Nam hàng năm. Đọc thêm: https://link.springer.com/article/10.1007/s10163-016-0549-1       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Hợp tác công tư trong R&D: Vực dậy ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ      Các đột phá về công nghệ thường đến từ khu vực tư. Nhưng đôi khi các doanh nghiệp không có đủ động lực hoặc nguồn lực để thực hiện R&D. Trong những trường hợp như vậy, Nhà nước có thể đóng vai trò là đối tác chiến lược để cùng doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động này. Một điển hình của hợp tác công tư trong R&D là SEMATECH – mô hình liên minh ngành bán dẫn của Mỹ.      SEMATECH hiện nay có trụ sở tại UAlbany NanoCollege (Albany, New York). Nguồn: siteselection.com  SEMATECH ra đời  Những năm 1984 – 1986, khi nhu cầu về máy tính sụt giảm bất ngờ thì ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ cũng trở nên lao đao. Giá thiết bị bán dẫn như transistor, điốt hay mạch tích hợp đã giảm đến 70% chỉ trong hai năm 1984 – 1985 và ngành công nghiệp này bị thiệt hại hàng tỷ USD.  Cùng với lượng cầu bị thu hẹp, các nhà sản xuất Mỹ còn phải đối mặt với sự cạnh tranh không lành mạnh từ các công ty Nhật Bản. Vào thời điểm thị trường này còn màu mỡ, các công ty của Nhật đã đầu tư những khoản khổng lồ để mở rộng quy mô sản xuất làm cho giá thiết bị bán dẫn của nước này ngày càng rẻ, thậm chí họ còn chấp nhận phá giá để chiếm lĩnh thị trường. Chính phủ Mỹ đã sử dụng cả hành động pháp lý và trừng phạt thương mại bằng cách áp thuế nhập khẩu nhưng không thể ngăn cản nổi hiện trạng này bởi sự tiếp tay của Chính phủ Nhật Bản cho các công ty nội địa.  Các nhà sản xuất tại Mỹ bắt đầu nhận ra rằng họ không thể kỳ vọng tiếp tục cạnh tranh bằng giá ở phân khúc các thiết bị phổ biến như DRAM được nữa. Giải pháp ở đây là rời bỏ thị trường cũ và chuyển dịch sang phân khúc các thiết bị phức tạp, đòi hỏi công nghệ cao hơn. Vì thế, đến mùa xuân năm 1987 khi căng thẳng thương mại giữa Mỹ – Nhật lên đến đỉnh điểm, mười bốn công ty bán dẫn Mỹ đại diện cho 80% sản lượng đầu ra của toàn ngành đã liên kết lại với nhau và thành lập liên minh Công nghệ Sản xuất Bán dẫn (Semiconductor Manufacturing Technology – SEMATECH) với sứ mệnh nâng cao kỹ thuật sản xuất bán dẫn Mỹ.  Cái bắt tay với Chính phủ  Sau khi SEMATECH được đệ trình lên và đề nghị sự hợp tác từ Chính phủ Mỹ, đã có nhiều tranh cãi nảy ra bởi một số ý kiến cho rằng chính phủ không nên can thiệp quá sâu vào thị trường. Tuy nhiên trong trường hợp này, Chính phủ Mỹ cho rằng sự hỗ trợ là cần thiết để tránh cho các công ty Mỹ rời bỏ ngành (khi không còn tiềm năng lợi nhuận) và gây tổn thương cho cơ sở hạ tầng kinh tế – quốc phòng quốc gia. Cùng với đó là tác động từ Bộ Quốc phòng – cơ quan này vốn luôn bị ám ảnh bởi viễn cảnh bị phụ thuộc ngày càng nhiều vào các thiết bị từ nhà cung ứng nước ngoài (tính đến năm 1987 khoảng 3% chip của Bộ Quốc phòng phải nhập khẩu), vì thế dự án SEMATECH đã được chấp thuận. Khoản tài trợ 100 triệu USD – từ ngân sách Bộ Quốc phòng đã được chính quyền liên bang thông qua cho năm tài khóa 1988. Cả hai bên – chính phủ và các công ty thành viên cam kết sẽ tham gia liên minh trong năm năm tới và từng bên đóng góp 50% ngân sách thường niên trị giá khoảng 200 triệu USD. Điều này cho thấy rằng, Chính phủ Mỹ thực sự quan tâm nghiêm túc đến công cuộc vực dậy ngành công nghiệp bán dẫn nước này.  Không chỉ thế, Bộ Quốc phòng còn đóng vai trò là đầu ra cho các sản phẩm mới xuất phát từ R&D của SEMATECH. Các công ty thành viên của SEMATECH như Motorola, Intel, National Semiconductor, AMD, Rockwell và Texas Instruments nhận hợp đồng cung cấp các thiết bị vũ khí quốc phòng. Bộ Quốc phòng vừa là khách hàng cũng là nơi hỗ trợ SEMATECH thử nghiệm và đánh giá các công nghệ mới.  Vượt qua những nghi kỵ ban đầu  Một trong những thách thức lớn nhất khi thành lập liên minh là xóa bỏ sự nghi ngờ giữa các thành viên với nhau. Sự thiếu lòng tin này xuất phát từ thực tế rằng họ vừa là cộng sự – cùng mục tiêu đối phó với nhà sản xuất ngoại quốc nhưng cũng đồng thời là đối thủ cạnh tranh với nhau trên thị trường mặc dù họ biết rằng liên minh này hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho các bên. Ví dụ minh họa phổ biến nhất trong giới nghiên cứu là câu chuyện về thế lưỡng nan của hai người tù trong lý thuyết trò chơi. Nhiều bài học thực tế đã diễn ra: một liên minh R&D giữa các công ty tư nhân là Tập đoàn Vi điện tử và Công nghệ máy tính (MCC) đã thất bại trong nỗ lực hợp tác theo dự kiến bởi các công ty không nguyện ý giao những chuyên gia tốt của mình vào làm việc trong MCC, buộc CEO của MCC phải thuê nhân sự ở bên ngoài – tỷ lệ 95% nhân sự thuê ngoài đã gây ra nhiều khó khăn khi chuyển giao công nghệ ngược từ MCC về các công ty thành viên.  Nhưng tại SEMATECH, những hành vi như vậy rất ít xảy ra. Một trong những nguyên nhân chính là việc hai gã khổng lồ trong lĩnh vực này là IBM và AT&T đã tình nguyện chia sẻ hai công nghệ sản xuất quan trọng là DRAM 4-megabit và SRAM 64-Kbit ngay từ những ngày đầu thành lập liên minh. Không phải vì IBM và AT&T “hào phóng” mà chính sự hiện diện của chính phủ trong liên minh đã khiến họ an tâm rằng chính phủ sẽ là người xử phạt các hành vi tư lợi và đảm bảo lợi ích cho các công ty thành viên.  Ngoài ra, điều kiện để SEMATECH tiếp tục nhận tài trợ từ chính phủ là phải hoàn thành các nhiệm vụ do Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Tiên tiến Bộ Quốc phòng (DARPA) giao. Điều này buộc các thành viên phải tự hạn chế các hành vi cơ hội sao cho không ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của liên minh. Đồng thời, lãnh đạo SEMATECH cũng phải hội ý với DARPA về kế hoạch hoạt động của mình nên cơ quan này cũng đóng vai trò là bên trung gian hòa giải mâu thuẫn và giúp các thành viên đạt được sự đồng thuận.  Lộ trình dài hạn  Phần lớn các liên minh R&D không duy trì được lâu bởi thiếu một kế hoạch dài hơi – họ có xu hướng thực hiện các nghiên cứu đem lại hiệu quả thương mại trong ngắn hạn nhưng lại không sẵn lòng bỏ tiền túi thực hiện các mục tiêu nghiên cứu mang tính bền vững – vốn thường chưa đem lại lợi ích ngay. SEMATECH có thể đã đi vào lối mòn như vậy nếu không có các khoản hỗ trợ tài chính từ chính phủ. Từ năm 1987 – 1996, tổng mức hỗ trợ của chính phủ đã lên đến hơn 860 triệu USD và phần lớn trong số này được dùng cho R&D. Các khoản hỗ trợ này đã giảm bớt khả năng các công ty phải đối mặt với việc đánh đổi chi phí – lợi ích nên đã góp phần định hướng rõ ràng hướng đi của SEMATECH – quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu kỹ thuật mới.  Còn một thách thức nữa là ngành công nghiệp sẽ hiểu về công nghệ hơn so với chính phủ, nhưng ngành công nghiệp lại không thể tiếp cận được một tầm nhìn dài hạn về nhu cầu công nghệ trong tương quan với tổng thể nền kinh tế như chính phủ vẫn làm. Chính phủ đã thành lập Lộ trình Công nghệ Bán dẫn Quốc gia (NTRS) – một cơ quan phụ trách nghiên cứu để đưa ra đường lối và định hướng nghiên cứu cho SEMATECH trong 15 năm kế tiếp. SEMATECH sẽ tập trung vào việc hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu dài hạn từ NTRS thông qua các kết quả từ các kế hoạch R&D ngắn hạn do chính liên minh đề ra. SEMATECH và NTRS đã góp phần định hình chính sách trong ngành công nghiệp này trong hàng thập kỷ kế tiếp.  Nhờ vậy, dự án SEMATECH đã kéo dài thêm 5 năm nữa so với kế hoạch và trước khi kết thúc giai đoạn hai, thành quả thương mại của các công ty tham gia đã khiến hội đồng liên minh quyết định tiếp tục duy trì dự án mà không cần sự hỗ trợ của chính phủ. Chỉ trong vòng mười năm sau khi thành lập, SEMATECH đã làm thay đổi cục diện của ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ: GTGT của ngành này đã tăng lên mức 41,6 tỷ USD (1996) so với mức 11,2 tỷ USD (1987), đóng góp đến 15,7%/năm vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mỹ đã lấy lại được thị phần bán dẫn toàn cầu bị mất bởi Nhật Bản – năm 1989 thị phần của họ chạm đáy nhưng sang năm 1993 họ đã vượt qua Nhật Bản. Hiện nay, SEMATECH là liên minh bán dẫn quy mô toàn cầu với sự góp mặt của hầu hết các công ty bán dẫn lớn nhất thế giới như Taiwan Semiconductor Manufacturing Corp., Global Foundries, IBM Corp. và Advanced Micro Devices.  ***  SEMATECH không phải câu chuyện thành công về hợp tác công tư trong R&D duy nhất trên thế giới, có thể kể đến các dự án khác như công nghệ quang khắc tia X (X-ray lithography) và hệ thống hình ảnh độ phân giải cao của Mỹ hay sớm hơn nữa là dự án Mạch tích hợp quy mô siêu lớn (Very-large-scale Integrated-Circuit – VLSI) của Nhật Bản. Kinh nghiệm từ các dự án này cho thấy chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn khởi sự liên minh, không chỉ là hỗ trợ tài chính mà còn đóng vai trò trung gian hòa giải các mâu thuẫn trong nội bộ. Tuy nhiên, chính phủ cần phải ý thức rằng mục đích duy nhất mà họ hiện diện trong liên minh là để sửa chữa các “lỗi thị trường” – nghĩa là chính phủ chỉ đóng vai trò hậu thuẫn để các hoạt động của liên minh được diễn ra trôi chảy, theo đúng cơ chế thị trường chứ không phải kiểm soát và thao túng ngành công nghiệp.  Tối ưu hóa điểm mạnh mỗi bên Liên minh R&D giữa nhà nước và ngành công nghiệp không phải sáng kiến mới của Mỹ. Mỹ đã học từ Nhật Bản và thực tế là Nhật Bản cũng bắt chước lại mô hình Hiệp hội nghiên cứu của Anh hồi cuối Thế chiến thứ Nhất. Tuy nhiên, Anh đã thất bại còn Nhật và Mỹ thì không. Chìa khóa ở đây là việc điều chỉnh vai trò giữa các bên – chính phủ và ngành công nghiệp một cách hài hòa và tối ưu hóa điểm mạnh của mỗi bên. Và điểm mạnh của chính phủ là những quyết định mang tính vĩ mô còn ngành công nghiệp là các quyết định liên quan đến kỹ thuật và tổ chức hoạt động.  Minh Thuận tổng hợp  Nguồn:  Jong Tsong Chiang (1995), Application of Game Theory in Government Strategies for Industrial Collaborative Research and Development  CBO (1990), Using R&D Consortia for Commercial Innovation: SEMATECH, X-ray Lithography and High-Resolution Systems  Steven C.Earl (1993), The Need for an American Industrial Policy, BYU Law Review Vol 1993 Issue 2  Charles W.Wessner (2001)Government-Industry Partnerships for the Development of New Technologies, National Academies Press.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác Doanh nghiệp – Viện/Trường: Cần có tầm nhìn và năng lực  từ cả hai phía      Nhằm tìm hiểu những kinh nghiệm đã giúp Trung tâm R&amp;D Rạng Đông thành công trong hoạt động hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp, Tạp chí Tia Sáng có bài phỏng vấn PGS.TS. Đỗ Xuân Thành – Giám đốc khoa học của Trung tâm.    Mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và các trường, viện nghiên cứu đã xuất hiện từ lâu nay, nhưng hiếm có nơi nào đạt được thành công như tại Trung tâm R&D Rạng Đông. Phải chăng nguyên nhân là do Nhà nước còn thiếu những cơ chế, chính sách phù hợp?  Chúng ta đã có một số cơ chế, chính sách tiến bộ nhằm thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ phục vụ cho các ngành công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng hiện thực hóa vào thực tế đời sống không cao, điển hình như Nghị định 115 của Chính phủ về tự chủ hóa các đơn vị nghiên cứu công lập là một chủ trương đúng đắn, nhưng đến nay việc thực hiện vẫn bế tắc, chưa tạo ra những chuyển biến thực sự. Vì vậy, tôi cho rằng vướng mắc mấu chốt đối với công cuộc phát triển khoa học và công nghệ phục vụ đời sống và các doanh nghiệp không hoàn toàn nằm ở cơ chế, chính sách khoa học và công nghệ của Nhà nước.     Hay phải chăng hoạt động hợp tác nghiên cứu và phát triển với các tổ chức nghiên cứu chỉ có thể khả thi ở những doanh nghiệp sung túc, giàu có với nguồn vốn lớn?  Với trường hợp của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, chúng ta thấy rằng đây là một công ty cổ phần có nguồn vốn liếng rất vừa phải nhưng đã thành lập được Trung tâm R&D hoạt động khá tích cực trên cơ sở hợp tác có hiệu quả với một số trường đại học và Viện nghiên cứu. Tâm tư và động lực chủ yếu để các nhà khoa học có năng lực đến với Trung tâm không đơn thuần vì thu nhập cao mà điều rất quan trọng là mong muốn sản phẩm trí tuệ của mình được ứng dụng vào thực tiễn đời sống. Chỉ cần sau một vài dự án hợp tác đem lại sản phẩm ứng dụng thành công là họ tự nguyện tham gia vào các dự án tiếp theo. Vì vậy tôi cũng không cho rằng thiếu tiền hay các nguồn hỗ trợ từ Nhà nước là nguyên nhân khiến chúng ta không thúc đẩy được quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và các Trường và Viện nghiên cứu.  Như vậy theo ông vướng mắc mấu chốt gây khó khăn cho quan hệ hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu là gì?  Điều mấu chốt là chúng ta thiếu những người lãnh đạo chủ trì có tầm nhìn và năng lực ở cả hai phía, doanh nghiệp cũng như các tổ chức nghiên cứu. Đơn cử như Trung tâm R&D Rạng Đông của chúng tôi sẽ không thể thành công được như bây giờ nếu thiếu vai trò của các anh Đặng Vũ Minh và Nguyễn Đoàn Thăng. Cả hai người đều có tầm nhìn và nhận thức sâu sắc về vai trò của khoa học và công nghệ đối với doanh nghiệp. Anh Thăng hiểu rằng doanh nghiệp của mình cần có khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất và cải thiện trình độ sản xuất lạc hậu, còn anh Minh cũng thấy rõ rằng khoa học cần được ứng dụng vào doanh nghiệp để đóng góp cho thực tiễn đời sống. Tiếng nói chung của hai người đứng đầu đó đã dẫn đến sự ký kết hợp tác giữa hai bên, tạo khuôn khổ để các nhà khoa học có thể tham gia cùng Rạng Đông nghiên cứu giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đem lại những kết quả tích cực, tạo tiền đề cho việc hình thành Trung tâm R&D Rạng Đông sau này.   Ở Việt Nam đã có không ít các nhà khoa học hợp tác nghiên cứu phục vụ cho doanh nghiệp, nhưng những mối quan hệ hợp tác như vậy không phải khi nào cũng đem lại kết quả mong muốn, và thường không lâu bền.   Quan hệ hợp tác giữa nhà nghiên cứu và doanh nghiệp nên được hướng tới một mối quan hệ liên tục lâu dài, thay vì chỉ đặt mục tiêu ở một vài công việc rời rạc cụ thể. Rủi ro là đặc thù cố hữu của công việc nghiên cứu, nhiều khi tiến hành 5-7 dự án nghiên cứu nhưng chỉ 1-2 dự án là thành công. Đồng thời có những dự án đề ra nhưng chưa thể làm được ngay, hoặc chưa đạt hiệu quả ngay như mong muốn, nhưng về lâu dài lại có giá trị rất lớn.   Vì vậy, doanh nghiệp cần kiên nhẫn không nên đòi hỏi đạt được thành quả ngay từ công việc nghiên cứu của nhà khoa học. Tuy nhiên, để có được sự kiên nhẫn đó, doanh nghiệp cần phải có niềm tin vào nhà khoa học. May mắn của chúng tôi ở Rạng Đông là mỗi khi các nhà nghiên cứu còn ‘lăn tăn’ trước lúc đề nghị doanh nghiệp hỗ trợ thực hiện một nghiên cứu nào đó, thì doanh nghiệp đều mạnh dạn sẵn sàng chìa tay ra giúp đỡ, dù bản thân nhà nghiên cứu cũng chưa dám chắc dự án có thành công hay không.  Cơ sở lợi ích nào tạo thành động lực để doanh nghiệp có thể duy trì sự kiên nhẫn và niềm tin như vậy đối với công việc nghiên cứu của nhà khoa học?  Thông thường các doanh nghiệp khi tìm đến các nhà khoa học thường chỉ nhằm đề nghị giải quyết một số vấn đề công nghệ cụ thể, dựa trên nhu cầu ngắn hạn trước mắt. Nhưng các nhà khoa học thường có tầm nhìn xa hơn, tổng quan hơn. Họ có thể giúp doanh nghiệp nhìn nhận lại bức tranh tổng thể, chỉ ra đâu là vấn đề cần ưu tiên giải quyết, đâu là mục tiêu cần đạt được – chẳng hạn như xác định nội địa hóa cấu phần nào trong sản phẩm thì khả thi và có lợi – và đề ra một hệ thống các giải pháp giúp giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp một cách tối ưu. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam chưa có tầm nhìn và cách tiếp cận bài bản như vậy trong nghiên cứu và phát triển công nghệ. Vì thế mà họ cần sự hợp tác từ các nhà khoa học. Bản thân Rạng Đông trước đây khi chưa có sự trợ giúp từ các nhà khoa học cũng rất lúng túng trong các hoạt động công nghệ. Đội ngũ kỹ thuật viên do thiếu nền tảng kiến thức nên chỉ đủ khả năng mày mò tìm kiếm những giải pháp mang tính cục bộ, và chưa đủ năng lực để giải quyết các vấn đề công nghệ và kỹ thuật một cách tối ưu nhất.  Tuy nhiên, với đặc thù của hoạt động nghiên cứu là không tránh khỏi rủi ro, vậy trước khi có sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà khoa học, làm thế nào để xây dựng lòng tin giữa hai bên với nhau?   Đầu tiên nên khởi đầu sự hợp tác từ những dự án nhỏ. Sau khi đạt được thành công, niềm tin giữa hai bên sẽ được bồi đắp, củng cố, từ đó mới mở rộng chương trình hợp tác, phát triển những dự án nghiên cứu có quy mô lớn hơn.   Bên cạnh đó, hai bên cần nỗ lực tự điều chỉnh, cải thiện mình để có thể tìm thấy tiếng nói chung. Đây là một tiến trình diễn ra song song. Phía các nhà khoa học thì cần bước ra khỏi tháp ngà, đặt ra những mục tiêu nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn và thực trạng của doanh nghiệp. Phía doanh nghiệp thì cần học hỏi, đội ngũ kỹ thuật cần tự nâng cao trình độ để nắm bắt, am hiểu, và phối hợp trong công việc với các nhà nghiên cứu. Đây là một quá trình lâu dài, bản thân Trung tâm R&D Rạng Đông cũng phải mất 4 năm mới có thể vận hành được trơn tru như hiện nay.    Xin ông cho biết vì sao doanh nghiệp cần hình thành một trung tâm R&D cho riêng mình, thay vì chỉ đơn thuần tiến hành những mối quan hệ hợp tác với các tổ chức nghiên cứu?    Một trung tâm R&D không chỉ đóng vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu mà còn là nơi giúp doanh nghiệp tích lũy nguồn vốn tri thức công nghệ, hoạch định chiến lược phát triển công nghệ và thu hút, đào tạo đội ngũ chuyên gia phục vụ lâu dài cho doanh nghiệp. Khi có trong tay một trung tâm R&D với những chuyên gia giỏi thì vị thế của doanh nghiệp sẽ được nâng lên do năng lực nắm bắt, hấp thụ, và giải mã công nghệ tăng lên rõ rệt. Trong quá trình hợp tác với các đối tác nước ngoài, đôi khi họ vô tình hé ra những bí quyết mà nếu không phải là những chuyên gia có chuyên môn sâu thì không nắm bắt được – giá trị này không phải khi nào cũng quy ngay ra tiền nhưng rất quan trọng, và đặc biệt hữu ích về lâu dài.   Từ khi có Trung tâm R&D, các đối tác khi đến làm việc tại Rạng Đông có một cảm nhận khác hẳn về công ty. Với tư duy và năng lực chuyên môn của mình, chúng tôi giúp cho công ty đàm phán, thảo luận với đối tác trong các vấn đề liên quan tới công nghệ một cách sòng phẳng hơn, chọn được những đối tác và hợp đồng có lợi nhất.       Tư duy và cách làm việc của doanh nghiệp có những khác biệt so với nhà khoa học. Như vậy một trung tâm R&D cần được tổ chức theo nguyên tắc như thế nào để sự hợp tác đạt hiệu quả cao nhất thưa ông?  Các nhà khoa học khi làm việc cho trung tâm R&D của doanh nghiệp cần được quán triệt rõ rằng công việc nghiên cứu của họ tại trung tâm là nhằm phục vụ cho lợi ích thực tiễn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, công việc mà họ được giao không thể cứng nhắc, mà cần phân chia linh hoạt thành hai phần. Phần thứ nhất là những công việc bắt buộc hằng ngày theo phân công nghiệm vụ của trung tâm. Phần thứ hai là những công việc do họ được tự chủ động đề xuất theo sở thích nghiên cứu riêng dưới sự đồng ý của lãnh đạo trung tâm. Ở Trung tâm R&D Rạng Đông chúng tôi rất khuyến khích không gian sáng tạo riêng của các nhà khoa học, và đây là điều mà họ rất tâm đắc, đặc biệt là với những người được đào tạo ở nước ngoài.  Không gian sáng tạo riêng của nhà khoa học sẽ đem lại lợi ích gì cho doanh nghiệp?   Không gian sáng tạo riêng này là rất cần thiết cho công việc của nhà nghiên cứu và về lâu dài sẽ đem lại lợi ích trực tiếp cho bản thân trung tâm R&D và doanh nghiệp. Có thể nhà nghiên cứu tự đề xuất ra 3 việc mà chỉ làm được một, nhưng hai việc không thành kia vẫn đem lại kinh nghiệm, giúp nhà nghiên cứu bồi đắp nền tảng chuyên môn để đem lại những sản phẩm nghiên cứu tốt hơn cho doanh nghiệp sau này.   Như vậy, việc đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ là một việc tốn kém, không phải khi nào cũng đạt kết quả ngay. Đây là điều rất bất lợi khi các nhà sản xuất phải đối diện với những hình thức cạnh tranh không lành mạnh. Trung tâm R&D Rạng Đông đã giúp doanh nghiệp của mình giải quyết vấn đề này như thế nào?  Rạng Đông cạnh tranh bằng sự trung thực và hài hòa cả hai yếu tố, chất lượng cùng giá cả. Nếu chỉ tìm cách hạ thấp giá thành và hi sinh chất lượng thì chắc chắn chúng tôi không thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc. Từ kinh nghiệm riêng chúng tôi thấy rằng trong ngành của mình, khách hàng là người trọng tài công bằng. Ví dụ, khi đưa đèn LED Rạng Đông ra thị trường chúng tôi mới thấy rằng sản phẩm này rất được ưa chuộng bởi bà con nông dân, kể cả vùng sâu vùng xa. Cho dù giá thành cao nhưng họ sẵn sàng chấp nhận vì sản phẩm phù hợp với điện áp thấp, tuổi thọ đèn lại cao.  Mặt khác, Trung tâm R&D Rạng Đông không chỉ nghiên cứu chế tạo ra một vài chiếc đèn, mà còn có thể tạo ra những giải pháp công nghệ mang tính tổng thể, là loại hàng hóa phi vật thể nhưng có giá trị gia tăng cũng như giá trị kinh tế cao hơn so với hàng hóa thông thường, đồng thời lại không ngại cạnh tranh, vì chỉ những nhà sản xuất có sự đầu tư chất xám mới có được loại sản phẩm này.   Trên đây ông đã đề cập rằng cơ chế, chính sách khoa học của Nhà nước không phải là vướng mắc chính gây hạn chế ứng dụng khoa học và công nghệ ở các doanh nghiệp. Vậy Nhà nước có thể làm gì để thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu?  Tôi cho rằng Nhà nước không cần có những chính sách hỗ trợ trực tiếp, mà nên căn cứ trên những nhu cầu thiết yếu của xã hội để đặt hàng doanh nghiệp các sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao cho cộng đồng. Đó không nhất thiết cứ phải là những sản phẩm quốc gia. Đơn cử như đèn LED năng lượng mặt trời là một sản phẩm rất tiềm năng, phù hợp cho những nơi nằm xa lưới điện quốc gia, nhưng nếu để doanh nghiệp tự lực sản xuất thì chi phí, giá thành sẽ vượt quá túi tiền của người dân. Vì vậy, rất cần có sự đặt hàng và hỗ trợ của Nhà nước, vì nếu đưa được sản phẩm đến tay bà con thì sẽ đem nguồn sáng cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của họ, giúp gia tăng không chỉ lợi ích kinh tế cho người dân mà còn gián tiếp đóng góp những giá trị thiết thực về giáo dục, văn hóa. Nếu làm được như vậy thì không chỉ người dân và doanh nghiệp được lợi mà còn phát huy được chất xám của các nhà khoa học, giúp thúc đẩy ứng dụng những sản phẩm nghiên cứu của họ đóng góp cho thực tiễn đời sống và sự phát triển của đất nước.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác Doanh nghiệp – Viện/Trường trong môi trường chính sách công      Tại Việt Nam, sự hợp tác Viện/Trường với Doanh nghiệp  có thể được giải thích qua nguyên lý giáo dục của chúng ta là “đào tạo –  nghiên cứu – phục vụ sản xuất.” Gần đây phong trào hợp tác này đã  nổi lên thành một chuyên đề lớn bắt đầu từ hai ĐH Quốc gia Hà Nội  và TP Hồ Chí Minh và lan ra nhiều trường đại học.       Giới thiệu chung  Căn bản của sự giàu mạnh của mỗi quốc gia là do có được một hệ thống giáo dục lành mạnh, chất lượng hiện đại. Sự đào tạo một cách cơ bản, chính xác, hiện đại ngay từ lúc đứa bé bước vào nhà trẻ và mẫu giáo cho đến khi tiếp thu vừa và đủ kiến thức văn hóa và khoa học – công nghệ tại trường đại học hoặc cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN) sẽ giúp mỗi thành viên xã hội nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trong tất cả các lĩnh vực kinh tế thể hiện bởi các doanh nghiệp trong nước. Thoạt đầu những dịch vụ giáo dục và nghiên cứu khoa học, bao gồm các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, là do Nhà nước cung cấp cho dân. Về sau, kinh phí nhà nước không kham nổi trong khi nhu cầu của dân ngày càng lớn về khoa học và công nghệ. Do đó các doanh nghiệp (DN), nhất là DN vừa và nhỏ gặp khó khăn, khó đổi mới để cải tiến sức cạnh tranh. Ở nhiều quốc gia tiên tiến, chính phủ đã sáng kiến tổ chức những chương trình hợp tác đồng hành công tư (HTĐHCT) giữa doanh nghiệp tư nhân và cơ quan đào tạo và nghiên cứu của nhà nước (public-private partnership – gọi tắt là PPP) để tận dụng các nguồn lực tạo sản phẩm mới, nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh quốc gia.  Ở nước ta cho tới nay, nhìn chung phần lớn các sản phẩm quốc gia của chúng ta chưa có tính cạnh tranh cao. Chúng ta chưa có những người giàu như Toyota, Bill Gates… làm giàu bằng khoa học công nghệ của chính họ cộng tác với những chuyên gia cần thiết. Chúng ta cũng đã nói đến việc hợp tác liên kết “ba nhà” hoặc “bốn nhà” trong đào tạo sinh viên, hoặc trong sản xuất nông nghiệp hoặc công nghiệp. Nhưng thực chất những liên kết đó tập trung cho việc đào tạo của các trường đại học là chính. Tại cuộc tọa đàm “Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ” tổ chức bởi Tạp chí Tia Sáng tại Bình Dương vào tháng 3/2013, có nhiều mô hình HTĐHCT đã đem lại những đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp phát triển đồng thời sử dụng tốt nguồn lực về chuyên gia cũng như trang thiết bị của các viện/trường. Tiêu biểu nhất đúng nghĩa HTĐHCT là quá trình liên kết rất sáng tạo mà lãnh đạo của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đã tìm đến Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội để hợp tác nghiên cứu đổi mới công nghệ của công ty, nâng tầm cạnh tranh của bóng đèn Rạng Đông. Qua buổi tọa đàm này người ta đã nhận ra những ưu điểm mà các bên trong tổ hợp HTĐHCT đã thể hiện, nhưng đồng thời cũng thấy vắng bóng can thiệp của chủ thể quan trọng nhất của mỗi quốc gia: Nhà nước. Dự thảo Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN) (sửa đổi 2013) có đề cập một ít về khía cạnh sử dụng kinh phí tư nhân trong công tác KH&CN. Chúng tôi hy vọng khi luật được thông qua, những văn bản dưới luật sẽ cụ thể hóa được chủ trương HTĐHCT của Nhà nước phù hợp với điều kiện nước ta. Sau đây tôi xin nêu những nét khái quát về HTĐHCT của một số quốc gia để trở về Việt Nam chúng ta có thể tham khảo xây dựng chính sách công, tạo điều kiện pháp lý cho những công trình sử dụng hợp lý các nguồn lực tổng hợp công tư trong nước để đổi mới KH&CN hầu nâng tính cạnh tranh quốc gia lên tầm cao hơn.  Hợp tác đồng hành công tư trên thế giới  Cộng đồng châu Âu (EU) đã tiên phong có chính sách bắt buộc các trường đại học trong khối EU phải cộng tác với nhau và với các doanh nghiệp của EU. Về sau, họ qui định cả trong các chương trình viện trợ quốc tế cũng phải có liên kết kiểu “ba nhà.” Ba cơ quan công gồm Hiệp hội các trường đại học châu Âu (European University Association), Liên hiệp các Tổ chức Nghiên cứu và Công nghệ châu Âu (European Association of Research and Technology Organizations), Hiệp hội Quản lý nghiên cứu Kỹ nghệ châu Âu (European Industrial Research Management Association) và Công ty tư nhân ProTon Europe đã được giao soạn thảo một tài liệu “Hợp tác đồng hành Có Trách nhiệm – Hợp lực trong một thế giới tự do đổi mới: Hướng dẫn hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giữa khoa học và doanh nghiệp”. Đây là một cẩm nang mà tất cả các Trường đại học và Viện nghiên cứu của Khối EU phải theo đúng nếu muốn có kinh phí của EU. Họ hướng dẫn từ khâu “Thế nào là người đối tác có trách nhiệm”, “Nhu cầu nhân lực”, “Yếu tố con người trong hợp tác hữu hiệu”, “Xác định những đối tác thích hợp”, “Xây dựng thỏa ước hợp tác nghiên cứu”, “Vấn đề pháp lý của việc hợp tác”. Quyển hướng dẫn này (EUA, EARTO, EIRMA, PROTON EUROPE, 2009) gồm có cả các biểu mẫu các bên hợp tác cần ghi theo đúng.  Sau một thời gian thực hiện chủ trương liên kết này, EU giao cho Trung tâm Nghiên cứu Tiếp thị Liên kết Trường với Doanh nghiệp (School-to-Business Marketing Research Center, 2009) của Đại Học Munster, Đức, đánh giá kết quả liên kết HTĐHCT của các nước châu Âu và đã chọn 30 mô hình tiêu biểu nhất. Báo cáo cho thấy chủ trương liên kết hợp tác Đại Học–Doanh Nghiệp (University-Business Collaboration viết tắt UBC) do sự tài trợ của Nhà nước (EU) đem lại lợi ích của các bên tham gia và cả xã hội. Nếu UBC được hiểu là sự chuyển tiếp giữa các viện trường và doanh nghiệp để hai bên đều có lợi, thì sự phổ biến chủ trương UBC rộng rãi và rút kinh nghiệm tốt có thể giúp các trường đại học giảm bớt khó khăn về ngân sách ngày càng eo hẹp, giúp doanh nghiệp gia tăng và duy trì khả năng cạnh tranh trong thị trường quốc tế năng động, góp phần vào sự phát triển kinh tế trong nước và trong vùng và đồng thời thỏa mãn được nhu cầu thị trường nhân lực có chuyên môn và kỹ năng cao. Nhìn như thế thì mỗi UBC có hiệu quả sẽ mang lại lợi ích cho mọi bên tham gia, và cho cả xã hội.  Ở Hoa Kỳ, việc hợp tác nhiều bên để nghiên cứu và phát triển đã được Giáo sư John Donahue (2004) tổng hợp đánh giá rất cao. Ông thấy rằng ngoài khu vực nhà nước, xã hội có rất nhiều người tài giỏi trong tất cả các lĩnh vực từ công nghiệp đến sản xuất nông nghiệp cần phải được sử dụng. Còn có nhiều tổ chức phi chính phủ có khả năng tài chính có thể kết hợp được. Nhà nước có vai trò lập chính sách ưu đãi hợp lý để tác động cho sự hợp tác nhiều bên này. Tuy nhiên các bên hợp tác cần cảnh giác vì có thể bí mật của mình bị một trong các bên kia ăn cắp (Counterintelligence Strategic Partnership Unit, 2011). Hội đồng Khoa học Quốc gia Mỹ (NSB, 2012) vừa có một báo cáo chuyên đề về “Nghiên cứu & Phát triển (R&D), Đổi mới, và Lực lượng Khoa học & Kỹ nghệ” cho thấy một viễn cảnh tạm gọi là “hệ sinh thái của sự đổi mới” (innovation ecosystem) trong đó các hoạt động R&D là động lực ươm mầm của các đổi mới. Tỉ lệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân cho thấy thành phần tư nhân ngày càng tăng. Sự hợp tác công-tư sẽ hỗ trợ cho hệ sinh thái này phát triển lên, không chỉ nhờ R&D mà còn nhờ giáo dục và khả năng ứng dụng công nghệ. Báo cáo này đã đưa ra một sơ đồ về “hệ sinh thái của đổi mới” như trong Sơ đồ 1 dưới đây:       Có nhiều mô hình thành công như thế nên Viện Hàn lâm Khoa học của Tiểu bang New York đã cùng Công ty Johnson-Johnson tổ chức một Hội thảo về “Academic-Industry Collaboration Best Practices” (The New York Academy of Science, 2009) qui tụ các chuyên gia tham dự để phân tích mô hình hợp tác. Họ thấy rằng việc hợp tác Viện/Trường với DN trong mọi khía cạnh luôn đưa đến lợi ích cho các bên. Một số mô hình nổi bật đã báo cáo tại Hội thảo này được trình bày trong Sơ đồ 2, 3 và Viện Hàn lâm Khoa học New York đúc kết lại như trong Sơ đồ 4:                   Tại Canada, chính phủ đã lập ra các cơ quan sau đây thực hiện chính sách HTĐHCT như sau: Hội đồng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới (STIC); Hội đồng các Viện Hàn lâm Canada (CCA); Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật (Natural Science and Engineering Research Council of Canada – NSERC). Chính phủ đã giao cho Hội đồng NSERC soạn thảo và ban hành năm 2009 một hướng dẫn về Chiến lược Hợp tác Đồng hành và Đổi mới (NSERC, 2009). Mục tiêu của chiến lược này là huy động mọi nguồn lực từ nhiều phía tham gia trong Hệ thống Khoa học và Đổi mới để đẩy mạnh vai trò đơn vị của mỗi bên đồng thời tiến lên sức mạnh tổng hợp của các bên giúp Canada tăng cường tính cạnh tranh quốc gia.  Tình hình hợp tác đồng hành công tư ở Việt Nam  Tại Việt Nam, sự hợp tác Viện/Trường với DN có thể được giải thích qua nguyên lý giáo dục kiềng ba chân: “đào tạo – nghiên cứu – phục vụ sản xuất”. Nguyên lý này được áp dụng trước tiên vào lĩnh vực nông nghiệp tại Trường Đại học Cần Thơ, nơi đào tạo cán bộ nông nghiệp có kiến thức và kỹ năng chuyên môn và nghiên cứu ứng dụng thích hợp với nông nghiệp Việt Nam. Từ năm 1976, để nắm rõ những nhu cầu về kỹ thuật sản xuất của nông dân, các giáo sư của Khoa Nông nghiệp ĐH Cần Thơ đã về các địa phương gặp gỡ các nông gia (những nhà “doanh nghiệp một thành viên”) để tìm hiểu những trở ngại trong sản xuất. Sau đó các giáo sư sinh hoạt với sinh viên và cử sinh viên về đồng ruộng của nông dân thực hiện những thí nghiệm ứng dụng cùng nông gia, rồi truyền đạt kỹ thuật vừa tìm ra tại thời điểm đó cho nông dân trong vùng. Kết quả của sự cộng tác Trường và Nông dân cả đồng bằng sông Cửu Long đã đem lại lợi ích cho các bên và sau cùng đã góp phần to lớn giúp đất nước ta có dư thừa lúa gạo trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng nhất-nhì thế giới. Tuy nhiên ngoài hoạt động hợp tác trong sản xuất nông nghiệp, hoạt động hợp tác các lĩnh vực khác rất khó thực hiện vì thiếu người đầu đàn triển khai. Đó là tình trạng chung của các viện/trường, dẫn đến dư luận cho rằng sản phẩm của trường đào tạo ra không thích hợp nhu cầu nơi sử dụng. Gần đây phong trào hợp tác Viện/trường-DN đã nổi lên thành một chuyên đề lớn bắt đầu từ hai Đại học Quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và xuống lần đến hầu hết các trường đại học. Trần Anh Tài và Trần Văn Tùng (2009) đã đưa ra nhiều thí dụ trong một tập chuyên khảo về việc liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Gần đây cũng đã có những hội thảo chuyên đề, đáng kể như Hội thảo tại Đại học quốc gia Hà Nội (Phan Huy Hiển, 2009), Viện CNTT&TT của ĐH Bách Khoa Hà Nội (12/10/2011) và Đại học Lạc Hồng (ngày 10/10/2012). Nhìn chung, vấn đề hợp tác Viện với Trường đã đạt kết quả rất tốt nhờ tận dụng các nguồn lực: Viện thì giàu thiết bị, trường có thầy giỏi nhưng yếu thiết bị. Tuy nhiên các thảo luận cho đến nay vẫn nhìn nhận rằng sự hợp tác Viện/Trường với DN hiện nay vẫn còn nhiều cái khó: chuyên gia mà doanh nghiệp cần, kinh phí, quan hệ DN nhận sinh viên thực tập thế nào, vấn đề quyền tác giả là của ai… Hợp tác Viện/Trường-DN hầu như do tự nguyện vì nhu cầu là chính, cho nên chưa có thể thực hiện đúng tầm cỡ mà dự án mong muốn vì thiếu kinh phí. Do đó việc hợp tác này vẫn còn phải cải tiến nhiều hơn nữa nếu có những chính sách Nhà nước hỗ trợ hoặc hướng dẫn trường/viện và DN tham gia. Một điển hình đáng biểu dương trong số DN của ta đã chủ động sáng kiến tìm đến Viện/Trường để hợp tác là trường hợp Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông. Tuy nhiên sự hợp tác này mới chỉ ở cấp thấp vì đi lên nữa thì không có tài chính để triển khai. Nếu Nhà nước ta cũng có chính sách như một số quốc gia trên đây thì sự hợp tác của Công ty Rạng Đông sẽ nở hoa kết trái gấp nhiều lần, đưa bóng đèn Rạng Đông đến đỉnh vinh quang hơn nữa, giúp tiết kiệm điện năng cho quốc gia và tiết kiệm tài chính cho mọi nhà.  Kết luận  Chúng tôi mong Luật KH&CN (sửa đổi 2013) sớm ra đời để sau đó có một loạt các chính sách cụ thể về hợp tác đồng hành công tư như các nước tiên tiến. Có hành lang pháp lý đó, vai trò của Nhà nước sẽ nổi bật lên nhờ xúc tác được cho trăm ngàn đổi mới công nghệ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế của nước ta.  —  * GS.TS, Hiệu trưởng Đại học Tân Tạo  Tài liệu tham khảo  COUNTERINTELLIGENCE STRATEGIC PARTNERSHIP UNIT. 2011. Higher Education and National Security: The Targeting of Sensitive, Proprietary, and Classified Information on Campuses of Higher Education. Washington, DC.: Federal Bureau of Investigation, U.S. Department of Justice. http://www.fbi.gov/about-us/investigate/counterintelligence/higher-education-and-national-security. Truy cập ngày 11 June 2013.  DONAHUE, JOHN. 2004. “On Collaborative Governance.” Corporate Social Responsibility Initiative Working Paper No. 2. Cambridge, MA: John F. Kennedy School of Government, Harvard University.  EUA, EARTO, EIRMA, PROTON EUROPE. 2009. Responsible Partnering: Guidelines for Collaborative Research and Knowledge Transfer Between Science and Industries. European Union: Brussels, Belgium.  NATIONAL SCIENCE BOARD. 2012. Research & Development, Innovation and the Science & Engineering Workforce. National Science Foundation: Arlington, VA.http://www.nsf.gov/nsb/publications/2012/nsb1203.pdfTruy cập ngày 11/6/2013  NATURAL SCIENCES AND ENGINEERING RESEARCH COUNCIL OF CANADA (NSERC). 2009. Connect-Collaborate-Prosper: Strategy for Partnership and Innovations. NSERC: Ontario, Canada. http://www.nsercpartnerships.ca/_docs/SPI_e.pdf Truy cập ngày 10/6/2013  NEW YORK ACADEMY OF SCIENCE AND JOHNSON-JOHNSON COMPANY. 2009. Academic-Industry Collaboration Best Practices. Symposium held at The NYAS on December 8, 2009. http://www.nyas.org/publications/ebriefings/Detail.aspx?cid=a937b74a-a986-4bff-9633-9afd6d046e85Truy cập ngày 8/6/2013  OECD. 1999. Managing National Innovation System. Organization for Economic Co-operation and Development: Paris.http://www.oecd.org/science/inno/2101733.pdfTruy cập ngày 10/6/2013  SCIENCE-TO-BUSINESS MARKETING RESEARCH CENTRE. 2009. 30 Good practice case studies in university-to-business cooperation. Science Marketing. Munster University of Applied Sciences: Munster, Germany.http://ec.europa.eu/education/higher-education/doc/studies/munstercase_en.pdfTruy cập ngày 8/6/2013  PHAN HUY HIỂN. 2009. Liên kết giữa trường đại học – Viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Báo Nhân Dân 26/6/2009: http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=39&sub=127&article=150843Truy cập ngày 8/6/2013  TRẦN ANH TÀI và TRẦN VĂN TÙNG. 2009. Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu (Sách chuyên khảo, 181 tr.). Hà Nội : Nhà Xuất bản ĐHQGHN.VÔ DANH. 2011. Hội thảo “Hợp tác Nhà trường và Doanh nghiệp trong Đào tạo và Nghiên cứu CNTT&TT” tại Viện CNTT&TT, ĐH Bách Khoa Hà Nội ngày 12/10/2011. http://soict.hut.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=868&Itemid=38Truy cập ngày 8/6/2013.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác KH&CN, GD Việt Nam – Nga: Con đường còn ở phía trước      Mặc dù mối quan hệ hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu có từ những năm 1970 nhưng ở thời điểm hiện tại, lĩnh vực hợp tác này của Việt Nam và Nga vẫn chưa có được những tiến triển tương xứng với thế mạnh cũng như hiểu biết về nhau.      Thứ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục đại học A.M Medvedev (phải) và ông I.M Romanov, Vụ trưởng Vụ Chính sách KH&CN tại khóa họp.  Điều đó cho thấy, một mặt hai quốc gia có nhiều cơ hội hợp tác trong tương lai, nhưng mặt khác cần khắc phục những điểm tồn tại để đạt được điều đó.  Diễn ra ngày 29/5/2019 dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc – Chủ tịch Phân ban Việt Nam, và Thứ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục đại học Aleksey Mikhailovich Medvedev – Chủ tịch Phân ban Nga, khóa họp lần hai Ủy ban hợp tác về giáo dục, KH&CN Việt Nam – Nga đã nhìn lại và đánh giá những hoạt động hợp tác giữa hai quốc gia kể từ năm 2014, khi chính phủ hai nước ký kết Hiệp định về đối tác chiến lược trong lĩnh vực giáo dục, KH&CN.  Có lẽ trong các mối quan hệ hợp tác KH&CN và giáo dục song phương mà Việt Nam có được, chưa có mối quan hệ hợp tác nào ở mức “hiểu biết sâu sắc” như vậy – cụm từ thường được dùng mỗi khi nhắc đến sợi dây liên kết đặc biệt giữa Việt Nam và Nga. Trong quá khứ, đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu đã được đào tạo ở Xô viết cũng như Nga sau này, và trở thành những gương mặt trụ cột trong việc đặt nền móng nhiều lĩnh vực, ngành nghề của Việt Nam, ví dụ theo đánh giá của TS. Lê Thị Quỳnh Liên, Phó trưởng Ban hợp tác quốc tế (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), “những kết quả mà Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đạt được cho tới bây giờ đã bắt nguồn rất nhiều từ những mối quan hệ hợp tác ban đầu Việt – Nga từ những năm 1970”.  Hợp tác trong bối cảnh mới  Hiện tại, mối quan hệ hợp tác Nga – Việt vẫn được duy trì nhưng với một số điểm khác biệt so với trước đây, cả từ phía Nga và Việt Nam.  Nếu nhìn từ Nga, có thể thấy những chuyển biến trong giáo dục đại học với quan điểm đổi mới “học đi đôi với hành”, “nghiên cứu gắn với đào tạo” thông qua việc thực hiện Dự án 5-100, dự án được Chính phủ Nga khởi động vào năm 2013 để thực hiện mục tiêu có 5 trường lọt vào top 100 thế giới vào năm 2020, và Chương trình Phát triển đổi mới sáng tạo trong các công ty quốc gia quy mô lớn, một trong những chính sách mà Chính phủ Nga đề ra nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo ở các công ty nhà nước qua hợp tác với trường, viện. Trả lời trang timeshighereducation.com, giáo sư vật lý hạt nhân Andrei Volkov – Phó chủ tịch Hội đồng quản trị của dự án 5-100, đánh giá đây là “một cải cách có ảnh hưởng nhất” trong vòng 20 năm qua và “một cuộc cách mạng văn hóa” của giáo dục đại học Nga khi chấm dứt chia tách giữa giảng dạy và nghiên cứu.  Chuyển biến tương tự cũng tới với khoa học Nga, sau cuộc cải tổ Viện Hàn lâm Khoa học Nga năm 2013 và việc thực hiện chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế. Nhắc đến vấn đề này tại khóa họp, Thứ trưởng A.M Medvedev nêu những điểm mấu chốt trong mục tiêu chiến lược phát triển khoa học Nga là hội nhập quốc tế về KH&CN, giáo dục; hiện đại hóa công tác quản lý khoa học, giáo dục; doanh nghiệp và khoa học cùng hình thành những dự án R&D…Những đối tượng được ưu tiên trong khoa học là các nhà khoa học, các tập đoàn và cơ quan hành pháp để quá trình thực hiện các chương trình, dự án không gặp những rào cản thủ tục. Khi đã xác định được các mục tiêu và những lĩnh vực ưu tiên, Chính phủ Nga sẽ xây dựng các chương trình, dự án KH&CN liên bang – một trong những công cụ hữu ích để phát triển khoa học.  Theo thông tin từ nhật báo Nga Kommersant, kể từ đó, số lượng công bố của Nga trên các tạp chí đa ngành hàng đầu như Science, Nature và PNAS tăng lên 40%, chiếm khoảng 0,8% tổng số công bố, trong khi công bố trên các tạp chí chuyên ngành Geology, Earth and Planetary Science Letters duy trì ở mức 2%, Physical Review Letters 6,5%… Một cơ chế đầu tư cho khoa học minh bạch và có cạnh tranh như các quốc gia tiên tiến phương Tây và Mỹ cũng được của Chính phủ Nga áp dụng nhằm tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học. Nếu tính riêng số các bài báo xuất bản năm 2013 trên Science, Nature và PNAS thì có 60 công bố từ kết quả tài trợ của Quỹ Khoa học Nga, 51 từ Quỹ Khoa học cơ bản Nga và 28 từ Bộ GD&ĐT Nga (nay là Bộ KH và GDĐH).  Một bức tranh với nhiều gam màu tươi sáng tương tự cũng xuất hiện ở Việt Nam với những đổi mới trong quản lý và nghiên cứu khoa học. Sự ra đời của Quỹ NAFOSTED đã góp phần tạo ra một môi trường nghiên cứu tương đối thuận lợi cho nghiên cứu cơ bản, qua đó hạn chế tình trạng chảy máu chất xám cũng như góp phần đào tạo đội ngũ các nhà khoa học trẻ. Trong giai đoạn 2008-2017, công bố do NAFOSTED tài trợ chiếm 20% tổng số công bố của Việt Nam và khoảng 60% công bố do Việt Nam tài trợ. Bên cạnh đó, những chương trình đầu tư cho đổi mới sáng tạo như Quỹ NATIF, các chương trình KH&CN quốc gia, Chương trình sản phẩm quốc gia… cũng được triển khai.  Tất cả những điểm mới ấy khiến mối quan hệ hợp tác Nga – Việt mang màu sắc mới, đặc biệt trong khoa học. Nếu trước đây, việc hợp tác thông thường chỉ gói gọn trong việc đào tạo nguồn nhân lực và một chiều “do trình độ khoa học khi đó còn thấp, Việt Nam chưa thể thành lập được các nhóm nghiên cứu riêng mà chỉ có thể cử cán bộ tham gia vào các nhóm nghiên cứu của Nga và của các nước thành viên khác” như lời nhận xét của GS. TS Lê Hồng Khiêm (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – đại diện của Việt Nam tại Viện Liên hợp hạt nhân Dubna, thì nay ở một số lĩnh vực như công nghệ nano, hóa sinh, khoa học vật liệu, môi trường… các nhà khoa học Việt Nam đã có đủ năng lực xây dựng các dự án nghiên cứu chung với các đồng nghiệp Nga và thực hiện chúng trên các phòng thí nghiệm cả hai quốc gia.  Sự tồn tại của những điểm khuyết thiếu  Xét về bên ngoài, bối cảnh mới đó hứa hẹn nhiều tiềm năng đem lại những hợp tác đào tạo và nghiên cứu ở mức cao hơn, nhất là khi “Chính phủ Nga coi Việt Nam là đối tác ưu tiên chiến lược, năm 2020 sẽ cấp 1000 suất học bổng đại học và sau đại học, đưa Việt Nam trở thành quốc gia được nhận học bổng từ Nga nhiều nhất” và “coi một trong những ưu tiên cốt lõi trong hợp tác với Việt Nam là mở rộng hợp tác về KH&CN, phát triển theo những ngành KHCN ưu tiên”, theo Thứ trưởng A.M Medvedev.  Tuy nhiên trên thực tế, mối quan hệ hợp tác đó vẫn chưa đạt tới quy mô và mức độ như kỳ vọng của hai quốc gia. Dù đã có kết quả ban đầu nhưng các nghiên cứu chung giữa các viện nghiên cứu hai quốc gia vẫn ở quy mô manh mún và nhỏ lẻ, chưa hình thành một chương trình mang tính hệ thống để có thể đạt được những kết quả lớn hơn và tương xứng với trình độ phát triển. Ví dụ, nhìn vào mối hợp tác giữa Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam với Viện Hàn lâm Khoa học Nga, có thể thấy “có 120 dự án được hai bên tài trợ. Năm 2019, hai bên đã lên khung các dự án đồng tài trợ nghiên cứu chung, tài trợ được 8 dự án với Viện Hàn lâm Khoa học Nga, 20 dự án với các phân viện Viễn Đông tại Siberie của Viện Hàn lâm Khoa học Nga…”, TS. Lê Thị Quỳnh Liên cho biết. Tuy nhiên, trao đổi bên lề cuộc họp, chị cũng thừa nhận, hầu hết đều mới là trong một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như sinh học, hóa học, toán học, vật lý, sinh thái tài nguyên sinh vật biển… với thời gian thực hiện là hai năm, kinh phí trung bình cũng chỉ ở mức 200 triệu, chủ yếu là kinh phí cho “đoàn ra, đoàn vào”. Vì vậy “phần lớn mới chỉ là nhiệm vụ khoa học chứ chưa phải dự án và do đó hợp tác cũng chỉ là ở mức duy trì mối quan hệ lâu dài”, chị nhận xét.  Trong vòng 5 năm qua, kể từ ngày Việt Nam và Nga ký kết Hiệp định về đối tác chiến lược trong lĩnh vực giáo dục, KH&CN, nhiệm vụ hợp tác theo chương trình Nghị định thư, hai bên đồng tài trợ cũng mới có “bốn nhiệm vụ được nghiệm thu, hai nhiệm vụ đang triển khai, hai nhiệm vụ đã được phê duyệt và hai vụ đang được tiến hành các thủ tục cần thiết”, trải rộng từ các lĩnh vực công nghệ môi trường, vật liệu mới, chế tạo máy, công nghệ thông tin, y học đến khoa học xã hội nhân văn, theo bà Lê Thị Việt Lâm, Phó vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ KH&CN).  Có thể thấy, ngoại trừ một số nhiệm vụ hợp theo chương trình Nghị định thư, còn lại dường như các hợp tác nghiên cứu mới ở giai đoạn “thăm dò” – thông thường chỉ xảy ra khi các bên mới thiết lập mối quan hệ tìm hiểu về năng lực nghiên cứu của nhau. Ông I.M. Romanov, Vụ trưởng Vụ Chính sách KH&CN (Bộ KH và GDĐH) không giấu nổi băn khoăn về tình trạng này. “Chúng ta cần mở rộng lĩnh vực và đề tài hợp tác nghiên cứu bởi hiện nay chúng ta mới có được một số dự án nghiên cứu ở một vài lĩnh vực như môi trường, sinh vật biển, vật lý hạt nhân…” trong khi tiềm năng khoa học của Nga còn rất lớn và trình độ của khoa học Việt Nam cũng đã tăng lên với khả năng hội nhập quốc tế cao, ông nêu lên suy nghĩ của mình về tính hiệu quả trong hợp tác Nga – Việt thời gian qua. Đây cũng là quan điểm của đại sứ Nga tại Việt Nam, ông K.V Vnukov ở đầu khóa họp khi đề cập đến việc cần tập trung vào những dự án KH&CN hai bên có thế mạnh và lĩnh vực có tiềm năng như công nghệ hạt nhân với Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia mới được ký kết trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Nga của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.  Theo quan sát của ông I. M Romanov, việc tăng cường một cách thực sự phạm vi hợp tác trong khoa học cần dựa vào thế mạnh của Nga và Việt Nam như “mở rộng nghiên cứu về vật lý thiên văn, vật lý năng lượng cao, vũ trụ, công nghệ nano, công nghệ hạt nhân…, ngoài nghiên cứu cơ bản cần hướng đến cả các ứng dụng thực tế như xây dựng các công cụ, thiết bị nhận tín hiệu từ Hệ thống định vị toàn cầu GPS để Việt Nam có thể sử dụng dữ liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp, giám sát quản lý vận tải, trắc địa môi trường…”  Một nhà quản lý khác của Bộ KH và GDĐH, bà N.I Golubeva, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp hoạt động của các cơ quan nghiên cứu, đề cập đến một số dự án hợp tác chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, quản lý tài nghuyên sông biển Nga – Việt đã thực hiện và một số dự án về công nghệ nano, vật liệu composite được thực hiện từ năm 2019 này. Bà cho rằng, “số lượng các dự án có thể tăng lên” và để có được những kết quả hợp tác tốt hơn, “chúng ta cần gia tăng thời gian thực hiện dự án, đưa thời gian lên trên ba năm chứ nếu dưới ba năm như hiện nay thì không thể có kết quả như mong muốn”.  Những khó khăn cần khắc phục    Các nhà quản lý Nga và Việt Nam trao đổi về cơ hội hợp tác.  Trong cuộc họp, rất nhiều đại biểu Việt Nam đã đưa ra một số vấn đề tồn tại, ảnh hưởng đến việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Việt – Nga, trong đó nổi lên vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực kế cận và rào cản ngôn ngữ. Sau biến động những năm 1990 với sự tan rã của Liên bang Xô viết, tiếng Nga không còn là ngôn ngữ ưu tiên của giới trẻ Việt Nam và họ học tiếng Anh để chuyển hướng chọn trường đại học tại các quốc gia Tây Âu hoặc Mỹ. Trong khi đó, “các nhà khoa học từng có thời gian học tập tại Nga, có bề dày kinh nghiệm mà chúng tôi dựa vào để kết nối với đồng nghiệp Nga đang dần nghỉ hưu, vì thế chúng tôi bị hẫng mất một thế hệ và gặp khó khăn trong việc kết nối và trao đổi, làm việc với các đối tác Nga”, ThS Văn Thị Thanh Bình, Phó trưởng Ban hợp tác quốc tế (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), nói. Theo chị, đây là một trong những nguyên nhân khiến việc thực hiện những dự án hợp tác giữa Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam với các viện nghiên cứu của Nga chưa đạt được kết quả như mong muốn.  Tình trạng đó không chỉ có ở Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam mà còn ở một số đơn vị khác, ví dụ Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nơi có rất nhiều nhà nghiên cứu từng học tập và nghiên cứu ở Liên bang Xô viết trước đây. Trao đổi bên lề phiên họp, TS. Nguyễn Hào Quang, Phó viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, cho biết, mặc dù Nga là một trong số ít các quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ hạt nhân, vật lý hạt nhân và Nga hết sức tạo điều kiện cho sinh viên Việt Nam theo học những trường tốt nhất của Nga trong lĩnh vực này nhưng Viện vẫn rất khó khăn tuyển người theo các suất học bổng sau đại học. “Mỗi năm, Viện được cấp 20 suất học bổng nhưng chúng tôi vẫn chỉ tuyển được một nửa chỉ tiêu này”, anh nói.  Ngay cả với những nơi nhiều năm có tiếng là đào tạo và nghiên cứu tốt như Viện Liên hợp hạt nhân Dubna – nơi Việt Nam là một trong số các thành viên chính thức, thì việc đưa các nhà nghiên cứu Việt Nam sang đó cũng không dễ. Trên Tia Sáng, GS. TS Lê Hồng Khiêm từng lý giải, bên cạnh vấn đề ngôn ngữ thì có những rào cản về chính sách còn tồn tại, khiến “các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại Dubna không được quyền đăng ký đề tài nghiên cứu, không được hưởng các chế độ về lương và phụ cấp như ở Việt Nam, không được dùng tiền của Việt Nam để trang bị một số dụng cụ nghiên cứu nhỏ cần thiết cho các công việc nghiên cứu của mình”.  Lo ngại về tình hình này, Thứ trưởng A.M Medvedev cũng nói, “có những vấn đề thiếu hụt đang tồn tại như vậy cần phải được củng cố. Việc số lượng nhà nghiên cứu Việt Nam biết tiếng Nga, đặc biệt trong lĩnh vực xã hội nhân văn, ngày một ít đi sẽ là một rủi ro về lâu dài”. Vì vậy, cần có những giải pháp như “phát triển việc học tiếng Nga tại Việt Nam là mục tiêu quan trọng” và “chúng tôi sẽ ủng hộ việc thực thi các giải pháp đó”, ông cam kết.  Mặt khác, ông cho rằng, để gia tăng thêm số lượng và chất lượng các dự án hợp tác, Việt Nam có thể chủ động lên kế hoạch hợp tác với các trường viện của Nga, cử các nhóm nghiên cứu cùng thực hiện các dự án nghiên cứu chung, một trong những cách hợp lý là dựa ngay vào kế hoạch của các trường viện Nga cho các năm 2020, 2021. “Chúng tôi sẽ thông báo chương trình của chúng tôi cho các viện của Việt Nam. Chúng ta cần thực hiện từng bước như vậy”, ông nói. Việc chủ động lên kế hoạch hợp tác sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động, đó cũng là thành công của Trung tâm nghiên cứu nhiệt đới Việt – Nga, nơi nhiều năm qua thực hiện nghiên cứu trên ba hướng chính là sinh thái nhiệt đới, vật liệu nhiệt đới và y sinh nhiệt đới: trong năm 2018-2019 đã hoàn thành chương trình hoạt động 5 năm tới và được Chính phủ Nga tăng gấp ba kinh phí cho các đề tài.  Những thuận lợi cho những hợp tác nghiên cứu và đào tạo sâu rộng hơn giữa Nga và Việt Nam đã được mở ra ngay tại khóa họp, không chỉ là lời cam kết của Thứ trưởng A.M Medvedev và một phần kế hoạch mở văn phòng đại diện tại Hà Nội vào thời gian tới của Bộ KH&GDĐH Nga, mà còn ở thái độ cởi mở của các nhà khoa học Nga. “Chúng tôi có mối quan hệ hợp tác với 42 viện ở Nga, họ cũng sẵn sàng cùng làm việc với Việt Nam. Bản thân viện của chúng tôi sẵn sàng cung cấp các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu. Chúng ta có thể tổ chức các hội thảo, seminar qua mạng internet, cơ hội để có thể mở ra những hợp tác sâu hơn. Và chúng tôi sẵn sàng mở cửa mời mọi người đến với mình”, ông Mikhail Petrovich Egorov, Giám đốc Viện Hóa học hữu cơ N.D Zelinsky (Viện Hàn lâm Khoa học Nga) – một trong những viện hóa học hàng đầu thế giới theo xếp hạng năm 2019 của Phòng Thương mại khoa học châu Âu, nói.  “Khoa học Nga đang ngày một trẻ trung và lớn mạnh hơn, nhiều năng lượng và khả năng cạnh tranh hơn. Phải nói thêm rằng, hơn một nửa những người làm việc trong các phòng thí nghiệm ở đó, khoảng 60%, là các nhà khoa học dưới 39 tuổi… Việc nâng cấp nền tảng thiết bị của các viện nghiên cứu và các trường đại học mới được bắt đầu. Việc đặt bệ phóng cho một thế hệ các siêu dự án khoa học đang tiếp tục với hy vọng đưa khoa học Nga trở thành một lực hút trí tuệ đích thực với các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau tham gia, không chỉ nước Nga. Đây sẽ là nguyên tắc hướng dẫn cho các dự án này; chúng ta sẽ tạo dựng các cơ hội cho các nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia cùng đến đây làm việc”. (Tổng thống Nga Vladimir Putin trao đổi với các nhà quản lý và nhà khoa học trẻ Nga tại Sochi ngày 17/5/2019).  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/hop-tac-khcn-gd-viet-namnga-con-duong-con-o-phia-truoc/20190606050546192p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác KH&CN: Từ thụ động sang chủ động      Mới đây Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án hội nhập quốc tế về KH&amp;CN đến năm 2020 mà theo ông Mai Hà, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ KH&amp;CN, sẽ có tác dụng thay đổi tính thụ động thành chủ động trong hợp tác về KH&amp;CN.    Đề án được Thủ tướng phê duyệt ngày 18/5/2012, nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước mạnh  trong một số lĩnh vực KH&CN vào năm 2020, rút ngắn khoảng cách về  trình độ KH&CN của nước ta với khu vực và thế giới. Nhân dịp này, tạp chí Tia Sáng đã phỏng vấn PGS.TS. Mai Hà về nội dung và khả năng triển khai Đề án.  PV: Xin ông cho biết bối cảnh ra đời của Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ?  Những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ đã và đang tác động sâu sắc đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thế giới với các nền văn hóa và truyền thống sản xuất đa dạng đang phát triển với những tốc độ khác nhau và đạt những thành quả ở những mức độ khác nhau.  Ta hãy xem, những yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ phát triển:  Thứ nhất: Văn hóa vì sự phát triển là nền tảng cho phát triển;  Thứ hai: Môi trường phát triển cạnh tranh lành mạnh là yếu tố động lực – quyết định cho phát triển;  Thứ ba: Lao động sáng tạo và tri thức khoa học và công nghệ là công cụ đắc lực nhất cho phát triển.          Phát triển và mở rộng các quan hệ hợp tác về KH&CN                 Việt Nam chúng ta đã ký kết các văn bản pháp lý về hợp tác KH&CN với  khoảng 80 nước, vùng lãnh thổ (từ Bản ghi nhớ MOU cho tới các hiệp định  hợp tác cấp Bộ và Chính phủ). Những Hiệp định hợp tác về KH&CN và  các thỏa thuận quan trọng với các nước như: Đan Mạch, Pháp, Chi lê,  Panama, Thụy Điển, Nga, New Zealand, Brazil, Lào, Hoa Kỳ, Uruguay…              Bộ KH&CN cũng đang cùng đối tác Australia hoàn tất những thủ tục  cuối cùng cho việc ký kết hiệp định hợp tác về KH&CN trên cơ sở nâng  cấp Bản ghi nhớ hợp tác ký giữa hai Chính phủ từ năm 1992.              Việc ký kết các hiệp định hợp tác cấp Chính phủ giữa Việt Nam và các đối  tác tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động hợp tác giữa các đối  tác của Việt Nam với các bên có liên quan. Đây cũng là minh chứng quan  trọng cho việc phát triển về chiều sâu của việc hợp tác về KH&CN.        Trong mấy thập kỷ vừa qua, KH&CN Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, thực sự đóng góp to lớn vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đã hoàn thành về cơ bản việc xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Đội ngũ nhân lực KH&CN nước ta cũng ngày càng tăng về số lượng, và về chất lượng, bước đầu có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ khoa học của quốc gia. Song cũng có những thách thức không nhỏ đó là thiếu hụt nhân lực trình độ cao, thiếu cơ sở vững chắc cho môi trường cạnh tranh lành mạnh và bất cập về quản lý kinh tế vĩ mô.  Chính trong điều kiện đó, việc thông qua Đề án hội nhập quốc tế về KH&CN là để tạo những bước đột phá trong việc nâng cao tiềm lực KH&CN Việt Nam nói chung, trong đó có vấn đề nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới, vấn đề nhân lực trình độ cao và hiệu quả tổ chức thực hiện R&D tại Việt Nam.  Ông có thể điểm qua những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN trong giai đoạn hiện nay?  Cơ hội mở ra cho KH&CN Việt Nam là rất lớn, đó là chúng ta có thể: Tiếp cận nhanh và khách quan tới những tiến bộ KH&CN của thế giới,  tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao, mua bán công nghệ, và khai thác các nguồn lực từ nước ngoài (tài chính,  thông tin, nhân lực, cơ sở vật chất lỹ thuật KH&CN..) để  phát triển tiềm lực khoa học và đổi mới công nghệ trong nước; đồng thời có điều kiện để tiếp cận đa dạng tới các hình thức đào tạo tiên tiến để phát triển đội ngũ các nhà khoa học và cán bộ quản lý KH&CN.  Tuy nhiên, thách thức đối với KH&CN Việt Nam là không nhỏ, do tính hiệu quả trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam còn rất hạn chế, thể chế kinh tế thị trường đang được hình thành nhưng thiếu bài bản, dẫn đến việc vai trò của KH&CN được nhìn nhận khá hình thức và do vậy còn phải mất nhiều năm để kinh tế – xã hội cần đến KH&CN như điều kiện sống còn để phát triển; hệ thống chính sách tài chính và cơ sở hạ tầng đội ngũ cán bộ về KH&CN chưa đáp ứng với điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế.  Ông có thể cho biết ý nghĩa cơ bản của Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ?  Ý nghĩa cơ bản của Đề án hội nhập quốc tế về KH&CN là thay đổi tính thụ động thành chủ động trong hợp tác bình đẳng về KH&CN, đa dạng hóa và đa phương hóa hình thức hợp tác và phương thức đầu tư hiệu quả cùng có lợi, phát triển KH&CN theo chiều sâu, tranh thủ tối đa cơ hội tiếp cận công nghệ cao nhằm phát triển kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam.  Ông có thể nói cụ thể hơn về điều này.          Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN   Trong giai đoạn 2006 – 2010, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp tốt với  các đơn vị liên quan đề xuất, hoàn tất các thủ tục đưa vào kế hoạch thực  hiện gần 200 nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư (NĐT), qua  đó nhiều giải pháp KH&CN mang tính đột phá từ những cường quốc  KH&CN như Hoa Kỳ, Nhật bản, Pháp, Đức, Úc, vv đã được chuyển giao về  Việt Nam, nhiều tri thức mới về KH&CN đã được các nhà khoa học Việt  Nam tiếp thu, ứng dụng và từng bước làm chủ được một số công nghệ tiên  tiến, rút ngắn thời gian nghiên cứu trong nước phục vụ có hiệu quả phát  triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh; đồng thời góp phần đào  tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu và quản lý của đội ngũ  cán bộ KH&CN trong nước, tiếp cận trình độ quốc tế, góp phần nâng  cấp hạ tầng kỹ thuật, tăng cường cở sở vật chất cho một số cơ sở nghiên  cứu – triển khai trong nước.               Hiện nay, ta đã xây dựng và mở rộng nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT  với 20 nước trên thế giới với sự tham gia của hơn 20 Bộ, ngành và địa  phương trong cả nước, hợp tác đi vào chiều sâu với nhiều hình thức đa  dạng, phong phú.         Phương thức hợp tác quốc tế về KH&CN trong những thập kỷ trước đây cũng đi theo lộ trình gần tương tự như vậy, chúng ta đã chọn phương thức tương đối ‘thụ động’: chủ yếu là xin tài trợ, xin thiết bị, học hỏi, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, tham gia nghiên cứu tại nước bạn. Trong khi đó, việc tiến hành nghiên cứu chung, tìm kiếm công nghệ, chuyển giao công nghệ còn có những khoảng cách nhất định đó là vì năng lực KH&CN của Việt Nam còn hạn chế.   Hiện nay chúng ta đã và đang mở rộng các mối quan hệ thông qua việc ký kết các hiệp định/thỏa thuận hợp tác song phương, tích cực tham gia trong các diễn đàn hợp tác KH&CN đa phương (ASEAN, APEC, ASEM, UNESCO, …). Và ở góc độ nào đó, trong các mối quan hệ này đang có chiều hướng đổi từ chiều “thụ động” sang chiều “chủ động” hơn.   Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh về năng lực KH&CN của các tổ chức KH&CN trong nước, sự hỗ trợ từ nhà nước thông qua các cơ chế khuyến khích cụ thể, và đặc biệt là xuất phát từ nhu cầu phát triển của kinh tế – xã hội Việt Nam, các hoạt động hợp tác và hội nhập KH&CN quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ có đổi mới theo hướng chủ động hơn: chủ động trong việc lựa chọn vấn đề hợp tác, lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên và trách nhiệm đóng góp. Chúng ta đã chủ động hơn và bình đẳng hơn!  Để thực hiện được những mục tiêu của Đề án đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện. Vậy theo ông đâu là những giải pháp chủ yếu?   Trên cơ sở nhận thức rõ thực trạng, thách thức và đặc biệt là xác định rõ mục tiêu của hội nhập KH&CN Việt Nam đến năm 2020, Đề án đã chỉ rõ một số nhóm nhiệm vụ và giải pháp, cụ thể như sau:  1. Đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu chung trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực và quốc tế; thu hút các chuyên gia, nhà KH&CN Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích cán bộ KH&CN Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế; … qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, cán bộ quản lý theo hướng liên kết với các đối tác có tiềm lực mạnh về KH&CN.  2. Huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN từ nguồn ngân sách nhà nước, cũng như đa dạng hóa các nguồn huy động từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;  3. Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN, qua việc khai thác hiệu quả mạng thông tin KH&CN VINAREN, và các mạng tri thức KH&CN lớn khác trên thế giới như GLORIAD, APAN, tăng cường hiệu quả hoạt động của mạng lưới đại diện KH&CN Việt Nam ở nước ngoài…;  4. Hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, trong đó mua sáng chế trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên; đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Việt Nam thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động tổ chức sự kiện KH&CN quy mô khu vực và thế giới, thành lập Trung tâm chuyển giao công nghệ ASEAN + 3, APEC tại Việt Nam; …  5. Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.  Xin cảm ơn ông!   P.V  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác KH&CN Việt Nam – Hoa Kỳ: Một số vấn đề chính      Tháng 9 vừa qua tại Wasington DC đã diễn ra  Khóa họp Ủy ban hỗn hợp về hợp tác KH&amp;CN Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 8  (JCM 8) với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý về khoa học,  giáo dục, các trường đại học, tổ chức nghiên cứu của hai nước. Nhân sự  kiện này, hãy điểm qua một số lĩnh vực KH&amp;CN giàu triển  vọng mà Việt Nam cần tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phía bạn.    Hợp tác về KH&CN giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bắt đầu từ năm 2000 với việc hai nước ký Hiệp định hợp tác về KH&CN, là một trong những văn bản sớm nhất thiết lập sự hợp tác nói chung giữa hai quốc gia. Cho đến nay, hợp tác KH&CN giữa hai nước đã được phát triển trong hầu hết mọi lĩnh vực, liên quan đến rất nhiều đầu mối của các Bộ, ngành, các tổ chức KH&CN của hai nước.   Về phía Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ là đầu mối chính triển khai Hiệp định, với sự tham gia của đông đảo các cơ quan, tổ chức như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Bộ Thông tin và Truyền thông, các Đại học Quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, các Viện nghiên cứu, doanh nghiệp, v.v.   Bộ Ngoại giao (Văn phòng hợp tác khoa học và công nghệ) là đầu mối phía Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác, với sự tham gia của Bộ Năng lượng, Quĩ Khoa học Quốc gia, Quĩ Giáo dục Việt Nam, Cơ quan Khảo sát Địa lý Hoa Kỳ, Cơ quan Sáng chế và Nhãn mác Hoa Kỳ, Viện hàn lâm khoa học quốc gia, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Cơ quan Giám sát Không gian của Hoa Kỳ, Cơ quan thời tiết và đại dương (NOAA), Văn phòng nghiên cứu Hải quân Mỹ (ONR), Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia (NIH), Viện Công nghệ và tiêu chuẩn quốc gia (NIST), Viện Công nghệ Bách khoa Rensselaer (RPI), Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, các trường đại học, v.v.  Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, không thể kể hết những hoạt động hợp tác của tất cả những cơ quan, tổ chức này nhưng chúng ta có thể điểm qua một số hoạt động chính gần đây như sau.  Hợp tác KH&CN về y tế và sức khoẻ  Một số lĩnh vực chính trong nhóm này là hợp tác nghiên cứu và đào tạo về vấn đề điều trị ung thư, kỹ thuật phân tích và chuẩn đoán, các vấn đề xã hội trong y tế như yếu tố giới, v.v. Một ví dụ là bệnh viện K Hà Nội hợp tác với Trung tâm Ung thư Feist – Weiller, thuộc Trung tâm Khoa học Sức khỏe, Trường đại học bang Louisiana. Một ví dụ về kết quả cụ thể là hai bên thống nhất những nội dung hợp tác như sau:   + Hướng dẫn cho các bác sỹ tại Bệnh viện K phẫu thuật ung thư vú và phẫu thuật ung thư vòm họng  + Cung cấp một số thiết bị điều trị ung thư  Việc hợp tác này đang được mở rộng ra các đối tác khác như Trung tâm nghiên cứu ung thư Anderson của Đại học Houston, Texas và Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, một số bệnh viện với dự kiến thiết lập một trung tâm liên kết về vấn đề này ở Việt Nam.  Hợp tác KH&CN sinh học và nông nghiệp  Một số chủ đề chính là hợp tác về nghiên cứu công nghệ sinh học, bảo tồn giống cây, con và vi sinh, các vấn đề về biến đổi khí hậu và nông nghiệp, phát triển nông lâm nghiệp với sự tham gia của Bộ Nông nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ, các trường đại học như Đại học Missouri, và VAST. Một ví dụ cụ thể trong lĩnh vực nông nghiệp là dự án hợp tác nghiên cứu công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp giữa Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam và Trường đại học Missouri. Viện Di truyền nông nghiệp đã cử cán bộ nghiên cứu sang Đại học Missouri và Đại học Missouri cũng đã cử nhiều cán bộ nghiên cứu sang làm việc tại Viện Di truyền nông nghiệp. Hai bên đã thành lập phòng thí nghiệm nghiên cứu chung giữa hai bên và trước mắt tập trung vào nghiên cứu cây đậu tương chịu hạn và sâu bệnh. Trường đại học Missouri cũng đã chuyển những thiết kế gien cho Viện Di truyền nông nghiệp. Hiện nay, hai bên đang xây dựng đề án thành lập tổ chức nghiên cứu chung trong lĩnh vực công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Viện Di truyền nông nghiệp cũng tổ chức hợp tác trong lĩnh vực giống cây trồng với Đại học California Riverside (UC Riverside) và Đại học Florida.  Hợp tác trong trao đổi chuyên gia, đào tạo về công nghệ, khoa học cơ bản, toán, v.v.  Các chủ đề chính trong nhóm này gồm tính toán hiệu năng cao; hỗ trợ nghiên cứu cơ bản, các nghiên cứu chung về công nghệ, đồng tổ chức các hội nghị hội thảo, lớp đào tạo. Ngoài các lĩnh vực trong công nghệ thông tin đã có từ trước, một số vấn đề mới đã xuất hiện như công nghệ 4G, nghiên cứu về Dữ liệu lớn (Big Data), v.v. Hợp tác với Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) trong lĩnh vực này có thể được thực hiện thông qua một số chương trình như Viện khoa học đa ngành (Science Across Virtual Institutes, SAVI), Chương trình toàn cầu các cơ hội nghiên cứu sau đại học (Graduate Research Opportunities Worldwide, GROW), v.v. phối hợp với Quỹ Giáo dục Việt Nam VEF. Một trong những hoạt động là tiến tới thiết lập một số trung tâm nghiên cứu tiên tiến (còn gọi là Trung tâm xuất sắc) và một trong những bước đi này là Trung tâm về vật liệu cấu trúc phân tử MANAR hợp tác giữa Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và UCLA. Có thể kể ra nhiều hoạt động khác như USTPO đã có quan hệ truyền thống với Cục Sở hữu Trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, hàng năm vẫn mời các cán bộ của Cục SHTT sang tham dự các khoa đào tạo và đồng thời cử các cán bộ của USTPO sang Việt Nam đào tạo; hoặc sự hợp tác giữa Viện nghiên cứu Công nghệ bách khoa Rensealer (Rensealer Politechnique Institute – RPI), Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven (Brook Haven National Laboratory – BNL) và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST).Một điểm nổi lên trong lĩnh vực này là sự hợp tác với các doanh nghiệp như công ty Intel trong khuôn khổ đối tác công tư (Private Public Partnership-PPP) như chương trình Chương trình Liên minh Đào tạo Công nghệ Cao – Higher Engineering Education Alliance Program (HEEAP) của trường đại học Arizona hợp tác với Intel đào tạo kỹ sư công nghệ máy tính cho Việt Nam. Tháng 9 năm 2012, Công ty Intel đã ký kết MOU với Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh về đào tạo chương trình cao học về máy tính hiệu năng cao (High Performance Computer-HPC). Trong chương trình này Intel đã cung cấp một siêu máy tính cỡ nhỏ cho chương trình này và máy tính này được dùng để đào tạo các sinh viên cao học trong lĩnh vực tính toán hiệu năng cao. Công ty Intel cũng đang thảo luận xây dựng một dự án lớn khác cho Việt Nam đó là dự án Dữ liệu lớn (Big data). Trên cơ sở này, hiện nay Đại học Arizona đang chủ trì cùng với Ngân hàng Thế giới và một nhóm các đối tác khác phát triển một mạng lưới các giải pháp khoa học và công nghệ phục vụ phát triển (Solutions Network).  KH&CN môi trường  Chủ đề chính trong lĩnh vực này gồm hợp tác về theo dõi và đánh giá hệ sinh thái (rừng, bờ biển, môi trường biển) thông qua các hoạt động như hội thảo, chương trình đào tạo, trao đổi thông tin. Các hướng hợp tác có thể gắn kết với những mạng lưới đa dạng sinh học quốc tế về bảo tồn động, thực vật và tế bào mầm. Việc tăng cườg hợp tác trong trao đổi thông tin về da dạng sinh học gene (cơ sở dữ liệu, tin sinh học) là một hướng được quan tâm. Các hoạt động bảo tồn và nhân giống các giống, loài quý và có nguy cơ bị tuyệt chủng (động vật có vú, các loài chim và lưỡng cư) cũng nhận được sự quan tâm cao của các nhà khoa học. Những hoạt động hợp tác có thể có các hình thức như các dự án bảo tồn, gắn với phát triển cộng đồng, hoặc trao đổi sinh viên, nghiên cứu viên, v.v. Các đối tác tham gia trong lĩnh vực này liên quan đến các tổ chức như Cơ quan địa chất Hoa Kỳ (USGS), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VAST, v.v. Ví dụ, USGS đã hợp tác với các nhà khoa học thuộc Đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh thiết lập 12 trạm quan trắc môi trường để theo dõi quá trình biến đối khí hậu và tác động tới khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với kế hoạch nhân rộng sang các nước khác trong khu vực. Chúng ta cũng đã phối hợp với Quĩ đất ngập nước của Hoa Kỳ (America’s Wetland Foundation) tổ chức Hội nghị châu thổ sông Mekong năm 2013 được gọi là Mekong 2013 (năm 2011 Mỹ đã tổ chức hội nghị Mississippi 2011). Đây là hội nghị quốc tế lớn về môi trường thảo luận tất cả các vấn đề liên quan đến môi trường của Vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã làm việc với Vườn thực vật Missouri thực hiện dự án bảo tồn sinh học ở Vườn quốc gia Bạch Mã và Xúc tiến hợp tác về bảo tồn sinh học với Trường đại học Missisippi. Nhiều chuyến công tác của các nhà khoa học Mỹ đến nghiên cứu và khảo sát tại vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong đã được tổ chức.   Các vấn đề KH&CN  vũ trụ, không gian  Đây là một lĩnh vực hợp tác mới với sự tham gia của VAST và Cơ quan Quản lý Không gian và Vũ trụ Quốc gia (NASA) tại Washington D.C. và Trung tâm nghiên cứu bay không gian của NASA tại Goddard, Maryland. Những bước đi đầu tiên đã được thực hiện như Viện Vật lý Địa cầu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam sang thăm và làm việc với các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ của NASA, tham gia vào Chương trình nghiên cứu bầu khí quyển của NASA cho khu vực Đông Nam Á (Chương trình 7SEAS gồm Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Philippines). NASA và VAST đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng trong lĩnh vực hợp tác không gian như khoa học trái đất, hợp tác trong lĩnh vực trao đổi số liệu, hợp tác trong lĩnh vực dự báo thời tiết và những vấn đề có liên quan khác. Trong khuôn khổ hợp tác, Tổng giám đốc NASA, ông Charles Bolden, đã thăm Việt Nam đầu tháng 12 năm 2012.     Các hợp tác KH&CN  trong thuỷ lợi, khí tượng, nghiên cứu biển:   Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài nguyên và Môi trường, một số trường đại học cùng với Cơ quan Khí quyển và Đại dương của Hoa Kỳ thực hiện những hoạt động này với các chủ đề hợp tác chính như thuỷ lợi, dự báo thời tiết, cảnh báo bão và thiên tai; Quản lý bờ biển; Nghiên cứu đại dương Biển Đông. Một ví dụ cụ thể là dự án của Trường Đại học Cần Thơ thông qua Mạng lưới Quan sát Toàn cầu và Nghiên cứu Đồng bằng châu thổ (Delta Research And Global Observation Network – DRAGON). Mạng lưới này đang nghiên cứu tác động môi trường của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong lĩnh vực nghiên cứu hải dương học, một số hoạt động nghiên cứu giữa hai bên được tổ chức thành công như chuyến thăm của tầu nghiên cứu biển của Hoa Kỳ đến cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, đánh dấu sự khởi đầu của dự án nghiên cứu hải dương học giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.   Hợp tác về KH&CN trong năng lượng nguyên tử  Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng các nhà máy điện nguyên tử, hợp tác với Hoa Kỳ về vấn đề cũng đang được đẩy mạnh với Cục An toàn bức xạ và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là đầu mối chính.   Việc hợp tác không chỉ giới hạn trong các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nói trên, mà còn liên quan đến việc chuyển giao những công nghệ cụ thể như các kit chuẩn đoán bệnh, công nghệ vi sinh nhằm biến rơm rạ của Việt Nam thành phân bón cho cây trồng, hoặc các giống cây trồng trong nông nghiệp, v.v.    Một số điểm cần lưu ý    Một điểm nổi bật là phía Hoa Kỳ, không như nhiều nước G7 khác, không có một cơ chế tài trợ tập trung dưới dạng một chương trình Nhà nước chuyên để hợp tác với Việt Nam như Thuỵ điển, Phần Lan, Đức, Pháp, v.v. Mọi hợp tác khoa học và công nghệ đều là sáng kiến cá nhân hoặc tổ chức tự đàm phán với Việt Nam và sau đó xin kinh phí thông qua các quỹ như Quỹ Khoa học quốc gia (NSF). Do vậy việc thực hiện các dự án hợp tác kiểu như Nghị định thư giữa Việt Nam với nhiều nước khác sẽ gặp khó khăn hơn. Trong nhiều trường hợp, nguyên tắc vốn đối ứng khi phát triển các dự án hợp tác với Hoa Kỳ là khó thực thi.  Một vấn đề khác là do không có sự thúc đẩy qua các chương trình của Nhà nước, các hoạt động chung phụ thuộc rất nhiều vào sáng kiến, năng lực và tính năng động của từng cá nhân và tổ chức, các Viện, trường. Quan hệ cá nhân trong quan hệ giữa các nhà khoa học đóng vai trò lớn trong quá trình này. Nếu chỉ thụ động trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, các cố gắng hợp tác có thể sẽ chậm hoặc trở nên không khả thi và điều này đòi hỏi nhiều nỗ lực và sự kiên trì hơn so với khi hợp tác với các đối tác khác.  Do trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế-xã hội của hai quốc gia rất khác nhau, nhu cầu và thứ tự ưu tiên trong nội dung hợp tác giữa hai nước đôi khi khá xa nhau. Đặc điểm này đòi hỏi cần nhiều cố gắng và sự tìm tòi nhiều hơn trong việc xác định các nội dung hợp tác mà cả hai bên cùng quan tâm thực hiện.  Một điểm có thể nhận thấy là vai trò của doanh nghiệp trong quá trình hợp tác còn khá hạn chế, mà sự tham gia của doanh nghiệp là một nguồn lực vô cùng quan trọng bổ sung cho nguồn hỗ trợ từ Nhà nước hoặc các quỹ do Nhà nước quản lý.    Hướng tới tương lai  Có thể nói hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt được những nền tảng cơ bản đầu tiên. Để thực hiện Hiệp định hợp tác, khoảng hai năm một lần, Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thay phiên nhau chủ trì tổ chức các cuộc họp của Uỷ ban Liên chính phủ để kiểm điểm lại tình hình và đề ra kế hoạch cho giai đoạn tới. Những lĩnh vực đã nêu trên sẽ được thảo luận trong các nhóm công tác tại cuộc họp JCM 8 tại Washington, DC, Hoa Kỳ trong thời gian tới. Trải qua hơn mười năm thực hiện Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ, thế và lực của Việt Nam đã khác trước, trở nên một đối tác hợp tác bình đẳng hơn trước, tự tin hơn trước. Với sự thiết lập một số Văn phòng đại diện khoa học và công nghệ của Việt Nam tại một số thành phố chính của Hoa Kỳ như Washington DC, San Francisco và New York, chúng ta đã chủ động bước ra hội nhập mạnh hơn vào thế giới khoa học và công nghệ, ngay tại đất nước có nền khoa học và công nghệ mạnh nhất thế giới. Điều quan trọng hơn cả là bản thân các nhà khoa học, các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam đã có đủ năng lực hợp tác một cách tự tin, bình đẳng và sáng tạo với đối tác.  Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tháng 7 năm 2013, một trong những nội dung của đối tác hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được đưa vào Tuyên bố chung giữa Chủ tịch nước Việt Nam và Tổng thống Hoa Kỳ, chính là hợp tác về khoa học và công nghệ. Đây chắc chắn sẽ là một động lực quan trọng giúp cho hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được đẩy lên một mức mới, đem lại lợi ích chung cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam trong tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác KHCN Việt Nam-Hoa Kỳ: Một giai đoạn phát triển mới      Cuối tháng 6 vừa qua, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân cùng đoàn công tác của Bộ đã tham dự cuộc tọa đàm về hợp tác KH&amp;CN giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, và làm việc với một số cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ. Về kết quả chuyến công tác, Bộ trưởng Nguyễn Quân&#160; cho biết:    Quan hệ hợp tác 12 năm qua về mặt KHCN giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ, đang ngày càng phát triển và đã đạt được một số thành tựu, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao. Vì vậy, trong chuyến công tác của Bộ KH&CN lần này tới Hoa Kỳ nhằm mục đích bàn thảo với các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ về việc tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác KH&CN, GD&ĐT giữa hai nước trong bối cảnh chính phủ hai nước đang đàm phán nâng quan hệ lên đối tác chiến lược.  Đoàn chúng tôi đã có những buổi làm việc với:   Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, hai bên đã thống nhất một số giải pháp nhằm tăng cường hợp tác KHCN giữa hai nước, đặc biệt trên một số lĩnh vực công nghệ cao: công nghệ vũ trụ, hải dương học, điện hạt nhân và giáo dục đại học, thông qua đầu mối là Đại sứ quán của hai nước. Phía Việt Nam, căn cứ vào kết quả hoạt động hết sức hiệu quả của Quỹ giáo dục Việt Nam VEF (Hoa Kỳ) trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (trong số 424 học viên của VEF đã có 176 người tốt nghiệp, chủ yếu ở trình độ tiến sĩ ở các lĩnh vực CNTT, CNSH,…) đã đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kiến nghị với Chính phủ Hoa Kỳ kéo dài thời gian hoạt động của VEF.  Trong buổi làm việc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến triển khai nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam là đàm phán việc ký kết Hiệp định hợp tác hạt nhân dân sự (thường gọi là hiệp định 123) với Hoa Kỳ, đoàn công tác của Bộ KH&CN đã thống nhất được với đoàn đàm phán của Hoa Kỳ những nguyên tắc cơ bản của hiệp định này. Tháng 7, 8 năm nay, vòng đàm phán tiếp theo về hiệp định này sẽ được tiến hành ở Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc còn tồn tại để đi tới ký kết hiệp định, tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam.   NASA – cơ quan quản lý và thực hiện các dự án lớn của Hoa Kỳ về công nghệ vũ trụ và không gian. Tháng 9.2011, Cơ quan này đã ký tuyên bố ý định hợp tác với Viện KHCN Việt Nam. Cuộc gặp của tôi với ông Giám đốc NASA tuy là cuộc gặp xã giao nhưng cũng đã bàn đến tiến độ một số hợp tác khác của NASA ở Việt Nam, về dự án GLOBE và SERVIR phục vụ giáo dục và bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu.   Công ty Westinghouse – một công ty hiện đang sở hữu công nghệ nhà máy điện hạt nhân AP1000, là thế hệ 3+ công suất 1.000 Megawat, có độ an toàn nhất so với các nhà máy điện hạt nhân hiện tại (AP1000 có thể chịu đựng được những thảm họa kép xảy ra như ở Fukushima, Nhật Bản nhờ hệ thống bảo vệ thụ động passive). Hiện nay, ở Mỹ và Trung Quốc đang xây dựng 4 nhà máy với công nghệ AP1000. Họ rất muốn bán công nghệ AP1000 cho Việt Nam (tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào kết quả thẩm định báo cáo FS của các nhà thầu Nhật Bản và Nga – các quốc gia đang giúp Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên).  Văn phòng nghiên cứu hải quân (ONR), cuộc làm việc với ông Chuẩn Đô đốc Matthew Klunder mang tính xã giao, trong đó đoàn đã thông báo cho phía Hoa Kỳ về việc tàu nghiên cứu hải dương của Hoa Kỳ đã cập cảng Đà Nẵng, tiến hành chương trình đào tạo các nhà khoa học Việt Nam để họ làm quen với những thiết bị nghiên cứu trên tàu của Hoa Kỳ. Phía Hoa Kỳ rất phấn khích, coi đó là một sự kiện mở đầu cho sự hợp tác nhiều triển vọng giữa hai nước trong lĩnh vực nghiên cứu hải dương học.   Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Hoa Kỳ (NIST), Quỹ khoa học quốc gia (NSF), đoàn đã có cuộc trao đổi về những kinh nghiệm trong việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương thức quản lý quỹ khoa học quốc gia, quy trình xét duyệt dự án nghiên cứu.   Sau khi làm việc với các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ, tôi và đoàn công tác của Bộ KH&CN đã tham dự  cuộc tọa đàm về KHCN giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (được tổ chức theo sáng kiến và những nỗ lực của ĐSQ Việt Nam tại Hoa Kỳ cùng VEF), với sự đồng chủ trì của Tiến sĩ William Colglazire – Cố vấn KHCN của Ngoại trưởng Hoa Kỳ và Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường. Tham dự có 70 học giả (điều đáng chú ý là tất cả những người được mời tham dự đều có mặt) của Hoa Kỳ đến từ các viện, trường, các Bộ, ngành,… trong đó có một số học giả là người Hoa Kỳ gốc Việt.   Sau phát biểu đề dẫn đánh giá cao về những kết quả tốt đẹp và triển vọng trong quan hệ hợp tác KHCN giữa hai nước của Tiến sĩ William Colglazire, tôi đã trình bày một số mục tiêu trong chiến lược phát triển KH&CN của Việt Nam đến năm 2020 và gợi ý những vấn đề, những chương trình cần hợp tác giữa hai nước.   Lần đầu tiên tại cuộc tọa đàm, những định hướng hợp tác nghiên cứu khoa học giữa hai nước cùng nhiều ý tưởng, kinh nghiệm trong chính sách, quản lý khoa học đã được bàn thảo rất sôi nổi và hết sức xây dựng. Và cũng tại cuộc tọa đàm này, chúng tôi cũng nhận được ý kiến rất hữu ích của một số nhà khoa học Việt kiều về những cơ chế chính sách cần sửa đổi để có thể thu hút được chất xám của Việt kiều tham gia vào phát triển KHCN nói chung của đất nước, và cụ thể hơn là tham gia vào các dự án hợp tác KHCN giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.   Nhìn chung, những buổi làm việc của đoàn với các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ đã diễn ra hết sức thiện chí, trên tinh thần mong muốn mở rộng quan hệ hợp tác. Về cơ bản hai bên đã thống nhất xác định các nguyên tắc chung và định hướng hợp tác khoa học, công nghệ và giáo dục đại học trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, sẽ tiến hành tổ chức những cuộc hội thảo, gặp gỡ giữa các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học để bàn triển khai các dự án cụ thể trên những lĩnh vực ưu tiên như công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ, điện hạt nhân, cơ khí và tự động hóa, vật liệu mới, hải dương học…  Có thể nói kết quả của chuyến công tác của đoàn Bộ KH&CN tại Hoa Kỳ là bước khởi đầu thuận lợi cho sự hợp tác KHCN giữa hai nước bước sang một giai đoạn phát triển mới.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giữa ĐHBK HN và Rạng Đông      Mô hình hợp tác hiệu quả giữa trường ĐH Bách khoa Hà Nội và Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông trong hoạt động nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ là một minh chứng điển hình cho việc việc đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các công nghệ ứng dụng trong các trường đại học, viện nghiên cứu và việc hình thành nên các đơn vị nghiên cứu liên trường đại học – công nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm có đặc trưng riêng, chất lượng tốt, giá thành cạnh tranh.    Từ chuyển giao công nghệ…  Từ cuối năm 2007, trong những nỗ lực nhằm đưa các sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tế, các cán bộ nghiên cứu Viện Đào tạo Quốc tế về Khoa học Vật liệu (ITIMS) và Viện Tiên Tiến Khoa học và Công nghệ (AIST), ĐH Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) đã đề xuất và được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt thực hiện đề tài “Nghiên cứu chế tạo bột huỳnh quang ba màu và bột điện tử micro, nano sử dụng để chế tạo đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact tiết kiệm điện năng”.   Nhằm thực hiện đề tài, các cán bộ ĐHBKHN đã chủ động liên hệ và gặp gỡ trao đổi với Ban Tổng Giám đốc (TGĐ) Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RALACO). Ngay trong buổi làm việc đầu tiên, ngoài việc thỏa thuận cùng phối hợp triển khai thực hiện các nội dung của đề tài, TGĐ của RALACO với sự chuẩn bị trước đã đưa ra một danh mục với trên 20 công nghệ và các vấn đề kỹ thuật mà công ty mong muốn được các nhà nghiên cứu tại ĐHBKHN giúp cùng giải quyết. Tại đúng thời điểm mà hai bên thỏa thuận hợp tác cuộc chiến đất hiếm giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới bắt đầu xảy ra, giá nguyên liệu đầu vào bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm tăng đột biến. Do vậy, hai vấn đề công nghệ đầu tiên đã được RALACO và ĐHBKHN nhất trí lựa chọn cùng phối hợp giải quyết đó là i) phát triển công nghệ thu hồi và tinh chế bột huỳnh quang ba phổ pha tạp đất hiếm và thủy tinh không chì; và ii) nghiên cứu tối ưu hóa quy trình công nghệ tráng phủ bột huỳnh quang cho đèn huỳnh quang compact. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bên, trong thời gian gần một năm quy trình công nghệ thu hồi, tái xử lý bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm và thủy tinh không chì và quy trình công nghệ tráng phủ bột huỳnh quang cho đèn huỳnh quang compact đã được ĐHBKHN chuyển giao thành công cho cho RALACO. Việc áp dụng hai quy trình công nghệ này trong sản xuất đã giúp RALACO giảm được số lượng đèn compact không đạt tiêu chuẩn trong khâu tráng phủ khoảng ~4% và đồng thời tiết kiệm tái sử dụng nhiều tấn bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm và hàng trăm tấn thủy tinh không chì trị giá hàng chục tỷ đồng.           Một hướng nghiên cứu dài hạn (từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng) đã được thỏa thuận phối hợp thực hiện giữa ĐHBKHN và RALACO trong đó có các vấn đề về phát triển các thiết bị chiếu sáng mới dùng LED tiết kiệm năng lượng; nghiên cứu phát triển các hệ thống đánh giá nhanh, đánh giá già hóa thiết bị chiếu sáng dùng LED; nghiên cứu chế tạo các bột huỳnh quang chuyên dụng, hiệu suất cao cho đèn chiếu sáng nông nghiệp và cho đèn chiếu sáng xuất khẩu; Nghiên cứu tích hợp nguồn điện pin mặt trời cho các hệ thống chiếu sáng dùng LED…        Nguyên nhân dẫn đến những thành công đầu tiên này, trước hết là do ban lãnh đạo của RALACO đã hết sức tin tưởng vào các cán bộ nghiên cứu của ĐHBKHN, đã cho phép các cán bộ của ĐHBKHN tiếp cận trực tiếp các dây chuyền sản xuất, và thử nghiệm công nghệ trên dây chuyền sản xuất; thẳng thắn và trao đổi một cách hết sức tin cậy về những khó khăn, những điểm yếu kỹ thuật trong các dây chuyền sản xuất của công ty; bám sát tiến độ triển khai, đốc thúc liên tục và cùng phối hợp tháo gỡ khó khăn khi có những vấn đề công nghệ nảy sinh. Về phía ĐHBKHN, các cán bộ nghiên cứu đã hết sức kiên trì thực hiện tất cả các nội dung chuyển giao công nghệ theo đúng cam kết (ví dụ: trong hợp đồng chuyển giao công nghệ thu hồi và tinh chế bột huỳnh quang ba phổ pha tạp đất hiếm và thủy tinh không chì, để đảm bảo công nghệ phía ĐHBKHN đã phải 3 lần thay thế thiết bị công nghệ chính với giá trị của 3 lần nhập thiết bị gần bằng tổng giá trị của cả hợp đồng); chủ động trao đổi và nêu rõ những khó khăn những vấn đề kỹ thuật phát sinh ngoài dự kiến; cùng làm việc với các kỹ sư của RALACO trên các dây chuyền sản xuất qua đó học hỏi được nhiều kinh nghiệm sản xuất thực tế.     Đến hình thành phòng thí nghiệm chung  Một trong những mục tiêu quan trọng của hợp tác khoa học giữa ĐHBKHN và RALACO là việc nghiên cứu nội địa hóa giảm nhập khẩu các nguyên, vật liệu mà RALACO sử dụng trong sản xuất đèn chiếu sáng. Trong đó việc chế tạo và ứng dụng các vật liệu mới đòi hỏi phải thử nghiệm liên tục và trực tiếp trên các thiết bị sản xuất. Chính yêu cầu này, cùng với mong muốn phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị, năm 2009, thỏa thuận hợp tác xây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu chung và xưởng thực nghiệm giữa ĐHBKHN và RALACO đã được ký kết. Một phòng thí nghiệm (PTN) với diện tích ~ 200 m2, bao gồm PTN Hóa học, PTN Quang Điện tử và Xưởng thực nghiệm đã được xây dựng trong khuôn viên của RALACO. Trong bản thỏa thuận hợp tác này, các nội dung về xây dựng cơ sở vật chất; mua sắm các trang thiết bị nghiên cứu; kinh phí vận hành (điện, nước) của PTN; bản quyền công nghệ đối với các công nghệ được phát triển tại PTN đã được hai bên thỏa thuận một cách chi tiết. Chính các điều khoản thỏa thuận cụ thể này là cơ sở cho việc hợp tác bền vững và hiệu quả giữa hai đơn vị trong giai đoạn tiếp theo. Để đảm bảo việc đưa các vật liệu mới phát triển vào ứng dụng một cách an toàn và hiệu quả, một quy trình thử nghiệm sản phẩm mới cũng dần được hình thành bao gồm các bước: 1) Thử nghiệm ở quy mô nhỏ (nhiều lần); 2) Đánh giá CKS (2-3 lần); 3) Thử nghiệm lô sản xuất nhỏ (đánh giá tại xưởng, đánh giá CKS); 4) Thử nghiệm sản xuất lô lớn (đánh giá tại xưởng, đánh giá CKS); 5) Sản xuất thương mại (đánh giá thống kê). Với sự hình thành của PTN nghiên cứu chung trong RALACO, các cán bộ, nghiên cứu sinh, sinh viên của ĐHBKHN đã có một cơ sở nghiên cứu và thử nghiệm tại cơ sở sản xuất nơi có thể đến làm việc như đến làm việc tại một PTN tại ĐHBKHN; các ý tưởng đề xuất nghiên cứu mới trở nên thực tế hơn, có tính mục tiêu cao hơn và hướng tới đích cuối cùng là đưa vào phục vụ sản xuất. Trong thỏa thuận chung của hai đơn vị, một số nghiên cứu sinh và học viên cao học của ĐHBKHN có hướng nghiên cứu phù hợp đã nhận được sự hỗ trợ tài chính từ RALACO (dưới dạng học bổng) để thực hiện các nghiên cứu của mình. Với việc triển khai PTN nghiên cứu chung HUST-RALACO, trong 2 năm 2009-2010, nhiều vấn đề công nghệ kỹ thuật đã được hai bên cùng phối hợp giải quyết mà điển hình là hai hợp đồng chuyển giao công nghệ chế tạo keo gắn bầu đèn huỳnh quang compact (quy mô 25 tấn/tháng) và cung cấp vật liệu và quy trình công nghệ tráng phủ lớp phủ hỗ trợ khởi động nhanh cho đèn huỳnh quang xuất khẩu (số lượng theo đơn đặt hàng) đã được trường ĐHBKHN chuyển giao cho RALACO, giúp công ty chủ động sản xuất keo gắn bầu đèn và dung dịch tráng phủ từ các nguồn nguyên vật liệu trong nước, thay thế hoàn toàn vật liệu nhập ngoại với giá thành chỉ bằng 20-40%.  Từ hiệu quả kinh tế đáng kể do hoạt động nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới, công nghệ phát triển nội địa, năm 2011 RALACO quyết định thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (TT R&D). Với quyết định này, chiến lược phát triển của khoa học công nghệ của công ty đã chuyển từ khai thác các hợp đồng KHCN ngắn hạn, riêng rẽ, đơn lẻ (để giải quyết một số vấn đề kỹ thuật, công nghệ phát sinh thường nhật) sang việc đầu tư dài hạn, đổi mới một cách có hệ thống, toàn diện trong toàn bộ các khâu hoạt động của công ty.   Tiếp tục hoạt động song hành và hỗ trợ sự phát triển của TT R&D của RALACO, năm 2013 ĐHBKHN và RALACO đã thỏa thuận xây dưng PTN chung thứ hai đặt tại ĐHBKHN. Đây chính là tiếp cận nhằm khai thác một cách hiệu quả các thiết bị nghiên cứu đã được nhà nước đầu tư cho ĐHBKHN phục vụ sản xuất. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm chiếu sáng thế hệ mới, chiếu sáng thông minh dựa trên nên tảng LED và công nghệ bán dẫn đòi hỏi không chỉ các kỹ sư mà mỗi công nhân tham gia sản xuất phải có những kiến thức khoa học cơ sở và hiểu biết căn bản về công nghệ, và một lần nữa các cán bộ nghiên cứu, những thầy giáo của ĐHBKHN đã soạn những bài giảng mới dành riêng cho các cán bộ và công nhân của RALACO. Những buổi seminar khoa học giờ đây không chỉ được tổ chức tại ĐHBKHN, mà còn thường xuyên được tổ chức tại TT R&D của RALACO. Và như là đích đến tất yếu của một mô hình hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, một doanh nghiệp khoa học công nghệ liên doanh giữa ĐHBKHN và RALACO trong lĩnh vực chiếu sáng dùng LED cũng đã được lãnh đạo hai bên nhất trí thành lập. Nhiều cán bộ tiến sỹ trẻ của ĐHBKHN giờ đây đã coi ngày thứ bảy hằng tuần là ngày làm việc tại TT R&D của RALACO, nơi họ có thể biến những ý tưởng mới, sáng tạo của mình thành những sản phẩm chiếu sáng cao cấp thương hiệu Việt Nam.         Một số thành ngữ vui và từ khóa về hợp tác khoa học               giữa trường đại học và doanh nghiệp:              * Đây là quá trình mà trong đó các nhà khoa học có nhiệm vụ tri thức hóa đội ngũ công nhân, và ngược lại các công nhân làm nhiệm vụ thực tế hóa các nhà khoa học.              * Sự cầu thị và lòng tin của doanh nghiệp là chìa khóa dẫn tới một hợp tác khoa học và công nghệ thành công.               * Vai trò và quyết tâm của người đứng đầu doanh nghiệp sẽ biến những ý tưởng khoa học thành sản phẩm hiện thực (với sự trợ giúp của của các nhà khoa học).              * Không phải các nhà khoa học thiếu động lực nghiên cứu để có thể tạo ra những sản phẩm cụ thể, cái mà họ thiếu chính là một doanh nghiệp sản xuất cùng kề vai để biến những ý tưởng của họ thành hiện thực.              * Dành một tỷ lệ đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp tái đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.               * Sự hỗ trợ, đúng lúc, đúng chỗ và đúng cách của nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp chắc chắn sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển và đổi lại họ sẽ nộp nhiều thuế hơn cho nhà nước.              * Hãy dành một tháng nghỉ phép của mình (các nhà khoa học) để làm việc thực sự trong một doanh nghiệp (nhà sản xuất), bạn sẽ học được rất nhiều điều có ích trong công tác nghiên cứu khoa học sau này.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác và cạnh tranh: Hai mặt của văn hóa khoa học Hàn Quốc      Bên cạnh chiến lược phát triển KH&amp;CN tập trung và rõ ràng, lí do quan trọng thúc đẩy KH&amp;CN Hàn Quốc chính là áp lực cạnh tranh và tính hợp tác cao trong cộng đồng khoa học ở nước này.     Mục tiêu rõ ràng  Gần năm năm học tập, làm việc và nghiên cứu tại Hàn Quốc và đến nay vẫn thường xuyên trao đổi, hợp tác dự án với các trường đại học tại đây, tôi nhận thấy chiến lược phát triển KH&CN của Hàn Quốc có tính mục tiêu cao, thể hiện rất rõ qua các chương trình tài trợ nghiên cứu của họ cho từng giai đoạn.      Vào những năm 1990, Hàn Quốc thành lập quỹ KOSEF (Korea Science and Engineering Foundation) tài trợ cho nghiên cứu cơ bản với mục tiêu là phát triển mạnh các công bố của Hàn Quốc trên trường quốc tế. Mỗi dự án, đề tài được tài trợ trong vòng ba đến năm năm với mỗi năm vài trăm nghìn USD. Đây là giai đoạn bùng nổ số lượng các công bố quốc tế của Hàn Quốc trên các hệ thống quốc tế.     Đầu những năm 2000, quan điểm chiến lược phát triển của Hàn Quốc chuyển sang một giai đoạn khác, đó là tập trung tài trợ cho các chương trình nghiên cứu dài hạn thay vì các đề tài ngắn hạn. Quỹ nghiên cứu quốc gia của Hàn Quốc (NRF-National Research Foundation) và chương trình BK21 (Brain Korea 21 – tạm dịch là Bộ não Hàn Quốc thế kỉ 21) tập trung tài trợ cho chương trình của các nhóm nghiên cứu mạnh tại các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu của Hàn Quốc, mỗi dự án được thực hiện trong 10 năm với tài trợ khoảng hơn một triệu USD/năm. Nếu như mục tiêu của Quỹ KOSEF hướng đến số lượng các công bố quốc tế thì chương trình BK21 tập trung nâng cao chất lượng công bố quốc tế của Hàn Quốc. Chỉ trong vòng ba năm, từ 1998 đến 2001, số lượng công bố trên các tạp chí SCI và số bằng sáng chế của Hàn Quốc đã tăng gấp rưỡi (từ hơn 4.000 trong năm 1998 đến hơn 6.000 trong năm 2001), đồng thời họ mời rất nhiều các nhà nghiên cứu hàng đầu của thế giới đến giảng dạy và hợp tác.     Năm 2012, dựa trên thành công của chương trình BK21, Hàn Quốc tiếp tục triển khai chương trình BK21 pha 2 (gọi là BK21 plus), đồng thời xây dựng chương trình tài trợ mới là Institute of Basic Science (IBS -Viện nghiên cứu cơ bản) với số tiền tài trợ khoảng 10 triệu USD/năm cho các dự án được lựa chọn và tài trợ liên tục trong 10 năm. Mục tiêu tham vọng của Hàn Quốc ở thời điểm này là đẩy mạnh các nghiên cứu đỉnh cao, nhắm đến các tạp chí danh tiếng hàng đầu thế giới và xa hơn nữa là chạm đến giải Nobel. Các chương trình nghiên cứu của dự án này mang tính liên ngành cao và tập trung giải quyết những vấn đề hoặc công nghệ mang tính toàn cầu. Tôi từng trao đổi với một giáo sư Đại học Sungkyungkwan (Hàn Quốc), giám đốc một chương trình thuộc dự án IBS, và được biết, nhóm của ông đã chuyển hướng tập trung cho các nghiên cứu có khả năng công bố trên các tạp chí hàng đầu thế giới như Science hoặc Nature. Và đúng như vậy, trong ba năm qua, với tài trợ của chương trình IBS, nhóm họ đã thành công với các công trình đã được chấp nhận đăng trên cả Nature và Science.     Nguồn tài trợ khá phong phú và ổn định cho phép các nhóm nghiên cứu mạnh của Hàn Quốc tập hợp lực lượng nghiên cứu giỏi từ khắp nơi trên thế giới, đi hội thảo trao đổi kinh nghiệm ở nhiều nước và xây dựng các trang thiết bị nghiên cứu tiên tiến. Như nhóm nghiên cứu mà tôi từng tham gia, mỗi khi chuyển sang một đề tài khác, với hệ vật liệu khác là đã có kinh phí để mua thiết bị mới ngay. Các hệ thiết bị cũ có thể được chuyển cho các đơn vị khác sử dụng.     Tuy nhiên, quan điểm tài trợ ở Hàn Quốc rất khác so với Việt Nam – các nhóm được nhận tài trợ luôn bị đặt dưới áp lực phải tạo ra những sản phẩm khoa học ưu việt hơn các nhóm khác. Với chương trình BK21, không phải tất cả các dự án sẽ được nhận hỗ trợ đều đặn và như nhau trong 10 năm. Hai đến ba năm một lần sẽ có đợt đánh giá lại chất lượng và kết quả hoạt động nghiên cứu của nhóm, bên cạnh nhóm chính sẽ luôn có “nhóm dự phòng” nghiên cứu trong cùng lĩnh vực và nhận được kinh phí tài trợ ít hơn nhóm chính. Nếu nhóm chính hoạt động kém hiệu quả hơn nhóm dự phòng thì kinh phí của họ sẽ bị giảm đi và nhóm dự phòng sẽ được cấp kinh phí cao hơn.   Kỷ luật cao và liên kết chặt  Cách đây 10 năm, rất ít khi thấy các công trình nghiên cứu từ Hàn Quốc công bố trên các tạp chí hàng đầu thế giới như Science hoặc Nature nhưng gần đây, số công trình này ngày càng nhiều lên. Ngoài lý do có chiến lược phát triển KH&CN rõ ràng và cụ thể từng bước, người Hàn Quốc còn có những phẩm chất cho phép họ đi đến những mục tiêu đã đặt ra một cách nhất quán.            Về máy móc thiết bị nghiên cứu, nếu như Việt Nam chủ yếu nhập nguyên chiếc thì ở Hàn Quốc, họ tự sản xuất và lắp đặt dựa trên thiết kế và ý tưởng của các nhà khoa học (các công ty của Hàn Quốc có thể tự thiết kế, sản xuất, cung cấp các thiết bị theo yêu cầu). Nhược điểm của việc nhập nguyên chiếc là các nhà nghiên cứu không thể can thiệp vào thông số và kĩ thuật của thiết bị. Chẳng hạn, ở Việt Nam, các hệ thiết bị chế tạo mẫu và đo đạc thường là hai hệ tách rời nhau. Tuy nhiên, đối với một số vật liệu yêu cầu cao về độ sạch thì môi trường sẽ ảnh hưởng đến tính chất của vật liệu, dẫn đến việc đo đạc không chính xác. Ở Hàn Quốc, họ hoàn toàn có thể yêu cầu tích hợp hệ đo trong hệ thiết bị làm mẫu, đảm bảo tạo ra các vật liệu mới có các tính chất ưu việt. Hơn nữa, hiện nay ở Việt Nam, mỗi khi các thiết bị nghiên cứu xảy ra hỏng hóc lại phải nhờ các chuyên gia nước ngoài, mất nhiều thời gian và kinh phí bảo trì.            Môi trường nghiên cứu khoa học của Hàn Quốc rất áp lực. Các giáo sư ở Hàn Quốc thường làm việc từ 9 giờ sáng đến sau 12 giờ đêm, các phòng thí nghiệm cũng luôn mở cửa rất khuya. Bên cạnh đó, người Hàn Quốc cực kỳ coi trọng tính kỷ luật và tính chuyên nghiệp. Chẳng hạn, khi được yêu cầu triển khai một thí nghiệm nghiên cứu thử nghiệm, các sinh viên Hàn Quốc phải tuân thủ quy trình và kỷ luật rất cao, như một quy trình công nghiệp, không được phép thay đổi bất kì khâu nào, trong khi sinh viên nước ngoài có thể điều chỉnh và thay đổi quy trình đó.     Tính cộng đồng và khả năng liên kết hợp tác nghiên cứu của các nhà khoa học Hàn Quốc cũng rất cao. Những dự án như BK21, BK21Plus và gần đây là IBS có tính cạnh tranh rất lớn. Hiện nay, toàn Hàn Quốc có khoảng 50 nhóm nghiên cứu được lựa chọn và tài trợ nghiên cứu trong chương trình IBS. Khi nhận được dự án tài trợ 10 năm với nguồn kinh phí ổn định như vậy, các nhóm nghiên cứu và các nhà khoa học chỉ tập trung vào nghiên cứu đỉnh cao mà không cần phải lo kiếm kinh phí để trả lương cho các nghiên cứu sinh, postdoc và tiền mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu thí nghiệm nữa. Chính vì vậy, để tất cả mọi người trong viện hay trong khoa toàn tâm toàn ý nghiên cứu, các giáo sư thường hợp nhau thành một nhóm lớn cùng chuẩn bị các đề xuất xin tài trợ và triển khai các nghiên cứu để nâng cao tính cạnh tranh của nhóm với các đơn vị và trường/viện khác. Các giáo sư đầu ngành cũng luôn tạo điều kiện cho những giáo sư trẻ, kể cả những người mới về nước, luôn đảm bảo ai cũng được tham gia, đóng góp vào dự án của khoa/viện.     Liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với khu vực công nghiệp của Hàn Quốc khá chặt chẽ. Ví dụ, Samsung đã đầu tư kinh phí xây dựng hẳn một viện R&D về công nghệ mới (như công nghệ dựa trên vật liệu graphene) đặt trong Đại học Sungkyungkwan để kết nối, đặt hàng các nhóm nghiên cứu. Vì vậy, các nhóm nghiên cứu ở trong các viện nghiên cứu và các trường đại học Hàn Quốc thường “đi bằng hai chân”, tức là chạy song song các đề tài được tài trợ kinh phí từ nhà nước thông qua các quỹ và từ các yêu cầu đặt hàng của doanh nghiệp để đa dạng hóa nguồn kinh phí hoạt động.     Hàn Quốc hiện nay đang mở rộng hợp tác quốc tế, tạo nhiều điều kiện và chế độ đãi ngộ đặc biệt nhằm thu hút các nhà khoa học nước ngoài nổi tiếng đến làm việc. Vị giáo sư ở Đại học Sungkyungkwan mà tôi nhắc đến ở trên nói với tôi rằng, tiềm lực kinh phí lớn từ dự án của chương trình IBS đã cho phép họ mời rất nhiều giáo sư nổi tiếng thế giới đến làm việc, trao đổi tại phòng thí nghiệm của mình. Đồng thời, họ cũng mời thành viên Ban biên tập của các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới đến hướng dẫn cách viết và trình bày một công bố quốc tế, do đó họ tiếp cận được các tạp chí danh tiếng rất nhanh chóng và hiệu quả.    ————-    * Phòng Khoa học và Công nghệ Nano, Viện AIST, Đại học Bách Khoa Hà Nội.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hợp tác với Dubna: Những vấn đề mới      Trong bối cảnh mới, khi Việt Nam hướng đến mục tiêu thiết lập một vài trung tâm nghiên cứu liên ngành tầm cỡ quốc tế để góp phần gây dựng vị thế KH&CN, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Viện liên hợp hạt nhân Dubna (JINR) sẽ là một trong những yếu tố quan trọng giúp hình thành nền móng vững chắc cho mục tiêu đó.       Đoàn cán bộ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tới làm việc tại PTN Các phản ứng hạt nhân Flerov tháng 4/2019. Ảnh: JINR  Tham gia Viện JINR từ năm 1956 nhưng từ lâu, mối quan hệ hợp tác với Dubna của Việt Nam mới đơn thuần là nhằm đào tạo nguồn nhân lực và Việt Nam không có nhiều tiếng nói về mặt chuyên môn ở một trong những cơ sở nghiên cứu vật lý hạt nhân hàng đầu thế giới này. Nay Việt Nam đang đứng trước khả năng đảo chiều tình thế đó, không chỉ vì được JINR lựa chọn làm nơi tổ chức hội nghị Hội đồng tài chính và hội nghị các đại diện toàn quyền, hội nghị nhân kỉ niệm 150 năm ngày ra đời của Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học Mendeleev, mà còn là nhiều cơ hội hợp tác nghiên cứu trong tương lai mở ra ngay tại hội nghị với sự gợi ý và cam kết của Bộ trưởng Bộ KHCN và Giáo dục đại học Nga Mikhail Kotyukov cùng Thứ trưởng Grigory Trubnikov.  Lập nền tảng cho một trung tâm nghiên cứu quốc tế   Trong phiên họp đại diện toàn quyền JINR, bài trình bày về dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia của TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM), đã thu hút sự chú ý của Thứ trưởng Bộ KH&CN và GĐ Đại học Nga Grigory Trubnikov, một nhà nghiên cứu về hạt neutrino ở Dubna với khoảng 200 bài báo quốc tế mới chuyển sang làm quản lý từ năm 2018. Sau khi lắng nghe những dự kiến công việc sẽ thực hiện trên lò phản ứng nghiên cứu mới công suất 10 MW – một nội dung quan trọng trong dự án hợp tác giữa VINATOM và ROSATOM – tập đoàn năng lượng nguyên tử quốc gia Nga, TS. Grigory Trubnikov lập tức coi đó là một khả năng hợp tác mới, một hướng nghiên cứu mới giữa Việt Nam và Dubna. Do đó, ông đã trao đổi với GS.TS. Lê Hồng Khiêm, đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Dubna, và TS. Trần Chí Thành về việc trong tương lai Dubna có thể sẽ đầu tư thêm kinh phí, thiết kế lắp đặt một số hệ thiết bị ở Trung tâm để các nhà khoa học của hai nước cũng như quốc tế cùng nhau nghiên cứu. Khi đó, có thể coi Trung tâm là một chi nhánh, một điểm đại diện của Dubna tại Việt Nam trong tương lai và Dubna có nghĩa vụ đầu tư chất xám, tài chính cho chi nhánh này, GS. TS Lê Hồng Khiêm cho biết.  Để công việc chuẩn bị tiến triển tốt, TS. Grigory Trubnikov còn đề xuất kết nối hệ thống máy tính của VINATOM với Trung tâm tính toán hiệu năng cao của Dubna, vốn đã được nối mạng thông suốt với nhiều quốc gia thành viên để chia sẻ dữ liệu. “Đây là thời điểm tốt cho kết nối và chia sẻ thông tin, dữ liệu nghiên cứu bởi viện đang trong kế hoạch lắp đặt hệ thống máy tính, chuẩn bị đưa Trung tâm mô phỏng, tính toán an toàn hạt nhân và phát tán phóng xạ vào hoạt động (hệ thống siêu máy tính). Những chia sẻ như thế này sẽ tạo tiền đề và nền tảng cho những nghiên cứu chung trong tương lai”, TS. Trần Chí Thành nói.   Như vậy, mối quan hệ hợp tác giữa Dubna và VINATOM, vốn được thiết lập trong những năm gần đây và hiện nay đã có một biên bản thỏa thuận hợp tác về nghiên cứu và đào tạo ký kết vào tháng 4/2019, nay lại càng được thắt chặt hơn. Đoàn chuyên gia đầu tiên của Dubna đã tới Đà Lạt vào tháng 3/2019 để thảo luận về thiết kế lò phản ứng nghiên cứu mới cũng như kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực làm việc tại đây, khi lò phản ứng nghiên cứu mới chính thức đi vào vận hành. Phân tích nguyên nhân vì sao chọn Dubna chứ không phải đơn vị nghiên cứu nào khác tư vấn, TS. Trần Chí Thành nói: “Những kinh nghiệm và thành công trong vận hành và khai thác hiệu quả lò phản ứng IBR-2 với những luồng neutron xung mạnh nhất thế giới mấy chục năm nay cũng như khả năng thiết kế các thiết bị máy gia tốc mới của Dubna như hệ phức hợp máy gia tốc của siêu dự án NICA rất có ý nghĩa với chúng ta. Sự tham gia của những chuyên gia hàng đầu thế giới ở Dubna sẽ cho thấy, ngay từ khi bắt đầu thiết kế thì lò nghiên cứu mới đã là một dự án mang tính quốc tế”.  Đây cũng là vấn đề mà GS. TS Lê Hồng Khiêm cũng đang mong muốn thúc đẩy bởi ông nhận thấy nhiều phương pháp nghiên cứu được triển khai rất hiệu quả trên lò phản ứng hạt nhân IBR-2 tại JINR  còn chưa được triển khai trên lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tồn tại này là Việt Nam còn thiếu những chuyên gia cần thiết. Do đó ông đặt ra mục tiêu “sẽ cử đến JINR đào tạo khoảng 20 cán bộ làm việc lâu dài trên theo các hướng đang được triển khai trên lò phản ứng hạt nhân IBR-2 tại JINR để họ có thể thực sự trở thành các chuyên gia nòng cốt ở tầm quốc tế, có đủ khả năng triển khai các hướng nghiên cứu này trên lò phản ứng mới tại Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia trong tương lai. Điều này thực sự rất quan trọng vì theo ông “nếu không có sự tham gia của JINR thì việc khai thác các kênh nghiên cứu của lò phản ứng mới tại Việt Nam sẽ rất hạn chế do chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và chưa có đủ chuyên gia”.     GS.TS. Lê Hồng Khiêm, đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Dubna (trái), trong phiên họp hội đồng tài chính Dubna. Nguồn: JINR.  Thực tế cho thấy, cơ hội đưa Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia trở thành một trung tâm quốc tế không phải sự “bốc đồng” của các nhà khoa học. “Ngày nay, nhiều trung tâm nghiên cứu hạt nhân lớn như CERN, DESY (Đức), Diamond Light Source (Anh)… đã được biết đến như những trung tâm nghiên cứu liên ngành  quy tụ các nhóm hợp tác thực hiện những thí nghiệm có thể đem đến những hiểu biết mới cho khoa học cũng như thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội”, TS. Trần Chí Thành nhận xét.   Đào tạo nguồn nhân lực theo chính sách mới  Câu chuyện đào tạo nhân lực cho lò phản ứng nghiên cứu mới cũng như cho các kế hoạch khác của Việt Nam tại Dubna đang được GS.TS. Lê Hồng Khiêm cân nhắc để nâng cao hiệu quả đào tạo. Nhìn lại toàn bộ quá trình Việt Nam tham gia Dubna kể từ năm 1956, ông cho biết, “thông thường, các cán bộ Việt Nam được cử sang đó học trong thời gian lâu là vài ba năm, ngắn là 6 tháng. Quãng thời gian này so với công việc nghiên cứu khoa học là quá ngắn, khi còn chưa hiểu được công việc và vận hành được thiết bị thí nghiệm thì đã hết hạn làm việc”.   Mặc dù hiện nay, số lượng người Việt Nam ở Dubna đã tăng trở lại, mỗi năm chừng 40 đến 50 người, nhưng “các nhà khoa học Việt Nam chưa từng chủ trì một đề tài nghiên cứu nào, cũng chưa đủ năng lực và uy tín để được bầu làm trưởng nhóm nghiên cứu ở đó”, ông nhận xét.   Trong khi đó, với quan điểm coi Dubna là một cơ sở làm việc của chính mình, nhiều quốc gia thành viên khác như Mông Cổ, Cuba, Rumania… thường xuyên cử người “cắm chốt” tại đây trong khoảng thời gian rất dài từ 20 đến 30 năm, có thể chủ động khai thác các trang thiết bị hiện đại tương đương với thiết bị ở CERN, RIKEN… để thực hiện các nghiên cứu riêng và “đảm trách nhiều vị trí quan trọng như giám đốc, phó giám đốc các phòng thí nghiệm hoặc trưởng nhóm nghiên cứu”. Lúc này, Việt Nam “chỉ có thể làm được một việc là tham gia vào các nhóm nghiên cứu của chính họ”, GS.TS. Lê Hồng Khiêm chia sẻ.   Lý giải sâu hơn về vấn đề này, ông cho biết, thông thường các hệ thiết bị tại các phòng thí nghiệm lớn như PTN vật lý năng lượng cao Veksler&Baldin, PTN Các vấn đề hạt nhân Dzhelepov, PTN Vật lý neutron Frank, PTN Các phản ứng hạt nhân Flerov… đều có quy mô lớn và kết cấu phức tạp nên “trong vòng 5 năm thì chưa đủ hiểu biết để nắm được rành rẽ các quy trình vận hành. Đặc biệt, các thí nghiệm vật lý hạt nhân hiện đại thường được chia thành nhiều giai đoạn, nên nếu sang thì tôi cũng chỉ thực hiện được mảng công đoạn sau thí nghiệm là phân tích phản ứng hạt nhân, còn toàn bộ công việc phía trước do những nhóm khác làm”.  Do vậy, GS.TS. Lê Hồng Khiêm cho rằng nên áp dụng một giải pháp mà ông cho là hợp lý: học hỏi cách làm của các quốc gia khác và thay đổi chính sách khai thác Dubna bằng việc cử nhiều người đi học tập và nghiên cứu dài hạn, hướng tới thời gian trên 10 năm. Theo ông, “Việt Nam cần có những người khá ở đó và có vị trí thực sự ở đó làm nòng cốt cũng như cầu nối công việc nghiên cứu với người ở trong nước. Nếu chúng ta chỉ cử người sang đó ngắn hạn thì không bao giờ làm được như vậy”.  Khi đảm nhiệm vai trò đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Dubna, ông cố gắng từng bước thay đổi quan điểm bằng việc gợi ý với những cán bộ trẻ triển vọng, đa dạng hóa các lĩnh vực nghiên cứu, không chỉ dừng lại ở vật lý hạt nhân hay hóa phóng xạ mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như khoa học vật liệu, sinh học, dược phẩm, môi trường…, vốn là những lĩnh vực đang được nghiên cứu rất nhiều ở Dubna hiện nay. “Chúng tôi đã bắt đầu tổ chức một số dự án nghiên cứu nhỏ, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu ở các Viện Vật lý, Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Viện NLNT Việt Nam, trường đại học Duy Tân, trường đại học Thái Nguyên… sang đó nghiên cứu về các tính chất của vật liệu nano mới, ô nhiễm kim loại nặng trong không khí bằng chỉ thị sinh học hay tính năng của loại dược chất mới…”, ông giới thiệu về một số dự án mới đang được triển khai ở Dubna.  Tuy nhiên, GS.TS. Lê Hồng Khiêm cũng thừa nhận, những công việc nghiên cứu này mới chỉ là một phần của chính sách khai thác, “điều quan trọng nhất là phải có những người thực sự gắn bó với Dubna từ cỡ 15 năm trở lên”. Đây là việc khó thực hiện, bởi hiện tại, nhiều cán bộ trẻ của Việt Nam thường chọn những điểm đến hấp dẫn khác như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu… bởi lo ngại về học bổng, chương trình đào tạo và rào cản ngoại ngữ. “Họ không biết rằng Dubna là một trong bốn viện nghiên cứu được Nga đặc cách cho bảo vệ tiến sĩ với tiêu chuẩn từ 5 đến 7 bài báo ISI và có thể sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, làm việc. Bên cạnh đó, còn có những cơ chế ưu đãi về lương bổng, nơi ăn ở và điều kiện làm việc, học tập của người nhà”, ông nhấn mạnh đến những điểm mới trong chính sách của Dubna với các cán bộ trẻ.   Việc có thực thi được chính sách này hay không, theo nhìn nhận của ông, còn phụ thuộc vào quan điểm về về phát triển tiềm lực KH&CN của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt của Bộ KH&CN và Viện Hàn lâm KH&CN. “Hiện một nhóm các cán bộ trẻ Việt Nam đang được đào tạo ở Dubna. Nếu triển khai được chính sách mới thì sau 10 đến 15 năm tới, họ chính là những nhà nghiên cứu nòng cốt của Việt Nam ở nhiều lĩnh vực KH&CN”, ông dự báo về hiệu quả mà chính sách mới hứa hẹn mang lại. □  Việc thắt chặt hợp tác với Dubna trong nghiên cứu và đào tạo hứa hẹn rất nhiều cơ hội cho Việt Nam, đặc biệt khi mối hợp tác giữa Dubna với quốc tế ngày một mở rộng. Trong phiên họp đại diện toàn quyền các quốc gia, Bộ trưởng Bộ KHCN và Giáo dục đại học Nga Mikhail Kotyukov đã thông báo, Dubna mới ký kết một biên bản ghi nhớ với CERN về siêu dự án NICA (Nuclotron-based Ion Collider fAсility) – một hệ phức hợp máy gia tốc để có thể nghiên cứu về các đặc tính của vật chất baryon đậm đặc (dense baryonic matter) đi kèm với một phòng thí nghiệm về các vật chất ở trạng thái đặc biệt có trong vũ trụ, vốn chỉ tồn tại trong thời gian cực ngắn sau Big Bang (the Quark-Gluon Plasma QGP).    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang HOPE: Một siêu dự án của UAE      Với tàu vũ trụ mang tên Hi vọng (Hope), chương trình khám phá sao Hỏa được kỳ vọng sẽ đem lại bước tiến khoa học lớn đầu tiên cho Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE).       Trong phòng sạch của Trung tâm vũ trụ, các kỹ sư đã sẵn sàng đóng gói con tàu vũ trụ để chuyển tới Nhật Bản. Nguồn: Natalie Naccache/Nature.  Năm 2004, khi UAE loan báo có thể sẽ phóng một tàu vũ trụ tới khám phá sao Hỏa trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập nước (tháng 12/2021), chương trình này có vẻ như một vụ cá cược về thiên văn học. Tại thời điểm đó, họ chỉ mới phóng một vệ tinh đầu tiên và còn chưa có một cơ quan vũ trụ hay nhà khoa học nào nghiên cứu về các hành tinh. Để thực hiện nhiệm vụ này, một nhóm kỹ sư với độ tuổi trung bình 27 đã được tập hợp một cách nhanh chóng. “Các cậu vẫn chỉ là một nhóm trẻ ranh. Làm cách nào mà các cậu lên được tới sao Hỏa?”, kỹ sư máy tính Sarah Al Amiri, người dẫn dắt dự án, vẫn còn nhớ lại nỗi băn khoăn khi nhận nhiệm vụ.   Sáu năm trôi qua, giờ đây Al Amiri cảm thấy tự hào và khâm phục với những thành tựu đã đạt được của kế hoạch chinh phục sao Hỏa: con tàu vũ trụ với kích thước bằng chiếc ô tô đã được lắp đặt một cách hoàn thiện và đang trải qua các bài kiểm tra. Trong căn phòng sạch và sáng bừng ở Trung tâm Vũ trụ Mohammed bin Rashid (MBRSC) ở Dubai, các kỹ sư kiểm tra tàu vũ trụ trước khi chở đến Trung tâm Vũ trụ Tanegashima ở Nhật Bản vào giữa tháng bảy.  Nhiệm vụ sao Hỏa Các vương quốc Ả Rập (EMM) sẽ là chuyến du hành liên hành tinh đầu tiên của thế giới Ả Rập. Một khi tới được hành tinh đỏ vào tháng hai năm 2021, con tàu mang tên Hi vọng (hoặc Amal ở Arabic), sẽ có nhiệm vụ lập ra bản đồ toàn hành tinh đầu tiên bầu khí quyển sao Hỏa. Và cũng như các nhiệm vụ vũ trụ thông thường khác, EMM sẽ cung cấp dữ liệu mà mình thu thập được cho cộng đồng khoa học quốc tế mà không đòi hỏi điều kiện nào.  Quá trình sáu năm từ phóng các vệ tinh vào quỹ đạo Trái đất đến nhiệm vụ khám phá vũ trụ lớn như thế này là “không thể tin được”, Brett Landin, một kỹ sư tại trường Đại học Colorado Boulder, người dẫn dắt nhóm làm con tàu này, nói. UAE thuê ông qua một chương trình hợp tác, trong đó nhóm nghiên cứu ở trường Colorado hỗ trợ cả phần cố vấn và chuyên môn thiết kế. “Trước đây, tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất kỳ điều kỳ diệu nào như thế này”, Landin cho biết thêm.  Nhưng với những người Ả Rập, các mục tiêu khoa học không gian chỉ là đích đến thứ nhì. Đối mặt với những thách thức kinh tế và môi trường, quốc gia vùng Vịnh có diện tích nhỏ và giàu trữ lượng dầu mỏ hi vọng dự án sao Hỏa có thể sẽ giống như kế hoạch xây dựng những bến cảng và đại lộ trước đó. Nhiệm vụ sao Hỏa là một siêu dự án được thiết kế vì “một cuộc chuyển đổi lớn lao trong nhận thức”, Omran Sharaf, người quản lý dự án nói. “Nó không hẳn là khoa học không gian mà là kinh tế”, ông nhấn mạnh.  Công việc tiến triển từng ngày, Al Amiri nói. Bà hiện giờ là Bộ trưởng Bộ Các khoa học tiên tiến của UAE. Bà đã tập hợp được một nhóm các nhà khoa học liên hành tinh, những người “tái lập trình” các kỹ sư. Rất may là các trường đại học hàng đầu UAE những năm gần đây đã mở các khóa đào tạo mới về thiên văn, vật lý và những ngành khoa học cơ bản khác. 34% thành viên của nhóm kỹ sư và 80% các nhà khoa học thực hiện nhiệm vụ là nữ. Chính phủ UAE hiện đang  nghĩ đến các nhiệm vụ Mặt trăng trong tương lai và cân nhắc việc thiết lập một chương trình học bổng cấp kinh phí cấp quốc gia đầu tiên.  Nếu các nhiệm vụ lớn có thể thúc đẩy cuộc chuyển đổi kinh tế của đất nước thì có thể sẽ đạt được thành quả lớn hơn cả việc có được dữ liệu từ sao Hỏa. Đến được sao Hỏa là quan trọng, Al Amiri nói, nhưng “điều chúng tôi nhận được ở đây thậm chí còn quan trọng hơn”.  Vượt khỏi những mỏ dầu  Nhiều điều ở UAE mới đến mức người ta cảm thấy đang ở thời tương lai. Nhưng để có được Burj Khalifa ở Dubai – tòa nhà cao nhất thế giới – và hệ thống tàu điện ngầm không người lái, đất nước này phải đi một con đường dài từ điểm xuất phát là đất nước của một nhóm các cộng đồng dân cư nghèo từ nhiều bộ lạc riêng rẽ cùng tập hợp lại trong làn sóng đòi quyền độc lập từ Anh vào năm 1971. Kể từ đó, sự thịnh vượng từ dầu mỏ và những dự án cơ sở hạ tầng táo bạo đã giúp cho quốc gia sa mạc này thành một trung tâm thế giới về thương mại, vận tải biển, du lịch và một trong những quốc gia giàu nhất thế giới, nếu tính trên bình quân đầu người. “Mọi thứ mà UAE đã làm kể từ ngày đó là để sống sót”, Sharaf nói.  Nhưng chính những thứ giúp cho các thành phố lớn của UAE thịnh vượng đã bị ảnh hưởng bởi một loạt những đổ vỡ kinh tế và cả Mùa xuân Ả Rập. Một số khía cạnh của sự thịnh vượng từ dầu mỏ cũng tạo ra những hệ lụy dài hạn, đặc biệt là những công việc được chính phủ trả lương cao và những khoản hỗ trợ hào phóng cho một lượng công dân chỉ chiếm 12% dân số (phần lớn là người nhập cư). Trong khắp Vùng Vịnh, các yếu tố đó khiến cho những vị trí việc làm ở công ty khởi nghiệp, các công ty tư nhân hoặc công việc nghiên cứu trở nên ít hấp dẫn hơn. Dẫu đã nổi tiếng với những mục tiêu ngoạn mục và các ưu đãi với công dân của mình nhưng UAE cũng ngày một trở nên ít tham vọng hơn, Jon Alterman, Giám đốc Chương trình Trung Đông của Trung tâm Chiến lược và nghiên cứu quốc tế tại Washington DC, nói. “Chính phủ đã cố gắng trong nhiều năm để tạo ra cả cách thức thay thế và khuyến khích việc thay thế để thúc đẩy người dân khao khát làm điều gì đó vượt xa công việc hưởng lương chính phủ không cần quá nhiều đến nỗ lực”, ông cho biết.     Muna Al Hammadi, một kỹ sư chính của dự án, thảo luận kế hoạch với các kỹ sư khác ở một trong những phòng thí nghiệm của Trung tâm vũ trụ. Nguồn: Natalie Naccache/Nature.  Đất nước này không chỉ muốn thôi dựa vào dầu mỏ mà còn đối mặt với nhiều thách thức lớn trong việc cung cấp nguồn lương thực và nước đủ dùng cho người dân. Những người mới có xu hướng làm kỹ thuật hoặc thương mại, chỉ có 5% theo các ngành khoa học cơ bản hoặc học lên tới tiến sĩ. Dữ liệu từ Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc cho thấy trước năm 2010, quốc gia này không đào tạo ra một tiến sĩ nào – và trong năm 2017, các nghiên cứu sinh ít hơn 0,8% những người đã tốt nghiệp PTTH, bằng một nửa số các quốc gia Ả Rập. Và dẫu lượng nữ tăng lên 60% tổng số sinh viên đại học và 41% lực lượng trong lĩnh vực STEM, việc chuyển những tài năng này vào nguồn nhân lực, đặc biệt trong khoa học, vẫn còn là một thách thức.  Ý tưởng dùng nhiệm vụ Sao Hỏa để tạo ra các công việc khoa học và truyền cảm hứng cho người trẻ đến từ những người lãnh đạo đất nước – nội các chính phủ. Cuối năm 2013. Sharaf, sau đó là một trong số ít kỹ sư vệ tinh của đất nước, đã nhận được một cú điện thoại từ chính Mohammed Bin Rashid Al Maktoum – Phó Tổng thống, Thủ tướng UAE, nói với anh, về việc đất nước có thể tới sao Hỏa vào năm 2021.  Một nhiệm vụ khám phá sao Hỏa phức tạp gấp nhiều lần hơn việc đặt một vệ tinh vào quỹ đạo tầm thấp của Trái đất, Al Amiri nói, và về mặt lịch sử thì một nửa các chuyến đi tới sao Hỏa đều thất bại. Một thiết bị khám phá sao Hỏa cần được tự động hóa phần lớn để phù hợp với việc gián đoạn liên lạc với Trái đất (khoảng 22 phút). Nó phải có khả năng sống sót trước những lực phóng cực lớn và được gắn động cơ đẩy phức tạp và các hệ định vị tinh vi để vào đến được quỹ đạo sao Hỏa, không ai ở UAE có chuyên môn trong những lĩnh vực đó.   Vì vậy, đất nước này đã trải thảm đỏ mời chuyên gia nước ngoài, thuê những tay lão luyện từng kinh qua các nhiệm vụ của NASA, chủ yếu làm việc tại trường Đại học Colorado Boulder, để làm việc cùng với mình và cung cấp các khóa đào tạo theo cách gửi một tàu thăm dò tới một hành tinh khác. Landin, người phụ trách nhóm quốc tế phát triển tàu vũ trụ gồm 45 thành viên của nhiệm vụ này, nói vào thời điểm bắt đầu, ông nghe thấy nhiều người ngụ ý là UAE có thể chỉ đơn thuần là ‘mua đường’ vào vũ trụ. “Hoàn toàn chỉ là phỏng đoán mà không có bất cứ câu hỏi nào đặt ra về việc nhiệm vụ này diễn ra như thế nào”, ông nói.  Sharaf đã trao đổi với cố vấn của mình là “làm tàu vũ trụ chứ không phải mua nó” nhằm xây dựng kỹ năng của chính UAE. Vì vậy dưới sự dẫn dắt của Sharaf, các kỹ sư Mỹ và UAE đã làm việc cùng nhau mọi công việc phát triển nhiệm vụ, từ thiết kế đến chế tạo, với công việc được thực hiện không chỉ tại Boulder, mà còn tại MBRSC. Rất nhiều kỹ sư của UAE, một số phải sống xa gia đình trong khoảng thời gian sáu tháng, để tới trải nghiệm ở dãy núi Rocky, bao gồm cả trượt tuyết và cắm trại. Việc những người UAE trẻ tuổi học tập và làm việc trong một môi trường buộc phải chấp nhận rủi ro trong những năm đầu ở NASA đã gặt hái được nhiều lợi ích của một nhiệm vụ mà theo Landin, người lão luyện ở cơ quan không gian này với nhiều nhiệm vụ, trong đó có hai xe tự hành trên sao Hỏa, là “kích thích bậc nhất trong tất cả những thứ tôi từng làm trong sự nghiệp của mình”.  Sharaf từ chối tiết lộ tổng kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ bởi theo ông, chỉ được tiết lộ toàn bộ kinh phí cho kế hoạch này khi Hope bay vào quỹ đạo sao Hỏa. Ông nhấn mạnh, dẫu sao thì tốc độ của kế hoạch sáu năm ‘bay vòng quanh’ không chỉ là kết quả của việc đầu tư một số tiền lớn mà quan trọng nhất là sự hỗ trợ của lãnh đạo đất nước để tạo ra các quyết định xoay chuyển tình thế, Sharaf nói.   Các mục tiêu khoa học  Với các mục tiêu khoa học của mình, UAE tham gia Nhóm Phân tích khoa học khám phá sao Hỏa, một diễn đàn quốc tế do NASA dẫn dắt, đồng ý về các khoảng trống hiểu biết để giải quyết trong tương lai với các nhiệm vụ sao Hỏa. “Điều quan trọng với chúng tôi là phù hợp với một lĩnh vực khoa học không chỉ liên quan với UAE mà còn cả cộng đồng khoa học toàn cầu”, Al Amiri nói.    Các kỹ sư trẻ tham gia nhiệm vụ đã trưởng thành theo thời gian. Nguồn: Natalie Naccache/Nature.  Nhóm EMM sau đó đã lựa chọn các thiết bị và một quỹ đạo có thể làm đầy khoảng trống hiểu biết lớn: bầu khí quyển sao Hỏa thay đổi theo các chu kỳ của ngày và mùa như thế nào. Nó sẽ có một lộ trình rộng và khác biệt, vì vậy sẽ là thí nghiệm đầu tiên để đem lại một bức tranh toàn diện về khí quyển sao Hỏa với mây, khí, bão bụi, trong cả ngày chứ không chỉ là những thời điểm hoặc vị trí đơn lẻ. Dữ liệu từ nhiệm vụ này sẽ được mở để cho mọi người truy cập và nghiên cứu.  Lootah hi vọng sẽ sớm có những sinh viên các ngành khoa học tham gia nhóm. Hiện số lượng thành viên  của MBRSC đã tăng từ 70 lên hơn 200 và trung tâm thường xuyên gửi các nhà nghiên cứu ra nước ngoài để trao đổi cũng như nhận sinh viên các ngành khoa học đến thực tập.  Nhiều sinh viên thực tập đến từ các trường đại học mới bắt đầu khởi động chương trình đào tạo khoa học trong những lĩnh vực liên quan. Năm trường đại học mới mở các khóa khoa học cơ bản: ví dụ, trường đại học Mỹ  Sharjah bắt đầu nghiên cứu vật lý ở bậc đại học và trường Đại học Khalifa ở Abu Dhabi đã bắt đầu có chương trình đào tạo kỹ thuật hàng không vũ trụ còn Trung tâm KH&CN vũ trụ quốc gia (NSSTC) thành lập vào năm 2016 tại trường Đại học UAE ở Al Ain đã nhanh chóng trở thành một nguồn đón nhận người làm các ngành nghiên cứu liên quan.  Và nhiệm vụ sao Hỏa đang hỗ trợ việc định hướng thu hút sự quan tâm đến các chủ đề STEM, Belhoul nói. Việc ghi danh các công dân UAE vào các khóa đào tạo của các trường STEM đã tăng lên khoảng 12% một năm, gấp sáu lần xu hướng ghi danh chung, đặc biệt phụ nữ tăng cao nhất.  Mối quan tâm đến vũ trụ đang trải rộng khắp vùng này, sau khi Hazza Al Mansouri, du hành gia đầu tiên của UAE và từng tới Trạm vũ trụ quốc tế năm 2019. Đầu năm đó, UAE mới loan báo có thể lập một nhóm hợp tác gồm 11 quốc gia Ả Rập để xây dựng một vệ tinh giám sát khí hậu tại NSSTC. Kể từ năm 2014, Saudi Arabia và Bahrain cũng bắt đầu thành lập các cơ quan vũ trụ. EMM là phần phô ra dễ thấy của một định hướng rộng hơn để quảng bá về nghiên cứu của UAE. Với những kế hoạch bắt đầu vào năm 2017, đất nước này nhằm mục tiêu tăng lên gấp ba số lượng các nhiên cứu sinh trong nước vào năm 2030, vốn được hoàn thiện bằng việc đón các nhà nghiên cứu từ nước ngoài đến thông qua một chương trình visa vô cùng cởi mở.  Bộ Giáo dục hi vọng vào cuối năm nay, nội các chính phủ sẽ chấp thuận cho đề xuất tạo một quỹ đầu tư có cạnh tranh cấp quốc gia với kỳ vọng sẽ là chất xúc tác cho sự tăng trưởng của khoa học bằng việc cung cấp hỗ trợ dài hạn, bền vững cho nghiên cứu khắp các trường đại học, bao gồm cả tiền để thu hút các học giả từ nước ngoài. Một thử nghiệm trong vòng bốn năm với tổng kinh phí 100 triệu dirham (27 triệu USD) đã được khởi động theo cách này, cung cấp các khoản tài trợ với thời gian thực hiện trong nhiều năm cho các chương trình nghiên cứu có chọn lọc, và vòng tài trợ tiếp theo “sẽ còn lớn hơn”, Belhoul nói.  Việc đầu tư cho R&D theo GDP của UAE đã tăng lên từ 0,5% vào năm 2011 đến 1,3% vào năm 2018, và đang trên đà đạt tới mục tiêu 1,5% vào cuối năm tới. UAE có những kế hoạch lớn để giữ được đà nghiên cứu không gian. Đó là việc lập kế hoạch xây “một thành phố khoa học sao Hỏa’ bên ngoài Dubai, vốn sẽ dành cho các hoạt đống nghiên cứu và giáo dục cũng như giải trí. Và giống như nhiều quốc gia khác, UAE cũng đang xem xét việc phóng tàu vũ trụ, và có lẽ cả con người, lên Mặt trăng.  Nhiều nhà khoa học trên thế giới hào hứng với dự án thám hiểm vũ trụ của UAE. “Tôi thích việc lắng nghe cả nhóm bàn thảo về việc tại sao họ lại thực hiện nhiệm vụ này, về việc chứng kiến một mục tiêu  có khả năng truyền cảm hứng và hi vọng khắp Trung Đông như vậy”, Danielle Wood, chuyên gia về kỹ thuật và chính sách hàng không vũ trụ tại MIT, nói.  Một kế hoạch khác do chính phủ thiết lập là định cư trên sao Hỏa – dẫu cho có thể chưa thực hiện trước năm 2117. “Chúng tôi vẫn giữ khát vọng tới sao Hỏa của mình còn Mặt trăng là bước quan trọng để đến được đó”, Belhoul nói. Ngay cả khi việc loan báo như vậy có “thêm thắt” một chút quảng cáo thì nhiệm vụ Hope vẫn hữu ích cho UAE, Kristian Coates Ulrichsen, nhà sử học về vùng Vịnh tại trường Đại học Rice tại Houston, Texas. Nó sẽ góp phần đem lại một thế hệ KH&CN mới của Dubai, vốn là một bước trên con đường đa dạng hóa nền kinh tế, ông nói.  Cho đến nay, các thành phố lớn UAE không gặp khó khăn gì khi thu hút tài năng từ khắp mọi nơi trên thế giới trong lĩnh vực thương mại, nhưng học thuật có thể “khó nhằn” hơn.  Coates Ulrichsen cảnh báo là bất chấp việc UAE tự coi mình là một xã hội khoan dung và tự do (thậm chí còn có một Bộ Khoan dung), chính phủ – một trong số ít chế độ quân chủ liên bang còn lại trên thế giới – đã khắt khe hơn với những tiếng nói phản biện kể từ Mùa xuân Ả Rập năm 2011, ông nhận xét.    Tàu vũ trụ Hi vọng được đưa lên một máy bay chở hàng vào tháng 4 vừa qua để chuyển đến Trung tâm Vũ trụ Tanegashima, Nhật Bản. Nguồn: MBRSC.  Các nhà khoa học đã lảng tránh những vấn đề chính trị để khỏi gặp rắc rối, ông nói. Nhưng những nhà nghiên cứu có quan điểm nhạy cảm về chính trị hoặc đi ngược lại quan điểm của các cơ quan chính phủ UAE đều có nguy cơ bị bắt giữ. “Theo những gì có thể được nói và không được nói thì UAE là một trong những xã hội có sự giám sát chặt chẽ nhất thế giới”, ông nói.   Việc duy trì đà mở rộng năng lực khoa học hiện nay có thể gặp khó khăn bởi nền kinh tế UAE đã phải vật lộn để phát triển ngay cả trước khi kinh tế suy thoái và việc mua bán dầu mỏ chững lại trong đại dịch Covid-19. Alterman cho rằng, đất nước này đã có một tiến triển khác thường nhưng mặt khuất của tham vọng lớn có thể chính là cái thiếu năng lực duy trì sự tăng trưởng đó tiếp tục bất chấp khó khăn.   Đầu năm nay, các thành viên ban cố vấn quốc tế của EMM đã trao đổi với Al Amiri năm 2015, họ đã từng hoài nghi về việc nhiệm vụ này có thể hoàn thành, dẫu cho họ không nói với bà. Nhưng Al Amiri đã quen với cảm giác bị coi là kẻ yếu thế. “Chúng tôi là một quốc gia mới bước vào cuộc cạnh tranh trên toàn cầu. Đương nhiên là mọi người đều nghĩ điều mà chúng tôi làm là điên rồ”, bà nói. Một quốc gia không thể tiến bộ một cách nhanh chóng như UAE mà lại không có những dự án táo bạo. “Với chúng tôi, đó không phải là một sự sang chảnh, không phải là một thứ quảng cáo tên tuổi. Đó hoàn toàn là điều cần thiết để phát triển kỹ năng và năng lực và phát triển thành một quốc gia toàn diện”. □  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-020-01862-z/index.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Hướng tới lấy doanh nghiệp làm trung tâm      Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 được khởi đầu thực hiện trong bối cảnh Việt Nam bước vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm năm (2011 – 2015), khi đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và bước đầu gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình.      Cần có chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu khoa học.  Sau năm năm thực hiện Chiến lược, với các đóng góp thiết thực của KH&CN, nền kinh tế tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế còn thấp, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn ở cận dưới của mức trung bình thấp. Mô hình tăng trưởng dựa vào gia tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo đã không còn thích hợp.  Bước sang giai đoạn 2016-2020, khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tác động đa chiều của toàn cầu hóa, tự do hoá thương mại và sự phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết của KH&CN thế giới sẽ mang lại cơ hội đồng thời là thách thức rất lớn cho các quốc gia đi sau như Việt Nam.  Để thúc đẩy tăng trưởng GDP đạt mức7-8% một năm như đã đề ra trong Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020, Việt Nam sẽ phải dựa nhiều hơn vào tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, việc tăng năng suất phải được thực hiện thông qua các quá trình và sản phẩm được tạo ra từ khả năng đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, Việt Nam cần có giải pháp thúc đẩy năng lực chế tạo và hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp nội địa để đóng góp đáng kể cho việc sản xuất, xuất khẩu sản phẩm ứng dụng công nghệ cao; cụ thể, cần thực hiện các chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ từ các nước có công nghệ tiên tiến trên thế giới cho các doanh nghiệp trong nước; xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, thông qua chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cải thiện hạ tầng KH&CN và môi trường kinh doanh để thúc đẩy các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư chuyển giao công nghệ và triển khai hoạt động thiết kế, chế tạo tại Việt Nam thay vì tăng cường gia công, lắp ráp thâm dụng lao động giá rẻ.  Định hướng phát triển này được đề xuất nhằm hạn chế những điểm yếu hiện tại của hệ thống KH&CN và đổi mới sáng tạo của Việt Nam, đồng thời, chuẩn bị đối mặt với những nguy cơ trong thời gian tới. Đây cũng là cách mà các nước đi trước như Hàn Quốc đã thực hiện thành công trong giai đoạn phát triển về KH&CN tương ứng với Việt Nam hiện tại.  Việt Nam cần phải có những chiến lược dài hạn với tầm nhìn xa để không chỉ thu lại hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn đón đầu sự phát triển kinh tế trong tương lai. Bên cạnh đó, trong hoạt động R&D, các bộ, ngành cùng với các tổ chức KH&CN cần phải vạch ra các giải pháp cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Những việc cần làm hiện nay đối với Việt Nam là phải dành nhiều nguồn lực hơn nữa cho hoạt động đổi mới sáng tạo, cân bằng lại hệ thống đổi mới sáng tạo bằng cách đặt doanh nghiệp ở trung tâm, điều phối các hoạt động KH&CN của các nhân tố nhà nước, đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp tự xây dựng năng lực và cam kết nguồn lực lớn hơn cho đổi mới sáng tạo. Cụ thể, cần xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước tăng cường năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, tích cực tham gia vào môi trường hợp tác và cạnh tranh quốc tế, chủ động làm việc với các tập đoàn đa quốc gia để tiếp thu công nghệ, phát triển các giải pháp, quy trình và sản phẩm mới.  Cũng cần phải nhắc đến sự xuất hiện của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư khi nói đến những định hướng phát triển cho KH&CN trong giai đoạn này. Sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học tạo ra những khả năng hoàn toàn mới, có tác động sâu sắc tới các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới, có thể có những tác động vô cùng to lớn đến các doanh nghiệp, các chính phủ, đến thị trường lao động, và trực tiếp đến người dân. Như vậy, sẽ cần chuẩn bị ngay những chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng KH&CN đối với các doanh nghiệp Việt Nam để khai thác được các cơ hội cũng như đối mặt với các thách thức từ Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Trước hết, đó là những chính sách khuyến khích phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao và ứng dụng một số công nghệ mới, áp dụng hệ thống quản lý, quản trị theo xu thế của cuộc cách mạng này; cũng như những chính sách và chiến lược mới về phát triển ngành tự động hóa và công nghệ cao, cụ thể những lĩnh vực chuyên sâu như vật liệu nano, năng lượng và tính toán lượng tử, trí tuệ nhân tạo.  ———–  * PGS. TS, Chánh Văn phòng Bộ KH&CN.    Author                Bùi Thế Duy        
__label__tiasang Hướng tới một nền văn hóa khoa học mạnh      Hiện nay, chúng ta có một thế hệ các nhà nghiên cứu mới trong các trường đại học và các tổ chức khoa học, những bạn trẻ sinh ra trong thời kỳ Đổi mới đang khát khao cống hiến những nghiên cứu có chất lượng đủ tầm vươn ra thế giới. Thách thức đối với chúng ta là phải tìm cách phát huy tốt nhất tài năng, nhiệt huyết, năng lượng của thế hệ mới này.    Trong một số bài viết trước, tôi đã từng đề cập đến thực tế trong ngành vật lý hạt nhân, nay xin đưa ví dụ trong các lĩnh vực vật lý hạt thực nghiệm và thiên văn học quan sát. Đây là những ngành có ít nhà khoa học tham gia nghiên cứu đúng nghĩa – tức là tự tiến hành nghiên cứu và công bố kết quả trên các tạp chí khoa học quốc tế – nhưng nếu nhìn vào danh sách các nhà khoa học đoạt giải Nobel trong khoảng ba thập kỷ gần đây, ai cũng thấy rằng vật lý hạt thực nghiệm và thiên văn học quan sát nằm trong số các lĩnh vực sôi động và thành công nhất của vật lý hiện đại: chúng đặt ra những câu hỏi cơ bản còn chưa có lời đáp của vật lý hiện đại. Vậy mà, trong nền nghiên cứu cơ bản của Việt Nam hoàn toàn vắng bóng hai lĩnh vực này.  Khó khăn khởi điểm ở đây là làm sao để các nhà làm chính sách khoa học được nghe ý kiến từ những nhà khoa học trong hai lĩnh vực kể trên, những chuyên gia đủ am hiểu với cái nhìn khách quan không thiên kiến. Cộng đồng khoa học Việt Nam thuộc hai lĩnh vực này quá nhỏ để chọn ra các nhà khoa học như vậy. Vì thế, giải pháp duy nhất là mời các chuyên gia quốc tế. Từ trải nghiệm của mình, tôi đã thấy các hội đồng khoa học được hưởng lợi ích rất lớn nhờ sự tham gia của các chuyên gia quốc tế, ở đây tôi muốn nói đến những người có uy tín quốc tế, giàu kinh nghiệm hoạt động trong các hội đồng ở quốc gia họ cũng như ở các quốc gia khác, đồng thời am hiểu tình hình khoa học, học thuật của Việt Nam, và có nhận thức rõ về vai trò của mình là phụng sự cho khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế là ở Việt Nam người ta thường ngại nghe tư vấn từ các chuyên gia quốc tế. Các nhà quản lý còn thiếu sự tin tưởng vào các nhà khoa học trong nước, đồng thời lại quá tự tin vào năng lực ra quyết định của mình trong việc sử dụng các nguồn lực [nhà nước dành cho khoa học]. Lẽ ra, ta phải làm điều ngược lại, đó là tin tưởng rằng thế hệ trẻ của đất nước là những người tài năng, chuyên nghiệp, nghiêm túc, cần cù, đồng thời nhận thức rõ những điểm yếu tồn tại trong việc đưa ra các chính sách khoa học, trong các quyết định mua sắm trang thiết bị, và trong xác lập các định hướng nghiên cứu cơ bản.      Thúc đẩy một nền văn hóa khoa học thực thụ nghĩa là loại bỏ đi tất cả những hiểu sai nói trên, thay thế chúng bằng sự nghiêm túc trong học thuật và đạo đức, đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chăm chỉ, và cống hiến hết mình vì khoa học. Muốn thế thì tất yếu chúng ta phải khôi phục sự tôn trọng dành cho tri thức, tài năng, kỹ năng, kinh nghiệm.      Ở Việt Nam, các nhà quản lý còn thiếu sự tin tưởng vào các nhà khoa học trong nước, đồng thời lại quá tự tin vào năng lực ra quyết định của mình trong việc sử dụng các nguồn lực [nhà nước dành cho khoa học].  Do thiếu chuyên gia tư vấn giàu năng lực, xu hướng tự nhiên của các nhà quản lý là dựa vào các tiêu chí như số lượng công bố khoa học trên các tạp chí ISI, các chỉ số trích dẫn, những công cụ có thể được sử dụng bởi những ai không am hiểu chuyên môn các ngành khoa học. Thậm chí với trí tuệ của robot cũng có thể vận dụng những công cụ này mà không cần sự can thiệp của con người. Như vậy sẽ tạo ra ấn tượng về sự khách quan, nhưng rõ ràng chúng ta không thể dựa vào trí tuệ kiểu robot để xây dựng các chính sách khoa học phù hợp. Hơn nữa, việc lạm dụng các công cụ nói trên sẽ làm gia tăng xu hướng hành chính quan liêu nguy hiểm.  Một cách lý tưởng, chúng ta hi vọng rằng sẽ đến lúc một bầu không khí tin tưởng lẫn nhau sẽ phổ biến trong cộng đồng khoa học, nơi không ai phải đề phòng những thủ đoạn lừa dối, nơi có sự hiện diện của những nhà khoa học chân chính, giàu kinh nghiệm, những người mà động lực chính không còn vì thành tích cá nhân, mà là vì ý thức trách nhiệm dẫn dắt huấn luyện cho các thế hệ đi sau. Chúng ta nên đặt mục tiêu hướng tới một nền văn hóa khoa học như vậy, đạt tới càng sớm càng tốt với tất cả mọi nỗ lực.  Thiếu nền văn hóa khoa học sẽ gây hậu quả là các nhà quản lý, những người mà các nhà khoa học bị lệ thuộc về mặt hành chính, lại là những người không hề có kinh nghiệm về công việc nghiên cứu cơ bản, với những hiểu sai căn bản từ khái niệm. Ví dụ, họ đo lường giá trị của một dự án nghiên cứu dựa trên chi phí thực hiện, thay vì dựa trên tỉ lệ giữa kết quả khoa học và mức đầu tư; đánh giá sai tầm quan trọng của việc khai thác các cơ sở nghiên cứu ở nước ngoài, cho rằng đầu tư vào các cơ sở trong nước có ý nghĩa nhiều hơn là tận dụng các cơ sở quốc tế; họ quên rằng trong bối cảnh hiện tại, Việt Nam nên chú trọng đầu tư cho chất xám hơn là cho trang thiết bị; đánh giá thấp tầm quan trọng của việc hỗ trợ các nhà khoa học trẻ và sinh viên tham dự các khóa đào tạo và hội thảo khoa học; không thấy hết những nỗ lực, sự vất vả, nghiêm túc cần thiết để nhà nghiên cứu trẻ có thể đưa ra công bố khoa học đầu đời của mình; không thấy hết lượng thời gian cần thiết để xây dựng một nhóm nghiên cứu; hiểu sai rằng đào tạo một nhà khoa học nghĩa là chỉ cần gửi người đó ra nước ngoài học lấy tấm bằng thạc sỹ hay tiến sỹ, không thấy rằng còn phải tiếp tục hỗ trợ họ trở về tìm được công việc phù hợp, để khoản đầu tư [cho chất xám ấy] không biến thành lãng phí, v.v.  Tất cả giới khoa học cần quan tâm đúng mức về các chính sách khoa học, về phương thức phân bổ các nguồn lực dành cho nghiên cứu cơ bản hiện nay. Về phía các nhà làm chính sách, phải đảm bảo tính minh bạch và dân chủ trong việc đưa ra các quyết định – trong khoa học không nên có bí mật – để tránh những sai lầm gây lãng phí nhân lực và tài lực.  Chúng ta hi vọng rằng sẽ đến lúc một bầu không khí tin tưởng lẫn nhau sẽ phổ biến trong cộng đồng khoa học, nơi không ai phải đề phòng những thủ đoạn lừa dối, nơi có sự hiện diện của những nhà khoa học chân chính, giàu kinh nghiệm, những người mà động lực chính không còn vì thành tích cá nhân, mà là vì ý thức trách nhiệm dẫn dắt huấn luyện cho các thế hệ đi sau. Chúng ta nên đặt mục tiêu hướng tới một nền văn hóa khoa học như vậy, đạt tới càng sớm càng tốt với tất cả mọi nỗ lực.  Nhiều lĩnh vực khoa học hiện nay, cũng giống như nhiều lĩnh vực hoạt động khác, đòi hỏi sự liên kết nhóm để có được thành công. Một nhóm nghiên cứu không chỉ là nơi tụ hợp kỹ năng của các cá nhân, mà còn là nơi những kỹ năng cá nhân ấy được nuôi dưỡng, phát huy trong sự tương trợ lẫn nhau. Cái giá phải trả là mỗi người mất đi chủ nghĩa cá nhân, chấp nhận đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; phải học lắng nghe đồng nghiệp và đối diện những quan điểm khác biệt trên tinh thần xây dựng và quảng đại. Cái giá phải trả ấy là rất nhỏ so với lợi ích mang lại.  Tuy nhiên, ở mọi quốc gia và môi trường sống, việc cưỡng lại thói quen tự nhiên trong mỗi cá nhân để thực lòng hợp tác với người khác không phải là điều dễ dàng. Trong khoa học, thường tồn tại những rào cản khó vượt qua giữa các ngành, trong nội tại mỗi ngành, hay giữa các viện nghiên cứu. Điều này càng phổ biến ở những quốc gia như Việt Nam, nơi hầu như không tồn tại văn hóa làm việc nhóm, hoặc có nhưng rất ít. Vì vậy, chúng ta rất cần nuôi dưỡng sự hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam, hay giữa các tổ chức khoa học, khuyến khích sự hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu.  Không lý gì mà chúng ta không thể bắt đầu thúc đẩy một nền văn hóa khoa học như vậy ngay từ bây giờ. Có làm được như vậy chúng ta mới có thể đưa nền KH&CN lên đúng tầm mức xứng đáng với quốc gia.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang … Hướng tới những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau và xa hơn là đóng góp vào sự phát triển ngành Hóa VN      Ngày 07-08/11 tới, Hội Thảo Hóa học và Công nghệ Hóa học – Người Việt ở nước ngoài sẽ được tổ chức tại đại học ENSAM, Paris, Pháp. Đây&#160;là một trong những Hội thảo khoa học có quy mô lớn nhất được cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam tại nước ngoài trong những năm gần đây. Nhân sự kiện này, Tia Sáng đã có bài phỏng vấn với Giáo sư (GS) Vũ Ngọc Cẩn, Đại học Công nghệ Compiègne, thành viên của Ban Tổ chức hội thảo.     Tia Sáng:  Xin GS có thể cho biết hoàn cảnh ra đời, nội dung và mục đích của Hội thảo lần này ?    GS Vũ Ngọc Cẩn: Ý tưởng tổ chức Hội thảo Hóa (HTH) 2008 được nhen nhóm sau cuộc gặp gỡ năm 2005 tại thành phố Lyon, Pháp giữa sinh viên Nhóm Hóa học Trẻ và một số trí thức Việt Nam tại Pháp. Trong cuộc gặp này, rất nhiều câu hỏi được đặt ra trong đó có vấn đề tạo ra điều kiện thuận lợi để hình thành được một mạng lưới trí thức ngành Hóa trước hết là tại Pháp, sau có thể rộng hơn. Từ mạng lưới này, chúng tôi muốn hướng đến những hoạt động hữu ích nhằm hỗ trợ lẫn nhau và xa hơn, có thể là hỗ trợ và đóng góp vào sự phát triển của ngành Hóa tại Việt Nam. Hội thảo Hóa học và Công nghệ Hóa học – Người Việt ở nước ngoài 2008 đã ra đời từ đấy. Mục đích của hội thảo lần đầu tiên này là tạo một nhịp cầu gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà Hóa học Việt Nam đồng thời trao đổi về một số chủ đề liên quan đến tình hình phát triển, xu thế mới của Hóa học và Công nghệ Hóa học. Trên cơ sở đó cùng hợp tác trong công việc, hỗ trợ nhau phát triển đồng thời từng bước có những đóng góp cho Việt Nam.  Như ông vừa nhắc đến ở trên, Hội thảo lần này có sự tham gia rất tích cực của Nhóm Hóa học Trẻ, xin ông có thể giới thiệu về Nhóm này?   Nhóm Hóa học Trẻ, được thành lập năm 2001 tại Pháp bởi các du học sinh ngành Hóa. Hiện nay nhóm quy tụ được trên 300 tiến sỹ, nghiên cứu sinh, thạc sỹ và sinh viên ngành Hóa học ở trong và ngoài nước. Nước Pháp là nơi có số lượng thành viên đông đảo nhất (khoảng 150) và là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động của Nhóm. Do đặc thù của Nhóm là các thành viên sinh sống và làm việc ở nhiều thành phố, nhiều nước khác nhau nên “Mailing-list Yahoo” là một công cụ hữu hiệu nhất giúp cho hoạt động của nhóm được liên thông, hiệu quả. Từ năm 2001 đến nay Nhóm đã tổ chức 7 lần gặp mặt thành viên ở Pháp và châu Âu, qua đó tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác giữa các thành viên.Việc phối hợp tổ chức Hội thảo Hóa học và Công nghệ Hóa học là cơ hội để mở rộng hơn nữa mối liên hệ giữa các nhà Hóa học trong và ngoài nước. Trang web http://www.hoahoctre.org/ đã được xây dựng nhân sự kiện đặc biệt này và nó sẽ được phát triển để ngày càng phục vụ tốt hơn hoạt động của Nhóm.    Xin ông cho biết một vài thông tin cá nhân của ông và một vài thành viên trong Ban Tổ chức và trong Hội đồng Khoa học?  Trong Ban Tổ chức (BTC), những bạn trẻ trong Nhóm Hóa học Trẻ là động lực chính. Đây đều là những bạn có trình độ tiến sỹ chủ yếu ở Pháp, một ở Bỉ và một ở Đức. Ngoài ra, BTC còn có 3 người chúng tôi là người Việt sinh sống lâu năm tại Pháp, có nhiều năm làm việc trong ngành Hóa. Tôi (Vũ Ngọc Cẩn) giảng dạy tại Đại học Công nghệ Compiègne (chuyên Hóa ứng dụng), GS. Vũ Quang Kính thuộc Đại học Paris 6 (chuyên về vật liệu chống ăn mòn) va GS. Lê Đoàn Trung thuộc Đại học Paris 11 (chuyên về vật liệu polymer sinh học). Đây là lần đầu tiên một HT như thế này được tổ chức. Chúng tôi đã bắt đầu từ một Ban vận động cho HT, lúc đầu chỉ là vài người, sau số lượng thành viên cứ thế tăng dần. Đa số họ đều là chuyên gia ngành hóa, tuy nhiên mối quan hệ của họ lại không chỉ giới hạn trong ngành hóa. Chính vì vậy, nhiều chuyên gia có tiếng tăm thuộc các ngành khác sau khi được nghe giải thích về mục đích và tinh thần HT, đã tự nguyện trở thành thành viên trong Ban vận động cho HT thậm chí tham gia vào Hội đồng Khoa học như GS. Phạm Xuân Yêm, Đại học Paris 6 (ngành Vật lý) hay GS. Võ Tòng Xuân, Đại học An Giang (ngành Nông nghiệp) chẳng hạn. Hiện nay, khoa học trở nên một lĩnh vực đa dạng, liên quan với nhau, bổ sung nhau, nên xu hướng và nhu cầu của khoa học là phối hợp một số ngành khác nhau, có cách nhìn khác nhau, nhưng có khả năng nảy mầm ra được ý kiến mới và phát minh độc đáo.    Quá trình chuẩn bị cho hội thảo đang diễn ra như thế nào Đã có bao nhiêu người đăng ký, nếu có thể, ông cho biết nội dung sơ lược của 1 số bài báo đã đăng ký? Những người đăng ký đến từ đâu?  Khi được thông tin về HT, nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nước đều tán thành ủng hộ.Tuy thông tin cũng rộng rãi, nhưng những đóng góp cụ thể nhất cũng từ những người chúng tôi quen biết. Ví dụ từ Việt Nam là Khoa Hóa trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội có GS Trần Thị Mỹ Linh và GS Nguyễn Văn Nội, từ Thành phố Hồ Chí Minh có GS Chu Phạm Ngọc Sơn….Chúng tôi hy vọng hội nghị lần sau sẽ có nhiều đồng nghiệp tham gia hơn, một khi đã quen biết nhau. Ngoài ra theo tôi biết, còn một lực lượng đông đảo các bạn trẻ đang học tập và làm việc ở nước ngoài được thông tin nhưng chưa có điều kiện tham dự. Với sự ủng hộ nhiệt tình như trên, quá trình chuẩn bị cho hội thảo đang diễn ra hết sức tốt đẹp và thuận lợi. Cho đến nay đã có trên 80 người (ngày 12/10) đăng ký HT. Các bài gửi tham gia chủ yếu liên quan đến các vấn đề mấu chốt trong Hóa học và Công nghệ Hóa học như các loại vật liệu mới, các phương pháp tổng hợp một số hợp chất mới, xử lý môi trường… Những người đăng ký đến từ Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Đức, Úc, Mỹ, Nhật và tất nhiên là cả từ Việt Nam.  Ông có nhận xét gì về vị thế cộng động khoa học ngành Hoá học của người Việt Nam ở nước ngoài?  Chúng tôi không có những thông tin cụ thể về mối quan hệ giữa các thế hệ các nhà Hóa học trên các nước khác ra sao. Tuy vậy tại nước Pháp, mối quan hệ chặt chẽ cũng bắt đầu hình thành, nhất là sau HTH 2008 lần này. Rất khó để đưa ra một nhận xét chính xác về vị trí của Hoá học của Việt Nam hiện nay trên bản đồ Khoa học thế giới. Riêng tại Pháp, cũng có một số nhà Hóa học gốc Việt được đồng nghiệp nước ngoài đánh giá cao. Tuy vậy theo tôi nghĩ thì tỉ lệ những người Việt thành công trong cộng đồng chúng ta chưa phải là cao so với những cộng đồng khác (cộng đồng người Hoa, người Do Thái…). Chúng tôi sẽ tổ chức những trao đổi liên quan đến chương trình giáo dục và sự phát triển ngành Hóa tại Việt Nam.  Xin ông cho một vài nhận xét về mối liên hệ giữa cộng đồng Hoá học Việt Nam với các cộng đồng các ngành khác?  Điểm này không nằm trong nội dung liên quan tới HTH 2008, tuy nhiên chúng tôi có cảm tưởng là liên hệ giữa chuyên gia kiều bào dựa trên quan hệ bạn bè nhiêu hơn là trên chuyên môn. Về chuyên môn thì kiều bào thường liên hệ với các tổ chức tại nơi họ sinh sống. Đây cũng là lẽ tự nhiên, vì họ sinh hoạt tại nơi sinh sống từ lâu. Liên hệ giữa các cộng đồng các ngành khác nhau cũng không phải dễ dàng. Nhiều kiều bào sinh sống đã lâu ở nước ngụ cư, quan hệ bạn bè thường giới hạn trong từng nhóm riêng. Họ ít quan tâm đến cộng đồng vì lẽ này hay lẽ kia, chỉ một số có ý thức tích cực thì vẫn tiếp tục. Số trí thức Việt sống ở nước ngoài có khả năng nhưng thụ động là đa số. Chúng tôi mong cơ hội gặp gỡ như HTH 2008 tạo điều kiện thuận lợi bắt đầu những kế hoạch có tầm cỡ hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động KH&CN      Sáng 21/11, tại Báo Đất Việt, Hà Nội, đã diễn ra buổi giao lưu trực tuyến với chủ đề: “Làm thế nào để huy động nguồn  lực toàn xã hội cho hoạt động KH&amp;CN”.    Tham gia giao lưu có ông Đoàn Năng, Vụ trưởng vụ Pháp chế, Bộ KH&CN; ông Trần Việt Hùng, Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA); PGS.TS Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện Tiên tiến về KH&CN, Đại học Bách Khoa Hà Nội.   Dưới đây là các câu hỏi cảu bạn đọc và phần trả lời của khách mời:  – Tôi là một người đang làm trong lĩnh vực KH&CN, xin hỏi đối với cơ chế tài chính đối với các dự án, Bộ KH&CN có nên khoán sản phẩm với mỗi dự án để các nhà làm khoa học không phải chạy vạy các hóa đơn chứng từ, các thủ tục rườm rà hay không? – (huangyuan, 34 tuổi, Nam , Lào Cai)  Ông Đoàn Năng: Để nâng cao chất lượng hoạt động khoa khọc công nghệ và đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư cho KH&CN rất cần phải có phương thức khoán đến sản phẩm cuối cùng. Vì như thế sẽ nâng cao được trách nhiệm của các nhà khoa học và công nghệ và cũng có điều kiện để lược bớt những thủ tục hành chính rườm rà đặc biệt là thủ tục trong lĩnh vực tài chính KH&CN. Ở đây tôi muốn nói là chúng ta cần quan tâm đến sản phẩm cuối cùng chứ không phải là quan tâm đến quá trình các nhà nhà KH&CN làm việc như thế nào. Nếu như sản phẩm cuối cùng đạt yêu cầu có giá trị thì chúng ta nghiệm thu, các nhà khoa học không phải lo các thủ tục phức tạp, rườm rà như trước đây. Cơ chế này cũng nâng cao trách nhiệm của bên khoán, tức là cơ quan tổ chức khoán thì phải bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cần thiết cả về kinh phí lẫn cơ sở vật chất kỹ thuật để các nhà KHCN hoạt động một cách thuận lợi đúng với cam kết.  – Được biết, Liên hiệp các Hội KH&KTViệt Nam có tham gia góp ý vào dự án Luật KH&CN sửa đổi. Vậy LHH đã có những góp ý cụ thể như thế nào. Những góp ý sửa đổi đó nhằm mục đích gì? – (Hoàng Văn Hùng, 48 tuổi, Nam , Quảng Nam, Đà Nẵng)  Ông Trần Việt Hùng: LHH Việt Nam đã tham gia đóng góp ý kiến cho dự án Luật KHCN sửa đổi ngay từ những bản dự thảo đầu tiên. Những ý kiến góp ý của các nhà KH-CN qua các cuộc hội thảo tập trung vào quan điểm xây dựng Luật KHCN, các nội dung chính của Luật KHCN. Trong đó, chú trọng đến các giải pháp tăng cuờng xã hội hoá hoạt động KHCN, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động KHCN, đặc biệt là hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ trong doanh nghiệp, thu hút lực luợng KHCN tham gia vào các hoạt động nghiên cứu KHCN và gắn nghiên cứu với thực tế kinh doanh, sản xuất. Một vấn đề cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm đó là đào tạo đội ngũ trí thức KHCN có chất luợng cao, đáp ứng đuợc yêu cầu CNH-HĐH của đất nuớc.  – Với tư cách đại diện cho đội ngũ các nhà khoa học của LHH Việt Nam, ông thấy những vướng mắc của Luật KH&CN hiện nay là gì, nó ảnh hưởng như thế nào đối với đội ngũ những người làm khoa học? – (Tiến Hào, 51 tuổi, Nam , Tiến Hào, TP Quy Nhơn, Bình Định)  Ông Trần Việt Hùng: Luật KHCN hiện nay đuợc ban hành từ năm 2000 với vị trí là đạo luật cơ bản về lĩnh vực KHCN trong những năm qua đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện mọi mặt hoạt động KHCN, bao gồm cả việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động KHCN. Tuy nhiên, cho đến nay, với sự đổi mới của đất nuớc thì Luật KHCN hiện nay cũng bộc lộ nhiều điểm yếu cần phải sửa đổi để KHCN đuợc tiếp tục phát triển, đóng góp tích cực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Trong đó, một số quy định của Luật KHCN hiện nay đã không đủ khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm công nghệ. Những quy định về quản lý hoạt động KHCN, về cơ chế tài chính cho KHCN cũng chưa đủ mạnh, chưa hợp lý, vì vậy chưa khuyến khích đuợc đội ngũ trí thức KH và CN tham gia tích cực vào các hoạt động KHCN. Một số nội dung chính sách mới của Đảng và Nhà nuớc về KH và CN cũng chưa kịp thời được luật hoá. Thông tin KHCN, thống kê KHCN mặc dù đã được quy định trong Luật, nhưng chưa đủ mạnh, vì vậy hiện nay việc thống kê các hoạt động KHCN, đội ngũ KHCN cũng như những thông tin về tiến bộ KHCN trong nước và thế giới của chúng ta vẫn còn rất hạn chế, gây khó khăn cho việc xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách phát triển KHCN của nước ta.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, được biết, trong Dự thảo Luật KH&CN sửa đổi có rất nhiều vấn đề đổi mới, trong đó có nội dung thực hiện nghiên cứu ứng dụng KH&CN theo đặt hàng của Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và tổ chức khác. Xin ông cho biết, tại sao vấn đề này cần được đặt ra trong thực tế nghiên cứu ứng dụng hiện nay? – (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 37 tuổi, Nữ , Kinh Môn, Hài Dương)  Ông Đoàn Năng: Tôi cho rằng đối với khoa học công nghệ vấn đề đặt hàng hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng. Theo cơ chế này, bên đặt hàng cũng phải có trách nhiệm rất cao, phải bảo đảm mọi cam kết của mình với bên nhận đặt hàng, ví dụ như cung cấp các phương tiện, kinh phí đầy đủ kịp thời để bên nhận đặt hàng thực hiện nhiệm vụ. Còn bên nhận đặt hàng cũng có trách nhiệm rất cao đối với việc thực hiện nội dung đã cam kết. Tất nhiên, cả hai bên phải thực hiện đúng nội dung, quy định đã quy định trong hợp đồng đặt hàng. Khi hợp đồng đặt hàng đã hoàn thành và kết quả đã được đánh giá nghiệm thu thì bên đặt hàng phải có trách nhiệm nhận lại kết quả đó và tổ chức ứng dụng vào sản xuất, đời sống. Bên nhận đặt hàng phải bàn giao kết quả đúng quy định và như vậy chúng ta sẽ khắc phục được tình trạng nghiên cứu xong bỏ kết quả vào ngăn kéo như từ trước đến nay.  – Hiện Cơ chế quản lý, xác định nhiệm vụ KH&CN (sử dụng ngân sách nhà nước) xem ra còn nhiều bất cập. Vấn đề này được thể hiện cụ thể trong Luật như thế nào, thưa ông PGS.TS Đoàn Năng? – (Nguyễn Tuấn Anh, 35 tuổi, Nam , Tiền Hải, Thái Bình)  Ông Đoàn Năng: Đây là vấn đề đúng là còn nhiều bất cập từ trước đến nay. Để khắc phục những tình trạng mà người ta cho là bất cập, dự thảo Luật đã có bước đổi mới rất mạnh mẽ trong việc xây dựng quy trình, thủ tục cũng như trách nhiệm xác định các nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách nhà nước.  Hiện nay, dự thảo luật phân cấp mạnh cho Bộ trưởng Bộ KH&CN quyết định các nhiệm vụ KH&CN cụ thể cấp nhà nước 5 năm và hàng năm. Trước đây, việc này phải trình Thủ tướng quyết định và mất rất nhiều thời gian mà lại không cần thiết vì trong Chiến lược phát triển KT-XH của nhà nước trong Chiến lược phát triển KH&CN quốc gia đã có các quy định về KH&CN. Vì vậy, không cần thiết phải để Thủ tướng quyết định những nhiệm vụ cụ thể.  Bước đổi mới thứ hai là các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp các đề nghị của các tổ chức, cá nhân về nhiệm vụ KHCN sau đó lập danh mục nhiệm vụ cấp nhà nước gửi Bộ KH&CN quyết định. Trong trường hợp này, các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đóng vai trò cơ quan đề xuất đặt hàng nhiệm vụ cấp nhà nước. Bộ KH&CN thay mặt nhà nước ký hợp đồng đặt hàng với các tổ chức, cá nhân theo quy trình mà luật đã quy định. Sau khi đánh giá nghiệm thu đạt yêu cầu, bên đề xuất đặt hàng có trách nhiệm nhận lại kết quả và tổ chức đưa vào sản xuất đời sống, đánh giá hiệu quả ứng dụng và định kỳ báo cáo Bộ KH&CN. Nếu là nhiệm vụ cấp bộ, cấp tỉnh thì bộ, ngành và UBND tỉnh tự ký hợp động đặt hàng, tự tổ chức đánh giá nghiệm thu và đưa kết quả đó vào sản xuất, đời sống.  Việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học cấp nhà nước sẽ thực hiện theo quy định của luật này. Riêng nhiệm vụ KHCN của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không sử dụng ngân sách nhà nước thì họ tự xác định nhiệm vụ và tự tổ chức đánh giá nghiệm thu.  – Việc Bộ KH&CN đề xuất các doanh nghiệp trích ít nhất 10% lợi nhuận trước thuế vào việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Ông có thể cho biết ý kiến của ông về vấn đề này? Tại sao? – (Mai Linh, 34 tuổi, Nữ , Biên Hòa, Đồng Nai)    Ông Phạm Thành Huy: Theo tôi đây là một đề xuất hết sức đúng đắn và nếu được triển khai rộng rãi, chắc chắn sẽ thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu phát triển trong doanh nghiệp và cả các đơn vị, Viện NC và các trường ĐH trong cả nước. Trong kinh nghiệm của chúng tôi khi được làm việc với một doanh nghiệp tiên phong trong việc chủ động xây dựng CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN TIỀM LỰC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ; xác định Đầu tư phát triển Khoa học-Công nghệ là trọng tâm quan trọng trong  tái cấu trúc toàn diện Công ty; và đã áp dụng việc trích 10% lợi nhuận vào việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ; đã giúp cho HĐQT và Ban TGĐ công ty hết sức chủ động trong việc huy động các nguồn lực, mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt các công nghệ được phát triển bằng nội lực của công ty thông qua sự phối hợp với các viện nghiên cứu, trường Đại học trong và ngoài nước, đã tạo cho Công ty có bước phát triển lớn ngay cả trong những năm khủng hoảng kinh tế 2008-2012.  – Là người gắn bó với doanh nghiệp, ông có nhìn nhận thấy những thuận lợi và khó khăn gì trong hoạt động KHCN ở doanh nghiệp hiện nay? Theo ông, vướng mắc lớn nhất mà doanh nghiệp đang gặp phải để thúc đẩy hoạt đông nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ là gì? – (phamxuanthuy@yahoo.com, 28 tuổi, Nam)  Ông Phạm Thành Huy: Hoạt động KH&CN là một vấn đề mới đối với doanh nghiệp do đó cần được nhận thức một cách đúng đắn và yêu cầu sự thay đổi trong đội ngũ cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp từ người lãnh đạo cao nhất đến từng công nhân lao động. Nhận thức đúng vai trò của KH&CN và đặc biệt trong bối cảnh nước ta (nền KH&CN ứng dụng còn yếu) đòi hỏi sự dũng cảm và vai trò quyết định của người đứng đầu doanh nghiệp.  Khó khăn thứ hai, đó chính là vấn đề con người – đội ngũ – nhân lực cho khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp. Việc tự xây dựng được một đội ngũ  cán bộ nghiên cứu chuyên nghiệp, một phòng nghiên cứu phát triển và lớn hơn là các trung tâm R&D, Viện NC trong các doan nghiệp đòi hỏi nhiều thời gian, cũng như được đầu tư một cách bài bản, trong khi nguồn lực, nguồn đầu tư lại chưa được xác định cụ thể, rõ ràng. Do đó như tôi đã nói ở trên, việc Bộ KH&CN đề xuất các doanh nghiệp trích ít nhất 10% lợi nhuận trước thuế vào việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sẽ là một động lực và tạo ra quyền chủ động cho doanh nghiệp đầu tư vào công tác nghiên cứu phát triển của mình.  Tuy nhiên, chính trong điều kiện khó khăn về nhân lực này, sẽ phát sinh nhu cầu hợp tác giữa các doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu nơi đang có sẵn một đội ngũ cán bộ, được đào tạo tốt, có kiến thức và thông tin cập nhật. Nếu phát huy được sự hợp tác này, chắc chắn công tác phát triển NCKH và CGCN sẽ phát triển mạnh trong doanh nghiệp trong thời gian sắp tới.  – Hiện nay, người cần bán các sản phẩm KH&CN (tức là các nhà khoa học) và người cần mua các sản phẩm từ các nhà khoa học, hay nói cách khác là cung và cầu chưa gặp nhau dẫn đến sự lãng phí “chất xám” rất lớn. Ông có suy nghĩ đến những giải pháp nào cho vấn đề này? – (Văn Quán, 28 tuổi, Nam , Hà Nội)  Ông Phạm Thành Huy: Theo tôi việc phát triển các sản phẩm KH&CN và phương thức đưa các sản phẩm này vào ứng dụng trong sản xuất không chỉ đơn thuần, thuần tuý là mua và bán, mà đòi hỏi phải phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa người mua và người bán. Những sản phẩm công nghệ, thường có những tính chất riêng, và  thường xuất phát từ nhu cầu đổi mới, phát triển của doanh nghiệp, khi áp dụng cũng đòi hỏi được thay đổi, điều chỉnh để đảm bảo sản phẩm (CN) được áp dụng tối ưu và cho hiệu quả cao nhất. Do đó việc đưa ra các chính sách giúp doanh nghiệp có thể chủ động sử dụng nguồn lực của mình cho đầu tư cho phát triển R&D, chỉ động lựa chọn công nghệ để phát triển, đầu tư, mua là hết sức cần thiết.  Sự lãng phí chất xám ở đây do đó có thể hiểu là chúng ta chưa tạo được một hợp tác hiệu quả giữa những người làm sản phẩm (nhà khoa học và đơn vị nghiên cứu trường đại học) và người mua sản phẩm. Việc phát triển KH&CN là một quá trình lâu dài, do đó các doan nghiệp cần có chiến lược phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ phù hợp trên cơ sờ các nguồn lực sẵn có của mình và khai thác sự hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức quốc tế và từ các doanh nghiệp bạn.  Theo tôi, nhà nước cũng cần có những chính sách cụ thể hơn tạo điều kiện cho sự kết nối giữa doanh nghiệp và các trường đại học, việc xây dựng thử nghiệm các viện nghiên cứu liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp và đánh giá các viện này sẽ là cơ sở cho chúng ta phát triển mô hình hợp tác này.  – Được biết đãi ngộ các nhà khoa học thực tài, có các công trình nghiên cứu khoa học đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước là một vấn đề được đề cập trong nhiều năm nay. Thưa ông, vấn đề này được đề cập trong nội dung Luật KH&CN sửa đổi như thế nào? – (Trịnh Việt Dũng, 42 tuổi, Nam , Mai Châu- Hòa Bình)  Ông Đoàn Năng: Đây là vấn đề lớn cần phải được giải quyết không chỉ trong luật mà còn cả trong thực thiễn. Những nhà khoa học có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước phải được tôn vinh, phải được trọng dụng, phải được thưởng thích đáng. Đồng thời, còn phải được tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động KHCN như nhà ở, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ để họ có thể làm việc được tốt hơn. Hiện nay, luật đã đề cập đến vấn đề này một cách khái quát. Tuy nhiên, vấn đề là phải thực hiện trên thực tế. Sau này, trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật sẽ quy định cụ thể tất cả những vấn đề nêu trên.    – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, nhiều nhà khoa học cho rằng, chính sách mà chúng ta đang áp dụng cho những người làm công tác nghiên cứu khoa học ở đơn vị hành chính sự nghiệp chưa phù hợp với lao động sáng tạo, trong đó có chế độ tuyển dụng, chế độ lương bổng, sắp xếp và bố trí công việc. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào? – (Nông thị Thu Hà, 47 tuổi, Nữ , Định Hóa, Thái Nguyên)  Ông Đoàn Năng: Tôi thừa nhận rằng, ý kiến này là đúng. Trên thực tế chúng ta còn rất nhiều bất cập trong việc thực hiện chế độ chính sách đối với các nhà khoa học. Tôi còn muốn khẳng định thêm là các nhà khoa học công nghệ chuyên nghiệp rất thiệt thòi, lương thấp nhưng không hề có bất kỳ loại phụ cấp nào. Các chính sách khác cũng chưa đáp ứng yêu cầu. Hiện nay luật có quy định mở ra hướng giải quyết vấn đề này để bảo đảm đời sống và động viên các nhà KH&CN làm việc. Tôi cũng cho rằng, điều quan trọng nhất là tạo môi trường, điều kiện làm việc thuận lợi và phải có các cơ chế, chính sách, đặc biệt là cơ chế chính sách tài chính để các nhà KHCN tự sống bằng sản phẩm sáng tạo của mình.  – Xin hỏi ông Trần Việt Hùng, các nhà khoa học hiện nay còn khá bối rối trong khâu quyết toán tài chính, theo ông giải pháp trước mắt và lâu dài là gì? – (Lý Thị Kim, 36 tuổi, Nữ , TP Cần Thơ)  Ông Trần Việt Hùng: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KHCN đang được coi là một trong những giải pháp đột phá để phát triển KHCN, để làm cho KHCN gắn kết chặt chẽ hơn với thực tiễn phát triển KT-XH của đất nước. Vấn đề này đã được đề cập đến trong Dự thảo Luật KHCN sửa đổi trình Quốc hội lần này cũng như trong Chiến lược phát triển KHCN từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.     Tuy nhiên, để giải quyết được vấn đề này một cách triệt để, cũng như bảo đảm cho các nhà KH yên tâm nghiên cứu, không còn phải lo, “bối rối trong khâu quyết toán tài chính” thì cần phải có nhiều giải pháp cụ thể. Theo tôi, trước hết về nhận thức, phải coi đầu tư cho KHCN là đầu tư rủi ro, khác với những loại đầu tư thông thường đã được quy định trong Luật đầu tư. Kinh phí đầu tư, thời gian đầu tư cho việc giải quyết một nhiệm vụ KHCN phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và khối lượng công việc cần nghiên cứu giải quyết. Không ai có thể dự toán một cách chính xác là cần bao nhiêu tiền, bao nhiêu thời gian để giải quyết được một nhiệm vụ KHCN cụ thể, đặc biệt là những vấn đề mới, có tính KHCN cao.  Vì vậy, dự toán kinh phí ban đầu hoàn toàn có thể bị thay đổi trong quá trình nghiên cứu. Nhưng với cách quản lý hiện nay thì việc được chấp thuận những thay đổi về kinh phí nghiên cứu hầu như rất khó khăn, thậm chí có thể không thay đổi được nếu kinh phí nghiên cứu vượt dự toán ban đầu. Việc bắt buộc phải đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu cũng gây khó khăn trong quá trình nghiên cứu vì trong quá trình nghiên cứu có thể phải thử nghiệm nhiều loại vật liệu khác nhau, nhưng mỗi lần thay đổi vật liệu lại phải tiến hành đấu thầu thì sẽ mất nhiều thời gian hoặc nếu không thì làm giảm hiệu quả của quá trình nghiên cứu. Việc quy định cứng nhắc kinh phí để thực hiện các chuyên đề trong nghiên cứu KHKT cũng như nghiên cứu KHXH làm cho các nhà nghiên cứu buộc phải nói dối để có thể có đủ kinh phí nghiên cứu. Mặt khác, quy định này cũng tạo ra kẽ hở để những “chuyên gia” xây dựng các đề tài, dự án lợi dụng để lấy tiền của Nhà nước thông qua việc tạo ra các chuyên đề không thực sự cần thiết cho nghiên cứu.  Đây là trao đổi mang tính cá nhân. Bạn và những người quan tâm đến vấn đề này đều có thể tham gia đề xuất những giải phải cụ thể, hiệu quả để giúp cho cơ chế quản lý trong hoạt động KHCN trở nên đơn giản nhưng hoàn thiện, chặt chẽ, giúp cho hoạt động KHCN hiệu quả hơn.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, thị trường KH&CN có một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp KH&CN, các đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm… Thưa ông, khi Luật KH&CN sửa đổi được Quốc hội thông qua nó sẽ có ý nghĩa như thế nào trong việc phát triển thị trường KH&CN? – (Nguyễn thị Kim Sen, 44 tuổi, Nữ , Vũ Thu, Thái Bình)  Ông Đoàn Năng: Luật đã dành một mục tương đối lớn để quy định về phát triển thị trường KH&CN. Vì hiện nay chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nên chúng ta phải phát triển mạnh thị trường KHCN. Chính thị trường KHCN sẽ giúp các tổ chức KHCN thương mại hóa các sản phẩm của mình, giúp các doanh nghiệp tìm kiếm các công nghệ mình cần thiết. Thị trường là động lực thúc đẩy cả cung và cầu công nghệ, gắn tổ chức KHCN với hoạt động sản xuất kinh doanh.   – Nhiều nhà khoa học phàn nàn vấn đề tài chính cho các đề tài, dự án còn nhiều bất cập, nhất là vấn đề giao kinh phí và phải thanh quyết toán khi chưa kết thúc nhiệm vụ. Vậy theo ông cần có giải pháp gì để các nhà khoa học được thuận lợi hơn về vấn đề tài chính cho đề tài của mình? – (Nguyễn thị Thanh Hiền, 44 tuổi, Nữ , Đông Hà, Quảng Trị)    Ông Đoàn Năng: Sự phàn nàn của các nhà khoa học hoàn toàn có cơ sở. Hiện nay vấn đề cơ chế tài chính KHCN là vấn đề tắc nghẽn lớn nhất đối với hoạt động KHCN. Để khắc phục tình trạng này cần phải đổi mới cơ bản cơ chế tài chính cho hoạt động KHCN. Cụ thể là bãi bỏ cơ chế dự toán và thanh quyết toán nhiệm vụ KHCN theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính, cụ thể là dự toán và thanh quyết toán rất phức tạp về thủ tục và nội dung và theo năm tài chính hành chính. Dự thảo luật quy định áp dụng cơ chế tài chính của Quỹ phát triển KHCN của nhà nước để giải quyết vấn đề cấp phát kinh phí và quyết toán kinh phí cho các nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước. Tức là mọi việc sẽ theo hợp đồng KHCN, quyết toán khi kết thúc hợp đồng, lấy kinh phí khi có nhu cầu không cần phải chờ đợi như trước đây. Nếu làm được theo cơ chế này thì sẽ hoàn toàn phù hợp với đặc thù hoạt động KHCN.  – Là người nhiều năm tâm huyết với ngành khoa học, ông có điều gì muốn chia sẻ với những người theo đuổi con đường khoa học, đặc biệt là đối với các bạn sinh viên trẻ? – (Nguyễn Chí Thăng, 55 tuổi, Nam , Bến Tre)  Ông Đoàn Năng: Tôi cho rằng con đường khoa học là con đường đầy khó khăn và gian khổ. Vì vậy, muốn thành công thì chỉ có cách là phải có ý chí, có tâm huyết và biết cách khắc phục mọi khó khăn trên con đường đi của mình. Mọi khó khăn vướng mắc đều có thể được khắc phục nếu biết tận dụng mọi cơ hội, mọi điều kiện mà pháp luật cho phép. Từng nhà khoa học cũng cần phải kiến nghị kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền để có các cơ chế chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động KHCN.  Nếu luật này được thông qua, tôi tin rằng môi trường, điều kiện để hoạt động KHCN sẽ tốt hơn. Chúng ta nên cùng nhau chung sức xây dựng các cơ chế chính sách, chủ động trong mọi việc để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.  – Hiện nay còn nhiều nhà khoa học trẻ sau khi học ở nước ngoài không muốn về nước làm việc. Điều đó có phải do chính sách đãi ngộ còn nhiều bất cập, khiến các nhà khoa học chưa phát huy hết khả năng và sự sáng tạo của mình, thưa ông? – (Vũ Linh, 32 tuổi, Nam , Hải Dương)  Ông Phạm Thành Huy: Theo tôi nhiều nhà khoa học trẻ sau khi tốt nghiệp ở lại nước ngoài làm việc có nhiều lý do, trong đó có những nhu cầu cá nhân được tiếp tục học hỏi, trau dồi và làm việc trong môi trường phù hợp với lĩnh vực mà họ được đào tạo.  Việc thay đổi các chính sách tuyển dụng trong đó tạo điều kiện tối đa cho các nhà khoa học có trình độ cao được tiếp nhận trong thời gian nhanh nhất là hết sức cần thiết. Việc tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp có tính chuyên môn cao và phù hợp đối với những nhà khoa học này cũng là một nhân tố giúp thu hút các cán bộ trẻ có năng lực về nước làm việc.  Đối với các cán bộ khoa học việc hình thành và đưa Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) vào hoạt động năm 2009 với việc cho phép các cán bộ khoa học trẻ được đăng ký các đề tài nghiên cứu theo những lĩnh vực khoa học cụ thể đã tạo động lực thu hút các nhà khoa học trẻ trở về nước làm việc.  Đối với đơn vị nghiên cứu như chúng tôi trong 4 năm vừa qua đã có 12 cán bộ nghiên cứu trẻ, có trình độ tiến sĩ từ nước ngoài trở về làm việc và rất nhiều trong số họ nhận được kinh phí hỗ trợ từ Quỹ NAFOSTED. Chính việc được nghiên cứu ngay khi trở về nước đã giúp các cán bộ này yên tâm công tác và phát huy hết khả năng của mình cho sự phát triển của Trường ĐHBK Hà Nội.  – Ông có thể cho biết những thành tựu nổi bật trong nghiên cứu khoa học của Viện trong thời gian vừa qua? Ông có thể chia sẻ những kinh nghiệm mà Viện đã thực hiện nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học? – (Sơn Nguyễn, 27 tuổi, Nam , Vũ Thư, Thái Bình)  Ông Phạm Thành Huy: Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ, Trường ĐHBKHN là một Viện nghiên cứu và Đào tạo trình độ cao (sau đại học) thuộc trường ĐHBKHN. Là một đơn vị mới được thành lập và với đội ngũ cán bộ rất trẻ hầu hết được đào tạo ở nước ngoài trở về, Trong hơn 5 năm vừa qua, chúng tôi đã xây dựng được một mối quan hệ chặt chẽ, cơ hữu với một số doanh nghiệp trong nước trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ mà điển hình là xây dựng PTN nghiên cứu và xưởng thử nghiệm chung giữ trường ĐHBKHN và Công ty CP Bóng đèn Rạng đông. Thông qua sự hợp tác với doanh nghiệp, các cán bộ của viện đã phát triển và  chuyển giao thành công một số công nghệ và quy trình công nghệ chế tạo vật liệu (theo hướng nội địa hoá), công nghệ được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao cho sản xuất; đồng thời tiết kiệm được nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, giảm rác thải công nghiệp và giảm nhập khẩu NVL đầu vào trong sản xuất.  – Trình độ nghiên cứu của Việt Nam không thua kém gì các nước khác, nguyên nhân xuất phát từ đâu mà nghiên cứu khoa học ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam còn yếu so với thế giới cũng như các nước trong khu vực? Đa số đều phải mua công nghệ, bản quyền nước ngoài? Phải chăng là do kinh phí đầu tư cho khoa học còn nhiều hạn chế, thưa ông Huy? – (Cao Mỹ Yến, 34 tuổi, Nữ , Điện Biên)  Ông Phạm Thành Huy:  Theo tôi khó có thể nói trình độ nghiên cứu của Việt Nam không thua kém gì các nước khác và nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng còn là mới mẻ không chỉ đối với các viện nghiên cứu và trường đại học mà còn đối với cả các doanh nghiệp. Để thay đổi được điều này và đặc biệt để đưa được công nghệ do các đơn vị nghiên cứu và trường đại học phát triển vào ứng dụng chúng ta cần phải xây dựng được mối liên hệ chặt chẽ giữa các đơn vị trên với nhau. Thông qua mối liên hệ này các vấn đề, đề tài, dự án nghiên cứu sẽ được đặt ra cụ thể hơn, phù hợp với thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp, nhà sản xuất và nhằm giải quyết những vấn đề thực tế.  Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay mối liên hệ này chưa được chú trọng. Điều này dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu ít được ứng dụng trong thực tế.  Chính sách của Nhà nước cho đến nay cũng chưa cụ thể hóa nguồn lực cho phép doanh nghiệp chủ động đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, do đó việc đi mua công nghệ dễ dàng hơn nhiều so với việc đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ. Việc lựa chọn doanh nghiệp là trung tâm trong phát triển khoa học và công nghệ cũng như đề xuất sử dụng 10% lợi nhuận trước thuế vào việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong Luật KHCN sửa đổi có thể sẽ làm thay đổi tiếp cận của doanh nghiệp khi quyết định tự phát triển hay mua bản quyền công nghệ từ nước ngoài.  – Tôi được biết hiện nhiều địa phương, doanh nghiệp đang loay hoay với việc sử dụng kinh phí trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp cho Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, địa phương. Theo ông, để giải quyết vấn đề này cần có giải pháp gì? – (Trần Việt Linh, 36 tuổi, Nam , Trưng Vương, Thái Nguyên)  Ông Trần Việt Hùng: Cảm ơn bạn đã đưa ra câu hỏi này.Như bạn đã biết, hiện nay sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường còn rất yếu. Nhiều mặt hàng các doanh nghiệp Việt Nam bị thua ngay trên thị trường trong nước. Một số mặt hàng nông phẩm như cà phê, gạo đã đạt được mức xuất khẩu đứng đầu thế giới, nhưng hiệu quả kinh tế không cao vì phần lớn được xuất khẩu ở dạng sản phẩm thô, chất lượng không cao. Một trong những nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam còn yếu là doanh nghiệp của chúng ta chưa chú ý hoặc chưa đủ sức đổi mới sản phẩm công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ của mình. Mặt khác, theo các số liệu thống kê thì đầu tư cho KHCN chủ yếu vẫn bằng nguồn tiền từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, quy định các doanh nghiệp phải lập quỹ phát triển KHCN để đầu tư nâng cấp, đổi mới công nghệ của mình là một quy định rất cần thiết và hợp lý.  Ở đây, không phải là “trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp” như câu hỏi của bạn mà là trích từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là trong phần trích từ lợi nhuận đó đã có sự hỗ trợ khoảng 30% kinh phí của Nhà nước. Ở đây, tôi cho rằng nếu quy định doanh nghiệp xây dựng quỹ này để sử dụng cho mục đích đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới của doanh nghiệp thì hợp lý hơn. Không nên bắt doanh nghiệp nộp phần kinh phí từ quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp cho địa phương.   Cũng với nội dung này, có bạn lại băn khoăn là trong điều kiện kinh tế của các doanh nghiệp đang hết sức khó khăn thì việc quy định bắt buộc các doanh nghiệp phải lập quỹ phát triển KHCN có hợp lý không? Tôi cho rằng doanh nghiệp càng khó khăn thì càng phải đầu tư mạnh để đổi mới sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Quỹ này được xây dựng chủ yếu dựa trên phần kinh phí trích ra từ lợi nhuận trước thuế nên không ảnh hưởng đến các doanh nghiệp đang gặp khó khăn thua lỗ. Tuy nhiên, với kinh nghiệm của mình tôi cho rằng những doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong kinh doanh, thậm chí đang làm ăn thua lỗ cũng nên mạnh dạn xây dựng những dự án đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm để thoát ra khỏi tình trạng khó khăn của mình. Nhà nước nên có những cơ chế hỗ trợ kinh phí để tạo điều kiện thuận lợi cho những dự án, đề án KHCN đổi mới công nghệ khả thi của các doanh nghiệp.  – Ông Hùng có thể cho biết, để góp phần đa dạng hóa việc huy động nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu triển khai hoạt động KH&CN, ông có nghĩ việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thông qua hình thức quỹ KH&CN nên được khuyến khích, thưa ông? – (Thạch Văn Chung, 56 tuổi, Nam , Gia Lam, Hà Nội)  Ông Trần Việt Hùng: Tôi nhất trí với ý tưởng của anh. Nếu việc thực hiện các nhiệm vụ KHCN được cấp kinh phí từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia thì việc tuyển chọn các nhiệm vụ KHCN sẽ được thực hiện trong cả năm chứ không mang tính “thời vụ” như hiện nay. Giải pháp này cũng sẽ tạo điều kiện gắn việc thực hiện các nhiệm vụ KHCN với nhu cầu đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm công nghệ của doanh nghiệp.  Từ trước đến nay, một trong những khó khăn trong việc gắn nghiên cứu với sản xuất là việc tuyển chọn các đề tài nghiên cứu thì mang tính chất “thời vụ”, nghĩa là quy định trong một khoảng thời gian nhất định trong năm. Tuy nhiên, những dự án đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp lại phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. Vì vậy có hiện tượng các nhà nghiên cứu phải “đẻ” ra đề tài, dự án để đáp ứng nhu cầu về thời gian tuyển chọn. Trong khi đó, khi các doanh nghiệp có nhu cầu, đề xuất các nhiệm vụ KHCN không đúng thời điểm tuyển chọn thì lại không được tuyển chọn nên không nhận được hỗ trợ kịp thời từ ngân sách cho những nghiên cứu đổi mới công nghệ của mình.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, ông có thể cho biết từ khi Luật KH&CN năm 2000 đến nay đã có những tác dụng như thế nào? Vì sao phải sửa đổi luật KH&CN? – (Đặng Thị Nhàn, 33 tuổi, Nữ , Khoái Châu, Hưng Yên)  Ông Đoàn Năng: Luật KH&CN năm 2000 là đạo luật đầu tiên của lĩnh vực KHCN, nó là kết quả pháp điển hóa các quy định của pháp luật về KHCN, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ, thống nhất, đồng bộ về KHCN. Chính nhờ có luật này, nhiều hoạt động đã được triển khai nhằm đổi mới về tổ chức, về quản lý, về hoạt động KHCN trên thực tế từ năm 2000 đến nay. Cũng nhờ cơ sở pháp lý này mà hoạt động KHCN đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh.  Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực hiện, Luật KH&CN năm 2000 đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với điều kiện mới: nền kinh tế thị trường đã được định hình rõ nét, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, KH&CN trên thế giới phát triển mạnh mẽ và ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, chúng ta cần phải sửa đổi Luật KH&CN năm 2000 nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho những bước phát triển đột phá của KH&CN phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, dự án Luật KH&CN sửa đổi sẽ tập trung vào những vấn đề chủ yếu gì? – (Trần Quang Minh, 54 tuổi, Nam , Lâm Đồng, Đà Lạt)  Ông Đoàn Năng: Luật phải tập trung khắc phục tất cả những bất cập của Luật KH&CN năm 2000, đặc biệt tập trung giải quyết các vấn đề sau đây:  Thứ nhất, sắp xếp lại hệ thống tổ chức KHCN để bảo đảm đầu tư xây dựng các tổ chức KHCN một cách có hiệu quả.  Thứ hai, đổi mới các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục xác định nhiệm vụ KHCN, tổ chức thực hiện và đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước.  Thứ ba, làm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN.  Thứ tư, quy định rõ những biện pháp gắn kết KHCN với sản xuất kinh doanh, với giáo dục đào tạo, trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong việc đưa các kết quả hoạt động KHCN vào sản xuất, đời sống.  Thứ năm, đổi mới việc phân bổ ngân sách nhà nước cho KHCN, đổi mới cơ chế quản lý tài chính KHCN; tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng cơ chế khoán chi, cơ chế quỹ đối với việc cấp phát và thanh quyết toán kinh phí cho nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách nhà nước.  Thứ sáu, quy định rõ các biện pháp xã hội hóa hoạt động KHCN, xã hội hóa đầu tư cho KHCN, khẳng định vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong việc đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.  Thứ bảy, hoàn thiện các cơ chế chính sách về đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực KHCN, đặc biệt là nhân lực KHCN trình độ cao.  Thứ tám, hoàn thiện các quy định về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển KHCN, phát triển thị trường KHCN.  Thứ chín, hoàn thiện các quy định về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KH&CN.  – Có ý kiến cho rằng, rất nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư cho lĩnh vực KH&CN, tuy nhiên vấn đề ở chỗ, nguồn tài chính không cho phép, chỉ đủ chi trả lương và các chi phí tối thiểu để duy trì hoạt động cho doanh nghiệp, do vậy rất cần sự hỗ trợ của nhà nước về đầu tư cho khoa học. Xin PGS.TS Hùng có đửa nêu ra một số giải pháp nào cho vấn đề này? – (Đoàn Lê, 35 tuổi, Nữ , Hà Tây)  Ông Trần Việt Hùng: Câu hỏi của bạn chính là thực tế hiện trạng của phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay vì 90% doanh nghiệp của chúng ta thuộc loại vừa và nhỏ. Vì vậy, rõ ràng các doanh nghiệp này rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các dự án nâng cao trình độ, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Theo tôi, vấn đề quan trọng không phải doanh nghiệp có kinh phí nhiều hay ít mà chính là doanh nghiệp có ý tưởng, có dự án đổi mới KHCN khả thi. Nhà nước nên có cơ chế xem xét để hỗ trợ kinh phí cho những dự án khả thi hoặc cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp để thực hiện các dự án này.  – Nhiều nhà khoa học phàn nàn vấn đề tài chính cho các đề tài, dự án còn nhiều bất cập, nhất là vấn đề giao kinh phí và phải thanh quyết toán khi chưa kết thúc nhiệm vụ. Vậy theo ông cần có giải pháp gì để các nhà khoa học được thuận lợi hơn về vấn đề tài chính cho đề tài của mình? – (Trần Thu Loan, 45 tuổi, Nữ , Thái Nguyên)  Ông Phạm Thành Huy: Tôi rất thông cảm và xin chia sẻ với vấn đề mà bạn đề cập. Là một người tham gia quản lý một đơn vị khoa học và đồng thời cũng là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu hiện nay chúng tôi cũng đang phải dành rất nhiều thời gian cho việc báo cáo thanh quyết toán giữa kỳ trong khi đang thực hiện nhiệm vụ. Đây quả là một điều thiệt thòi và có thể nói là lãng phí trong khi chúng tôi có thể dành thời gian quý báu đó cho việc nghiên cứu.  Theo tôi, giải pháp cho vấn đề này chính là việc giao kinh phí theo nhiệm vụ đặt ra và chỉ đánh giá, quyết toán khi nhiệm vụ đã được hoàn thành.  – Được biết, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là trường ĐH lớn của đất nước, ông có thể cho biết trường đã có những hoạt động gì để huy động nguồn lực đầu tư cho KH&CN? (Lan Mai, Nữ, 28 tuổi)  Ông Phạm Thành Huy: Từ năm 2009, Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu trường ĐHBKHN đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển hoạt động KH&CN của trường, trong đó lấy trong tâm là xây dựng các chương trình nghiên cứu của trường. Các chương trình nghiên cứu được xây dựng trên sở đặt vấn đề và giải quyết những vấn đề nghiên cứu lớn, cụ thể, có định định hướng mục tiêu cao và dựa trên những ngành, nhóm ngành nghiên cứu và công nghệ là thế mạnh của trường ĐHBKHN.  Trên cơ sở các trường trình nghiên cứu xây dựng được, BLĐ và mỗi cá nhân cán bộ nghiên cứu – giảng viên của trường có thể chủ động đề xuất, tiếp cận các nguồn kinh phí khác nhau từ các Bộ, Ngành, địa phương, từ các doanh nghiệp và cả từ các nguồn kinh phí từ các tổ chức quốc tế (thông qua hợp tác quốc tế) để triển khai thực hiện.  – Thưa ông Hùng, LHH Việt Nam đang thực hiện đóng góp cho phương án sửa đổi nội dung quy định về Văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ trong Hiến pháp 1992…Ông có thể cho biết, nội dung chính của những đóng góp mà LHH đề ra là gì không? – (Nguyễn Văn Khoa, 29 tuổi, Nam , Trường THCS Đạo Đức, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc)  Ông Trần Việt Hùng: Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam được giao một nhánh nghiên cứu trong đề tài lớn “Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sửa đổi các nội dung quy định trong Hiến pháp 1992 cho phù hợp với tình hình mới” do Viện Lập pháp của Quốc hội là cơ quan chủ trì. Đây là nhánh nghiên cứu sửa đổi những nội dung Văn hoá, Giáo dục, KHCN trong Hiến pháp 1992 được giao cho một nhóm nghiên cứu của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam tiến hành. Đây là một đề tài nghiên cứu nên các kết quả, đề xuất của nhánh đề tài không nhất thiết trùng với bản Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi đang trình xin ý kiến Quốc hội. Khi nghiên cứu về vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất sửa đổi dựa trên quan điểm sau:       – Coi Hiến pháp là bản khế ước xã hội giữa Nhà nước và nhân dân, vì vậy trong Hiến pháp phải quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân.       – Coi Hiến pháp là Bộ luật gốc làm cơ sở pháp lý để hình thành hệ thống pháp luật của đất nước. Vì vậy, Hiến pháp phải quy định những điều cơ bản, những vấn đề cơ bản làm cơ sở hình thành các bộ luật sau này.       – Hiến pháp phải tạo điều kiện để luật hoá cương lĩnh, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.       – Về mặt văn phong: Cố gắng trình bày rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu theo văn phong của Hiến pháp 1946.  Trên cơ sở những quan điểm này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất gộp lại, chỉnh sửa 19 điều liên quan đến văn hoá, giáo dục, KHCN trong Hiến pháp 1992 thành 8 điều trong Hiến pháp 1992 sửa đổi. Nhóm nghiên cứu cũng đề nghị bỏ Chương Văn hoá, Giáo dục, KHCN trong Hiến pháp 1992. 8 điều mới sẽ được đưa vào các chương quy định về Quyền công dân, về KT-XH.  Sau kỳ họp Quốc hội lần này, LHH sẽ tổ chức lấy ý kiến của đội ngũ KHCN đóng góp toàn diện cho Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, hơn 10 năm ra đời Luật KH&CN, tuy nhiên sự hiểu biết của người dân thậm chí kể cả các nhà khoa học về Luật này rất ít so với một số luật khác như luật dân sự, luật hình sự, luật giao thông đường bộ. Phải chăng luật này vẫn chưa đi vào đời sống xã hội hay vì nguyên nhân nào khác? Theo ông, làm thế nào để luật KH&CN nói riêng và các luật khác về KHCN đến gần với người dân hơn? – (Nguyễn Văn Bé, 51 tuổi, Nam , Tiền Giang)  Ông Đoàn Năng: Tôi cho rằng tình trạng người dân ít hiểu biết về pháp luật KHCN là có thực. Có nhiều nguyên nhân, có lẽ chủ yếu là do công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về KHCN làm chưa tốt. Các nhà quản lý chưa quan tâm lắm đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về KHCN, thậm chí còn chưa quan tâm đến hoạt động KH&CN vì chưa thấy hết được vai trò của KHCN.  Muốn cho Luật KHCN đi vào cuộc sống thì pháp luật phải được hoàn thiện, nội dung phải thiết thực với cuộc sống, đồng thời phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, ông có thể cho biết đánh giá của ông về Luật KH&CN của Việt Nam hiện nay so với một số luật KH&CN của một số nước trên thế giới có những ưu, khuyết điểm gì? – (Tạ Hoàng Tâm, 37 tuổi, Nữ , Thị xã Ninh Mỹ, Ninh Bình)  Ông Đoàn Năng: Theo tôi, mọi sự so sánh đều có thể khập khiễng nên khi so sánh Luật KHCN của Việt Nam hiện hành với Luật KHCN của một số nước thì chỉ nên hiểu một cách tương đối. Có thể nói, Luật KH&CN năm 2000 của Việt Nam phù hợp với điều kiện của Việt Nam  trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường còn ở nhiều nước không có việc chuyển đổi này. Vì vậy, Luật KHCN của các nước không cần có những quy định như trong Luật KHCN của Việt Nam, mọi việc đã ổn định và phù hợp với cơ chế thị trường của họ. Hơn nữa, những cơ chế tổ chức quản lý xã hội của họ cũng khác ta.  Hiện nay, chúng ta sửa đổi luật cho phù hợp hơn với cơ chế thị trường ở nước ta, với điều kiện kinh tế, xã hội của chúng ta, các quy định của luật cũng phải phù hợp với trình độ, đặc điểm tổ chức, quản lý kinh tế xã hội ở Việt Nam. Vì vậy chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy, luật KH&CN của Việt Nam có những quy định mà ở luật ở nước ngoài không có.  – Thưa PSG.TS Đoàn Năng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, khó khăn nào hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt khi huy động doanh nghiệp đóng góp cho khoa học công nghệ? – (Đinh Quốc Huy, 34 tuổi, Nam , Cam Ranh, Khánh Hòa)  Ông Đoàn Năng: Khó khăn lớn nhất hiện nay là ý thức của các doanh nghiệp về đầu tư cho KH&CN chưa được tốt; phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực tài chính yếu kém; và cơ chế bảo đảm cho việc huy động và sử dụng kinh phí được huy động chưa được thông thoáng. Một số doanh nghiệp đã huy động một khối lượng kinh phí tương đối lớn cho hoạt động KHCN nhưng cơ chế sử dụng kinh phí này hiện nay không thông thoáng nên không thể sử dụng được.     – Một trong các hoạt động nổi bật của LHH Việt Nam là hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Dự thảo quyết định về về hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội của LHHVN trong giai đoạn mới mà LHH Việt Nam đang xây dựng sẽ thực hiện những mục tiêu gì? Ông mong đợi gì ở quyết định này sau khi ban hành? (Trần Thị Thủy, 37 tuổi, Nữ , TP Sơn La, Tỉnh Sơn La)  Ông Trần Việt Hùng: Một trong những hoạt động nổi bật của LHH là tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Hoạt động này đã bước đầu tạo ra môi trường dân chủ để tập hợp, phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của LHH được thực hiện theo Quyết định số 22 của Chính phủ. Quyết định này quy định LHH thực hiện tư vấn, phản biện, giám định xã hội những nhiệm vụ được chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan trung ương khác, và Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương… yêu cầu. Như vậy, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định của LHH trong thời gian qua mang tính bị động. Kinh phí dành cho hoạt động này mang tính chất hỗ trợ, không có tính pháp lý rõ ràng. Quyết định số 22 của Chính phủ một mặt đã tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức KHCN đóng góp ý kiến vào những vấn đề lớn của đất nước. Mặt khác, quyết định này cũng hạn chế ở mức độ là LHH chỉ tư vấn, phản biện và giám định khi được yêu cầu. Các điều kiện khác để đảm bảo cho những hoạt động này hiệu quả như cơ chế tài chính, quy chế cung cấp tài liệu…cũng không được quy định rõ.  Việc sửa đổi Quyết định 22 của Chính phủ nhằm thực hiện chỉ thị số 42- CT/TW của Bộ Chính trị khoá X tạo điều kiện để LHH chủ động trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội, với cơ chế tài chính rõ ràng hơn. Trong Dự thảo quyết định mới quy định rõ những loại đề án (các dự án Luật, chính sách, chiến lược, chương trình đầu tư phát triển…) cần có ý kiến của LHH hoặc các hội thành viên trước khi trình Thủ tướng. Cũng quy định tương tự như vậy đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Dự thảo cũng quy định rõ cơ chế tài chính cho hoạt động tư vấn, phản biện và giám định, nội dung báo cáo tư vấn, phản biện, giám định xã hội, trách nhiệm của các cơ quan đặt yêu cầu tư vấn, phản biện, giám định xã hội, cũng như trách nhiệm của LHH Việt Nam và các hội thành viên trong hoạt động này.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Hy vọng quy chế quản lý mới sẽ khả thi và hiệu quả hơn      Vừa qua, Bộ KH&amp;CN đã soạn dự thảo Quy chế Tổ chức quản lý hoạt động Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 – 1010, theo đó tăng cường tự chủ và trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm Chương trình nhằm đảm bảo cho Chương trình hoạt động hiệu quả, không lãng phí ngân sách…    Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với Giáo sư (GS) Nguyễn Thúc Hải, Phó Chủ nhiệm kiêm Chánh Văn phòng Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu Khoa học và Phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông giai đoạn 2001-2005 (KC.01)” về vấn đề này.  GS đánh giá thế nào về việc xác định và tuyển chọn đề tài cấp Nhà nước hiện nay?  Trước hết, cần khẳng định rằng quy trình tuyển chọn đề tài, dự án mới được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) áp dụng cho các Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 là tiến bộ hơn so với cách làm ở những giai đoạn trước. Nó công khai hơn và vì thế công bằng hơn. Hiện tượng tiêu cực “xin-cho”, “chạy cửa sau” để có đề tài mặc dù chưa hẳn đã hoàn toàn chấm dứt nhưng cũng đã giảm đi nhiều. Khả năng tuyển chọn được cá nhân, tập thể khoa học xứng đáng chủ trì thực hiện một nhiệm vụ khoa học cụ thể cũng cao hơn.  Cũng có ý kiến cho rằng nhiều đề tài hiện nay vẫn chưa “trúng”?  Điều đó có thật. Về nguyên tắc, quy trình xác định nhiệm vụ hàng năm cho các Chương trình được thực hiện là hợp lý theo phương thức “dân chủ-tập trung”:  Bộ KH&CN thu thập tất cả các đề xuất nhiệm vụ của các nhà khoa học từ nhiều nguồn, bổ sung thêm các nhiệm vụ do các Ban Chủ nhiệm Chương trình hoặc các đơn vị chức năng của Bộ đề xuất, sau đó thành lập các Hội đồng tư vấn bao gồm các nhà khoa học có trình độ để thẩm định, chọn lọc, hiệu chỉnh và đề xuất danh mục các nhiệm vụ KHCN để Bộ phê duyệt và sau đó thông báo tuyển chọn. Tuy nhiên, đúng là các nhiệm vụ được xác định và đã triển khai trong 5 năm qua (có lẽ không chỉ đối với Chương trình KC.01) vẫn chưa được như mong muốn, một số nhiệm vụ thực sự chưa đúng “tầm” của một nhiệm vụ KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, vẫn còn những nội dung nghiên cứu trùng lặp, manh mún… và yêu cầu (“đầu bài”) đặt ra cho các nhiệm vụ đó nhiều khi còn quá cụ thể, không có tính dự báo và đôi khi còn “duy ý chí” nên cũng làm hạn chế khả năng sáng tạo của các nhà khoa học trong quá trình thực hiện đề tài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó, nhưng theo tôi, nguyên nhân quan trọng nhất đó là chúng ta chưa động viên được sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học có trình độ cao (đặc biệt là các nhà khoa học trẻ) ở trong và ngoài nước trong quy trình xác định nhiệm vụ (đề xuất, thẩm định, tư vấn). Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một số ít các nhà khoa học (trong đó rất ít các nhà khoa học trẻ) tham gia công việc này. Dĩ nhiên, đó là trách nhiệm của phía các nhà quản lý KHCN. Nhưng cũng phải nói thêm điều này: một khi tất cả các nhiệm vụ đều được xác định đúng “tầm” thì lại xuất hiện một mối lo khác, đó là liệu chúng ta đã có được các tập thể khoa học đủ năng lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đó hay không? Thực tế triển khai Chương trình KC.01 đã cho thấy các nhóm nghiên cứu có trình độ KHCN và tính chuyên nghiệp cao ở nước ta cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì thế, một mục tiêu hết sức quan trọng (nhưng thường chỉ được đánh giá chung chung khi tổng kết) của các Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước là phải góp phần tích cực hơn nữa vào việc hình thành và phát triển các tập thể nghiên cứu đủ sức thực hiện được những nhiệm vụ KHCN không chỉ ở tầm quốc gia mà cả ở tầm khu vực và quốc tế.  GS nhận xét gì trước ý kiến cho rằng dù sản phẩm của nhiều đề tài, dự án đảm bảo chỉ tiêu kinh tế – kĩ thuật nhưng kết quả vẫn không được áp dụng vào thực tiễn?  Đúng là có tình trạng đó. Nhưng tôi cho rằng cũng là chuyện bình thường. Việc đưa một sản phẩm KHCN vào áp dụng trong thực tiễn đâu có dễ? Khó hơn rất nhiều so với việc  viết một bài báo khoa học để đăng trên một tạp chí khoa học chuyên ngành. Cũng giống như việc hình thành một thị trường KHCN ở Việt Nam vậy. Các Techmart đã có những thành công đáng khích lệ, nhưng con đường đi đến một thị trường KHCN thực sự như chúng ta mong muốn có lẽ còn… xa! Càng hội nhập thì càng khó khăn. Quá trình phát triển một sản phẩm KHCN để đưa ra thị trường sẽ càng gian nan vì phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Các nhà quản lý cũng đừng quá sốt ruột, cần tìm hiểu một cách toàn diện vấn đề để thông cảm hơn với nhà khoa học và cũng với họ thúc đẩy quá trình này nhanh hơn, hiệu quả hơn. Có lẽ chẳng có nhà khoa học nào lại muốn sản phẩm nghiên cứu của mình bị “xếp vào ngăn kéo”, nhưng nhiều khi tôi có cảm giác họ thật đơn độc và lực bất tòng tâm trên con đường đưa sản phẩm của mình ra thị trường, ra xã hội.  Từ kinh nghiệm bản thân, GS  thấy việc quản lý Chương trình giai đoạn 2001 – 2005  có điều gì bất cập?             Nhóm nghiên cứu tại khoa Công nghệ Thông tin, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội.        Tôi xin nêu những suy nghĩ riêng của mình từ thực tế tham gia quản lý Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước về Công nghệ Thông tin và Truyền thông giai đoạn 2001-2005 (KC.01) do GS.TSKH Vũ Đình Cự làm Chủ nhiệm. Điểm đổi mới của công tác tổ chức, quản lý các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước trong giai đoạn này chính là việc thành lập các Văn phòng (VP) giúp việc cho Ban Chủ nhiệm (BCN) Chương trình. Trên thực tế các VP này đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý các đề tài, dự án và các hoạt động chung của Chương trình. Tuy nhiên, do thiếu tư cách pháp nhân (không có con dấu riêng, tài khoản riêng mà phải sử dụng “nhờ” con dấu và tài khoản của đơn vị nơi đặt VP) nên vai trò của nó cũng bị hạn chế nhiều. BCN Chương trình chỉ có trách nhiệm và quyền hạn nhất định ở  “khúc giữa” – tức là kiểm tra, đôn đốc quá trình thực hiện các đề tài, dự án thuộc Chương trình, còn “khúc đầu” (xác định, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, ký kết hợp đồng) và “khúc đuôi” (đánh giá nghiệm thu, thanh lý hợp đồng) đều do Bộ chủ trì, các thành viên của BCN chỉ tham gia vào các công đoạn trên phần lớn với tư cách cá nhân (nhà khoa học). Những bất cập của công tác tổ chức, quản lý trong giai đoạn 5 năm vừa qua cũng đã được BCN Chương trình KC.01 và nhiều Chương trình khác phản ánh với Bộ một cách trực tiếp hoặc qua các báo cáo định kỳ hàng năm và báo cáo tổng kết toàn giai đoạn.  Theo dự thảo Quy chế giai đoạn 2006 – 2010, sẽ có Văn phòng các Chương trình (VPCCT) trực thuộc Bộ KH&CN. Liệu mô hình này có khắc phục được những bất cập trên?  Trong giai đoạn trước (2001-2005), mỗi BCN có một VP giúp việc, mặc dù số nhân viên cho phép rất hạn chế (1 thư ký và 1 kế toán), nhưng do trực tiếp đặt dưới quyền của BCN nên công việc khá thuận lợi, BCN yêu cầu gì là phải làm ngay, vậy mà nhiều khi vẫn chưa đáp ứng được tiến độ công việc, nhất là ở các thời điểm cần báo cáo đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo Bộ, hoặc đồng thời nhiều đề tài cần làm các thủ tục đánh giá nghiệm thu.  Theo tôi, mô hình tổ chức mới với Văn phòng các Chương trình trực thuộc Bộ KH&CN, có con dấu và tài khoản riêng mới thoạt nhìn có vẻ rất “đẹp đội hình” và hợp lý về phương diện hành chính. Tuy nhiên, tính khả thi, tính hiệu quả của mô hình này còn phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt là chức năng và mối quan hệ giữa BCN với VPCCT; giữa BCN với các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN. Mà với tổ chức và trình độ quản lý hoạt động khoa học hiện nay, đó là vấn đề còn nhiều vướng mắc.    Nhưng mục đích của VPCCT là tăng quyền hạn của Ban Chủ nhiệm Chương trình…?  Khi mà chỉ có một VPCCT duy nhất giúp việc cho tất cả các chương trình thì có nghĩa là nhiệm vụ của các BCN nặng nề hơn rất nhiều. Vì thế đối với quan hệ giữa BCN Chương trình cần xác định rõ: Chủ nhiệm Chương trình có “ra lệnh” được cho Chánh Văn phòng không?(Nếu “không”, thì ai sẽ chịu trách nhiệm khi công việc của Chương trình không đảm bảo tiến độ? Còn nếu “có”, sẽ xẩy ra hiện tượng “xung đột” trong công việc vì cùng lúc có thể nhiều Chủ nhiệm Chương trình “ra lệnh” cho VP); Các văn bản hoạt động của Chương trình do Chủ nhiệm ký hoặc Phó Chủ nhiệm ký thay sẽ đóng bằng con dấu nào?; Biên chế của Văn phòng như thế nào, có đủ dành riêng cho mỗi Chương trình 1 thư ký và 1 kế toán viên (Kế toán trưởng có thể chung cho toàn VP) hay không? (Nếu không được như vậy thì phân công trách nhiệm trong VP sẽ như thế nào để tạo thuận lợi cho công việc của các chương trình?) Xin lưu ý rằng do quy định về quản lý tài chính đối với các hoạt động nghiên cứu KHCN của ta còn nhiều bất cập nên khối lượng công việc liên quan đến tài chính của VP sẽ rất lớn, chỉ riêng việc thẩm định dự toán, quyết toán kinh phí của các đề tài, dự án cho một Chương trình cũng đã rất phức tạp). Vì thế theo tôi, ngoài biên chế của VPCCT nên cho phép BCN tuyển (hợp đồng có thời hạn) một Thư ký trực tiếp giúp việc cho BCN và làm cầu nối với VPCCT.  Về quan hệ giữa BCN và các đơn vị chức năng của Bộ KH&CN, cần cụ thể hóa (có thể không đưa trực tiếp vào quy chế mà đưa vào văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế) các điều khoản trong đó quy định sự “phối hợp” (còn rất chung chung) giữa BCN và các đơn vị chức năng của Bộ. Tất cả các công việc liên quan đến  tổ  chức, quản  lý  Chương trình (dù BCN được giao chủ trì đi nữa) đều đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa BCN với các đơn vị chức năng của Bộ, nếu không thể chế hóa (quy trình hóa) sự phối hợp này sẽ dẫn đến những bất cập đã được rút kinh nghiệm trong giai đoạn 2001-2005.  Nếu không làm rõ những điều trên thì tôi e rằng chỉ khi các vị Thứ trưởng của Bộ KH&CN “nắm” luôn vai trò Chủ nhiệm Chương trình thì may ra mô hình tổ chức này  mới có thể  “chạy thông, chạy tốt” được(?).  Ngoài ra, cần làm rõ hơn nguyên tắc thành lập Ban Chủ nhiệm Chương trình: Chủ nhiệm Chương trình có quyền đề cử (trên cơ sở các tiêu chuẩn do Bộ quy định, để Bộ xem xét quyết định) Phó Chủ nhiệm và các thành viên khác của Ban Chủ nhiệm Chương trình hay không? Theo tôi là nên có. Chủ nhiệm Chương trình khó có thể làm việc tốt nếu bị “áp đặt” những người giúp việc.  Với dự thảo Quy chế mới, việc cấp kinh phí trực tiếp cho VPCCT có gây trở ngại gì cho việc triển khai Chương trình?  Trong giai đoạn 2001-2005, kinh phí được cấp trực tiếp từ Bộ Tài chính đến Văn phòng Chương trình. Tôi cho rằng điều này là hợp lý vì VP lúc đó không trực thuộc Bộ KH&CN, làm thế sẽ tránh được các khâu trung gian không cần thiết. Và trên thực tế cơ chế đó đã không gây trở ngại gì cho việc giải ngân của các Chương trình. Trong giai đoạn tới, nếu VPCCT trực thuộc Bộ thì việc Bộ KH&CN trực tiếp cấp kinh phí cho VPCCT cũng là điều bình thường và tôi tin là cũng không gây trở ngại gì cho hoạt động của các Chương trình. Bởi vì, trên thực tế thì khó khăn (nếu có) đối với việc giải ngân kinh phí của các đề tài, dự án không xuất hiện ở khâu cấp kinh phí từ các Bộ về VP mà lại là ở khâu “lấy tiền từ các Kho Bạc” về để tiêu! Tình trạng “Thủ kho to hơn Thủ trưởng” có lẽ không chỉ xẩy ra đối với các hoạt động KHCN?   Xin cảm ơn Giáo sư!    P.V       Author                Quản trị        
__label__tiasang IAEA tiếp tục giúp Việt Nam đảm bảo an toàn hạt nhân      Vừa qua, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân và đoàn công tác đã tham dự Khóa họp thường niên lần thứ 56 Đại hội đồng Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA. Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam Trần Chí Thành – thành viên của đoàn, đã trao đổi với Tia Sáng về nội dung và kết quả của chuyến đi.    PV: Xin ông cho biết những nội dung chính trong chuyến công tác của đoàn Bộ KH&CN tại Khóa họp thường niên lần thứ 56 Đại hội đồng IAEA?  Ông Trần Chí Thành: Đây là lần đầu tiên Bộ trưởng Bộ KH&CN Việt Nam tham dự khóa họp thường niên của Đại hội đồng IAEA nhằm thúc đẩy quan hệ ngoại giao, tăng cường hợp tác giữa IAEA và Việt Nam. Đồng thời, bên lề phiên họp, đoàn Việt Nam cũng có các cuộc gặp song phương với Tổng giám đốc IAEA Yukiya Amano, các đại diện của Nhật Bản, Pháp, Nga, Mỹ, Hàn Quốc và Ấn Độ.  Trong bài phát biểu tại phiên họp đại hội đồng IAEA và ở cuộc gặp song phương với Tổng giám đốc IAEA Yukiya Amano, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã trao đổi một số nội dung chính về công tác chuẩn bị cho chương trình điện hạt nhân (ĐHN) của Việt Nam. Đây cũng là dịp để Việt Nam thể hiện sự cảm ơn về hợp tác và giúp đỡ quý giá của IAEA và đề nghị IAEA tiếp tục tiến hành những nội dung hỗ trợ rất cần thiết cho chương trình ĐHN của Việt Nam. Trong khuôn khổ phiên họp, đoàn công tác đã trưng bày một gian triển lãm giới thiệu về quá trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam trong thời gian qua.   Tại khóa họp, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã có những trao đổi cụ thể gì với IAEA về chương trình điện hạt nhân của Việt Nam?           Năng lượng hạt nhân vẫn là lựa chọn của nhiều quốc gia vì những lợi ích năng lượng hạt nhân mang lại: củng cố an ninh năng lượng, giảm tác động bất ổn của giá năng lượng hóa thạch, làm giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, làm tăng trưởng kinh tế…Bài học từ Fukushima là cần phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Với những nỗ lực của tất cả mọi thành viên IAEA, chúng ta có thể vượt qua được những thách thức trong tương lai.   Trích phát biểu của Tổng giám đốc IAEA Yukiya Amano tại khóa họp.         Cùng với việc tăng cường ứng dụng năng lượng hạt nhân trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp và bảo vệ môi trường, sau tai nạn Fukushima, Việt Nam vẫn tiếp tục triển khai Chương trình ĐHN với hai Dự án ĐHN đầu tiên là Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Với sự cộng tác của các đối tác Nga và Nhật Bản, Việt Nam đang tiến hành các nghiên cứu khả thi cho cả 2 dự án này để hoàn thành trong năm 2013 và đệ trình cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thẩm định và phê duyệt. Bộ trưởng Nguyễn Quân đã tái khẳng định cam kết của Việt Nam về sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, có trách nhiệm trong việc bảo đảm an toàn, an ninh và không phổ biến vũ khí hạt nhân; và thông báo cho IAEA biết Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư bổ sung (AP) và hoàn tất thủ tục gia nhập Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân và phê chuẩn phần sửa đổi. Bộ trưởng cũng đề nghị IAEA tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực; xây dựng khuôn khổ luật pháp; phát triển Cơ quan Pháp quy hạt nhân quốc gia và trợ giúp thẩm định an toàn dự án ĐHN; giúp Việt Nam xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân.  IAEA, trong vài tuyên bố trước đây, đã cho thấy họ rất quan tâm tới Việt Nam và Bangladesh. Vậy sự quan tâm đó đã thể hiện như thế nào trong cuộc gặp giữa Bộ trưởng Nguyễn Quân và IAEA?  Trong cuộc gặp song phương, Tổng giám đốc IAEA Yukiya Amano đã khẳng định sẽ tiếp tục hỗ trợ giúp đỡ Việt Nam. Ông ta nhấn mạnh cấu trúc của cơ quan đảm bảo an toàn hạt nhân phải độc lập để đảm bảo an toàn, xử lý sự cố theo đúng quy trình rõ ràng, không chồng chéo trong quản lý. Trong các cuộc trao đổi với bộ phận hợp tác kỹ thuật của IAEA, các chuyên gia IAEA và Viện NLNTVN đã thảo luận về việc IAEA cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam khảo sát, đánh giá các cơ sở hạ tầng nghiên cứu về năng lượng nguyên tử để đưa ra các định hướng sử dụng hiệu quả trong tương lai, hướng đến hỗ trợ tích cực cho chương trình điện hạt nhân hiện nay. Họ dự định cử một đoàn chuyên gia sang Việt Nam vào tháng 1 năm 2013 tới đây để thực hiện đánh giá tổng thể, đưa ra các báo cáo đầy đủ cùng các định hướng, phương thức khai thác cơ sở hạ tầng nghiên cứu hiện có của Việt Nam cho giai đoạn tiếp theo, có tính đến khả năng xây dựng Trung tâm Khoa học công nghệ hạt nhân mới và sự hỗ trợ cho đào tạo nhân lực ngành hạt nhân. IAEA cũng đã ký kết với Bộ GD&ĐT văn bản dự định về đào tạo nhân lực cho Việt Nam.  Ngoài cuộc gặp song phương với IAEA, đoàn công tác cũng đã làm việc và đạt được những thỏa thuận song phương nào với các nước?  Đoàn đã làm việc với hai đối tác chính là Nga và Nhật Bản để tiếp tục bàn bạc về khâu chuẩn bị cho xây dựng nhà máy ĐHN. Bộ trưởng cho biết sẽ phải áp dụng công nghệ hiện đại nhất, an toàn nhất cho nhà máy điện nguyên tử. Bộ KH&CN đang tìm hiểu nghiên cứu kỹ về 4 loại công nghệ mà phía Nhật Bản đưa ra trong báo cáo gần đây, trong đó có thiết kế lò AP-1000 của Toshiba và Westinghouse là loại lò thụ động tiên tiến, có thiết kế đảm bảo an toàn tốt nhất hiện nay. Trong đàm thoại với phía Nhật Bản, Bộ trưởng cũng bày tỏ quan ngại về khả năng cắt giảm ĐHN của Nhật Bản về zero vào năm 2030, điều này sẽ gây khó khăn cho quan hệ hợp tác phát triển ĐHN giữa hai nước mặc dù Nhật Bản khẳng định sẽ nỗ lực ở mức cao nhất.  Phái đoàn Nga thể hiện những băn khoăn về tiến độ của nhà máy ĐHN Ninh Thuận bởi quá trình chuẩn bị, đặt hàng chế tạo các thiết bị cho các tổ máy mới của họ sẽ mất nhiều thời gian và phụ thuộc vào tiến độ thông qua báo cáo khả thi và phê duyệt của Quốc hội Việt Nam. Về phía Việt Nam, chúng ta đề nghị họ hỗ trợ năng lực thẩm định an toàn hạt nhân; hỗ trợ chuyển giao kiến thức thông qua nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn của Nga; khởi động nội dung đào tạo về kiểm tra, giám sát quá trình khảo sát địa điểm, chế tạo, xây dựng và lắp đặt tại các dự án xây dựng nhà máy ĐHN cụ thể ở Nga.  Trong chuyến làm việc này, Việt Nam và Mỹ cũng tiếp tục trao đổi, đàm phán, tìm sự đồng thuận về một số vấn đề còn tồn tại liên quan đến Hiệp định 123 để sớm đi đến ký Hiệp định 123 giữa hai nước.  Lần này, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng đã ký kết với Hàn Quốc Biên bản ghi nhớ liên quan đến chuyển giao Cyclotron 13MeV và các thiết bị kèm theo, đào tạo nhân lực cho Trung tâm gia tốc Việt – Hàn.           IAEA dự định cử một đoàn chuyên gia sang Việt Nam vào tháng 1 năm 2013 tới đây để thực hiện đánh giá tổng thể, đưa ra các báo cáo đầy đủ cùng các định hướng, phương thức khai thác cơ sở hạ tầng nghiên cứu hiện có của Việt Nam cho giai đoạn tiếp theo, có tính đến khả năng xây dựng Trung tâm Khoa học công nghệ hạt nhân mới và sự hỗ trợ cho đào tạo nhân lực ngành hạt nhân.         Được biết, chúng ta có tham gia Diễn đàn khoa học về lương thực thực phẩm cho tương lai (Food for the Future) tại khóa họp. Ông có thể cho biết thông điệp chính của Việt Nam tại diễn đàn là gì?  Ngoài bài phát biểu tại Diễn đàn, Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng trả lời phỏng vấn xung quanh vấn đề này. Ông cho biết việc tăng năng suất trồng trọt đã góp phần tạo nền tảng vững chắc cho an sinh xã hội và sự tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam, tuy nhiên, an ninh lương thực của Việt Nam vẫn còn chưa thực sự bền vững; tổ chức sản xuất nông nghiệp chậm được đổi mới; cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất còn nhiều bất cập. Do vậy, Chính phủ Việt Nam đã có những chủ trương, chính sách, chương trình, dự án nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để tạo ra các giống cây trồng có năng suất và chất lượng cao, duy trì và cải tạo chất lượng đất cây trồng, giảm tiêu hao nước và năng lượng. Ở lĩnh vực này, chúng ta cũng nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật của IAEA thông qua các dự án tạo ra các giống cây trồng như lúa, ngô, đậu có năng suất và chất lượng cao, có khả năng chống chịu bệnh dịch và phù hợp với các tiểu vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam.  Xin cảm ơn ông!   Thu Quỳnh thực hiện.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Igor Kurchatov – Người phá thế độc quyền hạt nhân      Các dự án nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân của các quốc gia thường đòi hỏi vai trò không thể thiếu của những tổng công trình sư tài năng, người được cộng đồng khoa học tin tưởng lựa chọn và được Nhà nước ủy thác toàn quyền. Nếu như nước Mỹ có J. Robert Oppenheimer thì đầu những năm 1940 Liên Xô có GS. Igor Kurchatov.      Bộ ba nhà khoa học Nga: Sergey Korolyov, kỹ sư và nhà thiết kế tên lửa; Igor Kurchatov và Mstislav Vsevolodovich Keldysh, nhà toán học, cơ học.  Mùa thu năm 1942, tình hình chiến sự trên các mặt trận  Liên Xô – Đức vẫn hết sức căng thẳng. Trong tình thế “nước sôi lửa bỏng”, theo lời đề nghị của các nhà khoa học Xô-viết, Chủ tịch Hội đồng nhà nước về quốc phòng của Liên Xô là J. Stalin đã ký sắc lệnh “Về việc tổ chức các công việc liên quan đến Uran” vào ngày 28/9/1942. Sắc lệnh nêu rõ: “Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô phải khôi phục các công việc nghiên cứu đối với việc sử dụng năng lượng nguyên tử bằng phân rã hạt nhân uran và trình Hội đồng Quốc phòng báo cáo về khả năng chế tạo bom Uran hoặc nhiên liệu Uran vào ngày 1/4/1943.  Vì mục đích này cho phép Đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô thành lập phòng thí nghiệm chuyên biệt về hạt nhân nguyên tử trực thuộc Viện…”  Ngày 11/2/1943, Hội đồng Quốc phòng ban hành nghị quyết số 2872 về tổ chức công việc nhằm sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích quân sự, trong đó giao việc lãnh đạo toàn bộ công việc về uran cho GS. Igor Kurchatov. Nghị quyết này cũng cho phép Chủ tịch đoàn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô chuyển nhóm cán bộ của Phòng thí nghiệm chuyên đề về hạt nhân nguyên tử từ thành phố Kazan về Moscow để thực hiện phần công việc quan trọng nhất mà nhiệm vụ đặt ra. Ngày 12/4/1943, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên xô, viện sỹ A.A.Baikov ký quyết định thành lập Phòng thí nghiệm số 2 dưới sự lãnh đạo của Igor Kurchatov, nhà khoa học vật lý hạt nhân thực nghiệm mới qua tuổi 40, nhằm thực hiện nghị quyết trên của Hội đồng Quốc phòng.  Nhà nghiên cứu tài năng  Sinh ra tại miền quê vùng Simsky Zavod phía Nam Ural, năm 20 tuổi, Kurchatov tốt nghiệp trường ĐH Tổng hợp Tavrichesky ngành Toán Lý, công trình khoa học đầu tiên của ông là “Về vấn đề phóng xạ của tuyết”, trong đó đưa ra số liệu đo đạc thực nghiệm để tìm mức phóng xạ trung bình của tuyết là 5.51×10 mũ -11Curie/gram.  15 năm tiếp theo (1925-1940), Kurchatov hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nghiên cứu thủy triều, dao động của mặt biển, sóng biển ở biển Azov, Hắc Hải đến vật lý các chất điện môi, chất bán dẫn, vật lý và kỹ thuật các chất cảm biến đến vật lý hạt nhân, kỹ thuật gia tốc và máy gia tốc ở Viện Vật lý kỹ thuật Leningrad (LPTI). Ông là tác giả cuốn sách chuyên khảo “Độ bền điện của chất”, “Các chất điện môi tinh thể”, đồng tác giả phát minh chất ngưng tụ có dung lượng thay đổi (bằng sáng chế của Liên Xô cấp năm 1931), chế tạo thiết bị cao tần và ống gia tốc, nhờ đó đã nhận được chùm proton đạt năng lượng 350.000 electrovolt (1931-1933).  Kurchatov chính thức tiếp cận lĩnh vực năng lượng hạt nhân và triển khai nghiên cứu một cách có hệ thống từ tháng 12/1932, khi được cử làm Phó chủ nhiệm nhóm nghiên cứu chuyên biệt về hạt nhân nguyên tử ở LPTI, viện do thầy của ông, Viện sỹ A.F. Ioffe sáng lập từ năm 1918. Ngày 1/5/1933, Kurchatov là trưởng bộ phận Vật lý hạt nhân LPTI.      “Kurchatov là nhà khoa học có một không hai, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của mình, một nhà nghiên cứu tài năng thiên bẩm, một người yêu nước vô hạn đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Là người cứng rắn đối với bản thân và sự nghiệp nhưng Igor Vasilyevich lại là người bạn chung thủy, rất mực chân thành quan tâm đến đồng nghiệp. Lòng phúc hậu bất biến và sự khôi hài thân tình của anh ấy đã khiến cho những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn” (Viện sỹ Ioffe).      Với nhóm công trình về vật lý chất điện môi và các chất bán dẫn, Kurchatov được phong TS Toán lý năm 1934. Trong các năm 1933-1935, Kurchatov cùng đồng nghiệp có một loạt công trình nghiên cứu về các phản ứng hạt nhân với proton, phóng xạ nhân tạo sinh ra bởi neutron chậm, phát hiện hiện tượng đồng phân hạt nhân, sự hấp thụ và tán xạ neutron trong vật chất, các phản ứng hạt nhân với neutron. Ông xuất bản sách chuyên khảo “Sự phân rã hạt nhân nguyên tử”, giáo trình vật lý và giáo trình “Các hiện tượng điện tử” dành cho sinh viên trường ĐH Tổng hợp. Ông được phong Giáo sư vào tháng 6/1935.  Trong các năm 1935-1940, Kurchatov tiến hành ở diện rộng những nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý neutron. Ông phụ trách bộ môn Vật lý thực nghiệm (1935-1941), Vật lý lý thuyết (1937 đến 1938),  trường ĐH Sư phạm Quốc gia mang tên M.H.Pokrovski ở Leningrad, trưởng bộ phận Vật lý và phòng thí nghiệm Cyclotron của Viện Radium quốc gia (1935-1940), phụ trách khởi động và đưa vào vận hành máy gia tốc Cyclotron ở Viện này vào năm 1936.  Từ cuối tháng 9/1936, cùng với A.I. Alikhanov, ông lãnh đạo Viện Thiết kế và Xây dựng máy gia tốc của LPTI và từ giữa tháng 11/1936, là trưởng Phòng nghiên cứu các phản ứng hạt nhân của LPTI. Ngày 11/6/1939, Kurchatov được cấp giấy chứng nhận bản quyền sáng chế về việc chế tạo thiết bị tạo ra nguồn khuyếch tán của neutron.  Kurchatov cùng hai học trò của mình là Flerov và Pertzak nghiên cứu sự phân chia các hạt nhân nặng và năm 1940 đã phát minh một dạng phóng xạ mới: sự phân hạch tự phát của uran, một trong những phát minh quan trọng đối với việc sử dụng năng lượng nguyên tử. Một khía cạnh đáng nhớ là khi đăng ký bản quyền phát minh, Kurchatov không ghi tên mình vào danh sách đồng tác giả, vì “điều quan trọng đối với ông là thành tích của các học trò” (G.N.Flerov) và “ông sợ rằng sau này, những người thực hiện tiếp sẽ bị quên đi và người đời chỉ còn nhớ tên ông ấy mà thôi” (K.A.Pertzak).  Sau thời gian nghiên cứu khả năng thực hiện phản ứng dây chuyền hạt nhân nguyên tử, ngày 29/8/1940, I.V. Kurchatov cùng các đồng sự gửi thư tới đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đệ trình Chương trình kế hoạch ban đầu của các công việc cần triển khai nhằm sử dụng năng lượng trong các phản ứng dây chuyền của uran. Chương trình nghiên cứu này bao gồm:  1. Điều chế 1 kg kim loại uran tinh khiết ở một trong các Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.  2. Xác định các điều kiện phân nhánh phản ứng dây chuyền trong khối lượng kim loại uran (G.N. Flerov ở LPTI thực hiện)  3. Tìm hiểu ảnh hưởng của neutron sinh ra từ sự phân hạch uran 238 lên tiến trình phản ứng dây chuyền trong hỗn hợp uran và nước cũng như tìm hiểu các điều kiện thực hiện phản ứng dây chuyền trong hỗn hợp uran-nước nặng (IU.B.Khariton và IU.B. Zendovich ở Viện Lý-Hóa Leningrad thực hiện).  4. Tìm hiểu đại lượng các tiết diện bắt neutron chậm bởi nước nặng, heli, carbon, oxy và các nguyên tố nhẹ khác (L.A.Rusinov ở LPTI; A.I.Laypunski ở Viện Vật lý kỹ thuật Ufa và I.I Gurevich ở Viện Vật lý thuộc Viện Hàn lâm khoa học thực hiện).  5. Tìm hiểu khả năng sản xuất một khối lượng lớn nước nặng cũng như việc làm giãn đồng vị uran 235.  Với bề dày hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học và tư cách, đạo đức của một nhà khoa học-chiến sĩ, vào tháng 3/1943, GS.TS I. V. Kurchatov được nhà nước Xô-viết giao trách nhiệm chủ trì chương trình Uran nhằm thiết kế chế tạo vũ khí hạt nhân- bom uran. Chưa bao giờ Kurchatov hình dung là mình được giao trọng trách lớn như vậy. Trước đó trong thư gửi V.M.Molotov, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 27/11/1942, ông đã đề xuất “do sự cần thiết triển khai rộng công việc nghiên cứu về uran phải thu hút lực lượng khoa học và kỹ thuật chuyên nghiệp nhất của Liên Xô. Ngoài các nhà khoa học hiện đang nghiên cứu vấn đề uran, nên có sự tham gia của các GS. A.I.Alikhanov, A.P. Alexandrov, A.I. Sannicov và nhóm của các ông. Để lãnh đạo nhiệm vụ phức tạp này nên thiết lập một ủy ban đặc biệt trực thuộc Hội đồng Quốc phòng nhà nước mà đại diện khoa học trong Ủy ban này là các Viện sĩ A.F.Ioffe, P.L.Kapitsa và N.N.Semenov…”. Kurchatov tin rằng vị trí lãnh đạo chương trình uran phải là một trong các viện sĩ được ông nhắc đến.  Thực ra, trước khi có Nghị quyết số 2872 (ban hành ngày 11/2/1943), J.Stalin và Hội đồng Quốc phòng nhà nước đã triệu tập các viện sĩ trên về Moscow để thảo luận xác định nhiệm vụ triển khai các nghiên cứu về uran phục vụ cho mục đích quốc phòng. Khi đặt vấn đề ai sẽ là người đứng đầu việc lãnh đạo khoa học thì tất đều nhất trí giới thiệu Viện sĩ Ioffe, Viện trưởng Viện LPTI, nơi có những phòng thí nghiệm hạt nhân tốt nhất của Liên Xô. Tuy nhiên, Viện sĩ Ioffe đề cử GS Kurchatov, người học trò xuất sắc nhất của mình. Đề nghị này ngay lập tức đã được chấp thuận.  Có thể lưu ý thêm rằng khi nhận nhiệm vụ đặc biệt này. Kurchatov chưa phải là Đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô. Ông chỉ được kết nạp vào Đảng năm năm sau đó (tháng 8/1948).  Làm nên những chuyện phi thường  GS Kurchatov đã tập hợp được những nhà khoa học, những chuyên gia ưu tú, một đội ngũ đông đảo kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề để làm nên những chuyện phi thường trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân. Họ đã cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô vào 6 giờ sáng ngày 29/8/1949 tại Semipalatinsky (Kazakhstan), và chỉ bốn năm sau, vào ngày 12/8/1953 cho nổ quả bom nhiệt hạch (còn gọi là bom khinh khí hoặc bom hydro) đầu tiên trên thế giới. Bằng cách đó, Liên Xô đã phá thế độc quyền hạt nhân của Mỹ.      Tại cuộc họp liên tịch của Hội đồng Liên bang và Hội đồng Dân tộc thuộc Xô-viết tối cao Liên Xô vào ngày 15/1/1960, Viện sĩ Kurchatov đã nói một câu rất nổi tiếng trong bài phát biểu cuối cùng của cuộc đời: “Tôi hạnh phúc vì đã được sinh ra ở nước Nga và đã cống hiến toàn bộ cuộc sống của mình cho nền khoa học nguyên tử của Liên Xô! Tôi tin tưởng sâu sắc và chắc chắn rằng nhân dân chúng ta, chính phủ của chúng ta sẽ trao thành tựu của nền khoa học này cho nhân loại”.      Theo sáng kiến và dưới sự lãnh đạo khoa học của Kurchatov, Liên Xô đã xây dựng và đưa vào vận hành khai thác nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới vào ngày 26/6/1954 ở Obninsk. Ngày nay người ta coi đó là thời điểm ra đời của điện nguyên tử, khẳng định khả năng sử dụng năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình, góp phần đáp ứng nhu cầu năng lượng cho nhân loại.  Trên những diễn đàn chính thức của Xô Viết tối cao Liên Xô, Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như ở một số hội nghị quốc tế, Viện sĩ Kurchatov luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải chấm dứt việc thử bom nguyên tử, bom khinh khí và giải trừ vũ khí hạt nhân. Hội đồng hòa bình thế giới đánh giá cao quan điểm này nên đã tặng ông Bằng danh dự và Huy chương bạc Hòa bình mang tên Joliot-Curie (tháng 4/1959).  Ba năm sau, vào ngày 5/12/1957, Liên Xô cho hạ thủy tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới mang tên Lenin. Tàu sử dụng hai lò phản ứng hạt nhân được thiết kế chế tạo dưới sự lãnh đạo của I.V Kurchatov và A.P. Alexandrov.  Làm việc với tinh thần khẩn trương, không ngơi nghỉ, Viện sĩ Kurchatov đã chỉ đạo việc triển khai hàng loạt dự án lớn như xây dựng máy gia tốc proton 50 GeV (Gega electron volt) sau nâng lên 70 GeV ở Protvino, máy gia tốc thẳng electron 2 GeV ở Kharkov; máy gia tốc vòng electron ở Yerevan, máy gia tốc đồng bộ (Synchrotron) ở Gatsina; máy gia tốc chuyên dụng gia tốc các ion nặng cho tổng hợp các nguyên tốc nhân tạo tiêu uran; xây dựng các lò phản ứng nghiên cứu VVR-C. VVR-M và IRT ở các nước dân chủ Đông Âu; thử nghiệm các lò phản ứng kiểu mới cho các nhà máy điện nguyên tử như lò nước sôi VK-50, lò neutron nhanh BN-60, lò CM-2.  Ông đã dựng chương trình phát triển các nghiên cứu về nhiệt hạch ở Liên Xô. Theo đề xuất của ông, “Ogra” và “Tokamak”, các thiết bị phục vụ nghiên cứu tổng hợp nhiệt hạch giữ ion trong tình trạng từ trường với nhiệt độ cao, đã được thiết kế và lắp đặt tại Viện Năng lượng nguyên tử (IAE). Sự kiện này được nhà vật lý Anh, Sir John Cockcroft, đánh giá như một kỳ tích tại Diễn đàn Hội nghị quốc tế Geneva lần thứ II về ứng dụng năng lượng nguyên tử (1958).  Viện sĩ Kurchatov cũng là người phụ trách việc xây dựng lò phản ứng dùng chất làm chậm là grafit và hoạt động theo chế độ xung, gọi tắt là lò IGR, mà ông đặt tên cho nó là “Dout-3” (tiếng Nga có nghĩa là đến cú đấm-đột quỵ thứ ba”). Lò được khởi công xây dựng vào tháng 5/1958 và đưa vào vận hành năm 1960.  12h15 phút trưa ngày 7/2/1960, trong khi đang thảo luận công việc với Viện sĩ Kharitov, do bị nghẽn động mạch tim, Kurchatov đột ngột qua đời ở tuổi 57. Đây là tổn thất to lớn cho nền khoa học của Liên Xô và nhân loại.  Có lẽ cũng cần nhắc để giới khoa học Việt Nam nhớ rằng chính vào mùa xuân năm 1956, Igor Vasilyevich Kurchatov đề nghị với Chính phủ Liên Xô về việc thành lập Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân (JINR) ở Dubna để các nhà khoa học hạt nhân trong các nước XHCN có thể cùng hợp tác làm việc vì lợi ích chung. Sáng kiến này đã được Viện Hàn lâm khoa học, Ủy ban Năng lượng nguyên tử của Liên Xô ủng hộ, Chính phủ Liên Xô phê duyệt và ký kết tại cuộc họp đại diện các nước XHCN ở Moscow vào ngày 26/3/1956. Đoàn cán bộ khoa học Việt Nam đầu tiên được Việt Nam cử sang công tác tại Dubna gồm ba người: Dương Trọng Bái, Hoàng Phương và Nguyễn Đình Tứ (trưởng đoàn). Có thể khẳng định rằng, từ Trung tâm khoa học hạt nhân này, một số nhà khoa học thuộc thế hệ đàn anh trong lĩnh vực hạt nhân nguyên tử của Việt Nam đã trưởng thành và sau này đã khẳng định được tên tuổi của mình: về nghiên cứu lý thuyết là Viện sĩ, GS Nguyễn Văn Hiệu, các GS, TS Đào Vọng Đức, Cao Chi, Võ Thị Hồng Anh, Đoàn Nhượng…, về nghiên cứu thực nghiệm có các GS.TS Nguyễn Đình Tứ, Phạm Duy Hiển, Ngô Quang Huy, Trần Thanh Minh, Nguyễn Trác Anh…       Author                Nguyễn Mộng Sinh        
__label__tiasang INDEX – hoa tiêu trong mỗi cuốn sách      Trong giới nghiên cứu của ta hình như chẳng mấy khi quan tâm đến Index dù nó không chỉ là công cụ hướng dẫn truy tìm linh hồn căn cốt của cuốn sách bằng cách chỉ ra hệ thống lý thuyết của cuốn sách đó mà còn là cái làm nên văn hóa đọc, văn hóa xuất bản và văn hóa khoa học.      Một góc cửa biển Tư Hiền (Phú Lộc, Huế), địa danh có lịch sử thay đổi tên gọi nhiều lần.  Khi đọc về Biển Đông, chúng ta sẽ có hàng ngàn từ khóa, bao gồm các địa danh tên đảo, tên cồn, tên cù lao, tên các cửa biển, các vũng, các vịnh. Mỗi địa danh ấy lại có lịch sử thay đổi tên gọi của nó. Như cửa Tư Dung có tên Nôm là cửa Ông; cửa Biện, triều Lý là Ô Long, triều Mạc là Tư Khách, từ thời Thiệu Trị gọi là Tư Hiền. Chẳng những địa danh, mà nội dung có thể đề cập đến hàng trăm tên người, gồm tên-tự- hiệu các nhân vật lịch sử; Việt Nam có, Trung Quốc có, Hà Lan, Pháp… cũng có. Trí nhớ của con người sao có thể nhớ hết được ngần ấy chi tiết? Mà đâu chỉ có thế, còn có tên của các học giả- để người làm nghiên cứu có thể biết được lịch sử vấn đề; còn có các phẩm, hàm, trật, ngạch, tên của hệ thống hành chính, niên đại, triều đại, niên hiệu… tên các chức danh quan lại các cấp các đời… Index giúp người đọc tìm được các thông tin đó trong đại dương kí tự hàng vạn lượt chữ của một cuốn sách. Học thuật cũng như tri thức sử học phát triển được là nhờ công cụ index này.  Nhưng không chỉ có vậy, index còn là một hướng dẫn truy tìm linh hồn căn cốt của cuốn sách bằng cách chỉ ra hệ thống lý thuyết của cuốn sách đó. Một cuốn sách, nhất là sách chuyên luận khoa học, không thể nào không áp dụng một lý thuyết bất kỳ nào đó. Mà một lý thuyết bao giờ cũng có một bộ khung khái niệm, ít thì một đôi chục nhiều có thể đến cả trăm. Ví dụ như “nghiên cứu Biển Đông” (Đông hải học) – một ngành khoa học mới hình thành ở Việt Nam, là một bộ phận của Việt Nam học. Nhưng ngành này có bao nhiêu chuyên ngành, có bao nhiêu thuật ngữ, thì hiện chưa có thống kê nào hết. Có quá nhiều phân ngành khác nhau vẫn chưa được giới học thuật xác nhận và định vị, ngoài luật biển, kinh tế biển và thương mại biển. Ví dụ như khi đọc cuốn “Hoàng Sa Trường Sa- lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế” (của Nguyễn Q. Thắng, Nhà xuất bản Tri thức, 2008), người đọc tưởng xác định được ngay đây là sách viết từ góc độ luật biển (historical marine law). Thế nhưng, việc không có index khiến việc tìm hiểu hệ thống thuật ngữ trở nên khó khăn. Phải giở đến các chương V- chương VI của cuốn sách, người đọc mới lọc lựa ra được mấy từ khóa như tính chất địa dư, tính chất pháp lý, vùng tranh chấp, quyền sở hữu, nguyên tắc tiếp giáp địa lý, sự thiết lập chủ quyền… Nhưng, các từ đó được triển khai như thế nào, với nội hàm ra sao ở từng vị trí trang dòng trong các chương sách khác, thì chắc còn phải mất nhiều công sức nữa.  Người đọc cũng khó lòng mường tượng được tác giả tư duy bằng các hệ khái niệm như thế nào trong so sánh với các nghiên cứu khác. Hệ thống thuật ngữ còn cần được trình bày bằng các chỉ mục đa tầng, có lớp lang và có hệ thống, có tính liên văn bản. Tức là, một mục từ cần có các dấu hiệu liên kết về nội hàm trong mạng lưới khái niệm của lý thuyết đó. Hơn thế nữa, một thuật ngữ tiếng Việt cũng cần được chú thích bằng một thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ khác (như Anh, Trung, Pháp…). Chỉ khi “canh dòng thuật ngữ” như vậy, các học giả mới kiểm soát được tính thống nhất của các thuật ngữ, hay độ chênh của các lối dịch thuật, từ đó mà giới học thuật mới “cùng chung tiếng nói” hay có cơ hội nói giống cái ngôn ngữ mà học thuật quốc tế đang sử dụng. Làm khoa học là tư duy bằng khái niệm, một cuốn sách học thuật phải trình bày trước mắt người đọc hệ thống khái niệm được triển khai. Index là công cụ hiện thực hóa hệ thống ấy trước mắt người đọc.  Một ví dụ khác là cuốn “Tập bản đồ hàng hải 1841 ở thư viện Đại học Yale- dịch và chú giải- nghiên cứu về những ghi chép trong sử liệu Trung Hoa liên quan đến các địa danh ven bờ và hải đảo Việt Nam” – cuốn sách về sử liệu học Biển Đông. Đối tượng khảo sát là văn bản “bản đồ hàng hải”; nhưng thực chất cuốn sách này không hề nghiên cứu đến “hàng hải học lịch sử”/ “hải trình học lịch sử” mà là nghiên cứu về “hải danh học lịch sử”. Người đọc nếu không để ý sẽ khó có đủ kiên nhẫn để đọc hết ngần ấy trang sách với hàng trăm địa danh lạ lẫm, với những chú thích khảo cứu công phu có thể làm nản lòng bất kỳ người đọc ham học nào. Cuối sách nếu không có index, người đọc sẽ lạc lối trong những ma trận của lịch sử.  Index (chỉ mục, sách dẫn,…) đơn giản chỉ là một công cụ chức năng kiểu như một “tiểu google” cho một cuốn sách, dùng để giúp cho người đọc có thể tìm kiếm các nguồn thông tin cần yếu mà mình quan tâm thông qua các từ khóa (keywords) được sắp dưới dạng từ điển Alphabet.  Người đọc hiện nay sẵn lòng đọc cả trăm trang về Biển Đông với tinh thần của một người có trách nhiệm với vấn đề thời sự của đất nước. Đọc hết cuốn này rồi lại đọc cuốn khác, cứ như thế việc đọc như một quá trình tự nhiên, giở từ trang đầu và đọc hết cho đến trang cuối. Nhưng một người đọc chuyên nghiệp, một học sinh chuyên nghiệp, hay một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp không đọc với quy trình như vậy. Giở một cuốn sách ra, trước tiên người ta sẽ xem mục lục của sách, để xem cơ cấu nội dung của cuốn sách, sau đấy sẽ đến phần dẫn luận hay giới thiệu của tác giả để xem cách thức, lý thuyết và phương pháp luận, cũng như cách tiếp cận của soạn giả. Đọc dẫn luận sẽ giúp người đọc thâu tóm được toàn bộ phông nền tri thức cũng như bối cảnh xã hội để biết vì sao người viết lại soạn nên cuốn sách ấy. Nếu cẩn thận thêm nữa, ta sẽ đọc thêm phần kết luận, và không thể thiếu việc lần giở những trang index cuối sách để tìm những chìa khóa, và hệ thống thuật ngữ ở đằng sau sách. Index là công cụ, nhưng lại là cái làm nên văn hóa đọc, văn hóa xuất bản, và văn hóa khoa học.  Nghiên cứu Biển Đông là một lãnh vực mênh mông, còn index là hoa tiêu chỉ đường cho độc giả trên con đường khám phá và kết nối tri thức. Nếu không có index, người đọc sẽ chỉ như một bọt nước lênh đênh trên những trang sách vô định!    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang IPP2: Phòng thí nghiệm chính sách      Với một số vốn khiêm tốn là 11 triệu Euro, chỉ bằng khoảng 1/10 số tiền mà IDGVV mang theo vào Việt Nam năm 2004 để khuấy động bức tranh khởi nghiệp ở Việt Nam, IPP2 đã kích hoạt được những thành tố trong hệ sinh thái khởi nghiệp mà trước đây hoàn toàn bị lãng quên bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm.      IPP2 mời ông Esko Aho tới Việt Nam để trao đổi với các cán bộ Bộ KH&CN về cải thiện các chính sách hỗ trợ Đổi mới sáng tạo.  Linh hoạt để tối ưu hóa nguồn lực  Với định hướng ban đầu là tập trung tài trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, người ta không khỏi hình dung rằng IPP2 rồi cũng đi theo con đường của các quỹ tài chính (ngoại trừ việc nó không lấy cổ phần của startup). Mặc dù Chương trình IPP2 được xây dựng với ba cấu phần: phát triển thế chế và xây dựng năng lực, phát triển quan hệ đối tác đổi mới sáng tạo, hỗ trợ các dự án đổi mới sáng tạo (các startup và đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp), ban đầu các chuyên gia Phần Lan khuyến nghị dành ưu tiên đặc biệt cho cấu phần thứ ba, còn cấu phần thứ nhất chỉ là phụ, thậm chí được coi là mối quan tâm sau cùng. Tuy nhiên, Ban quản lý IPP2 lại không nghĩ như vậy. “IPP2 không phải là một thiết chế tài chính, không thể có một nguồn tài chính quá dồi dào để chỉ hỗ trợ cho các dự án khởi nghiệp và mong từ đó sẽ mang lại tác động cho Việt Nam” – Chị Trần Thị Thu Hương, giám đốc IPP2 chia sẻ. Khi dự án vừa mới khởi động, phía Việt Nam kiên trì thuyết phục phía bạn đưa cấu phần hỗ trợ xây dựng thể chế và nâng cao năng lực thành nội dung quan trọng nhất vì cho rằng đây là cách bắt đầu bền vững và lan tỏa tốt nhất, tạo môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.  Vào năm 2015, IPP2 đưa các chuyên gia quốc tế đến Việt Nam để tư vấn, hỗ trợ các cơ quan soạn thảo văn bản pháp luật của Bộ KH&CN, đồng thời dự kiến đưa các thành viên chủ chốt của nhóm soạn thảo ra nước ngoài để thực tập, học hỏi kinh nghiệm “bếp núc” trong thiết kế chính sách. Phía Việt Nam được quyền lựa chọn chuyên gia và đối tác làm việc. Phương thức hỗ trợ này đã phát huy được thế mạnh trong việc giúp Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN xây dựng Đề án 844 và Vụ Đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ trong soạn thảo Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi. Tuy nhiên, việc đưa cán bộ hoạch định chính sách ra nước ngoài thực tập đã không thực hiện được do đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản không tìm được đối tác nước ngoài sẵn sàng tiếp nhận cán bộ Việt Nam.  Ban quản lý IPP2 hiểu rằng, muốn có chính sách tốt, cần cán bộ hoạch định chính sách có năng lực. Việc đưa chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam hay đưa cán bộ Việt Nam ra nước ngoài để khảo sát, học hỏi kinh nghiệm chỉ là giải pháp ngắn hạn. Để bảo đảm tính bền vững, vào năm 2016, kế hoạch đoàn ra cho các cơ quan của Việt Nam được dừng lại, toàn bộ số tiền dự kiến dành cho kế hoạch này chuyển sang cho việc đưa 21 cán bộ hoạch định chính sách về quản lý KH&CN, đổi mới sáng tạo cấp Vụ thuộc Bộ KH&CN và lãnh đạo Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ tham gia khóa đào tạo về xây dựng chính sách về KH&CN và đổi mới sáng tạo của Học viện lãnh đạo Aalto EE (Aalto University Executive Education) tại Phần Lan và Singapore. Aalto EE từng là nơi đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nga với người đứng lớp là các chuyên gia hàng đầu thế giới như Goran Roos (nhà sáng lập ngành khoa học về nguồn vốn trí tuệ hiện đại và được tạp chí kinh doanh của Tây Ban Nha “Direccion y Progreso” bình chọn là một trong mười ba nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất thế kỉ 21) và Esko Aho (nguyên Thủ tướng Phần Lan và Phó chủ tịch Hội đồng quản trị của Nokia) giảng dạy. Năm 2017, IPP2 mở rộng phạm vi và đối tượng đào tạo ngắn hạn tới cán bộ hoạch định chính sách của các bộ, cơ quan ngang bộ như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ,… với quan điểm đổi mới sáng tạo là vấn đề liên ngành và cần sự thấu hiểu, đồng thuận chung giữa các bộ, ngành. Trước khi IPP2 kết thúc, họ đã nỗ lực kết nối Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo với Đại học Aalto, Đại học Tampere của Phần Lan và một số cơ sở giáo dục mạnh của Singapore để hợp tác đào tạo với mong muốn thay vì cử đoàn ra nước ngoài học tập, Việt Nam sẽ sớm có được đơn vị đào tạo cán bộ quản lý, quản trị về đổi mới sáng tạo thực sự mạnh như nước bạn Phần Lan và Singapore.      Khi dự án vừa mới khởi động, phía Việt Nam kiên trì thuyết phục phía bạn đưa cấu phần hỗ trợ xây dựng thể chế và nâng cao năng lực thành nội dung quan trọng nhất vì cho rằng đây là cách bắt đầu bền vững và lan tỏa tốt nhất, tạo môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.      IPP2 không chỉ tập trung vào nội dung “phát triển thể chế” mà còn thay đổi cách tiếp cận “xây dựng năng lực” về đổi mới sáng tạo. Trong năm đầu, Dự án tập trung cho việc đào tạo các huấn luyện viên khởi nghiệp (training of trainers – ToT1) vì cho rằng, Việt Nam cần gây dựng đội ngũ này để tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Thực ra, chỉ dừng lại ở đó thôi, IPP2 cũng đã đủ tạo ra sự khác biệt và đem đến những thử nghiệm thú vị, bởi ở Việt Nam cách đây ba năm khi tổ chức khóa ToT đầu tiên, khái niệm cố vấn, huấn luyện viên khởi nghiệp vẫn còn rất mới ở Việt Nam chứ chưa nói gì đến việc tổ chức các khóa đào tạo đội ngũ này. Nhưng IPP2 đã tiến thêm một bước nữa bằng cách lan rộng chương trình của mình đến các trường đại học – đối tượng chưa được nhắm đến trong kế hoạch ban đầu.  Cũng giống như hoạt động hỗ trợ chính sách, hoạt động hợp tác và hỗ trợ các trường đại học Việt Nam cũng trải qua ít nhất là bốn thử nghiệm: Thứ nhất, họ đã mở rộng đối tượng từ tài trợ cho các startup và đơn vị hỗ trợ startup sang tài trợ cả các trường đại học triển khai dự án đào tạo về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Thứ hai, IPP2 tổ chức các khóa ToT2 về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp dành riêng cho các giảng viên đại học. Sau đó, nhận được phản hồi của các học viên rằng, các nhóm giảng viên với tiếng nói từ cơ sở không thể tạo ra sự khác biệt nếu lãnh đạo các trường không thực sự đổi mới tư duy. Từ đó, IPP2 đã thực hiện ý tưởng đưa cán bộ lãnh đạo (hiệu trưởng, hiệu phó) các trường đại học sang Phần Lan tham dự một khóa đào tạo tập trung tại Học viện đào tạo cán bộ lãnh đạo của Đại học Aalto (Aalto EE). Cuối cùng, IPP2 đã lựa chọn một số trường đại học và cơ sở đối tác để giúp họ tổ chức các khóa đào tạo giảng viên về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp theo hình thức mô phỏng lặp lại khóa ToT2 của IPP2. Theo đó, IPP2 chỉ cung cấp chuyên gia quốc tế cho các khóa đào tạo, toàn bộ chương trình và khâu tổ chức đều do các đơn vị này tự thực hiện. Mặc dù hiệu quả của các con số (đào tạo cho 150 giảng viên ở 50 trường đại học) vẫn có gây tranh cãi do khó đo lường được trực tiếp kết quả của các thử nghiệm này, tuy nhiên, ít nhất, Chương trình đã dám triển khai những sáng kiến mới mẻ, chưa từng thực hiện ở Việt Nam trong việc tìm cách tác động tới hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của các trường đại học, kết nối đại học với nhau và với khối doanh nghiệp, từ đó, đạt mục tiêu bền vững ngay cả sau khi IPP2 kết thúc sứ mệnh của mình tại Việt Nam.  Linh hoạt để thử nghiệm chính sách  Trong buổi trao đổi với Tia Sáng, chị Trần Thị Thu Hương, Giám đốc dự án IPP2, nhắc nhiều đến khái niệm “continuous improvement” (tạm dịch là liên tục cải tiến) – bản chất của khởi nghiệp tinh gọn (lean startup) và coi đó là triết lí mà Chương trình theo đuổi. Đáng lẽ IPP2 hoàn toàn có thể chọn con đường đã vạch sẵn là chỉ tập trung tài trợ cho các startup. Thậm chí, còn có một con đường dễ hơn và ít tốn kém hơn mà vẫn đạt được mục đích hỗ trợ khởi nghiệp là gửi các startup Việt Nam tới các khóa tăng tốc, vườn ươm hoặc các lớp đào tạo nổi tiếng ở nước ngoài. Thực tế là ban đầu, các khóa ngắn hạn của Đại học Babson, đại học hàng đầu nước Mỹ về đào tạo quản trị kinh doanh và khởi nghiệp đã được nhắm tới. Nhưng thay vì không làm như vậy, IPP2 đã dành nguồn lực để những hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp này được thực hiện tại Việt Nam, không chỉ để tạo ra tác động lan tỏa tới hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam mà còn nhằm mục đích khác.  Lí do vì sao chúng ta không copy một mô hình đã có sẵn đã thành công ở nước ngoài về Việt Nam mà IPP2 phải vất vả tự mình thử nghiệm nhiều phương thức hỗ trợ như vậy?  Đằng sau hoạt động của IPP2 luôn có yếu tố thử nghiệm chính sách. IPP2 trình diễn các mô hình, công cụ hỗ trợ khởi nghiệp học hỏi từ Phần Lan và các quốc gia tiên tiến nhưng được điều chỉnh cho phù hợp với  bối cảnh, điều kiện và nhu cầu riêng có của Việt Nam. Bài học thành công hoặc chưa thành công của IPP2 sẽ minh chứng cho việc các mô hình và công cụ đó có thể áp dụng và mang lại hiệu quả tích cực cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hay không.    Nhóm cán bộ hoạch định chính sách tham gia khóa học đầu tiên về đổi mới sáng tạo tại Aalto EE vào cuối năm 2016. Người đứng lớp trong ảnh là Esko Aho, cựu Thủ tướng Phần Lan và Phó chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn Nokia.  Ví dụ, các tiêu chí mà IPP2 áp dụng trong đợt kêu gọi tài trợ đầu tiên cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong năm 2015 có thể gợi suy tới các vấn đề chính sách hỗ trợ khởi nghiệp như sau:  Nhà nước nên có trách nhiệm chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân và cần áp dụng cơ chế hợp tác công tư (IPP2 hỗ trợ 70%, doanh nghiệp khởi nghiệp phải tự lo 30% kinh phí dự án);  Doanh nghiệp khởi nghiệp cần được hỗ trợ cả về tài chính và hỗ trợ mềm – chuyên gia tư vấn (IPP2 kết hợp đồng thời hai hình thức, tài trợ bằng tiền và hỗ trợ tư vấn, đào tạo thông qua khóa huấn luyện tăng tốc 6 tháng – Innovation Accelerator);  Tài chính cho khởi nghiệp nên cấp theo 2 giai đoạn, vốn mồi và vốn tăng tốc (IPP2 cung cấp vốn mồi ở vòng 1 – Seed Funding, vốn tăng tốc cho các dự án có tiềm năng phát triển tốt ở vòng 2 – Scale up Funding).  Hỗ trợ cho khởi sự kinh doanh hay khởi nghiệp sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng cao? IPP2 chọn cách tiếp cận chỉ hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp có đổi mới sáng tạo và có tiềm năng tăng trưởng cao (high growth innovative companies).  Hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp hướng ra thị trường quốc tế hay chỉ cần chiếm lĩnh thị trường nội địa? IPP2 chọn con đường “go global”, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp có sản phẩm, dịch vụ định hướng xuất khẩu ra thị trường quốc tế với triết lý khuyến khích doanh nghiệp Việt non trẻ dám mơ giấc mơ lớn vượt ra ngoài biên giới quốc gia.  Hỗ trợ từ khâu tiền khởi nghiệp hay khởi nghiệp? IPP2 chọn hỗ trợ ngay từ khi ý tưởng mới được hình thành bởi nhóm dự án tiền khởi nghiệp. Nhóm khởi nghiệp phải đăng ký thành lập doanh nghiệp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhận được thông báo được chấp nhận tài trợ để có đủ tư cách pháp nhân tham gia ký kết hợp đồng với IPP2.  Giám đốc điều hành dự án IPP2 cho rằng Việt Nam không thể sao chép bất kỳ mô hình nào dù đã thành công trên thế giới để áp dụng mà không tính đến các điều kiện và đặc thù của mình. Những kinh nghiệm tốt đẹp học hỏi từ khắp nơi trên thế giới chỉ hiệu nghiệm khi nó được nhúng vào môi trường Việt Nam. Chúng ta chỉ có thể bứt phá thành công khi tìm được con đường riêng dựa trên thế mạnh, nhu cầu đích thực của mình. Suy cho cùng, chúng ta phải biết rõ mình cần gì. IPP2 cố gắng khai thác thế mạnh của các bạn Phần Lan để giải quyết các vấn đề Việt Nam đang cần theo nguyên tắc: Xin đừng đưa ra những gì các bạn có, hãy mang đến những gì mà chúng tôi cần.  Tuy nhiên, có những giá trị cốt lõi mà IPP2 thực sự trân trọng và cầu thị học hỏi từ các bạn Phần Lan, đó là cố gắng gây dựng niềm tin của cộng đồng khởi nghiệp bằng cách trao cơ hội công bằng cho tất cả các nhóm khởi nghiệp, minh bạch hóa thông tin, độc lập, khách quan trong quá trình lựa chọn các đề xuất dự án, đồng thời tuân thủ nghiêm pháp luật của cả hai quốc gia. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, dựa trên các nguyên tắc bất biến này, IPP2 có thể linh hoạt điều chỉnh để tối ưu hóa nguồn lực trong hoạt động của mình trong những năm qua.       Author                Hảo Linh        
__label__tiasang ISI, Open Access: Chất lượng hay Số lượng      Đã đến lúc phải xem lại việc coi tiêu chí ISI là chuẩn mực trong đánh giá chất lượng nghiên cứu ở Việt Nam, nếu không sẽ có nguy cơ triệt tiêu động lực nghiên cứu do việc “cào bằng” chất lượng các tạp chí ISI và “đếm cơ học” số công trình của nhà khoa học      CHỈ SỐ ẢNH HƯỞNG ISI  Chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor-IF), hay là chỉ số trích dẫn (Citation Index) của một tạp chí được tính như sau. IF của tạp chí A trong năm, ví dụ, 2011 bằng số các trích dẫn từ tất cả các công bố trong năm 2011 tới các công bố đăng trên A trong hai năm 2009 và 2010, chia cho số các công bố trên A trong hai năm 2009 và 2010. Tất nhiên, tất cả các số liệu được lấy từ một cơ sở dữ liệu cụ thể nào đó, do đó chỉ số trích dẫn của một tạp chí sẽ phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu dùng để tính. Đây là cách người ta lượng hóa chất lượng nghiên cứu thông qua một con số.   Lập luận ủng hộ việc sử dụng chỉ số trích dẫn dựa trên hai bước suy luận:  – Thứ nhất, một công trình có giá trị nếu nó được nhiều người quan tâm.  – Thứ hai, một công trình được nhiều người quan tâm nếu nó có nhiều trích dẫn.  Lập luận thứ nhất về cơ bản là đúng, tuy nhiên số lượng người quan tâm thay đổi đáng kể tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu. Tính thuyết phục của khẳng định thứ hai ít hơn khẳng định thứ nhất, vai trò của nó chỉ dừng lại ở những khẳng định mang tính thống kê, chẳng hạn nếu chỉ số trích dẫn trung bình của các nhà toán học ở nước A chỉ bằng một nửa chỉ số tương tự ở nước B thì có thể nói rằng nhìn chung nền toán học nước B mạnh hơn ở nước A.  Nói một cách ngắn gọn, chỉ số trích dẫn hay chỉ số ảnh hưởng là các chỉ số thống kê, nó có ý nghĩa với một cộng đồng lớn nhưng với từng cá thể, việc sử dụng nó cần hết sức cẩn trọng.  Chỉ số trích dẫn có uy tín nhất hiện nay là chỉ số của Thomson Institute for Scientific Information (ISI). ISI không phải là một viện nghiên cứu như người ta có thể cảm nhận khi đọc tên của nó – Viện Thông tin Khoa học. ISI xuất phát từ một ý tưởng hết sức đơn giản: đánh giá một công trình khoa học, một tạp chí khoa học, một nhà khoa học, một ngành khoa học, một nền khoa học bằng cách đếm số các trích dẫn tới công trình, tạp chí hay ngành khoa học đó. Công việc của ISI là đếm. Quan trọng hơn, mục đích của ISI là lợi nhuận.   Tuy nhiên chỉ số ISI đang được dùng như một thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng nghiên cứu tại một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Thực ra, tại Việt Nam, chúng ta đang sử dụng chỉ số ảnh hưởng ở mức thô nhất, mà tôi xin tạm gọi là “chuẩn ISI”: một công trình khoa học được coi là “có giá trị” nếu nó được đăng trên một “tạp chí ISI”. “Tạp chí ISI” là các tạp chí trong danh sách tạp chí được ISI tính chỉ số ảnh hưởng. Về cơ bản, đây là phần tốt nhất trong tập hợp tất cả các tạp chí khoa học hiện có. Tuy nhiên danh sách này cũng khá dài, và ngày một dài hơn, do đó sự chênh lệch về chất lượng giữa các tạp chí ISI là rất lớn. Dù vậy, cho tới nay vẫn chưa có tạp chí khoa học nào của Việt Nam là tạp chí ISI.  Ảnh hưởng tiêu cực đầu tiên của “chuẩn ISI” có thể thấy ở các tạp chí khoa học của Việt Nam. Các tạp chí này bị chính các nhà khoa học nghiêm túc của chúng ta chối bỏ. Bởi các công trình của họ nếu đăng trên đó, thì dù sau này có được bao nhiêu công trình khác đăng trên các tạp chí ISI trích dẫn lại, vẫn không được coi là “có giá trị” theo “chuẩn ISI”. Hệ quả là không có tài trợ khoa học. Đối với những nhà khoa học này, tài trợ khoa học không chỉ là tiền, mà còn là uy tín, còn là sự động viên.    TẠP CHÍ OPEN ACCESS  Open Access hiểu theo nghĩa rộng là việc cho phép truy cập miễn phí tới một cơ sở dữ liệu nào đó từ mạng internet. Trong cộng đồng toán học, cơ sở lưu trữ được biết đến nhiều nhất là ArXiv: http://www.ArXiv.org. Cơ sở lưu trữ ArXiv được xây dựng từ năm 1991 và tới nay có thể nói đã chứa hầu hết những công trình quan trọng nhất của toán học đương đại. Đặc biệt công trình của nhà toán học Nga G. Perelman, chứng minh giả thuyết Poincaré, chỉ được lưu trữ trên ArXiv chứ không được công bố trên một tạp chí khoa học.  Năm 2001 Liên đoàn Toán học Thế giới ra tuyên bố kêu gọi các nhà toán học tìm mọi cách để chuyển tải miễn phí các công trình của mình tới cộng đồng. Nguyên văn lời kêu gọi viết “Open Access tới tài liệu toán học là một mục tiêu quan trọng. Mỗi chúng ta có thể đóng góp vào việc đạt được mục tiêu đó bằng cách cung cấp dưới dạng điện tử càng nhiều càng tốt các công trình của bản thân… Hành động của chúng ta sẽ góp phần vào việc mở rộng kho tài liệu toán học miễn phí, đặc biệt sẽ giúp cho các nhà khoa học với điều kiện không đầy đủ về thư viện”1.  Trong lĩnh vực xuất bản, Open Access được hiểu là việc cho phép truy cập miễn phí trên mạng internet tới các công trình khoa học đăng trên các tạp chí có bình duyệt (peer-review). Có hai dạng Open Access được phân biệt dưới tên gọi Green Open Access Self Archiving và Gold Open Access Publishing2. Green Open Access Self Archiving nghĩa là khi một tác giả công bố một công trình khoa học và tự lưu trữ nó cho việc tự do tham khảo tại một cơ sở lưu trữ trên mạng nào đó. Từ một vài năm lại đây, một số tạp chí khoa học, ví dụ các tạp chí của Springer, cho phép các tác giả mua lại bản quyền các công trình của chính mình. Cụ thể là với giá khoảng 2.000 EUR trên một công trình, các tác giả có thể làm cho công trình của mình được truy cập miễn phí.  Từ đầu những năm 1990 người ta cũng ghi nhận một khuynh hướng mới trong việc xuất bản tạp chí khoa học, đó là các tạp chí Open Access, thường được gọi là Gold Open Access để phân biệt với Green Open Access. Trong cộng đồng toán, khởi đầu có lẽ là một số cơ sở đại học hay nghiên cứu, hoặc một cộng đồng chuyên ngành hẹp lập ra một số tạp chí online phi lợi nhuận.   Mặt khác một số nhà xuất bản cũng xây dựng các tạp chí Open Access của mình. Đa số các tạp chí Open Access thời đó không đòi hỏi tác giả phải nộp phí đăng bài. Tuy nhiên gần đây, một số tạp chí Open Access bắt đầu đòi hỏi đóng phí hoàn thiện (article processing charge), chủ yếu là các tạp chí đã đạt được một mức nào đó về chất lượng, chẳng hạn đã được đưa vào danh sách ISI. Với phương thức xuất bản này các nhà xuất bản có thể đảm bảo được lợi nhuận của mình ngay từ trước khi xuất bản. Hindawi (http://www.hindawi.com) là ví dụ điển hình. Theo Wikipedia, nhà xuất bản này được thành lập năm 1997 với trụ sở chính tại Cairo và một văn phòng tại New York. Hiện nay Hindawi xuất bản hơn 300 đầu tạp chí Open Access, trong số đó có 22 tạp chí thuộc ISI. Phí hoàn thiện của một bài báo trên một tạp chí như vậy thường phụ thuộc vào uy tín của tạp chí đó. Cụ thể, khi đăng bài ở một số tạp chí của Hindawi có trong danh sách ISI, các tác giả phải trả từ khoảng 600 USD đến 1200 USD. Một số tạp chí ít uy tín hơn của Hindawi vẫn tiếp tục đăng bài miễn phí. Ngoài Hindawi có thể kể đến một số nhà xuất bản sau:   – Scientific Research Publishing (http://www.scirp.org/Journal).  – Hikari (http://www.m-hikari.com).  – Lambert (https://www.lap-publishing.com).  – Pioneer Scientific Publishers (http://www.pspchv.com).  – Institute of Advanced Scientific Research (http://www.i-asr.com).  Có một lý giải có vẻ rất thuyết phục cho phương thức xuất bản dạng “Open Access”. Đó là: “công trình của bạn sẽ dễ dàng đến tay người đọc hơn, đặc biệt là người đọc ở các nước đang phát triển nơi mà giá của các tạp chí khoa học truyền thống là không thể chịu nổi”.  Thực ra đây là sự ngụy biện. Với sự phát triển của internet ngày nay, mỗi cá nhân đều có thể là một tác giả kiêm nhà xuất bản. Vai trò chính của một tạp chí khoa học chính là công tác phản biện. Một tạp chí có uy tín cao nếu nó có một ban biên tập uy tín, có khả năng mời được các phản biện uy tín và nghiêm túc. Điều này bị nhiều tạp chí “Open Access” trong ngành toán coi nhẹ, nhiều tạp chí còn lôi kéo tác giả bằng quảng cáo như “duyệt đăng trong vòng hai tuần”3!   Tuy nhiên, điều này sẽ chẳng có gì để bàn nếu như không có chuyện một số tạp chí “Open Access” trong ngành toán được vào ISI trong vài năm gần đây thu hút được nhiều công bố từ Việt Nam, do chúng ta vẫn mặc định (với xu hướng phân loại như đã nói ở trên) rằng mọi tạp chí gán mác ISI thì đều có giá trị, không ISI thì vô giá trị. Trên trang web của Hindawi, số các công trình về toán từ Việt Nam tăng nhanh theo năm: 2007 có 2 công trình, 2008 có 3 công trình, 2009 có 3 công trình, 2010 có 5 công trình, 2011 có 10 công trình và 2012 có 13 công trình4.     TÌNH HÌNH TRÍCH DẪN CỦA MỘT VÀI TẠP CHÍ OPEN ACCESS  Không khó để nhận ra có khả năng một số tạp chí Open Access đang ngụy tạo chỉ số ISI của mình lên một cách tinh vi, dưới hình thức tự trích dẫn hoặc có sự trích dẫn chéo qua một tạp chí khác. Sau đây là một ví dụ.   Tạp chí Journal of Inequalities and Applications (viết tắt là JIA5) được xuất bản bởi Springer. Chỉ số ISI theo công bố của Springer là 0,73 – thuộc loại cao trong các tạp chí toán. Đây vốn là một tạp chí của Hindawi, xuất bản số đầu tiên năm 1997: http://www.emis.de/journals/HOA/JIA  Năm 2012 tạp chí này được chuyển cho Springer, vẫn tiếp tục phát hành dưới dạng “Open Access”. Phí hoàn thiện một bài báo là 800 USD. Dưới đây là một số thông tin về trích dẫn tới JIA theo cơ sở dữ liệu của Hội Toán học Mĩ (MathSciNet)6. Theo đó, từ 2007 tới nay, phần lớn trong các trích dẫn (TD) sớm nhất tới JIA là từ chính JIA và một tạp chí “bạn” là Abstract and Applied Analysis (viết tắt là AAA), cũng của Hindawi.            Năm công bố      Tổng số bài      Trích dẫn trong năm sau      Tự trích dẫn + từ AAA          2010      271      91      38 + 18          2009      164      78      56 + 7          2008      126      41      25 + 6          2007      95      45      28 + 6          2006      104      30      14 + 1          2005      48      15      7 + 0            Tiếp theo chúng ta hãy xem tạp chí Abstract and Applied Analysis7. Theo trang chủ của tạp chí này thì chỉ số ISI hiện nay của nó là 1,318. Phí hoàn thiện là 1200 USD. Cơ sở dữ liệu của Hội Toán học Mỹ (MathSciNet) cho chúng ta biết, từ năm 2007 phần lớn các trích dẫn tới AAA là tự trích dẫn hoặc từ JIA!             Năm công bố      Tổng số bài      Trích dẫn trong năm sau      Tự trích dẫn + từ JIA          2010      136      54      30 + 5          2009      85      48      20 + 9          2008      62      68      13 + 11          2007      42      22      6 + 5          2006      48      11      0 + 0          2005      56      14      3 + 1             Nếu khảo sát kỹ hơn ta sẽ thấy tỷ lệ tự trích tăng nhanh theo thời gian trong các năm gần đây. Ví dụ số tự trích của JIA từ 2011 tới 2009 là 42 trên 78, từ 2011 tới 2008 là 12 trên 38. Điều này không khó hiểu nếu chúng ta nhớ là chỉ số ảnh hưởng của ISI được tính trên cơ sở 2 năm cuối.   Tuy nhiên, điều đáng nói là các chỉ số tự trích dẫn nói trên cao một cách bất thường so với các tạp chí khác. Để so sánh ta hãy lấy tạp chí Acta Mathematica Vietnamica (AMV)8. Trong các trích dẫn tới AMV của các bài báo ra năm 2011 chỉ có 5/24 là tự trích dẫn. Trong các trích dẫn tới AMV của các bài báo ra năm 2010 chỉ có 1/31 là tự trích dẫn và với năm 2009 chỉ có 2 trên 16 là tự trích dẫn. Với một tạp chí giàu tên tuổi như Inventiones Mathematicae thì các số liệu là như sau: tự trích dẫn của Invent. trong năm 2011 tới 2010 là 5/136, tới 2009 là 11/147, tới 2008 là 4/198.   Mặc dù ISI luôn rao giảng về sự ưu việt của mình trong công tác đánh giá khoa học, nhưng các thống kê ở trên đặt cho chúng ta câu hỏi: Liệu các tạp chí này có đang cố tình nâng chỉ số ISI của mình một cách tinh vi? Phải chăng ISI không đủ khả năng phát hiện ngụy tạo trích dẫn, hay họ làm ngơ? Trong khi đó, con số các công bố trên AAA và JIA tăng mạnh trong mấy năm lại đây cho ta thấy sức mạnh của lợi nhuận. Theo thống kê tới thời điểm này của MathSciNet, năm 2012 AAA xuất bản 431 bài báo và JIA xuất bản 161 bài báo.   ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA CHỈ SỐ ISI TỚI TOÁN HỌC VIỆT NAM  Chỉ số ISI có những ảnh hưởng tiêu cực sau đây tới tình hình nghiên cứu toán học trong nước:  – Sự phân loại quá thô, không thể hiện chính xác chất lượng nghiên cứu;  – Đôi khi thiếu chính xác, tạo ra những kẽ hở dễ bị lợi dụng;  – Giảm chất lượng các tạp chí trong nước, thủ tiêu động lực nghiên cứu nghiêm túc, đặc biệt là của cán bộ trẻ.   ISI hiện đang được coi là chuẩn mực cho việc đánh giá nghiên cứu khoa học cơ bản ở Việt Nam. Chỉ ba năm trước đa số các nhà khoa học đều coi đó như là bước ngoặt trong công tác quản lý khoa học nước ta. Có lẽ một số người đã yên tâm rằng “giờ thì trắng đen rõ ràng, không có công bố ISI nghĩa là kém, xin mời ra ngoài”. Tuy nhiên suy luận logic đặt ra câu hỏi: Có ISI liệu có chắc chắn là “không kém” không? Việc khảo sát hai tạp chí JIA và AAA của Hindawi với tạp chí Acta Mathematica Vietnamica ở trên phần nào trả lời cho câu hỏi này: chỉ số ISI có thể bị ngụy tạo.   Có thể đưa ra nhiều ví dụ nữa về các tạp chí trong danh sách ISI nhưng có chất lượng không hơn hai tạp chí của Việt Nam nếu nhìn từ tiêu chí của chỉ số trích dẫn. Chẳng hạn, các tạp chí Bull. Malaysian Math. Soc., Bull. Iranian Math. Soc., Bull. Korean Math. Soc. là ISI, tuy nhiên chỉ số trích dẫn trên MathSciNet luôn kém tạp chí Acta Mathematica Vietnamica.  Đại đa số các nhà toán học làm việc tại Việt Nam đều có công bố trên các tạp chí trong danh mục ISI, tính từ GS. Lê Văn Thiêm trở đi, số người có hàng chục công trình như vậy trong 10 năm lại đây không phải hiếm. Như vậy “cái lọc” ISI để đánh giá chất lượng nghiên cứu có thể nói là quá thô.  Về chất lượng, các tạp chí được phân bố theo mô hình kim tự tháp. Trên cùng là một số ít các tạp chí rất tốt, sau đó chất lượng giảm dần còn số lượng tăng dần. Như vậy, việc xác định các tạp chí ở tốp cao nhất không khó. Những tạp chí này hội đủ những tiêu chí khắt khe và đa dạng nhất: đa ngành, có chỉ số ảnh hưởng cao, đăng những công bố quan trọng nhất của những nhà toán học có ảnh hưởng nhất… Đơn cử, với bất cứ hệ thống tiêu chí nào thì hai tạp chí Annals of Mathematics và Inventiones Mathematicae cũng luôn có mặt ở top cao nhất. Nhưng việc so sánh các tạp chí ở mức thấp hơn sẽ càng lúc càng khó hơn bởi các yếu tố chuyên ngành, cộng đồng, khu vực… Thông thường chúng ta chỉ có thể so sánh một tạp chí cụ thể với một số tạp chí khác chứ không phải với bất kỳ tạp chí nào. Nói hình tượng, chúng ta có một tập sắp thứ tự từng phần của các tạp chí.  Đối với một nhà nghiên cứu nghiêm túc, việc công bố luôn là để “tự khẳng định mình”, với mong muốn công bố được công trình của mình trên tạp chí với chất lượng cao nhất có thể. Vì vậy, mỗi một nhà toán học thực thụ đều có một bảng sắp xếp của riêng mình bao gồm tất cả các tạp chí liên quan tới chuyên ngành hẹp của anh ta, và khuynh hướng tự nhiên của anh ta là đăng ở tạp chí chất lượng càng cao càng tốt.   Nhưng với phương pháp đánh giá dựa vào ISI của chúng ta hiện nay, các tạp chí ở phần cao nhất của kim tự tháp bị đánh đồng với các tạp chí tầm tầm, đồng thời gạt ra ngoài cuộc chơi các tạp chí còn lại. Việc “cào bằng” các tạp chí và tệ hơn là “đếm cơ học” số công trình sẽ thủ tiêu hoàn toàn động lực “tự khẳng định mình một cách tự nhiên” như đã nêu ở trên. Dường như chất lượng không còn quan trọng nữa mà chỉ còn số lượng. Với những chủ trương kiểu “thưởng cho mỗi công trình ISI 2000 USD”, các nhà khoa học, nhất là những người mới vào nghề sẽ không thể yên tâm ngồi 3 năm để cho ra một công trình khoa học9, mà thay vào đó tìm cách trong một năm cho ra 3 công trình.   Mặt khác, các tạp chí yếu theo tiêu chí ISI, chủ yếu là các tạp chí mới, tạp chí khu vực, cũng không chịu bị gạt ra ngoài cuộc chơi. Bằng cách này hay cách khác các tạp chí phải tìm cách vào bằng được ISI, “ISI hay là chết!”. Trong một buổi làm việc gần đây với NXB Springer chúng tôi được biết, năm 2011 đã có thêm 30 tạp chí của Springer được vào danh sách ISI. Springer hiện nay xuất bản khoảng 1300 tạp chí khoa học. Việc danh sách ISI ngày càng được kéo dài đồng nghĩa với việc chất lượng của tiêu chí ISI ngày càng được hạ thấp. Tất nhiên Springer là nhà xuất bản uy tín nhất về khoa học, đặc biệt là toán học và chúng ta có thể hy vọng các tạp chí của họ luôn giữ được những yêu cầu cơ bản nhất của một tạp chí khoa học.  Bên cạnh Springer còn những nhà xuất bản như Hindawi và nhiều nhà xuất bản Open Access khác. Mặc dù Hindawi mới thành lập được 15 năm (so với Springer năm nay tròn 170 tuổi) nhưng nhà xuất bản này đã có hơn 300 đầu tạp chí. Thật khó có thể tin được chất lượng công trình ở đây, khi mà tác giả được đảm bảo: mọi công trình gửi đăng sẽ được phản biện trong vòng 2 tháng (có nhà xuất bản còn hạ con số này xuống tới 2 tuần10). Nếu xu hướng các tạp chí có chất lượng bình duyệt thấp như vậy cứ tiếp tục lọt vào danh sách các tạp chí ISI như hiện nay, việc coi ISI là chuẩn mực sẽ vô tình hạ chuẩn của toán học Việt Nam, triệt tiêu động lực nghiên cứu của giới làm toán và nguy hiểm nhất, là tạo cho thế hệ trẻ một tư duy lệch lạc ngay từ trước khi bắt đầu nghiên cứu.  LỜI KẾT  Trong năm qua Hội đồng ngành Toán của Quỹ Nafosted cũng như Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Toán đã kiên quyết không tính các công trình đăng trên một số tạp chí Open Access có chất lượng không đảm bảo, dù các tạp chí đó nằm trong danh sách ISI. Thiết nghĩ, cộng đồng toán học cần có thái độ dứt khoát phản đối việc công bố trên các tạp chí ISI phải đóng tiền. Đối với ngành Toán, không có một lý giải thuyết phục nào cho việc công bố công trình trên những tạp chí phải đóng tiền, dù cho đó là tạp chí ISI: chúng ta có quá nhiều tạp chí có chất lượng mà việc công bố là hoàn toàn miễn phí, chúng ta cũng có đủ phương tiện để cung cấp miễn phí các kết quả nghiên cứu của mình cho toàn bộ cộng đồng toán học thế giới.  Hơn thế nữa, đã đến lúc phải xem lại tiêu chí ISI trong việc đánh giá chất lượng nghiên cứu toán học ở Việt Nam. Chúng ta cần một cách phân loại mịn hơn, nhằm khuyến khích mọi người công bố những công trình chất lượng hơn, thay vì có nhiều công bố. “Chú trọng vào chất lượng thay vì số lượng” cũng là điều mà Wendelin Werner, Fields Medal 2006, thành viên Ban điều hành Liên đoàn Toán học thế giới chia sẻ trong buổi làm việc với các cán bộ Viện Toán học ngày 3/1/2013.   —————————  Bài viết từng đăng trên bản tin Thông tin Toán học của Hội toán học Việt Nam, tập 16, số 4.  1 http://www.ams.org/meetings/call  2 Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Open_access  3 Ví dụ: http://www.ccsenet.org/journal/index.php/jmr  4 http://www.hindawi.com/countries/vn  5 http://www.journalofinequalitiesandapplications.com  6 http://www.ams.org/mathscinet  7 http://www.hindawi.com/journals/aaa  8 http://www.math.ac.vn/publications/acta  9 A. N. Kolmogorov đã từng dạy các học trò ông khi bước vào làm nghiên cứu sinh: để có được một  công trình khoa học thực thụ cần phải có ba nghìn giờ nghiên cứu.  10 Xem thêm bản tin Thông tin Toán học (của Hội Toán học Việt Nam), Tập 14, số 4    Author                Quản trị        
__label__tiasang ISI, tiêu chí thẩm định, và các động lực ngược      Nhân vụ kiện liên quan đến một tạp chí khoa  học chuyên ngành hẹp gần đây, chúng ta cần xem xét kỹ hơn về nguyên nhân  sâu xa của sự kiện: đó là tiêu chí thẩm định chất lượng nghiên cứu khoa  học trong giới hàn lâm của chúng ta hiện nay đã và đang có khả năng dẫn  đến các động lực ngược (tạm dịch từ “perverse incentive” của Kinh tế  học), làm cho đầu tư công vào nghiên cứu khoa học kém hiệu quả.    Trong bài này chúng tôi điểm qua cách mà các nước tiên tiến thẩm định kết quả nghiên cứu khoa học, cách nước ta đang dùng, và cuối cùng đưa ra một vài đề xuất để thay đổi tiêu chí đánh giá chất lượng nghiên cứu. Những tiêu chí tốt sẽ tạo “động lực thuận” thúc đẩy chất lượng nghiên cứu khoa học nước nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất đầu tư công vào nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.    Tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học ở các nước tiên tiến  Bất kể là đánh giá từng bài báo khoa học cụ thể, đánh giá các dự thảo xin kinh phí tài trợ, hay đánh giá thăng tiến sự nghiệp của các cán bộ khoa học, thì quy trình có thể nói là duy nhất hiện nay ở các nước tiên tiến là dùng mô hình bình duyệt bằng chuyên gia (peer-review).  Ví dụ, để đánh giá dự án xin tài trợ của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF), các dự án được bình duyệt bởi các panel, mỗi panel có hơn một chục chuyên gia do người quản lý chương trình của NSF mời. Có những chương trình tài trợ cần đến vài vòng thẩm định như chương trình Expeditions của NSF. Để thẩm định kết quả nghiên cứu, các chủ nhiệm đề tài phải viết báo cáo hàng tháng, quý, hoặc năm tùy theo quỹ.  Trong một số chương trình tài trợ, ví dụ như của DARPA – quỹ tài trợ của Bộ Quốc phòng Mỹ – còn có khái niệm dùng “Đội Đỏ” (red-teaming), một mô hình thú vị có nguồn gốc từ cách huấn luyện quân sự của Mỹ. Đội Đỏ là một nhóm các chuyên gia hàng đầu mà trách nhiệm duy nhất là tìm mọi cách thực tiễn để “chọc phá” công trình nghiên cứu. Ví dụ như công trình nghiên cứu về bảo mật thì Đội Đỏ có thể là một đội hackers tầm cỡ.  Khi đánh giá thăng cấp giáo sư, ở tất cả các trường đại học tiên tiến thì tiêu chuẩn quan trọng nhất là các lá thư giới thiệu của các chuyên gia hàng đầu thế giới về cùng chuyên ngành của người được xét tuyển.  Ví dụ, ở Mỹ, mỗi hồ sơ thăng cấp giáo sư thường cần 8-10 thư giới thiệu từ các chuyên gia của các trường khác – và những người viết thư giới thiệu không phải do ứng viên tự chọn. Sau đó, sẽ có một cuộc “bầu cử” bên trong khoa mà tất cả các lá phiếu đều là từ các giáo sư trong khoa, sau khi thảo luận về chuyên môn của ứng viên. Ngoài ra, người ta cũng không chọn những “người quen” của ứng viên để tránh mâu thuẫn quyền lợi.  Có hai lý do mà người ta dùng đánh giá của chuyên gia, thay vì chỉ dùng một vài chỉ số thô nào đó, là (1) chất lượng của một sự nghiệp hay công trình khoa học rất khó đo bằng một con số, và (2) dùng một số đo thô sẽ dễ gây ra “động lực ngược” (perverse incentive), tạo ra một sự lãng phí lớn về nhân vật lực.  Sau đây chúng tôi sẽ giải thích các hệ lụy đến từ động lực ngược, nhưng trước khi nói đến động lực ngược, chúng tôi sẽ điểm qua một trong những loại chỉ số thô đang phổ biến ở nước ta “chỉ số ISI”.    ISI và nhìn nhận về nó từ cộng đồng khoa học thế giới  Được thành lập từ năm 1960, Viện Thông tin khoa học (ISI) ngày nay là một công ty con của Thompson Reuters Corporation. Công ty này cung cấp dịch vụ  tra cứu thông tin khoa học. Ý tưởng cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin khoa học không phải là ý tưởng mới do ISI đưa ra.  Chẳng hạn trong toán học, nó đã được thực hiện từ năm 1931 bởi tạp chí mang tên ZentralBlatt MATH của Đức. Hiện nay trong toán học còn có hai tạp chí bình luận khoa học khác nữa là Mathematical Review của Mỹ (xuất bản từ năm 1940) và Review Journal của Nga (xuất bản từ năm 1952).   ISI không cung cấp các thông tin khoa học của từng bài báo, như các tạp chí bình luận toán học nêu ở trên, mà chỉ tập trung vào các thông tin thư viện: tên tác giả, bài báo, tạp chí, năm xuất bản,… và đặc biệt là các thông tin về trích dẫn. Xử lý một cách tốt nhất các thông tin về trích dẫn là điểm nổi bật của ISI, vì quan điểm cơ bản của ISI là: chất lượng của một công trình khoa học được thể hiện thông qua số trích dẫn tới công trình khoa học đó.  Vì không có thông tin khoa học, ISI gần như vô nghĩa đối với các nhà khoa học. Chúng tôi đã tham gia rất nhiều các panel của các quỹ tài trợ khoa học Mỹ, các ban xét thăng cấp giáo sư, đọc rất nhiều thư giới thiệu thăng cấp giáo sư, bình duyệt đề tài, và nói chung là hầu như tất cả các khía cạnh liên quan đến đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học ngành máy tính và ngành toán. Chưa bao giờ có chữ ISI trong bất kỳ khía cạnh nào.  Thế nhưng, ISI vẫn có một “thị trường” nhất định trên thế giới, chính là vì họ đã đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển – những người này một mặt không có hiểu biết khoa học, mặt khác, vì nhiều lý do, họ không có niềm tin vào đội ngũ khoa học mà họ đang quản lý. Đó là việc đưa ra đánh giá tổng quan một công trình khoa học, một tạp chí khoa học hay một nhà khoa học chỉ bằng một con số.  Chỉ số trích dẫn ISI đối với một tạp chí được tính theo năm. Chẳng hạn đối với năm 2013 nó là tỷ số của số các trích dẫn tới tạp chí đó trong hai năm 2011, 2012 trên số các công bố của tạp chí trong năm 2013. Tất cả được tính theo cơ sở dữ liệu của ISI – các trích dẫn từ tạp chí nằm ngoài cơ sở dữ liệu sẽ không được tính. Trên bề mặt thì việc sử dụng chỉ số trích dẫn để đánh giá nghiên cứu khoa học thể hiện rất nhiều ưu điểm: minh bạch, đơn giản, hiệu quả. Tuy nhiên không khó để có thể thấy những vấn đề của chỉ số này: 1) liệu một công trình (tác giả) nhận được nhiều trích dẫn có chắc là một công trình (tác giả) tốt không? 2) liệu bản thân các trích dẫn có bị ngụy tạo không?  Có lẽ các nhà toán học, trong đó có cả các nhà thống kê học, là những người dị ứng đầu tiên với “chỉ số trích dẫn ISI”. Liên đoàn Toán học thế giới (IMU), cơ quan có uy tín nhất của cộng đồng toán học thế giới [2], đã lập ra một ủy ban điều tra về sự lạm dụng chỉ số trích dẫn. Năm 2008, ủy ban này đã đưa ra một báo cáo dài 26 trang [3], chỉ trích nặng nề chỉ số trích dẫn.  Những kết quả chính mà họ rút ra không nằm ngoài suy nghĩ chung của cộng đồng toán học: Chỉ số trích dẫn là một chỉ số cần thiết để góp phần đánh giá một công trình khoa học, một tạp chí hay một nhà khoa học. Nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu chỉ sử dụng duy nhất chỉ số này để đánh giá, vì nó, như tất cả các chỉ số thống kê khác, không thể đưa ra được đánh giá chính xác cho một cá thể. Ngoài ra sự chính xác cũng như khách quan của nó cũng không được kiểm chứng.  Từ một phía khác, năm 2012 các nhà sinh học tế bào Hoa Kỳ đưa ra Tuyên bố San Francisco về đánh giá nghiên cứu (DORA [4]). Tuyên bố này được ký bởi 155 nhà khoa học và 82 tạp chí và cơ quan nghiên cứu. Tuyên bố DORA cho rằng: Chỉ số trích dẫn của Thomson Reuter vốn được xây dựng để giúp thủ thư quyết định việc mua tạp chí, chứ không phải như là một thước đo chất lượng nghiên cứu trong một bài báo và kêu gọi: không sử dụng các chỉ số đo dựa trên tạp chí, kiểu chỉ số trích dẫn, như một sự thay thế trong việc đo chất lượng của một tạp chí khoa học, để đánh giá đóng góp của một nhà khoa học, hoặc trong các hoạt động tuyển chọn, thăng cấp cán bộ hay tài trợ nghiên cứu. Tới nay đã có hơn 11 ngàn cá nhân và gần 500 đơn vị ký tuyên bố DORA.  Thực trạng đánh giá khoa học Việt Nam  Khoa học Việt Nam, kể cả trong những ngành phát triển tương đối cao hơn như toán học hay vật lý vẫn đang ở tình trạng manh mún. Đa số các nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam vốn được đào tạo từ các cơ sở nghiên cứu mạnh ở nước ngoài.  Khi về Việt Nam họ không có đủ điều kiện để tập hợp thành các nhóm nghiên cứu, chưa nói tới các trường phái nghiên cứu. Các nghiên cứu khoa học trong nước vì thế thường rời rạc, các nhà khoa học trong cùng một lĩnh vực thường không đánh giá được các nghiên cứu của nhau.  Vì vậy, trong một thời gian dài, việc đánh giá khoa học thường mang nặng cảm tính. Hậu quả là có một số nhà khoa học mặc nhiên được coi là giỏi, trở thành những “cây đa, đây đề” trong cộng đồng.  Với sự ra đời của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) và việc sử dụng “tiêu chí ISI”, công tác quản lý khoa học tại Việt Nam đã có chuyển biến cơ bản. Nhìn chung, yêu cầu một nhà khoa học muốn được tài trợ phải có các công bố trên những tạp chí thuộc cơ sở dữ liệu của Thomson Reuter (thường gọi là các “công bố ISI”) đã tạo một sức ép mới tới giới khoa học. Đây cũng là cơ hội để các nhà khoa học trẻ khẳng định mình: chỉ cần có công bố tốt, họ sẽ được tài trợ. Việc xét duyệt của Quỹ tỏ ra khá minh bạch.  Tiêu chí ISI cũng bắt đầu được sử dụng trong việc xét chức danh GS, PGS, ít nhất là ở trong các ngành khoa học tự nhiên. Các công bố ISI được tính hệ số cao hơn, các ứng viên có nhiều công bố ISI được đánh giá cao hơn. Ngược lại, những ứng viên có rất nhiều công bố nhưng trong số đó lại chỉ có một tỷ lệ thấp các công bố ISI sẽ khó có thể được các hội đồng chức danh xét đạt chuẩn giáo sư. Ở tầm thấp hơn, người ta cũng khuyến khích nghiên cứu sinh có các công bố ISI.  Tuy nhiên cũng có một thực tế đáng buồn là chưa có một tạp chí khoa học nào của Việt Nam nằm trong cơ sở dữ liệu của Thomson Reuter (thường gọi là danh sách tạp chí ISI). Hệ quả là các công bố ISI của Việt Nam đều là các công bố trên tạp chí quốc tế. Các tạp chí Việt Nam ngày nay không thu hút được bất kỳ công bố có giá trị nào từ các nhà khoa học trong nước, và chúng vốn đã yếu, nay lại càng rỗng ruột.  Các hệ lụy tiêu cực của cách đánh giá bằng chỉ số thô  Tiêu chí ISI có các điểm tích cực của nó. Chúng ta không thể phủ nhận rằng dùng một chỉ số — cho dù thô như ISI — thì vẫn tốt chán so với không dùng chỉ số nào. Ít nhất là nó tránh được tình trạng người ta “đánh lận con đen” giữa các “tạp chí quốc tế” với nhau. Tuy nhiên, bây giờ người ta có thể “đánh lận con đen” giữa các tạp chí ISI với nhau, vì các tạp chí hay hội nghị chuyên ngành trong danh sách ISI không được sinh ra bình đẳng.  Một trong những động lực ngược nhãn tiền là người ta đã và đang cố gắng tạo ra các “tạp chí ISI” mới để đăng bài của nhau, và trích dẫn lẫn nhau để tăng “chỉ số ảnh hưởng”. Đây là một sự lũng đoạn trong khoa học, và điều này xảy ra thường xuyên ở Trung Quốc, một số nước Trung Đông, và cả Ấn Độ. Thế cho nên trên thế giới ngày nay hay có các tạp chí khoa học với tên gọi kiểu như “Tạp chí châu Á Thái Bình Dương về XYZ”, “Tạp chí Trung Đông về ABC”.  Nếu công trình thật sự chất lượng, hãy đăng vào các tạp chí danh tiếng, đã có truyền thống trong ngành cả 50-100 năm. Tại sao lại đi mở một tạp chí mới? Hai lý do mở tạp chí mới là: (1) có một nhánh nghiên cứu rất mới không nằm trong tầm ngắm của các tạp chí cũ, và (2) mở tạp chí mới để dễ đăng bài hơn, làm một bậc thang cho các nhà nghiên cứu “tập tành” làm các nghiên cứu ít chiều sâu hơn, không vào được các tạp chí lão làng vốn có tính cạnh tranh lớn. Lý do (1) hiếm khi là lý do chính đáng, mà khi nó thật sự là lý do chính đáng thì phải do những chuyên gia tiên phong về phân ngành mới. Lý do thứ (2) cũng không ổn: đã tồn tại vô số các tạp chí hạng hai có thể dùng để “tập tành nghiên cứu”. Không cần phải mở một tạp chí mới, trừ phi mình muốn toàn quyền “điều khiển” việc đăng bài ở tạp chí mới.  Cả về mặt khoa học lẫn hiệu suất đầu tư, nhất là ở những đất nước còn nghèo như nước ta, thì viết ít bài báo đi và tăng chất lượng lên tốt hơn là viết nhiều. Hiện nay người ta xuất bản các bài báo khoa học quá nhiều. Chạy theo động lực đếm số bài báo đã và đang làm cho người ta tìm cách đăng các “đơn vị đăng được nhỏ nhất (least publishable unit)”, nghĩa là một công trình khoa học họ bẻ nhỏ ra, đăng thành một chuỗi bài, mỗi bài từ 2, 3 trang đến 10 trang; thay vì đăng một bài nghiên cứu đàng hoàng 50-100 trang. Vừa tốn giấy mực, vừa tốn công bình duyệt. Đây là một sự lãng phí khổng lồ nhân lực của thế giới. Điều này xảy ra trên toàn thế giới. Ở những nước giàu có như Mỹ thì lãng phí còn có thể “chịu” được. Ở những nước mà năng suất lao động kém như ở ta mà còn chạy theo sự lãng phí thô kệch này thì thật là không nên. Mỗi một tiếng đồng hồ bỏ ra cho một nghiên cứu hạng hai là một tiếng đồng hồ mất đi cho nghiên cứu hạng nhất.  Bài học của Úc và một đề xuất  Đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học như thế nào cho đúng để tạo ra các “động lực thuận” cho giới nghiên cứu là một vấn đề quan trọng được nhiều quốc gia quan tâm.  Ở đây chúng tôi lấy ví dụ nước Úc vì có mấy bài học cơ bản chúng ta có thể học được ngay. Ở Úc, Ủy ban Nghiên cứu Úc (Australian Research Council) là một tổ chức độc lập được chính phủ thành lập năm 2001, với nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về nghiên cứu và phát triển (R&D), quản trị một chương trình tài trợ nghiên cứu khoa học quốc gia, và thực hiện một hệ thống đánh giá chất lượng nghiên cứu toàn nước Úc (ERA), để so sánh chất lượng nghiên cứu khoa học giữa các trường, tổ chức nghiên cứu của Úc với nhau và với thế giới.  Mục đính chính của chương trình nghiên cứu ERA là để “đảm bảo với dân là thuế của họ được đầu tư vào nghiên cứu một cách khôn ngoan”. ERA cung cấp dữ liệu đáng tin cậy để các tổ chức và cá nhân có thể đánh giá chất lượng nghiên cứu của các đại học và tổ chức nghiên cứu ở Úc.  Hai báo cáo gần đây của ERA là báo cáo năm 2010 [5] và báo cáo năm 2012 [6]. Có nhiều bài học ta có thể học được từ hai báo cáo của ERA. Trong đó, dùng một hệ thống đánh giá mềm dẻo, giàu thông tin, và dùng chuyên gia là một bài học rất quan trọng. Tất cả các chỉ số đánh giá đều được tham vấn cẩn thận với các tổ chức chuyên môn, các nhà nghiên cứu hàng đầu của Úc và thế giới. Sự mềm dẻo trong cách đánh giá thể hiện ở chỗ: (1) không có một chỉ số duy nhất nào được dùng một cách lười biếng, và khi có một chỉ số thì (2) các so sánh đều tương đối trong phân ngành hẹp, thay vì dùng một tiêu chí duy nhất dùng chung cho tất cả các ngành, (3) rất coi trọng quá trình bình duyệt bằng chuyên gia. Điều đáng lưu ý là cả hai báo cáo đều hoàn toàn không có “Thomson”, hay “ISI” nào trong đó.  Theo bài học của Úc, chúng tôi có một đề xuất cụ thể như sau: chúng ta nên tham khảo chương trình ERA của Úc và nghiêm túc đưa ra một hệ thống đánh giá chất lượng nghiên cứu tạo “động lực thuận” để thúc đẩy chất lượng NCKH ở Việt Nam, dần dần tiếp cận với tiêu chuẩn ở các nước tiên tiến, tiến tới loại bỏ từ từ sự “cào bằng” trong đánh giá bằng một chỉ số thô như hiện nay. Các chương trình NAFOSTED và FIRST đã và đang nhấn mạnh bình duyệt bằng chuyên gia thế giới, và đây là tín hiệu rất tốt.  Lộ trình tiếp cận với bình diện chung của thế giới có một khó khăn rất lớn là chúng ta không có đủ chuyên gia để đánh giá. Do đó, song song với việc mời chuyên gia đánh giá đề tài thì chúng ta cũng có thể bước một bước xa hơn chỉ số thô ISI. Mỗi một ngành khoa học của Việt Nam cần tự xây dựng cho mình một danh sách các tạp chí tiêu chuẩn, thay vì dùng danh sách ISI. Danh sách này cần có những phân loại mịn hơn chứ không thô như danh sách ISI. Chẳng hạn chúng ta có thể dùng các bộ số đo “nhuyễn” hơn như xếp hạng dùng trọng số và chỉ số tạp chí eigen (eigen-journal factor). Ý tưởng này giống như xếp hạng các trang mạng trong thuật toán Pagerank của Google: các trích dẫn cũng không được sinh ra bình đẳng. Trích dẫn từ một tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao hơn sẽ “nặng” hơn trong đánh giá tạp chí; tương tự như một trang mạng được liên kết từ tờ New York Times thì “độ tin cậy” của trang mạng đó được tăng lên đáng kể. Chứ còn nếu ta chỉ đáng giá độ tin cậy của một trang mạng bằng tổng số liên kết đến nó thì — cũng giống như đếm “tổng số bài ISI” — sẽ có nhiều các trang mạng dỏm, được tạo ra chỉ để liên kết đến nhau.   Đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc đánh giá lại chất lượng nghiên cứu khoa học nước nhà một cách tổng thể và thành thật, tìm ra điểm mạnh điểm yếu, đầu tư có định hướng để số tiền từ 600–1000 tỉ một năm đầu tư vào R&D không bị trôi tuột vào các hệ động lực ngược.  Tham khảo  [1] Các địa chỉ mạng là: http://www.zentralblatt-math.org/portal/en/ http://www.ams.org/mathscinet và http://www.viniti.ru/pro_referat.html  [2] Tổ chức trao giải thưởng Fields.  [3] www.mathunion.org/publications/report/citationstatistics0  [4] http://am.ascb.org/dora/  [5] http://www.arc.gov.au/era/era_2010/pdf/ERA_report.pdf  [6] http://www.arc.gov.au/era/era_2012/outcomes_2012.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Israel có công nghệ – Việt Nam có thị trường      Ngày 26/7 vừa qua, Bộ KH&CN Việt Nam đã ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác Khoa học Công nghệ với Bộ KH&CN Israel. Tia Sáng đã có dịp trao đổi với ông Doron Lebovich, Phó Đại sứ Israel tại Việt Nam về những vấn đề xung quanh MOU này.      Phó Đại sứ Israel tại Việt Nam, ông Doron Lebovich.  Israel có công nghệ cho những vấn đề Việt Nam đang đối mặt  Ông có thể cho biết là MOU này có vai trò gì trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Israel?  Khoa học công nghệ là một trong những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Israel. Là một đất nước nhỏ với 8.5 triệu dân nhưng Israel sở hữu những công nghệ tiên tiến nhất thế giới. Chúng tôi thấy Việt Nam là một thị trường rộng lớn, một thị trường đang thay đổi, một thị trường có thể tận dụng những tri thức và công nghệ của Israel. Chẳng hạn như lĩnh vực môi trường, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất về biến đổi khí hậu. Trong khi đó, Israel đã có 70 năm kể từ khi lập quốc đối phó với hạn hán liên miên và 40% diện tích đất là sa mạc để tìm câu trả lời cho những câu hỏi: “Làm thế nào để nuôi trồng trong một khí hậu thay đổi?” “Làm thế nào để tăng năng suất với ít nước tưới hơn?” “Làm thế nào để đối phó với nước mặn?”. Việt Nam hiện nay đang đối mặt với rất nhiều thách thức mà Israel đã trải qua trong rất nhiều năm và chúng tôi đã có công nghệ, có giải pháp cho những vấn đề đó.  Sự hợp tác giữa Israel và Việt Nam đã diễn ra trên nhiều phương diện: phương diện chính trị bao gồm những chuyến thăm chính thức giữa hai nước, chẳng hạn như tháng 3 vừa qua, Tổng thống Israel Reuven Rivlin đã đến thăm Việt Nam; phương diện kinh doanh mà chúng ta thấy là ngày càng nhiều công ty Israel kinh doanh, đầu tư và tìm hiểu thị trường Việt Nam; cuối cùng là phương diện văn hóa tạo điều kiện cho Israel hiểu về văn hóa và con người ở đây và ngược lại. Tôi tin rằng Biên bản ghi nhớ này sẽ tạo ra một lớp mới cho quan hệ hai nước: ở phương diện chính trị sẽ có nhiều chuyến thăm của những chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực KH&CN giữa hai bên; ở phương diện kinh tế, MOU sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp KH&CN Israel tới Việt Nam. Từ đó con người hai nước có thể gặp gỡ, trao đổi, tham gia các hoạt động của nhau nhiều hơn.    Nguyên do nào khiến Israel hợp tác với Việt Nam về khoa học công nghệ, thưa ông?  Chúng tôi tin vào một câu ngạn ngữ tiếng Hebrew nghĩa là: “Một con dao chỉ sắc hơn khi được mài với một con dao khác”, chúng tôi tin rằng hợp tác trong tư duy, chia sẻ hiểu biết chung, đặc biệt trong lĩnh vực KH&CN là cách tăng cường hợp tác nói chung giữa hai nước. Chúng tôi trân trọng nỗ lực của Việt Nam trong việc tập trung vào KH&CN như một động lực để phát triển đất nước. Khi đã nhìn thấy cơ hội hợp tác, chúng tôi không đặt ra tiêu chí tại sao lại làm việc với quốc gia này thay vì quốc gia kia.  Ông có thể nói rõ hơn là Israel nhìn thấy Việt Nam tập trung vào KH&CN như một động lực để phát triển đất nước như thế nào không?  Đây là một câu hỏi khó. Tôi nhìn thấy người dân ở đây đầu tư nhiều vào giáo dục cho con cái như thế nào, tôi nhìn thấy các trường đại học cố gắng tìm kiếm chỗ đứng của mình trên thế giới bằng cách tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế ra sao…Tôi còn nhìn thấy những ví dụ khác không chỉ trong khoa học công nghệ mà trong bức tranh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: startup trở thành từ khóa quan trọng mà tất cả mọi người từ chính phủ cho đến khối tư nhân đều hiểu đó là một trong những điều kiện cần để thúc đẩy kinh tế phát triển. Chính phủ Việt Nam cũng đã có một chương trình riêng để thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp ở đây.  Đó mới chỉ là một vài ví dụ nhưng nó cho thấy một điều quan trọng là muốn phát triển một đất nước thì thường phải thông qua con đường phát triển KH&CN nếu không muốn nói đây là con đường duy nhất. Hiện nay ở Việt Nam, tôi đã chứng kiến sự đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn như trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi có thể thấy công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel đã làm thay đổi nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại ở Việt Nam. Ngoài ra, chúng tôi còn có dự án “Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao (DDEF) tại huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh để chuyển giao công nghệ nuôi bò giữa Israel và Việt Nam. Trong dự án này, mỗi con bò sẽ được gắn một chiếc thẻ từ ở tai, thông báo cho người nuôi điều kiện môi trường và tình trạng sức khỏe con bò để có chế độ cho ăn, tắm rửa, vắt sữa phù hợp. Dự án bắt đầu năm 2012 và chúng tôi có thể thấy năng suất và chất lượng của sữa bò đã tăng lên.  “Biến ngôn từ thành hành động”  Theo ông, hoạt động đầu tiên hai nước phải làm sau khi kí kết MOU này là gì?  Đầu tiên là phải thành lập một nhóm điều phối làm việc định kì với nhau, bao gồm chuyên gia giữa hai nước, chịu trách nhiệm “biến ngôn từ thành hành động”, cùng lựa chọn xem những việc nào có thể làm và làm dựa trên nguyên tắc nào: Làm thế nào để tài trợ cho các nghiên cứu hợp tác? Làm thế nào để cùng tổ chức các sự kiện? Nên tập trung ưu tiên các chủ đề nào để hợp tác? Làm thế nào để chuyển giao tri thức? Thông qua những chuyến tham quan học hỏi giữa hai nước của các chuyên gia hay thông qua các cơ sở giáo dục và nghiên cứu tự chủ động hợp tác với nhau?  Ông có thể nói rõ hơn vai trò của các trường đại học và viện nghiên cứu trong việc triển khai MOU này không?  Mặc dù các trường đại học của Israel đều là công lập nhưng chính phủ không thể yêu cầu họ làm việc với ai và làm việc như thế nào. Nhà nước không can thiệp vào danh sách những hoạt động của các trường đại học nên việc hợp tác với ai hoàn toàn là quyền chủ động của họ. Với các tổ chức công lập khác, như viện nghiên cứu thì không gặp phải khó khăn này nên phía Việt Nam có thể hợp tác dễ dàng hơn.  Gần đây, ngày càng có nhiều đại học ở Việt Nam hợp tác với đại học Israel, nhiều sinh viên Việt Nam cũng sang đây du học nhưng điều đó chưa đủ. Một trong những điều Đại sứ quán Israel đang thực hiện để thúc đẩy sự hợp tác giữa các trường đại học Israel với các trường đại học Việt Nam là quảng bá về chất lượng của các trường đại học ở Israel tới Việt Nam và tiềm năng của người Việt Nam tới Israel.  Là người theo sát từ lúc chuẩn bị cho đến lúc ký kết biên bản ghi nhớ này, ông có nhìn thấy trước những khó khăn cụ thể nào trong việc triển khai Biên bản ghi nhớ này không?  Cụ thể? Không, tôi không nhìn thấy trước được điều gì. Tôi nghĩ rằng, tất cả mọi Biên bản ghi nhớ đều có những thách thức như người ta vẫn nói. Thách thức thứ nhất là ý chí triển khai của mỗi bên. Sau đó là làm thế nào để duy trì hoạt động hợp tác này. Nhóm liên kết gồm các chuyên gia của hai nước cần trao đổi định kỳ mỗi năm một lần hoặc hai năm một lần để xác định xem họ có thể làm gì và thiết lập một phương thức hợp tác chung. Đấy là bước đầu tiên và khó nhất. Từ đó trở đi, tôi nghĩ là mọi việc sẽ diễn ra suôn sẻ.  Xin cảm ơn ông!   Hảo Linh thực hiện  Theo biên bản ghi nhớ này, Israel và Việt Nam sẽ hợp tác với nhau trong tám lĩnh vực: Nông nghiệp và công nghệ thực phẩm; Nuôi trồng và chế biến thủy sản; Chất lượng cuộc sống và môi trường; Công nghệ vật liệu; Công nghệ thông tin; Công nghệ sinh học; Y tế; Năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Việc hợp tác sẽ được triển khai qua bốn phương thức: hỗ trợ các dự án hợp tác giữa hai nước về nghiên cứu khoa học, nghiên cứu công nghệ và triển khai thử nghiệm; đồng tổ chức các hội thảo, hội nghị, seminar khoa học ; Chia sẻ, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức thăm quan giữa hai nước về các vấn đề hai bên cùng quan tâm; Khuyến khích hợp tác trực tiếp giữa các viện nghiên cứu và các trường đại học của hai nước.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Israel: Hỗ trợ 500 nghìn USD cho ý tưởng có khả năng thương mại hóa      Tại Isarel, một số doanh nghiệp công nghệ  cao trong lĩnh vực nông nghiệp, y sinh, công nghệ thông tin truyền thông  đạt được những thành tựu nhất định nhờ có chính sách khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo của Chính phủ.    Thông tin trên được đưa ra tại buổi tọa đàm về kinh nghiệm của Isarel trong lĩnh vực đầu tư ươm tạo và phát triển doanh nghiệp sáng tạo, do Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN tổ chức mới đây.  Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia Isarel chia sẻ kinh nghiệm sử dụng quỹ trong đầu tư và phát triển các doanh nghiệp sáng tạo dựa trên cơ sở chính sách khuyến khích khai thác tại chỗ sáng chế trong nước. Chính phủ Isarel khuyến khích phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp bằng cách thông qua chương trình hỗ trợ 500.000 USD cho mỗi ý tưởng sáng tạo có khả năng thương mại hóa cao và coi đây là khoản trợ cấp một lần, không mang tính đầu tư để thu lợi nhuận.  Chính phủ không trực tiếp tuyển chọn các dự án thương mại hóa mà thông qua một vườn ươm tư nhân có kinh nghiệm. Nếu dự án thành công, vườn ươm thu lại khoản tiền tương đương khoản tiền mà doanh nghiệp đã được hồ trợ để trả lại cho nhà nước dưới dạng một khoản vay. Vườn ươm có thể tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp thành công dưới dạng góp vốn cổ phẩn. Doanh nghiệp khởi nghiệp thành công cũng có thể gọi các nguồn vốn đầu tư khác từ khu vực tư nhân.  Điểm đặc thù trong chính sách phát triển doanh nghiệp sáng tạo của Chính phủ Isarel là thông qua công cụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước để thúc đẩy hoạt động sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm sáng tạo, phát triển hệ thống doanh nghiệp trẻ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang ITIMS: Một điểm sáng trong  nghiên cứu và đào tạo      Cùng với Viện Toán học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), viện Đào tạo Quốc tế về Khoa học Vật liệu (ITIMS) thuộc ĐH Bách khoa Hà Nội là một trong hai đại diện hiếm hoi của Việt Nam được tổ chức TWAS UNESCO công nhận là Trung tâm nghiên cứu chất lượng cao (Centre of Excellence in the South) và được đưa vào chiến lược hợp tác (Associateship Scheme) của họ. Và trong mắt nhiều nhà khoa học vật lý tại Việt Nam, ITIMS được coi như một “điểm sáng” về đào tạo chất lượng cao và nghiên cứu cơ bản.     Đào tạo tinh hoa  Từ những ngày đầu, ITIMS đã được GS. Thân Đức Hiền, GS. Nguyễn Phú Thùy và GS. Nguyễn Đức Chiến – những người đặt nền móng đầu tiên – xác định hướng phát triển thành một cơ sở nghiên cứu và đào tạo chất lượng cao, không chỉ trong nước mà còn trên trường quốc tế. Vì thế, trong năm năm trở lại đây, ITIMS có 102 công trình xếp hạng ISI và mỗi năm, số công bố quốc tế đều có xu hướng tăng lên: Số bài báo ISI năm 2013 là 25, năm 2014 là 31.“Số lượng công bố của ITIMS là nhất trường”- PGS. Nguyễn Văn Hiếu, Viện phó ITIMS khẳng định. Còn trong đào tạo, theo Viện trưởng, PGS. Vũ Ngọc Hùng, khởi nguồn từ dự án được thực hiện từ năm 1992 với sự hợp tác liên Đại học Hà Lan và Việt Nam trên cơ sở ngành khoa học vật liệu, ITIMS có những lợi thế nhất định trong việc kết hợp giữa đào tạo trong nước và quốc tế. Không chỉ nằm ở việc trao đổi chương trình đào tạo, giảng viên mà các nghiên cứu sinh và thạc sĩ khoa học có kết quả nghiên cứu xuất sắc tại ITIMS có cơ hội được trường Đại học Tổng hợp Amsterdam, Hà Lan tiếp nhận để làm luận án Tiến sĩ; đồng thời ITIMS tận dụng cơ hội liên kết đó để thực hiện tốt những nghiên cứu có định hướng ứng dụng cao và phù hợp với xu hướng trên thế giới. Vì vậy, tuy là đơn vị hợp tác quốc tế mạnh, nhưng số lượng bài báo ISI hằng năm đều được thực hiện trong nước. PGS. Vũ Ngọc Hùng cho biết, điều đó thể hiện năng lực đào tạo và nghiên cứu thực sự của một cơ sở ở trong nước.  Khi được hỏi, chất lượng đầu vào đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ của ITIMS có gì khác biệt so với những viện khác, PGS. Hùng cho biết sự khác biệt là ở quá trình đào tạo. Ông nói: “Mình phải cung cấp cho họ đủ kiến thức, kiến thức này phải cập nhật và liên thông với các chương trình đào tạo quốc tế”. Hiện nay, ITIMS nhận đào tạo khoảng gần 20 thạc sĩ mỗi năm. Khoảng 2/3 số thạc sĩ theo học tại đây học tiếp lên Tiến sĩ.           Tất cả các nghiên cứu sinh  được đào tạo tại ITIMS khi bảo vệ luận án phải có hai bài báo trên các tạp chí quốc tế được công nhận ISI.          Hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh  Theo PGS. Hùng, một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh là phải thu hút được các Tiến sĩ giỏi từ nước ngoài trở về. Hiện nay, trong 29 cán bộ cơ hữu tại ITIMS, có 21 Tiến sĩ và 80% Tiến sĩ được đào tạo tại nước ngoài. Đặc biệt là, những Tiến sĩ trở về ITIMS phần lớn đều được đào tạo Thạc sĩ tại đây. PGS. Hùng cho biết, nhóm nghiên cứu mạnh thực chất được hình thành từ hướng nghiên cứu mũi nhọn của viện. Mũi nhọn ấy, theo quan điểm của PGS. Hùng phải là những hướng nghiên cứu khiến ITIMS dẫn đầu trên cả nước và thậm chí, có tiếng nói trên trường quốc tế: “Nhắc đến cảm biến khí thì không thể không nhắc tới anh Hiếu (Nguyễn Văn Hiếu – Viện phó ITIMS) hay nhắc tới MEMS (công nghệ và linh kiện vi cơ điện tử) thì không thể không nhắc tới ITIMS”.             PGS.TS.Vũ Ngọc Hùng, Viện trưởng ITIMS            PGS. Nguyễn Văn Hiếu hiện nay là trưởng nhóm nghiên cứu iSensors thuộc viện ITIMS gồm các thành viên hầu hết là tiến sĩ trẻ dưới 40 tuổi. Từ năm 2008 đến nay, nhóm nghiên cứu đã có 65 công bố quốc tế trên tạp chí ISI, hoàn thành hai đề tài cấp Nhà nước hơn và bốn đề tài của Quỹ Nafosted. Điều đó khiến iSensors được các đồng nghiệp cùng lĩnh vực nghiên cứu ở trong và ngoài nước chú ý; qua đó ITIMS có thể thuyết phục được các Tiến sĩ từ nước ngoài trở về. PGS. Hiếu kể lại, anh đã thuyết phục được PGS một đang làm việc tại Nhật với mức lương 5000 USD và hợp đồng “muốn kéo dài bao nhiêu năm cũng được” về ITIMS để làm việc với nhóm nghiên cứu của anh.  Những người quản lý ITIMS tin rằng, họ tạo ra một môi trường làm việc đủ hấp dẫn để thu hút những người có năng lực tới đây làm việc. Nền tảng của môi trường đó ở chính những nhóm nghiên cứu mạnh tầm cỡ thế giới mà viện, dưới sự định hướng của Đại học Bách khoa đã xây dựng trong các năm qua. Cụ thể là, trung bình mỗi năm, ITIMS tuyển thêm hai – ba Tiến sĩ bằng cách các nhóm nghiên cứu mạnh thường xuyên giữ mối liên hệ với những Tiến sĩ tại nước ngoài có hướng nghiên cứu gần gũi với lĩnh vực của mình. Trước khi họ tốt nghiệp, lãnh đạo viện sẽ trực tiếp liên lạc và thuyết phục những Tiến sĩ ấy. “Chúng tôi đặt vấn đề và đề nghị họ đề xuất các hướng nghiên cứu và “ở nhà” sẽ giúp đăng kí các đề tài nghiên cứu khoa học. Khi đó, anh về là anh có đề tài làm ngay” – PGS. Hùng nói về quá trình “chiêu mộ” nhân lực của ITIMS. PGS. Hiếu nói thêm, kinh nghiệm của anh về việc thu hút các Tiến sĩ có năng lực còn nằm ở việc lựa chọn hướng nghiên cứu: “phải tiếp cận với trình độ thế giới để các bạn từ nước ngoài có thể tham gia vào nhóm của mình. Nếu nghiên cứu đề tài quá cũ kĩ, lạc hậu thì rất khó tuyển người”.   Việc tuyển chọn những Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài không chỉ đem lại cho ITIMS lực lượng cán bộ nghiên cứu có năng lực mà cả những mối quan hệ hợp tác quốc tế. ”Khi các bạn về nước làm việc trong nhóm, họ vẫn viết thư trao đổi với những mối quan hệ bạn bè, giáo sư ở nước ngoài”– PGS. Hiếu nói về nhóm iSensors của mình. ITIMS không chỉ giữ mối quan hệ với các trường, viện tại Hà Lan như Đại học Twente, Đại học Tổng hợp Amsterdam, Viện Van der Waals-Zeeman, Viện nghiên cứu MESA, Đại học Kỹ thuật Delft mà còn mở rộng với các trường và viện tại nhiều nước khác như Đại học Ritsumeikan (Nhật Bản); Đại học Katholieke Leeuwen, Đại học Gent (Bỉ); Đại học Trento (Ý); Viện Khoa học và Công nghệ Seoul, Đại học Quốc gia Chungnam, (Hàn Quốc); Đại học Quốc gia Singapore (Singapore),…    Không có bột vẫn gột nên hồ  PGS. Nguyễn Văn Hiếu từng học và nghiên cứu tại Đại học Twente, Hà Lan trong năm năm. “Khi ở nước ngoài, tôi viết và được đăng bài trên các tạp chí quốc tế nhưng về Việt Nam thì điều đó vô cùng khó khăn. Trở về nước năm 2004 nhưng đến năm 2007 tôi mới có công bố quốc tế”. Anh kể lại, lí do chính của sự khó khăn đó là vì thiết bị thiếu thốn, nghèo nàn. Anh phải “góp nhặt từ chỗ này chỗ kia” rồi từ những kinh phí hỗ trợ trong các đề tài khoa học để chế tạo các thiết bị đo đạc, xây dựng phòng thí nghiệm. Ở ITIMS, đó không phải là khó khăn của riêng nhóm nghiên cứu iSensors.             PGS. Nguyễn Văn Hiếu, Viện phó ITIMS, trưởng nhóm nghiên cứu mạnh iSensors với nghiên cứu định hướng ứng dụng là cảm biến có khả năng quan trắc không khí, cảnh báo sớm về ô nhiễm môi trường.            Mặc dù được Chính phủ Hà Lan hỗ trợ toàn bộ cơ sở vật chất ban đầu nhưng tính đến nay, các thiết bị công nghệ và đo lường đã hơn 20 “tuổi đời”. Mặc dù vẫn được khai thác và sử dụng nhưng những thiết bị này đã hạn chế khả năng triển khai những nghiên cứu mới của viện. Tuy có sự hạn chế về thiết bị khoa học công nghệ, viện ITIMS vẫn nỗ lực đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản có định hướng ứng dụng. Một số sản phẩm tiêu biểu của viện đã được nghiên cứu thành công như con quay vi cơ (MEMS micro gyroscope), cảm biến sinh học và thiết bị cảm biến có khả năng quan trắc không khí, cảnh báo sớm về ô nhiễm môi trường.  Nằm trong tình trạng chung của nhiều viện trên cả nước về tình trạng cơ sở vật chất và các cán bộ phải đối mặt với sự bấp bênh khi thu nhập dựa chủ yếu vào các đề tài nhưng “ITIMS vẫn là điểm sáng trong đào tạo nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học”- PGS. Hùng nhắc đi nhắc lại. 			 				 				    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết luận về thủ phạm vụ Piltdown Man – pha lừa bịp nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học      Sự kiện tìm ra hộp sọ của vượn có hàm Piltdown Man – mắt xích còn thiếu trong quá trình tiến hóa của loài người hóa ra lại là trò lừa đảo nổi tiếng và kỳ công nhất trong lịch sử khoa học. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây cuối cùng đã giải quyết đươc bí ẩn suốt 100 năm, giúp tìm ra thủ phạm phải chịu trách nhiệm cho trò chơi khăm khét tiếng này.      Piltdown Man đã qua mặt những bộ não vĩ đại nhất thời đó.  Hộp sọ nổi tiếng của vượn có hàm Piltdown Man – mắt xích còn thiếu trong quá trình tiến hóa của loài người đã được tìm thấy trong một hang sỏi ở một ngôi làng nhỏ nước Anh vào năm 1912. Phát hiện này đã thúc đẩy việc nghiên cứu thuyết tiến hóa trong hàng thập kỷ và biến Vương quốc Anh trở thành một địa điểm quan trọng trong lịch sử tiến hóa của con người. Nhưng có lẽ nhiều khoa học gia đã bị sốc lần thứ hai, Piltdown Man thay vì là một phát hiện vĩ đại thì lại là trò lừa đảo nổi tiếng và kỳ công nhất trong lịch sử khoa học – một hộp sọ của người ghép với hàm và răng của đười ươi. Piltdown Man đã qua mặt hầu hết những trí tuệ vĩ đại nhất thời đại đó để khiến họ tin rằng tổ tiên của loài người đã được tìm ra trong một hang sỏi nước Anh. Nhiều năm trôi quan, việc hiểu được làm thế nào và tại sao vụ lừa bịp đó lại được thực hiện và hoàn thành trót lọt vẫn là mối quan tâm của nhiều người, cho dù họ có làm khoa học hay không. Những nghiên cứu mới đây cuối cùng đã giải quyết đươc bí ẩn suốt 100 năm, giúp tìm ra nhân vật phải chịu trách nhiệm cho trò chơi khăm khét tiếng này.  Câu chuyện về Piltdown Man có nguồn gốc vào năm 1907 khi một công nhân mỏ ở Đức đã khám phá ra một xương hàm của người Homo heidelbergensis – giống người sống khoảng 200,000 đến 600,000 năm trước đây, được coi là tổ tiên chung của cả người Hiện đại và người Neandertal. Phát hiện tại nước Đức đã gây ra sự mặc cảm trong lòng các nhà tự nhiên học nước Anh – những người luôn luôn muốn giữ vị trí dẫn đầu trong khoa học. Tuy thế, thật bất ngờ khi 5 năm sau đó, Charles Dawson, một luật sư và thợ săn hóa thạch ở Sussex, nước Anh, viết cho bạn của ông, nhà cổ sinh vật Arthur Smith Woodward, tuyên bố rằng ông đã khám phá ra “một hộp sọ có nhiều phần người sẽ cạnh tranh được với H. heidelbergensis” gần ngôi làng Sussex của Piltdown.  Smith Woodward và Dawson đã trình bày phát hiện của họ với hiệp hội địa chất London vào năm 1912. Trong lần khai quật đầu tiên, họ tuyên bố rằng đã khám phá ra những mảnh vụn của một hộp sọ giống người, còn hàm dưới giống vượn, một vài chiếc răng bị mòn, các công cụ bằng đá, và xương hóa thạch của động vật. Sau đó 2 năm, nhóm tiếp tục tìm thấy những chiếc răng nanh có kích cỡ nằm giữa kích cỡ của răng người và răng vượn. Tất cả răng và xương đều có màu nâu đỏ đồng màu với loại sỏi trong hang mà họ tìm thấy. Dựa trên màu sắc của xương và hóa thạch động vật, Dawson và Smith cho rằng giống người này đã sống từ 500,000 năm trước. Hội đồng nghiên cứu thuyết tiến hóa của Anh nhiệt tình đón nhận giống người Eoanthropus dawsoni hay còn được gọi là ‘Dawson’s Dawn Man’ dựa theo tên của người hùng Dawson, tuy nhiên hóa thạch này được biết đến nhiều hơn với tên gọi Piltdown Man. Bộ não lớn cùng chiếc hàm và răng vượn của sinh vật này chính xác là những gì các nhà khoa học mong đợi tìm thấy ở “mắt xích còn thiếu”.  Sau đó, ngày càng nhiều hóa thạch của người Hominin được khám phá trong một vài thập kỷ tiếp theo ở Châu Phi, Trung Quốc, và Indonesia. Vì vậy, Piltdown Man dần mất đi vị trí độc tôn của nó như một mắt xích còn thiếu duy nhất. Sau khi ngài Dawson mất vào năm 1916 bởi bệnh nhiễm trùng máu thì sau đó 37 năm, vào năm 1953, trò chơi khăm này mới được phơi bày ra ánh sáng. Hai nhà khoa học ở Đại học Oxford – những người hiếm hoi được quyền tham cứu bộ sưu tập mẫu vật cổ, đã sử dụng phương pháp phân tích flo – từ đó phát hiện ra rằng những mảnh xương của Piltdown Man thật ra có độ tuổi khác nhau. Phân tích sâu hơn cho thấy chúng là những hỗn hợp mảnh xương người và vượn được sơn màu một cách cẩn thận. Và sự thật về những hóa thạch tương tự ở những nơi khác cũng lần lượt được phanh phui: hóa ra tất cả đều là đồ giả, “mắt xích quan trọng” đến nay vẫn bị khuyết. Mặc dù đã phát hiện sự lừa dối, nhưng thủ phạm của trò chơi khăm thì không thể xác định chính xác được vì những nhân vật liên quan thời đó đều đã qua đời.  Đương nhiên, những nghi phạm chính sẽ bao gồm Dawson và Smith Woodward. Tuy nhiên, có cả Piere Teilhard de Chardin, một linh mục Dòng Tên người Pháp đã hỗ trợ quá trình khai quật, và Martin Hinton, một tình nguyện viên làm việc cùng Smith Woodward, thậm chí cả tác giả cuốn truyện trinh thám nổi tiếng Sherlock Holmes – ngài Connan Doyle, người sống gần những địa điểm khai quật này đều là những người nằm trong diện nghi vấn can dự.  Vào năm 2009, Isabelle De Groote, một nhà sinh vật nhân chủng học ở Đại học Liverpool John Moores, Anh, đã bắt đầu xem xét lại câu hỏi này. Bà và các đồng nghiệp đã sử dụng công nghệ quét hiện đại và phân tích AND đối với những mẫu vật gốc từ đó so sánh các kết quả chụp cắt lớp của hàm dưới và răng của mẫu vật và đi đến kết luận tất cả hàm và răng đều đến từ một con vượn có nguồn gốc ở Tây Nam Sarawak. Một trong những cái răng vượn đã được tái cấu trúc lại sau khi nó được trồng vào thất bại. “Tôi rất ngạc nhiên làm thế nào mà tạo ra được những điều chỉnh lớn như vậy, và lại không ai nhận ra điều đó – ví dụ như hàm dưới của đười ươi có thể bị vỡ một cách bất ngờ trong quá trình điều chỉnh và gắn chúng lại với nhau. Những chiếc răng có thể bị dịch chuyển khỏi hàm, chân răng đã được nhổ lên và cắm lại nên không còn đảm bảo độ chắc chắn. Nhưng tất cả đều đã được thực hiện một cách rất tinh vi.” Bà nói. De Groote cho rằng thủ phạm có thể đã thu thập các mẫu vật từ một cửa hàng bán đồ cổ. Tiếp đến, cho dù thủ phạm đã cố tính sử dụng chiếc hộp sọ người dày một cách bất thường – nhằm giải thích cho nguồn gốc tiền sử của mẫu vật – De Groote vẫn khẳng định rằng những mẫu vật này không có gì khác xương người bình thường, chúng là hộp sọ của một người Trung cổ sống cách đây khoảng 50,000 năm.  Sau khi kiểm tra kết quả chụp cắt lớp, De Groote đã nhận thấy một số điểm kì lạ, có những chất bột trắng phủ trên bề mặt của hầu như tất cả mẫu xương nhằm tạo ra vẻ cổ xưa cho mẫu vật. Chất bột này được dùng để sơn, và trong một số trường hợp, nó giúp lấp đầy những vết nứt mà tên thủ phạm đã sơ ý tạo ra. Bên trong sọ trước và răng, bà tìm thấy những viên sỏi li ti được trộn vào cùng với chất bột trắng. De Groote nghĩ rằng kẻ gian đã sử dụng sỏi để tăng trọng lượng của xương, bởi vì xương hóa thạch nặng hơn so với xương bình thường. Kết nối tất cả dữ liệu, có một sự thống nhất trong thủ đoạn chế tác sử dụng đối với các mảnh vỡ của Piltdown Man. Vì vậy, theo báo cáo tại Hiệp hội mở Khoa học Hoàng gia, các nhà khoa học kết luận rằng có sự dàn dựng của một chủ mưu duy nhất trong trò lừa đảo. “Xuyên suốt toàn bộ những chứng cứ là một bàn tay, một thủ phạm, một dấu vết,” De Groote nói.  Có nhiều khả năng kẻ đó là Charles Dawson, De Groote cho biết. Ông là một nhà địa chất nghiệp dư, một nhà khảo cổ học, và nhà sử học. Ông thường tham gia các cuộc họp của những nhà địa chất và nhà nhân chủng học. Ông ta cũng là một thợ săn hóa thạch có thâm niên và có quyền hạn tham cứu những bộ sưu tập cổ vật cũng như có hiểu biết về những phát hiện thời kỳ tiền sử. Ông cũng từng bị phát hiện có những gian dối nhỏ, một vài mẫu vật khai quật sau này của ông ta cũng được chứng minh là đồ giả. Điều đó góp phần củng cố nhận định về việc ông đã cố tình tự tạo ra “một phát hiện lớn” và tuyên bố rằng đó là những gì ông khao khát thực hiện được. Hơn thế nữa, suốt một thời gian dài trước đó, ông đã tuyệt vọng trong việc tìm kiếm sự thừa nhận từ Hội đồng Khoa học Anh. Rất nhiều những bức thư ông gửi đi để tham gia vào Hội đồng Khoa học Hoàng gia đều không có kết quả.   “Tất cả những nghiên cứu hiện đại đã góp phần đưa ra những bằng chứng gián tiếp rằng Dawson đã đứng đằng sau chiếc hộp sọ giả dối,” nhà địa chất học Stephen Donovan ở Viện đa dạng Sinh học Tự nhiên, Leiden, Hà Lan, người đứng ngoài cuộc nghiên cứu này cho ý kiến.  Dawson đã có thể đánh lừa các chuyên gia trong ngành này bằng cách sử dụng một xảo thuật khá quen thuộc: Ông ta chỉ cho họ thấy những gì mà họ muốn thấy. “Dawson thực sự đã chơi một trò rất thông minh,” De Groote nói. “Với những phát hiện từ nước Đức, người Anh không hài lòng bởi họ muốn giữ vị trí dẫn đầu trong khoa học, điều đó rất rõ ràng, bên cạnh đó, họ muốn rằng những hóa thạch phải được tìm thấy ở Anh.”  Miles Russell, một nhà khảo cổ học tại Bournemouth, Anh, người viết cuốn sách The Piltdown Man Hoax: Case Closed vào năm 2012, cho rằng những nghiên cứu mới đã bổ sung thêm sự chắc chắn cho lập luận Dawson chỉ một mình thực hiện trò lừa bịp. “Có thêm một người đồng hành trong chuyện này… sẽ cực kỳ nguy hiểm, làm tăng nguy cơ bị đe dọa, hoặc tệ hơn, có thể bị lật tẩy và bị nhạo báng,” Ông nói. “Báo cáo mới đã chứng minh rằng, thủ phạm, không nghi ngờ gì, chính là Dawson, và hắn ta đã hành động một mình.”  De Groote cho biết một nghi phạm chính khác trong vụ Piltdown Man là Smith Woodward. Tuy nhiên, ông ta chỉ đơn thuần là một người tham gia không ý thức trong canh bạc tìm kiếm sự nổi tiếng của Dawson. Mặc dù ông đã giúp đỡ trong suốt cuộc khai quật, nhưng ông luôn để Dawson điều khiển công việc, bà nói.  Những tính toán và tuyên bố của Dawson nhằm nhấn mạnh vào lý do tại sao Piltdown Man lại là quan trọng trong khoa học hiện đại, De Groote nói. Mặc dù khả năng một trò lừa đảo trắng trợn như vậy xảy ra một lần nữa trong nhân chủng học với những kỹ thuật phân tích hiện đại ngày nay là cực kỳ hi hữu. Nhưng đây sẽ mãi mãi là bài học đối với khoa học mọi thời đại về việc một cộng đồng khoa học quá vội vàng chấp nhận một cách giải thích trùng khớp với những gì họ đang chờ đợi có thể sẽ dẫn đến sai lầm. “Giới khoa học thời đại nào cũng cần đặc biệt cẩn trọng với những nhà nhân chủng học có những phát hiện sử dụng bộ sưu tập của chính họ,” De Groote nhận xét.  Phương Thảo tổng hợp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết quả nghiên cứu sau năm năm thành lập      Theo báo cáo của GS Ngô Bảo Châu tại buổi Lễ Kỷ niệm 5 năm “Chương trình trọng điểm Quốc gia về Toán” và thành lập “ Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán” (NCCCVT) sau năm năm tồn tại, Viện đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc học, dạy và nghiên cứu toán ở Việt Nam; được cộng đồng toán học ở trong và ngoài nước công nhận. Ở nửa chặng đường của chương trình trọng điểm, Viện NCCCVT đã có một số thành tựu, và hiện thực được một phần kỳ vọng mà Chính phủ và Cộng đồng toán học đặt vào nó. Tia Sáng xin trích đăng phần nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của báo cáo đó.      Nghiên cứu cơ bản  Viện NCCCVT đã tập trung hỗ trợ những nhóm nghiên cứu ở những chủ đề mạnh truyền thống ở Việt Nam, và ưu tiên cho sự hình thành một số nhóm mới.  Các hướng nghiên cứu mạnh truyền thống ở Việt Nam là: Tối ưu, Giải tích phức, Đại số giao hoán, Topo đại số, Số học … Viện đã đón tiếp các nhóm nghiên cứu ở các chuyên ngành kể trên nhiều hơn một lần. Với điều kiện nghiên cứu tập trung ở Viện NCCCVT, các nhóm nghiên cứu đã có điều kiện củng cố hợp tác trong nước và quốc tế, cải thiện đáng kể công bố khoa học. Số lượng công bố khoa học được đăng ký như công trình hoàn thành ở Viện NCCCVT cũng như số lượng công bố khoa học ngành toán trong phạm vi cả nước đã tăng gấp đôi trong năm năm gần đây.  Các hướng nghiên cứu chưa mạnh ở Việt Nam, nhưng có cơ hội để phát triển là: lý thuyết biểu diễn, tổ hợp xác suất, phương trình đạo hàm riêng và phương trình vật lý toán, hình học vi phân và giải tích trên đa tạp … Ở những lĩnh vực này có những nhà toán học Việt Nam rất có uy tín đang làm việc ở nước ngoài như các anh Phạm Hữu Tiệp (Arizona), Vũ Hà Văn (Yale), Dương Hồng Phong (Columbia), đặc biệt bên phương trình, có một nhóm trẻ hơn là các anh Nguyễn Hoài Minh (Zurich), Trần Vĩnh Hưng (Madison), Nguyễn Lực (Oxford) … Những nhóm làm việc ở Việt Nam theo các hướng này còn đang manh nha nên trong thời gian tới,Viện sẽ ưu tiên hơn nữa để các anh kể trên về Việt Nam làm việc thường xuyên hơn, có nhiều hơn cơ hội, thời gian để tương tác với sinh viên và các nhà nghiên cứu trẻ ở Việt Nam.   Viện đã thiết kế một chức danh mới là Associate members dành cho những nhà toán học rất có uy tín như các anh Phạm Hữu Tiệp, Vũ Hà Văn, với kỳ vọng các anh sẽ đến Viện làm việc thường xuyên và xây dựng trường phái toán học của mình ở Việt Nam.  Nghiên cứu ứng dụng  Viện đã hết sức nỗ lực trong  ứng dụng của toán học vào thực tế và vào các ngành khoa học khác. Tuy vậy, bên cạnh một vài thành tựu đáng khích lệ, nhiều dự định vẫn  còn đang phôi thai hoặc hãy còn đang dang dở.  Viện đã hỗ trợ để các anh Hồ Tú Bảo và Nguyễn Xuân Long tổ chức hai trường hè về thống kê và học máy rất thành công. Thống kê và học máy là một hướng toán học ứng dụng rất nóng, với nhiều ứng dụng quan trọng vào khoa học thông tin và trí tuệ nhân tạo thông qua xử lý các hệ thống dữ liệu lớn. Mặt khác, số lượng các chuyên gia ở Việt Nam trong lĩnh vực này còn rất hạn chế.  Vì hai lý do kể trên nên trường hè về thống kê và học máy tổ chức ở Viện NCCCT đã đáp ứng được một nhu cầu rất cấp thiết, và được hưởng ứng rất tích cực (trên dưới 100 học viên).   Hè 2014, Viện đã tổ chức một trường hè và giai đoạn nghiên cứu tập trung với chủ đề là ứng dụng của toán học trong cơ học, với sự tham gia là một nhóm các nhà cơ học Pháp, hợp tác với những người nghiên cứu cơ học ở Việt Nam. Trường hè Cơ học 2014 được sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng cơ học Việt Nam. Tuy vậy, dường như chúng tôi không cảm nhận được hiệu quả rõ nét của chương trình trong việc đẩy mạnh nghiên cứu Cơ học ở Việt Nam. Viện NCCCVT luôn mở cửa cho những hoạt động nghiên cứu liên ngành, nhưng chúng tôi cũng sẽ rút kinh nghiệm từ những khó khăn của nghiên cứu liên ngành ở Việt Nam.  Viện đã phối hợp với Viện nghiên cứu Viettel trong việc thống nhất các dữ liệu radar để xác định quỹ đạo máy bay địch. Tuy chưa đạt được độ chính xác ở tiêu chuẩn của các nước với nền công nghệ tiên tiến, đề tài nghiên cứu này đã góp phần cải thiện đáng kể độ chính xác vốn có.  Viện đã bắt đầu phối hợp với một nhóm các nhà khoa học Pháp, dưới sự điều phối của GS. Nguyễn Kim Đan (Caen) để tính toán mức độ xói lở bờ biển ở khu vực Hội An. Tuy dự án này còn đang ở trong giai đoạn thai nghén, Viện có kỳ vọng nó sẽ có đóng góp trong việc giải quyết một vấn đề thực tế nghiêm trọng.  Trong số các dự án nghiên cứu ứng dụng thực tế, kế hoạch có quy mô lớn nhất là thành lập Trung tâm Toán học ứng dụng trong kinh tế, tài chính và ngân hàng (Fmathlab) vào đầu năm nay. Đối tác chiến lược của dự án này là Ngân hàng đầu tư phát triển (BIDV). BIDV cam kết hỗ trợ hơn 40 tỷ đồng trong thời gian năm năm cho các hoạt động của FMathlab. Tuy việc triển khai công việc của FMathlab hiện còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu liên quan đến các quy tắc hành chính còn nặng nề, nhưng chúng tôi rất kỳ vọng vào sự phát triển tương lai của toán tài chính ở Việt Nam, mà Fmathlab sẽ là hạt nhân.  Một trong những khó khăn căn bản cho việc phát triển toán học ứng dụng ở Việt Nam là lực lượng những người làm toán ứng dụng có trình độ cao còn rất mỏng. Tuy vậy, lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài làm toán ứng dụng, đặc biệt trong lĩnh vực toán tài chính, là khá mạnh. Vai trò của Viện NCCCVT sẽ tạo sự kết nối lâu dài với những chuyên gia người Việt ở nước ngoài để tham gia giải quyết những bài toán từ thực tế Việt Nam đặt ra, qua nhiều hình thức, trong đó có thông qua chức danh Associate members.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Kết thúc của sự tiến bộ?      Đã có thời năng lượng hạt nhân được coi là cái phúc của nhân loại. Nhờ năng lượng hạt nhân, dòng điện sẽ không bao giờ ngừng nghỉ và sẽ phủ lên các sa mạc một mầu xanh bạt ngàn. Nhưng sau đó là sự hoài nghi, rồi Phong trào Xanh và giờ đây là Fukushima.    Mọi sự bắt đầu tại Viện Hóa Kaiser-Wilhelm ở Berlin vào mùa thu năm 1938. Giáo sư Otto Hahn và trợ lý của ông Fritz Straßmann đã làm thí nghiệm bắn neutron vào muối uran. Thí nghiệm cho kết quả không rõ ràng. Thay vì tạo ra một nguyên tố nặng hơn uran người ta lại tìm thấy barium, mà nguyên tử của nó chỉ nặng bằng một nửa uran. Mãi gần một năm sau, nữ trợ lý người Do Thái của Giáo sư Hahn là Lise Meitner, phải chạy trốn khỏi nước Đức bài Do Thái, đã viết thư cho ông từ Thụy điển. Theo bà, cái mà người ta đã phát hiện qua thí nghiệm chính là nguyên tử uran đầu tiên mà con người đã phân tách được.  Nhiều thập niên sau, không ít nhà quan sát vẫn coi sự kiện phân tách hạt nhân có kiểm soát đầu tiên này là một sự kiện lịch sử có tầm vóc như cuộc cách mạng Pháp. Tuy nhiên thời kỳ đầu công nghệ mới đó đã gây không ít hoang mang, lo sợ. Dự án Manhattan đã tạo nên bom nguyên tử. Tám năm sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki làm hàng trăm nghìn người Nhật Bản bị thiệt mạng, một bước ngoặt diễn ra, năng lượng hạt nhân được sử dụng trong lĩnh vực dân sự. Trong diễn văn nổi tiếng – “Atoms for Peace” đọc trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower ca ngợi sức mạnh hạt nhân là biểu thị cho sự tiến bộ và là phước lành đối với nhân loại.   Trước đó nhiều năm, Mỹ đã bí mật nghiên cứu phân tách hạt nhân tại một lò phản ứng thì nghiệm ở bang Idaho xa xôi để tạo ra điện năng. Vào dịp Giáng sinh năm 1951, lò phản ứng thí nghiệm này đã thắp sáng bốn ngọn đèn điện. Năm 1957, nước Đức xây dựng lò phản ứng thí nghiệm đầu tiên ở Garching. Năm 1961, nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên đã đưa điện vào mạng lưới; đến cuối những năm sáu mươi, nước Đức đã đưa vào vận hành thêm bảy nhà máy điện hạt nhân; và đến cuối những năm 70, nước Đức đã xây dựng tiếp 11 nhà máy điện hạt nhân mới.   Những nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được xây dựng ở Đức đúng vào thời kỳ nền kinh tế nước này đang có sự phát triển kỳ diệu và được coi như một trụ cột của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Năm 1959, nhà triết học Mác-xít Ernst Bloch đã từng ca ngợi điện hạt nhân trong cuốn sách của ông nhan đề “Nguyên tắc hy vọng”: “ Chỉ cần vài trăm kilo Uranium là đủ để làm cho sa mạc Sahara và sa mạc Gobi, Sibirie, Bắc Mỹ, Băng đảo và vùng Bắc cực trở thành những vùng đất xanh tươi màu mỡ.”  Phong trào Xanh  Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 lần đầu tiên thức tỉnh dư luận về sự hữu hạn của các loại năng lượng hóa thạch và dẫn đến sự nhận thức lại về giá trị, thay cho tiến bộ và tăng trưởng kinh tế vô điều kiện con người đã suy nghĩ lại về hành vi tiêu dùng của mình và đây chính là sự ra đời của quan niệm bền vững.  Thời gian này ở Đức bắt đầu xuất hiện các vụ biểu tình phản đối điện hạt nhân do lo sợ bị ảnh hưởng của các chất phóng xạ, trong những năm 50, vấn đề này còn khá xa lạ với dân chúng. Hồi đó, những người trồng nho để sản xuất rượu vang ở vùng Kaiserstuhl lo sợ khói từ các tháp làm lạnh của nhà máy điện hạt nhân Wyhl đang dự kiến được xây dựng, sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng nho của họ. Cuộc biểu tình lên đến đỉnh điểm vào tháng 2/1975, dân chúng Đức đã chứng kiến qua truyền hình hình ảnh cảnh sát Đức dùng súng phun nước để xua đuổi chị em nội trợ.   Năm 1977, ở Đức bùng lên làn sóng phản đối đưa vào vận hành hai lò phản ứng với sự tham gia của khoảng 40.000 người. Kết quả là hai lò phản ứng không được đưa vào vận hành. Ngày nay, lò phản ứng ở Kalkar trở thành công viên giải trí.  Giai đoạn đầu, người Đức biểu tình phản đối điện hạt nhân vì lo ngại bị ảnh hưởng bởi sự thất thoát phóng xạ nguyên tử trong điều kiện nhà máy hoạt động bình thường, tuy nhiên đến cuối những năm 70, làn sóng phản đối điện nguyên tử bùng lên vì lo ngại khả năng xẩy ra tai họa ở các nhà máy điện hạt nhân. Điển hình là tai nạn nghiêm trọng ở một lò phản ứng thuộc nhà máy điện nguyên tử Three-Mile-Island của Mỹ ngày 28/3/1979. Sau đó một ngày, Nghị viện Đức lập tức lập một ủy ban xem xét tương lai của điện hạt nhân.   Tuy nhiên, bảy năm sau, khi xảy ra thảm họa hạt nhân ở Chernobyl, thì số phận của nhà máy điện hạt nhân Kalkar mới được định đoạt. Năm 1983, thông qua phong trào kiên quyết phản đối điện hạt nhân, trong Nghị viện Đức lần đầu tiên xuất hiện các nghị sỹ thuộc Đảng Xanh, những người kiên quyết chống lại điện hạt nhân.  Bên cạnh sự phản đối điện hạt nhân, người Đức ngày càng chú trọng nhiều hơn đến vấn đề xử lý chất thải từ các nhà máy điện hạt nhân. Năm 1995 xuất hiện tàu Castor vận chuyển rác thải hạt nhân tới Gorleben. Từ đó đến nay đã có tổng cộng 12 đoàn tàu container chở rác thải hạt nhân đến địa điểm tàng trữ trong số đó có chín chuyến xuất phát từ cơ sở tái chế biến La Hague của Pháp. Trong những năm tám mươi do người Đức kịch liệt phản đối nên nước Đức không thể xây dựng một nhà máy tái chế biến ở Wackersdorf.  Sang thế kỷ 21, vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng có thể thay thế điện hạt nhân – mặt khác người ta cho rằng một thảm họa tương tự như Chernobyl vẫn có thể xảy ra. Cũng cần nói rằng ngay ở các nhà máy điện của Đức cũng từng xảy ra không ít sự cố. Tuy nhiên cho đến vụ thảm họa điện hạt nhân lớn thứ ba trong lịch sử thế giới ngay tại Nhật Bản, một cường quốc công nghệ cao, làm cho hầu như đa số dân Đức nhận thức được nguy cơ của điện hạt nhân và người Đức kiên quyết phản đối điện hạt nhân.   Từ bỏ điện hạt nhân, liệu nước Đức có rơi vào tình trạng mất điện?   Nhiều chuyên gia dự đoán, nếu năm 2017, tất cả các nhà máy điện hạt nhân của Đức không còn đưa điện lên mạng thì việc cung cấp điện ở Đức cũng không bị ảnh hưởng. Xét cho cùng thì việc rời bỏ điện nguyên tử chỉ là vấn đề giá cả. Và đối với Đức, một quốc gia công nghiệp, thì đây chính lại là một cơ hội chứ không phải là một nguy cơ.   Chỉ khi nào tất cả các nhà máy điện hạt nhân, không chỉ riêng tám nhà máy lâu đời nhất, ngừng cung cấp điện tức thì, thì nước Đức sẽ bị thiếu khoảng 1 Gigawatt. Tuy nhiên đến năm 2014 hoặc chậm nhất là đến năm 2018, việc từ bỏ hoàn toàn điện hạt nhân mới diễn ra thì vấn đề thiếu điện không đáng lo ngại vì đến thời gian đó đã ra đời một loạt nhà máy điện mới.   Các tập đoàn công nghiệp chỉ trích quyết định từ bỏ điện hạt nhân của Chính phủ. Trong khi đó, sự chấm dứt điện hạt nhân đáng ra phải được coi là một cơ hội chứ không phải là một sự tổn thất, một cơ hội để ngành công nghiệp Đức bước vào kỷ nguyên điện mặt trời có ý nghĩa vô cùng to lớn về kinh tế.   Từ lâu, ngay từ trước khi xảy ra thảm họa Fukushima, đã có nhiều ý kiến chỉ trích điện hạt nhân, không phải chỉ vì nỗi lo sợ xảy ra thảm họa mà vì một số vấn đề chưa được giải quyết như việc tàng trữ vĩnh viện rác thải phóng xạ. Hơn nữa công nghệ hạt nhân dân sự có thể bất cứ lúc nào bị sử dụng vì mục đích quân sự và đây là một mối đe dọa to lớn.  Nếu được xử lý đúng đắn thì việc đoạn tuyệt với điện hạt nhân có thể giúp nước Đức trở thành quốc gia đi đầu trong quá trình chuyển đổi: vì tính hữu hạn của hành tinh chúng ta, đến một lúc nào đó tất cả các quốc gia đều phải đoạn tuyệt với ngành năng lượng sử dụng tài nguyên.  Vấn đề đối với Đức hiện nay là phải sử dụng năng lượng hiệu quả hơn và tiếp tục nâng cao hơn nữa tỷ trọng năng lượng tái sinh. Nước Đức nhất thiết phải đi theo con đường phát triển công nghệ cao hiện đại.  Trong năm 2010 sản lượng điện hạt nhân ở Đức đạt 140,6 tỷ Kilowatt giờ (kWh), chiếm tỷ trọng 22,6 %. Nếu tính theo tải cơ bản, nghĩa là cung cấp điện suốt cả ngày, thì tỷ trọng điện hạt nhân ở mức khoảng 46%.  Các nhà máy điện hạt nhân trên thế giới  Nhu cầu về năng lượng điện trên thế giới không ngừng tăng: đến năm 2030 nhu cầu về điện của cả thế giới sẽ tăng gấp đôi. Với nhận thức như hiện nay thì muốn đáp ứng nhu cầu về điện thì không thể không sử dụng điện hạt nhân. Điều đó có nghĩa là điện hạt nhân sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong tương lai: gần như tất cả các nước G-8 và tất cả các nước G-5 đều phải dựa vào điện hạt nhân.  Hiện tại trên thế giới có 30 quốc gia có nhà máy điện hạt nhân (tính đến 12/2010).  Tính đến tháng 12/2010 thì tại 30 quốc gia có tới 443 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động với tổng công xuất thiết kế đạt khoảng 396 GW và tại 15 quốc gia đang xây dựng 62 nhà máy điện hạt nhân với tổng công xuất đạt 64 GW.  Trong tháng 12/2010 đã có thêm 103 nhà máy điện hạt nhân bước vào giai đoạn thiết kế cụ thể, được lập kế hoạch hoặc đã bước vào giai đoạn cấp phép.   Những con số về điện hạt nhân          Quốc gia/              vùng lãnh thổ      Nhà máy điện hạt nhân   đang hoạt động  Công suất danh nghĩa,   MW, brutto  Tỷ trọng điện hạt nhân   so với tổng công suất   tính theo %      Argentina         2        1.005        6      Armenia         1       408        40      Bỉ         7        6.205        52      Brazil         2        2.007       3      Bulgaria         2        2.000        34      Trung Quốc         13        10.863       2      Đức         17        21.517        23      Phần Lan         4       2.800        29      Pháp         58        65.880        74      Anh         19        11.907       16      Ấn Độ         20        4.780        3      Nhật Bản         55        49.440        30      Canada         18        13.425        15      Hàn Quốc         21        19.501        33      Mexico         2       1.366       4      Hà Lan         1        515      3      Pakistan         2        462       3      Romania         2        1.412      20      Nga         32        24.242       17      Thụy Điển         10        9.494        39      Thụy Sỹ         5        3.405        39      Slovakia         4        1.890        52      Slovenia         1        727        37      Tây Ban Nha         8        7.728        20      Nam Phi         2        1.888        5      Đài Loan         6        5.144        20      Czech         6        3.892        33      Ukraine         15       13.818        49      Hungary         4        2.000        42      USA         104        106.353        20      Tổng cộng          12/2010       443     396.074         Nguồn: Tạp chí chuyên đề ATW    Áo    Người Áo đã đưa vấn đề không sử dụng năng lượng hạt nhân vào hiến pháp của họ. Áo có một nhà máy điện hạt nhân duy nhất ở Zwentendorf tuy nhiên nhày máy này chưa hề vận hành sau một cuộc trưng cầu dân ý. Cùng với sự chuyển biến của người Đức đối với điện hạt nhân, người Áo càng thấy tự tin hơn và họ kêu gọi EU, thậm chí cả thế giới, hãy ngừng sử dụng năng lượng hạt nhân.  Thụy Sỹ  40% sản lượng điện của Thụy Sỹ được sản xuất từ năm nhà máy điện hạt nhân, tuy vậy về lâu dài quốc gia này dự định sẽ giã từ điện hạt nhân. Sau thời gian vận hành 50 năm, đến năm 2019, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên sẽ ngừng hoạt động; và đến năm 2034, nhà máy điện hạt nhân cuối cùng sẽ ngừng sản xuất.  Pháp  Pháp là quốc gia ở châu Âu có nhiều nhà máy điện hạt nhân nhất và kiên quyết tiếp tục sử dụng năng lượng nguyên tử. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy lập luận 58 nhà máy điện nguyên tử của Pháp an toàn hơn so với các nhà máy điện hạt nhân của các nước khác.  Italy  Từ nhiều thập niên qua, Italy không có nhà máy điện nguyên tử. Năm 1987, sau thảm họa Chernobyl, người dân nước này trong một cuộc trưng cầu ý dân đã đòi giã từ điện hạt nhân. Tuy nhiên cách đây hai năm Thủ tướng Silvio Berlusconi có ý định lại đầu tư xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, nhưng sau thảm họa Fukushima ông đã phải ngừng dự án của mình. Trong một cuộc trưng cầu ý dân gần đây, 94,5 % người dân nước này đòi không xây dựng tiếp các nhà máy điện hạt nhân.  Nga  Nga dự kiến từ nay đến năm 2030 sẽ xây dựng tổng cộng 26 lò phản ứng nguyên tử. Nga đang rao bán lò phản ứng của mình và cho rằng lò phản ứng của Nga có tiêu chuẩn an toàn cao nhất thế giới.  Ukraine  Từ nay đến 2030 số lượng lò phản ứng của Ukraine sẽ tăng gần gấp ba lần. Sau khi ngừng lò phản ứng cuối cùng ở Chernobyl vào năm 2000 thì hiện nay 15 khối còn lại sản xuất khoảng 50% sản lượng điện cả nước và Ukraine không có kế hoạch giã từ điện hạt nhân.  Belarus  Với sự trợ giúp của Nga Bạch Nga dự kiến khoảng năm 2017/18 sẽ đầu tư 6,3 tỷ Euro để xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Nhà máy này đặt ở Ostrowez giáp với biên giới Ba Lan và Litva.  Czech  Czech kiên trì việc mở rộng nhà máy điện hạt nhân gây nhiều tranh cãi ở Temelin. Dư luận Czech hầu như không phản ứng gì trước kế hoạch mở rộng này.   Slovakia  Tại Slovakia hiện đang diễn ra việc xây dựng khối lò phản ứng số ba và bốn thuộc nhà máy điện hạt nhân Mochovce, theo dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2013 đồng thời kéo dài thời gian hoạt động của hai khối lò phản ứng cũ ở Bohunice đến sau năm 2015.  Tây Ban Nha  Từ nhiều năm nay chính phủ Tây Ban Nha theo đuổi chủ trương giã từ từng bước điện hạt nhân, không xây dựng các nhà máy mới và những nhà máy hiện có khi hoạt động được 40 năm sẽ ngừng vận hành.   Anh Quốc  Dư luận Anh không bàn cãi nhiều về điện hạt nhân. Sau vụ Fukushima thủ tướng David Cameron chỉ thị kiểm tra lại một lần nữa 19 nhà máy điện hạt nhân của nước này.  Bỉ  Các nhà máy điện hạt nhân cung cấp 55% nguồn điện cho cả nước. Năm 2003 đã có quyết định từ năm 2015 sẽ bắt đầu chấm dứt điện hạt nhân. Tuy nhiên kế hoạch này nay có nguy cơ bị xem xét lại vì trong chính phủ không còn có sự hiện diện của đảng Xanh. Tương lại của điện hạt nhân ở nước này hiện nay không rõ ràng vì khoảng một năm gần đây Bỉ không có chính phủ do dân bầu.  Phần Lan  Hiện Phần lan có 4 nhà máy điện hạt nhân, tới đây sẽ tăng gấp đôi. Nhà máy điện hạt nhân thứ 5 đang được xây dựng, và Helsinki vẫn kiên quyết xây dựng tiếp nhà máy thứ sáu và bẩy . Nhà máy thứ tám có nhiều khả năng bị xóa bỏ.    Thụy Điển  Thụy điển hiện không có kế hoạch xây mới cụ thể. Tuy nhiên nước này vẫn có kế hoạch, khi một trong mười lò phản ứng hiện nay ngừng hoạt động thì sẽ được xây dựng lò phản ứng mới để thay thế.         Author                Quản trị        
__label__tiasang KH PT KH&CN 2006-2010 của TQ: Xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm      Sau nhiều năm chuẩn bị v&#224; x&#226;y dựng với sự tham gia của hơn 2000 chuy&#234;n gia, th&#225;ng 01/2006, Trung Quốc đ&#227; ho&#224;n tất v&#224; th&#244;ng qua Kế hoạch trung hạn v&#224; d&#224;i hạn ph&#225;t triển khoa học v&#224; c&#244;ng nghệ&nbsp; cho giai đoạn 2006-2020 với mục ti&#234;u x&#226;y dựng một hệ thống đổi mới quốc gia mang m&#224;u sắc Trung Quốc v&#224; lấy doanh nghiệp l&#224;m trung t&#226;m.  Th&#244;ng qua Bản kế hoạch n&#224;y, Trung Quốc đ&#227; thể hiện một tầm nh&#236;n d&#224;i hạn, tư duy to&#224;n cầu v&#224; c&#225;ch tiếp cận hệ thống đổi mới trong định hướng chiến lược ph&#225;t triển KH&amp;CN.    Bản kế hoạch đặt mục tiêu tổng quát đến năm 2020 Trung Quốc phải:  Cải thiện đáng kể năng lực đổi mới về KH&CN của đất nước;  Tạo khả năng thúc đẩy hoạt động kinh tế-xã hội phát triển, giữ gìn an ninh quốc gia thông qua việc hoàn thiện năng lực đổi mới KH&CN, hướng tới xây dựng một xã hội khá giả toàn diện;  Đẩy mạnh và tăng cường năng lực nghiên cứu cơ bản và các công nghệ tiên tiến;  Đưa được ra những kết quả KH&CN ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu;  Có tên trong Nhóm các quốc gia định hướng đổi mới để trở thành cường quốc thế giới về KH&CN vào giữa thế kỷ 21.  Thông qua đây có thể thấy Trung Quốc đã khẳng định và thực hiện định hướng hoạt động KH&CN theo cách tiếp cận xây dựng năng lực đổi mới KH&CN, và lấy năng lực đổi mới KH&CN làm nòng cốt xây dựng Trung Quốc trở thành một quốc gia định hướng đổi mới (Innovation-Oriented Country) thay vì mục tiêu trở thành một quốc gia công nghiệp hóa như cách diễn đạt vào những năm 70 của thế kỷ trước. Diễn đạt này thể hiện sự bắt kịp và tương hợp của Trung Quốc với bối cảnh toàn cầu hóa của thời đại ngày nay khi mà năng lực đổi mới của quốc gia (bao gồm nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế, nhất là dịch vụ và KH&CN) chứ không phải chỉ năng lực công nghiệp hóa mới là tiền đề cho sự phát triển của đất nước.  Mục tiêu tổng quát nêu trên được cụ thể hoá thông qua 8 mục tiêu cụ thể trong công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, dược phẩm và y tế, quốc phòng, đào tạo nhân lực cho nghiên cứu phát triển và hoạt động nghiên cứu triển khai. Kế hoạch này đã đưa ra một số mục tiêu rất đáng lưu ý, thí dụ đến năm 2010, tỷ lệ chi tiêu cho R&D/GDP đạt hơn 2,0% và năm 2020 đạt 2,5%. Đóng góp của hoạt động KH&CN vào tăng trưởng kinh tế đạt 60%, mức độ phụ thuộc vào công nghệ nhập từ nước ngoài giảm xuống dưới 30% (năm 2004 chi phí nhập công nghệ của Trung Quốc chiếm tới 54% chi tiêu cho KH&CN), Trung Quốc sẽ xếp thứ 5 thế giới về số lượng bằng sáng chế được cấp và về chỉ số trích dẫn các bài báo khoa học.  Với những mục tiêu của kế hoạch, Trung Quốc thể hiện ý đồ rất rõ ràng muốn vươn lên trở thành một cường quốc về KH&CN trên thế giới cả về đầu tư và thành tựu KH&CN. Đồng thời thể hiện cách tiếp cận đưa KH&CN lan tỏa nhanh chóng vào trong các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế mà không chỉ dừng lại ở các mục tiêu thuần túy về KH&CN.  Để thực thi các định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, Bản kế hoạch đưa ra giải pháp cải cách hệ thống KH&CN, xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia mang màu sắc Trung Quốc liên quan đến chính sách tài khoá, chi tiêu của khu vực công, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn, phối kết hợp giữa KH&CN quân sự và dân sự, hợp tác quốc tế và mở rộng các liên kết đổi mới trong nước, nâng cao dân trí về KH&CN. Kế hoạch cũng nhấn mạnh vai trò của đầu tư xây dựng hạ tầng KH&CN và đào tạo nhân lực cho KH&CN.          Kế hoạch cũng đã xác định 68 vấn đề ưu tiên trong 11 lĩnh vực nghiên cứu then chốt như năng lượng, tài nguyên khoáng sản và nước, môi trường, nông nghiệp công nghiệp chế tạo, vận tải, công nghệ thông tin, y tế, đô thị hóa, quốc phòng và an ninh; đề ra 16 chương trình đặc biệt về thiết bị điện tử, mạch tích hợp cỡ lớn, công nghệ truyền dẫn không dây băng thông rộng, lò phản ứng thủy lực công suất lớn, các giống sinh vật biến đổi gene, các loại dược phẩm chức năng, công nghệ chế tạo máy bay cỡ lớn, công nghệ đưa người vào không gian ; xác định 8 lĩnh vực công nghệ then chốt bao gồm công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, chế nghệ chế tạo tiên tiến, công nghệ sản xuất các dạng năng lượng mới, các công nghệ biển, công nghệ laser và công nghệ vũ trụ; 8 chủ đề nghiên cứu cơ bản được ưu tiên bao gồm: các khoa học về nhận thức, cấu trúc sâu của vật chất, một số chuyên ngành toán học then chốt, nghiên cứu về Trái đất, các nghiên cứu hóa học về quá trình tạo và biến đổi của vật chất, v.v…          Với giải pháp này, Trung Quốc đã đặt hệ thống KH&CN vào một khuôn khổ rộng lớn hơn để định hướng phát triển KH&CN trong sự gắn kết với các hệ thống tài chính, các định chế về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và các yếu tố khác thuộc hạ tầng KH&CN. Đây là một kinh nghiệm rất gợi suy cho Việt Nam trong quá trình xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển KH&CN trong thời gian tới, nhất là trong bối cảnh tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam hiện đang là một trong nút thắt cổ chai trong đổi mới cơ chế quản lý KH&CN.  Việc cải cách hệ thống KH&CN được xác định sẽ hướng vào hỗ trợ các doanh nghiệp, thay vì các tổ chức KH&CN để doanh nghiệp trở thành chủ thể chính của hoạt động đổi mới công nghệ, coi đó là tiền đề quan trọng để xây dựng năng lực đổi mới và hình thành hệ thống đổi mới quốc gia.  Bản kế hoạch xác định mục tiêu của hệ thống KH&CN Trung Quốc là biến đổi trở thành hệ thống đổi mới quốc gia, trong đó hệ thống này được xác định là hệ thống xã hội trong đó Chính phủ đóng vai trò chủ đạo, doanh nghiệp là trung tâm, thị trường đóng vai trò cơ bản, nền tảng trong huy động nguồn lực, các tác nhân, chủ thể đổi mới khác cộng tác và liên kết chặt chẽ với nhau một cách hiệu quả trong môi trường đổi mới.  Ngoài cách hiểu thông thường về hệ thống đổi mới quốc gia theo các lát cắt về hoạt động, tổ chức, chính sách; dưới giác độ ngành và vùng, Bản kế hoạch  chia hệ thống đổi mới quốc gia Trung Quốc thành 4 bộ phận cấu thành:   * hệ thống đổi mới công nghệ trong đó doanh nghiệp là chủ thể chính;  * hệ thống đổi mới tri thức trong đó các viện nghiên cứu công cộng tác với các viện nghiên cứu đại học là chủ thể chính;  * hệ thống đổi mới quốc phòng bao gồm các khu vực dân sự và quốc phòng;  * hệ thống đổi mới vùng bao gồm các vùng với các đặc thù và thế mạnh riêng.  Trong điều kiện một nước lớn như Trung Quốc, việc xác định các cấu thành của hệ thống đổi mới quốc gia là cần thiết để có các cơ chế thích hợp với các hệ thống đổi mới đặc thù. Các diễn đạt này thể hiện rất rõ cái gọi là “màu sắc Trung Quốc” trong tư duy và vận hành hệ thống đổi mới quốc gia.  Việc áp dụng tư duy về đổi mới và cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia trong xác định mục tiêu, đề ra các giải pháp chiến lược trong chuyển đổi “hệ thống KH&CN” thành “hệ thống đổi mới quốc gia mang màu sắc Trung Quốc” lấy doanh nghiệp làm trung tâm và xây dựng Trung Quốc thành một “Quốc gia định hướng đổi mới” vào năm 2020 của Trung Quốc thực sự là những kinh nghiệm rất đáng quan tâm đối với Việt Nam trong quá trình chuẩn bị xây dựng các chiến lược và kế hoạch giai đoạn 2011-2020 để phấn đấu đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020.   ———  Tài liệu tham khảo: OECD, DSIT/STP (2007) 3;  “Review of China’s Innovation System and Policy”; 26-27, March 2007; Paris.  ———-  * Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khả thi đến đâu?      Chiến lược KHCN 2011-2020 được đánh giá “tạo ra bước đột phá” (1) so với các chiến lược đã có trước đây với mục tiêu tăng cường hội nhập quốc tế qua một số chỉ tiêu cụ thể như tăng trưởng công bố quốc tế (ISI) 15-20%, phấn đấu hình thành 60 tổ chức KHCN đạt trình độ khu vực và quốc tế. Nhưng chỉ cần phân tích một vài con số liên quan như số lượng và chất lượng các công bố ISI và quan trọng hơn là triển vọng của việc hình thành 60 tổ chức nghiên cứu đó, ta sẽ thấy mục tiêu đó có khả thi hay không.    1. Trước hết, xem xét khả năng tăng trưởng của công bố quốc tế ISI của Việt Nam. Theo Số liệu tổng kết mới nhất từ cơ sở dữ liệu ISI Web of Science của Thomson Reuters(2) trong giai đoạn 2008-2012, số bài ISI của Việt Nam từ 908 bài năm 2008 tăng lên 1657 bài năm 2012, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 16,5% / năm. Tốc độ tăng trưởng như vậy là thuộc dạng khá cao nếu so với Philippines (6,3%), Thái Lan (7,6%), Singapore (8,25%) và Indonesia (15,6%), nhưng vẫn chậm so với Malaysia (29,2 %), Lào (27%). Đặc biệt, tăng trưởng khá ấn tượng trong 3 năm trở lại đây với tỷ lệ trên dưới 20% / năm nhờ mô hình tài trợ mới cho NCCB của Quỹ Phát triển KHCN quốc gia (Nafosted). Trong số 1657 công bố ISI trong năm 2012, riêng Nafosted đã đóng góp gần 1/4 (3). Trong khi đó, khá nhiều đề tài thuộc các chương trình KHCN trọng điểm nhưng không có sản phẩm ISI hoặc chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể. Thực tế một tỷ lệ khá lớn (khoảng 50%) công bố ISI của Việt Nam là do các NCS thực hiện ở nước ngoài dưới sự hướng dẫn của các giáo sư quốc tế hoặc do các nhà khoa học Việt Nam đứng tên trong các hợp tác nghiên cứu quốc tế, còn các công bố ISI trên cơ sở nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam không nhiều. Như vậy, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng như trên là khá ấn tượng, nhưng đó là số lượng bài công bố còn năng lực thật sự vẫn là vấn đề bởi có đến hơn 70% số công bố có đứng tên đồng tác giả với người nước ngoài, chỉ có chưa đến 30% bài là do nội lực. Tỷ lệ nội lực như vậy là thấp nhất trong khu vực. Điều này cho thấy, cơ sở vật chất và môi trường làm việc đóng vai trò không nhỏ trong việc tạo ra sản phẩm ISI.      Như vậy, để có được mục tiêu tăng trưởng công bố ISI là 15-20 % có thể là không khó. Vấn đề không kém phần quan trọng là cải thiện chất lượng công bố và tăng tỷ lệ nội lực ngang tầm các nước trong khu vực. Ngoài ra, cần nhận thấy một điều là với tỷ lệ tăng trưởng 15-20% như hiện nay thì đến 2020 công bố quốc tế của Việt Nam có thể đạt khoảng 5000 bài ISI – cũng chỉ bằng công bố ISI của Thái Lan ở năm 2009(4) – nghĩa là chúng ta vẫn đi sau Thái Lan vài thập kỷ.     2. Với thực trạng và triền vọng của tăng trưởng công bố quốc tế ISI như vậy cùng với năng lực nhà khoa học và hệ thống tổ chức nghiên cứu KHCN hiện nay vẫn tồn tại theo mô hình của Liên Xô trước đây, tách rời 2 chức năng nghiên cứu và đào tạo. Hoạt động KHCN ở ta vẫn vận hành theo cơ chế hành chính, xơ cứng, cồng kềnh, kém hiệu quả nhưng dường như khó thay đổi., thì mục tiêu hình thành 60 “tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới” lại hầu như không khả thi.      Để có một tổ chức KHCN đạt trình độ khu vực và thế giới, cần các yếu tố con người + cách thức tổ chức hoạt động + kinh phí đầu tư + cơ chế, chính sách cho bộ máy KHCN vận hành theo chuẩn quốc tế. Cụ thể:  i) trước hết phải có được đội ngũ khoa học đích thực đạt chuẩn quốc tế: tất cả nhân sự trong một tổ chức đều là các chuyên gia thật sự, có ý tưởng khoa học rõ ràng và có khả năng độc lập triển khai ý tưởng nghiên cứu. ii) Năng suất lao động KHCN/sản phẩm đầu ra/đối với nhà khoa tối thiểu 2-3 công bố quốc tế hoặc sáng chế, phát minh. iii) Điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư thỏa đáng. iv) cơ chế, chính sách cho bộ máy KHCN vận hành bộ máy tổ chức gọn nhẹ.     Trong 4 yếu tố cần và đủ trên con đường hội nhập và phát triển các tổ chức KHCN đạt trình độ khu vực và thế giới thì ngay cả các tổ chức KHCN là “ứng viên tiềm năng” vẫn hầu như vừa thiếu, vừa yếu về mọi mặt.  ————-  1 http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=4107  2 http://gddhhoinhapquocte.vnuhcm.edu.vn/site/vn/?p=1318  3 http://nafosted.gov.vn/vi/news/Tin-hoat-dong-cua-Quy/Hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2012-va-phuong-huong-hoat-dong-nam-2013-72/  4 http://thailanvietnam.blogspot.com/2012/07/so-sanh-khoa-hoc-viet-thai-1.html#more    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khác biệt giữa Obama và Romney về Chính sách KH&CN      Những ý kiến của Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thống đốc Mitt Romney trên trang Tranh luận khoa học (ScienceDebate.org) phản ánh rất rõ khác biệt về chủ trương và chính sách khoa học công nghệ giữa 2 ứng cử viên Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tới. Sau đây là lược thuật một số nội dung cơ bản.      Môi trường sáng tạo    KH&CN đã đóng góp tới hơn một nửa cho tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ từ Chiến tranh thế giới thứ hai tới nay. Nhưng để có thể tiếp tục đứng đầu trong lĩnh vực sống còn này, nước Mỹ cần?    Barack Obama:  Chúng ta phải tạo môi trường cho sự sáng tạo, đổi mới và công nghiệp phát triển phồn thịnh. Tôi cam đoan sẽ cấp gấp đôi kinh phí cho những cơ quan nghiên cứu quan trọng để hỗ trợ các nhà khoa học và các nhà đầu tư. Đồng thời tôi cũng đặt mục tiêu đào tạo 100.000 giáo viên dạy khoa học và toán trong hơn một thập kỷ tới để đào tạo thế hệ trẻ cho khoa học tương lai. Những giảng viên này sẽ đáp ứng nhu cầu cần thiết trong đào tạo 1 triệu học viên về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong suốt một thập kỷ tới.    Mitt Romney:  Tổng thống Obama đã sai khi tiêu hàng chục tỷ USD tiền thuế cho những dự án mang tính chính trị. Là Tổng thống, tôi sẽ tập trung những nguồn lực của nhà nước vào các chương trình nghiên cứu nhằm nâng cao sự phát triển tri thức và công nghệ có tiềm năng ứng dụng rộng rãi, là cơ sở để giúp khu vực tư nhân đẩy mạnh sáng tạo và thương mại hóa.  Chúng ta phải đẩy mạnh cải cách một cách thực tâm nền giáo dục Mỹ vốn đang lạc hậu so với các nước phát triển khác, đặt quyền lợi của phụ huynh và học sinh lên trên những lợi ích nhóm, đem tới cơ hội cho tất cả mọi trẻ em. Tôi sẽ làm làm điều chưa có tiền lệ, đó là dùng trực tiếp kinh phí của Liên bang vào những cải cách mang tính đột phá, nhằm mở rộng sự lựa chọn của các bậc phụ huynh, đầu tư vào đổi mới, và thù lao cho giáo viên đựa trên kết quả công việc thay vì thâm niên.   Năng lượng    Nhiều nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học cho rằng an ninh năng lượng và phát triển bền vững là vấn đề lớn mà Hoa Kỳ phải đối mặt trong thế kỷ này. Ông sẽ hỗ trợ những chính sách gì để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong khi vẫn đảm bảo nền kinh tế và môi trường bền vững trong tương lai?    Barack Obama:  Kể từ khi nhậm chức, tôi đã hỗ trợ mọi hướng tiếp cận về năng lượng – như khí tự nhiên, gió, mặt trời, dầu, than sạch, và nhiên liệu sinh học – đồng thời đầu tư vào năng lượng sạch và nâng cao hiệu suất sử dụng nhiên liệu để giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu mỏ nước ngoài. Mức đầu tư từ chính quyền của tôi cho năng lượng sạch và tăng hiệu suất sử dụng năng lượng có thể coi là lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tôi đã đề xuất áp dụng Tiêu chuẩn Năng lượng sạch, với tham vọng 80% sản lượng điện của Mỹ được tạo ra từ các nguồn năng lượng sạch như gió, năng lượng mặt trời, than sạch, và khí tự nhiên vào năm 2035. Kể từ khi tôi nhậm chức, sản xuất điện từ gió và các nguồn năng lượng mặt trời ở Mỹ đã tăng hơn gấp đôi. Chúng tôi đang thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch hơn, bao gồm cả việc tăng mức độ ethanol pha vào xăng, và thực hiện các Tiêu chuẩn về Nhiên liệu Tái tạo để tiết kiệm gần 14 tỷ gallon (tương đương khoảng 54 tỷ lít) xăng có gốc từ dầu mỏ vào năm 2022. Mỹ đã lấy lại được vị trí nhà sản xuất khí đốt tự nhiên hàng đầu thế giới. Chính phủ của tôi đang thúc đẩy chương trình cung cấp khí tự nhiên trong vòng 100 năm vì sự phát triển nước Mỹ một cách an toàn và có trách nhiệm, qua đó hằng năm cung cấp việc làm cho hơn 600.000 người.     Mitt Romney:  Các chuyên gia năng lượng, các công ty đầu tư, ngay cả các học giả tại Đại học Harvard giờ đây cũng nhận ra rằng chỉ sau một thập kỷ nữa, năng lực sản xuất năng lượng của Mỹ kết hợp với nguồn lực của các nước láng giềng của Mỹ có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu năng lượng của cả châu lục này. Để làm được như vậy, tôi đưa ra một kế hoạch với sáu phần như sau. Trước tiên, tôi sẽ trao cho các bang quyền kiểm soát phát triển năng lượng trên đất liền, bao gồm cả các vùng đất liên bang trong lãnh thổ của họ. Thứ hai, tôi sẽ cho phép phát triển khai thác các vùng biển ngoài khơi. Thứ ba, tôi sẽ theo đuổi quan hệ Đối tác Năng lượng Bắc Mỹ để Hoa Kỳ có thể được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên của các nước láng giềng. Thứ tư, tôi sẽ đảm bảo đánh giá chính xác các nguồn tài nguyên năng lượng của quốc gia bằng việc cập nhật những kết quả khảo sát đã bị lạc hậu hàng thập kỷ và không còn phản ánh đúng tiềm năng của những công nghệ khai thác hiện đại. Thứ năm, tôi sẽ khôi phục tính minh bạch và công bằng trong việc cấp phép và quản lý. Và thứ sáu, tôi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển các công nghệ năng lượng mới. Trong suốt chương trình này, tôi vẫn cam kết thực hiện và tuân thủ tốt việc bảo vệ môi trường để đảm bảo tất cả các hoạt động phát triển năng lượng được tiến hành một cách an toàn và có trách nhiệm.  Không gian    Nước Mỹ hiện đang trong một cuộc thảo luận lớn về mục tiêu quốc gia của chúng ta trong không gian. Vậy Mỹ nên thăm dò gì trong không gian và mục tiêu sử dụng trong thế kỷ 21 là gì? Và những biện pháp chính phủ cần thực hiện để đạt được điều đó?    Barack Obama:  Thông qua đầu tư vào nghiên cứu công nghệ vũ trụ, và mở rộng nỗ lực cam kết cho một hệ thống giáo dục để chuẩn bị kiến thức cho các sinh viên cho những thành tựu trong tương lai của khoa học không gian, tôi cam kết sẽ củng cố những nền tảng cho thế hệ tiếp theo của công nghệ vũ trụ Mỹ.   Hai năm trước, tôi đặt ra mục tiêu đưa người vào không gian ở những nơi xa hơn so với trước đây – đưa người lên một tiểu hành tinh vào năm 2025 và đến sao Hỏa trong những năm 2030. Chúng ta sẽ tiếp tục duy trì hoạt động ISS ít nhất là đến năm 2020 và có thể còn lâu hơn nữa. Khi tổ thám hiểm trên tàu Orion đi thám hiểm sâu vào không gian trong chuyến bay thử nghiệm đầu tiên vào năm 2014, họ sẽ đi xa hơn so với bất kỳ tàu vũ trụ nào được thiết kế có người lái trong vòng 40 năm qua kể từ khi các nhà du hành của chúng ta trở về từ mặt trăng.  Cũng nên nhớ rằng khoản đầu tư 2,5 tỷ USD cho dự án đổ bộ cỗ xe Curiosity lên Sao Hỏa vừa qua, hoàn toàn không phải là một sự tiêu pha hoang phí trên Sao Hỏa, mà thực chất đã được sử dụng để tạo ra 7000 công ăn việc làm trên 31 tiểu bang của Mỹ.  Chính quyền của tôi luôn đặt trọng tâm vào việc cải thiện giáo dục KH&CN, kỹ thuật và toán học. Không gian là điều sẽ truyền cảm hứng cho trẻ em trên khắp đất nước. Các em có thể nói với bố mẹ mình rằng con muốn là một phần của một sứ mệnh Sao Hỏa – thậm chí có thể sẽ là một trong những người đầu tiên đi bộ trên sao Hỏa.     Mitt Romney:  Khoa học và công nghệ công gian có ý nghĩa quyết định đối với đổi mới công nghệ, tác động đến kinh tế toàn cầu, an ninh và vị thế quốc gia. Mỹ đã có một nửa thế kỷ đứng đầu trong khoa học không gian, nhưng nay vị trí ấy đang bị xói mòn bất chấp những nỗ lực của ngành công nghiệp và chính phủ Mỹ.   Việc xây dựng lại NASA, khôi phục sự lãnh đạo của Mỹ và tạo ra các cơ hội mới cho thương mại không gian sẽ là công việc khó khăn, nhưng tôi sẽ cố gắng để xây dựng lại một tổ chức xứng đáng với nguyện vọng của chúng ta, một lần nữa có thể dẫn đầu thế giới ở những lĩnh vực mới. Tôi sẽ liên kết các bên liên quan lại với nhau – từ NASA và các cơ quan dân sự khác, từ các tổ chức an ninh quốc gia, từ các trường đại học hàng đầu của chúng ta, và từ các doanh nghiệp thương mại – để xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và con đường phía trước:  Đặt mục tiêu cho NASA: Một NASA mạnh mẽ và thành công không nhất thiết đòi hỏi thêm kinh phí, mà cần những ưu tiên rõ ràng hơn. Tôi sẽ đảm bảo rằng NASA thực thi các nhiệm vụ thiết thực và bền vững, đảm bảo hài hòa bên cạnh những mục tiêu ưu tiên của khoa học với những chương trình thám hiểm đột phá có sức truyền cảm hứng.  Hợp tác quốc tế: Tôi sẽ làm rõ các mục tiêu không gian của Mỹ và sẽ mời các đồng minh hợp tác với Mỹ để đạt các mục tiêu mà các bên cùng có lợi.  Tăng cường an ninh: Để duy trì sức mạnh của quốc gia, các chương trình an ninh không gian quốc gia phải mạnh và bền vững. Tôi cam kết một chương trình không gian an ninh quốc gia có tính bền vững, và tôi sẽ chỉ đạo phát triển năng lực phòng thủ và tăng độ bền cho những tài sản của Mỹ ngoài không gian, ngăn chặn được những kẻ địch tìm cách gây thiệt hại hoặc phá hủy tiềm năng không gian của Mỹ và các đồng minh.  Khôi phục ngành Công nghiệp. Một ngành công nghiệp hàng không vũ trụ mạnh phải có khả năng cạnh tranh và giành chiến thắng kinh doanh tại thị trường nước ngoài. Tôi sẽ nỗ lực giảm bớt những rào cản thương mại một cách phù hợp để tăng doanh số bán các sản phẩm không gian của Mỹ ở nước ngoài, và tìm cách mở rộng tiếp cận những thị trường mới.  Giáo dục    Một khảo sát trên những thiếu niên 15 tuổi trên  65 nước cho thấy điểm số trung bình về khoa học của sinh viên Mỹ chỉ xếp thứ 23, trong khi điểm toán học trung bình chỉ xếp thứ 31. Theo ông, tại sao sinh viên Mỹ liên tục bị tụt hậu trong suốt 3 thập kỷ gần đây, và chính quyền liên bang phải làm sao để cải thiện hoạt động đào tạo cho học sinh, sinh viên ở mọi lứa tuổi trong thời đại hiện nay khi nền kinh tế toàn cầu phát triển dựa trên KH&CN?    Barack Obama:  Để cạnh tranh với những nước khác chúng ta phải thúc đẩy giáo dục STEM (tức giáo dục về khoa học, công nghệ, cơ khí, và toán học). Từ sớm trong nhiệm kỳ của mình, tôi đã kêu gọi những nỗ lực giáo dục để đưa sinh viên Mỹ từ top giữa đạt top đầu về thành tích toán và khoa học. Năm ngoái, tôi tuyên bố đặt ra mục tiêu tham vọng là chuẩn bị thêm 100.000 giáo viên STEM cho những thập kỷ tiếp theo, với sự đóng góp từ thiện và sự tham gia của khu vực tư nhân. Chiến dịch “Giáo dục để Đổi mới” của tôi đang đưa doanh nghiệp, các quỹ, các tổ chức phi lợi nhuận, các hiệp hội cùng hợp tác cải thiện hoạt động giảng dạy và học tập STEM. Mới đây, tôi có đề cương dự định lập ra một Đoàn Giáo viên cao cấp STEM sẽ được tổ chức ở 100 địa điểm trên khắp đất nước và mở rộng ra trong 4 năm tới để hỗ trợ cho 10.000 giáo viên STEM tốt nhất trong cả nước. Những đầu tư đó sẽ cải thiện chất lượng của giáo dục STEM mọi cấp độ, đảm bảo thế hệ sau này của nước Mỹ sẽ có những công cụ tốt để vượt xa thế giới trong đổi mới và cạnh tranh.     Mitt Romney:  Các chính trị gia Mỹ lâu nay cố gắng giải quyết những vấn đề giáo dục bằng cách chi tiêu nhiều tiền hơn từ ngân sách, biến nước Mỹ thành nơi có mức chi tiêu trên đầu học sinh thuộc hàng cao nhất trên thế giới, trong khi chất lượng giáo dục vẫn tiếp tục tụt hậu. Giải pháp của tôi đối với giáo dục phổ thông ở Mỹ [sẽ không đòi hỏi chi tiêu ngân sách nhiều hơn], cụ thể như sau:  Tăng cường Lựa chọn và Đổi mới: Trao cho phụ huynh nhiều lựa chọn hơn về trường lớp cho con em họ. Trẻ em các gia đình thu nhập thấp và có nhu cầu đặc biệt cần được hỗ trợ để được tự do chọn trường. Chúng ta cần phổ biến nhân rộng những mô hình trường công lập độc lập (Charter School: là những trường được Nhà nước hỗ trợ kinh phí nhưng ít chịu sự quản lý của Nhà nước; bù lại, những trường này có trách nhiệm giải trình với Nhà nước về sản phẩm đào tạo đầu ra) và tăng cường áp dụng công nghệ trong trường học.  Đảm bảo các tiêu chuẩn và trách nhiệm cao đối với kết quả đầu ra: Các bang phải đưa ra tiêu chuẩn để đảm bảo rằng tất cả các học sinh tốt nghiệp trung học đều được chuẩn bị để vào đại học hoặc để làm việc thông qua các kỳ thi hằng năm. Học sinh và giáo viên có trách nhiệm đạt được những tiêu chuẩn này, và kết quả của học sinh cũng như kết quả chung của nhà trường phải được sẵn sàng cung cấp cho các phụ huynh, với cách trình bày thật rõ ràng, dễ hiểu.  Tuyển dụng và thưởng Giáo viên giỏi: Chính sách tuyển dụng, đánh giá và khen thưởng giáo viên phải căn cứ trên chất lượng công việc của từng người.  Khoa học với chính sách công    Chúng ta sống trong một thời đại mà KH&CN ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống và xã hội, và do đó phải được có vị trí quan trọng trong các quyết sách. Làm thế nào để ông đảm bảo rằng cơ sở khoa học và số liệu kỹ thuật đóng vai trò trong cao nhất có thể trong xây dựng các chính sách và các quyết định quản lý, và đảm bảo rằng công chúng có thể tiếp cận đánh giá những cơ sở khoa học này?    Barack Obama:  Ngay sau khi nhậm chức, tôi đã chỉ đạo Văn phòng KH&CN ở Nhà Trắng đảm bảo rằng các chính sách của chúng ta phải phản ánh đúng theo những kết quả nghiên cứu khoa học mà không được bóp méo hoặc nhào nặn. Chúng tôi bổ nhiệm cố vấn khoa học dựa trên bằng cấp và kinh nghiệm của họ, không phải vì quan điểm chính trị hoặc hệ tư tưởng. Tôi cũng đã nhấn mạnh rằng, phải cởi mở và trung thực với người dân Mỹ về tính khoa học đằng sau các quyết định của chúng ta.  Trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống của mình, tôi đã cải thiện tính minh bạch và sự tham gia của công chúng – ví dụ, bằng cách mở rộng công bố công khai về ô nhiễm môi trường, tình trạng tuân thủ, và các thông tin khác về quy định Nhà nước nhằm giúp người dân có đủ thông tin để có thể tham gia vào các quyết định quan trọng về môi trường. Trong bốn năm tới, tôi sẽ tiếp tục tìm những cách thức mới để sẵn sàng mang lại thông tin khoa học rõ ràng hơn cho công chúng.    Mitt Romney:  Thật không may là Tổng thống Obama đã nhiều lần nhào nặn dữ liệu kỹ thuật để làm cơ sở cho một chương trình quản lý được định hướng bởi chính trị hơn là khoa học. Ví dụ, luật tiêu chuẩn thủy ngân trong khí của ông được coi là nhằm mục đích giảm ô nhiễm thủy ngân, nhưng EPA (Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ) ước tính rằng luật đó sẽ tiêu tốn 10 tỷ USD chỉ để giảm lượng ô nhiễm thủy ngân có mức độ tác hại chỉ tương đương 6 triệu USD. Vậy mà Tổng thống ca ngợi luật này là “đạt hiệu quả kinh tế”, “hợp lý”, hay “ngăn chặn hàng ngàn vụ tử vong sớm”.   Với chính phủ của tôi, khoa học có cơ sở đáng tin cậy sẽ đem lại các quyết sách đúng đắn, đánh giá một cách đầy đủ những chi phí và lợi ích của các chính sách. Tôi sẽ theo đuổi cải cách luật pháp để đảm bảo bộ máy chính quyền luôn tính toán các chi phí trước khi ban hành những quy định mới.   Thu Quỳnh lược dịch   Theo ScienceDebate.org và Nature News  http://www.nature.com/news/obama-and-romney-tackle-14-top-science-questions-1.11355    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khai mở từ những cuộc giao lưu bình dị      Việc khánh thành Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành (Trung tâm) ở Quy Nhơn nên được coi là một nguyên do để chúng ta đề nghị tổ chức ở Việt Nam một chuỗi chu kỳ những những khóa học mùa Hè (hoặc mùa Đông!) phỏng theo một số mô hình đã từng khá thành công tại những nơi như Trieste ở Bắc Italy, Erice ở Sicily, hoặc Les Houches ở vùng núi Alps trên đất Pháp.     Trong một bài viết trước đây, tôi từng kiến nghị rằng cộng đồng khoa học Việt Nam nên tận dụng hiệu quả những lợi ích có thể thu được từ sự ra đời của Trung tâm nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu học thuật của mình qua việc tổ chức được những khóa học như vậy để giảng viên và học viên không chỉ chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm mà còn sinh hoạt giao lưu một cách cởi mở trong cùng một không gian. Họ có thể cùng ăn, cùng đàm đạo ngoài giờ về tất cả mọi chủ đề. Sự tương tác một cách gần gũi giữa thầy và trò như vậy còn chưa có nhiều ở Việt Nam, và tôi nghĩ rằng sẽ không thỏa đáng nếu chúng ta viện dẫn đến yếu tố khác biệt trong văn hóa và truyền thống [để thanh minh cho sự thiếu hụt này].  Một nền giáo dục cởi mở và vị khoa học  Gần đây, làn sóng sinh viên từ khắp nơi trên thế giới – đặc biệt là từ châu Á – ồ ạt đổ về các trường đại học ở phương Tây, đã khơi gợi sự quan tâm nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa đối với giáo dục. Các nhà xã hội học đã nghiên cứu khá nhiều về vấn đề này. Họ so sánh1 cách “giáo dục lấy giáo viên làm trung tâm” với phương thức “giáo dục lấy học trò làm trung tâm”. Trong phương thức đầu tiên, “học trò phụ thuộc vào thầy, một mực tôn kính thầy, coi thầy như vị sư phụ, người truyền thụ trí tuệ thông thái của riêng mình cho trò, đồng thời là người khởi xướng mọi trao đổi thông tin trong lớp”. Còn với phương thức sau, “trò và thầy bình đẳng, thầy được coi như một chuyên gia, là người truyền đạt cho trò những tri thức khách quan không hề mang tính bí truyền, và học trò được chủ động khởi xướng một số hoạt động trao đổi thông tin trong lớp”. Trong phương thức đầu, “trò mong tìm ra những đáp án đúng cho mọi vấn đề và thầy là người cung cấp những đáp án này”, còn ở phương thức sau, “trò mong muốn được thảo luận các vấn đề một cách thấu đáo, và rất có thể thầy sẽ nói tôi cũng không biết”. “Đám học trò thường buộc phải thích nghi với lề lối” trong phương thức đầu, trong khi phương thức sau “chấp nhận sự khác biệt của mỗi cá nhân trong lớp”.           Khoa học chẳng hề có đặc thù riêng của phương Đông hay phương Tây, nhân loại chỉ có duy nhất một thứ khoa học phổ quát chung.           Theo quan niệm của tôi, nếu chỉ nhìn vào các ngành khoa học tự nhiên và toán học (khoan bàn tới các ngành nhân văn và khoa học xã hội), tôi có thể thấy khá rõ trong việc giảng dạy khoa học đâu là cách giáo dục mình sẽ lựa chọn, và điều ấy hoàn toàn chẳng liên quan mảy may tới yếu tố văn hóa – yếu tố mà tôi luôn dành sự tôn trọng cao nhất.  Chúng ta cần nhận thức lĩnh vực khoa học được bàn đến ở đây là thứ khoa học thuần túy được thúc đẩy từ mong muốn lý giải thế giới xung quanh chúng ta một cách minh giản nhất có thể, là thứ khoa học loại trừ mọi luận điểm mang tính áp đặt của bề trên, thứ khoa học không hề có những tham vọng mang tính siêu hình và luôn sẵn lòng từ bỏ những chân lý của ngày hôm qua nếu như chân lý ngày hôm nay giúp lý giải các đối tượng nghiên cứu một cách thuyết phục và minh giản hơn. Đó là thứ khoa học loại trừ mọi luận điểm phi lý và chỉ dựa trên ngôn ngữ của logic và toán học. Việc một nền khoa học như vậy cho đến nay được đóng góp nhiều từ phương Tây hơn là từ phương Đông chỉ đơn thuần là một vấn đề mang tính lịch sử, và chẳng hề cho thấy tồn tại cái gọi là yếu tố văn hóa trong khoa học: khoa học chẳng hề có đặc thù riêng của phương Đông hay phương Tây, nhân loại chỉ có duy nhất một thứ khoa học phổ quát chung.   Về vấn đề kính trọng thầy cô, tất nhiên học trò phải tôn trọng thầy cô, cũng như thầy cô phải tôn trọng học trò. Chẳng phải tất cả chúng ta (trừ phi có những lý do chính đáng khác) đều phải tôn trọng nhau sao? Nhưng tôn trọng không có nghĩa là phục tùng và vâng lời mù quáng. Đúng là người ta phải tôn trọng tín ngưỡng và ý kiến của mỗi cá nhân; nhưng trong khoa học không có cái gọi là tín ngưỡng và ý kiến. Khoa học chỉ bao gồm những điều thực chứng và những luận điểm logic. Hơn nữa, khoa học còn đòi hỏi một thứ đạo đức, một thứ phẩm cách không thể tách rời. Đó là chúng ta không được phép lừa dối trong khoa học: nếu bạn nói sai, sớm hay muộn người ta sẽ chứng minh bạn đã sai.     Nếu có thể đồng thuận với những tiên đề trên, chúng ta thấy rõ rằng những người thầy không thể được coi là vị sư phụ am hiểu lời giải đáp cho mọi câu hỏi. Không ai có thể như vậy. Học trò rất cần nhận thức sớm về điều này trong quá trình học tập, nhằm tránh những lệch lạc bắt rễ vào trí não. Họ cần sớm có niềm tin rằng trên nguyên tắc chẳng có gì ngăn cản họ vượt qua hiểu biết của thầy mình. Họ phải có niềm tin như vậy làm động lực để chăm chỉ đạt tới những hiểu biết rộng hơn, tốt hơn. Không thể có những vùng cấm kị ngăn cản họ đặt ra các câu hỏi nảy sinh trong trí não; trái lại, người thầy phải khuyến khích học trò phát biểu và không bao giờ được tỏ ra xem thường hoặc phớt lờ những câu hỏi mà học trò đưa ra.  Để có được thái độ sư phạm như vậy đòi hỏi ở người thầy một số điều. Những người thầy cần phải dành thời gian của mình tương tác với học trò; họ cần tham gia những cuộc thỉnh giảng cùng học trò, thay vì chỉ xuất hiện trong ngày đầu nhằm giới thiệu những người được mời thuyết trình, và vào ngày cuối để tặng hoa cho họ. Họ phải sẵn sàng điều chỉnh dung lượng và nội dung các bài giảng để phù hợp với nhu cầu của lớp học. Họ cần tránh yêu cầu học trò học thuộc lòng, vì đó là cách ngớ ngẩn nhất gây lãng phí thời gian của nhau. Người thầy phải cho học trò nếm hương vị của trí tò mò, thách đố tự nhiên lộ ra những bí mật của nó. Khi thầy không có câu trả lời, họ phải nói rõ mình không biết, và tận dụng cơ hội ấy để cùng học trò nghiên cứu tìm hiểu. Và sẽ thật tốt nếu chưa ai tìm ra câu trả lời, vì học trò rất cần hiểu đâu là điểm giới hạn tạm thời của khoa học trong hiện tại, và biết đâu là câu hỏi còn chưa có lời giải đáp thỏa đáng, để rồi mai đây chính họ người sẽ nghiên cứu tìm ra câu trả lời.  Les Houches – nơi nuôi dưỡng các mối quan hệ thầy trò          “Như tôi còn nhớ, khóa học [ở Les Houches] là một trải nghiệm khó tả. Chúng tôi chia sẻ tất cả thời gian với một nhóm thanh niên sôi nổi… Nhưng các bài giảng thật ra  đóng vai trò ít quan trọng nhất trong khóa học. Đáng nhớ hơn nhiều là các khoảng thời gian bình dị, những bữa ăn và cuộc đi dạo, những khó khăn thường nhật mà chúng tôi cùng trải qua, lấm lem bùn đất và mưa gió… Tất cả chúng tôi sống chung trong một trại nuôi bò và thuyết trình trong một nhà kho… chung sống trong những điều kiện thô sơ như vậy quả là điều kiện tuyệt vời để kết bạn.”   Nhà toán học, vật ký học Freeman Dyson        Tôi còn nhớ mình đã học hỏi được rất nhiều khi đến Mỹ làm nghiên cứu sinh tiến sỹ trong ngành vật lý hạt nhân. Khi còn ở Pháp, tôi được học những nhà lý thuyết rất giỏi, nhưng hầu như chỉ trong lĩnh vực cơ học điện tử, một đề tài rất khó tiếp thu mà đa số mọi người – đương nhiên cả tôi nữa – mất hơn một năm để tiếp cận. Khi đó tôi nghĩ rằng vật lý là một lãnh địa bí truyền, có lẽ quá khó để thẩm thấu cho một người đầu óc đơn giản như tôi. Ở Mỹ, tôi tham gia vào chương trình nghiên cứu hạt nhân Berkeley 88”, được xếp vào một nhóm các nhà vật lý đầy nhiệt huyết, bao gồm cả các nhà thực nghiệm và lý thuyết. Chúng tôi cùng ăn bánh mỳ kẹp, ngay trước tòa nhà đặt máy gia tốc, trên chiếc bàn ăn ngoài trời, vây quanh là Vịnh San Francisco và cây cầu Cổng Vàng, và thảo luận về những thí nghiệm đang trong quá trình chuẩn bị. Quả là mới mẻ với tôi lúc ấy khi nói chuyện về các hạt nhân như những đối tượng thực sự tồn tại thay vì chỉ là những hàm số sóng trong không gian Hilbert, và rồi tôi bỗng thấy chúng không còn gì kỳ bí. Vào thời đó, giới khoa học đang chuộng mô hình chùm (cluster model) và một nhóm trong chúng tôi chuẩn bị đo lường tiết diện (α,2α), nghĩa là tìm hiểu điều gì xảy ra khi ta kích đẩy một chùm hạt α ra khỏi hạt nhân bằng cách dùng một hạt α khác để bắn phá. Nhóm nghiên cứu chúng tôi với những nhà thực nghiệm và nhà lý thuyết, trong đó có những người xuất sắc hàng đầu thế giới trong lĩnh vực của mình, đã vui vẻ thảo luận cùng một vấn đề vật lý bằng những ngôn từ giản dị. Những buổi ăn trưa như vậy đã giúp khai sáng cho tôi, xua tan đi sự kỳ bí của một lãnh địa tưởng chừng không thể thấu tỏ, và đem đến cho tôi niềm hứng thú với khám phá nó.  Các khóa học như vậy ở Mỹ và một số nước trên thế giới là những cơ hội lý tưởng để thiết lập quan hệ thầy và trò theo phong cách giáo dục mà tôi vừa trình bày. Chúng là những phòng thí nghiệm đầy hữu ích, nơi nuôi dưỡng các mối quan hệ thầy trò theo phong cách mới mẻ như vậy. Ví dụ như khóa học được tổ chức ở Les Houches (hay ít ra như thời sơ khai của nó) là một mô hình tốt để chúng ta có thể học hỏi. Cho phép tôi nói đôi điều về nơi này.    Les Houches là một ngôi làng nhỏ nằm trong rặng núi Alps trên đất Pháp, nằm dưới chân núi Mont-Blanc. Ngôi trường ở đây được hình thành vào năm 1951 khi một nhà vật lý trẻ có tên Cécile Morette nảy ra ý tưởng và quyết định dùng cách thức này để đóng góp cho tiến trình phục hưng hoạt động giảng dạy và nghiên cứu vật lý hiện đại ở Pháp, nơi mà nền khoa học đã bị kìm giữ sự phát triển trong suốt Thế chiến thứ II. Với nguồn tài chính tối thiểu, cô xoay xở để tạo dựng một nơi có thể thu hút các chuyên gia quốc tế hàng đầu tới giảng bài cho khoảng ba mươi học trò từ vài quốc gia khác nhau. Những khóa học đầu tiên kéo dài trong 8 tuần, qua hai tháng mùa Hè, trong đó học trò và giảng viên được thu xếp ở trong những căn nhà gỗ cũ kỹ nằm cách làng vài km. Các nhà khoa học Fermi, Pauli, Gell-Mann và Bardeen nằm trong số những giảng viên đầu tiên, nhưng đồng thời cũng có cả những nhà khoa học trẻ tài năng mà sau này trở nên nổi tiếng. Tôi nhớ mình từng được có mặt ở đó mùa Hè năm 1965 khi John Bell đến giảng về sự vi phạm CP mà ông mới phát hiện ra, Dalitz thì giảng về mô hình hạt quark cũng còn rất mới mẻ, và Gef Chew giảng về lý thuyết ma trận mà không lâu sau đã lui vào thoái trào.             Họ cần sớm có  niềm tin rằng trên nguyên tắc chẳng có gì ngăn cản họ vượt qua hiểu  biết của thầy mình. Họ phải có niềm tin như vậy làm động lực để chăm chỉ  đạt tới những hiểu biết rộng hơn, tốt hơn.         Có thể nói rằng trong thập kỷ 1950 và 1960, ngôi trường này đã ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển ngành vật lý Pháp ở cấp cao nhất. Ngày nay, trường chỉ còn tổ chức những khóa học mùa Hè kéo dài trong một tới hai tuần, và mở rộng ra nhiều ngành khoa học khác nhau. Nhưng bí quyết thành công của ngôi trường vẫn không thay đổi so với những ngày đầu: tổ chức cho giảng viên và học trò tới một nơi đủ tách biệt khỏi tổ chức nghiên cứu chủ quản của họ và đảm bảo rằng họ thường xuyên tương tác với nhau trong suốt khóa học.   Vì sao không tổ chức những khóa học ở Quy Nhơn?  Nhìn lại sự kiện khánh thành hoành tráng tại Trung tâm ở Quy Nhơn, chúng ta thấy rằng đa số mối quan tâm dành cho các nhà khoa học từng đoạt giải Nobel và những quan chức cao cấp của Chính phủ, đưa đến cho Quy Nhơn thứ ánh sáng hào nhoáng kéo dài trong ít ngày. Rõ ràng, điều đó không đủ để làm nên thành công cho bản thân Trung tâm. Thay vào đó, chúng ta cần những hoạt động dài hơi, xuất phát từ nhu cầu của cấp cơ sở, thay vì những sáng kiến áp xuống từ cấp cao. Thiếu những hoạt động như vậy, Trung tâm sẽ chỉ có thể trở thành một chốn nghỉ dưỡng cao cấp để tổ chức các cuộc gặp gỡ, và đây không phải là điều chúng ta mong muốn từ Trung tâm. Điều chúng ta trông đợi là Trung tâm trở nên hữu ích cho Việt Nam và nền khoa học của đất nước.  Chúng ta không nên mong chờ Bộ trưởng hay các quan chức cấp cao làm thay công việc của mình. Chính chúng ta phải tập hợp lại đưa ra đề xuất và tổ chức ở Trung tâm này những khóa học, những hội thảo có quy mô hợp lý, không quá nhỏ cũng không quá lớn. Chúng ta có thể đưa đến đây những nhóm nghiên cứu cả từ phía Bắc lẫn phía Nam, và điều quan trọng là sẽ buộc các giảng viên phải có mặt sát cánh cùng học viên của mình trong suốt thời gian khóa học. Người ta cũng có thể nói rằng các khóa học có thể được tổ chức ở những nơi khác, như Đà Lạt chẳng hạn. Đúng là như vậy, nhưng nay khi chúng ta đã có Quy Nhơn, trước mắt hãy tận dụng nó một cách hiệu quả. Tất nhiên, chi phí đi lại và sinh hoạt cần ở mức vừa phải để không trở thành gánh nặng quá mức cho những người muốn đến đây.          Học trò rất cần hiểu đâu là điểm giới hạn tạm thời của khoa học trong hiện tại, và biết đâu là câu hỏi còn chưa có lời giải đáp thỏa đáng, để rồi mai đây chính họ người sẽ nghiên cứu tìm ra câu trả lời.        Cá nhân tôi tin rằng những sáng kiến như vậy sẽ rất hữu ích cho khoa học Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội lý tưởng để pha trộn sinh viên từ nhiều đại học và tổ chức nghiên cứu khác nhau, từ miền Bắc, miền Trung, và miền Nam, đem đến cho họ cơ hội hiểu biết lẫn nhau, tạo ra những mối liên kết để trở thành những quan hệ hợp tác tiềm năng trong tương lai. Chúng ta nên ưu tiên những giảng viên thuộc thế hệ trẻ; cần có những cơ hội như vậy để họ phát triển tỏa sáng. Tất nhiên một số giảng viên nên được mời từ nước ngoài, được chọn lọc trong số những người quan tâm nhất tới sự phát triển khoa học cao cấp ở Việt Nam, trong đó có cả những nhà khoa học Việt kiều trẻ thành đạt trong lĩnh vực của họ. Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu vẫn dành cho những nhà khoa học trẻ giàu năng lực ở trong nước. Những khóa học sẽ là nơi nuôi dưỡng mối liên lạc và tạo thành mạng lưới những nhà khoa học trẻ giàu năng lực trong khu vực, bao gồm các nước ASEAN và đặc biệt quan trọng là Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản, ba quốc gia hiện đang có những đóng góp quan trọng cho khoa học hiện đại. Trung Quốc là quốc gia mới nổi gần nhất nhưng đang mở rộng tầm ảnh hưởng trong khoa học với tốc độ nhanh nhất.       Cuộc hội thảo “Những cửa sổ Vũ trụ” tổ chức tại Quy Nhơn vừa qua nhân dịp khánh thành Trung tâm đã thể hiện khá rõ giá trị của việc tập hợp một cộng đồng khoa học trẻ tại một môi trường nơi họ có thể dễ dàng tiếp xúc và gia tăng hiểu biết lẫn nhau. Lợi ích lớn nhất của sự kiện này không nằm ở những bài diễn văn – tất nhiên là rất tuyệt vời – từ các nhà khoa học từng đoạt giải Nobel, mà ở cơ hội cho các nhà khoa học trẻ được giao lưu cùng những nhà khoa học lớn này ở những bữa ăn trưa; hay qua cuộc dã ngoại tham quan tháp Chàm, để rồi những cuộc trò chuyện cởi mở giúp xua đi vầng hào quang choáng ngợp thần bí trên đầu những tên tuổi lừng lẫy; hay những buổi tối trên bãi biển quây quần quanh chai rượu đặc sản địa phương, đàm đạo cùng các nhà khoa học Việt Nam nổi tiếng từ nước ngoài, như Nguyễn Trọng Hiền hay Đàm Thanh Sơn, những người tâm huyết muốn giúp nền khoa học Việt Nam tiến bộ và muốn được hiểu biết nhiều hơn về môi trường trong nước để có thể hỗ trợ chúng ta một cách hiệu quả hơn; và cũng rất có giá trị là những dịp ăn trưa nơi các nhà vật lý thiên văn từ Hà Nội và Sài Gòn cùng thảo luận với những đồng nghiệp trẻ từ Trung Quốc về những dự án hợp tác trong tương lai; những bài báo cáo trong các cuộc tọa đàm chuyên sâu về nội dung và kết quả nghiên cứu khoa học trong nước, giúp các đồng nghiệp quốc tế nhận thức được những nỗ lực mà chúng ta đang cống hiến cho sự phát triển khoa học cơ bản trong nước.  Điều tôi muốn bày tỏ không có gì hơn là mong mỏi sẽ có nhiều hơn những cơ hội tương tác như vậy giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước. Khi đã có trong tay một cơ sở phù hợp như Trung tâm ở Quy Nhơn, chúng ta hãy tận dụng nó một cách hữu hiệu.            Thanh Xuân dịch  Đọc thêm:  Vừa mừng vừa lo (Hà Huy Khoái)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=6760&CategoryID=36    —  1 Những câu chữ trong ngoặc kép được dịch từ các ngôn từ mà tác giả lấy nguyên văn của Green Hofstede tại Hội thảo FUHU về Giáo dục và Đào tạo trong Lớp học Đa văn hóa (học viên có xuất xứ từ nhiều nguồn gốc văn hóa khác nhau) tại Copenhagen, 8/5/2008. Chúng phản ánh ngôn từ dùng trong các nghiên cứu lâu nay liên quan tới đề tài này.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khắt khe và minh bạch      Một trong những nguyên nhân khiến nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội (KHXH) ở Việt Nam do các tổ chức phi chính phủ (NGO) đặt hàng có chất lượng tốt là quy trình tuyển chọn các nhà nghiên cứu của các NGO đảm bảo tính chặt chẽ, nghiêm túc.        Các NGO ở Việt Nam thường đặt hàng các nhà khoa học xã hội phân tích hiện trạng thực hiện dự án hỗ trợ cộng đồng hoặc phản biện các chính sách thông qua việc áp dụng các lý thuyết, phương pháp đánh giá cộng đồng. Điển hình như Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam thường tham vấn các nhà khoa học ba vòng trước khi áp dụng các chính sách hỗ trợ của họ vào thực tiễn.  Việc lấy ý kiến các nhà khoa học được tổ chức rất chặt chẽ, cùng với những tiêu chí cụ thể, chỉ những người có chuyên môn tốt, nhận định sắc sảo mới vượt qua các vòng xét tuyển.  Xét tuyển khắt khe  Trước khi xây dựng dự án, các tổ chức phi chính phủ sẽ đăng một thông báo tìm kiếm các ứng viên cho mỗi vị trí nghiên cứu, thường đưa lên trang ngocenter.org1 và website của chính tổ chức đó. Người thực hiện xét tuyển bao gồm đại diện của tổ chức phi chính phủ chủ trì dự án và các chuyên gia giàu kinh nghiệm đã từng hợp tác với tổ chức này. Các ứng viên đều phải đạt những tiêu chuẩn chặt chẽ do NGO đặt ra rất cụ thể trong TOR2, trong đó, ngoài các yêu cầu cơ bản về làm việc nhóm, thuyết trình, trình độ ngoại ngữ, các tiêu chí chủ yếu bao gồm kinh nghiệm chuyên môn về lĩnh vực nhà nghiên cứu tư vấn: 1/ Kinh nghiệm trong nghiên cứu chuyên ngành (ghi rõ số xuất bản phẩm trong nước, quốc tế); 2/ Kinh nghiệm làm việc ở những đề tài cụ thể có liên quan tới dự án cần tư vấn; 3/ Khả năng sử dụng các công cụ, phương pháp thực địa và đánh giá thực địa tốt. Trong đó, tiêu chí thứ hai yêu cầu nhà nghiên cứu phải trình bày rõ họ đã đánh giá hoặc tham gia tiến hành các dự án tương tự như thế nào. Ví dụ: những người đã đánh giá hoặc tiến hành các dự án về chăm sóc, bảo trợ trẻ em sẽ có ưu thế rất lớn khi tham gia tư vấn cho các tổ chức chuyên làm về trẻ em như Plan, Childfund, Save the childrend…  Các NGO không đặt tiêu chí học hàm học vị hoặc số năm làm việc lên hàng đầu mà quan trọng nhất là trải nghiệm của các nhà tư vấn. Vì vậy có thể nói đây là “mảnh đất” không chỉ của các nhà khoa học kỳ cựu, mà còn dành cho rất nhiều nghiên cứu viên trẻ, miễn là họ có những kinh nghiệm cụ thể cần thiết mà công việc đòi hỏi. Ngoài chuyên môn của từng ngành, kinh nghiệm nghiên cứu liên ngành cũng quan trọng không kém, bởi các dự án của NGO thường xuyên đòi hỏi nhiều chuyên gia tư vấn từ những chuyên ngành khác nhau cùng tham gia phân tích hiện trạng cộng đồng.  Nếu các ứng viên đáp ứng tiêu chí này, thông thường phải trải qua hai đến ba lần phỏng vấn đồng thời phải viết một kế hoạch tương đối cụ thể về quy trình đánh giá hoặc phản biện các dự án cộng đồng hoặc chính sách mà họ nhận nghiên cứu/ tư vấn. Bản kế hoạch này không chỉ cần thể hiện rõ ràng quan điểm tiếp cận (theo quan điểm của tổ chức hoặc trường phái lý thuyết nào), phương pháp khảo sát, đánh giá, các công cụ (định tính, định lượng) mà còn đòi hỏi những trích dẫn nguồn gốc các quan điểm tiếp cận, khung tham chiếu, chỉ tiêu, tài liệu tham khảo được trình bày hết sức rõ ràng để các nhà tuyển dụng có thể truy nguyên, xác minh được ứng viên đó có trung thực hay không.   Như vậy, mọi sự gian dối của ứng viên sẽ thể hiện ra ngay khi họ trả lời phỏng vấn hoặc chậm nhất là lúc bắt tay vào triển khai các công cụ khảo sát trên thực địa. Nếu hiểu biết non yếu về vấn đề đang tư vấn thì lập luận của nhà tư vấn sẽ thiếu cơ sở và dễ dàng bị bác bỏ.  Quy trình tham vấn  Trong quá trình tham vấn, các NGO thường không yêu cầu nhà khoa học phải phân tích theo “định hướng” của họ. Yêu cầu duy nhất họ đặt ra cho các nhà tư vấn là các phân tích phải “đúng với hiện trạng xã hội”, trên cơ sở áp dụng đúng các quan điểm tiếp cận, phương pháp và công cụ đã đưa ra. Trên hết, ý kiến tư vấn của các nhà khoa học phải có các phát hiện càng chi tiết, cụ thể càng tốt, và mọi nhận định đều phải kiểm chứng được, sau đó mới đưa ra các khuyến nghị cho NGO nên làm gì trong các dự án hỗ trợ cộng đồng hoặc khuyến nghị chính sách của Nhà nước.   Ở vòng tham vấn đầu tiên, thường là trước khi NGO tiến hành dự án, các nhà khoa học xã hội phải đánh giá hiện trạng xã hội và đưa ra các đặc điểm trọng yếu nhất cần phải hỗ trợ/ khắc phục trong cộng đồng. Các phát hiện này sẽ được lấy tham khảo để NGO xây dựng chính sách hỗ trợ và cũng lấy làm căn cứ để NGO xác định các hỗ trợ của mình giúp cộng đồng ở mức độ nào, có thay đổi so với trước khi hỗ trợ hay không.   Ở các vòng tham vấn sau, nhà khoa học phải chỉ rõ những tính hợp lý/bất hợp lý, các hiệu ứng không mong đợi của chính sách phát triển sau một thời gian áp dụng trong cộng đồng (kể cả chính sách hỗ trợ của NGO hoặc nhà nước, tùy theo đặt hàng của NGO). Một ví dụ cụ thể cho tư vấn của các nhà khoa học xã hội đối với NGO là về thay đổi chuẩn nghèo. Trước đây, một chuẩn nghèo duy nhất được áp dụng tại Việt Nam là chuẩn nghèo đơn chiều – chỉ đánh giá một hộ gia đình nghèo dựa trên thu nhập thường niên3. Nhưng sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học xã hội đã chỉ ra rằng việc chỉ áp dụng chuẩn nghèo đơn chiều sẽ gây bỏ sót đối tượng, dẫn đến nhận diện nghèo và phân loại thiếu chính xác.  Một điều không kém phần quan trọng là văn hoá tranh biện và tinh thần nghiêm túc đã bén sâu, phổ biến ở các NGO cũng như các nhà khoa học làm việc cho họ. Họ hiểu rằng, những phân tích hiện trạng xã hội, dù đúng hay sai không chỉ tổn hại tới danh dự khoa học của cá nhân hay tổ chức, mà cao hơn nữa, sẽ ảnh hưởng tới những người thụ hưởng dự án/chính sách hỗ trợ – đa phần là các nhóm yếu thế trong xã hội. Ở đây, rõ ràng ngòi bút của nhà khoa học được đảm bảo bằng trách nhiệm, danh dự chứ không có một hội đồng chính thống nào cả.  Công bố công khai toàn văn nghiên cứu  Sau khi nhận góp ý, nhóm tác giả sẽ báo cáo toàn văn trong một hội thảo có đại diện của rất nhiều bên liên quan gồm: NGO chủ trì nghiên cứu, các nhà chuyên môn (do cả NGO và nhà khoa học mời) cơ quan nhà nước nhận góp ý chính sách, đại diện của những người cung cấp thông tin cho nghiên cứu đó. Tại buổi hội thảo, cũng không có một hội đồng chính thức nào đánh giá toàn văn nghiên cứu, nhưng mọi phê phán đều phải được tiếp thu, những kết quả nghiên cứu nào còn chưa rõ ràng sẽ tiếp tục được đề nghị làm sáng tỏ. Trong trường hợp các tranh luận (cả về lý thuyết và thực tiễn) chưa ngã ngũ thì điều đó cũng phải được thể hiện trong bản cuối cùng của báo cáo nghiên cứu khi đưa ra xuất bản.  Có thể nói rằng xuất bản công khai toàn văn nghiên cứu chính là “tiêu chí trên mọi tiêu chí” mà NGO bắt buộc nhà khoa học phải tuân thủ. NGO cũng khuyến khích các nhà khoa học đưa công bố đó ra quốc tế để tiếp tục thảo luận. Đây cũng là xu hướng nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi, vừa xuất bản toàn văn nghiên cứu ở trong nước, vừa gửi phát hiện nghiên cứu đó ra các hội thảo hoặc tạp chí quốc tế.  Tựu trung lại, các NGO không hề có các hội đồng xét duyệt rình rang, mà chỉ có các tiêu chí khoa học và tinh thần vị khoa học, vị cộng đồng. Trên tinh thần đó, các nhà khoa học tự có trách nhiệm bảo vệ, tôn trọng uy tín chuyên môn của mình cũng như của các đồng nghiệp bằng việc tranh luận, tranh luận đến cùng.         Ba vấn đề các NGO làm được rất tốt trong khi nhiều cơ quan chủ trì nghiên cứu KHXH chưa thể làm được:              –  Tiêu chí xét tuyển thiết thực và khách quan: các NGO yêu cầu ứng viên  phải có rất nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu và điều đó thể hiện  ra bằng các bài báo đã công bố, tóm tắt kết quả dự án đánh giá khác.              –  Thảo luận công khai nhiều lần trong quá trình nghiên cứu: các NGO chủ  trì nghiên cứu thường yêu cầu nhóm nghiên cứu trình bày từ ý tưởng cho  đến kết quả sơ bộ trong các hội thảo chính thức và không chính thức để  nhiều nhà khoa học từ nhiều đơn vị khác nhau cùng thảo luận.              – Mọi  nghiên cứu do các NGO chủ trì đều được công khai trong các hội thảo báo  cáo kết quả cuối cùng và xuất bản (in thành sách, gửi tạp chí quốc tế,  hội thảo quốc tế) thu hút rất đông đảo giới chuyên môn từ các NGO khác  cũng như các viện nghiên cứu và tạo thảo luận sôi nổi.          ————-  1 http://www.ngocentre.org.vn: website cung cấp thông tin về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ đặt tại Việt Nam.  2 Term of reference for an evaluation (điều khoản tham chiếu cho nghiên cứu đánh giá)  3 Các chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương binh Xã hội đưa ra trước 2015. Chuẩn nghèo đơn chiều 2011 – 2015 gần đây nhất, theo Quyết định số 9/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khâu then chốt là tạo môi trường  sáng tạo, dân chủ, trọng dụng nhân tài      Chiến lược Phát triển KH&amp;CN giai đoạn 2011-2020 hướng tới một số mục tiêu đầy tham vọng, như hình thành 30 tổ chức KH&amp;CN đẳng cấp khu vực và thế giới vào năm 2015, huy động tổng đầu tư xã hội vào KH&amp;CNđạt 1,5% GDP vào 2015 và 2% GDP vào 2020, giá trị giao dịch trên thị trường KH&amp;CN tăng 15-17%/năm. Trả lời phỏng vấn của Tạp chí Tia Sáng, Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Nghiêm Vũ Khải lý giải những thách thức và giải pháp để thực hiện thành công các mục tiêu mà Chiến lược đề ra.     Xin Thứ trưởng cho biết từ khi Chiến lược Phát triển KH&CN 2011-2020 ra đời đến nay, công tác thực hiện Chiến lược đã được triển khai tập trung vào những mục tiêu trọng tâm nào?  Trong thời gian qua, những quan điểm, cơ chế, chính sách đề ra trong Chiến lược Phát triển KH&CN 2011-2020 đã được thể chế hóa vào Nghị quyết Trung ương 20, Luật KH&CN, và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật. Đồng thời, chúng ta đã xây dựng các đề án, kế hoạch thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ trong Chiến lược, bao gồm các mục tiêu định tính và định lượng. Trong đó, tập trung vào 3 nhiệm vụ trọng tâm: 1. Quy hoạch hệ thống tổ chức KH&CN với cơ sở hạ tầng kỹ thuật đủ đáp ứng yêu cầu hoạt động KH&CN trong những năm tới; 2. Đào tạo sử dụng đội ngũ nhân lực KH&CN, trong đó chú trọng sử dụng và đãi ngộ nhân tài; 3. Tập trung vào nguồn lực quốc gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN tầm quốc gia, có tính chất đột phá nhằm nâng cao năng lực KH&CN và giải quyết những vấn đề trọng yếu phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tất cả các nhiệm vụ trên phải hoàn thành trong năm 2013, trước khi Luật KH&CN sửa đổi có hiệu lực.  Việc huy động tổng đầu tư xã hội vào KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và 2% vào năm 2020 –là một mục tiêu quan trọng, đồng thời cũng tạo điều kiện để thực hiện thành công các mục tiêu khác trong Chiến lược. Vậy chúng ta sẽ thực hiện mục tiêu này ra sao?  Chỉ tiêu đầu tư xã hội cho KH&CN là một mục tiêu quan trọng, đồng thời có sự liên quan mật thiết tới việc thực hiện các mục tiêu khác của Chiến lược. Hiện nay, tổng nguồn chi cho KH&CN của xã hội đạt khoảng 0,8-1% GDP, trong đó có 2% Ngân sách Nhà nước tương đương 0,5% GDP. Như vậy, trong thời gian tới, Nhà nước và toàn thể xã hội sẽ cần nhiều nỗ lực hơn. Trong thời gian tới chúng ta cần tích cực triển khai thực hiện quy định mới của Luật KH&CN sửa đổi. Về đầu tư công cần thực hiện theo Điều 46, quy định các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế – xã hội sử dụng ngân sách Nhà nước phải có hạng mục chi cho ứng dụng, nghiên cứu phát triển phục vụ xây dựng luận cứ khoa học về giải quyết vấn đề khoa học và công nghệ trong quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, đồng thời phải được thẩm định về khoa học và công nghệ trước khi phê duyệt. Về đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước cho KH&CN, chúng ta cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN thông qua các cơ chế ưu đãi như ưu đãi về thuế và tín dụng. Bên cạnh đó, chúng ta cần thúc đẩy thị trường công nghệ phát triển mạnh mẽ hơn nữa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.  Trong vấn đề phát triển thị trường KH&CN, Chiến lược đã đặt ra mục tiêu cụ thể là giá trị giao dịch của thị trường KH&CN tăng 15-17%/năm. Giải pháp nào sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu này?  Hiện nay Bộ KH&CN đã chủ trì xây dựng Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 trình Thủ tướng ký quyết định ban hành. Trong chương trình này đặt ra 3 nhiệm vụ chính là: 1. Hoàn thiện môi trường pháp lý, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về thị trường KH&CN; 2. Thúc đẩy hình thành và phát triển các định chế trung gian phục vụ phát triển thị trường KH&CN như dịch vụ đánh giá, định giá, sở hữu trí tuệ, tư vấn; ươm tạo công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; 3. Thúc đẩy cung cầu công nghệ, nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ. Từng mục tiêu trên đều kèm theo những chính sách, giải pháp cụ thể.  Tuy nhiên, thị trường KH&CN sẽ không thể vận hành tốt nếu các tổ chức KH&CN thiếu năng lực trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Hiện nay Chiến lược đã đặt mục tiêu đến năm 2015 sẽ hình thành 30 tổ chức KH&CN đẳng cấp khu vực và thế giới vào năm 2015. Chúng ta cần bắt đầu từ đâu để làm được điều này?  Thực tế ở nước ta đã hình thành được những tổ chức như vậy trong một số ngành, lĩnh vực trọng tâm như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, y dược, nghiên cứu cơ bản và một số lĩnh vực khác. Bộ KH&CN đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương điều tra rà soát đánh giá hiện trạng của các tổ chức này và sẽ xây dựng kế hoạch (trong quy hoạch tổng thể hệ thống tổ chức KH&CN công lập) thực hiện mục tiêu nêu trên. Kế hoạch này sẽ bao gồm cả việc sắp xếp lại, tập trung đầu tư về cơ sở vật chất và nhân lực. Giao một số nhiệm vụ KH&CN trọng điểm để đáp ứng trình độ, tiêu chí, chuẩn mực quốc tế.  Việc sắp xếp lại và tập trung đầu tư nguồn lực KH&CN nói trên tại các địa phương sẽ được tiến hành trên cơ sở nào?  Trong quy hoạch hệ thống tổ chức KH&CN và quy hoạch nhân lực KH&CN phải đảm bảo có sự phân bổ và liên kết hợp lý giữa quốc gia, vùng miền nhằm phát huy các lợi thế, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước và các địa phương. Trên cơ sở xác định nhiều sản phẩm quốc gia, công tác đầu tư cho KH&CN sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu đặt ra.  Phải xây dựng năng lực KH&CN của mỗi tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương theo tiêu chí: vừa đáp ứng yêu cầu bức thiết của địa phương, nhưng không dàn trải; đồng thời tập trung vào một số sản phẩm chủ lực. Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, việc liên kết giữa Trung ương và vùng, giữa vùng với vùng, được thuận lợi hơn lúc nào hết.  Có ý kiến cho rằng chúng ta không nên dành quá nhiều kinh phí KH&CN của Nhà nước cho các địa phương vì năng lực nghiên cứu của họ rất hạn chế, do đa số nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao trên cả nước tập trung nhiều ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Thứ trưởng đánh giá quan điểm này như thế nào?  Đúng là hiện nay đang tồn tại tình trạng mất cân đối về phân bổ nguồn lực KH&CN – bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực – giữa các trung tâm lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và các địa phương. Nhưng tôi không tán đồng với ý kiến cho rằng chúng ta chi quá nhiều kinh phí KH&CN cho các địa phương. Thực tế là chi như hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, trong khi còn tồn tại tình trạng sử dụng kinh phí KH&CN sai mục đích ở nhiều địa phương. Chúng ta không vì thế mà cắt giảm kinh phí KH&CN của các địa phương, mà thay vào đó cần hướng dẫn, chỉ đạo mỗi địa phương xác định đúng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KH&CN của địa phương mình phù hợp với mục tiêu của Chiến lược, từ đó có kế hoạch bố trí kinh phí và nguồn lực một cách tập trung, hợp lý cho từng nhiệm vụ, theo từng giai đoạn.   Một thực tế không thể phủ nhận là trong khi một số ít địa phương chú trọng thì đa số địa phương chưa thực sự đánh giá vai trò của KH&CN nên chưa quan tâm từ khâu bố trí cán bộ có đủ năng lực thẩm quyền đến việc tổ chức bộ máy, đầu tư nguồn lực. Đây là một trong những điểm nghẽn lớn làm kìm hãm sự phát triển KH&CN của địa phương cần phải khắc phục.  Xin Thứ trưởng cho biết nếu nhìn nhận một cách tổng thể thì những thách thức nào là cơ bản nhất mà chúng ta cần vượt qua để thực hiện Chiến lược thành công?   Chúng ta phải khẩn trương hành động để tháo gỡ những nút thắt về cơ chế chính sách, tập trung nguồn lực thực hiện một số nhiệm vụ KH&CN trọng tâm, kịp thời rút kinh nghiệm và điều chỉnh cơ chế chính sách để phù hợp với thực tế. Trong đó, việc xây dựng môi trường sáng tạo, dân chủ kết hợp với chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt là nhân tài KH&CN, vẫn là một nhiệm vụ đang gặp nhiều trở ngại, nhưng lại là khâu then chốt nhất vì giới khoa học là lực lượng chủ lực, nòng cốt trong thực hiện Chiến lược. Hiện nay Bộ KH&CN đang chủ trì xây dựng dự thảo nghị định về phát triển nhân lực KH&CN cùng với một số nghị định khác để hướng dẫn thực hiện Luật KH&CN 2013, và coi đây là nhiệm vụ quan trọng số một trong giai đoạn hiện nay.  Bên cạnh đó, dù các chính sách và pháp luật của Nhà nước có hoàn thiện đến đâu chăng nữa nhưng sẽ không thể đi vào cuộc sống nếu thiếu một nền hành chính minh bạch, có đủ hiệu lực, và hoạt động hiệu quả. Xét từ logic đó, sự thống nhất, đồng bộ là điều kiện quan trọng nhất và cũng là thách thức lớn nhất để thực hiện thành công Chiến lược.    Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.               PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang KH&CN của Trung Quốc: Bí mật đằng sau sự vươn lên      Một cái nhìn toàn diện quá trình phát triển KH&CN nhanh chóng của Trung Quốc cho thấy cách chính phủ định hướng đầu tư và lập kế hoạch – bất chấp hàng núi khiếu nại về những vấn đề gian lận.      Triển lãm Thiết bị quốc tế lần thứ 17 của Trung Quốc tại Thẩm Dương, Liêu Ninh vào tháng 9/2018, tập trung vào ngành công nghiệp robotics và trí tuệ nhân tạo, thu hút 900 công ty trong nước và quốc tế. Nguồn: Tân Hoa Xã.  Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc KH&CN, kết quả của việc lập kế hoạch có trọng tâm, được cân nhắc và đầu tư với những khoản kinh phí lớn. Tuy nhiên cùng với sự tăng trưởng đó là hàng núi khiếu nại về cách Trung Quốc chia sẻ dữ liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và trong một số trường hợp là vấn đề thực hiện nghiên cứu liên quan đến đạo đức khoa học.  Sự vươn lên nhanh chóng của KH&CN Trung Quốc đã được ghi nhận – gây ấn tượng nhiều hơn cả những câu chuyện thành công về công nghệ được biết đến rộng rãi như Hàn Quốc và Singapore. Khi Trung Quốc chuyển động từ chỗ là công xưởng của thế giới sang trở thành một trong những quyền lực công nghệ mới của thế giới, chính quyền Trung Quốc đã bơm tiền, gửi sinh viên ra khắp toàn cầu, phát triển một loạt kế hoạch quan trọng, thúc đẩy phát minh sáng chế và chuyển đến một tư thế tích cực hướng về phía thay đổi toàn bộ hệ thống KHCN và đổi mới sáng tạo.    Trung Quốc đã trở thành một nhân vật gây thách thức ở tầm quốc tế về tăng trưởng nhanh chóng ở nhiều lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, IoT, công nghệ nano, công nghệ sinh học, tính toán lượng tử và dữ liệu lớn. Cơ quan Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Anh (UKRI) đã dự đoán, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ vào năm 2022 để trở thành quốc gia số một thế giới về đầu tư vào R&D.  Ngay vào năm 2017, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển châu Âu (OECD) đã ước tính, Trung Quốc chiếm 23% tổng số đầu tư vào R&D của thế giới. Và năm tiếp theo, tổng số đầu tư của quốc gia này tiếp tục gia tăng lên con số 2,19% GDP (năm 2017 mới là 2,15%) – nhiều hơn không đáng kể so với châu Âu. Trung Quốc không chỉ chiếm 25% nhân sự R&D của thế giới mà còn xếp hạng nhì thế giới về những ứng dụng sáng chế quốc tế trong năm 2018 (53.981), chỉ xếp sau Mỹ (55.981).  Những khiếu nại cũng tăng lên  Nhưng sự tăng trưởng này đi kèm với những khiếu nại không ngừng tăng lên của các đối tác thương mại.   Việc bảo hộ tài sản trí tuệ đã trở thành nội dung chính. Các công ty nước ngoài được điều hành ở Trung Quốc đã khiếu nại qua nhiều năm về việc xâm phạm bản quyền và buộc phải chuyển giao công nghệ cho đối tác Trung Quốc để đổi lấy quyền gia nhập thị trường, đón đầu tư hoặc cả những chấp thuận của nhà chức trách.   Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gây bão trên tài khoản Twitter của mình. “Họ đã đánh cắp tài sản trí tuệ của chúng ta ở mức hàng trăm tỉ USD/năm, và họ muốn tiếp tục như thế. Tôi không muốn để điều đó xảy ra”.  Tương tự như vậy vào tháng 11/2019, Michael Kratsios – cố vấn công nghệ của Trump, nói “Trung Quốc đánh cắp tài sản trí tuệ của chúng ta […] Nếu chúng ta không hành động bây giờ, sự ảnh hưởng và kiểm soát về công nghệ của Trung Quốc không chỉ làm xói mòn tự do của các công dân chúng ta mà còn cả công dân của thế giới.” Và cuộc chiến này đã được đưa ra bàn thảo tại WIPO khi Mỹ vận động các bên phản đối thành công một ứng viên Trung Quốc ứng cử vị trí đứng đầu tổ chức này.     Mức đầu tư cho R&D của Trung Quốc và các quốc gia khác trong năm 2000-2018. Nguồn: sciencebusiness.net  Nhưng sở hữu trí tuệ không chỉ là nguồn khiếu nại duy nhất. Với EU, phần lớn các nhà nghiên cứu đã hợp tác với các nhà khoa học Trung Quốc đã khiếu nại về việc không thể truy cập toàn bộ dữ liệu mà họ muốn để nghiên cứu – và trong những ngày đầu khủng hoảng Covid-19, các nhà nghiên cứu Australia đến Mỹ đều nói rằng Trung Quốc, trong khi xuất bản một trình tự gene của virus, không sẵn sàng đưa công khai các mẫu virus. Trước khi diễn ra Covid-19, trường hợp liên quan đến đạo đức nghiên cứu của Trung Quốc vào năm 2018, khi một nhà nghiên cứu ở Thâm Quyến loan báo về một cặp bé gái sinh đôi có hệ gene đã bị anh ta chỉnh sửa trong nỗ lực ngăn các bé khỏi nhiễm HIV từ người bố mang bệnh. Do áp lực phản đối của quốc tế, chính quyền Trung Quốc đã bỏ tù nhà nghiên cứu.   Triển khai các kế hoạch đầy tham vọng   Dẫu vậy sự trỗi dậy về KH&CN của Trung Quốc vẫn là một trường hợp đáng nghiên cứu về ý chí quyền lực của chính phủ. Trong khi xây dựng trong nhiều năm, kế hoạch quan trọng và dài hạn dẫn đến thay đổi này bắt đầu vào năm 2006 khi chính phủ quốc gia này thiết lập một mục tiêu dẫn đầu thế giới vào năm 2050.  Kể từ đó, các kế hoạch phát triển năm năm đã thúc đẩy sự tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm các công nghệ thành phố thông minh và hình thành những liên minh khoa học. Ví dụ, Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị nông thôn đã chọn ra 193 chính quyền địa phương và vùng phát triển kinh tế là những nơi đặt các dự án quy mô pilot thành phố thông minh. Các địa điểm này đã đủ điều kiện nhận kinh phí đầu tư từ Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, với một khoản đầu tư 100 tỉ nhân dân tệ (16 tỉ USD). Kế hoạch 5 năm hiện tại bao gồm một mục tập trung vào môi trường, thúc đẩy các năng lực đổi mới sáng tạo và GDP, và cải thiện đời sống của các công dân.       Khi Trung Quốc chuyển động từ chỗ là công xưởng của thế giới thành một trong những quyền lực công nghệ mới của thế giới, chính quyền Trung Quốc đã bơm tiền, gửi sinh viên ra khắp toàn cầu, phát triển một loạt kế hoạch quan trọng, thúc đẩy phát minh sáng chế và chuyển sang một tư thế tích cực hướng về phía thay đổi toàn bộ hệ thống KHCN và đổi mới sáng tạo.      Người thúc đẩy sự tăng trưởng này là chủ tịch nước Tập Cận Bình. Ví dụ, từ năm 2012, năm nhậm chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông bắt đầu thúc đẩy Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) thành một viện nghiên cứu ở đẳng cấp thế giới. Và kế hoạch ngành công nghiệp mang tên “Made in China” là một trong những sáng kiến tham vọng nhất của ông, bắt đầu triển khai từ năm 2015 với mục đích đưa Trung Quốc trở thành người đứng đầu thế giới về số lượng các ngành công nghiệp công nghệ cao như thiết bị y tế, robotics, thiết bị hàng không vũ trụ. Một trong những mục tiêu của kế hoạch này là có thể tự chủ trong sản xuất thiết bị của các ngành này tới 70%.  Kế hoạch này không phải ở góc độ nào cũng tốt. Việc nhấn mạnh vào các vấn đề như “đổi mới sáng tạo trong nước”, “tự chủ” khiến chính quyền đang nhắm đích khuyến khích các doanh nghiệp Trung Quốc vào chỗ mà theo các nhà bình luận quốc tế, gây bất lợi cho các công ty nước ngoài. Trong năm nay, BusinessEurope – nhóm vận động hành lang của ngành công nghiệp EU, đã kêu gọi EU đặt nhiều sức ép lên Trung Quốc để cho phép “đánh giá lẫn nhau” với các dự án do Trung Quốc đầu tư. Tại Mỹ, Trump đã thúc đẩy các công ty “bắt đầu tìm kiếm một giải pháp với Trung Quốc, bao gồm việc đưa các công ty về nhà và sản xuất các sản phẩm tại Mỹ”. Nhiều người khác lo ngại là chiến lược kiểm soát toàn bộ chuỗi cung cấp của Trung Quốc có thể dẫn đến rủi ro cho thế giới. Ví dụ, trong khủng hoảng Covid-19, các kế hoạch sản xuất iPhone của Apple đã bị đứt gãy vì các vấn đề từ nhà cung cấp ở Trung Quốc.  Xuất khẩu sinh viên, thúc đẩy công bố quốc tế  Sự thật khác ở sự tăng trưởng KH&CN của Trung Quốc là quyết định cử hàng trăm sinh viên xuất sắc đào tạo ở các trường đại học phương Tây. Thậm chí, Trung Quốc còn là một mạng lưới xuất nhập khẩu sinh viên: chỉ trong năm 2018 có 662.100 sinh viên ra nước ngoài, trong khi 492.185 sinh viên quốc tế từ 196 quốc gia đến Trung Quốc, theo Bộ Giáo dục Trung Quốc. Ví dụ tại Mỹ, sinh viên Trung Quốc chiếm vị trí hàng đầu trong số sinh viên quốc tế với khoảng 369.000 người. Nhưng chính quyền Trump đã thúc đẩy các trường đại học Mỹ cẩn thận hơn về việc có thể để các sinh viên Trung Quốc – và đặc biệt là các nhà nghiên cứu – truy cập vào những dữ liệu gì.    Nhà nghiên cứu Hạ Kiến Khuê đã bị bỏ tù vì chỉnh sửa gene một cặp bé gái sinh đôi vào năm 2018 để tránh mắc bệnh HIV từ bố.   Nhưng đây là con đường hai chiều. Nhiều trường đại học phương Tây đã thiết lập các trung tâm R&D và các trường đại học ở Trung Quốc. Một ví dụ là việc mở Trung tâm đổi mới sáng tạo KH&CN Cambridge – Nam Kinh năm 2018, nơi trở thành viện nghiên cứu hợp tác đầu tiên được thành lập ngoài phạm vi Anh của Cambridge. Một trong những dự án hiện tại của Trung tâm là “tạo ra một máy quét độ phân giải cao có thể cung cấp phương pháp giá thành thấp để kiểm tra những vùng phức tạp của cơ thể người, ví dụ như các đốt xương sống mà không cần dùng đến các máy quét CT giá thành cao và cồng kềnh.” Các trường đại học khác cũng thành lập các cơ sở R&D tại Trung Quốc như trường Đại học Stanford, Đại học Hoàng gia London, Đại học Oxford và trường Đại học Quốc gia Singapore.  Theo một xuất bản của WIPO, trường Đại học Cornell và INSEAD, vào năm 2019, Trung Quốc xếp hạng ba sau Mỹ và Anh về chất lượng trường đại học và nơi đứng đầu trong các trường Trung Quốc là Đại học Thanh Hoa, tiếp theo là trường Đại học Bắc Kinh và Chiết Giang.  Về các ấn phẩm khoa học, năm 2017, Trung Quốc hoàn toàn vượt qua Mỹ về số lượng vào năm 2017. Trên thực tế, các xuất bản của Trung Quốc đã tăng lên một cách đáng ngạc nhiên 15%  trong vòng hai thập kỷ qua. Thế mạnh của họ là hóa học, vật lý, khoa học vật liệu, với các xuất bản y học tăng nhanh chóng trong thập kỷ qua. Nhưng ở một chừng mực nào đó thì sự gia tăng này là bởi các nhà nghiên cứu Trung Quốc thường xuyên được trả tiền để được xuất bản. Gần đây, chính quyền đã kêu gọi các viện nghiên cứu dừng giải pháp này, vì muốn khuyến khích chất lượng hơn số lượng. Và trên thực tế, Mỹ vẫn dẫn đầu khi là quốc gia có nhiều công bố được trích dẫn nhất, theo tính toán của OECD.  Mối quan hệ hợp tác EU và Trung Quốc  EU đã cố gắng để bắt đầu “đón lấy” sự tăng trưởng về R&D của Trung Quốc trong nhiều năm, và đạt được những kết quả khác nhau. Từ năm 1998, EU và Trung Quốc đã có hợp tác KH&CN; và trong năm 2018 hai bên đã lập một “lộ trình” hợp tác. Họ đã thông báo một gói những sáng kiến lá cờ đầu để thúc đẩy hợp tác chung và thảo những cơ chế đồng tài trợ thông qua Horizon 2020 trong nhiều lĩnh vực, bao gồm vận tải, nông nghiệp, công nghệ sinh học, hàng không, y tế, môi trường, đô thị bền vững và thực phẩm. Cùng thời gian này, hai bên đã có những thỏa thuận hợp tác về năng lượng nhiệt hạch và phân hạch.  Nhưng các quan  chức EU phàn nàn là Trung Quốc không giữ cam kết với tất cả các dự án nghiên cứu đồng tài trợ trong Horizon. Kế hoạch ban đầu giai đoạn 2016-2020 với phần chi của EU là 500 triệu Euro và Trung Quốc một tỷ nhân dân tệ (130 triệu Euro). Và đến tháng 2/2020, có 464 nhà nghiên cứu Trung Quốc tham gia các dự án Horizon và Trung Quốc cũng mới chỉ giải ngân 60% hứa hẹn cam kết của mình.  Năm ngoái, sau một cuộc họp với các đối tác Trung Quốc, Carlos Moedas – thành viên Hội đồng nghiên cứu châu Âu, đã kêu gọi trách nhiệm thỏa thuận hai chiều: “EU và Trung Quốc đã ghi nhận, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đều cần cho sự thịnh vượng của tương lai chúng ta và giải quyết những thách thức toàn cầu. Chúng ta có thể thực hiện được điều này tốt hơn khi cùng hợp tác. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao chúng ta muốn thắt chặt mối hợp tác về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực quan tâm chung trên cơ sở các điều khoản khung với tinh thần trao đổi”.□  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/international-news/chinas-historic-rise-science-and-tech-stirs-criticism    Author                Quản trị        
__label__tiasang “KH&CN phải tác động mạnh mẽ hơn tới năng lực cạnh tranh quốc gia”      Trả lời phóng viên trên cương vị người đứng đầu ngành KH&amp;CN, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Chu Ngọc Anh cho biết, một trong những ưu tiên của ông trong nhiệm kỳ sắp tới là “chú trọng vấn đề hiệu quả của hoạt động KH&amp;CN, sao cho KH&amp;CN tác động trực tiếp và mạnh mẽ hơn tới năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp, tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế đất nước”.      Xin Bộ trưởng cho biết cảm nghĩ của mình trên cương vị mới?  Tôi cảm nhận sâu sắc niềm vinh dự đi đôi với trách nhiệm rất lớn trước đất nước, nhân dân và cộng đồng KH&CN, đặc biệt trong bối cảnh mới, khi KH&CN và đổi mới sáng tạo phải trở thành đòn bẩy cho công cuộc tái cấu trúc kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển đất nước nhanh và bền vững.  Kỳ vọng và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với KH&CN là một thuận lợi nhưng cũng là một áp lực buộc lực lượng KH&CN phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện.  Tôi trân trọng nỗ lực và tâm huyết của các Bộ trưởng tiền nhiệm trong việc khởi xướng các đổi mới trong KH&CN, thiết lập hành lang pháp lý và tháo gỡ vướng mắc để tạo thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Đồng thời, tôi cũng thấu hiểu các khó khăn và rào cản trong thực tiễn thi hành để biến các chủ trương tiến bộ thành hiện thực và đi vào cuộc sống.     Con đường phía trước đầy thách thức, nhưng tôi tin rằng, với trí tuệ, nhiệt huyết và sự quyết tâm đồng lòng của lực lượng KH&CN Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, chúng ta sẽ đến đích thành công.  Thời gian tới, trên cương vị Bộ trưởng Bộ  KH&CN, xin ông cho biết những ưu tiên trong chỉ đạo, điều hành?  Ưu tiên hàng đầu trong nhiệm kỳ sắp tới của tôi là tập trung chỉ đạo thực hiện thành công các định hướng, giải pháp phát triển KH&CN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 20-NQ/TW, những ưu tiên và trọng tâm công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó đặc biệt chú trọng vấn đề hiệu quả của hoạt động KH&CN, sao cho  KH&CN tác động trực tiếp và mạnh mẽ hơn tới năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp, tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế đất nước.  Muốn vậy, cần xác định trúng và đúng tầm nhiệm vụ KH&CN, xuất phát từ thực tiễn và giải quyết được các yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước, ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải là chủ thể đi đầu trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ.  Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ KH&CN, nhân tố con người là quan trọng nhất. Cần gây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh trong nước và ở nước ngoài, kết hợp đồng thời biện pháp động viên, khuyến khích và đặt yêu cầu trở lại đối với nhà khoa học; đào tạo, trọng dụng người tài kết hợp với đòi hỏi về tính liêm chính và đạo đức trong nghiên cứu.  Bên cạnh đó, cần bảo đảm phương tiện và môi trường làm việc thuận lợi cho cán bộ khoa học. Đầu tư có hiệu quả cho hạ tầng  KH&CN, trang thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nguồn lực thông tin và tài chính, kể cả hạ tầng mềm, đó là môi trường học thuật tiên tiến, lành mạnh.    Có con người giỏi và phương tiện hiện đại chưa đủ, chúng ta cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN theo hướng dỡ bỏ các rào cản, giải phóng tối đa tiềm năng sáng tạo, nới rộng quyền tự chủ đi đôi với đánh giá công khai, minh bạch kết quả hoạt động nghiên cứu.  Cuối cùng, với một nước đi sau như Việt Nam, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, đồng thời từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn.  Nhân dịp này, Bộ trưởng muốn gửi gắm thông điệp gì tới cộng đồng KH&CN Việt Nam?  Tôi tin tưởng vào trí tuệ, lòng tự trọng và trách nhiệm đối với công việc, với đất nước của các nhà khoa học Việt Nam. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự ủng hộ và chia sẻ của cộng đồng KH&CN Việt Nam trong nước và ở người ngoài, cùng chung sức, đồng lòng đóng góp cho thành công của sự nghiệp KH&CN.  Tôi cũng mong ngành KH&CN tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân và các lực lượng xã hội, để KH&CN và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững.  Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!  Nguyễn Hoàng  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Bo-truong-Chu-Ngoc-Anh-KHCN-phai-tac-dong-manh-me-hon-toi-nang-luc-canh-tranh-quoc-gia/251953.vgp      Author                Quản trị        
__label__tiasang KH&CN Trung Quốc: Đã qua thời “chỉ tính bài báo”      Ba thập niên trước đây, các trường đại học và viện nghiên cứu ở Trung Quốc đã thực thi chính sách khuyến khích công bố bài báo quốc tế cho các nhà nghiên cứu khoa học bằng cách thưởng tiền mặt cho các bài báo được xuất bản trong các tạp chí ISI.      Pan Ji Wei là người đưa Trung Quốc dẫn đầu thế giới về truyền thông lượng tử. Nguồn: China daily.  Chính sách khuyến khích đó đã làm cho Trung Quốc trở thành nước sản xuất nhiều bài báo nghiên cứu hơn bất kỳ quốc gia nào khác, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đến nay Bộ KH&CN Trung Quốc vừa phải điều chỉnh chính sách, ban hành chỉ thị để tránh làm cho KH&CN phát triển “trọng số lượng” lệch lạc. Để tìm hiểu, tham khảo xu hướng điều chỉnh mới này, chúng tôi xin giới thiệu chính sách của Bộ KH&CN Trung Quốc về “Một số biện pháp nhằm loại bỏ định hướng xấu của `Chỉ tính bài báo’ trong đánh giá KH&CN”.  Để thực hiện các yêu cầu của Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Văn phòng Quốc vụ viện về các ý kiến nhằm thúc đẩy tinh thần khoa học và tăng cường xây dựng phong cách làm việc và học tập, hoàn thiện hệ thống đánh giá KH&CN, khắc phục tình trạng đánh giá KH&CN quá chú trọng đến số lượng bài báo, chỉ số ảnh hưởng mà bỏ qua chất lượng, đóng góp và tác động của nghiên cứu, Bộ KH&CN và Bộ Tài chính đề ra một số biện pháp sau.  1. Tăng cường hướng dẫn đánh giá phân loại chú ý đến chất lượng, sự đóng góp và tác động của các thành tựu mang tính bước ngoặt.  Đối với các hoạt động KH&CN dạng nghiên cứu cơ bản, tập trung vào đánh giá chất lượng, sự đóng góp và tác động của những phát hiện mang tính bước ngoặt như khám phá mới, quan điểm mới, nguyên tắc mới và cơ chế mới. Trong đó, số các công trình trong các tạp chí KH&CN trong nước về nguyên tắc không dưới 1/3 tổng số. Tăng cường đánh giá ngang hàng các công trình xuất sắc, kết hợp đánh giá định lượng và định tính và tập trung vào giá trị học thuật và tác động của chúng, mức độ phù hợp của chúng đối với đánh giá KH&CN hiện tại và sự đóng góp của các tác giả có liên quan. Không coi số lượng và chỉ số ảnh hưởng của các công bố như là chỉ số đánh giá định lượng.  Đối với các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, chú ý đến việc đánh giá các công nghệ mới, quy trình mới, sản phẩm mới, vật liệu mới, thiết bị mới và các thành phần chính, thiết bị/hệ thống thí nghiệm, giải pháp ứng dụng, chương trình chẩn đoán và điều trị mới, hướng dẫn/tiêu chuẩn lâm sàng, dữ liệu khoa học, báo cáo KH&CN, phần mềm và các thành tựu mang tính bước ngoặt khác về chất lượng, sự đóng góp và tác động, không lấy công bố làm chỉ số đánh giá và làm cơ sở đánh giá chính.  Tăng giá trị và trọng số đánh giá cho các kết quả chất lượng cao. Đối với những thành tựu mang tính bước ngoặt có tác động học thuật nhất định hoặc đạt được hiệu quả ứng dụng thực tế, chúng có thể được sử dụng làm kết quả chất lượng cao, có thể tăng trọng số lên 10%. Đối với những người có tác động học thuật quan trọng và có tác dụng thúc đẩy ĐMST KH&CN trong các lĩnh vực liên quan, có thể tăng lên 30%. Đối với những kết quả đã được áp dụng vào thực tế và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia, trọng số có thể tăng lên 50%. Trọng số cụ thể được xác định bởi đơn vị (viện) quản lý tổ chức đánh giá KH&CN có liên quan tùy theo tình hình thực tế.  Khuyến khích xuất bản các bài báo chất lượng cao, bao gồm các bài báo được xuất bản trên các tạp chí KH&CN trong nước có ảnh hưởng quốc tế, các tạp chí khoa học kỹ thuật quan trọng hoặc tạp chí hàng đầu quốc tế được công nhận trong lĩnh vực, và các báo cáo tại các hội nghị học thuật hàng đầu trong và ngoài nước (sau đây gọi là “ba dạng công bố chất lượng cao”). Phạm vi cụ thể của các tạp chí và hội nghị khoa học nêu trên được Hội đồng học thuật của đơn vị xác định dựa trên nguyên tắc ít và tinh túy. Trong số đó, các tạp chí khoa học kỹ thuật trong nước có ảnh hưởng quốc tế được xác định bằng cách tham khảo danh sách các tạp chí được chọn của Kế hoạch Hành động xây dựng các tạp chí khoa học kỹ thuật xuất sắc của Trung Quốc; Các tạp chí KH&CN quan trọng và các hội nghị học thuật hàng đầu trong và ngoài nước được lựa chọn bởi Hội đồng học thuật của đơn vị kết hợp với các ngành học hoặc lĩnh vực kỹ thuật.  2. Đánh giá các dự án KH&CN Quốc gia cần nêu bật được chất lượng ĐMST và hiệu suất toàn diện. Đánh giá dự án cần tập trung vào tính khả thi và bản chất tiên tiến của dự án, còn đánh giá hiệu quả toàn diện cần tập trung vào chất lượng và tác động của các kết quả mang tính bước ngoặt đã thỏa thuận trong hợp đồng dự án.  Không sử dụng công bố làm cơ sở đánh giá và chỉ số đánh giá cho hướng dẫn ứng dụng, đánh giá dự án, đánh giá hiệu suất toàn diện, kiểm tra điểm ngẫu nhiên, v.v. đối với các dự án nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ  Đối với các dự án nghiên cứu cơ bản, tập hợp các công trình đại diện sẽ được thông qua để đánh giá báo cáo (về nguyên tắc không vượt quá 5 công trình đại diện). Trong các cam kết, ủy nhiệm, báo cáo hằng năm và các tài liệu khác, cần tập trung vào báo cáo vai trò hỗ trợ và mức độ phù hợp của các công trình đại diện đối với các dự án (chủ đề) liên quan. Trong đánh giá dự án, đánh giá hiệu suất toàn diện, kiểm tra điểm ngẫu nhiên, v.v., cần tập trung vào đánh giá chất lượng và ứng dụng của các công trình đại diện.  3. Đánh giá các cơ sở đổi mới sáng tạo KH&CN Quốc gia cần nêu bật các khả năng của dịch vụ hỗ trợ. Cần chú ý đến việc đánh giá vai trò và hiệu quả của các cơ sở đổi mới KH&CN đối với đáp ứng các nhu cầu chính của đất nước và sự phát triển kinh tế và xã hội.    Trong Viện nghiên cứu hệ gene Bắc Kinh, một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu về gene của Trung Quốc.  Cần tập trung vào đánh giá vai trò hỗ trợ cho các nhu cầu chính của quốc gia và xây dựng kỹ thuật và vai trò hỗ trợ cho các nhu cầu lâm sàng và công nghiệp hóa chủ yếu đối với các cơ sở đổi mới kỹ thuật và chuyển giao thành tựu, như Trung tâm ĐMST Công nghệ Quốc gia và Trung tâm Nghiên cứu Y khoa Lâm sàng Quốc gia. Không sử dụng công bố làm cơ sở đánh giá chính và chỉ số đánh giá.  Cần tập trung đánh giá chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ nước ngoài đối với các cơ sở hỗ trợ và bảo đảm điều kiện cơ bản như Nền tảng dịch vụ chia sẻ tài nguyên KH&CN Quốc gia và Trạm Nghiên cứu và Quan sát khoa học Quốc gia. Không sử dụng công bố làm cơ sở đánh giá chính và chỉ số đánh giá.  Đối với các cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật như Phòng Thí nghiệm Quốc gia và Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia, cần tập trung đánh giá khả năng ĐMST độc đáo, khả năng cạnh tranh đột phá khoa học quốc tế và khả năng đáp ứng nhu cầu lớn của quốc gia. Tập hợp các công trình đại diện được thông qua để đánh giá các công bố, và số lượng công trình đại diện cho mỗi chu kỳ đánh giá về nguyên tắc không vượt quá 20.  4. Đánh giá hiệu suất của các tổ chức nghiên cứu khoa học trung ương cần tập trung vào việc đánh giá hiệu suất trong việc hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu quốc gia, cũng như giá trị học thuật và tác động của kết quả.  Đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học và sáng chế – thử nghiệm trong lĩnh vực công nghệ, cần tập trung vào đánh giá hiệu suất trong việc chuyển đổi kết quả và hỗ trợ phát triển công nghiệp, và không sử dụng công bố làm cơ sở đánh giá chính và chỉ số đánh giá.  Đối với các tổ chức nghiên cứu phúc lợi xã hội, cần tập trung vào đánh giá hiệu quả của kết quả nghiên cứu phúc lợi công cộng và thực hiện các trách nhiệm xã hội, không sử dụng công bố làm cơ sở đánh giá và chỉ số đánh giá chính.  Đối với các viện nghiên cứu cơ bản, cần tập trung vào đánh giá trình độ của các kết quả đại diện, tác động học thuật quốc tế và đóng góp cho sự phát triển kinh tế, xã hội và các nhu cầu lớn của đất nước. Tập hợp các công trình đại diện được thông qua để đánh giá các công bố và số lượng công trình đại diện cho mỗi chu kỳ đánh giá về nguyên tắc không vượt quá 40.  5. Đánh giá giải thưởng KH&CN quốc gia về chất lượng và đóng góp của các kết quả nổi bật. Cần chú ý đến việc xem xét chất lượng, hiệu quả và tác động của các thành tựu KH&CN có liên quan, cũng như sự đóng góp của các cá nhân có liên quan.  Đối với Giải thưởng Khoa học Tự nhiên, cần tập trung vào đánh giá tính độc đáo, sự công nhận và giá trị khoa học của kết quả. Tập hợp các công trình đại diện được thông qua để đánh giá các công bố và số lượng công trình đại diện về nguyên tắc không được vượt quá 5.  Đối với Giải thưởng phát minh công nghệ và Giải thưởng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cần chú ý đến việc đánh giá sự ĐMST, tính tiên tiến, giá trị ứng dụng và lợi ích kinh tế xã hội của kết quả, bài báo không được sử dụng làm cơ sở đánh giá chính.  Các giải thưởng KH&CN cao nhất và giải thưởng hợp tác quốc tế cũng phải thực hiện theo các yêu cầu đánh giá phân loại.  6. Lựa chọn kế hoạch phát huy tài năng sáng tạo cần làm nổi bật tinh thần khoa học, khả năng và hiệu suất. Chú ý đến việc đánh giá đạo đức học thuật và mức độ hoạt động và ảnh hưởng trong lĩnh vực, tính độc đáo của kết quả nghiên cứu và sáng chế, ưu thế của việc chuyển đổi kết quả và sự đáp ứng của các dịch vụ KH&CN.  Đối với ĐMST KH&CN và tài năng kinh doanh, cần tập trung vào đánh giá tài năng kinh doanh lập doanh nghiệp để tạo việc làm, hàm lượng công nghệ công nghiệp và lợi ích kinh tế và xã hội, v.v.  Đối với các nhà lãnh đạo trẻ và trung niên về đổi mới KH&CN, cần tập trung vào đánh giá sự ĐMST và tác động học thuật của các thành tựu cốt lõi. Tập hợp các công trình đại diện được thông qua để đánh giá các công bố, và số lượng công trình đại diện về nguyên tắc không được vượt quá 5.  Đối với các nhóm ĐMST trong các lĩnh vực chủ chốt, cần tập trung vào đánh giá khả năng hợp tác và ĐMST của nhóm, cũng như tính phối hợp tổ chức và khả năng lãnh đạo của trưởng nhóm. Tập hợp các công trình đại diện được thông qua để đánh giá các công bố, và số lượng công trình đại diện về nguyên tắc không vượt quá 10.  Các kế hoạch tài năng KH&CN khác cũng sẽ thực hiện các yêu cầu để đánh giá phân loại.  7. Xây dựng và phát triển các Tạp chí khoa học chất lượng cao  Đẩy nhanh việc thực hiện Kế hoạch Hành động về Các tạp chí định kỳ KH&CN Trung Quốc, thúc đẩy xây dựng các tạp chí hàng đầu, bồi đắp cho các tạp chí chủ chốt và các tạp chí chuẩn, khuyến khích thành lập các tạp chí tiếng Anh cao cấp và nâng cao chất lượng các bài tóm tắt tiếng Anh cho các tạp chí Trung Quốc; Tạo lập chỉ mục cho “Khoa học đặc thù Trung Quốc có ảnh hưởng quốc tế”. Khuyến khích các bài báo được tài trợ tài chính công bố trên các tạp chí KH&CN chất lượng cao trong nước.  Cải thiện cơ chế cảnh báo sớm cho các tạp chí học thuật, thường xuyên công bố danh sách cảnh báo sớm các tạp chí học thuật trong nước và quốc tế, thực hiện theo dõi liên tục và điều chỉnh kịp thời. Lập danh sách đen các tạp chí học thuật với quản lý kém và danh tiếng học thuật và lợi ích kinh doanh kém.  8. Tăng cường quản lý chi phí xuất bản công bố  Thiết lập các biện pháp quản lý quỹ phù hợp với việc loại bỏ định hướng “Chỉ tính bài báo”, kiểm soát chặt chẽ phạm vi tài trợ công bố và quản lý chặt chẽ việc xuất bản các tài liệu.  Đối với các công trình đại diện và “ba dạng công bố chất lượng cao” được tạo ra trong khuôn khổ thực hiện các dự án của Kế hoạch KH&CN Quốc gia, chi phí xuất bản có thể được chi trả theo quy định của các quỹ đặc biệt cho các dự án của Kế hoạch KH&CN Quốc gia, các chi phí xuất bản khác không được phép. Đối với việc xuất bản một công bố với chi phí vượt quá 20.000 nhân dân tệ, cần phải được sự chấp thuận của Hội đồng học thuật của tổ chức của tác giả liên hệ hoặc tác giả đứng đầu về sự cần thiết phải xuất bản bài báo trước khi có thể được sử dụng quỹ đặc biệt của Dự án Kế hoạch KH&CN Quốc gia.  Đối với các bài báo công bố trên các tạp chí nằm trong “danh sách đen” và danh sách cảnh báo sớm, thì chi phí xuất bản không được chi từ quỹ đặc biệt của các dự án Kế hoạch KH&CN Quốc gia. Không được phép sử dụng các quỹ đặc biệt của các dự án Kế hoạch KH&CN Quốc gia để thưởng cho việc xuất bản các bài báo. Đối với những người vi phạm các quy định, các quỹ khen thưởng và quỹ cân đối dự án có liên quan sẽ bị thu hồi.  Trong quá trình đánh giá hiệu suất tổng thể của dự án, tổ chức quản lý dự án sẽ tăng cường kiểm tra việc công bố các bài báo được liệt kê trong quỹ đặc biệt cho các dự án Kế hoạch KH&CN Quốc gia.  Các trường đại học, viện nghiên cứu có liên quan, v.v. sẽ xem xét sự cần thiết của việc xuất bản công bố và sự liên quan với nghiên cứu dự án; đối với các công bố có liên quan đến an ninh và bí mật quốc gia, cần xem xét và tăng cường quản lý chặt chẽ. Không được gắn số lượng bài báo được công bố, các chỉ số ảnh hưởng của tạp chí, vv vào việc thưởng.  Theo khoahocphattrien.vn          Author                Quản trị        
__label__tiasang KH&CN Việt Nam: Trước hết cần một hệ thống  pháp luật đồng bộ      Kết thúc năm 2012 với những sự kiện đáng nhớ trong lĩnh vực quản lý KH&amp;CN mà điển hình là việc Nghị quyết TW6 khóa XI được ban hành – và trước ngưỡng cửa năm 2013, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân có cuộc trao đổi với Tia Sáng, qua đó chia sẻ tới bạn đọc những nhiệm vụ quan trọng phục vụ sự nghiệp phát triển, đổi mới đất nước đang chờ đợi những người làm công tác quản lý khoa học.    Nhìn lại một năm 2012 sắp qua, theo Bộ trưởng đâu là những sự kiện nổi bật nhất trong quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam mà ảnh hưởng sẽ tiếp tục nối dài trong giai đoạn tới?  Theo tôi, năm 2012 này có 3 sự kiện quan trọng có thể sẽ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài cho nền khoa học và công nghệ của Việt Nam. Thứ nhất là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cho giai đoạn từ nay đến năm 2020. Hai là việc ban hành Nghị quyết TW6 khóa XI về “Phát triển Khoa học và Công nghệ phục vụ CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, và ảnh hưởng của sự kiện này chắc sẽ còn kéo dài tới sau năm 2020. Và cuối cùng là việc trình Dự thảo Luật KH&CN sửa đổi tại Quốc hội để kỳ họp sau thông qua.    Hai trong ba sự kiện này có liên quan tới việc xây dựng những quy phạm mới trong quản lý khoa học và công nghệ. Vì sao việc xây dựng hệ thống pháp luật cho khoa học và công nghệ lại được coi trọng như vậy trong giai đoạn hiện nay?  Từ trước đến nay chúng ta đã nói rất nhiều rằng khoa học và công nghệ là then chốt, nền tảng, động lực và quốc sách, nhưng thực sự khoa học và công nghệ vẫn chưa đạt được những thành quả phát triển như mong muốn. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống luật pháp về khoa học và công nghệ không đồng bộ với hệ thống pháp luật chung của Nhà nước. Bởi vậy, Bộ KH&CN nhận thấy muốn hoạt động quản lý khoa học và công nghệ bài bản và hiệu quả hơn, thì trước khi nghĩ đến các việc cụ thể cần phải hoàn thiện toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động khoa học và công nghệ, từ văn bản có vai trò quan trọng nhất trong hệ thống chính trị là Nghị quyết TW Đảng đến các văn bản cấp cơ sở.   Chúng tôi đặt mục tiêu trong giai đoạn 2011-2015 việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy là công việc trọng tâm và sẽ tập trung trí tuệ, nguồn lực cho mục tiêu này. Đồng thời bên cạnh đó chuẩn bị nguồn lực và tài chính học tập kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các mô hình và cơ chế quản lý tiên tiến, đặc biệt là đổi mới cơ chế tài chính.  Như Bộ trưởng đã biết, Nghị quyết TW 2 khóa VIII [1996] đã có những chủ trương chuyển các tổ chức KH&CN sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập, nhưng vì sao cho đến nay chủ trương này vẫn chưa thành hiện thực?          Bất cập trong công tác lập kế hoạch ngân  sách nhà nước cho khoa học và công nghệ là vấn đề gây nhiều bức xúc nhất  cho các nhà khoa học. Từ nhiều năm nay, Bộ KH&CN phải phê duyệt  toàn bộ danh mục đề tài cấp nhà nước của năm sau trước ngày 31/7 hàng  năm để Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo Chính phủ và Quốc hội thông qua. Để  có thể phê duyệt toàn bộ đề tài dự án đúng theo hạn này thì Bộ  KH&CN phải khởi động từ cuối năm trước, thông báo với các bộ, ngành,  viện, trường, tập hợp các nhu cầu nghiên cứu, thành lập các hội đồng tư  vấn xác định nhiệm vụ. Sau khi công bố công khai danh mục nhiệm vụ  nghiên cứu trên các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà khoa học  mất vài tháng để xây dựng hồ sơ thuyết minh và dự toán kinh phí để tham  gia tuyển chọn (mà người ta thường gọi là đấu thầu). Tiếp theo, Bộ  KH&CN lại phải lập hàng trăm hội đồng tuyển chọn xét chọn, hội đồng  thẩm định kinh phí rồi mới phê duyệt danh mục đề tài và tổ chức cá nhân  trúng tuyển, gửi Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội phê  duyệt. Thông thường đầu năm sau Bộ Tài chính mới thông báo giao kinh phí  cho Bộ KH&CN. Như vậy từ khi nhà khoa học đề xuất đề tài nghiên cứu  cho đến lúc nhận được kinh phí tối thiểu là khoảng một năm rưỡi, có khi  tới hai năm rưỡi (như năm 2011, 2012). Đến lúc nhận được kinh phí nhiều  nhà khoa học đã chán nản vì dự toán kinh phí đề tài đã chênh nhiều với  thực tế, chưa kể trong hai năm ấy có khi đề tài tương tự của họ đã được  bộ, ngành nào khác triển khai mất rồi.         Để các tổ chức khoa học và công nghệ thực sự tự chủ thì họ phải được giao ba quyền cơ bản là tự chủ xác định nhiệm vụ, tự chủ về tổ chức và biên chế, và tự chủ về tài chính, trong đó quyền quan trọng nhất là tự chủ về tài chính, vì nếu thiếu quyền này thì các quyền tự chủ khác chỉ là hình thức. Nhưng vướng mắc lớn nhất trong thực hiện Nghị định 115 chính là vấn đề tự chủ về tài chính, vì trong suốt nhiều năm qua, hệ thống luật pháp của chúng ta về tài chính, quyền sử dụng đất không được điểu chỉnh sửa đổi cho phù hợp, và các tổ chức KH&CN vẫn không được giao tài sản và quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.  Từ khi Nghị định 115 được ban hành vào năm 2005, lẽ ra sau 4 năm các tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã phải chuyển hết sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, nhưng trong thực tế rất nhiều tổ chức không dám nhận “quyền tự chủ” này. Do không được thực sự tự chủ về tài chính, nên họ thấy khái niệm tự chủ thật ra vẫn mang tính hình thức, và không thể nào thực hiện được. Và vì vậy Chính phủ đã ban hành Nghị định 96/2010/NĐ-CP, cho phép kéo dài giai đoạn quá độ chuyển đổi đến hết năm 2013, và dự kiến từ năm 2014 các tổ chức khoa học và công nghệ công lập mới hoàn toàn áp dụng cơ chế tự chủ.  Sau Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Bộ KH&CN đã tiếp tục xây dựng Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhưng bản thân Nghị định này khi triển khai cũng gặp nhiều hạn chế. Phải chăng nguyên nhân cũng vì hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý của chúng ta chưa đồng bộ?  Đúng vậy. Có hai yếu tố cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp KH&CN là vốn và các điều kiện ưu đãi, nhưng hệ thống pháp luật của chúng ta không tạo điều kiện để họ có được những yếu tố cần thiết này. Nguồn vốn lớn nhất của các doanh nghiệp KH&CN chính là tài sản trí tuệ của các nhà khoa học, trong khi doanh nghiệp KH&CN lại thiếu vốn vật chất như đất đai, nhà xưởng, máy móc, vốn lưu động, v.v. Để có được những nguồn lực này họ cần được vay vốn, nhưng hệ thống tài chính tín dụng hiện nay không có cơ chế nào cho nhà khoa học tiếp cận vốn vay của các quỹ tín dụng, ngân hàng của Nhà nước hay ngân hàng cổ phẩn, kể cả Ngân hàng Phát triển Việt Nam vốn là Quỹ Đầu tư phát triển của Nhà nước trước đây.   Nhà khoa học không cần Nhà nước cho không vốn vì với các doanh nghiệp KH&CN có thực lực về công nghệ, việc hoàn lại vốn vay không phải là quá khó vì họ có năng suất lao động cao và giá trị gia tăng của sản phẩm rất lớn. Tuy nhiên, hệ thống tín dụng hiện nay đòi hỏi họ phải có tài sản thế chấp mới vay được vốn, mà các doanh nghiệp KH&CN do các tổ chức KH&CN công lập thành lập ra thì không có gì để thế chấp cả, do mọi tài sản, đất đai đều là của Nhà nước, mà họ lại không được giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng để có thể thế chấp. Ngoài ra, một vướng mắc điển hình nữa là các cơ quan chức năng ở cơ sở không phải lúc nào cũng thực hiện đúng quy định của Chính phủ, ví dụ Nghị định 80 của Chính phủ cho phép doanh nghiệp KH&CN được hưởng những ưu đãi cao nhất về thuế, nhưng trên thực tế doanh nghiệp không dễ gì nhận được những ưu đãi đó vì các cục thuế địa phương thường đòi hỏi quá nhiều thủ tục, và chúng ta vẫn chưa có chế tài cụ thể để khắc phục vấn đề này. Vì thế, có những doanh nghiệp nói rằng thà đóng thuế còn hơn làm thủ tục miễn thuế.  Vậy đâu là mấu chốt quan trọng nhất để có được một hệ thống cơ chế và các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ giúp cho hoạt động khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả?   Điểm mấu chốt là phải tập trung xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật xoay quanh ba vấn đề: làm thế nào để có nhiều tiền hơn cho hoạt động KH&CN (không chỉ giới hạn ở ngân sách Nhà nước), làm thế nào để tiêu được, và tiêu có hiệu quả số tiền đó. Để giải quyết các vấn đề này, chính là cần 3 trụ cột: đổi mới phương thức đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính, và có chính sách trọng dụng cán bộ khoa học.   Bộ trưởng có thể nói cụ thể hơn về vấn đề đổi mới phương thức đầu tư?   Việc đổi mới phương thức đầu tư sẽ được cụ thể hóa trong Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi). Đây là lần đầu tiên trong luật chúng ta khẳng định Nhà nước duy trì mức tối thiểu 2% ngân sách cho hoạt động KH&CN. Tuy nhiên, con số này quá nhỏ bé so với nhu cầu phát triển của KH&CN. Trên thế giới, ngân sách quốc gia thường chỉ đáp ứng 1/3, 1/4, thậm chí 1/10 tổng nhu cầu của hoạt động KH&CN, phần còn lại là đóng góp từ xã hội, mà chủ yếu là từ các doanh nghiệp.           Bất cập trong cấp phát kinh phí cho hoạt  động khoa học và công nghệ liên quan đến định mức chi, nội dung chi, và  thủ tục chi. Hệ thống định mức của chúng ta rất lạc hậu, 5-6 năm có khi  mới sửa đổi một lần trong khi thực tế cuộc sống thay đổi hằng ngày và  mức lương tối thiểu có thể thay đổi hằng năm, ví dụ như quy định cho  khách mời dự hội thảo khoa học 70.000 đ/1 buổi, trong khi thực tế đã  phải chi 200-300 nghìn đồng.               Nội dung chi cũng không đầy đủ, ví dụ  như không có nội dung thuê chuyên gia, mặc dù trong nhiều trường hợp,  việc cử nhiều đoàn đi nước ngoài để học về các vấn đề quản lý khoa học  và công nghệ không hiệu quả bằng thuê chuyên gia, chẳng hạn như mời cựu  giám đốc một khu công nghệ cao nào đó của quốc tế sang làm giám đốc một  khu công nghệ cao của Việt Nam, cách làm này sẽ hiệu quả và đỡ tốn kém  hơn rất nhiều so với việc cử hàng chục đoàn đi khảo sát các khu công  nghệ cao của nước ngoài.               Trong nội dung chi hiện hành cũng không có  hạng mục kinh phí cho các nhà khoa học tuyên truyền kết quả nghiên cứu  và đăng ký bảo hộ kết quả nghiên cứu của họ  dưới dạng công bố quốc tế  hoặc sáng chế, trong khi đăng ký sáng chế ở Việt Nam hay nước ngoài đều  phải có tiền, phí sáng chế rất đắt đỏ vì phải xét nghiệm để cấp bằng.  Mức phí này ở những quốc gia có uy tín về quản lý công nghệ, ví dụ như  Mỹ, lại càng cao.              Nội dung dự phòng trong đề tài cũng không có, trong  khi lạm phát các năm trước có khi lên tới mười mấy phần trăm khiến giá  cả thiết bị, nguyên vật liệu tăng vọt, làm dự toán trước đó hai năm hoàn  toàn không còn phù hợp. Việc điều chỉnh dự toán lại vô cùng phức tạp,  thường phải có ý kiến của Bộ Tài chính với những khoản điều chỉnh dưới 1  tỷ đồng, còn trên 1 tỷ đồng phải có ý kiến của Thủ tướng, và mất thời  gian nhiều tháng.              Thủ tục chi hiện nay cũng quá phức tạp. Đề tài được  chi kinh phí qua tài khoản dự toán của kho bạc, tức là phải kiểm soát  chi theo dự toán tại kho bạc. Mặc dù Bộ KH&CN và Bộ Tài chính đã  thống nhất ban hành thông tư 93 về phương thức khoán trong đó một số nội  dung chi cho con người được khoán, nhưng nhiều nơi kho bạc vẫn kiểm  soát chi một cách máy móc căn cứ theo dự toán. Chưa kể đề tài có thể làm  trong 3 năm – 5 năm theo hợp đồng KH&CN nhưng cuối năm đều phải  quyết toán để làm thủ tục chuyển nguồn, có khi giao kinh phí chậm chưa  kịp tiêu tiền đã phải quyết toán. Mua thiết bị thì phải đấu thầu, nghiệm  thu thiết bị xong mới được quyết toán, còn nếu ký hợp đồng rồi, tiền  chuyển đi rồi mà thiết bị chưa về, chưa nghiệm thu là nhà khoa học sẽ bị  coi là chi sai và không quyết toán được.         Xưa ta chưa làm nhưng theo luật sửa đổi sắp tới thì các doanh nghiệp Nhà nước bắt buộc phải trích một tỷ lệ tối thiểu nhất định từ lợi nhuận trước thuế do Chính phủ quy định (tùy theo quy mô, loại hình doanh nghiệp) để lập quỹ KH&CN của mình. Các đối tượng doanh nghiệp khác thì không bắt buộc nhưng được khuyến khích, và nếu số lượng kinh phí này nhỏ quá hoặc doanh nghiệp chưa có nhu cầu sử dụng ngay thì có thể đóng góp vào quỹ phát triển KH&CN của nhà nước ở địa phương để được hưởng các chính sách hỗ trợ sau này. Trước đây, khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được sửa đổi vào năm 2008, Bộ KH&CN đã đề xuất mức lợi nhuận trước thuế tối thiểu phải trích lập quỹ KH&CN là 10%, nhưng rất tiếc khi Luật này được Quốc hội ban hành thì lại quy định “các doanh nghiệp được trích tối đa 10%”, nên bốn năm qua hầu như không doanh nghiệp nào trích lập quỹ, vì “được” nghĩa là không bắt buộc, và mức trần 10% nghĩa là mức sàn có thể 0%. Ngoài ra, luật KH&CN sửa đổi lần này có điểm rất mới mà chúng tôi đã phải kiên trì thuyết phục, đó là việc Ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển khoa học và công nghệ.  Vì sao Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ ngoài Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển khoa học và công nghệ?  Lâu nay vẫn tồn tại quan điểm cũ cho rằng tiền ngân sách chỉ tài trợ cho tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước, nhưng chúng tôi cho rằng ngân sách Nhà nước là thuế, mà thuế là do toàn dân, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế đóng góp, vì vậy không thể chỉ giới hạn chi hỗ trợ cho cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, mà nên chi theo quan điểm đầu tư vào địa chỉ nào mà tiền ngân sách có hiệu quả nhất và đem lại lợi ích cao nhất cho xã hội, không phân biệt tư nhân, nhà nước.  Các doanh nghiệp của chúng ta đa phần là doanh nghiệp nhỏ, không đủ nguồn tài chính để hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa công nghệ, vì vậy họ rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước để phát huy được tiềm năng sáng tạo của mình. Chúng ta chắc chắn sẽ cần đến tiềm năng đổi mới sáng tạo và sự linh hoạt từ các doanh nghiệp ngoài Nhà nước để có thể thực hiện thành công chương trình sản phẩm quốc gia, nhưng họ sẽ không thể tham gia vào chương trình này nếu không được Nhà nước hỗ trợ đầu tư.   Vấn đề đổi mới cơ chế tài chính là đề tài được nhắc đến nhiều nhất hiện nay trong các cuộc thảo luận về đổi mới cơ chế, chính sách quản lý khoa học và công nghệ. Đâu là giải pháp mà Bộ Khoa học và Công nghệ coi là đột phá giúp giải quyết vấn đề này?  Những bất cập trong cơ chế tài chính hiện hành trong quản lý khoa học và công nghệ tập trung ở ba mảng lớn: Xây dựng kế hoạch Ngân sách Nhà nước hằng năm, cấp phát kinh phí, và thủ tục chi. Một giải pháp cơ bản và hữu hiệu cho cả ba mảng bất cập này mà Bộ KH&CN đề xuất trong luật cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác là áp dụng cơ chế quỹ KH&CN. Theo đó hằng năm theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính bố trí kinh phí cho các quỹ phát triển KH&CN các cấp để tài trợ cho những đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp tỉnh, tương tự như việc quỹ NAFOSTED lúc nào cũng có trong tài khoản hàng trăm tỷ. Các nhà khoa học có vấn đề cần nghiên cứu thì đến quỹ làm thủ tục theo quy định, hội đồng khoa học sẽ được quỹ thành lập để xem xét và phê duyệt. Như vậy thì tối đa trong vòng hai tháng là nhà khoa học có tiền để kịp thời tiến hành nghiên cứu. Các vấn đề về cấp phát kinh phí và thủ tục chi, thanh quyết toán cho hoạt động nghiên cứu từ quỹ cũng chắc chắn sẽ đơn giản hơn nhiều so với chi từ kho bạc.  Tuy nhiên, một cơ chế tài chính thông thoáng nếu không đi kèm với các hội đồng thẩm định chuyên môn nghiêm túc sẽ không giúp cải thiện hiệu quả nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, nhiều hội đồng khoa học hiện nay bị coi là làm việc dễ dãi, và bị chi phối bởi các “cây đa, cây đề”?      Hiện nay, phải thừa nhận một bất cập lớn là việc thành lập hội đồng khoa học thường không đảm bảo tính khách quan, minh bạch. Mặc dù quyết định thành lập hội đồng do Bộ ký nhưng thành phần hội đồng không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi quan điểm chủ quan của người được giao lập hội đồng. Thậm chí có nhà khoa học còn phàn nàn về tình trạng hội đồng có thể bị thao túng, những người cùng quan điểm thì được mời tham gia, trái ý thì lần sau không được mời nữa.   Đó là lý do tại sao Bộ KH&CN quyết định xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, làm căn cứ để việc mời thành viên tham gia hội đồng được tiến hành một cách khách quan và minh bạch. Khi có cơ sở dữ liệu này thì việc thành lập hội đồng không phải do một người quyết định nữa. Khi cần thành lập hội đồng xét duyệt một đề tài nào đó, chỉ cần nêu yêu cầu, bộ phận quản lý cơ sở dữ liệu nhập yêu cầu và cho ra một danh sách những người đáp ứng yêu cầu về lĩnh vực, trình độ, tuổi tác. Lúc đó chỉ còn việc chọn và trình ký thành lập hội đồng, không còn tình trạng ai đó được mời tham gia hội đồng thuần túy vì quan hệ cá nhân.      Chúng ta sẽ phải làm gì để xây dựng được một cơ sở dữ liệu chuyên gia khách quan và minh bạch như vậy?    Trước tiên chúng tôi sẽ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá các nhà khoa học, làm căn cứ để mời họ tham gia vào hệ thống dữ liệu chuyên gia, đồng thời cũng là căn cứ để đánh giá việc duy trì tư cách thành viên của họ. Hằng năm đều phải đánh giá, ví dụ nếu trong một vài năm một chuyên gia không nghiên cứu gì, không có các bài báo hay công bố quốc tế thì sẽ tự động bị loại ra khỏi hệ thống. Đồng thời phải có chế độ đãi ngộ cho chuyên gia, ngoài việc họ được quyền tham gia các hội đồng khoa học, có thể còn có phụ cấp trách nhiệm thường xuyên, được bồi dưỡng chuyên môn trong nước và nước ngoài, được tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành, được hỗ trợ kinh phí công bố kết quả nghiên cứu hoặc đăng ký sáng chế, được tôn vinh, khen thưởng…  Trong chuyến công tác vừa rồi tại Hàn Quốc, Bộ KH&CN đã được phía Hàn Quốc nhất trí hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia. Chúng tôi sẽ giao Trung tâm Tin học của Bộ chủ trì thực hiện nhiệm vụ này.  Vấn đề xây dựng một chế độ đãi ngộ xứng đáng cho các nhà khoa học mà Bộ trưởng đề cập trên đây cũng là điều mà giới khoa học mong mỏi. Tuy nhiên, vấn đề này không dễ dàng trong bối cảnh nguồn lực của quốc gia dành cho KH&CN nhìn chung còn hạn chế.  Với nguồn lực hạn hẹp hiện nay của Nhà nước, trước mắt chưa thể có những chính sách mang tính đại trà, mà trước hết sẽ nhằm vào ba đối tượng: các nhà khoa học đầu ngành, các nhà khoa học được giao chủ trì nhiệm vụ của quốc gia, và các nhà khoa học trẻ tài năng.  Ví dụ, với nhà khoa học đầu ngành, các ưu đãi sẽ là chế độ làm việc, như được ưu tiên giao đề tài nghiên cứu, giao nghiên cứu sinh để hướng dẫn, tự do trong hợp tác quốc tế, ưu tiên đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm, v.v.   Còn với các nhà khoa học làm nhiệm vụ quốc gia, họ cần được tự chủ về tài chính và nhân sự trong thời gian làm nhiệm vụ, có quyền điều động người và quyết định mức lương, thuê chuyên gia nước ngoài, chủ động hoàn toàn việc đi dự hội nghị quốc tế, được quyền sử dụng miễn phí các phòng thí nghiệm trọng điểm. Nhưng trách nhiệm của các nhà khoa học này cũng rất lớn, nhà nước đáp ứng các điều kiện làm việc nhưng bắt buộc họ phải có sản phẩm như cam kết, nếu không làm được thì “sẽ không có lần sau” cho họ tiếp tục chủ trì đề tài.    Nhưng không phải nhà khoa học nào có năng lực cũng thuộc ba đối tượng trên đây. Vậy chúng ta phải làm sao để họ vẫn có được những điều kiện thuận lợi cần thiết nhằm phát huy được chất xám của mình?  Giới làm khoa học Việt Nam đa phần không có cơ may được bù đắp xứng đáng cho chất xám họ đã bỏ ra, điển hình nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chẳng hạn như trường hợp TS Nguyễn Thị Xuân Thu (nay là Thứ trưởng Bộ NN&PTNT), cách đây 8 năm, khi còn là giám đốc Trung tâm Thủy sản 3 ở Nha Trang đã nhân giống thành công ốc hương. Trung tâm rất muốn giữ bí quyết công nghệ để kinh doanh, nhưng quan điểm của Bộ NN&PTNT là phải phục vụ nông dân, không bán công nghệ mà phải chuyển giao công nghệ miễn phí cho nông dân. Nông dân mười mấy tỉnh ven biển được lợi, nhưng Trung tâm thì không thu được gì ngoài tiền ngân sách nhà nước cho để làm đề tài. Tương tự như vậy, các nhà khoa học ở Viện Lúa ĐBSCL từ nhiều năm nay có rất nhiều đóng góp giúp nâng cao năng suất lúa nhưng cũng không được bù đắp xứng đáng.    Nếu Nhà nước tạo một cơ chế thiết thực hơn, ví dụ như có những quy định buộc các doanh nghiệp được hưởng lợi từ thành quả nghiên cứu phải dùng một phần lợi nhuận từ việc kinh doanh của mình đầu tư trở lại cho cơ sở nghiên cứu thì đó sẽ là nguồn lực đáng kể hỗ trợ cho các nhà khoa học. Giả sử các nhà khoa học ở Viện Lúa ĐBSCL được thu lại chỉ 1 USD cho mỗi tấn gạo xuất khẩu từ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo do họ cung cấp giống thì tổng số tiền họ thu được sẽ gấp nhiều lần kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp cho họ hằng năm.    Quỹ NAFOSTED được coi là một nguồn lực mới hỗ trợ khá hữu hiệu cho các nhà khoa học tiến hành các hoạt động nghiên cứu. Tuy nhiên, vai trò của Quỹ trong việc hỗ trợ các dự án ứng dụng công nghệ còn khá khiêm tốn. Sắp tới, Bộ KH&CN có kế hoạch gì để giúp Quỹ có thể phát huy tốt hơn vai trò này?    Chúng tôi mong muốn Quỹ NAFOSTED phát huy được cả ba chức năng hỗ trợ các dự án nghiên cứu là tài trợ, cho vay, và bảo lãnh tín dụng. Nhưng cho đến nay Quỹ chủ yếu mới thực hiện được chức năng tài trợ, mãi gần đây mới bắt đầu cho vay. Sắp tới chúng tôi sẽ xây dựng cơ chế để Quỹ gia tăng hoạt động cho vay, lấy lãi vay đó bù đắp chi phí quản lý, bảo toàn vốn và hỗ trợ việc tài trợ, đồng thời Quỹ cũng phải thực hiện được chức năng bảo lãnh để các nhà khoa học có thể vay vốn từ các ngân hàng thương mại cho hoạt động nghiên cứu. Các nhà khoa học có công nghệ tiềm năng và có khả năng thương mại hóa thực chất không cần Nhà nước cho không tiền, họ chỉ cần Nhà nước tạo điều kiện tiếp cận vốn vay.    Chương trình hợp tác giữa Bộ KH&CN và Viện KIST của Hàn Quốc nhằm xây dựng Viện V-KIST cũng được kỳ vọng là một mô hình quản lý có vai trò đột phá trong thúc đẩy phát triển ứng dụng KH&CN vào phát triển đất nước. Để mục tiêu này thành công, Bộ KH&CN sẽ có đề xuất cụ thể gì với Quốc hội và Chính phủ?  Xây dựng V-KIST tại Việt Nam là một vấn đề không đơn giản, để thành công chúng tôi cần được sự ủng hộ từ Nhà nước cũng như giới khoa học. Kinh nghiệm của Viện KIST thành công là nhờ 3 yếu tố : có luật riêng ưu đãi, có người lãnh đạo quốc gia đỡ đầu, có đội ngũ cán bộ khoa học giỏi. Theo mô hình đó, Quốc hội cần thông qua một nghị quyết riêng về V-KIST, coi đây là mô hình thí điểm, phải có luật riêng để không bị vướng mắc với các quy định hiện hành khác chưa phù hợp. Trước mắt V-KIST có thể cần được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, nhưng về lâu dài V-KIST sẽ tiến tới tự chủ và thậm chí không sử dụng ngân sách nhà nước khi nó trở thành một viện nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp. Cá nhân tôi cũng sẽ tham gia đi vận động tài trợ cho viện.   Xin cảm ơn Bộ trưởng!     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi khoa học trở thành công cụ tuyên truyền      Va chạm trên biển và xung đột lãnh thổ thường không liên quan nhiều đến khoa học. Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu và các tạp chí khoa học đang bị vướng vào những mâu thuẫn lãnh thổ kéo dài bấy lâu trên Biển Đông.&#160;    Đã xảy ra những cuộc đụng độ liên quan tới các tàu phục vụ nghiên cứu, trong khi người ta nói rằng chính phủ Trung Quốc sử dụng các công bố khoa học vào mục đích tuyên truyền cho tuyên bố chủ quyền của mình.  Tham vọng tăng cường khai thác biển của Trung Quốc không còn là điều gì bí mật. Kế hoạch năm năm lần thứ 12, từ 2011 tới 2015, được thông qua hồi tháng 3 vừa rồi, đã khẳng định tầm quan trọng của kinh tế biển. Hồi tháng 5, Báo cáo Phát triển Đại dương của Trung Quốc đã ước tính rằng các ngành kinh tế biển, bao gồm khoan dầu và khí ngoài khơi, đánh bắt cá, và đóng tàu, tới năm 2020 sẽ đem lại 5,3 nghìn tỷ NDT (830 tỷ USD). Tháng trước, Zhang Jixian, Viện trưởng Viện Thám hiểm và vẽ bản đồ Trung Quốc tuyên bố rằng quốc gia này sẽ tăng cường nỗ lực vẽ bản đồ cho cái gọi là “ba triệu kilomet vuông chủ quyền mặt nước”, một diện tích lớn hơn nhiều so với quan điểm các nước láng giềng liên quan. Dự án vẽ bản đồ này sẽ được hỗ trợ bởi vệ tinh vẽ bản đồ đầu tiên của Trung Quốc, dự kiến sẽ phóng vào tháng 12, và tàu ngầm Jiaolong, dự kiến sẽ đưa người xuống độ sâu đại dương 7.000 m (1) vào năm tới. Nếu cuộc lặn này thành công, Trung Quốc sẽ giành được từ tay đối thủ đáng gờm Nhật Bản kỷ lục thám hiểm đại dương ở mức sâu nhất.           Những xung đột liên quan tới biển Đông đã kéo dài vài thập kỷ, nhưng những báo cáo thăm dò trữ lượng dầu – ước tính có thể thu được từ 1,6 tỷ tới 21,3 tỷ thùng – và các nguồn tài nguyên khoáng sản càng làm tăng mối quan tâm quyền lợi từ các bên.         Các cuộc thám hiểm thường gắn liền với công tác nghiên cứu, và do vậy các nhà khoa học đột nhiên bị lôi vào ngay giữa tâm điểm xung đột. Hồi tháng 6, Việt Nam khẳng định tàu cá của Trung Quốc đã xung đột với tàu thám hiểm địa chấn của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Và ngày 25/09, Nhật Bản đã yêu cầu một tàu nghiên cứu của Trung Quốc rời khỏi khu vực đặc quyền kinh tế mà Nhật Bản khẳng định chủ quyền xung quanh quần đảo Senkaku.   Những tranh chấp được đưa vào cả những trang tạp chí khoa học. Giới quan sát cho rằng các nhà nghiên cứu Trung Quốc đang cố gắng biến vấn đề chủ quyền của đất nước mình thành chuyện đã rồi, bằng cách thường xuyên sử dụng các bản đồ trong đó vẽ ranh giới biển được mở rộng theo tuyên bố của Trung Quốc. Ví dụ, một bản đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước và nông nghiệp của Trung Quốc năm 2010, được công bố trên tạp chí Nature (2), đi kèm với một bản đồ trong đó thể hiện đa số Biển Đông là một phần của Trung Quốc.   Tháng trước, trong một bức thư được gửi qua internet tới Nature và các tạp chí khác, 57 nhà khoa học, kỹ sư, và các chuyên gia Việt Nam trên thế giới đã than phiền về việc sử dụng những bản đồ như vậy. Bức thư khẳng định rằng chính phủ Trung Quốc đang dùng các “chiến thuật cửa hậu”, và “sử dụng các tạp chí như một công cụ để hợp thức hóa một bản đồ phiến diện và thiên lệch” (“using your magazine/journal as a means to legitimize such [a] one-sided and biased map”). Một bản đồ xuất hiện trong một bản đánh giá điều tra dân số Trung Quốc công bố trên tạp chí Science (3) cũng gặp phải những chỉ trích tương tự. Tạp chí Science đã phản hồi những chỉ trích này bằng một thông điệp từ tòa soạn (4), trong đó khẳng định tạp chí “không đứng về phía nào đối với các tuyên bố chủ quyền”, nhưng sẽ “xem lại quy trình chấp thuận bản đồ, nhằm đảm bảo rằng trong tương lai tạp chí Science sẽ không bị coi là bênh vực hoặc đứng về một phía đối với các xung đột lãnh thổ/chủ quyền.”  Trong khi đó, Michael Oppenheimer, một nhà địa lý từ Đại học Princeton, đồng biên tập của tạp chí Climatic Change, đã nhận được nhiều thư điện tử kể từ hồi tháng 6 từ các nhà khoa học, phản đối một bản đồ Trung Quốc trong một số ra của tạp chí xuất bản từ hơn 4 năm trước(5). Bản đồ này vẽ một đường “lưỡi bò” thể hiện khẳng định chủ quyền Trung Quốc bao phủ một phần lớn Biển Đông. Các nhà khoa học từ Việt Nam, Phần Lan, Canada, và các nơi khác, đã yêu cầu sửa lại bản đồ này. Nhưng những cuộc tranh cãi mang đậm tính chính trị như vậy “không phải là vấn đề mà một tạp chí như của chúng tôi muốn dính líu đến”, Oppenheimer nói.          Một bản đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước và nông nghiệp của Trung Quốc năm 2010, được công bố trên tạp chí Nature, đi kèm với một bản đồ trong đó thể hiện đa số Biển Đông là một phần của Trung Quốc.           Các nhà khoa học Việt Nam khác mà tạp chí Nature liên lạc đến là những người bức xúc nhất về những trường hợp mà họ coi là sử dụng bản đồ đường lưỡi bò một cách vô cớ. “Người ta đưa vào bản đồ đường lưỡi bò ở Biển Đông kể cả khi khu vực này, và những quần đảo nằm trong nó, chẳng hề liên quan tới chủ đề nghiên cứu”, nhận định từ Q. Tuan Pham, một kỹ sư hóa học từ Đại học New South Wales, Sidney, Úc.  Hiện chưa rõ vì sao các nhà khoa học Trung Quốc đưa bản đồ gây tranh cãi vào các bài báo của họ. Sau khi nhận được các phản đối qua thư điện tử, Oppenheimer quyết định rằng bản đồ gây tranh cãi này không liên quan tới kết luận của bài báo khoa học, và đã liên hệ với chủ nhiệm đề tài, Xuemei Shao của Viện Khoa học Địa lý và Nghiên cứu Tài nguyên Thiên nhiên ở Bắc Kinh, đề nghị điều chỉnh. Nhưng Shao từ chối, và giải thích qua thư điện tử rằng hình biểu đồ trong bài báo là “theo yêu cầu từ chính phủ Trung Quốc”.  Jingyun Fang, một chuyên gia về biến đổi khí hậu ở Đại học Bắc Kinh, đồng tác giả trong một đánh giá trên Nature, nói rằng ông đưa bản đồ vào vì phải “tuân thủ luật của Trung Quốc yêu cầu gắn kèm những vùng biển này của Trung Quốc trong bản đồ”. Cả Fang và Shao, cũng như bốn tác giả của các bài báo khác từng đưa vào bài nghiên cứu của họ tấm bản đồ gây tranh cãi, đều không trả lời khi tạp chí Nature đề nghị cung cấp chi tiết những quy định này.   Cuối cùng thì cả Science, Nature, và Climatic Change, đều quyết định không gỡ bỏ các bản đồ gây tranh cãi. Nhưng Tuan Nguyen, một giáo sư dược của Viện Nghiên cứu Dược Garvan ở Sydney, người đã phê bình một cách độc lập tới các biên tập tạp chí về các bản đồ Biển Đông của Trung Quốc, cho rằng những bản đồ in trong các tạp chí chỉ nên được coi là dữ liệu khoa học và phải được xác minh trước khi công bố. “Việc công bố những bản đồ như vậy là lợi dụng khoa học”, ông nói.  Lược dịch theo Nature:   http://www.nature.com/news/2011/111019/full/478293a.html  •    Tài liệu tham chiếu  1.    Nature 476, 10-11 (2011).  2.    Piao, S. et al. Nature 467, 43-51 (2010).  3.    Peng, X. Science 333, 581-587 (2011).  4.    Bradford, M. Science 333, 1824 (2011).  5.    Liang, E. et al. Climatic Change 79, 403-432 (2006).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nhà khoa học hoạch định chính sách      Vấn đề tư vấn cho chính phủ trong về các chính sách và chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ở tầm quốc gia, các cơ quan tư vấn phải có một mối quan hệ như thế nào với chính quyền, “theo sau” hay “phản biện”? Và phải chăng cứ có được những bộ óc lỗi lạc là sẽ có được những đề xuất hợp lí? Có thể rút ra được nhiều bài học từ câu chuyện của nước Pháp.    “Từ những năm 1970, nước Pháp không còn có một chính sách có tầm chiến lược về nghiên cứu khoa học!”. Người ta có thể đặt cùng một lúc ở hai cơ sở nghiên cứu chỉ cách nhau chưa đầy hai chục kilomètre những cỗ máy trị giá hàng triệu euro với tính năng không khác gì nhau mà không có một chút băn khoăn nào. Nhà vật lý Serge Feneuille, Chủ tịch của Thượng Hội đồng về Khoa học và Công nghệ (HCST) của nước Pháp đã than thở như vậy. Có nhiệm vụ tư vấn cho Tổng thống nước cộng hòa về “những định hướng lớn có tầm quốc gia về chính sách (…) khoa học”, nhưng 18 tháng sau khi được thành lập, Hội đồng gồm toàn những nhà bác học xuất sắc này lại vô cùng khó khăn trong việc xác lập quyền lực của mình. Bằng chứng là trong bài diễn văn ở Orsay hôm 28/1, Tổng thống Nicolas Sarkozy vẫn cứ nhấn mạnh đến việc cần có vai trò của “một tổ chức công tập hợp ý kiến của những nhân cách khoa học lớn và có chức năng đưa ra những quyết định”.  Thời đại vàng  Công chúng cũng như giới nghiên cứu ở Pháp vẫn còn không mấy tường tận rằng nguồn gốc việc thành lập HCST chính là nỗi hoài nhớ về một thời đại vàng, thời hoàng kim của chủ thuyết De Gaulle khi mà nền khoa học xơ cứng đang thiu thiu ngủ của nước Pháp đã được đánh thức trong những năm 1960. Kỳ tích này được thực hiện bởi một cơ quan liên bộ, Tổng vụ phụ trách nghiên cứu khoa học và kỹ thuật (DGRST), được tư vấn bởi một ủy ban gồm “mười hai hiền giả”. Tất nhiên, đó là những tinh hoa của giới khoa học Pháp. Tài trợ dài hạn, hỗ trợ vật chất một cách ồ ạt cho những bộ môn mới như sinh học phân tử hay hải dương học, trao học bổng cho thanh niên, tài trợ cho các hội thảo…. mọi sử gia đều phải thừa nhận công lao to lớn của DGRST và đặc biệt của ủy ban mười hai hiền giả trong sự quật khởi của nền khoa học Pháp trong những năm 1960. Với nội các của Francois Mitterand, bắt đầu từ 1981, khoa học tiếp tục lại được coi là một lĩnh vực được ưu tiên về ngân sách sau một thời gian bị “thắt chặt” trong những năm 1970. Dẫu vậy, nhân vật chủ chốt về những chính sách khoa học trong thời kì này, Hubert Curien, Bộ trưởng Nghiên cứu và Công nghệ từ 1984 đến 1986, lại quay lưng lại với chủ thuyết vận hành xã hội tập trung kế hoạch hóa theo kiểu De Gaulle. Cũng phải nói thêm là chính ông này cũng là một thành viên của DGRST. Là người có công rất lớn trong chương trình tên lửa Arian và những chương trình không gian khác của Pháp, Hubert Curien có triết lý mà người đồng nghiệp của ông tại CNRS (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp), Serge Feneuille, đuơng kim chủ tịch của HCST, tóm tắt là “trao lại ‘dây cương’ dẫn dắt sự nghiệp khoa học cho các nhà khoa học”.  Đầu những năm 1990, nền khoa học Pháp khởi sắc. Tuy nhiên, ngay từ năm 1994, ông Francois Fillon, khi đó đang là Bộ trưởng Giáo dục đại học và Nghiên cứu khoa học, đã nhận thấy rằng ở Pháp thiếu vắng một cái nhìn có tính chiến lược ở tầm mức quốc gia về nghiên cứu khoa học trong khi đó, số lượng những nhân tố tham gia vào sự phát triển của khoa học càng ngày càng tăng lên và sự phát triển khoa học đòi hỏi một sự hợp tác càng ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn.  Ngày 25/9/2006, Thượng Hội đồng được đích thân Tổng thống nước cộng hòa long trọng tuyên bố thành lập. Thành phần của nó gồm các nhà nghiên cứu thuộc đủ mọi lĩnh vực : 4 nhà nghiên cứu y học, 3 nhà vật lý, 2 nhà hóa học, 2 nhà toán học, 1 nhà nghiên cứu khí hậu, 1 nhà nghiên cứu luật pháp, 1 triết gia, 1 nhà nhân học, 1 nhà xã hội học, 1 sử gia,  1 chuyên gia nghiên cứu văn chương và 1 nhà nghiên cứu sinh học…. Không một lĩnh vực nào bị bỏ sót và tất cả thành viên đều là những nhân vật danh giá (giải Nobel, giải Fields, bốn Mề đay vàng của CNRS). Dẫu vậy, thành phần này lại chưa có được một sự cân bằng hoàn hảo : 18 thành viên của nó là đại diện của giới đại học (trong đó có 7 người của Pháp quốc học viện – Collège de France) và những tổ chức công nghiên cứu khoa học trong khi đó chỉ có hai thành viên là đại diện của giới công nghiệp.  Bộ trưởng đặc trách nghiên cứu khoa học sẽ chỉ có chức năng đảm bảo những hỗ trợ về kĩ thuật cho thiết chế HCST. Tổ chức này chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng thống nước cộng hòa. Đảm bảo cho cơ quan này một sự hiện diện đẹp đẽ trước công chúng, chính quyền dành cho nó một trụ sở tuyệt đẹp ở Thủ đô. Dẫu vậy, lời đề nghị bị các thành viên của HCST từ chối một cách lịch sự theo kiểu “các nhà khoa học thì có mấy khi ngồi ở bàn giấy”. Các thành viên của HCST vẫn duy trì các hoạt động nghiên cứu khoa học của mình song song với các hoạt động tại HCST. Và thế là cơ quan Thượng hội đồng “dọn nhà” sang trụ sở của Bộ Nghiên cứu khoa học. (chi tiết này đáng để những nhà khoa học và các cơ quan quản lí ở Việt Nam suy ngẫm).  Kém hiệu quả  Sau khi được thành lập, HCST đã nhận được “đơn đặt hàng” từ Tổng thống Jacques Chirac: nhanh chóng tư vấn cho chính phủ về các chính sách về năng lượng, những trang thiết bị đòi hỏi vốn đầu tư lớn phục vụ các họat động khoa học, đặc biệt là tính toán cũng như đối phó với tình trạng thanh niên thờ ơ với nghiên cứu khoa học.  Với nhịp độ một phiên họp hàng tháng, mỗi phiên có sự tham gia trung bình là của 15 thành viên, HCST tiến hành công việc với hai công cụ chính: những buổi thuyết trình và những tổng hợp thư mục được hỗ trợ bởi các bài tóm tắt do … các sinh viên trường Sciences-Po (Trường Khoa học Chính trị, một “trường lớn” danh giá của Pháp)! Thế nhưng trong báo cáo đệ trình lên Tổng thống Pháp Jacques Chirac tháng 4/2007, không có bất cứ một dấu vết nào của những hoạt động cũng như tài liệu này. Theo bình luận của ông chủ tịch  HCST thì “những ý kiến đó được tập hợp thành những văn bản súc tích, gay gắt, được soạn thảo để trình bày trực tiếp với Tổng thống trong vòng hai chục phút đồng hồ”. Ngắn gọn thì đương nhiên là như vậy: báo cáo dài khoảng 6,7 trang, liệt kê những khó khăn và đề ra những giải pháp. “Gay gắt”, trái lại, thì chưa hẳn. Về chính sách năng lượng, HCST đưa ra các giải pháp như là duy trì điện hạt nhân ở chất lượng cao, làm việc về tính hữu hiệu (trong sử dụng) năng lượng,…. tất cả được đưa vào trong khuôn khổ của một “chương trình lớn quy mô quốc gia về năng lượng” bao quát tất cả những nhân tố quyết định vấn đề năng lượng. Không một con số, không một dẫn chứng, không một dòng nào đề cập đến vấn đề giảm lượng khí ga gây hiệu ứng nhà kính từ nay đến năm 2050 được đưa ra để chống đỡ cho những đề xuất. Nếu so sánh với báo cáo do Trung tâm phân tích chiến lược đệ trình lên Thủ tướng 5 tháng sau đó về cùng một đề tài thì rõ ràng, phần bất lợi thuộc về báo cáo của HCST.  Kiến nghị của HCST về chuyện thanh niên thờ ơ với nghiên cứu khoa học cũng rơi vào tình trạng bất lợi hơn nữa khi mà đã từng có hàng loạt báo cáo về vấn đề này do những đơn vị khác thực hiện. Vẫn chỉ là những giải pháp không có gì đặc sắc: cải thiện hình ảnh của khoa học trong xã hội, thúc đẩy đưa giáo dục phương pháp thực nghiệm vào bậc tiểu học, xem xét lại hệ thống định hướng ở bậc trung học…  Cả hai bản kiến nghị đầu tiên của HCST đều không có mốc thời gian cụ thể cho những bước của lộ trình giải quyết. Rõ ràng rằng vào thời điểm khi mà nó được đệ trình lên Tổng thống Jacques Chirac vào tháng 4/2007 (nghĩa là khi ông sắp hết nhiệm kì) chắc chắn những kiến nghị của nó không chắc gì được vận dụng!  Ý kiến bị lui lại  Việc Tổng thống Nicolas Sarkozy lên nắm quyền là một cơ hội tốt để HCST dành được một vị thế trong quá trình hoạch định chính sách về khoa học của chính phủ Pháp. Cuộc gặp gỡ đầu tiên của Tổng thống mới và HCST sẽ xoay quanh chủ đề cải cách hệ thống đại học Pháp, một chủ đề do chính HCST tự lựa chọn.  Tư tưởng chung của bản kiến nghị cải cách lần này là trao quyền tự chủ thực sự cho các trường đại học, bãi bỏ việc nhà nước ấn định số lượng sinh viên của đại học, thay bằng một cơ chế “đánh giá hậu nghiệm”, phát triển “những nguồn tài chính mới” mà một phần đến từ nguồn “đóng góp một cách phải chăng của sinh viên”, những người mà, đổi lại, sẽ được đánh giá các giảng viên. Rõ ràng là một đề nghị quyết liệt, chặt chẽ và mạch lạc, thu nhận ý tưởng của nhiều sáng kiến trước đó, từ việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu của nước Pháp quanh những đại học nghiên cứu xuất sắc hoặc những ý tưởng của hiệp hội Chất lượng khoa học Pháp do Antoine Compagnon, một thành viên của HCST làm chủ tịch.  HCST dự tính chọn đúng thời điểm để đệ trình bản kiến nghị của mình về đổi mới đại học. Nó được đưa lên Tổng thống vào tháng 7/2008 khi mà dự luật Pécresse về tự trị đại học được đưa ra tranh luận trước quốc hội. Một vài đề xuất của HCST về vai trò của những hội đồng khác nhau trong việc lãnh đạo đại học xung đột với văn bản của Bộ giáo dục trao quyền lực đáng kể cho Chủ tịch hội đồng nhà trường. Trong khi đó, những luận điểm của HCST biện hộ cho việc tăng học phí lại có thể làm cho các nghiệp đoàn sinh viên nổi giận. Do cậy HCST quyết định lui thời điểm đệ trình bản kiến nghị của mình. “Vai trò của chúng tôi là giúp đỡ chính phủ, chứ không phải là làm cho mọi việc rối thêm”, ông chủ tịch của tổ chức này giải thích.  HCST không có bất cứ một “đòn bẩy” nào để đưa những đề xuất của mình vào thực tiễn. Công cụ duy nhất của tổ chức này chỉ là đệ trình trực tiếp ý kiến của mình lên Tổng thống. Thế nhưng, đáng buồn thay, được thành lập dưới thời Jacques Chirac, Hội đồng cao cấp này có vẻ như không được tín nhiệm dưới thời ông Nicolas Sarkozy. “HCST cần phải là một tấm gương cho các hoạt động của chính phủ về các chính sách khoa học”. Một thành viên của HCST tin như vậy. Thế nhưng liệu chính phủ Pháp hiện nay có còn muốn soi vào tấm gương đó?  L.X.H (Lược dịch, theo La Recherche, số 417, tháng 3.2008).  Hội đồng cao cấp về nghiên cứu và công nghệ (CSRT).  Là một thiết chế khác có vai trò tư vấn cho Bộ trưởng Bộ đặc trách nghiên cứu khoa học về các quyết sách quốc gia về khoa học và công nghệ. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tổ chức này có vai trò tương tự như là Hội đồng kinh tế và xã hội trực thuộc chính phủ: một thiết chế tư vấn tập hợp những sức mạnh quan trọng nhất của quốc gia. 44 thành viên của tổ chức này được chia thành hai nhóm có tỉ lệ tương đương nhau. Một bên là các nhà khoa học do chính phủ chỉ định trực tiếp hoặc do các cơ quan nghiên cứu đề xuất (CNRS, Viện hàn lâm khoa học, AERES – Cơ quan quốc gia phụ trách đánh giá giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học…) và bên kia là những nhân vật đại diện cho giới lao động, các lĩnh vực sản xuất, xã hội, văn hóa và địa phương như là những đối tác xã hội truyền thống (5 liên hiệp nghiệp đòan và 3 tổ chức của giới chủ) cũng như những cá nhân được chỉ định khác. Tổ chức này có vai trò cho ý kiến về các dự án luật do Bộ đặc trách giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học soạn thảo, về các hoạt động của Bộ này cũng như về các vấn đề ngân sách.  Cứ mỗi lần kết thúc một nhiệm kì 3 năm, chính phủ hiện hành lại ấn định ý chí của mình lên tổ chức này thông qua công cụ chỉ định nhân sự : Hội đồng hiện nay, được thành lập năm 2005, đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ số lượng thành viên xuất thân từ các doanh nghiệp trong khi đó, hội đồng được chỉ định bởi các chính phủ cánh tả thì ưu tiên cho tiếng nói của giới hàn lâm. “Mang màu sắc chính trị đậm nét, CSRT chỉ hữu dụng khi nó đồng hành với các chính sách của chính phủ. Đó chính là lí do khiến cho mọi ý kiến của tổ chức này đều bắt đầu bằng công thức “vui lòng” khi thấy dự án được đệ trình trước khi đưa ra vài gợi ý và hy vọng rằng nó sẽ được lưu tâm”, một thành viên của Hội đồng đã đùa như vậy. Valérie Pécresse, Bộ trưởng đặc trách giáo dục và nghiên cứu khoa học hiện nay dự định sẽ tăng thêm tiếng nói của các tập đoàn kinh tế lớn trong tổ chức này. Dẫu vậy, bà Bộ trưởng vẫn thấy e dè trước những dự án “nóng” của Hội đồng như chính sách liên quan đến Cơ quan quốc gia về nghiên cứu khoa học (ANR) hay việc đưa các Trường Đại học và CNRS xích lại gần nhau.  Trẻ hóa Hàn lâm viện.  Viện Hàn lâm khoa học là ngôi đền tĩnh lặng của các vinh quang quá khứ? Có lẽ đó không còn là hình ảnh ngày nay của Viện hàn lâm khoa học Pháp. Cuối năm 1990, một cuộc cải cách do nhà toán học Jacques-Louis Lions và nhà hóa  học Gui Ourisson, những người lãnh đạo Viện hàn lâm khoa học đã làm công việc “phủi bụi” thiết chế này. Được chấp thuận năm 2002, những quy chế mới của Viện hàn lâm chứa đựng những đổi mới then chốt: thúc đẩy việc làm mới hàng năm thành phần của các viện sĩ với  một nửa số người có giới hạn tuổi dưới 55; loại trừ những người có tuổi đời trên 75 khỏi con số tính toán số lượng viện sĩ và đồng thời tăng gấp đôi số viện sĩ lên 250 người. Kết quả là một sự thay đổi quan trọng và sâu sắc trong thành phần thiết chế khoa học lâu đời của nước Pháp với 80% số viện sĩ vẫn đang hoạt động nghiên cứu khoa học. “Ngày nay Viện hàn lâm khoa học có thể được coi là đại diện cho tinh hoa của giới khoa học Pháp dẫu chúng tôi vẫn biết rằng một số nhà khoa học lẽ ra phải có ghế ở đây nhưng đã phải ở ngoài chỉ vì một giới hạn quá thấp số lượng thành viên nếu so với Hàn lâm viện của Anh”, nhà sinh vật học Jules Hoffman giải thích. Dưới sự lãnh đạo của ông, Viện Hàn lâm đã trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận về các vấn đề khoa học, đặc biệt là với các phiên công khai hàng tuần. Viện hàn lâm cũng giữ vai trò trung gian trong các bất đồng giữa chính phủ và giới khoa học. Ngày nay, các Bộ cũng bắt đầu có thói quen tham khảo ý kiến của Viện hàn lâm. Dẫu vậy, những báo cáo và những ấn phẩm khoa học của Viện Hàn lâm vẫn còn chưa thực sự được phổ biến ở Pháp.  Nicolas Chevassusau Louis      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi nước Mỹ cần một sự kiện Sputnik mới      Không giống như sự kiện Sputnik, thách thức  mà nền khoa học Mỹ hiện đang đối diện đến một cách âm thầm, không báo  trước. Như Shirley Jackson, cựu chủ tịch Hội Phát triển Khoa học Mỹ và  chủ tịch Viện Rensselaer Polytechnic từng nói, nước Mỹ đang đối diện một  “cuộc khủng hoảng thầm lặng”    Ngày 04 tháng 10 năm 1957, Liên Xô phóng  thành công vệ tinh Sputnik I vào không gian, gây ra một cơn chấn động  trên toàn thế giới – trong đó tác động mạnh mẽ nhất tới nước Mỹ, như lời  khẳng định rằng quốc gia này đang đi sau đối thủ trong cuộc chạy đua  vào không gian. Trên khắp nước Mỹ, người ta ám ảnh rằng nền khoa học và  công nghệ của đất nước đã mất đi ưu thế vượt trội.   Giữa bối cảnh căng thẳng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, họ cảm thấy trên bầu trời dường như đang có con mắt theo dõi xuống nước Mỹ, thậm chí có thể sẵn sàng phóng xuống những trái bom từ ngoài không gian, trong khi năng lực khoa học và công nghệ của Mỹ hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ ngăn chặn, phòng vệ những hiểm họa này.    Chưa từng có sự kiện lịch sử nào khiến người Mỹ quan tâm đến thế tới tầm quan trọng của chính sách khoa học, công nghệ, và giáo dục trong việc duy trì ưu thế công nghệ và quân sự của quốc gia trên thế giới. Năm 1958 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử chính sách khoa học của Mỹ, với một loạt các động thái nhằm tăng cường nền tảng khoa học và công nghệ quốc gia. Chỉ hơn một tháng sau sự kiện Sputnik, Tổng thống Eisenhower bổ nhiệm James R. Killian, Chủ tịch Đại học MIT, làm cố vấn đặc biệt về khoa học và công nghệ, thể hiện một sự thăng tiến vị thế của khoa học trong chính sách của Chính phủ Mỹ. Sau này Killian hồi tưởng lại: “[trong lịch sử nước Mỹ] chỉ khi Tổng thống Jefferson tự làm cố vấn cho bản thân mình về khoa học, hay khi Vannevar Bush làm cố vấn cho Franklin Roosevelt trong Thế chiến thứ II, khoa học mới thực sự có tầm ảnh hưởng tới những hội đồng hàng đầu của chính phủ”1. Cũng trong năm 1958, dư chấn từ sự kiện Sputnik đã khiến Luật Không gian được ra đời, dẫn tới sự thành lập Cơ quan Hàng không và không gian Quốc gia (NASA) với nhiệm vụ thực hiện các chương trình không gian và phát triển nghiên cứu hàng không – không gian mang tính dài hạn vì những mục tiêu dân sự và quân sự. Cũng trong năm đó, Quốc hội thông qua Luật Giáo dục Quốc phòng Quốc gia, nhằm khuyến khích các thế hệ sinh viên trẻ theo đuổi các ngành khoa học và kỹ thuật. Cuối cùng, phải kể đến việc Tổng thống Eisenhower lập ra Cơ quan Các dự án Nghiên cứu Cao cấp (ARPA, nay được gọi là DARPA) – trong Bộ Quốc phòng. ARPA có nghĩa vụ ngăn ngừa những tình thế bất ngờ về công nghệ như vụ Sputnik, và có trách nhiệm phát triển các ý tưởng nghiên cứu sáng tạo có tính rủi ro cao nhưng giàu tiềm năng về công nghệ.  Nguồn ngân sách dành cho các cơ quan khoa học đã hiện hữu – như các cơ quan nghiên cứu của hải quân, lục quân, không quân, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (tiền thân của Bộ Năng lượng Mỹ ngày nay), Viện Y tế quốc gia, v.v – cũng tăng mạnh trong các năm sau sự kiện Sputnik. Đồng thời, các chính sách và hoạt động KH&CN được đẩy mạnh kích thích phát triển một hệ thống mới các trường đại học và phòng thí nghiệm quốc gia, nơi nuôi dưỡng tốc độ tăng trưởng chưa từng thấy trong hoạt động và kết quả nghiên cứu.   Sự chuyển đổi trọng tâm ưu tiên  Trong thập kỷ 1960, khoa học là trọng tâm trong số các mục tiêu phát triển của Mỹ, cụ thể là tham vọng đưa người lên Mặt trăng. Tới thập kỷ 1970, 1980, nước Mỹ tiếp tục hướng đến khoa học, tìm kiếm những giải pháp cho khủng hoảng năng lượng và nhu cầu quốc phòng trong Chiến tranh Lạnh. Tới đầu thập kỷ 1990, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các tổ chức khoa học Mỹ chuyển sự chú ý sang phục vụ nhu cầu của dân số đang ngày càng già đi, tìm kiếm những liệu pháp cho các căn bệnh căn bản, thể hiện qua ngân sách gia tăng cho nghiên cứu ở Viện Y tế Quốc gia.  Ngày nay, các nhà khoa học và nhiều giới lo ngại rằng mối quan tâm của Nhà nước và công chúng đối với các chính sách khoa học đang giảm đi, mặc dù khoa học và đổi mới sáng tạo ngày càng trở nên quan trọng đối với nền kinh tế và an ninh quốc gia. Có quan điểm cho rằng vị thế dẫn đầu trên toàn cầu của Mỹ trong khoa học đang lâm nguy do bị xao lãng và thiếu sự quan tâm. Những lo lắng cho tiền đồ phát triển KH&CN ở Mỹ xuất phát từ nhiều góc độ, như e ngại rằng vụ tấn công 11 tháng 9 năm 2001 khiến nước Mỹ thắt chặt chính sách an ninh, gây khó khăn cho việc di trú và trao đổi phát triển ý tưởng trong giới học thuật, tới những quan ngại về sự thiếu quan tâm của Nhà nước tới giáo dục khoa học và toán ở các trường học.  Để nước Mỹ tiếp tục chiếm lĩnh ưu thế vượt trội trong nền kinh tế tri thức của thế kỷ 21, nền khoa học và công nghệ của quốc gia này sẽ cần được tăng cường quan tâm từ cả Nhà nước và xã hội. Hạ Nghị sĩ Vernon Ehler, vị tiến sỹ vật lý đầu tiên được bầu vào Quốc hội, từng đặt câu hỏi: “Sputnick nay đang ở đâu khi chúng ta cần đến nó?”2 Cùng quan điểm này, nhiều nhân vật trọng yếu khác của nước Mỹ, trong đó có cả Bill Gates3, cho rằng nước Mỹ cần một sự kiện Sputnik thứ hai để xốc dậy tinh thần khoa học và thúc đẩy những chính sách và cam kết cho khoa học mang tính lâu dài.  Thách thức thầm lặng trước mắt nền khoa học Mỹ  Không giống như sự kiện Sputnik, thách thức mà nền khoa học Mỹ hiện đang đối diện đến một cách âm thầm, không báo trước. Như Shirley Jackson, cựu chủ tịch Hội Phát triển Khoa học Mỹ và chủ tịch Viện Rensselaer Polytechnic từng nói, nước Mỹ đang đối diện một “cuộc khủng hoảng thầm lặng”4. Trong một sự kiện do Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tổ chức tháng 2 năm 2005, nơi các lãnh đạo trong giới doanh nghiệp và học thuật cùng trình bày những lo ngại về sự gia tăng cạnh tranh từ các nước châu Á mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ làm suy giảm ưu thế KH&CN của Mỹ, ông Craig Barrett, CEO của Intel phát biểu: “đây là một cuộc khủng hoảng thầm lặng mà người Mỹ đang không thức tỉnh kịp thời. Nó không giống như một sự kiện kiểu Sputnik hay một cơn sóng thần”5. Nhà kinh tế Thomas L. Friedman, cây viết của tờ New York Times cho rằng đây là cuộc khủng hoảng làm “suy thoái nền tảng khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ”6.   Có nhiều lý do để người Mỹ phải lo lắng. Học sinh của họ không đạt kết quả cao tại những cuộc thi quốc tế trong lĩnh vực toán và khoa học. Nhiều ngành công nghiệp đang mất vị thế dẫn đầu truyền thống vào tay các đối thủ quốc tế. Ngày càng nhiều công ăn việc làm bị chuyển ra nước ngoài. Các tiến bộ khoa học quan trọng đang được tiến hành bên ngoài nước Mỹ, trong khi các nước khác ngày càng chú trọng đầu tư cho những chương trình nghiên cứu khoa học. Ngày càng nhiều sinh viên giỏi từ khắp thế giới chọn những trường đại học là đối thủ của các trường ở Mỹ. Trong khi đó, bản thân nước Mỹ vẫn đứng trước những thách thức KH&CN không nhỏ, như vấn đề lệ thuộc vào dầu mỏ của nước ngoài, những vấn đề cơ bản về bệnh dịch toàn cầu, và phòng vệ trước nguy cơ tấn công sinh học từ bên ngoài.         Những lĩnh vực được chú trọng trong chiến lược phát triển khoa học Mỹ                Trước chiến tranh thế giới thứ II, nước Mỹ chưa có một chiến lược rõ ràng dành cho phát triển khoa học. Tới cuối Chiến tranh, Tổng thống Rooservelt đã yêu cầu Vannevar Bush, một kỹ sư kiêm nhà sáng chế và là cố vấn trưởng về khoa học của Tổng thống, xây dựng những đề xuất về sứ mệnh của khoa học cho tương lai quốc gia. Thực hiện yêu cầu này, Bush làm một báo cáo tựa đề Khoa học – Biên giới vô tận, được hoàn thành và trình Tổng thống Harry Truman vào ngày 25/7/1945. Trong đó, Bush đề xuất Chính phủ Mỹ tập trung hỗ trợ cho khoa học trên ba lĩnh vực chính: an ninh quốc gia, y tế, và kinh tế7. Kể từ đó, chính sách khoa học Mỹ tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên này.              Sau chiến tranh thế giới thứ II, khi Chính phủ Mỹ bắt đầu chính thức cấp những khoản kinh phí lớn cho nghiên cứu khoa học, đã xuất hiện nhiều tranh luận về việc liệu có nên trợ cấp cho các ngành khoa học xã hội. Phe có quan điểm loại trừ khoa học xã hội dành thắng thế trong giai đoạn đầu, hệ quả là khi Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) được thành lập năm 1950, các ngành khoa học xã hội không được tính tới. Phải tới 4 thập kỷ sau, vào năm 1991 NSF mới thành lập ban phụ trách các ngành khoa học xã hội, hành vi, và kinh tế học. Ngày nay, NSF không phải là cơ quan duy nhất cấp kinh phí cho các ngành khoa học xã hội. Viện Y tế Quốc gia và Bộ Quốc phòng là những cơ quan tài trợ rất nhiều cho các dự án nghiên cứu xã hội và hành vi con người, trong khi Bộ Năng lượng dành nhiều kinh phí cho các đề tài nghiên cứu kinh tế học.               Tuy nhiên, vẫn còn quan điểm cho rằng các ngành khoa học xã hội – khoa học chính trị, kinh tế học, xã hội học, và tâm lý học – là các ngành khoa học ‘mềm’, còn các ngành khoa học tự nhiên – vật lý, hóa học, sinh học, địa lý học – là các ngành khoa học ‘cứng’. Sự phân biệt này không nhằm so sánh về tài năng, trí tuệ, hay tính khoa học giữa các lĩnh vực, mà nhằm phản ánh mức độ dễ dàng đưa ra kết quả dự đoán, phân tích hiện tượng từ các yếu tố cấu thành, và tái thực hiện các thí nghiệm thực chứng. Mặc dù những tiến bộ trong khoa học tính toán và mô hình toán học đã cho phép các nhà khoa học xã hội đưa ra những dự đoán đáng tin cậy hơn trước đây, và tính khác biệt về phương pháp luận giữa các ngành khoa học xã hội và tự nhiên ngày càng hẹp lại, nhưng các ngành khoa học xã hội vẫn thường bị công kích bởi một số nhà làm chính sách là không hoàn toàn xứng đáng với sự hỗ trợ của Nhà nước.           Thanh Xuân tổng hợp từ cuốn sách Hậu Sputnik: Chính sách khoa học Mỹ trong thế kỷ 21 (Beyond Sputnik: US Science Policy in the 21st Century) của Homer A. Neal, Tobin L. Smith, và Jennifer B. McCormick   —-  1 James R. Killian Jr., Sputnik, các nhà khoa học, và Eisenhower: Hồi ký Cố vấn Đặc biệt thứ nhất của Tổng thống về Khoa học và Công nghệ  (Cambridge: MIT Press, 1977), xv.    2 Rep. Vern Ehlers (R-MI) phát biểu tại hội thảo “Những thách thức đổi mới sáng tạo trong Thế kỷ 21” (“Challenges to Innova-tion in the 21st Century”) tổ chức tại Đại học Yale ngày 3/5/2002, http://entity.eng.yale.edu/150yrs/ehlers.ppt (accessed April 30, 2007). Xem thêm Steve Lilienthal, “Where Is Sputnik When We Need It?” Accuracy in the Media,  6/4/ 2006, http://www.aim.org/guest_column/A4476_0_6_0_C/ (accessed April 30, 2007).  3 Todd Bishop, “Gates: Giáo dục Công nghệ Thông tin có lẽ cần ‘một khoảnh khắc Sputnik’” (“Gates: Computer Science Education May Need Its Own ‘Sputnik Moment,’” Seattle Post-Intelligencer Reporter, 3/82004.  4 Shirley A. Jackson, “Cuộc khủng hoảng thầm lặng và tương lai sức cạnh tranh của Mỹ” (“The Quiet Crisis and the Future of American Competitiveness”), Presidential Symposium, Ameri-can Chemical Society Fall National Meeting, Washington, DC, 29/8/2005.  5 Andy Sullivan, “Các nhà lập pháp và doanh nghiệp kêu gọi tăng kinh phí cho R&D (“Lawmakers, Businesses Call for More R&D Funding”) Reuters, 16/2/2005  6 Thomas L. Friedman, Thế giới Phẳng: Tóm lược lịch sử Thế kỷ 21 (The World Is Flat: A Brief His-tory of the Twenty-First Century), New York: Farrar, Straus và   Giroux, 2005, trang 253.  7 Bush,  Khoa học—Biên giới vô tận (Science – the Endless Frontier);  xem thêm báo cáo  House Committee  on  Science,  Unlocking  Our  Future:  Towards a  New  National  Science  Policy,  105th  Cong.,  Tháng 9, 1998, Committee Print 105-B, 9, http://www.access.gpo.gov/congress/house/science/cp105-b/science105b.pdf     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi Tổng thống là nhà nghiên cứu khoa học      Viện khoa học Weizmann là một trong những tổ  chức hàng đầu thế giới về nghiên cứu và sáng tạo, một không gian lý  tưởng cho việc hợp tác quốc tế nghiên cứu khoa học đa ngành. Người sáng lập viện là nhà hóa học, chủ nhân của patent “pure  axeton”, cũng là nhà lãnh đạo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, Chủ tịch Tổ  chức Phục quốc Do Thái và Tổng thống đầu tiên của Israel – Azriel  Weizmann (1874 –1952).      Chiều 30 Tết, tôi tiếp hai người bạn cũ, giờ là doanh nhân đến chơi, có dẫn theo cô con gái nhỏ. Cháu Kim Quy, 12 tuổi, học lớp 6, khi thấy tôi dọn mứt đựng trên mấy cái đĩa gốm vẽ bằng tay, có hàng chữ Jerusalem thì ồ lên, cô mua ở Israel hả cô, con thích đi thăm nước này lắm mà ba má chưa cho. Sao lại thích hả con? Trời, nước này có tới gần 200 nhà bác học đoạt giải Nobel đó cô. Cả ba người lớn chưng hửng. Anh bạn tôi cười khì, con lấy con số đó ở đâu mà chắc ăn vậy, theo ba người ta hay nói là có đến hơn 30% người giàu nhất nước Mỹ là người Do Thái . Lý thú với “số liệu” cô bé cung cấp về các nhà bác học Nobel, tôi đi hỏi ông Gúc. Không sai… Và cũng sẵn dịp, hỏi luôn, đúng là có tới 37 tỉ phú trong số 100 người giàu nhất nước Mỹ là người gốc Do Thái hay lai Do Thái, nhiều cái tên thiệt quen: Michael Bloomberg, George Soros, Steve Ballmer, Michael Dell, Leonard Lauder, Ralph Lauren, cả anh Mark Zuckerberg nữa.  Viện khoa học Weizmann   Tôi hẹn với cháu gái nhỏ là sẽ viết bài về chuyến viếng thăm lý thú một Viện khoa học đặc sắc của Israel tặng cháu. Đó là Viện khoa học Weizmann, điểm đến đầu tiên của chuyến đi nghiên cứu ngắn sáu ngày của đoàn khách Việt Nam mà nòng cốt là đội sinh viên giải nhất cuộc thi của 30 trường Đại học của “Hành trình vì khát vọng Việt” do Tập đoàn Trung Nguyên cùng Hội LHTN Việt Nam tổ chức. Tôi hào hứng mong đến đây vì có nghe tên tuổi của Viện Weizman trong giới học thuật quốc tế và cũng vì trước đó vài ngày, cuối năm 2013, tôi đọc được một tin khoa học quan trọng đăng trên tạp chí Extremetech: Các nhà nghiên cứu của Viện khoa học Weizman và ĐH Tel Aviv vừa công bố kết quả nghiên cứu chấn động là dùng âm thanh giải mã thành công thuật toán khóa mã hóa dữ liệu an toàn nhất hiện nay.   Viện khoa học Weizmann là một trong những tổ chức hàng đầu trên thế giới về nghiên cứu và sáng tạo, một không gian lý tưởng cho việc hợp tác quốc tế nghiên cứu khoa học đa ngành (với năm ngành chính: khoa học máy tính, vật lý, hóa học, sinh học, sinh hóa học). Trên một diện tích 120 hecta, từ một nhóm nghiên cứu khoa học đầu tiên mang tên Daniel Sieff Resaerch chỉ có hơn 10 người, nay Viện đã có 2.600 người đang làm việc, nghiên cứu ở đây (1.000 nhà khoa học hàng đầu của Israel và thế giới, 1.000 nghiên cứu sinh tiến sĩ, thạc sĩ, 220 nghiên cứu sinh sau tiến sĩ đến từ khắp các nước).Viện Weizmann có 250 nhóm nghiên cứu đến từ 28 nước khắp các châu lục (mà không thấy Việt Nam) và hàng năm, cũng đón tiếp 500 nhà khoa học đến đây trao đổi, nghiên cứu với trung bình 25 hội nghị khoa học quốc tế diễn ra. Nhớ lại và chú ý một chút, Israel mới chính thức lập quốc từ 1948, dân số đến nay chỉ có 7,5 triệu trong khi Viện nghiên cứu này cũng mới thành lập từ 1939, mới thấy độ phát triển kinh ngạc của chính Viện Weizmann.   Đến nơi, tôi hiểu thêm, đây còn là một trung tâm giáo dục khoa học cho giới trẻ, mối quan tâm hàng đầu của xã hội Israel. Viện có một khu vườn khoa học dành cho học sinh trung học tham quan học tập với các thí nghiệm đơn giản nhất về vật lý, hóa học, có cả một đồi cỏ trồng đầy đủ các loại cây làm thức ăn cho một sinh vật mà mọi đứa trẻ con thế giới đều say mê là… khủng long thuộc đủ các thời kỳ. Nổi tiếng còn có EcoSphere, một tòa nhà có kiến trúc đặc biệt, là không gian sinh thái xây dựng toàn bằng kính và nhôm đen trong đó thực hiện các thí nghiệm về giống cây,con mới; về biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính… trên sinh-thực vật.  Cái cách mà Weizmann tổ chức nghiên cứu khoa học cũng rất là…Do Thái. Xây dựng một không gian thật hấp dẫn, tiện nghi, thân thiện , thu hút các nhà nghiên cứu lớn của thế giới đến trao đổi các kiến thức, thông tin mới nhất, tạo điều kiện hút về “quần hùng tứ phương” cũng là một thứ “hấp tinh đại pháp” lôi kéo về cho mình mọi bộ não thông minh nhất, mọi tinh hoa khoa học của thời đại. Tổ chức các cuộc “hội ngộ” khoa học thật chuyên sâu và có chất lượng cũng là đóng dấu thương hiệu của nền nghiên cứu của Israel. Tổ chức không gian tốt cho các nhà khoa học trẻ đến học hành, nghiên cứu là đặt nền, nâng bước cho họ xây dựng cho họ mạng lưới quan hệ gắn bó với công đồng học thuật thế giới để phát triển lâu dài sau này. Lập quỹ để những nhà nghiên cứu đã thành danh góp sức giúp cho những người trẻ và cho sự nghiệp nghiên cứu chung của Israel. Tổ chức một công ty lớn chuyên về chuyển giao công nghệ, đăng ký đến 1400 bằng sáng chế của các gia đình và thành lập 42 công ty thực hiện sản xuất từ các bằng sáng chế này. Và trân trọng, nâng niu, chăm chút thấy rõ là không gian giáo dục khoa học cho thiếu nhi, thiếu niên Israel. Hàng ngày nơi đây có hàng nghìn các em thiếu niên đến tham quan, học tập, học mà chơi, chơi mà học trong một không gian đủ vui, đủ đẹp và đủ hấp dẫn trí tò mò cho trẻ con, một yếu tố quan trọng được Israel tập trung khuyến khích từ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo.  Người công dân số 1   Azriel Weizmann sinh năm 1874 cũng là một nhà hóa học, chủ nhân của patent tên là “pure axeton” đã phát triển phương pháp lên men axeton-butanol-etanol (Acetone-butanol-ethanol fermentation) để sản xuất axeton thông qua sự lên men do vi khuẩn. Ông chính là người thành lập Viện Khoa học này, đặt tại Rehovot, Jerusalem, Israel.   Weizmann là một nhà lãnh đạo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, chủ tịch Tổ chức Phục quốc Do Thái và cũng là tổng thống đầu tiên của Israel. Ông được bầu cử vào ngày 1 tháng 2, 1949 vào năm ông đã 75 tuổi và phục vụ cho đến khi qua đời năm 1952. Tại phòng trưng bày các vật dụng cá nhân của hai vợ chồng ông, có một hiện vật cực kỳ quí: quyển hộ chiếu của công dân Azriel Weimann, mang số 1. Ông là người công dân số 1 của Israel. Ông cũng là bạn nghiên cứu của nhà bác học nổi tiếng nhất thế giới Albert Einstein (cũng là người Do Thái) và hiện nhà lưu niệm còn giữ bức ảnh hai người chụp chung khi ông sang Mỹ, cùng Einstein vận động quyên góp xây dựng một chương trình nghiên cứu cho Israel.  Khi đến thăm ngôi nhà lưu niệm của nhà hóa học Azriel Weizmann, chúng tôi được biết ngôi nhà này do vợ chồng ông xây năm 1939, toàn là những khu nhà thấp, không có lầu. Nghe kể là tuy giàu có, hai vợ chồng ông xây nhà tuy rất hiện đại, tiện nghi về không gian kiến trúc và nội thất (tận dụng được tất cả ánh sáng mặt trời, gió biển từ thiên nhiên) nhưng không quá uy nghi đồ sộ để không quá xa cách với những người nông dân nghèo chung quanh. Toàn bộ nội thất do chính bà vẽ kiểu, ngay cả những chiếc màn treo tường của các phòng khác nhau, nay được phục chế hầu như nguyên trạng cách đây gần 100 năm. Thư viện nơi ông ngồi làm việc mỗi ngày, còn giữ đủ 1500 cuốn sách với 6 thứ tiếng. Ở đây lưu giữ tất cả hình ảnh của gia đình ông: người con trai đầu đã tử nạn phi cơ ở Anh và người con trai kế nay cũng định cư ở nước ngoài. Ông thành lập Viện nghiên cứu này khi sinh thời với nhóm nghiên cứu đầu tiên chỉ hơn 10 người. Sau khi ông qua đời, bà còn sống ở đây 10 năm nữa. Sau khi bà ra đi, người ta mới mở di chúc của hai ông bà: họ dành toàn bộ ngôi nhà và tài sản của hai vợ chồng cho đất nước Israel, cho Viện nghiên cứu Weizmann.  Người công dân số 1 (thực sự là số 1 với hộ chiếu mang số 1) là một người ái quốc, khi làm Tổng Thống vẫn không xa rời nghề chính của ông, nghề mà ông say mê theo đuổi: nghiên cứu khoa học. Mơ ước cả đời của chính khách này là… cống hiến cho khoa học và toàn bộ thành tựu, công trình khoa học của ông đều cống hiến cho đất nước Israel. Cả những vị kế nhiệm nhà nước sau đời Tổng thống đầu tiên đều coi nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ chính của họ và của đất nước. Tôi đọc một câu ghi ở nhà lưu niệm Azriel Weizmann: “khoa học là chìa khóa của tương lai” . Bảo sao Israel không là một trung tâm nghiên cứu và sáng tạo hàng đầu của thế giới.  ***  Cũng như trường hợp Israel, thực tế phát triển của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay đang khẳng định điều đó. Ai, đất nước nào không tin và không thực sự chăm lo, đầu tư cho khoa học và tính nhân bản sẽ bị nhân loại ruồng bỏ, bị tụt hậu chìm đắm trong thảm họa dù có tự huyễn hoặc lừa mị thế nào.        Khái niệm tài sản của ông bà Weizmann  cũng đáng nói. Không chỉ là toàn bộ kiến trúc hữu hình hiện diện trên  khu đất bát ngát mà còn là rất nhiều patent (bằng sáng chế) của ông và  việc chuyển giao các bằng sáng chế đưa vào sản xuất kinh doanh vẫn phát  sinh giá trị cho Viện đến tận bây giờ. Đó là câu trả lời lý thú cho tôi,  khi tôi thắc mắc, Viện thành lập từ trước khi nước Israel chính thức  được LHQ công nhận tức là chưa có nhà nước tài trợ, và khi ông Weizmann  còn “kháng chiến phục quốc” thì lấy đâu ra tiền mà đầu tư và phát triển  không ngừng ? Gia đình Weizmann giàu to mà, cô nhân viên khu lưu niệm  trả lời. Giàu? Vâng, tiền bán bản quyền, cho thuê các bằng sáng chế của  ông nhiều lắm, tất cả đều được đầu tư trở lại cho Viện nghiên cứu này.  Ngân sách vận hành hằng năm của Viện Weizmann hiện nay là 250 triệu đô  la Mỹ (1 tỉ Shekel, đơn vị tiền của Israel) trong đó nhà nước cung cấp  chừng một phần tư, còn lại là tiền được hiến tặng, thu phí chuyển giao  công nghệ từ các công trình đứng tên Viện, và từ các dịch vụ phục vụ  nghiên cứu.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Khi trường đại học trở thành đối thủ      Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Khoa học Nga Andrei Fursenko (ảnh bên) giải thích vì sao mới đây Bộ đã đưa ra chương trình tài trợ lớn (megagrants) để tăng cường nghiên cứu khoa học tại các trường đại học.     Sự sụp đổ của liên bang Xô Viết đã dẫn tới thời kỳ khó khăn cho nghiên cứu của Nga, nhưng chính quyền của Putin và Medvedev đang nỗ lực đưa khoa học trở lại vị trí ưu tiên. Chính phủ đã đầu tư hàng tỉ USD vào công nghệ nano thông qua một tổng công ty có tên là Rusnano và phát triển một thành phố công nghệ ở vùng ngoại ô Moscow. Nhưng vẫn cần phải đấu tranh làm thay đổi “di sản” của thời kỳ trước: ngành công nghiệp chỉ quan tâm tới việc khai thác tài nguyên hơn là phát triển các sản phẩm mới, Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS) không thiết tha với những thay đổi và hệ thống các trường đại học thì chỉ mong có số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp hơn là tiến hành các nghiên cứu.   Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Khoa học Nga Andrei Fursenko trao đổi với phóng viên của tạp chí Science về việc làm thế nào Nga có thể tăng cường nền tảng nghiên cứu.  Ông có thể giới thiệu một chút về chương trình tài trợ mới nhằm thu hút các nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới tới các trường đại học Nga?  Chúng tôi nhận được 500 hồ sơ nghiên cứu, trong đó 300 là của các nhà nghiên cứu của Nga, và 170 của nước ngoài, số còn lại là các nhà nghiên cứu có hai quốc tịch. Chúng tôi phải đưa ra một vài thoả thuận: Trước đó chúng tôi hi vọng các nhà nghiên cứu có thể dành nửa năm tại Nga, nhưng sau nhiều thảo luận với các trường đại học nước ngoài, chúng tôi rút xuống còn 4 tháng (tương ứng với 1 học kỳ).   Chúng tôi đang trong quá trình tuyển chọn và đây là lần đầu tiên chúng tôi tiến hành công việc như vậy tại Nga. Các hồ sơ nghiên cứu được 4 chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá, 2 chuyên gia người Nga và 2 quốc tế. Nếu ý kiến của họ trái ngược nhau, chúng tôi sẽ nhờ tới 2 chuyên gia khác. Các ý kiến sẽ được chuyển cho Hội đồng quỹ gồm các nhà khoa học có uy tín của Nga, những người có thành tích tốt trong các lĩnh vực khác nhau, và có uy tín trong cộng đồng khoa học quốc tế. Các thành viên của Hội đồng do Chính phủ bổ nhiệm.   Chương trình này đặc biệt dành cho các đại học Nga. Đây có phải là chính sách hướng tới mô hình các trường đại học nghiên cứu?  Có một vài lý do đằng sau việc hướng tới các trường đại học. Trước tiên đó là nhu cầu cần phải tạo ra môi trường cạnh tranh thực sự cho khoa học Nga. RAS mạnh hơn rất nhiều các tổ chức nghiên cứu khác và không có đối thủ cạnh tranh thực sự.  Thứ hai, nếu phải xây dựng một môi trường khoa học ở nơi có nhiều người trẻ thì đó chính là các trường đại học. Có những mối quan hệ tốt đẹp giữa RAS và các trường đại học nhưng để khuyến khích sự tham gia của những người trẻ vào nghiên cứu cần phải cải thiện môi trường khoa học nơi họ đang làm việc.   Và thứ ba, nếu một giáo sư không tham gia vào sự truy vấn khoa học thì đó không phải là một giáo sư thực sự. Một trường đại học không có nghiên cứu không phải là trường đại học thực sự. Chúng tôi sẽ phải lựa chọn kĩ càng những trường đại học hàng đầu và trợ giúp cho họ.   Chúng tôi cam kết vào quá trình khôi phục nền giáo dục đại học. Chúng tôi tạo ra cuộc cạnh tranh quy mô quốc gia cho Danh hiệu trường đại học nghiên cứu và cũng có cạnh tranh cho những khoản tài trợ dành cho đổi mới các cơ sở vật chất tại các trường đại học và những dự án nghiên cứu có sự tham gia của bên công nghiệp. Đây thực sự là cách tiếp cận mới của nước Nga.   Trong lá thư gửi Tổng thống Medvedev, các nhà khoa học Nga đã miêu tả nghiên cứu cơ bản ở Nga là thảm họa và cảnh báo sự sụp đổ gần kề. Có thực là Nga sao nhãng nghiên cứu cơ bản?   Tôi không thể nói nghiên cứu cơ bản ở Nga là thảm họa và tôi nghĩ là một vài nhà khoa học Nga làm nghiên cứu đỉnh cao có thể đồng ý với tôi. Nhưng rõ ràng là chính quyền Xô Viết đã chi nhiều tiền hơn cho lĩnh vực này. Nguồn nhân lực lớn đã được dành cho nghiên cứu cơ bản, nhiều các nhà khoa học của thời kỳ đó hiện đang ở nhiều nơi trên thế giới. Cách tiếp cận này đã tạo ra những kết quả tốt vào thời kỳ đó nhưng nó không còn thích hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Tôi đã nói với các đồng nghiệp tại RAS rằng, đây là khoản tiền thuế của nhân dân, chúng ta phải giải thích tại sao phải chi tiêu cho nghiên cứu và loại nghiên cứu nào thì chúng ta cần.   Phân chia tiền là vấn đề phức tạp. Chúng tôi đã đưa ra những cơ chế mới cho nghiên cứu cơ bản. Nhưng chỉ có những chương trình nhỏ của RAS ví dụ như chương trình sinh học phân tử và tế bào là mang tính chất cạnh tranh, rồi có Quỹ tài trợ cho nghiên cứu cơ bản- một cơ quan cũng rất thành công trong cấp kinh phí tài trợ. Trong giai đoạn kinh tế khó khăn, nguồn tài chính có hạn, và các bộ khác cũng muốn tham gia vào. Nhưng tiền chỉ được dành cho những cơ sở nghiên cứu và các nhà nghiên cứu uy tín nhất.     Sáng kiến về công nghệ nano cho thấy Chính phủ có vẻ đang cố gắng tạo ra một ngành công nghiệp mới trong vòng vài năm. Việc này tiến triển như thế nào?   Nga đã có một vài nền tảng về công nghệ nano. Khoa học vật liệu và dụng cụ đều mạnh dưới thời Liên Xô. Rusnano là một tập đoàn mới, độc lập. Đó có thể không phải là cách làm tốt nhất nhưng là một công cụ mới cho người Nga, và chúng tôi phải khôi phục lại nghiên cứu ứng dụng. Chúng tôi đang tạo ra những trung tâm mới, tạo ra động lực cho những nhà nghiên cứu và giới trẻ. Mười năm trước, sinh viên học về khoa học là những người thua cuộc. Hiện nay điều này đang dần thay đổi.   Dự án Skolkovo cũng là một nỗ lực nhằm củng cố đổi mới sáng tạo bằng cách tạo ra cầu nối giữa nghiên cứu và bên công nghiệp?  Chúng tôi cần phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở Nga và hối thúc các cơ sở hiện có cải thiện chất lượng hoạt động. Chúng tôi cần một cuộc cạnh tranh thực sự. Skolkovo là một thách thức mới cho giới trẻ và những thể chế đang tồn tại. Nếu thành công, mô hình này sẽ được áp dụng ở những nơi khác.   Theo ông, khoa học Nga sẽ phát triển như thế nào trong tương lai?  Cả khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng đều cần phải đa dạng với sự cạnh tranh mạnh hơn. Trong nghiên cứu cơ bản, chúng tôi cần có sự hợp tác quốc tế. Tôi muốn nhìn thấy 2-3 trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới ở Nga. Và chúng tôi cần sự hợp nhất giữa nghiên cứu và giáo dục đại học, thông qua đó huy động được nhiều nhà nghiên cứu của RAS hơn vào việc đào tạo sinh viên ở bậc thạc sĩ cũng như tiến sĩ và sau tiến sĩ. RAS sẽ phải tham gia vào kế hoạch này.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Khó khăn của nhóm nghiên cứu trẻ      Để tạo dựng được một nhóm nghiên cứu, các nhà khoa học trẻ phải vượt qua hai vấn đề khó khăn thường trực là thiếu hụt lực lượng và kinh phí đầu tư cho các dự án/đề tài nghiên cứu khoa học.    Có bột mới gột nên hồ    Đề cập đến chuỗi khó khăn khi trở về Việt Nam gây dựng nhóm, PGS. TS Lê Thị Lý, trưởng nhóm nghiên cứu về ứng dụng của Tin sinh học (Bioinformatics) trong nghiên cứu y sinh và phát triển dược phẩm (ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TPHCM), cho biết, hai vấn đề thường trực mà chị và nhiều đồng nghiệp khác gặp phải là khó phát triển lực lượng và tìm kinh phí thực hiện đề tài/dự án khoa học. Trong quá trình đào tạo thành viên gia nhập nhóm và duy trì lực lượng, các trưởng nhóm trẻ dù mất nhiều công sức để nâng cao trình độ cho các nghiên cứu viên thông qua việc thực hiện các đề tài/dự án nhưng vẫn đứng trước mối lo “mất người”. Trải qua năm năm xây  dựng nhóm nghiên cứu, PSG. TS Lê Thị Lý đã phải chia tay tới tám nghiên cứu viên đi nước  ngoài học chương trình thạc sĩ hoặc tiến sĩ ngay sau khi hoàn thành bài báo ISI đầu tiên. Chị chia sẻ: “Tuy rất vui vì nhiều em đã tìm được học bổng có giá trị nhưng xét về mặt phát triển nhóm nghiên cứu, tôi gặp quá nhiều khó khăn bởi việc thiết lập đủ mắt xích trong một dây chuyền nghiên cứu không phải điều dễ dàng. Đôi lúc tôi có cảm giác như mình lại ở vào giai đoạn bắt đầu”.     Cùng gặp khó khăn tương tự, TS. Nguyễn Văn Tuấn (Phó Khoa Vật liệu Xây dựng, ĐH Xây dựng Hà Nội) chia sẻ, từ khi hoàn thành luận án tiến sĩ ở ĐH Công nghệ Delf, anh cũng đặt nhiều kỳ vọng vào việc xây dựng một nhóm nghiên cứu như khi học ở Hà Lan nhưng khi bắt tay vào thực tế mới thấy công việc đó gian nan. Việc quy tụ được sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu sinh… theo đuổi một hướng nghiên cứu trong lĩnh vực cùng quan tâm không hề đơn giản, “có lẽ các bạn trẻ Việt Nam chưa thật sự hào hứng với cách thức làm việc nhóm nên vẫn còn nhiều nghi ngại”, TS. Tuấn lý giải.    Việc duy trì lực lượng ẩn chứa nhiều cam go về vấn đề tài chính, mà lý do theo PSG. TS Lê Thị Lý là “nguồn kinh phí nghiên cứu được cấp thường khá ít ỏi và không ổn định khiến nhiều tiến sĩ trẻ đã phải đứng trước nguy cơ giải thể nhóm nghiên cứu mà mình mất nhiều công gây dựng hoặc may mắn hơn là duy trì hoạt động của nhóm ở mức cầm chừng”.   Một tiến sĩ giấu tên ở ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, kể, muốn giữ chân các nghiên cứu viên thì phải đảm bảo cho họ có được mức thu nhập ổn định, trong khi đó, một đề tài cấp trường thực hiện trong vòng một năm cũng chỉ nhận được mức kinh phí khiêm tốn quanh 10 triệu đồng, nhiều khi không đủ để mua hóa chất để phục vụ nghiên cứu, và ngay cả với những giáo sư có uy tín trong trường thì việc được cấp kinh phí vài trăm triệu/đề tài cũng khá hiếm hoi. Trong giai đoạn chờ đề tài, nếu không có nguồn thu nhập “cứng” vài ba triệu mỗi tháng từ ngân sách nhà nước thì nhóm nghiên cứu mà chị tham gia cũng có nguy cơ tan vỡ, cho dù đã trải qua hơn 10 năm gây dựng và có nhiều công bố ISI có giá trị.      Theo TS. Nguyễn Cường, trưởng Phòng thí nghiệm Bioinformatics (Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), tài chính cho một nhóm nghiên cứu có thể đến từ hai nguồn: kinh phí được cấp để thực hiện đề tài/dự án và từ công tác dịch vụ, đào tạo. Phân tích về khả năng tìm kinh phí từ hai nguồn này, TS. Nguyễn Cường cho rằng, để thành công, phải chứng minh được năng lực nghiên cứu (đối với dự án/đề tài quốc tế) hoặc phải có được nhiều mối quan hệ (đối với các đề tài/dự án trong nước), chưa kể nếu xin được đề tài trong nước, họ còn phải trải qua khá nhiều gian nan với vô số thủ tục hành chính từ lúc phê duyệt đến khi nghiệm thu kết quả. Với các nhóm nghiên cứu mới thành lập thì cả hai yếu tố này đều yếu. Trường hợp tự tìm nguồn thu qua hoạt động dịch vụ đào tạo cũng ít khả thi vì nó phụ thuộc vào sự năng động sáng tạo của trưởng nhóm nghiên cứu và khả năng ứng dụng trong thực tế của các đề tài/dự án mà họ thực hiện.    Những giải pháp tự thân    Trước những khó khăn này, mỗi nhóm nghiên cứu lại tự xoay xở theo cách mà mình thấy phù hợp. Một tiến sĩ giấu tên (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội) tiết lộ, trong thời gian chờ được Hội đồng khoa học trường phê duyệt đề tài, anh đã phải bỏ tiền túi để trả lương hằng tháng cho một số nghiên cứu viên trong nhóm của mình, “nếu không sẽ khó giữ chân được các bạn ở lại với nhóm và có thể đến khi có kinh phí nghiên cứu thì sẽ chẳng còn người thực hiện đề tài”.     TS. Nguyễn Văn Tuấn cho biết, dù chưa hình thành được một nhóm nghiên cứu thực sự nhưng trong thời gian qua, anh đã cố gắng tập hợp một số tiến sĩ, thạc sĩ trong Khoa Vật liệu Xây dựng của trường cùng tham gia giải quyết những đề tài/dự án được giao, tùy theo nội dung và phạm vi của nó mà mời những người phù hợp. Tuy vậy giải pháp này chỉ mang tính thời vụ và mới tập trung giải quyết được những vấn đề riêng lẻ, thành viên tham gia cũng thiếu ổn định nên nhiều khi rơi vào tình trạng không chủ động được nhân lực để đề đạt kế hoạch tiếp theo.     Cũng nỗ lực gây dựng lực lượng, TS. Nguyễn Cường chọn cách mở cửa phòng thí nghiệm, sẵn sàng đón nhận sinh viên chuyên ngành Tin học và Sinh học tới thực tập, làm việc. Anh còn phối hợp với TS. Dương Quốc Chính (Viện Huyết học truyền máu Trung ương) tổ chức khóa học “Phát hiện đột biến hệ gene với công nghệ đọc trình tự thế hệ mới” vào năm 2014 dành cho cho sinh viên, nghiên cứu viên chuyên ngành sinh học và tin học với mục đích phổ biến kiến thức cơ bản về Tin sinh học. Kinh phí tham dự chỉ ở mức tối thiểu, đủ để in ấn tài liệu. Thành công đầu tiên đã thúc đẩy họ mở ba khóa tiếp theo về “Phát hiện đột biến hệ gen với công nghệ đọc trình tự thế hệ mới; Lắp ráp, chú giải và phân tích hệ gene”, “Phân tích đánh giá biểu hiện hệ phiên mã bằng RNA-seq” trong tháng 4 và 5 và 6/2015. Điều bất ngờ là cả ba khóa học này đều thu hút được đông đảo học viên từ các trường đại học, viện nghiên cứu, trong đó có cả những đơn vị tại TPHCM. Nhận xét về việc mở lớp, TS. Nguyễn Cường lạc quan, “nếu lực lượng nghiên cứu tăng lên, có nhiều người đủ khả năng xác định hướng nghiên cứu, xây dựng nhiệm vụ thì chúng tôi và các đồng nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận các quỹ tài trợ trong nước và quốc tế hơn, mặt khác chúng tôi cũng có điều kiện nhận thêm một số công việc dịch vụ liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của mình”.     Những giải pháp này cũng chỉ là những nỗ lực tự thân mang tính tức thời của các nhóm nghiên cứu trẻ để vượt qua khó khăn trước mắt. Để khuyến khích họ, cần có những giải pháp căn cơ như hỗ trợ bằng chính sách, cơ chế. Theo đề xuất của PGS. TS Lê Thị Lý, Quỹ Nafosted nên tạo điều kiện cho một số nhóm có nhiều tiềm năng về năng lực nghiên cứu được đăng ký đề tài kéo dài tối đa năm năm. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có sự đầu tư cho chương trình đào tạo nghiên cứu sinh trong nước một cách bài bản hơn từ chính sách, quy chế đến học bổng, tạo động lực cho các nghiên cứu sinh yên tâm học tập, nghiên cứu. Tuy nhiên, để sàng lọc được các nhóm nghiên cứu này, PGS. TS Trần Xuân Tú, trưởng nhóm nghiên cứu “Thiết kế mạch tích hợp VLSI” tại Phòng thí nghiệm mục tiêu Hệ thống tích hợp thông minh (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội), cho rằng, cần có cơ chế đặc biệt về kinh phí dành cho các nhóm nghiên cứu đã thành công trong những dự án/đề tài trước để họ có điều kiện tiếp tục triển khai nhiệm vụ và phát triển các sản phẩm hoàn chỉnh.     Trong lúc chờ Nhà nước ban hành cơ chế đặc thù khuyến khích các nhóm nghiên cứu trẻ thì theo quan điểm của TS. Nguyễn Cường, “chỉ cần các đơn vị làm đúng và nghiêm túc những gì đang có, loại bớt những thủ tục không cần thiết là tạm đủ cho các nhóm có thể yên tâm tập trung vào công việc chính của mình”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khó khăn từ  quy trình ngược      Việc quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&amp;CN công lập là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư của nhà nước, tập trung nguồn lực cho những tổ chức có năng lực nghiên cứu hoặc các lĩnh vực KH&amp;CN trọng điểm, xóa bỏ tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí nguồn lực. Tuy nhiên, chúng ta đang tiến hành xây dựng quy hoạch theo một quy trình ngược, khó tránh khỏi sức ỳ và lực cản rất lớn từ hệ thống hiện hành, vì vậy sẽ cần một quyết tâm chính trị thực sự mạnh mẽ từ cấp cao nhất.       Hiện nay, hệ thống tổ chức KH&CN công lập ở Việt Nam khá cồng kềnh với hơn 1.000 thành viên – bao gồm các đơn vị trực thuộc bộ ngành, địa phương trên toàn quốc và tồn tại dưới nhiều hình thức như viện nghiên cứu, trung tâm và nhiều loại hình tổ chức khác – lâu nay đã bộc lộ những điểm yếu như chồng chéo về chức năng nhiệm vụ của nhiều đơn vị, thậm chí ngay trong cùng một bộ, ngành; thiếu liên kết giữa các đơn vị cùng lĩnh vực nghiên cứu, dẫn đến việc trùng lặp các đề tài/dự án hoặc chỉ có thể thực hiện được những nhiệm vụ KH&CN nhỏ mang tính trước mắt mà không giải quyết được những vấn đề lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.   Vì vậy, vấn đề quy hoạch mạng lưới các tổ chức KH&CN công lập đã được nêu lên trong Luật KH&CN do Quốc hội ban hành ngày 18/6/2013 và Bộ KH&CN đang phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập, trong đó bao gồm các điểm nút là các tổ chức KH&CN, kèm theo đó là các mối liên kết chặt chẽ giữa các điểm nút theo ngành, lĩnh vực nghiên cứu được phân bố hợp lý trên phạm vi quốc gia. Việc tạo dựng mạng lưới này một cách khoa học, hợp lý không chỉ giải quyết được bài toán nâng cao hiệu quả nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức mà còn góp phần làm lành mạnh hóa môi trường KH&CN Việt Nam.  Ngược chiều xu thế quy hoạch thông thường          Công việc quy hoạch đáng lẽ phải được thực hiện trước khi  bắt tay xây dựng một hệ thống tổ chức, còn ở đây, chúng ta tái thiết  trên cơ sở những gì đã có và được vận hành với sức ỳ trong tư duy, hậu  quả sau một quãng thời gian dài hoạt động theo cơ chế quản lý quan liêu  bao cấp.        Tuy nhiên đây lại là một chu trình ngược chiều với xu thế quy hoạch thông thường: công việc quy hoạch đáng lẽ phải được thực hiện trước khi bắt tay xây dựng một hệ thống tổ chức, còn ở đây, chúng ta tái thiết trên cơ sở những gì đã có và được vận hành với sức ỳ trong tư duy tương đối lớn, hậu quả sau một quãng thời gian dài hoạt động theo cơ chế quản lý quan liêu bao cấp. Nhiều khó khăn do đó đã nảy sinh, mà tựu trung là vướng mắc về quan điểm quy hoạch và cách thức triển khai cấp kinh phí theo nhiệm vụ sau quy hoạch ở các tổ chức KH&CN công lập.   Thứ nhất, còn tồn tại nhiều bất đồng về quan điểm quy hoạch. Theo cơ cấu tổ chức hiện nay, mỗi bộ, ngành đều quản lý một số viện nghiên cứu, đặc biệt tại một số viện lớn của bộ đều được tổ chức theo mô hình “n trong một”, bao gồm một viện lớn và nhiều viện thành viên cùng các trung tâm nghiên cứu. Việc sáp nhập hay giải thể những tổ chức dù mang tính chất trùng lặp về chức năng nhiệm vụ với nhiều tổ chức khác cùng bộ cũng vẫn gặp phải phản ứng mạnh mẽ từ các viện lớn hay bộ chủ quản, không cho phép thực hiện việc “cắt xén” ảnh hưởng đến quy mô tổ chức và tầm ảnh hưởng của mình. Ngay cả trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập theo hướng quy hoạch gắn với tái cấu trúc hệ thống tổ chức KH&CN công lập thì việc triển khai thực hiện quyết định này sẽ gặp không ít vướng mắc bởi việc thành lập, cấu trúc lại hay giải thể các tổ chức KH&CN công lập vẫn phải được thực hiện theo Nghị định số 55/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Về nguyên tắc, quyết định của Thủ tướng Chính phủ không thể thay thế được những văn bản có giá trị pháp lý cao hơn như Nghị định hay Luật.  Thứ hai, nhiều tổ chức KH&CN công lập quen ỷ lại vào cơ chế hiện hành lâu nay và không muốn chuyển đổi sang triển khai cấp kinh phí theo nhiệm vụ. Năm 2014, để từng bước đổi mới về cơ chế quản lý, hướng tới thực hiện cấp kinh phí hằng năm theo nhiệm vụ, Bộ KH&CN đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 121/2014/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn các tổ chức KH&CN công lập xây dựng dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của mình, qua đó bước đầu đã đem lại sự minh bạch, sòng phẳng trong cơ chế quản lý tài chính đối với các tổ chức KH&CN công lập. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng Thông tư này chỉ thuận lợi với những tổ chức KH&CN đã tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, tức là những tổ chức không được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán. Còn những tổ chức vẫn quen hoạt động theo cơ chế bao cấp lại không mấy mặn mà với việc chuyển đổi này.  Cần một quyết tâm chính trị   Để vượt qua những khó khăn, vướng mắc mà bài toán quy hoạch mạng lưới các tổ chức KH&CN công lập gắn với việc tái thiết hoạt động của các tổ chức này, cần phải có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ và đồng bộ từ các cấp quản lý đến những người thực hiện quy hoạch.           Song song với việc quy hoạch, cần phải có  những cơ chế hợp lý về cách thức sử dụng ngân sách nhà nước, tránh xảy  ra trường hợp “bình mới, rượu cũ” khi chỉ thay đổi diện mạo bên ngoài  của hệ thống trong khi sự trì trệ, ỷ lại vẫn tiếp tục duy trì từ bên  trong tổ chức.         Ở đây, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ bài học thành công của việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Nhờ có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp do Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban và thành viên là đại diện lãnh đạo các bộ, ngành liên quan chỉ đạo, hướng dẫn triển khai, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, sắp xếp công tác đổi mới doanh nghiệp nhà nước; yêu cầu các bộ, ngành, địa phương kiên quyết và quyết liệt trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc. Với cách làm quyết liệt và hiệu quả như vậy, việc sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã đạt được thành công, giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước từ một vạn vào năm 1992 đến nay còn lại gần 1.000.    Nhiệm vụ quy hoạch các tổ chức KH&CN công lập cũng sẽ cần một quyết tâm chính trị và sự chỉ đạo quyết liệt tương tự như vậy, coi đó là yếu tố quan trọng tạo ra đột phá trong khâu quản lý cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập.   Tuy nhiên, trong công tác quy hoạch, cũng cần phải có cả sự tham gia một cách chủ động và tích cực của đối tượng được quy hoạch, tức là các tổ chức KH&CN công lập. Bản thân các tổ chức này cũng nên tự trao đổi, thống nhất quan điểm hợp tác với nhau, qua đó báo cáo với các cấp lãnh đạo có thẩm quyền về việc hợp nhất, sáp nhập những tổ chức có cùng nhiệm vụ, chức năng, phạm vi hoạt động.  Tránh “bình mới rượu cũ”  Nhằm bảo đảm tính hiệu quả của các tổ chức KH&CN công lập, song song với việc quy hoạch cần phải có những cơ chế hợp lý về cách thức sử dụng ngân sách nhà nước, tránh xảy ra trường hợp “bình mới, rượu cũ” khi chỉ thay đổi diện mạo bên ngoài của hệ thống trong khi sự trì trệ, ỷ lại vẫn tiếp tục duy trì từ bên trong tổ chức.   Trước hết, để tiếp tục thúc đẩy xu hướng tự chủ hóa của các tổ chức KH&CN công lập, Bộ KH&CN đang chủ trì xây dựng một nghị định mới theo tinh thần của Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, để thay thế Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định mới này sẽ khắc phục được tâm lý ỷ lại, trông chờ vào bao cấp, đồng thời nâng cao quyền tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Bên cạnh đó, vai trò của người lãnh đạo tổ chức KH&CN sẽ được nâng lên nhằm tạo điều kiện cho họ phát huy tinh thần tự quyết và nâng cao vai trò quản lý, góp phần xóa bỏ những yếu tố phi khoa học trong bộ máy tổ chức.   Mặt khác, chúng ta cũng cần xây dựng thực hiện tốt cơ chế đánh giá, thẩm định năng lực, hiệu quả quy trình hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập sau quy hoạch theo cách thức mà các nền KH&CN tiên tiến đã áp dụng như kiểm tra chéo, chấm điểm hoạt động, mời chuyên gia đánh giá độc lập và coi đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để duy trì được môi trường khoa học minh bạch và khách quan.             “Việc xây dựng quy hoạch mạng lưới tổ chức  KH&CN công lập phải được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: Xây  dựng quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN thống nhất, đồng bộ và phân  bố hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển KH&CN và phát triển kinh  tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Gắn kết tổ chức KH&CN với  cơ sở đào tạo và tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát  triển công nghệ;  Bảo đảm thực hiện mục tiêu nâng cao năng lực KH&CN  quốc gia, chú trọng những lĩnh vực khoa học và công nghệ phục vụ trực  tiếp nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; Bảo đảm  sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho  phát triển KH&CN, đặc biệt trong lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng  điểm”.   (Trích chương II, Luật KH&CN do Quốc hội ban hành ngày 18/3/2013)                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Khó nhất là kiểm soát chất lượng thực sự của các nghiên cứu      Theo TS Nguyễn Đức Thành, thách thức lớn nhất đối với Quỹ Nafosted chính là làm sao kiểm soát được chất lượng thực sự của các nghiên cứu, nhất là khi các nghiên cứu được chấp nhận công bố quốc tế thì thời hạn làm đề tài đã kết thúc.    Quỹ Nafosted được thành lập và đi vào hoạt động để hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản trong các ngành khoa học. Cho tới nay, về phía khoa học xã hội, việc xét tuyển và tài trợ mới bước sang năm thứ hai – đợt đề tài được tài trợ đầu tiên hiện chưa kết thúc, còn đợt hai đã được thông qua về nguyên tắc thì chưa ký hợp đồng tài trợ.  Hoạt động tài trợ của Quỹ đáp ứng một mảng lớn trong nghiên cứu hàn lâm mà các hoạt động tài trợ khác chưa đáp ứng được (như các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ hay các dự án nước ngoài, đa số mang tính ứng dụng chính sách hoặc đánh giá tác động, v.v…). Trong các trường đại học và viện nghiên cứu cũng có quỹ nghiên cứu cho các đề tài hàn lâm, nhưng quy mô còn nhỏ và manh mún. Vì thế, vào thời điểm này, hoạt động tài trợ của Quỹ đã giúp lấp một khoảng trống quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu ở cấp độ nền tảng.   Cách thức tuyển chọn đề tài đã có nhiều thay đổi, kể cả về nội dung chuyên môn lẫn quy chế tài chính. Đơn cử một ví dụ, các đề tài hiện nay khi trình bày vấn đề nghiên cứu và kế hoạch tài chính, đều phải phân thành các chuyên đề nghiên cứu nhỏ, và theo quy định tại Thông tư 44, chủ đề tài chỉ được trả cho các nghiên cứu chuyên đề đó từ 8 đến 12 triệu. Mức này chỉ tương đương cho một nhà khoa học có danh tiếng viết một tham luận ngắn hoặc phát biểu miệng, chưa nói gì đến việc phải khảo cứu, nghiền ngẫm, tìm tòi ra một vấn đề mới. Hơn nữa, điều này khiến chủ đề tài khi xây dựng kế hoạch tài chính phải “dựng” lên hàng chục, thậm chí hàng trăm, chuyên đề nhỏ, có tên chủ đề rõ ràng, để đáp ứng đủ quy mô của đề tài về mặt tài chính. Tiếp đó, khi kiểm tra tiến độ, chủ đề tài và nhóm nghiên cứu cũng phải báo cáo rõ các chuyên đề một cách tỷ mỉ như thế. Rõ ràng với quy mô manh mún như vậy, tất cả những việc đó chỉ mang tính hình thức, gây mất thời gian của cả bên thực hiện đề tài lẫn bên giám sát thực hiện đề tài. Quỹ Nafosted đã hoàn toàn loại bỏ cách làm này, chỉ quan tâm đến sản phẩm đầu ra cuối cùng. Tôi nghĩ, sau một thời gian, khi tính ưu việt trong cách làm của Quỹ được chứng minh, thì mô hình này sẽ được nhân rộng ra một cách triệt để để chúng ta có một hệ thống quản lý hoạt động khoa học tốt và hiệu quả hơn.  Việc thông qua quyết định tài trợ và thực hiện tài trợ của Quỹ trong thực tế, theo những đồng nghiệp của tôi đã và đang thực hiện đề tài, cho biết, là khá đơn giản và thuận lợi. Đây là một bước tiến lớn giúp các nhà khoa học tập trung nhiều hơn vào chuyên môn.  Tuy nhiên, theo tôi quan sát, hiện có một thách thức đối với Quỹ, chính là sự kiểm soát chất lượng thực sự của các nghiên cứu. Các nghiên cứu khoa học xã hội cần hai năm để thực hiện và có thể cho ra một số kết quả nhất định. Sau đó, nghiên cứu ấy cần được đúc kết thành ít nhất một bài báo để đăng tải trên tạp chí quốc tế (theo đúng chuẩn khoa học nghiêm ngặt), thì sẽ cần trung bình 1-2 năm tiếp theo để có thể được chấp nhận. Đến lúc đó thì đề tài đã kết thúc lâu rồi. Việc đặt tiêu chí đăng tải quốc tế là đúng đắn và khôn ngoan, cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, vì có thể sử dụng việc thẩm định chất lượng của cộng đồng nghiên cứu (peer review) quốc tế trong lĩnh vực đó. Nhưng rõ ràng có rủi ro là các đề tài sau đó không cho ra được các sản phẩm với chất lượng mong muốn. Chúng tôi đã bàn bạc với lãnh đạo Quỹ về điều này trong quá trình xây dựng quy chế tài trợ. Có vẻ như chỉ có thể đưa ra giải pháp là lưu lại mức độ tín nhiệm của chủ nhiệm đề tài như một bằng chứng tiêu cực, mà ít nhất Quỹ sẽ không tài trợ thêm những đề tài tiếp sau, hoặc công bố trong giới khoa học để định mức uy tín đối với nhà khoa học đó.   Nhìn chung, tôi cho rằng, hoạt động của Nafosted có nhiều điểm ưu việt so với các kênh tài trợ khoa học hiện thời. Cùng với thời gian, với sự điều chỉnh thích hợp và kịp thời trên cơ sở tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn, có thể chúng ta sẽ có một mô hình tiến bộ hơn trong hoạt động quản lý khoa học, có thể nhân rộng nhằm thúc đẩy hoạt động tích lũy và sáng tạo tri thức có hiệu quả trong tương lai.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Ấn Độ: Giải phóng tiềm năng      Bản báo cáo “Ấn Độ như một cường quốc khoa học” (India as a global leader in science), được Thủ tướng Manmohan Singh công bố vào tháng 9 vừa qua, cho rằng, khoa học của quốc gia này bị tổn hại nghiêm trọng bởi những cách hành xử quan liêu về hành chính và quản lý tài chính; đồng thời đưa ra&#160; những giải pháp để củng cố nền khoa học Ấn Độ trong đó việc giảm thiểu tiến tới loại bỏ thói quan liêu được coi là quan trọng hàng đầu.      Theo Bản báo cáo, vị thế của Ấn Độ trong cộng đồng khoa học thế giới đã giảm sút trong 20 năm qua. Tỉ lệ GDP dành cho R&D vẫn giậm chân tại chỗ trong 2 thập kỷ qua trong khi phần lớn các quốc gia châu Á năng động khác đã vượt qua Ấn Độ. 2/3 chi tiêu cho R&D của Ấn Độ là của Chính phủ, trong khi đó tại Hàn Quốc khoảng 30% ngân sách dành cho R&D là của Chính phủ, phần còn lại là của bên công nghiệp. Ngoại trừ lĩnh vực như dược phẩm, CNTT, ngành công nghiệp có vẻ như không đầu tư nhiều hoặc có nhiều đặt hàng cho khoa học Ấn Độ. Việc đầu tư cho khoa học không thoả đáng của cả Chính phủ và bên công nghiệp dẫn tới sự thiếu kết nối giữa các phòng nghiên cứu cơ bản và bên công nghiệp.   Theo một cuộc điều tra của quốc gia, môn học được yêu thích nhất ở bậc phổ thông là toán học. Trong các kỳ thi Olympic quốc tế, sinh viên Ấn Độ xếp cùng nhóm với sinh viên các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản về số huy chương đạt được trong toán học, còn trong sinh học, họ vượt qua Mỹ. Tuy nhiên, những thanh niên trẻ tài năng khi lựa chọn sự nghiệp họ ưu tiên hơn cho những ngành nghề khác vì họ nhìn thấy khoa học mang lại ít cơ hội hơn.         Trong bối cảnh các vấn đề nghiên cứu mang tính toàn cầu như các vấn đề nước, năng lượng, lương thực, Chính phủ cần khuyến khích hợp tác với các cơ sở nghiên cứu quốc tế, tổ chức các hội nghị quốc tế với sự tham dự của các nhà khoa học có uy tín và hỗ trợ xuất bản các công trình nghiên cứu hợp tác. Ví dụ, có thể mời các nhà khoa học quốc tế đoạt giải Nobel hoặc các nhà khoa học có uy tín tới nói chuyện tại các buổi seminar dành cho các thanh niên trẻ tài năng. Những biện pháp này không những giúp làm phong phú hơn hệ thống nghiên cứu khoa học của Ấn Độ mà còn tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ phát triển.               Việc vinh danh và khen thưởng các nhà khoa học có thành tích xuất sắc với những khoản tài chính nhất định cũng sẽ giúp họ có động lực hơn trong nghiệp nghiên cứu. Cũng cần phải có những khoản hỗ trợ các sinh viên lựa chọn sự nghiệp nghiên cứu, ví dụ có thể chọn lựa ra 1000 sinh viên ưu tú nhất của Ấn Độ có mong muốn theo đuổi con đường khoa học và có những học bổng cho các sinh viên này trong con đường học vấn tiếp theo hoặc để bắt đầu nghiên cứu. Khu vực tư nhân cũng có thể tham gia vào việc tài trợ này như tập đoàn tin học Infosys đưa ra giải thưởng Infosys để vinh danh những nhà nghiên cứu xuất sắc – những người đã tạo ra sự khác biệt cho khoa học Ấn Độ và khơi nguồn cảm hứng cho thanh niên theo đuổi con đường khoa học.           Tăng công bố quốc tế, bằng sáng chế  Để đóng góp có ý nghĩa vào khoa học thế giới, các công bố quốc tế của Ấn Độ phải tăng từ 2% hiện nay lên 10% trong vòng 10 năm tới. Các nhà nghiên cứu Ấn Độ cũng cần đăng ký nhiều bằng sáng chế hơn nữa: từ 1900 bằng sáng chế quốc tế năm 2007 tăng lên mức 20.000 vào năm 2020.  Mỗi năm Ấn Độ đào tạo 400.000 kỹ sư và 300.000 cử nhân công nghệ thông tin nhưng chỉ có 20.000 thạc sĩ và gần 1000 tiến sĩ. Trong năm 2007-2008, tỉ lệ nhà nghiên cứu tại Ấn Độ là 156 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân, tỉ lệ này ở Mỹ là 4.700/triệu dân. Phần lớn các cử nhân ngành kỹ thuật của Ấn Độ sau khi tốt nghiệp không học tiếp lên cao mà đi làm. Điều này dẫn tới thiếu hụt nguồn nhân lực cho các trường đại học cũng như nghiên cứu. Không thể có hệ thống giáo dục tốt nếu không có đội ngũ giáo viên giỏi. Trong khi tại các quốc gia như Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, nghề giáo là một nghề có tính cạnh tranh cao và rất được tôn trọng thì tại Ấn Độ nghề này không có sức hấp dẫn đối với thanh niên.   Ở bậc giáo dục đại học, cần phải có sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong đó bao gồm cả việc Nhà nước tạo ra thuế ưu đãi cho các nhà đầu tư để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Điều quan trọng là phải có những sáng kiến mới trong đào tạo kỹ thuật với sự trợ giúp cho các trường công nghệ để có thể thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và kinh doanh. Bản báo cáo đưa ra một số tiêu chí để xây dựng cơ sở cho những đổi mới trong giáo dục đại học: Sự năng động của ban lãnh đạo đi liền với quyền tự chủ của các cơ sở này; Tạo điều kiện cho những nơi hoạt động tốt trang bị những cơ sở vật chất tốt nhất; Hình thành chính sách tuyển dụng riêng cho các khoa; Giảm thiểu sự can thiệp về chính trị; Thu hút đầu tư tư nhân; Kết hợp đào tạo cử nhân với nghiên cứu chất lượng cao; Giữ số lượng sinh viên ở mức quản lý được..    Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm CNC  Trong những năm vừa qua, cơ cấu xuất khẩu của Ấn Độ đang thay đổi, các sản phẩm công nghệ cao bắt đầu tăng. Ví dụ như công nghiệp ô tô của Ân Độ đã vượt Trung Quốc vào năm ngoái, yếu tố chính làm nên sự phát triển này là trình độ tay nghề cao của nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này. Các vệ tinh của Ân Độ có giá rẻ hơn 25-30% của các quốc gia phương Tây.   Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn chưa phải là quốc gia mạnh về xuất khẩu công nghệ cao. Trong giai đoạn 1995-2006, xuất khẩu trong lĩnh vực công nghệ cao của Ấn Độ tăng 4 lần (từ 1 tỉ USD lên 4.5 tỉ USD) nhưng cũng cùng thời gian này Brazil tăng gấp 8 lần và Trung Quốc tăng gấp 25 lần (gần 300 tỉ USD). Năm 2006, công nghệ cao chỉ chiếm 0,49% GDP của Ấn Độ và chỉ chiếm 0,23% xuất khẩu công nghệ cao của toàn cầu.   Cùng với những chính sách đúng đắn khuyến khích đổi mới, sáng tạo và xuất khẩu công nghệ cao, chính phủ cần phải cung cấp tài chính đầy đủ cho những lĩnh vực ưu tiên mà Ấn Độ có khả năng cạnh tranh với thế giới.   Kinh tế sáng tạo  Trong thế giới công nghệ thay đổi nhanh chóng, đổi mới sáng tạo là chìa khoá cho phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Đổi mới, sáng tạo không chỉ thể hiện qua các bằng sáng chế, sản phẩm mới, mặc dù đây là những tiêu chí đánh giá quan trọng của đổi mới, sáng tạo. Nó còn là những ý tưởng, dịch vụ và ngay cả những mô hình kinh doanh mới. Các mạng xã hội như Facebook là những ví dụ về dịch vụ mới dựa vào công nghệ, trong khi đó Google lại là một mô hình kinh doanh sáng tạo (người sử dụng không phải trả phí dịch vụ).                   Ấn Độ đã có vai trò quan trọng trong đổi mới sáng tạo trên một số lĩnh vực. Ngành công nghệ thông tin của Ấn Độ đã tạo ra mô hình kinh doanh mới thông qua hoạt động làm dịch vụ cho nước ngoài, đã tạo ra thành công và sự tăng trưởng chưa từng có. Những đổi mới sáng tạo trong cộng đồng rất phát triển. Tuy nhiên những đổi mới sáng tạo này vẫn tăng thêm nhưng chỉ tập trung vào cải tiến, còn những đổi mới sáng tạo mang tính đột phá vẫn còn ít. Do vậy, Ấn Độ đã đưa ra những giải pháp để hình thành nền kinh tế sáng tạo bao gồm thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các start-up; quỹ cho các ý tưởng đối mới sáng tạo tại các tổ chức nghiên cứu, trường đại học của Chính phủ; cho phép các nhà khoa học được nghỉ phép và có nguồn tài chính nhất định để thực hiện các ý tưởng của họ tại các doanh nghiệp; tạo ra những thay đổi trong chương trình học nhằm khuyến thích tư duy sáng tạo của học sinh; quỹ để khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong xã hội; thúc đẩy mối liên kết giữa hàn lâm, các phòng thí nghiệm R&D và các doanh nghiệp…  Giảm thiểu thói quan liêu trong hoạt động khoa học  Hoạt động khoa học tại Ấn Độ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các thói hành xử quan liêu và cách thức kiểm tra tài chính và hành chính cứng nhắc. Một trong những điều kiện quan trọng cho phát triển khoa học và loại bỏ hoặc giảm thiểu thói quan liêu, như Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh từng nói.   Hội đồng tư vấn khoa học của Thủ tướng đề nghị thành lập Ủy ban cải cách hành chính trong khoa học bao gồm các nhà khoa học để cấu trúc lại hệ thống hành chính tại các trường đại học, phòng thí nghiệm quốc gia và các cơ sở nghiên cứu khoa học khác để đảm bảo tạo ra môi trường lành mạnh cho đào tạo và nghiên cứu. Việc cải tổ đặc biệt quan trọng trong hệ thống đại học công nơi cần có những cách thức mới trong bổ nhiệm, thăng tiến của nhân sự cao cấp, sự tự chủ lớn hơn của các cơ sở này, tóm lại là những đổi thay sâu sắc môi trường học thuật.  Từ những thành tích nổi bật của một số trường đại học công và sự phồn vinh của khu vực tư nhân đang góp phần vào làm thay đổi bức tranh của khoa học Ấn Độ. Người ta hy vọng với cam kết tăng gấp đôi ngân sách cho khoa học của Chính phủ trong 10 năm tới và những chương trình cải cách nếu được tiến hành thành công sẽ tạo ra làn sóng mới về đầu tư và phát triển cho khoa học và giáo dục.           Lê Ngọc tổng hợp        Y sinh học Ấn Độ                            Nhiều quốc gia phát triển ở châu Á đang nhanh chóng xây dựng những Viện nghiên cứu mới, mong muốn thúc đẩy tiến bộ khoa học ở quy mô quốc gia. Việc xây dựng cơ sở vật chất cho khoa học phải đi kèm với những thay đổi về văn hóa khuyến khích sự sáng tạo, hợp tác, điều này cần thiết cho việc có được một thế hệ các nhà khoa học mới. Ấn Độ, một quốc gia đối mặt với những thách thức như vậy, cam kết áp dụng những chính sách mới trên diện rộng để thu hút các nhà nghiên cứu trẻ tài năng trở về nước và củng cố văn hóa khoa học mới trong ngành sinh học.               Những năm gần đây, Ấn Độ đã tăng đáng kể đầu tư cho khoa học sự sống (ngân sách gần đây đã tăng gấp đôi so với cách đây 5 năm). Nguồn tài chính mới đã được dùng trực tiếp để thành lập những viện nghiên cứu mới, củng cố các cơ sở nghiên cứu cũ và tăng cường nhân lực cho nghiên cứu giảng dạy. Tuy nhiên, Ấn Độ không lựa chọn chiến lược như của Trung Quốc và Singapore là chi những khoản tiền hào phóng cho các nhà nghiên cứu cao cấp của Mỹ và châu Âu để chuyển tới hoặc thành lập những thí nghiệm tại châu Á mà hướng tới các nhà khoa học trẻ những người đã được đào tạo ở nước ngoài và hy vọng sẽ lôi kéo được họ về nước. Để khuyến khích hồi hương, Chính phủ Ấn Độ đã đề ra một số chương trình học bổng để hỗ trợ các phòng thí nghiệm độc lập ở Ấn Độ và các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ bắt đầu sự nghiệp khoa học.               Thành công trong khoa học không chỉ nảy lên từ những phòng ốc mới và các trang thiết bị. Sự bảo đảm tốt nhất cho thành công trong tương lai là làm cho các nhà khoa học trẻ thấm nhuần trách nhiệm của họ, và không chỉ nuôi dưỡng khoa học mà còn cả văn hóa bồi đắp cho khao khát thành công trong những quốc gia vốn vẫn xem con đường nghiên cứu như là lựa chọn thứ hai.                           (Science)                Dự án Đại học đổi mới sáng tạo                            Chính phủ của Thủ tướng Manmohan Singh đồng ý với dự án xây dựng 14 trường đại học đổi mới sáng tạo với mục tiêu của dự án là biến Ấn Độ trở thành trung tâm tri thức toàn cầu. Các trường đại học trong dự án sẽ có sự tự chủ trong việc bổ nhiệm, hợp tác, tìm kiếm nguồn tài chính và trao bằng. Dự thảo luật mới cho hệ thống trường đại học này do Bộ Phát triển nguồn nhân lực soạn thảo.               Những điểm chính trong dự thảo mới này là:              – Các trường đại học đổi mới sáng tạo sẽ có quyền đưa ra các tiêu chí xét tuyển của mình nhưng phải đảm bảo 50% sinh viên theo học tại bất cứ chương trình nào phải là công dân Ấn Độ.              – Hướng tới tất cả các đối tượng sinh viên, không phân biệt đẳng cấp, giới tính, tuy nhiên các trường đại học sẽ phải có chính sách riêng cho các nhóm đối tượng có hoàn cảnh kinh tế khác nhau.               – Việc liên kết với các đối tác nước ngoài phải có thoả thuận hợp tác và thoả thuận này sẽ phải được Quốc hội phê duyệt. Quyết định phê duyệt thoả thuận hợp tác sẽ được đưa ra trong vòng 6 tháng.               Hiện tại, trường Đại học Yale là đối tác đầu tiên đề nghị hợp tác với Ấn Độ trong Việc xây dựng các trường đại học đổi mới sáng tạo. Nhiều thông tin khác cho hay, các trường Đại học của Anh như Cambridge, Imperial College cũng quan tâm tới dự án này.               – Ban điều hành của các trường đại học bao gồm 1/3 thành viên từ trường đại học. Ban điều hành này có quyền bổ nhiệm giáo sư hoặc phó giáo sư cũng như mời các sinh viên sau đại học có thành tích tốt đảm nhận vị trí trợ giảng.               – Ban điều hành cũng sẽ chỉ định kiểm toán kiểm tra tài chính của các trường đại học này.              – Về tài chính, các trường đại học trong mạng lưới mới này sẽ có quyền nhận tài trợ, đóng góp từ các sinh viên cũ, 80% của khoản thu nhập này sẽ được sử dụng để phát triển cơ sở nghiên cứu. Bộ Phát triển nguồn nhân lực có thể có những tài trợ để phát triển trong trường hợp hiệu trưởng của trường mong muốn Chính phủ đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt động của họ.               Việc hình thành 14 trường đại học đổi mới sáng tạo thể hiện cam kết của Chính phủ Ấn Độ thúc đẩy nghiên cứu và khuyến khích sự cộng năng giữa nghiên cứu và giảng dạy. Các trường đại học này sẽ đề cao văn hoá nhân văn, tìm kiếm chân lý. Các cơ sở đào tạo này cũng sẽ nỗ lực cung cấp cho xã hội những con người có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước và vun trồng những giá trị đạo đức, tri thức.                           (Chronicle of Higher Education)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Ấn Độ: Giải phóng tiềm năng      Bản báo cáo “Ấn Độ như một cường quốc khoa học” (India as a global leader in science), được Thủ tướng Manmohan Singh công bố vào tháng 9/2010, cho rằng, khoa học của quốc gia này bị tổn hại nghiêm trọng bởi những cách hành xử quan liêu về hành chính và quản lý tài chính.       Đồng thời, báo cáo đưa ra  những giải pháp để củng  cố nền khoa học Ấn Độ trong đó việc giảm thiểu tiến tới loại bỏ thói  quan liêu được coi là quan trọng hàng đầu.  Theo Bản báo cáo, tuy là một cường quốc khoa học nhưng vị thế của Ấn Độ trong cộng đồng khoa học thế giới đã giảm sút trong 20 năm qua. Tỉ lệ GDP dành cho R&D vẫn giậm chân tại chỗ trong 2 thập kỷ qua trong khi phần lớn các quốc gia châu Á năng động khác đã vượt qua Ấn Độ. 2/3 chi tiêu cho R&D của Ấn Độ là của Chính phủ, trong khi đó tại Hàn Quốc khoảng 30% ngân sách dành cho R&D là của Chính phủ, phần còn lại là của bên công nghiệp. Ngoại trừ lĩnh vực như dược phẩm, CNTT, ngành công nghiệp có vẻ như không đầu tư nhiều hoặc có nhiều đặt hàng cho khoa học Ấn Độ. Việc đầu tư cho khoa học không thoả đáng của cả Chính phủ và bên công nghiệp dẫn tới sự thiếu kết nối giữa các phòng nghiên cứu cơ bản và bên công nghiệp.    Trong các kỳ thi Olympic quốc tế, sinh viên Ấn Độ xếp cùng nhóm với sinh viên các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản về số huy chương đạt được trong toán học, còn trong sinh học, họ vượt qua Mỹ. Tuy nhiên, những thanh niên trẻ tài năng khi lựa chọn sự nghiệp họ ưu tiên hơn cho những ngành nghề khác vì họ nhìn thấy khoa học mang lại ít cơ hội hơn. Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ sinh viên lựa chọn sự nghiệp nghiên cứu, ví dụ có thể chọn lựa ra 1000 sinh viên ưu tú nhất của Ấn Độ có mong muốn theo đuổi con đường khoa học và có những học bổng cho các sinh viên này trong con đường học vấn tiếp theo hoặc để bắt đầu nghiên cứu. Khu vực tư nhân cũng có thể tham gia vào việc tài trợ này như tập đoàn tin học Infosys đưa ra giải thưởng Infosys để vinh danh những nhà nghiên cứu xuất sắc – những người đã tạo ra sự khác biệt cho khoa học Ấn Độ và khơi nguồn cảm hứng cho thanh niên theo đuổi con đường khoa học.    Tăng công bố quốc tế, bằng sáng chế        Nuôi dưỡng tài năng, củng cố  văn hóa khoa học               Nhiều quốc gia phát triển ở châu Á đang nhanh chóng xây dựng những Viện nghiên cứu mới, mong muốn thúc đẩy tiến bộ khoa học ở quy mô quốc gia. Việc xây dựng cơ sở vật chất cho khoa học phải đi kèm với những thay đổi về văn hóa khuyến khích sự sáng tạo, hợp tác, điều này cần thiết cho việc có được một thế hệ các nhà khoa học mới. Ấn Độ, một quốc gia đối mặt với những thách thức như vậy, cam kết áp dụng những chính sách mới trên diện rộng để thu hút các nhà nghiên cứu trẻ tài năng trở về nước và củng cố văn hóa khoa học.               Những năm gần đây, Ấn Độ đã tăng đáng kể đầu tư cho khoa học (ngân sách gần đây đã tăng gấp đôi so với cách đây 5 năm). Nguồn tài chính mới đã được dùng trực tiếp để thành lập những viện nghiên cứu mới, củng cố các cơ sở nghiên cứu cũ và tăng cường nhân lực cho nghiên cứu giảng dạy. Tuy nhiên, Ấn Độ không lựa chọn chiến lược như của Trung Quốc và Singapore là chi những khoản tiền hào phóng cho các nhà nghiên cứu cao cấp của Mỹ và châu Âu để chuyển tới hoặc thành lập những thí nghiệm tại châu Á mà hướng tới các nhà khoa học trẻ những người đã được đào tạo ở nước ngoài và hy vọng sẽ lôi kéo được họ về nước. Để khuyến khích hồi hương, Chính phủ Ấn Độ đã đề ra một số chương trình học bổng để hỗ trợ các phòng thí nghiệm độc lập ở Ấn Độ và các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ bắt đầu sự nghiệp khoa học.               Thành công trong khoa học không chỉ nảy lên từ những phòng ốc mới và các trang thiết bị. Sự bảo đảm tốt nhất cho thành công trong tương lai là làm cho các nhà khoa học trẻ thấm nhuần trách nhiệm của họ, và không chỉ nuôi dưỡng khoa học mà còn cả văn hóa bồi đắp cho khao khát thành công trong những quốc gia vốn vẫn xem con đường nghiên cứu như là lựa chọn thứ hai.               (Science)        Để đóng góp có ý nghĩa vào khoa học thế giới, các công bố quốc tế của Ấn Độ phải tăng từ 2% hiện nay lên 10% trong vòng 10 năm tới. Các nhà nghiên cứu Ấn Độ cũng cần đăng ký nhiều bằng sáng chế hơn nữa: từ 1900 bằng sáng chế quốc tế năm 2007 tăng lên mức 20.000 vào năm 2020.  Mỗi năm Ấn Độ đào tạo 400.000 kỹ sư và 300.000 cử nhân công nghệ thông tin nhưng chỉ có 20.000 thạc sĩ và gần 1000 tiến sĩ. Trong năm 2007-2008, tỉ lệ nhà nghiên cứu tại Ấn Độ là 156 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân, tỉ lệ này ở Mỹ là 4.700/triệu dân. Do phần lớn các cử nhân ngành kỹ thuật của Ấn Độ sau khi tốt nghiệp không học tiếp lên cao mà đi làm, dẫn tới thiếu hụt nguồn nhân lực cho các trường đại học cũng như nghiên cứu. Không thể có hệ thống giáo dục tốt nếu không có đội ngũ giáo viên giỏi.   Bản báo cáo đưa ra một số giải pháp để xây dựng cơ sở cho những đổi mới trong giáo dục đại học: Ở bậc giáo dục đại học, cần phải có sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong đó bao gồm cả việc Nhà nước tạo ra thuế ưu đãi cho các trường đại học tư nhân để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội; có những sáng kiến mới trong đào tạo kỹ thuật với sự trợ giúp cho các trường công nghệ để có thể thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và kinh doanh; sự năng động của ban lãnh đạo đi liền với quyền tự chủ; tạo điều kiện về cơ sở vật chất tốt nhất cho những nơi hoạt động hiệu quả; hình thành chính sách tuyển dụng riêng cho các khoa; giảm thiểu sự can thiệp về chính trị; kết hợp đào tạo cử nhân với nghiên cứu chất lượng cao.    Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm CNC  Trong những năm vừa qua, cơ cấu xuất khẩu của Ấn Độ đang thay đổi, các sản phẩm công nghệ cao bắt đầu tăng. Ví dụ như công nghiệp ô tô của Ân Độ đã vượt Trung Quốc vào năm ngoái, yếu tố chính làm nên sự phát triển này là trình độ tay nghề cao của nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này. Các vệ tinh của Ân Độ có giá rẻ hơn 25-30% của các quốc gia phương Tây.   Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn chưa phải là quốc gia mạnh về xuất khẩu công nghệ cao. Trong giai đoạn 1995-2006, xuất khẩu trong lĩnh vực công nghệ cao của Ấn Độ tăng 4 lần (từ 1 tỉ USD lên 4.5 tỉ USD) nhưng cũng cùng thời gian này Brazil tăng gấp 8 lần và Trung Quốc tăng gấp 25 lần (gần 300 tỉ USD). Năm 2006, công nghệ cao chỉ chiếm 0,49% GDP của Ấn Độ và chỉ chiếm 0,23% xuất khẩu công nghệ cao của toàn cầu.   Cùng với những chính sách đúng đắn khuyến khích đổi mới, sáng tạo và xuất khẩu công nghệ cao, chính phủ cần phải cung cấp tài chính đầy đủ cho những lĩnh vực ưu tiên mà Ấn Độ có khả năng cạnh tranh với thế giới.   Đổi mới sáng tạo  Ấn Độ đã có vai trò quan trọng trong đổi mới sáng tạo trên một số lĩnh vực, đặc biệt trong ngành công nghệ thông tin, Ấn Độ đã tạo ra mô hình kinh doanh mới thông qua hoạt động làm dịch vụ cho nước ngoài, đã tạo ra thành công và sự tăng trưởng chưa từng có. Những đổi mới sáng tạo trong cộng đồng rất phát triển, nhưng phần lớn chỉ là cải tiến công nghệ, kỹ thuật, còn những đổi mới sáng tạo mang tính đột phá vẫn còn ít. Do vậy, Ấn Độ đã đưa ra những giải pháp để hình thành nền kinh tế sáng tạo bao gồm: dự án đại học đổi mới sáng tạo; thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các start-up; quỹ cho các ý tưởng đối mới sáng tạo tại các tổ chức nghiên cứu, trường đại học của Chính phủ; cho phép các nhà khoa học được nghỉ phép và có nguồn tài chính nhất định để thực hiện các ý tưởng của họ tại các doanh nghiệp; tạo ra những thay đổi trong chương trình học nhằm khuyến thích tư duy sáng tạo của học sinh; quỹ để khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong xã hội; thúc đẩy mối liên kết giữa hàn lâm, các phòng thí nghiệm R&D và các doanh nghiệp…  Dự án Đại học đổi mới sáng tạo   Chính phủ của Thủ tướng Manmohan Singh đồng ý với dự án xây dựng 14 trường đại học đổi mới sáng tạo với mục tiêu của dự án là biến Ấn Độ trở thành trung tâm tri thức toàn cầu. Các trường đại học trong dự án sẽ có sự tự chủ trong việc bổ nhiệm, hợp tác, tìm kiếm nguồn tài chính và trao bằng. Dự thảo luật mới cho hệ thống trường đại học này do Bộ Phát triển nguồn nhân lực soạn thảo.   Những điểm chính trong dự thảo mới này là:  – Các trường đại học đổi mới sáng tạo sẽ có quyền đưa ra các tiêu chí xét tuyển của mình nhưng phải đảm bảo 50% sinh viên theo học tại bất cứ chương trình nào phải là công dân Ấn Độ.  – Hướng tới tất cả các đối tượng sinh viên, không phân biệt đẳng cấp, giới tính, tuy nhiên các trường đại học sẽ phải có chính sách riêng cho các nhóm đối tượng có hoàn cảnh kinh tế khác nhau.   – Việc liên kết với các đối tác nước ngoài phải có thoả thuận hợp tác và thoả thuận này sẽ phải được Quốc hội phê duyệt. Quyết định phê duyệt thoả thuận hợp tác sẽ được đưa ra trong vòng 6 tháng.   Hiện tại, trường Đại học Yale là đối tác đầu tiên đề nghị hợp tác với Ấn Độ trong Việc xây dựng các trường đại học đổi mới sáng tạo. Nhiều thông tin khác cho hay, các trường Đại học của Anh như Cambridge, Imperial College cũng quan tâm tới dự án này.   – Ban điều hành của các trường đại học bao gồm 1/3 thành viên từ trường đại học. Ban điều hành này có quyền bổ nhiệm giáo sư hoặc phó giáo sư cũng như mời các sinh viên sau đại học có thành tích tốt đảm nhận vị trí trợ giảng.   – Ban điều hành cũng sẽ chỉ định kiểm toán kiểm tra tài chính của các trường đại học này.  – Về tài chính, các trường đại học trong mạng lưới mới này sẽ có quyền nhận tài trợ, đóng góp từ các sinh viên cũ, 80% của khoản thu nhập này sẽ được sử dụng để phát triển cơ sở nghiên cứu. Bộ Phát triển nguồn nhân lực có thể có những tài trợ để phát triển trong trường hợp hiệu trưởng của trường mong muốn Chính phủ đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt động của họ.   Việc hình thành 14 trường đại học đổi mới sáng tạo thể hiện cam kết của Chính phủ Ấn Độ thúc đẩy nghiên cứu và khuyến khích sự cộng năng giữa nghiên cứu và giảng dạy. Các trường đại học này sẽ đề cao văn hoá nhân văn, tìm kiếm chân lý. Các cơ sở đào tạo này cũng sẽ nỗ lực cung cấp cho xã hội những con người có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước và vun trồng những giá trị đạo đức, tri thức.                 Giảm thiểu thói quan liêu trong hoạt động khoa học  Hoạt động khoa học tại Ấn Độ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các thói hành xử quan liêu và cách thức kiểm tra tài chính và hành chính cứng nhắc. Một trong những điều kiện quan trọng cho phát triển khoa học và loại bỏ hoặc giảm thiểu thói quan liêu, như Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh từng nói.   Hội đồng tư vấn khoa học của Thủ tướng đề nghị thành lập Ủy ban cải cách hành chính trong khoa học bao gồm các nhà khoa học để cấu trúc lại hệ thống hành chính tại các trường đại học, phòng thí nghiệm quốc gia và các cơ sở nghiên cứu khoa học khác để đảm bảo tạo ra môi trường lành mạnh cho đào tạo và nghiên cứu. Việc cải tổ đặc biệt quan trọng trong hệ thống đại học công nơi cần có những cách thức mới trong bổ nhiệm, thăng tiến của nhân sự cao cấp, sự tự chủ lớn hơn của các cơ sở này, tóm lại là những đổi thay sâu sắc môi trường học thuật.  Từ những thành tích nổi bật của một số trường đại học công và sự phồn vinh của khu vực tư nhân đang góp phần vào làm thay đổi bức tranh của khoa học Ấn Độ. Người ta hy vọng với cam kết tăng gấp đôi ngân sách cho khoa học của Chính phủ trong 10 năm tới và những chương trình cải cách nếu được tiến hành thành công sẽ tạo ra làn sóng mới về đầu tư và phát triển cho khoa học và giáo dục.   Lê Ngọc tổng hợp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Bắc Triều Tiên: Cơ hội hợp tác quốc tế trong tương lai gần      Bắc Triều Tiên, quốc gia bị cô lập đã xuất bản ít nhất 100 công bố quốc tế mỗi năm. Nay nhờ tình hình chính trị đã bớt căng thẳng mà các nhà nghiên cứu có thể hi vọng cho sự kết nối mạnh mẽ hơn với đồng nghiệp quốc tế trong tương lai gần.      Trường Đại học Kim II Sung chiếm gần một nửa tổng số công bố hằng năm của Bắc Triều Tiên. Ảnh: Nhà dược học Ryong Son II của Bệnh viện Kim Man Yu từng theo học tại khoa dược Trường Y khoa Pyongang của Đại học Kim II Sung. Nguồn: 216changun.tumblr.com     Các công bố quốc tế Bắc Triều Tiên vẫn còn ít ỏi nhưng sau những cuộc đối thoại trong bầu không khí hòa bình mang tính lịch sử vừa qua với Hàn Quốc, các nhà khoa học đã có đủ hi vọng vào việc quốc gia này sẽ khai thông để có thể đón nhận nhiều mối quan hệ hợp tác quốc tế hơn.     Trong bài phát biểu ngày 20/4/2018, nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-un cho biết, đất nước của ông có thể bắt đầu tập trung vào việc thúc đẩy kinh tế thông qua khoa học và giáo dục. Mới trở về sau cuộc họp bàn về các đề xuất nghiên cứu với các nhà khoa học Bắc Triều Tiên vào ngày 21/4 tại Pyongyang, James Hammond – nhà địa chấn học ở Birkbeck, trường Đại học London, bình luận, điều đó hứa hẹn một viễn cảnh tươi sáng cho khoa học quốc gia này.  Hammond tham gia vào một hợp tác nghiên cứu hiếm hoicùng các đồng nghiệp Mỹ, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên về Paektu, một núi lửa tiềm ẩn nhiều nguy cơ phun trào nằm gần biên giới Bắc Triều Tiên – Trung Quốc. Nghiên cứu này đã bắt đầu từ năm 2011 và có ít nhất một công bố quốc tế trên Science Advances vào tháng 4/2015. Hammond cho biết thêm, “Tôi có một cảm giác tích cực về Bắc Triều Triên. Rõ ràng là hiện giờ khoa học và các nhà khoa học ở đó đều được quan tâm đầu tư ở mức rất cao. Các đồng nghiệp của chúng tôi đều rất say mê theo đuổi khoa học và hướng đến hợp tác quốc tế. Bầu không khí nồng ấm mới trong quan hệ chính trị có thể góp phần làm gia tăng thêm điều đó”.       Bắc Triều Tiên đã sẵn sàng mở rộng sự hiện diện của mình trong hệ thống ấn phẩm khoa học quốc tế: năm ngoái, các nhà khoa học nước này đã xuất bản hơn 80 công bố quốc tế trong số những tạp chí thuộc nhóm chính trong các chuyên ngành, nhiều gấp 4 so với số lượng công bố của họ vào năm 2014 – theo dữ liệu thống kê của Web of Science. (Các hồ sơ về xuất bản quốc tế của Bắc Triều Tiên có thể không đáng tin cậy lắm nhưng những chỉ dẫn khoa học khác cũng cho thấy những thay đổi tương tự về xuất bản của họ; con số thống kê này không bao gồm các báo cáo hội nghị).     Đối tác lớn nhất về khoa học của họ là Trung Quốc -các nhà khoa học Bắc Triều Tiên đồng xuất bản công trình với các đồng nghiệp Trung Quốc chiếm 60% tổng số công bố trong vòng 3 năm trở lại đây.     Bên cạnh nghiên cứu về khoa học địa cầu kể trên còn có một dự án hợp tác với một nhóm nghiên cứu Hà Lan để đưa các gene giúp khoai tây có khả năng chống chịu được bệnh tàn rụi, và một hợp tác với các nhà hóa học tại Anh về những khía cạnh lý thuyết của pin mặt trời bằng vật liệu perovskite.     Aron Walsh– nhà khoa học vật liệu tại Đại học Hoàng gia Anh từng tham gia hợp tác này, đã xuất bản hai công bố quốc tế với các nhà nghiên cứu Bắc Triều Tiên chỉ bằng con đường trao đổi thông tin khoa học qua email. Walsh nói, “chúng tôi hi vọng cuối cùng sẽ có dịp gặp gỡ nhau vào mùa hè này. Ông cũng cho biết thêm, Hàn Quốc cũng có một cộng đồng lớn nghiên cứu về vật liệu perovskite và “tôi đã từng thấy một sự lạc quan dè dặt xung quanh khả năng hợp tác liên Hàn trong lĩnh vực này.”     Các nhà nghiên cứu Bắc Triều Tiên đang bắt đầu công bố các công trình khoa học của chính mình, đặc biệt trong lĩnh vực toán học, vật lý và khoa học vật liệu. Về tổng thể, những lĩnh vực nghiên cứu chính của quốc gia này là kỹ thuật, vật lý, hóa học, khoa học vật liệu và toán học, vốn chiếm 80% tổng số công bố của họ kể từ năm 2015. Và các nhà nghiên cứu trường Đại học Kim Il-sung tại Pyongyang chiếm gần một nửa tổng số công bố của đất nước mình.     Tập trung vào nghiên cứu     Grant Lewison – một chuyên gia đặc biệt về trắc lượng thư mục tại Đại học Kinh (King’s College London) đang nghiên cứu về công bố quốc tế của Bắc Triều Tiên, nhận xét, dường như Bắc Triều Tiên không dành nhiều quan tâm đến công nghệ sinh học và y sinh dược học.     “Không còn nghi ngờ gì nữa, nỗ lực nghiên cứu khoa học của quốc gia này đã được hướng thẳng tới mục tiêu ứng dụng trong quốc phòng”, ông nói. Nếu có được sự cởi mở về chính trị hơn thì họ sẽ có thể gia tăng số lượng công bố quốc tế – đặc biệt là thiết lập được những hợp tác với Hàn Quốc.     Dĩ nhiên, số lượng công bố quốc tế của Hàn Quốc hiện nay đang ở thế vượt trội so với người hàng xóm của mình. Năm ngoái, Hàn Quốc có trên 63.000 công bố, tăng lên 14% so với năm 2014.     Hammond hy vọng, nghiên cứu sẽ trở thành phương tiện hữu hiệu nối mối quan hệ hợp tác Bắc – Nam. “Khoa học là một cơ sở để người ta có thể xây dựng được những mối quan hệ tốt”, ông nhận xét. Ông và đồng nghiệp đang chuẩn bị một công trình cho những phân tích đầu tiên của họ về núi lửa Paektu bằng cách sử dụng dữ liệu địa chấn của cả Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. “Nếu chúng ta muốn hiểu về ngọn núi lửa này, cần phải có sự tiếp cận xuyên biên giới”, Hammond giải thích.     Hợp tác nghiên cứu khoa học như thế này vẫn còn phải đối mặt với vô số rào cản ngoại giao. Năm ngoái, Mỹ cho biết, người mang hộ chiếu Mỹ có thể không tới được Bắc Triều Tiên nếu không có sự miễn trừ đặc biệt. Và các trừng phạt hiện nay của Mỹ có thể ngăn cản những hợp tác khoa học với Triều Tiên trừ phi có sự đồng ý từ một ủy ban của Liên Hợp Quốc nếu nghiên cứu đó không liên quan đến hạt nhân hoặc các hoạt động liên quan đến quân sự (các nhà khoa học đã nhận được sự cho phép của Liên Hợp Quốc, Hammond cho biết).     Nghiên cứu của Bắc Triều Tiên về năng lượng hạt nhân (lĩnh vực họ không cần đến việc phải có công bố trên các tạp chí quốc tế) từng được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ hợp tác với Nga, Jenny Town – Phó giám đốc tại Viện nghiên cứu Mỹ-Hàn tại trường Các nghiên cứu quốc tế tiên tiến Johns Hopkins (SAIS) tại Washington DC, nói. Trước đây, Bắc Triều Tiên và Mỹ từng có một trao đổi khoa học về các chủ đề về năng lượng và biến đổi khí hậu.Town lưu ý, “Tất nhiên là cũng có rất nhiều quan tâm vào việc hợp tác nghiên cứu trở lại nhưng cũng có ít hi vọng khi các lệnh trừng phạt ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn”.     Kim Jong-un đã cam kết vào tuần trước là sẽ đóng cửa khu liên hợp hạt nhân Punggye-ri của Bắc Triều Tiên – nơi được Bắc Triều Tiên dùng để thử bom hạt nhân – và nói rằng sẽ cho phép các thanh tra quốc tế vào địa điểm này để thẩm tra. “Đóng cửa khu liên hợp hạt nhân và cho phép các thanh tra vào đó là một sự nhượng bộ ngoại giao quan trọng nhưng cũng chỉ là một trong những cách định hình hình ảnh đất nước theo cách ôn hòa”, Town cho biết.     Bà hiện là biên tập viên của trang web 38 North, một dự án của Viện nghiên cứu Mỹ – Hàn tại SAIS vẫn được một số chuyên gia hạt nhân Mỹ cung cấp các phân tích và tường thuật về các hoạt động hạt nhân ở Bắc Triều Tiên. “Tôi biết các nhà nghiên cứu của chúng tôi đang rất hào hứng về những tiềm năng đang được thúc đẩy trong khoa học,” bà nói.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/khoa-hoc-bac-trieu-tien-co-hoi-hop-tac-quoc-te-trong-tuong-lai-gan/2018051103175887p1c160.htm         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học cho mọi người      Đến quan sát Fête de la Science tại một số địa điểm ở Paris như Đại học Vật lý và Hóa học công nghiệp Paris (ESPCI), Đại học Hóa học quốc gia Paris (Chimie Paris Tech) hay Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Quốc gia, Cung Khám phá, Bảo tàng Curie…, chúng tôi nhận thấy đây thật sự là ngày hội dành cho mọi người.    Công chúng của ngày hội là những nhóm thanh niên, những người bạn già, và cả người khuyết tật, nhưng đông nhất vẫn là các cặp bố mẹ đi cùng con cái. Ai cũng chăm chú lắng nghe chuyên gia nói, tự tin nêu câu hỏi, và hào hứng tham gia làm các thí nghiệm, thực hành. Nhiều người, kể cả trẻ em, mang theo sổ tay ghi chép.  Ở bất kỳ điểm tổ chức sự kiện nào, không gian đều được tận dụng tối đa để cùng lúc có thể diễn ra nhiều hoạt động – thực hành thí nghiệm, trình diễn, hay tọa đàm, thuyết trình… Có những không gian có thể chứa đến trăm người, nhưng cũng có những không gian chỉ vừa cho hai-ba chục người nên cảnh ngồi bệt hay đứng lấp ló ngoài cửa không phải là hiếm, nhưng tất cả đều diễn ra trong trật tự.   Tính liên ngành thể hiện rất rõ ở các hoạt động, chẳng hạn toán học đối xứng được trình bày trong mối liên hệ với kiến trúc và âm nhạc của Bach; lịch sử ngành điện lực thế giới được viết thành bốn câu chuyện và do các nghệ sĩ thể hiện. Cũng dịp này, Raphael Haumont, nhà hóa học, Giảng viên Đại học Paris-Sud (Orsay), tác giả cuốn sách mới “Un chimiste en cuisine” (Nhà hóa học trong bếp) phân tích nghệ thuật làm bếp từ góc độ hóa học phân tử, cũng có buổi thuyết trình về tác phẩm được ông viết ra bởi hai niềm đam mê là khoa học và nấu ăn.  Đặc biệt, tại Đại học Hóa học quốc gia Paris (Chimie Paris Tech), chúng tôi đã có một chiều cuối tuần thú vị, xem các sinh viên tự tổ chức ngày hội. Hoạt động chính ở đây là trình bày và giải thích một số thí nghiệm, chẳng hạn như thí nghiệm làm ra điện từ hai củ khoai tây và nước Coca Cola; thí nghiệm cho phép quan sát một số tính chất vật lý và hóa học của tinh thể lỏng… Có tổng cộng khoảng hai mươi thí nghiệm được thực hiện trên những chiếc bàn dài phủ khăn trắng kê hai hàng dọc hành lang nối với sảnh ra vào lớn của trường. Mỗi thí nghiệm đều có ít nhất hai sinh viên phụ trách. Ghé thăm các bàn, tiếp sau nụ cười cùng lời chào niềm nở, bao giờ chúng tôi cũng được hỏi, “Các bạn có muốn nghe giải thích về thí nghiệm này không?” Riêng các em nhỏ còn được phát một phiếu trắc nghiệm gồm những câu đố vui khoa học, chỉ cần làm đúng quá nửa trong số đó, các em đã có cơ hội nhận những món đồ lưu niệm xinh xắn, chẳng hạn như chiếc thước kẻ in hình các nhà phát minh, nhà khoa học nổi tiếng thế giới và nước Pháp: Galileo, Eistein, Edison, anh em nhà Lumière…  Nina Marcard, sinh viên năm thứ hai, người chịu trách nhiệm tổ chức sự kiện này ở trường, cho biết, dự án hoàn toàn do cô cùng bạn bè xây dựng từ hồi tháng ba và sau đó tự đứng đường phát tờ rơi quảng bá. Dự án không cần thông qua nhà trường nhưng khi được Ban điều phối vùng lựa chọn, nhà trường vẫn hỗ trợ khoảng 70% chi phí. Theo lời cô, dự án được viết rất tỷ mỷ, từ việc vật liệu dùng làm thí nghiệm bao gồm những gì, có bảo đảm an toàn và vệ sinh không; giải pháp nào để không có quá nhiều người đến cùng một lúc; đến tình huống khách sẽ thoát hiểm theo lối nào nếu xảy ra sự cố…  Đúng như lời Nina nói – “chỉ những bạn có trình độ và năng lực thuyết trình mới được chọn” – nhóm sinh viên tham gia hướng dẫn thí nghiệm trong ngày hội ở đây có vẻ hùng biện đến ngạc nhiên, đồng thời cũng tỏ ra rất giỏi việc thu hút các em nhỏ bằng các điệu bộ hài hước. Quan sát nhóm bạn trẻ mặc đồng phục blouse trắng giao tiếp với công chúng, chúng tôi hiểu rằng, họ đang không chỉ chia sẻ kiến thức mà còn muốn truyền đi cả lòng nhiệt thành của mình với khoa học.                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học cơ bản và tương lai của nước Nga (I)      (Thư ngỏ gửi tới Tổng thống Liên bang Nga D.A. Medvedev và Chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga V.V. Putin)  Giới thiệu của người dịch: Một nền khoa học kỹ thuật tầm cỡ thế giới được xây dựng trong hơn 80 năm tồn tại của Liên bang Xô Viết hiện đang có nguy cơ suy tàn và tụt hậu nặng nề trong khung cảnh phát triển kinh tế thị trường tư bản tại nước Nga. Với một nỗi lo âu sâu sắc cho số phận của đất nước, hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà vật lý Nga, hơn 200 nhà khoa học Nga&#160; đang nghiên cứu và giảng dạy tại các Viện, Trường đại học trên khắp thế giới đã ký vào bức thư ngỏ dưới đây gửi tới lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước. Tháng 10/2009 Tổng thống LB Nga D.A. Medvedev đã khẳng định trên internet là được biết về nội dung thư&#160; ngỏ và lá thư đã được chuyển tới các cơ quan hữu quan để nghiên cứu xử lý. Tuy cách xa về khoảng cách địa lý cũng như trình độ phát triển khoa học, chúng tôi nhận thấy những vấn đề nêu lên trong bức thư này&#160; có không ít tương đồng với hiện trạng khoa học của Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn bộ nội dung bức thư ngỏ để cùng tham khảo.&#160;&#160;&#160;&#160;      Ngày 09 tháng 09 năm 2009   Đmitri Anatolievich và Vladimir Vladimirovich kính mến,  Chúng tôi nhận thức được nghĩa vụ của mình phải khuyến cáo lãnh đạo đất nước hướng sự chú ý tới tình trạng thảm họa hiện nay của khoa học cơ bản (KHCB) nước nhà. Sự thụt lùi của KHCB vẫn đang tiếp tục diễn ra, với tầm cỡ và mức độ nguy hiểm của quá trình này đang không được đánh giá đúng mức. Mức độ đầu tư cho KHCB của Nga đang rất mâu thuẫn với chỉ số tương ứng ở các quốc gia phát triển. Một vấn đề rất nghiêm trọng đã và đang tiếp tục thách thức nước Nga là dòng chảy liên tục lưu lượng lớn các nhà khoa học Nga rời bỏ tổ quốc ra làm việc ở nước ngoài.      Trong nhiều thập kỷ phát triển của mình, Liên Xô đã xây dựng được một cơ sở khoa học kỹ thuật (KHKT) hùng mạnh, với những cơ cấu chắc chắn cho một quá trình phát triển KHKT bền vững, bao gồm cả việc đào tạo và xây dựng nhân lực kế cận. Chính cơ sở này đã là một “kết cấu” khoa học độc đáo của xã hội chúng ta, góp phần đảm bảo quá trình phát triển không ngừng của KHKT, sức mạnh quốc phòng hùng hậu của đất nước… và duy trì được nền độc lập của quốc gia. Quá trình phân hủy hiện nay của kết cấu này chắc chắn sẽ đưa đến trong thời gian sắp tới sự ngắt quãng hoàn toàn của những kết nối truyền thống giữa các thế hệ các nhà khoa học Nga, làm mai một đi nền khoa học một thời đứng trên tầm cỡ thế giới của Liên bang Nga kèm theo một sự mất mát tri thức sáng tạo trong các mức độ thảm họa nguy hiểm.  Trong số các vấn đề nhức nhối nhất của KHCB và giáo dục đào tạo, chúng tôi xin nhấn mạnh những điểm nóng sau:        * Độ tụt dốc đáng kể của khoa học Nga khỏi một nền khoa học tầm cỡ thế giới.  * Thiếu một kế hoạch chiến lược phát triển cùng những mục tiêu được đặt ra rõ ràng.  * Chế độ đãi ngộ tài chính đối với các nhà khoa học đang tích cực làm nghiên cứu hoàn toàn không còn thích hợp và vì thế đưa tới sự sụp đổ nhanh chóng của uy tín ngành nghề khoa học và hiện trạng thiếu thốn nhân lực khoa học.  * Sự xuống cấp nghiêm trọng của tiêu chí giảng dạy các môn khoa học tự nhiên, cùng với chất lượng đào tạo sinh viên và nghiên cứu sinh ngày càng trở nên tồi tệ hơn.  Những vấn đề trên đòi hỏi phải có những giải pháp cấp bách ở mức quốc gia trong việc xây dựng kế hoạch phát triển khoa học. Chúng tôi tin rằng một chương trình Quy hoạch Chiến lược Khoa học phải được điều hành trực tiếp bởi Tổng thống và/hoặc Chủ tịch Chính phủ LB Nga, với mục đích có được càng sớm càng tốt một kế hoạch tổng thể để khôi phục sự ổn định và tiếp tục phát triển KHCB cũng như trình độ giảng dạy đào tạo khoa học tự nhiên ở nước Nga. Sự đóng góp trực tiếp của các nhà khoa học xuất sắc đầu ngành, đại diện các Bộ trong Chính phủ, đại diện các ngành công nghiệp cũng như các chuyên gia quốc tế là tối cần thiết trong quá trình xây dựng kế hoạch tổng thể trên. Đây phải là một đội ngũ các cá nhân rất tích cực làm việc, tâm huyết hướng đến tương lai với tầm tư duy vĩ mô vì lợi ích quốc gia.  Sau đây là một số đề nghị cụ thể của chúng tôi cho kế hoạch chiến lược tổng thể phát triển KHCB ở Liên bang Nga:  * Điều chỉnh tăng đầu tư cho khoa học ở mức độ hợp lý đối với các nhiệm vụ, mục tiêu của đất nước cũng như đảm bảo những điều kiện lao động sáng tạo và mức sống của các nhà khoa học.  * Xác định được các hướng quan trọng nhất cho quá trình phát triển KHKT cùng những chương trình KHKT cụ thể làm chỉ số đặc trưng cho phát triển KHKT mà sẽ mang lại được cho đất nước những thành quả nền tảng tương tự như các chương trình công nghệ vũ trụ và hạt nhân của Liên Xô trước đây.  * Tích cực triển khai trên lãnh thổ Liên bang Nga những chương trình nghiên cứu KHKT lớn tầm cỡ thế giới. Mục đích chính của những dự án như vậy là góp phần đưa trọng tâm của nghiên cứu khoa học tiền tiến trở lại nước Nga. Việc này có ý nghĩa rất lớn, giúp động viên tinh thần cộng đồng cũng như thực sự đẩy mạnh phát triển khoa học và đồng thời là một chỉ số quan trọng của phát triển KHKT. Một khả năng độc đáo như vậy là việc thiết kế, xây dựng một máy gia tốc hạt cơ bản năng lượng cao thuộc thế hệ mới. Dự án này chắc chắn đòi hỏi phát triển nhiều dạng công nghệ hiện đại nhất mà sẽ có những tiềm năng ứng dụng rất lớn trong phát triển công nghiệp năng lượng, các công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu và nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là tiềm năng ứng dụng của những công nghệ hiện đại này trong thiết kế và xây dựng những lò phản ứng hạt nhân an toàn với hiệu năng cao. Như vậy, dự án sẽ góp phần đưa nước Nga vào vị trí tiên phong trong việc phát triển một nền kinh tế sản xuất có hàm lượng khoa học cao (lá thư trình bày một trong những phương án khả thi của dự án này đã được gửi đến Tổng thống và Chính phủ Liên bang Nga trong tháng 7 năm 2008).  * Đảm bảo sự tường minh tuyệt đối trong các nguồn tài chính của khoa học, theo chuẩn mức đạt được ở những chương trình nghiên cứu quốc tế lớn.  * Kiên quyết nâng cao mức độ hội nhập của khoa học Nga vào nền khoa học thế giới, tiến tới vị trí đi đầu của nước Nga trong nhiều dự án khoa học quốc tế quan trọng nhất. Nga tham gia tích cực vào thị trường lao động khoa học hàn lâm quốc tế: tạo mở các vị trí công việc hàn lâm ở mức quốc tế, đảm bảo sự tham gia bình đẳng của các ứng cử viên ngoại quốc vào các chỗ làm này (bao gồm các vị trí tạm thời và biên chế vô thời hạn), đảm bảo điều kiện sống và làm việc hấp dẫn đối với những ứng cử viên trúng tuyển.  * Đưa các chuẩn mực quốc tế vào việc đánh giá lao động khoa học, xây dựng và củng cố cơ chế tài trợ độc lập các dư án khoa học.  * Thành lập một Viện Nghiên cứu Cao cấp (VNCCC) của nước Nga với sự tài trợ từ ngân sách nhà nước và tài chính tư nhân theo mẫu các viện tương tự ở Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản. Tạo mở trong VNCCC này các vị trí hàn lâm mời các nhà bác học trình độ cao nhất của Nga và thế giới đến làm việc trên cơ sở tuyển chọn cạnh tranh đúng theo các chuẩn mức quốc tế, khởi động các chương trình trao đổi, hợp tác khoa học quốc tế năng động.  * Xây dựng một chương trình thống nhất quốc gia tiến hành phổ biến và tuyên truyền tri thức khoa học đến học sinh phổ thông cùng các tầng lớp xã hội trong cả nước.   Chúng tôi tin rằng việc phải ngăn chặn ngay quá trình suy tàn của nền khoa học nước nhà, xây dựng cấp tốc và áp dụng ngay một mô hình mới cho phát triển KHKT phải là một trong các công việc ưu tiên nhất của lãnh đạo Liên bang Nga.  Chúng tôi, tất cả những người ký tên dưới đây, không có liên quan tới bất kỳ quan tâm chính trị, quyền lợi kinh tế của công ty tập đoàn nào trong nước Nga. Cùng chia sẻ một cảm súc – nỗi lo âu sâu sắc về số phận nước Nga, chúng tôi kêu gọi lãnh đạo quốc gia hãy có những bước đi kiên quyết để xử lý các vấn đề đặt ra trong thư này và chúng tôi luôn sẵn sàng dùng những kinh nghiệm, tri thức và sức mạnh hiểu biết của mình để cung cấp hỗ trợ chuyên môn trong các câu hỏi trên.  Kính thư,  Các tác giả của bức thư ngỏ (hơn 206 người) đã ký tên.  Đào Tiến Khoa dịch từ nguyên bản tiếng Nga đăng trên trang Web  http://www.hep.phys.soton.ac.uk/~belyaev/open_letter/          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học cơ bản và tương lai nước Nga (II)      (Những phản hồi chính thức của lãnh đạo Liên bang Nga sau thư ngỏ của hơn 200 nhà khoa học Nga gửi Tổng thống D.A. Medvedev và Thủ tướng V.V. Putin)  Giới thiệu của người dịch: Trong vòng 2 tháng sau khi nhận được bức thư ngỏ của các nhà khoa học Nga gửi tới lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước. Tổng thống D.A. Medvedev, Thủ tướng V.V.&#160; Putin và các lãnh đạo cao cấp khác của chính phủ Nga đã có phản hồi nhanh chóng cùng những tuyên bố quan trọng về kế hoạch phát triển khoa học kỹ thuật của Liên bang Nga trong những năm tới. Chúng tôi xin trích giới thiệu dưới đây để bạn đọc cùng tham khảo.&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;     1) Ngày 07/10/2009, Tổng thống Medvedev đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan nghiên cứu đề nghị của các nhà khoa học Nga trong bức thư ngỏ.  (http://www.rian.ru/science/20091007/187863370.html )  2) Ngày 19/10/2009, Tổng thống D.A. Medvedev tuyên bố: “Tôi đã làm quen với nội dung chi tiết của bức thư…”. (http://news.kremlin.ru/transcripts/577)       3) Ngày 07/11/2009, Tổng thống Medvedev khẳng định ông ủng hộ việc sử dụng chỉ số trích dẫn của các công trình khoa học đã công bố để đánh giá hiệu quả công việc của các nhà khoa học. (http://www.polit.ru/science/2009/11/07/medvedev.html)  4) Đặc biệt, ngày 12/11/2009  Tổng thống Medvedev đọc thông điệp trong cuộc họp Liên bang đề cập tới chủ trương phát triển khoa học và công nghệ. (http://news.kremlin.ru/transcripts/5979 )     “Chúng ta sẽ tạo lập một môi trường với những điều kiện khoa học thuận lợi cho việc thực hiện trong nước Nga những dự án nghiên cứu và triển khai (NCTK) tầm cỡ thế giới. Nhà bác học Pháp Luis Pasteur đã có lần chia sẻ rất tâm huyết: Khoa học phải là sự hiện thân cao quý nhất của Tổ quốc bởi vì trong tất cả các dân tộc trên thế giới này vị trí đứng đầu luôn thuộc về ai đi tiên phong trong lĩnh vực trí tuệ và lao động tri thức… Đây thực sự là những lời tiên tri tuyệt vời.             Dân tộc ta đã từng có nhiều nhân tài với khả năng sáng tạo đem lại tiến bộ và thực hiện những phát minh mới. Chính họ là những con người góp phần tạo rạ nền tảng của thế giới tri thức phát triển và chúng ta phải làm tất cả để những chuyên gia này thực sự quan tâm đến việc trở về làm việc ngay trong đất nước quê hương của mình. Do đó chúng ta phải có được một cơ chế vận hành thường xuyên để hỗ trợ và hấp dẫn được các nhà khoa học giỏi gốc Nga, các chuyên gia nước ngoài cũng như các nhà kinh doanh có kinh nghiệm thương mại hóa những kết quả NCTK đến làm việc ở nước Nga. Rõ ràng đây không phải là một công việc đơn giản. Các thủ tục để công nhận học vị khoa học, bằng tốt nghiệp đại học cấp bởi các trường đại học nổi tiếng thế giới cũng như các quy định hành chính trong việc tiếp nhận các chuyên gia ngoại quốc vào nước Nga làm việc phải được đơn giản hóa. Thị thực cho các chuyên gia ngoại quốc này phải được cấp nhanh chóng và cho một thời gian cư trú dài hạn, đơn giản vì chúng ta cần đến họ chứ không phải ngược lại.                Nhân đây tôi muốn nói rằng nhiều người đã gửi phản hồi về bài báo của tôi và nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đồng bào của chúng ta hiện đang làm việc ở nước ngoài hoàn toàn có thể tập hợp thành một lực lượng đáng kể trong hiệp hội chuyên gia tư vấn và giúp đỡ chuyên môn ở trình độ quốc tế cho các dự án khoa học và công nghệ của nước Nga, và một khi các điều kiện cần thiết có được đầy đủ thì họ có thể quay trở về đất nước.            Tôi đề nghị Chính phủ phải có trách nhiệm tăng cường việc tài trợ dưới dạng dự án cho các hoạt động NCTK công nghệ mới nhất trên cơ sở cạnh tranh công khai. Các cơ quan đầu tư phát triển của nhà nước phải tìm tòi và lựa chọn được những dự án có nhiều triển vọng trên toàn bộ lãnh thổ đất nước để cung cấp hỗ trợ tài chính cho những doanh nghiệp sản xuất thử nghiệm bao gồm cả những doanh nghiệp nhỏ vừa được thành lập tại các trường đại học và các viện nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật. Tất nhiên, các rủi ro của quá trình này phải được tìm cách chia sẻ cùng với các nhà đầu tư tư nhân.     Vấn đề này đang được đồng bào trong nước bàn luận nhiều. Thí dụ, gần đây có ý kiến đề nghị từ vùng Altai là phải thành lập ngay trong các trường đại học hiện đại những cơ sở “kinh doanh thử”. Đây là một trong những đề nghị đã được khuyến cáo từ những năm trước và chính tại những cơ sở như vậy các cử nhân, kỹ sư tương lai sẽ học được cách áp dụng những ý tưởng phát minh kỹ thuật của mình ngay vào các dự án kinh doanh, sản xuất thử có lãi. Tôi cho rằng những ý tưởng như vậy xứng đáng mọi sự hỗ trợ và khuyến khích.        Tôi nhấn mạnh rằng, không chỉ quốc gia mà tất cả các tập đoàn kinh tế lớn của đất nước phải tham gia vào việc xây dựng các đơn đặt hàng thăm dò đối với các kết quả NCTK của những dự án như vậy. Đúng hơn, đây là trách nhiệm xã hội của các công ty tư nhân. Ngoài ra, một phần lớn các dự án này phải được kiểm định chuyên môn quốc tế và thực hiện trong sự hợp tác kinh doanh với các đối tác quốc tế.   Chậm nhất là Quý I sang năm, Chính phủ phải ra được những quyết định về tổ chức hành chính và ngân sách đảm bảo việc thực thi các nhiệm vụ trên. Tôi nhấn mạnh rằng việc phân kinh phí ngân sách nhà nước cho những mục tiêu này đặc biệt phải tính đến những ưu tiên mà chúng ta đã lựa chọn cho công cuộc phát triển khoa học kỹ thuật.    Cuối cùng, chúng ta cần hoàn thành công việc nghiên cứu độ khả thi của đề nghị xây dựng trong lãnh thổ Liên bang Nga một trung tâm NCTK lớn tầm cỡ thế giới, tập trung các hoạt động nghiên cứu theo tất cả các hướng ưu tiên của phát triển khoa học kỹ thuật, tôi nhấn mạnh là tất cả các hướng. Cụ thể đây phải là những trung tâm công nghệ hiện đại, mong muốn được như thung lũng Silicon hoặc các trung tâm khoa học công nghệ tiền tiến tương tự khác trên thế giới. Trong khuôn khổ dự án này, các điều kiện sống và làm việc hấp dẫn nhất sẽ được đảm bảo cho các bác học đầu ngành, các công trình sư, kỹ sư thiết kế, chuyên gia lập trình,  quản lý dự án cùng các nhà đầu tư… Những sản phẩm khoa học công nghệ tương lai của trung tâm phải ở tầm cạnh tranh cao nhất trên thị trường công nghệ hiện đại của thế giới.”   5) Tại phiên họp toàn thể của Đại hội lần thứ XI Đảng Nga thống nhất diễn ra ngày 21/11/2009  Thủ tướng V.V. Putin cũng đã đọc báo cáo trong đó có nhấn mạnh tới vai trò của khoa học và giáo dục đối với tương lai của nước Nga (http://www.edinros.ru/text.shtml)  “Một trong những ưu tiên hàng đầu của chúng ta là khoa học và giáo dục. Tuy nhiên, rất tiếc phải công nhận rằng nhiều trường đại học và trung tâm khoa học nổi tiếng của đất nước chúng ta hiện vẫn còn lạc hậu nhiều so với các cơ sở tiên phong trên thế giới về hạ tầng cơ sở và trang bị kỹ thuật. Những kết quả nghiên cứu đột phá cũng như sự hiện diện của các trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại nhất vẫn chỉ là một vài thí dụ đặc biệt.   Chúng ta đã bắt đầu các công việc hệ thống để hiện đại hóa lĩnh vực nghiên cứu khoa học (NCKH), bao gồm cả NCKH trong các trường đại học. Ở đây chúng ta cũng cần hướng tới sự hỗ trợ cũng như tập hợp được tất cả những tri thức sáng tạo tiên tiến nhất.   Trong những ngày qua Chính phủ đã thông qua một chương trình thành lập trong thời gian 5 năm tới 14 trường đại học chuyên sâu NCKH với tổng kinh phí gần 50 tỷ rúp (tỷ giá hiện nay 1 USD đổi được gần 30 rúp, ND). Trong đó ít nhất một nửa được chi từ ngân sách Liên bang.   Sau khi đánh giá những nguồn dự trữ đang có, chỉ cách đây 2-3 ngày chúng tôi đã đi đến kết luận là cần phải thực hiện tiếp một số bước bổ sung cho chương trình này.   Vì vậy, tôi đề nghị là sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta chi bổ sung trong 3 năm tới thêm 90 tỷ rúp nữa để hỗ trợ các trường đại học đầu ngành của đất nước, tức là khoảng 30 tỷ rúp mỗi năm.     Những kinh phí này sẽ được chi để nâng cấp hạ tầng cơ sở NCKH cùng các phòng thí nghiệm đang có, chi cho các chương trình trao đổi khoa học để thu hút được sự tham gia giảng dạy và NCKH của các nhà khoa học đầu ngành, kể cả các nhà khoa học Nga đang làm việc ở nước ngoài. Đối với Bộ khoa học và giáo dục, đây là một nhiệm vụ bổ sung: cần xây dựng được trình tự giải ngân cho chương trình này với sự lựa chọn thích đáng các cơ sở giáo dục đại học và NCKH tương ứng.  Kết quả là các trường đại học chuyên sâu NCKH như vậy sẽ phải đạt được các vị trí dẫn đầu theo các tiêu chí đánh giá xếp hạng (ranking) giáo dục đại học và NCKH quốc tế và đồng thời trở thành những cơ sở mắt xích quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống phát triển và đổi mới khoa học công nghệ quốc gia.   Chúng ta cũng sẽ tiếp tục các công việc tiến hành xây dựng những trung tâm NCKH hùng mạnh của đất nước có đủ khả năng cạnh tranh quốc tế. Một trong những trung tâm như vậy đã được hình thành cách đây không lâu trên cơ sở Viện năng lượng nguyên tử Kurchatov. Tôi cho rằng chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng để hỗ trợ phát triển trung tâm này với kinh phí 10 tỷ rúp trong 3 năm tới, để cho tất cả thấy rằng việc thành lập một trung tâm NCKH tiên tiến như vậy không chỉ đơn giản trên các thủ tục tổ chức hành chính mà còn thực sự được nhà nước hỗ trợ.”                  Đào Tiến Khoa dịch từ nguyên bản tiếng Nga   (Nguồn: http://a-starinets.livejournal.com/)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Colombia khởi đầu của sự thay đổi      Các nhà khoa học quốc gia Nam Mỹ này đang đối diện với những vấn đề “thâm căn cố đế” đang tồn tại nhưng họ vẫn cho rằng bắt đầu đã có cơ sở để hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn.      Sinh viên và các nhà khoa học tuần hành ở Bogotá, Colombia để yêu cầu chính phủ gia tăng kinh phí đầu tư cho giáo dục đại học. Nguồn: Lokman Ilhan/Anadolu Agency/Getty  Quan liêu và thủ tục hành chính kìm hãm khoa học  Nhà miễn dịch học Susana Fiorentino phụ trách nhóm nghiên cứu Sinh học tế bào và miễn dịch học tại trường Đại học Pontifical Xavierian ở Bogotá – thủ đô của Colombia đang nghiên cứu những chất được chiết xuất từ cây anamú Nam Mỹ (Petiveria alliacea) và các cây họ Đậu divi-divi, những cây mà chị nghĩ có thể dùng để điều trị bệnh ung thư vú và máu trắng nhờ những đặc tính kháng u của chúng.  Nhưng trong khi đang cố gắng thực hiện pha điều trị thứ nhất với một chất chiết xuất từ cây divi-divi (Caesalpinia spinosa), chị gặp phải một trở ngại bất ngờ. Theo cơ quan An toàn dược Colombia (INVIMA), một phân tử từ chất chiết xuất này phải được mô tả về mặt hóa học trước khi cây thuốc được sử dụng cho một ca thử nghiệm lâm sàng. Không có một phòng thí nghiệm Colombia nào làm được công việc này, vì vậy chị phải tìm đến các đối tác ở Mỹ và Trung Quốc để thực hiện công việc này để gửi mẫu. Tuy nhiên, yêu cầu tái nhập khẩu phân tử dịch chiết với đầy đủ tính năng lại có những yêu cầu không rõ ràng , Fiorentino cho biết.  Chỉ có một cách để có được những loại thuốc tiềm năng được luật pháp Colombia công nhận là nó phải được tách chiết, mô tả đặc điểm, tổng hợp và sản xuất trong nước, trong một phòng thí nghiệm đầy đủ trang thiết bị (mà đến giờ vẫn chưa được thiết lập). Fiorentino đã phải quay trở lại với cây anamú và chị lập một phân tử khác làm chất định danh. Cuối cùng chị cũng tìm thấy một phòng thí nghiệm tương đối thích hợp ở trường Đại học Antioquia (Colombia) có thể mô tả đặc điểm hóa học của nó, thay vì tìm đối tác ở nước ngoài.  Trải nhiệm về sự quan liêu trong khoa học của Fiorentino Colombia là câu chuyện chung của tất cả các nhà nghiên cứu ở một quốc gia mới vươn dậy sau gần một nửa thế kỷ nội chiến.  Colombia, quốc gia Nam Mỹ duy nhất giáp biển Caribe và Đại Tây dương, là một bức tranh ghép của các hệ sinh thái, bao gồm các rặng núi, các cánh rừng nhiệt đới bí ẩn, những bờ biển khúc khuỷu và những thảo nguyên rộng lớn. Nó được ghi nhận là quốc gia đa dạng sinh thái lớn thứ hai thế giới, sau Brazil và nhờ có “phòng thí nghiệm thiên nhiên” này, đất nước của 49 triệu dân có hàng chục trường đại học và viện nghiên cứu nỗ lực làm việc để phát triển khoa học đất nước, trải rộng từ Trung tâm nghiên cứu quốc tế về nông nghiệp nhiệt đới ở Thung lũng Cauca đến các phòng thí nghiệm khoa học tự nhiên tại các trường đại học lớn nhất Bogotá (thành phố này có hơn 100 viện nghiên cứu thuộc các trường đại học, cao đẳng).  Vấn đề chính đang được các nhà khoa học Colombia quan tâm là liệu khoa học sẽ tìm thấy sự ủng hộ từ nền kinh tế hậu chiến của đất nước? Bởi nhiều năm, họ đã bi quan bởi ngân quỹ đầu tư cho khoa học ít ỏi, các nguồn lực nghèo nàn và tiến trình làm khoa học bị cản trở, Andrew Crawford – nhà sinh học Mỹ từng có 9 năm làm việc tại trường Đại học Los Andes (Bogotá) đã nếm trải những thách thức trong nghiên cứu khoa học ở Colombia.  Ví dụ, việc đặt và nhận một hóa chất có thể được hoàn thành trong vòng một ngày ở Mỹ hoặc châu Âu nhưng lại phải mất tới 3 tháng ở Colombia. Với các kháng thể đơn dòng thì việc hàng tuần lưu lại trong kho hải quan mà không được làm lạnh sẽ làm chúng trở nên vô dụng khi đến được phòng thí nghiệm. “Nếu không cải thiện những vấn đề quản lý hành chính này, khoa học Colombia sẽ không bao giờ có thể cạnh tranh nổi về với các quốc gia khác”, Fiorentino nhấn mạnh.  Nhiều trong số các vấn đề hiện hữu mà các nhà nghiên cứu chỉ ra đều bắt rễ từ sự đầu tư quá ít ỏi của chính phủ cho khoa học. Hiện Colombia mới đầu tư 0,67% GDP cho khoa học, thật không thể so sánh với con số 2,8% của Mỹ.  Do vậy, năm 2017, 13 nhà khoa học đoạt giải Nobel trên khắp thế giới đã viết thư cho Juan Manuel Santos – lúc đó còn là Tổng thống, thúc đẩy ông tăng thêm đầu tư của chính phủ vào khoa học.  Chảy máu chất xám  Catalina Pimiento là một trong những nhà khoa học Colombia ra đi và không muốn trở lại đất nước. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Pontifical Xavierian ngành sinh học, đầu tiên cô chuyển tới Mexico, sau là Panama, Mỹ, Thụy Sĩ, Đức và giờ là Xứ Wales, nơi cô có học bổng postdoc ở trường Swansea, tìm hiểu về sự tuyệt chủng của một trong số loài cá mập khổng lồ Carcharocles megalodon. Dù việc xa cách quê hương có làm cô đau khổ nhưng cô cũng quyết không trở lại nơi mình sinh ra nữa. “Bởi những trải nghiệm và cơ hội nghề nghiệp mà tôi có ở nước ngoài, tôi quyết định sẽ không bao giờ về Colombia. Đơn giản là Colombia không hề đầu tư cho khoa học,” cô giải thích.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là các nhà khoa học Colombia không thể duy trì cuộc sống hay tìm ra những khám phá khoa học trong điều kiện hiện tại. Juan Fernando Díaz Nieto – một nhà sinh học ở trường Đại học EAFIT ở Medellín, đã có một sự nghiệp thành công trong việc phát hiện ra một số loài chồn opossum, loài gặm nhấm và dơi trong những vùng sâu mà hàng thập kỷ qua không thể tới vì bạo lực và nỗi đe dọa bị bắt cóc trong thời gian diễn ra nội chiến.  Díaz Nieto – người mới phát hiện ra hai loài thú có túi dọc theo lưu vực sông Magdalena tại tây bắc Colombia cho biết mình có thể thực hiện được nghiên cứu này là “thay vì trông cậy vào một khoảng đầu tư lớn thì chúng tôi hợp tác với các đồng nghiệp tại nhiều viện nghiên cứu khác của Colombia và ‘nhặt nhạnh’ từ nhiều khoản đầu tư nhỏ của Quỹ Khoa học quốc gia, trường Đại học Minnesota và Hội Các nhà nghiên cứu về động vật có vú Mỹ.”  Thiết kế ngược dự án  Dẫu sao thì Chính phủ Colombia đang cố gắng có khoản đầu tư cho khoa học tốt hơn. Một bộ luật được thông qua vào năm 2012 quy định 10% lợi nhuận thu được từ việc khai thác các nguồn lực tự nhiên phải được đưa vào quỹ KH&CN đã được phân bổ khắp 32 cơ quan chính phủ. Sáng kiến này đã được triển khai để khuyến khích nghiên cứu khoa học thông qua tài trợ cho các dự án nghiên cứu và đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu ở các trường đại học một cách công bằng.    Một buổi cà phê khoa học ở Manizales, Colombia, với chủ đề về công nghệ sinh học có thể hỗ trợ sự lớn mạnh của vùng trồng cà phê của địa phương như thế nào. Nguồn: BIOS Colombia  Nhưng phần lớn kế hoạch từ sáng kiến này đã bị phản đối, bởi vì sự quan liêu của hệ thống mới. “Rào cản logistic và thủ tục giấy tờ khiến người ta không thể giải ngân. Ngoài ra việc phê duyệt các dự án đã được thiết kế ngược: giao cho các quan chức địa phương thay vì các hội đồng khoa học.  Do vậy, dưới những bảo trợ của chính quyền địa phương, hàng triệu USD đã được đổ vào các dự án phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, năng lượng và cơ sở hạ tầng – vốn khó mà định nghĩa được phần khoa học trong đó, theo điều tra của La Silla Vacía – một trang web chuyên về thông tin chính trị của Colombia. Cuối cùng, quá trình phức tạp của việc giải ngân phải tuân theo các quy định và thủ tục đã diễn ra rất chậm chạp, đến mức cứ 5 peso đầu tư thì 2 peso không hiệu quả, cuộc điều tra này phát hiện ra. Nature đã tiếp cận chính quyền Colombia để hỏi về vấn đề này nhưng không nhận được hồi đáp.  Hướng về phía trước    Một buổi cà phê khoa học ở Manizales, Colombia, với chủ đề về công nghệ sinh học có thể hỗ trợ sự lớn mạnh của vùng trồng cà phê của địa phương như thế nào. Nguồn: BIOS Colombia​  Nhưng nhiều nhà khoa học Colombia cũng thấy ánh sáng cuối đường hầm. Vào tháng 6 vừa qua, chính phủ đã đề xuất lập Bộ KHCN & Đổi mới sáng tạo – hành động mà thượng nghị sỹ Iván Darío Agudelo hi vọng sẽ đảm bảo cho khoa học một tiếng nói trong chính phủ. Và tháng 7 – một tháng sau khi Iván Duque Márquez trở thành Tổng thống, ông đã gặp Forero và 30 nhà khoa học Colombia khác tại Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia ở Bogotá để thảo luận về tương lai của khoa học đất nước. Khi kết thúc buổi gặp gỡ, Duque đã hứa tái cấu trúc khoa học để khoa học phát huy được sức mạnh.  Tuy nhiên nhiều nhà khoa học Colombia lại không chờ đợi việc gia tăng đầu tư của chính phủ vào khoa học hay xây dựng một bộ mới. Carlos Guarnizo, nhà sinh thái học ở trường Đại học Los Andes cho biết, có những điều mà từng nhà khoa học có thể tự làm để phát triển khoa học trong đất nước này.  Guarnizo và đồng nghiệp bắt đầu mở Ciencia Sumercé – một sáng kiến khoa học cộng đồng với việc tổ chức các sự kiện, các buổi nói chuyện tại một nhà hàng ở trung tâm Bogotá, thu hút hàng trăm người háo hức muốn học hỏi về trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu và sinh thái đô thị. Anh hi vọng những sự kiện kết hợp với hoạt động truyền thông xã hội kiểu này sẽ thu hút người trẻ quan tâm đến khoa học.  Theo cách này, anh mong muốn ươm mầm một thế hệ các nhà khoa học Colombia ưu tú. “Điều này có thể đem đến những kết quả cho đất nước mà giờ đây chúng tôi còn chưa đánh giá hết,” Guarnizo nhận xét.  Thanh Nhàn dịch từ Nature  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Đài Loan phát triển ấn tượng      Sau hai thập kỷ chuyển mình, các cộng đồng khoa học của Đài Loan đã và đang đi từ chỗ hoạt động chậm chạp tới chỗ trở thành các trung tâm nghiên cứu hoạt động sôi động, có tính kết nối, có nhiều tài trợ, thậm chí có nhiều lĩnh vực ở tầm thế giới. Sự thay đổi đó có được là nhờ nền kinh tế mạnh, sự hỗ trợ của chính phủ cho giáo dục và nghiên cứu, và công sức của GS Yuan Tseh Lee – Nobel Hóa học năm 1986.    Xây dựng Viện Academia Sinica  Năm 1986, GS Lee trở thành người Đài Loan đầu tiên đoạt giải Nobel, ông chia sẻ giải Nobel Hóa học với GS Dudley Herschbach và GS John Polanyi “vì những đóng góp trong việc quan tâm tới động lực của các quá trình hóa học cơ bản”. Tám năm sau, khi GS Lee đang là giáo sư tại Đại học California-Berkeley, Tổng thống Đài Loan khi đó, Teng-Hui Lee, đã mời ông trở về quê hương sau hơn 30 năm sống ở Mỹ. GS Lee đã nhận lời mời, và trong vòng 12 năm, ông đảm nhiệm vai trò chủ tịch viện nghiên cứu Academia Sinica của Đài Loan – tổ chức khoa học nhà nước với 30 viện thành viên hoạt động trong các lĩnh vực nhân văn, khoa học xã hội, và khoa học tự nhiên. Ông bảo hộ nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mọi cấp độ trên cả nước. “Và để thúc đẩy khoa học ở Đài Loan”, GS Lee nói, “tôi cần làm hai việc. Một là có được tài trợ cho khoa học gia tăng một cách bền vững và hai là mang về các nhà khoa học hàng đầu ở tất cả các lĩnh vực”.           Chủ tịch viện Academia Sinica được phép liên lạc trực tiếp tới Tổng thống và Thủ tướng. “Điều đó khiến cho việc thuyết phục họ về tầm quan trọng của khoa học trở nên dễ dàng hơn”.           Ông đã góp phần quan trọng trong việc thuyết phục chính phủ tăng ngân sách cho viện Academia Sinica thêm 10%/năm trong vòng 10 năm. Trong năm 2013, ngân sách nội bộ của viện Academia Sinica bao gồm lương cán bộ, duy trì cơ sở hạ tầng, và các hoạt động nghiên cứu vào khoảng 450 triệu USD (xấp xỉ 14 tỷ Đài tệ), trong đó khoảng 120 triệu USD dành cho các lĩnh vực khoa học liên quan tới vật lý. “Mọi người kính nể tôi vô điều kiện bởi vì giải Nobel”, ông nói. Chủ tịch viện Academia Sinica được phép liên lạc trực tiếp tới Tổng thống và Thủ tướng. “Điều đó khiến cho việc thuyết phục họ về tầm quan trọng của khoa học trở nên dễ dàng hơn. Tất nhiên, nền kinh tế của Đài Loan khi đó thuận lợi”. Năm 1994, ngân sách cho khoa học của Đài Loan vào khoảng 1,6% GDP. Ngày nay, ngân sách cho khoa học của Đài Loan đạt mức 3% GDP; và từ 1994 đến 2013, GDP của Đài Loan tăng từ 250 tỷ USD đến 470 tỷ USD. Nói một cách ngắn gọn, GS Lee đã dẫn nối một phần sự tăng trưởng đáng ghi nhận của nền kinh tế Đài Loan – thường gọi là sự thần kỳ Đài Loan – vào trong nền khoa học của nó một cách hiệu quả.  Ngay khi lập ra viện mới (bên trong viện Academia Sinica) hay cần một người điều hành mới, ông đã tới Harvard, MIT, Illinois, Stanford thu hút các nhà khoa học xuất sắc quay trở lại Đài Loan. GS Yuh-Lin Wang, một trong những nhà khoa học từ Mỹ về làm việc ở Viện khoa học Nguyên tử và Phân tử của Academia Sinica năm 1991, sau khi hoàn thành các nghiên cứu tại Đại học Chicago và sau tiến sĩ tại Bell Labs, nói rằng GS Lee đã tạo các điều kiện làm việc giống như Viện Max Planck ở Đức hay Viện Hàn lâm Khoa học của Nga trước khi bị suy giảm vào giai đoạn cuối của chiến tranh lạnh, nên đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu, và giúp họ tập trung vào nghiên cứu; nhiều người trong số họ đồng thời đảm nhận các vị trí ở các trường đại học để tăng cường kết nối giáo viên và đại học. Trong thời kỳ GS Lee làm chủ tịch, ngân sách của viện “ở mức dồi dào để có thể hỗ trợ các nghiên cứu chuyên sâu điều hành bởi gần 900 nhà khoa học đầu đàn”.   GS Lee cũng đã chiêu mộ nhiều nhà khoa học nước ngoài cho các vị trí trong các trường đại học; ông lập nên một quỹ riêng để hỗ trợ thêm vào tiền lương chính phủ quy định. Lương trả cho các nhà nghiên cứu ở trường đại học chủ yếu đến từ Hội đồng Khoa học Quốc gia (National Science Council), một cơ quan dự định sẽ bị thay thế trong tháng này bởi một Bộ Khoa học và Công nghệ mới. Trong một thập kỷ vừa qua, đã có các chương trình quốc gia – được tài trợ bởi Hội đồng Khoa học Quốc gia và các cơ quan khác – trong các lĩnh vực như viễn thông, công nghệ nano, thiết bị kỹ thuật số, y học di truyền, và năng lượng, với ngân sách thông qua hằng năm từ 30 triệu USD (viễn thông) tới 200 triệu USD (năng lượng). Trong năm 2013, tách biệt với các chương trình quốc gia kể trên, ngân sách hằng năm của Hội đồng Khoa học Quốc gia dành cho vật lý vào khoảng 24 triệu USD; ngân sách này duy trì ổn định từ năm 2009, thời điểm nó bị cắt giảm do sự suy thoái của kinh tế toàn cầu. Nhà đầu tư công nghiệp lớn nhất trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) gắn với vật lý là công ty chế tạo bán dẫn Đài Loan (Taiwan Semiconductor Manufacturing Co-TSMC) khi đã chi 1,4 tỷ USD trong năm 2012.     Tăng đầu tư cho đại học  Các trường đại học cũng có được sự chuyển dịch với sự đầu tư cơ sở hạ tầng từ Bộ Giáo dục, tổng cộng gần 1,7 tỷ USD từ năm 2005 đến năm 2010. Trong thời gian này, GS Maw-Kuen Wu, đồng tác giả khám phá ra chất siêu dẫn ô xít Đồng-Bari-Yttri (YBCO), đang đảm nhiệm vai trò chủ tịch Hội đồng Khoa học Quốc gia; ông nói, “chúng tôi [Hội đồng Khoa học Quốc gia] đã mạnh mẽ đề nghị chính phủ tăng thêm đầu tư cho các trường đại học để có thể cạnh tranh được với Trung Quốc, Singapore, Hong Kong, và Hàn Quốc”. Bảy đại học chủ chốt đã nhận được đầu tư này, theo GS Wu, nhà vật lý trở về Đài Loan năm 1989 từ Đại học Columbia và đang là Chủ tịch Đại học Quốc gia Dong Hwa với 20 năm tuổi nằm ở bờ phía đông của đảo. Do tiền thường được phân bổ đồng đều giữa các nhà khoa học trong các trường đại học Đài Loan, Hội đồng Khoa học Quốc gia đã đặt ra các chính sách mới cùng với ngân sách chặt chẽ hơn, điều đó làm gia tăng các mức cạnh tranh và kéo theo là trình độ khoa học. Tỷ lệ được phê chuẩn của các đề tài dưới 55%, so với 70-80% một thập kỷ trước đó.           Đài Loan cũng tham gia dự án kính thiên văn vô tuyến khổng lồ ALMA ở Chile, kính thiên văn Pan-STARRS ở Hawaii, dự án AMS-02 nghiên cứu về tia vũ trụ và vật chất tối từ ngoài trạm vũ trụ quốc tế ISS, thí nghiệm B-factory của Nhật, thí nghiệm Belle và Belle II, thí nghiệm Daya Bay về neutrino, thí nghiệm đặt dưới lòng đất PandaX về vật chất tối ở Trung Quốc, thí nghiệm ATLAS và CMS tại CERN.           Một trong các chính sách của Hội đồng Khoa học Quốc gia là tiền đề tài được sử dụng linh hoạt hơn. Ví dụ, theo GS Hsiu-Hau Lin, nhà vật lý tại Đại học quốc gia Tsing Hua, ngân quỹ cho nguồn nhân lực – sinh viên và trợ lý – và cho chi tiêu thường ngày bây giờ có thể được dùng chung, tiền dự kiến tiêu cho máy móc thiết bị có thể được hoán đổi vào mục đích khác, và tiền cho dự án dài hạn bây giờ không bị nhỏ giọt hằng năm. Hơn nữa, quá trình xét duyệt cho các đề tài giờ đã được minh bạch hơn, theo GS Kao tại Đại học quốc gia Yang-Ming, người trở thành chủ tịch Hội Vật lý Đài Loan trong tháng Một vừa rồi. Tiền cho một đề tài về vật lý lý thuyết trung bình khoảng 30.000 USD một năm, và cho vật lý thực nghiệm trung bình khoảng 60.000 USD, theo GS Lin. Một vài đại học tốt nhất có được tiền tài trợ cao hơn nhiều. GS Mei-Yin Chou, nhà vật lý Đài Loan, người đã sống 30 năm ở Mỹ, hầu hết tại Viện công nghệ Georgia, so sánh sự hỗ trợ nghiên cứu giữa hai nước: “Ở Đài Loan, nếu làm việc tốt, bạn dường như không phải lo lắng về tài trợ. Ở Mỹ, nhiều nhà khoa học giỏi vẫn đang phải cạnh tranh để có được hỗ trợ”. Bà chỉ ra rằng mức tiêu pha cá nhân và các chi phí khác ở Đài Loan thấp hơn, do vậy phần lớn tiền tài trợ được dùng cho nghiên cứu.  Nhiều đại học hỗ trợ tiền thưởng cho các công bố khoa học, một cơ chế được tạo ra do lương giảng viên đại học Đài Loan thấp hơn các nước xung quanh, theo GS Minn-Tsong Lin tại Đại học Quốc gia Đài Loan, người đang đứng đầu mảng vật lý của Hội đồng Khoa học Quốc gia. Các phần thưởng được tạo ra để khuyến khích việc công bố các kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế với mức cao vào khoảng 20.000 USD, phụ thuộc vào hệ số trích dẫn (impact factor) của tạp chí khoa học. Ví dụ, Shih Ping Lai, nhà thiên văn vô tuyến tại Đại học quốc gia Tsing Hua, đã nhận được 1700 USD tiền thưởng cho bài báo của cô vừa xuất bản trên tạp chí vật lý thiên văn (Astrophysical Journal). “Đại học muốn thúc đẩy công bố khoa học”, cô giải thích. “Nhưng nếu họ không thưởng, tôi vẫn muốn làm việc.”   Hơn một nửa các nhà vật lý của Đài Loan làm việc trong các lĩnh vực liên quan tới vật lý đậm đặc (hay chất rắn). Lĩnh vực nghiên cứu này hưởng lợi từ ngành công nghiệp hàng đầu thế giới về vi mạch, bán dẫn và quang điện tử của Đài Loan. Quang học phi tuyến, khoa học nano, lý sinh và sinh quang lượng tử, vật lý plasma, năng lượng cao, và thiên văn – đặc biệt là thiên văn vô tuyến – là những thế mạnh của Đài Loan.  Phía trước khoa học Đài Loan là gì? Nhiều nhà khoa học chỉ ra rằng văn hóa Đài Loan đã và đang được giải phóng nhờ quá trình dân chủ rộng khắp và sự phổ biến của mạng internet. Khoa học đang dịch chuyển theo chiều hướng sáng tạo hơn và xa dần văn hóa mà GS Mei-Yin Chou gọi là “me-too”. “Trong hệ thống giáo dục cũ, chúng tôi được dạy để học theo sách vở”, bà nói. “Bây giờ cả xã hội trở nên cởi mở, điều đó thúc đẩy sự sáng tạo. Điều đó được phản ánh trong thế giới học thuật”. GS Kao đồng tình: “Xã hội chúng tôi khá năng động. Chúng tôi có thể cung cấp một mô hình chỉ cho mọi người thấy một đất nước diện tích nhỏ hay trung bình vẫn có thể làm được những việc tầm cỡ. Nếu bạn có ý chí làm những việc lớn lao, bạn có thể khẳng định được chỗ đứng của mình trên thế giới”.   Đỗ Quốc Tuấn (NCS Vật lý lý thuyết tại Đại học quốc gia Chiao Tung, Đài Loan) lược dịch bài viết của Toni Feder trên tạp chí Physics Today số 67(3), 45 (2014    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học – nền tảng của mọi thứ      Tại buổi điều trần trước Ủy ban Thương mại, Khoa học và Vận tải (Thượng viện Hoa Kỳ), tháng 7/2014, bà Mariette DiChristina, Tổng biên tập và Phó Chủ tịch cấp cao của Tạp chí Scientific American (SciAm), tạp chí lâu đời nhất được xuất bản hằng tháng tại Hoa Kỳ, đã có một bài nói thuyết phục về việc tại sao chúng ta phải đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&amp;D) khoa học cơ bản.    Các nhà kinh tế nhận định rằng, kể từ sau Thế chiến II, 1/3 đến một nửa sự tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ là kết quả thu được từ những nghiên cứu cơ bản. Trước khi những tiện ích chúng ta hưởng thụ hôm nay có thể hiện hữu, các nhà nghiên cứu đã phải khám phá ra những khái niệm cơ bản cung cấp nền tảng chính xác cho những ứng dụng này – và họ đã khám phá mà không cần biết những khám phá này sẽ đến đâu. Chẳng hạn, tôi nghĩ rằng lúc đưa ra thuyết tương đối cách đây 100 năm, Einstein đã không nghĩ về những tiện lợi mà chúng ta đang hưởng thụ hôm nay khi sử dụng GPS trên điện thoại thông minh. Nhưng hiểu về sự vận hành của không-thời gian giúp chúng ta đo lường quỹ đạo các vệ tinh một cách chính xác.  Vì vậy, chúng ta cần đưa việc đầu tư mạnh mẽ và hỗ trợ hiệu quả cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học, cũng như cho hệ thống giáo dục STEM (viết tắt của các từ khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học bằng tiếng Anh- ND) và phổ biến đến cộng đồng thành ưu tiên hàng đầu của quốc gia. Chúng ta cần tầm nhìn dài hạn cho đầu tư R&D vì lợi ích tương lai lâu dài của quốc gia, cũng như việc chúng ta cần nuôi dưỡng, giáo dục và truyền cảm hứng cho con cái chúng ta từ khi còn trên ghế nhà trường để chúng có thể thành công trong thị trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng. Thành công của nghiên cứu cơ bản cần thời gian và sự kiên nhẫn. Khoản tài trợ kinh phí thông thường kéo dài khoảng năm năm để các chuyên gia thu thập dữ liệu, phân tích cụ thể, và xác nhận lại những kết quả. Thực sự, tiến hành nghiên cứu cơ bản cũng có nghĩa là theo đuổi sự tò mò của con người và khám phá những câu hỏi vốn không thể có những câu trả lời hay ứng dụng tức thì. Nhưng nhiều vấn đề quan trọng mà đất nước phải đối mặt hôm nay, từ việc đảm bảo an ninh năng lượng, cung cấp thực phẩm an toàn đến những tiến bộ của y học để giảm bệnh tật cho cuộc sống tốt lành và bền vững, sẽ được mở ra dựa trên những phát minh bắt nguồn từ những nghiên cứu khoa học cơ bản; đồng thời nhiều nghiên cứu cơ bản cũng mang đến lợi nhuận đầu tư trực tiếp rất lớn. Chẳng hạn, một báo cáo của Công ty nghiên cứu Thực hành quan hệ đối tác công nghệ Battelle, ước lượng rằng từ năm 1988 đến 2010, đầu tư liên bang vào nghiên cứu về gene trị giá 3,8 tỷ USD đã tạo ra tác động kinh tế với quy mô 796 tỷ USD. Như vậy, đầu tư vào nghiên cứu công nghệ gene đã tạo ra một khoản lợi nhuận lên tới 141 USD trên mỗi USD bỏ ra.          Khoa học  mang đến cho đất nước, cũng như cho mỗi chúng ta điều tốt nhất. Đó là  tất cả lý do tại sao nghiên cứu khoa học cơ bản cần sự cam kết và đầu tư  mạnh mẽ.        Như vậy, ngày nay chúng ta đang được hưởng lợi từ đầu tư R&D quá khứ, và nước Mỹ vẫn thống trị về nghiên cứu trên toàn cầu, nhưng đầu tư của chúng ta đã giảm sút nhất là chính sách cắt giảm kinh phí tài trợ ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đang nhanh chóng áp sát chúng ta. Tỷ lệ đầu tư trên GDP đầu năm nay (năm 2014 – ND) của Trung Quốc vượt trội so với 28 nước thành viên Liên minh châu Âu, và theo Dự báo R&D toàn cầu  năm 2014 của Battelle và Tạp chí R&D, nó đang trên đà vượt qua chính Hoa Kỳ trong vòng hơn nửa thập kỷ nữa. Theo Ngân hàng Thế giới, Nhật, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Israel và Thụy Sỹ đã có tỷ lệ đầu tư cho R&D trên GDP cao hơn Hoa Kỳ. Chiến lược đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của Đức đã tăng đầu tư, nâng chi tiêu liên bang của nước này lên 21% từ năm 2005. Những khoản đầu tư này đóng vai trò quan trọng trong mức tăng trưởng 3,6 % của nước Đức trong năm 2010 so với 2,9% của Mỹ cùng kỳ.  ***     Như vậy, nghiên cứu cơ bản mang lại phúc lợi, sự tăng trưởng kinh tế và tạo nên công ăn việc làm. Nó cũng ngày càng truyền cảm hứng đến công chúng – những người mà giờ đây có thể tham gia trực tiếp vào việc nghiên cứu khoa học cơ bản. Chúng tôi có thể biết rõ rằng, nghiên cứu cơ bản đã thu hút trí tưởng tượng của công chúng như thế nào qua sự đồng tình hưởng ứng của hàng trăm ngàn người đầy nhiệt huyết xung quanh phong trào khoa học công dân và phong trào sáng chế (Maker Movement). Các nhà khoa học công dân là những người như bạn và tôi có thể giúp các nhà khoa học tiến hành các nghiên cứu cơ bản bằng cách tạo ra các khảo sát hoặc là các phương thức khác. Chẳng hạn, trang web Zooniverse (https://www. zooniverse.org/) cho phép mọi người lập danh mục các thiên thể từ hình ảnh của NASA. Zooniverse có hơn một triệu nhà khoa học công dân tình nguyện! Chính dự án công dân khoa học Whale.FM của tạp chí Scientific American đã thiết lập được danh mục tiếng kêu của các loài cá voi nhờ các mẩu tin do công dân gửi đến chỉ trong vòng hai tháng, tương đương công việc vài năm trời trong phòng thí nghiệm của các nhà nghiên cứu. Mới đây, các tình nguyện viên bằng cách sử dụng trò chơi trực tuyến Foldit gấp nếp protein đã giải quyết một câu đố vốn vượt quá sự hiểu biết của các nhà nghiên cứu HIV trong 15 năm. Và phong trào sáng chế cũng là sự kiện phi thường mà Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Hoa Kỳ vẫn đang duy trì qua các Hội chợ Sáng chế (Maker Faire).  Thêm một góc nhìn nữa về giá trị của nghiên cứu cơ bản. Tôi nhìn sang thế hệ tiếp theo. Tôi đã nói với con gái lớn của tôi, Selina – cô bé có kế hoạch học cùng một lúc khoa học máy tính và thiết kế đồ họa, rằng tôi sẽ nói về chủ đề này. Tôi đã hỏi con gái mình, tại sao khoa học lại quan trọng. Và tôi hỏi cô bé, tôi nên giải thích nó quan trọng như thế nào?   “Thật đơn giản”, mẹ cô bé nói với tôi. “Khoa học là nền tảng của mọi thứ.”  Và thực sự như vậy. Khoa học không phải là một chuỗi những dữ liệu thực tế hoặc trí tuệ mà thế hệ đi trước truyền lại. Nó là một hệ thống cho sự đổi mới và tiến bộ – và là sự phát minh tốt nhất của nhân loại cho mục tiêu khám phá chân lý và thấu hiểu sự vận hành của thế giới.   Khoa học như thể là nhiên liệu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia, và định hình nên con đường cho thế hệ trẻ của chúng ta trong thị trường cạnh tranh toàn cầu. Khoa học mang đến cho đất nước, cũng như mỗi chúng ta điều tốt nhất. Đó là tất cả lý do tại sao nghiên cứu khoa học cơ bản cần sự cam kết và đầu tư mạnh mẽ.           Quỹ đầu tư Liên bang Mỹ là chìa khóa cho gần 90% phát minh trong top 100 phát minh hàng đầu từ năm 1971 đến năm 2006 được xác nhận bởi Tạp chí R&D. Quỹ Liên bang tại DOE (Bộ phận nghiên cứu Năng lượng Hoa Kỳ – ND) mang đến các phát minh như: công nghệ ghi quang học mở đầu cho sự ra đời các đĩa DVD; các vệ tinh truyền thông giúp chúng ta có thể truyền thông tin khắp thế giới, các hệ thống lọc nước hiện đại và các siêu máy tính. Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) đã đầu tư cho một vài sinh viên của chúng ta để làm nên Google cũng như công nghệ mới được sử dụng trong công nghiệp bao gồm công nghệ sinh học, sản xuất tiên tiến và quản lý tài nguyên môi trường. Nghiên cứu cơ bản của DARPA (Cơ quan hỗ trợ dự án nghiên cứu của bộ quốc phòng Mỹ-ND) đã dẫn đến công nghệ GPS, mạng Internet và Siri trên iPhones. Thật dễ dàng để kể ra rất nhiều ví dụ như vậy.          Thanh Tâm lược dịch   Theo Scientific American)Nguồn:http://www.scientificamerican.com/article/mariette-dichristina-science-is-an-engine-of-human-prosperity/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga: Có hồi sinh sau kỷ nguyên trì trệ?      Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991, nền kinh tế Nga lao dốc, dẫn đến việc hàng chục ngàn nhà khoa học ra nước ngoài hoặc bỏ nghề. Đất nước không có cách nào khôi phục được các mức đầu tư cho khoa học như cũ (sau khi chấp nhận lạm phát) và đội ngũ nghiên cứu của họ chỉ còn 1/3, dẫu vẫn còn là quốc gia có diện tích lớn thứ nhất thế giới. Nhưng trong thập kỷ qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã hứa hẹn cải cách hệ thống khoa học đã bị suy giảm sức mạnh để khiến cho nó có thể cạnh tranh hơn và thu hút được các tài năng trẻ nước ngoài.      Tổng thống Nga Vladimir Putin bắt tay một robot tại một công ty viễn thông ở Perm, Nga. Nguồn: Alexei Druzhinin/TASS via Getty.  Một số nhà nghiên cứu Nga đang trông chờ sự hứa hẹn từ những cải cách đã được ấn định này.  Trong ánh chiều chạng vạng của chiều đông ngoại ô Moscow, một khối nhà được xây hình đĩa được chia thành những khối ảm đạm và những bãi đỗ xe rộng lớn. Xây theo kiểu kiến trúc tiên phong (avant-garde), mà người ta vẫn gọi một cách đơn giản là Chiếc Đĩa (Disk), khối nhà này là nơi đặt Viện nghiên cứu KH&CN Skolkovo (Skoltech), một viện nghiên cứu tư nhân được thành lập từ năm 2011. Bên trong những căn phòng lớn hình cung sáng bóng, nhà vật lý Denis Kurlov miêu tả cách trung tâm này thu hút anh trở lại Nga vào khoảng hơn 7 năm trước, sau khi anh đã bỏ ra nước ngoài làm việc.  Khi chuyển tới Hà Lan, Kurlovh từng nghĩ là mình không thể quay lại. “Tôi không thấy bất kỳ nơi nào ở Nga có đủ một môi trường khuyến thích người ta làm nghiên cứu và đủ tiền để sống.”  Nhưng rồi hoàn cảnh đã tươi sáng hơn, Kurlov nói. Khi tới Trung tâm lượng tử Skoltech vào năm 2013, Kurlov đã ngạc nhiên khi thấy một phòng thí nghiệm được trang bị hiện đại hơn bất cứ phòng thí nghiệm nào anh đã gặp khi còn học tại St Petersburg. Mùa thu năm ngoái, anh đã tham gia trung tâm này và làm việc về những mô phỏng hiệu ứng lượng tử trong các khí chứa hạt nhân siêu lạnh. “Có cái gì đó mới mẻ đang diễn ra tại đây,” anh nói.  Những thực tế đang diễn ra ở Nga rất phức tạp. Có những phần rất hứa hẹn trong một số lĩnh vực nghiên cứu nhưng phần nhiều thì khoa học Nga vẫn ở cảnh đầu tư èo uột và kết quả nghiên cứu ít được đồng nghiệp quốc tế quan tâm; năm nay, hàng trăm bài báo viết bằng tiếng Nga bị rút lại do đạo văn. Các nhà nghiên cứu vẫn còn phàn nàn về tình trạng quan liêu và sự can thiệp chính trị, và một số nhà khoa học Nga ở nước ngoài cho biết không thể đặt lịch trở lại một đất nước không có sự đảm bảo cho các nhà khoa học tự do và an toàn khibiểu lộ quan điểm. “Tôi không muốn sống và nghiên cứu trong một đất nước mà chính phủ vẫn còn “ghẻ lạnh” đời sống xã hội dân sự”, Fyodor Kondrashov, một nhà sinh học tại Viện nghiên cứu KH&CN Áo ở Klosterneuburg, cho biết.  Nhưng nhiều nhà khoa học ở Nga đã cảm thấy văn hóa khoa học đang thay đổi theo chiều hướng tốt lên, nhà vật lý polymer Alexei Khokhlov, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga ở Moscow, nhận xét. Lương của các nhà khoa học đã được gia tăng, và sự cạnh tranh dựa trên kết quả nghiên cứu đang dần thay thế mạng lưới hàn lâm được xây dựng dựa trên quan hệ, ông nói. “Nhiều vị trí nghiên cứu ở Nga trong quá khứ do những người ít có thành tích khoa học thực sự chiếm giữ. Giờ đây các viện nghiên cứu phải nghĩ đến việc tuyển người có khả năng thu hút được kinh phí đầu tư và viết được những bài báo tốt.”  Cái tốt nhất và cái còn lại  Kurlov và những nhà nghiên cứu khác tại Skoltech đã hưởng lợi từ một số ít sáng kiến công nghệ quốc gia kéo dài trong vòng năm năm và trị giá 50 tỷ rouble (790 triệu USD). Nga cũng xây dựng nhiều cơ sở nghiên cứu lớn, bao gồm một máy gia tốc synchrotron ở Moscow, Novosibirsk cũng như một máy gia tốc ion ở Dubna.  Một phát triển quan trọng khác là việc thành lập Quỹ Khoa học Nga (RSF) vào năm 2014 ở Moscow. Đây là cơ quan đầu tiên của chính phủ đầu tư theo cơ chế cạnh tranh và phản biện độc lập – một nỗ lực để tránh chủ nghĩa thân hữu tồn tại trong khoa học Nga, với kinh phí được rót thẳng về các viện nghiên cứu.  RSF được giao nhiệm vụ cải thiện chất lượng của khoa học Nga, phát triển các hướng dẫn để ngăn ngừa việc quản lý kém cũng như thúc đấy áp dụng các thực hành khoa học tốt, bao gồm hướng dẫn trong những lĩnh vực nhạy cảm như chỉnh sửa gene, để Nga có thể thu hút được sự quam tâm của thế giới. Năm ngoái, nhà sinh học phân tử ở Moscow Denis Rebrikov đã gây lên lo ngại khi nói với Nature về việc muốn chỉnh sửa gene trên phôi người với mục tiêu tạo ra những em bé chỉnh sửa gene. RSF không hỗ trợ ý tưởng này, giám đốc Alexander Khlunov tuyên bố, dù không loại trừ việc tài trợ cho công trình có “trách nhiệm đạo đức” trong lĩnh vực chỉnh sửa gene trên người trong tương lai.  Ngân sách dành cho RSF còn nhỏ: 21 tỷ rouble trong năm nay, thấp hơn nhiều so với những cơ quan quỹ của Đức hay của Mỹ. Nhưng với việc mời được các nhà khoa học ở nước ngoài tham gia bình duyệt về các đề xuất tài trợ và mở rộng hợp tác song phương với nhiều quỹ ở Đức, Nhật Bản, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác, RSF có thể thúc đẩy chất lượng khoa học do nó tài trợ, Khlunov nói.    Viện nghiên cứu KH&CN Skolkovo (Skoltech), một viện nghiên cứu tư nhân được thành lập từ năm 2011. Nguồn: Nature  Một người được hưởng lợi về vấn đề này là nhà vật lý Alexander Rodin, người có nghiên cứu về thành phần khí quyển sao Hỏa do RSF và Quỹ Khoa học Đức DFG tài trợ. Anh trở thành trưởng nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Lượng tử Nga vào năm 2016. “Đó luôn là giấc mơ của tôi để tôi có thể khởi động phòng thí nghiệm của chính mình tại Nga,” anh nói. Một quang phổ kế laser do chính anh phát triển sẽ được sử dụng trong một thiết bị được hạ cánh xuống sao Hỏa vào năm 2022, một phần của chương trình ExoMars mà Nga tham gia trực tiếp với Cơ quan hàng không châu Âu (ESA). Rodin cho biết việc tham gia vào các chương trình vũ trụ quốc tế là cốt lõi để đưa Nga trở lại làm quốc gia dẫn đầu về nghiên cứu vũ trụ. “Nếu chúng ta từ chối cạnh tranh trong không gian, chúng ta sẽ từ chối trở thành người Nga”, anh hàm ý đến quá khứ lẫy lừng của đất nước.  Dẫu sao thì các cơ sở nghiên cứu của Rodin và Kurlov là những nơi hiếm hoi nhận được sự hỗ trợ tốt của một đất nước mà trong hai thập kỷ, tỉ lệ đầu tư cho R&D vẫn chỉ ở mức 1% GDP, một tỷ lệ thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia. Năm 2012, Putin thiết lập mục tiêu đầu tư đến năm 2018 đạt đạt 1,77% của GDP nhưng điều đó đã không xảy ra. Hoặc một mục tiêu khác của Putin: năm 2020, Nga phải có 5 trường đại học trong top 100 thế giới (hiện giờ chưa có trường nào). Hiện giờ có một số kế hoạch đầu tiên – nếu chính phủ còn theo đuổi – được dự đoán là tăng đầu tư R&D lên 1, 2% GDP vào năm 2024, trích dẫn từ một xuất bản về khoa học vào tháng 2/2020 của Phòng Kế toán của quốc gia, một cơ quan nghị viện quản lý tài chính của liên bang.  Tổng ngân sách R&D của Nga – bao gồm chi cho nghiên cứu hàn lâm và công nghiệp – vẫn hoàn toàn từ nhà nước, không giống như với nhiều quốc gia hàng đầu về khoa học, nơi các công ty tư nhân đầu tư phần lớn kinh phí nghiên cứu. Sự suy giảm đầu tư cho R&D của công nghiệp Nga là vấn đề tồn tại dai dẳng, Grigory Trubnikov, Thứ trưởng của Bộ Khoa học và Giáo dục đại học Nga, thừa nhận. Skoltech được nhà nước hỗ trợ để giúp cải thiện tình hình này – các công ty công nghệ đang chuyển vào một công viên công nghệ phát triển quanh viện nghiên cứu để được hưởng ưu đãi thuế và sự hỗ trợ của chính phủ. Cho đến nay thì dẫu sao, điều này vẫn chưa dẫn đến một tăng tốc lớn về đổi mới sáng tạo ở quy mô thương mại, theo Sergei Guriev, một nhà kinh tế học tại Sciences Po ở Paris, người rời Nga vào năm 2013.  Hãy xuất bản các bài báo  Một trong những mục tiêu của Putin dường như đã đơm trái. Sau khi kết quả đầu ra của khoa học Nga hầu như không tăng trong hai thập kỷ, Putin nói các nhà khoa học cần phải làm việc hiệu quả hơn trên quy mô toàn cầu. Các trường đại học bắt đầu đưa ra các mức thưởng nhà khoa học dựa trên những bài báo quốc tế, Khokhlov, Phó chủ tịch RAS cho biết. Số lượng của các bài báo do nhà khoa học Nga là tác giả sau đó nhảy vọt, nhiều gấp đôi giữa năm 2012 và năm 2018. Vào tháng 12/2019, Quỹ Khoa học Mỹ (NSF) ghi nhận trong thập kỷ qua, Nga đã tăng lên từ vị trí 14 lên thứ 7 danh sách các vùng có nhiều ấn bản khoa học nhất thế giới.  Vào tháng 1/2020, một scandal xuất bản được quốc tế nhắc đến. RAS loan báo, Hội đồng Chống giả mạo trong nghiên cứu khoa học của RAS đã tiết lộ nạn đạo văn phổ biến trong các bài báo trên các tạp chí xuất bản bằng tiếng Nga. Hơn 800 bài báo bị rút lại, trong nhiều lĩnh vực từ nhân văn, khoa học xã hội đến y học và nông nghiệp, và số lượng có thể gia tăng nếu tiếp tục điều tra. “Chúng tôi đang giải quyết vấn đề này một cách nghiêm túc,” Khokhlov cho biết.  Các bài báo trên những tạp chí này do không được chỉ mục trong các cơ sở dữ liệu quốc tế nên không được quốc tế công nhận, và không thuộc dạng công trình mà Putin muốn hướng đến. Dẫu vậy, các nhà khoa học Nga đang chịu áp lực phải xuất bản nhiều bài báo để thúc đẩy sự nghiệp của họ có thể dẫn đến hành vi sai trái này, Mikhail Gelfand, một nhà tin sinh học tại Trung tâm Khoa học sự sống của Skoltech và tham gia vào cuộc điều tra này, nói. “Rút lại các bài báo đạo văn và khiến cho những kẻ phạm tội phải xấu hổ là điều đúng nhất có thể làm lúc này,” anh nhận xét.  Sự va chạm quốc tế  Một đặc điểm khác của khoa học Nga là các mối quan hệ hợp tác quốc tế đã rơi rụng một cách đột ngột trong hơn thập kỷ qua. Có thể thấy một phần điều đó ở sự gia tăng của các tác giả trong nước trên các công trình được xuất bản. Căn nguyên có thể là do căng thẳng chính trị. Việc sáp nhập Crimea vào Nga năm 2014 đã làm sứt mẻ các mối hợp tác quốc tế, đặc biệt với Mỹ. Các nhà khoa học từ hai quốc gia vẫn tiếp tục duy trì mạch liên kết nhưng về mặt chính thức thì việc thắt chặt quan hệ khoa học Nga và Mỹ đã ngưng kể từ năm 2014, không kể đến một thỏa thuận hợp tác được ký năm ngoái giữa RAS và Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ.  Dẫu vậy, Nga vẫn tham gia nhiều hợp tác nghiên cứu quốc tế lớn, bao gồm Trung tâm Vũ trụ quốc tế ISS, Trung tâm Hạt nhân châu Âu CERN gần Geneva, Thụy Sĩ; Dự án lò phản ứng nhiệt hạch quốc tế ITER tại Pháp; và ở Đức là Trung tâm Laser electron tự do tia X châu Âu gần Hamburg và Trung tâm nghiên cứu phản proton và ion FAIR đang xây dựng ở Darmstadt, Đức.  Với Nga, Đức là một đối tác khoa học quan trọng bởi có khoảng 300 dự án nghiên cứu chung đang diễn ra. Những hợp tác bao gồm nghiên cứu về phương diện địa lý của Bắc Cực. Một dự án đang tiến hành là Đài quan sát nổi Đa ngành phục vụ Nghiên cứu Khí hậu Bắc Cực MOSAiC – một nhiệm vụ nghiên cứu Bắc Cực trong vòng một năm với sự tham gia của 300 nhà khoa học trên tàu nghiên cứu của Đức vốn đòi hỏi sự hỗ trợ của tàu phá băng Nga.  Thảm đỏ và sự giao thoa  Vào năm 2010, Chính phủ Nga đã mở một chương trình cho phép các nhà khoa học hàng đầu của nước ngoài tới làm việc. Có 272 nhà khoa học của 31 quốc gia — 149 nhà khoa học nước ngoài và 123 nhà khoa học người Nga  – đã nhận được những khoản đầu tư lớn để thiết lập phòng thí nghiệm ở Nga. Chương trình này có thể làm được nhiều hơn cho khoa học Nga bởi tệ quan liêu đã được giảm bớt đáng kể, Gerry Melino, một nhà sinh học ung thư Ý tại Bộ phận độc học của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh ở Cambridge từng nhận được khoản tài trợ 4,9 triệu USD vào năm 2010 để thành lập một phòng thí nghiệm tế bào học tại Viện Công nghệ Saint Petersburg. Mỗi năm, ông dành ba tháng tại đây cho đến khi kết thúc chương trình vào năm 2016.  Sinh viên ở đó thật tuyệt vời, Melino nói, nhưng các nhà quản trị chịu trách nhiệm về mua bán thiết bị thật khó chấp nhận được. “Hệ thống này có thể thay đổi như thế nào nếu anh cứ phải đưa tiền cho người ít hiểu biết hoặc thậm chí không hiểu biết gì về khoa học hiện đại?” Hệ thống này đặc biệt gây khó cho các nhà khoa học ở bên ngoài hệ thống. “Hầu như là không thể cho nhà khoa học nước ngoài, những người không cùng ngôn ngữ và không đủ trí lực để hiểu được sự quan liêu của Nga,” Melino nói.    Tàu phá băng của Nga tham gia dự án Đài quan sát nổi Đa ngành phục vụ Nghiên cứu Khí hậu Bắc Cực MOSAiC. Nguồn: Nature  Việc mua các thiết bị và hóa chất phòng thí nghiệm từ các nhà cung cấp quốc tế vẫn còn là một vấn đề, thậm chí với cả các nhà khoa học Nga. “Nếu làm việc bên ngoài quốc gia thì tôi có thể nhận được hóa chất mình cần vào ngày mai,” Olga Dontsova, một nhà hóa sinh tại trường Đại học Lomonosov ở Moscow từng nói với Putin trong một buổi gặp gỡ năm  2018. “Còn ở đất nước của chúng ta, tôi phải chờ ít nhất ba tháng và phải trả gấp hai đến ba lần nữa. Đây là vấn đề khiến các nhà nghiên cứu trẻ thích làm việc ở nước ngoài hơn.”  Sau cuộc thảo luận này, chính phủ đã giảm bớt những quy định về giấy tờ cho các vật liệu phòng thí nghiệm nhập khẩu. Các hóa chất chung và plastic hiện đang sẵn có trong các nhà cung cấp Nga nhưng việc cung cấp các hóa chất chỉ sản xuất tại Mỹ hoặc EU vẫn còn là một vấn đề, Dontsova nhận xét.  “Chúng tôi vẫn phải chờ chừng bốn tháng cho đến khi chắc chắn các hóa chất dùng cho các kháng thể và nuôi cấy tế bào từ nước ngoài đến nơi”, chị nói. Ngoài ra, các nhà khoa học Nga phải có được sự cho phép để trao đổi các mẫu thực nghiệm với các đối tác ngoài đất nước.  Các nhà khoa học đang lo ngại về những vấn đề chính trị. Các tổ chức NGO quốc tế, bao gồm các nhóm bảo tồn và ngăn ngừa HIV, đã bị cấm hoạt động tại Nga nếu nhận hỗ trợ từ nước ngoài. Năm 2015, Dynasty Foundation, một quỹ đầu tư tư nhân cho khoa học đặt tại Moscow, đã bị đóng cửa sau khi Bộ Tư pháp Nga cáo buộc là “điệp viên nước ngoài”.  Cuối năm ngoái, RAS và các nhà khoa học hàng đầu Nga đã chỉ trích một chính sách áp đặt tại Viện nghiên cứu Vật lý Lebedev, một trung tâm vật lý hàng đầu Nga với bảy nhà khoa học đoạt giải Nobel. Vào tháng 10/2019, cảnh sát vũ trang đã đột chiếm Viện và buộc tội giám đốc Viện Nikolai Kolachevsky là vận chuyển những mặt hàng cấm sang Đức – đặc biệt là những kính cửa sổ nghe nói cho dành cho mục đích quân sự, sản phẩm của một trong những công ty spin-off của viện. Cảnh sát sau đó đã loại bỏ những cáo buộc này nhưng vẫn tiến hành điều tra vụ việc, Kolachevsky cho biết. Ông bác bỏ cáo buộc buôn lậu hoặc làm việc sai trái. “Thật không hay ho với một viện nghiên cứu bị coi là nơi buôn lậu trong khi nỗ lực của tôi là thu hút tài năng trẻ,” ông nói.  Đó là những dấu hiệu chính phủ bắt đầu để tâm nghe ngóng chỉ trích. Bộ trưởng Bộ Khoa học của Nga, Valery Falkov – người mới đảm trách vị trí này vào tháng trước – bắt đầu công việc của minh bằng việc loại bỏ nhiều quy định bị phản đối vào năm 2019 khi bắt buộc các nhà khoa học Nga phải có được sự chấp thuận về mặt hành chính mới mời được nhà khoa học nước ngoài tới làm việc. Thứ trưởng Bộ Khoa học, TS Trubnikov, nhấn mạnh là nay tình thế đã đổi chiều. “Chúng tôi muốn trở thành một đối tác khoa học quốc tế mở và đáng tin cậy với những quy định minh bạch,” ông nói.  Môi trường làm việc của các nhà khoa học đang được cải thiện nhưng bước chuyển vẫn còn quá chậm chạp, Kolachevsky nhận xét. Sau nhiều năm xao lãng, Nga đã mất đi một thế hệ khoa học. Viện Nghiên cứu Vật lý Lebedev, ông nói, có một đội ngũ nhà nghiên cứu đang già hóa và một lượng nhỏ các nhà khoa học sung sức, vì vậy ông muốn phát triển một thế hệ các nhà khoa học mới triển vọng từ những nghiên cứu sinh trẻ. “Những điều diễn ra vẫn còn quá ít ỏi,” ông bình luận.□  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00753-7  Năm 2018, Putin thông qua một chiến lược nghiên cứu quốc gia kéo dài đến năm 2024 cho phép đầu tư nhiều tiền, mở rộng hỗ trợ cho các nhà khoa học ở giai đoạn đầu sự nghiệp, và khoảng 900 phòng thí nghiệm mới, bao gồm 15 trung tâm nghiên cứu ở đẳng cấp thế giới tập trung vào toán học, hệ gene, khoa học vật liệu và robotics. Năm ngoái, chính phủ hoàn thành một đánh giá trên diện rộng về hiệu suất khoa học của các trường đại học và viện nghiên cứu; hứa hẹn hiện đại hóa trang thiết bị của 300 viện nghiên cứu; đồng thời muốn tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực chưa được quan tâm đúng mức trước đây, bao gồm khoa học khí hậu và môi trường.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga đang ở trong hố sâu      Sau khi Liên Xô sụp đổ, khoa học Nga tụt  dốc, khủng hoảng trầm trọng, và mặc dù chiến lược phát triển khoa học  đến năm 2020 đã được thông qua, những cuộc tranh luận xung quanh quan  điểm phát triển, cải cách khoa hoc, cải tổ Viện Hàn lâm khoa học, đẩy  mạnh khoa học tại các trường đại học vẫn tiếp tục. Dưới đây là nội dung  phỏng vấn GS Sergei Kapitsa của phóng viên Báo Nước Nga       Báo Nước Nga: Sergei Petrovich, ông thường đứng ngoài các cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học có tầm ảnh hưởng và các quan chức nhưng đồng thời chịu ảnh hưởng của các cuộc tranh cãi đó, ông có thể nói gì về họ?    Sergei Kapitsa: Trước tiên cần đặt ra một cảnh báo: khoa học Nga đang ở trong hố sâu. Hai mươi năm thiếu kinh phí kinh niên đã đưa khoa học Nga vào tình trạng hết sức tồi tệ: Cán bộ trẻ thì bỏ đi, những người già thì ngày càng già đi, và chỉ còn là những người ông đang dạy các cháu. Trong tình trạng như vậy thì tiền bạc không phải là yếu tố chính, cái cơ bản bây giờ là tổ chức quản lí khoa học. Nhưng nếu lại bắt đầu những thay đổi vội vàng và cấp tiến trong điều kiện đảm bảo tài chính kiểu “rỏ nước mắt” thì sẽ đặt dấu chữ thập cho khoa học chúng ta. Hiện nay các nhà quản lý thường lấy khủng hoảng tài chính thế giới để cắt giảm ngân sách cho khoa học, nhưng hãy xem – Tổng thống Mĩ Obama đã tuyên bố tăng vô điều kiện kinh phí khoa học, còn ở Pháp người ta đã tăng 20%. Chúng ta biết hi vọng vào gì đây?  Có thể cái “khẩu phần ăn đói” đã buộc các nhà khoa học phải thật sự nghiêng ngã. Ai không trụ được thì sẽ ra đi, nhưng nhờ thế trụ lại là những người đầy sức sống. Từ đó sẽ ra đời một nền khoa học mới, theo nhu cầu-năng động và hướng vào các nhu cầu của thị trường.  Tôi kêu gọi hãy thận trọng hơn với những ý tưởng kiểu đó. Trong văn học dân gian thế giới có những chuyện ngụ ngôn tương tự về việc người ta giảm khẩu phần lúa mạch hàng ngày của ngựa (hoặc cừu). Kết quả cuối cùng đã rõ: con vật bất hạnh sẽ chết. Tôi sợ chúng ta đang ở trong tình trạng đó.   Nhưng chúng ta cần phải học cách sống theo các qui luật của thị trường?  Các quan hệ thị trường sơ khai không áp dụng cho khoa học cơ bản – một lĩnh vực mang đến rất nhiều lợi ích nhưng không phải ngay lập tức. Ví dụ, người ta đã xây dựng máy gia tốc khổng lồ ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu CERN, nó ngốn mất 10 tỷ euro. Phân tích công việc của CERN do các nhà kinh tế tiến hành chỉ ra rằng với châu Âu dự án này đã trở thành nơi chế tạo các công nghệ mới như interrnet và công nghệ grid siêu hiện đại. Và đấy là cống hiến hiện thực của một tổ chức khoa học mà trên tấm biển của nó ghi” Nhận thức các qui luật cơ bản của tự nhiên”.  Những phát minh khoa học lớn sẽ tạo dựng hình ảnh cuộc sống của chúng ta sau 50-100 năm.  Trong một phỏng vấn cách đây không lâu của Báo Nước Nga, nhà khoa học giải Nobel- viện sĩ Alferov – đã gọi một phương thuốc đang mốt: hi vọng vào khoa học ở các trường đại học thay cho các viện nghiên cứu là cực kì nguy hại. Ông đã nhiều năm giảng dạy, lãnh đạo bộ môn vật lí ở đại học và ông biết rất rõ mô hình kết hợp giáo dục và khoa hoc tại đại học đó. Vậy ông thấy cần ngăn ngừa những sai lầm và hành động thiếu suy nghĩ nào của các nhà cải cách hiện nay?  Trước hết chúng ta cần phải giàu có như nước Mĩ để có thể thực thi kinh nghiệm phát triển khoa học của họ trong các trường đại học. Hãy xem châu Âu gần chúng ta hơn, khoa học ở đó được tổ chức hoàn toàn khác, Ở Đức khoa học cơ bản được hỗ trợ bởi Hiệp hội Max Planck, còn Hiệp hội Fraunhofer thì hỗ trợ các khoa học ứng dụng. Ở ta, Viện hàn lâm khoa học không chỉ là mạng lưới các viện nghiên cứu mà còn là một truyền thống quan trọng. Cải cách Viện hàn lâm theo kiểu chém vào vai là rất thiếu suy nghĩ. Hiện nay phê phán Viện hàn lâm thì rất dễ. Việc này đã trở thành phổ biến.Tôi không muốn hòa vào đội đồng ca đó, mặc dù tôi cũng có không ít cái để nói. Chúng ta cần đánh giá những cái tốt của Viện hàn lâm. Và trí tuệ tập thể của nó thì không thể thay thế bằng bất kì cái gì khác.  Trong cải cách quản lý khoa học, điều quan trọng nhất là phải tính đến ý kiến của chính các nhà khoa học. Nhưng hầu như các nhà khoa học thật sự lại không phải là nhà quản lí tốt.  Tại sao?  Cứ mỗi lần bắt đầu giải quyết cái gì đó nhà khoa học phải nghĩ ra cái gì đó hay hơn. Mà điều đó, như đã biết, lại tiêu diệt cái tốt đang có. Nhà quản lí gắn liền với trách nhiệm trước xã hội vì những quyết định của mình, còn nhà trí thức đang bận tâm với phê ph án lại ít suy nghĩ về trách nhiệm của nhà quản lí.  Làm thế nào đánh giá công việc của nhà khoa học, các cơ quan khoa học. Theo ông, ngoài các tiêu chí số lượng công bố, chỉ số trích dẫn, còn cái gì nữa?  Chính việc lấy tiêu chí công bố quốc tế và chỉ số trích dẫn để đánh giá nhà khoa học là một nguyên nhân của số lượng khổng lồ các công bố. Thậm chí đã xuất hiện câu châm ngôn “Hãy công bố, nếu không sẽ chết”. Không thể chỉ sử dụng các tiêu chí như vậy để đánh giá. Chỉ có cộng đồng khoa học mới đánh giá đúng nhà khoa học. Nhà toán học Grigori Perelman – người đã giải được bài toán Poincare, từ lâu không hề có một công bố nào, nhưng trong giới toán học người ta coi anh là một thiên tài.     Theo ý kiến nhiều người, trong quản lí khoa học Nga đang có xu hướng nguy hiểm: từ đấu tranh cho những mục tiêu phát triển chung của khoa học đã chuyển sang vì khẩu phần của mình trong ngân sách. Từ cạnh tranh với nhau không phải vì các trường phái khoa học mà vì những cá nhân và các phái riêng lẻ. Tất cả những cái đó sẽ đi đến đâu?  Đấy là điều thường thấy ở những xã hội khủng hoảng: mỗi người bắt đầu đấu tranh vì sự tồn tại của mình mà bỏ quên nhiệm vụ và mục tiêu chung. Còn các nhóm hay các phái thì thời nào cũng có-đó là bản chất con người.  Số phận khoa học của đất nước ta rất cần sự đối thoại có tính xây dựng giữa của các nhà khoa học với chính phủ và giới kinh doanh cũng như với các tầng lớp xã hội rộng rãi.    Thế còn khi ý tưởng cải cách khoa học sinh ra không phải từ nhà khoa học mà xuất phát từ trên? Chắc ông có theo dõi sự phát triển của dự án “Thung lũng Silicon của Nga”?  Trong thời kì Liên Xô đã có những ví dụ thành công của việc các trung tâm khoa học được thành lập theo mục tiêu để phát triển các vấn đề nhất định. Đấy là Pushino, Dubna, Troisk, Sarov… Về chi tiết những gì đang xẩy ra ở Skolkovo thì tôi không biết. Theo tôi hiểu, họ đang kì vọng nơi đó sẽ trở thành trung tâm của công nghiệp nano.   Thế ông nghĩ gì về các kế hoạch của Bộ Khoa học và Giáo dục mời hàng loạt các nhà khoa học làm việc ở nước ngoài về làm lãnh đạo các tập thể khoa học ở Nga. Người ta đang chuẩn bị 12 tỉ rúp cho việc này. “Phương pháp làm việc luân phiên” có phát huy trong khoa học không?  Tôi có cảm giác rằng đấy là điều hoàn toàn hợp lí trong tổ chức khoa học thế giới. Tuy nhiên quan trọng là tuyển chọn các nhà khoa học này và đảm bảo cho họ các điều kiện làm việc cần thiết. Chẳng hạn, Piotr Kapitsa đã tổ chức Viện các vấn đề vật lí vẻn vẹn trong hai năm. Viện này không lớn nhưng đã thu hút được ba nhà khoa học giải Nobel.   Việc khoa học chúng ta hội nhập vào khoa học thế giới là vấn đề quan trọng nhất cần ý thức được. Nó không thể được giải quyết trong khuôn khổ các truyền thống cũ, những cái đã cô lập khoa học chúng ta khỏi thế giới còn lại. Ngày nay khoa học đã trở nên quá phức tạp, quá đắt đỏ, việc chuyển dịch các nhà khoa học từ nước này sang nước khác là hoàn toàn tự nhiên. Chúng ta đừng quên rằng các nhà khoa học Nga nổi tiếng nhất từ thời Lomonosov cũng đều thực tập ở nước ngoài  Vậy là chúng ta đang hồi sinh những gì đã có trên nền tảng mới và các điều kiện mới?  Nói chung là đúng vậy. Theo nghĩa này thì Viện hàn lâm khoa học là một tổ chức rất phù hợp-nó đã đặt nền móng cho cách tiếp cận liên ngành. Nó thống nhất được dưới một mái nhà các khoa học tự nhiên và các khoa học, như chúng ta nói, phi tự nhiên. Theo quan điểm của tôi truyền thống này của Viện Hàn lâm Nga cho chúng ta ưu thế nhất định.   —-  * GS Sergei Kapitsa xuất thân từ gia đình khoa học dòng dõi Nga. Ông nội – Viện sĩ, nhà toán học lỗi lạc và nhà thiết kế hạm đội Nga đầu thế kĩ XX; cha – Piotr Kapitsa – nhà vật lí kiệt xuất, kĩ sư, nhà tư tưởng, giải Nobel vật lí; em trai – nhà địa lí nổi tiếng, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Nga.   GS Sergei Kapitsa là nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Nga, thành viên câu lạc bộ Rome, Viện sĩ hàn lâm Viện hàn lâm khoa học Châu Âu, Viện hàn lâm nhân văn quốc tế, tổng biên tập tạp chí thông tin khoa học nổi tiếng “trong thế giới khoa học” (120 nhà khoa học đoạt giải Nobel tham gia viết bài cho tạp chí này). Ông là tác giả hang trăm bài báo, cuốn sách, hàng chục bằng phát minh, đề cập đến nhiều nhiều lĩnh vực: Khí động học siêu âm, máy gia tốc các hạt cơ bản, điện động học ứng dụng, vật lí hạt nhân, từ học trái đất, lịch sử khoa học, động học dân số.   Hoạt động xã hội của ông được đánh giá cao, ông nhiều lần được mời phát biểu tại Quốc hội Mỹ, gặp gỡ và thảo luận với Tổng thư kí Liên hợp quốc về các vấn đề toàn cầu.   Trần Đức Lịch dịch  [Theo nguồn: Краткая справка о научной, образовательной и общественной деятельности профессора Сергея Петровича Капицы]         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga: Sáng chói nhưng không đi được vào thực tiễn      Theo ý kiến của GS Loren Graham (Viện Công  nghệ Massachusetts), việc một quốc gia lớn như Nga không có khả năng thu  lợi từ các phát minh khoa học của mình là vấn đề hết sức nghiêm trọng.    Trong khi các nước đang phát triển như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ đã đa dạng hóa nền kinh tế của mình, biến công nghệ và các lĩnh vực sản xuất khác thành cơ sở của sự phồn vinh, thì nước Nga lại không cho ra được bất kì sản phẩm công nghệ đáng kể nào, mặc dù các nhà khoa học Nga đã có nhiều phát minh khoa học quan trọng nhất của thế kỷ 20, trong đó có phát minh ra laser, các công trình tiên phong trong lĩnh vực công nghệ máy tính, thậm chí đề xuất quan điểm fracking trong khai thác dầu đá phiến…   Theo nhà lịch sử học khoa học Loren Graham của Viện Massachusetts, nguyên nhân chính của thực trạng đó là do nền khoa học Nga và nước Nga thiếu khả năng thương mại hóa các phát minh, sáng chế. Điều này cũng đã được các nhà lãnh đạo Nga coi là một khoảng trống nghiêm trọng của nền kinh tế. Trong thông điệp hằng năm vào tháng 12/2014, Tổng thống Putin đã tuyên bố “điều tối quan trọng là nước Nga phải chấm dứt sự phụ thuộc quá đáng vào công nghệ nước ngoài. Để đạt được điều đó, cần thay đổi nhiều quy định trong hệ thống luật pháp, hệ thống cấp bằng sáng chế, và thay đổi vị thế của các nhà đầu tư. Công nghệ sẽ không phát triển tự thân, cần tạo ra các cơ chế hỗ trợ khác nhau”.   GS. Graham đã trả lời phỏng vấn với chuyên mục Ideas của tờ Boston Globe về những nguyên nhân khiến nền khoa học sáng chói của Nga không đi được vào thực tiễn.  Ideas: Ông cho biết đặc điểm thái độ của Nga với công nghệ?  Loren Graham: Nước Nga có một nét rất kì lạ mà tôi chưa từng thấy ở bất kì nước nào là, trong 300 năm qua ở Nga đã xuất hiện một số lượng khổng lồ các ý tưởng khoa học và kĩ thuật, nhưng người Nga trên thực tế đã không rút ra được từ đó bất kì lợi ích kinh tế nào. Người Nga đơn giản là không có khả năng biến ý tưởng thành các sản phẩm thương mại.  Tại sao?  Vì xã hội Nga không có các điều kiện cần cho thành công thương mại của công nghệ. Đó là các điều kiện xã hội, luật pháp, chính trị và kinh tế.   Ông đã nghiên cứu về khoa học Nga hơn 50 năm. Đã bao giờ ông nghe các nhà khoa học Nga phàn nàn về tình trạng này?  Tôi thường nghe các nhà khoa học Nga nói “Mọi ý tưởng tốt của chúng tôi rồi sẽ bị đánh cắp! Các ngài là những công dân phương Tây, các ngài ăn cắp các ý tưởng của chúng tôi”. Trong giới khoa học Nga thống trị ý kiến cho rằng kinh doanh là công việc bẩn thỉu, rằng nhà khoa học không nên hạ mình bằng cách rời bỏ khoa học thuần túy. Ngoài ra, ở Nga quan điểm này được củng cố bởi thực tế tham nhũng tràn lan, vì vậy theo quan điểm của các nhà khoa học thì rời bỏ khoa học sang kinh doanh coi như chuyển sang lĩnh vực tội phạm, tham nhũng và gian lận.  Ông có thể cho một số ví dụ?  Ví dụ điển hình là laser. Laser – đó là nền tảng của kinh tế hiện đại. Ngày nay tất cả chúng ta đều sử dụng laser, chúng có trong các máy quay, máy in,v.v, nhưng chúng đã được phát minh vào những năm 1950, 1960 và hai nhà khoa học Nga đã nhận giải Nobel với phát minh này (cùng chia giải Nobel với họ còn có nhà khoa học người Mỹ Charles Townes). Nhưng chúng ta đã biết, ngày nay ai kiếm tiền trên laser. Charles Townes, ngay khi vừa phát minh ra laser, dù không phải là doanh nhân – ông là giáo sư vật lí điển hình – cũng đã không bỏ lỡ cơ hội. Ông nhanh chóng nhận bằng phát minh của mình, sau đó bán lại quyền kinh doanh vì ông hiểu là trong tay ông có cả mỏ vàng. Trong khi đó, các khoa học Nga đã không làm điều gì tương tự, bởi trong điều kiện của họ đơn giản là không thể làm được.  Tại sao? Chẳng nhẽ những cố gắng thu lợi từ kinh doanh laser ở Nga bị cản trở?  Không bị cản trở, chỉ đơn giản là chưa bao giờ có. Tôi đã phỏng vấn Prokhorov – trong đầu ông thậm chí chưa bao giờ xuất hiện ý tưởng lập công ty. Ngay cả nếu trong ông xuất hiện ý tưởng đó, thì ở Nga khi đó cũng chưa có hệ thống cấp bằng phát minh, chưa có nhà đầu tư, ông cũng không thể đưa cổ phiếu lên sàn giao dịch. Tình hình đó ở Nga hiện vẫn vậy: chưa hình thành được một xã hội có những điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư, các nhà hảo tâm đầu tư vào công nghệ ở giai đoạn phát triển chúng như ở thung lũng Silicon, hay Kendall Square,v.v.  Vậy có sự khác nhau giữa người Mỹ và người Nga trong đánh giá đối với đổi mới sáng tạo?  Một trong những đặc điểm của văn hóa Mỹ là những doanh nhân thành công trở thành nhân vật hầu như được sùng bái – tôi muốn nói đến Steve Jobs, Thomas Edison, Bill Gates. Những người này có vị trí cao và gần như đã trở thành hình mẫu xã hội. Không có ai như thế ở Nga.  Thế chẳng nhẽ các nhà khoa học Nga không nhận được sự vinh danh xứng đáng?  Cố nhiên là họ có, nhưng người ta tôn trọng họ với tư cách những nhà khoa học đang làm việc trong các phòng thí nghiệm, chứ không phải là các doanh nhân trong lĩnh vực công nghệ. Họ nhận được các giải thưởng và những lời khen ngợi đủ loại từ Nhà nước và cộng đồng. Nhưng họ không làm gì để tác động lên nền kinh tế.  Phải chăng đó là hệ quả của việc ở Liên Xô không tồn tại hệ thống kinh doanh tư nhân?  Ảnh hưởng của quá khứ Xô-viết đóng vai trò rất đáng kể. Nhưng không hoàn toàn như vậy. Trong cuốn sách của mình, tôi đã viết, các vấn đề tương tự tồn tại trong cả thời kì Sa Hoàng, đặc biệt trong thế kỷ 19. Tôi thường trích dẫn ví dụ về điện chiếu sáng. Đèn điện được nhà khoa học Nga Yablochkov phát minh. Ông ấy đến Tây Âu, nơi ông phát triển hệ thống chiếu sáng cho Paris và London. Chính Paris khi đó đã nhận được danh hiệu mà vẫn được gọi cho đến ngày nay – “Kinh đô ánh sáng”.  Đó là một ví dụ về việc biến ý tưởng thành hiện thực.  Đúng vậy. Nhưng bạn hãy nghe tiếp. Chính phủ Nga đã thuyết phục Yablochkov trở về Tổ quốc sau khi ông trở nên giàu có Pháp, và thực hiện điều này tại Nga. Ông đã trở về lập công ty và phá sản. Bởi ông đã không tìm được nhà tài trợ. Ông thậm chí không thuyết phục nổi người chủ khách sạn, nơi ông sống, thiết lập hệ thống chiếu sáng cho chính khách sạn. Thời đó người Nga ưa dùng đèn dầu.  Có thật công nghệ fracking khai thác dầu đá phiến cũng đã được phát minh ở Nga?  Điều này thì rất ít người biết. Vào những năm 1950, người Nga đã phát minh ra ý tưởng fracking và công bố một số bài về chủ đề này. Nhưng điều gì đã xảy ra sau đó? Không có gì cả. Không một ai sử dụng ý tưởng sáng chói này. Chúng không được đăng tải trong các tạp chí kinh doanh, vì đơn giản ở Liên Xô không có tạp chí kinh doanh. Ba mươi năm sau, người Mỹ đã hoàn thiện công nghệ fracking và thực thi chúng.  Bây giờ các công ty Chevron, Exxon, BP đến Nga để dạy người Nga công nghệ này, dù chính người Nga đã tạo ra chúng.  Ông có cho rằng Chính phủ Nga hiện nay đang cố gắng cải thiện tình hình?  Tôi nghĩ một số quan chức chính phủ đã hiểu ra cơ sở của kinh tế Nga phải là các lĩnh vực tri thức chứ không phải là những lĩnh vực như công nghiệp dầu khí. Ngoài ra, ở Nga đã xuất hiện khu vực kinh doanh tư nhân. Nhưng vẫn còn vô khối trở ngại.Việc thiếu khả năng trong thu lợi kinh tế từ các phát minh khoa học đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện trạng của nước Nga?Tôi nghĩ là hậu quả hết sức nghiêm trọng. Ngày nay, dù sau 300 năm cố gắng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nước Nga vẫn là một nền kinh tế trước hết dựa trên dầu khí. Đấy tất nhiên là một bi kịch, nhưng các nhà lãnh đạo Nga vẫn chưa có giải pháp khả thi trong việc sử dụng hợp lí tài năng của các nhà khoa học và kĩ sư của họ, dù họ ý thức được sự cần thiết phải hiện đại hóa.           Loren Graham (1933), giáo sư nghiên cứu  về lịch sử khoa học, được coi là học giả hàng đầu thế giới bên ngoài  nước Nga về lịch sử khoa học nước này. Ông còn là thành viên Ban ủy thác  của Quỹ Khoa học Quốc tế George Soros hỗ trợ tài chính cho các nhà khoa  học ở Nga sau khi Liên Xô sụp đổ.Cuốn sách gần đây nhất của ông xuất  bản vào tháng 9/2013 với tên gọi: “Những ý tưởng đơn độc: Nga có thể  cạnh tranh không?” (Lonely Ideas: Can Russia compete?) lý giải sự thất  bại của Nga trong phát triển khoa học-công nghệ và hiện đại hóa đất  nước, qua đó cho thấy tình trạng này phản ánh tiến triển của nền chính  trị, xã hội và cả sự trì hoãn các quy tắc dân chủ ở quốc gia này như thế  nào. Tuy nhiên, cuốn sách cũng chỉ ra mối liên kết mới giữa các công ty  của phương Tây với giới khoa học Nga, các viện nghiên cứu mới và những  ưu tiên của Nga trong lĩnh vực công nghệ nano hay sự thành lập thành phố  công nghệ mới Skolkovo. GS. Graham cho rằng, hiện Nga đang nắm cơ hội  tốt nhất trong lịch sử để thoát khỏi tình trạng thất bại về công nghệ đã  kéo dài suốt 300 năm qua.          Trần Đức Lịch dịch  (Nguồn: “Russian science is amazing. So why hasn’t it taken over the world?”, Dịch qua bản tiếng Nga “Почему блестящая российская наука обречена оставаться в тени”)          Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga tỉnh giấc (Kỳ cuối)      Thủ tướng Putin đã có lần chỉ ra những thách thức đang chờ đợi Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS) ở phía trước và rằng RAS không thể né tránh việc thay đổi từ bên trong hệ thống. Cũng có ý kiến cho rằng, vấn đề cấp bách nhất là RAS phải đánh giá lại các nhóm nghiên cứu để trợ giúp cho những nhóm hoạt động hiệu quả và giải tán những nhóm hoạt động kém.    Câu hỏi về học thuật  Sự trợ giúp của Chính phủ cho các trường đại học làm nảy sinh câu hỏi Chính phủ sẽ làm gì với RAS? Tại Nga, RAS vẫn thực hiện phần lớn các nghiên cứu cơ bản, nhưng 50.000 cán bộ của viện vẫn phải đấu tranh với nguồn ngân sách từ Chính phủ chỉ 1,6 tỷ USD/năm – tức khoảng 30.000 USD/người để trả lương, trang thiết bị, và vật liệu. (Tất nhiên, RAS có nguồn tài chính khác bao gồm cả khoản tiền từ việc cho thuê đất đai và các toà nhà).    Đối với một số người bên ngoài, RAS là di tích của thời đã xa. RAS vẫn giữ cấu trúc thứ bậc cứng nhắc với những giám đốc đầy quyền năng. Tài trợ được rót xuống nhờ ảnh hưởng của những học giả và các giám đốc các viện thành viên. Danh tiếng chứ không phải công bố công trình là chìa khoá. Và kết quả là RAS tiếp tục tài trợ cho những nghiên cứu viên và những viện nghiên cứu hoạt động không hiệu quả. Một thành viên của RAS cho rằng, Viện dựa quá nhiều vào thứ bậc và không có sự minh bạch. Một khi được thành lập, các phòng thí nghiệm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có việc đóng cửa những viện nghiên cứu cũ và mở ra những viện nghiên cứu mới. Hệ thống sẽ phải linh hoạt hơn.   Hiện tại, Chính phủ không can thiệp vào việc điều hành của RAS, mặc dù hai bên cũng có tranh luận về việc quản lý những bất động sản có giá trị. Vào năm 2007, Chính phủ đã thuyết phục RAS đồng ý những thay đổi liên quan tới hiến chương của RAS phải được thông qua trong cuộc họp đại hội đồng của RAS và Chính phủ. Các giám đốc mới của RAS được bổ nhiệm trên cơ sở sự đồng thuận của hai bên. “Những thay đổi này được các thành viên của RAS chấp nhận và cho là hợp lý vì RAS vẫn là cơ quan của nhà nước, Eugene Sverdlov, Viện Gene phân tử và là cố vấn của RAS nói.    Vào tháng 5, Thủ tướng Putin đã phát biểu tại phiên họp toàn thể của RAS và chỉ ra những thách thức đang chờ đợi phía trước. RAS không thể né tránh việc tham gia vào kế hoạch hiện đại hoá. Những thay đổi bên trong hệ thống của RAS được xem có vai trò cực kỳ quan trọng. Dường như lo vẫn chưa đủ rõ ràng, Putin nhấn mạnh, những kế hoạch thay đổi sẽ phải triển khai bằng cách xác định những cơ sở nghiên cứu hàng đầu thông qua các đề cương mở và minh bạch hơn là những quy trình hành chính cứng nhắc hoặc bởi sự thiên vị của một quan chức nào đó.    Những tuyên bố này làm cho những nhà nghiên cứu vốn xem RAS như là thành trì của nghiên cứu cơ bản ở Nga tức giận. RAS đã có sự độc lập của mình ngay cả trong thời kỳ khó khăn nhất. Khoa học không thể bị quản lý quá nhiều, cần phải có sự độc lập để có thể tạo ra những kết quả.    Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học nói với Science đều khẳng định RAS cần phải đổi mới. Với một số người, vấn đề cấp bách nhất là loại bỏ phần gỗ bị thối rữa. “Để nâng cao chất lượng khoa học ở Nga, cần phải hoàn thiện việc đánh giá các nhóm nghiên cứu để trợ giúp cho những nhóm nghiên cứu hiệu quả và giải tán những nhóm hoạt động kém”, Georgiev phát biểu. Sverdlov cho rằng, RAS đã có quy định các giám đốc của các viện thành viên không được giữ ghế quá 10 năm và phải về hưu ở tuổi 70. Tuy nhiên quy định này bị huỷ bỏ vào năm 2007. Ông kêu gọi các đồng nghiệp ủng hộ quy định này. RAS phải để cho những tiến sĩ trẻ, năng động, có hoài bão đảm nhiệm những vị trí quan trọng tại các viện nghiên cứu, và phải thấy rằng họ có khả năng đưa ra chương trình phát triển dài hơi cho viện.    Một mô hình khác cho RAS thay đổi là chương trình sinh học phân tử và tế bào, một trong những lĩnh vực nghiên cứu của Viện sử dụng cách bình duyệt để lựa chọn những dự án nghiên cứu tốt nhất và những nhà nghiên cứu trẻ có được tự do học thuật. Tuy nhiên, dù có nhiều người ủng hộ, năm nay RAS đã cắt giảm tài trợ của chương trình Sinh học phân tử và tế bào (MCB-Molecular and Cell Biology).    Thập kỷ vừa qua đã thấy sự phát triển rõ ràng của khoa học Nga: lương của các nhà nghiên cứu đã đủ sống, có những quỹ dành cho khoa học có chất lượng, và ít nhất trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng Chính phủ đã chi tiền đi liền với lời nói. Nhưng với những người mong mỏi cải cách, những người đang phải đấu tranh chống lại hệ thống đặc quyền đặc lợi đã lỗi thời, thì họ như đang trong tình trạng chờ cho băng tan trước khi dòng sông bên dưới có thể bắt lại nhịp chảy. “Sớm hay muộn những người của RAS cũng hiểu ra rằng chỉ có một cách để khôi phục lại nguồn tài chính là thông qua những thay đổi thực sự. Giữ nguyên hiện trạng hay tiến hành những thay đổi hình thức không phải là cách làm hay”, Khokhlov nói.    Một vài người cho rằng cải cách RAS chỉ mất thời gian. Rằng phải để cho RAS như nó vốn có và chuyển sang đầu tư nhiều tiền cho chương trình cạnh tranh về nghiên cứu, cho các nhà nghiên cứu, những cơ sở nghiên cứu mới. Cũng như nhiều người khác, nhà kinh tế Sergei Guriev nói, “cạnh tranh trong cấp tài trợ nghiên cứu sẽ là chìa khoá. Một khi bạn quyết định bạn muốn đánh giá mọi người bằng cách công bố quốc tế và sử dụng các chuyên gia quốc tế, mọi việc sẽ trở nên minh bạch. Và đó không phải là tấn công khoa học, nhiều quốc gia khác đã làm điều này”.    Đây cũng là cuộc đấu tranh lâu dài để lấy lại những cơ hội mà các nhà nghiên cứu Nga đã bỏ qua. “Chúng tôi đã mất một thế hệ. Khoảng cách vẫn còn. Đã có một thời kỳ dài khoa học không còn là một công việc danh giá. Giờ đây thì mọi việc bắt đầu quay trở lại, nhưng cần phải có thời gian”, nhà vật lý Yuri Oganessian của JINR nói.     Ngọc Tú lược dịch (Science, Vol 330, 11/2010)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga tỉnh giấc (Kỳ I)      Khoa học Nga đã vượt qua giai đoạn sống cầm cự và đang nỗ lực lấy lại hào quang đã mất. Chính phủ đang hỗ trợ cho các trường đại học và nghiên cứu ứng dụng, vậy tương lai nào&#160;chờ đợi Viện Hàn lâm Khoa học Nga?      Tháng vừa rồi, Bộ Khoa học và Giáo dục Nga đã công bố kết quả đầu tiên của chương trình tài trợ lớn (megagrants) – nỗ lực tăng cường nghiên cứu khoa học tại các trường đại học của nước này. Bộ đưa ra những tài trợ “khổng lồ” lên tới 5 triệu USD để thu hút các nhà khoa học hàng đầu thế giới tới xây dựng các phòng thí nghiệm tại các trường đại học của Nga. Trong số 40 người nộp hồ sơ thành công đầu tiên có những cái tên rất nổi tiếng như Ferid Murad đoạt giải Nobel Y Sinh học năm 1998, nhà toán học Stanislav Smirnov đoạt giải Fields năm 2010.   Tuy nhiên, chương trình đã thất bại trong việc thu hút hai “con cá lớn”: hai nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý của năm nay Andre Geim và Konstantin Novoselov. Cả hai đều sinh ra và lớn lên ở Nga nhưng hiện đang làm việc tại đại học Manchester, Anh.   Kết quả giải Nobel công bố tháng trước đã làm dấy lên cuộc tranh luận ở Nga về việc tại sao có nhiều nhà khoa học tài năng của đất nước này – những người rời bỏ đất nước vào giai đoạn khủng hoảng những năm 1990 – vẫn gắn bó với những trường đại học nước ngoài và làm lợi cho nền kinh tế của nước đó. “Tôi không quan tâm tới những khoản tiền tài trợ lớn của Nga. Rất khó để điều hành hai phòng thí nghiệm cùng một lúc”, Geim giải thích.   Khoa học Nga đã khác nhiều so với thời điểm Geim và Novoselov rời Nga những năm 1990, thời điểm mà có những nhà nghiên cứu phải tranh thủ lái xe taxi kiếm sống sau giờ tan sở. Lương dần được tăng lên, và mới gần đây, Chính phủ Nga, nhận ra đất nước không thể tiếp tục phát triển dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, đã đưa ra các chương trình thúc đẩy các ngành công nghiệp cần có nghiên cứu đi tiên phong như công nghệ nano. Các nhà nghiên cứu của Nga trong nước cũng như ở nước ngoài hoan nghênh những chương trình như vậy nhưng than phiền chính phủ vẫn chưa tài trợ thích đáng cho nghiên cứu cơ bản và thất bại trong việc tiến hành cải cách các viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS) – tổ chức nghiên nhận được nhiều ưu đãi nhưng vẫn tiếp tục tài trợ cho số lượng lớn các cơ sở nghiên và các nhà nghiên cứu thành viên làm việc không hiệu quả.   Một số nhà khoa học vận động RAS sử dụng cơ chế tài trợ minh bạch và dựa trên bình duyệt để tạo động lực cho các nhà nghiên cứu giỏi, năng động. Và Chính phủ đáp trả lại những chỉ trích trên bằng cách đưa ra một loạt chương trình khuyến khích nghiên cứu tại các trường đại học ngoài tầm kiểm soát của RAS. Nhưng trong khi các nhà khoa học Nga ủng hộ những nỗ lực này thì họ lại tỏ ra thận trọng khi đánh giá liệu điều này đã đủ để tạo ra chất lượng của khoa học Nga. “Những người ở đỉnh cao cố gắng làm những điều tốt nhất để phục hồi nền khoa học Nga. Nhưng khoa học vẫn trong tình trạng rối ren, và tham nhũng đã trở thành vấn nạn”, Geim nói.   Sự phục hồi chậm rãi  Vào thời kỳ đỉnh cao của chính quyền Xô viết, khoa học rất có uy tín. RAS thực hiện phần lớn các nghiên cứu cơ bản và được tài trợ nhiều, có tới hàng trăm viện nghiên cứu thành viên. Nhiều nghiên cứu được thực hiện trong các thành phố khoa học đặt ở nhiều vùng hẻo lánh của nước Nga và thường phục vụ cho quân đội. Những ngành công nghiệp mũi nhọn có khoản ngân sách dồi dào cho R&D và tài trợ cho các viện nghiên cứu. “Vào thời kỳ Liên Xô, khoa học thực sự là một sự nghiệp, và tất cả những người ưu tú đều ở đây”, Sergei Guriev, trường Kinh tế mới của Moscow nói. Andrei Furenko – Bộ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục nhắc lại câu nói tiếu lâm thời đó: “Khoa học là gì? Đó là phương pháp thoả mãn trí tò mò của bạn bằng nguồn tiền của Nhà nước”. Trước khi liên bang Xô viết sụp đổ, có tới 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư và kỹ thuật viên tại hơn 4.600 viện nghiên cứu.   Nhưng vào năm 1994, khi tạp chí Science thực hiện chuyên đề về khoa học Nga nhiều phòng thí nghiệm đã trở nên trống vắng, bám bụi, nhiều nhà nghiên cứu không trang trải nổi tiền mua các thuốc thử cho thí nghiệm hoặc thậm chí là trả tiền điện. UNK, máy gia tốc hạt tại Viện Vật lý năng lượng cao, có thể cạnh tranh với máy gia tốc hạt tại CERN và phòng thí nghiệm Fermi, trong tình trạng chưa hoàn thiện. Tại Gatchina gần St. Petersburg, việc xây dựng lò phản ứng PIK, nguồn sản sinh neutron nhiệt độ cao cho các nghiên cứu về vật liệu, lý, hoá mới chỉ hoàn thành được 75% dự án.   Lương của các nhà nghiên cứu không đủ sống và với việc nới lỏng quy định về đi lại nhiều người đã sang nước ngoài tìm việc, trong đó có cả Geim và Novoselov. Những thống kê chính thức cho thấy khoảng 25.000 nhà khoa học đã rời tổ quốc ra đi trong khoảng thời gian 1989 tới 2004, nhưng theo thống kê độc lập thì có khoảng 80.000 nhà khoa học đã rời đi.   Một số may mắn tìm thấy những nguồn tài trợ khác như liên kết với các phòng thí nghiệm nước ngoài, giành được những hợp đồng nghiên cứu của các tập đoàn quốc tế. Để tạo nên sự cạnh tranh với RAS, Chính phủ đã thành lập Quỹ Nghiên cứu cơ bản (Russian Foundation for Basic Research-RFBR) tài trợ cho những đề tài nghiên cứu được tuyển chọn trên cơ sở bình duyệt nhưng nguồn tài chính thì khá eo hẹp. Suốt thập kỷ đó, mục đích chính của các nhà khoa học là sống sót hơn là tạo ra năng suất trong nghiên cứu.   Sau năm 2000, do kinh tế khởi sắc, đời sống của các nhà khoa học bắt đầu được cải thiện. Chính phủ từng bước tăng lương: các nghiên cứu viên của RAS có thể thu nhập gấp 5-6 lần so với một thập kỷ trước. “Vẫn chưa đủ nhưng so với những năm trước đã chấp nhận được. Lương của nhà nghiên cứu cao hơn so với mức trung bình của xã hội”, Fursenko nói.   Tỉnh dậy sau giấc ngủ đông, khoa học Nga tái hoà nhập với cộng đồng. Chính phủ cung cấp tiền để hoàn thành lò phản ứng PIK, và lò này gần như sẵn sàng hoạt động. “Tài chính mới đủ cho lò phản ứng nhưng không đủ cho các thiết bị khác. Chúng tôi đang cố gắng tìm nguồn tài chính cho công việc này, Valery Fedorov, Giám đốc nghiên cứu neutron tại Viện Vật lý hạt nhân Petersburg nói. Máy gia tốc UNK vẫn chưa hoàn thành, nhưng các nhà nghiên cứu tại Protvino nói họ vẫn có thể tiến hành các thí nghiệm ở quy mô nhỏ, phối hợp với CERN tại châu Âu cũng như phòng thí nghiệm Brookhaven và Fermi ở Mỹ.   JINR- một trong những phòng thí nghiệm nổi tiếng của Nga và dẫn đầu thế giới về vật lý hạt nhân cũng bắt đầu mở rộng hoạt động. “Giai đoạn 12 năm từ khi Liên Xô tan rã thực sự là khó khăn đối với Viện của chúng tôi. Ngân sách bị giảm sút nghiêm trọng và thậm chí còn không được cung cấp”, Mikhail Itkis, Giám đốc JINR, nói. Trong thời gian này, không thể tiến hành việc nâng cấp trang thiết bị cũng như không mua mới – phòng thí nghiệm chỉ duy trì hiện trang ban đầu. Tài trợ quốc tế giúp duy trì hoạt động. JINR có 18 thành viên từ các quốc gia trong liên bang Xô viết, hiện tại họ vẫn ở trong hội đồng, ngay cả một số đã trở thành thành viên NATO và Liên minh châu Âu.   Năm 2000, khi mới được bầu làm Tổng thống, Vladimir Putin đã công nhận tầm quan trọng của phòng thí nghiệm với việc thông qua luật cho JINR vị thế đặc biệt và được miễn thuế đất. JINR nhanh chóng nhận được nguồn ngân sách đầy đủ và nhưng vẫn chưa đủ nhiều: năm 2005 ngân sách cấp cho JINR là 37 triệu USD cho 5.000 nhân viên. JINR đã yêu cầu các thành viên tăng đóng góp của họ lên 20% và tiếp tục kêu gọi họ cho tới khi ngân sách có thể đạt tới 200 triệu USD vào năm 2016. Các thành viên đã đồng ý. Năm tới ngân sách sẽ tăng lên 100 triệu USD. Viện hiện đã có những trang thiết bị mới và một số được nâng cấp. “Chúng tôi không thể đứng đầu thế giới trong mọi lĩnh vực của khoa học vật lý nhưng trong một vài lĩnh vực thì có thể. Đó là chính sách của chúng tôi”, Itkis nói.   (Còn tiếp)  Ngọc Tú lược dịch (Science, Vol 330, 11/2010)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Nga tỉnh giấc (Kỳ II)      Việc Chính phủ quan tâm nhiều tới khoa học ứng dụng đã làm nhiều nhà khoa học lo ngại khoa học cơ bản sẽ không được đối xử công bằng. Tình cảnh của nghiên cứu cơ bản của Nga đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi 200 nhà nghiên cứu của Nga gửi thư cho Tổng thống Medvedev cảnh báo ông về điều kiện thê thảm&#160;và tương lai đen tối của nghiên cứu cơ bản của Nga.     Thu hẹp khoảng cách  Khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của Putin vào năm 2004, Fursenko được chỉ định tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục, Chính phủ Nga bắt đầu thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và kinh tế. Hệ thống cũ các viện ứng dụng cũ đã từng phục vụ cho quân đội và những ngành công nghiệp then chốt đã sụp đổ. Không có một cơ chế mới để chuyển những kết quả khoa học trở thành những sản phẩm hữu dụng hoặc các quá trình trong sản xuất công nghiệp. “Bên công nghiệp không quan tâm: họ hài lòng với cái họ có. Những sáng kiến thúc đẩy sự tương tác giữa các bên là rất quan trọng”, Khokhlov nói.   Vào năm 2007, chính phủ tài trợ lớn cho công nghệ nano. Họ thành lập Tổng công ty Rusnano với số tiền tài trợ lên tới 6 tỷ USD và mục đích là tạo ra 30 tỷ USD bên công nghiệp vào năm 2015. Rusnano cung cấp phần lớn số tiền này cho các công ty như một khoản tiền tài trợ cho việc thương mại các sản phẩm nano nhưng các viện nghiên cứu thì vẫn than phiền chỉ nhận được phần nhỏ của miếng bánh.   Viện Kurchatov, Moscow, phòng thí nghiệm hàng đầu về năng lượng nguyên tử của Nga chuyển trung tâm phóng xạ synchrotron thành trung tâm phóng xạ synchrotron và công nghệ nano. JINR thành lập trung tâm quốc tế về công nghệ nano với 33 triệu USD từ Rusnano. Vào tháng 7, RAS và Rusnano thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ với khoảng 1 triệu USD từ Rusnano.   Mặc dù làn sóng đầu tư cho nano lên cao, một vài nhà khoa học vẫn nghi ngờ về cơn sốt công nghệ nano của Chính phủ. Rusnano không thực sự tài trợ cho nghiên cứu. Đó chỉ là bước thương mại hoá.   Những nghi ngại dấy lên xung quanh dự án Skolkovo-thành phố công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon ở ngoại ô Moscow. Khởi động cách đây 6 tháng, dự án nhằm xây dựng một thành phố cho 12.000 nhà nghiên cứu và giới doanh nhân, tập trung vào những ưu tiên của Chính phủ như năng lượng, viễn thông, y sinh và năng lượng nguyên tử. Viện Kurchatov và ĐH Moscow tham gia vào dự án cùng với một loạt các công ty nước ngoài trong đó có công ty Boeing.   “Dự án Skolkovo thật kỳ lạ. Có nhiều trung tâm khoa học ở Nga, tại sao lại phải đầu tư tiền vào nơi mới này? Các phòng ốc của chúng tôi đang trống rỗng”, Vyacheslav Strelkov, Viện Kurchatov nói. Dự án cũng làm JINR lo lắng. JINR từng được cho phép thành lập công viên khoa học nơi các công ty công nghệ có thể đặt cơ sở và tương tác với nhau. Nhưng hiện giờ vẫn chưa có gì vì các công ty vẫn chờ xem Skolkovo sẽ tiến triển như thế nào.   Trở về bản chất  Việc Chính phủ quan tâm nhiều tới khoa học ứng dụng đã làm nhiều nhà khoa học lo ngại khoa học cơ bản sẽ không được đối xử công bằng. “Họ đơn giản là không hiểu làm cách nào khoa học cơ bản tạo ra những đổi mới và tin rằng tất cả nghiên cứu cơ bản phải ra được một cái gì đó hữu dụng”, Georgii Georgiev, Viện gene thuộc RAS nói. Tình cảnh của nghiên cứu cơ bản của Nga đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi 200 nhà nghiên cứu của Nga gửi thư cho Tổng thống Medvedev cảnh báo ông về điều kiện thê thảm và tương lai đen tối của nghiên cứu cơ bản của Nga. Những người cảnh báo kêu gọi tăng tài trợ, gắn kết khoa học Nga vào cộng đồng thế giới, minh bạch tài chính, các tiêu chuẩn quốc tế trong xét duyệt đi liền với những khoản tài trợ có tính cạnh tranh.   Những lời cảnh báo càng trở nên bức thiết khi vào năm nay Thomson Reuters đưa ra bản báo cáo về công bố quốc tế của các nhà khoa học Nga từ khi liên bang Xô viết sụp đổ. Nga đạt được 29.000 công bố quốc tế vào năm 1994 nhưng chỉ đạt 22.000 công bố vào năm 2006 – thời kỳ mà các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc tăng số lượng công bố quốc tế. Trong giai đoạn 2004-2008, công bố quốc tế của Nga chiếm 2.6% của thế giới, trong khi Trung Quốc là 8.4%, Canada 4.7% và Úc 3.0%.   “Đây là câu hỏi nhạy cảm với chúng tôi. Đó là vấn đề về văn hoá”, Fursenko nói. Một số nhà khoa học Nga chỉ công bố trên các tạp chí tiếng Nga như để thể hiện niềm tự hào dân tộc. Fursenko cho rằng, báo cáo của Thomson Reuters gây ra sự chia rẽ trong cộng đồng khoa học Nga giữa những người công bố trên các tạp chí quốc tế và những người công bố trên tạp chí trong nước và nghĩ rằng họ ở mức thấp hơn – hoặc đơn giản là không quan tâm tới điều này.   Thực vậy, nhiều người tại RAS dị ứng với các tạp chí quốc tế và những người dựa vào đây để đánh giá hiệu quả nghiên cứu. “Khoa học thường thay đổi, rất khó để đánh giá. Việc tạo ra các chỉ số trích dẫn, chỉ số ảnh hưởng là một dự án thương mại từ những người có thể kiếm hàng tỉ USD… Có rất nhiều tiền và lợi ích đằng sau đó… Đó là lý do vì sao chúng ta phải tạo nên hệ thống đánh giá của chúng ta và không áp đặt hệ thống ngoại lai”, Mikhail Kovalchuk, Giám đốc Viện Kurchatov nói tại một cuộc họp báo vào tháng 9.  Chính phủ bắt đầu đề cập tới tình hình nghiên cứu cơ bản bằng cách thúc đẩy nghiên cứu cơ bản tại các trường đại học hơn là tại RAS. Dưới chính quyền Liên Xô, các trường đại học chỉ là những cơ sở giảng dạy và họ thiếu cơ sở vật chất để nghiên cứu. Năm vừa qua, Chính phủ đã khởi động một số dự án thúc đẩy khoa học tại các trường đại học bao gồm cả cuộc canh tranh cho danh hiệu Đại học nghiên cứu quốc gia (hiện nay gồm có 40 trường đại học), cạnh tranh tài trợ cho cơ sở vật chất và tạo ra quỹ tài trợ cho các dự án do các nhóm nghiên cứu tại các trường đại học thực hiện cho bên công nghiệp.   Một trong những nỗ lực lớn đó là chương trình tài trợ lớn (megagrants) để thu hút những nhà nghiên cứu hàng đầu tới các trường đại học của Nga. Hơn 500 nhà nghiên cứu nộp đơn cho chương trình. Trong số 40 người nhận được tài trợ, có 20 nhà khoa học Nga, 15 sống ở nước ngoài. Đợt 2 của chương trình sẽ được tiến hành vào cuối năm nay. “Có vẻ cuộc cạnh tranh lành mạnh”, Alexey Kondrashov, ĐH Michigan, Ann Arbor – một trong những người giành được tài trợ nói. “Tôi chỉ biết 8 trong số 40 người được tài trợ, họ đều là những nhà khoa học nghiêm túc. Do vậy, có thể hi vọng hiệu ứng tốt sẽ xảy ra.”   (Còn nữa)  Ngọc Tú lược dịch (Science, Vol 330, 11/2010)        Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Singapore thực sự đang làm gì?      Singapore vẫn tự hào rằng nó là một quốc gia công nghệ tiên tiến và có tầm cỡ thế giới về nghiên cứu và phát triển, nhất là trong những năm gần đây. Có tới hàng tỷ đô la ngân sách được dùng với mục đích đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học sự sống. Nhưng, mọi sự nhìn nhận có thể sẽ khác nếu những thống kê khoa học được xem xét cụ thể.    Theo thống kê của Viện Thông tin Khoa học (ISI) Thomson, nền khoa học của Singapore đã lãng phí rất nhiều thời gian. Trong những năm 1999-2003, khoảng 20 lĩnh vực khoa học của Singapore đạt chỉ số tương tác (impact factor – dùng để đánh giá tầm quan trọng của các báo khoa học) dưới trung bình của thế giới. Chỉ có một số lĩnh vực toán học (10% trên trung bình thế giới) và khoa học nông nghiệp (+49) là trên trung bình. Trong khi đó, các khoa học vật lý và kỹ thuật mà Singapore vẫn khoe khoang thì đạt kết quả thảm hại: khoa học vật liệu (-5), hóa học (-11), khoa học máy tính (-18), kỹ thuật (-18), vật lý (-38) và khoa học địa cầu (-52), tất cả đều dưới trung bình. Điều này là hoàn toàn tương phản với số lượng rất nhiều các công trình được công bố trong các lĩnh vực khoa học máy tính, kỹ thuật, khoa học vật liệu, vật lý, và đặc biệt là toán học.  Thậm chí trong khoa học sự sống, một lĩnh vực rất được quan tâm hiện nay, tình trạng cũng không mấy sáng sủa. Ta có thể xem hai danh mục sau:  1. Các lĩnh vực nóng (dễ thương mại hóa): khoa học nông nghiệp (+48), khoa học về cây trồng và vật nuôi (-2), vi sinh học (-5) , sinh học và hóa sinh (-14), sinh học phân tử (-19)  2. Các lĩnh vực lạnh (truyền thống hoặc khó thương mại hóa): Miễn dịch học (-33), khoa học thần kinh (-36), y học (-36), sinh thái học (-37), dược học (-40), tâm lý học (-50)  Những đóng góp khoa học sẽ được quy cho Singapore khi địa chỉ của tác giả công trình là ở Singapore. Vì thế những số liệu về các công trình của Singapore đã không phân biệt đâu là thành quả thực sự của các nhà nghiên cứu Singapore và đâu là thành quả của những nhà khoa học uy tín người nước ngoài được khuyến khích về tài chính để làm việc ở Singapore. Cũng cần chú ý thêm rằng tiền sẽ được ưu tiên rót cho những hướng nghiên cứu đã đạt được số trích dẫn trung bình cao nhất. Điều đó sẽ lại càng tạo ra động cơ cho sự thống kê gian lận về thành tích được trích dẫn của các nghiên cứu.  Điều đáng ngại nhất là, cả y học (-36) và và giáo dục (-54) đều rất yếu kém trong cuộc chạy đua giành thành tích được trích dẫn. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, dạy tốt luôn đi đôi với nghiên cứu tốt. Bởi vì, chỉ có một nhà sư phạm giỏi thì mới có thể thực hành những điều mà anh ta đã dạy cho người khác và chỉ có một nhà nghiên cứu giỏi, nắm được những kiến thức tiên tiến nhất thì mới có thể đem lại chất lượng giáo dục cao nhất. Nếu nghiên cứu mà kém thì không bao giờ có thể nói  giáo dục “đạt trình độ thế giới” được, trừ khi người ta hiểu khái niệm “đạt trình độ thế giới” bao hàm cả dưới mức trung bình của thế giới.                     Theo các số liệu tổng kết giai đoạn 1999-2003, Singapore xếp thứ 36 về sự phong phú của nghiên cứu khoa học (tính theo số công trình được xuất bản trong tất cả các lĩnh vực), nhưng lại xếp thứ 92 về mức độ tương tác tương đối (số trích dẫn trên mỗi công trình).  Cũng có nhiều người đưa ra lập luận rằng, vì Singapore hạn chế về nguồn nhân lực, không có tài nguyên thiên nhiên, và cũng xuất phát chậm, cho nên những dẫn chứng để phê phán nền khoa học Singapore là không được công bằng cho lắm, và những hạn chế của nền khoa học nước này cũng không phải là nghiêm trọng lắm. Nhưng, hãy thử so sánh Singapore với những nước khác. Israel chẳng hạn, có dân số chỉ hơn 6 triệu người một chút. Có thể nói rằng, nó là nước có ít tài nguyên thiên nhiên nhất trong các quốc gia Trung Đông, và từ trước tới nay nó thường xuyên ở trong tình trạng tranh chấp, xung đột. Như vậy, theo lập luận trên, đáng ra Israel phải là một trong những nước kém phát triển công nghệ nhất trên thế giới. Nhưng, trên thực tế Israel lại là nước nổi tiếng thế giới về công nghệ cao: nó xếp thứ 16 về mức độ phong phú trong nghiên cứu khoa học và xếp thứ 24 về mức độ tương tác tương đối. Hiện nay, Hàn Quốc là nước có số lượng công trình khoa học nhiều nhất trong số 5 con hổ châu Á. Bỉ, một quốc gia tương đối nhỏ với chỉ 10 triệu người, có 9,5 công trình trên 1000 người dân và 9,43 trích dẫn trên một công trình (xếp thứ 19). Trong khi đó, các thống kê của Singapore là 8,6 công trình trên 1000 người dân và 4,58 trích dẫn trên một công trình. Thậm chí Lebanon, dù phải trải qua chiến tranh triền miên mà vẫn vượt qua Singapore về mức độ tương tác tương đối của các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học máy tính, một lĩnh vực mà Singapore vẫn coi là thuộc vào những thế mạnh lớn nhất của nó (Lebanon là 1,12; Singapore là 1,03).  Nền khoa học của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á thường xuyên mắc phải căn bệnh ngộ nhận. Ở một số nước, căn bệnh ngộ nhận này là rất trầm trọng. Căn bệnh ngộ nhận của nền khoa học Singapore có lẽ là khá trầm trọng.  T. T. D (Theo www. newsintercom.org)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý      Trong ngày 12/7, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã cùng đoàn công tác là đại diện các Bộ ngành, tới làm việc với hai cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam là Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam (Viện KHCN) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (Viện KHXH).     Những vấn đề thời sự    Tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng, hai Viện đã có những báo cáo khái quát và chi tiết, qua đó xác định những thực trạng kinh tế xã hội mà đất nước và nền khoa học Việt Nam đang đối diện.    Một số vấn đề gắn với lợi ích chiến lược quốc gia được các nhà khoa học đề cập với Phó Thủ tướng là cải tổ cơ cấu kinh tế, duy trì hòa hợp ổn định tôn giáo, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nghiên cứu biển, địa chấn… và đặc biệt là nghiên cứu các luận cứ khoa học nhằm bảo vệ chủ quyền biển là những vấn đề chiến lược của quốc gia mà Chính phủ cần quan tâm tạo điều kiện cho các nhà khoa học. Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế đang lo ngại trước những tổn thất do động đất và sóng thần, và trong tình hình Việt Nam đã và sẽ thực hiện những công trình trọng điểm, như thủy điện Sơn La, hay Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận, một hệ thống cảnh báo địa chấn là vô cùng cần thiết. Vì vậy, các nhà khoa học đề xuất Chính phủ ủng hộ đề án “tăng cường mạng lưới trạm quan sát động đất phục vụ báo tin động đất và cảnh báo sóng thần Việt Nam”. Ngoài những vấn đề được các nhà khoa học đề xuất, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Viện KHCN đặc biệt lưu tâm về vấn đề nghiên cứu bảo đảm an toàn mạng Internet trong bối cảnh vấn đề này đang dần trở nên vô cùng quan trọng trên thế giới hiện nay.     Thiếu nhân lực và chế độ đãi ngộ hợp lý   Lãnh đạo hai Viện đều cho rằng, để có thể giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, đội ngũ các nhà khoa học cần được tăng cường nhân lực và có chế độ đãi ngộ thích đáng. Trong đó, lực lượng nghiên cứu biển được đề xuất phải tăng cường số lượng cao gấp ba lần hiện nay trong vòng 10 năm tới. Viện KHCN hiện vẫn còn những chuyên gia tốt được đào tạo từ Liên Xô cũ, nhưng thế hệ này sắp đến tuổi về hưu. Vì vậy, cần cấp tốc gửi các cán bộ trẻ đi đào tạo tại nước ngoài. Ngay ở Viện có tiềm lực khoa học mạnh như Viện Toán học (thuộc Viện KHCN) cũng phản ánh về tình trạng thiếu chuyên gia trong các lĩnh vực toán học quan trọng như thống kê, mô phỏng, mô hình, mật mã. Viện trưởng – GSTS Ngô Việt Trung bày tỏ lo ngại vì chế độ đãi ngộ cho các nhà khoa học chưa hợp lý, khiến không thu hút được các cán bộ trẻ thay thế cán bộ về hưu, đặc biệt là tình trạng các cán bộ trẻ không trở về sau khi ra nước ngoài học tập nghiên cứu. Ông đề nghị Chính phủ có những giải pháp cụ thể, ví dụ như xem xét thí điểm cấp nhà ở công vụ cho các nhà khoa học.   Trong lĩnh vực KHXH do thiếu chế độ đãi ngộ nên rất thiếu chuyên gia trong những lĩnh vực đặc biệt như nghiên cứu tiếng Sanskrit để đi sâu am hiểu tình hình Phật giáo Nam Tông miền Tây Nam Bộ, hay nghiên cứu Hán Nôm để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá tổng quan về những hạn chế đối với chế độ làm việc và đãi ngộ nhà khoa học, PGS.TS Trần Đình Thiên nhận định rằng thực chất các nhà khoa học Việt Nam hiện nay đang là những viên chức hành chính khoác áo nhà khoa học, nằm trong những “cơ quan hành chính bậc thấp nhất trong các cơ quan hành chính”.    Chia sẻ với các nhà khoa học, đồng chí Nguyễn Quân –  Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học & Công nghệ – cho rằng các cán bộ nghiên cứu khoa học đang chịu nhiều thiệt thòi hơn so với mặt bằng chung của cán bộ công chức, “hiện nay chỉ có cán bộ ngành khoa học và nghệ thuật là chưa có phụ cấp nào ngoài lương”.      Chính phủ ủng hộ đầu tư cho nhân lực làm KH   Theo Phó Thủ tướng, trong thời gian qua, năng suất và hiệu quả lao động ở Việt Nam có xu hướng giảm. Trong đầu tư, các địa phương nhìn chung mới chỉ có phương án về “tiền và đất”, ngoài ra cứ “giả định rằng người đã có sẵn”. Cái nhìn phiến diện này gây ra sự thiếu chuẩn bị về đào tạo con người. Chưa có địa phương, lãnh đạo ngành nào đặt đầu bài nghiêm túc cho ngành giáo dục về vấn đề đào tạo nhân lực để phát triển.   Đối với nhu cầu tăng cường nhân lực làm khoa học, Phó Thủ tướng yêu cầu các Viện phải phối hợp chặt chẽ với hai trường Đại học Quốc gia để tính toán nhu cầu cán bộ nghiên cứu cho khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, và đưa ra những đề xuất thật cụ thể về nhu cầu và lộ trình đào tạo nhân lực cùng chế độ đãi ngộ, từ đó Chính phủ mới có cơ sở nghiên cứu và đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực hợp lý. Ông cũng ủng hộ ý tưởng của Viện Toán về việc thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên sâu làm toán ứng dụng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn như bảo vệ mật mã, hay an toàn mạng. Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng cần áp dụng thí điểm chế độ chính sách ưu đãi cho các cán bộ làm nhiệm vụ khoa học của quốc gia, như chế tạo vệ tinh, tên lửa hành trình, giải mã gene… Ông cũng đề nghị Chính phủ ủng hộ ý tưởng xây dựng một bảo tàng khoa học, nhằm khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu khoa học ở thế hệ trẻ.       Vấn đề tự chủ trong khoa học công nghệ   Việc tự chủ đề xuất đề tài nghiên cứu và tự chủ trong tài chính là một trong những vấn đề Phó Thủ tướng chú trọng lưu ý các Viện trong các buổi làm việc. Ông cho biết đã có những cơ quan nghiên cứu mạnh dạn đề xuất cho phép thành lập ra những công ty cổ phần để triển khai kinh doanh kết quả nghiên cứu. Ông khẳng định Chính phủ ủng hộ các hoạt động tự chủ tài chính của các Viện nghiên cứu, bất kể khi nào “nhà khoa học được lợi, Viện được lợi, và Nhà nước cũng được lợi”.   Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Quân cho rằng Chính phủ đã cung cấp tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý để các viện nghiên cứu đứng ra tự chủ về tài chính. Tuy nhiên, việc triển khai còn những khó khăn. Các cơ quan nghiên cứu vẫn “rất rụt rè trong việc đăng ký thành lập các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tự chủ”. Theo ông có ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là vướng mắc về xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với những kết quả nghiên cứu được Nhà nước cấp kinh phí. Thứ hai là thị trường sở hữu trí tuệ còn kém phát triển, và thiếu cơ chế định giá tài sản sở hữu trí tuệ, khiến việc nhà khoa học gặp khó khăn khi muốn kinh doanh hoặc góp vốn cổ phần bằng kết quả nghiên cứu. Thứ ba là các viện nghiên cứu vẫn còn tâm lý lo ngại, e rằng sau khi thành lập ra các doanh nghiệp tự chủ, nếu sau này doanh nghiệp thành công sẽ mang theo các tài sản trí tuệ tách ra khỏi viện. Ông cho rằng lo ngại này là không cần thiết, vì các viện nghiên cứu có thể duy trì cổ phần của mình trong các công ty họ thành lập ra.      Quan trọng là ở đầu ra   Báo cáo thẳng thắn với Phó Thủ tướng, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng khoa học Việt Nam thiếu một cơ chế đánh giá và cạnh tranh đầu ra. Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”.    Nếu duy trì tình trạng này, khoa học Việt Nam sẽ không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách mà thực tiễn đặt ra. Trả lời câu hỏi của Phó Thủ tướng về việc liệu các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội của Viện KHXH đã thực sự là sản phẩm hữu ích cho các ngành, các địa phương, GSTS Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện KHXH đặt lại câu hỏi liệu “các cơ quan và nhà lãnh đạo đã sẵn sàng tiếp nhận sản phẩm nghiên cứu của nhà khoa học”. Ông khuyến nghị rằng bản thân các cơ quan quản lý cũng cần có đội ngũ nhà khoa học đủ trình độ để đánh giá, thẩm định các sản phẩm nghiên cứu, từ đó chắt lọc ra những kết quả thực sự hữu ích.                                                                Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết Chính phủ sẽ cho tăng cường cả nghiên cứu và quản lý Nhà nước trong khoa học về biển. Chính phủ sẽ cân nhắc thành lập một Ban Chỉ đạo Quốc gia về biển, gồm đại diện từ các Bộ, ngành. Đồng thời sẽ cho xây dựng một chương trình dữ liệu về tài nguyên sinh học biển.               Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài trước và sau khi in ra đều phải đối diện công khai với “những ý kiến phản biện gay gắt”, đa số các công trình khoa học của Việt Nam hầu như chỉ biết đến bởi những hội đồng dễ dãi đầy tính “thông cảm”, và sau khi in ra thì nằm im trên giá sách, coi như đã “thuộc về lịch sử”.                              Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học  và Chính trị  với hiện tượng nóng lên toàn cầu      Gần đây tôi tham dự kỳ họp thứ 43 Hội thảo Erice về những vấn đề khẩn cấp của hành tinh[1]. Như thường lệ, các chủ đề thảo luận bao gồm năng lượng, ô nhiễm, khí hậu, thiếu nước, y tế, khủng bố, giám sát toàn cầu, các vấn đề về an toàn và môi trường khác. Năm nay, chủ đề được quan tâm nhiều nhất là làm thế nào để ngăn chặn các sao chổi và tiểu hành tinh va vào Trái đất, bảo mật không gian mạng, xu hướng mới và an toàn năng lượng hạt nhân và dĩ nhiên về vấn đề hết sức quan trọng là khí hậu. Mỗi khi bàn về khí hậu, đối thoại giữa các nhà khoa học và Chính phủ, hoặc các nhà khoa học và công chúng trở nên gay gắt và gần như không thể diễn ra bình thường. Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng, cần có một số lời giải thích.        Nếu bạn được yêu cầu trình bày tổng quan những kiến thức mới nhất về hiện tượng nóng lên toàn cầu trước khán giả là các nhà khoa học, bài trình bày của bạn ít nhiều sẽ như sau: “Hơn một thế kỷ qua, nhiệt độ bề mặt Trái đất đã tăng khoảng 0.7oC. Cùng với việc đó, đặc biệt trong nửa sau của thế kỷ 20, nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng lên nhanh chóng. Lượng khí CO2 này sinh ra do các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch, chặt phá rừng, v.v… Điều này gợi lên cho chúng ta về mối liên hệ nhân quả giữa sự tăng nồng độ khí CO2 và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa thể chứng minh được nhận định này một cách chắc chắn vì khoa học về khí hậu rất phức tạp và tương đối mới, đòi hỏi kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau (cơ học chất lỏng, nhiệt động lực học, hải dương học, địa chất, vật lý chất rắn, vật lý thiên văn, vật lý tia vũ trụ, khoa học sự sống, hóa học, thống kê học, khí tượng, băng hà học, v.v…). Trong khi đó, chúng ta chưa có đủ hiểu biết về sự hình thành mây, về vai trò chính xác của nước đối với hàm lượng CO2, về động học của đại dương và băng ở các địa cực để có những hiểu biết chi tiết về khí hậu. Ví dụ, các mô hình khí hậu không tái mô tả lại được sự gia tăng nhiệt độ khác nhau theo kinh độ và vĩ độ. Hơn nữa, nhiều dữ liệu chúng ta sử dụng lại quá mới, đặc biệt là các dữ liệu rất có giá trị thu được từ vệ tinh. Để khẳng định điều gì đó về thay đổi khí hậu thì phải đánh giá trong khoảng thời gian nhiều thập kỷ chứ không chỉ trong một vài năm. Nói một cách chính xác hơn, sự gia tăng nhiệt độ tiệm cận bề mặt Trái đất khi tăng gấp đôi nồng độ CO2 trong khí quyển (gọi là độ nhạy) vào khoảng 1.2oC khi xem Trái đất là một vật đen bao quanh bởi khí quyển (vật đen là vật hấp thụ và phát xạ ở mọi bước sóng theo định luật Planck). Nhưng nếu chúng ta tính đến sự hiện diện của các đại dương, mây, gió, sự thoát hơi nước của thảm thực vật, v.v… ta sẽ thấy rằng sự hiệu chỉnh có khi có giá trị vượt cả giá trị độ nhạy vừa nêu: trường hợp này không thể áp dụng tính toán nhiễu loạn được. Sự bốc hơi nước thay đổi dù nhỏ hơn 5% cũng có thể đủ để vượt qua tác động của việc tăng nồng độ CO2 lên hai lần và sự tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính tự nhiên lớn hơn gần 50 lần so với độ tăng 0.7oC đo được trong thế kỷ qua. Không có gì ngạc nhiên khi những sai lệch nhỏ trong hiểu biết về vai trò của những yếu tố này tạo nên sai số lớn trong dự đoán. Hiện tượng nóng lên mà chúng ta quan sát thấy có thể hoàn toàn do tự nhiên, hoàn toàn do con người, hay, nhiều khả năng hơn là do cả hai yếu tố này tạo nên. Tuy nhiên, chúng ta không biết tỷ lệ đóng góp của chúng cụ thể là bao nhiêu. Trong quá khứ, Trái đất cũng thường gặp hiện tượng biến đổi nhiệt độ tương tự sự nóng lên mà chúng ta quan sát được hiện nay. Có rất nhiều việc chúng ta cần phải làm để nâng cao hiểu biết về khí hậu; khuyến khích các nhà chức trách, những người có quyền quyết định về tài chính, ủng hộ mạnh mẽ nỗ lực này”… Tôi cho rằng với bài trình bày như vậy sẽ được khán giả nhiệt liệt hoan nghênh.   Nhưng bài nói chuyện như vậy sẽ là vô nghĩa khi chúng ta nghĩ tới ảnh hưởng của sự gia tăng nhiệt độ khoảng 2oC hoặc lớn hơn có thể gây ra lũ lụt, thiếu nước, đói kém, di cư và tổn hại tới tầng sinh quyển. Như thường lệ, những người dân nghèo hơn sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn. Nếu không làm gì để ngăn chặn việc đó, đến cuối thế kỷ này nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ tăng lên từ 2 đến 3 lần. Dự đoán gia tăng nhiệt độ không đơn thuần là một bài toán học thuật; nó đồng nghĩa với vấn đề sinh tử của rất nhiều người. Vì lý do đó Hội đồng Quốc tế về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã được thành lập năm 1988, dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc với nhiệm vụ đánh giá “thông tin khoa học, kỹ thuật và kinh tế xã hội liên quan đến những hiểu biết về nguy cơ biến đổi khí hậu do con người gây ra”. Tháng 11 năm 2007, IPCC công bố báo cáo đánh giá mới nhất AR4 (có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng). Tuyên bố chính của báo cáo là “hiện tượng nóng lên toàn cầu chỉ gây ra bởi quá trình khí hậu tự nhiên có xác suất nhỏ hơn 5%. Nhiệt độ toàn cầu có thể tăng từ 1.1oC đến 6.4oC trong thế kỷ 21; đánh giá cho thấy những đợt nóng, sóng nhiệt và mưa lớn sẽ xuất hiện thường xuyên hơn với độ chính xác lớn hơn 90% và nhiều vùng hạn hán, bão nhiệt đới và thủy triều dâng cực cao sẽ xuất hiện với độ chính xác lớn hơn 66%; sự phát thải khí CO2 trong quá khứ và tương lai sẽ tiếp tục làm cho Trái đất nóng lên và nước biển dâng cao trong hơn một thiên niên kỷ tới”.   Tuyên bố như vậy có thể là cách đơn giản nhất để truyền tải thông điệp rõ ràng đến những người có quyền quyết định, những người đứng đầu các ngành công nghiệp hoặc đứng đầu các quốc gia. Tuy nhiên, những tuyên bố này lại thiếu cơ sở khoa học đến mức đã gây ra một làn sóng phản ứng từ các nhà khoa học. Nói về xác suất, khả năng và độ chính xác về những sự kiện mà ta không hiểu nguyên nhân và không mô tả đúng thực tế là vô nghĩa về mặt khoa học. Nhiều nhà khoa học, đặc biệt những người đã thuyết trình tại Erice năm nay[2], đã thảo luận về các tình huống có thể dẫn đến độ nhạy trong phạm vi 1oC (không tính đến hiệu ứng phản hồi tổng) và thấy rằng điều đó là có thể. Sự áp đặt và những hành xử phi khoa học khác trong cách làm mà IPCC sử dụng đã bị lên án, dẫn đến cái gọi là “Climategate”[3].   Rõ ràng những lời chỉ trích này là có cơ sở và cộng đồng khoa học chỉ có thể đổ lỗi cho những hành động như loại bỏ dữ liệu không phù hợp với mô hình. Nhưng, IPCC có thể làm thế nào khác được? Những người có quyền quyết định không muốn nghe báo cáo tổng kết dạng như tôi đã trình bày ở phần đầu bài báo. Họ cần báo cáo có thể sử dụng để đưa ra quyết định và để biện minh cho những quyết định đó với những người nộp thuế. IPCC tự hào nói rằng “AR4 là một thành tựu đáng chú ý liên quan đến hơn 500 tác giả hàng đầu và hơn 2.000 chuyên gia phản biện, báo cáo được xây dựng dựa trên nghiên cứu của một cộng đồng khoa học lớn và được đại biểu từ hơn một trăm quốc gia thành viên giám sát”. Tuy nhiên, trong khoa học, chúng ta không quyết định sự thật bằng biểu quyết; chúng ta, các nhà khoa học, có thói quen luôn luôn đặt câu hỏi và nghi ngờ những gì nghe được, đó là một phần trong phương pháp làm việc của chúng ta. Chúng ta hiểu việc mượn danh một cộng đồng lớn để phát ngôn và truyền thông điệp tới các nhà quản lý có nghĩa là gì: nghĩa là từ bỏ các thông lệ khoa học.  Tại Erice, S. McIntyre[4] đã trình bày một bài tổng kết tuyệt vời về vụ Climategate và về các điều tra sau đó. Tôi xin trích dẫn kết luận của ông: “Bất kỳ người nào hoạt động trong lĩnh vực khoa học khí hậu hiện đại đều giật mình bởi không khí giận dữ và thù địch bao trùm. Một trong những hổ thẹn lớn nhất của CRU[5] và các phóng viên của Climategate là đã phát tán sự thù địch này. Bây giờ công chúng đã biết sự thật và không hài lòng về điều đó. Thật không may, thay vì coi vụ Climategate là một lời kêu gọi cộng đồng khoa học thay đổi cách ứng xử thì những thẩm tra sau đó lại làm cho nó trầm trọng hơn và cộng đồng lại càng tức giận và buồn hơn bao giờ hết”.                   Hiện nay, sự việc này đã nằm ngoài tầm kiểm soát của cộng đồng khoa học vì nhiều lợi ích tài chính và chính trị quan trọng liên quan sẽ bị ảnh hưởng và các phương tiện truyền thông chi phối thông tin tới công chúng. Hơn bao giờ hết, chúng ta bắt buộc phải nhún nhường. Các nhà khoa học không được bóp méo sự thật, mà chỉ đơn giản là truyền đạt tới công chúng những điều họ biết và chưa biết. Hiện nay, có nguy cơ những người đã từng lên án những hành xử xấu của IPCC lại bắt đầu sử dụng luận điểm giống như những gì họ đã phát hiện và lên án. Một ví dụ về việc đó thể hiện trong bài thuyết trình của NV Erice Shaviv cho rằng tia vũ trụ là nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên toàn cầu. Đây là một yếu tố có ảnh hưởng lớn nhưng chúng ta không đủ hiểu biết về sự hình thành mây để có thể tuyên bố như Shaviv. Shaviv đã sử dụng dữ liệu mây mà gần đây được biết là có mâu thuẫn với dữ liệu khác[6], mặc dù vậy ông không trích dẫn tới số liệu mâu thuẫn mà vẫn tiếp tục kết luận về độ nhạy do tia vũ trụ gây ra (khoảng 1oC). Sự thật đơn giản là chúng ta chưa hiểu biết đầy đủ để đánh giá ảnh hưởng của tia vũ trụ lên khí hậu và thời điểm hiện nay là quá sớm để tạo nên những mô hình về ảnh hưởng của nó đối với khí hậu.   Hình ảnh của khoa học trước công chúng đã phải chịu những điều tiếng gây ra bởi kết luận của IPCC. Là những nhà khoa học, chúng ta phải bám vào sự nghiêm túc trí tuệ mà không để cho tín ngưỡng hoặc niềm tin tác động. Trong hơn bốn mươi năm, kể từ khi Peccei và Câu lạc bộ Rome, các nhà khoa học đã tạo được sự quan tâm của công chúng và giới chức trách tới sự cân bằng mong manh của hệ sinh thái và tầm quan trọng của nó đối với sự sống còn của muôn loài. Trong nhiều năm, thông điệp của họ đã bị bỏ qua. Những hành động đi quá xa như hiện nay đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc và gây ra bức xúc trong công chúng, chẳng hạn như việc sử dụng kết luận của IPCC để kiếm tiền với xe điện và sơn mọi thứ bằng màu xanh lá cây, bao gồm cả pin. Trong khi đó, cẩn thận hơn trong việc đốt nhiên liệu hóa thạch dự trữ nên được xem xét sử dụng. Chúng ta nên giữ cái đầu lạnh, chống lại ý chủ quan có thể làm cho tranh luận về khí hậu thậm chí còn căng thẳng hơn so với hiện nay.  PHẠM NGỌC ĐIỆP dịch  ———  [1] Kỷ yếu Hội nghị lần thứ 42 (từ ngày19 đến 24 tháng 8 năm 2009) đã được xuất bản trong bộ “Science and Culture Series” (chủ biên A. Zichichi), World Scientific, Singapore.  [2] Trong số đó: S.F. Singer, Nature – not human activity – rules the climate; R.S. Lindzen, Climate sensitivity: various approaches; N.J. Shaviv, The climatic role of the Sun; R. Arnowitt, Global climate in the industrial era; W. Kininmonth, The regulation of climate by ocean circulations; R. Wilson, Questions about climate change: can we answer some? J. Veizer, The role of water in the fate of CO2: implications for the climate system; C. Monckton of Brenchley, Global brightening and climate sensitivity.   [3] Đặt tên theo vụ Watergate liên quan đến tổng thống Nixon (HK)  [4] S. McIntyre, Climategate and the inquiries.  [5] Climate Research Unit, Đại học Eastern Anglia, Anh Quốc, có vai trò quan trọng trong các hoạt động của IPCC.  [6] H. Svensmark and E.Friis-Christensen, J. Atmos. Sol. Terr. Phys.  59 (1997) 1225; N.D. Marsh and H. Svensmark. Phys. Lett. 85/23 (2000) 5004; P. Laut, J. Atmos. Sol. Terr. Phys.  65 (2003) 801; M. Kulmala et al., Atmos. Chem. Phys 10 (2010) 1885; B.Laken et al. And calogovic et al., Geophys. Res. Lett. 36 (2009).         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và công nghệ nano Việt Nam: Phát triển thiếu định hướng      Phát triển mạnh mẽ từ khoảng 10 năm trở lại đây, những nhà nghiên cứu khoa học và công nghệ nano trong nước đã thành lập được những nhóm nghiên cứu mạnh. Nhưng làm thế nào để có thể phát triển theo một định hướng chung tránh sự trùng lặp và phân tán thì vẫn là câu hỏi khó với nhiều người.      Năm 1997 tại Hội nghị chất rắn tại Đồ Sơn, GS Nguyễn Văn Hiệu phát động nghiên cứu về nano. Tiếp đó, năm 2003-2004 chương trình về khoa học và công nghệ nano nằm trong chương trình nghiên cứu KH tự nhiên của Bộ KH&CN kéo dài 2 năm có khoảng 13-15 đề tài nghiên cứu về nano. Đây được xem là những mốc chính của ngành khoa học và công nghệ nano. “Nếu ban đầu chủ yếu các nhà vật lý tham gia nghiên cứu lĩnh vực nano thì chỉ vài năm sau các ngành khác như hóa, sinh tham gia vào rất mạnh”, GS Phan Hồng Khôi, chủ tịch Hội Vật lý Việt Nam nhận xét. Nhìn vào số lượng các đề tài được Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ hai năm gần đây, dễ dàng nhận thấy các đề tài có liên quan tới khoa học và công nghệ nano chiếm tới 50% các đề tài của ngành vật lý.  Những tiền đề  Theo PTS. Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ-ĐH Bách Khoa Hà Nội (HAST), điều này không có gì là ngạc nhiên vì đa số các nhà vật lý lâu nay vẫn nghiên cứu các vật liệu khối, màng thông thường, giờ chuyển sang làm các loại vật liệu kích thước micro, nano, làm màng mỏng hơn.   Bên cạnh đó, việc Nhà nước đầu tư trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm về nano cũng giúp các nhà nghiên cứu thuận lợi hơn trong công việc như phòng thí nghiệm trọng điểm về vật liệu điện tử tại Viện Khoa học Vật liệu, phòng thí nghiệm tại các trường ĐH BKHN, ĐH QGHN… Trong khoảng 5 năm trở lại đây, TP. HCM đi đầu trong đầu tư phát triển công nghệ nano cho khu công nghệ cao. Tại ĐH QG TP. HCM, phòng thí nghiệm về nano do GS Đặng Mậu Chiến làm giám đốc được đầu tư  5 triệu USD chủ yếu làm về các linh kiện điện tử, được xem là một trong những phòng thí nghiệm nano có đầy đủ các trang thiết bị.                “Những lĩnh vực điện tử rất khó đi vào do cần phải đầu tư lớn. Mình chủ yếu làm để nắm bắt kỹ thuật. Những lĩnh vực có thể ứng dụng: vật liệu nano, ứng dụng nano trong bảo vệ môi trường, y sinh học. Hiện nay các nhà khoa học VN cũng đang đi theo các hướng này”, GS Phan Hồng Khôi nói.               Hai năm trước nhóm nghiên cứu mà GS Phan Hồng Khôi tham gia đã chế tạo thành công ống nano carbon. Mới đây, họ cùng thành lập công ty TNHH Công nghệ Nano Việt Nam liên doanh với một đối tác nước ngoài để sản xuất ra ống nano carbon.   Nếu chúng ta có chương trình kết hợp với chính sách hợp lý phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, có chính sách đầu tư lâu dài và làm ngay bây giờ thì 10 năm nữa mới có được những thành quả đầu tiên. Tại Việt Nam nếu đặt câu hỏi thời điểm này thành tựu nổi bật của CN nano thì rất khó trả lời. Trong khoảng thời gian trên dưới 10 năm thì trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cơ bản chúng ta có nghiên cứu một số vật liệu nano, linh kiện vi cơ điện tử.                                   PGS. Phạm Thành Huy          Đào tạo trong lĩnh vực khoa học nano cũng phát triển nhanh. Năm 1992, Viện Đào tạo quốc tế về KH Vật liệu (Viện ITIMS) được thành lập trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa các trường đại học Hà Lan và Việt Nam. Đây có thể được xem là trung tâm đào tạo, nghiên cứu về khoa học vật liệu đầu tiên được hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất khang trang. GS. Thân Đức Hiền cho biết, “nhờ có dự án lớn này, chúng tôi cũng có cơ hội xây dựng trung tâm nghiên cứu mạnh của ngành khoa học vật liệu gồm 14 phòng thí nghiệm nhỏ ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.” Với sự hỗ trợ của Hội đồng tư vấn quốc tế gồm các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế trong lĩnh vực khoa học vật liệu của đại học Hà Lan, chương trình đào tạo được thiết kế theo chuẩn quốc tế, có đưa những môn học rất mới ở các trường đại học của Hà Lan sang như mô hình hóa, tin học vật liệu… Sau gần 20 năm thành lập, những học viên đầu tiên của ITIMS đã trở thành những nhà khoa học chủ chốt trong lĩnh vực này.   Hiện nay, tại nhiều trường đại học cũng có khoa về khoa học và công nghệ nano như ĐH QGHN, ĐH BKHN, ĐH QG TP. HCM… và một số trường mới đầu tư cho khoa học nano như ĐH Sư phạm HN, ĐH Kỹ thuật Quân sự, Học viện Quân y, ĐH Huế…  Mở rộng hợp tác quốc tế  Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nano đều cho rằng xu hướng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nano diễn ra rất mạnh mẽ. Việt Nam cũng rất tích cực tìm kiếm các đối tác nước ngoài để phát triển nghiên cứu và đào tạo. Hằng năm đều có các Hội nghị quốc tế trong lĩnh vực này được tổ chức. Mới đây nhất, vào tháng 10/2010, hội nghị quốc tế về khoa học vật liệu và công nghệ nano (IWAMSN 2010) được tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của hàng trăm chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực này.    Theo PGS Phạm Thành Huy, “trong điều kiện cơ sở nghiên cứu còn nhiều thiếu thốn, nghiên cứu nội lực của Việt Nam có tăng lên nhưng vẫn còn thua một số nước lân cận. Các nghiên cứu của chúng ta vẫn phụ thuộc lớn vào hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới như khoa học và công nghệ nano. Nghiên cứu về nano và đặc biệt là làm về công nghệ nano đòi hỏi những công nghệ rất đắt tiền, môi trường phòng sạch của chúng ta chưa đủ tiêu chuẩn để làm công nghệ ở mức nano. Tuy nhiên, cũng chính bởi điều này các nhà nghiên cứu của Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong hợp tác quốc tế và nên xem đây là một kênh hỗ trợ cho việc nghiên cứu và đào tạo nhân lực”.   Hiện TS Đỗ Vân Nam, nghiên cứu viên tại Viện HAST, đang tham gia vào mạng lưới nghiên cứu về màng nano của các trường đại học của Pháp và Tây Ban Nha do Liên minh châu Âu tài trợ. Theo TS Nam, “sự hợp tác chỉ có thể thành công khi cả hai bên ngang bằng. Nếu không mình chỉ là người theo học. Các nhóm nghiên cứu nếu được xem là “mạnh” cần phải được hưởng nguồn tài chính nhất định để đầu tư cho trang thiết bị, nhân lực trong nhóm. Nếu không thì rất khó tạo được ấn tượng với các đối tác nước ngoài. Hơn nữa, khi người đứng đầu nhóm không có điều kiện lo cho những sinh viên có năng lực thì sau khi tốt nghiệp họ sẽ đi tìm ông thầy khác”.   Có cần một Chương trình quốc gia về KH&CN nano?  Cho đến thời điểm hiện tại, không có chương trình nano riêng vì theo một số chuyên gia trong lĩnh vực này khoa học nano là một khoa học liên ngành, đa ngành rất khó tách riêng. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về nano vẫn nằm trong các chương trình chuyên ngành về vật lý, hóa học, khoa học sự sống… Các nhà nghiên cứu về nano có khả năng muốn đăng ký đề tài đều được chấp nhận. Song về mặt tổng quát, tính tập trung không cao.  “Việc không có một chương trình riêng cũng có mặt hạn chế: không đưa ra được định hướng chung, đâu là những lĩnh vực Việt Nam nên tập trung nghiên cứu. Số lượng các nhà nghiên cứu Việt Nam đạt được chuẩn quốc tế không nhiều nếu nhìn vào số lượng đề tài được NAFOSTED tài trợ 2 năm gần đây. Nếu chúng ta nghiên cứu dàn trải thì hiệu quả sẽ không cao”, PGS Phạm Thành Huy nói.                  Hiện nay có nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài về, hoàn toàn có đủ khả năng để đảm nhận những trọng trách tại các trung tâm nghiên cứu mới thành lập.                            GS. Thân Đức Hiền  Sự hợp tác chỉ có thể thành công khi cả hai bên có sự ngang bằng. Nếu không mình chỉ là người theo học.                                     TS Đỗ Vân Nam          TS Đỗ Vân Nam bổ sung, “chương trình khoa học và công nghệ nano là cần thiết vì nhiều khi hiện nay nhiều đề tài trong lĩnh vực này vẫn “núp danh” dưới những cái tên khác. Việc thiếu tính tập trung sẽ không thể tạo ra được các trào lưu và trường phái trong nghiên cứu.”   Là một trong những người đề nghị thành lập chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ nano, GS Phan Hồng Khôi phân tích, “nếu có chương trình định hướng quốc gia thì sẽ giúp phân bố được các nhóm nghiên cứu, tránh trùng lặp và đầu tư có hiệu quả hơn. Nhiều quốc gia đưa ra định hướng chung cho nghiên cứu, đào tạo và sản xuất của từng chuyên ngành. Phát triển ứng dụng theo hướng nào hay chỉ làm nghiên cứu lý thuyết, tập trung đào tạo… cần phải có định hướng để các nhà khoa học theo. Chúng ta thì chưa có “bộ chỉ huy”, các đề tài nghiên cứu chủ yếu do các nhà khoa học đề xuất. Đây cũng là vấn đề lớn của các ngành khoa học khác của Việt Nam.”   Tại Hội nghị Vật lý năm 2010, một số nhà khoa học đầu ngành vật lý có đề xuất một forum cho các nhà nghiên cứu về nano đăng ký đề tài có thể biết thông tin để tránh trùng lặp Nhưng theo PGS Phạm Thành Huy đây không phải là kênh chính thống.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và cuộc truyền bá đại chúng của nó      Bài tham luận này của tác giả được đọc trong buổi giới thiệu hai số kỷ yếu 400 năm Thiên văn học &amp;  Galileo Galilei và 150 năm Thuyết tiến hoá &amp; Charles Darwin của  NXB Tri thức đầu năm 2010, nhưng vẫn có ý nghĩa đối với cuộc trao đổi mới đây về sự cần thiết của một tạp chí khoa học đại chúng cho nhu cầu phát triển của Việt Nam.    Hai cuộc cách mạng khoa học  Cuộc cách mạng khoa học là con đường duy nhất mà trên đó đa số con người có thể đạt đến những phúc lợi cơ bản (cuộc sống lâu, đầy đủ thực phẩm, con cái lành mạnh), những phúc lợi mà chúng ta nhận lấy một cách đương nhiên, nhưng lại là những phúc lợi trong thực tế chỉ được mang lại cho chúng ta chỉ vì cách đây không lâu chúng ta đã có cuộc cách mạng khoa học. Phần lớn con người đã hối hả lao vào cuộc cách mạng đó như cơ hội cho phép họ.   S. P. Snow, tác giả của Hai nền văn hóa  Nếu không có các cuộc cách mạng khoa học, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp, khó hình dung cuộc sống ngày nay với những phúc lợi và tiện nghi từ hàng gia dụng điện tử, phương tiện nghe nhìn như đầu đĩa CD, DVD, thông tin như iPhone, iPad, xe hơi có hệ thống định vị GPS, đến máy tính điện tử, khám chửa bịnh với thiết bị y khoa chẩn đoán hình ảnh hiện đại…  Thời Einstein ông phải đi sang Mỹ hay Nhật diễn thuyết bằng tàu thủy, chưa có TV, internet, điện thoại di động, chưa có máy chụp cắt lát CT, máy chụp cộng hưởng từ MRI… mà đa số là thành quả của cuộc cách mạng khoa học ở thế kỷ 20 mà ông đã đóng góp rất lớn vào sự thiết lập nên nền tảng.  Cho tới nay, thế giới đã diễn ra hai cuộc đại cách mạng khoa học. Cuộc cách mạng thứ nhất diễn ra vào những thế kỷ 16-18, với những các nhà khoa học tên tuổi tiêu biểu như Copernicus, Kepler, Galilei, Descartes, Newton, Leibniz, Lavoisier…. Khoa học kinh điển đươc thay thế bằng cái mà Galilei hay gọi là “nouvo scienza”, nền khoa học mới, dựa trên phương pháp thí nghiệm.   Năm 1500 kiến thức của châu Âu còn ít hơn kiến thức của Archimedes, người đã mất năm 212 trước công nguyên. Đến năm 1687 Principia của Newton ra đời, thế giới bước vào kỷ nguyên mới. Với Newton, khuôn khổ tư duy của xứ sở buổi chiều, Abendland, hình thành: tư duy cơ giới. Thế giới được tổ chức theo nguyên lý của chiếc đồng hồ và đã có bước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy. Nếu tính từ năm 1560, khoảng lúc Galilei sinh ra, đến năm 1787 của Principia, thì châu Âu đã phát triển nhảy vọt so với một thời gian 10 lần trước đó.  Nếu trước 1500 các nền văn minh lớn thế giới xem như gần gũi nhau, nhưng với Galilei châu Âu đã bứt đi khỏi các nền văn minh khác một cách không đảo ngược được, và ngày càng bứt xa. Mặc cho có sức kéo lui của nhà thờ. Mặc cho những cuộc chiến tranh đẫm máu nhất có tính huỷ diệt lúc bấy giờ.   Sẽ là một sự thiếu sót nếu không nhắc đến một sự kiện quan trọng bật nhất đã tác động mạnh mẽ đến cuộc phát triển khoa học: đó là cuộc cách mạng Pháp và Napoleon. Khoa học không thể thiếu cho chiến tranh và phát triển công nghiệp. Với sự thành lập École Normale Superieure, École de Medicine, và đặc biệt École Polytechnique các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp các tài năng trong khoa học ra đời và làm mẫu mực cho cả thế giới. Napoleon không phải chỉ là người đỡ đầu khoa học như các vị vua trước, mà là một người say mê khoa học và trực tiếp tham gia vào việc quản lý và phát triển khoa học. Trong cuộc chinh phục Ai cập, ông đã mang theo hàng trăm nhà khoa học hàng đầu của Pháp.  Ông cũng tạo điều kiện cho sự hợp tác khoa học giữa các nước, cho dù thù địch trong chiến tranh. Các cơ sở đào tạo nói trên tạo điều kiện cho tất cả các tài năng từ mọi thành phần xã hội bước chân vào khoa học. Mọi tài năng đều có điều kiện để vươn lên đôi cánh. Khải hoàn môn đang mở ra chờ đón họ. Vì vậy, Pháp là nước đã giữ vị trí hàng đầu của việc đào tạo và nghiên cứu khoa học cho đến giữa thế kỷ 19 khi nước Đức thay thế.  Trong các thế kỷ 16-18 các viện hàn lâm thế giới được thành lập liên tục: Ý, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Nga, Thụy Điển, Đan Mạch, Hoa Kỳ và Bồ Bào Nha.  Đặc biệt Hàn lâm viện Anh  Royal Society tại London năm 1660/62, Académie Royale de Sciences tại Paris năm 1666, và Societas Regia Scientiarum tức Viện Hàn lâm Phổ Berlin 1700.  Đại học theo tinh thần của Wilhelm von Humboldt của Đức ở đầu thế kỷ 19 dần dần đã phát huy hiệu quả và tỏa sáng trên thế giới. Đó là một đóng góp cực kỳ to lớn cho việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong thế kỷ 19 và 20 có ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Nó lấy các nguyên lý “tự do dạy (bao gồm tự do nghiên cứu), tự do học”, “thống nhất giữa giảng dạy và nghiên cứu”, “một người thầy tốt phải là người nghiên cứu giỏi” làm phương châm. Triết lý của nó là đào tạo lớp người nghiên cứu trẻ chứ không phải trả bài từ chương hay sao chép. Đại học Humboldt (năm nay kỷ niệm 200 năm ngày thành lập) đã trở thành gương mẫu cho thế giới từ đó. Vị trí của nó trong nghiên cứu, đào tạo và trong kinh tế rất to lớn, được Steven Weinberg, một trong những nhà vật lý hàng đầu của Mỹ đương thời, đặc trưng khi ông nói, “nếu không có những đại học nghiên cứu lớn, chúng ta tại nước Mỹ sẽ phải tự sống bằng cách trồng đậu nành và giới thiệu Grand Canyon cho khách du lịch đến từ Nhật Bản hay Đức”. Khoa học Đức trở thành thống trị trong thế giới khoa học cho đến 1933 khi Quốc xã lên nắm quyền. Hình ảnh giáo sư Đức trở thành gương mẫu cho các nhà khoa học cho cả thế giới, đặc biệt ở Mỹ, Nga và Nhật.  Cuộc cách mạng thứ hai diễn ra trong hai thế kỷ 19 và 20, với vô số tên tuổi, tiêu biểu như Darwin, Maxwell, Einstein và Planck, Bohr, Heisenberg, Schrödinger, Born, Dirac. Khuôn khổ tư duy cơ giới được khắc phục. Thời gian, không gian chỉ có ý nghĩa tương đối. Ánh sáng là tuyệt đối. Không gian con người không phải là Euclid mà phi-Euclid. Các hạt vật chất ở cấp vi mô có tính chất đôi, vừa hạt vừa là sóng. Một loạt những điều bí ẩn được khám phá. Ở cấp vi mô, vật chất trao đổi năng lượng không liên tục mà rời rạc theo các gói lượng tử. Với nguyên lý bất định của Heisenberg vật chất không tồn tại khách quan bao lâu chưa có sự quan sát của con người. Tư duy cơ giới bị đảo lộn. Cả thế giới choáng váng.  Các cuộc cách mạng khoa học thường đi đôi với các cuộc cách mạng công nghiệp. Không phải lúc nào cách mạng công nghiệp cũng là hệ quả trực tiếp của cách mạng khoa học. Ban đầu là cách mạng công nghiệp. Hai cuộc cách mạng đôi khi lệch pha nhau, hoặc có tương tác với nhau. Nhưng càng về sau, cách mạng khoa học càng ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến cách mạng công nghiệp, nhất là trong thế kỷ 19, và lại càng như thế từ thế kỷ 20 trở đi. Xã hội và kinh tế ngày càng lấy tri thức khoa học công nghệ làm gốc.  Cao điểm của cuộc cách mạng khoa học thứ hai ở thế kỷ 20 lại bị nhật thực bởi những cuộc chiến chiến tranh đẫm máu nhất tự cổ chí kim của nhân loại, trong đó khoa học đã bị sử dụng để sản xuất ra những loại vũ khí giết người hàng loạt ghê gớm nhất chưa từng thấy.1  Thời gian của hai cuộc cách mạng khoa học trên cũng là thời gian các thể chế chính trị thế giới có những thay đổi sâu sắc, nếu không muốn nói chúng bị rúng động đến tận gốc rễ. Các ngai vàng lần lượt sụp đổ nhường chỗ lại cho các thể chế mới dân chủ. Tôn giáo một thời đã kềm hãm sự phát triển khoa học cũng bị lung lay trước sự phát triển vũ bão của khoa học. Chinh phục thế giới diễn ra khắp nơi. Cuối thế kỷ 19 phần lớn châu Phi và châu Á đã bị chiếm đóng làm thuộc địa.  Thế kỷ giữ 19 và 20 là thế kỷ thế giới biến đổi cơ bản nhất hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó. Tất cả những biến đổi đó, như Stephen Hawking nhận xét, “không phải do những học thuyết chính trị hay kinh tế mới nào, mà do những sự phát triển kỹ thuật bão táp được tạo điều kiện bởi những tiến bộ trong nghiên cứu cơ bản” gây ra. Chính trị đến rồi chính trị đi, nhưng khoa học vẫn ở lại và không ngừng phát triển, tác động vào sự tiến bộ, tạo ra phồn vinh chưa từng có của xã hội, miễn là chính trị tạo ra những định chế thuận lợi cho khoa học phát triển và không kềm hãm hay can thiệp vào hoạt động của nó.   Các cuộc cách mạng khoa học không ngừng rút ngắn khoảng đường tác động vào đời sống kinh tế, ngày càng có ảnh hưởng trực tiếp hơn. Những quốc gia phát triển đi tìm sự phồn vinh của mình từ những tiến bộ khoa học kỹ thuật cao cấp cho nên đầu tư rất lớn vào đó, bắt đầu từ đầu tư vào chính sách giáo dục toàn dân, truyền bá khoa học đại chúng, xây dựng cơ sở hạ tầng tri thức, cho đến đầu tư cho con người nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu, đại học…Đây là một cuộc chạy đua mạnh mẽ toàn cầu. Xã hội và kinh tế lấy tri thức làm gốc.  Trong lịch sử thế giới có những “cú sốc” chính trị châm dầu vào cuộc chạy đua khoa học công nghệ:  – Sốc của Phổ vì thất trận trước Napoleon năm 1806;  – Sốc của Pháp vì thất trận trước Phổ trong cuộc chiến 1870;  – Sốc của Liên Xô trước Mỹ năm1945 trước hai trái bom nguyên  nổ tại Nhật Bản;  – Sốc của Mỹ trước Liên Xô năm 1960 trước Sputnik;  – Sốc của Liên Xô năm 1969 trước Appolo 11 đáp xuống mặt trăng.  Khoảng cách thời gian giữa những cú sốc này ngày càng ngắn lại, từ 64 năm ở thế kỷ 19 cuối cùng chỉ còn 15, 9 năm ở thế kỷ 20.  Tại Việt Nam, cả hai cuộc cách mạng này đều không để lại một dấu vết nào cả, đúng hơn chỉ để lại hậu quả đáng buồn: khoảng cách của Việt Nam và phương Tây ngày càng dài ra, và hậu quả là đất nước bị đô hộ triền miên. Đầu thế kỷ 20 nhà khoa học yêu nước Trần Đại Nghĩa đi tìm xem Việt Nam có những vũ khí, kỹ thuật gì để sử dụng cho các cuộc kháng chiến. Ông không tìm thấy có cái gì đáng kể cả. Hai thế kỷ liền, 17 và 18, đất nước bị chia đôi, sau đó rơi vào lệ thuộc, và chiến tranh.  Khoảng cách khoa học giữa thế giới và Việt Nam là thất kinh. Nó đã thất kinh khi tàu Pháp nổ súng ở Tourane vào giữa thế kỷ 19, và càng thất kinh hơn sau cuộc cách mạng khoa học thứ II ở thế kỷ 20. Ai không thấy thất kinh người đó chưa hiểu sức mạnh của khoa học trên thế giới, và chưa thể là người làm chính sách phát triển quốc gia. Ở châu Á, Nhật Bản là dân tộc đầu tiên nhạy cảm thấy thất kinh trước sức mạnh đó của phương Tây, họ đã chấn hưng quốc gia ngay, lấy sự phát triển khoa học công nghệ làm gốc, thay đổi cơ chế chính trị cho phù hợp, vì thế đã nhanh chóng trở thành cường quốc ngự trị ở phương Đông.  Cuộc quảng bá khoa học vào đại chúng  Trong mỗi xã hội, ở mỗi thời đại, ngự trị một số niềm tin, và trở thành động lực phát triển xã hội hoặc kìm hãm nó. Ở châu Âu thế kỷ 17 và 18 hình thành những niềm tin có tính khai sáng, rằng tri thức hữu dụng có thể cải thiện điều kiện sống con người, đem lại tăng trưởng kinh tế và phồn vinh xã hội. Những niềm tin này dần dần thống trị trong giới tinh hoa, tạo ra các định chế và cơ chế để cho tri thức hữu dụng được nẩy nở, truyền bá và sử dụng. Sự tiến bộ bằng tri thức với số lượng nhiều hơn, tốt hơn, cũng có những hệ luận đạo đức và chính trị. Người ta tin rằng những cá nhân nào được khai sáng hơn, được trang bị nhiều kiến thức tốt hơn, sẽ là những công dân đạo đức và đàng hoàng hơn.  Sự truyền bá khoa học vào đại chúng dần dần trở thành một trong những định chế ngày càng được phát triển và mở rộng.  Galilei có lẽ là người đầu tiên đã làm cuộc bắt đầu ngoạn mục, khi ông phá lệ viết tác phẩm Đối thoại bằng tiếng Ý là ngôn ngữ đại chúng chứ không bằng tiếng La tinh là ngôn ngữ hàn lâm như thông lệ lúc bấy giờ. Galilei là người đầu tiên tìm cách bắt nhịp cầu ngang qua hố sâu chia cách của hai nền văn hóa mà C.P. Snow đã đề cập đến trong tác phầm Hai nền văn hóa của ông.  Tiếp theo đó, ngoạn mục và gương mẫu là sự truyền bá đại chúng các ý tưởng của Newton vào đất liền do Voltaire thực hiện. Tác phẩm của ông và người bạn gái Marquise de Châtelet “Éléments de la philosophie de Newton” năm 1738 trở thành bestseller. Người bạn gái này cũng đã dịch Principia của Newton sang tiếng Pháp [Việt Nam đến nay chưa có]. Một công trình lao động đáng kính nể của một phụ nữ thời bấy giờ. Những việc làm này đã góp phần rất lớn đại chúng hóa tư tưởng khoa học của Newton vào lục địa, góp phần thúc đẩy phong trào khai sáng mạnh mẽ sau đó.  Khoa học không còn là công việc của các viện hàn lâm hay đại học. Các salon, quán càfê bắt đầu thảo luận những vấn đề khoa học. Các tạp chí với mục đích đại chúng hóa khoa học xuất hiện. “Encyclopédie ou Dictionaire raisonné des sciences, des arts et des metiers” của Diderot và các nhà bách khoa Pháp ở thế kỷ 18 đã tạo dấu ấn mạnh mẽ lên phong trào khai sáng.  Nước Anh là nước rất gương mẫu trong việc đại chúng hóa khoa học. Michael Faraday định kỳ tổ chức nói chuyện trước công chúng về khoa học. Những “bài giảng Giáng sinh” của ông dành cho thanh niên rất nổi tiếng, và loại bài giảng này vẫn còn được tiếp tục mỗi năm. Tác phẩm đại chúng của ông nói về (lịch sử hóa học của) chiếc đèn cầy là một thí dụ điển hình. Còn các bài giảng của Humphry Davy nổi tiếng đến nổi các cổ xe ngựa của thính giả đến nghe làm nghẽn cả con đường Albermarle ở London khiến cho nhà chức trách nẩy ra ý tưởng biến nó thành con đường một chiều, một sáng kiến thế giới.  Tại Đức, công việc này được thực hiện bởi Alexander von Humboldt, Hermann von Helmholtz, E. Häckel….nhằm mang lại cho dân chúng của quốc gia công nghiệp đang lên này ý nghĩa của khoa học tự nhiên. Ở Áo Ludwig Boltzmann và Ernst Mach. Đặc biệt Mach đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc truyền bá các tư tưởng phê phán cơ học Newton của ông và qua đó ảnh hưởng lớn lên Einstein trong việc khám phá thuyết tương đối hẹp. Ông là một nhà khoa học thực nghiệm, một nhà triết học, sống trong tinh thần và truyền thống khai sáng theo đúng nghĩa.   Ở châu Á chúng ta không được quên Nhật Bản là quốc gia cực kỳ nhạy bén với đại chúng hóa khoa học. Quốc gia này rất lạ lùng. Sống cô lập trong một khu vực hoàn toàn chậm phát triển, nhưng nó luôn luôn đứng trên đầu sóng của thông tin thế giới. Cái gì thế giới có, nó cũng có, và đôi nó khi còn làm tốt hơn thế giới. Họ đã dịch sách ồ ạt như một chiến lược, sách của tất cả các lãnh vực, từ thế kỷ 19 kia. Ngày nay, các đầu sách giáo khoa nổi tiếng Anh Mỹ dù là khoa học nhân văn hay khoa học tự nhiên đều được chuyển ngữ nhanh chóng và đúng lúc cho sinh viên chưa kể các loại sách truyện hay văn hóa phổ thông. Năm 1922, trong dịp Einstein thăm Nhật Bản, quốc gia này đã xuất bản toàn tập các bài viết của Einstein, trong khi châu Âu chưa nơi nào có cả! Và cũng chỉ có quốc gia này, dù xa xôi về địa lý đến đâu, mới mời được Einstein đến diễn thuyết trước hàng ngàn giáo sư, sinh viên và công chúng! Dân tộc họ quá trân trọng tri thức. Một chuyến thăm của Einstein như thế sẽ kích thích tinh thần nghiên cứu khoa học của dân tộc này lên cao độ! Cái văn hóa đọc sách và mua sách dường như đã thấm vào máu thịt người Nhật Bản từ thời Tokugawa.   Trong thế kỷ 20 việc quảng bá khoa học còn dồn dập hơn nữa. Có hai người nổi bật trong công việc này: Einstein ở nửa đầu thế kỷ, và Hawking ở nửa cuối thế kỷ. Einstein đã trở thành ngôi sao huyền thoại của đại chúng trên phạm vi toàn thế giới. Một lời nói thoảng, một cử chỉ nhỏ của ông đều trở thành đề tài của báo chí. Thuyết tương đối và cá nhân ông đã “điện hóa” công chúng và các cơ quan truyền thông. Người ta hoan hô Chaplin vì người ta hiểu ông, nhưng người ta hoan hô Einstein vì người ta không hiểu ông. Câu nói hóm hỉnh và bất hủ này của vua hề Charlot lại càng làm cho Einstein thêm huyền bí. Người ta không hiểu ông nhưng lại rất yêu thích ông. Đó là điều bí ẩn. Cái gì trong tay của Einstein cũng đều bí ẩn cả.  Trong lịch sử có lẽ có hai nhà vật lý có số lượng thính giả đông nhất: Galilei thế kỷ 17 và Einstein thế kỷ 20. Galilei đã có đông đảo đến cả ngàn thính giả nghe ông thuyết trình. Còn Einstein thì vài ngàn người, đông nghẹt giảng đường. Tại Anh, có lẽ quốc gia yêu thích khoa học nhất trên hành tinh, số thính giả của ông đã lên đến con số vạn. Có lẽ Einstein là nhà khoa học có sức hút lớn nhất hành tinh của mọi thời đại.  Einstein còn viết sách cho đại chúng. Cuốn sách nổi tiếng và là bestseller của ông là Thuyết tương đối hẹp và rộng được xuất bản đầu năm 1917. Nó vẫn còn được tái bản hôm nay không biết đã mấy chục lần dưới nhiều hình thức, nhiều thứ tiếng. Trong lời tựa Einstein viết  Cuốn sách nhỏ này mong muốn, trong chừng mực có thể, truyền đạt một sự hiểu biết thấu đáo về lý thuyết tương đối đến những bạn đọc, xuất phát từ quan điểm triết học và khoa học tổng quát, có mối quan tâm đến lý thuyết nhưng không nắm vững công cụ toán học của ngành vật lý lý thuyết. Cuốn sách tuy ngắn, nhưng đòi hỏi người đọc nó phải có một trình độ học vấn phổ thông, khá nhiều kiên nhẫn và có ý chí.      [Tác phẩm này sắp ra mắt ở Việt nam, sau một sự lệch giờ ngót 100 năm!]   Ông còn viết tiếp Ý nghĩa của thuyết tương đối, và cùng với L. Infeld “Sự tiến hóa của Vật lý. Từ Newton đến thuyết lượng tử”, một tác phẩm làm người ta liên tưởng đến tác phẩm nổi tiếng “Lịch sử cơ học. Được trình bày phê phán” của E. Mach nửa thế kỷ trước đó.  Ông còn đi thuyết trình cho công chúng. Ông đã nói chuyện về thuyết tương đối tại trường phổ thông nữ Viktoria-Luisen tại Berlin năm 1919, về “Hình học và kinh nghiệm” tại giảng đường số 33 đại học Berlin, cho đến thuyết trình cho giới lao động trong không khuôn khổ giáo dục đại chúng của Trường công nhân mác-xít Berlin năm 1931 của nữ văn sĩ Anna Seghers với đề tài “Những điều công nhân cần biết về thuyết tương đối”.   Con người huyền bí và huyền thoại của Einstein có tác dụng đại chúng hóa khoa học còn hiệu quả và mạnh mẽ hơn tất cả các kế hoạch marketing của bộ máy giáo dục của bất cứ nhà nước giàu có nào trên trái đất. Trong “Năm Einstein 2005”, các nước công nghiệp đã đầu tư rất lớn vào việc sử dụng hình ảnh Einstein để tuyên truyền, quảng bá cho chương trình giáo dục, nghiên cứu khoa học và công nghệ của họ.  Nhưng Einstein không chỉ dừng lại ở việc truyền bá kiến thức khoa học vì kiến thức khoa học. Einstein đã gửi đi thông điệp vượt qua khỏi những khám phá của ông: Khoa học đóng góp vào sự khai sáng và nhân bản của con người. Khoa học là một tài sản văn hóa và giáo dục có giá trị cao. Einstein đứng trong truyền thống của khai sáng và ở bước đầu của một xã hội truyền thông (Mediengesellschaft) manh nha của thế kỷ 20. “Thật là không đủ nếu chỉ dạy cho con người một ngành chuyên môn thôi. Bằng cách đó con người tuy trở thành một loại máy có thể sử dụng được, nhưng không trở thành một nhân cách với đầy đủ giá trị…Bản chất của một nền giáo dục quý giá là tư duy phê phán và độc lập được phát triển trong những con người trẻ, một sự phát triển bị làm nguy hại bởi sự nhồi nhét nội dung học.” Chỉ có tư duy độc lập, hay nói theo ngôn ngữ của Kant, sử dụng cái đầu của chính mình, mới đem lại nhận thức và khoa học, như chính trải nghiệm của tác giả. Đó phải là nhiệm vụ của giáo dục và truyền thụ tri thức.  Người kế tục sự nghiệp đại chúng hóa khoa học vật lý của Einstein ở cuối thế kỷ 20 là nhà vũ trụ học Stephen Hawking. Tác phẩm đại chúng của ông “Lược sử thời gian” nằm trong danh sách bestseller năm năm liền, được dịch ra hơn 40 thứ tiếng, được đưa vào phim. Hawking cho rằng cuốn sách đã đến nhiều người hơn các quyển sách của Madonna về Sex. Nếu gõ “Hawking” vào mạng, người ta sẽ nhận được một lượng thông tin choáng ngộp. Trên các tạp chí đầy dẫy hình ảnh của các về vũ trụ, lỗ đen, supernova, các dãy ngân hà. Không phải “Sex sells” (sex bán chạy) nữa mà “Space sells” (vũ trụ bán chạy) đối với các cơ quan truyền thông đại chúng.  Internet ra đời mở ra một thời đại mới của đại chúng hóa khoa học. Ngày 15 tháng 1 năm 2001 tự điển Wikipedia chính thức lên mạng. Kết quả vang dội: tốc độ phát triển theo hàm lũy thừa. Hàng trăm ngàn bài viết khoa học đã được đưa lên mạng trong vài năm. Tự điển này dựa trên sự cộng tác trên cơ sở tự nguyện. Năm 2005 tạp chí khoa học Nature làm một cuộc so sánh chất lượng giữa Wikipedia và Encyclopaedia Britannica. Theo đó Britannica có một chút ưu thế, chứ không nhiều. Ngoài Wikipedia còn có rất nhiều mạng khác của các đại học, tổ chức khoa học, báo chí. Chắc chắn, Einstein nếu còn sống sẽ rất hồ hởi tham gia Wikipedia, và các bài viết của ông sẽ đến độc giả toàn thế giới trong khoảnh khắc.  Vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, một loạt ngày kỷ niệm đã diễn ra thật sôi nổi như “100 năm cơ học lượng tử”, “Năm vật lý 2000”, “Năm Einstein” (2005), “150 năm sinh nhật Max Planck” (2008), rồi “400 năm thiên văn (và Galilei)”, “200 năm sinh nhật Darwin và 150 năm thuyết tiến hóa” năm vừa qua. Báo chí, cơ quan truyền thông ở phương Tây tràn ngập các chương trình khoa học cho đại chúng ở mức độ chưa từng thấy, diễn ra hầu như suốt năm. Sự đại chúng hóa sâu rộng khoa học vào các tầng lớp nhân dân đạt đến đỉnh cao chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Chưa bao giờ dân chúng được phục vụ thông tin khoa học nhiều như thế trong lịch sử.  Thế kỷ 21 đang đứng trước những cuộc cách mạng theo dự đoán còn to lớn hơn nhiều so với quá khứ, sẽ có tác động mạnh mẽ và triệt để hơn vào sự biến đối bộ mặt thế giới và nhân loại. Các cuộc cách mạng lượng tử, cách mạng sinh học phân tử, công nghệ Nano, và cách mạng máy tính đang chờ đợi có những bước tiến đột phá. Tốc độ tăng trưởng tri thức nhân loại tăng nhanh chưa từng có, mười năm nhân lên gấp đôi, trong khi năng lực của máy tính nhân lên gấp đôi cứ mười tám tháng.  Trước mặt chúng ta không còn là một đại dương tri thức còn cần phải khám phá của Newton trước đây, mà là một đại dương mới được mở ra với vô tận những khả năng ứng dụng khoa học để phục vụ con người. Quốc gia nào nắm được, quốc gia đó sẽ phồn vinh và có vị trí ngồi ở các hàng ghế trước. Ngược lại, quốc gia sẽ tụt hậu và lạc hậu, có vị trí ở các hàng ghế cuối cùng. Xã hội hơn bao giờ hết là xã hội tri thức. Tài nguyên thiên nhiên đã rớt hạng xuống chỉ còn thứ yếu.  Để kết luận, tôi xin mượn những lời sau đây của nhà toán học và triết học Anh ở đầu thế kỷ 20 Alfred North Whitehead khi ông kết thúc cuốn sách Sience and the Modern World (Khoa học và Thế giới hiện đại, 1925) về vai trò khoa học trong lịch sử nhân loại. Ông là một trong những nhân chứng bị sốc nặng khi chứng kiến sự sụp đổ của vật lý Newton trước thuyết mới của Einstein về hấp lực. Ông viết đoạn kết của cuốn sách nầy như sau:  Những người chinh phục vĩ đại, từ Alexander đến Caesar, và từ Caesar đến Napoleon, ảnh hưởng sâu sắc cuộc sống của các thế hệ sau. Nhưng tổng hiệu quả của ảnh hưởng này rút lại thành tầm thường nếu so sánh với toàn bộ sự biến đổi của thói quen và tâm tính con người gây ra dài hạn bởi một chuỗi dài những con người của tư duy từ Thales đến ngày hôm nay, những người xét về cá nhân không có quyền lực gì, nhưng tối hậu lại chính là những người trị vì thế giới.  Khoa học là định mệnh của chúng ta, theo hay không tùy mỗi quốc gia, với những hậu quả đích đáng, công bằng và…khoa học nữa. Không có khoa học phát triển và văn hóa tỏa sáng của nó, không có những niềm tin có tính chất khai sáng để tạo ra cơ chế, định chế phù hợp cho việc khoa học công nghệ lâu bền, quốc gia vẫn sống trong vòng tăm tối. Mọi sự tự mãn đều là ru ngủ. Đất nước vẫn đứng trước các hàm cá mập ngay trong tầm tay. Sương mù vô minh của quá khứ sẽ vẫn bao trùm.  —    1. Nếu trong chiến tranh Pháp Đức 1870 xe lửa lần đầu tiên được sử dụng trong việc chuyển quân, thì sang thế chiến thứ I 1914-1918 máy bay, xe tăng thô sơ, tàu chiến, tàu ngầm, cuối cùng vũ khí hóa học đã được sử dụng. Hai mươi lăm năm sau, trong thế chiến thứ II 1939-1945 một khối lượng vũ khí giết người hằng loạt hiện đại chưa từng thấy xuất hiện, mà nếu đem so sánh thì các vũ khí chiến tranh của Thế chiến I chỉ là đồ chơi trẻ con. Hỏa tiển xuất hiện, và cuối cùng bom nguyên tử được sử dụng. [Được hỏi nếu thế chiến thứ III xảy ra thì nhân loại sẽ ra sao, Einstein trả lời: Con người sau đó sẽ đánh nhau bằng cung tên!]      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học và những bàn tay sạch      Vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 vừa qua, Viện Duma Quốc gia Nga sau hai vòng bỏ phiếu đã thông qua Dự thảo luật về cải cách Viện Hàn lâm khoa học Nga Sự kiện này làm dấy lên trong giới khoa học nhiều ý kiến không đồng tình, đáng chú ý là ý kiến của nhà khoa học Andrei Vorobiov, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga và Viện Hàn lâm Y học Nga.    Nói vắn tắt thì “cuộc cải cách” Viện Hàn lâm mà ngài bộ trưởng giáo dục Livanov và các vị dân biểu của Viện Duma quốc gia (trừ hai phái của đảng Cộng sản Liên bang Nga và đảng “Nước Nga chính nghĩa”) đã tán thành là hợp nhất ba Viện Hàn lâm – Viện Hàn lâm “lớn” (tức Viện Hàn lâm khoa học Nga), Viện Hàn lâm y học và Viện Hàn lâm nông nghiệp, thu hồi tài sản (nhà cửa, đất đai) do các viện hàn lâm quản lý, chuyển tất cả các viện sĩ thông tấn thành các viện sĩ thực thụ, tạo những tiền đề để thu hút thanh niên tham gia vào khoa học (không nói cụ thể như thế nào) tạo điều kiện (không nói rõ những điều kiện gì) để phát triển khoa học trong các trường đại học.  Tôi muốn tin rằng cuộc cải cách đó xuất phát từ thiện chí. Nhưng lại nảy ra một câu hỏi, tại sao dự án luật vốn được Viện Duma quốc gia tán thành một cách cập rập qua hai vòng bỏ phiếu lại chỉ tập trung vào các viện hàn lâm lớn, “buông tha” những viện hàn lâm nhỏ? Phải chăng vì Viện Hàn lâm nông nghiệp ở Moskva và những vùng phụ cận có biết bao nhiêu là đất đai trị giá hàng tỷ rúp! Chỉ riêng một tòa nhà của Viện Hàn lâm y học cũng đã có giá bạc tỉ! Những năm gần đây chúng ta đã quen với việc tước đoạt quyền sở hữu đối với đất đai và nhà cửa của nhà cầm quyền thường chỉ có một ý nghĩa – toàn bộ tài sản sẽ bị khoắng sạch, còn đất đai thì được xây dựng tràn lan để đầu cơ – lâu dài cho bọn trọc phú, công sở, tiệm ăn, nhà ở sinh lợi.  Cũng nên lưu ý rằng việc chuẩn bị “cuộc giải phẫu” viện hàn lâm một cách lén lút không chỉ đối với cộng đồng các nhà khoa học mà còn đối với cả vị chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học mới được bầu là viện sĩ Vladimir Evgenievich Fortov, đã chứng tỏ điều đó. Bởi lẽ chính kỳ họp của Viện Hàn lâm là nơi mà theo truyền thống được quyết định nhiều vấn đề, kể cả việc bầu chọn bộ máy điều hành, mới diễn ra vào cuối tháng 5 năm nay. Và khi ấy, chưa một ai nghe thấy bất cứ một lời bóng gió xa xôi nào về những thay đổi đột ngột như vậy. Mặt khác trong dự thảo cải cách không hề thấy những mục tiêu cụ thể, kế hoạch thực hiện những mục tiêu đó. Mọi thứ cứ như từ trên trời rơi xuống: hãy làm cải cách đi!   Khi cả nước ăn cắp, khi những thông tin về bọn tội phạm hình sự chiếm một thời lượng lớn nhất về tin tức trên vô tuyến thì không thể hình dung được “tính chất vô trùng” của các cơ quan thuộc viện hàn lâm, bởi lẽ Viện Hàn lâm chỉ là một bộ phận của hệ thống. Do vậy việc cải cách Viện Hàn lâm là cần thiết. Nhưng việc chuẩn bị văn kiện của cuộc cải cách Viện Hàn lâm được thực hiện bởi những quan chức rất xa lạ với khoa học; về một mặt nào đó họ đã lặp lại một văn kiện trước đây từng bị bác bỏ, khiến như lời của ông Gennadi Zjuganov, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nga: ngoài việc phá hủy Viện Hàn lâm bằng cách cướp đoạt tài sản của nó một cách lộ liễu, thì cuộc cải cách sẽ chẳng mang lại điều gì tốt lành cả. Và kẻ phải chịu trách nhiệm ở đây là những người lãnh đạo đất nước chứ không phải các nhà khoa học lực bất tòng tâm.  Chúng ta cần làm gì khi dự án luật đã được thông qua?   Đây chính là thời điểm để hồi tưởng lại lịch sử của Viện Hàn lâm. Sáng kiến thành lập Viện Hàn lâm là thuộc về Piotr Đệ nhất1, người mà hiện nay thường bị chửi bới như Aleksandr Nevsky2 chẳng hạn. Trên thực tế, Viện Hàn lâm trở thành một cơ quan có sức sống dưới triều đại nữ hoàng Elizaveta Petrovna, khi mà sau hai thập kỷ đình đốn, việc khôi phục mạnh mẽ quân đội và hạm đội bị tan rã và những mối liên hệ tích cực với phương Tây được bắt đầu. Khi ấy, lần đầu tiên trên thế giới, chính Elizaveta đã hủy bỏ án tử hình (ngoại trừ việc trừng phạt các tội trạng quân sự). Tên tuổi của Lomonosov, việc thành lập trường Đại học Tổng hợp Moskva, việc phát triển khoa học trong nước gắn bó mật thiết với Viện Hàn lâm. Các nhà văn nhà thơ lớn của Nga như Derzhavin, Fonvizin, Pushkin, Karamzim… đều là các viện sĩ của Viện Hàn lâm (hoặc các phân viện của Viện Hàn lâm).  Ngay từ đầu, việc quy tụ các viện sĩ vào Viện Hàn lâm là kết quả của những cuộc bầu chọn nội bộ. Stalin vốn không thích một vài phương diện tự trị của Viện Hàn lâm, nhưng ông không xâm phạm đến bản thân sự tồn tại của cơ quan này, không đề cử những người kém cỏi, thiếu uy tín vào cương vị chủ tịch Viện Hàn lâm. Ông biết rằng khi nào vấn đề “tồn tại hay không tồn tại” được đặt ra trước đất nước thì ắt phải gõ cửa Viện Hàn lâm. Những nhà lãnh đạo đất nước hiện nay cần phải suy nghĩ về điều này.  Vào thời điểm khởi đầu cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những nghiên cứu của các nhà khoa học Xô-viết đã đảm bảo cho Liên Xô một trình độ trang bị kỹ thuật khá cao… Và với tư cách là một thầy thuốc, tôi không thể không nói tới lĩnh vực y học.   Khi chiến tranh sắp kết thúc, hàng triệu thương binh được điều trị trong các quân y viện. Nhờ trình độ phát triển cao của y học Xô-viết, nhờ việc thuyên chuyển các nhà khoa học ưu tú nhất của chúng ta sang phục vụ quân đội nên việc thương binh xuất viện trở về đội ngũ của chúng ta thuộc diện cao nhất thế giới.  Sau khi Fleming phát minh ra penicillin ở Anh và không hề biết tới những bí mật của việc sản xuất, giáo sư Zinaida Ermolieva (sau này là viện sĩ của Viện Hàn lâm y học) đã nghiên cứu thành công quy trình công nghệ riêng của mình đối với việc bào chế công nghiệp loại thuốc kháng sinh đầu tiên trên thế giới có hoạt tính mạnh hơn thứ thuốc của Fleming. Thuốc penicillin của chúng ta ngay trong năm 1943 đã được đưa vào các quân y viện và đã cứu sống hàng vạn sinh mạng.  Chiến tranh vẫn đang tiếp diễn, nhưng chính phủ đã quyết định thành lập Viện Hàn lâm y học (năm 1944) do bác sĩ phẫu thuật chính của Hồng quân là Nikolai Burdenko phụ trách.  Khi hiểm họa của cuộc tấn công nguyên từ phía Mỹ treo lơ lửng bên trên đất nước ta, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã cầu cứu các nhà khoa học. Nhà bác học lỗi lạc, viện sĩ Abram Ioffe đã tiến cử người học trò xuất sắc của mình là Igor Kurchatov làm người tổ chức khoa học chính của dự án. Chỉ đạo công việc là Yulii Khariton, đóng vai trò hết sức quan trọng trong tập thể này là các cán bộ nghiên cứu của ban lý luận Viện Vật lý trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học (FIAN) mang tên Lebedev: nghiên cứu sinh Andrei Sakharov, viện sĩ Igor Tamm (giải thưởng Nobel tương lai) trưởng ban lý luận, viện sĩ Vitaly Ginzburg (cũng giải thưởng Nobel tương lai). Ông cùng với Andrei Sakharov là tác giả của ý tưởng về bom khinh khí.  Những nhà khoa học được nêu tên trên đây của chúng ta (và hàng nghìn người khác) đã cứu vãn Liên Xô và thế giới thoát khỏi cuộc chiến tranh hạt nhân. Chính các vị tham mưu trưởng của quân đội Mỹ đã hơn một lần đề nghị hai Tổng thống Mỹ là Eisenhower và Kennedy dùng đòn hạt nhân đánh phủ đầu Liên Xô. Chỉ duy có nỗi sợ bị trả đũa đã khiến họ dừng lại mà thôi.  Để đền ơn vì những đóng góp quan trọng vào việc quốc phòng, chính phủ Liên Xô đã xây tặng Viện Hàn lâm khoa học một tòa nhà nguy nga trên bờ sông Moskva.  Chưa bao giờ nền khoa học của chúng ta bị tụt hậu so với khoa học thế giới. Điều đó chỉ xảy ra vào hai mươi năm gần đây. Nhưng liệu có phải riêng một mình Viện Hàn lâm có lỗi trong sự lạc hậu hiện nay? Đâu phải chỉ có các cán bộ khoa học mới ồ ạt tháo chạy ra nước ngoài. Có lẽ những nhà lãnh đạo của chúng ta nên thôi tìm kiếm kẻ can tội và chỉ cần soi mình vào gương?!  Bây giờ xin nói đến luận điểm về người già và người trẻ. Từ lâu ta thấy rõ rằng vào những thập kỷ gần đây các nhà khoa học trẻ tuổi hoặc đơn lẻ hoặc ẵm cả phòng thí nghiệm chuồn ra nước ngoài. Thanh niên không thể sống bằng số tiền lương ít ỏi được lĩnh trong lĩnh vực khoa học, không thể thực hiện được những ý tưởng của mình, vì thế cho nên họ ra đi để nhiều khi phải làm việc chống lại Tổ quốc mình, và vô hình trung đã tham gia vào việc thực hiện các kế hoạch bành trướng của kẻ hiện nay định đoạt vận mệnh của thế giới.  Những luận cứ của Bộ trưởng Livanov về tỷ lệ “người già” và “người trẻ” trong khoa học chỉ đáng được xem là câu chuyện buôn dưa lê của các bà nội trợ ở trong bếp. Không thể bàn luận về “những suy nghĩ” đó, mặc dầu vấn đề về việc dân số của hành tinh đang già đi khiến cho các nhà khoa học trên toàn thế giới đâm lo ngại. Có những cách giải quyết khác nhau (nhưng không phải ở ta) về việc nên tận dụng trí tuệ và đôi tay của những người cao tuổi như thế nào để làm lợi cho họ và cho xã hội. Một phương án ngu xuẩn nhất là để cho họ “nghỉ ngơi một cách xứng đáng” bất chấp mọi hoàn cảnh bởi lẽ họ sắp “qui tiên” (!). Đây là một vấn đề phức tạp và có những nghiên cứu khoa học để giải quyết nó một cách có hiệu quả. Nhưng nhiệm vụ này không phải dành cho khoa học đang bị lép vế.  Tất nhiên, trong khoa học cần có những cải cách cũng như trong bất cứ một lĩnh vực nào khác của hoạt động con người. Song đảm đương nhiệm vụ cải cách phải là những người am hiểu công việc này. Công tác khoa học là một quá trình sáng tạo. Những mưu toan dùng mệnh lệnh đối với nó chỉ dẫn tới bi kịch mà thôi.  Nếu nhà khoa học tập sự – tức nghiên cứu sinh – lĩnh lương được nghìn rưỡi rúp nhưng lại biết rằng nhà nước chi nhiều tỷ rúp cho việc tổ chức thế vận hội Olympics mùa đông ở một nơi có khí hậu á nhiệt đới như Sochi, cho việc xây dựng một trường đại học tại một hoang đảo ở Thái Bình Dương, thì những ý tưởng nào sẽ đến với anh ta? Nhà khoa học tương lai nghèo khó bắt đầu hiểu rằng tất cả những công trình này có lẽ còn có thêm một mục đích nữa là tham nhũng, rằng anh ta, một cán bộ khoa học, chả cần thiết cho ai cả (ngoại trừ những ông thầy nghèo nàn, lực bất tòng tâm của anh ta).  Các bạn hãy xem những sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Vật lý – Kỹ thuật (FIZTEKH) huyền thoại của chúng ta đang làm việc ở đâu? Ở nước ngoài. Tội lỗi của các bậc thầy đào tạo nên những chàng trai đó là ở đâu? Ở chỗ họ đào tạo nên các chuyên gia lành nghề vốn cần thiết cho ngoại bang chứ không phải cho nước nhà.  Chuyện đó cũng xảy ra với các sinh viên tốt nghiệp trường Đại học tổng hợp Moskva (MGU) cho đến tận thời gian gần đây. Một nghiên cứu sinh (nhân vật chủ yếu để trở thành cán bộ khoa học) nhận được số học bổng thấp hơn 10 lần số tiền lương của một nữ nhân viên quét dọn bệnh viên, một nghiên cứu viên chính được lĩnh số thù lao bằng lương của một nữ nhân viên quét dọn, nhưng ít hơn lương của nữ y tá.   Lương của chủ nhiệm tổ bộ môn trường Đại học tổng hợp Moskva tương đương với lương của nữ y tá trong một bệnh ở Moskva(!). Việc tổ chức công tác khoa học được đặt ra một cách tồi tệ. Giáo sư quá cố Vitaly Ginzburg đích thân cho tôi biết số tiền lương của ông ở Viện nghiên cứu khoa học là bốn ngàn rúp…  Những cán bộ khoa học ra nước ngoài làm việc cho biết: “Ở bên đó một tháng lương của chúng tôi bằng lương cả năm ở nhà. Ở Nga lĩnh được các chất phản ứng, tiếp cận được với các thiết bị là cả một vấn đề, còn ở bên đó thì dễ như chơi”.  Liệu có thể khôi phục nền khoa học của chúng ta? Tất nhiên là có thể. Những nhiệm vụ trước mắt thì ai cũng biết. Chúng ta có đủ lớp trẻ tài năng hăng hái tiếp thu kiến thức và say mê nghiên cứu. Song các ngài cầm quyền hãy tống cổ bọn trộm cắp ra khỏi lãnh vực khoa học!  Hãy trao tiền vì sự nghiệp phát triển khoa học vào tay các cán bộ khoa học. Hãy để họ kiểm soát tính hiệu quả của những khoản chi phí. Đừng nên kể những chuyện tầm phào về việc cấp phát kinh phí mang tính chất thi đua, về các khoản tiền trợ cấp. Các nhà khoa học từ lâu đã được làm quen với điều đó rồi. Không nên vội vã hủy bỏ việc tài trợ theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng của nhà nước bởi lẽ những công trình nghiên cứu quan trọng nhất được thực hiện theo chế độ tài trợ như vậy. Mà ở các nước khác cũng thế. Về những chi tiết này, chúng tôi sẽ phân tích sau, khi nào các vị ngừng can thiệp vào việc điều hành các cơ quan khoa học và giáo dục… Xin hãy ngừng nhồi nhét một cách lộ liễu thông qua sách giáo khoa quy luật của Thượng đế, chẳng hạn, thay thế cho học thuyết Darwin vào các trường trung học và đại học.  Rõ ràng là khoa học Nga ở thời điểm hiện nay đang đứng giữa ngã ba lịch sử. Tôi tin chắc rằng với những cách tiếp cận được nêu lên của những người xây dựng dự thảo cải cách viện hàn lâm sẽ không đưa nó ra con đường cái quan thênh thang rộng rãi mà là dẫn vào ngõ cụt.   Lê Sơn lược thuật   Theo Literaturnaja Gazeta số 29, 7/2013)  —  1 Piotr Đệ nhất (1672-1725). Hoàng đế đầu tiên của nước Nga, có những cải cách quan trọng, mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của nước Nga về mặt kinh tế, văn hóa.  2 Aleksandr Nevsky (1220-1263). Đại quận vương của nước Nga thời cổ đại. Giành chiến thắng oanh liệt đối với quân Thụy Điển (1240) và các hiệp sĩ Đức (1242) bảo vệ vững chắc biên giới phía tây của nước Nga.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoa học Việt Nam cũng cần “khoán hộ”      Mọi chính sách khoa học cần hướng tới kích  cầu, minh bạch, đầu tư thỏa đáng đúng chỗ và nhất là đòi hỏi cao tương  ứng đối với kết quả, để buộc mọi nhà khoa học, quản lý phát huy tiềm  năng chuyên môn của bản thân theo tinh thần khoán sản phẩm.       Vai trò của nghiên cứu khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay quả là mờ nhạt. Với thực tế như vậy thật khó mà thu hút các doanh nghiệp, nhất là khối tư nhân còn nhỏ bé nhưng năng động, đầu tư cho khoa học công nghệ nước nhà. Nhiều doanh nhân Việt Nam hiện nay vốn xuất phát và được đào tạo là các nhà khoa học, và họ biết rõ thực trạng trì trệ, nhiều tiêu cực và viển vông của khoa học công nghệ, và họ không muốn đầu tư vào những chỗ không tin cậy.  Khác với các láng giềng như Trung Quốc chẳng hạn, các cơ quan khoa học Việt Nam chưa có được các chính sách đủ hấp dẫn các tiến sĩ trẻ giỏi từ nước ngòai trở về, vì thực tế họ chưa phải chịu sức ép về thành tích công bố quốc tế, phát triển công nghệ mới, đặt hàng cụ thể từ thị trường, chưa kể thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của không ít chức sắc còn làm nản lòng những người trẻ tuổi…  Theo tinh thần của cuộc cải cách 1986 và đổi mới chương trình Nghiên cứu cơ bản vừa qua, mọi chính sách khoa học cần hướng tới kích cầu, minh bạch, đầu tư thỏa đáng đúng chỗ và nhất là đòi hỏi cao tương ứng đối với kết quả, để buộc mọi nhà khoa học, quản lý phát huy tiềm năng chuyên môn bản thân theo tinh thần khoán sản phẩm. NCCB thì phải công bố quốc tế, nghiên cứu ứng dụng thì phải ra được sản phẩm và công nghệ thực thụ và cũng phải được công bố công khai.    —  (*) Viện Cơ học, Viện KH&CN Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khoán chi: Thông thoáng nhưng không dễ      Thông tư liên tịch 27/2015/BKHCN-BTC về khoán chi trong thực hiện nhiệm vụ KH&amp;CN sử dụng ngân sách nhà nước có hiệu lực từ ngày 15/2/2016.&#160; Đây là một chủ trương đúng đắn, vốn đã được các nhà khoa học chờ đợi từ lâu. Hãy xem các nhà khoa học nhận xét gì khi Thông tư ban hành và liệu cơ chế mới này có giải quyết hết những bất cập khi nghiệm thu đề tài?      Khoán chi chính là điểm nổi bật nhất của Thông tư 27/2015/BKHCN-BTC, được hai vị Bộ trưởng Nguyễn Quân (Bộ KH&CN) và Đinh Tiến Dũng (Bộ Tài chính) ký vào sát ngày cuối cùng của năm 2015. Với quy định mới này, ngoài việc lập dự toán (theo Thông tư 55), các nhà khoa học tùy vào tính chất công việc có thể lựa chọn khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần. Nhà nước chỉ đặt hàng ban đầu và tập trung vào nghiệm thu kết quả. Các đề tài được yêu cầu phải có sản phẩm cụ thể, có chỉ tiêu rõ ràng về chất lượng và số lượng tạo ra, có địa chỉ ứng dụng và đề tài được nghiệm thu chỉ khi các tiêu chí đặt ra ban đầu được thỏa mãn.   Thứ trưởng Bộ Tài chính Huỳnh Quang Hải đánh giá Thông tư 27 là một trong những văn bản tạo bước chuyển rất mạnh trong việc tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cũng như đơn giản hóa các thủ tục tài chính cho các nhà khoa học – nhà khoa học chỉ cần nộp kết quả cuối cùng, đáp ứng đủ các tiêu chí của đề tài là sẽ được nghiệm thu – và giúp họ yên tâm thực hiện nghiên cứu khoa học với khoản kinh phí được giao trong quá trình thực hiện.   Không còn phải “nói dối” hay “biến tấu”  TS. Nguyễn Hồng Phương (Viện Vật lý địa cầu) – người từng nhận nhiều đề tài cấp nhà nước và cấp bộ, cho biết ông “háo hức” chào đón Thông tư 27 như một “cuộc cách mạng” mang lại “sự thông thoáng” và “tự do nghiên cứu” cho các chủ nhiệm và các cán bộ tham gia thực hiện đề tài”. Đồng tình với ý kiến này, PGS.TS Nguyễn Nhược Kim (Đại học Y Hà Nội) khẳng định: “Nếu thực hiện khoán chi sẽ gỡ được nhiều vướng mắc về thủ tục tài chính, qua đó giúp các nhà khoa học thuận tiện hơn, chủ động hơn trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu của mình”.   Tinh thần của Thông tư 27 là cho phép cá nhân chủ trì và tổ chức thực hiện nhiệm vụ không nhất thiết phải chi theo dự toán, miễn là tạo ra được sản phẩm khoa học như đã đăng ký. Vì vậy, theo TS. Đoàn Đình Phương (Phó Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu), khi áp dụng Thông tư 27, nhà khoa học chủ trì nhiệm vụ sẽ không phải “biến tấu”, không phải “nói dối” khi thay đổi nội dung nghiên cứu so với dự toán ban đầu.         Khó có ai dám chắc chắn được nghiên  cứu của mình sẽ thành công, bởi “nếu biết chắc chắn là thành công thì  đó không phải là khoa học”.        Một ưu điểm nữa của Thông tư 27 là nâng cao hiệu quả nghiên cứu và tinh thần chịu trách nhiệm của nhà khoa học, bởi nếu kết quả nghiên cứu không đáp ứng được tiêu chí đặt hàng, các nhà khoa học sẽ phải hoàn trả từ 40-100% kinh phí thực hiện đề tài. Cơ chế này rõ ràng cũng làm tăng thêm trách nhiệm của các cơ quan quản lý khi giao nhiệm vụ và giám sát thực hiện nhiệm vụ.   Theo TS. Nguyễn Hồng Phương, Thông tư 27 với yêu cầu sản phẩm phải có tiêu chí cụ thể, rõ ràng, có địa chỉ ứng dụng, sẽ khiến sản phẩm nghiên cứu thực chất hơn, và giúp ngân sách được sử dụng có hiệu quả cao hơn hẳn so với cách làm đăng ký đề tài “ào ào”, bảo vệ xong rồi không mấy khi được đưa vào ứng dụng như trước đây. Ông cũng tin rằng, cơ chế mới sẽ tạo ra sân chơi công bằng, minh bạch, và khuyến khích những người trẻ có năng lực tham gia, thay vì tạo những lợi thế mập mờ, không thỏa đáng đem lại lợi thế cho những nhà khoa học “sống lâu lên lão làng”.   Không phải sản phẩm nào cũng khoán được  Tuy nhiên, để Thông tư 27 thực sự đi vào thực tiễn, GS. Nguyễn Năng Định (Đại học Công nghệ) cho rằng, cần có văn bản hướng dẫn thực hiện, trường hợp nào được khoán và khoán đến đâu. Theo ông, có sản phẩm không nên khoán, có sản phẩm không thể khoán được, và cũng có sản phẩm không thể thẩm định chính xác được.   Nghiên cứu khoa học là một công việc đặc thù, mang tính sáng tạo cao, tính rủi ro cũng cao, không phải khi nào cũng có thể theo đúng một lộ trình vạch sẵn ra từ 2-3 năm trước (tức là khi lập dự toán). Theo PGS.TS Vũ Thị Thu Hà (Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ Lọc, hóa dầu), chúng ta phải hiểu rõ bản chất của nghiên cứu khoa học: thứ nhất là mức độ rủi ro, thứ hai là độ trễ. Khó có ai dám chắc chắn được nghiên cứu của mình sẽ thành công, bởi “nếu biết chắc chắn là thành công thì đó không phải là khoa học”. Ngay việc triển khai từ nghiên cứu ứng dụng ra sản xuất cũng chỉ có 90% khả năng thành công, còn nghiên cứu cơ bản thì tỷ lệ thành công còn thấp hơn nữa. Nhà nghiên cứu thường phải tìm và thử nhiều phương án rồi mới chọn ra được một cách giải quyết; có nghiên cứu không thành công nhưng từ kết quả đó, nhà khoa học sẽ tiếp tục tìm hướng nghiên cứu mới.  Nhận xét về những yêu cầu chặt chẽ kèm theo cơ chế khoán chi của Thông tư 27, TS. Đoàn Đình Phương cho rằng thật không dễ dàng cho các nhà khoa học hay người chủ trì nhiệm vụ nếu họ không tạo ra được sản phẩm như đã đăng ký và phải hoàn trả từ 40% đến100% kinh phí nhà nước cấp phát. Điều này buộc nhà khoa học trước đó phải có những nghiên cứu thăm dò, phải tạo ra được sản phẩm ở qui mô nào đấy. “Như vậy, nhà khoa học sẽ lấy kinh phí nghiên cứu thăm dò này ở đâu?” Theo quan điểm của TS. Đoàn Đình Phương, yêu cầu chặt chẽ này đòi hỏi bản thân cơ quan chủ trì phải tìm kiếm nguồn đầu tư và tạo ra được những quỹ nghiên cứu của riêng mình để ươm tạo những ý tưởng của các nhà khoa học, nuôi dưỡng chúng, trước khi chúng đơm hoa kết trái, trở thành các nhiệm vụ khoa học lớn hơn.   Tóm lại, nếu thực hiện tốt, Thông tư 27 có thể sẽ tác động mạnh đến việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN và phương thức tổ chức, quản lý của các tổ chức KH&CN theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Tuy nhiên vẫn còn quá sớm để khẳng định liệu chủ trương ấy có thực sự “cởi trói” các nhà khoa học hay không? Nhưng dù gì đi nữa, như GS.TSKH. Dương Ngọc Hải, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam khẳng định, cơ chế khoán chi “sẽ mang lại những tác động tích cực, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các nhiệm vụ khoa học một cách hiệu quả hơn”, và là một tiến bộ tất yếu để KH&CN Việt Nam hội nhập quốc tế.       Author                Quản trị        
__label__tiasang “Khoán trong khoa học, tôi chịu trách nhiệm…”      “Trong năm 2012, TP.HCM sẽ thực hiện cơ  chế khoán trong nghiên cứu khoa học. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về  việc này, mà không cần phải thông qua Bộ Tài chính”, ông Lê  Mạnh Hà, Phó chủ tịch UBND TP.HCM cam đoan như trên tại Hội nghị gặp  gỡ đầu năm giữa lãnh đạo Thành phố với các nhà khoa học mới đây.      Tại buổi gặp nói trên, các nhà khoa học đã thẳng thắn nêu lên những bức xúc trong hoạt động KH-CN hiện nay…  Cần một vị tổng chỉ huy  TS Dương Hoa Xô, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM, phản ảnh, dù các dự án đầu tư vào Trung tâm đã được phê duyệt, nhưng đến nay vẫn chưa có tiến triển gì. “Tôi xấu hổ khi được các nhà khoa học nước ngoài hỏi, Trung tâm CNSH TP.HCM xây dựng đến đâu rồi? Bao giờ xây xong? Tôi trả lời, chắc khi tôi về hưu thì mới xây xong!”  Ông Ngô Đức Hoàng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch (ICDREC), thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM cũng đề nghị, Thành phố tránh tư duy đầu tư dàn trải, Nhà nước cần tập trung đầu tư để có sản phẩm hoàn chỉnh, hạn chế đầu tư manh mún. Cũng theo ông Hoàng, còn một khoảng cách giữa giới khoa học và doanh nghiệp. Thực tế hiện nay sản phẩm của nhà khoa học thường rất thô, không có ý nghĩa thương mại. Trong khi đó doanh nghiệp cần sản phẩm hoàn chỉnh để có thể bán ra thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận.  Không ít nhà khoa học nêu ý kiến, chính quyền thành phố nên xem xét lại việc đưa người đi đào tạo ở nước ngoài. Chi phí cho việc này rất lớn, mà hiệu quả chưa cao. PGS.TS Dương Anh Đức, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM cho rằng: các trường đại học trong nước hoàn toàn có thể đảm nhận được việc đào tạo này. Chỉ cần bớt lại một phần kinh phí đưa đi đào tạo nước ngoài để trả lương cho học viên, nghiên cứu sinh để họ toàn tâm cho việc học thì kết quả sẽ rất khác. Cách đào tạo tiến sỹ hiện nay ở Việt Nam vẫn theo kiểu tại chức vừa làm vừa học nên dù có bảo vệ thành công, thì nhiều tân tiến sỹ vẫn chưa thực sự làm được việc.  GS.TS Bùi Thế Cường, Viện trưởng Viện phát triển bền vững vùng Nam bộ, nhận xét: nhiều cán bộ khoa học trẻ theo tiêu chí của ông chưa biết cách nghiên cứu khoa học. Từ khâu viết đề cương, quá trình làm và trình bày kết quả là có vấn đề. “Thành phố nên dành một phần khoản tiền cho nghiên cứu chuyển sang đào tạo người nghiên cứu trước. Để sau đó dù công trình có thể có ít hơn, nhưng chất lượng sẽ tốt hơn”, GS.TS Bùi Thế Cường nói.  Về quản lý khoa học, GS.TS Đào Văn Lượng, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, nhận xét: so với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc thì chúng ta còn nhiều vấn đề phải bàn, phải đổi mới. TP.HCM phải có chương trình KH-CN mới, trên cơ sở những thành công đã qua và rút kinh nghiệm những cái đã thất bại. Thực tế cho thấy, những chương trình lớn của thành phố thành công được nhờ có sự chỉ đạo của thành Ủy, UBND. TP.HCM cần có một chương trình tổng thể về KH-CN. Đặc biệt phải có một vị tổng chỉ huy. Người này phải ở vai trò lãnh đạo lớn nhất, nhì thành phố. Không nhất thiết phải nhà khoa học, có kiến thức chuyên sâu, nhưng vị tổng chỉ huy phải có kiến thức tổng thể các ngành khoa học, có tư duy quản  lý hiện đại, khoa học.    Chính sách mới ngay trong năm nay  Sở KH-CN TP.HCM đang trình với UBND thành phố ban hành quy chế quản lý nghiên cứu khoa học mới. Khi cơ chế mới này được thông qua, nhà khoa học không cần phải liệt kê chi tiết các khoản chi tiêu cho nghiên cứu một cách rườm rà như trước đây. Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KH-CN TP.HCM, thông báo tin vui cho giới khoa học ở TP trong buổi gặp đầu năm.  Ông Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch UBND TP.HCM, cũng cam đoan, trong năm 2012, TP.HCM sẽ thực hiện cơ chế khoán trong nghiên cứu khoa học. “Tôi sẽ chịu trách nhiệm về việc này, mà không cần phải thông qua Bộ Tài chính”, ông Lê Mạnh Hà, nói.  Theo ông Lê Mạnh Hà, trước nay, cơ quan tài chính vẫn duyệt cho việc mua một chiếc xe hơi là năm hay bảy trăm triệu đồng, chứ có bao giờ đòi phải kê khai chi tiết ra máy xe, lốp xe, ghế ngồi… mua ở đâu, do đơn vị nào sản xuất. Thành phố cũng sẽ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua các kết quả nghiên cứu, kể cả những bài báo quốc tế. Đây sẽ là một động lực để các nhà khoa học làm việc, sáng tạo nhiều hơn.  Hiện đầu tư cho nghiên cứu khoa học chủ yếu vẫn do nhà nước, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm. Khắc phục tình trạng này, ông Hà thông tin: trong năm 2012, thành phố cũng sẽ buộc các doanh nghiệp nhà nước phải thành lập quỹ nghiên cứu khoa  học.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi đầu bởi một bước chân      Có được một tạp chí khoa học dành cho đại chúng từ lâu đã trở thành niềm mơ ước của nhiều thế hệ làm khoa học. Nhưng vì sao ước mơ vẫn chỉ là ước mơ? Vì cái khó bó cái khôn, hay vì đường xa vạn dặm không khởi đầu bởi một bước chân?        Cái khó bó cái khôn?  Khi trao đổi về nguyên nhân của tình trạng này, một số nhà khoa học cho rằng, nút chặn là kinh phí và nhân lực. Vì còn mới mẻ và thiếu vắng lượng độc giả cần thiết lúc ban đầu, tạp chí này chưa thể tự nuôi sống mình, nên cần một hỗ trợ từ phía Nhà nước hoặc từ các Mạnh Thường Quân.  Về phía Nhà nước, tuy đã nhiều lần khẳng định trên nhiều văn bản quan trọng, rằng: Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Ngay trong lời giới thiệu của Luật khoa học và Công nghệ hiện hành, cũng trịnh trọng viết: Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nhiều nhà lý luận còn hứng khởi đi xa hơn nữa, cho rằng khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và tiên tiến nhất, nhất là trong nền kinh tế tri thức toàn cầu… Mà đã là quốc sách thì không lẽ Nhà nước, mà cụ thể là Bộ khoa học và Công nghệ, lại không thể đầu tư kinh phú để làm được một tờ báo khoa học cho đại chúng. (Theo ước tính sơ bộ, để làm một tạp chí khoa học cho đại chúng thì chi phí tối thiểu chỉ ở mức 60-100 nghìn USD/năm, tương ứng với khoảng một phần vạn ngân sách dành cho khoa học và công nghệ).  Ngoài ra, các Mạnh Thường Quân, tuy vắng bóng nhưng không hẳn là đã tuyệt chủng!  Trở ngại thứ hai là nhân lực để làm tạp chí khoa học này. Điều này là có thật, nhưng không phải là không thể vượt qua. Đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam trong và ngòai nước đã đủ lớn để có thể chủ động một phần chuyện bài vở. Ngoài ra, có thể liên kết hoặc dịch các bài phổ biến khoa học của các tạp chí khoa học nổi tiếng ra tiếng Việt. Khi nội lực chưa đủ mạnh thì việc dịch bài có chất lượng của thế giới là tất yếu. Điều này cũng phù hợp với bản chất không biên giới của khoa học.  Hơn nữa, có hai lý do để quả quyết việc dịch thuật khoa học là cần thiết:  i) Đó là cách nhanh nhất để đưa tinh hoa tri thức thế giới về Việt Nam; ii) Dịch thuật sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống thuật ngữ chuyên ngành, mà nếu thiếu nó, thì sẽ không thể tư duy sâu được.  Ngôi nhà khoa học, công nghệ  Các hoạt động khoa học, công nghệ không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu để tìm tòi tri thức phát triển công nghệ và dịch vụ mới dựa trên tri thức đã có; mà còn ở việc xây dựng nền tảng cho bản thân khoa học công nghệ, thông qua việc truyền bá tri thức và tinh thần khoa học đến với đại chúng. Trên thực tế, các hoạt động này cần được coi trọng như nhau, và phải được đầu tư xứng đáng.  Nếu coi khoa học – công nghệ như một ngôi nhà, thì ngôi nhà này có thể được hình dung như sau:                       Cấu trúc của ngôi nhà khoa học – công nghệ     Trên nền móng này, bốn trụ cột chính của ngôi nhà khoa học công nghệ sẽ được dựng lên. Đó chính là tập hợp các hoạt động chủ chốt của khoa học công nghệ, bao gồm:   – Tìm kiếm tri thức mới thông qua các hoạt động nghiên cứu  – Cải tiến công nghệ cũ  – Sáng tạo công nghệ mới  – Dịch vụ khoa học – công nghệ  Ở trên cùng, phần nóc ngôi nhà, là tầm nhìn của lãnh đạo khoa học – công nghệ, tức các nhà làm chính sách và các nhà khoa học – công nghệ đầu đàn. Rõ ràng, nếu nóc nhà bị “dột” hoặc thấp kém xập xệ thì ngôi nhà sẽ đổ nát, siêu vẹo.  Như vậy, việc phổ biến tri thức và tinh thần khoa học cho đại chúng nằm ở tầng sâu nhất  – tinh thần khoa học của đại chúng. Và  tầm quan trọng của nó như thế nào đối với việc xây dựng “ngôi nhà khoa học” là vấn đề hiển nhiên không cần tranh luận, vì có ngôi nhà nào vững vàng nếu nền móng của nó yếu? Và muốn nhà to đẹp vững chắc thì có việc nào thiết thực hơn việc gia cố nền móng trước khi dựng lên ngôi nhà ở phía trên?  Người xưa nói: Hành trình vạn dặm, khởi đầu bởi một bước chân. Nếu không bước đi bước đầu tiên thì sẽ không bao giờ đến đích. Khi đó, ước mơ, dù kéo dài hàng chục năm, thì cũng chỉ là ước mơ. Văn kiện, dù được trang điểm bằng các mỹ từ, thì cũng chỉ là những “xác chữ” nằm yên trên giấy.  Vậy chúng ta, trong đó quan trọng nhất là cơ quan trực tiêp chịu trách nhiệm về các hoạt động khoa học – công nghệ, tức Bộ khoa học và Công nghệ, và những nhà khoa học cả trong và ngòai nước,  không nên để cái khó bó cái khôn trong việc cho ra đời một tạp chí khoa học cho đại chúng, mà hãy khởi đầu bởi một bước chân!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi đầu những thay đổi lớn về cơ chế, chính sách KH&CN      Mới đây, Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đã có cuộc tọa đàm với một số nhà khoa học về  những giải pháp tổ chức thực hiện Luật KH&amp;CN sửa đổi và nâng cao  hiệu quả hoạt động KHCN. Tạp chí Tia Sáng xin trích đăng những ý kiến trong buổi tọa đàm đó.       Bộ trưởng Nguyễn Quân  NĂM THAY ĐỔI LỚN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KH&CN   Trong năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật KH&CN sửa đổi với 5 thay đổi lớn về cơ chế, chính sách KH&CN. Đó là:   Tăng thẩm quyền của Bộ KH&CN trong việc đề xuất kế hoạch phân bổ phần ngân sách Nhà nước (NSNN) dành cho KH&CN đã được Quốc hội thông qua. Trước đây, việc này do Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bộ Tài chính làm, Bộ KH&CN hầu như là người ngoài cuộc, và hậu quả là không ai thực sự chịu trách nhiệm về hiệu quả các khoản đầu tư NSNN cho KH&CN. Nay Nghị quyết của Đảng và Luật KH&CN sửa đổi đều quy định là Bộ KH&CN đề xuất phương án phân bổ NSNN dành cho KH&CN, trong đó sẽ xác định: phần kinh phí đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp KH&CN cho các Bộ, ngành, địa phương; tỷ trọng giữa đầu tư phát triển và sự nghiệp KH&CN (trong chi cho sự nghiệp KH&CN có tỷ trọng giữa chi thường xuyên và R&D); và tỷ trọng giữa đầu tư cho Trung ương và địa phương – Theo quan điểm của Bộ KH&CN thì kinh phí đầu tư cho KH&CN nên được ưu tiên cho địa chỉ nào sử dụng kinh phí đúng mục đích và có hiệu quả, còn những nơi sử dụng sai mục đích hoặc kém hiệu quả sẽ phải bị cắt giảm.          Tham gia tọa đàm với Bộ trưởng Nguyễn Quân có: TS. Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế;  GS.TS. Trần Đức Viên – Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Hà Nội; PGS.TS Lê  Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp; GS.TS. Nguyễn Quang  Liêm – Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt  Nam; PGS.TS. Phạm Thành Huy – Viện trưởng Viện Tiên tiến KH&CN, Đại  học Bách khoa Hà Nội; GS. TS Phùng Hồ Hải, Viện phó Viện Toán học.        Huy động vốn đầu tư của xã hội cho KH&CN qua việc yêu cầu các doanh nghiệp Nhà nước phải dành một tỷ lệ lợi nhuận trước thuế nhất định đầu tư vào các quỹ phát triển KH&CN của bản thân doanh nghiệp hoặc đóng góp cho các quỹ của Trung ương và địa phương. Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào cuộc sống thì Bộ Tài chính cần sớm cập nhật điều chỉnh các quy định hiện hành – ví dụ với mức lợi nhuận trước thuế năm vừa qua của Viettel là hơn 1tỷ USD thì tập đoàn này có thể đầu tư tới hàng trăm triệu USD (10%) vào các quỹ phát triển KH&CN, nhưng trong thực tế Viettel chỉ tiêu được 400 tỷ do vướng các quy định hiện hành của Thông tư 15/2011/TT-BTC.  Cho phép dùng NSNN đầu tư cho các tổ chức, cá nhân khu vực ngoài Nhà nước làm KH&CN nếu việc đầu tư đó là hiệu quả, có giá trị tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế, xã hội. (Đây là một chủ trương mà Bộ KH&CN kiên trì vận động từ lâu nay nhưng không nhận được sự đồng tình của các Bộ, ngành liên quan).   Thay đổi cơ chế tài chính, trong đó với những quy định có tính đột phá như áp dụng rộng rãi cơ chế quỹ KH&CN trong tài trợ kinh phí nghiên cứu, theo đó mọi hoạt động nghiên cứu dùng NSNN từ cấp Trung ương tới địa phương đều phải thông qua quỹ KH&CN (chỉ dành ngoại lệ cho những nơi chưa có quỹ). Bên cạnh đó là cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng sẽ được quy định cụ thể, cho phép các nhà khoa học khi quyết toán sẽ không còn phải “bịa” hóa đơn chứng từ, ký nhiều giấy họp, mua hóa đơn đỏ, khai khống thời gian đi công tác, v.v. Đồng thời có nhiều nội dung chi được bổ sung như kinh phí thuê chuyên gia, cơ chế hỗ trợ công bố kết quả nghiên cứu, đăng ký bảo hộ SHTT, kinh phí dự phòng, v.v. Trong đó bao gồm cả việc đưa kinh phí chi thường xuyên của các tổ chức nghiên cứu vào dự toán kinh phí của đề tài, dự án, một yếu tố quan trọng để giúp các cơ quan nghiên cứu Nhà nước chuyển sang tự chủ tự chịu trách nhiệm – các tổ chức nghiên cứu càng thực hiện nhiều đề tài thì càng có kinh phí để duy trì và phát triển bộ máy của mình.  Vấn đề cuối cùng là Nhà nước sẽ có cơ chế, chính sách trọng dụng ưu đãi đặc biệt cho các nhà khoa học đầu ngành, các tổng công trình sư thực hiện những nhiệm vụ KH&CN quan trọng của quốc gia, và các nhà khoa học trẻ tài năng. Ngoài ra Bộ KH&CN còn mong muốn có cơ chế giao  khoán kinh phí cho các nhà khoa học đầu ngành để họ được tự chủ trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo, xây dựng đội ngũ (Luật KH&CN sửa đổi cho phép dành một phần kinh phí sự nghiệp khoa học cho đào tạo, hiện nay kinh phí đào tạo vẫn thuộc phạm vi quản lý của Bộ GD&ĐT).   Những thay đổi lớn về cơ chế, chính sách KH&CN quy định trong Luật KH&CN sửa đổi đều phù hợp với thông lệ quốc tế và có những quy định chúng ta đã từng thực hiện, như sự ra đời và hoạt động của Quỹ Nafosted với định mức chi và cơ chế thanh quyết toán thông thoáng hơn, đồng thời với ràng buộc đầu ra là công bố quốc tế trên các tạp chí ISI đã tạo sự chuyển biến lớn về hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu cơ bản qua số lượng công bố trên các tạp chí ISI của Việt Nam tăng nhanh gấp 2 lần. Nhưng để những thay đổi lớn về cơ chế, chính sách đó đi vào cuộc sống còn nhiều vướng mắc về quan điểm giữa Bộ KH&CN với một số Bộ, ngành liên quan trong xây dựng các Nghị định và nhất là xây dựng các Thông tư hướng dẫn. Chẳng hạn như trong việc xây dựng các nghị định về đầu tư tài chính cho KH&CN và Nghị định về chính sách đãi ngộ, trọng dụng các nhà khoa học, do vậy Bộ KH&CN phải báo cáo để Thủ tướng quyết định (và Thủ tướng đã có văn bản kết luận về cơ bản nhất trí với các đề xuất của Bộ KH&CN).   TS. Lê Đăng Doanh:   THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHO KH&CN CỦA DOANH NGHIỆP  Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện nay được xếp thứ 70, trong khi năng lực giáo dục được xếp thứ 96, năng lực thể chế được xếp thứ 98, còn năng lực sáng tạo KH&CN chỉ được xếp thứ 102. Điều này cho thấy đóng góp của KH&CN đối với nền kinh tế và xã hội của chúng ta còn rất hạn chế.   Năm 2007 khi gia nhập WTO, với nguồn vốn nước ngoài dồi dào – ngoài FDI riêng nguồn tiền của các nhà đầu tư quốc tế vào thị trường chứng khoán lên tới 12 tỷ USD – lẽ ra chúng ta phải tận dụng khai thác một cách hiệu quả bằng việc cải tổ thể chế và đầu tư mạnh mẽ cho KH&CN. Nhưng trong thực tế việc cải cách thể chế bị buông lơi (thể hiện rõ nhất ở việc không có Luật đầu tư công), khiến người ta đua nhau chạy theo những lợi ích nhóm và lợi ích ngắn hạn, làm giàu nhờ bất động sản và khai thác các tài nguyên thô. Vì vậy, đa số các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn không có ý thức đầu tư cho KH&CN – ngoại trừ Tập đoàn Dầu khí với đặc thù hoạt động khai thác, sản xuất bắt buộc đòi hỏi phải có những nghiên cứu khảo sát, thăm dò.  Để thay đổi thực tế trên, Nhà nước cần sớm có giải pháp khuyến khích, thúc đẩy nguồn vốn của doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN, trước hết cần có chính sách buộc các doanh nghiệp Nhà nước trích lợi nhuận đầu tư vào các quỹ KH&CN; đồng thời các quỹ này phải có trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động với Bộ KH&CN. Bên cạnh đó phải xây dựng cơ chế tín dụng KH&CN cho phép các doanh nghiệp vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh nguồn tín dụng của chúng ta đang dư thừa tại các ngân hàng.    CHẤN CHỈNH NHỮNG YẾU KÉM TRONG HOẠT ĐỘNG KHCN  Trong mọi hoạt động, giới KH&CN cũng cần có sự nghiêm túc chấn chỉnh, loại trừ những gian dối, tiêu cực để có được niềm tin từ xã hội. Tôi biết ở Việt Nam có những ông viện trưởng không viết một chữ nào trong đề tài được đứng tên, thậm chí còn chưa hề đọc nội dung. Trong khi đó, nếu so sánh với giới KH&CN quốc tế, chỉ cần nhìn sang Trung Quốc sẽ thấy nhà khoa học của họ phải làm việc cật lực để xứng đáng với những đồng kinh phí được cấp cho các đề tài nghiên cứu.  Chúng ta phải sớm học tập kinh nghiệm và thực hiện theo thông lệ quốc tế về kiểm tra, giám sát chéo giữa các tổ chức nghiên cứu. Ví dụ ở một số nước, cứ 3 năm một lần giữa các viện thuộc khối trường đại học với các viện từ Viện Hàn lâm KH&CN có sự kiểm tra lẫn nhau, trong đó mỗi tổ điều tra gồm 5 người, đi kiểm tra chi tiết đến từng đề tài khoa học của một đơn vị, xem xét nội dung đóng góp nghiên cứu của từng thành viên thực hiện đề tài. Nếu ai bị phát hiện có sai phạm, gian dối thì sẽ lập tức bị trừ lương, thậm chí cách chức.  PGS.TS. Trần Đức Viên, Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp HN  ĐỘNG LỰC VÀ NGUỒN LỰC CỦA HOẠT ĐỘNG KHCN  Để cải thiện hiệu quả công việc của các nhà khoa học chúng ta cần tập trung vào hai yếu tố cốt lõi là động lực và nguồn lực. Cụ thể là các nhà khoa học cần được tin tưởng trọng dụng và có môi trường học thuật tự do, độc lập, chuyên nghiệp, các ý kiến của họ cần được các nhà quản lý tôn trọng lắng nghe, kể cả những ý kiến trái ngược. Đặc biệt, cần tôn vinh những người có đóng góp lớn cho khoa học và xã hội vì điều đó với họ nhiều khi còn quan trọng hơn cả tiền bạc. Với các nhà khoa học hàng đầu phải được giao nguồn kinh phí đầy đủ cần thiết để họ có thể tập hợp quanh mình một đội ngũ nghiên cứu mạnh, đồng thời đào tạo và gây dựng phát triển đội ngũ kế cận là thế hệ các nhà nghiên cứu trẻ, do đa số các nhà nghiên cứu trẻ hiện nay còn thiếu kinh nghiệm, chưa thể tự mình đăng ký tài trợ cho các đề tài khoa học.  Hiện nay cách quản lý kinh phí cho các đề tài KH&CN quá nặng nề, luôn nhìn nhà khoa học bằng con mắt ngờ vực, và hầu như chỉ chú trọng quản lý đầu vào, buông lỏng đầu ra; đồng thời việc đầu tư quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị KH&CN còn nhiều thiếu sót, (ví dụ như  các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia) khiến Nhà nước đổ không ít tiền của mà số lượng các công bố và kết quả khoa học thu được rất hạn chế. Để thay đổi thực trạng này, chúng ta phải kiểm tra, đánh giá lại hiệu quả khai thác toàn bộ trang, thiết bị của các phòng thí nghiệm trong cả nước, yêu cầu các tổ chức nghiên cứu phải đẩy mạnh việc hợp tác chia sẻ nguồn lực và tránh lãng phí, và đối với các phòng thí nghiệm xây dựng mới nhất thiết phải kèm theo ràng buộc về sản phẩm đầu ra.  ĐẦU TƯ CÓ TRỌNG ĐIỂM   Nguồn lực cho KH&CN phải được đầu tư có trọng điểm thay vì đầu tư dàn trải cho hàng nghìn viện trường. Theo kinh nghiệm của Úc, quỹ ARC (Australian Research Council) tập trung tới 66% nguồn kinh phí KH&CN tài trợ cho cho 5 trường đại học hàng đầu quốc gia – nhờ thế năm trường này lọt vào top 50 trường ĐH hàng đầu thế giới. Tương tự như vậy, ở Việt Nam chúng ta chỉ nên tập trung tài trợ kinh phí KH&CN cho các trường tốt nhất và mỗi trường chỉ nên tập trung 2-3 ngành mũi nhọn.   Đối với các đề tài nghiên cứu ứng dụng cũng cần sớm hướng tới các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các đề tài triển khai sản phẩm nghiên cứu ra thị trường, chúng ta cần thúc đẩy việc huy động nguồn kinh phí các doanh nghiệp. Qua tham khảo kinh nghiệm của Bỉ, chúng tôi thấy rằng ngay ở các trường đại học công nghệ họ cũng dành đến 60% kinh phí cho các nghiên cứu cơ bản, chỉ 40% cho phát triển công nghệ, còn tiền phát triển sản phẩm đưa ra thị trường hầu hết là tiền của các công ty. Để làm được như Bỉ thì Nhà nước nhất thiết phải có quy định tỷ lệ nội địa hóa công nghệ sản xuất của doanh nghiệp để bắt buộc họ phải tìm cách ứng dụng những công nghệ mới của nội địa.  PGS.TS. Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp  NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ HẠN CHẾ VÀ PHÂN TÁN  Nhận thức về sự cần thiết phải đầu tư cho KH&CN của chúng ta còn mang tính hình thức, thể hiện ở mức đầu tư quá khiêm tốn. Chẳng hạn con số 100 triệu USD cho nguồn kinh phí tài trợ các hoạt động KH&CN mà Bộ KH&CN được giao để phân bổ cho các tổ chức nghiên cứu trong nước là quá thấp, thậm chí đáng báo động. Với nguồn kinh phí thế này không một ai có thể đảm bảo có một nền khoa học công nghệ như đất nước kỳ vọng được.      Hệ thống nghiên cứu tổ chức chưa tốt dẫn đến nguồn lực rất hạn chế này lại bị phân tán nặng nề. Chúng ta có quá nhiều trường, viện, trung tâm KH&CN khiến nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước không tránh khỏi bị dàn trải manh mún. Theo các chuyên gia quốc tế (Nhật Bản) đánh giá, với một đất nước có GDP quy mô dưới 200 tỷ USD như ở Việt Nam thì con số 600 viện nghiên cứu là quá nhiều và là sự lãng phí lớn. Nhóm chuyên gia Cộng hòa Liên bang Đức còn thống kê cả nước hiện có khoảng 1670 tổ chức khoa học công nghệ ở cả Trung ương và địa Phương. Đó là con số rất lớn, góp phần làm dàn trải nguồn lực tài chính vốn đã rất hạn hẹp của chúng ta.   Cách cấp phát kinh phí cũng mong muốn được tốt lên. Ví dụ nguồn kinh phí cho KH&CN được cấp qua Bộ NN&PTNT cho các viện nghiên cứu cũng rất khiêm tốn. Trước đây tính ra trên đầu biên chế chúng tôi chỉ nhận được trên 37 triệu đồng/năm, không đủ để trả lương tháng nhà nghiên cứu ở mức 4 triệu đồng, và hoàn toàn không được giao kinh phí hoạt động bộ máy.  Với việc cấp kinh phí như vậy thì việc xây dựng chiến lược phát triển nghiên cứu của các viện, các nhóm nghiên cứu  trở thành vô nghĩa vì không thể có tiền để thực hiện chiến lược, và khó có thể đăng ký tài trợ Nhà nước cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu do không có tiền để tự tài trợ những nghiên cứu mang tính thăm dò làm cơ sở cho thuyết minh ban đầu của đề tài. Bên cạnh đó, sức sáng tạo của các viện nghiên cứu bị giảm thiểu do mọi hoạt động bị ràng buộc trong kế hoạch cấp phát kinh phí, trong đó từng đề tài bị kiểm soát chi li cho từng dòng, hạng mục kinh phí.   Việc đào tạo những người trẻ tuổi gặp nhiều khó khăn vì phụ thuộc đáng kể vào nguồn kinh phí từ các đề tài nghiên cứu vốn rất hạn chế. Chẳng hạn để đào tạo một chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ cao, chúng tôi cần ít nhất 2 năm để đào tạo. Nhưng thường mỗi đề tài chỉ kéo dài trong vòng 3 năm, nếu không có đề tài kế tiếp thì những người vừa được đào tạo và trưởng thành sau 3 năm đó sẽ buộc phải ra đi do viện không có tiền để giữ chân họ.     CƠ CHẾ ĐẶC THÙ CHO CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG CÂY TRỒNG   Các nước xuất khẩu gạo khác trên thế giới chúng ta thấy rằng họ có cơ chế đặc thù trong xây dựng và quảng bá thương hiệu giống cây trồng, với cách đầu tư bài bản, có tính tập trung cao. Ví dụ như Ấn Độ chỉ tập trung vào việc liên tục cải thiện giống Basmati, không cần tạo giống mới, nhờ đó tạo thành một thương hiệu ổn định, dễ duy trì mà không tốn tiền xây dựng các thương hiệu mới. Cách đầu tư như vậy có tính dài hạn mà không tốn kém. Thái Lan dành 10 năm để đầu tư xây dựng và quảng bá cho giống lúa Jasmin của họ, với tổng chi phí khoảng 5 triệu USD. Nhờ có chiến lược đó mà gạo của hai nước này luôn có giá xuất khẩu cao hơn gạo Việt Nam. Hay một ví dụ khác, người Mỹ đã tổng kết: để tạo ra và đưa vào sản xuất thương mại một giống cây trồng biến đổi gene phải mất hơn 10 năm, với chi  phí 50-100 triệu USD. Để là chủ sở hữu của giống cây trong biến đổi gene, chúng ta cũng cần phải có chiến lược dài hạn về thời gian và kinh phí như vậy.        GS.TS. Phùng Hồ Hải, Phó Viện trưởng Viện Toán học VN  CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CÁC NHÀ KHOA HỌC TRẺ  Hiện nay, do chúng ta thiếu một cơ chế hỗ trợ các cán bộ trẻ, tạo điều kiện để họ chín muồi trước khi trở thành nhà khoa học – trong ngành toán, những người sau khi có bằng tiến sĩ vẫn cần thêm khoảng 6 năm để tự hoàn thiện – nên nhiều người giỏi không muốn hoặc không thể tiếp tục theo đuổi nghiên cứu khoa học, hậu quả là năng lực, trình độ của thế hệ trẻ ngày nay đang thua kém các thế hệ cũ. Để thay đổi thực trạng này, chúng ta cần có chính sách hỗ trợ cho những người trẻ tuổi trên diện rộng, không chỉ giới hạn ở những người xuất sắc. Trước hết phải có các quỹ học bổng cho người làm nghiên cứu sinh và hậu tiến sĩ (giới hạn thời gian 3 năm đối với hậu tiến sĩ). Tiêu chí về trọng dụng nhà khoa học trẻ tuổi không thể quá khắt khe, ví dụ với các tiêu chí mà Bộ KH&CN đang xây dựng (như có công trình công bố quốc tế xuất sắc khi dưới 35 tuổi) thì ngành toán hầu như không có người đáp ứng.  Bên cạnh đó, như TS. Lê Đăng Doanh đã đề cập, chúng ta cũng cần lập những hội đồng 5 người đánh giá chéo các đơn vị nghiên cứu, rà soát lại xem các đề tài mà họ đã và đang thực hiện có giá trị thực chất hay không. Chúng ta biết rằng ở Mỹ một trường đại học danh tiếng cũng chuyên gia bên ngoài vào đánh giá từng khoa. Nếu không làm vậy thì những gian dối, tiêu cực trong KH&CN tiếp tục tồn tại, ảnh hưởng xấu tới uy tín của giới khoa học Việt Nam.   GS.TS. Nguyễn Quang Liêm, Viện trưởng Viện KH Vật liệu:  Để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN có 3 vấn đề chúng ta phải làm, đó là: Thay đổi nhận thức trong tất cả mọi lĩnh vực phát triển; Cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng với sự đóng góp của mọi nhà khoa học thay vì chỉ tập trung cho một số ít người xuất sắc, vì đa số các nhiệm vụ KH&CN quan trọng cần sự chung sức tham gia của rất nhiều người. Hiện nay đội ngũ cán bộ KH&CN của chúng ta không nhiều, chỉ có khoảng 60 nghìn người, trong khi với một đất nước 100 triệu dân như Việt Nam, nếu cứ 1000 dân cần có 1 nhà khoa học thì chúng ta sẽ phải cần đến 100 nghìn người. Theo tính toán sơ bộ, nếu chúng ta tăng mức chi thường xuyên cho một cán bộ khoa học 50 triệu đồng/1 năm (tức 3000 tỷ cho 60 nghìn người), thì sẽ tạo thêm nhiều động lực sáng tạo cho các nhà khoa học, đồng thời chỉ trong khoảng 5 năm sẽ thu hút đông đảo một thế hệ mới những người trẻ tuổi theo học và tốt nghiệp các ngành KH&CN sẵn sàng cống hiến cho đất nước; Hoạt động truyền thông cho KH&CN phải được cải thiện, vừa khích lệ các tấm gương dấn thân trong lao động sáng tạo của nhà khoa học, vừa truyền bá vẻ đẹp của khoa học, giúp nâng cao vị thế của nhà khoa học trong nhận thức của xã hội.  PGS.TS. Phạm Thành Huy, Viện trưởng, Viện tiên tiến KH&CN, ĐH Bách khoa HN    Để thực sự tăng cường sự hợp tác giữa khối doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu, chúng ta cần có những chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho KH&CN, đặc biệt là phải có cơ chế giám sát việc sử dụng những khoản đầu tư này. Bên cạnh đó, nên yêu cầu các đề tài ứng dụng công nghệ phải có phần đóng góp của doanh nghiệp, ban đầu có thể là Nhà nước bỏ ra 2 đồng thì doanh nghiệp phải đối ứng vào 1 đồng, và đến các giai đoạn tiếp theo tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp sẽ phải yêu cầu tăng dần lên.  Tuy nhiên, doanh nghiệp và xã hội sẽ chỉ thực sự có lòng tin khi các tổ chức nghiên cứu tạo ra những sản phẩm cụ thể có giá trị thương mại hóa rõ rệt. Muốn vậy chúng ta cần những đề tài nghiên cứu sâu hơn, dài hạn hơn (có thể 5-7 năm), và nên ưu tiên đầu tư cho những dự án tiềm năng nhất; đồng thời với việc định kỳ kiểm tra để đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ. Trong nghiên cứu cơ bản, Quỹ Nafosted cũng cần quan tâm đầu tư tài trợ nhiều hơn cho những dự án dài hạn như vậy vì đó là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng các nghiên cứu cơ bản nhất là nghiên cứu có tính ứng dụng cao; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải hiện nay; đồng thời tạo ra công việc ổn định giữ chân các nhà khoa học giỏi.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Khởi động cuộc tìm kiếm các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng      Trước khi vấn đề tìm kiếm và phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng được chính thức nêu ra trong Chiến lược phát triển KH&amp;CN giai đoạn 2011-2020 và Nghị quyết số 20 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển KH&amp;CN, Bộ KH&amp;CN đã khởi động nhiệm vụ tìm kiếm này thông qua việc triển khai Đề án thí điểm xây dựng nhiệm vụ KH&amp;CN tiềm năng (từ dưới đây gọi tắt là Đề án).     Ông Đỗ Xuân Cương, Giám đốc Văn phòng các  Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, đơn vị chủ trì thực hiện, trả lời  phỏng vấn của Tia Sáng chung quanh các kết quả mà Đề án đạt được sau đợt  đánh giá tổng kết mới đây.  Xin ông cho biết Đề án được hình thành trong bối cảnh nào?  Đầu năm 2011, Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015, trong đó có nhiệm vụ phát hiện, tìm kiếm các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng từ các trường đại học, viện nghiên cứu để hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, thương mại hóa và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.  Sở dĩ vấn đề này được nêu ra là do trên thực tế, phần đông nhà khoa học trẻ vì nhiều lý do khác nhau chưa được tiếp cận các nhiệm vụ KH&CN của các chương trình trọng điểm và các chương trình quốc gia khác của Bộ. Một thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2006-2010 chỉ có tám cán bộ giảng dạy dưới 45 tuổi thuộc các trường đại học tham gia chủ trì các đề tài, dự án thuộc các chương trình trọng điểm, trong khi theo báo cáo của các trường, số lượng các cán bộ giảng dạy dưới 45 tuổi không ngừng tăng lên, rất nhiều người trong số đó được đào tạo bài bản và từng tham gia nghiên cứu tại các nước tiên tiến.            Hơn 600 cán bộ khoa học dưới 45 tuổi, trong đó 70% dưới 40 tuổi, đã tham gia 93 đề tài trong Đề án thí điểm xây dựng nhiệm vụ KH&CN tiềm năng, triển khai từ tháng 12/2011 đến tháng 12/2012. Bình quân mỗi đề tài được cấp 770 triệu đồng, trong đó quá nửa (trừ các đề tài trong lĩnh vực công nghệ thông tin) dành cho việc mua nguyên vật liệu phục vụ nghiên cứu.           Trong bối cảnh đó, Bộ trưởng Bộ KH&CN lúc bấy giờ là ông Hoàng Văn Phong quyết định phải hình thành một đề án thí điểm dành cho các nhà nghiên cứu trẻ, như một bước hiện thực hóa nhiệm vụ đã được đề ra trong Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015. Kết quả là Đề án ra đời, và được lồng ghép vào nội dung của các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước [các KC] giai đoạn 2011-2015.  Đề án có thu hút nhiều trường đại học và viện nghiên cứu tham gia không, thưa ông?  Có thể nói, số lượng các đơn vị quan tâm đến đề án vượt xa so với dự kiến ban đầu của Bộ KH&CN. Đề án dự kiến triển khai trong khoảng 20 trường đại học và viện nghiên cứu, nhưng kết quả chúng tôi nhận được đề xuất của 36 đơn vị trên khắp cả nước, mặc dù thời gian triển khai chỉ diễn ra trong vòng một tháng.  Tuy nhiên, số đề tài được ký hợp đồng thực hiện sau hai vòng tuyển chọn của Hội đồng tư vấn chủ yếu vẫn chỉ tập trung vào các viện, trường ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ông có thể giải thích tại sao?  Đó là một thực tế. Ở vòng một, tất cả thông tin đầu vào của đơn vị và người đề xuất đều được xóa hết để việc lựa chọn hoàn toàn khách quan. Thế nên, có những đơn vị, như trường Đại học Thái Nguyên, gửi đến gần 30 đề xuất mà vẫn “trắng tay”.   Không chỉ chấm trên hồ sơ, ở vòng hai, chúng tôi mời các cán bộ trẻ thuyết minh bảo vệ đề cương nhiệm vụ của mình để kiểm chứng năng lực thực tế của họ bởi không loại trừ khả năng đề cương được thuê viết. Có người bay cả quãng đường xa đến để thuyết trình, chúng tôi rất ái ngại, nhưng vẫn quyết định không thể vớt vát. Từ hơn 450 đề xuất của các đơn vị, cuối cùng chúng tôi chọn được 93 đề tài tiềm năng để ký hợp đồng, hầu hết đều rơi vào các đơn vị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trừ một vài đề tài lẻ thuộc về các đơn vị ở Nha Trang và Đà Nẵng.   Một lý do khác giải thích cho việc hầu hết các đề tài được chọn tập trung ở hai thành phố lớn nhất nước là do Đề án không có kinh phí cho việc mua trang thiết bị nên các viện, trường có đề xuất gửi đến chúng tôi đồng thời phải chứng minh họ có đủ trang thiết bị cần thiết để tiến hành nghiên cứu.  Các tiêu chí nào được lựa chọn để xác định đó là đề tài tiềm năng, thưa ông?  Thứ nhất, đó là các đề tài có thể tạo ra được những công nghệ hoặc sản phẩm mới trong phòng thí nghiệm hoặc khẳng định được các hướng công nghệ sản phẩm tạo ra. Thứ hai, kết quả thực hiện đề tài phải tạo tiền đề cho việc hình thành nhiệm vụ KH&CN tiếp theo thuộc các chương trình trọng điểm và các chương trình quốc gia khác. Thứ ba, kết quả thực hiện có thể chuyển giao cho sản xuất hoặc cho phép hình thành doanh nghiệp KH&CN.   Vậy kết quả thực tế nghiệm thu các đề tài như thế nào so với những tiêu chí đầy tham vọng mà Đề án nêu ra?          Trong quá trình triển khai Đề án, bên cạnh nhiều nhóm nghiên cứu tiềm năng của ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã xuất hiện một số nhóm nghiên cứu mới được hình thành ở các trường ĐH Giao thông vận tải, ĐH Thủy lợi, ĐH Khoa học tự nhiên.        Mặc dù được triển khai với tinh thần khẩn trương – toàn bộ việc thực hiện các đề tài từ khâu hoàn thiện hồ sơ đến thời điểm đánh giá nghiệm thu chỉ trong vòng một năm, nhưng 100% các đề tài đã hoàn thành nội dung đăng ký. Nhiều kết quả nghiên cứu được tạo ra đều có tính mới, thể hiện ở số lượng 13 bài báo đã được đăng hoặc được chấp nhận đăng trên các tạp chí khoa học ISI, trong đó có công bố hai hợp chất có hoạt tính sinh học từ lá cây Xa kê và vỏ cây măng cụt mới phân lập được (ĐH Bách khoa Hà Nội) và công bố trình tự gene của tám chủng virus PCV2 gây bệnh ở lợn được đăng ký ở ngân hàng gene thế giới (ĐH Nông nghiệp Hà Nội); và 42 báo cáo khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế khác hoặc các hội nghị quốc tế.   Có thể nói, yêu cầu đối với các đề tài tương đối cao, ngoài yêu cầu về công bố khoa học để bảo đảm tính mới, các sản phẩm của đề tài còn phải là công nghệ, mẫu máy cụ thể. Từ đề án này xuất hiện một số công nghệ thực sự tiềm năng, đã thành công ở quy mô phòng thí nghiệm và có thể xây dựng thành các đề tài nghiên cứu trọng điểm, dự án sản xuất thử nghiệm như công nghệ chế tạo mực in nano bạc để ứng dụng trong quá trình in các mạch điện tử của ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh; công nghệ phủ gia cường bề mặt ống thủy tinh bằng dung dịch nano ôxit kim loại để sản xuất ống thủy tinh thành mỏng phục vụ cho sản phẩm đèn huỳnh quang, và quy trình công nghệ thiết kế chế tạo động cơ điện dùng ổ từ tốc độ cao ứng dụng trong công nghiệp- cả hai công nghệ tiềm năng này đều của ĐH Bách khoa Hà Nội; hay công nghệ chế tạo màng sinh học (biofilm) từ vi sinh vật ứng dụng trong xử lý nước ô nhiễm dầu của Viện Công nghệ sinh học – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam,…    Đó là chưa kể một số kết quả đã được ứng dụng ngay trong thực tế như giải pháp phân tích xu hướng cộng đồng dựa trên mạng xã hội của ĐH Công nghệ  – ĐH Quốc gia Hà Nội; phần mềm hệ thống chia sẻ hình ảnh cho cộng đồng của Công ty Naiscorp; giải pháp hỗ trợ trực tuyến cảnh báo lũ cho lưu vực sông Vu Gia, Quảng Nam của ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh…   Tuy nhiên, Hội đồng tư vấn cũng đánh giá, khoảng gần 30% số đề tài không có khả năng phát triển tiếp do thiếu tính thực tiễn và tính khả thi. Song có thể nói tỷ lệ này như vậy là không cao nếu xét về độ rủi ro trong nghiên cứu ở giai đoạn tiềm năng.  Theo đánh giá tổng kết Đề án, trong số năm đề tài đã có kết quả được ứng dụng thì chỉ có một đề tài nằm trong số 18 đề tài được các hội đồng đánh giá xuất sắc, điều này có gì mâu thuẫn không, thưa ông?  18 đề tài được đánh giá xuất sắc đều có ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn cao và hầu hết nằm trong các lĩnh vực vật liệu cao, tự động hóa, hoặc y tế, sinh học là những lĩnh vực đòi hỏi phải có thời gian và tiền bạc đầu tư để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Còn cả năm đề tài có kết quả được ứng dụng ngay đều thuộc về lĩnh vực công nghệ thông tin.    Là người đứng đầu đơn vị chủ trì thực hiện Đề án, hẳn ông được nghe rất nhiều phản hồi từ những nhà khoa học được tham gia Đề án. Ông có thể chia sẻ những ý kiến chính của họ?  Theo cảm nhận của tôi, phần lớn các cán bộ trẻ đều cảm thấy phấn khởi, tích cực khi được tham gia Đề án, mặc dù tiền công nghiên cứu thấp, chỉ 4-5 triệu/người/tháng. Các nhóm nghiên cứu cũng đều bày tỏ nguyện vọng Đề án sẽ tiếp tục được thực hiện với mục tiêu dài hơi hơn, có thể là 5-10 năm, nhằm hỗ trợ các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng để từ đó hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, có khả năng phát triển các công nghệ chủ chốt.  Vậy trong tương lai, sau lần thí điểm này, đề án có khả năng tiếp tục được thực hiện hay không?  Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng phê duyệt hồi tháng Tư năm ngoái trong phần giải pháp nêu rõ, xây dựng cơ chế giao nhiệm vụ KH&CN tiềm năng cho cán bộ khoa học trẻ trong các trường đại học và các viện nghiên cứu trọng điểm. Nghị quyết số 20 về phát triển KH&CN được Hội nghị Trung ương 6 khóa XI thông qua bảy tháng sau đó cũng đề cập “phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng từ các trường đại học, viện nghiên cứu để làm hạt nhân hình thành các doanh nghiệp KH&CN”. Như vậy chúng ta đã có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện một chương trình tìm kiếm và phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ tiềm năng ở quy mô lớn hơn mà Đề án vừa qua là bước khởi động ban đầu.    Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.        18 đề tài được Hội đồng tư vấn dánh giá xếp loại xuất sắc   * ĐH Bách khoa Hà Nội:              – Nghiên cứu chế tạo thiết bị pha dịch lọc tự động dùng trong điều trị thận nhân tạo (Bộ môn Công nghệ điện tử và Kỹ thuật y sinh)              – Nghiên cứu quy trình chiết tách phân đoạn có hoạt tính sinh học từ cây Xa kê (Artocarpus altilis, Moraceae) và cây Măng cụt (Garcinia mangostana Linn, Clussiaceae) (Viện Kỹ thuật hóa học)              – Nghiên cứu nâng cao tính kinh tế nhiên liệu và giảm phát thải độc hại cho động cơ xăng bằng cách cung cấp hỗn hợp khí giàu hydro cho động cơ (Viện Cơ khí động lực)              – Nghiên cứu chế tạo một số vi cơ câu (mô tơ, bánh răng siêu nhỏ) sử dụng trong các hệ thống micro robot phục vụ trong lĩnh vực y sinh dựa trên công nghệ vi cơ điên tử (Viện Cơ khí)              – Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tích hợp theo công nghệ hướng đối tượng (MDA&RealTime UML) và thiết bị dẫn đường (INS/GPS) cho các phương tiện tự hành dưới nước (Viện Cơ khí động lực)              – Nghiên cứu thiết kế và chế tạo ổ đỡ sử dụng đệm từ trường (Viện Điện)   * ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh              – Thiết kế chip nhận dạng tiếng nói tiếng Việt trên nền công nghệ FPGA (ĐH Bách khoa)              – Chế tạo mực in nano bạc và ứng dụng trong công nghệ in các mạch điện tử  (Phòng thí nghiệm nano)              – Nghiên cứu chế tạo thiết bị quán tính ba trục (ĐH Bách khoa)              – Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phụt vữa cao áp và phát triển thiết bị thi công Jetgrouting ĐH Bách khoa)   * Viện Hàn lân KH&CN Việt Nam               – Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit trên cơ sở nhựa polyolefin (polyetylen, polypropylen) khâu mạch và bột gỗ biến tính ứng dụng làm vật liệu xây dựng kiến trúc nội – ngoại thất (Viện Kỹ thuật nhiệt đới)              – Nghiên cứu sản xuất chế phẩm synbiotic từ vi khuẩn sinh bào tử và cám gạo (Viện Công nghệ sinh học)   * ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội              – Nghiên cứu tổng hợp vật liệu tổ hợp quang xúc tác N/Fe-C-TiO2 cấu trúc nano trên than hoạt tyinhs đẻ ứng dụng trong xử lý thuốc trừ sâu               – Biến tính tro bay làm xúc tác cho quán trình ooxxi hóa tiên tiến, ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm   * Bộ Quốc phòng:              – Mô hình, giải pháp phát hiện và cảnh báo cháy dựa trên kỹ thuật thị giác máy phục vụ công tác phòng chống cháy nổ (Học viện Kỹ thuật quân sự)              – Nghiên cứu lên men tỏi đen từ tỏi Lý Sơn và đánh giá tác dụng sinh học của sản phẩm tạo ra (Học viện Quân y)              * Hệ hỗ trợ trực tuyến cảnh báo lũ cho lưu vực sống Vu Gia, tinhe Quảng Nam (ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh)              * Phân lập và xác định genotype của Porcine Circovirus Type 2 ở đàn lợn (ĐH Nông nghiệp Hà Nội)                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Không cao nhưng phải hợp lý      LTS. Thời gian gần đây, trên các diễn đàn, người ta nói nhiều về vấn đề lương của giới khoa học. Có ý kiến cho rằng, khó mà làm khoa học trong điều kiện lương bổng như hiện nay, đồng thời lại có ý kiến cho rằng nhà khoa học phải biết dấn thân và hy sinh để làm nghiên cứu.&#160; GS Hoàng Tụy đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng chung quanh chủ đề này.                        Không nhà khoa học nào đòi hỏi đời sống vật chất cao mới làm việc – những người như thế ít khi muốn làm khoa học thật sự. Nhưng nhà khoa học mà phải chạy ăn hằng ngày hoặc phải làm thêm mới đủ sống thì cũng không thể làm chuyên môn tốt được. Lương của nhà khoa học vì thế cần bảo đảm cho họ một mức sống hợp lý, trên mức trung bình của xã hội, để họ được giải phóng khỏi nỗi lo cơm áo gạo tiền.  Đồng lương thấp dễ gây ra chảy máu chất xám. Các nhà khoa học có tài sẽ ra nước ngoài sống hoặc không về nước sau khi được gửi đi đào tạo. Tuy nhiên tôi không nghĩ những người đó là không yêu nước. Với đồng lương thấp, họ không thể yên tâm làm việc, khó duy trì các mối liên hệ quốc tế và khi đã bị cô lập thì rất khó phát triển tài năng; trong khi đó ở nước ngoài lương cao, điều kiện làm việc tốt, năng lực của họ có nhiều cơ hội phát triển nhanh – việc họ không quay về cũng là điều dễ hiểu. Thay vì phê phán họ,  ta nên có chính sách thiết thực hơn để tránh thiệt hại do mất dần đội ngũ cán bộ khoa học có tài.  Nhà khoa học đã thành danh thường có thể làm thêm nhiều việc khác mà vẫn có thể bảo đảm tốt công việc chuyên môn. Nhưng đối với các nhà khoa học trẻ, muốn thành công thường phải tập trung hết thời gian cho công việc chuyên môn. Ít nhất trong 10 năm đầu, họ phải dành toàn tâm, toàn ý và toàn thời gian cho nghiên cứu. Nếu không được như vậy, năng lực của họ sẽ bị phân tán và dễ mai một.  Tôi biết nhiều tài năng trẻ đã mau chóng tàn lụi chỉ vì mải lo cơm áo gạo tiền. Trách họ ư ? Vâng, nhưng cuộc sống là vậy, ai không biết điều đó mới thật là người đáng trách và không nên làm quản lý.     Hai phần tách bạch   Phải thấy rằng, ngoài nhu cầu vật chất như bất kỳ người bình thường nào, nhà khoa học còn có những nhu cầu đặc thù khác.  Trước hết, đó là nhu cầu trao đổi với bạn bè đồng nghiệp, nhu cầu được làm việc trong những nhóm khoa học để cùng nhau hình thành ý tưởng, phát triển sáng tạo. Điều kiện vật chất khó khăn là một trong những nguyên nhân khiến lâu nay trong nước chưa hình thành được các nhóm khoa học mạnh. Chưa kể vì những khó khăn đó không ít nhà khoa học có tài đã chọn sống và làm việc ở nước ngoài. Chỉ nói một việc thông thường là hợp tác quốc tế. Ở các nước phát triển, các nhà khoa học đều có kinh phí riêng để tham dự các hội thảo hay sinh hoạt học thuật quốc tế cần thiết. Những nhóm khoa học tâm đắc với nhau dù ở cách xa nhau hàng trăm km vẫn có thể hẹn hò gặp nhau nơi nào đó hằng tháng trời để hợp tác cùng nhau thực hiện những chương trình nghiên cứu hay biên khảo chung.  Từ đó có khi nảy ra những công trình đặc sắc, ra đời những trường phái nổi tiếng như trường hợp nhóm toán học Bourbaki ở Pháp trước đây. Trong khi đó ở nước ta, nếu không được nhà nước tài trợ, nhà khoa học lấy đâu ra kinh phí đi dự hội nghị học thuật ở nước ngoài. Ngay cả chỉ đi dự hội nghị trong nước cũng còn phải đắn đo, nói gì gặp nhau cả tuần, cả tháng chỉ để làm khoa học tâm đắc.  Hơn nữa, nhà khoa học muốn phát triển tài năng cần có học trò giỏi và khi họ đã thành tài có thể giữ được họ trong nhóm của mình, ít ra là giữ được họ cùng đeo đuổi một số hướng nghiên cứu chung. Nhưng ở nước ta, người trẻ giỏi thường cần du học nước ngoài để dễ thành đạt, cho nên thầy trong nước dù giỏi cũng khó có học trò xứng đáng, và dù có may mắn đào tạo được người nào thì chỉ vài năm sau họ được mời ra nước ngoài rồi có khi đi mất hút luôn để gia nhập những nhóm nghiên cứu ở ngoài giúp họ thành đạt nhanh hơn mà còn dành cho họ nhiều điều kiện vật chất thuận lợi hơn trong nước.  Giao du với bạn bè đồng nghiệp quốc tế cũng là một nhu cầu của nhà khoa học. Nếu mức sống giữa họ và các bạn đồng nghiệp nước ngoài quá chênh lệch sẽ dễ nảy sinh những mặc cảm và những vấn đề tế nhị. Ví dụ, tôi được bạn mời nhưng đến khi muốn mời lại bạn thì tôi không có tiền. Trước đây mấy chục năm, các bạn hiểu cho ta thôi và chúng tôi cũng không thấy có vấn đề gì nhưng ngày nay, những chuyện đó không còn được thông cảm dễ dàng như trước.  Đăng bài trên các tạp chí khoa học quốc tế là nhu cầu cơ bản, mà cũng là nhiệm vụ của người làm khoa học. Viết các bài khoa học thì đã tốn công sức, không có nhuận bút, mà có một số tạp chí còn đòi tác giả phải trả hàng trăm USD mới chịu đăng bài. Đối với các nhà khoa học nước ngoài thì tiền ấy lấy trong kinh phí nghiên cứu khoa học nên không thành vấn đề, nhưng đối với các nhà khoa học của ta chưa có khoản đó, mà nếu có, lại thường được coi như khoản bù đắp thêm cho chi phí sinh hoạt. Vì vậy có trường hợp đăng bài rồi quỵt luôn, đành chịu tiếng bất lịch sự, hoặc chuyển bài sang tạp chí khác ít thích hợp hơn. Gần đây nhiều người ngạc nhiên khi thấy số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam quá ít so với khả năng thực tế, nhưng ít ai nhớ tới đây cũng là một nguyên nhân.  Một vấn đề khác là để làm việc mỗi nhà khoa học đều có nhiều hồ sơ, giấy tờ, tài liệu phải lưu trữ, thường xuyên sắp xếp và xử lý. Việc đó mất khá nhiều thì giờ. Ở các nước tiên tiến, các nhà khoa học có trình độ, các giáo sư, đều có thư ký giúp việc, ít thì cũng 3-4 nhà khoa học chung một thư ký. Nếu nhà khoa học tự làm lấy mọi việc đó thì thời gian làm khoa học và năng suất nghiên cứu bị ảnh hưởng. Trước đây từng có những nghiên cứu so sánh năng suất làm việc của giáo sư Liên Xô và giáo sư Mỹ cho thấy năng suất của giáo sư Liên Xô kém giáo sư Mỹ một phần quan trọng do ở Mỹ những việc không cần đến trí tuệ của giáo sư thì đều có người khác làm thay, trong khi ở Liên Xô, chỉ những nhà khoa học làm lãnh đạo mới được hưởng điều kiện đó.  Vì nhiều lẽ như thế, chính sách về lương cho nhà khoa học cần tách bạch hai phần: phần để bảo đảm điều kiện sinh hoạt bình thường, phần để bảo đảm điều kiện nghiên cứu. Ở ta, trong khoa học cơ bản mãi gần đây mới bắt đầu chú ý việc đó nhưng cũng chưa có cách giải quyết dứt khoát, mà thực chất vẫn nhằm tạm thời tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho nhà khoa học.     Không thể đòi hỏi ai cũng là Perelman  Cái nhìn thực tế phải như vậy. Khi bàn chính sách lương cho người làm khoa học, không nên chỉ nhằm đến hai đối tượng: một là những người quá chú trọng tiền tài, đặt tiền tài lên trước sự nghiệp; hai là những người tự nguyện dấn than, chấp nhận mọi trở ngại khó khăn để làm khoa học (nhân đây, xin nói rõ dấn thân không có nghĩa là thụ động chấp nhận làm việc trong mọi điều kiện sống và làm việc tồi tệ vô lý). Hai đối tượng này đều thuộc số ít, trong khi đối tượng cần chú ý là số đông của cộng đồng, gồm những người làm khoa học bình thường.  Một chính sách về khoa học mà đặt trên giả thiết hoặc đòi hỏi người làm khoa học phải có tinh thần hy sinh cao thì là chính sách thiếu thực tế, chỉ hô hào suông, đồng thời cũng hết sức vô lý vì tại sao chỉ đòi hỏi sự hy sinh đơn phương từ phía các nhà khoa học, mà không thấy nghĩa vụ của cơ quan lãnh đạo, quản lý.  Mới đây, có chuyện nhà toán học nổi tiếng người Nga Grigori Perelman từ chối giải thưởng trị giá 1 triệu USD của Viện Toán học Clay với tuyên bố: “Tôi không cần gì hết. Tôi đã có tất cả những gì mình muốn”, mặc dù ông đang sống với bà mẹ già trong căn hộ dưới mức tiện nghi thông thường. Trong khoa học những con người đáng nể phục như vậy cũng không phải quá hiếm, tuy nhiên lấy họ làm gương để noi theo thì không mấy ai. Riêng tôi chẳng hạn, thú thật ở địa vị của ông ấy, chắc tôi không làm như vậy và không hề mặc cảm hay xấu hổ nói ra điều này. Không nên và không thể đòi hỏi nhà khoa học nào cũng như Perelman. Nếu ai cũng coi thường vật chất đến cực đoan như thế thì có lẽ là thảm họa cho khoa học.  Cách đây ít lâu, tôi nghe kể trên báo chí một vị lãnh đạo cấp cao khi được hỏi về vấn đề tăng lương cho các nhà khoa học đã nói đại ý, lương của ông cũng chỉ mới 7-8 triệu một tháng thì lương nhà khoa học làm sao có thể 10-12 triệu/tháng được. Có lẽ vị lãnh đạo đó chưa biết, ngay ở một vài nước xã hội chủ nghĩa trước đây, lương của ông Chủ tịch Viện Hàn lâm đã cao ngang lương Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Chẳng thế mà có lần ông Trần Bạch Đằng, một nhà cách mạng lão thành từng viết trong một bài báo rằng lương một nhà khoa học lớn cao ngang lương Chủ tịch nước hay Thủ tướng cũng nên xem là chuyện bình thường. Ở Mỹ lương nhiều giáo sư hàng đầu cao hơn lương Tổng thống. Ở Hàn Quốc trước đây khi thành lập viện KIST một số nhà khoa học cũng được xếp lương cao hơn lương Tổng thống khi ấy. Vả chăng ngay ở Việt Nam lương của các Tổng giám đốc các tập đoàn (có khi làm ăn lỗ nặng) đã gấp đến chục lần lương của vị lãnh đạo cấp cao nói trên.  Nói vậy cho hết lẽ, chứ điều vô lý đã tồn tại dai dẳng trong xã hội ta là ở chỗ lương chỉ là phần nhỏ, thu nhập thực mới là phần chính. Mà thu nhập thì vô chừng và hầu như không có kiếm soát minh bạch, tùy thuộc nhiều vào khả năng “xoay xở” của từng người. Nhà giáo, nhà khoa học thường chỉ có cách xoay xở là làm thêm những việc khác ngoài nhiệm vụ chính của mình, có khi trái với lương tâm nhưng vẫn phải làm mới đủ sống. Tuy cũng không ít người nhờ thế mà giàu, nhưng chẳng ai vì thế mà giúp cho khoa học phát triển được. Đất nước cũng chẳng thể vì thế mà giàu mạnh lên được.    Thái Thanh (ghi)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Không chỉ tự chủ về tiền*      Trong buổi lễ trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 19/7/2016, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam một lần nữa lại nhắc đến quyền tự chủ đại học. Phó Thủ tướng nói: “Tự chủ đại học không chỉ là tự chủ về tiền”, và ông nhấn mạnh: “Tự chủ đại học quan trọng hơn cả là tự chủ về khoa học, học thuật…”1      Các nhà nghiên cứu của Viện KH&CN tiên tiến AIST, ĐH Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Hoàng Minh.  Từ khi nước ta bước vào đổi mới, vấn đề quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, trường học, khoa học, v.v… nổi lên sôi động. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng quan tâm tới việc hoạch định chính sách về tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các loại hình tổ chức sản xuất, nghiên cứu, đào tạo, v.v… trong toàn xã hội: Khu vực sản xuất – kinh doanh có Luật Doanh nghiệp; khoa học và công nghệ (KH&CN) có Nghị định 115/2005/NĐ-CP và 80/2006/NĐ-CP, gần đây được thay thế bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP và Nghị định 54/2016/NĐ-CP (sau đây lần lượt gọi tắt là Nghị định 115, Nghị định 80, Nghị định 43, Nghị định 16 và Nghị định 54).  Cần đánh giá, đây thực sự là một xu thế hết sức tích cực.  Tuy nhiên, đã trên mười năm, các chính sách về tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH&CN vẫn chưa đi vào cuộc sống, thậm chí, người ta chưa thiết tha với quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được quy định trong các chính sách.  Vậy vấn đề do đâu? Chúng tôi có hai bài phân tích nguyên nhân, đăng trên Tạp chí Tia Sáng, cho rằng “Nghị định 115 thiếu nhất quán giữa mục tiêu và phương tiện”2 và “Nghị định 115: Cần thay đổi quan điểm của cấp vĩ mô”3.  Trong bài này, chúng tôi chọn một vài cách tiếp cận để thảo luận cụ thể hơn, mong muốn góp một tiếng nói tiếp tục hoàn thiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN của nước ta.  Quan niệm từ triết lý tài chính  Bản chất của Nghị định 16 (2015) và Nghị định 54 (2016) là “Anh càng tự chủ được về tài chính bao nhiêu, tôi càng cho anh được quyền tự chủ bấy nhiêu”. Từ đó, nghị định này chia tổ chức KH&CN công lập thành bốn loại: 1) Tổ chức KH&CN tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 2) Tổ chức KH&CN tự bảo đảm chi thường xuyên; 3) Tổ chức KH&CN tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; 4) Tổ chức KH&CN do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.  Căn cứ vào mức độ đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư theo các loại trên đây, Nhà nước sẽ trao quyền tự chủ cho tổ chức KH&CN.  Theo triết lý này thì các viện Loại 1 được trao quyền tự chủ lớn nhất; ngược lại các viện thuộc Loại 4 được tự chủ kém nhất, nghĩa là các viện được nhà nước xếp vào loại nghiên cứu cơ bản, là những viện được nhà nước đảm bảo chi thường xuyên, thì hoàn toàn không được tự chủ (!)  Theo chúng tôi, tiếp cận tài chính có thể là rất đúng đắn, nhưng chưa đụng đến một vấn đề lớn về bản chất của nghiên cứu khoa học, là thỏa mãn nhu cầu nhận thức của nhân loại. Vì vậy, chúng tôi nhận ra, ý kiến Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam rất đáng để các nhà làm chính sách suy nghĩ. Trong phần sau, chúng tôi xin làm rõ điều này.  Quan niệm triết lý tổ chức khoa học  Tất cả các đồng nghiệp Việt Nam (trong đó có bản thân tác giả bài viết này), những người từng tìm kiếm các dự án tài trợ bởi các quỹ chính phủ, như DAAD (Đức), SIDA/SAREC (Thụy Điển), IDRC (Canada), v.v…, đều biết rất rõ rằng, các quỹ này có nguồn từ ngân sách nhà nước, nhưng họ không hề xem những dự án đó là các “Đề tài cấp nhà nước” của các quốc gia đó. Hơn nữa, họ cũng không hề can thiệp vào quyền “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” của các chủ dự án do họ tài trợ. Khi họ thuê các chuyên gia đánh giá các dự án (chứ không “nghiệm thu”), họ chỉ đòi hỏi thuyết minh các tác động Output, Outcome và Impact của các dự án trên đất nước sở tại.  Trên thế giới, người ta gọi đó là “Quyền tự trị” (Autonomy) của khoa học.  Từ sau khi công bố Luật KH&CN (2000), chúng ta bắt đầu làm quen với các quỹ do Luật chế định. Tuy nhiên, chúng ta không được hưởng quyền “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” như khi thực hiện các dự án xin tài trợ từ các quỹ của nước ngoài, như DAAD, SIDA/SAREC, IDRC, v.v…  Trên thực tế, đã có một bộ phận các nhà nghiên cứu Việt Nam được hưởng quyền tự trị khi họ tìm kiếm tài trợ từ các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước ở nước ngoài. Thực tế này rất đáng được tham khảo để tìm con đường xác lập quyền “tự chủ, tự chịu trách nhiệm”, tức thiết chế tự trị cho các tổ chức KH&CN nước ta.  Con đường tất yếu  Chúng tôi đã nhiều lần đề cập trong các bài viết, trên thế giới có bốn loại triết lý về tổ chức KH&CN:  1. Nhà nước không quan tâm tổ chức hoạt động KH&CN. Đó là mối quan tâm tư nhân của các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp.  2. Nhà nước quan tâm tổ chức hoạt động KH&CN một cách bình đẳng với các thành phần khác nhau trong xã hội.  3. Nhà nước giành về mình quyền duy nhất tổ chức hoạt động KH&CN. Mọi hoạt động KH&CN tư nhân đều là phi pháp. Đó là cách thức tổ chức KH&CN tại tất cả các nước XHCN.  4. Nhà nước trả lại quyền tự trị tổ chức hoạt động KH&CN cho mọi thành phần trong xã hội. Nhà nước chỉ giữ lại chức năng và sứ mệnh quản lý vĩ mô về KH&CN.  Công cuộc cải cách ở Việt Nam, dù trải qua những chặng đường lúc tiến lúc thoái, nhưng về cơ bản đang đi theo lộ trình từ Triết lý 3 sang Triết lý 4, nghĩa là, bản chất việc xác lập quyền “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” ở nước ta, nói vắn tắt là từ bỏ Triết lý 3 và thực hiện Triết lý 4 trong hoạt động KH&CN. Đường đi từ đây (Triết lý 3) đến đó (Triết lý 4) còn nhiều gian nan, nhưng có thể mô tả tóm tắt như sau:  1. Từ nghiên cứu hoạt động của các quỹ chính phủ ở nước ngoài, mở rộng hoạt động của các quỹ hiện có, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hoặc khoa học cơ bản.  2. Khuyến khích hình thành các quỹ tư nhân, bao gồm các quỹ của doanh nghiệp, kiểu như Volswagen Foundation, Ford Foundation, Toyota Foundation, …  3. Các tổ chức KH&CN (công lập và ngoài công lập) được tự chủ xây dựng kế hoạch nghiên cứu và xin tài trợ của các quỹ chính phủ và tư nhân.  4. Hạn chế đến tối thiểu các “nhiệm vụ nhà nước” chỉ trong phạm vi các nhiệm vụ thực sự phục vụ công việc của nhà nước. Nhân đây, xóa bỏ việc đánh giá giá trị công trình khoa học theo “cấp nhà nước”, “cấp bộ” và “cấp cơ sở”, như trong quy chế công nhận chức danh PGS/GS hiện nay.  5. Thực sự chuyển sang một hệ thống kinh tế thị trường hoàn hảo, xóa bỏ sự bao cấp của nhà nước, các doanh nghiệp phải đối mặt với cạnh tranh trên thị trường, buộc doanh nghiệp phải ký hợp đồng với các tổ chức KH&CN để đổi mới công nghệ.  6. Các trường đại học, các viện, các doanh nghiệp được “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” hình thành các spin-off, spin-in, spin-out để thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, như đã từng nở rộ trong thập niên 1990 (đặc biệt là ở Viện KHVN, tất nhiên, khó tránh khỏi tình trạng, một số đơn vị được lập ra không với tư cách là những spin-off) sau khi Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 51/HĐBT năm 1987, và hầu như đã bị dẹp bỏ vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ này do nhiều cơ quan chức năng không nắm được đặc điểm này của các tổ chức KH&CN.  Kết luận  Từ nghiên cứu công cuộc cải cách KH&CN Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng tôi tạm ghi nhận như sau:  – Trả lại quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN là một đòi hỏi tất yếu. Nghị định 115 phải được xem là một trong những mốc đánh dấu quan trọng, nhưng có một số mặt bất cập mà chúng tôi đã phân tích trong một vài bài trên Tạp chí Tia Sáng.  – Nghị định 16 và Nghị định 54 cũng cần được xem là một mốc quan trọng, nhưng hai nghị định này đã khẳng định triết lý tự chủ chỉ từ tiếp cận tài chính. Điều này có thể đúng với nhiều tổ chức sự nghiệp công lập, trong đó có tổ chức KH&CN, nhưng mới chỉ là tự chủ về tài chính.  – Tuy nhiên, như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhấn mạnh, “Tự chủ không chỉ là tự chủ về tài chính”, chúng ta có thể hiểu, đi theo tiếp cận tài chính chưa hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN, là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của toàn xã hội, mà mọi nhà nước đều luôn đóng vai bà đỡ hào hiệp nhất.  Đó là những điều còn cần tiếp tục nghiên cứu, mà chúng tôi xin được bàn tiếp trên các diễn đàn của cộng đồng KH&CN.  ———–  1 http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/PTT-Vu-Duc-Dam-Quan-tri-dai-hoc-la-tu-chu-toan-dien-khong-phai-chi-tien-post169503.gd  2 Xem Tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 12/12/2014.  3 Xem Tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 10/3/2015.       Author                Vũ Cao Đàm - Đinh Việt Bách        
__label__tiasang Không có chính sách khí hậu tốt nếu không có dữ liệu tốt      Các chính sách về khí hậu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đo lường chính xác xu hướng phát thải khí nhà kính (GHG) của cộng đồng quốc tế.    Việc kiểm kê phát thải khí nhà kính (GHG) thể hiện mối liên kết giữa các hành động chính trị trong nước cũng như quốc tế đối với vấn đề biến đổi khí hậu và khoa học khí hậu và môi trường. Hiện nay, cộng đồng nghiên cứu và các cơ quan kiểm kê đã tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ nhiều góc độ khác nhau cũng như sử dụng các thuật ngữ, chuẩn đo, quy tắc nhưng các cách tiếp cận này không phải lúc nào cũng tương thích với nhau.   Đặc biệt, khi đánh giá “Sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất và lâm nghiệp” (LULUCF) – yếu tố chiếm gần 25% mức giảm phát thải mà các quốc gia đã cam kết trong Đóng góp quốc gia tự quyết định (Nationally Determined Contributions – NDCs) thuộc Thỏa thuận Paris, vấn đề này càng trở nên rõ ràng hơn. Đây là một trong những lĩnh vực thách thức nhất trong tất cả các lĩnh vực kiểm kê do mức độ phức tạp cao của động lực học carbon và khó khăn trong xác định đâu là biến đổi do tự nhiên, đâu là do con người.  Một nghiên cứu mới do Trung tâm châu Âu – Địa Trung Hải về biến đổi khí hậu (CMCC) dẫn dắt và công bố trên tạp chí Environmental Science and Policy gần đây đã giúp hiểu rõ hơn các yêu cầu về báo cáo hiện tại về việc thực hiện theo Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCC) và tương lai (theo Thỏa thuận chung Paris), đồng thời xác định được các vấn đề và chủ đề chính mà cộng đồng nghiên cứu nên cân nhắc khi nhắm đến mục tiêu nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính.  Lucia Perugini, nhà khoa học tại CMCC và là tác giả thứ nhất của công bố này, giải thích: “Nghiên cứu của chúng tôi hướng đến việc ‘xây những cây cầu’ kết nối cộng đồng nghiên cứu với các cơ quan kiểm kê. Nó sẽ giúp đem lại một cái nhìn toàn cảnh về các yêu cầu báo cáo và xác minh khí nhà kính hiện tại và tương lai theo Thỏa thuận Paris, cũng như giúp cộng đồng nghiên cứu xác định địa điểm và cách thức để tham gia hỗ trợ cho các cơ quan kiểm kê khí nhà kính một cách hiệu quả.”  Hiện nay, số liệu về lượng phát thải ròng toàn cầu gây ra bởi việc sử dụng đất của con người có sự chênh lệch (khoảng 5 gigaton CO2 mỗi năm) giữa các mô hình toàn cầu (được đánh giá trong báo cáo đánh giá AR5 gần đây nhất của IPCC) và các kiểm kê khí nhà kính quốc gia (được báo cáo với UNFCC). Nguyên nhân phần lớn là do sự khác biệt trong việc xác định thế nào là sự thay đổi đất do con người gây ra. Thêm vào đó, cộng đồng làm về mô hình hóa trên toàn cầu và chính phủ của các quốc gia hiện cũng đang áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để ước tính và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính (GHG) trên đất liền. Vậy làm thế nào để dung hòa những khác biệt khái niệm giữa các mô hình và việc kiểm kê khí nhà kính?  Mỗi một cách tiếp cận sẽ có những ưu và nhược điểm riêng, tuy nhiên vấn đề ở đây là các phương pháp mà cộng đồng nghiên cứu sử dụng lại không hoàn toàn có thể so sánh được với nhau. Việc dung hòa những khác biệt giữa các phương pháp không có nghĩa là nó sẽ đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải từ bỏ cách tiếp cận cũ của mình. Thay vào đó, nó chỉ thúc đẩy họ tìm ra các giải pháp mới để đảm bảo khả năng so sánh tương quan giữa các bên.  Nghiên cứu mới của nhóm tác giả Lucia Perugini đã nhấn mạnh vào một điểm, đó là cộng đồng nghiên cứu cần phải hiểu rõ hơn các thuật ngữ, quy tắc, thủ tục mà các quốc gia đang tuân theo khi ước tính và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính của mình theo Thỏa thuận Paris. Có một tình trạng thường xuyên xảy ra là các bài báo khoa học thường không sử dụng cùng một ngôn ngữ với cộng động kiểm kê khí nhà kính. Ngoài ra, để phù hợp với việc cải thiện dữ liệu kiểm kê khí nhà kính của các quốc gia, cộng đồng nghiên cứu nên cung cấp các hướng dẫn về phương pháp luận và kết quả nghiên cứu. □  Mỹ Hạnh dịch  Nguồn: https://phys.org/news/2021-05-good-decisions-climate-policymaking-critical.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Không đạt được nhất trí      Nên chấm dứt hay tiếp tục LTD (Lý thuyết dây-String theory) &amp; Lý thuyết ĐVT (Đa vũ trụ-Multiverse)?      Quá trình bắt đầu từ một bài báo của George Ellis (nhà vũ trụ học, ĐH Cape Town) và Joe Silk (nhà thiên văn học ĐH Johns Hopkins), đăng trên Nature 516, 321–323; 2014. Theo hai tác giả này thì Vật lý hiện đại đã đi chệch khỏi con đường của phương pháp khoa học. Họ hàm ý đến LTD và Lý thuyết ĐVT khi cho rằng các nhà vật lý đi theo các hướng này dường như quá say mê vẻ đẹp và logic của chúng mà quên đi rằng lý thuyết cần gắn liền với thực nghiệm nên đã xóa mờ ranh giới giữa khoa học và không khoa học (science & nonscience). Khoa học chỉ dung nạp các lý thuyết vật lý kiểm nghiệm được (testable). Ellis và Silk hầu như đã phủ nhận các lý thuyết chủ đạo (LTD & ĐVT) của 40 năm qua.  Ellis và Silk viết:  Theo quan điểm của chúng tôi vấn đề rút gọn lại là phải làm sáng tỏ một câu hỏi: khả năng quan sát và chứng kiểm thực nghiệm có tồn tại hay không để thuyết phục các nhà vật lý đó rằng lý thuyết của họ là sai và buộc họ phải từ bỏ lý thuyết đó? Nếu không có khả năng đó thì lý thuyết của họ không phải là khoa học. Ellis và Silk muốn gợi lại tinh thần của Popper: Một lý thuyết có khả năng phản nghiệm mới là một lý thuyết khoa học “A theory must be falsifiable to be scientific”.  Vấn đề đặt ra bức xúc đến mức David Gross (ĐH California, Santa Barbara, Mỹ) phát biểu rằng:   Vật lý cơ bản đối diện với một vấn đề quan trọng, nghiêm trọng đến nỗi cần kêu gọi cả sự góp ý của những người ngoài cuộc (Fundamental physics faces a problem, one dire enough to call for outsiders’ perspectives).   Gross tin rằng các nhà vật lý có thể cần đến sự viện trợ của các nhà triết học, những người vốn được coi là ngoại đạo với vật lý.  Và một cuộc hội thảo lớn Vật lý và Triết học vật lý “A Fight for the Soul of Science – Một cuộc chiến vì tinh thần của khoa học” đã được tổ chức tại ĐH Ludwig Maximilian University (LMU, Munich, Đức) từ ngày 7 đến 9/12/2015 với sự tham dự của hơn một trăm nhà khoa học – triết học và vật lý1.  Cuộc tranh luận của các nhà khoa học   Thực tế đối diện  LTD (Lý thuyết dây) và lý thuyết Đa vũ trụ là trung tâm của nội dung hội thảo.  (Tuy nhiên Helge Kragh, ĐH Aarhus, Đan Mạch cũng có nhận xét rằng hai lý thuyết trên cũng chỉ là một phần nhỏ công việc của các nhà vật lý).   Các nhà vật lý có mong muốn tìm sự giúp đỡ của các nhà triết học để xác định một lập trường trong cách nhìn nhận mối liên quan giữa lý thuyết và thực nghiệm trong vật lý hiện đại.  Các nhà vật lý đang đối diện với thực tế phải thâm nhập từng bước vào chiều sâu của vật chất từ kích thước cm đến phần triệu của phần triệu của phần triệu của cm. Theo chiều hướng này, dường như ta phải đạt được khoảng cách 10 triệu tỷ lần nhỏ hơn khả năng hiện nay của máy LHC. Đây là phạm vi hoạt động của LTD, một ứng viên của TOE (Theory of Everything-Lý thuyết của tất cả). Hiện nay, chúng ta chưa hình dung được việc phải đạt được năng lượng đó như thế nào.  Thứ hai, hiện nay các kính viễn vọng cũng chưa vượt được chân trời vũ trụ của Thiên hà chúng ta để nhìn vào các vũ trụ khác của giả thuyết đa vũ trụ. Các lý thuyết vũ trụ học dẫn một cách logic đến kết luận là vũ trụ chúng ta chỉ là một trong quần thể Đa vũ trụ.  Xem hình 1 (từ báo cáo của David Gross).          Hình 1. Chúng ta mới quan sát được  một phần của vũ trụ (phần nằm từ 10-15 cm đến 1030 cm ), song các lý  thuyết vật lý hiện đại lại nghiên cứu các vùng nằm ngoài tầm vùng đó.          Như vậy, lỗi hoặc ở các nhà vật lý đã đẩy lý thuyết đi quá xa hoặc là lỗi của thiên nhiên muốn che giấu các bí ẩn của mình, nhưng tựu trung kết quả là một: Lý thuyết đã tự mình tách rời khỏi thực nghiệm. Những suy tưởng về vũ trụ đã vượt quá xa khả năng kiểm chứng của công nghệ hiện đại.   Điều phải làm không phải là nhận thức luận (ideology) mà là chiến lược (strategy): con đường lợi ích nhất để làm khoa học là con đường nào?   Có lẽ đây là câu hỏi của các nhà vật lý dành cho các nhà triết học vật lý?  Trên đây là tóm tắt phát biểu của David Gross, người ủng hộ LTD và được giải Nobel Vật lý 2004 về các công trình về lực hạt nhân mạnh.  Gross xếp LTD là lý thuyết kiểm nghiệm được về nguyên tắc (testable in principle), do đó LTD là lý thuyết khoa học, và việc nói LTD là không khoa học vì không kiểm nghiệm được trong hiện tại là điều vô nghĩa.  Thuyết Popper (Popperism)  Vậy cần những yêu cầu gì để một lý thuyết chưa được kiểm chứng được xem là khoa học?  Hiện nay đa số các nhà khoa học sử dụng tiêu chí của Karl Popper, một nhà triết học Áo-Anh. Năm 1930, Popper đã xác định một ranh giới giữa khoa học và không khoa học (science & non science) bằng việc so sánh công trình của Albert Einstein với công trình của Sigmund Freud. Lý thuyết của Einstein là phản nghiệm được (falsifiable). Điều đó (falcification) có nghĩa là có thể tìm được một chứng cứ thực nghiệm để chứng minh lý thuyết đó là sai. Song phân tâm học của Freud là không phản nghiệm được, vậy phân tâm học không là khoa học.  Các nhà khoa học phê bình LTD và giả thuyết ĐVT đã vượt quá đường ranh giới của Popper hay nói cách khác là không phản nghiệm được, vì vậy không phải là khoa học.  Song tại hội thảo Munich, nhiều nhà vật lý và triết học phản đối tiêu chí Popper. Massimo Piglicucci, nhà triết học (ĐH City New York), phát biểu rằng, tiêu chí phản nghiệm của Popper chỉ còn là một tiêu chí thảm hại để phân ranh giới giữa khoa học và không khoa học. Một ví dụ là Chiêm tinh học (Astrology) được phản nghiệm không biết bao nhiêu lần đến phát ngán (ad nauseam) vậy mà Chiêm tinh học vẫn không phải là khoa học! Pigliucci tiếp rằng, chúng ta đang bàn về triết học vật lý hiện đại chứ không phải là triết học vật lý của 50 năm về trước.    Thuyết Bayer (Bayersianism)2  Đa số các nhà triết học tại hội thảo Munich cho rằng, phản nghiệm Popper cần được thay thế bởi lý thuyết của Bayes (tức Bayesianism). Stephan Hartmann, nhà triết học phái Bayesianism tại LMU cho rằng, Bayesianism mềm dẻo hơn lý thuyết của Popper.  Nguyên tắc của xác suất Bayes là xác định xác suất điều kiện P(D|H) từ xác suất của một lý thuyết tiền định đúng đắn P(H) sau đó xác định lại xác suất hậu định P(H|D) nhờ những tư liệu, những kiến thức mới.  Carlo Rovelli (ĐH Aix-Marseille), người ủng hộ LQG (Loop Quantum Gravity – Hấp dẫn lượng tử vòng, vốn là thuyết cạnh tranh với LTD) cho rằng, nếu đối với sự tồn tại của nguyên tử là 100 % thì theo quan điểm của thuyết Bayer, LTD trong tham vọng thống nhất các tương tác thì không được đến 10 %, hai lý thuyết này ở hai tình trạng khác nhau. Rovelli không đồng ý với cách tiếp cận của Bayesianism đối với LTD.  Còn George Ellis phản đối ý kiến rằng các yếu tố lý thuyết có khả năng làm tăng xác suất trong tiếp cận Bayesianism mà theo ông, những yếu tố thực nghiệm mới là điều chúng ta cần.    Đánh giá không – thực nghiệm (Non – Emipircal Assessment)  Một tiếp cận được chú ý đến nhiều là phương pháp đánh giá không thực nghiệm (non-empirical assessment).  Đây là phương pháp do Richard Dawid, nhà vật lý lý thuyết sau chuyển thành nhà triết học vật lý (LMU), tác giả cuốn sách nổi tiếng String Theory and the Scientific Method (Cambridge Univ. Press, 2013). Dawid quan tâm đến việc tại sao các nhà LTD rất tin tưởng ở lý thuyết này mặc dầu thiếu cơ sở thực nghiệm (“Why do they trust the theory?”). LTD chứa hạt graviton, như vậy LTD thống nhất được lực hấp dẫn của Einstein với các tương tác khác. Song LTD chưa đưa ra được một tiên đoán nào khả dĩ kiểm nghiệm được.  Năm 2000, Dawid đưa ra ba lý lẽ không-thực nghiệm mang tính triết học tạo nên sự tin tưởng vào LTD.  1/ LTD hiện nay là lý thuyết độc nhất có khả năng thống nhất các tương tác theo một cách thích hợp nhất (mặc dầu trong LTD có nhiều biểu diễn toán học).  Lý lẽ này có tên là “lý lẽ về không có khả năng nào khác – no alternatives argument NAA”.  Một lý thuyết cạnh tranh là LQG, song LQG không có mục tiêu thống nhất các tương tác.  2/ LTD phát triển từ SM vốn cũng không có khả năng nào khác trong quá trình hình thành và đã được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm. Lý lẽ này Dawid gọi là “lý lẽ siêu –quy nạp – meta-inductive argument MIA”. Dawid tin vào khả năng có thể xảy ra là các nhà vật lý không đủ trí lực để tìm ra những khả năng tồn tại khác (physicists simply aren’t clever enough to find the alternatives that exist).  3/ Lý lẽ thứ ba là LTD đã bất ngờ đưa ra những giải thích đối với nhiều bài toán bên ngoài bài toán thống nhất vốn là mục tiêu chính của LTD. Joe Polchinski (ĐH California, Santa Barbara) đã đưa ra nhiều ví dụ về những “mối liên thông giải thích không ngờ” này (unexpected explanatory interconnections). Lý lẽ này được gọi là “lý lẽ các liên thông  giải thích bất ngờ – unexpected explanatory interconnections UEA”.  LTD đã giải thích được entropy của lỗ đen, điều này lại gắn liền với vật lý hạt cơ bản (nhờ đối ngẫu AdS/CFT).  Polchinski đã phát biểu rằng “LTD đã tồn tại, chúng ta chỉ phát hiện ra thôi”. Polchinski đã sử dụng các lý lẽ không thực nghiệm của Dawid để tính xác suất Bayesianism (Bayesianism odds) để ĐVT tồn tại là 90 %.  Cái đẹp và sự thật  Về vẻ đẹp của lý thuyết: Không phải cứ lý thuyết nào đẹp cũng là đúng. Một ví dụ là lý thuyết cuộn xoáy của nguyên tử vào Thế kỷ 19 của Scots Peter Tait & Lord Kelvin cho rằng nguyên tử là những cuộn xoáy (vortex) trong ether, một chất lỏng chứa đầy không gian. Phải công nhận đây là một lý thuyết rất đẹp về mặt toán học song như chúng ta biết, lý thuyết này hoàn toàn sai.  Ether không tồn tại và các cuộn xoáy cũng không tồn tại. Cái đẹp không là sự thật. Lẽ dĩ nhiên phải trừ các phương trình hấp dẫn của Einstein: chúng vừa đẹp vừa đúng.  Làm thế nào để đánh giá một lý thuyết không có cơ sở thực nghiệm. Có thể dùng cách đánh giá không-thực nghiệm (non-empirical) của Dawid được không?  Nhà triết học Radin Dardashti (LMU) cho rằng, trong cách đánh giá của Dawid phải xác định chính xác trọng số cho từng lý lẽ NAA, MIA & UEA.   (Ví dụ đối với lý lẽ NAA có nhận xét của Sabine Hosenfelder, một nhà vật lý, Viện Nordic Vật lý lý thuyết ở Stockholm, cho rằng tính phổ biến của một lý thuyết (như LTD) có thể tạo nên ấn tượng đó là lý thuyết duy nhất trên diễn đàn. LTD thu nhiều ưu thế mang tính xã hội hơn là khoa học: các nhà vật lý trẻ dễ dàng lao vào LTD vì cho rằng đây là lĩnh vực có nhiều triển vọng hơn các lĩnh vực ít người biết đến ).  Dardashti cho rằng phép đánh giá của Dawid còn khách quan hơn việc dựa trên các tính “đơn giản và đẹp” và các tính khác.   Gross cho rằng phương pháp Dawid có thể xem là một ý tưởng mới, một lý thuyết mới trong triết học vật lý.  Song nhiều người tham gia hội thảo vẫn còn nghi ngờ về việc sử dụng luận thuyết Bayesianism và phương pháp non-empirical argument của Dawid.  Vậy là vấn đề dường như vẫn còn bỏ ngỏ đối với việc đánh giá các lý thuyết vật lý hiện đại khi đối diện với thực tế khách quan là cần đi sâu vào vật chất, điều này làm cho lý thuyết dần xa với thực nghiệm vì khả năng hạn chế khách quan hiện nay của chúng ta.  Các nhà triết học vật lý và các nhà vật lý chắc phải làm việc nhiều trong tương lai để xác định không những vấn đề nhận thức luận mà còn vấn đề chiến lược cụ thể cho vật lý hiện đại.  Đến cuối hội thảo, các nhà khoa học (vật lý & triết học) đã không đạt được sự đồng thuận nào.  Một số các nhà khoa học (theo tinh thần Popperism) cho rằng, LTD và ĐVT là không khoa học và cần rời bỏ3.  Một số các nhà khoa học khác quan niệm rằng, Popperism đã lỗi thời, nếu chiểu theo tinh thần Bayesianism thì LTD và ĐVT cần tiếp tục, việc rời bỏ những lý thuyết này vì nguyên nhân chưa có điều kiện kiểm nghiệm là vô nghĩa. Số các nhà khoa học này đều nghiêng về phía Richard Dawid. Nhìn chung phía ủng hộ tiếp tục LTD và ĐVT đã đưa ra nhiều lý lẽ có thể là xác đáng.  Dawid cùng Silk và Ellis (là ba người đồng tổ chức hội thảo) cũng không hy vọng làm cho mọi người thay đổi quan điểm của mình một cách cơ bản. Dawid chỉ hy vọng, hội thảo đã đem lại một sự xích gần nhau nào đó mà thôi.  Ellis gợi ý tổ chức một hội thảo mùa hè kéo dài hai tuần mới có hy vọng đạt được một đồng thuận nhất định nào đó giữa các nhà khoa học (vật lý và triết học).  —————–  Tài liệu tham khảo  [1] Hội thảo vật lý – triết học, Munich,12/2015  https://www.quantamagazine.org/20151216-physicists-and-philosophers-debate-the-boundaries-of-science  [2] Cao Chi, Cơ học lượng tử Bayesianism , Tia Sáng  https://www.facebook.com/chi.cao.7165/posts/1714505768771170  [3] Lee Smolin, The trouble with the Physics  http://leesmolin.com/writings/the-trouble-with-physics/      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Không đợi người khác chỉ cho mình phải làm gì”      Trong thư gửi vợ năm 1935, nhà vật lý rất  nổi tiếng của Nga Pyotr Kapitsa viết: “Anh cho rằng phải coi khoa học là  một việc hết sức quan trọng và lớn lao, và cái inferiority complex này  [tiếng Anh trong nguyên bản – mặc cảm tự ti, tự cho mình là không quan  trọng] đang giết chết nền khoa học ở nước ta.”         Lời người dịch: Pyotr Kapitsa  (1894-1984) là một nhà vật lý  rất nổi tiếng của Nga. Ông làm việc dưới  sự hướng dẫn của Rutherford ở  Cambridge, Anh, trong nhiều năm. Năm 1933  ông trở thành giám đốc đầu  tiên của phòng thí nghiệm Mond. Năm 1934  ông bị giữ lại Nga trong một  chuyến đi về Nga. Nhà nước Nga Xôviết mua  lại toàn bộ thiết bị của phòng  thí nghiệm của ông ở Anh và xây cho ông  một Viện nghiên cứu mới, Viện  các vấn đề vật lý, ở đó ông là giám đốc  đầu tiên. Năm 1937 ông phát hiện  ra tính siêu chảy của hêli lỏng, công  trình sẽ được giải thưởng Nobel  năm 1978. Trong những năm 1937-1938 đen  tối ông là người cứu Fok và  Landau ra khỏi tù. Trong chiến tranh thế  giới thứ 2 ông phát hiện ra và  đưa vào sản xuất một loại máy mới để chế  tạo ôxy lỏng, và được trao danh  hiệu Anh hùng lao động Liên Xô năm  1945. Do mâu thuẫn với Beria ông bị  mất tất cả các chức vụ năm 1946.  Ông được phục hồi chức giám đốc Viện  các vấn đề Vật lý năm 1955. Ông là  người đầu tiên đưa ra ý tưởng về một  tạp chí về khoa học cho thế hệ  trẻ, sau này thành tạp chí Kvant.  Rất nhiều thư của ông đã được công bố. Nhiều   bức thư liên quan đến khoa học, giáo dục rất đáng đọc và vẫn còn giữ   tính thời sự. Tôi sẽ dịch một số bức thư của ông và đăng trên blog này.  13 tháng 12 năm 1935, Moskva  Hôm qua anh đánh cờ với Aleksei Nikolaevich Bakh [1]. Cụ rất dễ mến, nhưng anh không đồng ý với cụ ở một điểm… Anh nói với cụ là tình trạng khoa học ở nước ta đang rất xấu, thì cụ bảo: “Đúng thế, nhưng làm gì được, bây giờ có nhiều thứ quan trọng hơn là khoa học…” Đây là một ví dụ điển hình của một nhà khoa học tự nguyện đẩy mình xuống hạng ưu tiên thứ nhì, thậm chí thứ ba. Anh cho rằng phải coi khoa học là một việc hết sức quan trọng và lớn lao, và cái inferiority complex này [tiếng Anh trong nguyên bản – mặc cảm tự ti, tự cho mình là không quan trọng] đang giết chết nền khoa học ở nước ta. Các nhà khoa học phải cố gắng chiếm vị trí hàng đầu trong việc phát triển văn hóa nước nhà và không lẩm bẩm “ở nước ta có những thứ quan trọng hơn”. Đánh giá cái gì là quan trọng nhất, và cần phải chú ý đến khoa học kỹ thuật đến mức nào là công việc của các nhà lãnh đạo. Còn công việc của các nhà khoa học là tự tìm chỗ đứng của mình trong đất nước và trong chế độ mới, và không đợi người khác chỉ cho mình phải làm gì. Cái thái độ như vậy rất khó hiểu và xa lạ đối với anh…  Khi anh nói chuyện với nhiều nhà khoa học, anh rất ngạc nhiên khi họ tuyên bố “Cậu được nhiều như thế thì cậu làm gì chả dễ dàng…” Và cứ như thế. Họ cứ làm như là khi mới bắt đầu sự nghiệp, những cơ hội ban đầu của anh và của họ không giống nhau. Họ cứ làm như là những gì anh có là rơi từ trên trời xuống, không phải là do anh đã bỏ ra bao nhiêu công sức, bao nhiêu nơron thần kinh mới đạt được. Về khía cạnh này con người thật hèn hạ, họ cho rằng cuộc đời không công bằng, rằng xung quanh ai cũng có lỗi trừ họ. Nhưng đấu tranh làm gì, nếu không phải chính là để ta lợi dụng hoàn cảnh sẵn có quanh ta cho việc phát triển tài năng của mình và tạo điều kiện làm việc cho mình?  Nếu chấp nhận quan điểm của Bakh & Co. thì không đi xa được…  Đàm Thanh Sơn dịch  [1] A.N. Bakh (1857-1946) là một nhà hóa sinh lớn của Nga, bạn thân của Kapitsa.  (nguyên bản xem ở http://lib.rus.ec/b/214793/read#t25)         Author                Quản trị        
__label__tiasang Không nên ám ảnh bởi công bố “thuần Việt”      Theo PGS. TS Nguyễn Xuân Hoài (Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ thông tin, ĐH Hà Nội), trong giai đoạn này, thay vì bị ám ảnh về  chuyện “công bố thuần Việt”, chúng ta đánh giá vai trò của nhà nghiên  cứu Việt Nam trong công bố quốc tế mà họ tham gia, xem họ là tác giả thứ  nhất hay tác giả liên hệ.    Có thể thấy rằng, đối với công nghệ thông tin và một số lĩnh vực khoa học thực nghiệm khác, việc tăng cường hợp tác quốc tế là điều bắt buộc vì chỉ thông qua đó, chúng ta mới có khả năng tận dụng được cơ sở hạ tầng tính toán tốt ở các quốc gia phát triển như Australia, Hàn Quốc. Với điều kiện cơ sở vật chất trong nước, việc có được những hệ thống siêu máy tính hoặc hệ thống máy tính hiệu năng cao (High Performance Computing) để chạy chương trình tính toán là điều rất khó thực hiện. Vì vậy chúng tôi phải tiến hành mở rộng hợp tác quốc tế thông qua việc liên kết với những người thầy cũ hoặc những nhóm nghiên cứu đối tác để chia sẻ thông tin… Khi cùng thực hiện đề tài nghiên cứu với họ thì đương nhiên, chúng tôi được phép sử dụng miễn phí các hạ tầng tính toán này.     Trong xu thế hiện nay của khoa học thế giới, việc hợp tác quốc tế là điều không còn phải bàn cãi vì vậy các nhà quản lý luôn có những cơ chế khuyến khích hợp tác. Ví dụ trường ĐH Seoul (Hàn Quốc), nơi đạt mức trung bình hằng năm là 4.000 công bố, đã thúc đẩy hợp tác bằng cơ chế tính điểm bài báo. Nếu tác giả bài báo có đồng tác giả là nhà nghiên cứu nước ngoài thì bài báo được tính điểm cao hơn so với bài được thực hiện hoàn toàn từ trong nước.     Vì vậy theo tôi, trong giai đoạn này, thay vì bị ám ảnh về chuyện “công bố thuần Việt”, chúng ta đánh giá vai trò của nhà nghiên cứu Việt Nam trong công bố quốc tế mà họ tham gia, xem họ là tác giả thứ nhất hay tác giả liên hệ, đây mới là yếu tố mang ý nghĩa quan trọng và khẳng định nội lực của nhà nghiên cứu.     Thanh Nhàn ghi  Đọc thêm:  Quy định số công bố ISI nên dựa trên tính đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9056&CategoryID=36         Author                Quản trị        
__label__tiasang Không ra sản phẩm, nhà khoa học phải hoàn trả 100% kinh phí      Thông tư liên tịch 27 vừa được liên Bộ Tài chính, KH&amp;CN ký ngày 30/12 được xem là chìa khóa, “cởi trói” cho các nhà khoa học khỏi “mớ bòng bong” chứng từ, hóa đơn thanh quyết toán-thứ mà nhiều nhà khoa học còn ngại hơn là việc nghiên cứu. Thế nhưng, đi cùng những thuận lợi vốn được mong mỏi bấy lâu, giới khoa học cũng sẽ phải chịu những chế tài khắt khe để bảo đảm không gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước.      Bên lề lễ ký ban hành Thông tư liên tịch 27, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân đã thẳng thắn trao đổi với báo chí về vấn đề này.  – Thưa Bộ trưởng Nguyễn Quân, xin ông cho biết những điểm khác biệt của cơ chế khoán chi theo Thông tư 27 so với cơ chế tài chính trước đây được áp dụng cho nhà khoa học?  Bộ trưởng Nguyễn Quân: Cơ chế khoán chi theo Thông tư 27 khác với Thông tư 93 trước đây. Nếu như Thông tư 93 chỉ khoán chi một phần, tức là những gì chi cho con người [tiền công, hội thảo, công tác trong nước…-pv] thì được khoán. Còn những nội dung như chi phí mua sắm, mua nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị… thì không được khoán mà phải thực hiện đúng quy định của nhà nước, qua đấu thầu…  Còn với Thông tư 27 thì có hai phương thức, một là khoán chi từng phần giống với trước đây, hai là khoán chi tới sản phẩm cuối cùng.  Từ trước tới nay, nhiều đề tài dự án xuất sắc được nghiệm thu nhưng không có sản phẩm, sản phẩm không ứng dụng được vào thực tiễn vì chúng ta kiểm soát đầu vào rất chặt ở chứng từ và các phụ lục nhưng sản phẩm cuối cùng thì lại ít được quan tâm. Giờ đây, với Thông tư 27, cái được quan tâm là sản phẩm cuối cùng của đề tài dự án có đáp ứng được cái tiêu chí đặt ra không?  Chế tài của Thông tư này là nếu đề tài đã nhận khoán chi đến sản phẩm cuối cùng thì trong quá trình tổ chức thực hiện sẽ không được điều chỉnh mục tiêu sản phẩm và kinh phí. Nếu nhà khoa học không bàn giao, không hoàn thành đề tài dự án theo cam kết thì họ phải chịu hình thức xử lý và hoàn trả tiền cho ngân sách nhà nước các kinh phí họ đã sử dụng.  Mức hoàn trả tối thiểu là 40% kinh phí của đề tài, thậm chí nếu là lỗi chủ quan thì phải hoàn trả 100% kinh phí. Như vậy, các nhà khoa học phải hết sức cân nhắc khi nhận các hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.  Việc thực hiện hình thức khoán chi này, tôi tin này là sẽ có hiệu quả xứng đáng. Vì bản thân nhà khoa học nhận khoán chi đến sản phẩm cuối cùng thì trách nhiệm của họ rất lớn và bằng mọi phương thức phải hoàn thành sản phẩm như trong hợp đồng. Bên cạnh đó, họ sẽ huy động nguồn lực để làm thực sự và điều này sẽ khắc phục được một số đề tài dự án lợi dụng cơ chế quản lý còn sơ hở, chưa làm được sản phẩm mà vẫn được nghiệm thu.  – Có ý kiến cho rằng, tâm lý của nhiều nhà khoa học Việt Nam vẫn trong bao cấp. Vậy, nếu trường hợp các nhà khoa học ngại khoán chi tới sản phẩm cuối cùng bởi lo sợ độ rủi ro trong nghiên cứu thì phải làm thế nào?  Bộ trưởng Nguyễn Quân: Thông tư này áp dụng cho tất cả nhiệm vụ  KH&CN thuộc quản lý Nhà nước. Chúng tôi hiểu các đề tài, dự án khoa học luôn có độ rủi ro nên việc khoán chi luôn để các nhà khoa học có sự chọn lựa [khoán chi từng phần và khoán chi tới sản phẩm cuối cùng-pv].  Khi nhận khoán chi toàn bộ, Nhà nước đã giao cho nhà khoa học toàn quyền thì họ không thể làm nửa chừng rồi lại xin áp dụng cơ chế khoán chi từng phần được. Nếu không hoàn thành, họ sẽ chịu chế tài xử lý rất nghiêm khắc nên đòi hỏi họ phải có trách nhiệm cao với việc đăng ký khoán chi theo kiểu này.  – Thông tư 27 không quy định thời gian để cho nhà khoa học thực hiện đề tài nhận theo phương thức khoán chi tới sản phẩm cuối cùng. Điều này liệu có gây ra việc đề tài kéo dài nhiều năm không kết thúc không?   Bộ trưởng Nguyễn Quân: Có hơn 10 Thông tư về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ và trong đó có quy định về thời gian hợp đồng.   Hơn nữa, khi các nhà khoa học được phê duyệt dự án ký hợp đồng thì trong hợp đồng đã quy định đề tài làm trong bao lâu. Hiện nay quy định được gia hạn một lần với thời gian không quá 12 tháng cho các đề tài khi gặp khó khăn và không hoàn thành đúng hạn. Khi hết thời hạn, buộc phải xử lý theo quy định: Nếu hoàn thành thì được nghiệm thu, quyết toán còn ngược lại sẽ có quyết định dừng thực hiện và xử lý về tài chính cũng như chuyên môn.   Như vậy, Thông tư 27 chỉ quy định phương thức khoán chi còn công việc khác đã có quy định từ các Thông tư khác.  – Vấn đề ứng dụng các sản phẩm đầu ra sẽ được thực hiện như thế nào, thưa Bộ trưởng?   Bộ trưởng Nguyễn Quân: Luật KH&CN đã có cơ chế buộc các nhà khoa học khi đã nghiên cứu xong thì phải cung cấp được sản phẩm cho xã hội. Nếu như trước đây, các nhà khoa học khi nhận đề tài làm theo ý muốn chủ quan của mình thì bây giờ buộc phải có 1 cơ quan thẩm định, đề xuất đặt hàng với Bộ  KH&CN hoặc các bộ ngành. Khi đã đề xuất đặt hàng thì cơ quan đó phải cam kết chịu trách nhiệm tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu.   Ví dụ như Bộ Y tế muốn tổ chức nghiên cứu vắcxin thì có thể đặt hàng Bộ KH&CN nhưng phải cam kết sau khi nghiên cứu thành công thì phải chấp nhận kết quả, tổ chức ứng dụng để ra được vắcxin chứ không phải nghiên cứu xong thì không tìm được nơi ứng dụng, không có nguồn lực để thương mại hóa, đưa kết quả đó vào sản xuất.   Đương nhiên, trong  KH&CN có các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Ở lĩnh vực cơ bản thì sản phẩm nghiên cứu là sản phẩm đi trước, đặt tiền đề cho nghiên cứu ứng dụng.   Thậm chí, nghiên cứu ứng dụng cũng không phải nhiệm vụ nào cũng có thể ứng dụng ngay mà nó còn chờ đợi nhà đầu tư, cơ hội và quan trọng là chờ đợi thị trường. Ngay cả các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản, tỷ lệ ứng dụng cũng chỉ trên dưới 30%…  – Xin cảm ơn Bộ trưởng!  Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/khong-ra-san-pham-nha-khoa-hoc-phai-hoan-tra-toi-100-kinh-phi/363784.vnp      Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể áp một khuôn cho tất cả các ngành      Chúng ta cần có sự đầu tư bài bản từ chương trình học, thầy hướng dẫn có kinh nghiệm quốc tế. Và quan trọng hơn hết là cần có một lộ trình chính sách để dần dần nâng tầm trình độ nghiên cứu sinh (NCS) chứ không thể ngay lập tức “đưa người lên Sao Hỏa”.      Nguồn ảnh: chronicle.com  Thông tư 18-2021 (TT2021) về đào tạo tiến sĩ chấp nhận mọi hình thức công bố trong hoặc ngoài nước với các thang điểm quy đổi khác nhau, được cho là quá dễ so với mặt bằng chung của các ngành khối khoa học tự nhiên và một số ngành bên khối xã hội (như kinh tế học).   Thực chất TT2021 có ưu điểm là tính đến sự dị biệt khác nhau của các khối ngành. Đối với khối nghiên cứu nhân văn, hướng tới công bố quốc tế là cần thiết để thảo luận với học giới nước ngoài, nhưng ISI/ SCOPUS cũng không phải là thang đo duy nhất để đánh giá các công trình khoa học, vì nó chỉ là một tiêu chuẩn dù cao, nhưng vẫn chỉ là một phần trong các danh mục tạp chí ở các hệ thống học thuật khác nhau. Trong khi ISI/ SCOPUS là hệ tiêu chuẩn của các tập đoàn tư bản in ấn được sử dụng rộng rãi chủ yếu cho các xuất bản phẩm Anh ngữ thì cũng còn nhiều quốc gia mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính thức như Nhật, Nga, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha…. Các nước này đều có chuẩn quốc gia của mình cho công bố khoa học, như CSSCI của Trung Quốc, KSSCI của Hàn Quốc, RSCI của Nga. Tại sao ta chỉ công nhận chuẩn của các tập đoàn xuất tư bản Âu Mĩ, mà bỏ qua các chuẩn quốc gia của các cường quốc khoa học khác1?  Khối ngành nhân văn nghiên cứu cả các vấn đề lịch sử, văn hóa, hệ thống chính trị-xã hội… có tính địa phương, vì vậy thảo luận trên các tạp chí trong nước cũng rất quan trọng. Thực tế là các tạp chí trong nước vẫn (đã/ đang/ sẽ) là những hệ ‘lưới lọc’ để cho ra đời các công bố khoa học, vẫn đang là không gian thảo luận của các nhà nghiên cứu nhân văn trong nước và quốc tế. Có thể, trên một phương diện nào đó sẽ không thể so bì với các tạp chí ISI/Scopus, nhưng không vì thế mà phủ định sạch trơn rằng nó là vô giá trị. Mặt khác, nếu phát hiện ra các nghiên cứu vô giá trị, hội đồng đánh giá có quyền và trách nhiệm phủ nhận trong các hội đồng chấm luận án tiến sĩ.  Mặt khác, nghiên cứu nhân văn chưa có được chính sách đầu tư hệ thống, bài bản, lâu dài để hướng tới quốc tế hóa mà hầu như chúng tôi mới chỉ nhận được yêu cầu phải công bố theo đúng chuẩn ISI/Scopus. Đây là một điều không khả thi sau nhiều năm đa phần các thế hệ thầy và trò của ngành chưa cọ xát trong môi trường học thuật quốc tế, rào cản ngôn ngữ để công bố một bài viết bằng ngoại ngữ là rất lớn với những nhà nghiên cứu hoàn toàn “made in Vietnam”. Thậm chí nhiều giáo sư Việt kiều trong ngành Việt Nam học phải đỡ đầu cho các nhà nghiên cứu trong nước, hỗ trợ dịch thuật, hiệu đính rất nhiều. ở các cơ sở giáo dục trong nước, không nhiều giáo sư nhóm ngành nhân văn có thể công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín. Thế hệ các giáo sư đầu ngành hiện nay cơ bản được đào tạo từ Xô Viết hay Trung Quốc. Chính trị và thời thế sang dòng, khiến công bố quốc tế trở thành chính sách “sửa lưng”. Thêm nữa, đòi hỏi NCS, người mới chỉ bắt đầu sự nghiệp học tập và nghiên cứu công bố ngay được là rất khó. Chúng ta cần có sự đầu tư bài bản từ chương trình học, thầy hướng dẫn có kinh nghiệm quốc tế. Và quan trọng hơn hết là cần có một lộ trình chính sách để dần dần nâng tầm trình độ NCS chứ không thể ngay lập tức “đưa người lên Sao Hỏa”.  Chính vì những lý do ở trên, việc cần có thầy hướng dẫn đủ kinh nghiệm dìu dắt NCS đi đúng hướng quốc tế hóa là cần thiết. Tuy nhiên, tiêu chuẩn TT2021 có điểm chưa hợp lý khi yêu cầu tiêu chuẩn người hướng dẫn nếu không có công bố quốc tế thì phải có đủ 4 điểm công bố trong nước trong 5 năm gần nhất. Ví dụ: 1 chuyên luận (3 điểm) + 2 bài tạp chí uy tín trong nước; hoặc nếu không có chuyên luận thì phải có 5 bài tạp chí uy tín trong nước. Nếu coi chỉ tiêu hoàn thành hằng năm (KPI) của một giảng viên hướng dẫn có ngạch tương đương với giảng viên cao cấp hoặc giảng viên, thì mỗi năm vị ấy chỉ có 1 điểm khoa học.   Thực ra, tiêu chuẩn này quá thấp, vì đã có một số nhà nghiên cứu nhân văn có cả công bố trong nước và có công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín trong vòng 5 năm trở lại đây (ngay ở cơ quan tôi hiện nay ngạch Nghiên cứu viên chính đang được cơ quan giao KPI là 4 điểm/năm). Nếu chỉ tính công bố trong nước trong 5 năm gần nhất, như cá nhân tôi, thì tổng điểm sẽ là tối thiểu 20 điểm.  Năng lực của người thầy là yếu tố quyết định tới quá trình nghiên cứu của NSC. Trong trường hợp người thầy không có công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín, hoặc không có chuyên luận xuất bản trong 5 năm gần đây mà vẫn được hướng dẫn NCS thì sẽ rất khó hướng tới một chuẩn quốc gia và quốc tế như tất cả chúng ta mong muốn. □  —  Chú thích: 1 https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Quy-NAFOSTED-Can-mo-rong-khung-tieu-chuan-cong-bo-quoc-te-10759    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Không thể làm chủ công nghệ ĐHN nếu thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi và hùng hậu      Nếu làm đúng, bài bản và sát với những vấn đề của thực tiễn thì chỉ sau 10 đến 12 năm, Việt Nam sẽ có khoảng 30 đến 40 chuyên gia hàng đầu đảm trách nhiệm vụ nghiên cứu triển khai phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân – TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng.      Đội ngũ đảm trách công tác nghiên cứu triển khai đóng vai trò như thế nào trong chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam?  Tại các quốc gia phát triển về điện hạt nhân trên thế giới, ngành hạt nhân có ba phần chính: Thứ nhất là các công ty điện lực vận hành các nhà máy điện hạt nhân (gọi là Utilities); Thứ hai là cơ quan pháp quy hạt nhân có nhiệm vụ đưa ra hệ thống pháp quy, quy định, yêu cầu ràng buộc về an toàn đối với Utilities để đảm bảo an toàn cho con người và môi trường; Thứ ba là các cơ quan nghiên cứu triển khai (R&D) và hỗ trợ kỹ thuật (Technical Support Organizations – TSO) cho điện hạt nhân. Với các nước này, có thể R&D cho điện hạt nhân và TSO có sự tách biệt nhưng ở Việt Nam, do lĩnh vực này vẫn chưa được hình thành rõ nên có thể coi cả hai cùng thuộc một bộ phận chung. Đây là đội ngũ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, tập trung thực hiện các việc chính sau đây:  – Trước hết họ phải biết rõ về công nghệ, hệ thống trang thiết bị, chức năng, cũng như nắm rõ các quá trình vật lý xảy ra trong các hệ thống và thiết bị nhà máy điện hạt nhân, ảnh hưởng, tương tác giữa các hệ thống, thiết bị (phần này cũng giống như những người vận hành của Utilities);  – Họ phải là đội ngũ có đủ năng lực đánh giá được an toàn cho nhà máy điện hạt nhân, dự báo được những gì có thể xảy ra, ở mức độ nào; và nếu xảy ra thì [tình thế] sẽ ra sao, những cách gì có thể hạn chế được các vấn đề trục trặc xảy ra; có cách nào có thể phòng chống các sự cố, hay giảm thiểu hậu quả của sự cố [nếu xảy ra mặc dù xác suất vô cùng thấp].   – Những người làm đảm trách công việc nghiên cứu phải có khả năng cao hơn để đề ra được các nhiệm vụ nghiên cứu liên quan, triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu để ngày càng hiểu rõ và nắm sâu hơn về công nghệ, về các vấn đề an toàn, tiến tới hỗ trợ công tác vận hành ở các nhà máy điện hạt nhân đạt tính hiệu quả và kinh tế.            Khi những lĩnh vực hỗ trợ cho điện hạt nhân được phát triển đạt trình độ quốc tế, có đội ngũ chuyên gia giỏi, hùng hậu mới có thể nói ta đã làm chủ công nghệ điện hạt nhân, đảm bảo vấn đề an toàn, qua đó phát triển bền vững chương trình điện hạt nhân.         Ở mức độ nào đó, những người vận hành trong nhà máy điện hạt nhân cũng cần có những kiến thức và kỹ năng nêu trên nhưng có thể ở mức độ và yêu cầu khác nhau. Những người làm công tác vận hành hiểu rõ nhiệm vụ, thao tác, quy trình… để vận hành an toàn nhà máy điện hạt nhân, còn những người đảm trách việc nghiên cứu, chuyên gia là những người am hiểu bản chất các hiện tượng, quá trình, những gì xảy ra ngoài (phía sau, xa hơn) việc vận hành bình thường, bao gồm cả thay đổi, hay sự cố có thể xảy ra (với xác suất thấp) và cả dự đoán, biện pháp bảo vệ hay phòng ngừa, giảm thiểu ảnh hưởng sự cố. Đây chính là cách tiếp cận “bảo vệ theo chiều sâu” (Defence in Depth) về mặt năng lực con người cho việc đảm bảo an toàn của các nhà máy điện hạt nhân.  Đội ngũ nghiên cứu ở các nước có điện hạt nhân chính là những người làm việc tại các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, hay các đơn vị tư vấn thiết kế [nhà máy điện hạt nhân]. Dựa trên kết quả đánh giá và phân tích của họ, các công ty điện lực có thể củng cố vấn đề an toàn cho các nhà máy hoặc quyết định đóng cửa nhà máy. Những kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để những người làm pháp quy hạt nhân xây dựng hay đánh giá lại yêu cầu an toàn và đưa ra quy định chặt chẽ hơn để các công ty điện lực phải thực hiện và tuân thủ. Vì vậy đội ngũ nghiên cứu cần cho cả các công ty điện lực lẫn cơ quan pháp quy. Thông thường, những người làm việc tại cơ quan pháp quy hạt nhân được chọn từ nhà máy hoặc từ những nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, các chuyên gia giỏi.   Điều kiện nào để Việt Nam có thể làm chủ được công nghệ điện hạt nhân?  Hiện nay, Việt Nam đang bắt đầu chương trình điện hạt nhân. Đội ngũ chuyên gia, những người làm khoa học hiện nay về điện hạt nhân (không nhiều) trước hết sẽ giúp Việt Nam hiểu rõ về công nghệ, các vấn đề an toàn, thực hiện các nhiệm vụ tư vấn về công nghệ và an toàn, về các vấn đề khác liên quan như đánh giá tác động môi trường, phát tán phóng xạ, hay giữ và quản lý chất thải phóng xạ v.v. Dần dần, đội ngũ những người làm nghiên cứu, tư vấn này sẽ lớn mạnh, có những chuyên gia giỏi (qua đào tạo, đặc biệt đào tạo ở nước ngoài, đào tạo qua công việc hiện nay), họ sẽ xây dựng năng lực khoa học về những lĩnh vực hỗ trợ cho điện hạt nhân, ví dụ như về vật lý lò hạt nhân, về nhiên liệu, vật liệu hạt nhân, về cơ học dòng chảy, về thủy nhiệt, đo lường điều khiển v.v. Việt Nam chỉ có thể làm chủ công nghệ điện hạt nhân, đảm bảo an toàn và ngành điện hạt nhân phát triển bền vững khi sở hữu đội ngũ chuyên gia giỏi, hùng hậu, góp phần đưa những lĩnh vực khoa học này phát triển đạt trình độ quốc tế.      Sinh viên Khoa Vật lý hạt nhân, trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TPHCM thực tập tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Nguồn: ĐH Quốc gia TPHCM  Theo ông, những lĩnh vực nào chúng ta cần tập trung đào tạo đội ngũ nghiên cứu, triển khai?  Trước mắt, chúng ta cần tập trung đào tạo đội ngũ nghiên cứu triển khai trong các những lĩnh vực chính sau đây:    – Thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân: Hiểu về quá trình thiết kế, các hệ thống, những yêu cầu bắt buộc [kèm theo], đánh giá công nghệ, thiết kế; Hiểu về thiết kế, xây dựng, thử nghiệm, giám sát chất lượng.    – Điều hành, bảo dưỡng và sửa chữa nhà máy điện hạt nhân: Hiểu về cách thức điều khiển và vận hành nhà máy (bao gồm cả điều khiển và kiểm tra, yếu tố con người); Pháp quy, kiểm tra, bảo dưỡng (bao gồm cả đánh giá không phá hủy), quá trình lão hóa vật liệu, thiết bị, cấu trúc.   – An toàn hạt nhân: Hiểu về thiết kế an toàn, các giới hạn của nó; Hiểu về các phương pháp phân tích an toàn, những giới hạn của nó; Hiểu về quản lý sự cố, ứng phó tình trạng khẩn cấp.    – Nhiên liệu và chu trình nhiên liệu: Hiểu về các loại vật liệu và nhiên liệu hạt nhân; Hiểu về tối ưu thay đảo nhiên liệu; Hiểu về chu trình nhiên liệu hạt nhân, bao gồm cả các nhiệm vụ về an toàn hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân.   – Kinh tế điện hạt nhân: Hiểu về tính kinh tế của điện hạt nhân, tính kinh tế của năng lượng, các hệ quả kinh tế, chu trình nhiên liệu, vòng đời nhà máy điện hạt nhân, phân tích rủi ro v.v.   Dự kiến, chúng ta sẽ cần đào tạo khoảng 40 chuyên gia đảm trách công việc nghiên cứu thuộc các lĩnh vực trên.   Với điều kiện Việt Nam hiện nay, những nhiệm vụ nào là quan trọng và thiết thực mà đội ngũ nghiên cứu triển khai có thể thực hiện?   Nhiệm vụ quan trọng và thiết thực hiện nay đối với đội ngũ nghiên cứu là tham gia thực hiện Thẩm định báo cáo Nghiên cứu khả thi (FS) và báo cáo Phân tích an toàn (SAR) nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Tuy chưa mạnh như các nước đã phát triển về điện hạt nhân nhưng đội ngũ hiện nay của Việt Nam có thể tham gia thực hiện được nhiều nhiệm vụ liên quan đến Thẩm định này. Quá trình tham gia thực hiện nhiệm vụ Thẩm định sẽ vô cùng quan trọng và quý giá để chúng ta tích lũy kinh nghiệm, học hỏi, dần dần nâng cao năng lực của đội ngũ nghiên cứu hiện nay (đào tạo thông qua công việc). Đội ngũ cán bộ nghiên cứu hiện nay chủ yếu làm việc tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, và Viện là đơn vị nghiên cứu hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan thực hiện vai trò quản lý nhà nước về hạt nhân. Do đó, việc cán bộ nghiên cứu của Viện tham gia thực hiện Thẩm định cũng hoàn toàn phù hợp.   Trước những yêu cầu của chương trình điện hạt nhân (về Thiết kế và tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân; Vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân; Phân tích an toàn) cũng như yêu cầu của ngành hạt nhân (như Công nghệ chu trình nhiên liệu; Nghiên cứu và Đào tạo nhân lực; Pháp quy, thanh tra và quản lý các cơ sở hạt nhân), chúng ta có thể làm những gì để đào tạo lực lượng nghiên cứu triển khai phù hợp với những yêu cầu này?   Để đào tạo được đội ngũ cán bộ nghiên cứu triển khai phù hợp với yêu cầu, trước hết chúng ta cần có sự chỉ đạo quyết tâm của Chính phủ. Cùng với đó là việc thực hiện một cách nghiêm túc  Chương trình đào tạo chuyên gia điện hạt nhân (NEST) mà Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đề xuất vào năm 2014. Dự kiến, Chương trình sẽ lựa chọn những kỹ sư, cử nhân xuất sắc về chuyên môn ở những chuyên ngành phù hợp, giỏi ngoại ngữ từ các trường đại học của Việt Nam để tham gia khóa học PGTP (Post Graduate Training Program) của Viện trong vòng chín tháng với các nội dung: những môn cơ bản về năng lượng hạt nhân, quản lý điện hạt nhân, vật lý lò phản ứng, cơ- thủy nhiệt, đo lường điều khiển, động học lò, mô hình và mô phỏng, vật liệu và nhiên liệu hạt nhân… Giảng viên của PGTP sẽ là các chuyên gia của Viện (đang làm việc hoặc đã về hưu nhưng vẫn có khả năng tham gia đào tạo), giáo sư, chuyên gia quốc tế cũng như chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài.   Chương trình PGTP bao gồm hai học phần, học phần cơ bản và nâng cao nhằm tạo điều kiện cho các học viên đạt được trình độ cần thiết trước khi được lựa chọn cử đi nước ngoài đào tạo. Đội ngũ giáo viên sẽ có nhiệm vụ kèm và hướng dẫn từng học viên của chương trình đào tạo.             Nếu chúng ta không có cách làm đúng, không thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ, giỏi, có năng lực thì có thể không bao giờ có được đội ngũ như vậy. Họ chính là tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước.           Từ mối quan hệ hợp tác của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Chương trình sẽ kết nối với các giáo sư, viện nghiên cứu quốc tế để tạo điều kiện cho học viên Việt Nam được lựa chọn từ khóa học PGTP ra nước ngoài tiếp tục đào tạo nâng cao. Họ tập trung nghiên cứu về các chủ đề của điện hạt nhân Việt Nam do các giáo sư nước ngoài xác định với sự tư vấn, đề xuất của đội ngũ chuyên gia (giáo viên) trong nước. Sau khi kết thúc các đợt học tập này, học viên sẽ trở về làm việc tại các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu của Viện theo từng lĩnh vực chuyên môn. Họ cần được tạo điều kiện và môi trường tốt để làm việc và đóng góp sau quá trình đào tạo.  Việt Nam cần những giải pháp gì để thúc đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện kế hoạch đào tạo đội ngũ chuyên gia điện hạt nhân?   Một số nội dung chủ yếu của Chương trình đào tạo chuyên gia cũng được thể hiện trong Quyết định số 7156/QĐ-TTg vừa được Chính phủ ban hành ngày 15/10/2015. Một số giải pháp cần thiết bổ sung để đạt được mục tiêu đào tạo đội ngũ chuyên gia cho điện hạt nhân Việt Nam:   – Tạo điều kiện, đẩy mạnh đào tạo qua công việc (ví dụ Thẩm định nêu trên, hoặc nhiệm vụ thực tế liên quan đến triển khai xây dựng Trung tâm KH&CN hạt nhân – Trung tâm cần được triển khai sớm và lò nghiên cứu mới cần có địa điểm thích hợp mới có thể thu hút được đội ngũ chuyên gia giỏi);   – Cần có một chủ trương của Nhà nước, và có một học bổng đặc biệt thu hút những kỹ sư giỏi mới ra trường, giỏi ngoại ngữ, đã được đào tạo trong những lĩnh vực liên quan (vật lý hạt nhân, công nghệ hạt nhân, toán, cơ học dòng chảy, cơ khí, luyện kim, thủy nhiệt, đo lường điều khiển, hóa học nhiên liệu vật liệu, hóa nước v.v.), đào tạo họ theo chuyên ngành hạt nhân cơ bản và tiếp tục gửi đi đào tạo dài hạn ở nước ngoài tại các cơ sở nghiên cứu, thiết kế hạt nhân.   – Cần tổ chức lớp học chín tháng (hai học kỳ) trong nước tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam để đào tạo những kỹ sư mới, giỏi trước khi gửi họ ra nước ngoài đào tạo (nêu trên);  – Đối với đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo, tạo điều kiện cho họ được đào tạo bổ sung ở nước ngoài để có chuyên môn tốt hơn đáp ứng yêu cầu đào tạo đưa ra;   – Tạo điều kiện, cơ chế và môi trường làm nghiên cứu tốt cho những người được đào tạo về làm việc, cũng như thu hút người có trình độ cao.  Theo ông, khi nào Việt Nam có được đầy đủ đội ngũ đảm trách công tác nghiên cứu triển khai cần thiết để xây dựng, vận hành, phát triển và quản lý chương trình điện hạt nhân an toàn hiệu quả?            Việc đào tạo nhân lực của chúng ta vẫn bị ràng buộc bởi các quy trình mang tính thủ tục (ví dụ về tài chính) và cách làm chưa sát với yêu cầu thực tế nên chưa đi vào thực chất, chưa hướng đến mục tiêu chính, dẫn đến hiệu quả đạt được còn thấp, nhiều khi chỉ mang tính phong trào và hình thức.         Vấn đề này tùy thuộc vào cách làm của chúng ta. Nếu chúng ta biết làm đúng, bài bản, thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ (như đã nêu trên) thì đội ngũ có đủ năng lực sẽ được hình thành sớm (khoảng từ 10 đến 12 năm). Chúng ta cũng không cần số lượng quá nhiều về đội ngũ chuyên gia giỏi này (chỉ khoảng 30 đến 40 người cho lĩnh vực nghiên cứu triển khai, chủ yếu ở Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) nhưng nếu chúng ta không có cách làm đúng, không thu hút được các cán bộ trẻ thì có thể không bao giờ có được đội ngũ như vậy. Nguồn nhân lực khoa học trình độ cao là then chốt, chính họ mới là tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước.   Ông có thể đề xuất một số kiến nghị để đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo đội ngũ nghiên cứu triển khai   Theo tôi, cần chú trọng hơn nữa, quan tâm thực sự và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực khoa học, đặc biệt cho chương trình điện hạt nhân (thực tế cho thấy hiện nay bất kỳ chương trình nào cũng cần con người giỏi, có trình độ và tâm huyết). Thực tế đào tạo nhân lực hạt nhân hiện nay cho thấy, việc đào tạo của chúng ta vẫn bị ràng buộc bởi các quy định hiện hành, quy trình thủ tục (ví dụ về tài chính) và cách làm chưa sát với yêu cầu thực tế nên chưa đi vào thực chất, chưa hướng đến mục tiêu chính, dẫn đến hiệu quả đạt được còn thấp, nhiều khi chỉ mang tính phong trào và hình thức.   Không có những con người giỏi và tâm huyết, chương trình điện hạt nhân khó có thể thành công.   Trân trọng cảm ơn ông  Thanh Nhàn thực hiện              Author                Quản trị        
__label__tiasang Không thể “né” mãi      Cho đến nay, các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&amp;NV do Quỹ Nafosted tài trợ vẫn được hưởng biệt lệ là chưa phải áp dụng tiêu chí “có công bố quốc tế mới được nghiệm thu” như đã áp dụng với lĩnh vực KHTN. Bàn về vấn đề này, GS. TS Trần Ngọc Vương cho rằng, mặc dù các ngành KHXH&amp;NV gặp nhiều khó khăn hơn KHTN trong việc công bố quốc tế, nhưng không nên vì vậy mà duy trì mãi tình trạng “KHTN cứ làm còn KHXH&amp;NV cứ tránh”.      Việc áp dụng tiêu chí đánh giá bằng công bố quốc tế đối với các công trình nghiên cứu KHXH&NV là một hoạt động bình thường trên thế giới, Việt Nam chưa áp dụng được thì cần tiến tới áp dụng. Tuy nhiên, việc bắt buộc phải có công bố quốc tế cũng có nguy cơ bộc lộ một số mặt hạn chế.   Những khó khăn của ngành KHXH&NV khi công bố quốc tế  Những khó khăn mà các nhà nghiên cứu thuộc khối KHXH&NV thường gặp, trước hết nằm ở chỗ số lượng tạp chí, địa chỉ công bố quốc tế ít hơn hẳn so với KHTN, chưa kể có những lĩnh vực mà hệ thống tạp chí quốc tế không thể cập nhật hết được. Tôi đã đọc không ít những công trình KHXH&NV có chất lượng thực sự đạt tới “đẳng cấp quốc tế”, nhưng khi suy nghĩ theo lối giả định, cái này in ở đâu trên các tạp chí bên ngoài nhỉ, thì lại khó tìm câu trả lời!  Bên cạnh đó, phải kể đến “tính có biên giới” của KHXH&NV, nhiều khi những vấn đề và hệ vấn đề được nghiên cứu mang tính bản địa hóa cao, lệ thuộc vào thể chế chính trị, hệ tư tưởng, bởi vậy để đăng được bài báo trên những tạp chí ở các nước có bản chất chế độ chính trị khác là cực khó.   Một khó khăn nữa thuộc về vấn đề ngôn ngữ công bố. Phần đông các nhà nghiên cứu KHXH&NV, đặc biệt là thế hệ U60, không biết ngoại ngữ hoặc biết không đến nơi đến chốn, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan. Trong khi đó, để dịch các bài báo sang tiếng nước ngoài, đòi hỏi phải thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành với hệ thống từ vựng đã được quốc tế hóa, đồng thời phải có khả năng xây dựng những thuật ngữ mới. Đây cũng là yêu cầu khó hơn so với việc viết bài báo KHTN vì nếu ngôn ngữ KHTN tương đối rõ ràng, thống nhất và lại được hỗ trợ bởi các công thức thì với ngôn ngữ KHXH&NV chỉ có các vỉa tầng ngữ nghĩa phức tạp, sự khai thác, chuyển đổi ngôn ngữ nông cạn có thể sẽ làm mất hết ý nghĩa của nghiên cứu.  Cá nhân tôi đã có một số bài công bố bằng tiếng Anh, tiếng Pháp thì những bài này đều do các chuyên gia người Việt ở nước ngoài giúp dịch mà nhiều chỗ vẫn phải đánh vật, có bài báo mất đến bốn tháng mới dịch xong mà khi công bố vẫn có những từ gây thắc mắc.   Tuy khó nhưng vẫn phải làm  Nói ra những khó khăn như vậy không có nghĩa là cứ nên giữ mãi khoảng trống như hiện nay về công bố quốc tế trong KHXH&NV. Năm năm trước, khi đặt ra điều lệ đặc thù cho các công trình KHXH&NV, Bộ KH&CN đã có những cuộc họp tính đến tất cả những khó khăn trong việc áp dụng tiêu chí công bố quốc tế; tuy nhiên sau năm năm, không nên để tình trạng KHTN cứ làm còn KHXH&NV cứ tránh. Việc thay các bài công bố quốc tế bằng chuyên luận không tránh khỏi tính tình huống của nó, bởi trên thực tế, nhiều chuyên luận chất lượng không cao, không tương xứng với đầu tư.  Công bố quốc tế nhìn chung vẫn là một chuẩn mực giúp nâng tầm nhà khoa học, bởi vậy nếu không trước là khuyến khích sau là bắt buộc thì mãi mãi chúng ta không thể có được những bài báo quốc tế không tì vết. Vì vậy, cần có những động thái từ cả phía nhà khoa học lẫn nhà quản lý để thúc đẩy những nỗ lực công bố quốc tế nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu KHXH&NV.   Có những lĩnh vực có thể yêu cầu triển khai công bố quốc tế – KHXH thì thuận lợi hơn các ngành NV – và phải chỉ ra những lĩnh vực đó, chẳng hạn như kinh tế, nhân học, dân tộc học, tâm lý học thực nghiệm, xã hội học… Có thể lúc đầu chưa đặt yêu cầu ráo riết về xếp hạng của tạp chí mà mang tính khuyến khích nhiều hơn để dần dần việc công bố quốc tế trở thành bình thường.   Đồng thời, phải tìm hướng hỗ trợ nhà khoa học một cách thiết thực, chẳng hạn trong việc dịch các bài báo sang tiếng nước ngoài, bởi có những nhà nghiên cứu giỏi chuyên môn nhưng không giỏi ngoại ngữ, công trình của họ từ đầu đến cuối không bóng dáng trích dẫn tạp chí nước ngoài nào nhưng lại hàm chứa những luận điểm có giá trị, những nhà khoa học này càng cần được hỗ trợ nhiều hơn để có thể hoàn thiện nghiên cứu của mình theo các chuẩn mực nghiên cứu quốc tế và công bố ra các tạp chí nước ngoài. Họ cần có cơ hội hợp tác với những dịch giả có chuyên môn thực sự chứ không thể theo kiểu thuê dịch khoán, và phải tạo cơ chế để nhà khoa học và dịch giả hợp tác với nhau trong suốt quá trình tạo ra một văn bản nguyên gốc, khi cần thiết có thể ngay từ đầu xác lập ra một hệ thống thuật ngữ phù hợp cho công trình nghiên cứu.    Trước mắt nên khuyến khích mọi công bố quốc tế  Một kinh nghiệm mang tính “tiểu nông” nhưng cũng đáng tham khảo của ĐH Quốc gia Hà Nội: Trường chúng tôi khuyến khích mọi công bố quốc tế, ở tạp chí nào cũng được, miễn là quốc tế. Các công bố này đều được hỗ trợ từ 3 đến 12 triệu, tùy theo xếp hạng của tạp chí. Việc công bố quốc tế dù ở tạp chí thứ hạng nào cũng đều mang lại những tác động thiết thực với nhà nghiên cứu: nó khiến cho họ bên trong tự tin và bên ngoài hòa đồng với cộng đồng khoa học rộng rãi. Công bố quốc tế sẽ kích thích người công bố năng động hơn, phải đọc nhiều hơn, và điều này sẽ giúp mở rộng kiến văn của họ. Những va đập từ những lần thất bại, bị từ chối cũng sẽ buộc họ phải rút ra những bài học để hướng đến chuẩn mực quốc tế một cách nghiêm túc hơn.   Có vẻ như chúng ta có thể trông đợi xu hướng hướng tới công bố quốc tế ở thế thệ những nhà nghiên cứu U40-U30 bởi họ có nền tảng ngoại ngữ cơ bản tốt hơn cũng như có sự tiếp xúc chủ động và phong phú với đồng nghiệp quốc tế.        Cần nhưng chưa đủ              Không phải mọi công bố ở các tạp chí  quốc tế,  kể cả được đánh giá là hàng đầu thế giới, đều có giá trị cao. Ngược lại,  trong lịch sử không thiếu gì những công trình công bố sơ sài, đơn giản  lại có tác động lớn. Hơn nữa, các tạp chí uy tín thường tập trung ở  những nước có nền khoa học phát triển, vô hình trung những nhà khoa học  có quan hệ hướng ngoại hoặc được đào tạo ở nước ngoài sẽ có lợi thế hơn  một cách rõ rệt.               Bởi vậy, việc khuyến khích, thúc đẩy nỗ lực công bố  quốc tế là cần thiết, nhưng không nên tuyệt đối hóa tiêu chí công bố  quốc tế, coi đó là tiêu chí duy nhất để đánh giá chất lượng các công  trình nghiên cứu. Theo tôi, chỉ nên xem tiêu chí công bố quốc tế như một  trong số các tiêu chí để tham chiếu, và cho nó một trọng số phù hợp  trong việc đánh giá, nghiệm thu các công trình nghiên cứu KHXH&NV.                       Khánh Minh  ghi   Đọc thêm:    Lại bàn về công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế: Nhiều chưa hẳn tốt (Phạm Duy Hiển)  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7596         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu CNC Hòa Lạc: Đô thị sinh thái và thông minh      Nhân sự kiện khởi công dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc ngày 26/6 vừa qua, ông Phạm Đại Dương, Trưởng Ban Quản lý Khu CNC Hòa Lạc, đã trả lời phỏng vấn tạp chí Tia Sáng chung quanh chiến lược nhằm phát triển khu CNC này thành một thành phố khoa học và công nghệ có khả năng thu hút các phòng thí nghiệm, các trung tâm nghiên cứu với mức đầu tư lớn và sử dụng đất tiết kiệm.      Phát triển cơ sở hạ tầng: Giảm phụ thuộc vào đầu tư từ ngân sách  Xin ông cho biết dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc được căn cứ trên những mục tiêu và tính toán chiến lược cụ thể ra sao?  Khu CNC Hòa Lạc được xây dựng với mục tiêu phát triển thành một thành phố khoa học và công nghệ, một đô thị sinh thái và thông minh. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nơi đây sẽ bao gồm một chuỗi các hoạt động: từ đào tạo, ươm tạo đến nghiên cứu, thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và cuối cùng là sản xuất, cùng đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ. Với Dự án phát triển cơ sở hạ tầng này, Khu CNC Hòa Lạc sẽ có một đồ án quy hoạch và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và hiện đại.   Tại buổi làm việc mới đây về việc hợp tác giữa Khu CNC Hòa Lạc với các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN, chúng tôi được nghe câu chuyện, sau khi chấm điểm cho Khu CNC Hòa Lạc 48, và Khu công nghiệp Yên Phong Bắc Ninh 50, Samsung đã lựa chọn Khu công nghiệp Yên Phong Bắc Ninh. Vậy đâu là các mặt hạn chế đáng kể nhất khiến Khu CNC Hòa Lạc bị các doanh nghiệp như Samsung trừ điểm?           Thời gian  qua, khi cơ sở hạ tầng chưa được đồng bộ, Ban Quản lý chủ trương chưa  đẩy mạnh hoạt động thu hút, xúc tiến đầu tư, để tránh tình trạng khi các  nhà đầu tư đến tìm hiểu nhưng cơ sở hạ tầng lại không đáp ứng được yêu  cầu. Điều này dễ gây ra “tác dụng ngược” cho hoạt động thu hút đầu tư  của Khu CNC Hòa Lạc và rất khó để Ban Quản lý có thể thu hút trở lại các  nhà đầu tư này khi hạ tầng hoàn thiện vào năm 2018.        Lý do thì có nhiều nhưng theo tôi chủ yếu là do hạ tầng chưa thực sự đồng bộ và chính sách đối với nhà đầu tư chưa ở mức ưu đãi cao nhất. Đặc biệt, chất lượng và sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng cho việc quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Trong thời gian qua, khi cơ sở hạ tầng chưa được đồng bộ, Ban Quản lý chủ trương chưa đẩy mạnh hoạt động thu hút, xúc tiến đầu tư, để tránh tình trạng khi các nhà đầu tư đến tìm hiểu nhưng cơ sở hạ tầng lại không đáp ứng được yêu cầu. Điều này dễ gây ra “tác dụng ngược” cho hoạt động thu hút đầu tư của Khu CNC Hòa Lạc và rất khó để Ban Quản lý có thể thu hút trở lại các nhà đầu tư này, khi hạ tầng hoàn thiện vào năm 2018.     Tuy nhiên, hiện nay các vấn đề nêu trên đã cơ bản được giải quyết. Ngày 26/6/2015, Ban Quản lý đã khởi công xây dựng dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu sử dụng nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản để hoàn thiện, nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện tại và sẽ hoàn thành vào cuối năm 2018. Các chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù tại Khu CNC Hòa Lạc cũng đang được xây dựng, hoàn thiện và dự kiến trình Chính phủ ban hành vào cuối năm 2015.    Yêu cầu đặt ra của Khu CNC Hòa Lạc đối với các doanh nghiệp đến đầu tư khác với các khu công nghiệp thông thường ra sao?  Mục tiêu xây dựng Khu CNC Hòa Lạc không giống với các khu công nghiệp khác, đó là không chỉ tập trung vào thu hút sản xuất công nghiệp công nghệ cao, mà quan trọng hơn là giúp tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Chúng tôi tập trung thu hút các phòng thí nghiệm, các trung tâm nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ cao với mức đầu tư lớn và sử dụng đất tiết kiệm. Hiện nay, nhiều đơn vị nghiên cứu đã và đang đầu tư xây dựng tại đây như Trung tâm Vũ trụ Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu của Công ty Nissan Techno, Trung tâm Điều khiển vệ tinh nhỏ, Trung tâm Công nghệ cao về thông tin và truyền thông, Viện Nghiên cứu phát triển của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, Viện KH&CN Việt Nam – Hàn Quốc (V-KIST),…   Do đó, đối với tập đoàn Samsung hay các tập đoàn quốc tế lớn khác đã và sẽ đầu tư vào Việt Nam, chúng tôi sẽ xây dựng chiến lược để thu hút các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm của các tập đoàn này đầu tư tại Khu CNC Hòa Lạc.   Ông có thể làm rõ hơn tính chất các khoản vay để thực hiện dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc?   Dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc là dự án vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Nhật Bản với lãi suất ưu đãi hơn mức lãi suất vay thương mại thông thường, thời gian ân hạn là 10 năm và thời gian trả nợ là từ 20 đến 30 năm. Trong quy mô của dự án, ngoài những hạng mục được ngân sách nhà nước cấp phát toàn bộ thì cũng có các hạng mục sẽ bàn giao nghĩa vụ trả nợ và trách nhiệm quản lý vận hành cho các đơn vị chuyên ngành – đó là các hạng mục điện, cấp nước và viễn thông.   Làm sao để những nghĩa vụ nợ này được thanh toán đầy đủ, đúng hạn?  Về khả năng trả nợ, đối với những hạng mục được ngân sách nhà nước cấp phát toàn bộ, Bộ Tài chính sẽ trực tiếp quản lý và thực hiện việc trả nợ và cân đối vào tổng đầu tư cho Khu CNC Hòa Lạc. Mặc dù vậy, để giảm tính phụ thuộc vào đầu tư từ ngân sách, Ban Quản lý cũng đang xây dựng cơ chế tài chính đặc thù để tạo nguồn thu ngân sách, từ đó phân bổ lại cho việc đầu tư phát triển và quản lý các hoạt động của Khu CNC Hòa Lạc.     Đối với những hạng mục sẽ được bàn giao để cho vay lại, các đơn vị chuyên ngành sẽ chịu trách nhiệm trả nợ và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Việc trả nợ sẽ được Bộ Tài chính ủy quyền cho một đơn vị giám sát và quản lý để đảm bảo các khoản vay được thanh toán đúng hạn.   Không đặt mục tiêu lấp đầy mặt bằng bằng mọi giá  Ông kỳ vọng mức tăng trưởng đầu tư và giá trị xuất khẩu mà Khu CNC Hòa Lạc sẽ đạt được như thế nào sau khi các hạng mục hạ tầng cơ sở được hoàn thành vào năm 2018?          Mục tiêu  xây dựng Khu CNC Hòa Lạc không giống với các khu công nghiệp khác, đó là  không chỉ tập trung vào thu hút sản xuất công nghiệp công nghệ cao, mà  quan trọng hơn là giúp tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất  nước. Chúng tôi tập trung thu hút các phòng thí nghiệm, các trung tâm  nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ cao với mức đầu tư lớn và sử dụng  đất tiết kiệm.        Tính đến nay, với cơ sở hạ tầng hiện có đầu tư từ ngân sách nhà nước, Ban Quản lý đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 67 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 56.800 tỷ đồng trên diện tích đất 336 ha. Hiện có 33 dự án đang hoạt động, 10 dự án đang trong quá trình xây dựng, 22 dự án đang hoàn thiện thủ tục để triển khai… Trong năm 2014, tổng giá trị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Khu CNC Hòa Lạc đạt khoảng 228 triệu đô la. Tôi tin tưởng rằng, với đà phát triển như hiện nay, khi cơ sở hạ tầng hoàn thiện và đồng bộ vào cuối năm 2018, sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư quyết định đầu tư vào Khu CNC Hòa Lạc và mang lại giá trị xuất khẩu cao hơn rất nhiều cho Khu CNC Hòa Lạc.   Cơ sở hạ tầng hoàn thiện sẽ tạo cho Khu CNC Hòa Lạc sức hấp dẫn, cạnh tranh, nhưng Ban Quản lý nhìn nhận như thế nào về những mặt thách thức, khó khăn khác mà Khu CNC phải tìm cách giải quyết, khắc phục trong thời gian tới?  Khi cơ sở hạ tầng đã hoàn thiện và đồng bộ, chính sách ưu đãi đầu tư đã hấp dẫn thì chúng tôi sẽ phải đối mặt với những thách thức to lớn và phần nhiều liên quan đến trách nhiệm của Ban Quản lý. Theo tôi, thách thức lớn nhất mà chúng tôi phải tập trung giải quyết trong thời gian tới là nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động tại Ban Quản lý và làm sao tạo dựng được thương hiệu của Khu CNC Hòa Lạc không chỉ ở trong nước mà còn cả trên thế giới.  Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho Khu CNC Hòa Lạc là rất lớn và mục tiêu xây dựng Khu CNC Hòa Lạc là phát triển về tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Do đó Ban Quản lý không đặt mục tiêu lấp đầy mặt bằng bằng mọi giá mà phải sử dụng đất có hiệu quả cũng như lựa chọn được nhà đầu tư thực sự có năng lực về công nghệ, tài chính,… đầu tư tại Khu CNC Hòa Lạc.   Giải pháp của chúng tôi là xây dựng các chiến lược phát triển Khu CNC Hòa Lạc theo từng giai đoạn. Giai đoạn trước năm 2015, chúng tôi tập trung chủ yếu vào công tác giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng và hiện nay, chiến lược của chúng tôi là phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ. Song song với đó, Ban Quản lý cũng xây dựng các chương trình hành động cụ thể cho từng năm. Năm 2015, chúng tôi tập trung vào việc chuyên nghiệp hóa đội ngũ, cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện cơ sở pháp lý. Từ năm 2016 trở đi, chúng tôi sẽ tập trung thu hút đầu tư, kết nối cung cầu về công nghệ cao cũng như phát triển các hoạt động ươm tạo, đào tạo.   Một vấn đề cơ bản để hình thành khu công nghệ cao là thu hút nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao phục vụ cho các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN, và bản thân Ban quản lý. Khu CNC Hòa Lạc hiện đang thiếu những điều kiện gì để thu hút nguồn nhân lực này, và đâu là giải pháp mà Ban Quản lý sẽ triển khai để khắc phục vấn đề này?  Nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao là rất quan trọng đối với sự phát triển của Khu CNC Hòa Lạc. Trong Khu CNC Hòa Lạc, nhiều cơ sở đào tạo đã và đang trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển như Đại học FPT, Đại học KH&CN Hà Nội, Đại học Việt – Nhật,…. Tuy nhiên đó mới chỉ là các cơ sở vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Điều quan trọng hơn là cần có các chính sách để thu hút các nguồn nhân lực đến sử dụng cơ sở vật chất trên và sau đó xác định gắn bó với các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN tại Khu CNC Hòa Lạc và bản thân Ban Quản lý. Hiện nay, chúng tôi đang đề xuất một số chính sách thu hút các nguồn nhân lực đó trong dự thảo Quyết định về cơ chế đặc thù cho Khu CNC Hòa Lạc để trình Chính phủ.   Trân trọng cảm ơn ông.        Dự án phát  triển cơ sở hạ tầng Khu CNC Hòa Lạc được thực hiện bằng vốn ODA Nhật Bản  và vốn đối ứng trong nước, trong đó vốn vay cho giai đoạn xây dựng dự  án trị giá trên 15,2 tỷ yên và vốn vay lần hai dự kiến khoảng 15 tỷ yên  sẽ được ký kết trong năm tài chính 2016.               Quy mô dự án gồm năm gói thầu chính: Phát triển hạ tầng chính (gồm các  hạng mục hệ thống đường, cầu cống, viễn thông, cấp nước, thoát nước,  nước thải, cấp điện); Cải tạo hồ Tân Xã và bảo vệ suối Dứa Gai; Nhà máy  xử lý nước thải; Trạm điện; và gói thầu Tư vấn giám sát. Tất cả các gói  thầu sẽ được triển khai thực hiện trong năm 2015 và dự kiến hoàn thành  vào tháng 3/2018.              Liên danh nhà thầu gồm công ty Taisei (Nhật Bản), Tổng công ty Vinaconex  và Tổng công ty xây dựng Trường Sơn đã được ký kết hợp đồng thực hiện  gói thầu Phát triển hạ tầng chính.            PV thực hiện         Author                Quản trị        
__label__tiasang Khu CNC Hòa Lạc sẽ có cơ chế đặc biệt      Cơ chế đặc biệt cho khu Công nghệ cao (CNC)  Hòa Lạc đã được Chính phủ đồng ý về chủ trương sẽ là động lực thúc đẩy  sự phát triển của khu công nghệ được kỳ vọng là thành phố khoa học của  Việt Nam trong tương lai gần.    Năm 2013 được xác định là năm kiên quyết trong vấn đề giải phóng mặt bằng cũng như xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh để tạo sức bật cho Hòa Lạc phát triển. Trao đổi của TS. Nguyễn Văn Lạng, Thứ trưởng Bộ KH&CN, Trưởng Ban quản lý khu CNC Hòa Lạc sẽ cho thấy rõ hơn về các vấn đề phát triển sắp tới của khu CNC Hòa Lạc.  Đến năm 2016, thu hút đầu tư mới thực sự nóng    – Nếu so với các khu CNC trên cả nước thì điểm yếu của khu CNC Hòa Lạc là gì, thưa Thứ trưởng?  – Theo tôi, hiện nay khu CNC Hòa Lạc đã xây dựng được khối lượng khá lớn. Song do diện tích của khu rộng nên các bạn có thể không nhìn thấy hết. Nếu nhìn về khu nghiên cứu đào tạo thì sẽ thấy nhiều công trình xây dựng với quy mô lớn. Còn so sánh với các khu CNC khác thì tất nhiên nó có điểm khác biệt rõ ràng vì ngay từ đầu chúng tôi xác định xây dựng khu thành thành phố khoa học. Ở đây sẽ có hàng trăm khu nghiên cứu, với 3- 4 trường đại học cùng hàng vạn sinh viên. Khu CNC cũng sẽ có khu phần mềm lớn nhất cả nước… Tất cả những công việc này đã và đang được tiến hành xây dựng, cũng có những phần đã được đưa vào hoạt động. Chúng tôi cũng đã cấp chứng nhận đầu tư cho 68 dự án với khoảng 52.000 tỷ đồng với gần 50% tổng diện tích khu.  Tuy nhiên, do khủng hoảng kinh tế thế giới và tình hình suy giảm kinh tế trong nước ảnh hưởng tới sự phát triển và thu hút đầu tư của khu CNC Hòa Lạc. Trong đó lý do quan trọng nhất là vấn đề giải phóng mặt bằng chậm, kéo dài từ năm này qua năm khác.Thêm nữa, vốn đầu tư nhiều năm qua cho khu CNC Hòa Lạc còn khá nhỏ giọt và ít, với tổng vốn đầu tư chưa đầy 2.600 tỷ đồng, kể cả giải phóng mặt bằng trong suốt thời gian qua là vô cùng nhỏ, nó chỉ tương đương một vài cây số đường cao tốc.  Cũng phải thẳng thắn rằng, nếu hạ tầng chưa thay đổi thì khó có thể thu hút đầu tư. Tôi tin rằng, đến năm 2016, thu hút đầu tư mới thực sự nóng. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh, hạ tầng kỹ thuật rất quan trọng nhưng hạ tầng xã hội cũng quan trọng không kém. Nhà ở, trường học, bệnh viện, khách sạn, chợ, khu vui chơi giải trí… cũng đã bắt đầu được triển khai. Chúng tôi hy vọng từ năm 2017 trở đi, khu vực này sẽ hoàn toàn thay đổi và làm thay đổi bộ mặt khoa học trong tương lai.  – Hiện công tác giải phóng mặt bằng đã giải quyết được hơn 800 ha nhưng tỷ lệ lấp đầy khu vẫn rất thấp, bằng chứng là năm 2012, khu CNC Hòa Lạc mới chỉ cấp chứng nhận đầu tư được 7 dự án. Vậy có phải sức hấp dẫn của khu CNC Hòa Lạc còn thấp thưa Thứ trưởng?  – Không phải, vì như ở trên tôi đã nói, khi hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn chỉnh thì chúng tôi cũng chưa muốn kêu gọi đầu tư. Một khi điều kiện hạ tầng kỹ thuật, xã hội chưa hoàn thiện thì rất khó thu hút đầu tư. Cũng cần nhấn mạnh, trong tổng diện tích giải phóng, cần phải trừ 170- 180 ha cho diện tích xây dựng hạ tầng, diện tích mặt nước khoảng 140 ha. Như vậy, tổng diện tích đã được cấp phép trên diện tích thực còn lại tôi cho không phải là chậm.    – Câu chuyện giải phóng mặt bằng đã được nhắc đi nhắc lại những năm gần đây, vậy Thứ trưởng có thể nói chính xác, bao giờ khu CNC Hòa Lạc sẽ được giải phóng mặt bằng dứt điểm?  – Chính phủ đã có cơ chế đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng và bắt đầu thực hiện từ tháng 12/2012. Cơ chế đó là Ban quản lý CNC Hòa Lạc có thể đền bù tiền cho người đứng tên sở hữu đất ở thời điểm hiện tại (trước đây Ban quản lý phải tìm người đầu tiên của miếng đất đó rất khó khăn vì miếng đất đã bán đi bán lại qua rất nhiều người). Dự kiến khoảng năm 2014 việc giải phóng mặt bằng sẽ hoàn tất.    Chính sách chưa thật sự ưu đãi  – Một vấn đề nữa cũng khiến các nhà đầu tư không thấy hấp dẫn vì định hướng phát triển công nghệ cao chưa rõ ràng, điều này có đúng không thưa Thứ trưởng?  – Thực sự là kỳ vọng của nhà quản lý đôi khi lại không trùng với ý tưởng của nhà đầu tư, và điều này cũng là bình thường. Nhưng tôi hy vọng, cái chúng ta cần là khu CNC Hòa Lạc là nơi tập trung các phòng nghiên cứu, phòng nghiên cứu trọng điểm, các trường đại học đẳng cấp quốc tế… đó là thành phố khoa học chứ không chỉ là khu công nghệ cao mà thôi.  – Vậy thưa Thứ trưởng, làm thế nào để vẫn giữ được định hướng nhưng vẫn thu hút được sự tham gia của các nhà đầu tư? Liệu những chính sách hiện tại đã thu hút được các nhà đầu tư hay chưa?  – Trước hết cần khẳng định, đã là khu CNC thì lập trường kiên quyết của chúng tôi là ưu tiên cho các lĩnh vực thuộc CNC đã được quy định tại Luật CNC hoặc quy định 49 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục các lĩnh vực sẽ được ưu tiên đầu tư vào các khu CNC nói chung. Trong đó, ưu tiên đầu tiên là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tự động hóa, cơ khí chính xác…Thứ tự ưu tiên sẽ tùy thuộc vào nhu cầu xã hội và thị trường. Theo đó, nghiên cứu triển khai, đào tạo, tổ chức sản xuất cũng phải theo sự ưu tiên này.  Về các chính sách thu hút, phải thẳng thắn thừa nhận, hiện nay, chính sách chưa thật sự ưu đãi.  Cơ chế ưu đãi đặc biệt vào khu CNC Hòa Lạc    – Trong năm 2013, chúng ta có những chính sách đột phá nào để thực sự thu hút nhà đầu tư vào khu CNC, thưa Thứ trưởng?  – Hiện nay Thủ tướng Chính phủ đồng ý về chủ trương và chúng tôi đang xây dựng chính sách ưu đãi đặc biệt cho riêng khu CNC Hòa Lạc. Theo đúng lộ trình, tháng 5/2013, chúng tôi sẽ trình Chính phủ phê duyệt cơ chế ưu đãi đặc biệt vào khu CNC Hòa Lạc.  – Đặc biệt ở đây được hiểu như thế nào, thưa Thứ trưởng?  – Thứ nhất là về chính sách thuê đất, sẽ giảm hơn rất nhiều so với các khu CNC khác trên toàn quốc. Thứ hai là các loại thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu linh kiện, nguyên liệu… sẽ được ưu đãi hơn tất cả các khu khác.  Năm 2013, chúng tôi sẽ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, công trường xây dựng và giải phóng mặt bằng, trong điều kiện như vậy, việc kêu gọi đầu tư không thỏa đáng lắm, nhưng tôi tin chắc sẽ có khoảng 300 triệu đến 400 triệu USD sẽ được cấp chứng nhận đầu tư tại khu CNC Hòa Lạc. Từ 2017 trở đi khu CNC Hòa Lạc sẽ hoàn toàn thay đổi thành thành phố khoa học đầu tiên của cả nước, với nhiều chục nghìn người làm việc. Thành phố đó bao gồm tất cả khu tiện ích xã hội, nhà ở, chung cư, bệnh viện, trường học, nhà hàng, trung tâm, khu thể thao, nhiều chục viện nghiên cứu hoạt động với hàng nghìn nghiên cứu viên, các khu công nghệ phần mềm với hàng vạn người làm việc.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Khủng hoảng kinh tế do COVID-19 đánh gục châu Mỹ Latin      Những ảnh hưởng của COVID-19 không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế châu Mỹ Latin mà còn có thể tác động lâu dài đến sự phát triển của khoa học khu vực này.      Khi đại dịch COVID-19 lan tràn khắp Mỹ và châu Âu vào tháng năm nay, các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học tiên tiến Mexico (Cinvestav), một viện nghiên cứu công với 9 cơ sở và 7.500 nhân công, cũng đã cảm thấy ảnh hưởng. Họ nhanh chóng chuyển đổi một trong những phòng thí nghiệm của minh thành một nơi chẩn đoán bệnh dịch và vào giữa tháng ba, khi các ca nhiễm bệnh đã bắt đầu tăng lên ở Mexico, họ đã thiết lập ngay được bảy dự án liên quan đến COVID-19.  Sau đó, làn sóng thứ hai của COVID-19 tiếp tục tràn tới nơi này. Vào ngày 2/4/2020, tổng thống Mexico Andrés Manuel López Obrador đã lập tức đình chỉ hoạt động của các quỹ tín thác đầu tư công, vốn là những quỹ dành kinh phí đầu tư cho các dự án đặc biệt và dài hạn tại chính Cinvestav và những viện nghiên cứu khác. Ba tuần sau, ông loan báo cắt 75% ngân quỹ điều hành của một số viện nghiên cứu liên bang, bao gồm cả Cinvestav, điều đó khiến viện này có thể phải đóng cửa, giám đốc Cinvestav José Mustre de León đau khổ cho biết.  Một cú đánh tiếp theo vào ngày 14/5, khi Hội đồng KH&CN quốc gia (Conacyt) đề nghị các nhà khoa học quyên góp phụ cấp liên bang chi trả hàng tháng, một phần thu nhập của các nhà nghiên cứu Mexico, để hỗ trợ cho hệ thống y tế quốc gia phản hồi dịch bệnh COVID-19. “Chúng tôi không những không có tiền mà còn phải bỏ cả tiền túi mình ra”, Gabriela Olmedo, một nhà kỹ thuật di truyền và giám đốc của cơ sở của Cinvestav tại thành phố Irapuato, cho biết.  Các nhà khoa học Mexico không là người duy nhất cảm thấy áp lực của đại dịch. Khắp châu Mỹ latin, các nhà nghiên cứu đang đứng trước một thực tại đau lòng: một mặt họ phải chạy đua để đóng góp một phần vào phản hồi cơn khủng hoảng y tế công cộng tồi tệ nhất trong thế kỷ này, trong đó có cả việc tham gia vào hỗ trợ các ca điều trị lâm sàng, và chứng tỏ với cả xã hội rằng hàng thập kỷ đầu tư vào nghiên cứu của các chính phủ đều có giá trị. “Về cơ bản, chúng tôi cho thấy mình là những người có kiến thức và có thể hành động vì lợi ích của xã hội”, Aisén Etcheverry, người đứng đầu Cơ quan Nghiên cứu và phát triển quốc gia ở Chile, nói.  Mặt khác, song song với đó, đại dịch đã dẫn đến những vấn đề tài chính và kinh tế đáng lo ngại của cả khu vực châu Mỹ Latin, vốn phải đối mặt với nguy cơ là giảm 5,3% GDP trong năm nay. Việc cắt giảm ngân sách đầu tư ở Mexico có thể lan sang quốc gia khác, nó sẽ có nguy cơ ảnh hưởng nặng nề đén khoa học va đe dọa cả những vấn đề khác.  Bám vào những điều không chắc chắn  Dù chỉ chiếm 10% dân số thế giới nhưng Châu Mỹ Latin lại có 1/3 số ca tử vong về COVID-19. Trong những ca nhiễm và chết được ghi nhận, Brazil chỉ thua Mỹ; Colombia, Chile, Peru, và Mexico cũng bị nhiễm rất nặng. Theo một báo cáo từ Liên hợp quốc, những ảnh hưởng của đại địch có thể đưa thêm 16 triệu dân của khu vực này vào cảnh đói nghèo cùng cực.  Sự tăng trưởng của châu Mỹ latin về nghiên cứu cơ bản, đạt được sau nhiều thập kỷ đầu tư cho khoa học trong nhiều quốc gia, đã đặt họ vào một vị trí tốt hơn để chiến đấu lại dịch bệnh, theo nhận xét của Hernando García Martínez, giám đốc Viện nghiên cứu Nguồn lực sinh học Alexander von Humboldt tại Bogotá, Colombia.  Vào đầu tháng 4, các nhà nghiên cứu Colombia là một trong những người đầu tiên bắt đầu một ca điều trị lâm sàng bằng huyết tương từ bệnh nhân đã hồi phục (convalescent plasma) – một huyết tương giàu kháng thể để điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Hơn 190 ca điều trị lâm sàng đã được tiến thành theo cách ấy ở Mỹ Latin. Các nhà nghiên cứu tại Brazil, Mexico, và Argentina đã tham gia chạy đua phát triển các vaccine của chính mình và là đối tác của các pha thử nghiệm hai và ba của các liên minh vaccine quốc tế tuyến đầu.  Tại Argentina và Chile, vị thế chính trị của khoa học đã tăng lên trong khủng hoảng. Tổng thống Argentina Alberto Fernández, trúng cử vào năm 2019, đã lập tức chọn cách tiếp cận thân thiện với khoa học, về cơ bản thì chịu khó nghe lời cố vấn khoa học hơn và hứa hẹn tăng thêm đầu tư cho khoa học – một sự chuyển đổi quan điểm đáng ngạc nhiên so với tổng thống trước, vốn chỉ cắt giảm ngân sách đầu tư cho khoa học và giáng cấp Bộ Khoa học nước này thành một phần của Bộ Giáo dục. Hiện tại, công chúng thấy việc ưu  tiên đầu tư cho khoa học đã giúp Argentina phản hồi đại dịch, Juan Pablo Paz, tổng thư ký phụ trách KH&CN, nói. “Tất nhiên, đại dịch có nghĩa là chúng tôi sẽ phải chịu cảnh bị trì hoãn nhiều dự án và những thách thức khác nhưng tôi cho rằng khoa học sẽ có một vị trí vững chắc hơn trước đây.”    Tại Chile, Etcheverry chuyển hướng viện nghiên cứu của mình – một phần của Bộ KH mới và chỉ thành lập ba tháng trước đại dịch – để dành chỗ cho xét nghiệm nhanh COVID-19 và những hỗ trợ khác cho đại dịch, đồng thời đặt sẵn sàng 3 triệu USD cho ứng phó với những tác động của đại dịch với xã hội, như sự gia tăng của bạo lực gia đình và hỗ trợ việc học của sinh viên. Chứng tỏ là khoa học có thể giúp “tạo ra một cuộc đối thoại trong chính phủ, điều chưa bao giờ xảy ra trước đây” Etcheverry nói. “Đây thực sự là bước ngoặt về ghi nhận vai trò của khoa học.”  Hiện tại, khủng hoảng kinh tế không buông tha Chile. Becas Chile, một chương trình học bổng nghiên cứu chuyên đầu tư cho các nhà khoa học tham gia những nghiên cứu quốc tế nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của nhiều lĩnh vực khoa học ở Chile, đã bị đình chỉ một phần. “Chúng ta đang trong một cuộc khủng hoảng vì thế bị đóng băng một phần kinh phí và đây là những điều mà chúng ta phải chuẩn bị đón nhận những thứ tiếp theo”, César Fuentes, nhà thiên văn học tại trường đại học Chile, nói.  Bức tranh ảm đạm hơn ở Peru, Gisella Orjeda, cựu chủ tịch Hội đồng Khoa học, công nghệ  và đổi mới công nghệ quốc gia (CONCYTEC), nhận xét. Trong thời kỳ đương nhiệm, Orjeda đã giúp thúc đẩy ngân sách hàng năm của  CONCYTEC từ 5 triệu USD lên khoảng 40 triệu USD nhưng “vẫn chưa đủ”, bà nói. Vãn còn thiếu nhiều dự án quan trọng về bảo tồn, y tế, ngăn ngừa thảm họa. Nhưng hiện tại thì chính phủ đã ngừng cấp kinh phí cho các chương trình này; vào tháng 7, CONCYTEC mới giải ngân được 16% ngân sách năm 2020.  Ở nước láng giềng Ecuador, các nhà nghiên cứu đã học được một điều là không nên phụ thuộc vào nguồn ngân sách không thể đoán định được của chính phủ. Đại dịch làm cho tình hình trở nên xấu hơn, Diego Quiroga, người phụ trách nghiên cứu tại trường đại học San Francisco de Quito. Ông lo ngại học phí, một nguồn thu quan trọng của trường có thể giảm sút nếu khủng hoảng kinh tế khiến sinh viên không nhập học. Những đe dọa mới về việc cắt giảm ở bậc giáo dục sau đại học và khủng hoảng kinh tế khiến các nhà khoa học đến nỗ lực đảm bảo nguồn đầu tư từ việc hợp tác với các đồng nghiệp Mỹ hoặc châu Âu, ông nói. “Nếu chung tôi không tìm nguồn đầu tư từ nước ngoãi, chúng tôi sẽ không có gì nữa để đâu tư  cho nghiên cứu,” Quiroga nói. Ông dự đoán đại dịch sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc các nhà khoa học trẻ ra nước ngoài: “Chúng tôi đang mất đi toàn bộ một thế hệ khoa học.”  Thêm rạn nứt giữa khoa học và chính trị  Tại Mexico, sau phản đối của các nhà khoa học, sinh viên và  truyền thông, tổng thống ra lệnh không để các nhà khoa học của Conacyt phải quyên góp nữa. Cinvestav cho phép giữ các quỹ đầu tư công và đàm phán về việc cắt giảm lượng ngân sách nhỏ hơn. Nhưng nhiều viện nghiên cứu công vẫn bị cắt giảm ngân sách, điều này khiến các nhà khoa học lo ngại. Và đại dịch làm xấu hơn mối quan hệ vốn đã xấu giữa cộng đồng khoa học và giám đốc Conacyt María Elena Álvarez-Buylla Roces. Phải nói thêm là Conacyt là nơi chiếm kinh phí đầu tư khoa học Mexico tới 77%.  Đại dịch cũng làm chia rẽ thêm khoa học và chính trị. Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro đã liên tục đặt câu hỏi về chuyên môn khoa học, hạ thấp sự trầm trọng của đại dich và ủng hộ các phương pháp điề tri thiếu bằng chứng. Tại Venezuela, Colombia, tình cảnh vô cùng đáng ngại, đặc biệt ở Colombia, Bộ Tài Chính đã đề xuất cắt giảm 35% ngân sách đầu tư cho khoa học sau lá thư phàn nàn của 7 thượng nghị nghĩ về việc thiếu khả năng lãnh đạo trong đại địch của Mabel Torres Torres, người phụ trách Bộ KH, CN và Đổi mới  và từng lâm vào scandal về một phương pháp điều trị ung thư chưa được kiểm chứng của bà.  Tuy vậy García Martínez vẫn còn hi vọng. Những năm sống trong sự thiếu thốn đầu tư khoa học đã dạy cho các nhà nghiên cứu Mỹ Latin cách làm việc tối đa với khoản đầu tư tối thiểu, ông nói – một kỹ năng hữu dụng đặc biệt trong những ngày này. “Chúng tôi rất biết cách thích nghi”, ông nói.  Anh Vũ dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/08/we-re-losing-entire-generation-scientists-covid-19-s-economic-toll-hits-latin-america    Author                Quản trị        
__label__tiasang KHXH ở đại học Việt Nam: Cái gì là điều đúng phải làm *      Ở đại học Việt Nam, tình trạng chung là ngành khoa học xã hội lạc hậu rất nhiều so với khu vực và&#160; thế giới. Vì sao? Do nguyên nhân chủ quan của người giảng dạy? Do các yếu tố khách quan?    Bài viết này không có tham vọng đề cập một  cách toàn diện tới các nguyên nhân tạo nên sự yếu kém của ngành này, mà  chỉ nêu lên một số lí do, chắc chắn là chưa đầy đủ, khiến cho nội dung  giảng dạy KHXH ở đại học lạc hậu.  Trước hết, đó là quy định về chương trình cố định và các môn học cụ thể mang tính chất bắt buộc. Những quy định này trên thực tế, là một cách thức hữu hiệu để buộc giảng viên trở nên lạc hậu và cùn mòn, dù muốn hay không. Người ta không thể không lạc hậu nếu trong vòng mười năm hay hai mươi năm buộc phải giảng đi giảng lại một bài giảng.   Nếu không có cơ chế để mỗi giảng viên tự quyết định các bài giảng của mình, nếu không có cơ chế để giảng viên có thể trình bày các kết quả nghiên cứu độc lập của mình như là nội dung của các bài giảng1, thì không thể khuyến khích họ phát triển nghiên cứu. Quy định về chương trình cố định đi ngược lại với những đòi hỏi về sự phát triển của nghiên cứu. Chừng nào nghịch lý này còn chưa được giải quyết, cộng với điều kiện làm việc quá nhiều khó khăn, thì đại học Việt Nam vẫn cứ là nơi hủy hoại nguồn năng lượng chất xám của giảng viên.   Liên quan đến nhận xét về việc bài giảng đại học của chúng ta nặng tính phổ thông, chỉ cần làm một so sánh nhỏ về tên các bài giảng ở đại học phương Tây và ở đại học Việt Nam trong lĩnh vực này, ta sẽ thấy bài giảng đại học phương Tây mang tính vấn đề, còn bài giảng của đại học Việt Nam mang tính chất giới thiệu kiến thức. Ví dụ, các bài giảng của chúng ta, ở các khoa văn học, thường là : Văn học Việt Nam (thế kỷ…), Văn học Việt Nam (giai đoạn…), Văn học Pháp (thế kỷ…), v.v… Hoặc là tên của các tác gia: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hugo, Balzac, Faulkner, v.v… Như vậy bài giảng thường nặng về văn học sử, giới thiệu kiến thức tổng quát. Giảng viên có thể soạn bài một lần để giảng trong nhiều năm. Ở phương Tây, đối với những năm đầu của bậc đại học, các bài giảng vẫn phải hướng tới mục đích cung cấp các kiến thức nền tảng của ngành học cho sinh viên. Tuy vậy, giảng viên vẫn có quyền thực hiện việc cung cấp kiến thức nền thông qua các vấn đề cụ thể, chứ không chỉ nhất thiết phải trình bày lịch sử của vấn đề hay giới thiệu kiến thức một cách khái quát. Xem chương trình cho sinh viên hai năm đầu của Khoa Lettres, Art et Cinéma, ở đại học Paris 7, Pháp, ta thấy: bài giảng của Félix Perez, Vụ án và cái chết của Socrate – Thành bang trong quan niệm của Platon.  Bài giảng của Jean-Christophe Reymond: Vấn đề diễn giải và nhận thức về bản thân ở thời Phục Hưng. Bài giảng của Régis Salado: Hư cấu và sự thật trong thơ. V.v… Đấy là một số bài giảng dành cho sinh viên hệ Licence của Khoa Lettres, Art et Cinéma, năm học 2010-2011. Các bài giảng này không lặp lại chương trình của năm trước.          Mục tiêu của bài giảng ở ĐH    Bài  giảng không phải chỉ là trình bày hành trình và kết quả suy ngẫm của  giảng viên, không phải chỉ là sự giới thiệu thành quả của tư duy, mà  phải hướng tới việc khơi dậy sự suy tư ở trong mỗi một đối tượng giao  tiếp, mỗi sinh viên. Giảng viên biến đối tượng suy tư của mình thành ra  đối tượng suy tư của sinh viên, đưa họ tới việc nhận thức xã hội của họ,  và tự nhận thức về chính họ, tự xem xét các suy nghĩ của họ.              Như  vậy, sinh viên tham gia vào hành trình suy ngẫm của giảng viên để tự xây  dựng nên hành trình suy ngẫm của chính mình. Quá trình suy ngẫm đó đòi  hỏi các yếu tố không thể thiếu: kết quả tư duy của những người đi trước  (danh sách nhiều khi rất dài và thông thường phải trở về tận thời Hy Lạp  cổ đại xa xưa), thực tế xã hội đương đại, sự thật và giới hạn của chủ  thể tư duy. Chính quá trình suy ngẫm này sẽ là cơ sở để họ sẽ lựa chọn  quyết định hành động như thế nào.              Để có thể thực hiện một bài giảng  theo cách đó đòi hỏi người giảng viên phải sử dụng tự do của mình trong  việc lựa chọn nội dung chủ đề bài giảng, đòi hỏi người giảng viên phải  tự do đối diện với thực tế đời sống, tự do sử dụng các dữ liệu thực tế  thuộc mọi lĩnh vực, mọi phạm vi: từ đường lối, chính sách của nhà nước,  phương thức điều hành của chính phủ, cho đến các sự kiện, hành động  thuộc về các nhóm xã hội hoặc mỗi cá nhân trong xã hội.        Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn ở đại học Việt Nam ít có liên hệ với thực tế. Tình trạng chung là có một khoảng cách, nhiều khi rất xa, giữa kiến thức được giảng dạy (kiến thức trong sách vở) cho sinh viên và thực tế đời sống, giữa các nghiên cứu về quá khứ và xã hội hiện tại. Bài giảng thường nặng về truyền thụ lại kiến thức của người khác, chứ ít khi là một “hành trình suy ngẫm” của giảng viên. Những nghiên cứu, phát hiện về thời quá khứ của giảng viên ít khi được sử dụng để góp phần vào việc suy nghĩ về các vấn đề của xã hội đương thời.  Một ghi nhận khác là ngành khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học Việt Nam không những chỉ lạc hậu so với các đại học quốc tế, mà còn lạc hậu so với chính các hoạt động xuất bản trong nước và so với những nỗ lực riêng lẻ của các cá nhân ngoài xã hội.  Bình thường, đại học là bộ phận đi tiên phong trong việc đề xuất các tư tưởng, các khuynh hướng nghiên cứu, các giải pháp cho xã hội; và ở mức độ thấp hơn, đại học đi tiên phong trong việc ứng dụng và cập nhật các nghiên cứu của thế giới. Nhưng ở Việt Nam, thời gian gần đây, xem ra đại học lại lẽo đẽo đi sau, không tiến kịp sự vận động của xã hội. Trong khi bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển của Kant, Hegel, Nietzsche, John Stuart Mill,  Durkheim, Deleuze2…, bản dịch những nghiên cứu mới của thế giới về triết học Marx, đã lưu hành nơi nhiều tầng lớp độc giả thì thử hỏi có bao nhiêu trường đại học đưa các tác phẩm đó vào chương trình giảng dạy, trong lúc mà, về nguyên tắc, sinh viên của khoa nào cũng phải học môn triết ? Điều này khiến ta phải đặt câu hỏi: đại học có đảm nhận được vai trò của nó hay không? giảng viên đại học có đảm nhận được vai trò của mình hay không?  Tuy nhiên để trả lời những câu hỏi này, ta vấp phải một câu hỏi khác, khi đi tìm câu trả lời cho nó có lẽ ta sẽ phần nào chạm tới thực chất của ngành khoa học xã hội và nhân văn ở đại học Việt Nam: vai trò của giảng viên đại học là gì ? là một người làm công, buộc phải hoàn thành một chương trình được ấn định sẵn ? hay là người thúc đẩy sự phát triển của đời sống bằng các nghiên cứu sâu về thực trạng xã hội và về con người?  Chừng nào mà người nghiên cứu và giảng dạy vẫn còn gạt sang một bên các vấn đề đặt ra trong xã hội họ đang sống, không chọn lựa các vấn đề của thời đại họ làm đối tượng nghiên cứu, chừng đó vẫn còn chưa có khoa học xã hội thực sự. Kể cả đối với những chủ đề tưởng như mang tính vĩnh cửu: chân lý, công lý… thì người ta cũng không thể tư duy một cách thực sự nếu không xuất phát từ những dữ liệu của đời sống hiện tại. Và nếu giảng viên không tư duy thực sự thì làm sao có thể dạy cho sinh viên cách tư duy ?   Chừng nào mà nội dung nghiên cứu và giảng dạy ở đại học còn chưa theo kịp với thời sự nghiên cứu của thế giới, không đi cùng nhịp với những quan tâm và không nắm bắt được các vấn đề đang đặt ra cho giới học thuật quốc tế,  chừng đó vẫn còn chưa thể nói tới việc hội nhập với thế giới một cách bình đẳng. Chúng ta có thể tổ chức các hội thảo với sự tham gia của các nhà khoa học trên thế giới, nhưng điều đó không đảm bảo cho các nghiên cứu của chúng ta đạt tới đẳng cấp quốc tế. Khi nào chúng ta có các tham luận được trình bày trong các hội thảo quốc tế có uy tín, có các bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế, và ở mức độ cao hơn có các chuyên luận được tham khảo trong giới nghiên cứu và được dịch ra tiếng nước ngoài, lúc đó chúng ta mới thực sự khẳng định được vị thế của mình so với các đồng nghiệp trên thế giới.  Dĩ nhiên, không phải mọi giảng viên đại học đều có thể suy nghĩ và công bố các suy nghĩ của họ trong các bài giảng, rồi xuất bản thành bài báo hoặc thành sách), nhưng đại học cũng phải được tổ chức theo một mô hình như thế nào để đảm bảo cho các giảng viên như vậy xuất hiện.   Để KHXH ở ĐH của Việt Nam có thể phát triển thì không thể không thay đổi. Bởi lẽ bản thân khái niệm “phát triển” bao hàm trong nó ý niệm về sự thay đổi. Có thể nào bàn về sự phát triển mà lại gạt sang một bên yêu cầu về sự thay đổi? Làm sao có thể tạo được những bước phát triển mang tính chất đột phá mà lại không tiến hành những thay đổi căn bản? Có lẽ đây là thời điểm ta cần trả lời dứt khoát một số câu hỏi: ta có muốn thay đổi không ? Ta có thể thay đổi hay không ? Ta có đủ các điều kiện cần cho sự thay đổi hay không? Ta có khả năng tạo ra các điều kiện cho sự thay đổi và có khả năng thực hiện các thay đổi hay không? Nếu từ chối thay đổi thì ta sẽ tồn tại như thế nào trong cái thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt này?  Cuối cùng, xin mượn lại câu hỏi của GS Sandel, ĐH Harvard, “Justice: What’s the Right Thing to do?”Tôi biến đổi câu hỏi ấy chút ít để kết thúc, hoặc để mở ra: Đại học Việt Nam: cái gì là điều đúng phải làm?     —  * Trích tham luận tại Hội thảo: KHXH thời hội nhập do ĐH QG TPHCM tổ chức. Đầu đề bài viết do Tia Sáng đặt  1 Chính cơ chế tạo điều kiện cho giảng viên phát triển nghiên cứu, kết hợp với cơ chế để cho sinh viên tự do lựa chọn môn học, sẽ là một trong những yếu tố góp phần xác định giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của đại học không, có đủ năng lực để làm việc ở đại học không. Đại học muốn có chất lượng thì một trong những điều kiện căn bản nhất là phải có một đội ngũ giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học. Và một trong những điều kiện căn bản để giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học (ngoài phẩm chất tư duy và nỗi lực tự thân của họ) là đời sống của họ phải được đảm bảo để họ có thể tập trung cho công việc của mình ở trường đại học. Chừng nào các nhà quản lý còn chưa nhận thức được điều này và chưa có những chính sách để hiện thực hóa nó, chừng đó vẫn chưa có hy vọng gì đối với việc nâng cao chất lượng đại học, và chuyện hội nhập với thế giới chắc vẫn chỉ là một mơ ước mang tính không tưởng.   2 Ta biết rằng ở đại học phương Tây, Kant, Nietzsche, Heidegger… các triết gia nói chung (cả các triết gia phương Đông), không chỉ được giảng dạy ở khoa Triết, mà còn được nghiên cứu ở tất cả các khoa về khoa học xã hội và nhân văn.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiểm toán KH&CN: Đánh giá hiệu quả đầu tư còn hạn chế      Trao đổi với Tia Sáng tại hội thảo “Đánh giá thực trạng cơ chế tài chính, cơ chế hoạt động KH&amp;CN và công tác quản lý KH&amp;CN qua kết quả kiểm toán từ năm 2010-2014”, ông Nguyễn Văn Tân, Kiểm toán trưởng Vụ Kiểm toán chuyên ngành III, Kiểm toán Nhà nước, cho biết, nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm toán Nhà nước là đánh giá việc thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, cơ chế tự chủ nhằm khai thác sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính và con người cho sự phát triển KH&amp;CN, chứ không phải như nhiều người quan niệm là phát hiện tham nhũng, lãng phí trong KH&amp;CN.  &#160;    – Theo kế hoạch kiểm toán năm 2015, Kiểm toán Nhà nước sẽ thực hiện kiểm toán Chuyên đề công tác quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động KH&CN năm 2014 của chín bộ, cơ quan Trung ương và 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Vậy xin ông cho biết mục tiêu chủ yếu của cuộc kiểm toán Chuyên đề này?  – Đây là cuộc kiểm toán chuyền đề về KH&CN có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, với mục tiêu đánh giá bốn vấn đề chủ yếu:  Việc thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính và con người cho sự phát triển KH&CN; Kết quả thực hiện và khả năng hoàn thành mục tiêu của các chương trình, dự án, đề tài KH&CN tính đến thời điểm hết năm 2014 so với mục tiêu KH&CN giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 1244/QĐ-TTg, ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đó đánh giá tính hiệu lực của chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học (mức độ, khả năng thực hiện các mục tiêu đã xác định); bất cập, hạn chế của cơ chế chính sách và công tác chỉ đạo điều hành của các bộ, ngành, địa phương, các cấp chính quyền về phát triển KH&CN, trên cơ sở đó có kiến nghị, đề xuất về sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách phát triển KHCN, kiến nghị chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN, công tác quản lý tài chính-kế toán… nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của việc sử dụng các nguồn lực cho phát triển KH&CN; và cuối cùng là kịp thời phát hiện các hành vi tham nhũng, lãng phí và sai phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư cho KH&CN, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các sai phạm, kiến nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.  – Qua kết quả kiểm toán KH&CN vài năm gần đây, ông có nhận xét gì về công tác quản lý Nhà nước đối với nguồn kinh phí 2% (giai đoạn 2010-2014)?  – Dự toán kinh phí chi cho sự nghiệp KH&CN hằng năm lập và phân bổ chưa có căn cứ, không có thuyết minh cơ sở tính toán của các bộ, ngành, địa phương để làm căn cứ lập dự toán, không có thuyết minh cơ sở để phân bổ. Về dự toán kinh phí đầu tư phát triển cho lĩnh vực KH&CN, Bộ KH&CN không tham gia vào quy trình phân bổ, thẩm định nội dung mà do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, phân bổ cho các bộ, ngành, địa phương. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc cân đối, bố trí dự toán NSNN cho cho lĩnh vực KH&CN không đảm bảo tỷ lệ, phân bổ thấp hơn dự toán Trung ương giao, hay sử dụng nguồn kinh phí này chưa đúng mục đích, kém hiệu quả hoặc không được sử dụng hết, nhất là tại các địa phương.  Chẳng hạn, báo cáo của Vụ Phát triển KH&CN địa phương cho thấy: Đối với sự nghiệp khoa học, còn khá nhiều địa phương sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học không đúng mục tiêu, mục đích như chi cho hoạt động bộ máy đơn vị sự nghiệp thuộc sở Thông tin- Truyền thông; chi đối ứng dự án, chi cho hoạt động lĩnh vực công nghệ thông tin cho UBND tỉnh, tỉnh ủy…, với số tiền khoảng 75,5 tỷ đồng.  Đối với kinh phí đầu tư phát triển KH&CN: Nhiều địa phương sử dụng nguồn kinh phí này để chi sai mục tiêu (2012-2013) khoảng 1 nghìn tỷ đồng, như: xử lý nước thải, mua sắm trang thiết bị cho bệnh viện, đầu tư xây dựng dây chuyền kiểm định xe cơ giới, xây dựng đường dây trung thế ngầm, trạm biến áp, xây dựng hệ thống chính quyền thông tin điện tử.  Chi sự nghiệp KH&CN hằng năm đều không đạt dự toán, ở cả cấp ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương (trong đó tỷ lệ thực hiện dự toán ở cấp ngân sách địa phương thường thấp hơn ngân sách Trung ương, ngoại trừ năm 2010). So sánh với tổng quyết toán chi thường xuyên hằng năm, tỷ trọng quyết toán chi sự nghiệp KH&CN chỉ đạt tử 0,98% đến 1,27%, thấp hơn nhiều so với mức tỷ lệ phấn đấu 2% khi bố trí dự toán. Nguyên nhân số quyết toán chi đạt thấp do một số bộ, cơ quan Trung ương, địa phương còn một số chương trình, dự án triển khai và thanh quyết toán chậm, phải chuyển sang năm sau thực hiện theo chế độ. Tuy nhiên, đây chỉ là lý giải về mặt số liệu quyết toán, thực tế nhiều nguyên nhân từ những tồn tại, hạn chế của cơ chế chính sách, công tác phối hợp quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước đến việc chấp hành, sử dụng kinh phí… tại các đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách.  Từ kết quả kiểm toán trên, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị Bộ KH&CN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những khó khăn, vướng mắc của Bộ trong quản lý nhà nước về mặt khoa học, nhất là chức năng, nhiệm vụ của Bộ về quản lý kinh phí 2% do chưa đủ thẩm quyền, dẫn đến thực trạng khá phổ biến nhiều địa phương sử dụng sai mục đích kinh phí đầu tư phát triển KH&CN và đề nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị yêu cầu các địa phương thực hiện nghiêm túc việc quản lý kinh phí đầu tư phát triển khoa học theo đúng mục tiêu nhiệm vụ khoa học hằng năm.          Kinh phí khoa học chủ yếu tập trung cho xây dựng cơ bản và chi thường xuyên cho các đơn vị, chưa tập trung nhiều cho hoạt động nghiên cứu khoa học; trong đí việc sử dụng kinh phí thường xuyên chi cho con người có tỷ lệ khá lớn (thường chiếm 60-70% tổng kinh phí);Thời gian xét chọn, phê duyệt danh mục nghiên cứu và ký hợp đồng còn kéo dài; còn tình trạng đề tài trùng lặp về tên đề tài và giống nhau về nội dung; phê duyệt mức tài trợ cho một số đề tài, dự án cao hơn hoặc không đúng với ý kiến của hội đồng khoa học tư vấn và thẩm định; xét chọn đề tài phần lớn được áp dụng theo phương thưc giao trực tiếp hơn là phương thức tuyển chọn; tiến độ nghiên cứu và thời gian tổ chức nghiệm thu còn chậm – Ông Nguyễn Văn Tâm           – Theo ông, qua kết quả kiểm toán có thể giúp chúng ta có bức tranh tổng thể thực trạng hoạt động KH&CN?  – Kiểm toán Nhà nước thời gian qua mới tập trung kiểm toán kinh phí sự nghiệp KH&CN; kiểm toán chi đầu tư phát triển KH&CN còn hạn chế, đặc biệt về kiểm toán đánh giá hiệu quả đầu tư cho KH&CN. Bên cạnh đó, mặc dù kinh phí sự nghiệp KH&CN luôn là một nội dung kiểm toán thường xuyên trong các cuộc kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước hằng năm của kiểm toán Nhà nước tại các bộ, ngành, cơ quan Trung ương cũng như các địa phương; song ngoại trừ các cuộc kiểm toán tại Bộ KH&CN cũng như một số Viện Hàn lâm, còn hầu hết các cuộc kiểm toán đều chưa coi trọng kiểm toán lĩnh vực KH&CN; đồng thời hoạt động kiểm toán những năm qua chủ yếu thiên về kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ với các mục tiêu truyền thống như: Xác định tính đúng đắn, trung thực, hợp lý của số liệu quyết toán nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước đầu tư cho hoạt động KH&CN; đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật, chế độ, chính sách hiện hành trong quản lý và sử dụng NSNN đầu tư cho KH&CN; kịp thời phát hiện các hành vi tham nhũng, lãng phí và sai phạm trong quản lý, sử dụng NSNN đầu tư cho KH&CN, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các sai phạm, kiến nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật…  Do vậy, kết quả kiểm toán KH&CN còn hạn chế, manh mún, chưa đủ những yếu tố để có thể đánh giá được tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong đầu tư cho lĩnh vực KH&CN.  – Xin ông cho biết định hướng tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán KH&CN trong thời gian tới?  – Ngoài việc tiến hành kiểm toán thường xuyên hằng năm các đơn vị dự toán cấp I trực thuộc ngân sách Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong điều kiện giới hạn về nhân sự, thời gian, chúng tôi sẽ tập trung vào hai nhiệm vụ:  + Đẩy mạnh kiểm toán tại các cơ quan quản lý tổng hợp về đánh giá toàn diện công tác quản lý, sử dụng kinh phí lĩnh vực KH&CN. Tăng cường mục tiêu, nội dung kiểm toán hoạt động trong các cuộc kiểm tra báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách; nghiên cứu tổ chức các cuộc kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực đối với những chương trình, dự án… trong lĩnh vực KH&CN được cơ quan dân cử, cơ quan quản lý các cấp, dư luận xã hội quan tâm.  +  Tiếp tục tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề về KH&CN tại các địa phương (ưu tiên các địa phương chưa được kiểm toán); nghiên cứu tổ chức kiểm toán chuyên đề về KH&CN với sự tham gia của toàn ngành nhằm đưa ra những đánh giá toàn diện, sâu sắc, gắn với kế hoạch sơ kết giai đoạn 2011-2015, tổng kết việc thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 trong toàn quốc.  – Xin trân trọng cảm ơn ông!  P. V thực hiện       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiến nghị một số giải pháp      Gần đây, hầu như trên các diễn đàn kinh tế, các nhà quản lý trong nước và tổ chức quốc tế đều khuyến nghị Việt Nam cần quan tâm hơn đến việc phát triển nông nghiệp – một nhân tố cực kỳ quan trọng để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.      Sau hơn hai mươi năm đổi mới, về nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc. Nhưng tới nay, các nguồn tài nguyên đã khai thác đến giới hạn, tăng trưởng nông nghiệp bắt đầu chậm lại. Năng suất lao động trong nông nghiệp Việt Nam rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh. Chỉ có áp dụng khoa học công nghệ mới có thể tăng hiệu quả, nâng chất lượng, giảm giá thành, tạo giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam. Và đây là con đường duy nhất để duy trì tăng trưởng cao cho nông nghiệp – nền tảng quan trọng của quá trình phát triển đất nước.  Từ nhiều năm nay, mặc dù Nhà nước và nhân dân đã đầu tư đáng kể vào công tác nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ nhưng chúng ta chưa tạo ra được một bước chuyển căn bản trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Nguyên nhân của thực trạng này có nhiều, trong đó phải kể đến việc cải cách và đổi mới quản lý khoa học quá chậm, đặc biệt là với các chương trình trọng điểm quốc gia về khoa học công nghệ cho nông nghiệp nông thôn.   Chúng ta phải làm gì để thay đổi?   Cho đến nay, trong công tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp, lực lượng chính vẫn là các cơ quan nghiên cứu công lập với kinh phí Nhà nước là nguồn đầu tư chính. Sản phẩm khoa học công nghệ được coi là sản phẩm công, cung cấp miễn phí cho người sản xuất thông qua hệ thống khuyến nông. Như vậy nghiên cứu khoa học là hoạt động dịch vụ công, không theo cơ chế thị trường, không tính đến hiệu quả và nhu cầu thực tế, từ đó không tạo ra động lực cho nhà khoa học. Vì vậy cần nghiên cứu hình thành Quỹ nghiên cứu công ích. Quỹ này không trực thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ mà được điều hành độc lập với sự tham gia của đại diện người sử dụng tiến bộ kĩ thuật (nông dân, doanh nhân…) với sự đóng góp tài chính của Nhà nước, của các thành phần kinh tế. Các cơ quan nghiên cứu khoa học thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận Quỹ, trên cơ sở cạnh tranh công khai.   Song song với việc đầu tư phát triển các đơn vị khoa học công nghệ, Nhà nước nên khuyến khích mạnh cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển hệ thống nghiên cứu, hình thành các đơn vị nghiên cứu tư nhân. Đặc biệt có chính sách lôi cuốn các doanh nghiệp, tập đoàn quốc tế, xây dựng cơ sở nghiên cứu, làm dịch vụ khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực sử dụng công nghệ cao, đây là một trong những điều kiện quan trọng để hàng hóa Việt Nam có thể tham gia chuỗi toàn cầu.  Kiên quyết đẩy mạnh việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan khoa học công lập theo Nghị định 115. Đầu tư nghiên cứu của Nhà nước theo nguyên tắc ai sáng tạo được tiến bộ kĩ thuật có lợi cho sản xuất, cơ quan nào làm ra nhiều sản phẩm khoa học công nghệ ứng dụng hiệu quả cho nhân dân thì họ chính là người đáng được ưu tiên đầu tư.  Thay đổi chế độ tiền lương và điều kiện sống của cán bộ khoa học kĩ thuật như viên chức công chức hiện nay bằng chế độ tiền lương căn cứ vào giá trị sản phẩm khoa học theo giá thị trường. Vấn đề là, cần tháo gỡ các cơ chế tài chính để các đơn vị khoa học tạo ra được nguồn thu đủ chi trả xứng đáng cho vị trí và sự đóng góp của nhà khoa học.   Bước tiếp theo sẽ là xây dựng một chiến lược khoa học công nghệ, trong đó sẽ tập trung đầu tư xây dựng các chương trình khoa học công nghệ đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng suốt chuỗi ngành hàng từ sản xuất tập trung, hiện đại đến chế biến sâu và mở rộng thương mại trên thị trường trong nước và chuỗi toàn cầu với những mặt hàng quan trọng như lúa, cà phê, hạt điều, thủy sản, đồ gỗ…   Nếu chúng ta làm được như Malaysia làm với cây cọ dầu, Hà Lan làm với hoa tulip, Thụy Điển làm với ngành gỗ… thì khoa học công nghệ thực sự đã góp phần công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo hiệu ứng lan tỏa rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kiện tụng giữa nghiên cứu sinh và nhà khoa học danh tiếng của Harvard      Đầu năm 2017, Science Insider đã đưa tin về những tranh cãi pháp lý kéo dài giữa một nghiên cứu sinh với một giáo sư y sinh danh tiếng tại Harvard – một vụ kiện tụng hiếm thấy trong lịch sử của ngôi trường danh giá và giàu truyền thống nhất nước Mỹ.      Khuôn viên Đại học Harvard. Nguồn: Science  Cuộc tranh cãi bắt nguồn từ việc nghiên cứu sinh này cáo buộc vị giáo sư hướng dẫn đã đối xử không đúng mực với anh ta; còn ông này đã đề nghị cảnh sát tới tìm gặp và đưa anh đi giám định tâm thần một cách cưỡng ép; sau đó, nghiên cứu sinh yêu cầu tòa xử cấm vị giáo sư lên phòng thí nghiệm do ông phụ trách khi anh ta có mặt tại đó. Nhân vật trong câu chuyện, Gustavo German, một nghiên cứu sinh ngành y sinh tại Harvard, đã mâu thuẫn với GS Lee Rubin, nhà khoa học đầy uy tín trong lĩnh vực tế bào gốc (stem cell). Xung đột hiện chưa được dàn xếp mà vẫn đang diễn tiến 1. Biên tập viên Alison McCook, từ Retraction Watch, người ban đầu đưa tin về vụ việc, tiếp tục cập nhật.       Cuộc chiến pháp lý đang leo thang và tình hình không mấy thuận lợi cho tất cả các bên liên quan trong vụ việc tai tiếng này. Gần một năm trước, tháng 8/2016, thẩm phán Elizabeth Fahey, tòa Thượng thẩm tiểu bang Massachusetts, đã đưa ra phán quyết yêu cầu Harvard tạo điều kiện thuận lợi cho German tiếp tục làm công việc nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của GS Rubin để hoàn thành chương trình tiến sĩ. Tuy vậy, German hiện vẫn chưa nhận được bằng PhD và Harvard lại có những hành động “đá” anh ta ra khỏi trường.  German nói rằng công việc nghiên cứu của anh có thể đã đạt được những tiến triển rất tốt và hoàn thành luận văn PhD, trong giai đoạn tháng 2 và tháng 3, song tất cả những nỗ lực ấy đã bị gián đoạn chỉ vì những bất đồng xoay quanh việc chỉ định ai sẽ là thành viên hội đồng chấm luận án của anh. Trong khoảng tháng 4, những tranh cãi đã khiến Harvard tạm đình chỉ việc nghiên cứu của German và ngày 16/5 thì bị trường đuổi học vì cho rằng đã vi phạm một số quy định của nhà trường trong thời gian đình chỉ.  German – một người Argentina tới Mỹ với visa du học, lo ngại việc bị đuổi học sẽ khiến bản thân bị trục xuất khỏi Mỹ, đã ngay lập tức kháng cáo lên tòa Thượng thẩm sau khi bị cho tạm dừng công việc nghiên cứu. Hôm 31/5, thẩm phán Fahey tuyên bố Harvard không thể không thông báo  với chính quyền liên bang về tình trạng cư trú của German, cũng như không thể không hồi đáp yêu cầu của tòa án khi được hỏi về trường hợp này.  Trước tòa, German đã đưa ra những cáo buộc về cách hành xử của Harvard, bao gồm việc những nhân viên bảo vệ tụ tập trước lab của GS Rubin đã ngăn cản anh làm việc, ảnh hưởng tới tiến độ nghiên cứu và lấy bằng PhD. Hôm 7/7, thẩm phán Fahey đã ban hành một phán quyết sửa đổi, trong đó căn bản nhắc lại những điều khoản đã được xác lập vào năm ngoái, đồng thời chỉ trích Harvard đã cư xử theo cách rất thiếu tôn trọng phán quyết của tòa. “Tất cả những gì mà German tìm kiếm chỉ là để được trao cơ hội tiếp tục công việc nghiên cứu sau những phiền toái mà anh ấy gặp phải tại phòng lab của GS Rubin … Tuy nhiên, dường như sau 10 tháng kể từ khi được yêu cầu tạo điều kiện giúp đỡ German thoát khỏi tình cảnh khó khăn, Harvard và GS Rubin vẫn tiếp tục làm nản lòng những nỗ lực của anh ấy” – Thẩm phán Fahey phát biểu trong phán quyết mới.  Vấn đề ngày càng trở nên phức tạp và còn lâu mới có thể được giải quyết. Ngày 10/7, Harvard đã kháng cáo phán quyết của thẩm phán Fahey lên tòa Phúc thẩm tiểu bangMassachusetts. Qua động thái này, Harvard lập luận họ luôn sắp xếp những nhân viên bảo vệ an ninh khắp nơi trên khuôn viên trường, và bởi những thành viên trong lab của GS Rubin tỏ ra lo ngại về an toàn của bản thân họ. Điều đáng lưu ý hơn, theo Harvard, rằng phán quyết của tòa đòi khôi phục tư cách ứng viên PhD cho German là một “sự can thiệp chưa từng có tiền lệ và thiếu những căn cứ vững chắc đối với những quyết định mang tính học thuật của Harvard.” (Người phát ngôn của Harvard từ chối bình luận thêm)  Theo đó, Harvard kiên quyết từ chối không khôi phục tư cách nghiên cứu sinh PhD cho German. Hiện GS. Rubin đang kháng cáo phán quyết của tòa Thượng thẩm hồi tháng 7, và German cũng đang đệ đơn kiện cho những gì mà anh phải chịu đựng.  Hải Đăng dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2017/07/harvard-extraordinary-court-battle-between-phd-student-and-prominent-researcher-grinds  ————————————————-  1. Gustavo German gia nhập phòng lab dưới sự hướng dẫn của GS. Lee Rubin, nhà khoa học rất có uy tín về công nghệ y sinh tại Đại học Harvard. Sau một thời gian, German trở nên khó hòa nhập với môi trường làm việc và trong mối quan hệ với đồng nghiệp. Những thành viên khác trong lab cho biết German hay có những biểu hiện và thái độ cư xử rất lạ, khiến họ bất an và ảnh hưởng tới công việc. Bất đồng leo thang khi German chỉ trích những thành viên trong lab về vấn đề đạo đức khoa học, qua những thí nghiệm mà họ đã thực hiện. GS. Rubin và những thành viên khác trong lab cho rằng German có những bất ổn về tâm thần và đề nghị cảnh sát đưa anh đi khám. German sau đó đã quyết định kiện GS Rubin và Harvard, cáo buộc họ vì đã đối xử không đúng mực, gây ra nỗi sợ và ảnh hưởng tới công việc nghiên cứu của anh. Thẩm phán Fahey đã đưa ra phán quyết vào tháng 8/2016, yêu cầu Harvard tạo điều kiện cho German tiếp tục công việc và hoàn thành bằng PhD. Harvard, sau đó đã đình chỉ công việc của German và đuổi học anh. Hiện tranh chấp giữa hai bên vẫn chưa được giải quyết và diễn biến theo chiều hướng leo thang.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm hợp tác nghiên cứu khoa học ở Việt Nam      Quá trình hợp tác khoa học giữa tôi và các đồng nghiệp trong nước đã diễn ra hơn 15 năm, và qua 3 giai đoạn chính. Giai đoạn đầu, tôi tìm hiểu tình hình nghiên cứu y khoa ở trong nước, và nhận dạng ra những ưu khuyết điểm cũng như định hướng cần thiết. Giai đoạn 2, chúng tôi tổ chức những seminar và workshop để huấn luyện về phương pháp khoa học. Giai đoạn 3 là hợp tác thực hiện những nghiên cứu qui mô vừa và lớn, và công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Qua thời gian hợp tác trên, tôi có thể chia sẻ một số bài học và kinh nghiệm cùng các bạn quan tâm.    Từ nhận dạng những vấn đề …   Nghiên cứu y khoa ở Việt Nam là một trong những lĩnh vực khoa học năng động nhất. Số liệu thống kê bài báo khoa học trên các tập san quốc tế cho thấy trong thời gian 1996 – 2005, số bài báo khoa học liên quan đến ngành y sinh học chiếm khoảng 23% trên tổng số bài báo khoa học từ Việt Nam, cao hơn các ngành “truyền thống” như toán (khoảng 11%) hay vật lí (13%).   Tuy nhiên, con số trên không nói nên một thực trạng là phần lớn các nghiên cứu y sinh học Việt Nam do người nước ngoài làm chủ. Khi chọn số bài báo khoa học trong thời gian 2000-2001, chúng tôi phát hiện rằng trong số 164 bài báo y khoa được công bố trên các tập san quốc tế, chỉ có 159 bài (97%) là do người nước ngoài hoặc là tác giả đầu hoặc là tác giả chính chịu trách nhiệm cho công trình nghiên cứu. Tỉ lệ “ngoại lực” này ở các ngành khác là 80%.   Một thực trạng khác là chất lượng nghiên cứu y khoa của Việt Nam vẫn còn thấp hơn trung bình. Phần lớn những công trình y khoa xoay quanh các chủ đề mang tính mô tả, công nghệ thấp, và mô hình nghiên cứu rất đơn giản. Có lẽ chính vì thế mà đại đa số (trên 95%) những bài báo y khoa từ Việt Nam chỉ công bố trên những tập san có hệ số ảnh hưởng (impact factor) thấp hơn hoặc bằng 3.   Các nhà nghiên cứu Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm nghiên cứu và công bố bài báo khoa học. Khó khăn đầu tiên và có thể nói là lớn nhất là chúng ta vẫn còn thiếu các chuyên gia tầm vóc quốc tế, và vì thế khó có thể chọn đề tài nghiên cứu sao cho theo kịp với tiến bộ của y học trên thế giới. Qua những công trình nghiên cứu y khoa ở Việt Nam (như luận án tiến sĩ, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước) người ta có thể nhận ra sự vụn vặt và tủn mủn trong các đề tài nghiên cứu, những đề tài mà thế giới chẳng quan tâm hay rất ít quan tâm đến.   Bên cạnh đó còn có hai trở ngại lớn là vấn đề phương pháp khoa học và tiếng Anh. Đại đa số các đồng nghiệp Việt Nam không có cơ hội tiếp cận với các phương pháp khoa học hiện đại, nên họ chưa biết thực hiện ý tưởng ra sao, hoặc khi thực hiện xong thì kết quả khó diễn giải. Một số khác thì được học qua vài lớp tập huấn căn bản về nghiên cứu y khoa (phần lớn là dịch tễ học cơ bản), nhưng vì những lớp học này cũng không có hệ thống, nên họ cũng chưa phát huy được khả năng của mình. Có lẽ đây chính là lí do tại sao các nghiên cứu y khoa ở Việt Nam quá đơn giản, đơn điệu, và không có giá trị khoa học cao. Thêm vào đó đại đa số các bác sĩ gặp khó khăn trong việc hiểu và diễn giải bằng tiếng Anh, nên họ khó tiếp cận y văn quốc tế một cách có hệ thống. Một số khác tuy có khả năng tiếng Anh, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp (tức nói hay dịch), chưa đủ khả năng để viết một bài báo khoa học nghiêm chỉnh.   Đến hợp tác từng bước   Bắt đầu từ những năm giữa thập niên 1990, tôi kết hợp với các đồng nghiệp trong nước thực hiện những seminar nhỏ (hiểu theo nghĩa chỉ giới hạn trong khoảng 30 đến 100 người). Những seminar này chủ yếu giới thiệu một số định hướng nghiên cứu mới trong chuyên ngành. Qua những buổi nói chuyện và trao đổi như thế, chúng tôi có thể xác định được định hướng nghiên cứu thích hợp cho Việt Nam. Thích hợp ở đây hiểu theo nghĩa có thể làm được trong điều kiện còn thiếu thốn về thiết bị, tiền bạc, và môi trường y học ở trong nước cho phép.   Mãi đến giữa thập niên 2000 chúng tôi mới có khả năng thực hiện những workshop về phương pháp và chuyên đề. Bắt đầu từ năm 2004, với sự giúp đỡ về mặt tổ chức từ các đồng nghiệp trong nước, tôi và đồng nghiệp thực hiện những workshop về phương pháp nghiên cứu, di truyền học, và loãng xương tại nhiều trung tâm nghiên cứu từ Bắc chí Nam. Những workshop này thường có từ 70 đến trên 200 người tham gia, và kéo dài từ 3 đến 10 ngày. Tính đến nay, chúng tôi đã thực hiện được hơn 20 workshop như thế ở những trung tâm như Bộ môn Nội tiết (Đại học Y Dược TPHCM), Đại học Y Hà Nội, Viện Nhi trung ương, Đại học Bách Khoa TPHCM, và nhiều bệnh viện cấp trung ương đến cấp tỉnh, kể cả một số tổ chức phi chính phủ. Càng ngày, workshop của chúng tôi trở nên có hệ thống hơn và chuyên sâu hơn. Học viên được kiểm định trình độ trước và sau khi học, và thực hành trong lớp học. Những năm sau này, chúng tôi cố đặt ra tiêu chí “đầu ra” là sau 12 tháng mỗi workshop phải có ít nhất là một bài báo khoa học đăng trên các tập san y khoa quốc tế. Thật ra, trong thực tế, chỉ có một số học viên có thể thực hiện được tiêu chí trên, vì phần lớn là nghiên cứu sinh và mục tiêu của họ là tiếp thu kiến thức và kĩ năng trước khi làm nghiên cứu. Nhìn qua những phát triển cá nhân, chúng tôi có thể nói rằng những workshop như thế đã góp một phần nhỏ vào việc nâng cao kĩ năng nghiên cứu cho một số đồng nghiệp trong nước.          GS Nguyễn Văn Tuấn trong một workshop tại Tp. Hồ Chí Minh        Từ các workshop, tôi nghĩ đã đến lúc có thể hợp tác thực hiện những nghiên cứu y khoa ở Việt Nam. Về đề tài, chúng tôi tập trung vào những đề tài thiết thực ở Việt Nam nhưng có tầm ảnh hưởng quốc tế và có thể thu hút sự chú ý của giới y khoa quốc tế và những tập san có uy tín cao Về hình thức, chúng tôi làm theo 2 phương thức là cố vấn và trực tiếp tham gia. Trong phương thức thứ nhất, chúng tôi chọn ra đề tài, cố vấn cho các đồng nghiệp về chọn thiết kế nghiên cứu thích hợp, mô hình thử nghiệm và đo lường, phân tích dữ liệu, và viết bài báo khoa học và công bố quốc tế. Trong phương thức thứ hai, chúng tôi trực tiếp tham gia cùng đồng nghiệp từ khâu ý tưởng đến công bố quốc tế. Chúng tôi nghĩ rằng qua 2 hình thức hợp tác như thế, các đồng nghiệp trong nước dần dần tiếp cận với những định hướng mới trong chuyên ngành, những phương pháp chuẩn, và làm quen với “văn hóa” công bố quốc tế, kể cả làm quen với những qui ước và qui định của các tập san y khoa quốc tế.   Trong thời gian khoảng 10 năm qua (chủ yếu là 5 năm qua), chúng tôi đã công bố được 14 công trình nghiên cứu “thuần Việt” trên các tập san y khoa quốc tế. Trong số 14 bài báo, có 3 bài liên quan đến loãng xương và tiểu đường gây được tiếng vang lớn, được giới truyền thông quốc tế chú ý và đăng tải. Ngoài phần lớn những công trình liên quan đến chuyên ngành chính của chúng tôi (loãng xương và nội tiết), chúng tôi còn giúp các đồng nghiệp công bố những công trình liên quan đến dịch hạch và chất độc da cam. Trong vài năm sắp tới, số bài báo khoa học sẽ tăng cao hơn sau khi những công trình nghiên cứu qui mô mà chúng tôi đang hợp tác sắp hoàn tất.  Và những kinh nghiệm …  Qua nhiều năm hợp tác với các đồng nghiệp trong nước, tôi cũng rút ra vài kinh nghiệm. Những kinh nghiệm này chủ yếu liên quan đến việc tìm đề tài thiết thực, đối tác, phương tiện khoa học, vấn đề tài trợ cho nghiên cứu, và phản biện.     Vấn đề ý tưởng. Nghiên cứu khoa học phải bắt đầu bằng một ý tưởng, và từ ý tưởng mới chuyển thành giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu. Kinh nghiệm của tôi cho thấy nhiều đồng nghiệp thiếu cập nhật thông tin. Phần lớn những thông tin họ có được là từ sách giáo khoa (có khi đã lạc hậu), hay các bài báo từ những tác giả hay những tập san không có uy tín. Còn câu hỏi nghiên cứu thường quá đơn giản cứ như là bài tập cho học sinh, có khi chẳng có liên quan gì đến lâm sàng mà chỉ làm cho có “nghiên cứu”, hoặc phạm vi quá hẹp chẳng có giá trị khoa học gì đáng kể. Có khi ý tưởng của tôi không tương đồng với ý tưởng của thầy cô của nghiên cứu sinh (và thầy cô không chịu làm cách khác), nên không thể nào thực hiện được. Do đó, phải tốn rất nhiều thì giờ để “chỉnh sửa” những ý tưởng như thế thành một dự án có tính khoa học và khả thi cao.   Tìm đối tác. Tìm được đối tác nghiên cứu là điều rất quan trọng. Nhiều lần đề nghị ý tưởng với đồng nghiệp, tôi thường nhận được hồi đáp lịch sự, đại khái như “ý tưởng hay lắm, nhưng khó thực hiện vì còn nhiều khó khăn. “Có người kì vọng rằng chúng tôi sẽ đem tiền và phương tiện về Việt Nam để nghiên cứu (như nhiều đồng nghiệp ngoại quốc khác), và họ thường hỏi họ sẽ được hưởng lợi gì hay bao nhiêu. Cố nhiên, câu trả lời của chúng tôi là “ba không” : không tiền, không phương tiện, và không học bổng. Chúng tôi chỉ có “ba có”: có tâm, có ý tưởng, và có kĩ năng. Có khi ý nguyện mang tích tích cực nhưng được vài đồng nghiệp diễn giải theo nghĩa “tiêu cực”, cho rằng chúng tôi đang gặp trở ngại ở nước ngoài hay sắp mất việc nên mới tìm về Việt Nam để cứu vãn tình thế! Chúng tôi không quan tâm đến những hồi đáp và suy nghĩ như thế, mà chỉ muốn chứng minh bằng việc làm thực tế. Chúng tôi nghĩ rằng cần phải có đối tác có tấm lòng với khoa học nước nhà, chịu dấn thân và hi sinh thời gian vì tri thức, và có khả năng làm nghiên cứu. Ở nước ta, tìm được những cá nhân như thế không dễ chút nào. Thế nhưng qua nhiều seminar và workshop, chúng tôi cũng có được nhiều đồng nghiệp hội đủ những tiêu chuẩn trên để đạt được những kết quả vừa trình bày.     Vấn đề thiết bị và phương tiện. Một khó khăn lớn ở Việt Nam là thiếu thiết bị hiện đại để thực hiện những nghiên cứu quan trọng và có chất lượng cao. Để làm những nghiên cứu “nóng” trên thế giới như nghiên cứu cơ bản hay di truyền học đòi hỏi nhiều thiết bị phân tích và chuyên viên lành nghề mà Việt Nam vẫn còn thiếu trầm trọng. Do đó, chúng tôi chọn những đề tài vừa mang tính thiết thực cho lâm sàng và y tế công cộng, nhưng vừa có hàm lượng khoa học cơ bản để vượt ra ngoài phạm trù của những nghiên cứu đơn giản mà nhiều người ở Đông Nam Á hay thực hiện. Cũng có khi chúng tôi chọn những kĩ thuật phân tích ít tốn kém hơn, nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy có thể chấp nhận được đối với cộng đồng khoa học quốc tế.     Vấn đề tài trợ cho nghiên cứu. Một trong những yếu tố làm nhiều đồng nghiệp trong nước nản chí là vấn đề kinh phí. Họ không biết xin tài trợ từ đâu, và ngay cả biết nguồn thì vẫn rất ngại với việc “bôi trơn” vốn đã trở thành phổ biến ở trong nước. Gần đây, sự ra đời của Quĩ Nafosted đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng và minh bạch cho giới làm khoa học, nhưng những người có khả năng thật sự, có công bố quốc tế tốt và chưa có bằng tiến sĩ thì không đủ điều kiện để xin tài trợ từ Quĩ! Đành rằng nghiên cứu thực nghiệm thường đòi hỏi kinh phí khá cao, nhưng không phải công trình nào cũng đắt tiền cả. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhiều đồng nghiệp như thế. Tình trạng thiếu kinh phí dẫn đến một hiện tượng rất đáng quan tâm là nhiều nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân mà tiền xét nghiệm đều do bệnh nhân chi trả và họ chẳng biết rằng họ là đối tượng của công trình nghiên cứu!     Vấn đề phản biện và hành chính. Nhiều đồng nghiệp trong nước rất ngại phản biện và hành chính, không phải vì họ không có khả năng chuyên môn, mà vì qui trình phản biện không mang tính khoa học. Hiện nay, qui trình phản biện dựa vào bình luận của một số “chuyên gia” trực tiếp (trước mặt tác giả) và không cho tác giả cơ hội để phản hồi. Những chuyên gia này có khi thiếu cập nhật thông tin, thậm chí không am hiểu về lĩnh vực họ nhận xét. Thêm vào đó là thủ tục hành chính hết sức máy móc và nặng nề (như báo cáo giữa kì và những qui định rất “lạ lùng” chỉ có ở Việt Nam) làm cho giới nghiên cứu khoa học nản lòng. Có khi một công trình nghiên cứu đã công bố trên tập san y khoa quốc tế, nhưng cơ quan địa phương lại đòi hỏi phải qua “nghiệm thu”!   Bất cứ một hợp tác nào cũng đem lại nhiều thành quả cho hai bên. Đối với tôi, những hợp tác trong thời gian qua ở trong nước là một phần quan trọng (có lẽ quan trọng nhất) trong những việc tôi làm cho và ở Việt Nam. Những việc làm đó cũng là một phần có ý nghĩa trong sự nghiệp cá nhân tôi. Tất cả những hợp tác trên đều thực hiện với tư cách cá nhân và liên hệ cá nhân. Đối với các đồng nghiệp trong nước, tôi nghĩ những công trình đó là những cơ hội để tiếp cận những ý tưởng và phương pháp mới, cũng như cơ hội để đóng góp vào y văn quốc tế. Việc đã làm vẫn chưa đủ, nên trong tương lai chúng tôi mong muốn làm nhiều hơn nữa và thiết thực hơn nữa, qua những workshop và dự án nghiên cứu qui mô hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm từ nước Pháp      Đầu tháng 11 vừa qua, tạp chí Tia Sáng đã gặp và tìm hiểu về công tác truyền thông của các cơ quan và cơ sở điện hạt nhân của Pháp, như CEA, IRSN, EDF, và AREVA.      Công tác truyền thông điện hạt nhân ở Pháp có thể chia làm ba lĩnh vực. Truyền thông cho các dự án điện hạt nhân, truyền thông quảng bá công nghệ điện hạt nhân, và truyền thông trong trường hợp có tai nạn hoặc sự cố hạt nhân.  Trong thời kỳ sơ khai của điện hạt nhân ở Pháp hồi giữa thế kỷ 20, công tác truyền thông không được chú trọng nhiều, tổ chức mang tính ngẫu nhiên (ad-hoc communication) và một chiều bởi các cơ quan Nhà nước và công ty điện hạt nhân, nhận xét từ bà Jeanne Marcucci – Demeure, phó giám đốc Cơ quan Hạt nhân Quốc tế Pháp (AFNI) thuộc Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (CEA) của Pháp. Tuy nhiên theo thời gian, công tác này được từng bước cải thiện. Bắt đầu từ truyền thông mang tính một chiều, trong đó người dân đóng vai trò thụ động trong tiếp thu thông tin từ các cơ quan Nhà nước và công ty điện hạt nhân, dần chuyển thành truyền thông song song hai chiều, trong đó người dân chủ động đặt ra các câu hỏi về điện hạt nhân, chủ yếu là vấn đề an toàn hạt nhân và an toàn bức xạ. Tiếp theo, công tác truyền thông được nâng lên một bước nữa khi có sự quan tâm theo dõi của nhiều đối tượng có lợi ích liên quan, từ Nhà nước, doanh nghiệp, người dân trên cả nước và tại các địa phương, các tổ chức đoàn thể đại diện cho tiếng nói khác nhau, đặc biệt là các nhóm môi trường. Hiện nay, sự tham gia của các đối tượng này không chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi tìm hiểu thông tin, mà chủ động tích cực cùng nhau thỏa thuận để đưa ra các quyết định.             Pháp được coi là một cường quốc điện hạt nhân của thế giới, với 19 nhà máy điện hạt nhân (58 lò phản ứng PWR) có tổng công suất năm 2010 là 475,6 Twh (tỷ lệ điện nguyên tử so với toàn bộ sản lượng điện ở Pháp là 75,4%). Ngành công nghiệp này của Pháp có 37 triệu khách hàng trên thế giới, doanh thu năm 2010 là 65,2 tỷ Euro, tạo 900.000 việc làm (trong đó 120.000 việc làm trực tiếp tại nhà máy điện) đồng thời hợp tác với nhiều nước ở châu Âu, Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Phi, Việt Nam… trong xây dựng nhà máy, chuyển giao CN, khắc phục sự cố.           Truyền thông cho các dự án điện hạt nhân   Thông qua những cuộc thảo luận công khai và những cuộc trưng cầu ý kiến rộng rãi, Pháp đảm bảo được các tiêu chí quan trọng trong truyền thông điện hạt nhân, đó là dân chủ, công khai và minh bạch.    Không chỉ trong lĩnh vực điện hạt nhân, với mọi loại dự án đầu tư có giá trị từ 300 triệu Euro trở lên, thông tin ngay từ giai đoạn xây dựng dự án đã phải được cung cấp đầy đủ cho Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia (Commission Nationale du Débat Public), cơ quan độc lập chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc thảo luận công khai lấy ý kiến công chúng. Ba vấn đề cơ bản của mỗi dự án được cân nhắc bàn thảo tại các cuộc thảo luận bao gồm lợi ích của quốc gia, ảnh hưởng kinh tế – xã hội, và ảnh hưởng môi trường. Những cuộc thảo luận công khai này giúp cung cấp thông tin đa chiều cho các bên liên quan.               Françoise Bidard         Theo bà Françoise Bidard, chuyên gia phụ trách về quan hệ quốc tế của Công ty Điện lực Pháp (EDF), quá trình thảo luận của công chúng được diễn tra trên phạm vi toàn quốc, kéo dài từ 13 tới 15 tháng, đủ thời gian để các bên nhận được những thông tin đa chiều quan trọng. Phía công chúng được cung cấp thông tin và đặt câu hỏi về dự án, đồng thời các cấp quản lý và chủ đầu tư được tiếp thu ý kiến phản hồi từ các nhà khoa học, các tổ chức môi trường, và đông đảo các tầng lớp công chúng khác.   Sau giai đoạn thảo luận trên phạm vi toàn quốc là giai đoạn lấy ý kiến công chúng địa phương, trong phạm vi bán kính 10 – 15 km xung quanh địa điểm đầu tư. Ít nhất chủ đầu tư phải đưa ra 3 địa điểm để người dân cân nhắc lựa chọn. Thời gian lấy ý kiến từ 1 tới 2 tháng. Mục tiêu của giai đoạn này nhằm cung cấp cho công chúng ở địa phương các thông tin về dự án, và thu thập tất cả các ý kiến phản hồi của người dân gửi tới các cấp quản lý Nhà nước và chủ đầu tư, trước khi dự án được quyết định thông qua hay không thông qua. Nếu dự án không nhận được sự đồng tình của người dân địa phương thì dự án phải hủy bỏ.                                       Tháng 12-1948, dưới sự lãnh đạo của Frerdérx Joliot-Curie lò phản ứng nguyên tử đầu tiên của Pháp mang tên Zoé được đưa vào hoạt động, chạy bằng urani thiên nhiên và dùng nước nặng (D20) làm chậm nơtron. Lò này công suất rất nhỏ, chủ yếu dùng để làm thí nghiệm. Lò phản ứng đầu tiên cung cấp điện năng của Pháp là lò G1 xây dựng ở Marcoule bên bờ sông Rhôme miền Đông Nam nước Pháp, bắt đầu hoạt động từ tháng 9-1956. Tiếp theo là lò G2 (9-1958) và lò G3 (1959) đều dùng urani thiên nhiên.               Với việc xây dựng thành công nhà máy làm giàu urani ở Pierrelantte vào năm 1965, từ năm 1970, Pháp chuyển sang xây dựng loại lò phản ứng dùng urani giàu (hàm lượng urani- 235 khoảng 3-4%), dùng nước thường (H20) làm chậm nơ-tron và làm nguội lò. Loại lò này được gọi là “lò nước dưới áp suất” (Pressurized Water Reactor, ký hiệu là PWR), được dùng phổ biến trên thế giới hiện nay.              Chính nhờ phát triển mạnh mẽ công nghệ điện nguyên tử mà nước Pháp đã thực hiện được “sự độc lập năng lượng” (Indépendance éneergétique), không lệ thuộc vào việc nhập dầu của nước ngoài, vượt qua được các cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 và 1979).              Tất cả các nhà máy ĐHN của Pháp đều cùng sử dụng loại lò phản ứng PWR (thời gian hoạt động 20 năm/tuổi thọ đến 60 năm) nên tạo thuận lợi cho việc nâng cấp, đổi mới công nghệ, sửa chữa thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực.              Bên cạnh đó, Pháp là một trong số ít cường quốc điện hạt nhân trên thế giới có một chương trình chủ động tái chế chất thải hạt nhân, được thực hiện tại COGEMA, La Hague. hoạt động làm giàu nguyên liệu hạt nhân được Pháp tiến hành 100% trong nước, tại Trung tâm Năng lượng hạt nhân Tricastin. Pháp cũng tiến hành tái chế nhiên liệu hạt nhân cho các nước khác, như Mỹ và Nhật, là các quốc gia không có được chương trình xử lý chất thải hạt nhân toàn diện như Pháp.           Thông qua cuộc điều tra lấy ý kiến tại địa phương trong giai đoạn phát triển dự án, người dân địa phương không chỉ đặt ra mọi câu hỏi mà còn có thể thỏa thuận với chủ đầu tư dự án về các lợi ích mà địa phương có thể nhận được, ví dụ như đầu tư xây dựng hạ tầng, bệnh viện, trường học, nguồn nhân lực của địa phương tham gia xây dựng nhà máy.                     Chủ đầu tư và các bên liên quan tới dự án chịu trách nhiệm cung cấp mọi thông tin cần thiết cho Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia, một cơ quan hoàn toàn độc lập với Chính phủ. Mặt khác, Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin được cung cấp cho công chúng, và đảm bảo rằng mọi câu hỏi của công chúng đều được trả lời đầy đủ, căn cứ theo Luật Minh bạch và an toàn hạt nhân. Những ràng buộc này cùng với sự độc lập của Cơ quan An toàn hạt nhân (Autorité de sûreté nucléaire) và Ủy ban Thảo luận Công Quốc gia giúp công tác truyền thông điện hạt nhân của Pháp luôn có tính dân chủ và minh bạch cao.           Các văn bản pháp quy liên quan đến an toàn hạt nhân ở Pháp              – Ngày 13/7/2005, Quốc hội thông qua chính sách phát triển năng lượng hạt nhân (sau 250 cuộc thảo luận, lấy ý kiến của công chúng trong vòng 2 năm)              – Ngày 15/6/2006, Quốc hội thông qua Luật minh bạch và an ninh hạt nhân,                Luật này quy định: công chúng phải được cung cấp thông tin đầy đủ và nhà cầm quyền, các cơ quan an toàn hạt nhân phải trả lời những câu hỏi của công chúng trong thời gian ngắn nhất có thể (quyền của người dân); cơ quan an toàn hạt nhân hoạt động độc lập với Chính phủ; kiểm tra toàn diện nhà máy ĐHN sau 10 năm hoạt động, nếu bảo đảm kỹ thuật mới được cấp phép cho hoạt động tiếp.              – Năm 2006 Quốc hội thông qua Luật quản lý và xử lý chất thải (qua trưng cầu dân ý trong 4 tháng và tạo được sự đồng thuận của công chúng).      Việc truyền thông dự án nhà máy điện Flamanville 3:               – Hơn 9 tháng dành cho Ủy ban chuẩn bị tài liệu và tranh luận;               – 21 cuộc họp công cộng tại Pháp từ giữa tháng 10 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006 và 1 cuộc họp mang tầm quốc gia gồm, với 4.200 người tham dự.              – 110.000 tài liệu được công bố               – 30.000 lượt truy cập website liên quan               – 800 câu hỏi liên quan đến:  Môi trường xây dựng, thời gian NNP, sự an toàn; sử dụng, đào tạo việc làm tại địa phương; nghĩa vụ tham gia, đóng góp vào kinh tế – xã hội của địa phương.          Truyền thông ở địa phương và nhà máy   Nếu như Ủy ban Thảo luận Quốc gia có thẩm quyền trên phạm vi cả nước, thì ở từng địa phương Pháp lập ra các Ủy ban Thông tin Địa phương (Local Information Commission). Đây cũng là những cơ quan độc lập, vừa chịu trách nhiệm về tính minh bạch thông tin các dự án, vừa là cầu nối giữa công chúng với chủ đầu tư.    Khoảng 50% số thành viên trong mỗi Ủy ban Thông tin Địa phương, trong đó có Chủ tịch Ủy ban, là do người dân địa phương trực tiếp bầu lên. 50% số thành viên còn lại là do Chủ tịch Ủy ban chỉ định, đại diện cho các lĩnh vực và chuyên môn khác nhau, như y tế, cứu hộ, bảo vệ môi trường, v.v.            Ủy ban Quốc gia về Thảo luận Công (Commission Nationale du Débat Public) là một cơ quan độc lập, được thành lập theo luật Barnier (1995) về bảo vệ môi trường, với nhiệm vụ nhằm “đảm bảo quyền tham gia của công chúng trong quá trình xây dựng các dự án liên quan tới lợi ích đáng kể của Nhà nước, chính quyền địa phương, các cơ quan và tổ chức, và mọi cá nhân.              “Việc tham gia của công chúng ở đây có thể dưới hình thức các cuộc thảo luận công khai, qua đó làm rõ về sự cần thiết, mục tiêu, và những đặc tính cơ bản của dự án, và các cách thức tiếp tục trao đổi thông tin với công chúng kế tiếp sau mỗi cuộc thảo luận.              Quyền tham gia của công chúng xuyên suốt giai đoạn phát triển một dự án, từ nghiên cứu tiền khả thi tới khi kết thúc các cuộc điều tra lấy ý kiến công chúng …              Ủy ban phải đảm bảo rằng thông tin được thông báo tới công chúng trong các giai đoạn xây dựng và triển khai dự án là thông tin chính xác, minh bạch. Ủy ban chịu trách nhiệm tư vấn cho công chúng về các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền cung cấp thông tin cho công chúng trong suốt quá trình phát triển của mỗi dự án. Ủy ban cũng chịu trách nhiệm công bố “tất cả mọi ý kiến và đề xuất mang tính cơ bản hoặc chuyên sâu để giúp thúc đẩy và phát triển sự trao đổi thông tin và hợp tác với công chúng”.               Ủy ban không được phép đưa ra quan điểm riêng về các dự án được trình tới họ.”               (Điều L121-1, Luật Barnier 1995)          Ủy ban Thông tin Địa phương xây dựng chương trình hoạt động tùy thuộc vào tình hình thực tế ở địa phương. Điều 25 Luật Minh bạch Thông tin của Pháp (2006) trao quyền pháp lý và nguồn tài chính từ ngân sách để tiến hành các cuộc điều tra thông tin về các dự án trên địa bàn địa phương. Ví dụ, đối với các dự án điện hạt nhân, Ủy ban Thông tin Địa phương có quyền thuê các nhóm chuyên gia kiểm tra về tính an toàn và thân thiện với môi trường. Khi nhà máy đi vào vận hành, Ủy ban Thông tin Địa phương với sự tham gia của đại diện các lĩnh vực chuyên môn và các nhóm cộng đồng trong vùng phối hợp với trung tâm truyền thông của nhà máy điện hạt nhân tiếp tục đóng vai trò giám sát an toàn hạt nhân và vảo vệ cho các lợi ích của địa phương.             Cây câu hỏi và trả lời về ĐHN dành cho trẻ em tại Cruas          Tuy nhiên, lợi ích hàng đầu được người dân quan tâm liên quan tới nhà máy điện hạt nhân luôn là an toàn hạt nhân. Vì vậy, theo ông Emmanuel Lambert, giám đốc truyền thông nhà máy điện hạt nhân Cruas, các nhà máy điện hạt nhân ở Pháp luôn thường trực có người phụ trách truyền thông, sẵn sàng tiếp đón người dân đến tìm hiểu và giải đáp ngay tất cả mọi câu hỏi mà công chúng đặt ra về an toàn hạt nhân.  Truyền thông hạt nhân của nhà máy điện được thực hiện qua các hình thức: thông qua trang web của nhà máy và trung tâm hỗ trợ thông tin; số điện thoại liên lạc miễn phí; tổ chức cho người dân thăm nhà máy vào các dịp duy tu, sửa chữa thiết bị; phát hành các số báo chuyên đề; hợp tác với Ủy ban Thông tin Địa phương về thông tin và tổ chức các hoạt động ngoại khóa…     Truyền thông quảng bá công nghệ điện hạt nhân   Kinh nghiệm của Pháp cho thấy công tác truyền thông cho điện hạt nhân là một hoạt động đòi hỏi những nỗ lực bền bỉ lâu dài. “Đối với công chúng, bức xạ là một mối nguy hiểm bí ẩn, không màu, không mùi, không cảm thấy ngay”, như nhận xét của Jean-Pierre Barbeau, Phó Chủ tịch tư vấn chiến lược của AREVA. Mối lo sợ của người dân luôn tiềm tàng và luôn có thể nảy sinh, lan truyền theo bản năng số đông mà không cần đến những căn cứ xác thực. Vì vậy, việc cung cấp những thông tin kỹ thuật chính xác và kịp thời là những điều kiện cần thiết quan trọng, nhưng không phải khi nào cũng đủ để thuyết phục công chúng.               Khi còn nhỏ, tôi đã rất thích thú khi đến thăm nhà máy ĐHN. Đó cũng là lý do khiến tôi trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực ĐHN.               Jean-Pierre Barbeau, Phó chủ tịch tư vấn chiến lược của AREVA          Theo ông Robert Cotta, thị trưởng của thị trấn Cruas nằm gần nhà máy điện hạt nhân Cruas, trong bối cảnh hiện nay thì điều chi phối quan điểm của người dân địa phương về nhà máy điện hạt nhân chưa hẳn đã là những căn cứ kỹ thuật, mà chủ yếu là “những dư luận của số đông chịu chi phối bởi chính trị”. Nếu muốn tìm hiểu hoặc thảo luận về điện hạt nhân thì hiện nay ít người tìm đến Ủy ban Thông tin Địa phương, nơi chịu trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác và tổ chức thảo luận cho dân chúng địa phương. Thay vào đó, họ “trực tiếp tranh luận tại các cuộc vận động tranh cử của các chính trị gia”, nơi “quan điểm ủng hộ hoặc chống điện hạt nhân trở thành các chiêu bài tranh cử đa phần mang tính chính trị”.  Để duy trì ấn tượng tích cực của công chúng trong môi trường phức tạp như vậy, công tác truyền thông điện hạt nhân ở Pháp đã thể hiện tính chủ động và linh hoạt cao. Những cơ sở hạt nhân như nhà máy điện hạt nhân Cruas không chỉ thụ động chờ khách đến thăm mà chủ động mời người dân đến tham quan nhà máy. Trên diện rộng, CEA mở ra các trung tâm truyền thông điện hạt nhân được tổ chức theo hình thức bảo tàng mini, như bảo tàng chất thải hạt nhân Visiatome. Những trung tâm này không chỉ là nơi trưng bày và quảng bá cho điện hạt nhân, mà còn là nơi diễn ra các sự kiện văn hóa. Theo Cédric Garnier, giám đốc truyền thông cơ sở hạt nhân Marcoule của CEA, bảo tàng Visiatome do ông điều hành với một diện tích bảo tàng khiêm tốn chỉ khoảng 600 m2 được đầu tư xây dựng với chi phí chỉ khoảng 5 triệu Euro, nhưng hằng năm thu hút đến 20 nghìn lượt khách tham quan, trở thành một điểm nhấn văn hóa sinh động thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Pháp. Tháng 2 năm nay bảo tàng đã tổ chức triển lãm các hình ảnh 3D về kim tự tháp Kheops bằng vật liệu là những chất thải trong đời sống, thu hút người tham quan rất đông. Qua đó, ấn tượng về sự bí ẩn và nguy hiểm được giảm nhẹ, thay thế bằng tính thân thiện, văn minh, văn hóa cao, và gắn kết được với cộng đồng địa phương.               Bảo tàng Visiatome     Một gian triển lãm về năng lượng nguyên tử  trong  bảo tàng Visiatome          Hằng năm Visiatome tổ chức các hoạt động ngoại khóa, biểu diễn các thí nghiệm hạt nhân dành cho trẻ em. Những hoạt động như vậy giúp chuẩn bị cho thế hệ công chúng của tương lai những nhận thức cơ bản về năng lượng hạt nhân.  Chương trình truyền thông của CEA dành cho nhiều lứa tuổi thanh thiếu niên khác nhau, mỗi lứa tuổi được gắn với một chương trình phù hợp riêng. Điều này đòi hỏi có sự hợp tác giữa CEA với giáo viên và các nhà quản lý giáo dục. Giữa CEA và Bộ Giáo dục Pháp có sự hợp tác chặt chẽ, đặc biệt là trong việc đưa nội dung về điện hạt nhân vào các bài giảng dành cho các lớp tiểu học và cấp hai. Đối với các trường trung học, CEA trực tiếp làm việc với từng trường do tính chủ động của những trường này là cao hơn, và nội dung truyền thông điện hạt nhân cho những đối tượng này bắt đầu trực tiếp đi vào các hoạt động mang tính hướng nghiệp. Đối với các giáo viên, CEA không chỉ tổ chức hướng dẫn bổ túc nghiệp vụ, mà còn cung cấp các tài liệu miễn phí giúp phục vụ sinh động cho các bài giảng, như các đoạn video, phim hoạt hình, trò chơi.                           Jeanne Marcucci – Demeure                       Những hoạt động truyền thông đa dạng như vậy không chỉ phục vụ riêng cho lợi ích ngành điện hạt nhân, mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc hơn, đó là tạo dựng sự quan tâm, hứng thú của lớp trẻ đối với khoa học công nghệ, những người sẽ là nhân lực tương lai của ngành điện hạt nhân và KHCN.          Những hoạt động truyền thông đa dạng như vậy không chỉ phục vụ riêng cho lợi ích ngành điện hạt nhân, mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc hơn, đó là tạo dựng sự quan tâm, hứng thú của lớp trẻ đối với khoa học công nghệ, những người sẽ là nhân lực tương lai của ngành điện hạt nhân và khoa học công nghệ.        Truyền thông trong trường hợp có tai nạn hoặc sự cố hạt nhân   Khi xảy ra các sự cố và tai nạn hạt nhân, nguồn thông tin được người dân tham vấn đầu tiên là từ Viện Bảo vệ Bức xạ Hạt nhân (IRSN). Đây là một cơ quan của Chính phủ trực thuộc năm Bộ (Bộ Sinh thái – Phát triển bền vững – Giao thông – Nhà ở, Bộ Kinh tế – Tài chính – Công nghiệp, Bộ Giáo dục và nghiên cứu, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động và Y tế), có thể coi là cơ quan đầu mối trong việc cung cấp thông tin một cách toàn diện về an toàn bức xạ tới công chúng, liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, môi trường, kinh tế, vv.   Mặc dù là một cơ quan trực thuộc tới năm bộ nhưng khả năng tự chủ và nhạy bén trong truyền thông của IRSN là rất cao, thể hiện qua hoạt động của cơ quan này trong quá trình diễn biến sau thảm họa Fukushima.               Marie-Pierre Bigot  … luôn chuẩn bị sẵn sàng cung cấp các thông tin về y tế và sức khỏe, vì đây là mối quan tâm hàng đầu của công chúng khi xảy ra các sự cố hạt nhân.          Theo lời bà Marie-Pierre Bigot, giám đốc bộ phận truyền thông của IRSN, đơn vị của bà đã nhanh chóng hành động ngay trong buổi sáng khi xảy ra sự cố ở Nhật Bản. Sự cố động đất xảy ra ở Nhật Bản vào lúc gần 7 giờ sáng theo giờ Pháp (tức gần 3h chiều ở Nhật Bản) thì tới 11 giờ sáng bộ phận truyền thông của IRSN đã thành lập xong tổ công tác, và tới 5 giờ chiều họ đã phát đi trang tin đầu tiên tới công chúng. Tất cả những hoạt động này được tổ chức tiến hành trong phạm vi quyền hạn của bà Bigot mà không phải chờ tới chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hơn.  Cũng giống như các bộ phận truyền thông của các đơn vị, tổ chức khác ở Pháp, bộ phận truyền thông của IRSN rất tinh gọn, với số lượng cán bộ nhân viên khoảng dưới mười người. Tuy nhiên, qua thực tế công việc, hiệu quả của đội ngũ này là rất cao. Sau khi xảy ra sự cố Fukushima, đối diện với mối quan tâm rất lớn và cấp bách từ công chúng, nhưng đơn vị này chỉ bố trí 3 người trả lời các câu hỏi gửi đến, kèm theo hỗ trợ từ 2 tổ công tác tìm hiểu về tình hình y tế và môi trường. Trong vòng ba tuần sau khi xảy ra sự cố, họ làm việc từ 8 giờ sáng tới 11 giờ đêm, trả lời tất cả các câu hỏi được gửi đến (riêng từ báo chí là 900 câu hỏi), và gửi tới các cơ quan Chính phủ, các tổ chức liên quan, các cơ quan báo chí, tổng cộng 58 thông cáo. Ở các nhà ga, bến cảng, trung tâm thành phố đều có các bản tin cập nhật thường xuyên diễn biến của Fukushima để người dân có thể tìm hiểu. Cơ quan còn tổ chức một cầu truyền hình trực tiếp giữa các nhà máy điện hạt nhân trên toàn quốc để các nhà báo đến lấy thông tin.                 Hoạt động của IRSN          Theo bà Bigot, công tác truyền thông của IRSN đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin và đảm bảo duy trì lòng tin của công chúng do tuân thủ bốn nguyên tắc cơ bản.   1. Luôn đảm bảo sự cởi mở và trung thực, không che dấu các vấn đề hoặc chối bỏ các trách nhiệm.    2. Phối hợp tốt với các cơ quan truyền thông. Qua 10 năm từ khi thành lập tới nay, IRSN luôn thường xuyên làm việc với các đơn vị báo chí nên khi có sự cố thì việc phối hợp rất thuận lợi. Với sự hợp tác tích cực từ IRSN, báo chí đã hoàn thành vai trò quan trọng trong thời gian sau sự cố Fukushima, kịp thời cập nhật thông tin từng phút tới công chúng Pháp.    3. Biết cách chia sẻ thông tin một cách chính xác nhưng dễ hiểu tới công chúng, đặc biệt là trong bối cảnh xảy ra các cuộc khủng hoảng.    4. Luôn chuẩn bị sẵn sàng cung cấp các thông tin về y tế và sức khỏe, vì đây là mối quan tâm hàng đầu của công chúng khi xảy ra các sự cố hạt nhân.      Những bài học kinh nghiệm    Qua hoạt động của các cơ quan truyền thông hạt nhân Pháp có thể thấy điều hết sức quan trọng với những quốc gia mới bắt đầu xây dựng chương trình điện hạt nhân như Việt Nam cần quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc minh bạch thông tin trong truyền thông hạt nhân. Đó là nghĩa vụ bắt buộc của các cơ quan chính phủ. Lòng tin của công chúng đối với nhà nước và các công ty điện hạt nhân được xây dựng dựa trên sự minh bạch thông tin, được xây dựng qua một quá trình lâu dài, nhưng sẽ đổ vỡ rất nhanh nếu công chúng nhận ra có sự thiếu trung thực. Vì vậy, những nỗ lực để duy trì lòng tin của công chúng đòi hỏi một cam kết bền bỉ lâu dài của tất cả các bên liên quan, từ các cơ quan nhà nước, nhà thầu thi công, công ty điện hạt nhân, vv, trong việc cung cấp thông tin một cách trung thực và chính xác.    Với mảng truyền thông liên quan tới các dự án điện hạt nhân, Việt Nam cần có những cơ quan độc lập chuyên trách việc đảm bảo tính khách quan của thông tin. Nếu được tổ chức hợp lý, những cơ quan này cũng sẽ là cầu nối hữu hiệu giữa công chúng với chính phủ và công ty điện hạt nhân, đại diện cho tiếng nói của người dân, các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, các tổ chức môi trường, vv. Quá trình xây dựng các dự án đầu tư điện hạt nhân cần có thêm những cuộc lấy ý kiến công chúng, trên phạm vi toàn quốc cũng như địa phương.   Cần đặc biệt quan tâm tới đối tượng thanh thiếu niên, biến truyền thông điện hạt nhân thành một hoạt động quảng bá cho khoa học và công nghệ. Qua đó một mặt chuẩn bị những nhận thức cơ bản cần thiết về ngành điện công chúng cho các thế hệ công chúng trong tương lai, mặt khác đem lại sự quan tâm hứng thú của trẻ em đối với khoa học công nghệ, yếu tố cần thiết để tạo dựng nguồn nhân lực của Việt Nam cho điện hạt nhân nói riêng và khoa học công nghệ nói chung.  Báo chí là đối tác quan trọng của truyền thông hạt nhân, một mặt giúp cung cấp thông tin cho công chúng, mặt khác giúp phản ánh quan điểm của người dân và những tâm tư, nguyện vọng của họ đối với chính phủ và ngành điện hạt nhân.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh nghiệm ươm tạo từ Israel      Nhằm tìm hiểu kinh nghiệm ươm tạo doanh nghiệp từ Israel, nơi nổi tiếng vì đã tạo được môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp, phóng viên Tia Sáng đã ghi lại cuộc trao đổi với ông Zafrir Asaf, Bí thư Thứ nhất phụ trách Kinh tế của Đại sứ quán Israel tại Hà Nội.      Việc triển khai thương mại hóa một công nghệ mới thường là một quá trình dài thách thức cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Ngoài việc thiếu kinh nghiệm hoạt động kinh doanh, họ còn thiếu thông tin và các mối quan hệ với các nguồn vốn đầu tư. Nhận được vòng đầu tư vốn đầu tiên là thách thức đáng kể cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, vì các nhà đầu tư luôn có xu hướng dè dặt vì những khoản đầu tư cho giai đoạn ban đầu của tiến trình nghiên cứu phát triển và thương mại hóa công nghệ luôn gắn với mức rủi ro cao.   Vì vậy, Chính phủ Israel xác định vai trò của các vườn ươm công nghệ là chấp nhận chia sẻ rủi ro cùng các nhóm sáng chế công nghệ mới, hỗ trợ giúp biến các ý tưởng công nghệ thành những doanh nghiệp khởi nghiệp, và trợ giúp cho tới khi chúng nhận được vòng đầu tư đầu tiên từ các nhà đầu tư tư nhân.  Để làm được điều này, Chính phủ cho xây dựng những vườn ươm tạo hỗ trợ các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập nền tảng hạ tầng và nghiên cứu phát triển. Hệ thống vườn ươm của Israel được thiết lập từ năm 1991, đến nay có tất cả 24 vườn ươm, trong đó chú trọng hàng đầu vào việc ươm tạo những doanh nghiệp công nghệ, hỗ trợ các nghiên cứu đổi mới sáng tạo đem lại những sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa cao.           Các vườn ươm ở Israel được Nhà nước cấp giấy phép với kỳ hạn hoạt động trong 8 năm. Việc cấp phép được thông qua một quá trình đấu thầu mà mọi đối tượng trong nước và nước ngoài đều có thể tham gia. Mỗi vườn ươm như vậy là một doanh nghiệp cổ phần, được chia sẻ bởi các nhà đầu tư mạo hiểm, các công ty cổ phần và tư nhân, các nhà đầu tư angel (là những nhà đầu tư chuyên cấp vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp), các công ty địa phương hoặc tập đoàn đa quốc gia.        Các vườn ươm hỗ trợ doanh nghiệp về tài chính, quản trị, và cung cấp dịch vụ quản lý hành chính (thư ký, kế toán, pháp lý, tư vấn sáp nhập), tư vấn định hướng và xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp, và hỗ trợ trong thương mại hóa. Vừa là nơi hướng dẫn, truyền kinh nghiệm, vườn ươm đồng thời cũng là nơi rèn luyện cho doanh nghiệp tinh thần kỷ luật trong quá trình hoạt động. Công việc của các vườn ươm đòi hỏi sự kiên nhẫn và tầm nhìn xa, đồng thời sẵn sàng chấp nhận rủi ro và thất bại.  Tổng ngân sách Nhà nước hằng năm dành cho chương trình ươm tạo doanh nghiệp khoảng 50 triệu USD, với 200 dự án được vận hành tại mỗi thời điểm. Tại mỗi thời điểm, mỗi vườn ươm hỗ trợ khoảng 10 dự án/doanh nghiệp. Thời gian ươm tạo mỗi doanh nghiệp từ 2 tới 3 năm, với tổng kinh phí tài trợ cho mỗi đời dự án trung bình khoảng 500 nghìn USD. Để khai thác sử dụng nguồn lực hữu hạn một cách hiệu quả, các vườn ươm khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp tận dụng nguồn lực và cùng chia xẻ cơ sở hạ tầng.  Việc thẩm định phê duyệt các dự án ươm tạo chủ yếu do các vườn ươm tự thực hiện, với mục tiêu thiết thực là chọn được những dự án có tiềm năng sẽ thu hút được thật nhiều nguồn vốn từ các nhà đầu tư trong tương lai. Bên cạnh đó Nhà nước cũng đặt ra các tiêu chí khác cho nguồn tài trợ của mình cho các dự án, như sự bồi đắp phát triển văn hóa đầu tư, hình thành nên những công nghệ mới, những dự án có sức lan tỏa mạnh, giúp củng cố, phát triển các địa phương, cộng đồng, thu hút hình thành những cộng đồng nghiên cứu chuyên nghiệp, và tăng cường hợp tác giữa các ngành công nghiệp với giới học thuật.   Thu hút đầu tư tư nhân được coi là đích đến cho các dự án ươm tạo doanh nghiệp, nhưng các nhà đầu tư tư nhân cũng có thể tham gia song hành cùng doanh nghiệp ngay trong quá trình ươm tạo, và có thể tham cổ phần tại vườn ươm để đổi lấy việc đầu tư tài chính và những nguồn lực chiến lược cho dự án. Tuy nhiên, nhìn chung việc thu hút đầu tư được trông cậy vào những tổ chức chuyên nghiệp: các quỹ đầu tư mạo hiểm. Chính họ là người lựa chọn se duyên các nhà đầu tư và dự án phù hợp, quản lý nguồn vốn cho các nhà đầu tư một cách chuyên nghiệp, và giúp tư vấn phát triển dự án để doanh nghiệp khởi nghiệp khi ra đời có giá trị tối đa trên thị trường.              PV lược ghi      Author                Quản trị        
__label__tiasang Kinh tế tri thức ở Việt Nam?      Trong một khuôn khổ hạn chế, bài viết thiên về dùng thí dụ minh họa và giản lược tối đa các lý luận về một số điều của kinh tế tri thức, cụ thể về hai câu hỏi: Kinh tế tri thức là gì? Việt Nam có cần kinh tế tri thức không và nếu có sẽ gặp những thách thức nào?  &#160;      Kinh tế tri thức là gì?  Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, tiên phong bởi Fritz Machlup và Peter Drucker. Trong hơn bốn thập kỷ qua, đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Trong những năm qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau[2]. Bài viết này bắt đầu bằng việc trao đổi một cách hiểu người viết cho là gần với bản chất của kinh tế tri thức.                 Trước hết là khái niệm kinh tế. Theo một nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia. Các hoạt động kinh tế thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: (a) Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản; (b) Công nghiệp; và (c) Thương mại, ngân hàng, dịch vụ, du lịch… Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp. Đây là các mô hình một mặt được dùng để mô tả các nền kinh tế đã và đang tồn tại, mặt khác được chọn dùng để dẫn dắt, điều hành các nền kinh tế. Ta sẽ bàn về kinh tế tri thức theo nghĩa hệ thống kinh tế, và câu hỏi sẽ là kinh tế tri thức là gì và khác với các hệ thống kinh tế khác thế nào?   Chúng ta đều biết trong kinh tế kế hoạch, các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chủ đạo là kế hoạch, do Chính phủ chỉ đạo và quản lý những gì sẽ được sản xuất, sản xuất bao nhiêu và cho ai, với sự nhấn mạnh đến yếu tố hướng tới phúc lợi xã hội. Trong kinh tế thị trường các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chính là thị trường, ở đó các doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích hoạt động với mục tiêu thu lợi nhuận, các nguồn lực được phân bổ theo cơ chế giá cả định đoạt bởi cung và cầu, với vai trò hạn chế của Nhà nước. Khác với hai mô hình kinh tế kể trên, trong kinh tế tri thức các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chủ yếu chi phối các hoạt động kinh tế là tri thức con người. Các tên gọi khác như kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hay kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) cho ta một cách hiểu trực giác hơn với sự nhấn mạnh về vai trò nền tảng và ảnh hưởng của tri thức trong kinh tế.           Cách tân, đổi mới đã giúp kinh tế Nhật Bản có những bước tiến vượt bậc          Cần nói thêm rằng các nền kinh tế thường không thuần túy theo riêng một mô hình. Hầu hết nền kinh tế của các nước phát triển hiện đang theo mô hình kinh tế thị trường, nhưng đã có nhiều tính chất của kinh tế tri thức và đang hướng dần đến mô hình kinh tế này theo những cách ít nhiều khác nhau.  Cho đến đây ta vẫn nói về tri thức nhưng chưa đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm trừu tượng này, vốn vẫn được bàn cãi xưa nay. Tuy nhiên, trong một chừng mực chấp nhận được, ta thừa nhận cách hiểu theo nghĩa cơ bản nhất của tri thức, tức những hiểu biết con người có được qua nhận thức, học tập, và quan sát. Trong bài này ta sẽ nói một cách đơn giản tri thức là hiểu biết, và dùng thay đổi hai từ này. Với đa số người Việt, “hiểu biết” dường như gợi hơn, thấm hơn từ Hán-Việt “tri thức”.   Sẽ có một câu hỏi tự nhiên rằng sự khác nhau ở đâu khi mọi hoạt động trong các hệ thống kinh tế đương nhiên đều dựa trên hiểu biết. Nói khác đi, việc nhấn mạnh lên vai trò của hiểu biết sẽ tạo ra sự khác biệt và đặc điểm gì trong hệ thống kinh tế mới này ở tất cả các ngành kinh tế, chẳng hạn so với các hệ kinh tế kế hoạch hay kinh tế thị trường? Câu trả lời chính là ở mức độ khác nhau của sự sáng tạo và sử dụng tri thức. Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm trong đó hai đặc điểm sau là tiêu biểu hơn cả:    Có một tỷ lệ cao các hoạt động kinh tế dựa trên hiểu biết và thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, như khoa học về sự sống, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, …  Mọi hoạt động trong các ngành kinh tế đều dựa nhiều hơn và hiệu quả hơn vào việc dùng tri thức trong một môi trường toàn cầu hóa, và kinh tế được phát triển hài hòa với sự phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.          Quản trị trí thức là quá trình sáng tạo, thu nạp và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả của các tổ chức. Trong ảnh là bìa một cuốn sách về quản trị trí thức.          Có thể xem (a) là đặc điểm công nghệ và (b) là đặc điểm xã hội của kinh tế tri thức. Chúng tương hỗ bổ sung cho nhau để đặc trưng kinh tế tri thức, thậm chí (b) có vai trò bản chất hơn, chỉ ra nền kinh tế tri thức không đồng nhất với nền kinh tế của các công nghệ cao. Hai đặc điểm này có thể nhiều ít khác nhau trong các nền kinh tế tri thức của các quốc gia.  Theo nghĩa này, sản xuất nông nghiệp có thể có mặt trong kinh tế tri thức nếu người nông dân không chỉ dựa vào kinh nghiệm cha truyền con nối mà còn biết tìm và dùng được các hiểu biết của người khác, hoặc tìm ra cách mới sao cho việc trồng lúa nuôi lợn của mình tốt hơn, hoặc biết được nhu cầu xã hội, giao dịch và bán sản phẩm của mình qua Internet để có lợi hơn. Ngành du lịch có thể có mặt trong nền kinh tế tri thức nếu biết được tâm lý và nhu cầu của những nhóm du khách khác nhau, biết cung cấp các dịch vụ hấp dẫn, biết thu lãi trước mắt vừa đủ để giữ và thu hút khách lâu dài. Một quốc gia chỉ làm nông nghiệp và du lịch vẫn có thể xây dựng được nền kinh tế tri thức. Và thật ra cách hiểu này với sự nhấn mạnh yếu tố (b) mới mở đường để nhiều nước đang phát triển có thể định ra và hướng đến một nền kinh tế tri thức của riêng mình, khi hiện tại chưa có những ưu thế cạnh tranh về công nghệ cao.  Những ý niệm về kinh tế tri thức kể trên phù hợp với các định nghĩa được đề xuất và hiệu chỉnh dần trong những năm qua của một số tổ chức quốc tế:  “Là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng.” (Ngân hàng Thế giới, World Bank). [11]  “Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin.” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD). [6]  “Là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.” (Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, APEC). [1]  Ta lấy một vài thí dụ để phân tích các định nghĩa này, như định nghĩa của Ngân hàng Thế giới. Chẳng hạn việc khai thác và bán một số tài nguyên thiên nhiên ở dạng thô là những hoạt động kinh tế không chứa hàm lượng tri thức cao. Một nền kinh tế tri thức sẽ hướng đến việc làm sao để biết cách chế biến các tài nguyên thô thành các sản phẩm có giá trị cao hơn trước khi bán ra, đến việc có các thông tin toàn cầu về những quốc gia nào cần bán và mua các tài nguyên này để có quyết sách hợp lý nhất. Nếu có hiểu biết và không chỉ nhằm thị trường trước mắt, rất có thể việc hoãn vài chục năm không khai thác và bán ngay một số tài nguyên sẽ có lợi hơn trong toàn cục. Đây là việc “sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội”. Chẳng hạn lúc này ta đang phải quyết định một chuyện rất hệ trọng về xây dựng các nhà máy điện hạt nhân[10]. Rõ ràng ta cần tìm hiểu để biết mọi nhẽ của kiến thức loài người về điện hạt nhân, việc xây dựng và vận hành chúng, những bài học thành bại của các quốc gia. Đây là việc “thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu”. Chẳng hạn khi ta phát hiện ra và muốn khai thác mỏ than nâu dưới lòng đồng bằng sông Hồng, ta cần phải biết rất rõ về trữ lượng, biết công nghệ, biết tác động của nước ngầm đến sụt lún, biết những rủi ro có thể xảy ra. Đây là việc “thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng”.  Ngoài hai đặc điểm tiêu biểu về bản chất của kinh tế tri thức đã nêu trên, có thể kể đến một số tính chất tạo ra sự khác biệt giữa kinh tế tri thức và các hệ kinh tế khác. Một là tính chất toàn cầu của kinh tế tri thức. Không nền kinh tế của một quốc gia nào ngày nay có thể nằm ngoài mạng lưới kinh tế toàn cầu, và đương nhiên hiểu biết về các quốc gia khác để có cách phát triển kinh tế hợp lý của mình là điều hiển nhiên rất quan trọng. Trong cái bối cảnh toàn cầu đầy cạnh tranh này, sự “khôn sống mống chết” càng rõ, mà cái sự khôn ấy bắt đầu từ việc có hiểu biết về các nước khác trước khi đưa ra được những quyết định khôn ngoan. Hai là tính chất động theo cơ hội của nền kinh tế tri thức. Ta đang phải phát triển trong một thế giới đầy biến động, nơi điều duy nhất chắc chắn là sự không chắc chắn của chính thế giới này [4]. Trong những biến động ấy, hiểu biết về các cơ hội và rủi ro để có thể đối mặt với chúng là rất cần. Môi trường càng biến động, quốc gia nào có hiểu biết để nắm được cơ hội sẽ càng phát triển được nhanh. Ba là tính chất con người có tri thức là nguồn lực chính của kinh tế tri thức. Bổ sung vào lý thuyết kinh tế tân-cổ điển xem hai nguồn lực chính của kinh tế là vốn tài chính và sức lao động, kinh tế tri thức nhấn mạnh thêm về con người có tri thức. Nguồn lực con người có tri thức cao sẽ được nói ở phần sau về giáo dục và đào tạo trong kinh tế tri thức.    Việt Nam có cần kinh tế tri thức không và nếu có sẽ gặp những thách thức nào?  Để trả lời câu hỏi này hãy xem kinh tế ta đang ở đâu và cách nào để có thể tiến lên. Lấy một thí dụ để so sánh hai nền kinh tế Việt Nam và Nhật Bản, một là nền kinh tế thị trường phát triển nhưng đang hướng đến và đã mang nhiều tính chất của kinh tế tri thức, và một là nền kinh tế hỗn hợp còn mang ít tính chất của kinh tế tri thức. Sự nhiều ít này được nhìn nhận theo mức độ ảnh hưởng và chi phối của tri thức trong các hoạt động kinh tế.             Việt Nam (2007)      Nhật Bản (2007)          Ngành   kinh tế      Đóng   góp cho GDP      Ngành   kinh tế      Đóng   góp cho GDP          Nông,   lâm nghiệp, thủy hải sản      20,34%      Nông,   lâm nghiệp, thủy hải sản      0.9%          Công   nghiệp                                   (chế biến, khai mỏ)      41,48%        (31,03%)      Công   nghiệp                                   (chế tạo)      28,9%        (21,0%)          Thương mại, dịch vụ, du   lịch, …   (tài chính, tín dụng)      38,18%  (1,80%)      Thương   mại, dịch vụ, du lịch, …   (dịch   vụ)      70,8%        (30,9%)          Bảng 1. So sánh đóng góp vào GDP của Việt Nam và Nhật Bản theo   các ngành kinh tế  (phần trong dấu ngoặc là nội dung và số liệu của một vài lĩnh vực).      Bảng 1 tóm tắt các số liệu tổng hợp về đóng góp cho tổng thu nhập quốc dân năm 2007 theo ba ngành kinh tế của Việt Nam[8] và Nhật Bản[7]. Các số liệu tổng hợp này cho thấy ngành nông lâm ngư nghiệp của Việt Nam góp một phần lớn của GDP (20,34%) trong khi ngành này của Nhật chỉ góp chưa đầy 1%. Ngành công nghiệp của Việt Nam đóng góp 41,48% của GDP, trong đó khai mỏ (dầu khí, than… chưa có phần bô-xít) và công nghiệp chế biến (may mặc quần áo, giày dép xuất khẩu…) góp đến 31,03%, tức gần một phần ba của GDP. Ngành công nghiệp của Nhật Bản chỉ góp gần một phần ba của GDP (28,9%), trong đó phần của công nghiệp chế tạo là 21%. Điều này có thể làm nhiều người ngạc nhiên khi vẫn thường nghĩ rằng GDP của Nhật phần lớn do làm ra và bán được nhiều ô tô Toyota, xe máy Honda, máy ảnh Canon, máy tính Fujitsu… Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch… của Việt Nam đóng góp 38,18% của GDP, trong khi ngành này của Nhật Bản góp 70,8%, tức khoảng hai phần ba GDP. Đáng chú ý là ngành tài chính và tín dụng của ta chỉ khiêm tốn góp 1,8%, còn các ngành dịch vụ của Nhật góp 30,9% của GDP, tức gần một phần ba.  Từ đây có thể thấy rõ hơn là GDP của ta phần lớn thu được từ các ngành sản xuất đơn giản ít đòi hỏi hàm lượng tri thức cao, như công nghiệp chế biến hay khai thác tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, GDP của Nhật Bản phần lớn có được do các hoạt động kinh tế không liên quan đến việc làm ra hàng hóa, họ gọi là “công nghiệp tri thức”, hoặc các ngành chế tạo dựa trên công nghệ cao.   Để có thêm một định ý cho câu trả lời liệu Việt Nam có cần kinh tế tri thức không, hãy xét thêm một thí dụ về mối quan hệ giữa các nước phát triển và đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu. 　          Hình 1. Dịch chuyển cấu trúc kinh tế ở Đông Á          Hình 1 là một bức tranh về dịch chuyển cấu trúc kinh tế ở đông Á[5], trong đó trục hoành chỉ sự thay đổi theo thời gian (tương đối) và trục tung chỉ nhóm các nước ở đông Á có sự phát triển kinh tế chi phối bởi yếu tố tri thức và trình độ sản xuất ở các mức khác nhau. Nhóm các nước mới công nghiệp hóa (NIEs) gồm Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Singapore; nhóm Đông Nam Á 4 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Việt Nam nằm trong những nước sau cùng.   Xu thế chung của sự dịch chuyển này là mỗi khi các nước ở nhóm đi trước nâng trình độ sản xuất và dòng sản phẩm tiêu biểu lên một mức, dòng sản phẩm tiêu biểu cũ sẽ được chuyển dịch tới các nước đi ngay sau. Vì nằm ở nhóm sau cùng trong mối quan hệ này, Việt Nam hiện đang chủ yếu làm công nghiệp chế biến và gia công, với ít hàm lượng tri thức. Và nếu không có cách thay đổi cái lược đồ dịch chuyển này, ta sẽ chỉ luôn làm được việc người khác không làm nữa khi họ chuyển qua các việc có lợi nhuận kinh tế cao hơn do có nhiều hiểu biết hơn. Không vui nhưng nếu thừa nhận rằng nhận định nêu trong Hình 1 có nhiều phần đúng, có thể thấy các nước phát triển đang dần đi trước đến nền kinh tế tri thức. Sự dịch chuyển này dễ làm cho các nước đi sau trong đó có ta sẽ luôn đi sau với tiềm ẩn nguy cơ ngày càng tụt hậu. Có thể nói một cách tổng quát rằng sự khác biệt giữa các quốc gia đã và sẽ chính là sự khác biệt về hiểu biết, và thách thức lớn nhất của chúng ta chính là thách thức để vượt qua sự khác biệt này.          Hình 2. Tứ trụ của nền kinh tế tri thức          Có nhiều lý do cho thấy việc có và dùng hiệu quả tri thức trong các hoạt động kinh tế và xã hội là con đường chúng ta cần đi. Vì nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể là vô hạn để có thể khai thác và bán mãi, vì phát triển không thể bền vững nếu dựa quá nhiều vào nhập khẩu công nghệ và sản phẩm của thiên hạ, vì không thể vượt ra khỏi nhóm đi sau hay đi cuối nếu ta không tìm được cách để làm những việc khác ngoài gia công và chế biến, hay đào mỏ, chặt rừng, bắt cá.   Tất nhiên làm sao để xây dựng nền kinh tế tri thức là câu hỏi của cả đất nước. Nhưng nếu muốn làm kinh tế tri thức, cần xem đâu là những thách thức của ta, chẳng hạn những gì là nền tảng của một nền kinh tế tri thức và ta đã có bao nhiêu?              Ngân hàng Thế giới cho rằng các nền kinh tế tri thức cần dựa trên bốn trụ cột sau[10]:   Môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức: Một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của tri thức, hỗ trợ đầu tư cho công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), khuyến khích việc làm chủ doanh nghiệp như trọng tâm của kinh tế tri thức.  Giáo dục và đào tạo: Có chất lượng cao để người dân được giáo dục và đào tạo năng lực sáng tạo, chia sẻ, và sử dụng tri thức.                   Hệ thống cách tân: Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, đại học, tổ chức chuyên gia cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là cần thiết để thu nhận được kho tri thức toàn cầu luôn không ngừng tăng, truyền bá và thích ứng chúng cho các nhu cầu của đất nước, và sáng tạo ra các tri thức mới cần thiết.  Hạ tầng cơ sở thông tin: Một hạ tầng cơ sở thông tin động, từ radio đến Internet, là cần thiết để cho phép dễ dàng liên lạc, phổ biến, và xử lý thông tin.  Mặc dù còn những tranh luận, giả sử ta thừa nhận bốn trụ cột này để xem ta sẽ gặp những thách thức nào khi phải xây dựng chúng.   Tạo ra được một môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức trước hết là việc của chính quyền và bộ máy lập pháp. Một thách thức là làm sao để nâng cao được dân trí toàn xã hội. Khi dân trí được nâng cao, người dân sẽ có thêm động lực và khả năng tìm kiếm dòng chảy tri thức, hoạt động sáng tạo cũng như tăng xu hướng làm chủ doanh nghiệp. Vì những cán bộ của bộ máy chính quyền và địa phương là những công dân có ảnh hưởng nhiều hơn đến môi trường kinh tế và thể chế xã hội, việc nâng cao được quan trí, như dân gian thường nói, là một điều hệ trọng. Những yếu kém về tri thức của một số quan chức mà người dân đôi khi được biết như chuyện “ngực lép xe máy”, chuyện “100% tiến sĩ”,… cho thấy đây là một thách thức lớn khi ta muốn đến nền kinh tế tri thức.  Giáo dục và đào tạo là chuyện sống còn của đất nước. Đương nhiên nếu giáo dục không làm được sứ mạng đào tạo được những người có tinh thần và khả năng sáng tạo, sẽ không có cách nào tiến đến kinh tế tri thức. Nói riêng về đào tạo người lao động có tri thức trong công nghiệp, nhìn theo năm nhóm ngành [9], A: Hàm lượng lao động cao và làm việc giản đơn như may mặc, giày dép…; B: Hàm lượng lao động cao và sử dụng nguyên liệu nông lâm ngư nghiệp như chế biến thực phẩm; C: Hàm lượng tư bản cao và sử dụng tài nguyên khoáng sản như thép, hóa dầu…; D: Hàm lượng lao động cao và lành nghề, làm các sản phẩm như đồ điện gia dụng, xe máy, bơm nước, linh kiện điện tử…; E: Hàm lượng công nghệ cao và làm máy tính, công nghệ thông tin và truyền thông, xe hơi, đồ điện tử cao cấp… Ở Đông Á, Trung Quốc tập trung vào A và lắp ráp trong D; Thái Lan và các nước Đông Nam Á 4 có lợi thế trong B và D; Nhật Bản và các nước NIEs giữ lợi thế ở D và đang tăng phần sản xuất bên ngoài nên Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á đang dịch chuyển về D. Việt Nam đang chủ yếu làm A và B. Rõ ràng muốn chuyển dịch qua các nhóm ngành khác như C, D, và E, chúng ta phải đối mặt với bài toán đào tạo người lao động có tri thức cao hơn, làm được những việc ở các nhóm ngành này.  Xây dựng được một hệ thống cách tân là một thách thức rất lớn, tức hệ thống các tổ chức đóng vai trò thu nhận và sáng tạo tri thức chủ yếu trong xã hội. Việc này liên quan tới những thách thức lâu nay của ta như chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu. Một khía cạnh ở đây là thách thức về tính cách tân của các tổ chức trong xã hội. Quản trị tri thức (knowledge management)- lý thuyết và thực tiễn về quá trình sáng tạo, thu nạp và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả của các tổ chức- là một công cụ rất đáng quan tâm cho cuộc cách tân này. Có thể lấy thí dụ về quản trị tri thức của các công ty Nhật Bản, được mô hình hóa trong cuốn sách nổi tiếng của Nonaka và Takeuchi [4]. Sự vượt lên kỳ diệu của Nhật Bản từ hoang tàn đổ nát sau Đại chiến thế giới thứ hai là điều đáng tìm hiểu và học tập. Khi này các công ty Nhật Bản phải vươn lên trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt. Họ cần có công nghệ mới, thiết kế sản phẩm mới, quá trình sản xuất mới, cách tiếp cận thị trường mới. Các công ty Nhật đã thực hiện được hiệu quả quá trình sáng tạo những tri thức cần cho phát triển kinh tế. Mọi thành viên của các công ty được khuyến khích chia sẻ tri thức mình tích lũy được với đồng nghiệp, góp vào tài sản tri thức của công ty, cùng nhau hợp sức tạo ra tri thức công nghệ và sản phẩm mới của công ty. Cách họ làm dựa trên sự tương tác liên tục theo một dòng xoắn ốc không ngừng tăng giữa các khía cạnh của tri thức ẩn và tri thức tường minh của các cá thể, nhóm và tổ chức. Công thức của sự thành công của các công ty Nhật Bản là: Sáng tạo tri thức --> Liên tục cách tân --> Ưu thế cạnh tranh [4].  CNTT&TT là hạ tầng cơ sở để thực hiện hầu hết các hoạt động của kinh tế tri thức, là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ cho ba trụ cột nêu ở trên về giáo dục và đào tạo, hệ thống cách tân, môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho việc sáng tạo và sử dụng tri thức. Thách thức trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở CNTT&TT là chuyện thời sự của ta hiện nay khi Nhà nước đang đặt mục tiêu tăng tốc để trở thành một nước mạnh về CNTT&TT.                   Đang và sẽ sớm có nhiều bàn luận về thách thức này, nên ta không phân tích gì ở đây, chỉ nêu hai thí dụ cho thấy CNTT&TT có thể ảnh hưởng ra sao trong nền kinh tế tri thức, đồng thời cũng cho thấy những thách thức trong việc đưa CNTT&TT vào hỗ trợ những hoạt động kinh tế như vậy. Thí dụ thứ nhất lại về ngành du lịch. Không phải mọi người liên quan đến làm du lịch của ta đều biết rằng ngày nay các du khách nước ngoài sau mỗi chuyến đi thường viết những nhận xét để trên Web cho mọi người tham khảo, và mỗi người trước khi quyết định đi đâu ở đâu đều tìm xem nhận xét của người khác. Những chuyện tưởng nhỏ như cái hay điều dở tại một thắng cảnh, tại một khách sạn xa xôi ở Việt Nam đều được lên mạng. Những chuyện như đi suốt buổi không tìm ra nhà vệ sinh, như giá cao phục vụ dở, hơn 70% du khách được hỏi đã nói không muốn quay lại Việt Nam,… dễ dàng được biết qua Internet, và có thể làm một lượng lớn du khách thay vì chọn Việt Nam, sẽ chọn Thái Lan, nơi ngành du lịch thường nhận được những đánh giá tốt trên mạng. Thí dụ thứ hai là về CNTT&TT hỗ trợ con người vượt qua rào cản ngôn ngữ để tăng hiểu biết. Tri thức loài người được diễn đạt theo các ngôn ngữ khác nhau. May thay những chương trình dịch tự động tiếng nói và chữ viết, tuy chất lượng chưa thật cao nhưng đang được cải thiện rất nhanh do tiến bộ của CNTT, đã cho phép con người ở một mực độ chấp nhận được trong rất nhiều công việc, đọc được các tài liệu hay các trang Web viết trong ngôn ngữ khác, nghe hiểu được tiếng nói trong ngôn ngữ khác. Có được những hỗ trợ này để người Việt hiểu được tiếng nói và chữ viết trong nhiều ngôn ngữ khác cũng là một thách thức của CNTT&TT trong nền kinh tế tri thức.  Lời kết   Kinh tế tri thức là con đường ta cần đi và đi càng sớm càng tốt. Có những nghiên cứu chỉ ra kinh tế tri thức đã xuất hiện ở Việt Nam qua sự phát triển CNTT&TT[3]. Theo đuổi khoa học hiện đại và công nghệ cao là một cách ta cần làm trong kinh tế tri thức, nhưng không phải duy nhất. Để một đất nước còn hạn chế về khoa học và công nghệ như ta có được sản phẩm công nghệ cao cạnh tranh với thiên hạ là vô cùng gian truân. Nếu không biết và đặt mục tiêu không thích hợp, ta dễ rơi vào tình huống “người đi chân đất muốn đóng giày bán cho thiên hạ”.   Cần nghĩ về tính đa dạng của kinh tế tri thức khi ta hướng tới nền kinh tế này. Thí dụ sau đây giả định về một hoạt động trong một nền kinh tế tri thức và có thể gợi những suy nghĩ. Theo các số liệu dễ dàng tìm thấy trên mạng, vào năm 2010 ước tính nước Nhật có khoảng 5,2 triệu người ở tuổi trên 80, và năm 2020 khoảng 9,9 triệu. Giả sử 30% số người này cần được chăm sóc ở các nhà dưỡng lão, tức khoảng triệu rưỡi và ba triệu người vào các năm trên. Giả sử một người trẻ chăm sóc được mười người già, thì số người trẻ cần cho việc này là 150 nghìn và 300 nghìn. Nếu biết thêm rằng số người trẻ ở Nhật đang giảm, và hầu hết không muốn làm việc chăm sóc người già, và nếu biết có nghiên cứu đã chỉ ra những tính cách giống nhau giữa người dân hai nước, ta có thể nghĩ đến một dịch vụ kinh tế hiệu quả. Lẽ nào những hoạt động như vậy lại không đáng quan tâm trong một nền kinh tế dựa trên tri thức?   —————–  * Trường Khoa học Tri thức, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản  Tài liệu tham khảo chính  1 Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC), “Towards knowledge-based economies in APEC”, APEC Economic Committee Report, 11.2000.  2 Đặng Hữu, Kinh tế tri thức: Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005.  3 Đặng Thị Việt Đức, The emergence of knowledge economy through ICT in developing countries: The case of Vietnam, Luận án Tiến sĩ, JAIST, 11.2009.  4 Nonaka, I. and Takeuchi, H., The knowledge-creating company, Oxford University Press, 2005.  5 Ohno, K., “The East Asian growth regime and political development”, Vietnamese Students Symposium on Economy and Technology, Tokyo, October 2007.  6 Organization for Economy Cooperation and Development (OECD), “The new economy: Beyond the hype”, Final report on the OECD Growth Project, 2001.  7 Tổng cục Thống kê và Kế hoạch hóa Nhật Bản, http://www.stat.go.jp/data/nihon/03.htm　  8 Tổng cục Thống kê Việt Nam, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&idmid=3&ItemID=8664   9 Trần Văn Thọ, Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa của Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005.   10 Tuần Việt Nam, “Điện hạt nhân: Không phải việc riêng của ngành điện”, http://www.tuanvietnam.net/2009-11-12-dien-hat-nhan-khong-phai-viec-cua-rieng-nganh-dien  11 World Bank, “Knowledge for development”, World Development Report, 1999.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KIST đề xuất phác thảo mô hình VKIST      Sau những chuyến công tác qua lại và trao đổi giữa hai nước, vừa qua đoàn công tác của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) đã có buổi tường trình tại Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam về Báo cáo Nghiên cứu Tiền khả thi Dự án xây dựng một viện nghiên cứu xuất sắc tại Việt Nam theo mô hình của KIST, dự kiến sẽ có tên gọi là VKIST.    Để xây dựng báo cáo tiền khả thi cho dự án, với mục tiêu là xây dựng một viện nghiên cứu khoa học và công nghệ ở đẳng cấp quốc tế, một cầu nối giữa khoa học công nghệ và các ngành công nghiệp, là nơi nghiên cứu những công nghệ hướng tới tương lai, phục vụ tăng trưởng làm động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, KIST đã tham khảo những yêu cầu từ phía Việt Nam và trực tiếp khảo sát, được tiến hành bởi một tổ chuyên trách gồm 12 chuyên gia được KIST lập ra từ tháng 7 năm 2012, theo lời GS. Kyu Hong Ahn, người dẫn đầu đoàn công tác của KIST sang Việt Nam lần này.    Theo báo cáo tiền khả thi do KIST đề xuất:   VKIST sẽ có bốn mảng hoạt động chủ yếu: (1) Phát triển công nghệ cao, là những công nghệ nguồn có thể ứng dụng phục vụ tăng trưởng trong tương lai sau năm 2020, như công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và môi trường, v.v. (2) Phát triển những công nghệ chiến lược, đem lại giá trị gia tăng cao cho các ngành công nghiệp, như công nghệ thông tin – truyền thông, công nghệ hóa dầu, chế tạo máy, v.v. (3) Xây dựng trung tâm chuyển giao công nghệ và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, trong đó có sự hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu của nước ngoài. (4) Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài trong khoa học và công nghệ, qua việc thành lập trường đào tạo thạc sỹ và tiến sĩ, tận dụng nguồn nhân lực và trang thiết bị của viện, có sự trao đổi đào tạo nghiên cứu sinh các ngành khoa học và công nghệ với các trường đại học Việt Nam và nước ngoài nhằm xây dựng một mạng lưới hợp tác quốc tế trong khoa học và công nghệ.     Quá trình phát triển VKIST sẽ trải qua giai đoạn “nhanh chóng bám đuổi” (“rapid catch-up) trước khi có thể đạt trình độ nghiên cứu những công nghệ trọng yếu của các ngành công nghiệp, công nghệ có giá trị gia tăng cao, và những công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới (dự kiến sau năm 2025). Trong giai đoạn “nhanh chóng bám đuổi”, VKIST sẽ tập trung nghiên cứu theo cách “phân tích ngược” (“reverse engineering”) những công nghệ phục vụ các ngành công nghiệp chủ đạo, và nghiên cứu phát triển những công nghệ thay thế nhập khẩu, qua mối liên kết với các doanh nghiệp chủ chốt nhằm hợp tác nghiên cứu, trong các lĩnh vực như chế tạo máy, đo lường và giám sát, hóa cơ, phụ tùng và vật liệu, may mặc, nông nghiệp, kỹ thuật y sinh, v.v.  Mô hình tổ chức VKIST: ngoài căn cứ theo mô hình hoạt động của bản thân, KIST đã tham khảo các mô hình những tổ chức và viện nghiên cứu uy tín trên thế giới như Fraunhofer (Đức), Battelle Memorial Institute (Mỹ), CSIRO (Úc), và RIKEN (Nhật Bản). Theo đó, KIST cho rằng VKIST nên được tổ chức tương tự theo các mô hình viện nghiên cứu ở những nước phát triển, đảm bảo tính tự chủ, đội ngũ nhân lực ưu tú, hoạt động một cách bền vững lâu dài. Mặt khác, VKIST cần mối liên kết với các viện của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các cơ quan Chính phủ, và các cơ quan nghiên cứu của địa phương. KIST đặc biệt khuyến nghị VKIST được đặt trực tiếp dưới quyền giám sát quản lý của Chính phủ, nhằm có được nguồn lực hỗ trợ cần thiết trong giai đoạn ban đầu, tương tự như những gì KIST đã nhận được từ Chính phủ Hàn Quốc. Trong những năm đầu tiên, VKIST sẽ được quản trị tương tự như mô hình quản lý GOGO của Mỹ, nghĩa là Chính phủ sở hữu và Chính phủ điều hành (government – owned and government – operated). Chính phủ sẽ tài trợ một nguồn ngân sách hằng năm tương ứng với 50% ngân sách của viện, được dành cho những nghiên cứu công nghệ mới phục vụ tăng trưởng kinh tế, thông qua các chương trình mục tiêu chiến lược của viện. Nguồn kinh phí này sẽ được thẩm định đánh giá hiệu quả 3 năm một lần, qua đó quyết định từng chương trình sẽ được tiếp tục hay phải dừng lại. 50% ngân sách còn lại của viện sẽ lấy từ kinh phí nghiên cứu các dự án phục vụ các cơ quan Nhà nước, và các dự án nghiên cứu theo hợp đồng.    Cơ cấu tổ chức của VKIST sẽ được phân thành 4 bộ phận chính gồm: bộ phận quản lý chung và hỗ trợ nghiên cứu, các đơn vị nghiên cứu, các đơn vị chuyển giao công nghệ, và trường đào tạo. Viện trưởng của VKIST sẽ cần một nhiệm kỳ tối thiểu là 5 năm, là người được giao toàn quyền quản lý tất cả các hoạt động này của viện.   Nhân lực VKIST: Để đảm bảo là một viện nghiên cứu liên ngành, VKIST cần có đủ nhân lực trong 5 lĩnh vực nghiên cứu, mỗi lĩnh vực cần khoảng 100 – 200 người. Đội ngũ những nhà nghiên cứu cốt lõi của VKIST chiếm khoảng 20% nhân lực của viện, gồm các nhà khoa học trong và ngoài nước, trong đó tối thiểu cần 10% là các nhà nghiên cứu đẳng cấp quốc tế hàng đầu.   GS. Ahn cho rằng trong giai đoạn đầu, sẽ không dễ thu hút các nhà nghiên cứu hàng đầu là người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc cho VKIST, do đó KIST sẽ cử các chuyên gia hàng đầu của mình sang hợp tác làm việc với VKIST, và qua mối quan hệ cá nhân, họ có thể kêu gọi thêm các nhà khoa học Hàn Quốc và quốc tế khác. Các nhà khoa học hàng đầu cần được hưởng lương và chế độ đãi ngộ tương xứng ở đẳng cấp quốc tế. Theo kinh nghiệm của KIST trước đây, trong giai đoạn ban đầu, lương các chuyên gia hàng đầu của KIST tương đương 3 lần lương giáo sư Hàn Quốc (đến nay tỷ lệ là gấp 2 lần) và được cung cấp nhà ở tốt nhất có thể.   Tổ chức thực hiện dự án bao gồm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ 2013 tới 2017 nhằm xây dựng và thực hiện thiết kế tổng thể, giai đoạn hai từ 2018 tới 2022 nhằm kiện toàn bộ máy. Trong giai đoạn đầu, dự kiến thiết kế tổng thể sẽ được hoàn thành trong năm 2014, và tới 2017 sẽ hoàn tất việc xây dựng cơ bản (một nhà chính và 3 nhà phục vụ R&D), mua sắm trang thiết bị, và thành lập trường đào tạo. GS. Ahn nhấn mạnh rằng phía Việt Nam cần sớm xác định chủ tịch VKIST, người sẽ toàn quyền bổ nhiệm bộ máy nhân sự và đội ngũ nghiên cứu của viện – hoàn tất trong khoảng 2016-2017 – và chính những người này sẽ xác định viện cần mua sắm những trang thiết bị gì phục vụ cho công tác nghiên cứu của họ.  Kinh phí thực hiện giai đoạn đầu (2013 – 2017) của Dự án theo tính toán của KIST khoảng 70 triệu USD, trong đó đóng góp từ phía Hàn Quốc là 35 triệu USD, gồm 20 triệu USD tiền xây dựng cơ bản, 10 triệu USD tiền trang thiết bị, 5 triệu USD kinh phí đào tạo và chi phí khác. Đóng góp phía Việt Nam là 35 triệu USD, trong đó 14 triệu USD là tiền xây dựng cơ bản, phần còn lại dành cho đền bù và giải phóng đất (250 nghìn m2), hỗ trợ thiết bị, và kinh phí hoạt động của viện trong 5 năm đầu tiên. Kinh phí dành cho giai đoạn 2 (2018 – 2022) sẽ khoảng 120 triệu USD, dành cho xây dựng 3 nhà phục vụ R&D và mua sắm trang thiết bị, mở rộng đội ngũ nhân lực, và hoàn thiện các dự án R&D.  Theo tính toán của Bộ Khoa học & Công nghệ Việt Nam, nguồn kinh phí dành cho VKIST sẽ không quá 200 triệu USD, trong đó đề xuất phía Hàn Quốc viện trợ không hoàn lại khoảng 30 – 50 triệu USD, 100 triệu USD cho vay ưu đãi, phần còn lại do phía Việt Nam đối ứng.   Kết quả đầu ra của VKIST sau 10 năm hoạt động đầu tiên theo dự kiến của KIST sẽ có khoảng hơn 300 công nghệ được chuyển giao và đăng ký bản quyền, mỗi năm đào tạo được 100 tiến sĩ & thạc sỹ  và góp phần tạo ra 50 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao (hơn 100 mô hình được ươm tạo mỗi năm).  Tuy nhiên, để đảm bảo thành công, VKIST sẽ cần được Quốc hội thông qua một đạo luật đặc biệt riêng, nhằm một mặt đảm bảo tính tự chủ của viện, mặt khác được ngân sách Nhà nước đảm bảo 50% nguồn kinh phí hoạt động hằng năm. Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân – Bộ KH&CN, đây sẽ là một thách thức không nhỏ. Dự kiến Bộ KH&CN sẽ xem xét các đề xuất của KIST và tiếp tục thảo luận nhằm hoàn tất hồ sơ gửi Chính phủ và các cơ quan liên quan trong thời gian sớm nhất.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KIST – Viện nghiên cứu theo hợp đồng (Kỳ I)      Năm 1953, Hàn Quốc bước ra khỏi cuộc chiến tranh trong đói nghèo và lạc hậu, thiếu tài nguyên và thiếu vốn. Trong bối cảnh như vậy, chính Phủ Hàn Quốc đã xác định: để phát triển kinh tế thành công, việc đầu tiên là phải phát triển công nghệ. Từ đó, chỉ trong vài thập kỷ, bằng các chủ trương hết sức đúng đắn và các chính sách ưu đãi của chính phủ trong việc tập trung tối đa nguồn lực, để phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ, Hàn Quốc đã vươn lên thành một con rồng Châu á.  Bài viết phát triển khoa học và công nghệ Hàn Quốc (1960 – 1980) của tiến sĩ Choi Huyng – Sup, Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học và công nghệ Hàn Quốc (Korea Institute of Science and Technology – KIST) giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quát về sự hình thành và phát triển của Viện KIST – tổ chức tiên phong trong việc thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ – động lực chính trong sự vươn lên thần kỳ của Hàn Quốc.        Năm 1963, với cương vị Viện trưởng viện nghiêncứu năng lượng nguyên tử tôi tới thăm một số trường đại học của Canada để nghiên cứu một dự án hợp tác về sản xuất vật liệu mới. Khi trở về hàn Quốc, đầu năm 1964, tôi viết bài báo cáo trình bày về sự hỗ trợ của chính phủ Canada đối với hội đồng nghiên cứu quốc gia – một tổ chức nghiên cứu độc lập và tự chủ với các nhân viên không phải là người trong biên chế nhà nước.  Sau đó ít lâu, một thư ký về công tác kinh tế của văn phòng Tổng thống tới gặp tôi và nói: “Tổng thống  Park đã đọc bài báo cáo của ông và muốn trực tiếp nghe ý kiến ông tại cuộc họp nội các do Tổng thông chủ trì”.  Tạo Môi trường để khoa học và công nghệ bén rễ  Tiến sĩ Choi, chúng ta nên làm gì để phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta? Tổng thống  Park hỏi tôi trong cuộc họp nội các.  Do chưa chuẩn bị để trả lời một câu hỏi như vậy, tôi chỉ nêu ra một số vấn đề theo trình tự chúng xuất hiện trong đầu. Tôi nói: “ Bên cạnh nhiều việc khác, chúng ta cần thay đổi hệ thống giáo dục khoa học để đảm bảo phát triển một cách vững chắc khoa học và công nghệ. Chúng ta phải thay thế phương thức giáo dục để biết khoa học bằng giáo dục để làm khoa học. Phương pháp giáo dục hiện thời, có thể là hữu ích khi giảng dạy các kỹ năng trả lời các câu hỏi Có và không, song lại không giúp con người ta nâng cao được năng lực phân tích hiện tượng và ứng dụng các lý thuyết vào các mục tiêu thực tiễn. Thấy Tổng thống Park gật đầu biểu lộ đồng tình, tôi tiếp tục giải thích: “Trước hết phải thay đổi mục tiêu giáo dục. Chúng ta cần một nền giáo dục để trang bị cho nhân dân khả năng giải quyết vấn đề chứ không phải giúp họ lấy được bằng cấp và những cái khác…” Sau đó, tôi nói những ý nghĩ về phát triển nền khoa học và công nghệ. “Chỉ có một số ít người hiểu được rằng công nghệ cần thiết cho công nghiệp hoá và biết được có thể kiếm được công nghệ từ đâu. Trong tình hình như vậy, tất cả những gì chúng ta cần hiện nay, đó là một cái gì trung gian nối liền với kinh doanh và giới hàm lâm để lựa chọn, giới thiệu, tiếp thị  và ứng dụng công nghệ”.  Cuối cùng, tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo mới môi trường xã hội trong đó tất cả mọi người đều phải hiểu khoa học và tôn trọng công nghệ. Để tới được cái đích đó, chính bản thân Tổng thống cần phải đi đầu trong những nỗ lực theo hướng này.  Chọn Viện kết nghĩa  Vào khoảng tháng 4 – 1964. Tổng thống Park mời các Viện trưởng của các Viện Quốc gia đến dự một bữa tiệc chiêu đãi. Tổng thống vui mừng khoe với mọi người về kỷ lục xuất khẩu áo len đạt tới 20 triệu USD. Tôi trả lời: “Kỷ lục này thật đáng biểu dương. Nhưng chúng ta còn phải bám vào những mặt hàng như thế này bao lâu nữa? Nhật Bản đã xuất khẩu đến 1 tỷ USD các sản phẩm điện tử. Sức mạnh này từ đâu ra? Câu trả lời là phát triển công nghệ”. Đột nhiên Tổng thống trở nên trầm tư. Có vẻ như suy nghĩ về một điều gì đó, mặt ông cau lại.  Cuộc viếng thăm nước Mỹ của Tổng thống Park vào tháng 6 năm 1964 có tính chất quyết định đối với việc thành lập viện công nghệ đầu tiên của Hàn Quốc – Viện KIST. Điều cuối cùng trong bảng thông cáo chung nói rằng: “Tổng thống Park hoan nghênh đề xuất của Tổng thống Johnson về việc gửi cố vấn khoa học của ông tới Hàn Quốc để cùng các đối tác Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học và giáo dục xem xét tính khả thi của việc thành lập viện KIST”.  Để thực hiện thoả thuận giữa hai Tổng thống, tiến sĩ Homing, cố vấn khoa học của Tổng thống Mỹ đến thăm Hàn Quốc để nghiên cứu tính khả thi của việc thành Viện KIST. Cùng đi với ông có James B. First, Viện trưởng Viện Bartell. Đoàn đã thăm giới kinh doanh và giới hàn lâm, Viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử và viện Nhiên liệu Kim loại Tổng hợp. Sau đó TS Homing hỏi tôi: “Tôi hy vọng rằng một trong các viện của Mỹ sẽ xây dựng mối quan hệ kết nghĩa với viện KIST. Ông chọn viện nào? Rồi ông cho biết chính phủ Mỹ có vẻ muốn chọn Viện Bell, cơ sở nghiên cứu hang đầu thế giới. Nhưng tôi trả lời: “Tình hình hiện tại chưa cho phép chúng tôi thành lập một nghiên cứu bao quát cả khoa học cơ bản lẫn các khoa học ứng dụng. Một viện như vậy đòi hỏi những đầu tư tài chính rất lớn. Chúng tôi cần một viện có thể nghiên cứu những công nghệ mà các doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi”. Và tôi yêu cầu được kết nghĩa với viện Bartell bởi đó là một viện nghiên cứu theo hợp đồng, các kết quả nghiên cứu có thể ngay lập tức ứng dụng vào khu vực kinh doanh. TS Homing hơi bất ngờ khi nghe câu trả lời như vậy của tôi. Song đó là ý kiến chân thành của tôi: để tồn tại, không thể làm khác được.  Trước hết hãy tìm khách hàng  Tôi được bổ nhiệm làm viện trưởng đầu tiên của viện KIST vào ngày 3.2.1966, sau khi đoàn của Viện Bartell hoàn thành xong nghiên cứu khả thi đề án thành lập Viện KIST. Nhưng Uỷ ban Kế hoạch Kinh tế không hề nói gì về chuyện khi nào thì họ sẽ cấp ngân sách cho Viện. Do vậy công việc đầu tiên của cương vị mới của tôi là làm việc với cán bộ từ uỷ ban Kế hoạch Kinh tế.  Vì không có văn phòng, chúng tôi bắt tay vào làm việc tại một phòng bệnh nhân ở bệnh viện, nơi mẹ tôi đang điều trị. Một hôm giám đốc chi nhánh của Ngân hàng Hanil cho tôi mượn một trong số các văn phòng của ông ta không lấy tiền. Vậy là chúng tôi chuyển đến tầng hai của một ngôi nhà đầy ruồi vì nằm cạnh chợ cá. Cần nói thêm rằng vị Giám đốc Ngân hàng nọ cho chúng tôi mượn văn phòng không phảỉ vì hào phóng. Ông ta đủ khôn ngoan để hiểu rằng sớm hay muộn chính phủ cũng sẽ tài trợ cho hoạt động của chúng tôi. Hai tháng sau đó Uỷ ban Kế hoạch Kinh tế bắt đầu chuyển tiền vào chi nhánh cuả ông ta. Mặc dù ông ta van nài chúng tôi hãy ở lại lâu hơn, song ít lâu sau chúng tôi chuyển văn phòng sang một trong trụ sở của YMCA (Young Men’ s Christian Association) trên phố Chongro, vì chúng tôi không thể tiếp khách nước ngoài trong một văn phòng đầy ruồi nhặng.  Ngay sau khi thành lập viện KIST, chúng tôi đã đứng trước yêu cầu bắt buộc là phải tìm ra những con đường kết nối các nhà nghiên cứu viện KIST với giới kinh doanh. Tôi hiểu nếu cứ hình thành các dự án nghiên cứu rồi mới đi tìm khách hang để ứng dụng các kết quả nghiên cứu thì không hiệu quả bởi các nhà kinh doanh có suy nghĩ hoàn toàn tự nhiên rằng việc chấp nhận những công nghệ mới chưa được thử nghiệm bao giờ cũng là quá mạo hiểm. Nhưng một công ty đã tài trợ cho dự án nghiên cứu thì bắt buộc phải ứng dụng công nghệ mới bất chấp rủi ro. Đó là lý do vì sao tôi quyết định cơ chế hoạt động của viện là đưa vào thực hiện hệ thống nghiên cứu dựa trên cơ sở hợp đồng, cùng với khách hàng lựa chọn mặt hàng để nghiên cứu, sau đó bắt tay vào cùng nghên cứu với khách hàng khi nào nhận được tiền hợp đồng.  Tạo và huy động nguồn lực   Một nhiệm vụ quan trọng khác là phải làm thế nào huy động được những những nghiên cứu có năng lực để thực hiện các nghiên cứu theo hợp đồng. Nhưng không thể lôi kéo các giáo sư đại học được, vì vậy sẽ gây ảnh hưởng xấu tới việc giáo dục của các trường. Tôi quyết định mời các nhà khoa học người Triều Tiên ở nước ngoài về. Vấn đề là họ với điều kiện như thế nào. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đặt ra một nguyên tắc để đảm bảo cho các nhà khoa học này quyền tự chủ trong nghiên cứu; những điều kiện sống ổn định, một môi trường nghiên cứu tuyệt diệu. Và điều quan trọng hơn là phải nâng cao uy tín xã hội của họ. Nhằm mục đích này, chúng tôi cung cấp cho họ nhà ở và bảo hiểm y tế, loại hình bảo hiểm thời đó Hàn Quốc còn chưa có; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục con cái của họ, tôi trả lương cho họ bằng ¼ mực lương họ có thể nhận được ở Mỹ (vì rằng hầu hết các nhà khoa học đều từ Mỹ trở về). Mức lương này cao gấp 3 lần lương giáo sư đại học trong nước nhận được, do vậy Hiệu trưởng các trường đại học phản đối gay gắt, cho rằng đó là điêu không hợp lý, thậm chí có thể gây nên vến đề xã hội. Tôi đã giải thích với họ đây là mức tối thiểu cần thiết để đảm bảo sao cho họ có thể chỉ chú tâm vào học tập và nghiên cứu mà không bị sao nhãng vào những vấn đề khác. Đây không phải số tiền đủ dể dẫn họ đi vào cuộc sống xa hoa.  Vấn đề tiền lương không phải kết thúc ở đó. Có rất nhiều kiến nghị trực tiến được gửi tới Văn phòng Tổng thống, trong đó có cả báo cáo của Bộ Khoa học vá công nghệ gửi lên Tổng thống Park phản đối mức lương của viện KIST. Một hôm, tôi được triệu tập lên Văn phòng tổng thống. Sauk khi xem xét xong bảng lương của các nhà nghiên cứu Viện KIST, Tổng  thống Park mỉm cười và nói: “Lương của hầu hết các nghiên cứu ở viện KIST còn cao hơn cả lương tôi”. Tôi nói với ông: “Nếu ngài cho rằng mức lương này là bất hợp lý thì ngài có thể giàm lương của tôi, nhưng không thể làm thế với những người khác được”. Sau một thoáng, ông ta nói: “Cứ giữ nguyên thế”, và đứng dậy ra đi.  Để có sự đảm bảo pháp lý đối với hoạt động tự chủ của viện KIST, tối đề xuất một bản dự thảo luật đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho viện KIST. Bản dự thảo này tôi tự viết. Trước hết, tôi nói rõ rằng sự hỗ trợ tài chính của chính phủ cần được cung cấp dưới dạng “tiền quyên góp”. Và tôi đưa vào một điều khoản nói rằng viện KIST cần được miễn kiểm toán và kế hoạch hoạt động hàng năm của viện KIST không cần chính phủ phê duyệt. nhưng điều khoản này nhằm ngăn chặn việc chính phủ can thiệp vào các hoạt động nghiên cứu.  Tại cuộc họp nội các, nhiều ý kiến quyết chống lại dự thảo luật. Chẳng hạn họ nói rằng: “sẽ mâu thuẫn với Luật tài sản Quốc gia nếu như tài sản Quốc gia có thể chuyển giao cho viện KIST, một pháp nhân độc lập và viện KIST không thể chi tiêu ngân sách nhà nước mà không có kiểm toán”. Cuối cùng, nhờ có Tổng thống Park khăng khăng đòi hỏi, sự thảo luật được trình lên Quốc hội.  Việc lựa chọn địa điểm đặt Viện KIST cũng rất khó khăn. Tổng thống Park khuyên tôi lên liên hệ với Viện thực nghiệm Lâm nghiệp để tìm địa điểm, song Bộ trưởng Bộ Nông lâm từ chối thẳng thừng, dù chỉ là chuyển giao một khoản đất nhỏ. Do vậy, tôi phải quyết định lấy một địa điểm ở khu vực ngoại ô thành phố Seoil. Khi Tổng thống Park nghe được về quyết định này, ông liền đến Viện thực nghiệm Lâm nghiệp, có Bộ trưởng Bộ Nông lâm, thị trưởng thành phố Seoul và tôi tháp tùng. Và ông ra lệnh chuyển giao toàn bộ diện tích 1.256km2 cuả Viện Thực nghiệm Lâm nghiệp cho viện KIST. Ông nói: “Viện Thựcnghiệm Lâm nghiệp quan trọng, nhưng Viện KIST quan trọng hơn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế: Về sau, tôi đã thoả hiệp bằng cách chỉ lấy 500km2 để giữ thể diện cho ngài Bộ trưởng Nông lâm.  Sau những chặng đường quanh co khúc khuỷu, chúng tôi đã tổ chức buổi lễ động thổ xây dựng viện KIST vào tháng 10 năm 1996.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KIST: Viện nghiên cứu  theo hợp đồng (Kỳ II)      TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG NGHIÊN CỨU VIÊN  Tôi soạn thảo cuốn giới thiệu Viện KIST để tuyển dụng các nhà nghiên cứu sau khi tham khảo ý kiến của Viện Bartell và thăm tất cả các viện nghiên cứu và các trường đại học lớn ở châu Mỹ và châu Âu. Sau đó, hơn 500 đơn xin việc đổ tới, trong đó số người có bằng kỹ thuật công nghệ chỉ có 10, còn lại là số có bằng khoa học cơ bản (các sinh viên Hàn Quốc hầu hết bị ép phải đi vào các khoa học cơ bản để nhận được học bổng của Mỹ, nơi mà vật lý lý thuyết và vật lý nguyên tử đang là trào lưu chính vào thời kỳ đó).      Tôi tới Mỹ để phỏng vấn 78 ứng cử viên được lựa chọn từ tất cả số người có đơn xin việc. Một hôm, một ứng viên, vốn là sinh viên cũ của tôi, phàn nàn: “Giáo sư, thầy biết em rất rõ, sao thầy không tin em?”. Tôi trả lời: “Khó có thể tin chỉ nghiên cứu những gì em thích thú. Cần cấp tốc tập trung vào những nghiên cứu có ích cho các hoạt động kinh doanh ngay cả khi chúng không thú vị đối với các nhà khoa học. Nếu em quyết định sai lầm do không hiểu biết hết được sứ mệnh của em và rồi đây sẽ bỏ cuộc thì điều đó sẽ gây nên những rắc rối nghiêm trọng. Tôi chỉ muốn chắc chắn rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào em cũng sẽ diễn đúng vai cần phải diễn của mình ở Hàn Quốc”. Bước đầu tôi lựa chọn 18 nghiên cứu viên, là những người đã có hơn 5 năm kinh nghiệm kể từ khi nhận bằng tiến sĩ.  Sau khi đọc tin này trên báo hằng ngày Dong-Ah, Tổng thống Park rất hài lòng gọi tôi đến văn phòng Tổng thống để biết chi tiết, và hỏi: “Trong số họ có ai là chuyên gia về lĩnh vực chế tác sắt?”. Tổng thống Park gạch dưới hai cái tên TS Kim chul – Woo và TS Kim Jae – Kwan, những người tham gia vào Viện KIST với tư cách là những nhà nghiên cứu về sắt. Điều này cho thấy ông hết sức quan tâm đến sự nghiệp phát triển công nghiệp sắt.  Về sau, tôi lựa chọn thêm 35 nhà nghiên cứu nữa và gửi tất cả họ tới Viện Bartell. Một nhà nghiên cứu, người đã từng làm việc tại Viện Bell, phản đối lệnh này: “Vì sao ông lại cố gửi tới Viện Bartell, một viện dưới tầm Viện Bell?”. Tôi thuyết phục anh ta: “Anh được gửi tới viện Bartell không phải để tăng kiến thức về lĩnh vực của mình mà để học cách kinh doanh. Trên tất cả, anh phải học cách làm thế nào xây dựng được những kế hoạch nghiên cứu có khả năng thu hút các nhà doanh nghiệp để nhận được đặt hàng nghiên cứu từ họ”. Vào thời điểm Viện KIST được thành lập, ở Hàn Quốc không có công nghệ nào đáng để gọi công nghệ theo đúng nghĩa của nó, và đối với các công ty, những cuốn chỉ dẫn kỹ thuật là nhu cầu cấp thiết hơn các nghiên cứu. Do vậy, chủ trương của Viện KIST là phải hài hoà nhu cầu của xã hội với sở thích của các nhà nghiên cứu.  Thời gian đó, các hoạt động sử dụng nhiều lao động, trong đó công nghiệp dệt trình độ sơ đẳng đang là nòng cốt của các ngành công nghiệp chiến lược. Cái mà các công ty dệt muốn có không phải là công nghệ về sản phẩm tổng mới, mà là kỹ thuật nhuộm hàng dệt. Sau khi thảo luận tôi chọn TS. Yoon Han – Shik tốt nghiệp khoa dệt trường Đại học Kỹ thuật thuộc Đại học Tổng hợp Seoul, đã từng làm việc cho một công ty chế tạo phẩm nhuộm chủ trì đề tài này. Việc tôi lựa chọn TS Yoon chứ không phải các nhà nghiên cứu khác đầy kiêu hãnh với những học vị nước ngoài chủ trì đề tài là vì tôi hiểu rất rõ con người này luôn cố gắng tột đỉnh trong nghiên cứu. Và quả thật việc đặt lòng tin vào ông ta đã hoàn toàn đúng. TS.Yoon đã xây dựng nên một phương pháp sản xuất “hàng dệt Aramid”, được biết đến như là sợi tổng hợp thế hệ thứ ba. Lý thuyết mới trong lĩnh vực hình thái học của cao phân tử mà tôi đề xuất đã được đăng trên tạp chí “The Nature”, và đã thu hút sự quan tâm của cả thế giới.  THÔNG QUA LUẬT ĐẶC BIỆT  Sau khi kết thúc việc lựa chọn tất cả các nhà nghiên cứu, chúng tôi lại gặp phải một vấn đề lớn khác. Những phần cơ bản của Luật đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Viện KIST đã bị thay đổi hoàn toàn trong quá trình thảo luận và phê chuẩn của Quốc hội. Ví dụ, có một điều khoản nói rằng kế hoạch hằng năm và các tài khoản của Viện KIST phải được Chính phủ phê duyệt và kiểm toán. Tôi viết báo cáo gửi lên Tổng thống Park, ông nổi cáu và ngay lập tức ra lệnh cho Phó Thủ tướng Chang Ki – Young sửa lại ngay luật này như đề xuất ban đầu. Khi dự thảo Luật sửa đổi được trình ra trong một phiên họp đặc biệt của Quốc hội vào tháng 3/1967, các đại biểu khăng khăng phản đối. khi được gọi tới để trình bày luận chứng của dự thảo luật sửa đổi tại Quốc hội, tôi nói: “Rất đáng tiếc và rất không may là các nhà khoa học thường hay gặp rắc rối vì những thủ tục hành chính hơn là vì các công việc nghiên cứu. Dự thảo Luật đặc biệt nhằm bảo đảm cho các nhà nghiên cứu tránh khỏi những rắc rối không cần thiết. Lẽ đương nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta khuyến khích các nhà nghiên cứu tiêu tiền theo kiểu hoang phí, ý tưởng ở đây là đảm bảo “một chế độ kỷ luật tự chủ cho chính các nhà nghiên cứu tự quản bắt nguồn từ nhu cầu của nghiên cứu – triển khai”. Và tôi nói thêm “nếu các vị nghĩ vậy, thì xin hãy tin tôi và thông qua dự thảo luật”. Sau nhiều tranh luận dài của các đại biểu có mặt, rốt cục, dự thảo phải được thông qua với số phiếu sít sao sau khi một đại biểu có ý kiến: “Không có đại biểu nào ở đây hiểu được khoa học và công nghệ một cách đầy đủ. Vậy thì hãy để mọi việc cho TS Choi, Viện trưởng của Viện KIST. Hãy đợi và xem kết quả ra sao”.  NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ  Việc thành lập và quản lý Viện KIST được triển khai thực tế theo những ý tưởng riêng của chúng tôi chứ không phải của Mỹ như quan niệm của một số người. Sự hỗ trợ của phía Mỹ chủ yếu bao gồm các nghiên cứu khả thi, mà thực ra chỉ mang tính hình thức. Ngay cả việc những kinh nghiệm chúng tôi học được từ Viện Bartell đã thành lập một viện nghiên cứu theo hợp đồng cũng không ảnh hưởng gì đến việc điều hành độc lập và tự chủ của chúng tôi.  Ví dụ, hợp đồng dịch vụ tư vấn với viện Bartell được thực hiện theo yêu cầu của chính chúng tôi chứ không phải theo đề xuất từ phía Mỹ. Việc lựa chọn các chuyên gia nước ngoài cũng do phía chúng tôi quyết định (thông thường, phía tài trợ quyết định việc lựa chọn các chuyên gia để gửi tới các nước đang phát triển nhận viện trợ. Và thường là những chuyên gia không đủ năng lực chuyên môn, những người tương đối rỗi rãi, thì được gửi tới các nước đang phát triển).  Viện KIST với tư cách là một viện nghiên cứu làm việc theo hợp đồng có một số đặc trưng độc đáo. Mỗi phòng của Viện KIST đều có thể độc lập lãnh đạo một hệ thống nghiên cứu và phải chịu trách nhiệm về tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện các nghiên cứu, bao gồm cả chi tiêu cho cán bộ, tiền thuê các phòng thí nghiệm và thiết bị. Ban đầu, các nghiên cứu vội vàng chiếm thật nhiều diện tích phòng thí nghiệm và sử dụng nhiều thiết bị, nhưng khi đã nhận thức được hệ thống này, họ tự giác thi đua với nhau theo hướng quan tâm đến hiệu quả của chi phí.  Viện KIST là một dự án khổng lồ với tổng giá trị 20 triệu USD do hai nước cùng tài trợ với tỷ lệ ngang nhau (tài trợ của phía Mỹ) chủ yếu dùng để mua thiết bị và trả chi phí tư vấn cho Viện Bartell). Trong việc lựa chọn thiết bị tôi đã đề ra quy định mua từng bộ phận để lắp đặt thành một hệ thống thiết bị hoàn hảo chứ không mua toàn bộ thiết bị. Tôi cho rằng việc mua những thiết bị không cần thiết chỉ vì còn dư tiền sẽ chỉ làm hỏng bầu không khí nghiên cứu. Bằng cách này chúng tôi đã tiết kiệm được 1,35 triệu USD trong số 10 triệu. Vậy nên tôi quyết định đem trả số còn lại cho cơ quan Viện trợ phát triển quốc tế Mỹ (USAID). Dự án có uy tín này được thực hiện theo sáng kiến của cả hai Tổng thống, nên không thể để USAID có gì phải suy nghĩ, dù nhỏ. Ông Tổng giám đốc của USAID, quá ngạc nhiên khi nghe được đề xuất của tôi, đã bay sang Hàn Quốc để gặp tôi. Tôi quả quyết với ông ta rằng Viện KIST đã được trang bị những thiết bị cơ bản cần thiết và chúng tôi có thể xoay sở để thoả mãn những nhu cầu trong tương lai bằng cách giành lấy các hợp đồng nghiên cứu.  Về lĩnh vực quản lý, Viện KIST dựa trên nguyên tắc cấm ngặt hoạt động can thiệp trực tiếp của các cán bộ hành chính vào công tác nghiên cứu, hệ thống hành chính phải hỗ trợ mọi mặt cho nghiên cứu, các cán bộ hành chính không bao giờ được phép phê bình và cãi cọ với nghiên cứu viên. Những yêu cầu bất hợp lý của các nghiên cứu viên phải được báo cáo lên viện trưởng hoặc phó viện trưởng để khuyến khích các giải pháp hoà giải giữa các nhà nghiên cứu. Một số người có thể có quan điểm khác, riêng tôi hoàn toàn tin rằng sự trung thành triệt để đối với nguyên tắc này của các thành viên ban đầu của Viện KIST đã đóng góp rất lớn cho các hoạt động nghiên cứu đạt hiệu quả và hiệu ích cao.  SỰ HỖ TRỢ TOÀN DIỆN CỦA CHÍNH PHỦ  Tổng thống Park hết sức quan tâm đến việc nâng cao vị thế xã hội của Viện KIST. Trong suốt ba năm qua sau khi thành lập Viện KIST, mỗi tháng ông đến thăm viện hai lần để trò chuyện với các nhà nghiên cứu. Bất cứ khi nào chúng tôi gặp phải sự chống đối của các Bộ trưởng, ông cũng đều bảo vệ quan điểm của chúng tôi. Chính vì thế các quan chức Chính phủ phụ trách việc hỗ trợ Viện KIST đã thay đổi cách nghĩ và thái độ của họ đối với Viện KIST. Như TS Steven Dedijer khẳng định trong luận án của ông, nhan đề: “Sự kém phát triển của khoa học rằng các nước đang phát triển không thể phát triển được khoa học và công nghệ nếu như người đứng đầu đất nước không nhận lấy vai trò lãnh đạo trên tuyến đầu”.  Tổng thống Park đề nghị tôi ghi nhớ lại hai điểm khi ông bổ nhiệm tôi làm Viện trưởng Viện KIST. Thứ nhất, tôi không phải lo lắng gì từ phía Ủy ban Kế hoạch Kinh tế để đảm bảo ngân sách của Viện KIST. Thứ hai, tôi không chấp nhận bất cứ yêu cầu cá nhân nào trong việc lựa chọn các nghiên cứu viên từ phía các quan chức và đại biểu Quốc hội. Vì thế có vô số những yêu cầu cá nhân liên tục trút lên bàn tôi ngay khi tôi được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện KIST, tôi từ chối tất cả các yêu cầu đó.  Tôi xin kể một tình tiết liên quan đến ngân sách của Viện KIST. Một hôm, ngay sau khi có thông báo về ngân sách năm tới để xây dựng toà nhà của Viện KIST, tôi nhận được điện thoại của ông Kim Hak –Ryul, Thứ trưởng của Ủy ban Kế hoạch Kinh tế đề nghị tôi thông cảm vì có tình huống không thể làm khác khiến ông phải chuyển 200 triệu Won trong số 1 tỷ Won mà chúng tôi yêu cầu sang cho một dự án khẩn cấp khác. Tôi trả lời: “Trong vấn đề ngân sách ông có toàn quyền. Vậy nên tôi hoàn toàn không có ý định can thiệp vào công việc của ông. Nhưng tôi chỉ muốn ông nhớ cho rằng khối lượng công việc sẽ bị cắt giảm một cách tương ứng”.  Khi Thứ trưởng của Ủy ban Kế hoạch Kinh tế trình bày và các thành viên nội các thảo luận về ngân sách năm tới, Tổng thống Park đột nhiên hỏi: “Ngân sách của Viện KIST là bao nhiêu?”. Thứ trưởng Ủy ban Kế hoạch Kinh tế trả lời: 800 triệu Won, thưa ngài. Tổng thống Park hỏi lại: “Thế ngân sách ban đầu mà Viện KIST yêu cầu là bao nhiêu?”, Thứ trưởng lắp bắp: “Với sự thông cảm của Viện trưởng Viện KIST, chúng tôi cắt giảm 200 triệu Won trong số 1 tỷ Won”. Tổng thống ra lệnh: “Hãy chuyển 1 tỷ Won như yêu cầu ban đầu”. Tổng thống Park đã giữ lời hứa của ông với tôi cho đến cùng. Từ sau lần đó, Ủy ban Kế hoạch Kinh tế không bao giờ cắt giảm ngân sách của Viện KIST.  Trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động của Viện ngày càng được xã hội thừa nhận, đánh giá cao, trước hết là sự ủng hộ toàn diện của Tổng thống Park và sự cố gắng quên mình của các nhà nghiên cứu chủ chốt, những người tận tụy hết lòng cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. Vì thế, người ta gọi “Viện, nơi ánh sáng không bao giờ tắt”.    Author                Quản trị        
__label__tiasang KISTEP: Think-tank trong KH&CN      Ngoài hệ thống KTRS của Tập đoàn Tài chính Công nghệ Hàn Quốc chuyên thẩm định các dự án công nghệ dành cho doanh nghiệp, từng được chúng tôi giới thiệu trên Tạp chí Tia Sáng cách đây chưa lâu1, Hàn Quốc còn có một hệ thống hữu hiệu chuyên phân tích, đánh giá, và đề xuất những chiến lược, chính sách KH&amp;CN ở tầm quốc gia do KISTEP đảm trách.    Từng có tiền thân là Trung tâm Chính sách KH&CN (CSTP) ra đời năm 1987, là một đơn vị thuộc Viện KH&CN Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), rồi đến năm 1993 được tái cơ cấu, chuyển sang thuộc Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST) và đổi tên thành Viện Chính sách KH&CN (STEPI), nhưng dấu mốc quan trọng đầu tiên là năm 1999, khi Viện Đánh giá và Quy hoạch KH&CN Hàn Quốc (KISTEP) được thành lập, với hai nhiệm vụ quan trọng là đánh giá và hoạch định chiến lược, chính sách KH&CN cho quốc gia.   Từ năm 2001 đến nay, các mục tiêu và cơ sở pháp lý của KISTEP được quy định trong Điều 20 Luật Khung KH&CN của Hàn Quốc, đó là đóng góp vào sự phát triển KH&CN bằng cách hỗ trợ xây dựng và điều phối các chính sách liên quan tới KH&CN; điều tra một cách có hệ thống, phân tích, và thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt động hoạch định hoạt động nghiên cứu, quản lý và đánh giá các chương trình R&D cũng như hoạt động hợp tác quốc tế trong KH&CN.    Hoạch định và dự báo  Từ khi Luật Khung Khoa học và Công nghệ của Hàn Quốc ra đời năm 2001, KISTEP đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng Kế hoạch Cơ bản Phát triển KH&CN Quốc gia cho Chính phủ của Tổng thống Lee Myung-bak, theo dõi việc thực hiện, và đánh giá những kết quả đạt được. KISTEP là cơ quan xây dựng và điều chỉnh Kế hoạch Khung cho Khoa học và công nghệ và kế hoạch trung tới dài hạn phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy sự phát triển quốc gia, đồng thời hoạch định chiến lược nhân lực KH&CN. KISTEP cũng xây dựng tầm nhìn KH&CN, những mục tiêu và chiến lược phát triển từ trung tới dài hạn. Những kế hoạch này được cụ thể hóa qua việc đề xuất phát triển những công nghệ cốt lõi, với những chương trình R&D toàn diện đối phó với các biến đổi dự kiến trong tương lai, chỉ ra những công nghệ tương lai có tiềm năng cao căn cứ trên các chương trình Dự báo Công nghệ, Đánh giá Công nghệ, Thẩm định Công nghệ.  Đối với các địa phương, KISTEP nghiên cứu về thực trạng và các điều kiện cho đổi mới sáng tạo tại các địa phương, đánh giá hiệu quả các dự án đổi mới sáng tạo của địa phương. Ngoài ra, KISTEP còn cải thiện hệ thống R&D bằng cách tạo lập hệ thống cấp chứng chỉ quản lý quỹ đầu tư cho R&D, và thực hiện những nghiên cứu về những quy định pháp lý và bộ máy tổ chức phù hợp cho R&D.  Điều phối  KISTEP là cơ quan đề ra những mục tiêu ưu tiên trong nghiên cứu, qua đó giúp định hướng đầu tư của Nhà nước cho R&D, thể hiện qua đề xuất sử dụng ngân sách Nhà nước hằng năm cho R&D. KISTEP cũng là cơ quan thúc đẩy quản lý hiệu quả cho các chương trình đầu tư R&D thông qua hoạt động tư vấn, giúp các Bộ, ngành hoạch định và điều chỉnh các chương trình R&D quy mô lớn, tư vấn loại bỏ những chương trình trùng lắp hoặc không còn cần thiết.           “Bốn chức năng cơ bản của KISTEP bao gồm: xây dựng một chiến lược quốc gia phát triển khoa học và công nghệ; đưa ra những quyết định về định hướng nghiên cứu và phát triển trong tươi lai cũng như định hướng đầu tư chiến lược (đề xuất một kế hoạch ngân sách tối ưu) cho các chương trình R&D của quốc gia; khảo sát, phân tích, và đánh giá các chương trình R&D quốc gia; xây dựng những hệ thống công bố và chia sẻ tri thức, thông tin liên quan tới R&D.”         Chỉ sau 2 năm sau khi thành lập, KISTEP đã thiết lập được một hệ thống điều phối toàn diện cho các chương trình R&D. Hệ thống điều phối này giúp đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán cho các chương trình R&D sử dụng ngân sách Nhà nước, đảm bảo nguồn lực đầu tư hữu hạn được sử dụng một cách hiệu quả, đồng thời giúp kết nối các chương trình R&D của quốc gia với nhau. Đến năm 2002, hệ thống điều phối của KISTEP được đặt tên là Hệ thống Quản lý Tích hợp R&D Hàn Quốc (KORDI) – đến nay được đổi tên là Dịch vụ Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NTIS), cho phép chia sẻ các thông tin liên quan tới R&D giữa các Bộ và các cơ quan Nhà nước, qua đó giúp tránh tình trạng đầu tư cho R&D một cách chồng chéo, trùng lắp, và tạo một cơ sở dữ liệu toàn diện giúp các Bộ và các cơ quan Nhà nước đưa ra những quyết sách về đầu tư R&D.  Khảo sát và đánh giá  Các hoạt động và chức năng trên đây dựa trên cơ sở quan trọng là những kết quả khảo sát, thống kê, phân tích, và đánh giá do KISTEP thực hiện đối với các chương trình R&D, được thực hiện ngay từ năm 1999 khi KISTEP mới được thành lập. Tính chính xác và khách quan của những kết quả thống kê, phân tích mang tính trung lập này của KISTEP góp phần quan trọng giúp các Bộ, ngành cải thiện năng suất, hiệu quả đầu tư ngân sách Nhà nước cho R&D, đồng thời còn giúp các cơ quan này tiến hành nghiên cứu khả thi cho các dự án R&D quy mô lớn. Năm 2005, KISTEP xây dựng Hệ thống Đánh giá Quốc gia (NES) nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động R&D của Nhà nước, cho phép kết nối đồng bộ các hệ thống đánh giá đa dạng từ các Bộ và các cơ quan khác nhau.   Các chương trình R&D của quốc gia được KISTEP đánh giá một cách công khai, trong đó 100 chương trình R&D hiệu quả nhất sẽ được KISTEP cấp chứng nhận. Những quỹ đầu tư R&D được quản lý một cách hiệu quả và minh bạch cũng được KISTEP cấp chứng nhận của Nhà nước, dựa trên những điều tra cặn kẽ các khoản chi cho các tổ chức nghiên cứu.  Kể từ năm 2011, KISTEP được giao toàn bộ trách nhiệm đánh giá khả thi các chương trình R&D quốc gia. Trước đó, trách nhiệm được san sẻ cho 2 cơ quan, KISTEP chỉ tập trung vào các chương trình R&D thuần túy, trong khi KDI (Viện Phát triển Hàn Quốc) phụ trách các cơ sở R&D làm nền tảng hạ tầng cho hoạt động nghiên cứu. Từ cuối năm 2011, nhằm đảm bảo tính chuyên môn và nhất quán, Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc đã giao toàn quyền cho KISTEP tiến hành nghiên cứu khả thi cho cả hai đối tượng.  Ngày nay, hoạt động điều tra và đánh giá của KISTEP được chia thành ba mảng:  Khảo sát R&D ở Hàn Quốc: là tổng hợp những nghiên cứu về các hoạt động R&D ở cả khu vực công và tư, bao gồm các viện nghiên cứu, trường đại học, và doanh nghiệp;  Đánh giá năng lực R&D đổi mới sáng tạo quốc gia: được thực hiện trên 5 mảng năng lực đổi mới sáng tạo KH&CN, bao gồm các nguồn lực, môi trường, mạng lưới, hoạt động, và kết quả, với tất cả là 31 tiêu chí, đồng thời có sự đối chiếu so sánh với các chỉ số tương đương ở các quốc gia khác trong khối OECD, nhằm tính ra Chỉ số Tổng hợp Đổi mới sáng tạo KH&CN (Composite Science and Technology Innovation Index, viết tắt là COSTII) và đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo KH&CN của Hàn Quốc;  Sách trắng Thống kê KH&CN: phân tích những chỉ số thống kê liên quan tới KH&CN ở trong nước và nước ngoài.    Dự báo tương lai và bản đồ phát triển (roadmap) công nghệ    Hoạt động dự đoán sự phát triển của công nghệ trong tương lai được KISTEP và các cơ quan của mình tiến hành 5 năm một lần. Bản dự đoán công nghệ gần nhất được công bố năm 2010, với tầm nhìn đến năm 2040, trong đó dự đoán những thay đổi của nền kinh tế, xã hội và bức tranh công nghệ chung của thế giới, từ đấy đề ra những mục tiêu đổi mới, sáng tạo KH&CN mà Hàn Quốc cần theo đuổi để có thể thích nghi.          Chương trình Dự báo Công nghệ: đưa ra những dự đoán về xu hướng phát triển KH&CN trong mối tương quan với các chính sách KH&CN, được KISTEP cập nhật 5 năm một lần.              Chương trình đánh giá công nghệ: đánh giá toàn diện trình độ phát triển công nghệ của Hàn Quốc, so sánh đối chiếu với các quốc gia khác, được KISTEP thực hiện 2 năm một lần.              Thẩm định Công nghệ: tìm ra định hướng đúng trong phát triển công nghệ thông qua đánh giá tác động từ những kết quả KH&CN mới đối với nền kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, và môi trường, được KISTEP thực hiện hằng năm.        Từ năm 2002, KISTEP đã xây dựng được Bản đồ phát triển Công nghệ Quốc gia cho Hàn Quốc, trong đó đề xuất ra 99 công nghệ cốt lõi. 99 công nghệ này được KISTEP triển khai một cách chi tiết, và gắn sự phát triển của chúng với những chương trình R&D cụ thể, bắt đầu từ năm 2003. Trong đó, công nghệ nano, công nghệ sinh học, và công nghệ thông tin được đặc biệt chú trọng. Năm 2004, KISTEP bắt đầu dự án thẩm định một cách quy mô về tác động của ba công nghệ mũi nhọn này đối với xã hội, nền kinh tế, và tiến trình phát triển chung của khoa học và công nghệ, từ đó đề ra những chính sách thúc đẩy phù hợp từ phía Nhà nước.  Trên cơ sở đó, năm 2007 KISTEP đã lập được Bản đồ phát triển Tổng thể đầu tiên cho các chương trình R&D quốc gia, trong đó đưa ra những gợi ý, đề xuất về quản lý danh mục đầu tư R&D của Nhà nước trong vòng 15 năm tiếp theo, đồng thời cung cấp một danh mục 90 công nghệ cốt lõi cần được Nhà nước ưu tiên.   Căn cứ theo tầm nhìn ưu tiên cho công nghệ “ít carbon, tăng trưởng xanh” của Chính phủ Tổng thống Lee-Myung-bak, năm 2009, KISTEP xây dựng bản đồ phát triển công nghệ xanh và chiến lược phát triển công nghiệp, một giải pháp toàn diện phục vụ phát triển R&D cho công nghệ xanh, có thể coi là một chu trình toàn diện từ nghiên cứu tới thương mại hóa cho 27 công nghệ xanh cốt lõi.    Hoạt động xuất bản  KISTEP công bố công khai những kết quả phân tích các vấn đề chính sách KH&CN và những con số thống kê liên quan. Bên cạnh đó là những công bố kết quả nghiên cứu về các phương pháp đánh giá những chương trình R&D quốc gia, kinh nghiệm về các phương pháp và tiêu chuẩn quốc tế trong phân bổ nguồn đầu tư cho R&D.  Những kết quả này được công bố hằng năm trong các báo cáo như “Điều tra và Phân tích R&D của Chính phủ”, “Điều tra R&D ở Hàn Quốc”, và “Sách trắng Thống kê KH&CN”, là những xuất bản phẩm được quan tâm cao nhất. Bên cạnh đó là tạp chí Chính sách Nghiên cứu Châu Á (Asian Research Policy) viết bằng tiếng Anh, phân tích các vấn đề liên quan tới đầu tư R&D, chính sách và hoạt động đổi mới sáng tạo KH&CN ở Hàn Quốc và các quốc gia khác như Nhật Bản và Trung Quốc, dưới góc nhìn học thuật và đề xuất giải pháp. Tạp chí này được công bố vào tháng 3 và tháng 9 hằng năm.  Ngoài ra, KISTEP còn công bố một số xuất bản phẩm khác, như Báo cáo Các chuyên đề (Issues Paper) phân tích những vấn đề mới nhất liên quan tới các chức năng cơ bản của KISTEP như hoạch định và đánh giá những chương trình R&D và chính sách KH&CN, hệ thống quản lý, và các đề xuất giải pháp. Tóm lược Thống kê (Statistics Brief) phân tích và xử lý các chỉ số thống kê liên quan tới những vấn đề chính sách của Hàn Quốc và các quốc gia khác. Tóm lược Xu hướng Công nghệ (Technology-Trend Brief) phân tích tiến trình phát triển và xu hướng chính sách R&D cho những công nghệ mới. Tóm lược Chính sách Kinh phí R&D (R&D Budget Policy Brief) phân tích những vấn đề cơ bản trong cải thiện hệ thống và xu hướng chính sách liên quan tới kinh phí cho R&D ở Hàn Quốc và các nước khác, nhằm cải thiện chính sách hoạch định R&D của Chính phủ và nâng cao hiệu quả thực thi. Cuối cùng là tạp chí Làn sóng Tương lai (Future Wave) cung cấp những phân tích chuyên sâu về các vấn đề có tác động đáng kể tới sự phát triển của công nghệ, như tác động từ phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế, các ngành công nghiệp, văn hóa.        Đổi mới và tự thách thức để đưa Hàn Quốc thành cường quốc KH&CN               Kể  từ khi được thành lập năm 1999, có thể coi KISTEP là một tác nhân thúc  đẩy phát triển khoa học và công nghệ cũng như nghiên cứu và phát triển ở  Hàn Quốc, tập trung vào nhiệm vụ hoạch định phát triển KH&CN và  đánh giá nghiên cứu và phát triển. Bốn chức năng cơ bản của KISTEP bao  gồm: xây dựng một chiến lược quốc gia phát triển khoa học và công nghệ;  đưa ra những quyết định về định hướng nghiên cứu và phát triển trong  tương lai cũng như định hướng đầu tư chiến lược (đề xuất một kế hoạch  ngân sách tối ưu) cho các chương trình R&D của quốc gia; khảo sát,  phân tích, và đánh giá các chương trình R&D quốc gia; xây dựng những  hệ thống công bố và chia sẻ tri thức, thông tin liên quan tới R&D.                 KISTEP đã xây dựng các hệ thống điều phối và đánh giá những  chương trình R&D, được thể hiện qua chương trình “577 sáng kiến”,  hay còn gọi là Kế hoạch Cơ bản cho Khoa học và Công nghệ Quốc gia của  Chính phủ Tổng thống Lee Myung-bak trước đây. KISTEP đã góp phần quan  trọng tạo ra diện mạo tương lai năng lực khoa học và công nghệ và đổi  mới sáng tạo công nghệ ở Hàn Quốc bằng cách đưa ra những dự đoán về các  thay đổi của xã hội, dự đoán sự phát triển của công nghệ, và xây dựng  chương trình cấp chứng chỉ quản lý các quỹ đầu tư cho R&D.               KISTEP  đã đạt được một số thành tựu gần đây, như nghiên cứu xây dựng “Vành đai  Kinh doanh Khoa học Quốc tế”, và xuất bản “Tầm nhìn KH&CN trong  tương lai tới năm 2040”, một cẩm nang chiến lược dài hạn cho thấy định  hướng phát triển KH&CN quốc gia. Bên cạnh đó, KISTEP còn giúp các  nước đang phát triển xây dựng các nền tảng cho hoạch định chính sách  KH&CN, dựa trên mô hình làm chiến lược và đánh giá KH&CN Hàn  Quốc đã được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu ở mỗi quốc gia khác.               Là  một viện chính sách trong lĩnh vực KH&CN, KISTEP dự định sẽ trở  thành một viện hoạch định chính sách và đánh giá KH&CN có uy tín  toàn cầu, sử dụng những công cụ hệ thống và tri thức tiên tiến nhất. Với  những chức năng quan trọng được đảm nhiệm cho quốc gia, KISTEP luôn nỗ  lực đảm bảo tính công bằng, khách quan, và sáng tạo.                (Lược dịch lời Lee June Seung, Chủ tịch KISTEP)                Thanh Xuân tổng hợp  Nguồn: http://www.kistep.re.kr/eng/pr/down/Brochure_eng_2012.pdf  —-    1 Xem bài viết KTRS – Chìa khóa thành công của KOTEC do Thanh Xuân tổng hợp: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=6014&CategoryID=36    Author                Quản trị        
__label__tiasang KOTEC – Khai thông nguồn lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp      Tổng công ty tài chính Công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) là một định chế của Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp và các công ty nhỏ và vừa qua hình thức thẩm định công nghệ và bảo lãnh vay vốn, đã thực sự trở thành một nhân tố ngày càng quan trọng trong thúc đẩy tinh thần kinh doanh bằng đổi mới, sáng tạo.    Các đối tượng chủ yếu được KOTEC hỗ trợ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), doanh nghiệp khởi nghiệp chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp cần vốn đầu tư mạo hiểm (Venture enterprises), và các doanh nghiệp công nghệ mới (Inno-biz) có khả năng tạo việc làm hoặc có tiềm năng phát triển trong tương lai.  Trong 23 năm qua KOTEC đã đánh giá và bảo lãnh cho hơn 300.000 doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa. Và gần đây chủ tịch của KOTEC, ông Kim Jung-gook đã phê duyệt kế hoạch để tăng cường số tiền bảo lãnh trong năm nay bởi vì các công ty vừa và nhỏ đã gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận tài chính trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng ở Mỹ và châu Âu cũng như những khó khăn bên trong của nền kinh tế Hàn Quốc.  Nguồn tài chính  Hiện nay các nguồn quỹ đóng góp cho KOTEC là từ tổ chức tài chính, từ ngân sách chính phủ và từ các tổ chức khác. Nguồn vốn từ chính phủ qua phân bổ ngân sách hằng năm là nguồn quỹ chính và được chính phủ coi như sự hỗ trợ tài chính cho các SMEs công nghệ của Hàn quốc thông qua KOTEC. Sự đóng góp của các tổ chức tài chính cho KOTEC trên cơ sở hai bên cùng có lợi, với việc KOTEC sẽ giúp giảm chi phí đánh giá công nghệ của các tổ chức tài chính này, cung cấp thông tin tín dụng của các SMEs góp phần giảm bớt rủi ro phát sinh từ các khoản tín dụng cung cấp. Đây như là một khoản phí bảo hiểm cho các khoản vay tín dụng của các SMEs. Đổi lại, các tổ chức tài chính sẽ đóng góp tỷ lệ khoảng 1.35/1000 trên tổng số khoản giải ngân tín dụng hằng tháng, và các công ty đầu tư vốn mạo hiểm đóng góp 3/1000 trên tổng khoản tín dụng giải ngân theo quý.           Sự phát triển của KOTEC              KOTEC được  thành lập vào tháng 4 năm 1989 trên cơ sở quỹ hỗ trợ doanh nghiệp của  Chính phủ Hàn Quốc thành lập từ tháng 12 năm 1986. Nguồn đóng góp ban  đầu cho KOTEC hằng năm là từ ngân sách của chính phủ và nguồn thu từ các  hoạt động của KOTEC sẽ được bổ sung vào ngân sách hoạt động của quỹ.               Vị  trí và vai trò của KOTEC được thể hiện qua phát biểu của một quan chức  điều hành: “Chúng tôi cần phải đóng góp vào sự cải thiện hoạt động của  nền kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và  nhỏ, do đó, chúng tôi phải thiết kế chiến lược trong việc lựa chọn các  công ty nào cuối cùng sẽ nhận được sự giúp đỡ của chúng tôi, trong khi  cố gắng để phù hợp với các chính sách của chính phủ.”              Sau hơn 23 năm xây dựng và phát triển KOTEC đã trải qua nhiều cột mốc lớn:              * Năm 2004: 15 năm kể từ ngày thành lập tổng giá trị bảo lãnh công nghệ đạt mốc 100 nghìn tỷ won (80 tỷ USD).               * Tháng 12 năm 2011 tổng giá trị bảo lãnh vượt mốc 200 nghìn tỷ won.               *  Tháng 7 năm 2005 KOTEC áp dụng hệ thống KTRS (KIBO technology rating  system) trong thẩm định được giá trị tương lai của các công nghệ dựa  trên các đánh giá định tính và định lượng theo thang điểm. Hệ thống này  giúp cho việc đánh giá công nghệ của KOTEC rất rõ ràng và khách quan  tránh được các tiêu cực.              * Tháng 4 năm 2007 Hệ thống KTRS đã nhận được bằng sáng chế cấp quốc gia.              *  Năm 2011 KOTEC được nhận giải thưởng xuất sắc hàng đầu về liêm chính  trong đánh giá các tổ chức công của Chính phủ Hàn Quốc lần thứ sáu liên  tiếp.              * Tính tới cuối năm 2011 KOTEC có tổng số nhân viên là 1.068  người trong đó có 559 chuyên gia đánh giá công nghệ (131 trong số họ có  bằng tiến sĩ) chiếm tỷ lệ 52.3%. * Từ năm 2012 hệ thống tổ chức của  KOTEC được tổ chức thành 7 phòng ban và 3 hệ thống văn phòng.        Từ nguồn vốn quỹ này KOTEC có thể bảo lãnh tín dụng số tiền lớn gấp nhiều lần. Một tỷ số rất quan trọng cho hoạt động của KOTEC là tỷ lệ đòn bẩy được phép thực hiện. Tỷ lệ đòn bẩy là tỷ số giữa tổng giá trị bảo lãnh công nghệ trên giá trị nguồn quỹ của KOTEC. Đây là chỉ số đo lường khả năng đảm bảo trả nợ các khoản bảo lãnh. Luật hoạt động của KOTEC giới hạn con số này phải dưới 20 lần và tỷ số đòn bẩy này trong năm 2011 chỉ là 6.1 lần.  Nguồn tiền dư thừa của quỹ KOTEC sẽ mua trái phiếu chính phủ; trái phiếu địa phương, hoặc các loại trái phiếu khác có đảm bảo của Ngân hàng Trung ương, chính quyền địa phương hoặc tổ chức tài chính; cổ phiếu (gồm cả chứng chỉ đầu tư); hoặc các loại chứng khoán khác đáp ứng được mục đích của KOTEC.  Các hoạt động chính  Bảo lãnh tín dụng, và đánh giá công nghệ là hai hoạt động chính của KOTEC. Trong đó hoạt động bảo lãnh tín dụng là hoạt động bảo lãnh bên thứ 3 cho khoản vay của các SMEs từ các tổ chức tín dụng dùng cho việc thành lập, nghiên cứu công nghệ và thương mại hóa công nghệ. Còn hoạt động đánh giá công nghệ là việc đánh giá giá trị trong tương lai của công nghệ bao gồm khả năng cạnh tranh của công nghệ, thị trường cho công nghệ, giá trị của doanh nghiệp hoặc dự án.  Với bảo lãnh tín dụng từ KOTEC, các doanh nghiệp trên có thể vay vốn từ ngân hàng mà không cần đến hồ sơ tín nhiệm tài chính cũng như tài sản thế chấp; đồng thời giúp các doanh nghiệp này dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm nhà đầu tư để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia bằng cách tạo ra công ăn việc làm mới và những nguồn lực tăng trưởng của tương lai. KOTEC đã tăng cường cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp và những doanh nghiệp trong các ngành có vai trò là động lực tăng trưởng mới, tạo ra những quan hệ hợp tác các bên cùng có lợi làm nền tảng cùng chung sống và phát triển giữa các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời duy trì bảo lãnh cho những công ty thuộc diện ưu tiên, như các công ty đầu tư vào các ngành công nghiệp mới, giúp các công ty này phát hành cổ phần để thu hút được nguồn vốn mà họ khó lòng huy động được dựa vào uy tín tài chính ít ỏi của mình.  Với chức năng là một cơ quan thẩm định công nghệ, KOTEC tăng cường tính chuyên nghiệp trong thẩm định công nghệ bằng cách liên tục phát triển và nâng cấp các mô hình thẩm định công nghệ, tái cơ cấu các tổ chức thẩm định nội bộ, tái cơ cấu nhân sự bên trong, liên kết bên ngoài với các cơ quan Chính phủ và các tổ chức liên quan làm cơ sở cho các khoản vay và đầu tư đổi mới công nghệ trên thị trường tài chính tư nhân, và đạt được những nền tảng quản lý bền vững bằng cách gia tăng công tác quản lý rủi ro và triển khai quyền thu hồi bảo lãnh [ở những dự án kém hiệu quả].   Ngoài hai dịch vụ cốt lõi trên thì KOTEC còn có các dịch vụ phụ trợ khác như hoạt động tư vấn doanh nghiệp, quản lý và giám sát xử lý nghĩa vụ nợ, hoạt động quản lý thông tin tín dụng.  Mục tiêu chiến lược  Ngay từ đầu và trong suốt quá trình hoạt động của mình KOTEC đã đặt và bám sát các mục tiêu chiến lược là thúc đẩy các hoạt động đầu tư công nghệ, đưa các tiêu chuẩn đánh giá công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế, phát triển những nền tảng cho việc quản lý phát triển bền vững, phát triển thành hình mẫu tổ chức tài chính công. Và từ các mục tiêu chiến lược này KOTEC tập trung vào các nhiệm vụ chiến lược như hỗ trợ cho các SMEs công nghệ trên cơ sở win-win hai bên cùng phát triển, duy trì vị thế dẫn đầu trong thị trường đánh giá công nghệ, nâng cao khả năng nhận biết trước trong quản lý rủi ro, tăng niềm tin của cộng đồng vào hệ thống đánh giá công nghệ, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin hướng tương lai, phát triển hệ thống bảo lãnh công nghệ hướng doanh nghiệp, mở rộng hỗ trợ cho các ngành công nghiệp mới, tăng doanh thu cho KOTEC.  Để thực hiện thành công chiến lược và nhiệm vụ cụ thể đó, trong quan hệ với các đối tác, KOTEC luôn tuân theo các giá trị nền tảng: sự chân thành và tính liêm chính, cùng với thực hành quản lý với ba triết lý xuyên suốt là win-win hai bên cùng có lợi, công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế.  Thành quả    Với việc thẩm định và bảo lãnh tín dụng KOTEC đã giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ huy động được nguồn lực tài chính từ các ngân hàng và tổ chức tài chính, qua đó một mặt giúp các doanh nghiệp giải tỏa được nút thắt về vốn, mặt khác giúp các ngân hàng và tổ chức tài chính giao được vốn cho những dự án đổi mới sáng tạo có tính khả thi cao nhất, và được bảo đảm an toàn bằng nguồn bảo lãnh mà KOTEC cung cấp. Mối quan hệ các bên cùng có lợi này giúp cho hàng trăm nghìn dự án đổi mới công nghệ và sáng tạo tri thức được triển khai đi vào thực tế, đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội, đặc biệt là cho chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ của Chính phủ Hàn Quốc.           “KOTEC còn có vai trò là điều phối một “Đầu  mối Liên lạc”, nơi cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể trực tiếp  hoặc gián tiếp tham gia vào công tác quản lý của KOTEC, qua đó thực  hành một cơ chế quản lý mở, có khả năng phản ánh những tiếng nói khác  nhau trong ngành, tạo được nhiều sự ủng hộ hơn từ các khách hàng.    Jung-gook Kim – Chủ tịch KOTEC          Tính tới cuối năm 2012, gần 17 nghìn doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa ở Hàn Quốc được KOTEC cấp bảo lãnh với tổng giá trị bảo lãnh là hơn 210 nghìn tỷ won (187 tỷ USD). Trong đó số tiền bảo lãnh cho năm 2011 là 17.3 nghìn tỷ won. Về hoạt động đánh giá công nghệ, tính từ trường hợp đầu tiên tháng 3 năm 1997 thì tới nay KOTEC đã đánh giá công nghệ cho 316.040 trường hợp, tổng doanh thu cho hoạt động này năm 2011 là 171,5 tỷ won (137 triệu USD).   Hiệu quả hoạt động của KOTEC thể hiện thông qua khối lượng ngày càng tăng của nguồn vốn bảo lãnh tín dụng, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp được hỗ trợ thông qua KOTEC, và có thể nói hiệu quả được thể hiện rõ nhất là qua khả năng tự cân đối tài chính. Hiện nay, số tiền trong quỹ đạt 2,198 nghìn tỷ won (1.8 tỷ USD) nhiều hơn 6.3 tỷ won so với năm 2011 mặc dù trong năm 2010 và 2011 Chính phủ Hàn quốc đã không đóng góp vào quỹ.        Trịnh Đức Phú/ Phạm Trần Lê dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang KRISS – Phát triển thần tốc      Ra đời năm 1975, muộn hơn so với Viện Đo lường Việt Nam, và muộn hơn nhiều so với các viện đo lường giàu truyền thống trên thế giới (viện của Đức ra đời năm 1897, của Anh năm 1900, của Mỹ và Pháp năm 1901, Nhật năm 1903) nhưng Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học (KRISS) của Hàn Quốc đã phát triển vượt bậc để ngày nay đứng trong tốp 5-6 viện hàng đầu trên thế giới.      Sự thành công như vậy của KRISS là nhờ Chính phủ Hàn Quốc sớm có ý thức về vai trò của ngành đo lường đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và khoa học công nghệ của đất nước, vì vậy dành cho KRISS sự đầu tư quy mô rất lớn. Từ thời kỳ đầu tiên dưới chính quyền Park Chung Hee, Viện KRISS đã được Nhà nước quy hoạch vào trong quần thể cụm công nghiệp Daejeon. Những năm gần đây, ngân sách của Nhà nước dành cho KRISS thường xuyên trên 100 triệu USD, và vẫn đang liên tục tăng lên. Sự ưu ái dành cho KRISS xuất phát từ ý thức và quyết tâm chính trị của Hàn Quốc cho phát triển ngành đo lường, được thể hiện rõ ngay từ trong Hiến pháp, trong đó Điều 127 quy định Nhà nước có trách nhiệm thiết lập một Hệ thống Chuẩn Quốc gia.   Mục tiêu chiến lược mà Chính phủ Hàn Quốc giao phó cho KRISS là thúc đẩy khả năng cạnh tranh của Hàn Quốc thông qua những tiến bộ khoa học về chuẩn đo lường, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động kinh tế của đất nước, và cải thiện chất lượng đời sống của người dân. Thực hiện theo quy định trong Luật Khung về Chuẩn Quốc gia của Hàn Quốc, KRISS đã triển khai một hệ thống chuẩn quốc gia trên hơn 170 lĩnh vực. Nhiều chuẩn mà KRISS cung cấp cho các khách được công nhận trên toàn cầu, tạo thành lợi thế thúc đẩy chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Hàn Quốc trên thị trường quốc tế. KRISS cũng tham gia phát triển những công nghệ đo lường và chuẩn mới, cần thiết cho những đổi mới công nghệ tiên tiến hàng đầu, như trong công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, v.v.  Để đạt được những kết quả trên đây, hoạt động nghiên cứu được KRISS đặc biệt chú trọng, với sản phẩm đầu ra mỗi năm khoảng trên 300 công bố SCI, và hàng trăm bằng sáng chế quốc tế, và hàng chục sáng chế trong nước. Trong tổng số 388 nhân viên của KRISS, có tới 234 nhà nghiên cứu (hơn 60%), và lượng kinh phí dành cho R&D cũng chiếm tới hơn 50% tổng ngân sách hoạt động. Năm 2011, kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của KRISS chiếm tới hơn 50% (57,58 triệu USD) của 107,89 triệu USD tổng ngân sách hoạt động. Nhưng điều đáng lưu ý là Chính phủ rất quan tâm hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu của KRISS. Trong những năm gần đây, hơn 50% ngân sách dành cho R&D của KRISS lấy nguồn từ tài trợ của Chính phủ cho nghiên cứu cơ bản, chưa kể nghiên cứu theo hợp đồng cho các Bộ, ngành cũng lên tới trên 30%.             Ngân   sách dành cho R&D      Lượng   tiền tính theo triệu USD          2010      2011      Tăng/giảm          Nghiên cứu cơ bản được Chính phủ tài trợ      32,62              (51,82%)      32,11              (55,74 %)      giảm 0,51          Nghiên cứu theo hợp đồng với các Bộ, ngành          22,67              (36,01%)      17,34              (30,40%)      giảm 5,33          Nghiên cứu theo hợp đồng với các tổ chức   công và các ngành công nghiệp      3,37              (5,35%)      3,73              (5,88%)      tăng 0,36          Hỗ trợ kỹ thuật      4,29              (6,82%)      4,4              (7,98%)      tăng 0,11          Tổng cộng      62,95              (100,0%)      57,58              (100,0%)      giảm 5,37            Chú trọng vào hoạt động nghiên cứu nhưng mảng hoạt động ứng dụng dịch vụ của KRISS cũng rất mạnh, với nhiều hình thức phong phú đa dạng. Đáng kể đến đầu tiên 24 câu lạc bộ đo lường, là nơi trao đổi tìm kiếm các giải pháp đo lường. Các câu lạc bộ được chia thành nhiều lĩnh vực công nghệ đo lường như khối lượng, nhiệt độ, độ dài, thời gian, hóa học, sinh học, môi trường, v.v. Đây là nơi thu hút các thành viên từ các ngành công nghiệp, các viện nghiên cứu, học giả, các nhà quản lý Nhà nước, với tổng số thành viên khoảng 5000 người. Họ thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm về đo lường qua các hoạt động của câu lạc bộ, qua các cuộc trao đổi trực tiếp hoặc trực tuyến qua mạng.  Nhằm đáp ứng nhu cầu kỹ thuật đo lường chính xác từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, KRISS tổ chức một chương trình gửi các chuyên gia tới làm dịch vụ tại các doanh nghiệp, với tên gọi là Chương trình Bác sỹ Tại gia, chú trọng vào giải quyết những vấn đề thực tế về đo lường mà các doanh nghiệp gặp phải. Hiện nay có khoảng 50 doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới chương trình này do KRISS tổ chức. Từ những thông tin thu thập được qua Chương trình Bác sỹ Tại gia kết hợp với những nghiên cứu độc lập khác, KRISS tiến hành phân tích, đánh giá nhằm xác định ra những công nghệ có tiềm năng cao trong thương mại hóa để chuyển giao cho doanh nghiệp. Trong năm 2011, KRISS đã xác định được hơn 400 công nghệ tiềm năng để chuyển giao, và đã triển khai ứng dụng 250 công nghệ vào các ngành công nghiệp, và hỗ trợ thương mại hóa trên khoảng 100 doanh nghiệp Hàn Quốc.        KRISS chính thức có biên bản hợp tác ghi nhớ với Viện Đo lường Việt Nam (VMI) từ năm 1997, và cho đến nay hai viện vẫn đều đặn gia hạn thỏa thuận hợp tác này. Trong lần ký thỏa thuận hợp tác gần đây nhất vào cuối năm 2012, KRISS đã đồng ý nhận 2-3 chuyên gia của VMI sang làm việc học hỏi kinh nghiệm trong thời gian 2-3 tháng mỗi năm, đồng thời nhận đào tạo giúp VMI các học viên học đại học và trên đại học. Ngoài ra KRISS cũng hợp tác nghiên cứu nhằm tăng cường năng lực của VMI trên một số lĩnh vực mà VMI chưa có nhiều kinh nghiệm, như hóa học và quang học.          Nhận thức rõ về ý nghĩa của hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy sự công nhận quốc tế đối với năng lực đo lường của Hàn Quốc, KRISS đã đóng vai trò là một thành viên tích cực trong các tổ chức đo lường thế giới như APMP hay CGPM, với nỗ lực nhằm đảm bảo các chuẩn quốc gia của Hàn Quốc ngang tầm với các chuẩn quốc tế, đồng thời tăng cường vai trò lãnh đạo trong các cơ quan đo lường quốc tế. Sau 3 thập kỷ kể từ khi thành lập, KRISS đã liên tục mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức đó lường quốc tế, các viện đo lường nước ngoài, và các tổ chức nghiên cứu. KRISS có biên bản hợp tác ghi nhớ với khoảng 50 quốc gia, trong đó có những viện hàng đầu như NIST của Mỹ, PTB của Đức, MMIJ của Nhật, v.v. Nhằm cung cấp các giải pháp đo lường phục vụ những chương trình trọng điểm quốc gia và toàn cầu, KRISS đã phối hợp chặt chẽ với các viện đo lường của các quốc gia đối tác, phát triển những công nghệ hiện đại hàng đầu, ví dụ như phối hợp với NIST của Mỹ nghiên cứu về đo lường nano, phối hợp với LGC của Anh nghiên cứu về an toàn thực phẩm, và hợp tác thường niên với hội Hợp tác châu Á về Vật liệu Chuẩn (ACRM) – ACRM là một tổ chức hợp tác giữa 3 quốc gia Hàn Quốc, Trung Quốc, và Nhật Bản nhằm phát triển những vật liệu so sánh chuẩn chất lượng cao.   Đối với các nước đang phát triển, KRISS chủ trương chú trọng hợp tác phát triển nguồn nhân lực. Các học viên nước ngoài dược khuyến khích đến học tập và tham gia các chương trình nghiên cứu của KRISS. KRISS cũng tích cực tham gia vào các chương trình tài trợ ODA của Chính phủ Hàn Quốc cho các nước đang phát triển, dưới hình thức hỗ trợ trang thiết bị và hệ thống đo lường chuẩn. Trong số các đối tác gần gũi nhất với KRISS có các viện đo lường của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, Sri Lanka, Iraq, và Ai Cập.          Tia Sáng tổng hợp  Nguồn tham khảo: http://www.kriss.re.kr/eng/about/02_2.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang KTRS – Chìa khóa thành công của KOTEC      Thành công của mô hình thẩm định công nghệ KTRS đã giúp KOTEC giảm được tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ vay vốn không trả được nợ, tạo được sự tin cậy và tăng nguồn thu từ các ngân hàng và tổ chức tài chính.    Trước năm 2005 khi chưa có công cụ thẩm định công nghệ KTRS (viết tắt của Kibo Technology Rating System), KOTEC đơn thuần chỉ là một tổ chức cấp bảo lãnh tín dụng có sự ưu tiên dành cho các doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa. Dù khá linh hoạt trong hoạt động quản lý tài chính, với những gói dịch vụ bảo lãnh tài chính được thiết kế tinh xảo nhằm tiết kiệm nguồn chi và đem về nguồn thu cao nhất, nhưng tới cuối năm 2005 bức tranh tài chính của KOTEC vẫn trở nên khá ảm đạm, như nhận định trong một nghiên cứu của chuyên gia Kyung Jin Hyung, Vụ Thẩm định Công nghệ của KOTEC. Tỷ lệ doanh nghiệp được cấp bảo lãnh không trả được nợ trong 3 năm 2003-2005 liên tục trên 10%, cá biệt năm 2004 lên tới 12,9% (theo Báo cáo Thường niên 2011 của KOTEC). Một trong những nguyên nhân chính, theo Hyung, là do KOTEC đã cung cấp quá nhiều thanh khoản cho các công ty công nghệ thông tin.   Có những ý kiến bao biện rằng rủi ro là một phần tất yếu trong hoạt động đầu tư vào các công ty công nghệ, nhưng một luồng ý kiến cho rằng KOTEC hoạt động thiếu hiệu quả là do yếu về năng lực thẩm định. “Không thể chối cãi rằng công tác thẩm định của KOTEC khi đó không có gì khác so với các tổ chức tài chính thương mại và tài chính công khác. Việc đánh giá các doanh nghiệp hoàn toàn căn cứ theo thông tin tài chính trong quá khứ và hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp”, Hyung khẳng định.  Nhưng chính những kết quả hạn chế đạt được và những khó khăn tài chính mà KOTEC lâm vào đã giúp họ nhận ra rằng cái họ đang thiếu không phải là những gói bảo lãnh tài chính được thiết kế tinh xảo, mà là phương pháp thẩm định một cách hiệu quả đối với các doanh nghiệp công nghệ. Vì vậy, KOTEC đã nghiên cứu xây dựng một quy trình và phương thức thẩm định mới. Mô hình thẩm định này được đòi hỏi phải đánh giá được những yếu tố tác nhân của tương lai, như sự phát triển của công nghệ, tiềm năng thương mại hóa, dự đoán mức lợi nhuận, v.v, với mục tiêu cụ thể đầu ra là giảm được tỷ lệ các doanh nghiệp không thanh toán được nợ trong số những doanh nghiệp được KOTEC cấp bảo lãnh.  Cấu trúc KTRS  Với nguồn dữ liệu thu thập liên tục từ năm 1999, các chuyên gia của KOTEC và một nhóm nghiên cứu từ Đại học Yonsei đã cùng xây dựng một hệ thống chấm điểm xếp hạng, là một ma trận 2 chiều: chất lượng công nghệ và mức độ rủi ro.   Chất lượng công nghệ  Chất lượng công nghệ được tính dựa trên các tham số của các tiêu chí đánh giá công nghệ và triển vọng thương mại hóa, được tính toán bằng phân tích trình tự hồi quy AHP (analytic hierachy process).  f(y)=ß1·(X1)+ß12·(X12)+ß13·(X1)+….+ ß34·(X34)  Có tới 34 tiêu chí đánh giá công nghệ và triển vọng thương mại hóa. Mỗi tiêu chí được chấm điểm căn cứ theo các nghiên cứu học thuật, ý kiến của chuyên gia, và kinh nghiệm từ các nhà thẩm định của KOTEC. Chúng thường thay đổi tùy theo đặc thù của từng ngành công nghiệp.             Nhóm tiêu chí      Tiêu chí      Số lượng tiêu chí          Năng lực công nghệ của doanh nghiệp      Kinh nghiệm Công nghệ      4 tiêu chí          Năng lực quản lý      2 tiêu chí          Quản lý và làm việc theo nhóm      3 tiêu chí          Công nghệ      Triển vọng phát triển và triển khai công nghệ      2 tiêu chí          Đầu tư vào công nghệ và R&D      3 tiêu chí          Đổi mới công nghệ      3 tiêu chí          Mức độ hoàn thiện và khả năng mở rộng công nghệ      3 tiêu chí          Thị trường      Tình trạng cạnh tranh      4 tiêu chí          Sức cạnh tranh của sản phẩm      3 tiêu chí          Triển vọng thương mại hóa và lợi nhuận      Khả năng sản xuất thành công và năng lực sản xuất      2 tiêu chí          Triển vọng vận hành thành công      2 tiêu chí          Dự đoán lợi nhuận      3 tiêu chí            Sau khi phân tích hồi quy với 34 tiêu chí, người ta định lượng được chất lượng công nghệ, đồng thời cũng chỉ ra những tác nhân cơ bản nhất quyết định thành công hoặc nguy cơ thất bại của từng công nghệ.  Mức độ rủi ro   Mức độ rủi ro được tính theo mối tương quan giữa các tác nhân và dữ liệu lịch sử về các vụ không trả được nợ (default), sử dụng phân tích hồi quy logistic. Các tác nhân được chia thành 2 nhóm chính: một là các tác nhân từ môi trường kinh tế, với các chỉ số như lãi suất, tỷ giá hối đoái, Chỉ số Sản xuất Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Chỉ số Điều tra Doanh nghiệp, v.v; hai là nhóm tác nhân từ nội bộ đối tượng doanh nghiệp đang được thẩm định, như hiệu quả đầu tư trong quá khứ, doanh nghiệp có được cấp đăng ký doanh nghiệp công nghệ (InnoBiz Firms) hoặc doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm (venture firms) hay không, v.v.    Ma trận xếp hạng             Các hệ thống xếp hạng trước đây mà KOTEC sử dụng chỉ đơn thuần căn cứ trên các tham số tài chính của doanh nghiệp, còn hệ thống KTRS được căn cứ trên kết quả thẩm định những tham số đánh giá triển vọng tương lai, như triển vọng phát triển công nghệ, triển vọng thương mại hóa, kết hợp với những tham số đánh giá mức độ rủi ro.          Cuối cùng, người ta kết hợp đánh giá khả năng thành công của công nghệ với mức độ rủi ro để xếp hạng công nghệ được thẩm định theo cấu trúc ma trận.  Sử dụng cấu trúc ma trận như trên đây, người ta có thể dễ dàng cho điểm xếp hạng công nghệ, được xếp thành 10 hạng, từ cao nhất là AAA tới thấp nhất là D. Ví dụ, một công nghệ có điểm chất lượng công nghệ ở mức V8, và mức rủi ro R7, sẽ có điểm xếp hạng chung cuộc là CCC.  Hạn chế sự chủ quan  Với 34 tiêu chí đánh giá công nghệ và triển vọng thương mại, kết quả chấm điểm của các chuyên gia thẩm định không nghiễm nhiên được công nhận mà phải trải qua rà soát. Ví dụ, nếu cho điểm của một chuyên gia nào đó vượt quá mức điểm tiêu chuẩn tối đa trong một ngành đặc thù nào đó, thì người ta sẽ sử dụng điểm tiêu chuẩn tối đa của ngành thay vì dùng điểm của vị chuyên gia nọ.  Đồng thời, người ta cũng sử dụng một hệ thống giám sát cách cho điểm của từng chuyên gia, căn cứ theo 2 phương diện: một là đánh giá xem việc cho điểm của một chuyên gia thường nghiêm khắc hay dễ dãi; hai là thường nhất quán hay thiếu nhất quán. Bằng cách so sánh 2 chỉ số này ở một chuyên gia với chỉ số trung bình và phương sai trung bình ở các chuyên gia khác, người ta có thể định vị được một cách định lượng về thiên hướng chấm điểm của từng chuyên gia một.    Kết quả thực tế  Việc áp dụng hệ thống KTRS đã đem lại sự cải thiện rõ rệt, thể hiện ở việc giảm tỷ lệ doanh nghiệp default (không trả được nợ). Theo Báo cáo Thường niên 2011 của KOTEC, tỷ lệ default giảm từ 10,1% năm 2005 xuống còn 6,1% trong năm 2006, và sau đó duy trì ổn định xung quanh mức 5% cho đến nay. Tỷ lệ này có thể coi là thấp so với tỷ lệ default của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, thường trong khoảng 5,4 – 7,4%1.             Năm      2002      2003      2004      2005      2006      2007      2008      2009      2010      2011          Giá trị bị default      8.324      17.027      17.449      11.659      6.791      6.050      7.679      7.420      8.184      8.715          Tỷ lệ Default      5,0      10,2      12,9      10,1      6,1      5,4      6,1      4,3      4,7      5,0          Tỷ lệ default và giá trị default (đơn vị: trăm triệu won) qua các năm. Nguồn: Báo cáo Thường niên 2011 của KOTEC  Tính chính xác và khách quan trong xếp hạng công nghệ được phản ánh qua thực tế là những công nghệ được xếp hạng càng cao thì tỷ lệ này càng giảm. Ví dụ, những công nghệ xếp hạng CCC có tỷ lệ default là 21,7%, công nghệ xếp hạng B có tỷ lệ 12,2%, công nghệ xếp hạng BBB có tỷ lệ 6,4%, công nghệ xếp hạng A có tỷ lệ 4%, công nghệ xếp hạng AA có tỷ lệ 1,6% (theo một báo cáo của Hee Chang Park, chuyên gia cao cấp thuộc Nhóm Mô hình hóa Thẩm định Công nghệ của KOTEC).   Việc cải thiện năng lực thẩm định bằng mô hình KTRS đã nhanh chóng giúp KOTEC gây dựng sự tin tưởng từ các ngân hàng và tổ chức tài chính, đem lại nguồn thu ổn định từ những đối tượng này, và giúp giảm gánh nặng đóng góp từ phía Chính phủ Hàn Quốc. Cụ thể là trong 2 năm 2010 và 2011, KOTEC hoàn toàn không cần sự đóng góp của Chính phủ.  Mở rộng sang thẩm định các sản phẩm, dịch vụ văn hóa  Gần đây, KOTEC không chỉ dừng lại ở hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ mà mở rộng hỗ trợ tới cả những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và dịch vụ văn hóa, tri thức, như game online, phim truyền hình, điện ảnh, âm nhạc, v.v, theo định hướng chính sách của Chính phủ xuất phát từ thực tế là nền công nghiệp giải trí của Hàn Quốc đã gặt hái được rất nhiều thành công trong những năm qua, đạt doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm.    Từ năm 2009/2010, KOTEC đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Cơ quan Nội dung Sáng tạo Hàn Quốc (KOCCA) xây dựng và triển khai áp dụng mô hình thẩm định dành riêng cho những đối tượng doanh nghiệp trong ngành công nghiệp giải trí và sáng tạo. Mục tiêu của mô hình thẩm định này nhằm phát triển những tiêu chí thẩm định tiêu chuẩn và cung cấp một công cụ thẩm định có tính khách quan tối phục vụ công tác đánh giá hiệu quả tiềm năng của các dự án đầu tư trong lĩnh vực giải trí và văn hóa. Công cụ này không chỉ nhằm phục vụ hoạt động cấp bảo lãnh của KOTEC mà còn giúp các liên doanh và tổ chức tài chính tiến hành vốn hóa các tài sản tri thức và văn hóa vì mục đích sản xuất, kinh doanh.  Mỗi loại hình sản phẩm, từ kịch, điện ảnh, trò chơi, truyện tranh, v.v, được phát triển một mô hình thẩm định riêng. Các đặc thù riêng của loại hình sản phẩm được chuyển hóa thành những tiêu chí phù hợp có thể dùng cho việc thẩm định thông qua mô hình phân tích hồi quy (AHP).  Để xây dựng những mô hình thẩm định như vậy cho từng loại hình sản phẩm, đầu tiên người ta phân tích toàn bộ chuỗi giá trị bao gồm tất cả những nhân tố cơ bản đặc thù, như nhà viết kịch bản, diễn viên, chi phí sản xuất, v.v. Những phân tích này được căn cứ trên các cuộc phỏng vấn những chuyên gia và người trong cuộc ở các ngành công nghiệp. Dựa vào đó, người ta phát triển một mô hình ban đầu, và sẽ tiếp tục hoàn thiện dựa trên ý kiến phản hồi từ các chuyên gia sau các cuộc thử nghiệm mang tính mô phỏng.   Tính ứng dụng của KTRS ở Việt Nam  Trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam rất khó tiếp cận các nguồn tài chính thông thường do thiếu tài sản thế chấp và hồ sơ tín nhiệm tài chính (thông tin về lịch sử vay mượn tại các ngân hàng) thường khá sơ sài, Chính phủ Việt Nam đã bước đầu tìm cách tạo ra kênh tài chính mới cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, ví dụ như Quyết định số 1342 của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2011 thành lập Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (Quỹ).   Tuy nhiên, bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm trên đây của KOTEC là để Quỹ có thể hoạt động được hiệu quả thì cần phải có một mô hình thẩm định công nghệ đáng tin cậy tương tự như mô hình KTRS. Mô hình này không chỉ nhằm thẩm định chất lượng các công nghệ mà còn đánh giá triển vọng trong triển khai sản xuất, thương mại hóa, những tác nhân rủi ro và mức độ rủi ro.     Nhưng để có được một mô hình thẩm định công nghệ tương tự như KTRS, Quỹ sẽ phải có một đội ngũ chuyên gia đủ mạnh, những người đồng ý cộng tác hoặc trực tiếp làm việc cho Quỹ. Bước đầu, những chuyên gia của Quỹ có thể nghiên cứu về KTRS, cụ thể là hệ thống các tiêu chí đánh giá công nghệ và thị trường, và cách xây dựng, tập hợp, thống kê các dữ liệu, yếu tố không thể thiếu để giúp các phân tích hồi quy đem lại kết quả có độ chính xác và khách quan cao trong việc tính toán các mức độ rủi ro. Đồng thời, cũng nên kiểm soát hạn chế sự chủ quan trong ý kiến thẩm định của các chuyên gia, ví dụ như tham khảo cách thức KOTEC giám sát sự cho điểm của từng chuyên gia bằng những tiêu chí định vị được lượng hóa một cách rõ ràng.   Việc đưa mô hình thẩm định công nghệ của KOTEC vào thay thế những quy trình thẩm định hiện có ở Việt Nam sẽ đòi hỏi sự thay đổi quy cách thẩm định từ thiên về định tính chủ quan chuyển sang định lượng khách quan, và đây là thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà ngay cả với những nơi có nền quản lý khoa học phát triển như châu Âu. Một báo cáo2 của Terence O’Donnell cho Pro Inno Europe® – một đầu mối hợp tác phân tích đổi mới chính sách của Ủy ban châu Âu – đã nhận định rằng, “hệ thống KOTEC được hoàn thiện, chi tiết, và định lượng tới một mức độ mà nhiều nước châu Âu khó đạt được. Việc đánh giá các dự án đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp (cũng như các đề xuất vay vốn để tài trợ những dự án này) ở châu Âu dường như dựa nhiều vào các ý kiến chủ quan của chuyên gia hoặc hội đồng thẩm định”.  Tuy nhiên, việc xây dựng và áp dụng một mô hình thẩm định công nghệ đáng tin cậy và có tính khách quan cao như KTRS là một mục tiêu cần hướng đến đối với Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia. Nó sẽ không chỉ giúp khai thác hiệu quả nguồn lực của Quỹ mà còn giúp Quỹ kết nối và phát huy nguồn lực từ các ngân hàng thương mại trong đầu tư đổi mới công nghệ, do kết quả thẩm định (hoặc bảo lãnh) từ Quỹ sẽ là cơ sở thuyết phục để các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay vốn. Sự phối hợp giữa Quỹ và các ngân hàng thương mại sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên: các ngân hàng được cung cấp thông tin/bảo lãnh từ Quỹ; Quỹ tận dụng được chuyên môn của các ngân hàng trong việc rà soát dữ liệu tài chính của các doanh nghiệp và nghiệp vụ quản lý các khoản vay, nhờ đó có thể dành toàn tâm cho thế mạnh chuyên môn của mình là thẩm định công nghệ.  —  Nguồn tham khảo:   Kyung Jin Hyung, Flying beyond Conventional Practice to Better Serve the Innovation in a Maturing Economy —KOTEC Case  Hee Chang Park, Supporting Innovative SMEs in Korea – Approaching by KOTEC  —  1 Bank Financing for SMEs around the World: Drivers, Obstacles, Business Models, and Lending Practic-es, Thorsten Beck, Asli Demirgüç-Kunt, María Soledad Martínez Pería, World Bank, Policy Research Work-ing Paper 4785, Tháng 11, 2008.   2 Terence O’Donnell, South Korea SME Innovation Support Schemes – Final Report on IPF Review visit to South Korea, April 2012    Author                Phạm Trần Lê        
__label__tiasang Kỳ vọng một diện mạo mới!      Với phương châm lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Techmart Vietnam 2015 được kỳ vọng sẽ có những cải thiện rõ rệt cả về hình thức lẫn nội dung. Đây là nhận định của Thứ trưởng Bộ KH&amp;CN Trần Việt Thanh, khi ông chia sẻ với tạp chí Tia Sáng về những đổi mới trong công tác tổ chức Techmart năm nay.    Xin Thứ trưởng lý giải vì sao Bộ KH&CN lựa chọn chủ đề của Techmart năm nay là “liên kết cùng hội nhập và phát triển bền vững”?    Mối liên kết mà chủ đề của Techmart Vietnam năm nay đưa ra chính là mối liên kết Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhà khoa học, đồng thời là mối liên kết giữa cung và cầu công nghệ. Đây không phải là chủ đề mới nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng với sự phát triển kinh tế của đất nước trong bối cảnh hiện nay khi chúng ta phải đối diện với sự cạnh tranh trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng và tích cực. Trong mối liên kết trên đây, doanh nghiệp phải đóng vai trò trung tâm, không ngừng chủ động liên kết với các nhà khoa học để áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh, qua đó mới có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và thực sự giúp chính bản thân họ cũng như toàn bộ nền kinh tế đất nước phát triển theo quỹ đạo bền vững.  Nhà nước đứng ở đâu trong mối liên kết nêu trên và vai trò ấy được thể hiện qua Techmart lần này như thế nào?    Vai trò của Nhà nước trong mối liên kết trên đây là tạo môi trường, điều kiện cần thiết, trước hết bao gồm hành lang pháp lý và các định chế trung gian, và những cơ hội thuận lợi để các nhà khoa học và các doanh nghiệp gặp gỡ, hợp tác nhằm đưa những thành tựu mới nhất về KH&CN vào quy trình sản xuất, kinh doanh. Techmart chính là một cơ hội thuận lợi mà Nhà nước tổ chức để kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, đồng thời là nơi giới thiệu, thúc đẩy lưu thông trên thị trường công nghệ các công nghệ là thành quả KH&CN có tiềm năng giá trị ứng dụng cao do các tổ chức nghiên cứu KH&CN, các doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế tạo ra.     Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có công nghệ, thiết bị được chuyển giao tại Techmart sẽ có cơ hội được cấp chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp có sản phẩm ứng dụng công nghệ cao và Nhà nước có các chính sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp này phát triển.    Trong thực tế, Techmart những năm qua dù đã có những kết quả nhất định nhưng vẫn chưa thực sự được như chúng ta mong muốn. Với Techmart Vietnam 2015, chúng ta đổi mới quan điểm tổ chức như thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả của sự kiện?    Điểm khác biệt lớn nhất của Techmart Vietnam 2015 so với các kỳ Techmart trước là thực sự lấy doanh nghiệp làm trung tâm, cả về nội dung hoạt động, hình thức tổ chức, cũng như thành phần chủng loại, số lượng các đơn vị tham gia. Techmart Vietnam 2015 sẽ không còn là một cuộc biểu dương lực lượng đơn thuần của các cơ quan nghiên cứu – Techmart lần này sẽ có hơn 500 doanh nghiệp so với 100 viện nghiên cứu – mà sẽ đi sâu vào thể hiện những câu chuyện về năng suất, chất lượng, đổi mới sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bằng KH&CN.   Xin Thứ trưởng cho biết rõ hơn về những đổi mới cụ thể trong nội dung, hình thức tổ chức?            Tiêu lựa chọn các công nghệ và thiết bị được trưng bày, giới thiệu tại Techmart Vietnam 2015:               –  Là kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp trong  nước, nước ngoài, của các tập thể và cá nhân đó được kiểm nghiệm, ứng  dụng thành công;               – Đã hoàn thiện, sẵn sàng để chuyển giao;              – Đảm bảo chất lượng, giá rẻ hơn so với ngoại nhập;              – Đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ;              –  Những công nghệ/thiết bị của nước ngoài giới thiệu tại Techmart  2015  phải có chất lượng cao, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu trong nước.        Đây là lần đầu tiên chúng ta sẽ được chứng kiến Techmart “ngược”, đó là việc các doanh nghiệp chủ động đưa ra những yêu cầu về đổi mới công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp trong bài toán kinh doanh thực tế của mình. Đây là nơi để chính các nhà khoa học, các viện nghiên cứu đi chợ để có được các đặt hàng thực sự và thấy được thị trường cụ thể cho những sáng tạo của mình. Ngoài ra, Techmart 2015 sẽ có một diện tích dành cho Hệ sinh thái khởi nghiệp với sự có mặt của các Start-up đầy sáng tạo và đam mê, cả trong lĩnh vực CNTT và các lĩnh vực quan trọng khác như nông nghiệp. Trong khuôn khổ Techmart sẽ có các hội thảo, tọa đàm để trao đổi về các vấn đề thực sự cần thiết cho doanh nghiệp và những vấn đề về sở hữu trí tuệ, bảo hộ thương mại – là những vấn đề mà doanh nghiệp cần phải biết trong giai đoạn hội nhập tích cực.  Đó là điểm mới dành cho doanh nghiệp và nhà khoa học – những người trong cuộc. Còn dưới góc nhìn của công chúng xã hội, đâu sẽ là điểm nhấn hấp dẫn để Techmart thu hút họ?    Một điểm nhấn quan trọng là sự giới thiệu một số doanh nghiệp dùng KH&CN để phát triển vượt bậc (như Tập đoàn Mỹ Lan, Misfit, MimosaTek, Minh Long, Thiên Long, Giấy Sài Gòn, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Tôn Đông Á, Điện Quang…). Bên cạnh đó,Techmart lần này sẽ có sự tham gia của trên 50 nhà sáng chế không chuyên trên toàn quốc với các sản phẩm sáng tạo hết sức gần gũi và hiệu quả.  Techmart lần này còn có sự tham gia của nhân tố mới là các doanh nghiệp doanh nghiệp khởi nghiệp, một lực lượng hết sức cần thiết cho đổi mới sáng tạo, tạo nên một hệ sinh thái phát triển bền vững, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP.     Theo ông, các bên tham dự Techmart Vietnam 2015 có triển vọng thu được thành công từ sự kiện này ở mức độ nào?     Techmart năm nay đã thực sự thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp với số lượng hồ sơ đăng ký tham gia lớn hơn rất nhiều so với khả năng đáp ứng về gian hàng của Ban tổ chức. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng sẽ mang đến rất nhiều cơ hội để khách hàng tiếp cận và lựa chọn được các công nghệ, thiết bị tiên tiến phù hợp với điều kiện của mình. Qua đó, chúng tôi tin rằng nhiều mối quan hệ hợp tác sẽ được thiết lập, nhiều kết quả nghiên cứu được chuyển giao, nhiều nhà khoa học tìm được thị trường mới cho công nghệ của mình.     Ngoài những cơ hội kể trên, các bên tham gia có thể học hỏi được gì từ việc tham dự Techmart năm nay?    Các doanh nghiệp tham dự Techmart Vietnam 2015 sẽ thu được những kiến thức về việc sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, quảng bá hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp. Họ sẽ được tham dự một số tọa đàm, trao đổi trực tiếp với các chủ doanh nghiệp nổi tiếng, có uy tín, là các nhà tiên phong trong đổi mới sáng tạo vì người tiêu dùng, tiên phong trong ứng dụng công nghệ mới, tiên phong trong khởi nghiệp bằng công nghệ, qua đó được truyền lại những kinh nghiệm thực tiễn quý báu trong việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, ứng dụng thành công công nghệ mới, kỹ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng. Về phía các nhà khoa học, họ sẽ thu được nhiều ý kiến đóng góp của khách hàng và doanh nghiệp để điều chỉnh công tác nghiên cứu cho sát với nhu cầu của thị trường. Còn đối với cơ quản lý Nhà nước, Techmart có thể sẽ giúp thấy rõ thêm các điểm yếu cần được khắc phục trong việc tổ chức và quản lý thị trường KH&CN thực sự ở Việt Nam để đưa ra các chính sách phù hợp phát triển các chủ thể trong thị trường KH&CN.    Chúng ta sẽ đánh giá, đo lường những kết quả này, cũng như mức độ thỏa mãn của các doanh nghiệp và những người tham gia Techmart Vietnam 2015 ra sao để có thể cải thiện công tác tổ chức trong những Techmart của các năm sau?    Chúng tôi có làm các phiếu điều tra để thu thập thông tin về mức độ thỏa mãn, tính hiệu quả và thiết thực của Techmart đối với các doanh nghiệp, các đơn vị tham gia (cả bên cung và bên cầu), và khách tham quan nói chung; cũng như các đánh giá, góp ý của họ về phương thức tổ chức Techmart. Đồng thời sẽ có các cuộc điều tra, tổng kết hậu Techmart. Qua đó, chúng tôi sẽ rút ra bài học kinh nghiệm để các Techmart lần sau được tổ chức hiệu quả hơn.    Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.   PV thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm cách nào để thành công trong khoa học?      Đây là bản dịch của một bài luận văn về cách thức làm việc của các nhà khoa học “dỏm”. Bài luận văn có tựa đề là “How to succeed in science” của Tiến sĩ K. A. Crutcher đăng trên tập san Perspectives in Biology and Medicine 1991;34(2):213-8. Bài luận văn được trao giải thưởng “Bài báo hay nhất trong năm”. Có lẽ qua bài viết, người ta muốn cảnh cáo những ai nuôi ảo vọng làm khoa học theo hiểu mà tác giả nêu lên dưới đây. Cố nhiên, ý của tác giả là nếu các bạn muốn trở thành một nhà khoa học chân chính thì phải làm tránh hay thậm chí làm ngược lại những “lời khuyên” trong bài này.                          Dường như phần đông các nhà khoa học trẻ chưa được huấn luyện về những phương cách để thành công trong hoạt động khoa học, như xin tài trợ, được giới đồng nghiệp ghi nhận, hay có một bản lí lịch dài hơn danh sách các bài báo đã công bố, v.v… Để khắc phục sự thiếu sót này, tôi xin trình bày một số chỉ dẫn cụ thể sau đây. Cố nhiên, thỉnh thoảng cũng có vài chú cừu đen, những chú cừu nhất định theo đuổi một lí tưởng khoa học, bất chấp thành công hay được ghi nhận hay không, và trong trường hợp đó, những chỉ dẫn sau đây sẽ không áp dụng cho họ. Tuy nhiên, chú ý rằng những nguyên lí được trình bày sau đây sẽ giúp cho các bạn một cái khung để xây dựng và vun đấp thêm.  1. Thoải mái!  Chúng ta chỉ ở giữa cái gọi là “mô thức” (paradigm) và cách mạng mà thôi. Phần lớn những lo lắng, phiền muộn gắn liền với việc nghiên cứu khoa học ngày nay đã được Thomas Kuhn giải tỏa từ lâu lắm rồi. Đại đa số các nhà khoa học ngày nay chỉ làm nghiên cứu khoa học bình thường, làm khoa học trong mô thức, chẳng hạn như phân tích các phân tử trong nước. Những tiến bộ thực sự phải chờ đến một cuộc thay đổi về mô thức và chỉ xảy ra trong tương lai.  Do vậy, các bạn nên thoải mái, vì những nghiên cứu của các bạn sẽ chẳng có tác dụng gì lâu dài cả. Dĩ nhiên, có người có thể sẽ tham gia vào việc làm thay đổi mô thức, và chẳng ai có thể ngăn cản họ. Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học khác cần nhận thức rằng việc làm sáng tỏ mô thức đương đại là cần thiết cho những cuộc cách mạng khoa học trong tương lai. Thử tưởng tượng xem: muốn đưa ra những cống hiến cơ bản làm thay đổi lối suy nghĩ của mọi người, làm cho mọi người phải xem xét lại những giả định mà họ dùng trong nghiên cứu hàng ngày thì nó khó biết là dường nào. Chẳng phải là một việc đội đá vá trời ư!  2. Chiến lược để trở thành nổi tiếng. Một khi đã có một thái độ thoải mái về tầm quan trọng của nghiên cứu của chính mình, các bạn sẽ cảm thấy rất dễ dàng tập trung vào công việc của một nhà khoa học. Trong chiều hướng này, trở thành nổi tiếng là một ưu tiên thứ hai. Khổ một nỗi là rất nhiều người trong các bạn quá coi thường việc trở thành nổi tiếng, nhất là trong lĩnh vực xin tài trợ và … đi du lịch. Nhưng để trở nên nổi tiếng là một việc làm dễ hơn nhiều người tưởng. Có nhiều lựa chọn lắm. Một trong những cách chắc ăn nhất và nhanh chóng nhất để trở nên nổi tiếng là làm việc với những người đã nổi tiếng. Điều này sẽ bảo đảm thanh danh hạng hai, rất cần thiết để tự mình xây dựng sự nghiệp và tên tuổi của chính mình.  Một cách khác để trở thành nổi tiếng là đứng ra tổ chức một hội thảo về một đề tài “nóng” nào đó và mời tất cả những người nổi tiếng trong lĩnh vực đó, kể cả người mà bạn đang làm chung, tham gia. Rồi liệt kê tên mình trong danh sách của chương trình hội nghị. Kĩ thuật này có hiệu quả diệu kì, và đã là con đường đưa vô số các nhà khoa học vô danh trở nên nổi tiếng trong một thời gian rất ngắn.  Một cách có hiệu quả khác là công bố những bài báo hay những bài tóm lược (abstract) mỗi tuần trong lĩnh vực mà các bạn chọn. Phương pháp này cần chút nỗ lực nhưng nếu thực thi cẩn thận (kèm theo những chỉ dẫn dưới đây) sẽ đem lại kết quả rất mĩ mãn.  3. Công bố những bài báo thường xuyên dưới dạng tóm lược. Các nhà khoa học hiện đại không có thì giờ để đọc hết tài liệu chuyên môn. Như nói trên, phần lớn nghiên cứu không có ảnh hưởng gì lâu dài, và cũng chẳng có bao nhiêu người chú ý. Thành ra, việc đọc tài liệu chuyên môn là một sự phung phí thời gian! Do đó, cần phải lợi dụng vào một thực tế là các bạn chỉ có thể ảnh hưởng các đồng nghiệp qua các công trình nghiên cứu của các bạn qua … tên tuổi. Lenin từng nói một lời nói dối được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành chân lí. Áp dụng nguyên lí đó, các nhà quảng cáo hay lặp đi lặp lại những gì đơn giản, dễ hiểu, và phương pháp này cũng rất có hiệu quả trong khoa học. Tên tuổi các bạn càng hiện ra trên mặt giấy càng nhiều, mức độ ảnh hưởng của các bạn càng cao và càng nổi tiếng.  Cố nhiên, việc chọn lựa phương tiện cũng rất quan trọng; nói chung, các bạn nên công bố càng thường xuyên càng tốt trên các báo chí và tạp chí khoa học phổ thông, nhưng các tập san khoa học cũng có thể dùng đến. Các bạn nên cố gắng công bố khoảng một trang cho mỗi tuần, và tên bạn nên xuất hiện tác giả đầu hay tác giả sau cùng. Càng nhiều đồng tác giả càng tốt, bởi vì ai cũng biết chỉ có tác giả sau cùng mới thật sự là người điều hành mọi chuyện, và nó cũng cho thấy bạn chắc phải là người đã có tiếng tăm nên mới có nhiều nhà khoa học làm việc cho bạn như thế.  Một số người sẽ cãi lại rằng mỗi bài báo nên chứa những thông tin mới, nhưng những người này không biết đến những bài học từ Đại lộ Madison. Trong thực tế, khi các bạn càng nói nhiều về một điều nào đó, thì người ta càng nhớ đến tên tuổi của các bạn. Một khi các bạn công bố một dữ kiện nhiều lần, và mỗi lần với vài thay đổi nho nhỏ, bạn sẽ càng có thêm uy tín trong đồng nghiệp và trong tâm trí của chính bạn. Thêm nữa, ngay cả lĩnh vực chuyên môn mà bạn làm việc từng bị xem là ngành hẹp hay thiếu hấp dẫn, cũng có thể trở nên quan trọng khi mỗi lần chúng xuất hiện trên giấy in.  Dĩ nhiên, hình thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành công. Công bố những bài tóm lược (abstracts) có nhiều lợi điểm mà người ta thường hay không để ý đến. Thứ nhất, nó cho bạn cơ hội đi du lịch. Thứ hai, bài tóm lược ít khi nào được bình duyệt (và các bạn đã quá biết những câu chuyện khủng khiếp về việc bình duyệt bài báo khoa học. Những kẻ bất tài ganh tị bạn không cho bạn công bố công trình tuyệt vời mà bạn theo đuổi cả … vài tháng). Thứ ba, và quan trọng nhất, những bài tóm lược cung cấp một tài liệu để các bạn có thể đề cập đến sau này, và nếu những dữ kiện trong bài tóm lược đúng thì bạn sẽ có tiếng, còn sai thì bạn chẳng cần phải đề cập đến nó. Cả hai trường hợp đều rất tiện lợi. Bài tóm lược cũng làm cho lí lịch khoa học các bạn dày hơn và oai hơn, vì có nhiều người không phân biệt được abstract và paper.  Trong vài trường hợp, nhất là một khi bạn đã có kinh nghiệm, bạn có thể công bố nhiều bài tóm lược cùng một lúc, mỗi bài viết về cùng một vấn đề với vài thay đổi nhỏ về chi tiết. Một số hiệp hội khoa học chỉ cho phép mỗi tác giả đệ trình một bài tóm lược, nhưng giới hạn này cũng rất dễ vượt qua. Phần lớn các nhà khoa học nhận thức rằng nghiên cứu sinh, cộng sự viên đều có thể trở thành tác giả, nhưng ít ai để ý đến các nhân viên hành chính, những người sẽ hoàn toàn vui vẻ để có tên xuất hiện trên báo! Với một kế hoạch soạn sẵn, bạn có thể có nhiều abstracts cùng công bố một lượt, một abstract với tên bạn đứng đầu, còn lại thì tên bạn đứng sau cùng. Có một huyền thoại rất nổi tiếng về một nhà khoa học nọ có tên trong tất cả các abstracts trong một buổi hội thảo! Bạn vẫn có thể làm nên huyền thoại đó.  4. Công bố những gì không thể phản biện hay phản nghiệm được. Nhiều nhà khoa học trẻ hiểu lầm rằng nên công bố các bài báo với những phân tích cẩn thận, và suy nghĩ sâu xa. Không hẳn thế: bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng cách công bố những kết quả chẳng có ý nghĩa gì cả. Rất ít người đọc báo cáo khoa học. Thành ra, không nên tốn thì giờ vô ích để phân tích kết quả. Quan trọng hơn, nên tập trung vào kết quả mà bạn ghi nhận được, với vài khác biệt về phương pháp so với các công trình trước, thì sự khác biệt về kết quả đều có thể giải thích được, nếu cần. Bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy lỗi lầm, nhất là bạn không thèm bàn luận đến ý nghĩa và tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu.  Một cách đơn giản nhất để tránh khỏi những phiền phức, xấu hổ, là chỉ công bố những kĩ thuật được cải tiến. Công bố những phương pháp mới ít khi nào dẫn đến những tranh cãi mang tính lí thuyết với đồng nghiệp mà vẫn cho phép một thảo luận hào hứng về độ pH. Tốt hơn nữa, phát triển một reagent mà đồng nghiệp có thể sử dụng được và phân phối cho các đồng nghiệp khác với một yêu cầu khiêm tốn là cho tên bạn vào các bài báo nào dùng đến cái reagent. Với phương pháp này, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy bản lí lịch của bạn sẽ kéo dài ra một cách đáng kể hồi nào mà bạn không hay! Nếu vì một lí do nào đó, bạn cần phải thảo luận hay suy luận về kết quả nghiên cứu trên mặt báo, thì bạn cần phải giới hạn những suy luận về những ý tưởng mà sẽ chẳng thể nào thử nghiệm trong khi bạn còn sống.  5. Trình bày công trình nghiên cứu trong mọi diễn đàn. Một trong những lợi ích của việc làm khoa học là cơ hội đi du lịch. Dĩ nhiên, càng có tiếng, cơ hội càng nhiều. Tương tự, càng xuất hiện trong công chúng càng nhiều, bạn càng dễ trở nên nổi tiếng. Thêm vào đó, phần lớn hội nghị cho bạn cơ hội để công bố ít nhất là một abstract. Khi trình bày abstract, cần chú ý đến những hình ảnh (slides) hấp dẫn, nhưng không quá chú ý đến phần chi tiết. Một lời khuyên quan trọng: bỏ đi những thông tin thống kê, đặc biệt là biểu đồ, bởi vì chúng thường làm cho người xem bị cuốn hút khỏi cái điểm chính của slide. Trái lại với trường hợp công bố bài báo trên tạp chí, trong các hội nghị, bạn cứ tự do suy luận. Thực ra, không cần phải để cho dữ kiện gò bó bạn. Nên nhớ rằng ảnh hưởng của bạn sẽ lớn hơn nếu bạn tuyên bố những kết luận vượt ra giới hạn của kết quả nghiên cứu. Nếu có ai chất vấn một cách nghiêm túc những phát biểu của bạn, thì bạn có thể tránh phiền hà bằng cách nói rằng đối phương chưa dùng đúng đúng độ pH.  Trình bày kết quả nghiên cứu trong các hội nghi khoa học là một điều cần nhưng chưa đủ để thành công. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Khi bạn được mời tham dự một hội nghị, nhớ ghi xuống ai mời bạn, để sau này khi bạn tổ chức hội nghị bạn mời lại họ. Sau nhiều lần như thế bạn sẽ thấy tổ chức một hội nghị sẽ rất dễ dàng, và bạn sẽ đi dự nhiều hội nghị như thế. Và nếu bạn đã thành công, bạn có thể nghĩ đến việc thành lập một hiệp hội gồm những người cùng cảnh ngộ hay hoạt động trong cùng một ngành nghiên cứu.  6. Viết đơn xin tài trợ cho những công trình mình đã làm xong. Thực ra, điều này không cần nói thì ai cũng biết. Có ai lại cho chúng ta tiền nếu chúng ta chưa chứng minh đã/sẽ làm được. Nhưng rất tiếc là vẫn còn nhiều nhà khoa học trẻ chưa nắm vững vấn đề, nên dám viết đơn đề nghị làm những nghiên cứu mà họ chưa từng làm. Phần đông những người duyệt đơn xin tài trợ loại bỏ những đơn đề nghị những ý tưởng mới, những công trình nghiên cứu táo bạo, họ chỉ thích yểm trợ những công trình nào mà họ nghĩ là chắc chắn sẽ thực hiện được.  Đương nhiên, trong bối cảnh như thế, bạn cần phải cẩn thận trong vấn đề thời điểm công bố những bài báo khoa học của mình sao cho những bài báo này chưa in khi đơn xin tài trợ đang được cứu xét. Những nhà khoa học loại “nai tơ” có thể sẽ lâm vào tình thế là không có khả năng làm thí nghiệm trước khi nộp đơn xin tài trợ. Cách hay nhất để giải quyết vấn đề này là để nghị công trình nghiên cứu tương tự như những gì mà mình đang làm với một nhân vật nổi tiếng nào đó. Nếu cách này không khả dĩ, thì bắt buộc bạn phải đưa ra những đề nghị mới. Nếu như thế, nhớ làm cho công trình nghiên cứu khác đi một chút so với công trình mà người khác đã làm trước đây. Điều này làm cho những người duyệt đơn nghĩ rằng công trình nghiên cứu của bạn nằm trong đường hướng nghiên cứu đương đại.  7. Không nên phí phạm thì giờ cho giảng dạy. Nên nhớ rằng mục tiêu tối hậu của bạn là thành công trên trường nghiên cứu khoa học. Dù một số giảng dạy có thể đem lại vài lợi ích, nhất là bạn có cơ hội tiếp xúc và có thể thu nhận những học sinh có khả năng làm việc cho bạn (và là nguồn tác giả cho các bài báo sau này), nhưng giảng dạy là một khía cạnh chiếm nhiều thì giờ. Chẳng ai đề bạt bạn lên chức danh giáo sư vì thành tích giảng dạy, vì thế đừng phí thì giờ với đám sinh viên gà mờ!  Có thể cấp trên sẽ làm áp lực bạn để bạn phải nhận lãnh trách nhiệm giảng dạy, nhất là trước khi bạn được vào biên chế chính thức, nhưng áp lực này có thể hóa giải một cách dễ dàng. Chẳng hạn như luôn luôn trình bày các công trình nghiên cứu của bạn một cách mà không đám sinh viên nào có thể hiểu được. Trong các khoa y, đây là một thói quen mà giới khoa bảng bên y đã dùng và khá thành công. Bác sĩ đang làm nghiên cứu sinh thì làm gì hiểu được các vấn đề chuyên sâu, nên các giáo sư y khoa tha hồ nói mà chính họ cũng chẳng biết họ nói cái gì!  Một cách khác cũng có hiệu quả là cung cấp những chi tiết về phương pháp mà bạn sử dụng trong phòng thí nghiệm, đặc biệt nhấn mạnh đến mức độ pH. Thông thường, nghiên cứu sinh bị dội một lượng bom thông tin rất nhiều, nên họ không có khả năng và thì giờ suy nghĩ để đặt những câu hỏi thông minh. Cái lợi điểm của cách này rất hiển nhiên: dần dần bạn sẽ thấy giảng dạy không tốn thì giờ nhiều, và trong khi đó bạn có thì giờ viết abstracts cho các hội nghị chuyên môn!  8. Thương mại hóa. Có tiếng tăm là một điều tốt, nhưng càng thoải mái hơn nếu tiếng tăm được kèm theo tài chính. Vai trò truyền thống của nhà khoa học không hẳn là hấp dẫn so với các ngành nghề khác. Nhưng tình trạng này đang thay đổi nhanh chóng. Một trong những lựa chọn hấp dẫn với khoa học hiện nay là khả năng ứng dụng và thương mại hóa những công trình nghiên cứu của giới khoa học. Nhiều nhà khoa học phát hiện rằng thành lập những công ti để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình cũng đem lại nhiều lợi ích tài chính. Cái “đẹp” của hệ thống này là không có một sự rủi ro nào cả. Nếu ứng dụng vào thương trường mà không đem lại lợi tức, thì bạn vẫn có thể xin tài trợ thêm để nghiên cứu tiếp. Còn nếu công trình nghiên cứu của bạn thương mại hóa thành công, đem lại lời cho công ti, thì bạn vẫn có thể dùng các chức vụ khoa bảng của mình, dùng quan hệ chuyên môn trong ngành của mình để nắm vững thông tin về các đề tài khoa học “nóng” và đem những thông tin này cho công ti của mình. Do đó, thương mại hóa đem lại khá nhiều lợi ích về tinh thần lẫn vật chất.  Tóm lại, tuân thủ theo những nguyên lí trên đây sẽ không chắc chắn đem lại thành công, nhưng kinh nghiệm của nhiều nhà khoa học trong quá khứ rất nhất quán với giả thiết rằng các chỉ dẫn trên đây rất thực tế (p nhỏ hơn 0.05 dùng cách thử nghiệm Wilcoxon X-test với pH 5.5) và có thể nâng cao cơ hội bạn được kính trọng trong đồng nghiệp, giàu có, và sau cùng là được biết đến như là một nhà khoa học thành công. Nếu không hiệu quả như mong muốn, thì các chỉ dẫn trên đây cũng tối thiểu bảo vệ bạn không phải xa rời hay sa ngã quá xa những biên giới của khoa học bình thường, những lằn ranh mà bạn có thể bị chụp mũ là những người gây rối hay những con cừu đen.  Người dịch: Nguyễn Văn Tuấn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm gì để Giải thưởng Tạ Quang Bửu ngày một uy tín hơn?      Điều lệ của Giải thưởng Tạ Quang Bửu khuyến khích các cá nhân và tổ chức KH&CN đề cử và tự đề cử hồ sơ để xét duyệt giải thưởng. Tuy nhiên theo tôi, để mở rộng thêm nữa cơ hội có nhiều ứng cử viên tốt, cần các thành viên Hội đồng khoa học các ngành – nơi đánh giá nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản và có điều kiện bao quát rộng các nghiên cứu trong ngành – cũng tham gia gợi ý nhà khoa học nộp hồ sơ.      GS. Le Dr Pham Duc Chinh lors de la cérémonie de remise des prix Ta Quang Buu 2019. Photo : Hoang Nam.  Besoin de rassembler plus de bons projets  Trước hết tôi thấy là trải qua tám năm xét chọn các hồ sơ đề cử các nhà khoa học có công trình xuất sắc, đến nay Giải thưởng Tạ Quang Bửu bắt đầu có được ảnh hưởng trong cộng đồng khoa học Việt Nam bởi thường quy tụ những hồ sơ thuyết phục. Đó là một điểm mừng cho giải thưởng khoa học ở quốc gia còn mới hội nhập quốc tế như Việt Nam. Tuy nhiên, tôi thấy có một thực tế là không phải năm nào ban tổ chức giải thưởng cũng thu hút được đầy đủ các công trình tốt của từng ngành khoa học bởi ngoài các hồ sơ gửi tới dự giải, vẫn còn một số công trình có thể có chất lượng tốt tại một vài ngành không tham gia. Do đó, có thể xảy ra trường hợp là ngay cả những hồ sơ lọt vào chung kết cũng chưa chắc là những công trình tốt nhất của từng ngành trong giai đoạn đó. Vậy đâu là nguyên nhân? Có thể thấy nhiều người “ngại” đề cử mình, dù rằng họ là những nhà khoa học có uy tín và cũng có một số công trình xuất bản trên các tạp chí uy tín rất khó đăng và rất hiếm hoi đồng nghiệp trong nước làm được điều đó. Tâm lý này không chỉ xuất hiện ở những nhà khoa học đã thành danh mà còn cả một số bạn trẻ, dù mới ở giai đoạn đầu sự nghiệp nhưng đã có được một số kết quả khả quan. Rút cục vì ngại ngần mà trong nhiều năm, cả hai hạng mục của giải thưởng Tạ Quang Bửu là giải chính và giải trẻ cũng vẫn có thể để “lọt lưới” một số công trình đủ khả năng tranh giải. Đây là một điều đáng tiếc cho khoa học Việt Nam khi chưa tôn vinh được đóng góp của họ.  Vậy chúng ta có cách làm mới nào để giảm thiểu trường hợp này? Khi nhìn vào điều lệ giải thưởng Tạ Quang Bửu, chúng ta có thể thấy hiện có hai nguồn đề xuất hồ sơ đề cử, một là cá nhân và hai là các tổ chức KH&CN. Tôi có cảm nhận là một vài năm gần đây, Quỹ NAFOSTED cũng nhận thấy một phần nỗi ngần ngại của cá nhân tự ứng cử nên đã khuyến khích các tổ chức đề cử “hộ” các nhà khoa học vì niềm tự hào của một cơ sở nghiên cứu có nhà khoa học đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu cũng rất lớn không kém gì cá nhân đoạt giải.  Sau một kỳ xét duyệt ít hồ sơ đề cử giải thưởng Tạ Quang Bửu như năm nay, vấn đề cần quy tụ những đề cử xứng đáng với những công trình xuất sắc lên Hội đồng giải thưởng lại càng đặt ra bức thiết. Tôi cho rằng, để làm được điều này, cần xét đến sự tư vấn của các hội đồng khoa học ngành và coi đó là một nguồn cung cấp hồ sơ thứ ba, cùng với hai nguồn tự đề cử và cơ sở nghiên cứu giới thiệu.  Tuy việc khuyến khích cơ sở nghiên cứu, đào tạo đề cử nhà khoa học là một giải pháp khá hay khi giúp giải tỏa tâm lý ngại ngần cho các nhà khoa học nhưng tôi thấy nó cũng không hoàn toàn hợp lý. Bởi vì phần nhiều các tổ chức nghiên cứu hay đào tạo đều là đa ngành nên những người đứng đầu các cơ sở này cũng không nắm chắc được đâu là công trình xuất sắc, xứng đáng đề cử giải thưởng trong một loạt công trình tốt. Phần nhiều, họ chỉ biết là cơ sở của họ có nhà khoa học này hay nhà khoa học kia có năng lực chuyên môn vượt trội thôi, còn lại những thông tin cụ thể về các hướng chuyên ngành hẹp, về giá trị của các công trình xuất bản trên những tạp chí quốc tế thì lại không nắm được một cách tường tận. Mặt khác, nếu để các hội khoa học đề cử cũng hoàn toàn không ổn thỏa bởi khi nhìn vào hoạt động của nhiều hội, tôi thấy thường không có cơ chế để hội có thể xem xét và đánh giá công trình nghiên cứu của các thành viên trực thuộc. Do đó, hội cũng không nắm hết được hết danh mục các bài báo của từng cá nhân để đề cử.  Trong trường hợp này, các hội đồng ngành có thể dựa vào các kết quả nghiệm thu đề tài sau nhiều kỳ phê duyệt nghiệm thu – những bài báo tốt từ các đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ thì hội đồng ngành có thể lưu lại, đến mỗi kỳ xét giải thưởng Tạ Quang Bửu thì chọn lấy vài hồ sơ tốt để gợi ý cho các nhà khoa học có thể tự đề cử với các công trình đó. Mỗi đề cử sẽ liên quan đến một bài báo cụ thể, chẳng hạn bài báo có kết quả hay, xuất bản trên những tạp chí khó đăng và có thời gian xuất bản từ một đến năm năm trước thời điểm xét giải thưởng Tạ Quang Bửu để đón nhận phản hồi, đánh giá của cộng đồng nghiên cứu. Trên cơ sở đó, các hội đồng khoa học ngành có thể gợi ý những người làm có thể viết đề nghị, chọn công trình mình thấy ưng ý nhất để nộp hồ sơ.   Đến đây sẽ có một số ý kiến cho rằng, ở Việt Nam, không chỉ có các công trình do Quỹ NAFOSTED tài trợ mới có những bài báo tốt. Về nguyên tắc, các hội đồng khoa học ở các Quỹ khác cũng có thể gợi ý các nhà khoa học có công trình khoa học xuất sắc nộp hồ sơ ứng cử. Cách làm này có thể giúp mở rộng tầm ảnh hưởng của giải thưởng Tạ Quang Bửu hơn.     PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan (trái) hướng dẫn các học viên nước ngoài tại Trung tâm nghiên cứu HOPE. Nguồn: NVCC.  Mặt khác, chúng ta đồng ý với nhau rằng, nếu có nhiều nguồn đề cử thì ở những lần xét chọn giải thưởng, chúng ta lại có thêm nhiều hồ sơ tốt. Tuy nhiên sự tư vấn đề cử của các hội đồng khoa học ngành cũng chỉ là một trong những nguồn đầu vào cho các hồ sơ đề cử và nguồn bổ sung chứ không phải là nguồn quyết định. Trên thế giới, cũng có những giải thưởng cho khoa học cơ bản là do các hội đồng khoa học, các nhóm khoa học đề cử, chứ không phải tự ứng cử, gần đây giải thưởng VINFuture cũng học tập theo cách làm này và không nhận sự tự đề cử của nhà khoa học.  Dĩ nhiên cũng có người sẽ đặt câu hỏi là vậy những hồ sơ được các hội đồng khoa học chuyên ngành tư vấn đề cử như vậy, hẳn đã “chắc chân” giải thưởng? Tôi cho rằng, dù cách thức đề cử như thế nào thì nó cũng chỉ là giai đoạn đầu tiên còn ở những giai đoạn quan trọng tiếp theo thì chúng ta vẫn cần tôn trọng và làm theo các quy định xét chọn giải thưởng. Ở đây, các hội đồng chỉ biết công trình nào đủ tốt chứ không khẳng định công trình đó là đoạt giải hay không. Sau khi gợi ý đề cử và gửi thư đề nghị các nhà khoa học có công trình xuất sắc làm hồ sơ với thông tin đầy đủ, hội đồng khoa học ngành sẽ cùng ngồi lại tuyển chọn các hồ sơ đề cử từ nhiều nguồn để chọn lấy hồ sơ xuất sắc nhất đề cử lên Hội đồng giải thưởng.  Chọn được “đúng người, đúng giải”  Điều quan trọng nhất của một giải thưởng là chọn được đúng người có thành tích xuất sắc nhất, nổi bật nhất kỳ xét chọn đó để trao. Với giải thưởng Tạ Quang Bửu cũng vậy, công trình đoạt giải phải nổi bật hẳn lên và đáp ứng được các tiêu chí của giải. Điều này phụ thuộc rất lớn vào sự công tâm và khả năng lựa chọn của Hội đồng giải thưởng. Tôi nghĩ rằng, việc tiến hành bỏ phiếu của Hội đồng giải thưởng, vốn gồm nhiều thành viên thuộc các ngành khoa học khác nhau, cả ở Việt Nam lẫn nước ngoài, rất quan trọng để đi đến kết quả cuối cùng.   Tuy nhiên có một thực tại là đôi khi, trong hội đồng này không có đủ chuyên ngành và điều đó có phần gây bất lợi cho những chuyên ngành hẹp, thiếu đại diện trong hội đồng. Do đó có thể là sẽ xảy ra những trường hợp để lỡ cơ hội công nhận công trình nghiên cứu xuất sắc. Vậy có cách nào để giảm thiểu điều đó? Có lẽ, thật khó để đưa ra giải pháp vì một giải thưởng như Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho nhiều  ngành khác nhau và chúng ta cần có một quy chế chung cho tất cả các ngành, vì thế không thể có một quy chế bao quát đầy đủ được. Tôi hi vọng trên đường phát triển thì chúng ta sẽ có những giải pháp cải thiện điều lệ giải thưởng tốt hơn.   Có ý tưởng vài năm một lần mới trao giải thưởng, tôi e rằng nó sẽ trùng lắp với những giải thưởng khác đã có của Việt Nam. Giải thưởng Tạ Quang Bửu có vai trò của mình, nếu áp dụng phương án vài năm trao một lần thì chưa chắc chúng ta có được bài tốt hơn để trao. Mặt khác, chúng ta cũng phải thống nhất với nhau là so với thế giới hay thậm chí châu lục thì trình độ khoa học Việt Nam cũng chỉ vừa phải thôi, ngay cả để vài năm mới xét chọn để chờ chất lượng thật cao thì cũng chưa chắc có.    Nhưng dù cách làm nào, giải pháp nào thì điều quan trọng vẫn là năng lực của Hội đồng giải thưởng, và dù cố gắng khách quan thì hội đồng cũng khó có thể tuyệt đối khách quan được mà vẫn có sự tồn tại của yếu tố chủ quan, vì việc am hiểu sâu về chuyên môn, am hiểu từng lĩnh vực không phải là dễ. Thông thường, người ta chỉ biết được là bài báo được xuất bản trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao hay được trích dẫn nhiều nhưng bản thân việc này cũng có mặt trái của nó bởi nhiều tạp chí có ‘chính sách’ trích dẫn lẫn nhau mang tính liệt kê mà không dựa trên chính chất lượng nghiên cứu, và như thế trích dẫn nhiều không hẳn là dấu hiệu của công trình tốt, xếp hạng tạp chí cũng vậy. Có những tạp chí Q1 mà từ Việt Nam không ai hoặt rất ít ai đăng nổi, dù có thể không đứng những vị trí đầu của một chuyên ngành hẹp nào xếp theo IF và cả H. Đó thường là các tạp chí truyền thống, uy tín bao quát tương đối rộng trong lĩnh vực, nhưng có số lượng công bố hạn chế (chỉ một vài trăm bài/năm). Tuy nhiên có những tạp chí Q1 mà chúng tôi vẫn nói với nhau là “hàng chợ”, đứng ở vị trí cao chuyên ngành hẹp – thậm chí top 1, nhưng đăng tới một vài nghìn bài/năm, và từ Việt Nam người ta có thể đăng cả loạt bài trên đó. Gần đây chúng ta cũng biết xuất hiện cả các tạp chí Q1 là OA và đăng tới cả hàng chục nghìn bài/năm. Do đó, việc đánh giá dựa vào chỉ số trích dẫn hay tạp chí cũng cần phải tùy theo từng ngành và tùy vào những bối cảnh cụ thể của từng ngành. Quỹ NAFOSTED nên có thống kê số bài báo cảm ơn Quỹ trên từng tạp chí cụ thể. Các thống kê đó sẽ giúp thêm cho các đánh giá chuyên môn của các hội đồng.  Tuy nhiên việc khó thì chúng ta vẫn cần phải làm để động viên những người làm khoa học trong nước ở cả hai hạng mục giải chính và trẻ. Do đó, một năm chúng ta lại có một lần xét chọn và trao giải thưởng thì động viên được nhau và chọn được công trình tốt nhất trên nền tảng đó.   Trong điều kiện làm khoa học ở Việt Nam còn khó khăn thì vẫn có những nhà khoa học lớn tuổi năng động và chuyên tâm làm các công trình tốt và những nhà khoa học trẻ trong giai đoạn đầu gặp rất nhiều khó khăn, phải cố gắng mãi mới có thể làm việc được. Tôi biết nhiều anh trong các hội đồng khoa học vẫn còn băn khoăn suy nghĩ về việc làm thế nào có được sự công bằng trong xét chọn giải chính và giải trẻ, trong việc phân định công trình lý thuyết và thực nghiệm. Đây là câu chuyện dài mà chúng ta cần bàn bạc kỹ và xét thấu đáo mọi góc cạnh bởi lý thuyết thì có khả năng bật nhanh hơn thực nghiệm vì thực nghiệm còn phải phụ thuộc vào công nghệ và vào điều kiện phòng thí nghiệm. Ngược lại, lý thuyết thì được xem là thuận lợi hơn nhưng việc đăng bài ở các tạp chí tốt của chuyên ngành lại rất khó, vì không có được lợi thế đặc thù Việt Nam như một số lĩnh vực ứng dụng, thực nghiệm …   Và tất cả điều đó cũng là lý do để chúng ta cần suy nghĩ những cách thức và giải pháp tốt để giải thưởng Tạ Quang Bửu ngày một tốt hơn.    Author                Phạm Đức Chính        
__label__tiasang Làm gì để quốc tế hóa tạp chí khoa học Việt Nam?      Mấy năm gần đây, có nhiều người đề cập đến một thực trạng đáng quan tâm là sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Một trong những cách để nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam là “quốc tế hóa” tập san khoa học Việt Nam bằng cách tạo ra những tập san có bình duyệt và dần dần đăng kí với các thư mục quốc tế.    Hầu như ngành khoa học nào ở Việt Nam cũng đều có ít nhất là một tập san. Có ngành như ngành y có khá nhiều tập san. Trường đại học y nào cũng có tạp chí khoa học. Đó là một điều tích cực, vì tập san là tiếng nói của ngành và cũng là nơi chia sẻ ý tưởng. Thế nhưng cái khác giữa tập san khoa học Việt Nam và quốc tế là cơ chế bình duyệt (peer review).  Ngoài một số tập san lâu đời và nghiêm chỉnh, phần lớn các tạp chí khoa học ở Việt Nam không có bình duyệt. Tác giả gửi bài đến, một vài người trong ban biên tập xem qua, và quyết định đăng hay không. Phần lớn là đăng. Chẳng những đăng bài mà còn phải trả nhuận bút cho tác giả. Có lẽ do cách làm như thế nên đại đa số những bài báo trên các tập san này có chất lượng khoa học rất thấp. Có rất nhiều lỗi lầm và sai sót cơ bản trong những bài báo. Cách trình bày hết sức sơ sài và tùy tiện, làm cho người đọc thấy hình như tác giả không tôn trọng độc giả. Trong các tập san y khoa mà tôi xem qua, không có bài nào viết đúng tiếng Anh, dù chỉ là tóm lược(abstract).   Còn các tạp chí khoa học quốc tế thì khác hẳn. Mỗi tập san có ban biên tập với thành viên từ nhiều nước trên thế giới. Bài được gửi đến phải qua 2 hoặc 3 chuyên gia bình duyệt, tái bình duyệt, rồi mới đi đến quyết định đăng hay không. Phần lớn bài báo nộp cho tập san quốc tế bị từ chối. Tạp chí có uy tín càng cao (impact factor cao) thì tỉ lệ tự chối càng cao, có khi lên đến 95-99%. Nếu quyết định đăng (tin mừng!) thì tác giả phải trả chi phí in ấn cho nhà xuất bản. Số tiền này không nhiều, được tính dựa vào số trang giấy. Tính trung bình, mỗi trang tốn khoảng 60 đến 120 USD, tùy theo tác giả muốn in màu hay trắng đen, và tùy vào nhà xuất bản.  Có hàng trăm ngàn tập san khoa học trên thế giới, nhưng chỉ có 16 hay 17 ngàn tập san được “công nhận”, hiểu theo nghĩa có trong danh mục của Thomson ISI (Viện thông tin khoa học). Đây là những tập san uy tín, do các hiệp hội chuyên môn điều hành và quản lí. Điều kiện để được công nhận thì có nhiều và tôi cũng đã bàn trong một bài khác. Đại khái, tập san phải có ban biên tập quốc tế, công trình đăng được trích dẫn trong một thời gian, có tiêu chí khoa học và cơ chế bình duyệt, v.v…   Không một tập san khoa học Việt Nam nào được liệt kê trong danh mục của ISI. Có lẽ tất cả các tập san khoa học đều không đáp ứng được những tiêu chuẩn trên. Đó là một điều đáng buồn. Điều đó cũng giải thích tại sao những công trình khoa học đăng trên tập san Việt Nam chẳng có bao nhiêu người đọc, ngay cả người trong ngành cũng ít đọc và số trích dẫn càng ít hơn. Có không ít người đã đăng bài trên các tập san quốc tế thì xem những tập san Việt Nam là “lá cải”. Thật ra, nhận xét lá cải cũng thiếu công bằng, vì cũng có một số ít bài có nhiều dữ liệu có ích và thú vị, cho dù cách trình bày thì không mấy tốt.   Vì sự lưu hành của các tập san khoa học Việt Nam hạn chế, nên thông tin đến đồng nghiệp cũng hạn chế. Cần nói thêm rằng các tập san Việt Nam không có hệ thống hóa như Pubmed hay ISI. Vì thiếu cơ sở dữ liệu như thế, nên khi nghiên cứu sinh hay nhà nghiên cứu soạn đề cương nghiên cứu, họ rất vất vả để tìm được những công trình cùng đề tài của các tác giả Việt Nam. Đến khi ra hội đồng phản biện thì xảy ra nhiều điều trớ trêu. Khi bị chất vấn tại sao không trích dẫn công trình từ Việt Nam, hay thiếu trích dẫn tác giả X, nhà nghiên cứu chỉ nói vì không biết (hay không tìm ra). Có người dùng qui ước khoa học để nói thẳng rằng họ không trích dẫn các bài trên tập san Việt Nam vì những tập san đó không có “peer review”. Hệ quả là khoa học Việt Nam bị thiệt thòi.  Theo tôi, rất nhiều tập san khoa học Việt Nam thực chất chỉ là những bản tin chuyên ngành, giống như “bulletin” của các trường đại học. Ấy thế mà có qui định tính điểm những bài đăng trên tạp chí Việt Nam tương đương (thậm chí cao hơn) bài đăng trên tập san quốc tế. Thật khó tìm một lí do nào thích hợp cho quan điểm này. Có lẽ qui định về điểm tập san phục vụ cho nhu cầu tính điểm để phong hàm giáo sư, chứ không phải vì mục tiêu khoa học.  Vấn đề đặt ra là phải làm gì để tập san khoa học Việt Nam có mặt trên trường quốc tế? Tôi đã từng bàn đến câu hỏi này và cũng có vài đề nghị. Nói ngắn gọn, tôi đề nghị (chỉ giới hạn trong ngành y) theo một lộ trình như sau:  1.  Hội y học thống nhất lập ra một tập san y học mới. Có thể lấy tên là Journal of the Vietnamese Medical Association, hay Vietnamese Journal of Medical Science (VJMS). Tập san sẽ có ban biên tập mới, với thành viên từ Việt Nam là chính, và phải hơn 1/3 là các nhà khoa học nước ngoài. Những người này dĩ nhiên là phải có thành tích khoa học (track record) tốt và có tên tuổi trên trường quốc tế. Không khó mời các thành viên như thế, nếu chúng ta làm nghiêm túc và có tiêu chí nghiêm chỉnh.  2.  Tập san sẽ nhận công bố nghiên cứu chủ yếu từ Việt Nam, nhưng cũng mở cho tất cả các nhà nghiên cứu trên thế giới. Tiêu chuẩn quan trọng nhất của một tập san quốc tế là phải có những bài báo từ đồng nghiệp quốc tế. Do đó, bước đầu tập san sẽ mời các chuyên gia trong ban biên tập viết các bài bình luận (review) như là một đóng góp. Khi thấy có chuyên gia tên tuổi đóng góp bài vở, người ta sẽ dần dần tham gia đóng góp bài vở cho tập san.  3.  Tập san nên dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính, nhưng phần tóm lược thì viết bằng tiếng Việt. Tiếng Anh là ngôn ngữ khoa học quốc tế, cho nên tôi nghĩ dùng tiếng Anh làm phương tiện truyền thông khoa học cũng chẳng có gì quá đáng. Những nước Bắc Âu và vài nước Á châu (như Nhật và Hàn Quốc, và mới nhất là Trung Quốc) vẫn dùng tiếng Anh trong các tập san khoa học của họ.  4.  Tập san nên có cơ chế bình duyệt y như những tập san khoa học quốc tế. Cơ chế bình duyệt là tiêu chuẩn không thể thiếu được cho một tập san khoa học. Dù bình duyệt không phải là cơ chế hoàn hảo, nhưng so với các cách làm khác thì đó vẫn là cơ chế tốt nhất.  5.  Hai năm sau khi tập san đi vào hoạt động và hi vọng có trích dẫn, chúng ta sẽ nộp hồ sơ và đơn đề nghị ISI cho vào thư mục tập san khoa học. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi trong thời còn phục vụ trong một tập san y học bên Mĩ, chúng ta cần ít nhất là 2 năm hoạt động có hiệu quả, tức công bố những công trình nghiên cứu tốt, có sự hiện diện của các chuyên gia tầm cỡ quốc tế, thì mới đưa một tập san được cộng đồng khoa học quốc tế “công nhận”.   6. Bộ KH&CN cần phải có một cơ sở dữ liệu quốc gia, liệt kê tất cả những bài báo khoa học đã công bố trên các tập san khoa học Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ 20, hay thậm chí thế kỉ 19 (nếu có). Giới khoa học Việt Nam rất cần cơ sở dữ liệu này cho nghiên cứu. Ở Mĩ và các nước lân cận người ta đã có những cơ sở dữ liệu như thế, và đã giúp rất nhiều cho giới nghiên cứu và sinh viên.   Các nước trong vùng có sự hiện diện trên trường khoa học quốc tế cao hơn Việt Nam. Một trong những lí do là họ đã thành công đưa tập san khoa học của họ vào thư mục ISI bằng lộ trình tôi vừa trình bày trên. Không có lí do gì một Việt Nam có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước mà không lập được một tập san khoa học quốc tế.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn      Việt Nam hiện có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức chỉ khoảng 2.000 kết quả có tiềm năng ứng dụng thực tế.    Thực trạng kết quả nghiên cứu tại Việt Nam  Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại các kỳ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X “phát triển thị trường Khoa học và công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm khoa học và công nghệ (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển ) trở thành hàng hóa.   Để thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn luật, nghị định. Điều này có tác động tích cực nhất định đối với việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam. Một số viện nghiên cứu và phát triển đã thành công trong chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.  Xét số nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp hàng năm, các tổ chức nghiên cứu trong nước thực hiện khoảng 2.000 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đóng góp kết quả vào nguồn tài sản trí tuệ có thể khai thác thương mại phục vụ phát triển sản xuất.  Theo nguồn thông tin chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, riêng số lượng các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tại các trường đại học, mỗi năm, khối các trường đại học đào tạo khoảng 15.000 thạc sĩ, 1.000 tiến sĩ. Nếu coi mỗi luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ là một kết quả nghiên cứu, thì hàng năm khối các trường đại học đóng góp vào kho kết quả nghiên cứu khoảng 16.000 kết quả.  Đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc nước ngoài được các tổ chức, cá nhân đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia, tính đến tháng 10 năm ngoái, đơn vị này đã cấp khoảng 12.000 văn bằng bảo hộ.  Đối với kho tài sản trí tuệ mở của thế giới, hiện Cục Sở hữu trí tuệ đang lưu trữ gần 30 triệu bản mô tả sáng chế (tương ứng 30% số sáng chế lưu giữ tại WIPO đang lưu giữ tại NOIP), trong đó có 31.500 bản đã được dịch ra tiếng Việt sẵn sàng cho tra cứu khai thác. Đây là nguồn tài sản trí tuệ rất lớn đóng góp vào nguồn các kết quả nghiên cứu, sáng chế phục vụ cho khai thác thương mại, phát triển sản xuất ở nước ta.  Ngoài các nguồn trên, một nguồn khá lớn các kết quả nghiên cứu, giải pháp hữu ích đến từ các nhóm đơn lẻ, các cá nhân, thường được biết đến với cái tên “sáng chế nông dân”. Những kết quả nghiên cứu này đến từ quá trình tìm tòi, sáng tạo của người lao động nhằm giải quyết các vấn đề kĩ thuật liên quan đến lao động sản xuất của họ. Nhiều kết quả nghiên cứu loại này có tiềm năng ứng dụng lớn vì nó xuất phát từ bài toán thực tiễn sản xuất. Theo ước tính sơ bộ, các nghiên cứu loại này mỗi năm có hàng nghìn kết quả.  Như vậy, xét về số lượng, có thể thấy, hiện chúng ta đang sở hữu một kho kết quả nghiên cứu, sáng chế rất lớn. Ước tính, hàng năm các tổ chức cá nhân trong nước đóng góp thêm vào kho tài sản trí tuệ khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, sáng chế.  Tuy nhiên, hướng nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu theo tiêu chí ứng dụng vào khu vực doanh nghiệp sản xuất là điều cần phải quan tâm. Hiện Việt Nam có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức là chỉ khoảng 2.000 kết quả là có tiềm năng ứng dụng thực tế, số còn lại là các nghiên cứu không phải nghiên cứu ứng dụng, hoặc những nghiên cứu chưa thiết thực với thực tế sản xuất trong nước.  Ngoài ra, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các tổ chức khoa học và công nghệ vào doanh nghiệp còn rất hạn chế.  Theo kết quả của một cuộc điều tra về thị trường công nghệ, trên 50% số doanh nghiệp trả lời có quá ít các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước cung cấp công nghệ cho thị trường và nếu có thì thường chỉ là các công nghệ nhỏ lẻ, ít tạo thành các dây chuyền công nghệ đồng bộ, đủ sức tạo ra sản phẩm hàng hóa cạnh tranh với nước ngoài.  Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước thường nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và vận dụng vào Việt Nam, ít công trình sáng tạo. Ngay cả những đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, số kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện cấp bằng bảo hộ trí tuệ không nhiều.  Theo thống kê, mỗi năm số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng thực hiện thành công chỉ khoảng 20 – 30 hợp đồng. Nếu kể cả các khai thác theo thỏa thuận giữa các nhóm nghiên cứu với các doanh nghiệp không qua các hợp đồng chuyển nhượng, con số khai thác thành công các kết quả nghiên cứu cũng chỉ tính theo đơn vị hàng trăm.  So với con số tiềm năng khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, 13.000 nhu cầu đổi mới công nghệ mỗi năm, có thể thấy việc khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, sáng chế trong nước là quá nhỏ so với tiềm năng.  Thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên thế giới    Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chình quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.   Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Mỹ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Ví dụ, để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Mỹ ban hành Luật Bayh-Dole. Từ khi đạo luật này ra đời, các trường đại học của Mỹ đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ.   Theo các nhà nghiên cứu, cứ một đô la đầu tư vào tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, trường đại học nhận được trên 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ chuyển giao công nghệ. Hiện Mỹ có hơn 200 trường đại học hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong trường. Ngoài ra, chính quyền liên bang còn rất chú trọng trong việc kết nối các doanh nghiệp với các trường đại học. Mối liên kết này được thực hiện qua việc đầu tư một phần của doanh nghiệp vào hoạt động của các trung tâm nghiên cứu tại trường Đại học. Về phần mình, trường Đại học chịu áp lực từ hội đồng khoa học Quốc gia, chủ động kết nối với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu – triển khai. Đây là điểm thể hiện mối liên kết bền chặt giữa Nhà nước – trường đại học và doanh nghiệp Hoa Kỳ.  Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được chú trọng ở nhiều nước châu Á. Đầu năm 2000, Hàn Quốc ban hành Luật Thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa công nghệ được tạo ra từ các tổ chức khoa học và công nghệ. Thông qua các biện pháp miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, Hàn Quốc hỗ trợ thành lập các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ như Trung tâm Chuyển giao công nghệ quốc gia, các văn phòng chuyển giao công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập.  Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Malaysia đã xây dựng Chương trình hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Chương trình tài trợ một phần kinh phí thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển trong nước.  Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện những biện pháp mạnh để thúc đẩy tiến trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trung Quốc thực hiện một số biện pháp cải cách hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ. Hiện nhiều viện nghiên cứu truyền thống buộc phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng dành một khoản ngân sách đáng kể để khuyến khích và hỗ trợ các viện nghiên cứu tiến hành thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình và đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sáng chế.  Chính sách của các nước góp phần quan trọng gia tăng tốc độ giao dịch mua bán công nghệ (bao gồm kết quả nghiên cứu và phát triển). Ở một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia, tăng trưởng về giao dịch mua bán công nghệ đang diễn ra với tốc độ cao.  Đặc biệt, giao dịch mua bán công nghệ trên thị trường Trung Quốc trong hơn 20 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng trên hai lần so với tăng trưởng GDP. So với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, ở các nước như Trung Quốc, Malaysia và nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, sự can thiệp của nhà nước trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học mạnh hơn.  —    * Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ    Author                Quản trị        
__label__tiasang Làm thế nào để đánh giá hiệu suất làm việc của nhà khoa học?      Việc xuất bản công trình trên các tạp chí có  IF cao không phải là điều kiện tiên quyết đảm bảo công trình nghiên cứu  có chất lượng cao, bởi thực tế cho thấy nhiều công trình nghiên cứu  đăng ở các tạp chí có hệ số IF thấp nhưng lại được những chuyên gia  trong lĩnh vực đó đánh giá cao.    Ở Việt Nam, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) được coi là một đột phá trong quản lý khoa học theo chuẩn mực quốc tế nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và thúc đẩy công bố quốc tế trong nước. Một trong những tiêu chuẩn được Quỹ NAFOSTED xét tài trợ là công trình nghiên cứu cần được xuất bản trên các tạp chí ISI, kèm theo nó là thước đo về IF. Chính tiêu chí này đã góp phần đáng kể vào sự thành công trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản với số lượng 721 công trình đăng trên tạp chí ISI. Nhưng việc xuất bản công trình trên các tạp chí có IF cao không phải là điều kiện tiên quyết đảm bảo công trình nghiên cứu có chất lượng cao, bởi thực tế cho thấy nhiều công trình nghiên cứu đăng ở các tạp chí có hệ số IF thấp nhưng lại được những chuyên gia trong lĩnh vực đó đánh giá cao.  Việc lạm dụng chỉ số IF để đánh giá nhà nghiên cứu cũng dẫn đến một số hệ lụy nguy hiểm, chẳng hạn như thúc đẩy những nỗ lực không lành mạnh từ các nhà nghiên cứu, như ngụy tạo kết quả nghiên cứu hoặc đạo văn, nhằm để công bố trên các tạp chí có chỉ số IF cao bằng mọi giá. Cách đây đúng một năm, ThS. Lê Đức Thông và cộng sự đã bị buộc rút lại một loạt các bài báo trên các tập san như Natural, Sciene, Journal of Modern Physics, Physics Letters B, EuroPhysics Letters, Progress of Theoretical Physics bởi nguyên nhân này. Rõ ràng, việc chạy theo tạp chí IF cao với hành trang đạo đức lỏng lẻo là mầm mống cho gian dối trong khoa học có cơ hội phát triển.  Ở một góc nhìn khác, trong việc xét phong chức danh nhà nước (GS và PGS) chỉ có hai loại tạp chí được tính điểm là “tạp chí trong nước” và “tạp chí quốc tế”. Ai cũng biết, tạp chí quốc tế có đủ loại thượng vàng hạ cám, một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí dù có IF cao không đảm bảo rằng nó có chất lượng cao, hoặc một bài viết đăng trên một tạp chí được gọi là “quốc tế” cũng không hề đảm bảo rằng quy trình phản biện đủ chặt chẽ và tạp chí đó có chất lượng học thuật tốt. Còn với những tạp chí trong nước hiện nay, theo nhiều nhà khoa học nên xem xét đưa một số tạp chí đã được quốc tế hóa (như IOP) vào danh mục được tính điểm (có thể tính đến hệ số 0,5), nếu không chất lượng các tạp chí trong nước sẽ ngày càng giảm đi và mục tiêu có được một số tạp chí trong nước nằm trong hệ thống được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận sẽ ngày càng xa vời.   Như vậy, IF không phải là tiêu chí duy nhất quyết định chất lượng nghiên cứu của từng bài báo được đăng trên đó. Chính vì thế, gần đây DORA – một tổ chức về đánh giá nghiên cứu đã thu thập được chữ ký của hơn 3500 cá nhân là các nhà khoa học trên thế giới, cùng với sự ủng hộ của 146 tổ chức, hiệp hội, tạp chí và quỹ khoa học từ nhiều nước trên thế giới, đòi hỏi cần cải thiện tiêu chí đánh giá nhà khoa học.   Hy vọng trong việc triển khai đánh giá xét duyệt hồ sơ tài trợ nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên năm 2013, cơ quan điều hành Quỹ và các Hội đồng khoa học ngành sẽ không quá lệ thuộc vào tên tuổi của các tạp chí quốc tế mà sẽ xây dựng bổ sung những tiêu chí đánh giá tập trung vào chất lượng và nội dung công trình nghiên cứu một cách công bằng và toàn diện hơn.                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấy doanh nghiệp làm trung tâm      Trong vài năm qua, Bộ KH&amp;CN và một số Bộ, ngành liên quan đã tích cực chủ động phối hợp để triển khai các nhiệm vụ KH&amp;CN thuộc ba Chương trình quốc gia.       Với chủ trương lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tính đến nay, các Bộ, ngành có liên quan đã xem xét, phê duyệt và bố trí kinh phí cho 58 nhiệm vụ thuộc ba Chương trình quốc gia, trong đó 55 nhiệm vụ đã được ký hợp đồng thực hiện. Trong đó, riêng Chương trình Phát triển sản phẩm quốc gia giai đoạn một (2010 – 2015), một phần ba dự án được phát triển sản phẩm triển khai tốt và được đề nghị tiếp tục thực hiện. Đó là nhiệm vụ KH&CN phục vụ sản xuất vaccine phòng bệnh cho người và vật nuôi; Lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao; Thiết bị siêu trường, siêu trọng (Giàn khoan dầu khí di động, Thiết bị nâng hạ có sức nâng lớn). Còn lại một số dự án phát triển các sản phẩm do không tìm được tổ chức, doanh nghiệp phù hợp, có đủ năng lực để sẵn sàng đầu tư, phát triển sản phẩm quốc gia bảo đảm đáp ứng được chỉ tiêu về giá trị doanh thu từ sản phẩm (2.000 tỷ đồng/năm) nên Ban chỉ đạo chương trình cho dừng thực hiện. Đó là những sản phẩm An ninh mạng, Bảo mật thông tin; Động cơ sử dụng cho phương tiện giao thông vận tải (Động cơ Diesel D4, Động cơ xăng dùng cho ô tô công suất 55-150 mã lực đạt tiêu chuẩn khí thải EURO4); Nấm ăn và nấm dược liệu; Cá da trơn Việt Nam chất lượng cao; Thiết bị vi mạch điện tử.  Một số kết quả   Chương trình Phát triển sản phẩm quốc gia trực tiếp hỗ trợ cho tổ chức, doanh nghiệp ở giai đoạn đầu, giai đoạn nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, hoàn thiện công nghệ và hỗ trợ đến khâu sản xuất thử nghiệm ở lô số 0. Sản phẩm được sản xuất ở quy mô công nghiệp, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, do đó các dự án KH&CN thuộc Chương trình cũng được hưởng ưu đãi lớn hơn những chương trình quốc gia thông thường, ví dụ như hỗ trợ theo dự án được duyệt tối đa đến 50% tổng mức kinh phí đầu tư (không bao gồm giá trị còn lại hoặc chi phí khấu hao trang thiết bị, nhà xưởng đã có vào tổng mức kinh phí đầu tư) thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm phục vụ sản xuất sản phẩm quốc gia vốn cho doanh nghiệp tối đa đến 70% tổng mức kinh phí đầu tư để thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp triển khai trên địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục các tổ chức hành chính thuộc vùng khó khăn và các văn bản sửa đổi, bổ sung). Kinh phí đầu tư của Nhà nước tập trung trong giai đoạn đầu thực hiện dự án, sau đó giảm dần; trong đó, kinh phí đối ứng của tổ chức, doanh nghiệp sẽ tăng dần trong suốt giai đoạn thực hiện dự án vì tổ chức, doanh nghiệp phải đầu tư để sản xuất ra sản phẩm ở quy mô công nghiệp.     Sau hai năm thực hiện, Chương trình đã đạt được một số kết quả cụ thể:    – Triển khai năm nhiệm vụ thuộc ba dự án sản xuất vaccine phòng bệnh cho vật nuôi đối với bệnh lở mồm long móng, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn và bệnh cúm gia cầm A/H5N1; dự kiến sản xuất từ 15 triệu liều vaccine đến 200 triệu liều vaccine cho mỗi loại vaccine trong một năm, đủ cung cấp để phòng các dịch bệnh nêu trên trong toàn quốc. Việc triển khai các dự án này sẽ giúp Việt Nam giảm nhập khẩu (20% đến năm 2017, 50% đến năm 2020), tiến tới chủ động hoàn toàn quy trình sản xuất các loại vaccine này.    – Triển khai thẩm định và phê duyệt tám nhiệm vụ thuộc sáu dự án về sản xuất vaccine đạt tiêu chuẩn WHO ở quy mô công nghiệp và để đối phó với tình hình bệnh dịch có xu hướng bùng phát. Bộ KH&CN, Bộ Y tế đã khẩn trương phối hợp với Bộ Tài chính xem xét ưu tiên cấp kinh phí sớm để nghiên cứu, sản xuất sáu thành phần của vaccine “6 trong 1”, mục tiêu đến năm 2018 có sản phẩm vaccine “6 trong 1” của Việt Nam thay thế vaccine Quinvaxem đang phải nhập khẩu.    – Triển khai dự án “Nghiên cứu hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và chế tạo cầu trục và cổng trục có sức nâng từ 50 tấn đến 1.200 tấn” với dự kiến các sản phẩm gồm cầu trục 1.200 tấn, cầu trục trung gian 250 tấn, cổng trục chân dê 2×130 tấn và bán cổng trục có sức nâng 350 tấn sẽ phục vụ cho việc lắp đặt các thiết bị tại công trình xây dựng nhà máy thủy điện Lai Châu; tổ chức ký hợp đồng thực hiện dự án “Nghiên cứu thiết kế cơ sở, chi tiết, công nghệ chế tạo, tích hợp giàn khoan tự nâng 400ft phù hợp với điều kiện Việt Nam và nghiên cứu phát triển, hoàn cải giàn khoan dầu khí di động có thể tiến hành khoan ở độ sâu mực nước biển 120m (-120m), với tổng giá trị của giàn khoan là 230 triệu USD (tương đương 4.600 tỷ đồng).     Một số khó khăn, tồn tại  Mặc dù có nhiều ưu đãi cho các đơn vị thực hiện dự án nhưng Chương trình Phát triển sản phẩm quốc gia vẫn triển khai chậm so với mục tiêu đề ra. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trước hết là do việc chậm ban hành các văm bản hướng dẫn triển khai chương trình (đặc biệt là văn bản hướng dẫn tài chính thực hiện Chương trình). Ngoài ra tư duy, định hướng triển khai Chương trình theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm còn chuyển biến chậm. Một số cơ quan có liên quan vẫn xem xét, lựa chọn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình (ví dụ: sản phẩm lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao) dưới hình thức các đề tài nghiên cứu và giao cho các Viện, trường thực hiện; chưa quan tâm đến việc đưa các nghiên cứu này vào trong doanh nghiệp, giao doanh nghiệp thực hiện để có được các sản phẩm cuối cùng đưa ra thị trường. Bên cạnh đó, việc yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp phải cam kết vốn đối ứng, cam kết đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại để phục vụ nghiên cứu, sản xuất sản phẩm quốc gia cũng mới được đặt ra (ví dụ đối với một số dự án khoa học và công nghệ của sản phẩm quốc gia vaccine phòng bệnh cho vật nuôi).    Hiện nay, việc đấu thầu mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu từ ngân sách nhà nước phục vụ cho các hoạt động của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc ba Chương trình quốc gia được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26 tháng 02 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây viết tắt là Thông tư 68) và các quy định khác theo Luật đấu thầu. Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp trong việc triển khai các nhiệm vụ KH&CN, gây chậm trễ về tiến độ triển khai nhiệm vụ. Quy trình đấu thầu mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu từ ngân sách nhà nước phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu của nhiệm vụ thường mất từ bốn đến sáu tháng.        Chương trình Phát triển sản phẩm  quốc gia vẫn triển khai chậm so với mục tiêu đề ra, trước hết là do việc  chậm ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai chương trình, tư duy,  định hướng triển khai Chương trình theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung  tâm còn chuyển biến chậm.            Chương trình được Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng một số cơ chế, chính sách ưu đãi “vay tối đa 85% vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và được Chương trình hỗ trợ toàn bộ lãi suất vay trong thời hạn năm năm” để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng, đào tạo, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất thử nghiệm, sản xuất sản phẩm thuộc Chương trình. Tuy nhiên, đến nay, chưa có quy định nào về cơ chế vay vốn ưu đãi đối với các nhiệm vụ thuộc ba Chương trình quốc gia.    Ngoài ra, còn một số nguyên nhân quan trọng khác như: chưa có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng gồm: xây dựng mới trung tâm nghiên cứu triển khai, phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm…; quy định quản lý tài chính chưa phù hợp, nhất là những quy định trong mua sắm thiết bị và vay vốn ưu đãi.   Kiến nghị và giải pháp  Để tiếp tục triển khai đồng bộ và có hiệu quả, bảo đảm tiến độ, mục tiêu của Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia cần thực thi một số giải pháp: Các Bộ, ngành có liên quan (đặc biệt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) cần xem xét, ưu tiên bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thuộc Chương trình trong giai đoạn 2015-2020 trên cơ sở đề xuất của Bộ KH&CN; Cho phép áp dụng thí điểm cơ chế chỉ định thầu đối với các gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm, mua bản quyền sở hữu trí tuệ trong các nhiệm vụ thuộc Chương trình để bảo đảm tiến độ và hiệu quả triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cho đến khi Thông tư thay thế Thông tư số 68/2012/TT-BTC được ban hành; Sớm hướng dẫn cơ chế vay vốn ưu đãi và hỗ trợ toàn bộ lãi suất vay để triển khai thí điểm một số nhiệm vụ thuộc Chương trình trên cơ sở đề nghị của Bộ KH&CN; Xem xét xây dựng cơ chế đặc thù cho các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; Tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị các cấp có thẩm quyền về việc thay thế, bổ sung một số sản phẩm quốc gia mới vào Danh mục để phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay. Ngoài ra, các cơ quan quản lý Chương trình trước hết cần xem xét, lựa chọn dự án thận trọng, ngay từ khâu sàng lọc hồ sơ dự án, tránh sự chồng chéo, trùng lắp với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được triển khai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lấy lại vị thế xứng đáng cho khoa học      Vào tháng 9/2017, Viện trưởng Viện nghiên cứu Vật lý ứng dụng Nizhny Novgorod, Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS), giáo sư Alexander Sergeev (đã chính thức giữ chức Viện trưởng Viện RAS. Tia Sáng lược dịch một bài phỏng vấn giáo sư Alexander Sergeev vào tháng 6/2017 (trên trang web Mk.ru), khi ông còn là ứng cử viên cho cương vị này.      GS Alexander Sergeev, Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS).  Theo ông, nguyên nhân nào khiến chính phủ trong những năm gần đây thiếu quan tâm với khoa học?  Trước đây, chính phủ hết sức tôn trọng các nhà khoa học. Mọi người đều biết rằng, khoa học chính là sức mạnh lớn lao tạo ra động lực phát triển của đất nước, nhất là sau khi các nhà khoa học đã nghiên cứu ra bom nguyên tử, rocket, công nghệ vũ trụ vv… Nhưng giờ thì khoa học không còn giữ được vị thế của mình như trước nữa.  Tại sao? Phải chăng ngày nay đất nước chúng ta không cần các công nghệ cao?  Để giải đáp câu hỏi này, cần phải suy xét rất nhiều yếu tố, phải nhìn nhận thực trạng đó một cách có hệ thống, và trong mối quan hệ với kinh tế xã hội và chính trị.  Trong các động lực của hệ thống xã hội, các yếu tố chủ quan thậm chí còn đóng vai trò lớn hơn và làm tăng thêm tính không thể dự đoán từ đó có thể dẫn đến những thay đổi lớn, đôi khi không như mong đợi. Dường như chúng ta có một chính phủ dân chủ do nhân dân bầu ra, tổng thống, chính phủ, Viện Duma quốc gia, những yếu tố có thể làm cho khoa học và giáo dục thăng tiến hoặc trì trệ. Nó sẽ hoạt động một cách hiệu quả vì lợi ích của xã hội như ở nhiều quốc gia phát triển về dân chủ khác nhưng trong trường hợp này lại không như vậy bởi hệ thống của chúng ta tràn ngập những yếu tố “không thể đoán trước”.  Nếu tiếp tục phân tích tác động của những yếu tố kinh tế vào khoa học, ông nghĩ đồng ruble thích hợp gì cho sự phát triển của chúng ta?  Anh đã đặt một câu hỏi liên quan đến toàn bộ hiện trạng nền khoa học. Vào năm 2013, RAS đã trải qua một cuộc cải cách, dẫn đến nhiều cuộc tranh luận về việc chuyển đổi này với quan điểm không ủng hộ những người cải cách. Và vô tình phát sinh câu hỏi: về tổng thể, chúng ta cần khoa học cơ bản như thế nào? Vì chúng ta biết, đồng ruble yếu thì chúng ta không thể mua được trang thiết bị máy móc hiện đại để phục vụ nền công nghiệp của đất nước. Đồng ruble yếu cũng khiến chảy máu chất xám, đặc biệt là giới trẻ. Đó là tinh hoa của đất nước [trong tương lai].  Số lượng các nhà khoa học Nga được mời tham gia hội nghị quốc tế chính hầu như bằng không. Có rất ít công bố về kết quả thực nghiệm của Nga trên các tạp chí hàng đầu. Kinh phí do Cơ quan Khoa học liên bang Nga (FANO) cấp cho các viện nghiên cứu sụt giảm, thiết bị máy móc ở nhiều viện nghiên cứu đã được dùng suốt 30 năm qua… Tôi có thể trích ra một số trường hợp tiêu biểu, ví dụ như sự khác biệt về kinh phí dành cho khoa học cơ bản của ta và Nhật Bản. Việc so sánh này là hợp lý bởi dân số hai quốc gia tương đương nhau. Hãy nhìn vào RIKEN, một viện nghiên cứu cấp quốc gia – tương tự như trung tâm nghiên cứu hàn lâm chính của chúng ta. Họ có 300 người làm việc, ngân sách 750 triệu đô la mỗi năm, hầu như tương đương với tất cả kinh phí của FANO cho hàng chục ngàn nhà khoa học Nga đang làm việc tại hàng trăm viện nghiên cứu. Lương của các tiến sĩ đất nước mặt trời mọc cao gấp 10 lần chúng ta, và thiết bị dành cho các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản cũng gấp cả trăm lần, tất cả đều từ ngân sách chính phủ. Khoa học cơ bản đang trở nên đắt hơn, chúng ta đang thâm nhập sâu hơn vào các vấn đề của vật chất, nghiên cứu các hiện tượng về những mặt cắt không gian thời gian mới. Chúng ta cần những công cụ và thiết bị mới, để có thể cạnh tranh trong khoa học..  Hãy nhìn vào việc bán dầu mỏ, chúng ta hút dầu lên rồi bán ra nước ngoài, kết quả là thu được nhiều đồng ruble. Từ quan điểm của họ, dù chưa rõ ràng, có thể thấy là tại sao phải bận tâm về phát triển khoa học? Để dò tìm nhiều mỏ dầu hơn ư? Cả thế kỷ qua chúng ta làm chưa đủ sao? Sáng tạo ra những cỗ máy mới để hút dầu ư? Ở đây khoa học cơ bản không cần thiết nữa: các lệnh trừng phạt sẽ làm suy yếu thêm nó. Thi thoảng tôi nghĩ rằng, nhiều người trong đất nước của chúng ta vẫn giữ quan điểm các nhà khoa học là gánh nặng xã hội hơn là một lực lượng sản xuất. Nếu chúng ta tiếp tục đo lường tất cả theo cách này thì trong một thời gian dài nữa vẫn sẽ không có gì thay đổi ở nước Nga.    Tổng thống Nga Putin làm việc với nhà vật lý Mikhail Kovalchuk, Viện trưởng Viện nghiên cứu quốc gia Kurchatov vào ngày 7/12/2015. Ông từng được Putin đề xuất vào vị trí Viện trưởng RAS năm 2008.  Hiện nay, để ứng phó với tình trạng bị quốc tế cấm vận, chính phủ đã quan tâm hơn đến tiềm năng trong khoa học nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng. Đây không phải là vấn đề xăng cho xe nhập khẩu mà là phát triển những vũ khí hiện đại mà không ai muốn bán cho anh. Chúng ta có nhiều tiềm năng nghiên cứu về [khoa học quốc phòng] vẫn còn sót lại từ thời Soviet nhưng nhiều lĩnh vực tiềm năng đã bị khai thác cạn kiệt.  Dẫu sao không phải ở bất cứ chỗ nào khoa học cũng xuống dốc. Vậy ông có thể nói ngày nay lĩnh vực nào có nhiều tiến bộ nhất?  Tôi sẽ nói về vật lý. Nhiều lĩnh vực thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên khắp thế giới hiện nay là các dự án quốc tế như Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC, Trung tâm laser electron tự do tia X châu Âu đặt tại Hamburg (XFEL), dự án lò phản ứng thí nghiệm nhiệt hạch quốc tế ITER (Pháp). Các dự án này đang cùng được xây dựng và hiện tại cung cấp nhiều cơ hội hơn cho các nhà nghiên cứu.    Nước Nga, như tôi biết, đều có đại diện ở tất cả các dự án lớn này.    Nhưng chúng ta phải hiểu rằng chúng ta thường tham gia vào các dự án này không phải trong vai trò dẫn đầu, ngay cả khi chúng ta có những khoản đóng góp đáng kể vào ngân quỹ dự án. Đúng, chúng ta được nêu tên trong các công bố nhưng sẽ sớm bị quên lãng thôi. Điều quan trọng nhất – chúng ta đang đầu tư vào nhiều dự án lớn ở nước ngoài, tạo “cơ hội” chảy máu chất xám khỏi đất nước chúng ta. Đây không phải là câu chuyện về lòng yêu nước mà là sự ưa khám phá đơn thuần của khoa học. Bất kỳ nhà khoa học thực nghiệm nào cũng cần phải tới những phòng thí nghiệm có đủ công cụ làm việc. Anh có biết bao nhiêu nhà khoa học của chúng ta làm việc tại LHC. Bây giờ hãy nói với tôi, nhiều người trong số họ anh đã biết, tham gia vào cuộc khám phá ra hạt Higgs boson?  Và chỉ một vài người biết những gì nhà khoa học Soviet của chúng ta, giám đốc Viện nghiên cứu Chernogolovka, ông Vladislav Ivanovich Pustovoit ngay từ những năm 1960 đã đề xuất một kế hoạch về máy giao thoa kế dò tín hiệu sóng hấp dẫn mà giờ đây được xây dựng ở cỗ máy dò LIGO. Và sau đó từ những năm 1980, chúng ta đã có những ý tưởng tương tự nhưng trong kỷ nguyên hậu Soviet, có một quan điểm phổ biến là ngân sách không có đủ tiền [để đầu tư cho khoa học] nên chúng ta đành hài lòng với việc tham gia vào các dự án nghiên cứu ở nước ngoài. Chúng ta làm việc như thế đến ngày hôm nay, trong đó có dự án LIGO, nơi dò ra được tín hiệu sóng hấp dẫn từ cuộc sáp nhập của các lỗ đen.  Bây giờ chúng ta có thể tự xây dựng các dự án nghiên cứu?  Năm 2011, một Ủy ban của Chính phủ về đổi mới và công nghệ cao, do Putin đứng đầu – khi đó ông ta đang làm Thủ tướng – đã chọn ra sáu siêu dự án (mega-projects) từ 30 dự án thuộc các lĩnh vực mà chúng tôi đang dẫn đầu thế giới. Các dự án này phải trở thành dự án quốc tế, triển khai đến 2020. Một trong những siêu dự án này là tạo ra tia lazer mạnh nhất thế giới. Chúng ta vui mừng về điều đó nhưng cho đến nay dự án vẫn chưa được khởi động… Không có tiền vì dự án cần hàng trăm triệu đô la. Và sau đó, nhiều điều xảy ra: xung đột với Ukraine, giới tinh hoa quan ngại về các lệnh trừng phạt… Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục hy vọng một ngày nào đó có khả năng đổi chiều nạn chảy máu chất xám, sẽ có nhiều nhà nghiên cứu xuất sắc đến với chúng ta hơn là từ bỏ chúng ta.  Vậy có bao nhiêu trong số sáu dự án năm 2011 thành hiện thực?  Dự án thứ nhất do Viện Kurchatov phụ trách vẫn còn chờ nguồn neutron của dự án được khởi động tại Viện nghiên cứu vật lý hạt nhân tại Gatchina (Saint Petersburg) – PEAK. Lò phản ứng này có nhiệm vụ tạo ra nguồn neutron với nhiều đặc tính để thử vật liệu, ví dụ như tìm những thông tin chi tiết về cấu trúc các chất rắn. Nếu bằng bức xạ terahertz, chúng ta có thể tái cấu trúc hình ảnh của vật thể, ví dụ trong vỏ bọc hoặc phía sau tường, với độ phân giải vài milimet hoặc cm, thì bằng neutron có thể nhận được thông tin về cấu trúc bên trong hoặc vật chất với kích thước chính xác đến nanomet. Dưới áp lực của các phong trào “Xanh”, thế giới đã đóng cửa nhiều lò phản ứng, nơi tạo ra các nguồn neutron cho các nhà nghiên cứu, do đó viện Kurchatov của chúng ta có thể trở thành trung tâm dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này.  Ba hành động ưu tiên cứu nền khoa học Nga của Alexander Sergeyev: 1. Viện Hàn lâm và chính quyền cần đạt được sự đồng thuận dựa trên hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiện nay của khoa học Nga, cách thoát khỏi sự khủng hoảng và vai trò của RAS và khoa học cơ bản. Chúng ta chỉ có thể cạnh tranh và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trên thế giới bằng nguồn ngân sách tương xứng được chính phủ liên bang cấp, và đầu tiên là dành cho các thiết bị máy móc cơ bản. Chúng ta đang nói về kinh phí nền tảng cho khoa học cơ bản, kinh phí hỗ trợ [thêm], và tổ chức các dự án quy mô lớn trên mọi lĩnh vực của khoa học. Để vượt qua khủng hoảng, cần thiết thay đổi cách quản lý khoa học hàn lâm và thiết lập ưu tiên trong mối liên kết giữa RAS và FANO trên cơ sở nguyên tắc: các nhà khoa học cần được quản lý bằng khoa học. 2. Hiện nay chúng ta không có cơ hội thực sự để tham gia vào việc xây dựng chính sách KH&CN mặc dù theo luật thì chúng ta có thể. Nhưng chúng ta không được chào đón ở bất cứ nơi nào, dù là Bộ Tài chính hay Bộ Phát triển kinh tế, quyền ưu tiên đã được thiết lập ở mọi nơi và các nhà khoa học không cần phải nêu bất kỳ ý kiến gì. 3. Tái cấu trúc lại RAS. Tôi tin rằng có nhiều người đủ khả năng ứng cử ngôi chủ tịch RAS nhưng chỉ những người làm việc tại RAS sẽ là người đóng vai trò chính. Tổng thống Putin đã chỉ ra một điều hoàn toàn đúng về việc làm cần thiết tại RAS: Chính quyền trả tiền để các nhà nghiên cứu làm việc. Ông ấy đã nói đúng nhưng mặt khác, làm việc gì mà không cần công cụ? Chúng ta đào đất như thế nào nếu không có xẻng?    Dự án thứ hai, do chính phủ hỗ trợ vào năm 2016, máy gia tốc ion nặng ở Viện nghiên cứu liên hợp hạt nhân Dubna – NICA. Nếu dự án đầu tiên có mục tiêu thúc đẩy các hạt proton thì NICA sẽ nghiên cứu các khối vật chất phức tạp hơn. Nhờ đó, chúng ta sẽ có cơ hội quan sát các quá trình hạt nhân hoàn toàn mới.  Là ứng cử viên tiềm năng của chức chủ tịch RAS, ông có thể cho biết phải làm những gì để trao quyền lại cho các nhà khoa học như trước đây và nâng cao trình độ khoa học Nga?  Trong kế hoạch của mình, tôi đã ghi nhiệm vụ đầu tiên là sự nhất trí của RAS và chính phủ về hiện trạng của khoa học. Điều quan trọng là tất cả phải đồng ý với hiện trạng này.    Thanh Nhàn lược dịch  TS. Trần Chí Thành (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: http://www.mk.ru/science/2017/06/20/akademik-ran-sergeev-rasskazal-kak-ostanovit-utechku-mozgov.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang LB Nga: Đổi mới/Sáng tạo là trọng tâm của phát triển      Những năm gần đây, việc thúc đẩy ĐM/ST đã trở  thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển  của LB Nga.    Trong hai thập kỉ vừa  qua, LB Nga đã hoàn tất quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị  trường, và một loạt các chỉ số kinh tế vĩ mô và xã hội hiện nay có thể  so sánh được với các quốc gia của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  (OEDC). Tuy nhiên sự phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của Nga có độ  bền vững kém, năng suất thấp và sử dụng nguồn lực không hiệu quả do  thiếu động lực liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và xã  hội; trong một số lĩnh vực của nền kinh tế, khoảng cách công nghệ so với  với các nước công nghiệp dẫn đầu ngày càng rộng; cấu trúc độc quyền của  nhiều loại sản phẩm trong nước ngăn chặn sự thúc đẩy khả năng cạnh  tranh, là rào cản tinh thần kinh doanh và đổi mới/sáng tạo (ĐM/ST).  Những  thách thức nêu trên cho thấy nhu cầu hiển nhiên về một chính sách ĐM/ST  nhằm củng cố vị thế của quốc gia trong nền kinh tế và tri thức toàn  cầu.   1. Chính sách ĐM/ST của Nga  Những năm gần đây việc thúc đẩy ĐM/ST đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển của LB Nga: Ủy ban phối hợp hoạt động ĐM/STdưới sự chủ trì của Tổng thống và Thủ tướng đã được thành lập, hình thành và đưa vào hoạt động một mạng lưới các tổ chức phát triển (Quỹ Công nghệ, Công ty Đầu tư Mạo hiểm Nga, Ngân hàng Phát triển,…); Các chương trình thúc đẩy ĐM/ST các trường đại học nghiên cứu và phát triển (NC&PT); thực thi các hoạt động ĐM/ST ở các công ty nhà nước.  Tuy nhiên, những nỗ lực chính sách trên đến nay vẫn chưa mang lại kết quả như mong đợi. Tỷ lệ các doanh nghiệp ĐM/ST trong công nghiệp Nga không vượt quá 10-11%, thấp hơn đáng kể so với các nước phát triển ở châu Âu; hàm lượng ĐM/ST gắn tổng doanh thu là 1,9% so với 5.5% ở Thụy Điển và 4.6% ở Đức).   Nguyên nhân chủ yếu là:  Nhu cầu ĐM/ST không trở thành một ưu tiên với các công ty trong nước (do chỉ 2% doanh nghiệp sản xuất xác định mục tiêu hướng vào thị trường quốc tế). Hầu hết các công ty Nga đổi mới công nghệ thông qua việc mua lại máy móc, thiết bị; đồng thời, các tổ chức NC&PT cũng không cung cấp cho doanh nghiệp những công nghệ có tính mới, và khả năng cạnh tranh.   Mô hình tổ chức và hoạt động NC&PT vẫn giữ lại mô hình tổ chức của Xô viết với những tổ chức nghiên cứu độc lập khiến sự liên kết với các trường đại học và các doanh nghiệp. Hơn nữa, hoạt động NC&PT trong nước vẫn không được cấp đủ kinh phí (năm 2010 chỉ đạt 1,16%/GDP).   Nhân lực NC&PT của Nga đã giảm khoảng 50% kể từ khi Liên Xô sụp đổ cho đến nay. Trong năm 2007, nhân lực NC&PT chiếm 1,14% tổng số việc làm ở Nga, thấp hơn mức trung bình của 27 quốc gia EU (1,57%). Xu hướng di chuyển nội bộ từ khu vực KH&CN sang các ngành khác của nền kinh tế và di chuyển ra nước ngoài của các nhà khoa học Nga, đặc biệt là các nhà khoa học đang ở độ tuổi “sung sức nhất” trong giai đoạn chuyển đổi hậu Xô viết. Một bộ phận quan trọng của tầng lớp các nhà khoa học kỳ cựu, đầu ngành đã sắp nghỉ hưu. Đây là một thách thức quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách của Nga để đảm bảo đào tạo đầy đủ và chuẩn bị lực lượng lao động NC&PT trẻ thay thế.   Các điều kiện cho NC&PT cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực công nghệ cao, bảo vệ quyền sở hữu và quyền sở hữu trí tuệ (IPR), thiếu sót của pháp luật (ví dụ các quy định hải quan), tham nhũng, cơ sở hạ tầng kém… như hiện nay không rõ ràng và không ổn định, thiếu điều tiết của thị trường.  Vì vậy trong Chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2020 (Chiến lược 2020), dự định hoàn thành việc chuyển đổi sang phát triển bền vững của nền kinh tế và xã hội của Liên bang Nga, có một chương mang tựa đề “Từ kích thích ĐM/ST hướng tới tăng trưởng dựa vào ĐM/ST”. Trong đó đã nhấn mạnh các kịch bản và khuyến nghị chính sách tập trung vào các lĩnh vực chính sau:  – Thúc đẩy hàng loạt hoạt động đổi mới trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế chứ không tập trung quá mức vào công nghệ cao;  – Đảm bảo hiện đại hóa và kích hoạt ĐM/ST trong các ngành công nghiệp hiện có và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các thị trường dựa trên công nghệ mới nổi;  – Tăng tác động của chính sách ĐM/ST thông qua những nỗ lực đặc biệt để kích thích hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy mạng lưới và các dịch vụ thuê ngoài cho các công ty sáng tạo; và phân quyền ra quyết định có lợi cho các vùng, các doanh nghiệp, và các tổ chức phát triển;  – Kết hợp kích thích cả nhu cầu của ĐM/ST với chất lượng của việc cung cấp ĐM/ST;   – Tạo điều kiện thuận lợi cho các khía cạnh xã hội của ĐM/ST (bằng cách phát triển nguồn nhân lực và khuyến khích đội ngũ sáng tạo, và nâng cao nhận thức công chúng về ĐM/ST).  2. Một số giải pháp chủ yếu  Trong các khuyến nghị của Chiến lược-2020 các cơ chế mới thúc đẩy KH&CN và các chính sách ĐM/ST được xem xét trong một khuôn khổ cải cách kinh tế rộng hơn nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, chống tham nhũng và loại bỏ các rào cản hành chính, tư nhân hóa/cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, kích thích đầu tư và xuất khẩu, do đó cơ chế mới được phân biệt rõ hơn so với giai đoạn trước.   Kết hợp khoa học và giáo dục  Một mạng lưới các trường đại học nghiên cứu quốc gia được thành lập dựa vào việc tuyển chọn từ các trường đại học hàng đầu với quy chế cấp kinh phí cạnh tranh. Việc tuyển chọn được tổ chức qua hai vòng (trong năm 2009 và 2010) đã chọn ra được 27 trường đại học nghiên cứu quốc gia trên cơ sở đa tiêu chí đánh giá hoạt động, bao gồm cả chất lượng giáo dục mà họ cung cấp, mức độ nghiên cứu mà họ thực hiện, nguồn nhân lực sẵn có của họ, sự công nhận quốc tế, sự bền vững tài chính, và tính hợp lệ của các kế hoạch phát triển đã đề xuất.   Hỗ trợ cho việc hình thành các trung tâm giáo dục khoa học nhằm thúc đẩy sự liên kết NC&PT và các hoạt động giáo dục trong các trường đại học và viện nghiên cứu. Hỗ trợ sinh viên tham gia vào các hoạt động NC&PT, thúc đẩy di chuyển nhân lực trong và ngoài nước, và tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy năng lực của các nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học cấp cao và các học giả trẻ tuổi qua việc áp dụng các khoản trợ cấp trong ba năm.  Thu hút những năng lực khoa học hàng đầu thế giới cho các trường đại học Nga (trong năm 2009-2010 cung cấp 79 khoản trợ cấp trị giá 5 triệu USD mỗi khoản để thu hút các nhà khoa học được quốc tế công nhận vào các phòng nghiên cứu thí nghiệm của các trường đại học). Các khoản tài trợ được phân bố rộng theo lĩnh vực KH&CN như thiên văn học, vật lý thiên văn, toán học, vật lý, năng lượng hạt nhân, hóa học, sinh học và công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và truyền thông, vũ trụ, hiệu quả năng lượng, y học, công nghệ nano, khoa học Trái đất, vật liệu tiên tiến, thiết bị điện tử, sinh thái, tâm lý học, khoa học nhận thức, kinh tế, xã hội học…  Khuyến khích sự liên kết giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp  Tạo điều kiện cho việc hình thành các doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nguồn (spin-offs) của các trường đại học bằng cách thúc đẩy cơ sở hạ tầng cho đổi mới (các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp, khu công nghệ, trung tâm kỹ thuật và việc sử dụng chung các thiết bị nghiên cứu và thông tin KH&CN) đã được bắt đầu trong năm 2010 thông qua một chương trình tài trợ có tính cạnh tranh. Các khoản tài trợ dùng để hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), đào tạo nhân lực trình độ cao và tư vấn bởi các chuyên gia Nga và chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ và quản lý ĐM/ST. Qua hai cuộc thi đã cho phép lựa chọn 78 trường đại học để thực hiện các dự án kéo dài ba năm.  Đề án đồng tài trợ cho hợp tác nghiên cứu giữa các công ty công nghiệp và các trường đại học đã bắt đầu vào năm 2010. Theo đó, các công ty được cung cấp một lượng tài chính của chính phủ nhưng không ít hơn 20% tài trợ đó phải được chi cho NC&PT, phần còn lại được đầu tư vào trang thiết bị và thực hiện đề án.    Thúc đẩy nhu cầu NC&PT của ngành công nghiệp  Việc thúc đẩy ĐM/ST trong các doanh nghiệp công nghiệp lớn được thực hiện qua các chiến lược phát triển ĐM/ST là bắt buộc đối với 46 công ty lớn của nhà nước (như Gaz prom, Rosneft, Transneft, Rosatom, Công ty Điện lực liên bang, Aeroflot, và Công ty đường sắt Nga) từ năm 2011. Những chiến lược này theo đuổi một sự gia tăng đáng kể của chi phí NC&PT, sử dụng công nghệ đáp ứng các tiêu chuẩn hiệu quả và sinh thái, tăng năng xuất lao động và hướng xuất khẩu.  Đặc biệt chú ý tăng cường hợp tác giữa các công ty với các trường đại học và viện NC&PT. Các công ty được khuyến khích để tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn và hình thành các quỹ mạo hiểm với các đối tác nước ngoài. Trong năm 2010-2013, tổng chi tiêu cho NC&PT của các công ty và kinh phí của các trường đại học NC&PT dự kiến sẽ tăng 64%.   Công nghệ và thương mại hóa   Một trong các dự án nổi bật nhất là sáng kiến thành lập Trung tâm ĐM/ST  Skolkovo – một trung tâm ĐM/ST với mục tiêu tập trung nguồn lực trí tuệ và năng lực kinh doanh, và thúc đẩy hoạt động ĐM/ST của Nga ở tầm quốc tế trên các lĩnh vực công nghệ thông tin, vũ trụ, y sinh học, hiệu quả sử dụng năng lượng hạt nhân. Nó được đặt ở một vùng ngoại ô gần thủ đô Moscow và gồm một trường Đại học Công nghệ (SkolTech) đang được phát triển với sự hợp tác của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Những đơn vị trong trung tâm này được hưởng các chế độ thuế và hải quan đặc biệt, đồng thời được hưởng lợi về thông tin và hợp tác với các nhà đầu tư. Hiện đã có 19 trung tâm NC&PT liên kết được thành lập bởi Skolkovo với đối tác là các tập đoàn toàn cầu hàng đầu (như SAP, IBM, Intel, Microsoft, Siemens, Nokia…). Các hình thức khác của việc liên kết với các doanh nghiệp xuyên quốc gia và trong nước bao gồm các quỹ đầu tư mạo hiểm, cùng  hợp tác đầu tư trong các công ty khởi nghiệp (start-up), và đồng tài trợ cơ sở hạ tầng nghiên cứu và giáo dục.    ***  Nhìn chung còn quá sớm để đánh giá các tác động lớn đến KT-XH của các chính sách trong ĐM/ST của LB Nga. Kết quả chính sách kể trên phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động phối hợp và có hệ thống của chính phủ theo đuổi các mục tiêu hướng tới tương lai và đáp ứng các nhu cầu và lợi ích của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự. Các quy định của pháp luật, một môi trường kinh doanh và cạnh tranh tích cực, các ưu đãi cho sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, sự minh bạch chính sách, và niềm tin là những yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu.  Phùng Anh Tiến – Nguyễn Hồng Hạnh dịch  —  Tài liệu tham khảo  The Russian Federation: A New Innovation Policy for Sustainable Growth, Leonid Gokhberg và Vitaly roud, The Global Innovation Index, 2012.  Eurostat. 2011. Science, Technology and Innovation in Europe. Luxembourg: Publications Office of the European Union.  Gokhberg, L., K. Fursov, and O. Karasev. 2012, ‘Nanotechnology Development and Regulatory Framework: The Case of Russia’. Technovation 32 (3-4): 161–62.  “Strategy-2020: A New Outline for Russian Innovation Policy”, Foresight-Russia.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lẽ ra có thể tiết kiệm một nửa chặng đường      Nếu có nguồn tài trợ ổn định dài hạn ngay từ đầu thì chặng đường nghiên cứu triển khai về dung môi sinh học – một trong những thành tựu đáng nói của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu – từ những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến ươm tạo công nghệ, rất có thể đã tiết kiệm được một nửa thời gian.    Trên thế giới, khoảng 20% các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) thải vào khí quyển có nguồn gốc từ dung môi. Các hợp chất hữu cơ này gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người sử dụng và cộng đồng. Một vài hợp chất hữu cơ như các chất thơm, các olefin gây cay mắt, các aldehyde phá hủy niêm mạc. Một số hợp chất khác như benzen, hydrocarbon thơm đa vòng có thể gây ung thư. Trong khi đó, ở Việt Nam, cùng với tốc độ phát triển của nền công nghiệp, nhu cầu sử dụng dung môi ngày một tăng lên. Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, lượng dung môi nhập khẩu vào Việt Nam năm 2012 đạt khoảng 247.000 tấn.     Việc thay thế dung môi công nghiệp có nguồn gốc hóa thạch (dầu mỏ) bằng các dung môi có nguồn gốc thực vật, hay còn gọi là dung môi sinh học (DMSH) xuất phát từ nhiều lý do, trong đó đáng kể là vấn đề nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt và giá dầu thô tăng từng ngày. Thêm vào đó, các loại dung môi có nguồn gốc từ thực vật có khả năng hòa tan tốt, đồng thời, khắc phục được hầu hết các nhược điểm của dung môi hóa thạch.      Những ưu điểm nổi bật của DMSH là: ít bay hơi nên hầu như không tạo ra các hợp chất VOC ô nhiễm không khí; khó bắt cháy nên an toàn khi sử dụng và bảo quản; ít hoặc không độc hại nên hầu như không ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng; không gây ung thư nên không ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng; có khả năng phân hủy sinh học và không tham gia vào quá trình tạo ra ozone quang hóa nên thân thiện với môi trường; có ứng dụng trong hầu hết các ngành công nghiệp như sơn, in, nhựa trải đường, cao su, giấy, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, vệ sinh công nghiệp, xử lý những vùng bờ biển bị nhiễm bẩn do sự cố tràn dầu, và đặc biệt còn có thể sử dụng trong ngành thực phẩm.      Với những tính năng vượt trội và khả năng ứng dụng rộng rãi như đã nêu trên, càng ngày, DMSH càng được sử dụng rộng rãi. Người ta ước tính, nhu cầu sử dụng DMSH ở châu Âu hiện nay khoảng 250.000 tấn/năm và nhu cầu trên toàn thế giới là 500.000 tấn/năm1.      Chặng đường 8 năm     Ở Việt Nam, vào cuối những năm 1990, đã có một vài công trình nghiên cứu phương án ứng dụng condensate làm dung môi cho công nghiệp chế biến cao su, dung môi pha sơn nhanh khô và dung môi pha sơn thông dụng. Tuy nhiên, đây cũng là loại dung môi có nguồn gốc hóa thạch (từ dầu mỏ). Hơn nữa, để hiện thực hóa được phương án này còn cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa, đặc biệt là cần phải nghiên cứu pha thêm các hydrocarbon thơm (như xylen) vào condensate để tăng thêm khả năng hòa tan của dung môi này.     Trong số các DMSH được nghiên cứu và ứng dụng, dung môi trên cơ sở metyl este axit béo và metyl este của axit mạch ngắn, đặc biệt là axit lactic, có tiềm năng ứng dụng rộng rãi nhất. Cả hai loại este này đều có những tính chất dung môi tốt nên có thể thay thế cho những dung môi độc hại chứa halogen mà hiện nay đang được tiêu thụ với khối lượng chiếm 80% tổng lượng tiêu thụ dung môi trên toàn thế giới. Việc kết hợp cả hai loại dung môi này sẽ tạo ra một hỗn hợp dung môi có các tính năng dung môi tốt với phổ ứng dụng rất rộng. Hơn nữa, các este này có thể được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu tái tạo được và không ảnh hưởng tới việc sản xuất lương thực.  Trong những năm qua, Phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) Công nghệ lọc, hóa dầu đã thành công trong việc nghiên cứu thích nghi công nghệ tiên tiến của Hàn Quốc về sản xuất metyl este axit béo và sẵn sàng cho việc chuyển giao công nghệ ở qui mô công nghiệp. Bên cạnh đó, vấn đề công nghệ sản xuất DMSH và etyl lactat cũng được triển khai tại PTNTĐ Công nghệ lọc, hóa dầu từ năm 2006 thông qua các đề tài cấp Bộ, nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo Nghị định thư, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ thường xuyên. Đến nay, với những kết quả đạt được, PTNTĐ Công nghệ lọc, hóa dầu đang tiến hành ươm tạo công nghệ này.     Như vậy, để đi từ những nghiên cứu đầu tiên tới giai đoạn ươm tạo công nghệ chuẩn bị đưa kết quả nghiên cứu triển khai vào thương mại hóa trong thực tiễn, PTNTĐ đã phải trải qua 8 năm. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là thời gian làm nghiên cứu thực chất chỉ là 4 năm: sau khi hoàn thành bước nghiên cứu đầu tiên vào năm 2006, PTNTĐ phải chờ 1 năm mới có kinh phí để tiếp tục triển khai bước nghiên cứu thứ hai trong hai năm (2008-2010) và phải chờ tiếp 3 năm nữa mới có thể tiếp tục bước nghiên cứu triển khai thứ ba (năm 2013). Giá như có được nguồn kinh phí tài trợ dài hạn có tính ổn định và liên tục thì PTNTĐ đã không mất đi tổng thời gian chờ đợi 4 năm, tức là tiết kiệm được tới một nửa thời gian trong tiến trình đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn và gặt hái thành quả từ sớm hơn.        Quốc tế công nhận và tiềm năng khai thác     Điểm nổi bật trong số các kết quả đạt được là sáng chế “Method for obtaining biosolvent composition by esterification and resulting biosolvent compositions” đã được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (Số công bố quốc tế WO 2011/107712; Ngày 9/9/2011), bằng cách nộp đơn quốc tế qua văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Theo đó, chủ đơn có thể đồng thời đăng ký bảo hộ sáng chế ở tất cả các nước là các bên tham gia PCT (Hệ thống Hiệp ước Hợp tác về sáng chế – gồm 123 quốc gia, tính đến tháng 1/2004). Được xếp hạng trong top 10 sáng chế có tiềm năng ứng dụng nhất trong số 79 sáng chế được đưa ra đánh giá bởi Hội đồng Khoa học quốc gia của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia, Cộng hòa Pháp (CNRS) năm 2011, sáng chế về DMSH đã được CNRS (thay mặt PTNTĐ Công nghệ lọc, hóa dầu) làm các thủ tục đăng ký độc quyền sáng chế tại 4 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm châu Âu, Mỹ, Brazil và Việt Nam, với thời hạn bảo hộ 20 năm (European Patent EP 2542520 (2013); US Patent 0105738 (2013)). Tỷ lệ phân chia nghĩa vụ và quyền lợi của sáng chế là 50% đối với phía Pháp và 50% đối với phía Việt Nam. Hiện tại, một công ty cổ phần của Pháp đã thương thảo xong với CNRS về việc mua quyền khai thác sáng chế này với phí ban đầu 100.000 Euro và khoảng 1% doanh số sản xuất trong vòng 20 năm. Công ty mua bản quyền cũng mong muốn được hợp tác với PTNTĐ Công nghệ lọc, hóa dầu để ươm tạo công nghệ này nhằm có thể sớm đưa công nghệ vào ứng dụng. Kết quả nghiên cứu triển khai sẽ thuộc sở hữu của hai bên và sẽ được sử dụng để thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ.     Để tăng tính khả thi của dự án triển khai công nghiệp, phía Pháp đã tìm được nhiều đối tác sẵn sàng tiêu thụ sản phẩm. Tương tự, phía Việt Nam cũng từng bước đưa sản phẩm DMSH vào thị trường. Đồng thời, cả hai bên đang tiếp tục nỗ lực huy động các nguồn lực cho các dự án triển khai trước mắt.   ———————-  1 Nguồn: Báo cáo khảo sát sơ bộ thị trường dung môi sinh học – Công ty Cổ phần Scheme, Pháp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên kết doanh nghiệp với viện/trường: Yếu tố thành công và rào cản      Nhiều năm qua, số kết quả nghiên cứu của các viện/trường đại học đến được với doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hết sức khiêm tốn, phản ánh thực tế là vẫn còn nhiều trở ngại cho mối liên kết hợp tác viện/trường đại học và doanh nghiệp.     Trong bối cảnh đó, ngày 6/7 tại Hà Nội, Bộ KH&CN và tạp chí Tia Sáng đã tổ chức hội thảo “Đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp: Bài học từ sự liên kết giữa viện/trường đại học và Rạng Đông” nhằm tiếp tục tìm lời giải cho câu hỏi, làm thế nào để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật của chúng ta vào doanh nghiệp, giảm bớt tình trạng doanh nghiệp phải nhập khẩu công nghệ/thiết bị từ nước ngoài. Tham dự hội thảo có Bộ trưởng Nguyễn Quân, Thứ trưởng Trần Văn Tùng cùng một số lãnh đạo doanh nghiệp, trường đại học và các nhà khoa học kỳ cựu.     Kinh nghiệm thành công của Rạng Đông  Quan hệ hợp tác giữa Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông và ĐH Bách khoa Hà Nội được bắt đầu từ năm 2007, khi trường đại học lớn này chuyển giao cho công ty công nghệ sản xuất một số nguyên vật liệu làm đèn chiếu sáng vốn trước đây vẫn phải nhập khẩu. Từ những dự án nhỏ ban đầu, quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị ngày càng được mở rộng và trở thành yếu tố quyết định sự tăng trưởng vượt bậc của Rạng Đông những năm gần đây.   Theo PGS.TS Đỗ Xuân Thành, người đến với Rạng Đông từ những ngày đầu tiên và hiện là Giám đốc khoa học của Trung tâm R&D Rạng Đông, mấu chốt thành công của mối liên kết này là cách thức xây dựng lòng tin cả từ hai phía: doanh nghiệp tin tưởng vào năng lực của nhà khoa học và nhà khoa học không phụ lòng tin đó. Ngoài ra không thể thiếu các yếu tố như tri thức hóa đội ngũ công nhân, thực tiễn hóa đội ngũ nhà nghiên cứu; xây dựng mô hình liên kết hợp lý, linh hoạt, mềm dẻo, lấy hiệu quả của kinh tế thị trường làm tiêu chí; hài hòa lợi ích của các bên, hướng tới lợi ích lâu dài từ kết quả của đổi mới sáng tạo, v.v. Tuy nhiên, PGS.TS Đỗ Xuân Thành khẳng định, yếu tố quan trọng hàng đầu để có sự liên kết thành công giữa doanh nghiệp và viện/trường đại học chính là nhận thức sâu sắc về vai trò của KH&CN ở người đứng đầu doanh nghiệp.  Tổng giám đốc Rạng Đông, ông Nguyễn Đoàn Thăng, là một thí dụ điển hình về lãnh đạo doanh nghiệp có tầm nhìn như vậy. Ông là người xây dựng mối liên kết giữa Rạng Đông với ĐH Bách khoa Hà Nội bắt đầu từ suy nghĩ không phát triển KH&CN thì công ty không thể tồn tại được.   Giờ đây Rạng Đông đã có nguồn nhân lực thực hiện các thí nghiệm, có xưởng thực nghiệm để xây dựng quy trình, khi có kết quả nghiên cứu tốt có thể đưa ngay xuống dây chuyền sản xuất rồi thử nghiệm trên mạng lưới các hộ tiêu dùng đã cam kết với công ty để nhận phản hồi và hoàn thiện sản phẩm trước khi chính thức ra thị trường. “Mối liên kết giữa Rạng Đông và ĐH Bách khoa Hà Nội giờ đây phát triển lên mức cả hai bên đều coi đó là lẽ sống còn của mình. Từ những hợp tác mang tính dịch vụ, nay chúng tôi có những dự án chung, bao gồm cả dự án xây dựng hai phòng thí nghiệm chung, một đặt tại công ty, một tại trường… Tôi cho rằng mấu chốt thành công của mối liên kết này là cả hai bên đều phải chủ động và đặt vấn đề hợp tác lâu dài,” ông Thăng nói.   Về phía các nhà khoa học hợp tác với Rạng Đông, điều quan trọng mà họ nhận được không chỉ là thù lao, nguồn kinh phí để hiện thực hóa hoạt động nghiên cứu, mà còn là sự trân trọng thành quả công việc từ phía doanh nghiệp, và đặc biệt là cơ hội được ứng dụng các kết quả nghiên cứu để đóng góp phục vụ cho nhu cầu thực tiễn đời sống. Đồng thời, bên cạnh nhiệm vụ cứng là nghiên cứu ra những sản phẩm mà thị trường yêu cầu, họ được phép có một mảng sáng tạo tự do, không phải trình bày kế hoạch.  GS.VS Nguyễn Văn Hiệu đánh giá rằng quan hệ hợp tác giữa Rạng Đông và ĐH Bách khoa Hà Nội như một mối lương duyên mà cả hai bên đều may mắn khi gặp được nhau. Rạng Đông may mắn khi mời được những nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam về quang học như PGS.TS Đỗ Xuân Thành, PGS.TS Phạm Hồng Dương, PGS.TS Phạm Thành Huy, những người có kết quả nghiên cứu “đã gần dùng được” nhưng nếu không gặp doanh nghiệp thì “không bao giờ được dùng”. “Đem nghiên cứu của mình đến Rạng Đông, họ đã tìm được mảnh đất tốt để gieo hạt giống”, ông nói.  Những rào cản cho hai phía  Tuy nhiên, những mô hình thành công trong hợp tác viện/trường đại học với doanh nghiệp như tại Rạng Đông vẫn chưa phải là phổ biến tại Việt Nam. Với tư cách một người từng ngồi không ít hội đồng khoa học, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu chỉ ra rằng trong thực tế ứng dụng nghiên cứu ở Việt Nam, những nghiên cứu “gần dùng được” như của TS Thành, TS Dương thật sự là “của hiếm”, bởi phần lớn các nghiên cứu hiện nay đều thuộc diện “không dùng được hoặc chưa biết dùng vào đâu”, và ông cho đây chính là rào cản đầu tiên cho mối liên kết doanh nghiệp với nhà khoa học. Theo ông, cơ chế duyệt đề tài và cấp kinh phí rắc rối và phi lý, do những người không bao giờ làm khoa học vẽ ra, góp phần đáng kể làm cho nhiều người trong giới khoa học thỏa hiệp và nhụt chí.  PGS.TS. Trần Đức Viên, Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp Hà Nội, cho rằng một nguyên nhân quan trọng khiến hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học còn hết sức hạn chế là do thiếu biên chế nghiên cứu viên. Ông cho biết, hiện nay 100% các nhà nghiên cứu làm việc trong các viện của ĐH Nông nghiệp Hà Nội đều theo chế độ hợp đồng một năm, bởi trường không có biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp. “Họ đủ sống nhưng chủ yếu là nhờ thù lao đứng lớp,” ông nói. Theo ông, nếu coi nghiên cứu ở trường đại học là một nhiệm vụ quan trọng không kém gì giảng dạy thì nhất thiết phải cấp cho nó biên chế và kinh phí nghiên cứu.  Nhưng GS.TS Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng ĐH Bách khoa Hà Nội, thì nhận định, thực trạng doanh nghiệp chưa mặn mà liên kết với viện/trường đại học, không chỉ do vấn đề cơ chế chính sách của Nhà nước, mà chủ yếu là do “trình độ KH&CN của chúng ta tuy có khá hơn trước nhưng so với quốc tế vẫn thấp”. Bên cạnh đó có nguyên nhân chủ quan là do các hướng nghiên cứu còn tản mát và thụ động. Bản thân ở ĐH Bách khoa Hà Nội những năm gần đây, số hợp đồng chuyển giao công nghệ dường như giảm, trong khi hợp đồng tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực sử dụng công nghệ, cung cấp chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật lại tăng lên…   Hoạt động đào tạo nhân lực tại các trường đại học cũng chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của doanh nghiệp. PGS.TS Trần Đức Viên nêu một thí dụ, cách đây năm năm, khi lên kế hoạch thiết kế lại nội dung ngành học làm vườn, trường của ông đã cử người tỏa đi điều tra 150 doanh nghiệp và té ngửa vì hóa ra những điều “bấy lâu nay vẫn ê a với sinh viên chẳng ăn nhập gì với thực tiễn sản xuất”. Điều này lý giải tại sao một ngành học vốn được coi là “máy in tiền” cho các trường đại học nông nghiệp ở châu Âu lại bị ế ẩm ở Việt Nam. Ông kết luận, bất luận dạy ngành học gì, một khi liên quan đến ứng dụng, thì việc dành thời gian và tiền bạc để đầu tư xây dựng chương trình đầu vào và chuẩn đầu ra một cách nghiêm chỉnh là điều hết sức cần thiết.   Bên cạnh đó, một rào cản rất lớn cho các doanh nghiệp mong muốn tiếp cận hợp tác với các viện/trường đại học là sự hạn chế thông tin, mặc dù nhu cầu kết nối hợp tác là rất lớn. Theo bà Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp BSA, một cuộc điều tra nhanh mới đây của BSA với các doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao cho thấy, 100% số doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra đều bày tỏ nhu cầu được kết nối chặt chẽ hơn với đối tác nghiên cứu khoa học qua một cơ quan hoặc mạng lưới xúc tiến ĐM/ST và được tham khảo thường xuyên thông tin về các kết quả nghiên cứu qua một cổng thông tin điện tử. Có đến 60% các doanh nghiệp tham gia điều tra cho biết họ nắm bắt thông tin về ĐM/ST công nghệ và quản trị doanh nghiệp từ các hội chợ – một nguồn tin vốn không ổn định và liên tục; chỉ có 27% số doanh nghiệp có thông tin từ các công ty chào hàng công nghệ, một con số theo bà Kim Hạnh là quá nhỏ.     Luật KH&CN sửa đổi tuy tích cực nhưng vẫn chưa đủ    Luật KH&CN sửa đổi được thông qua gần đây với tỷ lệ bỏ phiếu cao (98% số đại biểu Quốc hội có mặt) có một số nội dung đổi mới giúp thúc đẩy mối liên kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp. Bộ trưởng Nguyễn Quân – Bộ KH&CN cho biết, “Luật sửa đổi quy định, các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng phải thực hiện theo cơ chế đặt hàng và xuất phát từ đề xuất của doanh nghiệp; cơ quan nào đề xuất đặt hàng thì phải chịu trách nhiệm tiếp nhận kết quả và đưa vào ứng dụng trong sản xuất.” Tuy nhiên, ông nhận định, Luật KH&CN mới cũng chưa thể hiện được hết ý tưởng đổi mới của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN. “Chúng tôi đã kiên trì đề nghị Quốc hội đưa vào luật nội dung giao biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp cho các trường đại học công nghệ trọng điểm bởi trường đại học mà không có biên chế nghiên cứu chuyên nghiệp và không được đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thì mãi chỉ là trường phổ thông cấp 4.” Ông khẳng định sẵn sàng chia sẻ khoản tiền sự nghiệp ít ỏi của ngành để hỗ trợ các trường có cơ sở vật chất tốt hơn và đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp hơn, nhưng đáng tiếc ý tưởng đó không được Quốc hội ủng hộ. “Tuy nhiên chúng tôi hứa sẽ không bỏ cuộc giữa chừng, khi xây dựng nghị định triển khai Luật, chúng tôi sẽ cố gắng lồng ghép ý tưởng này vào đó,” ông nói.  Đánh giá về liên kết giữa Rạng Đông và ĐH Bách khoa Hà Nội, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng đây là một mô hình hiệu quả cần được học tập nhân rộng. “Nhà khoa học có thể thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình theo hai cách, hoặc liên kết với các doanh nghiệp, hoặc tự thành lập doanh nghiệp, nhưng dù đi theo cách nào thì nghiên cứu trước hết phải gắn với thực tiễn”, Bộ trưởng nhận định.    PV ghi    Author                Quản trị        
__label__tiasang Liên ngành để năng động      Nhờ nghiên cứu liên ngành, thiên văn học – một trong những ngành khoa học lâu đời nhất trên thế giới, đến nay vẫn phát triển năng động như một ngành khoa học trẻ.&#160;     Hiện nay nghiên cứu/khoa học liên ngành đã trở thành một khái niệm phổ biến, xuất phát từ thực tế ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề mới có độ phức tạp cao, đòi hỏi kiến thức của nhiều ngành mới có thể giải quyết được như sự nóng lên toàn cầu hay dịch tễ học. Bên cạnh đó, xét về bản chất, nhiều ngành khoa học lớn đã là liên ngành hoặc đa ngành như thông tin lượng tử là sự kết hợp của vật lý lượng tử và khoa học tính toán; tin sinh học là sự kết hợp của sinh học phân tử và khoa học máy tính… Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày nay, hầu hết các môn khoa học đều đã phát triển xa tới mức, chỉ kiến thức trong một chuyên ngành hẹp của một môn khoa học cũng đã rất lớn, “phức tạp” như liên ngành, đòi hỏi một nhà nghiên cứu phải mất nhiều thời gian mới có thể nắm vững được để có thể thoải mái làm việc và sáng tạo.   Khoa học liên ngành thúc đẩy mạnh mẽ sự sáng tạo khi nó đem những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau lại gần nhau. Ngoài việc học hỏi lẫn nhau, những hạn chế của một người có thể được phát hiện và khắc phục với những cái nhìn mới từ đồng nghiệp làm việc trong lĩnh vực khác. Tuy nhiên, khi tham gia vào những nghiên cứu liên ngành, nhà khoa học phải có nhiều kiến thức, kỹ năng hơn so với chỉ làm việc trong một chuyên ngành hẹp, ngoài ra họ phải có năng lực phối hợp nghiên cứu – nếu thiếu những phẩm chất đó, khoa học liên ngành sẽ khiến cho họ trở nên bị động, kém hiệu quả như bị lạc lối trong một khu rừng rộng.  Hợp tác liên ngành và quốc tế trong nghiên cứu thiên văn học  Khoa học liên ngành là công cụ tốt cho phổ biến khoa học, giáo dục và đào tạo nhờ đặc tính tích hợp nhiều kiến thức khác nhau trong một môn học. Điển hình như thiên văn học – một môn khoa học liên ngành, sử dụng kiến thức của vật lý, toán học, hóa học, sinh học,…   Nghiên cứu thiên văn đem lại cái nhìn mới về nguồn gốc và sự tiến hóa của bản thân vũ trụ của chúng ta. Không như cách nghĩ thông thường rằng vũ trụ sẽ dần co lại do các vật luôn hút nhau, bằng quan sát, ta đã phát hiện các thiên hà đang ngày càng chạy xa nhau ra. Điều đó có nghĩa là vũ trụ đang nở ra và đặc biệt, hơn tốc độ dãn nở của nó ngày càng lớn (phát hiện mang lại giải Nobel Vật lý năm 2011 về vũ trụ dãn nở). Không những thế, bằng chứng cho thấy, trong vũ trụ tồn tại rất phổ biến một loại vật chất, khác với tất cả các loại vật chất thông thường mà ta từng biết đến, nó là nguyên nhân giữ các ngôi sao như Mặt trời chuyển động quanh tâm các thiên hà với vận tốc rất lớn. Tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự dãn nở có gia tốc của vũ trụ và bản chất của loại vật chất mới này là những bài toán hóc búa nhất của khoa học và chủ đề nghiên cứu sôi nổi của các nhà vật lý nói chung cũng như thiên văn học nói riêng hiện nay.  Mặc dù là một ngành khoa học “già”, ra đời từ rất lâu, nhưng thiên văn học đang phát triển hết sức nhanh chóng và năng động như một ngành khoa học trẻ. Nhờ sự phát triển của công nghệ, chúng ta có thể gửi các thiết bị nghiên cứu khoa học ra ngoài không gian để quan sát tín hiệu đến từ các vật thể thiên văn ở các bước sóng bị chắn bởi bầu khí quyển Trái đất. 50 năm qua, đã có 17 giải thưởng Nobel được trao cho các nhà khoa học có khám phá trong lĩnh vực thiên văn học. Một nửa trong số họ mới được nhận giải thưởng trong khoảng 10 năm trở lại đây. Nhiều nước trên thế giới đã và đang bỏ ra một lượng kinh phí lớn để đầu tư cho nghiên cứu thiên văn học. Một trong những nỗ lực như vậy là việc xây dựng và đưa vào hoạt động hệ giao thoa vô tuyến ALMA được tạo bởi 66 kính thiên văn (với hai loại đường kính 7 và 12 mét) đặt trên cao nguyên Atacama của Chile ở độ cao 5.000 mét trên mực nước biển. Hệ kính này do tập thể các nhà khoa học quốc tế đến từ châu Âu, Mỹ, Canada, một số nước Đông Á và Chile cùng cây dựng. Tổng kinh phí của hệ giao thoa là 1,4 tỉ USD, mục tiêu nhằm nghiên cứu sự hình thành của các hành tinh và ngôi sao được sinh ra đầu tiên trong vũ trụ.  Nhờ những động lực nghiên cứu thiên văn học, con người đã chế tạo ra nhiều thiết bị hiện đại. Chúng ta đã gửi phi thuyền đến thăm dò các thiên thể và sao chổi trong Hệ Mặt trời, điều khiển hoạt động của chúng từ Trái đất. Thiên văn học đã chuyển từ một môn học mang tính định tính thành một môn khoa học định lượng với nhiều phép đo có độ chính xác rất cao. Riêng việc giải bài toán vận chuyển những kính thiên văn khổng lồ lên những độ cao hàng nghìn mét (như ví dụ với hệ giao thoa ALMA) đã thúc đẩy con người tạo ra những cỗ máy phi thường, chưa từng có, có thể di chuyển linh động trên địa hình khó trong khi phải mang nặng.   Những tính toán thiên văn đã thúc đẩy sự phát triển các ngành toán học như lượng giác học, logarit và giải tích; những tính toán này lại thúc đẩy sự phát triển của máy tính: các nhà thiên văn học là những người sử dụng một tỉ lệ lớn lượng thời gian trên các hệ siêu máy tính của thế giới. Thiên văn học cung cấp cho ta cảm nhận và minh họa về nhiều đại lượng vật lý, phương pháp nghiên cứu khoa học, do đó là một môn rất phù hợp cho việc phổ biến, giảng dạy các môn học về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM).  Xu hướng phát triển thiên văn học ngày nay cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế. Xây dựng những kính thiên văn hoặc đài thiên văn không gian hiện đại, tiên phong đòi hỏi một sự đầu tư lớn về thời gian, công sức và tiền của, do vậy một nước đơn lẻ khó có thể thực hiện được quá trình đó từ đầu đến cuối. Ngoài ra, đặc tính của nghiên cứu thiên văn cần được thực hiện ở nhiều kinh độ, vĩ độ khác nhau, vì vậy hợp tác quốc tế gần như là bắt buộc nếu muốn phát triển.   Là một môn khoa học đa ngành, thiên văn học là công cụ tuyệt vời cho đào tạo và thu hút sinh viên đến với khoa học. Thế nhưng, trong khi ngày càng có nhiều bạn trẻ yêu mến bộ môn này ra nước ngoài học tập, trong nước cũng có hơn mười câu lạc bộ thiên văn nghiệp dư thu hút hàng ngàn các bạn trẻ sinh hoạt thường xuyên thì lại chưa có trường đại học Việt Nam nào có bộ môn Thiên văn học, chưa có viện nghiên cứu nào có Trung tâm nghiên cứu Thiên văn học. Thiếu vắng sự quan tâm phát triển một môn khoa học quan trọng như vậy nên là một lời nhắc nhở trong việc xây dựng, lựa chọn hướng phát triển khoa học và giáo dục trong nước.   ————-  * Phòng Vật lý thiên văn và Vũ trụ, Trung tâm Vệ tinh Quốc gia.  Đọc thêm:    Đơn giản vì họ hiểu nhau và thích thú cộng tác  Văn hóa hợp tác sẽ dẫn đến liên ngành  Đào tạo liên ngành ở Việt Nam        Author                Quản trị        
__label__tiasang Liệu giả thuyết trung tâm này của vũ trụ học hiện đại có đúng không?      Để giải thích vì sao vũ trụ là đồng nhất (uniform) và phẳng (flat) như ta quan sát hiện nay,&#160; nhà vật lý Alan H.Guth đã đưa ra giả thuyết lạm phát (inflation), theo đó&#160; ngay sau Bigbang vũ trụ đã có một giai đoạn giãn nở rất nhanh theo hàm mũ.  Tác giả Paul J.Steinhardt (Giám đốc Trung tâm lý thuyết Princeton, Đại học Princeton) trên tạp chí Scientific American, tháng 4/2011đã đặt lại vấn đề, phân tích cơ sở khoa học của hai quan điểm có và không có lạm phát trong lịch sử của vũ trụ.  Tia Sáng xin giới thiệu cùng độc giả vấn đề trung tâm này của vũ trụ học hiện đại.      Ba mươi năm trước đây Alan H.Guth (Stanford Linear Accelerator Center- Trung tâm gia tốc thẳng Stanford) đã đưa ra giả thuyết lạm phát về sự tồn tại một giai đoạn giãn nở siêu gia tốc của vũ trụ xảy ra vào những thời điểm đầu tiên sau Bigbang để giải thích rằng vũ trụ đã bắt đầu với một số tính chất nhất định: đồng nhất gần tuyệt đối (với một số biến thiên – variations nhỏ) và có hình học phẳng,… (xem hình 1&2). Giả thuyết này đóng vai trò trung tâm trong vũ trụ học hiện đại.          Hình1.  Vũ trụ trải qua một giai đoạn gọi là lạm phát, trong giai đoạn này vũ trụ giãn nở thật nhanh theo hàm mũ. Sau đó vũ trụ tiếp tục giãn nở song với một tốc độ chậm hơn, cho phép các cấu trúc vũ trụ  như sao, thiên hà hình thành.        Hình2.   Quá trình giãn nở lạm phát có tính bùng nổ  là phẳng (ironed) mọi đường cong và mọi vùng cong của không gian, do đó giải thích được hình học của vũ trụ ngày nay, bỏ lại sau mọi chỗ gồ ghề trong mầm nguyên thủy của vũ trụ. Trong vòng 10-30 giây vũ trụ đã lớn lên với hệ số 1025  theo mọi hướng đẩy các vùng của vũ trụ xa nhau với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng          Nhưng tại sao vũ trụ ban đầu lại đồng nhất và phẳng? Tiên nghiệm mà nói (a priori) những điều kiện này dường như có rất ít xác suất. Song Guth lý luận rằng dẫu ban đầu vũ trụ không có những điều kiện đó thì chính nhờ một quá trình giãn nở siêu gia tốc  (lạm phát) vũ trụ đã trở nên đồng nhất và phẳng.  Khi lạm phát kết thúc thì vũ trụ sẽ giãn nở với một tốc độ bình thường hơn song bây giờ vũ trụ đã có những tính chất bảo đảm sự hình thành các sao, thiên hà như chúng ta quan sát được hiện nay.  Nhiều điểm nứt rạn đã bắt đầu xuất hiện trong giả thuyết lạm phát và tác giả Steinhardt trình bày cả hai quan điểm: có lạm phát và không có lạm phát. Và dường như chưa quan điểm nào thắng thế tuyệt đối trước khi thu được những quan trắc mới.  Có lạm phát  Lạm phát xảy ra trên cơ sở năng lượng lạm phát (inflationary energy). Đây là năng lượng của trường inflaton (hạt inflaton là lượng tử của lạm phát). Giống như mọi trường,  inflaton có một  lực (strength) nhờ đó inflaton tác động vào chính nó và vào các trường khác. Ngoài ra inflaton có thế năng. Hệ thức giữa  lực (strength) và thế năng  có thể mô tả bằng một đường cong có một vùng gọi là cao nguyên (plateau) và một thung lũng (valley) giống như trong trường hợp một quả bóng lăn trên đồi xuống (xem hình 3).          Hình3.   Trường inflaton gây nên một lực đẩy (repulsive) làm cho không giãn nở nhanh chóng tức thời. Để điều đó xảy ra mật độ năng lượng của trường inflaton phải biến thiên theo lực trường inflaton như một đường cong có vùng cao nguyên và vùng thung lũng.Trên cao nguyên ta có lực đẩy còn đến mép thung lũng thì lạm phát kết thúc.          Thế năng của inflaton có thể gây nên một quá trình giãn nở vô độ, quá trình này làm phẳng vũ trụ nếu trường nằm trên cao nguyên (plateau) trong một thời gian đủ dài. Lạm phát chấm dứt khi trường đi hết vùng cao nguyên và rơi xuống thung lũng. Tại điểm đó thế năng biến thành vật chất tối, vật chất nóng thông thường và bức xạ. Vũ trụ bước sang giai đoạn giãn nở thông thường chính trong giai đoạn này vật chất cô đọng lại thành những cấu trúc vũ trụ.  Lạm phát làm đều vũ trụ giống như việc kéo giãn một giải cao su làm mất các vết nhăn trên đó. Một số chỗ bất thường còn lại vì những hiệu ứng lượng tử. Các định luật lượng tử buộc rằng các trường như inflaton không có lực (strength) đều nhau ở mọi điểm vì tồn tại những thăng giáng lượng tử hỗn độn (random). Các thăng giáng này làm kết thúc lạm phát ở các thời điểm và các vùng không gian khác nhau và làm nóng các vùng này đến những nhiệt độ khác nhau. Những biến thiên (variations) trong không gian này là mầm tạo thành sao và thiên hà. Những biến thiên này có tính chất  bất biến kích thước ( scale-invariant).  Vậy trường hợp có lạm phát có thể tóm tắt bởi 3 điểm:  Lạm phát là không tránh khỏi  Lạm phát giải thích được vì sao vũ trụ đồng nhất và phẳng, không cần biết trạng thái của vũ trụ ban đầu là như thế nào vì rằng quá trình lạm phát sẽ làm cho vũ trụ đồng nhất và phẳng  Giả thuyết lạm phát tiên đoán được nhiều điều quan sát được (ví dụ các quan sát trong CMB[1])  Không có lạm phát  Trước 1980 người ta không thấy điều gì bất ổn với giả thuyết lạm phát. Song nếu lạm phát là không tránh khỏi thì ta lại gặp vấn đề sau: những lạm phát gọi là lạm phát xấu (bad inflation) lại có nhiều xác suất xảy ra hơn là những lạm phát tốt (good inflation).  Lạm phát xấu có nghĩa đó là một giai đoạn giãn nở với các hệ quả mâu thuẫn với những điều quan sát được hiện nay. Ví dụ các biến thiên nhiệt độ quá lớn. Sự khác nhau giữa lạm phát xấu và tốt quyết định bởi dáng điệu của đường cong thế năng phụ thuộc vào một thông số (xem hình 4). Chỉ có một vùng trị số rất hẹp của thông số đó mới tạo nên một biến thiên (variation) nhiệt độ phù hợp với quan trắc. Có thể tồn tại những biến thiên nhiệt độ lớn hơn song chúng ta không quan sát được. Điều này giải thích bằng nguyên lý vị nhân [2].          Hình4.  Lạm phát có thể dẫn đến những hệ quả không trùng với thực tế (lạm phát xấu, 2 cột bên phải của hình vẽ). Trong lạm phát tốt (cột bên trái hình vẽ) chúng ta có những hệ quả trùng với thực tế. Tất cả đều do dáng điệu của đường cong thế năng (xem phần phía trên hình vẽ).          Điều tệ hại hơn là lạm phát nói chung không kể tốt hay xấu lại ít có xác suất xảy ra hơn là không có lạm phát.  Năm 1980 Roger Penrose (Đại học Oxford) sử dụng các nguyên lý nhiệt động học để tính các cấu hình ban đầu khả dĩ của hạt inflaton và trường hấp dẫn. Một số cấu hình dẫn đến lạm phát và do đó đến tính đồng nhất và hình học phẳng của vũ trụ. Song tồn tại những cấu hình dẫn trực tiếp đến đồng nhất và hình học phẳng mà không qua lạm phát. Và điều gây sốc ở đây là thu được một vũ trụ đồng nhất và phẳng không qua lạm phát có xác suất nhiều lần lớn hơn qua lạm phát (xem hình 5).          Hình5. Giả thuyết lạm phát được đưa ra đối với mọi điều kiện ban đầu của vũ trụ. Song các phép phân tích sau này cho rằng không phải như vậy. Trong tập các điều kiện ban đầu của vũ trụ chỉ có một số rất nhỏ dẫn đến trạng thái phẳng và đồng nhất quan sát được hiện nay. Trong số rất nhỏ đó thì một số áp đảo có thể dẫn đến hiện trạng bây giờ không qua lạm phát chỉ có một số rất nhỏ còn lại làm được điều đó thông qua một giai đoạn lạm phát.          Lạm phát  hỗn độn vĩnh cửu (chaotic eternal inflation)  Nhà vật lý người Nga Andrei Linde  trong bài [3] cho rằng lạm phát một khi đã bắt đầu thì không dừng lại vì đó là hệ quả của vật lý lượng tử và quá trình giãn nở có gia tốc. Khi các thăng giáng lượng tử là lớn trong một số vùng nào đó thì lạm phát càng kéo dài. Số lượng các vùng này không lớn song quan trọng là chúng đang giãn nở cho nên lớn rất nhanh.  Những vùng mà lạm phát vẫn tiếp tục sẽ lớn lên và áp đảo  các vùng mà lạm phát đã kết thúc đúng lúc. Như vậy ta sẽ có một biển không gian lạm phát bao quanh những đảo với vật chất nóng và bức xạ. Cuối cùng ta có rất nhiều đảo vây quanh bởi những không gian lạm phát.  Các đảo không giống nhau. Bản chất hỗn độn nội tại (inherently random) của vật lý lượng tử làm cho các đảo này rất không đồng nhất (nonuniform) và bị cong (warped) mạnh. Một số đảo có được những tính chất giống các tính chất mà chúng ta quan sát được, song một số khác thì không. Và chúng ta cũng không biết được là tập nào là có nhiều xác suất hơn tập nào trong một vũ trụ giãn nở vĩnh cửu như vậy (xem hình 6).          Hình 6.  Một khi lạm phát bắt đầu thì những thăng giáng lượng tử làm cho lạm phát lan truyền lên toàn vũ trụ. Khi lạm phát kết thúc ở đâu đó thì một bong bóng hình thành và lớn lên. Trong thực tế chúng ta sống trong một bong bóng như vậy. Tồn tại nhiều bong bóng khác với những tính chất vật lý khác.          Nhiều nhà vật lý lý thuyết muốn xây dựng một lý thuyết lạm phát không vĩnh cửu. Song sự vĩnh cửu là đặc thù của lượng tử và lạm phát cho nên phải tìm một lý thuyết mà lạm phát chấm dứt trước lúc các thăng giáng lượng tử khởi động lạm phát. Trong kịch bản này phải tìm được một trạng thái ban đầu thích hợp, song điều này lại mâu thuẫn với ý đồ của giả thuyết lạm phát: giải thích hiện trạng vũ trụ bất kể các điều kiện ban đầu là như thế nào!    Một giả thuyết khác lạm phát là lý thuyết lạm phát chu kỳ [4], theo lý thuyết này thì Bigbang không phải là điểm bắt đầu của không thời gian mà là một quá trình gọi  là nẩy bật (bounce) [5] từ một pha co lại trước đó chuyển sang một pha giãn nở và tiếp theo là sự tạo ra vật chất và bức xạ. Lý thuyết gọi là chu kỳ vì sau một tỷ tỷ năm quá trình giãn nở lại biến thành quá trình co lại rồi tiếp theo là một nẩy bật mới. Điểm mấu chốt ở đây là quá trình làm đều (smoothing) vũ trụ lại xảy ra trong giai đoạn co. Và các vùng có lạm phát tiếp tục co lại còn các vùng đã kết thúc lạm phát sẽ nẩy bật lên đúng lúc và giãn nở. Như vậy số lượng các vùng trước là không đáng kể.  Quá trình làm đều (smoothing) trong giai đoạn co lại sẽ biểu hiện ra trong các quan sát.   Trong pha làm đều (trong cả hai trường hợp giả thuyết lạm phát cũng như lạm phát chu kỳ) những thăng giáng lượng tử tạo nên những nhiễu loạn lan truyền trong không gian, đó là những sóng hấp dẫn, những sóng này sẽ để lại dấu ấn khác nhau theo hai trường hợp trong CMB. Giả thuyết lạm phát chu kỳ là một giả thuyết mới và cũng có những vấn đề riêng  song vẫn là một giả thuyết tránh được lạm phát vĩnh cửu không kiểm soát được.  Các thí nghiệm nhằm ghi đo dấu ấn sóng hấp dẫn đã được tiến hành, người ta hy vọng có kết quả đo đạc trong vòng một hai năm giúp các nhà vật lý thiên văn chọn được giả thuyết đúng hơn.               CC. biên dịch và chú thích  ———————-  Tài liệu tham khảo và chú thích  [1] CBM =Bức xạ phông tàn dư của vũ trụ hay Bức xạ phông vi sóng (CMB – Cosmic Microwave Background).  [2] vị nhân=nguyên lý vị nhân là nguyên lý theo đó ta thấy vũ trụ như thế này bởi vì nếu vũ trụ khác đi thì ta không thể tồn tại được để mà quan sát nó.   [3] Andrei Linde,The self-Reproducing Inflationary Universe, Scientific American số tháng 11/1994.   [4] Gabriele Veneziano,The Myth of the Beginning of Time, Scientific American, số tháng 5/ 2004.  [5] Cao Chi, Vật lý hiện đại, những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh,NXB Tri thức, 2011 (trang 35).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lo ngại về kế hoạch thu thập dữ liệu DNA người nhập cư của Mỹ      Vào ngày 2/10/2019, Bộ An ninh nội địa Hoa Kỳ thông báo sẽ thu thập dữ liệu DNA của tất cả người nhập cư đang bị tạm giam rồi lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của FBI – giúp các cơ quan chấp pháp giải quyết những tội phạm nguy hiểm, và sẽ xây dựng các quy định để cho phép chính phủ mở rộng thử nghiệm này. Hiện nay có khoảng hơn 40.000 người ở các trung tâm tạm giam trên cả nước.         Các nhân viên phụ trách người nhập cư Mỹ có thể lấy mẫu DNA từ tất cả những người nhập cư đang bị tạm giam. Nguồn: Jose Luis Gonzalez/Reuters    Những người ủng hộ động thái trên cho rằng thông tin này có thể hỗ trợ các vụ án, cho phép nhân viên chấp pháp đối chiếu chéo dữ liệu di truyền của những người nhập cư với những DNA chưa xác định được khôi phục từ hiện trường vụ án. Tuy nhiên theo các nhà đạo đức sinh học, nó sẽ nhằm vào một nhóm dân cư vốn dễ bị tổn thương.  “Với tôi, nó tương đương bộ sưu tập dữ liệu của toàn bộ khu chung cư đã xảy ra một tội ác hoặc vụ giết người”, Sara Katsanis, một nhà đạo đức sinh học ở Đại học Tây Bắc ở Chicago, Illinois,  đang phản đối kế hoạch này, cho biết. “Việc đối xử như thể họ là tội phạm sẽ đi ngược lại với những nguyên tắc ở Hoa Kỳ”.  Chưa rõ cụ thể chính phủ sẽ thu thập những dữ liệu gì hay bằng cách nào, nhưng các chuyên gia cho rằng cơ sở dữ liệu của FBI – Hệ thống dữ liệu chỉ số tổng hợp (CODIS) sẽ gồm 20 chỉ thị quy định đặc trưng của dữ liệu DNA. Những chỉ thị này là các trình tự lặp nối tiếp ngắn (STR) – các vùng lặp lại của DNA có độ dài khác nhau ở mỗi người. Các chuỗi STR trong CODIS thuộc các vùng không mã hóa của bộ gene và về lý thuyết, chúng không truyền đạt bất cứ thông tin nào ngoài giới tính. “Chúng có chức năng thuần túy như những dấu vân tay”, Hank Greely, một nhà đạo đức sinh học ở Đại học Stanford, California, cho biết.  Tuy nhiên, dữ liệu di truyền do chính phủ thu thập từ những người nhập cư bị giam giữ cung cấp nhiều thông tin hơn so với dấu vân tay. Dữ liệu STR có thể chỉ ra quan hệ họ hàng giữa hai người và có thể được sử dụng để điều tra các vụ án trong quá khứ hoặc tương lai nhờ việc khôi phục những chất dịch cơ thể. Dữ liệu STR có thể được ghép đôi để tạo ra dữ liệu di truyền đầy đủ hơn, tương tự dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu sức khỏe hoặc cơ sở dữ liệu tổ tiên, với hàng trăm ngàn chỉ thị.  Xem xét hai bộ dữ liệu di truyền từ 900 bộ gene trong một nghiên cứu năm 2017, các nhà khoa học phát hiện có thể ghép chúng với dữ liệu STR chứa 13 chỉ thị trong CODIS để có được dữ liệu đầy đủ hơn, với độ chính xác thấp nhất là 90%. Kết quả cho thấy việc sử dụng dữ liệu trong CODIS có thể xác định được bộ gene bị ẩn giấu từ các cơ sở dữ liệu nghiên cứu sức khỏe hoặc những nguồn khác. Cùng năm đó, CODIS đã thông qua 7 chỉ thị bổ sung, đồng nghĩa với việc những liên kết tương tự có thể dễ dàng thực hiện hơn.  Rori Rohlfs, một nhà di truyền thống kê ở Đại học San Francisco, cho biết, việc tiếp cận thông tin DNA khiến người nhập cư có nguy cơ bị xâm phạm quyền riêng tư và phân biệt đối xử về mặt di truyền. Về lý thuyết, dữ liệu của CODIS được lưu trữ an toàn và chỉ sử dụng cho nhận dạng – nhưng an ninh mạng không đảm bảo. Nếu dữ liệu bị lộ, chúng có thể là lý do từ chối tuyển dụng hoặc cấp bảo hiểm nhân thọ cho ai đó.  Do các thành viên trong gia đình có chung DNA, kế hoạch của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến cả họ hàng của những người nhập cư – một trong số đó có thể là công dân Hoa Kỳ, Liên đoàn tự do dân sự Hoa Kỳ phát biểu trong một tuyên bố.  Rủi ro đặt ra từ việc thu thập DNA sẽ tăng lên nếu trong tương lai, chính phủ sử dụng các mẫu lưu trữ để thực hiện các xét nghiệm di truyền chi tiết. “Lo lắng về mục tiêu của cơ sở dữ liệu này đang vượt khỏi phạm vi ban đầu không phải là điều hoàn toàn vô căn cứ”, Rohlfs nhận xét.□  Thanh An dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-02998-    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lò phản ứng Đà Lạt: Trước ngày khôi phục      Tôi biết về lò phản ứng TRIGA-MARK II của Đà Lạt khi anh Nguyễn Đình Tứ, Viện trưởng đầu tiên của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, trao đổi là cần tìm hiểu kỹ về nó từ những năm cuối 1960, khi còn làm việc ở Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna. Tuy nhiên, vào những ngày đầu tiên sau khi thống nhất đất nước, đến Đà Lạt, tôi chỉ được đứng ngắm nhìn nó từ bên ngoài hàng rào, lúc đó được Quân đội tiếp quản.      Trình bày kế hoạch nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của Lò phản ứng Đà Lạt (1977). Từ phải sang: TS. Phạm Quốc Trinh, PGS. TS Nguyễn Nguyên Phong, GS.TS Phạm Duy Hiển (Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử VN), PGS. TS Nguyễn Hữu Xý, PGS.TS Nguyễn Mộng Sinh, tiếp theo là các cán bộ ngành xây dựng.    Quá trình khảo sát     Khi đó, tôi đảm trách nhiệm vụ khẩn cấp khác: Bộ Điện lực (ngày nay là Bộ Công thương) mời chúng tôi vào gấp để kiểm tra mối hàn đoạn đường ống dốc đứng mới được ta thay và trục turbine Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, một công việc thuộc công trình khôi phục gấp nhà máy đã bị hư hại trong chiến tranh. Chúng tôi được mời là do trong những năm chiến tranh, Đại học Bách khoa Hà Nội đã phát triển kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) bằng tia gamma và tia X và thành công trong kiểm tra mối hàn khôi phục các nhà máy điện bị Mỹ đánh phá, các công trình xây dựng trọng điểm như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh….    Tuy nhiên cơ hội vẫn ở đó bởi ngay sau giải phóng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đã ký một thỏa thuận quan trọng, trong đó có điểm 6 (Punkt 6) Liên Xô giúp Việt Nam khôi phục Lò phản ứng Đà Lạt. Lãnh đạo Nhà nước giao nhiệm vụ đó cho Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT Nhà nước Trần Đại Nghĩa. Và những cán bộ hạt nhân lại lên đường!    Chúng tôi là những cán bộ khoa học đầu tiên được phép vào khảo sát lò phản ứng hạt nhân. Những ấn tượng đầu tiên thật khó phai, cho đến tận bây giờ: trong nước tinh khiết (~ 2 MΩ.cm) của lò có nhiều đầu mẫu thuốc lá và dây thun (!), nhà lò và khối bảo vệ có nhiều vết nứt theo một hướng, mái nhà lò dột. Khi đó, tôi được phân công phụ trách công nghệ lò, tổ chức cho hoạt động lại các hệ thống công nghệ liên quan như đo phóng xạ, lọc nước cơ học và ion, thay nước lò… Khi bắt tay vào công việc, chúng tôi phát hiện thêm một số vấn đề: chỉ số phóng xạ trong lò rất cao, có chỗ gấp 1.000 lần so với mức cho phép làm việc; thùng lò bị nghiêng, vành phản xạ graphite bị lệch tâm và nghiêng – hai mép ngoài chênh nhau đến 6 mm… Chúng tôi đã thử một lần đặt lại vành phản xạ nhưng việc này rất phức tạp vì liều lượng phóng xạ cao và kết quả là còn nghiêng 3 mm 1. Sau này, đoàn chuyên gia hạt nhân Liên Xô qua đã đề nghị Việt Nam thử làm lại một lần nữa như vậy để vành phản xạ graphite đứng thẳng nhưng rồi lại dừng không làm nữa, nguy hiểm. Chúng tôi nghi là trong chiến tranh đã có vụ nổ mạnh nào đó gần lò nhưng anh em bên quân đội cũng không tìm ra nguyên nhân.      Đưa thiết bị siêu âm xuống để nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của bề mặt trong thùng lò.  Trong giai đoạn khảo sát ban đầu về hiện trạng lò phản ứng Đà Lạt, tôi được giao phụ trách mảng công nghệ: nghiên cứu trạng thái kỹ thuật (Tecnicheskoe sostoianie) của lò Đà Lạt2. Đây là một việc khá phức tạp vì phải nghiên cứu nhiều thứ liên quan, từ khối bê tông bảo vệ phóng xạ ngoài cùng, đến thùng lò và bề mặt nhôm bên trong của nó, nước lò, vành phản xạ graphite, cấu tạo vùng hoạt, các hệ thống kỹ thuật và an toàn, các kênh tiếp tuyến và xuyên tâm… Việc nghiên cứu để giải thích độ phóng xạ cao trong lò là vấn đề hay. Chúng tôi nhận thấy: với lò phản ứng này, nguyên nhân không phải neutron kích hoạt Fe của vành phản xạ có xích sắt kéo mẫu và khớp nối acordéon kênh xuyên tâm, như thường xảy ra ở các lò năng lượng khác, mà do tạp chất (Ni, Cu) có trong mác nhôm chuẩn của Mỹ dùng làm vỏ lò bị kích hoạt mà ra. Đoàn chuyên gia Liên Xô sau này tin vào kết luận và khen là các đồng nghiệp Việt Nam rất vững về kiến thức khoa học cơ bản (cũng thấy rõ điều này khi đi làm việc ở Malaysia và Thái Lan) nhưng yếu về công nghệ. Thì hồi đó Liên Xô cũng giữ bí mật công nghệ lắm, không cho mình xem và làm nên mình không rõ về công nghệ là lẽ đương nhiên.    Sau giai đoạn khảo sát, các vấn đề về khôi phục lò phản ứng đã được Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam bàn bạc. Anh Nguyễn Đình Tứ giao công việc này cho anh Phạm Duy Hiển, Phó Viện trưởng và là chuyên gia vật lý hạt nhân, đảm nhận trọng trách “Tổng công trình sư” Công trình Khôi phục và mở rộng lò phản ứng Đà Lạt. Cũng chính anh Hiển sang Liên Xô ký hợp đồng công trình vào ngày 9/10/1979.    Khi bắt tay vào công đoạn Thẩm định thiết kế, anh em chúng tôi nhận thấy mình đang đối mặt với rất nhiều khó khăn: công suất 250 kW của lò cũ quá nhỏ; vị trí đặt lò lại ở xa các trung tâm KHCN hiện thời của đất nước; phải thay nhiên liệu theo công nghệ Triga-Mark II bằng nhiên liệu tiêu chuẩn của Liên Xô vốn theo công nghệ khác nên phải đổi hầu như toàn bộ thiết bị công nghệ3.    Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy có một chi tiết đáng chú ý là điểm 6 trong thỏa thuận giữa các Tổng bí thư hai nước chỉ có nội dung “Liên Xô giúp Việt Nam khôi phục lò phản ứng Đà Lạt” – tức là chỉ khôi phục, cho chạy lại như cũ là xong! Như vậy công trình mất ý nghĩa khôi phục, lại ở xa các trung tâm KH&CN của đất nước, khó tận dụng lò, vận chuyển vật liệu cho xây dựng và vận hành tốn kém, giải pháp công nghệ chưa được kiểm nghiệm… Do đó, Việt Nam phải “đấu tranh” mãi mới thêm được hai chữ “mở rộng”, thành ra có “khôi phục và mở rộng” vào tên công trình, dẫn đến một số kết quả như góp phần đưa công suất lên gấp đôi 500 kW, trang bị thêm các thiết bị đo đạc và nghiên cứu.    Lúc đó, cũng có đề xuất của các chuyên gia kỹ thuật Liên Xô là làm một lò phản ứng khác theo tiêu chuẩn của Liên Xô thì lợi hơn, kiểu công nghệ IRT dạng bể bơi do họ thiết kế và đã xây cho nhiều nước, công suất khoảng 2000 kW, có ưu điểm vừa rẻ, dễ làm, an toàn, lại thuận tiện nếu chọn vị trí ở gần Hà Nội hoặc Biên Hòa.    Tuy nhiên, Việt Nam vẫn muốn giữ nguyên quan điểm của mình. Cuối cùng Công trình Khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã được khởi công vào ngày 15/3/1982 với tên mới là IVV-9 và đạt trạng thái tới hạn lần đầu, sử dụng các bó nhiên liệu độ giàu cao (HEU) 36% U-235 vào lúc 19 giờ 50 ngày 1/11/1983.     Những hoạt động ngoại giao hỗ trợ     Công trình Khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt không chỉ gắn liền với vấn đề khoa học và công nghệ mà còn liên quan đến các hoạt động ngoại giao đàm phán của ngành hạt nhân. Do từng được cử tham gia các hoạt động này, trong suốt những năm 1977 – 1980, tôi thường được cử dự Đại hội đồng Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Hội nghị trù bị của các nước XHCN hay làm Điều phối viên về năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong Ủy ban KHCN của khối SEV, nên vào năm 1980, tôi lại được giao làm Trưởng Tiểu ban Kỹ thuật – Hiệp định Bảo đảm (Garanties) cho Lò phản ứng Đà Lạt ký giữa Việt Nam và IAEA. Khi đó, có chút rắc rối là Việt Nam chưa ký Công ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân-NPT (chuyện này phải đến năm 1982 mới thực hiện). Vì thế, Việt Nam chưa có đủ cơ sở pháp lý để mời Liên Xô giúp khôi phục lò Đà Lạt. Việc khôi phục lò phải ngừng và chúng ta phải ký hiệp định Bảo đảm cho IAEA thanh tra để xác thực là chúng ta không dùng lò phản ứng cho mục đích quân sự. Nội dung Hiệp định này do của IAEA dự thảo, đưa ra 21 điều thì chúng ta bất đồng 19 điều. Do vậy, để giải quyết việc này, Chính phủ đã lập bốn tiểu ban: Kỹ thuật, Pháp lý, Đối ngoại và An ninh quốc phòng rồi giao cho các anh Nguyễn Đình Tứ và Võ Đông Giang phụ trách.      Đoàn Đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng IAEA tại Vienna, Áo, 1978. Từ phải sang, hàng ghế thứ 2: Nguyễn Mạnh Cầm (trưởng đoàn), Lê Bá Cáp, hàng ghế thứ 3: Đinh Ngọc Lân, Nguyễn Nguyên Phong  Chúng tôi đã nghiên cứu nội dung Hiệp định trong ba tháng, làm nhiều seminar để nắm vững vấn đề. Sau đó, mời Phó chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Cuba, người phụ trách ký Hiệp định tương tự với IAEA, sang trao đổi thêm kinh nghiệm. Tôi còn nhớ ông ấy đã nhận xét “Vậy là các đồng chí Việt Nam có trình độ cao hơn Cuba về vấn đề này rồi” còn anh Tứ phát biểu trong buổi tổng kết “Các đồng chí phụ trách ở đây đã thực hiện một khối lượng nghiên cứu lớn, xứng đáng được trao bằng Phó tiến sĩ về kỹ thuật và pháp quy hạt nhân!”.  Để đàm phán với IAEA, Chính phủ đã cử Đại sứ Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung, một nhà ngoại giao lão luyện, làm trưởng đoàn; các thành viên khác gồm tôi phụ trách kỹ thuật, Lê Bá Cáp ngoại giao, anh Vệ về luật pháp, Nguyễn Thọ Nhân phiên dịch. Ông Võ Văn Sung rất thông minh, chỉ sau ba buổi tối trao đổi với tôi tại nhà riêng đã nắm rất vững Hiệp định.  Cuộc đàm phán rất phức tạp, kéo dài trong suốt một tháng tại Viên (Áo). Trưởng đoàn IAEA là Vụ trưởng đối ngoại Hertzig, hơi bị điếc, lúc nào không thích thì bảo không nghe thấy, Ông Võ Văn Sung hay nhắc lại “Lò Đà Lạt là ‘chaton’ – con mèo con, các ông đừng đối xử với nó như con hổ, chứng minh là mỗi năm chạy hết công suất, nếu lấy hết cũng chỉ được có 19 gam Plutonium, chạy cả hàng trăm năm mới làm được quả bom nguyên tử à!” Ông Hertzig bảo: “Nếu không cẩn thận thì nó sẽ lớn thành con hổ đó!” Ông Võ Văn Sung trả lời ngay “Thế thì ông sai với học thuyết tiến hóa của Darwin rồi! – Con mèo không thể biến thành con hổ”. Cả hai đoàn cùng phá lên cười, hết cả căng thẳng. Về sau, trong đàm phán thì cứ thỉnh thoảng lại nhắc cái câu chuyện hổ – mèo này!    Một trong những vấn đề gay cấn nhất của cuộc đàm phán là vấn đề “thông tin”. IAEA muốn kiểm soát cả thông tin thu từ lò Đà Lạt không được sử dụng cho mục đích quân sự, thế thì kiểm soát khắp nước mình à! Có hôm hai đoàn đến ngồi nhìn nhau rồi hỏi: Có gì mới không? Ngồi một lát rồi ra về! Còn nhớ, sau một ngày đàm phán, tối nào cũng họp đoàn thảo luận đến khuya, sau đó tôi còn phải thức tiếp đến 1-2 giờ sáng để viết các ý kiến tranh luận trong đàm phán vào những mảnh giấy con, Trưởng đoàn đút túi, khi cần thì rút ra xem, ông rất ít khi phải xem, nhưng nói rất trúng. Vào lúc chúng tôi tưởng không ký được thì thật bất ngờ, hiệp định chỉ được ký trước giờ lên đường về nước mấy tiếng đồng hồ…      Đoàn đại biểu cấp chính phủ thăm Ấn Độ và dự Đại hội đồng IAEA tại Ấn Độ 1979 từ trái sang: Đinh Ngọc Lân, Nguyễn Đình Tứ (trưởng đoàn), Nguyễn Nguyên Phong, Lê Bá Cáp    Vậy là chính nhờ có Hiệp định Bảo đảm Garanties này mà Lò phản ứng Đà Lạt mới có thể được tiếp tục khôi phục và mở rộng. Tuy nhiên, sau này khi Việt Nam đã ký Công ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân thì nó không còn ý nghĩa nữa, nên người ta thường hay quên mất giai đoạn khó khăn này!    Đối với tôi, những ngày đầu tiên tham gia công việc khảo sát lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là một kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời. Hơn nữa, chính lò phản ứng Đà Lạt lại đã giúp tôi đào tạo tiến sĩ vật lý hạt nhân cho một nghiên cứu sinh Angola đặc biệt: bà Maria Cândida Pereira Teixeira, nay là Bộ trưởng Giáo dục Angola.□  ——  PGS. TS Nguyễn Nguyên Phong công tác tại Viện Vật lý Kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội.     Chú thích  1. Việc thùng lò bị nghiêng khoảng 5 độ đã gây lo lắng cho các nhà khoa học là có thể dẫn đến hậu quả các thanh điều khiển bị kẹt không rơi vào vùng hoạt lò phản ứng để dập tắt phản ứng dây chuyền. Do đó, Liên Xô đã có phương án giải quyết rất thông minh là thiết kế một thùng nhôm khác (có đường kính nhỏ hơn thùng lò của Mỹ), không có đáy và đặt treo lên phía trong thùng lò của Mỹ. Vùng hoạt và vành phản xạ graphite do Liên Xô thiết kế được treo phía dưới thùng nhôm bên trong nên đảm bảo luôn thẳng đứng mà không phụ thuộc vào độ nghiêng thùng lò của Mỹ. Vì vậy lò phản ứng Đà Lạt hiện có tới hai lớp “thùng lò”, đó cũng là một đặc thù rất riêng.  2. Diễn ra trong các năm 1977-1978, công việc khảo sát lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là đánh giá ban đầu về hiện trạng lò, góp phần vào Công trình Khôi phục và mở rộng lò phản ứng lò phản ứng Đà Lạt.  3. Trong giai đoạn này, phó giáo sư Nguyễn Nguyên Phong được phân công làm trưởng Tiểu ban Công nghệ.  Vào năm 1977, do Việt Nam muốn tiếp tục tham gia IAEA, nên Chính phủ quyết định cử đoàn do ông Nguyễn Mạnh Cầm, Đại sứ Việt Nam ở Tây Đức làm trưởng đoàn. Thành phần của đoàn gọn nhẹ có tôi là chuyên viên kỹ thuật, Đinh Ngọc Lân – đối ngoại, Lê Bá Cáp – ngoại giao, cùng tập trung lo mọi việc để xin IAEA viện trợ kỹ thuật cho Việt Nam. Sau khi họp Đại hội đồng IAEA và Hội nghị trù bị của các nước XHCN những năm 1977 – 1980, lần nào, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng gọi anh Lê Bá Cáp và tôi lên báo cáo, trao đổi khá lâu. Ông là một trong những lãnh đạo Chính phủ quan tâm đến năng lượng nguyên tử. Tôi nhớ lại những năm 1960, khi được cử phụ trách một gian trong Triển lãm Năng lượng nguyên tử đầu tiên của Liên Xô tại khu Vân Hồ Hà Nội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến xem và muốn tìm hiểu hỏi về năng lượng nguyên tử. Tôi đã giảng cả mấy buổi tối, sau đó Thủ tướng có mời các cán bộ Việt Nam phụ trách lên Phủ Chủ tịch ăn cơm. Thủ tướng rất thân mật và chân thành, hỏi có nguyện vọng gì? – Tôi trả lời: Được đi học nước ngoài.    Author                Nguyễn Nguyên Phong        
__label__tiasang Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: Khoảng giao thời giữa hai công nghệ Mỹ và Nga      Trung tâm hạt nhân Đà Lạt với lò phản ứng TRIGA MARK II được bắt đầu xây cất vào năm 1961 và khánh thành vào tháng 10/1963. Hoa Kỳ cung cấp lò phản ứng TRIGA và giúp xây dựng hệ thống bê tông bảo vệ phóng xạ bao quanh thùng lò. Toàn bộ hệ thống này hoàn toàn giống như mọi lò TRIGA MARK II khác trên thế giới (hình dưới). Các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật cung cấp điện nước, thông khí, và xử lý nước thải đều do nhà thầu nội địa đảm nhiệm.    Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt  Trong số những hạng mục này, ấn tượng nhất là nhà chứa lò hình trụ cao 17 m, đường kính 20 m, nằm ngay chính tâm một khuôn viên đồng tâm, được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ theo mô hình nguyên tử. Nhưng ý tưởng sâu xa của ông hình như lấy cảm hứng từ bánh xe Pháp Luân, tiến lên không ngừng từ Vô Minh đến Giác Ngộ, theo giáo lý Phật. Không chỉ là một kiệt tác kiến trúc, không giống bất cứ trung tâm lò phản ứng nào trên thế giới, nhà lò của KTS Ngô Viết Thụ còn tích hợp rất thành công ý tưởng đối xứng đồng tâm với giải pháp cơ khí nhằm bảo đảm những yêu cầu kỹ thuật về vận hành lò. Chiếc cần cẩu xoay theo đường ray tròn nằm dọc theo tường ở cao độ 12 m có khả năng di chuyển các cấu kiện từ mọi nơi trong gian nhà lò, đặc biệt là các container bằng chì chứa phóng xạ từ vùng hoạt (hình dưới). Các chuyên gia Liên Xô khi sử dụng cần cẩu xoay để lắp lò phản ứng mới đều phải thán phục. Hai tháng sau ngày thống nhất đất nước, anh Nguyễn Văn Hiệu, Viện trưởng Viện Vật lý bảo tôi “Cậu vào Đà Lạt khảo sát lò phản ứng và có kiến nghị lên lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam”. Tôi bay vào Sài Gòn từ sân bay Gia Lâm, cùng với GS. Lê Văn Thiêm, Viện trưởng Viện Toán. Sau ba ngày dừng chân tại nhà khách trên đường Phan Thanh Giản, hai thầy trò chia tay nhau.  Tôi lên Đà Lạt bằng xe quân đội cùng với anh Nguyễn Quỳ, Viện Kỹ thuật Quân sự. Tháp tùng chúng tôi có một thiếu tá và hai chiến sỹ mang AK. “Trên đường, ta có thể gặp Fulro, nếu có tình huống gì, xin hai anh cứ bình tĩnh nấp sau xe”. Cầm AK trong tay, viên thiếu tá căn dặn chúng tôi trước khi khởi hành.    Không chỉ là một kiệt tác kiến trúc, không giống bất cứ trung tâm lò phản ứng nào trên thế giới, nhà lò của KTS Ngô Viết Thụ còn tích hợp rất thành công ý tưởng đối xứng đồng tâm với giải pháp cơ khí nhằm bảo đảm những yêu cầu kỹ thuật về vận hành lò.    Lò phản ứng lúc này do đoàn A1 thuộc Bộ Quốc phòng quản lý. Một số nhân viên cũ từng làm việc trên lò TRIGA trước đây được mời lên Đà Lạt. Sự có mặt của các anh lúc này là cần thiết để giảng giải cho các đoàn tham quan từ khắp nơi trong nước háo hức đến xem lò phản ứng. Các anh để gia đình ở lại Sài Gòn, sống độc thân trong điều kiện sinh hoạt rất khó khăn lúc bấy giờ.  Qua các anh, tôi biết được những hoạt đông học thuật trước đây quanh lò TRIGA. Thiết bị nghiên cứu và ứng dụng khai thác lò không nhiều. Đáng kể nhất có lẽ là chiếc Howitzer với nguồn neutron Pu-239 cường độ một triệu neutron/giây dùng để huấn luyện vật lý neutron, bàn tay máy điều chế chất phóng xạ, và máy đo phóng xạ beta phông thấp. Bàn tay máy luôn là địa điểm dừng chân hấp dẫn nhất đối với khách tham quan.  Nhờ có máy đo phóng xạ beta phông thấp mà trung tâm Đà Lạt đã ghi nhận được phóng xạ từ vụ thử bom khinh khí của Trung Quốc ở Lop Nor ngày 27/6/1973. Đây là vụ thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển cuối cùng của Trung Quốc (và cũng là của cả thế giới). Các vụ thử vũ khi hạt nhân sau đó đều phải tiến hành dưới lòng đất. Thật đáng tiếc, một kết quả quan trắc phóng xạ có giá trị như thế lại không được nâng lên tầm công bố ra các tạp chí khoa học quốc tế. Có cảm tưởng như trước đây ở Đà Lạt thiếu hẳn nguồn động lực để những công cụ rất có giá trị như lò phản ứng TRIGA MARK II được khai thác phục vụ cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng  GS. Phạm Duy Hiển. Ảnh: Thanh Nhàn  Khá nhiều báo cáo học thuật ngắn, phần lớn là các tài liệu mô tả công việc, được lưu trữ chu đáo trong các tủ hồ sơ. Trong số này, có một báo cáo rất đáng chú ý của phòng vật lý, phác thảo hệ tán xạ neutron góc nhỏ trên kênh dẫn nơ trôn, một hướng nghiên cứu sôi nổi nhất trên lò phản ứng lúc bấy giờ. Bản vẽ thiết kế và hoàn công của các hạng mục công trình trước đây đều được sắp xếp và bảo quản chu đáo trong nhiều tủ hồ sơ. Khắp nơi đều rất chỉn chu. Cả cái thư viện xinh xắn với nhiều sách chuyên khảo tiếng Anh quý giá khó tìm thấy ở các viện nghiên cứu miền Bắc lúc bấy giờ.  Lững thững trên đường Đinh Tiên Hoàng cho đến quảng trường trước chợ, tôi bất giác nhận ra mình chưa hề ngắm cảnh Đà Lạt và hồ Xuân Hương lúc hoàng hôn. Lần đầu tiên đặt chân đến miền đất thơ mộng huyền ảo này mà đầu óc cứ luôn quay cuồng quanh bao ý tưởng làm sao để những cấu trúc xinh xắn hiện có kia được giữ nguyên khi xây lò mới…     Tháng 4/1976, tại phòng khách nhà 30 Hoàng Diệu đã diễn ra một sự kiện đánh dấu cột mốc đầu tiên của ngành hạt nhân và lò phản ứng Đà Lạt. Sau khi thống nhất đất nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển dần sang chỉ huy mặt trận khoa học công nghệ. Ánh sáng từ sợi dây tóc đỏ hoe của bóng đèn tròn trong phòng khách mờ quá khiến tôi không thể nhận rõ khuôn mặt một vị tướng dong dỏng cao mà tôi chưa hề gặp: Thiếu tướng Trần Sâm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đại tá Hoàng Đình Phu và trung tá Nguyễn Quỳ, Viện Kỹ thuật Quân sự, tôi đã quen biết. Hai vị khách dân sự còn lại là anh Nguyễn Đình Tứ và tôi. Anh Tứ lúc này đã thay GS. Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Tôi bỡ ngỡ tự hỏi một chân đinh như mình sao lại được lọt vào cùng chiếu với các vị chức sắc. Đại tướng hình như cũng không mấy quan tâm đến chuyện “cân đai áo mão” khi giới thiệu tôi với mọi người. “… Việc quan trọng và cấp bách nhất hiện nay là khôi phục lò phản ứng Đà Lạt. Anh Tứ bận việc Bộ Đại học ở Hà Nội, nên tôi và các anh trong chính phủ đề nghị anh Hiển phải lo việc này là chính…”.  Ít hôm sau, ngày 26/4/1976, Chính phủ ra quyết định thành lập Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) trực thuộc Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Quyết định nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của lò phản ứng Đà Lạt trong quá trình xây dựng ngành hạt nhân. Song tại sao địa điểm Đà Lạt lại phải đặt trong dấu ngoặc? Tên bố mẹ, ngày tháng và địa điểm khai sinh đều “có vấn đề”. Tại sao Viện không nằm trong Viện Khoa học Việt Nam như tất cả các cơ sở nghiên cứu khác, mà lại trực thuộc Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (UBKHKT NN). Viện sinh ra lại không nhằm ngày lành tháng tốt. Đúng 10 năm sau, ngày 26/4/1986, thảm họa hạt nhân lớn nhất trong lịch sử đã xảy ra ở nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Có lẽ vì sợ cái dớp này mà gần đây ngày 26/4 không còn được xem là “happy birthday” của ngành hạt nhân nữa.           Công việc của Viện trong thời gian đầu quả không mấy trôi chảy. UNKHKT NN bố trí một căn phòng trên góc tầng 4 nhà 39 Trần Hưng Đạo, trụ sở của Ủy Ban, để làm địa điểm cho Viện. Viện trưởng bận công việc ở Bộ Đại học cách đó vài trăm mét. Về phần mình, tôi còn vướng các nghiên cứu ở Phòng Vật lý Hạt nhân Viện Vật lý, tận Nghĩa Đô. Trong thời gian đầu, những người thường có mặt tại trụ sở chưa đầy 15m2 này là các anh Cao Chi, Đoàn Nhượng, Phạm Quang Điện từ Viện Vật lý chuyển sang và anh Phan Vịnh lo công tác tổ chức.  Tại đây, lãnh đạo Viện gặp nhau vào sáng thứ sáu hằng tuần. Thường lệ, đầu giờ sáng chúng tôi làm việc với Anh Trần Quỳnh, Chủ nhiệm Ủy Ban KHKT NN để báo cáo công việc và nghe chỉ thị. Song công việc và chỉ thị lúc này đâu có nhiều, nên phần lớn thời gian xoay quanh chuyện quan hệ với Trung Quốc, đang ngày một nóng lên. Với cách nói dân dã, thông tin lại từ chính nguồn, nên câu chuyện rất hấp dẫn. Tôi luôn háo hức chờ đến thứ sáu hằng tuần để được nghe anh Trần Quỳnh nói chuyện.  Cuối 1975, Liên Xô đồng ý giúp Việt Nam khôi phục lò phản ứng Đà Lạt, như một trong chín công trình hợp tác trọng điểm được ký kết giữa hai chính phủ. Nhưng khôi phục lò phản ứng không đơn giản như những công trình dân dụng khác, bởi công nghệ lò phản ứng của Liên Xô và Mỹ rất khác nhau, khác từ nguyên lý hoạt động đến bản chất vật lý của nhiên liệu, mà nhiên liệu là trái tim của lò phản ứng.  Mặt cắt đứng của các lò TRIGA MARK II trên thế giới.  Hãng GA của Mỹ phát triển lò TRIGA theo cấu trúc đồng nhất (homogenous reactor). Nhiên liệu urani được trộn đều với chất làm chậm neutron (H) thành tinh thể U-ZrH, trong đó U chiếm 12% về khối lượng. Cấu trúc lò đồng nhất gồm nhiên liệu và chất làm chậm neutron bảo đảm an toàn thụ động, do lò có hệ số độ phản ứng âm tức thời theo nhiệt độ. Có nghĩa, khi độ phản ứng của lò tăng bất chợt làm tăng tốc phản ứng dây chuyền và nhiên liệu nóng lên thì nhiệt độ nhiên liệu sẽ hạ xuống ngay và lò lập tức trở về trạng thái ổn định. Đặc điểm này không giống như đa số các lò có cấu trúc dị nhất (heterogenous), ở đó chất làm chậm neutron nằm xen kẽ giữa các lớp nhiên liệu, nhiệt độ nhiên liệu không thể giảm xuống ngay tức thời mà phải sau một thời gian trễ, hàng milisec.  Những ưu việt về an toàn thụ động bắt nguồn từ một loại nhiên liệu đặc biệt của lò TRIGA, ở đó urani trộn lẫn với chất làm chậm zirconium hydride thành tinh thể U-ZrH. Dao động nhiệt trong mạng tinh thể zirconium hydride gồm hai nhánh với tần số thấp (acoustic) và cao (optic). Neutron phân hạch được làm chậm rất hiệu quả do mất năng lượng khi tán xạ lên các dao động tử thuộc nhánh tần số cao, năng lượng hν = 0.12 eV. Khi năng lượng giảm xuống dưới 0,12 eV, neutron sẽ được tiếp tục làm chậm bởi các dao động tử tần số thấp với năng lượng thấp hơn nhiều.  Nhiên liệu U-ZrH có thể xem như sản phẩm độc quyền của GA. Không thể vì giúp khôi phục lò phản ứng Đà Lạt mà Liên Xô phải bỏ công nghiên cứu nhiên liệu này. Nhưng dùng nước thường làm chậm neutron cũng rất tốt, mà lại là sở trường của công nghệ lò Liên Xô. Hàng chục lò phản ứng dùng nước thường làm chậm neutron và tải nhiệt đã được Liên Xô giúp xây dựng ở nhiều nước Trung Đông Âu, Bắc Phi và Cận Đông.  Cho nên, lò Đà Lạt mới sẽ là loại lò lai ghép giữa hai công nghệ Mỹ và Nga. Vùng hoạt với nhiên liệu của Nga được tải nhiệt bằng nước thường sẽ nằm lọt trong vành phản xạ graphit và khối hạ tầng hiện có của lò TRIGA Mỹ. Song công nghệ lò lai ghép này có thể mang lại công suất bao nhiêu?  Tháng 10/1976, Viện sỹ G. N. Flerov đến thăm lò phản ứng Đà Lạt. Ông là người đã khám phá ra hiện tượng phân hạch tự phát năm 1940, gửi thư lên Stalin năm 1942 lưu ý những động thái chứng tỏ Mỹ đang làm bom nguyên tử và thúc giục Liên Xô không nên chậm trễ. Sau chiến tranh, G. N. Flerov về Dubna xây dựng máy gia tốc ion nặng để tổng hợp các nguyên tố siêu nặng, Z > 100. Hai năm sau khi ông qua đời (2010), nguyên tố Z = 114 đã được chính thức mang tên ông, Flerovium.    Nhờ có máy đo phóng xạ beta phông thấp mà trung tâm Đà Lạt đã ghi nhận được phóng xạ từ vụ thử bom khinh khí của Trung Quốc ở Lop Nor ngày 27/6/1973. Đây là vụ thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển cuối cùng của Trung Quốc (và cũng là của cả thế giới).    Chúng tôi cùng anh Nguyễn Mộng Sinh tháp tùng viện sĩ Flerov từ Hà Nội vào Đà Lạt. Sau khi trèo lên cao xem xét lò TRIGA Mark II đã mất hết nhiên liệu, ông nhận định lò mới sắp được cải tạo sẽ không thể đưa công suất lên 1000 kW, như chúng tôi mong muốn. “Vấn đề của các anh giờ đây là nhanh chóng khôi phục lò và tập hợp đội ngũ khoa học để khai thác nó, chứ không phải là xây một lò mới hoàn toàn với công suất quá lớn”. Ông khuyên chúng tôi sau khi xem xét kỹ những gì còn lại dưới đáy lò.  Từ giữa năm 1976, chúng tôi bắt đầu hợp tác với chuyên gia Liên Xô để xây dựng phương án khôi phục lò. Đầu tiên là phải thông tin cho phía bạn về hiện trạng của toàn bộ công trình. Đoàn cán bộ kỹ thuật thứ nhất vào Đà Lạt cuối năm 1976 để giải quyết yêu cầu này. Đời sống lúc này rất khó khăn, mọi người đều phải đong gạo bằng tem phiếu. Công chức ở Đà Lạt phải ăn kèm bo bo thay gạo. Tôi phải đánh liều gặp Đại tướng xin can thiệp với tỉnh Lâm Đồng để cấp gạo cho đoàn. “Ủa! Sao người ta lại nói thương chồng nấu cháo bo bo.” Đại tướng cười hóm hỉnh rồi bảo thư ký điện ngay cho Lâm Đồng.  Trưởng phòng lương thực Đà Lạt lại là chị của anh Huỳnh Thượng Hiệp, thành viên trong đoàn, nên việc cấp gạo và thực phẩm khá trôi chảy. Bao gạo do phòng lương thực cấp được cất kỹ trong tủ, phòng anh Nguyễn Hữu Xý, chuyên gia điện tử hạt nhân thuộc thế hệ hạt nhân đầu tiên ở miền Bắc. Một sáng, sau khi giao đủ hai bữa gạo cho nhà bếp, anh Xý vẫn còn loay hoay đong gạo. “Mình phải kiểm tra để chia đều cho mấy bữa còn lại”, anh thanh minh khi thấy tôi ghé mắt vào phòng, trong lúc ô tô và mọi người đang chờ ngoài sân.  Cần cẩu xoay tròn độc đáo trên đường ray dọc theo tường ở cao độ 12 m trong gian nhà lò.  Việc đầu tiên là phải tháo gỡ nhiều bộ phận của lò cũ mà chắc chắn sau này sẽ vô dụng để có khoảng trống khảo sát đáy lò. Tuy lò gần như đã ngưng hoạt động từ 1967, phóng xạ cobalt-60 dưới đáy lò vẫn còn rất cao. Nhưng đáng băn khoăn là nhiều vết rỉ màu đỏ dưới đáy lò, thùng lò bị méo, vành phản xạ bị nghiêng, nhà lò bị dột, và nhiều vết nứt chạy dài trên tường bê tông bảo vệ. Mà đoàn khảo sát lại không ai chuyên về kỹ thuật xây dựng nên không thể đánh giá được liệu những sai hỏng này ảnh hưởng thế nào đến tính ổn định của công trình sau này. Dù sao, các bất thường này, và hiện trạng phóng xạ dưới đáy lò, cũng được mô tả đầy đủ và được phía Liên Xô quan tâm nghiêm túc.  Đoàn chuyên gia Liên Xô đầu tiên đến Đà Lạt vào tháng 8/1977 gồm nhiều thành phần do một tổng công trình sư xây dựng lãnh đạo. Trên đường từ TP. Hồ Chí Minh lên Đà Lạt đến địa phận Đồng Nai, chúng tôi đã thấy hai xe quân đội có vũ trang chờ sẵn. Họ hộ tống đoàn đến địa phận Lâm Đồng rồi bàn giao cho hai xe vũ trang khác đang chờ sẵn.  Phía Việt Nam tham gia khảo sát lò lần này cũng gồm nhiều chuyên gia xây dựng, thăm dò vết nứt bằng siêu âm, kiểm tra nền đất bằng mũi khoan deutch cone. Anh Nguyễn Văn Đạt, trường Đại học Xây dựng, lúc này về hẳn Viện Hạt nhân để lo mảng xây dựng. Nhiệm vụ chính của đoàn chuyên gia Liên Xô lần này là làm luận chứng cho một địa điểm xây cất lò phản ứng hạt nhân, do đó họ phải tìm hiểu rất nhiều điều kiện về đất nền, nguồn nước, cung cấp điện, khí tượng, nguồn vật liệu xây dựng v.v… Tiêu chuẩn xây dựng các công trình hạt nhân và bảo vệ phóng xạ ở Việt Nam là câu hỏi luôn được phía bạn đặt ra. Vì chúng ta hầu như chưa có những tiêu chuẩn này nên chúng tôi đề nghị cứ áp theo tiêu chuẩn Liên Xô. Cũng qua các cuộc trao đổi ở đây mới thấy nhu cầu xây dựng nơi lưu giữ phóng xạ ngay bên cạnh lò phản ứng Đà Lạt. Thực chất, trước mắt sẽ là mở rộng, chứ không chỉ khôi phục, cơ sở hạt nhân Đà Lạt, từ công suất lò đến các cơ sở kỹ thuật hạ tầng bao gồm nhiều hạng mục mới phải xây dựng như xử lý nước thải theo kỹ thuật thẩm thấu ngược, nghĩa địa phóng xạ quốc gia, phòng nghiên cứu phóng xạ môi trường,  v.v…  Tháng 8/1978, tôi có dịp đi ngang qua Moskva. Anh Trần Quỳnh cũng đang có mặt tại đây dự hội nghị khối SEV. Thấy tôi, anh bảo phải đến ngay Ủy ban Năng lượng nguyên tử Liên Xô (UBNLNT LX) ký xác nhận Phương án tiền khả thi cho lò mới. “Song có việc này anh cần lưu ý. Tôi mới nhận được điện ở nhà yêu cầu anh xem lại công suất máy biến thế”.  “Dạ sao ạ!”, tôi hơi ngạc nhiên. “Máy biến thế 500 kVA làm sao cung cấp đủ điện cho lò mới công suất 500 kW”, anh nói tiếp, tay cầm bức điện. Tôi thở phào và hiểu ngay “Dạ thưa anh, 500 kW là năng lượng phản ứng dây chuyền trong lò. Không có điện, tự nó vẫn xảy ra. Còn 500 kVA là công suất máy biến thế nuôi các thiết bị dùng điện như chiếu sáng, bơm nước, thông gió v.v…, hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Công suất máy biến thế 500 kVA chẳng những không thiếu, mà chắc chắn sẽ thừa đấy anh ạ!”.  Tôi đến trụ sở UBNLNT LX được hai sĩ quan an ninh tiếp đón tận cửa và đưa vào phòng khách. Vụ trưởng Quan hệ quốc tế Afonin cùng ba chuyên viên đã chờ sẵn. Ông giở ra trước mặt tôi trang đầu: “Xin mời ký vào góc phải trên cùng. Có chữ ký của đồng chí, chúng tôi sẽ bắt đầu thiết kế”. Không thảo luận gì về học thuật, thủ tục ký kết kéo dài không quá 15 phút.                  Mặt cắt đứng (trái) và cấu hình vùng hoạt với 92 bó nhiên liệu lục giác (phải) của lò Đà Lạt mới. Các ô gạch sọc là thanh beryli.   Cho đến lúc này, các vấn đề vật lý và kỹ thuật lò hầu như không có gì phải đem ra bàn bạc giữa hai bên. Chỉ biết lò mới vẫn tải nhiệt theo cơ chế đối lưu tự nhiên. Các tính toán thủy nhiệt theo phương pháp kỹ sư cho thấy cơ chế này bảo đảm công suất lò 500 kW, và nhiệt độ nước đủ thấp để tránh được hiện tượng sôi bề mặt thanh nhiên liệu. Về nhiên liệu, vấn đề cũng không phức tạp. Liên Xô có hai loại nhiên liệu dùng cho lò nghiên cứu: IRT tiết diện vuông, mỗi cạnh 67 mm và WWR-M2 tiết diện lục giác rộng 32 mm. Phương án tiền khả thi lò Đà Lạt vừa được ký sử dụng 16 bó nhiên liệu IRT cho lọt vào vành phản xạ graphit hiện có. Liên Xô lúc này cũng đang giúp Libya xây dựng lò 10 MW ở Tajoura, dùng nhiên liệu IRT.  Tuy nhiên sau đó trong thiết kế lò mới, bó nhiên liệu vuông IRT không được sử dụng mà thay vào đó là bó lục giác WWR-M. Phương án này vừa tạo ra trường neutron phân bố đều, lại bảo đảm tính linh hoạt khi lắp và vận hành lò, nên ưu việt hơn. Hai hình dưới đây mô tả sơ đồ mặt cắt đứng của lò mới (trái) và cấu hình 92 bó nhiên liệu lục giác WWR-M2 trong vùng hoạt (phải). Nhiều thanh beryli được chèn thêm vào vùng hoạt để tăng cường phản xạ và làm lợi neutron.  Lúc sinh thời, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần tới lò phản ứng Đà Lạt.  Trung tuần tháng 11/1981, Đại tướng gọi tôi đến 30 Hoàng Diệu. “Anh thu xếp vào ngay Đà Lạt để chỉ huy công trình. Nhớ thường xuyên điện cho tôi biết tình hình qua kênh tỉnh ủy Lâm Đồng nhé!”  Hai hôm sau tôi bay vào Đà Lạt để lại Hà Nội hai con thơ trong khi vợ đang đi thực tập ở nước ngoài. Nghi thức động thổ đơn sơ được tổ chức vào sáng ngày 21/11/1981. Chúng tôi cùng ông Afonin, từ Liên Xô bay sang, xúc những xẻng bê tông đầu tiên xây tầng hầm tòa nhà bảo đảm kỹ thuật cho công trình.  Hai năm sau lò đạt đến tới hạn và đi vào hoạt động ngày 20/3/1984.  Tròn 40 năm rồi đó!□  ———–  Năm 1963 một trung tâm hạt nhân với lò phản ứng TRIGA- MARK II công suất 250 kW đã bắt đầu vận hành ở Đà Lạt. TRIGA là tên viết tắt của training (đào tạo), research (nghiên cứu), isotope (chế tạo đồng vị phóng xạ) do hãng General Atomic (GA), Hoa Kỳ chế tạo. TRIGA-MARK II được lắp đặt, và hoạt động có hiệu quả cho đến nay ở hàng chục nước trên thế giới, kể cả nhiều nước tiên tiến, như Áo, Ý, Slovenia, v.v… Nhưng ngay trước khi quân giải phóng tiến vào thành phố ngày 29/4/1975, gần 90 thanh urani với độ giàu 20% U-235 đã được quân đội Mỹ cấp tốc rút ra khỏi lò, đưa về Mỹ.  Mất nhiên liệu, nhìn từ trên xuống đáy lò lúc bấy giờ có thể thấy rõ vành phản xạ graphit, bốn kênh ngang, cột nhiệt, và cột nhiệt hóa. Chúng gắn với thùng lò bằng nhôm đường kính 2 m, dày 6 mm, cao 6 m thành một kết cấu rắn chắc. Tuy mất hết nhiên liệu, nhưng lúc này độ phóng xạ dưới đáy lò vẫn còn khá cao, chủ yếu là từ Co-60. Do đó, thùng lò vẫn phải chứa nước tinh khiết để cản xạ và giữ cho vật liệu dưới lò không bị ăn mòn.    Author                Phạm Duy Hiển        
__label__tiasang Loại bỏ tâm lí nể nang khi xét duyệt đề tài      Theo GS. Trần Đức Viên, cách thức xét duyệt các đề tài ứng dụng trong tiểu hợp phần 2(b) của dự án FIRST [Thúc đẩy liên kết đổi mới KH&amp;CN giữa doanh nghiệp và cộng đồng KH&amp;CN] đã loại bỏ được tâm lí nể nang vốn “ngự trị” từ lâu trong các hội đồng khoa học ở Việt Nam.     Hai vòng đánh giá đều được cấp kinh phí    Hơn 50% giá trị tiểu hợp phần 2(b) của dự án FIRST (18/28 triệu USD) là dành cho hỗ trợ sự hình thành các nhóm hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Nhóm hợp tác nghiên cứu này sẽ bao gồm các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hoàn thiện và thương mại hóa một sản phẩm hoặc công nghệ.     Đối tượng nộp đơn tham dự vào hợp phần 2(b) thông thường sẽ trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn I cho phép bất kì doanh nghiệp, viện, trường nào phù hợp với các lĩnh vực ưu tiên (công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học và nông nghiệp, vật liệu mới, cơ khí, hàng hóa và dịch vụ) nộp đơn đăng kí và đều được nhận tài trợ tối đa 50.000 USD. Giai đoạn II sẽ tập trung lựa chọn những dự án tiềm năng và tài trợ lên đến 3 triệu USD cho mỗi dự án.    Theo sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án FIRST, giai đoạn I được cho là không có cạnh tranh vì tất cả những ai nộp đơn đăng kí hợp lệ đều được cấp kinh phí. Tuy nhiên, thông qua bản đăng kí, mỗi đơn vị cần trình bày ngắn gọn ý tưởng đề xuất (dưới 400 từ) và đưa ra năm đơn vị dự kiến cùng tham gia (trong đó có ít nhất hai doanh nghiệp tư nhân và một viện nghiên cứu hoặc trường đại học khác). Tầm quan trọng của giai đoạn I là để những người muốn tham gia tự đánh giá về tiềm năng hợp tác và thương mại hóa sản phẩm của mình.     Giai đoạn II mang tính cạnh tranh cao, theo đó Ban Quản lý dự án Trung ương (CPMU) của dự án FIRST phải thành lập tổ chuyên gia đánh giá (TEC)- Tổ này không chỉ đánh giá chuyên môn mà còn cả tiềm năng thị trường của đề án. TEC gồm bảy người: hai chuyên gia về lĩnh vực của đề án, một chuyên gia tổng hợp KH&CN do Giám đốc dự án FIRST đề xuất, một chuyên gia về tài chính doanh nghiệp, một chuyên gia về thương mại hóa, một chuyên gia từ Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ (SATI), một chuyên gia từ Cục phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN (NATEC). Tuy nhiên, để họp hội đồng chỉ cần năm thành viên, có thể thiếu một trong hai chuyên gia đến từ SATI và NATEC và chuyên gia tổng hợp KH&CN. Thành viên trong tổ chuyên gia không được phép là người đến từ các đơn vị thực hiện dự án. Tổ chuyên gia, nếu cần, sẽ được trợ giúp bởi các chuyên gia nước ngoài. Có 10 tiêu chí đánh giá tính khả thi và năng lực của những người thực hiện dự án làm cơ sở để các chuyên gia cho điểm với tổng số là 120. Tiêu chí được đánh giá cao nhất là minh bạch về tài chính. Nếu đề án cho phép FIRST công bố toàn bộ nội dung chi tiết tài chính thì sẽ được điểm tối đa (30 điểm) còn nếu không thì sẽ không được điểm phần này. Việc tài trợ dự án trong giai đoạn II sẽ phải có vốn đối ứng từ phía người thực hiện dự án theo tỉ lệ thấp nhất là 50/50 (nếu bên thực hiện có thể chi trả nhiều hơn thì sẽ được ưu tiên). Cuối cùng, CPMU sẽ lựa chọn các dự án dựa trên điểm đánh giá xếp từ cao đến thấp (kết quả này sẽ được trình lên Bộ KH&CN và Ngân hàng Thế giới, nếu Ngân hàng Thế giới đồng tình, Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng được ủy quyền mới được phê duyệt dự án).    Bên cạnh đó, CPMU cũng sẽ tuyển dụng một hoặc một nhóm chuyên gia uy tín có kinh nghiệm cấp vốn tài trợ tương tự như FIRST để đánh giá cơ chế tài trợ và mô hình hoạt động của TEC. Nhóm này sẽ cung cấp báo cáo vào cuối năm thứ nhất và thứ hai của dự án.    Ngoài ra, Bộ KH&CN sẽ có một nhóm công tác hỗ trợ các đơn vị trong quá trình nộp hồ sơ đăng kí xin tài trợ (từ việc viết hồ sơ đến tìm chuyên gia góp ý). Nhóm công tác này đồng thời cũng làm việc với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hiệp hội, các tổ chức quốc tế, nghiên cứu, thu thập thông tin để xác định các ứng cử viên tiềm năng.     Loại bỏ tiêu cực trong khâu xét duyệt    Quy trình xét duyệt đề tài của FIRST được ghi rõ từng bước chi tiết trong “Sổ tay thực hiện dự án FIRST”. Trong quá trình thực hiện, những bước này được tuân thủ nghiêm ngặt và có sự tham gia hỗ trợ rất nhiều của các chuyên gia nước ngoài từ khâu thành lập nhóm công tác hỗ trợ cho đến hội đồng đánh giá. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, một trong những thành viên của TEC, cho biết, hội đồng chấm dự án của ông có đến bốn chuyên gia nước ngoài. Theo GS. Trần Đức Viên, khi Học viện Nông nghiệp Việt Nam gửi đi gần 20 dự án trong giai đoạn I, tổ công tác, chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài, dành hẳn một ngày tới xem xét hồ sơ các dự án, nhận xét và góp ý chi tiết từ nội dung cho đến văn phạm, lỗi dịch thuật.    GS. Trần Đức Viên cho biết, không chỉ có tổ chuyên gia ở Việt Nam đánh giá các đề án gửi đến mà có cả một tổ chuyên gia chấm điểm độc lập tại Mỹ để so sánh kết quả. Điều này, theo ông, loại bỏ được tâm lí “một trăm cái lí không bằng một tí cái tình” trong các hội đồng xét duyệt đề tài, vốn vì nể nang, quen biết mà ngại nói thẳng. Bởi vì, khi biết có một hội đồng độc lập với các chuyên gia uy tín chấm song song với mình, những người trong hội đồng chấm ở Việt Nam “vì lòng tự trọng” phải “chấm rất cẩn thận”.  Ngoài ra, trong quá trình chấm đề tài, để đảm bảo tính khách quan, các thành viên trong tổ chuyên gia sẽ không được biết tên đơn vị hay nhà khoa học tham gia thực hiện. GS. Trần Đức Viên cho rằng, với những chương trình nhận tài trợ từ các tổ chức quốc tế sau này, nếu không có hội đồng đánh giá độc lập như vậy thì phía Việt Nam cũng nên yêu cầu thành lập để “giúp làm trong sạch, lành mạnh hóa môi trường KH&CN nước mình.”     Trong quá trình từ giai đoạn I đến giai đoạn II, các đơn vị tham gia sẽ có một thời gian từ một đến hai tháng để tìm kiếm và thuyết phục doanh nghiệp cùng tham gia. Chi phí đi tìm doanh nghiệp chính là số tiền khoảng 50.000 USD được cấp ở đầu giai đoạn I. Nếu đề án của đơn vị được lựa chọn, CPMU sẽ cử chuyên gia kiểm tra tính xác thực của tất cả các thông tin trong hồ sơ gửi đến một cách kĩ lưỡng (cả những vấn đề như máy móc thiết bị được coi là đóng góp cho dự án có phải là mới mua không, có dùng để sản xuất cho sản phẩm đang nghiên cứu không?). Ông Trần Đức Viên cho rằng, khi yêu cầu bắt buộc phải có doanh nghiệp tham gia dự án như vậy, các nhà khoa học không chỉ thoát khỏi cảnh “bơ vơ” vì “nghiên cứu mà không biết ngày mai bán sản phẩm cho ai” mà còn chứng minh được tính thực tiễn và tiềm năng ứng dụng trong nghiên cứu của mình. Sự tham gia của doanh nghiệp là “bảo chứng” cho chất lượng của đề tài vì thế mà giảm được tính tiêu cực trong khâu xét duyệt.     Bên cạnh đó, việc mỗi đề tài phải có sự hợp tác cùng nghiên cứu của ít nhất là hai viện nghiên cứu hoặc trường đại học thì mới được xét duyệt là một tiến bộ của FIRST so với những đề tài và chương trình cấp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Điều đó cho phép mỗi đơn vị có thể phát huy được thế mạnh của mình mà theo như ông Trần Đức Viên: “Đây là quá trình làm đề tài nhưng cũng là quá trình học lẫn nhau nữa.”  Và vì thế, điều này không chỉ tạo ra sự gắn bó trong cộng đồng KH&CN mà còn giúp “nâng dần nền KH&CN nước nhà, các đơn vị cùng lên với nhau”.     …    Qua quy trình xét duyệt đề tài của dự án FIRST, chúng ta hoàn toàn có thể rút ra những kinh nghiệm cơ bản để áp dụng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đó là: hình thành ban tư vấn là những chuyên gia giàu kinh nghiệm để hỗ trợ các nhóm nghiên cứu làm hồ sơ đăng ký xét duyệt; yêu cầu có sự cam kết phối hợp của vài tổ chức nghiên cứu cùng thực hiện với những đề tài quy mô lớn; yêu cầu có sự tham gia đóng góp của doanh nghiệp đối với những đề tài có mục tiêu thương mại hóa; thúc đẩy quốc tế hóa công tác xét duyệt, nghiệm thu đề tài bằng cách mời các chuyên gia quốc tế uy tín tham gia hội đồng, trước hết có thể bắt đầu ngay từ các đề tài cấp Nhà nước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Lời chúc cho ngành khoa học và công nghệ      Sáu mươi năm cho chúng ta ấn tượng về một giai đoạn thời gian khá dài nhưng thực ra chỉ tương đương với khoảng hai thế hệ. Ta có thể coi mỗi thế hệ dài khoảng ba mươi năm, tức là khoảng thời gian từ khi một người cha sinh ra cho tới khi đứa con đầu lòng ra đời, và cũng là khoảng thời gian từ khi người con sinh ra cho tới khi người cháu ra đời, và nếu đủ may mắn thì đó cũng là khoảng thời gian từ khi đứa cháu của ta sinh ra cho tới khi bản thân ta giã từ trần thế. Rất nhiều chuyện có thể xảy ra trong mỗi thế hệ, như những gì Việt Nam trải qua từ ngày 2/9/1945 đến 30/4/1975.        Vậy là Bộ KH&CN và nền khoa học Việt Nam hiện đại vừa trải qua hai thế hệ, một trước và một sau Đổi Mới. Chúng ta hãy chúc mừng cho dịp kỷ niệm này. Nền khoa học Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách để trưởng thành sau thế hệ thứ nhất. Tôi còn nhớ bà Nguyễn Thị Bình kể về những gì Bộ GD&ĐT trải qua trong hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước của bà; tôi hình dung những gì Bộ KH&CN trải qua cũng không kém phần khó khăn.   Bây giờ là lúc nhìn về phía trước, theo truyền thống chúng ta sẽ chúc nền khoa học và công nghệ Việt Nam tiến bộ nhanh chóng, có một tương lai tươi sáng dưới sự dẫn dắt, hỗ trợ mạnh mẽ và khôn ngoan từ Bộ chủ quản.  Quản lý khoa học và công nghệ là công việc đòi hỏi tầm nhìn xa, không chỉ phục vụ nhu cầu riêng của một quốc gia mà còn vì cả cộng đồng nhân loại. Nó đòi hỏi sự dũng cảm và quyết tâm để giữ vững những giá trị nền tảng, không để bị phân tán, xô đẩy bởi những trào lưu, xu thế phù phiếm. Chúng ta hãy nhớ những lời của Hồ Đắc Di viết từ thời kỳ chiến khu Việt Bắc mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị:   “- Nhà khoa học phải có một phông văn hóa rộng để không chỉ như những người thợ thủ công lành nghề được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp. Đào tạo các nhà khoa học phải chú trọng phát triển cả về trí tuệ và đạo đức, bao gồm cả khoa học và nghệ thuật…  – Khi học thì phải nghi ngờ và khi làm thì phải có niềm tin.  – Thật quý giá cho nhà khoa học nào có một công việc kết hợp được cả Khoa học và Lương tâm. Có tài là chưa đủ; mà phải có đạo đức trong sáng.   – Nghiên cứu là làm việc theo nhóm. Nó đòi hỏi sự chăm chỉ và nhẫn nại. Nó bao gồm những kỹ năng, đặc biệt đối với những người trẻ tuổi, luôn không ngừng tìm kiếm phát minh để có thể nắm bắt cơ hội. Cùng với công việc, trí tưởng tượng và  phương pháp, cơ hội và sự quan tâm sẽ đến trong tầm tay.   – Nghiên cứu khoa học tạo nên sự nhiệt tình cho những người trẻ tuổi”.  Để làm tốt công việc quản lý đòi hỏi phải có tình yêu; các nhà quản lý khoa học khi đưa ra các quy định và chính sách cần khiến các nhà khoa học cảm thấy họ làm vậy là để giúp các nhà khoa học thành công, và không chỉ cung cấp những hỗ trợ về vật chất, mà quan trọng hơn là tất cả mọi sự ủng hộ về tinh thần. Các nhà khoa học cần cảm thấy họ nhận được sự quý trọng và tin cậy. Đó là thứ tình yêu và trách nhiệm vô tư mà cha mẹ dành cho con cái. Tình yêu ấy không có nghĩa là chiều chuộng vô lối: khi đứa trẻ cư xử sai, cha mẹ cần nghiêm khắc uốn nắn. Đồng thời, người làm cha mẹ tốt sẽ tạo điều kiện phát triển cho mọi đứa con một cách công bằng, không thiên vị. Người làm quản lý khoa học cũng vậy: không ứng xử thiên lệch giữa khoa học cơ bản hay ứng dụng, lý thuyết hay thực nghiệm.  Khoa học Việt Nam đã làm được nhiều việc, nhưng chặng đường phấn đấu còn dài phía trước. Chúng ta cần tạo dựng lại một môi trường tin cậy và minh bạch trong cộng đồng khoa học, khuyến khích những ý kiến thẳng thắn đóng góp cho sự tiến bộ, khiến mỗi cá nhân cảm thấy trách nhiệm cổ xúy cho những cải cách giúp mang đến thành công. Chúng ta phải ngăn chặn xu thế chảy máu chất xám. Các chương trình nghiên cứu quan trọng cần được chịu trách nhiệm bởi những người lãnh đạo thực sự thay vì những hội đồng. Cần một cơ chế thẩm định chặt chẽ việc sử dụng các nguồn lực vật chất và con người để tránh lãng phí tiền bạc và chất xám.   Khi nhìn lại những gì đất nước đã làm được trong giai đoạn 1945-1975, tôi tin rằng nếu chúng ta vẫn có được lòng dũng cảm và quyết tâm như của thế hệ đi trước, thì chắc chắn những mục tiêu nêu trên sẽ sớm đạt được trong thế hệ thứ ba, trước khi Bộ KH&CN thổi ngọn nến sinh nhật tiếp theo vào năm 2049. □  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Lời giải cho bài toán phát triển nông nghiệp Việt Nam      Nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay không chỉ lạc hậu về nhiều mặt mà điều nguy hiểm hơn cả là nó đang đầu độc người dân một cách hợp pháp bằng các loại nông sản không an toàn. Nếu không có giải pháp khắc phục thì nền nông nghiệp Việt Nam sẽ phải trả giá đắt cho tiến trình hội nhập quốc tế.     Những điểm yếu và hạn chế  Không có chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia theo vùng nông nghiệp sinh thái  Những nông sản chủ lực, có khối lượng và giá trị cao hiện nay ở từng vùng nông nghiệp dường như là kết quả của quá trình tự phát. Ví dụ, vùng đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), vốn là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho sự phát triển của nghề trồng lúa nước, hiện đang cung cấp tới 90% lượng gạo xuất cảng hằng năm. Khối lượng lúa được sản xuất và xuất cảng ngày một tăng nhờ có đầu tư về thủy lợi, giao thông và các biện pháp nông học (như giống mới, kỹ thuật canh tác ba giảm, ba tăng…). Nhưng khối lượng lúa sản xuất và xuất cảng tăng tỉ lệ nghịch với thu nhập của nông dân và tỉ lệ thuận với ô nhiễm môi trường. Hiện nay, người dân Philippines mua gạo Việt Nam với giá rẻ, chỉ bằng 2/3 giá gạo tiêu thụ trong nước. Vô tình, chúng ta, trước hết là nông dân Việt Nam đang phải “bất đắc dĩ làm nghĩa vụ quốc tế về an toàn lương thực”. Đó là kết quả của sự phát triển thiếu chiến lược sản phẩm quốc gia theo vùng công nghiệp sinh thái.  Trong khi đó, chúng ta lại say sưa với việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế tỉnh (thành phố), với tiêu chí GDP tỉnh, cơ cấu kinh tế tỉnh. Tỉnh nào cũng cần những “con số đẹp” về GDP và cơ cấu kinh tế, theo hướng gia tăng tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp bằng mọi giá. Sau một thời gian phát triển theo tư duy này, người ta mới ngộ ra rằng phải phát triển kinh tế theo vùng, nên các địa phương đang phải “ngồi lại” với nhau để bàn phương án “liên kết vùng”. Đó là một quy trình ngược theo kiểu “thả gà ra vườn rồi phải đi bắt lại từng con để nhốt vào chuồng”.   Khi xác định chiến lược sản phẩm quốc gia theo vùng kinh tế – sinh thái trước hết phải xác định thị trường, khách hàng mục tiêu – tiêu thụ nội địa hay xuất cảng, ở những mức độ khác nhau của mỗi loại nông sản, chứ không phải chạy theo doanh số xuất cảng như hiện nay; do vậy, khi hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp Việt Nam dường như đang mất phương hướng. Tình trạng nay trồng, mai chặt vẫn đang diễn ra khá phổ biến. Thậm chí biết trồng sẽ lỗ nhưng vẫn phải trồng, vì người nông dân chẳng biết làm gì khác ngoài sản phẩm truyền thống.  Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, áp dụng công nghệ lạc hậu, vừa cho năng suất lao động và năng suất nông sản thấp, với giá thành sản xuất cao, vừa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường. Nông dân Việt Nam hiện nay vẫn là “nông dân cha truyền con nối”, nên “lão nông mới tri điền”. Mỗi nông hộ sản xuất tự phát theo hội chứng đám đông, hay theo tín hiệu thị trường của thương lái, không phải là mắt khâu của chuỗi giá trị ngành hàng từ trang trại đến bàn ăn. Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản với công nghệ lạc hậu và kinh doanh theo kiểu “ăn đong”, “có gì mua nấy”, “có gì bán nấy”, không phải là người tổ chức, lãnh đạo chuỗi giá trị ngành hàng. Vì thế, hầu như các mặt hàng nông sản Việt Nam đều không thể có thương hiệu. Còn hợp tác xã được thành lập cũng chủ yếu phục vụ sản xuất của các hộ nông dân nhỏ lẻ, ở một vài khâu dịch vụ đầu vào. Hợp tác xã trong nông nghiệp chưa phải là một tổ chức kinh tế của nông dân sản xuất hàng hóa lớn, đủ khả năng mặc cả với doanh nghiệp, ở cả đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp. Tệ hại hơn là, rất nhiều hợp tác xã được thành lập theo ý chí của chính quyền địa phương để đạt tiêu chí “xây dựng nông thôn mới”, không phải của nông dân, vì nông dân, do nông dân.  Người nông dân cha truyền con nối hiện nay không có nhu cầu và khả năng gia tăng quy mô đất đai, để tạo lập các trang trại sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao. Vì thế “cầu” của thị trường đất nông nghiệp còn rất thấp.   Sai lầm trong chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị  Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị trong những năm qua chỉ tạo ra một nền công nghiệp gia công, lắp ráp, có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng thấp, dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên và sử dụng sức lao động cơ bắp với giá rẻ, chấp nhận ô nhiễm môi trường. Người nông dân rời bỏ đồng ruộng vào làm việc ở các khu công nghiệp với mức lương không đủ sống, nên thường xuyên phải làm tăng ca, thêm giờ với cường độ lao động cao. Do vậy, họ không thể trở thành người lao động công nghiệp chuyên nghiệp, gắn bó cả đời với công nghiệp. Họ sẽ bị giới chủ sa thải khi không còn đủ sức khỏe làm việc ở tuổi đời chưa già và cũng không còn trẻ để chuyển đổi nghề nghiệp. Họ đành phải trở về nông thôn, chia lại mảnh ruộng và công việc vốn đã ít ỏi. Vì thế, phát triển công nghiệp và đô thị như hiện nay đã không tạo nguồn cung cấp đất nông nghiệp cho thị trường đất đai để tạo ra các trang trại sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn, áp dụng công nghệ cao, thực hiện GAP, làm ra nông sản bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm với giá cả đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.  Những giải pháp khắc phục     Nghiêm chỉnh thực thi các chính sách đúng đắn hiện hành, như chính sách ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp… Đặc biệt trước tiên cần lành mạnh hóa thị trường cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc, thuốc thú y…)  Xây dựng các khu đô thị vừa và nhỏ ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái, bao gồm khu công nghiệp và dịch vụ để tạo công ăn việc làm, cung cấp dịch vụ đầu vào – đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, khu dân sinh có các tiện ích và dịch vụ công cộng văn minh, tạo lập cuộc sống “an cư lạc nghiệp” cho cư dân, để họ có thể vĩnh viễn rời bỏ đồng ruộng, trở thành thị dân. Điều đó tạo ra nguồn cung đất nông nghiệp cho thị trường đất đai, thúc đẩy tiến trình tích vụ, tập trung đất nông nghiệp, tạo ra các trang trại sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn, áp dụng công nghiệp cao, tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng  Xây dựng chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái. Trên cơ sở đó, quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho mục tiêu chiến lược sản phẩm. Theo đó, phải xác định rõ khách hàng mục tiêu, định hướng thị phần trong nước và quốc tế cho mỗi mặt hàng nông sản, dựa trên tiêu chí hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Nhiệm vụ sản xuất mặt hàng nông sản chiến lược quốc gia và xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi vùng trờ thành một bộ phận cấu thành của nhiệm vụ và cơ cấu kinh tế của mỗi tỉnh (thành phố). Mỗi tỉnh (thành phố) có nhiệm vụ thực thi việc quản lý hành chính – kinh tế trên địa bàn theo thẩm quyền, để bảo đảm cho việc thực hiện chiến lược sản phẩm quốc gia và các loại sản phẩm khác không thuộc diện chính phủ trung ương quản lý.  Đầu tư đào tạo con em nông dân thành những “thanh nông tri điền” thay thế cho “lão nông tri điền”, “nông dân chuyên nghiệp” thay cho “nông dân cha truyền con nối”, đủ năng lực quản lý các trang trại qui mô lớn, các hợp tác xã đích thực, liên kết với doanh nghiệp ở cả đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp trong chuỗi giá trị ngành hàng. Đồng thời, tăng cường đầu tư cho hoạt động khuyến nông, nhất là hoạt động khuyến nông của doanh nghiệp lãnh đạo, tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, để nâng cao năng lực của “nông dân đương chức”. Chỉ có những nông dân chuyên nghiệp mới có nhu cầu và khả năng tích tụ và tập trung đất đai dưới hình thức mua đất nông nghiệp, sáp nhập các trang trại nhỏ thành trang trại lớn hay thuê đất nông nghiệp lâu dài của nông dân đã li nông. Nhờ đó, thị trường đất nông nghiệp mới hình thành và phát triển, tạo khả năng áp dụng công nghệ cao, cơ giới hóa, tin học hóa quá trình sản xuất và quản lý trong các trang trại sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Và cũng chính họ mới có nhu cầu và khả năng thành lập và quản lý các hợp tác xã đạt hiệu quả cao trong hoạt động dịch vụ đầu vào – đầu ra cho sản xuất của các trang trại của mình. Hợp tác xã đích thực chỉ có thể hình thành và phát triển bền vững khi các thành viên chủ yếu của nó là các nông dân – chủ trang trại gia đình sản xuất hàng hóa quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao.  Xây dựng hợp tác xã đích thực của nông dân, do nông dân và vì nông dân, theo luật hợp tác xã 2012. Nhà nước cần đầu tư đào tạo một đội ngũ quản lý và kỹ thuật chuyên nghiệp để điều hành hợp tác xã phù hợp với bản chất hợp tác xã kiểu mới. Chỉ có như vậy, hợp tác xã mới trở thành một lực lượng kinh tế mạnh. Ban đầu, hợp tác xã có thể đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị ngành hàng. Khi phát triển ở trình độ cao hơn, hợp tác xã trở thành đối trọng của các doanh nghiệp cung ứng đầu vào – đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, đóng vai trò tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng của các trang trại thành viên.   Hình thành và phát triển hệ thống các doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản và cung ứng nguồn lực đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, đóng vai trò “nhạc trưởng”, lãnh đạo toàn chuỗi giá trị của từng mặt hàng nông sản, biến các trang trại trở thành mắt khâu trong chuỗi giá trị.  Nhà nước cần có chính sách tài chính – tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao và đóng vai trò lãnh đạo chuỗi giá trị ngành hàng, như: miễn, giảm thuế thu doanh nghiệp trong vài năm đầu, cho vay vốn với lãi suất thấp từ ngân hàng phát triển, hay tài trợ 50% lãi suất tín dụng đầu tư vay của các ngân hàng thương mại, tài trợ kinh phí khuyến nông, chứng nhận Global GAP…, tài trợ kinh phí nghiên cứu khoa học ứng dụng công nghệ cao…  Mỗi mặt hàng nông sản ở mỗi vùng, tiểu vùng nông nghiệp sinh thái cấp quốc gia và cấp tỉnh (thành phố) đều phải được kinh doanh theo chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn (hay mạn tàu xuất khẩu), do một vài doanh nghiệp làm dịch vụ đầu vào – đầu ra cho sản xuất nông nghiệp (trước hết các doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản) đóng vai trò “nhạc trưởng”. Doanh nghiệp này ít nhất phải đủ năng lực cung ứng giống xác nhận, khuyến nông, ứng trước vật tư nông nghiệp cho nông dân, chế biến – tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoài nước. Mặt khác doanh nghiệp chế biến tiêu thụ nông sản có thể mua hay thuê đất nông nghiệp lâu dài của nông dân, rồi khoán lại cho chính họ, dưới dạng công ty dự phần, để tạo lập chuỗi giá trị ngành hàng, giải quyết được ba vấn đề mà từng trang trại không tự giải quyết được là (i) thị trường và thương hiệu, (ii) vốn sản xuất, (iii) áp dụng công nghệ cao.  Có chiến lược đầu tư nghiên cứu – triển khai công nghệ cao trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị ngành hàng nông sản chiến lược ở cấp quốc gia, tạo ra nền nông nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt lưu ý thực hiện nền nông nghiệp hữu cơ với những giống cây con có gene bản địa, phát triển công nghệ dược phẩm và thực phẩm chức năng sử dụng các nguồn nguyên liệu truyền thống là sinh vật (cây và con) theo bài thuốc cổ truyền, ở mỗi vùng miền, mỗi sắc tộc, đang là lợi thế của Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước.  ***  Việc thực hiện các giải pháp trên phải tiến hành đồng bộ, có kế hoạch theo lộ trình hợp lý, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài của việc phát triển nền nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, trước hết là trong khuôn khổ cộng đổng kinh tế ASEAN, TPP và các hiệp định AFTA khác đã được ký kết và có hiệu lực thi hành. Nhưng, nếu không vượt qua các thách thức nói trên, nền nông nghiệp và nông dân Việt Nam sẽ phải trả giá đắt cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Lỏng lẻo mối dây liên kết chuyển giao công nghệ      Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước  nhu cầu đổi mới công nghệ nhằm tăng hiệu quả cạnh tranh trong thời kỳ  hội nhập. Tuy nhiên, việc này hiện đang gặp thách thức lớn do nguồn cung  cấp công nghệ mới trong nước còn hạn chế. Một trong những yếu tố ảnh  hưởng đến sự hạn chế này là sợi dây liên kết viện trường và doanh nghiệp  còn nhiều yếu kém.    Theo thống kê của Bộ Khoa học & Công nghệ, trong 5 năm (2006 – 2010), cả Việt Nam chỉ có 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được đăng kí tại Cục Sở hữu trí tuệ, và cũng chỉ có 5 bằng sáng chế quốc tế. Thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào thực tiễn – mà cụ thể ở đây là mối quan hệ giữa viện trường và doanh nghiệp – ở nước ta hầu như còn rất yếu.  Tiến sĩ Giáp Văn Dương, người nhiều năm làm việc ở các trường đại học các nước như Anh Quốc, Hàn Quốc, Singapore cho biết, ở các nước này mối liên kết giữa viện trường và doanh nghiệp là rất chặt chẽ. Và mối quan hệ cộng sinh này chính là chía khóa để tăng năng suất lao động phát triển kinh tế của quốc gia. Quay lại hiện trạng tại Việt Nam, tiến sĩ Dương cho rằng mối quan hệ này lại gần như không có, và nó ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. dẫn đến năng suất lao động tại nước ta rất thấp. Nếu so với Singapo thì chỉ bằng khoảng 1/17. Phân tích nguyên nhân, Tiến sĩ Dương cho rằng nguyên nhân lớn nhất là do nền kinh tế Việt Nam còn quá nhỏ nên nhu cầu đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp hầu như không có.  Sự yếu kém trong mối quan hệ này nguyên nhân đều xuất phát từ cả hai phía: viện trường và doanh nghiệp. Có thể dẫn chứng trường hợp của Đại học Cần Thơ và một số doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một vùng nông nghiệp rộng lớn của Việt Nam, và Đại học Cần Thơ là trung tâm nghiên cứu chính của cả vùng. Tuy nhiên, những ứng dụng từ nơi này đến với nông dân và doanh nghiệp còn quá ít. Như Kỹ sư anh hùng lao động thời kỳ đổi mới Hồ Quang Cua có chia sẻ, Đại học Cần Thơ có rất nhiều tiềm năng và cũng có nhiều hoạt động nghiên cứu nhưng hầu như không có kế hoạch thông tin ra ngoài, phải vô tình thì ông mới phát hiện ra trường đã có nghiên cứu mà mình cần.  Bên cạnh đó, nhà trường còn chưa thiết tha mấy trong mối quan hệ với doanh nghiệp. Nhiều trường hợp doanh nghiệp tìm đến nhờ viên trường giúp đỡ nhưng hầu như chỉ nhận được cái lắc đầu hoặc sự im lặng.  Một vấn đề nữa mà trường đang mắc phải đó là những nghiên cứu của trường chưa đi cùng với nhu cầu của doanh nghiệp. Hiện nhà trường có rất nhiều nghiên cứu nhưng số có thể đưa ra ứng dụng lại quá thấp, gây lãng phí rất lớn về nhân lực và chi phí cho nhà trường. Cụ thể như tại Đại học Cần Thơ, hiện nghiên cứu hơn 60 đề tài. Nhưng theo đánh giá, số lượng sản phẩm có thể chuyển giao ra ngoài chỉ khoảng 10-15%.  Do đó, nhằm tăng tính hiệu quả trong công tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, mối quan hệ giữa viện trường và doanh nghiệp phải chặt chẽ hơn nữa, những nghiên cứu của nhà trường phải gắn với doanh nghiệp có sự đồng hành của doanh nghiệp. Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM hiện đã bắt đầu làm việc này khi nhà trường chỉ cấp phép cho những dự án nghiên cứu nào đã có ký kết với doanh nghiệp.  Đánh giá về mối liên kết giữa Viện trường và doanh nghiệp, ông Vũ Văn Khiêm, Cục trưởng Cục Công tác phía Nam  – Bộ Khoa học & Công nghệ thẳng thắn cho rằng: đúng là còn quá yếu. Ngoài ra, ông lưu ý các trường, các doanh nghiệp cần phải đánh giá lại về hiệu quả việc áp dụng nghiên cứu vào thực tế đời sống hiện nay để có thể rút kinh nghiệm để đạt kết quả tốt hơn trong những đề tài nghiên cứu sau.  Có thể nói hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu – chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ giữa các trường đại học và các doanh nghiệp đã, đang và sẽ ngày càng có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học cho cả nhà trường và sự đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Vì vậy, cuộc gặp gỡ giữa viên trường và doanh nghiệp là cơ hội để cả hai hiểu nhau hơn, tạo lập mối quan hệ gắn kết bền chặt hơn, nhằm đưa ra những công nghệ tiến tiến cho hoạt động đổi mới sáng tạo của của doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lũ miền Trung, vì sao nên nỗi ?      Với những chủ trương phát triển kinh tế địa phương và kinh tế vùng vô tiền khoáng hậu trong mấy chục năm qua ở Tây Nguyên và miền Trung, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta đã và đang từng bước làm cho một bộ phận lớn diện tích đất ở vùng này lâm vào tình trạng “hoang mạc hóa”. Lũ lụt và khô hạn ngày càng nặng nề là điều không tránh khỏi.      Trong thời gian qua, kể từ sau siêu bão Hayan, nhất là sau trận lũ chưa từng có xảy ra ở các tỉnh miền Trung, đã có nhiều bài báo, phóng sự, các báo cáo vừa phản ảnh thực trạng khủng khiếp do trận lũ gây ra, vừa đề cập đến nhiều nguyên nhân kể cả từ phía ông trời và phía con người, mà cũng khó phân định thiên tai hay nhân họa đã gây ra thảm cảnh này nhiều hơn.   Bão và lũ đã đi qua, nhưng nỗi đau và đói nghèo còn ở lại lâu dài cùng với hàng loạt câu hỏi chưa phải đã được các cấp các ngành, các nhà quản lý, các nhà khoa học đưa ra những lời giải khả dĩ tạo lập được niềm tin để không chỉ khắc phục được hậu quả hôm nay mà còn có thể yên tâm khi mùa mưa bão lần sau lại đến. Yên tâm sao được khi 30% các dự án thủy điện chưa được kiểm định, 66% chưa có phương án bảo vệ, 55% chưa có phương án phòng chống lũ lụt… như báo cáo trình ra Quốc hội. Lại có 418 dự án có độ rủi ro cao, đã và sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Đắc Nông, Kon Tum đã được cấp phép xây dựng hoặc “được phép” xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật rồi chắc chắn cũng được phê duyệt hầu hết nếu không có trận lũ vừa qua.  Từ “nước không đi đâu cả” đến “nước cuốn trôi tất cả”  Vào đầu những năm 1980, mặc dù là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến tranh, nhưng mật độ rừng che phủ của Tây Nguyên còn trên 70% và của dải đất miền Trung còn trên dưới 40%. Đây là nói độ che phủ của rừng gỗ lớn chứ không phải che phủ bởi một lớp thực bì mỏng manh, yếu ớt như hiện nay. Chúng ta đều biết, một vùng đất được che phủ bởi rừng già, rừng gỗ lớn thì với những trận mưa trên dưới 150 mm, “nước không trôi đi đâu cả”! Rừng cây ấy là một máy bơm khổng lồ mà khi trời nắng hạn, trên mỗi ha một ngày đêm, cây “bơm” từ lòng đất lên trên bề mặt 4.000m3 nước đủ ẩm cho cây và đất để mọi loài đều phát triển bình thường. Và khi trời mưa, “máy bơm” này trả lại cho lòng đất một khối lượng nước tương đương để chứa đầy hàng triệu túi nước ngầm bên trong lòng đất.   Thế nhưng, cũng bắt đầu từ thập kỷ 80, trên vùng này có cuộc nhập cư ồ ạt để “phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên” mà mạnh nhất là phá rừng làm lương thực, làm nương rẫy. Chúng ta dù không chủ trương thì trên thực tế, đã có một cuộc “cách mạng” lớn về phương thức canh tác trên diện rộng: Những người nông dân đi “xây dựng các vùng kinh tế mới”, mang tập quán và truyền thống canh tác lúa nước của miền xuôi áp đặt, thay thế hệ canh tác rừng-rẫy rất bền vững qua nhiều đời ở các tỉnh Trung du và miền núi trong cả nước, mà lớn nhất là Tây Nguyên.   Cùng với quá trình di dân đó, chúng ta thành lập các nông trường và lâm trường quốc doanh. Không thể có lâm trường nào lại lấy nhiệm vụ “trồng rừng là chính” mà ngược lại, để tồn tại phải khai thác gỗ bằng các phương tiện hiện đại nên tốc độ phá rừng còn hơn cả bom đạn chiến tranh. Nông trường quốc doanh thì chủ yếu là phá rừng để trồng cà phê bởi chỉ trên nền đất ấy và tiểu khí hậu (lúc đầu) ấy mới có cà phê cho năng suất cao. Rồi dần dần chuyển đổi các nông trường thành các “tiểu điền” hoặc khoán về cho các hộ dân trồng cà phê thì tốc độ phá rừng càng mạnh hơn. Theo đó là hàng vạn giếng khoan được lắp đặt khắp nơi. Thời gian đầu chỉ ở độ sâu trên dưới 20m đã có nước tưới cho cà phê, dần dần khoan xuống 80m và bây giờ phải khoan ở độ sâu 150-200m! Tương lai rồi khoan sâu bao nhiêu? Hàng triệu túi nước ngầm khô kiệt bởi khác với cơ chế hoạt động của rừng, con người chỉ bơm nước lên bề mặt mà không làm sao trả lại nước ngầm cho đất. Đã qua rồi cái thời mưa trên dưới 150 mm “nước không đi đâu cả”, mà đã chuyển sang thời kỳ hễ mưa lớn, “nước cuốn trôi tất cả”.   Dĩ nhiên, trên địa bàn Tây Nguyên và miền Trung, không chỉ có bấy nhiêu lực lượng phá rừng mà còn rất nhiều loại “tặc” khai thác đủ loại lâm sản, khoáng sản tàn phá môi trường sinh thái một cách nghiêm trọng. Cũng cần chú ý rằng chỉ có ở Việt Nam mới có khái niệm “khai thác và vận chuyển gỗ lậu” hay “khai thác, vận chuyển và xuất khẩu khoáng sản lậu” vì các hoạt động này không hề là công việc thủ công, nhỏ lẻ của người dân mà được tiến hành bằng những phương tiện hiện đại, chuyên nghiệp, công khai qua các chốt, các trạm đặt ở cửa rừng hay cửa khẩu. “Lậu” chỉ lộ diện khi không trót lọt, bị xử lý chứ không phải các cơ quan chức năng, thậm chí lãnh đạo ngành hay địa phương không biết.   Tôi chưa được đọc các tài liệu đánh giá về độ bào mòn của mưa lũ trên vùng đất này trong một số năm gần đây, nhưng theo Trung tâm quốc tế về quản lý môi trường (ICEM) thì hiện nay, lượng phù sa của các con sông ở Quảng Nam đã ở mức báo động. Tại hạ lưu sông Vu Gia (Trạm quan trắc Thành Mỹ) đã đo được con số bình quân hằng năm 460.000 tấn đất cát bồi lắng, cũng có nghĩa là phía thượng nguồn đã bị bào mòn một lớp đất mặt đáng kể. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay bị lún bình quân 2 cm/năm mà nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân là do khai thác nước ngầm tràn lan, thì rất nhiều vùng ở Tây Nguyên và vùng đồi núi miền Trung hằng năm cũng đang bị “lùn” đi chừng ấy chiều cao do bị mưa lũ bào mòn.  Nói một cách khác, với những chủ trương phát triển kinh tế địa phương và kinh tế vùng vô tiền khoáng hậu trong mấy chục năm qua ở Tây Nguyên và miền Trung, bên cạnh những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế xã hội, chúng ta đã và đang từng bước làm cho một bộ phận lớn diện tích đất ở vùng này lâm vào tình trạng “hoang mạc hóa”. Lũ lụt và khô hạn ngày càng nặng nề là điều không tránh khỏi. Trên nền tảng ấy, chúng ta đã và đang xây dựng hàng trăm túi nước khổng lồ lơ lửng trên đầu hàng triệu người dân thì dù được kiểm định kỹ càng cũng khó lường tai họa huống là đã được phát triển một cách vô tội vạ như vừa qua thì chúng ta quả là coi thường tính mạng và tài sản của người dân.   Những ưu thế chưa được tận dụng  Nói như trên không phải là không nên phát triển thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên, nhưng nếu tách riêng thủy điện ra khỏi hệ thống để thẩm tra, kiểm định thì không thể tránh khỏi những hiểm họa đối với các công trình thủy điện-thủy lợi ở vùng này, dù là nhóm A [những dự án mà Bộ Kế hoạch đầu tư phải lập hội đồng nhà nước thẩm định, và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định] hay nhóm B, C [do Bộ Công thương thẩm định] thì cũng thế thôi.   Mặt khác, đây cũng là vùng có nhiều ưu thế về năng lượng mặt trời, năng lượng gió… thì hà tất chỉ có phát triển tràn lan thủy điện mới là ưu thế chủ yếu được lựa chọn? Để có 173 MW công suất điện (lý thuyết) như dự án An Khê – Ka Nak mà phải xóa sổ hàng ngàn ha rừng ở vùng xung yếu; nhấn chìm hàng trăm ha ruộng và nương rẫy vốn là nguồn sống chủ yếu của người dân; làm đảo lộn cuộc sống của hàng ngàn hộ dân, trong đó có hơn 500 hộ dân phải di dời đến nơi ở mới.   Dù đã tái định cư được ba năm mà hàng trăm hộ dân ở đây vẫn chưa thể ổn định cuộc sống và đang gặp muôn vàn khó khăn v.v.. thì dù các chuyên gia kỹ thuật có cam kết về độ an toàn, các chuyên gia kinh tế có nói hay ho về hiệu quả kinh tế-xã hội đi chăng nữa, rốt cuộc cũng là những lợi ích nhất thời hoặc giá trị ảo mà thôi. Liệu có đáng để con cháu chúng ta phải trả giá đắt đến như vậy?        Đầu tháng 9/2013, trước khi lũ lụt xảy ra, hơn 100 nhà khoa học và các chuyên gia về thủy lợi, thủy điện đã có cuộc hội thảo khoa học về thủy điện miền Trung tại thành phố Đà Nẵng và đưa ra lời cảnh báo: “Hiện hệ thống thủy điện đang phát triển thiếu khoa học”! Lời cảnh báo ấy chỉ nói được rằng các nhà khoa học có biết về thực trạng nguy hiểm, nhưng dường như “không liên quan” gì đến cái kết cục buồn ấy. Với tình hình phát triển thủy điện như vừa qua thì có lẽ khoảng sau năm 2020, các nhà khoa học lại phải kéo nhau về Đà Nẵng thêm một lần nữa, lần này chắc phải đông hơn, không chỉ có thủy lợi, thủy điện mà còn nhiều ngành khác để bàn thảo việc… di dời khu phố cổ Hội An. Rất có thể, vì hiện nay việc chặn dòng chảy sông Vu Gia – Thu Bồn để làm thủy điện đang hướng lũ thẳng vào thị xã Hội An.             Author                Quản trị        
__label__tiasang Lựa chọn nào cho Việt Nam      Hội nghị Vật lý lý thuyết toàn quốc lần thứ 39 được tổ chức mới đây tại Buôn Ma Thuột, tập trung vào ba ngành chính của vật lý hiện đại: vật lý hạt nhân, vật lý hạt cơ bản và vật lý thiên văn, là một cơ hội tốt để đặt câu hỏi Việt Nam có thể đầu tư đến đâu cho mỗi ngành. Lý tưởng nhất là chúng ta có thể trả lời rằng, hỏi như vậy là thừa, vì rõ ràng chúng ta phải sử dụng nguồn lực vào cả ba ngành này và vào nghiên cứu cơ bản nói chung, vì đó là tiền đề để có những cơ sở đại học tốt, có những công trình nghiên cứu ứng dụng và một ngành công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực hạn chế mà đất nước có thể dành cho khoa học cơ bản, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn các ngành, các đề tài nghiên cứu phù hợp, phải cân bằng hài hòa giữa lý thuyết và thực nghiệm.  Một số ý kiến dưới đây nhằm khơi mào cho một cuộc thảo luận trong giới khoa học về chủ đề này.      Một vài nhận xét chung  Vật lý là kết quả của một cuộc đối thoại liên tục giữa một bên là lý thuyết và một bên là thực nghiệm và quan sát. Chúng thúc đẩy nhau, sự tiến bộ của lĩnh vực này có được nhờ thành tựu của lĩnh vực kia. Căn bệnh chung của những nước đang phát triển là làm ngơ thực tế này để rồi dạy sinh viên rằng nếu thông minh thì nên trở thành nhà lý thuyết, còn không thì trở thành nhà thực nghiệm. Mười lăm năm làm việc gần gũi với sinh viên Việt Nam đã cho tôi thấy, Việt Nam không phải ngoại lệ. Đây là lối tư duy sai lầm, không phải vì nó dẫn tới những lựa chọn sai – thật may mắn vì lựa chọn lý thuyết hay thực nghiệm thực ra không phải là vấn đề quan trọng – mà vì nó tiêm nhiễm vào trí não các thế hệ sinh viên trẻ một quan niệm sai lệch về bản chất của vật lý.        Hỗ trợ thỏa đáng nghĩa là tập trung nguồn lực hỗ trợ một cách chọn lọc cho những nhóm nghiên cứu đã phát triển qua trạng thái tới hạn làm nghiên cứu một cách thực chất và cung cấp cho họ phương tiện để cạnh tranh trên đấu trường quốc tế.        Chúng ta phải tránh đào tạo sinh viên, ở cả trong và ngoài nước, trong những lĩnh vực mà ta không có được sự hỗ trợ thỏa đáng. Nói cách khác: chúng ta phải hỗ trợ thỏa đáng những lĩnh vực chúng ta chọn để đào tạo sinh viên. Không làm thế là vô trách nhiệm: gây lãng phí kỹ năng và tài năng của họ. Hỗ trợ thỏa đáng nghĩa là tập trung nguồn lực hỗ trợ một cách chọn lọc cho những nhóm nghiên cứu đã phát triển qua trạng thái tới hạn làm nghiên cứu một cách thực chất và cung cấp cho họ phương tiện để cạnh tranh trên đấu trường quốc tế. Tuy nhiên, coi trọng các nhóm tập thể nghiên cứu không có nghĩa là coi nhẹ thành tựu cá nhân (Giải thưởng Tạ Quang Bửu mới đây là sự ghi nhận cho những thành công cá nhân). Song không thể ảo tưởng rằng một chính sách khoa học có thể giúp tạo ra những cá nhân xuất sắc mà chỉ có thể giúp họ phát huy hết tài năng của mình.  Vậy lấy tiêu chí nào để lựa chọn tài trợ cho các nhóm nghiên cứu? Là nhà vật lý, chúng ta phải biết đánh giá khả năng thành công của các lĩnh vực nghiên cứu để chọn ra những lĩnh vực trong giai đoạn ngắn hạn hợp lý có thể mang lại kết quả khoa học mới ở biên giới của tri thức hiện thời. Tuy nhiên, vật lý là một ngành không ngừng phát triển, những lĩnh vực chiếm vị trí hàng đầu cách đây mấy thập niên thì nay có thể không còn mấy ai quan tâm. Vì vậy, một tiêu chí thực tế hơn khi xét chọn tài trợ là ưu tiên cho những nhóm nghiên cứu thể hiện được năng lực và động lực của mình, và có tiềm năng gặt hái thành công khi xuất hiện trên trường quốc tế. Một tiêu chí quan trọng khác trong quyết định lựa chọn này dựa trên sự đánh giá mang tính thực tế về các điều kiện cần thiết để một nhóm nghiên cứu có thể phát triển lâu dài, như nguồn tài chính và nhân lực, cơ hội đào tạo mà lĩnh vực có thể đem đến, trong mối tổng hòa với nhu cầu của đất nước trong nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu phát triển và phát triển công nghiệp.        Chúng ta cần đầu tư cho chất xám, chứ không phải thiết bị. Việc mua những thiết bị đắt đỏ không nên chỉ dựa theo chỉ đạo từ trên xuống, mà nên căn cứ vào những đề nghị cấp thiết, hợp lý do bên dưới đề xuất lên.        Tổng nguồn lực cần cho đầu tư vào vật lý thực nghiệm ở mỗi ngành là điều đáng bàn. Chúng là bộ phận cấu thành không thể thiếu của cái người ta gọi là khoa học lớn, đòi hỏi những thiết bị đắt đỏ được vận hành và bảo trì ở quy mô quốc tế. Để hỗ trợ vật lý thực nghiệm, trước tiên cần giúp đội ngũ các nhà nghiên cứu thực nghiệm có thể được sử dụng những cơ sở vật chất quốc tế quan trọng mà Việt Nam không đủ điều kiện trang bị (như Máy gia tốc LHC, Hệ thống kính thiên văn vô tuyến VLA, Viện nghiên cứu RIKEN, v.v.). Ngoài ra cần có những dụng cụ rẻ và đơn giản trong nước hữu ích trong việc đào tạo (như kính thiên văn vô tuyến nhỏ, thiết bị phân tích bức xạ và quang phổ, máy dò tia vũ trụ, v.v.), tuy nhiên nguồn lực dành cho những thiết bị như thế là có thể và chỉ nên giữ ở mức tối thiểu. Chúng ta cần đầu tư cho chất xám, chứ không phải thiết bị. Việc mua những thiết bị đắt đỏ không nên chỉ dựa theo chỉ đạo từ trên xuống, mà nên căn cứ vào những đề nghị cấp thiết, hợp lý do bên dưới đề xuất lên.  Đối với cả Vật lý lý thuyết lẫn Vật lý thực nghiệm, các nhà khoa học phải được tạo điều kiện thuận lợi để có nhiều cơ hội sử dụng các phương tiện tính toán. Mặt khác, các phương tiện này cũng không nhất thiết phải được mua về đặt ở trong nước. Hiện nay có rất nhiều cơ hội sử dụng mạng lưới điện toán và xử lý dữ liệu lớn được quản lý ở phạm vi quốc tế.   Vật lý hạt nhân  Lý thuyết cấu trúc hạt nhân có các công cụ của nó (trường trung bình Hartree-Fock-Bogolioubov và giả hạt) từ đầu thập niên 1960, và lý thuyết của nó (thuyết sắc động lực học lượng tử QCD) đã ra đời từ cuối thập niên 1970. Tuy nhiên vật lý hạt nhân vẫn có vị trí hàng đầu trong khoa học hiện đại vì ít nhất ba nguyên nhân: thứ nhất là vai trò trung tâm của vật lý hạt nhân trong vật lý thiên văn hiện đại, đặc biệt trong diễn giải những suy sụp siêu tân tinh. Nguyên nhân thứ hai là sự hồi sinh của nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc hạt nhân với việc có thể tạo ra các tia phóng xạ giúp tiếp cận nghiên cứu hạt nhân không bền. Nguyên nhân thứ ba, có thể là quan trọng nhất, là nhu cầu đào tạo những nhà vật lý hạt nhân trong một thế giới mà ứng dụng của vật lý hạt nhân có mặt ở khắp mọi nơi, từ công nghiệp tới y học và sinh học, từ khoa học vật liệu tới ứng dụng quân sự và sản xuất năng lượng.        Vật lý hạt nhân vẫn có vị trí hàng đầu trong khoa học hiện đại vì ít nhất ba nguyên nhân: thứ nhất là vai trò trung tâm của vật lý hạt nhân trong vật lý thiên văn hiện đại, đặc biệt trong diễn giải những suy sụp siêu tân tinh. Nguyên nhân thứ hai là sự hồi sinh của nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc hạt nhân với việc có thể tạo ra các tia phóng xạ giúp tiếp cận nghiên cứu hạt nhân không bền. Nguyên nhân thứ ba, có thể là quan trọng nhất, là nhu cầu đào tạo những nhà vật lý hạt nhân trong một thế giới mà ứng dụng của vật lý hạt nhân có mặt ở khắp mọi nơi, từ công nghiệp tới y học và sinh học, từ khoa học vật liệu tới ứng dụng quân sự và sản xuất năng lượng.        Lĩnh vực cuối cùng là đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trong khuôn khổ thỏa thuận đã ký với Nga và Nhật Bản. Như chúng ta đã biết, một số nhà khoa học uy tín của Việt Nam có kinh nghiệm từ lò phản ứng Đà Lạt đã nhận định rằng chúng ta chưa chuẩn bị tốt cho việc này và giờ đây qua mười lăm năm, thực tế là chúng ta vẫn chưa thể đào tạo được một đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học cần thiết cho nhiệm vụ đặt ra. Dự án vì thế đã phải trì hoãn sáu năm, sẽ tốn kém biết bao tiền của vì sự trì hoãn này. Chúng ta, với tư cách là những nhà khoa học, phải cảm thấy có trách nhiệm với thành công của dự án. Nếu tới một ngày nào đó, Chính phủ và nhân dân nhận ra Việt Nam đang mất quyền độc lập về năng lượng, hoặc có một vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng xảy ra, người ta có quyền quay sang phê phán chúng ta [những nhà khoa học] vì đã không ngăn chặn nó khi còn có thể. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta góp ý để Chính phủ ý thức được nhu cầu cấp bách phải thay đổi phương thức tiếp cận [đối với các dự án điện hạt nhân].   Vật lý hạt cơ bản  Chúng ta vẫn đang vui mừng với phát hiện hạt Higgs hai năm trước đây. Đó là phần thưởng chiến thắng của gần ba mươi năm nỗ lực tìm kiếm mảnh ghép còn thiếu của Mô hình Chuẩn. Tuy nhiên, một kịch bản đáng sợ đang đe dọa chúng ta mà chúng ta đều mong nó không trở thành hiện thực: không một phát hiện quan trọng nào khác có thể được thực hiện tại LHC. Tới giờ đã hơn ba thập niên, vật lý hạt cơ bản thực nghiệm luôn khẳng định những dự đoán của Mô hình Chuẩn với độ chính xác cao hơn mà không tìm thấy dấu hiệu của vật lý bên ngoài nó. Đặc biệt, không có bằng chứng nào được tìm thấy về sự tồn tại của những hạt siêu đối xứng tương ứng với những hạt đã biết bất kể vẻ đẹp tuyệt vời và sức hấp dẫn của siêu đối xứng. Tương lai của vật lý hạt cơ bản thực nghiệm sẽ thật ảm đạm, bởi thiếu những đối số gợi nên thang năng lượng cho những khám phá mới trong tương lai (ngoài thang GUT/ Planck), nếu không có dấu hiệu nào của vật lý mới có thể được hé lộ qua LHC. Điều này không chừng sẽ khiến người ta còn rất ít cơ sở để xây dựng những máy gia tốc (tuyến tính) mới, không như trước đây các máy gia tốc LEP và LHC, đều nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ khi mới được đề xuất xây dựng.   Để Việt Nam có thể đóng góp hiệu quả cho vật lý hạt cơ bản thực nghiệm, cần phải xây dựng một đội ngũ có chuyên môn phù hợp. Hiện nay do thiếu sự đầu tư hỗ trợ thỏa đáng nên điều này còn khá xa vời. Đã đến lúc quyết định xem liệu chúng ta có thực sự muốn phát triển ngành vật lý hạt cơ bản thực nghiệm trong nước. Nếu muốn, chúng ta nên có sự đầu tư hỗ trợ đầy đủ. Nếu không, chúng ta nên ngừng gửi sinh viên ra nước ngoài đào tạo trong một lĩnh vực không có tương lai ở Việt Nam.  Vật lý thiên văn  Cho tới thời điểm này, vật lý thiên văn là lĩnh vực năng động nhất trong ba lĩnh vực. Cách đây ba thập kỷ, nhiều nhà vật lý thiên văn còn không tin vào hố đen! Ngày nay chúng ta biết rằng hầu hết mỗi thiên hà lớn đều có một hố đen ở tâm. Nghiên cứu chính xác cao về Nền Vi ba Vũ trụ quan sát được vũ trụ ở thời điểm chỉ nửa triệu năm sau vụ nổ Big Bang và cũng biết được về thời kỳ tái ion hóa khi những ngôi sao và thiên hà đầu tiên hình thành. Quan sát những thiên hà có dịch chuyển đỏ cao (lên tới z=10!) mang tới thông tin chi tiết về sự hình thành những cấu trúc trong vũ trụ ở thời kỳ đầu. Kết quả của công trình phát hiện mức phân cực BICEP2 mới đây thậm chí còn đưa ra những bằng chứng về tác động của sóng hấp dẫn liên quan tới lạm phát vũ trụ (thời điểm rất ngắn sau Big Bang khi vũ trụ giãn nở rất nhanh)! Đã có những bước tiến ngoạn mục trong hiểu biết về sự hình thành, tồn tại và diệt vong của các vì sao.        Đã đến lúc quyết định xem liệu chúng ta có thực sự muốn phát triển ngành vật lý hạt cơ bản thực nghiệm trong nước. Nếu muốn, chúng ta nên có sự đầu tư hỗ trợ đầy đủ. Nếu không, chúng ta nên ngừng gửi sinh viên ra nước ngoài đào tạo trong một lĩnh vực không có tương lai ở Việt Nam.        Vật lý thiên văn là lĩnh vực có ba vấn đề hóc búa nhất của vật lý hiện đại – năng lượng tối, lạm phát vũ trụ, và vật chất tối. Các đài thiên văn ở mọi bước sóng, đặt cả ở mặt đất lẫn trong không gian, luôn phát triển và cải thiện tính năng ở cả hai mặt là độ nhạy và độ phân giải góc. Ở Đông Á, Nhật Bản có chương trình thiên văn mặt đất và không gian rất phát triển, trong khi Trung Quốc cũng đang xây dựng một đài thiên văn vô tuyến khổng lồ nằm không xa Hà Nội, cùng Hàn Quốc và Đài Loan là những nước đóng vai trò chính trong lĩnh vực này. Tiếp cận dữ liệu từ tất cả những đài thiên văn lớn là việc khả dĩ thông qua hợp tác với các đối tác quốc tế.  Việt Nam có chuyên môn trong thiên văn vô tuyến (kế thừa từ Nguyễn Quang Riệu), ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Sự phát triển của các ứng dụng không gian, với những nguồn lực quan trọng được phân bổ cho Trung tâm Vệ tinh Quốc gia, đặc biệt vào việc quan sát mặt đất, là tín hiệu cho thấy Chính phủ có ý định hỗ trợ mạnh mẽ cho lĩnh vực này.  Kết luận  Với nguồn lực hạn chế mà đất nước có thể dành cho nghiên cứu cơ bản, giới khoa học chúng ta nên xem mình có nhiệm vụ lựa chọn các đề tài nghiên cứu phù hợp để dốc hết tâm huyết vào đó. Cụ thể là chúng ta cần đảm bảo rằng sinh viên được đào tạo trong những lĩnh vực đó có thể nhận được sự hỗ trợ quan trọng để không lãng phí tài năng và kỹ năng của họ. Để khoa học phát triển, chúng ta phải coi việc cân bằng hài hòa giữa lý thuyết và thực nghiệm/quan sát là mối ưu tiên hàng đầu. Tôi không có kỳ vọng đưa ra được một luận điểm, một điều gì thông thái liên quan đến Việt Nam nên lựa chọn đầu tư vào ngành nào của vật lý hiện đại mà chỉ đơn thuần muốn khơi lên những cuộc thảo luận và, rất hy vọng, có những hành động trong tương lai gần. Trong đó, chúng ta nên mời các nhà khoa học của Việt Nam ở nước ngoài cùng tham gia ý kiến.       THANH HƯƠNG dịch      PHẠM NGỌC ĐIỆP  hiệu đính    Author                Quản trị        
__label__tiasang Lựa chọn nghiên cứu hay quản lý nghiên cứu?      TS. David Krasa, người từng làm nghiên cứu sinh về địa vật lý của trường Đại học Ludwig Maximilian ở Munich, Đức, và làm hậu tiến sĩ tại trường Đại học Hawaii, Manoa và trường Đại học Edinburgh, Anh, trước đây chưa chưa từng làm việc ở vị trí nào quá ba năm nhưng khi có đứa con đầu lòng vào năm 2006, anh muốn một cuộc sống ổn định. Do đó, Krasa cho rằng, nếu muốn duy trì được một vị trí lâu dài mà vẫn được làm việc trong môi trường khoa học thì quản lý nghiên cứu là một lựa chọn hợp lý.              Nhà vật lý Elisabetta Vignati, người phụ trách Bộ phận Quản lý Không gian và Khí hậu của Trung tâm Nghiên cứu chung (JRC)  Vào tháng 12/2008, anh đã trở thành cán bộ của Chương trình nghiên cứu về khoa học Trái đất và vật lý chất rắn tại Hội đồng Nghiên cứu châu Âu (ERC), nơi phụ trách tài trợ cho nghiên cứu cơ bản của Liên minh châu Âu.   Bây giờ thay vì đến các phòng thí nghiệm hay đi thực địa, Krasa giám sát các quá trình đánh giá hồ sơ đề xuất để ERC cấp tài trợ và tổ chức, điều hành các phiên họp hội đồng khoa học gồm các nhà đánh giá độc lập, sau đó giám sát quá trình nghiên cứu của các dự án được tài trợ. Không trực tiếp làm nghiên cứu nữa nhưng Krasa vẫn thường xuyên tương tác với các nhà khoa học. Dĩ nhiên nhiều hồ sơ đề xuất xa lạ với chuyên ngành trước đây của Krasa, vì vậy anh phải tìm hiểu nội dung và định vị ý tưởng của các dự án trong một khuôn khổ rộng hơn. Và anh tìm thấy những điểm thú vị trong công việc mới. “Tôi đang làm việc với những người xuất sắc mà chắc không bao giờ gặp nếu không làm công việc này”, ông nói.  Không dễ trở thành nhà quản lý khoa họcTại trụ sở ở Brussels của Ủy ban châu Âu (EC), cánh tay điều hành của Liên minh châu Âu (EU), có hàng trăm cán bộ quản lý các chương trình nghiên cứu nhiều tỷ euro của EU (bao gồm ERC, hiện chiếm gần 20% tổng ngân sách nghiên cứu của EU), trong đó có nhiều người như Krasa.   Làm khoa học trong các cơ quan EU khác so với các môi trường hàn lâm hoặc công nghiệp. “Khi chúng tôi phỏng vấn các ứng cử viên, chúng tôi phải chắc chắn rằng họ hiểu về môi trường làm việc”, nhà vật lý Elisabetta Vignati, người phụ trách Bộ phận Quản lý Không gian và Khí hậu của Trung tâm Nghiên cứu chung (JRC) của EC ở Ispra, Italy cho biết. “Những người chủ yếu quan tâm đến nghiên cứu cơ bản thì nên làm việc ở một trường đại học công với các cơ quan quản lý như JRC,  thì cần các nhà nghiên cứu cởi mở, nhìn vào khoa học từ góc độ chính sách”.  Một nhân viên quản lý chương trình cao cấp có thể quản lý hơn 12 hợp tác nghiên cứu lớn cùng một lúc, vì thế cần có một kiến thức tổng quát, nhà vật lý Magan nói. Phạm vi chuyên môn của ông trải rộng từ các hệ thống laser quang và sợi quang cho lĩnh vực công nghiệp đến các cảm biến y tế và chip silicon với các ứng dụng khác nhau. Dĩ nhiên ông sẽ không còn tham gia vào nghiên cứu thực tế nhưng ông thích công việc hiện tại của mình hơn bất cứ đề tài nghiên cứu nào trong phòng thí nghiệm, vốn diễn ra ngày này qua ngày khác trong một phạm vi hẹp.”  Tuy nhiên, công việc của người quản lý chương trình nghiên cứu không phải là không căng thẳng, không chỉ vì khối lượng công việc mà còn vì bị giằng xé giữa khả năng tài trợ luôn có giới hạn và số hồ sơ đề xuất tăng theo hàng năm. Ông tiếc nuối: “Chúng tôi chỉ có thể tài trợ khoảng 1 trong khoảng 10 đến 20 dự án đề xuất, vì thế tôi thất vọng vì rất nhiều ý tưởng hay không được tài trợ.”      Tác động khoa học từ góc độ chính sách    Có một đặc điểm ở các tổ chức của EU là các nhà khoa học không thể chọn chủ đề nghiên cứu. Nhưng các nghiên cứu mà họ thực hiện theo sự phân công của EU có thể ảnh hưởng sâu sắc đến hàng triệu công dân của châu lục thông qua các quy tắc và quy định trong nhiều lĩnh vực của đời sống.  Ngay tại JRC, người ta thực hiện các nghiên cứu không chỉ để thỏa mãn sự tò mò hay nghiên cứu không có mục đích sử dụng cụ thể. Nó cung cấp nguồn thông tin khoa học một cách liên tục để hỗ trợ các chính sách của EU về năng lượng, sức khỏe và môi trường. Ví dụ như đơn vị của Vignati tạo ra các mô hình cho chính quyền địa phương để thiết kế các kế hoạch hành động phù hợp với các quy định về khí hậu và chất lượng không khí của EU.   Được khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế nhưng các nhà nghiên cứu JRC không chịu áp lực phải xuất bản nhiều như các đồng nghiệp ở các cơ quan nghiên cứu khác mà quan trọng hơn, các nghiên cứu của JRC có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách của EU với tư cách là một dịch vụ khoa học của EC và là cơ quan độc lập tư vấn khoa học cho các chính sách EU. Ví dụ, EC trong năm 2015 đã giảm mục tiêu sử dụng nhiên liệu sinh học cho vận chuyển ở EU, sau khi các nhà nghiên cứu của JRC cảnh báo rằng những tác hại gián tiếp về thay đổi sử dụng đất có thể vượt quá lợi ích đạt được từ sử dụng nhiên liệu sinh học.  Rất ít nhà nghiên cứu EC làm việc chỉ với một chủ đề trong nhiều năm. Michele Vespe, một nhà nghiên cứu di cư tại Trung tâm kiến thức JRC về Di cư và Dân số ở Ispra, đã phát triển công nghệ viễn thám để phát hiện các sự cố tràn dầu và giám sát hàng hải. Sau đó anh chuyển sang phân tích dữ liệu lớn và các nguồn dữ liệu thay thế về di cư.  Dù không cần lo lắng quá nhiều về tài trợ, các nhà khoa học thuộc các tổ chức của EU không được tự do làm những gì họ thích, và phải tuân thủ các quy trình nội bộ nghiêm ngặt về quy trình công việc, báo cáo và đảm bảo sự minh bạch trong quá trình quản lý dự án. Các nhà nghiên cứu cũng được khuyến khích khám phá những ý tưởng họ có – nhưng trước khi bắt đầu một đề tài mới, họ phải có được sự chấp thuận từ quản lý, có thể mất vài tháng. Ngoài ra các cán bộ EU phải cân nhắc cẩn thận trong lời nói, đặc biệt là khi đưa ra tuyên bố công khai, để tránh mâu thuẫn với tư duy chính trị phổ biến. Và khi xung đột nảy sinh giữa các quốc gia thành viên EC và EU, JRC có thể bị yêu cầu đưa ra các bằng chứng khoa học dưới áp lực rất lớn về thời gian. “Khi chúng tôi được yêu cầu tư vấn khẩn cấp, chúng tôi phải làm việc ngày đêm trong nhiều ngày”, Bernd Gawlik nói. Anh là kỹ sư hóa học chuyên nghiên cứu về chất thải và đất nhưng từ ngày về JRC đã chuyển sang vấn đề xử lý nước thải và quản lý chất thải chăn nuôi.    Quản lý bằng khoa học        Tại các cơ quan quản lý của EU, các nhà khoa học được giao nhiệm vụ kiểm tra một cách nghiêm ngặt độ chính xác trong các thông báo về sức khỏe và các rủi ro về môi trường của thuốc, hóa chất và thực phẩm. Ví dụ, EMA đánh giá sự an toàn của các loại thuốc đã được phê duyệt. “Vai trò của chúng tôi là đảm bảo dược phẩm an toàn, hiệu quả và chất lượng cho bệnh nhân”, Pavel Balabanov, một nhà thần kinh học người Bulgaria tham gia EMA năm 2008 sau sáu năm kinh nghiệm nghiên cứu lâm sàng. “Tôi từng thích làm việc với bệnh nhân. Nhưng ở đây, tôi có thể làm việc vì lợi ích của hàng ngàn bệnh nhân thay vì chỉ một vài người.”  Nghiên cứu định hướng chính sách đòi hỏi sự quan tâm đến các phương pháp nghiên cứu (bao gồm thống kê), kỹ năng quản lý dự án và hiểu biết vững chắc về khung pháp lý về hoạt động của cơ quan, theo Marta Hugas, nhà khoa học chính của EFSA, nơi cung cấp cho EC, Nghị viện châu Âu và các nước thành viên EU các lời khuyên trên cơ sở khoa học về các rủi ro về sức khỏe liên quan đến thực phẩm dành cho con người và động vật. Các nhà khoa học EFSA phải xử lý và truyền đạt các vấn đề chưa thể kết luận chắc chắn với cộng đồng; họ phải duy trì quan điểm dựa trên bằng chứng khoa học đối với các vấn đề gây tranh cãi như sự an toàn của cây trồng biến đổi gene, Hugas nói. Cơ quan này hiện đang có khoảng 200 nhà sinh học, nhà hóa học, nhà độc học, nhà nghiên cứu thực vật, nhà nghiên cứu dinh dưỡng và các nhà khoa học thú y được tham vấn đều đặn. Các nhà nghiên cứu này cũng thường xuyên trở thành đồng tác giả của các phân tích tổng hợp và các bài báo cùng với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của họ. EFSA có kế hoạch tuyển thêm 100 nhà khoa học trong vài năm tới. “Chúng tôi đang tìm kiếm các nhà nghiên cứu bất kỳ cấp độ nghề nghiệp nào quan tâm đến việc đánh giá rủi ro cho cộng đồng,” Hugas nói.  Một kỳ thực tập tại một cơ quan của EU làm tăng khả năng được nhận của các nhà khoa học trẻ, Hugas nhận xét. Nhà hóa học Alessia Amodio, hiện là một thực tập sinh EFSA, muốn một trải nghiệm mới sau hai năm nghiên cứu sau tiến sĩ về công nghệ nano tại Đại học Tor Vegata ở Rome và Đại học Melbourne ở Úc. Cô thích làm nhiều công việc khác nhau trong phạm vi khoa học  nhưng chưa quyết định liệu thích thích quản lý chương trình khoa học hay nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hơn. Cô hy vọng rằng kinh nghiệm của cô trong cả hai lĩnh vực sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho bất kỳ con đường nào mà mình lựa chọn sau này. Có một điều chắc chắn là “tôi đã trải qua nhiều thử thách và học được nhiều điều mới mẻ, vì vậy tôi không sợ hãi trước những gì có thể tới,” cô nói.   Hoàng Nam dịch       Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-07296-y      Không phải nhà nghiên cứu nào cũng có thể chuyển đổi lĩnh vực hoạt động. Để vào vị trí các cán bộ và nhà nghiên cứu của EC, họ phải đáp ứng tiêu chuẩn: có quốc tịch thuộc một quốc gia trong khối EU. Tuy nhiên, các học bổng sau tiến sĩ tại JRC tạo cơ hội cho công dân của 16 quốc gia không thuộc EU, bao gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina với tiêu chuẩn khá linh hoạt, có điều người đăng ký từ các quốc gia khác phải nộp đơn xin chấp thuận đặc biệt do nằm ngoài nhóm này.  Tương lai của các ứng viên người Anh cho các công việc của EU phụ thuộc vào các cuộc đàm phán sau Brexit. Các cán bộ và nhân viên người Anh đang làm việc với EU – kể cả các nhà nghiên cứu, có quyền yêu cầu ngoại lệ trong việc cấp quốc tịch EU để tiếp tục làm việc. EC đã hứa sẽ cấp ngoại lệ một cách hào phóng và minh bạch.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Luật KH&CN năm 2000: Kế hoạch hóa và sự lạc hậu trong quản lý      Theo TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, người chủ trì xây dựng Luật KH&CN (sửa đổi) năm 2013, sau hơn 10 năm tổ chức thực hiện Luật KH&CN năm 2000, Việt Nam đã hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có KH&CN. Trong khi đó, nhiều điều khoản trong Luật KH&CN năm 2000 vẫn mang nặng tính kế hoạch hóa, cơ chế tài chính cho khoa học không phù hợp với bản chất của khoa học, tổng đầu tư cho KH&CN còn thấp… khiến các hoạt động KH&CN không phát huy được năng lực sáng tạo và không đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.    LTS: Ra đời từ năm 2000, Luật KH&CN là sự thể chế hóa quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN phục vụ phát triển đất nước.  Với vai trò là luật gốc trong lĩnh vực KH&CN, Luật KH&CN năm 2000 đã tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng để điều chỉnh, thúc đẩy và khuyến khích hoạt động KH&CN của các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực này. Luật KH&CN đã được sửa đổi vào năm 2013. Đây được coi là lần sửa đổi căn bản và mang tính đột phá của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật KH&CN, qua đó đem lại những đổi thay có ý nghĩa cho hoạt động KH&CN, đặc biệt là thúc đẩy hội nhập quốc tế cũng như sự đóng góp vào sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của đất nước.  Trong năm tới, dự kiến Bộ KH&CN sẽ tiếp tục sửa đổi bổ sung Luật KH&CN 2013 cho phù hợp với tình hình mới. Báo KH&PT sẽ đánh giá lại quá trình thực hiện Luật KH&CN 2013 và những nội dung mới cần điều chỉnh khi sửa đổi Luật theo hướng phù hợp với kinh tế thị trường và tiệm cận với thông lệ quốc tế.  Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân  Thưa ông, vì sao chúng ta phải sửa đổi Luật KH&CN năm 2000?  Đi ngược lại thời gian, có thể thấy Luật KH&CN năm 2000 đã giải quyết được một số vấn đề quan trọng: Một là cho phép và khuyến khích thành lập các tổ chức KH&CN ngoài công lập; thứ hai là định hướng xây dựng các tổ chức KH&CN tầm quốc gia, mở rộng hợp tác quốc tế, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm để hình thành một số tổ chức KH&CN đạt trình độ khu vực và quốc tế; thứ ba là đảm bảo sự đầu tư từ ngân sách nhà nước và thu hút nguồn đầu tư từ bên ngoài, nhất là từ doanh nghiệp và tạo ra các doanh nghiệp công nghệ. Tuy nhiên đây vẫn là các quy định chung, chúng ta thực sự mới bắt đầu bước vào kinh tế thị trường nên thiếu kinh nghiệm, chưa có các chính sách cụ thể, vì thế không thực hiện được hoặc thực hiện không tốt. Ví dụ có những điều cần được quy định trong Luật như tỷ lệ chi ngân sách cho KH&CN, mặc dù lúc đó đã có chủ trương đầu tư 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho hoạt động KH&CN, nhưng lại không được chính thức quy định vào luật, không được thể chế bằng luật. Vì vậy, các Bộ Tài chính, Kế hoạch và đầu tư vẫn làm theo cách cũ, tức là phân bổ ngân sách hằng năm tùy theo khả năng của ngân sách.  Theo tôi, KH&CN nói chung và thị trường KH&CN nói riêng vẫn mang dáng dấp của nền kinh tế kế hoạch hóa chứ chưa phải thị trường. Và muốn hội nhập quốc tế thành công cần phải khẩn trương đổi mới toàn diện, đồng bộ về tổ chức và cơ chế hoạt động KH&CN theo cơ chế thị trường và tiệm cận với thông lệ quốc tế.  Dáng dấp kế hoạch hóa trong quản lý các hoạt động KH&CN đã thể hiện như thế nào?  Mặc dù hoạt động KH&CN có tính đặc thù khác với nhiều lĩnh vực khác nhưng cho đến nay vẫn nằm trong vòng quay chung của nền kinh tế kế hoạch hóa, tức là muốn triển khai đề tài, dự án lớn nhỏ nào thì đều phải lập kế hoạch (thuyết minh, dự toán, kế hoạch thực hiện, dự kiến sản phẩm…) và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt từ năm trước thì mới được đưa vào dự toán ngân sách của năm sau.  Hằng năm vào cuối tháng bảy đầu tháng tám, Bộ Tài chính cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tổng hợp dự toán ngân sách của tất cả các bộ, ngành, địa phương để trình Chính phủ. Sau đó, Chính phủ sẽ trình Quốc hội vào kỳ họp Quốc hội cuối năm để thông qua dự toán ngân sách của năm sau, và đến đầu năm sau Chính phủ sẽ giao kinh phí cho các bộ, ngành, địa phương. Thường phải sau Tết âm lịch các bộ, ngành địa phương mới nhận được kinh phí của năm tài chính.  Vậy cơ chế quản lý kế hoạch hóa không phù hợp với hoạt động KH&CN như thế nào?  Hoạt động KH&CN có nhiều điểm đặc thù so với nhiều hoạt động khác, bởi đây là hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có tính thời sự, tính mới và tính ứng dụng. Những vấn đề cần nghiên cứu có hai dạng, một là nhiệm vụ dài hạn, trong đó có nghiên cứu cơ bản, loại nhiệm vụ này thường do nhà nước đặt hàng và đầu tư; hai là nhiệm vụ do thực tiễn cuộc sống đặt ra, các hoạt động nghiên cứu triển khai đáp ứng nhu cầu thực tiễn mang tính thời sự, cấp bách, thường rất khó triển khai bởi bao giờ cũng vướng ở một điểm là không có ngay nguồn kinh phí, vì thế cần có cơ chế đầu tư phù hợp cả từ ngân sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước. Trong khi mọi khoản chi ngân sách nhà nước đã được bố trí hết theo kế hoạch đã được duyệt, không thể có nguồn đáp ứng kịp thời hoạt động nghiên cứu. Muốn làm được việc đó phải xây dựng kế hoạch nhưng quá trình phê duyệt qua nhiều cấp, mất hàng năm. Ví dụ với việc đột xuất ở một địa phương bị xói lở bờ sông, sâu bệnh, cúm gia cầm… nếu muốn làm nghiên cứu ứng phó thì phải làm thuyết minh đề cương qua rất nhiều cấp đánh giá, xác định nhiệm vụ, tuyển chọn hoặc xét chọn cơ quan chủ trì nhiệm vụ, thẩm định kinh phí… để được phê duyệt. Phê duyệt rồi cũng chưa được cấp kinh phí ngay mà phải chờ tổng hợp vào danh mục nhiệm vụ, đưa vào dự toán ngân sách của năm sau và phải chờ đợi hàng năm mới được bố trí kinh phí.  Nếu hoạt động KH&CN vận hành theo phương thức như vậy thì không thể đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội. Đây là lý do các quốc gia tiên tiến trên thế giới đều có cơ chế đặc thù cho KH&CN, nghĩa là khi sử dụng kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước, các dự án KH&CN được hưởng cơ chế cấp kinh phí riêng, hoàn toàn khác với cơ chế cấp vốn cho các dự án xây dựng cơ bản (như làm cầu, đường, trụ sở cơ quan…) có dự toán được phê duyệt, khi nào được bố trí kinh phí thì khi đó bắt đầu thực hiện. KH&CN không thể cứ làm như vậy được.  Ngoài những bất cập do cơ chế quản lý kế hoạch hóa, trong hoạt động khoa học, người ta còn gặp quá nhiều khó khăn trong các thủ tục hành chính?  Đúng là các quy trình, thủ tục và hồ sơ quá rắc rối đã làm nguội lạnh hết nhiệt tình của các nhà khoa học. Thủ tướng Chính phủ cũng nói nhiều lần trong các phiên họp chính phủ là làm sao để khi quyết toán đề tài khoa học thì hệ thống chứng từ tài chính phải ít hơn báo cáo kết quả nghiên cứu. Đấy còn chưa kể hóa đơn chứng từ theo quy định về thanh quyết toán vô cùng phức tạp, ví dụ các khoản chi từ 100 triệu trở lên thì phải đấu thầu, hay chi cho hội thảo khoa học, xây dựng chuyên đề nghiên cứu có định mức rất thấp, không đủ để nhà khoa học dành hết tâm huyết trí tuệ cho nhiệm vụ, nên chất lượng báo cáo không đạt yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu không có sản phẩm đúng như kỳ vọng.  Vậy theo ông những nội dung cốt lõi nào của Luật KH&CN năm 2000 cần được sửa đổi?  Có ba nội dung quan trọng cần sửa đổi Luật KH&CN năm 2000, đó chính là phương thức đầu tư cho hoạt động KH&CN, cơ chế tài chính và chế độ trọng dụng cán bộ KH&CN.  Xin nói riêng một chút về phương thức đầu tư. Suốt mấy chục năm bao cấp, gần như toàn bộ nguồn đầu tư cho KH&CN là ngân sách nhà nước, mà chúng ta đều biết là ngân sách nhà nước thì vô cùng khó khăn, tiếng là Quốc hội ưu tiên dành 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho KH&CN nhưng trên thực tế chưa bao giờ đạt được con số này cả. Mặt khác, nguồn ngân sách ấy chủ yếu dành cho chi thường xuyên và chi đầu tư còn thực chất chi cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) vô cùng ít, chỉ trên dưới 10% trong tổng số 2% đó.  Chúng ta hãy hình dung, 90% tổng ngân sách chi cho KH&CN là chi thường xuyên cho tiền lương và duy trì hoạt động bộ máy, chi đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, sửa chữa nhà xưởng… của các viện nghiên cứu, trung tâm KH&CN công lập trong cả nước, khoảng 10% còn lại chi cho hoạt động nghiên cứu triển khai, và chủ yếu nằm ở khối trung ương, khối địa phương thì hầu như không đáng kể. Ngay cả ở khối Trung ương, chi cho các nhiệm vụ cấp nhà nước chỉ một phần nhỏ, còn phần lớn là giao cho các bộ, ngành để quản lý nhiệm vụ cấp bộ và cấp cơ sở, ví dụ riêng hai Viện Hàn lâm và hàng trăm viện của Bộ NN&PTNT thì chi R&D của họ có năm không kém gì các nhiệm vụ cấp nhà nước. Vì thế, dòng ngân sách chi cho KH&CN rất phân tán, nhất là nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh được đầu tư quy mô rất nhỏ.    Phòng thí nghiệm Tế bào gốc, trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. HCM, đơn vị có nhiều kết quả nghiên cứu chuyển giao thành công.  Các nước phát triển vẫn đầu tư mạnh từ ngân sách Chính phủ, chủ yếu cho các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và các nhiệm vụ mà tư nhân không đầu tư (như quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích công cộng…). Nhưng nguồn đầu tư cho KH&CN chủ yếu là từ ngoài ngân sách nhà nước, nhất là từ doanh nghiệp, và tỷ trọng đầu tư này lớn gấp nhiều lần đầu tư từ ngân sách nhà nước. Việc giải ngân kinh phí nguồn ngoài ngân sách nhà nước đơn giản hơn, kịp thời hơn và đem lại hiệu quả nghiên cứu cao hơn, giải quyết ngay các vấn đề của doanh nghiệp và nền kinh tế. Vấn đề là làm thế nào huy động được sự đầu tư của doanh nghiệp.  Với tình trạng này thì hiệu quả hoạt động KH&CN thời kỳ đó như thế nào, thưa ông?  Thật vô cùng khó để phát triển KH&CN trong bối cảnh lạc hậu về phương thức quản lý, bất cập trong thủ tục hành chính, và thiếu hụt về nguồn lực đầu tư. Trên thực tế thì nếu các nhà khoa học “xin” được một chút tiền nào từ ngân sách thì cũng chủ yếu để có việc làm, để duy trì hoạt động của viện, trường là chính, chứ không kỳ vọng tạo ra sản phẩm có giá trị. Trong trường hợp không có được kinh phí như vậy thì gần như người ta không làm nghiên cứu nữa, và nhiều viện chỉ hoạt động cầm chừng, tồn tại trên danh nghĩa, cán bộ khoa học giữ biên chế để đi làm những việc chẳng liên quan gì đến nghiên cứu nhằm có thu nhập đảm bảo mức sống tối thiểu. Chính vì thế, hiệu quả của hoạt động nghiên cứu ở mức rất thấp. Nhiều người cứ bảo nhiều đề tài cất ngăn kéo, không đi vào cuộc sống nhưng thực ra, với cung cách đầu tư và quản lý như vậy thì kết quả cũng chỉ khiêm tốn như thế thôi.  Điều đáng buồn là trong suốt nhiều năm, Việt Nam không có được sản phẩm khoa học lớn, không có viện nghiên cứu có uy tín đẳng cấp quốc tế, mặc dù có đơn vị rất lớn như hai Viện Hàn lâm nhưng từng đơn vị trong hai viện đó thì hầu như không được doanh nghiệp và xã hội tìm đến và đặt hàng. Các nhà khoa học thường phải tự mình đi tìm kiếm các hợp đồng chuyển giao công nghệ, làm thêm dịch vụ bên ngoài. Do đó, dù có nguồn đầu tư không nhỏ từ ngân sách nhưng nhà nước không nhận lại được sản phẩm có giá trị, thậm chí là cơ quan chủ trì nhiệm vụ cũng không nhận được đóng góp gì từ kinh phí đề tài ngoài phần phí quản lý rất ít ỏi, và các nhà khoa học không còn động lực để toàn tâm toàn ý làm việc cho các tổ chức KH&CN công lập nữa.  Sự bất cập trong quản lý đã dẫn đến hệ quả khác là chế độ đãi ngộ với các nhà khoa học cũng không được tốt?  Suốt mấy chục năm, chính sách đối với cán bộ khoa học đều như cán bộ viên chức hành chính, chế độ lương bổng đều theo thang bảng lương của nhà nước quy định, rất thấp và không đủ sống. Tuy nhiên, bất cập mà chúng ta đều thấy là với nhiều lĩnh vực khác thì cán bộ, viên chức được nhà nước hỗ trợ tăng thêm thu nhập thông qua chế độ phụ cấp, riêng cán bộ khoa học thì không có chế độ phụ cấp nào.  Chúng tôi cũng kêu rất nhiều nhưng tình trạng vẫn không biến chuyển. Đến lúc giải trình, thuyết phục có vẻ được chấp nhận thì thời điểm đấy lại có chủ trương cải cách tiền lương và cấp trên thông báo là sẽ không xem xét bổ sung phụ cấp nữa mà chờ tổng thể cải cách tiền lương. Như vậy trong khi các ngành khác đều có phụ cấp, có ngành được hai đến ba loại phụ cấp, ví dụ như phụ cấp nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp đặc thù, thì riêng cán bộ khoa học chỉ có lương cơ bản nên khó trụ được với nghề. Điều này dẫn đến hệ lụy là ở các viện nghiên cứu, người giỏi chủ yếu là các nhà khoa học lớn tuổi, thâm niên làm việc đã mấy chục năm, còn vài năm nữa thì cố trụ lại. Các nhà khoa học trẻ thì không muốn tuyển dụng vào các đơn vị sự nghiệp công vì lương bổng quá thấp, không có điều kiện để phát triển, nên phần nhiều chọn làm thuê cho doanh nghiệp hoặc ra nước ngoài làm việc thì có tương lai hơn. Chưa kể chính sách đãi ngộ còn cào bằng, người làm tốt có sản phẩm khoa học tốt cũng như người làm kém, chế độ đãi ngộ hầu như không khác gì nhau, không có chính sách ưu đãi cho nhà khoa học giỏi, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài, nhà khoa học chủ trì các dự án lớn, nhà khoa học trẻ tài năng…  Trong bối cảnh chung như thế, đất nước đang có nhu cầu phát triển rất lớn, muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải dựa vào KH&CN, đặt ra nhu cầu cấp bách phải đổi mới tổ chức và hoạt động KH&CN. Ở thời điểm 2010 mặc dù người ta chưa nói tới Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhưng thực sự vẫn là thời đại của internet, của công nghệ số, vai trò KH&CN và nhu cầu phát triển công nghệ rất lớn. Bối cảnh ấy buộc chúng ta phải có Luật KH&CN mới.          Tôi nghĩ là nên có một luật mới để có thể hình thành một nền tảng pháp lý cho KH&CN tương thích với kinh tế thị trường, giải quyết được những bất cập tồn tại nhiều năm. Tuy nhiên tôi hiểu là thật khó để đưa được những nội dung đổi mới vào luật. Vì vậy việc đầu tiên cần làm là phải có nghị quyết riêng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về KH&CN làm căn cứ cho việc soạn thảo dự luật mới. Trước đây thì Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII năm 1996 đã ra nghị quyết chung về KH&CN và giáo dục đào tạo, lần đầu tiên chính thức quy định Giáo dục Đào tạo và KH&CN là hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu. Phải đến năm 2000, mình mới làm được Luật KH&CN để thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, nhưng về tổng thể nó vẫn chưa thực sự mang hơi thở thị trường.  Chính vì thế, cần phải có nghị quyết mới của Đảng thay thế cho Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, để làm căn cứ cho việc xây dựng hệ thống luật pháp mới cho KH&CN. Ngay từ năm 2011, tôi đã đề xuất với Trung ương: trong chương trình xây dựng Nghị quyết của BCH trung ương khóa XI phải có nghị quyết riêng về KH&CN và GD&ĐT. Lúc đó, Trung ương đã giao cho Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban cán sự Đảng Bộ KH&CN phối hợp xây dựng Nghị quyết về KH&CN. Nghị quyết ấy đã được Hội nghị Trung ương 6 khóa XI thông qua tháng 10 năm 2012, đó là Nghị quyết số 20/NQ-TW. Ban soạn thảo đã làm việc rất khẩn trương ngay từ đầu năm, tới tháng 10 thì được thông qua, trong nghị quyết giao nhiệm vụ cho Quốc hội và Chính phủ thể chế hóa nghị quyết của Đảng. Ngay trong quá trình xây dựng nghị quyết, chúng tôi đã song song xây dựng dự thảo Luật KH&CN, giao nhiệm vụ cho các đơn vị của Bộ KH&CN làm các thủ tục cần thiết, vì chúng tôi rất muốn là khi Trung ương ra nghị quyết thì phải sớm trình được luật.  Sau khi Nghị quyết Trung ương được ban hành thì chúng tôi đã hoàn thiện dự thảo luật, lấy ý kiến các bộ ngành. Kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIII cuối năm 2012 thảo luận dự thảo Luật và giao cho Ủy ban KH&CN và Môi trường của Quốc hội thẩm tra. Luật KH&CN được thông qua vào ngày 18/6/2013 tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIII. Rất nhanh, nghĩa là Trung ương ra nghị quyết vào tháng 10 năm 2012 thì tháng 6 năm sau Quốc hội đã thông qua luật KH&CN 2013.  TS. Nguyễn Quân          Theo Khoa học và Phát triển (https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/luat-khcn-nam-2000-ke-hoach-hoa-va-su-lac-hau-trong-quan-ly/20230309113358769p1c785.htm)    Author                .        
__label__tiasang Luật KHCN sửa đổi: Năm điểm đột phá      Luật KHCN sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ năm 2014 với khá nhiều thay đổi1, trong đó có một số thay đổi mang tính đột phá so với luật hiện hành và được nhiều người kỳ vọng tạo bước phát triển mới cho KHCN của Việt Nam. Vậy thực chất các thay đổi đó như thế nào qua phân tích năm vấn đề quan trọng lần đầu tiên được luật hóa.&#160;     1. Phương thức đầu tư cho KH&CN  Ngoài đầu tư của nhà nước tối thiểu bằng 2% tổng chi ngân sách (Điều 49), bắt buộc các doanh nghiệp phải dành một phần lợi nhuận trước thuế của họ đề đầu tư lại cho nghiên cứu R&D thông qua việc thành lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp (Điều 55, 56). Nên biết rằng ở các nước phát triển, phần lớn tiền đầu tư cho nghiên cứu KHCN đến từ các doanh nghiệp, nhà nước chỉ chiếm khoảng 25-30% để chi cho các nghiên cứu cơ bản và các đề án nghiên cứu ứng dụng có tầm quan trọng chiến lược. Việc các doanh nghiệp dành kinh phí cho các nghiên cứu R&D bằng hình thức tự tổ chức triển khai nghiên cứu và/hoặc đặt hàng cho Phòng thí nghiệm của các Viện/trường đại học triển khai nghiên cứu không chỉ được quy định thành luật mà còn là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp trong việc đổi mới sáng tạo để cạnh tranh ở quy mô quốc gia và quốc tế. Còn ở ta, do năng lực các doanh nghiệp còn nhỏ, nhu cầu đổi mới sáng tạo để tồn tại và phát triển chưa cao nên không mấy doanh nghiệp tự ý thức được việc này. Nay dù muốn hay không doanh nghiệp cũng phải trích một phần lợi nhuận để tái đầu tư cho các nghiên cứu R&D nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm (Điều 55, 56, 63).   2. Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho nghiên cứu KHCN   Được đổi mới về căn bản thông qua Quỹ Phát triển KH và CN quốc gia và các Quỹ Phát triển KH và CN của các Bộ, ngành, cũng như ở các tỉnh (Điều 59, 60, 61). Mô hình Quỹ Phát triển KH và CN, thực chất là mô hình quản lý và sử dụng ngân sách tiên tiến, được hầu hết các nước áp dụng. Mô hình Quỹ cho phép quản lý và sử dụng kinh phí theo phương thức khoán đến sản phẩm cuối cùng mà bỏ qua lối quản lý hành chính, thanh quyết toán theo năm kế hoạch, vừa phức tạp, nhiêu khê, chiếm quá nhiều thời gian công sức của nhà khoa học và cả nhà quản lý. Phương thức quản lý Quỹ và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng (Điều 52), thậm chí có thể sử dụng ngân sách để mua sản phẩm KHCN của nhà khoa học. Những quy định mang tính đột phá này không chỉ nâng cao trách nhiệm của nhà khoa học chân chính mà còn khắc phục được nhiều kẽ hở cho những ai đội lốt nghiên cứu khoa học để trục lợi.   3. Tổ chức KHCN     Mọi tổ chức cá nhân đều có quyền đề xuất ý tưởng nghiên cứu dưới dạng các đề tài, dự án, trên cơ sở đó Tổ chức KHCN sẽ tập hợp, sàng lọc và đặt hàng cho nhà khoa học (Điều 26). Mô hình đặt hàng đối với nhà khoa học, được coi là phương thức tối ưu nhằm gắn mục tiêu của nghiên cứu KHCN với những vấn đề thực tiễn, tránh được tình trạng kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu nằm lưu trong tủ mà không đến với thực tiễn. Khi được đặt hàng, dương nhiên, với các điều kiện ràng buộc, nhà khoa học phải có trách nhiệm hoàn thành mục tiêu, sản phẩm nghiên cứu và bàn giao kết quả cho Tổ chức KHCN đã đặt hàng.     4. Vị trí, chức năng tổng tư lệnh ngành KHCN   Luật KHCN sửa đổi lần đầu tiên quy định Bộ KH&CN với các quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng  trong việc toàn quyền hoạch định từ các kế hoạch 5 năm, đề xuất nguồn kinh phí thực thi nhiệm vụ KHCN, đến việc quản lý, giám sát sử dụng kinh phí có hiệu quả trên phạm vi toàn quốc. Các Bộ ngành khác chỉ đóng vai trò tham gia, phối thuộc những vấn đề thuộc phạm vi Bộ, ngành mình.  5. Chính sách sử dụng và đãi ngộ cho cán bộ KH&CN   Là một trong những điểm khá đột phá. Luật sửa đổi đã cụ thể hóa hàng loạt chính sách đãi ngộ về lương, phụ cấp trách nhiệm, đi dự các Hội nghị quốc tế, v.v. đối với nhà khoa học đầu ngành, trình độ cao, nhà khoa học đang chủ trì các đề tài, đề án quốc gia (Điều 23). Đặc biệt, quy định tạo điều kiện cho nhà khoa học đẳng cấp được đầu tư cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tổ chức nghiên cứu, thực hiện ý tưởng đặt ra.  Luật sửa đổi cũng khuyến khích nhà khoa học trẻ có tài được thăng tiến trong việc đề bạt, bỏ qua rào cản lâu nay là “sống lâu lên lão làng”, nay nhà khoa học trẻ, có trình độ và thành tích xứng đáng có thể được bổ nhiệm lên vị trí cao mà không cần đủ thâm niên như trước đây. Nhà khoa học được ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân từ các khoản thu nhập từ hoạt động KHCN. Luật cũng cụ thể hóa nhiều chế độ đãi ngộ đối với nhà khoa học là Việt kiều, chuyên gia quốc tế tham gia trong các chương trình đề án nghiên cứu với Việt Nam (Điều 24).    Và những hạn chế  Bên cạnh những điểm mới đột phá như trên, Luật KHCN sửa đổi vẫn còn một số vấn đề chưa được đề cập hoặc chưa quan tâm đúng mức, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất để có được một KHCN phát triển chính là yếu tố con người nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ (scientific researcher/engineering researcher) và tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Scientific research / research development systems) hầu như chưa được luật hóa.   Nghiên cứu KHCN là loại hình lao động đặc thù của trí óc, chỉ dành cho những ai say mê sáng tạo, được đào tạo bài bản và có bằng cấp thích hợp mới có khả năng tạo ra sản phẩm trí tuệ đích thực. Vì không có tiêu chí rõ ràng đánh giá “nhà khoa học” hay “người nghiên cứu” mà hiện nay có đến 70% “cán bộ nghiên cứu KHCN” đang ngồi nhầm chỗ, và phần lớn những người này còn trở thành vật cản vô hình trong các tổ chức nghiên cứu KHCN. Một khi không có tiêu chí ràng về công chức KHCN thì việc xác định nhà KHCN hàng đầu, chuyên gia cấp cao, v.v… để tôn vinh và đãi ngộ như quy định tại các điều 22, 23, 24, 77, 78. cũng trở nên vô nghĩa hoặc tôn vinh, đãi ngộ “nhầm đối tượng”, không chỉ gây lãng phí nguồn tài chính quốc gia và còn gây sự phản cảm trong cộng đồng khoa học.   Muốn có một nền KHCN thật sự phát triển thì trước hết phải có, nói đúng hơn phải đào tạo cho được đội ngũ người nghiên cứu KHCN chuẩn mực và tinh thông. Đó là những người biết chấp nhận mạo hiểm, thích tìm tòi và dám “xả thân” cho KHCN. Do vậy cần thay đổi tận gốc rễ nền giáo dục đào tạo để tạo ra những lớp người biết hoài nghi để sáng tạo ra cái mới; đồng thời phải kiến tạo môi trường nghiên cứu tốt với một hệ thống tổ chức nghiên cứu KHCN tối ưu và đồng bộ để hỗ trợ nhau cùng phát triển chứ không ngáng chân, kìm nhau trong quá trình hoạt động như tình trạng hiện nay. Tiếc thay cả hai vấn đề cốt lõi này chưa được luật hóa đầy đủ hoặc chưa coi trọng đúng mức trong Luật KHCN sửa đổi lần này.  Một bất cập khác là tiêu chí xét duyệt đầu vào của đề tài và tiêu chí đánh giá nghiệm thu đề tài hầu như chưa được đề cập rõ ràng. Một khi chưa có tiêu chí rõ ràng thì việc đánh giá, xét duyệt vẫn dựa theo cảm tính của người thẩm định và đó sẽ là cơ hội để nhiều đề xuất kém chất lượng, không có tính khả thi lọt lưới.  ***  Mặc dù còn một số vấn đề chưa kịp thay đổi hoặc không thể đổi thay một sớm một chiều, nhưng Luật KHCN sửa đổi với một số quy định có tính đột phá sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý trong quản lý KHCN theo thông lệ quốc tế, góp phần đưa nghiên cứu khoa học vào thực chất hơn, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn đất nước.   —  * Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  (1) So với luật KHCN  2000 (với 8 Chương, 59 điều), Luật KHCN sửa đổi 2013 (gồm 81 điều, được chia thành 11 chương), bỏ 17/59 điều, sửa đổi 42/59 điều, đồng thời bổ sung 39 điều mới).    Author                Quản trị        
__label__tiasang Malaysia: Đi lên từ thương mại hóa R&D      Ngay từ năm 1986, Malaysia đã xác định công nghệ là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động thương mại hóa các kết  quả nghiên cứu bắt đầu được khuyến khích từ năm 1991 trong kế hoạch phát  triển lần thứ 6 của Malaysia (1991-1995), nhấn mạnh vào các chương  trình nghiên cứu phát triển công nghệ phải định hướng thị trường hơn nữa  và tạo ra các sản phẩm có thể thương mại hóa.  &#160;    Các kế hoạch lần thứ 7 (1995-1999), 8 (2000-2005), 9 (2006-2010) của Malaysia tiếp tục đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong các cơ sở nghiên cứu và các doanh nghiệp ở Malaysia. Kết quả là những nỗ lực cải cách không ngừng đã và đang thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Malaysia ngày càng phát triển, đưa Malaysia trở thành quốc gia đạt được thành công trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á.    R&D ở Malaysia  Malaysia là quốc gia có tiềm năng nghiên cứu-phát triển hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê của Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), trong giai đoạn 2006-2010, Malaysia là nước đứng thứ hai chỉ sau Singapore ở Đông Nam Á về số lượng bằng sáng chế (Bảng 1).   Bảng 1: So sánh số lượng văn bằng sở hữu trí tuệ được cấp trong giai đoạn 2006-2010 của các nước ở Đông Nam Á            Hạng      Nước      Dân số   (triệu người)      Số bằng   sáng chế 2006-2010          1      Singapore      4,8             2496          2      Malaysia      27,9      877          3      Thái Lan      68,1      206          4      Philippines      93,6      143          5      Indonesia      232      74            (Dân số: nguồn BBC, số bằng sáng chế: nguồn USPTO)  Số liệu trên cho thấy khả năng nghiên cứu sáng tạo ra các tài sản trí tuệ của Malaysia là rất tốt. Đây chính là tiền đề để hoạt động thương mại hóa dưới hình thức chuyển giao/li-xăng công nghệ hay thành lập các công ty công nghệ mới được phát triển. Tuy nhiên, các loại tài sản trí tuệ như các bằng sáng chế chỉ là những sản phẩm công nghệ ban đầu và những sản phẩm này không chắc chắn có thể đưa ra được thị trường. Trên thực tế hoạt động thương mại hóa của Malaysia vẫn đang gặp nhiều trở ngại và vẫn đang trong quá trình tìm kiếm các giải pháp tối ưu để phát triển.   Những rào cản   Một cuộc điều tra do Chính phủ Malaysia tiến hành đối với 5232 dự án nghiên cứu được thực thi bởi các cơ quan nghiên cứu công và các trường đại học của Malaysia trong quá trình thực hiện kế hoạch lần thứ 6 (1991-1995) và thứ 7 (1995-1999) cho thấy 14.1% số lượng dự án có tiềm năng thương mại hóa và chỉ 5.1% là thực sự được thương mại hóa. Con số này giảm xuống còn 3.4% trong kế hoạch lần thứ 8 (2000-2005).  Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do nguồn vốn đầu tư từ cả khu vực công và khu vực tư nhân cho việc thương mại hóa công nghệ ở Malaysia còn thiếu và chưa đa dạng; các chính sách hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ và thuế chưa hoàn thiện; không có sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân và các cơ quan nghiên cứu phát triển trong việc đưa nghiên cứu vào thực tiễn; điều này có thể xuất phát từ nhận thức và hiểu biết lẫn nhau giữa các bên còn thấp.  Trong giai đoạn 1991-2005, ở Malaysia, các quỹ đầu tư cho hoạt động thương mại hóa không có nhiều. Bên cạnh Bộ Khoa học Công nghệ và Đổi mới Malaysia, có một số cơ quan như Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, Tập đoàn phát triển công nghệ Malaysia, Quỹ đầu tư mạo hiểm Malaysia là những nguồn cung cấp tài chính và hỗ trợ chủ yếu cho hoạt động thương mại hóa nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên, ngân sách của các quỹ này là không nhiều (khoảng 20-80 triệu USD/5 năm) trong khi chi phí cho thương mại hóa thường chiếm 70-85% tổng chi phí đầu tư.   Sự tham gia của khu vực tư nhân và ngân hàng cho các hoạt động thương mại hóa các nghiên cứu phát triển cũng rất hạn chế. Hầu như không có hình thức đầu tư ban đầu của khu vực tư nhân (angel investors) cho các kết quả nghiên cứu ở Malaysia, và các ngân hàng cũng không cung cấp những khoản vay cho các công ty công nghệ mới khi rủi ro kinh doanh cao. Do đó, hoạt động thương mại hóa nghiên cứu chủ yếu trông chờ vào nguồn tài trợ, hỗ trợ ban đầu từ Chính phủ. Ngoài ra, ở Malaysia các chính sách về sở hữu trí tuệ và khuyến khích thương mại hóa qua ưu đãi thuế, ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp, nhập khẩu, đầu tư, thuế giá trị ra tăng cũng chưa hoàn thiện. Không có nhiều bằng chứng cho thấy Malaysia có các chính sách riêng biệt cho các công ty công nghệ mới.    Một vấn đề nữa cản trở hoạt động thương mại hóa nghiên cứu phát triển của Malaysia đó là hầu như không có sự liên kết giữa khu vực nghiên cứu với khu vực doanh nghiệp tư nhân. Thực tế này có lẽ xuất phát từ nhận thức của khu vực doanh nghiệp tư nhân về nghiên cứu phát triển còn kém, thậm chí khu vực này còn không xem các trường đại học và viện nghiên cứu như một nguồn sáng tạo quan trọng mà họ chỉ tập chung gia công cho các tập đoàn nước ngoài và vì vậy trong suốt thời gian qua khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thất bại trong việc vượt qua hàng rào của chuỗi giá trị toàn cầu. Về phía đại học, nhận thức về đại học doanh nghiệp cũng rất hạn chế, phần lớn các đại học của Malaysia tin rằng đại học chỉ nên tham gia vào việc tạo ra tri thức chứ không tham gia vào kinh doanh theo kiểu thương mại hóa. Chính vì vậy mà ở các trường đại học Malaysia không thực sự có chiến lược khoa học công nghệ định hướng thương mại hóa cũng như không có các bộ phận chuyên biệt hỗ trợ cho thương mại hóa nghiên cứu phát triển.  Tăng cường đổi mới   Bên cạnh việc tăng đầu tư cho nghiên cứu phát triển và thương mại hóa (năm 2010 đầu tư 60 tỉ USD), các khoản đầu tư của Chính phủ cũng được đa dạng hóa dưới dạng các chương trình, các quỹ định hướng thương mại hóa cho nghiên cứu phát triển. Các kế hoạch tài trợ nghiên cứu mới được thiết lập bên cạnh kế hoạch tài trợ cho nghiên cứu cơ bản truyền thống, ví dụ như kế hoạch tài trợ cho nghiên cứu khám phá (ERGS), kế hoạch tài trợ nghiên cứu dài hạn (LRGS) hay kế hoạch tài trợ nghiên cứu Prototype (PRGS). Ngoài ra, các chương trình tài trợ cũng được đa dạng hóa và mang tính chuyên biệt cho hoạt động thương mại hóa.   Dưới đây là các loại hình chương trình, quỹ thúc đẩy các hoạt động thương mại hóa nghiên cứu của Malaysia:  – Chương trình đầu tư Cradle: Cấp vốn ban đầu cho việc cải tiến các công nghệ thành các sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Chương trình cũng bao gồm cả các chương trình trợ giúp cho các công ty công nghệ và việc bán quyền sở hữu trí tuệ của trường đại học.  – Chương trình hỗ trợ ứng dụng tin học (DAGS): là chương trình được quản lý bởi Bộ Khoa học Công nghệ và Đổi mới Malaysia (MOSTI) cấp vốn tài trợ cho các dự án sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông cho cộng đồng.  – Quỹ eContent: tài trợ cho các dự án tạo ra các nội dung số.   – Quỹ InnoFund: Được quản lý bởi MOSTI, chuyên cấp vốn cho các dự án thương mại hóa cải tiến (innovation).  – Chương trình tài trợ sở hữu trí tuệ và hành lang truyền thông đa phương tiện: Được quản lý bởi Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, Chương trình này cung cấp hỗ trợ lên đến 70% chi phí bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoàn trả và ứng dụng phải được thực hiện sau khi quá trình kết thúc.  – Chương trình tài trợ nghiên cứu phát triển (MSC): Chương trình được quản lý bởi Tập đoàn phát triển truyền thông đa phương tiện, cung cấp hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển ở Malaysia.  – Quỹ eScience: Quản lý bởi MOSTI, tài trợ cho các dự án nghiên cứu phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên ở các trường đại học.  – Quỹ công nghệ (Techno Fund): tài trợ cho các dự án tiền thương mại hóa và các dự án có khả năng tạo ra quyền sở hữu trí tuệ.  – Chương trình tài trợ ươm mầm cho doanh nghiệp công nghệ: quỹ tài trợ cho việc sáng tạo để tạo ra các công ty mới về công nghệ.  Về mặt tổ chức đối với sự phát triển hoạt động thương mại hóa, Malaysia khuyến khích i) thành lập các trường đại học tư nhân, ii) thành lập các trung tâm tư vấn kỹ thuật và dịch vụ, iii) Nhấn mạnh vào nghiên cứu, ví dụ như đưa ra các chương trình nghiên cứu, thiết lập khái niệm “đại học nghiên cứu” và “đại học đỉnh cao” cho các trường đại học công, khuyến khích thành lập các trung tâm quản lý nghiên cứu trong các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp và cuối cùng là iv) nhấn mạnh vào thương mại hóa các nghiên cứu phát triển. Bên cạnh các chính sách về khoa học công nghệ và tổ chức, Malaysia cung đã đưa ra nhiều chính sách về thuế để khuyến khích việc thành lập các công ty công nghệ mới từ các nghiên cứu phát triển. Các chính sách ưu đãi về tài chính bao gồm miễn thuế thu nhập cho các công ty công nghệ tiên phong hay bao 100% thuế đầu tư cho các chi phí vốn nâng cấp, phát triển công ty, giảm hai lần chi phí nghiên cứu phát triển và chi phí vốn, miễn thuế nhập khẩu và cấp vốn xây dựng…   Những cải cách về chính sách của Malaysia đối với hoạt động thương mại hóa nghiên cứu nói chung và trong các trường đại học nói riêng đã và đang thúc đẩy hoạt động này phát triển. Ví dụ hoạt động thương mại hóa trong các trường đại học và việc nghiên cứu ở Malaysia đã được cải thiện đáng kể. Bảng dưới đây cho thấy trong năm 2008 các trường đại học công lập Malaysia đã đóng góp 40 sáng chế, 122 nhãn hiệu, 58 sản phẩm mới, và 313 sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa trong năm 2008.     Bảng 2: Sản phẩm thương mại hóa ở các trường Đại học công  Malaysia 2008            Trường đại học      Sáng chế      Nhãn  hiệu      Sản phẩm được thương mại   hóa      Sản phẩm tiềm năng      Tổng tài sản trí tuệ          Universiti Teknologi Malaysia      9      28      6      110      153          Universiti Putra Malaysia       12      27      16      15      70          Universiti Kebangsaan Malaysia      3      20      0      33      56          Universiti Malaya      0      11      3      31      45          Universiti Sains Malaysia       11      4      15      9      39          Universiti Teknologi Mara      5      22      8      0      35          Các trường đại học công lập khác       0      10      16      130      156          Tổng số      40      122      58      313      533            Nguồn: Bộ Giáo dục đại học Malaysia  Nếu xét theo số liệu của giai đoạn 2006-2010 (Bảng 1), thì hằng năm các trường đại học công lập của Malaysia trung bình đóng góp khoảng 25% số lượng sáng chế của cả nước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Malaysia: Năm lĩnh vực công nghệ ưu tiên      Giáo sư Asma Ismail, chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Malaysia cho rằng, Malaysia cần giải quyết tình trạng bất bình đẳng kinh tế xã hội từ khả năng sử dụng công nghệ thông tin truyền thông – cải thiện y tế, phát triển các ngành công nghiệp trên nền tảng công nghệ sinh học.      Chăm sóc sức khỏe là một trong những lĩnh vực ưu tiên của chính phủ Malaysia. Nguồn: Nature  60 năm sau ngày giành độc lập, Malaysia hiện là quốc gia có GDP đứng thứ ba trong số 10 quốc gia Đông Nam Á. Thành công này có được là do Malaysia đã chuyển đổi nền sản xuất hàng hóa giá rẻ từ thiếc, nhựa cao su, cacao, gỗ, gạo… sang các loại hàng hóa có nhiều giá trị kinh tế cao, ví dụ như các chi tiết điện tử, sản phẩm từ dầu mỏ, hóa dầu, máy móc và thực phẩm.  Nhưng kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, nền kinh tế đã phát triển chậm lại và những thuận lợi mang tính lịch sử mà Malaysia có được trong việc thu hút đầu tư nước ngoài – nhân công lao động giá rẻ, tay nghề thấp, cơ sở hạ tầng tốt và ưu đãi về thuế – đã suy giảm, đồng thời nhiều thách thức mới xuất hiện, Malaysia có tỷ lệ người béo phì cao nhất Đông Nam Á, độ tuổi trung bình của dân số đang tăng nhanh hàng đầu thế giới.  Ước tính đến năm 2050, 20% người Malaysia sẽ ở độ tuổi 60 hoặc hơn nữa (hiện nay tỷ lệ dân số ở lứa tuổi này là 8%), và cứ 10 người thì 9 người đều thích sống ở thành phố, so với năm 1999, hiện Malaysia đã nóng hơn 1 oC; đến năm 2050 nhiệt độ dự đoán sẽ tăng lên 2oC, bên cạnh đó là mực nước biển tăng và lượng mưa cũng tăng.  Để vượt qua những thách thức đó của đất nước, giáo sư Asma Ismail, chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Malaysia đã phác thảo một hệ thống KH&CN có khả năng hỗ trợ nền kinh tế và đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội với các đặc điểm: gắn kết khoa học và công nghiệp; đầu tư vào một số lĩnh vực ưu tiên; tổ chức lại hệ thống quản lý khoa học.  Gắn kết khoa học với công nghiệp  Bức tranh về hoạt động KH&CN của Malaysia hết sức đa dạng, liên quan đến 23 bộ, 14 chính quyền bang và lãnh thổ liên bang và 268 đơn vị tham gia thực hiện các chính sách và sáng kiến quốc gia. Vì vậy cần thiết có đơn vị là trung tâm điều phối và lập kế hoạch để giảm thiểu những vấn đề trùng lặp, tránh phân tán nguồn lực đầu tư.  Hiện nay tổng ngân sách chi cho R&D của Malaysia chỉ dành 70% (tương đương 10,6 tỷ ringgit hoặc 2,6 tỷ USD) cho nghiên cứu ứng dụng và 21% cho nghiên cứu cơ bản – tương tự tỷ lệ của các quốc gia phát triển như Anh và Singapore. Tuy nhiên Malaysia lại không đầu tư nhiều vào phát triển sản xuất thử nghiệm khi chỉ dành 9% ngân sách R&D cho các sáng kiến như sản xuất mẫu, gia tăng quy mô chế tạo sản phẩm…, khác biệt với Hàn Quốc, Nhật Bản hay Ireland khi các quốc gia này dành lần lượt 62%, 64% và 48% ngân sách R&D cho công việc này. 75% các nhà khoa học Malaysia làm việc trong các viện nghiên cứu, chỉ có 12% trong các doanh nghiệp và 10% trong lĩnh vực chính phủ quản lý…  Tất cả những điều này cho thấy, R&D của Malaysia không có sự dẫn dắt của ngành công nghiệp và sự thiếu hụt tài năng trong lĩnh vực kinh doanh dẫn đến hiệu quả thấp trong việc chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm ứng dụng.  Những lĩnh vực ưu tiên  Năm 2017, một nghiên cứu do Viện Hàn lâm KH&CN Malaysia thực hiện đã xác định Malaysia cần ưu tiên đầu tư 5 lĩnh công nghệ: sinh học, công nghệ số, công nghệ xanh, công nghệ nano và công nghệ thần kinh. Đây cũng là những công nghệ có tiềm năng ảnh hưởng đến cả công nghiệp lẫn đời sống xã hội. Đó là:  Công nghệ sinh học. có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp chính xác, trong lĩnh vực y tế cũng là một ưu tiên nữa. Ví dụ như tạo ra cây chuyển gene (transgenic plants) để đem lại những nguyên liệu cho ngành dược phẩm giá rẻ hơn các phương pháp thông thường.  Công nghệ số. Malaysia đang tồn tại tình trạng bất bình đẳng kinh tế xã hội trong sử dụng công nghệ số, đặc biệt giữa thành thị và nông thông. Vì vậy cải thiện truy cập băng thông rộng là giải pháp để các cộng đồng ở nông thôn chia sẻ thông tin, tạo công ăn việc làm là giúp họ có được những quyết định quan trọng trong lĩnh vực hoạt động của mình.  Công nghệ xanh. Malaysia cam kết giảm thiểu phát thải khí nhà kính tới 45% vào năm 2030, vì vậy cần phát triển năng lượng tái tạo với các công nghệ điện mặt trời, địa nhiệt đại dương… để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.  Công nghệ nano. Cải thiện việc chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật theo hướng áp dụng hệ thống giám sát sức khỏe thời gian thực với cảm biến nano và các thiết bị có thể mang, đeo trên người; phát triển các bộ kit chỉ thị sinh học (bộ sinh phẩm có chức năng kiểm tra nhanh một loại bệnh, một chỉ tiêu về sức khỏe) và coi đó như những công cụ chẩn đoán bệnh tật, ví dụ như ung thư giai đoạn đầu.  Công nghệ thần kinh. Các bệnh thần kinh như Alzheimer và Parkinson đã tăng lên và được cho là nguyên nhân thứ hai dẫn đến khả năng tử vong ở Malaysia, sau bệnh tim. Vì vậy điều trị các bệnh về thần kinh là cần thiết để có thể sẵn sàng cho tỷ lệ dân số già hóa trong hàng thập kỷ tới.  Tổ chức lại cơ quan quản lý  Để làm tốt việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, Malaysia cần thiết lập được một cơ quan quản lý nghiên cứu giống như Quỹ KH Mỹ (NSF) để liên kết, lập kế hoạch, kiểm tra và đánh giá KH&CN, đổi mới sáng tạo của đất nước. Bên cạnh đó cần có thêm một tổ chức quan trọng phụ trách thương mại hóa công nghệ, ví dụ như Cơ quan Đổi mới sáng tạo Anh (Innovate UK) để hướng dẫn các hoạt động đổi mới sáng tạo và thương mại hóa.  Giáo sư Asma Ismail nêu hai vấn đề thiết thực cần giải quyết: 1. Cần nhiều nguồn tài trợ để thúc đẩy sản xuất thử nghiệm, phát triển sản phẩm nghiên cứu. Các cơ quan về nghiên cứu và thương mại hóa phải thiết lập được mối liên kết với ngành công nghiệp, giới nghiên cứu và cộng đồng; 2. Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ giá trị của Malaysia, thay đổi nhận thức và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.  Thanh Nhàn lược dịch từ Nature  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạng lưới khoa học quốc tế nỗ lực hỗ trợ châu Phi nghiên cứu Covid-19      Trong khi nhiều chính phủ muốn hạn chế chuyển vật tư y tế đi các nước nghèo thì mạng lưới các nhà khoa học đang nỗ lực làm mọi điều để hỗ trợ các nước này.    Trong bối cảnh cả thế giới đang thiếu thốn vật tư y tế, Moses Joloba, nhà vi trùng học người Uganda đã viết thư cho đồng nghiệp ở Hoa Kỳ, và người đó đã phản hồi lại bằng cách gửi một lượng hóa chất đủ dùng để sản xuất 20,000 bộ kit xét nghiệm. “Mặc dù nguồn vật tư y tế mất khoảng 10 ngày để đến nơi, nhưng đây là một trong những phương án nhanh nhất để có được thiết bị”, Joloba nói.   Henry Boom, đồng nghiệp Hoa Kỳ của Joloba, phụ trách bộ phận nghiên cứu bệnh truyền nhiễm của Đại học Case Western Reserve (CWRU), đã phải đối mặt với làn sóng chỉ trích từ quê nhà, những người cảm thấy món quà này chẳng khác gì ‘cắt xén’ ra từ suất xét nghiệm mà người dân Ohio đáng lý được nhận. Boom cho biết, trường đại học đã không gửi bộ kit xét nghiệm – mà chỉ gửi các đoạn mồi và đầu dò mà Ohio vốn không hề khan hiếm. Món quà hóa ra là một sự thúc đẩy đáng kể đối với Uganda. Tính đến ngày 10 tháng 5, phòng thí nghiệm của Joloba đã thực hiện hơn 14.000 xét nghiệm – chiếm gần một phần tư số xét nghiệm của Uganda.  Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất kiểm soát việc trao đổi một số vật tư y tế. Ủy ban châu Âu cũng đã yêu cầu các quốc gia thành viên hạn chế xuất khẩu một số thiết bị bảo hộ. Pháp đã ban hành một danh sách các loại thuốc – bao gồm remdesivir và hydroxychloroquine, những loại thuốc đang được nghiên cứu để điều trị Covid-19 – không được phép xuất khẩu.  Nhưng mạng lưới kết nối giữa các nhà khoa học đang giúp nguồn hỗ trợ vật tư y tế cho các nước châu Phi. Không chỉ Joloba được giúp đỡ mà hiện tại, phòng thí nghiệm của Gordon Awandare, tại Đại học Ghana ở Accra cũng nhận được sự giúp đỡ của các nhà khoa học Anh để giải trình tự bộ gene SARS-CoV-2 từ những người mắc bệnh ở Ghana. Các đồng nghiệp tại Vương quốc Anh đã gửi cho ông các hóa chất khó tìm, chẳng hạn như chất phản ứng và mồi. Những nguồn cung này sẽ mất khoảng ​​ba đến sáu tháng để  nếu theo các kênh mua sắm thông thường. Với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp [quốc tế], chỉ mất từ ​​hai đến bốn tuần để chúng tôi nhận được vật tư cần thiết”, ông Awandare nói. Sắp tới, ông sẽ tiếp tục nhận 2.000 bộ kit xét nghiệm kháng thể coronavirus từ Đại học Edinburgh (Anh) để đo mức độ miễn dịch ở Accra.   “Trong nhiều năm, chúng tôi luôn cố gắng phát triển mạng lưới và những mối quan hệ cá nhân trong khoa học. Và giờ đây chúng đang đóng một vai trò quan trọng, tạo điều kiện giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận dễ dàng nguồn nguyên liệu liên quan đến dịch bệnh”, Daan du Toit, người điều hành ban hợp tác quốc tế tại Bộ Khoa học và Đổi mới của Chính phủ Nam Phi  nói.  Glenda Gray, chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu Y học Nam Phi tại Cape Town cho biết, đó là bài học mà đất nước này đã rút ra được từ bệnh dịch HIV hàng chục năm về trước. Vào những năm 1990, các ca nhiễm trùng và tử vong bắt đầu tăng, cho đến đầu những năm 2000, Chính phủ Nam Phi tuyên bố họ không còn đủ khả năng trợ cấp cho các loại thuốc kháng virus vừa được phát triển – mặc dù một trong những lý do cho tuyên bố này là vì các chính trị gia Nam Phi tin rằng HIV không gây ra AIDS. Các chương trình nghiên cứu được tài trợ quốc tế đã vượt qua rào cản này, và bước đầu, thông qua họ, người Nam Phi có thu nhập thấp đã có thể tiếp cận với các loại thuốc đặc trị.  Mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu HIV và triển khai thuốc kháng virus ở Nam Phi cho thấy các bác sĩ tham gia vào những chương trình nghiên cứu đã trở thành chuyên gia trong việc quản lý bệnh, Gray nói. Bà nghĩ rằng điều này cũng tương tự với Covid-19.  Các nhà nghiên cứu trả lời phỏng vấn cho bài viết này đều muốn chỉ ra rằng mạng lưới quốc tế không hạ thấp tầm quan trọng của các tổ chức nghiên cứu quốc gia. Việc thực hiện nghiên cứu tại địa phương cũng rất cần thiết để xây dựng niềm tin của người dân và cộng đồng y tế vào các phương pháp điều trị mới, Soumya Swaminathan, giám đốc khoa học tại Tổ chức Y tế Thế giới ở Geneva, Thụy Sĩ,  cho biết. □  Anh Thư lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-01496-1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường: Cần triển khai sớm      Phóng xạ di chuyển không biên giới và không thể quan sát bằng mắt thường, vì thế dù Việt Nam chưa có nhà máy điện hạt nhân nhưng ở vị trí sát sườn với một số quốc gia có nhà máy đang vận hành như Trung Quốc hay đang trong kế hoạch phát triển và xây dựng nhà máy như Thái Lan, Indonesia, Campuchia…, Việt Nam vẫn cần phải sớm có một mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia.      Bản đồ hiển thị tác động của phát tán phóng xạ từ một số nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc trong trường hợp xảy ra sự cố rò rỉ phóng xạ.  1. Việc xây dựng một mạng lưới như vậy đã được Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) đề cập đến khá nhiều lần trong vài năm trước đây. Với những người trong ngành, ai cũng biết đây là điều cần thiết, ví dụ trong lịch sử phát triển điện hạt nhân, không ai không nhớ đến sự cố Chernobyl trên lãnh thổ Ukraine, xảy ra vào năm 1986. Liên Xô không thông báo thông tin rộng rãi về sự cố nhà máy nhưng những đám mây phóng xạ phát tán đã bay qua Belarus tới Thụy Điển, nơi cách Chernobyl cả nghìn km. Hàng rào quan trắc phóng xạ của Thụy Điển đã phát hiện được những dữ liệu bất thường và các nhà nghiên cứu nước này là những người đầu tiên trên thế giới đo được bụi phóng xạ và truy ngược được nguồn gốc phát sinh. Chỉ tới lúc đó, thông tin về một tai nạn nghiêm trọng của nhà máy điện hạt nhân của Liên Xô mới bùng nổ trên thế giới. Đó là câu chuyện của quá khứ, còn bây giờ nhiều quốc gia có mạng lưới quan trắc phóng xạ nên việc phát hiện được sự cố rò rỉ phóng xạ đều diễn ra sớm và kịp thời có phương án ứng phó.  Với Việt Nam, sự biến chuyển mạnh mẽ của tình hình mới khiến mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia cần phải được triển khai sớm. Trong năm 2016, người ta đã chứng kiến các tổ máy đầu tiên có công suất 1.000 MW của nhà máy điện hạt nhân Phòng Thành, Quảng Tây đi vào hoạt động thương mại, các tổ máy 650 MW của nhà máy Xương Giang trên đảo Hải Nam và 600 MW của nhà máy Trường Giang, Quảng Đông đã được kết nối lưới điện quốc gia của Trung Quốc. Các nhà máy này đều ở vị trí gần với biên giới trên đất liền và trên biển Việt Nam, ví dụ như nhà máy điện hạt nhân Phòng Thành chỉ cách Quảng Ninh khoảng 50km. Theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế (IAEA), khu vực bên ngoài nhà máy điện hạt nhân cần được phân vùng để có kế hoạch ứng phó sự cố phù hợp: vùng bảo vệ khẩn cấp (không được quy hoạch có dân cư, PAZ); vùng lập kế hoạch bảo vệ khẩn cấp (có thể có dân cư nhưng phải có kế hoạch ứng phó nhằm ngăn ngừa sự chiếu xạ đối với công chúng bên ngoài cơ sở khi xảy ra sự cố, UPZ); khoảng cách lập kế hoạch mở rộng (EPD); khoảng cách lập kế hoạch cho hàng hóa và thực phẩm (ICPD). Theo khuyến cáo của IAEA, đối với nhà máy điện hạt nhân có công suất lớn hơn 1000 MW thì kích thước của các vùng PAZ, UPZ, EPD và ICPD tương ứng là (3-5 km), (15-30 km), 100 km và 300 km. Như vậy, Quảng Ninh và một số tỉnh phía Bắc của Việt Nam cũng thuộc khu vực EPD và ICPD trong tương quan với nhà máy Phòng Thành và Việt Nam cần phải chuẩn bị kế hoạch ứng phó dự phòng dù chưa có nhà máy điện hạt nhân nào hoạt động.   2. Ai cũng hiểu, việc thiết lập một mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường ở tầm quốc gia dĩ nhiên sẽ đòi hỏi một lượng kinh phí đầu tư lớn vào cơ sở vật chất và con người. VINATOM đang xây dựng dự án theo cách phân kỳ: giai đoạn một dự kiến trong năm 2017-2020, giai đoạn hai dự kiến trong năm 2021-2025.  Để dự án được thực hiện một cách hiệu quả mà không tốn quá nhiều chi phí, VINATOM đề xuất trong giai đoạn một tập trung đầu tư thiết bị quan trắc tại những địa phương có khả năng bị ảnh hưởng nhiều nhất trong trường hợp xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân từ Trung Quốc. Với cách nhìn nhận thông thường thì có thể dễ dàng chọn ra một số địa phương gần biên giới Trung Quốc làm địa điểm đặt các trạm quan trắc nhưng để có phương án tối ưu, các chuyên gia của Viện đã tiến hành khảo sát, tính toán trên cơ sở chu kỳ khí hậu trong vòng một năm, qua đó xác định được các “điểm nóng” là Quảng Ninh (Móng Cái và Bãi Cháy), Lạng Sơn, Lào Cai, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An và Hà Nội (nơi đặt Trung tâm điều hành mạng lưới). Đây sẽ là các trạm mà Viện dự kiến lắp đặt và đưa vào vận hành ở giai đoạn một.  Theo kế hoạch, ban đầu các trạm quan trắc này sẽ tập trung các máy móc thiết bị để đo dữ liệu phóng xạ môi trường trong không khí và đất, những môi trường phát tán phóng xạ chủ yếu. Bên cạnh đó, dự kiến tiến hành quan trắc phóng xạ môi trường biển tại ba vị trí quan trọng nhất ở khu vực phía Bắc là Móng Cái, Bạch Long Vĩ và Nghệ An. Để thực hiện tốt mục tiêu quan trắc và cảnh báo phóng xạ, các trạm cần được trang bị những loại máy móc thiết yếu như thiết bị quan trắc đo suất liều bức xạ trực tuyến, thiết bị thu góp khí lưu lượng lớn, thiết bị đo thông số khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, lượng mưa…), thiết bị đo tia alpha, beta, gamma, i-ốt phóng xạ, phổ kế gamma… Đây là những loại thiết bị có chức năng đo đạc dữ liệu về phóng xạ môi trường trong điều kiện bình thường cũng như trong điều kiện xuất hiện những bất thường của phóng xạ phát tán trong không khí và các dòng hải lưu. Các dữ liệu này sẽ được truyền trực tiếp về trung tâm điều hành ở Hà Nội để xử lý.  3. Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia giai đoạn một tuy chỉ có tám trạm quan trắc và trung tâm điều hành nhưng cũng đem lại một lượng dữ liệu rất lớn. Để khai thác hiệu quả mạng lưới này, VINATOM sẽ lập một quy trình chặt chẽ, trong đó riêng về khâu quan trọng nhất, khai thác dữ liệu được thực hiện theo hai bước: Thứ nhất các dữ liệu thô sẽ qua công đoạn xử lý sơ bộ để tạo thành bức tranh ban đầu về môi trường phóng xạ khu vực phía Bắc trên những thông số, kết quả đơn giản nhất. Bước tiếp theo, thông tin sẽ được xử lý bằng cách so sánh, đối chiếu, liên hệ với các thông số kỹ thuật khác để kịp thời phát hiện tín hiệu bất thường (nếu có). Nếu phát hiện thấy tín hiệu phát xạ bất thường, các chuyên gia sẽ dựa trên các mô hình tính toán mô phỏng chuyên dụng để kiểm tra những tín hiệu đó do khối khí nào mang tới, xuất phát từ đâu, qua đó có thể dự báo được nguồn phát thải phóng xạ. Để quy trình xử lý dữ liệu và thông tin diễn ra một cách đồng bộ, cần xây dựng năng lực của những người tham gia theo các hướng chuyên môn chính sau: năng lực sử dụng, vận hành và bảo dưỡng các thiết bị máy móc có độ nhạy cao; năng lực ghi đo bức xạ, năng lực chuẩn bị và thu thập mẫu khí; năng lực tính toán mô phỏng sự lan chuyển của các khối khí cũng như của các dòng hải lưu; năng lực hiểu các quá trình phát tán, trao đổi và chuyển hóa của nhân phóng xạ trong những môi trường khác nhau…  Cũng nhằm khai thác hiệu quả mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, yếu tố hợp tác quốc tế sẽ cần được coi là một nhân tố quan trọng. Do Việt Nam là phía tiếp thu các công nghệ chế tạo thiết bị và phương pháp cũng như kỹ thuật tính toán, xử lý dữ liệu nên quan hệ quốc tế sẽ đem lại cơ hội cho Việt Nam tiếp cận nhanh chóng những vấn đề này. Hơn nữa, do phóng xạ môi trường lan truyền không biên giới nên việc trao đổi, so sánh và đối chiếu số liệu do mạng lưới quan trắc của Việt Nam với những số liệu cùng loại do các quốc gia khác thu thập và xử lý cũng cần được tiến hành một cách thường xuyên. Bên cạnh ý nghĩa trao đổi thông tin, việc cùng tiến hành nghiên cứu với các đồng nghiệp quốc tế sẽ góp phần tăng cường năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực này.   ——————  *TS, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam.    Author                Nguyễn Hào Quang        
__label__tiasang Mạng xã hội – công cụ hữu hiệu của nhà khoa học      Các trang mạng xã hội ngày nay chính là công cụ hữu hiệu giúp các nhà khoa học cập nhật thông tin về tình hình hoạt động trong ngành của mình, dõi theo công việc của đồng nghiệp, xây dựng cộng đồng tư vấn, hợp tác, thậm chí có thể tham gia những cuộc hội thảo trực tuyến một cách tức thời mà không hề phải tốn kém về thời gian, tiền bạc.    Một xu thế tất yếu   “Đơn giản là bạn không thể không hiện hữu trên mạng được”, Karen Peterson, giám đốc Ban Phát triển Sự nghiệp Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Fred Hutchinson, khẳng định. Thực ra, theo bà, dù bạn là ai thì những thông tin về bạn ít nhiều đã xuất hiện trên mạng (bạn cứ thử tìm tên mình trên internet mà xem), vậy nên tốt nhất bạn nên lưu tâm kiểm soát vấn đề này. Đây là lời khuyên đặc biệt hữu ích đối với những nhà nghiên cứu đang trong quá trình chuyển tiếp, chẳng hạn từ cử nhân sang thạc sĩ, từ thạc sĩ sang làm việc, hay trước một ngã rẽ mới trong sự nghiệp.  Peterson khuyên các nhà nghiên cứu nên bắt đầu với Linkedln. Trang mạng này sẽ giúp bạn tạo dựng một hồ sơ cơ bản cho mình trên mạng, từ hoàn cảnh, kinh nghiệm, thành tựu, các công việc thích hợp tiềm năng, những cá nhân khác cùng chung một số sở thích. Thông qua mạng lưới khổng lồ của Linkedln hay những trang dịch vụ tương tự, bạn sẽ dễ dàng tìm được thông tin để liên hệ để làm quen với các chuyên gia mà bạn quan tâm, giới thiệu về công việc nghiên cứu của mình, và đặt ra cho họ những câu hỏi.   Hiện nay, con người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ kinh nghiệm, và mọi nẻo đường sự nghiệp đều đang hào hứng sử dụng mạng xã hội, cùng nhau xây dựng lên những cộng đồng thực sự, gắn kết với nhau, và có sức lan tỏa cao. Tỉ lệ tham gia vào các cộng đồng trực tuyến cũng đang ngày một gia tăng. Paul Groth, giáo sư Khoa Khoa học Máy tính, Trường Đại học VU Amsterdam, khẳng định: “Hoạt động trao đổi khoa học đang dịch chuyển dần lên không gian mạng, và nó sẽ tiếp tục di chuyển theo xu hướng đó.”  Trăm hoa đua nở và sự lựa chọn của nhà khoa học    Phần lớn các trang mạng xã hội đều kết nối toàn cầu, do đó chúng là các công cụ tuyệt vời để thiết lập và duy trì các mối quan hệ quốc tế. Với nhà khoa học trẻ muốn tạo tiếng vang cho công trình của mình, thì không có sân khấu nào có tầm lan tỏa lớn hơn ba trang mạng đình đám hiện nay: LinkedIn, Facebook, và Twitter, trong đó Facebook và Twitter được coi là nơi trao đổi thông tin, còn LinkedIn giúp quảng bá năng lực bản thân. Hãy làm phép so sánh: một cuộc hội thảo truyền thống với 1000 người tham dự được coi là nhiều, trong khi ở môi trường internet, LinkedIn có gần 260 triệu thành viên, Facebook và Twitter có hàng trăm triệu người sử dụng mỗi tháng.  Ngoài ra, Google+ cũng đang được cộng đồng khoa học tích cực sử dụng ngày càng nhiều làm nơi truyền tải và lưu trữ các cuộc trao đổi giữa các nhà nghiên cứu. Storify cũng là một địa điểm giúp nhà khoa học theo dõi các cuộc trao đổi và các hội thảo, tại đây, người tham gia hoặc người chủ trì hội thảo có thể tìm kiếm các tài liệu thuyết trình, các bình luận và lưu ý về hội thảo. Những bài thuyết trình đăng tải trên trang Slideshare cũng góp phần đưa nhà khoa học tiếp cận với cả những người không có điều kiện tham dự hội thảo trực tiếp. Những trang như Slideshare còn ghi lại số lượt xem, lượt tải về, và số lượng người giới thiệu công trình được đăng tải, giúp nhà khoa học hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của mình.          Theo nhận xét của một số nhà khoa học, lượng thông tin họ thu thập qua một hội thảo trên Twitter cũng tương đương lượng thông tin họ thu được khi trực tiếp tham gia.        Bên cạnh những mạng xã hội phổ thông, nhiều mạng dành riêng cho giới khoa học cũng ra đời, chẳng hạn như Mendeley và Research Gate. Ngoài việc đăng tải danh sách các ấn phẩm nghiên cứu, các trang này bổ sung thêm các tính năng giao lưu, qua đó nhà nghiên cứu có thể chia sẻ hay bình luận về các công trình, đồng thời tham gia hỏi đáp thắc mắc; nhà khoa học có thể dễ dàng đưa ra yêu cầu xem bản in trước mà không cần phải đăng ký tham gia theo dõi. Đi sâu hơn nữa là những trang mạng chuyên ngành phục vụ cho các nhu cầu của từng cộng đồng khoa học cụ thể, như GitHub dành cho các nhà khoa học máy tính hay BioMedExperts cho các nhà khoa học đời sống.  Theo tư vấn của những người nhiều kinh nghiệm giao lưu trực tuyến, chỉ cần bỏ chút thời gian tìm kiếm, nhà khoa học sẽ thấy rất nhiều mạng lưới khác nhau, giúp họ tiếp cận các cộng đồng cũng như các tính năng có thể hỗ trợ cho công việc của họ.  Bên cạnh các cộng đồng trực tuyến còn có blog, một hoạt động chia sẻ chính trên mạng. Người viết blog phải dành thời gian đều đặn cho blog và phải có niềm đam mê thực sự về một chủ đề nào đó. Kiran Dhillon, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Ung bướu Fred Hutchinson, bắt đầu viết blog về công trình nghiên cứu ung thư vú của mình khi nữ diễn viên Angelina Jolie tiết lộ thông tin cô bị thừa kế gene BRCA đột biến và phải thực hiện phẫu thuật phòng ngừa. Dhillon coi blog của cô là một sự tiến bộ trong nghề nghiệp: “Viết blog là một hành vi tốt giúp tôi tìm kiếm được niềm đam mê của mình và học cách phổ biến khoa học tới cộng đồng”.  Nếu không dùng blog, nhà khoa học có thể tạo một website nghề nghiệp riêng, qua đó giới thiệu những thành tựu của bản thân và giới thiệu những kỹ năng mềm của mình như kỹ năng lãnh đạo và quản lý. Theo Dhillon, website riêng sẽ giúp mọi người hình dung về chân dung nhà khoa học rõ hơn, bổ sung cho mặt khuyết của những hồ sơ cá nhân vắn tắt trên các trang mạng xã hội như LinkedIn.   Tham gia mạng xã hội như thế nào  Theo các chuyên gia tư vấn nghề nghiệp, trước tiên, nhà khoa học có thể bắt đầu với LinkedIn, điểm hẹn giao lưu nghề nghiệp hàng đầu trên mạng hiện nay. Một hồ sơ hoàn chỉnh, cập nhật trên LinkedIn giúp truyền tải tới những nhà tuyển dụng tiềm năng và những người cùng chung sở thích với bạn thông tin về học vấn, kinh nghiệm, và những thành tích của bạn. LinkedIn đặc biệt đắc lực trong việc thu xếp các cuộc phỏng vấn khai thác, tức những buổi nói chuyện thân mật cùng các chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp hoặc lĩnh vực nghiên cứu mà bạn quan tâm.  Trước tiên, bạn sử dụng LinkedIn (hoặc SciVal Experts) để liên hệ với các cá nhân hay tổ chức mà bạn muốn tiếp cận, rồi qua đó nhờ họ giới thiệu bạn. Sau đó, thu xếp một cuộc gặp mặt trực tiếp hay qua điện thoại, nhớ chuẩn bị sẵn những thông tin vắn tắt nhưng hấp dẫn về hoạt động nghiên cứu của bản thân và một số câu hỏi gợi mở cụ thể. Hãy thăm dò xem bạn có thể tiếp xúc thêm với những ai nữa, rồi viết thư cảm ơn họ. Thực ra, đây là cách mở rộng quan hệ truyền thống; LinkedIn và các dịch vụ tương tự chỉ giúp làm cho việc liên hệ ban đầu trở nên dễ dàng hơn bởi vì các mạng xã hội lớn đều có một lượng thành viên khổng lồ, đến từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, và là nơi hội tụ của cả những nhà nghiên cứu trẻ và những nhà nghiên cứu đã thành danh.  Ngược lại, Facebook lại là nơi được các nhà nghiên cứu sử dụng cho các mối liên hệ cá nhân. Những nhà khoa học trẻ, vốn thường xuyên thay đổi nơi làm việc, có thể sử dụng Facebook để duy trì quan hệ bạn bè với các thành viên trong phòng thí nghiệm cũ. Facebook có thể hé mở những thông tin thú vị, đời thường về một đồng nghiệp – biết đâu, bạn lại có thể tìm thấy cho mình một đối tác ăn ý vì cả hai cùng có chung sở thích câu cá, đan lát, hay đọc truyện tranh.   Tuy vậy, Facebook vẫn là một không gian tĩnh nếu so với phương thức tương tác thời gian thực trên Twitter, hiện ngày càng phổ biến trong giới học thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, và được sử dụng cho cả mục đích khoa học và các mục đích khác. “Tôi dùng mạng xã hội để lấy cảm hứng nghiên cứu khoa học”, một nhà khoa học chia sẻ. Anh đăng ký theo dõi cộng đồng điện tử trên Twitter để nghe ngóng thông tin về các sản phẩm mới hay các diễn biến mới trong lĩnh vực của mình. Một số nhà khoa học khác lại theo dõi các nhóm nghiên cứu để tránh trùng lặp dự án hay để tìm kiếm cơ hội hợp tác. Twitter cũng đang bổ sung hoặc thay thế cho các dịch vụ tìm kiếm và thông báo tự động, chẳng hạn tìm kiếm các công trình nghiên cứu. “Twitter đưa tin về các công trình nghiên cứu lớn ngay sau, hoặc thậm chí là cả trước khi chúng được công bố”, Jonathan Jacobs, nhà khoa học trưởng phụ trách mảng giám sát thông tin sinh học tại MRI Global, một tổ chức dịch vụ nghiên cứu phi lợi nhuận, cho biết.  Một điều khá bất ngờ ở đây là những người nhút nhát lại được khuyên nên dùng Twitter. Karyn Traphagen, nhà đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành ScienceOnline, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên phổ biến, kết nối và xây dựng cộng đồng khoa học, chia sẻ: “Internet cho phép bạn theo dõi một cuộc tranh luận mà không cần trực tiếp xuất đầu lộ diện. Bạn có thể ngồi một chỗ lắng nghe, và khi nào sẵn sàng tâm lý, bạn có thể tham gia bằng cách gửi tin nhắn bình luận rồi chờ xem phản ứng của mọi người.” Những người mới sử dụng Twitter thường cảm thấy “choáng” trước hàng tỉ tin nhắn, nhưng theo Traphagen, nếu muốn tìm thông tin cụ thể, bạn hãy sử dụng chức năng tìm kiếm theo chủ đề hashtag (VD: #cá mập). Chức năng này đặc biệt phát huy tác dụng trong việc giúp nhà khoa học theo dõi từ xa các hội thảo, theo đó Twitter có thể cho bạn biết nội dung trao đổi nào ở hội thảo thu hút được sự quan tâm của mọi người, và đâu là nơi chia sẻ tài liệu, chẳng hạn như website hay slide. Theo nhận xét của một số nhà khoa học, lượng thông tin họ thu thập qua một hội thảo trên Twitter cũng tương đương lượng thông tin họ thu được khi trực tiếp tham gia.  Vai trò của giao tiếp ngoài đời thực có bị suy giảm?   Mặc dù các trang mạng xã hội giúp chúng ta kết nối, chia sẻ, và giao lưu, nhưng để xây dựng được một mối quan hệ thực sự, chúng ta vẫn cần những cuộc gặp gỡ trực tiếp. Thực ra, LinkedIn và các trang mạng khác chỉ làm nhẹ hơn những gì mà các nhà khoa học trẻ dù sớm hay muộn đều phải làm, đó là gặp gỡ giao lưu với những người có cùng chung sở thích trong nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực khác. Ngay cả việc liên hệ với những người không nằm trong giới khoa học cũng là một phần trong quá trình phát triển sự nghiệp, bởi vì biết đâu họ lại nắm trong tay những mối quan hệ giá trị đối với công việc của bạn. Nhiều người đã qua LinkedIn mà tìm được việc làm, chủ yếu thông qua việc tìm các sự kiện để tham dự và tìm người để liên hệ trực tiếp.  Tuy nhiên, trong quá trình tham gia giao lưu trên mạng xã hội, nhà khoa học cũng nên thận trọng. Hãy cân nhắc xem điều gì nên chia sẻ, điều gì phải giữ riêng tư. Theo những người có kinh nghiệm giao lưu trực tuyến, bạn hãy mặc định rằng mọi thứ mình đăng tải lên mạng cuối cùng đều có lúc phát tán công khai. Đồng thời hãy tuân thủ những quy tắc giao tiếp trực tuyến, vốn cũng giống hệt bất kỳ hình thức giao lưu xã hội nào khác: thân thiện, bình đẳng, và tôn trọng người khác. Hãy coi việc giao lưu trên mạng như một cuộc trò chuyện, nhưng nếu bạn bị lờ đi hoặc bị từ chối, đừng lấy đó làm phiền. Hãy tìm đến những trang mạng có ích cho bạn. Đừng làm phiền người khác, nhưng hãy nhớ rằng hầu như ai cũng muốn giúp đỡ và đa phần các nhà nghiên cứu đều thích nói về công việc của mình, “bởi công việc nghiên cứu là niềm đam mê, cũng là động lực chung của mọi nhà khoa học”, Dhillon nói.   Trong trường hợp bạn cảm thấy mình không có đủ thời gian để tham gia giao lưu trên mạng, hoặc bị quá tải bởi dòng chảy thông tin khổng lồ liên tục, hãy nhớ: bạn không phải để tâm tới mọi thứ, có những chuyện bạn có thể bỏ qua.   Bùi Thu Trang lược dịch từ bài viết của Chris Tachibana  http://sciencecareers.sciencemag.org/career_magazine/previous_issues/articles/2014_02_28/science.opms.r1400141    Author                Quản trị        
__label__tiasang Marrism: Một thuyết Lysenko trong ngôn ngữ học      Ngày 20.6.1950 báo “Pravda” tại Moskva đăng bài báo “Chủ nghĩa Marx và ngôn ngữ học” của Stalin, nhà lãnh đạo tối cao của đảng và nhà nước Liên Xô, một động thái trợ giúp một số nhà ngôn ngữ học trẻ nhằm lật đổ “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Viện sĩ đã quá cố Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934), từng nhận được sự ủng hộ chính thống của nhà nước Liên Xô trong gần ba thập kỷ. Sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý.      Con tem có in hình viện sĩ Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934), tác giả của “học thuyết mới về ngôn ngữ”, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, nhưng thực chất chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy.  Nikolay Yakovlevich Marr xuất thân từ Gruzia (như Stalin), học tập và sống đến cuối đời ở Petersburg. Tại Đại học Petersburg, Marr học đồng thời tất cả các ngành của Khoa Đông phương học và học tất cả các ngôn ngữ được dạy tại khoa này. Năm 1888 ông tốt nghiệp, trở thành một nhà nghiên cứu có những đóng góp đáng kể vào các ngành sử học, khảo cổ, dân tộc học về Gruzia, Armenia và vùng Kavkaz, đào tạo nhiều chuyên gia Đông phương học, trong đó có những người xuất sắc. Ông được bầu làm giáo sư (1902), trưởng Khoa Đông phương học Đại học Petersburg (1911), rồi trở thành Viện sĩ đặc cách Viện Hàn lâm Đế chế Nga từ 14.1.1912. Sau cách mạng tháng 10.1917, Marr tiếp tục là giáo sư đại học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Nga, có uy tín lớn trong giới trí thức Liên Xô. Ông sáng lập Viện nghiên cứu Japhetic tại Petrograd (sau là Viện Ngôn ngữ và Tư duy mang tên ông); tháng 3.1930 ông được bầu làm Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; được tặng Huân chương Lenin nhân 45 năm hoạt động khoa học (1933)…  Từ những năm đầu hoạt động khoa học, Marr đã quan tâm đến vấn đề liên hệ nguồn gốc giữa các ngôn ngữ vùng Kavkaz và đề xuất một loạt giả thuyết về sự thân thuộc giữa chúng về ngữ nghĩa, từ vựng. Ông gọi chúng là “những ngôn ngữ Japhet”, theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah trong truyền thuyết Kinh Thánh. Tháng 11.1923, Marr công bố “học thuyết mới về ngôn ngữ”, còn được gọi là “thuyết Japhetic”, “Japhetologia”, “Marrism”, “thuyết về tính giai đoạn”, với một số nội dung chính như sau:  1/ Các ngôn ngữ Japhetic. Marr cho rằng tồn tại cái mà ông gọi là “những ngôn ngữ Japhetic”, gồm những thứ tiếng như tiếng Gruzia (là bản ngữ của ông và ông buộc học trò phải học), các ngôn ngữ Kartvelian vùng nam Kavkaz, một số ngôn ngữ như Burushaki, Basque, v.v. Chúng được Marr lý giải như một giai đoạn phát triển ngôn ngữ, hiện diện trên toàn thế giới, gắn với cấu trúc giai cấp của xã hội.  2/ Bản chất giai cấp của ngôn ngữ. Marr khẳng định ngôn ngữ có bản chất giai cấp do nó là “thượng tầng” bên trên “hạ tầng” là các quan hệ kinh tế xã hội. Các giai đoạn ngôn ngữ gắn với các giai đoạn phát triển xã hội theo chủ nghĩa Marx: xã hội tiền giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ quân chủ phong kiến, chủ nghĩa tư bản; và do vậy, sẽ cần phải nảy sinh một ngôn ngữ mới của xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó sẽ là “ngôn ngữ mới và duy nhất, ở đó cái đẹp đẽ cao nhất được hòa quyện với sự phát triển trí tuệ cao nhất”.  3/ Nguồn gốc của ngôn ngữ. Các ngôn ngữ đều có nguồn từ “những tiếng kêu trong lao động”, do “cách mạng âm thanh” và gắn với ngọn nguồn hoạt động lao động của con người. Nó có trước ngôn ngữ ra hiệu (ngôn ngữ cử chỉ). Mọi từ vựng của mọi ngôn ngữ đều chung nguồn gốc xuất xứ (monogenesis), chính là bốn yếu tố vốn là những tiếng kêu khởi đầu lao động: SAL, BER, ION, ROSH (thoạt tiên “không có bất cứ hàm nghĩa gì” và nhắm tới các mục đích ma thuật); bộ môn gọi là “cổ sinh học ngôn ngữ” có thể quy bất cứ từ vựng nào vào một trong số 4 yếu tố ấy.  Những quan niệm thông thường về lịch sử ngôn ngữ cho rằng một ngôn ngữ nguyên sơ (proto-language) duy nhất phân rã dần thành những ngôn ngữ đơn lẻ nhưng có liên hệ thân thuộc với nhau về nguồn gốc. Nhưng Marr lại cho rằng ngôn ngữ đi từ đa dạng, đa bội đến thống nhất, duy nhất. Theo ông, các ngôn ngữ nảy sinh độc lập với nhau: chẳng những tiếng Ukraina và tiếng Nga từ xa xưa không hề thân thuộc họ hàng với nhau, mà đến mỗi phương ngữ, biệt ngữ tiếng Nga trong quá khứ cũng đều là những ngôn ngữ nảy sinh độc lập. Về sau sẽ diễn ra quá trình gặp gỡ, giao cắt, lai ghép nhau, biến thành những ngôn ngữ con cháu; ví dụ tiếng Pháp là do ngôn ngữ Japhetic và ngôn ngữ Latin lai ghép nhau. Do nhiều giao cắt, lai ghép mà số lượng ngôn ngữ giảm dần và đến xã hội cộng sản thì quá trình này hoàn tất bằng việc tạo ra một ngôn ngữ toàn thế giới, khác với mọi ngôn ngữ đã tồn tại. (1)  Học thuyết của Marr còn nhiều nội dung khác nữa, ở đây tạm không đề cập.  Các luận điểm do Marr đề xuất với một khối tài liệu rộng lớn các ngôn ngữ xứ lạ, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, nhưng thực chất chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy, và thường có lối trình bày rối rắm, hay lướt từ đề tài này qua đề tài kia – đôi khi những điều đó gắn với bệnh trạng tâm lý của Marr.  Sự ủng hộ của Nhà nước  Ngay sau khi xuất hiện (1923), học thuyết của Marr lập tức thu được sự chú ý đặc biệt của nhiều quan chức cấp cao các ngành khoa học và giáo dục Liên Xô. Ngay trong thập kỷ 1920 có A. Lunacharsky, M. Pokrovsky, P. Lebedev-Polyansky, V. Friche, V. Bryusov, v.v. Dân ủy (bộ trưởng) giáo dục A. Lunacharsky viết rằng, “bộ óc sáng tạo hiệu quả của nhà ngữ văn vĩ đại nhất Liên bang chúng ta và có lẽ là vĩ đại nhất trong số những nhà ngữ văn đang còn sống” chính là Marr. Nhà vật lý, Viện sĩ Hàn lâm Abram Ioffe thì truyền bá giai thoại rằng Marr có thể, trong một ngày, học xong một ngôn ngữ trước đó ông chưa biết. Giám đốc Đại học Quốc gia Moskva khi đó là A. Vyshinsky yêu cầu đưa học thuyết của Marr vào giảng dạy.  Cuối những năm 1920, Marr bắt đầu trích dẫn Marx và Engels vào các bài viết của mình, khẳng định học thuyết của mình chính là “ngôn ngữ học Mác-xít”, quay lại lên án các bộ môn ngữ học đang có ở Tây Âu mà bản thân ông từng chịu ảnh hưởng. Ông tuyên bố ngữ học so sánh lịch sử là “khoa học tư sản”, học thuyết về ngữ hệ Ấn-Âu là “sự hỗ trợ về tư tưởng cho chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa chủng tộc”.  Năm 1930, Marr lên đọc báo cáo tại Đại hội 16 Đảng Cộng sản Liên Xô và ngay sau đó vào Đảng, là người duy nhất trong số các Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học đế chế cũ gia nhập Đảng Cộng sản, lại là trường hợp rất hiếm được miễn thời gian là đảng viên dự bị.  “Học thuyết mới về ngôn ngữ” chẳng những được ủng hộ bởi những cá nhân lãnh đạo cấp cao mà còn được tuyên truyền tích cực khắp Liên Xô và được vận dụng như “một lý thuyết duy nhất đúng đắn về mặt giai cấp”. Trong khi nhìn chung giới khoa học châu Âu hoàn toàn im lặng lảng tránh nó thì ở Liên Xô hình thành xung quanh Marr một “trường phái” những người tuyên truyền học thuyết của ông. Hầu hết đó là những kẻ háo danh, những “chuyên gia trẻ”, đôi khi không có chút học vấn nào về ngữ học, cũng không làm nghiên cứu mà chỉ chú trọng phỉ báng những ai phản đối lý thuyết của Marr bằng những quy chụp chính trị (“bọn theo Trotskyism”, “tư sản buôn lậu”, v.v.). Tuy nhiên, một số nhà khoa học có trình độ cao ở Liên Xô cũng tỏ ra đồng tình với đám tuyên truyền viên này.  Cuối năm 1929 xuất hiện một bản báo cáo kịch liệt phê phán học thuyết ngữ học của Marr, do một học giả Nga, E.D. Polivanov, viết, nhưng không được đồng nghiệp ủng hộ. Vì báo cáo này, ông bị phái đi Trung Á rồi tại đấy ông bị bắt, bị xử bắn (1938). Một ý đồ nữa chống học thuyết của Marr là của nhóm “Mặt trận ngôn ngữ” (của T. Lomtev, P. Kuznetzov) nhưng đến đầu 1932 thì bị các môn đồ học thuyết Marr đè bẹp.  Sau khi Marr qua đời (20.12.1934), và nhất là vào những năm 1940, những người tự coi là học trò và kế tục Marr (I. Meshchaninov, S. Katznelson, M. Gukhman, v.v.) trên thực tế đã vứt bỏ những quan điểm sai lầm trong “học thuyết mới về ngôn ngữ” của ông. Một số luận điểm được cho là “diễn giải chưa hoàn chỉnh” của Marr, được họ tuyên bố bảo lưu; một số luận điểm đã lộ rõ là hoang tưởng thì họ đem gán cho không phải Marr mà là một số “kẻ dung tục” vô danh.  Trong phạm vi cuộc đấu tranh gọi là “chống chủ nghĩa thế giới” (“Cosmopolitanism”, diễn ra những năm 1948-1953, nhắm vào lớp trung lưu trí thức, bị coi là đại diện xu hướng hoài nghi và thân phương Tây), khá đông tuyên truyền viên của học thuyết Marrism (như F. Filin, G. Serduchenko) mở chiến dịch chống “những kẻ giả danh của lý thuyết tư sản” trong ngữ học, trên thực tế là nhắm vào tất cả các nhà ngữ học lớn (V. Vinogradov, D. Bubrikh, thậm chí cả những người kế tục học thuyết của Marr). Lúc này, học thuyết Marrism được coi như một lý thuyết “yêu nước”, các công trình của Marr được đưa vào dạy ở bậc đại học, thậm chí cả ở trường phổ thông.  Gió xoay chiều và kết thúc một “huyền thoại”  Đầu năm 1950, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô lập ra một ban trù bị cho việc kỷ niệm 15 năm ngày mất của Marr. Nhưng ngay trong hai tháng 5 và 6, nhật báo “Pravda” mở cuộc thảo luận công khai về “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr. Mở đầu là bài viết của A. Chikobava (lúc đó đang phụ trách Khoa Nghiên cứu Kavkaz, Đại học Tbilisi) kịch liệt phê phán học thuyết Marrism; đồng thời cùng theo hướng đó là các ý kiến của L. Bulakhovsky, G. Kapantzyan, B. Serebrenikov. Báo cũng đăng các ý kiến bảo vệ học thuyết ấy (I. Meshchaninov, N. Chemodanov, F. Filin, V. Kudryavtzev), và những ý kiến nhân nhượng, điều hòa (V. Vinogradov, G. Sanzheev, A. Popov, S. Nikiforov).  Khi cuộc thảo luận gần kết thúc thì xuất hiện bài báo của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô, J. Stalin, đăng ngày 20.6.1950 với nhan đề “Về chủ nghĩa Marx trong ngữ học”. Ngày 4.7 báo đăng tiếp đoạn văn Stalin trả lời nữ phóng viên E. Krasheninnikova. Ngày 2.8 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời thư một bạn đọc. Sau đó, tất cả các phần đăng tải này được soạn thành một văn bản dưới nhan đề “Chủ nghĩa Marx và vấn đề ngữ học”, được xuất bản với số lượng in lớn và được tuyên bố là “tác phẩm thiên tài”.  Trong bài báo của Stalin, ý tưởng xem ngôn ngữ là “kiến trúc thượng tầng”, “tính giai cấp của ngôn ngữ” do Marr đề xuất, đều bị bác bỏ; ngôn ngữ được xem như công cụ giao tiếp toàn dân; “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr được khẳng định “không phải là ngữ học Mác-xít”.    Chikobava sau này kể lại rằng bài của ông đăng báo “Pravda” là theo chỉ thị của Stalin(2). Trước đó Chikobava có thư gửi Stalin khi ông bị một số môn đồ học thuyết Marrism săn đuổi. Theo Chikobava, ông viết bức thư đó là do đề xuất của Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Đảng Cộng sản Gruzia Kandid Nesterovich Charkviani (1907-1994) và qua ông ta được gửi cho Stalin. Vậy có thể đây là sáng kiến của Charkviani, người che chở nhà ngữ học Chikobava.  Người ta nêu ra vài giả thuyết lý giải Stalin can thiệp sâu vào ngữ học như vậy. Một là với việc này, ông có thể củng cố vinh dự một lý thuyết gia của chủ nghĩa Marx. Hai là tư tưởng của Marr vốn nhắm vào tâm trạng những năm 1920 đã không còn tương thích với đường lối chính trị của Stalin thời hậu thế chiến.  Hầu như mọi công trình ngữ học ở Liên Xô sau đó đều trích dẫn bài báo của Stalin, đồng thời “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr chính thức bị coi là phản khoa học. Những môn đồ của thuyết Marrism cũng bị đả kích đôi lúc quá đà, có người bị buộc thôi việc, hoặc buộc phải đi tỉnh lẻ, tuy nhiên nhìn chung không có sự trừng phạt nặng nề.  Giới ngữ học tại Liên Xô và cả nước ngoài đều đánh giá sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý. Tạp chí “Language” của Mỹ nhận định rằng, với vụ việc này, “ngành ngữ học Xô-viết đã bước được một bước theo hướng đúng, nhưng vẫn còn chưa bước khỏi bóng tối để ra ánh sáng, bởi vì tư tưởng Stalin, bất kể nội dung nào của nó, vẫn là giáo điều được tuyên ngôn bằng văn kiện chính thống”.(3) Mặc dù Stalin nói trong khoa học cần có tự do ý kiến, nhưng từ phía chính thống, người ta vẫn áp dụng sự phân giới giữa khoa học “đúng đắn”, “mác-xít” với mọi khuynh hướng còn lại, bị coi là “tư sản”, “lệch lạc về tư tưởng”.  Từ sau đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), việc bàn luận về học thuyết Marrism mất hẳn tính thời sự. Vào những năm 1960, liên quan đến việc phê phán Stalin cũng xuất hiện một số ý đồ phục hồi học thuyết Marrism, nhưng không có kết quả. Người ta càng thấy rõ, khi không còn sự ủng hộ từ phía chính thống, học thuyết này sẽ biến mất khỏi chân trời khoa học.  Nói gọn lại, có thể so sánh tác hại của thuyết Marrism với tác hại của thuyết Lysenko trong sinh học và nông học Liên Xô. Chính sự ủng hộ mang tính nhà nước đối với học thuyết này đã cản trở sự phát triển của khoa ngữ học Xô-viết.  Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận chính nó đã khiến giới nghiên cứu ngữ học đương thời thấy không thể thỏa mãn với bộ môn nghiên cứu so sánh lịch sử, và thấy cần nghiên cứu tính quy luật đồng đại của ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, loại hình học ngôn ngữ.  ——–  (1) Xem: V.M. Alpatov, Marr, Marrizm, Stalinism[Marr, học thuyết Marr, chủ nghĩa Stalin] // Filosofskiye Issledovahiya [Nghiên cứu triết học], 1993, № 4, tr. 271-288 [chữ Nga]  (2) Chikobava, A.S., Điều đó xảy ra lúc nào và như thế nào. // Niên giám Ngữ học Iberiisk-Kavkaz, XII, Tbilisi, 1985. [chữ Nga]; theo Alpatov, bài đã dẫn.  (3) Rubinstein H. The Recent Conflict in Soviet Linguistics.//Language.V.27, 1951, № 3. [chữ Anh]; theo Alpatov, bài đã dẫn.  Chỉ một tháng sau khi đăng ở Moskva, bài viết “Chủ nghĩa Marx và ngôn ngữ học” của Stalin đã có bản dịch Hoa văn mà dịch giả là một cán bộ cấp cao Trung Quốc lục địa, Lý Lập Tam (1899-1967), đăng báo “Đại Công” (số ra ngày 21.7.1950) ở Hương Cảng, khi đó đang thuộc quyền quản lý của Anh quốc. Ở Việt Nam, tại “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, ngay trong năm ấy, thường trực Ban Ngôn ngữ văn tự của Hội Văn hóa Việt Nam đã nhận được số báo “Đại Công” Hương Cảng kể trên. Người phụ trách Ban Ngôn ngữ văn tự lúc ấy là Phan Khôi đã bắt tay dịch ngay bài báo của Stalin ra tiếng Việt. Vừa lúc dịch xong, ông lại nhận được một bản dịch chữ Pháp đã đánh máy bài kể trên của Stalin, không ghi tên người dịch; ông đã đối chiếu một số điểm và thêm một vài chú thích vào bản dịch của mình. Bản dịch của Phan Khôi được công bố dưới dạng sách in, đứng tên Bộ Quốc gia Giáo dục và Ban Văn học Vụ Văn học nghệ thuật. Sách in xong và phát hành ngay trong năm 1951 tại Việt Bắc. Thái độ nhất quán của Phan Khôi trong và sau khi dịch bài này là cần rất mực thận trọng, rất mực dè dặt. Ông nhắc lại điều này ở lời ghi thêm cuối tập sách: “nhất là bạn nào để tâm về ngôn ngữ học nên đọc thật kỹ”. Tất nhiên, người ta biết, đương thời, uy danh của nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô là cực lớn, hầu như mọi động thái phát ngôn của ông đều được truyền tin khắp Liên Xô và “phe” XHCN, lại cũng được các giới báo chí, truyền thông các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa chú ý khai thác, đưa tin, bình luận. Tuy nhiên, một thông tin học thuật về một lĩnh vực tri thức tương đối hẹp là ngữ học, mà được lan truyền từ Moskva qua Hồng Kông đến một vùng rừng núi Việt Bắc trong thời gian ngắn như trên, quả là việc hiếm thấy. Báo chí ở vùng kháng chiến thường chú trọng nhiều sự kiện và vấn đề khác, quan thiết hơn các chuyện học thuật, nên ta khó tìm thấy phản hồi nào về tập sách dịch này. Dù sao, Phan Khôi cũng đã thực hiện được một thông tin về một sự kiện hệ trọng đời sống học thuật mà khá lâu về sau người ta mới biết đến.    Author                Lại Nguyên Ân        
__label__tiasang Minh bạch trong đầu tư và quản lý khoa học: Việt Nam đang rất thiếu      Sự tụt hậu của khoa học Việt Nam thường được  cho là do thiếu hụt đầu tư, thiếu hụt lực lượng nghiên cứu có trình độ.  Tuy nhiên, còn có một phần đóng góp không nhỏ là từ công tác quản lý  cũng như các chính sách minh bạch hóa tài chính khoa học.     Kinh nghiệm quốc tế  Nhìn sang một số nước láng giềng, công tác này được tiến hành khá tốt cho thấy sự quan tâm của chính phủ đối với khoa học kỹ thuật nói riêng và các vấn đề kinh tế nói chung.   Singapore là một nước rất nhỏ, ở rất gần Việt Nam với dân số chỉ hơn 5 triệu người, trong đó có hơn một triệu người nước ngoài và cư trú dài hạn với diện tích 694 km2, khoảng 1/5 diện tích Hà Nội mở rộng hiện nay (3.344,7 km2). Nhìn vào dân số, diện tích và cơ cấu kinh tế với 71,7% đóng góp từ dịch vụ1, người ngoài sẽ dễ tưởng rằng Singapore không quan tâm đến phát triển khoa học công nghệ. Nhưng không, chính phủ Singapore đã dành ra hẳn 3% GDP cho nghiên cứu phát triển công nghệ cao, với 8 hướng nghiên cứu chính được ưu tiên2. Với đội ngũ nhà nghiên cứu ít hơn hẳn so với nhiều nước và tổng GDP tương đối lớn (ước tính 250 tỷ USD năm 2010), 3% GDP đầu tư cho khoa học của Singapore lại trở thành con số khổng lồ nếu tính bình quân trên mỗi nhà khoa học.   Thành công lớn nhất gần đây của Singapore là thu hút được một lượng rất lớn các chuyên gia đầu ngành từ các nước Âu, Mỹ, Nhật, Úc đến làm việc và giữ các chức vụ lãnh đạo các nhóm và Viện nghiên cứu ở Singapore. Bên cạnh đầu tư cho nghiên cứu, chính phủ Singapore cũng dành một tỉ lệ khá lớn cho nghiên cứu phát triển (R&D) và cũng thu hút được một lượng đầu tư đáng kể cho danh mục này từ khối ngoài chính phủ. Cơ quan tham vấn và quản lý các vấn đề khoa học và công nghệ chính của Singapore là Agency for Science and Technology and Research (A*STAR) được thành lập từ năm 1991 đã quản lý rất hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ chính phủ và khối tư nhân. Một điều rất đáng chú ý là trong hội đồng lãnh đạo của A*STAR, bên cạnh các chuyên gia người Singapore, chính phủ Singapore đã mời được những chuyên gia lớn trên thế giới từ các nước Anh, Mỹ, Châu Âu (ví dụ như GS George Radda, chuyên gia y khoa của Đại học Oxford, TS. William W. Chin của Đại học Harvard, Ronald Oxburgh chuyên gia hội đồng tư vấn chính phủ Anh về khoa học và công nghệ…)3. Điều đáng bàn ở đây là các cơ quan quản lý khoa học của Singapore đã làm rất tốt công tác quản lý khoa học và công nghệ. Rất dễ dàng để tìm được con số tài chính đầu tư chính thức từ các báo cáo chi tiết được đăng tải trên website của Bộ Công thương Singapore, từ con số chính xác tiền đầu tư từ chính phủ cho nghiên cứu, cho công tác R&D, đến các con số đầu ra của khoa học bao gồm số lượng các công trình nghiên cứu, số bằng phát minh sáng chế…    Đầu tư R&D của Singapore so với một số nước tính trên % GDP theo thống kê năm 2005 của Bộ Công thương Singapore.  Gần đây nhất, chính phủ Singapore đã quyết tâm phát triển một số hướng công nghệ cao mũi nhọn như công nghệ lưu trữ dữ liệu thế hệ mới, spintronics, công nghệ y sinh và xử lý nước sạch. Một chương trình trọng điểm về công nghệ lưu trữ gần đây đang được ráo riết phát triển với mục tiêu phát triển bộ nhớ RAM từ điện trở thế hệ mới đạt mật độ lưu trữ 10 Tb/in2, với đầu tư lớn từ hãng Micron và Seagate4 vào nhóm nghiên cứu spintronics của Viện Nghiên cứu Lưu trữ Thông tin (Data Storage Insitute) với tổng đầu tư ước tính lên đến 100 triệu USD cho thấy Singapore khát khao như thế nào trong đột phát công nghệ. Với những cố gắng của các nhà khoa học Singapore và sự quyết tâm cao của chính phủ trong điều hành và quản lý, Singapore đã vươn lên trên bản đồ kinh tế tri thức thế giới, xếp hạng 19 trên tổng số 145 nước, vùng lãnh thổ khảo sát và đứng đầu Đông Nam Á (Malaysia thứ 48, Thái Lan thứ 63, Philippines ở hạng 89, Indonesia hạng 103 trong khi Việt Nam ở vị trí thứ 106). Minh bạch trong quản lý tài chính, đầu tư, chặt chẽ trong quản lý và đầu ra cho các sản phẩm khoa học cộng với đầu tư tập trung có trọng điểm.  Xa hơn Singapore là Vương quốc Anh, nơi từng được coi là quê hương của cách mạng khoa học thế giới, nhưng gần đây đang bị coi là “bỏ rơi công nghiệp” với việc tập trung vào các dịch vụ tài chính. Nhưng trên thực tế, Anh quốc chưa bao giờ rơi khỏi tốp những nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến nhất. Ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ trực tiếp từ chính phủ Anh thuộc hàng thấp so với nhóm các nước phát triển (1,82% GDP năm 2010)5, nhưng nước Anh đã huy động được một lượng đầu tư khổng lồ từ khối ngoài chính phủ dành cho nghiên cứu. Theo báo cáo gần đây từ Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Hạ viện Anh (Science and Technology Committee, House of Commons), kinh phí dành cho nghiên cứu và phát triển ở Anh bao gồm 29,5% từ nguồn đầu tư trực tiếp của chính phủ (so với Mỹ là 2,77% ngân sách cho khoa học và 27% từ chính phủ), và phần còn lại (70,5%) đến từ các công ty và tập đoàn lớn6. Trên thực tế thì con số 29,5% ngân sách chính phủ thường không được sử dụng hết cho thấy các nhà khoa học Anh có vẻ “chuộng” nguồn tài trợ từ ngoài chính phủ hơn. Với số lượng kinh phí không phải là quá lớn, nhưng khoa học nước Anh lại đạt được hiệu suất cao nhất thế giới, với số lượng đầu ra tính trên bình quân một nhà nghiên cứu vượt trên các nước phát triển khác là Mỹ, Đức, Nhật (và tất nhiên là vượt xa “cọp giấy khoa học” Trung Quốc hay một quốc gia nhỏ bé như Singapore).       Các giản đồ đơn giản mô tả các thông số khoa học của Anh so với các nước (theo báo cáo của Department of Business, Innovation and Skills, 2011).  Cần minh bạch các con số  Trở lại với với các vấn đề khoa học của Việt Nam, một số giáo sư trong và ngoài nước đã có những phân tích khá chi tiết cảnh báo về sự tụt hậu của khoa học nước ta thông qua một số thống kê về đầu ra của các sản phẩm khoa học. Gần đây, một con số thường xuyên được một số báo và các nhà khoa học nhắc đến là 800 triệu đô la đầu tư cho khoa học như một minh chứng cho sự đầu tư đáng kể của chính phủ cho khoa học7. Thực chất con số 800 triệu đô la từ nguồn chính phủ và tư nhân là theo trả lời phỏng vấn của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ8. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa từng có một con số báo cáo công khai chi tiết về nguồn đầu tư (từ chính phủ, từ doanh nghiệp ngoài) cho khoa học và công nghệ, ví dụ như từ Tổng cục Thống kê, hay Bộ Khoa học và Công nghệ (BKH-CN), ngoài con số “khoảng 800 triệu đô la” trên báo chí. Cách đây vài năm, một lãnh đạo BKH-CN đã tiết lộ con số đầu tư cho khoa học và công nghệ là 0,6%, được những người quan tâm ước tính ra thành 400 triệu đô la, và nhận định: “Việt Nam đang là một trong những nước đứng đầu thế giới về chi ngân sách cho khoa học công nghệ” . Chưa bàn về lượng tài chính nhiều hay ít, đứng ở vị trí nào trên thế giới, nhưng có thể thấy rằng chi tiêu tài chính cho khoa học và công nghệ chưa thật sự minh bạch khi người dân chỉ có thể tiếp cận đến một con số ước tính từ lời nói của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.   Một chương trình phát triển khoa học và công nghệ mới đây đang được coi là “tiến bộ” nhất là Quỹ Phát triển Khoa học & Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) với việc mạnh dạn cấp kinh phí cho các nhà khoa học trẻ dựa trên thành tích khoa học công bố trên các tạp chí ISI9 nhưng đại chúng cũng rất khó để tiếp cận được các thông tin về thu chi tài chính, phân bổ đề tài cho các chương mục nghiên cứu cũng như kết quả đầu ra của các đề tài. Sở dĩ chúng ta có thể dễ dàng biết đến các kết quả nghiên cứu, cách thức tổ chức quản lý nhà nước của các nước (như Anh và Singapore) chính là nhờ các báo cáo thu chi tài chính rất chi tiết được công bố công khai ngay trên mạng của các cơ quan quản lý. Điều này dường như còn rất thiếu ở Việt Nam.   Nếu người dân và những người phản biện khoa học ở Việt Nam muốn xem xét các nhà khoa học của họ sử dụng tiền thuế của nhân dân có hiệu quả ra sao thì cũng hoàn toàn không thể có được các thông tin cần thiết từ các website của các cơ quan quản lý. Với sự phát triển của các công cụ tìm kiếm ngày nay, cộng với các nguồn thống kê đáng tin cậy từ một số tổ chức, nhà xuất bản quốc tế, việc thống kê các kết quả khoa học của các nhà khoa học một cách định kỳ không hề khó khăn, thậm chí đáng tin cậy hơn rất nhiều so với việc ngồi chờ các báo cáo viết lên từ các cấp cơ sở. Vậy phải chăng đội ngũ chuyên viên làm công tác thống kê của ta còn yếu khâu này? Hay là do sự buông lỏng quản lý từ các cơ quan nhà nước, hay người dân không được phép tiếp cận những thống kê chính thức này?   Chúng ta cần lắm những cố gắng của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thống kê, phân tích chi tiết, cẩn thận đồng thời công khai các con số chính xác, tạo điều kiện cho việc phản biện, phân tích và dự đoán xu thế phát triển của khoa học được dễ dàng và chính xác hơn. Đây là yêu cầu tối thiểu đối với việc quản lý khoa học và công nghệ, đồng thời là tiền đề cho việc hoạch định các chính sách phát triển khoa học công nghệ trong tương lai.  —  1. https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2012.html   2. Sustaining Innovation-Driven Growth, 2010 Plan Science and Technology (ISBN 981-05-5335-8), Singapore Ministry of Trade and Industry http://app.mti.gov.sg/default.asp?id=1   3.http://www.a-star.edu.sg/AboutASTAR/CorporateProfile/ASTARBoard/tabid/70/Default.aspx   4. http://www.dsi.a-star.edu.sg/e-newsletter/Oct2011/micron.html  5. International Comparative Performance of the UK Research Base – 2011, A report prepared for the Department of Business, Innovation and Skills.  6. The impact of spending cuts on science and scientific research, Sixth Report of Session 2009–10, House of Commons Science and Technology Committee.  7. http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/08/bo-truong-khoa-hoc-can-tang-dau-tu-gap-5-lan/ http://www.vpc.org.vn/Desktop.aspx/News/Tin-tuc/Ngan_sach-su_ton_trong_khoa_hoc_cong_nghe/   8.http://www.baomoi.com/Chi-ngan-sach-cho-KHCN-moi-dat-binh-quan-5-USDnguoi/53/3575020.epi   9. http://nafosted.gov.vn/index.php       Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình khu CNC của Hàn Quốc      Không còn chú trọng nhiều tới việc hỗ trợ các chaebol nữa, thay vào đó ưu tiên hàng đầu lúc này ở Hàn Quốc là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới. Chiến lược này được thể hiện rõ nhất qua mô hình các khu công nghệ cao (techno park).    Khác với Việt Nam, nơi các khu công nghệ cao được hình dung là sân chơi chủ yếu ưu tiên đối tượng khách hàng là các nhà đầu tư nước ngoài và mục tiêu đặt ra thường là làm sao thu hút lấp đầy khu công nghiệp và thu hồi chi phí đầu tư mà Nhà nước phải bỏ ra càng sớm càng tốt, ở Hàn Quốc, mục tiêu hàng đầu trong phát triển khu công nghệ cao là hỗ trợ cho việc hiện thực hóa các ý tưởng công nghệ của các doanh nghiệp trẻ, thậm chí cho cả những doanh nghiệp đang còn trong giai đoạn phôi thai chưa thành hình, thông qua các trung tâm đào tạo và hướng dẫn doanh nghiệp; đồng thời trở thành hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.  “Điều chúng tôi quan tâm làm sao để giúp một sinh viên trong nước vừa ra trường- vừa thiếu vốn vừa thiếu kinh nghiệm tổ chức kinh doanh – hiện thực hóa được những ý tưởng tốt mà anh ta đang có trong đầu”, theo lời ông Heung-Su Kim, Giám đốc Chungnam Techno Park, một trong những khu công nghệ cao hàng đầu của Hàn Quốc.          Quá trình hình thành và phát triển các               khu công nghệ cao Hàn Quốc              Chủ  trương thực hiện chiến lược về các khu công nghệ cao đã có từ năm 1995,  nhưng quá trình xây dựng phát triển kéo dài tới hơn 12 năm, trải qua ba  giai đoạn lớn.   Giai đoạn 1 (1997-2003): Là thời kỳ xây dựng những cơ  sở hạ tầng sơ khai và những thể chế cơ bản hỗ trợ cho doanh nghiệp công  nghệ, trong đó đáng kể là sự ra đời và ban hành của luật hỗ trợ các khu  công nghiệp công nghệ cao. Tính tới năm 2003, đã có 12 khu công nghệ  cao ra đời: Songdo, Gyeonggi, Daegu, Gyeongbuk, Chungnam, và Gwangju  (1997); Busan và Pohang (2000); Gangwon, Chungbuk, Jeonbuk và Jeonam  (2003).   Giai đoạn 2 (2003-2007): Là thời kỳ tập trung nuôi dưỡng các  ngành công nghiệp chiến lược. Tới năm 2007, các khu công nghệ cao đã  thực sự có vai trò các trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ cho các ngành công  nghiệp và địa phương. Kết thúc giai đoạn này Hàn Quốc có thêm 4 khu  công nghệ cao là:               Gyeongnam và Ulsan (2004); Daejin và Seul (2005).   Giai  đoạn 3 (từ 2007 tới nay): Đây là thời kỳ các khu công nghệ cao đã hoàn  thiện về chức năng, trở thành các cơ sở cải tiến công nghệ của địa  phương, thường xuyên hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ. Năm 2008,  Hàn Quốc cho ra đời thêm một khu công nghệ cao là Daejeon.                Để làm được điều này, các khu công nghệ cao có sự gắn bó mật thiết với các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, và các doanh nghiệp địa phương. Ví dụ như khu công nghệ cao Chungnam có tới 18 đại học tham gia hỗ trợ. Sự hợp tác này giúp họ tiến hành điều tra, nghiên cứu, và đề ra các kế hoạch phát triển cụ thể của địa phương, đồng thời đưa ra được những chỉ dẫn hữu ích cho các doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là làm đầu mối gắn kết doanh nghiệp với nhà khoa học.  Cách thức thực hiện  Với những mục tiêu mang tính dài hạn và hướng nhiều tới lợi ích xã hội như trên, các khu công nghệ cao của Hàn Quốc được xây dựng và phát triển dựa trên nguồn vốn của Nhà nước và được Nhà nước quản lý, trên nguyên tắc 50% là vốn chính quyền Trung ương, 50% là vốn từ chính quyền địa phương.  Không chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng và đầu tư trang thiết bị, các khu công nghệ cao còn hỗ trợ kinh phí đầu tư cho các dự án của doanh nghiệp, kể cả những dự án công nghệ có tính mạo hiểm. “Hình thức hỗ trợ ở đây là tài trợ (grant) chứ không phải cho vay, vì Nhà nước đã xác định rằng nếu các doanh nghiệp kinh doanh ăn nên làm ra, thì tiền thuế thu được đủ để bù cho những chi phí Nhà nước phải bỏ ra.”  Để đảm bảo kinh phí Nhà nước được phân bổ cho đúng người, đúng việc, mỗi khu công nghệ cao có một ủy ban điều hành, với thành phần tham gia là đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, giáo sư các trường đại học, và chuyên gia các viện nghiên cứu.  Việc xét duyệt cấp kinh phí cho một dự án căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và nhu cầu đầu tư của địa phương. Các khu công nghệ cao tham gia điều tra, nghiên cứu, và lên kế hoạch phát triển cho địa phương, qua đó xác định lĩnh vực công nghiệp nào đang cần ưu tiên, và đệ trình kế hoạch kinh phí hằng năm lên Bộ Kinh tế Tri thức (MKE) phê duyệt.  Nguồn kinh phí được MKE thông qua tới đâu là tùy theo kết quả hoạt động của từng khu công nghệ cao, nhu cầu đặc thù của từng địa phương và ngành công nghiệp nằm tại địa phương đó. Thực tế việc phân bổ kinh phí hằng năm từ Nhà nước là một cuộc cạnh tranh giữa mười bảy khu công nghệ cao nằm rải rác trên các địa phương của Hàn Quốc. Bên cạnh đó, hằng năm các khu công nghệ cao của Hàn Quốc đều phải trải qua sự thẩm định đánh giá, kiểm toán, và chấm điểm của Nhà nước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình kinh doanh của tổ chức KH&CN trong trường ĐH      Từ góc nhìn của doanh nghiệp, có hai xu hướng khích lệ sự hình thành các Tổ chức KHCN từ trường đại học: Doanh nghiệp ngày càng thấy rõ tri thức mới tạo ra được lợi thế cạnh tranh bền vững cho họ; Doanh nghiệp đang chuyển dần từ “tự làm tất cả – R&amp;D (research &amp; development)” sang “tạo kết nối để phát triển – C&amp;D (connect &amp; develop)”.    Trước  đây, các thảo luận liên quan đến các Tổ chức Khoa học & Công nghệ  trong trường đại học (Tổ chức KHCN), thường bàn luận đến việc tháo gỡ  các cơ chế chính sách của nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho  hoạt động của các tổ chức này, đây là việc còn nhiều điều để thảo luận,  do vậy quan điểm của bài viết này là thay vì trông đợi cơ chế chính sách  của nhà nước, chúng ta có thể làm được gì, nên xây dựng cơ chế nội bộ  thế nào để thúc đẩy việc tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ có hàm  lượng tri thức cao đáp ứng được sự mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp,  tạo nguồn thu chính đáng để người làm khoa học có thể sống được bằng trí  tuệ của mình.  1. Mô hình kinh doanh của các Tổ chức KHCN trực thuộc Trường Đại học  Từ góc nhìn của doanh nghiệp, có hai xu hướng khích lệ sự hình thành các Tổ chức KHCN từ trường đại học: Doanh nghiệp ngày càng thấy rõ tri thức mới tạo ra được lợi thế cạnh tranh bền vững cho họ; Doanh nghiệp đang chuyển dần mô hình kinh doanh từ “tự làm tất cả – R&D (research & development)” hay còn gọi là closed innovation sang mô hình “tạo kết nối để phát triển – C&D (connect & develop)” hay còn gọi là open innovation. Trong mô hình này, kinh nghiệm từ các nước cho thấy, trường đại học luôn là một ngôi sao có giá trị trong chòm sao giá trị (value constellation) trong một mạng lưới kinh doanh (business network)  Từ những xu hướng đó, các tổ chức KHCN của trường đại học cần định vị mình ở đâu trong mạng lưới kinh doanh (business network), giá trị mà các Trung tâm có thể mang đến cho các đối tượng liên quan là gì (value proposition for shakeholders); Các năng lực lõi (core competences) cần có của các tổ chức KHCN của trường đại học là gì? Và trong những năng lực lõi này thì năng lực nào dễ bị sao chép, năng lực nào khó; Các tổ chức KHCN của trường đại học kiếm tiền bằng cách nào? (profit model); các Tổ chức KHCN của trường đại học nên được vận hành thế nào để có thể phát triển những năng lực lõi khó bị sao chép của mình (operations model).  Trả lời những câu trả lời bên trên là thiết kế mô hình kinh doanh cho các Tổ chức KHCN của trường đại học (knowledge intensive business model design)                  2. Nhận định một số bất cập trong mô hình kinh doanh hiện nay của các Tổ chức KHCN trong trường Đại học  – Không tích lũy được tri thức vì các tổ chức KHCN thực sự không có vai trò gì trong quá trình tạo ra tri thức, tri thức là sở hữu của các nhà khoa học.  – Tham gia các lĩnh vực khoa học và công nghệ một cách rất dàn trải, không tạo được dấu ấn khác biệt. Nhu cầu của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, các tổ chức KHCN rất khó có thể chi tiết hóa các giải pháp công nghệ cho từng doanh nghiệp cụ thể.  – Kỹ năng về kinh doanh, thương trường thường không phù hợp với nhà khoa học;  – Thất thoát tài sản tri thức với các kết quả nghiên cứu được tài trợ từ ngân sách nhà nước và sử dụng cơ sở vật chất của trường;  – Không kiểm soát được tài sản “thương hiệu” của trường, không kiểm soát được đâu là lợi dụng thương hiệu của nhà trường, đâu là đóng góp cho thương hiệu nhà trường;  – Các nhà khoa học khi tích lũy đủ kinh nghiệm, vốn và có tinh thần doanh nhân họ dễ dàng tách ra làm riêng, dễ dàng tạo ra một doanh nghiệp KHCN tư nhân tương tự;  – Không thể cạnh tranh khi các tổ chức KHCN nước ngoài tham gia vào thị trường.  Thời gian gần đây một số tranh luận thường được nêu ra khi đặt vấn đề về việc cổ phần hóa các Tổ chức KHCN 115 để trở thành các doanh nghiệp KHCN trong trường đại học:  – Các lãnh đạo nhà Trường thường sợ mất các Tổ chức KHCN này, nói chính xác hơn là sợ thất thoát tài sản công. Thực tế cho thấy với mô hình vận hành như thế này thì những tài sản có giá trị nhất (tri thức tích lũy) rất dễ bị thất thoát.  – Thương hiệu của một trường đại học (hình ảnh gắn liền với sự nghiệp giáo dục), nếu đem đi kinh doanh xem ra không ổn (góp vốn thương hiệu để mở doanh nghiệp…). Thực sự với mô hình kinh doanh như thế này rõ ràng là không ổn. Vấn đề không phải trường đại học nên hay không nên kinh doanh mà là sản phẩm từ trường đại học mang hàm lượng tri thức đến đâu để tham gia vào chòm sao giá trị của mạng lưới kinh doanh.  3. Tái cấu trúc và sắp xếp lại các Tổ chức KHCN ở đại học   Từ những phân tích trên, theo chúng tôi trường đại học không nên tham gia trực tiếp kinh doanh trên thương trường, không tạo ra các Tổ chức (doanh nghiệp) hoạt động dịch vụ giản đơn mà chuyển giao những Tổ chức này cho xã hội hoặc giải tán để tập trung nguồn lực cho những hoạt động khác.  Trường đại học cần khảo sát và dự báo những công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong một cụm ngành công nghiệp chủ lực (cluster), đây là việc còn thiếu và ít đơn vị thực hiện chuyên nghiệp tại VN.  Trường đại học đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu những công nghệ lõi, thương mại hóa, hoặc ươm tạo và bán những doanh nghiệp ươm tạo này.  4. Mô hình kinh doanh của các tổ chức KH&CN ở đại học                  – Tổ chức KHCN trực thuộc trường đại học (có thể hoạt động theo NĐ 115, 80) sẽ là nơi chuyên khảo sát, thấu hiểu các cụm ngành công nghiệp chủ lực (thực phẩm, dược liệu…) xác định các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược (mà các doanh nghiệp muốn cạnh tranh được phải làm chủ để tạo ra sự khác biệt, sự vượt trội về năng suất chất lượng ), phân tích mức độ khả thi nếu như trong điều kiện hiện nay của VN có thể làm được hay không.  – Đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu, thu xếp vốn (tranh thủ các nguồn tài trợ nghiên cứu khoa học) để tạo ra các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược này. Trường hoặc Tổ chức KHCN (tùy vào nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu) sẽ sở hữu công nghệ, nhà khoa học là tác giả.        Giá trị tạo ra Cho doanh nghiệp              – Những giải pháp công nghệ hữu ích tạo ra có giá trị lớn cho cả một cụm ngành công nghiệp, thực sự là một ngôi sao không thể thiếu.  Cho xã hội              – Những doanh nghiệp có hàm lượng tri thức cao.  Cho nhà khoa học              – Chỉ tập trung sáng tạo công nghệ (năng lực lõi của nhà khoa học)  Cho trường đại học              – Lợi nhuận từ bán các tài sản trí tuệ được làm ra,               – Lợi nhuận từ việc bán các doanh nghiệp               – Danh tiếng (kiểm soát được tai tiếng)        – Khi công nghệ được đánh giá tốt sẽ bán cho các doanh nghiệp KHCN tư nhân bên ngoài để các doanh nghiệp này chi tiết hóa công nghệ phù hợp cho từng doanh nghiệp cụ thể trong cụm ngành công nghiệp, hoặc chuyển cho Vườn ươm để ươm tạo thành doanh nghiệp và tìm giải pháp để bán ra thị trường khi có thể bán được.  – Nhóm nghiên cứu, Trung tâm KHCN, Vườm ươm là 03 thực thể quan trọng phối hợp nhau để sản xuất và phân phối tri thức đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội.  5. Những công việc cần thực hiện để hỗ trợ cho mô hình kinh doanh mới  Công việc 1: Phân loại các Tổ chức KHCN dựa trên hàm lượng tri thức của sản phẩm đang kinh doanh và tài sản trí tuệ đang sở hữu, có thể chia làm 03 nhóm.  Nhóm 1: Sở hữu nhiều tài sản trí tuệ có giá trị, có thể thương mại hóa được. Cổ phần hóa, trường đại học giữ sở hữu chi phối (>51%), dần dần bán những tài sản trí tuệ để lấy vốn tái đầu tư cho những dự án nghiên cứu khác, hoặc chuyển những tài sản trí tuệ sang cho vườm ươm ươm tạo thành doanh nghiệp để bán.  Nhóm 2: Sở hữu nhiều hoặc ít tài sản trí tuệ nhưng có vai trò đặc biệt liên quan đến chính trị, xã hội, thực hiện một số nhiệm vụ mang tính chiến lược. Cổ phần hóa, trường đại học giữ cổ phần chi phối cao (trên 70%), các cá nhân tham gia được nhiều thì tốt, không cũng không sao.  Nhóm 3: Sở hữu ít tài sản trí tuệ, không có vai trò đặc biệt về chính trị xã hội. Cổ phần hóa, thậm chí ép cổ phần hóa. Trường đại học chỉ nên giữ từ 0%-30% cổ phần, nếu cổ phần hóa không được thì đóng cửa giải thể.  Công việc 2: Xây dựng quy chế cổ phần hóa các Tổ chức KHCN trực thuộc trường đại học. Việc này cần một nghiên cứu triển khai thí điểm vì thực tế các quy định của pháp luật hiện nay chưa cụ thể cho mô hình trong trường đại học.  Công việc 3: Hoàn thiện thể chế và chính sách cho các Tổ chức KHCN và củng cố các Vườm ươm  – Rà soát xây dựng thể chế và quy chế cho Tổ chức KHCN và Vườm ươm, đặc biệt là cách thức chia sẽ lợi ích giữa các bên liên quan. Thành lập các hội đồng Tổ chức KHCN, hội đồng Vườm ươm để ra các quyết định quan trọng như đầu tư vào công nghệ lõi nào, khi nào nên bán công nghện, bán doanh nghiệp, giá bán…  – Có thể tạo nhiều Tổ chức KHCN và Vườm ươm chuyên cho từng cụm ngành công nghiệp trong một trường đại học.  Công việc 4: Thiết kế chính sách để thúc đẩy nhà khoa học tham gia nghiên cứu chuyển giao công nghệ. Vấn đề này mặc dù được nói đến rất nhiều, nhưng gần như ta chưa thiết kế được một chính sách thực sự để thúc đẩy hoạt động này trong các trường đại học.  ***  Hình ảnh và vị thế trường đại học đang yếu dần trong xã hội là một điều mà ai cũng có thể cảm nhận được. Cộng đồng doanh nghiệp kính nể trường đại học (vì đó là nơi đã tạo cho họ tri thức và giúp họ có được ngày hôm nay) nhiều hơn là xem trường đại học là một đối tác quan trọng. Mọi sự thảo luận về hoạt động của các tổ chức KH&CN ở đại học cần phải dẫn đến hành động, cụ thể hóa của hành động là thể chế (governance) và chính sách (policy), thiết kế chính sách đồng thời cần tìm hiểu và làm được một cái hay trong mô hình và chính sách về hoạt động KHCN trong trường đại học của các nước phát triển (Hàn Quốc, Singapore,…).    ——–  * Giám đốc Trung tâm BR&T – Khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Bách khoa TPHCM    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình Synergy      Khái niệm synergy thường được nhiều người biết đến với tên gọi là “hiệp lực” hay “đồng tâm hiệp lực”, chỉ sự phối hợp liên kết chặt chẽ trên nhiều phương diện, hướng về và nhằm đạt được một mục tiêu chung. Và Phần Lan là một ví dụ điển hình về việc áp dụng synergy để huy động các nguồn lực khác nhau trong xã hội tập trung vào mục tiêu đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững.      Vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỉ 20, nền kinh tế Phần Lan rơi vào khủng hoảng, đồng tiền mất giá hơn 40%, tỷ lệ thất nghiệp hơn 20%, hệ thống tài chính ngân hàng khủng hoảng và thâm hụt ngân sách lớn.  Nhưng chỉ hai năm sau đó, Phần Lan đã kịp điều chỉnh để đưa ra các chính sách & chiến lược phát triển mới, trong đó họ đã bỏ tư duy làm chính sách cũ, đó là phân bổ lại các nguồn lực có sẵn và hoạch định chính sách dựa trên nhu cầu và kiến trúc (top down) để chuyển sang tác động vào chất lượng và số lượng của các nguồn lực (resources) sẽ được tạo ra trong tương lai, đồng thời hài hòa với hoạch định chính sách dựa trên định hướng khách hàng (bottom up). Các chính sách phát triển được đổi mới theo cách tiếp cận mở và hệ thống, trong đó tăng cường tái cơ cấu theo hướng tập trung tác động vào những nơi mà thị trường hoạt động chưa hiệu quả, tận dụng hiệu ứng ngoại biên của việc đầu tư vào R&D và các yếu tố phát triển sản xuất – chủ yếu chuyển hướng sang kinh tế tri thức và tăng hiệu quả của thị trường.          Với một đất nước 5 triệu dân mà chỉ trong thời gian ngắn đã thành lập cả một mạng lưới các khu công nghệ, trung tâm chuyên môn ở từng địa phương và các vườn ươm kinh doanh trong đó, từ một nước tụt hậu trở thành nước có nền kinh tế cạnh tranh số một toàn cầu đã minh chứng  hiệu quả của mô hình synergy, khi các nguồn lực nhỏ hiệp lực lại với nhau với mục tiêu chung đã biến 1+1 trở thành một con số rất lớn.         Dựa trên những chính sách phát triển đó, Phần Lan đã tập trung nguồn lực vào hai chương trình chính để thực hiện synergy trong hợp tác liên ngành và nội ngành (cross and intra-sector ) với những mục tiêu cụ thể: (1) Chương trình Trung tâm chuyên môn (Centre of Expertise Programme) nhằm thúc đẩy tính cạnh tranh cho khu vực/tỉnh thông qua tăng cường các hoạt động đổi mới, tái cơ cấu sản xuất nhắm vào các ngành công nghệ và phát triển những ngành nghề chuyên môn dựa vào lợi thế của địa phương; (2) Chương trình phát triển cụm và mạng lưới ( Cluster & Networking  Programmes). Đây là một chương trình lớn nhằm hỗ trợ các hoạt động R&D bằng cách thúc đẩy phát triển cụm và synergy giữa doanh nghiệp với khối nghiên cứu & đào tạo, giữa công ty với công ty, giữa các Trung tâm chuyên môn với nhau thành các mạng lưới đổi mới nhằm tăng tốc chuyển giao những know-how mới nhất tới doanh nghiệp cùng những kết quả từ sáng tạo và đổi mới của địa phương. Dựa trên nền tảng một mục tiêu chung, những đơn vị điều phối chính nguồn lực của quốc gia bao gồm TEKES (cơ quan công nghệ quốc gia), Quỹ sáng chế Phần Lan (SITRA) và Công ty đầu tư công nghiệp quốc gia đã phân bổ phần lớn ngân sách nhà nước về khoa học công nghệ cho 2 chương trình chính nói trên. Nguồn ngân sách nhà nước này được hiệp lực với các nguồn tài chính và đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài đã làm tăng hiệu quả lớn hơn nhiều (xem sơ đồ những nguồn lực trong môi trường đổi mới).                        Nhờ hiệu ứng từ synergy, kết quả là chưa đầy mười năm sau (vào năm 2001) Phần Lan đã có hơn 20 khu công viên khoa học & công nghệ cao và hơn 30 trung tâm chuyên môn ở khắp các tỉnh, tạo thành một mạng lưới các khu công nghệ và trung tâm chuyên môn trên toàn quốc. Các khu công nghệ và trung tâm này lại tiếp tục các hoạt động synergy, không những trong nước mà mở rộng hiệp lực ra các mạng lưới  khu vực (Nordic) và quốc tế để tiếp tục tăng trưởng. Đặc biệt, với sự hoàn thiện hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)  đã thúc đẩy hàng loạt các dự án ươm tạo doanh nghiệp, từ đó sản sinh ra nhiều công ty công nghệ đột phá nhanh chóng phát triển ra thế giới. Đây chính là những nguồn lực được tạo ra trong tương lai khi mà các chính sách trước đó đã tác động vào hệ thống để tạo ra chúng.   Thí dụ cho sự đúng đắn của việc tập trung nguồn lực cho 2 chương trình nói trên là sự thay đổi nhanh chóng của khu vực Bắc Phần Lan với thủ phủ là thành phố Oulu. Trước đây, khu vực này rất vắng vẻ với dân cư thưa thớt, chủ trương phát triển nền kinh tế tri thức và đẩy mạnh synergy trong các chương trình trung tâm chuyên môn vùng đã làm cho Oulu trở nên nổi tiếng về phát triển công nghệ cao. Đáng ngạc nhiên là trong thời gian ngắn, thành phố Oulu với gần 200 nghìn dân đã trở thành một trong những trung tâm công nghệ cao của Phần Lan (những trung tâm khác là Helsinki, Turku, Tampere…) với 2 khu công viên khoa học (science park) tiêu biểu là Technopolis và Medipolis, người ta gọi là “hiện tượng Oulu” (Oulu Phenomenon). Đây cũng là nơi đặt trụ sở và trung tâm nghiên cứu của nhiều tập đoàn công nghệ lớn trong đó có tập đoàn Nokia. Hai công viên khoa học này tập trung nhiều khu vườn ươm công nghệ, nhất là về công nghệ thông tin và công nghệ sức khỏe. Hàng trăm công ty công nghệ mới đã được lập ra từ các khu vườn ươm tại đây, nhanh chóng được xếp hạng trên các tạp chí lớn của thế giới như Business Weeks. Oulu là thành phố dẫn đầu về một xã hội không dây (wirelese society) bởi sự phát triển kỳ diệu của công nghệ mobile. Không chỉ phát triển mạnh mẽ trong nước, Oulu còn nhanh chóng phát triển nhiều chương trình synergy với các trung tâm công nghệ thông tin khác trên thế giới như Silicon Valley, San Jose (Mỹ).          Trong các hoat động đổi mới sáng tạo nội ngành, synergy được áp dụng dưới dạng mô hình xoắn ba (Triple Helix) tức là đồng tâm hiệp lực giữa 3 nhà: Nhà doanh nghiệp – Nhà nghiên cứu – Nhà nước, trong đó Nhà nghiên cứu tạo ra sản phẩm, nhà doanh nghiệp là nơi tiếp nhận sản phẩm và Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ quá trình này diễn ra một cách nhanh nhất.         Oulu là nơi mà chúng ta có thể thấy rõ hiệu quả của mô hình synergy trong các hoạt động đổi mới và thương mại hóa các sáng kiến khoa học, với sự đồng tâm hiệp lực giữa 3 nhà: Nhà doanh nghiệp – Nhà nghiên cứu – Chính quyền địa phương, còn gọi là mô hình xoắn ba (Triple Helix):  nhà nghiên cứu tạo ra sản phẩm, nhà doanh nghiệp là nơi tiếp nhận sản phẩm và chính quyền địa phương hỗ trợ quá trình này diễn ra một cách nhanh nhất. Polar Electro, thương hiệu đồng hồ đo nhịp tim cho các hoạt động thể lực đang chiếm lĩnh 95% thị phần thế giới, được hình thành từ một trong những vườn ươm công nghệ của Oulu. Ý tưởng của đồng hồ này xuất phát từ giáo sư Seppo Saynajakangas của Đại học Oulu. Trong 1 lần đi trượt tuyết, ông nảy sinh ra ý nghĩ làm thế nào để đo được nhịp và trạng thái tim mạch của những người đang vận động, nhất là vận động viên và người cao tuổi để biết được giới hạn của cơ thể nhằm tránh các rủi ro do hoạt động quá sức. Ý tưởng này sau đó được tiếp nhận bởi công ty Polar Electro, các nghiên cứu bắt đầu được trợ giúp của chính quyền Oulu thông qua quỹ Tekes. Với sự hiệp lực này, từ lúc có ý tưởng đến khi công ty bán sản phẩm ra khắp thế giới với doanh thu 20 triệu Euro chỉ trong vòng 6 năm. Đây cũng là một sản phẩm tiêu biểu dẫn dắt theo cả một ngành công nghệ về sức khỏe của Oulu phát triển và xuất khẩu đi khắp thế giới với doanh số hàng trăm triệu Euro hằng năm.          Một trong những mẫu đồng hồ POLAR đo hoạt động của tim cho vận động viên          Chỉ trong một thời gian hơn một thập kỷ, Phần Lan đã ứng phó tốt đối với các thay đổi, đã có thể khai thác các cơ hội mở ra trong việc tăng trưởng chuyên về tri thức sâu đến một tầm cao hơn và đã chuyển từ một nền kinh tế dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế dựa trên tri thức. Sự thay đổi nhanh chóng trong cơ cấu công nghiệp cũng mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp chính: sản phẩm và phương pháp sản xuất đã tập trung hơn vào tri thức và sáng tạo. Điều này có nghĩa là quốc gia được trang bị tốt hơn để đối mặt với những thách thức mới trong tương lai.   Kỳ sau – Phần 3: Tư duy Platform    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mô hình vườn ươm: Những bài học kinh nghiệm      Ngày 06/08 tại Hà Nội, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&amp;CN đã tổ chức hội thảo Ươm tạo Doanh nghiệp KH&amp;CN trong các trường đại học, viện nghiên cứu, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, với sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia trong nước và quốc tế trong lĩnh vực ươm tạo doanh nghiệp công nghệ.    Hiện nay, trên cả nước đã có khá nhiều vườn ươm của Nhà nước như CRC-TOPIC, Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp phần mềm Quang Trung, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao SHBI, các vườn ươm công nghệ của các trường đại học, cùng những vườn ươm do tư nhân và các tập đoàn như FPT, Tinh Vân, Vatgia, v.v. Trong đó, một số vườn ươm đã đạt được kết quả thành công nhất định, cho ra đời các doanh nghiệp có doanh thu tốt. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ, kể cả trong giai đoạn ươm tạo và sau ươm tạo, nhìn chung còn hạn chế.    Sự cần thiết của hỗ trợ từ Nhà nước   Với những doanh nghiệp công nghệ trong quá trình ươm tạo, rất khó để huy động các nguồn lực từ thị trường do các nhà đầu tư luôn e ngại tính rủi ro cao của những dự án công nghệ còn trong thời kỳ trứng nước. Vì vậy, sự đầu tư mạnh dạn với ý thức không ngại chia sẻ rủi ro từ phía Nhà nước cho các doanh nghiệp công nghệ được ươm tạo là hết sức cần thiết.  Diễn giả Zafrir Asaf, Trưởng phòng Kinh tế và Thương mại của Đại sứ quán Israel tại Hà Nội cho rằng Việt Nam cần ý thức thật rõ ràng, rằng để có được sự phát triển tiếp theo cho đất nước thì Nhà nước “không có lựa chọn nào khác” ngoài tích cực đưa ra những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Ông cho biết ở Israel theo thống kê cứ mỗi USD đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sẽ đóng góp cho nền kinh tế 6 USD giá trị sản phẩm công nghiệp. Với sự chú trọng cùng những chính sách phù hợp khuyến khích doanh nghiệp trong nước đổi mới sáng tạo, kể từ đầu thập kỷ 1990 Israel đã phát triển vượt bậc, tới năm 2009 đạt giá trị GDP cao hơn so với dự kiến lũy tiến theo xu hướng tăng trưởng trước đó tới 25 tỷ USD, tương đương 10% GDP.   Theo chuyên gia Bob Waite, giám đốc vườn ươm Darebin của Úc, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp còn giúp tăng cường sức mạnh kinh tế cho các địa phương, giúp các địa phương chống lại những biến động tiêu cực trong nền kinh tế toàn cầu. Ông lấy ví dụ một tập đoàn sản xuất ô tô Mỹ có cơ sở sản xuất tại Úc từng đặt ra những yêu sách cho Chính phủ Úc và đe dọa sẽ rời đi nếu không được đáp ứng. Nhưng trong một quốc gia có nhiều doanh nghiệp địa phương năng động và giàu sức sống thì chính quyền sẽ không phải quan ngại trước những đe dọa như vậy, vì không lo bị lệ thuộc (về công ăn việc làm, nguồn thu thuế, và các giá trị kinh tế, xã hội khác) vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.  Ngoài giá trị đóng góp cho nền kinh tế trong lâu dài, những người quản lý nguồn vốn của Nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ cần nhìn thấy những giá trị khác, đồng thời cũng là các tiêu chí để Nhà nước thẩm định, xét chọn các dự án tài trợ, ví dụ như khả năng tạo công ăn việc làm mới, kết nối doanh nghiệp với tổ chức nghiên cứu, hay thu hút nhân lực KH&CN cho địa phương, v.v. Ngoài ra, việc đầu tư cho các dự án công nghệ của các doanh nghiệp cũng chính là sự bồi đắp làm giàu cho kho tàng tri thức trong xã hội, và Nhà nước không nên lo rằng mình bị thua thiệt, ông Asaf nhấn mạnh.  Đảm bảo tính độc lập của vườn ươm   Để đảm bảo hiệu quả trong sử dụng nguồn lực của Nhà nước trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp, các chuyên gia cho rằng Nhà nước (hoặc các quỹ đầu tư của Nhà nước) nên giao kinh phí cho một tổ chức quản lý chuyên nghiệp. Công ty MDeC của Malaysia là một ví dụ, có chức năng làm trung gian hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện ở Malaysia.   Chính phủ Malaysia dành cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này một dự án hỗ trợ đặc biệt, có tên gọi Siêu Hành lang Đa phương tiện (Multimedia Super Corridor) viết tắt là MSC, do MDeC trực tiếp chịu trách nhiệm triển khai. Đây thực chất là một đặc khu kinh tế lý tưởng với nhiều chính sách ưu đãi và dịch vụ hỗ trợ như hỗ trợ về tài chính, các dịch vụ tiện ích, hỗ trợ nâng cao năng lực, hỗ trợ tiếp cận thị trường thế giới.   Dự án MSC được bắt đầu từ năm 1996, tới nay đã phát triển tới giai đoạn thứ 3, là một dự án quy mô lớn, đòi hỏi sự tập trung đầu tư rất lớn của Nhà nước, bên cạnh đó là nguồn lực của khu vực tư nhân. Theo chuyên gia Rajen Dorairaj, Giám đốc khu vực Công ty MDeC từ Malaysia, tỷ lệ đầu tư cho các doanh nghiệp trong dự án MSC là Nhà nước 30%, tư nhân chiếm 70%. Tỷ lệ này đảm bảo rằng đồng tiền của Nhà nước được đưa vào những dự án có tính hiệu quả, đủ để thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân.   Tuy nhiên, dù đã có sự tách biệt với cơ quan cấp phát kinh phí từ Ngân sách Nhà nước thì mô hình MDeC của Malaysia vẫn là một cơ quan Nhà nước và vì vậy, vẫn tồn tại nguy cơ quan liêu và chủ quan trong quản lý. Theo đánh giá trong tham luận tại hội thảo của ông Trần Việt Đức, Phó Tổng giám đốc Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Việt Nam thì các vườn ươm doanh nghiệp ở nước ngoài có xu hướng dựa vào nguồn kinh phí công sẽ không đạt được sự “tương xứng giữa chi phí và hiệu quả hoạt động”.   Do đó, Việt Nam có thể cân nhắc tham khảo các mô hình vườn hoạt động vì lợi nhuận như của Israel, nơi các vườn ươm hoàn toàn là các doanh nghiệp tư nhân hoặc của nước ngoài. Tại đây, các doanh nghiệp được ươm tạo được vườn ươm tài trợ 15% kinh phí (và được tham gia tới 50% cổ phần tại doanh nghiệp được ươm tạo), 85% còn lại từ Nhà nước – doanh nghiệp được ươm tạo có trách nhiệm hoàn lại kinh phí cho Nhà nước nếu sau này hoạt động thành công.    Bên cạnh đó, cũng có thể tham khảo kinh nghiệm của Úc, nơi Nhà nước có chính sách cấp đất cùng một số cơ sở hạ tầng tối thiểu và một nguồn kinh phí hạn chế cho các vườn ươm khi thành lập, sau đó hầu như để cho chúng tự vận hành nuôi sống mình. Nguồn thu của vườn ươm là mức phí trả từ các doanh nghiệp được ươm tạo. Những doanh nghiệp chưa có nguồn thu sẽ chưa phải đóng phí ngay, mà sẽ được truy thu sau này khi bắt đầu có doanh thu.   Điều này tạo động lực cho các vườn ươm phải tìm cách hỗ trợ cho doanh nghiệp một cách tối ưu, nhằm giúp các doanh nghiệp sớm hoạt động có lãi và có tiền để trả cho vườn ươm. Mô hình này đã chứng minh được tính hiệu quả, thể hiện ở số các doanh nghiệp khởi nghiệp tồn tại sau giai đoạn khó khăn ban đầu. Theo ông Bob Waite, giám đốc vườn ươm Darebin, ở Úc trung bình có 75% doanh nghiệp khởi nghiệp không tồn tại sau 3 năm kể từ khi thành lập, nhưng với những doanh nghiệp được ươm tạo thì tỷ lệ này giảm xuống còn 25%.        Hạn chế của thị trường đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam  Hiện nay đa số các vườn ươm tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc kết nối doanh nghiệp với các nguồn lực tài chính trong vài ngoài nước, trong đó nguyên nhân đáng kể là những hạn chế của thị trường đầu tư mạo hiểm. Theo đánh giá của ông Nguyễn Thế Duy1, Phó Chủ tịch Quỹ đầu tư Cyber Agent Việt Nam, hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam mới chỉ tập trung trong lĩnh vực công nghệ thông tin và internet, trong khi các mảng về công nghệ đời sống như vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học, phương thức vận tải, v.v vẫn chưa phát triển, một phần vì những mảng này đòi hỏi vốn đầu tư lớn và dài hạn hơn.   Ngoài những nguyên nhân như năng lực của bản thân các doanh nghiệp còn hạn chế, Nhà nước còn thiếu các chính sách hỗ trợ kịp thời và chế tài cần thiết để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, theo ông Nguyễn Thế Duy, một nguyên nhân quan trọng khiến hoạt động của thị trường đầu tư mạo hiểm kém sôi động là do hoạt động lưu chuyển vốn nước ngoài còn gặp những thủ tục hành chính rườm rà và vướng mắc pháp lý. Mặc dù quy mô đầu tư mạo hiểm thường nhỏ hơn so với quy mô đầu tư vào các doanh nghiệp đã niêm yết hoặc đã phát triển trưởng thành nhưng các nhà đầu tư mạo hiểm từ nước ngoài khi đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam phải xin giấy chứng nhận đầu tư như các dự án đầu tư vốn nước ngoài thông thường khác.   Điều này gây nhiều phiền hà, không phù hợp với đặc thù đòi hỏi tính linh hoạt cao trong đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Bên cạnh đó, việc chuyển vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và việc chứng minh thu nhập chính đáng khi chuyển tiền về nước ngoài cũng trải qua nhiều thủ tục phức tạp. “Nhà nước nên có cơ chế hỗ trợ giúp các thủ tục đăng ký, chuyển tiền, và giải ngân cho lĩnh vực đầu tư mạo hiểm được rút ngắn hơn”, ông Duy khuyến nghị.  Rõ ràng chính sách cởi mở hơn trong thu hút vốn nước ngoài đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là rất cần thiết vì sự đầu tư đó không chỉ đem lại giá trị kinh tế, mà còn kết nối nguồn chất xám trong nước với thị trường toàn cầu, qua đó giúp tăng cường năng lực công nghệ và hoạt động nghiên cứu ở trong nước để tiếp tục đóng góp phục vụ cho sự phát triển lâu dài của đất nước.                   —  1 Giới thiệu về đầu tư mạo hiểm – tham luận của Nguyễn Thế Duy, Phó Chủ tịch Quỹ đầu tư Cyber Agent Việt Nam tại hội thảo    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mọi tổ chức, cá nhân đều có thể đề xuất ý tưởng khoa học      Dự thảo Nghị định hướng dẫn luật KHCN sửa đổi lần này tiếp tục đề cao các ý tưởng nghiên cứu khoa học đột phá, sáng tạo.    Theo đó, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân đề xuất ý tưởng khoa học, nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Ý tưởng khoa học được gửi đến cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ các cấp.  Cơ quan nhà nước về khoa học và công nghệ có trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức đánh giá các ý tưởng khoa học do các tổ chức, cá nhân đề xuất.  Ngoài ra, hằng năm, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp tổ chức hội thi tìm kiếm ý tưởng khoa học.  Những ý tưởng khoa học được lựa chọn thông qua hoạt động đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ hoặc từ các hội thi được Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hỗ trợ kinh phí và hướng dẫn về thủ tục để tiếp tục hoàn thiện ý tưởng khoa học trở thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ.  Ý tưởng khoa học và công nghệ trở thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ được phê duyệt, người đề xuất ý tưởng được xét ưu tiên giao làm chủ nhiệm nhiệm vụ hoặc tham gia thực hiện nhiệm vụ và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mong sẽ có những gương mặt trẻ hơn*      Khi hoàn thành công trình nghiên cứu này tôi đã 60 tuổi.  Đây không còn ở đỉnh cao của lao động và sáng tạo. Tôi rất mong trong  những lễ trao giải lần sau sẽ có nhưng gương mặt trẻ hơn tôi rất nhiều  được nhận giải thưởng vinh dự này.         Công trình khoa học mà nhờ nó tôi được vinh dự trao giải thưởng Tạ Quang Bửu được thực hiện với sự tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ. Tuy ra đời hơi muộn so với sự cần thiết, nhưng tôi tin rằng Quỹ đã thổi một luồng gió mới vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học của tôi và nhiều nhà khoa học khác. Cơ chế minh bạch, dân chủ và công bằng của Quỹ trong việc cấp kinh phí và đánh giá các công trình khoa học đang khích lệ tôi và các nhà khoa học nâng cao chất lượng nghiên cứu và hội nhập với cộng đồng khoa học quốc tế. Nó cũng loại ra khỏi sân chơi những ai đã và đang sử dụng một cách lãng phí tiền thuế của người dân, cho ra những công trình nghiên cứu và triển khai kém chất lượng…      Công trình khoa học này được bắt đầu hình thành trong thời gian tôi làm việc ở Viện Nghiên cứu Toán học Hausdorff ở thành phố Bonn, CHLB Đức, trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu “Giải tích và và Phương pháp số đối với các vấn đề có số chiều rất lớn”. Tôi muốn cảm ơn Viện và Ban tổ chức Chương trình đã tạo cho tôi điều kiện làm việc và không khí khoa học để các vấn đề nghiên cứu có thể nảy mầm. Tôi đặc biệt cảm ơn Tiến sĩ Tino Ullrich, Viện Mô phỏng và Mô hình hóa, Đại học Bonn, đã nhận lời tham gia nghiên cứu các vấn đề do tôi đề xuất và đã có đóng góp không nhỏ cho sự thành công của công trình khoa học mà nhờ nó tôi được trao giải thưởng. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học đối với tôi thực sự là quan trọng.      Trong thời đại hiện ngay, rất nhiều công trình khoa học có ý nghĩa lý thuyết và ứng dụng được nảy sinh trong giao thoa của các lĩnh vực khoa học khác nhau. Trong nghiên cứu khoa học, giống như làm thơ, nguồn cảm hứng và ý tưởng đóng vai trò quyết định. Hiện tượng “Thảm họa về số chiều” của độ phức tạp tính toán trong các bài toán thực tế về xử lý thông tin có dữ liệu hoặc số chiều rất lớn đã truyền cảm hứng cho tôi. Các bài toán như vậy xuất hiện một cách tự nhiên trong nhiều ứng dụng liên quan tới khai phá dữ liệu trong công nghệ thông tin, tài chính toán, khí tượng, cơ học lượng tử,… Ý tưởng xây dựng một mô hình toán học, dựa trên lượng thông tin rất thưa nhưng vẫn đảm bảo được độ chính xác cần thiết, ý tưởng xây dựng được thuật toán hữu hiệu và khả thi để khắc phục thảm họa nêu trên đã dẫn tôi đến các vấn đề cần phải nghiên cứu. Các kiến thức phong phú mà tôi học được từ trường phái lý thuyết thông tin và xấp xỉ của nhà toán học Xô viết vĩ đại Kolmogorov và của Giáo sư Tikhomirov, người thầy của tôi đã giúp tôi rất nhiều trong việc giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Nhân đây, tối muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thầy Xô viết của tôi.    …      Hoạt động nghiên cứu khoa học của tôi không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đã có một thời gian tôi kết hợp công việc này với công tác quản lý, nhưng không được thành công lắm. Nhưng chính điều này đã giúp tôi hiểu ra rằng chỉ nên dành cuộc đời  của mình cho khoa học.      …      Khi hoàn thành công trình nghiên cứu này tôi đã 60 tuổi. Đây không còn ở đỉnh cao của lao động và sáng tạo. Tôi rất mong trong những lễ trao giải lần sau sẽ có nhưng gương mặt trẻ hơn tôi rất nhiều được nhận giải thưởng vinh dự này. Tôi chân thành chúc các nhà khoa trẻ thành công hơn thế hệ chúng tôi.     (Trích phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu sáng 16/5)    Vài nét về tác giả:     GS.TSKH Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin – ĐHQG Hà Nội) được trao giải Tạ Quang Bửu 2015 với công bố “N-Widths and ε-dimensions for high-dimensional approximations” (Xấp xỉ và khôi phục tín hiệu có số chiều rất lớn trên lưới thưa).   Công trình là một trong những đóng góp quan trọng nhất đối với bài toán tổng quát về xấp xỉ nhiều chiều, kết nối giữa lý thuyết xấp xỉ hàm nhiều biến kinh điển và các vấn đề hiện đại của toán học tính toán. Lý thuyết xấp xỉ hàm số nhiều biến – cơ sở của toán học tính toán và khoa học máy tính, có nhiều ứng dụng trong giải số phương trình đạo hàm riêng, xử lý ảnh, khôi phục tín hiệu.  Công trình đã được đăng trên tạp chí Foundations of Computational Mathematics, 13(6), 965-1003, là tạp chí đứng thứ năm trong lĩnh vực toán học tính toán do SCImago xếp hạng.  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt          Author                Quản trị        
__label__tiasang Một bước tiến lớn trong đổi mới quản lý NCCB      Tại cuộc tọa đàm về dự thảo Quy định về tài trợ Nghiên cứu cơ bản (NCCB) trong các lĩnh vực khoa học do Quỹ Phát triển KH&amp;CN Quốc gia cùng Tạp chí Tia Sáng tổ chức vừa qua, các đại biểu tham dự đều đồng tình với ý kiến của GS Hoàng Tụy, đánh giá bản dự thảo là một thành công, một bước tiến lớn trong đổi mới NCCB của chúng ta hiện nay.    Để thực hiện được mục tiêu tài trợ của Quỹ là: “Xây dựng môi trường nghiên cứu có tính liên tục và kế thừa nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam; Phát triển và nâng cao năng lực nghiên cứu của cá nhân, tập thể nghiên cứu cơ bản ở các trường đại học, viện nghiên cứu; hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh có năng lực nghiên cứu ở trình độ quốc tế; Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tăng nhanh số lượng kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín; Thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế trong nghiên cứu khoa học”, bản dự thảo Quy định đã được xây dựng trên cơ sở tham khảo các quy định về tài trợ cho NCCB của các nước có nền khoa học phát triển cùng với thực trạng NCCB hiện nay của nước ta.  Hướng tới các tiêu chí, chuẩn mực quốc tế  Khác với các quy định về tuyển chọn và nghiệm thu các đề tài NCCB trước đây, Quy định này đặt điều kiện tiên quyết đối với chủ nhiệm đề tài và cá nhân nghiên cứu đăng ký đề tài (đầu vào) là phải có học vị tiến sỹ trở lên và có kết quả nghiên cứu chuyên ngành phù hợp, được công bố trên tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành quốc tế uy tín (ISI) trong 5 năm gần nhất là tiêu chí hàng đầu; riêng đối với các nhà khoa học trẻ (dưới 35 tuổi) đăng ký chủ trì đề tài NCCB mang tính thăm dò khám phá lần đầu phải có học vị thạc sỹ và ít nhất 2 bài báo công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia có uy tín trong 5 năm gần nhất. Quy định này có thể coi là một yếu tố quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho việc lựa chọn được đúng những nhà khoa học có năng lực. Nhưng nhiều đại biểu cho rằng, việc yêu cầu chủ nhiệm đề tài phải có học vị tiến sỹ hoặc thạc sỹ trở lên là còn cứng nhắc, nhất là trong bối cảnh bằng cấp của nước ta chưa phản ánh đúng thực chất trình độ, năng lực của cá nhân nhà khoa học. Theo GS Hoàng Tụy, không cần đặt nặng yêu cầu về bằng cấp, mà nên coi trọng lý lịch khoa học của người đăng ký, có những người bằng cấp tuy không cao nhưng nếu có quá trình nghiên cứu khoa học tốt thì cũng nên tin tưởng hỗ trợ cho họ.            Những quy định về tài trợ NCCB sẽ được bổ sung hoàn thiện trong quá trình thực hiện. Điều chúng tôi mong muốn là các nhà khoa học, đặc biệt là các nhóm nghiên cứu có người đứng đầu là các nhà khoa học có năng lực, uy tín và những người tham gia là những nhà khoa học trẻ có triển vọng chuẩn bị thật chuẩn mực những đề tài nghiên cứu để đăng ký vào đợt tài trợ đầu tiên của Quỹ.    Thứ trưởng Lê Đình Tiến          Trong Quy định, sản phẩm nghiên cứu của đề tài nghiên cứu thực nghiệm phải có ít nhất 2 bài báo được công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế có uy tín hoặc 2 bằng phát minh sáng chế, được chuyên gia đánh giá xác định chất lượng nội dung khoa học. Quy định này có nhiều điều cần được cân nhắc, xem xét vì hiện nay, các đầu tạp chí khoa học quốc tế đã đạt tới con số 2 vạn. Đi kèm với sự gia tăng về số lượng là sự không đồng đều về chất lượng và mức độ uy tín. Ngay cả với riêng một tạp chí quốc tế, chất lượng và mức độ uy tín cũng phụ thuộc theo từng thời điểm. Trong khi đó, từ 20-30 năm trở lại đây, các bài tham luận đóng góp vào các hội thảo khoa học quốc tế được các nhà chủ biên có tín nhiệm tập hợp, xét duyệt, chọn lọc đăng tải trên các tuyển tập cũng có giá trị tương đương các bài báo quốc tế. Có lẽ vì vậy mà GS Hoàng Tụy cho rằng“không nên tuyệt đối hóa việc áp dụng tiêu chuẩn“phải có hai bài báo quốc tế”, các tiêu chuẩn định lượng chỉ nên áp dụng khi không có thông tin nào khác để đánh giá”. Cũng theo GS Hoàng Tụy, để thực hiện tốt việc đánh giá dựa trên các bài báo công bố quốc tế cần lập ra danh sách các tạp chí uy tín và có quy chế thưởng riêng cho những bài báo được đăng trên các tạp chí đó.  Về thời gian công bố các bài báo quốc tế phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu. Nếu như, các bài báo thuộc chuyên ngành CNTT có thời gian đăng tải nhanh, chỉ mất từ 3-6 tháng, thì ở các ngành khoa học khác thì phải mất hơn 1 năm trở lên (Toán, Vật lý, CNSH…). Không chỉ vậy, với một số lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực nghiệm, để có bài báo đăng trên tạp chí quốc tế đòi hỏi số liệu được phân tích ở các phòng thí nghiệm có uy tín cao, đòi hỏi những đầu tư lớn về trang thiết bị thậm chí ở mức hợp tác quốc tế. Điều đó cho thấy, áp dụng quy định trong 2 năm thực hiện đề tài phải có bài báo công bố quốc tế cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu là còn không khả thi.Vì vậy, cần đưa ra các tiêu chí đánh giá chi tiết, cụ thể với từng ngành khoa học nếu không thì vô hình trung sẽ hạn chế NCCB ở một số lĩnh vực. “Nếu chúng ta không có chính sách thích hợp để động viên mọi ngành cùng tiến lên, chúng ta sẽ không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cả cộng đồng và không xây dựng được một nền khoa học mạnh toàn diện” (TS Phạm Đức Chính – Viện Cơ học). Bên cạnh các ý kiến về số lượng và thời gian đăng bài báo, nhiều vị đại biểu cho rằng cần có các biện pháp nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học trong nước, tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ “quen dần” với việc viết các bài báo khoa học.  Ngoài ra, PGS Trần Ngọc Vương – (Khoa Văn – Trường ĐHQG HN) cho rằng cần phân biệt rõ ràng những quy định áp dụng cho KHXH và KHTN. Có những quy định áp dụng tốt cho KHTN nhưng không phù hợp đối với ngành KHXH. Ông cho biết, “KHXH có công bố quốc tế là khó khăn, thậm chí những công trình quan trọng nhất lại không thể công bố được”. Hay trong nghiên cứu KHXH, tiêu chí có đầu sách chất lượng xuất bản được coi trọng hơn có bài báo công bố quốc tế .v.v.  Điều kiện để nâng cao chất lượng đề tài nghiên cứu  Để đảm bảo chất lượng của đề tài nghiên cứu theo các mục tiêu mà Quỹ đề ra, PGS Nguyễn Ngọc Châu (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) cho rằng ngoài các quy định của dự thảo, cần yêu cầu chủ nhiệm đề tài phải có 4-5 trang bằng tiếng Anh giới thiệu về quá trình hoạt động khoa học (bao gồm: tổng quan về những vấn đề mới nhất trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu và các tiêu chí khác như tham gia đào tạo, hợp tác nghiên cứu .v.v.). Thái độ hợp tác nghiên cứu của nhà khoa học được nhiều đại biểu đề xuất đưa vào thành một tiêu chí ưu tiên, tránh tình trạng manh mún và lãng phí trong hoạt động khoa học. Đã có trường hợp, nhiều nhà khoa học cùng chung một hướng nghiên cứu nhưng lại đứng riêng một đề tài… Nếu những yêu cầu này được đáp ứng, chúng ta có thể hy vọng vào sự phát triển của một nền khoa học có môi trường học thuật mang đẳng cấp quốc tế, trong đó sự bồi đắp kế thừa giữa các thế hệ làm khoa học có thể tạo ra các trường phái NCKH giải quyết được các vấn đề lớn, lâu dài, GS Ngô Bảo Châu khẳng định.  Nếu như việc xét duyệt cá nhân nhận hỗ trợ từ Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia được ví như việc “chọn mặt gửi vàng” thì theo GS Phạm Duy Hiển, việc tổ chức Hội đồng Khoa học (HĐKH) và các chuyên gia độc lập đánh giá đề tài có vai trò quyết định đến kết quả của đề tài nghiên cứu. Ông cho rằng HĐKH có vai trò “cầm trịch” trong việc thực hiện các điều khoản trong quy định do vậy việc lựa chọn các thành viên trong hội đồng phải thật công tâm và cẩn thận. Người làm khoa học chân chính không thể nào chịu được những người không có đủ trình độ ngồi phán xét về công trình nghiên cứu của họ.Về vấn đề này, quan điểm của PGS Hoàng Ngọc Long (Viện Vật lý và Điện tử) là với sự phát triển như ngày nay, khoa học kỹ thuật chỉ cần 2-3 năm đã lạc hậu vậy nên quy định thành viên HĐKH phải có thành tích nghiên cứu xuất sắc trong 5 năm gần nhất là hơi… nhẹ.  Bản dự thảo đã bước đầu xây dựng được một quy chế tài chính minh bạch, nhất là sự đãi ngộ hợp lý, đủ sức cạnh tranh để các nhà khoa học có năng lực, tâm huyết có thể yên tâm tập trung vào nghiên cứu; đồng thời có sức thu hút các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài. Tuy vậy, cũng còn có những ý kiến băn khoăn.          Bộ KH&CN nên tổ chức các câu lạc bộ các nhà khoa học hướng tới chuẩn mực quốc tế và quan tâm tới đổi mới với các thành viên là những người có công bố quốc tế 5 năm gần đây, nhằm tạo điều kiện hợp tác, nâng cao hiệu quả nghiên cứu của các thành viên và tư vấn cho Quỹ chọn được các hội đồng ngành đủ uy tín chuyên môn.     TS Phạm Đức Chính        Theo GS Hoàng Tụy, “ở nước ngoài kinh phí nghiên cứu chỉ dùng để phục vụ cho việc nghiên cứu còn ở nước ta kinh phí này được dùng để “tăng thêm thu nhập” cho các nhà khoa học, thậm chí là nguồn thu nhập chính, làm thế nào để các nhà khoa học hưởng đủ lương để làm khoa học một cách đàng hoàng vẫn là vấn đề cần phải bàn?” GS Ngô Việt Trung (Viện Toán) dựa trên những so sánh giữa mô hình nghiên cứu khoa học của Mỹ và Châu Âu cho rằng việc sử dụng kinh phí bù lương là chuyện phổ biến và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, điều cần làm là cân nhắc và có những quy định rõ ràng để tránh thiếu sót có thể gặp phải.  Cũng trong cuộc tọa đàm, có nhiều ý kiến cho rằng ngoài kinh phí chung cho cả đề tài cũng cần có thêm những hỗ trợ không thường xuyên, có những khoản chi rất “vụn vặt” nhưng có vai trò không nhỏ trong việc tăng cường hiệu quả của hoạt động nghiên cứu. Theo ý kiến của PGS Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT Hạt nhân) cho rằng, tương tự như các khoản chi phí dành cho các đề tài nghiên cứu thực nghiệm (dùng để mua thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu…) nằm ngoài giới hạn 25.0000USD, cần có ngân sách riêng cho những hoạt động hợp tác quốc tế như: hỗ trợ cán bộ đi báo cáo hội thảo ở nước ngoài, hợp tác NCKH tại các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế…; hỗ trợ chuyên gia quốc tế sang tham gia hợp tác nghiên cứu (bao gồm cả chi phí đi lại, ăn ở tối thiểu…); hỗ trợ đào tạo tiến sỹ để tránh tình trạng các nghiên cứu sinh của Việt Nam trở thành “đội ngũ lao động chất lượng cao” tại trung tâm nghiên cứu của các nước phát triển… Những chi phí này phải được chủ nhiệm của đề tài có giải trình cụ thể và báo cáo đầy đủ lại với cơ quan quản lý Quỹ. Bên cạnh đó, những quy định mang tính cứng nhắc như: liệt kê chi phí mua hóa chất, loại nào, bao nhiêu… lại bị không ít các nhà khoa học “dị ứng”. PGS Trương Nam Hải (Viện CNSH) cho rằng nếu phải nêu quá chi li những khoản như vậy không sát với thực tế, nhiều lúc sẽ đẩy nhà khoa học đến tình huống phải… nói dối.  Sau buổi tọa đàm, rất nhiều bản góp ý cho dự thảo Quy chế đã được tiếp tục gửi đến tạp chí Tia Sáng và Ban soạn thảo. Điều đó chứng tỏ Quy chế đáp ứng được nguyện vọng của các nhà khoa học.                  Tuấn Linh      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cơ hội để hoàn thiện công tác thống kê KH&CN      Tham luận tại hội thảo về tiểu dự án “Hoàn  thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường khoa học, công nghệ và đổi  mới sáng tạo”, TS. Lê Xuân Định, Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và  Công nghệ Quốc gia, Giám đốc hợp phần 1B của dự án FIRST đã chia sẻ với  các đại biểu là ông thực sự hạnh phúc khi được giao thực hiện dự án này.  &#160;      Vì sao ông lại cảm thấy hạnh phúc khi được đảm nhiệm hợp phần 1B của dự án FIRST?   Tôi cảm thấy hạnh phúc vì những gì chúng tôi kì vọng có cơ hội trở thành hiện thực. Ở đây, tôi chỉ dám nói là có cơ hội vì để hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta, ngoài sự hỗ trợ từ phía dự án về tài chính, cách tiếp cận vấn đề, cách tư duy của những chuyên gia nước ngoài giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực này, còn cần những yếu tố khác như sự quan tâm của các Bộ, ngành và được tạo điều kiện bằng các hành lang pháp lý hoàn thiện.     Xin ông cho biết mục tiêu chủ yếu của dự án là gì?   Điểm mấu chốt nhất của dự án là xây dựng được một phương pháp luận thống kê KH&CN theo chuẩn mực quốc tế, có thể áp dụng và thích nghi trong điều kiện của Việt Nam. Những con số thống kê sẽ vừa phản ánh được thực tiễn của Việt Nam nhưng cũng lại tương thích với các thước đo của thế giới. Nói cách khác là làm sao để những chuẩn mực ấy “chạy” được trong điều kiện của Việt Nam chứ không phải ép các điều kiện của Việt Nam chạy theo những chuẩn mực của quốc tế. Vì vậy, tôi từng nói vui rằng trong dự án có lẽ cần đào tạo các chuyên gia quốc tế vì họ không hiểu điều kiện của Việt Nam thì làm sao họ có thể tư vấn được.  Giải pháp nào để thực hiện được mục tiêu đó?   Trước khi học tập những chuẩn mực của quốc tế, chúng ta phải hiểu mình trước. Tức là chúng ta phải nắm rõ hệ thống khoa học công nghệ của Việt Nam: hiểu về dòng kinh phí lưu chuyển trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học ông nghệ như thế nào, hiểu về cách quản lý nhân lực, hiểu về mối quan hệ giữa cơ quan đặt hàng, cơ quan thực hiện và hệ thống doanh nghiệp… Chỉ có thể nắm được thực tiễn như vậy mới áp dụng được các phương pháp luận quốc tế vào Việt Nam. Tuy nhiên, để làm được điều đó sẽ trải qua nhiều lần điều chỉnh: chúng ta sẽ phải vừa làm, vừa học.    Ông có thể nói cụ thể hơn về các phương pháp luận và kinh nghiệm của quốc tế mà chúng ta cần học hỏi?    Một trong những nội dung nhất thiết cần học là học tập và ứng dụng phương pháp luận thống kê của OECD thông qua nghiên cứu và khảo sát kinh nghiệm quốc tế trong tiến hành điều tra về Nghiên cứu, Phát triển và Đổi mới sáng tạo về  xây dựng phương án, đào tạo, triển khai, xử lý dữ liệu, phân tích và diễn giải, công bố kết quả…; dịch sang tiếng Việt và biên soạn lại các cẩm nang thiết yếu về thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của OECD: cẩm nang Frascati về Nghiên cứu và Phát triển, cẩm nang Oslo về đổi mới và sáng tạo, cẩm nang Canberra về nhân lực KH&CN… ; sẽ tiến hành đào tạo một đội ngũ nòng cốt làm thống kê KH&CN tại Bộ KH&CN, các Bộ, ngành và địa phương qua việc tổ chức các hội thảo chuyên đề, các khóa đào tạo ngắn và trung hạn với sự tham gia của các chuyên gia quốc tế.     Giả sử như chúng ta có được một phương pháp luận hoàn chỉnh và đội ngũ nhân lực chất lượng cao thì điều gì khó khăn nhất trong việc đưa thống kê khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở về đúng thực chất của nó: tức là chúng ta có các số liệu thống kê trung thực, khách quan?   Đúng là ngay cả khi chúng ta có được một phương pháp luận tốt, một nguồn nhân lực thống kê KH&CN chất lượng cao thì chưa chắc chúng ta đã có được một con số đúng như mong đợi. Điều này trước hết phụ thuộc vào tính trung thực, khách quan của người tiến hành công tác thống kê và chính bản thân đối tượng được khảo sát bao gồm các tổ chức, nhà khoa học, các  doanh nghiệp… Bên cạnh đó, sự xác thực của các số liệu thống kê còn phụ thuộc vào ý đồ sử dụng các thông tin đó trong quá trình hoạch định chính sách của các cơ quan quản lý.     Vậy, theo ông làm thế nào để giải quyết khó khăn đó?   Điều này được đề cập và giải quyết trong một cấu phần của dự án, đó là tạo ra một cơ chế điều phối và liên thông về số liệu thống kê khoa học công nghệ. Tức là, công tác thống kê phải được coi là công việc của chung (nhiều bộ, ban ngành) chứ không phải chỉ riêng Bộ KH&CN. Ví dụ, Ngân hàng Nhà nước sẽ thiết lập một bộ phân theo dõi riêng về cán cân thanh toán liên quan đến chuyển giao công nghệ;  Hải quan cũng phải có một bộ phận theo dõi riêng về nội dung xuất nhập khẩu thiết bị máy móc…    Ông kì vọng gì sau khi dự án kết thúc?   Sau quá trình hoàn thành mục tiêu của dự án, điều quan trọng nhất là ta có được một đội ngũ cán bộ nòng cốt có thể hiểu rõ từng việc trong công tác thống kê khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Từ đó, họ biết được trong điều kiện thống kê còn nhiều bất cập của Việt Nam cần phải làm những gì để có thể cung cấp cho các nhà quản lý những bằng chứng về hiệu quả hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo thông qua số liệu thống kê, phân tích định tính và thông tin phản hồi.    Xin trân trọng cảm ơn ông!      Hảo Linh thực hiện        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cộng epsilon      Một vài kinh nghiệm có thể giúp các nghiên cứu sinh khởi đầu trên con đường nghiên cứu khoa học      Đen là một cậu NCS chăm chỉ và nhanh nhẹn, có điều đến năm thứ 3 rồi vẫn chưa ra được bài báo khoa học. Tôi gọi đến hỏi chuyện. Đen nói bài toán chính mà thầy hướng dẫn giao thì khó quá nghĩ mãi chưa ra, và thầy cũng không gợi ý hướng làm. Nhưng có mấy bài toán nhỏ xung quanh thì Đen thấy làm được, nhưng chưa hào hứng viết ra. Trong đó có vấn đề mở rộng một kết quả mới đây của 3 nhà toán học từ trường hợp thuần nhất lên trường hợp giả thuần nhất. Tôi liền “thuyết giảng” cho Đen một hồi về chuyện làm khoa học:  Mọi bước tiến trong khoa học đều là những bước epsilon. Không ai tự mình làm được cái gì lớn “từ con số 0″ mà không dựa trên những ý tưởng và kết quả của những người trước đó. Từ Newton đến Einstein hay đến XYZ nào đó cũng đều vậy.  Ghi chép lịch sử có sự bất công khi chỉ nói đến các “con mèo to” mà không nói đến các “con mèo nhỏ” , vơ hết cả công của mèo nhỏ thành công của mèo to, nhưng mèo to hay mèo nhỏ cũng đều là những bước epsilon thôi.   Một bài báo có thể có kết quả rất hay, nhưng đó là “1+epsilon”, trong đó “1” đã có từ trước. Bởi vậy đừng có tự ti về những epsilon của mình. Nếu phần của mình chỉ là epsilon, nhưng mà là dựa trên 1 (nói như Newton là đứng trên vai người khổng lồ), thì vẫn là kết quả đáng công bố, và đó là cách làm của giới khoa học. Nhiều bài báo trong Inventiones cũng chỉ có phần epsilon bé tẹo thôi. Thậm chí, có những bài báo dạng “1 trừ epsilon”, khi mà chẳng hạn người viết không hiểu kết quả chung nào đó, làm lại trường hợp riêng, vẫn trở thành những bài báo được công bố.  Đối với các nghiên cứu sinh, việc hoàn thành những bài báo là rất quan trọng, kể cả khi kết quả là “1+epsilon” với epsilon bé tẹo. Bởi vì, nếu không có bài báo nào, thì người ta không biết đánh giá thế nào. Còn khi có “1+epsilon”, thì người nghiên cứu sinh sẽ được đánh giá là đã nắm được cái “1” kia, và đã có khả năng tạo ra các epsilon. Đây là tiêu chuẩn để sau đó được nhận postdoc.  Như Erdos có nói, “các vấn đề có giá trị chứng tỏ giá trị của chúng bằng cách tấn công lại chúng ta”. Bởi vậy nếu gặp vấn đề khó giải không ra, thì tức là vấn đề đó đáng giá. Tấn công nó như kiểu “phá thành”: tìm các chỗ rạn nứt, dễ phá để phá trước, bao giờ nó vỡ nhiều chỗ thì dễ tấn công hơn. Cái công việc “râu ria”, phá những chỗ rạn nứt trước, cũng là công việc quan trọng. Sau nhiều công sức công phá của một hay nhiều người thì điều kiện “môi trường” sẽ tới lúc thuận lợi chín muồi cho mội bước tiến khoa học nào đó. Khi ấy, không có người này sẽ có người khác thực hiện bước tiến quyết định (chẳng có ai “không thể thay thế”).   Mỗi người có đánh giá của riêng mình về cái nào là khó hơn, là hay hơn, là quan trọng hơn, đáng giá hơn. Nhưng đánh giá của cộng đồng lại có thể rất khác đánh giá của cá nhân. Có bài báo mình nghĩ là “dễ ợt” thì có khi lại được nhiều người quan tâm trích dẫn, còn có bài mình bỏ ra 5-7 năm để làm thì có khi lại ít ai quan tâm. Bởi vậy, những cái mình coi là “dễ” nhưng có thể “đóng khung” lại thành bài báo thì vẫn nên viết thành bài báo, đừng vứt đi. Vì “dễ” với người này lại có thể là quan trọng với người khác (đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến đa ngành).  Một đức tính quan trọng là khả năng biết làm đến cùng, dứt điểm một cái gì đó. “Có thể làm” nhưng không kết thúc được thì vẫn không có cái gì. Phải làm dứt điểm được, viết được thành hình, thì mới có gì tồn đọng lại, còn nếu chỉ ở mức mơ hồ “chỗ này có thể làm” mà không làm, thì có nguy cơ “để lâu cứt trâu hóa bùn”. Bởi vậy nếu thấy mình có thể làm cái gì đó, dù chỉ là epsilon bé tẹo, thì cũng cần làm cho dứt điểm (trừ khi có epsilon khác to hơn, cũng có thể làm, cần được ưu tiên hơn). Chính quá trình làm như vậy mới tạo ra các ý tưởng mới, các vấn đề mới, thấy được các khó khăn, các lỗi sai, v.v.  Đừng bao giờ sợ sai. Từ Poincaré, Hilbert, v.v. không ai không bị sai. Đặc biệt khi làm những vấn đề còn mới lạ, thì rất khó tránh khỏi sai lầm những lúc ban đầu. Có sai thì mới có đúng. Trong toán học, quan trọng nhất không phải là các định lý, mà là các ý tưởng, các lý thuyết. (Cách nói ví von là: nếu coi toán học là gồm các định lý, thì cũng chỉ đúng như coi âm nhạc là gồm các nốt nhạc, hay coi văn học là gồm các câu chữ thôi). Bài báo dù có sai đến 1/2 nhưng chứa nhiều ý hay, thì vẫn có giá trị.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một cường quốc Toán học – Mục tiêu phát triển toán học Việt Nam      Sau khi tổ chức thành công kỳ thi Quốc tế IMO-2007, hội thảo Hợp tác với các nhà Toán học Việt Nam ở nước ngoài đã được tổ chức. Tại Hội thảo đó, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã đặt ra bài toán làm thế nào để trong một hai chục năm tới, Toán học Việt Nam đứng vào hàng thứ 20 trong thế giới.    Tại sao cần phát triển Toán học?   Trước hết vì vai trò to lớn và đặc biệt của nó không chỉ đối với các ngành khoa học khác, mà còn đối với hầu hết mọi vấn đề của kinh tế – xã hội và an ninh – quốc phòng. Không phải tình cờ mà cường quốc toán học số một, nước Mỹ, vẫn quyết tâm giữ thế độc tôn này. Trong phần nói đầu của “Bản báo cáo cuối cùng của Ban cố vấn Phát triển Toán học quốc gia”1, họ đã không giấu giếm mục tiêu đó:  “Trong suốt thế kỉ 20, Mỹ có một năng lực khác thường, không ai so sánh được, về toán học. Nó được đo không chỉ bằng độ sâu và số lượng của các chuyên gia làm việc ở đây, mà còn bởi quy mô và chất lượng của sự tiên phong của Mỹ về công nghệ, khoa học và tài chính, và thậm chí bởi sự quảng bá của Toán học trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên nếu thiếu những thay đổi thực chất và có thể chấp nhận được trong hệ thống giáo dục, thì chúng ta sẽ  đánh mất vai trò tiên phong trong thế kỉ 21. Bản báo cáo này nhằm đưa ra những giải pháp để tăng cường sức mạnh của Mỹ trong lĩnh vực trung tâm này của đào tạo”.   “Lĩnh vực trung tâm” nói ở trên chính là giáo dục toán học. Bản báo cáo này được chuẩn bị dựa trên Sắc lệnh số 13398 kí ngày 18/4/2006 của Tổng thống Mỹ, G. Bush, trong đó ở Điều 1 đã chỉ rõ sách lược:  “Để đảm bảo khả năng cạnh tranh của Mỹ, để ủng hộ các tài năng và sự sáng tạo của Mỹ, để khuyến khích đổi mới kinh tế Mỹ, giúp đỡ chính quyền các bang và các địa phương trong việc nâng cao giáo dục của trẻ em và thanh niên, chúng ta cần có chính sách để nâng cao kiến thức và thành tích trong toán học”2.      “Đất nước này không thiếu tiền để làm Toán học nhưng các nhà toán học phải quyết tâm xây dựng ngành toán trở thành trụ cột trong tinh thần người Việt Nam. Các nhà toán học phải xây dựng chương trình phát triển toán quốc gia để trở thành cường quốc thế giới về toán học” (Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân)      Tất nhiên không phải ai cũng đồng thuận quan điểm này. Người ta có thể đưa ra những lý lẽ dễ dàng nhưng thoạt nghe đầy thuyết phục, đại loại: Nhưng đó là nước Mỹ, nước giàu có, nếu không thừa thì cũng đủ tiền để vẽ vời! Việt Nam còn nghèo, đâu cần cái toán học cao siêu. Dùng của thế giới cũng đủ rồi!  Đưa ra những cơ sở khoa học để bác lại ý kiến đó không khó, nhưng nó chiếm nhiều giấy bút – và suy cho cùng cũng khó mà thuyết phục được những người có quan điểm như vậy, bởi vì cái lợi ích của toán học không lộ thiên và thường không xuất hiện một cách độc lập. Thế nhưng nếu chịu khó suy nghĩ một chút, chịu khó tin người khác một chút, ta sẽ thấy lợi ích của toán học ở ngay cạnh chúng ta đấy thôi.   Hiện nay Hàn Quốc có 5 trung tâm toán học nòng cốt được gọi là Brain Korea (tạm dịch: chất xám Hàn Quốc) rải trên khắp đất nước với kinh phí 15 triệu USD mỗi năm. Bên cạnh đó Hàn Quốc có hai viện nghiên cứu quốc gia là Viện nghiên cứu cao cấp Hàn Quốc (KIAS) có kinh phí hằng năm là 12 triệu USD cho toán và lý và Viện nghiên cứu toán học quốc gia (NIMS) với kinh phí 4 triệu USD mỗi năm. Kinh phí nêu trên không bao gồm phần xây dựng cơ bản. Như vậy có thể thấy kinh phí nghiên cứu toán của Nhà nước Hàn Quốc đã hơn toàn bộ kinh phí Nhà nước Việt Nam dành cho khoa học và công nghệ (khoảng 40 triệu USD).  Hàn Quốc gia nhập Hội Toán học thế giới năm 1981 sau Việt Nam và cùng được xếp trong nhóm cuối như Việt Nam (hạng thứ 5 từ trên xuống). Nhưng đến năm 1993 họ đã được xếp hạng thứ nhì cùng nhóm với phần lớn các nước phát triển, trong lúc Việt Nam vẫn ở nhóm cuối. Năm 2007, toán học Hàn Quốc xếp hạng thứ 12 trên toàn thế giới theo số lượng công trình trong danh mục ISI. Mặc dù số lượng các nhà toán học của họ chỉ gấp khoảng 3 lần so với Việt Nam, nhưng số lượng công bố quốc tế của Hàn Quốc hiện nay gấp khoảng 6 lần so với Việt Nam. Tại Đại hội toán học thế giới năm 2006 (4 năm 1 lần họp) có 3 báo cáo mời của các nhà toán học ở Hàn Quốc, trong lúc Việt Nam không biết đến bao giờ mới có vinh dự như vậy . Hiện nay Chính phủ Hàn Quốc đang hỗ trợ Hội Toán học Hàn Quốc đăng cai tổ chức Đại hội Toán học thế giới với mục đích cổ vũ hơn nữa sự phát triển toán học ở Hàn Quốc.      Để nhấn mạnh tầm quan trọng của Toán học, Chính phủ Đức đã lấy năm 2008 làm năm Toán học. Ngay trong trang đầu của trang web về Năm Toán học 3 của họ đã giới thiệu vắn tắt: “Không có lĩnh vực khoa học nào thâm nhập và ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống và công việc như toán học. Từ chế tạo ô tô đến phân làn đường, từ mua bán trong siêu thị đến kiến trúc, từ dự báo thời tiết đến nghe MP3, từ đi tàu đến Internet – tất cả đều là toán!”        Trong trang đầu của trang web về Năm Toán học3 của Hội Toán học Đức đã giới thiệu vắn tắt: “Không có lĩnh vực khoa học nào thâm nhập và ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống và công việc như toán học. Từ chế tạo ô tô đến phân làn đường, từ mua bán trong siêu thị đến kiến trúc, từ dự báo thời tiết đến nghe MP3, từ đi tàu đến Internet – tất cả đều là toán!”  Với cách nhìn đúng đắn như vậy thì ích lợi của toán học không còn là khái niệm trừu tượng nữa. Nó có thể đem lại ngay cho chúng ta một số tiền không nhỏ, nếu nó đủ tốt. Nhiều tỷ phú, mà tiêu biểu là Bill Gates phải biết ơn toán học! Trên thực tế họ không chỉ biết ơn, biết khai thác mà ngày càng đầu tư một số tiền khổng lồ để phát triển toán học!  Việt Nam cũng cần phát triển Toán!  Để có thể bán được sản phẩm, thì rõ ràng chúng ta phải có cái mới. Do đó không chủ động phát triển toán thì không bao giờ ta có được công nghệ riêng của mình. Đừng vội nghĩ là ta sẽ hoàn toàn làm chủ hay thậm chí thống trị công nghệ. Chỉ là tạo ra một vài thị phần nho nhỏ trong một lĩnh vực hẹp nào đó thôi thì cũng phải có cái độc đáo của mình!  Mà trong lĩnh vực trí tuệ này khả năng cạnh tranh rất dồi dào. Người đi sau không sợ thiếu chỗ. Vốn liếng bỏ ra không cần nhiều. Rủi ro cũng chẳng có, vì ít ra chúng ta cũng sẽ đào tạo ra được một số tiến sĩ. Nếu không biết ứng dụng toán học để cài đặt vào sản phẩm này nọ, thì chí ít họ cũng biết đứng lớp. Vậy thì tại sao ta lại tự nguyện tránh xa con đường này?  Toán học Việt Nam mới bắt đầu được hơn 50 năm. Thế nhưng, không biết từ bao giờ bạn bè thế giới khá khâm phục đối với toán học Việt Nam. Người làm toán khâm phục một thì người không làm toán khâm phục mười! Ai đó có điều kiện nói chuyện với bạn bè quốc tế có thể kiểm chứng điều đó dễ dàng. Nghe vậy sướng lắm chứ! Sướng dẫn đến tự tin để mà vươn lên: Dân tộc ta có khả năng làm toán!      Hàn Quốc có lịch sử phát triển toán học khá tương đồng với Việt Nam. Năm 1945, họ chỉ có một trường đại học (không có khoa toán) và dưới 10 người có bằng cử nhân về toán học ở Nhật về. Nhưng đến năm 2007 Hàn Quốc đã có 192 trường đại học, trong đó có 162 trường có đào tạo cử nhân toán (so với Việt Nam chỉ có khoảng 15 trường đại học có đào tạo cử nhân toán), 61 trường có đào tạo thạc sĩ toán và 42 trường có đào tạo tiến sĩ toán. Các trường đại học Hàn Quốc đều ưu tiên nhập học và cấp học bổng cho các học sinh đoạt giải thi toán học sinh giỏi các cấp.      Nhưng cái sướng dễ đưa tới cái ngộ nhận: toán học của ta đã quá tốt, chí ít là đối với đòi hỏi của nước nhà. Trên thực tế toán học Việt Nam còn quá yếu. Một cách tiếp cận cho thấy nó chỉ đứng ở vị trí 54 trên thế giới. Con số này có thể không chính xác nếu xét từ góc độ khác, nhưng chắc chắn từ góc độ này, toán học của ta chỉ ở khoảng vị trí 45 – 55. Do yếu như vậy mà khả năng ứng dụng của nó còn rất hạn chế so với yêu cầu của xã hội là lẽ đương nhiên. Mà không chỉ ứng dụng. Ngay yêu cầu đủ thầy dạy cho các trường đại học vẫn còn lâu mới đạt (nếu theo thông lệ quốc tế là thầy dạy toán ở đại học thì phải có bằng tiến sĩ).  Như vậy không chỉ nên, mà cần phải đẩy mạnh phát triển toán học ở nước ta! Đầu tư phát triển toán học không phải là một thứ để tiêu khiển, mà thực sự là một đầu tư thông minh, khả thi mà hiệu quả cao. Có thể xem đây là một ý tưởng táo bạo, một nhiệm vụ tối quan trọng.  Chương trình phát triển  Trước đây nhiều người vẫn đùa: làm toán chỉ cần mấy tờ giấy và cái bút chì. Điều ấy có thể đúng một phần ở thời điểm đó. Nhưng ngày nay thì suy nghĩ đó chắc chắn sai. Việc “làm toán” đòi hỏi phải có một số tiền nhất định. Số tiền đó chỉ “ít” khi ta làm phép so sánh với cái khác thôi, còn khi nêu thành con số thì không nhỏ tí nào.  Hơn một năm qua, Ban soạn thảo “Chương trình Quốc gia Phát triển Toán học Việt Nam đến năm 2020” – được thành lập theo quyết định của chính Bộ trưởng Bộ GD&ĐT – đã cố gắng làm việc để tìm ra một số giải pháp phát triển toán học nước ta. Do tính phức tạp và sự liên kết hữu cơ của nó đối với nhiều lĩnh vực phát triển khác của đất nước, Chương trình dự thảo chỉ đặt ra một mục tiêu khiêm tốn hơn nhiều: Không chú trọng quá nhiều đến tính đồng bộ và tính đầy đủ của các giải pháp. Điều chính là tìm ra những giải pháp khả thi, không cần nhiều kinh phí, nhưng vẫn đạt được mục tiêu là tạo ra những động lực mạnh để toán học nước ta phát triển, đến năm 2020 có thể xếp vào hàng thứ 40 trên thế giới. Trên cơ sở đó nhanh chóng đưa toán học nước ta đứng vào hàng tiên phong của toán học thế giới.   Chỉ với nhiệm vụ khiêm tốn thế thôi, theo ước tính sơ bộ, trong 11 năm (2010-2020) chúng ta cần khoảng 970 tỷ đồng Việt Nam, tức là gần 60 triệu USD, bình quân khoảng 5 triệu USD một năm. Rõ ràng đây là một con số rất lớn (nhất là với người làm toán). Thế nhưng tính kĩ ra, nó chưa bằng 6 km đường cao tốc! Và nếu thành công, Toán học Việt Nam sẽ đóng vai trò một con đường cao tốc trong hệ thống đường cao tốc phát triển khoa học và công nghệ của nước ta!  Không so với Mỹ, mà chỉ so Hàn Quốc thì con số ấy cũng tỏ ra quá ít ỏi. Riêng Viện KIAS của Hàn Quốc với 20 giáo sư, 60 nghiên cứu viên và 23 nhân viên có tổng ngân sách năm 2009 là 18,8 triệu USD. Do vậy, nhìn vào nhu cầu nội tại của ta về phát triển toán học, về khả năng đáp ứng tài chính của đất nước, cũng như so sánh với đầu tư của các nước bạn, Ban soạn thảo Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học đến năm 2020 hết sức tin tưởng  vào sự cần thiết và tính khả thi của Chương trình.  ————————  1 Xem vietnamnet.vn/giaoduc/ vande/2007/08/724921/  2 The final report of the National Mathematics Advisory Panel, US Department of Education 2008 (www.ed.gov/MathPanel)  3 Trang 71 sđd  4 www.jahr-der-mathematik.de/  ———-  * Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam    Author                Ngô Việt Trung        
__label__tiasang Một giải pháp đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp Nhà nước      Thị trường công nghệ chưa phát triển được  cho là nguyên nhân khiến việc nghiên cứu đổi mới công nghệ của các doanh  nghiệp ở Việt Nam diễn ra rất chậm chạp. Nghĩa là, do chưa có chợ nên  người mua và người bán khó tìm được đến với nhau. Và ngược lại, do người  bán và người mua chưa tích cực tìm đến với nhau nên chợ vẫn chưa thể  hình thành.     Để sớm vượt qua được vướng mắc mang tính chất con gà – quả trứng này, một trong những giải pháp đột phát mà Nhà nước có thể xem xét, đó là: yêu cầu đổi mới công nghệ ở những doanh nghiệp sản xuất của Nhà nước đang làm ăn thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh vì công nghệ lạc hậu, và đang gặp khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư mua lại phần vốn của Nhà nước.  Trong số hơn 300 doanh nghiệp mà Nhà nước dự kiến thoái vốn năm ngoái, chỉ có khoảng 80 doanh nghiệp thoái vốn thành công. Nhà nước hiện nay còn khoảng hơn 500 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, trong đó có nhiều doanh nghiệp khó thoái vốn vì công nghệ sản xuất lạc hậu, lại không có những lợi thế hấp dẫn khác, chẳng hạn như không có những bất động sản có giá trị cao.    Để thoát khỏi bế tắc, thay vì chấp nhận bán rẻ phần vốn của mình tại các doanh nghiệp này, tốt hơn là Nhà nước nên buộc các lãnh đạo doanh nghiệp phải trình cơ quan chức năng duyệt một dự án chi tiết về đổi mới công tác quản lý và cải tiến công nghệ nhằm giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh và phát triển.   Những doanh nghiệp nào không tự xây dựng được dự án chi tiết thì có thể đề xuất ra một số mục tiêu cải tiến kỹ thuật cần thiết với các cơ quan và tổ chức nghiên cứu. Các cơ quan và tổ chức nghiên cứu sẽ trực tiếp liên hệ, thỏa thuận với doanh nghiệp về kế hoạch tổ chức thực hiện dự án nghiên cứu đổi mới công nghệ, với mức kinh phí do các bên tự thỏa thuận thu xếp. Tuy nhiên, Nhà nước có thể cho vay với điều kiện kế hoạch nghiên cứu đã được qua thẩm định bởi một cơ quan chức năng chuyên trách, đồng thời khoản vay là do doanh nghiệp cũng như nhà nghiên cứu cùng tham gia đăng ký vay từ Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia(ĐMCNQG), và cùng có nghĩa vụ trả nợ sau một thời gian ân hạn nhất định.  Trong vòng một năm kể từ khi Nhà nước đặt ra yêu cầu cải tiến công nghệ, nếu nghiên cứu có kết quả khả quan, đáp ứng đề bài của doanh nghiệp, nhà nghiên cứu phải thông báo để cơ quan chức năng tổ chức nghiệm thu. Nếu nghiệm thu thành công, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ kinh phí theo thỏa thuận với cơ quan, tổ chức nghiên cứu. Trong trường hợp kinh phí nghiên cứu do nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng đăng ký vay, thì phần nghĩa vụ thanh toán của nhà nghiên cứu tự động chuyển thành nghĩa vụ của doanh nghiệp.   Sau khi kết quả nghiên cứu được nghiệm thu, doanh nghiệp có nghĩa vụ xây dựng một dự án chi tiết về cải tiến công nghệ trình cơ quan chức năng thẩm định. Nếu dự án được phê duyệt, khi triển khai, Nhà nước có thể cho vay qua Quỹ ĐMCNQG (nếu doanh nghiệp không huy động được vốn). Lãi suất khoản vay này sẽ được tự điều chỉnh, tùy theo tiến độ thanh toán của doanh nghiệp sau này. Doanh nghiệp càng sớm thanh toán nợ thì mức lãi suất tự động điều chỉnh và càng tăng tính ưu đãi.  Trong trường hợp dự án có tính rủi ro tương đối cao, để tăng tính an toàn cho Nhà nước, thay vì trực tiếp cho doanh nghiệp vay, Nhà nước có thể đứng ra bảo lãnh khoản vay từ các ngân hàng thương mại, với nguồn bảo lãnh chính là phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp. Như vậy, nếu dự án không thành công thì kịch bản xấu nhất là Nhà nước mất đi phần vốn tại doanh nghiệp, tức là không tệ hơn so với việc để cho doanh nghiệp tiếp tục duy trì công nghệ lạc hậu, không thể cạnh tranh và đi đến phá sản. Ngược lại, nếu dự án đổi mới công nghệ thành công thì doanh nghiệp sẽ tồn tại và làm ăn có lãi. Khi đó, giá trị phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp không chỉ được bảo tồn mà sẽ gia tăng.  Tuy nhiên, giá trị lớn nhất dưới góc độ nhà quản lý chính là sự gia tăng các mối liên hệ, số lượng các giao dịch giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để từng bước hình thành và phát triển được một thị trường công nghệ như chúng ta mong muốn.                                Author                Quản trị        
__label__tiasang Một mô hình đáng học tập      Ngày nay, Hàn Quốc không còn chú trọng nhiều tới việc hỗ trợ các tập đoàn kinh tế (chaebol) đồ sộ (chính sách từng phổ biến một thời ở Hàn Quốc mà ngày nay Việt Nam đang mô phỏng lại). Thay vào đó, đối tượng nhận sự hỗ trợ ưu tiên hàng đầu lúc này ở Hàn Quốc là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới. Chiến lược này được thể hiện rõ nhất qua mô hình các khu công nghệ cao (techno park).      Khác với Việt Nam, nơi các khu công nghệ cao được hình dung là sân chơi chủ yếu ưu tiên đối tượng khách hàng là các nhà đầu tư nước ngoài và mục tiêu đặt ra thường là làm sao thu hút lấp đầy khu công nghiệp và thu hồi chi phí đầu tư mà Nhà nước phải bỏ ra càng sớm càng tốt, ở Hàn Quốc, mục tiêu hàng đầu trong phát triển khu công nghệ cao là hỗ trợ cho việc hiện thực hóa các ý tưởng công nghệ của các doanh nghiệp trẻ, thậm chí cho cả những doanh nghiệp đang còn trong giai đoạn phôi thai chưa thành hình, thông qua các trung tâm đào tạo và hướng dẫn doanh nghiệp; đồng thời trở thành hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.   “Điều chúng tôi quan tâm làm sao để giúp một sinh viên trong nước vừa ra trường- vừa thiếu vốn vừa thiếu kinh nghiệm tổ chức kinh doanh – hiện thực hóa được những ý tưởng tốt mà anh ta đang có trong đầu”, theo lời ông Heung-Su Kim, Giám đốc Chungnam Techno Park, một trong những khu công nghệ cao hàng đầu của Hàn Quốc.  Để làm được điều này, các khu công nghệ cao có sự gắn bó mật thiết với các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, và các doanh nghiệp địa phương. Ví dụ như khu công nghệ cao Chungnam có tới 18 đại học tham gia hỗ trợ. Sự hợp tác này giúp họ tiến hành điều tra, nghiên cứu, và đề ra các kế hoạch phát triển cụ thể của địa phương, đồng thời đưa ra được những chỉ dẫn hữu ích cho các doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là làm đầu mối gắn kết doanh nghiệp với nhà khoa học.   Cách thức thực hiện  Với những mục tiêu mang tính dài hạn và hướng nhiều tới lợi ích xã hội như trên, các khu công nghệ cao của Hàn Quốc được xây dựng và phát triển dựa trên nguồn vốn của Nhà nước và được Nhà nước quản lý, trên nguyên tắc 50% là vốn chính quyền Trung ương, 50% là vốn từ chính quyền địa phương.   Không chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng và đầu tư trang thiết bị, các khu công nghệ cao còn hỗ trợ kinh phí đầu tư cho các dự án của doanh nghiệp, kể cả những dự án công nghệ có tính mạo hiểm. “Hình thức hỗ trợ ở đây là tài trợ (grant) chứ không phải cho vay, vì Nhà nước đã xác định rằng nếu các doanh nghiệp kinh doanh ăn nên làm ra, thì tiền thuế thu được đủ để bù cho những chi phí Nhà nước phải bỏ ra.”  Để đảm bảo kinh phí Nhà nước được phân bổ cho đúng người, đúng việc, mỗi khu công nghệ cao có một ủy ban điều hành, với thành phần tham gia là đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, giáo sư các trường đại học, và chuyên gia các viện nghiên cứu.   Việc xét duyệt cấp kinh phí cho một dự án ngoài căn cứ là nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, còn căn cứ theo nhu cầu đầu tư của địa phương. Các khu công nghệ cao tham gia điều tra, nghiên cứu, và kế hoạch phát triển của địa phương, qua đó xác định lĩnh vực công nghiệp nào đang cần ưu tiên, và đệ trình kế hoạch kinh phí hàng năm lên Bộ Kinh tế Tri thức (MKE) phê duyệt.   Nguồn kinh phí được MKE thông qua tới đâu là tùy theo kết quả hoạt động của từng khu công nghệ cao và nhu cầu đặc thù của từng địa phương và ngành công nghiệp nằm tại địa phương đó. Thực tế việc phân bổ kinh phí hằng năm từ Nhà nước là một cuộc cạnh tranh giữa mười bảy khu công nghệ cao nằm rải rác trên các địa phương của Hàn Quốc. Bên cạnh đó, hằng năm các khu công nghệ cao của Hàn Quốc đều phải trải qua sự thẩm định đánh giá, kiểm toán, và chấm điểm của Nhà nước.        Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghệ cao Hàn Quốc              Chủ trương thực hiện chiến lược về các khu công nghệ cao đã có từ năm 1995, nhưng quá trình xây dựng phát triển kéo dài tới hơn 12 năm, trải qua ba giai đoạn lớn.               Giai đoạn 1 (1997-2003): là thời kỳ xây dựng những cơ sở hạ tầng sơ khai và những thể chế cơ bản hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ, trong đó đáng kể là sự ra đời và ban hành của luật hỗ trợ các khu công nghiệp công nghệ cao. Tính tới năm 2003, đã có 12 khu công nghệ cao ra đời: Songdo, Gyeonggi, Daegu, Gyeongbuk, Chungnam, và Gwangju (1997); Busan và Pohang (2000); Gangwon, Chungbuk, Jeonbuk và Jeonam (2003).              Giai đoạn 2 (2003-2007): là thời kỳ tập trung nuôi dưỡng các ngành công nghiệp chiến lược. Tới năm 2007, các khu công nghệ cao đã thực sự có vai trò các trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ cho các ngành công nghiệp và địa phương. Kết thúc giai đoạn này Hàn Quốc có thêm 4 khu công nghệ cao là: Gyeongnam và Ulsan (2004); Daejin và Seul (2005).              Giai đoạn 3 (từ 2007 tới nay): đây là thời kỳ các khu công nghệ cao đã hoàn thiện về chức năng, trở thành các cơ sở cải tiến công nghệ của địa phương, thường xuyên hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ. Năm 2008, Hàn Quốc cho ra đời thêm một khu công nghệ cao là Daejeon.                        Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngày hội Khoa học của Việt Nam?      Kinh nghiệm tổ chức Ngày hội Khoa  học ở nước ngoài cung cấp cho ta một kho khổng lồ những ý tưởng có thể được khai thác hiệu quả và điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.    Hằng năm, đã thành truyền thống ở một số  nước châu Âu, người ta dành một ngày cho khoa học, gọi là Ngày hội Khoa  học, với sự tham gia không chỉ các trường đại học, viện nghiên cứu,  doanh nghiệp, mà còn cả các bệnh viện, trường trung học, các nhà thiên  văn học nghiệp dư, trung tâm văn hóa, v.v. là dịp để đông đảo quần chúng  có thể khám phá thế giới khoa học và gặp gỡ những người đang làm việc  trong lĩnh vực này.   Mọi người, kể cả các bạn trẻ, đều có thể thu thập những thông tin hữu ích mà mình quan tâm và đặt câu hỏi cho các nhà khoa học trong tất cả các lĩnh vực: từ khoa học về sự sống đến khoa học xã hội, từ toán học đến khoa học môi trường và từ vật lý đến khoa học vũ trụ.  Vào Ngày hội Khoa học, các phòng thí nghiệm và các viện nghiên cứu mở rộng cửa chào đón công chúng. Đây là dịp để tổ chức hàng loạt các sự kiện hướng tới đại chúng. Các nghệ sĩ và các nhà khoa học cùng nhau làm việc để góp phần tạo nên sự thành công cho ngày hội. Mục đích của ngày hội là để chia sẻ kiến thức và tăng cường sự giao lưu giữa các nhà khoa học và dân chúng, thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, làm cho việc tìm hiểu thông tin khoa học dễ dàng hơn, kích thích sự quan tâm của giới trẻ tới sự nghiệp khoa học. Nó hướng tới đại bộ phận dân chúng: người già và người trẻ, gia đình và trẻ nhỏ, sinh viên và người lao động, người ít tin tưởng cũng như người đam mê khoa học.  Những cuộc hội thảo, triển lãm, hội nghị, tranh luận trước công chúng hay thăm quan phòng thí nghiệm là một trong số những sự kiện tạo cơ hội cho các nhà khoa học có thể chia sẻ với người dân bầu nhiệt huyết với khoa học của mình.          Không nên tổ chức Ngày hội Khoa học thành  Ngày của các nhà khoa học, như Ngày Nhà giáo, Ngày Phụ nữ và nhiều ngày  đặc biệt khác ở Việt Nam. Mục tiêu của ngày Hội Khoa học không phải là  mọi người sẽ mang hoa đến tặng các nhà khoa học, mà ngược lại, đó là cơ  hội để các nhà khoa học truyền kiến thức và lòng nhiệt huyết của mình  tới công chúng.        Vậy tại sao chúng ta không tổ chức sự kiện này ở Việt Nam? Ngoài công việc tổ chức chung do Bộ Khoa học và Công nghệ phụ trách, những hoạt động cụ thể chính sẽ được thực hiện bởi các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Chắc chắn rằng, họ sẽ làm hết sức mình để tạo nên hình ảnh đẹp về cơ quan mình và tổ chức nên những sự kiện thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng. Những cơ quan này có thể tự chi trả chi phí cho những sự kiện mà họ tổ chức. Còn với những sự kiện mang tính chất chung hơn thì có thể dễ dàng tìm kiếm tài trợ từ các công ty tư nhân, ngân hàng hay Đại sứ quán. Kinh phí dành cho Ngày khoa học có thể dễ dàng giữ ở mức thấp.  Không nên tổ chức Ngày hội Khoa học thành Ngày của các nhà khoa học, như Ngày Nhà giáo, Ngày Phụ nữ và nhiều ngày đặc biệt khác ở Việt Nam. Mục tiêu của ngày Hội Khoa học không phải là mọi người sẽ mang hoa đến tặng các nhà khoa học, mà ngược lại, đó là cơ hội để các nhà khoa học truyền kiến thức và lòng nhiệt huyết của mình tới công chúng. Ngày hội sẽ là dịp để tổ chức hội thảo, tranh luận trước công chúng hay trên truyền hình về các vấn đề được nhiều người quan tâm như năng lượng hạt nhân và sự nóng lên toàn cầu. Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có thể tạo ra một số địa điểm diện tích vừa phải ở trung tâm thành phố, nơi tổ chức các sự kiện liên quan đến khoa học như hội thảo, các màn trình diễn, thí nghiệm, v.v. với những không gian để công chúng có thể gặp gỡ các nhà khoa học, đặt câu hỏi và trao đổi với họ. Những điểm khoa học như vậy có thể được đặt tại các vườn hoa, quảng trường, hoặc những địa danh lịch sử.  Tất cả các đối tượng tiềm năng đều nên được khuyến khích tham gia: không những các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, mà còn cả các bệnh viện, trường trung học, các nhà thiên văn học nghiệp dư, trung tâm văn hóa, v.v. Kinh nghiệm tổ chức sự kiện này ở nước ngoài cung cấp cho ta một kho khổng lồ những ý tưởng có thể được khai thác hiệu quả và điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.  Nên bắt đầu ngay trên quy mô nhỏ chứ không nên chờ đợi quá lâu. Một sự kiện như vậy sẽ dễ đem đến thành công rộng rãi, tạo ra động lực tự nhiên cho hoạt động của năm sau ở quy mô lớn hơn.                        Phạm Ngọc Diệp  dịch  ——-  Tại Anh: http://www.britishscienceassociation.org/nsew/; http://www.sciencefestival.co.uk/about-us; http://www.britishscienceassociation.org/web/BritishScienceFestival/;       tại Pháp: http://ww.fetedelascience.fr/; tại Ireland : http://www.scienceweek.ie/theme_2011.asp;       tại Bỉ: http://www.printempsdessciences.be/;       tại Ý : http://www.festivalscienza.it/site/ Home.html;       tại Tây Ban Nha : http://www.madrimasd.org/cienciaysociedad/ semana-ciencia/;       tại Luxemburg : http://www.science-festival.lu/;      tại Ba Lan: http://www.festiwal. wroc .pl/2011/index.php;      tại Thụy Sỹ : http://www.science-et-cite.ch/; tại Thụy Điển : http://vetenskapsfestivalen.se/      Author                Quản trị        
__label__tiasang Một ngày tham gia hội đồng bảo vệ tiến sĩ      Quá trình bảo vệ luận án chỉ xảy ra trong vòng chưa đến tiếng rưỡi: 45  phút cho NCS trình bày, hơn 10 phút cho hội đồng đặt câu hỏi và NCS trả  lời, và sau đó là nửa tiếng hội đồng họp riêng bàn về chuyện nên ghi  những gì vào trong biên bảo bảo vệ.    Sáng nay tôi phải đi đến Limoges để tham gia hội đồng bảo vệ cho một cô   nghiên cứu sinh (NCS) (Ainhoa Aparicio) về lý thuyết Galois vi phân   (differential Galois theory) và tính toán hình thức (computer algebra)   ứng dụng vào việc khảo sát sự khả tích của hệ Hamilton. Cô này là học   trò của mấy anh bạn đồng nghiệp của tôi ở Limoges (Weil và Barkatou). Đi   về trong ngày bằng tàu hỏa, mỗi chiều mất ba tiếng rưỡi. Những chuyến  đi  công tác như vậy không có được “tiền đút túi” như kiểu ở Việt Nam,  mà  chỉ là một trong các “việc chùa” phải làm. Vé tàu hỏa thì được người  ta  mua sẵn cho trước, và buổi trưa thì được cho ăn ở một quán khá  sang.  Cùng đi với tôi từ Toulouse có ông bạn già Ramis, là một “cây đại thụ” về lĩnh vực Galois vi phân. Tôi thì chỉ “làm ké” trò này thôi, vì nó trở thành công cụ khảo sát tính khả tích của các hệ động lực. Đi cùng tàu hỏa với Ramis rất vui, có dịp trò chuyện riêng với ông ấy về đủ thứ trên trời dưới đất. Trò chuyện xong thì lăn ra ngủ. Ông Ramis kể nhiều chuyện, trong đó có chuyến đi du lịch mới nhất của ông sang Myanmar ra sao, sự u mê của Myanmar hiện tại thế nào. So với Việt Nam, thì dân trí trung bình của Myanmar chắc còn thấp hơn nhiều. (Ví dụ như về toán, các sinh viên đại học mới học giải các bài toán kiểu hai chiếc tàu hỏa đi ngược chiều nhau, hỏi bao giờ chúng gặp nhau). Kể cả đại học ở Myanmar cũng chỉ học đến những kiến thức rất thấp. Số người tu hành (đạo Phật) ở Myanmar thì rất nhiều (nó như là một nghề), nhưng các ông thầy tu phần lớn chẳng có suy nghĩ triết lý gì hết, ngoài việc học thuộc lòng được mấy trăm câu gì đó, và vác loa đi kêu gào quyên góp cho nhà chùa suốt ngày.  Bản thân quá trình bảo vệ luận án chỉ xảy ra trong vòng chưa đến tiếng rưỡi: 45 phút cho NCS trình bày, hơn 10 phút cho hội đồng đặt câu hỏi và NCS trả lời, và sau đó là nửa tiếng hội đồng họp riêng bàn về chuyện nên ghi những gì vào trong biên bảo bảo vệ. Như thường lệ, đã được đem ra bảo vệ tức là thành công rồi, vì đã phải có các bản phản biện của 2-3 phản biện (có trong hội đồng) gửi đến từ trước nhận xét về luận án với kết luận là xứng đáng được bảo vệ. Biên bản còn phải ghi thêm là NCS trình bày có tốt không, trả lời câu hỏi có tốt không, và triển vọng ra sao. Nếu hội đồng thấy thích, thì cho vào các từ mạnh như “excellent” vào biên bản bảo vệ, có ích cho ứng cử viên khi đi xin việc về sau, còn nếu thấy “chỉ đáng cho qua” thôi, thì không cho các từ như vậy vào. Trong trường hợp trên, thì hội đồng nhất trí là cô NCS này nên tiếp tục theo nghề nghiên cứu toán, và bởi vậy có cho từ “excellent” vào.  Một hội đồng bảo vệ TS  ở Pháp thường chỉ có 5 đến 7 người là cùng. (Hình như tối thiểu là phải có 4, tôi cũng không biết rõ, nhưng tôi chưa tận mắt thấy hội đồng nào có dưới 5 người). Hôm ấy thì có 6 người, trong đó 2 người địa phương còn 4 người từ bên ngoài đến. Ở Pháp, người hướng dẫn luận án nghiễm nhiên là ngồi trong hội đồng (và thường cũng là người lo mời người vào hội đồng cho học trò của mình), còn ở Tây Ban Nha hơi khác: người hướng dẫn luận án không được phép ngồi trong hội đồng.  Bình thường tôi đi làm thì hay mặc đơn giản, có thể là quần bò, áo phông, giày thể thao, cho tiện và cho “gần gũi sinh viên”. Nhưng bảo vệ luận án thì “long trọng” hơn, nên tôi phải đánh giày đen, mặc bộ comple, và thắt cà vạt. Nhưng khi nhìn quanh hội đồng thì chỉ có mỗi mình tôi đeo cà vạt. Khi hội đồng cần chọn người làm Chủ tịch hội đồng, thì ông Ramis kêu “có mỗi mày đeo cà vạt, thì mày phải làm Chủ tịch”. Tôi liền bảo “để tôi đưa cà vạt cho ông đeo”. Theo tục lệ ở Pháp, thì thường ai lão làng nhất trong hội đồng người đó làm Chủ tịch, nên ông Ramis không trốn được chức đó.  Luận án bảo vệ hôm đó khá là thú vị (có một số kết quả khá tự nhiên, không phải là khó lắm, nhưng mà mới trước nay chưa có người viết ra, chẳng hạn các bất biến của hệ tuyến tính đã “reduced” theo nghĩa nào đó thì có hệ số là hằng số). Đối với cá nhân tôi, thì những chuyện bàn ngoài lề với các đồng nghiệp nhân dịp bảo vệ luận án còn thú vị hơn bản thân luận án: chuyện đánh giá các nhóm nghiên cứu ở Pháp ra sao, các tiêu chuẩn đánh giá (đang quá bị hình thức hóa, như kiểu đếm bài ăn tiền) thế nào. Tất nhiên là có các trao đổi về bản thân các vấn đề nghiên cứu nữa: lý thuyết Galois vi phân cho cấu trúc Poisson, công dụng của differential Galois groupoids (xây dựng của Malgrange) đến đâu, tính toán sự tồn tại các bất biến tensor bằng đối đồng điều (tương tự như kiểu đối đồng điều Spencer nhưng cho các hệ động lực), tính khả tích của các hệ như kiểu hệ Halphen, v.v.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số suy nghĩ về Trung tâm Xuất sắc      Trung tâm Xuất sắc (Centre of Excellence) là một mô hình tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ đã được một số nước Anh, Úc, châu Âu, Hàn Quốc, Brazil… sử dụng trong thời gian gần đây. Được biết, ngay từ năm 2005, Việt Nam đã có ý định tiếp cận mô hình này, và có thể sẽ triển khai trong chiến lược KH&amp;CN 2010 – 2020. Tuy nhiên, thế nào là Trung tâm Xuất sắc, và làm sao để có Trung tâm Xuất sắc, lại là vấn đề chưa được thảo luận rõ ràng.     Vì thế, bài viết này sẽ trình bày một số ý  kiến cá nhân của tác giả về Trung tâm Xuất sắc, và chỉ giới hạn trong  lĩnh vực khoa học – công nghệ.    Trung tâm Xuất sắc là gì?  Như được phản ánh trong tên gọi của nó, Trung tâm Xuất sắc được hiểu là một cơ sở thực sự xuất sắc, đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực mà nó hoạt động. Vai trò của nó không chỉ là tạo ra các sản phẩm xuất sắc, mà còn tạo ra những chuẩn mực xuất sắc cho các cơ sở khác noi theo. Điều này có nghĩa, sự xuất sắc phải được đánh giá trong lĩnh vực nó hoạt động, chứ không phải trong phạm vi địa lý mà nó thuộc về. Nói ngắn gọn, Trung tâm Xuất sắc phải đứng ở tuyến đầu trong lĩnh vực mà nó hoạt động, xét ở tầm mức quốc tế.   Trung tâm Xuất sắc có thể xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh khoa học – công nghệ, do bản chất không biên giới của tri thức, nên Trung tâm Xuất sắc là nơi sản xuất ra các công trình khoa học, công nghệ ở tầm dẫn dắt thế giới (world-leading class). Điều này có nghĩa, chất lượng các công trình nghiên cứu của nó phải được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận.           Trong lĩnh khoa học – công nghệ, do bản chất không biên giới của tri thức, nên Trung tâm Xuất sắc là nơi sản xuất ra các công trình khoa học, công nghệ ở tầm dẫn dắt thế giới (world-leading class). Điều này có nghĩa, chất lượng các công trình nghiên cứu của nó phải được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận.          Đây là một điểm rất tế nhị đối với các nước có nền khoa học còn kém phát triển. Với các nước đó, đạt đẳng cấp dẫn dắt ở tầm mức thế giới là điều rất khó, nên họ sẽ có xu hướng “hạ chuẩn”, thay vì dẫn dắt ở mức quốc tế, họ đổi thành dẫn dắt ở mức quốc gia. Sự đánh tráo khái niệm này sẽ vấp phải sự mâu thuẫn lớn với bản chất không biên giới của tri thức, rằng tri thức có tính phổ quát và phi biên giới, nên một tri thức được coi là xuất sắc thì phải được quốc tế thừa nhận. Chẳng hạn, nếu Việt Nam xây dựng một Trung tâm Xuất sắc về Toán, Vật lý, Công nghệ sinh học hay Công nghệ thông tin… thì sản phẩm của nó phải được công bố và thừa nhận bởi cộng đồng các nhà khoa học quốc tế, chứ không phải bởi cơ quan chức năng của các cơ sở nghiên cứu ở trong nước.   Tương tự như trong lĩnh vực khoa học công nghệ, trong lĩnh vực đào tạo cũng có Trung tâm Xuất sắc. Đó là nơi đào tạo tốt nhất, có đội ngũ giáo sư giỏi nhất, sinh viên giỏi nhất, thành tích học thuật nổi bật nhất. Còn trong lĩnh vực dịch vụ, Trung tâm Xuất sắc là nơi cung cấp dịch vụ nhanh nhất, đầy đủ nhất, hình thức mới nhất, sử dụng nền tảng công nghệ mạnh nhất.  Tóm lại, Trung tâm Xuất sắc, dù ở trong bất cứ lĩnh vực nào, thì cũng đều phải đứng ở tuyến đầu của tri thức và đóng vai trò dẫn dắt, định chuẩn trong lĩnh vực mà nó hoạt động. Nếu trung tâm nào đó không làm được điều này thì không có lý do gì để được gọi là Trung tâm Xuất sắc.   Đặc điểm của Trung tâm Xuất sắc?  Ở cấp độ cá nhân: Trung tâm Xuất sắc là nơi hội tụ các cá nhân xuất sắc, là nơi nhân tài tụ về làm việc và cống hiến. Do đó, một trong những đặc điểm tiên quyết của Trung tâm Xuất sắc là con người xuất sắc, đặc biệt quan trọng là lãnh đạo xuất sắc.   Ở cấp độ trung tâm: Do phải cạnh tranh với các trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới, Trung tâm Xuất sắc thường tập trung vào một lĩnh vực mũi nhọn, với trang thiết bị hiện đại và hệ thống hỗ trợ mạnh.  Ở cấp độ hệ thống: Các Trung tâm Xuất sắc thường liên kết tạo thành chuỗi các trung tâm để hỗ trợ nhau, nhưng vẫn nhắm đến việc giải quyết những bài toán lớn trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, ví dụ: Công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, Công nghệ thông tin…, thông qua cơ chế chia sẻ tài nguyên, chia sẻ trang thiết bị đắt tiền, và đặc biệt là kết nối với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế.           Đặc điểm chung của Trung tâm Xuất sắc phải là nơi hội tụ tài năng trong nước và quốc tế, là nơi được ưu đãi về cơ chế và cơ sở vật chất, là nơi mà tinh thần tự do học thuật được xiển dương, mạo hiểm khám phá được ủng hộ.         Muốn làm được những điều như vậy, Trung tâm Xuất sắc phải có cơ chế làm việc ưu tiên, đặc biệt hơn so với các trung tâm thông thường.  Như vậy có thể thấy, đặc điểm chung của Trung tâm Xuất sắc là mọi yêu cầu và chuẩn mực của nó phải đạt mức xuất sắc. Chi tiết hơn, đó phải là nơi hội tụ tài năng trong nước và quốc tế, là nơi được ưu đãi về cơ chế và cơ sở vật chất, là nơi mà tinh thần tự do học thuật được xiển dương, mạo hiểm khám phá được ủng hộ.     Làm thế nào để có Trung tâm Xuất sắc?  Điều kiện tiên quyết là trước hết phải tập hợp được những con người xuất sắc, hội tụ được tài năng trong nước và quốc tế. Tài năng này không chỉ tài năng chuyên môn, mà còn mở rộng ra sang các lĩnh vực khác như tài năng lãnh đạo và quản lý, tài năng trong hệ thống kết nối và hỗ trợ. Tiếp đến là phải xác lập được các chuẩn mực xuất sắc cho các trung tâm này để định hướng và đánh giá hoạt động cho toàn trung tâm, đồng thời làm cơ sở cho các trung tâm đồng nghiệp noi theo; có cơ chế ưu đãi đặc biệt; có cơ sở vật chất tốt, và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ; có hệ thống hỗ trợ mạnh và phải kết nối tích cực và hiệu quả với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế, tạo sự giao lưu trao đổi về nhân lực, và đặc biệt là chuẩn mực trong các hoạt động của mình.   Tóm lại, để có Trung tâm Xuất sắc thì mọi yếu tố liên quan như con người, chuẩn mực, cơ chế vận hành, cơ sở vật chất, hệ thống hỗ trợ, giao lưu quốc tế… đều phải đạt mức xuất sắc.   Trường hợp Việt Nam  So với các nước phát triển, việc thành lập Trung tâm Xuất sắc ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn gấp bội. Có thể liệt kê một số khó khăn đó như sau:  Nhân lực xuất sắc là khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đương đầu. Giả sử Việt Nam sẽ thành lập 60 cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới trong “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2010-2020” tương ứng 60 Trung tâm Xuất sắc, thì với giả thiết mỗi trung tâm cần ít nhất hai nhà khoa học xuất sắc ở trình độ thế giới, thì sẽ cần tối thiểu là 120 người như vậy. Đây là con số rất lớn. Nếu không có cơ chế đặc biệt để thu hút các nhà khoa học nước ngoài thì khó có thể thực hiện được.  Nền tảng khoa học công nghệ chung của Việt Nam còn thấp, truyền thống khoa học mỏng.   Cơ chế vận hành chung của toàn hệ thống quan liêu, nặng nề. Điều này đã trở thành nút cổ chai cho mọi động của xã hội, không chỉ của lĩnh vực khoa học và công nghệ.          Vấn đề lớn nhất của khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục… Việt Nam hiện giờ là sự trung thực và hội nhập theo tiêu chuẩn quốc tế, tức là trở lại sự bình thường từ trạng thái bất thường. Điều này cũng có nghĩa, trước khi xuất sắc, thì ít nhất cần phải đạt mức chuẩn mực bình thường như của thế giới. Trong quan niệm đó, trước hết cần tập trung nguồn lực vào việc cải tạo hệ thống các Trường, Viện hiện có theo chuẩn mực của thế giới.        Hệ thống hỗ trợ nặng tính hành chính, kém hiệu quả. Đó cũng là một thực tế cần phải xem xét.  Chưa có ngành mũi nhọn ghi được dấu ấn trên thế giới. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc xác định lĩnh vực ưu tiên của các trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ.  Ngân quỹ dành cho khoa học thấp. Chẳng hạn, Hàn Quốc với số dân khoảng 50 triệu người thì dành kinh phí cho khoa học lên đến khoảng 50 tỷ USD/năm, trong khi Việt Nam, với số dân 90 triệu người thì kinh phí dành cho khoa học khoảng 2% ngân sách, ứng với mức khoảng 800 triệu USD/năm. Với mức đầu tư hạn chế như vậy, việc xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ là rất khó khăn.  Các hoạt động khoa học chịu sự chi phối nặng nề của chính trị, nặng tính phong trào, dẫn đến chuẩn mực học thuật thấp.  Khả năng kết nối với thế giới của các nhà khoa học Việt Nam yếu, do chênh lệch về trình độ, về ngoại ngữ, về động cơ làm việc v.v.   Tinh thần khoa học đại chúng chưa hình thành rõ ràng, cộng hưởng với nền công nghiệp nhỏ, nên nguồn cung nhân lực khoa học kỹ thuật trình độ cao bị hạn chế.   Ngoài những khó khăn đã nêu trên, thì có một khó khăn không dễ giải quyết. Đó là đặt các Trung tâm Xuất sắc này ở đâu? Trong hệ thống Trường, Viện đã có, hay xây mới hoàn toàn? Nếu đặt trong các Trường, Viện đã có thì sẽ có mâu thuẫn với cơ sở cũ về đủ mọi mặt: cơ chế vận hành, chế độ ưu đãi… nên sẽ rất khó phát huy tác dụng. Còn nếu đặt bên ngoài hệ thống Trường, Viện đã có thì điều này giống như việc xây dựng một hệ thống mới song hành với hệ thống cũ, nên tất yếu xảy ra va chạm giữa hai hệ thống.   Như vậy, rõ ràng rằng, để trả lời câu hỏi “Đặt ở đâu?” tưởng chừng rất đơn giản này, Việt Nam cần phải rà lại toàn bộ hệ thống tổ chức các hoạt động khoa học của mình.   Thay lời kết  Vấn đề lớn nhất của khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục… Việt Nam hiện giờ là sự trung thực và hội nhập theo tiêu chuẩn quốc tế, tức là trở lại sự bình thường từ trạng thái bất thường. Điều này cũng có nghĩa, trước khi xuất sắc, thì ít nhất cần phải đạt mức chuẩn mực bình thường như của thế giới. Trong quan niệm đó, trước hết cần tập trung nguồn lực vào việc cải tạo hệ thống các Trường, Viện hiện có theo chuẩn mực của thế giới; đồng thời nếu quyết tâm xây dựng các Trung tâm Xuất sắc thì chỉ trong giai đoạn 2010-2020 nên xây dựng bốn trung tâm tại một số trung tâm học thuật lớn, như Hà Nội, TP. HCM, Huế, Cần Thơ. Và để đảm bảo các Trung tâm này thực sự là Trung tâm Xuất sắc, bên cạnh việc xác định lĩnh vực nghiên cứu đúng thế mạnh của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu về tất cả các mặt, như con người, cơ sở vật chất, cơ chế làm việc, khả năng kết nối… ở mức xuất sắc, thì cũng nên đặt các trung tâm này ra ngoài hệ thống Trường, Viện hiện hành để nó có thể tự chủ và hoạt động hiệu quả.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số tồn tại của nền khoa học Việt Nam      Vừa qua Lãnh đạo Bộ KH&amp;CN đã có cuộc đối thoại với một số nhà khoa học của Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam. Dưới đây là ý kiến của GS. Ngô Việt Trung – Viện trưởng Viện Toán tại cuộc đối thoại đó.     1. Tổ chức hoạt động quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ  Khác với Việt Nam, ở các nước phát triển trên thế giới, Nhà nước chỉ đóng vai trò điều phối hoạt động KHCN thông qua việc đặt nhiệm vụ ở tầm vĩ mô, còn các nhà khoa học mới đóng vai trò chủ đạo trong việc xác định nhiệm vụ cụ thể và phân bổ kinh phí như thế nào.  Vì vậy muốn KHCN của Việt Nam có những chuyển biến tích cực hơn, thì ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần giao hẳn quyền phân bổ kinh phí khoa học cho Bộ KH&CN để tránh tình trạng đầu tư dàn trải cho các ngành, các cấp và các địa phương. Nhà nước chỉ đặt nhiệm vụ khoa học đối với Bộ KH&CN và Bộ KH&CN sẽ chịu trách nhiệm hoạch định các nhiệm vụ khoa học và phân bổ kinh phí sao cho hiệu quả nhất. Nếu Bộ KH&CN chỉ quản lý 10% trong tổng số kinh phí dành cho KHCN thì Bộ KH&CN không thể có vai trò thực sự trong sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ. Bộ máy hành chính của các tổ chức khoa học chỉ đóng vai trò giúp các Hội đồng khoa học quản lý các nhiệm vụ KHCN.  Luật KHCN sửa đổi đã bổ sung một số điều về các Quỹ khoa học nhưng chưa có những quy định tập trung quyền phê duyệt nhiệm vụ khoa học công nghệ cho các Quỹ khoa học. Công tác quản lý KHCN vẫn phân về các ngành, các cấp và các địa phương. Thậm chí, Luật KHCN sửa đổi còn đề xuất việc thành lập Quỹ phát triển KHCN tại các Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  Như vậy bên cạnh việc tạo thêm một bộ máy hành chính mới không cần thiết, các Quỹ địa phương này sẽ lại tiếp tục việc đầu tư dàn trải là nguồn gốc của “tình trạng trùng lặp nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa các ngành, các cấp, và các địa phương” và việc “nguồn vốn về các địa phương nhiều khi được sử dụng không đúng mục đích.” Điều này không khác gì việc may một cái áo mới cho một cơ thể cũ.   Bộ KH&CN cần kiến nghị Nhà nước sắp xếp và tổ chức lại các viện khoa học và công nghệ tràn lan ở khắp các Bộ, các ngành, các cấp, và các địa phương. Đây chính là hệ quả tất yếu của việc phân bổ đầu tư một cách dàn trải. Không nên để các Bộ, các ngành, các cấp, và các địa phương có các viện nghiên cứu riêng (kể cả Bộ KH&CN) vì nghiên cứu khoa học phải độc lập với cơ quan quản lý hành chính. Nên giải thể, sáp nhập, chuyển các cơ sở này thành viện độc lập hay đưa vào các viện hàn lâm. Kinh phí của chúng ta đã ít, nhân lực KHCN không nhiều mà chúng ta lại chia kinh phí KHKT ra khắp nơi thì làm thế nào có thể tạo ra những đột phá KHCN có hiệu quả.  Một khâu yếu kém nữa trong hoạt động KHCN là việc đánh giá trình độ các nhà khoa học và nghiệm thu các đề tài khoa học. Việc thiếu nghiêm túc trong khâu này đã dẫn đến trình trạng “thật giả” lẫn lộn, đem lại lợi ích và chức quyền cho những kẻ cơ hội, làm nản lòng những người làm khoa học nghiêm túc, đặc biệt đối với những nhà khoa học trẻ. Thực trạng hiện nay là trong khi ai cũng có bằng cấp và chức danh như nhau, nhưng khi cần tìm người giỏi thì không biết chọn ai. Bộ KHCN cần kiến nghị Bộ Nội vụ thay đổi cách thức thi tuyển và xếp ngạch cán bộ khoa học, loại bỏ những tiêu chuẩn về bằng cấp chính trị và quản lý. Việc đánh giá cán bộ và  nghiệm thu đề tài nhất thiết phải có những tiêu chuẩn cứng như đối với khoa học cơ bản là công bố quốc tế, còn đối với đề tài công nghệ là bằng phát minh sáng chế hay có địa chỉ ứng dụng thực sự. Không làm tốt khâu này thì nền khoa học của VN không bao giờ có thể phát triển lành mạnh được.   2. Đội ngũ các nhà làm khoa học  Thách thức lớn nhất đối với khoa học Việt Nam hiện nay là đội ngũ các nhà làm khoa học có trình độ đang ngày càng ít dần không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội. Nhưng Luật KHCN sửa đổi chưa có những điều khoản cụ thể giúp cho việc xây dựng đội ngũ phát triển toàn diện và ổn định.   Thực trạng hiện nay là giới trẻ không muốn theo đuổi sự nghiệp khoa học vì không nhìn thấy tương lai phát triển và ổn định cuộc sống. Để thu hút tinh hoa giới trẻ chọn con đường khoa học Nhà nước, phải có những chính sách đãi ngộ đảm bảo cho các cán bộ khoa học có nguồn thu nhập và sinh hoạt ổn định. Cần phải quy định mức lương khởi điểm của nghiên cứu viên bằng 5 lần mức lương tối thiểu và Nhà nước phải xây nhà hay hỗ trợ kinh phí cho cán bộ khoa học mua hay thuê nhà. Không tạo ra được một tương lai ổn định cho các nhà khoa học trẻ thì chúng ta sẽ tìm nguồn nhân lực cao ở đâu. Tương lai ổn định này không thể thực hiện qua việc thực hiện các đề tài khoa học, trái với thông lệ quốc tế (không trả lương qua đề tài) và là nguồn gốc của nhiều tiêu cực. Nếu không có những chính sách đãi ngộ đột phá thì chắc chắn chúng ta sẽ không có đủ nguồn nhân lực làm khoa học và kỹ thuật trong tương lai.  Đối với nhân lực có trình độ cao Bộ KH&CN cần có những chương trình cụ thể với những đãi ngộ và quyền đặc biệt để thu hút được các nhà khoa học giỏi từ nước ngoài trở về. Các ưu đãi này phải liên tục và ổn định để người về nước có thể an tâm làm công tác nghiên cứu khoa học. Để tạo nguồn nhân lực lâu dài, Bộ KH&CN cần có chương trình đào tạo cán bộ trẻ ở nước ngoài bằng kinh phí nhà nước cho các viện nghiên cứu. Bộ GD&ĐT có chương trình 911 rất quy mô nhằm nâng cao trình độ các giảng viên đại học. Một số Viện nghiên cứu tham gia đào tạo cho chương trình này, nhưng không cử được những cán bộ trẻ có năng lực của mình đi học. Hậu quả là các viện nghiên cứu không thu hút được những sinh viên giỏi về công tác tại viện. Về lâu dài, các Viện khoa học sẽ mất dần vai trò đầu đàn của mình. Bộ KH&CN không nên giới hạn chương trình đào tạo vào các lĩnh vực công nghệ ưu tiên, bởi nếu không phát triển khoa học đồng bộ thì các công nghệ ưu tiên làm thế nào phát triển được. Vấn đề ở đây là phân bổ chỉ tiêu đào tạo một cách hợp lý chứ không chỉ giới hạn vào các hướng công nghệ ưu tiên.    3. Xây dựng các viện và trung tâm nghiên cứu tiên tiến   Đây là một chủ trương đúng của Bộ KH&CN, mang tính đột phá nhằm phát huy năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao. Nhưng cần phải có những tiêu chí cụ thể về nhiệm vụ, chức năng và trình độ cán bộ khoa học khi xây dựng các viện này. Tuyệt đối không nên thành lập các viện nghiên cứu mới có chức năng và nhiệm vụ trùng lặp với các viện nghiên cứu đang tồn tại. Ví dụ như khi thành lập Viện nghiên cứu cao cấp về toán, giới toán học đã xác định là Viện có chức năng bồi dưỡng và nâng cao trình độ của toàn bộ giới toán học Việt Nam. Vì vậy Viện không có cán bộ nghiên cứu cơ hữu như Viện Toán học mà chỉ có các nhà toán học trong cả nước tham gia các chương trình nghiên cứu toán học trong các lĩnh vực toán học khác nhau rồi sau đó trở về cơ quan cũ công tác. Có thể hiểu nôm na, Viện nghiên cứu cao cấp về toán như là một trường viết văn.  Đúng ra nên đặt Viện nghiên cứu cao cấp về toán trong Viện Hàn lâm KHCNVN như một cơ quan độc lập với Viện Toán học. Khi đó sinh hoạt khoa học của hai viện sẽ hỗ trợ cho nhau và có hiệu quả hơn. Vì vậy Chính phủ nên tập trung các viện và trung tâm nghiên cứu tiên tiến vào 2 Viện Hàn lâm với một cơ chế tự chủ cao nhưng chịu sự giám sát của hai cơ quan này. Có như vậy mới có thể tận dụng nguồn lực sẵn có ở các Viện Hàn lâm và tạo động lực phát triển cho hai cơ quan nghiên cứu đầu đàn này. Về mặt lâu dài phải phấn đấu xây dựng 2 Viện Hàn lâm thành nơi tập trung các cơ sở nghiên cứu xuất sắc nhất của cả nước xứng đáng với tên gọi Viện Hàn lâm khoa học. Chúng ta có thể học hỏi bài học của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã tinh giản bộ máy như thế nào trong những năm 90 để có thể trở thành đầu tàu nghiên cứu khoa học của cả nước Trung Quốc với những thành tựu vang dội trong công nghệ vũ trụ, công nghệ máy tính, công nghệ sinh học, v.v…   4. Về ý tưởng xây dựng một viện tương tự như Viện KIST  Khi Viện KIST được thành lập, Hàn Quốc không có cơ sở nghiên cứu khoa học chuyên trách nào đủ sức giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ do sự phát triển kinh tế và xã hội Hàn Quốc đặt ra. Vì vậy Hàn Quốc đã tập trung tối đa nguồn nhân lực khoa học cao vào KIST nhằm tạo ra một môi trường nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến nhất, phục vụ phát triển kinh tế và thu hút các nhà khoa học Hàn Quốc ở nước ngoài về nước làm việc. Điều này cũng giống như ý tưởng thành lập Viện Hàn lâm khoa học ban đầu ở Việt Nam ngay khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ. Rất tiếc là chúng ta đã không thực hiện ý tưởng đúng đắn này. Đó là bài học cần học, chứ không phải việc thành lập VKIST sẽ làm khoa học Việt Nam phát triển.   Chúng ta không đủ nguồn lực để cùng lúc xây dựng hai cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ đầu đàn. Trước mắt chúng ta chỉ có thể tập trung xây dựng dần dần một số viện nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến dựa trên những nguồn lực sẵn có và cho những viện này những cơ chế và chính sách đặc thù để những viện này có thể đuổi kịp trình độ quốc tế, tạo đà cho cả nền khoa học Việt Nam cùng phát triển.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số vấn đề kinh tế trong đại học và khoa học      Trong bài viết này, tôi muốn phân tích một vấn đề kinh tế tài chính liên quan đến&#160; khoa học và giáo dục đại học, từ đó rút ra một số cải cách và chính sách nên thực hiện để giúp cho nền khoa học công nghệ và hệ thống đại học Việt Nam phát triển tốt hơn.      Muốn có nền kinh tế mạnh, cần có nền khoa học công nghệ mạnh  Nền kinh tế của thế giới ngày nay phát triển theo 3 xu hướng: toàn cầu hóa, môi trường hóa (bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành đề tài trọng tâm của thế kỷ 21), và hiểu biết hóa. Trong nền kinh tế này, vai trò của tri thức và khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Những nước có sức cạnh tranh lớn nhất cũng chính là những nước mạnh nhất về khoa học và công nghệ.   Nước Mỹ có nền khoa học mạnh nhất thế giới trong suốt thế kỷ qua, một phần lớn chính là vì họ trả lương cao và tạo điều kiện làm việc tốt để thu hút các nhà khoa học giỏi từ tất cả các nơi khác trên thế giới đến Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ không dại gì trả lương cao cho các nhà khoa học, nếu như  điều này không làm lợi cho họ. Họ càng đầu tư nhiều cho khoa học, càng tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học, thì càng có lợi về kinh tế. Các nước khác, từ châu Âu, châu Á cho đến Nam Mỹ, cũng đã nhận thấy động lực này, và ngày nay đang cạnh tranh lại với Mỹ về lương và điều kiện làm việc cho khoa học để thu hút chất xám.   Để đuổi kịp thế giới, Việt Nam cũng phải tuân theo những qui luật trên. Tức là phải chú trọng phát triển khoa học công nghệ để lấy nó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn phát triển khoa học, phải đầu tư, tạo điều kiện làm việc tốt và trả lương xứng đáng cho khoa học. Muốn đạt tầm quốc tế về khoa học, thì phải đầu tư thích đáng, tạo một môi trường sống và làm việc tầm quốc tế cho khoa học.  Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng nhất định trong việc phát triển khoa học. Ví dụ như chương trình “322” cấp học bổng cho sinh viên đi học ở nước ngoài, việc thành lập “Quĩ nghiên cứu khoa học cơ bản”, và quyết định của Thủ tướng về việc thành lập trường Đại học quốc tế “Hanoi University of Sience and Technology”. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc lớn. Một trong những vướng mắc đó là vấn đề lương cho khoa học.  Lương cho khoa học đang quá thấp              Hiện tại lương cho giới khoa học Việt Nam đang quá thấp. Hệ quả là khoa học kém phát triển, lãng phí tiềm năng, và các viện nghiên cứu cũng như các trường đại học rất khó khăn trong việc tuyển người có đủ trình độ vào làm việc.         Hiện tại lương cho giới khoa học Việt Nam đang quá thấp. Hệ quả là khoa học kém phát triển, lãng phí tiềm năng, và các viện nghiên cứu cũng như các trường đại học rất khó khăn trong việc tuyển người có đủ trình độ vào làm việc.  Lương của các giáo sư hàng đầu có trình độ quốc tế ở Việt Nam, kể cả phụ cấp, hiện tại chỉ được khoảng 500-700 USD một tháng, không bằng học phí hằng tháng của một đứa trẻ học trường quốc tế ở Việt Nam. Với trình độ tương đương, ở phần lớn các nước khác (kể cả các nước còn nghèo như Brazil, Malaysia, Pakistan, v.v.) sẽ được 5-10 nghìn USD một tháng hoặc cao hơn, gấp hơn 10 lần so với ở Việt Nam. Ở Senegal, một nước ở châu Phi còn kém Việt Nam về nhiều mặt kể cả kinh tế lẫn khoa học, các giáo sư (chưa đạt trình độ quốc tế) cũng được hơn 2000 USD một tháng, gấp 4-5 lần ở Việt Nam. Những sinh viên giỏi của Việt Nam có thể được nhận làm nghiên cứu sinh ở phương Tây, với mức học bổng gần 2000 USD một tháng, gấp 3 lần lương của giáo sư hàng đầu Việt Nam, là một hiện thực tuy nghe rất vô lý.   Để thấy rõ chúng ta đang bị tụt hậu ra sao, có thể so sánh với Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc rất gần nhau, kể cả về địa lý, văn hóa, và tổ chức xã hội. Nhưng trong những thập kỷ qua, họ luôn luôn phát triển nhanh hơn Việt Nam. Các trường đại học lớn ở Trung Quốc hiện tại có thể trả 10-20 nghìn USD một tháng cho một số nhà khoa học lớn của họ, gấp mấy chục lần Việt Nam. Ngày nay, phần lớn các nhà khoa học Trung Quốc có một cuộc sống vật chất đàng hoàng, không phải lo nghĩ về kinh tế, có thể tập trung sức lực cho khoa học.  Nếu so sánh với các ngành khác ở Việt Nam, lương của giới khoa học cũng rất thấp. Hiện tại, những người có trình độ cao ở Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau có thể đạt thu nhập vài nghìn USD một tháng không quá khó khăn (một điều đáng mừng), trong khi các giáo sư đầu ngành, là những người được coi là có trình độ cao vào loại bậc nhất đất nước, lại có thu nhập dưới 1 nghìn USD (một điều đáng buồn). Lương của giảng viên đại học trẻ mới ra trường, kể cả phụ cấp, chỉ khoảng 2 triệu VND một tháng, trong khi nếu đi làm bên ngoài có thể được lương khởi điểm gấp 2-3 lần như vậy.   Vì sao như vậy? Một lý do mấu chốt có lẽ là, tuy nền kinh tế Việt Nam đã chuyển hướng sang cơ chế thị trường từ nhiều năm nay, lương của hệ thống khoa học vẫn đang chịu “sự kìm kẹp” của chế độ quan liêu bao cấp lạc hậu còn tồn đọng lại từ trước. Một số nước Đông Âu cũ, trong những năm cuối thế kỷ trước, khi mới chuyển sang kinh tế thị trường, có mức lương trả cho khoa học khá thấp (tương tự Việt Nam hiện tại), và  đó cũng chính là giai đoạn mà rất nhiều các nhà khoa học Đông Âu bỏ đi nước ngoài làm việc, nhưng trong thập kỷ vừa qua họ đã tiến bộ rất nhiều. Việt Nam cũng cần thay đổi như họ trong việc đối xử với khoa học.  Cần thực sự coi trọng khoa học  Cách đây không lâu, để phản đối kiến nghị tăng lương cho giáo sư ở Việt Nam, một quan chức Chính phủ có nói “lương của các lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam chỉ quãng hơn 10 triệu VND một tháng, sao các giáo sư lại đòi cao hơn?” Nói như vậy là chưa thực sự coi trọng khoa học. Các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam được hưởng những quyền lợi đặc biệt tính ra giá trị kinh tế gấp nhiều lần tiền lương chính thức, nên thu nhập thực của họ rất cao. Hơn nữa, một điều đã được khẳng định trên thế giới là, giá trị và ảnh hưởng lâu dài của các nhà khoa học lớn không thua kém gì các nhà chính trị lớn, hay các “đại gia” trong bất cứ một lĩnh vực nào khác. Người được hậu thế bầu là “con người vĩ đại nhất của thế kỷ 20” chính là nhà vật lý Einstein, đứng trên Ghandi và Roosevelt.              Nếu chúng ta muốn có một nhà khoa học tầm cỡ giải thưởng Nobel trong tương lai, tức là muốn người đó phải có các công trình khoa học có ảnh hưởng rất lớn đối với thế giới (có thể đến hàng tỷ con người), nhưng đồng thời lại chỉ muốn “đãi ngộ” người đó theo kiểu hiện tại, không chấp nhận rằng người đó có thể có giá trị cao hơn một quan chức cao cấp Chính phủ, thì là một chuyện không tưởng.         Bởi vậy, việc qui định chặn trên mức lương của các nhà khoa học phải thấp hơn các nhà chính trị là bất hợp lý. Trên thực tế, ở nhiều nước lớn trên thế giới như Anh, Mỹ, không có chặn trên về mức lương cho giáo sư, và các giáo sư lớn nhất có thể có lương cao hơn Thủ tướng hay Tổng thống. Nước Hàn Quốc, vào thời điểm 1950 chỉ ngang bằng với Việt Nam thời đó về kinh tế và khoa học, nhưng ngày nay đã đứng vào hàng các nước phát triển, bỏ xa Việt Nam. Một trong những yếu tố giúp họ phát triển nhanh là đầu tư thích đáng cho khoa học công nghệ, trả lương cho một số giáo sư cao hơn lương Tổng thống từ cách đây hàng chục năm, và chính Tổng thống Hàn Quốc thời đó là một trong những người ủng hộ nhiệt tình nhất chuyện này. Việt Nam, nếu muốn phát triển khoa học, thì cần học tập Hàn Quốc.   Đánh giá công suất lao động trong khoa học  Khi lương của người làm khoa học ở Việt Nam quá thấp so với thế giới và so với các lĩnh vực kinh tế khác, thì có nghĩa là có ít nhất một trong hai điều sau xảy ra, hoặc là cả hai: công suất lao động của họ quá thấp (nếu như vậy có nghĩa là tiềm năng đang rất bị lãng phí, cần tìm các biện pháp nâng cao công suất lao động), và lương của họ quá thấp so với công suất lao động của họ (nếu như vậy cần tăng lương cho xứng đáng). Một vấn đề quan trọng là đánh giá công suất lao động của người làm khoa học ở Việt Nam, dựa vào đó đánh giá mức thu nhập hợp lý. Bởi vì, trong một xã hội công bằng, “hưởng theo lao động”, lương phải tỷ lệ thuận với công suất lao động.   Để hình dung một cách đơn giản, ta có thể dùng công thức tính xấp xỉ sau: công suất lao động thô bằng khoảng 3 lần thu nhập thực. Ví dụ, một người có công suất lao động 150 nghìn USD một năm, thì thu nhập thực khoảng 50 nghìn USD một năm là “vừa phải”. Phần còn lại là để chi cho tất cả các khoản như: quĩ lương hưu, bảo hiểm xã hội, phúc lợi công cộng, chi phí quản lý, hao mòn, lợi nhuận doanh nghiệp, v.v. Theo công thức này, công suất lao động trung bình của giới khoa học trên thế giới hiện nay vào khoảng 200-300 nghìn USD một năm. Còn những nhà khoa học hàng đầu thế giới (tầm cỡ giải thưởng Nobel) thì công suất lao động có thể tính theo đơn vị triệu USD, hoặc thậm chí đơn vị tỷ USD đối với một số người, khi mà các công trình của họ ảnh hưởng đến hàng tỷ con người.         Giá trị kinh tế của công việc đào tạo              Học phí phải tỷ lệ thuận với chênh lệch thu nhập giữa người có đi học và người không đi học, vì nếu học phí quá cao thì việc đi học không còn hấp dẫn về kinh tế, ngược lại nếu quá thấp, thì tức là thu học phí quá ít, không đúng mức so với giá trị của việc đào tạo. Trên thế giới, học phí cho giáo dục (không kể chi phí sinh hoạt) trung bình cho một sinh viên là vào khoảng 20-30 nghìn USD một năm. Ở Việt Nam, đối với những người có học đại học, ước tính trung bình có lương khoảng 5 nghìn USD một năm, bằng hơn 1/10 so với người có trình độ đại học trên thế giới. Khi đó ta có thể coi rằng, giá trị đào tạo của trường đại học ở Việt Nam, tính trên một đầu sinh viên, cũng bằng 1/10 so với ở nước ngoài, tức là bằng khoảng 2-3 nghìn USD một đầu sinh viên một năm. Lượng sinh viên ở Việt Nam, tính trên đầu mỗi giảng viên đại học, đông gấp hơn 2 lần so với ở nước ngoài.  Như vậy, công suất lao động trong đào tạo, tính trên đầu giảng viên ở Việt Nam, lớn hơn 2/10 = 1/5 so với thế giới. Nếu tính trung bình công suất lao động trong giảng dạy của một giảng viên đại học trên thế giới là 125 nghìn USD một năm, ta được con số ước lượng sau: Công suất lao động trung bình trong giảng dạy của một giảng viên ở Việt Nam là hơn 25 nghìn USD một năm.         Ở Việt Nam, các nhà khoa học bị mất quá nhiều thời gian cho giảng dạy hoặc làm những công việc kiếm sống khác (do lương chính thức quá thấp), nên thời gian dành cho nghiên cứu khoa học quá ít. Hệ quả là, số kết quả nghiên cứu “vượt được ngưỡng” để đạt tầm quốc tế tính trên đầu người còn rất ít. Theo một thống kê của GS Nguyễn Văn Tuấn, năm 2008 cả nước Việt Nam ,với khoảng 15 nghìn tiến sĩ, chỉ có 910 bài báo khoa học công bố quốc tế, tức là 16 tiến sĩ mới có được 1 bài báo công bố quốc tế trong một năm, không bằng 1/10 thế giới, chưa kể chất lượng.   Việc xác định chính xác giá trị của một công trình khoa học là việc vô cùng khó. Tuy nhiên có thể ước lượng giá trị kỳ vòng bằng một số phương pháp thống kê, nhằm đo độ ảnh hưởng của công trình đó. Ví dụ trong ngành toán, theo một cách tính ước lượng nội suy, giá trị kỳ vọng của một công trình lý thuyết tỷ lệ thuận với hệ số ảnh hưởng của nó theo hệ số 5 nghìn USD, trong đó hệ số ảnh hưởng là kỳ vọng về tổng số lần mà công trình sẽ được giới khoa học quốc tế trích dẫn. Chẳng hạn, một bài báo trong một tạp chí toán học hàng đầu thế giới “Inventiones” có hệ số ảnh hưởng trung bình khoảng 60, thì giá trị trung bình của nó khoảng 300 nghìn USD. Trong khi đó, chỉ số ảnh hưởng trung bình của một bài báo đăng trong tạp chí “Vietnam Journal of Mathematics” là dưới 1, tức là giá trị trung bình của nó dưới 5 nghìn USD.   Các công trình của Việt Nam công bố quốc tế có ảnh hưởng trung bình tương đối khiêm tốn. (Phần lớn là đăng trên các tạp chí trung bình, chứ không phải các tạp chí uy tín nhất). Tạm coi là một công trình công bố quốc tế của Việt Nam có giá trị trung bình gấp 4 lần một bài báo đăng tạp chí “Vietnam Journal of Mathematics”, ta được con số ước lượng về giá trị là 20 nghìn USD. Chia cho khoảng 16 người, ta được con số rất khiêm tốn sau: giá trị trung bình của các công trình công bố quốc tế của giới khoa học Việt Nam là trên 1 nghìn USD một năm (so với trung bình trên 100 nghìn USD một năm của thế giới). Ở đây tôi chưa tính đến các công trình có tính chất ứng dụng, theo đơn đặt hàng, không công bố quốc tế.  Nếu tính cả ứng dụng vào, thì hiệu quả lao động trong nghiên cứu của giới khoa học Việt Nam có lẽ vẫn rất thấp, chỉ khoảng vài nghìn USD một năm. Đối với những người làm việc ở các viện nghiên cứu của Việt Nam, con số này có lẽ lớn hơn, nhưng vẫn rất khiêm tốn so với thế giới.  Điều này chứng tỏ một sự lãng phí tiềm năng ghê gớm: một tiến sĩ ở nước ngoài nghiên cứu ra kết quả giá trị trên 100 nghìn USD một năm, trong khi tiến sĩ ở Việt Nam chỉ ra kết quả nghiên cứu 2-3 nghìn USD một năm?! (Trong một mục sau, tôi sẽ bàn đến một số biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu, để giảm sự lãng phí này).  Ngoài công việc nghiên cứu, giới khoa học còn có công việc rất quan trọng khác là đào tạo. Trên thế giới, có thể coi tỷ lệ trung bình giữa nghiên cứu và đào tạo là 50/50, bằng 1/2 năng suất lao động là từ phần đào tạo, và 1/2 từ phần nghiên cứu. Nếu tính năng suất lao động trung bình của một nhà khoa học ở nước ngoài là 250 nghìn USD một năm, thì phần nghiên cứu trung bình là 125 nghìn USD một năm. Ở Việt Nam đang rất thiếu giảng viên đại học, và các giảng viên phải dạy rất nhiều, có thể đến gấp 2-3 lần số giờ dạy học của các giảng viên ở nước ngoài.   Theo cách tính giá trị kinh tế của đào tạo (xem ở box) cho thấy công suất lao động trung bình trong đào tạo của các giảng viên đại học hiện tại vào cỡ 25 nghìn USD một năm. Nếu cộng với phần nghiên cứu, ta sẽ được ước lượng là công suất lao động trung bình của một giảng viên đại học ở Việt Nam vào cỡ  27 nghìn USD một năm. Điều đó có nghĩa là, lương trung bình cho họ phải vào khoảng 9 nghìn USD một năm, hay 750 USD một tháng, thay vì chỉ khoảng 2-300 USD như hiên nay, mới xứng đáng. Đó là mức trung bình. Các giáo sư Việt Nam có công suất lao động bằng 2-3 lần trung bình trở lên, và như vậy lương cho họ cũng phải 2 nghìn USD một tháng trở lên mới là công bằng.  Kể cả khi một giáo sư trình độ quốc tế ở Việt Nam có công suất lao động là 100 nghìn USD một năm, gấp 3 lần so với mức trung bình 30 nghìn USD ước lượng phía trên (và một giáo sư như vậy phải được trả lương 3 nghìn USD một tháng ở Việt Nam mới là công bằng), thì họ vẫn đang bị lãng phí tiềm năng rất nhiều, bởi vẫn vị giáo sư đấy, nếu làm việc ở nước ngoài, có thể đạt công suất lao động 200-300 nghìn USD một năm, cao gấp mấy lần ở Việt Nam, và được hưởng lương cao gấp hơn chục lần ở Việt Nam. Tất nhiên, giá cả sinh hoạt ở nước ngoài đắt hơn ở Việt Nam (ứng với chất lượng hàng hóa và dịch vụ cũng cao hơn), nhưng kể cả sau khi đã trừ đi chi phí sinh hoạt ở nước ngoài, họ vẫn có thể tiết kiệm được một vài nghìn USD một tháng, gấp mấy lần lương ở Việt Nam.   Không chỉ các giáo sư trình độ quốc tế, mà nhiều người khác trong giới khoa học ở Việt Nam, đặc biệt là các tiến sĩ trẻ nhiều tiềm năng, cũng đang bị lãng phí hiệu quả lao động một cách tương tự.  Điều này dẫn tới những hệ quả như, khoa học phát triển chậm, rất ít người Việt Nam làm khoa học ở nước ngoài muốn về nước làm việc tại thời điểm hiện tại, và một số người có trình độ bỏ đi nước ngoài. Đặc biệt là các nhà khoa học nước ngoài, thì hiếm ai muốn sống và làm việc ở Việt Nam (họ chỉ đến thăm quan, giảng bài mấy hôm rồi về, chứ ít ai ở lâu, trừ khi là họ nhận lương của nước ngoài nhưng làm tại Việt Nam).  Nói tóm lại, có hai vấn đề về công suất lao động:  – Năng suất lao động trung bình trong giới khoa học ở Việt Nam là vào khoảng 27 nghìn USD một năm, và với công suất lao động như vậy, họ phải được thu nhập trung bình khoảng 750 USD một tháng (thay vì chỉ 2-300 USD như hiện tại) mới xứng đáng. Các giáo sư trình độ quốc tế phải được hưởng lương trên 2-3000 USD một tháng mới xứng đáng với công suất lao động hiện tại của họ.  – Giới khoa học Việt Nam đang lãng phí rất nhiều về tiềm năng hiệu quả lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu, và cần có các biện pháp để tăng hiệu quả làm việc, giảm sự lãng phí đó.  Vấn đề học phí  Hiện tại, các trường đại học lớn ở Việt Nam chỉ khoảng 5 triệu VND một năm trên mỗi đầu sinh viên, (tiền thu học phí cộng với tiền Nhà nước rót), thấp hơn hẳn con số ước lượng về giá trị đào tạo của trường phía trên (khoảng 40-50 triệu VND một năm). Tất nhiên, với mức thu như vậy, nhà trường không có tiền để trả lương xứng đáng cho giảng viên và cho các giờ dạy, và đó là một lý do lớn vì sao thu nhập của giảng viên quá thấp (nếu không “xoay sở” thêm, nhưng nếu xoay sở thêm, thì chất lượng của công việc chính thức bị ảnh hưởng). Một giờ dạy đại học ở Việt Nam hiện nay chỉ được trả 50 nghìn VND, chưa đến 3 USD, trong khi theo ước lượng về công suất lao động, phải được trả trung bình khoảng 10 USD mới hợp lý (so với trung bình 50-100 USD ở nước ngoài). Một điều nổi cộm lên là: Chúng ta cần cải cách một cách cơ bản chính sách về học phí, cho thể hiện đúng hơn chi phí đào tạo, giá trị đào tạo của các trường, và công suất lao động của giảng viên.                 Mục tiêu là các trường đại học lớn cần thu được ít ra 30 triệu VND một năm trên mỗi đầu sinh viên. Nhưng hầu hết sinh viên của Việt Nam xuất thân từ gia đình nghèo, không có khả năng trả mức học phí như vậy. Nếu Nhà nước phải gánh phần lớn số đó, thì cũng là gánh nặng không kham nổi ở thời điểm hiện tại (1 triệu sinh viên, chỉ cần thêm 1 nghìn USD học phí 1 năm, cũng đã thành 1 tỷ USD, trong khi tổng ngân sách Nhà nước chỉ vài chục tỷ USD).  Giải pháp ở đây, như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã từng đề cập, là phải tính học phí phản ánh thực sự chi phí học tập (hay là giá trị của đào tạo, trung bình quãng 40 triệu VND một năm một sinh viên).  Trong hầu hết các trường hợp, thì không cho, nhưng mà cho vay.  Vì sao phải tính học phí phản ánh đúng giá trị của đào tạo? Vì nếu không thì là bất công cho hệ thống đại học, bất công cho các giảng viên, không được tính công suất lao động và hưởng lương đúng đắn. Và như vậy thì cũng khó thu hút người vào ngành đại học trong khi đang rất thiếu giảng viên, hệ thống đại học khó phát triển về chất để đuổi kịp thế giới nếu không được tính toán “sòng phẳng”.  Mức tính 40 triệu VND một năm có hợp lý không? Mức này chỉ bằng 1/10 so với thế giới. Khi mà những người tốt nghiệp đại học ở Việt Nam có thu nhập bằng 1/10 so với ở thế giới, và có thể coi là hiệu quả đào tạo ở Việt Nam bằng 1/10 ở thế giới, thì mức tính như vậy hoàn toàn hợp lý.  Ai trả 40 triệu VND/ năm đó? Nhà nước chỉ có thể trả một phần, chủ yếu là sinh viên sẽ phải trả phần lớn, trừ những ai có học bổng. Các doanh nghiệp có thể tài trợ học phí trực tiếp cho những sinh viên mà họ muốn tuyển việc. Đồng thời, Nhà nước cũng có thể đánh thuế các doanh nghiệp (là những nơi sẽ tuyển các sinh viên này vào làm việc) để lấy tiền trả một phần học phí này.   Sinh viên lấy đâu ra tiền mà trả? Không bắt họ trả ngay, nhưng Nhà nước làm hợp đồng cho họ vay, đến khi ra trường đi làm trả dần, theo mô hình của một số nước khác. Thế đối với những người không tốt nghiệp hoặc sau khi tốt nghiệp không có việc làm, không trả được, thì sao? Các khoản nợ đi kèm bảo hiểm, để trong những tình huống xấu có thể xóa nợ. Tất nhiên, cũng chỉ nên cho những sinh viên có học lực ở mức nào đó vay, để giảm rủi ro. Những ai học quá kém, mà vẫn đòi đi học, thì có thể bỏ tiền túi ra mà đi học.  Theo tôi, đây là một giải pháp tốt, giúp cho các đại học phát triển, và khiến cho sinh viên có ý thức hơn về chi phí của việc học tập.   Ở Pháp, hầu hết các sinh viên đi học không phải đóng học phí. Tất nhiên, vì nước Pháp khá giàu, Chính phủ có ngân sách lớn (và thu thuế của dân cũng rất cao) nên mới làm được như vậy. Ở Việt Nam Chính phủ hiện không có tiền để làm vậy. Mà tiền của Chính phủ thì cuối cùng cũng là tiền của dân. Hệ thống bao cấp giáo dục đại học ở Pháp có những điểm hay, nhưng cũng có những điểm dở (như quan liêu, khó cải tiến, dễ bị lạm dụng), và không thích hợp với Việt Nam trong điều kiện hiện tại.   Chính phủ nên bao cấp học phí cho giáo dục phổ thông càng nhiều càng tốt, để đảm bảo trẻ em nào cũng được đến trường. Bởi vì học phổ thông là học để trở thành công dân, đi học phổ thông không những là quyền lợi, mà còn là nghĩa vụ. Ở Nhật ngày xưa, người ta thậm chí còn cho trẻ em uống sữa miễn phí ở trường, để đảm bảo sức khỏe của các công dân Nhật sau này.  Đại học hoàn toàn khác. Học đại học không phải là nghĩa vụ, chỉ là quyền lợi, một hình thức đầu tư để đạt trình độ và thu nhập cao hơn về sau. Những ai muốn hưởng quyền lợi đó, thì phải trả chi phí cho nó, là công bằng. Tất nhiên, đối với các sinh viên giỏi, lực lượng trí tuệ ưu tú của đất nước, thì cấp học bổng cho họ, tạo điều kiện học tập tốt nhất cho họ cũng là hợp lý, vì về sau họ sẽ đóng góp được cho đất nước lớn hơn nhiều lần số học bổng đó.  Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu  Các sản phẩm đào tạo và nghiên cứu là các sản phẩm trí tuệ. Đối với các sản phẩm trí tuệ, thì giá trị có thể thay đổi rất lớn, tùy theo chất lượng. Cùng là kỹ sư ra trường, nhưng kỹ sư này có thể có công suất lao động gấp 10 lần kỹ sư khác nếu được đào tạo tốt hơn. Cùng là công trình khoa học, công trình này có thể có giá trị gấp hàng trăm lần hay thậm chí hàng nghìn lần công trình khác. Trong nhiều lĩnh vực khác cũng vậy. Ví dụ như, cùng là tranh nghệ thuật, nhưng có những bức được mua với giá hàng chục triệu USD, còn những bức khác có khi 1 nghìn USD cũng không ai mua.  Chất lượng trong nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn thấp, và đó chính là lý do vì sao hiệu quả lao động trong nghiên cứu thấp. Muốn nâng chất lượng nghiên cứu, thì trước hết phải thực sự coi trọng chất lượng, có những biện pháp để đánh giá phân biệt chất lượng, và những chính sách đãi ngộ tương xứng với chất lượng.                Những chính sách bình quân chủ nghĩa, coi hay dở cái nào cũng như nhau, làm tốt làm tồi ai cũng được hưởng như nhau, là chính sách không công bằng, và rất tai hại, vì nó khiến cho người ta không muốn làm tốt lên (mất công mà không được hưởng gì hơn kẻ làm tồi), và kết quả là kéo nhau xuống thành ai cũng làm tồi. Bởi vậy chúng ta cần tránh và loại bỏ những chính sách kiểu như vậy.   Một ví dụ về bình quân chủ nghĩa là việc tính điểm công trình khoa học khi xét phong học vị giáo sư.  Chỉ “đếm bài ăn tiền” mà không tính đến chất lượng. Theo cách tính như hiện tại, người nào mà “chỉ có” 3 bài bào đăng ở “Annals of Mathematics” thì không đủ tiêu chuẩn thành giáo sư Việt Nam, trong khi thừa sức trở thành giáo sư ở nước ngoài, và ngược lại nếu viết một đống thứ “vớ vẩn” đăng “báo vườn” không ai đọc thì thừa tiêu chuẩn giáo sư ở Việt Nam, trong khi ở nước ngoài mà làm vậy thì không nơi nào muốn tuyển việc. Đợt cải cách về qui định phong học vị giáo sư gần đây nhất đã có chuyển biến theo hướng tích cực về chất lượng (tăng điểm lên cho các công trình công bố quốc tế), nhưng vẫn còn mang nặng tính hình thức và bình quân chủ nghĩa.   Cùng mang danh giáo sư, nhưng cũng có nhiều loại giáo sư. Có người có trình độ quốc tế, nhiều công bố quốc tế chất lượng cao, hiệu quả lao động không kém gì giáo sư nước ngoài. Những người như vậy phải được hưởng lương rất cao. Trong khi có những giáo sư chỉ “tầm cỡ Việt Nam” thôi, không có những công trình tầm cỡ quốc tế, thì cũng chỉ cần trả lương vừa phải thôi. Ở Trung Quốc người ta cũng làm như vậy.  Làm sao để tạo chế độ đãi ngộ “đặc biệt” cho những người có chất lượng cao và hiệu quả làm việc cao? Trên thế giới người ta đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, mà Việt Nam có thể học tập. Đơn cử một số ví dụ:  – Tuy cùng là đại học công, nhưng các trường đại học khác nhau có thể trả lương khác nhau. Muốn thế, tất nhiên, các trường cần có tự chủ về tài chính. Trường nào có uy tín hơn, giá trị đào tạo và nghiên cứu cao hơn, thì cũng có thể trả lương cao hơn cho giáo sư của mình.  – Lập ra những đại học mới, chất lượng cao ngay từ đầu, với tổ chức quản lý hiện đại ngay từ đầu, chỉ tuyển người có trình độ quốc tế, và trả lương cũng tương xứng tầm quốc tế. Trường “Hanoi University of Science and Technology” mới được quyết định thành lập, hy vọng sẽ đi theo hướng đó.  – Lập ra các “ghế” đặc biệt ở các đại học, với các mức lương đặc biệt, tuyển những người xuất sắc vào các ghế đó. Ở nhiều nước có các “ghế” như vậy. Ở Pháp hiện nay người ta cũng đang muốn lập ra các ghế như vậy trong các đại học.  – Trả “tiền thưởng” trực tiếp và xứng đáng cho các kết quả nghiên cứu khoa học. Theo tôi hiểu, hiện nay ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có thưởng tiền cho các công trình công bố quốc tế, nhưng ở mức tượng trưng (1-200 USD một công trình), hoàn toàn không phản ảnh giá trị của công trình và công lao của người làm ra nó (nếu là công trình chất lượng tốt, thì giá trị ít ra hàng chục nghìn USD). Để cho việc thưởng này thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nâng cao chất lượng, cần thưởng ở mức cao hơn nhiều, và phân biệt hơn nhiều giữa các mức công trình. Chẳng hạn trong toán, nếu ai đó đăng được một bài ở tạp chí “Journal of AMS” (một trong 5 tạp chí hàng đầu thế giới), thì thưởng 10 nghìn USD cho bài báo đó cũng không có gì là quá đáng. Cần phải có quĩ thưởng lớn.  – Cần triệt để ngăn chặn khoa học rởm, hàng rởm trong khoa học, vì nếu không thì sẽ gánh chịu hậu quả của việc “hàng rởm bóp chết hàng thật”. Một ví dụ về hàng rởm nổi tiếng thế giới là nhân vật Elena Ceausescu của Rumani. Bà này không học hết lớp 4, nhưng đi lên theo con đường chính trị, rồi nhờ thế lực mà kiếm bằng tiến sĩ về hóa, rồi thành viện sĩ, Chủ tịch Ủy ban khoa học của Rumani, rồi được gắn cho hơn 100 danh hiệu tiến sĩ hay giáo sư hay viện sĩ danh dự của khắp các nơi trên thế giới. Các “công trình khoa học vĩ đại” của bà ta tất nhiên đều do người khác viết.  Những nhà khoa học chân chính của Rumani lên tiếng về bà ta có thể bị bỏ tù. Đỉnh cao của bà ta là làm chức Phó Thủ tưởng thứ nhất của Rumani, nhưng kết cục là bà ta bị xử tử hình vào cuối năm 1989.  Tự chủ tài chính, không có nghĩa là tư nhân hóa  Như một ý tôi viết phía trên, các trường đại học cần có quyền tự chủ cao, đặc biệt là về tài chính. Có như vậy họ mới đánh giá được đúng mức giá trị đào tạo và nghiên cứu của họ, trả thù lao  đúng mức cho nhân viên của họ, hướng tới chất lượng cao hơn. Có tự chủ, mới có cạnh tranh mạnh giữa các trường, và việc cạnh tranh này khiến ai cũng phải làm tốt lên, và như vậy thì có lợi cho xã hội.  Thế nhưng, tự chủ tài chính không có nghĩa là tư nhân hóa, theo ý tưởng một số người đưa ra. Hiện nay, Việt Nam đã có rất nhiều đại học tư, tỷ lệ có khi cao hơn nhiều so với nước ngoài. Phần lớn đại học tư ở Việt Nam là doanh nghiệp cổ phần vì lợi nhuận. Các đại học tư vì lợi nhuận đóng một vai trò nhất định trong nền kinh tế. Nhưng không phải vô cớ mà các trường đại học uy tín nhất trên thế giới, dù là công hay tư, đều là các trường phi lợi nhuận. Những trường đại học tư lớn nhất ở Mỹ, là do các triệu phú hảo tâm lập ra, bỏ tiền túi của mình xây dựng, để đem lại đóng góp và gây ảnh hưởng đến xã hội, chứ không phải là nhằm kiếm tiền từ đó. Các trường đó chỉ “tư” theo nghĩa tự chủ tài chính và có tính độc lập rất cao, chứ mục đích hoạt động của chúng cũng gần như các đại học công. Và bên cạnh các trường đại học tư lớn, nước Mỹ cũng có hệ thống đại học công rất lớn, với nhiều đại học công đứng hàng đầu thế giới, ví dụ như Đại học California Berkeley.  Nếu đem các đại học công lớn của Việt Nam ra tư hữu hóa, thì sẽ là một sai lầm lớn không sửa lại được, vì khi đó, thay vì múc đích là đem lại lợi ích cho xã hội, nó sẽ chuyển thành chủ yếu đem lại lợi ích cho một số tư nhân. Các đại học công Việt Nam, dù có rất nhiều vấn đề vướng mắc, vẫn là những tài sản công rất lớn của đất nước. Nếu tư hữu hóa, sẽ có nguy cơ tài sản công chuyển vào túi của tư nhân, tức là làm cho một số tư nhân giàu lên bằng cách chiếm đoạt hợp pháp tài sản công.     Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng  Các nghiên cứu khoa học có thể phân thành lý thuyết và ứng dụng. Các kế quả lý thuyết thường thuộc phạm vi “công”, tức là sau khi công bố, ai cũng có quyền dùng mà không phải thuê hoặc mua bản quyền. Vì nó là của công, nên người trả tiền cho nó cũng phải là các tổ chức vì lợi ích công, ví dụ như các Nhà nước hay các tổ chức phi lợi nhuận, v.v. Cũng vì nó là của công, nên người trả tiền cho nó thường chỉ phải trả giá thành (chi phí làm ra) chứ không phải trả theo giá trị (có thể lớn hơn nhiều lần giá thành). Các nghiên cứu ứng dụng hoạt động theo mô hình kinh tế khác: nó được thực hiện theo đơn đặt hàng, xuất phát từ những vẫn đề cụ thể, hoặc là khi kết quả làm ra thì có bản quyền, ai muốn dùng phải trả tiền. Tất nhiên, có thể có sự pha trộn cả lý thuyết lẫn ứng dụng trong cùng một nghiên cứu.          Cơ-Điện tử, một ngành sẽ phát triển trong tương lai.        Các kết quả nghiên cứu ứng dụng lớn có thể có giá trị rất lớn, và hơn nữa giá trị này dễ xác định hơn là các kết quả lý thuyết, vì nó có thể được mua bán trên thị trường. Ví dụ, một nhóm nghiên cứu y dược thí nghiệm thành công một loại thuốc chữa ung thư mới, được một hãng dược phẩm mua lại với giá 500 triệu USD, và lập tức tất cả các nhà khoa học trong nhóm trở thành triệu phú. Những ví dụ kiểu như vậy xả ra thường xuyên trên thế giới.  Ở Việt Nam, nếu muốn khoa học phát triển tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào nền kinh tế, và làm giàu cho bản thân các nhà khoa học, thì cần chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng. Cần hướng tới những đề tài có giá trị cao, có ảnh hưởng lớn, và tất nhiên phải trả tiền xứng đáng cho các đề tài đó. Có vô vàn vấn đề quan trọng ở Việt Nam cần đến khoa học ứng dụng, không đủ nhà khoa học để mà làm, và nếu làm được thì hiệu quả kinh tế sẽ rất cao (giá trị của mỗi vấn đề là hàng triệu USD, các nhà khoa học đủ trình độ khi hướng vào làm nó sẽ có công suất nghiên cứu hàng chục nghìn hay hàng trăm nghìn USD một năm trở lên).   Một ví dụ là những vấn đề nghiên cứu y dược ở Việt Nam để chữa bệnh cho 85 triệu dân (và tiến xa hơn nữa là xuất khẩu thuốc ra thế giới, như Trung Quốc đã làm được). Chỉ riêng dịch cúm H1N1, thế giới đã bỏ ra nhiều tỷ USD để mua vaccine, và tất nhiên các hãng dược thu lời hàng tỷ USD từ vụ này. Giá trị của các công thức vaccine (được các Bộ y tế thông qua) cũng phải được tính ở mức nhiều triệu USD. Viện Pasteur ở Việt Nam có thể làm được những thứ như vậy, và các công trình về vaccine cũng có thể trị giá hàng triệu USD. Một ví dụ khác là vấn đề khai thác bauxite (quặng nhôm) ở Việt Nam. Về triển vọng, quặng nhôm của Việt Nam có thể có giá trị kinh tế hàng chục tỷ USD. Thế nhưng, việc khai thác nó đòi hỏi những nghiên cứu khoa học tổng hợp về địa chất, công nghệ khai thác, kinh tế, môi trường, v.v., rất kỹ lưỡng, trước khi quyết định nên khai thác hay không, như thế nào, và vào thời điểm nào. Nếu làm vội vàng, thiếu nghiên cứu khoa học khách quan, thì có thể vừa thiệt thòi về kinh tế, vừa hủy hoại môi trường không sửa lại được.  Ngay ngành toán, được nhiều người coi là ngành xa với ứng dụng nhất, thực ra cũng có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng trực tiếp với giá trị kinh tế lớn. Một ví dụ nhỏ, là mạng Antenna cho điện thoại di động ở Đức, được các nhà toán học làm tối ưu hóa, tăng chất lượng thu phát sóng và tiết kiệm hàng trăm triệu USD. Tất nhiên nghiên cứu lý thuyết rất quan trọng và cần phát triển, vì nếu không có lý thuyết thì lấy đâu ra ứng dụng.  Nhưng nếu chỉ toàn lý thuyết mà ít ứng dụng, thì các kết quả lý thuyết cũng bị lãng phí vì không được phát huy. Trong ngành toán cũng vậy, trên thế giới số nhà làm toán lý thuyết đông gấp khoảng 10 lần số nhà làm toán ứng dụng. Ngay ở Việt Nam, có rất nhiều vấn đề cần đến nghiên cứu ứng dụng của toán học, từ an ninh (mật mã), cho đến tài chính (các sản phẩm phái sinh, quản lý rủi ro và quản lý đầu tư dùng nhiều đến toán học, đã phổ biến trên thế giới nhưng còn mới lạ ở Việt Nam), mạng giao thông, v.v. Toán học là một trong những ngành khoa học phát triển mạnh nhất Việt Nam hiện tại, với hàng chục nhà toán học đạt trình độ quốc tế (trong khi có những ngành khác hiếm hoi hơn nhiều), thế nhưng chủ yếu tập trung ở toán lý thuyết, các mảng ứng dụng của toán chưa phát triển tương xứng.  Làm khoa học có cần tiền?!  Không hiểu sao, có một vài nhà khoa học Việt Nam có nói những câu kiểu như “làm khoa học không cần tiền”, hay “đừng cho các nhà toán học nhiều tiền, vì có nhiều tiền không làm được toán”. Những câu nói như vậy, vừa không phản ánh đúng sự thật, vừa có hại cho khoa học, vì nếu các nhà chính trị và kinh tế mà cũng nghĩ như vậy, không chịu đầu tư tiền thích đáng cho khoa học, thì khoa học sẽ không thể phát triển được.  Có thể một vài nhà khoa học mà tôi vừa kể trên có cuộc sống vật chất no đủ so với người khác, nhà cửa đàng hoàng, chưa bao giờ phải thực sự lo chuyện tiền nong, nên nghĩ như vậy. Nếu họ từng phải vật lộn với cuộc sống như người khác, vay nợ đầm đìa đến mức không còn tâm trí cho khoa học, ắt hẳn sẽ không nghĩ như vậy nữa.  Tôi chưa thấy ai không làm được khoa học vì thừa tiền. Nhưng những vì dụ về từ bỏ khoa học, hoặc không từ bỏ nhưng không tập trung làm được, vì thiếu tiền, thì tôi gặp rất nhiều. Bản thân tôi có hàng năm trời không nghiên cứu được vì thiếu tiền. Nếu như đầu óc tôi cũng được thảnh thơi không phải lo nghĩ chuyện tiền nong, thì cũng có thể đã đạt được những kết quả khoa học tốt hơn.  Các nhà khoa học có thể không cần rất nhiều tiền (vì tham vọng chính của họ có thể không phải là tiền, mà là đạt được những đỉnh cao về trí tuệ), nhưng cần đủ tiền để đảm bảo cuộc sống, ít phải lo nghĩ về chuyện tiền nong, yên tâm nghiên cứu những vấn đề quan trọng, cảm thấy mình được xã hội tôn trọng đúng mức. Ở Liên Xô ngày xưa, các nhà khoa học được nuôi theo chế độ cộng sản, tất nhiên không giàu quá, nhưng được chăm lo khá đầy đủ về nhiều mặt, có thể tập trung nghiên cứu, và hiệu quả làm việc của họ rất cao. Ở Mỹ, các nhà khoa học được nuôi theo chế độ khác, nhưng cũng không phải lo nghĩ về tiền nong vì lương rất cao, nên hiệu quả làm việc cũng rất cao.   Những nhà khoa học lớn của các thế kỷ trước hầu hết là những người giàu có về kinh tế. Và thời đó cũng phải giàu có mới có điều kiện để đi theo sự nghiệp khoa học. Nhà toán học Euler, được Nữ hoàng Nga trả lương, không phải để nuôi một mình ông ta, mà là nuôi cả một đoàn tùy tùng hơn 10 người phục vụ ông ta và gia đình. Có phải vì giàu có, có nhiều gia nhân như vậy nên Euler không làm được toán không, hay là chính vị được phục vụ tốt nên ông ta trở thành “người thầy của mọi người thầy” trong toán học?   Để kết thúc bài này, tôi xin nhấn mạnh lại: khoa học làm ra tiền, và để làm khoa học cũng rất cần tiền. Tạo các điều kiện tài chính thích đáng là điều cần thiết để khoa học phát triển, và khoa học phát triển sẽ đem lại lợi nhuận lớn về kinh tế.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Một số ý tưởng về Ngày hội khoa học của Việt Nam      Để chuẩn bị cho những sự kiện Ngày hội khoa học, chúng ta cần cung cấp  những thông tin cơ bản cho công chúng qua những áp phích, tờ rơi và một  số video được trình chiếu tự động nhiều lần ở các nhà trường, viện  nghiên cứu và những nơi công cộng.      Bên cạnh đó, cần tổ chức một số tình nguyện viên là những nhà khoa học trẻ làm nhiệm vụ trả lời các câu hỏi của công chúng, đưa ra những lý giải khoa học phù hợp, và trực tiếp tiến hành một số thí nghiệm đơn giản nhưng hấp dẫn trước công chúng, hay tổ chức các trò chơi cho trẻ em, v.v.  Chúng ta có thể tìm thấy qua internet nhiều ý tưởng về việc tổ chức ngày hội từ nước ngoài. Đặc biệt phải cẩn trọng trong việc đảm bảo an toàn và ngăn ngừa các nguy cơ tiềm năng tại các sự kiện của ngày hội.  Do quỹ thời gian không có nhiều, chúng ta không nên quá tham vọng, có lẽ trước mắt chỉ tổ chức tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Đa số các sáng kiến nên do các đơn vị nghiên cứu, phòng thí nghiệm đưa ra thay vì được áp đặt xuống từ bên trên. Một nhà quản lý phòng thí nghiệm có tầm nhìn sẽ thấy rằng việc mở cửa phòng thí nghiệm cho công chúng là một cơ hội để giới thiệu với cộng đồng về công việc mà đơn vị mình đang theo đuổi và lý giải vì sao đơn vị mình cần được tài trợ; hay nói cách khác, một nhà quản lý tốt sẽ hiểu rằng về lâu dài, thời gian và công sức tổ chức một sự kiện như vậy có thể coi là một khoản đầu tư tuyệt vời. Ví dụ, ngài Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử có lẽ sẽ thấy đây là cơ hội tốt để giới thiệu tới công chúng những thông tin về năng lượng hạt nhân, và chắc chắn cảm thấy mình có nghĩa vụ đảm bảo tính mạch lạc của các sự kiện do đơn vị mình thực hiện. Mặt khác, một nhà khoa học thấm nhuần đạo lý của khoa học sẽ nhận thấy rằng mình có nghĩa vụ giới thiệu với công chúng về những công việc mà mình đang làm.   Theo suy nghĩ của tôi, trách nhiệm của Bộ KH&CN là giám sát chung công tác tổ chức, tiến hành những nỗ lực quảng bá và truyền thông cần thiết của ngày hội khoa học để thu hút công chúng, và đóng góp một phần nhỏ kinh phí cho các sự kiện khi cần thiết.  Để làm việc này, Bộ trưởng có thể lập ra một Ban Tổ chức, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học giàu nhiệt huyết từ những lĩnh vực chính trong khoa học và uy tín của Trưởng Ban tổ chức là yếu tố rất quan trọng.  Sau khi quyết định tổ chức Ngày hội Khoa học, Bộ KH&CN nên công bố tới lãnh đạo các hiệp hội, các trường ĐH, viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm về chủ đề của ngày hội khoa học – tuy nhiên chủ đề do Bộ KH&CN lựa chọn chỉ nên mang tính tham khảo, không bắt buộc đối với các cơ sở nghiên cứu. Sau đó, những người lãnh đạo các cơ sở nghiên cứu có mong muốn tham gia vào ngày hội khoa học sẽ phải thông báo trực tiếp với Ban Tổ chức về kế hoạch triển khai cụ thể của đơn vị mình.   Các phòng thí nghiệm và các đơn vị nghiên cứu sẽ tự tổ chức sự kiện dựa trên nguồn kinh phí của chính mình. Tuy nhiên, họ có thể được động viên bằng một khoản kinh phí nếu có lý do chính đáng (Ban Tổ chức có trách nhiệm giám sát việc này một cách thích hợp), chẳng hạn như một hội đồng có thể trao giải thưởng cho đơn vị tổ chức được sự kiện hay nhất.  Ngoài nội dung chủ đạo của Ngày hội Khoa học là những sự kiện tổ chức tại các đơn vị, cũng sẽ hữu ích nếu chúng ta có một sự kiện tổ chức ở tầm trung ương do cơ quan Bộ KH&CN chủ trì.   Một vấn đề cơ bản là tính quảng bá rộng rãi của các sự kiện. Chúng nên được tổ chức vào một ngày Chủ nhật để các gia đình có thời gian rảnh đến tham quan. Nên có sự hợp tác với đài truyền hình đề phát sóng ngày hội khoa học trên một vài kênh truyền hình.   PHẠM TRẦN LÊ dịch          TS. Nguyễn Lương Quang:  Từ những quan sát về Fête de la science của Pháp và Science Rendezvous của Canada cũng như kinh nghiệm thực tế trong việc phổ biến thiên văn ở Việt Nam, tôi nhận thấy công chúng Việt Nam, đặc biệt là các bạn trẻ đang rất háo hức đón chờ một hoạt động như vậy. Để ngày hội khoa học được thành công, tôi có một số đề nghị sau:                1. Mỗi năm ngày hội khoa học cần có một chủ đề chính gắn liền với hướng hoạt động chính của khoa học thế giới hay Việt Nam.              2. Trước ngày hội 3 tháng, ban tổ chức cần chỉ định các trung tâm khoa học quốc gia thiết kế chương trình của riêng đơn vị mình và khuyến khích các trung tâm mở cửa tự do để đón dân chúng vào quan sát phòng thí nghiệm, nơi làm việc của các nhà khoa học.              3. Để tạo được hiệu ứng, ngày hội phải được tổ chức cùng một thời điểm trong khoảng 2-3 ngày tại tất cả các địa điểm và có sự tham gia của tất cả các cơ quan khoa học và trường học              4. Ban tổ chức phải là một nhóm đa ngành bao gồm các nhà khoa học, phóng viên, chuyên gia truyền thông để vừa đảm bảo tính khoa học nhưng vừa hấp dẫn và thu hút người xem. Ban tổ chức chỉ nên có nhiệm vụ điều phối và quảng bá ngày hội, việc tổ chức phải thuộc về các đơn vị nhóm, khoa học.              5. Các hoạt động chính: diễn thuyết, poster, kịch về các sự kiện khoa học, các thí nghiệm nhỏ, tham quan phòng thí nghiệm, hội trại khoa học.              6. Ngày hội khoa học phải có một nhóm truyền thông làm việc quảng bá trên các phương tiện xã hội: báo chí, tivi, website, facebook, twitter…. và các phân nhóm phụ trách các phần ngành khoa học khác nhau.              7. Ngày hội cũng nên kêu gọi các đơn vị cũng như các câu lạc bộ hoặc nhóm nghiệp dư thấp hơn đưa ra những dự án của riêng đơn vị để đưa lên chương trình.              8. Sinh viên và học sinh các trường đại học, trung học là những người ham hiểu biết và mong muốn truyền đạt kiến thức mình đến đại chúng, nên kêu gọi các bạn tự tổ chức các hoạt động phổ biến khoa học cho đại chúng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Nên có những “chuyến xe khoa học” đem khoa học đến phổ biến cho đại chúng tại chợ, trung tâm huyện, xã…              9. Khoa học xã hội, văn hóa cũng cần đuợc đưa vào chương trình.               ——————————   TS. Phạm Tuyết Nhung :              Tôi mới được tham dự Science Festival năm 2013 ở Pháp, và đây là lần thứ 22 họ tổ chức sự kiện này. Cách thức tổ chức của họ dựa vào nền tảng khoa học vững mạnh và kinh nghiệm qua nhiều năm. Theo tôi, Việt Nam có thể lựa chọn một số hoạt động giống như Pháp nhưng có quy mô phù hợp với khả năng của Việt Nam, ví dụ như tổ chức triển lãm, tham quan phòng thí nghiệm, trò chơi, đố vui cho thiếu nhi…               Nhưng việc đầu tiên cần làm là để các trường đại học, các viện nghiên cứu hiểu được ý nghĩa của SF và đồng ý tổ chức một số hoạt động ở đơn vị mình; việc tổ chức sau đó có thể giao một phần cho các bạn trẻ (Đoàn thanh niên) thực hiện…              Vì vậy đề nghị một số nhà khoa học và  viện trưởng, viện phó ở Viện KHCN đề xuất ý tưởng và dự án tham gia ngày hội là rất quan trọng đối với sự thành công của ngày hội.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tạp chí khoa học cho đại chúng      Nhìn vào danh sách khoảng 500 tờ báo, tạp  chí ở Việt Nam hiện nay, ta thấy có một khoảng trống lớn: không có những  tờ báo, tạp chí khoa học “giới thiệu” cho một số đông độc giả không  phải là nhà khoa học chuyên sâu có thể hiểu được những nội dung, tư  tưởng chính của những thành tựu khoa học công nghệ mới.     Sự trống vắng này là một thiệt thòi lớn cho cộng đồng, nhất là những bạn đọc trẻ tuổi. Không có một nơi để khêu gợi lòng say mê khoa học, ước mơ tìm tòi khám phá, thế hệ trẻ dễ lãng phí thời gian vào những chuyện “chém, giết, cướp, hiếp” đầy rẫy hằng ngày trên mặt báo.  Thử nhìn ra thế giới: ở Mỹ có tờ Scientific American ra mắt năm 1845, và cho đến nay là tờ nguyệt san liên tục lâu đời nhất của Mỹ. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng, kể cả Albert Einstein, đã từng viết bài cho tạp chí để những độc giả không chuyên có thể hiểu những phát minh mới nhất của khoa học. Hiện nay Scientific American phát hành gần 500.000 bản mỗi tháng, và được in bằng 18 thứ tiếng. Bên cạnh Scientific American còn có Popular Science Monthly xuất bản từ 1872, hiện nay được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, có mặt ở hơn 45 quốc gia.   Ở Liên Xô trước đây có rất nhiều tạp chí khoa học dành cho đại chúng, nổi tiếng nhất là Наука и жизнь (Khoa học và Đời sống), mà vào những năm 80 của thế kỷ trước phát hành 3.400.000 bản mỗi tháng; Знание — сила (Tri thức – Sức mạnh), 700.000 bản mỗi tháng. Tác giả thường xuyên của những tạp chí này là những nhà khoa học rất nổi tiếng, như nhà vật lý Kapitsa, nhà toán học Smirnov, và các giáo sư của Đại học Tổng hợp Lomonosov.   Có lẽ ít ai không đồng ý là ở Việt Nam cũng rất cần có những tạp chí khoa học như vậy. Nhưng làm thế nào để có?  Trước tiên, để tạp chí sống được, nó cần có độc giả. Giới trẻ ngày nay không phải là không ham thích khoa học công nghệ, mà trái lại nữa: những cuộc thi như “sáng tạo robot” chẳng hạn, có lẽ ở Việt Nam còn sôi nổi hơn ở các nước khác. Hay như cảnh xếp hàng rồng rắn để mua cho được “Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình”. Đó là chưa kể báo chí không chỉ nhằm đáp ứng ham thích của độc giả, mà nhiệm vụ còn quan trọng hơn là góp phần tạo ra những ham thích lành mạnh ở họ.  Tiếp đến là cần có đội ngũ tác giả. Viết bài để nói về những thành tựu khoa học “cao siêu” một cách khá sâu sắc, nhưng để cho người không chuyên cũng hiểu được, là việc làm hết sức khó khăn. Nhưng ở Việt Nam không phải không có những người đủ khả năng và tâm huyết để làm việc đó. Trước đây đã từng có những người như GS Đặng Mộng Lân, ngày nay thì như GS Phạm Duy Hiển, Cao Chi… và rất nhiều người khác nữa, đặc biệt có thể hy vọng vào đóng góp của những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và các bạn trẻ đang được học tập, làm việc ở những trung tâm khoa học tiên tiến khắp thế giới. Chỉ cần dạo qua “thế giới blog” là có thể tìm ra nhiều “tác giả tiềm năng”, mà ở đây chỉ kể một số blog: Thích học toán, Đàm Thanh Sơn, Vũ Hà Văn, Nguyễn Tiến Dũng, Khoa học máy tính,… Họ gần như đang làm cái việc mà một tờ tạp chí tương lai hướng đến.  Nói vậy để thấy, một tờ báo khoa học cho mọi người là cần có, và đã có những tiền đề: độc giả, tác giả. Vậy để có nó còn cần gì nữa: cần người (cơ quan) đứng ra tổ chức, và tất nhiên là cần “một ít” tiền (ít ra là trong vài ba năm đầu, khi tờ báo còn chập chững tập đi và chưa thể tự kiếm ăn được)!               Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một thành công mang lại nhiều lợi ích      Việc chuyển đổi an toàn và đúng kế hoạch nhiên liệu hạt nhân của Lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt là kết quả của những nỗ lực hợp tác hiệu quả giữa các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, một thành công mang lại nhiều lợi ích, trong đó đã khẳng định lập trường sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình của Việt Nam.     Lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt nguyên thủy là lò TRIGA Mark II công suất 250 kW, do hãng General Atomic (Mỹ) thiết kế, chế tạo, sử dụng nhiên liệu độ giàu thấp (LEU- Low Enriched Uranium) dưới 20% 235U, đưa vào hoạt động từ tháng 3/1963 và ngừng hoạt động từ đầu năm 1968. Tháng 3/1975, toàn bộ nhiên liệu của lò TRIGA trước đây đã được tháo dỡ và đưa trả về Mỹ. Với sự giúp đỡ của Liên Xô, lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt đã được cải tạo, tăng công suất gấp 2 lần và hoạt động trở lại từ ngày 20/3/1984. Về nhiên liệu, năm 1983, IAEA đã tài trợ kinh phí để Liên Xô cung cấp 140 bó nhiên liệu loại WWR-M2 được làm giàu cao (HEU- Highly Enriched Uranium) với độ giàu 36% 235U. Năm 1990, IAEA tiếp tục tài trợ kinh phí để Việt Nam mua thêm 2 bó nhiên liệu HEU loại WWR-M2 có gắn 9 cặp nhiệt điện để đo nhiệt độ bề mặt của các thanh nhiên liệu. Như vậy, tổng cộng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt đã tiếp nhận 142 bó nhiên liệu độ giàu cao từ Liên Xô.     Năm 2004, nhằm khẳng định cam kết sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, Việt Nam đã chính thức tham gia vào chương trình chuyển đổi nhiên liệu do Hoa Kỳ, Liên bang Nga và IAEA cùng thống nhất vào cuối năm 1999 dành cho các lò phản ứng nghiên cứu được Liên Xô xây dựng trước đây, gọi là chương trình RRRFR (Russian Research Reactor Fuel Return), theo đó sẽ chuyển đổi toàn bộ nhiên liệu đã qua sử dụng có độ giàu cao  – trên lý thuyết có tiềm ẩn nguy cơ được sử dụng để tái chế thành vật liệu cho vũ khí hạt nhân – sang nhiên liệu có độ giàu thấp cho lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt.     Bắt đầu từ tháng 12/2004, Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, với kinh nghiệm của hơn 20 năm làm chủ trong vận hành và khai thác lò phản ứng, đã bắt đầu thực hiện dự án chuyển đổi nhiên liệu của lò với 2 giai đoạn, chuyển đổi một phần vùng hoạt (2004-2007) và chuyển đổi toàn bộ vùng hoạt (2008-2013). Từ tháng 9/2007, các bó nhiên liệu LEU bắt đầu được nạp vào lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt và các chuyên gia của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt đã dần dần thay các bó nhiên liệu HEU đã qua sử dụng bằng nhiên liệu LEU tại lõi lò. Giai đoạn thứ nhất kết thúc thành công, các tính toán thiết kế vùng hoạt và phân tích an toàn cho giai đoạn thứ 2 được các cấp có thẩm quyền chấp nhận và cấp phép thực hiện. Tháng 8/2011, tất cả các bó nhiên liệu HEU được lấy ra khỏi vùng hoạt và sau đó, tháng 11/2011 lò phản ứng được khởi động vật lý, đạt trạng thái tới hạn lần đầu với cấu hình 72 bó nhiên liệu độ giàu thấp (19,75% 235U) vào lúc 15:35 ngày 30/11/2011; khác với lần khởi động vật lý vào tháng 10-11/1983, lần này chỉ do các cán bộ của Viện NCHN thực hiện với sự quan sát của các chuyên gia phòng thí nghiệm Argonne của Hoa Kỳ.      Quá trình chuyển trả các bó nhiên liệu HEU về Liên bang Nga     Những bó nhiên liệu HEU đã qua sử dụng được đưa vào thùng vận chuyển SKODA VPVR/M có chế tạo đặc biệt để việc xếp các bó nhiên liệu thực hiện từ trên xuống thay vì từ dưới lên như các thùng vận chuyển thông thường – theo quy trình kỹ thuật do Công ty Sosny R&D xây dựng. Trước đây, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng chưa từng được vận chuyển khỏi Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, vì vậy, các chuyên gia đã phải nghiên cứu, khảo sát tỷ mỷ để cải tiến cơ sở hạ tầng của Viện một cách phù hợp, và cung cấp những dữ liệu cần thiết để các chuyên gia quốc tế thiết kế, chế tạo các loại thiết bị đặc chủng phù hợp với điều kiện đặc biệt riêng của lò nghiên cứu Đà Lạt, phục vụ cho 3 mục đích cơ bản: chuyển nhiên liệu đã qua sử dụng từ bể chứa vào thùng trung chuyển; đưa nhiên liệu đã qua sử dụng từ thùng trung chuyển sang thùng vận chuyển SKODA VPVR/M; đưa thùng vận chuyển chứa nhiên liệu lên máy bay. Một trong những khó khăn cơ bản phải sử dụng thùng trung chuyển là do không thể đặt các thùng vận chuyển SKODA VPVR/M với trọng lượng trên 10 tấn ngay trên bể chứa nhiên liệu vì bể có chiều cao 4 m so với mặt đất, trong khi cần trục của lò phản ứng chỉ có sức nâng tối đa là 5 tấn.                Các chuyên gia nước ngoài (IAEA, LB Nga, Hoa Kỳ, CH Séc và các cán bộ của Việt Nam theo dõi qua màn hình thao tác đưa bó nhiên liệu từ bể chứa vào giỏ chứa.          Tổng cộng có tới 27 chủng loại và 72 cấu kiện thiết bị được chế tạo, trong đó 10 thiết kế được các chuyên gia quốc tế đánh giá là vô cùng tinh xảo. Từng cấu kiện đều được thử chất lượng, độ bền, và tính an toàn một cách nghiêm ngặt bởi nhà sản xuất, đầu tiên được lắp đặt thử nghiệm ở Dimitrovgrad (Nga), nơi có công trình giả lập tương tự như ở Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, tiếp theo được đóng gói chuyển sang Cộng hòa Czech để thử mức độ tương thích với các thùng vận chuyển SKODA VPVR/M, và trải qua một loạt quy trình kỹ thuật khác trước khi chuyển sang Việt Nam qua tàu biển từ cảng Koper của Slovenia đến cảng Cái Mép, Bà Rịa – Vũng Tàu.     Tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, các cán bộ của Viện được hướng dẫn sử dụng các thiết bị qua các đoạn phim chỉ dẫn. Họ phải hiểu tường tận, chính xác vị trí, chức năng, thành phần, và nguyên tắc hoạt động của từng thiết bị, và thực hành với những bó nhiên liệu giả. Sau đó họ trực tiếp tiến hành chuyển các bó nhiên liệu đã qua sử dụng từ bể chứa nhiên liệu vào thùng vận chuyển và kiểm tra rò rỉ; toàn bộ quá trình làm việc được giám sát bởi các chuyên gia thanh sát hạt nhân của IAEA. Ngày 01/7/2013, các bó nhiên liệu HEU đã qua sử dụng được vận chuyển bằng đường bộ với sự bảo vệ an ninh đặc biệt từ Đà Lạt đến sân bay Biên Hòa, đưa thùng vận chuyển vào trong thùng vận tải hàng không có khả năng hấp thụ nhiệt năng, sau đó hai ngày, vào lúc 5:40 ngày 03/7/2013, máy bay vận tải hạng nặng loại AN-124-100 cất cánh, chở tất cả các bó nhiên liệu HEU đã qua sử dụng rời Việt Nam về sân bay Koltsovo (Yekaterinburg, Nga).                 Thùng vận chuyển SKODA VPVR/M được bảo vệ bằng thùng vận tải hàng không có khả năng hấp thụ nhiệt năng trước khi đưa vào máy bay. Tổng cộng trọng lượng               khoảng 30 tấn.          Thùng vận chuyển SKODA VPVR/M được bảo vệ bằng thùng vận tải hàng không có khả năng hấp thụ nhiệt năng trước khi đưa vào máy bay. Tổng cộng trọng lượng               khoảng 30 tấn.           Như vậy, sau gần 10 năm thực hiện dự án, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã được chuyển đổi nhiên liệu theo đúng kế hoạch, toàn bộ 106 bó nhiên liệu HEU đã qua sử dụng được chuyển trả về Nga trước thời hạn theo quy định là năm 2014.      Những lợi ích cho đất nước     Từ thực tế thực hiện và kết quả đạt được, có thể rút ra một số kết luận về dự án chuyển đổi nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt như sau:     Về mặt kỹ thuật: thông lượng nơtron nhiệt tại các vị trí chiếu mẫu giảm không đáng kể, thậm chí có một vài vị trí được cải thiện tốt hơn nên hiệu quả về khai thác và sử dụng lò phản ứng không bị ảnh hưởng. Về mặt an toàn hạt nhân: đảm bảo các điều kiện về dự trữ dập lò đủ lớn và cũng có đủ dự trữ độ phản ứng cho vận hành và khai thác lò; các giới hạn về thủy nhiệt, độ bất đồng đều về phân bố công suất, … tương tự hoặc tốt hơn vùng hoạt dùng nhiên liệu HEU trước đây. Về quản lý nhiên vật liệu hạt nhân: tất cả các bó nhiên liệu HEU đã được chuyển trả, nghĩa là trong vòng 10 năm tới không còn nhiên liệu đã qua sử dụng trong bể chứa nhiên liệu để quản lý và bảo quản. Điều này tạo thuận lợi về mặt kỹ thuật và tiết kiệm về mặt kinh tế trong việc quản lý và chuyển trả nhiên liệu đã qua sử dụng sau này vì các yêu cầu về an toàn và an ninh trong việc quản lý nhiên liệu LEU sẽ ở mức độ thấp hơn.     Về mặt đào tạo nhân lực: Đội ngũ cán bộ, chuyên gia Việt Nam được trực tiếp thực hiện việc tính toán thiết kế, phân tích an toàn; có cơ hội được tiếp cận, trao đổi với các chuyên gia có kinh nghiệm về thiết kế lò phản ứng nghiên cứu trên thế giới. Vì vậy, đội ngũ cán bộ của Viện NCHN trưởng thành, trình độ chuyên môn được nâng cao, có khả năng tiếp cận nhanh hơn với công việc thiết kế, thẩm định cho lò phản ứng nghiên cứu đa mục tiêu, công suất cao của dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân trong thời gian tới.      Về mặt kinh tế: Việc chuyển đổi nhiên liệu giúp thời gian vận hành lò được kéo dài hơn khoảng 10 năm. Theo kết quả tính toán, với số lượng 140 bó nhiên liệu HEU chỉ cho phép vận hành lò phản ứng đến khoảng năm 2021, trong lúc đó với số lượng 102 bó nhiên liệu LEU hiện có, cho phép lò phản ứng vận hành đến khoảng năm 2030 với cùng chế độ làm việc 1300 giờ mỗi năm.  Về mặt quan hệ quốc tế: đã thể hiện được cam kết của Việt Nam là chỉ sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, thiện chí đó sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nhận được sự ủng hộ và tài trợ của IAEA, các tổ chức quốc tế và các nước trong chương trình phát triển điện hạt nhân sắp tới.     THANH XUÂN tổng hợp  Nguồn tham khảo:  S. Komarov, S. Kashkirov (Sosny R&D Company, Russia), Nguyen Nhi Dien (DNRI, Vietnam), Stanley D. Moses (ORNL, USA), Removal of Research Reactor Spent Fuel From Dalat Nuclear Research Institute to Russia for Reprocessing, 08/2013  http://sosny.ru.xsph.ru/ptr13_viet_en.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Một tiến bộ trong quản lý và phát triển nghiên cứu cơ bản      V&#224;o những ng&#224;y cuối c&#249;ng của năm 2008, Quỹ Ph&#225;t triển khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ Quốc Gia (Quỹ PTKH&amp;CNQG) đ&#227; tổ chức Lễ C&#244;ng bố t&#224;i trợ NCCB trong khoa học tự nhi&#234;n năm 2009, đ&#225;p ứng sự mong đợi của c&#225;c nh&#224; khoa học từ nhiều th&#225;ng nay v&#224; l&#224; một khởi đầu rất đ&#225;ng lưu t&#226;m trong c&#225;c hoạt động g&#243;p phần t&#237;ch cực v&#224;o qu&#225; tr&#236;nh t&#237;ch lũy v&#224; ph&#225;t triển t&#224;i nguy&#234;n chất x&#225;m trong x&#227; hội của Quỹ PTKH&amp;CNQG.     Hoàn cảnh và đặc thù  Việc hình thành Quỹ PTKH&CNQG là một bước đi dũng cảm và tiến bộ từ phía những người quản lý, dù rằng ý tưởng thành lập những Quỹ như vậy thực ra đã khá phổ biến trên thế giới. Điều này được thể hiện ở quy chế hoạt động và mục tiêu tài trợ nghiên cứu cơ bản của Quỹ. Thứ nhất, Quỹ được điều hành ở một mức độ độc lập nhất định với sự quản lý của Bộ. Thứ hai, nó cho phép đông đảo giới khoa học tự do hơn trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu. Người làm khoa học có thể lựa chọn đề tài phù hợp với năng lực và kiến thức sở trường của mình, cũng như lựa chọn nhóm nghiên cứu mà mình tin là có năng lực giải quyết được mục tiêu đề ra. Qua đó năng lực của các cá nhân được phát huy tối ưu. Thứ ba, thông qua cơ chế cạnh tranh để giành tiền tài trợ của Quỹ, chất lượng các dự án được kỳ vọng sẽ tăng lên. Thứ tư, hiển nhiên là nguồn tri thức khoa học của đất nước phát triển dồi dào hơn. Xã hội sẽ có thêm những kết quả nghiên cứu mà vốn không thể có được với cơ chế chỉ định hướng đi và phân công nhân sự từ trên xuống.  Mặc dù mang những đặc thù ưu việt kể trên nhưng do là một mô hình còn mới mẻ nên việc hình thành và đưa Quỹ PTKH&CNQG vào hoạt động gặp không ít trở ngại. Cùng với việc lắng nghe, xử lý những ý kiến khác nhau của các nhà khoa học trong nước, tìm hiểu học hỏi các mô hình sẵn có trên thế giới, các nhà quản lý Quỹ đã mất không ít công sức vận động để mô hình mới được chấp thuận từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Giám đốc Quỹ Phan Hồng Sơn thì “khối lượng công việc nặng nề nhất trong thời gian qua là xây dựng những quy định cho việc tài trợ nghiên cứu phù hợp với luật ngân sách của Nhà Nước và các văn bản hiện hành đã có trong quản lý nghiên cứu khoa học”. Bởi vì, khi đề ra cách quản lý mới thì không thể tránh khỏi đụng chạm với các quy định làm chuẩn cho mô hình quản lý cũ. Cũng theo ông Phan Hồng Sơn thì bước đầu, mặc dù đã có sự ủng hộ mạnh mẽ từ lãnh đạo Bộ Khoa Học và Công Nghệ nhưng Quỹ vẫn phải dành không ít thời gian để thuyết phục giành sự đồng thuận từ phía Bộ Tài Chính. Bởi vậy, Quỹ ra đời từ tháng 3, tới tháng 5 có dự thảo quy chế nhưng tới nay giới hạn hoạt động mới chỉ là áp dụng “thí điểm”. Chúng ta có thể hiểu được khó khăn của những người điều hành và xây dựng Quỹ cũng như các nhà chức trách có thẩm quyền. Tuy đa số chúng ta ai cũng mong muốn đóng góp vào tiến trình phát triển tiến bộ chung của xã hội, nhưng việc xây dựng một quy chế đạt được mong ước như vậy trong đặc thù Việt Nam là điều không dễ dàng. Chúng ta hãy thử cùng xem xét mô hình hiện hành Quỹ PTKH&CNQG và tìm kiếm phương hướng để nó không những hoạt động tốt mà còn liên tục cải tiến tốt hơn nữa.      Thử tìm hiểu sâu hơn nữa  Câu hỏi mà tất cả chúng ta tất yếu sẽ đặt ra là liệu chất lượng các nghiên cứu cơ bản mà Quỹ sẽ tài trợ có thật sự hữu ích cho công cuộc phát triển đất nước hay không?   Điều này phụ thuộc vào bốn yếu tố: cơ chế lựa chọn các đề xuất nghiên cứu; các yêu cầu mà Quỹ đặt ra cho người nhận tài trợ; cơ chế đánh giá kết quả nghiên cứu; đối sách của Quỹ đối với những người nhận tài trợ nhưng không hoàn thành được các cam kết với Quỹ.   Chúng ta sẽ xem xét lần lượt từng yếu tố một.  Cơ chế lựa chọn các đề xuất nghiên cứu. Cơ sở nào để Quỹ xây dựng các hướng nghiên cứu và phân phối tí lệ lượng tài trợ giữa các hướng nghiên cứu này? Đây là câu hỏi không dễ trả lời. Nó cũng chính là một phần nguyên nhân của việc các tổ chức tài trợ mang tính hoạch định trung ương từ trên xuống khó đạt được hiệu quả cao. Vả lại, việc định hướng đề tài nghiên cứu và định lượng nguồn tài trợ của một cơ quan nhà nước thì lệ thuộc chặt chẽ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ấy. Trong khi đó, với đặc thù tự do và hoạt động độc lập của mình, Quỹ PTKH&CNQG tự nó phải đề ra cơ chế xây dựng hướng nghiên cứu và xác định tỉ lệ phân phối vốn tài trợ cho phù hợp. Đây là thách thức mà những người điều hành Quỹ sẽ phải đề ra lộ trình và từng bước giải quyết.           Sự ra đời của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia thể hiện một hướng đi mới, bổ sung cho phương thức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học đã có trước đây từ phía Nhà Nước. Việc tài trợ phát triển cho khoa học từ phía nhà nước đi theo phương thức top-down, nghĩa là NN sẽ lựa chọn hướng nghiên cứu và chỉ định nhân sự thực hiện. Cả hai công việc này đều tiềm tàng tính quan liêu. Việc lựa chọn hướng nghiên cứu dễ ít nhiều chịu giới hạn từ sự hoạch định chiến lược của những người quản lý không am hiểu sâu về các chuyên ngành khoa học cũng như các đòi hỏi từ thực tiễn. Còn việc lựa chọn nhân sự lại càng dễ bị chi phối bởi những yếu tố phi khoa học như quyền lợi và quan hệ cá nhân. Vướng mắc này tồn tại ở nhiều quốc gia, kể cả ở những nước đã phát triển.         Những yêu cầu mà Quỹ đặt ra cho người được nhận tài trợ: Hiện nay Quỹ có những quy định khá cụ thể về giới hạn thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu. Đối với các đề tài nghiên cứu thực nghiệm thì còn có thể được công nhận thông qua các bằng phát minh, sáng chế. Đây là những quy định có thể coi là hợp lý nếu được làm rõ và chặt hơn về mặt khái niệm (chẳng hạn như tạp chí quốc tế chuyên ngành có uy tín). Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng cái khó của Quỹ là trong môi trường thiếu dữ liệu thống kê như hiện nay thì rất khó nắm được hồ sơ năng lực của các tất cả các nhà khoa học Việt Nam. Như thế thì khó biết quy định thế nào chặt quá, thế nào là dễ quá. Tuy nhiên, hi vọng rằng sau khoảng thời gian thử nghiệm đầu tiên, Quỹ sẽ tích lũy được tạm đủ những dữ liệu mang tính thăm dó để từ đó có những phân tích xác đáng làm căn cứ đề ra được các định mức hợp lý.  Cơ chế đánh giá kết quả nghiên cứu: Cơ chế này rõ ràng lệ thuộc vào yếu tố thứ nhất (cơ chế lựa chọn đề tài) và yếu tố thứ hai (các yêu cầu đối với người nhận tài trợ để nghiên cứu). Nếu yếu tố thứ nhất hay thứ hai mập mờ thì việc đánh giá kết quả nghiên cứu sẽ mập mờ. Đây là điều cần lưu ý sớm giải quyết nếu Quỹ muốn thật sự hoạt động hiệu quả.  Các đối sách dành cho các vi phạm thỏa thuận giữa Quỹ và người nhận tài trợ: Hiện nay theo quy định thì các chủ nhiệm của đề tài bị đánh giá không đạt hoặc bị đình chỉ hợp đồng nghiên cứu thì không được đăng ký chủ trì đề tài nghiên cứu trong vòng 2 năm. Nếu hợp đồng nghiên cứu bị vi phạm nghiêm trọng thì những người liên quan bị xử lý theo quy định pháp luật và không được chủ trì đề tài do Quỹ tài trợ trong thời gian 5 năm. Với quy chế này thì thứ nhất, cần làm rõ như thế nào là vi phạm nghiêm trọng; thứ hai, vẫn chưa tạo ra cơ chế sàng ngăn chặn hiện tượng mang những bài nghiên cứu chất lượng nhàng nhàng đi đánh quả. Rõ ràng là với một nhà khoa học trình độ trung bình thì, việc mang một dự án chất lượng tồi đi đấu thầu vẫn là một lựa chọn tối ưu hơn so với không làm gì, nếu như cơ may thắng thầu là đủ cao. Mà khi mặt bằng trình độ các nhà khoa học càng thấp thì cơ may này lại càng lớn và số lượng những dự án kiểu đánh quả này sẽ càng đông.     Một số đề xuất  Điều kỳ vọng ở những người quản lý Quỹ PTKH&CNQG không chỉ là có thêm nhiều nhà khoa học VN làm nghiên cứu khoa học, mà còn khuyến khích họ làm nghiên cứu khoa học với chất lượng cao, từ đó hình thành những cá nhân và những tập thể khoa học mạnh. Một trong những giải pháp để thực hiện kỳ vọng này là lập một giải thưởng hàng năm cho những cá nhân và nhóm nhà khoa học có những công bố quốc tế xuất sắc (kể cả những công trình nghiên cứu không được Quỹ tài trợ). Ông Phan Hồng Sơn cho biết Quỹ đã cố gắng vận động thực hiện điều này nhưng cho đến nay vẫn chưa được cấp có thẩm quyền thông qua.   Tiêu chí hàng đầu để Hội đồng xét duyệt Quỹ dựa vào để xét duyệt được  những dự án nghiên cứu cơ bản tốt là những bài báo khoa học công bố ở những tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế có uy tín, nơi hội tụ của những peer reviews hàng đầu thế giới. Nếu có thể dựa vào số lượng trích dẫn cũng trên các tạp chí này thì mức độ chính xác lại càng khả tín. Bởi vậy, không những chỉ nên thưởng cho những tác giả có bài đăng trên tạp chí quốc tế có uy tín mà còn phải thưởng gia tăng hàng năm theo số lượng trích dẫn dùng bởi những bài báo cũng đăng trên các tạp chí hàng đầu này. Điều quan trọng không hẳn là thưởng ít hay nhiều mà cần thể hiện được rằng Quỹ là một tổ chức có khả năng phân biệt một cách xác đáng chất lượng của các bài nghiên cứu khoa học.   Các nghiên cứu công nghệ hữu ích sẽ liên tục là đòi hỏi của công cuộc phát triển đất nước trong trước mắt và lâu dài. Tuy nhiên, cái mà nhà nghiên cứu công nghệ cần không hẳn là tài trợ chi phí. Thậm chí tài trợ chi phí 100% còn gây hại, vì nó triệt tiêu rủi ro, làm cho người nghiên cứu mất đi động lực để tối ưu hóa chất lượng sản phẩm. Điều mà người nghiên cứu công nghệ cần là sự kết nối với thị trường. Cho nên một khi chất lượng của kết quả nghiên cứu đã được khẳng định thuyết phục thì Quỹ nên có trách nhiệm giúp quảng bá giá trị kết quả nghiên cứu tới các đối tượng khách hàng tiềm năng. Ngược lại, thông qua việc khảo sát thường niên về nhu cầu công nghệ từ các doanh nghiệp và tổ chức liên quan mà Quỹ có được định hướng thiết thực cho các đề tài nghiên cứu công nghệ. Vai trò cổng thông tin của Quỹ sẽ có giá trị đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội.   Quỹ PTKH&CNQG là đại diện của Bộ Khoa học và Công nghệ, được thành lập để hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học trong phạm vi cả nước. Vậy thì hoạt động điều hành của nó cần được thể hiện rõ tính khoa học. Nghĩa là tự tạo được cơ chế để luôn làm cho chính nó trở nên tốt hơn. Như vậy thì cần ba yếu tố. Thứ nhất là luôn tích lũy một cách có hệ thống hồ sơ dữ liệu công việc, bao gồm các kết quả nghiên cứu, hồ sơ các nhà nghiên cứu được nhận tài trợ và không được nhận tài trợ, và hồ sơ nhận xét, đánh giá liên quan của các chuyên gia. Thứ hai là luôn lắng nghe ý kiến và đề xuất từ nhiều phía, bao gồm các nhà khoa học, nhà quản lý, và thậm chí cả các doanh nghiệp, những người thực sự có nhu cầu về công nghệ. Cần tích lũy các ý kiến có giá trị thành kho dữ liệu vì đó chính là nền tảng để Quỹ tự định hướng và tự cải thiện. Mô hình quản lý và kết nối thông tin điện tử là công cụ lý tưởng phục vụ cho các chức năng này. Thứ ba là cần những nhà điều hành giỏi có khả năng khai thác hiệu quả những kho dữ liệu nói trên. Nhân đây có thể nói thêm về chính sách đãi ngộ nhân sự làm việc tại Quỹ. Theo ông Phan Hồng Sơn thì mức đãi ngộ nhân sự của Quỹ bị ràng buộc bởi chính sách đãi ngộ chung dành cho các cơ quan Nhà nước, do vậy việc thu hút nhân sự chất lượng cao để kiện toàn bộ máy tổ chức của Quỹ gặp nhiều khó khăn.   …  Hi vọng rằng sau những bước khởi đầu đáng khích lệ, Quỹ PTKH&CNQG sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy chế, tiêu chuẩn định mức, và đặt ra các mục tiêu khả thi, góp phần tạo ra một hình mẫu nền tảng cho việc đổi mới quản lý khoa học và công nghệ của đất nước..     Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vài suy nghĩ về đầu tư cho KHXN&NV      GS.TS Vũ Đức Nghiệu (Khoa Ngôn ngữ học, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, cơ quan quản lý tài chính không cố tình gây khó khăn cho nhà nghiên cứu, tuy nhiên chính sách quản lý và đầu tư cho khoa học và công nghệ vẫn cần được tiếp tục cải thiện để có thể đồng hành cùng những nghiên cứu thật sự có giá trị ngay từ đầu.  &#160;    Kết quả với hiệu quả không phải là một   Từ trước đến nay, nguồn tài trợ của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học nói chung, trong đó có các khoa học xã hội và nhân văn, vẫn luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng, trong bối cảnh tài trợ của các tổ chức nước ngoài và tư nhân không đáng kể. Sản phẩm nghiên cứu thì mãi rất gần đây mới được nhận thức công khai là có thể “bán” và rằng có thị trường khoa học và công nghệ…, nhưng bán cho ai, ai mua… – điều này mới được thực hiện và thực hiện được còn ít lắm, hiếm lắm. Tài trợ của Nhà nước vẫn là nguồn bao chi gần như hoàn toàn, vậy thì, nói gì thì nói, giới nghiên cứu của chúng ta hiện vẫn phải dựa vào đầu tư của Nhà nước qua các kênh, các cách thức khác nhau là chính.   Nhà nước đã có những đầu tư càng ngày càng lớn hơn cho khoa học và công nghệ (trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta). Nhưng cái làm cho phần nhiều trong chúng ta (cả nhà quản lý lẫn nhà nghiên cứu) đều phải nghĩ ngợi, băn khoăn là hiệu quả đầu tư nghiên cứu chưa tương xứng, chưa được cao, thậm chí có những chỗ, những việc, hiệu quả đạt được thấp, rất thấp.                Tôi biết chắc chắn có người đã được xét,  trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho một cụm công trình, nhưng tất cả  các công trình trong một đời nghiên cứu của ông chưa bao giờ đăng ký để  được tài trợ đồng nào của Nhà nước cả.               Nhưng thế nào được coi là một nghiên cứu có hiệu quả? Tôi nghĩ: kết quả nghiên cứu và hiệu quả nghiên cứu luôn luôn gắn bó, đi đôi với nhau, gần như lồng vào nhau, nhưng không phải là một. Kiểu gì thì cũng có kết quả cả, chẳng cao thì thấp, chẳng nhiều thì ít. Nhưng hiệu quả của nghiên cứu là vấn đề phải được thảo luận rốt ráo hơn thì mới giúp cho việc đánh giá được cụ thể và khách quan hơn. Vấn đề này rất phức tạp và nó không giống nhau giữa các ngành, chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau; mặc dù giữa các ngành, chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau đó, vẫn có mẫu số chung. Mẫu số chung đó, theo tôi, là câu trả lời cho những câu hỏi đại loại như: nghiên cứu này phục vụ cho ai, cái gì; ai, cái gì cần nó và vì sao phải cần nó… Trước nay, những câu hỏi như thế vẫn được đặt ra và trả lời trong thuyết minh đề cương nghiên cứu rồi, chứ không phải là chưa có đâu; nhưng nói cho ngay, thì chưa được kiểm chứng cho thật nghiêm ngặt từ khâu đánh giá ban đầu cho đến khâu đánh giá cuối cùng.   Một điểm nữa tôi cũng muốn nói là đầu tư của chúng ta từ cấp cao đến cấp thấp, còn dàn trải. Dàn trải thì thiếu tập trung, dẫn đến hiệu quả không cao, lại gây cảm giác như là đầu tư để tạo việc làm, để “cải thiện”. Những người lo việc quản lý đầu tư cũng có cái khó của họ. Nhưng thế nào là dàn trải, thế nào là tập trung, thì phải có những thảo luận chuyên biệt.   Có phải cơ chế tài chính cố tình làm khó?  Mới đây, qua Tia Sáng, tôi được biết, GS Nguyễn Quang Hồng, soạn giả bộ Tự điển Chữ Nôm dẫn giải đã không xin tài trợ của các cơ quan nhà nước cho công trình mất bảy năm biên soạn này, vì ông ngại những phiền lụy hành chính đi kèm. Tôi chia sẻ sâu sắc suy nghĩ đó của GS. Nguyễn Quang Hồng. Phải nói cho công bằng, GS. Hồng cũng như các nhà nghiên cứu khác, ai mà chẳng cần tiền để thực hiện các công việc nghiên cứu của họ. Nhưng cũng có người ngại bị ràng buộc, ngại phải mất thời gian để giải trình: anh đã làm gì, tiêu bao nhiêu, có hợp lý không, có đúng định mức không, đúng kế hoạch và đúng tên việc đã đăng ký không … Mà những việc đó trong bản thuyết minh nghiên cứu chỉ là dự kiến; trong quá trình thực hiện có thể có những thay đổi, tăng giảm, thậm chí đảo lộn không thể lường hết từ đầu được. Thế là cứ như mình làm sai, có lỗi, mặc dù tất cả đều phục vụ cho mục đích nghiên cứu và kết quả cuối cùng. Thế là thôi. Tôi biết chắc chắn có người đã được xét, trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho một cụm công trình, nhưng tất cả các công trình trong một đời nghiên cứu của ông chưa bao giờ đăng ký để được tài trợ đồng nào của Nhà nước cả. Họ cầm lòng và vui sống với công việc nghiên cứu của mình. Và cứ thế, họ an nhiên làm những việc mà họ tự thẩm định được là sẽ hữu ích, hữu dụng, hữu hiệu cho các nhu cầu khoa học và thực tiễn hữu quan. Tuy nhiên, không phải ai cũng làm như thế được. Một số ít người như vậy, tôi bảo là họ có niềm tin tông đồ. Không vậy, thì sao mà làm được. Ngay cả những người lãng mạn nhất, ngồi làm thơ mà còn không thể quên: “cơm áo không đùa với khách thơ” cơ mà.            Có những nghiên cứu sâu, dài hơi,  được nghiền ngẫm mãi rồi, được làm trước, gần xong hoặc thậm chí coi như  xong rồi mới đăng ký. Được khen là tiến độ thực hiện nhanh. Mấy ai biết  rằng họ đã phải đổ công sức vào đấy từ rất lâu rồi.          Nhân đây, tôi phải giải thích thêm thế này. Nói như vậy thì hóa ra cơ quan quản lý tài chính gây khó khăn cho nhà nghiên cứu à? Không phải vậy. Chính sách và cơ chế quản lý chi tiêu tài chính cho khoa học đã tạo nên những phức tạp về mặt tổ chức và quản lý quá trình thực hiện bởi nó chú trọng vào việc quản lý sao cho chặt chẽ, cho đúng, nhằm bảo vệ tiền của Nhà nước khỏi bị chi tiêu sai, tránh lãng phí, thất thoát. Nguyên tắc bảo đảm an toàn và cái gọi là tính kế hoạch (cũng là để phục vụ cho nguyên tắc an toàn) đã được đưa lên hàng quan tâm số một, gần như duy nhất. Vì thế, nó lấn lướt những thực tế khác. Và mọi chuyện bắt đầu nảy sinh từ đó.   Trong những năm qua, chính sách quản lý và đầu tư cho khoa học và công nghệ của Nhà nước đã thay đổi nhiều theo hướng càng ngày càng tích cực hơn, hợp lý hơn. Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP1, Nghị định 80/2007/NĐ-CP2 là những minh chứng. Tư tưởng chỉ đạo của những nghị định này đã cởi mở dần, nhưng vẫn còn cần phải tiếp tục bổ sung, cho đến khi thực sự đạt được “tự chủ tự chịu trách nhiệm” trong các hoạt động khoa học công nghệ thì mới thôi.  Riêng trong khuôn khổ của tổ chức/cá nhân thực hiện nghiên cứu được Nhà nước đầu tư kinh phí thì phải giao quyền tự chủ hơn nữa cho họ, sao cho họ phải được tự chủ thật sự trong việc tổ chức thực hiện và chi tiêu. Kế hoạch triển khai nghiên cứu, các nghiên cứu bộ phận trong toàn bộ quá trình, việc chi tiêu tài chính… chỉ là dự kiến và có thể bị đảo lộn bởi rất nhiều nguyên nhân. Cái mà chúng ta cần là kế hoạch thực hiện nghiên cứu, là theo dõi mức chi cao/ thấp so với dự trù, là tiến độ giải ngân, là lý do tại sao thêm việc này, bớt việc kia… hay ta cần những sản phẩm cuối cùng nghiêm túc, bảo đảm chất lượng đã được đăng ký, được xác định trước, cùng với một định mức thời gian, định mức kinh phí tổng đã được xem xét, phê duyệt, quyết định cấp, không đổi? Vậy thì hãy để người nghiên cứu hoàn toàn tự chủ trong quá trình thực hiện công việc và chi tiêu kinh phí (vì coi như đã “khoán” rồi), đồng thời phải gắn quyền tự chủ ấy với trách nhiệm nặng hơn nữa và chế tài mạnh hơn nữa trong khâu kiểm tra, đánh giá sản phẩm đầu ra.   Tự xoay xở để theo đuổi những công trình lâu năm  Nhìn danh mục các đề tài nghiên cứu, dễ có cảm giác, phần lớn các đề tài được tài trợ hiện nay đều thuộc dạng ngắn hạn, trong hai-ba năm phải nghiệm thu. Nhưng điều đó không có nghĩa là các nhà nghiên cứu của chúng ta chỉ hướng đến những nghiên cứu ngắn hạn. Những yêu cầu nghiên cứu cấp thời đặt ra trong thời hạn bao lâu, thì tất nhiên, người nghiên cứu sẽ thực hiện trong thời gian đó. Còn những cái mà người nghiên cứu xác định rằng không thể thực hiện trong thời gian ngắn, phải làm lâu năm, rằng phải kiên trì tự làm hoặc tự tổ chức nhau cùng làm vì thấy… ham, thấy… thích mà làm, thì người ta vẫn cứ làm thôi. Cái ham mê, cái lương thức của nghề nghiệp bảo họ làm, chứ chẳng ai bắt họ cả; mà không đăng ký, không được phê duyệt… thì ai cung cấp tài chính cho họ? Có hàng loạt chuyện về vấn đề này. Có những nghiên cứu sâu, dài hơi, được nghiền ngẫm mãi rồi, được làm trước, gần xong hoặc thậm chí coi như xong rồi mới đăng ký. Được khen là tiến độ thực hiện nhanh. Mấy ai biết rằng họ đã phải đổ công sức vào đấy từ rất lâu rồi. Lại có những công trình làm xong rồi, chỉ xin tài trợ để in công bố nhưng rất khó khăn hoặc không thực hiện được. Tại sao lại phải cần tài trợ tiền in? Vì chẳng ai đầu tư. Người nghiên cứu không có khả năng tài chính. Nhà xuất bản thì không mặn mà gì với việc in những sản phẩm như thế. Chuyên sâu và quý đấy, nhưng vốn bỏ ra in thì lớn, không bán rộng rãi được thì ai bù lỗ cho. Cũng đã có một số quỹ hỗ trợ nghiên cứu tài trợ cho những công việc tương tự như vậy, nhưng còn ít lắm. Nhà nước cần để mắt đến việc này hơn. Tình trạng này cần phải được thay đổi, những nghiên cứu thật sự có giá trị cao mà không được Nhà nước đầu tư tài trợ nghiên cứu từ đầu thì ít ra trong giai đoạn cuối Nhà nước phải là “bà đỡ” giúp chúng được ra đời.     TT ghi            Chính sách và cơ chế quản lý chi tiêu tài  chính cho khoa học đã tạo nên những phức tạp về mặt tổ chức và quản lý  quá trình thực hiện bởi nó chú trọng vào việc quản lý sao cho chặt chẽ,  cho đúng, nhằm bảo vệ tiền của Nhà nước khỏi bị chi tiêu sai, tránh lãng  phí, thất thoát. Nguyên tắc bảo đảm an toàn và cái gọi là tính kế hoạch  (cũng là để phục vụ cho nguyên tắc an toàn) đã được đưa lên hàng quan  tâm số một, gần như duy nhất. Vì thế, nó lấn lướt những thực tế khác. Và  mọi chuyện bắt đầu nảy sinh từ đó.            Chú thích:  1. Nghị định quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.  2 Nghị định của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN.          Author                Quản trị        
__label__tiasang Một vụ lừa đảo khoa học lớn ở Châu Âu      Các nhà chức trách Italy và Văn phòng Chống lừa đảo châu Âu (OLAF) tại  Brussel, Bỉ, đã xác nhận rằng họ đang tiến hành khởi tố các thành viên  của một mạng lưới lớn bị buộc tội biển thủ hơn 50 triệu Euro (72 triệu  USD) tiền kinh phí của EC cho những dự án nghiên cứu rởm.  &#160;    Cơ chế quan liêu ngặt nghèo vẫn bị chê trách là làm giảm nhiệt tình của các nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia vào các chương trình nghiên cứu tài trợ bởi Ủy ban châu Âu (EC). Nhưng quy trình nổi tiếng là cồng kềnh và cơ chế kiểm soát cứng rắn của ủy ban này rõ ràng đã không ngăn chặn được một nhóm tội phạm tiến hành một vụ lừa đảo trâng tráo làm thất thoát hàng triệu Euro tiền kinh phí tài trợ của EC.   Các nhà chức trách Italy và Văn phòng Chống lừa đảo châu Âu (OLAF) tại Brussel, Bỉ, đã xác nhận rằng họ đang tiến hành khởi tố các thành viên của một mạng lưới lớn bị buộc tội biển thủ hơn 50 triệu Euro (72 triệu USD) tiền kinh phí của EC cho những dự án nghiên cứu rởm. Ở Milan, Italy, Cảnh sát tài chính tháng trước đã buộc tội vài cá nhân liên quan tới vụ lừa đảo này. Trong khi đó, ở Brussels, EC đã cho hủy bốn dự án hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, và loại bỏ 30 người trước đây từng được cấp kinh phí trong hơn 20 dự án đang được triển khai. Các cuộc điều tra sẽ còn tiếp tục ở Vương Quốc Anh, Pháp, Hy Lạp, Áo, Thụy Điển, Slovenia, và Ba Lan.   “Chúng tôi chưa từng có hồ sơ của vụ lừa đảo nào lớn tới cỡ này”, cho biết từ David Boublil, người phát ngôn của Ủy ban trong lĩnh vực thuế, hải quan, chống lừa đảo, và kiểm toán. Trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, các công tố viên Italy và OLAF sẽ không tiết lộ danh tính những người bị nghi vấn, hoặc tên các dự án nghiên cứu mà họ có liên quan.  Vụ lừa đảo đã được tiến hành theo một “cách thức vô cùng tinh vi, và có dấu hiệu rửa tiền”, bởi một mạng lưới xuyên quốc gia các công ty ma và các nhà thầu phụ, khẳng định từ Pavel Bořkovec, một phát ngôn viên của OLAF. Vài điều phối viên dự án đã bị buộc tội làm thổi phồng chi phí, cho những hoạt động và dịch vụ nghiên cứu không có thật, ông nói.  “Các dự án nghiên cứu rõ ràng đã được tổ chức với mục tiêu duy nhất là lừa dối Ủy ban và cơ chế kiểm soát của nó,” Boublil nói. Để tạo lớp vỏ hợp lệ cho chúng, những đơn đăng kí cấp kinh phí đưa vào tên của những nhà khoa học có thật, những tổ chức nghiên cứu có thật, những công ty đã được thành lập, ông cho biết. Nhưng trong đa số các trường hợp, những đối tượng này bị đưa tên vào danh sách đồng đối tác của dự án mà không hề được hay biết.   Nguồn tin giấu tên ở Bỉ cho biết rằng đối với các dự án hợp tác cỡ lớn, thường thì người ta không hoàn toàn loại trừ được những sự lừa dối tài chính ở mức độ thấp, ví dụ như ghi khống hóa đơn, hay biển thủ ở quy mô nhỏ. Nhưng Ủy ban thường kiểm tra rất kỹ các đồng đối tác của dự án, kể cả các công ty, qua đó đáng lẽ không thể bỏ sót những sự lừa dối ở quy mô lớn. Như vụ lừa đảo vừa rồi đã thành công, chứng tỏ các thủ phạm phải rất rành rẽ về các điểm yếu trong quy trình kiểm soát của EC, và thành thạo trong việc làm giả văn bản.   Boublil khẳng định rằng Ủy ban đã rút ra được bài học từ vụ này. Tất cả các bộ phận chịu trách nhiệm về kinh phí dự án – bao gồm Tổng Ban Điều hành Truyền thông và Thông tin Xã hội (Information Society and Media Directorate General) của EC vốn phụ trách việc hủy bỏ các dự án– nay được đào tạo để kiểm tra các thủ đoạn mà mạng lưới lừa đảo đã sử dụng. Các hướng dẫn đánh giá dự án và kiểm tra đối tác nay sẽ được cập nhật. EC tới nay đã thu hồi được 10 triệu Euro, và sẽ nỗ lực thu hồi phần còn lại qua tòa án, Boublil cho biết.   Ủy ban hiện nay đang phát triển một Cơ chế Chiến lược chung, tốn nhiều tỉ USD, dự kiến từ năm 2014 sẽ giúp hợp nhất tất cả mọi kênh kinh phí vào một kênh duy nhất cho tất cả mọi kinh phí nghiên cứu và kinh phí đổi mới.  Lo ngại về sự quan liêu của tổ chức, vài nghìn nhà khoa học châu Âu đã ký vào đơn thỉnh nguyện trong năm nay (www.trust-researchers.eu) đề nghị cơ chế này được thoáng hơn, căn cứ trên “lòng tin tưởng lẫn nhau và hợp tác có trách nhiệm”. Nhưng nay người ta sợ rằng vụ lừa đảo sẽ làm tăng thêm sự cẩn trọng của các nhà quản lý, và làm thất bại những nỗ lực tìm cách đơn giản hóa thủ tục.   “Tôi e rằng vụ việc vừa rồi sẽ khiến người ta cho rằng cần phải tăng thêm kiểm soát chứ không phải giảm đi”, nhận định từ Herbert Reul, Chủ tịch Ủy ban công nghiệp, nghiên cứu, và năng lượng của Nghị viện châu Âu. Ủy ban này ủng hộ việc đơn giản hóa quy trình thủ tục cấp kinh phí của EC.   (Quirin Schiermeier, Nature News, online ngày 14/06/2011)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Mục tiêu cụ thể và khả thi cho Bộ KH&CN      L&#224;m sao để chung sống với c&#225;i đang r&#224;ng buộc m&#236;nh v&#224; cải thiện n&#243;*? B&#224;i n&#243;i chuyện của Bộ trưởng Ho&#224;ng Văn Phong với c&#225;n bộ vi&#234;n chức Bộ KH&amp;CN trong Hội nghị Tổng kết c&#244;ng t&#225;c năm 2008 xoay quanh c&#226;u hỏi n&#224;y. Đ&#226;y l&#224; c&#226;u hỏi c&#243; t&#237;nh mấu chốt căn bản. Kh&#244;ng chỉ Bộ trưởng m&#224; cả x&#227; hội đang đặt ra cho tất cả mọi cơ quan NN. C&#243; thể c&#243; những c&#226;u trả lời kh&#225;c nhau, những giải ph&#225;p kh&#225;c nhau. Nhưng giải ph&#225;p n&#224;o cũng cần thỏa m&#227;n hai ti&#234;u ch&#237;: cụ thể v&#224; khả thi.          Vua Tuyên vương nước Tề thích nghe sáo, và lúc nào cũng muốn nghe, bắt ba trăm người cùng thổi một loạt. Trong bọn ba trăm người ấy, có Đông quách tiên sinh không biết thổi sáo, nhưng cũng lạm dự vào đây để kiếm lương ăn.  Đến khi vua Tuyên vương mất, vua Mẫn vương nối ngôi, cũng thích nghe sáo. Nhưng chỉ muốn nghe riêng từng người một mà thôi. Đông quách tiên sinh thấy thế, tìm đường trốn trước (Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc – Trần Lê Nhân).  Trong câu chuyện ngụ ngôn mà chúng ta được đọc trên đây, vua Mẫn vương chưa kịp nghe qua cả 300 người để có thể so sánh và kết tội Đông Quách tiên sinh. Thậm chí có thể chỉ mới kịp đặt ra lệ nghe từng người một thổi sáo thì Đông Quách tiên sinh đã phải vội vàng tháo lui. Vì sao vậy? Vì nghe từng người thổi sáo thì với một đôi tai không cần có nhiều kinh nghiệm cũng nhận ra ngay được ai là người không biết thổi sáo. Chính sách của Mẫn vương như vậy là thỏa mãn được hai tính chất quan trọng đã nêu phía trên: tính cụ thể và tính khả thi.  Tác giả mẩu truyện này là Hàn Phi Tử, triết gia lớn của thời Chiến Quốc, người chủ trương rằng để quản lý tốt một quốc gia thì nhất thiết phải có sự xác định hợp lý trách nhiệm cá nhân, sao cho có thể đánh giá cụ thể và chính xác thành quả công việc. Một môi trường làm việc trong tập thể mà không có sự đánh giá cụ thể và công khai chất lượng sản phẩm thì chính là điều kiện tốt để dung dưỡng những nhân sự thiếu năng lực và thiếu trách nhiệm.   Tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2008, Bộ trưởng Hoàng Văn Phong đã nói cái thiếu nhất [của đội ngũ cán bộ Bộ] chưa phải là trình độ mà là tính lo toan. Thiếu sự chu đáo thì dù trình độ nhân sự cao hay thấp, thành quả công việc không thể tốt. Vì sao không chu đáo? Hẳn vì sự đối chiếu giữa trách nhiệm với thành quả công việc còn thiếu tính minh bạch, và chính xác. Vì sao chưa đối chiếu được? Hẳn vì sự phân phối trách nhiệm cá nhân chưa được cụ thể. Vì sao chưa phân công cụ thể trách nhiệm cá nhân? Có thể vì sự định hướng công việc của tập thể cũng chưa đủ cụ thể.   Tiến trình phát triển kinh tế đất nước sắp tới cần 3 loại vật liệu gì, ở mức độ nào, ai dùng? Câu hỏi này Bộ chưa trả lời được vì còn thiếu thông tin và năng lực. Thiếu thông tin về tiến trình phát triển kinh tế đất nước, thiếu sự đối chiếu với kinh nghiệm phát triển các quốc gia từng có hoàn cảnh giống Việt Nam trong hiện tại. Thiếu những người có khả năng đặt các vấn đề lên bàn để phân loại, đánh giá. Đây là những vấn đề rất cụ thể mà Bộ trưởng Hoàng Văn Phong đặt ra.  Đòi hỏi tính cụ thể là điều kiện cần đầu tiên khi làm công tác quản lý. Nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Trách nhiệm nào cũng cần cụ thể, nhưng cũng cần cả tính khả thi. Những hạn chế cụ thể mà Bộ trưởng Hoàng Văn Phong chỉ ra, có lẽ Bộ KH&CN chưa giải quyết được trong một thời gian ngắn. Và để giải quyết được trong lâu dài thì ngay từ bây giờ cần phải đưa ra những mục tiêu vừa cụ thể vừa khả thi, vừa phù hợp với chiến lược lâu dài.  Mục tiêu nào vừa cụ thể vừa khả thi mà Bộ KH&CN cần đặt ra? Nhìn một cách vĩ mô tổng thể thì khoa học công nghệ có chức năng giúp nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng đời sống (khoa học cơ bản thì giúp bổ sung vào kho tàng tri thức và văn hóa nhân loại, nhưng chức năng trừu tượng đó quá khó để có thể lượng hóa được cụ thể và sẽ không được bàn đến trong bài viết này). Mọi thành quả công nghệ đều có thể có các tác động kinh tế và tác động môi trường (tác động xã hội cũng thuộc loại khó có thể được lượng hóa nên cũng không thể bàn đến). Sau khi các giá trị này được ước lượng cụ thể thì tự nhiên chúng ta đã có được một bảng thứ tự. Qua đó chúng ta biết được đâu là công nghệ phù hợp, đáp ứng tốt cho công cuộc phát triển đất nước. Có thông tin về sản phẩm thì sự mua bán mới thuận tiện để thành quả khoa học được ứng dụng, người ứng dụng được lợi, người nghiên cứu tự nuôi được mình.  Tuy nhiên, viễn cảnh win – win trên vẫn chưa khả thi nếu chỉ dựa vào nhân lực và kỹ thuật của Bộ KH&CN. Cần phải có những khảo sát về giá cả, lượng cung – cầu trên thị trường nội địa và xuất khẩu trong hiện tại, những dự báo về biến động trong tương lai, những nghiên cứu đánh giá về môi trường, … Phải có những kết quả ước lượng cụ thể giành cho cá nhân các nhà đầu tư cũng như những kết quả ước lượng tác động lên sự phát triển lâu dài của cộng đồng. Tuy nghị định 115/2005/NĐ – CP đã đem lại động lực để các viện và trung tâm nghiên cứu tìm cách tiếp cận sát sao hơn với thực tiễn các nhu cầu kinh tế – xã hội, nhưng để ra được các con số cụ thể nói trên vẫn là đòi hỏi phi thực tế.  Nhưng nếu không có các đánh giá mang tính định lượng thì rất khó phân biệt chất lượng sản phẩm công việc và đành phải chấp nhận tình trạng chậm tiến đồng loạt (300 người đồng thanh thổi sáo). Vậy nên ngay lập tức Bộ KH&CN cần có các giải pháp mang tính cơ sở bước đầu. Có thể tận dụng nhân lực và kỹ thuật từ các Bộ, ngành khác bằng cách mạnh dạn làm hợp đồng đặt hàng để cho ra các đánh giá về hiệu quả kinh tế và môi trường của từng loại công nghệ và vật liệu mới. Cũng có thể đặt hàng các trường đại học lớn trong nước, qua đó giúp họ giải quyết nhu cầu nghiên cứu ứng dụng. Những kết quả nghiên cứu này có thể còn rất hạn chế, nhiều khiếm khuyết, nhưng rất cần thiết. Chúng là bước đi cơ sở đầu tiên để từ đó có những sản phẩm thông tin tốt hơn.  Lưu ý rằng các kết quả nghiên cứu nói trên sẽ có giá trị phổ cập và lâu dài. Chúng đem đến thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư tìm kiếm ứng dụng công nghệ, và cũng rất thiết yếu cho các nhà tư vấn chính sách vùng, miền, quốc gia. Nếu như liên kết được các nguồn lực để cho ra những sản phẩm thông tin đáp ứng các nhu cầu tối cần thiết này thì khả năng khai thác thương mại có thể rất khả thi.  Theo như Bộ trưởng Hoàng Văn Phong thì trong Bộ KH&CN hiện chỉ có một vài cán bộ được đào tạo bài bản về quản lý khoa học và công nghệ. Với lực lượng quản lý mỏng như vậy thì có thể cải thiện đáng kể chất lượng công việc được không? Có lẽ là được nếu có sự tận dụng hợp lý các nguồn lực hiện có trong xã hội thông qua cơ chế thị trường để xây dựng các sản phẩm thông tin thiết thực mà chính thị trường đòi hỏi. Thử nghiệm lần lượt nhưng liên tục ở những cơ quan, lĩnh vực quan trọng đầu tiên. Chưa cần vội vàng rà soát đồng loạt cả 300 người thổi sáo. Hãy thử nghe lần lượt từng người một xem sao!  ————–    *: Những chữ in nghiêng là trích dẫn lời Bộ trưởng Hoàng Văn Phong trong Hội nghị Tổng kết năm công tác 2008 của Bộ KH&CN          Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ bảo lãnh vốn cho các startup về LPƯ hạt nhân      Bộ Năng lượng Mỹ sẽ giúp các công ty khởi nghiệp định hướng quá trình thử nghiệm và xin cấp phép [cho các dự án nhà máy điện hạt nhân], nhưng một số doanh nhân ngành hạt nhân nghi ngờ rằng điều đó vẫn chưa đủ.    Trong khi thừa nhận trào lưu ra đời các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực lò phản ứng hạt nhân tiên tiến, Bộ Năng lượng Mỹ đã công bố một chương trình mới để giúp tạo điều kiện và đổi mới tài chính trong ngành năng lượng hạt nhân. Chương trình được gọi là Cổng vào cho Đổi mới tăng tốc trong công nghệ hạt nhân (Gateway for Accelerated Innovation in Nuclear) sẽ “cung cấp cho cộng đồng năng lượng hạt nhân quyền tiếp cận các hỗ trợ kỹ thuật, quản lý và tài chính cần thiết để xúc tiến các thiết kế lò phản ứng hạt nhân mới hoặc tiên tiến theo hướng thương mại hóa”.  Third Way – một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington DC chuyên về lĩnh vực năng lượng, biến đổi khí hậu, và an ninh quốc gia – cho biết: hiện có gần 50 công ty ở Bắc Mỹ đang nghiên cứu và phát triển các công nghệ điện hạt nhân tiên tiến dựa vào hơn 1,3 tỷ đô la vốn tư nhân.  Nhưng tất cả các công ty khởi nghiệp đều gặp phải những rào cản không thể vượt qua, đó là thiếu sự hỗ trợ từ Bộ Năng lượng và quá trình cấp giấy phép do Ủy ban Pháp quy hạt nhân Mỹ (Nuclear Regulatory Commission, NRC) tiến hành vừa tốn tiền vừa mất thời gian.  Chương trình Gateway mới công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh về năng lượng hạt nhân được tổ chức tại Nhà Trắng, là tín hiệu rõ ràng nhất cho đến nay về sự hỗ trợ của chính quyền Obama đối với công nghệ hạt nhân mới. Bộ Năng lượng Mỹ cũng tuyên bố sẽ mở rộng chương trình bảo lãnh vay vốn trị giá 12,5 tỷ USD của mình cho các công nghệ hạt nhân tiên tiến đổi mới. Những sáng kiến này sẽ tạo điều kiện cho các công ty hạt nhân tiên tiến được tiếp cận với các phòng thí nghiệm quốc gia, điểm liên lạc duy nhất cho sự hợp tác với các chuyên gia Bộ Năng lượng, và hữu ích cho “sự tìm hiểu và điều hướng các quá trình quản lý cấp giấy phép công nghệ lò phản ứng mới.”  “Bộ Năng lượng biết rằng có tồn tại một khu vực rộng lớn và ngày càng phát triển của các công ty thiết kế lò phản ứng tiên tiến”, Leslie Dewan, đồng sáng lập công ty Transatomic Power, nơi đang phát triển khái niệm lò phản ứng nhiên liệu lỏng kiểu mới, nói, “và các công ty đó đã cùng nhau đưa ra những giải pháp cụ thể và vô cùng hữu ích để làm việc với chúng tôi, nhằm thúc đẩy sự phát triển lĩnh vực này ở Mỹ”.    TS David  LeBlanc của công ty Terrestrial Energy trình bày về tiềm năng của lò phản ứng muối nấu chảy Thorium    Trở thành một phần của chương trình, giờ đây các công ty có thể sử dụng bảo lãnh vốn vay từ Bộ Năng lượng để giúp trang trải chi phí xin cấp giấy phép từ Ủy ban Pháp quy hạt nhân, bao gồm chứng nhận thiết kế, giấy phép xây dựng và các giấy phép cần thiết, – tổng số các chi phí này có thể tới hàng triệu USD.  Bộ Năng lượng Mỹ cũng đang ban hành một hệ thống chứng từ doanh nghiệp nhỏ (small-business voucher system) để tạo điều kiện cho các công ty khởi nghiệp được sử dụng các phương tiện của phòng thí nghiệm quốc gia. Chú ý là chương trình chứng từ sẽ phân chia tổng cộng hai triệu đô la cho tất cả các ứng viên thành công. Một số người trong cộng đồng hạt nhân tiên tiến không vui mừng với kế hoạch này.  “Sẽ tốt hơn nhiều so với trước đây,” John Kutsch, Giám đốc phát triển kinh doanh công ty khởi nghiệp hạt nhân Terrestrial Energy nói, “nhưng nó vẫn chỉ là một mức độ nhỏ của cam kết, khi so sánh với lượng dịch vụ và tiền bạc đầu tư cho năng lượng tái tạo, hoặc với số tiền mà Trung Quốc đã cam kết chi vào lĩnh vực hạt nhân tiên tiến”.  Nguyên Hải Hoành lược dịch  Nguồn:  http://www.technologyreview.com/news/543276/white-house-strikes-a-blow-for-advanced-nuclear-reactors/  Đọc thêm:  Mỹ: Quy trình cấp phép ghìm chân các công nghệ hạt nhân tiên tiến?  Những điều thú vị quanh LPU muối nấu chảy mới   Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?               Author                Quản trị        
__label__tiasang Mỹ: Quy trình cấp phép ghìm chân các công nghệ hạt nhân tiên tiến?      Các nhà doanh nghiệp hạt nhân mới ở Mỹ tin rằng có thể thay đổi ngành năng lượng, nếu quá trình để Ủy ban Pháp quy hạt nhân Mỹ (NRC) cấp giấy phép cho một mẫu lò phản ứng không kéo dài tới một thập niên hoặc hơn thế như hiện nay.    NRC cho biết, trong 35 năm qua [nước Mỹ] chỉ chuẩn y và triển khai được một nhà máy điện hạt nhân mới. Theo Third Way – một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington DC chuyên về lĩnh vực năng lượng, biến đổi khí hậu và an ninh quốc gia – thì hiện nay có gần 50 công ty ở Mỹ và Canada đang nghiên cứu và phát triển các công nghệ điện hạt nhân tiên tiến. Các công ty này được tài trợ hơn 1,3 tỷ USD từ các nhà đầu tư cá nhân như Bill Gates và từ các quỹ đầu tư mạo hiểm lớn.     Một số công ty trong số này có trụ sở tại khuôn viên trường MIT ở Cambridge, Massachusetts. Họ mới tham gia cuộc hội thảo “Xây dựng thiết kế lò phản ứng hạt nhân mới, an toàn, có thể mở rộng” (Building a Scalable, Safe New Nuclear Reactor Design). Transatomic Power, Terra Power, Moltex Energy, Tri-Alpha Energy và Terrestrial Energy thuộc vào số các công ty đại diện dự hội thảo.  Quy trình cấp phép là rào cản đối với sáng tạo    Nhiều công ty cho rằng quy trình cấp phép lâu và tốn kém của NRC là rào cản đối với sự sáng tạo mới. Quá trình để NRC cấp giấy phép cho một mẫu lò phản ứng có thể kéo dài tới một thập niên hoặc hơn thế, và gây tốn hàng trăm triệu USD.  Bà Allison Macfarlane, Chủ tịch NRC các năm 2012-2015 và nay là Giám đốc Trung tâm Khoa học quốc tế và Chính sách công nghệ tại ĐH George Washington, cho biết, quá trình đó là cần thiết. Một nhà máy điện hạt nhân có thời gian xây dựng và khai thác lâu dài, sự lo ngại về mặt an toàn, và chi phí xây dựng tốn kém, tất cả đòi hỏi một quá trình giám sát quản lý mạnh mẽ và triệt để. “Điện hạt nhân là một loài dã thú độc đáo,” Macfarlane nói tại hội nghị Solve.  Điều đó không thích hợp với các nhà doanh nghiệp hạt nhân mới, nhiều người trong số họ đã đầu tư hàng triệu USD vào việc thiết kế và triển khai thiết bị. Họ tin rằng có thể thay đổi ngành năng lượng – nếu họ có thể nhận được giấy phép và thử nghiệm.  “Chúng ta cần thay đổi quy trình cấp phép hiện nay,” Andrew Kadak nói. Ông là nhà nghiên cứu của Khoa khoa học hạt nhân và kỹ thuật tại MIT, cựu chủ tịch Hội Hạt nhân Mỹ.  Những người ủng hộ lò phản ứng hạt nhân tiên tiến đều nhất trí về đề cương phác thảo những điều cần thiết để thúc đẩy công nghệ hạt nhân tại Mỹ: một quy trình cấp phép tinh giản của NRC; phương thức “thử nghiệm xong rồi cấp giấy phép” (“test-then-license”) tương tự trình tự Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) cấp phép cho các loại dược phẩm mới; sự tham gia tích cực hơn của Bộ Năng lượng Mỹ trong việc đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển công nghệ; và thành lập một cơ sở thử nghiệm quốc gia, nơi có thể xây dựng và đánh giá các nguyên mẫu lò phản ứng tiên tiến.  NRC tuy thiếu cán bộ nhưng cũng đã tiến hành chương trình cải cách, tiếc rằng đó không phải là cải cách mà cộng đồng đang tìm kiếm. NRC chưa tăng cường năng lực thẩm định các thiết kế mới và giúp thúc đẩy sự đổi mới. Kế hoạch hiện nay được hậu thuẫn bởi James Inhofe, Thượng nghị sĩ Cộng hòa bang Oklahoma, Chủ tịch Ủy ban giám sát, người đã nhiều lần phủ nhận cú điện thoại gọi cho NRC nói sự thay đổi khí hậu toàn cầu là một trò bịp –  là “Đúng kích cỡ”, thực chất là cắt giảm (?).   Cho dù nước Mỹ đã có những cố gắng lớn và được cấp đủ vốn nhằm đưa các lò phản ứng tiên tiến vào thị trường, một báo cáo của NRC đưa ra trong tháng Hai trình bày về dự án Mục tiêu năm 2020 dự báo rằng, số lượng các lò phản ứng mới đang xin giấy phép sẽ bị “giảm đáng kể” vào năm 2020.  Chảy vốn đầu tư điện hạt nhân ra nước ngoài    Ash Odedra (đeo kính), nhà thiết kế chính của TerraPower, công ty khởi nghiệp được Bill Gates và Nathan Myhrvold đầu tư.  Sự thận trọng trong công tác quản lý [về lò phản ứng hạt nhân] ở Mỹ đã dẫn đến hậu quả là các công ty [hoạt động trong lĩnh vực này] phải bỏ ra nước ngoài. TerraPower, một công ty khởi nghiệp được tài trợ một phần bởi Nathan Myhrvold và Bill Gates, đã nhắm vào một loại thiết bị mới gọi là lò phản ứng sóng chạy (traveling wave reactor). Tháng Chín vừa qua, TerraPower đã ký một thỏa thuận với Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc để xây dựng một đơn vị mẫu thử nghiệm tại Trung Quốc.   Các công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Mỹ đã tỏ ý muốn tìm thêm các quốc gia thân thiện với hạt nhân để kiểm chứng công nghệ của họ. Ngay cả Bộ Năng lượng Mỹ cũng thông qua Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge cộng tác với một đối tác Trung Quốc. Oak Ridge đang làm việc với Viện Vật lý ứng dụng Thượng Hải để xây dựng một nguyên mẫu lò phản ứng muối nóng chảy.  Giám đốc tài chính của TerraPower là Marcia Burkey nói: “Phương án của chúng tôi là kịp thời triển khai công nghệ này để thực hiện những cải biến khác nhau đối với sự biến đổi khí hậu… Trung Quốc là một thị trường của chúng tôi, đó là một thị trường rất năng động cho điện hạt nhân tại thời điểm này. “  Nhưng bà Macfarlane chẳng hề động lòng. “Vấn đề không phải là NRC,” bà nói tại hội thảo. “Đó là kinh tế học” của điện hạt nhân. Chủ kiến của bà là: Nếu giá điện của các nhà máy điện chạy bằng khí đốt thiên nhiên dao động ở mức thấp lịch sử thì điều đó sẽ gây khó khăn cho bất kỳ hình thức lò phản ứng hạt nhân mới nào được xây dựng.   Cho tới nay, các nhà khoa học, giám đốc điều hành và các nhà đầu tư đứng sau những nghiên cứu triển khai mới về hạt nhân vẫn phát đi một thông điệp rõ ràng: ít nhất phải cho chúng tôi một cơ hội.  Nguyên Hải   Nguồn:   http://www.technologyreview.com/news/542411/advanced-nuclear-industry-to-regulators-give-us-a-chance/             Xem thêm:   Lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sẽ phục hồi ngành điện hạt nhân?   http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=8951            Author                Quản trị        
__label__tiasang NAFOSTED còn có thể tốt hơn?      Qua 5 năm theo dõi sự trưởng thành của Quỹ (trong đó có 3 năm trực tiếp nhận tài trợ từ Quỹ để thực hiện đề tài nghiên cứu), tôi có một số suy nghĩ mang tính cá nhân đối với lĩnh vực tài trợ cho khoa học xã hội của Quỹ như sau:            PGS. TS Hoàng Anh Tuấn (ĐH KHXH&NV (ĐHQG HN). Ảnh: Hoàng Nam.    Các điều kiện đối với người đăng ký chủ nhiệm đề tài, nên chăng, cần có lộ trình thích hợp hơn nữa? Như đã đề cập ở trên, việc Quỹ yêu cầu sản phẩm khoa học quốc tế đối với các đề tài nhận tài trợ từ năm 2015 (trừ một số đề tài quá đặc thù) là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, việc Quỹ yêu cầu người nộp hồ sơ phải có bài báo khoa học quốc tế trong 5 năm qua, theo tôi, dường như có phần đường đột, hạn chế khả năng tiếp cận tài trợ của một bộ phận không nhỏ các nhà khoa học có thâm niên trong ngành. Có một thực tế là, rất nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu chất lượng, được giới nghiên cứu trong và ngoài nước thừa nhận và trích dẫn. Tuy nhiên, do những điều kiện khác nhau (ngoại ngữ, bối cảnh đất nước những năm hậu chiến, không chịu “áp lực” công bố quốc tế thời kỳ trước đây…) nên họ không chú tâm công bố kết quả nghiên cứu của mình trên các tạp chí quốc tế. Vì vậy, trong lĩnh vực KHXH và NV, tôi cho rằng Quỹ nên có thêm lộ trình đối với yêu cầu công bố quốc tế của người đăng ký chủ nhiệm đề tài như cách Quỹ đã duy trì lộ trình đối với yêu cầu sản phẩm khoa học của đề tài trong giai đoạn 2010 – 2014, song có thời hạn ngắn hơn (2 – 3 năm) để nhiều nhà nghiên cứu kịp chuẩn bị điều kiện “đủ” cho việc nộp hồ sơ xin tài trợ.  Công bố quốc tế vẫn nên là tiêu chuẩn cứng trong việc đánh giá kết quả thực hiện đề tài, song không nên xem bài báo khoa học công bố ở nước ngoài là tiêu chuẩn duy nhất trong việc thẩm định. Trong thời gian qua, đã có những ý kiến phản biện về việc các cơ quan quản lý khoa học quá chú trọng đến số lượng công bố quốc tế trong hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu: tiêu chí số lượng có thể đưa đến việc “xé lẻ” công trình để công bố trên các tạp chí quốc tế; Việt Nam đã qua giai đoạn cần sự kích thích số lượng công bố quốc tế nên Quỹ NAFOSTED nên chú trọng theo hướng tăng chất lượng; thậm chí có ý kiến phủ nhận sự cần thiết của công bố quốc tế… Xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nguy cơ “xé lẻ” công trình thực sự không đáng quan ngại bởi xu hướng chung (cả trong nước và quốc tế) chấp nhận việc một nhà nghiên cứu tiến hành công bố bộ phận (các bài trên tạp chí, các chương trong sách chuyên khảo…) trước khi tập hợp và xuất bản thành tập công trình mang tính đại thành. Hơn nữa, nếu có “xé lẻ” thì bài báo vẫn phải đảm bảo nội dung khoa học, một thực thể nghiên cứu hoàn chỉnh về mặt kết cấu mới được các tạp chí uy tín chấp nhận đăng tải. Cuối cùng, từ thực tiễn công bố quốc tế còn hết sức khiêm tốn của các ngành khoa học xã hội Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng số lượng công bố quốc tế nói chung vẫn nên được Quỹ quan tâm đầu tư trong những năm tới.            Trong lĩnh vực KHXH và NV, tôi cho rằng Quỹ nên có thêm lộ trình đối với yêu cầu công bố quốc tế của người đăng ký chủ nhiệm đề tài như cách Quỹ đã duy trì lộ trình đối với yêu cầu sản phẩm khoa học của đề tài trong giai đoạn 2010 – 2014, song có thời hạn ngắn hơn (2 – 3 năm) để nhiều nhà nghiên cứu kịp chuẩn bị điều kiện “đủ” cho việc nộp hồ sơ xin tài trợ.      Các bài báo đăng trên tạp chí thuộc hệ thống ISI – Scopus đương nhiên nên được Quỹ khuyến khích. Có ý kiến cho rằng một số tạp chí trong các hệ thống này chưa hẳn đã có chất lượng thực sự đối với những chuyên ngành cụ thể. Xác suất đó là khó tránh khỏi, song không vì thế mà phủ nhận uy tín của vài nghìn tạp chí nằm trong hệ thống này. Tuy nhiên, Quỹ cũng nên “cởi mở” hơn với những tạp chí chuyên ngành rất có uy tín trong giới nhưng vì những lý do khác nhau, không/chưa nằm trong danh mục ISI – Scopus. Ví dụ, Journal of Vietnamese Studies của Đại học California, Berkeley (Hoa Kỳ) đến nay vẫn chưa vào danh mục ISI – Scopus, song giới Việt Nam học trong và ngoài nước đều tôn vinh giá trị các bài báo đăng tải ở đây. Tạp chí World History Connected (online journal) của ba trung tâm khoa học uy tín là World History Association, University of Illinois, University of Hawaii Pacific không nằm trong danh mục ISI – Scopus nhưng rất nhiều nhà sử học nổi tiếng thế giới vẫn lựa chọn đăng tải các nghiên cứu mới của họ ở đây… Việc thẩm định và quyết định chấp nhận hay không các công trình đăng tải trên những tạp chí ngoài hệ thống ISI – Scopus đòi hỏi sự linh hoạt của Quỹ, năng lực cũng như trách nhiệm cao của các thành viên hội đồng ngành/liên ngành do Quỹ bổ nhiệm.  Quy chế về thành viên hội đồng quốc tế nên được mở rộng, bước đầu nên triển khai thực hiện với những đề xuất đề tài cụ thể. Tôi cho rằng việc mời các nhà khoa học quốc tế tham gia phản biện là cần thiết (như việc mời chuyên gia quốc tế tham gia các hội đồng chấm luận án tiến sỹ xưa nay), nhất là trong việc xét duyệt các trường hợp cụ thể: đề tài liên kết thực hiện với đối tác nước ngoài, đề tài nghiên cứu so sánh với (hoặc nghiên cứu về) quốc gia khác… Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, Quỹ đã triển khai hoạt động này (dù có ý kiến cho rằng có những phản biện của các chuyên gia nước ngoài chưa thật sâu sắc, chưa thực sự trách nhiệm do những lý do khác nhau: thời gian để phản biện không đủ dài; kinh phí phản biện chưa phù hợp; độ “chênh” trong tiêu chí về sản phẩm khoa học ở mỗi quốc gia…). Đối với lĩnh vực khoa học xã hội, việc mời thêm chuyên gia phản biện quốc tế là hoàn toàn cần thiết. Chủ tịch Hội đồng ngành/liên ngành có trách nhiệm tư vấn cho Quỹ về việc cần hoặc không cần mời chuyên gia nước ngoài cho mỗi hồ sơ. Chẳng hạn, nếu có một hồ sơ đề xuất nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học rất chuyên sâu mà ở Việt Nam chưa thực sự có chuyên gia về mảng đề tài đó, Hội đồng ngành/liên ngành có thể lắng nghe ý kiến phản biện độc lập từ chuyên gia quốc tế, từ đó thống nhất và kiến nghị lên Quỹ nên hay không nên tài trợ cho đề tài. Về lâu dài, việc mời chuyên gia quốc tế tham gia thẩm định hồ sơ nên được tiến hành ở quy mô rộng hơn.  Cuối cùng, qua 10 năm tài trợ, Quỹ NAFOSTED được giới nghiên cứu đánh giá cao về những cải cách mang tính đột phá về quy trình, theo hướng tăng mạnh quyền chủ động cho chủ nhiệm đề tài và giảm thiểu thủ tục hành chính. Trong thời gian tới, Quỹ nên tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh quy chế để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà khoa học trong quá trình triển khai thực hiện đề tài. Chẳng hạn, đối với những đề tài nghiên cứu thực sự cần khai thác tư liệu (lưu trữ) ngoại quốc, Quỹ có thể xem xét đồng ý cho chủ nhiệm đề tài sử dụng một phần kinh phí trong việc lưu trú để khai thác tư liệu tại nước ngoài. Ngoài ra, kết hợp với chuyến công tác ở lưu trữ ngoại quốc, chủ nhiệm đề tài có thể liên hệ để làm việc/nghiên cứu tại một cơ sở khoa học quốc tế nhằm tranh thủ hệ thống thư viện tại đơn vị đó cũng như có điều kiện tập trung hoàn thiện các bài viết phục vụ công bố quốc tế… Từ kinh nghiệm bản thân, tôi cho rằng những đợt công tác nước ngoài (dù ngắn hạn) đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều (nếu không muốn nói là mang tính quyết định) trong hoạt động công bố quốc tế. Vì vậy, nếu chấp nhận tài trợ (có giới hạn) cho hoạt động nghiên cứu ngoài Việt Nam của chủ nhiệm đề tài, Quỹ nên thể chế hóa các quy định để các nhà khoa học có thể triển khai dự toán và lập quy trình hoạt động khi chuẩn bị hồ sơ xin tài trợ. ¨             Author                Hoàng Anh Tuấn        
__label__tiasang NAFOSTED đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh      Với kỳ vọng sẽ có được những tập thể nghiên cứu xuất sắc và những sản phẩm nghiên cứu chất lượng cao, kể từ năm 2017, NAFOSTED chính thức áp dụng chính sách đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh. Vậy làm thế nào để chính sách này triển khai có hiệu quả và đạt được mục tiêu như kỳ vọng? Phóng viên Tia Sáng đã trao đổi với TS. Phạm Đình Nguyên, Phó giám đốc NAFOSTED về vấn đề này.      TS. Phạm Đình Nguyên, phó giám đốc NAFOSTED. Nguồn: Dân Trí.  Khi đề ra chủ trương và chiến lược đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh,  NAFOSTED hướng đến mục tiêu gì? Đâu là căn cứ để Quỹ đưa ra những mục tiêu này?  Có hai mục tiêu quan trọng trong việc đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh của NAFOSTED là thúc đẩy sự phát triển nhân lực KH&CN trình độ cao và nâng cao chất lượng nghiên cứu của Việt Nam theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.  Những năm qua, thông qua việc thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ tài trợ, một lượng lớn các nhà khoa học Việt Nam đã khẳng định được năng lực nghiên cứu và tự tin hội nhập quốc tế với số lượng công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học quốc tế ngày càng tăng. Đây là nền tảng quan trọng để chúng ta hướng đến những mục tiêu cao hơn như có nhiều công bố chất lượng hơn và xa hơn nữa là có kết quả nghiên cứu đột phá trong khoa học. Mặt khác, từ việc thúc đẩy phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, chúng ta sẽ có được những nhà khoa học đủ khả năng và tầm vóc để sẵn sàng chủ trì, giải quyết được những nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia cũng như khu vực khi đất nước cần đến. Việc đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Quỹ không hướng trực tiếp đến việc giải quyết những nhiệm vụ trọng điểm cấp quốc gia cụ thể mà chủ yếu vẫn là hướng đến xây dựng nền tảng, phát triển nghiên cứu cơ bản, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.  Căn cứ để xây dựng chính sách đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh của NAFOSTED xuất phát từ mục tiêu Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 11/4/2012; Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ KH&CN phê duyệt ngày 05/6/2015; mục tiêu hoạt động của Quỹ và trực tiếp là mục tiêu tài trợ đề tài nghiên cứu cơ bản của Quỹ quy định tại Thông tư số 37/2014/TT-BKHCN ngày 12/12/2014.  Việc NAFOSTED đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh liên quan gì đến việc đầu tư cho các trung tâm xuất sắc như Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đề ra?  Xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc là ý tưởng  không mới, các quốc gia có nền KH&CN phát triển đã xây dựng và phát triển mô hình này rất thành công. Do vậy, việc chúng ta học hỏi và phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc ở Việt Nam là hợp lý. Việc xác định và tài trợ cho các nhóm nghiên cứu mạnh của Quỹ có thể góp phần xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Quỹ và các Hội đồng khoa học ngành của Quỹ đều mong muốn là mỗi nhóm nghiên cứu mạnh do Quỹ đầu tư hiện nay sẽ là hạt nhân để  sau này trở thành một trung tâm nghiên cứu xuất sắc.  Để thúc đẩy phát triển các Trung tâm nghiên cứu xuất sắc bên cạnh việc có được tài trợ kinh phí nghiên cứu còn cần tới nguồn kinh phí duy trì và phát triển nhân lực, mua sắm, vận hành cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu… Điều này cần sự đầu tư không chỉ của Quỹ, của Bộ KH&CN mà còn từ nhiều bộ, ngành, địa phương nữa.  Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học có hạn và các lĩnh vực chuyên ngành rất đa dạng, nhu cầu đầu tư cho cả khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng đều rất lớn thì cơ sở nào để Quỹ lựa chọn đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh?  Như trên đã nói, việc định hướng ưu tiên tài trợ của Quỹ bám sát định hướng nhiệm vụ phát triển KH&CN trong Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020, Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020, các chương trình phát triển ngành khoa học (chương trình phát triển toán học giai đoạn 2010-2020, chương trình phát triển vật lý giai đoạn 2015-2020, chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển giai đoạn 2017-2025…). Việc đánh giá,  lựa chọn, tài trợ đề xuất của các nhóm nghiên cứu mạnh không nằm ngoài các định hướng quan trọng này.  Thông tư số 37/2014/TT-BKHCN ngày 12/12/2014  đã quy định rõ điều kiện “đầu vào” (điều kiện đối với chủ nhiệm đề tài và các thành viên chủ chốt), điều kiện “đầu ra” (yêu cầu với sản phẩm) của nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là các tiêu chuẩn “cứng” đầu tiên để Quỹ sàng lọc, lựa chọn ra những đề xuất tiềm năng.  Để được phê duyệt tài trợ, các đề xuất của nhóm nghiên cứu mạnh phải qua quá trình đánh giá cạnh tranh rất khắt khe. Hãy hình dung chỉ khoảng 50% số hồ sơ đề xuất trong chương trình nghiên cứu cơ bản được NAFOSTED tài trợ và chỉ khoảng 5% trong số này là đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh. Như vậy, nếu Quỹ thu hẹp lựa chọn, chỉ tập trung vào một số ít lĩnh vực ưu tiên cụ thể, với quy trình đánh giá, lựa chọn đề tài như đã nêu có thể có những đề xuất tốt sẽ bị bỏ qua.  Vậy quy trình và tiêu chí tuyển chọn các nhóm nghiên cứu mạnh của NAFOSTED như thế nào?  Quy trình và tiêu chí xét duyệt đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh tương tự như quy trình và tiêu chí xét duyệt đề tài nghiên cứu cơ bản của Quỹ, nhưng điểm khác là các điều kiện “đầu vào” và “đầu ra” ở mức cao hơn. Nguyên tắc xét chọn là thông qua đánh giá của Hội đồng khoa học ngành và phản biện quốc tế. Các Hội đồng khoa học ngành vẫn là yếu tố quan trọng và sự đánh giá ở Hội đồng khoa học ngành vẫn mang tính quyết định.  Các nhà khoa học đánh giá thế nào về quy trình và tiêu chí tuyển chọn này?  Trong suốt quá trình xây dựng Dự thảo Thông tư số 37/2014/TT-BKHCN, trong đó có nội dung tài trợ cho nhóm nghiên cứu mạnh, các nhà khoa học là những đối tượng quan trọng để Quỹ, Bộ KH&CN tham vấn ý kiến. Ý kiến phản hồi của các nhà khoa học và hội đồng khoa học ngành đã giúp cho Quỹ điều chỉnh, hoàn thiện dự thảo Thông tư rất nhiều. Với góp ý của các nhà khoa học, mục tiêu đặt ra khi tài trợ cho nhóm nghiên cứu mạnh đã được điều chỉnh hướng đến đích cao nhưng điều kiện cứng “đầu ra” vừa phải, khả thi, không gây áp lực quá lớn cho các nhà khoa học nhưng vẫn tạo động lực, khuyến khích các nhà khoa học dấn thân.   Tiêu chí đầu vào và đầu ra mà Quỹ đặt ra cho nhóm nghiên cứu mạnh đều ở mức cao, vậy việc thực hiện đầu tư cho họ có ở mức tương đương?  Hiện nay, kinh phí đầu tư cho đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh có thể lớn hơn nhiều lần kinh phí dành cho một đề tài nghiên cứu cơ bản thông thường với khoảng thời gian thực hiện có thể kéo dài tới năm năm tùy theo đánh giá và đề xuất của hội đồng khoa học ngành.  Việc xác định cụ thể mức đầu tư, thời gian thực hiện đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh sẽ do Quỹ cùng các hội đồng khoa học ngành cân nhắc chặt chẽ, dựa trên một số yếu tố chính gồm chất lượng và số lượng thành viên nhóm nghiên cứu, chất lượng và số lượng sản phẩm đăng ký, thời gian thực hiện…  Một số nhà khoa học trẻ cho rằng, nhiều đề tài do Quỹ tài trợ thường mang tính chất nhỏ lẻ và không có tính kế thừa. Vậy việc hình thành nhóm nghiên cứu mạnh có góp phần giải quyết được tình trạng đó?  Ý kiến của nhà khoa học trẻ nêu ra không phản ánh đặc thù chung chương trình nghiên cứu cơ bản do Quỹ tài trợ mà có thể từ một số ít cá biệt. Thực tế đã có nhiều nhóm nghiên cứu nhận được tài trợ của Quỹ, trong đó có những nhóm nhận được tài trợ liên tục, có sự kế thừa qua những giai đoạn khác nhau. Với chính sách tài trợ cho nhóm nghiên cứu mạnh, tuy vậy Quỹ  cũng nhằm đến giải quyết những tồn tại đã nêu (mặc dù đây không phải là đích chính). Với chính sách tài trợ cho nhóm nghiên cứu mạnh, các nhà khoa học có cơ hội thiết lập được nhóm nghiên cứu có chất lượng, hướng đến giải quyết các vấn đề khoa học dài hơi, xuyên suốt, hướng đến chất lượng cao. Lưu ý rằng các nhóm nghiên cứu thuần túy chỉ được lắp ghép từ các nhóm nhỏ một cách cơ học để chạy theo số lượng công bố sẽ không được khuyến khích ở đây.  Trong chính sách đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh, Quỹ khuyến khích các nhóm mở rộng hợp tác quốc tế. Vậy hợp tác quốc tế tác động như thế nào đến việc phát huy nội lực?  Hiện nay cũng có một số nhà khoa học băn khoăn đến yếu tố nội lực trong các công bố của các nhóm nghiên cứu Việt Nam có hợp tác quốc tế và có nhà khoa học nước ngoài tham gia nghiên cứu cùng. Thực tế, hợp tác quốc tế và phát huy nội lực của các nhóm nghiên cứu không hề mâu thuẫn, hợp tác quốc tế trái lại thúc đẩy các nhóm nghiên cứu của chúng ta phát huy nội lực tốt hơn. Hiện nay năng lực KH&CN Việt Nam còn yếu so với đa số các quốc gia phát triển, cho nên nếu có cơ hội để hợp tác, qua đó học hỏi, nâng cao năng lực và hội nhập là điều nên làm. Theo số liệu công bố trên Web of Science, số lượng bài báo có tác giả người Việt Nam là sản phẩm của các nhiệm vụ KHCN được tài trợ từ ngân sách nhà nước ít hơn số bài báo có tác giả người Việt Nam công bố từ nhiệm vụ hợp tác quốc tế. Các tạp chí đăng tải những bài báo thuộc nhóm sau (từ nhiệm vụ hợp tác quốc tế) vẫn có chất lượng tốt hơn. Vì vậy cần khuyến khích và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh do Quỹ tài trợ, đặc biệt là hợp tác với các nhà khoa học xuất sắc và giàu kinh nghiệm từ các nước phát triển.    Tiến độ triển khai đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh như vậy nhanh hay chậm so với kế hoạch đề ra?  Sau hơn hai năm thông tư 37/2014/TT-BKHCN ra đời và có hiệu lực, đến nay Quỹ đã phê duyệt tài trợ cho ba đề xuất của nhóm nghiên cứu mạnh, đó là các nhóm nghiên cứu của GS. TS Nguyễn Văn Hiếu (Viện ITIMS, Đại học Bách khoa HN), GS. TS Phan Quốc Khánh (Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM) và TS. Hoàng Văn Tổng (Trung tâm nghiên cứu Sinh Y Dược học, Học viện Quân y). Số lượng như vậy là phù hợp với kế hoạch mà Quỹ đã đề ra. Qua trao đổi với một số nhà khoa học về việc đăng ký nhóm nghiên cứu mạnh, tôi thấy họ rất thận trọng vì muốn chuẩn bị kỹ trước khi đưa ra các đề xuất mới để tăng khả năng thành công sau này, đây là điều đáng trân trọng.  Đầu tư cho nghiên cứu khoa học thường gắn với rủi ro, với nhóm nghiên cứu mạnh cũng không phải ngoại lệ. Vậy Quỹ có biện pháp nào để hạn chế rủi ro?  Chúng ta hiểu rằng muốn có đột phá thì phải chấp nhận có rủi ro. Cái khó ở đây là làm cách nào để giảm thiểu rủi ro và thay đổi cách nhìn đối với rủi ro khách quan trong khoa học. Việc quy định điều kiện “đầu vào” phù hợp với kỳ vọng “đầu ra” đối với đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh, đề xuất hồ sơ và xét chọn cạnh tranh, đánh giá thông qua hội đồng khoa học ngành cùng hệ thống phản biện quốc tế chính là các giải pháp giảm thiểu rủi ro mà Quỹ đang thực hiện. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học dấn thân vào những vấn đề khó khăn và mang tính tiên phong thì việc chưa thu được kết quả như mong muốn (dù đã nỗ lực hết mình) trong khoảng thời gian thực hiện đề tài cần được các nhà quản lý, cộng đồng khoa học đánh giá và nhìn nhận một cách khách quan, khoa học và tích cực.  Xin cảm ơn ông!  Thanh Nhàn thực hiện  Nhóm nghiên cứu mạnh là tập thể các nhà khoa học xây dựng được hướng nghiên cứu chung, dài hạn; có mục tiêu, kế hoạch nghiên cứu cho từng giai đoạn cụ thể; nội dung nghiên cứu có tính đột phá và cần nhiều thành viên tham gia thực hiện. Các thành viên chủ chốt của nhóm có kết quả nghiên cứu nổi bật. Các yêu cầu đối với nhóm nghiên cứu mạnh: Chủ nhiệm đề tài có kết quả công bố trên các tạp chí ISI có uy tín phù hợp trong thời gian năm năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ, có khả năng tập hợp được nhiều nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao tham gia thực hiện đề tài, duy trì được hợp tác nghiên cứu khoa học thường xuyên với các nhóm nghiên cứu quốc tế cùng ngành, liên ngành; Có ít nhất hai thành viên nghiên cứu chủ chốt của đề tài đáp ứng yêu cầu của chủ nhiệm đề tài; Tổ chức chủ trì đề tài có đủ điều kiện về cơ sở vật chất – kỹ thuật, năng lực nghiên cứu và cam kết hỗ trợ trong thời gian thực hiện nghiên cứu. Yêu cầu về thời gian thực hiện và kết quả nghiên cứu của đề tài: Đề tài do nhóm nghiên cứu mạnh thực hiện, kết quả nghiên cứu phải có ít nhất hai bài báo công bố trên tạp chí ISI có uy tín và một bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín. (Theo thông tư 37/2014/TT-BKHCN).       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nafosted – Những đổi mới cần thiết      Sau 5 năm triển khai đạt được những thành tựu và nền tảng nhất định, nhưng đã đến lúc Nafosted cần hướng đến những cải cách, đổi mới để đáp ứng nhu cầu của giới khoa học.     Để thảo luận về vấn đề này, ngày 19/4/2014  tại Hà Nội, Tạp chí Tia Sáng đã tổ chức Hội thảo Xây dựng mô hình tài  trợ kinh phí dài hạn của Nafosted cho các tổ chức nghiên cứu với sự tham  dự của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, và lãnh đạo đại diện Bộ  KH&CN, Quỹ Nafosted, cùng các cơ quan, đơn vị liên quan.  Đa số các nhà khoa học đánh giá sự ra đời và hoạt động của Quỹ Nafosted là một sự tiến bộ trong cơ chế tài chính cho các đề tài nghiên cứu, đồng thời đã giúp tăng tính khách quan trong hoạt động phê duyệt, thẩm định các đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, với yêu cầu các đề tài phải đáp ứng tiêu chí về số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí ISI. Báo cáo của ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Nafosted, cho thấy những cải cách nêu trên đã khiến hoạt động của Quỹ trong những năm qua góp phần làm tăng đáng kể số lượng các công trình công bố quốc tế trên các tạp chí ISI, mặt khác giúp trẻ hóa đội ngũ các nhà nghiên cứu có công trình được Nhà nước tài trợ.   Đồng tình với quan điểm này, PGS. Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện Tiên tiến KH&CN– Đại học Bách khoa Hà Nội, nhận định rằng Nafosted đã tạo được một sân chơi bình đẳng cho phép các nhà nghiên cứu trẻ giàu năng lực tham gia đăng ký các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên được Nhà nước tài trợ, mang lại cho họ cơ hội cống hiến và nâng cao thu nhập để có thể yên tâm làm việc. “Trung bình mỗi năm viện chúng tôi có 4 tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài trở về, và chúng tôi không thể nào giữ chân họ ở viện nếu không có Nafosted”, PGS. Phạm Thành Huy nói.    Ngoài ra, theo GS. Phạm Hùng Việt, Phó chủ tịch Hội đồng ngành hóa học của Nafosted, một tác động lan tỏa khác của Quỹ là tạo ra những thói quen mới ở các tổ chức, nhóm nghiên cứu, phù hợp cho tiến trình hội nhập học thuật theo các chuẩn mực quốc tế, chẳng hạn các nhà nghiên cứu đã bắt đầu có thói quen viết các bài báo khoa học trực tiếp bằng tiếng Anh, thậm chí một số cơ sở trong nước đã bắt đầu yêu cầu bảo vệ luận văn bằng tiếng Anh.   Những tác nhân ảnh hưởng tới chất lượng các đề tài  Tại hội thảo lần này, các nhà khoa học và quản lý đã thẳng thắn chỉ ra một số những bất cập trong công tác quản lý, phê duyệt, nghiệm thu các đề tài của Nafosted, trong đó vấn đề được quan tâm nhiều nhất là các mối lo ngại xung quanh phương thức quản lý chất lượng các đề tài nghiên cứu căn cứ theo tiêu chí về số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí ISI. Theo GS. Phạm Duy Hiển, đây là “một hành xử thuần túy mang tính hành chính, tuy bề ngoài có vẻ dân chủ nhưng nguy hiểm”, vì gây ra nguy cơ thẩm định, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu một cách sai lệch khi người ta lệ thuộc một cách máy móc vào số lượng công trình công bố trên các tạp chí ISI đồng thời ngộ nhận rằng mọi tạp chí ISI đều có chất lượng tốt.   Hậu quả là có thể sẽ dẫn tới tình trạng có quá nhiều các công bố quốc tế trên các tạp chí ISI kém chất lượng, theo nhận định của GS. Hoàng Tụy. Ông cho rằng thậm chí việc áp dụng chỉ số ảnh hưởng (impact factor) để phân loại, đánh giá các tạp chí ISI cũng không thể giúp loại trừ triệt để nguy cơ này. Mặt khác, việc nghiệm thu các đề tài đơn thuần bằng cách đếm số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí ISI không thúc đẩy nhà nghiên cứu thực hiện các đề tài quy mô lớn, dài hạn, và không động viên họ đầu tư chất xám vào những đề tài chất lượng tốt để có khả năng công bố trên những tạp chí quốc tế thứ hạng cao, mà trái lại, nó tạo ra xu hướng xé lẻ công trình thành nhiều đề tài nhỏ nhằm thu được nhiều kinh phí hơn cho nhà nghiên cứu. Trong một môi trường nghiên cứu có khuynh hướng chạy theo lợi ích trước mắt như vậy, chỉ có những nhà khoa học “đẳng cấp, điềm tĩnh” mới không bị dao động, kiên trì theo đuổi những đề tài nghiên cứu dài hơi, tuy nhiên những người như vậy không có nhiều, theo nhận xét của GS. Nguyễn Hữu Việt Hưng, Phó chủ tịch Hội toán học Việt Nam.   Mặt khác, đòi hỏi đảm bảo tiêu chí về số lượng công bố quốc tế trong khi nguồn kinh phí nghiên cứu được cấp hạn hẹp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng các đề tài, đặc biệt trong những lĩnh vực nghiên cứu đòi hỏi chi phí tốn kém cho nguyên vật liệu và các hoạt động khảo sát, thử nghiệm. Ví dụ trong ngành khoa học sự sống, “với mức kinh phí 600-800 triệu đồng cho một đề tài khoa học kèm theo yêu cầu có hai công bố quốc tế, chúng ta đa phần sẽ chỉ thu được những công trình nghiên cứu mang tính chất đối phó, theo lời PGS. Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp.  Vấn đề năng lực các hội đồng ngành khoa học xã hội và nhân văn   Khác với các đề tài khoa học cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các đề tài trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của Nafosted không đòi hỏi phải có công bố quốc tế. Điều này khiến các nhà quản lý không có cơ sở nào khác để đánh giá chất lượng đề tài ngoài kết luận của các hội đồng ngành. Tuy nhiên, đây là điều đáng lo ngại khi có những ý kiến bày tỏ sự băn khoăn về năng lực chuyên môn và chất lượng thẩm định của các hội đồng ngành Nafosted trong lĩnh vực này.  Phát biểu tại hội thảo, GS.Trần Ngọc Vương khẳng định, trong thực tế có những thành viên hội đồng từ nhiều năm nay không có đóng góp gì cho khoa học, và tồn tại một số đề tài trong đó người thực hiện cũng đồng thời chính là thành viên hội đồng thẩm định. Hậu quả gây ra là không ít những đề tài kém chất lượng bị các cơ quan, tổ chức nghiên cứu loại bỏ nhưng lại được Nafosted chấp nhận phê duyệt và nghiệm thu, ông cho biết.   Kiến nghị của các nhà khoa học và các chuyên gia  Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các nhà khoa học cho rằng việc duy trì các tiêu chí ISI là cần thiết để đảm bảo tính khách quan và chất lượng tối thiểu của các đề tài khoa học cơ bản, tuy nhiên họ kiến nghị Nafosted cần sớm có sự phân loại các tạp chí ISI của từng ngành, theo đó các đề tài công bố trên những tạp chí chất lượng cao sẽ được tính điểm nhiều hơn. Đối với những tạp chí quốc tế open-access, TS. Đinh Văn Dũng, Phó viện trưởng Viện CNTT– Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng các hội đồng ngành cần sớm có một chính sách và thái độ dứt khoát. Ngoài ra, GS. Trần Xuân Hoài (nguyên Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học) đề nghị Nafosted bổ sung thêm những “phép đo” mới bên cạnh tiêu chí về công bố ISI để tăng tính khách quan khi thẩm định chất lượng các đề tài, đồng thời nghiên cứu, xây dựng một cơ chế chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo tính đạo đức và sự trung thực trong khoa học, bởi đó là yêu cầu đầu tiên đảm bảo chất lượng của các đề tài nghiên cứu – trong tham luận gửi hội thảo và một bài viết trước đây1, GS. Pierre Darriulat (Viện Khoa học và kỹ thuật Hạt nhân) đã đưa ra một giải pháp để cải thiện đạo đức và hạn chế tiêu cực trong các hội đồng khoa học, đó là mời các chuyên gia quốc tế có uy tín tham gia trong các hội đồng này.   Với các đề tài Nafosted thuộc lĩnh vực khoa học ứng dụng, GS. Phạm Duy Hiển và một số nhà khoa học, nhà quản lý đề nghị các cơ quan quản lý có sự đánh giá, nhìn lại giá trị đóng góp của chúng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội sau mỗi giai đoạn 5-10 năm. GS. Hồ Tú Bảo của Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản và PGS. Phạm Thành Huy kiến nghị tăng cường mối liên kết hợp tác giữa các cá nhân, tổ chức nghiên cứu và các doanh nghiệp, ngành công nghiệp để tạo ra những đột phá đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế và xã hội. PGS. Phạm Thành Huy cho rằng cần thúc đẩy phát huy nguồn lực từ các doanh nghiệp bằng cách tạo chính sách ưu đãi cho những dự án nghiên cứu đổi mới công nghệ của họ, đồng thời Nhà nước có thể cùng đầu tư và yêu cầu doanh nghiệp góp một phần vốn đối ứng.   Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, GS. Trần Ngọc Vương kêu gọi sớm có sự cải thiện chất lượng các hội đồng ngành, đảm bảo rằng các thành viên hội đồng là các nhà khoa học đáp ứng đầy đủ các tiêu chí yêu cầu về chuyên môn khoa học, đã và vẫn đang tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu.     Các nhà khoa học cũng kiến nghị Nafosted cần có chính sách khuyến khích những đề tài có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và những đề tài mang tính dài hạn. GS. Lê Tuấn Hoa, Viện trưởng Viện Toán học, đề nghị Nafosted có cơ chế cấp kinh phí cho những đề tài dài hạn (4-5 năm) do những nhóm nghiên cứu có uy tín, từng thành công trước đây thực hiện.  Về cơ chế quản lý tài chính của Nafosted, ông Nguyễn Văn Phụng, Phó vụ trưởng Vụ chính sách thuế – Bộ Tài chính, kiến nghị Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng một thông tư hướng dẫn giúp các nhà khoa học nắm rõ những quy trình thủ tục và những vấn đề cần nắm rõ để có thể phối hợp hiệu quả với các cơ quan quản lý chức năng. PGS. Nguyễn Ngọc Châu kiến nghị Quỹ xây dựng một cơ chế quản lý thông thoáng hơn nữa và giao quyền lớn hơn cho chủ nhiệm đề tài, trong đó Quỹ sẽ ký hợp đồng trách nhiệm rõ ràng với từng người và quản lý theo sản phẩm. Mỗi đề tài sẽ có tài khoản riêng và các chi tiêu được phép tự do trong định mức cho phép giống như thông lệ các đề tài quốc tế.   Đồng thời, để nâng cao hiệu quả và hạn chế hơn nữa khả năng xảy ra tiêu cực, PGS. Nguyễn Ngọc Châu đề nghị nâng cao trình độ năng lực và mức thu nhập cho cán bộ của Quỹ, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế.   Những cải cách sẽ được các nhà quản lý triển khai thực thi    Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh ghi nhận những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, yêu cầu Nafosted và các đơn vị trong Bộ KH&CN tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, và đề xuất các cơ chế chính sách cụ thể phù hợp để hiện thực hóa các kiến nghị này, ví dụ như nghiên cứu phân loại các tạp chí ISI của từng ngành khoa học tự nhiên và xây dựng các trọng số tính điểm phù hợp tương ứng, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí phù hợp cho việc đánh giá chất lượng các đề tài khoa học xã hội và nhân văn, hay nghiên cứu về kiện toàn tổ chức bộ máy của Nafosted, v.v. Ông cũng cho biết một số nội dung kiến nghị của họ trong thực tế đã được đưa vào dự thảo một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cho Luật KH&CN sửa đổi. Tuy nhiên, hiện nay một số nội dung vẫn đang chờ cơ chế tài chính phù hợp để thực thi, ví dụ cơ chế tài chính để mời các chuyên gia quốc tế tham gia vào các hội đồng ngành, hoặc phục vụ cho các nội dung về đào tạo nhân lực trong các đề tài.  Theo bà Đỗ Phương Lan, Phó giám đốc Quỹ Nafosted, hiện nay Bộ KH&CN đang xây dựng và lấy ý kiến các Bộ, ngành cho thông tư liên tịch hướng dẫn lập dự toán và quản lý kinh phí đối với đề tài nghiên cứu cơ bản của Nafosted nhằm thúc đẩy triển khai cơ chế khoán đến sản phẩm cuối cùng – theo đó cơ chế tài chính cho các đề tài nghiên cứu sẽ tiếp tục được cải tiến thông thoáng hơn, kinh phí được cấp căn cứ theo hợp đồng giữa Nafosted với nhà nghiên cứu và không bị kho bạc Nhà nước kiểm soát chi các khoản tạm ứng, thanh toán. Quy mô các nhóm thực hiện đề tài sẽ tùy theo sự xét duyệt của các hội đồng ngành, không còn bị giới hạn (hiện nay giới hạn chung cho các nhóm thực hiện đề tài Nafosted là 7 người) đối với những đề tài lớn, có tính liên ngành.  Đối với các kiến nghị khuyến khích các đề tài ứng dụng triển khai phục vụ các doanh nghiệp, các nền công nghiệp, được biết trong thời gian tới Bộ KH&CN sẽ tích cực xây dựng, hoàn thiện các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 23/2014/NĐ-CP ngày 03/04/2014 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Nafosted, trong đó đã bổ sung một số chức năng quan trọng cho Quỹ như bảo lãnh vốn vay, hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi cho những dự án triển khai các ứng dụng nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.                     ————  1 Pierre Darriulat, 2012: Tiêu chí và phương thức mời thành viên nước ngoài tham gia hội đồng khoa học, tạp chí Tia Sáng  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=5641    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nafosted sau hai năm triển khai hoạt động tài trợ      Nhằm rút ra những kinh nghiệm giúp cải thiện  hiệu quả hoạt động của Quỹ Phát triển KH&amp;CN Quốc gia (Nafosted) sau  hai năm đầu tiên thực hiện hoạt động tài trợ cho các đề tài nghiên cứu  cơ bản, Tạp chí Tia Sáng đã tổ chức một cuộc tọa đàm với sự tham  gia của lãnh đạo quỹ và các nhà khoa học từ một số lĩnh vực khoa học tự  nhiên và khoa học xã hội.     Cuộc tọa đàm cho thấy một số thành công đáng khích lệ của Nafosted bên cạnh những mặt hạn chế cần được từng bước khắc phục.     Đa số các nhà khoa học tham dự tọa đàm đều ghi nhận Nafosted là một sự tiến bộ đáng kể so với các hình thức hỗ trợ nghiên cứu trước đây, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Một trong những tiến bộ hàng đầu của Quỹ là việc yêu cầu công bố quốc tế cho kết quả đề tài nghiên cứu. Điều này giúp minh bạch hóa hoạt động nghiệm thu đề tài được quỹ cấp kinh phí, vừa giúp đánh giá kết thúc đề tài trở nên dễ dàng hơn, vừa đem lại chất lượng đề tài cao hơn, theo lời ông Đỗ Tiến Dũng, quyền giám đốc Nafosted.    Yêu cầu công bố quốc tế của Nafosted đối với đề tài được nghiệm thu khiến các nhà nghiên cứu được cấp kinh phí phải nỗ lực cao hơn, chất lượng đề tài tốt hơn, và giúp đáp ứng mục tiêu gia tăng số lượng công bố quốc tế của khoa học cơ bản. Ông Đỗ Tiến Dũng cho biết, trong khoảng 100 đề tài thực hiện từ năm 2009 đã đánh giá nghiệm thu thì đã có 500 công bố quốc tế. Đây là một nỗ lực rất đáng khuyến khích của những người thực hiện đề tài khoa học. “Một số thành viên nghiên cứu khi gặp tôi nói là không quá khó để được nhận tài trợ đề tài từ quỹ nhưng khi thực hiện thì lại rất vất vả, và hoàn thành rất khó, thậm chí khi tập thể dục cũng phải nghĩ đến chất lượng đề tài của quỹ”, ông Dũng cho biết.          Yêu cầu công bố quốc tế của Nafosted đối với  đề tài được nghiệm thu khiến các nhà nghiên cứu được cấp kinh phí phải  nỗ lực cao hơn, chất lượng đề tài tốt hơn, và giúp đáp ứng mục tiêu gia  tăng số lượng công bố quốc tế của khoa học cơ bản.         Đồng quan điểm với ông Dũng, TS. Phạm Đức Chính từ Viện Cơ học, cho rằng có thể nhận thấy hầu hết các chủ trì lao động nghiêm túc phấn đấu công bố ở chuẩn quốc tế. “Đáng chú ý nhiều bạn trẻ đã có được các công bố ISI nội lực, hay hợp tác quốc tế có kết quả, và ngay cả một số giáo sư lớn tuổi cũng đã phấn đấu để có được các công bố ISI đều hơn so với trước”.  Một thành công khác của Nafosted, theo ý kiến của ông Đỗ Tiến Dũng, là quy định trả công cho người lao động trong đề tài phù hợp hơn so với trước đây, đem lại nguồn thu nhập đáng kể hơn so với thu nhập thông thường từ lương, và phù hợp hơn so với thực tế nghiên cứu do gắn với khối lượng công việc.   Thu hút các nhà nghiên cứu trẻ được đào tạo từ nước ngoài  Nguồn thu nhập từ kinh phí đề tài Nafosted chưa hẳn đã là nhiều nhưng cũng đã đủ cao để thu hút sự quan tâm tham gia của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu trẻ. TS. Phạm Đức Chính cho biết hiện nay “lực lượng trẻ, nhất là các tiến sỹ mới trở về từ nước ngoài, đăng ký đề tài đang tăng ổn định từng năm, và chiếm phần lớn số chủ trì đề tài ngành Cơ học.   Triển vọng tích cực trên cũng đang diễn ra ở các ngành khác. Trong ngành khoa học sự sống, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Châu, Ủy viên Hội đồng ngành Khoa học Sự sống (2009 – 2011) cho biết trong ngành của ông, “hầu hết chủ nhiệm đề tài Nafosted là nhà nghiên cứu trẻ, trong đó nhiều người mới tốt nghiệp nghiên cứu sinh ở nước ngoài về có trình độ tốt và cập nhật về chuyên môn”. “Qua 3 đợt xét duyệt đề tài, tỷ lệ các chủ nhiệm đề tài trẻ hoặc lần đầu đăng ký không ngừng tăng lên: năm 2009 là 20/60, năm 2010 là 45/50, và năm 2011 là 37/40”.  Đây là một sự biến chuyển tích cực khi lâu nay, nguồn kinh phí eo hẹp dành cho nghiên cứu khoa học bị phân tán đáng kể vào một số “cây đa, cây đề”, thay vì tạo nhiều cơ hội cho những nhà khoa học trẻ có năng lực và nhiệt huyết đam mê làm khoa học. Sau hai năm đi vào hoạt động của Quỹ, “đã có những nghiên cứu sinh và kỹ sư trẻ, thay vì đi theo lối mòn cũ là báo vào các chức sắc và cây đa cây đề, nay đã bắt đầu tìm đến các chủ trì giỏi (tuy có thể còn trẻ) để được học hỏi nghiêm túc, đồng thời có thêm thu nhập từ đề tài”, TS. Phạm Đức Chính nhận định.          Nguồn kinh phí và khung thời gian hạn chế  dẫn đến hậu quả là không khuyến khích được những đề tài lớn, đủ tầm đăng  trên các tạp chí khoa học hàng đầu. PGS.TS. Phùng Hồ Hải cho rằng cơ  chế hiện nay của Nafosted khiến các nhà nghiên cứu dễ có xu hướng chia  nhỏ các đề tài để sao cho vừa vặn với khung kinh phí eo hẹp, đồng thời  dễ đạt tiến độ với quỹ. Tuy nhiên, những đề tài nhỏ như vậy sẽ chỉ đăng  được ở những tạp chí khoa học quốc tế ở tầm dưới.           Chia sẻ với nhận định này, PGS.TS. Phạm Thành Huy, Viện trưởng Viện Tiên tiến KH&CN – Đại học Bách Khoa Hà Nội cho biết rằng trong 3 năm vừa qua, viện của anh có gần 30 tiến sỹ trẻ nước ngoài về, trong đó có những người khi xin về đặt điều kiện là sau 1 năm làm việc thì cho đi làm postdoc. Tuy nhiên, với sự đi vào hoạt động của Nafosted, nhiều nhà nghiên cứu trẻ của viện đã phát huy được khả năng. Họ trở thành chủ nhiệm đề tài của quỹ, hăng hái làm việc, và không còn ai nói đến việc đi làm postdoc ở nơi khác.  Những khe hở  Việc đặt ra yêu cầu công bố quốc tế được coi là một biện pháp hữu hiệu giúp tăng chất lượng chuyên môn của các đề tài nghiên cứu, nhưng trong thực tế không phải tạp chí quốc tế nào cũng đảm bảo chất lượng nghiên cứu ở mức cao. Nhiều đề tài được nghiệm thu chỉ mới đăng được trên các tạp chí thuộc danh sách SCI-E chứ chưa đăng được trên các tạp chí trong danh sách SCI . PGS.TS. Nguyễn Ngọc Châu phản ánh rằng tới 81% các công bố quốc tế của các đề tài khoa học sự sống được nghiệm thu bởi hội đồng của Nafosted là trên các tạp chí SCIE.  Trên bình diện chung về nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, việc được công bố trên các tạp chí SCIE đã là điều đáng khích lệ. Tuy nhiên, như PGS.TS Phùng Hồ Hải của Viện Toán học – Viện KH&CN Việt Nam cho biết, một số tạp chí SCIE đăng bài trên cơ sở thu phí của người gửi đăng. Có những tạp chí SCIE tuy thu tiền nhưng vẫn thẩm định bài một cách khắt khe, nhưng cũng có những tạp chí SCI hoàn toàn đăng bài theo nhu cầu người gửi đăng, nghĩa là “bài kiểu gì cũng được đăng trong vòng một tuần, sau khi người gửi bài đóng một khoản phí khoảng 600 đến 1200 USD”.   Tuy hội đồng ngành toán đã loại bỏ không chấp nhận những bài công bố trên các tạp chí SCIE dạng đóng tiền để đăng theo nhu cầu như trên, theo lời PGS.TS. Phùng Hồ Hải, nhưng đây vẫn là một sự cảnh báo cần thiết cho các hội đồng chuyên ngành khác của Nafosted, cho thấy có những chủ nhiệm đề tài sẵn sàng dùng tiền để đạt được mục tiêu công bố quốc tế, dù những công bố này có thể kém về chất lượng, và so sánh thì thấy số tiền mà Nafosted cấp cho đề tài là thừa cho họ làm được việc này.  Một cách dùng tiền để đạt mục tiêu công bố quốc tế khác, theo lời PGS.TS. Phạm Hữu Lý từ Viện Hóa học – Viện KH&CN Việt Nam, có thể có trường hợp chủ nhiệm đề tài thuê một chuyên gia bên ngoài viết hộ phần lớn nội dung của đề tài. Như vậy, người đăng ký đề tài thuần túy chỉ đứng tên để hưởng tiền chênh lệch, còn nội dung đề tài hoàn toàn là của người khác. TS. Trần Quang Bình của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương cho biết trong thực tế nghiên cứu ở Việt Nam, có hiện tượng nhóm nghiên cứu trong nước đơn thuần chỉ làm công việc đơn giản là thu thập các mẫu để gửi cho một nhóm nghiên cứu nước ngoài làm phân tích, để rồi sau này nhóm nghiên cứu trong nước vẫn được đứng ké tên trong công bố quốc tế. Nếu điều này xảy ra với Nafosted thì Nhà nước và quỹ bị mất tiền, trong khi hoạt động nghiên cứu trong nước hầu như không đáng kể, chủ yếu là kết quả của nước ngoài. Liên quan đến vấn đề này, TS. Nguyễn Ngọc Châu cũng bày tỏ lo ngại khi trong số 15 chủ nhiệm đề tài của ngành khoa học sự sống có đề tài được nghiệm thu, chỉ có 7 chủ nhiệm có bài báo do mình đứng tên đầu.   Cơ chế tài chính vẫn hạn chế và rườm rà  Đa số các ý kiến tại tọa đàm cho rằng kinh phí từ Nafosted đem lại một nguồn thu nhập tăng đáng kể so với trước đây cho các nhà nghiên cứu đăng ký với quỹ. Tuy nhiên, so với chi phí trung bình cho một công bố quốc tế thì mức kinh phí này chưa phải là nhiều. Đặc biệt là với những ngành khoa học thực nghiệm, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải mua các nguyên vật liệu đắt tiền từ nước ngoài, hoặc phải tiến hành xét nghiệm trên số lượng mẫu lớn.          TS. Trần Quang Bình của Viện Vệ sinh Dịch tễ  Trung Ương đề xuất chia ra ba hạng đề tài Nafosted. Hạng thứ nhất có  thời gian thực hiện tối đa là 2 năm, mục tiêu là một nghiên cứu công bố  quốc tế, với chủ nhiệm không nhất thiết là tiến sĩ nhưng đã từng có công  bố quốc tế. Hạng thứ hai tương đương với các tiêu chí đề tài hiện hành  của Nafosted. Hạng thứ ba là những đề tài cho phép thời gian thực hiện  dài hơi hơn, tác giả là nhóm nghiên cứu mạnh, với mục tiêu nghiên cứu là  công bố quốc tế ở tạp chí tầm cao.        Cơ chế cấp kinh phí như hiện nay cũng chưa cho phép nhà nghiên cứu dự trù cho các rủi ro, vốn xảy ra thường xuyên trong hoạt động nghiên cứu. Ví dụ như rủi ro do lạm phát khiến giá nguyên vật liệu làm thí nghiệm cao hơn dự kiến, hay rủi ro do phải mở rộng số lượng mẫu xét nghiệm, hoặc mẫu xét nghiệm bị hủy hoại do nguyên nhân khách quan.   Đa số các nhà khoa học cho rằng thủ tục tài chính của Nafosted vẫn còn rườm rà, chặt chẽ hơn mức cần thiết. TS. Nguyễn Ngọc Châu cũng chia sẻ: “bản thân tôi đã từng phải sao chụp hồ sơ thanh toán đề tài trong 2 năm (khoảng 3-4 kg) mang ra Quỹ để kiểm tra”. Ông cho rằng đa số các khoản chi vẫn nặng nề thủ tục thanh quyết toán. Chi cho lao động theo cơ chế mới đã có sự tiến bộ, nhưng “thủ tục thanh toán công lao động dưới dạng hợp đồng thuê khoán cũng cần nên cải tiến bớt các thủ tục”.   Thời gian thực hiện đề tài quá gấp  Các nhà khoa học từ nhiều ngành khác nhau đều thống nhất cho rằng thời gian thực hiện 2 năm cho một đề tài được công bố quốc tế là tương đối gấp gáp, gây rủi ro cho nhà nghiên cứu. Với một số ngành khoa học, thời gian chờ thẩm định và hiệu chỉnh trước khi được đăng trên tạp chí là từ 6 tháng tới một năm. Do đó thời gian nghiên cứu thực sự chỉ tầm hơn một năm. Như vậy là tương đối gấp, đặc biệt là với những ngành khoa học thực nghiệm thường đòi hỏi nhiều thời gian cho việc thí nghiệm và khảo sát.  Một số ngành khoa học xã hội cũng đòi hỏi thời gian thực hiện đề tài dài hơn. TS. Lã Minh Hằng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho biết các đề tài của ngành Hán Nôm, đặc biệt là chuyên ngành từ điển thường đòi hỏi nhiều thời gian cho việc dịch và xử lý tư liệu. Kết quả các nghiên cứu thường phải gắn với xuất bản sách nên càng cần nhiều thời gian, chưa kể riêng thời gian chờ từ thời điểm nộp bài tới lúc đăng bài có khi kéo dài tới 8 tháng.   Nguồn kinh phí và khung thời gian hạn chế dẫn đến hậu quả là không khuyến khích được những đề tài lớn, đủ tầm đăng trên các tạp chí khoa học hàng đầu. TS. Phùng Hồ Hải cho rằng cơ chế hiện nay của Nafosted khiến các nhà nghiên cứu dễ có xu hướng chia nhỏ các đề tài để sao cho vừa vặn với khung kinh phí eo hẹp, đồng thời dễ đạt tiến độ với quỹ. Tuy nhiên, những đề tài nhỏ như vậy sẽ chỉ đăng được ở những tạp chí khoa học quốc tế ở tầm dưới.       Một số đề xuất cải cách Nafosted   Các nhà khoa học tham gia trong tọa đàm đưa ra nhiều ý kiến phong phú cho việc cải cách Nafosted, nhưng đa số đều chung quan điểm là thủ tục tài chính của quỹ cần được điều chỉnh để tiếp tục đơn giản hóa, đồng thời phù hợp hơn với đặc thù hoạt động nghiên cứu, ví dụ có dự trù đến những rủi ro, thiệt hại thường xảy ra trong nghiên cứu khoa học.   Các chủ nhiệm đề tài cần được tăng vai trò chủ động thật sự thông qua tăng cường cơ chế khoán sản phẩm, đặc biệt là chủ động trong việc tổ chức quản lý nhân sự. Ngoại trừ vị trí chủ nhiệm đề tài, thủ tục nhân sự không nên quá cứng nhắc. Chủ nhiệm đề tài nên được tăng quyền chọn người, chọn nghiên cứu sinh, quyền thay đổi nhân sự để tăng tính cạnh tranh trong nội bộ nhóm nghiên cứu. Theo GS.TS. Hoàng Ngọc Long của Viện Vật lý và điện tử, số lượng thành viên thực hiện đề tài nên được phép tăng thêm, nhằm tăng số lượng nghiên cứu sinh có cơ hội được tham gia thực tập trong hoạt động nghiên cứu.    PGS.TS. Nguyễn Ngọc Châu cho rằng nên có quy chế thưởng tiền cho những bài công bố nằm ngoài số lượng đã đăng ký, và thưởng thật đặc biệt cho những bài công bố ở các tạp chí hàng đầu như Nature hay Science. Các mức thưởng là tùy theo vai trò của tác giả trong bài, và yếu tố này cần được đánh giá một cách cụ thể, rõ ràng, qua thang điểm định lượng. Thang điểm này cũng là cơ sở để các hội đồng tiến hành công tác nghiệm thu đề tài. Ngoài ý kiến của TS. Châu, có ý kiến cho rằng nên quy định bắt buộc chủ nhiệm đề tài phải là tác giả đầu, hoặc tác giả corresponding của nghiên cứu.  Các ý kiến cho rằng nên kéo dài thời gian thực hiện đề tài cho một số ngành, đặc biệt đối với khối ngành nghiên cứu thực nghiệm nên được tăng lên thành 3-4 năm, nhằm tăng tính khả thi cho các công bố, hạn chế tình trạng đề tài bị chia nhỏ.           Vấn đề của hội đồng ngành khoa học xã hội và nhân văn   Hội đồng các ngành khoa học xã hội và nhân  văn của Nafosted hiện nay quá nhiều người, chẳng khác gì hội đồng giáo  sư. Hội đồng có tới mười mấy thành viên, trong đó có những người từ mười  mấy năm nay không có sản phẩm nghiên cứu gì đáng kể.    Trong hội đồng, đáng lẽ tên tuổi thành viên  phản biện phải được bảo mật, nhưng trong thực tế nguyên tắc này không  phải khi nào cũng được tuân thủ. Có đề tài mà trước đây tôi nhận phản  biện, khi đề tài vừa đến tay thì đã nhận được điện thoại từ tác giả đề  nghị xin gặp trao đổi.    Cách thức tổ chức và hoạt động hội đồng kém  hiệu quả như vậy nên chất lượng các đề tài không tránh khỏi bị ảnh  hưởng. Khi nhìn vào danh sách các đề tài được đăng ký với quỹ, chúng ta  thấy rất nhiều đề tài quá hạn, hoặc là những đề tài không thể nghiệm thu  trong hệ thống các đề tài đăng kí thường niên, hoặc những đề tài không  đạt yêu cầu của các nơi khác vì những lý do khác nhau.    Để giải quyết tình trạng bất cập này, nhất  thiết phải cải cách các hội đồng. Tổng số thành viên hội đồng chỉ nên  tối đa từ năm tới bảy người. Trong đó ba thành viên chủ chốt không nhất  thiết phải là giáo sư hay phó giáo sư, chỉ cần là tiến sĩ, nhưng nhất  thiết phải là người đang làm việc. Những người trong vòng 3-5 năm gần  đây không có bài công bố nghiêm túc, không có sách công bố có uy tín,  thì không được phép mời vào hội đồng, không được đăng ký chủ trì, cũng  không được phản biện.     Khi phán quyết đồng ý với đề tài, các thành  viên hội đồng cần phải ký tên mình vào phiếu đồng ý, kèm theo lý do đồng  ý. Sau này nếu có vướng mắc, kiện cáo thì thành viên hội đồng phải đứng  ra chịu trách nhiệm cá nhân. Bên cạnh đó, trong quá trình đề tài đang  được thực hiện và thẩm định, tên tuổi thành viên phản biện phải được bảo  mật đến cùng, chỉ khi nào đề tài nghiệm thu xong mới công bố công khai.   Ngoài ra, để tránh tình trạng một đề tài làm  đi làm lại, các bản khai đề tài cần có phần khai các đề tài đã thực  hiện trong 5 năm gần đây, kèm theo các công bố. Những đề tài khai man  sau này bị lộ ra thì phải phạt tội người đăng ký khai man, phạt cả người  thẩm định không biết là người ta khai man.    PGS.TS. Trần Ngọc Vương            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nafosted sẽ mở rộng tiêu chí công bố quốc tế các ngành KHXH&NV      Việc Quỹ Nafosted (Quỹ) yêu cầu đề tài các ngành KHXH&NV bắt buộc phải công bố quốc tế từ năm 2015 đã được đa số các nhà khoa học ủng hộ. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học vẫn thảo luận và kiến nghị Quỹ sửa đổi, bổ sung danh mục xuất bản quốc tế trong suốt thời gian qua. Mới đây, Quỹ cho biết sẽ điều chỉnh, mở rộng tiêu chí công bố quốc tế để phù hợp hơn với đặc điểm của các ngành KHXH&NV.      Cuốn sách “Connected and Disconnected in Vietnam: Remaking Relations in a Post-socialist Nation”, có sự tham gia của một số nhà KHXH&NV trẻ ở Việt Nam, do nhà xuất bản Đại học Quốc gia úc ấn hành năm 2016.  Trong “Hội nghị triển khai đánh giá xét chọn đề tài Nghiên cứu cơ bản trong KHXH&NV tài trợ đợt I năm 2018” vào ngày 18/10/2017, ông Đỗ Tiến Dũng, giám đốc quỹ Nafosted cho biết: “Sau khi thảo luận với các nhà khoa học, các hội đồng ngành, liên ngành KHXH&NV, chúng tôi đã soạn thảo và chuẩn bị ban hành một danh mục công bố quốc tế mới phù hợp hơn với từng ngành, liên ngành. Danh mục này sẽ được áp dụng cho các đợt nộp hồ sơ của năm 2018”.  Như vậy, số lượng xuất bản quốc tế được Quỹ Nafosted chấp nhận sẽ nhiều hơn so với hiện nay và tạo điều kiện hơn cho các nhóm ngành có số lượng hồ sơ nộp vào Quỹ ít. Cụ thể, danh mục công bố quốc tế được Quỹ chấp nhận sẽ có thêm các xuất bản gồm tạp chí, sách, chương sách ở các nhà xuất bản có uy tín, các trường đại học được xếp hạng, theo ông Đỗ Tiến Dũng. Điều chỉnh này chủ yếu “nhắm” vào các ngành, nhóm ngành có ít hồ sơ được Quỹ tài trợ, ngược lại nhóm ngành có nhiều hồ sơ nộp vào Quỹ như ngành kinh tế, sẽ không có điều chỉnh danh mục công bố quốc tế nữa.  Đây là lần thông báo đầu tiên của Quỹ về việc chính thức sửa đổi bổ sung danh mục xuất bản quốc tế được Quỹ chấp nhận nhưng trong thực tế, chủ đề này đã được thảo luận xuyên suốt trong nhiều phiên họp tại Quỹ và một số hội thảo, toạ đàm của các ngành KHXH&NV trong khoảng hai năm qua. Trong phiên họp ra mắt các hội đồng khoa học ngành và liên ngành KHXH&NV Quỹ Nafosted nhiệm kỳ 2016-2018 hồi tháng 7/2016 và phiên họp triển khai đánh giá xét chọn các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHXH&NV năm 2017, đợt 1 của Quỹ Nafosted tháng 4/2017, nhiều nhà khoa học kiến nghị Quỹ cần bổ sung danh mục tạp chí, sách, chương sách, chuyên khảo tại các nhà xuất bản uy tín, các trường đại học được xếp hạng cao trên thế giới. Thậm chí, với đặc thù các ngành KHXH&NV, nhiều chuyên khảo, sách, chương sách có chất lượng được xuất bản ở các nhà xuất bản uy tín còn có tác động lớn hơn các bài tạp chí rất nhiều, theo ý kiến của đa số các nhà khoa học tại Hội thảo “Công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV: Những giải pháp tổng thể” do ĐH KHXH&NV phối hợp với Quỹ tổ chức vào tháng 9/2016.  Đồng tình với xu hướng phải tăng số lượng công bố quốc tế trong các ngành KHXH&NV nhưng một số nhà khoa học đã đề ra mục tiêu phải hướng tới những công bố quốc tế thực sự có chất lượng, gây được tiếng vang trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam thay vì chỉ tích cực “đếm đầu” các công bố “làng nhàng”. “Tôi chưa nhìn thấy công trình nào đạt tới tầm như vậy. Nhiều đề tài vẫn mang tính tổng kết, mô tả bước đầu, mà chưa có nghiên cứu nào thực sự gây ra tác động mới, thảo luận những vấn đề có tính lý luận trong khoa học. Nhìn chung các đề tài của chúng ta có tính ‘an toàn’ hơn, không đi tới việc tranh luận lý thuyết”, GS. TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng ĐH KHXH&NV Hà Nội nói. Đơn cử, trong 10 năm qua, trong số các công trình nghiên cứu KHXH về Việt Nam được trao giải ở nước ngoài không có người Việt Nam nào được giải. “Có thể vì các nhà nghiên cứu KHXH của chúng ta chưa đi tới trình độ khái quát lý thuyết, chưa thể thảo luận được về lý thuyết, hoặc có thể vì chúng ta cần tính ‘an toàn’ đủ để có công bố quốc tế là được”, GS.TS Phạm Quang Minh phân tích nguyên nhân.  Muốn vượt qua được thách thức đó, không chỉ các nhà khoa học mà chính Quỹ cũng cần bước ra khỏi “vùng an toàn”, có định hướng dài hơi nhằm khuyến khích các nhóm nghiên cứu mạnh có công bố xuất sắc, thu hút các nhà khoa học nước ngoài có uy tín nộp hồ sơ vào Quỹ. Ngoài ra, Quỹ nên tăng cường hợp tác quốc tế với các Quỹ tài trợ khoa học uy tín của các nước phát triển, GS.TS Phạm Quang Minh khuyến nghị.   Đợt xét duyệt tài trợ lần 2 năm 2017, Quỹ Nafosted tiếp nhận 64 hồ sơ của các ngành KHXH&NV, trong đó 49 hồ sơ đủ điều kiện. Quỹ cũng cho biết, số lượng hồ sơ các ngành KHXH&NV nộp vào Quỹ đủ điều kiện hợp lệ và được tài trợ tương đối ổn định và có tăng trưởng. Cụ thể, số lượng hồ sơ hợp lệ tăng từ 30 năm 2015 lên 35 hồ sơ trong năm 2016 và, đợt 1 năm 2017 có 39 hồ sơ hợp lệ, đợt 2 của năm 2017 đã có 49 hồ sơ hợp lệ. Kể từ năm 2017, Quỹ bắt đầu nhận hồ sơ đăng ký xin tài trợ hai lần/ năm (từ năm 2013 tới trước đó là 1 lần/ năm).    Author                Bảo Như        
__label__tiasang NAFOSTED và việc góp phần gây dựng lại Đạo đức khoa học      Sau hơn 4 năm hoạt động, với những kết quả đạt được, NAFOSTED – nhà tài trợ cho khoa học Việt nam, dù lúc này chủ yếu chỉ mới cho nghiên cứu cơ bản trong Khoa học Tự nhiên và khoa học Xã hội và nhân văn1, đã góp một phần đáng kể để gây dựng lại Đạo đức Khoa học cho cộng đồng khoa học Việt nam. Muốn thế, NAFOSTED sắp tới sẽ không nên biến mình thành một cơ quan hành chính quan liêu, với rất nhiều thủ tục hành chính rắc rối, buộc các nhà khoa học khi chấp hành phải mặc nhiên trở thành không trung thực, vi phạm tiêu chuẩn tối thượng của đạo đức khoa học.        Mặc dù Chính phủ đã có quyết định thành lập quỹ NAFOSTED từ năm 2003, nhưng mãi đến năm 2008, dưới rất nhiều áp lực của giới chuyên môn, cùng với sự vào cuộc của cơ quan truyền thông có uy tín như TIA SÁNG, cộng với sự dũng cảm của những người quản lý có tâm huyết, quỹ mới thực sự bắt đầu vận hành phần nào theo chuẩn mực quốc tế. Đó thực sự đánh dấu một bước tiến lớn trong quản lý hoạt động khoa học ở nước ta.  Lần đầu tiên, áp dụng nghiêm túc việc đánh giá nghiên cứu khoa học ở số lượng và chất lượng các công bố khoa học. Cũng là lần đầu tiên, các ứng viên phải chứng tỏ mình bằng các công trình khoa học đã công bố để được nhận tài trợ. Và một kết quả hiển nhiên của các chuẩn mực tiến bộ đó là số lượng các nhà khoa học trẻ được tài trợ tăng lên rõ rệt, và vắng bóng dần những “cây đa, cây đề” dựa vào tên tuổi (hão?) của phong tặng để chiếm phần lớn các đề tài như trước đây. Thật là vui mừng khi nghe đại diện một nhóm các nhà khoa học trẻ phát biểu một cách bột phát: “Nhận được tài trợ, chúng tôi hai năm qua thực sự ăn cũng đề tài, ngủ cũng đề tài, chỉ lo sao cho có kết quả có chất lượng khoa học…” [2]. Còn gì vui hơn khi các nhà khoa học trẻ đam mê và có trách nhiệm như vậy! Đâu đó cũng xuất hiện những “mánh khỏe” như chia nhỏ công bố để tăng số lượng, mượn công trình công bố chung với nước ngoài, xào nấu các công trình cũ (làm ở nước ngoài) để báo cáo… Âu cũng là một lẽ thường tình trong tình trạng xã hội xuống cấp như hiện nay. Đóng vai trò như là bà đỡ cho khoa học, nhất là khoa học cơ bản như mới bắt đầu hai năm nay, quỹ NAFOSTED chắc cũng hiểu rõ rằng phải có thời gian ươm mầm, cho cây đâm chồi nảy lộc đã. Trong hai, ba trăm hạt giống đã gieo (nghĩa là 2-300 đề tài được tài trợ), thì mong sao vài chục cây mọc tốt là đã may mắn lắm rồi. Mặt khác, lúc này chính là lúc thuận lợi để NAFOSTED với chức năng tài trợ của mình, đưa dần chuẩn mực khoa học trở thành thường quy trong hoạt động khoa học ở nước ta, một tiêu chuẩn tối thiểu của nghề nghiệp đã bị sao nhãng quá lâu cùng với sự xuống cấp đạo đức xã hội nói chung..  Đạo đức (Ethics) là một tập hợp các nghĩa vụ tinh thần để xác định đúng và sai trong thực tiễn và trong mọi quyết định của chúng ta. Nhiều ngành nghề có một hệ thống chính thức của đạo đức hành nghề, giúp dẫn lối cho các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghề nghiệp. Ví dụ, các bác sĩ thường tuân theo lời thề Hippocrat (Hippocratic  Oath), một trong những lời thề đó chẳng hạn nói rằng các bác sĩ không “làm hại” cho các bệnh nhân của họ. Kỹ sư thì tuân theo một hướng dẫn đạo đức , nói rằng họ là người “nắm giữ tối thượng về an toàn, sức khỏe và phúc lợi của công chúng”. Trong các ngành nghề, cũng như trong khoa học, các nguyên tắc gần như là máu thịt đến mức những người hành nghề  hiếm khi phải suy nghĩ rằng đó chính là tuân thủ đạo đức – đơn giản họ cho rằng đó là bổn phận tất nhiên của việc họ hành nghề. Và một khi đạo đức nghề nghiệp bị vi phạm thì điều đó luôn được coi là rất nghiêm trọng, phải bị trừng phạt, ít nhất là trong lĩnh vực nghề nghiệp (bằng cách tẩy chay hoặc thu hồi giấy phép hành nghề, chẳng hạn) và đôi khi bởi pháp luật.   NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC [3]:  Dù không có một tổ chức hoặc một công ước nào xác định những nguyên tắc cốt lõi của đạo đức khoa học, nhưng giới khoa học luôn luôn ngầm định với nhau những nguyên tắc cơ bản của nghiên cứu khoa học:  1. Trung thực khoa học (Scientific Honesty): không được gian lận khoa học, tức là không ngụy tạo, nhào nặn, cắt dán, xào nấu, phá hủy, hoặc xuyên tạc dữ liệu.  2. Cẩn trọng (Carefulness): Phấn đấu để tránh các lỗi bất cẩn hoặc qua loa đại khái trong mọi công đoạn nghiên cứu khoa học  3. Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom): Các nhà khoa học có quyền theo đuổi những ý tưởng mới và phê phán những cái cũ.  Họ cần được tự do tiến hành những nghiên cứu mà họ thấy thú vị.  4. Cởi mở (Openness): tức là chia sẻ dữ liệu, phương pháp, lý thuyết, thiết bị và công bố kết quả  v.v.. Cho phép mọi người được xem xét công việc của nhà khoa học , và mở rộng cửa tiếp nhận mọi phê phán.  5. Nguyên tắc thừa hưởng (The principle of credit): không ăn cắp công trình của các nhà khoa học khác, cần ghi nhận rõ ràng (trích dẫn) nguồn gốc những nội dung và hình thức đã được sử dụng   6. Nguyên tắc trách nhiệm trước công chúng (The principle of public responsibility): Thông tin cho các phương tiện truyền thông đại chúng về các nghiên cứu nếu a) nghiên cứu đó quan trọng và trực tiếp động chạm đến cuộc sống hạnh phúc của con người và b) nghiên cứu đã được xác nhận đầy đủ bởi các đồng nghiệp khoa học trong ngành.  Với những nguyên tắc cơ bản đó, các tổ chức và quỹ khoa học cần phải tạo ra những hướng dẫn cho thành viên hoặc người nhận tài trợ về việc tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức khoa học (Scientific Ethics Standards)[4].  NHỮNG KẺ LỪA ĐẢO KHOA HỌC ĐIỂN HÌNH  Lịch sử khoa học ghi nhận nhiều kẻ lừa đảo khoa học, điển hình như:  1. Charles Dawson, một nhà khảo cổ học lừng danh nước Anh, người mà năm 1912 đã trưng bày cho công chúng một phát hiện nổi tiếng về xương sọ và hàm răng của người tiền sử, lấp đầy mắt xích tiến hóa giữa người và khỉ, lúc đó còn đang bị đứt đoạn. Nhiều nhà khoa học đã từng nghi ngờ về việc này. Ông ta chết năm 1915 thế nhưng khá lâu sau vào năm 1953 chàng sinh viên đại học Oxford, Joseph Weiner cùng nhiều nhà khoa học khác đã phát hiện ra rằng hộp sọ của người tiền sử đó thực ra chỉ là của người Trung cổ kết hợp với xương hàm của hắc tinh tinh (orangutan ) và răng hóa thạch của đười ươi (fossilized chimpanzee). Sau đó người ta còn phát hiện thêm 38 hiện vật khảo cổ khác của Dowson cũng là giả mạo nốt!  2. Tuy nhiên việc phân biệt giữa hành vi lừa đảo với việc nhầm lẫn, sai lầm trong khoa học không phải dễ dàng. Hai nhà khoa học Stanley Pons và Martin Fleischmann ở Đại học Utah chế ra một thiết bị sử dụng điện cực Paladium và nước nặng để nghiên cứu phản ứng dự đoán là tổng hợp hạt nhân lạnh (cold fusion). Mặc dù không phải tất cả dữ liệu thu được là đủ thuyết phục, nhưng họ vẫn cứ giả thiết rằng phản ứng đã xảy ra. Và thế là họ với sự giúp sức của Đại học Utah đã mở một cuôc họp công bố ra công chúng vào ngày 23/3/1989. Công bố này đã tạo nên một làn sóng cuồng nhiệt về một thành tựu có thể cứu nguy cho nhân loại khỏi thảm họa thiếu năng lượng. Nhưng nhiều nhà khoa học đã trách cứ các tác giả sao lại tuyên cáo ra công chúng trước khi đăng tải trên các tập san chuyên môn có bình duyệt đồng ngành (peer review) để người khác có thể kiểm tra lại độ chính xác. Năm tuần sau đó, các nhà khoa học ở Caltech lặp lại thí nghiệm của Fleischman và phát hiện một loạt sai lầm trong các kết luận khoa học và không thể tìm thấy có Neutron phát ra trong quá trình phản ứng, một chỉ dấu bắt buộc nếu tổng hợp hạt nhân lạnh (cold fusion) xảy ra. Mặc dù sự kiện này đã làm mất mặt giới khoa học, nhưng họ không cáo buộc Fleischman và cộng sự là lừa đảo, vì các tác giả đã không làm giả số liệu; các tác giả đã hấp tấp công bố ra công chúng trước khi thực hiện các quy tắc khoa học về công bố công trình. Nhưng hậu quả thì thật nặng nề. Các tác giả đã buộc phải rời khỏi Đại học Utah, còn cộng đồng khoa học chân chính cũng như nhà tài trợ là Bộ Năng lượng Mỹ thì không dám nói đến cũng như tài trợ cho lĩnh vực nghiên cứu “tổng hợp hạt nhân lạnh” nữa. Phải mất 15 năm, sau khi đổi tên gọi thành ra “phản ứng hạt nhân nhiệt độ thấp” (low energy nuclear reactions) thì Bộ Năng lượng Mỹ mới dám xem xét lại việc tài trợ cho lĩnh vực cực kỳ quan trọng này [5].          Hai nhà khoa học Stanley Pons và Martin Fleischmann          3. Một sự kiện khoa học dậy sóng xã hội vừa mới xảy ra khoảng vài tháng trước, vào ngày 14/1/2012 một mẫu thử nghiệm máy “xúc tác năng lượng” (Enerrgy Catalyser ) do A. Rossi sáng chế đã được trình diễn tại Đại học Bolognia, Italia [6]. Nhiệt được tạo ra khi cho khí hydro chạy qua một loại bột niken pha trộn với một chất xúc tác. Chỉ cần dùng nhỏ hơn 1g Hydro và chưa đến 1000W điện, thiết bị đã đun 292g/min nước từ 20oC lên thành hơi 101oC, tính ra là đã sản sinh tương đương 12000W năng lượng, gấp hơn 10 lần năng lượng đầu vào. Đặc biệt, không sản sinh ra bức xạ hạt nhân nào và thiết bị rất khả thi về mặt kinh tế. Về buổi trình diễn này, nhà Vật lý hạt nhân L. Kowalski kể lại: “Nhà phát minh, Andrea Rossi, đã không trả lời các câu hỏi về bản chất của chất xúc tác. Một đồng nghiệp của tôi đã có mặt tại cuộc trình diễn, đứng ngay bên cạnh thiết bị. Anh ta có mang đến một máy đo cầm tay có khả năng  phân tích bức xạ hạt nhân thoát khỏi thiết bị. Tuy nhiên, những người trình diễn không cho phép anh ta bật máy đo lên. Việc làm này làm cho tôi không còn nghĩ rằng Rossi là một nhà khoa học. Lý lẽ nào biện minh cho ông ta về việc che giấu đó? Ông ta có lẽ sẽ nói rằng cần chống sự cạnh tranh không lành mạnh, và có thể nói đến những khó khăn để đăng ký phát minh trong tương lai. Điều này là dễ hiểu. Bí mật là OK, nhưng chỉ là ở giai đoạn mà sáng chế chưa được trình diễn trước công chúng. Một nhà khoa học chân chính sẽ không ngăn chặn đồng nghiệp của tôi bật máy đo lên.Một nhà khoa học đúng nghĩa sẽ cung cấp thông tin ít nhiều về thành phần hóa học của bột. Rossi thừa biết một nhà khoa học phải có những phẩm chất gì. Nhưng ông ta cũng cần tiền từ các nhà đầu tư tiềm năng. Bản trình diễn tại trường đại học có lẽ đã được thiết kế để gây ấn tượng với những nhà kinh doanh đó mà thôi. Tiêu chuẩn Đạo đức trong kinh doanh không giống như trong khoa học”.[7] Liệu kết luận như vậy có thái quá chăng?                          Ngày 14/1/2012   một mẫu thử nghiệm máy “xúc tác năng lượng” (Enerrgy Catalyser ) do A. Rossi sáng chế đã được trình diễn tại Đại học Bolognia ,Italia.            HÀNH VI ĐẠO ĐỨC KHOA HỌC    Hành vi Đạo đức khoa học bao gồm: a) Các quy chuẩn của phương pháp và quá trình dùng cho thiết kế, thủ pháp của nghiên cứu, phân tích, lý giải, và báo cáo các dữ liệu của nghiên cứu; và b) các tiêu chuẩn của các chủ đề và phát kiến có sử dụng con người và động vật làm đối tượng nghiên cứu.  Với việc tuân thủ hành vi đạo đức trong khoa học, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu sẽ được đảm bảo hơn và sự an toàn của các đối tượng nghiên cứu cũng được tôn trọng.   Để giúp giảm thiểu sự vi phạm đạo đức, và nhận diện ra một khi có vi phạm đạo đức xảy ra, cộng đồng khoa học và các tổ chức quản lý có nhiều phương tiện để sử dụng. Có thể kể ra những phương tiện hữu hiệu hay được sử dụng nhất là Phục chứng nghiên cứu (replication), hợp tác nghiên cứu (collaboration), và bình duyệt đồng ngành (peer review) .  Muốn thế, NAFOSTED sắp tới sẽ không nên biến mình thành một cơ quan hành chính quan liêu, với rất nhiều thủ tục hành chính rắc rối, buộc các nhà khoa học khi chấp hành phải mặc nhiên trở thành không trung thực, vi phạm tiêu chuẩn tối thượng của đạo đức khoa học. Cộng đồng khoa học mong đợi NAFOSTED, một tổ chức được thành lập và hoạt động theo chuẩn mực quốc tế, sẽ có những cách làm mới hợp với chuẩn mực quốc tế. Đơn cử như hãy sử dụng công cụ bình duyệt đồng ngành (peer review) làm công cụ chính để tuyển chọn và đánh giá các đề tài, thay cho việc lập ra các Hội đồng này nọ, như cách làm của các cơ quan quản lý hiện nay. Các hội đồng như hiện nay đang bị lạm dụng, thực ra đã trở thành nơi che chắn cho trách nhiệm và công tâm của nhà quản lý. Hội đồng (chuột?) là nơi để cho việc móc ngoặc, gắp bỏ cho nhau… được hợp pháp hóa, bất kể hậu quả thế nào cho xã hội, cho khoa học. Và hậu quả nhãn tiền, là nơi mà nhiều “cây đa cây đề” chỉ vì nể nang, ngại va chạm… đã vô tình vi phạm đạo đức khoa học, làm hại xã hội, đánh mất sự nghiệp, danh tiếng khoa học của mình trước cộng đồng khoa học. Một điều nguy hiểm hơn nữa, là những người không đáng được coi là nhà khoa học nữa thường lại được ưu tiên giữ chỗ  trong các Hội đồng. Việc phá bỏ nhiều tiền lệ kiểu “Hội đồng”… như hiện nay cần một sự dũng cảm nhiều hơn của các nhà quản lý NAFOSTED. Và đó cũng là làm gương về tuân thủ chuẩn mực khoa học cho cộng đồng khoa học noi theo.  —————-  Tài liệu tham khảo  [1] http://www.nafosted.gov.vn/index.php? lang=vi&mid=98  [2] “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cải cách Nafosted” Tọa đàm do TIA SÁNG tổ chức ,Hà nội ,7/3/2012  [3] David Resnik, Department of Philosophy, University of Wyoming, http://people.emich.edu/jthomsen/Ethics/proceedings/Resnik1.pdf  [4] National Academy of Sciences. (1995). On Being a Scientist: Responsible Conduct in Research: National Academy Press.  [5] DOE SC (2004). Report of the Review of Low Energy Nuclear Reactions. U.S. Department of Energy, Office of Science, retrieved April 29, 2008 from http://www.science.doe.gov/ Sub/Newsroom/News_Releases/DOE-SC/2004/low_energy/CF_Final_120104.pdf.   [6] http://pesn.com/2011/01/19/9501747_cold-fusion-journals_warming_to_Rossi_breakthrough/  [7 ]http://forums.philosophyforums.com/threads/ethical-standards-science-versus-business-46245.htm      Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2014: Hành động để bứt phá      Năm 2014 được Bộ Khoa học và Công nghệ xác  định là năm hành động để đưa các quy định mới của Luật với nhiều nội  dung đổi mới mang tính đột phá, làm thay đổi một cách cơ bản cơ chế quản  lý hoạt động KH&amp;CN theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động  KH&amp;CN và thông lệ quốc tế vào thực tiễn ngay từ khi Luật có hiệu lực  vào ngày 1/1/2014.    Kết thúc năm 2013, với việc Luật khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật được Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thành và trình Chính phủ, hệ thống các cơ chế, chính sách quy định về hoạt động KH&CN đã cơ bản được hoàn thiện. Do đó, năm 2014 được Bộ Khoa học và Công nghệ xác định là năm hành động để đưa các quy định mới của Luật với nhiều nội dung đổi mới mang tính đột phá, làm thay đổi một cách cơ bản cơ chế quản lý hoạt động KH&CN theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động KH&CN và thông lệ quốc tế vào thực tiễn ngay từ khi Luật có hiệu lực vào ngày 1/1/2014.  Tuy nhiên, do trước đây hoạt động KH&CN đã có một thời gian dài được quản lý theo cơ chế cũ, mang nặng tính hành chính nên đến nay, một bộ phận cán bộ quản lý, đặc biệt là các cán bộ quản lý trong lĩnh vực nhân lực và tài chính, vẫn chưa quán triệt một cách đầy đủ tinh thần đổi mới của Luật dẫn tới việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định mới của Luật, đặc biệt là các văn bản có tính liên ngành, vẫn còn nhiều vướng mắc và chậm trễ. Do vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành KH&CN trong năm 2014 là đẩy mạnh công tác truyền thông để quán triệt các nội dung đổi mới của Luật đến tất cả các cấp quản lý, các nhà khoa học, các tổ chức KH&CN nhằm góp phần quan trọng vào việc đổi mới tư duy, thống nhất hành động của các cán bộ quản lý để đưa các quy định đổi mới của Luật khoa học và công nghệ vào cuộc sống.  Năm 2014 là năm đầu tiên tổ chức Ngày khoa học và công nghệ Việt Nam (18/5/2014) theo quy định của Luật khoa học và công nghệ, cũng là năm Bộ Khoa học và Công nghệ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập (18/5/1959). Trong dịp này, tại Hà Nội và các địa phương trên cả nước sẽ diễn ra hàng loạt các sự kiện như: trình diễn quá trình nghiên cứu khoa học, triển lãm về thành tựu KH&CN, mở cửa các phòng thí nghiệm, thư viện khoa học đối với mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, trao các giải thưởng về KH&CN,… Việc tổ chức thành công Ngày khoa học và công nghệ có ý nghĩa to lớn trong việc đưa KH&CN tới gần hơn với công chúng, khích lệ sự sáng tạo của các nhà khoa học và đặc biệt là nuôi dưỡng tình yêu khoa học của thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  Với sự nỗ lực của tất cả các nhà khoa học, các nhà quản lý, cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của các cơ quan có liên quan trong việc thực thi Luật khoa học và công nghệ, tôi tin tưởng rằng KH&CN sẽ có sự thay đổi bứt phá, thực sự là động lực quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa đất nước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2020 đào tạo 40 chuyên gia xuất sắc về R&D (Kỳ 1)      Việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân của Việt Nam đòi hỏi đáp ứng đủ yêu cầu cả về chất lượng và số lượng. Tuy nhiên, khó khăn đang đặt ra là những chính sách, chế độ đãi ngộ hiện hành không đủ để giữ chân các cán bộ trẻ theo nghề, theo nhận định của TS. Nguyễn Hào Quang, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.      Hiện nay có nhiều ý kiến lo ngại về sự thiếu hụt nhân lực phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam. Xin ông cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?  Như chúng ta đã biết, chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam đã được Quốc hội thông qua và Chính phủ đang chỉ đạo các Bộ, Ngành liên quan tích cực triển khai công tác chuẩn bị đầu tư và đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Để triển khai thành công Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, chúng ta phải có được một đội ngũ cán bộ đủ năng lực trên nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đảm trách thực hiện việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, hỗ trợ kỹ thuật và nghiên cứu triển khai nhằm đảm bảo đáp ứng việc triển khai Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng, an toàn, an ninh. Trong thời gian qua, một trong các nguyên nhân khiến Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận bị chậm tiến độ là do công tác phát triển nguồn nhân lực của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu tiến độ triển khai Dự án.   Hiện việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân đang tập trung cho ba đơn vị chính là Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam: Cục An toàn bức xạ và hạt nhân đào tạo cán bộ quản lý những vấn đề quan trọng như an toàn hạt nhân, quản lý chất thải phóng xạ và an ninh hạt nhân; Tổng công ty Điện lực Việt Nam đảm trách việc đào tạo lực lượng vận hành nhà máy điện hạt nhân; Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam sẽ tập trung vào đào tạo đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật và R&D.    Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành về điện hạt nhân. Nguồn: Viện NCHN Đà Lạt  Có tới ba đơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân với những phân định rõ ràng về tiêu chí đào tạo, vậy nguyên nhân nào khiến công tác phát triển nguồn nhân lực của chúng ta lại chưa đáp ứng được yêu cầu tiến độ triển khai dự án?    Trước hết phải khẳng định rằng, điện hạt nhân gắn liền với văn hóa an toàn nên việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân của Việt Nam phải gắn liền với những tiêu chí rất cao về chất lượng và hiệu quả đào tạo. Cục An toàn bức xạ và hạt nhân mới được thành lập. Các cán bộ của Cục phần lớn là các cán bộ trẻ. Để đào tạo họ có đủ năng lực như yêu cầu của một cơ quan pháp quy hạt nhân quản lý chương trình điện hạt nhân cũng cần phải có thêm thời gian.               TS.  Nguyễn  Hào Quang cho biết mục tiêu mà  Viện Năng lượng nguyên tử Việt  Nam, đơn  vị được Bộ KH&CN trao trọng  trách phát triển đội ngũ  chuyên gia về  R&D và hỗ trợ kỹ thuật, là  đến năm 2020 có được 40  chuyên gia xuất  sắc.        Do chương trình phát triển điện hạt nhân là một chương trình tổng thể liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ ngành có liên quan chứ không chỉ gói gọn trong pham vi quản lý của Bộ KH&CN, ví dụ như vấn đề quản lý của điện hạt nhân còn mở rộng đến các Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Công thương với các vấn đề về an toàn xây dựng, đánh giá tác động môi trường, an toàn công nghiệp… Tuy nhiên trên thực tế, việc phân công trách nhiệm tham gia của các bộ ngành vẫn chỉ nằm trên văn bản giấy tờ chứ chưa thực sự bắt tay vào công việc. Các cán bộ được giao nhiệm vụ phụ trách các mảng công việc liên quan đến chương trình điện hạt nhân cũng mới chỉ thực hiện trên hình thức kiêm nhiệm mà chưa chuyên trách nên chưa nắm rõ một cách thấu đáo về các vấn đề này. Do đó việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý cũng gặp nhiều khó khăn.  Với đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật và  R&D do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phụ trách, việc đào tạo mới chỉ đạt được yêu cầu nhận biết rõ những lĩnh vực ưu tiên cần đào tạo và qua đó, lên được lộ trình thực hiện quá trình đào tạo này. Khó khăn mà chúng tôi gặp phải là phần lớn đội ngũ cán bộ mà chúng tôi đang tiếp nhận đều hổng về kiến thức cơ bản, chất lượng đào tạo kém do hai nguyên nhân chính: 1. Nhiều trường có khoa công nghệ hạt nhân đều có xu hướng cải biến chương trình học để đáp ứng nhu cầu thị trường như mở rộng Khoa Kỹ thuật hạt nhân thành Khoa kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường; 2. Chất lượng đầu vào của các khoa đào tạo hạt nhân ở các trường đều ở mức thấp. Để khắc phục khó khăn này, khi đón nhận cán bộ mới, chúng tôi đã phải đào tạo lại bằng một khóa bổ túc kiến thức trong vòng một năm. (Còn tiếp)      Hảo Linh  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm 2020 đào tạo 40 chuyên gia xuất sắc về R&D (Kỳ cuối)      TS. Nguyễn Hào Quang, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho rằng, cần có chính sách&#160; mạnh mẽ hơn để thu hút được cán bộ giỏi đến với chương trình đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân và yên tâm theo nghề.     Đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật và  R&D trong chương trình điện hạt nhân của Việt Nam có vai trò quan trọng như thế nào?  Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đang hướng tới việc đào tạo được đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật và  R&D  có khả năng nghiên cứu, tiếp thu, làm chủ và phát triển khoa học, kỹ  thuật và công nghệ liên quan đến nhà máy điện hạt nhân; Thực hiện vai  trò của cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về kiểm tra đánh giá và  bảo đảm chất lượng, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân và bảo vệ môi  trường, phục vụ cho chương trình phát triển điện hạt nhân.  Về cụ thể, các thành viên trong lực lượng  hỗ trợ kỹ thuật chuyên thực hiện những công việc đặc biệt, cung cấp các  dịch vụ quan trọng cho cơ quan pháp quy trong việc thẩm định đánh giá  an toàn khi tiến hành cấp phép. Khi nhà máy điện hạt nhân đi vào hoạt  động, cần thiết phải có bộ phận hỗ trợ kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ,  nhất là trong thời gian dừng hoạt động theo kế hoạch để thay đảo nhiên  liệu cho nhà máy điện hay thực hiện các dự án nâng cấp, trang bị mới  thiết bị cho nhà máy. Các cán bộ của tổ chức hỗ trợ kỹ thuật thường thực  hiện công việc của những thành viên trong đội giải quyết các vấn đề  phát sinh.  Như vậy cán bộ của tổ chức hỗ trợ kỹ  thuật không chỉ thỏa mãn yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật mà còn phải có  các kỹ năng mềm giúp giải quyết các mối quan hệ con người trong công tác  quản lý. Những thách thức này phải được đáp ứng bằng việc lập kế hoạch  đào tạo đội ngũ cán bộ một cách hệ thống dựa trên những nhu cầu phát  triển các dịch vụ mở rộng. Điều này đòi hỏi phải định rõ các kỹ năng, số  lượng và vị trí nhân viên cần thiết để thực hiện các dịch vụ trên.  Những vấn đề yêu cầu cụ thể về nhân lực đối với tổ chức hỗ trợ kỹ thuật  chủ yếu được xác định dựa trên loại và thiết kế của nhà máy điện hạt  nhân.   Còn mảng R&D  phục vụ chương trình điện hạt nhân bao gồm các hoạt động nhằm cải thiện  công nghệ nhà máy điện hạt nhân. Vì vậy nó đòi hỏi nguồn nhân lực phục  vụ công tác R&D ở  trình độ rất cao. Những người hoạt động trong lĩnh vực này phải hiểu  biết rất sâu sắc về những yêu cầu thiết kế và các quy chuẩn công nghiệp  được thiết lập và hiểu rõ các cơ sở thiết kế. Điều này đặc biệt quan  trọng khi những giải pháp kỹ thuật mới, những sáng chế hay thiết kế mới  được đề xuất. R&D  phục vụ chương trình điện hạt nhân cũng đòi hỏi phải có các hoạt động  nghiên cứu nhằm đảm bảo an toàn lâu dài đối với nhiên liệu đã cháy và  các chất thải phóng xạ sinh ra từ các nhà máy điện hạt nhân.    Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phối hợp với Viện Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tổ chức khóa học Xây dựng và thực hiện chính sách và chiến lược quốc gia về quản lý chất thải phóng xạ theo tiêu chuẩn IAEA.   Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất tiếp thu làm chủ công nghệ như trên, một trong những yêu cầu khác đối với lực lượng R&D  là phải có nhiều nghiên cứu khoa học phát triển những kiến thức mới  trong lĩnh vực điện hạt nhân. Phạm vi của những kiến thức mới này thường  ở mức rộng hơn và cao hơn so với nhu cầu ứng dụng của điện hạt nhân  Việt Nam hiện tại. Việc đầu tư để thực hiện các nghiên cứu này đòi hỏi  nguồn kinh phí lớn với những trang thiết bị hiện đại, tiên tiến. Để giải  quyết vấn đề này, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đang áp dụng một  cách làm khá hiệu quả là mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, kết nối  chặt chẽ với những trung tâm, viện nghiên cứu lớn và có uy tín của thế  giới, qua đó cử cán bộ tham gia các dự án nghiên cứu quốc tế để cùng với  chuyên gia nước ngoài giải quyết những vấn đề mới của điện hạt nhân.  Thông qua những dự án như thế, chúng ta sẽ có được những cán bộ nghiên  cứu đủ kiến thức và năng lực, đủ sức thực hiện các vấn đế nghiên cứu  trong nước cũng như quốc tế. Mục tiêu mà Viện Năng lượng nguyên tử Việt  Nam đặt ra là đến năm 2020 có được 40 chuyên gia như vậy.  Giải pháp tối ưu nào để Viện năng  lượng nguyên tử Việt Nam đạt được những mục tiêu này về lực lượng hỗ trợ  kỹ thuật và nghiên cứu triển khai?  Bên cạnh những nỗ lực mà Viện Năng lượng  nguyên tử Việt Nam vẫn áp dụng trong thời gian qua, theo tôi cần có sự hỗ trợ về  mặt chính sách của Nhà nước. Chúng ta cần có chính sách  mạnh mẽ hơn để  thu hút được cán bộ giỏi đến với chương trình đào tạo và yên tâm theo  nghề. Vừa qua, Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi về chế  độ đãi ngộ đối với người tham gia lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Thu  nhập của các cán bộ trẻ đã được tăng lên và bước đầu giúp họ giải quyết  được phần nào những khó khăn trong cuộc sống.   Tuy nhiên theo tôi những nỗ lực đó vẫn  chưa đủ để giữ chân các cán bộ trẻ theo nghề. Để giải quyết tốt vấn đề,  chúng ta cần tham khảo chính sách phát triển nguồn nhân lực của các quốc  gia tiên tiến về điện hạt nhân trên thế giới: muốn thu hút được nhân  tài, họ đã thực thi những chính sách hết sức đặc biệt, trong đó vấn đề  đầu tư kinh phí đào tạo, đãi ngộ được đặt lên hàng đầu.   Ngân sách dành cho nghiên cứu cũng cần  phải được đầu tư hơn và giao quyền tự chủ hơn cho cơ quan nghiên cứu.  Ông Yamashita, một chuyên gia trong lĩnh vực điện hạt nhân của Nhật Bản,  đã từng chia sẻ, năm 1954, Nhật Bản bắt đầu chương trình nghiên cứu  công nghệ hạt nhân. Mặc dù khi đó, ngân sách nhà nước còn hạn hẹp nhưng  Nhật Bản đã dành 235 triệu JPY cho hoạt động nghiên cứu. Các hoạt động  nghiên cứu của họ dựa trên ba nguyên tắc: phương pháp dân chủ, quản lý  độc lập và minh bạch.  Nếu Việt Nam chọn lọc và áp dụng được tốt  những biện pháp từng đem lại cho các quốc gia tiên tiến về điện hạt  nhân nguồn nhân lực chất lượng cao thì theo tôi các vấn đề sẽ được giải  quyết một cách ổn thỏa.   Hảo Linh  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm đề xuất tăng cường an toàn hạt nhân      Hội nghị cấp Bộ trưởng về An toàn Hạt nhân (20 – 24/06/2011) là cuộc họp quốc tế cấp cao đầu tiên sau tai nạn hạt nhân Fukushima Daiichi, với mục tiêu là rút ra các bài học giúp tăng cường an toàn hạt nhân trên toàn Thế giới. Dưới đây là năm đề xuất trong bài phát biểu của ông Yukima Amano, Tổng Giám đốc IAEA.     Tăng cường các Tiêu chuẩn An toàn IAEA (IAEA Safety Standards)  Các Tiêu chuẩn An toàn IAEA là căn cứ được quốc tế công nhận để xác định mức an toàn cao giúp bảo vệ người dân và môi trường khỏi những tác động có hại của phóng xạ. Từ sự kiện Fukushima Daiichi, chúng ta thấy rằng các tiêu chuẩn an toàn liên quan tới vụ tai nạn, cụ thể là những tiêu chuẩn có liên quan tới rủi ro các thiên tai nối tiếp nhau, ví dụ như động đất và sóng thần, cần phải được kiểm tra lại. Những vấn đề khác cần được xem xét bao gồm sự chuẩn bị có hiệu quả đối phó với tình trạng mất điện kéo dài, đảm bảo nguồn nước làm mát, sự bảo vệ đặc biệt cho những nhà máy có nhiều lò phản ứng, và việc làm mát nhiên liệu đã qua sử dụng trong điều kiện nhà máy bị sự cố.  Vì vậy, tôi yêu cầu Ủy ban Các Tiêu chuẩn An toàn của IAEA kiểm tra lại các tiêu chuẩn liên quan và làm báo cáo trong vòng 12 tháng, trong đó đưa ra các đề xuất củng cố và tăng cường những tiêu chuẩn này.   Mấu chốt là việc thực hiện. Kể cả những tiêu chuẩn tốt nhất cũng trở nên vô dụng nếu như chúng không được thực hiện trong thực tế. Tôi đề nghị tất cả mọi Quốc gia Thành viên cam kết một cách chắc chắn rằng sẽ áp dụng các Tiêu chuẩn An toàn IAEA trong thực tế.     Tăng cường công tác đánh giá an toàn  Chúng ta cần đánh giá một cách có hệ thống và thường xuyên tính an toàn của tất cả các nhà máy hạt nhân. Việc đánh giá này cần mang quy mô quốc gia ở mọi Quốc gia Thành viên, tuy nhiên, đánh giá bổ sung của IAEA là rất cần thiết để tăng độ tin cậy và minh bạch, và giúp tăng tính hiệu quả của quy trình này.   Qua tai nạn Fukushima Daiichi, mọi nhà máy điện hạt nhân trên Thế giới đều cần được đánh giá ở cấp quốc gia một cách toàn diện và minh bạch về các nguy cơ rủi ro. Trọng tâm là kiểm tra xem liệu chúng có chống chịu được những thiên tai lớn, như động đất, sóng thần, và bão lụt. Việc đánh giá này phải hoàn thành trong vòng 12 tới 18 tháng. Nếu phát hiện ra vấn đề thì cần tiến hành ngay các biện pháp cần thiết. Sau các cuộc họp với các Quốc gia Thành viên, IAEA đã bắt đầu xây dựng phương pháp đánh giá các rủi ro chung cho mọi quốc gia có thể sử dụng. Các đánh giá mang tính quốc gia là điểm khởi đầu, sau đó chúng cần được theo dõi, kiểm chứng bởi ý kiến độc lập từ các chuyên gia IAEA. Chúng tôi sẽ cung cấp kiểm chứng trên ba lĩnh vực cơ bản, bao gồm: an toàn trong hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân, sự chuẩn bị đối phó với các tình huống khẩn cấp, và tính hiệu quả của hệ thống điều hành. Tôi đề nghị mọi quốc gia có nhà máy điện hạt nhân nhất trí cho IAEA được vào kiểm tra mang tính định kỳ và một cách có hệ thống.   Sẽ không thực tế nếu chúng ta yêu cầu IAEA phải kiểm tra tất cả 440 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động trên Thế giới trong vòng ít năm. Vì vậy, tôi đề xuất một hệ thống kiểm tra ngẫu nhiên. Ví dụ, sau khi củng cố một số chức năng hiện có, IAEA có thể tiến hành kiểm tra tính an toàn của một trong mọi mười nhà máy điện hạt nhân trên khắp Thế giới, trong vòng có thể là 3 năm. Với nhận thức rằng bất kỳ nhà máy nào cũng có thể bị kiểm tra, những người điều hành sẽ có thêm động cơ để thực thi theo những tiêu chuẩn an toàn nhất. Hệ thống này có thể được thực thi mà không cần thay đổi các quy định pháp lý hiện hành, chỉ đơn giản là các Quốc gia Thành viên cho phép vào kiểm tra tất cả mọi nhà máy điện hạt nhân. IAEA có thể hướng tới thu xếp bắt đầu các cuộc kiểm tra này trong vòng từ 12 tới 18 tháng.   Kết quả báo cáo và các đề xuất từ chuyên gia đánh giá của IAEA cần được công khai tới mọi Quốc gia Thành viên, và cần phải có những nhiệm vụ kế tiếp nhằm đảm bảo rằng những đề xuất này được thực hiện.     Củng cố các cơ quan quản lý của quốc gia    Các cơ quan quản lý của quốc gia đóng vai trò trọng yếu trong đảm bảo an toàn hạt nhân.  Tất cả mọi quốc gia cần đảm bảo rằng các cơ quan này hoạt động hiệu quả tối đa. Các cơ quan quản lý này phải thực sự hoạt động độc lập, được cấp kinh phí đầy đủ, và có đội ngũ cán bộ được đào tạo kỹ lưỡng.  IAEA cung cấp các chương trình Dịch vụ Kiểm tra Hệ thống Quản lý (Integrated Regulatory Review Service) để giúp các Quốc gia Thành viên đánh giá và tăng tính hiệu quả cho cơ sở quản lý của họ. Tôi khuyến khích các Quốc gia Thành viên tận dụng tối đa những chương trình như vậy. Đối với Nhật Bản, tôi muốn có ngay một chương trình kiểm tra trong năm 2012 để cập nhật tiếp sau chương trình năm 2007.  Tăng cường sự chuẩn bị và các hệ thống phản ứng toàn cầu  Các cơ chế phản ứng và quản lý sự cố hạt nhân cần được cải thiện, từ quy mô quốc gia, khu vực, tới toàn cầu. Các biện pháp thực tiễn có thể bao gồm tập trung sẵn sàng các thiết bị cứu trợ khẩn cấp, như máy phát điện chạy diesel, để nhanh chóng cung cấp cho các nhà máy bị mất điện. Về phần mình, IAEA sẽ chuẩn bị để là địa chỉ quốc tế cung cấp chuyên gia kỹ thuật đặc biệt – ví dụ như về robot, cứu hỏa – giúp các quốc gia bị nạn.  Các đội chuyên gia xử lý tai nạn, vốn đã hiện có ở một số quốc gia, cần được thành lập ở mọi quốc gia có chương trình hạt nhân. Những hoạt động tổ chức mang tính khu vực cũng rất cần thiết. Tôi sẽ đề nghị Mạng lưới Phản ứng và Hỗ trợ (RANET) của IAEA tiến hành kiểm tra, xây dựng các quy chế xác lập hoạt động tổ chức cứu trợ khẩn cấp tầm khu vực.  Chúng ta sẽ gặt hái nhiều lợi ích nếu thực hiện có hiệu quả các công ước quốc tế, như Hiệp định Cảnh báo sớm tai nạn hạt nhân và Hiệp định về Hỗ trợ khi có tai nạn hạt nhân hoặc sự cố phóng xạ khẩn cấp. Vai trò điều phối của IAEA đối với Kế hoạch Các tổ chức quốc tế phối hợp điều hành sự cố phóng xạ khẩn cấp có thể được tăng cường. Tôi tin rằng mọi tổ chức liên quan nên tài trợ cho kế hoạch phối hợp này.  Thu thập và phổ biến thông tin  Các thông tin được IAEA cung cấp cho các Quốc gia Thành viên sau tai nạn Fukushima Daiichi là cơ sở dẫn chiếu hữu ích. Tuy nhiên, hiện nay, vai trò của chúng tôi trong mỗi vụ tai nạn phần lớn mới chỉ là cung cấp các thông tin được xác nhận bởi quốc gia có tai nạn, tới các Quốc gia Thành viên khác. Tôi đề nghị chức năng chia sẻ thông tin nên được mở rộng để bao gồm việc cung cấp cả các phân tích và dự đoán kịch bản diễn biến của tai nạn và ảnh hưởng phóng xạ. Chúng tôi có thể tự phát triển khả năng của mình, hoặc hợp tác với các viện khoa học.   Thang đánh giá Sự cố Hạt nhân và Phóng xạ Quốc tế (INES), với mục đích đánh giá các sự cố trên thang 7 điểm, có ý nghĩa thông tin và truyền thông quan trọng, được hợp tác xây dựng bởi IAEA và Cơ quan Năng lượng Hạt nhân của OECD. Không may là thang điểm này không phát huy được chức năng của nó trong trường hợp tai nạn Fukushima Daiichi. Tôi đề nghị Ủy ban Tư vấn INES cân nhắc cải thiện thang điểm này.   TS lược dịch  (Toàn văn bài phát biểu có thể đọc tại: http://www.iaea.org/newscenter/statements/2011/amsp2011n013.html)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năm yếu tố để tự chủ thành công      Từ năm 2000, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (trước là Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã chủ động thử nghiệm tiến trình tự chủ, từ một số đơn vị đầu tiên rồi lan tỏa dần sang các đơn vị khác. Đến nay, chúng tôi đã có 17 viện, trung tâm nghiên cứu triển khai tự chủ thành công.       Có năm yếu tố cơ bản giúp các đơn vị này vừa tự chủ thành công, vừa làm tốt nhiệm vụ khoa học. Thứ nhất, người đứng đầu của tổ chức nghiên cứu phải là một nhà khoa học có uy tín, có sức cảm hóa và tập hợp các nhà khoa học khác, dám dấn thân chỉ để khẳng định các nhà khoa học Việt Nam có thể sống đàng hoàng, tử tế bằng khoa học. Hai là tổ chức phải có chiến lược dài hạn và trung hạn rõ ràng, khả thi, không bị các chương trình KH&CN kiểu ăn đong ở đâu đó lôi cuốn. Ba là môi trường làm việc chuyên nghiệp trên tinh thần ‘tình cảm trong sáng, kinh tế sòng phẳng’ với tất cả mọi người. Bốn là phải liên tục chăm lo xây dựng đội ngũ. Năm là có thước đo giá trị cụ thể đối với kết quả mà tổ chức đạt được, đồng thời có cơ chế khen thưởng căn cứ trên thước đo này – thước đo cho kết quả nghiên cứu cơ bản là số lượng các công bố quốc tế, còn thước đo cho kết quả ứng dụng triển khai là số tiền thu được từ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu.   Các yếu tố trên được thể hiện cụ thể như sau:    Phẩm chất người lãnh đạo  Người lãnh đạo tổ chức tự chủ phải có năng lực tổ chức chuyên nghiệp; biết thu hút, trọng dụng nhân tài; biết dấn thân để khẳng định mình, khẳng định hướng nghiên cứu của mình và của đơn vị mình, mà muốn vậy thì không chỉ cần kỹ năng quản lý mà còn đòi hỏi năng lực chuyên môn cao. Nếu người đứng đầu không có công trình công bố quốc tế trên các tạp chí ISI thì không có uy tín chuyên môn trong mắt đồng nghiệp, càng không thể thúc đẩy họ nỗ lực làm ra những công bố quốc tế.  Để có được những nhóm cán bộ nghiên cứu năng lực đồng đều từ lãnh đạo tới nghiên cứu viên, chúng tôi yêu cầu cán bộ nghiên cứu của Học viện phải có tối thiểu một bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ (tốt nhất là có cả bằng Thạc sỹ và Tiến sỹ) do các trường đại học nằm trong top 200 trường đại học nước ngoài do tạp chí Times Higher Education (The World University Ranking) xếp hạng cấp.         Người lãnh đạo tổ chức tự chủ phải biết dấn thân để khẳng định mình, khẳng định hướng nghiên cứu của minh và của đơn vị mình. Muốn vậy thì không chỉ cần kỹ năng quản lý mà còn đòi hỏi năng lực chuyên môn cao.         Lộ trình tiến tới tự chủ  Mỗi viện, trung tâm nghiên cứu đều phải xác định một lộ trình tiến tới tự chủ. Họ phải phải đệ trình và bảo vệ thành công đề án tự chủ trước một hội đồng của học viện, sau đó được ‘nuôi’ ba năm, rồi từ từ cai sữa trong hai năm tiếp theo. Như vậy sau năm năm đơn vị phải tự sống bằng chính tiềm lực khoa học và công nghệ của mình. Không những thế, từ năm thứ năm đơn vị còn phải có trách nhiệm đóng góp vào Quỹ Khoa học và Công nghệ của Học viện – quỹ này nhằm đảm bảo tính ổn định, bền vững, và sự phát triển lâu dài của các đơn vị, quỹ do đơn vị quản lý dưới sự giám sát của Học viện nhằm dự phòng cho các khoản kinh phí khấu hao trang thiết bị, đầu tư mới, các nghiên cứu mang tính thử nghiệm mở đường, v.v.  Đáp ứng mục tiêu “cai sữa” sau năm năm là nhiệm vụ không dễ dàng. Trong thực tế ở Học viện, ngoài 17 trung tâm tự chủ thành công, đã có ba trung tâm thất bại phải giải thể, lãnh đạo và bộ máy nhân sự phải điều chuyển sang những công việc khác. Học viện không có lựa chọn nào khác, bởi nếu tiếp tục bao cấp cho những đơn vị kém hiệu quả thì sẽ không đảm bảo sự chuyên nghiệp và tính công bằng, khiến những đơn vị khác mất đi động lực phấn đấu để tự chủ.   Cơ chế khen thưởng hợp lý, phân minh  Để thúc đẩy các đơn vị tự chủ hóa nhưng vẫn khuyến khích họ làm nghiên cứu khoa học, sắp tới Học viện sẽ áp dụng chính sách mỗi viện, trung tâm nghiên cứu được hưởng năm suất ‘biên chế’ do kinh phí của Học viện chi trả với một điều kiện, trong ba năm liên tiếp buộc phải có ít nhất một công bố trên các tạp chí ISI, hoặc là có ít nhất một sản phẩm khoa học ứng dụng phục vụ nhu cầu kinh tế – xã hội được thừa nhận rộng rãi – chế độ đặc biệt này cũng phần nào giúp các đơn vị và đội ngũ cán bộ nghiên cứu đỡ phân tâm vì vấn đề hạn chế thu nhập. Với mỗi bài báo quốc tế, mỗi sản phẩm được xã hội thừa nhận, Học viện thưởng một khoản tiền là 25 triệu đồng và tác giả của các công trình đó được mặc nhiên thừa nhận là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và được xét lên lương sớm nếu không vi phạm pháp luật hoặc vi phạm các quy định của Học viện. Về phía các tổ chức nghiên cứu phải xây dựng cho mình một quy chế hoạt động hợp lý, trong đó các chế độ lương, thưởng phải công khai, minh bạch, tương xứng công bằng với kết quả công việc.  Ý nghĩa của tiến trình tự chủ    Áp lực tự chủ đã buộc các tổ chức phải chủ động xây dựng kế hoạch hợp lý, nỗ lực kiên trì thực hiện, và luôn biết tiết kiệm, chú trọng tính hiệu quả trong việc mua sắm và khai thác sử dụng các nguồn lực. Chính vì vậy, qua tiến trình tự chủ, các viện, trung tâm nghiên cứu của Học viện đã từng bước tích lũy được các hệ thống trang thiết bị tương đối hiện đại so với các nước lân cận trong cùng khu vực.   Tiến trình tự chủ hóa cũng tạo động lực để các tổ chức tiến hành những hoạt động nghiên cứu một cách thực chất, chủ động xây dựng đội ngũ các nhà khoa học giàu năng lực, tự tạo cơ chế hoạt động linh hoạt phù hợp với đặc thù các hoạt động KH&CN. Tính tự chủ cũng gắn liền với tính độc lập vốn rất cần thiết ở các tổ chức khoa học, ví dụ các trung tâm, phòng thí nghiệm có thể tiến hành phân tích và trực tiếp đưa ra những kết luận chuyên môn mang tính độc lập theo yêu cầu của người dân và các doanh nghiệp.   Môi trường tự chủ còn tạo ra nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, giúp hạn chế vấn đề chảy máu chất xám và lãng phí, thui chột tài năng, với cơ chế một phần nguồn kinh phí trích từ các trung tâm nghiên cứu được Học viện phân bổ vào các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu cấp trường, là sân chơi phù hợp để các nhà khoa học trẻ, đặc biệt là những người được đào tạo ở nước ngoài về, đề xuất và triển khai các ý tưởng nghiên cứu hữu ích có khả năng ứng dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam. Điều này giúp họ từng bước thích nghi với môi trường nghiên cứu trong nước, tích lũy thêm những kinh nghiệm và điều kiện cần thiết trước khi có thể đăng ký các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và đề tài của Quỹ Nafosted.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nan đề mới trong ngành du lịch quốc tế      Cái gì quá cũng không tốt. Định luật này đang chứng tỏ giá trị của nó trong ngành du lịch tại một số quốc gia trên thế giới.      Tourist you are the terrorist – Slogan mới  của ngành du lịch?  Khách du lịch đang là vấn đề gây đau đầu cho người dân và chính quyền tại nhiều điểm du lịch nức tiếng hiện nay.  Nhiều nơi rơi vào tình cảnh “khách át chủ”, khi mà số lượng du khách đổ về đông nườm nượp. Barcelona, một thành phố du lịch hấp dẫn của Tây Ban Nha, mỗi năm đón khoảng 7,5 triệu du khách trong khi số lượng cư dân thực tế ở đây chỉ dừng ở ngưỡng 1,6 triệu người. Sự xuất hiện của những vị khách vãng lai khiến cho các đường phố lúc nào cũng đông đúc, giá sinh hoạt tăng vọt, sự hài hòa của cảnh quan bị mất dần do những khách sạn mới, những tòa chung cư dành cho khách thuê phòng thi nhau mọc lên không ngừng. Trên thực tế, một số thành phố du lịch nổi tiếng hiện nay như Magaluf của Tây Ban Nha hay Venice của Italy gần như vắng bóng người dân sở tại, đến nỗi có người đã phải thốt lên rằng: “Chúng tôi đang bị xâm lược!”  Sự xuất hiện của khách du lịch cũng mang đến những ảnh hưởng không nhỏ cho người dân bản địa. Ở một số thành phố, người dân sở tại đã phải tránh đến trung tâm thành phố do lượng du khách đổ về quá lớn, chỗ để xe cũng bị san sẻ và trở nên chật chội. Những nhà hàng danh tiếng, những địa điểm hấp dẫn trong vùng bỗng trở thành nơi phục vụ riêng cho khách vãng lai. Tại những thành phố cổ kính, nhiều người dân không khỏi ngao ngán và xót xa khi thấy hàng đoàn du khách chen chân trên những con phố mà họ đã gìn giữ suốt từ hàng trăm năm nay hay đổ dồn về những bãi biển thiêng liêng của họ.  Tại hòn đảo Ibiza xinh đẹp của Tây Ban Nha, nguồn dự trữ nước ngọt đang bị thu hẹp dần, tỉ lệ nghịch với sự gia tăng về số lượng khách du lịch. Những rạn san hô ở đảo Koh Tachai, thiên đường lặn biển ở Thái Lan, đang đứng trước nguy cơ chết dần chết mòn do du khách đến tham quan và gửi lại… hàng nghìn chiếc chân vịt nhựa làm tin! Còn tại vùng ngoại ô ở đảo Menorca, Tây Ban Nha, nhiều người lo sợ rằng cảnh quan thiên nhiên nơi đây có thể sẽ bị ngành du lịch phá hỏng.  Ngoài sự đông đúc, thái độ và hành vi khiếm nhã của du khách cũng khiến nhiều người ngao ngán. Cư dân ở nhiều điểm du lịch vẫn thường xuyên lên tiếng than phiền về các du khách say xỉn, ăn mặc lôi thôi – thậm chí cởi trần hoặc mặc đồ hở hang, hay lái xe ẩu. Du khách Trung Quốc đặc biệt nhận được nhiều sự chỉ trích hơn cả. Theo thống kê, cứ 10 du khách quốc tế bây giờ thì có 1 người là đến từ Trung Quốc, và hầu như tới đâu họ cũng để lại không ít thì nhiều những ấn tượng không hay. Chẳng hạn, những chủ khách sạn tại quần đảo Seychellois rất nản lòng với một trong những thói quen của các vị du khách này: lấy ấm đun nước trong phòng khách sạn để luộc cua sống và … bỏ vỏ lại trong đó. Năm ngoái, người đứng đầu ngành du lịch tại New Zealand thừa nhận rằng sự phát triển về số lượng khách du lịch Trung Quốc đang cao hơn so với mong muốn của họ.  Những biện pháp ban đầu  Không dừng lại ở những lời than phiền, người dân và chính quyền tại nhiều địa điểm du lịch đã và đang thể hiện thái độ của họ một cách quyết liệt hơn đối với những vị du khách theo nhiều hình thức khác nhau.  Tại New Zealand, người dân rủ nhau tiến hành tịch thu xe của những khách du lịch lái xe ẩu. Còn trên các bức tường tại các thành phố du lịch nổi tiếng như Barcelona hay Palma gần đây đã bắt đầu xuất hiện những hàng chữ như muốn “đuổi khách đi” như: “Khách du lịch là khủng bố”, “Ngành du lịch đang phá hủy thành phố”, “Khách du lịch cút đi.”  Thực ra, vấn đề khách du lịch quan trọng tới nỗi trong cuộc bầu cử thị trưởng thành phố Barcelona vào năm ngoái, bà Ada Colau đắc cử vì là người đã xung phong khẩu hiệu sẽ có những biện pháp mạnh tay với khách du lịch. Và quả thực, sau khi bà đắc cử, chính quyền thành phố này đã ban hành một sắc lệnh ngưng cấp giấy phép xây khách sạn hoặc khu căn hộ cho khách du lịch trong 1 năm tại thành phố. Đồng thời, nhằm hạn chế du khách tới thăm khu chợ La Boqueria nức tiếng, vào giờ cao điểm những nhóm du khách có từ 15 người trở lên sẽ không được phép vào.  Ở các điểm du lịch khác, chính quyền địa phương cũng đang rục rịch vào cuộc. Chính quyền đảo Balearic, Tây Ban Nha, vào tháng 7 vừa qua đã ra luật thuế du lịch mới, theo đó du khách nào muốn lưu lại lâu hơn sẽ phải trả thêm 2 euro cho mỗi đêm ở thêm. Từ tháng 10 năm nay, du khách sẽ bị cấm đặt chân đến đảo Koh Tachai của Thái Lan. Chính quyền đảo Santorini, Hy Lạp nơi đón tiếp khoảng 10.000 du khách vào mùa cao điểm, cũng đã đặt ra giới hạn mỗi ngày chỉ đón tiếp tối đa 8.000 người.  Cần cách tiếp cận cân bằng  Mark Tanzer, người đứng đầu Hiệp hội Lữ hành Anh Quốc, mới đây đã lên tiếng cảnh báo rằng nếu không có sự kiểm soát, khách du lịch có thể sẽ trở thành thủ phạm giết chết ngành du lịch. Nhưng các quan chức sở tại sẽ cần phải cẩn trọng trong việc này. Ngành du lịch hiện chiếm khoảng gần 1/10 tổng GDP toàn cầu, và là một nguồn phát triển ổn định cho nhiều địa phương. Tại Barcelona, ngành du lịch đã tạo ra 120.000 công ăn việc làm, và tại Seychelles, chỉ tính riêng năm ngoái ngành du lịch đã chiếm gần 2/3 GDP của quần đảo này.  Để công bằng hơn với khách du lịch, một phần nguyên nhân ở đây có lẽ cũng xuất phát từ sự hoạch định kém của các chính quyền địa phương, chẳng hạn như trong việc chuẩn bị cơ sở hạ tầng (xây dựng các toilet công cộng miễn phí để phục vụ du khách ít tiền,…). Cần có những quy định giúp bảo vệ môi trường/ cảnh quan của địa phương mà không làm “mếch lòng” các du khách, bởi suy cho cùng, khách du lịch không phải là một thách thức gì mới mà chỉ là một thách thức thường trực mà thôi.  Quỳnh Ca tổng hợp.    Author                Thu Trang        
__label__tiasang Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên      Giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,  đảng viên – một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh  đốn Đảng trong tình hình hiện nay như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)  đã đánh giá – sẽ góp phần trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức  chiến đấu của Đảng, giúp xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh,  như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Đảng viên tốt thì chi bộ tốt, chi bộ  tốt thì Đảng vững mạnh và lãnh đạo cách mạng thắng lợi”.      Với nhận thức công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quyết định mọi thắng lợi, coi việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên là nội dung quan trọng nhất, thời gian qua thực hiện Kế hoạch số 388-KH/ĐUB ngày 04/3/2013 của Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) về triển khai nhiệm vụ “Năm nâng cao chất lượng chi bộ” theo tinh thần Nghị quyết số 01-NQ/ĐUK ngày 10/01/2012 của Đảng ủy Khối về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, các chi bộ trong Đảng bộ Bộ KH&CN đã đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là số cán bộ trẻ, hoặc mới về đơn vị công tác. Các chi bộ thường xuyên động viên, khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy năng lực, tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, tích cực chủ động tham gia nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học tiên tiến, áp dụng hiệu quả vào công tác. Các chi ủy chi bộ cũng đã chấp hành nghiêm việc quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy cấp trên, duy trì khá đều sinh hoạt định kỳ với nội dung và trình tự sinh hoạt theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW ngày 02/03/2012 của Ban Tổ chức Trung ương, Hướng dẫn số 47-HD/BTCĐUK và Hướng dẫn số 48-HD/BTCĐUK ngày 28/02/2012 của Ban Tổ chức Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.   Qua sinh hoạt, các chi bộ, cán bộ, đảng viên đã nâng cao ý thức trách nhiệm, tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên; nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự phê bình và phê bình; tăng cường đoàn kết, thống nhất, gắn bó, sẻ chia, tình thân ái đồng chí đồng đội. Chi bộ đã thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phê bình và tự phê bình một cách thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc và chân thành. Thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, các chi bộ đã coi phê bình và tự phê bình là thứ vũ khí sắc bén giúp chi bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, kịp thời phát hiện, sửa chữa sai lầm khuyết điểm. Bên cạnh đó, các chi bộ đã quan tâm làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng quần chúng ưu tú sớm trở thành đảng viên; chú trọng công tác tự kiểm tra, giám sát. Chỉ đạo công đoàn, thanh niên, cựu chiến binh tích cực tham gia các hoạt động thiết thực chào mừng các sự kiện chính trị quan trọng, ngày truyền thống của đoàn thanh niên, cựu chiến binh… tạo không khí thi đua sôi nổi; coi đây là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong các mặt công tác, phong trào của đơn vị, chi bộ.  Những tồn tại và giải pháp  Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm ảnh hưởng đến hoạt động của chi bộ cần sớm khắc phục, sửa chữa trong thời gian tới. Cụ thể là một số cán bộ đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, chưa thực hiện đúng vai trò, nhiệm vụ của người đảng viên dẫn đến chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao; công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng có lúc thực hiện chưa nghiêm, còn tư tưởng ngại va chạm, sợ đấu tranh sẽ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân dẫn đến giảm sút sức chiến đấu; tư tưởng bình quân chủ nghĩa chưa được khắc phục triệt để. Việc triển khai học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số chi bộ còn mang tính hình thức, chưa sâu, thiếu nhạy bén; việc nắm bắt và giải quyết tình hình tư tưởng ở cơ sở chưa kịp thời, hiệu quả; chi ủy một số chi bộ chưa thực sự coi trọng công tác xây dựng Đảng, nhất là việc đổi mới phương thức lãnh đạo, chưa chấp hành nghiêm chế độ báo cáo; nề nếp và chất lượng sinh hoạt đảng của một số chi bộ chưa nghiêm, nội dung sinh hoạt đảng chưa thật đổi mới; việc chỉ đạo của một số tổ chức cơ sở đảng đối với các tổ chức chính trị-xã hội chưa sâu sát, kịp thời nên hoạt động còn nặng về hình thức, chất lượng hạn chế. Các tổ chức đoàn thể chưa thực sự chủ động bồi dưỡng, nâng cao chất lượng quần chúng ưu tú giới thiệu cho Đảng. Việc thực hiện quy trình xét chọn quần chúng ưu tú giới thiệu cho chi bộ của các tổ chức quần chúng có lúc chưa chặt chẽ.  Để nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cần tập trung thực hiện một số nội dung cơ bản sau:  Một là: Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên; chủ động ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên.  Đây là nội dung trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tổ chức đảng không thể trong sạch, vững mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên chất lượng thấp, có một bộ phận yếu kém, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Do đó, cần đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về mục đích, lý tưởng của Đảng, về phẩm chất đạo đức, tư cách người đảng viên cộng sản qua việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đặc biệt coi trọng và tổ chức tốt việc giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên qua thực tiễn công tác và sinh hoạt đảng, qua gương người tốt việc tốt trong cơ quan, đơn vị. Thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình quốc tế và trong nước, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để nâng cao cảnh giác cách mạng, sức “đề kháng” cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực của xã hội; thông tin về những biểu hiện và mức độ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống để cán bộ, đảng viên chủ động phòng ngừa, phát hiện, phê phán, đấu tranh. Chủ động tạo dư luận trong đơn vị để phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật, đạo đức, tư cách đảng viên.  Tăng cường quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, trình độ năng lực và quan hệ xã hội, gắn kết chặt chẽ công tác quản lý đảng viên với quản lý cán bộ, giữa quản lý đảng viên ở nơi công tác và nơi cư trú để chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại.  Hai là: Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.  Đổi mới nâng cao chất lượng nghị quyết của chi bộ theo hướng cụ thể, thiết thực tập trung lãnh đạo các vấn đề trọng tâm, trọng yếu của cơ quan, đơn vị; tránh việc ra nghị quyết một cách tràn lan, nội dung nghị quyết của cấp dưới cũng giống như nội dung nghị quyết của cấp trên. Đặc biệt coi trọng công tác tổ chức thực hiện nghị quyết đảm bảo cho việc triển khai thực hiện nghị quyết đạt hiệu quả thiết thực. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phong cách và lề lối làm việc của cấp ủy chi bộ thực sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm. Đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng. Chi ủy, nhất là bí thư chi bộ thường xuyên nghiên cứu, tăng cường tổ chức các sinh hoạt chuyên đề, tập trung lãnh đạo giải quyết các vụ việc trong cơ quan, đơn vị, chi bộ mà cán bộ, đảng viên quan tâm.  Thực hành rộng rãi dân chủ trong sinh hoạt chi bộ, bảo đảm cho các quyền của đảng viên được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn và đầy đủ. Thực hiện nghiêm túc, nề nếp chế độ tự phê bình và phê bình coi đó là công cụ sắc bén để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, là biện pháp tích cực để củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhất, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.  Ba là: Đề cao sự gương mẫu, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị mà hạt nhân là đồng chí bí thư chi bộ trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.  Đây là giải pháp rất quan trọng. Cấp ủy và lãnh đạo cơ quan, đơn vị là những người có trách nhiệm cao nhất trong xây dựng Đảng và giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị. Sự gương mẫu của tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị mà đặc biệt là của đồng chí bí thư chi bộ vừa là tấm gương, vừa là chỗ dựa về tinh thần cho cán bộ, đảng viên. Nếu cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trong sáng về đạo đức lối sống, luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị, gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì sẽ phát huy được dân chủ, tính tích cực của cán bộ, đảng viên, tạo dư luận lành mạnh phê phán những biểu hiện tiêu cực, suy thoái. Ngược lại, nếu cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị là những người quan liêu, không quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị, thì công tác giáo dục cán bộ, đảng viên chủ quan, thiếu trách nhiệm trong đánh giá, kiểm tra, phát hiện những biểu hiện tiêu cực, suy thoái; thiếu kiên quyết trong giáo dục, xử lý người vi phạm hoặc xử lý thiếu công tâm… sẽ làm cho đúng – sai, tốt – xấu lẫn lộn, tư tưởng lý luận của Đảng, giá trị đạo đức cách mạng và môi trường giáo dục trong cơ quan, đơn vị không nghiêm và thiếu lành mạnh, tạo cơ hội cho những tư tưởng lệch lạc về chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và phát triển.  Chính vì vậy, cần tập trung xây dựng, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định nhằm xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị đặc biệt là của bí thư trong mối quan hệ với cấp ủy cơ quan, đơn vị; kịp thời nêu gương cán bộ, đảng viên điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; cơ chế giám sát cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; cơ chế cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về những yếu kém, sai phạm của cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý.  Bốn là: Nâng cao chất lượng công tác tổ chức cán bộ, công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên, đồng thời nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên.  Tổ chức rà soát, đánh giá, phân loại cán bộ từ đó có kế hoạch sắp xếp đội ngũ cán bộ hợp lý, bố trí cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh đã xây dựng; tổ chức luân chuyển, điều động, sắp xếp lại cán bộ, đảng viên; xây dựng quy trình quản lý cán bộ chặt chẽ, phòng ngừa sai phạm tiêu cực trong công tác chuyên môn. Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đảng viên toàn diện về kiến thức chính trị, pháp luật, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác, khuyến khích cán bộ tham gia học tập nâng cao trình độ, chú trọng chất lượng đào tạo, năng lực thực tế, lấy hiệu quả công việc làm thước đo chính trong bình xét thi đua, khen thưởng, nâng lương, bổ nhiệm.  Kết nạp đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật trong công tác xây dựng Đảng nhằm tăng sức chiến đấu bảo đảm sự kế thừa của Đảng. Để nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng, một mặt chi bộ chủ động làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng tạo nguồn phát triển đảng, nguồn phong phú thì tổ chức đảng càng có điều kiện lựa chọn kỹ càng, chất lượng nguồn tốt sẽ cho những đảng viên có chất lượng cao. Mặt khác, phải xem xét kỹ động cơ, mục đích của người xin vào Đảng để kịp thời giúp đỡ quần chúng đủ điều kiện sớm trở thành đảng viên, đồng thời phải thực hiện đúng tiêu chuẩn xét kết nạp đảng và các thủ tục, quy trình trong công tác kết nạp đảng theo quy định của Trung ương.  Năm là: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên.  Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát coi như không lãnh đạo. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác; việc thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, chấp hành kỷ cương kỷ luật, tác phong trong công tác, trong quan hệ giao tiếp… Chủ động phối hợp với cấp ủy địa phương để quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú.  Nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trước hết là ở ý thức tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Toàn thể cán bộ, đảng viên phải luôn có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần vào thành tích chung của đơn vị để xứng đáng là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao vai trò của các hội đồng ngành      Dường như chúng ta luôn có tâm lý sợ các hội đồng khoa học không công tâm. Để giải quyết nỗi sợ ấy, ta không thể tìm cách bớt thẩm quyền hội đồng khoa học  đi mà nên công khai hơn các hoạt động của hội đồng, dân chủ hơn trong  việc lựa chọn thành viên hội đồng, thông thoáng hơn trong việc tổ chức  đối thoại giữa hội đồng với các nhà khoa học.       Publications Mathématiques de l’IHÉS1 là một trong vài tạp chí tốt nhất của toàn bộ ngành Toán học – công trình đoạt giải Fields của GS Ngô Bảo Châu cũng được đăng trên tạp chí này – nhưng lại không được ISI xếp vào danh sách SCI mà chỉ được xếp trong SCI-E. Đây không phải là ví dụ duy nhất của các tạp chí ngành Toán phản ánh sự bất cập của ISI.   Tuy nhiên trên diện rộng thì việc áp dụng danh sách của ISI là một phương thức tương đối khách quan. Ở đây, vai trò của các hội đồng khoa học ngành là giảm thiểu những bất hợp lý nảy sinh từ phương thức này và vai trò ấy phải được nâng cao. Chúng ta vẫn luôn khẳng định, nếu chỉ dùng các chỉ số định lượng máy móc thì chẳng cần hội đồng làm gì, trong khi việc tiếp tục tối ưu danh sách ISI bằng cách kết hợp với các danh sách khác thực ra vẫn là cách làm máy móc và chưa hẳn đã loại trừ hết những bất cập.   Số lượng tạp chí của mỗi ngành rất lớn nhưng trong thực tế, các nhà khoa học chỉ đăng trong một phần nhỏ của các tạp chí này. Chẳng hạn ngành Toán, tôi ước đoán đa số công bố chỉ tập trung vào khoảng 50 tạp chí. Vì vậy việc hội đồng khoa học ngành Toán tự phân loại, công khai danh sách tạp chí ở các mức “chuẩn”, “uy tín” là hoàn toàn khả thi.  Dường như chúng ta luôn có tâm lý sợ các hội đồng khoa học không công tâm. Để giải quyết nỗi sợ ấy, ta không thể tìm cách bớt thẩm quyền hội đồng khoa học đi mà nên công khai hơn các hoạt động của hội đồng, dân chủ hơn trong việc lựa chọn thành viên hội đồng, thông thoáng hơn trong việc tổ chức đối thoại giữa hội đồng với các nhà khoa học. Tôi có nhận xét là hội đồng của Nafosted thường họp rất gấp gáp, đó là một thực tế phải thay đổi.  ———————————-  * Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam  1 http://www.springer.com/mathematics/journal/10240      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nâng cao vai trò của KH&CN trong việc hình thành các quyết sách      Tái cơ cấu nền KH&amp;CN về bản chất là  sắp xếp lại các nguồn lực của một quốc gia dành cho KH&amp;CN để tạo ra  những đóng góp hiệu quả hơn cho sự nghiệp phát triển đất nước trên mọi  lĩnh vực. Điều này không chỉ đòi hỏi Nhà nước xây dựng một vài chính  sách ưu đãi đơn lẻ nào đó cho các cá nhân, tổ chức khoa học, mà trước  hết cần quyết tâm chính trị rất lớn từ các nhà lãnh đạo đất nước để  KH&amp;CN được đặt vào đúng vị trí của nó, đó là một mặt gắn bó khăng  khít và soi sáng các quyết sách từ lớn tới nhỏ của Nhà nước, mặt khác  tăng cường tiếng nói phản biện độc lập, khách quan của các nhà khoa học  có uy tín, để KH&amp;CN không bị cô lập, đứng ngoài, cũng không mang  tính hình thức, phụ họa xuôi chiều cho các quyết sách này.    Để đảm bảo tính gắn bó khăng khít giữa KH&CN với các quyết sách chính trị – kinh tế – xã hội thì đầu tiên chiến lược và các chính sách KH&CN phải lồng ghép chặt chẽ với các chiến lược, chính sách trong những lĩnh vực liên quan khác của quốc gia, và phải do toàn thể khối hành pháp cùng chủ động phối hợp thực hiện, bắt đầu từ người đứng đầu Chính phủ. Nếu không làm như vậy mà chỉ phân cấp cho một đầu mối chủ trì là Bộ KH&CN thì trong thực tiễn xây dựng và triển khai, đa số các chính sách KH&CN luôn bị giới hạn ít nhiều trong khuôn khổ tầm nhìn và thẩm quyền, trách nhiệm của một ngành, vấp phải nhiều rào cản khi triển khai vào đời sống, đặc biệt là sự trói buộc từ những cơ chế, chính sách hiện hành của các ngành, lĩnh vực khác.   Sự chậm trễ trong việc xây dựng, triển khai những chính sách KH&CN quan trọng ở Việt Nam trong thời gian qua, như chính sách về tự chủ hóa các tổ chức KH&CN công lập, chính sách về ưu đãi cho doanh nghiệp KH&CN, hay các nỗ lực đổi mới cơ chế tài chính dành cho hoạt động KH&CN, là minh chứng rõ nét cho sự đơn độc, kém hiệu lực, hiệu quả của các chính sách KH&CN khi chúng được triển khai mà thiếu sự phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các Bộ, ngành. Chính bởi những khó khăn, hạn chế này mà lâu nay đã có luồng ý kiến đề nghị thay đổi về cơ chế, làm sao để Bộ trưởng Bộ KH&CN thực sự được làm ‘tổng tư lệnh’ cho ngành của mình. Tuy nhiên, đó chỉ là ước mơ phi thực tế, bởi trong cơ chế nào mà thiếu sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của người đứng đầu Chính phủ thì tiếng nói của một Bộ, ngành riêng lẻ vẫn mang tính cục bộ, không dễ dàng thúc đẩy sự hỗ trợ, hợp tác của các Bộ, ngành khác để có thể nhanh chóng thay đổi những cơ chế, chính sách đã trở thành thông lệ, ăn sâu vào tư duy, thói quen của các nhà quản lý hành chính, cho dù chúng đã lạc hậu so với thế giới và không còn phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong nước.     Để tìm giải pháp cho vấn đề này, nhìn vào kinh nghiệm của Mỹ và Singapore, chúng ta thấy chiến lược và chính sách KH&CN tầm quốc gia của họ đều do một hội đồng chủ trì xây dựng và điều phối thực hiện, trong đó đứng đầu hội đồng là người lãnh đạo cao nhất của Chính phủ. Ví dụ RIEC1 (Hội đồng Nghiên cứu Đổi mới sáng tạo và Doanh nghiệp) của Singapore có 23 người, với 10 thành viên từ Chính phủ Singapore, bao gồm Thủ tướng và đại diện các Bộ, trong đó đại diện các Bộ có mối liên quan trực tiếp đến KH&CN như Giáo dục, Quốc phòng, Thông tin – truyền thông, Y tế, Môi trường – tài nguyên nước, và Phát triển quốc gia đều là Bộ trưởng. Hoặc như mô hình NSTC2 (Hội đồng KH&CN Quốc gia của Mỹ có thành viên đứng đầu là Tổng thống, còn lại đều là những Bộ trưởng và người đứng đầu các ban, ngành hành pháp. Hiển nhiên dưới sự tham gia chủ trì trực tiếp của người đứng đầu Chính phủ tại hội đồng, đại diện các Bộ, ngành ở RIEC cũng như NSTC đều phải tích cực, chủ động nâng cao vai trò, trách nhiệm của mình trong xây dựng, triển khai các chiến lược, chính sách KH&CN của quốc gia.   Mặt khác, để thường xuyên tiếp thu ý kiến từ các nhà khoa học, hạn chế sự quan liêu, chủ quan của các nhà chính trị trong xây dựng các chiến lược, chính sách KH&CN cùng các quyết sách khác của quốc gia, cơ cấu tổ chức của NSTC có các ủy ban tham mưu về khoa học và giáo dục, mà đứng đầu là các nhà khoa học từ các tổ chức KH&CN danh tiếng của Mỹ, đặc biệt là những người từ NSF (Quỹ Khoa học Quốc gia) – các thành viên của NSF đều là những nhà khoa học tên tuổi do giới KH&CN Mỹ đề cử, được Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn, có nhiệm kỳ sáu năm3. RIEC của Singapore thì đi một bước xa hơn khi các nhà khoa học không chỉ đóng vai trò tham mưu mà còn trực tiếp là thành viên của hội đồng này. 13 trong tổng số 23 thành viên của RIEC là các chuyên gia trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, các ngành công nghiệp, trong đó, đáng lưu ý là đa số họ không phải người Singapore, mà gồm những nhà khoa học tên tuổi hoặc lãnh đạo các tập đoàn, các tổ chức tư vấn chiến lược giàu uy tín trên thế giới. Điều này thể hiện tinh thần thực dụng, cởi mở, và hội nhập quốc tế sâu rộng trong tư duy, tầm nhìn chiến lược của Singapore, không chỉ giúp cho Chính phủ của họ khỏi lạc hậu so với bước tiến thời đại, mà còn luôn đảm bảo tính gắn kết trong chiến lược phát triển KH&CN của Singapore với nhu cầu các ngành kinh tế của thế giới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu sắc hiện nay.            Cần quyết tâm chính trị rất lớn từ các nhà  lãnh đạo đất nước để KH&CN được đặt vào đúng vị trí của nó, đó là  một mặt gắn bó khăng khít và soi sáng các quyết sách từ lớn tới nhỏ của  Nhà nước, mặt khác tăng cường tiếng nói phản biện độc lập, khách quan  của các nhà khoa học có uy tín, để KH&CN không bị cô lập, đứng  ngoài, cũng không mang tính hình thức, phụ họa xuôi chiều.            Tóm lại, việc áp dụng theo mô hình NSTC hoặc RIEC đều có khả năng đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong xây dựng, triển khai các chiến lược, chính sách KH&CN bằng sự tham gia và chịu trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu Chính phủ và đại diện các Bộ, ngành, kết hợp với sự tham gia độc lập, khách quan, chủ động của giới khoa học. Ngoài ra, trong điều kiện của Việt Nam, việc áp dụng theo một trong hai mô hình này sẽ giúp Bộ KH&CN tập trung một cách hiệu quả hơn cho các nhiệm vụ quan trọng khác như cung cấp các dịch vụ hành chính, dịch vụ công trong lĩnh vực KH&CN; kiểm tra giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực KH&CN, các chiến lược, chính sách KH&CN của quốc gia; quản lý nguồn kinh phí Nhà nước dành cho hoạt động KH&CN – chúng ta cũng nên nghiên cứu tham khảo mô hình quản lý KH&CN của Mỹ, nơi nguồn kinh phí của Liên bang dành cho hoạt động KH&CN do sự quản lý của NSF, một cơ quan nhà nước song có tính độc lập rất cao khi các vị trí lãnh đạo do quyết định bổ nhiệm, phê chuẩn của Nhà nước nhưng hoàn toàn theo sự đề cử của giới khoa học.    —————-———-  Chú thích:  1. http://www.nrf.gov.sg/about-nrf/governance  2. http://www.whitehouse.gov/administration/eop/ostp/nstc3 http://www.nsf.gov/about/             Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lực nghiên cứu giữa Mỹ và Trung Quốc: Khoảng cách ngày càng thu hẹp      Theo một thông báo của Chính phủ Trung Quốc vào ngày 9/10, năm 2017, tổng chi cho R&D của Trung Quốc đã tăng lên 12,3% và đạt mốc kỷ lục 1,76 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương 254 tỷ USD.      Thiên Nhãn – kính viễn vọng hình cầu khẩu độ 500 mét, là một trong những sản phẩm của chính sách tăng cường đầu tư cho nghiên cứu của Trung Quốc. Nguồn: Sciencemag  Không chỉ vươn lên vị trí thứ hai thế giới về chi tiêu cho R&D, hiện khoảng cách năng lực nghiên cứu giữa Trung Quốc và Mỹ – quốc gia dẫn đầu danh sách này, đã giảm xuống đáng kể.  Tham vọng của Trung Quốc rất rõ ràng. “Trung Quốc cần phải lọt vào top các quốc gia đổi mới sáng tạo và trở thành cường quốc đổi mới sáng tạo của thế giới vào năm 2050. Nghiên cứu cơ bản và những khám phá tiên phong là những vấn đề lớn mà Trung Quốc phải làm được ngay từ bây giờ”, Bộ trưởng Bộ KH&CN Wan Gang nói trong một cuộc họp báo vào đầu năm 2018.  Cuộc cạnh tranh tay đôi  Các dự báo về thời gian mà Bắc Kinh cần có để thu hẹp khoảng cách về công nghệ với Mỹ – theo các chuyên gia về bằng sáng chế, thì có thể là vào thập kỷ tới. Và Trung Quốc đang sẵn sàng có bước nhảy vọt trong một số lĩnh vực.  “Với số lượng các nhà khoa học Trung Quốc đang nghiên cứu hằng năm thì sẽ tới lúc họ bắt kịp Mỹ, bất chấp những gì Mỹ đang cố thực hiện”, David Shen – người đứng đầu bộ phận về sở hữu trí tuệ với Trung Quốc tại công ty luật Allen & Overy, nhận xét.  Một nguồn dữ liệu khác từ World Bank cho thấy Trung Quốc hiện cứ 1 triệu người lại có 1.177 người làm về R&D, tăng gấp ba lần so với mức những năm 1990 và xếp vào mốc trung bình của thế giới. Mỹ hiện có tỷ lệ người làm nghiên cứu cao hơn, cứ 1 triệu người thì có 4.321 người làm việc trong lĩnh vực này. Tuy nhiên cũng cần chú ý là số dân Trung Quốc lớn gấp 4 lần Mỹ.  Chất lượng đầu tư cho R&D  Báo cáo của Bộ KH&CN, Bộ Tài chính và Cục thống kê quốc gia Trung Quốc đã nhấn mạnh vào những xu hướng nổi bật trong năm 2017, đặc biệt kinh phí cho R&D của khối doanh nghiệp, trong đó có cả công ty nước ngoài tại Trung Quốc, đã tăng 12,5%, lên tới 1,36 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương 196, 4 tỷ USD).  Xie Xuemei – một chuyên gia về kinh tế đổi mới sáng tạo ở trường đại học Thượng Hải, nhận xét: “Ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhận thấy rằng, để cải thiện sức cạnh tranh của mình, họ phải phụ thuộc vào chính năng lực đổi mới sáng tạo của mình mà điều đó thì cũng chỉ có từ việc chi cho R&D thật nhiều hơn”.  Kinh phí đầu tư cho nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc cũng tăng lên với con số 18,5%, đạt mức 97,55 tỉ nhân dân tệ (tương đương 14,1 tỷ USD). Trong khi đó, theo tổ chức OECD, Mỹ cũng dành 86,32 tỉ USD từ ngân sách liên bang cho nghiên cứu cơ bản vào năm 2016. Cũng trong năm 2016, Trung Quốc có được khoảng 500.000 bài báo khoa học trong kho dữ liệu toàn cầu của nhà xuất bản, đưa quốc gia này lên vị trí thứ hai và tiến gần tới vị trí số một của Mỹ – có 600.000 bài. Khoảng cách này đã giảm đi một nửa trong vòng 5 năm qua.  Tuy nhiên việc khác biệt về thống kê và kế toán giữa Trung Quốc và các quốc gia khác khiến viêc so sánh về mức đầu tư cho R&D trở nên hết sức phức tạp, Cao Cong – một chuyên gia về chính sách khoa học tại trường Đại học Nottingham Ningbo ở Trung Quốc, cho biết. Thông thường, thống kê của Trung Quốc hay gộp ngân sách dành cho R&D với những khoản chi dành cho KH&CN khác, ví dụ như hỗ trợ cho các cộng đồng khoa học, quản trị và những trao đổi hợp tác khoa học…  Nói cách khác, khi định hình các khoản chi tiêu cho nghiên cứu cơ bản, Trung Quốc thường loại trừ phần đầu tư cho thiết bị máy móc và lương chi trả cho các nhà khoa học, trong khi đây lại là chi phí được đưa vào phần kinh phí cơ bản ở nhiều quốc gia khác. Nhưng ngay cả thiếu hụt phần chi tiêu cơ bản này thì nó vẫn ở mức nhỏ hơn so với nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ và các nước tiên tiến. Cao Cong nói, mức này “vẫn chưa đủ để đưa Trung Quốc thành một cường quốc khoa học”.  Một kế hoạch KH&CN dài hạn của Chính phủ Trung Quốc thiết lập một mục tiêu là kinh phí đầu tư cho R&D đạt mức 2,5% GDP vào năm 2020, tăng từ mức 2,13% năm 2017. Theo OECD, năm 2016, Mỹ dành 2,7% GDP cho R&D. “Vấn đề là liệu việc gia tăng đầu tư kinh phí cho R&D có thật sự hiệu quả”, Cao Cong nêu thắc mắc.  Mùa xuân năm nay, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã quyết định sáp nhập Quỹ Khoa học tự nhiên Trung Quốc – nơi hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản của đất nước thông qua sự xét duyệt của các hội đồng khoa học, vào Bộ KH&CN – nơi vẫn quản lý các dự án khoa học quan trọng của đất nước. Việc sáp nhập này tăng lên lo ngại về việc hỗ trợ nghiên cứu cơ bản cho các nhóm nghiên cứu nhỏ sẽ giảm sút. Tác động trong tương lai của việc quản lý và tài trợ khoa học “vẫn cần được chú ý để có thể đánh giá được chính xác”, Cao Cong cho biết thêm.  Đồng tình với quan điểm này, Xie Xuemei nói: “Việc gia tăng mức chi cho R&D hằng năm là dấu hiệu cho thấy sự ủng hộ của chính phủ và xã hội cho việc đưa Trung Quốc thành một cường quốc khoa học. Dẫu vậy thì vẫn cần một chặng đường dài để Trung Quốc bắt kịp năng lực nghiên cứu của các quốc gia phát triển”.  Họ có lý khi đưa ra nhận định này. Tính trung bình, một bài báo của Trung Quốc được trích dẫn 0,93 lần, trong khi Mỹ là 1,23. Chỉ số trích dẫn là một chỉ dấu cho thấy giá trị của công trình nghiên cứu của một nhà khoa học dưới mắt đồng nghiệp.  Xét theo phương pháp đo lường này, Trung Quốc chỉ xếp ở vị trí 33 thế giới. Gabriela Kennedy, người phụ trách sở hữu trí tuệ khu vưc châu Á tại công ty luật Mayer Brown JSM, cho rằng đó có thể là dấu hiệu về chất lượng nghiên cứu của mỗi quốc gia: “Người Trung Quốc thành công theo những việc họ làm ở các công ty lớn, nhưng nếu nhìn ra ngoài điều đó thì có thể thấy họ không có nhiều chất đổi mới sáng tạo”.  Nếu Mỹ muốn làm giảm tốc độ tiến bộ công nghệ của Trung Quốc, có thể cần phải xem xét cả những sản phẩm mà các công ty Mỹ cấp phép cho các công ty Trung Quốc và mở rộng hơn nữa khái niệm bí mật thương mại, theo quan điểm của các luật sư.  Thanh Nhàn tổng hợp từ http://www.sciencemag.org/news/2018/10/surging-rd-spending-china-narrows-gap-united-states; https://www.weforum.org/agenda/2018/04/trade-war-or-not-china-is-closing-the-gap-on-u-s-in-technology-ip-race  Nguồn: Báo KH&PT       Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lực nghiên cứu là yếu tố quan trọng      Việc tiếp cận các quỹ tài trợ quốc tế để tìm  kinh phí thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học là một trong những vấn  đề hết sức quan trọng đối với các nhóm nghiên cứu. Tia Sáng đã có cuộc  trao đổi với GS. TS Phạm Hùng Việt (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà  Nội) về vấn đề này.      – Thưa GS Phạm Hùng Việt, được biết nhóm nghiên cứu do ông phụ trách tại Trung tâm nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững (ĐH Khoa học tự nhiên) rất thành công trong việc tiếp cận các quỹ tài trợ quốc tế để thực hiện được nhiều đề tài, dự án nghiên cứu có giá trị như Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và xây dựng bản đồ ô nhiễm asen tại các bãi giếng khoan và nguồn cấp nước tại nội thành Hà Nội (Quỹ SDC của Thụy Sỹ), Tìm hiểu cơ chế giải phóng asen vào các tầng nước ngầm (Quỹ DANIDA của Đan Mạch)… Vậy ông có bí quyết gì thuyết phục được các quỹ quốc tế đồng ý đầu tư cho những dự án nghiên cứu tại Việt Nam?    – Theo tôi được biết, thông thường, khi tìm nguồn tài trợ cho các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều nhóm nghiên cứu Việt Nam vẫn áp dụng cách làm hết sức phổ biến như cách đi xin học bổng quốc tế là lên mạng internet tìm hiểu chính sách đầu tư, phát triển của các quỹ tài trợ nước ngoài, lấy những thông tin khai thác được này làm cơ sở để viết thư giới thiệu về nhóm, đề tài nghiên cứu của nhóm, qua đó đề nghị quỹ tài trợ kinh phí. Đây cũng là một trong những cách tiếp cận quỹ quốc tế dễ thực hiện nhất nhưng hiệu quả không cao do số lượng hồ sơ đăng ký gửi tới các quỹ rất lớn, mức độ cạnh tranh cao… Với các nhóm nghiên cứu trẻ chưa có nhiều công bố quốc tế, chưa xác định được vị thế của mình trong lĩnh vực nghiên cứu thì càng ít có cơ hội thuyết phục được Hội đồng khoa học các quỹ quốc tế phê duyệt đề xuất.   Trong nhiều năm qua, nhóm nghiên cứu do tôi phụ trách đã thực hiện một biện pháp mà theo chúng tôi là khá hiệu quả, đó là việc tiếp cận các quỹ tài trợ quốc tế thông qua các mối quan hệ liên kết, hợp tác với những tổ chức, viện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu quốc tế. Thông qua những đối tác nghiên cứu có uy tín, chúng tôi đã nhanh chóng tiếp cận được với các quỹ tài trợ nước ngoài, đặc biệt là quỹ thuộc các quốc gia sở tại của các đối tác đó. Nhờ vậy, chúng tôi có được những nguồn kinh phí lớn, có khả năng đảm bảo việc thực hiện các dự án nghiên cứu mang tính chất thực nghiệm dài hơi về lĩnh vực địa hóa môi trường, nghiên cứu các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trong môi trường, vốn đòi hỏi khá nhiều năm thực địa mới có thể kiểm chứng được những giả thuyết thông qua việc phân tích, kiểm chứng các mẫu đất, nước và cả các mẫu sinh học được lấy từ hiện trường… Ví dụ dự án hợp tác về tìm hiểu cơ chế giải phóng asen từ trầm tích vào các tầng nước ngầm thực hiện từ năm 2005 đến 2012 là kết quả hợp tác với Viện Khảo sát địa chất Đan Mạch & Greeland (GEUS), kinh phí hai triệu USD thực hiện dự án từ Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA), hay dự án hợp tác về Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và xây dựng bản đồ ô nhiễm asen tại các bãi giếng khoan và nguồn cấp nước tại nội thành Hà Nội, được hỗ trợ ban đầu bởi của tổ chức UNICEF, chúng tôi tiếp tục phát triển dự án lớn hơn với Viện KH&CN Nước của Thụy Sỹ (EAWAG) từ năm 1993 đến 2008, kinh phí hơn 8 triệu USD từ Quỹ hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC) [mà nhóm của chúng tôi là đơn vị thụ hưởng cùng với Trung tâm CEETIA, đại học Xây dựng Hà Nội]…             Để duy trì được mối quan hệ hợp tác lâu  dài với các đối tác quốc tế cũng như các Quỹ tài trợ quốc tế, các nhóm  nghiên cứu cần chứng tỏ được năng lực nghiên cứu của mình cũng như minh  bạch hóa quá trình sử dụng kinh phí đầu tư cho dự án.            Để duy trì được mối quan hệ hợp tác lâu dài với các đối tác quốc tế cũng như các quỹ tài trợ quốc tế, chúng tôi không có bí quyết gì đặc biệt ngoài việc chứng tỏ được năng lực nghiên cứu của mình cũng như minh bạch hóa quá trình sử dụng kinh phí đầu tư cho dự án. Từ các dự án hợp tác, chúng tôi đều chứng minh được năng lực qua các sản phẩm nghiên cứu cụ thể, như trường hợp hợp tác với GEUS, chúng tôi đã có hơn 20 công bố ISI, trong đó tiêu biểu nhất là “Sự tích tụ asen trong nước ngầm ở Việt Nam được quy định bằng tuổi trầm tích” (Groundwater arsenic concentrations in Vietnam controlled by sediment age) trên Nature Geoscience, 2012. Về việc minh bạch quá trình sử dụng kinh phí, chúng tôi đều có những ghi chép, chứng từ rõ ràng. Mỗi năm, ban điều hành dự án gồm các thành viên Việt Nam và nước ngoài đều tiến hành họp bàn, phê duyệt những đề xuất của nhóm nghiên cứu, thông qua báo cáo hoạt động của năm trước… Khi kết thúc dự án, ban điều hành mời một đơn vị kiểm toán độc lập (ví dụ như Price  Water Cooper House) vào kiểm tra hoạt động tài chính, đồng thời mời cả chuyên gia độc lập đánh giá ngoài để định lượng kết quả nghiên cứu về chuyên môn (thường là một nhóm chuyên gia có uy tín khoa học cao của một quốc gia khác).      – Với một nhóm nghiên cứu trẻ mới được thành lập, năng lực nghiên cứu mới ở dạng tiềm năng và chưa có nhiều công bố quốc tế có tầm ảnh hưởng cao như các nhóm nghiên cứu mạnh, theo ông, họ cần phải làm gì để mời được các tổ chức, viện nghiên cứu quốc tế hợp tác?  – Theo tôi, ở thời điểm ban đầu gây dựng cơ nghiệp này, vai trò đứng mũi chịu sào của người trưởng nhóm rất quan trọng. Anh ta phải chứng minh được năng lực nghiên cứu của chính mình thông qua các công bố đã thực hiện trong quá trình học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Từ những nhận định về xu hướng phát triển của lĩnh vực nghiên cứu và tình hình thực tiễn của đất nước, trưởng nhóm nghiên cứu cần xác định được định hướng nghiên cứu phù hợp với khả năng nhóm nghiên cứu của mình, bước đầu chọn ra những vấn đề mang tính khả thi và vừa tầm. Khi nhóm nghiên cứu mới ở giai đoạn bắt đầu xây dựng thì chưa nên thực hiện ngay những vấn đề quá lớn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và nguồn kinh phí đầu tư lớn.   Qua việc cập nhật các thông tin khoa học, các công bố quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, tham gia trao đổi học thuật, viết dự án chung, các nhóm nghiên cứu trẻ có thể tìm được các đối tác quốc tế có sự tương đồng trong các hướng nghiên cứu mà mình quan tâm. Bản thân các tổ chức, viện nghiên cứu nước ngoài cũng cần có đối tác nghiên cứu để triển khai những vấn đề học thuật mang tính quốc tế để mở rộng tầm ảnh hưởng trong nghiên cứu cũng như kiểm chứng những giả thuyết họ đặt ra trên quy mô rộng lớn hơn… Vấn đề quan trọng là các nhóm nghiên cứu cần thuyết phục họ tin vào năng lực nghiên cứu của mình và triển vọng phát triển mối quan hệ hợp tác này trong tương lai thông qua các dự án khoa học.  – Còn với các nguồn tài trợ trong nước?  Trường hợp này thì có phần dễ thực hiện hơn. Các nhóm nghiên cứu cần chủ động cập nhật các thông tư, quyết định, chủ trương của các Bộ, ngành liên quan đến các lĩnh vực mình nghiên cứu. Với nhóm nghiên cứu của chúng tôi, ngoài việc duy trì mối quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, chúng tôi còn chú ý đến thông tin từ các Bộ KH&CN, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường… nhằm kịp thời xác định những đề tài nghiên cứu phù hợp với khả năng của nhóm. Ví dụ trong thời gian gần đây, chúng tôi cũng được giao chủ trì hai đề tài được Quỹ Nafosted (Bộ KH&CN) cấp kinh phí thực hiện các nghiên cứu cơ bản liên quan đến việc chế tạo và phát triển các hệ thiết bị điện di mao quản phân tích khả năng ô nhiễm nguồn nước tại các trạm quan trắc cố định và xách tay.           Quỹ Nafosted cần có một quy chế thưởng phạt cụ thể dựa trên cơ sở đánh giá các sản phẩm khoa học, ví dụ đối với những nhóm thực hiện đề tài có công bố trên những tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF cao nên được tính thưởng bên cạnh việc đề xuất xét thưởng như Giải thưởng Tạ Quang Bửu hàng năm; ngoài ra, nên ưu tiên cho họ nhận những đề tài tiếp theo có kinh phí cao hơn để khuyến khích họ có thêm những kết quả nghiên cứu giá trị. Ngược lại, với những nhóm nghiên cứu từng thực hiện những đề tài có công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng quá thấp thì Quỹ nên xem xét tạm dừng cấp kinh phí ở những đề tài kế tiếp trong một thời gian thích hợp cho đến khi họ chứng minh được năng lực mới cấp kinh phí trở lại.             Để thuyết phục các nhà tài trợ trong nước, theo tôi, điều quan trọng là “án tại hồ sơ”, các nhóm nghiên cứu cần chứng tỏ được khả năng thực hiện đề tài của mình trong hồ sơ đề nghị. Sự khác biệt trong quá trình nghiệm thu đề tài giữa nhà trợ trong nước so với quốc tế là chỉ yêu cầu sản phẩm thực tế mà ít quan tâm đến công bố quốc tế (ngoại trừ Quỹ Nafosted) nhưng lại đòi hỏi nhóm nghiên cứu viết chuyên đề tổng quan vài chục trang, bổ sung số liệu thực nghiệm…  – Vậy theo ông, các nhà tài trợ trong nước, đặc biệt là Quỹ Nafosted, cần có chính sách nào để khuyến khích, tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu trẻ có thể tiếp cận được kinh phí tài trợ?  Trong thời gian gần đây, Quỹ Nafosted đã có nhiều đổi mới, đem lại những cơ hội lớn hơn trong việc tiếp cận tài trợ để giúp các nhà nghiên cứu có thể thực hiện những dự án trong lĩnh vực khoa học cơ bản. Tuy nhiên để tạo điều kiện nhiều hơn nữa cho các nhóm nghiên cứu trẻ thì Quỹ Nafosted cần có một quy chế thưởng phạt cụ thể dựa trên cơ sở đánh giá các sản phẩm khoa học của họ. Ví dụ đối với những nhóm thực hiện đề tài có công bố trên những tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF cao nên được tính thưởng bên cạnh việc đề xuất xét thưởng như Giải thưởng Tạ Quang Bửu hàng năm; ngoài ra nên ưu tiên cho họ nhận những đề tài tiếp theo có kinh phí cao hơn để khuyến khích họ có thêm những kết quả nghiên cứu giá trị. Ngược lại, với những nhóm nghiên cứu từng thực hiện những đề tài có công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng quá thấp thì Quỹ nên xem xét tạm dừng cấp kinh phí ở những đề tài kế tiếp trong một thời gian thích hợp cho đến khi họ chứng minh được năng lực mới cấp kinh phí trở lại.  – Cám ơn ông.  Thanh Nhàn thực hiện                               Author                Quản trị        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân: Hai khuynh hướng chủ đạo trong thế kỷ 21      Để xây dựng một tư duy lâu dài và hợp lý cho Việt Nam trong vấn đề Năng lượng hạt nhân (NLHN), ta cần biết thế giới đã có những phát triển và khuynh hướng nào trong tương lai về NLHN ?      Nhiều sinh viên Việt Nam đang được đào tạo tại trường đại học của Nga như ĐH Liên bang Viễn Đông, ĐH Điện lực Moskva, ĐH Nghiên cứu hạt nhân quốc gia… Nguồn: Sputnik.  I /Trên thế giới  Trước khi đi vào hiện trạng NLHN ta trở lại một chút về lịch sử phát triển các Lò phản ứng (LPƯ). Xem hình 1.  Trên hình 1 ta thấy rõ các LPƯ trong tương lai (đến 2040) sẽ là các LPƯ thuộc thế hệ IV.  Hai tài liệu đáng tham khảo về vấn đề NLHN thế kỷ 21 là:  Năng lượng hạt nhân thế kỷ 21: khả năng và thách thức, Akos Horvarth and Elisabeth1 & Nuclear Power in Asia, Piere Darriulat2.  Như chúng ta biết năng lượng hạt nhân là thân thiện với môi trường. Song nhiều vấn đề nan giải đã đặt ra cho NLHN nên tổng NLHN đã suy giảm từ năm 1993. Đức có kế hoạch đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) vào năm 2022.    Hình 1. Tại gốc ta có hai nhánh chính :các LPƯ sử dụng uranium thiên nhiên và uranium làm giàu. Sự phối hợp giữa hai nhánh LPƯ làm chậm bằng chì và tải nhiệt bằng khí mở đường cho các LPƯ nhiệt độ cao. Một vài nhánh đã “tuyệt chủng”: NUGG vì lý do kinh tế, RBMK vì lý do an toàn.  Trong khi đó nhu cầu điện năng lại gia tăng cho nên ĐHN vẫn giữ một vị trí nhất định trong cán cân điện năng thế giới (năm 2013 ĐHN chiếm 11% tổng điện năng với 440 NMĐHN trong 30 nước.  Hiện nay có 65 NMĐHN đang được xây dựng chủ yếu ở châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ) và Nga, Slovakia, Pháp và Phần Lan.  Nếu quan tâm đến tương lai, ta cần chú ý hai vấn đề sau:  A/ GEN IV (LPƯ – Lò phản ứng thế hệ IV)  Năm 2001 Diễn đàn GIF  hay còn được gọi là GEN IV gồm các nước: Argentina, Brazil, Canada, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Nam Phi, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, EU… đã đề ra ý tưởng về 6 loại LPƯ cho tương lai đến: SFR, LFR, SCWR, VHTR, GFR &MSR.  Các LPƯ thế hệ IV (hiệu suất lớn, ít chất thải phóng xạ) được hình thành trong khuôn khổ GIF (Generation IV International Forum) và INPRO (International Project on Innovative Nuclear Reactors and Fuel Cycles) được EU chú trọng, đặc biệt trong ba dự án:  – Astrid sodium-cooled fast reactor (SFR)-Pháp  – Allegro gas-cooled fast reactor (GFR) – Đông Âu & Trung Âu  – MYRRHA lead-cooled fast reactor (LFR) –Bỉ.  Trong các dự án này vấn đề HLW (High Level Waste) được nghiên cứu giải quyết một cách khoa học (một phần nhỏ chủ yếu lưu trữ trong các tầng địa chất, phần lớn được giải quyết trong quá trình tái xử lý nhiên liệu và chuyển hóa – transmutation).  Quá trình phân chia và chuyển hóa (Partitioning and transmutation processes) nhằm tách và tái xử lý các artinides kể cả các artinides nhỏ (minor actinides) từ nhiên liệu đã cháy và HLW. Tái xử lý các artinides nhỏ cho phép không những sử dụng hiệu quả nguồn nhiên liệu mà còn giảm thiểu chất thải bằng cách đốt cháy phần lớn các đồng vị phóng xạ dài ngày.  B/ Tổng hợp hạt nhân (nhiệt hạch)  Nguyên lý sản năng lượng nhiệt hạch là phản ứng tổng hợp hạt nhân (ở nhiệt độ cao,109 độ K=1.000.000.000 độ C+273,5):    Trong đó  = deuterium D-một đồng vị của hydrogen, còn= tritium T-một đồng vị khác của hydrogen. Chú ý  = helium là một hạt nhân bền không phóng xạ. Muốn có phản ứng nhiệt hạch cần có nhiệt độ cao tạo nên plasma của D, T và electron.  Các nghiên cứu tổng hợp hạt nhân (fussion) nhằm mục đích đạt đến một nguồn năng lượng bền vững cho nhân loại trong nhiều thế kỷ.  Có phải các nghiên cứu tổng hợp hạt nhân sẽ là đáp án cho phần lớn năng lượng của nhân loại? ITER là LPƯ được xây dựng ở Pháp với sự hợp tác của châu Âu, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ là niềm hy vọng để trả lời câu hỏi trên. ITER được hy vọng sẽ hoạt động vào khoảng năm 2027.  LPƯ tổng hợp hạt nhân là loại tokamak. Tokamak được sáng chế trong những năm 1950 bởi các nhà vật lý Xô viết cũ Igor Tamm và Andrei Sakharov dựa trên ý tưởng của Oleg Lavrentiev (xem hình 2).    Hình 2. Các ion D & T được chuyển động theo các đường của trường (hình bên trái)  Một tổ hợp các cuộn dây tạo ra từ trường mạnh giam giữ plasma D,T&electron (hình bên phải).  Sau 50 năm nghiên cứu tổng hợp hạt nhân cho thấy rằng, không có vấn đề gì về nguyên tắc vật lý. Song trong tương lai còn nhiều vấn đề khác về kỹ thuật phải vượt qua.  Tóm lại ta thấy rằng trong thế kỷ 21 nhiều nước trên thế giới không từ chối NLHN mà xác định hai khuynh hướng rõ rệt cho tương lai là nghiên cứu sử dụng các LPƯ thế hệ IV và chuẩn bị cho một mục tiêu lớn là sử dụng tổng hợp hạt nhân như một điều chắc chắn để bảo đảm phần lớn năng lượng cho nhân loại.  Trước khuynh hướng đó Việt Nam ta nên làm gì?  2/ Chiến lược cho Việt Nam  Trước hết phải tư duy về NLHN như là một tư duy dài hạn cho Việt Nam. Mọi tư duy ngắn hạn sẽ loại bỏ NLHN ở Việt Nam.  Năng lượng hạt nhân gồm hai phần:  – Phi công suất (non-power): điều chế các đồng vị phóng xạ (dùng trong y học, công nghiệp, nông nghiệp, sinh học,…)  – Công suất (power): các nhà máy điện hạt nhân.  Trước những vấn đề như bảo đảm môi trường trong sạch, những khó khăn gặp phải trong thủy điện, những hạn chế nhất định trong nhiên liệu hoá thạch và tái tạo thì việc nghiên cứu ứng dụng các loại lò phản ứng thế hệ IV sẽ làm cho việc ứng dụng NLHN an toàn hơn, kinh tế hơn. Ngoài ra, trong tương lai (có thể xa hay gần) với tình hình chính trị thế giới và khu vực phức tạp chắc là Việt Nam phải nghĩ đến những khí tài sử dụng năng lượng hạt nhân như tàu ngầm hạt nhân trong bảo vệ biển đảo chẳng hạn.  Việc ứng dụng năng lượng tổng hợp hạt nhân (fussion) có thể mở ra cho nhân loại một hướng giải quyết vấn đề năng lượng một cách toàn diện (nguồn nhiên liệu gần như vô tận, chất thải hạn chế đến cực tiểu…).  Việt Nam đến lúc đó chắc cũng không có thể làm ngơ trước khả năng to lớn này, vốn phù hợp với con đường khoa học gần độc đạo về năng lượng hạt nhân.  Việc chuẩn bị nhân lực Việt Nam về năng lượng hạt nhân đã tiến hành hơn hai thập kỷ (đào tạo trong nước và nhiều nước khác như Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Hàn quốc…). Hiện nay đã có những nhà khoa học Việt Nam (trong và ngoài nước) đủ trình độ ban đầu để tiếp thu công nghệ hạt nhân. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã sử dụng thành công những chương trình tính toán LPƯ phức tạp để giải quyết những vấn đề thiết yếu trong các LPƯ nói riêng và trong năng lượng hạt nhân nói chung.  Dự án Trung tâm KH&CN quốc gia hợp tác giữa Việt Nam và Nga có thể nói là một dự án mang tính chiến lược đối với Việt Nam. Trong dự án này có vấn đề xây dựng một LPƯ nghiên cứu mới (thay LPƯ Đà Lạt) và nhiều phòng thí nghiệm quan trong khác trong phần phi năng lượng. Dự án này sẽ duy trì được việc đào tạo nhân lực tiếp tục phát huy trình độ các nhà khoa học Việt Nam trong NLHN và nhất là không làm mai một một đội ngũ đã hình thành trong hai thập kỷ qua.  Trước tình hình chính trị, kinh tế và công nghiệp lần thứ 4 việc duy trì và phát triển liên tục nhân lực và các thiết bị NLHN một cách hợp lý có thể là một đường lối đúng đắn và khôn ngoan cho Việt Nam trong một tương lai có thể nói là không xa lắm. Không duy trì và củng cố nhân lực và cơ sở NLHN sẽ làm cho Việt Nam hụt hẫng trước tình hình trong một số năm tới đối với hai khuynh hướng phát triển NLHN trình bày trên đây và lúc đó Việt Nam càng tụt hậu và không đủ điều kiện để tiến bước cùng tiến độ thế giới và mãi là một nước lạc hậu như hiện nay trong vấn đề năng lượng.  —-  Một số từ viết tắt thông dụng trong NLHN:  ACR = Advanced CANDU reactor  ADS = ADS (Accelerator-driven system),  Hybrid spallation-fission system – Hệ lai phá vỡ-phân hạch  AGR = Graphite-gas reactor-LPU graphite-khí  BWR = Lò nước sôi  EPR = European Pressurized Reactor-Lò áp lực châu ÂU  FR = Fast reactor-LPU nhanh  GFR = Gas-cooled Fast Reactor-LPU nhanh tải nhiệt khí  GIF = Generation IV International  Forum (nuclear reactors)-Diễn đàn quốc tế về các LPU thế hệ IV hay còn được gọi là GEN IV  ITER = International Thermonuclear Experimental Reactor-Tổ chức quốc tế LPU nhiệt hạch  LFR = Lead-cooled Fast Reactor – LPU nhanh tải nhiệt chì  MOX = (Mixed Oxide) – Hỗn hợp các oxides U và Pu  MSR = Molten Salt reactor – LPU muối nấu chảy  MSFR = Molten salt fast reactor – LPU nhanh muối nấu chảy  MYRRHA = Multi-purpose hYbrid Research Reactor for High-tech Applications- project proposed in Belgium by SCK• CEN could be an Experimental Technological Pilot Plant (ETPP) for the LFR technology.  NUGG = Uranium Natural Graphite Gas – LPƯ graphite  thiên nhiên-khí  PWR = Pressurized Water reactor-Lò nước áp lực  RBMK = ” (các chữ cái đầu của tiếng Nga) Reaktor bolchoi mochnosti kanalnyi-Реактор Большой Мощности Канальный – LPƯ kênh công suất lớn Nga (Chernobyl)  SFR = Sodium-cooled fast reactor-LPƯ nhanh tải nhiệt Na  SCWR = Super Critical Water reactor- LPƯ nước trên tới hạn  SGHWR = Steam generating Heavy Water reactor – LPƯ nước nặng tạo hơi  Tokamak” ( các chữ cái đầu của tiếng Nga) тороидальная камера  магнитными катушками, Toroidalnaia kamera s magnitnymi katushkami) – Camera hình xuyến với các cuộn từ  UNGG = Uranium Natural Graphite Gaz – LPƯ  uranium graphite thiên nhiên  (V) HTR = (Very) High Temperature reactor – LPƯ nhiệt độ (rất) cao  —-  Tài liệu tham khảo:     1 Akos Horvath and Elisabeth RachlewNuclear power in the 21st century: Challenges and possibilities  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4678124/  2 Pierre Darriulat Nuclear Power in Asia  https://mail.google.com/mail/?nsr=1#inbox/15ea268d0dd75d16?projector=1            Author                Cao Chi        
__label__tiasang Năng lượng hạt nhân với truyền thông      Công tác truyền thông cần làm cho người dân phải hiểu được tầm quan trọng của nhu cầu năng lượng ngày càng tăng lên của đất nước, sự nguy hiểm nếu phải phụ thuộc vào nước khác, cùng những vấn đề kinh tế và địa chính trị trọng yếu liên quan.       Gần đây, sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, trong công chúng xuất hiện nhiều ý kiến bàn về cơ hội để Việt Nam sản xuất điện hạt nhân. Đồng thời, Chính phủ ngày càng nhận thức rõ ràng hơn đối với sự cần thiết của việc làm sao để truyền thông cho công chúng về những vấn đề này một cách khách quan và hiệu quả. Đây cũng là một bước tiến rất tích cực bởi những ảnh hưởng từ việc áp dụng năng lượng hạt nhân cần phải được người dân am hiểu và đồng thuận của người dân, qua đó việc triển khai sử dụng dạng năng lượng này có thể được tiến hành một cách ôn hòa và suôn sẻ. Tại nhiều nước, sự chia rẽ giữa những người theo xu hướng ủng hộ và những người chống đối việc sử dụng năng lượng hạt nhân là nguyên nhân dẫn đến những cuộc xung đột phi lí và vô ích. Sự xung đột này ngày càng gay gắt gây nhiều bất lợi ngăn cản việc khai thác năng lượng hạt nhân một cách hiệu quả.   Điều may mắn là ở Việt Nam, vẫn còn thời gian để ngăn sự xung đột này xảy ra bằng cách thiết lập sớm nhất một hệ thống truyền thông hiệu quả về điện hạt nhân. Để truyền thông [cho điện hạt nhân] có ích cho tất cả mọi người thì công tác này phải được thực hiện trên tinh thần các bên tôn trọng lẫn nhau, và phải khách quan: không thể làm sai lệch hay che giấu thông tin, bởi với xu hướng toàn cầu hoá thông tin nhờ internet, sớm hay muộn mọi sự thật đều được phơi bày. Chính phủ cần phải tìm hiểu điều gì khiến người dân quan tâm, lo lắng và từ đó có thể cung cấp thông tin giúp họ xoá tan những mối lo nếu như chúng là vô căn cứ. Và nếu có những lo ngại xác đáng thì cần xem xét lại lộ trình triển khai điện hạt nhân để tiến hành những bước giải pháp cần thiết nhằm đảm bảo rằng những mối lo ngại đó được giải quyết triệt để.   Công tác truyền thông cần làm cho người dân phải hiểu được tầm quan trọng của nhu cầu năng lượng ngày càng tăng lên của đất nước, sự nguy hiểm nếu phải phụ thuộc vào nước khác, cùng những vấn đề kinh tế và địa chính trị trọng yếu liên quan. Do vậy việc tham gia vào Câu lạc bộ năng lượng hạt nhân sẽ là một lựa chọn tốt cho Việt Nam; đồng thời, người dân cần được cảm thấy thuyết phục rằng quốc gia đã có những chuẩn bị đầy đủ trước các tình huống để đảm bảo các điều kiện an toàn cần thiết cho sự hoạt động của loại công nghệ cao nhưng cũng tiềm tàng nguy hiểm này. Cụ thể hơn, người dân cần được cảm thấy thuyết phục rằng đã có những nguồn nhân lực được đào tạo một cách thích hợp và chuyên sâu cần thiết cho thành công [trong việc triển khai điện hạt nhân ở Việt Nam]. Chúng ta không nên đánh giá quá thấp những mối đe dọa về sự cố hạt nhân, nhưng cũng nên nhận thấy rằng điện hạt nhân cùng với thuỷ điện, cho đến nay là nguồn năng lượng gây thiệt hại về người thấp nhất cho mỗi GW năm. Trước khi xây dựng nhà máy, người ta cần làm rõ rằng những tác động của thảm hoạ tự nhiên như sóng thần, động đất hay lũ lụt đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và đã có những giải pháp đối phó dự phòng phù hợp. Cũng không nên quên rằng dù là ở vùng đất xảy ra động đất và sóng thần làm cướp đi 25000 sinh mạng thì số người tử vong trực tiếp vì nhà máy điện hạt nhân Fukushima là rất ít.  Tất nhiên, trong công tác truyền thông thì chất lượng nội dung quan trọng hơn cách thức tiến hành. Nhưng cách thức tiến hành cũng có tầm quan trọng của nó. Truyền thông không thể là tuyên truyền một chiều, và điều quan trọng là không để các kênh truyền thông như báo chí và truyền hình bị biến thành công cụ phục vụ cho quyền lợi một nhóm lợi ích nào đó. Cần đảm bảo rằng ý kiến từ những người có quan điểm riêng dù khác với quan điểm của số đông thì vẫn được chia sẻ lắng nghe. Truyền thông phải được dùng để giáo dục và xóa tan những hiểu lầm, thay vì áp đặt những quan điểm một chiều. Nếu chúng ta không làm được như vậy thì sẽ gây ra những xung đột làm thiệt hại cho sự phát triển của điện hạt nhân.    Đó là tất cả những điều đơn giản thông thường và tôi tin rằng bất kỳ người quan sát khách quan nào cũng thấy như vậy. Điều quan trọng là chúng ta cần phải xây dựng công tác truyền thông sớm nhất có thể trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau giữa các bên liên quan (nhà cầm quyền, nhà khoa học và công chúng), khách quan, và công bằng.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nanocovax: Cơ hội bị bỏ lỡ?      Nanocovax đáng lẽ có thể được cấp phép sớm hơn.    Tháng Tám và Tháng Chín vừa qua, Việt Nam vẫn đang vật lộn với làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư. Có những tuần có gần 100 nghìn ca nhiễm và hơn 2000 ca tử vong, tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ. Đó cũng là thời điểm Việt Nam cảm thấy “khát” vaccine nhất. Cả nước chỉ có chưa đầy 30 triệu liều vaccine, bao gồm cả những liều đã tiêm trước đó.    Ảnh: baochinhphu.vn  Khi ấy, vaccine trong nước đem lại một niềm hi vọng. Trong hai tháng, không dưới ba lần Thủ tướng họp với các đơn vị liên quan đến nghiên cứu và cấp phép vaccine trong nước để thúc đẩy vaccine nội sớm ra thị trường. Trong cuộc họp nào ông cũng yêu cầu cần tháo gỡ khó khăn trong việc sản xuất vaccine. Ông còn tỏ ra rất “quyết liệt” trong cuộc họp vào giữa tháng tám rằng: “sẵn sàng làm ngày đêm để có vaccine sản xuất trong nước” và đặt mục tiêu có vaccine trong tháng chín. Mà không chỉ Thủ tướng mong đợi, có ít nhất năm địa phương vào thời điểm đó đã ngỏ ý muốn “đặt trước”, “dùng thử” vaccine Nanocovax.  Nhưng mọi chuyện không suôn sẻ như vậy. Vào cuối tháng tám, Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học quốc gia đã thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng giữa kì pha 3b (trên 12 nghìn người) của Nanocovax. Tuy nhiên, hội đồng tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc lại không thông qua. Đến giữa tháng chín, sau khi nhà nghiên cứu và sản xuất Nanocovax bổ sung dữ liệu, Hội đồng Đạo đức vẫn thông qua nhưng Hội đồng tư vấn cấp giấy đăng kí lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc thì tới giờ vẫn…im lặng.  Nỗi băn khoăn lớn của hội đồng (và có lẽ của đa số công chúng) đó là: Chưa thể tính được hiệu lực của Nanocovax và vaccine này chưa có đủ dữ liệu về tính sinh miễn dịch của vaccine trên các chủng mới.  Thử nghiệm lâm sàng thay thế?  Tuy nhiên, trong cuộc trao đổi của chúng tôi với TS. Nguyễn Hữu Huân, người có gần 30 năm nghiên cứu và thiết kế vaccine cúm, hiện là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Arizona và Giám đốc nghiên cứu tại công ty sản xuất thuốc điều trị dựa trên kháng thể – IGY LifeSciences, Canada, những băn khoăn đó là quá mức cần thiết. Và rằng, Việt Nam đáng lẽ có thể có vaccine nội sớm hơn, giảm tử vong và giảm thiệt hại kinh tế nhiều hơn.  Theo đề cương, để có thể tính được hiệu lực vaccine, hội đồng kỳ vọng có thể “bắt” được 25 ca bệnh trên 12 nghìn tình nguyện viên. Tuy nhiên, theo TS. Huân, để làm được như vậy, cần phải mất ít nhất 7-8 tháng với tình hình dịch bệnh của Việt Nam. Và kể cả nhóm nghiên cứu có chuyển địa điểm thử nghiệm tới thành phố Hồ Chí Minh trong thời điểm đau thương nhất đi chăng nữa – dù đây chỉ là giả thiết, bởi không thì phải mất hàng tháng trời để Bộ Y tế duyệt đề cương mới – thì cũng không thể nhanh hơn.  Trường hợp của Mỹ với vaccine Pfizer-BioNTech từ khi bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba đến lúc được phê duyệt trong thời gian kỉ lục hai tháng là do số ca nhiễm quá lớn: tỉ lệ người nhiễm trên một triệu dân trong thời gian này gấp đôi con số đó ở Việt Nam trong thời điểm nóng bỏng nhất của đợt dịch vừa qua.  Nếu suy nghĩ một cách thực tế, người ta sẽ mạnh dạn sử dụng phương pháp thay thế để đánh giá hiệu quả bảo vệ của vaccine. TS. Huân nhấn mạnh, kháng thể trung hòa, chứ không phải miễn dịch tế bào mới là yếu tố quyết định để đánh giá hiệu quả bảo vệ của vaccine. Thực tế cho thấy, truyền huyết tương (chỉ có kháng thể mà không có tế bào miễn dịch) của người đã bị nhiễm COVID-19 đã khỏi bệnh cho các bệnh nhân COVID-19 thì thấy lượng virus giảm và họ hồi phục rất nhanh.  Vì vậy, chỉ số được quan tâm nhất của vaccine COVID-19 là hiệu giá kháng thể trung hòa – mức độ pha loãng máu nhưng vẫn trung hòa, bất hoạt được ít nhất 50% lượng virus. Khi đề xuất cấp phép khẩn cấp cho Nanocovax, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng chỉ số này có liên quan chặt chẽ và có thể dùng để ước tính hiệu quả bảo vệ của vaccine COVID-19. Ví dụ, nghiên cứu của David Khoury (Đại học New South Wales, Úc) đăng trên Nature Medicine vào tháng 5/2021 chỉ ra rằng, hiệu giá kháng thể của vaccine COVID-19, đo ở thời điểm hai tuần sau tiêm mũi hai, bằng 20% so với con số này trung bình trên người khỏi bệnh, thì hiệu lực của vaccine đối với chủng Vũ Hán là 50% – tiêu chuẩn tối thiểu của WHO. Với vaccine Astrazeneca, hiệu giá kháng thể của người tiêm bằng khoảng 50-60% với kháng thể của người đã hồi phục, tương ứng với hiệu lực là khoảng 70%, con số này ở vaccine Pfizer-BioNTech và Moderna là hơn 200%, tương ứng với hiệu lực vaccine là 94-95%.  Đơn vị nghiên cứu Nanocovax cũng thực hiện tính toán tương tự trên 86 người tiêm vaccine Nanocovax và 16 người nhiễm COVID-19 (không có trường hợp phải hồi sức cấp cứu) đã hồi phục ở Việt Nam, thì thấy hiệu giá kháng thể của người tiêm vaccine hơn 200% so với người bị nhiễm và khỏi bệnh.  So sánh với hiệu giá kháng thể của người bị nhiễm COVID-19 đã khỏi – mà TS. Huân cho rằng đây là “tiêu chuẩn”, là “vàng mười” – là đã đủ để đánh giá. Một số nơi khác đã dùng biện pháp tương tự, nhưng họ so với một vaccine khác đã được cấp phép. Phương pháp thử nghiệm lâm sàng thay thế này đã được nhiều nước như Đài Loan (Medigen), Cuba (Abdala, Soberana 1), Iran (COVIran Barekat) áp dụng để phê duyệt vaccine khẩn cấp.  Gần đây, vaccine COVID-19 dựa trên công nghệ cổ điển là vaccine bất hoạt, do công ty Valneva của Pháp nghiên cứu và sản xuất và tuyên bố rằng “không thua kém gì” vaccine Oxford/AstraZeneca. Trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba, các nhà nghiên cứu tiêm ngẫu nhiên cho hơn 4000 tình nguyện viên hoặc vaccine Valneva, hoặc vaccine AstraZeneca. Cứ khoảng hai người tiêm vaccine Valneva thì có một người được tiêm AstraZeneca. Sau khi phân tích hiệu giá kháng thể trung hòa của cả hai nhóm thì thấy, hiệu giá kháng thể của người được tiêm Valneva cao gấp rưỡi AstraZeneca. Ủy ban châu Âu EC đã đặt trước 60 triệu liều vaccine này.  Cũng cần nói thêm rằng, vaccine COVID-19 từ trước đến nay đều thiết kế để chống chủng Vũ Hán, kể cả vaccine Valneva nói trên, dù thử nghiệm lâm sàng cách đây không lâu. TS. Huân cho rằng nếu chờ kết quả đáp ứng miễn dịch đối với các chủng khác thì có phần “nực cười” bởi vì “sau Delta là chủng gì? Bây giờ chờ sau Delta là cái gì nữa, mình phải thử nốt thì mới được dùng hay sao?” – TS. Huân nói. Các nghiên cứu thực địa ở nhiều nước đã cho thấy vaccine bảo vệ được người tiêm khỏi chủng Vũ Hán thì cũng có khả năng bảo vệ họ khỏi các chủng mới như Delta, Alpha, Gamma.  Hơn nữa, không chỉ giới khoa học mà đa số người dân ở Việt Nam đều hiểu rằng, tiêm vaccine không phải là để không bị nhiễm COVID-19, mà để giảm tỉ lệ nhập viện và tử vong, không làm hệ thống y tế – đến giờ vẫn chạy đuổi theo dịch – bị sụp đổ mà vẫn có thể hoạt động kinh tế và giao lưu thương mại. “Chỉ cần đánh giá kháng thể trung hòa thôi, là có thể dùng được vaccine rồi. Đặc biệt là trong trường hợp khẩn cấp như thế này, thiệt hại kinh tế lớn như thế này, ảnh hưởng đến đời sống của người dân như thế này, mình có một vaccine đã được đánh giá tốt mà không dùng thì lãng phí vô cùng.” – TS. Huân cho biết.  An toàn không phải là vấn đề  Thậm chí, vaccine Nanocovax còn đỡ gánh nặng âu lo về mặt an toàn cho cơ quan xét duyệt. Kết quả thử nghiệm hơn 14 nghìn người cho thấy rằng, không có bất kì một trường hợp nào bị sốc phản vệ. Trong dữ liệu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I và II đã được nhóm nghiên cứu Nanocovax công khai, trên 700 người tiêm, chỉ có duy nhất một trường hợp bị sốt cao.  Công nghệ vaccine protein tái tổ hợp đã có thâm niên áp dụng hàng chục năm nay trên các vaccine phổ biến như vaccine viêm gan B và vaccine phòng virus HPV gây ung thư tử cung. Theo một bài báo trên tạp chí Nature, trong 50 vaccine COVID-19 theo công nghệ này trên thế giới, các kết quả thử nghiệm lâm sàng đã được công bố đều không cho thấy tác dụng phụ nào đáng lo ngại. Thậm chí những phản ứng thường gặp ở các vaccine mRNA hay vector virus như đau đầu, sốt cao, ớn lạnh, buồn nôn, cũng ít gặp hơn hẳn ở vaccine protein tái tổ hợp. Ví dụ như vaccine Medigen của Đài Loan nói trên, chỉ có 1% người tham gia thử nghiệm lâm sàng bị sốt khi tiêm.  Việt Nam hiện đã có trong tay 130 triệu liều vaccine nhập ngoại, tự tin có thể tiêm đầy đủ cho khoảng hơn 60% dân số. Có lẽ không mấy ai nghĩ đến việc Nanocovax đang bị tuột khỏi tay quá nhiều cơ hội. Nhưng câu chuyện của Nanocovax ở trên còn là vấn đề của vaccine Việt Nam khác, vẫn còn chưa bước sang hoặc đang tiêm thử nghiệm giai đoạn ba. Khi độ phủ của vaccine càng cao thì việc bắt được ca bệnh để tính hiệu lực vaccine càng trở nên bất khả thi. Nếu không có cách đánh giá thay thế thì các vaccine Việt sẽ không được cấp phép, họ sẽ không có cơ hội đặt điều kiện để thử nghiệm trộn với vaccine khác thành mũi thứ ba và cũng không có động lực để thử nghiệm trên trẻ em.  Nước ta đã trải qua làn sóng dịch lần thứ tư một cách đầy khó khăn và tương lai vẫn còn nhiều bất định ở phía trước. Trong một cuộc hội thảo về an ninh vaccine cho Đông Nam Á được tổ chức vào 3/11 vừa qua, các chuyên gia cho rằng việc thiếu vaccine sẽ vẫn là vấn đề trong năm 2022. Đó còn chưa kể giá vaccine sẽ tiếp tục tăng. Các nước giàu có vẫn tiếp tục tích trữ vaccine, bỏ ra giá tiền cao gấp 3-4 lần các nước nghèo và được ưu tiên giao sớm. Thực tế, chi phí mua vaccine tiêm miễn phí cho người dân chỉ làm tăng chưa đến 1% tổng đầu tư cho y tế ở các nước phát triển, nhưng đội chi phí đầu tư lên tới gần 50% ở các nước đang phát triển. Trong khi đó, giá thành vaccine nội rẻ hơn rất nhiều so với vaccine ngoại. Nanocovax tuyên bố giá bán là 120 nghìn/liều và COVIVAC – vaccine của Viện Vaccine và Sinh phẩm Nha Trang IVAC chia sẻ giá bán chỉ 60 nghìn/liều.  Sẽ là điều đáng tiếc nếu Việt Nam không đủ năng lực và bản lĩnh để đánh giá vaccine trong nước. Bởi không phải chỉ dịch COVID-19 mà còn cần chuẩn bị cho những đại dịch mới nổi khác trong tương lai không xa.  Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/nanocovax-co-hoi-bi-bo-lo/20211118095437524p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nature: Tính phí 9.500 euro một bài báo truy cập mở      Mới đây, nhóm các tạp chí thuộc Nature – bao gồm cả ấn phẩm tạp chí khoa học Nature, đã thông báo rằng họ đã quyết định trở thành tạp chí truy cập mở (OA). Qua đó, các tạp chí này sẽ trở thành một trong những ấn phẩm có tiêu chuẩn chọn lọc cao đầu tiên cho phép các tác giả trả phí để người đọc có thể truy cập tự do vào các bài báo được xuất bản của họ.    Phí tác giả của Nature là 9500 euro – cao hơn hẳn so với các tạp chí khác. Nhưng Nature Research – một bộ phận của công ty xuất bản khoa học quốc tế Springer Nature, nói rằng khoản tiền này dùng để trang trải chi phí cho các biên tập viên toàn thời gian và các nhân viên làm việc cho Nature, cũng như trong 32 tạp chí nghiên cứu chính khác trong Nature Research.    Nature cũng đã công bố thử nghiệm một lựa chọn truy cập mở với chi phí thấp hơn: khi các tác giả gửi bản thảo cho một trong ba tạp chí – Nature Genetics, Nature Methods, và Nature Physics – họ sẽ phải trả tối đa 4.790 euro cho mỗi bài báo truy cập mở, nếu họ đồng ý tham gia vào một quá trình “bình duyệt có hướng dẫn” (guided review). Cụ thể, nếu các biên tập viên và cộng sự của ba tạp chí này quyết định bản thảo đủ chất lượng để gửi đi bình duyệt, họ sẽ yêu cầu các tác giả trả một khoản phí ban đầu là 2.190 euro để trang trải chi phí đánh giá, và sau đó trả thêm khoản phí bổ sung nếu bài báo đó được chấp nhận.    Các tạp chí thuộc Nature sẽ chuyển sang mô hình truy cập mở vào tháng 1/2021, cùng lúc với thời điểm triển khai Kế hoạch S – kế hoạch này cấm các nhà khoa học xuất bản bài báo từ những đề tài được tài trợ trên những tạp chí phải trả phí để đọc. Nguyên nhân là “chúng tôi nhận thấy đó là mô hình tất yếu trong tương lai, là con đường mà các tổ chức khoa học sẽ phải đi”, James Butcher, phó chủ tịch của Nature Research, cho biết. Ông nói thêm, Springer Nature xuất bản 600 tạp chí theo mô hình truy cập mở và 2200 tạp chí khác vừa tính phí đăng ký vừa cung cấp mô hình truy cập mở có thu phí tác giả.    Một số nhà quan sát lo ngại, phí xuất bản trị giá 9500 euro của Nature sẽ là đường biên phân chia các tác giả thành hai nửa – những tác giả thuộc các tổ chức giàu có hoặc có khả năng xin nguồn tài trợ từ quỹ, và phần còn lại. “Các nhà nghiên cứu mới bắt đầu sự nghiệp thường sẽ không có đủ khả năng chi trả, vì vậy Nature sẽ chỉ có toàn bài báo của các giáo sư đã thành danh – còn ai hưởng lợi nhờ điều này ngoài Springer Nature?” – Michael Marks, nhà khoa học chuyên nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm tại Trường Y học Nhiệt đới và Vệ sinh Dịch tễ London, cho biết.    “Đối với tôi, mức phí này cao đến khó tin”, ông nói thêm. Ngay cả Lancet – có chỉ số IF cao hơn Nature – cũng chỉ tính phí xuất bản truy cập mở 5000 USD. “Thôi thì tôi cũng cố gắng tin là… các chính sách biên tập hoặc chất lượng xuất bản của Nature tốt hơn”.    Cẩn trọng hơn khi gửi bản thảo    Những nhà bình luận trong ngành xuất bản đã kêu gọi các tạp chí đi theo phương pháp tiếp cận như Nature để giảm sự trùng lặp công việc cho người đánh giá và tạp chí. Thông thường, các tác giả sẽ gửi bản thảo cho tạp chí tốt nhất mà họ cho là sẽ chấp nhận nó. Nếu tạp chí đó từ chối bài báo, họ lặp lại quy trình với lựa chọn thứ hai. Điều đó dẫn đến nhiều vòng bình duyệt trên cùng một bài báo, tạo gánh nặng cho các chuyên gia bên ngoài tình nguyện phản biện mà không nhận lương và các biên tập viên phụ trách sắp xếp các bài đánh giá.       Một số nhà phân tích cho rằng việc tính phí các tác giả gửi bản thảo – có thể xem là “phí nộp hồ sơ” – sẽ giảm bớt gánh nặng này bằng cách buộc các tác giả phải cẩn trọng và thực tế hơn.    Butcher cho biết một lý do mà các nhà khoa học nên sẵn sàng trả phí bình duyệt, đó là họ sẽ nhận được những bản đánh giá chất lượng – cung cấp các nhận xét hữu ích và sâu sắc hơn so với những nhận xét trong các báo cáo bình duyệt thông thường. □     Anh Thư lược dịch  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2020/11/9500-nature-journals-will-now-make-your-paper-free-read    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nên có tiêu chí phân loại các nhóm nghiên cứu và đầu tư thỏa đáng cho các nhóm mạnh      Tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm của GS.  Pierre Darriulat rằng chỉ nên tập trung đầu tư cho những nhóm nghiên  cứu có thực lực trên mức tối thiểu. Đã đến lúc cần đưa ra tiêu chí về  chất lượng các sản phẩm khoa học của cá nhân và nhóm các nhà nghiên cứu,  qua đó xác định đâu là mức thực lực tối thiểu để một nhóm nghiên cứu có  thể được nhận kinh phí tài trợ của Nhà nước.     Đồng thời, Nhà nước sẽ chỉ hỗ trợ cho những người thực sự làm khoa học, tránh kẽ hở ghép nhóm bằng cách chỉ ghi danh thêm các thành viên cốt để nâng kinh phí. Bên cạnh đó, hơn năm năm qua, Nhà nước (thông qua Nafosted) đã tài trợ rất đáng kể cho nghiên cứu cơ bản, tuy nhiên tiêu chí để nghiệm thu các đề tài chủ yếu chỉ dựa vào số bài ISI. Vì thế, sự đầu tư này còn mang tính “dàn trải”, với kết quả thực tế là số đề tài (nhân theo đó là số bài ISI) ngày càng tăng, nhưng chất lượng thì không tăng bao nhiêu. Vì vậy, Nafosted cũng nên có tiêu chí phân loại các nhóm nghiên cứu và đầu tư thỏa đáng cho các nhóm mạnh.  Việc cân bằng hài hòa giữa lý thuyết và thực nghiệm như GS. Pierre Darriulat đề xuất trong bài viết của ông, cần hiểu là, không chỉ cân đối tương xứng trong tài trợ cho các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, mà phải mau chóng tiến tới sao cho các nhà thực nghiệm và các nhà lý thuyết cùng sát cánh bên nhau hợp tác làm việc nghiêm túc và hiệu quả trong cùng một đề tài.   Đối với đầu tư mua sắm trang thiết bị, tôi cũng chia sẻ với các ý kiến của GS. Pierre là phải theo đề xuất hợp lý từ các cơ sở bên dưới, thay vì theo chỉ đạo từ bên trên, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng như lâu nay mua máy móc hiện đại về, rồi không có chuyên gia đủ tầm để khai thác, dẫn đến việc máy móc bị “đắp chiếu” đã xảy ra khá nhiều, tiêu tốn kinh phí rất lớn. Nên tăng cường tận dụng cơ hội sử dụng các trang thiết bị ở những trung tâm nghiên cứu quốc tế lớn. Ví dụ hằng năm ta phải đóng khá nhiều tiền để là thành viên của Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân ở Dubna (Nga) và được quyền sử dụng các thiết bị máy móc ở đó, nhưng đã không tận dụng được một cách hợp lý. Sẽ rất có lợi trong lĩnh vực hạt nhân nếu các nhà khoa học có kinh nghiệm đi cùng các nhà khoa học trẻ sang Dubna làm việc đều đặn và tiến hành các nghiên cứu có định hướng.   Vai trò nhà khoa học đối với chương trình điện hạt nhân của Việt Nam:   Đúng như GS. Pierre Darriulat đã nhận định, chương trình này cần có sự điều hành và chịu trách nhiệm của nhà khoa học thay vì những người chỉ thuần túy làm công tác quản lý hành chính mà không đủ kiến thức chuyên môn. Đồng thời phải có các chuyên gia Việt Nam am hiểu về nguyên lý, vận hành, khắc phục sự cố, cùng các vấn đề thiết yếu khác chịu trách nhiệm và có quyền hạn cao trong quá trình xây dựng và vận hành nhà máy, nếu không khi xảy ra sự cố thì thảm họa là khôn lường mà không quy được trách nhiệm cho ai.   Lâu nay, đã có những đợt cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài về điện hạt nhân (theo chương trình điện hạt nhân của Nhà nước), nhưng thành phần được tuyển lựa chưa thực sự chọn lọc (nhiều người đi một cách miễn cưỡng) và khi về kết quả thu hoạch rất hạn chế, khiến hiện nay ta vẫn chưa đủ nhân lực tối thiểu để xây dựng nhà máy điện hạt nhân.   Tình hình này cùng với thực tế là chúng ta chưa có những chuyên gia điều hành thực sự cho chương trình điện hạt nhân như đã đề cập trên đây, khiến cá nhân tôi (không phải là một chuyên gia về hạt nhân) chưa thể tin tưởng rằng chúng ta, trong một tương lai gần, có khả năng theo đuổi mục tiêu xây dựng, giám sát và vận hành sản xuất an toàn có hiệu quả các nhà máy điện hạt nhân.  Đọc thêm:  Vật lý hiện đại: Lựa chọn nào cho Việt Nam (Pierre Darriulat )  http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=7778&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền khoa học Nga và Ukraine bất an trước những biến cố địa chính trị      Những biến cố chính trị xoay quanh Ukraine và Nga trong thời gian qua mang đến nhiều bất ổn và ảnh hưởng tiêu cực tới các nhà khoa học ở các phía khác nhau: nền khoa học Nga đứng trước nguy cơ bị cô lập, trong khi tiến trình cải cách khoa học và giáo dục của Ukraine càng trở nên trì trệ.     Việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea vào lãnh thổ của mình và những nguy cơ mất chủ quyền vẫn đang tiếp tục gia tăng khiến Ukraine phải cắt giảm nguồn lực của nhiều lĩnh vực, trong đó có khoa học và giáo dục, để tập trung ưu tiên cho lĩnh vực quân sự. Trong khi đó, phía bên kia biên giới, mối quan hệ hợp tác khoa học giữa Nga và phương Tây đang rơi vào tình trạng xấu nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt đến nay.       Nền khoa học Nga trước nguy cơ bị phương Tây cô lập      Từ ngày 1 tháng 4, NATO ngừng mọi hoạt động hợp tác về quân sự và dân sự với Nga, trong đó có các dự án hợp tác nghiên cứu thuộc Chương trình Khoa học vì Hòa bình và An ninh, như nghiên cứu công nghệ chống khủng bố (ví dụ công nghệ phát hiện bom mìn ở nơi công cộng) hay công nghệ giải cứu sau thiên tai. Hiện nay NATO đang tìm những đối tác nghiên cứu khác để thực hiện các dự án này.     Ngay sau đó, ngày 2 tháng 4 Chính phủ Mỹ ngừng mọi liên lạc giữa NASA và các cơ quan hàng không vũ trụ của Nga – bao gồm các hoạt động thăm hỏi, hội thảo, thậm chí cả thư điện tử. Ngoại lệ duy nhất là các hoạt động liên quan tới Trạm Không gian Quốc tế được phép tiếp tục, bởi các nhà du hành Mỹ và Nga vẫn đang làm việc ở đây và việc vận chuyển họ trở về Trái đất hoàn toàn phải dựa vào những con tàu Soyuz của Nga kể từ sau khi Mỹ dừng hoạt động đội tàu con thoi từ năm 2011. Ngoài ra, Mỹ và EU đã áp đặt những biện pháp cấm vận lên các quan chức chính phủ của Nga, trong đó có các nhà quản lý khoa học, như cựu bộ trưởng khoa học Andrei Fursenko, hiện là cố vấn khoa học của Tổng thống Nga Vladimir Putin.     Nếu những nỗ lực ngoại giao giữa các bên nhằm giải quyết những vấn đề nóng bỏng xoay quanh tình hình địa chính trị ở Ukraine bị thất bại thì chắc chắn Nga sẽ ngày càng bị phương Tây cô lập, gây ra những hậu quả lâu dài cho nền khoa học của Nga cũng như quốc tế, theo nhận định từ Harley Balzer, chuyên gia về các vấn đề quốc tế và chính trị Nga tại Đại học Georgetown, Mỹ.     Theo Balzer, “nếu Nga làm ảnh hưởng xấu hơn tới chủ quyền Ukraine, chắc chắn mọi chương trình trao đổi hợp tác khoa học và học thuật sẽ bị đình lại”, đơn cử như chương trình tài trợ trao đổi, giao lưu học thuật Fulbright của Mỹ. Tiếp theo, những biện pháp cấm vận sâu hơn sẽ khiến các chương trình khoa học và giáo dục của Nga khó thu hút người tài từ bên ngoài. Trong chương trình vận động tranh cử năm 2012, tổng thống Putin từng hứa hẹn sẽ tạo dựng vài trường đại học “đẳng cấp quốc tê” vào năm 2020 và tăng đáng kể chi tiêu cho khoa học – hiện đang ở mức khiêm tốn 1,3% GDP – nhưng với xu hướng tình hình đang diễn ra hiện nay các mục tiêu trên khó lòng có thể đạt được.     Oleg Kharkhordin, hiệu trưởng Đại học Châu Âu ở St. Petersburg, cảnh báo rằng người nước ngoài sẽ e ngại hơn khi lên kế hoạch đến Nga, trong bối cảnh nước này bị phương Tây cấm vận và lên án là vi phạm luật pháp quốc tế. Nhưng việc thu hút các nhà khoa học nước ngoài đến làm việc ở Nga lại đang là vấn đề sống còn cho sự hồi sinh của nền khoa học Nga, như nhận xét của Irina Dezhina, một chuyên gia phân tích chính sách khoa học của Viện Quan hệ Kinh tế và Quốc tế Thế giới ở Moscow. Trong năm nay, Nga dự định tổ chức rất nhiều sự kiện bởi năm 2014 được coi là Năm Khoa học EU-Nga, nhưng giờ thì tất cả đều có nguy cơ đổ vỡ, Irina nói.      Một biểu tượng cho nhu cầu khai thác nguồn chất xám quốc tế vì mục đích khôi phục vị thế cường quốc khoa học của Nga là việc xây dựng và phát triển Viện KH&CN Skolkovo. Đây thực tế là một trường đại học sử dụng tiếng Anh được sự hợp tác phát triển từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ, trong đó MIT chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình giảng dạy và nghiên cứu và hỗ trợ quản lý. Skolkovo có thể coi là một siêu dự án trị giá hàng tỷ USD, dự kiến sẽ có 15 trung tâm nghiên cứu xuất sắc (hiện viện đã có 6 trung tâm, ngoài ra 4 trung tâm sẽ được tạo lập trong năm nay). Điều khoản hợp tác giữa MIT và viện không được tiết lộ, nhưng người ta cho rằng Nga trả cho phía Mỹ ít nhất 300 triệu USD. Tuy nhiên, Balzer dự đoán rằng nếu cuộc khủng hoảng Crimea gia tăng và mở rộng, MIT sẽ chịu áp lực khổng lồ và buộc phải dừng hợp tác với Nga.      Con đường cải tổ khoa học Ukraine càng thêm gian nan     Chính phủ lâm thời Ukraine, được dựng lên sau khi Tổng thống Viktor Yanukovych bị lật đổ hôm 22 tháng 2, từng thông báo về một chương trình 100 ngày cải cách giáo dục và khoa học theo xu hướng trọng dụng nhân tài kiểu phương Tây, dự kiến sẽ bắt đầu trước cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào 25 tháng 5 tới đây. Tuy nhiên, hiện nay sự lạc quan và kỳ vọng cải tổ chính sách quản lý khoa học một cách nhanh chóng sau cuộc cách mạng đã trở nên nhạt nhòa ở Ukraine. Người ta dần mất đi sự hi vọng rằng Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine, gồm hơn 500 thành viên và 170 tổ chức nghiên cứu trực thuộc, sẽ đồng ý tiến hành những cải cách được cho là hết sức quan trọng. Đầu tháng này lẽ ra Viện đã tổ chức bầu cử ủy ban điều hành mới, nhưng cuối cùng việc này phải hoãn sang mùa thu do những bất ổn chính trị ở Ukraine. Vậy là Boris Paton, vị viện trưởng của Viện trong suốt 52 năm qua, nay đã 95 tuổi, sẽ tiếp tục giữ cương vị của ông sang năm sau.     Giới khoa học trẻ Ukraine đang nóng lòng chấm dứt tình trạng nền khoa học nằm dưới sự điều hành của những nhà quản lý cao tuổi này, theo lời Oleksandr Skorokhod, một nghiên cứu sinh tiến sỹ từ Viện Sinh học Nguyên tử và Di truyền học ở Kiev, là thành viên Hội đồng Các nhà khoa học trẻ của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine. Hội đồng thực chất là một mạng lưới mới được thành lập gần đây, hiện đang vận động cho những thay đổi trong hệ thống nhằm cải thiện tương lai lâu dài của nền khoa học Ukraine, đồng thời tham gia góp ý vào dự thảo chương trình cải cách giáo dục quốc gia. Trong đó dự kiến bao gồm một đạo luật mới về giáo dục bậc cao và những sửa đổi luật khoa học hiện hành, như thay thế hệ thống hai cấp học vị bậc cao – phó tiến sỹ khoa học (candidate of science) và tiến sỹ khoa học – bằng hệ thống mới chỉ có một cấp học vị tiến sỹ, đồng thời việc cấp bằng tiến sỹ được giao cho các trường đại học, không còn là đặc quyền riêng của Viện Hàn lâm Khoa học. Ngoài ra, chương trình cải tổ lần này của Ukraine dự định sẽ áp dụng phương thức đánh giá chất lượng các trường đại học theo phương thức của phương Tây, và thành lập một cơ quan độc lập phụ trách việc cấp kinh phí khoa học.     Tuy nhiên, theo Nataliya Shulga, một nhà sinh học phân tử của Đại học Sư phạm Quốc gia Dragomanov ở Kiev, đồng thời là chủ nhiệm Câu lạc bộ Khoa học Ukraine, một nhóm vận động chính sách khoa học, chương trình cải cách khoa học và giáo dục của Ukraine đang bị lực cản đáng kể từ chính Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine, do đa số thành viên ở đây là những cây đa cây đề “đầy quyền lực và có xu hướng chống lại cải cách”, bởi ít có thành viên nào muốn từ bỏ những đặc quyền đặc lợi to lớn suốt đời mà thể chế quản lý khoa học hiện hành cho phép họ được hưởng.     Mặt khác, theo Sergei Mosyakin, một viện sỹ thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine đồng thời là nhà sinh thái học của Viện Thực vật học M. G. Kholodny ở Kiev, khả năng những nỗ lực cải cách khoa học được triển khai một cách sâu rộng và quyết liệt là khó xảy ra giữa bối cảnh ngân sách cho Viện Hàn lâm sẽ bị cắt giảm. “Đa số giới khoa học cho rằng những nỗ lực cải cách nền khoa học Ukraine là điều không tránh khỏi, nhưng khó trông đợi vào một cuộc cách mạng thực sự”, Mosyakin nói.      Trong thực tế, nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước của không chỉ lĩnh vực khoa học mà nhiều ngành khác ở Ukraine sẽ phải thắt chặt như đã thông qua hôm 27 tháng 3, bởi giữa bối cảnh biến động địa chính trị hiện nay, quốc gia này sẽ phải tập trung ưu tiên nhiều hơn cho các mục đích quân sự. Như vậy, nguồn kinh phí dành cho khoa học của Ukraine vốn đã ít ỏi (227 triệu USD trong năm 2013) sẽ bị cắt giảm tới một phần ba. “Tình hình không tốt chút nào”, Nataliya Shulga than thở.        Giới khoa học Crimea hướng về Nga: kỳ vọng xen lẫn lo âu      Do lo ngại trước tương lai bấp bênh, các viện nghiên cứu và trường đại học ở Crimea đã yêu cầu được chuyển giao quyền quản lý cho các tổ chức khoa học Nga. Chính phủ lâm thời của Ukraine hiện cũng đã chấp nhận rằng chương trình cải cách giáo dục và khoa học sẽ không áp dụng đối với các nhà khoa học Crimea. Khoảng 100 trung tâm khoa học ở Crimea đang được chuyển giao cho Viện Hàn lâm Khoa học Nga, trong đó có Đài thiên văn Crimea ở Nauchny, vốn là một cơ quan của Đại học Kiev. Lần cuối cùng nhân viên đài thiên văn được nhận lương từ Nhà nước Ukraine là tháng 3 vừa qua.     Không phải tất cả các nhà khoa học ở Crimea đều cảm thấy yên tâm với tương lai sắp tới. “Chúng tôi thực sự không biết chuyện gì sẽ xảy ra, và khá dè dặt trước viễn cảnh nhận kinh phí tài trợ từ Nga, vì điều này có thể khiến chúng tôi phải chịu cấm vận quốc tế”, nhận định từ nhà động vật học Gregory Prokopov, Đại học Taurida Quốc gia V. I. Vernadsky, Simferopol, Crimea.     Nhưng có khá nhiều nhà khoa học ở Crimea lạc quan về sự thay đổi mới đây. Alla Rostopchina, giám đốc Đài thiên văn Crimea, cho biết đơn vị của bà ngay lập tức nộp đơn xin được tiếp nhận bởi Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Theo bà, đài thiên văn có “quan hệ lâu dài và mật thiết” với nền khoa học thiên văn Nga, bởi vậy sẽ nhận được những lợi ích thiết thực. “Trước tiên chúng tôi hi vọng được nâng cấp trang thiết bị, và được tham gia toàn diện hơn vào các dự án không gian của Nga”. Tuy nhiên, bà cũng hi vọng sẽ tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác với các nhà khoa học phương Tây. Nhà nghiên cứu Oleg Kukushkin của Khu bảo tồn Tự nhiên Karadag ở phía Đông Nam Crimea, một cơ quan vốn thuộc quyền quản lý của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine, cho rằng viện này hoạt động kém hiệu quả và quan liêu, bởi vậy tốt nhất tổ chức của ông nên được chuyển giao cho Viện Hàn lâm Khoa học Nga. “Đây là quyết định tối ưu và hợp lý nhất”, ông nói.     Tuy nhiên, việc chuyển giao sẽ không hoàn toàn dễ dàng. Trong cuộc họp ủy ban điều hành Viện Hàn lâm Khoa học Nga hôm 25/3, viện trưởng Vladimir Fortov cam kết sẽ không can thiệp vào hoạt động khoa học của các tổ chức Crimea, nhưng ông ước tính chi phí để vận hành chúng sẽ lên tới 5 tỷ ruble (140 triệu USD) mỗi năm. Còn theo Yaroslav Yatskiv, giám đốc Đài thiên văn chính của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraine, “Viện Hàn lâm Khoa học [Nga] sẽ gặp khó khăn khi tiếp nhận các tổ chức khoa học [từ Ukraine] do bản thân viện này cũng đang trong quá trình cải tổ”.          Thanh Xuân tổng hợp theo Nature  http://www.nature.com/news/western-science-severs-ties-with-russia-1.15008  http://www.nature.com/news/russia-pins-hopes-on-science-city-1.13550  http://www.nature.com/news/ukraine-s-science-in-turmoil-1.14969    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nền kinh tế không sử dụng tiền mặt: Cơ hội và thách thức của nền tảng thanh toán di động      Tại nhiều quốc gia trên thế giới, hiện tại hơn 50% giao dịch mua bán không sử dụng tiền mặt. Và ở Việt Nam, tương lai không sử dụng tiền mặt cũng không còn xa vời.      Thông qua một mã QR code trên điện thoại hoặc trên một tấm bìa cứng là người mua và người bán có thể thanh toán không cần tiền mặt. Ảnh: South China Morning Post.  Theo một báo cáo của Mckinsey năm 2014, tại Singapore, hơn 60% giao dịch không sử dụng tiền mặt. Tại Thụy Điển, trong năm 2016, các giao dịch sử dụng tiền mặt chỉ chiếm khoảng 15%. Thậm chí, ngân hàng trung ương Thụy Điển đã và đang nghiên cứu tính khả thi của việc tạo ra một đồng tiền điện tử e-Krona thay thế cho tiền giấy và tiền xu Krona vẫn đang được sử dụng trong lưu thông.  Ở các thành phố lớn, từ nhiều năm nay, người dân đã quen thuộc với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng. Giờ đây, việc thanh toán không cần tiền mặt còn dễ dàng hơn thông qua các ứng dụng nhờ sự phổ biến của những chiếc điện thoại thông minh. Việt Nam đã có những nền tảng thanh toán di động (còn gọi là ví tiền điện tử) của riêng mình như Zalopay (VNG), Momo, Payoo, 1Pay. Và sắp tới đây rất có thể là sự xuất hiện ở Việt Nam của Alipay, nền tảng thanh toán của công ty công nghệ đình đám thế giới Alibba, Trung Quốc.  Sự phát triển như vũ bão của hệ thống Alipay trên thế giới khiến người ta không còn nghi ngờ gì về một tương lai không sử dụng tiền mặt khi nó được chấp nhận tại 100.000 cửa hiệu ở 70 quốc gia, kể cả những tiểu thương bán thịt, cá ở ngoài chợ. Các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực CNTT cũng không xa lạ với thông tin vào năm 2016, Alibaba đã mua đa số cổ phiếu của Lazada, một startup về thương mại điện tử thành công bậc nhất ở Đông Nam Á và hiện đang rất phổ biến ở Việt Nam.  Sự kiện Jack Ma, người sáng lập Alibaba sang thăm Việt Nam trong thềm hội nghị APEC một lần nữa khẳng định thêm điều đó. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho một xã hội không tiền mặt, có những thách thức mà người tiêu dùng Việt Nam cũng như các nhà làm chính sách về KHCN cần quan tâm.  Đánh đổi quyền riêng tư lấy sự tiện lợi?  Sử dụng nền tảng thanh toán di động là sự đánh đổi giữa tính thuận tiện và quyền riêng tư của mỗi cá nhân. Hiện tại, với hành lang pháp lí lỏng lẻo tại Việt Nam, các hãng công nghệ có quyền tùy ý sử dụng các thông tin tiêu dùng của hàng triệu khách hàng của mình cho các mục đích khác nhau. Nguồn thông tin này được xem là ‘mỏ vàng’ đối với những người làm marketing.  Vì vậy, thông tin của khách hàng có thể được bán cho các công ty nghiên cứu thị trường hoặc dùng để định vị cho những chiến lược quảng cáo mà không được sự cho phép của người dùng. Đi kèm với đó là những rủi ro về tính an toàn của hệ thống mặc dù các chuyên gia công nghệ luôn cho rằng nền tảng thanh toán trên điện thoại ít rủi ro hơn so với hệ thống thẻ chip thông thường.  Năm 2011, tại Trung Quốc, có khoảng 15 đến 25 triệu tài khoản Alipay đã bị tin tặc tấn công. Năm 2014, Alipay chỉ đơn giản đưa ra một lời xin lỗi đối với hàng triệu khách hàng của mình trước sự cố một cựu nhân viên của hãng đã sao chép hơn 20 GB dữ liệu của người dùng (bao gồm thông tin tài khoản, thông tin liên lạc và thông tin các giao dịch) rồi bán cho đối thủ cạnh tranh.  Hãng tin Forbes còn đưa tin về những cáo buộc cho rằng thông tin của người dùng và tiền đã bị đánh cắp trong các giao dịch sử dụng QR code mà gần đây nhất là vụ lừa đảo quy mô lớn của tin tặc đã ăn cắp được 14.5 triệu Nhân Dân Tệ tại tỉnh Quảng Đông. Chính vì vậy, hiện các hãng công nghệ  đã chuyển sang một giao thức an toàn hơn sử dụng công nghệ giao tiếp từ trường phạm vi hẹp (near-field communications).  Ngoài ra, một số chuyên gia còn quan ngại rằng các chính phủ có thể sử dụng nguồn dữ liệu khổng lồ (big data) này vì những mục đích chính trị nhằm gia tăng kiểm duyệt và kiểm soát đối với toàn dân. Câu hỏi được đặt ra là làm sao có thể đảm bảo rằng các thể chế thiếu dân chủ không lợi dụng nguồn dữ liệu này cho các mục đích chính trị của mình? Làm thế nào để đảm bảo quyền riêng tư và tự do của mỗi cá nhân trong thời đại của big data?  Câu hỏi về quyền riêng tư cá nhân thật ra không phải là một vấn đề mới vì trên thực tế hành vi khách hàng cũng như những thông tin về chi tiêu vẫn được các website bán hàng trực tuyến cũng như hệ thống bán lẻ trên thế giới sử dụng.  Tuy nhiên, khi không có hành lang bảo vệ, khách hàng thường không bao giờ được biết thông tin cá nhân và thông tin tài khoản ngân hàng của mình được sử dụng với những mục đích gì. Trong thời đại big data nơi mà nhiều dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau có thể được kết nối để vẽ nên một bức tranh tổng thể về một cá nhân nào đó, thì vấn đề bảo mật thông tin, bảo vệ quyền lợi của người dùng công nghệ càng trở nên bức thiết.  Hành lang pháp lý còn lỏng lẻo  Trên thế giới, vấn đề về hành lang pháp lí bảo vệ thông tin người dùng internet nói chung và người dùng trên các nền tảng thanh toán điện tử nói chung vẫn còn khá phức tạp. Các nhà lập pháp chịu chi phối rất lớn bởi các hãng công nghệ lớn thông qua các hoạt động vận động hành lang.  Liên Minh Châu Âu (EU) và Mỹ hiện tại là nhóm đi tiên phong trong việc ban hành các điều luật nhằm đảo bảm tính riêng tư, cũng như là bảo mật thông tin của người dùng internet nói chung và trên các thiết bị di động nói riêng.  Theo luật pháp EU, từ đầu năm 2018, các tập đoàn Internet phải xin phép người dùng trước khi sử dụng dữ liệu và cài đặt chương trình bảo mật tối ưu. Tất cả các website có sử dụng cookies để tìm hiểu về hành vi người dùng đều phải có hiển thị thông báo điều này và phải được người dùng internet đồng ý. Bên cạnh đó, người dùng có ‘quyền được quên’ và có quyền yêu cầu xóa các dữ liệu cá nhân bị tung lên mạng. Người dùng cũng có quyền biết dữ liệu cá nhân của mình được thu thập với mục đích gì. Khi có nghi ngờ thông tin cá nhân bị rò rỉ hoặc sử dụng vào những mục đích không được phép, người dùng có thể báo cáo lên ủy ban phụ trách vấn đề này ở từng quốc gia thuộc EU. Người dùng cũng được cung cấp thông tin, hướng dẫn một cách chi  về vấn đề này tại địa chỉ website chính thức của ủy ban này.  Tại Việt Nam, vấn đề bảo mật thông tin người dùng được quy định rõ trong Luật an toàn thông tin mạng được Quốc Hội ban hành vào tháng 11/2015 (Luật số: 86/2015/QH13).  Theo điều 17 của luật này, các công ty công nghệ khi tiến hành thu thập thông tin cá nhân phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích ban đầu, việc sử dụng thông tin khác mục đích ban đầu phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân. Việc cung cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba cũng bị nghiêm cấm.  Tuy nhiên, vấn đề thực thi luật này hiện đang vẫn là một câu hỏi lớn vì người dùng internet hiện tại tại Việt Nam nói chung và các nền tảng thanh toán di động nói riêng hoàn toàn không được hỏi ý kiến cũng như thông báo về việc sử dụng thông tin. Bên cạnh đó, điều luật này có định nghĩa rất hẹp về thông tin cá nhân là ‘thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể’. Các thông tin về hành vi người dùng hoàn toàn không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật này.  Đây có thể xem là một lỗ hổng pháp lý lớn hiện nay tại Việt Nam khi mà các ông lớn công nghệ như Google và Facebook hay các website thương mại điện tử đang sử dụng thông tin về hành vi người dùng cho mục đích định vị quảng cáo mà người dùng không được thông báo. Lỗ hổng pháp lí này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn trong thời đại của ví tiền điện tử, khi mọi thông tin tiêu dùng của mỗi cá nhân đều được ghi nhận sau những cú chạm điện thoại. Và rủi ro về việc các hãng công nghệ tự do khai thác, chia sẻ thông tin tiêu dùng của khách hàng cho bên thứ ba như những gì đã xảy ra với Alipay là một nguy cơ nhãn tiền.  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/phat-hien-vuong-quoc-chim-canh-cut-bi-mat-tai-nam-cuc/2018031409045842p1c879.htm    Author                Lê Nga        
__label__tiasang Nên tỉnh táo và khách quan      Sau nhiều lần đổi mới, cuối cùng nhiều quan niệm, tư duy, cung cách hoạt động nghiên cứu và quản lý khoa học ở các nước tiên tiến đã dần dần được tiếp thu và phổ biến, tuy chậm chạp nhưng cũng đã đưa lại nhiều thay đổi tích cực, trong đó sự thành lập và hoạt động của Nafosted là một trong những bước tiến đáng kể nhất. Giờ đây chỉ có vấn đề là trong khi kiên quyết đi theo con đường cải cách đứng đắn, chúng ta cần tỉnh táo và khách quan để tránh những sai lầm không đáng có có thể làm chậm lại bước tiến của chúng ta.  Đó vừa là quan điểm vừa là mong muốn của GS Hoàng Tụy trong cuộc trao đổi đầu năm 2013 với Tia Sáng.      Thưa GS, trong chúng ta hẳn ai cũng thấy đánh giá gần đây của WIPO về hiện tình trí tuệ quốc gia của VN so với các nước trong khu vực là xác đáng. Đã có nhiều bình luận về sự kiện này, coi đây là một cảnh báo về những hạn chế, yếu kém trong giáo dục và khoa học. Tuy nhiên trong bức tranh chung của khoa học và  công nghệ VN, có phải chỉ toàn điểm tối và có phải về lĩnh vực nào, về bất cứ vấn đề gì khoa học và  công nghệ VN cũng quá tụt hậu, ảm đạm như ý kiến một số người, cả trong nước và ngoài nước, đã phát biểu nhiều lần trên báo chí thời gian qua? Quan điểm của GS về vấn đề này?  Về điểm này tôi đồng ý với phát biểu gần đây của Bộ trưởng Bộ KH & CN Nguyễn Quân trong cuộc gặp gỡ 150 tài năng trẻ KH&CN (Tia Sáng số 22). Không ai hơn những người trong cuộc cảm nhận rõ sự tụt hậu và yếu kém của khoa học VN, nhất là khi sự trì trệ đã kéo dài nhiều thập kỷ. Hằng năm không ít nhà khoa học VN có thời gian làm việc ở nước ngoài, hợp tác với nước ngoài, trên cương vị bình đẳng, do đó chúng ta không xa lạ gì môi trường khoa học quốc tế. Mỗi lần đi ra nước ngoài là một dịp day dứt trông người lại nghĩ đến ta. Khổ nỗi bụt nhà không thiêng, cho nên rất cần thiết các bạn đồng nghiệp ở nước ngoài lên tiếng mạnh mẽ chỉ rõ những yếu kém của khoa học VN, nhất là về cơ chế và chính sách quản lý, điều hành. Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên tỉnh táo nhận định đúng mực tình hình, không nên bảo thủ, nhưng cũng đừng quá bận tâm một số thông tin thiếu cơ sở, thường dựa trên phân tích những bảng thống kê không đủ tin cậy mà không có điều tra nghiên cứu thận trọng. Chẳng hạn, những khẳng định như “tổng số công bố quốc tế của VN không bằng của riêng Đại học Chulalongkorn” hoặc “trước 2011 toán học của Thái Lan kém VN, nhưng năm 2011 Thái Lan đã vượt VN”, “gần 45% những bài báo toán học của VN chưa bao giờ được trích dẫn”, “trong số bài của ngành toán VN được trích dẫn gần 40% là tự trích dẫn, tỉ lệ này cao nhất thế giới”, “sinh viên VN có học bổng muốn học thống kê, Mỹ gửi sang Thái Lan học”, vân vân, những thông tin loại như vậy theo tôi chẳng giúp được gì mà tính xác thực lại rất đáng ngờ.      Nhưng những thông tin mà họ đưa ra như hơn 9000 giáo sư không có bằng sáng chế, theo họ “chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế”, cụ thể hơn là bằng sáng chế Mỹ, thế mà cả năm 2011 VN không có bằng sáng chế nào, trong lúc Thái Lan có 53 bằng, Malaysia có 162 bằng; 90% các công trình khoa học “đắp chiếu” (không có ứng dụng thực tế), phải chăng cũng là những bằng chứng khó bác bỏ?   Trên thế giới không ai lấy số lượng bằng sáng chế làm thước đo năng lực của một nhà khoa học, của một nền khoa học. Số lượng bằng sáng chế phản ảnh mức độ, chứ chưa phải chất lượng, hoạt động sáng tạo công nghệ. Bằng sáng chế quá ít, chứng tỏ công nghệ quá yếu kém, đúng là thế, song không phải nước nào có bằng sáng chế nhiều hơn thì ắt phải có công nghệ phát triển hơn (chẳng hạn Hàn Quốc với số dân ít hơn các nước Đức, Anh, Úc  nhưng số bằng sáng chế năm 2011 vượt trội nhiều lần, không có nghĩa công nghệ Hàn Quốc đã vượt các nước đó). Với VN, ai cũng biết mấy chục năm qua đường lối phát triển kinh tế chỉ dựa chủ yếu vào tài nguyên thô và lao động giá rẻ, không dựa vào tăng chất lượng, năng suất, hiệu quả thì lấy đâu ra bằng sáng chế. Điêu quan trọng là không nên lẫn lộn khoa học với công nghệ, dù hai thứ đó liên quan khăng khít. Khác với công nghệ, hoạt động sáng tạo khoa học thể hiện chủ yếu ở các công trình khoa học. Khi hầu hết giáo sư ở các nước phát triển không hề có bằng sáng chế nào thì sao có thể trách mấy nghìn giáo sư VN không có bằng sáng chế. Hơn nữa đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ khá tốn kém, cho nên hàng trăm số sáng chế của VN chỉ đăng ký trong nước. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ thường đi đôi với sự phát triển của khoa học, cho nên số bằng sáng chế ít đến mức nào đó là dấu hiệu khoa học tách rời với công nghệ – hậu quả sự bất cập về chính sách quản lý.  Liên quan với vấn đề này cần tỉnh táo với quan điểm thực dụng thiển cận, thường khoác áo chính trị “khoa học phải phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất” để bác bỏ sự cần thiết của nghiên cứu cơ bản, đòi hỏi mọi nghiên cứu khoa học phải có ứng dụng ngay, mà không biết rằng hơn 99% công trình khoa học trên thế giới đâu có ứng dụng trực tiếp ngay được. Điều có vẻ như nghịch lý nhưng thuộc bản chất hệ thống của khoa học là nếu không có 99% công trình khoa học tưởng như vô ích kia thì cũng chẳng thể có 1% công trình hữu ích nọ. Chưa kể có những phát minh khoa học phải đến nhiều thập kỷ, thậm chí cả trăm năm sau, mới tìm thấy ứng dụng. Cái khó ở đây cũng như trong mọi chuyện quan trọng ở đời là nhận biết và giữ gìn được sự cân đối hài hòa. Cho nên phải thận trọng và kiên nhẫn, nhất là ở các nước đang phát triển, không thể cực đoan thô bạo đối xử với khoa học được. Mặt khác, về phía nhà khoa học tất nhiên không thể vin vào đó để cứ mải mê nghiên cứu trên mây trên gió mà không chú ý những vấn đề có tiềm năng ứng dụng. Nói thế có vẻ như ba phải, song thực tế cuộc sống là vậy, quá chiều này là bất cập, quá chiều kia là thái quá, đều sai.  Cũng trên báo chí đã có ý kiến phê phán gay gắt chủ trương xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp về toán học, coi đó là một sự lãng phí, với lập luận, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam chỉ cần phát triển các ngành khoa học dùng toán học (mathematical sciences), chứ hoàn toàn không cần phát triển ngành toán học. Ý kiến đó có thỏa đáng không ?  Trước hết cần khẳng định mọi nhà khoa học nghiêm túc trên thế giới đều biết rằng không thể xây dựng khoa học hiện đại mà không cần toán học. Đương nhiên phản biện bao giờ cũng cần thiết, trong xã hội ta lại càng cần thiết, cho nên việc phê phán các chủ trương phát triển khoa học như lập Viện nghiên cứu cao cấp về toán học rất đáng hoan nghênh. Chỉ tiếc lập luận ở đây không được xác đáng, nhiều phần khiên cưỡng, khó thuyết phục. Chẳng hạn, để chứng minh chi tiêu cho toán học ở Viêt Nam là quá sang, tác giả dẫn chứng ở một nước giàu như Úc mà kinh phí tài trợ nghiên cứu không được phép chi cho đi dự hội nghị hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar (?!). Tác giả cũng so sánh chi phí xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp gấp bao nhiêu lần thu nhập bình quân của một người dân để nói rằng chi phí cho Viện là gánh nặng quá đáng cho dân. Thiết tưởng với lập luận như thế có lẽ VN không nên xây dựng các trường trung học phổ thông, chứ đừng nói đại học hay viện nghiên cứu.   Thông thường, yêu cầu cơ bản khi đầu tư là phải tính hiệu quả, tức là cái lợi thu được so với chi phí bỏ ra. Các nước văn minh đều làm như vậy, các nước nghèo càng phải làm như vậy mới mong mau thoát được nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm đau thương về chuyện này. Lãng phí trong khoa học ở VN thì không hiếm nhưng cần khách quan để nhận diện đúng những lãng phí nào cần lên án. Viện nghiên cứu cao cấp vừa mới khai trương, phải đợi xem hiệu quả có tương xứng với đầu tư không mới có cơ sở để đánh giá. Tôi nghĩ nếu các bạn đồng nghiệp ở trong nước hay ở nước ngoài tập trung góp ý kiến cụ thể về ngành chuyên môn mình thông thạo thì sẽ giúp ích được nhiều hơn là lấn sang những lĩnh vực mình không am hiểu tường tận. Nhất là trong bối cảnh VN hiện nay, kinh tế suy sụp, khoa học yếu kém đang là nỗi bức xúc của mọi người thì những lời phê phán mạnh mẽ, dù dựa trên những lý lẽ cực đoan đến vô lý vẫn dễ được một bộ phận công chúng tiếp nhận. Nếu không tỉnh táo những ý kiến đó có thể tạo áp lực, gây thêm trở ngại không đáng có cho việc phát triển khoa học vốn đã quá khó khăn so với các nước khác.   Sau mấy năm hoạt động của Nafosted, kết quả tích cực đã rõ, nhưng do cách đánh giá nhà khoa học nặng về số lượng công trình ISI, ít chú ý chất lượng nên đã có xu hướng chạy theo các tạp chí ISI nhưng chất lượng thấp để dễ đăng bài, khiến các tạp chí trong nước, dù là tạp chí quốc tế nhưng chưa vào ISI thì vẫn sẽ không được các tác giả ưa chuộng đăng bài bằng các tạp chí ISI chất lượng thấp. Điều này tạo bất lợi cho việc cạnh tranh của các tạp chí VN với các tạp chí quốc tế khác… Theo GS giải pháp nào để ngăn ngừa, hoặc hạn chế những hệ lụy tiêu cực này?  Trước hết cần khẳng định việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng (số lượng công bố, chỉ số trích dẫn, v.v. ) làm tư liệu tham khảo để giúp đánh giá các cộng đồng nghiên cứu và cá nhân các nhà khoa học là xu thế tất yếu tại hầu hết các nước tiên tiến. Nhưng số lượng chưa biểu thị chất lượng, và hơn nữa, như nhiều nhà khoa học đã vạch rõ, làm sao một công trình nghiên cứu 170 trang như của Ngô Bảo Châu chẳng hạn có thể so sánh với 17 bài báo 10 trang. Khi đánh giá một cá nhân thì chỉ tiêu định lượng có thể đánh lừa và không bao giờ thay thế được sự phân tích định tính của những chuyên gia am hiểu. Chỉ tiêu định lượng cũng giống như số đo nhiệt độ và các kết quả xét nghiệm về máu v.v. đều rất cần xem xét khi chẩn đoán bệnh, nhưng không thể thay được thầy thuốc. Hơn nữa có những nhà khoa học lớn mà ít công bố, lại có những nhà khoa học xoàng mà công bố rất nhiều.         Chỉ tiêu định lượng cũng chỉ đo được hoạt động chung của một cộng đồng, trình độ trung bình của các thành viên, chứ không thể nói gì về những chuyên gia tầm cỡ trong cộng đồng; cho nên ở đây sự phân tích định tính hết sức cần thiết. Chẳng hạn, cho dù số lượng công bố quốc tế về toán của Thái Lan năm 2011 có vượt VN thì cũng chưa thể kết luận toán học Thái Lan vượt VN vì số nhà toán học tầm cỡ ở hai nước khá khác nhau.        Tuy nhiên, khi xét hoạt động nghiên cứu của một cộng đồng lớn (như một viện, một đại học, hay một nước) thì luật số lớn sẽ khử các dị biệt cá thể nên chỉ tiêu định lượng sẽ có ý nghĩa nhiều hơn là khi xét một cá nhân, đặc biệt nếu so sánh hai cộng đồng cùng một ngành chuyên môn. Dù vậy, đối với VN khoa học xã hội do đặc thù ý thức hệ rất khó so sánh với các nước khác chỉ bằng số công bố quốc tế. Cho nên các chỉ tiêu định lượng tuy là tư liệu tham khảo cần thiết nhưng cần được sử dụng thận trọng, đối với từng nước, từng ngành, và luôn phải kết hợp với đánh giá định tính của chuyên gia. Các nước phát triển có điều kiện huy động đủ chuyên gia giỏi, trong nước hoặc ở các nước khác, nên việc xem xét mặt chất lượng khi đánh giá không khó khăn. Còn ở các nước kém phát triển như ở ta thì thường thiếu chuyên gia giỏi, có uy tín nên có xu hướng sử dụng máy móc các chỉ tiêu định lượng để đánh giá nhà khoa học và cộng đồng khoa học.   So với cách làm tùy tiện trước đây, cách đánh giá như vậy dĩ nhiên có khách quan, tiến bộ hơn, gần hơn với các cách làm ở các nước, nhưng dù sao vẫn còn thô và tới đây, với trình độ phát triển của khoa học, cũng cần cải tiến để chú ý nhiều hơn đến mặt chất lượng, tức là mặt định tính. Chẳng hạn, việc thiếu chuyên gia giỏi có thể khắc phục bằng cách mời chuyên gia quốc tế tham gia đánh giá. Vì thực tế cho thấy chuẩn dựa trên ISI đơn thuần còn quá thô, nên có thể chuyển dần sang cách xếp hạng các tạp chí quốc tế theo A*, A, B, C mà mỗi ngành đều có thể làm được (cụ thể xem ở box). Dù theo cách nào các bảng xếp hạng cũng chỉ có giá trị tham khảo.  Còn việc dành một phần kinh phí tài trợ cho nghiên cứu để tăng thêm thu nhập cho những nhà khoa học tham gia đề tài, GS thấy thế nào?  Đúng là trong bối cảnh lương quá thấp, việc Nafosted cấp kinh phí tài trợ nghiên cứu khoa học như hiện nay là cần thiết nhưng về lâu dài có thể tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực không mong muốn như: khuyến khích “chạy đề tài”, giành đề tài bằng những vận động không lành mạnh; khuyến khích dối trá, thiếu trung thực, thâm chí đạo văn (bệnh này đã đạt mức khá trầm trọng), do áp lực thu nhập từ đề tài quan trọng hơn lương; khuyến khích lơ là với những nhiệm vụ khác ít liên quan các đề tài nghiên cứu, v.v.   Để tránh những hệ lụy đó, tốt nhất về lâu dài là phải tiến tới chế độ tương tự như ở các nước phát triển: lương trả theo năng suất tổng hợp, tức là theo nhiệm vụ chức năng, có tính đến thành tích khoa học từ lúc vào nghề, còn kinh phí cấp cho đề tài thì không được dùng phụ thêm thu nhập mà chỉ được dùng để tạo phương tiện thực hiện đề tài nghiên cứu như mua sắm thiết bị, trả lương nghiên cứu sinh nếu có, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn, trả phí mời chuyên gia nước ngoài để hợp tác nghiên cứu, v.v. Muốn làm được như vậy điều kiện cần thiết trước hết là phải cải cách chế độ lương, đảm bảo cho nhà khoa học mức sống xứng đáng với năng suất và nhiệm vụ, để có thể yên tâm thực hiện những nghiên cứu cần thiết, dù lâu dài hay khó khăn, mà không phải chịu áp lực cuộc sống chi phối quá nặng như hiện nay. Khi ấy tài năng khoa học mới có thể được phát huy tối ưu. Xem ra hiện nay triển vọng thực hiện còn thấp, nhưng đó là mục tiêu đúng đắn cần phấn đấu hướng tới.       VĂN THÀNH thực hiện        Để có những chỉ tiêu định lượng hợp lý đầu tiên phải xác định thế nào là công bố quốc tế.                 Trước đây, trong ngành toán chẳng hạn, theo Liên đoàn Toán quốc tế, công bố quốc tế được hiểu là những công trình đăng trong các tạp chí được điểm duyệt đều đặn trên một trong 4 tạp chí điểm duyệt quốc tế: Math. Review, Zentralblatt, Bulletin Signalétique, hay Referativnyi Jurnal. Hiện nay các công bố ISI thường được xem là bảo đảm một giá trị “chuẩn” tối thiểu. Tuy vậy khi đánh giá các hồ sơ khoa học người ta vẫn xem xét cả những công bố quốc tế khác trên các tạp chí có tổ chức bình duyệt. Vì danh sách các tạp chí ISI ngày càng mở rộng, bao gồm cả nhiều tạp chí chất lượng không tương xứng, nên cách làm tốt nhất là trong mỗi ngành chuyên môn, các chuyên gia có thể đánh giá chất lượng các tạp chí quốc tế xếp theo mấy hạng A* (rất tốt), A (tốt), B (khá), C (xoàng), không phân biệt ISI hay không. Hiện nay Nafosted đang lấy ISI làm chuẩn, nhưng sắp tới cũng nên nghiên cứu sử dụng cách phân hạng ấy thì tốt hơn (trong bảng xếp hạng của Úc về toán khá nhiều tạp chí ISI chỉ xếp cùng hạng C với hai tạp chí VN).               Bước thứ hai để hoàn thiện các chỉ tiêu định lượng là tính chỉ số trích dẫn (Citation Index) của các công bố và chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor) của các tạp chí. Đây là những chỉ số nói lên mức độ công trình ấy hay tạp chí ấy được quan tâm (chứ không nhất thiết được coi trọng) trong cộng đồng khoa học quốc tế. Chỉ số trích dẫn cao thì nói chung có thể coi là được nhiều người quan tâm. Nhưng cũng như các chỉ số định lượng khác chỉ số trích dẫn cần được sử dụng thận trọng và không thể hoàn toàn thay thế chuyên gia.1 Hơn nữa, cách tính chỉ số trích dẫn phụ thuộc sự lựa chọn các tạp chí nào được xét đến để tính số lần công trình ấy được trích dẫn, nên có thể khác nhau tùy  sự lựa chọn đó. Chẳng hạn, về toán chỉ số trích dẫn theo Mathscinet đối với các công trình toán ứng dụng thường thấp hơn rất nhiều so với Google Scholar, vì Google Scholar thống kê cả những trích dẫn từ nhiều tạp chí ứng dụng toán mà Mathscinet không tính đến. Hơn nữa cách trích dẫn cũng không được chuẩn hóa, nhiều tác giả trích dẫn lung tung cả những công trình chẳng ăn nhập gì với nội dung nghiên cứu. Chỉ mươi năm gần đây các tạp chí nghiêm túc mới có quy trình kiểm tra để loại bỏ khỏi danh mục trich dẫn những công trình không được thật sự trích dẫn trong bài. Thực tế đã có nhiều trường hợp hai ba tạp chí hợp tác với nhau để ngụy tạo chỉ số trích dẫn làm tăng cao chỉ số ảnh hưởng của nhau và tăng cao chỉ số trích dẫn của các tổng biên tập. Sự gian lận trong khoa học ngày càng xảy ra nhiều, đòi hỏi không thể chỉ tin vào các chỉ tiêu định lượng mà bỏ qua hay coi thường đánh giá định tính của chuyên gia. Mấy năm gần đây lại xuất hiện loại tạp chí “open access” dưới dạng điện tử, cho phép tự do truy cập, nhưng thường đòi hỏi các tác giả muốn đăng bài phải trả phí khá cao. Một số tạp chí loại này cũng vào danh mục ISI, nhưng do tính cách thương mại khá lộ liễu nên chưa tranh thủ được sự tin tưởng của các tác giả nghiêm túc.           ————–  1 Tôi có biết một nhà khoa học viết gần chục bài sai, mỗi bài sai bị nhắc tới (để chỉ cái sai) trong 4-5 bài của các tác giả khác, vị chi riêng nhờ bài sai đó anh ta đã có khoảng 40-50 trích dẫn! Và lại có những công trình nhiều năm liền chẳng có trích dẫn nào, nhưng sau đó lại lọt vào số 10 công trình hằng năm được trích dẫn nhiều nhất trong ngành.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nét mới của Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017      Hai nhà nghiên cứu PGS. TS Toán học Nguyễn Sum (Đại học Quy Nhơn) và GS. TS Hóa học Phan Thanh Sơn Nam (Đại học Bách khoa, ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh) đã trở thành hai chủ nhân mới của Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017.      GS. TS Phan Thanh Sơn Nam (phải) chúc mừng sinh viên Khoa Kỹ thuật hóa học, Đại học Bách khoa TPHCM ngày tốt nghiệp. Ảnh: PTSN  Giải thưởng Tạ Quang Bửu ra đời cách đây bốn năm. Hàng năm giải thưởng được trao cho các nhà khoa học trong lĩnh vực tự nhiên và kỹ thuật đã có thành tựu nghiên cứu xuất sắc mang tầm quốc tế. Phỏng theo cách nói của Abraham Lincoln, đây là một giải thưởng của các nhà khoa học, do các nhà khoa học và vì các nhà khoa học.  Giải thưởng này thật sự là của các nhà khoa học. Nó được trao cho các nhà khoa học đang tích cực hoạt động khoa học và đóng vai trò chủ chốt trong một công trình khoa học duy nhất được công bố trong vòng năm năm gần đây, quá trình hoạt động khoa học không đóng vai trò quyết định. Chính vì vậy mà cơ hội được trao giải thưởng là bình đẳng như nhau đối với các nhà khoa học là “cây đa, cây đề” và các nhà khoa học trẻ, đối với các nhà khoa học đã có bề dày về thành tích nghiên cứu và các nhà khoa học mới bắt tay vào nghiên cứu. Một trong những đòi hỏi khắt khe của giải thưởng là bài báo khoa học có liên quan tới giải thưởng phải được công bố trên các tạp chí chuyên môn hàng đầu thế giới theo các cách xếp hạng tạp chí khoa học được quốc tế thừa nhận (Web of Science, Scimago).  Giải thưởng này là giải thưởng khoa học duy nhất ở Việt Nam do chính các nhà khoa học chọn ra, thông qua hai vòng xét duyệt bởi đại diện của chính mình là các hội đồng khoa học chuyên ngành của Quỹ Nafosted và các chuyên gia phản biện có uy tín trong nước và thế giới. Quy trình xét chọn giải thưởng nghiêm ngặt, minh bạch và công khai và công bằng. Ở đây, không có sự châm chước và không mang tính “mặt trận”. Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017 bao gồm 11 thành viên, trong đó có các chủ tịch hội đồng khoa học chuyên ngành của Quỹ Nafosted, đại diện cho lãnh đạo Bộ KH&CN và hai nhà khoa học quốc tế có uy tín (giáo sư Pierre Darriulat, Trung tâm Vệ tinh Quốc gia, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và giáo sư Trịnh Xuân Thuận, Đại học Virginia, Hoa Kỳ). Hội đồng đã làm việc nghiêm túc, dân chủ, khách quan và minh bạch, phân tích, thảo luận và cân nhắc rất kỹ để đi đến các kết luận có tính thống nhất cao trước khi bỏ phiếu.  Giải thưởng Tạ Quang Bửu là giải thưởng vì các nhà khoa học. Giải thưởng tôn vinh các nhà khoa học đã có những thành tựu nghiên cứu xuất sắc được cộng đồng khoa học trong nước và quốc tế thừa nhận, ghi nhận sự đóng góp của họ cho nền khoa học Việt Nam và thế giới. Giải thưởng không phải là một hư danh, giải thưởng do chính các nhà khoa học xét chọn, nên người được trao giải cảm thấy vinh dự thật sự và được các đồng nghiệp “tâm phục, khẩu phục”.    Cần phải nói thêm rằng tuy giải thưởng Tạ Quang Bửu là giải thưởng của Bộ KH&CN, nhưng từ khi ra đời đến nay, kinh phí của giải thưởng đều được lấy từ các nguồn tài trợ khác nhau, không phải từ ngân sách nhà nước, tức là giải thưởng đang được xã hội hóa và được xã hội quan tâm.  Giải thưởng chính Tạ Quang Bửu năm nay được đề xuất trao cho nhà toán học PGS. TS Nguyễn Sum, 57 tuổi, Đại học Quy Nhơn, và nhà hóa học GS. TS Phan Thanh Sơn Nam, 40 tuổi, trường Đại học Bách khoa, ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên, giải thưởng “rời xa” Hà Nội, trung tâm lớn nhất của cả nước về nghiên cứu cơ bản. Điều này một lần nữa khẳng định tính công bằng và minh bạch của giải thưởng, phản ánh sự phát triển đồng đều hơn của nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên ở nước ta. Cũng như nhiều giải thưởng trước đây, hai giải thưởng năm nay đều “sản xuất tại Việt Nam”. Điều này chứng tỏ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ở nước ta đang tiến nhanh trên con đường để đạt trình độ quốc tế.    PGS. TS Nguyễn Sum (Đại học Quy Nhơn). Ảnh: Nguyễn Sum  PGS. TS Nguyễn Sum được trao giải thưởng vì một bài báo dài 57 trang được công bố năm 2105 trên một trong những tạp chí toán học hàng đầu trên thế giới. Đây là một công trình khoa học đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực tô pô đại số, được rút gọn từ một tiền ấn phẩm 240 trang. Công trình khoa học này đã giải quyết được một trường hợp đặc biệt (k=4) của giả thuyết “hit” do nhà toán học người Mỹ Frank Peterson đề xuất cách đây 30 năm. Nó được thực hiện hoàn toàn trong nước bởi một tác giả duy nhất. Đây là một bước tiến mới trong việc giải quyết giả thuyết Peterson kể từ năm 1990. PGS.TS Nguyễn Sum đang làm việc tại Đại học Quy Nhơn, nơi không phải là một trung tâm toán học của Việt Nam. Ông đã không chạy theo số lượng công bố công trình khoa học (số bài báo đã được công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín có thể đếm trên đầu ngón tay) mà kiên trì theo đuổi bảy năm liền giả thuyết “hit” là một bài toán mở rất khó chưa có lời giải trọn vẹn trong lĩnh vực tô pô đại số. Kết quả nghiên cứu và Giải thưởng Tạ Quang Bửu là phần thưởng xứng đáng cho sự quyết tâm và kiên trì của PGS.TS Nguyễn Sum.  Giải thưởng được trao cho GS. TS Phan Thanh Sơn Nam là Giải thưởng Tạ Quang Bửu đầu tiên của ngành hóa học. GS. TS Phan Thanh Sơn Nam là tác giả chính của công trình khoa học xuất sắc về chất xúc tác trong lĩnh vực Hóa học Kỹ thuật.  Công trình đã nghiên cứu ứng dụng vật liệu khung hữu cơ-kim loại (MOFs) làm chất xúc tác cho các ứng tổng hợp các hợp chất hữu cơ họ propargylamine. Đặc biệt, công trình đã phát hiện ra một chuyển hóa của N-methilaniline chưa từng được công bố. Đây là một công trình khoa học được thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam do năm tác giả là người Việt Nam, hoàn toàn không có yếu tố nước ngoài. Bài báo khoa học làm nên giải thưởng được các nhà chuyên môn trên thế giới rất quan tâm: bài báo đã được trích dẫn 21 lần. Là một trong những nhà khoa học được phong học hàm giáo sư trước 40 tuổi, từ năm 2010 GS.TS Phan Thanh Sơn Nam đã lãnh đạo nhóm nghiên cứu ở Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh công bố được 48 bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế ISI theo hướng nghiên cứu trên. Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã ghi nhận sự đóng góp quan trọng của GS.TS Phan Thanh Sơn Nam và nhóm nghiên cứu do Giáo sư dẫn dắt cho ngành Hóa học Viêt Nam bằng kết quả nghiên cứu xuất sắc mang tầm quốc tế.  Qua bốn năm, Giải thưởng Tạ Quang Bửu ngày càng có uy tín trong cộng đồng khoa học, được các nhà khoa học rất quan tâm và tạo nên sự chý ý nhất định của xã hội. Cùng với các chương trình tài trợ nghiên cứu cơ bản của Quỹ Nafosted, giải thưởng đang khích lệ, cổ vũ các nhà khoa học đạt được nhiều hơn nữa, xuất sắc hơn nữa các kết quả nghiên cứu mang tầm cỡ quốc tế, góp phần đưa nền khoa học Việt Nam hội nhập quốc tế sâu hơn nữa, rộng hơn nữa.   * Phó Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017       Author                Đinh Dũng        
__label__tiasang Nga: Điện hạt nhân là một ngành công nghiệp quan trọng      Vào ngày 20/8/1945, Liên bang Xô viết (USSR) đã thành lập một ủy ban đặc biệt để quản lý và đầu tư cho nghiên cứu về hạt nhân dưới sự dẫn dắt của Lavrentii P. Beriia. Ủy ban này đã trở thành nền tảng cho sự hình thành vào ngày 26/3/1953 của Bộ Chế tạo máy cỡ trung bình do ông Efim Pavlovich Slavsky làm bộ trưởng. Ý tưởng sử dụng năng lượng hạt nhân tạo ra điện năng đã được đưa ra từ năm 1947 và nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Obninsk đã hoàn thành vào năm 1954.    Năm 2013, Đài phát thanh “Tiếng vang Mátxcơva” phỏng vấn ông Sergei Kirienko, lúc đó là Tổng Giám đốc Tập đoàn ROSATOM (Nga), về những bước phát triển của năng lượng hạt nhân. Nhận thấy những giá trị hữu ích của nó, nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngành công nghiệp hạt nhân Nga, Tia Sáng xin giới thiệu lại cuộc phỏng vấn này.    Xuất khẩu công nghệ hạt nhân  А. Venediktov: Hạt nhân là sản phẩm xuất khẩu của nước ta giống như dầu hỏa và khí đốt. Chúng ta sẽ bán các công nghệ hạt nhân và kỹ năng xây dựng nhà máy điện hạt nhân ra thế giới.  S. Kirienko: Nhân tiện đề cập đến đề tài ngành năng lượng nguyên tử xuất khẩu, tôi xin nhắc lại rằng đây là lịch sử đáng nhớ về Bộ trưởng Bộ Chế tạo máy cỡ trung bình (Bộ phụ trách ngành công nghiệp nguyên tử của Liên Xô cũ) Ephim Pavlovich Slavski. Huyền thoại này đã đi vào lịch sử của ngành, đó là tại hội nghị Trung ương Đảng, nơi người ta giáo huấn các bộ trưởng về vấn đề cần thiết phát triển sản xuất theo hướng xuất khẩu. Trong khoảnh khắc nào đó, một trong những bí thư Trung ương Đảng đang điều khiển hội nghị nhận thấy Ephim Pavlovich ngồi ngay tại hàng đầu tiên đang thiu thiu ngủ. “Ông Ephim Pavlovich, vấn đề này không liên quan gì đến ông sao?” Ephim Pavlovich mở một mắt và trả lời: “Không, tất cả các sản phẩm ngành của tôi đều dành cho xuất khẩu, người ta không làm bom cho chính mình”.  Nhìn chung ngành năng lượng nguyên tử theo một nghĩa nào đó đã luôn luôn là ngành xuất khẩu. Như vậy, tôi cho rằng với điều kiện công nghệ cao và xuất khẩu phi nguyên liệu – ơn chúa, nước Nga giàu có bởi dầu khí và các tài nguyên thiên nhiên khác nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sự vượt trội của đất nước là việc bán các sản phẩm thặng dư được tạo bởi các nguồn tài nguyên tái tạo, bởi kiến thức, khả năng và trí thông minh của con người. Với điều kiện này cộng với nhu cầu cao hiện nay, đây là một trong những tiềm lực xuất khẩu chủ chốt của đất nước.  Đó là nhu cầu về năng lượng hay nhu cầu về các nhà máy điện?  Một câu hỏi rất hay. Tôi cho rằng tất cả phụ thuộc vào vị trí địa lý của đơn hàng. Đầu tiên tất nhiên là nhu cầu về năng lượng. Tất cả các nhà máy điện hạt nhân là nguồn sản xuất điện. Điều đó chứng thực việc gì? Thật sự rất gây tò mò đúng không. Đầu tiên khối lượng đặt hàng tại ROSATOM sau Fukushima đã tăng gấp rưỡi đồng nghĩa với việc các đơn đặt hàng dài hạn của chúng ta cũng tăng gấp rưỡi.  Tại sao?  Hiện tại hợp đồng của chúng ta là 66,5 tỷ USD, đây chỉ dựa trên các hợp đồng đã ký. Tiếp đến, IAEA đang thu thập các dữ liệu từ tất cả các nước. Là một tổ chức phi lợi nhuận, những dữ liệu của họ là đáng tin cậy, họ không theo đuổi các lợi ích tiếp thị. IAEA thực hiện liên tục các dự báo khối lượng các nhà máy được xây dựng. Dự báo của họ gần tới mức độ trước Fukushima. Đã từng có đánh giá 480-500 lò phản ứng sẽ có cho đến năm 2020. Đánh giá cuối cùng của IAEA là 460, có nghĩa là gần chạm mốc, đây là giới hạn sai số.  Đồng thời, hãy xem có gì thú vị, tôi hiểu rằng không cần giải thích tại sao các nước hoàn toàn không có khí đốt phải trông cậy vào năng lượng nguyên tử. Vậy cần phải làm gì? Cần giải quyết vấn đề an ninh năng lượng. Nhưng thật thú vị rằng hiện tại các nước có nguồn khí đốt ổn định đều có các chương trình phát triển to lớn ngành năng lượng nguyên tử.  Ví dụ?  UAE.  Có thể họ muốn tạo ra bom, giống như Iran?  Không. Với Iran thì tất cả đã rõ ràng, hiện tại hệ thống giám sát đã được xây dựng như vậy, cũng như không ai chứng minh được Iran đang chế tạo bom. Việc không có bằng chứng đầy đủ để nghi ngờ là nguyên nhân các cuộc kiểm tra rộng rãi và các chiến dịch quốc tế có quy mô về vấn đề Iran.  UAE cần lò phản ứng hạt nhân để làm gì?  Toàn cảnh bức tranh như sau. Trong số 20 quốc gia đứng đầu về trữ lượng dầu khí có 15 nước có chương trình năng lượng hạt nhân. Nguyên nhân thứ nhất – sự ổn định về giá cả. Hôm nay hội nghị bàn tròn cũng đã diễn ra, chúng tôi có nhớ lại. Tôi nhớ rất rõ năm 1998 khi giá dầu mỏ rơi xuống thấp hơn 9, và chúng tôi đã ngồi và mơ ước, nó sẽ vượt quá 10 và hơn nữa. Rồi ngược lại, giá rơi xuống thấp hơn 9. Khi đó vô khối các chuyên gia đã nói rằng, 15 sẽ là mức tối đa, dầu hỏa trong 20-30 năm tới không thể vượt quá 15 USD.  Khoảng 3 năm trước chúng tôi ngồi trong hội thảo ở St. Peterburg và tại bàn tròn này, tôi không nói đến các chuyên gia trước đây, nhưng một số chuyên gia lỗi lạc, những người thực sự có uy tín đã nói rằng: 150 sẽ là mức tối đa, và giá dầu mỏ tăng lên 200 USD trong 20-30 năm tới là hoàn toàn không thể xảy ra. Khi sai lầm theo một hướng, ngân quỹ quốc gia của người sản xuất sẽ bị sụp đổ, khi sai lầm theo hướng khác – khi đó sẽ là ngân quỹ của người tiêu dùng. Tôi hiểu họ muốn gì, họ muốn dựa vào năng lượng nguyên tử như một phần của sự cân bằng. Họ muốn ổn định.  Hiện nay chúng tôi đang xây dựng các nhà máy nguyên tử có tuổi thọ 60 năm. Thực tế tôi nghĩ rằng 80-100 năm, con số 60 năm chỉ là mức bảo hành tối thiểu. Chúng ta sẽ tiêu tốn khoản chi phí lớn cho xây dựng, nhưng sau đó chúng ta gần như không bị ảnh hưởng bởi sự biến động của giá cả của nguyên liệu. Đầu tiên là tiếp cận lượng tài nguyên uranium khổng lồ, cho 200 năm nữa thế giới được đảm bảo nguồn tài nguyên uranium. Thứ hai, ảnh hưởng của giá thành uranium đối với một kWh là 4%. Như vậy nếu uranium tăng vọt lên gấp hai lần, không ai chú ý rằng giá thành cung cấp điện sẽ thay đổi đến 4%.    Nga dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt nhân. Nguồn: The Economist  Giá trị của điện hạt nhân  Ông nói rằng năng lượng nguyên tử là cơ cấu của sự cân bằng. Vậy xin ông cho biết, cơ cấu cân bằng năng lượng ở Liên bang Nga hiện nay như thế nào?  Tại Nga, năng lượng nguyên tử cung cấp 15-16%, đã từng là 15 % và bây giờ là 16%. Một câu hỏi rất chuẩn xác. Tôi xin giới thiệu một chút ngành hạt nhân, tôi không bao giờ nói rằng năng lượng hạt nhân là tốt nhất, rằng cần sản xuất nó 100%. Điều đó vô cùng nhảm nhí. Câu hỏi về cấu trúc tối ưu, tôi (cũng như các chuyên gia Nga) tin rằng tỷ phần tối ưu ở một quốc gia, giống như Nga, tối đa là 25%. Tại Pháp – 78%, Đức – từng ở mức 32% và hiện tại ở mức 25%, là những quốc gia chúng rôi muốn hướng tới như mục tiêu của mình. Vì vậy đây là vấn đề cân bằng tối ưu.  Như vậy, những biến động giá là một phần. Khai thác nguyên liệu vô hạn cho đến nay là phần khác. Song, vận chuyển cũng không phải là vấn đề nhỏ. Tất cả các vấn đề đau đầu liên quan đến tính phức tạp của việc vận chuyển nhiên liệu đến các nhà máy điện quy mô GW, tức là 1000 MW chỉ cần một chuyến bay trong 1 năm, để vận chuyển nhiên liệu mà không có những chi phí vận chuyển nhiên liệu tốn kém, những rủi ro liên quan đến mất nguồn nước, mất khả năng cung cấp khí đốt v.v., như vậy trong vấn đề này các bạn giảm thiểu tối đa rủi ro, rất nhiều. Tôi cũng không quên vấn đề sinh thái. Sau tất cả là khí CO2 và CO2. Đã có một giai đoạn khi người ta gạt phăng đi tất cả và nói rằng tất cả chỉ là sự tưởng tưởng. Hiện nay những thảm họa thiên nhiên buộc con người quay trở lại với suy nghĩ rằng tất cả không hoàn toàn là trí tưởng tượng. Có nhiều điều chúng ta cần suy nghĩ.  Tôi đã phỏng vấn 3 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao – Latvia, Litva, Estonia tại tỉnh Kaliningrad và cả ba đều có ý kiến như nhau – tôi không nói đến từ “sợ hãi”, nó không mang tính chất ngoại giao – họ nói rất lo ngại về khả năng xây dựng nhà máy điện nguyên tử Baltic. Những băn khoăn của họ có phải là những băn khoăn của các ông hiện nay?  Chúng ta hãy cùng chia sẻ.  Phụ thuộc vào vấn đề khu vực?  Phụ thuộc vào đối tượng cần băn khoăn. Tôi hiểu khi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức nói đến vấn đề và nỗi băn khoăn đó cho các bạn. Tôi sẽ cho rằng quan điểm của ông ta là đúng. Nó được biểu lộ như thế nào nhỉ? Chúng tôi quyết định không xây dựng nhà máy nguyên tử cho mình vì thế mà lo lắng rằng một trong láng giềng của chúng ta sẽ xây dựng nó. Đây cũng là một quan điểm. Tôi muốn lưu ý rằng một lượng lớn điện năng của họ hiện nay vẫn được sản xuất trong các nhà máy hạt nhân mặc dù họ đã thông qua quyết định cho tương lai.  Đối với Baltic, đặc biệt là Litva – láng giềng chính của Kaliningrad, điều này được thể hiện rất thú vị. Bởi vì họ nói rằng: Chúng tôi muốn xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại nước mình, khi đó tất cả đều hợp tác cùng nhau, cả ba bộ trưởng đều thỏa thuận rằng sẽ liên kết ba nước Baltic và họ muốn xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở địa điểm vài trăm km cách nơi mà chúng tôi xây dựng nhà máy điện nguyên tử Baltic. Nhà máy điện nguyên tử của họ không gây ra nỗi lo lắng băn khoăn nào, còn nhà máy của chúng tôi thì có. Các đồng chí, xin dừng lại.  Chúng ta kiểm soát nhà máy của mình trên lãnh thổ của mình, còn trên quốc gia khác chúng ta không kiểm soát. Đó là hành động khéo léo?  Rất đơn giản. Thứ nhất hiện nay việc kiểm soát quốc tế đang được thực hiện. IAEA và tổ chức vận hành nhà máy điện hạt nhân sẽ tiến hành kiểm tra vấn đề này. Đây là các cuộc kiểm tra độc lập, vì vậy một nhà máy bất kỳ sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại được gọi là hậu Fukushima. Vì vậy các yêu cầu đối với chúng là như nhau. Câu hỏi đặt ra là ai sẽ nhận được lợi nhuận. Nếu nhà máy được xây dựng ở Nga, hợp đồng thầu chính sẽ do các chủ thầu chính Liên bang Nga đảm nhiệm, thuế sẽ do các nhà thầu Nga chi trả và họ sẽ nhận được lợi nhuận từ việc bán điện. Nếu nhà máy được xây dựng tại Litva, họ cũng sẽ nhận được như vậy.  Cứ để họ xây dựng, có vấn đề gì vậy? Khi đó họ sẽ tước đoạt khả năng cạnh tranh của chúng ta.  Tại sao? Họ không tước đoạt, chúng ta sẽ cạnh tranh. Tất nhiên cứ để họ xây dựng. Chúng ta không thể hiện sự băn khoăn lo lắng về vấn đề xây dựng nhà máy ở Litva. Chúng ta nói rằng: Các đồng nghiệp, hãy chứng minh cho chúng tôi rằng nhà máy an toàn, chứng minh rằng nó hiện đại và không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Và chúng tôi rất muốn để họ đối xử với chúng tôi như vậy.  Chúng ta chưa ký kết hay phê chuẩn vấn đề gì ở đó chứ?  Đúng vậy, Nga vẫn chưa phê chuẩn Công ước Espo của Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về đánh giá tác động môi trường trong bối cảnh xuyên biên giới. Công ước về các thỏa thuận, có nghĩa là nếu bạn xây dựng các cơ sở không an toàn, bạn cần thỏa thuận với láng giềng nghiên cứu tác động đến môi trường. Nước Nga thực sự không là thành viên của Công ước này. Nhưng Aleksei, chúng tôi thực hiện các bước theo hướng hợp tác hữu nghị. Chúng tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi không là thành viên Công ước này, không thỏa thuận bởi các ràng buộc, chúng tôi thực hiện điều này dựa trên tinh thần tự nguyện. Chúng tôi đã gửi cho tất cả các nước láng giềng báo cáo nghiên cứu tác động, tiến hành các buổi điều trần phù hợp tại các nước, chứng minh với họ về mức độ an toàn tuyệt đối, bởi vì dự án này của chúng tôi đã nhận được chứng nhận theo tiêu chuẩn của Liên minh Châu Âu. Chúng tôi có một vấn đề: Một quốc gia từ chối thảo luận với các chuyên gia. Đó là Litva. Chúng tôi thậm chí đã thực hiện các việc tiếp theo là dịch báo cáo nghiên cứu này sang tiếng Litva.  Theo tôi nghĩ thì đó dường như một chiến công đối với ông?  Nếu tại Litva bỗng nhiên không có các chuyên gia đọc được tiếng Nga, và không ai biết tiếng Anh, được thôi, chúng tôi sẽ dịch sang tiếng Litva, trao cho tổng lãnh sự Litva tại St. Peterburg vì họ từ chối các chuyên gia của chúng tôi. Hãy xem tôi đối xử với họ với sự hiểu biết chứ không phải sự ảo tưởng. Tôi hiểu tất cả. Thực sự, những người Pháp đã từ chối xây dựng tại Litva. Hiện nay theo tính toán tại các nước Baltic, có thể những người Nhật Bản sẽ đến đây.  Chúng tôi quan hệ với đối tác Nhật Bản với tất cả sự kính trọng, họ là những giáo sư, nhưng với những tính toán rằng lò phản ứng của họ là các lò dạng Fukushima, lò nước sôi mà hiện nay đang có vấn đề nghiêm trọng với chúng, cần có thời gian để suy nghĩ lại, để nâng cao hệ thống an toàn. Điều đó không thể diễn ra nhanh chóng. Thứ hai, chúng tôi đã thấy chúng trong các cuộc cạnh tranh khác nhau. Hiện tại chúng tôi đã chiến thắng trong tất cả các cuộc cạnh tranh của họ, bởi vậy tôi hiểu chính xác rằng chúng tôi có thể đưa ra các công nghệ hiện đại hơn, và cái chính là giá thành rẻ hơn. Khi bạn hiểu rằng bạn mất khả năng cạnh tranh kinh tế, cần đưa vào các luận điểm chính trị. Hãy nhớ cũng giống như Thủ tướng Anh Churchill đã nói: “Tại nơi mà bằng chứng tranh luận yếu – cần tăng cường giọng nói”.   Chuẩn bị về các lò công suất nhỏ (SMR)    Nhà máy điện hạt nhân nổi Akademik Lomonosov. Nguồn: Rosatom  Chúng tôi mở rộng địa điểm và xây dựng trên khu vực này một số tổ máy công suất nhỏ. Chúng tôi đang nghĩ đến những tổ máy 40 MW. Đây là những tổ máy đã được tham chiếu, những tổ máy đã có hàng trăm lò trên các tàu phá băng và hàng nghìn lò.năm trên các tàu ngầm. Chúng tôi đơn giản chỉ thực hiện phiên bản trên đất liền. Số lượng khoảng từ 4-8 lò phản ứng có công suất khoảng 40MW đảm bảo đáp ứng việc liên kết với các trạm phát điện chạy bằng khí đốt.  Chúng tôi tiếp tục chế tạo tất cả các thiết bị bởi vì đó là một việc làm quan trọng. Chúng tôi không dừng việc chế tạo thiết bị cho các tổ máy công suất lớn, bắt đầu kết nối và thiết kế các tổ máy công suất nhỏ tại địa điểm mà sẽ bị yêu cầu ngừng lại. Thật ngu ngốc nếu bây giờ tiếp tục xây dựng bức tường bê-tông mà sẽ bị hủy bỏ ngay sau đó để nối thêm dây cáp dưới tổ máy công suất nhỏ. Vâng, vì vậy mà tôi nghĩ rằng điều này sẽ gây khó khăn cho chúng tôi.  Trong bao lâu?  Một câu hỏi rất hay. Tôi sẽ cho bạn biết tại sao bây giờ tôi không thể nêu ra thời hạn cuối cùng, tôi nghĩ rằng từ 1 đến 2 năm thì chúng tôi sẽ bố trí được. Trong chừng đó thời gian, chúng tôi sẽ thiết kế và khảo sát địa điểm. Có thể công việc này chiếm nhiều thời gian hơn một chút. Có lẽ vậy, bởi vì chúng tôi sẽ một lần nữa vượt qua các nước láng giềng trong khuôn khổ thực hiện tự nguyện Công ước Espo và ở đây chúng tôi có thể rút lui. Mặt khác, không phải là cấp bách, chúng tôi hiểu rằng chúng tôi được đánh giá vì điều gì, và sẽ có sự thiếu hụt điện năng ở khu vực Châu Âu.  Tất cả như nhau cả thôi.  Sự thiếu hụt tiêu thụ sẽ diễn ra ở đâu đó vào tầm năm 2020 và sau 2020. Vì vậy chúng tôi hôm nay đang đi vào một bức tranh với các tổ máy công suất lớn sẽ hoàn thiện vào năm 2018. Nếu hiện tại chúng ta lùi tổ máy công suất lớn đến đầu những năm 20, còn những tổ máy công suất nhỏ sẽ vận hành vào năm 2018-2019 thì rất là phù hợp. Tổ máy công suất nhỏ cung cấp đủ cho Kaliningrad và bắt đầu hoạt động để xuất khẩu, còn những thâm hụt thị trường mà chúng tôi dự đoán – bằng mọi cách chúng ta vẫn kịp thời gian. Bởi vậy chúng tôi không hủy bỏ bất cứ giai đoạn nào trong dự án, nhưng chúng tôi cần phản ứng lại những hành động của nước láng giềng và đối tác. Hiện nay chúng tôi đang tiến hành công việc nghiêm túc với các đối tác thương mại của chúng tôi. Đối với chúng tôi, tất nhiên đối tượng tiêu thụ điện là chính, những người mà muốn sử dụng nguồn điện năng này.  Trong thời gian gần đây đã diễn ra các cuộc đàm phán về không phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi đã thảo luận với nhiều người và cùng đưa ra một câu hỏi, liệu điều đó có thể xảy ra? Có thể không phổ biến vũ khí hạt nhân trong khi lại phổ biến công nghệ hạt nhân? Hơn nữa các quốc gia cho phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Vậy điều đó là có thể sao? Hoặc đó là một mong muốn tốt, tất nhiên là tốt, nhưng trên thực tế với các điều kiện về công nghệ thì ngược lại, mối hiểm họa đang được tăng lên?  Tôi có thể chia câu trả lời cho câu hỏi của bạn thành hai phần: Đó có thể là về mặt công nghệ và cũng có thể về mặt chính trị. Câu trả lời – về mặt công nghệ thì 100% là đúng.  Sản xuất điện khác với làm bom hạt nhân    Sơ đồ công nghệ AES-2006 của Nga. Nguồn: https://www.world-nuclear.org/information-library/country-profiles/countries-o-s/russia-nuclear-power.aspx  Tức là với công nghệ như vậy thì không thể phổ biến vũ khí hạt nhân?  Chính xác.  Với điều kiện phổ biến công nghệ hạt nhân.  Vâng, khi phổ biến năng lượng hạt nhân, vì công nghệ hiện nay có một số thành phần chủ chốt mà tại đó việc kiểm soát được thực hiện ổn định. Thứ nhất – để làm bom từ nhiên liệu của nhà máy điện hạt nhân, quan trọng và chủ yếu là bạn cần tăng độ giàu uranium. Vì cả thế giới, thậm chí những người không thực sự hiều rằng làm giàu uranium, sau – 4, 20… Bởi vì nó có giới hạn. Trên thực tế, bom bắt đầu không phải từ 20% mà là từ 90% độ giàu. Nhưng 20 là giới hạn của IAEA. Người ta cho rằng nếu thấp hơn 20% với đồng vị U235 – đây là ứng dụng dân sự, cao hơn 20% thì đó vẫn chưa phải là bom. Thực tế điều này có thể kiểm soát được.  Có thể kiểm soát được nhưng không nên dừng lại sao? Sao các ông không thể đặt một chiếc trụ mà người sử dụng không thể rút ra được.  Bằng cách đó bạn không thể ngăn cấm một hành động bất kỳ nào liên quan đến vũ khí gây sát thương lớn. Vấn đề lại đi theo hướng khác. Bạn có thể kiểm soát, nhưng không được giấu giếm. Về độ làm giàu uranium tại Iran, cả chúng tôi và những người Mỹ đều biết dưới mức mấy phần trăm sau dấu phẩy. Thực hiện điều này có thể bằng nhiều cách, có thể đo từ rất xa từ các thiết bị vũ trụ.  Tức là không được che giấu?  Thứ nhất điều này không được che giấu. Thứ hai cả thế giới biết rõ về vấn đề này từ trước. Sự bùng nổ bắt đầu từ khi cả thế giới biết rằng nước nào đã bỏ qua rào cản và chế tạo bom đến khi họ đã có bom trong tay, đó là giai đoạn thời gian đáng kể, ít nhất là từ năm rưỡi đến 2 năm. Đây là thời gian để thông qua quyết định, vì vậy có thể kiểm soát được công nghệ.  Tôi thử đặt ra giả thiết: Nga và Nhật Bản và các nước nào đó khác hình thành một cơ sở có khả năng chế bom nguyên tử nếu sau này tiến tới một chế độ khác và họ có khả năng phổ biến chúng?  Không. Tại sao không ư? Bởi vì những công nghệ mà các bạn nói đến không được bán, đơn giản là không được bán. Bao gồm tất cả 2 công nghệ là làm giàu uranium tự nhiên và tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng, từ đó cho ra plutonium – phương pháp thứ 2 để chế tạo bom. Vì vậy không một nước nào trên thế thới có chúng, ngoại trừ những nước đã có vũ khí hạt nhân …  Điển hình như Trung Quốc.  Vâng. Chúng tôi chỉ cung cấp các máy li tâm cho Trung Quốc là nước đã có vũ khí hạt nhân. Chúng tôi không vi phạm điều gì cả. Chúng tôi không cung cấp cho bất cứ một nước nào khác trên thế giới ngay cả đối tác chiến lược lâu dài như Ấn Độ…  Nhưng Ấn Độ cũng có bom.  Tuy nhiên tại Ấn Độ công nghệ được xây dựng không dựa trên cơ sở làm giàu uranium, mà dựa trên công nghệ plutonium hóa, chúng tôi không chuyển giao công nghệ làm giàu uranium và cũng không bán. Tôi không bàn luận vấn đề Iran. Nền tảng hiệp định của chúng ta với Iran là xây dựng nhà máy hạt nhân, khi đó công nghệ tái chế nhiên liệu sẽ không được chuyển giao. Nói chung theo Hiệp định, chúng tôi đã xem xét khả năng có thể xảy ra, theo quan điểm của Busher, nhiên liệu sẽ được trả lại chúng tôi, còn nhiên liệu đến Busher, chúng tôi chế tạo và cung cấp cho họ. Như vậy cả 2 công nghệ có thể có gì đó liên quan đến quân sự đều được để lại trên lãnh thổ Liên bang Nga, như vậy nó không được chuyển giao.  Chúng tôi biết rằng có rất nhiều người đã tạo khả năng chế tạo bom – Oppengeimer, Sakharov – họ ở đúng thời điểm, và sau đó vô cùng hối tiếc. Vậy các ông có hối tiếc không? Các ông sẽ làm nảy sinh các sai lầm rằng có thể xây dựng nhà máy Chernobyl, có thể xây dựng Fukushima. Các ông hiểu rẳng tôi không nói về vấn đề bom mà về lịch sử nguy hiểm.  Bạn nói về các sự việc khác nhau. Những người mà bạn nói đến lo lắng về vấn đề khác. Họ lo lắng về việc họ sẽ chế tạo ra những vũ khí đáng sợ, họ lo lắng nếu một đất nước nắm giữ những vũ khí này họ sẽ gây ra vấn đề lớn trên toàn thế giới. Bây giờ đã không còn là bí mật nữa khi tôi cùng các bạn trao đổi vấn đề này trên truyền thông, đã rõ ràng với các nhà chế tạo vũ khí tại Mỹ khi những thông tin bị rò rỉ cho tình báo Nga đều có giả thuyết rất nhiều người trong số đó hiểu rằng họ đang thảo luận với ai, và đã làm điều đó một cách giác ngộ.  Để bom không bao giờ được sử dụng?  Nếu chúng được hình thành bởi nguyên tắc công bằng. Từ quan điểm này chúng tôi không có vấn đề gì. Hoạt động hôm nay của chúng ta như mọi khi là đảm bảo sự công bằng đó. Tôi lo lắng rắng nếu chúng tôi không đảm bảo khả năng cạnh tranh của các nhà máy Nga khi đó hiểm họa sẽ xảy ra cho toàn thế giới.  Có một việc đáng ngạc nhiên: Chúng tôi sản xuất vũ khí hạt nhân mà không bao giờ được ứng dụng. Vì chúng tôi sản xuất chúng nên chúng sẽ không được sử dụng. Nếu chúng tôi bỗng nhiên không có khả năng đó nữa, khi đó hiểm họa sẽ bắt đầu.  Còn vấn đề liên quan đến phần dân sự, vâng, tôi cảm thấy có trách nhiệm nghiêm túc đối với vấn đề này, bởi vì vấn đề đưa ra những tiêu chuẩn và yêu cầu đối với từng giai đoạn bất kỳ mà chúng tôi thực hiện. Sau tất cả quan trọng hơn cả trong ngành này của Liên bang Nga là hình thành lịch sử văn hóa an toàn. Chúng ta cần làm việc ở những môi trường khác. Tôi cần phải nói rằng tôi không gặp được văn hóa vốn có đó ở bất cứ nơi đâu trên đất nước chúng ta, con người được ưu tiên giáo dục văn hóa an toàn, khi có an toàn mọi việc còn lại mới được thực hiện: Kế hoạch, kinh tế được hoàn thành. Đó là một vấn đề quan trọng. Đó là trách nhiệm của bất cứ người nhân viên nào của ngành năng lượng nguyên tử đặc biệt là của các nhà lãnh đạo. (Còn tiếp)  Trần Thị Kim Oanh/VINATOM dịch  TS. Trần Chí Thành hiệu đính          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga: Nghiên cứu khoa học phải qua cơ quan an ninh phê duyệt      Một viện nghiên cứu sinh học tại trường đại  học lớn và uy tín nhất của Nga vừa ra chỉ thị cho các nhà khoa học phải  đưa bản thảo nghiên cứu của họ cho cơ quan an ninh phê duyệt trước khi  công bố tại các hội thảo hay tạp chí.       Chỉ thị này xuất hiện trong biên bản một cuộc họp vào ngày 5/10 tại Viện Sinh học Lý   – Hóa A.N. Belozersky tại ĐH Lomonosov Moscow (MSU), hưởng ứng một luật lệ mới được sửa đổi về bí mật nhà nước.    Chính phủ Nga nói rằng sửa đổi này không nhằm hạn chế công bố các nghiên cứu cơ bản, phi quân sự. Nhưng các nhà khoa học cho biết, họ tin rằng, các viện nghiên cứu trên khắp đất nước đang đưa ra những chỉ thị tương tự. Mikhail Gelfand – một nhà sinh tin học tại MSU – cho rằng đây là sự quay lại thời kỳ Xô-viết, khi mà để gửi một bài báo cho một tạp chí quốc tế, họ phải có giấy xác nhận rằng kết quả nghiên cứu đó là không mới và không quan trọng và do đó có thể công bố ở nước ngoài.    Năm 1993, Chính phủ đã thông qua một luật lệ bắt buộc các nhà khoa học ở Nga phải xin phép Cơ quan An ninh Liên bang trước khi công bố các kết quả có thể có ý nghĩa quân sự hay công nghiệp. Luật lệ này chủ yếu nhằm vào các nghiên cứu liên quan tới chế tạo vũ khí, bao gồm các vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học.     Tuy vậy, vào tháng Năm vừa qua, Tổng thống Vladimir Putin đã dùng một nghị định để mở rộng luật lệ này, áp dụng cho bất cứ ngành khoa học nào có thể sử dụng để phát triển “các sản phẩm mới” được định nghĩa một cách mơ hồ. Sửa đổi này chỉ là một phần trong động thái trấn áp rộng hơn, bao gồm việc tuyên bố rằng thương vong của các binh sĩ trong thời bình sẽ được giữ bí mật, xuất phát từ những cáo buộc rằng binh sĩ Nga đang tham gia vào các cuộc xung đột ở Ukraine.    Kể từ đó, bắt đầu có tin đồn rằng các đại học và viện nghiên cứu của Nga đang yêu cầu các bản thảo phải được phê duyệt trước khi gửi đi các tạp chí để tuân thủ theo sửa đổi mới. Biên bản cuộc họp tại Viện Belozersky đã khẳng định tin đồn đó: “Cần được nhắc nhở rằng pháp luật hiện hành bắt buộc các nhà khoa học phải xin phê duyệt trước khi công bố bất cứ một bài báo, thuyết trình hay áp-phích hội thảo nào.” Họ cũng lưu ý rằng luật lệ này áp dụng cho bất cứ xuất bản hay hội thảo trong hoặc ngoài nước và đối với tất cả cán bộ viện mà không có ngoại lệ. Vladimir Skulachev, Giám đốc Viện Belozersky, đã không trả lời câu hỏi của tạp chí Nature về việc áp dụng sửa đổi này sẽ ảnh hưởng ra sao đến nghiên cứu trong Viện.     Nhà địa lý Viacheslav Shuper thuộc Học viện Khoa học Nga và MSU cho biết, các nhà khoa học sẽ phải xin phê duyệt từ Phòng Nhất (First Department – một nhánh của Cơ quan An ninh Liên bang tại tất cả các trường và viện nghiện cứu của Nga) của trường mình. Ông cho biết, các nhà địa lý ở MSU đã nhận được chỉ thị tương tự.    Shuper và các học giả khác nói rằng các nhà nghiên cứu khắp nước Nga đang than phiền về việc luật mới, bắt đầu được áp dụng tại các viện nghiên cứu của họ. Nhiều nhà khoa học Nga không dám lên tiếng công khai nhưng bên trong rất không hài lòng về sự đi xuống của nền tự do học thuật. Shuper cho rằng để các công chức quyết định xem một nghiên cứu khoa học có phải là bí mật quốc gia không sẽ không chỉ gây căng thẳng mà còn rất phiền toái. Ví dụ, tại một số viện, các nhà khoa học viết bài báo bằng tiếng Anh cho các tạp chí nước ngoài sẽ bị yêu cầu phải dịch toàn bộ sang tiếng Nga để trình cơ quan an ninh.     Nhà sinh học người Nga Fyodor Kondrashov đang làm việc tại Trung tâm Điều hòa Gene tại Barcelona cũng cho rằng sửa đổi mới ảnh hưởng tiêu cực tới khoa học. Luật lệ này khiến mọi kết quả nghiên cứu khoa học có vẻ như đều có thể phân loại được, bởi vậy sẽ tạo ra một môi trường nghiên cứu không lành mạnh khi một số nhà khoa học không muốn chia sẻ thông tin nghiên cứu của mình nữa, ví dụ không muốn thuyết trình tại các hội thảo ở nước ngoài. Kondrashov còn lo ngại rằng chính quyền sẽ áp dụng luật này một cách có chọn lọc nhằm vào những người hay chỉ trích họ.    Trong khi đó, Sergey Salikhov, Giám đốc Ban KH&CN của Bộ Khoa học Nga, trả lời tờ Nature rằng, Chính phủ không có ý định dùng sửa đổi này để hạn chế công bố nghiên cứu cơ bản. Chính phủ không bắt buộc các trường đại học hay các cơ quan an ninh phải chủ động thực thi quy định mới đối với các nghiên cứu dân sự.     Nhưng luật sửa đổi này lại được giải thích bởi các cơ quan an ninh và các nhà quản lý khoa học, những người có xu hướng quá sốt sắng, nhà tin sinh học Gelfand nói. Về cơ bản, bất cứ kết quả nghiên cứu nào mới và có khả năng ứng dụng đều có nguy cơ bị liệt vào bí mật quốc gia, theo nhà sinh học phân tử Konstantin Severinov ở Viện nghiên cứu KH&CN Skolkovo.    Gelfand cho biết ông sẽ không tuân thủ quy định mới và hy vọng nhiều đồng nghiệp cũng làm như vậy.     Các nhà khoa học cũng cho rằng quy định mới đang đi ngược lại những nỗ lực của chính phủ nhằm đẩy mạnh quốc tế hóa nền khoa học Nga. Chính phủ đang hướng tới mục tiêu đưa năm trường đại học của mình vào top 100 đại học hàng đầu thế giới vào năm 2020 và thu hút các nhà khoa học nước ngoài hàng đầu về Nga.     Khánh Minh dịch    Nguồn:  http://www.nature.com/news/russian-secret-service-to-vet-research-papers-1.18602?WT.mc_id=FBK_NatureNews      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nga: Phá trại trồng cây giống để xây biệt thự      Các nhà nghiên cứu thực vật Nga đã sưu tầm trong 84 năm qua các giống cây ăn quả trên khắp thế giới và trồng tại một trạm giống ở St.Petersburg. Nơi đây đã hình thành một trong những ngân hàng gien cây ăn quả lớn nhất thế giới. Vậy mà ngày nay người ta dự kiến san bằng di sản quý báu này để lấy đất xây biệt thự.    Một kế hoạch bị cả thế giới phản đối   Các nhà nghiên cứu về cây trồng, chủ yếu ở Mỹ và châu Âu, đã gửi thư, thư điện tử yêu cầu chính quyền Kremlin hãy cứu bộ sưu tập quý giá có một không hai này. Cary Fowler, giám đốc Global Crop Diversity Trust, nói “sẽ là một thảm họa nếu xe ủi san bằng nơi này, cơ quan của ông vốn được Tổ chức Nông nghiệp Liên hiệp quốc thành lập để bảo vệ đa dạng sinh học. Mỗi cây ở đây đều có những đặc điểm di truyền riêng: Loại có sức chịu rét rất cao, loại có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và loại cho sản phẩm có hương vị rất đặc trưng.”  Fowler và các đồng nghiệp cho rằng một bộ sưu tập gien quý giá như thế này đến một lúc nào đó có thể ngăn cản không để xảy ra một cuộc khủng hoảng với cây ăn quả. Hiện nay phần lớn các nhà trồng vườn chỉ tập trung trồng một vài loại cây ăn quả, từ đó hình thành những loại cây trồng độc canh rất mẫn cảm.   Điều gì sẽ diễn ra khi xuất hiện một loại bệnh hại mới phá hủy gần như hoàn toàn các diện tích trồng táo hiện có hay khi những cây anh đào không chịu đựng nổi sự biến đổi khí hậu? Khi đó từ những cây trồng ở trạm nghiên cứu Pavlovsk có loại gien đặc biệt nào đó thích hợp để lai tạo ra giống mới có sức đề kháng cao hơn và phù hợp tốt hơn đối với điều kiện ngoại cảnh. Pavlovsk là một thư viện của cuộc sống với những tác phẩm độc nhất vô nhị đáp ứng các nhu cầu xuất phát từ thực tế.  Với y học, bà Monika Höfer phụ trách về ngân hàng gien cây ăn quả thuộc Viện Julius-Kühn ở Dresden-Pillnitz (Đức) cho biết có thể vài ba chục năm sau chúng ta phát hiện một loại cây dâu ở trạm Pavlovsk chứa một chất gì đó có tác dụng phòng một loại bệnh nhất định. Không thể để mất cơ hội này chỉ vì mấy héc-ta đất xây dựng?    Lịch sử nhiều thế hệ  Nhà thực vật học Nga Nicolai Vavilov là người đầu tiên đề xuất ý tưởng sưu tầm và trồng một cách có hệ thống cây dại và cây trồng trên khắp thế giới. Ngày nay ông được coi là cha đẻ của các ngân hàng gien hiện đại. Ngay từ những năm 20 thế kỷ trước, khi nhà nước Liên Xô còn rất non trẻ, ông đã tổ chức các chuyến đi nghiên cứu để sưu tầm hạt và chồi cây ở khắp mọi miền đất nước và tiến hành sưu tầm cả ở nước ngoài.   Nhiều thế hệ các nhà khoa học Nga đã kế tục sự nghiệp của ông. Hiện nay Viện Nghiên cứu quốc gia về cây trồng mang tên Vavilov ở St.Petersburg có trên 300.000 loại hạt giống khác nhau trên khắp thế giới. Mỗi loại hạt được cất giữ trong túi bằng aluminium ghi đầy đủ các dữ liệu cần thiết xếp trên giá bảo quản trong kho lạnh âm 17 độ C. Đối với những loại cây không thể bảo quản ở dạng hạt, Viện có 11 trạm thí nghiệm, trạm Pavlovsk là một trong số đó. Chính ông Vavilov năm 1926 đã trồng một trong những cây đầu tiên tại trạm này.          Trạm thực nghiệm Pavlovsk ở khoảng 30 dặm về phía nam St.Petersburg.  Trạm này có ngân hàng gien lâu năm nhất thế giới với gần 6.000 loại cây,  chủ yếu là cây ăn quả độc nhất vô nhị trên thế giới. Những loại cây  hiện có ở đây không có ở các ngân hàng gien khác thậm chí một số cũng  không còn xuất hiện trên địa bàn hoang dã. Trạm hiện có 986 giống dâu  tây của 50 nước, một số có quả to gần bằng trái bóng bàn.           Trong chiến tranh thế giới II khi phát xít Đức bao vây thành phố Leningrad, nay mang tên St.Petersburg, thì Vavilov và các đồng nghiệp của ông với sự trợ giúp của Hồng quân Liên xô đã kịp thời vận chuyển phần lớn bộ sưu tập sống này vào tầng hầm của Viện nghiên cứu.   Giữa mùa đông rét buốt năm 1941/42 để bảo vệ những cây khoai tây quý hiếm các nhà nghiên cứu Liên Xô đã tìm mọi cách để những cây này không bị chết cóng. Họ phải đốt tất cả những gì có thể đốt được như: hồ sơ cũ, khung ảnh, sách vở, để sưởi ấm cho cây. Để tránh không cho người bị đói ăn trộm khoai tây các nhà khoa học phân nhau canh gác 24/24, mỗi phiên gác có hai người để giám sát lẫn nhau. Theo lịch sử của Viện thì đã có cán bộ làm việc ở Viện bị chết đói nhưng giống khoai tây vẫn được bảo vệ an toàn.  Không phải chỉ nước Nga mà nhiều nước khác được hưởng lợi nhờ sự hy sinh quả cảm của các nhà khoa học Nga. Trong những năm 80 có một loại sâu hại tàn phá trên diện rộng diện tích trồng đậu tương ở Mỹ. Các nhà khoa học Mỹ ra sức tìm kiếm loại đậu tương có khả năng chống chịu loại ký sinh trùng này từ kho lưu trữ hạt giống tại Mỹ nhưng vô vọng. Hồi đó là thời kỳ chiến tranh lạnh, các nhà khoa học Nga đã tìm thấy một giống đậu tương có khả năng chống lại sâu hại trên trong kho lạnh của mình và đã hỗ trợ các đồng nghiệp Hoa kỳ.  Các nhà khoa học Nga, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, hết sức quan tâm, chăm sóc bảo vệ trạm lưu trữ các loại cây giống như các bậc cha anh họ đã từng làm.   Nghề trồng vườn và chính trị  Từ tầng tư của Viện Vavilov ở St.Petersburg nhà khoa học Sergej Alexanian phối hợp sự ủng hộ của quốc tế chống lại mưu đồ bán đứng khuôn viên trạm Pavlovsk. Alexanian rất thích hợp để đảm đương nhiệm vụ này. Từ nhiều chục năm nay ông đã đóng góp công sức để duy trì và phát triển mối quan hệ giữa Viện của mình với các nhà nghiên cứu nước ngoài. Trên bàn làm việc của ông có nhiều lá cờ nhỏ cắm trong một bình hoa, bên cạnh là bản sao luận án tiến sỹ của ông với chủ đề “mối tương quan giữa đa dạng sinh học với toàn cầu hóa”. Ông thường giới thiệu với khách về luận văn của mình: “Cái nghề trồng vườn này dính líu đến nền chính trị thế giới nhiều hơn người ta tưởng”.  Sau lễ giáng sinh năm 2009 có thông báo chính thức về việc nội trong 3 tháng Viện phải trao khu thí nghiệm 91 ha cho Quỹ nhà đất. Lúc đầu nhiều người nghĩ đây là một sự nhầm lẫn! 84 năm liên tục Viện được cấp ngân sách nhà nước để duy trì, chăm sóc bộ lưu trữ có một không hai này. Vậy tại sao bỗng nhiên chính phủ lại đang tay đập phá tất cả?  Hoàn toàn không có một sự nhầm lẫn, ngộ nhận nào cả. Các nhà lãnh đạo ở Matxcơva trên cơ sở đạo luật liên bang số 161 năm 2006 phải xem xét đất do Nhà nước quản lý có được sử dụng “hiệu quả” hay không. Trong khi các chuyên gia về cây trồng cho rằng bộ sưu tập Vavilov là vô giá thì các quan chức ở Matxcơva lại quan niệm những gì mà không tính được thành tiền thì đều vô giá trị.   Alexanian nhận xét “hoàn toàn không thể tin nổi. Hẳn không có ai lại có ý tưởng đóng cửa vườn bách thảo để xây dựng ở đó một nhà để xe vì như thế hiệu quả kinh tế lớn hơn. Đây chính là khoảnh đất trồng nhiều giống cây ăn quả của chúng tôi nhất. Mà người ta không thể đóng gói chúng vào thùng hay chuyển đi trồng ở nơi khác. Nếu chỉ bảo quản một nhúm hạt trong buồng lạnh cũng không giải quyết được vấn đề.”  Lý do khá đơn giản: nếu người nông dân trồng táo muốn tái sản xuất một loại táo nhất định nào đó thì không thể dùng hạt táo cùng loại vãi ra cánh đồng. Vì táo là loại cây thụ phấn chéo, có nghĩa là hoa của cây này thụ phấn hoa của cây khác từ đó tiếp nhận luôn nguồn gien lạ. Người nông dân cắt chồi của cây giống rồi ghép vào thân cây táo khác được dùng làm nền. Một cây táo giống hoàn chỉnh sẽ mọc lên từ cái chồi ghép này và giữ nguyên vẹn gien của cây mẹ.   Ở trạm Pavlovsk để bảo đảm an toàn các nhà nghiên cứu thường trồng mỗi loại ba, bốn cây phòng có cây bị chết hoặc bị hỏng còn có thể cắt chồi của cây khác để cấy ghép tạo cây mới. Về lý thuyết viện có thể chuyển những cây này trồng ở nơi khác theo cách trên, nhưng thực tế Viện phải tìm được một diện tích thích hợp hy vọng tất cả số cây này sẽ phát triển tốt đẹp ở vùng đất mới. Nhưng do tiểu khí hậu và đất đai khác nhau nên khó có thể bảo đảm toàn bộ cây cối sẽ phát triển tốt đẹp, vả lại việc này phải tiến hành từng bước, khi chuyển xong toàn bộ bộ sưu tập cũng phải mất 15 năm.  Tạm thời thoát hiểm  Viện Vavilov đã nêu các lý do trên khi khiếu kiện trước tòa án về lệnh dỡ bỏ vườn cây, nhưng không có kết quả. Cuối tháng 8-2010 tòa án Mátcơva đã có phán quyết thiên về Quỹ nhà đất, việc bán đấu giá cánh đồng của trạm Pavlovsk và biến chúng thành đất xây dựng là hoàn toàn hợp pháp. Phán quyết của tòa án Matxcơva đã bị không những các nhà khọc Nga mà cả giới khoa học quốc tế phản đối. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã gửi thư tới tổng thống Nga Dmitri Medvedev và thủ tướng Vladimir Putin. Hàng trăm điện phản đối đã được gửi tới điện Kremlanh. Chương trình lương thực thế giới của Liên hiệp quốc cũng gửi điện bầy tỏ sự đồng tình, ủng hộ các nhà khoa học Nga. Trên trang mạng xã hội đã hình thành một nhóm cổ động viên ủng hộ vườn táo và dâu tây của Trạm Pavlovsk.  Áp lực của dư luận đã có hiệu quả. Quỹ Nhà đất của Nga giờ đây không còn lớn tiếng đề cập đến vụ Pavlovsk. Tháng 9-2010 một phái đoàn chính thức của Matxcơva gồm đại diện của Cơ quan Kiểm toán và Nghị viện Nga khoác áo mưa, đi ủng lội bộ trong vườn cây để ngó ngàng nhưng lại không tiếp xúc trao đổi với các nhà khoa học làm việc tại đây.   Dự kiến bán đấu giá 19 ha đất đầu tiên của trạm đã bị đình chỉ vô thời hạn. Cơ quan Kiểm toán đã thành lập một ủy ban và trong tháng 10 và 11-2010, ủy ban này sẽ nghiên cứu sâu hơn về vườn cây ở trạm Pavlovsk. Các nhà nghiên cứu ở Viện Vavilov cũng như những người ủng hộ họ rất vui mừng khi được tin tổng thống Dmitri Medvedev quan tâm đến vụ này và đã ra chỉ thị “nghiên cứu kỹ vấn đề này”.   Nhà khoa học Cary Fowler cho rằng, đây là một dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên cần phải tiếp tục duy trì áp lực để vô hiệu hóa phán quyết của tòa án.                                            Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngại nói thẳng và né tranh luận      Hiện nay, những yếu kém ở các hội đồng xét duyệt đề cương và thẩm định đề tài được cho là làm hạn chế đáng kể chất lượng nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội (KHXH). Để tìm nguyên nhân của tình trạng này, phóng viên Tia Sáng đã phỏng vấn PGS.TS. Vương Xuân Tình (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).      PV: Lâu nay trong giới khoa học đã có không ít ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân chính khiến nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH còn hạn chế là do chất lượng của các hội đồng phê duyệt, thẩm định. Ông có đồng tình với ý kiến đó?  PGS.TS Vương Xuân Tình: Có thể nói rằng các quy định hiện nay về việc lựa chọn thành viên hội đồng từ xét duyệt đề cương tới thẩm định chất lượng đề tài là khá chặt chẽ. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều khi các quy định này không được tuân thủ dẫn tới việc không đảm bảo chất lượng các hội đồng.  Điều này có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, số lượng chuyên gia thực sự ở mỗi ngành trong KHXH hiện nay quá ít, và họ cũng rất bận nên nhiều khi không thể tham gia các hội đồng của các cơ quan chủ trì nghiên cứu. Khi đó, cơ quan chủ trì sẽ chọn các thành viên khác có chất lượng thấp hơn. Như vậy, việc chọn chuyên gia cho Hội đồng cũng chỉ mang tính tương đối, khó có thể chặt chẽ.  Về chủ quan, hiện nay có tâm lý chung, không chỉ của các chủ nhiệm đề tài mà thậm chí cả cơ quan chủ trì nghiên cứu là thường muốn đề tài được nhận xét tốt, nghiệm thu một cách suôn sẻ. Ít ai muốn một đề tài bị phê phán nhiều và xét “không đạt”, để rồi cả chủ nhiệm đề tài và cơ quan chủ trì đều bị “mang tiếng”. Người ta rất sợ “mang tiếng” và nhìn chung là ngại sự có mặt của những chuyên gia “gai góc” trong hội đồng xét duyệt đề tài của mình/cơ quan mình.  Ngoài nguyên nhân chủ quan đó, tôi được biết không ít các hội đồng có tình trạng nhiều thành viên được mời từ các chuyên ngành quá xa với đề tài được thẩm định, ví dụ: nhà khoa học lịch sử, kinh tế đánh giá một đề tài nhân học hoặc xã hội học.   Thành phần các chuyên gia từ nhiều chuyên ngành khác nhau còn tuỳ thuộc vào tính chất của đề tài nghiên cứu. Những hội đồng thẩm định kế hoạch, dự án hoặc đề tài có tính chất liên ngành thì cần chuyên gia liên ngành. Tuy nhiên, với các hội đồng đánh giá đề tài có tính chuyên môn sâu, sự có mặt của nhà khoa học có “vị trí” nhưng không có chuyên môn về lĩnh vực đó sẽ không thể mang lại đánh giá xác đáng.   Ví dụ như trường hợp Quỹ Nafosted, chỉ cần căn cứ vào từng đề tài cụ thể cần thẩm định để yêu cầu thành lập hội đồng một cách linh hoạt chứ không nên yêu cầu chỉ những người có trong danh sách các Hội đồng khoa học của Quỹ mới được thẩm định đề tài. Những người không có chuyên môn sâu sẽ không thể đưa lại đánh giá chuẩn xác. Ở những đề tài mà chuyên gia trong hội đồng của Nafosted không có kinh nghiệm, nên tư vấn cho Quỹ tìm thêm chuyên gia chuyên ngành hẹp đó để nhận xét đề tài.  Bên cạnh đó, một số cơ quan chủ trì nghiên cứu còn có xu hướng chọn vào hội đồng những người có “chức sắc” như Viện trưởng, Phó Viện trưởng do tâm lý muốn “oai”, và cảm thấy không được “đảm bảo” nếu trong hội đồng chỉ toàn những chuyên gia dù có chuyên môn sâu nhưng không có “chức sắc” gì. Nhưng khi người ta thiên về chọn những người có “chức sắc” như thế thì những chuyên gia thực sự lại ít được mời.   Còn có một thực tế là, các hội đồng KHXH chủ yếu chỉ có những “cây đa cây đề” mà vắng mặt các nhà khoa học trẻ có chuyên môn trong các hội đồng KHXH?   Điều này là có. Hiện nay chuyên gia trong nước được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, gồm: trong nước, từ các nước Liên Xô – Đông Âu (cũ), và một số mới đào tạo từ phương Tây về. Trong số này, nhiều chuyên gia từ phương Tây về vẫn được coi là “trẻ, ít kinh nghiệm”, còn ít được mời vào các hội đồng. Trong khi đó, nhiều người được mời lại là các nhà khoa học đã có tuổi (khoảng 60 – 70), có người hạn chế về ngoại ngữ và tin học, dẫn tới việc khó có khả năng cập nhật thông tin khoa học trong và ngoài nước.  Các hội đồng khoa học nên bổ sung đội ngũ các nhà khoa học trẻ được đào tạo từ phương Tây, kết hợp với các chuyên gia nhiều kinh nghiệm (xin nhấn mạnh lần nữa là những chuyên gia thật sự). Cần có sự kết hợp này vì các nhà nghiên cứu trẻ được đào tạo bài bản ở phương Tây về sẽ có tri thức, lý thuyết tốt nhưng do phần lớn thời gian tu nghiệp nước ngoài nên khi mới trở về phải có điều kiện hội nhập để có nhiều trải nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế ở trong nước.  Như vậy, ai là người phải chịu trách nhiệm về chất lượng các hội đồng khoa học nói chung và các hội đồng KHXH nói riêng?  Các cơ quan chủ trì đề tài, mà trước hết người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về chất lượng đề tài và chất lượng các hội đồng vì chính cơ quan đó mời chuyên gia để thành lập hội đồng. Bên cạnh đó, bản thân chuyên gia được mời cũng phải có trách nhiệm đề cao tinh thần nghiêm túc như một yếu tố sống còn của danh dự trong khoa học.  Xin lấy ví dụ, cách đây năm năm, lãnh đạo Viện Hàn lâm KHXH Viện Nam đã có một quyết tâm cao trong đổi mới môi trường học thuật bằng cách đề ra quy định mời nhiều nhà khoa học ngoài Viện vào các hội đồng đánh giá, đồng thời sẽ không mời những thành viên nào nhận xét “ba phải” tiếp tục vào các hội đồng sau. Tuy nhiên, quyết tâm của người đứng đầu cơ quan quản lý khoa học sẽ khó có tác dụng lớn nếu không có thêm sự nỗ lực từ chính các nhà khoa học. Điều này liên quan đến tâm lý, văn hoá khoa học mà tôi vừa nhắc đến ở trên: họ không dám nói thẳng nói thật, ngại tranh luận, phê phán đánh đổ các đề tài khoa học yếu kém của đồng nghiệp. Lâu quá rồi thành trì trệ. Rồi cứ nể nang nhau mãi…  Vậy theo ông, để khắc phục những tồn tại trên cần có những giải pháp chủ yếu nào?  Về tổ chức hội đồng, phải có chế tài đảm bảo tuân thủ chặt chẽ tất cả các quy định hiện hành. Đồng thời, từ kinh nghiệm của quốc tế, nên bổ sung thêm một số yêu cầu sau:  Thứ nhất là phản biện độc lập. Cách làm này giống với peer review của các tạp chí quốc tế. Mỗi đề tài khoa học cần phải có ít nhất hai ý kiến phản biện độc lập từ hai chuyên gia có chuyên môn sâu. Nếu chưa làm được ở tất cả các đề tài khoa học, trước hết nên ưu tiên thực hiện ở các đề tài cấp Nhà nước rồi tiến tới cấp Bộ.  Thứ hai là yêu cầu tất cả các đề tài phải có hội thảo để trình bày kết quả nghiên cứu đồng thời đăng online toàn văn (trừ những nghiên cứu được cho là bí mật quốc gia). Đồng thời công khai cả danh sách các thành viên hội đồng cùng với tóm tắt danh mục các công trình khoa học (bao nhiêu nghiên cứu, công bố trong nước và quốc tế, bao nhiêu lượt trích dẫn) có liên quan tới đề tài họ thẩm định.  Việc công bố công khai các nghiên cứu khoa học còn đem lại một “chất men xúc tác” cho các nhà nghiên cứu, những người có quan tâm chuyên môn khác khi cùng đọc, thảo luận về những đề tài có giá trị. Tranh luận đó sẽ trở thành kích thích tố cho các nhà nghiên cứu khác tiếp tục làm nghiên cứu phản biện hoặc kế thừa; đồng thời cũng góp phần khắc phục tình trạng hàng trăm, hàng nghìn đề tài xếp ngăn kéo như hiện nay và người ta không hề biết các nhà khoa học đó đã sử dụng đồng thuế của dân vào việc gì cả.  Xin chân thành cảm ơn ông!        Phải nói thẳng là hiện  đang có rất nhiều kiến nghị vô thưởng vô phạt, chung chung, kém giá trị  và không thể áp dụng được. Vì những kiến nghị ấy xuất phát từ các nghiên  cứu chất lượng không tốt, nhà nghiên cứu đã không áp dụng triệt để cả  về lý thuyết, phương pháp, công cụ và không dành tâm huyết trong quá  trình triển khai nghiên cứu.              Nhưng ngược lại, đối với các kiến nghị  có giá trị, rất tâm huyết, tôi cũng đặt câu hỏi liệu các cơ quan quản lý  khoa học có đủ năng lực tổng hợp, khái quát, chắt lọc và tiếp thu kiến  nghị hay không? Họ bắt buộc phải là “chuyên gia của chuyên gia” để hiểu  được giá trị của các kiến nghị tâm huyết và biết rằng làm sao để sử dụng  được các kiến nghị này. Thông thường hiện nay kiến nghị rất ít khi lên  được tới cơ quan quản lý nhà nước và nếu có thì việc tiếp thu, xem xét  giải quyết cũng rất chậm.                                                                  PGS.TS Vương Xuân Tình          Thu Quỳnh thực hiện        Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngăn chặn nạn chảy máu chất xám: Xây dựng hệ sinh thái quốc gia hỗ trợ nghiên cứu      Chuyên gia R&D và đổi mới sáng tạo Anita Tregner Mlinaric cho rằng việc tăng mức lương mới chỉ là một phần trong câu trả lời cho vấn đề làm thế nào để thu hút các nhà nghiên cứu trở về đất nước, góp phần ngăn chặn nạn chảy máu chất xám ở các quốc gia nghèo châu Âu. Muốn giải quyết vấn đề này, các chính phủ cần đầu tư xây dựng và thúc đẩy các hệ sinh thái quốc gia phát triển.      Phòng thí nghiệm Quang lượng tử tại đại học Nova Gorica, một trong những trường đại học hàng đầu của Slovenia có được nhiều kết nối với các đối tác châu Âu. Nguồn: Đại học Nova Gorica.  Thông thường, các nhà nghiên cứu muốn cộng đồng trong nước công nhận những công việc mà họ đã thực hiện ở nước ngoài, đặc biệt là khi họ đạt được nhiều kết quả xuất sắc. Và khi trở về, họ muốn có được đầu tư của chính phủ ở cùng mức độ như họ nhận được ở nước ngoài để có thể tiếp tục nghiên cứu.  Với kinh nghiệm làm việc khắp châu Âu, đặc biệt với các quốc gia mới gia nhập liên minh châu Âu, Anita Tregner Mlinaric cho rằng, sự chênh lệch trong lương bổng giữa khi làm việc ở nước ngoài và trong nước cho các nhà nghiên cứu mới chỉ là một phần trong cả một vấn đề lớn hơn. Mặc dù quyết định rời quê hương để theo đuổi các mục tiêu nghề nghiệp của mình, đặc biệt là trong giai đoạn đầu sự nghiệp, nhưng hầu như các nhà nghiên cứu đều muốn trở lại đất nước mình. Những gì ngăn cản họ trở về không chỉ là mức lương thấp mà còn là sự bất bình đẳng tồn tại trong hệ thống nghiên cứu quốc gia và các hệ thống đổi mới sáng tạo, yếu tố khiến hệ sinh thái hỗ trợ nghiên cứu không phát triển.  Khi đề cập đến hệ sinh thái,  Anita Tregner Mlinaric không chỉ muốn nhắc đến cơ sở hạ tầng như các phòng thí nghiệm, trang thiết bị và các cơ sở nghiên cứu mà còn muốn ám chỉ tới các dịch vụ hỗ trợ các nhà nghiên cứu thực hiện công việc và cho phép họ đạt được những kết quả như khả năng họ có. Điều này còn rất thiếu ở 13 quốc gia Đông và Trung Âu.   Trong Liên minh châu Âu, thông qua chương trình “Những cải cách trong nghiên cứu ở viện nghiên cứu và các hệ thống đổi mới sáng tạo” (MIRRIS) do EU đầu tư, các nhà quản lý phát hiện ra là nhiều viện nghiên cứu trong 13 quốc gia thành viên này hoàn toàn không biết là mình có thể sử dụng kinh phí từ Quỹ Phát triển vùng châu Âu, để đầu tư không chỉ cho thiết bị và cơ sở nghiên cứu mà còn xây dựng năng lực và phát triển kỹ năng mềm – những yếu tố thiết yếu để hoàn thiện thành công các cơ sở nghiên cứu.       Việc các trường đại học và viện nghiên cứu có nhiều đối tác và nhiều kinh phí hỗ trợ có thể dẫn đến những hệ quả như phát triển các cơ sở hạ tầng nghiên cứu, kết hợp xây dựng năng lực quản lý và các kỹ năng mềm.      Ở các quốc gia này, nhiều viện nghiên cứu còn không có một chiến lược phát triển và các cấu trúc quản trị để nhận được kinh phí tài trợ của EU. Về khía cạnh thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, các trường viện ở 13 quốc gia Đông và Trung Âu cũng chưa đánh giá cao giá trị của việc marketing. Các vấn đề, như việc sử dụng các kết quả nghiên cứu và khai thác tài sản trí tuệ, vốn là yếu tố trọng tâm trong nhiều cuộc thảo luận ở các cường quốc EU, lại khó có thể triển khai ở 13 quốc gia Đông và Trung Âu. Tuy vậy, trong bức tranh tổng thể này cũng tồn tại một vài điểm sáng, đó là những công cụ và dịch vụ hỗ trợ như vậy cũng bắt đầu xuất hiện tại đây. Do đó, các tổ chức nghiên cứu cần phải tận dụng và ưu tiên phát triển chúng.   Để có thể góp phần làm tăng cường hình ảnh và sự hiện diện trong mắt các đồng nghiệp Tây Âu, ví dụ như cử đại diện tới dự các sự kiện có liên quan đến những dự án của EU, của các viện nghiên cứu Trung và Đông Âu cần tham gia vào các tổ chức, hiệp hội châu Âu cũng như các liên minh để tăng cơ hội góp mặt tại các dự án do EU tài trợ với tư cách là một thành viên của các tổ chức đó hoặc thậm chí là thực hiện một công đoạn nhỏ trong một dự án do một thành viên khác chủ trì. Khi không tham gia các tổ chức như Liên minh các trường đại học nghiên cứu châu Âu (LERU), Mạng lưới trao đổi thông tin về R&D (IGLO), Hiệp hội Nghiên cứu và công nghệ châu Âu (EARTO)…, họ có thể mất đi rất nhiều cơ hội hỗ trợ và tài trợ quý báu từ EU cũng như sự ủng hộ của các viện nghiên cứu EU. Đây là một điều thiệt thòi bởi nó cũng đồng nghĩa với việc tiếng nói của cộng đồng nghiên cứu Trung và Đông Âu sẽ bị bỏ qua mỗi khi các kế hoạch về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của EU được thiết lập.  Đó là nỗ lực mà mỗi đơn vị nghiên cứu có thể tự thực hiện được. Tuy nhiên, nhìn chung những biện pháp này chỉ thực sự có kết quả khi nó là một phần trong một chiến lược phát triển tổng thể và lâu dài của các viện nghiên cứu. Và quan trọng không kém là họ có đủ ngân sách do chính phủ tài trợ để sẵn sàng có vốn đối ứng thực hiện dự án (hầu hết các dự án do EU tài trợ đều đòi hỏi đơn vị thực hiện có kinh phí đối ứng).   Có một sự thật là ở nhiều quốc gia Đông và Trung Âu, không phải lúc nào các viện nghiên cứu cũng được chính phủ ủng hộ, thậm chí việc đầu tư ngân sách để tăng cường vai trò của các viện này cũng khó thuộc số các ưu tiên phát triển ở tầm quốc gia. Sự thiếu hụt những cam kết hỗ trợ nghiên cứu từ chính phủ có thể tác động tiêu cực đến hệ sinh thái khoa học, trong đó có các viện nghiên cứu. Liên minh châu Âu, dẫu có hào phóng trong các sáng kiến tài trợ nâng cao năng lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở các quốc gia thành viên, không phải là cây đũa thần để giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề như thế.   Trong những trường hợp như thế này, có một điều rõ ràng là sự chuyển hướng trong tầm nhìn của một chính phủ theo hướng đầu tư lâu dài cho nghiên cứu cần diễn ra trước khi cải thiện hệ sinh thái nghiên cứu. Sau đó, các viện nghiên cứu cần trở nên năng động hơn và bắt đầu trở thành thành viên của các tổ chức, hiệp hội châu Âu, qua đó được xét tham gia vào những dự án, sáng kiến nghiên cứu châu Âu. Đây là cách làm vừa cải thiện năng lực nghiên cứu ở tầm châu Âu, vừa mở rộng mạng lưới hợp tác của mình. Về lâu dài, việc có nhiều đối tác và nhiều kinh phí hỗ trợ có thể dẫn đến những hệ quả như phát triển các cơ sở hạ tầng nghiên cứu, kết hợp xây dựng năng lực quản lý và các kỹ năng mềm. Một ví dụ điển hình là Slovenia đã có mặt trong hầu hết các sáng kiến nghiên cứu của EU và điều đó dẫn đến việc các trường đại học hàng đầu Slovenia được coi là đối tác của nhiều trường đại học lớn của châu Âu.  Khi các bước này được thiết lập, Anita Tregner Mlinaric cho rằng, một hệ sinh thái nghiên cứu lành mạnh sẽ xuất hiện, góp phần tạo ra một môi trường thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển một cách đồng thời, vốn là những yếu tố quan trọng để các nhà nghiên cứu có thể tạo ra những sản phẩm nghiên cứu chất lượng cao.   Và chỉ khi đó, các nhà nghiên cứu tài năng và nhiều ước mơ sẽ nhận được những cơ hội quý để tự do theo đuổi sự nghiệp khoa học ở ngay trên quê hương mình.□  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://sciencebusiness.net/framework-programmes/viewpoint/its-not-only-better-salaries-prevent-researchers-newer-member-states    Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành Cơ học với Nafosted      So với các lĩnh vực Toán hay Lý, thì NCCB ngành Cơ học có lẽ khác nhiều hơn ở sự thay đổi bước ngoặt kể từ khi có chính sách mới của Nafosted.     Từ ngay đợt đầu, 80% số đề tài NCCB cũ bị  loại, trong khi 50% số đề tài mới là của các TS trẻ lần đầu tiên được  chủ trì đề tài nhờ quy định công bố quốc tế của Quỹ. Các TS trẻ, chủ yếu  từ nước ngoài về, đang đóng vai trò trọng yếu trong NCCB và hình thành  nền Cơ học mới hướng tới hội nhập.     Năm đầu tiên ngành Cơ có hơn hai chục đề tài đăng ký, hai năm sau mỗi năm có 12-15 đề tài đăng ký, và năm 2012 con số đề tài đăng ký đã tăng vọt lên con số 36. Tôi chưa được  xem xét cụ thể số đề tài đăng ký mới này cũng như các cá nhân cụ thể, nhưng đây rõ ràng là tín hiệu đáng mừng cho con đường Quỹ đã chọn và cho ngành Cơ học. Đầu tiên các đề tài chủ yếu tập chung ở Viện Cơ học.            Ngành Cơ học – một trong 7 lĩnh vực NCCB ở  VN – nghiên cứu các tương tác và chuyển động (khả năng chịu lực, vận  hành) của các kết cấu rắn, môi trường lỏng và khí, và nó  bao quát khá  rộng các lĩnh vực kỹ thuật, chứ không tách riêng biệt như Toán hay Vật  lý. Vì vậy để phù hợp hơn với các cách diễn đạt quốc tế, và có sức thu  hút hơn đối với các đồng nghiệp rộng rãi trong nước trong lĩnh vực liên  quan đến cơ học, chúng ta nên xem xét đổi tên “Cơ học” thành “Cơ học Kỹ  thuật” (“Engineering Mechanics”) hay rộng hơn nữa là “Cơ học và Kỹ  thuật” (“Engineering and Mechanics”), tức là Kỹ thuật liên quan chủ yếu  tới Cơ học (như Mechanical Engineering, Civil Engineering,…).        Khác với các ngành Toán hay Vật lý, nơi trọng tâm NCCB vẫn tập trung ở các Viện Toán và Vật lý, là những nơi có truyền thống về NCCB, thì ở ngành Cơ học trọng tâm NCCB đã chuyển từ Viện Cơ (trước đây chiếm tới 50%, nay chỉ còn 1/3-1/4) sang các Đại học ĐHBK HN và ĐHBK TP.HCM, rồi đang lan tới các cơ sở khác ĐHXD, ĐHKHTN TP.HCM, ĐHGT, ĐHCN TP.HCM, ĐHKT HN, ĐHNL TP.HCM, HVKTQS, … với ưu thế từ lực lượng TS trẻ từ nước ngoài trở về. Điều đó cũng phản ánh thực tế đa dạng của ngành Cơ học.  Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các đề tài ngành Cơ học vẫn là cơ học vật thể và kết cấu rắn (các kết cấu chịu lực như nhà, máy móc, cầu cống, đường xá, xe cộ, hầm mỏ, vật liệu tổ hợp,… đều là vật thể rắn). Quốc tế cũng là như vậy, tuy nhiên hướng cơ học chất lỏng ở ta lại yếu bất thường, dù nó liên quan tới nhiều lĩnh vực quan trọng như thủy lợi, khí tượng thủy văn, vận hành máy, đóng tàu, hàng không…. Tuy vậy về lĩnh vực liên quan là cơ học tính toán thì đang hình thành một nhóm trẻ mạnh ở TP. HCM. Điều đáng mừng là tính đa dạng trong ngành cơ học đang được mở rộng, với những đề tài mới gần với ứng dụng, kỹ thuật cơ khí, thực nghiệm từ các TS trẻ được đào tạo ở nước ngoài.  Số công bố quốc tế ngành Engineering của VN theo thống kê ISI không ít hơn nhiều so với ngành  Toán, nhưng số đề tài hiện ít hơn hẳn – điều đó thể hiện số công bố của ngành Cơ chủ yến nằm trong số TS, NCS trẻ đang ở nước ngoài, và một số mới trở về các cơ sở trong nước nhưng chưa quan tâm hay thậm chí chưa biết tới Nafosted. Một phần là ở nhiều ĐH, Viện, trung tâm nghiên cứu ứng dụng người ta có các đề tài và nguồn kinh phí còn hấp dẫn hơn và ở đó cũng không có truyền thống làm NCCB. Trong các đề tài ngành cơ học tuyệt nhiên không có đề tài nào từ các viện kỹ thuật chuyên ngành thuộc các Bộ như Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, Viện KTGT VT, Viện KTXD, Viện Thủy lợi, … dù ở đó họ cũng có những TS trẻ được đào tạo ở nước ngoài trở về.   Ngành Cơ học VN trước đây công bố ít nhưng chủ yếu là bài SCI, nhưng nay đang tăng mạnh tỷ lệ bài SCI E, chưa kể bài ISI hội nghị – thể hiện xu hướng tìm mọi cách đạt các tiêu chuẩn hình thức của Quỹ. Rõ ràng chất lượng các tạp chí khác nhau nhiều, mà trước tiên là giữa các tạp chí SCI và SCI E. Thêm nữa còn có những bài ISI hội nghị và các bài nộp tiền để đăng mà trong nhiều trường hợp có chất lượng rất thấp. Vai trò tác giả chính cũng rất khác vai trò tác giả phụ trong nhiều bài báo. Cũng còn có xu hướng lợi dụng, mua để có tên trong bài người khác, giống như  mua bài và luận án TS, TSKH ở Liên Xô thời lộn xộn những năm 90. Quỹ cần có những chính sách thích hợp để khuyến khích chất lượng và làm thực, tránh bị lừa bởi hình thức số lượng và tác giả ma, điều quan trọng ở đây phải có được các Hội đồng ngành có năng lực và công tâm để giúp cho Quỹ trong công tác đánh giá đó. Quỹ và các Hội đồng ngành cần khuyến khích các cá nhân cung cấp được thông tin cụ thể để giúp đánh giá và xử lý các gian lận khoa học một cách công bằng.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngành đo lường cần được đầu tư đi trước một bước      Năm trong số 11 lĩnh vực chuẩn đo lường của Việt Nam được công nhận trên toàn cầu là một thành công đáng khích lệ, nhưng Viện Đo lường không thể dừng lại mà cần tiếp tục nâng cao năng lực đo lường nhằm đáp ứng những đòi hỏi từ thực tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.     Sự công nhận toàn cầu đối với năm chuẩn được đề cập trên đây, bao gồm độ dài, khối lượng, thời gian – tần số, áp suất, và dung tích lưu lượng, có nghĩa là một đơn vị của mỗi chuẩn này tại Viện Đo lường có giá trị bằng một đơn vị của chuẩn tương đương tại những viện đo lường hàng đầu trên thế giới. Để đạt được kết quả này là cả một quá trình phấn đấu lâu dài, trong đó đáng kể nhất là chuẩn dung tích lưu lượng, một chuẩn khó mà ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chỉ có 4 quốc gia đạt được là Nhật, Úc, Hàn Quốc, và Việt Nam, theo lời TS. Vũ Khánh Xuân, Viện trưởng Viện Đo lường Việt Nam. Đây là một thành tích ấn tượng của Viện Đo lường Việt Nam – cơ quan có nhiệm vụ thiết lập, duy trì, bảo quản, và dẫn xuất toàn bộ hệ thống chuẩn quốc gia – trong điều kiện cơ sở vật chất và mức đầu tư của Nhà nước dành cho viện còn rất khiêm tốn so với quốc tế.   Vai trò của hạ tầng kỹ thuật đo lường  Tất cả 11 lĩnh vực chuẩn đo lường của Việt Nam hiện đều đang đặt tại Viện Đo lường Việt Nam và được dẫn xuất tới các chi Cục Đo lường tại các địa phương cùng hệ thống các phòng thí nghiệm đo lường trên khắp cả nước. Những doanh nghiệp muốn chứng minh năng lực đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật cho sản phẩm của mình đều phải thể hiện khả năng đo lường đối chiếu với các quy chuẩn này. Năng lực đó chỉ có thể được chứng nhận bởi các cơ quan chức năng về đo lường, và Viện Đo lường Việt Nam là cơ quan có tiếng nói tối hậu, có khả năng chứng thực về năng lực đo lường cho các doanh nghiệp cũng như các cơ quan chức năng về đo lường khác.           Nhà nước cần có một tầm nhìn mang tính chiến  lược toàn diện về vai trò của ngành đo lường, nhằm tìm hiểu giá trị và  sự cần thiết của chuẩn đo lường đối với từng giai đoạn phát triển của  các ngành nghề cụ thể, gắn với đặc thù phát triển của Việt Nam, từ đó  xác định ra những lĩnh vực và những sản phẩm đòi hỏi phát triển chuẩn đo  lường một cách cấp bách nhất, từ đó chỉ ra những nhiệm vụ thật cụ thể  cho ngành đo lường.          Đây chính là hạ tầng kỹ thuật đo lường của Việt Nam, có vai trò như một hệ quy chiếu giúp hiệu chuẩn cho toàn bộ các phương tiện đo lường, là cơ sở để đảm bảo tính chính xác cho các thiết bị, máy móc tại tất cả các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ và các cơ sở sản xuất. Nếu thiếu đi hạ tầng kỹ thuật này, mọi sản phẩm hàng hóa sẽ không có cơ sở để đảm bảo chất lượng, tính an toàn, và độ chính xác của các thông số kỹ thuật; các nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ không có căn cứ để đảm bảo tính xác thực của dữ liệu cũng như kết quả tính toán. Như vậy, các ngành kinh tế và nền khoa học công nghệ của đất nước sẽ không thể phát triển, nhiều sản phẩm sẽ không vượt qua được rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu, hoặc sẽ phải nhờ tới dịch vụ đo lường nước ngoài với chi phí tốn kém mà kết quả dù đúng hay sai thì chúng ta vẫn phải chấp nhận.  Ví dụ như trong ngành điện, trước đây khi Việt Nam từng phải nhập điện từ Trung Quốc, do chúng ta thiếu chuẩn để đo lường nên hoàn toàn không nắm được mình đã nhập khẩu bao nhiêu mà phải hoàn toàn phó thác vào con số cung cấp từ phía Trung Quốc. Tương tự như vậy, trong ngành dầu khí, trước đây chúng ta không thể đo được dung tích hầm chứa các con tàu chở dầu, thường phải nhờ tới dịch vụ đo lường của Úc với chi phí đắt đỏ. May mắn là trong cả hai trường hợp này, Viện Đo lường cuối cùng đều đưa ra được phép đo thành công mà nước ngoài phải thừa nhận, nhờ đó giúp tiết kiệm hao phí, bảo vệ được lợi ích của quốc gia.    Không chỉ giúp tiết kiệm chi phí và bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng trong nước, hạ tầng kỹ thuật đo lường của quốc gia còn giúp giảm chi phí hiệu chuẩn cho các cơ sở sản xuất nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa, và là yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. “Các nhà đầu tư nước ngoài trước khi đầu tư vào Việt Nam đều đến tiếp xúc làm việc với Viện Đo lường Việt Nam”, TS. Vũ Khánh Xuân cho biết. Điều họ muốn kiểm tra là năng lực và các phòng thí nghiệm của Viện, và tìm hiểu liệu Viện có thể hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn đo cho họ hay không. Nếu Viện không đáp ứng được thì các máy móc, thiết bị của những cơ sở sản xuất này sẽ phải được đưa ra nước ngoài hiệu chuẩn, và chi phí chắc chắn sẽ không nhỏ cho nhà đầu tư nước ngoài.   Cần một nhận thức đầy đủ và tầm nhìn chiến lược  Lâu nay, chúng ta chưa có một nghiên cứu nào thống kê và đánh giá một cách tương đối những tiết kiệm về chi phí và lợi ích mà chuẩn đo lường đem lại cho các ngành công nghiệp, và có thể coi đây là một thiếu sót. Lẽ ra Nhà nước cần có một tầm nhìn mang tính chiến lược toàn diện về vai trò của ngành đo lường, nhằm tìm hiểu giá trị và sự cần thiết của chuẩn đo lường đối với từng giai đoạn phát triển của các ngành nghề cụ thể, gắn với đặc thù phát triển của Việt Nam, từ đó xác định ra những lĩnh vực và những sản phẩm đòi hỏi phát triển chuẩn đo lường một cách cấp bách nhất, từ đó chỉ ra những nhiệm cụ thể cho ngành đo lường.           Khi một chuẩn đo lường nào đó của Viện Đo  lường vẫn chưa được quốc tế công nhận thì mọi chuẩn đo lường của các cơ  quan, tổ chức, và doanh nghiệp, có nguồn gốc dẫn xuất từ chuẩn nguồn đó  cũng sẽ không được công nhận.        Về vấn đề này, hiện nay Viện đã và đang chủ động xây dựng Quy hoạch Hệ thống Chuẩn Quốc gia đến năm 2020, đồng thời vẫn đang tiếp tục nỗ lực tự phát triển và hoàn thiện năng lực, thông qua các chương trình hợp tác quốc tế, ví dụ như hợp tác với các viện đo lường của Hàn Quốc và Thái Lan. Mong muốn của Viện là tiếp tục nghiên cứu và phát triển mở rộng danh sách các chuẩn đo lường quốc gia được thế giới công nhận. Đây có thể coi là mục tiêu mang tầm ý nghĩa chiến lược cho quốc gia, vì khi một chuẩn đo lường quốc gia vẫn chưa được quốc tế công nhận thì mọi chuẩn đo lường của các cơ quan, tổ chức, và doanh nghiệp, có nguồn gốc dẫn xuất từ chuẩn nguồn đó cũng sẽ không được công nhận.  Để Viện có thể cải thiện năng lực đo lường theo kịp nhu cầu phát triển của đất nước, sự quan tâm đầu tư của Nhà nước là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu của người dân về các quy chuẩn chất lượng sản phẩm ngày càng cao, điển hình là những sản phẩm liên quan tới sự an toàn và sức khỏe con người như các mặt hàng xăng dầu hay các sản phầm và thiết bị y tế. “Một vài năm trước dư luận xã hội từng lo ngại về tình trạng loạn chuẩn kính mắt, khi mà mỗi chiếc kính lại theo một chuẩn đo lường riêng của nhà sản xuất, trong khi trong nước vẫn chưa có các thiết bị hiệu chuẩn quang học đáng tin cậy”, mà nguyên nhân chính là sự thiếu đầu tư của Nhà nước. Phải đến khi Viện được sự đầu tư của Nhà nước để mua những trang thiết bị cần thiết trong lĩnh vực đo lường quang học sau một thời gian vận động và thuyết phục kiên trì, thì vấn đề này mới được giải quyết, TS. Vũ Khánh Xuân chia sẻ.   Nhìn chung, trên thị trường hiện nay vẫn còn rất nhiều những thiết bị, sản phẩm khác mà chất lượng chưa đảm bảo, hoặc không được thẩm định rõ ràng, có nguy cơ gây thiệt hại quyền lợi hoặc mất an toàn cho người dân. “Đơn cử như những chiếc máy đo huyết áp mà trên thị trường vẫn bày bán rất nhiều, người tiêu dùng vẫn thường xuyên mua về và sử dụng nhằm theo dõi sức khỏe của bản thân, thế nhưng không ai dám chắc về độ chuẩn xác của những thiết bị này”.                 Một vài  năm trước dư luận xã hội từng lo ngại về tình trạng loạn chuẩn kính mắt,  khi mà mỗi chiếc kính lại theo một chuẩn đo lường riêng của nhà sản  xuất, trong khi trong nước vẫn chưa có các thiết bị hiệu chuẩn quang học  đáng tin cậy.         Để giải quyết thực trạng trên đây, yếu tố quan trọng nhất theo TS. Vũ Khánh Xuân chính là nhận thức đầy đủ và đúng đắn của các nhà quản lý về tầm quan trọng của hệ thống chuẩn đo lường, thấy rằng việc xây dựng và triển khai ứng dụng các chuẩn đo lường chính là nền tảng để bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi người dân, và luôn cần “đi trước một bước nhằm đáp ứng sự phát triển của các ngành kinh tế – xã hội”. Ngoài ra, ông cho rằng các nhà quản lý cũng cần xây dựng những chế tài đủ sức răn đe – ví dụ như chế tài đối với các cá nhân, tổ chức gian dối trong kinh doanh và sản xuất thực phẩm, gây tổn hại tới sự an toàn và sức khỏe của người dân – vì có như vậy thì các đối tượng liên quan thực hiện đúng theo những quy chuẩn chất lượng đã được quy định, và nhờ đó các chuẩn đo lường mới phát huy được đầy dủ hiệu quả của chúng trong thực tiễn đời sống.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Ngày KH&CN Việt Nam: Nhà khoa học phải giữ vai trò trung tâm      Bên cạnh những thành công, có thể thấy các hoạt  động trong khuôn khổ Ngày KH&amp;CN vẫn còn một số mặt hạn chế như thiên  về nghi lễ, mang nặng tính chỉ đạo hành chính giữa cấp trên với cấp  dưới, và vai trò tham gia của các nhà khoa học còn mờ nhạt.    Thực tế cho thấy một số sự kiện của Ngày KH&CN Việt Nam đã được tổ chức khá thành công, như việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trang trọng bày tỏ sự tri ân đóng góp của giới khoa học trong Lễ công bố Ngày KH&CN Việt Nam; hay việc Bộ KH&CN tổ chức thành công lễ trao giải thưởng Tạ Quang Bửu – một giải thưởng có uy tín được xét duyệt bởi một hội đồng bao gồm những nhà khoa học có tên tuổi trong nước và quốc tế – đã có ý nghĩa động viên, khích lệ đáng kể cho các nhà khoa học trong một số lĩnh vực khoa học tự nhiên cơ bản. Bên cạnh đó, việc thực hiện mục tiêu tăng cường kết nối với công chúng cũng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, với việc một số phòng thí nghiệm và tổ chức KH&CN thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam mở cửa đón công chúng trong bốn ngày liên tiếp thu hút được một lượng người tham quan nhất định, đặc biệt Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam khai trương trong dịp này đã tiếp đón tới hàng nghìn lượt người.   Tuy nhiên, ngoài những thành công trên, có thể thấy các hoạt động trong khuôn khổ Ngày KH&CN vẫn còn một số mặt hạn chế như thiên về nghi lễ, mang nặng tính chỉ đạo hành chính giữa cấp trên với cấp dưới, và vai trò tham gia của các nhà khoa học còn mờ nhạt. Điều đó thể hiện rõ nhất qua thực tế là phần đông khách mời trong Lễ công bố Ngày KH&CN Việt Nam là các nhà lãnh đạo quản lý, thiếu vắng không ít nhà khoa học, chuyên gia – những nhân vật chính của cộng đồng KH&CN.    Số lượng các phòng thí nghiệm mở cửa đón công chúng không nhiều, đa số các hoạt động giao lưu diễn ra khá đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn, chỉ thu hút được những đối tượng công chúng đặc thù đã sẵn có sự quan tâm và am hiểu nhất định (ví dụ sinh viên đến tìm hiểu phòng thí nghiệm trong ngành học của mình để tìm hiểu về tổ chức hoạt động và các cơ hội việc làm). Nguyên nhân là bởi đa số các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu không được thông báo từ sớm về việc tổ chức các sự kiện giao lưu với công chúng nên có rất ít thời gian để chuẩn bị, hoặc có nơi đã lên ý tưởng sẵn sàng nhưng lại không được hướng dẫn đầy đủ về quy trình thực hiện, sự tương tác liên lạc giữa nhà tổ chức và các đơn vị thực hiện bị những rào cản hành chính quan liêu làm cho đứt đoạn, phân tán, v.v.   Để Ngày KH&CN Việt Nam của những năm sau có hiệu quả cao hơn, điều tiên quyết là phải thực sự đặt nhà khoa học vào vai trò trung tâm của ngày hội dành cho họ. Thay vì các cơ quan quản lý chỉ đạo các nhiệm vụ từ trên xuống thông qua những tầng nấc hành chính trung gian thông thường, phải tạo điều kiện để các cá nhân và tổ chức KH&CN được trình bày, trao đổi trực tiếp với các đơn vị phụ trách tổ chức Ngày KH&CN (thuộc Bộ KH&CN hoặc các Sở KH&CN) về những ý tưởng, kế hoạch tổ chức các hoạt động cụ thể của cá nhân, tổ chức mình trong Ngày KH&CN, để được xét duyệt dựa trên một số tiêu chí cơ bản như tính phù hợp với chủ đề của năm, hiệu quả tuyên truyền ra xã hội, hay tính an toàn của sự kiện. Các hoạt động được phê duyệt sẽ được phép sử dụng logo của Ngày KH&CN và được cấp một nguồn kinh phí giới hạn nếu cần thiết – kinh nghiệm quốc tế cho thấy ngay cả ở các nước đã phát triển, nguồn kinh phí Nhà nước dành cho các hoạt động của ngày KH&CN là rất ít, mặc dù vậy họ vẫn tổ chức được những sự kiện đủ sức lôi cuốn đối với công chúng.  Với cách làm như vậy, các nhà khoa học sẽ được phát huy tối đa sức sáng tạo trong điều kiện cho phép, qua đó tổ chức được nhiều sự kiện phong phú, đa dạng, theo cách thức mà họ thấy thích hợp nhất, hiệu quả nhất, thực hiện tốt mục tiêu chính của Ngày KH&CN Việt Nam.         Tia Sáng    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghệ thuật gây lãng phí      Đầu năm nay, trong hai bài báo của mình trên Tia Sáng, tôi đã bình luận về quyết định 171-QĐ/TTg về Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phê duyệt ngày 27/01/2016. Nội dung quyết định nêu rõ: có quá nhiều viện khoa học công nghệ (KHCN); có sự trùng lặp và chồng chéo về chức năng nhiệm vụ; một số viện hoạt động không hiệu quả; việc đánh giá và quản lý nguồn nhân lực không thỏa đáng; trình độ khoa học và công nghệ thấp so với chuẩn quốc tế và khu vực. Do đó, cần khắc phục tất cả các sai sót, tái cơ cấu và tổ chức lại lĩnh vực KHCN để nâng cao hiệu quả hoạt động. Quyết định 171 thực sự là một nhát roi làm ta thức tỉnh, kích thích sự thay đổi phong cách mà ngành KH&CN thực sự cần.  Bài viết thứ ba này của tôi đề cập đến một số giải pháp để tránh lãng phí nguồn lực phân bổ cho KH&CN.      Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Enzym và Protein. Ảnh: Thế Hải.   Trong bài báo thứ nhất, tôi đã cảnh báo rằng việc diễn giải không đúng nội dung Quyết định 171 có thể dẫn tới việc một số lãnh đạo tổ chức KHCN từ bỏ trách nhiệm của mình; đặc biệt, tôi cho rằng họ nên thực hiện nhiều cuộc điều tra, khảo sát với sự giúp đỡ của các hội đồng quốc tế. Những hội đồng này phải gồm các thành viên có uy tín lớn và tuyệt đối liêm chính, ví dụ mỗi lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, khoa học xã hội, công nghệ và kỹ thuật nên có một hội đồng. Nếu không có những đánh giá trung lập, khách quan mang tính chuyên môn về tình hình hiện tại thì khó có cơ sở để đổi mới, cải thiện tình hình. KHCN cần một cộng đồng các nhà khoa học có trách nhiệm, quan tâm sâu sắc đến tương lai của giáo dục, đào tạo và nghiên cứu trong nước.  Trong bài báo thứ hai, tôi nhận xét rằng sẽ là điều vô cùng đáng trách nếu những người chịu trách nhiệm về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, vì phải đối mặt với quá nhiều khó khăn, mà chối bỏ trách nhiệm [thúc đẩy sự phát triển KHCN] và quyền hạn của mình cho khu vực tư nhân. Ngược lại, không còn gì quý hơn nếu họ có thể tận dụng tốt nhất mọi tiềm năng để tạo nên sự đổi mới cần thiết, một trong những tiềm năng đó là thế hệ trẻ, đối tượng mà chúng ta phải khuyến khích nói lên suy nghĩ của mình; chúng ta nên nhận thức rằng tương lai của đất nước sẽ nằm trong tay họ. Nguyên nhân của trình độ KH&CN thấp so với quốc tế và khu vực hiện nay rất sâu xa; đặc biệt, do thiếu trung thành với những nguyên tắc cơ bản của đạo đức khoa học: nghiêm cẩn về tri thức và đạo đức, minh bạch, chuyên nghiệp, cần cù, vì khoa học và cộng đồng chứ không vì cá nhân. Một lần nữa, để vượt qua những khó khăn này, tôi cho rằng chúng ta phải thay đổi phong cách.      Quyết định 171 đem lại cho chúng ta một cơ hội thay đổi phong cách; chúng ta không nên bỏ lỡ nó. Bỏ lỡ cơ hội này sẽ rất tai hại cho KHCN, nó cho thấy rằng chúng ta không thể nhận ra điểm yếu của chính mình để có thể đưa ra hành động đúng; nó sẽ làm cho khoa học mất đi uy tín với chính phủ và nhân dân.      Thay đổi phong cách tối quan trọng, tương lai của khoa học Việt Nam phụ thuộc vào điều đó, chính vì vậy mà tôi muốn viết bài báo thứ ba về chủ đề này. Chẳng mấy mà đã đã gần ba năm kể từ khi Quyết định 171 được ban hành và tôi sợ rằng chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội sử dụng nó như một động lực để nhận ra những khó khăn, thất bại mà có hành động tích cực với quyết tâm cần thiết. Chủ đề tôi muốn bàn đến lần này liên quan đến tầm quan trọng của việc tránh lãng phí nguồn lực phân bổ cho KHCN. Nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, chủ yếu dựa vào tiền thuế của dân. Điều này có nghĩa là các nguồn lực về tài chính và con người phải được kiểm soát một cách chặt chẽ. Có nhiều hình thức lãng phí nguồn lực cần phải tránh. Thiếu sự kiểm soát cần thiết, KHCN sẽ phải chịu những lời chỉ trích từ người nộp thuế, những người sẽ không chấp nhận tiếp tục hỗ trợ. Những bình luận này của tôi dựa trên kinh nghiệm khi tham gia những hội đồng đánh giá nghiên cứu ở một số nước phương Tây.  1. Người phụ trách  Cho sự thành công của một dự án, điều kiện tiên quyết là phải có một người phụ trách. Người đó không phải là một đại diện chính quyền, một quản trị viên, hay một ủy ban nào đó; mà đó phải là một người có năng lực, quyết đoán, toàn tâm toàn ý, dành toàn bộ thời gian và công sức cho dự án; một người được đồng nghiệp coi trọng, người không sợ khó khăn cho cuộc sống của mình khi phải đấu tranh không mệt mỏi của lãnh đạo cấp cao hơn để có được sự hỗ trợ và nguồn lực cần thiết đảm bảo cho thành công của dự án hay chương trình. Thiếu người như vậy sẽ dẫn đến lãng phí; điều xảy ra sẽ là: nguồn lực, cả về tài chính và con người, phân bổ cho dự án sẽ rơi vào tay nhiều người không thực sự có trách nhiệm với dự án mà chỉ là những người lợi dụng cơ hội để thu lợi cho cá nhân. Tôi nhớ, Pháp đã rất thành công trong lĩnh vực hạt nhân dưới sự lãnh đạo của Frederic Joliot và với ngành vũ trụ dưới sự lãnh đạo của Hubertt Curien; nhiều ví dụ tương tự tồn tại ở nhiều quốc gia và cần được học hỏi.  2. Nhà khoa học đòi hỏi thiết bị, không phải thiết bị đòi hỏi nhà khoa học  Một cách rất hiệu quả khác làm lãng phí tài nguyên là ra quyết định từ trên xuống mua thiết bị đắt tiền mà không hỏi tư vấn của cấp cơ sở, không đảm bảo rằng đó là nhu cầu thực sự của cộng đồng người dùng tiềm năng. Quyết định này thường xuất phát từ một ai đó có năng lực kém. Các nhà khoa học phải đấu tranh để có được những thiết bị cần thiết cho nghiên cứu của mình. Do vậy, việc mua một thiết bị mới phải được quyết định từ dưới lên [từ cấp thấp đến cấp cao hơn]. Nếu không, thiết bị sẽ có nguy cơ ít thậm chí không được sử dụng; hoặc tệ hơn, người ta sẽ sáng tạo ra những đề tài, dự án xấu để biện minh cho lý do mua thiết bị với những cơ quan không đủ năng lực thẩm tra.  3. Làm việc cùng nhau, chia sẻ thiết bị bất cứ khi nào có thể  Như đề cập trong Quyết định 171, một căn bệnh trong nghiên cứu khoa học, là sự trùng lặp chức năng, nhiệm vụ. Điều này tinh tế hơn nhiều so với hai điểm đề cập bên trên vì ranh giới giữa cạnh tranh lành mạnh và trùng lặp lãng phí là mờ nhạt và thường khó xác định. Hơn nữa, việc này rất khó giải quyết vì những người liên quan thường không nhận ra sự không lành mạnh này và khi bị đẩy vào tình huống đó họ lập luận rằng mình đang làm đúng trong khi người khác làm sai. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi những đánh giá của cơ quan trung lập, có thẩm quyền. Khi hai viện được xác định có cùng chức năng, ít nhất, cơ sở vật chất, trang thiết của hai viện phải được chia sẻ; hai viện phải đảm bảo thu được những kỹ năng và kinh nghiệm ở những lĩnh vực khác nhau, bổ trợ lẫn nhau. Nếu không đảm bảo được việc này sẽ dẫn đến lãng phí tiền bạc, và tệ hơn, nguồn nhân lực; nó tạo ra bầu không khí không lành mạnh và thiếu động lực, đặc biệt đối với các cán bộ trẻ.    Máy móc tại PTN trọng điểm  nghiên cứu vật liệu Polyme và Compozit thuộc Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Polyme, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội hiện đã xuống cấp. Ảnh: La Duy/QĐND.  4. Lập kế hoạch dự án một cách thực tế, dự trù kinh phí cho việc vận hành và bảo trì; một khi dự án được phê duyệt phải bám vào nó  Cách thứ tư, thật không may là khá phổ biến, rất hiệu quả để lãng phí tiền bạc là khi lập dự án, người đề xuất chủ ý giảm thiểu chi phí với hy vọng tăng cơ hội được phê duyệt. Thực tế điều này thường xảy ra. Người ta có xu hướng bỏ qua tính toán chi phí vận hành và bảo trì, vốn rất quan trọng đối với một thiết bị. Kết quả là, khi dự án được phê duyệt, nó đã được quản lý không đúng cách ngay từ đầu [không dự trù việc bảo trì, bảo dưỡng], đồng nghĩa với việc lãng phí lớn về nguồn lực. Dự án sẽ bị chậm trễ do thiếu kinh phí hoạt động. Ngoài những mất mát trực tiếp, nó còn làm giảm động lực của đội ngũ nhân viên, tạo nên một bầu không khí ngờ vực đối với cái tâm của nhà quản lý trong việc lập kế hoạch. Ngược lại, các cơ quan chức năng phải có nghĩa vụ tuân thủ kế hoạch đề ra khi dự án đã được phê duyệt. Không làm như vậy là vô trách nhiệm và tai hại. Đôi khi ta vẫn nghe được trường hợp dự án đã được phê duyệt đang hoạt động tốt bỗng nhiên bị gián đoạn vì nguồn lực cam kết không được tiếp tục phân bổ; đây là sự quản lý chưa tốt từ phía chính phủ, gây tổn hại vượt ra ngoài những tổn hại trực tiếp về tài chính vì sự chậm trễ kèm theo của dự án.  5. Theo dõi các nhà khoa học trẻ đang được đào tạo ở nước ngoài  Một điểm yếu phổ biến của các nước đang phát triển là đánh giá thấp trách nhiệm với sinh viên gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Việc này làm gia tăng nạn chảy máu chất xám, giảm động lực thế hệ trẻ, một sự lãng phí lớn không chỉ về tài chính mà tệ hơn là lãng phí đầu tư vào trí tuệ của thế hệ trẻ. Việc gửi một sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài phải đi kèm với trách nhiệm và cam kết: phải đảm bảo những gì sinh viên đó học sẽ hữu ích cho đất nước; đảm bảo cung cấp đầy đủ cơ hội việc làm cho sinh viên khi họ trở về; đảm bảo việc sử dụng hiệu quả những kỹ năng mà họ học được ở nước ngoài; thường xuyên liên lạc theo sát sự tiến bộ của sinh viên trong thời gian học tập ở nước ngoài. Không làm như vậy là cố ý lãng phí tài nguyên tri thức của đất nước và đáng lên án.  6. Đánh giá sử dụng tài chính và nhân lực một cách minh bạch và chặt chẽ  Một điểm quan trọng trong quản lý khoa học là sự minh bạch. Các nhà khoa học phải hiểu và được thuyết phục đầy đủ về tính hợp lý của những quyết định các cấp quản lý đã đề ra, để thực hiện chúng, và phải được tạo cơ hội để có thể nói lên tiếng nói của mình. Đây là vấn đề đạo đức vô cùng quan trọng đối với sự lành mạnh và thành công của cộng đồng khoa học. Khoa học cần các nhà khoa học quan tâm đến sự tôn trọng các giá trị vốn có của nó: nghiêm cẩn về tri thức và đạo đức, minh bạch trong các quyết định, tránh xa tham nhũng, chủ nghĩa thân quen, đạo văn và gian lận. Không tuân thủ các quy tắc đạo đức này rất tai hại; nó làm xói mòn lòng tin của các nhà khoa học vào quản lý, làm mất động lực và khiến họ không còn quan tâm đến việc cải thiện tình hình hiện tại. Sự lãng phí các nguồn lực mà nó gây ra, mặc dù là gián tiếp, khó định lượng chính xác nhưng là khổng lồ: nó cản trở sự phát triển và ngăn cản đất nước đi lên thoát khỏi tình trạng kém phát triển.  ***  Tôi liệt kê trên đây sáu cách tránh lãng phí tài nguyên phổ biến. Người đọc có thể đánh giá mức độ có thể áp dụng của chúng thế nào ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi được áp dụng, nó phải được thực hiện với quyết tâm cao nhất. □  Phạm Ngọc Điệp dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nghị định 115: Bốn khó khăn, vướng mắc      Sau 10 năm triển khai, đến nay Nghị định 115 vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra: còn 154 tổ chức vẫn chưa được phê duyệt đề án tự chủ; việc phê duyệt chuyển đổi ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, đối phó, thậm chí mọi hoạt động của viện đã được phê duyệt chuyển đổi vẫn hoạt động như cũ, trước hết là do sự thiếu quyết liệt và nghiêm túc trong chỉ đạo thực hiện của nhiều Bộ, ngành, địa phương.&#160;&#160;&#160;     Bên cạnh đó, quá trình thực hiện Nghị định 115 còn gặp những vướng mắc chủ yếu sau:  1. Chậm ban hành văn bản hướng dẫntừ một đến bốn năm  Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 chậm từ một cho tới bốn năm so với yêu cầu. Chẳng hạn, Nghị định 96 (bổ sung Nghị định 115) được ban hành năm 2010 nhưng đến năm 2011 mới có hướng dẫn tại Thông tư 36/2011/TTLT/BKHCN-BTC-BNV và phải bốn năm sau là 2014 mới có Thông tư số 121/2014/TTLT/ BTC-BKHCN hướng dẫn xây dựng, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên đối với các tổ chức KH&CN công lập.  Đến nay, vẫn chưa có hướng dẫn tổ chức KH&CN về định mức và phương thức cấp tiền lương, tiền công, tiền chi hoạt động bộ máy trong kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cũng như hướng dẫn góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động KH&CN, hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thế chấp, vay vốn ngân hàng theo quy định tại Nghị định 115.  Văn bản hướng dẫn về các định mức tài chính khi thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước của tổ chức KHC&N công lập quy định tại Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT/BTC- BKHCN ngày 7/5/2007 của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ đã lạc hậu với thực tiễn hiện nay, nhưng vẫn chưa được điều chỉnh, thay thế, gây khó khăn cho các tổ chức KH&CN khi thực hiện nhiệm vụ KH&CN.  Văn bản quy định về các nội dung khoán chi khi thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN ngày 04/10/2006 của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ sau gần 10 năm áp dụng đã bộc lộ nhiều bất hợp lý nhưng chưa được sửa đổi kịp thời. Việc khoán kinh phí chỉ áp dụng được với các các khoản chi vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu đã có định mức kinh tế – kỹ thuật do các Bộ, ngành ban hành, còn không, phải chi theo thực tế với thủ tục hóa đơn, chứng từ rườm rà, phức tạp.  2. Thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật  Tổ chức KH&CN gặp khó khăn, vướng mắc còn do sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn của các quy định trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành:  – Nghị định 115 cho phép tổ chức KH&CN công lập được dùng quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết, sản xuất kinh doanh, thế chấp vay vốn ngân hàng. Nhưng trên thực tế không thực hiện được, bởi vì theo quy định của Luật Đất đai, các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.   – Các tổ chức KH&CN, kể cả tổ chức KH&CN chưa tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên trên thực tế không được quyền tự chủ về nhân lực theo Nghị định 115. Bởi vì, theo Luật Viên chức thì đơn vị sự nghiệp công lập không được giao quyền tự chủ về số người làm việc trong đơn vị, mà do Bộ Nội vụ phê duyệt vị trí việc làm. Điều này cản trở tính linh hoạt và quyền tự quyết của người đứng đầu tổ chức KH&CN trong việc xác định quy mô và bổ nhiệm nhân sự.  – Luật KH&CN năm 2013 đã cho phép bổ nhiệm, thuê đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức KH&CN là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài. Nhưng theo quy định tại Luật Cán bộ, Công chức thì người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập là công chức và phải là công dân Việt Nam. Điều này dẫn đến vướng mắc việc thu hút chuyên gia trình độ cao là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài để bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý của tổ chức KH&CN công lập.  – Nghị định 115 cho phép tổ chức KH&CN được quyền thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị trực thuộc. Tuy nhiên, các tổ chức mới chỉ được tự chủ trong việc thành lập, giải thể các đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân, đối với các đơn vị có tư cách pháp nhân, việc thành lập, giải thể vẫn thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan chủ quản là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.   3. Thiếu một số điều cụ thể  Nghị định 115 cơ bản đã đáp ứng yêu cầu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng năm qua cho thấy Nghị định 115 cũng bộc lộ một số tồn tại cần được nghiên cứu, điều chỉnh để cụ thể hóa hơn, bảo đảm tính khả thi cao hơn:  Quy định về quyền tự chủ đối với tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí và tổ chức KH&CN chưa tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên tại Nghị định 115 không có nhiều khác biệt đáng kể. Các tổ chức KH&CN đang được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng vẫn được trao quyền tự chủ như đối với tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí, gây sự bất bình đẳng giữa các tổ chức KH&CN.   Quy định bắt buộc tất cả các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN không thuộc diện được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán phải tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên tại một thời hạn nhất định (31/12/2009 tại Nghị định 115 và 31/12/2013 tại Nghị định 96) là chưa phù hợp với thực tiễn. Bởi vì, khả năng tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên của tổ chức KH&CN công lập phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như nguồn thu của tổ chức, năng lực nghiên cứu triển khai, trang thiết bị nghiên cứu, môi trường hoạt động…và chúng khác nhau ở mỗi tổ chức.            Tôi tin là với các cơ chế mới và trên  tinh thần của Nghị quyết TƯ lần thứ sáu về KH&CN sẽ có những người  làm khoa học “tâm huyết, trung thực và tận tụy”. Đó là những người xứng  đáng được giao quyền tự chủ. Nhưng tôi nói thật, tỉ lệ giữa những người  “tâm huyết, trung thực và tận tụy” trong những đồng nghiệp mà tôi gặp  hằng ngày là hơi ít. Vì vậy, trước hết, điều cần phải làm là làm thế nào  có rất đông hoặc đa số những người làm khoa học là những người tâm  huyết, trung thực và tận tụy. – GS. Nguyễn Văn Hiệu            Quy định tại Nghị định 115 áp dụng đối với mọi tổ chức KH&CN trong các ngành, lĩnh vực khác nhau là chưa phù hợp. Ngoài ra, hệ thống tổ chức KH&CN công lập rất đa dạng, chịu sự quản lý hành chính theo cơ chế quản lý của các cơ quan chủ quản khác nhau là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đại học, trường đại học, doanh nghiệp nhà nước,… nên việc áp dụng chung một quy định duy nhất tại Nghị định 115 sẽ gặp phải khó khăn trong thực tiễn. Ví dụ, các tổ chức KH&CN trực thuộc các trường đại học không được giao quyền tự chủ về tài sản cũng như về nhân lực do cán bộ khoa học đều là cán bộ giảng dạy, kiêm nhiệm công tác nghiên cứu khoa học. Còn các tổ chức KH&CN thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bị phụ thuộc nguồn kinh phí vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này.   – Tổ chức KH&CN công lập có thể có nhiều cấp trực thuộc (theo mô hình mẹ – con), trong khi đó Nghị định 115 áp dụng chung đối với cả tổ chức KH&CN mẹ và tổ chức KH&CN con, nên trong thực tế khi tổ chức KH&CN con chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 thì tổ chức KH&CN mẹ sẽ khó thực hiện được tự chủ vì không có nguồn thu do thường không trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, dịch vụ KH&CN mà chỉ làm nhiệm vụ trung gian, quản lý các đơn vị trực thuộc.  4. Hạn chế về tiềm lực của tổ chức KH&CN  Bên cạnh nhưng hạn chế khách quan về kinh phí hạn hẹp, các cán bộ nghiên cứu khoa học có mặt bằng trình độ thấp và các cán bộ giỏi đang bị mai một dần, đặc biệt là ở các sở khoa học địa phương, còn có những hạn chế đến từ chủ quan của các viện như:  Kết quả nghiên cứu của nhiều tổ chức KH&CN chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp. Số lượng kết quả nghiên cứu được thương mại hóa còn rất ít, vì vậy các tổ chức này không có nguồn thu hoặc nguồn thu rất hạn chế để có thể thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.  Khả năng tự trang trải kinh phí phụ thuộc vào nguồn thu của tổ chức KH&CN. Chỉ những tổ chức KH&CN có nhiều nguồn thu từ hoạt động KH&CN và có lợi nhuận ổn định thì mới thực hiện triệt để được cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; ngược lại, những tổ chức KH&CN có chức năng đặc thù, năng lực hạn chế, kết quả nghiên cứu không thể hoặc khó thương mại hóa, không có nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sẽ rất khó khăn nếu phải thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhất là tự chủ về tài chính. Những năm qua, các tổ chức này chưa chuyển đổi nhưng cũng không bị cơ quan chủ quản sáp nhập, giải thể theo quy định tại Nghị định 115 (cho đến nay, hầu như chưa có tổ chức KH&CN nào bị sáp nhập, giải thể do hoạt động yếu kém hoặc không thực hiện lộ trình tự chủ theo quy định của Nghị định 115).   (Trích báo cáo của Bộ KH&CN tại Hội nghị)       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghị định 115: Thiếu nhất quán giữa mục đích và phương tiện      Nghị định 115 là một câu chuyện dài về triết lý tổ chức và quản lý khoa học, mà ngay trong cộng đồng nghiên cứu của chúng ta vẫn chưa làm rõ được.    Từ khi ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 115) đến nay sắp được 10 năm. Song việc đi vào cuộc sống của Nghị định còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Như thế có thể xem là chậm.   Vấn đề là do đâu mà Nghị định 115 chậm đi vào cuộc sống, mặc dầu những ý tưởng về tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) là một ý tưởng hoàn toàn tốt đẹp.  Viện Chính sách và Quản lý thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đang được Bộ KH&CN giao nhiệm vụ nghiên cứu đánh giá việc thực hiện Nghị định 115 và đề xuất biện pháp để Nghị định 115 đi vào cuộc sống. Công việc nghiên cứu mới chỉ bắt đầu, và vì vậy, trong bài viết này tôi chỉ xin nêu một vài nhận định sơ bộ.  Vấn đề đặt trước Nghị định 115  Theo chúng tôi suy nghĩ, xu thế cải cách quản lý hiện nay có một đặc trưng cơ bản, là nhà nước muốn rút chân ra khỏi quyền độc tôn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng tương tự như vậy đối với hàng loạt hoạt động khác, trong đó có hoạt động KH&CN.  Với nghị quyết Đại hội VI (1986), các thành phần tư nhân đã tái xuất hiện trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học và giáo dục. Nhà nước không còn chiếm giữ vai trò độc tôn, nhưng vẫn nắm giữ vai trò “chủ đạo”. Cái lúng túng hiện nay là, thế nào là chủ đạo, chủ đạo đến đâu, … cả trong kinh tế và KH&CN. Người quan sát có thể thấy rất rõ, là nhà nước rất sợ “tuột tay”.   Với Nghị định 115, qua giải thích của những người có trách nhiệm, và trong chừng mực nhất định theo lời văn của Nghị định, chúng ta hiểu Nhà nước đang muốn các viện và các trường tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Nhưng thế nào là tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Cách hiểu giữa các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu, cũng như giữa các nhà nghiên cứu với nhau, vẫn đang còn những khoảng cách xa nhau nhiều lắm.  Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm ?  Cứ theo như cách giải thích trên các phương tiện truyền thông, thì việc đưa ra chính sách về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH&CN trên thực chất là đi vào quỹ đạo của một hệ thống KH&CN tự trị. Trong một số bài viết trên công luận, tôi đã mạnh dạn sử dụng khái niệm tự trị. Tôi muốn gọi sự vật bằng cái tên thật của nó: Tự trị là thuộc tính bản chất của khoa học (và cả giáo dục nữa).  Có nhiều nội dung phong phú về quyền tự trị, trong đó có những nội dung nghe tưởng rất quen tai, nhưng thật ra rất dị biệt với các thiết chế hiện hành. Tôi chỉ xin nêu hai điểm:  Đơn vị nghiên cứu và đào tạo tự vạch chương trình nghiên cứu và đào tạo cho mình và tự đi tìm kiếm các nguồn tài trợ, trong đó có nguồn tài trợ từ ngân sách nhà nước.  Đơn vị nghiên cứu và đào tạo ký các hợp đồng với các đối tác khác nhau, trong đó, có một đối tác là nhà nước. Đơn vị được tự quyền quyết định việc sử dụng nguồn thu theo hợp đồng.  Hai nội dung trên đây tưởng đơn giản, nhưng nếu làm được, thì đó là cuộc đổi đời vĩ đại cho nền khoa học nước ta.    Một tiểu phẫu thuật với Nghị định 115  Đúng ra phải làm một đại phẫu thuật. Nhưng điều đó không thể thực hiện trong khuôn khổ của một bài viết. Do vậy trong số 19 điều của Nghị định 115, tôi chỉ xin thử làm một phẫu thuật nhỏ xung quanh hai trong ba khoản của Điều 7. Hai khoản đó như sau:  Khoản 1a. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức khoa học và công nghệ.           Khoản 1a chứng tỏ, hệ thống KH&CN Việt Nam vẫn là mô hình của một nhà nước độc tôn LÀM khoa học, còn cộng đồng khoa học vẫn đóng vai trò của kẻ làm thuê cho nhà nước. Khoản này tự nó đã chỉ rõ: Các đơn vị nghiên cứu không có quyền tự chủ.  ————————–  Những người ít am hiểu nhất về quản lý khoa học, cũng  thừa biết, khi nước ta chưa thực sự có kinh tế thị trường, các doanh  nghiệp nhà nước vẫn được bà nhũ mẫu nhà nước “chăm bẵm”, thì nó cần gì  bươn chải để tìm đến những hợp đồng đổi mới công nghệ. Như vậy Khoản 2  cũng là bất khả thi trên thực tế.        Khoản 2. Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, bao gồm: thu từ phí và lệ phí theo quy định; thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu từ sự nghiệp khác (nếu có).  Giải phẫu Khoản 1a: Các tổ chức KH&CN chỉ là những kẻ làm thuê theo những nhiệm vụ nhà nước giao, nhà nước đặt hàng, nhà nước cho đấu thầu. Nhìn đề tài của các viện hiện nay, chúng ta chỉ thấy những đề tài, nhiệm vụ, chương trình nhận theo hợp đồng với nhà nước các cấp: đề tài nhà nước cấp cơ sở; đề tài nhà nước cấp Bộ và đề tài nhà nước cấp cao nhất. Tất tật là đề tài của nhà nước các cấp. Khoản 1a chứng tỏ, hệ thống KH&CN Việt Nam vẫn là mô hình của một nhà nước độc tôn LÀM khoa học, còn cộng đồng khoa học vẫn đóng vai trò của kẻ làm thuê cho nhà nước. Điều thú vị là, dù ý tưởng nghiên cứu là do cá nhân hoặc tập thể nghiên cứu đề xuất, nhưng cuối cùng, khi đã được duyệt thì đều trở thành đề tài của nhà nước các cấp, vẫn nhà nước nghiệm thu, không có đề tài nào chính thực là đề tài “cấp cá nhân” được nhà nước tài trợ. Khoản này tự nó đã chỉ rõ: Các đơn vị nghiên cứu không có quyền tự chủ.  Giải phẫu Khoản 2: Các tổ chức KH&CN được “thoải mái” tự chủ ký các hợp đồng với các doanh nghiệp ngoài thị trường. Nhưng trên thực tế, lấy đâu ra hợp đồng mà ký? Cả nước đã mở ra bao nhiêu “Chợ công nghệ”, nhưng thử hỏi đã có bao nhiêu hợp đồng thực sự là hợp đồng chuyển giao công nghệ? Từ đây, những người ít am hiểu nhất về quản lý khoa học, cũng thừa biết, khi nước ta chưa thực sự có kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước vẫn được bà nhũ mẫu nhà nước “chăm bẵm”, thì nó cần gì bươn chải để tìm đến những hợp đồng đổi mới công nghệ. Như vậy Khoản 2 cũng là bất khả thi trên thực tế.  Chẳng thế mà, trong cộng đồng khoa học đã có câu chuyện tiếu lâm: Qua một đêm, Thủ tướng tỉnh dậy giật mình thấy nước ta bỗng trở nên một cường quốc về nghiên cứu cơ bản. Cường quốc kiểu gì vậy? Thì ra một lô một lốc viện, có viện tới hàng ngàn con người, đã ra sức thuyết minh để mình thành “viện nghiên cứu cơ bản” để khỏi phải … tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115.  Vậy cần làm gì để Nghị định 115 đi vào cuộc sống?  Đây là câu chuyện dài về triết lý tổ chức và quản lý khoa học, mà ngay trong cộng đồng nghiên cứu của chúng ta vẫn chưa làm rõ được, là bản thân mình, cộng đồng nghiên cứu, cần có những QUYỀN gì, mà vẫn cứ loay hoay đòi nhà nước quan tâm, đòi nhà nước trọng dụng, đòi nhà nước đãi ngộ… trong khuôn khổ các… đề tài “cấp” nhà nước, thậm chí tôi còn nhiều lần được nghe một giáo sư, viện trưởng, đích thực là người đang làm chức phận quản lý khoa học, lại đòi xóa bỏ quản lý khoa học. Vị giáo sư viện trưởng của chúng ta đã nhầm: chính thực là ông ta muốn đòi quyền tự trị, với sự hỗ trợ của các thiết chế quản lý vĩ mô.  Hàng loạt thiết chế vĩ mô đang cản trở thực hiện quyền tự trị của tổ chức khhoa học. Tôi xin đơn cử một ví dụ rất rất nhỏ: Điều 13 của Luật KH&CN quy định các tổ chức KH&CN phải đăng ký các lĩnh vực hoạt động và chịu trách nhiệm về những hoạt động đã đăng ký đó. Như thế là đã ngăn chặn việc “tự chủ” đề xuất những tư tưởng mới của khoa học ngay từ trong trứng nước. Chẳng hạn, nhà sinh học Ludwig von Bertalanffy phải đăng ký các hoạt động trong lĩnh vực sinh học thuộc tổ chức nghiên cứu sinh học của ông, nhưng … đùng một cái, ông nghĩ ra một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, là Lý thuyết hệ thống, chẳng liên quan gì với những hướng nghiên cứu sinh học đã đăng ký. Vậy là ông bị xử lý theo pháp luật. Hết tự chủ, và miễn phải tự chịu trách nhiệm.  ***  Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN là câu chuyện rất dài, chưa được bàn từ cái gốc. Đó là, mục đích tự chủ (Điều 2) phải được đi kèm với sự tự chủ về các phương tiện để tự chủ, trong đó có một phương tiện rất quan trọng, là tự chủ về công việc và tự chủ về tài chính (Điều 7).  Vì vậy, tôi rất hoan nghênh vừa qua tạp chí Tia Sáng đã tổ chức cuộc hội thảo về vấn đề này và hi vọng diễn đàn sẽ tiếp tục được mở rộng, giúp làm rõ thêm nội dung của việc xác lập quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN nước ta.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghĩ về chính phủ với AI      Theo Helen Margetts và Cosmina Dorobantu – những người phụ trách chương trình chính sách công của Viện Alan Turing ở London và nghiên cứu ở Viện Internet Oxford, trường Đại học Oxford, các nhà hoạch định chính sách nên khai thác dữ liệu để đảm bảo các dịch vụ công do mình cung cấp thuận lợi, hiệu quả và công bằng với người sử dụng.      Một ngày nào đó, AI có thể tham gia thiết kế chuwowngtrinhf học theo nhu cầu của từng đứa trẻ. Nguồn: Suzanne Kreiter/The Boston Globe/Getty  Mỗi ngày, con người tạo ra hơn 2,5 x 1018đơn vị dữ liệu. Các doanh nghiệp đang triển khai các thuật toán AI dựa trên việc khai thác nguồn “tài nguyên” giàu có này, qua đó tăng thêm cho các hàng hóa và dịch vụ của mình hàng tỷ đô la mỗi năm. Ví dụ nhờ AI, Amazoncó thể gửi các mặt hàng mà họ dự đoán là các khách hàng sẽ mua tới những trung tâm vùng trước khi khách hàng nhấp chuột đặt qua mạng. Cũng nhờ mỏ dữ liệu khổng lồ của Google và Facebook, từng cửa hàng bánh ngọt hay xe đạp có thể hưởng lợi từ việc quảng cáo hướng tới mục tiêu cá nhân. Dữ liệu cũng có thể hỗ trợ việc dự đoán và ngăn ngừa các trường hợp tai nạn giao thông, tội phạm đường phố hay sự cần thiết của việc trông nom bọn trẻ. Dựa trên các mô hình tính toán hiện đại, người ta có thể cắt giảm các chi phí khổng lồ của việc chống lũ, bùng phát dịch bệnhvà khủng hoảng tài chính. Tất cả các dịch vụ đó có thể trở nên rẻ hơn và hiệu quả hơn.   Nhưng hiện tại các chính phủ vẫn còn phải vật lộn với những công nghệ còn đơn giản hơn nhiều. Các chính sách hàng đầu liên quan đến công nghệ thông tin vẫn còn được xây dựng và áp dụng một cách lúng túng. Đạo luật Bảo vệ bệnh nhân và Chăm sóc sức khỏe hợp túi tiền (The Affordable Care Act hay Obamacare) của cựu Tổng thống Obama gần như sụp đổ vào năm 2013 khi HealthCare.gov, trang web cho phép người Mỹ tham gia vào các kế hoạch bảo hiểm y tế, gặp phải vô số lỗi như ngăn không cho tạo tài khoản, không nhận biết được ai đã có tài khoản, đưa ra những tình huống không thể giải quyết được cho người truy cập, và không thể tính toán được các gói trợ cấp y tế. Universal Credit – cuộc cải cách lớn nhất của nhà nước phúc lợi Anh kể từ những năm 1940 về thanh toán an sinh xã hội, từng bị coi là thảm họa vì nó thất bại trong việc trả tiền cho người yêu cầu một cách thích đáng. Universal Creditcũng từng sự lãng phí tới 837 triệu bảng (tương đương 1,1 tỷ USD)vào phát triển một hợp phần của hệ thống số nhưng rút cục lại không hoạt động. Hệ thống trả tiền Phoenix của Canada, được giới thiệu vào năm 2016 để kiểm tra tiến trình trả lương của chính phủ liên bang, đã chi trả lương không chính xác tới 62% nhân viên chính phủ trong từng năm tài chính kể từ khi ra mắt. Và ở Australia, đến cuối tháng 1/2019, hơn 2,5 triệu người đã “phớt lờ” My Health Record, hệ thống hồ sơ y tế số của quốc gia,vì những lo ngại về bảo mật dữ liệu, an toàn và hiệu quả, chiếm khoảng 1/10 những người được cho là thích hợp với My Health Record.  Đổi mới công nghệ là vấn đề cốt lõi cho chính quyền duy trì vị trí của mình trong một thế giới tập trung vào dữ liệu. Lĩnh vực số này là nơi các công dân sống và làm việc, mua sắm và vui chơi, gặp gỡ và tranh luận. Giá cả hàng hóa được thiết lập bằng phần mềm. Có những công việc có được qua trung gian là các nền tảng online như Uber và Deliveroo. Những người bầu cử nhận được các thông tin mục tiêu – và cả thông tin “nhiễu” – thông qua truyền thông xã hội.  Vì vậy, để ứng dụng AI vào các nhiệm vụ vận hành các chính sách và các tổ chức chính phủ có hiệu quả hơn, thiết lập quyền của người lao động và đảm bảo sự minh bạch của những cuộc bỏ phiếu…, các chính phủ cần phải có hiểu biết về dữ liệu và các thuật toán, trong đó cần tiếp tục vào những ưu tiên chínhmà chúng tôi rút ra trong quá trình làm việc với các nhà hoạch định chính sách tại Viện Alan Turing.  Quản lý số  Quá trình hoạch định chính sách được thiết kế trong những thời điểm hết sức khác biệt.Các chính phủ phụ thuộc vào dữ liệu được xây dựng theo nhu cầu của người sử dụng(custom-built data), được thu thập thông qua các cơ quan phân tích quốc gia hoặc các cuộc điều tra quốc gia. Tuy nhiên điểm yếu của họ là không có truyền thống sử dụng dữ liệu giao dịch về hành vi của con người để cải thiện các chính sách hoặc dịch vụ như các doanh nghiệp.  Ngày nay, các tương tác của các chính phủ với công dân tạo ra những con đường của dữ liệu số. Ví dụ, các cơ quan cấp phép phương tiện giao thông có các bộ dữ liệu chứa thông tin về các loại xe của chúng ta, cách chúng ta thường dừng lại theo yêu cầu của cảnh sát giao thông, những tai nạn chúng ta thường gặp phải như thế nào, liệu chúng ta có trả thuế đường theo từng đợt và khi nào thì chúng ta nhận được (hoặc đánh mất) bằng lái xe…      Những gã khổng lồ về công nghệ như Google, Amazon và Facebook đều đang dẫn đầu về phát triển AI nhưng các nhà nghiên cứu độc lập mới thực sự có thể tham gia nhiều hơn và đóng góp nhiều hơn cho các chính phủ để tăng cường tiềm năng công nghệ đó.      AI có thể khai thác dữ liệu về các thói quen của các công dân để hỗ trợ chính phủ hoạt động theo ba cách:   1. Các dịch vụ công được cá nhân hóa có thể phát triểnphù hợp với những trường hợp riêng biệt. Giống như dữ liệu được sử dụng để quảng cáo, các phương pháp này có thể giúp các nguồn lực của chính phủ hướng đến các cá nhânhiệu quả. Ví dụ, tại bang Queensland, Australia, một nền tảng chính quyền số được xây dựng để có thể cung cấp các dịch vụ cá nhân hóa theo những yêu cầu của người dùng và thông qua những tương tác trong quá khứ của họ với chính quyền. Và tại New Zealand, ứng dụng trên điện thoại thông minh SmartStart cung cấp thông tin cá nhân hóa từ khắp các cơ quan chính phủ đến các bậc cha mẹ đang mong chờ ngày mãn nguyệt khai hoa, cho phép họ cơ hội điền vào các giấy tờ và có được giấy khai sinh ngay trên điện thoại của mình.  2. AI có khả năng giúp chính phủ tạo ra các dự báo ngày một chính xác để có thể lập kế hoạch chuẩn bị.Các thuật toán học máy có thể nhận diện các mẫu hình trong dữ liệu và sau đó dùng chúng để dự đoán các xu hướng hoặc sự kiện trong tương lai. Một số chính quyền địa phương của Anh đang thử nghiệm việc sử dụng các phân tích để đoán trước nhu cầu trong tương lai của các vùng đất mình quản lý như tình trạng vô gia cư,các dịch vụ  khẩn cấp và các dịch vụ xã hội.Ví dụ,các mô hình học máy có thể mô phỏng yêu cầu tương lai cho giáo dục theo nhu cầu đặc biệt, và cách thay đổi như thế nào nếu như chính sách hoặc các yếu tố bên ngoài khác thay đổi.  AI có thể được sử dụng để hướng đến hỗ trợ thanh tra y tế hoặc an toàn thực phẩm. Ví dụ cơ quan y tế của Las Vegas, Nevada, đã làm việc với trường Đại học Rochester ở New York, để sử dụng dữ liệu truyền thông xã hội và học máy để nhận biết các nhà hàng hay xảy ra ngộ độc thực phẩm. Các nhà nghiên cứu ước tính, hệ thống của họ có thể ngăn ngừa khoảng 9.000 trường hợp ngộ độc thực phẩm và hầu như 560 trường hợp phải điều trị ở bệnh viện ở Las Vegas mỗi năm.  Dù còn nhiều tranh cãi nhưng việc dự báo có thể ứng dụng tới từng cá nhân. Các thuật toán học máy có thể xác định thời điểm bọn trẻ thường rời trường hay có khả năng lâm vào rủi ro dựa trên dữ liệu về tương tác trước đó của chúng với các cơ quan thuộc lĩnh vực công. Điều này có thể giúp chính quyền tối ưu được các nguồn lực đang khan hiếm. Một hệ thống cảnh báo sớm như vậy đã được áp dụng tại Mỹ và New Zealand, và một đang được xem xét ở Anh.  3. Các chính phủ có thể mô phỏng các hệ thống phức hợp, từ việc điều hành quân đội đến các lĩnh vực tư của toàn bộ quốc gia.Điều đó giúp chính phủ trải nghiệm với nhiều sự lựa chọn chính sách khác nhau và điểm trúng những hậu quả khó lường trước trước khi thực hiện cam kết theo đuổi một chính sách.  Các mô hình điện toán tác tử – chương trình tồn tại trong một môi trường nhất định, có khả năng tự động hành động, tự phản ứng lại sự thay đổi của môi trường nhằm đáp ứng mục tiêu đã được thiết kế trước – kết hợp với dữ liệu lớncó thể nắm bắt những phức tạp của thế giới thật nhiều hơn trước khi bắt đầu áp dụng để thử nghiệm các chính sách và can thiệpcủa chính quyền. Ví dụ, Ngân hàng Anh là một mô hình thị trường bất động sản Anh và mô phỏng các hiệu ứng của chính sách nhằm giảm nhẹ nguy cơ rủi ro tài chính. Chính quyền liên bang Mỹ đang đánh giá những tác động của các thảm họa tiềm năng như nổ bom hạt nhân tại trung tâm Washington DC. Và các cố vấn Mexico đang sử dụng một mô hình tính toán tác tử để nhận diện những gì mà chính phủ liên bang cần ưu tiên thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.  Năm thách thức AI   Tuy nhiên vẫn còn khoảng cách để có thể tạo ra xu thế chủ đạo AI trong chính phủ, như trường hợp dưới đây.    Cảnh sát nhận diện những người tham gia lễ hội tại London từ trên mái nhà. Nguồn: Nature  Năm 2017, Cảnh sát Trung tâm London thử nghiệm một thuật toán ghi nhận gương mặt tại một lễ hội có cả triệu người tham dự để nhận diện những người trong danh sách “truy nã”. Công nghệ này đã đánh dấu 35 người phù hợp với những “tiêu chuẩn” trong khi các nhân viên an ninh loại đi 30 người. 5 trường hợp còn lại bị cảnh sát không cấp quyền tham dự lễ hội. Tuy nhiên cuối cùng thì Cảnh sát Trung tâm London mới nhận ra rằng danh sách mà họ có được đều đã lạc hậu, có người từ lâu không còn dính dáng  đến các băng đảng tội phạm nữa.    Thất bại này đã đưa ra 5 thách thức mà các chương trình ứng dụng AI đều gặp phải:  1. Mức độ chính xác của công nghệ này vẫn còn ở mức thấp. Do đó, các lực lượng an ninh – và cả các nhà hoạch định chính sách – sẽ phải nỗ lực xây dựng các ứng dụng học máy và AI dựa trên những vấn đề tương tự mà họ đã gặp phải trong quá trình xây dựng các hệ thống số họ xây dựng trước đó. Những vấn đề đó có thể là việc thiếu chuyên gia chuyên trách, lương bổng, khó khăn trong đánh giá công việc hợp với các các nhà cung cấp dịch vụ ở lĩnh vực tư, những rào cản văn hóa tồn tại từ những “tai nạn” công nghệ thông tin trong quá khứ.   2. Đây là sự đánh cược với mức rủi ro cao với các chính phủ.Khi Netflix – dịch vụ truyền dữ liệu video theo yêu cầu trên toàn cầu và thuê DVD trả phí tại Hoa Kỳ, để lỡ đề xuất của một khách hàng về một bộ phim thì hậu quả chưa lớn lắm nhưng với thất bại ở các dự án thuộc lĩnh vực công thì hậu quả rất lớn, nó ảnh hưởng đến cái nhìn về khả năng điều hành của chính phủ trong tương lai. Ví dụ, về cơ bản, việc sử dụng dữ liệu từ các cá nhân để cải tiến lĩnh vực y tế đều nhận được sự ủng hộ rộng rãi nhưng trong trường hợp dự án của chính phủ đưa ra bị thất bại như trường hợp Cơ quan Dịch vụ Y tế quốc gia Anh năm 2017 khi cơ quan này thỏa thuận cung cấp thông tin về bệnh nhân cho các cơ quan di trú. Lúc đó, nhiều người thuộc các quốc gia khácđã từ chối cung cấp dữ liệu y tế của mình cho họ. Điều này rút cục đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nghiên cứu y học.  3. Việc các cơ quan công áp dụng AI cần được công khai.Cơ quan Cảnh sát Trung tâm London đã không thông báo thông tin về việc có bao nhiêu người tham dự lễ hội đã được hệ thống nhận dạng khuôn mặt nhận biết hoặc thông báo chi tiết về dữ liệu được thu thập và lưu trữ như thế nào. Sự minh bạch là yếu tố cốt lõi để đảm bảo niềm tin trong lĩnh vực công.   4. Các nhà hoạch định chính sách cần quyết định khi nào thích hợp cho việc sử dụng các dự đoán được xây dựng trên các thuật toán AI để đưa ra các quyết định về các cá nhân.Việc hướng đến số đông các công dân tôn trọng pháp luật với phần mềm nhận diện khuôn mặt để tìm ra một vài tội phạm có vẻ không được công bằng với họ, đồng thời lại đòi hỏi chi phí và nhân lực. Khi các nhà hoạch định chính sách áp dụng các công nghệ tương tự cho nhiều lĩnh vực thì có thể những vấn đề đạo đức bắt đầu xuất hiện. Ví dụ như trường hợp một trường học có thể làm gì trước một con số xác suất thống kê về khả năng 60% – hoặc thậm chí 98% – một học sinhcó thể bỏ học? Vậy sau đó là gì, chính quyền không cần đầu tư hoặc đầu tư ít hơn cho đứa trẻ đó?  5. Khi Cảnh sát Trung tâm London thử nghiệm công cụ nhận diện khuôn mặt vào năm 2017, họ đã không kiểm tra tính thiên kiến về chủng tộc của nó. Mặc dù có những chỉ dấu rõ ràng về khả năng này nhưng ngay tại thời điểm đó thì các thuật toán AI ít có độ chính xác hơn với đối tượng là người da đen và các cá nhân thuộc những nhóm thiểu số. Việc bỏ qua vấn đề thiên kiến trong thiết kế các ứng dụng AI đã làm tăng sự rủi ro khi duy trì thiên kiến. Việc thực thi những chính sáchgây tranh cãivới các cộng đồng vốn đã bị cách ly khỏi xã hội trong hàng thế kỷ đã để lại hậu quả: đẩy một số nhóm dân cư vào thế bất lợi trong các dữ liệu chính sách. Chính bản chất phụ thuộc vào dữ liệu để xác định các nghi phạm hoặc định hướng cho các cuộc điều tra cộng với độ thiếu chính xác của các thuật toán khi phân tích các khuôn mặt dựa trên màu da dường như góp phần gia cố thêm điều đó.  Tuy nhiên vẫn còn có những điều để hi vọng cho tương lai của việc áp dụng công nghệ AI. Việc sử dụng dữ liệu tốt hơn có thể thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách có thể giải quyết đượcmột số vấn đề xã hội cố hữu. Một trong những vấn đề đólà thiên kiến có hệ thống trong việc đưa ra những quyết định pháp lý vốn tồn tại hàng thập kỷ trước khi AI ra đời. Dữ liệu cần cho việc dò theo những thiên kiến như vậy đã không được thu thập. Ví dụ, hệ thống tòa án Anh có xu hướng không ghi lại những đặc điểm của những người liên đới tới các vụ việc ở tòa như tuổi tác, sắc tộc, giới tính, tình trạng khuyết tật. Vào tháng 1 vừa qua, khi phản hồi một bình luận về chương trình hiện đại hóa các tòa án trị giá 1 tỷ bảng, Bộ Tư pháp Anh cam kết thu thập dữ liệu về các đặc điểm của những người đó nhằm giúp các tòa án có thể tránh sự thiên kiến trong xét xử.      Việc áp dụng khoa học dữ liệu và AI còn giúp các nhà hoạch định chính sách nhận được những giá trị khác: giải quyết được những vấn đề tồn tại hàng thế kỷ trong các hệ thống quản lý của chính phủ.      Những bước tiếp theo  Dẫu trong cái nhìn của công chúng, những gã khổng lồ về công nghệ như Google, Amazon và Facebook đều đang dẫn đầu về phát triển AI nhưng các nhà nghiên cứu độc lập mới thực sự có thể tham gia nhiều hơn và đóng góp nhiều hơn cho các chính phủ để tăng cường tiềm năng công nghệ đó. Các viện nghiên cứu phát triển AI trên khắp thế giới cần phải giới thiệu với các nhà hoạch định chính sách những nghiên cứu mới nhất và hợp tác với họ để giải quyết những vấn đề chính sách tồn tại. Có thể ví dụ một vài nơi như Viện Alan Turing ở London, Anh; Viện Trí tuệ nhân tạo Stanford, California; Sáng kiến AI Đạo đức và quản trị do Viện Công nghệ Massachusettsvà trường Đại họcHarvard ở Cambridge, Massachusetts phụ trách.   Tại Viện Alan Turing, chúng tôi dùng học máy để nhận diện những kẻ phạm tội và nạn nhân của các vụ việc xảy ra, trải rộng từ phạm vi nô lệ hiện đại đến quá khích và cực đoan. Chúng tôi hướng đến việc hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách kiểm soát các vấn đề đó và xây dựng những biện pháp đối phó. Chúng tôi đang dùng điện toán tác tử để mô phỏng các cấp độ yêu cầu của dịch vụ an ninh và cùng với Văn phòng Hội đồng thông tin Anh phát triển các hướng dẫn để giải thích cách đưa ra quyết định với sự hỗ trợ của thuật toán.  Các chính phủ cần phát triển các khung đạo đức cho việc áp dụng AI. Đã có một vài hành động tích cực như vậy ở một số lĩnh vực khác – ở Anh là Hội đồng về đạo đức sinh học Nuffieldvà Cơ quan phôi học và sinh sản người để gây dựng niềm tin vào các công nghệ như liệu pháp tế bào gốc. Đây chính là lý do căn bản thuyết phục Chính phủ Anh chấp thuận thành lập Trung tâm Dữ liệu Đạo đức và đổi mới sáng tạo, Viện nghiên cứuAda Lovelace ở London và các tổ chức tư nhân như tổ chức Partnership on AI.  Vượt ra ngoài mục tiêu tiết kiệm kinh phí hay tập trung nhiều hơn vào các vấn đề liên quan đến công dân, việc áp dụng khoa học dữ liệu và AIcòn giúp các nhà hoạch định chính sách nhận được những giá trị khác: giải quyết được những vấn đề tồn tại hàng thế kỷ trong các hệ thống quản lý của chính phủ. Bằng việc truy được gốc tích vấn đề, các công nghệ được xây dựng trên cơ sở dữ liệu có thể đề xuất cách con người có thể vượt qua chúng. Hiện chúng tôi có một số công nghệ chất lượng cao, ví dụ như khiến cho xe tự lái trở nên an toàn hơn so với những xe do con người điều khiển. Theo cách đó, chúng ta có thể chấp nhận một hệ thống quản lý ứng dụng AI có ít thiên kiến hơn. Và một chính phủ có sự hỗ trợ của dữ liệucó thể sẽ trở nên công bằng, minh bạch và phản hồi nhanh hơn chính phủ quan liêu.□  Anh Vũ lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01099-5          Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu Biển Đông: Đóng góp tài chính từ cộng đồng      “Để vừa bảo vệ được chủ quyền, vừa giữ được hòa bình trên Biển Đông, thì việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học cũng quan trọng không kém gì đầu tư mua sắm vũ khí. Chỉ cần mỗi người Việt Nam đóng góp vài ngàn đồng, chúng ta sẽ có một nguồn lực tài chính dồi dào để mua sắm những “vũ khí pháp lý”, “vũ khí khoa học” cho mình” – một nhà nghiên cứu về Biển Đông trao đổi với Tia Sáng.     Trông người…  Giữa tháng 2.2012, Trung Quốc loan tin sẽ tiến hành thử nghiệm tàu lặn Jiaolong ở độ sâu 3000m và sau đó đạt đến độ sâu 7000m dưới mực nước biển ở khu vực Biển Đông trong năm 2012. Đây là kết quả của một dự án trị giá 1,5 tỉ NDT (tương đương khoảng 238 triệu USD) được Trung Quốc khẳng định nhằm mục đích nghiên cứu khoa học tại Biển Đông. Nhiệm vụ chính của tàu lặn Jiaolong là nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh học, thám hiểm đại dương và cứu hộ dưới đáy biển sâu. Với dự án này, Trung Quốc trở thành nước thứ 5 trên thế giới chế tạo được tàu lặn có khả năng lặn sâu hơn 3,5 km và hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu Biển Đông của nước này.   Tàu lặn Jiaolong được dự kiến tham gia một dự án nghiên cứu Biển Đông có tên gọi “South China sea deep”. Đây là dự án được khởi động từ tháng 1.2011 và kéo dài 8 năm được Quỹ quốc gia về khoa học tự nhiên của Trung Quốc tài trợ tới 22 triệu USD (tương đương 440 tỷ đồng) với mục đích nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của một khu vực có diện tích 3,5 triệu km2 và đạt tới độ sâu 5,5 km ở Biển Đông mà Trung Quốc xem như thuộc chủ quyền của họ.   Không chỉ có thế, một trung tâm công nghệ biển sâu cũng đang được nước này lên kế hoạch với dự toán lên tới 50,6 triệu USD và một khoản tiền gấp 4 lần con số trên sẽ được rót cho một mạng lưới các đài quan sát đáy đại dương, với tham vọng ngang tầm với các hệ thống tương tự của Canada hay Mỹ.   Lợi ích mà Trung Quốc thu được từ các dự án nghiên cứu trên không chỉ giới hạn ở những tri thức khoa học. Ông Trương Công Thành, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc đã từng phát biểu rằng: “Trữ lượng khí tự nhiên tại Biển Đông ước tính lên tới 200.000 tỷ m3. Nghiên cứu thuần túy là rất tốt, xong sẽ không phương hại gì nếu cùng một lúc để ý tới một số vấn đề khác”.  Có thể thấy rằng, những khoản tài trợ hào phóng mà Chính phủ Trung Quốc dành cho giới nghiên cứu Biển Đông của nước này, đã, đang và sẽ giúp họ giành được lợi thế to lớn xét về cả khía cạnh học thuật lẫn chiến lược tìm kiếm lợi ích ở Biển Đông.   Ngẫm ta…  Nhà nghiên cứu Hoàng Việt được biết đến trong giới nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam như một người có nhiều bài viết và tham luận được công bố cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng như phần lớn các nhà nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam, ông sống bằng một nghề khác. Vị giảng viên của ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh này cho biết: “Nhìn chung giới nghiên cứu trong lĩnh vực Biển Đông thuần túy làm việc vì nhiệt huyết. Họ không có nguồn tài trợ nào và tự trang trải cho các chi phí, đôi khi rất đắt đỏ, trong quá trình nghiên cứu”.  Để có cơ sở vững chắc và chuyên sâu cho một nghiên cứu, đôi khi họ phải đặt mua tài liệu từ nước ngoài. Tổng chi phí từ giá mua sách cho đến chi phí vận chuyển đến tay người nhận có thể lên tới hàng chục triệu đồng. Để có được những tài liệu như vậy, họ phải huy động sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp mà không thể trông cậy vào một nguồn tài trợ nào khác.   Năm 2004, công chúng Việt Nam lần đầu tiên được biết đến những tấm bản đồ cổ của nước ngoài khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là bản đồ (nguyên bản của công ty Đông Ấn – Hà Lan) với dòng đánh dấu vùng quần đảo giữa Biển Đông ghi rõ “Baixos de Chapar” (tức là “Bãi cát của Champa”) và tấm bản đồ đánh dấu vùng bờ biển tương đương với khu vực Quảng Nam, Quảng Ngãi là “Costa de Paracel” (có nghĩa là “bờ biển Paracel”, tức bờ biển Hoàng Sa). Mặc dù chứa đựng những căn cứ quan trọng đối với chủ quyền quốc gia như vậy, ít ai biết rằng, để có được chúng, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc – Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) – đã phải tự bỏ ra hàng nghìn USD để được phép khai thác chúng từ thư viện của các trường đại học Hà Lan, Úc.   Một nhà nghiên cứu (giấu tên) chia sẻ với Tia Sáng rằng, ông và 3 đồng nghiệp khác vừa hoàn thành một công trình nghiên cứu về Biển Đông với tổng kinh phí được tài trợ là 80 triệu đồng từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, riêng chi phí mua và dịch những tài liệu được đánh giá là “cực kì khó” cho đề tài này đã ngốn mất ¾ khoản tài trợ. Vì vậy nhóm thực hiện đề tài phải tự trang trải các chi phí còn lại. Với tình trạng thiếu hụt kinh phí cho nghiên cứu trầm trọng như vậy, ông cũng cho rằng, khó có thể kỳ vọng nhiều vào chất lượng các công trình được công bố.  Ở Việt Nam hiện nay, công tác nghiên cứu biển và hải đảo nằm rải rác dưới sự quản lý của 15 Bộ, ngành, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an,… Hiện Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ TN&MT) đang là cơ quan chủ lực thực hiện “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” (thường được gọi là Đề án 47), vốn được triển khai từ năm 2006. Tuy nhiên, theo đánh giá của PGS.TS Vũ Thanh Ca, Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý Biển và Hải đảo, công tác nghiên cứu đang gặp khó khăn rất lớn về nhân lực và phương tiện nghiên cứu. Nếu như tàu lặn Jiaolong của Trung Quốc được đầu tư tới 238 triệu USD thì Tổng cục Biển và Hải đảo chỉ có một con tàu nghiên cứu biển đã xuống cấp vốn được đóng từ năm 1995, với những trang thiết bị nghiên cứu, khảo sát đã lạc hậu. Theo số liệu được dẫn bởi Thông tấn xã Việt Nam, tổng kinh phí cho hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2006 – 2010 của Tổng cục chỉ là… 7,6 tỷ đồng. Việc thiếu thốn kinh phí khiến cho công tác nghiên cứu chỉ được tiến hành trên những diện tích rất nhỏ hẹp và số liệu thu được là rất hạn chế.    Vụ Khoa học xã hội và Tự nhiên (Bộ KH&CN) cũng là một cơ quan quản lý công tác nghiên cứu, trong đó có Chương trình “Khoa học công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội” (KC.09/06-10) – một trong những Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước. Theo số liệu do Vụ cung cấp, từ năm 2006 đến 2010, Chương trình này đã cấp kinh phí cho 28 đề tài với mức tài trợ từ 4 – 6 tỷ đồng/đề tài. Dự kiến trong giai đoạn 2011 – 2015, mức tài trợ cho một đề tài nghiên cứu có thể lên đến mức 5 – 7 tỷ đồng. Hầu hết các đề tài được phê duyệt có đối tượng nghiên cứu là các điều kiện tự nhiên như đánh giá nguồn lợi hải sản, điều kiện kiến tạo địa chất Biển Đông, nghiên cứu ứng dụng phương án xây dựng công trình trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa…, và không có nhiều công trình nghiên cứu về pháp lý, chủ quyền. Kết quả Chương trình thu được trong giai đoạn 2006 – 2010 cũng tương đối hạn chế, với 201 bài báo khoa học được công bố trên tạp chí trong nước và 32 bài báo ở tạp chí quốc tế. Tính trung bình mỗi năm, thế giới sẽ biết đến 6 bài báo khoa học về biển mà Việt Nam có được từ Chương trình trọng điểm quốc gia này.    Nỗ lực khiêm tốn nhưng cần thiết   Ngày 9.3.2012, Học viện Ngoại giao phát đi một tin vui với chương trình học bổng hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông. Các sinh viên đại học và cao học trong cả nước sẽ có cơ hội nhận được 10 triệu đồng từ chương trình này cho mỗi chuyên đề nghiên cứu về Biển Đông và 20 suất học bổng như thế này sẽ được cấp trong năm 2012. Theo tuyên bố của Học viện Ngoại giao, chương trình này được thiết kế nhằm mục đích “thúc đẩy việc nghiên cứu về Biển Đông trong toàn quốc, đồng thời phát hiện các tài năng trẻ, đam mê nghiên cứu về Biển Đông để tiếp tục đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, thúc đẩy hợp tác vì hòa bình và phát triển ở Biển Đông”.   Trong một nỗ lực tương tự, Quỹ nghiên cứu Biển Đông cũng vừa công bố chương trình tài trợ cho mỗi bài viết hay về Biển Đông, với mức tài trợ từ 20 – 150 USD. Đây là chương trình đã được Quỹ nghiên cứu này thực hiện dưới nhiều hình thức từ khi thành lập (2007) đến nay. UBND huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) cũng đã tiếp nhận sự ủng hộ của một “mạnh thường quân” là Công ty CP Truyền hình cáp Sông Thu, với mức tài trợ tối thiểu là 1.000 USD cho mỗi đề tài. Công ty này đồng thời cam kết đài thọ cho các chuyến khảo sát, thực địa của các cá nhân, tổ chức tham gia nghiên cứu về biển đảo.   Trong điều kiện ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu Biển Đông nói riêng còn nhiều hạn chế, việc xã hội tham gia tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu này lại trở nên đặc biệt quan trọng. Cho đến nay, tuy chưa có nhiều cá nhân, tổ chức tham gia tài trợ, nhưng nỗ lực của Quỹ nghiên cứu Biển Đông hay Công ty Sông Thu đã bước đầu tạo nền tảng cho việc cấp thiết hình thành một tổ chức vận động toàn xã hội tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu biển Đông: Thiếu cơ chế hợp tác liên ngành      Có một thực trạng, các công trình nghiên cứu Biển Đông trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn đang được tiến hành riêng lẻ, tản mát, không công khai, thiếu sự điều phối và một tầm nhìn xa      PGS. Ramses Amer (bìa trái) và TS. Trần Trường Thủy (thứ hai từ trái sang) trong một hội thảo quốc tế về Biển Đông. Ảnh: Huỳnh Phan, Vietnamet.vn  Tôi là một nhà nghiên cứu được điều động từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác và tôi đang rất băn khoăn, lo lắng xem tương lai mình sẽ phải làm gì…” – TS. Trần Trọng Dương mở đầu bài nói chuyện khoa học về “Nghiên cứu Biển Đông: Triển vọng và lộ trình” do Tia Sáng tổ chức vào cuối tháng Bảy vừa qua. Từ lĩnh vực nghiên cứu về văn học và tiếng Việt cổ, anh chuyển sang nghiên cứu Biển Đông.  Cũng như TS.Trần Trọng Dương, rất nhiều các học giả nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam hiện nay đều “xuất thân” từ một ngành khác, “không có chuyên môn về biển đảo”. Điều đó cũng dễ hiểu bởi Việt Nam đang trong giai đoạn thiếu chuyên gia về lĩnh vực này trầm trọng nhưng nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực này lại cấp bách, nhất là khi căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng. Điều đáng nói là bước chân vào lĩnh vực này, hầu như nhà khoa học nào cũng cảm thấy “hoang mang” vì họ không biết vị trí của những vấn đề mình nghiên cứu sẽ đứng ở đâu, có vai trò gì trong hệ thống các nghiên cứu liên quan đến Biển Đông đã hoàn thành trước đó. “Các hệ thống thư viện, viện nghiên cứu không liên thông với nhau, mỗi người ‘ngồi một góc’ tự làm việc của mình. Nếu muốn tìm hiểu một đề tài đã có ai làm hay chưa thì tra cứu rất khó. Có khi tra ra được mà lại là tài liệu không cho phép công bố thì mình cũng không được chia sẻ” – TS. Trần Trọng Dương nói.  Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, các cơ sở nghiên cứu đã có sự giao lưu tương tác ở mức độ nhất định. Bắt đầu từ năm 2009, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao tổ chức Hội nghị quốc tế thường niên về Biển Đông với sự tham gia của các Bộ, viện nghiên cứu về KH&XH, các đại học, các nhà nghiên cứu độc lập, các học giả trong và ngoài nước (trong đó có cả học giả Trung Quốc). TS. Trần Trường Thủy, Phó viện Trưởng Viện Biển Đông nhận định, đây là một trong những hội thảo về Biển Đông “lớn nhất thế giới”, nơi các chuyên gia chia sẻ nghiên cứu của mình. Cũng trong các hội thảo này đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận có giá trị nhưng rất tiếc, đó chưa phải là mức độ hợp tác mà các nhà nghiên cứu Biển Đông hiện nay ở Việt Nam mong muốn.  “Mặc dù đại diện của các viện nghiên cứu vẫn trao đổi và chia sẻ ý kiến trong các cuộc tọa đàm, hội thảo nhưng đó vẫn là từ góc độ cá nhân. Chúng ta vẫn thiếu một cơ chế phối hợp cùng nghiên cứu. Đáng lẽ, cần một đầu mối tập hợp các chuyên gia, cứ ba đến sáu tháng họp giao ban một lần.” – GS. Đỗ Tiến Sâm, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Viện Nghiên cứu Trung Quốc chia sẻ.  Thiếu “nhạc trưởng”  Khi phóng viên Tia Sáng trao đổi với các cơ sở nghiên cứu Biển Đông, tìm hiểu về hiện trạng, khó khăn trong công tác nghiên cứu Biển Đông thì đều nhận được câu trả lời: Thiếu sự liên kết giữa các đại học, viện nghiên cứu và các thư viện. Như TS. Vũ Minh Giang, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trả lời báo Sài Gòn tiếp thị vào năm 2009 thì: “Việt Nam thiếu một nhạc trưởng” trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề tranh chấp biển đảo. Lời nhận định ấy đến giờ vẫn còn nguyên tính thời sự.  Được thành lập từ năm 2009, có nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề chính trị, ngoại giao, pháp lý, chủ quyền liên quan đến Biển Đông, Viện Biển Đông của Học viện Ngoại giao giống một think tank với nhiệm vụ nghiên cứu để góp ý, khuyến nghị chính sách. Họ không đủ nhân lực triển khai các nghiên cứu cơ bản liên quan đến lịch sử, văn hóa, địa lý…. Theo TS. Trần Trường Thủy, Phó Viện trưởng Phụ trách Viện Biển Đông, các nhà nghiên cứu về lịch sử thông thường không nắm về luật pháp như các chuyên gia pháp lý, trong một khối dữ liệu lịch sử lớn, các nhà nghiên cứu về luật pháp mới biết bóc tách và sử dụng chi tiết nào có giá trị chứng minh chủ quyền. “Chính vì như thế mới cần liên kết (giữa các nhà nghiên cứu Lịch sử, Chính trị và Pháp lý)” – TS. Thủy kết luận.  Việc đề xuất một cơ chế, cách thức liên kết giữa các viện được đặt ra đã lâu, nhưng cuối cùng, mức độ liên kết vẫn chỉ dừng lại ở các chia sẻ tại hội thảo. Trong dịp trả lời phỏng vấn của Vietnamnet vào năm 2012, PGS. Ramses Amer, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, Đại học Stockholm (Thụy Điển) từng chia sẻ: “Theo tôi, muốn hình thành một đối sách với nước nào đó, trước tiên phải biết người ta thực sự nghĩ gì, muốn gì. Như tôi đã từng gợi ý với các đồng nghiệp ở Học viện Ngoại giao, cơ quan này phải ưu tiên thúc đẩy hợp tác với Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, bởi các nhà nghiên cứu Trung Quốc đọc được chữ Hán, và họ sẽ có nhiều thông tin hơn về những gì người Hoa viết. Chứ còn bên Học viện Ngoại giao, đa số các nhà nghiên cứu đều học ở phương Tây, và họ ít hiểu về Trung Quốc, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa. Quan trọng hơn, nhiều điều mà phương Tây viết chưa chắc đã phản ánh đúng tư duy, tham vọng thực sự của Trung Quốc”. TS. Trần Trường Thủy cho biết, hiện nay, Viện Biển Đông chưa có sản phẩm nghiên cứu chung với các đơn vị khác: “Viện Biển Đông được thành lập có chức năng kết nối nhưng không có quyền phân bổ, điều phối nhiệm vụ giữa các đơn vị nghiên cứu trong nước”.  Hai khó khăn  Hiện nay, có hai khó khăn trong việc thúc đẩy sự liên thông giữa các viện, trường nghiên cứu về Biển Đông. Thứ nhất, không có một cơ sở dữ liệu chung bao gồm các công trình nghiên cứu về Biển Đông từ trước đến nay và các tư liệu cổ về văn hóa, lịch sử, địa lý liên quan được dịch, phân loại, chú thích, thậm chí là số hóa, upload lên mạng để có thể tra cứu dễ dàng và các nơi có thể tận dụng được kết quả nghiên cứu của nhau. Thứ hai, một rào cản rất “đặc thù” trong nghiên cứu Biển Đông là nhiều công trình nghiên cứu được cho là “nhạy cảm”, khó chia sẻ. Cụ thể, hơn 70% các sản phẩm nghiên cứu của Viện Biển Đông được xếp loại là “tài liệu mật” (tuy nhiên, TS. Trần Trường Thủy chia sẻ rằng, trong số đó vẫn có những thông tin không mật có thể bóc tách ra trao đổi được), các đề tài nghiên cứu cấp viện, cấp Bộ của Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam chỉ lưu hành nội bộ hay các  đề tài cấp Nhà nước của Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo, trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam cũng không công bố công khai.  Các nhà nghiên cứu Biển Đông mất rất nhiều thời gian khi tổng thuật các nghiên cứu trước đó. Họ, hoặc là phải “lọ mọ” trong thư viện (theo như GS. Đỗ Tiến Sâm khảo sát, nhiều thư viện ở TP. Hồ Chí Minh sắp xếp và bảo quản tài liệu không khoa học, sách nghiên cứu về biển Đông được xếp chung với truyện tranh và sách Y học cổ truyền!), hoặc là phải tìm đến từng đơn vị nghiên cứu khác để tra cứu thông tin. TS. Lục Minh Tuấn, nghiên cứu viên tại trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Đại học KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh, hiện đang triển khai chương trình Nghiên cứu Biển Đông chia sẻ với Tia Sáng, việc tìm kiếm thông tin rất khó khăn dù hiện nay, đã có một số dự án xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về Biển Đông nhưng chúng vẫn mang tính riêng lẻ.  “Do đó, cần thiết phải có sự thống nhất về một đầu mối (cấp quốc gia) các cơ sở dữ liệu quan trọng về Biển Đông, và tạo điều kiện cho các học giả chuyên về Biển Đông có khả năng tiếp cận tối đa đầu mối dữ liệu này.” – TS. Lục Minh Tuấn nhấn mạnh. Cùng chung ý kiến, GS. Đỗ Tiến Sâm đề xuất: “Bộ KH&CN phải đứng ra làm đầu mối, thống kê mỗi năm xem nguồn kinh phí từ ngân sách đầu tư cho các dự án về Biển Đông là bao nhiêu, sản phẩm đầu ra như thế nào. Như vậy sẽ tránh được sự trùng lặp. Như hiện nay, tôi chứng kiến nhiều nội dung trùng lặp trong các đề tài liên quan đến lịch sử Biển Đông và hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông.”  Thiếu một tầm nhìn  Để làm như vậy, cần một kế hoạch tổng thể và một tầm nhìn về Biển Đông nhưng hiện nay, Nhà nước vẫn chưa có một chiến lược nghiên cứu Biển Đông thực sự rõ ràng. Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao là đơn vị được nhà nước thành lập với nhiệm vụ chính là nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến Biển Đông (mặc dù với một số nhiệm vụ, họ vẫn phải đấu thầu). Còn ở các cơ sở khác, nghiên cứu Biển Đông chỉ là một trong những chương trình của họ. Đa số là đề tài ngắn hạn và không được sự đầu tư thường xuyên của Nhà nước.  Lâu nay, Viện Biển Đông chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu mang tính ứng dụng với hướng nghiên cứu về các vấn đề chính trị, ngoại giao, pháp lý, giải pháp chính sách. Còn các khía cạnh khác về lịch sử, văn hóa biển Đông, văn hóa, chính sách của Trung Quốc trên biển Đông… đòi hỏi những nghiên cứu cơ bản mà hiện nhiều viện nghiên cứu và các học giả khác đang tiến hành lại chưa được đầu tư đúng mức. Một ví dụ, Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (hiện nghiên cứu về chính trị của Trung Quốc và chính sách của nước này với Biển Đông) chỉ tổ chức được một hội thảo quốc tế về Biển Đông và cũng không thể phát hành ấn phẩm sau khi hội thảo kết thúc vì thiếu kinh phí. Các đề tài về Khoa học Xã hội và Nhân văn trong Chương trình KC.09/06-10 và KC.09/11-15 của Văn phòng Các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (Bộ KH&CN) với mức đầu tư 5-10 tỷ/ đề tài cũng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực pháp lý. Có thể, từ năm 2009 đến nay, Nhà nước ưu tiên mục tiêu ngắn hạn:  nghiên cứu các lập luận pháp lý để chuẩn bị cho việc giải quyết vấn đề thông qua luật pháp quốc tế, nhưng theo GS. Nguyễn Tiến Sâm. “Phải đặt vấn đề Biển Đông như một vấn đề sinh tồn của dân tộc chứ không thể tư duy theo nhiệm kỳ 5 hay 10 năm được”.  “Từ năm 2009 đến nay, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đề luật biển, khẳng định những vấn đề mang tính lịch sử chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa…Tức là nó mang tính sự vụ, thời vụ để giải quyết vấn đề trước mắt. Và theo quan điểm của tôi, các nghiên cứu mang tính thời sự như vậy tuy rằng rất cần thiết trong bối cảnh lịch sử cụ thể nhưng dường như đó là sự nghiên cứu thiên lệch, cho thấy nhà nước cũng như cả một hệ thống nghiên cứu không có kế hoạch ở tầm vĩ mô cũng như vi mô trong việc triển khai nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam” – TS. Trần Trọng Dương nói.   Việt Nam cần đẩy mạnh công bố quốc tế  Khi phóng viên Tia Sáng trao đổi với GS. Đỗ Tiến Sâm, ông nhắc đi nhắc lại việc Trung Quốc có 700 tạp chí quốc gia xuất bản bằng tiếng Anh và họ thuê 2700 cộng tác viên là các chuyên gia người Mỹ, Anh, Hồng Kông dịch các công trình nghiên cứu của mình ra tiếng Anh. Ông cảnh báo, Việt Nam đang đánh mất quyền phát ngôn học thuật trên trường quốc tế về Biển Đông vào tay Trung Quốc.  Tuy nhiên, TS. Trần Trường Thủy lại cho rằng, “Đấy là một nhận định phổ biến nhưng tôi nghĩ là không phải, nếu như các bạn tham dự hội thảo quốc tế và đọc các bài nghiên cứu Biển Đông xuất bản trên thế giới thì học giả đủ tầm quốc tế về Biển Đông (của Trung Quốc) chỉ đếm trên đầu ngón tay. Với lại đa số phải biện minh cho yêu sách và hành động của Trung Quốc nên có những quan điểm của họ chẳng hạn như bảo vệ đường chín đoạn thì có biện minh đến mấy cũng không thể đúng được”.  Mối quan tâm của các học giả quốc tế rộng hơn nhiều ngoài vấn đề chủ quyền, pháp lý của Việt Nam trên biển Đông. Theo thống kê không chính thức của Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông (hằng năm trao giải thưởng cho các công trình nghiên cứu tốt nhất của Việt Nam về Biển Đông), mỗi năm Việt Nam có khoảng trên dưới 20 công bố quốc tế về Biển Đông nhưng tập trung chủ yếu vào các vấn đề pháp lý, chính trị, ngoại giao. Bên cạnh đó, trao đổi với Tia Sáng về sự tham gia của các học giả Việt Nam trong các hội thảo quốc tế về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, GS. Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, người từng dự hơn 40 hội thảo quốc tế về Biển Đông trên thế giới chia sẻ, mặc dù lập luận rất sắc sảo trước các vấn đề mà học giả thế giới đưa ra nhưng số lượng các học giả Việt Nam quá ít và hầu hết chỉ đến từ Học viện Ngoại giao. Ông cho rằng: “Cơ hội tham gia các diễn đàn quốc tế nên được trao cho cả những học giả ngoài học viện Ngoại giao nếu họ đáp ứng đủ các điều kiện, nhất là khi ngày càng có nhiều hội thảo quốc tế diễn ra tại các thành phố khác của Việt Nam như TP. Hồ Chí Minh, Nha Trang, Quảng Ninh, Hải Phòng chứ không chỉ Hà Nội”.  Việc các học giả Trung Quốc áp đảo Việt Nam cả về số lượng chuyên gia và số lượng các công bố trên các tạp chí có sức ảnh hưởng mạnh mẽ là một thực tế. Đối với GS. Carl Thayer, đó là điều rất dễ hiểu: “Họ có nhiều học giả hơn, nhiều học giả được đào tạo ở phương Tây hơn, nhiều viện nghiên cứu hơn và nhiều kinh phí đầu tư nghiên cứu hơn. Nên nhớ, dân số Việt Nam chỉ bằng một tỉnh trung bình của Trung Quốc mà thôi”.  GS. Carl Thayer cho rằng, việc thiếu vắng các nghiên cứu xuất bản trên các tạp chí quốc tế là điểm yếu nhất của các học giả Việt Nam trong nghiên cứu biển Đông và ông đề xuất một số giải pháp: “Việt Nam không có nhiều các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế có tầm ảnh hưởng lớn tới giới học thuật nước ngoài. Chúng ta cần nhận thức rõ hơn về việc thúc đẩy xuất bản ở các tạp chí hàng đầu thế giới. Về xuất bản sách, các học giả Việt Nam phải liên kết với các học giả nước ngoài để nâng cao kinh nghiệm trong việc biên tập các tài liệu hội thảo. Tuy nhiên, quá trình bình duyệt sẽ mất nhiều thời gian nên xuất bản sẽ chậm. Có những trường hợp nghiên cứu về Biển Đông đòi hỏi phải công bố gấp. Như vậy thì các viện nghiên cứu ở Việt Nam và các học giả cần đẩy mạnh việc xuất bản online để phổ biến quan điểm của mình tới các độc giả nước ngoài”.    Author                Hảo Linh        
__label__tiasang Nghiên cứu cấu trúc hạt nhân trên máy gia tốc: Cách tiếp cận của Việt Nam      Trong lĩnh vực nghiên cứu về cấu trúc hạt nhân trên máy gia tốc nói riêng và vật lý hạt nhân nói chung, Việt Nam vẫn còn giữ khoảng cách so với nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, để có thể hội nhập và tiếp cận với trình độ nghiên cứu khoa học hiện đại, một trong những cách làm hiệu quả nhất mà Việt Nam có thể thực hiện là cử các nhà nghiên cứu tham gia những dự án khoa học lớn của khu vực và thế giới, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu.       TS. Lê Xuân Chung trong thời gian tham gia dự án SEASTAR.  Từ một dự án quốc tế  Kể từ khi hạt nhân nguyên tử được Geiger và Marsden phát hiện năm 1909, nghiên cứu cấu trúc hạt nhân luôn thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Trong khi hiểu biết của chúng ta về lực tương tác mạnh – lực quy định cấu trúc hạt nhân, vẫn còn chưa đầy đủ thì rất may mắn là sự phát triển của công nghệ máy gia tốc và kỹ thuật đo đạc đã đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hạt nhân.  Chúng ta có những cơ hội gì? Đó là việc cho phép tạo ra các hạt nhân có thời gian sống rất ngắn (cỡ ms) với chênh lệch số proton và neutron lớn, thường được gọi tắt là hạt nhân không bền. Kết quả nghiên cứu trên các hạt nhân này cho thấy sự tồn tại của những dạng cấu trúc (như cấu trúc vầng hào quang halo) khác biệt so với kết luận trước đó về hạt nhân có dạng hình cầu chặt. Vấn đề này đặt ra nhiều câu hỏi về nguồn gốc lực tương tác mạnh cũng như thành phần chính của nó. Để tìm được lời giải, các nhà khoa học cần phải đo đạc thêm các số liệu thực nghiệm rồi tiến hành phân tích lý thuyết trên những số liệu đó. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thí nghiệm, luôn có những thách thức về mặt khoa học như: làm thế nào để tạo ra và duy trì chùm hạt nhân không bền có cường độ đủ lớn khi tiết diện tạo thành các hạt nhân này và thời gian sống của chúng rất nhỏ, làm sao để có thể chế tạo thiết bị đo đạc đủ nhanh và nhạy nhằm ghi được các sự kiện tương tác của các hạt nhân mình quan tâm… Vì thế, nghiên cứu cấu trúc hạt nhân trên máy gia tốc hiện nay đòi hỏi trình độ khoa học và công nghệ rất cao cũng như sự kết hợp của nhiều ngành ở mức chuyên sâu, từ công nghệ gia tốc hạt, kỹ thuật đo đạc đến kỹ thuật chân không, điện tử, máy tính…  Nghiên cứu cấu trúc vi mô của hạt nhân trên những thiết bị hiện đại như máy gia tốc cần những nguồn đầu tư tài chính lớn và bền vững trong những giai đoạn dài, có thể kéo dài từ bốn đến 10 năm cũng như cần tập hợp được một đội ngũ đủ mạnh, đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp. Ví dụ, dự án EXL (Exotic nuclei studied in light-ion induced reactions – Nghiên cứu các hạt nhân lạ từ các phản ứng gây bởi ion nhẹ) tại Viện nghiên cứu ion nặng GSI (Đức) cần khoảng 10 năm kể từ những nghiên cứu tiền khả thi đến các thí nghiệm đầu tiên (dự kiến trong hai năm tới), với đầu tư ước tính từ sáu đến tám triệu USD, hay, một dự án nhỏ hơn, COCOTIER (Short-range correlations and isospin: Nghiên cứu isospin và tương quan trong phạm vi ngắn) của Viện nghiên cứu Các định luật cơ bản của vũ trụ (IRFU), thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Pháp, cũng cần đầu tư 400.000 USD trong thời gian bốn năm. Do đó, một trung tâm nghiên cứu riêng lẻ sẽ khó có thể đáp ứng hết các điều kiện cần và đủ này, và trên thực tế, ngay một số trung tâm lớn của nhiều cường quốc về vật lý hạt nhân cũng phải tiến hành mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và coi đó là xu hướng tất yếu để đạt được thành công. Khi đó, các nước tham gia thực hiện cùng một dự án sẽ cùng nhau chia sẻ tài chính, nhân lực và phát huy thế mạnh KH&CN của mình.  Đây chính là lý do để Viện nghiên cứu Hóa lý RIKEN (Nhật Bản) và Viện IRFU khởi xướng một dự án nghiên cứu lớn về cấu trúc hạt nhân mang tên SEASTAR (Shell evolution and search for two-plus energies At RIBF) với ba giai đoạn thí nghiệm, thực hiện tại RIKEN từ năm 2014 đến 2017 dưới dự dẫn dắt của hai nhà khoa học trẻ, TS. Pieter Doornenbal (RIKEN) và TS. Alexandre Obertelli (IRFU). Đúng như tên gọi của mình, Sự tiến hóa của lớp vỏ và cuộc tìm kiếm năng lượng trạng thái hai-cộng tại RIBF (RIBF – Radioactive ion beam facility: thiết bị gia tốc chùm tia phóng xạ), SEASTAR được thực hiện nhằm đo đạc một cách hệ thống năng lượng trạng thái kích thích đầu tiên của hạt nhân và cung cấp thêm số liệu thực nghiệm, bao gồm rất nhiều số liệu lần đầu tiên được ghi nhận. Điều thuận lợi cho dự án là hai cơ sở này đều sở hữu các thiết bị chính để thực hiện thí nghiệm như hệ máy gia tốc chùm tia phóng xạ, detector đo đạc (DAILI27 – Detector Array for Low Intensity radiation 2) tại RIKEN và thiết bị bia hoạt (MINOS8 – MagIc numbers off stability) do IRFU phát triển.  Dự án được điều hành thông qua ban lãnh đạo do các thành viên bầu ra. Ban lãnh đạo quyết định chương trình làm việc và phân công công việc cho những thành viên dựa vào thế mạnh của từng đơn vị. Cứ hai tuần, ban lãnh đạo thí nghiệm đều tổ chức các buổi họp qua mạng (visio conferences) để các thành viên báo cáo tiến độ và kết quả công việc do nhóm mình đảm nhiệm.  Theo các mối quan hệ quốc tế, SEASTAR đã được mở rộng và thu hút gần 100 nhà khoa học đến từ 17 cơ sở nghiên cứu của các viện và trường trên khắp thế giới. Rất may mắn là ngay từ những ngày đầu của dự án, nhóm nghiên cứu Vật lý hạt nhân gồm PGS. TS Nguyễn Tuấn Khải, TS. Lê Xuân Chung và ThS. Bùi Duy Linh (Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) đã tham gia vào dự án thông qua chương trình nghị định thư “Nghiên cứu vật lý các hạt nhân không bền trong phòng thí nghiệm liên hợp Việt – Pháp LIA” với kinh phí hỗ trợ từ Bộ KH&CN cùng các đồng nghiệp quốc tế.  Học hỏi qua nghiên cứu  Với những nhà nghiên cứu trẻ còn mỏng về kinh nghiệm và khiêm tốn về năng lực nghiên cứu như chúng tôi thì việc được cùng làm việc với các đồng nghiệp quốc tế và được thực hiện những thí nghiệm trên các thiết bị hiện đại mà Việt Nam chưa có là một may mắn lớn. Chúng tôi tham gia SEASTAR thông qua mối liên hệ hợp tác với các đồng nghiệp tại IRFU. Trong quá trình tham gia dự án, nhóm nghiên cứu đã được các đồng nghiệp tại IRFU, mà trực tiếp là TS. Alexandre Obertelli, hướng dẫn và giúp đỡ rất nhiều. Ban đầu, nhóm nghiên cứu tham gia vào nhóm phân tích số liệu của SEASTAR xây dựng phát triển chương trình máy tính, có trách nhiệm chung cùng thực hiện các chiến dịch thí nghiệm và đảm nhận phân tích số liệu của 67,68Fe. Nhiệm vụ được nhắc đến đầu tiên có ý nghĩa quan trọng trong việc hòa nhập cùng các nhóm nghiên cứu SEASTAR, xây dựng thuật toán theo dõi quỹ đạo của hạt tương tác, xác định điểm tương tác “nhúng” trong chương trình phân tích chính. Đây là chương trình cần phải được hoàn thiện trước thí nghiệm. Nhiệm vụ thứ hai là việc cùng tham gia chuẩn bị, thực hiện thí nghiệm. Còn nhiệm vụ cuối cùng bao gồm những công việc sau thí nghiệm, phân tích các thông tin vật lý từ số liệu đo đạc, đưa ra những giải thích cho các kết quả thu được.  Nhờ vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân tiếp tục được giao phân tích số liệu của 69,71Fe và 63,65Cr. Bên cạnh việc đóng góp vào kết quả chung của SEASTAR1-6, những số liệu mà nhóm đảm nhiệm phân tích hứa hẹn sẽ cho các sản phẩm khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín với thông tin mới hoặc bổ sung về các trạng thái kích thích và sơ đồ mức của các hạt Fe và Cr nói trên.  Trên thế giới, một dự án nghiên cứu với kinh phí đầu tư một triệu USD được cho là tốt nếu có từ bốn công trình đăng trên Physical Review Letters – một tạp chí chỉ chấp nhận đăng các công trình có tính đột phá, mở đường trong ngành vật lý. Vì thế dù chưa kết thúc thì một dự án như SEASTAR cũng có thể được coi là thành công. Trong thành công chung ấy, dù kinh phí đầu tư còn khiêm tốn nhưng Việt Nam đã thu được một số thành quả nhất định, không chỉ nằm ở các bài báo quốc tế mà còn là sự nâng cao về năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu trẻ Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân trong lĩnh vực cấu trúc hạt nhân nói riêng và vật lý hạt nhân nói chung. Nếu không tham gia những dự án quốc tế như thế này, có lẽ chúng ta sẽ khó có điều kiện triển khai các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực “nóng” như cấu trúc hạt nhân.  Như nhắc đến ở trên, nghiên cứu cấu trúc hạt nhân trên máy gia tốc đòi hỏi thiết bị hiện đại, công nghệ và kỹ thuật cao, kết hợp nhiều ngành cùng với đầu tư kinh phí lớn, những điều kiện mà Việt Nam còn đang rất thiếu và yếu, vì thế, việc tham gia hợp tác quốc tế là cách làm hiệu quả để Việt Nam có thể hội nhập và tiếp cận với trình độ nghiên cứu khoa học hiện đại, qua đó xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ cao về vật lý hạt nhân. Đây sẽ là những yếu tố quan trọng để về lâu dài, khi có đủ tiềm năng về hệ thống cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và mở rộng đội ngũ, chúng ta có thể nghĩ đến việc thực hiện những công việc nghiên cứu theo hướng này trong nước.  ———-  *TS, Trung tâm Vật lý hạt nhân, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.  Tài liệu tham khảo  1 Physical Review Letters, 115, 192501 (2015)  2 Physical Review Letters 118, 032501 (2017)  3 Physical Review Letters 118, 242501 (2017)  4 Physics Letters B 773, 492 (2017)  5 Physical Review C 95, 041302(R) (2017)  6 Physical Review C 96, 011301(R) (2017)  7 Nuclear Instruments and Methods in Physics Research A 763, 596 (2014)  8 The European Physical Journal A 50, 8 (2014)       Author                Lê Xuân Chung        
__label__tiasang Nghiên cứu cơ bản thời khủng hoảng      Pierre Teihard de Chardin, nhà cổ sinh vật học, nhà địa chất học, triết gia, và thầy tu dòng Tên, từng viết: “Lịch sử của sinh giới là sự hình thành những con mắt ngày càng hoàn thiện trong một vũ trụ luôn có những thứ mới để ngắm nhìn.” Câu nói của Teihard đã diễn tả rất hay khao khát hiểu được thế giới tự nhiên của loài người, hay nói cách khác là bản năng làm khoa học của con người.          Giáo sư vật lý Daniel Kleppner, Viện Công nghệ Massachusetts, đồng giám đốc Trung tâm Các nguyên tử siêu lạnh MIT-Harvard, từng giành giải Wolf Vật lý 2015, Huy chươmg Frederic Ives Medal 2007, Huy chương Benjamin Franklin 2014… và nhiều giải thưởng khác. Nguồn: physicstoday.  Ngày nay, sự phát triển bùng nổ của khoa học lại càng cần thiết, vì xã hội rất cần khoa học để đối phó với những vấn đề do biến đổi khí hậu gây ra như mực nước biển dâng cao, những cơn bão khủng khiếp, cháy rừng, hạn hán, và trên hết là nhu cầu về những nguồn năng lượng mới. Nhưng xã hội cũng rất cần thứ khoa học dù không tập trung vào những vấn đề đó nhưng có thể có vai trò cốt yếu trong việc giải quyết chúng. Hãy cùng điểm qua một số tiến bộ gần đây để giải thích cho ý này.  Câu “những con mắt ngày càng hoàn thiện” của Teihard đã khắc họa chính xác sự phát triển của kính thiên văn, từ những dụng cụ quang học thô sơ đầu thế kỷ 17 đến những kính thiên văn vũ trụ ngày nay. Động cơ của sự phát triển khó tin đó là sự tò mò đối với bản chất của vũ trụ: nó là thành quả của nghiên cứu cơ bản, được thúc đẩy bởi niềm thích thú khi hiểu về thế giới; nó tương phản với nghiên cứu ứng dụng, vốn được thúc đẩy bởi nhu cầu giải quyết một vấn đề thực dụng nào đó. Câu nói của Teihard đã mô tả khá tốt nghiên cứu cơ bản.  Công cuộc tìm kiếm một lý thuyết về lực hấp dẫn – chính là Thuyết tương đối rộng – của Einstein là một thí dụ điển hình về nghiên cứu cơ bản. Bài toán mà ông tìm cách giải, tạo ra một lý thuyết tránh được một số điểm mâu thuẫn trong Thuyết hấp dẫn của Newton, hầu như không được ai khác quan tâm và, ít nhất tại thời đó, chẳng có ứng dụng dễ hiểu nào.  Một hệ quả gây sửng sốt của lý thuyết của Einstein là trọng lực tác động đến thời gian. Một cái đồng hồ đặt trên đỉnh núi thì chạy nhanh hơn chút xíu so với một cái đồng hồ y hệt ở độ cao mặt nước biển: một cái đồng hồ trên đỉnh Everest mỗi tháng chạy nhanh thêm vài phần triệu giây.  Dự đoán của Einstein về ảnh hưởng của trọng lực lên thời gian kích thích một cuộc tìm kiếm thực nghiệm. Nó bắt đầu vào ngày 21 tháng 6 năm 1945, ngày tờ New York Times đăng một bài báo với tiêu đề “’Cosmic pendulum’ for clock planned1.” Nó thuật lại một bài phát biểu tại một cuộc họp của Hội Vật lý Mỹ ở thành phố New York; diễn giả là Isidor Isaac Rabi, một nhà vật lý học tại Đại học Columbia. Rabi đề xuất tạo ra một chiếc đồng hồ mà mỗi “tích tắc” được xác định không phải bởi dao động của một con lắc, mà bởi xung của một nguyên tử ở một tần số tự nhiên của nó, theo đó ông đã phát minh ra một kỹ thuật để đo.    Ngày nay, sự phát triển bùng nổ của khoa học lại càng cần thiết, vì xã hội rất cần khoa học để đối phó với những vấn đề do biến đổi khí hậu gây ra và trên hết là nhu cầu về những nguồn năng lượng mới. Nhưng xã hội cũng rất cần thứ khoa học dù không tập trung vào những vấn đề đó nhưng có thể có vai trò cốt yếu trong việc giải quyết chúng.    Độ chính xác của một chiếc đồng hồ nguyên tử như thế có thể cao đến mức khó tin. Bài báo viết: “Giáo sư Rabi nói rằng ông muốn thấy ai đó tạo ra một chiếc đồng hồ nguyên tử cho phép lần đầu tiên kiểm tra ở ngay trên Trái đất định đề của Einstein rằng trường hấp dẫn làm thay đổi tần số phát xạ.” Như vậy, việc phát minh ra đồng hồ nguyên tử trực tiếp nảy sinh từ thắc mắc liệu lực hấp dẫn có ảnh hưởng đến đồng hồ, nghĩa là đến thời gian, hay không. Một chiếc đồng hồ chính xác đến như vậy không có ứng dụng dễ nhận thấy nào khác, vì thế nhiệm vụ đó là một thí dụ hoàn hảo về nghiên cứu cơ bản.  Người ta không vội tạo ra chiếc đồng hồ nguyên tử sau bài phát biểu năm 1945 của Rabi. Nền nghiên cứu khi đó hỗn loạn vì cuộc Chiến tranh Thế giới II, ngoài ra còn một số rào cản kỹ thuật. Nghiên cứu về đồng hồ nguyên tử bắt đầu được tiến hành một cách nghiêm túc vào khoảng năm 1950, và chiếc đồng hồ nguyên tử đầu tiên2 được giới thiệu tại Anh, năm 1954. Đó là chiếc đồng hồ nguyên tử cesium.  Năm 1956, Norman Ramsey, từng là sinh viên của Rabi, đề xuất một loại đồng hồ nguyên tử khác có thể giúp nghiên cứu về dự đoán của Einstein về lực hấp dẫn và thời gian. Thiết bị này, được gọi là maser hydro, được giới thiệu năm 1960. Ngày nay, maser hydro có mặt ở hầu hết các phòng thí nghiệm lưu giữ giờ chuẩn, cùng với các đồng hồ nguyên tử lưu giữ giờ quốc tế khác.      Kính viễn vọng Greenland là một trong 8 kính viễn vọng thuộc nhóm Event Horizon Telescope toàn cầu nhằm quan sát lỗ đen. Nguồn: physicstoday  Mặc dù maser hydro được tạo ra để kiểm chứng giả thuyết của Einstein về lực hấp dẫn và thời gian, nó lại có những ứng dụng bất ngờ đáng chú ý. Chẳng hạn, nhờ có nó mà kỹ thuật thiên văn vô tuyến có tên giao thoa khoảng cách xa (VLBI) mới thực hiện được. Tại mỗi đài thiên văn vô tuyến, một maser đo chính xác thời điểm nhận tín hiệu, qua đó cho phép các phòng thí nghiệm cách xa nhau đồng bộ hóa dữ liệu quan sát được. Với VLBI, các nhà thiên văn học có thể tạo ra các ăng-ten thiên văn vô tuyến có kích thước bằng kích thước cả Trái Đất; chúng cho phép họ lập ra bản đồ hydro của vũ trụ chi tiết một cách đáng kinh ngạc, và cho phép nhìn vào quá khứ đến thời điểm hình thành của vũ trụ.  Một bước tiến mới về ranh giới của lực hấp dẫn mới được công bố. Tại tâm dải Ngân hà, một lỗ đen khổng lồ đang nuốt những vật chất xung quanh. Vật chất rơi vào lỗ đen vĩnh viễn biến mất, nhưng chúng phát xạ mạnh khi đi qua một vùng gọi là chân trời sự kiện. Kính thiên văn Chân trời Sự kiện (EHT), một hệ thống VLBI hiện đại, cho phép chúng ta quan sát quá trình đó, bằng cách kết hợp các tín hiệu từ các kính thiên văn vô tuyến ở khắp nơi trên thế giới. Tháng 4 vừa rồi, nhóm nghiên cứu EHT công bố bức ảnh rõ ràng đầu tiên của hố đen trung tâm của Thiên hà M87. Kính thiên văn EHT sẽ cho phép nghiên cứu những dự đoán của thuyết tương đối rộng về những hiện tượng chưa từng được chứng kiến trước đó: vật chất chuyển động trong những trường hấp dẫn cực mạnh.  Hiệu ứng to lớn nhất của đồng hồ nguyên tử đối với xã hội là sự ra đời của hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Về cơ bản, đó là một hệ thống đo thời gian, với cái lõi là những chiếc đồng hồ nguyên tử. Theo hiểu biết của tác giả, trước khi có đồng hồ nguyên tử, chưa từng có ai nghĩ đến một hệ thống như vậy, và không ai có thể tưởng tượng được sức mạnh của chúng. Ngày nay, GPS đảm bảo hoạt động của các hệ thống điều khiển không lưu dẫn đường cho máy bay, cũng như các hệ thống dẫn đường trên bộ có trong điện thoại thông minh hay trong xe hơi. Nó giúp đồng bộ hóa các mạng thông tin liên lạc và lưới điện, và không thể thiếu trong các hệ thống cấp cứu. Nhưng trên hết, GPS cực kỳ cần thiết để hiểu vì sao biến đổi khí hậu là hiểm họa diệt vong của nhân loại.  Để hiểu về khí hậu toàn cầu, cần có dữ liệu của nhiều yếu tố: dòng năng lượng bức xạ Trái đất nhận được và mất đi, profile nhiệt độ theo bề ngang và theo độ cao, độ phủ của mây và nhiệt độ, profile mặt biển và mặt đất, nhiệt độ và tốc độ gió bề mặt đại dương, lượng mưa toàn cầu, lượng nước trong khí quyển,v.v. Và lượng dữ liệu thu thập được là khổng lồ.  Nguồn dữ liệu chính về khí hậu Trái đất là các vệ tinh khí tượng trên các quỹ đạo cực, một số của Mỹ, một số của châu Âu. Các vệ tinh này quét toàn bộ bề mặt Trái đất bốn lần mỗi ngày. Chúng thường làm việc theo cặp, trao đổi các tín hiệu radar và lidar để đo lượng nước trong vùng cao nhất của khí quyển. Số liệu này rất quan trọng, vì hầu hết nước trong khí quyển tập trung ở vùng này. Ngoài đội vệ tinh khí tượng trên các quỹ đạo cực, những cụm vệ tinh đồng bộ hóa từ nhiều nước khác nhau liên tục nhìn Trái đất. Nước Mỹ có hai cụm nhìn toàn bộ lãnh thổ, một nhìn phần phía Đông và một nhìn phần phía Tây.  Vì hầu hết các số liệu về khí hậu toàn cầu đó không thể đo được nếu thiếu GPS, chúng ta càng cần nhớ rằng nguồn gốc của hệ thống này chỉ là sự tò mò về Thuyết tương đối rộng. GPS là một công nghệ thay đổi cuộc sống mọc ra từ nghiên cứu cơ bản. Chúng ta có thể chỉ ra nhiều thí dụ khác minh họa việc nghiên cứu cơ bản dẫn đến những tiến bộ thay đổi cuộc sống. Trong vật lý chẳng hạn, nghiên cứu của Charles Townes về các phân tử trong không gian dẫn đến phát minh ra laser, và những nghiên cứu về hạt nhân nguyên tử của Edward Purcell và Felix Bloch dẫn đến phát minh ra phương pháp chụp cộng hưởng từ.  Tác giả nhấn mạnh lợi ích không ngờ của nghiên cứu cơ bản vì nhu cầu khẩn cấp của xã hội về những cách mới để đối phó với những khủng hoảng ngày càng tăng do biến đổi khí hậu. Báo cáo mới nhất của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) kết luận rằng những báo cáo trước đó đã có sai sót vì quá thận trọng: thời gian còn lại để cắt giảm luồng khí nhà kính ít hơn dự tính trước đó. Chúng ta đứng trước nguy cơ xảy ra một tình huống mất kiểm soát, khi nhiệt độ cao hơn của Trái đất lại góp phần làm tăng tốc quá trình nóng lên. Một quá trình như vậy sẽ dẫn đến thay đổi lớn về khí hậu và làm cho nước biển dâng lên đến mức thảm họa. Chúng ta đã không thể nhận ra nhân loại đang ở gần thảm họa tới mức như thế nếu không có được những thành tựu quan trọng kể trên của khoa học cơ bản.    Các công dân – cả các nhà khoa học lẫn những người không làm khoa học – cần lên tiếng vì khoa học và đặc biệt vì giá trị của nghiên cứu cơ bản.    Ngày nay, hỗ trợ nghiên cứu cơ bản ở nước Mỹ ngày càng ít đi. Cơ hội nghề nghiệp trong nghiên cứu cơ bản đang giảm dần, cũng như khả năng thu hút sinh viên giỏi từ trong nước Mỹ và từ nước ngoài. Đặt trong bối cảnh của báo cáo mới nhất của IPCC, sự bỏ bê nghiên cứu cơ bản có thể dẫn đến những nguy cơ khôn lường.  Nếu con người học được cách sống hòa hợp với thế giới tự nhiên, thì giai đoạn chuyển giao sẽ cần vai trò vô cùng quan trọng của khoa học. Vấn đề trước mắt của nước Mỹ là phải thuyết phục được Quốc hội rằng tình thế đã rất khẩn cấp. Đáng mừng là những năm áp dụng giáo dục STEM ở Mỹ bắt đầu cho kết quả. Số công dân và đại biểu Quốc hội có hiểu biết khoa học đang tăng. Các đại biểu sẽ lắng nghe nếu các công dân – cả các nhà khoa học lẫn những người không làm khoa học – lên tiếng vì khoa học và đặc biệt vì giá trị của nghiên cứu cơ bản. □     Nguyễn Hoàng Thạch dịch     Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.4194  —  1. Dự án ‘con lắc đồng hồ vũ trụ’.  2. Chiếc đầu tiên chạy chính xác.    Author                Daniel Kleppner        
__label__tiasang Nghiên cứu khoa học: Công và Tư      Trước thực trạng ngành khoa học của chúng ta: trùng lặp và chồng chéo nhiệm vụ, hoạt động rời rạc, thiếu hiệu quả, đội ngũ cán bộ chưa được đánh giá và quản lý đúng mực, trình độ khoa học và công nghệ còn hạn chế so với khu vực và quốc tế, liệu các viện nghiên cứu tư nhân có thể vượt qua những trở ngại trên đây và làm tốt hơn các tổ chức khoa học công lập hiện nay? Nếu câu trả lời là có thì câu hỏi tiếp theo sẽ là tại sao, và như thế nào?      Hai nhà khoa học Arno Penzias và Robert Wilson của Phòng thí nghiệm Bell đã giành giải Nobel vật lý năm 1978.   Bài học từ phòng thí nghiệm Bell  Năm 1964, Arno Penzias và Robert Wilson thử nghiệm một bộ thu nhận tín hiệu radio mới, hoạt động tại nhiệt độ heli lỏng, trên ăng ten còi lớn. Mục đích nhằm thí nghiệm khả năng truyền thông giữa các vùng ở xa nhau trên thế giới bằng cách phát hiện những sóng radio phản xạ từ một vệ tinh khí cầu. Họ gặp một trở ngại bất ngờ: một một tín hiệu nhiễu nền đẳng hướng, có độ lớn tầm 2 bậc, lớn gấp hàng trăm lần so với dự kiến ban đầu. Cả hai nhà nghiên cứu đều là những người làm vật lý, tốt nghiệp tiến sỹ từ Columbia và Caltech, những đại học danh tiếng hàng đầu nước Mỹ. Không chịu bỏ cuộc, họ quyết tâm và tìm ra thủ phạm: tàn dư của khoảnh khắc lóe sáng cuối cùng của Vũ trụ trước khi các electron và proton hòa vào nhau thành các nguyên tử hydro tối, xảy ra 400 nghìn năm sau Big Bang. Khám phá của họ được gọi là Màn vi ba vũ trụ (Cosmic Microwave Background), mang lại giải Nobel Vật lý năm 1978.  Cả Penzias và Wilson đều làm việc ở phòng thí nghiệm Bell. Từ Davisson năm 1937 tới Betzig năm 2014, đã có tám giải Nobel được trao cho những công trình thực hiện tại các phòng thí nghiệm Bell: một minh chứng điển hình cho năng lực của khu vực tư nhân tham gia vào các nghiên cứu khoa học ở đẳng cấp cao nhất. Nó đòi hỏi tinh thần học thuật nghiêm ngặt và sự tôn trọng vô điều kiện cho sự tự do của nhà khoa học trong lựa chọn con đường nghiên cứu; nói cách khác, nó cho thấy sự trung thành với những nguyên tắc căn bản trong đạo đức, hoạt động, và phương pháp khoa học. Trong nhiều thập kỷ, những giám đốc của các phòng thí nghiệm Bell đều là các nhà khoa học danh tiếng: việc định hướng nghiên cứu khoa học thành công phải do những con người như vậy, không thể đặt trong tay những người mà chúng ta thường gọi là các nhà quản lý khoa học hay các nhà kinh doanh.  Trong một bài báo gần đây, tôi có khuyến nghị về Quyết định số 171 (27/1/2016) của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Quyết định này cho thấy thực trạng ngành khoa học của chúng ta: trùng lặp và chồng chéo nhiệm vụ, hoạt động rời rạc, thiếu hiệu quả, đội ngũ nhân sự không được đánh giá và quản lý đúng mực, trình độ khoa học và công nghệ thấp so với khu vực và quốc tế. Giải pháp mà Quyết định này đưa ra là tái cơ cấu và tổ chức lại một cách quyết liệt, khuyến khích các viện nghiên cứu công lập tự chủ hơn về tài chính, với phong cách quản lý gần hơn với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, tôi đã bày tỏ lo ngại về xu hướng này, bởi nền kinh tế của Việt Nam vẫn đang dựa nhiều vào lao động giá rẻ và vẫn còn một chặng đường dài trước khi chúng ta có thể chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó khoa học và công nghệ cần sự ủng hộ đầy đủ, thiết thực, và mạnh mẽ từ Chính phủ, thay vì bị đẩy vào thế tự xoay xở tìm cách sinh tồn.      Để khắc phục tình trang hoạt động thiếu hiệu quả của ngành khoa học, chúng ta phải thay đổi phong cách, áp dụng những chuẩn mực học thuật và đạo đức nghiêm ngặt, coi trọng tri thức hơn tiền bạc, khuyến khích sự chuyên nghiệp và chuyên cân.      Thật đáng buồn nếu các nhà quản lý giáo dục đại học và khoa học ở Việt Nam, đứng trước những thách thức khó khăn của đất nước, lại từ bỏ chức năng và trách nhiệm của mình và đẩy chúng sang khu vực tư nhân, dù đó là các đại học tư hay viện nghiên cứu tư nhân. Nguyên nhân của thực trạng hiện nay có gốc rễ từ rất sâu, đó là sự không tuân thủ những nguyên tắc căn bản về đạo đức khoa học mà tôi nêu ra trên đây. Để khắc phục tình trạng này, chúng ta phải thay đổi phong cách, áp dụng những chuẩn mực học thuật và đạo đức nghiêm ngặt, coi trọng tri thức hơn tiền bạc, khuyến khích sự chuyên nghiệp và chuyên cần.  Ngược lại, sẽ là đáng biểu dương nếu các nhà quản lý giáo dục đại học và khoa học ở Việt Nam, giữa những khó khăn trước mắt, biết phát huy tối ưu các nguồn lực để giúp quá trình chuyển đổi [đất nước sang nền kinh tế tri thức] thành công. Một trong những nguồn lực quan trọng đó chính là thế hệ trẻ, những người cần được khuyến khích tham gia tiếng nói, với nhận thức sâu sắc rằng vận mệnh tương lai đất nước nằm trong tay bản thân họ – điều mà tôi đã khuyến nghị về điều này nhiều lần trong các bài báo. Sau đây, tôi xin dành đôi lời để nói về một nguồn lực quan trọng khác, đó là sự tham gia của khu vực tư nhân trong nghiên cứu khoa học.  Viện nghiên cứu tư nhân: Những trở ngại phải vượt qua  Ở đây, chúng ta cần làm rõ những ranh giới và tránh sử dụng sai ngôn từ. Chúng ta khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư các nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực của họ. Chính phủ có thể hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp về tài chính, như miễn giảm thuế cho doanh nghiệp công nghệ cao, hay tài trợ cho các doanh nghiệp làm nghiên cứu có hồ sơ đăng lý thuyết phục.  Tuy nhiên, có nên khuyến khích hay không việc hình thành các viện nghiên cứu tư nhân một cách trực tiếp, hay gián tiếp bằng cách đặt trong các đại học tư nhân, lại là một vấn đề có bản chất hoàn toàn khác. Vai trò và ảnh hưởng của khu vực tư nhân trong nghiên cứu khoa học là một chủ đề rộng, thu hút nhiều sự quan tâm, có thể là đề tài cho nhiều bài báo của Tia Sáng, và đến nay đã được bàn luận khá nhiều. Nhưng ở đây chúng ta chỉ tập trung vào một câu hỏi đơn giản: khu vực tư nhân ở Việt Nam liệu có khả năng hình thành các viện nghiên cứu hoạt động thành công? Nếu câu trả lời là có thì câu hỏi tiếp theo sẽ là tại sao, và như thế nào?    Đại học Duy Tân là một trong những trường đại học tư của Việt Nam có đào tạo các môn khoa học cơ bản. nguồn: ĐH Duy Tân  Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhìn lại những trở ngại cho sự phát triển nền khoa học của đất nước; chúng khá quen thuộc và vẫn thường được giới khoa học đề cập đến. Tôi xin điểm sơ qua những vấn đề nghiêm trọng nhất.  Tri thức và năng lực chuyên môn bị coi nhẹ so với tiền bạc. Hậu quả của điều này là những người làm quản lý được trả lương và dành sự tôn trọng cao hơn so với các nhà khoa học; Tầm nhìn trong quy hoạch và xây dựng các chính sách khoa học còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học và công nghệ của đất nước và chưa bám sát tình hình xu hướng phát triển các lĩnh vực khoa học hiện đại trên thế giới. Một trong những hậu quả là nền giáo dục đại học kém chất lượng, quá nhiều sinh viên chạy theo các ngành quản trị, kinh doanh, truyền thông… và quá ít người được đào tạo trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu. Một hậu quả khác là sự chênh lệch giữa chương trình giảng dạy của các đại học so với yêu cầu trong thực tiễn phát triển đất nước. Đơn cử như các giáo trình giảng dạy ngành vật lý hạt nhân của Việt Nam hiện nay vẫn chỉ tương đương với những gì tôi từng được học từ sáu mươi năm trước – thực tế cho thấy Việt Nam không thể đào tạo được đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học cần thiết để có thể hiện thực hóa dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trước đây. Các ngành vật lý thiên văn và những lĩnh vực được quan tâm nhất của vật lý hiện đại không hề được đào tạo ở cấp tiến sỹ, trong khi những nỗ lực gần đây nhằm xây dựng một chương trình đào tạo tiến sỹ vật lý thiên văn đã bị cản trở bởi những người làm công tác quản lý trong hệ thống hiện tại.  Văn hóa khoa học căn bản vẫn còn là điều xa lạ, nhiều người có thái độ coi trọng lý luận hơn việc thực hành, đo lường, kiểm chứng; thiếu hiểu biết về trách nhiệm dành ngân sách cho vận hành và bảo trì khi sở hữu các thiết bị khoa học; không hiểu rằng việc mua sắm các thiết bị khoa học phải là kết quả từ một đề xuất chính đáng và được giải trình cặn kẽ từ cộng đồng những người sẽ sử dụng chúng, thay vì chỉ thuần túy là những quyết định từ trên xuống của những người lãnh đạo thiếu năng lực: chúng ta không thể mua sắm thiết bị về rồi mới tìm đối tượng sử dụng.Thiếu tuân thủ những nguyên tắc đạo đức nghiêm ngặt vốn là một phần tất yếu trong khoa học: gần đây chúng ta được biết về tai tiếng gian lận trong kỳ thi đại học; nạn đạo văn vẫn chưa được khắc phục đáng kể; việc bổ nhiệm và tuyển dụng được thực hiện một cách thiếu trung lập và khách quan. Nạn tham nhũng và thói gia đình trị là những điều không được cho phép tồn tại ở môi trường đại học và các viện nghiên cứu.      Để thành công, một tổ chức nghiên cứu tư nhân chắc chắn cần sự hỗ trợ từ một tổ chức đủ mạnh để có thể triển khai những đổi mới cần thiết về đạo đức, văn hóa khoa học và cách thức đưa ra các quyết định. Bên cạnh đó phải đảm bảo thu nhập và những điều kiện làm việc làm việc đủ để thu hút các nhà khoa học tài năng.      Thiếu sự tham gia đúng mức của các nhà khoa học, đặc biệt là những người làm post-doc trẻ tuổi trong quá trình xây dựng các chính sách định hình nên diện mạo nền nghiên cứu khoa học của đất nước; thiếu các ủy ban tư vấn khoa học với sự tham gia của các nhà khoa học quốc tế giàu uy tín, những người có đạo đức học thuật và tinh thần khách quan khoa học không thể nghi ngờ để có thể đưa ra các khuyến nghị thẳng thắn cần thiết. Khi những hội đồng như vậy được thành lập, thường là do các sáng kiến từ quốc tế, thì những khuyến nghị giàu chất lượng của họ thường không được lắng nghe và tiếp thu đúng mức.  Chưa khuyến khích sự tiến bộ và những nỗ lực chống lại thói quan liêu và bảo thủ trì trệ trong các quy trình thủ tục hành chính; tôi đã đề cập một số lần, như một ví dụ minh họa về sự cứng nhắc đáng hổ thẹn trong quá trình chúng ta hợp tác đồng đào tạo tiến sỹ với các đại học quốc tế giàu uy tín.  Trong bối cảnh như vậy, chúng ta lại đặt câu hỏi: liệu các viện nghiên cứu tư nhân có thể vượt qua những trở ngại trên đây và làm tốt hơn các tổ chức khoa học công lập hiện nay?   Một điều cần khẳng định rõ: để thành công, một tổ chức nghiên cứu tư nhân chắc chắn cần sự hỗ trợ từ một tổ chức đủ mạnh. Chúng ta không thể nghĩ rằng một đại học nhỏ tự gắn vào mình các mỹ từ “đại học nghiên cứu” để mau chóng cải thiện hình ảnh sẽ có thể thực sự thành công.  Cần một tổ chức rất mạnh để có thể triển khai những đổi mới cần thiết về đạo đức, văn hóa khoa học, và cách thức đưa ra các quyết định. Bên cạnh đó phải đảm bảo thu nhập và những điều kiện làm việc đủ để thu hút các nhà khoa học tài năng.  Tuy nhiên, những bình luận trên không nên được coi như sự không ủng hộ khu vực tư nhân tham gia đầu tư cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Trái lại, chỉ cần các tổ chức đó đặt ra những mục tiêu khả thi và phù hợp với môi trường khoa học, kinh tế và chính trị, xã hội hiện nay, thì mọi nỗ lực hướng tới phụng sự lợi ích của khoa học và đất nước phải được khuyến khích và ủng hộ.  Một trong những sáng kiến cụ thể như vậy mà gần đây tôi được biết, đó là kỳ vọng của GS. Trần Thanh Vân hình thành tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành (ICSE) mà ông thành lập ở Quy Nhơn, một nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu vật lý lượng tử. Họ làm cả về lý thuyết, với nghiên cứu về vật lý xa hơn Mô hình Chuẩn trong Vật lý lượng tử, cụ thể là về Siêu đối xứng, và thực hành, với sự hợp tác từ các nhà vật lý của Viện KEK (Nhật Bản) trong nghiên cứu về các chùm neutrino đường truyền dài, một lĩnh vực vật lý lượng tử tiên tiến nhất hiện nay. Trong hơn hai thập kỷ, chúng ta đã không thể xây dựng một nhóm nghiên cứu vật lý lượng tử thực nghiệm mà cơ bản là do thiếu động lực để hỗ trợ đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần cho một nhóm nghiên cứu như vậy. Nhiều sinh viên trẻ được gửi đi du học trong ngành vật lý lượng tử thực nghiệm ở những phòng thí nghiệm quốc tế danh tiếng, nhưng những tài năng như vậy khi về nước lại không được phát huy gây lãng phí chất xám và tiền bạc cho quốc gia. Vì vậy tôi hi vọng rằng ICISE, không bị trói buộc bởi những rào cản quá khứ, sẽ có thể gặt hái thành công mà những tổ chức khoa học công lập đã chưa thể làm được.   Tôi tin rằng nhiều sáng kiến tương tự khác đang và sẽ được triển khai trên nhiều ngành nghiên cứu khác nhau, từ nông nghiệp tới y tế. Họ cần có sự ủng hộ và hỗ trợ mạnh mẽ từ chúng ta.  Thanh Xuân lược dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Nghiên cứu khoa học về cơ giới nông nghiệp mờ nhạt      Cơ chế phục vụ nghiên cứu bó buộc, cán bộ khoa học thiếu động lực, cơ khí chế tạo đi kèm yếu kém… Vô số nguyên nhân kìm trói đang khiến việc nghiên cứu khoa học về máy móc cơ giới nông nghiệp èo uột, mờ nhạt.      350 cán bộ và những chiếc máy “chết yểu”  Cơ quan nghiên cứu khoa học về máy cơ giới nông nghiệp đã làm gì trong việc gánh vác, đón đầu yêu cầu hiện đại hóa ngành nông nghiệp…? Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi đã tìm tới Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch (VIAEP – Bộ NN-PTNT) – đơn vị đầu ngành nghiên cứu về máy nông nghiệp hiện nay.  Báo cáo của lãnh đạo VIAEP cho thấy với bộ máy rải khắp từ Bắc tới Nam, gồm 3 phòng quản lí chức năng, 6 bộ môn nghiên cứu và 8 đơn vị trực thuộc, tổng số cán bộ nhân viên của Viện hiện nay là 350 người (260 cán bộ biên chế). Về trình độ chuyên môn, Viện có 23 tiến sĩ, 61 thạc sĩ và 139 kỹ sư…  Với đội ngũ cán bộ hùng hậu ấy, chỉ tính riêng kinh phí nhà nước cấp cho các đề tài/dự án nghiên cứu khoa học, trung bình mỗi năm Viện tiêu hết hơn 10 tỉ đồng. Xin không bình luận về kinh phí ấy nhiều hay ít, nhưng điểm lại về kết quả của những đề tài nghiên cứu của Viện này thì quả là đáng lo.  Báo cáo của Viện cho thấy trong vòng 5 năm gần đây (2009 – 2013), trong tổng số 27 đề tài/dự án nghiên cứu, có tới 21 đề tài/dự án liên quan tới máy cơ giới nông nghiệp (bao gồm cả bảo quản, chế biến). Năm 2013, trong tổng số 14 đề tài/dự án mà Viện đang triển khai thì 10 đề tài/dự án liên quan tới máy cơ giới nông nghiệp.   Những con số này cho thấy so với mảng công nghệ sau thu hoạch, tỉ lệ nghiên cứu về máy cơ giới nông nghiệp luôn áp đảo. Thế nhưng nghịch lí là trong khi tỉ lệ đề tài nghiên cứu về máy nông nghiệp rất lớn, thì đội ngũ cán bộ phục vụ nghiên cứu mảng cơ giới hóa của Viện lại rất ít ỏi, chỉ chiếm 1/3 tổng số cán bộ của Viện.  Lí giải về điều này, TS Chu Văn Thiện, Viện trưởng VIAEP nhận xét: Sở dĩ cán bộ nghiên cứu về máy cơ khí như thế là bởi đây là mảng nghiên cứu vừa phức tạp, vừa khó chuyển giao, lợi nhuận thấp mà rủi ro lại cao nên ai cũng ngại. Đặc biệt đối với máy canh tác là mảng khó và quan trọng nhất, số đề tài nghiên cứu hiện rất ít, ước chỉ chiếm 1/3 tổng số đề tài.   Điểm qua danh sách của gần chục đề tài nghiên cứu về máy canh tác của VIAEP trong 5 – 7 năm qua, nổi lên chỉ có dăm ba sản phẩm như: máy cấy MC-6-25; seri máy làm đất và chăm sóc mía (máy phay băm lá và gốc mía PBL-2, máy bạt gốc mía BG-1…); máy thu hoạch mía rải hàng, máy nâng mía; máy gặt ngô liên hợp; máy tẽ ngô; máy gieo lạc, đào lạc…   Trong những danh sách ấy, máy cấy MC-6-25 thì như đã biết hiện nay không còn tiêu thụ được trên thị trường, máy thu hoạch mía, máy nâng mía thì đang chạy thử nghiệm và nghiên cứu, máy tẽ ngô thì đã là sáng kiến quá cũ kỹ… Những loại máy khác trong danh sách đề tài nghiên cứu của VIAEP, đều gần như mất tăm trên thị trường.  Vì sao “chết yểu”?  Đánh giá chất lượng nghiên cứu về máy nông nghiệp của các nhà khoa học Việt Nam, “kỹ sư nông dân” Nguyễn Hữu Tùy (Ứng Hòa, Hà Nội) đúc kết: Chẳng phải các nhà khoa học của VN kém. Bằng chứng là chúng ta cũng đã nghiên cứu, thử nghiệm thành công rất nhiều mẫu máy, như máy gặt đập liên hợp, máy cấy, máy gieo đậu tương, máy thu hoạch ngô – lạc… có khả năng ứng dụng không thua kém gì máy Trung Quốc. Thế nhưng đáng buồn là sau khi chạy thử, lại không thể ra thị trường.  Theo ông Tùy, điều này có nguyên nhân cơ bản là ngành cơ khí SX phụ tùng, linh kiện đi kèm của VN rất yếu. “Máy nghiên cứu ra rồi, nhưng không có đơn vị SX linh kiện, phụ tùng hàng loạt thì cũng chịu. Muốn ra được sản phẩm, công nghiệp cơ khí chế tạo phải đi trước một bước. Mà để có những dây chuyền SX linh kiện cho những sản phẩm như máy gặt đập, phải có NM đồ sộ như NM SX xe tăng, làm được từ con ốc tới cái bánh đai, dao cắt… trở lên chứ chẳng đùa! Việc đó lại phải là một câu chuyện khác của ngành công nghiệp” – ông Tùy đánh giá.  TS Chu Văn Thiện – Viện trưởng VIAEP dẫn chứng thêm: Khó khăn lớn nhất để đưa các kết quả nghiên cứu ra ứng dụng đó là mặt bằng công nghệ chế tạo hiện nay rất thấp. Đơn cử như máy cấy, máy GĐLH… thực ra VIAEP nghiên cứu thành công từ lâu, nhưng cái khó khi đưa các mẫu linh kiện đi đặt hàng, các đơn vị cơ khí chế tạo đều không SX được các linh kiện phức tạp, hoặc SX được linh kiện đơn giản thì giá thành rất cao, độ bền rất kém.   Thế nên hiện nay các linh kiện quan trọng của máy cấy, máy GĐLH như trục quay, tay cấy, động cơ, bánh xích, hộp số… chúng ta đều phải NK nên càng thiếu đồng bộ, máy hay hỏng, giá thành bị đội lên nên lại càng khó khăn.  Cái gì cũng dở dở, ương ương  Ở một khía cạnh khác, TS Đoàn Xuân Thìn – Phó Tổng thư ký Hội Cơ khí nông nghiệp VN cho rằng, nguyên do khiến cho những công trình nghiên cứu về máy nông nghiệp của VN lâu nay luôn dở dang, “chết yểu” là bởi việc kế tục, cải tiến và hoàn thiện của các đề tài nghiên cứu gần như không có. Điều này xuất phát từ căn bệnh của cơ chế nghiên cứu khoa học cứng nhắc hiện nay.  Từng công tác ở VIAEP trước đây, TS Thìn lấy dẫn chứng: Máy GĐLH thực ra VN (mà cụ thể chính là VIAEP) đã bắt tay nghiên cứu từ năm 1980. Tới khoảng năm 1990, mặc dù còn có khá nhiều nhược điểm nhưng máy GĐLH cũng đã được đưa ra chạy thử nghiệm thành công trên ruộng khô. Đúng lúc đang cần tiếp tục nghiên cứu cải tiến chức năng, thì oái oăm là thời gian thực hiện đề tài, kinh phí hết.   Về sau, nhiều nông dân ĐBSCL cải tiến mỗi người một kiểu nên nhược điểm chung là máy chạy không ổn định, tỉ lệ thất thoát cao, chức năng đơn điệu, kén địa hình, hỏng rất nhanh, mỗi lúc hỏng thì rất vất vả do phụ tùng không có… Khi cơn bão máy giá rẻ TQ, máy Nhật, máy Hàn Quốc tràn vào những năm gần đây thì các máy này gần như nằm đắp chiếu.  “Sau khi đề tài nghiên cứu máy GĐLH đầu tiên chấm dứt, nhiều người tiếc rẻ, muốn xin tiếp đề tài để hoàn thiện mẫu máy này, nhưng đâu có dễ, bởi cơ quan thẩm định đề tài họ bảo đề tài trùng lắp, có mỗi cái máy GĐLH mà cứ nghiên cứu mãi…? Ở nước ngoài, người ta nghiên cứu một cái máy có khi cả đời. Thậm chí đời cha nghiên cứu dở, tới đời con mới hoàn thiện được. Còn ở ta, cơ chế xin – cho đề tài như thế nên chẳng có ai theo cái máy nào được cả đời, khiến cái gì cũng dở dở ương ương” – ông Thìn nói.            Phải cởi trói!              “Nếu không cởi trói về cơ chế tài chính, sẽ khó mà cựa  quậy được để có thể nghiên cứu ra được sản phẩm hoàn thiện. Nghiên cứu  khác xây dựng cơ bản, bởi nó phát sinh liên tục trong quá trình thực  hiện, nhưng cơ chế hiện nay đâu có thể bổ sung kinh phí giữa chừng được?              Theo  tôi, cần phải chuyển sang cơ chế khoán tài chính cho đề tài. Theo đó,  chỉ đánh giá sản phẩm nghiên cứu cuối cùng, còn kinh phí được giao, phải  để cho các đơn vị nghiên cứu tự chủ điều chỉnh sử dụng trong quá trình  thực hiện.               Đồng thời, cơ chế nghiên cứu phải cho phép thực hiện kế  tục đề tài theo các pha, các bước mới có thể theo đuổi sản phẩm tới khi  hoàn thiện cuối cùng (hiện VIAEP đang kiến nghị áp dụng đối với máy thu  hoạch mía)”.                                                     (TS Chu Văn Thiện – Viện trưởng VIAEP)   Còn đâu thời “trâu đỏ ăn gà”?              “Trâu  đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà – câu nói một thời chỉ cái sự “oách” của dân  cơ khí nông nghiệp, dù chỉ là anh lái máy cày. Thế mà bây giờ, thử hỏi  những tiến sĩ, giáo sư ở các viện nghiên cứu, có ai còn động lực để làm  việc không?               Những ông chủ cơ sở SX máy cày tư nhân như tôi, nghiên  cứu ra máy là có động lực, có tiền, đời tôi không hưởng thì đời con tôi  hưởng”                                                        (“Kỹ sư nông dân” Nguyễn Văn Tùy)              “Trước đây, chúng ta  từng có cả một hệ thống quản lí nhà nước bài bản về máy nông nghiệp, bây  giờ chỉ còn lại Trung tâm Kiểm định máy (Cục chế biến, thương mại  NLTS& Nghề muối), nhưng thực tế ai thích kiểm định thì kiểm định, ai  không thích cũng chẳng sao. Máy móc nông nghiệp NK, có cả hàng cũ, hàng  “bãi” hiện nay tràn vào VN như thác, rồi tới các cơ sở SX máy tư nhân  cũng chẳng cơ quan nào giám sát chất lượng”.                                             (TS Đoàn Xuân Thìn – Phó Tổng thư ký Hội cơ khí nông nghiệp VN)          Theo Nông nghiệp Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu KHXH&NV: Hướng tới chuẩn mực quốc tế      Thách thức tiếp theo cho Nafosted là làm sao  đưa chất lượng nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn  (KHXH&amp;NV) tiếp cận chuẩn mực quốc tế mà lĩnh vực khoa học cơ bản  trong khoa học tự nhiên đã làm được.     Kết quả ấn tượng nhất qua nghiệm thu các đề tài trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên tại Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia là số lượng công bố quốc tế: trong số 165 đề tài nghiệm thu trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên sau 2 năm nghiên cứu, tổng số công bố ISI là 692, đạt tỉ lệ trên 4 công bố/đề tài. Để thấy ý nghĩa của con số này, tại cuộc họp tổng kết công tác năm 2012 của Nafosted, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Đình Tiến đã đưa ra một con số so sánh: chương trình nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên của Bộ Khoa học và Công nghệ trong cả giai đoạn 2006-2010, với số lượng đề tài được phê duyệt lên tới khoảng 1000 đề tài, nhưng số lượng công bố quốc tế chỉ khoảng gần 200.   Theo ông, dù đội ngũ các nhà nghiên cứu không thay đổi nhiều, nhưng nguyên nhân chính khiến các đề tài được Nafosted cấp kinh phí đạt được số lượng công bố quốc tế cao vượt bậc so với chương trình của Bộ chỉ sau 2 năm – cả về số lượng thuần túy lẫn tỷ lệ lượng công bố quốc tế/đề tài – là tiêu chí bắt buộc có sản phẩm công bố quốc tế mà Nafosted đặt ra để xét duyệt/nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản.   Giới khoa học cho rằng chính với tiêu chí cụ thể về công bố quốc tế trong yêu cầu xét duyệt/nghiệm thu đề tài cùng các tiêu chí khác về tư cách chủ nhiệm đề tài và thành viên hội đồng, đã giúp hoạt động của Nafosted tiếp cận được với chuẩn mực quốc tế, qua đó về cơ bản đã loại trừ được vấn nạn “cây đa, cây đề”, “cai đầu dài” trong việc thực hiện đề tài và trong hoạt động thẩm định tại các hội đồng ngành, vốn tồn tại nhiều năm trước đây với rất nhiều tiêu cực. Điều này đồng thời khuyến khích được sự tham gia của các nhà khoa học trẻ có năng lực, giúp hoạt động nghiên cứu có tính công bằng hơn và đạt hiệu quả thực chất cao hơn.  Kết quả về số lượng công bố quốc tế mà Nafosted đạt được qua các đề tài cũng chính là cơ sở quan trọng giúp Quỹ giành được sự tin cậy từ các tổ chức quốc tế về tính minh bạch trong tổ chức hoạt động cũng như chất lượng các hội đồng ngành của Quỹ. Do vậy gần đây, Nafosted đã được tham gia thực hiện Dự án “Đối mới sáng tạo hướng tới người nghèo” (VIIP) triển khai tại Việt Nam do Ngân hàng Thế giới cấp vốn. Ngoài ra, Quỹ cũng thiết lập được quan hệ với các đối tác như Quỹ Khoa học Đức (DFG), Quỹ Giáo dục Việt Nam của Mỹ (VEF), Viện Nghiên cứu phát triển và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (IRD và CNRS), Hiệp hội Phát triển Khoa học Nhật Bản (JSPS), v.v.  Nhưng thách thức tiếp theo cho Nafosted là làm sao đưa chất lượng nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) tiếp cận chuẩn mực quốc tế mà lĩnh vực khoa học cơ bản trong khoa học tự nhiên đã làm được. Hiện nay, các công trình nghiên cứu KHXH&NV do Nafosted tài trợ vẫn chưa đặt ra yêu cầu bắt buộc phải có công bố quốc tế, chủ yếu do có ý kiến cho rằng nhiều đề tài KHXH&NV nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội mà Nhà nước đặt ra, và vì nhiều lý do, không phải đề tài nào thuộc diện này cũng có thể có công bố quốc tế được. Tuy nhiên, ngược lại có ý kiến cho rằng việc không đòi hỏi bắt buộc về công bố quốc tế khiến chất lượng các đề tài KHXH&NV cũng như năng lực các nhà nghiên cứu ngày càng tụt hậu so với thế giới và khu vực.    Vì vậy, Nafosted cần tìm ra giải pháp nâng cao tính công khai minh bạch trong hoạt động xét duyệt, nghiệm thu đề tài nghiên cứu, tạo sân chơi công bằng và hiệu quả trong lĩnh vực KHXH&NV. Chẳng hạn như Quỹ có thể dành một khoản kinh phí đáng kể nhất định cho nhóm các đề tài có ràng buộc về điều kiện công bố quốc tế. Phần kinh phí Nhà nước dành cho các đề tài phục vụ nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội có thể thông qua một quỹ khác (và những nhiệm vụ đòi hỏi kinh phí lớn thì tốt nhất nên do Nhà nước đặt hàng), hoặc nếu được Nafosted tài trợ thì nên được xét duyệt và thẩm định bởi những hội đồng có sự tham gia tối đa (nếu không được tất cả) thành phần các nhà khoa học từng có công bố quốc tế.                         TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu KHXH&NV: Nguyên nhân khó công bố quốc tế      PGS. TS Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ VH, TT, DL) đã nêu lên một số nguyên nhân và khó khăn khiến các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV của Việt Nam khó công bố quốc tế trên các tạp chí ISI.      PGS. TS Nguyễn Thị Hiền. Nguồn: nhandan.com.vn  Từ khi Quỹ NAFOSTED thông qua điều kiện các chủ nhiệm đề tài nộp hồ sơ xin tài trợ phải có bài công bố trên các tạp chí chuẩn ISI (viết tắt tạp chí ISI), số lượng hồ sơ tham gia xét duyệt giảm đáng kể. Nhiều nhà khoa học cho rằng đây là một định hướng đúng đắn, thể hiện nỗ lực và tầm nhìn chiến lược của nền khoa học Việt Nam (Nguyễn Công Thảo 2016). Năm 2016, Hội đồng Khoa học liên ngành Văn hóa học, Nghiên cứu nghệ thuật, Thông tin đại chúng và Truyền thông (Quỹ NAFOSTED) không nhận được hồ sơ nào. Một trong những lý do dẫn đến việc ít hoặc không có hồ sơ tham gia xét duyệt là do các nhà khoa học muốn xin tài trợ của Quỹ NAFOSTED không đủ điều kiện công bố quốc tế trong các tạp chí ISI.  Một điều chung cho tất cả các công trình khoa học (cấp bộ, cấp trường/viện, dự án xin các Quỹ tài trợ) là sản phẩm khoa học được công bố, được ứng dụng. Khi bắt đầu một đề tài, người nghiên cứu phải tìm đọc các bài báo của các tác giả khác về lĩnh vực đó nhằm nắm bắt những kiến thức nền tảng và cập nhật xu thế nghiên cứu của ngành nói chung và của đề tài nói riêng. Từ đó, nhà nghiên cứu định ra hướng đi, tìm tòi vấn đề nghiên cứu riêng của mình. Một công trình nghiên cứu chỉ được coi là có giá trị khoa học khi kết quả của nó được viết thành các bài báo đăng trên các tạp chí, một chương trong một cuốn sách có chủ biên, hay một chuyên khảo mà những ấn phẩm này được thẩm định về chuyên môn thông qua phản biện của các chuyên gia (peer-review, có người gọi là bình duyệt). Đồng thời, một số những kết quả công bố này cũng được ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống và trong chính sách phát triển. Một nhà nghiên cứu tạo được uy tín cho mình là có những công trình nghiên cứu để đời, tức là công trình có tiếng được trích dẫn và được sử dụng nhiều trong học thuật và trong thực tiễn.  Công trình công bố quốc tế được biết đến nhiều hơn và được trích dẫn, sử dụng trong phạm vi toàn thế giới. Nhiều nhà khoa học đã biết câu nói cửa miệng ở phương Tây “Công bố hay là chết”, còn tôi thì nói “Công bố quốc tế hay giậm chân tại chỗ”.  Trong bài này, tôi muốn nhấn mạnh đến việc ngành KHXH&NV của Việt Nam cần phải hội nhập, các nhà nghiên cứu trong nước cần khẳng định vị thế của mình trong nước và thế giới thông qua các sản phẩm công bố quốc tế.  “Công bố quốc tế hay giậm chân tại chỗ”  Tôi rất hoan nghênh một số viện/trường đã hỗ trợ cho các công bố quốc tế (từ 7 triệu đến hàng trăm triệu) (Xem thêm Ngân Anh 2015). Điều này cho thấy sự chuyển biến tích cực ở Việt Nam trong diễn đàn học thuật quốc tế, khi ở nhiều đơn vị, các nhà quản lý quan tâm và khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ có bài công bố quốc tế. Trong khi đó, nhiều sản phẩm, kết quả của các đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước hiện nay nhận kinh phí của nhà nước triển khai chưa yêu cầu công bố quốc tế.  Nếu các loại đề tài này cũng có những yêu cầu gắt gao về mặt sản phẩm công bố quốc tế như Quỹ NAFOSTED, thì ngành KHXH&NV đã tạo được những bước tiến triển trong hội nhập. Trên thực tế, trong ngành KHXH&NV, các báo cáo tổng hợp của các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ bảo vệ xong, thì thường là để ngăn tủ, chỉ một số ít báo cáo được in thành chuyên khảo, hay được công bố thành các bài báo trong các tạp chí trong nước, và hầu như không có công bố quốc tế, hoặc tham gia hội thảo thường niên của các hội thảo thường niên của các Hội chuyên ngành liên quan (Xem thêm Nguyễn Công Thảo 2016).      Quan điểm quá nhấn mạnh vào thực trạng và giải pháp, khuyến nghị của một đề tài, dự án đã và đang ảnh hưởng rất lớn việc công bố quốc gia và quốc tế.      Tác giả Nguyễn Văn Tuấn nêu 9 lý do cần công bố quốc tế: (1) Nghĩa vụ và đạo đức; (2) Đóng góp vào tri thức quốc tế; (3)Phúc lợi xã hội; (4) Chứng từ khoa học; (5) Chuẩn mực khách quan; (6) Sự nghiệp nhà nghiên cứu; (7) Cơ hội hợp tác; (8) Hội nhập quốc tế; (9) Nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam (Nguyễn Văn Tuấn 2015). Công bố quốc tế còn tạo ra cơ hội trao đổi thông tin đa chiều, minh bạch và “phản ánh tâm thế hội nhập của đất nước” và “trách nhiệm công dân toàn cầu của nhà khoa học” (Nguyễn Công Thảo 2016). Với những lý do này, chúng ta không nên ngụy biện những điều kiện, hay nguyên nhân khiến cho không có hoặc ít công bố quốc tế.  Công bố quốc tế là để ngành KHXH&NV của Việt Nam hội nhập, nâng cao vị thế của chính bản thân các nhà khoa học, của các Viện/Trường. Một số Trường/Viện nghiên cứu ở Việt Nam đang trên đà phát triển, phấn đấu trở thành cơ sở đầu ngành của quốc gia và ngang tầm khu vực và thế giới. Do vậy, công bố quốc tế mà một hình thức khẳng định ví thế và hội nhập, và có thể coi là một trong những nhiệm vụ then chốt trong chiến lược phát triển của các cơ sở này. Theo ‘luật của thế giới’, đánh giá năng lực của nhà nghiên cứu, của Viện/Trường là thông qua công bố quốc tế trên những tạp chí có uy tín. “Nếu anh không có bài báo tức là anh đứng ngoài cuộc chơi và không được cộng đồng khoa học thừa nhận” (Tạ Cao Minh 2012).  Nếu mỗi cán bộ làm khoa học, các Viện/Trường chưa nhận thấy công bố khoa học quốc tế là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay, thì các chiến lược phát triển của họ nhằm tạo uy tín, có vị thế, tăng cường hội nhập, trao đổi học sẽ chỉ giậm chân tại chỗ.  Khó công bố quốc tế  Lý do khách quan  Các bài viết KHXH&NV ít và khó công bố quốc tế vì các lý do khách quan và chủ quan. Quan điểm khá phổ biến trong các ngành kỹ thuật công nghệ với suy nghĩ rằng nghiên cứu ứng dụng không cần công bố bài báo mà điều đó chỉ quan trọng trong nghiên cứu cơ bản (Xem thêm Tạ Cao Minh 2012). Quan điểm này cũng phổ biến trong ngành KHXH&NV.   Một số người đứng đầu trong các đơn vị khoa học (như một số Bộ chủ quản) quan tâm nhiều hơn đến kết quả của một đề tài là việc ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống và chính sách phát triển (Nguyễn Văn Chính 2016). Họ ít quan tâm đến công bố quốc tế, đến việc được sử dụng trong học thuật tầm quốc gia, quốc tế. Họ chú ý nhiều hơn đến các đề xuất, giải pháp, khuyến nghị mặc dù chúng thiếu cơ sở khoa học, viết chung chung như là những mệnh lệnh. Ở đây, cần có một sự hiểu biết đầy đủ rằng một công bố đáp ứng các yêu cầu về mặt học thuật, những đúc kết từ kết quả nghiên cứu có chứng minh, dẫn chứng thuyết phục có sức mạnh hơn nhiều  những khuyến nghị, giải pháp vô căn cứ 1.   Một số cán bộ quản lý cũng như cán bộ nghiên cứu, triển khai đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ có cách nhìn đơn giản, cho rằng quan trọng nhất là những khuyến nghị, giải pháp để vận dụng xây dựng các thông tư, hướng dẫn, hoạch định chính sách phát triển, hoặc triển khai ứng dụng trong thực tiễn. Trong thực tế, kết quả của một dự án (cấp Bộ hay Nhà nước) rất cần nghiên cứu cơ bản chuyên sâu để có thể đúc kết ra được những nhận định mang tính khoa học, có khả năng ứng dụng mà khi cơ quan Bộ, những người làm chính sách quan tâm tìm đọc, sử dụng.  Quan điểm quá nhấn mạnh vào thực trạng và giải pháp, khuyến nghị của một đề tài, dự án đã và đang ảnh hưởng rất lớn việc công bố quốc gia và quốc tế khi các cơ quan chủ quản không khuyến khích nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu, các công bố quốc tế. Nếu một đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ chỉ chú trọng đến thực trạng, giải pháp phục vụ thực tiễn cuộc sống và chính sách, thì những kết quả này KHÔNG THỂ viết thành bài công bố quốc tế. Đây là một trong những quan điểm lâu nay có ảnh hưởng rất lớn đến sản phẩm khoa học, công bố quốc tế.  Ngoài ra, có một số ngụy biện từ các nhà khoa học về những lý do khách quan khiến các công trình của họ không thể, hoặc không nên công bố quốc tế vì liên quan đến “lợi ích dân tộc”, “an ninh quốc phòng” (Nguyễn Công Thảo, 2016). Có nhà khoa học cho rằng  khoa học tự nhiên công bố quốc tế đơn giản, nhưng đối với KHXH&NV việc công bố quốc tế “cần cân nhắc có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia hay không” (Hoàng Thùy 2016). Nnhững lý do “nhạy cảm” này chỉ là sự nguy biện cho việc không có, hoặc có ít công bố quốc tế. Viết nghiên cứu khoa học dù là đề tài về Tây Nguyên, về dân tộc thiểu số, về tôn giáo, tín ngưỡng, hay về văn hóa biển đảo chỉ có lợi cho quốc gia dân tộc trong những tranh luận, diễn đàn quốc tế. Khi phản biện quốc tế cho những vấn đề về lịch sử đất nước, về dân tộc, về quyền con người, về chủ quyền biên giới, hải đảo của Việt Nam, chúng ta rất cần các công trình công bố khoa học, thuyết phục của các nhà nghiên cứu Việt Nam, những người làm khoa học chính “vì tâm và vì tầm” (Nguyễn Công Thảo 2016), vì vị thế của chính họ, vì ngành khoa học nước nhà trong thời kỳ hội nhập quốc tế.  Lý do chủ quan      Nhiều trong các tạp chí khoa học ở Việt Nam nặng tính mô tả, khái quát hóa mà không có dẫn chứng, chứng minh rõ ràng (supporting data), không nêu được vấn đề nghiên cứu, luận giải vấn đề, không cập nhật được các quan điểm nghiên cứu, lý thuyết.      Thực tế hiện nay ở các viện nghiên cứu, các trường đại học về lĩnh vực KHXH&NV, không có nhiều cán bộ có công bố quốc tế trong các tạp chí ISI. Nhiều cán bộ trẻ, thậm chí cán bộ có bằng tiến sĩ viết bài in trong các tạp chí uy tín trong nước cũng khó khăn. Nên ở một số viện/trường, tiêu chí đặt ra là một cán bộ nghiên cứu một năm viết hai bài tạp chí trong nước, mà cũng khó thực hiện. Ở đây, tôi không bàn về năng lực cán bộ, mà tôi chỉ nêu một số lý do cơ bản nhất khiến cho các bài viết khó công bố quốc tế. Công bố quốc tế ít nhiều còn xa lạ với không ít người trong ngành KHXH&NV (Viết như thế nào, quy trình ra sao, in ở tạp chí ISI nào, v.v.). Hơn nữa, các bài viết in ở tạp chí của Việt Nam (như theo danh mục của Hội đồng Giáo sư nhà nước) mà dịch ra tiếng nước ngoài thì khó được in ở tạp chí ISI. Một số nhà nghiên cứu cho rằng khoa học xã hội Việt Nam đang “lạc điệu”, một mình một kiểu. Lạc điệu tức là không làm theo chuẩn quốc tế, không gia nhập “luật thế giới” ở nhiều khía cạnh từ phương pháp luận, lý thuyết, quy cách viết bài, phân tích số liệu, v.v.2 Có số liệu hay, phong phú chưa đủ mà cần phải biết cách viết nghiên cứu đáp ứng yêu cầu học thuật của một công bố trong tạp chí ISI. Dưới đây, tôi sẽ nêu một số lý do từ phía các nhà khoa học khiến khó công bố quốc tế:  Thứ nhất, theo ý kiến thiển cận của tôi, ngoại trừ một số bài tương đối tốt, nhiều bài các bài in trong các tạp chí khoa học ở Việt Nam nặng tính mô tả, khái quát hóa mà không có dẫn chứng, chứng minh rõ ràng (supporting data), không nêu được vấn đề nghiên cứu, luận giải vấn đề, không cập nhật được các quan điểm nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu của ngành và lĩnh vực liên quan.  Có thể cho rằng không đầy đủ nếu ta chỉ quan sát mô tả, đưa ra những nhận định chung chung mà không có biện giải, chứng minh một cách khoa học. Ở Mỹ, một bài công bố trên tạp chí, hay luận án TS, chuyên khảo bắt buộc phải có vấn đề nghiên cứu, tức là đặt ra vấn đề nghiên cứu từ những nội dung phân tích, từ những chủ đề, trường hợp nghiên cứu cụ thể. Như vậy, dù bạn là nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, nếu các bạn chỉ có mô tả và viết chung chung, phân tích không có cứ liệu để chứng minh, không cập nhật các quan điểm học thuật liên quan, không nêu ra được vấn đề nghiên cứu, thiếu các luận điểm với những số liệu làm minh chứng thì bài viết của các bạn không được chấp nhận.  Thứ hai, nhiều bài viết nghiên cứu chưa chặt chẽ, không có cấu trúc mang tính chuẩn mực. Viết nghiên cứu khoa học đòi hỏi mức độ kiểm soát tính lôgíc, sự nghiêm khắc và cẩn trọng trong bàn luận, phân tích. Điều phân biệt cơ bản giữa viết bài nghiên cứu  khác với những hình thức viết  khác là đúng, rõ ràng, lôgíc và thuyết phục. Một cấu trúc thông thường của một bài nghiên cứu trong KHXH&NV bao gồm (1) Phần Mở đầu; (2) Lịch sử nghiên cứu; (3) Phương pháp nghiên cứu, lý thuyết sử dụng, cập nhật quan điểm học thuật liên quan; (4) Phân tích số liệu một cách có lôgíc, lập luận chặt chẽ, thuyết phục; (5) Kết luận. Công bằng mà nói, nhiều công bố trong các tạp chí của Việt Nam chưa đáp ứng được những yêu cầu về nội dung và cấu trúc này.  Thứ ba, các bài viết chưa cập nhật quan điểm, xu hướng nghiên cứu, và chưa đưa nghiên cứu cụ thể vào trong tranh luận mang tính học thuật quốc tế.  Khi nghiên cứu, chúng ta không chỉ đọc những bài viết về Việt Nam và của các học giả Việt Nam,  mà còn về các nền văn hóa khác và của các nhà nghiên cứu quốc tế.  Với việc đọc, sự hiểu biết sâu rộng như vậy, các nhà nghiên cứu mới nắm bắt được ở trong nước và quốc tế họ đã viết gì, xu hướng nghiên cứu lĩnh vực liên quan như thế nào, quan điểm của họ về vấn đề bạn quan tâm ra sao. Làm như vậy, nhà nghiên cứu mới hiểu được chỗ đứng bài viết của mình và cập nhật được các xu hướng, quan điểm học thuật quốc tế. Nhiều nhà KHXH&NV Việt Nam, tuy rất cần mẫn, say mê, nhưng họ lại không có điều kiện đọc, nghiên cứu về vấn đề mình quan tâm, về các nền văn hóa khác từ các nguồn tư liệu nước ngoài. Đây là một sự bất cập khi nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV của Việt Nam không thành thạo ngoại ngữ, không đọc được hệ thống tư liệu cập nhật, trong khi đó, tài liệu dịch ra tiếng Việt không có đầy đủ để tham khảo. Một thực tế là các tài liệu liên quan đến một lĩnh vực hẹp thôi cũng có hàng trăm các công trình (sách, bài báo) khoa học cần phải đọc khi viết một bài công bố quốc tế.  Do vậy, bài viết không cập nhật các quan điểm học thuật quốc tế liên quan, thì rất khó được chấp nhận công bố (Xem thêm Nguyễn Thị Hiền 2016). Nguyên nhân cơ bản là rào cản ngoại ngữ, khiến cho các nhà KHXH&NV của Việt Nam không tiếp cận được nguồn tư liệu bằng tiếng nước ngoài, cập nhật thông tin,  và vì vậy họ khó có thể đưa nghiên cứu của mình về một vấn đề nghiên cứu cụ thể vào trong tranh luận mang tính học thuật quốc tế.  Thứ tư, một trong những lý do quan trọng khác là rào cản ngoại ngữ. Như trên đã nói, việc không thành thạo ngoại ngữ khiến cho các nhà khoa học không cập nhật được nguồn tư liệu của ngành, mà còn gặp khó khăn viết bài trực tiếp bằng tiếng nước ngoài, hoặc tự chuyển ngữ. Các tạp chí được xếp vào danh mục ISI, chủ yếu bằng tiếng Anh, một số bằng tiếng Pháp và số ít bằng các ngôn ngữ khác. Mỗi bài viết về một vấn đề cụ thể lại có những thuật ngữ chuyên môn đặc thù (như xuyên quốc gia, lên đồng, thờ cúng, dòng tộc, văn hóa đô thị, công nghiệp hóa, dân tộc bản địa, v.v.). Nên một bài viết bằng tiếng Việt thông thường in trong các tạp chí có uy tín trong nước, chẳng hạn, dịch ra tiếng Anh mà người dịch không biết thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh thì không thể đảm thoát ý, đúng văn phong học thuật3. Các bài viết  dịch tiếng Việt ra tiếng Anh, cần được người nói tiếng Anh bản địa hiệu đính, hay người đồng nghiệp ở nước ngoài giúp đỡ hiệu đính, thì mới đảm bảo ngôn ngữ khoa học và mới đạt được yêu cầu tối thiểu về văn phong của các tạp chí ISI. Các tạp chí không có người chuyên trách để hiệu đính bài viết, và nếu bài viết chưa chuẩn về mặt ngôn ngữ, văn phong, thì cũng là một trong những lý do khó công bố quốc tế.  Thêm vào đó, việc không thành thạo ngoại ngữ khiến cho các nhà KHXH&NV Việt Nam có nhiều hạn chế khác như trong việc lựa chọn in tạp chí nào trong danh mục ISI (trong số hàng ngàn tạp chí) phù hợp với chủ đề, lĩnh vực bài viết của bạn. Quá trình viết, sửa bài, liên hệ với người biên tập của một tạp chí mất rất nhiều thời gian, đòi hỏi có sự tương tác giữa nhà khoa học, người biên tập, phúc đáp lại nhận xét của những người bình duyệt. Do vậy, các tạp chí ISI bằng tiếng nước ngoài có thể nói là một rào cản rất lớn cho các nhà KHXH&NV Việt Nam viết bài và công bố quốc tế 4.   Tóm lại, sản phẩm của một đề tài (bài viết, một chương trong sách, sách chuyên khảo) cần được tạo điều kiện, khuyến khích công bố quốc tế từ các cơ quan chủ quản.  Về phía các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, công bố quốc tế cũng là một hình thức để khẳng định vị thế, sự hội nhập và trao đổi học thuật.  Khi được công bố quốc tế thì việc ứng dụng trong học thuật cũng như trong thực tiễn càng tăng hơn và công trình càng có giá trị, ý nghĩa hơn. Những khó khăn của các nhà KHXH&NV của Việt Nam như trong bài viết này đã chỉ ra, cần phải được sự quan tâm của các đơn vị chủ quản tháo gỡ và hỗ trợ.   Các cán bộ, các nhà nghiên cứu cũng cần có sự hiểu biết đầy đủ về quy cách viết bài mang tính học thuật quốc tế, cũng như việc nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn và ngoại ngữ của mình.  Sự hội tụ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của nhiều bên liên quan cũng như của cá nhân các nhà khoa học thì mới tạo ra đà phát triển, hội nhập của ngành  KHXH&NV Việt Nam trên diễn đàn học thuật quốc tế.  ———————————————  Chú thích:  1.  Trong một workshop về viết kết quả nghiên cứu ở Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh năm 2012 mà tôi cùng với một Giáo sư ở Đại học Toronto thuyết giảng, có một học viên hỏi giáo sư rằng các luận án, công trình ở nước ngoài có yêu cầu phần đề xuất giải pháp, khuyến nghị không? Giáo sư cười và nói: “Tôi cũng không biết đó là gì nữa. Yêu cầu của một công trình là những đúc kết có cơ sở khoa học.”  2. Trao đổi, thảo luận riêng với TS. Hoàng Cầm và TS. Nguyễn Công Thảo về công bố quốc tế  ngày 27/7/2016.  3. Ưu thế biết thuật ngữ chuyên ngành thuộc về những nhà nghiên cứu được đào tạo chuyên môn ở nước ngoài và họ dễ dàng có công bố quốc tế hơn.  4. Hiện nay, chưa có một tạp chí KHXH&NV nào của Việt Nam được xếp trong danh mục tạp chí ISI.  Tài liệu tham khảo  Ngân Anh, 2015. “Những trường đại học chi trăm triệu cho bài báo công bố quốc tế” http://pkhcn.duytan.edu.vn/tin-tuc-su-kien/tin-suu-tam/nhung-truong-dh-chi-tram-trieu-cho-bai-bao-cong-bo-quoc-te/. Tải ngày 15 tháng 07 năm 2016.  Nguyễn Văn Chính, 2016. “Đặc điểm trong nghiên cứu dân tộc học của Việt Nam”. Tạp chí Tia Sáng, số 05, 2016, tr. 30-32.  Nguyễn Thị Hiền. “Cần một dự án dịch thuật cấp quốc gia về nhân học”. Tạp chí Tia Sáng, số 05, 2016, tr. 37-39.  Tạ Cao Minh, 2012. “Bài báo khoa học, ISI và một số ‘thước đo’ đánh giá nhà khoa học.”  http://automation.net.vn/Dien-dan/Bai-bao-khoa-hoc-ISI-va-mot-so-thuoc-do-danh-gia-nha-khoa-h.html.  Bài in ở số 134 (1+2/2012), Tạp chí tự động hóa ngày nay. Tải ngày 15 tháng 07 năm 2016.  Nguyễn Công Thảo, 2016. “ ‘Xuất bản quốc tế’” vì tâm và vì tầm”. http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=9763&CategoryID=2. Tải ngày 29 tháng 07 năm 2016.  Hoàng Thùy, 2016.  “Vì sao Viện hàn lâm Khoa học Xã hội ít có nghiên cứu công bố quốc tế”. http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/vi-sao-vien-han-lam-khoa-hoc-xa-hoi-it-co-nghien-cuu-cong-bo-quoc-te-3391989.html. Tải ngày 29 tháng 07 năm 2016  Nguyễn Văn Tuấn, 2009. “Chín lý do cho công bố quốc tế”, http://vietsciences.org. Tải ngày 15 tháng 07 năm 2016.  Nguyễn Văn Tuấn, 2009. “Một vài hiểu lầm tai hại”.  Tạp chí Tia Sáng, bản điện tử, ngày 03/02/2009.    Author                Nguyễn Thị Hiền        
__label__tiasang Nghiên cứu ô nhiễm không khí: Đã được đầu tư tương xứng?      Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, các nhà nghiên cứu về chất lượng không khí ở Việt Nam đã phải tìm mọi cách để có thể duy trì mạch nghiên cứu của mình.      Ông Mai Trọng Thái – Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội – trao đổi với kỹ thuật viên quan trắc về chất lượng không khí Hà Nội. Ảnh: Hoàng Minh  Thoạt nhìn bên ngoài, thật khó hình dung một cơ sở nghiên cứu những lĩnh vực khoa học hạt nhân như Viện KH&KT hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) lại có liên quan đến những công trình nghiên cứu về chất lượng không khí ở Việt Nam. Với những người làm ở đây, dù nghiên cứu về các chất trong không khí có tính phóng xạ hay không phóng xạ, thì kết quả đạt được vẫn là những chỉ số về chất lượng không khí trong từng vị trí, không gian và thời gian khác nhau. “Từ hàng chục năm trước, giáo sư Phạm Duy Hiển đã đưa kỹ thuật hạt nhân vào nghiên cứu môi trường một cách bài bản, từ xác định thành phần nguồn bằng kỹ thuật hạt nhân, xử lý các dữ liệu này đến việc tìm hiểu cơ chế lan truyền thông qua mô phỏng bằng các mô hình phát tán trong không khí. Đây là cơ sở để từ năm 1998, các nhà khoa học của Viện tham gia dự án hợp tác vùng về ô nhiễm không khí của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Có thể nói, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về ô nhiễm không khí”, TS. Nguyễn Hào Quang, nguyên Viện phó Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và là một nhà nghiên cứu về phóng xạ môi trường giàu kinh nghiệm, nói.  20 năm sau, nghiên cứu về chất lượng không khí đã xuất hiện ở nhiều trường đại học và viện nghiên cứu theo nhiều hướng phong phú, đa dạng để có thể phản ánh được muôn mặt phức tạp của chất lượng không khí. So với nhiều lĩnh vực khác, dường như chất lượng không khí ‘nóng’ hơn và có khả năng thu hút sự chú ý của mọi người hơn bởi rõ ràng, ô nhiễm không khí hiện diện ở khắp nơi, từ trong nước ra đến quốc tế. Vậy chắc hẳn lĩnh vực chất lượng không khí có được sự chú trọng đầu tư của các nhà quản lý? “Hiện nay nghiên cứu về chất lượng không khí ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm một cách thực sự. Các nhà khoa học ít được các nhà quản lý ‘đặt hàng’, giao nhiệm vụ. Mỗi người, mỗi nhóm thường chỉ phát triển các nghiên cứu một cách tự phát và vì vậy, đóng góp lớn nhất của họ vẫn chỉ là đóng góp vào kho tri thức chung mà chưa thể giải quyết được các bài toán cụ thể xã hội cần”, câu trả lời của TS. Nguyễn Hào Quang đề cập đến một thực trạng đang tồn tại một cách phổ biến trong nghiên cứu về chất lượng không khí.      Việc đầu tư cho nghiên cứu không liền mạch và thiếu hệ thống, từng nhà nghiên cứu Việt Nam cũng chỉ có thể làm theo thế mạnh của mình và ít có điều kiện hợp tác với nhau để giải quyết một vấn đề lớn của chất lượng không khí.      Nhà quản lý và nhà khoa học chưa hiểu nhau  Có lẽ, khó ai hiểu được nỗi niềm của những nhà nghiên cứu về chất lượng không khí hơn chính họ. “Với ô nhiễm không khí, mỗi nhóm có thể áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, triển khai nghiên cứu theo các hướng khác nhau và đem lại nhiều kết quả khác nhau. Thế nhưng các nhà quản lý thì dường như không muốn hiểu điều đó, họ cứ cho là mình cứ theo mãi một vấn đề không thay đổi. Rõ ràng, họ không khuyến khích nhà nghiên cứu đào sâu một vấn đề, thành ra việc đầu tư cho nghiên cứu thường ít khi đến đầu đến đũa”, TS. Vương Thu Bắc (Viện KH&KT hạt nhân) rút ra nhận xét sau quá trình 20 năm nghiên cứu chất lượng không khí. Đây là lý do vì sao mà sau các đề tài KH&CN cấp nhà nước do anh làm chủ nhiệm như “Ô nhiễm bụi hô hấp có phân biệt kích thước hạt trong môi trường khí đô thị và môi trường sản xuất” (1998-1999), “Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến ô nhiễm bụi hô hấp PM10 trong quá trình công nghiệp hóa (2000-2001)…, anh và đồng nghiệp đều khó ‘xin’ thêm đề tài để tiếp tục hướng nghiên cứu của mình.   Đó cũng là tình trạng chung mà nhiều nhà nghiên cứu ở các nơi khác cũng gặp phải. Khi chưa có được bài toán lớn do các nhà quản lý “đặt hàng”, các nhà nghiên cứu thường cùng chọn cách là đề xuất ý tưởng nghiên cứu hằng năm. Tuy nhiên không phải bao giờ họ cũng thành công. “Ngày trước cũng có người phát biểu là ‘không còn gì để nghiên cứu về bụi ở Hà Nội nữa’. Nếu không tìm hiểu kỹ thì ai đó cũng có thể nói ‘tại sao mỗi hạt bụi mà cứ phải nghiên cứu đi nghiên cứu lại’. Trên thực tế thì nó giống như một đối tượng nghiên cứu quan trọng, cần phải hiểu nó thật kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh”, TS. Lý Bích Thủy (Viện KH&CN Môi trường, ĐH Bách khoa HN), một nhà nghiên cứu về hạt bụi ở các phân khúc kích thước khác nhau trong không khí, giải thích lý do vì sao các nhà khoa học cần duy trì hướng nghiên cứu của mình.   Giữa các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu về chất lượng không khí có một khoảng cách mà ở đó, mỗi bên đều bị “mắc lại” ở bờ bên kia nên không thể gặp gỡ và trao đổi với nhau một cách thấu đáo. TS. Nguyễn Hào Quang thử lý giải một nguyên nhân khiến các nhà quản lý còn tạm xếp các đề xuất ‘từ dưới lên’ lại: “Có thể là các nhà quản lý thấy đề xuất mình nêu nó không sát với yêu cầu của họ hoặc đề xuất còn chưa rõ, còn thiên về nghiên cứu cơ bản nên chưa thấy ngay tác động của nghiên cứu với thực tiễn, chưa thấy nghiên cứu có thể hỗ trợ công việc quản lý của mình”.     TS. Vương Thu  Bắc (thứ h ai từ trái sang) làm việc với các nhà nghiên cứu quốc tế. Nguồn: NVCC  Mặt khác, có thể là cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề của hai bên hoàn toàn khác nhau. Hiện tại, các nhà quản lý môi trường mới “chỉ cần biết đến hiện trạng môi trường thông qua quan trắc và dừng lại ở đó để thông tin cho người dân biết thôi chứ chưa quan tâm thực sự đến nguyên nhân ô nhiễm, tần suất ô nhiễm, các nguồn đóng góp… để có thể giảm thiểu ô nhiễm từ đầu vào, trong khi các nhà khoa học cần được đầu tư nghiên cứu và cần có thời gian để tìm được câu trả lời cho những vấn đề đó”, anh giải thích.  Vì vậy, mới xảy ra chuyện hằng năm đưa đề xuất nghiên cứu về chất lượng không khí lên thì “họ bảo ‘các anh nên đưa nó sang phần môi trường’ nhưng bên môi trường lại bảo ‘các anh phải đưa về nghiên cứu”. TS Nguyễn Hào Quang cho biết. “Cứ bị ‘đánh đu đánh võng’ như thế, cuối cùng thì nhà khoa học cũng chẳng có điều kiện làm gì nữa; trong khi trên thế giới, nghiên cứu về chất lượng không khí được duy trì một cách liên tục, hết chương trình này khép lại thì có chương trình khác mở ra. Nhờ vậy, dữ liệu nghiên cứu mới được bổ sung và nhà nghiên cứu có thể sẵn sàng tư vấn cho các nhà quản lý khi cần thiết”.         Sự khác biệt trong quan điểm đầu tư cho nghiên cứu khiến ngành môi trường từng có lúc không đủ số liệu quan trắc, dù họ rất coi trọng số liệu. Đó là trường hợp thiết bị quan trắc ở Tổng cục Môi trường “không chỉ đo được bụi mà còn đo được cả SO2, NOx, VOCs… và cả điều kiện khí tượng”, TS. Hoàng Dương Tùng cho biết. “Rất khó đề nghị lãnh đạo cấp kinh phí vận hành máy, hồi trước chúng tôi xin mãi mới được 40% nên nếu không may hỏng hóc thì lấy đâu thay. Cho nên phải làm đơn giải trình mãi mới được phê duyệt kinh phí, nhanh cũng phải bốn tháng và quãng thời gian đó không có số liệu”. Có một điều khiến TS Hoàng Dương Tùng cảm thấy rất buồn khi còn làm việc ở Tổng cục Môi trường là đôi khi, các nhà quản lý “chưa quan tâm đến giá trị của số liệu lắm đâu, ít ai hỏi tôi ‘nó nói lên điều gì’. Họ chỉ thấy mỗi một điều sao cái trạm quan trắc nó tốn tiền thế”.    Tình trạng này cũng được TS. Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, thừa nhận: phần vì “lượng kinh phí dành cho ngành môi trường cũng có hạn, khi phân bổ cho nghiên cứu về không khí thì cũng chỉ có một khoản nào đó thôi”, phần vì “không phải nhà quản lý nào cũng thấy được giá trị lâu dài của số liệu, của nghiên cứu”.   Chính việc đầu tư cho nghiên cứu không liền mạch và thiếu hệ thống, từng nhà nghiên cứu Việt Nam cũng chỉ có thể làm theo thế mạnh của mình và ít có điều kiện hợp tác với nhau để giải quyết một vấn đề lớn của chất lượng không khí. “Những hợp tác giữa các nhà nghiên cứu mới chỉ ở mức nhờ phân tích mẫu thu được thôi chứ còn liên kết với nhau và phân ra mỗi bên phụ trách một mảng công việc trong một nhiệm vụ lớn thì gần như chưa có,” TS. Nguyễn Hào Quang nói.  Tìm nguồn tài trợ từ quốc tế   Khi nguồn lực đầu tư trong nước còn hạn hẹp thì giải pháp được các nhà nghiên cứu ưu tiên hàng đầu là mở rộng các mối quan hệ, hợp tác quốc tế để có thể tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế, qua đó duy trì được mạch nghiên cứu và năng lực nghiên cứu của mình. Điều này cũng có phần tương tự như giai đoạn đầu nghiên cứu về hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) của các nhà khoa học Việt Nam, “kinh phí đầu tư cho nghiên cứu ở khắp mọi nơi là từ quốc tế” theo chia sẻ năm 2017 của PGS. TS Dương Hồng Anh (Phòng thí nghiệm trọng điểm CN phân tích phục vụ kiểm định môi trường và an toàn thực phẩm ĐHQGHN).  Điểm mặt các nhóm nghiên cứu ở Viện Vật lý địa cầu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ (ĐHQGHN), ĐH Bách khoa HN, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam…, hầu như ai cũng chọn cách làm này. “Thông thường nghiên cứu ô nhiễm không khí bài bản đòi hỏi nguồn kinh phí không hề nhỏ, trong khi đó các nhà khoa học thường khó tiếp cận với nguồn kinh phí của các bộ, ngành và còn nhiều bất cập trong cơ chế quản lý tài chính. Vì vậy tôi vẫn thường tìm kiếm cơ hội hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học, các tổ chức của Anh, Mỹ, Đức và Hàn Quốc. Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST), nơi tôi làm nghiên cứu sinh trước đây, có chính sách rất hay là hằng năm có một khoản đầu tư dành cho các cựu học viên, tuy không nhiều nhưng lại mang ý nghĩa lớn cho nghiên cứu khoa học cơ bản”, PGS. TS Hoàng Anh Lê, trưởng bộ môn Quản lý môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), chia sẻ về cách mình tự tìm nguồn đầu tư trong nghiên cứu.  Nhiều năm qua, TS Vương Thu Bắc và cộng sự đã lựa chọn “cách làm dễ” này hơn là gửi hồ sơ tới các sở KH&CN, sở TN&MT các tỉnh. “Tôi vẫn theo dự án hợp tác vùng RAS của IAEA về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong quản lý ô nhiễm không khí vì tham gia dự án, mình được hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực, làm quen với các kỹ thuật mới trong phân tích mẫu, thậm chí là cung cấp trang thiết bị…” Tính ra, anh là người gần như duy nhất của Việt Nam tham gia nhiều giai đoạn của RAS nhất như IAEA RAS/8/082, IAEA RAS/7/013, RAS/7/015, RAS/7023, RAS/7029 từ năm 1998 đến 2018.   Rõ ràng, có một điểm thuận lợi mà ai cũng nhận thấy khi tham gia các dự án quốc tế là “làm việc với họ thì mình được tiếp cận và kế thừa phương pháp nghiên cứu rất mới của họ. Mặt khác, kết quả nghiên cứu rất đáng tin cậy vì thiết bị họ cung cấp cho mình cũng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tính ra rất ‘có lợi’ vì mình có thể hoàn toàn tự tin cùng họ viết công bố”, TS. Lý Bích Thủy nhận xét. Hai công bố mới đây của chị về đặc điểm hạt bụi PM2.5 và hợp chất hữu cơ dễ bay hơi VOCs trên Aerosol and Air Quality Research và Chemosphere đều xuất phát từ những hợp tác với Nhật Bản.   Tuy nhiên, không phải bao giờ việc hợp tác quốc tế cũng hoàn hảo. TS. Vương Thu Bắc đề cập đến điểm bất lợi của việc thực hiện nghiên cứu từ dự án hợp tác quốc tế: “Mình cứ lẽo đẽo theo dự án này đến dự án khác, tìm mọi cách để đồng hành cùng họ trên cương vị là điều phối viên dự án của Việt Nam nhưng trên thực tế thì mình không thể dùng tiền của họ để triển khai công việc của mình mãi được. Phải có vốn đối ứng mới có thể nghiên cứu vấn đề mình mong muốn. Chúng tôi biết vậy nhưng lực bất tòng tâm”. Vừa rồi, Việt Nam đã để lỡ một cơ hội tham gia một dự án đánh giá ô nhiễm không khí do các hoạt động công nghiệp trong khu vực giai đoạn 2018-2020 (pha 1) khi dự án RAS kết thúc vào năm 2018, “Rất tiếc vì  mình không xin được kinh phí đối ứng nên đành thôi”, anh nói.  Về lâu dài, việc phụ thuộc vào hợp tác quốc tế sẽ để lại những vấn đề không nhỏ với phát triển nghiên cứu về chất lượng không khí bởi không phải ai cũng “may mắn” như TS. Lý Bích Thủy. TS. Nguyễn Thị Trang Nhung (trường Đại học Y tế Công cộng), người hiếm hoi đi sâu về ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên sức khỏe ở Việt Nam, cho rằng, nếu Việt Nam không thể tự đầu tư cho nghiên cứu và hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh thì có thể “chúng ta chỉ làm một việc là lấy số liệu phục vụ nghiên cứu của các trường đại học nước ngoài hoặc, các quốc gia đầu tư cho nghiên cứu mà ít được chủ động tham gia thiết kế nghiên cứu và viết bài xuất bản. Đó là một kiểu ‘thực dân khoa học’, nhưng ngặt một nỗi là mình khó vượt khỏi điều đó nếu còn lệ thuộc vào kinh phí nghiên cứu của họ”. Theo lý giải của chị, nếu không thể chủ động làm được điều cốt yếu của một nhóm nghiên cứu là triển khai các đề tài và viết báo thì rất có thể “các bạn trẻ mà mình gửi sang nước ngoài làm nghiên cứu sinh có thể lại ra đi hoặc có ở lại cũng bị ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu”, chị nói thêm.  Điểm sáng   Giữa những gam màu tối, bức tranh đầu tư cho nghiên cứu chất lượng không khí ở Việt Nam cũng xuất hiện điểm sáng mới và đem lại hi vọng cho các nhà nghiên cứu. Một vài năm gần đây, Quỹ NAFOSTED (Bộ KH&CN) đã bắt đầu triển khai đầu tư vào một số đề tài về ô nhiễm không khí thông qua chương trình nghiên cứu cơ bản cũng như chương trình hợp tác quốc tế. Cơ chế tài trợ thông thoáng và quyết định tài trợ dựa trên đánh giá của hội đồng khoa học ngành về đề xuất nghiên cứu đã mở cửa cho các nhà khoa học, đặc biệt là nhà khoa học trẻ, cơ hội thực hiện các nghiên cứu. Hầu hết các nhà khoa học mà Tia Sáng trao đổi như TS. Lý Bích Thủy, TS. Lê Hữu Tuyến, PGS. TS Hoàng Anh Lê, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung… đều có những đề tài đầu tiên do NAFOSTED tài trợ, trong đó có đề tài theo những hướng rất mới của thế giới như tìm hiểu về tác động của chất PAHs trên dòng tế bào của TS Lê Hữu Tuyến. Để thực hiện một nghiên cứu vừa có thể giải quyết một vấn đề của Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo tiêu chí công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín không dễ nhưng việc nhận được tài trợ để toàn tâm toàn ý theo đuổi vấn đề mình tâm huyết là niềm vui lớn của họ.   Những chuyển biến tích cực ấy dù chưa nhiều nhưng đang dần lan tỏa, nó hướng nhà nghiên cứu nghĩ về những dự tính xa hơn và khả năng mang lại nhiều đóng góp thiết thực hơn. Ví dụ, PGS. TS Hoàng Anh Lê đang nghĩ đến việc cần phải dành thời gian cho việc kiểm kê phát thải từ nguồn giao thông, công nghiệp, xây dựng, đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng ở nhóm nghiên cứu ô nhiễm khí quyển (VARG) mà anh mới thành lập. Trong ý tưởng nghiên cứu của mình, anh còn đặt một “lịch trình” tìm hiểu về các mô hình dự báo ô nhiễm không khí để có thể dự báo khả năng ô nhiễm trong tương lai gần, điều mà các nhà khoa học quốc tế thực hiện rất nhiều nhưng còn mới mẻ ở Việt Nam. “Để làm được điều đó, cần phải tìm hiểu rất sâu về hóa học và vật lý khí quyển, kiểm kê được nguồn thải… Và như thế các nhà khoa học và các nhà quản lý cần ngồi lại với nhau và cùng bắt tay hợp tác để giải quyết vấn đề”.□  Nhiều người cho rằng, nhà khoa học Việt Nam chỉ chờ nhà quản lý rót kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu mà không năng động, gặp gỡ các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác và đề nghị hợp tác để cùng giải quyết vấn đề họ quan tâm. Trên thực tế, việc đầu tư kinh phí để giải quyết những vấn đề thực tế phụ thuộc rất nhiều vào độ sẵn sàng của các nhà quản lý. “Vì nghĩ là mình có năng lực, có thiết bị để góp phần xử lý nghiên cứu vấn đề môi trường nên nhiều lần tôi tự đến một số nơi như các Sở KH&CN, Viện Bảo hộ lao động, Hội nghị liên bộ…, gặp gỡ lãnh đạo, tổ chức hội thảo, seminar giới thiệu năng lực để nếu các nhà quản lý thấy cần thiết có thể phối hợp”. Nhưng cuối cùng mọi chuyện lại trôi qua, rất khó hợp tác. Có thể mình không đề xuất vấn đề không đúng thời điểm chăng”, TS. Vương Thu Bắc kể lại những nỗ lực hợp tác ngoài ngành bất thành.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang Nghiên cứu ô nhiễm môi trường: Cần sự chủ động của nhà quản lý      Trong lĩnh vực nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, sự chủ động tìm hiểu và lựa chọn những hướng đi còn tương đối mới của thế giới vẫn còn chưa đủ. Để các vấn đề mình đặt ra có thể góp phần đem lại giải pháp cho những vấn đề “nóng” của môi trường, các nhà nghiên cứu vẫn cần sự hỗ trợ và hợp tác của các cơ quan quản lý nhà nước.      Các nhà nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Công nghệ môi trường và phát triển bền vững (ĐHQGHN).   Đó là câu chuyện của các nhà nghiên cứu ĐHQGHN, ĐHQG TP.HCM sau khi trở về từ cuộc họp đại hội đồng Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tại Đà Nẵng vào cuối tháng 6/2018. GS. TS Phạm Hùng Việt – một thành viên của đoàn cán bộ ĐHQGHN tham dự hội nghị, cho biết, từ 12 phiên họp bàn tròn của GEF về kinh tế tuần hoàn, thành phố bền vững, các mục tiêu khoa học cho Trái đất, lương thực – sử dụng và phục hồi đất…, ông đã chắt lọc được hai nội dung “gần gũi với [khả năng nghiên cứu của] mình nhất, [có thể tạo ra] nhiều cơ hội nghiên cứu cho mình nhất là chất thải nhựa đại dương và ngăn ngừa hóa chất nguy hại, chất thải công nghiệp”.  Ở Việt Nam, những vấn đề này hoặc còn quá mới mẻ, hoặc đã tồn tại nhưng còn chưa được quan tâm đúng mức, “trước đây Việt Nam mình mới chỉ nghĩ đến cái gì đó hẹp hẹp dạng ‘khúc nọ khúc kia’, bây giờ được tham gia trực tiếp hội nghị GEF 6, trao đổi với họ thì cũng bắt đầu có một cái nhìn rộng lớn hơn và nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ hơn”, GS. TS Phạm Hùng Việt nhận xét.      Để thực hiện được điều này, theo quan điểm của ông, “nếu có bắt tay vào nghiên cứu, rất cần sự tham gia của các đơn vị quản lý về môi trường trong việc hỗ trợ các nhà nghiên cứu và điều phối chương trình như đối với các chương trình nghiên cứu, xử lý các chất POPs (hợp chất hữu cơ khó phân hủy) trước đây. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể tìm ra được giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường một cách bền vững như tinh thần hội nghị GEF”.  Chuẩn bị cho những nghiên cứu chuyên sâu và bài bản  Không chỉ ở hội nghị GEF 6, ô nhiễm chất thải nhựa đại dương và ô nhiễm thủy ngân mới được đặt ra cho môi trường Việt Nam, đặc biệt là vấn đề về thủy ngân. PGS. TS Dương Thị Hồng Anh – một nhà nghiên cứu trẻ nhưng đã có thâm niên nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu Công nghệ môi trường và phát triển bền vững (CETASD, ĐHQGHN)–cho biết, “cùng với Indonesia, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia ô nhiễm thủy ngân hàng đầu khu vực ASEAN, chủ yếu từ hoạt động của các nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng, clinker, luyện kim… hay từ quá trình khai thác vàng quy mô nhỏ, chưa có ý thức tuân thủ các quy định của nhà nước”. Khi phát thải vào môi trường, thủy ngân chuyển hóa rất phức tạp, phát tán trong không khí, tích tụ trong trầm tích, sau đó xâm nhập cơ thể qua nhiều con đường hô hấp, ăn uống…, lâu ngày tích tụ trong não hoặc truyền từ mẹ sang con, có thể dẫn đến khả năng tổn thương hệ thần kinh trung ương như trường hợp nạn nhân của thảm họa nhà máy hóa chất Minimata, Nhật Bản những năm 1950, 1960.  Cách đây ba năm, tại hội nghị khởi động dự án “Đánh giá ban đầu Công ước Minamata về thủy ngân tại Việt Nam”do GEF tài trợ– dự án lớn đầu tiên của Việt Nam liên quan đến ô nhiễm thủy ngân, TS. Nguyễn Anh Tuấn (Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường) từng ước lượng, “tương đương với khoảng 300 tấn vàng mà Việt Nam quy hoạch khai thác trong tương lai là khả năng phát thải khoảng 900 tấn thủy ngân [thông qua các hoạt động khai thác]”1.  Có một vấn đề là trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành, số lượng các công bố của các nhà nghiên cứu Việt Nam còn thưa thớt, tản mạn và ở quy mô nhỏ. “Từ trước đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu về ô nhiễm thủy ngân nồng độ thấp tại Việt Nam”, TS. Nguyễn Văn Đông (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGTPHCM) – người từng làm luận án tiến sỹ về ô nhiễm thủy ngân ở Thụy Điển, thừa nhận.  “Đây là vấn đề vừa là cũ vừa mới. Ở Việt Nam cũng như nước ngoài, người ta đã biết và nghiên cứu về thủy ngân nhưng cách làm vẫn chưa thật sự triệt để”, GS. TS Phạm Hùng Việt giải thích. Hơn nữa, nhà nghiên cứu mới chỉ có năng lực chuyên môn trong phân tích, xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm, “trong khi muốn làm, muốn giải quyết được những vấn đề lớn thì phải có người đặt hàng và thực tế là chưa có ai đặt vấn đề này với mình cả”, ông cho biết thêm.  Cũng còn một lý do nữa là số lượng các nhà nghiên cứu ô nhiễm thủy ngân Việt Nam cũng rất hiếm hoi với hai nhóm nghiên cứu, một ở Hà Nội do PGS. TS Vũ Đức Lợi (Viện Hóa học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) – từng được đào tạo ở Viện Minimata về thủy ngân dẫn dắt và có kinh nghiệm trong việc đánh giá, phân tích thủy ngân; một ở TPHCM do TS. Nguyễn Văn Đông dẫn dắt, đã chế tạo được một số bộ thiết bị lấy mẫu thủy ngân, chủ yếu tìm hiểu thủy ngân trong các mẫu trầm tích, cá ở khu vực ĐBSCL. Vì thế, GS. TS Phạm Hùng Việt hi vọng, sau đại hội GEF 6, khi đặt lại vấn đề ô nhiễm thủy ngân và thực hiện các dự án do GEF tài trợ, các nhà nghiên cứu Việt Nam không chỉ có điều kiện “làm cái gì đó bài bản và có ý nghĩa”, đồng thời sẽ đào tạo thêm một số gương mặt mới.    Hướng nghiên cứu thứ hai mà các nhà khoa học Việt Nam có thể tiếp cận là ô nhiễm chất thải nhựa đại dương – “một hướng đi hoàn toàn mới và chưa được thực hiện tại Việt Nam”, GS. TS Phạm Hùng Việt cho biết. Từng tham gia một chương trình phân tích, quan trắc về ô nhiễm hóa chất trong khu vực Đông Á của trường Đại học Liên Hợp Quốc (Nhật Bản) và cùng xuất bản công bố “Vận chuyển và giải phóng các chất từ nhựa ra môi trường và đời sống tự nhiên” (Transport and release of chemicals from plastics to the environment and to wildlife), ông cho rằng, ô nhiễm chất thải nhựa đại dương (microplastics) là một vấn đề hết sức phức tạp, xuyên không gian và thời gian, riêng “định nghĩa đã cho thấy nó bao hàm một phạm vi rất rộng, không chỉ là những thứ mình thấy như túi nhựa, chai nhựa mà còn là các loại polymer, các sợi nilon có trong vải vóc, các hạt vi nhựa…”.  Thuận lợi lớn nhất của Việt Nam ở thời điểm này là việc nghiên cứu và phân tích các mẫu chất thải nhựa đại dương không quá khó với các nhà nghiên cứu Việt Nam, đặc biệt những người đã từng tham gia nghiên cứu về POPs, có nhiều kinh nghiệm và thành thạo kỹ thuật sử dụng trong quy trình lấy mẫu, tách chiết, làm giàu chất ô nhiễm – vốn chỉ xuất hiện trong mẫu ở mức phần tỷ, cũng như sẵn một số máy móc, thiết bị phù hợp… Qua những chương trình nghiên cứu trước đây về POPs do Quỹ GEF tài trợ, Việt Nam đã có một đội ngũ nhà nghiên cứu và một mạng lưới các phòng thí nghiệm có đủ sức thực hiện các đề tài cơ bản về chất thải nhựa đại dương.  Tuy nhiên, đây chỉ là một góc rất nhỏ của chất thải nhựa đại dương. Để thực hiện được những nghiên cứu toàn diện về đối tượng này, cần phải có sự tham gia của nhiều lĩnh vực, “không riêng hóa môi trường, hóa phân tích, độc học mà còn phải có sự vào cuộc của vật lý, khoa học vật liệu, sinh học phân tử nhằm hiểu rõ về cơ chế ô nhiễm, tính chất các loại sợi, các hợp chất cao phân tử, thậm chí cả sự vào cuộc của khí tượng thủy văn, địa chất, vật lý địa cầu vì liên quan đến khí hậu biển, dòng chảy đại dương, thềm lục địa…”, GS. TS Phạm Hùng Việt bổ sung.  Cần tư duy mới của các cơ quan quản lý  Khi tham gia đại hội GEF 6, không chỉ chủ động tìm hiểu những nét mới trong chương trình tài trợ của Quỹ, các nhà nghiên cứu Việt Nam còn chú ý đến một điều quan trọng: nắm bắt thông tin và tìm hiểu cơ chế vận hành Quỹ giữa bên cấp kinh phí với bên tiếp nhận kinh phí dự án để có thể thuận lợi hơn trong việc triển khai ý tưởng nghiên cứu của mình.  Ở góc độ một nhà quản lý và điều phối nhiều dự án về các chất POPs do Quỹ GEF tài trợ từ nhiều năm trước, TS. Nguyễn Anh Tuấn nhận xét: “Thay đổi lớn nhất của các nhà quản lý quốc tế là họ đã nhìn nhận vấn đề trên quy mô rộng hơn. Thay vì tập trung vào những dự án mang tính giải pháp để xử lý các vấn đề trước mắt, họ bắt đầu khuyến khích những dự án dài hơi – thậm chí mang tính dự báo, liên ngành, lồng ghép rất nhiều chương trình do Quỹ cấp kinh phí nhằm tạo ra những tác động trên quy mô lớn, có khả năng thay đổi nhận thức của người dân”. Do đó, theo đánh giá của anh, nếu các chương trình nghiên cứu đề xuất từ Việt Nam đạt được các tiêu chí này thì khả năng nhận được tài trợ rất cao.  Điều đó có nghĩa là phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề của cả người cấp kinh phí lẫn người nhận kinh phí, tuy nhiên ngần ấy vẫn là chưa đủ, dù những dự định của GS. TS Phạm Hùng Việt và một số nhà nghiên cứu khác cũng có phần “nương theo” một cách linh hoạt với thay đổi trong nhìn nhận của Quỹ GEF. Với những kinh nghiệm tích lũy hơn 20 năm nghiên cứu về ô nhiễm kim loại và các hợp chất POPs, GS. TS Phạm Hùng Việt cho rằng, không thể thiếu được sự chủ động và sâu sát của cơ quan quản lý nhà nước, ví dụ Bộ TN&MT, Bộ Công thương. Trong trường hợp này, chủ động và sâu sát có nghĩa là thành lập những chương trình mang tính định hướng lớn, đưa ra những vấn đề thiết thực để có thể mời được đông đảo các nhà khoa học vào cuộc cùng các nhà quản lý kiểm kê nguồn phát thải, tìm các điểm nóng ô nhiễm (hotspot), nghiên cứu cơ chế ô nhiễm, tính chất ô nhiễm, tác động của ô nhiễm với môi trường, con người và tìm ra giải pháp xử lý.  Thông thường, trong lĩnh vực ô nhiễm môi trường, nhà khoa học đã rất cần sự hỗ trợ của các nhà quản lý, nay với những nghiên cứu mang tính phức tạp và đòi hỏi phải thực hiện trên phạm vi rất rộng về chất thải nhựa đại dương thì vai trò của các cơ quan quản lý lại càng quan trọng, “ngoài kinh phí, nhà khoa học còn cần những hỗ trợ về mặt tổ chức để có thể thực hiện nghiên cứu trên những đoạn bờ biển tương đối dài, lấy mẫu mang tính đại diện trong điều kiện thời tiết khác nhau và trên những vị trí địa lý khác nhau… Mặt khác, tình trạng ô nhiễm chất thải nhựa đại dương xuyên biên giới, một quốc gia đôi khi không giải quyết được triệt để vấn đề. Nếu có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, việc kết nối quốc tế sẽ thuận lợi và mang tính ‘chính tắc’ hơn”, GS.TS Phạm Hùng Việt nhận xét.  Quan sát quá trình hoạt động của những chương trình nghiên cứu ở quy mô đa quốc gia và do những quỹ đầu tư quốc tế hỗ trợ kinh phí, các nhà nghiên cứu của CETASD đã rút ra một quy tắc: sự hiệu quả của nghiên cứu còn tùy thuộc vào mức độ vào cuộc và nhanh nhạy của cơ quan quản lý quốc gia và “bao giờ cũng là cơ chế cơ quan nhà nước làm đầu mối, [bởi] họ thường đi tìm một nơi chịu trách nhiệm, cam kết thực hiện đến cùng dự án rồi mới cấp kinh phí thực hiện nghiên cứu”. Đây cũng là cách mà Quỹ GEF sẽ áp dụng trong đầu tư kinh phí cho các nhà khoa học Việt Nam thực hiện nghiên cứu về ô nhiễm thủy ngân và chất thải nhựa đại dương, GS.TS Phạm Hùng Việt dự đoán.    ***  Gần hai tháng sau đại hội GEF 6, những tín hiệu tích cực đầu tiên đã tới, đó là một cuộc hẹn làm việc giữa Tổng cục Biển và hải đảo (Bộ TN&MT) với Trung tâm CETASD để bàn về việc hợp tác nghiên cứu chất thải nhựa đại dương. Và khi còn chưa rõ về những chương trình về ô nhiễm thủy ngân và chất thải nhựa đại dương của Bộ TN&MT thì CETASD đã chuẩn bị sẵn những gì có thể: đặt một số thiết bị chuyên dụng phân tích thủy ngân và tìm học bổng tiến sỹ tại Viện Minimata cho một thành viên của Trung tâm, tiến tới có thể “cùng với họ nghiên cứu một vấn đề nào đó về ô nhiễm thủy ngân, có thể thủy ngân trong than”.  —  1.http://cem.gov.vn/VN/TINTRANGCHU_Content/tabid/330/cat/115/nfriend/3746487/language/vi-VN/Default.aspx       Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nghiên cứu vật lý của Cuba      Trong khuôn khổ chuyến thăm Cộng hòa Cuba của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 28 đến 30/3/2018, Bộ KH&CN Việt Nam đã làm việc với Bộ KH, CN và Môi trường Cuba với mục tiêu mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác về KH&CN và trao đổi một số nội dung hợp tác mới: công nghệ sinh học trong nông nghiệp và y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, năng lượng tái tạo, đa dạng sinh học, y học hạt nhân, hợp tác giữa các khu CNC…  Nhân dịp này, Tia Sáng giới thiệu với bạn đọc 2 lĩnh vực nổi bật của KHCN Cuba, vật lý và công nghệ sinh học trong y tế.      Trường ĐH Havana là nơi đào tạo về vật lý hàng đầu Cuba.  Ý chí là sức mạnh của chúng tôi, María Sánchez Colina – chủ tịch Hội Vật lý Cuba nói. “Mặc dù gặp khó khăn nhưng các nhà khoa học vẫn xoay xở để nghiên cứu, bằng những cách hết sức sáng tạo”.  Đam mê và sáng tạo đã dẫn dắt vật lý Cuba phát triển bất chấp hoàn cảnh khó khăn. “Hãy nghĩ về khoa học như nghĩ về nghệ thuật”, Aurora Pérez Martínez – nhà vật lý lý thuyết ở Viện nghiên cứu Điều khiển học, toán học và vật lý (ICIMAF) tại Havana lo ngại rằng, trái ngược với nghệ thuật, khoa học không còn được coi trọng ở Cuba nữa. “Những nhà lãnh đạo thường cật vấn tại sao chúng tôi cứ làm những thứ không thể ứng dụng được. Họ chỉ muốn các hạt neutrinos được dọn lên đĩa. Nhưng thử xem ballet đâu cần ứng dụng”.  Việc duy trì nghiên cứu ở Cuba vô cùng khó khăn. Không chỉ vật lộn với thiếu hụt trong cuộc sống hằng ngày – lương thấp, điện cắt, đi lại khó khăn, nhu yếu phẩm thiếu hụt từ kem đánh răng, giấy bút…, các nhà khoa học còn phải đối mặt với thiếu kinh phí và trang thiết bị cho nghiên cứu, internet chập chờn, sự căng thẳng về quan hệ Mỹ – Cuba và nhiều vấn đề liên quan khác.  Bấp chấp điều đó, một đội ngũ các nhà nghiên cứu vẫn kiên trì theo đuổi khoa học. Hội Vật lý Cuba có 410 thành viên, một nửa là những nhà nghiên cứu trong các trường viện, phần còn lại là các giáo viên ở trường phổ thông. Sự cô lập với thế giới bên ngoài có thể khiến một số người trở nên lạc hậu trong các hướng nghiên cứu nhưng một số người khác vẫn cố gắng vươn lên mặt tiền. Những lĩnh vực thế mạnh của vật lý Cuba là lý thuyết các chất đậm đặc, lý thuyết trường lượng tử, vật lý thiên văn và hệ thống các hệ phức tạp. Họ cũng được chính phủ ưu tiên đầu tư về công nghệ sinh học và y học.  Những biến chuyển lịch sử  Trước cuộc cách mạng Cuba năm 1959, các trường đại học thường coi trọng giảng dạy hơn nghiên cứu nhưng chính quyền mới dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro đã nhận thấy sự cần thiết của việc xây dựng năng lực KH&KT của đất nước, Carlo Trallero- một trong những nhà vật lý lý thuyết hàng đầu Cuba, cho biết.  Trong những năm đầu của cách mạng, nhiều nhà khoa học từ nhiều quốc gia đến Cuba để hỗ trợ việc hiện đại hóa giáo dục đại học và hoàn thiện cấu trúc các ngành khoa học. Những năm 1970-1980, phần lớn họ đến từ Liên bang Xô viết và khối Đông Âu. Sau đó ba thập kỷ, khi Liên bang Xô viết sụp đổ, các nhà khoa học Cuba tới các quốc gia Đông Âu làm việc. Federico García Moliner – nhà vật lý Tây Ban Nha giữ mối quan hệ thân thiết với các đồng nghiệp Cuba, nhận xét, nền tảng toán học của những nhà vật lý Cuba được học tại Nga trong thời kỳ đỉnh cao của khoa học Xô viết khiến ông phải ghen tị.  Khi trở về nước, họ đều được giao những vị trí quan trọng. Trước khi hoàn thành học vị tiến sỹ, họ đã dẫn dắt các nhóm nghiên cứu, viện nghiên cứu và dạy trong trường đại học. José Marín Antuña, nhà vật lý tại Đại học Havana là một trường hợp như vậy. Ông tốt nghiệp thạc sỹ thủy động lực học trường đại học Quốc gia Moscow (MGU) năm 1967 và một tuần sau khi về nước đã dạy vật lý ở trường đại học, một năm sau ông phụ trách chuyên ngành vật lý lý thuyết ở trường dù năm 1986 mới tới Moscow để bảo vệ luận án tiến sỹ.      Dù rất cố gắng nhưng tổng kinh phí đầu tư cho khoa học của Cuba vẫn còn ở mức thấp. Theo số liệu năm 2015 của Science, ngân sách R&D của Bộ KH&CN Cuba là 4 triệu USD. Ở Cuba, 6.000 nhà khoa học làm việc tại 40 trường đại học và 200 trung tâm KH&KT với mức lương trung bình mỗi người là 36 USD/tháng.         Sự sụp đổ của Xô viết đã kéo theo sự đi xuống của nền kinh tế Cuba. Việc Mỹ cấm vận Cuba kể từ sau cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962 đã gây tác động mạnh. Cũng như những khía cạnh đời sống xã hội khác, nghiên cứu trở nên trì trệ. “Cuộc sống ở Cuba thật khó khăn”, Alejandro Bordelois Cayamo, người lấy bằng thạc sỹ ở Leningrad năm 1981 và sau đó là bằng tiến sỹ ở ĐH Santiago de Cuba năm 1999, nhớ lại. Những năm 1990 “là thời kỳ đen tối với người Cuba”, ông kể.  Để tiếp tục nghiên cứu, các nhà vật lý Cuba chuyển hướng sang khu vực Mỹ Latin và châu Âu nhưng mối quan hệ này cũng bị địa chính trị ảnh hưởng. Sánchez kể rằng do áp lực của Mỹ mà vào đầu những năm 2000, châu Âu cũng không mặn mà. “Học bổng trở nên ít ỏi và sự hợp tác giảm xuống đáng kể”. Sau khi Tổng thống Obama nới lỏng cấm vận, mọi thứ đã dễ chịu hơn, học bổng trở lại với số lượng lớn hơn. Vật lý Cuba tiếp tục phụ thuộc vào sự kết nối với toàn thế giới. Kể từ sau chiến tranh Lạnh, viện nghiên cứu duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Cuba là Trung tâm vật lý lý thuyết quốc tế Abbus Salam (ICTP) ở Trieste, Ý, Roberto Mulet, nhà vật lý lý thuyết ở trường Đại học Havana, cho biết.  Khoa học đỉnh cao, đầu tư hạn chế  Chất lượng internet là vấn đề nan giải. Cuba chỉ có duy nhất đường cáp quang với Venezuela. Sánchezcho biết không thể lắp đặt thêm vì lệnh cấm vận của Mỹ. Mạng internet quá chập chờn để tải những tập tài liệu nghiên cứu nên thông thường các nhà nghiên cứu Cuba nhờ đồng nghiệp nước ngoài gửi bản sao các công trình qua email. Alejandro Cabo, nhà vật lý lý thuyết tại ICIMAF nhận xét, “cách làm này chỉ dành cho những công trình mà bạn biết và nó không phải là cách tốt để tiếp xúc với các tài liệu gốc hiện có trên các trang mạng”.  Các giáo sư, nhà nghiên cứu và các bác sỹ chỉ có khoảng 40 giờ mỗi tháng để truy cập internet tại nhà nhưng kết nối qua đường dây điện thoại thì chậm và gián đoạn. Owen Fernández Piedra, nhà vật lý lý thuyết về lý thuyết siêu hấp dẫn, lỗ đen và lý thuyết trường lượng tử trong các không thời gian cong, không dấu thất vọng về việc truy cập internet theo “khẩu phần”: “Tìm kiếm thông tin, trao đổi với các đồng nghiệp trên thế giới, truy cập các trang web, tải các bài báo và sách ở mức vài megabyte là thách thức lớn”. Bên cạnh đó còn khó khăn khác là Skype và những phần mềm cho phép theo dõi video các hội nghị quốc tế không hoạt động ở Cuba.    Ernesto Altshuler là một trong số những nhà nghiên cứu Cuba nỗ lực “bắt kịp” quốc tế. Nguồn: Science  Cuba không có máy gia tốc synchrotron, lò phản ứng nghiên cứu hay các thiết bị nghiên cứu vật lý cỡ lớn khác. Để nghiên cứu về cấu trúc hạt nhân cần nguồn xung tia X hoặc neutrons  hay những thiết bị lớn thì các nhà khoa học phải ra nước ngoài. Có một số nhà nghiên cứu vật lý hạt Cuba đang làm việc tại CERN. Thông thường vì không đủ điều kiện thực nghiệm mà các nhà vật lý Cuba chọn vật lý lý thuyết. “Chúng tôi phải cố gắng nghiên cứu khoa học đỉnh cao với những nguồn lực đầu tư hạn chế”, Calos Cabal Mirabal – nhà nghiên cứu về quang phổ cộng hưởng từ, nói, “[vì vậy] đây không phải là việc dễ dàng”.  Được mở từ năm 1985 tại trường Đại học Havana, Viện KH&CN vật liệu là nơi chia sẻ các thiết bị chế tạo và phân tích đặc điểm của nhiều loại vật liệu. Họ cũng là người sở hữu kính hiển vi điện tử nguyên tử lực đầu tiên của Cuba. Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục đã đầu tư cho viện thiết bị mới, bao gồm máy sắc ký lỏng hiệu năng cao, kính hiển vi điện tử quét, và ba máy quang phổ huỳnh quang tia X, quang phổ tử ngoại và quang phổ hấp thụ nguyên tử. “Đây là tín hiệu tốt nhưng vẫn chưa đủ”, María Sánchez – Chủ tịch Hội Vật lý Cuba nhận xét và nói thêm, thiết bị mới phù hợp với nghiên cứu hóa học hơn là vật lý. Và dẫu cho Khoa Vật lý và Viện KH&CN vật liệu mở cửa cho các nhà vật lý trên khắp đất nước tới làm việc nhưng thiếu kinh phí đi lại và điều kiện giao thông kém khiến chỉ có các nhà vật lý ở Havana là có thể tới.  Để có thiết bị nghiên cứu, những nhà vật lý thực nghiệm phải nâng niu các thiết bị có tuổi đời hàng chục năm do Liên Xô tài trợ để chúng vẫn có thể hoạt động được. Tất nhiên họ cũng có một số thiết bị do nhiều nhà nghiên cứu hoặc các viện nghiên cứu ở nước ngoài gửi tặng. “Tôi mang thiết bị về từ Tây Ban Nha và Mexico, có lần tôi mang về cả máy bơm chân không”, Sánchez nói. Sự cấm vận của Mỹ khiến việc mua thiết bị trở nên khó khăn, “khâu trung gian làm giá đội lên gấp đôi”.  Giải pháp của Sánchez là từ một nhà thực nghiệm, bà chuyển sang “làm mô hình và mô phỏng”. Bà nghiên cứu các trạng thái nhiệt của thiết bị bán dẫn vì nhiệt lượng là thách thức của thiết bị bán dẫn. Với giá khoảng hàng chục nghìn USD, việc mua thiết bị nằm ngoài tầm với của bà. “Chúng tôi sử dụng một máy quang phổ từ thời Liên Xô và dùng thêm các thành phần của thiết bị hiện đại để lắp đặt hệ thống máy móc của mình với giá cả rẻ hơn nhiều”, bà kể.  Một đồng nghiệp khác của bà, Ernesto Altshuler – nghiên cứu về siêu dẫn và cơ chế truyền tin của kiến và vật liệu dạng hạt. Họ lắp đặt thiết bị thực nghiệm bằng việc dùng các bộ phận máy tính, các viên Styrofoam, các chi tiết được làm bằng in 3D do một cựu sinh viên đang ở Pháp cung cấp, băng siêu dẫn từ các đồng nghiệp Mỹ, kiến địa phương và cát. Họ nghiên cứu nguồn dị hướng trong mặt phẳng tại các băng siêu dẫn nhiệt độ siêu cao, các ảnh hưởng của lực hấp dẫn sao Hỏa lên hiệu suất của bánh xe, các vật liệu dạng hạt xâm nhập vào vật thể như thế nào và loài kiến có thể truyền tin thông qua vật cản mà chúng không thể vượt qua hay không và nếu có thì như thế nào. “Chúng tôi đặt ra vấn đề mà chúng tôi có thể giải quyết được [trong điều kiện của mình]”, Altshuler nói.  Tại nhánh ứng dụng của ICIMAF ở Havana, Educardo Mereno xây dựng những hướng dẫn về phương pháp tia tử ngoại cho các thử nghiệm đánh giá không phá hủy đường ống dẫn dầu trong ngành công nghiệp dầu khí. Công việc này ông đã thực hiện khi làm tiến sỹ ở Ba Lan và trong một dự án hợp tác sau đó nhưng đã dừng khi Liên Xô tan rã. “Sự hợp tác đã mất đi như một hệ quả của lịch sử”, ông nhận xét. Hiện ông vẫn nghiên cứu về việc dò tìm khuyết tật trong ống dẫn dầu bằng tia tử ngoại nhưng mở thêm hướng ứng dụng kỹ thuật tia tử ngoại trong y tế và hợp tác với các đồng nghiệp Tây Ban Nha và Mỹ Latin.  Vào cuối những năm 1980, Cuba thiếu thiết bị y tế. Cabal Bordelois – phụ trách PTN Cộng hưởng từ ở ĐH Santiago de Cuba, đã hướng dẫn một nhóm nghiên cứu thiết kế và chế tạo nhiều máy quét cộng hưởng từ. Ông nói, dự án đã “được khởi động vì sự cấm vận của Mỹ”. Không thể mua máy vì dẫu được sản xuất ở Đức hay Nhật Bản thì có trên 10% chi tiết của nó vượt quá giới hạn cho phép là 10%”.  Với kinh nghiệm có được từ thời học ở Liên Xô, ông đã thiết kế và xây dựng một hệ thống có thể phát ra từ trường xung siêu cao. Toàn bộ nam châm được làm ở xưởng chế biến sắt và phần dây cuộn từ nhà máy đường mía. Do [năng lực tính toán] của máy tính ở Cuba yếu nên họ phải thiết kế một chương trình xung với một máy tính có thể kiểm soát được phần cứng và cài đặt lên một máy tính khác để tải dữ liệu và tái dựng hình ảnh. Cuối cùng, thiết bị đã được sử dụng ở một bệnh viện ở Santiago de Cuba.  Nhóm nghiên cứu đã tiếp tục thiết kế những cỗ máy cộng hưởng từ nhỏ gọn và nhiều tính năng phức tạp hơn, ví dụ phát triển các thiết bị cộng hưởng từ để nghiên cứu bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm (4% dân số Cuba mắc bệnh này). Bordelois coi việc thiết kế và chế tạo máy cộng hưởng từ là “thành tựu quan trọng bậc nhất của Cuba trong ba thập kỷ qua”.  Năm 2005, ông đã đề nghị với Fidel Castro về thành lập một nhóm chuyên gia đảm trách việc xây dựng 35 trung tâm y tế công nghệ cao ở Venezuela, lắp đặt các máy quét cộng hưởng từ, máy siêu âm 3 D, máy quét CT, máy chụp X quang tuyến vú, máy ghi điện tim. Và Cuba đã nhận được rất nhiều tiền từ việc thiết kế và tập huấn kỹ thuật cho Venezuela, Cabal kể.  Nói gì với thế hệ sau?  Lương mỗi giảng viên đại học vào khoảng 40 peso Cuba, người làm việc trong các viện nghiên cứu của chính phủ thành lập được khoảng gấp đôi. “Để so sánh, có thể thấy khách du lịch thường thuê một phòng với giá 30 peso/đêm, di chuyển một cuốc xe trong thành phố với giá 5 peso. Một bồi bàn hoặc rửa bát trong một hiệu ăn tư nhân nhận được nhiều tiền lương cao hơn các nhà vật lý”, Alshuler nói. Các giảng viên, như nhiều công dân khác, thường có một số tem phiếu – dầu, gạo, cà phê…, và được trợ giá về y tế, giáo dục, giao thông.  Cách làm chung của các nhà nghiên cứu là đi công tác một vài tuần hoặc vài tháng ở nước ngoài, nhưng thường không có chi phí sinh hoạt mà chỉ được chi trả vé máy bay. Với họ, quãng thời gian ở nước ngoài là vô giá cả về kinh tế lẫn nghề nghiệp. Ví dụ Sánchez mỗi lần ra nước ngoài là mang theo mẫu vật liệu của mình và của các đồng nghiệp khác gửi vì ở nhà “không có cái gì để đo tính chất vật liệu”. Trong 8 tuần ở Tây Ban Nha mùa thu trước, bà “làm thí nghiệm như điên” và “không quên tiết kiệm tiền lương”.  Fernández của ĐH Cienfuegos khi ra nước ngoài cũng sống một cách tiết kiệm vì cần tranh thủ mua quần áo, giày dép và đồ gia dụng khi trở về. Năm vừa rồi anh nhận được phần thưởng của Viện Hàn lâm KH Cuba. Anh phải làm thêm việc để kiếm tiền, “tôi vẽ, làm xây dựng, phụ việc thợ mộc và dạy kèm môn Lý. Bất cứ việc gì có thể kiếm thêm tiền để sống nhưng những việc đó choán hết thời giờ nên tôi cũng ít thời gian nghiên cứu”, anh thừa nhận.      “Chúng tôi đặt ra vấn đề mà chúng tôi có thể giải quyết được trong điều kiện của mình” (nhà vật lý Ernesto Altshuler).  “Tương lai của đất nước chúng ta nhất thiết phải là tương lai của người làm khoa học, của người có tư tưởng” (Fidel Castro)        Nhiều nhà vật lý khác cũng kể về việc “kiếm thêm” – lái taxi, phiên dịch, cho thuê phòng, nhận tiền gửi từ nước ngoài, tư vấn… Ví dụ hằng năm, Moreno đi châu Âu tư vấn về dò tìm khuyết tật trong ống dẫn dầu bằng sóng âm hay mô hình phân tích phần tử hữu hạn. Tiền công của chuyên gia Cuba thấp hơn những quốc gia châu Âu và đó cũng là lý do ông được họ thuê.  Thông thường, người Cuba sẽ ra nước ngoài để học tập, cả về lý do tài chính lẫn cơ hội tham gia một trung tâm nghiên cứu vật lý quốc tế. ICTP thường có những học bổng dành cho các quốc gia đang phát triển, nơi nhận 15 người từ Cuba mỗi năm, cụ thể hằng năm ICTP dành 200.000 euro cho Cuba. Tuy nhiên, việc học ở nước ngoài cũng ẩn chứa nhiều rủi ro và là sự giằng xé giữa yêu và ghét. “Các nhà khoa học ngoài Cuba chỉ muốn giúp đỡ nhưng họ lại mang những sinh viên giỏi của chúng tôi đi. Nếu sinh viên có tới 4 năm ở nước ngoài thì họ không trở về nữa”, Mulet nhận xét.  Để đảo ngược tình thế, họ đề xuất một dạng học bổng cho phép nghiên cứu sinh làm việc cả trong nước và nước ngoài, hay còn được gọi là “sandwich PhD”. “Nếu có ‘sandwich PhD’, họ có thể trở về”, Mulet nêu.  Mulet thừa nhận rằng ai đó làm nghiên cứu ở nước ngoài sẽ dễ dàng hơn ở Cuba nhưng những người chọn cách ở lại Cuba đều mong muốn đóng góp gì đó cho đất nước. “Quyết định ở lại của tôi trên cơ sở cam kết với lịch sử của đất nước và với nhiều người khác. Nếu chúng tôi cũng rời đi thì sau này chúng tôi biết nói gì với thế hệ sau?”  Khoa học và ngành công nghiệp  Khoa học đã trở thành ngành được Cuba ưu tiên hàng đầu sau cuộc cách mạng 1959. Trong một bài diễn văn vào tháng 1/1960, Fidel Castro đã nêu rõ, “Tương lai của đất nước chúng ta nhất thiết phải là tương lai của người làm khoa học, của người có tư tưởng”. Ngày nay, Cuba đầu tư gần 1% GDP vào KHCN, theo Castro Díaz-Balart – nhà vật lý hạt nhân và cố vấn khoa học của chính phủ mới tự sát vào ngày 1/2/2018 vì bệnh trầm cảm. Cách đầu tư này đã đưa Cuba lên vị trí dẫn đầu các quốc gia Mỹ Latin và ở lằn ranh tương đương với các quốc gia nghèo nhất châu Âu. Trong những lá thư gửi Physics Today, ông cho biết Cuba đã đào tạo ra một đội ngũ lớn các giáo sư, nhà nghiên cứu, kỹ sư, kỹ thuật viên, “những cột trụ và tài sản quý báu của hệ thống khoa học quốc gia”.  Các nhà khoa học Cuba đang không ngừng mở rộng thêm chuyên môn của mình. Trong một cuộc hội thảo của Hội Vật lý Mỹ vào tháng 3/2016, Castro Díaz-Balart đã cho biết: “Cuba đã nhận thấy công nghệ nano là lĩnh vực mới nổi nhưng liên hệ chặt chẽ với sức cạnh tranh của nền kinh tế tương lai và sự phát triển của đất nước”. Do đó trung tâm về công nghệ nano mang tên Trung tâm nghiên cứu tiên tiến Cuba (CEAC) ra đời như “một viện nghiên cứu mở, một phần trong mạng lưới khoa học quốc gia và hợp tác quốc tế”, ông Castro Díaz-Balart nhấn mạnh.  Nghiên cứu về công nghệ nano hiện thời của Cuba đã có bước tiến nhảy vọt và gắn liền với nền sản xuất dược phẩm sinh học, họ sản xuất các vaccine và hơn 700 loại thuốc đủ để đáp ứng nhu cầu của ¾ dân số, bao gồm các nanovaccine phòng chống từ ung thư đến sốt xuất huyết, sử dụng công nghệ nano để tăng cường khả năng hấp thụ thuốc và chẩn đoán bệnh, nghiên cứu những tác động của các hạt nano để ứng dụng trong các vấn đề khác của ngành y và lĩnh vực bảo vệ môi trường. Vì vậy, ông Castro Díaz-Balart coi những thành tựu trong công nghệ nano là kết quả của “một tầm nhìn và việc thực thi kế hoạch mang tính chiến lược”. Việc đầu tư phát triển công nghệ sinh học nano đã giúp hỗ trợ ngành dược phát triển và góp phần đưa nó trở thành thế mạnh của đất nước.  Thời gian gần đây, một số mối hợp tác giữa Cuba và Mỹ đã được thiết lập. Thỏa thuận hợp tác trong một số lĩnh vực như khí tượng, địa chấn, bảo vệ động vật hoang dã đã được ký kết năm 2015, 2016. Ở cấp độ phi chính phủ, những thay đổi trong quan hệ Cuba-Mỹ đến một cách vừa lặng lẽ, vừa phô trương. Năm 2018, lần thứ ba, lãnh đạo Hội Vật lý Mỹ (APS) tham gia cuộc họp thường niên của Hội Vật lý Cuba. Kể từ năm 2012, APS đã “mở cửa” tạp chí online của mình để các đồng nghiệp Cuba có thể tự do truy cập. Các nhà vật lý Cuba lạc quan về việc bình thường hóa quan hệ với các đồng nghiệp Mỹ. Điều đó sẽ đi kèm với việc có thể sử dụng thiết bị nghiên cứu tốt hơn, trao đổi học viên, tự do tham gia các hội nghị, quyền truy cập tạp chí chuyên ngành…  Trong phiên họp của Hội Vật lý Mỹ, David Gross – nhà vật lý được trao giải Nobel năm 2004, nhận xét: “Theo kinh nghiệm của tôi, trước những rào cản do thói quan liêu và các chính phủ dựng lên, các nhà khoa học cần tìm cách vượt qua với niềm khao khát lớn lao là được tương tác với những nhà khoa học khác”. Ông cũng cho rằng, “Cuba có một cộng đồng khoa học nhiệt huyết với những người hết sức tài tình trong việc tạo ra được những thành công lớn trong điều kiện vô cùng khó khăn”.  Niềm tin của ông quả là có cơ sở. Bất chấp những khó khăn và thách thức, Pérez khẳng định, “chúng tôi vẫn ở đây và chúng tôi đang làm khoa học!”  Thanh Nhàn tổng hợp  TS. Trần Chí Thành (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) hiệu đính  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/10.1063/PT.3.3871  https://www.aps.org/publications/apsnews/updates/cuba.cfm  http://www.sciencemag.org/news/2015/05/feature-cuban-science-comes-cold       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam      Qua việc xem xét (review) các báo cáo khoa  học xã hội xuất bản trong các tạp chí chuyên ngành khoa học xã hội ở  Việt Nam (Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, Vietnam Social Science  Review, Thông tin Khoa học Xã hội, Tạp chí Khoa học Xã hội, v.v.) và  trong các tạp chí chuyên ngành xuất bản ở ngoài Việt Nam, có thể nhận  định rằng chưa có sự nối liền nghiên cứu xã hội học giữa Việt Nam và thế  giới.     Nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam rất hiếm thấy xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế (việc năm 2013, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu của những đề tài do Quỹ tài trợ từ năm 2010, kết quả cho thấy, 10 đề tài được đánh giá đạt yêu cầu, với tỷ lệ trung bình đạt mức 1.1 sách chuyên khảo và 6.6 công trình đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước, là một ví dụ điển hình).  Nhiều nguyên nhân có thể đưa đến việc thiếu sự liên kết của xã hội học ở Việt Nam với xã hội học thế giới. Trước hết, phần lớn các nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam chưa được thực hiện trên quan điểm coi kiến thức (knowledge) là sự tích lũy các hiểu biết (understandings) được khám phá ra bằng nghiên cứu để giải đáp các câu hỏi về thực tế xã hội. Phần lớn các báo cáo khoa học xã hội xuất bản ở Việt Nam thường thiếu phần xem xét tổng quan tài liệu (literature review) vốn được dùng làm nền tảng cho các đề tài nghiên cứu. Các đề tài nghiên cứu thường là các vấn đề cá biệt của xã hội Việt Nam nhưng ít khi được đặt trong khung cảnh kiến thức chung của xã hội học. Các nghiên cứu xã hội ở Việt Nam cũng thường ít sử dụng lý thuyết (theory) hay các hệ qui chiếu quan điểm (research paradigm) trong quan sát và phân tích nên thường không đi xa hơn việc mô tả (description) sự kiện thực tế, nhưng chưa đi đến trình độ giải thích (explain) thực tế bằng kiểm chứng giải thuyết (hypothes is testing) hay bằng lý thuyết. Do đó, kết quả nghiên cứu thường chỉ có giá trị thông tin (information) chứ không đưa ra các hiểu biết (understandings) mới để đóng góp vào kiến thức xã hội học nói chung (trường hợp ngoại lệ là các báo cáo khoa học xã hội xuất ban trong các tập san chuyên ngành quốc tế).  Trong các bài báo cáo về nghiên cứu khoa học xuất bản ở Việt Nam, phương pháp nghiên cứu thường được trình bày rất sơ sài và không đủ để độc giả thẩm định được chất lượng (quality) của việc lấy mẫu và dữ liệu nghiên cứu, cũng như cách đo lường các khái niệm (concept measurement) và quá trình phân tích (analytical procedure). Các nghiên cứu định lượng thường sử dụng các mẫu nghiên cứu rất nhỏ (dưới 100 trường hợp) và thường không mang tính đại diện và tiêu biểu. Kỹ thuật phân tích dùng cho nghiên cứu định lượng còn đơn giản với kỹ thuật phân tích từng biến số một (univariate analysis) dùng cho hệ thống mô tả (descriptive statistics) như phần trăm (percentage) hay tỷ lệ (rate). Sự liên hệ giữa các yếu tố xã hội với hiện tượng quan sát vốn được dùng để giải thích các hiện tượng xã hội thường không được đề cập đến vì thiếu các kỹ thuật phân tích phức tạp dùng hai hay nhiều biến số một lúc (bivariate analysis và multivariate analysis).   Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, xã hội Việt Nam đã trải qua rất nhiều thay đổi, không ít vấn đề phức tạp nảy sinh trong mối liên hệ giữa xã hội và con người. Đó là cơ hội quý giá để xã hội học Việt Nam đóng góp vào kiến thức xã hội học nói chung qua việc xuất bản các nghiên cứu xã hội và các khám phá mới từ nghiên cứu trong các tạp chí chuyên ngành quốc tế (tạp chí có độc giả trên thế giới). Muốn vậy trước hết hoạt động nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam cần được nâng cao với sự chú trọng đặc biệt tới phương pháp nghiên cứu.           Author                Quản trị        
__label__tiasang Nghiên cứu y học ở Việt Nam      So với các nước đang phát triển có cùng mức độ phát triển kinh tế, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu y tế đáng kể. Tỉ lệ tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh giảm thấp hơn cả những nước trong vùng. Tuổi thọ trung bình hiện nay tương đương hay cao hơn các nước trong vùng, và tiếp tục gia tăng. Thành tựu này được giới quan sát quốc tế ghi nhận và có khi ngưỡng phục.  Tuy nhiên, bức tranh y tế nước ta nếu nhìn kĩ vẫn còn nhiều vấn đề vĩ mô chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế hiện nay.      Thống kê chính thức của Bộ Y tế cho thấy các bệnh sau đây nằm trong hàng “top 10” ở nước ta: các bệnh viêm phổi, viêm họng và viêm Amidan cấp, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét, tai nạn giao thông, và  các bệnh đường hô hấp. Vẫn theo thống kê của Bộ Y tế, những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nước ta (theo thứ tự) là: các bệnh viêm phổi, các bệnh liên quan đến hệ thống hô hấp (kể cả lao), thai chậm phát triển, tai nạn giao thông, suy dinh dưỡng, rối loạn gắn liền với thai nghén và cân nặng không đủ khi sinh, và các tổn thương hô hấp đặc hiệu khác của thời kì chu sinh. Bức tranh sức khỏe trên cho chúng ta thấy rằng các bệnh viêm và nhiễm trùng, suy dinh dưỡng, và tai nạn giao thông là những bệnh dân ta thường hay mắc và cũng chính là những “tử thần” nguy hiểm nhất hiện nay.   Một đặc điểm chung của những bệnh hàng đầu hiện nay ở nước ta là chúng rất phổ biến. Chẳng hạn như suy dinh dưỡng, có báo cáo cho thấy cứ 5 trẻ em ở nước ta thì có 1 em suy dinh dưỡng (theo một thống kê trong hội nghị tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2007 do Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng Quốc gia tổ chức vào đầu năm nay). Hay như bệnh viêm phổi (là nguyên nhân tử vong số 1), mỗi năm có đến khoảng 360.000 người mắc. Hay như hút thuốc lá, có nghiên cứu cho thấy khoảng 73% đàn ông và thanh niên (tuổi từ 18 trở lên) hút thuốc lá. Đây là một tỉ lệ cao nhất thế giới mà các nhà nghiên cứu Việt-Mỹ đã ghi nhận. Cao hơn cả Trung Quốc và Nhật!  Nếu tính theo dân số hiện hành, nước ta có 18,24 triệu thanh niên và đàn ông trên 20 tuổi hút thuốc lá!     Nhu cầu cho nghiên cứu      Gần đây có ý kiến cho rằng trong ngành y tế, nhất là dịch tễ học, ở nước ta mạnh và các chuyên gia dịch tễ học nước ta tài giỏi so với các nước trong vùng. Nước ta đã thành công khống chế các đợt dịch bệnh, không có bệnh nhân mắc bệnh tả nào bị tử vong, làm cho Tổ chức Y tế Thế giới kinh ngạc và khen ngợi.      Căn cứ vào chất lượng và số lượng các bài báo công bố trên các tập san y  học quốc tế chúng ta có thể đánh giá được năng suất và chất lượng khoa học của các công trình nghiên cứu dịch tễ học của Việt Nam và các nước trong vùng.  Cần nói thêm rằng cụm từ “tập san quốc tế” ở đây là chỉ những tập san khoa học có ban biên tập mà thành phần là các chuyên gia từ nhiều quốc gia, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh (peer review system), và được công nhận trong danh sách của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information). Theo cách hiểu và các tiêu chuẩn này, tất cả các tạp chí y học của nước ta chưa được xem là tập san quốc tế. Cũng cần nói thêm rằng “bài báo khoa học” ở đây chỉ tính những bài báo nguyên thủy (original paper) chứ không phải những bản tóm lược (abstract) nghiên cứu hay trình bày trong các hội nghị khoa học.     Trong một phân tích trước đây, tôi đã so sánh năng suất khoa học và chất lượng nghiên cứu y sinh học ở Việt Nam với các nước như Thái Lan, Malaysia, Inđônêsia, Philippines, và Singapore. Xin nhắc lại vài điểm chính trong phân tích đó như sau:      1. Về số lượng     ·    Trong thời gian 10 năm (1996–2005), có 3.456 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế xuất phát từ Việt Nam. Con số sản lượng khoa học từ Việt Nam, khi so sánh với các nước trong vùng, cho thấy công suất khoa học ở nước ta thuộc vào hàng thấp nhất: chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Malaysia (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), và thấp hơn Indonesia (n = 4.389) và Philippines (n = 3901).     ·    Tính trung bình hằng năm, số bài báo có liên quan đến ngành y sinh học chiếm khoảng 24% tổng số bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế. Tỉ lệ này ở Thái Lan là 43%.      ·     Trong thời gian 5 năm 2002-2006, Việt Nam công bố được 830 bài báo y sinh học, và con số này bằng 16% Thái Lan (n=5018 bài), 13% Singapore (n=6340 bài), chỉ hơn phân nửa so với Malaysia (n=1507 bài). Con số bài báo y sinh học từ Việt Nam cũng thấp hơn Indonesia nhưng tương đương với Philippines.      ·    Gần 1/3 các bài báo y sinh học từ Việt Nam liên quan đến y tế công cộng, môi trường, và bệnh truyền nhiễm. Tỉ lệ này ở Thái Lan là 22%, Indonesia 38%, Philippines 26%. Nhưng các lĩnh vực nghiên cứu trên không có mặt trong hàng “top 10” của Singapore và Malaysia.      ·     Hai trong số 10 trung tâm “sản xuất” các bài báo y sinh học từ Việt Nam lại có địa chỉ nước ngoài (Đại học Oxford chiếm gần 8% các bài báo, và Viện Pasteur chiếm 5%). Thật ra, Đại học Oxford và Viện Pasteur hợp tác với Việt Nam, nhưng qua hợp tác này họ mới chính là 2 đơn vị nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam!  Ở Thái Lan và Singapore, tất cả “top 10” trung tâm nghiên cứu đều có địa chỉ địa phương.      ·    Chỉ có 2% trong số 830 bài báo từ Việt Nam là do nội lực (tức tất cả là tác giả trong nước). Nói cách khác, đại đa số – nếu không muốn nói tất cả 811 bài báo y sinh học từ Việt Nam từ nguồn hợp tác – các tác giả Việt Nam chỉ là “lính đánh bộ”.           2. Về chất lượng ?                             A                       B                       C          Tôi tìm câu trả lời cho câu hỏi này bằng cách chỉ phân tích chỉ số trích dẫn và chỉ số H của các công trình nghiên cứu dịch tễ học, y tế công cộng, và bệnh truyền nhiễm trong thời gian từ 2000 đến 2008. Cơ sở dữ liệu là Viện thông tin khoa học (ISI). Kết quả có thể tóm lược trong các biểu đồ dưới đây.  (A) Số công trình nghiên cứu liên quan đến dịch tễ học, y tế công cộng, và bệnh truyền nhiễm  trong thời gian 2000-2008; (B) Chỉ số trích dẫn trung bình cho mỗi công trình nghiên cứu ; và (C) Chỉ số H giữa các nước.      Trung bình mỗi công trình nghiên cứu từ Việt Nam được trích dẫn 6,8 lần; con số này thấp hơn Thái Lan (8,3) nhưng tương đương hay cao hơn Singapore (6,8) và các nước như Malaysia (4,7), Indonesia (7,9) và Philippines (5,8). Điều này có thể hiểu được, vì phần lớn (99%) các công trình từ Việt Nam được công bố trên các tập san có IF thấp hơn 3. Trong suốt gần 8 năm, Việt Nam chỉ có 25 công trình nghiên cứu liên quan đến dịch tễ học, y tế công cộng, và bệnh truyền nhiễm, và mỗi công trình được trích dẫn trên 25 lần; nhưng con số này của Thái Lan là 39, tức 56% cao hơn ta!       Nói tóm lại, năng suất khoa học về dịch tễ học của nước ta vẫn còn thấp, kém chất lượng, và còn lệ thuộc quá nhiều vào người nước ngoài.      Một điều rất đáng quan tâm là các nghiên cứu y học được công bố ở Việt Nam có quá nhiều sai sót về phương pháp và lặp lại ý tưởng của người khác, hoàn toàn không có một phát kiến gì mới. (Xin nói thêm, đó chỉ là một nhận xét thực tế, chứ không phải một phê phán).  Những sai sót này bao gồm ứng dụng sai phương pháp, vi phạm và bất chấp giả định, quá tùy thuộc vào máy tính, vi phạm và bất chấp giả định khoa học… Ngoài ra, nhiều bài báo khoa học liên quan đến ngành y ở trong nước cũng quá sơ sài, hời hợt, thậm chí có vấn đề về y đức. Có thể nói không ngoa rằng hầu như bài báo y học nào công bố ở trong nước cũng đều có vấn đề cần xem lại về ý tưởng, phương pháp, hay thậm chí phải phân tích lại.   Định hướng tương lai?  Tại sao số lượng ấn phẩm y học (và khoa học nói chung) từ Việt Nam còn quá khiêm tốn trên trường quốc tế?  Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng theo tôi, vấn đề chủ yếu là văn hóa khoa học, đầu tư cho khoa học ứng dụng, và vấn đề tiếng Anh.   Thứ nhất, có thể nói không ngoa rằng chúng ta chưa có một văn hóa khoa học, bởi vì từ xưa, nước ta không có một truyền thống khảo cứu khoa học. Hiện nay, các đại học hàng đầu ở nước ta vẫn chỉ là những trung tâm huấn luyện và giảng dạy, chứ chưa là những trung tâm nghiên cứu như các nước trong vùng. Các tiêu chuẩn đề bạt giáo sư đại học chưa đặt nặng và các tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học và bài báo khoa học. Chính vì thế mà hiện nay, chúng ta thiếu hẳn một lực lượng giáo sư có khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc tế. Sinh viên đáng lẽ là những “mầm non” khoa học, nhưng rất tiếc họ chưa được hướng dẫn nghiên cứu khoa học có hệ thống, cho nên khi ra ngoài học họ cảm thấy bị thua thiệt so với đồng môn người nước ngoài.   Thứ hai, ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học ở nước ta còn quá khiêm tốn. Theo thống kê hiện hành, đầu tư cho khoa học và công nghệ ở nước ta chỉ trên dưới 2% ngân sách Nhà nước. Có công trình nghiên cứu dịch tễ học qui mô trên hàng ngàn đối tượng mà kinh phí cũng chỉ 50 ngàn USD!  Với một kinh phí như thế, không ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp trong nước phải hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài để tìm thêm nguồn kinh phí.   Nghiên cứu khoa học ứng dụng tầm quốc tế đòi hỏi các phương tiện khoa học tương đối đắt tiền. Vì hoàn cảnh kinh tế, nước ta còn thiếu những phương tiện như thế, và có lẽ đó cũng chính là lời giải thích tại sao các nhà khoa học trong nước phải hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài. Thật ra, hợp tác trong nghiên cứu là một điều tốt trong hoạt động khoa học hiện đại, nhưng hợp tác như thế nào để thành quả và tri thức khoa học dựa trên chất liệu của Việt Nam vẫn là của người Việt Nam thì mới là vấn đề mà tôi đã nêu ra gần đây (xem bài “Làm khoa học theo kiểu nhảy dù” trên Tia Sáng số tháng 6/2007).  Vì vậy để có thể nâng cao sự có mặt của y học Việt Nam trên trường quốc tế  chúng ta cần phải khắc phục ba vấn đề vừa nêu trên. Cụ thể là:  ·       các đại học cần phải đặt tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học thành một ưu tiên hàng đầu (bên cạnh giảng dạy);  ·        đưa các tiêu chuẩn công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế vào hệ thống tiêu chuẩn để đề bạt các chức danh giáo sư;  ·         có những hình thức tưởng thưởng (bằng tài chính, nếu cần) cho những công trình khoa học được công bố trên các tập san quốc tế có uy tín;   ·         từng bước tăng cường ngân sách khoa học và công nghệ lên con số 4% hay 5% tổng ngân sách quốc gia;   ·         thiết lập và tài trợ một số nhóm nghiên cứu hay phòng thí nghiệm trong các đại học và viện nghiên cứu để nuôi dưỡng các tài năng trẻ và làm đòn bẩy cho phát triển nghiên cứu khoa học;   ·         hợp tác với các nhóm nghiên cứu hàng đầu ở nước ngoài, kể cả các nhóm nghiên cứu của người Việt ở nước ngoài, để đào tạo các chuyên gia khoa học có trình độ quốc tế.   Nhiều nhà khoa học nước ta đã từng lên tiếng báo động rằng nền khoa học của nước ta đang xuống cấp nghiêm trọng, một phần là do mất cân đối trong đầu tư. Do đó, ngay từ bây giờ chúng ta cũng cần xem xét lại định hướng hoạt động khoa học để có những đầu tư tương xứng. Theo tôi, nên dành ưu tiên cho các công trình nghiên cứu ứng dụng như y sinh học, công nghệ sinh học (kể cả nông nghiệp và thủy sản), công nghệ thông tin, khoa học vật liệu, y học lâm sàng, môi trường học, v.v… để phục vụ cho sức khỏe của người dân và phát triển kinh tế.      Nguyễn Văn Tuấn         Author                Quản trị        
__label__tiasang Người đặt nền tảng cho  nhiệm vụ quản lý khoa học      Với giới KH&amp;CN nói chung, đội ngũ cán bộ quản lý KH&amp;CN nói riêng hầu như tất cả các ý tưởng chỉ đạo, các bài giảng và tâm huyết của Giáo sư đối với công tác quản lý KH&amp;CN nước nhà vẫn còn nguyên giá trị.     Có thể nói sự tiến bộ và phát triển trong  công tác quản lý hoạt động KH&CN trong gần 40 năm qua với sự hình  thành một hệ thống đầy đủ các Luật về KH&CN, các văn bản quy phạm  trong quản lý hoạt động KH&CN có sự đóng góp mang tính nền tảng của  Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa.   … GS.VS Trần Đại Nghĩa có 12 năm trực tiếp làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (giai đoạn 1965-1977), là Viện trưởng đầu tiên của Viện khoa học Việt Nam từ năm 1975 (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), cũng là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Với vai trò một vị chỉ huy xuất sắc của lĩnh vực khoa học và công nghệ nước nhà Ông đã có những đóng góp có tính nền tảng trong lĩnh vực quản lý hoạt động KH&CN và là người tiên phong tạo dựng hướng nghiên cứu về quản lý KH&CN.  Tháng 10 năm 1965, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng Trần Đại Nghĩa chính thức đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), với trách nhiệm nặng nề trước Hội đồng Chính phủ vừa về quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học và kỹ thuật (KH&KT), tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách phát triển KH&KT vừa làm công tác của của một Viện nghiên cứu khoa học hàng đầu của đất nước về khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta một cách tốt nhất, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.  Là một nhà quản lý KH&KT vừa sát sao với thực tiễn vừa nhìn xa, trông rộng. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Chủ nhiệm Trần Đại Nghĩa đã chỉ đạo và trực tiếp tham gia chuẩn bị để Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị số 163/CP về phương hướng, nhiệm vụ công tác KH&KT 2 năm 1966-1967 và để  Ban Bí thư ra Nghị quyết 157 NQ/TƯ về tăng cường công tác KH&KT trong tình hình và nhiệm vụ mới. Đặc biệt trong 2 năm 1966-1967, với uy tín và trách nhiệm cao của mình, Ông đã tập hợp được nhiều nhà khoa học giỏi nhất của nhiều Bộ, ngành tập trung xây dựng và trình Bộ Chính trị đề án Quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật ở nước ta, trong đó đề cập một cách toàn diện về quan điểm, phương hướng, biện pháp lớn phát triển khoa học và kỹ thuật nước nhà. Rất tiếc là do bận tập trung chỉ đạo chiến tranh giải phóng miền Nam lúc đó, Bộ Chính trị chưa cho ý kiến ngay đối với văn kiện quan trọng này. Trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong cơ xưởng thường gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Giáo sư vẫn chỉ đạo triển khai công tác điều tra cơ bản như điều tra tổng hợp vùng biển vịnh Bắc Bộ, Phân vùng tự nhiên miền Bắc Việt Nam,…   Là người đặt nền móng phát triển toàn diện tiềm lực khoa học và kỹ thuật nước nhà, trước hết, Chủ nhiệm Trần Đại Nghĩa đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ KH&KT trình độ cao. Theo đề xuất của Ủy ban KH&KT Nhà nước, năm 1967 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP về chế độ đào tạo nghiên cứu sinh ở trong nước, trong đó Ủy ban KH&KT Nhà nước và Viện KHXH Việt Nam được phân công quản lý về mặt học thuật, phân phối điều hòa các đề tài nghiên cứu, mở đầu việc đào tạo sau đại học ở nước ta.   Đầu năm 1969, mặc dù chiến tranh còn rất ác liệt, Giáo sư Trần Đại Nghĩa vẫn nghĩ đến việc bồi dưỡng kiến thức quản lý khoa học cho cán bộ. Giáo sư đã nhiều lần giảng bài tại các lớp bồi dưỡng cán bộ, với chủ đề: “Cách mạng khoa học kỹ thuật và vấn đề quản lý”. Đây là một bài giảng rất lý thú và hấp dẫn cho cán bộ quản lý ngày ấy. Nhiều vấn đề mới đặt ra cho cán bộ lãnh đạo các ngành về phương thức quản lý xí nghiệp, những nét nổi bật về ưu điểm, nhược điểm của phương thức quản lý tư bản chủ nghĩa mà bản thân Giáo sư đã kinh qua trong thời gian làm việc ở Pháp và Đức, những kinh nghiệm quý báu của công tác quản lý xí nghiệp ở Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò quyết định của cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đặc biệt là công nhân lành nghề bậc cao v.v.  Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa là người đã có công khởi xướng, đặt nền móng hướng nghiên cứu về quản lý và chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta từ đầu những năm 70 của thế kỷ 20. Tháng 12 năm 1975, Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT Nhà nước Trần Đại Nghĩa có loạt bài giảng nổi tiếng về quản lý kéo dài 3 ngày tại Ủy ban KH&KT Nhà nước và tại Giảng đường C2 của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bài giảng của Ông thực sự gây chấn động dư luận, vì đây là lần đầu tiên, một vị Bộ trưởng đương nhiệm đứng giữa giảng đường đại học nói về những cơ sở lý luận và kinh nghiệm cần học tập trong hệ thống quản lý của các nước thuộc khối tư bản, trong đó nhiều lần ông nhắc đến những tên tuổi như Taylor, Carnegie và Drucker.  Tháng giêng năm 1976, Chủ nhiệm Trần Đại Nghĩa đã ra quyết định thành lập Tổ Nghiên cứu Chính sách Khoa học và Kỹ thuật đặt trong Vụ Tổng hợp – Kế hoạch của Ủy ban KH&KT Nhà nước với nhiệm vụ nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực Khoa học và Kỹ thuật. Tổ Nghiên cứu Chính sách KH&KT sau này chính thức trở thành Viện Nghiên cứu Quản lý KH&KT (tên thường gọi trong giao dịch là Viện Quản lý Khoa học).  Những thành tựu quan trọng đầu tiên trong công tác quản lý KH&CN mà Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa đặt nền móng chính là những biển đổi của hệ thống KH&CN với điểm đột phá là Quyết định số 175/CP năm 1981 của Chính phủ về cho phép các viện được ký hợp đồng kinh tế. Đây thực sự là một thứ “Khoán 10” trong khoa học, bởi vì, nó đã giải tỏa mọi cấm đoán cơ quan khoa học đưa những thành tựu trong ngăn kéo của mình vào phục vụ sản xuất, mang lại sức sống cho cơ quan khoa học. Tiếp theo là bước chuyển giải phóng nhiều ràng buộc hành chính trong hoạt động của cộng đồng khoa học tại Quyết định số 134/HĐBT năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng và chủ trương có tính khai phá con đường để khoa học đi vào mọi thành phần kinh tế tại Nghị định số 35/HĐBT năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng.   Ôn lại chặng đường đã qua, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh, nhớ về Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa, chúng ta càng thấy rõ Ông là một tấm gương trí thức sáng ngời. Dù ở cương vị nào, Giáo sư Viện sỹ Trần Đại Nghĩa cũng quy tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết và hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông trở thành một trong số những người đại diện tiêu biểu của giới trí thức yêu nước Việt Nam.   (Trích tham luận của Bộ KH&CN tại buổi tọa đàm về thân thế và sự nghiệp của GS.VS Trần Đại Nghĩa nhân 100 năm ngày sinh của ông do Liên hiệp các HKHKTVN tổ chức tại Hà Nội ngày 12/9/2013)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người đứng đầu tổ chức gây tranh cãi thành Bộ trưởng Bộ KH&GD đại học Nga      Trong công cuộc tái cấu trúc bộ máy nhà nước, chính phủ Nga đã quyết định tách Bộ GD&KH thành hai bộ khác nhau: Bộ Giáo dục phụ trách các vấn đề của giáo dục tiểu học và trung học, và một bộ mới, Bộ KH&GD đại học Nga      Mikhail Kotyukov (phải) làm việc tại chi nhánh Viện nghiên cứu Điện hóa nhiệt độ cao (Viện Hàn lâm KH Nga) ở Ural. Nguồn: ihte.uran.ru  Người đứng đầu bộ Bộ KH&GD đại học này sẽ là Mikhail Kotyukov, người từng lãnh đạo Tổ chức KH liên bang Nga (FASO) – một tổ chức gây nhiều tranh cãi và hiện nay vẫn còn quản lý các vấn đề về tài sản và bất động sản của các viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAS), đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khác của RAS. Còn Bộ trưởng Bộ GD&KH hiện thời, bà Olga Vasilyeva – một nhà sử học tham gia chính quyền từ năm 2016, sẽ đảm trách vai trò bộ trưởng của Bộ Giáo dục mới.  Kotyukov từng theo học ngành tài chính và được bổ nhiệm vị trí đứng đầu FASO kể từ mùa thu năm 2013. Cơ quan này được thành lập như một phần của cuộc cải cách RAS gây nhiều tranh cãi và được trao quyền kiểm soát toàn bộ tài sản của Viện Hàn lâm, một hành động được xem như sự thể hiện sức mạnh của chính phủ Nga với RAS.  Vào năm 2016, 150 thành viên của RAS và các giáo sư đã viết một bức thư mở đề nghị tổng thống Putin giải quyết các vấn đề do cuộc cải cách năm 2013 gây ra, điều mà họ cho rằng gây tổn hại đến khoa học Nga. Tuy nhiên vai trò của FASO vẫn không thay đổi. Dẫu cho một vài viện sĩ viện hàn lâm đã đề xuất, cơ quan này phải là một bộ phận của RAS nhưng giờ đây nó lại được đưa vào bộ KH&GD mới.  Nhà vật lý Alexei Khokhlov, viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nga và phó hiệu trưởng trường đại học liên bang Lomonosov cho biết ông ủng hộ việc tách các trường đại học khỏi giáo dục phổ thông bởi “trường đại học sẽ tập trung nghiên cứu khoa học” để thực hiện một cam kết của Putin sau khi ông tái đắc cử tổng thống: xây dựng 15 trung tâm về giáo dục và nghiên cứu đạt đẳng cấp thế giới.  Thanh Nhàn lược dịch  Nguồn: http://www.sciencemag.org/news/2018/05/head-controversial-agency-becomes-russian-minister-science-and-higher-education    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người không có điểm dừng…      Có dịp tiếp xúc với Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông Nguyễn  Đoàn Thăng, chúng ta sẽ thấy ông có một sự am hiểu tường tận các lĩnh vực sản xuất và tốc độ làm việc, khả năng cập nhật cái mới của ông dường như không có điểm  dừng.     Những người công nhân Rạng Đông kể rằng đều  đặn vào mỗi buổi sáng, TGĐ. Nguyễn Đoàn Thăng đến sớm tưởng niệm trước  tượng đài Hồ Chủ tịch trong khuôn viên công ty. Và cứ mỗi lần công ty  phát động một đợt thi đua lao động mới, từ 5 giờ 30 sáng ông đã có mặt  để bắt tay cảm ơn và động viên từng người công nhân vào ca.   Điều này chẳng khác mấy phong cách một vị lãnh đạo của nhiều thập kỷ trở về trước, nhưng lại hiện hữu một cách bình thường và tự nhiên ở một con người đang nắm cương vị chèo lái một công ty với hơn 3.000 cán bộ công nhân trong nền kinh tế thị trường hiện đại, doanh số năm 2012 đạt trên 2 nghìn 200 tỷ đồng, mỗi năm cung cấp hàng trăm triệu sản phẩm, chiếm thị phần lớn nhất trên toàn quốc, lọt vào TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.   Có dịp tiếp xúc với Tổng Giám đốc Nguyễn Đoàn Thăng, chúng ta sẽ thấy ông có phong cách rất giản dị và gần gũi, và một sự am hiểu tường tận các lĩnh vực sản xuất. Mặc dù tuổi đã cao nhưng tốc độ làm việc, khả năng học tập của ông dường như không có điểm dừng. Ông xuống từng xưởng, từng tổ sản xuất để cùng lắng nghe bàn bạc, cùng anh em tìm cách giải quyết những vấn đề hóc búa trong kỹ thuật công nghệ, và sẵn sàng học hỏi từ những người “thầy” ít hơn mình nhiều tuổi, trân trọng tri thức, trân trọng các nhà khoa học, ghi chép đúc rút thành các học bài kinh nghiệm. Ông thường tâm sự: “Mình làm lãnh đạo mà không hiểu hết công việc của anh em, không cùng anh em giải quyết thì sẽ không thể điều hành được công việc. Mình phải luôn tự nhủ cố gắng để làm gương cho con cháu, cho anh em trong học tập, trong công việc”         Những quyết định quan trọng  GĐ. Nguyễn Đoàn Thăng tiếp nhận vị trí lãnh đạo Rạng Đông trong bối cảnh đất nước chuyển mình đổi mới từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, nhà máy đang bên bờ vực phá sản, do sản phẩm không cạnh tranh được với làn sóng hàng nhập ngoại từ Nga, Đông Đức, các hàng giá rẻ Trung Quốc. Công ty rơi vào thua lỗ khiến hơn 1600 công nhân phải nghỉ việc trên 6 tháng, tài khoản ngân hàng bị phong tỏa; đồng thời dây chuyền sản xuất đèn tròn Tungsram của Hungary tại công ty có nguy cơ phải để Nhà nước ta gán nợ cho nước bạn.  Để vượt qua tình thế bức bách đó, GĐ. Nguyễn Đoàn Thăng cùng với Đảng ủy công ty bàn bạc quyết định thay đổi cơ chế điều hành, tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, thực hành hạch toán kinh tế nội bộ triệt để, tạo điều kiện cho cán bộ công nhân tham gia đóng góp sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Đích thân ông đi thực tế thị trường tìm hiểu nhu cầu, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, để rồi trở về bắt tay vào tìm cách cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng. Và niềm vui đã đến, năm 1993 sản phẩm phích nước Rạng Đông lần đầu tiên lọt vào danh sách TOP TEN mười mặt hàng tiêu dùng Việt Nam yêu thích nhất, sản phẩm bóng đèn được người tiêu dùng ưa chuộng. Công ty bắt đầu làm ăn có lãi, bắt đầu có tích lũy cho đầu tư phát triển.  Đánh giá được chủ trương tiết kiệm năng lượng bảo vệ môi trường của Nhà nước, năm 1998 TGĐ. Nguyễn Đoàn Thăng và ban lãnh đạo đã quyết định mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất đèn HQ T8 hiện đại, bắt đầu tiếp cận nghiên cứu sản xuất đèn compact tiết kiệm điện, để tới năm 2000 sản xuất đưa ra thị trường sản phẩm compact đầu tiên mang thương hiệu Rạng Đông. Mặc dù sản lượng tiêu thụ mỗi năm chỉ hơn 30 ngàn sản phẩm, chi phí ban đầu lớn, nhưng công ty không dừng lại mà vẫn quyết tâm đi theo định hướng sản xuất sản phẩm tiết kiệm điện. Cụ thể là năm 2001 Rạng Đông đầu tư Phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia TCVN 17025: 2001 –là Phòng thí nghiệm đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam ở thời điểm đó – và tới năm 2003 Rạng Đông quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất đèn compact hiện đại đầu tiên ở Việt Nam.   Vì vậy khi Nghị định 102/2003/NĐ-CP của Chính phủ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ra đời tạo điều kiện cho thị trường bóng đèn tiết kiệm điện bùng nổ thì cũng là lúc Rạng Đông đã có đầy đủ cơ sở vật chất, kinh nghiệm để sản xuất ra những sản phẩm bóng đèn tiết kiệm điện chất lượng, giá cả phù hợp.   Năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập WTO khiến các sản phẩm trong nước đối diện với tình trạng cạnh tranh gay gắt với sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp sản xuất chuyển sang lắp ráp linh kiện nhập khẩu, chỉ việc đóng dấu, bao gói rồi kinh doanh để hưởng lợi. Đây cũng là giai đoạn nền kinh tế đang phát triển nóng khiến nhiều doanh nghiệp đổ xô đi đầu tư đa ngành. Trước những sức ép từ thị trường và sức ép của những cổ đông chạy theo lợi ích trước mắt đòi hỏi công ty đầu tư sang các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, thì TGĐ Nguyễn Đoàn Thăng cùng Đảng ủy, Ban TGĐ tổ chức Hội nghị công nhân lao động các cấp, lấy ý kiến biểu quyết, nhất quyết chỉ tập trung vào thế mạnh của mình là sản xuất bóng đèn, phích nước.   Với mục tiêu như vậy, Rạng Đông đã quyết định thực hiện tái cấu trúc toàn diện công ty, trước tiên là tái cấu trúc về sở hữu vốn, từ 100% vốn nhà nước xuống còn 51% và xuống còn 20,6%. Công ty mở rộng cơ sở sản xuất xây dựng thêm cơ sở 2 ở Quế Võ, Bắc Ninh với diện tích 6,2 ha; đầu tư lò thủy tinh không chì, lò thủy tinh sodalime hiện đại, đầu tư nhiều dây chuyền sản xuất bóng đèn CFL nâng cao sản lượng năng suất.   Tầm nhìn chiến lược  Trong khi các doanh nghiệp trong nước khác còn đang khốn đốn đối phó với khủng hoảng kinh tế, TGĐ. Nguyễn Đoàn Thăng đã nhìn tới những thách thức xa hơn, khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, khiến hàng hóa trong nước sẽ bị cạnh tranh quyết liệt hơn nữa với hàng ngoại nhập, trong khi lợi thế cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ sẽ không còn.   Đứng trước thách thức này, ông và ban lãnh đạo công ty đã nhận thức rõ vai trò khoa học công nghệ đối với sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, từ năm 2006, Rạng Đông đã ký kết hợp tác toàn diện với Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Tiếp đến, năm 2010, ký kết hợp tác toàn diện với trường ĐHBK Hà Nội và gần đây nhất là ĐH Nông nghiệp I Hà Nội; đồng thời thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển R&D của Rạng Đông. Chính sự liên kết giữa đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, trong đó ông Nguyễn Đoàn Thăng với vai trò “nhạc trưởng” đã thu hút được các chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành về nguồn sáng, điện tử, hóa vật liệu, kỹ thuật chiếu sáng và các lĩnh vực khác, đem lại cơ hội giúp tập trung nghiên cứu phát triển các nguồn sáng mới chất lượng cao hơn, tiết kiệm hơn, thân thiện với môi trường hơn, và phục vụ những nhu cầu chuyên biệt mà thực tế phát triển xã hội đòi hỏi.  Trách nhiệm người đứng đầu  Nhìn lại những thành tích của Rạng Đông qua gần 23 năm tăng trưởng một cách bền vững và liên tục, TGĐ. Nguyễn Đoàn Thăng lý giải: “Có được như vậy là sự may mắn được làm việc trong một tập thể vững mạnh đoàn kết, đó là sức mạnh nền tảng cho sự phát triển. Càng như thế càng thấy mình phải có trách nhiệm với tập thể hơn”.   Với cương vị của mình, một mặt ông phải liên tục đối diện với những thách thức phía trước để tìm cách bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của công ty và quyền lợi tập thể người lao động. Chẳng hạn như gần đây, ông đã phải có giải pháp kịp thời khi Quyết định 51 của Chính phủ cấm sản xuất và lưu thông bóng đèn sợi đốt trên 60W, khiến 50% nhân công trong lĩnh vực này có nguy cơ bị loại trừ, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống gia đình người lao động; mặt khác ông phải cùng với tập thể Đảng ủy và  Ban Giám đốc xác định đúng đắn chiến lược phát triển của công ty trong từng giai đoạn nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội đang ngày càng đòi hỏi những thiết bị chiếu sáng có chất lượng và hiệu suất cao hơn, giúp tiết kiệm thêm nhiều năng lượng và tài nguyên; hay những sản phẩm – giải pháp chuyên dụng hữu ích phục vụ những nhu cầu cấp bách của các nhà nghiên cứu, hay những người nông dân, ngư dân, cùng nhiều những nhu cầu khác mà thực tế phát triển của đất nước đang đặt ra phía trước.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Người trẻ hôm nay đang ra sao ?      Sài Gòn, thập niên 1950, 1960, có một cậu bé chìm đắm trong thế giới những quyển sách phổ biến tri thức khoa học. Với cậu, đó là cả một thế giới đầy hấp dẫn, kỳ lạ của vũ trụ, chẳng khác nào những cuộc điều tra của thám tử Sherlock Holmes, từ những giả thuyết, những con đường lầm lạc, những ngõ cụt và những cuộc tranh biện để rồi tìm tới chân lý…       Cậu bé ấy, về sau là một nhà vật lý thiên văn nổi tiếng trên toàn cầu: GS Trịnh Xuân Thuận, tác giả của hàng chục đầu sách phổ biến tri thức khoa học vật lý vũ trụ được viết bằng tiếng Pháp, với văn phong đầy thi tính.   Câu chuyện trên được GS Thuận kể trong một clip gửi về Việt Nam, xem như là diễn từ nhận giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh tối 24-3 vừa qua tại Sài Gòn. Vị giáo sư khả kính từ Đại học Virginia kể thêm: “Những cuốn sách phổ biến khoa học mà tôi đã đọc ở tuổi thơ ấu, nhất là mấy cuốn sách của ông Albert Einstein, đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng và làm hình thành những suy tư của tôi. Chắc chắn rằng, chúng đã đóng một vai trò to lớn trong việc dẫn dắt những bước đi đầu tiên của tôi đến với khoa học.   Chúng cũng kích thích trong tôi sự ham muốn được đóng vai trò tích cực trong cuộc phiêu lưu vĩ đại của khoa học. Từ đó, tôi đã không ngừng quan sát vũ trụ bằng những kính thiên văn lớn nhất trên mặt đất cũng như trong không gian”.  Trong đêm trao giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (24-3, tại TP.HCM), có một vị tân khoa khác, GS Pierre Darriulat, một người Pháp đã sống ở Việt Nam 16 năm để nghiên cứu và giảng dạy khoa học vật lý. GS. Pierre Darriulat là thành viên thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ năm 1986; từng được trao giải thưởng André Lagarrigue 2008– giải thưởng danh giá của Cộng đồng Vật lý Pháp vì những đóng góp tiên phong cho khoa học vật lý hạt. Đến Việt Nam, GS Pierre làm công việc cố vấn (không lương) cho dự án nghiên cứu tia vũ trụ Pierre Auger rồi sau đó cá nhân ông đứng ra sáng lập nhóm nghiên cứu VATLY, với một phòng thí nghiệm do ông bỏ tiền túi với sự hỗ trợ của bạn bè ở Trung tâm nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) xây dựng, quy tụ những sinh viên, nhà nghiên cứu trẻ, gầy dựng hoạt động sinh hoạt học thuật. Từ phòng thí nghiệm này, đã có những công trình được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế hằng năm.   Điều đáng nói, trong diễn từ nhận giải lẫn những bài báo mà ông Pierre Darriulat viết thường xuất hiện trên Tạp chí Tia Sáng, cho thấy ở nhà khoa học này luôn có một sự thao thức nhân văn: làm sao để tạo thêm điều kiện cho những người trẻ làm khoa học tại Việt Nam có cơ hội phát triển trong thế giới toàn cầu hóa?. “Cần thật nhiều cơ hội tốt để họ (những người trẻ – NV) được phát triển, phát huy năng lực, sự độ lượng, nhiệt tình, kỹ năng và tài năng của mình. Nhưng để điều ấy trở thành hiện thực, bản thân chúng ta cũng phải thay đổi: trí tuệ và nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đoàn kết và bớt ích kỷ, chuyên nghiệp hơn và tin tưởng mạnh mẽ vào tương lai.   Tôi biết rằng những đổi mới trên đây không chỉ cần vài năm, mà đòi hỏi sự cố gắng qua vài thế hệ. Nhưng chúng ta có thể giúp tiến trình ấy diễn ra nhanh hơn nếu có quyết tâm. Chúng ta, các nhà khoa học và kỹ sư, phải cảm thấy trọng trách của mình là đóng vai trò chính yếu trong những đổi mới ấy. Đạo đức, sự nghiêm khắc học thuật, tinh thần đồng đội, và sự chuyên nghiệp là những phẩm chất không thể thiếu trong công việc của chúng ta. Cộng đồng chúng ta trong truyền thống luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử, ở mọi quốc gia, trong việc thúc đẩy tinh thần tiến bộ, hòa bình và khoa học phi biên giới”, GS Pierre Darriulat viết trong bài “Cần tin tưởng mạnh mẽ vào tương lai” trên Tạp chí Tia Sáng, số Xuân Bính Thân 2016.  Trong diễn từ của mình tại lễ trao giải Phan Châu Trinh, vị giáo sư người Pháp này cũng một lần nữa nhấn mạnh về trách nhiệm của học giới trong việc đào tạo nên những công dân, nhà khoa học trẻ có tài năng và ý thức để “chống lại sự trì trệ, quan liêu và bảo thủ, những người biết nổi giận khi chứng kiến những điều chướng tai gai mắt đi ngược với đạo đức xã hội”. Và: “Chúng ta cần phải đào tạo nên những công dân trẻ có trách nhiệm, những người có thể thay đổi những luật lệ điều hành xã hội khi thế giới quanh ta đòi hỏi, họ phải là những người không chỉ đơn giản áp dụng một cách mù quáng những quy tắc lỗi thời là nguyên nhân của sự xơ cứng và tê liệt của xã hội” (…) “Chúng ta cần phải trao cho họ cơ hội để thay đổi mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, động viên họ chủ động đóng góp công sức của mình cho sự tiến bộ và phát triển của dân tộc. Tương lai của đất nước nằm trong tay họ, những bàn tay của thế hệ Đổi Mới. Họ đã không phải chịu đựng những cuộc chiến tranh, đói khổ, những nỗi đau, nỗi buồn, sự áp bức mà cha mẹ và ông bà họ đã phải chịu đựng. Họ được thừa hưởng từ ông bà cha mẹ độc lập và tự do. Mục tiêu của họ không còn là chiến thắng trong những cuộc chiến tranh mà là chiến thắng trong hòa bình. Sự nghiệp đó cũng cao quý như sự nghiệp mà các bậc cha mẹ và ông bà của họ đã từng chiến đấu. Điều đó vừa cao quý nhưng cũng đồng thời là thử thách. Chúng ta phải làm hết sức mình để ủng hộ và động viên họ thực hiện nhiệm vụ; trang bị cho họ những công cụ giúp họ vượt qua những khó khăn trở ngại trong tương lai”, GS Pierre Darriulat chia sẻ.  Sự truyền lửa đam mê tri thức, sự trao truyền tinh thần văn minh và đạo lý sống cho giới trẻ có thể nói là những gì mà những học giả chân chính luôn ưu tư. Có thể bắt gặp triết lý ấy xuyên suốt trong công việc của GS Nguyễn Nam Trân (giải thưởng Dịch thuật) trong vài chục năm trời đào sâu nghiên cứu, dịch thuật văn học Nhật Bản, để nói như ông, là chia sẻ hiểu biết không chỉ văn học mà còn văn hóa, tính cách của một dân tộc đề cao sự độc lập tự cường. Hay cũng có thể thấy điều đó trong thái độ nghiên cứu của GS Y khoa Nguyễn Ngọc Lanh gần đây đào sâu vào lĩnh vực lịch sử, xới tung những định kiến cũ để nhìn lại vai trò trí thức của tiền nhân trong những bối cảnh xã hội đầy phức tạp. Những bài nghiên cứu của GS Lanh trên trang nghiencuulichsu. com luôn là những câu chuyện ôn cố tri tân đầy giá trị, đặc biệt là cho những trí thức trẻ ưu tư về phát triển. Và từ kinh nghiệm của một người nước ngoài theo đuổi nghiên cứu Việt Nam học từ thập niên 1980, GS Peter Zinoman (giải Việt Nam học) cũng bày tỏ quan điểm về một thời chính ông bị những áp lực khá nặng nề từ bối cảnh xã hội và từ viễn kiến cá nhân của người đi trước và đồng thời cũng thừa hưởng tiếp nối các giá trị từ những học giả tiến bộ.   GS Peter Zinoman cũng kêu gọi: “Vì vậy, ngoài việc thực hiện nghiên cứu của riêng mình, tất cả các học giả về Việt Nam, cả trong và ngoài nước, đều có phận sự củng cố những tiến bộ của thế hệ trước bằng cách bảo đảm để tinh thần tự do, cởi mở và đa dạng sẽ tiếp tục được phát huy trong ngành”  Nhiều người cho rằng, đến với giải thưởng Phan Châu Trinh chỉ toàn thấy những mái đầu bạc. Nhưng ít ai bao dung nhận ra những mối ưu tư từ chính những học giả, những mái đầu bạc được vinh danh, đó là khát khao hướng tới sự kết nối và truyền trao những giá trị sống, giá trị học thuật cho thế hệ trẻ.   GS Trịnh Xuân Thuận hẳn không nhớ nổi tác giả của những quyển sách vật lý mà ông đã say sưa cách đây gần 60 năm, ở Sài Gòn, khi còn là một cậu bé, nhưng hẳn ông còn nhớ về sự hấp dẫn và khai mở tư duy của chúng, ông nhớ nguồn cảm hứng mà tri thức khơi gợi bắt nhịp cùng niềm đam mê hiểu biết mà nền giáo dục khai phóng lúc đó đã xây dựng trong đời sống của một đứa trẻ – một nền tảng tinh thần lấy hiếu tri và đạo đức làm cơ sở trong cuộc đời một con người.  Người trẻ hôm nay đang ra sao?       Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Trung Quốc vẫn “vô duyên” với giải Nobel      Sau khi Giải Nobel 2008 được công bố, trên các phương tiện truyền thông của Trung Quốc đã có nhiều ý kiến “mổ xẻ” nguyên nhân vì sao niềm mong ước từ nhiều năm nay của người Trung Quốc vẫn chưa thành hiện thực, trong đó sự lạc hậu về giáo dục đại học được cho là yếu tố hàng đầu khiến người Trung Quốc vẫn “vô duyên” với giải Nobel.    Triết Giang on line ngày 8-10-2008: Hàng năm vào dịp trước và sau khi công bố giải Nobel, giới truyền thông TQ bao giờ cũng để lộ “Nỗi vương vấn giải Nobel”. Trước ngày công bố giải Nobel hóa học đã có tin người Mỹ gốc Hoa cháu họ của cha đẻ tên lửa TQ Tiền Học Sâm có khả năng đoạt giải này. Tin ấy đúng hay không thì chưa ai biết, thật ra đây chỉ là giới truyền thông có ý an ủi “Nỗi vương vấn giải Nobel” của người TQ mà thôi.  Nỗi lòng ấy thể hiện trên hai khuynh hướng. Một là bi quan thất vọng cảm thấy giải Nobel vừa là nỗi đau vừa là mơ ước của người TQ; hai là huênh hoang hợm hĩnh, tê liệt cảm giác, cho rằng TQ xưa có “tứ đại phát minh”, nay cũng là nước lớn KHKT, vệ tinh Thần Châu 7 lên trời rồi, thiếu giải Nobel thì có là cái quái gì đâu ? Hai tâm trạng này đều không bình thường. Chúng ta cần có đầu óc tỉnh táo bình tĩnh. Để trở thành nước lớn kinh tế, trước hết phải trở thành nước lớn KHKT, mà muốn vậy thì không thể chỉ dẫn đầu thế giới về một vài ngành KHKT. Cần thấy TQ còn tụt sau các cường quốc KHKT một khoảng cách khá lớn, nhất là về mặt sáng tạo cái mới, vả lại bầu không khí nghiên cứu khoa học ở TQ còn cần được làm cho trong sạch hơn. Ngoài ra, bản thân việc bình xét giải Nobel còn có nhân tố xung đột văn minh Đông Tây, việc TQ chưa có giải Nobel không hoàn toàn nói lên sức mạnh tổng thể nghiên cứu khoa học của TQ.    Sự vô duyên với giải Nobel có tác dụng báo động và thôi thúc chúng ta. Bởi vậy, giờ đây chúng ta chẳng cần những tin tức “tráng dương bổ thận” như thông tin nói trên, mà cần đi sâu vào cải cách phát triển, lý tính và thực tế hơn.  Quảng Châu Nhật báo ngày 12-10-2008:  Tại sao chưa có nhà khoa học TQ nào được trao giải Nobel ? Trả lời: vì nghiên cứu khoa học là một cuộc đua tranh chuyên nghiệp mà đội ngũ khoa học TQ có quá nhiều đấu thủ không chuyên, nói hơi quá một chút thì một số ngành đều không chuyên. Gọi là không chuyên vì họ không tập trung tâm trí vào việc nghiên cứu khoa học mà chỉ lo nghĩ chuyện thăng quan, phát tài. Mới đây tại một trường ĐH ở Thâm Quyến, 40 vị giáo sư tranh nhau một chức trưởng phòng. Vì sao vậy ? – có lẽ chẳng cần nói ai cũng biết rồi.  Tâm lý chạy theo đồng tiền trong giới học thuật rất rõ. Các nhà khoa học gặp nhau chỉ hỏi lương bổng, phúc lợi ra sao, có nhiều đề tài không, chủ yếu xem có thể bỏ túi bao nhiêu kinh phí nghiên cứu. Nhiều nơi dùng tiền đề tài chi vào mục bình xét kết quả nghiên cứu, cho nên ai xin được nhiều kinh phí thì đề tài người ấy được đánh giá cao hơn. Năm 2001 Nhật lập kế hoạch KHKT, hùng hồn tuyên bố phấn đấu trong vòng 50 năm giành 30 giải Nobel. Cùng năm đó, TQ cũng lên kế hoạch trong Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008 giành ít nhất 30 huy chương vàng. Cả hai kế hoạch đó đều giống nhau ở chỗ được xây dựng trên niềm tin vào các tuyển thủ chuyên nghiệp.  Triết Giang On Line ngày 7-10-2008: Trong mỗi dịp công bố giải Nobel, người TQ với nỗi lòng chua chát đã sớm có thói quen chắt lọc từ bản danh sách người được giải lấy ra những thông tin có thể tự an ủi mình. Bởi thế mối quan hệ họ hàng đặc biệt giữa Tiền Vĩnh Kiện (Roger Tsien) với cha đẻ tên lửa TQ Tiền Học Sâm đã nhanh chóng lọt vào mắt công chúng TQ, cho dù bản giới thiệu về Tiền Vĩnh Kiện đã ghi rõ ông ta có “quốc tịch Mỹ”. Sự khác biệt quốc tịch chứng tỏ nhà khoa học người Hoa ấy sống trong môi trường khác biệt rất lớn với môi trường ở TQ.  Có người bảo khoa học không có biên giới, song một quốc gia dân đông nhất thế giới nếu cứ vắng mặt hoài trong danh sách giải Nobel dài dằng dặc kia thì ít nhất ta cũng có thể ngầm hiểu rằng thực lực KHKT của TQ có khiếm khuyết gì đó.  Người TQ xưa nay vẫn nhiệt tình với giải Nobel. Từng có tin nói Lỗ Tấn, Vương Mông, rồi nhà thơ Diệp Thế Bân … từng được đề cử giải Nobel văn học. Thật ra đó rặt là tin để tự ta làm vui lòng ta, dường như giải Nobel lần nào cũng suýt vào tay người TQ. Có một chuyện hài: Dương Chấn Ninh từng dự đoán trong vòng 20 năm người TQ nhất định sẽ ẵm giải Nobel Toán học, lý do vì môn này chẳng cần tới thiết bị nghiên cứu thí nghiệm gì ghê gớm. Nhưng làm gì có giải Nobel Toán học cơ chứ.  Không ít người thắc mắc về tệ nạn của cơ chế giáo dục hiện hành, nhưng dường như gần đây mới phát hiện và coi trọng các tệ nạn ấy. Hiện nay hai trường ĐH Thanh Hoa và Bắc Kinh “sản xuất” được nhiều tiến sĩ ở Mỹ nhất (571 và 507 vị); và sau năm 2000 du học sinh TQ tại Mỹ sau khi giành học vị tiến sĩ thì hơn 90% ở lại bên ấy. Thế là hai trường ĐH danh tiếng nhất TQ chỉ mất công đào tạo “nhân tài sơ cấp” cho nước Mỹ mà thôi. Chúng ta lấy đâu ra người để tiến nhanh về KHKT? Khác với ngành thể thao thể dục, giải Nobel không những chỉ có ý nghĩa vinh dự mà hơn thế, nó là kết tinh thực lực KHKT mũi nhọn của một quốc gia. Nên từ vấn đề quốc tịch mà suy ngẫm lại xem cái gì đã kiềm chế sự phát triển của các tài năng khoa học TQ.  Tân Kinh Báo ngày 9-10-2008:   Trước hôm công bố danh sách giải Nobel Hóa học 2008, các cơ quan truyền thông Trung Quốc tỏ ra cực kỳ hưng phấn một cách không sao hiểu nổi về thông tin dự kiến Tiền Vĩnh Kiện – cháu họ của Tiền Học Sâm có hy vọng đoạt giải này. Ngược lại, nước Nhật từ hôm bắt đầu công bố giải Nobel năm nay đến giờ đã có 3 nhà khoa học được tặng vinh dự ấy thì lại tỏ ra tự kiềm chế. Người Nhật tự nhắc nhở họ là nền giáo dục nước Nhật hãy còn khiếm khuyết và mong rằng nhân dịp này nên uốn nắn thái độ “kính nhi viễn chi” của giới trẻ Nhật đối với các môn khoa học tự nhiên, nhằm tăng cường sức sống cho côngtác nghiên cứu khoa học cơ bản của Nhật.  Báo Thanh niên TQ ngày 10-10-2008: Năm nào giải Nobel cũng không “bén duyên” với người TQ, do đó công chúng và giới truyền thông chúng ta cảm thấy một nỗi đau buồn khó hiểu. Khi người TQ bỏ cặp kính râm xuống, rốt cuộc họ phát hiện: chung quy giải Nobel vẫn là giải thể hiện đỉnh cao của khoa học thế giới. Bởi vậy mỗi khi người hàng xóm Nhật Bản, Ấn Độ được trao giải Nobel, riêng TQ lại vô duyên, điều ấy thế nào cũng khiến chúng ta cảm thấy có một nỗi bất bình gì đó.        ĐH TQ ngày nay thiếu cái tinh thần “Dân chủ tự do, nghiêm túc mưu cầu sự thật, hăng hái sáng tạo, đoàn kết làm việc” của Thái Nguyên Bồi, Mai Đài Kỳ …hồi xưa, mà lắm cái dung hòa, thỏa hiệp với đời sống dung tục, bị đồng tiền chi phối. Ai có chút tiền thì vênh váo như kiểu AQ “Ông đây nhất thiên hạ”. Đó chính là bi kịch của nền ĐH TQ.        Lần này thì có người Hoa được trao giải Nobel rồi ! Nhiều báo TQ hôm 9-10 đều đăng tin giật tít “Cháu họ Tiền Học Sâm đoạt giải Nobel Hóa học” và đăng ảnh Tiền Vĩnh Kiện lên vị trí hàng đầu. Người ta quên mất cái tên Tiền Vĩnh Kiện, lại càng chẳng nói tới quốc tịch của ông ấy. Tạt vào mặt người đọc là một kiểu ám thị mạnh mẽ: đây là niềm kiêu hãnh của họ Tiền, niềm kiêu hãnh của TQ.  Người Nhật thì khác. Giải Nobel năm nay trao cho 3 người Nhật (chưa kể một người Mỹ gốc Nhật); trước đây họ đã có 3 người đoạt giải Nobel Vật lý – điều đó chứng tỏ nước này mạnh về KHKT. Thế nhưng báo Nhật Yomiuri Shimbun ngày 8-10 viết: gần đây có hiện tượng sinh viên Nhật “kính nhi viễn chi” với các ngành khoa học cơ bản; trước tình hình đó, Nhà nước và các trường ĐH cần cải cách hệ thống đào tạo cán bộ nghiên cứu nhằm khuyến khích giới trẻ hăng hái nghiên cứu khoa học cơ bản. Báo Mainichi Shimbun cũng phê phán chính sách KHKT của Nhật trọng hiệu quả kinh tế, coi KHKT là chỗ dựa chính để kích hoạt nền kinh tế, công tác nghiên cứu của các trường ĐH cũng theo đuổi lợi ích và ứng dụng, coi nhẹ khoa học cơ bản. Rõ ràng, các cơ quan truyền thông đại chúng Nhật thật tỉnh táo và lý trí, có tác dụng gõ tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính quyền Nhật.  Có thể thấy người TQ chúng ta nhí nhố chẳng ra làm sao cả, thậm chí thần kinh quá ư nhạy cảm. Nếu Tiền Vĩnh Kiện sống ở TQ thì sẽ thế nào ? Dưới sức ép căng thẳng của kiểu giáo dục thi cử ở TQ, e rằng sở thích nho nhỏ yêu môn hóa học và thiên tài sáng tạo của Tiền sẽ bị chết yểu thôi. Chẳng những gia đình không khoan dung mà ngay các trường ĐH chưa chắc đã chấp nhận một sinh viên kém sức khỏe như Tiền Vĩnh Kiện.  Báo Thanh niên Trung Quốc ngày 22-10-2007 : Trả lời câu hỏi TQ chiếm một phần năm số dân thế giới, lại đang phát triển trong hòa bình, vì sao tới nay vẫn chưa có giải Nobel, 61% sinh viên TQ được hỏi ý kiến cho rằng mô hình giáo dục đào tạo của TQ có vấn đề.  tốt, đều là nhất TQ, thế nhưng nhà Hiện nay hai trường ĐH danh tiếng nhất TQ là ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa hằng năm được Nhà nước tài trợ trên một tỷ Nhân dân tệ mà chưa thấy ra lò được nhân tài nào ưu tú. ĐH Bắc Kinh nhiều thầy giỏi, ĐH Thanh Hoa có môi trườngtrường ngày càng giống nơi đào tạo thương gia. Trong nền giáo dục thi cử của TQ, người hỏng thi ĐH cứ thi mãi; người tốt nghiệp ĐH thì không có việc làm.  Hãy nhớ lại trường ĐH Liên hợp Tây Nam hồi mới thành lập (1939) ký túc xá, phòng học, phòng thí nghiệm đều là nhà tường đất mái tôn. Thế mà lại thu hút nhiều thầy giỏi, trò giỏi. Các sinh viên say sưa tranh luận những vấn đề khoa học hiện đại. Còn ngày nay khi tra cứu tin về ĐH Bắc Kinh, Thanh Hoa thì thấy giáo sư nào là hục hặc với nhau, nào là ca cẩm lương thấp không sống nổi …, khiến ta có cảm giác họ luôn “chân trong chân ngoài”. ĐH TQ ngày nay thiếu cái tinh thần “Dân chủ tự do, nghiêm túc mưu cầu sự thật, hăng hái sáng tạo, đoàn kết làm việc” của Thái Nguyên Bồi, Mai Đài Kỳ …hồi xưa, mà lắm cái dung hòa, thỏa hiệp với đời sống dung tục, bị đồng tiền chi phối. Ai có chút tiền thì vênh váo như kiểu AQ “Ông đây nhất thiên hạ”. Đó chính là bi kịch của nền ĐH TQ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Người Việt, chất xám, đi về đâu?      Tôi ghé thăm gia đình người bạn. Sân nhà mới  bữa nào còn hay ồn ĩ bọn trẻ, giờ nay im ắng. Hai vợ chồng mới đi làm  về. Con cái đã gửi đi học và đi làm cho bằng hết ở xứ ngoài rồi, một ở  Âu, một ở Mỹ.       Anh bạn lâu niên nhìn tôi, đôi mắt như muốn phân trần, nhưng đôi tay thì đã buông thõng câu trả lời rồi.  Nhìn vào rất nhiều gia đình bạn bè khác ở Hà Nội, điều tưởng như kì lạ này hóa đã thành quá quen thuộc. Các đôi vợ chồng còn đi làm, và con cái đã gửi đi học và/hoặc đi làm bằng hết ở xứ ngoài, đặc biệt là ở Âu-Mỹ. Thực tế này rất cứng đầu, thẳng thừng, coi thường những đống lý sự tổng cóc.  Anh bạn chợt chọc vui “nghĩ ngợi lo âu gì cho xứ sở à?”   Tôi đâu đã ở tầm quen nghĩ to. Tôi chỉ đang tự nhiên mải đắm nghĩ sang người Do Thái. Mang máng theo con số ước tính của “Jewish People Policy Planning Institute” năm 2007 thì có khoảng hơn 13 triệu người Do Thái trên toàn thế giới, trong đó 34% sống ở Israël, 38% sống ở Liên bang Mỹ, còn lại ở mọi nơi…  Tôi quay sang anh bạn.  – “Có gì mà lo. Nếu so với cấu trúc định cư của người Do Thái, thì với 90 triệu người Việt, nay mai chúng ta sẽ phải có chỉ vào tầm 30 hay 31 triệu người Việt còn sống ở… trong nước thôi, còn lại 34 triệu người Việt sẽ sống trên đất nước Mĩ, và 25 triệu người Việt sẽ sống ở những nơi khác trên khắp hành tinh.”  – “Thế ra anh còn lo to hơn thế nhỉ, lo làm sao di được dân Việt đến mức vĩ đại như thế à! Vào nhà đi.”  —  Vừa thưởng trà, chúng tôi vừa hàn huyên luyên thuyên đủ mọi chuyện.  Trong mỗi câu chuyện chẳng đâu vào đâu, vẫn hay có cái hạt nhân rất thực để mà ngẫm suy.  Dẫu mô hình dân số người Việt chả ăn nhằm gì với mô hình dân số của người Do Thái, nhưng mô hình dân số người Việt đã mang những thay đổi rất quan trọng.  Hàng triệu người Việt đã định cư ở khắp nơi trên thế giới. Nói đến người Việt, bây giờ không thể quên nói đến người Việt ở xứ ngoài, với những thành công nhất định về kinh tế, văn hóa, khoa học, cùng những liên kết rất đời thực cơm áo gạo tiền với gia đình, người thân ở trong nước.  Người Việt ở xứ ngoài là con em của mọi tầng lớp ở trong nước, kể cả con em thuộc các tầng lớp kinh doanh thành đạt trong lĩnh vực tư nhân, cũng như con em của các quan chức cao cấp, và cả cao cấp nhất, của bộ máy công quyền.  Trong số người Việt ở xứ ngoài, có nhiều người đã trở về, về hẳn, về hợp tác, hoặc “về nửa này nửa kia”. Điều này thúc đẩy một sự đa nguyên nhân sinh theo nghĩa rộng nhất.  Nó đã thúc đẩy sự tan băng của cái nhìn thù địch truyền thống về “yếu tố nước ngoài” trong nền tảng tinh thần cát cứ kiêu-ti Khổng giáo. Nó mở ra sự hợp lưu của mọi tầng hoạt động của con người, khoa học, giáo dục, công nghệ, buôn bán, văn hóa nghệ thuật, rộng hơn nữa, chính trị, pháp lý, xã hội công dân.   —  Nó động đến quyền lợi của các tầng lớp, kể cả tầng lớp cao cấp công quyền trong chuyện xử lý “yếu tố nước ngoài”. Các gia đình đã có thể có cấu trúc đa quốc tịch, rồi các công dân cũng đã có thể đa quốc tịch. Người mang nhiều quốc tịch có thể tham gia vào các hoạt động xã hội đã đành, họ có thể, và đã có trường hợp trở thành quan chức công quyền cao cấp. Và một ngày kia, yên tâm là sẽ còn rất xa, sẽ giống như ở Israel, họ sẽ có thể trở thành quan chức công quyền cấp cao nhất.  Câu chuyện như con thuyền, càng theo gió đi xa, anh bạn tôi có vẻ càng tự thấy nhẹ nhõm hẳn đi về chuyện con cái của mình.   Anh ngỏ lòng dẫu sao cũng là đáng tiếc về tình thế “chảy máu chất xám.”  Tôi thì lại hình dung mệnh đề này cũng không đơn giản.  Trước hết, phải có chất xám, rồi mới nói đến chuyện chất xám chảy đi đâu.  Chất xám có được phải nhờ được đào tạo tốt, được sử dụng tốt, bị chịu áp lực đòi hỏi sự cố gắng bền bỉ cao độ trong công việc. Chất xám không phải là thứ đem cất vào nhà kho đông lạnh để dự trữ được.  Thứ đến, việc chảy của chất xám nôm na ra thì cũng như nước chảy. Không phải là chất xám rủ rê nhau bỏ chỗ nào, chạy về đâu. Mà chính là các môi trường nếu được cải thiện để tạo ra thế năng thuận lợi, thì chất xám lúc nào cũng sẵn sàng tràn về. Không chỉ chất xám có nguồn gốc bản xứ, loại “mũi tẹt da vàng”, mà là chất xám phổ quát, của toàn thể loài người. Cho nên, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, câu chuyện về một cộng đồng muốn sẽ trở thành như thế nào, thiết kế việc ăn ở sinh sống ra sao.  —  Chị vợ đã kịp nướng xong mấy con mực, lại còn bày ra chai rượu quí.  – “Đây nhé, hãn hữu nhé, em rất ghét mấy ông rượu trà lắm lắm! Nhưng hôm nay chuyện thế này cũng làm em vơi được lòng mình, về cái chuyện con cái nhà mình phải khăn gói đi xa khỏi quê nhà, xa ông bà, bố mẹ.   Có chai rượu ngon, thứ thiệt đấy ạ, con bé đầu nó mang về nhà tháng trước đấy, mời các anh. Gớm, anh chồng em tự nhiên được lãi lây bữa rượu nhé !”         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn nhân lực là thách thức rất lớn trong phát triển Năng lượng nguyên tử ở nước ta      Viện Năng lượng Nguy&#234;n tử Việt Nam vừa phối hợp với Hội Năng lượng Nguy&#234;n tử Việt Nam v&#224; Sở Khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ Kh&#225;nh Ho&#224; tổ chức Hội nghị Khoa học v&#224; C&#244;ng nghệ hạt nh&#226;n to&#224;n quốc lần thứ VIII tại th&#224;nh phố Nha Trang trong c&#225;c ng&#224;y 20-22/8/2009. Nh&#226;n dịp n&#224;y, tạp ch&#237; Tia S&#225;ng đ&#227; phỏng vấn PGS. TS Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguy&#234;n tử Việt Nam về kết quả Hội nghị cũng như một số vấn đề li&#234;n quan tới năng lượng hạt nh&#226;n ở Việt Nam.     PV: Ông đánh giá thế nào về các kết quả nghiên cứu khoa học và các ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (NLNT) tại Việt Nam thời gian vừa qua?  PGS.TS Vương Hữu Tấn: Với gần 300 đại biểu đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện và các cơ sở ứng dụng NLNT trong cả nước, Hội nghị đã tổng kết các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực NLNT tại Việt Nam trong 2 năm qua kể từ Hội nghị lần thứ 7 tổ chức tại Đà Nẵng năm 2007. Trên 200 báo cáo khoa học đã trình bày tại Hội nghị, trong tất cả các lĩnh vực của ứng dụng NLNT ở Việt Nam. Nhìn chung các báo cáo có chất lượng cao, nhiều báo cáo xứng tầm quốc tế, có thể công bố trong các tạp chí chuyên ngành quốc tế, nhiều ứng dụng mới, công nghệ hiện đại đã được chuyển giao vào Việt Nam trong 2 năm qua, đặc biệt trong lĩnh vực y tế (PET, PET/CT, gamma knife, cycber knife).  Những nghiên cứu và ứng dụng này đã có đóng góp như thế nào đối với việc phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua?  Các nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực NLNT đã có  nhiều đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội. Hằng năm, có khoảng 20.000 người được điều trị ung thư bằng xạ trị, 500.000 người được chẩn đoán và 50.000 người được điều trị bằng y học hạt nhân. Trên 50 giống cây trồng được tạo ra bằng đột biến phóng xạ, trong đó có những giống chủ lực như giống lúa VND-95-20 (1 trong 5 giống lúa xuất khẩu chủ yếu), giống đậu tương DT84, DT99, DT96 chiếm phần lớn diện tích gieo trồng (trên 50%). Riêng giống lúa đột biến trên đã đem lại doanh thu cho nông dân hằng năm trên 800 tỷ đồng, trong khi tiền đầu tư nghiên cứu tạo ra giống lúa này chưa đến 1 tỷ. Chiếu xạ lương thực thực phẩm đã hỗ trợ tích cực cho ngành xuất khẩu thủy sản và hoa quả. Kỹ thuật hạt nhân đã góp phần đánh giá an toàn các công trình thuỷ điện và các công trình giao thông, xây dựng quan trọng của đất nước. Kỹ thuật đánh dấu hạt nhân đã được sử dụng trong ngành dầu khí để tối ưu quá trình khai thác và tăng cường thu hồi dầu. Nhiều nhà máy công nghiệp đã sử dụng kỹ thuật hạt nhân để đảm bảo chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngoài ra còn nhiều ví dụ về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các ngành khác như tài nguyên, khoáng sản, môi trường,… Điện hạt nhân cũng đã được đầu tư nghiên cứu để có thể đưa vào sử dụng trong thời gian tới ở nước ta.   Là người đứng đầu của cơ quan năng lượng nguyên tử Việt Nam, ông có cho rằng các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực hạt nhân ở Việt Nam trong thời gian qua có đáp ứng được yêu cầu đề ra trong chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình ở Việt Nam?          Đến giờ, Việt Nam vẫn thiếu nhân lực trong lĩnh vực an toàn hạt nhân, quản lý dự án điện và quản lý môi trường liên quan tới hạt nhân.           Chúng ta đã triển khai nghiên cứu và ứng dụng khá rộng các kỹ thuật hạt nhân trong các ngành kinh tế – xã hội. Tuy nhiên trình độ và hiệu quả còn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển. Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình đến năm 2020 mà Thủ tướng Chính phủ ban hành là nhằm mục đích thúc đẩy các ứng dụng NLNT phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên hiện nay Chiến lược mới bắt đầu được triển khai ở các Bộ, ngành bằng việc xây dựng các quy hoạch phát triển ứng dụng bức xạ trong các ngành và quy hoạch phát triển điện hạt nhân. Phần lớn các Bộ, ngành đang trong quá trình hoàn thiện hoặc mới trình phê duyệt các quy hoạch. Do đó các ứng dụng chủ yếu mới ở dạng tiềm năng.   Mặc dù vậy, một số lĩnh vực như Y tế đã được đẩy nhanh hơn với các dự án xây dựng một số trung tâm, cơ sở y học hạt nhân, xạ trị đã được triển khai. Theo kế hoạch, đến cuối năm 2009, tất cả các quy hoạch phát triển ứng dụng bức xạ trong các ngành và quy hoạch phát triển điện hạt nhân phải được phê duyệt sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ứng dụng NLNT nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong Chiến lược nói trên.  Theo ông, hiện trạng về nhân lực trong ngành NLNT  ở Việt Nam, đặc biệt nhân lực phục vụ cho dự án điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam là như thế nào?  Cũng như các ngành kỹ thuật khác trên thế giới và trong nước, ngành NLNT nước ta cũng đứng trước thách thức rất lớn về nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển. Nguyên nhân là không được đầu tư phát triển và đặc biệt là tình trạng phát triển chậm lại của điện hạt nhân trên thế giới sau tai nạn Chernobyl đã dẫn đến thế hệ trẻ không theo đuổi học tập về NLNT. Tuy nhiên hiện nay tình hình đã thay đổi. Trên thế giới điện hạt nhân đã được phát triển trở lại.   Ở nước ta nhân lực cho phát triển ứng dụng bức xạ trong các ngành kinh tế – xã hội về cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển. Ví dụ trong các cơ sở xạ trị đã có khoảng 2.000 người làm việc…   Điều quan tâm nhất của xã hội hiện nay chính là nhu cầu nhân lực cho thực hiện chương trình phát triển điện hạt nhân. Dự án điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện theo phương thức hợp đồng chìa khoá trao tay với đối tác nước ngoài. Vì vậy, vai trò của chủ đầu tư, các ngành công nghiệp trong nước, các cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật là hạn chế, không có ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện dự án. Việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho các chủ thể này do đó không phải là vấn đề lớn. Nhân lực vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân sẽ được đào tạo thông qua hợp đồng với đối tác cung cấp nhà máy điện hạt nhân.   Vấn đề lớn, quan trọng là cần sớm xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý cho cơ quan an toàn hạt nhân và cơ quan quản lý môi trường (liên quan đến lĩnh vực hạt nhân-PV) để các cơ quan này có thể đưa ra được các quyết định liên quan đến cấp giấy phép cho dự án từ giai đoạn thiết kế cho đến vận hành. Cho dù ta có sử dụng tư vấn nước ngoài thì vai trò quyết định vẫn phải là người Việt Nam. Hiện nay nhân lực của cơ quan an toàn hạt nhân và cơ quan quản lý môi trường còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt thiếu kinh nghiệm trong quản lý dự án điện hạt nhân.   Viện NLNTVN đã nhận thức tầm quan trọng của công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy từ nhiều năm nay Viện đã có sự hợp tác rộng rãi với các cơ sở đào tạo và ứng dụng NLNT trong cả nước. Bản thân Viện cũng là một cơ sở đào tạo tiến sỹ một số chuyên ngành về NLNT. Viện đã hợp tác với các cơ sở hạt nhân của các nước có nền công nghiệp hạt nhân tiên tiến và cơ quan NLNT quốc tế (IAEA) xây dựng các chương trình đào tạo chuyên ngành và gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài cho một số cơ sở ứng dụng NLNT ở trong nước.   Gần đây nhất, Viện đã hợp tác với Đại học Bách khoa Hà Nội và Tập đoàn Toshiba đào tạo cán bộ về công nghệ điện hạt nhân, hợp tác với các đối tác Nhật Bản và Hàn Quốc đào tạo cán bộ cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam tham gia dự án điện hạt nhân…   Bên cạnh đó, Viện cũng phối hợp tích cực với các cơ quan chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT và xây dựng chuyên ngành hạt nhân của Trường Đại học Công nghệ Hà Nội.    Cảm ơn Ông !  P.V  thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguồn nước thì không thể thay thế      Trong khi chờ đợi vấn đề xây dựng đập thủy điện Xayaburi được đàm phán ở cấp Bộ trưởng, cần phải tiến hành thêm các nghiên cứu về tác động của đập thủy điện tới môi trường và dân sinh của các vùng hạ lưu, đặc biệt là các tác động tích lũy. Đó là ý kiến của bà Ngụy Thị Khanh, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát triển tài nguyên nước (WARECOD) trong cuộc trao đổi với Tia Sáng.      Ghi nhận của bà từ cuộc “Đối thoại mở về vấn đề đập Xayaburi và phát triển thủy điện trên dòng chính của sông Mekong” mới đây WARECOD phối hợp tổ chức?   Mục đích của Đối thoại mở là tạo ra diễn đàn trao đổi của các tổ chức xã hội dân sự, các nhà khoa học, báo giới và các bên có quan tâm tới vấn đề này. Chúng tôi muốn chia sẻ những thông tin từ các kết quả nghiên cứu của Việt Nam và quốc tế về tác động của thủy điện trên dòng chính của sông Mekong tới đồng bằng sông Cửu Long và những phân tích được mất đối với vùng hạ lưu vực Mekong.   Tại cuộc Đối thoại mở, những người tham gia đã đi tới thống nhất chung: Những tổn thất mất mát sẽ vô cùng to lớn và nhiều hơn lợi ích có thể có, đề nghị hoãn quyết định xây hay không xây thủy điện Xayaburi ít nhất là 10 năm. Trong thời gian này nên tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các đập thủy điện, đặc biệt là tới đồng bằng sông Cửu Long. Trong đánh giá nghiên cứu, phải xem xét có giải pháp thay thế tốt hơn không và xem xét lựa chọn các công nghệ tối ưu.   Bà thấy thế nào về kết quả cuộc họp của Ủy hội sông Mekong (MRC) vào ngày 19/4 vừa qua?  Quyết định của MRC đưa vấn đề này lên cấp cao hơn là bước đi phù hợp, phản ánh đúng tầm quan trọng của vấn đề, đây không chỉ dừng lại ở kỹ thuật mà còn là kinh tế, an ninh của các nước trong khu vực. Năng lượng có thể thay thế và có thể được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau nhưng nước thì không thể thay thế. Trong khi chưa có giải pháp giảm thiểu tác động của đập thủy điện gây ra thì chưa thể tiến hành làm.   Báo cáo EIA của Xayaburi còn quá sơ sài, đặc biệt chưa nghiên cứu tới tác động tích lũy xuyên biên giới mà mới chỉ dừng lại khoảng 10km hạ lưu đập. Thông tin về dự án chưa được cung cấp đầy đủ và kịp thời cho công chúng trong quá trình tham vấn.   Nguồn nước của sông Mekong rất quan trọng đối với ĐBSCL: bồi đắp phù sa cho đồng bằng, đẩy lùi xâm nhập mặn, cải tạo đất bạc màu, cung cấp phù du cho thủy sản nội địa, nếu có bất kỳ sự thay đổi nào tác động tới dòng sông sẽ mang lại những hệ lụy tới không chỉ nguồn nước, an ninh lương thực mà còn có sẽ xóa sổ nỗ lực của rất nhiều chương trình phát triển mà Chính phủ đã đầu tư cho ĐBSCL trong vòng 20 năm qua.   Chính phủ Việt Nam cũng có tuyên bố chính thức đề nghị Lào hoãn xây dựng đập thủy điện Xayaburi trong vòng 10 năm tới để tiến hành các nghiên cứu tác động của các đập thủy điện trên dòng chính tới vùng hạ lưu.   Tuy nhiên, chúng tôi mới yên tâm trước mắt. Vấn đề vẫn còn đó. Trong vùng Mekong, MRC được xem là một mô hình tiêu biểu về hợp tác quản lý nguồn nước xuyên biên giới. Quan hệ hợp tác giữa các nước trong Ủy hội cần được tăng cường thúc đẩy đa cấp, đa chiều hơn nữa để cùng nhau chia sẻ dòng sông chung vì lợi ích của tất cả các nước và các dân tộc trong lưu vực.  Trong khi chờ đợi đàm phán ở cấp cao hơn, Việt Nam cần có những nỗ lực gì để tác động tới quyết định của các bên có liên quan?    Các nhà khoa học phải tiếp tục nghiên cứu, tìm ra giải pháp thay thế hoặc có lợi cho tất cả các bên, đặc biệt phải tiến hành các nghiên cứu về tác động tích lũy, giải pháp thay thế, đánh giá kỹ các rủi ro (ví dụ như động đất)… Những nghiên cứu này khi được tiến hành tốt sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý và quyết định trong quá trình thiết kế tương lai của lưu vực Mekong.  Bên cạnh đó, chúng ta cần phải giúp đỡ Lào phát triển bền vững, tìm những hướng phát triển mới, như phát triển thủy điện ở các chi lưu, những ưu đãi trong đầu tư thực hiện các chương trình phát triển khác, kêu gọi quốc tế cùng hỗ trợ trong các kế hoạch phát triển của vùng.   Trung Quốc đã tạo ra tiền lệ xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong bất chấp sự phản đối của các quốc gia vùng hạ lưu sông Mekong và dư luận thế giới. Bà có lo lắng điều tương tự sẽ xảy ra với đập thủy điện Xayaburi?   Dĩ nhiên là tôi lo lắng vì nhận thấy những tác động tiềm tàng. Nếu điều này xảy ra thì thiệt hại sẽ rất lớn. Thế giới đã có những bài học nhãn tiền như đồng bằng Missisipi, Mỹ sau 30 năm xây dựng thủy điện, vùng đồng bằng đã lún sụt và giảm khả năng canh tác. Theo tính toán, 50-70% phù sa bị giữ lại ở các đập thủy điện. Người ta đã đi đến quyết định buộc phải tháo dỡ đập để tạo lưu chuyển phù sa và cá có thể chảy xuống phía hạ nguồn.    Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng Chính phủ Lào cũng sẽ cân nhắc tới sự phản đối của dư luận thế giới. Nếu chỉ vì lợi ích của một nhóm mà Lào chấp nhận thì có thể ảnh hưởng tới quan hệ với các quốc gia láng giềng. Vấn đề cơ bản là khi xây dựng đập thủy điện trong mấy chục năm đầu tiên chủ yếu lợi ích kinh tế bằng tiền mặt rơi vào túi các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài, Chính phủ và  nhân dân không được hưởng lợi nhiều như các nhà đầu tư thuyết trình.   Cảm ơn bà.  Nguyệt Hà thực hiện        Các rủi ro thiệt hại đối với ĐBSCL từ 12 đập dòng chính Mekong               ở phần hạ lưu vực              Thủy sản tự nhiên nước ngọt:              – Chỉ riêng ĐBSCL, tổn thất cá trắng là khoảng 240.000 đến 480.000 tấn/năm.  Nếu tính giá 2.500 USD/tấn, mỗi năm ĐBSCL sẽ thiệt hại khoảng 500.000 đến 1 tỉ USD, chỉ riêng cá trắng.              – Trong lưu vực Mê Công, 65% là cá trắng và 35% là cá đen.  Cá đen ăn cá trắng để tồn tại, khi mất cá trắng thì cá đen sẽ mất theo.  Các loài khác như chim, cò, rùa, rắn cũng sẽ suy giảm tương tự   Phù sa:                – Lượng phù sa hằng năm sông Mekong tải về hạ lưu là 160-165 triệu tấn.  Con số này sẽ giảm còn ¼ hay tương đương 42 triệu tấn khi toàn bộ 12 đập này được xây dựng.              – Chưa có số liệu về chi phí phân bón tăng lên để duy trì năng suất lúa.  Số liệu nghiên cứu ở An Giang cho thấy khi không có phù sa, mặc dù áp dụng phân bón tăng (131-134 kg/ha) thì năng suất lúa vẫn giảm (từ 5.86 xuống còn 5.28 tấn/ha).              – Mất phù sa đồng nghĩa với mất dinh dưỡng toàn bộ hệ thống và làm cho đất bị chai đi.  Thiếu phù sa sẽ làm suy thoái đất, nhất là trên những vùng đất xám bạc màu và đất phù sa canh tác 3 vụ lúa/năm.              – Mất phù sa sẽ gia tăng sạt lở bờ sông và bờ biển do hiện tượng “nước đói phù sa”, đồng thời sẽ làm ngưng quá trình kiến tạo đồng bằng đã liên tục diễn ra trong hằng nghìn năm nay, bờ biển phía Đông của ĐBSCL và mũi Cà Mau sẽ bị sạt lở nghiêm trọng.              – Mất phù sa sẽ làm cho ĐBSCL bị sụt lún và chìm rất nhanh xuống dưới mực nước biển cùng với tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu.                – Lượng cát hiện đang được khai thác ở các nước ở lưu vực sông Mê Công hiện là rất lớn để phục vụ cho nhu cầu xây dựng. Ngoài  bùn và chất dinh dưỡng, cát chính là thành phần chính bồi đắp và kiến tạo đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cát không thể đi qua được các đập.  Tình trạng xói mòn bờ biển đã có thể quan sát được ở mũi Cà Mau và các tỉnh cửa sông như Bến Tre, Trà Vinh do tình trạng khai thác cát … Hiện tượng này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nữa khi xây đập trên dòng chính.   Thủy sản biển:              – Cả một vùng biển rộng lớn ở ĐBSCL của Việt Nam phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng của sông Mekong đưa ra hằng năm.              – Sản lượng thủy sản biển 2009 là 606.500 tấn (chiếm 50% sản lượng khai thác thủy sản biển cả nước (1,196,300 tấn) và gấp gần 10 lần sản lượng biển vùng Đồng bằng sông Hồng (77.900 tấn).  Cần có nghiên cứu để xác định lượng thủy sản này sẽ suy giảm bao nhiêu khi phù sa giảm còn ¼ hiện nay.   Sự dịch chuyển nhanh, khó tiên đoán của ranh giới mặn              – Các đập này là các đập dâng, cho nước chảy qua trong ngày trong mùa lũ.  Vì vậy không có chức năng cắt lũ.              – Trong mùa khô, các đập này có thể tích nước đến 3 tuần (mỗi đập) và gây cạn kiệt thêm vào mùa khô gây xâm nhập mặn sâu vào đất liền; đồng thời không đủ nguồn nước để ém phèn dẫn đến sự phèn hóa một diện tích khá lớn vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, và Tây Nam Sông Hậu.              – Các đập này do các nhà đầu tư tư nhân khác nhau vận hành, nên không thể điều phối được.              – Ranh giới mặn của ĐBSCL phụ thuộc vào sự cân bằng giữa dòng chảy sông Mekong vào mùa khô và mực nước biển vì vậy ranh giới mặn có thể dịch chuyển nhanh chóng dọc theo sông tùy theo sự vận hành các đập.  Điều này làm cho hệ thống canh tác khó thích nghi.   Ô nhiễm môi trường              Khi năng lượng dòng chảy giảm, khả năng rửa trôi và tự làm sạch của dòng sông sẽ giảm trong khi đó phân bón được áp dụng tăng để bù cho sự giảm phù sa              (Một số phân tích các vấn đề chính liên quan đến dự án thủy điện Xayaburi và bậc thang thủy điện trên dòng chính hạ lưu vực Mekong, do nhóm công tác Mekong – VRN thực hiện)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguy cơ suy thoái  tài nguyên nước ở ĐB sông Cửu Long      Nước là một trong các yếu tố quan trọng tham gia hình thành diện mạo và sự sung túc không chỉ về nông nghiệp và thủy sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là một nhân tố liên quan đến văn hóa và tập quán của cư dân ở đây. Tuy nhiên hiện nay, nhiều nhà khoa học đang cảnh báo nguy cơ suy thoái nguồn nước đang và tiếp tục diễn ra ở vùng châu thổ này.      Cuộc sống bên dòng nước lớn  Đồng bằng sông Cửu Long hình thành từ dòng chảy sông Mekong mang phù sa bồi lắng. Người dân Việt khi đến định cư vùng đất này đã có tập quán chọn các vị trí gần các vùng tập trung nước như hai bên bờ sông rạch, kênh mương, các vùng trũng chứa nước hoặc vùng ven biển. Nhờ nguồn nước dồi dào và trong lành, từ xưa ĐBSCL được cả nước ví như vựa lúa, giỏ cá và rổ trái cây của đất nước.   Mỗi năm sông Mekong chuyển nước qua vùng đất này một khối lượng nước khổng lồ lên đến 450 tỷ m3 nước mỗi năm gây nên hiện tượng “mùa nước nổi” rất đặc thù vào các tháng mùa mưa hằng năm. Nhờ nguồn nước sông Mekong và vị thế đồng bằng ven biển, Việt Nam đã trở thành một điểm nổi bậc trên bản đồ xuất khẩu nông sản thế giới. Lúa gạo Việt Nam không chỉ đảm bảo cho nguồn lương thực cho cư dân trong nước mà góp phần nuôi sống khoảng 40 triệu người ở các nước Châu Á và Châu Phi. Nguồn nước sông Mekong cũng đã tạo ra hệ sinh thái đất ngập nước lớn nhất Việt Nam với sự đa dạng sinh học độc đáo và phong phú.   Cuộc sống, sinh kế và văn hóa của người dân vùng Đồng bằng luôn gắn với sự thay đổi với dòng “nước lớn, nước ròng” của sông Cửu long và hình thành một nền “văn minh sông nước”. Vùng ĐBSCL ngoài sông chính là sông Cửu Long, còn vô số các rạch nhỏ, luồng lạch phức tạp với các vùng đất ngập nước thường kỳ và định kỳ khác nhau, có nhiều phương ngữ mà không một vùng đất nào khác ở miền Bắc và miền Trung phong phú hơn như xẻo, ao, đìa, hào, bàu, lung, láng, đồng, vũng, bãi, đầm, gò, gành, ngọn, doi, vịnh, cồn, cù lao, hòn, đảo,… Để gọi đặc điểm của dòng nước, người dân vùng ĐBSCL có các tên gọi: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước cường, nước kém, nước nổi, nước lụt, nước trầm, nước bạc, nước son, nước đục, nước nhảy, nước chụp, nước đứng, nước ngược, nước xuôi, giáp nước, nhồi nước, xiết nước, rải nước,…Về nguồn cung cấp và chất lượng nước thì có những từ: nước trời, nước mưa, nước sông, nước cây, nước ngầm, nước lung, nước đìa, nước mặn, nước ngọt, nước lợ, nước phèn, nước than bùn, …   Vùng đất ở Cà Mau và Kiên Giang đã trở thành nơi dự trữ sinh quyển của thế giới, ngoài ra một vùng đất ngập nước ven biển khác ở cửa sông Hậu cũng đang có kế hoạch xem xét công nhận như một khu dự trữ sinh quyển thứ ba của ĐBSCL.  Nguy cơ suy thoái nguồn nước cận kề  Tuy nhiên, tài nguyên nước ở ĐBSCL đang bị đe dọa suy thoái cả về số lượng và chất lượng cũng như sự thay đổi động thái của dòng chảy theo mùa. Sự suy thoái này có thể do các yếu tố tự nhiên hoặc các yếu tố con người hoặc cả hai yếu tố này cùng tác động. Các số liệu quan trắc thủy văn cho thấy từ trận lũ lịch sử năm 2000 đến nay, dòng chảy mùa lũ từ thượng nguồn xuống vùng đồng bằng ngày càng giảm sút rõ rệt, năm 2010 được xem là năm mà có dòng chảy thấp nhất hàng thập kỷ nay. Lũ thấp kết hợp với tình trạng không khí khô nóng làm nguồn nước hiếm hoi ở vùng đồng bằng bốc thoát hơi mãnh liệt làm nhiều vùng ven biển bị khô hạn nghiêm trọng, nước mặn từ Biển Đông xâm nhập sâu vào đất liền khiến nhiều nơi gặp khó khăn hơn trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất. Thành phố Cần Thơ từ nhiều năm trước luôn được xem là vùng nước ngọt thì vài năm nay người dân Cần Thơ đã bắt đầu cảm nhận vị mặn từ nguồn nước sông.           Lũ thấp khiến ngư dân ở ĐBSCL giảm thu nhập (Ảnh: Lê Anh Tuấn, 2010)          Lũ thấp khiến nguồn cá tự nhiên giảm sút nghiêm trọng làm nguồn cung cấp đạm cho người dân ít đi. Lượng phù sa cũng ít đi khiến nông dân phải sử dụng phân bón hóa học nhiều hơn. Lũ ít cũng khiến việc vệ sinh đồng ruộng không được đầy đủ khiến các mầm bệnh, sâu bệnh, chuột bọ, các độc chất trong đất không bị rửa trôi khiến việc canh tác nông nghiệp và thủy sản khó khăn hơn.   Hiện tượng sụt giảm tầng nước ngầm cũng rất đáng lưu ý, nhiều nơi nước ngầm sụt giảm 3-5 mét hoặc hơn nữa so với nhiều năm trước. Sự khai thác ồ ạt qua các giếng khoan tư nhân, sự thiếu kiểm soát và chưa có biện pháp quản lý tài nguyên nước dưới đất hữu hiệu hiện nay làm nguồn nước ngầm đang có dấu hiệu xấu đi. Một số nước giếng có sự hiện diện của thạch tín (asenic), nhất là các giếng nước khoan ở các tỉnh như An Giang và Đồng Tháp. Các giếng nước ở vùng ven biển, nhất là các giếng nông, ngoài có sự hiện diện khá cao của ion sắt còn có dấu hiệu nhiễm mặn từ nước biển. Sự sụt giảm nguồn nước mặt còn là nguyên nhân chính khiến phèn tiềm tàng trong đất trở thành phèn hoạt động khiến chất lượng nước và chất lượng đất nhiều nơi trở nên xấu đi.  Sự phát triển kinh tế quá nhanh chóng nhưng thiếu kiểm soát cộng thêm yếu tố gia tăng dân số khiến chất lượng nguồn nước ở ĐBSCL đang trở nên xấu hơn. Việc gia tăng các hình thức thâm canh, tăng vụ trong sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc khiến nguồn nước bị nhiễm dư lượng các loại nông dược, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kháng sinh, thuốc tăng trọng, các chất hữu cơ chưa phân hủy … Tập quán cất nhà, họp chợ ngay bên sông rạch khiến nguồn nước phải tiếp nhận nhiều chất thải trong sinh hoạt như rác thải, nước thải, chất thải người và gia súc. Hầu hết các tỉnh thành đều có hình thành các khu công nghiệp, khu chế biến và các nhà máy dọc theo ven sông lớn khiến nước thải công nghiệp chưa được xử lý có cơ hội làm chất lượng nước suy thoái tới mức báo động.   Nhiều khảo sát ở các trạm quan trắc môi trường cho thấy chất lượng nước trong các kênh rạch nhỏ ô nhiễm nghiêm trọng vượt qua nhiều lần mức cho phép của tiêu chuẩn nguồn nước khiến khả năng tự làm sạch nguồn nước tự nhiên bị hạn chế. Sự xáo trộn chất lượng nước liên quan đến ô nhiễm hữu cơ, xâm nhập mặn khiến môi trường sống nhiều loài thủy sinh đị đe dọa, hàng trăm vụ tôm, cá, các loài nhuyễn thể đột ngột chết hàng loạt do nguyên nhân nguồn nước bị ô nhiễm đã minh chứng cho thực tại rất đáng lo ngại này.   Tác động kép  Biến đổi khí hậu là yếu tố tạo tác động lên tài nguyên nước ở ĐBSCL. Theo nhiều kết quả mô phỏng toán học theo các kịch bản phát thải khí nhà kính đều cho thấy trong tương lai, nhiệt độ khu vực có xu thế gia tăng dần khiến khô hạn nghiêm trọng hơn, lượng mưa đang thay đổi thất thường, sự phân bố lượng mưa theo tháng đang có dấu hiệu biến động khác với những quy luật nhiều năm trước, bão tố dường như đang có hướng dịch chuyển xuống các tỉnh phía Nam vào cuối năm và khó dự báo hơn.   Hiện tượng nước biển dâng đang diễn ra làm đe dọa tài nguyên nước không chỉ riêng cho các tỉnh vùng ven biển mà cón liên quan đến các vùng nước trong nội địa vùng ĐBSCL. Nước biển dâng cao làm mất đất thu hẹp sản xuất và ảnh hưởng đến năng suất cũng như sản lượng lương thực. Cuộc sống cư dân ngày càng khó khăn hơn do thiếu nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Nhiều dấu hiệu cho thấy ngày càng nhiều người dân nông thôn bỏ lên thành thị để tìm sinh kế mới có ít nhiều liên quan đến sự suy thoái tài nguyên nước cũng như các nguồn tài nguyên liên quan như đất, rừng, sinh vật, …  Tài nguyên nước vùng ĐBSCL còn bị đe dọa do các ảnh hưởng nguy cơ chưa lường hết được từ các công trình khai thác nguồn nước ở các quốc gia thượng nguồn sông Mekong. Hàng loạt đập nước – nhà máy thủy điện đang và sẽ hình thành trên các sông nhánh và cả dòng sông chính ở Trung Quốc, Lào và Campuchia khiến chế độ dòng chảy sẽ thay đổi theo nhu cầu phát điện – bán điện. Trung Quốc và Thái Lan có triển khai các công trình chuyển nước từ sông Mekong sang lưu vực khác trong nội địa của họ khiến nguồn nước thiếu hụt đi, đặc biệt là mùa khô. Campuchia đang có kế hoạch mở rộng các hệ thống thủy nông để gia tăng diện tích canh tác lúa.   Nếu các kế hoạch này này trở nên hiện thực, nguồn nước cho canh tác mùa Đông Xuân ở ĐBSCL trở nên hiếm hoi và nguy cơ xâm nhập mặn sẽ lớn hơn. Ngoài ra, việc phát triển các khu kỹ nghệ ven sông ở các nước thượng nguồn cũng sẽ làm chất lượng nước ở hạ lưu bị đe dọa hơn. Thực tế, vùng ĐBSCL đang bị các tác động “kép” do cả yếu tố biến đổi khí hậu và yếu tố đập nước trên sông ở thượng nguồn đống  ảnh hưởng lên tài nguyên nước khu vực.  Thay lời kết  Việc tìm kiếm giải pháp hiện nay và tương lai cho vấn đề bảo tồn, bảo vệ tài nguyên nước ở ĐBSCL ngày trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Điều quan trọng là cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các nhà khoa học và nhà quản lý liên quan đến tìm một chiến lược trước mắt và lâu dài cho vùng đồng bằng. Công tác dự báo và quy hoạch tài nguyên nước cần xem xét đến các kịch bản khai thác và sử dụng nước khác nhau. Việc tổ hợp các nguy cơ suy thoái nguồn nước và như cầu nước ở thời điểm cao nhất cần phải xem xét cẩn thận. Ngoài ra, việc khôn khéo trong thương lượng và thuyết phục với các quốc gia thượng nguồn trong vệc chia xẻ nguồn nước trên sông là rất cần thiết. Bản thân người dân trong vùng ĐBSCL cần phải có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ tài nguyên nước, nghiên cứu việc chọn lựa các biện pháp tiết kiệm nước trong sản xuất và sinh hoạt có ý nghĩa lớn. Bên cạnh đó, phía nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện và mạnh mẽ hơn các cơ chế pháp lý và chế tài trong việc bảo vệ chất lượng nước.   Chúng ta nên xem nguồn nước trong lành không chỉ là của cải quý giá cho cuộc sống hiện tại mà là nguồn vật chất và tinh thần bền vững để lại cho thế hệ về sau.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên khí ngoài biên chế      Ở Việt Nam tuyệt đại đa số những người  nghiên cứu khoa học đều làm trong cơ quan nhà nước, quyền lợi lương bổng  hưu trí đương nhiên là chuyện không cần bàn, lại được giáo dục tư  tưởng, hướng dẫn chuyên môn, nâng cao trình độ, giao lưu quốc tế, cung  cấp kinh phí vân vân, tóm lại có rất nhiều cái hay. Cho nên một số người  chẳng nghiên cứu khoa học được nhưng may mắn chuột sa chĩnh gạo trở  thành công chức, một số người nghiên cứu được nhưng cứ nghe tới đề tài  công trình là hỏi ngay kinh phí bao nhiêu rất giống doanh nhân. Nhưng  thôi cứ biết thế, ở đây chỉ nói tới những người làm khoa học (chủ yếu là  khoa học xã hội) ngoài biên chế nhà nước.    Cần nói ngay rằng làm khoa học tất nhiên phải nghiên cứu, nhưng nghiên cứu chưa chắc đã là làm khoa học. Trong cuộc sống có rất nhiều điều cần nghiên cứu, cũng có rất nhiều người có thể dùng các thao tác nghiên cứu để tìm hiểu những điều ấy, nhưng đó chưa hẳn là khoa học. Khoa học chính qui chia thành những ngành ổn định, có đối tượng nghiên cứu xác định, có hệ thống phương pháp và thao tác nhất định. Một người làm khoa học chuyên nghiệp có thể hoạt động trong một hay vài ngành tùy theo năng lực, nhưng phải nắm vững phương pháp và thao tác nghiên cứu đồng thời theo đuổi một số đề tài có hệ thống và ở mức độ chuyên sâu với những kết quả sáng tạo đủ để có thể trở thành chuyên gia ít nhất trong một ngành.    Từ cách hiểu nói trên mà nhìn thì những người làm khoa học ngoài biên chế nhà nước ở Việt Nam hiện nay không có nhiều, nhưng nếu đã được thừa nhận là người làm khoa học thì chắc chắn họ đã làm được một số công trình có tính hệ thống với phương pháp chuyên nghiệp, hàm lượng sáng tạo và chất lượng khoa học ít nhất không thua kém gì so với người nhà nước. Nhưng tính năng động, sự nhẫn nại, lòng tự trọng, đức liêm khiết, ý thức trách nhiệm và nhất là phẩm chất độc lập trong tư duy khoa học ở họ chắc chắn cao hơn rất nhiều người nghiên cứu khoa học trong biên chế, bằng chứng là họ không có những công trình, bài viết minh họa chủ trương, tô màu nghị quyết thường thấy trong giới khoa học quan phương. Chỉ là họ không có được những điều kiện làm việc mà những người kia có, cũng không có được sự khích lệ vật chất và tinh thần tương xứng, không lao động tiên tiến, không học hàm học vị, còn thu nhập thì dù có thâm niên làm khoa học ba bốn mươi năm cũng không thể đến hẹn lại lên để được tăng theo năm tháng, mà nếu không có chút ít tài sản thì còn phải phân tâm chia sức lo chuyện áo cơm. Và khác với nhiều công trình trong khu vực khoa học quốc doanh, công trình của họ chỉ có một người nghiệm thu duy nhất là người đọc tức người mua, nếu nó được xuất bản, và chúng phải chịu sự thẩm định của dư luận theo cách nếu có công thì thiên hạ có quyền lờ lớ lơ, nếu có tội hay bị coi là có tội thì thiên hạ tha hồ chê bai, vì ngoài việc tự bảo vệ của từng cá nhân thì không có cơ quan nghiên cứu và ngôn luận nào có trách nhiệm giữ công đạo cho họ cả. Chuyện tác quyền cũng thế, sách bị luộc ném lên mạng cũng đành bó tay. Mà danh gì lợi gì khi số người biết tới họ còn ít hơn số người biết tới một ca sĩ, một người mẫu loại trung bình, khi công trình làm cả năm nếu được xuất bản thì nhuận bút chỉ đủ sống vài tháng, mà vẫn phải đóng thuế thu nhập nữa? Có thể một số nhà khoa học nước ngoài quen biết họ, nhưng trong rất nhiều trường hợp lại không thể mời họ cộng tác. Có thể có một số quan chức trong chính quyền tin tưởng họ, nhưng trong rất nhiều trường hợp lại không thể giao cho họ những trách nhiệm khoa học tương xứng. Có thể một số người quen biết ủng hộ họ, nhưng trước nay chưa có ai trong số họ được cho phép lập một cái hội nghiên cứu nào đó. Vì họ không phải là người nhà nước, vậy thôi. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, sở dĩ Thân Nhân Trung vắn tắt được như thế vì thời bấy giờ quốc gia Đại Việt không chia hiền tài làm hai loại trong và ngoài biên chế.           Có thể một số nhà khoa học nước ngoài quen biết họ, nhưng trong rất nhiều trường hợp lại không thể mời họ cộng tác. Có thể có một số quan chức trong chính quyền tin tưởng họ, nhưng trong rất nhiều trường hợp lại không thể giao cho họ những trách nhiệm khoa học tương xứng. Có thể một số người quen biết ủng hộ họ, nhưng trước nay chưa có ai trong số họ được cho phép lập một cái hội nghiên cứu nào đó. Vì họ không phải là người nhà nước, vậy thôi.              Vậy họ chịu thiệt thòi và chấp nhận sự thiệt thòi vì cái gì? Chỉ vì sự khát khao hiểu biết và lòng mong muốn được chủ động chia sẻ tri thức với cộng đồng. Nhưng xã hội đã làm gì cho họ trong trách nhiệm là xã hội, chính quyền đã làm gì cho họ trên cương vị là chính quyền, đồng nghiệp trong biên chế nhà nước đã làm gì cho họ với tư cách là đồng nghiệp? Theo chỗ họ và rất nhiều người khác biết, mấy vụ đó cho đến nay cơ bản vẫn chưa có gì. Cũng có thể có một số cá nhân hay tổ chức muốn giúp đỡ tạo điều kiện này khác, nhưng trong rất nhiều trường hợp, họ lại không thể nhận lãnh những nghĩa cử ân tình ấy. Được giải thưởng thường mang tiếng thị phi, nhận tiền giúp dễ nếm mùi tủi nhục chỉ là một mặt, mặt kia của vấn đề là sau khi tiếp nhận nghĩa cử, thụ hưởng ân tình thì họ còn có thể tiếp tục độc lập trong tư duy và hoạt động khoa học hay không.       Cho nên trước mắt, họ cứ việc tự sinh tự diệt, còn nếu muốn tự sướng lúc chịu thiệt thòi, họ có thể tìm một tên gọi khác cho sự khát khao và lòng mong mỏi của mình, đừng nói mình muốn cống hiến, vì khoa học, cho tương lai gì gì. Những động cơ sang trọng ấy trong thực tế chủ yếu không phải dành cho họ.   Cứ gọi là Kiếm cơm.           Năm 1990, Cao Tự  Thanh xin nghỉ việc nhà  nước lúc đang là quyền Giám đốc Bảo tàng Long  An, trở thành một người  nghiên cứu ngoài biên chế. Hướng nghiên cứu  chính của ông là lịch sử văn  hóa Việt Nam và lịch sử xã hội – chính trị  Trung Quốc. Các công trình  nghiên cứu chính gồm: Văn học Hán Nôm ở  Gia Định (1988 và 1998), Quốc  triều Hương khoa lục (1993), Thơ Trần  Thiện Chánh (1995), Đại Nam Liệt  truyện Tiền biên (1995), Nho giáo ở  Gia Định (1996 và 2010), Văn học  Đàng Trong (2007), Đại Nam Thực lục  Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên (2011  và 2012), Đại Nam Thực lục Chính  biên Đệ thất kỷ (2013), Nam Kỳ phong  tục nhơn vật diễn ca Chú thích  (2014), I và Y trong chính tả tiếng Việt  (2014). Ông còn là tổng chủ biên bộ 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài  Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (đã xuất bản hơn 20 quyển), chủ biên công  trình Những thay đổi trong đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh từ  1985 đến nay (2012), tổng chủ biên bộ Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (đã  xuất bản 2 tập).                       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nguyên nhân sự mất cân đối trong nghiên cứu cơ bản giữa các vùng/miền ở Việt Nam      Quỹ phát triển khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) chính thức hoạt động từ năm 2009 với mô hình quản lý tiên tiến theo những chuẩn mực quốc tế, là một trong những đột phá trong lịch sử phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Khoan hãy nói về hiệu quả của mô hình quản lý mới vì Quỹ mới đi vào hoạt động được một năm nhưng ít nhất về quy trình xét tài trợ đã có những đổi mới cơ bản đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng đối với các nhà khoa học. Nhờ có sự công khai như trên dư luận rộng rãi có điều kiện tiếp cận thông tin về tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản đợt đầu tiên năm 2009. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê cho thấy sự mất cần đối quá lớn trong tài trợ cho NCCB giữa các vùng, miền.  Vậy đâu là nguyên nhân chủ yếu có sự mất cân đối đó?                          1. Mất cân đối về phân bố nguồn lực KHCN: Phải thừa nhận một thực tế là nếu căn cứ vào kết quả xét tài trợ đợt đầu của NAFOSTED năm 2009 thì dễ nhận thấy có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa 3 khu vực Bắc Trung và Nam. Trong khi số đề tài được tài  trợ ở khu vực miền Bắc chiếm gần 90%, thì cả 2 khu vực miền Trung và miền Nam chỉ chiếm trên 10%. Tuy nhiên, sự mất cân đối này hoàn toàn không xuất phát từ “bất hợp lý”  hay “sự bất cập trong qui trình xét tài trợ” của NAFOSTED mà chính là do sự mất cân đối đã và đang tồn tại lâu nay về sự phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ, trong  đó có đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao (tiến sĩ, TS khoa học, giáo sư, phó giáo sư) giữa các vùng miền. Theo một số thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước thì phần lớn lực lượng khoa học, đặc biệt số lượng nhà khoa học có bằng cấp tập trung chủ yếu ở Hà Nội (khoảng 70%) còn các vùng khác ngoài Hà Nội chỉ có khoảng 30% số còn lại.  2. Đầu tư sở vật chất không đều: Có thể nói hiện nay đầu tư cơ sở vật chất như trang thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm tập trung chủ yếu ở Hà nội, còn ở các nơi khác không đáng kể. Minh chứng điển hình nhất là có đến 15 trên tổng số 17 phòng thí nghiệm trọng điểm, mỗi phòng thí nghiệm có quy mô đầu từ 3 – 5 triệu USD tạp trung ở  Hà Nội, chỉ 2 phòng thí nghiệm ở TP.HCM (1 cho Đại học Quốc gia TP.HCM và 1 cho Viện Sinh học nhiệt đới). Ngoài ra, thông tin KHCN, hợp tác quốc tế…những điều kiện không kém phần quan trọng cho hoạt động KHCN  cũng hầu như tập trung ở Hà Nội.  3. Tính dấn thân trong nghiên cứu cơ bản  Ngoài sự chênh lệch lớn về nguồn lực lượng khoa học như trên, thì các nhà khoa học ở miền Bắc thường dành nhiều thời gian, sức lực cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các NCCB hơn các đồng nghiệp phía Nam. Điều này xuất phát từ tình trạng nhà khoa học cũng như bao công chức khác để duy trì cuộc sống thì phải “chân trong, chân ngoài”. Tuy nhiên, thực tế ở phía Bắc nhà khoa học thường cũng chẳng có sự lựa chọn nào hơn để tăng thu nhập nên thường tập trung nhiều hơn cho khoa học, đặc biệt là NCCB, một lĩnh vực truyền thống. Trong khi đó các nhà khoa học ở phía Nam thường có nhiều lựa chọn hơn trong việc làm thêm ít nhất là các dịch vụ mang tính khoa học công nghệ và thường ít quan tâm hơn đến các NCCB là lĩnh vực khó ứng dụng thực tiễn và cũng khó làm ra tiền. Chính có sự khác biệt này mà giới khoa học thường nói các nhà khoa học phía bắc đặc biệt ở Hà Nội ít nhiều còn duy trì được “máu hàn lâm viện” và có nhiều công bố khoa học hơn so với các đồng nghiệp ở phía Nam.  Làm khoa học, nhất là KHCB thì sản phẩm thông thường là các công bố. Công trình nghiên cứu có chất lượng cao, có sự hợp tác quốc tế thì cố gắng công bố quốc tế còn chất lượng thấp hơn thì cũng cố gắng công bố trên tạp chí quốc gia. Đặc biệt ở Việt Nam công bố quốc tế thì quá ít đã đành nhưng ngay cả công bố quốc gia cũng không nhiều. Phần lớn sản phẩm công bố dưới dạng tuyển tập Hội nghị khoa học hay các tạp chí khoa học cấp thấp của trường, viện. Tuy nhiên nếu nhìn váo số lượng công bố các loại thì phần lớn công bố cũng tập trung ở Hà Nội nói riêng và phía Bắc nói chung. Hầu hết các Tạp chí quốc gia hầu như chỉ phục vụ cho cộng đồng khoa học miền Bắc. Là biên tập của Tạp chí Sinh học tôi thấy rất ít bài công bố của các đồng nghiệp ở miền Trung và Nam.  4. Hồ sơ đăng ký tài trợ mất cân đối: Chính sự mất cân đối về nguồn lực KHCN như trên, dẫn đến thực trạng là số người …hồ sơ đăng ký tài trợ trong lĩnh vực NCCB rất khác nhau giữa các vùng miền, phần lớn hồ sơ đăng ký là của các nhà khoa học từ các Viện nghiên cứu và Trường đại học ở khu vực miền Bắc, còn ở miền Trung và miền Nam không nhiều.  Đề minh chứng cho nhận xét trên tôi xin đưa ra số liệu về số đề tài đăng ký và số đề tài được NAFOSTED xét duyệt tài trợ trong lĩnh vực khoa học sự sống (KHSS) năm 2009 (bảng dưới). Trong đợt tài trợ năm đầu của NAFOSTED có tất cả có 196 hồ sơ đăng ký tài trợ, trong đó có 115 đề tài đủ tiêu chuẩn để xét (nghĩa là chủ trì đề tài có công bố ISI trong 5 năm gần đây. Kết quả có 60 đề tài được xét tài trợ (chiếm 52,2% số đề tài đủ tiêu chuẩn xét). Trong số này, khu vực miền Bắc có 97 đề tài đăng ký thì 48 đề tài được xét tài trợ (tỷ lệ gần 49,5%), còn khu vực Trung và Nam có tổng số 18 đề tài đăng ký thì 12 đề tài được tài trợ (chiếm 66,7%).  Bảng 1. Số đề tài được tài trợ, giữa các vùng miền trong các giai đoạn 2005-2008, 2009 và số đề tài đăng ký mới năm 2010 trong lĩnh vực KHSS.             Vùng      Số đề tài được tài trợ      Số đề tài đăng ký xét tài trợ  năm 2010          Năm 2006-2008      2009          Khu vực miền Bắc (Hà Nội, Thái   Nguyên, Hải phòng, Vinh)      270       48 (97)      57           Khu vực miền Trung (Huế, Đà Nẵng, Nha   Trang, Đà Lạt)      32        11 (13)      5           Khu vực miền Nam (TP.HCM,   Cần Thơ)      9       1 (5)      9           Tổng cộng      311      60 (115)      71          Số trong ngoặc đơn là số đề tài đăng ký tài trợ  Nhận xét trên đây còn dựa vào thống kê số đề tài KHCB được tài trợ trong giai đoạn 2005-2008 cũng cho thấy mặc dù với yêu cầu đầu vào và ra thấp hơn nhưng số lượng đề tài NCCB đăng ký và được chương trình KHCB tài trợ cũng rất chênh lệch giữa các vùng miền. Trong khi miền Bắc có 270 đề tài (chiếm gần 87%) thì miền Trung và miền Nam cũng chỉ có 41 đề tài chiếm 13,2% tổng số đề tài được tài trợ. Ngay cả số đề tài đăng ký mới đây để xét tài trợ năm 2010 (mặc dù còn đang trong quá trình xét) cũng thể hiện sự mất cân đối với cùng tỷ lệ chệnh lệch giữa các vùng miền với tỷ lệ gần như 2 đợt tài trợ trước đây. Rõ ràng, sự chệnh lệch này bắt nguồn ngay từ số lượng hồ sơ đăng ký xin tài trợ.  ***  Để phát triển KHCN giữa các vùng miền một cách hài hòa và cân đối, ngoài việc tạo ra mạng lưới nghiên cứu và đào tạo cân đối và đồng bộ giữa các vùng miền, Nhà nước cần có chế độ đãi ngộ thích đáng, kèm theo đó là tăng cường đầu tư, tạo điều kiện tốt về cơ sở vật chất cho công việc nghiên cứu để lôi kéo các nhà khoa học đến các vùng mà nguồn nhân lực KHCN còn mỏng. Giải quyết được sự mất cân đối trong nghiên cứu KHCN nói chung và NCCB nói riêng cũng là giải pháp nâng cao năng lực đào tạo nguồn cán bộ KHCN phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng miền trên cả nước.  ———–  * Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật              Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học cần tham gia nhiều hơn trong thảo luận xã hội      Khi nhìn nhận về sự phát triển của Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta thường thiên về sử dụng lăng kính kinh tế và chủ yếu tập trung vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cùng những vấn đề liên quan.    Chính vì vậy, một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học xã hội đã đồng hành cùng Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE) xây dựng một diễn đàn mới, có tên gọi Hiểu về Việt Nam (UVF), nhằm tạo ra một không gian để thảo luận về những vấn đề thực trạng của Việt Nam từ một góc nhìn khác, sử dụng cách tiếp cận của nhân học và văn hóa. Báo Khoa học và Phát triển đã trao đổi với anh Lê Quang Bình, điều phối viên của UVF, về diễn đàn này.  Tôi hơi tò mò một chút, tại sao diễn đàn lại là Hiểu về Việt Nam? Chúng ta chưa hiểu về Việt Nam, về chính chúng ta ư?  Chúng ta đang hiểu về Việt Nam, nhìn về Việt Nam nhưng theo cách gắn liền với tăng trưởng kinh tế, các chỉ số phát triển được gắn với các con số thống kê hay xu thế tăng hoặc giảm, có phần xem nhẹ các chỉ số phát triển khác như bảo vệ môi trường, kiểm soát bất bình đẳng xã hội, hay gìn giữ di sản văn hóa.  Nói cách khác, chúng ta đang cố làm to cái bánh mà quên mất chất lượng cái bánh và việc ai được hưởng bao nhiêu từ cái bánh cũng rất quan trọng. Cách nhìn thuần túy vị lợi này đã tạo ra nhiều vấn đề cho cá nhân con người hay các cộng đồng thiểu số, yếu thế. Về lâu dài chúng sẽ gây hại và ảnh hưởng đến sự phát triển chung cũng như hạnh phúc của từng cá nhân. Điều này một phần do các vấn đề môi trường, kinh tế và xã hội đang không được nghiên cứu và thấu hiểu từ góc độ nhân học, văn hóa.  Vậy chúng ta sẽ nhận được gì khi nhìn và hiểu Việt Nam theo một cách khác?  Tôi thấy nhiều trí thức, nhà nghiên cứu đang trăn trở vì sự phát triển bền vững và công bằng cho Việt Nam. Chúng tôi cũng vậy, cũng đang mong muốn Việt Nam phát triển và mang lại hạnh phúc cho từng người dân, không loại trừ một ai. Chính vì vậy, UVF là nơi tập hợp các nhà nghiên cứu về văn hóa, nhân học nhằm cùng nhau nghiên cứu các vấn đề phát triển của Việt Nam.  Chúng tôi muốn góp phần làm các chính sách về phát triển có thêm góc nhìn về công lý, về bình đẳng, về lợi ích công. Chúng tôi muốn góp phần giúp những người hoạch định sự phát triển của Việt Nam làm được nhiều hơn để những người nghèo, phụ nữ, người di cư, trẻ em, người khuyết tật, người có HIV, người dân tộc thiểu số, người đồng tính, song tính và chuyển giới không bị bỏ rơi. Khi đó nền kinh tế của chúng ta không những phát triển mà xã hội của chúng ta cũng hài hòa, mọi người tôn trọng nhau và cùng chia sẻ mục đích phát triển chung.    Anh Lê Quang Bình, điều phối viên của UVF. Ảnh do nhân vật cung cấp  Có thể nói đó là mục đích tốt đẹp nhưng chắc chắn không dễ dàng. Xin anh cho biết UVF đang tổ chức những hoạt động gì?  UVF đang từng bước thực hiện các hoạt động để đạt được mục đích mình mong muốn. Trước tiên, chúng tôi tổ chức các buổi tọa đàm khoa học về các vấn đề nóng, được quan tâm như xung đột tài nguyên, bất bình đẳng giới nhưng nhìn từ góc nhìn văn hóa, nhân học.  Góc nhìn văn hóa, nhân học sẽ cho chúng ta hiểu sâu hơn về suy nghĩ, quan điểm và mong muốn của các bên liên quan dù họ là công ty tư nhân hay cộng đồng địa phương, cơ quan chính quyền hay tổ chức xã hội để từ đó có một giải pháp cân bằng và tối ưu. Điều khác biệt của các tọa đàm do UVF tổ chức là chúng tôi không chỉ coi trọng kết quả nghiên cứu mà cả phần phương pháp luận nghiên cứu.  Chúng tôi tin rằng, các tranh luận về phương pháp luận sẽ giúp cho phần hiểu và đánh giá kết quả nghiên cứu sâu sắc hơn.  Một hoạt động quan trọng khác là các khóa học ngắn hạn về phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội từ góc nhìn văn hóa và nhân học. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều lớp học về phương pháp thống kê, xử lý số liệu, hay phân tích định tính. Chúng tôi không thấy có lớp nào dạy về tư duy nghiên cứu, phương pháp luận nghiên cứu để trở thành một nhà nghiên cứu độc lập, người có thể làm chủ toàn bộ tiến trình nghiên cứu khoa học từ khâu xác định vấn đề nghiên cứu đến khâu xuất bản quốc tế trong lĩnh vực văn hóa và nhân học. Thông qua lớp học, chúng tôi muốn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu ở Việt Nam.  Thứ ba, chúng tôi có một quỹ tài trợ nhỏ nhằm hỗ trợ các nhà nghiên cứu thực hiện các ý tưởng nghiên cứu hay, mới và có ích cho xã hội từ góc nhìn văn hóa và nhân học.  Đây cũng là cách để kết nối các nhà nghiên cứu với nhau, cùng nhau trao đổi chuyên môn tài liệu, thậm chí là kết hợp với nhau để làm các nghiên cứu chung. Chúng tôi rất tôn trọng sự liêm chính trong nghiên cứu, chính vì vậy trong quá trình xét duyệt, chúng tôi luôn coi trọng đạo đức nghiên cứu của các nhà nghiên cứu.  Cuối cùng, dù chưa thực hiện lần nào nhưng chúng tôi mong muốn được tổ chức một Diễn đàn Hiểu về Việt Nam hằng năm nhằm mời các nhà nghiên cứu trong nước chia sẻ các nghiên cứu mới nhất của họ. Có nhiều nhà nghiên cứu khoa học quốc tế đang nghiên cứu về Việt Nam và hằng năm họ cũng tổ chức diễn đàn bàn về Việt Nam ở nước ngoài. Các nghiên cứu của họ rất hay, rất giá trị, đóng góp cho Việt Nam từ góc nhìn bên  ngoài.  Chúng tôi muốn Diễn đàn UVF tổ chức ở Việt Nam, cho các nhà nghiên cứu văn hóa, nhân văn ở Việt Nam trình bày các nghiên cứu từ góc nhìn của người trong cuộc. Điều này chắc chắn sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách, xã hội, và bản thân giới khoa học xã hội và nhân văn thêm cơ hội hiểu biết và đóng góp cho Việt Nam.  Một diễn đàn chuyên thảo luận về các vấn đề xã hội dưới góc nhìn nhân học văn hóa là rất mới mẻ ở Việt Nam. Các anh có dự liệu việc phát triển UVF sẽ gặp những thách thức gì?  Tất nhiên một ý tưởng mới bao giờ cũng có nhiều thách thức. Đầu tiên đó là làm sao hấp dẫn những người giỏi nhất đến với nó. Hiện nay chúng tôi có nhiều nhà nghiên cứu tham gia cùng, ví dụ như PGS. TS. Phạm Quỳnh Phương và TS. Hoàng Cầm của Viện nghiên cứu Văn hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; TS. Nguyễn Thu Giang là giảng viên Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi tin với ý tưởng mới, tích cực, và tinh thần lấy tự do học thuật làm trọng thì chắc chắn UVF ngày càng thu hút được nhiều học giả tham gia.  Thách thức thứ hai liên quan đến việc thu hút nguồn lực tài trợ cho các hoạt động này. Chúng tôi thường dựa trên sự tham gia tình nguyện của mọi người, nhưng nhiều hoạt động cũng cần có chi phí dù ít, dù nhiều để chi trả. Hiện nay UVF có được tài trợ nhỏ của Đại sứ quán Ireland, Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) và các đóng góp từ học viên và người tham gia. Về lâu dài, chúng tôi hy vọng sẽ thu hút được nhiều nguồn tài trợ khác nhau ở trong cũng như ngoài nước.  Thách thức thứ ba chính là làm sao những kết quả nghiên cứu, thảo luận và góp ý của UVF có ích cho xã hội, cho nhà nước, và cho giới nghiên cứu học thuật. Có lẽ, việc mở rộng thành phần tham gia, đặc biệt trong các buổi tọa đàm khoa học là cần thiết. Hiện mới dừng lại chủ yếu ở giới nghiên cứu, giảng dạy và những tổ chức phát triển.  Trong thời gian tới, chúng tôi muốn mời các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia tư vấn của các cơ quan nhà nước tham gia cùng để có thêm tương tác với họ. Tất nhiên báo chí cũng là một kênh quan trọng để chuyển tải góc nhìn văn hóa, nhân học đến với xã hội.  Trong năm 2018 này nếu phải chọn một tác nhân quan trọng nhất có thể giúp UVF phần nào vượt qua các thử thách và thực hiện thành công mục tiêu mong muốn của mình thì theo anh đó là gì?  Xã hội Việt Nam hiện nay đang vận động rất nhanh và sôi động. Có nhiều thảo luận xã hội đang diễn ra trên báo chí, trên internet và trong các không gian xã hội khác.  Tuy nhiên, tôi chưa thấy có nhiều nhà khoa học chủ động tham gia vào các cuộc thảo luận xã hội này. Sự tham gia của họ rất quan trọng vì qua đó cung cấp tri thức và phản biện cho xã hội. Họ giúp cho thảo luận xã hội có chất lượng làm tăng mặt bằng tri thức của xã hội lên.  Chính vì vậy, tôi rất mong ngày càng có nhiều nhà khoa học chủ động tham gia vào thảo luận xã hội. Và đây chính là một phần trong mục đích của UVF, đó là tạo thêm không gian để các nhà khoa học cùng nhau tham gia tốt hơn, chủ động đóng góp tốt hơn cho xã hội.  Xin cảm ơn anh.  Thu Quỳnh thực hiện  (Nguồn: Khoa học & phát triển  http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/le-quang-binh-dieu-phoi-vien-cua-uvf-nha-khoa-hoc-can-tham-gia-nhieu-hon-trong-thao-luan-xa-hoi/20180206033022601p1c160.htm)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học không còn “đau đầu” vì thủ tục tài chính      Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân khẳng định, việc liên Bộ KH&amp;CN – Tài chính ký ban hành Thông tư liên tịch 27 quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ KH&amp;CN sử dụng ngân sách nhà nước, đã từng bước gỡ bỏ “nút thắt” tài chính cho nghiên cứu khoa học.     Giảm bớt thủ tục  Thông tư 27 nhằm giảm bớt “gánh nặng” về thủ tục giấy tờ, quyết toán kinh phí giúp cho các nhà khoa học tập trung nghiên cứu. Hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng trong lĩnh vực KH&CN giúp các nhà khoa học không phải “đau đầu” với sự rườm rà của thủ tục giấy tờ, chứng từ, hóa đơn… để được nghiệm thu sản phẩm. Thậm chí nhiều khi xong hết thủ tục vẫn phải vừa làm vừa chờ kinh phí, khiến không ít nhà khoa học cảm thấy chán nản.  Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng: Thông tư 27 đề cao hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, từ những người đặt đầu bài, thông qua danh mục đề cương, nội dung, theo dõi, nghiệm thu và đưa đề tài, dự án vào thực tiễn. Cơ quan nhà nước là người đặt hàng và quản lý đầu ra sản phẩm. Đồng thời, thông tư cũng đề cao trách nhiệm và quyền tự chủ hơn của các tổ chức KH&CN, các nhà khoa học trong quá trình nhận đặt hàng các đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước.  Bộ trưởng Nguyễn Quân chia sẻ: Từ trước đến nay, nhiều đề tài, dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước được nghiệm thu xuất sắc nhưng không có sản phẩm và không được ứng dụng vào thực tiễn nên việc khoán chi đến sản phẩm cuối cùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đưa các sản phẩm đầu ra ứng dụng vào thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển KH&CN cũng như kinh tế xã hội của đất nước.  Bên cạnh đó, quản lý được việc đề tài dự án lợi dụng cơ chế, định mức, sơ hở trong quản lý đã không làm “thật” nhưng vẫn được nghiệm thu. Thực tế, cơ chế khoán chi tạo thuận lợi nhất cho những người làm khoa học, nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn cho họ bởi sẽ có nhà khoa học chưa dám nhận phương thức khoán chi theo sản phẩm cuối cùng khi họ không chắc chắn tạo được sản phẩm cuối cùng. Theo quy định mới của Thông tư 27, nhà nước kiểm soát đầu ra, phải có sản phẩm đúng như đặt hàng, trường hợp không có sản phẩm cuối cùng như hợp đồng đã ký kết thì không được nghiệm thu.  Sản phẩm đặt hàng được đưa vào ứng dụng  Bộ trưởng Nguyễn Quân nhấn mạnh: Với phương thức trước đây, sự nặng nề trong thủ tục đã không hỗ trợ cho các nhà khoa học nghiên cứu cũng như nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực như: Nhiều khi nhà khoa học buộc phải “vẽ” ra các công đoạn, “lách luật” nâng giá lên để khi bị “cắt” vẫn đảm bảo đủ kinh phí để thực hiện đề tài; hoặc phải chạy hóa đơn, chứng từ để được nghiệm thu. Điều này vô hình đã “bóp nghẹt” sức sáng tạo của các nhà khoa học, khiến hiệu quả nghiên cứu không cao, gây lãng phí cho Nhà nước.  Do đó, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng là cơ chế mới được các nhà khoa học Việt Nam trông đợi. Với hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, nhà khoa học phải tự tổ chức, tìm người giỏi, liên kết, nghiên cứu để làm ra được sản phẩm như cam kết, điều này đồng nghĩa với trách nhiệm của các nhà khoa học cũng tăng lên.  Trước đây, các nhà khoa học chọn đề tài theo ý muốn chủ quan của mình, đôi khi không thiết thực. Với cơ chế đặt hàng, cơ quan thẩm định, đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ, đề tài với Bộ KH&CN và các bộ ngành. Khi đề xuất đặt hàng thì cơ quan đặt hàng phải cam kết chịu trách nhiệm tiếp nhận lại kết quả nghiên cứu sau khi đã được nghiệm thu và tổ chức ứng dụng vào thực tiễn. Nghĩa là, địa chỉ đầu ra phải rất rõ ràng. Trách nhiệm của cơ quan quản lý khi đề xuất, đặt hàng các đề tài, dự án nghiên cứu phát triển có sử dụng ngân sách nhà nước phải có trách nhiệm tiếp nhận kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu và ứng dụng vào thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Quân nói.  Việc ban hành Thông tư 27 nhằm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước khi đầu tư cho khoa học, tuy nhiên nghiên cứu khoa học công nghệ chứa đựng nhiều rủi ro, mạo hiểm. Trong KH&CN có nhiều lĩnh vực, nghiên cứu cơ bản đi trước, đặt tiền đề cho nghiên cứu ứng dụng. Ngay cả nghiên cứu ứng dụng thì không phải sản phẩm, kết quả nào cũng có thể được ứng dụng ngay mà còn chờ đợi các nhà đầu tư, cơ hội và thị trường.  Bộ trưởng Nguyễn Quân khẳng định, loại trừ các đề tài thực sự bỏ ngăn kéo, nghiên cứu không để làm gì, theo ý muốn chủ quan của các nhà khoa học, thì cơ bản các đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng ngân sách nhà nước thời gian gần đây đã được thực hiện theo cơ chế đặt hàng, do đó, khả năng ứng dụng sẽ cao hơn trước.  Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân: Với Thông tư 27, các nhà khoa học được quyền lựa chọn giữa hai hình thức khoán chi. Khi đã lựa chọn phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng thì trong quá trình thực hiện không được điều chỉnh mục tiêu, sản phẩm và tổng kinh phí đã được thỏa thuận. Nếu nhà khoa học không hoàn thành sản phẩm như cam kết thì phải chịu hình thức xử lý là phải hoàn trả ngân sách nhà nước từ 40 – 100% tùy mức độ rủi ro và các nguyên nhân chủ quan, khách quan. Đây là chế tài nghiêm khắc, đòi hỏi trách nhiệm cao của các nhà khoa học.  Thông tư 27 được các nhà nghiên cứu kỳ vọng sẽ là tiền đề phát huy tinh thần nghiên cứu, sáng tạo, đặc biệt, việc thực hiện khoán chi nhiệm vụ KH&CN cũng sẽ tác động đến phương thức tổ chức, quản lý của các tổ chứcKH&CN theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học rất sợ những phiền lụy hành chính      Cuối năm 2014, GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng  (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư  ngành Ngôn ngữ học) đã cho ra mắt bộ Tự điển Chữ Nôm dẫn giải (NXB Khoa  học Xã hội). Nhân dịp này, TS Trần Trọng Dương (TTD) đã có cuộc trò  chuyện với GS Nguyễn Quang Hồng (NQH) về quá trình nghiên cứu và biên  soạn bộ tự điển chữ Nôm được giới chuyên môn đánh giá là đồ sộ nhất,  khoa học nhất cho đến nay.    TTD: Điều gì thôi thúc Giáo sư biên soạn bộ tự điển mới này, mặc dù trước đây cuốn Tự điển Chữ Nôm (NXB Giáo dục, 2006) do Giáo sư chủ biên cũng đã được xuất bản và được độc giả hoan nghênh?   NQH: Có lẽ ở thời điểm ra mắt Tự điển Chữ Nôm (2006) thì đó là bộ tự điển chữ Nôm vào loại tốt nhất rồi. Nhưng không lâu sau, tôi lại thấy chưa thật sự yên tâm với những gì đã có, nhất là sau khi viết xong cuốn Khái luận văn tự học Chữ Nôm (NXB Giáo dục, 2008). Có nhiều điểm mới mẻ trong bộ Tự điển Chữ Nôm dẫn giải vừa ra mắt, từ dung lượng đến chất lượng và cả cách trình bày. GS Huệ Chi ở cạnh nhà tôi đã thử kiểm tra xem về mục chữ, thấy: để ghi một tiếng RA chẳng hạn, thì ở bộ tự điển năm 2006 chỉ có sáu chữ Nôm, còn ở bộ tự điển mới này có đến 17 chữ Nôm khác nhau. Nhưng điều quan trọng liên quan đến quan điểm soạn tự điển là ở chỗ: Thông thường người ta cho rằng làm tự điển / từ điển là soạn giả phải đưa ra một cách xử lý duy nhất mà mình cho là đúng, là “điển phạm”. Tôi thì không dám làm như vậy. Đành rằng tự điển là phải lựa chọn, phải chắt lọc, phải xiển dương cái đúng. Tuy nhiên, trong khá nhiều trường hợp, nhất là những đối tượng cổ truyền, không phải bao giờ cũng ngay một lúc có thể xác định đúng sai, mà có khi phải chấp nhận tình trạng “lưỡng khả”. Tôi đã xử lý như vậy đối với không ít trượng hợp về cấu trúc của chữ, về giải nghĩa và phiên âm chữ Nôm, ngõ hầu độc giả có chút “dư địa” để ngẫm nghĩ và tự lựa chọn.           Tự điển Chữ Nôm dẫn giải gồm hai tập, dày  2.323 trang, sưu tầm 9.450 chữ Nôm, trên vốn tư liệu gồm 124 tác phẩm và  văn bản khác nhau. Theo giới chuyên môn, đây là bộ tự điển chữ Nôm đồ  sộ nhất, khoa học nhất cho đến nay. Trước khi biên soạn bộ tự điển này,  tác giả đã nghiên cứu toàn diện về chữ Nôm, trình bày trong Khái luận  văn tự học Chữ Nôm (NXB Giáo dục, 2008); và bộ Tự điển Chữ Nôm dẫn giải  là sự ứng dụng lý thuyết của chuyên luận đó vào việc sưu tầm, khảo sát,  phân loại và phân tích cụ thể cho từng chữ Nôm được ghi nhận.        TTD: Được biết Giáo sư đã thực hiện công trình này một mình, và không nhận được khoản tài trợ nào cả?  NQH: Đơn giản thôi, vì tôi không dám làm phiền người khác và cũng không muốn ai làm phiền mình trong công việc này.  TTD: Xin Giáo sư nói cụ thể hơn được không?  NQH: Chẳng qua là tôi muốn tự do làm việc. Làm nghiên cứu khoa học mà thoát khỏi những sự phiền lụy, ràng buộc, được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu. Với công trình biên soạn này, tôi không xin tài trợ của các cơ quan nhà nước, vì tôi sợ đang loay hoay tra cứu, mải mê suy ngẫm, hý hoáy gõ chữ, thì bộ phận hành chính tài vụ kêu phải kê khai này tờ này tờ nọ, rồi xét duyệt từ dưới lên trên, kiểm tra giữa kỳ, rồi giải trình kinh phí, hội đồng nghiệm thu các cấp, và đánh giá, xếp loại, v.v.   Còn nói “làm một mình” là có ý trỏ đây không phải là công trình tập thể, bày ra cho nhiều người làm, chứ không có nghĩa tôi không cần ai giúp đỡ, như trong việc sưu tầm tư liệu hay trong khâu chế bản điện tử bản thảo chẳng hạn, không nhờ vả không được. Không biết các công trình khác thế nào, chứ làm tự điển như tôi mà bày vẽ ra làm tập thể, nhiều khi cũng oải lắm. Tôi đã “ngấm” rồi. Huống hồ đã không có tài trợ, thì lấy tiền đâu để “chia sẻ” với anh em trong nhóm.   TTD: Dẫu sao thì làm khoa học vẫn phải cần đến kinh phí lớn mới có được tác phẩm lớn chứ, thưa Giáo sư.   NQH: Đúng vậy. Có được kinh phí từ đâu đó “rót” xuống cho mình để làm khoa học thì tốt quá. Nhưng làm sao bớt bớt đi những thủ tục giấy tờ hành chính, giảm bớt đi cho học giả những căng thẳng ngoài chuyên môn của họ, thì hiệu quả công việc sẽ khả quan hơn. Giá có cơ quan nào hoặc doanh nghiệp hay đại gia nào, một khi đã tín nhiệm học giả nào đó rồi, thì mở hầu bao tài trợ “không hoàn lại” cho học giả đó làm một công trình ra tấm ra món, và đứng ra in cho nữa, thì hay biết mấy. Thì cũng như các vị ấy bỏ tiền ra làm giải thưởng cho hoa hậu thôi mà. Nghiên cứu cần tiền đã đành, nhưng đến khâu in ấn công trình cũng đòi hỏi kinh phí bất ngờ: Nếu Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Hoa Kỳ) không tài trợ 15.000 USD và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam không chi hơn 3.600 USD nữa cho việc xuất bản thì bộ Tự điển Chữ Nôm dẫn giải của tôi làm sao có thể ra mắt độc giả được. Tại đây, cho tôi xin ngỏ lời cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi thực hiện được công trình nghiên cứu và biên soạn của mình.  TTD: Trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này!        Cơ chế nào cho công trình khoa học cả đời?    Hiện  nay, chúng ta chưa có cơ chế nào của nhà nước để một cá nhân có thể làm  việc cả đời cho một công trình, như trường hợp của GS Nguyễn Quang Hồng  với các bộ tự điển chữ Nôm của ông. Chúng ta thích những dự án ngắn hạn  có kế hoạch, với hệ thống người làm việc có ban bệ, lớp lang, theo  những nguyên tắc giải ngân nhất định. Trong khi đó, việc ấp ủ và thực  hiện những công trình lớn lại cần sự tự do về tư duy, tự do về thời  gian, tự do về tiến độ, tự do về… ngân sách. Làm khoa học có đặc thù  riêng. Chỉ cần Nhà nước tin nhà khoa học, quản lý đầu ra sản phẩm, chứ  đừng quản lý quá trình làm việc. Có như vậy mới giải phóng được sức lao  động và năng lực sáng tạo. (Trần Trọng Dương)            Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học thiếu động lực?      Vấn đề then chốt cần giải quyết trong cơ chế quản lý khoa học hiện nay của Việt Nam là cán bộ khoa học thiếu động lực để nghiên cứu và người áp dụng khoa học công nghệ không có điều kiện để tiếp thu và sử dụng khoa học công nghệ.    Trong khi nền kinh tế Việt Nam đã được chia thành các thành phần hoạt động rất năng động trong đó kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài đóng góp lớn cho tăng trưởng chung, thực sự trở thành hai nhóm đối tượng chính có nhu cầu áp dụng khoa học công nghệ thì kinh tế nhà nước tuy chiếm tỉ trong lớn trong đầu tư công nhưng chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong tăng trưởng kinh tế chung và chưa thể hiện được nhu cầu cần thiết về khoa học công nghệ.   Hầu hết các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ là cơ quan công lập, nguồn vốn chủ yếu đầu tư cho nghiên cứu khoa học là tiền nhà nước. Bởi vậy, sự kết nối giữa nguồn sáng tạo khoa học công nghệ và nơi tiếp nhận khoa học công nghệ vẫn là một khoảng cách lớn, và cơ chế thị trường chưa hoạt động một cách hiệu quả. Các cơ quan nghiên cứu không có vị thế là người sản xuất và bán khoa học công nghệ. Đông đảo những người áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và kinh doanh không có tư thế của người mua khoa học công nghệ. Nhà nước cấp tiền cho các đề tài khoa học để làm ra các báo cáo, chưa hình thành các sản phẩm khoa học công nghệ cụ thể sẵn sàng đưa vào ứng dụng. Các hội đồng khoa học do các nhà nghiên cứu tham gia là người xác định kết quả nghiên cứu chứ không phải giá cả mua bản hình thành từ hiệu quả áp dụng công nghệ đem lại do tiến bộ kĩ thuật. Cán bộ khoa học làm việc trong các cơ quan công lập trông đợi vào quyền lợi do thăng chức hoặc số đề tài được giao chứ không thể làm giàu và được coi trọng nhờ giá trị ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật hoặc giá trị khoa học của công trình.   Các cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm cấp phát vốn cho các viện nghiên cứu theo mức phân chia giàn đều nhằm duy trì bộ máy của các đơn vị. Kinh phí đề tài được giao theo kế hoạch hàng năm với cơ chế xin-cho hoặc dựa trên các hội đồng đấu thầu, chịu ảnh hưởng rất nhiều của các mối quan hệ cá nhân. Đây là những trở ngại đã kéo dài hàng chục năm không được giải quyết.   Giải pháp:  1.    Trao quyền tự chủ cho các cơ quan nghiên cứu công lập để các đơn vị này phải cạnh tranh theo cơ chế thị trường và có cơ chế buộc các đơn vị làm ăn kém hiệu quả phải giải thể, đơn vị làm ăn hiệu quả cao có thể tích lũy tái sản xuất để phát triển.  2.    Cán bộ nghiên cứu khoa học phải được đánh giá và thăng thưởng bằng kết quả nghiên cứu – tính bằng ý nghĩa khoa học theo tiêu chuẩn thế giới và hiệu quả ứng dựng cho bộ phận tiếp nhận.  3.    Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu của cả các cơ quan công lập và hỗ trợ cho cả các cơ quan thuộc thành phần kinh tế khác.  4.    Kinh phí nghiên cứu khoa học thuộc khối ngân sách do các quỹ độc lập quản lý có tỉ lệ hàng năm phân chia hợp lý cho ba mục đích: Các đề tài nghiên cứu cơ bản và các đề tài nghiên cứu cho mục đích công cộng; các đề tài mục đích thuần túy khoa học; hỗ trợ cho các đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng mà sản xuất yêu cầu. Mỗi đề tài trên có cơ chế và cấp phát khác nhau, do người sử dụng tiến bộ kĩ thuật hoặc người đại diện của họ quyết định việc lựa chọn người thực hiện và đánh giá kết quả.  —   (*) Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp, Bộ NN&PTNT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà khoa học trẻ chịu nhiều sức ép      Các nhà nghiên cứu trẻ đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn so với những thế hệ trước vì “miếng bánh” học thuật nhỏ đi.    Các nhà khoa học và những người hoạch định chính sách trên toàn thế giới ngày càng lo ngại về tình thế khó khăn của những nhà nghiên cứu trẻ trong môi trường học thuật và nguyên nhân của mối lo này là rất hiển nhiên. Mức độ cạnh tranh để vào những vị trí có biên chế (tenure) đã tăng lên, và một số nhà nghiên cứu mới bắt đầu sự nghiệp phải đối mặt với tỉ lệ thành công rất thấp trong công cuộc tìm kiếm nguồn tài trợ. Kết quả là, nhiều người thấy rằng những gì họ nhận được chưa tương xứng với nỗ lực của họ trong việc chuẩn bị và viết đề xuất tài trợ. Mặc dù mọi người đều chịu sức ép, nhưng những người vừa mới bắt đầu sự nghiệp khoa học dường như cảm thấy những tác động này sâu sắc hơn.  Số người có bằng chuyên sâu về khoa học và kĩ thuật đang tăng lên trên toàn thế giới. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) ghi nhận sự gia tăng số lượng tiến sĩ trong các ngành liên quan đến khoa học, những người theo đặc thù sẽ đổ vào các vị trí học thuật. Những nước thành viên OECD có số lượng tiến sĩ đông nhất năm 2014 là Mỹ, Đức, Anh và Nhật Bản với tỉ lệ tăng trung bình hằng năm lần lượt là 4,3%, 0,8%, 6,2% và 0,7%. (Số người trẻ hoàn thành học vị tiến sĩ trên mọi lĩnh vực ở các nước thành viên OECD cũng đã tăng từ 0,8 lên 1,6% trong vòng chưa đến hai thập kỷ trở lại đây.) Trong khi đó, ở hầu hết các nước, mức tăng số lượng việc làm trong lĩnh vực học thuật không theo kịp tốc độ tăng số người sở hữu bằng tiến sĩ. Chẳng hạn như các trường đại học ở Mỹ mỗi năm chỉ tạo ra được 3.000 việc làm toàn thời gian mới.  Mức độ cạnh tranh xin tài trợ cũng ngày càng khốc liệt. Tài trợ của chính phủ dành cho nghiên cứu giữ nguyên hoặc giảm ở nhiều nước. Một số tổ chức tài trợ lớn chỉ đáp ứng 20% số hồ sơ xin tài trợ, tỷ lệ này năm 2015 ở National Institutes of Health – NIH (Mỹ) chỉ vào khoảng 19%; còn ở European Research Coucil là gần 15%.  Những nhà khoa học mới bước chân vào nghề phải vật lộn để cạnh tranh với những nhà khoa học có kinh nghiệm, hiểu rõ hệ thống hơn, có nhiều mối quan hệ trong giới học thuật và giới quản lí, và có nhiều công bố hơn. Thống kê của Medical Research Council – thuộc Research Councils, Anh – cho thấy những nhà khoa học trẻ có tỉ lệ xin tài trợ thành công ở tổ chức này thấp hơn, cụ thể, tỷ lệ xin tài trợ thành công ở độ tuổi 20-39 là 20%; 40-49: 23%; trên 50: gần 25%.  Có những thống kê cho thấy, những nhà khoa học nhiều tuổi hơn giành được phần lớn các khoản tài trợ nghiên cứu – đây là một thay đổi rõ rệt so với 30 năm trước. Ví dụ, theo khảo sát của NIH, trung bình một nhà khoa học ở độ tuổi 24-40 nhận được tài trợ 4.000 USD, trong khi nhà khoa học ở độ tuổi 41-55 nhận được gần 8.000 USD và nhà khoa học ở độ tuổi 56-70 nhận được hơn 14.000 USD. Mặc dù NIH đã tìm cách san phẳng tỷ lệ xin tài trợ thành công giữa các độ tuổi bằng cách hỗ trợ thêm những người xin tài trợ lần đầu, nhưng thống kê từ năm 2000 cho thấy, độ tuổi trung bình mà các nhà khoa học có học vị tiến sĩ lần đầu nhận được khoản tài trợ quan trọng là vào khoảng năm 42 tuổi (hình 1).      Hình 1: So sánh độ tuổi các nhà khoa học thành công khi xin tài trợ lần đầu của NIH. Nguồn: NIH  Ít thời gian cho nghiên cứu  Tỉ lệ xin tài trợ thành công thấp có nghĩa là các nhà nghiên cứu phải dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm tài trợ. Một khảo sát do Nature tiến hành hồi đầu năm nay cho thấy các nhà nghiên cứu ở mọi độ tuổi chỉ dành khoảng 40% thời gian thực sự cho nghiên cứu. Thời gian còn lại được phân chia cho: giảng dạy (20%), viết bài nghiên cứu (16%), công việc hành chính (11%), viết đề xuất xin tài trợ (10%), và lưu trữ dữ liệu (5%). Trong tất cả các nhóm được khảo sát, có hơn 60% số người được hỏi cảm thấy thời gian dành cho những việc hành chính đã tăng lên trong vòng năm năm qua. Những nhà nghiên cứu ở độ tuổi 45-64 là nhóm có tỷ lệ cao nhất cho rằng thời gian dành cho các công việc hành chính tăng rõ rệt. Thời gian thực tế của nhóm này dành cho nghiên cứu cũng thấp dưới mức trung bình.  Bất chấp nhiều thách thức như vậy, hơn 60% các nhà khoa học trẻ (độ tuổi 25-34) vẫn nói họ mãn nguyện hoặc rất mãn nguyện với công việc của mình. Nhưng những nhà khoa học cao tuổi mới là những người hạnh phúc nhất, với tỷ lệ 81% các nhà khoa học ở độ tuổi trên 65 cảm thấy mãn nguyện hoặc rất mãn nguyện trong công việc.  Vũ Thanh Nhàn dịch  Nguồn:  http://www.nature.com/news/young-scientists-under-pressure-what-the-data-show-1.20871    Author                Vũ Thanh Nhàn        
__label__tiasang Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1: An toàn với công nghệ 3+      Được lựa chọn là nhà cung cấp công nghệ cho  Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 của Việt Nam, ông S. A. Boyarkin –  Giám đốc các Chương trình Đầu tư cơ bản của Tập đoàn Năng lượng hạt nhân  Nhà nước Nga (Rosatom) – khẳng định công nghệ do tập đoàn cung cấp cho  Việt Nam là công nghệ an toàn hàng đầu hiện nay.    Được biết Rosatom sẽ sử dụng công nghệ thế hệ 3+ để cung cấp cho dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Xin ông chia sẻ đôi nét về công nghệ này?  Thiết kế của nhà máy điện hạt nhân thế hệ 3+ là công nghệ nước áp lực (VVER), xét về mức độ an toàn hơn hẳn thiết kế thế hệ 2. Cụ thể, khu vực đảm bảo an toàn trong trường hợp xảy ra sự cố cách nhà máy 800m nên các chất phóng xạ và chất thải phóng xạ được giữ, cô lập hoàn toàn trong phạm vi nhà máy. Các rào cản chất phóng xạ sẽ được sắp đặt kế tiếp như búp bê gỗ Matrioska của Nga, con to ở ngoài, con nhỏ ở trong. Tất cả những chất phóng xạ phát sinh đầu tiên, thanh nhiên liệu, bể chứa thanh nhiên liệu đã qua sử dụng sẽ nằm trong con búp bê nhỏ nhất phía trong. Trường hợp con búp bê nhỏ nhất bị phá vỡ thì con búp bê bên ngoài sẽ đảm nhiệm chức năng bảo vệ.  Ngoài ra, các nhà máy điện hạt nhân do chúng tôi xây dựng đều có một loạt chương trình, hệ thống đảm bảo an toàn chủ động và thụ động. Hệ thống đảm bảo an toàn thụ động hoạt động không cần sự hỗ trợ của điện áp từ bên ngoài. Hệ thống này hoạt động theo nguyên lý tự nhiên như nguyên lý trọng lực hay trao đổi nhiệt tự nhiên, người vận hành không thể can thiệp, tắt hoặc mở các hệ thống. Khi nhiệt độ trong lò phản ứng đạt đến một mức độ nhất định thì các hệ thống đó khởi động.  Một ưu thế khác nữa là, trong các nhà máy điện hạt nhân đều xây dựng hệ thống cô lập chất nóng chảy, gọi là “bẫy nóng chảy”. Bẫy nóng chảy hoàn toàn không có trong thiết kế các nhà máy điện của Pháp hay Mỹ. Với sự lắp ráp và hoạt động của hệ thống cô lập nóng chảy, sự cố dù xảy ra với mức độ nào và biến đổi như thế nào thì chất nóng chảy cũng không thể vượt ra khỏi phạm vi của lò phản ứng phóng xạ. Cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) đã công nhận hệ thống cô lập nóng chảy là hệ thống an toàn nhất thế giới.  Rosatom đã áp dụng hệ thống này cho nhà máy điện hạt nhân nào, thưa ông?  Năm 2005, chúng tôi bắt đầu áp dụng hệ thống này tại nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc.Trong thời gian gần đây, chúng tôi đã lắp ráp, thi công và đưa vào hoạt động tại nhiều nhà máy điện hạt nhân của Nga. Hai hệ thống cô lập nóng chảy được lắp ráp tại 2 tổ máy ở thành phố Leningrad và sẽ được khởi động vào năm 2014 – 2015. Chúng tôi cũng sẽ lắp 1 hệ thống như vậy tại nhà máy điện hạt nhân Baltic ở thành phố St Pstersburg, khởi động vào năm 2016 – 2017. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng bẫy nóng chảy tại 4 tổ máy của nhà máy điện hạt nhân ở Thổ Nhĩ Kỳ.  Sau sự cố điện hạt nhân Fukushima, vấn đề an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân rất được dư luận quan tâm. Ngoài công nghệ, những công tác để đảm bảo an toàn cho dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam được triển khai ra sao?  Hiện tại, Rosatom đã hoàn thành hồ sơ đánh giá mức độ an toàn của địa điểm xây dựng Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Các công việc về khảo sát địa điểm, báo cáo tiền khả thi trước khi xây dựng đều được tiến hành theo đúng lộ trình nhằm đảm bảo mọi điều kiện an toàn cho Nhà máy.  Đồng thời, hệ thống văn bản pháp quy nhằm đảm bảo an toàn trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam đã và đang được Cục An toàn bức xạ hạt nhân – Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam thiết lập với sự phối hợp chặt chẽ của phía Nga. Chính phủ Việt Nam và Nga cũng đang phối hợp xây dựng Trung tâm KHCN hạt nhân.  Về phần mình, Rosatom sẽ hỗ trợ Việt Nam trong quá trình vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa và cải tiến những công nghệ cần thiết khác cho nhà máy. Sau khi hết chu kỳ hoạt động, các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng sẽ để lại tại Việt Nam trong 3 năm, sau đó chuyển về Nga xử lý hoặc tái chế tại các nhà máy chuyên sử dụng để thanh lý. Đó là sự hỗ trợ toàn diện của nước Nga trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.  Đề nghị ông cho biết cụ thể hơn về hợp tác Việt Nam và Nga trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực vận hành nhà máy?  Để xây dựng và vận hành Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1, ở cả 2 tổ máy cần khoảng 1.500 người, trong đó có 300 công nhân, 700 kỹ sư, 300 người làm việc ở các đơn vị giám sát, các chuyên gia thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan.  Để hỗ trợ Việt Nam xây dựng lực lượng này, hiện nay, mỗi năm, Chính phủ Nga phối hợp đào tạo khoảng 100 sinh viên Việt Nam theo học các trường đại học chuyên ngành điện hạt nhân tại Nga, thuộc các lĩnh vực vận hành, xây dựng, giám sát…. Ngoài ra, các chuyên gia thuộc các Bộ, ngành, viện nghiên cứu của Việt Nam trong quá trình làm việc với các chuyên gia Nga cũng được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tại các trung tâm thực nghiệm, cùng chia sẻ kinh nghiệm về điện hạt nhân. Vì vậy, trong 10 năm tới, chắc chắn Việt Nam sẽ đào tạo được đủ nhân lực để vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.    Xin cảm ơn ông!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nghiên cứu về sinh sản vô tính trên động vật Trung Quốc bị kết án 12 năm tù      Li Ning, một nhà nghiên cứu về sinh sản vô tính bị bắt giữ vào năm 2014 vì bị cho là biển thủ hàng triệu tiền ngân sách đầu tư cho nghiên cứu.      Một tòa án Trung Quốc đã tuyên án 12 năm tù với Li Ning, 5 năm sau khi nhà nghiên cứu này bị bắt giữ vì bị cho là biển thủ hàng triệu tiền từ ngân sách dành cho nghiên cứu. Trợ lý của Li là  Zhang Lei cũng phải đón nhận một án phạt hơn 5 năm tù.  Vào ngày 3/1/2020, một toà án tại Cát Lâm đã kết luận là Lim, nguyên là nhà nghiên cứu tạ trường đại học Nông nghiệp Trung Quốc ở Bắc Kinh và thành viên của Học viện Kỹ thuật Trung Quốc (CAE), đã biển thủ 34,1 triệu nhân dân tệ (tương đương 4,9 triệu USD) từ những khoản đầu tư cho nghiên cứu từ tháng 7/2008 đến tháng 2/2012, và đầu tư số tiền đó vào công ty của mình, theo Tân Hoa xã. Ngân sách này liên quan đến những siêu dự án khoa học của Trung quốc. Tòa án này còn xác định Zhang đã giúp Li biển thủ ngân sách này, do đó đã bắt Li phải trả ba triệu tệ và Zhang là 200.000 tệ.  Trong suốt phiên tòa vào ngày 30/12, Zhang đã thừa nhận trách nhiệm của mình, theo Tân hoa xã. Dẫu vậy, Li chối biển thủ tiền bạc và nói rằng chỉ đầu tư khoản kinh phí chưa dùng đến với mục tiêu là để dành cho phần nghiên cứu trong những năm tới, theo Economic Observer. Tại thời điểm Li bị bắt giữ, tiền đầu tư cho dự án nghiên cứu đã được phân bổ chậm, vào cuối năm nhưng lại đi kèm với yêu cầu là phải giải ngân hết trong năm hoặc trả lại chính phủ. Luật sư của Li không phản hồi về câu hỏi của Nature về mức án của tòa. Một vài tờ báo Trung Quốc tường thuật là Li có vẻ như kháng án.  Li là một trong những nhà khoa học nổi tiếng hàng đầu Trung Quốc nhờ những công trình nghiên cứu về sinh sản vô tính trên động vật và biến đổi chúng về mặt di truyền. Nhóm nghiên cứu của ông đã thực hiện các kỹ thuật di truyền trên dê để nó có thể biểu thị một enzyme từ giun đất, và bò để biểu thị một protein sữa người, trong sữa của chúng. Trước khi bị bắt giữ, ông là nhà khoa học dẫn dắt một siêu sự án nghiên cứu về sinh sản vô tính và biến đổi gene trên động vật của Trung Quốc.  Li bị bắt giữ vào năm 2014, và một phiên tòa hai ngày để xử về vụ này được mở ra vào tháng 8/2015. Kể từ đó, ông bị giam giữ chờ đến phiên tòa thứ hai. Trong tháng 12/2018, 15 thành viên của CAE và Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã viết đơn kiến nghị tới chánh án Tòa án nhân dân tối cao của Trung Quốc, thúc giục tòa án giải quyết trường hợp của Li, trong đó có nhắc đến những thành công của Li.  Li chỉ là một trong nhiều nhà khoa học tại các trường đại học của Trung Quốc bị bắt giữ vào năm 2014 vì  việc lạm dụng công quỹ. Một số rút cục đã nhận tội, một số khác đã được thả ra mà không phải chịu án phạt.  Các chính sách đầu tư cho nghiên cứu và những điều chỉnh trong chính sách chỉ trở nên “dễ thở” hơn vào năm 2016, và các cơ quan nghiên cứu đã cho phép các nhà nghiên cứu được giữ lại các khoản kinh phí chưa dùng đến cho những nghiên cứu khác. Với một số ngân sách đầu tư, nhà nghiên cứu dẫn dắt nghiên cứu có nhiều quyền hạn hơn trong việc sử dụng kinh phí. Sun Yutao, nhà nghiên cứu về chính sách khoa học tại trường đại học công nghệ Dalian, cho biết việc quản lý ngân sách đầu tư cho nghiên cứu trước đây quá cứng nhắc và ông cảm thấy vui vì các quy định giờ đã trở nên thoải mái hơn với nhà nghiên cứu.  Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-020-00051-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước hỗ trợ khởi nghiệp: Bốn năm nhìn lại      Nếu lấy Techfest năm 2015 là mốc đánh dấu cho mối quan tâm của nhà nước đối với startup Việt Nam thì chúng ta đã trải qua bốn năm với nhiều thay đổi, qua đó bước đầu tạo dựng được một số nền tảng cơ bản trong đường lối, chính sách của nhà nước trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.      Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng. Ảnh: Hảo Linh  Báo Khoa học và Phát triển đã có buổi trao đổi với Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng về chặng đường quan trọng này.  Ngày nay vấn đề hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đã trở thành một đề án của Chính phủ, nhận được mối quan tâm rất lớn của các cấp chính quyền từ Trung ương tới địa phương, nhưng chỉ vài năm trước đây khởi nghiệp vẫn còn là khái niệm xa lạ ngay cả với phần lớn các nhà quản lý và những người hoạch định chính sách ở Việt Nam. Ông có thể chia sẻ cơ duyên nào đã khiến Bộ KH&CN trở thành cơ quan tiên phong thúc đẩy định hướng mới mẻ này?  Khoảng năm 2013, nguyên Bộ trưởng Hoàng Văn Phong, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Quân cùng tôi và một số người thuộc khối tư nhân (trong đó có chị Thạch Lê Anh – người điều hành khóa tăng tốc khởi nghiệp Vietnam Silicon Valley, chị Nguyễn Thị Hòe – chủ tịch tập đoàn sơn Kova) đã tổ chức hội thảo đầu tiên ở Vũng Tàu bàn về khởi nghiệp sáng tạo. Sau đó anh Quân, tôi và chị Lê Anh đã có dịp sang thăm thung lũng Silicon tại Mỹ và tìm hiểu về các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) ở đây. Bấy giờ mọi người mới nhắc đến khái niệm khởi nghiệp sáng tạo và tôi bắt đầu suy nghĩ về nó. Năm 2014, khi dự sự kiện Slush ở Phần Lan (sự kiện khởi nghiệp lớn nhất Bắc Âu), tôi mới có điều kiện hiểu rõ hơn tầm quan trọng của khởi nghiệp sáng tạo và thế giới đã làm như thế nào để khuyến khích điều đó.  Phần Lan là một đất nước rất nhỏ bé, với vài triệu dân thôi nhưng sự kiện Slush có tới 14 nghìn người tham dự từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có cả những lãnh đạo cấp cao như Phó Thủ tướng Trung Quốc, Thủ tướng của Estonia, Thủ tướng của Phần Lan. Những ý tưởng khởi nghiệp được trình bày ở đây khiến tôi rất ấn tượng. Chẳng hạn như, ở thủ đô Helsinki của Phần Lan, phổ biến tình trạng các thùng rác chưa đầy nhưng ô tô chở rác đã đến thu thập. Một cậu sinh viên đã đưa ra ý tưởng là lắp ở mỗi thùng rác ấy một cái sensor cảm biến có chức năng thông báo về cho trung tâm điều hành để biết khi nào các thùng rác đã đầy và ô tô chở rác có thể đến thu thập. Các bạn có biết là sáng kiến đó hằng năm tiết kiệm cho thủ đô Helsinki bao nhiêu tiền không? Tôi không thể hình dung được, người ta bảo là tiết kiệm được 5 triệu USD.    Một buổi giảng về đổi mới sáng tạo của GS Goran Roos do chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) tổ chức cho các nhà quản lý KH&CN và đổi mới sáng tạo. Ảnh: IPP  Chúng tôi thấy rằng những ý tưởng sáng tạo như vậy của mọi người được sử dụng và phát huy thì sẽ đem lại một sự thay đổi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí là tác động lớn đến các ngành, các lĩnh vực, đem lại lợi ích cho xã hội. Thế là tôi nói với ông Riku Makela, cố vấn cao cấp về Đổi mới sáng tạo của Chương trình IPP2 rằng nếu được, thì năm sau tôi sẽ thử tổ chức sự kiện tương tự như thế này để xem có thể thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam hay không. Và năm 2015, Bộ KH&CN đã phối hợp với ĐHQG Hà Nội tổ chức một sự kiện gọi là Techfest, bây giờ chúng ta đều biết đó là ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia. Đến năm 2016, chúng ta đã trình lên Thủ tướng đề án Hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đến năm 2020 được biết với tên gọi là đề án 844 để phê duyệt. Còn đến năm 2017, chúng ta còn được phê duyệt thêm một đề án hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên và một đề án khác hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp.  Trong bốn năm qua, những kết quả nào mà ông cảm thấy ấn tượng nhất?  Thứ nhất là chúng ta đã mở rộng được kết nối với quốc tế. Trong những năm trước, chúng tôi cũng đã mời những nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm từ nước ngoài tới tham dự Techfest nhưng năm nay họ mới có những hoạt động cụ thể và hiệu quả hơn. Năm nay cũng là năm đầu tiên Bộ KH&CN mời đại điện của Mạng lưới khởi nghiệp toàn cầu (GEN – Global Entreprership Network) tới Techfest. Sau ngày hội, nhiều tập đoàn, quỹ đầu tư lần đầu tiên vào Việt Nam trong số đó đã quay trở lại Bộ KH&CN làm việc và ngỏ ý hợp tác chẳng hạn như Plug and Play (một hệ thống vườn ươm/khóa tăng tốc khởi nghiệp nổi tiếng ở Silicon Valley) và Qualcomm, một trong những tập đoàn lớn nhất thế giới về sản xuất chip.  Thứ hai, tôi cũng cảm nhận được rằng hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp giờ đây đã nhận được nhiều sự quan tâm hơn của Đảng và Nhà nước. Chẳng hạn sự kiện Techfest 2018 vừa qua là do Bộ KH&CN phối hợp với Ban Kinh tế Trung Ương, Đoàn Thanh niên, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam VCCI tổ chức. Năm nay cũng là năm đầu tiên Thủ tướng đến được với sự kiện, chia sẻ những kì vọng đối với hệ sinh thái khởi nghiệp, là một sự động viên rất lớn đối với chúng tôi. Công việc hỗ trợ khởi nghiệp vì vậy đó không chỉ là trách nhiệm của riêng Bộ KH&CN. Đã có một sự chỉ đạo tổng thể, có hệ thống từ nhiều cơ quan nhà nước, tạo mọi điều kiện để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam.    Techfest 2015. Ảnh: BTC Techfest 2015.  Mặc dù có những kết quả tích cực như vậy, nhưng trong Techfest 2018, Thủ tướng đã thẳng thắn nhìn nhận rằng, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam vẫn chưa đủ hấp dẫn nên nhiều startup tiềm năng của Việt Nam lại lựa chọn Singapore làm nơi đăng ký kinh doanh. Vậy theo ông chúng ta cần có thêm những chính sách gì để thực sự thu hút nhiều startup?  Cách thức quản lý kinh tế của chúng ta có những điểm chưa thực sự khuyến khích các nhà đầu tư mạo hiểm. Chẳng hạn như, những nhà đầu tư nước ngoài sau một thời gian chuyển tiền vào Việt Nam để đầu tư muốn thoái vốn và chuyển tiền ra nước ngoài thì không hề đơn giản, phải qua rất nhiều thủ tục, quy trình và nhiều khi những quy định này không rõ ràng. Quan điểm của chính phủ nước ta là dòng tiền này phải quản lí thật chặt để tránh những trường hợp rửa tiền và vô hình trung điều đó gây ra những khó khăn cho sự phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam. Nhiều startup chia sẻ với tôi là vì vậy, họ chuyển sang đăng ký kinh doanh ở Singapore hoặc ở các nước Đông Nam Á khác, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những nhà đầu tư của họ.  Hay việc đánh thuế đối với hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo cũng là một vấn đề. Ai cũng biết rằng, đầu tư mạo hiểm mười dự án thì chín dự án thất bại, chỉ một dự án thành công nhưng những quy định về thuế của chúng ta không tính đến những điều kiện như vậy. Với một dự án thành công, nhà đầu tư được lãi mười đồng nhưng với chín dự án thất bại, họ có thể đã mất đi chín đồng. Rốt cục, họ chỉ lãi một đồng chẳng hạn nhưng hiện nay họ đang bị đánh thuế trên cả mười đồng, với mức thuế thu nhập doanh nghiệp hơn 20% thì tiền đóng thuế có khi còn cao hơn lãi mà họ có sau khi đầu tư mười dự án. Đó là điều rất thiệt thòi đối với nhà đầu tư.  Hơn nữa, cơ chế của chúng ta hiện nay không cho phép nhà nước tham gia đầu tư cho startup kể cả thông qua hình thức hợp tác với một quỹ tư nhân mặc dù Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành nghị định 38 trong đó có quy định việc “sử dụng ngân sách địa phương đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo”. Lí do rất đơn giản, đặc điểm của khởi nghiệp là chỉ có số ít các dự án thành công, phần lớn các dự án gặp thất bại, nhưng theo quy định hiện hành cơ quan nào quản lý các dự án thất bại sẽ bị coi là vi phạm luật ngân sách nhà nước, phải đối diện với bộ luật hình sự.  Ông có thể chia sẻ qua cách thức để khối nhà nước lắng nghe các phản hồi của cộng đồng khởi nghiệp và lộ trình để thay đổi những vấn đề trong các chính sách mà ông vừa nói?  Việc lắng nghe ý kiến của cộng đồng khởi nghiệp chủ yếu diễn ra thông qua các phiên đối thoại chính sách tại Techfest. Từ trước đến nay, tôi thường tham gia cùng với nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông ở các phiên này để giải đáp, trao đổi, chia sẻ các vướng mắc về chính sách. Với những vấn đề mà thực tế chưa giải quyết được tiếp nhận từ phía của người làm khởi nghiệp, chúng tôi đều nghiên cứu, xem xét tổng hợp lại. Trong quá trình xây dựng những văn bản pháp lí liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, chúng tôi sẽ tìm cách gỡ dần trong thẩm quyền của mình. Ví dụ khi xây dựng các nghị định hướng dẫn và các thông tư về Luật chuyển giao công nghệ, chúng tôi đều cố gắng đưa vào những nội dung hỗ trợ khởi nghiệp. Gần đây, chúng tôi đã báo cáo lên để Thủ tướng cho phép doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có thể nhận hỗ trợ từ Quỹ Đổi mới công nghệ của Việt Nam. Theo đó, họ có thể nhận được tài trợ và vay vốn để thực hiện những ý tưởng mới, mua sắm máy móc – trang thiết bị, sản xuất thử nghiệm.  Những vấn đề khác liên quan đến luật và thể chế kinh tế thì cần thời gian.  Vậy trong tương lai gần, quan điểm nhà nước về đầu tư cho khởi nghiệp sẽ như thế nào?  Hiện nay, trong đề án 844 có một nội dung về hỗ trợ các trung tâm ươm tạo khởi nghiệp. Theo đó, nhà nước có thể hỗ trợ cho các vườn ươm, khóa tăng tốc khởi nghiệp do tư nhân lập ra về mặt cơ sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin, chi phí vận hành…để họ có thể mở rộng dịch vụ cho nhiều đối tượng hơn, với chi phí ưu đãi hơn. Với cách này, ta vẫn hỗ trợ các startup mà không nhất thiết phải đầu tư trực tiếp cho họ và không vi phạm các quy định hiện hành của nhà nước.  Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không cần phải thay đổi những quy định tài chính hiện tại. Trong những lần gặp gỡ giữa Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam với nhóm làm khởi nghiệp và các bộ ngành có liên quan, các ý kiến đều được tổng hợp lại và giao lại cho Bộ Tài chính để xây dựng những cơ chế như thế. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên hiểu rằng hỗ trợ của nhà nước chỉ là “vốn mồi” – rất ít và chỉ nên dành cho giai đoạn đầu tiên phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của cả nước. Điều này cũng phù hợp với thông lệ của nhiều nước. Về sau, khi hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển hơn thì sẽ có sự tham gia mạnh mẽ hơn của nhiều nguồn lực khác từ xã hội như nhà đầu tư thiên thần, do các quỹ đầu tư mạo hiểm, do các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp của những tập đoàn và doanh nghiệp thành công. Tôi nhớ những người tổ chức sự kiện Slush ở Phần Lan từng chia sẻ rằng lúc đầu nguồn lực để tổ chức sự kiện cũng chủ yếu đến từ ngân sách nhưng gần đây phần hỗ trợ của nhà nước chỉ chiếm khoảng 10% mà thôi.  Có một điểm mới trong hỗ trợ của Nhà nước hai năm trở lại đây đó là chúng ta hỗ trợ cho hệ sinh thái khởi nghiệp của nhiều địa phương, những nơi còn rất hạn chế cả về nhân lực và chất lượng những startup. Trong khi có quan điểm cho rằng chúng ta chỉ nên tập trung vào hai nơi có hệ sinh thái đang phát triển là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?  Đúng là người ta thấy rõ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai nơi có nguồn lực tốt nhất, nhưng còn tinh thần khởi nghiệp thì chưa chắc. Đồng Tháp là một ví dụ. Tôi rất ngạc nhiên Bí thư Tỉnh Ủy của tỉnh này, anh Lê Minh Hoan cùng ngồi với tôi chia sẻ, trao đổi, giải quyết những những câu hỏi của những người làm khởi nghiệp tại tỉnh Đồng Tháp và mọi người rất hồ hởi. Một khi bí thư tỉnh ủy đã quan tâm, đã thấy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là động lực phát triển, đóng một vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội trên tỉnh mình thì tất cả cơ quan, sở ngành cũng đều thống nhất, và tạo điều kiện hết sức cho doanh nghiệp, cho đổi mới sáng tạo. Chính vì thế, tôi không nghĩ là chỉ nên tập trung vào Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.  Có những vùng chưa có kiến thức và con người khởi nghiệp nhưng tôi nhìn thấy tiềm năng. Ở đó cần những người lãnh đạo hiểu rằng đổi mới sáng tạo là con đường phát triển, đó là dùng khoa học và công nghệ, áp dụng những ý tưởng đổi mới sáng tạo, khuyến khích những lực lượng trẻ đi cùng với lực lượng doanh nghiệp đã có kinh nghiệm để hình thành nên những sản phẩm chủ lực của địa phương, không chỉ cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu. Như tôi nhớ là khi chúng ta áp dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo quản vải thiều của Bắc Giang nhằm đưa sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước, đã giúp tăng tổng giá trị của sản phẩm này của tỉnh từ 2.000 tỉ thành 5.500 tỉ, trong đó 3.500 tỉ là thuộc về người trồng vải thiều, còn lại là các dịch vụ gia tăng để đưa sản phẩm ra ngoài thị trường, chế biến và đến tay người tiêu dùng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tôi cũng đánh giá là rất tiềm năng vì đây là nơi sản xuất, xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp dựa trên thế mạnh của họ. Khi một khu vực đã có doanh số lớn trong sản xuất và xuất khẩu như vậy thì tư duy của doanh nghiệp và người nông dân cũng thay đổi, và họ sẽ sẵn sàng hơn trong việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học và công nghệ, các giải pháp đổi mới sáng tạo, theo đó các nhóm làm khởi nghiệp cũng sẽ có thị trường và cơ hội để phát triển.  Vì vậy, với trách nhiệm của Bộ, chúng tôi thấy phải quan tâm, phải ủng hộ, hỗ trợ cho tất cả các địa phương, các vùng.  Xin trân trọng cảm ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này!  Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/nha-nuoc-ho-tro-khoi-nghiep-bon-nam-nhin-lai/20190104084111298p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà nước và nhà khoa học phải tin nhau      Có thể nói, GS. TSKH Trần Xuân Hoài không chỉ là một nhà khoa học tài năng mà còn là người luôn đi “tiên phong” trong đổi mới quản lý khoa học. Với Tia Sáng, ông là một “cây bút” có nhiều bài về khoa học, giáo dục và văn hoá được độc giả quan tâm.  Nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Tia Sáng, GS. TSKH Trần Xuân Hoài đã trao đổi với Tia Sáng về mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm của một tổ chức KH&amp;CN công lập mà ông và một số nhà khoa học của Viện Vật lý ứng dụng đề xuất và thực hiện cách đây gần 30 năm.      Xin ông cho biết vì sao ngày đó ông và các cộng sự lại có ý tưởng xây dựng một tổ chức KH&CN hoạt động theo một cơ chế chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam?  Câu chuyện tự chủ, tự chịu trách nhiệm xuất phát từ thực tế nghiên cứu tại Viện Vật lý, nơi tôi công tác và lúc đó được giao trọng trách là Viện Phó thường trực, đồng thời cũng là Trưởng phòng thí nghiệm (PTN) Vật lý chất rắn, một PTN mạnh nhất lúc bấy giờ. Khi đó, Viện trưởng của Viện là GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu.    Vật lý là một ngành gắn liền với kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Nhưng vào thời điểm đó, trình độ sản xuất công nghiệp của đất nước ta lại ở mức thấp so với thế giới, vì vậy nhiều kết quả nghiên cứu của Viện chưa có điều kiện phát huy hết ưu điểm. Cũng một phần vì lý do này mà Việt Nam không có được những sản phẩm hàng hóa có hàm lượng khoa học cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần vào nâng cao đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Là người làm khoa học thực nghiệm, tiêu tốn khá nhiều tiền của nhà nước, chúng tôi suy nghĩ rất nhiều khi thấy những kết quả nghiên cứu của mình chưa được ứng dụng vào thực tiễn chứ không muốn chỉ làm theo kiểu báo cáo suông.        Cái khó lớn nhất trong đời làm khoa  học của tôi, cũng như của Viện tôi là làm sao thoát được sự đàn áp, trù  đập, gây khó khăn cho tập thể chỉ vì lòng đố kỵ nhỏ hẹp của một số lãnh  đạo khoa học giáo điều, chưa thoát khỏi ám ảnh quyền lực. Mà bạn biết  đấy, khoa học là tự do, là dân chủ, là bình đẳng, là tôn trọng mọi khác  biệt, rất xa lạ và dị ứng với áp chế quyền lực.          Hơn nữa, không chỉ riêng Viện Vật lý, môi trường quản lý khoa học của ta lúc bấy giờ tồn tại một số vấn đề mà theo tôi, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nghiên cứu. Đó là cung cách quản lý khoa học kiểu hành chính áp đặt cá nhân từ trên xuống bằng những mệnh lệnh duy ý chí, như mô hình Luxenco-Mitsurin ở Liên Xô mà chúng tôi thường gọi là “vua trong khoa học”, là cách “làm khoa học vì lãnh đạo cấp trên”, như cách một số vị khoa học nổi tiếng thời bấy giờ đã làm và khuyên mọi người theo. Chúng tôi cho rằng, muốn làm được khoa học tốt thì nhà nghiên cứu phải được tự do trong tư duy, phải được làm việc trong bầu không khí dân chủ.   Vậy ông đã có những kiến nghị gì với lãnh đạo Viện về cách quản lý khoa học?  Khi một số Ủy viên Bộ Chính trị đến Viện Khoa học Việt Nam (KHVN) làm việc, họ đã gặp và yêu cầu tôi phát biểu. Tôi đã thẳng thắn nói rằng, trong khoa học chỉ có quan hệ thầy trò, đồng nghiệp, không có khái niệm thứ bậc hành chính cấp trên, cấp dưới. Cũng như nhiều anh em khác trong Viện, tôi sang Âu, Mỹ làm việc từ khá sớm nên có được cơ hội tìm hiểu và học tập nhiều điều bổ ích. Vì vậy trong những cuộc họp nội bộ của lãnh đạo Viện, tôi đã nhiều lần phát biểu, những quy định về tổ chức hoạt động nghiên cứu của Viện cần “buộc” người lãnh đạo, phải tạo điều kiện cho cán bộ cấp dưới làm tốt hơn chứ không phải để “trói buộc” cấp dưới. Cần phải tạo ra một đột phá trong quản lý và nghiên cứu khoa học, nếu chúng ta thực sự muốn có một môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học ở trình độ cao, đạt hiệu quả, tiết kiệm nhất và thật sự có ích cho xã hội.   Chính vì lẽ đó mà vào năm 1987, 1988, tôi và một nhóm các đồng nghiệp thuộc PTN Vật lý chất rắn của Viện đã cùng nhau bàn bạc về việc thành lập một trung tâm nghiên cứu ứng dụng vật lý để chế tạo các vật liệu, linh kiện và thiết bị khoa học (gọi tắt là Trung tâm vật lý ứng dụng), hoạt động một cách “đàng hoàng” theo quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (khi đó chúng tôi gọi là “tự quản, tự chịu trách nhiệm”). Mục tiêu của Trung tâm là phải nghiên cứu ra những kết quả có thể dùng được trong sản xuất và đời sống xã hội và tìm mọi cách để chuyển giao cho các xí nghiệp, nhà máy chứ không phải là ứng dụng nửa vời như cung cách bấy lâu chúng ta vẫn quen làm. Nếu không thành công, chúng tôi sẽ kiên quyết tự giải thể. Đây là một ý định có phần bất bình thường, bởi chưa từng có một đơn vị, một tổ chức nào của khoa học Việt Nam thời điểm đó lại “dại dột” tự đặt mình vào thế bấp bênh trong khi có thể yên tâm ngồi nghiên cứu và hưởng tiền nhà nước đều đều.   Vậy ông đã xây dựng trung tâm đó theo mô hình nào để đạt được mục tiêu như vậy?  Theo kinh nghiệm thành công của nhiều quốc gia tiên tiến, việc sáng tạo trong nghiên cứu thường được giao cho những tập thể nhỏ của các nhà khoa học nhiều thế hệ, tập hợp nhau theo một định hướng khoa học xác định, tự quản, tự chịu trách nhiệm, và điều hành theo phương thức đơn giản, linh hoạt.  Vì vậy trong tờ trình đầu tiên gửi lãnh đạo Viện KHVN với lãnh đạo Viện Vật lý, tôi và một số anh em tâm huyết nói rõ là: “Chúng tôi nhận thấy cần thiết phải xây dựng ngay tại Viện Vật lý một cơ sở khoa học – sản xuất làm nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng triển khai, đưa vào sản xuất một số những thành tựu của vật lý ứng dụng hiện đại trên thế giới và ở nước ta, chủ yếu tại Viện Vật lý. Do vậy nó cần được xây dựng theo một mô hình lấy mục tiêu kinh tế – sản xuất là chính. Nó phải có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm cao cấp về vật liệu linh kiện và thiết bị, và đủ khả năng làm hạt nhân công nghệ trong liên kết với các cơ sở trong nước và liên doanh với nước ngoài. Cần phải lựa chọn hình thức tổ chức của trung tâm này đảm bảo đủ tư cách pháp nhân trong giao dịch nhưng không làm ảnh hưởng đến chức năng nghiên cứu khoa học của Viện Vật lý nói chung”. Trong điều kiện kinh tế hiện thời của Việt Nam, trung tâm nên bắt đầu từ hình thức nhỏ nhất là trực thuộc hoặc phối thuộc, như vậy sẽ đảm bảo tận dụng được ưu thế truyền thống của Viện Vật lý, sử dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực và hai mảng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển có thể tiếp tục hỗ trợ lẫn nhau.         Để khái niệm tự chủ, tự chịu trách  nhiệm tồn tại đúng bản chất của nó, nhà quản lý cần tạo ra một môi  trường hoạt động nghiên cứu minh bạch và rõ ràng, cởi mở và dân chủ, có  chế độ đãi ngộ tốt cho anh em nghiên cứu và tránh hiện tượng “xin cho”.          Chúng tôi đề nghị, trung tâm cần bao gồm xưởng sản xuất, phòng nghiên cứu phát triển, phòng đo lường và kiểm tra, phòng thiết kế và công nghệ…. Về nguyên tắc hoạt động, trung tâm chủ trương cố gắng lấy thu bù chi. Vốn hoạt động được lấy từ bốn nguồn chính là vốn đóng góp của cơ quan quản lý sản xuất và khoa học nhà nước trong và ngoài Viện Khoa học Việt Nam, vốn vay ngân hàng, vốn đầu tư cơ bản của nhà nước trả dần theo nộp khấu hao cơ bản và vốn vay hay tài trợ của nước ngoài. Về nhân lực, Trung tâm sẽ áp dụng cơ chế tuyển chọn hoặc mời cộng tác viên. Nếu hoạt động không hiệu quả kinh tế hoặc sau ba năm không có yêu cầu phát triển thành đơn vị độc lập, trung tâm sẽ tự giải thể.  Tôi được nghe một số cán bộ khoa học cùng thời với ông kể lại việc ông đề xuất mô hình tự quản, tự chịu trách nhiệm đã bị một số lãnh đạo Viện bác bỏ, bản thân ông bị gây khó dễ…   Đúng như vậy. Một số lãnh đạo cao cấp đã chỉ không chấp thuận mà còn cho rằng tôi có những ý nghĩ “ngược dòng” nên đưa đối tượng (tức là tôi) ra “đấu tố”, quy chụp một số tội danh. Lãnh đạo Viện Vật Lý cũng như của Viện KHVN lúc bấy giờ đã hành động quyết liệt đến mức tiến hành giải thể, sáp nhập phòng thí nghiệm, cử trưởng PTN mới để loại bỏ đối tượng (tức là tôi đấy, vì tôi đứng đầu PTN), nhân lúc tôi đang đi nước ngoài!  Tuy nhiên chúng tôi không nản lòng, bởi ngoài một số anh em làm công tác nghiên cứu, còn có một số lãnh đạo khác của Viện Khoa học Việt Nam cũng đồng tình với ý định của chúng tôi, dù không dám công khai. Đặc biệt, lúc tôi đang ở nước ngoài, hơn chục cán bộ khoa học trẻ của PTN đã ký tên vào một văn bản để ủng hộ những ý kiến đề xuất và bảo vệ trưởng phòng thí nghiệm của mình trước những quyết định có tính trù dập. Bước đường cùng, khi về nước, một lần nữa, vào tháng 2/1989, chúng tôi viết tờ trình gửi lãnh đạo Viện KHVN, trong đó nêu rõ “đề nghị tách PTN Vật lý chất rắn thành một PTN độc lập trên nguyên tắc tự quản tự chịu trách nhiệm…”. Tổ chức này tách khỏi Viện Vật lý và trực thuộc Viện KHVN, “trong điều kiện hiện nay, để nó được phát triển độc lập, không nên đặt nó dưới một sự quản lý hành chính của một đơn vị nào đã có sẵn”. Để tránh lặp lại việc làm khoa học theo kiểu hành chính, chúng tôi cũng đề xuất, người quản lý PTN chịu trách nhiệm điều hành trực tiếp, không hưởng lương chức vụ mà chỉ có trợ cấp trách nhiệm. Đồng thời tôi cũng xin từ chức, rút ra khỏi ban lãnh đạo Viện (nhưng không bỏ PTN). Sau nhiều lần thuyết phục không được, mấy anh chị em khoa học chúng tôi phải kéo nhau “đột nhập” vào cuộc họp liên tịch lãnh đạo Viện KHVN và Đảng ủy Viện KHVN (mà chúng tôi không được mời) để trình bày chính kiến của chúng tôi, yêu cầu sự trả lời rõ ràng của các cấp lãnh đạo. Cuối cùng dưới sức ép của tập thể, người lãnh đạo Viện KHVN đã phải miễn cưỡng chấp thuận với đề xuất của chúng tôi. Trên cơ sở đó, Trung tâm vật lý ứng dụng, tiền thân của Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học, ra đời vào 8/3/1989.   Trong bối cảnh như vậy, hẳn việc vận hành mô hình mới của ông gặp nhiều khó khăn?  Việc vận hành về chuyên môn một mô hình tổ chức hoàn toàn mới với Việt Nam không gặp quá nhiều khó khăn như mọi người tưởng. Với phương thức điều hành đơn giản và linh hoạt, chúng tôi đã đảm bảo được định hướng phát triển theo cả hai hướng quan trọng là phát triển nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các kết quả nghiên cứu với những địa chỉ cụ thể. Vào những năm 1990, dù với tay trắng và bị gây khó dễ, chúng tôi vẫn có nhiều công bố quốc tế đáng chú ý về năng lượng tái tạo, về quang điện hóa, kỹ thuật nano ôxít titan (TiO2) quang xúc tác…và nhiều công trình khác, qua đó, được mời tham gia nhiều hội nghị quốc tế và có điều kiện cập nhật nhiều thông tin công nghệ hiện đại, mở rộng liên kết hợp tác với các tổ chức nghiên cứu nước ngoài. Và số tiền tài trợ quốc tế nhờ đó cũng khá lớn. Xin nói thêm, những định hướng khoa học mà chúng tôi làm thời đó nay đang là “mốt” của rất nhiều cơ sở nghiên cứu hiện nay, họ nhờ đó đã “câu” được khá nhiều tiền của nhà nước.  Về việc tìm địa chỉ ứng dụng, với những uy tín nghiên cứu và mối quan hệ sẵn có, chúng tôi đã lần lượt đưa các kết quả nghiên cứu “chào hàng” ở nhiều nhà máy, xí nghiệp lớn, đó đều là những sản phẩm công nghệ như kính hiển vi quét đầu dò (SPM), màng Ti02 quang xúc tác, vật liệu từ Ferrit… chất lượng cao nhưng giá thành rẻ vì làm từ nguyên vật liệu trong nước. Có thời vật liệu từ Ferrit của Viện chúng tôi chiếm lĩnh phần lớn thị trường Việt Nam, có nhiều ứng dụng trong sản xuất như làm nam châm trong đồng hồ đo điện của nhà máy Điện cơ Hà Nội, loa và các dụng cụ dạy học, rơ le sản xuất nồi cơm điện … Có thời chúng tôi phối hợp với các cơ sở sản xuất đúc hàng trăm tấn bi hợp kim cứng nghiền xi măng chất lượng cao cho nhà máy Xi măng Bỉm Sơn khi bị Liên Xô cắt nguồn cung cấp (vì sụp đổ). Chúng tôi cũng nghiên cứu chế tạo khá nhiều thiết bị khoa học cao cấp theo đơn đặt hàng chuyên biệt, việc này cũng đem lại doanh thu tốt… Tìm được đầu ra cho các sản phẩm nghiên cứu, chúng tôi đã đạt được mục tiêu đề ra khi thành lập trung tâm là không ứng dụng nửa vời và chứng minh cho xã hội thấy mình không phải là người làm khoa học viển vông. Và dĩ nhiên, chúng tôi có thể tạm sống khiêm tốn bằng chính trí lực của mình. Vì vậy, Trung tâm Vật lý ứng dụng không những không phải giải thể mà còn tạo được nền móng vững chắc để sau này chuyển đổi thành Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.   Chúng tôi đúc rút ra một điều: Làm ra đồng tiền để sống không dễ nhưng không phải không làm được, miễn là anh có thực nghề trong tay, có công nghệ, có tri thức, uy tín cộng với đam mê thì sẽ làm nên được thương hiệu, qua đó có thể thương mại hóa sản phẩm một cách đàng hoàng.   Qua việc hình thành và vận hành mô hình Trung tâm Vật lý ứng dụng theo mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong những năm 1990, ông rút ra được bài học kinh nghiệm gì về quản lý và nghiên cứu khoa học?  Tôi cũng từng phải kinh doanh khá thành công để nuôi sống cho PTN, và thấm thía rằng một đồng tiền làm ra từ kết quả khoa học khó hơn, quý hơn vạn lần đồng tiền làm ra bằng kinh doanh nước bọt, dù biết rằng tiền nào cũng là tiền. Nhìn xa hơn, dưới góc độ quản lý, để phá vỡ thế trì trệ trong nghiên cứu, cần phải thay đổi cơ chế mới có thể khuyến khích việc “làm thật, hưởng thật”, một nguyên tắc đơn giản có thể áp dụng trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội. Chúng tôi quan niệm rằng, nhà nước cần phải đầu tư lớn cho khoa học, nhưng phải là đầu tư có trách nhiệm và ngược lại, nhà khoa học – nhà quản lý, những đối tượng được thụ hưởng sự đầu tư này, cũng phải giữ tinh thần chi tiêu có trách nhiệm. Khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệm nghĩa là sử dụng đồng tiền đầu tư của nhà nước một cách có trách nhiệm, mà muốn sử dụng đồng tiền có trách nhiệm thì nhà quản lý cũng nên tạo điều kiện cho anh em nghiên cứu được tự chủ làm nghiên cứu và quyết định làm thế nào để kết quả nghiên cứu được sử dụng. Một giáo sư người Đức, làm cố vấn cho cơ quan quản lý Việt Nam nhiều năm, đã nói thầm với tôi: “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan khoa học là điều tất nhiên, nước Đức và cả thế giới văn minh đã làm từ lâu, sao Việt Nam lại rộ lên chuyện này như một phát minh vậy!”  Sau mấy chục năm gắn bó tận tụy với nghề khoa học, ông trăn trở điều gì nhất?  Nghĩ lại thì thấy mình đã làm hết sức có thể, sẵn sàng từ bỏ địa vị và danh vọng cho niềm tin của mình. Ngay khi đương chức, tương lai rộng mở, mình đã không ngần ngại nói lên và trực tiếp thực hiện những ý kiến “không hợp thời” của mình. Như Einstein đã nói “một tiếng nói đơn lẻ luôn luôn chìm trong tiếng ồn ào của số đông” nhưng tôi vẫn hành động dù đơn lẻ. Hệ lụy, mất mát đối với tôi là không nhỏ, nhưng cuối cùng thì chúng tôi vẫn còn sống, còn may mắn hơn so với nhiều đồng nghiệp tài năng khác đã bị vùi dập. Chúng tôi được nhìn thấy một phần những gì mình cố gắng làm, dù bị cho là ngược đời, thì nay đã được những người hiểu biết nhìn nhận là việc nên làm, muộn còn hơn không! Cái đáng tiếc là đã phải dành phần lớn tài năng, sức lực và thời gian sáng tạo để đấu tranh cho sự sinh tồn của mình và tập thể, cũng là cho khoa học chân chính (hay là niềm tin ngây thơ) chống lại những hành xử của một số “học phiệt” quản lý khoa học bằng quyền lực phi lý. Tôi chỉ mong sao cho lớp trẻ ngày nay không phải chịu đựng như vậy nữa, để có thể dành thời gian và trí tuệ cho đam mê sáng tạo khoa học.   Xin cảm ơn ông !        Những yếu tố mấu chốt để phát huy hiệu quả cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm               Trong  những năm gần đây, khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã được đưa  vào đời sống khoa học Việt Nam một cách bài bản thông qua việc thể chế  hóa bằng nghị định, văn bản chính sách. Thông qua thực tiễn, tôi thấy  rằng, để phát huy hiệu quả cơ chế này, trước hết cần người lãnh đạo phải  là người có tài, có bản lĩnh chịu trách nhiệm, đem lại mái nhà chung  cho các nhà nghiên cứu (có tài) yên tâm làm việc. Khi đó, người cán bộ  nghiên cứu có tài không phải sống nhờ hay trông chờ vào “sự cưu mang”  của lãnh đạo tổ chức mà ngược lại, góp phần xây dựng tổ chức bằng công  sức lao động trí óc của mình. Mặt khác, cần phải có sự nỗ lực từ hai  phía: cơ quan quản lý nhà nước và nhà khoa học. Từ phía nhà nước, cần  phát hiện ra những tổ chức xứng đáng đầu tư và trao quyền tự chủ về cả  tổ chức nhân sự, định hướng nghiên cứu lẫn sử dụng kinh phí, tránh  chuyện can thiệp quá sâu vào công tác nghiên cứu. Những tổ chức đó phải  là tập hợp những người có tài, những người biết làm thật, nếu không  tuyển được họ, tức là không có người làm được việc, thì không thể tự  chủ, mà đã không tự chủ được thì không thể chịu trách nhiệm được. Về  phía nhà khoa học, đó phải là những người đam mê khoa học, trung thực và  có tinh thần cầu tiến. Hai nhà, nhà nước và nhà khoa học, đều phải có  niềm tin lẫn nhau, đây chính là gốc rễ của tinh thần tự chủ, tự chịu  trách nhiệm.                             GS.TSKH. Trần Xuân Hoài          Thanh Nhàn thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhà quản lý khoa học      Có thể nói, hiện nay các nhà quản lý khoa  học có phẩm chất như GS Phạm Đức Dương (trong bài: Tôi chỉ là người giúp  việc cho các nhà nghiên cứu – Tạp chí Tia Sáng số 06 ngày 20/3/2014)  ngày càng hiếm. Vì sao vậy?     Trước hết là một thời gian dài trước đây,  chính sách, mô hình và cơ chế quản lý khoa học có những bất cập đã tạo “cơ hội” cho những người đứng đầu tổ chức khoa học – công nghệ vốn đã yếu cái tâm, không phải là người giúp việc cho các nhà nghiên cứu, mà thường là các ông “quan” có đặc quyền ban phát kinh phí, đề tài, dự án nghiên cứu, v.v, biến mối quan hệ giữa nhà quản lý và nhà khoa học thành quan hệ cấp trên – cấp dưới… Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tiêu cực trong hoạt động khoa học, và làm tha hóa không ít cán bộ quản lý.    Mặt khác, những người có trách nhiệm trong bổ nhiệm cán bộ quản lý khoa học, thường đánh đồng giữa kỹ năng chuyên môn (của nhà khoa học) với kỹ năng quản lý – lãnh đạo. Bởi vậy, không ít người rất giỏi về chuyên môn khoa học, được thừa nhận quốc tế, nhưng thiếu các phẩm chất, kỹ năng quản lý, khi được ưu ái đặt lên ghế lãnh đạo, một mặt họ không còn thời gian làm chuyên môn, bị mai một dần khả năng, động lực sáng tạo, mặt khác không thể tổ chức được bộ máy hoạt động tốt, thậm chí làm “hỏng” cả một tổ chức nghiên cứu.   Để thay đổi thực trạng trên, chúng ta phải chấm dứt sự nhầm lẫn trong việc trọng dụng và sử dụng nguồn nhân lực KHCN, phân định rõ vai trò chức năng của nhà khoa học và nhà quản lý, đồng thời đánh giá đúng năng lực chuyên môn của từng người bằng cách dựa vào các tiêu chí chuẩn mực theo thông lệ quốc tế.  Đối với các nhà khoa học, cần đánh giá năng lực chuyên môn qua các tiêu chí: Công bố khoa học (tạp chí uy tín có hệ số ảnh hưởng IF cao, kèm theo đó là hệ số H cao); Khả năng “xin” tài trợ trong nước và quốc tế (đương nhiên các tài trợ quốc tế được đánh giá cao); Uy tín và khả năng phục vụ cộng đồng (tham gia, được mời chủ trì hoặc báo cáo tại hội nghị hội thảo trong nước và quốc tế); Tham gia hoặc được mời biên tập cho các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Đây là những tiêu chí làm căn cứ để các nhà khoa học được bố trí, sắp xếp vào các vị trí chuyên môn phù hợp và được cấp nguồn kinh phí cần thiết cho công việc nghiên cứu của mình. Cơ sở minh bạch này sẽ giúp hạn chế bớt tình trạng ban phát bổng lộc theo cơ chế xin-cho và khiến các nhà quản lý không thể lạm quyền, đưa ra những quyết định thiên vị theo chủ kiến riêng.   Về phía nhà quản lý, việc đánh giá năng lực cần dựa trên các tiêu chí:  i) Ngoài bằng cấp về KHCN (bằng tiến sỹ hay thạc sỹ, nhưng không nhất thiết phải có học vị GS hay PGS) phải được đào tạo bài bản về quản lý KHCN; ii) Có kinh nghiệm năng lực quản lý KHCN thông qua các vị trí đã giữ (được chuyên gia có uy tín xác nhận và tiến cử, được cộng động KHCN ủng hộ); iii) Có phẩm chất tốt được thể hiện trong quan hệ với cộng đồng KHCN. Đây là những tiêu chí cần thiết khiến các lãnh đạo biết lắng nghe các ý kiến đóng góp của giới khoa học, tạo dựng một môi trường dân chủ, cởi mở hơn trong môi trường quản lý khoa học và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà khoa học trong công việc chuyên môn của họ.  Cuối cùng, bất kể sự bổ nhiệm nào cũng cần được thực hiện thông qua một hợp đồng, trong đó quy định rõ bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi của người được bổ nhiệm (vào vị trí làm chuyên môn hoặc làm quản lý). Qua thời gian định kỳ đánh giá theo tiêu chí trên đây, nếu không đáp ứng được các yêu cầu mà hợp đồng đặt ra thì người đó phải rút lui để người khác xứng đáng hơn đảm nhận cương vị của mình.              Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhận diện các đề tài – dự án “MỞ”  từ kinh phí của nhà nước      Khi mà MỞ trở thành xu thế tất yếu trên thế giới ngày nay, thì việc có nhiều đề tài – dự án có liên quan tới nghiên cứu, phát triển và triển khai theo hướng mở được xây dựng ở nhiều nơi là điều có thể nhìn thấy trước được, nhất là trong khu vực nhà nước, từ nguồn kinh phí của nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những đề tài – dự án tuân thủ triết lý và các nguyên tắc của MỞ, chắc chắn cũng sẽ có nhiều đề tài – dự án ăn theo chữ MỞ hợp thời trang đó, dù chúng chẳng MỞ chút nào.      Hình 1. Các khía cạnh của tính mở1  Thế nào là dự án MỞ thật?  Bên dưới đây sẽ nêu ra các đặc tính của MỞ mà bạn rất dễ để nhận diện các đề tài – dự án có là MỞ hay không thông qua việc đọc nội dung các tài liệu của đề tài – dự án có sử dụng ngân sách của nhà nước, về bản chất là sử dụng tiền của những người dân đóng thuế.  Khái niệm về tính mở  Tính mở được thể hiện trong các lĩnh vực xã hội khi mà mọi người đều được: (1) tự do sử dụng; (2) tự do đóng góp; (3) tự do chia sẻ (các) sản phẩm của đề tài – dự án.  Tính mở được thể hiện trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ khi các chức năng của sản phẩm dựa vào các tiêu chuẩn mở và phần mềm nguồn mở (PMNM). Để có thể hiểu về tiêu chuẩn mở và phần mềm tự do nguồn mở một cách đơn giản, chúng có thể được trình bày như sau:  Tiêu chuẩn (hoặc định dạng) mở là tiêu chuẩn (hoặc định dạng) mà nếu một tệp điện tử nào đó áp dụng nó, thì việc thao tác trên tệp điện tử đó sẽ không phụ thuộc vào phần mềm tạo ra chính tệp điện tử đó. Ví dụ: Nếu bạn sử dụng một tệp điện tử có phần mở rộng là .xls thì bạn phụ thuộc vào phần mềm ứng dụng Microsoft Excel để mở nó, và như vậy thì định dạng .xls không phải là định dạng mở.  PMNM là phần mềm mà:  – Nếu bạn sử dụng nó, thì bạn có các quyền tự do để: (1) sử dụng vì bất kỳ mục đích gì; (2) phân phối cho bất kỳ ai bạn muốn;  – Nếu bạn phát triển nó, thì bạn có các quyền tự do để: (3) tùy biến – sửa đổi để đáp ứng được nhu cầu của bạn, và để có thể tùy biến – sửa đổi được, bạn cần có mã nguồn, dù phần mềm đó do bất kỳ ai trên thế giới này tạo ra; (4) tự do phân phối lại phần mềm phái sinh bạn đã sửa đổi từ phần mềm gốc ban đầu.  Tính mở như là đặc tính nguồn tài nguyên, ví dụ như tài nguyên truy cập mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở, thì chúng được đối xử như là:  – Hàng hóa công cộng, nghĩa là ai cũng có thể tự do truy cập và sử dụng chúng.  – Nguồn của các hàng hóa mở, nghĩa là ai cũng có khả năng để tùy biến – sửa đổi chúng để tạo ra các hàng hóa mở mới.  Mô hình phát triển của nguồn mở  Nếu bạn tạo ra một tài nguyên được gọi là tài nguyên mở, thì tài nguyên đó chỉ là sự khởi đầu vòng đời sử dụng của nó, vì bắt đầu từ đây, bất kỳ ai cũng có khả năng để phát hiện, sử dụng, tùy biến sửa đổi và tái mục đích nó để tạo ra các sản phẩm mở mới. Điều này là đúng không chỉ cho các tài nguyên mở, như tài nguyên truy cập mở và/hoặc tài nguyên giáo dục mở, mà cũng đúng cho các PMNM, như được nêu ở trên. Điều này là hoàn toàn khác với tài nguyên và/hoặc sản phẩm đóng, khi mà không ai khác ngoài một nhóm nhỏ những người đã tạo ra nó (thường là các lập trình viên và/hoặc một vài thành viên của một công ty duy nhất) được phép tùy biến sửa đổi và tái mục đích sản phẩm (nếu có) để tạo ra các sản phẩm mới, điều hạn chế đi rất nhiều khả năng để đổi mới sáng tạo.  Mô hình phát triển của PMNM    Hình 2. Mô hình điển hình của dự án phát triển PMNM2  Hình 2 là mô hình điển hình của dự án phát triển PMNM được giới thiệu chi tiết trong bài “Mô hình phát triển và ứng dụng phần mềm tự do nguồn mở bền vững6”. Mô hình này nhấn mạnh bước ‘Đóng góp các thay đổi cho dự án ngược lên dòng trên’ là bước đặc biệt của mô hình phát triển PMNM, khi mà các mã nguồn được phát triển ở địa phương (ví dụ như từ các lập trình viên trong các công ty phần mềm của Việt Nam) được chuyển ngược về với dự án gốc của thế giới để có được sự hỗ trợ của các lập trình viên trong cộng đồng thế giới cho phần mềm được các lập trình viên địa phương tùy biến và được tích hợp vào phần mềm gốc của thế giới cho các phiên bản sau. Chính điều này sẽ dẫn tới việc mã nguồn PHẢI luôn được đặt trên Internet (chứ không chỉ duy nhất được đặt trong các máy chủ của công ty phát triển phần mềm Việt Nam) để bất kỳ ai cũng có thể tải chúng về được. Để dễ hiểu, ta nói: Mã nguồn của một dự án PMNM do các lập trình viên Việt Nam phát triển, các lập trình viên, ví dụ, ở châu Phi PHẢI có khả năng truy cập tới nó và tải nó về được!!!  Nếu bạn tự nhận mình đang phát triển PMNM, từ đầu hoặc dựa vào (các) PMNM đã có sẵn, thì không có chuyện mã nguồn phát triển và/hoặc tùy biến đó chỉ có trong (các) máy chủ của công ty bạn, mà chỉ các thành viên trong công ty của bạn mới có thể truy cập được tới chúng. Việc phát triển KHÔNG TUÂN THỦ với mô hình này, từ chuyên môn gọi là rẽ nhánh (Forking), đồng nghĩa với việc các lập trình viên Việt Nam chỉ tải mã nguồn của phần mềm gốc về, đóng nó lại rồi tự phát triển với nhau, trong hầu hết các trường hợp là hành động “tự sát” vì mất phương hướng sau một khoảng thời gian đủ dài để phần mềm rẽ nhánh đó khác xa với phần mềm gốc ban đầu, gây hại cho công ty phát triển và cho những người sử dụng phần mềm tự phát triển đó, vì không còn được các lập trình viên của cộng đồng phần mềm đó trên thế giới hỗ trợ nữa, trong khi kiến trúc và thiết kế của phần mềm đó là do các lập trình viên của thế giới sáng tạo ra, duy trì, cập nhật, nâng cấp và phát triển tiếp.  Lưu ý là, bạn cần phân biệt rõ giữa sử dụng PMNM và phát triển PMNM. Trong khi sử dụng PMNM không đòi hỏi người sử dụng có bất kỳ bổn phận nào thì phát triển PMNM đòi hỏi các lập trình viên có bổn phận phải tuân thủ giấy phép được gắn với PMNM đó và trong hầu hết các trường hợp, các lập trình viên đều phải mở mã nguồn trên Internet khi phân phối PMNM hoặc phần mềm phái sinh từ PMNM gốc ban đầu.  Mô hình phát triển các tài nguyên mở  Các tài nguyên mở trong phần này ngụ ý:  – Tài nguyên truy cập mở;  – Tài nguyên giáo dục mở (OER); và  – Dữ liệu mở.    Hình 3. Vòng đời của tài nguyên giáo dục không mở (trái) và của OER (phải)3  Nếu bạn sử dụng OER, bạn thường có nhu cầu sửa đổi nó cho các mục đích công việc khác nhau của bạn, ví dụ như thêm, bớt, sửa đổi các nội dung của OER gốc ban đầu và/hoặc kết hợp với các OER khác để tạo ra một OER mới, hay còn được gọi là OER phái sinh, và vì thế OER gốc ban đầu cần được cấp phép mở, như vài giấy phép trong hệ thống Creative Commons, sao cho người sử dụng có được các quyền tự do để thực hiện các hành động đó, như những hành động được nêu trong Hình 3 ở trên.    Hình 4. Ví dụ về mô hình phát triển OER – Sách giáo khoa mở4  Hình 4 là ví dụ về mô hình phát triển OER điển hình, hướng tới việc tạo ra các sách giáo khoa mở sao cho các học sinh – sinh viên không mất chi phí để có được chúng. Dù đi theo con đường nào, thì OER được sử dụng cũng luôn phải có khả năng sửa đổi được và/hoặc kết hợp được với các OER khác để tạo ra các OER phái sinh cũng có các khả năng tương tự.    Mô hình cấp phép  Cách dễ nhất để phân biệt giữa các phần mềm và/hoặc tài nguyên mở và không mở là thông qua việc nhận diện giấy phép được cấp cho phần mềm và/hoặc tài nguyên đó.  Đối với PMNM  Có hơn 70 loại giấy phép PMNM khác nhau, các giấy phép phổ biến có thấy trên trang của Sáng kiến Nguồn Mở – OSI (Open Source Initiative7). Vì vậy:  – Khi sử dụng PMNM, bạn nên tìm hiểu giấy phép của PMNM bạn sử dụng để không bị người khác gây thiệt thòi cho bạn đối với các quyền tự do bạn được hưởng từ PMNM đó.  – Đặc biệt là khi phát triển phần mềm dựa vào (các) PMNM khác, bạn có bổn phận PHẢI biết giấy phép của PMNM gốc để biết và tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của bạn khi tùy biến thích nghi PMNM gốc đó.  – Nếu bạn tùy biến thích nghi các PMNM gốc mang các giấy phép “copyleft” như GPL, LGPL, AGPL… thì bạn có bổn phận PHẢI công bố mã nguồn khi phân phối phần mềm, kể cả là bạn phát triển từ đầu hay tùy biến thích nghi PMNM có sẵn.  Nếu bạn nói hệ thống của bạn là PMNM, thì hệ thống đó PHẢI được cấp giấy phép mở tương ứng, không có ngoại lệ.  Đối với tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở và dữ liệu mở  Các tài nguyên này, gọi chung là tài nguyên mở, tất cả đều được cấp phép mở.  Thậm chí, trang của Bộ Giáo dục Mỹ còn gọi rõ tài nguyên giáo dục mở là tài nguyên giáo dục được cấp phép mở (Openly Licensed Educational Resources8). Có nghĩa là, các tài nguyên, để được gọi là OER, PHẢI được cấp phép mở.  Có nhiều hệ thống cấp phép mở cho các tài nguyên này, nhưng phổ biến nhất là các giấy phép của hệ thống Creative Commons9, gọi tắt là CC.  Nếu bạn sử dụng hệ thống CC để cấp phép mở cho các tài nguyên, thì:  – Chỉ các giấy phép CC BY, CC BY-SA và CC0 là phù hợp để cấp phép cho dữ liệu để trở thành dữ liệu mở. Nói cách khác, dữ liệu sẽ KHÔNG LÀ MỞ nếu không được cấp các giấy phép nêu trên hoặc các giấy phép tương đương từ các hệ thống giấy phép khác CC.  – Ngày nay, các giấy phép như CC BY-ND và CC BY-NC-ND được coi là không phù hợp để cấp phép cho tài nguyên giáo dục mở (OER).    Hình 5. OER và các giấy phép Creative Commons thích hợp5  – Kể cả trường hợp truy cập mở đơn giản nhất, khi người sử dụng chỉ có mỗi quyền truy cập tới tài nguyên để xem và tải nó về từ Internet, thì tài nguyên đó vẫn cần phải có giấy phép mở, như CC BY-NC-ND, để trở thành tài nguyên truy cập mở rõ ràng.  Nếu bạn nói tài nguyên trong hệ thống của bạn là tài nguyên mở, thì nó cần phải tuân thủ các nguyên tắc cấp phép ở trên.  Mô hình kinh doanh  Cách khác để phân biệt giữa MỞ và ĐÓNG, là nhìn vào mô hình kinh doanh của chúng.  Bạn sẽ dễ nhận thấy, mô hình kinh doanh của thế giới nguồn đóng toàn bộ đều theo kiểu ăn bánh trả tiền. Có nghĩa là, các công ty nguồn đóng thường bán trực tiếp sản phẩm họ làm ra để kiếm tiền.  Trong khi đó, các mô hình kinh doanh của nguồn mở đều là kiếm tiền dựa vào việc cung cấp các DỊCH VỤ xung quanh sản phẩm của chung cộng đồng, không bán trực tiếp các sản phẩm của chung cộng đồng. Ví dụ: Bạn không bán bộ phần mềm văn phòng nguồn mở Libre Office vì bộ phần mềm này là của chung cộng đồng Libre Office toàn thế giới và bất kỳ lúc nào, bất kỳ ai cũng có thể tải về toàn bộ mã nguồn của Libre Office từ Internet. Các công ty muốn kiếm tiền với Libre Office sẽ kiếm tiền bằng cách cung cấp các dịch vụ xung quanh sản phẩm Libre Office, như các dịch vụ đào tạo, huấn luyện, tích hợp hệ thống phần mềm Libre Office vào các hệ thống phần mềm sẵn có của các khách hàng…, ví dụ thế. Ngược lại, bạn sẽ phải bỏ tiền để mua bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office để sử dụng một cách hợp pháp.  Giấy phép của bài viết: CC BY 4.0 Quốc tế10.  ————  1. https://mdde.wikispaces.com/MDDE+622+ Openness+in+Education  2. Quỹ Linux xuất bản tháng 01/2012 , ‘Ngược lên dòng trên: Tăng cường cho sự phát triển nguồn mở’,https://www.dropbox.com/s/ao6fprcmn3uzexx/lf_upstreaming_os_dev-Vi-31012012.pdf?dl=0  3. ‘Rà soát lại mới nhất các vấn đề chất lượng có liên quan tới tài nguyên giáo dục mở’, trang 2  https://www.dropbox.com/s/5j6gknar0h510i2/201405JRC88304-Vi-19092015.pdf?dl=0  4. http://guides.leeward.hawaii.edu/oer  5. http://lornamcampbell.org/tag/creative-commons/  6. https://vnfoss.blogspot.com/2013/05/mo-hinh-phat-trien-va-ung-dung-phan-mem.html  7 https://opensource.org/licenses  8. https://tech.ed.gov/open/  9. https://creativecommons.org/share-your-work/licensing-types-examples/licensing-examples/  10. https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/    Author                Lê Trung Nghĩa        
__label__tiasang Nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh: Phương thức tuyển chọn chưa thực sự hiệu quả      Danh mục đề tài, dự án, đề án KH&amp;CN năm 2015 và chuẩn bị cho năm 2016 của nhiều tỉnh, thành phố đã được đăng tải trên các trang web, với cơ chế tài chính khoán gọn, định mức chi cao hơn. Nhưng với phương thức tuyển chọn hầu như chưa mấy thay đổi, chất lượng đề tài, dự án các địa phương được xét duyệt chưa thực sự được cải thiện.     Năm nay là năm thứ hai các tỉnh, thành phố thực hiện quy định mới về việc xác định nhiệm vụ KH&CN (đề tài, dự án, đề án khoa học…) theo phương thức mới. Đó là cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KH&CN.     Trước đây, các đơn vị, cá nhân trực tiếp gửi đề xuất về Sở KH&CN tổng hợp, rồi tổ chức các hội đồng tư vấn để tuyển chọn. Còn hiện nay, các đơn vị, cá nhân gửi đề xuất về các sở, ngành, các huyện xem xét lựa chọn (có thể gọi là sơ tuyển) để đề xuất đặt hàng với tỉnh. Trên cơ sở nguồn đề xuất đặt hàng đó, UBND tỉnh trực tiếp ra quyết định hoặc ủy nhiệm cho Sở KH&CN thành lập các Hội đồng tư vấn tuyển chọn cấp tỉnh theo từng lĩnh vực. Kết quả tư vấn tuyển chọn cấp tỉnh được gửi lên UBND tỉnh để UBND tỉnh xem xét quyết định. Có nơi, UBND tỉnh chấp thuận kết quả tư vấn tuyển chọn. Có nơi UBND tỉnh điều chỉnh, thêm bớt. Cẩn trọng hơn, có nơi UBND tỉnh còn trình ra HĐND tỉnh, Ban Thường vụ tỉnh ủy cho ý kiến và HĐND tỉnh, Ban Thường vụ tỉnh ủy cũng có chỉ đạo điều chỉnh.    Tuy nhiên, cho đến nay, việc xét duyệt các nhiệm vụ KH&CN ở địa phương vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.      Đề tài trùng lặp và thiếu thiết thực   Việc xác định nhiệm vụ KH&CN, tựu trung là xác định tên, mục tiêu, nội dung nghiên cứu và sản phẩm dự kiến đạt được. Mấu chốt ở đây là vấn đề nghiên cứu phải mới, không trùng lặp, xét trong phạm vi cả nước, chứ không tách biệt từng địa phương. Nhưng trong thực tế, các tỉnh, thành phố chưa quan tâm nhiều đến yêu cầu này, dẫn đến tiếp tục tái diễn tình trạng trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật hằng năm có tới hơn 1.000 đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh, với kinh phí bình quân lên đến 600-800 triệu đồng/đề tài, dự án, nhưng sản phẩm được đăng ký bằng sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc giống cây trồng rất hãn hữu.            Hằng năm  có tới hơn 1.000 đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh, với kinh phí  bình quân lên đến 600-800 triệu đồng/đề tài, dự án, nhưng sản  phẩm được đăng ký bằng sáng chế, giải pháp hữu ích  hoặc giống cây trồng rất hãn hữu.        Đối với, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, yêu cầu là nhiệm vụ nghiên cứu phải tạo ra được luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc hoạch định chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, nhìn chung các địa phương chưa xác định rõ phạm vi nhiệm vụ nghiên cứu KHXH&NV của mình, nên việc xác định nhiệm vụ có phần chưa chặt chẽ, thường trùng lặp với chức năng nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan, đơn vị chưa tập trung vào những nhiệm vụ có triển vọng chuyển hóa thành những chủ trương, cơ chế, chính sách mới thiết thực gắn với đặc thù của địa phương.  Nhầm lẫn trong hình thức nhiệm vụ KH&CN  Về hình thức nhiệm vụ KH&CN, ở cấp địa phương, có ba dạng phổ biến nhất là đề tài, đề án và dự án sản xuất thử nghiệm. Trước hết cần phân biệt đề tài hay đề án bởi cơ cấu, mẫu phiếu nhận xét, barem nội dung thảo luận của Hội đồng tư vấn đề tài và đề án đều khác nhau. Nhưng phần lớn các địa phương không quan tâm phân biệt, hầu hết tất cả cho vào nhóm đề tài, khiến việc tổ chức một hội đồng để xác định nhiệm vụ KH&CN không thể chuẩn xác.     Một tồn tại phổ biến khác ở các địa phương là nhầm lẫn về dự án sản xuất thử nghiệm và dự án xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN. Mục đích chủ yếu của dự án sản xuất thử nghiệm là hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ mới. Còn dự án xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ mới là xây dựng địa bàn, cơ sở sản xuất để nhân rộng trong thực tế. Phân biệt hai dự án này là rất cần thiết, vì cơ chế đầu tư khác nhau. Nhưng nhiều địa phương lại coi các công nghệ đã được công bố, đã được thương mại hóa khi chuyển giao ứng dụng vào địa phương cũng là dự án sản xuất thử nghiệm. Đúng ra, đây là dạng nhiệm vụ KH&CN liên kết do doanh nghiệp đầu tư, Nhà nước hỗ trợ 30-50% không thu hồi, hoặc là nhiệm vụ KH&CN tương tự như nhiệm vụ xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hay công nghệ mới thuộc Chương trình KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn và miền núi.         Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN bị quá sức   Theo quy định, Hội đồng tư vấn được thành lập theo chuyên ngành. Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia hay cấp bộ đều được thực hiện như vậy. Nhưng trong thực tế, nhiều địa phương vẫn theo truyền thống thành lập ba hội đồng theo ba khối: Khối các ngành nông lâm nghiệp, khối các ngành công nghiệp, và khối các ngành xã hội.  Cũng theo quy định, mỗi hội đồng cấp tỉnh có chín ủy viên, trong đó Hội đồng Đề tài thì có sáu ủy viên chuyên sâu về ngành, lĩnh vực nghiên cứu, với hai ủy viên phản biện, ba ủy viên khác là các nhà quản lý và đại diện của các ngành, đơn vị, doanh nghiệp dự kiến thụ hưởng kết quả nghiên cứu. Còn Hội đồng Đề án KH&CN có sáu ủy viên là các nhà quản lý và đại diện đơn vị thụ hưởng sản phẩm nghiên cứu, ủy viên chuyên ngành chỉ có ba. Hội đồng tư vấn cấp tỉnh vốn là hội đồng mùa vụ, kiêm nhiệm. Tùy thời điểm, Sở KH&CN đàm phán được ai thì ra quyết định thành lập Hội đồng hoặc trình tỉnh quyết định thành lập Hội đồng.     Việc tổ chức hội đồng theo khối gồm nhiều ngành như trên là quá rộng, không thể bảo đảm cơ cấu theo quy định. Được thành phần này thì khuyết thành phần khác, nhất là trong trường hợp đưa nhóm đề án chung Hội đồng với nhóm đề tài. Dẫn đến các ủy viên ngành này lại “phán” cho hàng loạt ngành khác. Như vậy là vượt quá khả năng chuyên sâu của các ủy viên, nhất là ủy viên phản biện. Mặt khác, việc tra cứu cung cấp thông tin của Trung tâm Thông tin KH&CN địa phương cũng còn sơ sài. Mức độ nắm bắt quy định của Nhà nước, am hiểu vấn đề nghiên cứu và tra cứu thông tin liên quan của các ủy viên rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Kết quả bỏ phiếu không tránh khỏi bị ảnh hưởng của yếu tố cảm tính.    Mặt khác, Hội đồng tư vấn tổ chức theo khối gồm nhiều ngành làm cho số lượng hồ sơ tư vấn rất lớn, có thể lên tới 15-30 hồ sơ mỗi hội đồng. Trong khi thời gian làm việc của hội đồng thường chỉ có một buổi, dẫn đến Hội đồng chỉ kịp thảo luận và bỏ phiếu lựa chọn những nhiệm vụ cần thực hiện để trình tỉnh đặt hàng, không kịp hoàn thiện tên, nội dung, sản phẩm KH&CN của từng nhiệm vụ theo quy định. Những vấn đề đó Hội đồng thường ủy nhiệm cho Sở KH&CN hoàn thiện. Rốt cuộc, Sở KH&CN lại phải cần đến sự phối hợp của bên đề xuất, đặt hàng. Mặc dù theo quy định mới, chế độ thù lao cho các ủy viên Hội đồng tư vấn đã được nâng lên đáng kể, gấp ba – bốn lần mức cũ, nhưng xem ra, với cách thức tổ chức như hiện nay thì chất lượng làm việc của Hội đồng rất khó được cải thiện.  Dồn ép về thời gian  Việc đề xuất, đặt hàng và tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ được tiến hành làm nhiều đợt trong năm. Tương tự như vậy, một số tỉnh, thành phố cũng tiến hành làm nhiều đợt. Đợt trước chưa chọn đủ số đề tài dự án có chất lượng thì tiếp tục đề xuất, đặt hàng và tuyển chọn đợt sau. Như vậy, việc đề xuất, đặt hàng và tư vấn tuyển chọn tránh bị gò ép cho đủ số lượng. Khối lượng công việc của Hội đồng tư vấn cũng không bị quá tải làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả tư vấn. Các khâu công việc tiếp theo như tuyển chọn đơn vị chủ trì và cá nhân chủ nhiệm, tổ chức kiểm tra, đánh giá nghiệm thu, thanh quyết toán kinh phí về sau cũng được rải ra, tránh bị dồn dập vào cùng khung thời điểm.    Nhưng còn rất nhiều tỉnh đến nay vẫn chỉ tổ chức một đợt vào cuối năm, dẫn đến kết quả tư vấn tuyển chọn không tránh khỏi gò ép cho đủ số lượng đề tài, dự án để giải ngân hết chỉ tiêu kinh phí được giao. Các khâu công việc về sau cũng bị dồn ép về thời gian, không tránh khỏi ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả.          Một số giải pháp nâng cao chất lượng đầu tư nhiệm vụ KH&CN ở địa phương:               – Thực hiện đúng quy định về tiêu chí sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN trong từng lĩnh vực.               – Xác định rõ hình thức nhiệm vụ KH&CN như đề tài, đề án hay dự án; dự án thì dự án sản xuất thử nghiệm hay dự án xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN, dự án liên kết của doanh nghiệp.               – Thành lập hội đồng tư vấn chuyên ngành hoặc khối ngành trực tiếp có quan hệ với nhau, thành lập hội đồng tư vấn đề tài riêng, hội đồng tư vấn đề án riêng.               – Tổ chức đề xuất, đặt hàng và tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN làm nhiều đợt trong năm.               – Thành lập quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh. Chuyển từ cơ chế đầu tư hoàn toàn bao cấp sang cơ chế vừa đầu tư, vừa hỗ trợ, cho vay, bảo lãnh, góp vốn ươm tạo công nghệ, đưa công nghệ mới vào sản xuất.              ——-  Tít bài do Tia Sáng đặt.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều chưa hẳn tốt      Mười năm trước chúng ta khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu lên tạp chí quốc tế. Giờ đến lúc phải xem chất lượng và hiệu quả là mục tiêu hàng đầu.       Công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế (CBQT) là chủ đề được xới lên trên Tia Sáng cách đây hơn mười năm. Song những lập luận và bằng chứng cổ vũ cho CBQT lúc ấy vẫn chưa đủ sức thuyết phục số đông vốn cho rằng nghiên cứu khoa học cốt tạo ra những gì thiết thực cho đất nước, đâu cần những sản phẩm hàn lâm như bài báo quốc tế. Cho nên chưa thể có bước đột phá nếu không có các tác động khác như áp lực hội nhập quốc tế lên các trường đại học sau khi Việt Nam gia nhập WTO cộng với những chấn động từ các bảng xếp hạng đại học (dựa trên chỉ số trích dẫn bài báo quốc tế) liên tục dội đến nước ta. Năm 2009, NAFOSTED ra đời xem CBQT là điều kiện tiên quyết để đề tài được tài trợ, Quy chế phong giáo sư cũng đã sửa đổi để CBQT được tính điểm cao hơn các ấn phẩm nội địa. Cuối cùng, trong Chiến lược phát triển KHCN 2011-2020, CBQT được chính thức xem như một trong năm tiêu chí cơ bản. Song những đổi mới này vẫn chưa đủ sức lay chuyển cả hệ thống bị hành chính hóa1, không có chỗ cho các cơ chế tự nhiên phát huy tác dụng.         Chúng ta du nhập KHCN từ các nước tiên tiến, nơi các cơ chế tự nhiên ấy phát sinh và tồn tại qua nhiều thế kỷ cho đến ngày nay, nhưng chúng ta chỉ bắt chước những thứ bề nổi bên ngoài, còn cốt lõi bên trong thì làm theo cách của mình, chẳng hạn như từ chối đưa kết quả nghiên cứu lên diễn đàn quốc tế để tri thức mới được đồng nghiệp đánh giá, sử dụng và phát triển.          Thông điệp từ lịch sử  Công bố những khám phá mới ra công chúng vốn là bản năng con người. Theo truyền khẩu, Archimede nhảy ngay ra khỏi bồn tắm sung sướng reo lên “eureka”, quên mặc cả áo quần, sau khi bất ngờ phát hiện ra cách tính lực đẩy lên vật chìm trong nước, sau này khoa học gọi là định luật Archimede. Galileo mời công chúng đến tháp nghiêng Pisa để tận mắt chứng kiến hai vật nặng nhẹ khác nhau rơi xuống đất cùng một lúc, bác bỏ hoàn toàn tín điều tồn tại hàng nghìn năm từ thời Aristotle.   Khi tri thức mới ngày càng phức tạp, cần phải có cách phổ biến chính quy hơn. Các trường đại học xuất hiện từ cuối thế kỷ 11 ở châu Âu (Bologna, Oxford…) khi kỹ thuật in ấn còn quá mất thời gian nên giảng đường đại học là nơi nhà nghiên cứu có thể giải thích và phổ biến ngay những tri thức mới nhất cho sinh viên. Đại học còn là nơi tri thức được nhân lên, thầy giáo đào tạo ra học trò, thế hệ sau đông hơn, mạnh hơn. Khoa học nhờ đó tự thân vận hành theo quy luật tích lũy và kế thừa, đội ngũ và khối lượng tri thức tăng lên theo cấp số nhân. Thế là ngay từ đầu, khoa học với đại học là một, nhiều phát minh khoa học vĩ đại nhất đều từ các “tháp ngà” đại học mà ra. Sau thế chiến II, tuy có nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành của nhà nước và doanh nghiệp xuất hiện, nhưng cỗ máy chính sản sinh ra tri thức mới vẫn là các trường đại học.   Tri thức ngày càng nhiều lại cần cơ chế chọn lọc để chỉ những tri thức mới được phổ biến và trao đổi giữa các chuyên gia, đó chính là những diễn đàn như tạp chí khoa học. Tạp chí đầu tiên “The Phylosophical Transactions of the Royal Society” xuất hiện ở Anh năm 1665. Về sau, các tạp chí nổi tiếng khác lần lượt xuất hiện ở Mỹ và châu Âu. Từ đây, tri thức khoa học được quốc tế hóa, tạo nên mặt tiền tri thức của nhân loại. Có thể nói, tạp chí khoa học quốc tế là ấn tích của mặt tiền tri thức ở mọi thời đại, giống như những lớp trầm tích trong các địa tầng.  Phía trước mặt tiền là miền tối ngày càng co lại nhờ có nghiên cứu khoa học. Đã là nhà nghiên cứu, ai cũng phải có chỗ đứng trên mặt tiền này. Từ số đông ấy luôn nổi lên những người mở đường, rọi ánh sáng vào bóng tối cho nhiều người khác tiến theo. Những công trình của họ, thường không nhiều, nhưng có ảnh hưởng rất lớn, được hàng nghìn người trích dẫn sử dụng trong thời gian dài. Họ không sinh ra từ tiền và quyền mà từ môi trường tự do học thuật. Ở họ, tài năng là do niềm đam mê sáng tạo và do họ biết “đứng trên vai những người khổng lồ” 2.   Trước đây, tạp chí khoa học in trên giấy chiếm không ít chỗ trong các thư viện. Để giảm bớt khó khăn trong việc tra cứu thông tin, Viện Thông tin khoa học ISI, Mỹ, đã đưa ra khái niệm chỉ số trích dẫn (citation index) giúp nhà nghiên cứu tiếp cận với những bài báo đã công bố trước đó có liên quan đến đề tài của mình. Năm tập Science Citation Index (SCI) đầu tiên phát hành trên giấy năm 1964 bao quát 613 tạp chí khoa học tự nhiên và 1,4 triệu trích dẫn. Về sau, SCI còn phát hành trên băng từ và đĩa CD.          Thành tích nghiên cứu khoa học lại được lượng hóa trên cùng một mặt bằng quốc tế chung, nhờ đó từng nhà khoa học, từng cơ sở nghiên cứu cho đến mọi quốc gia đều có thể tự biết mình đang ở đâu trên sân chơi chung của thế giới.        Đến cuối thế kỷ 20, internet xuất hiện cùng với những công cụ tìm kiếm và kết nối cực mạnh trên mạng toàn cầu (www) đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo các tạp chí khoa học cũng như cách phổ cập tri thức mới. Các bài báo khoa học được số hóa, có thể truy cập qua máy tính từ khắp nơi trên thế giới. Một số trang mạng cung cấp công cụ tìm kiếm và chỉ số trích dẫn như Web of Science của ISI kết nối với hơn mười nghìn tạp chí hàng đầu thế giới bao gồm cả khoa học tự nhiên, xã hội, nhân văn và nghệ thuật, SCOPUS bao quát nhiều đầu ấn phẩm hơn. Nhưng phổ cập và giản tiện nhất vẫn là Google Scholar kết nối với tất cả ấn phẩm khoa học trên mạng. Chỉ cần hai lần nhấp chuột từ Google (Google Scholar + tên tác giả) là có thể biết nhà khoa học nào đã công bố bao nhiêu công trình, nội dung tóm tắt từng công trình, và được ai trích dẫn. Vì diện bao quát rộng hơn nên chỉ số trích dẫn theo Google Scholar bao giờ cũng cao hơn hai trang trên. Với các công cụ mới này, khoa học bớt tù mù hơn, nhà nghiên cứu đích thực không thể bị nhầm lẫn với những người được thổi lên rồi dán cho cái mác khoa học.   Với bước đột phá internet, thành tích nghiên cứu khoa học lại được lượng hóa trên cùng một mặt bằng quốc tế chung, nhờ đó từng nhà khoa học, từng cơ sở nghiên cứu cho đến mọi quốc gia đều có thể tự biết mình đang ở đâu trên sân chơi chung của thế giới. Tận dụng tiện ích này, năm 2004 trường Đại học Giao thông Thượng Hải lần đầu tiên đã xếp hạng 500 đại học hàng đầu thế giới lấy công bố SCI làm tiêu chí chủ đạo. Từ đó, khắp nơi dấy lên cao trào xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, xem nghiên cứu khoa học đỉnh cao là một trong những nhiệm vụ trung tâm của nhà trường hiện đại.  Hệ thống đại học Việt Nam đã nhanh chóng nhập cuộc vào cao trào này. Các thầy giáo đại học giờ đây cảm thấy bị sức ép khi sinh viên có thể biết rõ thành tích khoa học của mình chỉ cần qua vài lần nhấp chuột từ trang Google. Họ bắt buộc phải vươn lên tìm chỗ đứng trên mặt tiền khoa học thế giới để khẳng định chỗ đứng trên bục giảng của mình. Đại học nước nhà có thêm nguồn động lực mới.  Công bố quốc tế của Việt Nam  Theo thống kê của Viện Thông tin, Bộ KH&CN, năm 2004 các nhà khoa học Việt Nam công bố 8400 bài báo trên các ấn phẩm nội địa, trong khi đó, theo thống kê của Viện Thông tin khoa học ISI, Mỹ, chỉ có 507 bài xuất hiện trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCI. Nhưng phần lớn các CBQT có địa chỉ Việt Nam được tiến hành ở những phòng thí nghiệm tiên tiến trên thế giới, hoặc người nước ngoài làm tác giả chính. Số công trình gửi đi từ trong nước, do chính người Việt thực hiện, chỉ chiếm một phần ba, dẫn đầu là toán và vật lý lý thuyết. Rất ít công trình về thực nghiệm, kỹ thuật và công nghệ. Khoa học xã hội và nhân văn, vốn áp đảo trong các ấn phẩm nội địa (54%), hầu như vắng bóng trên diễn đàn SCI.   Nhìn sang các nước Đông Á, CBQT của Việt Nam vào loại thấp nhất (xem biểu đồ). Tính trên một triệu dân, năm 2004 Việt Nam chỉ công bố 6 bài SCI, xấp xỉ Philippines (7 bài), hơn Indonesia (3), kém Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc (40 – 60), mấy nước này còn tụt lại sau xa tốp “rồng” châu Á (580 -1500 bài). Mức chênh lệch hàng trăm lần giữa các nước Đông Á về CBQT phản ảnh mối quan hệ tương hỗ giữa nghiên cứu khoa học với phát triển kinh tế – xã hội 3. Nghiên cứu khoa học thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thông qua giáo dục, văn hóa, đổi mới công nghệ và ra quyết định về chính sách. Ngược lại, kinh tế tăng trưởng sẽ tạo điều kiện gia tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Cho nên số CBQT tính trên một triệu dân có thể xem như tiêu biểu cho trình độ phát triển của đất nước. Không vươn lên các diễn đàn khoa học quốc tế đồng nghĩa với tụt hậu, và chịu kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thấp.         Trong mấy năm gần đây số CBQT tăng với tốc độ 17%/năm. Toán và vật lý lý thuyết không còn áp đảo nữa, nhiều ngành khác đã có mặt trên mặt tiền thế giới. Dự báo năm 2020 Việt Nam có thể công bố khoảng 7000 bài báo SCI, song chạy theo số bài báo SCI với tốc độ tăng trưởng 20% như Chiến lược đề ra sẽ mang lại lợi ích gì cho khoa học và đất nước?        Những năm gần đây CBQT đã được nhìn nhận tích cực hơn ở nước ta nên tăng trưởng rất nhanh. Từ 2006, số bài báo tính trên một triệu dân đã vượt Philippines, đang đuổi theo tốp Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc, tuy vẫn còn hàng trăm lần cách xa các nước “rồng” có nền công nghiệp tiên tiến. Trong mấy năm gần đây số CBQT tăng với tốc độ 17%/năm. Toán và vật lý lý thuyết không còn áp đảo nữa, nhiều ngành khác đã có mặt trên mặt tiền thế giới. Dự báo năm 2020 Việt Nam có thể công bố khoảng 7000 bài báo SCI.   Những con số khá ấn tượng, song chạy theo số bài báo SCI với tốc độ tăng trưởng 20% như Chiến lược đề ra sẽ mang lại lợi ích gì cho khoa học và đất nước? Câu trả lời là nhiều chưa hẳn tốt, như sẽ phân tích ở phần sau.  Sân chơi nội địa    Cho đến nay phần lớn kết quả nghiên cứu ở nước ta đều đăng trên các tạp chí nội địa. Nhưng chưa có tạp chí nào lọt vào danh mục SCI, kể cả một số tạp chí bằng tiếng Anh. Chuẩn mực trên sân chơi của chúng ta còn cách xa thế giới. Công bằng mà nói, một số bài báo nội địa có tiềm năng đăng được trên tạp chí quốc tế nếu tác giả có động lực để vượt qua khoảng cách giữa công trình nghiên cứu được nghiệm thu trong nước theo chuẩn mực hành chính với bài báo SCI với chuẩn mực cao hơn nhiều.  Thiếu động lực vì thang giá trị học thuật bị lệch lạc bởi cơ chế hành chính. Trên thực tế, không dễ gì xác lập được chỗ đứng trên mặt tiền khoa học thế giới, song thành tích này lại không mấy ảnh hưởng đến chỗ đứng của nhà khoa học trong hệ thống Việt Nam, nơi mà nhà nghiên cứu chuyên nghiệp chưa bằng vai phải lứa với một quan chức hành chính cấp phòng ban. Chẳng ai săm soi xem anh có bao nhiêu CBQT để được tuyển dụng và đề bạt, như thông lệ ở các nước tiên tiến. Bởi ngay đến chức danh giáo sư, tiến sỹ, những tướng lĩnh cầm quân trên trận địa khoa học và đại học, cũng chỉ cần đóng dấu chất lượng qua những ấn phẩm nội địa. Bài báo quốc tế tuy được khuyến khích, có điểm số cao hơn bài báo nội địa, song không phải là yêu cầu bắt buộc như một loại điểm sàn để được phong giáo sư, như ở các nước. Thật trớ trêu khi các vận động viên trẻ tuổi của ta hăng hái bước lên vũ đài quốc tế để so tài, thì các học giả lại hài lòng với cuộc chơi trên sân nhà.        Ngân sách nhà nước dành cho khoa học tăng theo GDP, nhưng kinh phí đề tài lại “lạm phát” nhanh hơn nhiều, đề tài tiền tỷ hiện rất phổ biến.        Chúng ta có 14 chương trình trọng điểm cấp nhà nước, hàng nghìn đề tài cấp Bộ và cấp cơ sở, hàng loạt nghị định thư với nước ngoài, và vô số dự án, nhiệm vụ quản lý hành chính “ăn theo” khoa học. Không thấy đâu ghi rõ Nhà nước phải rót bao nhiêu tiền vào từng đề tài, dự án. Song dung lượng chiếc hộp đen này không thể quá bé so với 2% ngân sách Nhà nước dành cho khoa học công nghệ, nay đã vượt con số 800 triệu USD.   Sân chơi này vận hành theo cơ chế hành chính, do các quan chức hành chính cầm cân nảy mực. Đề tài các cấp được xét duyệt và nghiệm thu theo kiểu hợp đồng kinh tế (như ra đầu bài, đấu thầu, tuyển chọn, kiểm tra tiến độ v.v…,), hình hài sản phẩm phải được hứa hẹn khi xét duyệt và mục sở thị khi nghiệm thu (quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn nhà nước, phần mềm, số cơ sở sử dụng các kết quả v.v…). Nghiệm thu xong, công trình nghiên cứu xem như chấm dứt, tủ hồ sơ của Bộ KH&CN có thêm quyển mới, còn tác giả lại lao tiếp vào đề tài khác để tồn tại. Kết quả nghiên cứu không đến được đồng nghiệp quốc tế. Tác giả và thủ trưởng đơn vị đều không có trách nhiệm phải quan tâm đến số phận các kết quả nghiên cứu ấy trong tương lai.  Nhưng bài báo quốc tế lại không đòi hỏi vì chuẩn mực của nó cao hơn nhiều. Nó phải có phát hiện mới, tính độc đáo, góp phần đẩy hướng nghiên cứu lên phía trước, và phương pháp luận hiện đại. Không cần hội đồng đông người, chỉ một vài phản biện quốc tế lắc đầu vì không hội đủ những tiêu chí trên, bài báo sẽ bị từ chối ngay.   Vì thiếu cơ chế chọn lọc tự nhiên và kế thừa nên tri thức, đội ngũ, và nhân tài khoa học không thể phát triển. Trong khi đó, kinh phí đề tài lại có thể du di với biên độ rất lớn để cơ chế xin cho, ban phát, phát huy hết cỡ. Nhiều đề tài tiền tỷ mới nghe tên đã choáng, song lại được xét duyệt và nghiệm thu dễ dàng. Dễ hiểu tại sao nạn gian dối – điều tối kỵ trong nghiên cứu khoa học – lại lên ngôi trong những năm gần đây. Khi khai gian, khai khống các chứng từ được mặc nhiên chấp nhận (việc này báo chí đã lên tiếng quá nhiều), thì bịa số liệu, đạo văn…, còn gì phải ngần ngại. Chung sống với gian dối, khoa học sẽ tự hủy diệt, biết vậy mà không ai trong giới quyền lực tìm cách ngăn chặn.  Vì ngăn chặn phải ngay từ gốc. Phải trả những cơ chế tự nhiên lại cho hoạt động tư duy sáng tạo, đừng để cơ chế hành chính đẩy nền khoa học đi quá xa. Có thể một số người “trong cuộc” không đồng tình với kết luận này, nên cách tốt nhất là cùng nhau đi tìm bằng chứng. Không khó, chỉ cần lục lại đống hồ sơ các đề tài tiền tỷ đã được nghiệm thu hơn 5 năm về trước và đang nằm trong tủ của Bộ KH&CN để thấy những “hiệu quả thiết thực” được hứa hẹn trước đây hiện đang ở đâu? Bao nhiêu phần trăm những kết quả nghiên cứu đang được sử dụng? Câu trả lời sẽ cho ta cơ sở để đổi mới tư duy và cách quản lý khoa học. Để làm được việc này lại cần phải bạch hóa các đề tài tiền tỷ đã được nghiệm thu. Đây là những việc rất đáng làm, nhất là đúng dịp kế hoạch năm năm và nhiệm kỳ Bộ trưởng sắp kết thúc.  NAFOSTED   Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia – NAFOSTED ra đời năm 2009 như bước đột phá đầu tiên đưa cơ chế chọn lọc tự nhiên vào hoạt động nghiên cứu khoa học và tạo ra một sân chơi tương đối minh bạch. Quỹ lấy bài báo đăng trên tạp chí có uy tín thuộc danh mục SCI làm “mức sào” tối thiểu. Ai vượt qua mức sào SCI sẽ được Quỹ cấp kinh phí, tạm đủ sống bằng lao động của mình. Tính đến tháng 11/2013 đã có 700 bài báo xuất hiện trên tạp chí thuộc danh mục SCI, và trong tài khóa 2013-2014 có hơn 300 đề tài nữa đã được NAFOSTED duyệt cấp kinh phí.  Như một luồng gió mới, NAFOSTED đã cải thiện đáng kể không khí học thuật ở các viện và trường đại học. Tuy trong Chiến lược phát triển KHCN, trường đại học chưa được xem là cỗ máy chính như hai Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (mà điều này cần được xem xét lại!), song một số tín hiệu đáng khích lệ đã xuất hiện.Trường đại học chiếm quá một nửa số đề tài NAFOSTED, trong đó có sự góp mặt của rất nhiều trường đại học dân lập địa phương. Khoa học xã hội và nhân văn cũng đã góp mặt. Những đốm sáng xuất hiện đó đây bên ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Có điều, chúng thiếu chất kết dính hữu cơ để có thể chờ đợi một sức mạnh tổng hợp. Điều này dễ hiểu với cách làm “từ dưới lên” và “đánh trống ghi tên” như hiện nay.  Bước đột phá thứ hai được ghi nhận khi CBQT trở thành một trong năm mục tiêu cơ bản của Chiến lược phát triển KHCN, theo đó đến trước 2020 sẽ phấn đấu “tăng số CBQT từ những đề tài sử dụng kinh phí nhà nước trung bình 15-20%/năm”. Trên thực tế, chỉ tiêu này đã về đích trước thời hạn, số CBQT của Việt Nam đang gia tăng hằng năm 17%/năm (xem biểu đồ). Trong số này có đóng góp từ NAFOSTED.           Chú thích: Năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á tính theo số bài báo SCI trên một triệu dân. Số liệu truy cập trên ISI Web of Knowledge, bản quyền Cục Thông tin khoa học, Bộ KH&CN. Lưu ý số lượng bài báo nhiều hơn so với lần truy cập trước đây năm 20103 do nhiều tạp chí được đưa thêm vào danh mục SCI.            Không chạy theo số lượng  Mười năm trước chúng ta khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu lên tạp chí quốc tế. Giờ đến lúc phải xem chất lượng và hiệu quả là mục tiêu hàng đầu. Đầu tư cho khoa học sẽ không hiệu quả nếu sản sinh ra quá nhiều bài báo SCI nhưng lại ít được ai sử dụng. Dữ liệu trên ISI truy cập trước 2010 cho thấy hơn 10% những bài báo có địa chỉ Việt Nam sau 5-6 năm vẫn không được ai trích dẫn. Giảm bớt những bài báo không được ai trích dẫn cũng sẽ làm tăng chất lượng và hiệu quả các CBQT.   Cũng vậy, CBQT sẽ không mang lại lợi ích cho đất nước nếu kinh phí khoa học ngày càng tăng mà đội ngũ chuyên nghiệp cứ teo dần, một tình trạng khá phổ biến hiện nay ở nhiều nơi. Cho nên bên cạnh chỉ số trích dẫn, số người được đào tạo và trưởng thành phải là tiêu chí quan trọng khi đánh giá hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu khoa học.   Những bài báo NAFOSTED đầu tiên đang đủ độ trễ thời gian để được đồng nghiệp trích dẫn và sử dụng. Cập nhật những thông tin trích dẫn cho từng ngành, từng cơ sở nghiên cứu rồi so sánh với các nước là việc rất cần làm để thấy được chúng ta đang ở đâu và tăng nhanh số lượng CBQT phải chăng là mục tiêu cần phấn đấu trong thời gian trước mắt.  ——————–  1 Khoa học Việt Nam kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi. (Dân Trí, 07/01/2013).    2“Stand on the shoulders of giants”, câu châm ngôn trên trang chủ Google Scholar.    3So sánh năng lực nghiên cứu khoa học của 11 nước Đông Á (Higher Education 60, 615-625, 2010; Tia Sáng số 13 – 5.7.2010).     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều cơ hội cho doanh nghiệp vừa và nhỏ      Triển vọng ứng dụng và phát triển IoT ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới, theo quan điểm của ông Đào Ngọc Chiến, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao, Bộ Khoa học và Công nghệ, phụ trách việc quản lý Nhà nước trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin.       Ông tưởng tượng viễn cảnh IoT của Việt Nam trong 10 năm tới như thế nào?   Xu hướng phát triển IoT của Việt Nam sẽ không thể chệch ra hay khác biệt với xu hướng chung trên thế giới, mặc dù phải luôn đi sau thế giới một nhịp nào đó. Thị trường IoT ở Việt Nam chắc chắn sẽ phát triển rất mạnh. Do bất cứ thứ gì muốn điều khiển, theo dõi, giám sát từ xa qua mạng internet đều là đối tượng của IoT nên dự đoán đến năm 2020 số lượng đối tượng của IoT sẽ vào khoảng 6,4 tỷ.  Trong những năm gần đây, Việt Nam từng phát triển ứng dụng công nghệ viễn thông khá nhanh. Vậy với IoT, vì sao ông cho rằng chúng ta luôn đi sau thế giới một nhịp nào đó?  Trước đây Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) quyết tâm bỏ qua công nghệ cũ, đi thẳng lên công nghệ mới nên hạ tầng viễn thông của Việt Nam hiện nay không thua kém nhiều nước phát triển trên thế giới. Nhưng đấy là về ứng dụng, còn về mặt đầu tư phát triển để sản xuất thì khó theo kịp thế giới, vì nền tảng công nghệ chế tạo không đủ năng lực đáp ứng. Chúng ta có thể có tiềm năng con người với nhiều ý tưởng sáng tạo, nhưng nếu không có một nền tảng công nghệ tốt thì rất nhiều ý tưởng không thể hiện thực hóa, rơi vào “lực bất tòng tâm”.  Ông có nói thị trường IoT sẽ rất phát triển, nhưng với hạn chế về nền tảng công nghệ chế tạo như đề cập trên đây, liệu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm thấy cơ hội từ IoT?   Theo dự báo, sẽ có khoảng 10 tỉ đối tượng của IoT, vì thế cơ hội cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn. IoT về cơ bản mới đang là khái niệm, chưa đi vào các chuẩn cụ thể. Đối tượng của IoT quá đa dạng nên để đưa ra chuẩn là việc tương đối khó khăn, nhưng dù sao cũng sẽ phải tiến tới các chuẩn giao tiếp nào đó. IoT mở ra rất nhiều cơ hội, ví dụ như về chuẩn giao tiếp với Internet, về thiết kế điện tử trong IoT, từ lưu trữ thông tin cá nhân đến những thông tin quy mô lớn, và đòi hỏi độ bảo mật thông tin ở mức cao. Những lĩnh vực này không đòi hỏi nền tảng công nghệ chế tạo quá cao hay vốn đầu tư quá nhiều, vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam sẽ có rất nhiều cơ hội khi tham gia vào các sản phẩm IoT.   Khi chuẩn chưa phát triển thì các thiết bị sẽ không ‘nói chuyện’ được với nhau. Vì vậy, ở đây vẫn cần Nhà nước xây dựng một chuẩn chung?  Chính xác. Nhà nước nên có định hướng. Ở góc độ khoa học và công nghệ, Nhà nước nên xây dựng khung chuẩn, còn các chuẩn chi tiết chuyên ngành thì nên để cho các ngành ứng dụng xây dựng. Ví dụ, chuẩn chi tiết cho ngành y tế thì chỉ Bộ Y tế mới biết họ cần gì. Hiện nay, Bộ KH&CN đang giao cho Viện Khoa học Công nghệ thuộc Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam Vinasa (VSTI) chủ trì thực hiện một nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia với mục tiêu chính là nghiên cứu xây dựng khung chuẩn thông tin số quốc gia. Kết quả của Nhiệm vụ sẽ là một Khung chuẩn thông tin số quốc gia, trên cơ sở đó các Bộ, ngành sẽ triển khai xây dựng chuẩn chuyên ngành.  Theo ông thì Nhà nước sẽ đóng vai trò như thế nào trong phát triển IoT?  Quan trọng nhất đối với việc phát triển IoT là Nhà nước cần xây dựng và phát triển một hệ sinh thái cho IoT, đó là các chính sách về thuế, sử dụng và khuyến khích sử dụng, đào tạo nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo cơ hội cho doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Hiện nay trong các lĩnh vực công nghệ cao, các doanh nghiệp được hưởng chính sách thuế ưu đãi cao nhất. Đối với IoT, Nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực mang tính phục vụ cộng đồng, số đông người dân, đặc biệt định hướng tới những lĩnh vực mang tính chất an sinh xã hội, chẳng hạn như lĩnh vực giáo dục, y tế, sức khỏe cộng đồng, v.v.. Nhà nước nên xây dựng khung chuẩn nhưng không nên quá áp đặt, theo đó [Nhà nước] chỉ nên ban hành khung chuẩn, tạo cơ hội, khuôn khổ cho các doanh nghiệp tự sáng tạo. Dù sao kết quả cuối cùng vẫn phải là mang lợi ích lớn nhất cho người dân.   Quy định công nhận doanh nghiệp công nghệ cao khá ngặt nghèo, và chỉ có một số ít doanh nghiệp Việt Nam được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao. Vì thế dường như không có nhiều doanh nghiệp startup làm IoT được hưởng ưu đãi?   Tôi không nghĩ là tiêu chuẩn doanh nghiệp công nghệ cao là ngặt nghèo. Theo Luật Đầu tư mới, tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ cao được chia làm hai loại, gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 100 tỉ đồng và tổng số lao động trên 300 người, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh thu từ sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phải đạt ít nhất 70% tổng doanh thuần hằng năm. Bên cạnh các tiêu chí nêu trên, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về % doanh thu dành cho R&D, quy định về môi trường, về kiểm soát chất lượng sản phẩm theo ISO.  Tuy nhiên, do ưu đãi dành cho doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ thông tin là gần như nhau, nên nhiều doanh nghiệp CNTT không cần xin giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phục vụ IoT, gồm cả sản phẩm điện tử và Internet, về cơ bản có thể hiểu là nằm trong lĩnh vực CNTT.     Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng IoT vào quản trị quốc gia, ví dụ như giao thông thông minh, ông nhận định về tiềm năng áp dụng ở Việt Nam như thế nào?   Có thể thấy IoT được hình thành và phát triển từ những công nghệ nền tảng ban đầu. IoT không phải công nghệ được sáng tác mới, mà là khái niệm mới. Giao thông thông minh đã có từ lâu bao gồm mạng lưới đường cao tốc thông minh, hệ thống tính tiền tự động, mạng lưới camera trong đô thị, hệ thống điều khiển đèn tín hiệu giao thông có thể dựa trên phân tích luồng giao thông. Y tế thông minh, giáo dục từ xa cũng đã được triển khai nhiều nhưng ở quy mô nhỏ. Vấn đề nằm ở chỗ nếu muốn có xã hội thông minh, Nhà nước phải đầu tư hạ tầng. Có thể về hạ tầng mạng Internet, với các nhà mạng hiện nay đã có thể đáp ứng được, nhưng vấn đề là cơ sở dữ liệu lớn, quản lý và khai thác như thế nào. Ngoài ra, nếu không chuẩn bị tốt về cơ sở hạ tầng mạng băng thông rộng thì đến một ngày không xa, dung lượng đáp ứng của mạng không đủ để truyền dẫn thông tin phục vụ IoT, tốc độ xử lý không đủ thì rất phức tạp.  Ông có thể miêu tả bức tranh tình trạng hiện thời của IoT Việt Nam như thế nào?   Về bức tranh hiện thời, nói một cách chung nhất là đang rất sơ khai, gần như chưa có gì. Giao thông thông minh, y tế thông minh chưa phát triển ở quy mô lớn. Giáo dục từ xa e-learning đâu đó đã triển khai nhưng chưa mang tính quy mô lớn. Tôi nghĩ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp Việt Nam vẫn là khả thi nhất vì phù hợp về quy mô và nguồn vốn đầu tư.   Qua tìm hiểu của Tia Sáng, các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam còn dè dặt khi triển khai IoT, ông có thấy như vậy không?  Thực ra không có sự dè dặt khi áp triển khai IoT. Sự dè dặt ở đây nếu có là thị trường trong nước có quy mô nhỏ, doanh nghiệp Việt Nam  không đi theo hướng đầu tư chiều sâu, tạo dựng năng lực công nghệ phục vụ sản xuất mà chủ yếu ở hình thức lắp ráp để bán, phải đợi công nghệ nước ngoài phát triển để đi theo. Ngoài ra, khi triển khai IoT thì mặt bằng trình độ người sử dụng Việt Nam cũng phải tương ứng thì mới có hiệu quả. Tuy nhiên, theo tôi thì doanh nghiệp không nên chờ.   Xin cảm ơn ông.   Hảo Linh – T.L.T      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều “đồng ý” và một chút “nhưng mà”      Gần đây nhất Quỹ Nghiên cứu Khoa học (DFG), cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học quan trọng nhất của CHLB Đức, đã đưa ra quy chế mới trong việc xét duyệt hồ sơ đăng ký tài trợ. Với việc này Quỹ DFG đã đưa ra tín hiệu đầu tiên chống lại xu hướng “công bố ồ ạt”.&#160;        Lời người dịch: Chương trình tài trợ cho Nghiên cứu Cơ bản của Quỹ NAFOSTED đã đi vào thực tế được một năm. Với việc sử dụng tiêu chí cứng về “số lượng công bố ISI”, Quỹ đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong quá trình quản lý và tài trợ khoa học trong nước. Mặt khác, từ vài năm nay nhiều nhà khoa học trong nước cũng đã cảnh báo về những nguy cơ của việc “đếm số công trình ăn tiền”. Trên thế giới, khuynh hướng công bố ồ ạt nhằm dùng “số lượng” để thay thế “chất lượng” đã được coi là một nguy cơ cho sự phát triển khoa học, không chỉ bởi những nhà khoa học mà còn bởi những cơ quan quản lý và tài trợ khoa học. Liên đoàn Toán học thế giới đã thành lập một ủy ban điều tra về sự lạm dụng “chỉ số trích dẫn” và tại cuộc họp Đại hội đồng Liên đoàn Toán học thế giới, Ấn Độ 2010, “chống lạm dụng chỉ số trích dẫn” cũng là một chủ đề chính. Gần đây nhất Quỹ Nghiên cứu Khoa học (DFG), cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học quan trọng nhất của CHLB Đức, đã đưa ra quy chế mới trong việc xét duyệt hồ sơ đăng ký tài trợ. Với việc này Quỹ DFG đã đưa ra tín hiệu đầu tiên chống lại xu hướng “công bố ồ ạt”.     Vào tháng 2 Quỹ DFG đã thông báo trong một cuộc họp báo tại Berlin về Quy chế mới về các công bố khoa học của mình, các đánh giá trên các phương tiện thông tin đại chúng là tích cực. Ngay cả những người quan sát khắt khe nhất cũng đồng ý rằng đây là dấu hiệu tốt.           Quy chế mới từ 1/7/2010  Số lượng công bố khoa học được phép nhắc tới trong bản đăng ký xin tài trợ đề án và trong bản tổng kết đề án gửi tới DFG sẽ bị hạn chế. Trong Lý lịch khoa học chỉ được phép khai tối đa năm công bố khoa học, trong bản giới thiệu đề án không quá hai công bố cho mỗi năm thực hiện đề án, trong bản giới thiệu về khả năng nghiên  cứu và báo cáo các kết quả nghiên đã đạt được có thể khai tùy ý các công bố khác, nhưng các phản biện không nhất thiết phải đánh giá những công bố này. Tất cả các bài báo đều phải đã được công bố hoặc được nhận đăng. Đổi lại phần chính của bản đăng ký, phần nội dung, sẽ có vai trò quan trọng hơn.          Nhắc lại rằng từ 1/7/2010, quy chế về hạn chế số công trình được phép nêu ra trong các bản đăng ký xin tài trợ đề án và tổng kết đề án gửi tới DFG sẽ có hiệu lực. Theo đó, thay vì thoải mái liệt kê các công trình khoa học, nay chỉ có một số ít công bố đặc biệt quan trọng và có giá trị được phép nhắc tới. Với quy chế mới này DFG muốn đưa ra thông điệp chống lại khuynh hướng công bố ồ ạt (Publikationsflut) và chuẩn bị cho việc đánh giá nghiên cứu khoa học với “chất lượng thay cho số lượng”.   Đây là một quyết định “có ý nghĩa đặc biệt”, dẫn tới “một tư duy hoàn toàn mới”, tờ FAZ nhận xét và bổ sung: “Đôi khi chỉ cần một tiếng nói cất lên, và DFG đã làm điều đó”. Cả thiên nhiên cũng minh chứng rằng “đôi khi ít hơn lại nhiều hơn”, tờ Sueddeutsche Zeitung bình luận: “Cuộc tổng tấn công của chất lượng”, và tờ Labourjournal sử dụng từ ngữ của chính DFG: “Sự thay đổi về luận thuyết” và diễn đạt sự đồng thuận của mình theo một cách riêng: “Vì chúng ta luôn thấy thay đổi luận thuyết là tuyệt vời, chúng ta sẽ kiên trì”.   Chỉ riêng những hưởng ứng này đã làm DFG tự tin hơn, đặc biệt là  Matthias Kleiner, người đã bảo vệ Quy chế trước Hội đồng Quỹ. Nhưng điều làm ông chủ tịch Quỹ tự tin hơn chính là những phản ứng từ những người chịu tác động của Quy chế này: “Phản ứng từ giới khoa học phần lớn là tốt”, Kleiner đánh giá.  Sự ca ngợi và  ủng hộ còn đến từ các hiệu trưởng và chủ tịch các trường đại học, các bộ trưởng khoa học của Liên bang và của các Tiểu bang. Cả Hiệp hội Đại học Đức cũng ủng hộ Quy chế và kiến nghị sử dụng nó vào việc tuyển dụng. Sự tán thành cũng tới từ ngoài nước, Trung Quốc cũng như Hoa Kỳ.   Đối với DFG, ý kiến từ mỗi nhà khoa học là quan trọng nhất, vì công việc của họ – như là một người đăng ký  đề án hay như là một phản biện – bị ảnh hưởng trực tiếp từ Quy chế. Lời ủng hộ của Giáo sư Ute Daniel, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa-xã hội tại trường TU Braunschweig, đại diện cho ý kiến của  nhiều người: “Với việc này DFG đã đưa ra một thông điệp! Khuynh hướng công bố ồ ạt là một vấn đề rất lớn và đặc biệt có hại tới thế hệ khoa học trẻ, những người bị ép buộc thường xuyên phải công bố công trình. Khi phải làm phản biện, tôi luôn khổ sở vì những danh sách công trình dài ngoằng vô tích sự – tôi không có khả năng phân biệt trong một thời gian ngắn những kết quả quan trọng từ một đống các kết quả vô vị. Vì thế việc giới hạn vào một số những kết quả quan trọng là hết sức có ý nghĩa”.   Ngoài những lời khen ngợi từ cộng đồng khoa học, cũng có những chỉ trích và chống đối – như trong mọi sự thay đổi luận thuyết, trường hợp này cũng vậy. Hoặc như Matthias Kleiner phát biểu: “Ai muốn thay đổi mà ngại sự chống đối, tốt hơn hết giữ cả hai thứ đó cân bằng. Những người cuối cùng nhận được toàn lời khen,  thế nào cũng đã làm sai điều gì đó”.  Không có lời khen nào đến từ các Hội đồng chuyên ngành của DFG thuộc các lĩnh vực Khoa học Sự sống và Tâm lý. Bản thân họ không phản đối định hướng mới này. Đối với họ, việc quan trọng nhất cũng là chất lượng, họ cũng không tôn thờ các danh mục công trình hay chỉ số ảnh hưởng.      Tranh cãi xoay quanh chủ  yếu một điểm của Quy chế: hạn chế năm công trình được phép khai báo trong lý lịch khoa học. Đó là quá ít – hơn nữa lại cho tất cả những người tham gia, các hội đồng chuyên ngành thuộc lĩnh vực Khoa học Sự sống đã đánh giá như vậy. Như vậy nhiều người đăng ký đề tài không thể giới thiệu toàn bộ các hoạt động nghiên cứu của họ cả về bề rộng lẫn sự đa dạng. Cả những nhà khoa học trẻ cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là các nghiên cứu sinh, vì khi đó sẽ có nhiều người muốn công bố các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao. Nhưng trước tiên những phản biện và các hội đồng sẽ bị ảnh hưởng bởi quy chế hạn chế số công bố. Làm thế nào để có thể đánh giá được toàn bộ công việc  hoặc là phát hiện được một khuynh hướng chỉ trong năm công bố? Hậu quả là những người đăng ký sẽ phải bổ sung bản tự đánh giá tốn kém và dễ sai sót, đó chính là sự lo lắng.     Những người chỉ  trích muốn thay vào đó có nhiều hơn – mười hoặc mười lăm công bố – được phép kê khai. Ngoài ra, danh sách toàn bộ công trình cũng cần được cho phép bổ sung vào; danh sách này không thể thiếu khi đánh giá toàn bộ công việc.  Quỹ DFG không coi nhẹ  những chỉ trích này. Tuy vậy, Quỹ có quan điểm khác về nội dung: Ngoài bản lý lịch khoa học thì cũng có thể bổ sung các tài liệu khác, Matthias Kleiner giải thích rõ ràng. ” Những người đăng ký cần có ý thức về sự hạn chế và cả sự đặc thù của Lý lịch khoa học”. Vị chủ tịch DFG cũng không cho rằng lớp kế cận sẽ bị thiệt thòi: “Những nhà khoa học trẻ với số công trình ít hơn một chút tại các tạp chí tốt hoặc rất tốt có cơ hội ngang với những đồng nghiệp nhiều kinh nghiệm hơn, những người có nhiều công trình hơn trong những tạp chí tốt nhưng từ nhiều năm trước”.     Các câu hỏi “Công bố bao nhiêu?” và “Công bố ở  đâu?” không còn cần quan tâm nữa. Kleiner nhấn mạnh : “Một kết quả tạo ra nhiều nghiên cứu mới  đối với chúng tôi và cho Khoa học quan trọng hơn nhiều những “đơn vị công trình khả công bố tối thiểu” – ngay cả khi kết quả này được công bố trên một tạp chí ít uy tín hơn. Chúng ta cần loại bỏ thói quen “băm nhỏ” kết quả ra để công bố. Đó chính là thay Số lượng bởi Chất lượng”.  Nhưng ngay cả khi không đồng tình với những chỉ trích, DFG vẫn muốn theo dõi chặt chẽ những tác động của quy chế mới. Matthias Kleiner tham dự thảo luận tại một số Hội đồng ngành và cam đoan với những người chỉ trích rằng: “Nếu trong vòng hai năm tới chúng ta có nhu cầu thảo luận hoặc thậm chí thay đổi, chúng tôi sẽ sẵn sàng đi thẳng vào vấn đề”. Tuy nhiên định hướng với nhiều đồng thuận như vậy chắc sẽ không bị thay đổi.     Phùng Hồ Hải dịch         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều kỳ vọng trong năm 2014      Qua Hội nghị Cán bộ chủ chốt năm 2013 của Bộ KH&amp;CN được tổ chức cuối tháng 12,&#160; có thể điểm qua một số những công việc Bộ đã làm được trong năm 2013, những tồn tại vướng mắc, và những mục tiêu đáng chú ý trong năm 2014.    Điểm nhấn quan trọng của công tác hoàn thiện thể chế và cơ chế, chính sách phát triển KH&CN của quốc gia là sự ra đời của Luật KH&CN sửa đổi, trong đó Bộ KH&CN là cơ quan đóng góp phần nỗ lực quan trọng. Đồng thời, để Luật đi vào thực tiễn đời sống, Bộ đã xây dựng 5 dự thảo Nghị định, và 27 Thông tư (bao gồm cả Thông tư liên tịch), và xây dựng quy trình để thống nhất trong hoạt động quản lý các nhiệm vụ cấp quốc gia. Theo đó, các nhiệm vụ KH&CN đều được giao theo phương thức đặt hàng và có địa chỉ áp dụng kết quả nghiên cứu.   Cụ thể là Bộ đã phê duyệt các đề án khung của 3 sản phẩm quốc gia “vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi”, “thiết bị nâng hạ có sức nâng lớn”, và “an ninh mạng”, ngoài ra còn phê duyệt 6 dự án thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao, 8 nhiệm vụ thuộc Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia. Tổng cộng, đã có 83 nhiệm vụ thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước được triển khai thực hiện với số kinh phí 124,3 tỷ đồng trong năm 2013; đồng thời có 91 nhiệm vụ cho năm 2014 được lựa chọn trên cơ sở 360 đề xuất từ các Bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt qua Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi, từ năm 2011 đến nay Bộ đã phối hợp với Bộ NN&PTNT và các Bộ ngành liên quan phê duyệt 278 dự án triển khai tại 60 tỉnh, thành phố với tổng kinh phí gần 1300 tỷ đồng, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội thiết thực tại các địa phương.  Bên cạnh đó, Bộ KH&CN đã có nhiều hoạt động hỗ trợ tiến trình đổi mới công nghệ và các hoạt động sản xuất, thương mại của các doanh nghiệp, như thử nghiệm hơn 364 nghìn mẫu sản phẩm hàng hóa, chứng nhận phù hợp cho hơn 6000 sản phẩm, và giám định 40 nghìn lô hàng. Đã xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho 34.671 đơn đăng ký, và cấp 122 bằng sáng chế/giải pháp hữu ích của người Việt Nam. Ngoài ra, Bộ tổ chức điều tra, khảo sát xác định nhu cầu tiếp nhận công nghệ của hơn 1000 tổ chức, doanh nghiệp; xác định được danh mục 123 loại nhu cầu tiếp nhận công nghệ, đặt hàng nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ. Qua đó, đã khảo sát và xác định 300 nguồn cung công nghệ trong và ngoài nước; hỗ trợ ký kết được 25 hợp đồng và thỏa thuận hợp tác chuyển giao công nghệ với giá trị hơn 200 tỷ đồng.  Một số tồn tại, vướng mắc  Mặc dù đã nỗ lực nhưng việc xây dựng các thông tư quan trọng chưa đáp ứng tiến độ, đặc biệt một số thông tư liên tịch với Bộ Tài chính kéo dài 2-3 năm vẫn chưa đi tới thống nhất để ban hành. Đơn cử như Thông tư về định mức và phương thức cấp tiền lương, tiền công và tiền chi hoạt động bộ máy trong dự toán nhiệm vụ của tổ chức KH&CN công lập đến nay vẫn chưa được Bộ KH&CN cùng Bộ Tài chính nhất trí, gây thêm chậm trễ cho tiến trình chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, và khiến trong năm 2014 Thủ tướng vẫn phải cho phép cấp kinh phí hoạt động thường xuyên năm cho các tổ chức KH&CN công lập theo phương thức và định mức như năm 2013.  Mặt khác, nguồn kinh phí cấp cho các nhiệm vụ KH&CN còn chưa hợp lý – trong đó có phần nguyên nhân khách quan là công tác phân bổ kinh phí KH&CN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư không sát với đề xuất của Bộ KH&CN – như vẫn còn tình trạng các nhiệm vụ KH&CN chồng chéo, trùng lặp, theo phản ánh từ lãnh đạo một Phòng thí nghiệm trọng điểm. Kinh phí đầu tư cho nhân lực quản lý và khai thác sử dụng các phòng thí nghiệm còn thấp so với kinh phí đầu tư cho trang thiết bị – tính đến nay 16 phòng thí nghiệm trọng điểm đã được đầu tư hơn 965 tỷ đồng (trung bình hơn 60 tỷ đồng/phòng). Đặc biệt, thiếu kinh phí và nguồn nhân lực cũng là nguyên nhân khiến hoạt động thẩm định, thẩm tra chất lượng các sản phẩm hàng hóa bị hạn chế, chưa kịp thời, như phản ánh của đại diện Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, trong khi đây là vấn đề rất được dư luận quan tâm trong thời gian qua.   Tiêu điểm chính sách trong năm 2014  Nằm trong số những vấn đề lớn mà cộng đồng KH&CN và dư luận hiện đang trông chờ nhiều ở Bộ KH&CN là việc tiếp tục triển khai Luật KH&CN sửa đổi, và thúc đẩy tiến trình đổi mới công nghệ trong thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt là tại các doanh nghiệp. Giới khoa học sẽ quan tâm nhiều tới hoạt động hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật về KH&CN, như xây dựng cơ chế xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách phù hợp với đặc thù lĩnh vực KH&CN, đặc biệt là việc ban hành và áp dụng cơ chế đặt hàng, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và cơ chế mua sản phẩm KH&CN. Cơ chế quỹ trong cấp phát kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN cũng cần được tiếp tục mở rộng và hoàn thiện, để chất lượng nghiên cứu cơ bản và tính thực tiễn của các nghiên cứu ứng dụng được nâng cao, tránh tình trạng chạy theo số lượng thành tích.   Đối với đại chúng, vấn đề được quan tâm nhiều hơn sẽ là mối liên kết viện/trường và doanh nghiệp, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, và môi trường để hình thành doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp. Đây là lĩnh vực đòi hỏi nhiều nỗ lực của Bộ KH&CN, trong bối cảnh thị trường KH&CN Việt Nam còn rất sơ khai. Trước mắt, dự kiến Bộ sẽ tập trung vào giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước. Các chương trình quốc gia sẽ tiếp tục được triển khai với trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ, đổi mới công nghệ.  Cuối cùng, một vấn đề được dư luận xã hội hết sức quan tâm là việc triển khai đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, trong đó đặc biệt quan trọng là vấn đề năng lực quản lý về an ninh, thanh sát hạt nhân, hoạt động đào tạo chuyên gia, cán bộ quản lý, và công tác thẩm định báo cáo phân tích an toàn cho các dự án điện hạt nhân. Vì vậy, dự kiến trong năm 2014, Bộ KH&CN đặt nhiệm vụ trọng tâm là triển khai công tác đào tạo chuyên gia và cán bộ quản lý trong lĩnh vực pháp quy hạt nhân, và tăng cường năng lực quản lý với việc xây dựng Kế hoạch chi tiết phát triển cơ sở hạ tầng an ninh hạt nhân quốc gia, trong đó quy định phân công trách nhiệm triển khai thực hiện các điều ước quốc tế về an toàn, an ninh hạt nhân. Bộ cũng sẽ chuẩn bị và tổ chức thẩm định báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ phê duyệt địa điểm và hồ sơ phê duyệt dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Đây là trọng trách lớn mà nhân dân trông đợi Bộ KH&CN sẽ thực thi với tinh thần nghiêm túc chuyên nghiệp, trung thực, và đầy đủ sự sáng suốt cần thiết.   Bên cạnh đó, dư luận cũng mong chờ Đề án Thông tin, tuyên truyền về phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam đến năm 2020 sẽ được xây dựng không theo mô hình tuyên truyền kiểu độc thoại một chiều, mà đảm bảo các tiêu chí về tính công khai minh bạch trong công tác tuyên truyền, đặc biệt là đảm bảo tính đối thoại thẳng thắn, đa chiều, và kịp thời giải đáp những vấn đề nhạy cảm, nóng bỏng được xã hội quan tâm.        Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhiều ý kiến trái chiều về danh sách Tạp chí ISI uy tín”      Theo PGS. TS Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm KH&amp;CN Việt Nam), việc đưa một tạp chí thiếu thuyết phục (thậm  chí dễ dãi) vào danh sách tạp chí uy tín của Quỹ Nafosted về lâu dài sẽ gây ra định hướng  sai cho cộng đồng khoa học Việt Nam và có thể dẫn tới những khiếu nại  không đáng có.&#160;       Hai danh sách “Tạp chí quốc tế uy tín” và “Tạp chí ISI uy tín” là kết quả mà Quỹ Nafosted đưa ra sau khi đã tham khảo sơ bộ giới khoa học các ngành và chọn lọc trong danh mục gần 8.700 tạp chí SCI-E của ISI và gần 16.500 tạp chí trong danh sách SCImago được chia đều ra bốn mức Q1, Q2, Q3 và Q4.   Danh sách “Tạp chí quốc tế uy tín” (mức chuẩn) là các tạp chí trong danh mục tạp chí SCI-E, đồng thời cũng phải nằm trong danh mục Q1+Q2+1/2 Q3 của SCImago. 82% công bố từ các đề tài do Quỹ tài trợ nằm trong danh sách này. Còn danh sách “Tạp chí ISI uy tín” (mức cao) là các tạp chí của danh mục tạp chí SCI-E, đồng thời nằm trong 1/2 Q1 của SCImago. 18% công bố từ các đề tài do Quỹ tài trợ nằm trong danh sách này. Theo cách tính điểm của Quỹ, công bố thuộc danh sách “Tạp chí quốc tế uy tín” sẽ đạt chuẩn tối thiểu một điểm, còn với công bố thuộc “Tạp chí ISI uy tín” được tính hai điểm.          Các tạp chí SCI là những tạp chí khoa học  được lựa chọn vào danh sách được lập bởi Viện Thông tin Khoa học (ISI)  do Eugene Garfield sáng lập chính thức từ năm 1964, nay sở hữu bởi tập  đoàn Thomson Reuters. Các tạp chí SCI-E là một danh sách tương tự như  SCI nhưng mở rộng hơn.               Các tạp chí trong danh sách SCImago: được xếp  hạng căn cứ theo ảnh hưởng của các tạp chí khoa học, trong đó tính đến  số lượng trích dẫn mà mỗi tạp chí nhận được và uy tín của các tạp chí  trích dẫn lại tạp chí đó.        Hầu hết các nhà khoa học khi được Quỹ tham khảo ý kiến chỉ tạm chấp nhận danh sách “Tạp chí quốc tế uy tín”. Với danh sách “Tạp chí ISI uy tín”, có nhiều ý kiến trái chiều được đưa ra. Theo các đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm công bố, danh sách “Tạp chí ISI uy tín” cũng có không ít tạp chí chưa đủ tiêu chuẩn trong khi nhiều tạp chí vẫn được coi là có chất lượng cao lại ở ngoài danh sách. Cũng có nhà khoa học cho rằng, đây mới chỉ là điều kiện cần, bài báo cụ thể còn cần được đánh giá và thẩm định bởi Hội đồng khoa học (HĐKH) ngành. Việc đưa một tạp chí thiếu thuyết phục (thậm chí dễ dãi) vào danh sách tạp chí uy tín của Quỹ sẽ gây ra định hướng sai cho cộng đồng khoa học Việt Nam và có thể dẫn tới những khiếu nại không đáng có.    Có ý kiến cho rằng việc bổ sung các tạp chí chất lượng cao và loại bớt các tạp chí không xứng đáng vào danh sách nên để các HĐKH ngành chủ động thực hiện. Cách làm này chưa thật thấu đáo bởi sẽ làm mất đi tính khách quan trong đánh giá và có thể gây thêm tranh luận bởi hiện nay, cộng đồng khoa học của Việt Nam còn chưa đủ năng lực đánh giá và khả năng bao quát tạp chí các ngành.   Tuy khó tìm được những điểm tựa khách quan để chỉnh lý vấn đề này nhưng vẫn có một điểm tựa sẵn có là danh sách tạp chí SCI của ISI. Không khó để nhận thấy rằng, nếu sử dụng danh sách tạp chí uy tín nằm trong vùng giao của SCI và 1/2 Q1 thì việc đánh giá sẽ thuyết phục hơn, qua đó góp phần loại được không ít tạp chí chưa xứng đáng ra khỏi danh sách này.  Cân nhắc giữa các ưu điểm của SCI/SCI-E và SCImago  Ưu điểm lớn nhất của SCImago là đã phân loại tạp chí ra nhiều mức theo các chuyên ngành hẹp. Tuy nhiên việc phân loại tạp chí dựa trên hệ số trích dẫn citations và hệ số ảnh hưởng IF vẫn ẩn chứa nhiều nhược điểm. Cách phân loại có tham khảo chuyên gia theo các danh sách SCI, SCI-E của ISI, và cả A*, A,B,C của Quỹ Khoa học Úc (ARC – được biết nay đã không còn áp dụng nữa) có sức thuyết phục hơn đối với các đồng nghiệp có nhiều thành tích và kinh nghiệm công bố. Tuy ISI không đưa ra tiêu chí và giải thích cách phân loại nhưng vẫn thường xuyên bổ sung và loại bớt số tạp chí với cả hai danh sách này. Hiện nay, Quỹ ít nhất đã chấp nhận việc thay đổi  quan điểm đối với bài báo đăng trên tạp chí SCI-E, dù không có giải thích rõ ràng. Danh sách SCI và SCI-E có uy tín và được sử dụng rộng hơn trên trường quốc tế. Trung Quốc chỉ chấp nhận bài SCI là chuẩn quốc tế, còn Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cũng nêu mức thưởng cho bài báo SCI ở mức cao hơn SCI-E.  Khi nhìn vào danh sách gần 8.700 tạp chí SCI-E, trong đó có khoảng 4.000 tạp chí SCI, ISI, đồng thời nhìn vào gần 16.500 tạp chí của SCImago, vốn được chia đều ở mức Q1, Q2, Q3, và Q4, chúng ta thấy nhiều khác biệt đáng kể:  Thứ nhất, danh sách 8.700 tạp chí SCI-E ít hơn hẳn so với danh sách hơn 12.000 tạp chí Q1+Q2+Q3 của SCImago, nhưng trong số công bố ISI của Quỹ Nafosted vẫn có tới 11% không có trong danh sách Q1+Q2+Q3 của SCImago.   Thứ hai, danh sách 8.700 tạp chí SCI-E ít hơn hẳn so với danh sách hơn 10.000 tạp chí Q1+Q2+1/2 Q3 của SCImago nhưng trong số công bố ISI của Quỹ Nafosted vẫn có tới 18% không có trong danh sách Q1+Q2+1/2 Q3 của SCImago.   Thứ ba, danh sách 4.000 tạp chí SCI gần bằng số tạp chí Q1 của SCImago nhưng 1/3 số công bố ISI ngành Cơ học của Quỹ có trong danh sách 1/2 Q1 không có trong danh sách SCI vì thuộc nhóm SCI-E.  Đề xuất một cách phân loại toàn diện hơn  Từ những thực tế nêu trên, để tăng thêm sự công bằng cho việc phân loại tạp chí, chúng tôi đề nghị phân ra các mức như sau:  Mức 1 (M1, 2 điểm): giao của SCI và 1/2 Q1  Mức 2 (M2, 1,5 điểm): giao của SCI và Q1  Mức 3 (M3, 1 điểm): giao của SCI-E và Q2+Q1 còn lại  Mức 4 (M4, 0,5 điểm): giao của SCI-E và 1/2 Q3  Mỗi ngành có thể chọn ra một đến hai tạp chí uy tín trong nước để tính 0,25 điểm nhưng tổng cộng điểm thưởng không quá 0,5 điểm cho mỗi đề tài.  Có thể thấy M1 vẫn chưa tuyệt đối thuyết phục vì trong danh sách SCI vẫn lọt vào một số tạp chí chưa thật xứng đáng – đáng tiếc là ISI không lập thêm mức cao hơn SCI để lấy giao tại điểm này. Tuy nhiên, cách phân loại mới có ưu điểm là một số tạp chí có uy tín không vào được danh sách M1, nhưng lại được vào M2 với điểm khá cao. Các đồng nghiệp cổ vũ tạp chí uy tín trong nước cũng có thể yên tâm khi hai bài tạp chí uy tín trong nước kết hợp vớp một bài trong M2 là đạt tiêu chuẩn hai điểm tối thiểu mà Quỹ yêu cầu.   Bên cạnh đó, nếu muốn nâng cao dần chất lượng công bố, Quỹ cũng có thể nâng yêu cầu mỗi đề tài tối thiểu từ 2 lên 2,5 điểm hoặc yêu cầu mỗi đề tài ít nhất cũng phải có một bài mức M3 trở lên…  Riêng với những đề tài thuộc lĩnh vực khoa học thực nghiệm, chúng tôi đề nghị xét nâng điểm các bài báo thực hiện hoàn toàn bằng nội lực lên một mức: bài M2 có thể nâng điểm lên M1, M3 lên M2, M4 lên M3 và các bài ISI còn lại có thể cho 0,5 điểm. Cách làm này cũng giải tỏa được băn khoăn của các nhà khoa học khối thực nghiệm.          Nhằm hạn chế khuynh hướng công bố trên các tạp chí quốc  tế có uy tín thấp, Quỹ Nafosted đã tham khảo sơ bộ giới khoa học để xây  dựng danh sách các tạp chí quốc tế được Quỹ công nhận khi nghiệm thu,  bao gồm hai danh sách “Tạp chí quốc tế uy tín” và “Tạp chí ISI uy tín”.                      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhìn lại một năm của Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán      Một năm là quãng thời gian ngắn ngủi đối với  một viện nghiên cứu, nhưng có thể nói một năm, và nhất là sáu tháng  qua, Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) đã lặng lẽ hoạt động cho  các mục tiêu và kế hoạch của mình, với sự tham gia và ủng hộ của đông  đảo người Việt làm toán trong và ngoài nước, và nhiều nhà toán học xuất  sắc trên thế giới.     Tuy đã bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm ngoái với các bài giảng của giáo sư Ngô Bảo Châu, các hoạt động chính của VIASM mới thực sự bắt đầu từ tháng 2 năm nay (2012), khi “nhóm tối ưu miền Nam” do giáo sư Phan Quốc Khánh của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì tới làm việc bốn tháng ở Viện (“Hình thức hoạt động chính của Viện là tổ chức các nhóm chuyên môn, tập hợp các nhà khoa học trong cùng một lĩnh vực đến làm việc ngắn hạn ở Viện.”, http://viasm.edu.vn/?page_id=36).   VIASM chủ trương tiến hành các hoạt động khoa học ngay khi ban giám đốc được bổ nhiệm và khi thuê được trụ sở tạm thời tại thư viện Tạ Quang Bửu của Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng lúc với việc lập ban tư vấn quốc tế, hội đồng khoa học và văn phòng phục vụ cho các hoạt động của Viện. Các quy định về cách thức hoạt động, tiêu chí tuyển nghiên cứu viên và nhóm nghiên cứu, xét chọn các đề tài và nhóm nghiên cứu cho năm 2012 và 2013, tôn tạo 10 phòng làm việc khang trang cho các nghiên cứu viên, làm trang web của Viện… cũng được tiến hành trong thời gian này.   Điều dễ nhận thấy là sự minh bạch trong các hoạt động của Viện, với mọi thông tin như đề tài, nhân sự và kinh phí được nêu một cách rõ ràng trên trang web của Viện bằng tiếng Việt và tiếng Anh (http://viasm.edu.vn).  Một điều vẫn đáng bàn là tại sao lại nên có VIASM ở Việt Nam, điều mà nhiều người kể cả nhiều nhà khoa học vẫn còn băn khoăn. Một lý do là khi nhìn các nhà toán học làm việc ta thường chỉ thấy họ dùng giấy và bút hay bảng và phấn, nhưng ít thấy là họ cần và phải trao đổi rất nhiều với đồng nghiệp để hiểu các vấn đề phức tạp và hình thành các ý tưởng, và rồi cặm cụi tìm cách chứng minh chúng. Chính vì vậy nhiệm vụ chính của VIASM là cung cấp cơ hội để những người làm toán trong cùng một lĩnh vực đến đây (ít nhất là hai tháng) cùng trao đổi về những bài toán của mình.   Một lý do cơ bản khác là trong mấy trăm trường đại học và cao đẳng trên cả nước có hàng nghìn người dạy toán và nếu trong số này không có một vài trăm người làm nghiên cứu thì dễ có lúc các thầy cô dạy toán đại học của ta choáng ngợp về sự phát triển của toán học trên thế giới và có thể bị “cóng” mà không dạy nổi nữa. Để một vài trăm người này làm nghiên cứu theo được trình độ quốc tế, họ cần được hỗ trợ, như có những quãng thời gian đến làm việc ở VIASM với các chuyên gia. Những người làm toán hiểu sâu sắc rằng mục tiêu phát triển toán học của ta không phải vì một vị trí xếp hạng nào đó trên thế giới, mà để nâng chất lượng nghiên cứu và ứng dụng toán học, góp phần của toán học vào nền khoa học và công nghệ còn non yếu của ta, thậm chí để nuôi dưỡng và giữ được lực lượng nghiên cứu toán học của ta trong những năm tới.   Để được chọn đến VIASM làm việc, những người làm toán phải tập hợp được thành các nhóm với các đề tài có giá trị. Hai yêu cầu cơ bản là mỗi nhóm phải có một người chủ trì có uy tín về chuyên môn và phải mời được một vài chuyên gia loại hàng đầu thế giới cùng chuyên ngành đến làm việc ở VIASM với mình trong thời gian tối thiểu là hai tuần. Việc mời được các chuyên gia uy tín phụ thuộc vào quan hệ quốc tế của người chủ trì nhóm, và phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của giám đốc khoa học của Viện (ở châu Á, giáo sư Ngô Bảo Châu là người thứ tư được giải Fields, sau ba nhà toán học người Nhật). Có thể hiểu việc có các chuyên gia uy tín quốc tế thường xuyên đến làm việc cộng với điều kiện làm việc tốt, phù hợp với ngành toán của VIASM là nghĩa chính của hai chữ “cao cấp” trong tên gọi Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán.   Cách hoạt động hỗ trợ các nhà toán học đúng với đặc trưng ngành toán như ở VIASM đã phổ biến trên thế giới lâu nay, không chỉ ở các nước có nền toán học rực rỡ như Mỹ, Pháp, Nhật.. mà còn ở nhiều nước quanh ta như Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Malaysia… Tuy nhiên, có những điều kiện cần để một viện như vậy có thể hiệu quả, như một người phụ trách có uy tín quốc tế cao.  Nhiều người có thể sẽ ngạc nhiên khi biết kinh phí dành cho VIASM không nhiều như có lúc đã thấy trên báo chí (thực ra 651 tỷ đồng là kinh phí cho ngành toán cả nước trong quãng thời gian 2010-2020). Trang web của VIASM cho biết Viện được cấp 4,4 tỷ VNĐ cho năm 2011 và 15 tỷ VNĐ cho năm 2012 (http://viasm.edu.vn/?page_id=3801). Kinh phí của VIASM năm 2012 như vậy là quãng 0,75 triệu USD, một con số thật khiêm tốn nếu so sánh với kinh phí 20 triệu USD hằng năm của Viện Toán cao cấp của Hàn Quốc, hoặc gấp quãng 8 lần kinh phí trung bình hàng năm của một giáo sư tại viện Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (JAIST) ở Nhật.   Việc tuyển chọn các đề tài đến làm việc tại VIASM được hội đồng khoa học tiến hành nghiêm túc. Mỗi hồ sơ đề tài đều được đọc và thảo luận bởi toàn bộ 14 thành viên hội đồng sau khi nghe nhận xét chi tiết của ít nhất hai thành viên có chuyên môn gần với đề tài, và quyết định bởi giám đốc khoa học của Viện. Trong bốn tháng vừa qua, VIASM đã đem nhiều người làm toán trên cả nước, từ Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Quy Nhơn, Huế… và Hà Nội tới làm việc ở Viện.   Điều đáng nói là VIASM đã và đang là cầu nối và nơi đến của rất nhiều người Việt đang làm toán ở nước ngoài. Có VIASM những người làm toán này có thêm nơi để trở về góp sức với anh em làm toán trong nước. Họ về để chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước những gì họ biết và đang làm. Riêng tại hội nghị toán học Việt-Pháp vào cuối tháng 8 năm nay ở Huế do Hội Toán học Việt Nam và Hội Toán học Pháp tổ chức với sự tham gia tích cực của VIASM, đã có hơn 50 nhà toán học người Việt ở nước ngoài đăng ký tham gia.   Cũng rất đáng nói là VIASM là nơi để nhiều nhà toán học lừng danh thế giới đến giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam. Căn hộ công vụ nhà nước cấp cho giáo sư Ngô Bảo Châu được dùng làm chỗ ở cho các giáo sư nước ngoài đến làm việc ở VIASM, khi anh không ở Việt Nam. Nhiều người trong số họ, như giáo sư Thomas Hales từ Đại học Pittsburgh, có sở thích hằng ngày đi bộ từ tòa nhà có căn hộ này đến VIASM, đi trong cái nắng nóng và ồn ào xe cộ của Hà Nội.   Khuyến khích toán học ứng dụng   Điều cuối cùng tôi muốn nói là trong khi phần lớn các đề tài của VIASM là về các nội dung của toán học lý thuyết, thì ban giám đốc và hội đồng khoa học của VIASM cũng rất khuyến khích và ủng hộ các đề tài về toán học ứng dụng và toán học trong các khoa học khác. Riêng năm 2012 VIASM đã nhận hai đề tài về toán học trong khoa học máy tính (công nghệ thông tin). Một về các thuật toán tiến hoá để giải bài toán tối ưu nhiều mục tiêu, và một về các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy.  Đề tài “Các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy” tại VIASM là một đề tài chuyên biệt, gồm hoạt động nghiên cứu của một nhóm mười người cùng các bài giảng cho đông đảo người quan tâm về lĩnh vực này. Học máy (machine learning), “… còn  gọi học tự động– nhằm làm cho máy có một số khả năng học tập của con  người– là một trong những lĩnh vực phát triển sôi động của khoa học máy  tính trong vòng hai chục năm vừa qua. Chính Bill Gates cũng cho là “mỗi đột phá trong ngành học máy có thể đáng giá mười Microsoft” (“a breakthrough in machine learning would be worth ten Microsofts”).   Bản  chất của học máy là việc làm cho máy tính tự động phân tích được các  tập dữ liệu lớn và phức tạp thu được từ mô tả và quan sát các hiện thực  trong tự nhiên và xã hội, giúp con người hiểu và dùng chúng. Ứng dụng của học máy có ở bất kỳ nơi đâu có những tập dữ liệu cần khai thác, như phân tích rủi ro trong hoạt động tài chính; dự đoán bệnh tật và hiệu quả của các loại thuốc; tìm kiếm thông tin trên web như ta vẫn dùng Google; tự động biết về nhu cầu và sở thích của khách hàng trong kinh doanh; dịch một văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt…   Đáng kể là trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, có một sự phát triển mạnh mẽ nhằm tạo ra và đưa các phương pháp toán học vào học máy tiêu biểu là các phương pháp đại số, đồ thị, tối ưu, giải tích hàm và xác suất thống kê để giải các bài toán khó của lĩnh vực này. Học máy là một ví dụ tiêu biểu cho thấy toán học có vai trò quyết định trong một khoa học khác, và những lý thuyết toán học hiện đại đang được dùng vào những ứng dụng rất thiết thực.   Các phương pháp học máy thống kê đã và đang thay đổi sâu sắc ngành học máy trong hơn một thập kỷ qua với những kết quả kỳ diệu. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh và phong phú này đã làm một bộ phận lớn của cộng đồng nghiên cứu học máy trên thế giới bị tụt lại, và có lẽ cũng làm cho rất nhiều người làm nghiên cứu và ứng dụng học máy ở Việt Nam không theo kịp.   Đề tài học máy thống kê tại VIASM từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 8 năm nay do một số giáo sư người Việt đang nghiên cứu trong lĩnh vực này tại Nhật, Mỹ, Úc chủ trì với sự tham gia của giáo sư John Lafferty từ Đại học Chicago, một chuyên gia học máy hàng đầu thế giới. Các lớp học của đề tài đã thu hút hơn 120 thầy cô giáo, cán bộ một số bộ ngành, công ty, nghiên cứu sinh và sinh viên trên cả nước đăng ký tham gia (http://viasm.edu.vn).   Năm hoạt động đầu tiên này cho phép ta hy vọng và tin rằng VIASM sẽ đạt được những mục tiêu của mình trong những năm tiếp theo.  —  * Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản       Author                Quản trị        
__label__tiasang Nhu cầu về danh sách các tập san “dởm”      Sau khi danh sách các tập san “dởm” của Beall bị đóng cửa, giới học thuật vẫn đang mong chờ một danh sách công khai các nhà xuất bản có vấn đề.    Năm 2010, Jeffrey Beall, một quản trị viên thư viện tại ĐH Colorado Denver đã thống kê hàng nghìn tập san và nhà xuất bản mở mà ông cho rằng đang lừa dối các tác giả bằng cách thu phí xuất bản nhưng không đi kèm với các công việc như bình duyệt hay biên tập. Vào tháng 1/2017, Beall đã đóng cửa blog gây tranh cãi của mình do “sức ép” từ bên thuê ông – mặc dù cấp trên và lãnh đạo trường đã phủ nhận điều này và gọi đây là quyết định cá nhân của Beall.  Tuy nhiên, các bản sao lưu “dach sách đen” đó đã xuất hiện phổ biển trên mạng. Quản trị viên ẩn danh của một website đăng tải “danh sách đen” này tự nhận là một trợ lý nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên tại một viện nghiên cứu ở châu Âu, nhận định, mối quan tâm ngày càng gia tăng [của người truy cập] trên trang web đăng tải “danh sách đen” cho thấy vẫn còn một niềm “khao khát giá trị học thuật” đối với các “danh sách đen” về các tạp chí “dởm”. Nhân vật này giữ liên hệ với Nature qua e-mail và từ chối cung cấp các chi tiết có thể giúp cung cấp thêm thông tin về mình, điều đó cho thấy nỗi sợ hãi về sự phiền nhiễu có thể đến.  Trang web của họ ban đầu được sử dụng cho mục đích cá nhân nhưng sau đó bắt đầu nhận được email của các viện nghiên cứu hỏi về chất lượng của các tập san hiện nay. Thi thoảng, các nhà khoa học đánh dấu những tập san mà họ tin rằng có vấn đề hay đôi khi cáo buộc nghiên cứu hay danh tính của họ bị nhà xuất bản “dởm” ăn cắp.      Cộng đồng khoa học vẫn đang cần một danh sách đen đủ tốt để phòng ngừa các tạp chí “dởm”, tuy nhiên nó phải bao gồm các tiêu chí và giải thích rõ ràng cũng như có hệ thống khiếu nại      Nếu tên tạp chí chưa được liệt kê, người quản trị website nói rằng họ sẽ tiến hành thực hiện những phân tích sâu về các chính sách của nhà xuất bản, kiểm tra dựa trên bộ tiêu chí do Beall lập ra, và nghiên cứu xem chúng có được lập chỉ mục trên tạp chí “danh sách trắng”, như Directory of Open Access Journals hay Journal Citation Reports hay không. Đến tháng 3/2018, website đã bổ sung thêm 85 tập san độc lập và 27 nhà xuất bản vào danh sách gốc của Beall. Một website khác có tên là Stop Predatory Journals, thành lập vào tháng 1/2017, được nhóm các học giả và chuyên gia công nghệ thông tin lập ra và điều hành với mục tiêu “xây dựng và hồi sinh” danh sách của Beall, tuy nhiên lại không cập nhật thêm một tạp chí dởm nào, đồng thời cũng không trả lời câu hỏi của Nature.  Tháng 6/2017, Cabell’s international – một công ty chuyên về các dịch vụ liên quan đến học thuật ở Beaumont, Texas, đã đưa ra một danh sách đen riêng kèm với hàng loạt tiêu chí đánh giá cụ thể. Danh sách của Cabell’s có khoảng 800 tập san, trong đó một số không phải truy cập mở. Tuy phải trả tiền để đọc danh sách này nhưng hiện đã có khoảng 200 viện nghiên cứu đăng ký theo dõi.  Rick Anderson (ĐH Utah, Salt Lake City) – người tư vấn cho Cabell’s về ý tưởng dự án, nói: mặc dù hiểu tại sao những người quản trị các danh sách “hồi sinh” lại muốn ẩn danh nhưng việc giấu tên của họ cũng đồng nghĩa với thiếu trách nhiệm giải trình. Cộng đồng khoa học vẫn đang cần một danh sách đen đủ tốt để phòng ngừa các tạp chí “dởm”, tuy nhiên nó phải bao gồm các tiêu chí và giải thích rõ ràng cũng như có hệ thống khiếu nại – “Và để làm tốt điều này thì sẽ tốn kém và khó khăn.”  Thanh Trúc lược dịch  Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-018-02921-2    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những “bà đỡ” kiểu Úc      Chỉ cần các nhà khoa học có nghiên cứu tốt, sẽ có các “bà đỡ” giúp họ đưa nghiên cứu đó đi từ phòng lab vào cuộc sống. Dưới đây là một vài kiểu mẫu “bà đỡ” mà chúng tôi vừa có dịp tìm hiểu ở Nam Úc.    Đầu tư mạo hiểm  Đúng như tên gọi của mình, Trans Tasman Commercialization Fund (TTCF) là một quỹ đầu tư mồi (pre-seed and seed capital) và đầu tư mạo hiểm (venture capital) để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của năm trường đại học hàng đầu ở Đông Nam Úc và New Zealand (ĐH Flinders, Adelaide, Nam Úc, Monash, và Auckland).  “Điểm khác biệt của chúng tôi so với các quỹ đầu tư mạo hiểm khác là chúng tôi chỉ làm việc với các trường đại học; ngoài ra, chúng tôi không ngồi chờ các đề xuất gửi đến cho mình mà cứ hai tháng một lần, chúng tôi sẽ đến các trường để trao đổi về các ý tưởng mới, nghiên cứu mới,” ông John Haskey, Giám đốc đầu tư của quỹ ở TP Adelaide, nhấn mạnh.  Toàn bộ chi phí hoạt động của TTCF, bao gồm việc trả lương cho bảy nhân sự (đều là các giám đốc đầu tư và các chuyên gia về thương mại hóa) và chi phí thuê chuyên gia bên ngoài thẩm định dự án, do Chính phủ (Úc, Nam Úc, Victoria, và New Zealand) cấp, ông Haskey cho biết.               Ông Haskey: “Chúng tôi là quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ làm việc với các trường đại học”.           Khi đã xác định được công nghệ có tiềm năng thương mại hóa, TTCF sẽ chi từ 100 đến 150 nghìn AUD để tiến hành nghiên cứu về thị trường và khả năng cạnh tranh của nó. Qua bốn năm hoạt động, quỹ đã xem xét 110 đề xuất, nhưng trong đó chỉ có 10 đề xuất được tiến hành nghiên cứu khả thi và cuối cùng chỉ còn 7 đề xuất được chọn để đầu tư thành doanh nghiệp KH&CN.   TTCF được quỹ hưu trí Superannuation cam kết cấp vốn 30 triệu AUD cho thời hạn hoạt động 10 năm và theo ông Haskey, đến nay TTCF mới sử dụng 6 triệu AUD nhưng đã nhân được tài sản lên 24 triệu AUD. Tỷ lệ thành công của TTCF khá cao: trong 7 dự án, chỉ có một dự án về công nghệ viễn thông thất bại. Ngoài ra, có một dự án thành công rực rỡ, “đủ bù đắp chi phí cho tất cả các dự án còn lại” – đó là dự án đầu tư cho công ty spin-off IPT của ĐH Auckland (New Zealand), nơi nghiên cứu công nghệ sạc không dây cho các loại xe chạy bằng điện. Tháng 11 năm ngoái, công ty IPT đã được Qualcomn, tập đoàn viễn thông lớn của Mỹ, mua lại.   Thành công trong đầu tư của TTCF có thể được lý giải bởi các tiêu chí lựa chọn công nghệ của nó rất khắt khe: đó phải là những công nghệ mới và có đẳng cấp thế giới; có thế mạnh cạnh tranh đáng kể; khó sao chép; và có giá trị nền tảng kỹ thuật gia tăng rõ ràng.  Ươm tạo công nghệ  Theo lời ông Dennis Mutton, Chủ tịch Bio Innovation SA (BioSA), cách đây 12 năm, khi nhận ra những giá trị to lớn mà công nghệ sinh học có thể đóng góp cho nền kinh tế của bang, Chính phủ Nam Úc đã quyết định thành lập một ban điều phối nhằm thúc đẩy việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này, đứng đầu là Phó thủ hiến, còn các thành viên khác đều là bộ trưởng các bộ liên quan. Sau một thời gian, các bộ trưởng rút dần khỏi ban điều phối, nhường chỗ cho các chuyên gia kinh tế, tài chính, pháp luật, công nghệ…; và BioSA ngày nay vận hành như một doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích nhưng cũng có trách nhiệm tạo ra lợi nhuận.  TS Jurgen Michaelis, Giám đốc điều hành BioSA, cho biết, hơn 10 năm qua, BioSA đã góp phần hình thành 75 công ty công nghệ sinh học từ những ý tưởng về sản phẩm mới, mà thông thường phải sàng lọc 10 ý tưởng mới chọn được một ý tưởng. Được biết, khoảng một nửa số ý tưởng gửi đến BioSA là từ các trường đại học.  “Hỗ trợ của Chính phủ đóng vai trò quyết định ở giai đoạn đầu thành lập công ty bởi không quỹ đầu tư nào muốn mạo hiểm ở giai đoạn này,” ông Michaelis nhấn mạnh. Với  BioSA, các công ty non trẻ dường như được đáp ứng đầy đủ mọi điều kiện để chuẩn bị cho các bước trưởng thành tiếp theo: được hỗ trợ từ 50 nghìn đến 250 nghìn AUD, cá biệt có trường hợp lên đến 400 nghìn AUD (tuy nhiên, với các khoản hỗ trợ trên 50 nghìn AUD thì công ty phải góp vốn đối ứng tương đương ½ khoản hỗ trợ); và được cung cấp miễn phí các dịch vụ tư vấn về kỹ năng quản lý cũng như sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, các công ty còn được bố trí phòng thí nghiệm ở vườn ươm rộng 4,8 ha của BioSA để tiếp tục hoàn thiện công nghệ của mình mà những gì phải trả chỉ bao gồm phí internet, điện nước và vệ sinh. Họ cũng được sử dụng miễn phí một số phòng thí nghiệm có sẵn của vườn ươm.            Ông Jugen Michaelis: “Giai đoạn khó khăn nhất là phát triển công  ty từ               quy mô năm lao động lên 20 lao động. Khi phát triển lên quy mô 40  lao động thì coi như họ đã thành công và từ đó công ty sẽ phát triển  nhanh.”               Ảnh: Adelaidenow.com.au”        Khi chúng tôi đến thăm vườn ươm của BioSA hồi cuối tháng 2 vừa qua thì ở đây đang có 7 công ty được ươm tạo. Các công ty này có thể ở lại vườn ươm lâu nhất là 4 năm, cho đến khi trở nên thật sự độc lập. Khi chuyển ra ngoài, họ cũng không phải đi đâu xa vì ngay cạnh vườn ươm là khu đất rộng 7ha, trước đây vốn là khu công nghiệp, nay được chính quyền TP Adelaide quy hoạch thành khu công nghệ sinh học.  Ông Michaelis chia sẻ, tất cả những việc BioSA làm chỉ cốt để từ chỗ phải dựa vào hỗ trợ của Chính phủ, các công ty sẽ trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư khác. “Không chính phủ nào đủ tiền để đầu tư cho các công ty từ đầu đến cuối. Đầu tư của Chính phủ sẽ phải giảm dần rồi cắt hẳn, trong khi các nguồn đầu tư bên ngoài ngày càng phải tăng lên – nhiệm vụ của chúng tôi là làm cho bước chuyển này diễn ra êm thấm và tốt đẹp.”   Ông Michaelis nhận định: “Giai đoạn khó khăn nhất là phát triển công ty từ quy mô năm lao động lên 20 lao động. Khi phát triển lên quy mô 40 lao động thì coi như họ đã thành công và từ đó công ty sẽ phát triển nhanh.”  Bản thân Michaelis là người sáng lập và điều hành quỹ đầu tư mạo hiểm Terra Rossa Capital (TRC) trị giá 35 triệu AUD. TRC sẽ chọn những công ty có tiềm năng nhất đã được BioSA ươm tạo để đầu tư, trung bình khoảng 1,5 triệu AUD cho mỗi công ty. Cộng thêm các nguồn đầu tư khác, trung bình mỗi công ty tiềm năng sẽ nhận được khoảng 10 triệu AUD đầu tư cho năm năm đầu tiên.  BioSA đã hai lần được các cơ quan độc lập đánh giá hiệu quả với những kết luận hết sức khả quan: 2/3 số công ty do BioSA xây dựng đã tồn tại được trên 5 năm và tạo ra khoảng 800 việc làm có thu nhập tốt. Qua BioSA, mỗi đồng Chính phủ bỏ ra đã đem lại khoảng 4 đồng doanh thu (BCR~4).  Được biết, ngoài hạ tầng cơ sở trị giá 12 triệu AUD, mỗi năm Chính phủ Nam Úc cấp cho BioSA 6 triệu AUD, trong đó một nửa được dùng để trả cho các chi phí hoạt động, bao gồm lương của 15 nhân sự; nửa còn lại được dùng để hỗ trợ các công ty đang trong giai đoạn ươm tạo như đã nói ở trên.    Đào tạo kỹ năng khởi nghiệp  “Chúng ta có nhiều nhà khoa học muốn tìm cách thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình nhưng do không có kinh nghiệm về thương trường nên họ dễ thất bại khi khởi nghiệp – đó là sự lãng phí lớn cho xã hội. Nhiệm vụ của Innovate SA là thiết kế các khóa đào tạo dành cho các doanh nghiệp đang ở giai đoạn đầu thành lập và cả những doanh nghiệp muốn chuyển đổi kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa,” bà Susan Andrew, chuyên gia tư vấn về kinh doanh của Innovate SA, cho biết.            Ông Mike Richards, Giám đốc, và bà Susan Andrews, chuyên gia tư vấn về kinh doanh, trong buổi thuyết trình về Innovate SA.            Innovate SA được thành lập từ năm 2009, thay thế cho một số cơ quan và chương trình về đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp của Chính phủ Nam Úc.  Cách thức hoạt động của Innovate SA như sau: Đầu tiên sẽ tổ chức những cuộc gặp mở rộng cho những người có nhu cầu khởi nghiệp hoặc chuyển đổi kinh doanh. Sau khi đã tìm ra các ứng viên tiềm năng (phải là người tự xây dựng được sản phẩm mới), Innovate SA sẽ tổ chức cho họ những khóa học kéo dài từ 2 tháng đến 5 tháng, tùy theo nội dung: thu hút vốn đầu tư, tiếp cận thị trường, phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa… – mỗi khóa học không quá 12 người. Ngoài ra, Innovate SA còn tổ chức các buổi tư vấn cho từng nhóm hoặc từng cá nhân.   Một nhiệm vụ quan trọng khác của Innovate SA là kết nối doanh nghiệp với nhà tài trợ, nhà đầu tư cũng như hỗ trợ tìm kiếm khách hàng tiềm năng cho các sản phẩm mới ở bên ngoài nước Úc, chủ yếu là ở Mỹ và châu Á. “Chẳng hạn, họ nghiên cứu ra một thiết bị giúp ô tô hạn chế va chạm khi tham gia giao thông, nhưng vì Úc không có ngành công nghiệp ô tô nên chúng tôi phải giúp họ tìm kiếm khách hàng ở Mỹ hoặc Đức,” bà Susan kể.  Hầu hết các khóa đào tạo của Innovate SA là miễn phí. “Không thể tính phí với họ bởi vì họ đang trong giai đoạn khởi nghiệp, thậm chí còn chưa có tiền trả lương cho bản thân. Chi phí lớn nhất mà họ phải trả cho chúng tôi là thời gian đến lớp và làm bài tập về nhà.”   Đến nay đã có hàng trăm giám đốc của khoảng 180 doanh nghiệp vừa và nhỏ được tham gia các khóa đào tạo của Innovate SA, trong đó có những tên tuổi nổi tiếng như Rising Sun Pictures, từng cung cấp phần mềm kỹ xảo điện ảnh cho các phim Harry Potter, Charlotte’s Web, Blood Diamond, Australia , X-Men, Batman…  Một khảo sát với 136 CEO mới đây cho thấy khoảng ½ các doanh nghiệp được Innovate SA hỗ trợ có doanh thu tăng 10%, ngay cả trong giai đoạn doanh thu trung bình của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Adelaide giảm 5% do khủng hoảng kinh tế. 86% các CEO nói, hỗ trợ của Innovate SA có tác dụng tích cực với chiến lược tăng trưởng của họ.  Nhưng trái ngược với những đánh giá tích cực về hoạt động của Innovate SA, trong buổi làm việc với tổ chức này, chúng tôi được biết, cách đây hai tuần, Chính phủ Nam Úc vừa thông báo sẽ chấm dứt cấp ngân sách (3 triệu AUD/năm) cho nó kể từ tháng Bảy tới do có những thay đổi về chính sách đối với công nghiệp sản xuất.  Trước đó một thời gian, Innovate SA đã biết ngân sách dành cho họ đang thuộc diện bị rà soát cắt giảm nhưng vẫn nuôi hy vọng tiếp tục được tồn tại nếu họ cân đối lại ngân sách do Chính phủ cấp với các khoản phí có thể thu được từ khách hàng, bởi vậy 23 nhân viên của tổ chức này vô cùng thất vọng trước quyết định cuối cùng của Chính phủ.  Ngay khi hay tin, nhiều khách hàng của Innovate SA đã bày tỏ sự bất bình trên báo chí vì họ cho rằng Innovate SA bị đóng cửa đúng vào lúc họ đang cần đến sự hỗ trợ của nó nhất để vượt qua giai đoạn kinh tế đầy khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  ***  TTCF, BioSA và Innovate SA vận hành theo những cách khác nhau nhưng đều gặp nhau ở điểm cuối là tạo ra doanh nghiệp KH&CN mới. Qua làm việc với những tổ chức này, có thể nhận thấy, trong quá trình xây dựng doanh nghiệp KH&CN, số lượng không bao giờ là đích đến (quy mô như BioSA mà cũng chỉ kỳ vọng mỗi năm xây dựng thành công 5 doanh nghiệp KH&CN có từ 20 đến 50 lao động). Bên cạnh đó, vai trò của Chính phủ và các thành phần đầu tư khác được phân định hết sức rõ ràng. Nhà nước có thể có những hỗ trợ mạnh mẽ, thậm chí chấp nhận trả lương cho nhà đầu tư mạo hiểm để họ tìm ra những địa chỉ đầu tư xứng đáng, như trong trường hợp của TTCF, nhưng mọi hỗ trợ chỉ giới hạn ở giai đoạn đầu.   Chúng tôi tình cờ đọc được trên báo phát biểu của một khách hàng của Innovate SA, đại ý, những khóa học của Innovate SA đã giúp họ “vén sương mù” để nhìn ra con đường phát triển. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng chương trình phát triển lực lượng doanh nghiệp KH&CN, hẳn những mô hình như TTCF, BioSA hay Innovate SA ít nhiều đều có giá trị tham khảo khi chúng ta phải tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi còn gây bối rối như thực sự chúng ta sẽ có được bao nhiêu và bằng cách nào.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những bài học về an toàn hạt nhân      Ở phần một của cuộc phỏng vấn, ông Sergei Kirienko, lúc đó là Tổng Giám đốc Tập đoàn ROSATOM (Nga), đã trả lời Đài phát thanh “Tiếng vang Mátxcơva” về những bước phát triển của năng lượng hạt nhân. Trong phần cuối của cuộc trao đổi này, ông tập trung vào bài học từ tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima.      Fukushima là một bài học đối với chúng ta. Bi kịch Fukushima – là do nhân tố con người hay công nghệ?  Một số bài học từ Fukushima. Bài học thứ nhất, không xảy ra bất cứ thảm họa công nghệ nào tại đó, rõ hơn là nếu thảm họa như động đất ở mức tối đa, sóng thần 15m thì nhà máy điện hạt nhân vẫn an toàn.  Để không nhìn vấn đề một cách vô căn cứ, có một ví dụ rất đơn giản. Trên truyền hình thường nói về Fukushima, chỉ ra 4 tổ máy đầu tiên bị phá hủy, Tôi không biết rằng ngẫu nhiên hay theo Freud (Sigmund Freud) họ không hướng camera đến 2 tổ máy còn lại. Nói chung tại Fukushima có 6 tổ máy, 2 tổ máy còn lại không thay đổi. Chúng vẫn vậy. Khi tôi đến thăm nơi đó, rất lâu sau họ mới cho phép tôi vào, tôi đứng đối diện các tổ máy và đặt một câu hỏi duy nhất.  Tôi đã ở đó 4 giờ cùng với các chuyên gia của chúng tôi, họ không chỉ ra cho tôi điều gì cả. Hãy chỉ cho tôi thấy sự khác biệt giữa tổ máy 5-6 với 4 tổ máy đã bị phá hủy. Đây là những tổ máy đã cũ thuộc dự án của Mỹ, được xây dựng vào khoảng những năm trước Chernobyl. Họ không tính đến những thí nghiệm mà chúng tôi đã tiến hành và tính toán từ rất lâu tại Chernobyl. Hơn cả là chúng đứng vững. Nguyên nhân tại đâu? Có 2 sự khác biệt lớn. Chúng cao hơn 2 m so với mực nước biển, nhưng điều này không giải quyết vấn đề gì: Sóng 15m, tường bảo vệ – 7, chúng vẫn bị bao phủ bởi sóng biển.  Khác biệt thứ hai – vì điều này tôi trở về với tâm trạng chán nản và nghĩ rằng điều nhỏ nhặt bị loại bỏ để không xảy ra những thảm họa như vậy nữa, có máy phát điện diezel khẩn cấp trong tất cả các tổ máy, chúng được khởi động. Nhưng tại 4 tổ máy đầu tiên, hệ thống tự động của máy phát điện diezel nằm dưới tầng hầm, dưới tổ máy, còn trong hệ thống tổ máy 5-6, hệ thống tự động đặt trên đỉnh máy phát điện diezel. Ở 4 tổ hợp máy đầu tiên chúng đã bị ngập nước.    Tổng thư ký IAEA Rafael Mariano Grossi tới thị sát nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi trng khuôn khổ hcuyenes làm việc ở Nhật Bản ngày 26/2/2020. Nguồn: D. Calma/IAEA  Nếu mực sóng là 7 và 15 thì sẽ ngập cả đỉnh máy?  Nước chảy vào và sẽ chảy xuống. Còn ở dưới hầm sẽ bị ngập hẳn. Đó là câu trả lời, là bài học quan trọng từ Fukushima mà cần được các chuyên gia quốc tế biết đến – không phải do điều kiện kỹ thuật. Bài học thứ hai là không được quên – đó là vấn đề chúng ta cần phải ghi nhớ lâu dài – nguyên nhân chính là thảm họa thiên nhiên. Chúng ta thường quên mất vấn đề này. Rất ít sáng tạo từ bàn tay con người có thể chống lại cú đòn của thiên nhiên.  Kết luận thứ ba – tất cả đều có thể được ngăn chặn. Theo xu hướng này, tất nhiên là do lỗi của con người. Đó là sai lầm thiết kế khi nào đó của các chuyên gia General Electric mà không tính toán được khả năng động đất hoặc sóng thần cùng một thời điểm. Về nguyên tắc nhà máy có thể chống đỡ được động đất hoặc sóng thần nếu không đồng thời xảy ra. Đó là do lỗi của nhân viên của công ty điện lực. Chúng ta biết rất rõ rằng trước đó nhiều năm đã chỉ rõ cho họ rằng hệ thống chưa được hoàn thiện, nhưng họ vẫn quyết định vận hành nhà máy thêm một thời gian ngắn rằng hơn 30 năm hoạt động nên chỉ cẩn hoạt động thêm 2 năm. Điều này không thể chấp nhận được.  Và ở đây vẫn còn một vấn đề. Đó là sự thay đổi căn bản hệ thống pháp quy. Sau này tôi đã thảo luận với rất nhiều chuyên gia tại Nhật Bản. Đối với họ đây là một thách thức văn hóa. Họ nói rằng: Chúng tôi luôn cho rằng sức mạnh của xã hội Nhật Bản nằm trong tính nguyên tắc của các công nhân của chúng tôi và trong mọi tình huống của cuộc sống chúng tôi có nguyên tắc và trật tự của mình, điều đó bảo vệ chúng tôi. Đây là trường hợp đầu tiên khi mà chính điều đó lại phá hủy chúng tôi, quay lưng lại với chúng tôi.  Bởi vì một sự kiện quan trọng mà tại đó trong vòng 6h cần phải cung cấp lượng điện bổ sung. Đối với một quốc gia như Nhật Bản, một vài MW điện là vấn đề không đáng bàn cãi. Nhưng vấn đề được hiểu rõ khi quy chế đã ghi, nếu thiết bị nối điện dạng “bố-mẹ” thì phích điện có chân sẽ không cắm vào được, khi đó người chúng ta sẽ làm gì. Họ sẽ cắt và nối lại. Trong hướng dẫn của Nhật Bản viết rằng, trong trường hợp đó cần viết giấy yêu cầu đến trụ sở cung cấp. Và họ đã làm như vậy? Vì vậy đây là việc điều chỉnh lại hệ thống pháp quy trong các trường hợp đặc biệt.  Kết luận dưới đây, tất nhiên chúng tôi đã thực hiện, điều này thể hiện rẳng trên thế giới có thể xây dựng không chỉ nhà máy phù hợp với yêu cầu, bây giờ chúng được gọi là hậu Fukushima, theo logic có thể xảy ra động đất ở đây hay không nhưng theo phạm trù – nhà máy cần vượt qua được ngay cả khi xảy ra các biến cố không thể có về mặt lý thuyết và hơn nữa là xảy ra cùng một lúc.  Chúng tôi hiện nay khi cho rằng tại Nga sẽ không thể xảy ra sóng thần, nhưng cùng đặt ra giả thuyết vỡ đập chắn nước mà có thể cuốn trôi tất cả, động đất cũng chưa bao giờ xảy ra ở đây, nhưng cũng đặt ra giả thuyết có thể nó sẽ xuất hiện, hoặc bây giờ hãy cùng tưởng tượng sẽ xảy ra vỡ đập chắn nước, động đất và cả vòi rồng.  Như vậy hiện nay dự án nhà máy hậu Fukushima cần được bảo đảm chức năng an toàn, không có nghĩa là khả năng hoạt động, nó có thể mất đi ý nghĩa giống như cơ sở thương mại, nhưng phải an toàn, có nghĩa là không có bất cứ mối đe dọa nào có thể có trong khu vực nhà máy. Nếu công nhân có làm sao thì điện cũng bị ngắt, nguồn nước cũng bị ngắt. Đây gọi là hệ thống an toàn thụ động. Nó cần được xây dựng trên toàn thế giới.  Kết luận cuối cùng mà chúng tôi thực hiện cho mình (về trách nhiệm) bao gồm việc hôm nay chúng tôi đã đi qua rất nhiều nước trên thế giới, chúng tôi xây dựng khối lượng lớn các nhà máy của các nước, chúng tôi có tập đơn đặt hàng 20 tổ máy, 10 trong số đó đang ở các giai đoạn xây dựng khác nhau, điều đó chứng tỏ rằng chúng tôi không thể đơn giản đến và xây dựng nhà máy hạt nhân. Điều đó thể hiện rằng chúng tôi cần phải có trách nhiệm với những công trình cơ sở hạ tầng.    Công nghệ AES-2006 của Nga kết hợp cả chế độ an toàn thụ động và an toàn chủ động.  Chúng tôi hiện nay bắt đầu từ đó. Ví dụ ở Thổ Nhĩ Kỳ, chưa có việc gì được thực hiện trên địa điểm, chỉ có những nhà thiết kế của chúng tôi vẽ những bản thiết kế nhà máy, theo đó chúng tôi sẽ trình để xin giấy phép, giấy phép sẽ có sau 2 năm và chúng tôi bắt đầu công việc trên địa điểm xây dựng. Chúng tôi có 3 năm để đào tạo các sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng tôi cùng bắt đầu với các chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện các thủ tục pháp lý của nước Nga với những sáng kiến tuân thủ chặt chẽ theo các yêu cầu quốc tế. Ví dụ, theo luật Liên bang Nga không được đặt nhà máy ở khu vực có địa chấn như Fukushima. Đơn giản là không thể, không ai trong nước có thể cho thông qua quyết định này, điều này bị cấm. Chúng tôi với những sáng kiến phù hợp với tiêu chuẩn có trong luật pháp quốc tế, tức là cần phải xây dựng toàn bộ hệ thống và các cơ sở hạ tầng. Đó chính là trách nhiệm cần phải thực hiện. Giống như trách nhiệm đối với hệ thống không phổ biến, trong đó vai trò và trách nhiệm chính là sáng lập ra ngành năng lượng nguyên tử.  Nhưng một mặt khác, tôi xin hoàn thiện câu trả lời mà bạn đã bắt đầu, một số nước vẫn muốn làm điều đó ngoài việc ổn định cung cấp điện năng? Dễ hiểu thôi, phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng nguyên tử là điều căn bản, đưa lên ở mức độ khác nền công nghiệp và khoa học của đất nước. Nói chung là đầu tư cho tương lai.  Hôm nay đã diễn ra buổi thảo luận bàn tròn về các vấn đề cung ứng bền vững. Cuộc đối thoại thú vị nhất được bắt đầu không phải khi chúng tôi thảo luận về ngày hôm nay nhận được bao nhiêu khí đốt, bao nhiêu khí hóa lỏng, từ than đá hay từ hạt nhân. Thú vị nhất là về ngày mai. Ngày mai thì sao? Nguồn năng lượng sẽ cung ứng đủ cho nhân loại vào ngày mai?  Theo hướng suy nghĩ này việc đầu tư vào khoa học, cơ sở hạ tầng, vào tri thức mà nó xuất hiện trong tương quan với phát triển công nghệ điện hạt nhân, đó chính là đầu tư vào tương lai, vào khả năng mới, vào nguồn năng lượng mới. Rất nhiều quốc gia đã đi theo hướng đó.  Đúng lúc vào tuần tới tại St. Peterburg chúng tôi có một sự kiện vô cùng quan trong. Bốn năm một lần IAEA tổ chức hội nghị toàn cầu về triển vọng phát triển. Không tình cờ mà IAEA lựa chọn St. Peterburg – Liên bang Nga là địa điểm tổ chức. Chúng tôi bắt đầu từ Thứ Năm ngày 26/6 tại St. Peterburg. Hơn 600 đại biểu từ 82 quốc gia trên thế giới tham dự trên danh nghĩa lãnh đạo chủ chốt trong việc phát triển năng lượng hạt nhân của các nước để thảo luận chiến lược phát triển năng lượng hạt nhân.  Chính xác là năng lượng hạt nhân?  Vâng. Tôi nghĩ rằng chúng tối sẽ thảo luận tất cả các vấn đề mà bạn đã nêu hôm nay. Xin chân thành cảm ơn.  Xin cảm ơn ông.  Trần Thị Kim Oanh/VINATOM dịch  TS. Trần Chí Thành hiệu đính          Author                Quản trị        
__label__tiasang Những chính sách hỗ trợ đầu tư R&D của Hàn Quốc      Hàn Quốc có được những thành tựu đáng nể về phát triển kinh tế và khoa học công nghệ một phần là nhờ những định hướng đúng đắn từ rất sớm của Chính phủ Hàn Quốc trong thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển – research and development (R&amp;D). Sau đây là một số chính sách và giải pháp cụ thể rất đáng tham khảo.    Hệ thống ghi nhận công nghệ mới  Hệ thống ghi nhận công nghệ mới, gọi là hệ thống chuẩn KT, được xác lập bởi Bộ Khoa học và Công nghệ, và thuộc trách nhiệm quản lý của Tổ chức Công nghệ Công nghiệp Hàn Quốc. Hệ thống này hỗ trợ những sản phẩm công nghệ mới đang trong giai đoạn tiếp cận thị trường. Bất kỳ công nghệ mới nào đạt chuẩn KT thì công ty phát kiến sẽ được hỗ trợ dưới dạng quyền ưu tiên bán cho các cơ quan Nhà nước; quyền ưu tiên đăng ký kinh phí từ quỹ hỗ trợ phát triển của Chính phủ và các quỹ phát triển công nghệ của các ngân hàng thương mại; quyền ưu tiên quảng bá tại những chiến dịch truyền thông hội chợ triển lãm công nghệ.       Khuyến khích thành lập các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp  Để được nhận những khoản hỗ trợ hào phóng của Chính phủ Hàn Quốc, các doanh nghiệp nước ngoài thường lập ra các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp. Hiện nay, 134 viện nghiên cứu của Hàn Quốc được xếp vào loại hình liên kết với doanh nghiệp…  Để đăng ký thành lập một tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp, các tập đoàn lớn cần tuyển ít nhất là 10 nhân viên có bằng đại học chuyên ngành khoa học. Các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp của các công ty nhỏ và vừa cần tuyển ít nhất 2 nhân viên có bằng cao đẳng kỹ thuật. Điều kiện cần thiết là những người này phải báo cáo để Tổ chức Công nghệ Công nghiệp Hàn Quốc thẩm định.  Sau khi đăng ký thành lập với Chính phủ Hàn Quốc, các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp được nhận nhiều khoản hỗ trợ đa dạng. Các chuyên viên nghiên cứu làm việc 4 năm trong một tổ chức nghiên cứu được Chính phủ công nhận thì được miễn trừ nghĩa vụ quân sự. Ngoài ra, Chính phủ cung cấp các hình thức hỗ trợ về tài chính, giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu trang thiết bị phục vụ nghiên cứu.   Lưu ý rằng những chính sách hỗ trợ về thuế này đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ đã được Hàn Quốc thực thi phổ biến từ thập kỷ 1970, tức là sớm hơn cả thập kỷ trước khi các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp ra đời.  Tổng số tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp ở Hàn Quốc, tính tới tháng 12 năm 2005, là 11.810. Trong đó, 6.628 (52,7%) chuyên nghiên cứu trong ngành công nghiệp điện, điện dân dụng, truyền thông, tin học. 2.189 (17,4%) chuyen nghiên cứu về lĩnh vực máy móc thiết bị, và 1965 (15,6%) chuyên nghiên cứu về hóa chất. Mạng lưới các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp độc đáo của Hàn Quốc chính là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động R&D của quốc gia này    Các chương trình hỗ trợ nghiên cứu tại các vùng miền  Thành lập các Trung tâm Nghiên cứu Vùng miền  Các Trung tâm Nghiên cứu Vùng miền – Regional Research Center (RRC) được thành lập vào năm 1995 để nghiên cứu đặc thù riêng của vùng miền, củng cố năng lực nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng tại các tỉnh, và khai thác, liên kết với các ngành công nghiệp chủ đạo của từng địa phương.   Các RRC thẩm định các kế hoạch R&D cải tiến công nghệ ở từng địa phương, lựa chọn những kế hoạch phù hợp, và ký thỏa thuận cung cấp kinh phí từng năm một. Sau 3 năm sẽ thẩm định đánh giá lại một lần nữa, và có thể gia hạn nguồn kinh phí tới 9 năm tiếp theo.  Các Dự án Tập trung Cải tiến Công nghệ Địa phương (TIC/TBI/TP)  Các Trung tâm Cải tiến Công nghệ – Technology Innovation Center (TIC) là những dự án với mục tiêu hình thành môi trường cải tiến công nghệ cho các ngành công nghiệp ở địa phương, hỗ trợ những dự án công nghệ mạo hiểm. Cách làm là kết nối các ngành công nghiệp trọng điểm của địa phương với các trường đại học và viện nghiên cứu thông qua việc điều phối quỹ kinh phí khoa học của Chính phủ, chính quyền địa phương, và các trường đại học cùng viện nghiên cứu. Mỗi trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước đều có một TIC. Những TIC này kết nối với nhau để hợp tác nghiên cứu, chia sẻ nguồn lực, và hợp tác đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, tập đoàn địa phương. Trung bình hằng năm Chính phủ hỗ trợ cho các TIC 1 tỷ won để mua trang thiết bị phục vụ nghiên cứu (mỗi TIC được hỗ trợ như vậy trong 5 năm), trong khi các trường đại học và chính quyền địa phương có nghĩa vụ cung cấp đất, cơ sở nghiên cứu, chi phí vận hành, và chi phí nghiên cứu.    Các Lò ấp Doanh nghiệp Công nghệ – Technology Business Incubator (TBI) là những dự án phát triển công nghệ và cung cấp kinh phí cho việc tiếp cận thị trường, hướng dẫn quản lý, cung cấp thông tin đầu tư, và kết nối các địa chỉ tài chính cho các doanh nghiệp tiềm năng hoặc doanh nghiệp mới ra đời trong vòng 1 năm. Các TBI phối hợp chặt chẽ và khai thác năng lực nghiên cứu của các trường đại học và các viện nghiên cứu của từng địa phương.   Các Công viên Công nghệ – Techno Park (TP) được xây dựng để kích thích sự hợp tác phát triển của công nghệ và kinh doanh bằng cách tập trung hóa hoạt động cải tiến công nghệ từng vùng miền tại các doanh nghiệp, trường đại học, và các viện nghiên cứu vào cùng một chỗ, tạo thành các cụm cải tiến công nghệ. Kể từ năm 1997 tới nay, Hàn Quốc đã đưa vào hoạt động bảy Công viên Công nghệ ở Ansan, Songdo, Chungnam, Gwangju, Jeonnam, Daegu và Gyeongbuk. Hằng năm, mỗi TP được hỗ trợ 5 tỷ won để xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị.   Cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D  Việc vay vốn từ các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, là không dễ dàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các khoản vay này luôn bị các ngân hàng coi là có tính rủi ro cao, do các doanh nghiệp nhỏ gặp nhiều bất trắc và dễ tổn thương trước các biến động từ thị trường và nền kinh tế. Và một nguyên nhân quan trọng khác là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có nguồn bảo lãnh hoặc thế chấp cho các khoản vay.  Để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ, KOTEC (quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ Hàn Quốc) cung cấp dịch vụ bảo lãnh tín dụng công nghệ. Khoản bảo lãnh này có nhiều hình thức, nhưng mục tiêu chung là đảm bảo các tổ chức cho vay thu hồi khoản nợ trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán. Nhờ vậy khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án triển vọng tốt nhưng không có đủ tài sản thế chấp, hoặc không có hồ sơ tín dụng đầy đặn phù hợp để chứng minh uy tín trả nợ.           Một số ví dụ về chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho đầu tư R&D:   Hỗ trợ trả lương   Nhà nước hỗ trợ 80% tiền lương hằng năm cho mỗi chuyên gia, tối đa là 30 triệu KRW (30 nghìn USD) trong 2 năm đầu tiên.    Hoàn thuế    – Hoàn 15% chi phí đầu tư cho R&D và đào tạo nhân lực trong mỗi năm đóng thuế    – HOẶC hoàn 40% chi phí trung bình hằng năm của 4 năm gần nhất đầu tư cho R&D và đào tạo nhân lực (đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì mức hoàn là 50%).   Giảm thuế nhập khẩu    Giảm 80% thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ nghiên cứu (danh sách chi tiết được ban hành quy định cụ thể), hóa chất, hàng hóa sơ chế đầu vào, nguyên vật liệu, và vật mẫu.    Miễn thuế của địa phương     Miễn thuế VAT, thuế trước bạ đối với nhà cửa và đất đai phục vụ các mục tiêu R&D; miễn thuế bất động sản,  thuế đất tổng thể trong năm đối với sở hữu nhà cửa và đất đai nơi đặt trang thiết bị phục vụ R&D đang hoạt động.   Miễn thuế thu nhập cá nhân cho kỹ sư nước ngoài   Miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm cho chuyên gia phục vụ R&D trong lĩnh vực công nghiệp cần sử dụng nhiều công nghệ trong danh sách được Nhà nước quy định; và có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm, hoặc có tối thiểu là bằng đại học và 3 năm kinh nghiệm.           Quy trình cấp bảo lãnh tín dụng công nghệ như sau. Một người đi vay nếu không đáp ứng các tiêu chí cho vay có thể được ngân hàng giới thiệu sang KOTEC. Các chi nhánh của KOTEC sẽ độc lập nghiên cứu hồ sơ để thẩm định uy tín tín dụng của người đi vay, khả năng trả nợ, mục đích khoản vay, và quan trọng nhất là tính chất cải tiến công nghệ mà việc sử dụng vốn vay mang lại. Trong đa số các trường hợp, ngân hàng sẽ tin vào kết luận thẩm định của KOTEC trước khi đưa ra quyết định cho vay. Nếu được KOTEC chấp thuận, người đi vay sẽ quay lại ngân hàng cùng với thư bảo lãnh được KOTEC phát hành. Việc cấp bảo lãnh này cũng đòi hỏi người đi vay phải trả phí bảo lãnh, tỉ lệ tương ứng theo quy mô khoản vay.        1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký vay ngân hàng  2. Xin hướng dẫn và đăng ký bảo lãnh tín dụng CN   3. KOTEC điều tra và thẩm định   4. Chấp thuận cấp bảo lãnh tín dụng công nghệ   5. Phát hành thư bảo lãnh   6. Ngân hàng làm thủ tục cho vay          Đồng thời, để quá trình thẩm định và cấp bảo lãnh được bảo đảm tính công bằng và minh bạch, KOTEC thành lập ra Văn phòng Chi nhánh Từ xa (Cyber Branch Office) cung cấp dịch vụ tự thẩm định tài chính, trong đó một doanh nghiệp có thể tự đánh giá uy tín tài chính của mình qua một phần mềm mô hình mô phỏng thẩm định tín dụng mà doanh nghiệp tự điền thông tin tài chính đầu vào. Kết quả đánh giá sau đó sẽ được hiển thị công khai qua internet.        Ngày 23/06 vừa qua, Chính phủ Hàn Quốc khẳng định sẽ hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng các ngành công nghiệp các vùng đô thị địa phương, bằng cách bơm 285 tỷ won (tương đương 265 triệu USD) ngay trong năm nay.   Chương trình này nằm trong một chuỗi các dự án được Bộ Kinh tế Tri thức (MKE) đề xuất và thúc đẩy kể từ 2009 nhằm phát triển tạo thành các vùng công nghệ của các địa phương.   Theo kết hoạch mới, Bộ sẽ cấp kinh phí gần 20 tỷ won trong năm nay cho mỗi dự án của tỉnh Jeolla có mục đích phát triển chế tạo các bộ phận xe hơi hybrid (xe hơi chạy cả xăng lẫn điện), hoặc công nghệ ánh sáng LBT.   MKE cũng sẽ phân phối hơn 18 tỷ won cho tỉnh Chungcheong, cụ thể là cho dự án chip xanh (green chip technology) và các bộ phận điện thoại di động phù hợp cho thế hệ mạng mới.   Vào tháng Tư, MKE hình thành một nhóm các chuyên gia từ các ngành công nghiệp, công nghệ, và chuyên gia nghiên cứu các địa phương, để đánh giá 20 dự án trên khắp đất nước, trong đó chọn ra 4 dự án cao điểm nhất.    “Đa số cac tỉnh đều đạt những kết quả tích cực và đạt được bước tiến dài trong năm ngoái. Họ vượt qua mục tiêu đặt ra ban đầu về doanh thu và công ăn việc làm”, các nhà chức trách của MKE cho biết. Theo MKE, chương trình đã tạo ra tổng cộng 5682 việc làm trong năm ngoái. Tỉnh Jeolla đóng góp nhiều nhất, với số công ăn việc làm tạo mới là 1837, tiếp theo là các tỉnh Chungcheong với con số là 1205, và tỉnh Gyeongsang với con số là 1110.   Trong năm nay MKE cho biết theo kế hoạch thì sẽ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực tiếp cận thị trường, làm nghiên cứu, và phát triển doanh nghiệp, qua đó sẽ làm tăng đầu tư của các doanh nghiệp và tạo công ăn việc làm trong thời gian ngắn.  (Shin Hyon-hee, The Korea Herald, online ngày 23/06/2011)   —   Hệ thống bảo lãnh tín dụng được pháp lý hóa ở Hàn Quốc lần đầu từ 1961, vì mục tiêu giảm nhẹ khó khăn tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tới tập kỷ 1980, dư luận Hàn Quốc nhìn chung nhất trí với một môi trường tài chính thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tiến hành cải tiến công nghệ.    Tới năm 1989, KOTEC được Chính phủ Hàn Quốc thành lập để triển khai thực hiện Luật Hỗ trợ Tài chính cho Doanh nghiệp Công nghệ mới (Financial Assistance to New Technology Businesses Act). Luật này được hoàn chỉnh lần cuối vào năm 2002, với tên gọi mới là Luật Hợp tác Tài chính Công nghệ Hàn Quốc (Korea Technology Finance Coperation Act).   Nhiệm vụ của KOTEC là cấp bảo lãnh để hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đầu tư các lĩnh vực mới.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Những đề xuất thẳng thắn và cởi mở của nhà khoa học trẻ tới Thủ tướng      Những kiến nghị và đề xuất mà các nhà khoa học trẻ xuất sắc nêu lên trong cuộc gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo Bộ KH&amp;CN sáng ngày 11/9 vừa qua cùng tập trung ở hai vấn đề: cần tôn trọng, tin tưởng các nhà khoa học trẻ tuổi, và xây dựng một cơ chế minh bạch, công bằng, cởi mở hơn trong quản lý khoa học để họ có thể phát huy tối đa năng lực của mình.      Tôn trọng, đánh giá công bằng và trao quyền tham gia tiếng nói cho lớp trẻ  Trong cuộc gặp gỡ ngày 11/9, các nhà khoa học trẻ xuất sắc đã thẳng thắn nói lên nguyện vọng được Nhà nước tin tưởng, không chỉ dừng lại ở vấn đề được tin tưởng giao kinh phí, đề tài nghiên cứu, mà còn trong cả việc được tham gia tiếng nói xây dựng các chính sách KH&CN từ tầm vi mô tới vĩ mô. TS. Phạm Thị Tuyết Nhung, thành viên nhóm nghiên cứu của GS. Pierre Darriulat tại Trung tâm Vệ tinh Quốc gia (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), cho biết chị và các thành viên trẻ của nhóm đều rất mong muốn được tham gia đóng góp công sức vào những chương trình nghiên cứu trong chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam, “không chỉ thực hiện theo những kế hoạch đã được vạch ra mà còn đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và lên kế hoạch cho những chương trình này”. Sự tham gia đóng góp ý kiến một cách rộng rãi, công khai của các nhà khoa học trẻ nói riêng và giới khoa học nói chung sẽ góp phần nâng cao hiệu quả các chính sách KH&CN, giảm chi phí cho xã hội. TS. Phạm Thị Tuyết Nhung lấy ví dụ việc mua bán thiết bị đầu tư cho nghiên cứu cần có sự tham khảo ý kiến một cách nghiêm túc từ những người có khả năng sử dụng thiết bị, như vậy sẽ tiết kiệm được một khoản kinh phí đáng kể so với việc mua bán thiết bị nghiên cứu được thực hiện thuần túy theo ý chí của cấp trên.   Các nhà khoa học trẻ muốn được quyền đưa ra những ý kiến đóng góp và có giá trị tham khảo như các nhà khoa học lớn tuổi, được các nhà quản lý khoa học tin cậy, coi trọng và đánh giá khả năng một cách công bằng. TS. Phạm Phương Chi (Viện Nghiên cứu Văn học, Viện Hàn lâm KHXN&NV Việt Nam), một trong số hiếm hoi các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXN&NV có mặt tại buổi gặp gỡ, bày tỏ mong muốn được nhìn nhận, đánh giá dựa trên “chính những công việc mà họ làm được, qua những công bố, qua tư cách của một nhà nghiên cứu, hơn là dựa trên những căn cứ về tuổi tác, giới tính, xuất thân…”, nhằm đảm bảo sự tham gia một cách công bằng của mọi cá thể trong các hoạt động KH&CN.   Mặt khác, lòng tin và sự tôn trọng dành cho nhà khoa học còn phải được thể hiện ở quyền tự do của họ trong nghiên cứu, sáng tạo. Đặc biệt, trong các ngành KHXN&NV, việc chấp nhận sự khác biệt và tôn trọng những quan điểm khoa học nghiêm túc riêng biệt sẽ giúp “đảm bảo được sự gắn kết của ngành với những vận động của quốc tế và đời sống hiện thực của dân tộc trong tương quan thế giới”, theo nhận định của TS. Phạm Phương Chi. “Mỗi cá thể người làm khoa học đều có quyền tự do lựa chọn phương pháp nghiên cứu và hướng nghiên cửu cho riêng mình mà không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào những lối đi đã định sẵn của những người đi trước. Vì vậy những người làm công tác quản lý hay những nhà khoa học ‘tiền bối’ không nên can thiệp quá sâu vào tư duy hay quá trình nghiên cứu của những người làm khoa học, thay vào đó nên đóng vai trò khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất để cho những ý tưởng khoa học mang tính sáng tạo và bứt phá được thực hiện.”   Tuy nhiên, để duy trì niềm tin một cách bền vững và có cơ sở từ phía các nhà quản lý KH&CN dành cho các nhà khoa học, trong đó có các nhà khoa học trẻ, thì trước hết cần đảm bảo cơ chế minh bạch khi xét duyệt, nghiệm thu những đề tài, dự án nghiên cứu khoa học. Theo ThS. Lê Văn Huyên của Ban Phát triển mạng lưới thuộc Tổng công ty Viễn thông MobiFone – người có nhiều sáng kiến cải tiến, giải pháp giúp Mobifone tiết kiệm 25 tỷ đồng chi phí đầu tư cơ sở vật chất và được Thủ tướng khen tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2010 – 2015 – do thiếu đáp ứng yêu cầu minh bạch trong công tác nghiệm thu đề tài, nên lâu nay tồn tại tình trạng “con gà – quả trứng” khi nhiều hội đồng xét duyệt, nghiệm thu các kết quả nghiên cứu một cách hình thức, bởi họ không tin tưởng vào chất lượng thật sự của những ý tưởng khoa học, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, và ngược lại do không có lòng tin như vậy nên các khoa học trẻ không “được giao những công trình quan trọng với lượng kinh phí đủ để thực hiện ý tưởng khoa học của mình”, theo đó càng dẫn tới những công trình được thực hiện một cách hời hợt, thậm chí là kết quả của sự sao chép cẩu thả, làm cho vấn đề mất lòng tin từ hai phía thêm trầm trọng.  Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (Startup) cũng là một đề tài nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trẻ tại sự kiện lần này, đặc biệt là từ những người thuộc khối doanh nghiệp. Theo TS. Nguyễn Quốc Định (Trưởng Phòng thí nghiệm, Bộ môn Cơ sở Kỹ thuật Vô tuyến, Khoa Vô tuyến Điện tử, Học viện Kỹ thuật Quân sự), lâu nay Chính phủ đã đưa ra một số chính sách về doanh nghiệp KH&CN, nhưng cần tăng cường hiệu quả của những chính sách này để tăng thêm mối liên hệ gắn kết giữa trường/viện nghiên cứu với doanh nghiệp, đặc biệt cần có biện pháp hữu hiệu thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạnh mẽ hơn các quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư cho startup. Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Đình Nam (Giám đốc công ty VP9, người sáng lập dự án VP9 TV) đề xuất Nhà nước trực tiếp lập một quỹ đầu tư dành cho các nhà khoa học trẻ có năng lực nghiên cứu để họ có thể được vay với lãi suất thấp không cần thế chấp, để họ có điều kiện đưa các kết quả nghiên cứu của mình thành sản phẩm thông qua mô hình startup. Ông cũng đề nghị Nhà nước xây dựng một nền tảng quảng cáo miễn phí cho các sản phẩm của các startup, với những hội đồng thẩm định, đánh giá startup nào có sản phẩm tốt tiềm năng để hỗ trợ quảng bá miễn phí.   Tạo điều kiện cho nhà khoa học trẻ sáng tạo  Những nguyện vọng và đề xuất của các nhà khoa học trẻ tại cuộc gặp gỡ đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo Bộ KH&CN lắng nghe và giải đáp kịp thời.   Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, về việc cần tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trẻ được phát huy được năng lực nghiên cứu, sáng tạo của mình, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu: 1. Rà soát lại các cơ chế chính sách đã có nhằm bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với thực tế, nhất là cơ chế chính sách về thu hút, trọng dụng nhà khoa học gắn liền với chính sách đào tạo chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành từ nhà khoa học trẻ; 2. Tạo những chính sách về đầu tư tài chính, hỗ trợ khởi nghiệp hướng vào việc khuyến khích khởi nghiệp doanh nghiệp KH&CN, phát triển doanh nghiệp có ứng dụng KH&CN; 3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trẻ được tiếp cận, hỗ trợ từ các quỹ về KH&CN, được tham gia thực hiện nhiệm vụ, các đề án, chương trình nghiên cứu khoa học của các bộ, ngành; 4. Khuyến khích nhà khoa học được tự do, dân chủ bày tỏ ý kiến đóng góp vào việc xây dựng cơ chế chính sách để phát triển KH&CN, đóng góp vào những công trình nghiên cứu phát triển KH&CN, trong đó có cả KHXH&NV. Chỉ có thực hiện được điều đó mới đem lại động lực cho tự do sáng tạo, tự do nghiên cứu; 5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về KH&CN, chú trọng đào tạo các nhà khoa học trẻ, thu hút và sử dụng hiệu quả đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh, chuyên gia về KH&CN người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN trong nước; 6. Khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ các nhà khoa học trẻ thực hiện các hoạt động ươm tạo công nghệ, hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi để đưa nhanh những sản phẩm trong các lĩnh vực KHCN mà Việt Nam có tiềm năng thành sản phẩm quốc gia để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế  Cũng tại cuộc gặp gỡ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành thời gian giải đáp và gợi mở hướng giải quyết một số đề xuất cụ thể từ các nhà khoa học trẻ, như TS. Nguyễn Bá Hải (Phó Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng giáo viên và đào tạo nhân lực công nghệ cao, ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM), hay ông Nguyễn Đình Nam (Giám đốc công ty VP9, đoạt giải thường Chương trình IPP tại Techfest 2015). Thủ tướng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ, và cam kết của Chính phủ sẵn sàng hỗ trợ nguồn vốn hàng trăm tỷ đồng cho dự án sản xuất thiết bị hỗ trợ người mù “Mắt thần” (Haptic Eyes), sản phẩm do TS. Hải sáng chế, dự kiến sẽ được cung cấp cho hàng trăm nghìn người mù ở Việt Nam trong những năm tới.        “Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của  mình, Bộ KH&CN luôn nỗ lực đổi mới quản lý để tạo môi trường thuận  lợi cho nghiên cứu khoa học và mở ra nhiều cơ hội cho các nhà khoa học  trẻ bằng việc xây dựng nhiều cơ chế, chính sách để đổi mới quản lý, phát  triển và nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN. Đặc biệt, Quỹ Phát  triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) được Bộ vận hành từ năm 2008 đã ưu  tiên các nhà khoa học trẻ chủ trì nhiều nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, tham  dự hội nghị khoa học quốc tế, thực tập ngắn hạn ở nước ngoài. Số nhà  khoa học trẻ chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu cấp quốc gia được Quỹ tài  trợ tăng nhanh từ 5% năm 2009 lên gần 70% năm 2014; số công trình được  công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín tăng 30% mỗi năm, chiếm 25% tổng  số các công bố quốc tế có nguồn gốc Việt Nam”. (Bộ trưởng Bộ KH&CN  Nguyễn Quân)               Author                Quản trị        
__label__tiasang Những điều cần cân nhắc khi mời chuyên gia phản biện quốc tế      Theo GS.TS Phạm Hùng Việt (ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội), qua đợt đầu thử nghiệm mời chuyên gia nước ngoài tham gia thẩm định hồ sơ đăng ký xin tài trợ của Quỹ Nafosted có thể thấy mời được họ không phải dễ, nhưng ngay cả khi  mời được thì không phải ý kiến đánh giá nào của họ cũng có giá trị tham  khảo cao.      Để nâng cao tính minh bạch cơ chế xét duyệt,  từ năm 2014, Quỹ Nafosted đã bắt đầu áp dụng thử nghiệm việc mời chuyên  gia nước ngoài tham gia thẩm định hồ sơ đăng ký xin tài trợ trong các  lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật.   Bên cạnh hiệu quả của những đánh giá từ các chuyên gia phản biện độc lập, đợt áp dụng thử nghiệm đầu tiên này đã vấp phải một số vấn đề như mời chuyên gia nước ngoài không phải dễ, hoặc nếu mời được thì không phải ý kiến đánh giá nào của họ cũng có giá trị tham khảo cao. Với Hội đồng khoa học ngành Hóa học, trong số các chuyên gia nước ngoài được mời, chỉ có ¼ số người có ý kiến nhận xét kỹ lưỡng, số ý kiến còn lại tương đối dễ dãi, xuê xoa.      Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là Quỹ Nafosted vẫn chưa tính toán kỹ yếu tố thời gian trong việc mời chuyên gia nước ngoài xét duyệt, thẩm định. Thời gian mà Quỹ đề nghị các chuyên gia thẩm định hồ sơ rơi vào quãng từ tháng Sáu đến tháng Bảy, trùng với thời gian họ hết sức bận rộn với kế hoạch chấm luận án tốt nghiệp, tổ chức thi cuối kỳ… Vì vậy ít giáo sư nào dành được thời gian để chuyên tâm thẩm định hồ sơ mà Quỹ gửi sang.     Một nguyên nhân khác rất tế nhị là kinh phí tài trợ cho các nghiên cứu của Quỹ Nafosted vẫn còn ở mức khiêm tốn trong khi đặt yêu cầu phải có tới hai bài báo ISI. Ở các quốc gia tiên tiến, mỗi đề tài cùng lĩnh vực và có quy mô tương đương đều nhận được khoản kinh phí tài trợ khoảng 150.000 đến 250.000 Euro, tức là lớn hơn tới năm lần so với kinh phí tài trợ đề tài của Quỹ Nafosted. Trước sự khác biệt này, nhiều giáo sư nước ngoài đã ngạc nhiên và hạ bút phê đồng ý vì theo quan điểm của họ, việc thực hiện được nghiên cứu với khoản kinh phí như thế đã là điều khó tưởng tượng.     Vì vậy, Quỹ Nafosted nên cân nhắc kỹ những yếu tố trên và xác định những cách thức mời chuyên gia phản biện nước ngoài phù hợp.  Thanh Nhàn ghi  Đọc thêm:  * Không nên ám ảnh bởi công bố “thuần Việt”  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9066&CategoryID=36  * Quy định số công bố ISI nên dựa trên tính đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9056&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Những đóng góp về triết lý quản lý của Viện Quản lý Khoa học (1978-1996)      Viện Nghi&#234;n cứu Quản l&#253; KH&amp;CN (gọi theo t&#234;n giao dịch l&#224; Viện Quản l&#253; Khoa học hoặc Viện) tồn tại được 18 năm trước khi được nhập với Viện Dự b&#225;o v&#224; Chiến lược KH&amp;CN để trở th&#224;nh Viện Chiến lược v&#224; Ch&#237;nh s&#225;ch KH&amp;CN ng&#224;y nay. Kỷ niệm 20 năm ng&#224;y th&#224;nh lập Viện, t&#244;i c&#243; viết b&#224;i &#8220;Những mốc son trong 20 năm tồn tại của Viện Quản l&#253; Khoa học&#8221;. Lần n&#224;y t&#244;i muốn nhắc lại những mốc son đ&#243;, nhưng kh&#244;ng phải như những sự kiện rời rạc về cải c&#225;ch trong ch&#237;nh s&#225;ch KH&amp;CN, m&#224; mong muốn được ghi nhận những sự kiện đ&#243; tr&#234;n tầm triết l&#253; m&#224; Viện Quản l&#253; Khoa học đ&#227; đ&#243;ng g&#243;p v&#224;o d&#242;ng lịch sử nghi&#234;n cứu quản l&#253; KH&amp;CN ở nước ta.     Bối cảnh kinh tế – xã hội  Trước hết chúng ta cần ôn lại bối cảnh kinh tế  – xã hội kéo dài suốt 18 năm tồn tại của Viện Quản lý Khoa học. Đó là một giai đoạn lịch sử đầy biến động của hệ thống kinh tế – xã hội Việt Nam, với những đổi thay đầy kịch tính, từ một nền kinh tế do Nhà nước chỉ huy tập trung (trong một số văn kiện thường gọi là nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp), chuyển qua nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế và mở cửa với hệ thống kinh tế thế giới.  Một số nhà nghiên cứu nước ngoài thường lấy mốc đánh dấu cải cách kinh tế Việt Nam là năm 1986. Đó là năm tiến hành Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) quyết định đường lối cải cách kinh tế theo hướng thị trường. Theo tôi, thực ra tình hình diễn ra không phải như vậy. Có lẽ phải nói chính xác hơn, những cải cách theo hướng thừa nhận kinh tế thị trường đã diễn ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN lần thứ 6 (Khóa IV), vào năm 1979. Tiếp đó là những cải cách trong nông nghiệp, khởi đầu từ tỉnh Vĩnh Phú và một vài địa phương khác, được chính thức quyết định trong Chỉ thị 100 của Ban bí thư TW Đảng CSVN vào năm 1981 và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1987 về thực hiện chế độ “Khoán” trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời với những cải cách trong nông nghiệp là những cải cách trong công nghiệp với Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ năm 1983, trong đó có việc thực hiện chế độ kế hoạch hóa với 3 phần riêng biệt, trong đó, một phần kế hoạch của doanh nghiệp được sản xuất theo nhu cầu thị trường.  Những cuộc cải cách đó trong nông nghiệp và trong công nghiệp đã làm cho nền kinh tế Việt Nam hồi sinh với một nền kinh tế năng động trở lại, với một thị trường trao đổi nông phẩm và hàng hóa công nghiệp thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của dân chúng. Công cuộc cải cách kinh tế tuy có những bước đi thăng trầm khác nhau qua mỗi giai đoạn, nhưng nó đã đi theo hướng không thể đảo ngược và ngày càng gần với kinh tế thị trường. Cũng từ đó đã dẫn đến những biến động lớn trong cơ cấu xã hội Việt Nam: Như một đứa con song sinh với kinh tế thị trường, một khu vực Phi-Nhà nước xuất hiện, mà hình hài của nó chính là sự manh nha khu vực xã hội dân sự (civil society), ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội nước ta.  Đó là tóm tắt bối cảnh kinh tế – xã hội của những cải cách cho sự hình thành những triết lý cải cách chính sách KH&CN của Viện Quản lý Khoa học. Những triết lý ấy đã phát triển liên tục, không đảo ngược, trong suốt 18 năm tồn tại của Viện Quản lý Khoa học.  Những đóng góp về triết lý cải cách quản lý KH&CN  Những mốc triết lý đã hình thành, đóng vai trò nền tảng cho các biện pháp chính sách được đề xuất và được hiện thực hóa trong lịch sử tồn tại của Viện Quản lý Khoa học, có thể tổng kết tóm tắt như sau:  Triết lý 1: Phi tập trung hóa quản lý KH&CN.  Triết lý này được thể hiện trong Quyết định 175/CP của Chính phủ năm 1981. Trước đó, các tổ chức nghiên cứu và triển khai và các trường đại học chỉ thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) theo kế hoạch “Nhà nước giao”. Mọi quan hệ trực tiếp với nhau và với sản xuất thông qua hợp đồng đều bị cấm đoán (Theo Quyết định 64/CP về chế độ hợp đồng), với quan niệm các viện là loại cơ quan hành chính sự nghiệp. Với sự cởi mở trong sản xuất – kinh doanh, đánh dấu bởi Nghị quyết Hội nghị TW 6 (Khóa IV), sự cấm đoán này bị phá vỡ, nhưng các viện vẫn phải làm “chui”. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp có sáng kiến ban hành một thông tư liên bộ số 24/TC-ĐH, cho phép hợp thức hóa sử dụng các nguồn thu do nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất, nhưng việc ký hợp đồng để có các nguồn thu đó vẫn chưa được xem là hợp pháp.  Chính Viện Quản lý Khoa học đã đề xuất sáng kiến ban hành một văn bản cấp Chính phủ để giải tỏa sự cấm đoán này. Khi đó gọi là “Cho phép” các viện và các trường đại học được ký các hợp đồng NCKH và áp dụng kết quả R&D vào sản xuất.  Quyết định 175/CP năm 1981 đã thực hiện một triết lý mang tính khai phá, đó là “Phi tập trung hóa” sự chỉ đạo hoạt động KH&CN của Nhà nước. Từ đây, các quan hệ ngang thông qua hợp đồng giữa các tổ chức R&D với nhau và với sản xuất được khai thông.   Đây chính là một dạng “Khoán 10” trong khoa học. Nó đã giải phóng các viện và các trường đại học khỏi những ràng buộc, cấm đoán họ liên hệ trực tiếp với nhau và với sản xuất, hoàn toàn giống như những biện pháp khoán (Chỉ thị 100 của BBT và Nghị quyết 10 của BCT, nhưng dân chúng quen gọi chung là “Khoán 10”) đã mở cửa hợp tác xã để cho nông dân đi thẳng tới thị trường nông phẩm hàng hóa.   Lịch sử khoa học Việt Nam ngày nay đã sang một trang hoàn toàn mới. Đòi hỏi thực hiện triết lý “Khoán 10” trong khoa học là không còn thích hợp nữa. Điều đó đã được thực hiện và đã lùi vào quá khứ. Giai đoạn hiện nay cần một triết lý khác.  Triết lý 2: Phi hành chính hóa hoạt động KH&CN.  Triết lý “Khoán 10” trong khoa học không thể chỉ thực hiện bằng Quyết định 175/CP, mà cần một số văn bản khác với những triết lý bổ sung, trong đó có triết lý “Phi hành chính hóa hoạt động KH&CN”  Triết lý này được thể hiện một phần trong Quyết định 51/HĐBT năm 1983 và thể hiện tập trung nhất trong Quyết định 134/HĐBT năm 1987 của Hội đồng bộ trưởng:  –        Nghị quyết 51/HĐBT năm 1983 do Viện Quản lý Khoa học cùng nhiều cơ quan trong Ủy ban KH&KT Nhà nước phối hợp soạn thảo dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó chủ tịch HĐBT phụ trách khoa học và giáo dục Võ Nguyên Giáp, trong đó có những điều khoản rất quan trọng về việc cho phép các viện và trường đại học được lập xí nghiệp sản xuất những sản phẩm do kết quả nghiên cứu tạo ra nhưng chưa có điều kiện bàn giao hoặc “không bõ” bàn giao vào sản xuất trên quy mô công nghiệp. Đây là mốc đánh dấu rất quan trọng nhằm khắc phục căn bệnh xếp cơ quan khoa học cùng một phạm trù với các cơ quan hành chính. Chính điều khoản này đã tạo điều kiện để các viện và các trường tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh, hơn nữa, dẫn đến manh nha hình thành những doanh nghiệp spin-off trong các viện và các trường đại học.  –        Quyết định 134/HĐBT năm 1987 do Viện Quản lý Khoa học đề xuất và soạn thảo có điều khoản quy định rằng, không chỉ các cơ quan khoa học (giai đoạn này mới chỉ có các cơ quan khoa học của Nhà nước) mới được tham gia ký hợp đồng, mà các “tập thể tự nguyện giữa các nhà nghiên cứu” (Điều 1, Khoản 2) cũng được phép ký hợp đồng, nghĩa là các nhà nghiên cứu không còn bị ràng buộc bởi “biên giới hành chính” của cơ quan có thể liên kết với nhau không bị ràng buộc hành chính nào.  Triết lý 3: Thương mại hóa kết quả R&D.  Quyết định 134/HĐBT có một điều khoản quan trọng, là cho phép các bên hợp đồng có quyền thỏa thuận giá (Điều 6). Đây là lần đầu tiên có một điều khoản như thế trong hoạt động KH&CN. Trước đó, các bên hợp đồng cũng từng dùng phương thức thỏa thuận giá, nhưng là thỏa thuận ngầm với nhau, còn trên văn bản chính thức vẫn phải là thanh toán hợp đồng theo nguyên tắc rất khô cứng “thực thanh, thực chi”  Xét về mặt triết lý, có thể nói đây là sự tuyên bố công khai của Nhà nước cho phép thuận mua vừa bán khi các bên ký hợp đồng chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho nhau, chính thức xem kết quả R&D như một thứ hàng hóa trao đổi trên thị trường.  Chúng ta hoàn toàn có thể gọi tên triết lý chính sách này chính là chính sách “Thương mại hóa kết quả R&D”. Nói chính xác hơn, là thương mại hóa những kết quả R&D được áp dụng vào sản xuất, đưa lại hiệu quả kinh tế.  Có người nêu câu hỏi, như thế có khác nào nói thừa nhận khái niệm “Thị trường khoa học” ? Hoàn toàn không phải. Trên thế giới đã có rất nhiều cuộc thảo luận về “Thương mại hóa kết quả R&D”. Hồi đầu thập niên 1990, Viện Quản lý Khoa học đã phối hợp với Mạng lưới Chính sách KH&CN Châu Á – Thái Bình Dương (STEPAN) tổ chức một hội thảo tại Hà Nội bàn về “Commercialisation of R&D Outputs”, nhưng chưa bao giờ Viện Quản lý Khoa học, và ngày nay là Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN thừa nhận khái niệm “Thị trường khoa học”. Bởi vì ngoài một số kết quả R&D có thể có giá trị thương mại, thì khoa học nói chung không thể mang ra chợ bán.  Triết lý 4: Trả quyền hoạt động KH&CN cho xã hội dân sự.  Đó là chính sách được thể hiện trong Nghị định 35/HĐBT, ban hành ngày 28 tháng 1 năm 1992. Điều 1 của văn bản đã long trọng tuyên bố: “…mọi công dân đều được quyền tổ chức các hoạt động KH&CN…”  Đây là lần đầu tiên, một văn bản chính sách của Nhà nước không nói “cho phép”, mà tuyên bố “được quyền”. Để thực hiện được quyền đó, Nghị định còn đưa ra những quy định rất cởi mở: Khi muốn thành lập một tổ chức KH&CN thì các đương sự không phải xin phép cơ quan nào cả, chỉ phải xin phép cấp trên của mình và chỉ cần đăng ký trước một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Điều 15).  Đây thực sự là một tuyên ngôn dân chủ trong khoa học. Nó tuyên bố xóa bỏ độc quyền Nhà nước về hoạt động KH&CN, thừa nhận hoạt động KH&CN trong khu vực xã hội dân sự.  Trong ý tưởng trả quyền hoạt động KH&CN cho xã hội dân sự, phải kể đến Pháp lệnh chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam công bố năm 1988, trong đó đã mạnh dạn dưa một điều khoản các thành phần kinh tế tư nhân cũng có quyền tham gia các hợp đồng chuyển giao công nghệ.  Có thể nói đây là một bước tiến rất dài trong quá trình dân chủ hóa khoa học ở Việt Nam.  Phấn đấu ghi nhận được 4 triết lý chính sách trong 18 năm tồn tại là một nỗ lực vượt bậc của Viện Quản lý Khoa học. Nó đã phải vượt qua biết bao trở ngại về quan điểm giữa một bên là những tư tưởng cởi mở trong quản lý, còn một bên kia là tư tưởng bảo thủ muốn kéo trì xã hội trên những đường mòn của một nếp tư duy khô cứng.  Ngoài những triết lý đã được hiện thực hóa bằng các văn bản chính sách của Nhà nước, năm 1979, Viện đã trình với Lãnh đạo Ủy ban KH&KT Nhà nước bản Dự thảo đầu tiên của Luật Tổ chức và Hoạt động Khoa học và Kỹ thuật (Vũ Cao Đàm và Nghiêm Công khởi thảo), và 20 năm sau, qua rất nhiều “kíp” chuyên gia soạn thảo, mới được Quốc hội thông qua dưới dạng Luật KH&CN.  Viện Quản lý Khoa học cũng đã chính thức đề nghị với các cơ quan hữu quan mở ngành đào tạo sau đại học về Chính sách KH&CN, tiếp đó phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội mở tiếp mã ngành Quản lý KH&CN, chính thức được công nhận là những mã ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo sau đại học ở Việt Nam, phù hợp với xu thế chung về sự phát triển ngành đào tạo này trên thế giới.  Với những thành tựu đã đạt được của Viện Quản lý Khoa học, chúng tôi muốn ghi nhận ở đây công lao của các vị lãnh đạo Ủy ban KH&KT Nhà nước thời đó, trong đó không thể không kể đến anh Trần Đại Nghĩa, anh Hoàng Đình Phu, và đặc biệt là anh Đoàn Phương, người có công lao quyết định trong việc thành lập, khích lệ mọi ý tưởng và hoạt động nghiên cứu, đồng thời duy trì sự tồn tại và phát triển của đơn vị nghiên cứu này.  Sẽ là thiếu sót, nếu chúng tôi không nhắc tới các Viện nghiên cứu đã chia bùi sẻ ngọt với chúng tôi thời đó, tự nguyện làm “con chuột bạch” thí nghiệm những ý tưởng về triết lý chính sách của Viện Quản lý Khoa học, như Viện Hóa công nghiệp (viện trưởng Lê Văn Nguyện), Viện KH&KT Xây dựng (viện trưởng Nguyễn Mạnh Kiểm, sau đó là Nguyễn Bá Kế), Viện Mỏ – Luyện kim (viện trưởng Nguyễn Anh), Viện Máy Nâng Hạ (viện trưởng Lê Bá Tôn) và một số viện khác thuộc Bộ Cơ khí – Luyện kim (nay là Bộ Công nghiệp)  Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Viện Quản lý Khoa học, những thành viên của Viện Quản lý Khoa học hoàn toàn có quyền tự hào chính đáng về những đóng góp của mình vào việc đề xuất và hiện thực hóa những mốc triết lý cải cách quản lý khoa học. Những đóng góp đó sẽ còn được đồng nghiệp các thế hệ sau ghi nhận và phát triển trong khuôn khổ hai mã ngành đào tạo sau đại học mà Viện Quản lý Khoa học là người khởi xướng.  ——————————-       *Nguyên viện trưởng Viện Quản lý Khoa học       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những giải pháp về nguồn nhân lực điện hạt nhân      Tại cuộc Hội thảo “Đào tạo nguồn nhân lực cho chương trình phát triển điện hạt nhân” do tạp chí Tia Sáng phối hợp với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM), Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (NRI) tổ chức tại Đà Lạt vào ngày 17/7, những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà công tác đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này đang gặp phải đã được đề xuất.      Lực lượng không thiếu nhưng chưa tinh   Tại cuộc Hội thảo, Phó Viện trưởng VINATOM, TS. Nguyễn Hào Quang, cho rằng, để chuẩn bị cho chương trình điện hạt nhân, Việt Nam cần một đội ngũ khoảng 500 người đạt trình độ cơ bản, trên cơ sở đó chọn ra 400 người xuất sắc và tiếp tục tinh lọc khoảng 40 người ưu tú đào tạo chuyên sâu có khả năng đóng góp những phát kiến mới về điện hạt nhân cũng như thúc đẩy khả năng ứng dụng tại Việt Nam. Do điện hạt nhân gắn liền với văn hóa an toàn nên quy trình chuẩn bị về lực lượng phải đảm bảo sự đồng bộ và phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan: Bộ KH&CN, Bộ Công Thương, Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Bộ GD&ĐT… Ông cũng thừa nhận, một trong những nguyên nhân khiến Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận chậm tiến độ là công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu tiến độ triển khai của Dự án.   Đề cập thực trạng của công tác đào tạo nguồn nhân lực, Giám đốc Trung tâm đào tạo NRI, TS. Nguyễn Xuân Hải, thống kê, trên toàn quốc có sáu trường tham gia đào tạo nhân lực điện hạt nhân: ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa TPHCM, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM), ĐH Đà Lạt và Học viện Điện lực. Trung bình mỗi năm, Việt Nam đào tạo được khoảng 250 sinh viên chuyên ngành, chưa kể số sinh viên xuất sắc đi du học. Vì vậy, vấn đề của nguồn nhân lực hiện nằm ở chất lượng chứ không phải ở số lượng. “Chúng ta thiếu những người làm thực sự, những người đủ khả năng đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt của lĩnh vực điện hạt nhân. Muốn đáp ứng được yêu cầu, chúng ta phải đảm bảo được đồng bộ các vấn đề về chất lượng đầu vào, nội dung chương trình đào tạo và chính sách tuyển dụng, thu hút nhân lực”.          Những vướng mắc trong đào tạo, tuyển dụng và ưu đãi khiến nguồn nhân lực điện hạt nhân “quý mà không hiếm”: quý vì thiếu người có năng lực chuyên sâu, có thể đáp ứng được yêu cầu công việc, mặc dù nguồn nhân lực được đào tạo không quá hiếm. Nếu không có đổi mới về chính sách tuyển dụng và ưu đãi thì điện hạt nhân sẽ không đủ sức cạnh tranh với những lĩnh vực khác.             TS. Nguyễn Xuân Hải nhấn mạnh một điểm sáng ở ba mùa tuyển sinh gần đây là điểm đầu vào ngành điện hạt nhân được cải thiện lên quãng 21 đến 23 điểm, do một số trường như ĐH Bách khoa TPHCM, ĐH Đà Lạt… đã thay đổi chính sách đào tạo nên đủ sức hút thí sinh có trình độ khá, giỏi đăng ký, dù chưa thể so với các ngành Y, Dược, Kinh tế, Ngân hàng… Tuy nhiên, ông vẫn lo lắng, “khó duy trì tin vui này lâu dài nếu chúng ta chưa có chính sách tuyển dụng thỏa đáng”. Mặt khác, chính sách tuyển dụng hiện nay cũng chưa rõ ràng đối với đội ngũ tân cử nhân 250 người mỗi năm, dẫn đến trường hợp để họ bơ vơ sau khi trải qua quá trình bốn năm đào tạo về lĩnh vực điện hạt nhân. Lấy dẫn chứng từ chính Viện NRI, TS. Hải cho biết, biên chế của Viện ở mức gần 200 người, mỗi năm chỉ tuyển thêm vài nhân sự mới để bổ sung vào “chỗ trống” do người cũ về hưu trong khi Trung tâm KH&CN hạt nhân phục vụ dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và đào tạo lực lượng cho lĩnh vực điện hạt nhân Việt Nam, dự án được coi là đòi hỏi nhiều nhân sự mới, vẫn chưa được triển khai.   Giải đáp vấn đề này, Viện trưởng NRI, PGS. TS Nguyễn Nhị Điền, cho rằng cần tiếp nhận các tân cử nhân như biện pháp chuẩn bị lực lượng kế cận và có kế hoạch tiếp tục đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của họ nhưng có hai vấn đề là nơi nào sẽ đảm nhận vai trò này và nếu áp dụng thì theo chính sách phát triển lực lượng nào. Trên thực tế, NRI không thể tăng mãi số lượng biên chế và hợp đồng được nên dù muốn cũng chưa thể mở cửa đón nhận các tân cử nhân. Một số ý kiến khác tại tọa đàm cũng lưu ý, vấn đề tuyển dụng nên được cân nhắc để tránh tình trạng tăng cơ hữu về số lượng mà không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.   Không chỉ thiếu ăn khớp về đào tạo và khả năng tuyển dụng, chương trình đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân còn tồn tại một vướng mắc nữa là chế độ đãi ngộ chưa hợp lý. Trong thời gian gần đây, Nhà nước đã có chính sách tăng ưu đãi tối đa 0,7 hệ số lương người hoạt động trong lĩnh vực điện hạt nhân, nhưng dù được hưởng ưu đãi thì thu nhập của cử nhân điện hạt nhân cũng không quá bốn triệu đồng, trong khi nếu vào các công ty nước ngoài hoặc liên doanh, họ sẽ hưởng khoảng 10 triệu đồng/tháng. Vì vậy, muốn đảm bảo được chất lượng trong đào tạo nhân lực điện hạt nhân, cần một chế độ đãi ngộ tương đối thỏa đáng và mức độ đãi ngộ cần được tính toán dựa trên mặt bằng chung của xã hội. Theo TS. Nguyễn Xuân Hải, những vướng mắc trong đào tạo, tuyển dụng và ưu đãi khiến nguồn nhân lực điện hạt nhân “quý mà không hiếm”: quý vì thiếu người có năng lực chuyên sâu, có thể đáp ứng được yêu cầu công việc, mặc dù nguồn nhân lực được đào tạo lại không quá hiếm. Nếu không có đổi mới về chính sách tuyển dụng và ưu đãi thì điện hạt nhân sẽ không đủ để cạnh tranh với những lĩnh vực khác.    Đào tạo dàn trải gây lãng phí nguồn lực  Những vướng mắc mà công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân đang gặp phải là do Việt Nam chưa có một cái nhìn tổng thể về chương trình này cũng như chưa tạo mối gắn kết với các chương trình ở tầm quốc gia khác và các ngành nghề khác, vì vậy việc đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân không được nhận diện đúng, dẫn đến đào tạo dàn trải, gây lãng phí nguồn lực về con người và kinh phí đầu tư.   Là người có kinh nghiệm lâu năm trong ngành năng lượng nguyên tử, PGS.TS. Nguyễn Mộng Sinh (nguyên Phó viện trưởng NRI) nhìn nhận, cách thức đào tạo theo kiểu hàn lâm mà hiện nay chúng ta đang làm chưa ổn bởi lĩnh vực này đòi hỏi sự chuyên môn hóa về nhân lực ở nhiều mặt hoạt động với đội ngũ kỹ sư công nghệ, kỹ thuật viên chuyên giải quyết các vấn đề kỹ thuật vận hành lò phản ứng; cán bộ nghiên cứu thực hiện công tác R&D với yêu cầu cao về công bố quốc tế; cán bộ hành chính đảm trách các vấn đề hoàn thiện văn bản pháp quy, lập kế hoạch… Theo ông, không nhất thiết phải đào tạo tràn lan cử nhân mà cần đào tạo cả ở bậc trung cấp để có được đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề hỗ trợ công việc của các kỹ sư công nghệ.        Việt Nam chưa có một cái nhìn tổng thể, cũng như chưa tạo mối gắn kết với các chương trình ở tầm quốc gia khác và các ngành nghề khác, vì vậy việc đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân không được nhận diện đúng, dẫn đến đào tạo dàn trải, gây lãng phí nguồn lực về con người và kinh phí đầu tư.          Cùng quan điểm với PGS.TS. Nguyễn Mộng Sinh, Giám đốc Trung tâm môi trường NRI, TS. Phan Sơn Hải, cho rằng, chương trình điện hạt nhân cần nhiều nguồn nhân lực khác nhau, “đặc biệt cần những nhóm chuyên gia, đội ngũ kỹ sư tinh thông am hiểu về công nghệ chứ không chỉ đạt trình độ tiến sĩ trở lên”. Ông lấy ví dụ về trường hợp nhóm chuyên gia Nga tới Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt năm 2013 để vận chuyển các thanh nhiên liệu có độ giàu cao về nước, người phụ trách là kỹ sư trưởng, không phải là tiến sĩ nhưng được đào tạo bài bản, về công nghệ và về vận hành lò phản ứng nên chỉ đạo và tham gia thực hiện công việc rất tốt.    Do chưa có nền tảng công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân nên Việt Nam phải phụ thuộc nhiều vào việc cử sinh viên đi nước ngoài đào tạo, dù vẫn tiến hành tuyển sinh trong nước. Theo PGS. TS. Lê Ngọc Chung (nguyên Phó trưởng Khoa Kỹ thuật hạt nhân, ĐH Đà Lạt), vẫn còn thiếu sự rõ ràng giữa việc xác định các mảng đào tạo trong nước và nước ngoài nên dễ dẫn đến tình trạng đào tạo trùng lặp, có thể gây thừa nhân lực ở mảng này nhưng lại thiếu hụt ở mảng khác.   Cũng nhấn mạnh việc xác định rõ nội dung đào tạo ở nước ngoài, TS. Mai Xuân Trung (nguyên Phó hiệu trưởng trường ĐH Đà Lạt) cho rằng, chúng ta chưa chú trọng đào tạo lực lượng kỹ sư điện hạt nhân (nuclear engineeing) trong khi đây là đội ngũ có vai trò lớn, có thể đảm trách tốt công tác vận hành lò phản ứng. Hiện nhiều quốc gia có nền công nghệ điện hạt nhân tiên tiến, kể cả Nga, đều chưa đào tạo kỹ sư hạt nhân cho Việt Nam.   Việc cử người đi học ở nước ngoài còn tồn tại một thực tế khác là nhiều quốc gia chỉ tiếp nhận đào tạo học viên Việt Nam ở bậc thạc sĩ chứ không nhận đào tạo từ bậc tiến sĩ do có độ chênh về nền tảng công nghệ cơ bản giữa Việt Nam và nước ngoài trên hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm.  Bốn hướng đào tạo cần tập trung  Ở góc độ người có kinh nghiệm làm việc nhiều năm tại các trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu, châu Á và châu Mỹ, Phó giám đốc Trung tâm phân tích NRI, TS. Hồ Mạnh Dũng, phân tích, Việt Nam là quốc gia nhập công nghệ điện hạt nhân nên quan trọng là phải biết cách vận hành công nghệ đó an toàn. Vì vậy, Việt Nam cần tập trung đào tạo nhân lực cho chương trình điện hạt nhân vào bốn hướng: An toàn điện hạt nhân; Thiết kế và xây dựng nhà máy; Vận hành và bảo dưỡng nhà máy; Nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần chuẩn bị nhân lực cho những lĩnh vực mới để hỗ trợ kỹ thuật cho nhà máy điện hạt nhân như đẩy mạnh nghiên cứu về Vật lý hạt nhân, Vật lý neutron và Vật lý lò phản ứng…           Việt Nam cần tập trung đào tạo nhân lực cho chương trình điện hạt nhân vào bốn hướng: An toàn điện hạt nhân; Thiết kế và xây dựng nhà máy; Vận hành và bảo dưỡng nhà máy; Nhiên liệu hạt nhân và chu trình nhiên liệu.          Nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển về số lượng và chất lượng của ngành hạt nhân, TS. Hồ Mạnh Dũng đề xuất, cần phối hợp chặt chẽ giữa hai vấn đề nghiên cứu và đào tạo: nghiên cứu là công cụ cho đào tạo, và là cơ sở để phát triển đào tạo, từ đó đóng góp trực tiếp vào phát triển nguồn nhân lực. Ở Việt Nam lâu nay, hai vấn đề này vẫn chưa có sự gắn kết, thậm chí còn tách bạch, nên công tác đào tạo nhân lực chưa được hỗ trợ thông qua quá trình nghiên cứu đề tài, dự án khoa học và việc nghiên cứu đề tài, dự án không đặt nặng vấn đề nâng cao năng lực cho các thành viên trẻ. Vì vậy, theo ông, “chúng ta không nên lặp lại cách thức mở các lớp đào tạo đại trà như ở trường phổ thông mà phải đẩy mạnh nghiên cứu kết hợp với đào tạo chuyên sâu. Việc thực hiện các dự án/đề tài khoa học trong các nhóm nghiên cứu chính là cách thức đào tạo nhân lực hiệu quả nhất”.   TS. Hồ Mạnh Dũng đưa thêm ba giải pháp cụ thể về phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân: 1. Tập hợp lại đội ngũ nghiên cứu về vật lý hạt nhân còn tản mát do đảm trách quá nhiều công việc; 2. Tách nhóm nghiên cứu vật lý lò phản ứng ra khỏi công việc vận hành lò thường xuyên như theo cách làm của nhiều quốc gia tiên tiến bởi việc đảm nhiệm song song dễ dẫn đến tình trạng chủ quan trong vận hành và dễ sai về mặt quy phạm an toàn, đồng thời ít có thời gian tập trung nghiên cứu; 3. Lập nhóm nghiên cứu neutron để tìm hiểu và chuẩn bị cho các kỹ thuật neutron mới.  Để đảm bảo tính khả thi của những giải pháp trên, PGS. TS Nguyễn Mộng Sinh đề nghị, nên chọn một tổng công trình sư cho chương trình điện hạt nhân cũng như thành lập một tổ công tác đặc biệt hỗ trợ trong công tác quản lý, điều hành, theo cách thức các quốc gia có nhiều kinh nghiệm về điện hạt nhân như Nga, Pháp, Mỹ… đã áp dụng thành công.            Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Những khoảng cách cần được thu hẹp      Dù nỗ lực thúc đẩy hội nhập quốc tế nhưng sự thiếu hụt về điều kiện nghiên cứu và nhân lực khiến đội ngũ nghiên cứu khí hậu học Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong việc giải quyết những bài toán lớn trong lĩnh vực của mình.      GS Roger Sminth, chuyên gia về bão nhiệt đới, đã có công giúp đỡ hỗ trợ ngành khí tượng Việt Nam kể từ năm 1997 cùng GS. TS Phan Văn Tân và PGS. TSKH Kiều Thị Xin (từ phải sang).   Đó là những vấn đề đang đặt ra với ngành khí tượng Việt Nam trong bối cảnh câu chuyện “trông trời, trông đất, trông mây” tưởng chừng rất xa xôi lại có sức ảnh hưởng lớn trong đời sống kinh tế xã hội. Hằng ngày, các bản tin thời tiết trên truyền hình, đài phát thanh hay ngay trên điện thoại thông minh thường được cập nhật vài giờ một lần. Người ta cũng thường tìm đọc những thông tin dự báo về số lượng đợt nóng, đợt mưa, số lượng bão… để có thể sẵn sàng chuẩn bị, ví dụ như mua điều hòa nhiệt độ, quạt hơi nước, lò sưởi, thậm chí là gia cố nhà cửa hay tính đến phương án “trồng cây gì, nuôi con gì” để phù hợp với thời tiết trong năm. “Có lần, một bác nông dân trồng đào ở Nhật Tân hỏi tôi là năm nay thời điểm nào tuốt lá đào là hợp lý. Rõ ràng, một phần kết quả công việc của những người làm nghiên cứu đã thực sự được người dân quan tâm”, một tiến sỹ trẻ mới từ nước ngoài trở về Việt Nam được vài năm cho biết.  Nhưng đây mới chỉ là phần nhỏ trong phạm vi nghiên cứu về khí tượng, “ngoài ra, chúng tôi còn tập trung vào các bài toán khí hậu và biến đổi khí hậu”, GS. TS Phan Văn Tân (trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) – một trong những người tiên phong thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành khí tượng Việt Nam, nói.   Xét về khía cạnh vị trí địa lí “nằm trong vùng gió mùa châu Á – vùng gió mùa điển hình trên thế giới, nên mỗi ‘hắt hơi sổ mũi’ của hệ thống gió mùa đều tác động rõ ràng đến Việt Nam” như nhận xét của GS. TS Phan Văn Tân, việc nghiên cứu của các nhà khí tượng Việt Nam vừa hấp dẫn lại vừa tiềm ẩn nhiều thách thức, bởi “những vấn đề nghiên cứu của chúng ta liên quan trực tiếp đến khu vực và thế giới, nghĩa là được đồng nghiệp quốc tế quan tâm, nhưng lại đòi hỏi một tinh thần hội nhập rất cao”.  Do đó, từ nền móng sơ khai từ Nha Khí tượng thủy văn ở Đặng Thái Thân (Hà Nội) do ông tổ ngành khí tượng Nguyễn Xiển phụ trách đến những nhà khoa học làm việc với các mô hình trên những siêu máy tính ngày nay là một chuỗi các nỗ lực hội nhập, bất chấp điều kiện nghiên cứu còn nhiều khó khăn.   Không dễ hội nhập quốc tế  Không nằm ngoài dòng chảy của khoa học Việt Nam, câu chuyện hội nhập của các nhà nghiên cứu khí tượng bắt đầu từ những năm 2000, khi Việt Nam bắt đầu có internet và ở “ĐHQGHN cũng lắp đường truyền internet, chúng tôi có nhiều tài liệu nghiên cứu hơn, biết nhiều thông tin hơn và cũng quan hệ quốc tế nhiều hơn”, theo lời kể của GS. TS Phan Văn Tân. Nhờ vậy, ông và đồng nghiệp ở Khoa Khí tượng thủy văn được một chuyên gia về bão nhiệt đới từ Đức gửi sách báo, tài liệu “để đọc rồi đưa lên mạng hết, từ lúc đó anh em mới có tài liệu tiếng Anh để đọc”.   Với một đề tài độc lập cấp nhà nước về nghiên cứu dự báo bão của Bộ KH&CN, GS. TS Phan Văn Tân và PGS. TSKH Kiều Thị Xin bắt đầu có tiền để mua máy tính chạy mô hình dự báo dựa trên các dữ liệu quan trắc sẵn có của Tổng cục Khí tượng thủy văn, và sang làm việc với Cục Thời tiết Đức (bằng kinh phí của Đức) để tiếp thu một mô hình số trị dự báo thời tiết dành cho các quốc gia đang phát triển – phù hợp với khả năng tính toán ở mức vừa phải và chạy mô hình dự báo dựa trên các dữ liệu do Cục Thời tiết Đức truyền về. Chuyến làm việc ở Đức ba tháng đã làm thay đổi hoàn toàn quan điểm của các nhà nghiên cứu, “tôi thấy họ làm khác mình quá, những gì mình làm ở Việt Nam trước đây họ không hiểu và họ làm gì mình cũng không hiểu được”, GS Tân kể lại những ấn tượng của ông khi tham gia seminar đầu tiên, các đồng nghiệp Đức cho xem một băng video mây vệ tinh thu trong mùa gió mùa tây nam và mô hình hóa nó bằng những phương trình toán học. Trước đây ở Việt Nam, ông và đồng nghiệp vẫn làm dựa trên phương pháp thống kê – tìm các mối quan hệ của số liệu quan trắc trong quá khứ với một số biến cần dự báo ở các vị trí mình quan trắc, sau đó dùng các mối quan hệ đó để dự báo các biến trong tương lai, vốn chỉ làm được ở những nơi có dữ liệu quá khứ tốt, và các công trình chủ yếu chỉ đăng trên “sân nhà” là các tạp chí quốc gia: “À, hóa ra họ làm như thế, tôi giật mình nhận ra sự tụt hậu của mình”.      Tổng cục Khí tượng (Bộ TN&MT) họp trực tuyến về đợt không khí lạnh và áp thấp nhiệt đới. Nguồn: Tổng cục khí tượng.  Tuy thế, từ cái giật mình trước thực trạng nghiên cứu cho đến việc học hỏi mày mò làm quen với các mô hình tính toán để có được công bố quốc tế cần quãng thời gian dài gần 10 năm nữa. Yếu tố trực tiếp thôi thúc GS. Tân là “sau một hội thảo quốc tế tổ chức năm 2006 ở Hạ Long, tôi thấy không có công bố trên tạp chí quốc tế thì không làm tốt được gì nên đã khởi động một ‘chiến dịch’ cứ viết các nghiên cứu bằng tiếng Anh, dở cũng được nhưng dứt khoát phải để quốc tế họ hiểu được mình đang làm gì”. Năm 2009, bài báo do ông và các học trò – một trong số đó là PGS. TS Ngô Đức Thành, hiện đang làm việc tại trường Đại học KH&CN Hà Nội USTH, đánh giá khả năng khí hậu bằng mô hình khu vực gửi đến tạp chí thuộc top Q2, được chấp nhận đăng sau khi được các phản biện đề nghị chỉnh sửa đến lần thứ 2. “Lúc đó chủ yếu họ bắt mình chỉnh sửa vì số liệu đầu vào ngắn quá, độ phân giải của mô hình thưa quá. Tôi đành phải giải thích là ở Việt Nam internet còn hạn chế và không có máy tính chuyên dụng, phải chạy bằng nhiều máy nhỏ nên không thể có độ mô phỏng dày hơn”, GS. Tân nhớ đến những ngày đầu hội nhập khó khăn như thế.  “Ít công bố trong lĩnh vực khí tượng là tại người ta không có thời gian để làm thôi. Nguyên nhân thứ nhất là để công bố được, những người làm phải ở trong môi trường quốc tế, phải hiểu quá trình công bố quốc tế và hấp thụ được phương thức để làm. Thông thường khi có dự án, chúng ta cứ phải chạy theo thủ tục, phải lo giải ngân cho xong còn để công bố theo chuẩn mức quốc tế thì phải làm rất sâu, phải ngồi tĩnh lại để phân tích vấn đề, đặt lên đặt xuống câu hỏi.  Thực ra, việc ra công bố về khí tượng không phải là quá khó, nhưng không thể nhanh được. Vì nội dung công bố không chỉ đơn thuần là nêu hiện tượng nhận được, mà nó còn nhiều cấp: anh lấy thông tin, nêu hiện tượng xong rồi phải lý giải hiện tượng đấy, từ đó anh tổng quát hóa bài toán đó. Ví dụ khi nghiên cứu biến đổi khí hậu, ta có thể thấy số lượng bão dường như giảm nhưng cường độ bão tăng trên biển tây bắc Thái Bình Dương. Đối với nhiều công trình, kết luận như vậy là có thể đăng ở một tạp chí khoa học trong nước rồi. Nhưng theo chuẩn quốc tế, dừng ở đấy thì không bao giờ anh đăng được ở tạp chí tốt cả, mà sẽ phải lý giải tại sao số lượng bão giảm, cường độ tăng, cấu trúc cơn bão thay đổi như thế nào trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Anh phải tìm hiểu được cơ chế, thu thập rất nhiều nguồn số liệu khác nhau, và đưa ra được những kết quả mới không trùng lặp với những nghiên cứu trước. Đây mới là phần khó và đòi hỏi sự tập trung làm việc cao độ. Để làm được một cái gì đấy có ý nghĩa thì không dễ”. (PGS. TS Ngô Đức Thành)  Với nhiều lĩnh vực nghiên cứu, việc tạo ra được “cú hích” đầu tiên sẽ khuyến khích các công bố quốc tế tiếp theo nhưng ngành khí tượng dường như nằm ngoài quy luật này. Sau gần 10 năm, những chuyển biến dù có nhưng rất chậm chạp và chỉ được thúc đẩy từ một vài cá nhân đơn lẻ, rải rác trong ĐHQGHN, USTH, Viện Vật lý địa cầu (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Viện KH Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, Tổng cục Khí tượng Thủy văn thủy văn quốc gia (Bộ TN&MT)… “Các công bố quốc tế không nhiều, đội ngũ các nhà khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế chỉ đếm trên đầu ngón tay và ít nhóm nghiên cứu có công bố quốc tế”, PGS. TS Ngô Đức Thành nhận xét một cách thẳng thắn và khái quát về bức tranh nghiên cứu hiện nay của ngành khí tượng.   Thực tế đó cũng được phản ánh ngay ở số lượng hồ sơ đề tài do Quỹ NAFOSTED tài trợ trong vòng 10 năm qua (2008-2018). Trong ngành Khoa học trái đất, mỗi kỳ dao động chừng 12 đến 16 đề tài được tài trợ thì lĩnh vực khí tượng cũng chỉ vỏn vẹn 2-3 đề tài, chủ yếu là các dự báo hạn mùa, cơ chế mưa, tác động của biến đổi khí hậu, “đấy là chúng tôi phải vừa động viên, vừa ‘ép’ các bạn ấy làm bằng được”, GS. Phan Văn Tân – chủ tịch hội đồng ngành Khoa học trái đất NAFOSTED, chia sẻ.  Với nhiều chương trình cấp nhà nước như KC 08 “Nghiên cứu KH&CN phục vụ bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”, KC 09 “Nghiên cứu KH&CN phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển” (Bộ KH&CN) hay “Chương trình KH&CN quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên môi trường” (Bộ TN&MT)… đã được thực hiện qua nhiều giai đoạn, thì mục tiêu là những giải pháp, công nghệ, thiết bị phục vụ đời sống xã hội nên trước đây chưa bắt buộc phải có công bố quốc tế với các đề tài được tài trợ mà mới chỉ ở mức độ khuyến khích. Ở góc độ một nhà nghiên cứu đã có nhiều kinh nghiệm công bố quốc tế và thực hiện nhiều dự án quốc tế, PGS. TS Ngô Đức Thành nhận xét, “dù các dự án và đề tài như vậy đã rất tốt vì đưa ra rất nhiều khuyến nghị có ý nghĩa với Việt Nam nhưng nếu được đo lường bằng tiêu chuẩn quốc tế thì còn tốt hơn”. Đo lường bằng tiêu chuẩn quốc tế ở đây, theo quan điểm của anh, là xuất bản công trình trên các tạp chí quốc tế có bình duyệt hoặc các dự án, báo cáo được “một đội ngũ phản biện đủ độc lập, đủ khách quan, đủ ẩn danh để đánh giá thì các điểm yếu trong nghiên cứu mới được khắc phục. Nếu chúng ta muốn đưa chất lượng nghiên cứu lên theo các chuẩn mực quốc tế thì cần phải đạt ở tiêu chí đó nữa”.   Do đó, trong mảng biến đổi khí hậu, “sản phẩm đầu ra [của Việt Nam] mà đạt chất lượng quốc tế, ví dụ như để được trích dẫn trong báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) chỉ đếm trên đầu ngón tay”, anh nói.   Hạn chế về điều kiện nghiên cứu và nguồn nhân lực  Vậy vì sao những nhà nghiên cứu ngành khí tượng khó hội nhập quốc tế? Theo một khảo sát nhỏ thực hiện vào tháng 10/2018 với một số đơn vị nghiên cứu về khí tượng ở Việt Nam, hầu hết các câu trả lời đều tập trung vào hai điểm quan trọng, đó là hạn chế về điều kiện nghiên cứu và thiếu hụt nguồn nhân lực.   Một trong những điều kiện nghiên cứu quan trọng hiện tại của ngành khí tượng là hệ thống siêu máy tính bởi trên thế giới, từ vài chục năm nay, các nhà nghiên cứu đã tiến hành công việc qua các mô hình số trị được xây dựng trên các phương trình toán học mô tả các trạng thái của khí quyển với đầy đủ các quá trình vật lý của nó và những mô hình này cần được vận hành trên các máy tính có đủ năng lực tính toán. “Hệ thống tính toán của nhiều quốc gia trên thế giới rất mạnh, đủ sức chạy mô hình toàn cầu – tức là có khả năng tính toán, diễn giải các quá trình vật lý khí quyển trên quy mô toàn cầu như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, hay đơn giản như Thái Lan và Malaysia, họ cũng có siêu máy tính với tốc độ xử lý vài nghìn teraflops (1 teraflop tương đương với hiệu suất một nghìn tỷ phép tính/giây) để chạy mô hình đó trên lưới máy tính một vài chục km hoặc trên quy mô toàn cầu”, TS. Mai Văn Khiêm, Phó viện trưởng Viện KH Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu – một trong những viện đầu ngành về khí hậu tượng thủy văn ở Việt Nam, cho biết.  Ở Việt Nam, có hai đơn vị cũng có được hệ thống máy tính hiệu năng cao (HPC) là Tổng cục Khí tượng thủy văn quốc gia và Viện KH Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, ví dụ “Viện được nhà nước đầu tư trang bị một hệ thống HPC tương đối mạnh so với Việt Nam, và bước đầu đã dùng để thực hiện đề tài ‘Xây dựng công nghệ dự báo các khí hậu hạn mùa cho Việt Nam bằng tổ hợp các mô hình số trị’”, TS. Mai Văn Khiêm nói. Tuy nhiên anh cũng thừa nhận một thực tế là ngay cả khi có dàn HPC “khủng” ấy thì “vẫn chưa đủ ăn thua” vì “mới chỉ mạnh so với hệ thống máy móc trước đây của chúng ta còn tổng tính toán của HPC này chỉ ở khoảng 80 đến 90 teraflops (máy Cray XC40), so với các nước tiên tiến còn thua xa”.  Một đồng nghiệp trẻ của anh xác nhận điều đó, “với Việt Nam hiện nay là cái mạnh nhất nhưng chỉ cần so với HPC Đài Loan thôi thì nó đã cực yếu rồi. Nói chung máy móc ở Việt Nam tuy không lạc hậu nhưng còn cách quốc tế xa, mà máy có năng lực tính toán mạnh thì nó đắt đỏ lắm trong khi cứ khoảng 5 năm là hết khấu hao”.   Năng lực tính toán yếu hơn quốc tế sẽ ảnh hưởng đến điều gì? Hầu hết các câu trả lời điều chung nhận định: với điều kiện như vậy, chỉ triển khai được các bài toán khu vực với lưới tính vài chục km. TS, Mai Văn Khiêm giải thích thêm, “không chạy được các mô hình toàn cầu hay diễn giải các bài toán toàn cầu mà chỉ chạy được mô hình khu vực, diễn giải các bài toán chạy trên miền tính hạn chế, tức là chỉ bao quanh khu vực Việt Nam và một số khu vực lân cận với độ phân giải lưới ngang lên tới 20 đến 30km”.   Tuy nhiên, cái khó khăn lớn nhất của lĩnh vực nghiên cứu khí tượng chính là con người. “Hệ thống máy tính bắt đầu có, trong tương lai điều kiện ‘cứng’ như vậy sẽ được cải thiện thêm nhưng điều chúng tôi lo nhất là con người”, GS. TS Phan Văn Tân lo ngại. Hơn ai hết, TS. Mai Văn Khiêm hiểu rõ điều này. Từ lúc ở Nhật Bản về và làm việc tại Viện, anh đã chứng kiến “những dòng chảy người đến và đi” như ở nhiều cơ sở nghiên cứu công khác, “đào tạo được khá nhiều nhưng cũng khó giữ chân họ do chế độ đãi ngộ theo tiêu chuẩn nhà nước còn ở mức hạn chế”.   Hiện nay, nguồn nhân lực nghiên cứu khí tượng của Việt Nam chủ yếu bổ sung từ trường Đại học KHTN (ĐHQGHN), vốn “mỗi khóa chỉ tuyển được 30 người là nhiều và ngành này thường lấy điểm thấp gần nhất trường, trong khi lại là ngành cần người học giỏi toán, lý, tin học”, PGS. TS Ngô Đức Thành – từng là cựu giảng viên của trường, nhận xét. Vài năm gần đây có thêm trường đại học Tài nguyên môi trường “từng có khá đông đầu vào nhưng số lượng cũng sụt giảm”. Trên thực tế, những người giỏi các môn này lại ít chọn ngành khí tượng mà “để có người làm được nghiên cứu phải sàng lọc rất nhiều, học lên rất nhiều. Cả chục năm qua, thi thoảng trong một khóa mới lại xuất hiện một bạn đi học nước ngoài sau đại học và có tương lai làm nghiên cứu”, anh cho biết thêm.   Theo TS. Mai Văn Khiêm, một số quốc gia cùng khu vực như Thái Lan hay Malaysia họ giải quyết bài toán nhân lực bằng cách hằng năm cử khoảng 5 cán bộ của họ đi làm tiến sỹ, postdoc ở Mỹ, Úc, Nhật Bản “sau 5 năm là người ta đã có 15 đến 20 người tốt”. Ở Việt Nam, đôi khi số những người đi học như vậy lại không trở về nước, hoặc có về thì “các ông ấy chuyển sang làm quản lý hết rồi” nên số lượng những người thực sự còn nghiên cứu khoa học, “không bằng số ngón trên một bàn tay” như cách ví von của PGS. TS Ngô Đức Thành.   Những giải pháp trong tầm tay  Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về nghiên cứu lĩnh vực khí tượng không hẳn toàn màu xám. “Kể từ khi về nước, tôi thấy mọi chuyện đã tốt dần lên, anh em nghiên cứu có nhiều chương trình từ cấp bộ đến cấp quốc gia để có thể đề xuất các đề tài, các ý tưởng và được cấp kinh phí thực hiện”, một nhà nghiên cứu trẻ của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam nhận xét và cho biết thêm, “đặc biệt Quỹ NAFOSTED công bằng, minh bạch, riêng về thủ tục thì nhanh gọn, không thể nào chê được”.   Đó thực sự là bước chuyển về quan điểm của những nhà quản lý. GS. TS Phan Văn Tân nói, “năm 1998, chúng tôi gửi hồ sơ về dự báo bão lên Tổng cục Khí tượng Thủy văn, đề nghị Tổng cục chủ trì, chúng tôi tham gia làm. Lúc đó có thể họ chưa quan tâm hoặc họ nghĩ không khả thi nên từ chối, do đó chúng tôi đề xuất lên ĐHQGHN thì được ủng hộ và sau đó được Bộ KH&CN chấp nhận cho thực hiện một cấp đề tài độc lập nhà nước do PGS. TSKH Kiều Thị Xin làm chủ nhiệm”. Đó là câu chuyện của 20 năm trước, hiện tại, ở hai Bộ KH&CN và Bộ TN&MT đều có nhiều chương trình liên quan đến lĩnh vực khí tượng, khí hậu cả về nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. “Mỗi chương trình có một yêu cầu cụ thể và có thể bổ sung cho nhau, ví dụ chương trình KC thì lượng kinh phí lớn, có điều kiện đầu tư cho thiết bị nghiên cứu – máy tính trong phòng thí nghiệm của thầy Tân là từ các đề tài KC thầy thực hiện, còn NAFOSTED thì không có nhiều khoản chi cho thiết bị nhưng yêu cầu phải có công bố quốc tế”, theo nhận định của PGS. TS Ngô Đức Thành.   Điều mà họ mong muốn là nâng cao hơn nữa chất lượng của các chương trình này. “Mặc dù một số sản phẩm từ đề tài KC 08, 09 đã có công bố quốc tế hoặc tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn cần tiếp tục nâng cao hơn nữa về hàm lượng khoa học và sản phẩm nghiên cứu”, anh nói.  Với kinh nghiệm của một người từng thực hiện và phản biện rất nhiều chương trình KH&CN cấp nhà nước, đề tài Quỹ NAFOSTED và một số dự án hợp tác quốc tế, GS. TS Phan Văn Tân cho rằng, ngoài việc nêu cao tiêu chí công bố quốc tế thì còn có một cách để đem lại những bài toán có ý nghĩa và quy tụ được nhân lực, đó là có những đề bài lớn ở quy mô liên ngành với các ngành khoa học trái đất, môi trường… “Trước đây và cả hiện nay, chúng ta thường chỉ giải quyết những vấn đề rất vụn vặt và rải rác theo kiểu chặt khúc vấn đề. Bây giờ chúng ta nên mạnh dạn xây dựng một khung đề bài, giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn ở quy mô vùng, trong đó có nhiều bài toán nhỏ, chẳng hạn dự báo khí hậu, biến đổi khí hậu, tai biến thiên nhiên, ô nhiễm môi trường…, hoặc một chương trình nghiên cứu về bão nhiệt đới – một vấn đề khó nhưng luôn thời sự của thế giới. Có như vậy chúng ta mới quy tụ được một đội ngũ làm nghiên cứu tốt và đem lại những kết quả tốt”.   Trong khi chưa có điều kiện thực hiện được mong ước này, GS. TS Phan Văn Tân và các đồng nghiệp còn say sưa làm nghiên cứu đã tham gia thành lập một mạng lưới quy tụ các nhà khoa học hàng đầu Đông Nam Á cùng thực hiện một dự án về biến đổi khí hậu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên các quốc gia Đông Nam Á “làm sao để đẩy mạnh nghiên cứu lên, làm sao để Đông Nam Á tạo được ra ảnh hưởng nhất định lên báo cáo của IPCC”, mục tiêu mà PGS. TS Ngô Đức Thành đặt ra.   Để có thể có được kết quả dự báo trong khoảng thời gian cần thiết, các nhà nghiên cứu thế giới đều sử dụng những mô hình số trị (numerical model) với những phương trình toán học mô tả trạng thái khí quyển một cách khách quan, tính được các biến khí tượng một cách định lượng. Do các mô hình Việt Nam đang sử dụng đều là mô hình sẵn có nên nếu muốn phát triển nó phù hợp với điều kiện Việt Nam, “chúng ta cần phải có đội ngũ chuyên gia được phân chia theo chức năng là đội ngũ phát triển mô hình, đội ngũ dự báo như các quốc gia khác. Hiện nay chúng ta mới bước đầu xây dựng mô hình như vậy”, theo TS. Mai Văn Khiêm. Bên cạnh đó, Việt Nam còn gặp một vấn đề khác là năng lực tính toán của hệ máy tính. Nếu nhìn từ góc độ này, có ba vấn đề liên quan đến khả năng dự báo: 1. Cần tổ hợp nhiều mô hình bởi mỗi mô hình đều có sai số nhất định, do đó cần phải có nhiều phương pháp tính toán khác nhau và nhiều mô hình khác nhau, sau đó tổ hợp chúng để đưa ra kết quả dự báo (hiện Việt Nam mới chỉ dừng lại ở tính toán 15 đến 20 phương án); 2. Do năng lực tính toán thấp mà chúng ta mới chỉ sử dụng được các mô hình có độ phân giải lưới ngang khá thô (vài chục km), chưa hạ xuống quy mô nhỏ (một vài km) để có kết quả ‘tinh’ hơn; 3. Mô hình khu vực của chúng ta mới chỉ giải quyết được những vấn đề của khu vực mà chưa giải quyết được vấn đề bên ngoài như Tây Philippines, Bắc Trung Quốc hay Nam Á trong khi nếu chạy được mô hình toàn cầu, tự tạo được dữ liệu đầu vào, chúng ta có thể dự báo ít sai số hơn.    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Những kinh nghiệm quản lý khoa học từ Nam Mỹ      Trong gần một thập kỷ gần đây, khoa học đã  có bước phát triển mạnh mẽ và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế tri  thức tại nhiều quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Venezuela… Sáu nhà  quản lý, những kiến trúc sư của khoa học Nam Mỹ, đã chia sẻ những kinh  nghiệm thành công trong chính sách đầu tư công cho khoa học và phương  thức đưa khoa học vào thực tiễn.     Argentina: Tăng cường các mạng lưới liên kết và mở rộng sự hợp tác công – tư   Ông Eduardo Arzt, giám đốc Viện Y sinh học CONICET – đối tác của Max Planck Society, khẳng định các mạng lưới liên kết vùng và xuyên lục địa góp phần đưa khoa học Nam Mỹ phát triển. Nó khuyến khích các nhà khoa học trẻ về nước, thúc đẩy nguồn lực nhà nước đầu tư vào nghiên cứu các công nghệ lõi như nghiên cứu về protein trên quy mô lớn.  Một trong những hình thức mạng lưới liên kết là hợp tác với các viện nghiên cứu lớn trên thế giới. Ví dụ như Viện Pasteur của Uruguay tại Montevideo đã được thành lập vào năm 2004 thông qua thỏa thuận với Viện Pasteur tại Paris, còn Viện nghiên cứu Y sinh Buenos Aires, được khai trương vào năm 2011, là viện đối tác của Max Planck Society. Nhờ sự liên kết này mà hai viện nghiên cứu đã tuyển dụng được hàng chục nhà nghiên cứu trẻ và xây dựng các phòng thí nghiệm chuyên ngành với những thiết bị hiện đại, mời được các học giả quốc tế vào các hội đồng tư vấn đánh giá chuẩn xác chất lượng của các công trình khoa học của viện.   Hiệu quả từ cách làm này đã thuyết phục sự hợp tác giữa các nhà khoa học Nam Mỹ, Bắc Mỹ và châu Âu. Vào tháng Tư vừa qua, Argentina đã trở thành một thành viên của Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử châu Âu (EMBL). Qua đó các nhà khoa học Argentina đã nhận được sự tài trợ từ Trung tâm quốc tế Fogarty của Viện nghiên cứu Y học quốc gia Mỹ, Viện Y khoa Howard Hughes, Quỹ từ thiện Pew Charitable Trusts và nhóm các đối tác của Max Planck Society để tiến hành các nghiên cứu về những lĩnh vực sinh học phân tử, khoa học thần kinh và công nghệ nano.   Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và đổi mới Lino Barañao nhấn mạnh đến vai trò của sự hợp tác công – tư (public–private consortia), sau hơn một thập kỷ thi hành các chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, khoa học bằng ngân sách nhà nước.   Năm 2008, chính phủ Argentina đã phát động chiến lược Sectoral Funding Strategy để thúc đẩy hợp tác công – tư trong nghiên cứu khoa học. Kết quả là từ năm 2008 đến 2013, 800 triệu đô la để tài trợ ban đầu hoặc vay với lãi suất thấp đã được giải ngân tới hơn 5.000 công ty, trong đó có 80 công ty khởi nghiệp, Số lượng các nhà khoa học trong ngành công nghiệp tăng lên từ 7.200 người trong năm 2003 tới 12.300 người năm 2012, và sẽ đạt tới 18.000 người vào năm 2020.  Các dự án được tài trợ chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ sinh học, công nghệ nano, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển một số lĩnh vực chiến lược của đất nước như y tế, năng lượng, hoặc môi trường và phát triển xã hội. Nhiều dự án đã ngay lập tức đạt được thành công, trong đó có dự án sản xuất hormone tăng trưởng (HGH) trong sữa bò biến đổi gene và các hệ thống công nghệ nano trong y học.   Brazil: Xóa bỏ quan liêu và chú trọng vào chất lượng nghiên cứu khoa học  Xóa bỏ quan liêu, ông Jose Eduardo Krieger, nhà quản lý nghiên cứu ở ĐH São Paolo, cho rằng Brazil cần một môi trường thuận lợi hơn cho đổi mới và sáng tạo, muốn vậy phải xóa bỏ thói quan liêu hiện nay. Và để giải quyết vấn đề này cần thay đổi cơ chế chính sách ở tầm quốc gia.  “Ví dụ tại ĐH São Paulo, năm 2011 chúng tôi đã bắt đầu thực hiện một cơ chế mới nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học tập trung vào việc phát huy khả năng của họ hơn là mất thời gian vào những thủ tục hành chính. Trường ĐH này cũng là viện nghiên cứu lớn nhất Nam Mỹ, chiếm khoảng 20% số lượng công bố tại Brazil hàng năm. 6.000 nhà khoa học của viện nghiên cứu này đã giành được gần một nửa trong tổng số 450 triệu đô la ngân sách dành cho nghiên cứu của chính quyền São Paulo”, ông Jose Eduardo Krieger cho biết.  Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho các đề tài khoa học ở Brazil không bao gồm các chi phí gián tiếp, ví dụ như chi phí bảo trì trang thiết bị. Các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu ở Brazil thường thiếu các văn phòng hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong các hoạt động quản lý dự án, quản lý trang thiết bị, kế toán, làm hợp đồng, v.v. Vì vậy, vào cuối năm nay, ĐH São Paulo sẽ hình thành một mạng lưới gồm các chuyên gia quản lý dự án khoa học để hỗ trợ hoạt động của nhóm nghiên cứu. 100 nhóm những nhà quản lý dự án được thành lập, mỗi nhóm đều có một chuyên gia kỹ thuật, nhằm hỗ trợ các nhà khoa học, cho phép họ tự tổ chức thành các nhóm nghiên cứu liên ngành.   Bên cạnh đó, những cải tiến mới trong chính sách về khoa học đang được thảo luận tại Quốc hội, trong đó có việc đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu các trang thiết bị cần thiết.  Về nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, trong thập kỷ qua, chính phủ Brazil đã tập trung nguồn lực bền vững vào giáo dục và khoa học, nó bao gồm việc hình thành mức lương tối thiểu cho giáo viên phổ thông; phân bổ 1,2% GDP tài trợ cho nghiên cứu; và mở một chương trình học bồng mang tên “Khoa học không biên giới” để thu hút những tài năng quốc tế về cho đất nước và hỗ trợ các nhà nghiên cứu nhiều triển vọng của Brazil đi đào tạo ở nước ngoài.   Ông Sidarta Ribeiro, giám đốc Viện nghiên cứu về não tại trường ĐH Liên bang Rio Grande do Norte cho biết, hai trong số những rào cản cần được phá bỏ để cải thiện lĩnh vực nghiên cứu của đất nước này là đánh giá hiệu quả nghiên cứu và chế độ khen thưởng thưởng dành cho nghiên cứu. Vốn đã ăn sâu vào văn hóa khoa học Brazil, cách đánh giá thiên về chú trọng số lượng hơn chất lượng, hay còn gọi là numerologia (số học), với cách đánh giá các bài báo khoa học và các tạp chí khoa học theo Hệ thống đánh giá Qualis khuyến khích các nhà nghiên cứu công bố càng nhiều càng tốt mà không cần quan tâm tới hiệu quả thực sự của các nghiên cứu. Vì vậy thay vì tập hợp thành một công trình lớn, các nhà khoa học xé lẻ đề tài để có được nhiều công bố hơn.   Theo ông Sidarta Ribeiro, việc mời các tổ chức quốc tế tham gia đánh giá một cách độc lập chất lượng nghiên cứu của các trường đại học và viện nghiên cứu có thể là giải pháp then chốt để mang lại sự đổi mới trong hoạt động sáng tạo của Brazil.   Peru: Đặt mục tiêu nhanh chóng tăng cường năng lực nghiên cứu   Sau nhiều năm không được quan tâm, Hội đồng Khoa học, công nghệ và đổi mới công nghệ Quốc gia (CONCYTEC) của Peru bất ngờ được tăng ngân sách lên 20 lần chỉ trong vòng 18 tháng, đạt gần 110 triệu đô la và sẽ còn tiếp tục phát triển với tốc độ tương tự, theo lời bà Gisella Orjeda, chủ tịch của CONCYTEC, cơ quan có chức năng xây dựng và thúc đẩy các chính sách phát triển KH&CN và tài trợ cho nghiên cứu khoa học ở Peru. Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử, Peru có một tổng thống ưu tiên phát triển khoa học và đổi mới.   Hiện nay Peru không chỉ cần những nhà khoa học giỏi mà cả những nhà quản lý khoa học trình độ cao. CONCYTEC đang nâng cao năng lực của mình trong việc xây dựng những mục tiêu chiến lược và các chính sách khoa học có cơ sở thực tiễn, tuân thủ các nguyên tắc chống sự thiên lệch vì lợi ích riêng trong quản lý khoa học, xét duyệt các đề tài một cách khách quan dựa trên thành tích khoa học, và khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời loại bỏ những quy định cứng nhắc về người nhập cư nhằm tuyển dụng nhân sự trình độ cao.  Bà Gisella Orjeda cho biết: “tôi không bao giờ tưởng tượng rằng mình có thể chia tay nghiên cứu để đảm nhiệm công tác quản lý, nhưng tôi không hề hối tiếc, đặc biệt vào lúc này khi chúng tôi đang đứng trước thách thức to lớn của nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế tri thức”.   Venezuela: Cần tôn trọng khoa học và nhà khoa học  Theo ông Claudio Bifano, chủ tịch Viện Hàn lâm Vật lý, toán học và khoa học tự nhiên, Venezuela có nhiều tiềm năng về khoa học và công nghệ nhưng đã bị mai một trong thập kỷ qua. Điều cấp bách mà Venezuela cần làm là khôi phục tinh thần tôn trọng khoa học và cấp kinh phí vào hướng nghiên cứu cơ bản để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám, tiến tới đảo ngược xu hướng này.   Trong những năm gần đây, Venezuela đã đầu tư hơn 2% GDP vào khoa học và công nghệ, gây dựng được một lực lượng khoảng 13.000 nhà nghiên cứu. Nhưng số lượng công bố quốc tế lại giảm sút  tới 40% trong các năm 2008 – 12, từ hơn 1.600 xuống 1.000 công bố. Tổng số công bố năm 2012 tương đương với năm 1997, khi Venezuela chỉ có khoảng 3.500 nhà nghiên cứu còn ngân sách cho khoa học và công nghệ chỉ đạt 0.3% GDP.   Nguyên nhân cơ bản là sự giảm sút về năng lực do tình trạng chảy máu chất xám, khi những nhà nghiên cứu tài năng của Venezuela rời bỏ quê hương trong những năm qua do chính sách bất hợp lý của Nhà nước. Công bố trên Piel-Latinoamericana cho thấy, 1.100 trong số 1.800 bác sỹ tốt nghiệp các trường y khoa ở Venezuela trong năm 2013 đã chạy ra nước ngoài. Có thể nói, giới trí thức Venezuela đang tháo chạy, hoặc bị buộc phải thôi việc. Ví dụ trong năm 2003, viện nghiên cứu và phát triển dầu mỏ Venezuela, INTEVEP, sa thải hơn 1.000 chuyên gia, phần lớn là các nhà vật lý và kỹ sư. Các cơ quan đánh giá quốc tế cho biết kể từ đó, viện nghiên cứu này không tạo ra được bất kỳ bằng sáng chế nào.   Tình trạng trên là do Venezuela theo đuổi những mục tiêu chính trị trong khoa học, thể hiện qua Kế hoạch KH, CN và đổi mới quốc gia giai đoạn 2005–30, mục tiêu là thúc đẩy mọi thành phần xã hội cùng tham gia làm khoa học, vì vậy hỗ trợ cả các đề tài, dự án của những người không nghiên cứu khoa học, hay các tổ chức ngoài ngành như hội đồng nhân dân, các tổ chức bảo vệ môi trường hoặc dịch vụ xã hội, trong đó bao gồm cả việc cấp máy tính cho trường học. Dù những dự án này khá hữu dụng nhưng về bản chất không phải là những dự án khoa học. Tai hại hơn, nó cho phép những người không được đào tạo về khoa học có quyền sử dụng ngân sách đầu tư công cho nghiên cứu khoa học và làm tầm thường hóa khoa học.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: http://www.nature.com/news/capacity-building-architects-of-south-american-science-1.15377       Author                Quản trị        
__label__tiasang Những kỳ vọng với Nghị định 13      Các doanh nghiệp tới đây sẽ dễ đăng ký để trở thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), đồng thời có thêm cơ hội tiếp nhận các chính sách ưu đãi của Nhà nước do Nghị định 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN đã có hiệu lực từ ngày 20/3/2019, thay thế cho Nghị định 80/2007/NĐ-CP còn nhiều bất cập trước đây.      Thiết bị của công ty Nanogen, công ty hàng đầu Châu Á – Thái Bình Dương sản xuất nguyên liệu dược và thành phẩm thuốc tiêm đặc trị từ công nghệ DNA/ protein tái tổ hợp.  Quá ít doanh nghiệp đăng ký là doanh nghiệp KH&CN  Ra đời từ năm 2007, Nghị định 80 (NĐ 80) về doanh nghiệp KH&CN vốn dựa trên cơ sở Luật KH&CN năm 2000, trong bối cảnh hoạt động R&D khi đó chưa thực sự được các doanh nghiệp coi trọng. NĐ 80 có mục đích chủ yếu là hỗ trợ việc hình thành mạng lưới doanh nghiệp KH&CN từ các viện, trường, qua đó đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu từ những tổ chức công lập này.  Đến năm 2010, nhận thấy tiềm năng làm R&D của các doanh nghiệp đang hoạt động, Chính phủ bổ sung vào Nghị định 80 cho phép các doanh nghiệp thành lập từ trước nhưng đáp ứng đủ điều kiện được cấp chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN để có thể được hưởng các chính sách ưu đãi tương ứng.  Trong hơn 12 năm qua, số lượng các doanh nghiệp KH&CN đã dần dần tăng lên, một phần nhờ tác động của NĐ 80 và những văn bản pháp luật liên quan theo thống kê của Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KHCN (NATEC) thuộc Bộ KH&CN, tính đến đầu năm 2019, cả nước có khoảng 3000 doanh nghiệp có đủ điều kiện để được coi là doanh nghiệp KH&CN, nhưng chỉ có trên 400 doanh nghiệp được cấp chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.  Điều này cho thấy “trước đây các doanh nghiệp có thể không mong muốn đăng ký trở thành doanh nghiệp KH&CN do ưu đãi chưa thực sự hấp dẫn hoặc do thủ tục quá rườm rà”, Ông Trần Xuân Đích, Phó cục trưởng Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học & công nghệ (NATEC), chia sẻ.  Trên thực tế, NĐ 80 khi triển khai đã bộc lộ những hạn chế khi gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc chứng minh đáp ứng điều kiện theo quy định. Nhiều nội dung trong đó cũng không còn phù hợp với Luật KH&CN sửa đổi năm 2013 và các luật về doanh nghiệp, đất đai, đầu tư, tổ chức chính phủ mới chỉnh lý trong 5 năm trở lại. Do vậy, NATEC đã được Bộ KH&CN giao nhiệm vụ phối hợp cùng các bộ, ban, ngành khác để xây dựng dự thảo thay thế cho nghị định cũ. Kết quả, Nghị định 13/2019/NĐ-CP mới về doanh nghiệp KH&CN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 20/3/2019.  Thủ tục đơn giản và dễ tiếp cận hơn  Điểm nổi bật của NĐ 13 là đơn giản hóa các điều kiện chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, giảm điều kiện để nhận ưu đãi thuế và giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính.  Trước đây, các tổ chức muốn đăng ký thành lập doanh nghiệp KH&CN phải thuộc một trong 7 lĩnh vực được quy định, phải có các kết quả KH&CN thường được hình thành từ các nhiệm vụ KH&CN, nhận chuyển giao hoặc nhập khẩu công nghệ và đồng thời phải giải trình quá trình làm chủ kết quả KH&CN.  Nhưng trên thực tế, có khá nhiều doanh nghiệp tư nhân tự đầu tư KH&CN để ứng dụng theo nhu cầu tự thân mà không phải lúc nào cũng thuận tiện đăng ký sở hữu trí tuệ, do đó những đối tượng này khó có thể cung cấp bằng chứng về quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp kết quả của mình.  Bên cạnh đó, theo quy định cũ, để doanh nghiệp sau khi chứng nhận được hưởng các ưu đãi thuế thì cần có tỷ lệ doanh thu sản phẩm, hàng hóa hình thành từ kết quả KHCN trong năm thứ nhất (năm bắt đầu có thu nhập chịu thuế) đạt tối thiểu 30% tổng doanh thu, năm thứ hai tối thiểu 50% và từ năm thứ ba trở đi đạt 70% trở lên. Điều này rất khó thực hiện bởi phần lớn các doanh nghiệp KHCN đều nhỏ lẻ, tiềm lực chưa cao hoặc kinh doanh đa ngành nghề mà sản phẩm KH&CN không đưa lại doanh thu chủ lực.    Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung Ương (Vinaseed) là một trong những doanh nghiệp KH&CN được hưởng nhiều ưu đãi từ chính sách  Nghị định 13 sắp tới sẽ tạo thuận lợi hơn bằng việc cho phép doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực đều có thể đăng ký và hưởng ưu đãi. Để chứng minh kết quả KH&CN, bên cạnh những sản phẩm KH&CN đã được được cấp giấy tờ chứng minh rõ ràng (như các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng vật nuôi; chứng nhận chuyển giao hoặc nhập khẩu công nghệ…) thì các doanh nghiệp tự đầu tư và phát triển công nghệ của mình có thể thực hiện theo Thông tư 02/2015 để đề nghị các Sở KH&CN tổ chức hội đồng đánh giá các kết quả KN&CN không sử dụng ngân sách nhà nước làm bằng chứng hồ sơ.  Điểm nổi bật thứ hai trong NĐ 13 điều kiện hưởng ưu đãi thuế: chỉ cần tối thiểu 30% doanh thu hằng năm từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN (ngoại trừ các doanh nghiệp mới thành lập dưới 5 năm). So với điều kiện 70% doanh thu trước đây thì con số mới này được coi là “khả thi” và phù hợp hơn rất nhiều. Các doanh nghiệp KH&CN sẽ được miễn thuế thu nhập trong 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.  Những điều kiện chứng nhận và ưu đãi thuế nêu trên cho phép doanh nghiệp vừa linh động xác lập mục tiêu kinh doanh sản phẩm KH&CN theo năng lực và biến động thị trường (nhưng vẫn cần đáp ứng mức tối thiểu 30% doanh thu) vừa có động cơ mở rộng đầu tư vào KH&CN để thu được lợi ích thuế cao hơn trên phần doanh thu sản phẩm KH&CN được ưu đãi. Các thay đổi này được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của khu vực tư nhân vào KH&CN.  Những vấn đề chưa dễ tháo gỡ  Chính sách ưu đãi tín dụng cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và sản xuất kinh doanh trong NĐ 13 có nguồn tài trợ từ Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia (NATIF); các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, và Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; cho vay với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh vay hoặc hỗ trợ lãi vay tối đa 50%.  Thực tế cho thấy việc tiếp cận với những ưu đãi từ các Quỹ nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế hoạt động và năng lực phân bổ của từng quỹ. Đối với NATIF, mặc dù đã được triển khai vài năm nhưng mô hình của quỹ vẫn chưa được phân biệt rõ ràng là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hay là đơn vị sự nghiệp: nếu đây là quỹ thì không được bổ sung vốn ngân sách còn nếu là đơn vị sự nghiệp thì phải cấp kinh phí theo cơ chế dự toán.  Các quỹ công lập cũng bị ràng buộc bởi điều kiện “bảo toàn vốn nhà nước”, trong khi đó đầu tư vào KH&CN vẫn đang là một lĩnh vực có tính rủi ro cao, khả năng thu hồi thấp và kéo dài nhiều năm. Do đó khả năng doanh nghiệp KH&CN tiếp cận được nguồn vốn từ các Quỹ trên không hề dễ dàng.  Vấn đề chưa dễ tháo gỡ thứ hai xoay quanh việc các doanh nghiệp chỉ được phép dùng tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để trích lập quỹ phát triển KH&CN – được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, và mới đây theo NĐ 13 còn có thể dành cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo các doanh nghiệp, mức trích lập 10% lợi nhuận trước thuế khó có thể mang lại hiệu quả đáng kể. Bà Nguyễn Thị Hương Liên, Phó tổng giám đốc Công ty CP Sao Thái Dương, một trong những doanh nghiệp KH&CN được chứng nhận, cho biết: “Với mức độ trích lập quỹ như thế, những doanh nghiệp như Sao Thái Dương không đủ chi cho hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm, chứ chưa kể đến sử dụng quỹ để thương mại hóa sản phẩm.”  Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là nhỏ và vừa. Theo số liệu của Tổng điều tra Kinh tế năm 2017, giả sử một doanh nghiệp có doanh thu khoảng 10 tỷ/năm, lợi nhuận trước thuế sẽ ở mức 400-700 triệu đồng, mức trích quỹ sẽ chỉ khoảng vài chục triệu, như vậy khó có thể đủ để nghiên cứu đổi mới công nghệ ở trình độ cao hơn. Các quỹ phát triển KH&CN có lẽ chỉ phát huy tác dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước (qui mô trung bình quỹ tầm 3 tỷ đồng), doanh nghiệp FDI (tầm 1,8 tỷ đồng) và một số tập đoàn tư nhân lớn như Vingroup, Phenikaa,….  Hiệu quả còn tùy thuộc ở năng lực cơ quan quản lý  Tinh thần “nới rộng đầu vào” và đẩy mạnh kiểm soát đầu ra được thể hiện trong NĐ 13 với việc cho phép các doanh nghiệp đăng ký tự cam kết về quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp đối với những kết quả KH&CN để sớm được hưởng các ưu đãi, và đẩy phần lớn trách nhiệm đánh giá, kiểm định về sau cho các cơ quan quản lý trực tiếp, cụ thể là là các Sở KH&CN địa phương.  Khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, các sở KH&CN sẽ vất vả hơn nhưng sẽ góp phần kiến tạo một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông thoáng hơn. Hiện nay, thời gian để cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN theo quy định đã giảm từ 30 ngày làm việc xuống còn khoảng 10-15 ngày làm việc.  Rõ ràng là năng lực của cơ quan thẩm quyền đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy đăng ký doanh nghiệp KH&CN. Tại Hội nghị triển khai công tác ngành KH&CN năm 2019, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam từng nhấn mạnh rằng, mặc dù KH&CN được xác định là động lực phát triển tương lai của Việt Nam nhưng vẫn rất nhiều khu vực, địa phương chưa thực sự coi đó là quốc sách, vì vậy trong thời gian tới các sở KH&CN từng địa phương sẽ càng phải nỗ lực khẳng định vai trò quan trọng của mình, trong đó có công tác chuyên môn để hỗ trợ doanh nghiệp.  ***  Về cơ bản, NĐ 13 không thay đổi quá nhiều so với NĐ 80 nhưng đã tạo điều kiện để giải quyết tốt hơn việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp KH&CN. Một số chính sách ưu đãi của Nhà nước cũng đã được quy định mạch lạc, rõ ràng, và dễ đáp ứng cho doanh nghiệp hơn so với NĐ 80.  Tuy nhiên, vẫn tồn tại những vướng mắc đòi hỏi phải được điều chỉnh ở các văn bản quy định cao hơn (như Luật thuế, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật Ngân sách nhà nước…) mà Bộ KH&CN và các cơ quan quản lý liên quan sẽ tiếp tục phải đề xuất và hoàn thiện trong quá trình sửa đổi hệ thống các văn bản luật.  NĐ 13 hiện nay đã có hiệu lực. Chúng ta kỳ vọng các cơ quan quản lý, đặc biệt là các Sở KH&CN sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để triển khai thực hiện những quy định mới, giúp chúng thực sự mang lại hiệu quả thiết thực, có sức lan tỏa rộng rãi trong đời sống như mong muốn.  So với NĐ 80 cũ quy định chỉ có sở KH&CN các tỉnh là cơ quan thẩm định và cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, thì NĐ 13 đã bổ sung thêm thẩm quyền của NATEC trực tiếp chứng nhận trong một số trường hợp đặc biệt: kết quả KH&CN đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; các doanhnhiệp mà các sở chưa đủ điều kiện kỹ thuật để đánh giá, hoặc các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh.  Theo khoahocphattrien.vn     Author                Quản trị        
__label__tiasang Những lợi ích trong việc tham gia nhóm nghiên cứu có chuyên gia quốc tế      Để vượt qua được những khó khăn chung của môi trường KHXH trong nước và có công bố quốc tế, theo PGS.TS Đặng Hoàng Minh (trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội), việc tham gia vào một nhóm nghiên cứu chung cùng với các học giả nước ngoài là hết sức cần thiết.      PGS.TS Đặng Hoàng Minh   Khi tham gia vào một nhóm nghiên cứu có chuyên gia quốc tế, nhà khoa học xã hội (KHXH) nhận được sự giúp đỡ về mặt chuyên môn sâu cho tới những hỗ trợ đơn giản nhất về tài liệu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu (database). Khi xác định chủ đề nghiên cứu, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu quốc tế trong nhóm như là một phép thử trong việc xác định chủ đề nghiên cứu có phù hợp với sự quan tâm của cộng đồng khoa học quốc tế và ý nghĩa khoa học quốc tế hay không. Ví dụ khi nghe mình trình bày một vấn đề nghiên cứu đặc thù ở Việt Nam, nếu họ thấy hấp dẫn thì có nghĩa là chủ đề đó có thể sẽ hấp dẫn cộng đồng khoa học nước đó. Ngược lại, nếu họ nói là họ không thấy nghiên cứu đấy có điểm nào đáng quan tâm, có thể vì người ta làm nhiều rồi hoặc không đóng góp gì cho khoa học thế giới, có nghĩa là sẽ không thuyết phục được các độc giả cũng như học giả quốc tế. Khi đã xây dựng đề cương nghiên cứu, các chuyên gia khác trong nhóm sẽ cùng phân tích, phản biện lại ý tưởng của nhà KHXH Việt Nam để giúp chúng ta xây dựng nghiên cứu tốt hơn. Đồng thời, những góp ý của họ trong quá trình thiết kế nghiên cứu cũng sẽ giúp chúng ta có nghiên cứu chặt chẽ hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cả về mặt thể thức cũng như nội dung. Họ cũng sẽ sẵn sàng cung cấp tài liệu, cơ sở dữ liệu miễn phí vì họ hiểu rằng hầu như nhà KHXH ở các nước chậm phát triển không đủ tiền để mua các tài liệu này.  Không quá khó để tham gia vào các nhóm nghiên cứu có chuyên gia quốc tế bởi hiện nay các nước phát triển có nguồn ngân sách tương đối lớn cho hỗ trợ nghiên cứu với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Nhà khoa học từ các nước phát triển cũng cần có đối tác từ phía Việt Nam để nghiên cứu, khi ấy họ sẽ tìm thông tin về chủ đề nghiên cứu của mình và về mình trên mạng internet. Tuy nhiên người nghiên cứu KHXH phải đáp ứng được các tiêu chí gồm sự hiểu biết, niềm đam mê về chủ đề nghiên cứu và năng lực ngoại ngữ. Về chủ đề nghiên cứu, mình phải cho họ thấy được mức độ hiểu biết sâu từ lý thuyết, phương pháp luận cho tới cơ sở thực tiễn để có thể thảo luận học thuật được với họ trên nền tảng am hiểu về chủ đề đó. Tức là mình phải có gì đó để đảm bảo “hai bên cùng có lợi” – nguyên tắc win – win, họ cũng phải nhận thấy sẽ được gì trong hợp tác với mình. Nếu mình không biết gì hết thì họ sẽ không còn hứng thú làm việc với mình.  Có khá nhiều học giả nước ngoài quan tâm đến KHXH Việt Nam nhưng hiện nay trong các trường đại học nghiên cứu, không phải ai cũng quan tâm đến nghiên cứu hoặc có đủ hiểu biết kỹ lưỡng về chủ đề nghiên cứu để chia sẻ với các chuyên gia quốc tế. Ví dụ, trường mình là một đại học có nhiều chuyên gia nước ngoài đến nhưng có rất nhiều chuyên gia đến rồi đi, bởi vì khi họ trình bày và hỏi về các chủ đề nghiên cứu thì phía ta nói rất chung chung, khi đó các chuyên gia kia cũng chỉ thấy mơ hồ và như vậy, sẽ khó có thêm chia sẻ để cùng nghiên cứu chung.  Khuyến khích nghiên cứu và công bố quốc tế trong KHXH ở Việt Nam là rất cần thiết, nhưng tôi cũng đặt câu hỏi ngược lại rằng, các kết quả trong những công bố quốc tế ấy có được lắng nghe, đưa vào chính sách hay không? Ví dụ: Đã từ lâu, thông qua các công bố quốc tế của mình, tôi đưa ra kiến nghị, phải hỗ trợ sức khoẻ tâm thần cho trẻ em ở các trường học, trong đó phải nâng cao năng lực nhận biết các vấn đề về sức khoẻ tâm thần của giáo viên. Nhưng các kiến nghị đó không được lắng nghe, không được sử dụng. Khi không được sử dụng thì nhà nghiên cứu sẽ không có động lực để khám phá tiếp. Nói thật là ở Việt Nam, công bố quốc tế về KHXH cũng chỉ để công bố thôi. Còn hầu như các nhà làm chính sách không mấy quan tâm đến các phát hiện, đề xuất từ các công bố quốc tế của nhà khoa học để xây dựng chính sách.  Thu Quỳnh ghi lại.     Author                Đặng Hoàng Minh        
__label__tiasang Những nan đề của toán học Việt Nam      Trên con đường khám phá cái đẹp riêng biệt của toán học, các nhà nghiên cứu Việt Nam có khi nào nghĩ đến những bài toán ứng dụng ngoài thực tế và việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội? Vấn đề đằng sau câu hỏi mà nhiều người vẫn thường nghĩ đến này thực ra còn phức tạp hơn người ta tưởng, thậm chí giải pháp cho nó không phải lúc nào cũng nằm trọn vẹn trong tay người làm toán.      Ngày hội toán học mở là một trong những hoạt động tổ chức nhằm khơi gợi tình yêu toán học ở học sinh phổ thông.  Không hẹn mà gặp, tọa đàm “Hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu Toán học tại Việt Nam, bài học kinh nghiệm và tiềm năng phát triển” do Viện Toán học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tổ chức vào ngày 25/9/2020 và tọa đàm “Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực vật lý” do Hội đồng ngành Vật lý (Hội đồng giáo sư nhà nước), Hội đồng ngành Vật lý Quỹ NAFOSTED và trường Đại học Phenikaa tổ chức trước đó hai tháng cùng phản ánh một nỗi niềm chung của những người làm nghiên cứu: vai trò của lĩnh vực khoa học họ đang theo đuổi trong xã hội như thế nào? liệu lĩnh vực của họ có thể đóng góp gì cho một xã hội có tốc độ thay đổi chóng mặt như hiện nay? Đó cũng là suy tư gói gọn trong câu hỏi “Ích gì, toán học?” mà giáo sư Hà Huy Khoái từng chia sẻ trên Tia Sáng năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Viện Nghiên cứu cao cấp về toán (VIASM).    Dường như tại Việt Nam, còn ít người nhận thức đúng về sự cần thiết của toán học, mặc dù trên thế giới, nó được đánh giá là “Không có lĩnh vực khoa học nào thâm nhập và ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống và công việc như toán học. Từ chế tạo ô tô đến phân làn đường, từ mua bán trong siêu thị đến kiến trúc, từ dự báo thời tiết đến nghe MP3, từ đi tàu đến Internet – tất cả đều là toán!” 1. Đó là lý do vì sao, các nhà toán học đã cùng nhau đánh giá bối cảnh xã hội và vai trò của toán, đặc biệt là toán ứng dụng và ứng dụng toán, tại cuộc tọa đàm diễn ra ở Viện Toán học, nơi những bậc tiền bối như giáo sư Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy… đã gây dựng nên.       “Có thực tế là bác sĩ ở bệnh viện lớn đọc kết quả chụp X quang tương đối chính xác, còn ở bệnh viện địa phương thì trình độ đọc ảnh còn chưa tốt. Do đó, nếu dùng trí tuệ nhân tạo được các nhà chuyên môn ở các viện lớn huấn luyện thì sẽ đem lại hiệu quả với kết quả tương đối chính xác. Chúng tôi có thử trên các tấm ảnh chụp bằng tia X về phổi thì độ chính xác xấp xỉ khoảng 90%. Đây là một vấn đề thú vị về toán học, thành một bài toán hẳn hoi và có thể công bố được”. (Giáo sư Vũ Hà Văn)      Dùng toán đúng lúc, đúng chỗ     Câu chuyện làm toán ứng dụng – dùng các kiến thức toán học để áp dụng trong những lĩnh vực khoa học, kinh tế xã hội khác nhau, bên cạnh việc làm toán học thuần túy – vì muốn khám phá vẻ đẹp của toán học, là điều đã và đang xuất hiện tại Việt Nam. Tuy không được nhiều người biết đến nhưng toán học đã là công cụ hữu ích để góp phần giải quyết những bài toán cụ thể của xã hội, ví dụ như giáo sư Lê Văn Thiêm cùng học trò đã ứng dụng các phương pháp toán học vào các bài toán kỹ thuật liên quan tới các vấn đề nổ mìn định hướng phục vụ giao thông thời chiến, xây dựng khu gang thép Thái Nguyên… cũng như tính toán các bài toán dòng chảy nước mặt, nước ngầm phục vụ thiết kế và xây dựng nhiều công trình thủy điện và quy hoạch ĐBSCL; giáo sư Hoàng Tụy không chỉ dùng vận trù học để làm giảm việc xếp hàng mua bia mà còn đưa việc vận trù học “vận dụng vào kế hoạch hóa và quản lý kinh tế vĩ mô” trong những năm 1970, và “có đóng góp tích cực vào việc xây dựng một cách nhìn thực tế và một tiếp cận khoa học đối với các vấn đề kinh tế xã hội nhằm đưa đất nước vượt qua các khó khăn, ra khỏi cuộc khủng hoảng” 2.      Giáo sư Lê Tuấn Hoa. Ảnh: Hoàng Nam  Những bài toán thực tế mà toán học có thể tham gia muôn hình vạn trạng. Tuy nhiên, người ta vẫn cứ hỏi nhau câu hỏi tưởng chừng muôn thuở “học toán để làm gì”, “toán có thể làm được gì”?. Trong cuộc trao đổi năm 2014 với giáo sư Ngô Bảo Châu (giám đốc khoa học Viện nghiên cứu cao cấp về toán), giáo sư Ngô Quang Hưng (ĐH Bang New York ở Buffalo, Mỹ) cho rằng “sẽ khá oái oăm khi người ta lên Facebook bằng iPhone, rồi hỏi Toán có ứng dụng gì trong cuộc sống không?”. Tại buổi tọa đàm ở Viện Toán học, câu hỏi đó lại dấy lên giữa những người làm toán. Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi này, giáo sư Vũ Hà Văn, giám đốc khoa học Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn, chỉ kể câu chuyện của Viện Dữ liệu lớn “được thành lập cách đây hai năm với hướng đi chính là làm sao để tạo ra tác động lớn từ nguồn dữ liệu của người Việt, chủ yếu công cụ đang sử dụng chủ yếu là toán học, học máy”. Ở đây, các thuật toán sẽ giúp những nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như khoa học dữ liệu, tin sinh học, sinh học phân tử, công nghệ gene… tạo ra những sản phẩm rất cụ thể nhưng không ít tham vọng như lập bản đồ gene người Việt trên 1000 mẫu, cơ sở để góp phần đem đến những ứng dụng rộng rãi trong y học chính xác – một phương thức chẩn đoán, điều trị tiên tiến của ngành y mới được áp dụng một cách đơn lẻ ở Việt Nam; hay phát triển và huấn luyện các hệ AI nhằm khai thác kho dữ liệu hình ảnh y tế hết sức phong phú và sẵn có ở các bệnh viện từ địa phương đến trung ương như chụp X quang, cộng hưởng từ… qua đó giúp công việc chẩn đoán bệnh của các bác sĩ hiệu quả và chính xác hơn.     Chuyện làm toán ứng dụng và chuyển giao sản phẩm cho doanh nghiệp cũng đã xuất hiện trong các trường đại học. Ví dụ mới đây, Khoa Toán Cơ Tin (trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) đã chuyển giao cho công ty Med Aid sản phẩm AI Contour – một thuật toán học sâu hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh bằng việc khoanh vùng các bộ phận cơ thể với độ chính xác 92% ở vùng đầu và ngực, 83% ở vùng bụng. AI Contour hứa hẹn là công cụ hữu hiệu giúp các bác sĩ lập kế hoạch xạ trị cho bệnh nhân ung thư khi đạt được những kết quả đó trong vòng 30 giây.       Giáo sư Vũ Hà Văn đề cập đến việc sử dụng các công cụ toán học để giải quyết một số bài toán ở viện Dữ liệu lớn. Ảnh: Hoàng Nam.  Tuy nhiên, sử dụng toán “đúng lúc, đúng chỗ” ở Việt Nam vẫn còn quá ít ỏi. Dường như các lĩnh vực khác còn chưa biết đến sự hữu dụng của toán học hoặc nếu có thì vẫn chưa thực sự đầy đủ. Tại buổi tọa đàm, giáo sư Lê Tuấn Hoa (Chủ tịch Hội đồng ngành Toán, Hội đồng giáo sư nhà nước) kể lại nỗi ngạc nhiên của giáo sư Klaus Krickeberg, nhà toán học xác suất thống kê từng hỗ trợ Việt Nam phát triển ngành Y tế công cộng, “ông ấy nói với tôi là chỉ ở đất nước Việt Nam thì người làm y học công cộng mới là toàn người từ ngành y chứ không phải là từ ngành toán, còn ở Pháp đa số người làm là từ toán”.     Trong 40 năm nỗ lực làm việc tại Việt Nam, dù giáo sư Klaus Krickeberg luôn luôn nêu bật quan điểm “trọng toán” trong giải quyết vấn đề của y tế công cộng là các nhà toán học cần phải được tuyển dụng vào nhiều vị trí trong hệ thống y tế; các nhà quản lý y tế và nhà nghiên cứu y học nhất thiết phải nhận thức được vai trò của toán học trong y tế công cộng 3 nhưng thực tế thì không có nhiều thay đổi. Lĩnh vực này vẫn còn thiếu quá nhiều người hiểu toán để có thể tận dụng được lợi thế của toán học trong việc giải quyết vấn đề thực tế của ngành mình. Đó là lý do khiến giáo sư Lê Tuấn Hoa cho rằng “tôi không rũ bỏ trách nhiệm của người làm toán nhưng chúng ta phải thấy, dù toán rất quan trọng nhưng nếu không có ông bác sĩ thì toán cũng không làm nổi bài toán y tế công cộng”.     Thiếu những người hiểu toán và làm toán – mắt xích gắn kết quan trọng trong từng lĩnh vực ngành nghề, toán học đang bị “cô lập” trong một lãnh địa riêng, mặc dù có trong tay rất nhiều “bí kíp” có thể giúp gỡ rối ở từng lĩnh vực như logictics, vận chuyển, xếp lịch, phát triển mô hình quản trị đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, mô hình mô phỏng trong y tế, giáo dục, kinh tế, môi trường, năng lượng… Tình trạng bị cô lập của toán học giữa những cộng đồng khác đã khiến giáo sư Vũ Hà Văn cho rằng “Nếu mình không mở ra và tạo ra kết nối với các khoa khác thì có thể là ngay cả bản thân khoa Toán cũng sẽ ‘chết’ trong trường đại học của nó”.      Ở đâu, người làm toán ứng dụng?     Trong bối cảnh mà các nhà toán học đều nhất trí cho rằng, thời hoàng kim với tình yêu thật sự với toán và phong trào say mê làm toán đã vụt qua thì ngành này đang đứng trước một thách thức lớn: vấn đề con người. Hiện tại, mục tiêu phát triển toán ứng dụng đang gặp khó khăn đó ngay tại chính Viện Toán học, một trong những nơi nghiên cứu và đào tạo toán hàng đầu Việt Nam. “Muốn phát triển toán ứng dụng nhưng chúng tôi lại thiếu con người. Ngay cả việc triển khai cũng gặp nhiều khó khăn, đầu tiên là giảng viên giảng dạy vì đào tạo toán ứng dụng cần nhiều kỹ năng của nhiều ngành toán khác nhau. Xây dựng chương trình là một việc nhưng tìm người là việc khác”, phó giáo sư Đoàn Thái Sơn, Viện phó Viện Toán học cho biết.       Phó giáo sư Nguyễn Hoàng Linh mơ ước đến một ngày có thể áp dụng mô hình trường toán Berlin. Ảnh: Hoàng Nam  Thật đáng lo ngại khi câu chuyện thiếu nhân lực không chỉ diễn ra tại Viện Toán học mà còn là tình trạng chung của nhiều khoa toán các trường đại học từ bắc vào nam – nơi góp phần đào tạo những người hiểu toán và ứng dụng toán. Tuy được giáo sư Phan Quốc Khánh (ĐH Quốc tế, ĐHQG TPHCM) đánh giá ‘cửa trên’ về nhân lực “khi so sánh hai trường đại học kỹ thuật hàng đầu Việt Nam, có thể thấy số lượng sinh viên gần tương đương nhau nhưng số lượng các giáo viên toán ở trường miền bắc cao gần gấp ba lần so với trường miền nam” song TS Lê Quang Thủy, Viện trưởng Viện Toán ứng dụng và tin đại học (ĐH Bách khoa HN) phân trần: mang tiếng “trăm nghề”, Bách khoa vẫn “thiếu sự đa dạng giữa các ngành, đặc biệt liên quan đến toán ứng dụng. Tôi có liên hệ, nói rõ quan điểm với nhiều bạn nghiên cứu về xác suất thống kê, giải tích số… đang ở nước ngoài nhưng khi về Việt Nam, họ vẫn không chọn chúng tôi vì có những lời mời hấp dẫn hơn ở bên ngoài. Vì thế, Bách khoa hiện đang ‘rỗng’ người dạy các ngành đó”. Anh cho biết thêm, trường có cơ hội mở rộng quy mô đào tạo do ngành toán liên quan đến tất cả các ngành kỹ thuật như điện lạnh, tự động hóa, công nghệ thông tin… nhưng lại không đủ có giảng viên đứng lớp.     Vì vậy, hiện tại tồn tại một nghịch lý là giữa lúc nhu cầu xã hội rất lớn về các ngành mới như AI, quản trị dữ liệu, năng lượng tái tạo… cũng như các ngành truyền thống như nhiệt điện lạnh, cơ khí, tài chính quản trị… thì các trường lại thiếu giảng viên toán ứng dụng. Và không rõ có phải do thiếu nhân lực hay không mà ở một số trường đại học với những chuyên ngành người ta có thể thấy ngay là cần có công cụ toán học cho công việc thì việc dạy toán không còn được coi trọng, “nhiều trường đại học cắt sạch chương trình về toán” theo nhận định của giáo sư Đỗ Đức Thái, trưởng khoa Toán – Tin (trường ĐH Sư phạm HN).     Có thể phần nào giải quyết vấn đề thiếu giảng viên toán bằng việc mở rộng hợp tác với các trường có cùng chung chương trình về toán. Phó giáo sư Vũ Hoàng Linh, hiệu trưởng trường ĐH Khoa học tự nhiên, đề cập đến một mô hình kết hợp đào tạo và nghiên cứu ở Đức: mô hình trường toán Berlin thành lập vào năm 2006 theo Sáng kiến xuất sắc của Bộ Giáo dục Đức với sự tham gia của khoa toán thuộc ba trường ở Berlin là ĐH Kỹ thuật, ĐH Tự do và ĐH Humboldt, nơi có thể tận dụng được nguồn lực trong và ngoài nước Đức, đem lại cơ hội có được một môi trường học tập nghiên cứu toán hết sức đa dạng, phong phú.       Giáo sư Đỗ Đức Thái, Trưởng khoa Toán – Tin (trường ĐH Sư phạm HN) Ảnh: Hoàng Nam.  Tuy nhiên, việc áp dụng một mô hình kiểu Berlin tại Việt Nam không thuận lợi. Theo phó giáo sư Vũ Hoàng Linh, “cách đây một hai năm, phó giáo sư Lê Minh Hà (VIASM) định xây dựng chương trình toán phối hợp giữa các trường, chủ yếu là toán ứng dụng, nhưng gặp phải rất nhiều vướng mắc”. Vậy đó là những vướng mắc gì? “Đó là do cơ chế. Chương trình đào tạo của mỗi trường do một bộ phận đào tạo quản lý, cấp bằng theo quy chế của Bộ GD&ĐT nên rất khó khăn trong phối hợp đào tạo. Đây là nguyên nhân khiến việc phối hợp chỉ mới theo nghĩa là mời người này người kia sang giảng chứ không phải là có một trường đứng ra điều phối cả chương trình chung”, ông giải thích.     Vì vậy, chương trình đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu và Toán ứng dụng với sự tài trợ của Quỹ VINIF hiện diễn ra ở ĐH Bách khoa HN, Viện Toán học và ĐH Khoa học tự nhiên không thể kết nối được với nhau trong khi “nhiều hợp phần giao thoa về nội dung, có thể học chung với nhau được cho đỡ lãng phí nguồn lực”, phó giáo sư Vũ Hoàng Linh nói.     Việc thiếu nguồn nhân lực dạy toán ở các trường đại học kỹ thuật đang được trông chờ sẽ được bù đắp trong nay mai, khi những lứa học sinh phổ thông nhập trường, trong đó có nhiều bạn học chuyên toán. Tuy nhiên, ở góc độ người góp phần “tác động đến việc dạy toán cho nhà trường phổ thông”, giáo sư Đỗ Đức Thái đưa ra một thực trạng đáng buồn về chất lượng học và dạy toán ở trường phổ thông: năng lực tư duy, năng lực suy luận tồi hẳn. Cách giảng dạy ở phổ thông làm tổn hại đến chất lượng, bởi bây giờ ở phổ thông dạy các mẹo mực để làm trắc nghiệm thôi nên việc dạy lý thuyết toán một cách chuẩn chỉnh, căn cơ không được tiến hành như trước đây nữa”. Thực trạng đó cũng diễn ra tại Bách khoa, nơi có thêm một kỳ thi bổ sung với 75% nội dung thi là toán, trong đó 25% theo hình thức tự luận, “rất buồn là có những túi bài trên 50% là 0 điểm phần tự luận”, TS Lê Quang Thủy cho biết.    Nhận xét về đào tạo chuyên toán, giáo sư Đỗ Đức Thái  nhện định: “Hiện nay không còn được như trước do chúng ta đã đổi hướng nó. Trong quá trình triển khai tư tưởng của Olympic toán học, chúng ta đã làm không đúng. Bệnh thành tích chi phối việc dạy toán một cách nặng nề, thậm chí đến mức làm làm biến dạng việc dạy toán học phổ thông ở các trường chuyên hiện nay, được dạy dỗ không còn tử tế như trước nữa”. Từ đó, ông nêu vấn đề “Nếu dạy toán ở phổ thông mà tồi đi thì chúng ta sẽ không có nguồn vào (cho đào tạo về toán ở bậc đại học), mà như thế thì không tìm ra cái phần nổi lên trên để đào tạo nâng cao”.    Rõ ràng, việc giải quyết rốt ráo những vấn đề tồn tại trong đào tạo từ phổ thông đến đại học như vậy không chỉ phụ thuộc vào một mình ngành toán, dù rất cần những tiếng nói cất lên từ ngành toán. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, để thay đổi một cơ chế, một quan điểm bất cập sẽ cần rất nhiều thời gian và sự kiên nhẫn. Trong khi sẽ còn rất lâu mới có thể đạt được kết quả như mong đợi thì một hi vọng đã lóe lên từ chính nội bộ ngành toán. “Chúng ta xác định rõ là cần phải mở rộng cộng đồng toán học, trong đó có những nhà toán học và những người ứng dụng toán học; và củng cố cộng đồng những người làm toán không chỉ trong các trường các viện mà còn trong các doanh nghiệp để biết và hiểu được bài toán của họ. Trong thời gian tới, chúng ta cần tổ chức thường niên một diễn đàn, không chỉ là hội thảo thông thường mà là nơi gặp gỡ các cơ quan, ngành công nghiệp để tạo cầu nối gặp gỡ những người có bài toán cụ thể và những nhà toán học có công cụ giải quyết”, phó giáo sư Lê Minh Hà – giám đốc điều hành VIASM, đề cập đến một trong những kế hoạch quan trọng của toán học Việt Nam giai đoạn tới.    Bản thân những người làm toán và học toán cũng cần tự tạo thêm cơ hội cho mình trong tương lai: mở rộng hợp tác với những ngành khác. “Ở trường tôi, khi làm lại chương trình, các khoa sẽ phải nói rõ để khoa toán biết là họ cần những gì, chúng tôi sẽ giải đáp. Nếu đã ngồi làm việc với nhau thì cũng không khó giải quyết lắm, và như vậy chúng tôi mới có thể đảm bảo cái mình dạy thì đúng với cái họ yêu cầu. Lúc tôi thay đổi chương trình, dạy toán cho sinh viên Khoa Hóa đúng thứ toán họ yêu cầu thì học kỳ vừa rồi, sinh viên khoa này đăng ký học toán nhiều hẳn lên”, giáo sư Đỗ Đức Thái nói. Tuy nhiên, điều mà ông ao ước là thay đổi quan điểm dạy toán tận gốc rễ, tức là “sẽ phải chuyển việc thi học sinh giỏi về cho Hội Toán học và biến nó thành thứ Olympic theo đúng tinh thần của toán học, từ đó có thể tạo ra được khát vọng, ham học, ham hiểu biết toán học và vươn lên trong học toán”. □  ——  1. https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Mot-cuong-quoc-Toan-hoc–Muc-tieu-phat-trien-toan-hoc-Viet-Nam-2870  2. https://tiasang.com.vn/-giao-duc/toi-uu-trong-khoa-hoc-ky-thuat-kinh-te-va-doi-song-1557  3. https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Toan-hoc-trong-Y-te-cong-cong-Viet-Nam-14007    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Những ngộ nhận  trong cách  hiểu về IF      Những hệ thống đánh giá dựa vào số lượng các ấn phẩm của nhà nghiên cứu sẽ tạo ra một trở lực mạnh mẽ, khiến họ không muốn theo đuổi những công trình nghiên cứu mạo hiểm nhưng có khả năng tạo sự đột phá, bởi lẽ để thiết kế một phương pháp tiếp cận mới trong một bối cảnh thí nghiệm mới, nhà nghiên cứu phải bỏ ra nhiều năm trời – và trong suốt thời gian đó họ khó mà công bố được bài viết nào.     Bản Tuyên bố San Francisco về Đánh giá Chất lượng Nghiên cứu (DORA) là kết luận của các nhà khoa học tham dự cuộc họp thường niên tháng 12/2012 của Hiệp hội Sinh học Tế bào Mỹ. Nội dung chính của DORA là chủ trương ngừng sử dụng “chỉ số ảnh hưởng của tạp chí” (“journal impact factor”) trong đánh giá công trình của cá nhân nhà khoa học nhằm loại bỏ những sai lệch khi đánh giá công trình nghiên cứu khoa học. Tuyên bố nêu rõ, không được sử dụng chỉ số ảnh hưởng làm “đơn vị đo lường thể hiện chất lượng các bài viết nghiên cứu, qua đó đánh giá những đóng góp của cá nhân nhà khoa học, hoặc dùng trong các quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm, hay tài trợ kinh phí nghiên cứu.” Đối với các quỹ tài trợ, các học viện, nhà xuất bản, nhà nghiên cứu, và các tổ chức cung cấp thông số đánh giá, DORA cũng đề xuất một danh sách các hành vi cụ thể nhằm giúp cải thiện phương pháp đánh giá các ấn phẩm khoa học. Cho tới nay, những đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ của hơn 150 nhà khoa học đầu ngành và 75 tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có AAAS (Hiệp hội Mỹ vì sự Phát triển Khoa học, đơn vị xuất bản Science). Dưới đây là một số lý do:  Chỉ số ảnh hưởng là con số được tính hằng năm cho từng tạp chí khoa học, được xây dựng dựa trên số lần trung bình các bài viết đăng tải trên tạp chí được trích dẫn trong các bài viết khác. Chỉ số này dùng để đo lường chất lượng tạp chí chứ không nhằm đánh giá cá nhân nhà khoa học. Mặc dù vậy, nó ngày càng bị sử dụng sai mục đích, và hiện nay, các nhà khoa học được đánh giá bằng cách xác định sức ảnh hưởng của từng ấn phẩm của họ dựa theo hệ số ảnh hưởng của tạp chí đăng tải ấn phẩm đó. Vì lý do này mà tôi thấy một số nhà khoa học, trong hồ sơ lý lịch cá nhân, đã trang trí thêm cho các ấn phẩm khoa học của mình bằng chỉ số ảnh hưởng của tạp chí, được trích dẫn tới ba con số sau dấu thập phân (VD: 11,345). Và ở một số quốc gia, các bài viết trên một tờ tạp chí có chỉ số ảnh hưởng dưới 5,0 chính thức bị coi là không có giá trị. Như những nhà khoa học hàng đầu vẫn thường chỉ ra, cơn cuồng chỉ số ảnh hưởng này thật phi lý.   Việc sử dụng sai mục đích chỉ số ảnh hưởng của các tạp chí là hết sức nguy hại, bởi nó khuyến khích sự sử dụng liều lĩnh một chuẩn đo có thể gây bất lợi một cách không công bằng tới các tạp chí, khiến họ không muốn đăng tải những bài viết quan trọng thuộc một số lĩnh vực (chẳng hạn như khoa học xã hội và sinh thái học) vốn ít được trích dẫn hơn các lĩnh vực khác (chẳng hạn như y sinh học). Điều này cũng tiêu tốn thời giờ của các nhà khoa học khi gây quá tải cho các tạp chí có lượng trích dẫn cao, như Science, với những công trình không phù hợp của các nhà nghiên cứu đang nóng lòng được những người đánh giá họ cộng điểm.  Song có lẽ hệ quả tai hại nhất của việc xếp hạng tự động chất lượng nhà nghiên cứu là hiện tượng “khoa học a dua” mà nó tạo ra. Những hệ thống đánh giá dựa vào số lượng các ấn phẩm của nhà nghiên cứu sẽ tạo ra một trở lực mạnh mẽ, khiến họ không muốn theo đuổi những công trình nghiên cứu mạo hiểm nhưng có khả năng tạo sự đột phá, bởi lẽ để thiết kế một phương pháp tiếp cận mới trong một bối cảnh thí nghiệm mới, nhà nghiên cứu phải bỏ ra nhiều năm trời – và trong suốt thời gian đó họ khó mà công bố được bài viết nào. Những thông số như vậy càng cản trở hơn nữa sự sáng tạo, bởi chúng khiến các nhà khoa học tìm đến những lĩnh vực vốn đã “đất chật người đông”, bởi chỉ trong những lĩnh vực này thì mới hòng hy vọng công trình của họ được nhiều nhà khoa học nhắc tới, cho dù công trình đó có xuất sắc hay không. Vì thế, chẳng hạn, trong lĩnh vực của tôi là sinh học tế bào, các công cụ mới cho phép áp dụng các phương pháp tiếp cận hiệu quả để tìm hiểu tại sao một cơ thể đơn bào lớn như trùng loa kèn Stentor có thể điều chỉnh chính xác sự vận động trên bề mặt, tạo ra những đặc tính giống các bộ phận cơ thể vốn chỉ tồn tại ở những cơ thể đa bào. Câu trả lời có thể mang lại những hiểu biết mới về cách hoạt động của tất cả các loại tế bào, trong đó có cả tế bào người. Nhưng chúng ta chỉ có thể trông chờ ở sự dấn thân của các nhà khoa học trẻ, dũng cảm vào một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ như thế này, nếu chưa loại bỏ được những phương pháp đánh giá số học máy móc đối với cá nhân nhà khoa học.  Bùi Thu Trang lược dịch theo bài viết của Bruce Alberts trên Science (http://www.sciencemag.org/content/340/6134/787.full)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những nguyên tắc đánh giá các dự án và tổ chức KH&CN      Trong vấn đề thẩm định, đánh giá [các dự án/tổ chức] KH&CN, tôi hoàn toàn không phải là chuyên gia. Tôi chỉ từng có kinh nghiệm làm thành viên hoặc chủ tịch một vài hội đồng thẩm định quốc tế, quốc gia, hoặc cấp viện. Gần đây, tôi được mời tham gia một hội thảo bàn về vấn đề thẩm định, đánh giá, và tôi nghĩ Tia Sáng có lẽ là nơi phù hợp để bày tỏ một số suy nghĩ nhằm thúc đẩy sự quan tâm của các độc giả về chủ đề này. Những điều tôi trình bày không có gì cao xa, hoàn toàn là những lý lẽ phổ thông mà có lẽ hầu như ai cũng biết, tuy nhiên đôi khi việc nhắc lại những điều thông thường ấy cũng là sự cần thiết.      Hội đồng đánh giá đưa ra khuyến nghị giúp cải thiện công tác quản trị khoa học. Nguồn: Nature.  Khi một người hút thuốc bị ho, anh ta có thể: 1) Quyết định không gặp bác sỹ vì không muốn phải nghe lời khuyên dừng hút thuốc; 2) Gặp bác sỹ, nghe lời khuyên bỏ thuốc, rồi để ngoài tai và tiếp tục hút thuốc như thường; 3) Gặp bác sỹ và quyết định bỏ hút thuốc. Chuyện đánh giá trong khoa học cũng tương tự như vậy. Đa phần chúng ta thừa biết các hội đồng đánh giá sẽ khuyến nghị điều gì; nhưng ta không muốn nghe nên trong thâm tâm không hề muốn trải qua quá trình đánh giá, hay tệ hơn ta cố tình lờ đi những khuyến nghị mà hội đồng đưa ra. Tất nhiên, một hệ thống quản lý tốt trong khoa học sẽ buộc chúng ta phải đưa ra lựa chọn thứ ba. Tuy nhiên, với những khuyến nghị đòi hỏi một sự thay đổi quyết liệt nào đó thì việc thực hiện không phải khi nào cũng dễ dàng; thường thì chẩn bệnh vẫn dễ hơn chữa bệnh; người ta vẫn thích cách tiếp cận từ từ, cho dù điều ấy đồng nghĩa với việc hầu như chẳng hề có tiến bộ gì. Một ví dụ điển hình là việc đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, đã có không ít những báo cáo đánh giá đầy công phu, nhưng phần lớn các khuyến nghị không thực sự được thực hiện.  Như thế nào là một báo cáo đánh giá có chất lượng? Một báo cáo đánh giá về một chương trình trọng điểm quốc gia, ví dụ chương trình phát triển điện hạt nhân trước đây, hay chương trình vũ trụ ngày nay, cần cung cấp cho Chính phủ một hệ thống các mục tiêu và những khuyến nghị có tính khả thi trong thực tiễn nhằm xây dựng các chính sách phù hợp và trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn cùng những giải pháp hành động hiệu quả.  Điều quan trọng nên nhớ rằng một hội đồng đánh giá không nhằm tán dương hay phê phán, mà nhằm đưa ra những khuyến nghị giúp cải thiện công tác quản trị của nhà quản lý. Không nên có sự đánh dấu hay chấm điểm: thực tiễn cuộc sống thường quá phức tạp để có thể gói gọn trong một con số duy nhất nào đó, và việc lạm dụng các con số sẽ trở nên nguy hiểm, nhất là khi trong tay các nhà quản lý trình độ thấp.  Đương nhiên, thái độ người đánh giá phải mang tính xây dựng; chúng ta nên nhìn về phía trước và chỉ nhắc lại các bài học trong quá khứ với mục đích chỉ ra con đường tới tương lai. Hội đồng đánh giá phải đưa ra những khuyến nghị với nhận thức rằng các quyết định cuối cùng thuộc về các nhà quản lý, những người mà đối với họ bản đánh giá chỉ là một trong số các căn cứ tham khảo.  Nếu phải nêu ra một số từ khóa phục vụ cho một báo cáo đánh giá tốt, tôi sẽ chọn: chính trực, minh bạch, và đủ chất lượng chuyên môn. Công việc của hội đồng phải dưới sự dẫn dắt của trí tuệ và đạo đức.  Quy tắc căn bản đầu tiên cần tuân thủ là tư cách thành viên hội đồng chỉ được phép trao cho những người không dính dáng về quyền lợi đối với nội dung được đánh giá. Các thành viên nước ngoài nên được tham gia trong các hội đồng. Họ phải được lựa chọn một cách cẩn trọng, là những người đủ tư cách (ví dụ từng có kinh nghiệm là thành viên của những hội đồng khoa học tương tự ở tầm quốc tế), có thái độ thân thiện, tinh thần xây dựng, và đóng góp thiết thực cho cộng đồng cũng như lĩnh vực hoạt động được đánh giá, có hiểu biết sâu về các đặc thù của Việt Nam.  Quy tắc căn bản thứ hai là minh bạch. Hội đồng đánh giá phải tổ chức những cuộc họp mở, nơi người phụ trách trình bày nội dung cần đánh giá và mọi người đến tham gia cuộc họp có thể đặt ra mọi câu hỏi. Các cuộc họp mở này phải được thông báo công khai một cách rộng rãi từ sớm. Hội đồng đánh giá phải công bố cho công chúng bản tóm tắt nội dung đánh giá cùng những khuyến nghị của mình. Quy tắc này rất quan trọng với những dự án mua sắm các thiết bị khoa học đắt tiền. Những dự án như vậy không nên là quyết định thuần túy từ trên xuống mà phải do cộng đồng các nhà khoa học đề xuất từ dưới lên theo nhu cầu khai thác trong thực tế và họ chịu trách nhiệm bảo vệ đề xuất này. Với cách làm như vậy, chúng ta có thể tiết kiệm hàng triệu USD. Thay vì mua thiết bị về rồi mới kêu gọi cộng đồng khai thác, chúng ta chỉ nên mua những thiết bị do cộng đồng khoa học đề xuất. Nếu làm đúng theo quy tắc này, chúng ta sẽ nhận thức đúng đắn hơn, rằng cần đầu tư cho chất xám trước khi đầu tư cho cơ sở vật chất.  Quy tắc căn bản thứ ba là loại trừ những thành viên hội đồng thiếu am hiểu về các lĩnh vực đánh giá. Những thành viên này có thể trong một số trường hợp đặc biệt ngoại lệ, được dự một vài cuộc họp với tư cách là người quan sát, nhưng không được phép tham gia thảo luận. Tương tự như vậy, những người có trách nhiệm thực hiện theo các khuyến nghị của hội đồng có thể (hoặc phải, trong đa số các trường hợp) được mời tham dự các cuộc họp kín của hội đồng và được trình bày quan điểm của họ và trả lời các câu hỏi của hội đồng, nhưng không được phép tham gia thảo luận. Khi hội đồng thảo luận kín về một chủ đề cụ thể nào đó có liên quan đến quyền lợi của bất kỳ thành viên nào trong hội đồng thì người đó phải rời khỏi cuộc họp và không được phép tham gia vào quá trình đưa ra các khuyến nghị liên quan. Các thành viên hội đồng phải được cung cấp đầy đủ các thông tin và tài liệu cần thiết từ trước để có thể đưa ra những khuyến nghị thích hợp về đối tượng khoa học được đánh giá xét trong bối cảnh tổng quan (ngân sách, nguồn nhân lực sẵn có, cơ chế đưa ra quyết định, v.v.).  Vấn đề nguồn nhân lực và cơ sở vật chất cần được xem xét kỹ lưỡng song song để cả hai đều có thể được sử dụng một cách tối ưu. Nếu đầu tư cho cơ sở vật chất thì phải có trách nhiệm bảo dưỡng, vận hành và khai thác. Như tôi đã đề cập, trong hoàn cảnh hiện nay, Việt Nam nhiều khi nên chú trọng đầu tư cho chất xám trước khi đầu tư cho cơ sở vật chất/hạ tầng.  Những nguyên tắc trên hoàn toàn là những tư duy hiển nhiên thông thường, và đều được thừa nhận bởi những ai tham dự hội thảo về thẩm định, đánh giá trên đây. Nhưng tôi thật ngạc nhiên khi người ta bảo tôi rằng những nguyên tắc đó chỉ áp dụng được ở các nước đã phát triển, còn ở các nước đang phát triển thì không được. Tôi phải thú nhận là mình không hiểu được logic của nhận định ấy. Tôi không hiểu vì sao một nước đang phát triển thì không cần đến các tư duy thông thường. Tôi đồng ý rằng nếu một quốc gia không làm theo những tư duy hiển nhiên thông thường, không tôn trọng những giá trị như sự chính trực, tính minh bạch và năng lực chuyên môn, thì sẽ không thể phát triển. Nhưng chắc hẳn đó không phải là hàm ý của điều người ta nói với tôi. Đã đến lúc chúng ta cần loại khỏi đầu óc những suy nghĩ sai lầm nếu muốn có cơ hội cho sự tiến bộ.  Thanh Xuân dịch    Author                Pierre Darriulat        
__label__tiasang Những rào cản của đổi mới sáng tạo      Đổi mới sáng tạo (ĐMST) được nói đến ở khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ. Nhưng trên thực tế, rất ít ví dụ thành công. Nói cách khác, ai cũng muốn thực hiện ĐMST, nhưng thực hiện thành công thì quá ít. Vì sao vậy?  Câu trả lời hợp lý nhất là vì ĐMST có những rào cản mà không phải ai cũng có thể vượt qua được.       Kỳ vọng  Khoảng vài năm trở lại đây, ĐMST đã trở thành một chủ đề nóng của giới chuyên gia, và dần lan sang các doanh nhân và giới truyền thông. Lý do chính là nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, dựa trên vốn đầu tư và lao động giá rẻ, đã chạm ngưỡng bão hòa. Chỉ số ICOR (chỉ số hiệu suất đầu tư) năm 2013 là 5,6 – tức là để có một đồng tăng trưởng thì phải đầu tư 5,6 đồng – một con số quá cao so với chỉ số ICOR của các nước Đông Á trong thời kỳ cất cánh: Nhật Bản (1961-1970), ICOR=3,2; Hàn Quốc (1981-1990), ICOR=3,2; Đài Loan (1981-1990), ICOR=2,7.  Chính vì thế, các nhà nghiên cứu đã đặt ra cảnh báo: Muốn tránh bẫy thu nhập trung bình và phát triển, phải tìm mô hình phát triển mới, dựa trên việc đổi mới công nghệ và quản trị, thì mới có thể phát triển bền vững được.  Với doanh nghiệp, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã dẫn đến khó khăn vô cùng lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo thống kê, chỉ riêng tám tháng đầu năm 2014, đã có 44.500 doanh nghiệp phá sản hoặc tạm dừng hoạt động. Dự đoán một lượng tương đương hoặc lớn hơn các doanh nghiệp tuy chưa ở mức phá sản, nhưng đang sống lay lắt, cũng là một thực tế cần lưu ý.  Trong hoàn cảnh đó, ĐMST đã nổi lên như một lối thoát của nền kinh tế. Hàng loạt dự án về ĐMST đã hoặc đang được triển khai, chẳng hạn: Chương trình ĐMST Việt Nam – Phần Lan (IPP, 11 triệu Euro cho giai đoạn 2014-2018), Dự án ĐMST hướng tới người thu nhập thấp Việt Nam (VIIP) với dự hỗ trợ của World Bank dưới dạng IDA (55 triệu USD), Dự án Đẩy mạnh ĐMST thông qua Nghiên cứu, Khoa học và Công nghệ (FIRST) của Bộ KH&CN (110 triệu USD, trong đó 100 triệu là vốn vay ưu đãi từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế của Ngân hàng Thế giới), Dự án khởi nghiệp theo mô hình Thung lũng Silicon (Vietnam Silicon Valley)… là những ví dụ điển hình.  Bên cạnh đó, các khóa đào tạo về ĐMST, các hội thảo hội nghị về chủ đề này, cũng diễn ra thường xuyên ở hai miền Nam – Bắc. Nhiều doanh nghiệp bắt dầu coi khả năng sáng tạo là một trong những giá trị cốt lõi mà họ theo đuổi. Câu lạc bộ Doanh nghiệp ĐMST cũng đã được thành lập.  Đây là những chuyển động đáng ghi nhận. Ai cũng muốn ĐMST mang lại những kết quả thiết thực cho việc vực dậy nền kinh tế và gỡ khó cho doanh nghiệp. Nhưng hiệu quả thực sự của các dự án này, của các cuộc hội thảo hội nghị… có được như mong đợi hay không, thì rất khó nói, vì nó phụ thuộc vào quá nhiều yếu tố, ở tất cả các khâu, từ việc thiết kế chính sách, đến triển khai trên thực tế và khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực. Trong số đó, có một yếu tố rất cơ bản mà nếu không hiểu rõ thì dù cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa cũng sẽ thất bại. Cụ thể, đó là việc phải trả lời câu hỏi: Đâu là những rào cản của các quá trình ĐMST?   Vì sao thất bại?  Để có thể tiến hành ĐMST thành công, thì khâu đầu tiên là phải nhận biết được các rào cản này, từ đó tìm cách khắc phục, và quan trọng hơn là kiên nhẫn khắc phục, thì quá trình đổi mới có thể mang lại kết quả.  Vậy những rào cản đó là gì?  Từ quan sát hành xử của cá nhân và các tổ chức trong các quá trình chuyển đổi nói chung và quá trình ĐMST nói riêng, có thể liệt kê các rào cản thành bảy nhóm như sau:  – Rào cản từ cá nhân  – Rào cản từ đồng nghiệp  – Rào cản từ tổ chức  – Rào cản từ kiến thức  – Rào cản từ nguồn lực  – Rào cản từ văn hóa xã hội  – Rào cản từ thể chế  Rào cản từ cá nhân  Đây là loại rào cản cơ bản và thường gặp nhất. Vì sao vậy? Vì bản tính của con người nói chung là ngại thay đổi và sợ thất bại mỗi khi thay đổi.   Tuy nhiên, con người còn là một sinh vật có lý trí, và ít nhất cũng có được một phần của ý chí tự do, nên con người có khả năng tự thay đổi, thường thể hiện bằng các quyết định và lựa chọn, và hệ quả là hành động có thể nhận biết được. Nói cách khác, một sự tự thay đổi sẽ bắt đầu từ bên trong, thông qua ý chí, và kết thúc ở hành động ra bên ngoài.   Một khác biệt nữa không thể bỏ qua giữa con người với vật vô tri, là sự tương tác mang tính bản chất của nó. Nếu để hai vật vô tri ở cạnh nhau, chúng sẽ như vậy mãi mãi. Nhưng nếu để hai người ở cạnh nhau, họ sẽ tương tác với nhau gần như tức thì. Nói cách khác, con người có khả năng tạo ra sự thay đổi, hoặc từ bên trong, hoặc thông qua tương tác với người khác. Nhưng một sự thay đổi như vậy luôn gặp phải cản trở của luật quán tính. Với con người thì đó là quán tính tâm lý của cá nhân, và sau đó là quán tính văn hóa của xã hội.  Sự cản trở của các luật quán tính này vô cùng lớn. Nếu không gặp khó khăn lớn, hoặc bị dồn đến đường cùng, thì con người nói chung có xu hướng giữ nguyên trạng thái hiện thời. Nếu trạng thái đó được gia cố bởi thói quen và văn hóa, và sâu xa hơn là bản sắc, thì việc thay đổi lại càng khó khăn. Một trong những ví dụ điển hình là thói gia trưởng và bạo lực trong gia đình, dù đã được chỉ đích danh là xấu, luật pháp ngăn cấm, nhưng vẫn diễn ra hằng ngày ở khắp mọi nơi. Hay thói mê tín dị đoan vẫn sinh sôi nảy nở cũng có nguyên nhân tương tự.  Đó cũng là lý do vì sao người đời thường nói, trong mọi chiến thắng thì chiến thắng bản thân là vinh quang nhất. Vinh quang vì nó khó khăn, nó phải vượt qua sức nặng của quán tính tâm lý và văn hóa, nó phải phủ định chính mình, và cuối cùng, nó chủ động tạo ra một sự phát triển thực sự.   ĐMST thực sự là một sự vượt qua bản thân, vì thế trước hết nó phải vượt qua các rào cản gây ra bởi các quán tính tâm lý và văn hóa của chính mình.     Rào cản từ đồng nghiệp  Rào cản thứ hai trong các quá trình ĐMST, cũng rất phổ biến, đến từ không đâu khác mà chính từ đồng nghiệp của mình. Có rất nhiều lý do để xảy ra hiện tượng này. Đầu tiên là do quán tính tâm lý và văn hóa của những người đồng nghiệp. Họ cũng không muốn thay đổi như tất cả mọi người. Vì thế, họ sẽ tìm cách chống đối, hoặc ít nhất là không ủng hộ, ở ngay giai đoạn khởi đầu. Chỉ rất ít người có đầu óc cởi mở, không định kiến và thường có tầm nhìn rộng, biết đặt lợi ích của tổ chức lên trên, mới có khả năng chấp nhận những ý tưởng mới. Chính vì lẽ đó, giáo dục một đầu óc cởi mở và không định kiến có vai trò sống còn trong việc nuôi dưỡng tinh thần ĐMST của cộng đồng.  Bên cạnh quán tính tâm lý và quán tính văn hóa thì sự cản trở của các đồng nghiệp còn có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác, như xung đột lợi ích hoặc ganh tị… Nếu sự đổi mới làm ảnh hưởng đến lợi ích của một ai đó trong tổ chức, thì dù lợi ích chung có tăng lên thì một số người có lợi ích bị ảnh hưởng cũng sẽ tìm cách chống phá.   Đây là lý do vì sao hệ thống doanh nghiệp nhà nước, sau bao nhiêu năm hô hào phải thay đổi mà kết quả không đạt được bao nhiêu, bởi một sự thay đổi  như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của một số người chủ chốt. Dù doanh nghiệp có thua lỗ, nhưng cá nhân họ không thua lỗ, nên họ không có động lực để tự thân, hoặc không có nhu cầu thay đổi.   Bên cạnh việc xung đột lợi ích thì còn rất nhiều yếu tố phi vật chất khác chi phối hành xử của con người. Ganh tị là một yếu tố điển hình dẫn đến sự ngăn cản của đồng nghiệp.   Với Việt Nam, do các đặc thù văn hóa, rào cản từ đồng nghiệp nặng nề hơn nhiều so với các tổ chức nước ngoài. Chính vì thế, “mất đoàn kết nội bộ” là một trong những “đặc sản” không mong đợi. Trong hoàn cảnh đó, truyền thông nội bộ để cả nhóm cùng hướng đến mục tiêu chung, vì lợi ích chung của cả tổ chức, sẽ giúp quá trình ĐMST được thực thi hiệu quả.  Ở tầm mức quốc gia, hiện tượng “mất đoàn kết nội bộ” cũng không giảm sút và là nguyên nhân cản trở nhiều quá trình ĐMST. Vì thế, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết phải được coi là một trong những điều kiện tất yếu để thực hiện bất cứ quá trình đổi mới nào ở cấp độ này.   Rào cản từ tổ chức     Các tổ chức sinh ra để thực hiện một sứ mạng nào đó mà những người sáng lập đã đề ra. Sứ mạng này được cụ thể hóa bởi cơ cấu tổ chức, chức năng và cơ chế tương tác giữa các bộ phận ở trong tổ chức.   Thiết kế của tổ chức tại thời điểm ra đời thường nhằm đáp ứng những mục tiêu tại thời điểm đó và theo hình dung của nhà lãnh đạo khi đó. Nhưng theo thời gian, hoàn cảnh bên ngoài thay đổi, thì cơ cấu và cơ chế cũ sẽ không còn đáp ứng được những thay đổi này nếu không được điều chỉnh thỏa đáng. Dần dà, tổ chức sẽ bị xơ cứng và trở nên quan liêu trì trệ. Biểu hiện cụ thể là số các thủ tục hành chính, bộ máy quản lý phình to và kém hiệu quả. Cơ chế vận hành của tổ chức không còn để khuyến khích cái mới, mà để kiểm soát các hoạt động của các thành viên và giảm thiểu trách nhiệm cho lãnh đạo, thậm chí bị nhào nặn để phục vụ lãnh đạo, nếu lợi ích của lãnh đạo và của tổ chức không trùng nhau.   Vì thế, để quá trình ĐMST được thực hiện, không có cách nào khác là phải đổi mới bản thân tổ chức trước hết, thông qua thay đổi cơ cấu và cơ chế vận hành của chính nó. Thay đổi cơ cấu có thể bằng cách loại bỏ các bộ phận không hiệu quả, nặng tính kiểm soát thay vì thúc đẩy; hoặc thiết lập riêng một không gian thử nghiệm cho các ý tưởng mới. Còn thay đổi cơ chế thì cần tập trung loại bỏ các rào cản có tính quan liêu, các thủ tục có tính hành chính, xa rời với thực tiễn; hoặc đặt ra một cơ chế mới, cho phép các thử nghiệm mới được tiến hành như một hoạt động chuẩn tắc.   Nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới đã sử dụng cách làm này để khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên. Chẳng hạn, Google cho phép nhân viên của mình dùng 20% thời gian, tương ứng với một ngày làm việc trong tuần, để thực hiện các ý tưởng sáng tạo của riêng mình một cách độc lập với công việc hiện thời. Nhiều sản phẩm mới của Google đã ra đời thông qua cách làm này.  Rào cản từ kiến thức      Khi thực hiện một quá trình ĐMST, ngoài kiến thức chuyên môn sâu, thì kiến thức liên ngành là tối quan trọng. Chính phần kiến thức liên ngành sẽ tạo ra sự khác biệt và thế mạnh của nhóm này so với các nhóm cạnh tranh khác.   Chẳng hạn, khi một doanh nghiệp muốn thay đổi dây chuyền sản xuất, nếu doanh nghiệp đó không có nhân lực đủ kiến thức để vận hành dây chuyền sản xuất mới, thì quá trình chuyển đổi này sẽ thất bại. Đưa vào sử dụng một quy trình quản trị mới mà những nhân viên của doanh nghiệp không có đủ kiến thức về quy trình này thì kết quả cũng tương tự.   Ngoài ra, quá trình ĐMST luôn đòi hỏi sự tham gia của nhiều người, với nhiều kỹ năng và chuyên môn khác nhau, nên bên cạnh sự liên ngành về tri thức, còn đòi hỏi sự liên thông về kỹ năng và thái độ. Nói cách khác, kiến thức về những kỹ năng mềm này và thiện chí hợp tác cũng là yếu tố quan trọng để thực hiện bất cứ quá trình ĐMST nào.  Sự thiếu hụt về tri thức thường biểu hiện ra ngoài thực tế bằng một nhận định: chất lượng nhân lực không đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, nâng cao chất lượng nhân lực, bằng cách đào tạo và bồi dưỡng liên tục, và xa hơn là biến tổ chức của mình thành một tổ chức học tập, là cách duy nhất để vượt qua rào cản về kiến thức này.  Bên cạnh kỳ vọng về lợi ích thu được, thì mọi quá trình đổi mới đều phải trả một giá nhất định, gọi là giá chuyển đổi. Sự thiếu hụt kiến thức còn thể hiện ngay ở việc không định lượng được lợi ích có thể thu được, giá chuyển đổi phải trả và rủi ro có thể gánh chịu. Vì lẽ đó, trong quá trình thực hiện ĐMST, việc ra quyết định sẽ không được mạch lạc và quyết đoán, do đó không thành công.   Bên cạnh sự thiếu hụt tri thức về bên ngoài, thì thiếu hụt tri thức về bản thân tổ chức của mình cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến làm cho quá trình ĐMST bị thất bại. Chính vì thế, các hoạt động phân tích và đánh giá nội bộ là yếu tố quan trọng của một tổ chức ĐMST. Thực tế cho thấy, với các doanh nghiệp hoặc tổ chức hoạt động hiệu quả, phòng phân tích và đánh giá nội bộ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định thực hiện các chuyển đổi.    Rào cản từ văn hóa xã hội  Các hoạt động ĐMST chỉ có thể được coi là thành công nếu được sự tiếp nhận và ủng hộ của xã hội. Tuy nhiên, sự tiếp nhận hay từ chối này trước hết phụ thuộc vào việc nó có phù hợp với phông nền văn hóa sẵn có hay không. Về bản chất, ĐMST bao giờ cũng gắn liền với cái mới, còn văn hóa là những thứ đã định hình, đã tồn tại lâu dài. Vì thế, xung đột giữa cái cũ và cái mới là điều khó tránh khỏi.   Đây cũng chính là lý do vì sao mà các mô hình ĐMST điển hình trên thế giới, như thung lũng Silicon, Israel… dù được nghiên cứu rất kỹ lại rất khó thành công khi nhân bản tại các môi trường khác. Lý do chính là vì chúng không thích hợp với văn hóa bản địa.  Có thể nhìn thấy rõ rào cản của văn hóa xã hội đối với ĐMST trong các ngành công nghiệp thời trang, trang trí mỹ thuật, hoặc kiến trúc… Ví dụ trong ngành kiến trúc, ảnh hưởng của phong thủy đến sự phát triển của ngành này là không thể chối cãi. Việc chọn thiết kế nào để xây dựng thường xuyên bị chi phối bởi các quan niệm về phong thủy, ngũ hành… mà không phải là sự độc đáo về thẩm mỹ. Trong hoàn cảnh đó, những sáng tạo mới, độc đáo rất khó tìm được sự ủng hộ trên diện rộng.   Một ví dụ khác về  ảnh hưởng của văn hóa xã hội đến các quá trình ĐMST là trong lĩnh vực quản trị. Tuy các lý thuyết về quản trị hiện đại đã được du nhập về Việt Nam, nhưng nhìn trên thực tế, quản trị của Việt Nam rất khác so với quản trị của thế giới, từ cấp độ doanh nghiệp đến chính phủ. Các doanh nghiệp tư nhân lớn phần nhiều vẫn có tính chất gia đình. Còn hệ thống công quyền vẫn còn hơi hướng của ‘dân chi phụ mẫu’, tức tự cho mình có uy quyền, có trách nhiệm như cha mẹ đối với con cái vậy.  Những hiện tượng này xảy ra vì trong truyền thống, xã hội Việt Nam được hình dung như một đại gia đình. Cách xưng hô trong xã hội, như ông, bà, chú, bác, cô, dì, con, cháu… cũng chỉ là sự mở rộng của các quan hệ trong gia đình. Vì thế, hình dung về việc quản trị, dù là doanh nghiệp hay xã hội, như quản trị một gia đình, là một quán tính tất yếu.  Rõ ràng mô hình quản trị kiểu gia đình này không còn phù hợp trên nhiều khía cạnh, khi hội nhập toàn cầu về kinh tế và dân chủ về chính trị đang là dòng chảy chính của thời đại. Nhưng đổi mới mô hình quản trị này như thế nào thì lại là một thách thức, vì sức cản của văn hóa gia đình từ chính xã hội đương thời.   Rào cản từ thể chế     Câu chuyện về ĐMST ở Việt Nam, ngoài các rào cản đã nêu trên, còn có một rào cản đặc thù khác, đó là rào cản từ thể chế, mà cụ thể là từ những quy định, thủ tục nặng tính kiểm soát thay vì thúc đẩy. Sự độc tôn về chính trị, sự e ngại quá mức với cái mới, luôn nhìn các hiện tượng kinh tế – xã hội mới như các ‘thế lực thù địch tiềm năng’ cũng tự nó đặt ra một rào cản lớn đối với bất cứ quá trình ĐMST nào. Trong các diễn đàn kinh tế – xã hội, vướng mắc về cơ chế, hoặc nguyên nhân là vì cơ chế, luôn là một trong những lý do hàng đầu được viện dẫn cho những bất cập hiện hành.   Nhìn rộng ra, ĐMST trong bất kỳ lĩnh vực nào, cũng chỉ là những hoạt động trong một tập hợp nhỏ, không thể tránh được sự chi phối của tập hợp lớn, đó là thể chế kinh tế – xã hội đương thời. Nếu tập hợp lớn này không hỗ trợ các hoạt động ĐMST thì đó là một điều bất lợi rất lớn. Trong hoàn cảnh đó, tiến hành ĐMST ở cấp độ bao trùm nhất, tức ĐMST về thể chế kinh tế-chính trị, là yêu cầu bắt buộc. Nếu không, các hoạt động ĐMST trong các lĩnh vực chuyên biệt cũng chỉ là các hoạt động nhỏ lẻ, thiếu liên kết và không tạo ra tác động đáng kể nào.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Những “tù mù” trong xét duyệt tài trợ nghiên cứu của Trung Quốc      Ngân sách nghiên cứu của chính phủ Trung Quốc đã tăng hơn mức thường niên 20%, vượt xa sự kỳ vọng của những nhà khoa học Trung Quốc lạc quan nhất. Về mặt lý thuyết, điều này sẽ giúp Trung Quốc có được bước tiến ngoạn mục trong khoa học và nghiên cứu và góp phần giúp quốc gia này đạt được những thành tựu kinh tế. Nhưng trên thực tế, hàng loạt chuyện “tù mù” trong tài trợ nghiên cứu – một phần là do khuyết tật của hệ thống, một phần là do văn hóa khoa học – đã cản trở tiềm năng phát triển của khoa học Trung Quốc.    Đối với các nhà quản lý từ Quỹ Khoa học tự nhiên quốc gia, thành tích khoa học vẫn là yếu tố quan trọng quyết định thành công khi xin các khoản tài trợ nghiên cứu. Nhưng điều này không đúng với các dự án tài trợ lớn khoảng từ chục tới hàng trăm triệu Nhân dân tệ (7 nhân dân tệ = 1 USD) từ nhiều cơ quan tài trợ nghiên cứu khác nhau của Chính phủ. Đối với những dự án lớn này, “chìa khóa” để mở được cửa “kho bạc” là dựa vào bản hướng dẫn xin tài trợ được đưa ra hàng năm, trong đó chỉ rõ những lĩnh vực nghiên cứu và các dự án được cho là các “nhu cầu quốc gia” (national needs). Tuy nhiên, những hướng dẫn này làm cho người ta có cảm tưởng “nhu cầu” có thể là bất cứ cái gì miễn là được xếp lên tầm “quốc gia”. Và theo đó, đối tượng có thể nhận được tài trợ rất khó xác định bởi những người trong Ủy ban xét duyệt, do cán bộ của các cơ quan tài trợ bầu ra, có trách nhiệm vạch ra bản hướng dẫn hàng năm. Lẽ dĩ nhiên, chủ tịch các ủy ban thường lắng nghe hoặc hợp tác với các cán bộ này. “Ý kiến chuyên gia”, trong các trường hợp này, thường chỉ phản ánh sự đồng tình giữa một nhóm nhỏ cán bộ và các nhà khoa học được họ ưu ái. Cách tiếp cận từ trên xuống như vậy đã kìm hãm sự sáng tạo của các nhà nghiên cứu và tạo cơ hội cho những tiêu cực của quan chức và một số ít các nhà khoa học có tiếng nói quan trọng trong quá trình chuẩn bị bản hướng dẫn. Và hệ quả là họ đánh giá người xin tài trợ thông qua các mối quan hệ và hạ thấp thành tích khoa học.          Yi Rao rời trường Đại học Northwestern, Mỹ, trở về Trung Quốc năm 2007. Ông hiện làm chủ nhiệm khoa Khoa học sự sống tại Đại học Bắc Kinh.    Yigong Shi rời Đại học Princeton, từ chối khoản tài trợ nghiên cứu 10 triệu USD, trở về Trung Quốc năm 2008. Ông hiện làm chủ nhiệm khoa Khoa học sự sống tại Đại học Thanh Hoa.          Để xin được những khoản tài trợ lớn ở Trung Quốc, có một “bí mật”(mà ai cũng biết) đó là làm nghiên cứu tốt không quan trọng bằng việc “thì thụt” với những quan chức có tiếng nói và các chuyên gia được họ tin tưởng. Rất nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc phải tốn nhiều thời gian để xây dựng các mối quan hệ và không có đủ thì giờ để tham dự các buổi hội thảo, tranh luận khoa học, làm nghiên cứu hoặc hướng dẫn sinh viên.  Cơ chế tài trợ có vấn đề này thường bị phần lớn giới nghiên cứu Trung Quốc phê phán. Tuy nhiên, thật nghịch lý là nó lại được nhiều người trong số này chấp nhận do không có lựa chọn nào khác. Những người mới trở về từ nước ngoài nhanh chóng thích nghi môi trường trong nước và duy trì cơ chế không lành mạnh này.  Ai cũng hiểu quy tắc đạo đức về nghiên cứu khoa học và quản lý quỹ tài trợ nhưng chỉnh đốn hệ thống này là nhiệm vụ không dễ dàng. Những người được ưu ái bởi hệ thống đang tồn tại chống lại những thay đổi tích cực. Một vài người chống lại văn hóa nghiên cứu không lành mạnh chọn cách im lặng vì sợ sẽ mất cơ hội nhận được tài trợ nghiên cứu trong tương lai. Một số khác muốn thay đổi thì chọn thái độ “chờ đợi và quan sát” hơn là đương đầu với cuộc chiến có nguy cơ thất bại cao.  Tuy nhiên, dù có những trở ngại, những người hoạch định chính sách khoa học và những người nghiên cứu nhận thức rõ văn hóa nghiên cứu hiện nay của Trung Quốc đang: Lãng phí nguồn lực; Băng hoại tinh thần; Cản trở sáng tạo. Đã đến lúc Trung Quốc cần phải xây dựng văn hóa nghiên cứu lành mạnh dựa vào đà của nguồn tài trợ nghiên cứu đang được tăng lên và mong muốn xóa bỏ những quy ước gây tổn hại tới những người làm khoa học chân chính. Biện pháp đơn giản nhưng quan trọng để bắt đầu là phân bổ tất cả nguồn tài trợ nghiên cứu dựa trên thành tích khoa học, bỏ qua các mối quan hệ. Cùng với thời gian, văn hóa mới này có thể trở thành trụ cột của hệ thống nuôi dưỡng tiềm năng sáng tạo của Trung Quốc chứ không phải lãng phí tài năng như hiện nay.  Ngọc Tú dịch (Science, Vol 329, 3/9/2010)    Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm tự hào của khoa học châu Âu      Cách đây 60 năm, 12 nước Tây Âu đã chính thức thành lập CERN, viết tắt của Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire (Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu), trước đó là một tổ chức lâm thời được hình thành từ năm 1952 với nhiệm vụ trở thành một tổ chức nghiên cứu vật lý của châu Âu có đẳng cấp hàng đầu trên thế giới – khi đó ngành vật lý lý thuyết đang tập trung tìm hiểu bản chất vật chất bên trong nguyên tử, bởi vậy khái niệm “hạt nhân” được đưa vào tên gọi của tổ chức.      Ngày nay, tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại biên giới Pháp – Thụy Sĩ này được mở rộng bao gồm 21 thành viên. Trong bối cảnh tri thức của con người về vật chất đã không còn chỉ dừng lại ở hạt nhân, lĩnh vực nghiên cứu mà CERN chú trọng hiện nay là vật lý hạt, tìm hiểu về những thành tố cơ bản nhất cấu thành nên vật chất cũng như các lực tương tác giữa chúng. Vì vậy, phòng thí nghiệm của CERN cũng thường được gọi là Phòng thí nghiệm châu Âu về Vật lý Hạt.   Từ thập kỷ 1970, các nhà vật lý hạt đã tìm ra Mô hình Chuẩn, một hệ thống các phương trình tuyệt đẹp giúp mô tả cấu trúc vật chất với những thành tố căn bản gọi là hạt cơ bản, được vận hành bởi bốn loại lực. Để kiểm chứng các dự đoán và giới hạn của Mô hình Chuẩn, các nhà khoa học tại CERN đã xây dựng và sử dụng những cỗ máy gia tốc và cảm biến mạnh nhất trên thế giới. Công việc của họ qua nhiều năm tháng đã giúp lý giải nhiều kết quả thí nghiệm và dự đoán chính xác nhiều hiện tượng.           Những thành tựu khoa học nổi bật của CERN              1973: Tìm ra các dòng trung hòa trong cảm biến Gargamelle bubble chamber;               1983: Tìm ra các W và Z boson qua các thí nghiệm UA1 và UA2;               1989: Xác định số lượng các nhóm neutron nhẹ trong Large Electron–Positron Collider (LEP) vận hành tại đỉnh Z boson;              1995: Tạo ra các nguyên tử phản hydro đầu tiên qua thí nghiệm PS210;               1999: Phát hiện ra sai lệch CP trực tiếp qua thí nghiệm NA;               2010: Cô lập được 38 nguyên tử phản hydro;              2011: Duy trì được phản hydro trong 15’               2012: Tìm ra một boson có khối lượng khoảng 125 GeV/c2 tương đồng với Higgs boson được con người tìm kiếm lâu nay.               Năm 1984, giải Nobel vật lý được trao cho Carlo Rubbia và Simon van der Meer nhờ những nghiên cứu dẫn tới việc tìm ra các boson W và Z. Năm 1992, giải Nobel Vật lý được trao cho Georges Charpak, với công lao phát kiến và phát triển thiết bị cảm biến hạt.        Tuy nhiên, Mô hình Chuẩn chỉ mới mô tả được 4% của vũ trụ mà chúng ta đã biết, trong khi vẫn còn những câu hỏi quan trọng đang để ngỏ, như liệu LHC có thể giúp thống nhất bốn loại lực ở mức năng lượng cao? Vì sao trọng lực lại yếu như vậy? Vì sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất trong vũ trụ? Liệu có những hiện tượng vật lý kỳ ảo đang chờ được phát hiện ở mức năng lượng cao? Liệu chúng ta có tìm ra bằng chứng của thuyết siêu cân đối nhờ vào LHC? Ngay cả Higgs boson mà người ta mới tìm ra vẫn còn là một bí ẩn.  Đó là những câu hỏi mà các nhà khoa học tại CERN đang tìm kiếm lời giải đáp. Vì thế, phạm vi nghiên cứu của họ không chỉ là vật lý hạt mà rộng hơn rất nhiều, bao gồm từ vật lý hạt nhân tới vật lý năng lượng cao, từ nghiên cứu phản vật chất tới nghiên cứu về khả năng xảy ra tia vũ trụ trong những đám mây.  Những cỗ máy gia tốc ở CERN  Để tìm hiểu về các hạt cơ bản hay cấu trúc vật chất cơ bản của vũ trụ, các nhà khoa học ở CERN sử dụng những thiết bị có quy mô to lớn và phức tạp nhất trên thế giới, khiến các hạt va đập vào nhau, qua đó giúp họ hình dung rõ hơn về sự tương tác giữa các hạt cũng như các định luật cơ bản của tự nhiên.  Các tổ hợp máy gia tốc ở CERN là một chuỗi các cỗ máy làm tăng mức năng lượng của các hạt. Mỗi máy có chức năng làm tăng năng lượng của một tia các hạt, trước khi bắn tia đó vào các cỗ máy tiếp theo một cách lần lượt. Nguồn proton của các tia hạt là một ống khí hydro đơn giản. Các nhà khoa học dùng một điện trường để tách electron khỏi nguyên tử để tạo ra proton. Sau đó, Linac 2, cỗ máy đầu tiên trong chuỗi các máy gia tốc, sẽ tăng tốc mức năng lượng của proton lên 50 MeV. Tia hạt sau đó được bắn vào máy Proton Synchrotron Booster (PSB) có nhiệm vụ tăng mức năng lượng lên 1,4 GeV, trước khi được cỗ máy Proton Synchrotron đẩy lên mức 25 GeV, rồi được máy Super Proton Synchrotron tăng lên mức 450 GeV. Trong cỗ máy gia tốc LHC (Large Hadron Collider) – là cỗ máy cuối cùng trong chuỗi các máy gia tốc – các tia hạt được tăng tốc lên mức năng lượng kỷ lục là 4 TeV/tia. Đa số các máy gia tốc khác trên thế giới chỉ đạt được mức năng lượng thấp hơn rất nhiều.          Kết quả khoa học tiêu biểu nhất của CERN gần đây là việc tìm ra loại hạt khớp với lý thuyết về Higgs boson. Ngày 4/7/2012, các nhà khoa học trong thí nghiệm ATLAS và CMS thực hiện với cỗ máy LHC tại CERN tuyên bố cả hai nhóm đều tìm ra một hạt mới có khối lượng khoảng 126 GeV, khớp với mô tả về Higgs boson của Mô hình Chuẩn. Tháng 3/2013, hạt này tiếp tục được chứng minh có một số đặc tính khác giống với dự đoán của Mô hình Chuẩn.               Mặc dù nhân loại sẽ phải tiếp tục nghiên cứu để chứng minh đây thực sự là Higgs boson mà Mô hình Chuẩn đã dự đoán, nhưng các kết quả thí nghiệm trên đây đã dẫn tới việc giải Nobel Vật lý năm 2013 được trao cho François Englert và Peter Higgs do cống hiến của họ mang lại một “khám phá lý thuyết về một cơ chế vật lý đóng góp vào sự hiểu biết của con người về nguồn gốc của khối lượng ở những hạt dưới quy mô nguyên tử.”         Trong cỗ máy LHC, một tia hạt được bắn đi trong một ống dẫn theo chiều kim đồng hồ, trong khi một tia khác được bắn trong một ống dẫn khác theo chiều ngược lại. Mỗi ống dẫn cần 4 phút 20 giây để lấp đầy, và cần 20 phút để các proton đạt mức năng lượng tối đa 4 TeV. Các tia này chạy vòng quanh trong cỗ máy LHC trong nhiều giờ dưới điều kiện vận hành bình thường, sau đó được cho va đập vào nhau tại bốn cảm biến có tên gọi ALICE, ATLAS, CMS, và LHCb- nơi tổng năng lượng tại điểm va đập là 8 TeV.  Ngoài các cỗ máy gia tốc nói trên, tổ hợp thiết bị tại CERN còn bao gồm các hệ thống khác như Antiproton Decelerator giúp cung cấp các phản proton năng lượng thấp để nghiên cứu phản vật chất; Online Isotope Mass Separator (ISOLDE) giúp nghiên cứu hạt nhân nguyên tử và các ứng dụng trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực vật lý thiên văn, vật liệu, khoa học sự sống; Compact Linear Collider giúp nghiên cứu về các thí nghiệm va đập giữa electron và phản electron; neutron time-of-flight facility (nTOF) nghiên cứu các tương tác giữa neutron và hạt nhân với năng lượng neutron từ vài meV tới vài GeV, v.v.  Vai trò của công nghệ thông tin ở CERN  Cứ mỗi giây, các hạt trong cỗ máy LHC va đập vào nhau khoảng 600 triệu lần. Mỗi va đập tạo ra những hạt mới, mỗi hạt thường tự tiêu hủy theo các phương thức phức tạp để trở thành nhiều hạt khác. Các mạch điện giúp lưu trữ lại thông tin về sự di chuyển của mỗi hạt thông qua một cảm biến, dựa trên một chuỗi các tín hiệu điện, rồi chuyển dữ liệu về Trung tâm Dữ liệu CERN để được số hóa thành những “sự kiện va đập”. Hằng năm, các nhà vật lý phải kiểm tra khoảng 30 petabyte dữ liệu để tìm kiếm những hiện tượng vật lý mà họ quan tâm.  CERN không có đủ năng lực tính toán và nguồn lực tài chính để xử lý tất cả dữ liệu này ngay tại chỗ, vì vậy năm 2002 họ áp dụng điện toán lưới (computing grid) để chia sẻ gánh nặng với các trung tâm tính toán trên khắp thế giới. Mạng lưới Worldwide LHC Computing Grid cho phép một cộng đồng khoảng 8.000 nhà vật lý được truy cập dữ liệu LHC. Lưới điện toán này được dựa trên nền tảng công nghệ internet (World Wide Web), cũng được phát minh tại CERN vào năm 1989.  Mỗi ngày, Trung tâm Dữ liệu của CERN xử lý khoảng 1 petabyte, tương đương với khoảng 210 nghìn đĩa DVD. Trung tâm chứa 11 nghìn server với 100 nghìn lõi xử lý. Mỗi giây khoảng 6.000 thay đổi trong hệ dữ liệu được xử lý. Mỗi ngày, Lưới Điện toán thực hiện hơn 2 triệu lệnh. Vào cao điểm, mỗi giây có khoảng 10 gigabyte được vận chuyển giữa các server.  Tổ hợp server của CERN nằm trong một căn phòng rộng 1.450 m2 tại Trung tâm Dữ liệu, là điểm tương tác giao cắt đầu tiên giữa những dữ liệu thí nghiệm từ LHC và Lưới Điện toán. Ngoài ra, những server quan trọng được đặt trong các căn phòng đặc biệt riêng, được vận hành và làm mát bởi các thiết bị chuyên biệt. Năm 2011, CERN lắp đặt cải tiến hệ thống tiết kiệm năng lượng, giúp tiết kiệm 4,5 GWh mỗi năm.  Đầu năm 2013, CERN tăng quy mô năng lượng của trung tâm từ 2,9 MW lên 3,5 MW, cho phép lắt đặt thêm nhiều máy tính. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng từ LHC, Trung tâm Nghiên cứu Vật lý Wigner được vận hành tại Budapest, Hungary, như một bộ phận nối dài của Trung tâm Dữ liệu nhằm tăng năng lực của Lưới Điện toán, và cho phép mọi hoạt động vận hành bình thường ngay cả khi trụ sở chính của CERN ở Meyrin, Thụy Sĩ gặp trục trặc. Trung tâm Dữ liệu tại Meyrin cho phép lưu trữ khoảng 45 petabyte và chiếm đa số trong 100 nghìn lõi xử lý của CERN, trong khi trung tâm Wigner tại Budapest có 20 nghìn lõi xử lý và lưu trữ được 5,5 petabyte dữ liệu (người ta kỳ vọng năng lực của Wigner sẽ gấp đôi trong vòng ba năm).   Một đội ngũ kỹ sư tuyệt vời          Sự ra đời của Internet từ CERN    Tim Berners-Lee, một nhà khoa học người Anh làm việc tại CERN (ảnh bên), đã phát kiến ra mạng World Wide Web (WWW) vào năm 1989. Mạng này đầu tiên được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu chia sẻ thông tin tự động giữa các nhà khoa học ở các trường đại học và viện nghiên cứu trên khắp thế giới.              Trang web đầu tiên trên thế giới chính là của CERN, phục vụ cho dự án World Wide Web, với máy chủ là chiếc máy tính NeXT của Berners-Lee. Trang web này có những chức năng căn bản của web, cho phép truy cập tài liệu của mọi người, cho phép mỗi người tự thiết lập server của mình. Ngày nay, chiếc máy tính NeXT, máy chủ mạng đầu tiên, vẫn nằm tại CERN. Vào ngày 30/4/1993, CERN đưa phần mềm World Wide Web thành phần mềm công cộng (public domain).        Đội ngũ kỹ sư đóng một vai trò trọng yếu đối với hoạt động của CERN. Họ là tác giả của những thiết bị máy móc tân tiến nhất trên thế giới, công cụ để các nhà nghiên cứu tạo ra những đột phá mới của vật lý thực nghiệm. Điều đó đòi hỏi họ phải vượt qua nhiều thách thức khác nhau, giải quyết các vấn đề công nghệ mới mẻ nhất, từ quy mô khổng lồ tới quy mô rất nhỏ của hạt nhân. Các kỹ sư xây dựng và thử nghiệm các thiết bị, hệ thống làm công cụ nghiên cứu cho các nhà vật lý, trong khi đội ngũ kỹ thuật viên có trách nhiệm duy trì những cỗ máy này chạy ổn định, thực hiện sửa chữa và nâng cấp mỗi khi cần thiết.  Công việc đó thường đòi hỏi chuyên gia từ nhiều ngành khác nhau. Ví dụ việc xây dựng, chế tạo các máy gia tốc đòi hỏi các chuyên gia xây dựng để tiến hành đào hầm và lắp đặt các kết cấu hạ tầng lớn. Các kỹ sư và kỹ thuật viên khác phụ trách lắp đặt các thiết bị vô cùng tinh xảo, tỉ mỉ, như các hốc tần số vô tuyến phải có kích cỡ hình thù tuyệt đối chính xác để thúc đẩy proton bắn trong máy gia tốc; cần hàng nghìn nam châm điện khổng lồ được gia công riêng biệt để dẫn các hạt chạy vòng tròn trong các máy gia tốc; một hệ thống làm lạnh lớn nhất thế giới giúp làm mát các nam châm trong máy gia tốc LHC tới tuyệt đối không độ, cho phép các dây dẫn điện có thể vận hành liên tục trong trạng thái siêu dẫn và không bị mất năng lượng do điện trở.  Các cảm biến cũng đặt ra những thách thức khác, với mỗi thiết bị và hệ thống con đều được thiết kế, chế tạo, thử nghiệm riêng biệt, trước khi được ghép với nhau để vận hành một cách hài hòa. Nhiều km dây dẫn và hàng nghìn thiết bị điện tạo thành các cảm biến, có thể được coi là kỳ công của các kỹ sư của CERN.                   Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm tự hào và cơ hội cho khoa học Việt Nam      Tôi được nghe về Ngô Bảo Châu lần đầu tiên vào hồi tháng Ba năm 2009, vào thời điểm tôi được mời làm việc tại Orsay một tháng. Khi đến thăm một người bạn, Annick Suzor-Weiner, người phụ trách phòng hợp tác quan hệ quốc tế trường Đại học Paris-Sud (Đại học Nam Paris), đồng thời là chủ tịch Hội đồng Hợp tác Khoa học và Kỹ thuật với Việt Nam, bà nói với tôi về công việc của Châu. Lúc đó, khả năng anh được trao giải thưởng Fields cũng đã rõ ràng. Và cách đây khoảng vài tuần, lần đầu tiên tôi tiếp xúc với anh, tức là ngay trước khi Ủy ban bầu chọn giải Fields chính thức công bố giải thưởng.      Anh Châu đã biết về nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi từ trước và vì thế, chúng tôi mời anh đến thăm, cùng ăn trưa. Quả thực đây là một cơ hội và niềm vinh dự cho những sinh viên trẻ của chúng tôi khi được gặp, và lắng nghe anh nói chuyện. Chúng tôi đã có buổi trao đổi cởi mở với anh về khoa học và đào tạo ở Việt Nam cũng như cách làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển trong những lĩnh vực này. Chúng tôi rất ấn tượng về sự hiểu biết sâu sắc của anh trước những vấn đề của khoa học và đào tạo, cũng như sự đồng cảm của anh trước đối với những thông điệp của chúng tôi. Chỉ sau vài phút nói chuyện, chúng tôi nhận ra rằng mình đang nói chuyện với một người có đầy đủ phẩm chất cao quý của một nhà trí thức. Cuộc nói chuyện này thật là một món quà tuyệt vời mà anh đã dành cho chúng tôi.  Tôi đã không ở Việt Nam vào ngày anh nhận giải nhưng tôi vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc và tự hào lớn lao mà giải thưởng đã đem lại cho anh và Việt Nam qua những bức thư tràn ngập trong hòm thư điện tử của mình và trên các phương tiện truyền thông.  Chúng ta, cộng đồng khoa học của Việt Nam, nên nắm lấy cơ hội này để hành động nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu khoa học và đào tạo trong nước. Chúng ta không có nhiều Ngô Bảo Châu nhưng có nhiều sinh viên trẻ xuất sắc, những người xứng đáng được tạo cơ hội để đạt được thành tựu như Ngô Bảo Châu, hoặc chí ít cũng vươn tới các giải thưởng ở mức độ thấp hơn, nhưng vẫn làm rạng danh cho đất nước.        Kế thừa những giá trị đạo đức và trách nhiệm của những trí thức nổi tiếng, GS Ngô Bảo Châu có thể tác động hiệu quả nhất trong việc phục vụ nền khoa học Việt Nam, ở cái thời mà tiền bạc thường được quí trọng hơn tri thức như hiện nay.        Trường hợp đặc biệt của Ngô Bảo Châu không nên được coi như một dịp để chúng ta tự huyễn hoặc mình, quên đi sự bất lực của chúng ta trong việc ngăn chặn chảy máu chất xám. Chúng ta cần nói với những tài năng trẻ rằng đất nước cần họ, rằng họ là tương lai của đất nước, rằng gần đây có nhiều kế hoạch đang được Nhà nước xây dựng để chào đón họ trong các lĩnh vực trọng yếu cho tương lai dài lâu của đất nước như vật lý hạt nhân, không gian vũ trụ và môi trường, vật lý chất rắn, hóa học và nhiều ngành khác nhau của khoa học sự sống hiện đại. Chính sách khoa học của đất nước cần được phổ biến càng rõ ràng càng tốt. Định hướng và mục tiêu của mỗi ngành khoa học cần được xác định để những nhà khoa học tương lai biết họ phải làm gì và đất nước đã chuẩn bị những gì cho họ.  Đã đến lúc khẩn thiết phải ngăn chặn tình trạng các phụ huynh Việt Nam tiêu tốn cả gia tài để gửi con cái đi du học ở nước ngoài với tâm lý các trường đại học ở Việt Nam chỉ là phòng đợi cho những trường đại học nước ngoài. Cần phải chấm dứt việc hờ hững, kém đãi ngộ các sinh viên được đào tạo ở nước ngoài, những người đã nhận các tấm bằng tiến sĩ ở các trường đại học uy tín trên thế giới khi họ trở về nước làm việc. Những người này cần được làm việc với những điều kiện và với mức độ trân trọng mà họ đáng được hưởng, và chúng ta cũng cần hạn chế những điều không khuyến khích họ trở về Việt Nam.   Không thể mong đợi Ngô Bảo Châu một mình giải quyết tất cả các vấn đề của khoa học và giáo dục ở Việt Nam. Các nhà khoa học uy tín khác của Việt Nam, bất kể đang làm việc trong hay ngoài nước, và thậm chí kể cả các nhà khoa học nước ngoài, cần cùng với ông tham gia vào một “nhóm hoạt động đặc biệt” (task force) nhằm đưa ra những lời khuyên cho Chính phủ Việt Nam trong những hành động cụ thể giúp khoa học Việt Nam tiến lên phía trước. Những thành viên của “nhóm hoạt động đặc biệt” này cần được lựa chọn dựa trên tiêu chí của những người có đóng góp lớn cho khoa học và được quốc tế công nhận. Những vấn đề cần được giải quyết hiện nay khá nhiều, nhưng một số trong đó lại khá rõ ràng nên tôi tin rằng một nhóm hoạt động đặc biệt như vậy có thể nhanh chóng đưa ra những định hướng lớn giúp Chính phủ Việt Nam ban hành các chính sách thích hợp. Bất kỳ ai yêu khoa học và yêu Việt Nam, theo đúng nghĩa của nó, đều có thể là thành viên của nhóm và họ sẽ có cái nhìn rõ ràng về những việc cần phải làm, song hành với đó là việc áp dụng nghiêm túc những tiêu chuẩn về đạo đức, đạo lý và tri thức.        Sau mười một năm làm việc ở đất nước này, tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp sinh viên sau tiến sĩ trở về Việt Nam mà không nhận được cơ hội để bắt đầu các nghiên cứu riêng của mình hoặc xây dựng được một nhóm nghiên cứu. Tài năng của họ đang bị lãng phí, nhất là khi đất nước đã bỏ nhiều tiền của đầu tư cho họ học hành.        Khi Ngô Bảo Châu lần đầu tiên đến Pháp, anh là khách của một trí thức, một nhà khoa học lớn: Henri Van Regemorter, một trong những người đầu tiên khởi xướng việc tái lập hợp tác khoa học giữa Pháp và Việt Nam. Ông Regemorter đã gặp Tướng Giáp và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhiều lần. Ông mất năm 2002 và người ta đã xuất bản một cuốn sách tri ân  những đóng góp của ông. Ngô Bảo Châu cũng đã viết vài dòng xúc động cho cuốn sách tưởng nhớ này. Được sống trong môi trường như vậy, noi theo những gương mặt tri thức nổi tiếng giai đoạn sau thế chiến như Jean-Paul Sartre, Bertrand Russel, Laurent Schwartz, Alexander Grothendieck và Jean-Pierre Kahane, Ngô Bảo Châu kế thừa những giá trị đạo đức và trách nhiệm tri thức mà anh có thể tác động hiệu quả nhất trong việc phục vụ nền khoa học Việt Nam, ở cái thời mà tiền bạc thường được quí trọng hơn tri thức như hiện nay.  Phạm Ngọc Diệp dịch    Author                Quản trị        
__label__tiasang Niềm vinh dự và khích lệ đối với các nhà khoa học trẻ*      Việc trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho  các nhà khoa học trẻ của Bộ Khoa học và Công nghệ không chỉ là niềm vinh  dự và khích lệ cá nhân tôi, mà còn khích lệ các bạn đồng nghiệp cũng  như các bạn trẻ.       …Sau khi tốt nghiệp Khoa Toán-Tin, trường ĐHSP Hà Nội, tôi đã được công tác tại nhà trường làm giảng viên và làm luận văn Thạc sĩ, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Khuê. Được nhà trường tạo điều kiện, tôi đã sang Thụy Điển bảo vệ luận án Tiến sĩ tại trường ĐH Umea vào năm 2008, dưới sự hướng dẫn của GS. Urban Cegrell. Nhân đây, tôi xin được cảm ơn Khoa Toán-Tin, nhà trường ĐHSP Hà Nội, và Khoa Toán, trường Đại học Umea, đặc biệt là các GS. Nguyễn Văn Khuê và GS. Urban Cegrell, đã dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học.   Vào năm 2011, tôi đã được khích lệ tinh thần nghiên cứu khi Hội đồng chức danh GS Nhà nước phong chức danh PGS khi tôi 29 tuổi. Nhân đây, tôi cũng xin được cảm ơn tới Hội đồng chức danh GS Nhà nước đã đánh giá và khích lệ tinh thần nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ tuổi chúng tôi.   Trên con đường nghiên cứu, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các nhà toán học trong nước cũng như của các nhà toán học trong cộng đồng Toán học Quốc tế như GS. Jean-Pierre Demailly, viện Fourier và GS. Andrei Teleman, Đại học Aix-Marseille, nước Pháp.   Với suy nghĩ để có điều kiện tập trung nghiên cứu tốt hơn nữa, tôi đã xin chuyển về Viện Toán học-Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, mặc dù ở đây thu nhập có phần giảm đi. Tôi rất cảm ơn Viện Toán học và Ban lãnh đạo trường ĐHSP Hà Nội đã đồng ý chấp nhận nguyện vọng của tôi. Nhờ đó, tôi đã được chuyển về làm việc tại Viện Toán học vào tháng 4/2015. Khi về công tác tại Viện Toán học, Lãnh đạo Viện Toán yêu cầu và bản thân tôi cũng có ý thức được phải nghiên cứu và đóng góp nhiều hơn nữa trong việc xây dựng nhóm nghiên cứu và đào tạo các thế hệ đi sau. Vì vậy, tôi sẽ vẫn liên kết chặt chẽ với Khoa Toán-Tin, trường ĐHSP Hà Nội.   Việc trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu dành cho các nhà khoa học trẻ của Bộ Khoa học và Công nghệ không chỉ là niềm vinh dự và khích lệ cá nhân tôi, mà còn khích lệ các bạn đồng nghiệp cũng như các bạn trẻ. Tôi được biết hiện nay có rất nhiều bạn trẻ có năng lực và niềm say mê nghiên cứu. Tôi rất mong các bạn sẽ kiên trì con đường nghiên cứu để khám ra những vẻ đẹp và bí ẩn của Toán học, đồng thời thu hút thêm các bạn sinh viên, học viên đi theo con đường này.   Để có được vinh dự của ngày hôm nay, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Bộ Khoa học và Công nghệ, Quỹ Nafosted đã khuyến khích tạo ra một môi trường thuận lợi và hỗ trợ cho các nhà khoa học như chúng tôi làm việc, nghiên cứu trong những điều kiện tốt nhất có thể.  (Trích phát biểu tại lễ trao giải Tạ Quang Bửu sáng 16/5)  * Tiêu đề do Tia Sáng đặt  Vài nét về tác giả:  PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp (Viện Toán học – Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam) được trao giải Tạ Quang Bửu 2015, hạng mục Nhà khoa học trẻ, với công trình “A sharp lower bound for the log canonical threshold” (Một đánh giá tốt nhất có thể của ngưỡng chính tắc), nghiên cứu một vấn đề quan trọng trong Lý thuyết kỳ dị có ứng dụng trong nhiều ngành toán học khác nhau. Kết quả của công trình tốt hơn hẳn các công trình trước đây và có khả năng giải quyết một giả thuyết được nhiều nhà toán học nổi tiếng trên thế giới quan tâm nghiên cứu là giả thuyết Guedj và Rashkovskii.  Công trình đã được đăng tải trên tạp chí Acta Mathematica, là một trong năm tạp chí toán học đỉnh cao và kinh điển nhất của các tạp chí toán học thế giới.         Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Hóa học 2009: Nghiên cứu cấu trúc và chức năng của ribosome      Giải Nobel H&#243;a học 2009 ghi nhận c&#225;c nghi&#234;n cứu về một trong những qu&#225; tr&#236;nh cơ bản nhất của sự sống: phương thức ribosome phi&#234;n dịch th&#244;ng tin ADN th&#224;nh sự sống. Ribosome tạo ra protein, th&#224;nh ra n&#243; điều khiển cơ chế h&#243;a học trong mọi sinh vật sống. V&#236; ribosome thiết yếu đối với sự sống, n&#234;n ch&#250;ng cũng l&#224; mục ti&#234;u quan trọng đối với những loại thuốc kh&#225;ng sinh mới.    Giải Nobel Hóa học năm nay trao cho Venkatraman Ramakrishnan, Thomas A. Steitz và Ada E. Yonath cho việc họ đã chứng minh được ribosome trông như thế nào và nó đảm đương vai trò như thế nào ở cấp độ nguyên tử. Cả ba người đều sử dụng một phương pháp gọi là tinh thể học tia X để lập bản đồ vị trí cho một trong hàng trăm nghìn nguyên tử cấu thành nên ribosome. Bên trong mọi tế bào sinh vật có các phân tử ADN. Chúng chứa những dấu vân tay xác định một con người, một cây cỏ, hoặc một con vi khuẩn, trông dạng như thế nào và có vai trò gì. Nhưng phân tử ADN thì thụ động. Nếu chẳng có cơ chế gì khác nữa, thì sẽ chẳng thể có sự sống.Những dấu vân tay ADN ấy được biến đổi thành vật chất sống thông qua công việc của các ribosome. Dựa trên thông tin có trong ADN, các ribosome tổng hợp protein: haemoglobin chuyển vận oxygen, các kháng thể của hệ miễn dịch, các hormone như insulin, collagen của da, hay các enzyme phân rã đường. Có hàng chục ngàn protein trong cơ thể và chúng có những dạng thức và chức năng khác nhau. Chúng xây dựng và điều hành sự sống ở cấp độ hóa học.Việc tìm hiểu nguyên lí hoạt động sâu xa nhất của ribosome thật quan trọng cho một kiến thức khoa học về sự sống. Kiến thức này có thể đưa vào khai thác ngay trong thực tiễn; nhiều loại thuốc kháng sinh ngày nay điều trị nhiều chứng bệnh bằng cách chặn đứng chức năng của các ribosome vi khuẩn. Không có các ribosome chức năng, vi khuẩn không thể tồn tại. Đó là nguyên do vì sao ribosome là mục tiêu quan trọng đối với nghiên cứu những loại thuốc kháng sinh mới.Ba nhà khoa học đoạt giải Hóa học năm nay đều đã lập được các mô hình 3D thể hiện cách thức những loại thuốc kháng sinh khác nhau kết hợp với ribosome. Ngày nay, những mô hình này được các nhà khoa học sử dụng để phát triển những loại thuốc kháng sinh mới, trực tiếp hỗ trợ cứu sống và giảm nhẹ sự đau đớn của con người trước bệnh tật.Venkatraman Ramakrishnan, công dân Mỹ, sinh năm 1952, ở Chidambaram, Tamil Nadu, Ấn Độ và trở thành Tiến sĩ Vật lí năm 1976 tại trường Đại học Ohio, Mỹ. Ông là nhà khoa học và lãnh đạo nhóm tại Phân viện Nghiên cứu Cấu trúc, Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử MRC, Cambrigde, Anh.Thomas A. Steitz, công dân Mỹ, sinh năm 1940 ở Milwaukee, WI, Mỹ, Tiến sĩ Sinh học phân tử và Sinh hóa năm 1966 tại trường Đại học Harvard, MA, Mỹ. Ông là Giáo sư Sinh học phân tử và Hóa sinh ngạch Sterling và Thanh tra Viện Y khoa Howard Hughes, cả hai cơ quan đều ở trường Đại học Yale, Connecticut, Mỹ.Ada E. Yonath, công dân Israel, Sinh năm 1939 ở Jerusalem, Israel, Tiến sĩ ngành Tinh thể học tia X năm 1968 tại Viện Công nghệ Weizmann, Israel. Ông là Giáo sư Sinh học cấu trúc ngạch Martin S. và Helen Kimmel. Giám đốc Trung tâm Helen & Milton A. Kimmelman, cả hai cơ quan đều đặt tại Viện Công nghệ Weizmann Rehovot, Israel.Theo NobelPrize.org      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nobel Kinh tế 2009      Ủy ban Nobel cho biết c&#244;ng tr&#236;nh nghi&#234;n cứu của hai nh&#224; khoa học Elinor Ostrom v&#224; Oliver Williamson li&#234;n quan đến lĩnh vực &#8220;tổ chức v&#224; hợp t&#225;c trong hệ thống quản l&#253; điều h&#224;nh kinh tế&#8221; được coi l&#224; hết sức quan trọng để t&#236;m hiểu về khủng hoảng t&#224;i ch&#237;nh to&#224;n cầu hiện nay cũng như trong c&#244;ng cuộc g&#243;p phần đẩy l&#249;i hiện tượng biến đổi kh&#237; hậu.     Giáo sư Elinor Ostrom, 76 tuổi, hiện đang giảng dạy tại đại học Indiana. Bà là phụ nữ đầu tiên trên thế giới được vinh dự trao tặng giải thưởng Nobel Kinh tế, nhờ vào công trình nghiên cứu trong lĩnh vực “điều hành kinh tế”. Theo đó, một nhóm người cùng sử dụng tài sản chung của một cộng đồng hoàn toàn có thể quản lý khoản tài sản đó một cách tối ưu. Giáo sư Ostrom phản bác luận điểm cho rằng “cha chung không ai khóc” nhằm đề cao vai trò cá nhân trong việc sở hữu và sử dụng. Giáo sư Oliver Williamson, 77 tuổi, giảng dạy tại Đại học Berkley, California, Hoa Kỳ, có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực quản lý kinh tế liên quan đến ranh giới giữa các tập đoàn. Ông đi sâu vào việc phát triển lý thuyết của các công ty, tập đoàn, nhằm giải thích tại sao các công ty, tập đoàn lại ra đời, tại sao chúng lại có xu hướng hội nhập dọc (vertical integration) và giữa chúng có liên kết chặt chẽ giữa đầu vào và đầu ra. Bà Elinor Ostrom và ông Oliver Williamson, sẽ chia nhau giải thưởng cao quý nhất của Viện Hàn lâm Thụy Điển, trị giá tương đương với 1,4 triệu USD. Giải Nobel Kinh tế khép lại mùa Nobel 2009 và Hoa Kỳ chiếm một vị trí áp đảo: 11 trên tổng số 13 người.Giải thưởng Nobel kinh tế ra đời từ năm 1969 vốn được xem là đất dụng võ dành riêng cho các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, 45 kinh tế gia trên tổng số 64 đều là các nhà nghiên cứu của Mỹ.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói chuyện về toán ứng dụng      Trong năm 2013, tôi có trao đổi với nhiều  người về việc làm toán ứng dụng ở Việt Nam. Những cuộc trao đổi này đem  đến cho tôi nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời, nhiều quan điểm tưởng  chừng như không thể dung hoà được. Tôi có cảm tưởng rằng lý do một số  người có những quan niệm hơi cực đoan là bản thân họ không làm toán ứng  dụng, những gì họ phát biểu phản ánh mong ước của họ chứ không phải kinh  nghiệm thực tế. Tôi có chia sẻ những băn khoăn của mình với anh Ngô  Quang Hưng, một người làm toán ứng dụng đúng nghĩa, hiện công tác tại  Khoa Khoa học Máy tính, Đại học Bang New York ở Buffalo. Tôi thấy cuộc  trao đổi này đã rất bổ ích cho tôi và vì thế muốn chia sẻ nó với độc giả  của Tia sáng.      1) Hè năm ngoái (2013), ở VIASM* đã có một cuộc tranh luận khá căng về việc làm toán ứng dụng ở Việt nam. Qua cuộc tranh luận này, tôi nhận ra rằng nhận thức chung về toán ứng dụng còn rất yếu, chủ yếu ở mức định kiến của những người không làm toán ứng dụng nghĩ về toán ứng dụng. Anh Hưng có thể chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm của mình trong việc làm toán ứng dụng ở Mỹ được không?  Mỗi lần đọc các tranh luận về Toán ứng dụng, Toán thuần tuý, và ứng dụng toán, tôi lại nhớ đến một tranh biếm hoạ ở xkcd (trang tranh biếm hoạ rất nổi tiếng trong đám làm máy tính). Tranh đại khái nói thế này: anh tâm lý học bảo chị xã hội học là xã hội học chẳng qua là tâm lý ứng dụng, chị sinh vật học bảo tâm lý học chỉ là sinh học ứng dụng, anh hoá học nói sinh học thì là hoá học ứng dụng, chị vật lý bảo tất nhiên hoá học là vật lý ứng dụng, và nhà toán học trố mắt nhìn nhà vật lý.  Nếu ta vẽ ra cái đồ thị ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dòng tư duy thì ta có một cái rừng khổng lồ của tri thức nhân loại. Ta không thể lấy một cái cây ở đầu tây, và một cái cành ở đầu đông của rừng, xong rồi đặt câu hỏi và thảo luận về ảnh hưởng của cây tây sang cành đông.   Tôi nghĩ một vấn đề cốt lõi là một sự lệch pha giao tiếp giữa các nhà Toán học, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, nhà quản lý, và công chúng nói chung. Chuyện này không có gì đáng ngạc nhiên khi mà bản thân giới Toán học cũng có những tranh luận về Toán thuần tuý và Toán ứng dụng. Ví dụ, cho đến những năm 50, 60 của thế kỷ trước thì không ít nhà Toán học còn không cho Toán tổ hợp là Toán “thật sự”. Tình hình này đến nay đã được cải thiện phần nào, do Toán tổ hợp cộng các phương pháp xác suất đã có … ứng dụng nhiều nơi cả trong lẫn ngoài Toán.  Trách nhiệm chính để chỉnh pha giao tiếp nằm ở những người như anh và tôi: những người làm Toán, làm Toán ứng dụng, và ứng dụng Toán. Chúng ta cần tìm cách truyền đạt ba ý chính một cách thuyết phục.  Ý thứ nhất là Toán học và Khoa học nói chung (thế giới hay Việt Nam) sẽ phát triển phong phú nhất khi từng cái cây trong rừng tri thức được tự thân phát triển một cách hữu cơ, hay nói như anh trong hội thảo sơ kết là “Khoa học phát triển chủ yếu từ nội lực của nó”. Một cách rộng hơn thì một xã hội sẽ vận hành hiệu quả khi nhiều người có cơ hội theo đuổi tự do sở trường và sở thích của họ. Khi anh được giải Fields, tôi đã thấy những câu hỏi kiểu như “thế công trình của anh Châu có ý nghĩa gì trong cuộc sống”? Một cách hơi khập khiễng, câu hỏi này có tinh thần giống như câu hỏi “tại sao Gary Kasparov lại không thi bơi với Michael Phelps?”  Ý thứ hai là lịch sử 2500 qua cho thấy sự phát triển hữu cơ — tưởng chừng như bất định hướng — của Toán học, lại có những ứng dụng kỳ diệu. Nhà Vật Lý Eugene Wigner đã tóm tắt sự kỳ diệu này trong một bài luận nổi tiếng hồi 1960, đề tựa tạm dịch là “Hiệu lực phi lý của Toán học trong các Khoa học Tự nhiên”. Một ví dụ tuyệt vời là sự phát triển của số phức. Từ Cardano cho đến thậm chí cả Euler, căn bậc 2 của số âm là một thao tác hình thức. Thế mà số phức lại trở nên một thành tố không thể thiếu của điện từ, xử lý tín hiệu, cơ học lượng tử, v.v. Chúng ta không có điện thoại di động nếu không có số phức. Các ví dụ gần gũi hơn thì ta có thể đọc Richard Hamming trong bài “Hiệu lực phi lý của Toán học”. Trong Khoa học Máy tính có vô vàn ví dụ. Những tranh luận mang đậm tính triết học về nền tảng của Toán học hồi đầu thế kỷ 20 đã dẫn đến công trình của Godel và Turing, đến lý thuyết hàm đệ qui, là nền tảng cho lý thyết tính toán, thuật toán, và cho nhiều ngôn ngữ lập trình. Có thể nói không ngoa là “trò chơi” phân loại các tập hợp vô hạn của Cantor lại góp phần không nhỏ vào sự thành lập mạng xã hội. Thế nên sẽ khá oái oăm khi người ta lên Facebook bằng iPhone, rồi hỏi Toán có ứng dụng gì trong cuộc sống không?  Ý thứ ba là nhiều người ngoại đạo không hiểu tầm quan trọng của Toán học vì thiếu một tư duy Toán, và điều này góp phần không nhỏ đến sự lệch pha. Ở đây trách nhiệm nằm ở hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học, và hoàn toàn không phải là vấn đề riêng của Việt Nam. Cách trình bày Toán kiểu Bourbaki dẫn đến hai vấn đề. Thứ nhất là những học sinh có tư duy logic tốt vẫn thao tác hình thức để làm bài được, nhưng đến khi “ra đời” thì không biết dùng các thao tác hình thức này vào các vấn đề cụ thể, kể cả khi thật sự có thể áp dụng được. Thứ hai, những học sinh thấy trò thao tác hình thức này là khô khan thì hoặc là chán không học, hoặc thậm chí phát triển một tâm lý sợ toán. (Tất nhiên ở đây ta loại ra các học sinh như anh Châu, cảm được mỹ học trong các patterns tưởng như chỉ có tính hình thức — và do đó anh mới thành nhà Toán học!) Do thiếu tư duy Toán nên người ta không nhận thức được giá trị của Toán, và có rất nhiều vấn đề thường nhật đáng lý có thể giải quyết bằng Toán học thì họ cũng không nhận ra nốt. Xin lấy ví dụ, tôi đã nghe không ít lần các bạn làm quản trị nói rằng công việc hàng ngày của họ không cần đến giải phương trình bậc hai, cho nên mấy năm phổ thông è cổ tính đạo hàm tích phân thật là phí phạm. Thật đáng tiếc, và các anh chị bên ngành Khoa học Quản lý chắc phải nhăn nhó lắm khi nghe điều này: họ dùng phương trình vi phân để xây dựng mô hình kinh doanh hàng hoá, quảng cáo, giá cả, họ dùng quy hoạch tuyến tính và quy hoạch nguyên cho các vấn đề vận trù trong công ty, dùng các phương pháp thống kê hiện đại để phân tích dữ liệu khách hàng, dự toán kế hoạch marketing tương lai. Không thể có một doanh nghiệp tầm cỡ Amazon nếu họ không biết giải quyết các bài toán vận chuyển, đóng gói, và phân tích dữ liệu khách hàng bằng các công cụ Toán học và công cụ máy tính.  2) Trong cuộc thảo luận, tôi nhớ anh Hồ Tú Bảo có nói rằng cần phân biệt giữa toán ứng dụng và ứng dụng của toán. Trong toán ứng dụng, ta vẫn phải ấy ý tưởng mới độc đáo làm trọng tâm, công bố làm chỉ tiêu để đánh giá.Trong khi đó, đối vơi ứng dụng của toán, thì lại phải đánh giá bằng sự tiếp nhận của thị trường. Nếu đặt anh Hưng vào địa vị người quản lý khoa học, thì anh có phân biệt rạch ròi như thế không? Có thể chỉ đánh giá công trình toán ứng dụng chỉ bằng công bố hay không?  Thành thực mà nói, tôi không thích cụm từ “Toán ứng dụng”. Người làm Toán khám phá ra chân lý và cái đẹp trong thế giới Toán học tuỳ theo sở thích. Việc chọn đề tài tuỳ vào cả sở trường lẫn thị hiếu Toán học. Thị hiếu Toán học thường được phát triển từ năng khiếu thẩm mỹ cá nhân và ảnh hưởng của dòng chảy tri thức chung của nhân loại. Và do đó, những đóng góp quan trọng bao giờ cũng có “ứng dụng”, đối với người này thì là ứng dụng hình học đại số vào giải quyết một vấn đề số học, còn với người khác là ứng dụng số học để tạo ra bitcoin. Trong các ứng dụng như vậy, người làm Toán thường phải sáng tạo ra những kỹ thuật mới, định nghĩa mới, định lý mới, đóng góp vài nhánh cây vào cái rừng tri thức. Đối với tôi, vấn đề có phải là “Toán ứng dụng” không hoàn toàn không quan trọng. Cái quan trọng là bài toán và lời giải có “đẹp” không. Như Hardy từng nói: “không có chỗ vĩnh hằng cho Toán xấu xí”. Cái đẹp và sự độc đáo có phần giao rất lớn, nhưng không hẳn là bằng nhau.  Nếu đặt tôi vào vị trí người quản lý, thì tôi sẽ nghiên cứu rất kỹ báo cáo của Vannevar Bush hồi 1945. Số là, cuối 1944, tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt (FDR) viết một bức thư gửi tiến sĩ Vannevar Bush, nguyên giám đốc phòng nghiên cứu và phát triển khoa học của chính phủ Mỹ. Trong thư, FDR đề nghị Bush viết một báo cáo chiến lược cho nhà nước Mỹ về việc làm thế nào để kích thích cách hoạt động nghiên cứu phát triển cả công lẫn tư, làm thế nào để cho các đầu tư nghiên cứu công tư hoạt động đồng bộ, kích thích các tài năng trẻ theo đuổi nghiên cứu khoa học cơ bản cũng như ứng dụng vào cải thiện cuộc sống. Không may là tổng thống FDR qua đời vàng tháng 4 năm 1945 do xuất huyết não. Phó tổng thống Henry Truman kế nhiệm. Tiến sĩ Vannevar Bush hoàn tất bản báo cáo và gửi cho Truman.  Tất nhiên câu trả lời của tôi đã lạc đề, đi ra ngoài vòng “Toán ứng dụng” mà nói đến đầu tư khoa học nói chung. Nhưng tôi tin rằng hai vấn đề này là một. Tôi thấy bản báo cáo của Vannevar Bush là một tuyệt tác, trả lời rốt ráo câu hỏi của anh.  Một trong những ý tưởng quan trọng nhất của bản báo cáo là “xem trọng nghiên cứu cơ bản”, “biết phân biệt nghiên cứu cơ bản và phát triển ứng dụng công nghệ”. Nhiều công ty lớn sau đó đã được tổ chức theo ý này: thành lập cả phòng nghiên cứu cơ bản và nuôi các khoa học gia làm “chuyện trên trời”. Ví dụ cụ thể là các nhà khổng lồ AT&T, IBM, Microsoft, hay Xerox, đều có các phòng nghiên cứu cực mạnh. Bell Labs của AT&T thắng 6 giải Nobel với các phát kiến như laser và con transistor. IBM có 3 giải Nobel. Palo Alto Research Centre của Xerox sáng chế nhiều thành phần không thể thiếu của máy tính cá nhân (con chuột, giao diện đồ hoạ, Ethernet). Đó là từ các doanh nghiệp tư. Còn từ đầu tư công thì bản báo cáo này đã đề nghị thành lập, và sau đó trực tiếp dẫn đến sự thành lập của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (National Science Foundation, viết tắt là NSF) dựa trên National Science Foundation Act. Phần lớn các ngành nghiên cứu khoa học cơ bản của Mỹ đều dùng tiền của quỹ này là chính, mặc dù nó chỉ đóng góp khoảng 20% tổng số ngân quỹ liên bang tài trợ khoa học. (NIH, DARPA, DoD, DoE, v.v. đóng góp 80% còn lại. Riêng NIH, dành cho các ngành y sinh học, có ngân sách cực lớn, khoảng 30 tỉ USD một năm.) Đầu tư công vào nghiên cứu khoa học đã góp phần lớn dẫn đến sự ra đời của Internet.  Một cách ngắn gọn hơn cho câu hỏi của anh, giới chuyên môn đánh giá một công trình Toán học (“ứng dụng” hay không) bằng thẩm mỹ Toán học. Còn các nhà tài trợ, công hay tư, họ có cách đánh giá riêng của họ khi tài trợ cho đề tài. Anh A thì dùng thị phần, chị B thì dùng chỉ số ảnh hưởng, chuyện đó không nhất thiết là có liên quan đến chân trị của công trình Toán học.  3) Giả sử một đề tài ứng dụng rất tốt, rất hiệu quả,được thị trường tiếp nhận, tôi vẫn hơi băn khoăn về sản phầm đầu ra. Ví dụ như đó là một phần mềm có thể đem đi bán được, thì liệu việc dùng tiền ngân sách để làm ra một sản phẩm rồi sản phầm đó lại sinh ra lợi nhuận cho bản thân người làm đề tài thì có gì là mâu thuẫn không? Các nước khác người ta giải quyết vấn đề này như thế nào.  Tôi nghĩ không có gì mâu thuẫn cả. Kể cả khi ta tài trợ cho một nhà Toán học làm Toán thuần tuý thì cũng sinh lợi cho cá nhân nhà Toán học. Vấn đề là ta đánh giá lợi ích công thế nào khi nhà nước đầu tư vào một đề tài.  Nếu tính về lợi ích công thì giữa thành phẩm là một công ty tư nhân thành đạt (dùng tài trợ phần nào của nhà nước) hay thành phẩm là một định lý toán học mới, thì có lẽ công ty có lợi hơn cho xã hội (ít nhất là trong thời hạn ngắn, do thúc đẩy kinh tế và tạo công ăn việc làm). Vì thế, ở Mỹ người ta có chương trình SBIR/STTR để kích thích thương nghiệp hoá cho các công ty nhỏ cần những nghiên cứu rủi ro cao. Do các nghiên cứu có rủi ro cao (nghĩa là xác suất thành công thấp), các công ty nhỏ này khó tìm tài trợ từ các nhà đầu tư tư nhân. Trong khi đó, vai trò của nhà nước, cũng giống như trong việc tài trợ các nghiên cứu khoa học cơ bản, là giúp kích thích các nghiên cứu này để tạo các công nghệ mang tính khai phá (disruptive technologies).  Các chương trình SBIR/STTR ở Mỹ được kế hoạch rất cẩn trọng, chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên ít tiền, khoảng 150 nghìn usd trong 6 tháng, là để các cty minh chứng rằng ý tưởng của họ có khả năng khả thi. Giai đoạn hai, nếu minh chứng tốt trong giai đoạn 1, là phát triển ý tưởng chín hơn. Giai đoạn 3 là thương mại hoá sản phẩm thì không dùng tiền SBIR nữa mà họ sẽ đi tìm các nhà đầu tư tư nhân. Năm 2010, tổng đầu tư SBIR/STTR của các tổ chức chính phủ Mỹ như NSF, DARPA, DoE, vân vân, tổng cộng lên đến khoảng hơn 2 tỉ đô. Công ty bảo mật Symantec ra đời từ tiền SBIR.  Nội dung ngành công nghệ nào có SBIR thì tuỳ vào từng cơ quan tài trợ của nhà nước: họ xem ngành công nghệ nào họ cần công nghệ mới hoặc cần một ngành công nghiệp mới phát triển thì họ sẽ viết lời kêu gọi (solicitation) cho đề tài/công nghệ đó. Đây là một cách để nhà nước định hướng phát triển nghiên cứu R&D, đồng thời cho cơ hội thương mại hoá và kích thích kinh tế. Nhiều tiểu bang Mỹ cũng có các chương trình SBIR riêng để kích thích phát triển công nghệ và kinh tế địa phương.  Trong hoàn cảnh Việt Nam ta, còn có những cách khác. Ví dụ, một hợp đồng SBIR made in Vietnam có thể yêu cầu công ty đó phải mở mã nguồn sản phẩm của họ, hoặc để nhà nước đồng sở hữu bằng phát minh. (Điều này ở Mỹ cũng làm.)  4) Một người bạn làm bên dệt may có hỏi tôi tại sao VIASM không tổ chức nhóm nghiên cứu về bài toán xếp lịch công nhân. Ở các xưởng may, công nhân làm việc theo kíp, phải đủ kíp khoảng 10 người thì mới làm được, mỗi kíp phải một số công nhân thạo những công đoạn khác nhau. Mỗi khi công nhân nghỉ ốm làm quản lý nhức đầu. Bài toán này có lời giải tổng quát không, liệu có thể là một đề tài khoa học nghiêm túc hay không?  Những bài toán kế hoạch hậu cần kiểu này (logistic planning, operations) là những bài toán cực kỳ phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp như hãng dệt may nọ. Về mặt lý thuyết thì bài toán tổng quát là NP-khó, nhưng như vậy không có nghĩa là nó không có lời giải — chỉ là lời giải có thể phải cần nhiều tài nguyên và thời gian tính toán. Các hãng máy bay chẳng hạn, luôn luôn phải giải quyết các bài toán scheduling với nhiều ràng buộc như thế, và vấn đề của các hãng máy bay lớn phức tạp hơn bội phần. Ngoài ra, ta có thể thêm vào các vấn đề về thống kê và dự báo rất cơ bản mà doanh nghiệp nào cũng cần. Tôi nghĩ đây là một đề tài nghiên cứu rất thú vị và hữu ích, làm minh hoạ tuyệt vời cho sự liên kết của Toán Ứng dụng, Khoa học Máy tính, Xác suất thống kê và Vận trù học (operations research).  Ví dụ, ta có thể chia bài toán thành ba thành phần: phần giao diện người dùng, phần ngôn ngữ khai báo, và phần giải quyết bài toán.  Phần giao diện người dùng sẽ bao gồm một chương trình máy tính được thiết kế cụ thể cho từng công ty tại vì từng tổ chức có các yêu cầu khác nhau về bài toán họ cần, với các ràng buộc và giao diện khác nhau. Phần này sẽ phải được “khách hàng hoá” (customize) tối đa thì người dùng mới dùng được.  Phần ngôn ngữ sẽ có một ngôn ngữ dạng khai báo (declarative language) bao gồm cả thành tố của những ngôn ngữ ràng buộc (constraint programming language), ngôn ngữ xác suất (probabilistic programming) và các ngôn ngữ khác tuỳ theo ứng dụng. Phần này được thiết kế để cung cấp một ngôn ngữ máy tính cấp cao — người bảo máy cái gì cần làm chứ không bảo máy là làm sao để làm. Ngôn ngữ này đóng vai trò trung gian, chuyển các yêu cầu của người sử dụng từ từ giao diện sang một ngôn ngữ thống nhất.  Phần ngôn ngữ cho phép ta “dịch” bài toán của người dùng thành một bài toán tối ưu, tìm kiếm, hay thống kê. Từ đây thì các nhà Toán học sẽ áp dụng hoặc sáng tạo các phương pháp tối ưu, thống kê, thiết kế thuật toán mới để giải quyết các bài toán này, và hiển thị lại kết quả cho người dùng.  Phần ngôn ngữ và phần giải quyết bài toán hoàn toàn có thể là sản phẩm công, mã nguồn mở. Phần giao diện có thể do các lập trình viên làm cho từng hãng xưởng. Đây sẽ là một dự án bao gồm từ những nghiên cứu cơ bản nhất của toán học đến giao diện ứng dụng. Những ai làm phần ngôn ngữ máy tính, toán tối ưu, thống kê, và thuật toán sẽ có thể đăng tạp chí như bất kỳ nghiên cứu khoa học cơ bản nào khác. Các tạp chí và hội nghị hàng đầu rất cần những phương pháp và thí nghiệm có dữ liệu thật, giải quyết các bài toán thật!  Tóm lại, câu hỏi của bạn anh không những có thể phát triển thành một đề tài nghiên cứu nghiêm túc, mà còn có thể thành một chương trình nghiên cứu nghiêm túc, miễn là ta nghĩ ra ngoài cái hộp là một hãng dệt may có 10 công nhân.  5) Qua câu trả lời của anh, tôi bắt đầu mường tượng được cách triển khai của một đề tài ứng dụng với những phân đoạn khác nhau, từng phân đoạn có sản phẩm với đặc thù riêng, hoặc là công bố khoa học, hoặc là sản phẩm công nghiệp. Nhưng tôi vẫn còn rất thắc mắc ở khâu đầu tiên: làm thế nào để đặt ra được đề bài đúng ngay từ đầu. Chắc chắc có rất nhiều bài toán mà thực tế sản xuất và cuộc sống đặt ra cho các nhà toán học, nhưng tôi ngờ rằng, không biết có đúng không, đa số các bài toán thực tế là không giải được, ít nhất là với mặt bằng khoa học Việt nam hiện nay. Tôi nghĩ rằng cần tìm ra những bài toán có thể không phải là bài toán cấp thiết nhất, nhưng trông ra có thể làm được, anh có đồng ý như thế không? Nếu có thì làm thế nào mà chọn ra được những bài toán như thế?  Trong một cuộc phỏng vấn, Picasso có nói đại ý rằng “máy tính thì hay ho gì, bọn nó chỉ có câu trả lời!” Hay như anh Sơn nói trong bài anh phỏng vấn anh Sơn: “hai kỹ năng cơ bản của người làm khoa học là tìm ra vấn đề hay và giải quyết được vấn đề”.  Nói cách khác, anh có câu hỏi mấu chốt: chọn đề tài thế nào?  Ở đây, chúng ta có một điểm may mắn. Mặc dù đúng là đa số các bài toán thực tế là các bài toán khó — có thể là quá khó — nếu muốn giải quyết rốt ráo, nhưng câu trả lời cho chúng thường là một cái phổ rất rộng. Ở một bên của phổ là những lời giải cóp nhặt, vụn vặt, mang tính cơ bắp, giải quyết một góc vấn đề. Ở bên còn lại là một hệ thống lời giải đẹp, mang tính phổ quát và ứng dụng vào được nhiều lĩnh vực khác.  Anh lo lắng về cực khó của phổ. Tôi lo về cực dễ của phổ. Tôi lo rằng, nếu không có một quá trình chọn lựa và bình duyệt đề tài tốt, thì có thể chúng ta tiêu tốn vào những đề tài nghe choang choang nhưng lại có rất ít tính sáng tạo khoa học. Ví dụ, khi tôi tham gia các nhóm duyệt đề tài cho NSF, những đề tài trong phân ngành hẹp của tôi thì tôi biết ngay là dễ hay khó, đóng góp có độc đáo hay không, hay chẳng qua chỉ là một đề tài bổ củi. Thế nhưng đi xa khỏi phân ngành hẹp của mình thì bình duyệt một dự án trở nên khó khăn hơn. Các nhà nghiên cứu đã trở thành chuyên gia tung hứng từ ngữ, dùng những danh từ to tát, “nóng”, như những anh bán hàng để hòng loè người không chuyên.  Ngược lại, khi ai nói là làm cái này cái kia “dễ” lắm, ta cũng nên nghi ngờ. Có rất nhiều thứ dễ trên giấy tờ nhưng không dễ trên thực tế. Lập trình một cấu trúc dữ liệu đã tồn tại 40 năm trong sách giáo khoa sao cho tốt là một vấn đề dễ trên giấy tờ, nhưng chỉ có những ai chưa từng làm điều này thì mới cho là nó dễ trên thực tế. Nói như thế có nghĩa là, anh rất nên nghi ngờ câu trả lời của tôi về đề tài hãng dệt may :-). (Về điều này thì tôi nói có cơ sở. Tôi đang cộng tác với một công ty làm một sản phẩm tương tự như tôi mô tả, về phần ngôn ngữ ràng buộc và phần giải quyết bài toán tối ưu.)  Vì những lý do trên, để chọn một đề tài ứng dụng cho tốt thì theo tôi ta cần ít nhất hai thành phần. Thành phần thứ nhất là việc xác lập một phạm vi ứng dụng, viết ra thành một chương trình kêu gọi đề tài (solicitation). Ví dụ, anh có thể xem một chương trình của DARPA về ngôn ngữ xác suất cho học máy (probabilistic programming for machine learning). Tôi lấy ví dụ chương trình của DARPA vì nó có tính ứng dụng cao hơn các chương trình nghiên cứu cơ bản của NSF. Thành phần thứ hai là một đội ngũ bình duyệt đề án hài hoà, bao gồm cả những người làm lý thuyết tốt (để biết bài toán dễ hay khó trên giấy tờ), những người làm thực hành có kinh nghiệm (để biết bài toán dễ hay khó trên thực tế), và có thể cả đại diện của ngành công nghiệp có liên quan (để biết bài toán có đáng giải quyết hay không). Xong rồi để cho họ cãi nhau ba ngày bốn đêm.  Thành phần thứ nhất khó hơn thành phần thứ hai, vì để xác định những chương trình nghiên cứu có giá trị, có cả tính ứng dụng cao lẫn giá trị khoa học phổ quát, thì ta cần một cá nhân có viễn kiến.  6) Theo anh thì các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì, chọn hình thức đầu tư nào, để vừa phục vụ cho lợi ích của mình, vừa phát triển khoa học công nghệ trong đó có toán học? Tôi có cảm tưởng là hiện tại các doanh nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở mức độ tiếp thu sản phẩm công nghệ, chế biến cho hợp nhu cầu của thị trường Việt nam hoặc đầu tư vào những thứ có thể gây tiếng vang.  Câu hỏi này quá tầm của tôi, nên chỉ bàn tán lan man hai ý.  Ý thứ nhất, tôi nghĩ câu hỏi này liên quan đến tư duy Toán học tôi đề cập ở câu hỏi thứ nhất. Điều mà một doanh nghiệp có thể làm là cải thiện kiến thức của họ về khả năng ứng dụng kỳ diệu của Toán học. Họ có thể làm điều này bằng cách tài trợ và tham dự các seminars, workshops, hay hội nghị Toán ứng dụng liên quan đến ngành công nghiệp của họ, để biết “trên thế giới này có cái gọi là A, B, C” có khả năng cải thiện nhiều khía cạnh trong doanh nghiệp của họ. Ví dụ, liên quan đến công nghệ thông tin, các hội nghị như SIGMOD (cơ sở dữ liệu), SIGGRAPH (đồ hoạ), SIGCOMM (mạng máy tính) có cực kỳ nhiều các nhà tài trợ là các công ty hàng đầu về cơ sở dữ liệu, mạng, hay đồ hoạ máy tính. Họ rất thường gửi nhân viên của họ đi báo cáo và tham dự, học hỏi thêm ở những hội nghị này. Nếu không tính việc học hỏi được gì, thì ít nhất họ cũng có cơ hội tìm nhân viên tốt ở những hội nghị như vậy.  Ý thứ hai, liên quan đến sự lệch pha tôi đề cập ở câu hỏi 1, các doanh nghiệp, trường đại học, và viện nghiên cứu nên có thêm nhiều kênh giao tiếp, trao đổi các vấn đề của nhau, học hỏi các giải pháp của nhau. Không nhất thiết là ta phải có hội nghị, báo cáo rình rang đăng báo tốn tiền. Ta có thể có các buổi gặp gỡ thân mật, không bia bọt, thuần tuý chia sẻ kiến thức. Sự giao thoa các sở thích và sở trường sẽ là một môi trường tuyệt hảo để phát triển ý tưởng, phát triển các công trình cộng tác giữa các bên.  7) Anh có lời khuyên nào cho tôi trong công việc triển khai nghiên cứu toán ứng dụng ở VIASM không?  Vấn đề này rất dễ trên giấy tờ và rất khó trên thực tế. Dù đã tin chắc anh sẽ thành công, vẫn thân chúc anh thuận buồm xuôi gió!  —   *Viện nghiên cứu cao cấp về Toán    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói ít, làm nhiều hơn      Bao nhi&#234;u thất bại cay đắng của ch&#250;ng ta&nbsp; trong nhiều việc, đặc biệt l&#224; trong việc đ&#224;o tạo to&#225;n học ứng dụng v&#224; ứng dụng to&#225;n học, bỏ lỡ nhiều cơ hội vươn l&#234;n,&nbsp; sa s&#250;t dần m&#224; vẫn b&#236;nh ch&#226;n như vại, rồi đổ hết lỗi cho kh&#243; khăn kh&#225;ch quan v&#224; cho người l&#224;m to&#225;n, theo t&#244;i đều c&#243; một nguy&#234;n nh&#226;n quan trọng: th&#237;ch n&#243;i những chuyện to t&#225;t, th&#237;ch đưa ra những mục ti&#234;u xa vời, m&#224; lời n&#243;i kh&#244;ng đi với việc l&#224;m; th&#237;ch b&#224;n chiến lược n&#224;y nọ, m&#224; kh&#244;ng th&#237;ch, kh&#244;ng quan t&#226;m ch&#237;nh s&#225;ch v&#224; thực hiện ch&#237;nh s&#225;ch.  V&#236; vậy, mong rằng trong Chương tr&#236;nh trọng điểm Quốc gia ph&#225;t triển To&#225;n&nbsp; học đến năm 2020, ch&#250;ng ta sẽ r&#250;t kinh nghiệm, n&#243;i &#237;t, l&#224;m nhiều hơn.&nbsp;     Tôi hết sức ủng hộ chủ trương hồi sinh và phát triển toán học trong mươi năm tới và đánh giá cao bản dự thảo công phu Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học đến năm 2020. Bản dự thảo này có nhiều ý tưởng mạnh dạn và hoàn toàn khả thi nếu thật sự có quyết tâm chính trị từ cấp lãnh đạo cao nhất muốn thông qua việc phát triển một ngành khoa học cụ thể để rút kinh nghiệm chấn hưng khoa học và giáo dục sau nhiều năm buông lơi để hai lĩnh vực này sa sút một cách thảm hại.   Nhớ lại cách đây hơn 40 năm, tôi được Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (KHKTNN) giao nhiệm vụ soạn thảo phương hướng phát triển toán học trong vòng 20 năm kể từ 1968. Hồi đó mỗi ngành KHTN và KHKT đều được giao nhiệm vụ  xây dựng phương hướng phát triển, nhưng bản dự thảo của ngành Toán được Ủy ban KHKTNN đánh giá tốt nhất nên tôi được mời trực tiếp báo cáo bản dự thảo trong một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ chỉ vài ngày sau khi mở đầu cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân ở miền Nam.  Trong giờ phút trọng đại của đất nước khi ấy, tưởng được Chính phủ chỉ nghe qua một cách hình thức cũng đã là một sự động viên lớn, nhưng thật cảm động và khích lệ, buổi họp hoàn toàn không có tính hình thức. Hội đồng Chính phủ và đặc biệt Thủ tướng Phạm Văn Đồng chăm chú lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi và góp nhiều ý kiến.  Trước đó bản dự thảo đã được bàn bạc khá kỹ trong Ban Toán với sự tham gia tích cực của hai anh Lê Văn Thiêm và Tạ Quang Bửu. Vả lại, năm 1967 tôi đã được cử đi trong đoàn đại biểu KHKT VN do anh Trần Đại Nghĩa dẫn đầu sang Liên Xô tham khảo ý kiến của bạn về sự phát triển KHKT ở VN. Trong chuyến đi này tôi đã được trực tiếp và nghe lời khuyên bảo tận tình của những nhà toán học chẳng những hàng đầu của Liên Xô cũ mà của cả thế giới lúc đó: Pontriaghin, Shafarevich, Vinogradov,…      Bản phương hướng tuy vậy khá ngắn gọn, tất cả chỉ mươi trang đánh máy. Mấy điểm chính là:   1) Về nội dung. Nêu ra 5 hướng toán học cần tập trung xây dựng: Toán học tính toán, tối ưu và điều khiển, giải tích và phương trình, xác suất và thống kê, một số hướng chọn lọc về đại số, hình học, topo. Trong một thời gian dài toán học Việt Nam vẫn kiên trì các phương hướng đó, tuy thành công không đều và đặc biệt về xác suất và thống kê thì yếu hơn cả. Về mối quan hệ giữa lý thuyết và ứng dụng, tuy có lúc tranh cãi gay gắt, nhưng cuối cùng vẫn giữ vững được sự cân đối cần thiết và hợp lý. Thể theo lời khuyên của Pontriaghin và Vinogradov, chúng tôi vẫn quan niệm phải vững về lý thuyết thì đi vào ứng dụng mới có kết quả thật sự (Pontriaghin trước khi phát minh ra nguyên lý cực đại, hồi ấy là đỉnh cao của toán ứng dụng, đã là một nhà topo hàng đầu của thế giới, cũng như Kantorovich, trước khi đi vào toán kinh tế và nhận giải Nobel Kinh tế đã là một chuyên gia kiệt xuất về giải tích hàm).     2) Về tổ chức. Thành lập Viện Toán học, củng cố Hội Toán, bất kể khó khăn nào cũng duy trì bằng được và phát triển các tạp chí Acta, Toán học. Thành lập phòng máy tính rồi Viện Tính Toán và Điều khiển, Viện Toán kinh tế, Viện Hệ thống ứng dụng. Như chúng ta biết, Viện Toán thì thành công, nhưng Viện Toán kinh tế và Viện Hệ thống ứng dụng thì thất bại hoàn toàn do những nguyên nhân bên ngoài toán học và bên ngoài khoa học.   3) Về đào tạo nhân tài. Phát triển các lớp chuyên toán, tham gia Olympic Toán Quốc tế (năm 1973 nhân một chuyến công tác ở Liên Xô tôi được bạn mời vào Chủ tịch đoàn hôm bế mạc và công bố giải thưởng của kỳ Olympic Toán Quốc tế năm đó ở Mạc Tư Khoa, nhân cơ hội đó đoàn CHDC Đức đồng ý thu xếp tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia kỳ Olympic năm sau ở Berlin bằng cách hứa hẹn tài trợ cho cả vé máy bay đi về cho Việt Nam); tranh thủ gửi cán bộ đã có bằng PTS đi bổ túc nghiên cứu ở Liên Xô và cả Pháp, Nhật để đào tạo thành những nhà toán học thành thạo (established mathematicians).  4) Phát triển quan hệ quốc tế. Tham gia Hội Toán học Thế giới (Việt Nam tham gia sớm hơn Hàn Quốc); tham dự các đại hội Toán Quốc tế  từ 1966 trở đi, hồi ấy Đông Nam Á và Hàn Quốc hầu như chưa nước nào có mặt. Tranh thủ sự giúp đỡ hiệu quả của giới toán học quốc tế và Việt kiều: L.Schwartz, Grothendieck, Martineau, Krickeberg, Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng… Mặc dù khó khăn vẫn cố gắng tham gia các hoạt động, hội thảo quốc tế, Trung tâm Banach là tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo toán học, do Ba Lan chủ trì. Nhờ đó, ngay trong thời kỳ 1975-1985, tuy kinh tế muôn phần khó khăn, toán học Việt Nam vẫn không mất liên hệ với thế giới bên ngoài (chỉ riêng việc duy trì tạp chí Acta và tạp chí Toán học đã hết sức khó khăn, ngay giấy trắng cỡ A4 để đánh máy bài gửi đăng trên quốc tế cũng không mua được trong nước, viện trưởng mỗi lượt đi công tác Liên Xô hay Đông Âu phải tranh thủ mang về 5-7 kg giấy trắng để dùng trong viện). Nhờ những cố gắng liên tục đó mà trong thời kỳ này riêng Viện Toán đã có 17 suất học bổng nghiên cứu Humboldt nổi tiếng, một loại học bổng nghiên cứu của CHLB Đức, có tính cạnh tranh quốc tế rất cao (cả nước Việt Nam và về tất cả các ngành hồi đó chỉ có hơn hai chục suất), và trong kỳ đại hội Toán thế giới ở Kyoto (Nhật) năm 1986  trong số các nhà toán học trẻ được Ban tổ chức mời và tài trợ chi phí, Việt Nam đã chiếm số đông, riêng Viện Toán đã có mười mấy suất.               Tôi đặc biệt tâm đắc ý tưởng then chốt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong việc phát triển Toán học của Việt Nam. Đó là: “Cố gắng sau hai mươi  năm ngoi lên vị trí quốc tế trong một vài hướng và dựa vào đó lôi kéo dần toàn bộ ngành toán học tiến lên”.                                         Hoàng Tụy          Bao trùm lên tất cả, có một ý tưởng then chốt được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặc biệt tâm đắc là: Cố gắng sau hai mươi năm ngoi lên vị trí quốc tế trong một vài hướng và dựa vào đó lôi kéo dần toàn bộ ngành toán hoc tiến lên. Bởi lẽ phải chứng minh sự tồn tại của toán học VN với thế giới, mà sự chứng minh đó phải thực hiện trước hết thông qua một số chuyên gia và một số công trình được sự thừa nhận quốc tế rộng rãi, giành được chỗ đứng vững chắc trong một số lĩnh vực, thì từ đó sự hợp tác quốc tế mới phát huy hết tác dụng và lan tỏa sang các lĩnh vực khác. Mục tiêu này đã được hứa long trọng với Thủ tướng và  thực tế đã thực hiện được trong thời gian hứa hẹn. Ở đây cần hiểu rõ thế nào là sự công nhận quốc tế. Uy tín quốc tế trong một ngành khoa học không phải bằng khoa bảng đỗ đạt cao, chức vụ cao trong nước mình, mà trước hết từ những đóng góp khoa học được thừa nhận rộng rãi bởi các đồng nghiệp quốc tế, thể hiện không chỉ ở số lượng các công bố quốc tế mà chủ yếu ở chất lượng, ở sự được mời làm những báo cáo chính (plenary lecture, key lecture,…) ở các hội thảo lớn của chuyên ngành, ở sự tham gia hội đồng biên tập các tạp chí có uy tín, được mời thỉnh giảng ở các đại học có uy tín, v.v… Đó là một khái niệm rõ ràng, nhưng thời gian gần đây đã trở nên mập mờ qua những thảo luận về đại học đẳng cấp quốc tế.  Cũng nhân đây cần thấy sự tương đối của việc xếp thứ hạng. Ba mươi năm trước người ta đánh giá toán học Việt Nam khá hơn tất cả các nước trong khu vực, và trong Thế giới thứ ba chỉ thua kém Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil, nhưng chỉ sau đó mươi năm, GS L. Schwartz, nhà toán học lớn thế kỷ 20 và từng giúp đỡ nhiều cho Việt Nam đã cảnh báo rằng tuy lúc ấy (khoảng những năm đầu 90) Việt Nam còn khá hơn các nước trong vùng về số chuyên gia  trình độ cao (vì thế Viện Toán của ta đã đươc công nhận là viện xuất sắc trong Thế giới thứ ba) nhưng đã bắt đầu thua kém nhiều nước về trình độ trung bình, mà điều này kéo dài sẽ đưa đến hậu quả là sẽ thua kém toàn diện, kể cả về số chuyên gia trình độ cao. Trường hợp rõ nhất là Hàn Quốc so với Việt Nam. Ba chục năm trước, trên thế giới người ta đã biết có một nền toán học Việt Nam, thậm chí có báo trên quốc tế đăng tin coi Việt Nam như một trong mấy trung tâm toán học mới nổi, nhưng không hề ai nghĩ có một nền toán học Hàn Quốc. Ngày nay thế trận đã thay đổi, về trình độ trung bình thể hiện ở số lượng công bố quốc tế, họ đã vượt ta quá xa, tuy rằng về cống hiến khoa học đối với toán học thế giới, họ còn đang phải kính nể chúng ta nhiều.     Bấy nhiêu thành công và thất bại đều là những bài học cho chúng ta khi xây dựng phương hướng phát triển toán học mươi năm tới (tôi không muốn nói “chiến lược” – một từ đã bị lạm dụng quá nhiều thời gian gần đây, theo tâm lý thùng rỗng muốn kêu to).               Đội tuyển HSG Việt Nam đi thi Olympic Toán Quốc tế năm 1974 chụp tại Berlin, CHDC Đức        Thành công đạt được là nhờ đã có lúc có những nhà lãnh đạo tuyệt vời, ngay trong những giai đoạn vô cùng khó khăn của đất nước, vẫn không bỏ qua bất cứ tiềm năng nào, dù nhỏ, và vẫn sáng suốt nhìn xa trông rộng, không vì những  thành tích thiển cận mà lơ là lợi ích lâu dài và cơ bản. Xây dựng một ngành khoa học, đào tạo một chuyên gia lành nghề phải mất ít ra vài chục năm, nhưng để cho nó tụt dốc thì chỉ mấy năm là quá đủ. Bao nhiêu thất bại cay đắng của chúng ta  trong nhiều việc, đặc biệt là trong việc đào tạo toán học ứng dụng và ứng dụng toán học, bỏ lỡ nhiều cơ hội vươn lên, sa sút dần mà vẫn bình chân như vại, rồi đổ hết lỗi cho khó khăn khách quan và cho người làm toán, theo tôi đều có một nguyên nhân quan trọng: thích nói những chuyện to tát, thích đưa ra những mục tiêu xa vời, mà lời nói không đi với việc làm; thích bàn chiến lược này nọ, mà không thích, không quan tâm chính sách và thực hiện chính sách.  Và hết sức quan trọng là việc cạnh tranh quốc tế, phát triển, thu hút nhân tài. Hoàn cảnh đặc biệt phải có biện pháp đặc biệt (ví dụ trong khi chưa có điều kiện trả lương đàng hoàng cho mọi người thì hãy chọn ra mươi người giỏi nhất, đang sung sức, dưới 60 tuổi, có triển vọng nhất, tạo điều kiện đặc biệt cho họ làm việc không kém lắm so với ở nước ngoài, hết 3 năm chọn lại), làm như thế cho đến khi nào điều kiện làm việc trung bình đã được cải thiện rõ rệt. Hết sức tránh đầu óc tỉnh lẻ (provincialism) và tư duy tiểu nông.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Nỗi lo của nhiều viện nghiên cứu trước yêu cầu tự chủ      Vướng mắc cơ bản khi thực hiện chuyển đổi theo Dự thảo  Nghị định mới là nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở vật chất ở địa phương  không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu mới.    Theo dự thảo nghị định mới, việc phân loại tổ chức  KH&CN công lập được thực hiện trên cơ sở khả năng tự chủ về tài  chính theo bốn mức: tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư phát  triển; tự đảm bảo chi thường xuyên; tự đảm bảo một phần chi thường  xuyên; ngân sách nhà nước chi thường xuyên. Nếu tổ chức nào càng tự chủ  về mặt tài chính thì càng có khả năng tự chủ về xây dựng kế hoạch hoạt  động, tổ chức bộ máy, nhân lực…  Tuy nhiên, tại Hội nghị về cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN do Bộ KH&CN tổ chức hôm 29/10, theo nhiều đại biểu, vướng mắc cơ bản khi thực hiện chuyển đổi theo Dự thảo Nghị định mới là nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở vật chất ở địa phương không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu mới, dẫn đến “không tự chủ nổi”. Nguồn nhân lực ở địa phương, vốn không thể so sánh với các tổ chức cấp trung ương nay lại đứng trước nguy cơ “mất người” mà theo lý giải của đại diện Sở KH&CN Hải Dương, việc “mất hết biên chế trong danh sách [biên chế] của tỉnh” khi áp dụng cơ chế tự chủ đã khiến nhiều người khá giỏi trong các tổ chức này chuyển việc.      Nỗi lo về kinh phí đầu tư vào hệ thống cơ sở vật chất cũng là điều ám ảnh các địa phương như giãi bày của đại diện Sở KH&CN Thanh Hóa: “Các tổ chức KH&CN công lập sẽ được đầu tư như thế nào khi áp dụng nghị định mới?”              Theo Dự thảo Nghị định thay thế nghị định 115, việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN công lập sẽ được ổn định trong thời gian ba năm.           Không riêng các tổ chức KH&CN công lập địa phương mà các tổ chức KH&CN ở Trung ương như đại diện Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam, Viện KH Nông nghiệp Việt Nam, Viện Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT)… đều cho rằng, do tính không ổn định trong việc ứng dụng đề tài nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm nên các tổ chức mà họ quản lý đều chỉ đủ sức tự trang trải một phần kinh phí.      Với các tổ chức KH&CN công lập ở Trung ương vận hành theo mô hình viện nghiên cứu dạng “mẹ con” (trong một viện lớn có nhiều viện và trung tâm), câu hỏi đặt ra được đại diện Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện KH Nông nghiệp Việt Nam cùng chia sẻ là cơ chế quản lý giữa “viện mẹ” và “viện con” sẽ như thế nào nếu “viện con” chuyển đổi tự chủ trước. Trả lời câu hỏi này, ông Trần Đắc Hiến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ KH&CN) cho biết, với trường hợp “viện con” chuyển đổi chế độ tự chủ trước thì vai trò quản lý của “viện mẹ” sẽ chỉ là khâu trung gian.      Dự kiến Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 115 sẽ được trình Chính phủ vào cuối năm nay và có hiệu lực thi hành từ năm 2016.       Xem thêm:     Để quyết tâm tự chủ không thành kêu gọi suông  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=9155    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nói thật, nói thẳng về những vấn đề cốt lõi      Trước thềm năm Đinh Dậu, Tạp chí Tia Sáng đã tổ chức một cuộc gặp gỡ giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và các nhà khoa học hàng đầu là cộng tác viên của Tạp chí. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra trên tinh thần cởi mở, tạo cơ hội để Bộ trưởng và các nhà khoa học trao đổi một cách thẳng thắn, chân thành về những vấn đề thiết yếu trong công tác quản lý KH&CN.    Vai trò của trí thức và các nhà khoa học    Là người phát biểu đầu tiên trong số các nhà khoa học, GS. Hoàng Tụy bày tỏ quan điểm về tầm quan trọng của việc lãnh đạo Đảng và Nhà nước lắng nghe tiếng nói của các nhà trí thức. GS kể lại những kỷ niệm về thời kỳ khó khăn trước thềm Đổi mới, khi cố Tổng Bí thư Lê Duẩn “mời các anh em khoa học” đến trao đổi với tinh thần hết sức cầu thị, lắng nghe họ trình bày thẳng thắn tất cả những vấn đề tưởng chừng như trái tai đối với các nhà lãnh đạo, như lý thuyết làm chủ tập thể, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung cùng với tệ ngăn sông cấm chợ làm bần cùng hóa nông thôn, v.v. GS. Hoàng Tụy cho rằng, bối cảnh đất nước ngày nay cũng có những vấn đề không kém phần cấp bách so với giai đoạn trước Đổi mới, cụ thể như “10-20 năm qua chúng ta chống tham nhũng nhưng chưa đạt nhiều kết quả”. Vì vậy, GS mong muốn Bộ KH&CN tổ chức những cuộc trao đổi giữa lãnh đạo Đảng và Nhà nước với các nhà trí thức, nhà khoa học theo tinh thần tương tự như các cuộc gặp trước đây, vào giai đoạn trước thềm Đổi mới, và tổ chức sao cho “tạo không khí để họ mạnh dạn phát biểu”, “nói thật, nói thẳng, đi vào những vấn đề cốt lõi” để tìm ra giải pháp có tính gốc rễ thực sự thay vì chỉ “sai đâu sửa đấy”.  Cùng quan điểm với GS. Hoàng Tụy về tầm quan trọng của việc các nhà lãnh đạo tôn trọng và lắng nghe các nhà khoa học, sự cần thiết của việc hình thành những diễn đàn để các nhà khoa học có thể trực tiếp góp ý với Bộ KH&CN, tuy nhiên, GS. Trần Xuân Hoài và GS. Vũ Cao Đàm cũng thẳng thắn nhận định, hiện nay không phải ai mang danh nhà khoa học cũng là nhà khoa học đích thực. Để nền khoa học phát triển, nhất thiết cần chấn chỉnh đạo đức khoa học và thanh lọc, loại bỏ những thành phần “khoa học rởm”.  Tái cơ cấu mạng lưới tổ chức KH&CN  Theo TS Lê Đăng Doanh, lực lượng làm khoa học tại Việt Nam đang ở trong tình trạng phân tán, bị “xé nhỏ” với quá nhiều viện nghiên cứu được đầu tư theo cơ chế “cào bằng” dù không phải đơn vị nào cũng hoạt động chuyên môn hiệu quả. Rõ ràng, việc chia đều kinh phí hoạt động vừa khiến cho nguồn lực bị dàn trải vừa làm suy giảm động lực nghiên cứu bởi tất cả các ngành khoa học đều có chung một mức “bao cấp”, dù đóng góp ít hay nhiều. Để các ngành giàu tiềm năng có đủ nguồn lực phát triển, chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng, cần tiến hành tái cơ cấu mạng lưới nghiên cứu khoa học, tập trung đầu tư đúng “địa chỉ”, dành ưu tiên cho các ngành có tính cạnh tranh và nhất định phải xóa bỏ cơ chế “rót tiền” theo “đầu người” – lối đầu tư manh mún đã tồn tại quá lâu. Bên cạnh đó, cần có cơ chế giám sát phù hợp, đảm bảo tính minh bạch trong quản lý kinh phí và các nguồn lực dành cho các tổ chức KH&CN. TS. Lê Đăng Doanh cũng chia sẻ kinh nghiệm về tự giám sát ở các tổ chức KH&CN công lập ở Đức, trong đó mỗi năm có sự bố trí ngẫu nhiên từng cặp tổ chức tiến hành giám sát, thanh tra chéo lẫn nhau. Ông nhấn mạnh, ngành KH&CN hãy tự mình cải cách hướng tới sự minh bạch và hiệu quả, đừng mãi trông chờ sự cải cách toàn diện từ cả hệ thống lớn.  Chia sẻ kinh nghiệm từ mô hình thành công của Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng học viện thành một đại học, một cơ sở nghiên cứu theo đúng chuẩn mực và thông lệ quốc tế, GS Trần Đức Viên khẳng định việc  tiếp cận các thông lệ và chuẩn mức quốc tế và quyết tâm thực hiện cơ chế tự chủ theo tinh thần của Nghị định 115 là cách duy nhất để tái cơ cấu các tổ chức KH&CN trong nước một cách đúng hướng. Trên thực tế, kể từ khi Học viện Nông nghiệp Việt Nam đồng lòng tự chủ, những người thực tài đều “sống khỏe”. Thế nhưng, rất nhiều đơn vị khác vẫn muốn… né Nghị quyết 115 bởi đã quen sống dựa vào Nhà nước.  Đảm bảo tính minh bạch trong quản lý các đề tài, dự án    Trong cơ chế quản lý các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, để tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu quả, PGS. Tạ Hải Tùng, Giám đốc Trung tâm Hợp tác nghiên cứu phát triển công nghệ định vị sử dụng về tinh (NAVIS), Đại học Bách khoa Hà Nội, kiến nghị tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi khâu của hoạt động quản lý KH&CN: từ xét duyệt đề tài/dự án, cơ sở dữ liệu các tổ chức chủ trì, và nhà khoa học. Trong quy trình thủ tục phê duyệt các đề tài, GS. Phùng Hồ Hải (Phó viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) bày tỏ lo ngại về tình trạng chỗ cần đẩy nhanh tốc độ thì “làm chậm” và ngược lại. “Dự án nghiên cứu tháng 12 khởi động, tháng 9, Hội đồng duyệt mới họp và họp có mấy hôm đã ra quyết định. Đánh giá gấp rút như thế thì không thể tốt được”, GS. Phùng Hồ Hải nhận xét về khâu thẩm định đề tài nghiên cứu. Trong khi đó, khâu cấp kinh phí lại quá “rề rà”, như lời GS TS. Vũ Thị Thu Hà (Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu quốc gia), “có khi đề tài mới được duyệt rồi mà đề tài cũ còn chưa được ‘thanh toán’”. Đây thực sự là một rào cản lớn, khiến các nhà khoa học vô cùng “mệt mỏi”, thậm chí, phải chịu tổn thất nếu doanh nghiệp không chịu thông cảm. Để hỗ trợ thiết thực hơn cho các nhà khoa học, GS. Vũ Thị Thu Hà đề xuất cơ chế giảm thiểu “chữ ký” xét duyệt, cũng tức là rút ngắn thời gian “chết”, một trong những nguyên nhân khiến không ít “pha” hợp tác giữa nhà khoa học và doanh nghiệp bị đổ bể.  Cần tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu cơ bản và công bố quốc tế  Một thực trạng đáng lo ngại, theo GS. Trần Đức Viên, là tình trạng các viện nghiên cứu trong nông nghiệp cố tình “bỏ quên” nghiên cứu cơ bản, dẫn tới suốt một thời gian dài, Việt Nam đã phải “mượn tạm” kết quả tạo giống của các nước như Trung Quốc, Nhật, Mỹ. GS. Viên kiến nghị cần “phân công” rõ nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, đồng thời yêu cầu tất cả các viện lớn phải duy trì nghiên cứu cơ bản.  Bên cạnh đó, GS. Viên nhận định, thước đo để đánh giá một nhà khoa học là sản phẩm công nghệ phục vụ quốc kế dân sinh cùng số lượng công bố quốc tế và cả hai đều là điểm yếu của các nhà khoa học Việt Nam. Cùng quan điểm với GS. Viên, GS. Phạm Quang Minh (Hiệu trưởng Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn) chia sẻ về tình trạng nhiều nhà khoa học, sau khi được phong học hàm, học vị là “đứng yên”, coi như đã hoàn thành nhiệm vụ, không cống hiến gì nữa. Ông thống kê, cả nước có 1.100 GS, hơn 9.000 PGS. Mức độ đóng góp của 9.000 PGS là rất thấp, thể hiện ngay trong số lượng các công bố quốc tế. Dễ thấy, nhà khoa học, một khi đã lười nghiên cứu thì những nhiệm vụ khó khăn hơn lại… càng ngại!  Tích tụ công nghệ để giúp nền kinh tế vượt qua điểm nghẽn  KH&CN liên quan mật thiết đến “điểm nghẽn” của nền kinh tế”, theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Trong khi thế giới đã bước vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn “giậm chân” ở lĩnh vực gia công cùng lực lượng lao động giá rẻ, vẫn chạy theo “know who” thay vì chuyển hướng sang “know how”. Đó là bước tụt hậu nguy hiểm bởi nó khiến Việt Nam khó “lọt mắt xanh” của các nhà đầu tư nước ngoài hiện coi trọng những khu vực “đi vào được những chuỗi giá trị mới”. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài sau khi “thăm dò”, khảo sát đã đánh giá, Việt Nam chưa sẵn sàng cho những ngành công nghệ mới và mức độ phát triển công nghệ ở tầm doanh nghiệp là rất thấp, bà Phạm Chi Lan chia sẻ. Rất nhiều chuyên gia đã chỉ ra, trong nhiều năm qua, năng suất lao động luôn là điểm yếu “cốt lõi” của kinh tế Việt Nam và đó là hệ quả từ việc các doanh nghiệp bằng lòng với trình độ công nghệ thấp cùng đội ngũ nhân công kém chất lượng. Rõ ràng, chính sự tụt hậu về công nghệ là một trong những nguyên nhân khiến nền kinh tế của chúng ta bị suy yếu, tự “mài mòn” tính cạnh tranh và khả năng “hút” vốn đầu tư quốc tế. Đó là lý do tại buổi tọa đàm, bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh:“Không còn con đường nào khác, muốn vượt qua điểm nghẽn kinh tế, Việt Nam phải tích tụ công nghệ”.    Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, đúng như kỳ vọng, cuộc tọa đàm đã “quét”qua tất cả những vấn đề lớn của ngành KH&CN đang được các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm. Đặc biệt là hai câu hỏi: Khoa học và công nghệ đang phát triển ra sao và phải làm gì để có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của xã hội, của đất nước? Bộ trưởng cho rằng, để khoa học và công nghệ có thể đồng hành cùng với nhịp phát triển của đất nước, “Giới khoa học nhất thiết phải đồng lòng, chung sức, tìm giải pháp giúp kinh tế vượt qua điểm nghẽn trong phát triển kinh tế, xã hội hiện nay. Cá nhân tôi sẽ cố gắng hết sức mình, tập trung giải quyết từng vấn đề đã được các nhà khoa học đặt ra hôm nay”. Đánh giá thực trạng của khoa học và công nghệ, Bộ trưởng cho rằng, các nhà khoa học đã có nhiều trăn trở và công sức đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, sự đóng góp này vẫn còn mờ nhạt, chưa tác động kịp thời và trên diện rộng tới những “điểm nóng” của kinh tế, xã hội. Nhiều nghiên cứu chưa đi vào được thực tiễn cuộc sống, chưa được doanh nghiệp và người dân đón nhận. Muốn cải thiện tình trạng này, các nhà khoa học cần phải nỗ lực biến công nghệ thành sản phẩm phù hợp với những ngành hàng cụ thể. Tổng kết tọa đàm, Bộ trưởng khẳng định, tới đây, Bộ KH&CN sẽ chủ động tự đổi mới, tự tái cấu trúc ngay trong hệ thống của mình, để từ đó, sẵn sàng là cơ quan tham mưu của chính phủ trong việc đón nhận những cơ hội và thách thức cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Bộ cũng sẽ làm tốt vai trò tham mưu cho chính phủ trong việc giao nhiệm vụ cho các bộ khác, trong tiến trình đổi mới sáng tạo, trong việc đầu tư vào con người, đặc biệt là lớp trẻ.  Theo GS. Đào Tiến Khoa (Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân), muốn mau chóng tích tụ công nghệ, Việt Nam cần phải đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế và nếu cần, “phải bỏ tiền thuê chuyên gia nước ngoài giúp ta có được công nghệ mới”. Như ước tính của ông, Việt Nam chỉ đóng góp 0,1% vào tổng số các phát minh của nhân loại. Việc tận dụng 99,9% thành tựu còn lại có ý nghĩa như tìm ra “đôi hài vạn dặm”, giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách với thế giới và chắc chắn, không đứng ngoài cách mạng công nghiệp lần tư. Tuy nhiên, chúng ta luôn “chậm chân” trong việc cập nhật các phát minh quan trọng, hữu ích với đời sống thực tiễn. GS. Đào Tiến Khoa đưa ra hai ví dụ: Công nghệ soi chiếu hình ảnh Pet/CT giúp phát hiện sớm ung thư sau hàng thập niên thông dụng trên thế giới, mới “du nhập” vào Việt Nam và do tư nhân đưa về, máy gia tốc điều trị ung thư cũng vậy. Câu chuyện này khiến người ta phải đặt câu hỏi: Vì sao, cho đến nay, việc đưa công nghệ của thế giới về Việt Nam lại chưa lọt vào bất kỳ chương trình đầu tư nào của nhà nước dù ai cũng nhận thấy, sự tăng trưởng về công nghệ chính là “bàn đạp” cho kinh tế khởi sắc? Không hoàn toàn đồng tình với quan điểm của GS. Đào Tiến Khoa, PGS. Phạm Thành Huy cho rằng doanh nghiệp vẫn rất cần công nghệ của các nhà nghiên cứu trong nước. Theo ông, ngoài yếu tố giá thành cao thì công nghệ nhập khẩu còn có hạn chế là chức năng thường cố định, độ linh động thấp, trong khi tốc độ phát triển của thị trường đi kèm với những yêu cầu mới về mẫu mã rất nhanh “nên nếu đầu tư vào một công nghệ hiện đại nhưng lại bị cố định và giới hạn ở điểm này thì tính cạnh tranh cũng sẽ bị giảm đi.”  Lý giải việc các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng tiếp thu các tiến bộ KH&CN, PGS. Phạm Thành Huy cho rằng “thậm chí nếu bây giờ có kinh phí để sẵn sàng đầu tư cho các doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ thì chúng ta vẫn khó có thể tìm được doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận công nghệ”, bởi để tiếp thu công nghệ mới thì “doanh nghiệp phải tích lũy được một nền tảng công nghệ nhất định và bản thân họ cũng phải sẵn sàng đổi mới. Khi đó họ mới biết được cần đầu tư vào vấn đề nào, phát triển công nghệ gì để có thể tạo ra những sản phẩm mới đủ sức cạnh tranh được trên thị trường”. Số doanh nghiệp có thể nhìn rõ bức tranh công nghệ như vậy ở Việt Nam thời điểm này không nhiều, PGS. Phạm Thành Huy nhận định.  Để nhà khoa học nắm bắt được hơi thở cuộc sống    Theo PGS. Đỗ Thị Hương Giang (Phó Chủ nhiệm Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ Nano, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội), vì cầu nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo nên rất nhiều nhà khoa học gặp không ít khó khăn khi tìm cách tiếp cận với doanh nghiệp để có thể nắm bắt hơi thở cuộc sống, hiểu các “đề bài” và có những sáng chế phù hợp theo nhu cầu doanh nghiệp. PGS. Giang cho rằng vai trò cầu nối của Bộ KH&CN là vô cùng quan trọng trong việc kéo giới khoa học và doanh nghiệp xích lại gần nhau.  Vậy bản thân các nhà khoa học Việt Nam cần chủ động làm gì để nắm bắt được hơi thở cuộc sống? PGS. Phạm Thành Huy chia sẻ kinh nghiệm ở các quốc gia tiên tiến, việc các giáo sư ở các viện nghiên cứu và trường đại học ra làm việc ở các cơ sở sản xuất công nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (mô hình Sabbatical year) là rất phổ biến. Khi áp dụng mô hình này, các nhà nghiên cứu sau khoảng thời gian từ ba đến năm năm công tác tại trường, viện sẽ có quãng thời gian từ sáu tháng đến một năm làm việc ở một cơ sở công nghiệp nào đó hoặc một cơ sở nghiên cứu khác trong khi vẫn được hưởng các chế độ của trường, viện. Đó là cách giảm sức ì trong tư duy vì thực tế cho thấy, cứ “ngồi” mãi một chỗ sẽ không có ý tưởng mới, nhưng ý tưởng mới lại có thể sẽ nảy sinh trong điều kiện làm việc mới.  Bên cạnh đó, PGS. Phạm Thành Huy kiến nghị, muốn có một nền công nghệ đi vào được cuộc sống, cần phải có những tập thể nghiên cứu mạnh. Ông đề xuất, nên có thêm nhiều chính sách tương tự như Post-doc để “lôi kéo” các nhà khoa học hiện đang làm việc tại nước ngoài về nước, và cho biết, ngay sau khi chương trình đào tạo sau tiến sĩ được thông qua vào ngày 17/11, đã có hai nhà khoa học Việt Nam ở Đức nộp hồ sơ xin vào làm việc ở viện. Đến nay, đơn vị của ông đã có 30 tiến sĩ từ nước ngoài trở về và hầu hết “đều làm việc hiệu quả”. Điều đó cho thấy, nếu có cơ chế “giữ chân” người tài hợp lý, tình trạng “chảy máu” chất xám sẽ được hạn chế và nhờ thế, đội ngũ nghiên cứu khoa học trong nước cũng sẽ dồi dào hơn rất nhiều cả về chất lẫn lượng.       Author                Hương Lan        
__label__tiasang Nông nghiệp Việt Nam: Những vấn đề tồn tại      Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta phải thừa nhận là, nền nông nghiệp nước ta về cơ bản vẫn là nền sản xuất thô về sản phẩm, thấp về đẳng cấp, tiêu tốn nhiều nguồn lực, ứng dụng KH&CN và cơ giới hóa trong nông nghiệp còn khiêm tốn, sức cạnh tranh với khu vực và thế giới chưa cao; thậm chí, ở một số lĩnh vực còn đi sau thế giới khá xa.  Các nguyên nhân của tình trạng này là do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, năng suất lao động thấp mà giá thành nông sản lại cao, thiếu tính liên kết trong nội bộ ngành nông nghiệp và giữa ngành nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như công nghiệp và dịch vụ (như công nghiệp hỗ trợ ngành nông nghiệp chẳng hạn), tạo ra quá nhiều tầng nấc trung gian trong chuỗi giá trị; một nghiên cứu cho thấy, trong khi các quốc gia khác chỉ có chừng 2-4 tác nhân trung gian thì ở Việt Nam con số này là 5-7.    Người Việt coi trọng nghề nông, minh triết của người Việt coi nông nghiệp là gốc của mọi thứ trong xã hội, ‘canh nông vi bản’. Ngày nay nông nghiệp không chỉ giúp ổn định cuộc sống cho phần lớn dân cư nông thôn (‘yên dân’), mà còn là nền tảng cho phát triển kinh tế-xã hội và ổn định chính trị, tạo tiền đề để hiện thực hóa khát vọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ một quốc gia có nền nông nghiệp còn chưa phát triển. Trong năm 2020, tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 khiến nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ bị đình đốn thì sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn phát triển, vẫn đảm bảo ổn định an ninh lương thực trong nước và duy trì xuất khẩu nông sản. Những kết quả này rất quan trọng, xét trong bối cảnh khu vực nông thôn chiếm tới 63% dân cư, 66% số hộ, 68% người làm việc; nông nghiệp chiếm tỷ trọng 13.96% trong GDP (Tổng cục thống kê, 2019).  Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn tồn tại những thách thức và điểm yếu nghiêm trọng cần sớm khắc phục và giải quyết.  Những thách thức từ bên ngoài  Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu cho nên thách thức trực tiếp và lâu dài đến sản xuất nông nghiệp là tác động của biến đổi khí hậu – Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m mà Việt Nam không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, thì khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập. Lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt không còn khả năng canh tác (Phạm Tất Thắng, 2017). Mặt khác, biến động thời tiết ngày càng cực đoan, bất thường, khó kiểm soát; các nhà khoa học cũng dự báo các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung sẽ bị hạn nhiều hơn; số đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại sẽ xuất hiện nhiều hơn ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, bão lũ sẽ gây ảnh hưởng ngày thêm nặng nề trên qui mô cả nước.      Diện tích bình quân đất nông nghiệp/người của Việt Nam tiếp tục giảm và ở mức thấp của thế giới.      Nền nhiệt của Việt Nam đã tăng lên đáng kể; nguồn nước chịu ảnh hưởng do thay đổi lượng mưa; mực nước biển dâng dẫn đến thu hẹp diện tích sản xuất, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016); xói lở và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Những ảnh hưởng trên khiến cho việc phát triển nông nghiệp gặp bất lợi lớn, do đó cần có các chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu.   Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung từ năm 2018 và các biến động địa-chính trị khác, đã tạo ra áp lực đối với các tập đoàn đa quốc gia trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng. Đại dịch toàn cầu Covid-19 đã cho thấy những rủi ro của việc các nước phụ thuộc vào một nguồn cung, và các chuỗi cung ứng được tổ chức quá dàn trải, làm cho chuỗi cung ứng toàn cầu dễ bị đứt gãy, tổn thương.   Với các ngành kinh tế dựa vào tài nguyên như nông nghiệp thì ‘thượng nguồn’ của chuỗi cung ứng chính là các tài nguyên đầu vào như nước và đất đai. Biến đổi khí hậu đã tạo ra thách thức vô cùng to lớn đối với việc sử dụng tài nguyên nước và tài nguyên đất. Nhưng sự thiếu phối hợp, thiếu thiện chí giữa các quốc gia trong cùng một lưu vực cũng tạo ra những căng thẳng ngày càng tăng về tài nguyên nước. Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ cho thấy tác hại nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và các thách thức chính trị quốc tế đến an ninh chuỗi cung ứng trong ngành nông nghiệp.  Quá trình toàn cầu hóa, đa phương hóa mạnh mẽ cũng là một thách thức lớn (song cũng đồng thời là cơ hội, nếu biết cách biến ‘nguy’ thành ‘cơ’) khi gắn với chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy, với các hàng rào phi thuế quan, các biện pháp phòng vệ tinh vi, làm xu hướng tài chính quốc tế thay đổi kèm theo với các xung đột thương mại, bất ổn chính trị, cùng với dịch bệnh, khiến xu hướng thương mại nông sản quốc tế, tiêu chuẩn thị trường luôn thay đổi; đồng thời, các yêu cầu mới về môi trường và lao động luôn xuất hiện. Tất cả những điều đó tất yếu dẫn đến cạnh tranh thị trường ngày càng trở nên gay gắt hơn.  Nền nông nghiệp quảng canh rủi ro và thiếu hiệu quả   Sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp thời gian qua có đóng góp của nhiều ‘điểm sáng’ về thâm canh, ứng dụng công nghệ cao chủ yếu mang tính quảng canh, dựa trên thâm dụng tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng lao động, lấy sản lượng, năng suất là chính, chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng, hiệu quả kinh tế, giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa, và bảo vệ môi trường, dù thời kỳ ‘đói khát’ đã qua từ lâu. Hơn nữa, nông nghiệp lại chưa gắn với công nghiệp thành một hệ thống để bổ sung, tương trợ cùng nhau phát triển. Số lượng các doanh nghiệp lớn đóng vai trò dẫn dắt trong quá trình hội nhập cho ngành còn ít. Vì vậy, nền nông nghiệp vẫn chưa khắc phục được những yếu kém nội tại, kinh tế nông thôn đang phát triển không đồng đều, thiếu ổn định, mà thực tế ‘được mùa mất giá’, ‘giải cứu nông sản’ hết cây này sang con khác, hết năm này qua năm khác là thí dụ điển hình, là minh chứng của một nền sản xuất chưa bền vững, rủi ro cao, giá cả của đầu ra nông sản bấp bênh, sự thua thiệt thường rơi vào người sản xuất và các doanh nghiệp nhỏ.  Hầu hết các loại giống cây trồng từ lúa, hoa màu, rau quả đến các giống vật nuôi cao sản, máy móc, thiết bị, phần lớn vật tư nông nghiệp… đều là ‘hàng ngoại nhập’. Ví dụ, hơn 90% số máy kéo bốn bánh và máy công tác kèm theo, máy gặt đập liên hợp, phải nhập khẩu. Năm trong số sáu đại gia lớn nhất thế giới về giống cây trồng đã có mặt tại Việt Nam, từ Syngenta của Thụy Sĩ đến Bayer của Đức, Dupont và Monsanto của Mỹ…  trong khi sự hỗ trợ của nhà nước với các công ty nội địa còn chưa đủ mạnh nên thị trường giống cây trồng và giống vật nuôi đứng trước nguy cơ nằm dưới sự thống lĩnh và lũng đoạn của các tên tuổi nước ngoài. Giống trong nước, dù tốt nhưng thiếu trợ giá, ko có chính sách giúp nông dân mua nợ (mua trước, trả sau), chế độ thưởng cho các tư thương bán giống chưa đủ mạnh… nên dần lép vế. Dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTAs) với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, nếu chúng ta không kịp có các chính sách hỗ trợ để phát triển công tác giống trong nước thì sẽ buộc phải dọn đường cho nông sản, thực phẩm, giống cây giống con, v.v… từ nước ngoài tràn vào.   Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp kém do chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, chất lượng thấp, kích cỡ không đồng đều, thiếu nhãn mác để nhận diện, chưa có truy xuất nguồn gốc, chưa có thương hiệu trên thị trường. Đa phần sản phẩm nông sản của Việt Nam xuất khẩu ở dạng thô, chưa qua chế biến, chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Theo Tổng cục hải quan (2020), thị trường xuất khẩu lệ thuộc phần lớn vào Trung Quốc (trên 60% sản lượng rau quả, trên 60% cao su) nhưng chủ yếu qua đường tiểu ngạch nên giá trị thấp. Điểm qua các chỉ số (1) Xếp hạng toàn cầu về khối lượng, (2) Xếp hạng toàn cầu về giá trị, (3) Xếp hạng toàn cầu về giá bán (USD/tấn) của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, ta thấy tăng trưởng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa trên cạnh tranh về giá (giá rẻ), phân khúc chất lượng thấp, không nhãn mác, chưa dựa vào lợi thế cạnh tranh về chất lượng.          Nông sản  hàng hóa      Xếp hạng toàn cầu  về khối lượng      Xếp hạng toàn cầu  về giá trị      Xếp hạng toàn cầu  về giá bán ($/tấn)          1. Hạt điều      1      1      6          2. Sắn lát khô      2      2      6          3. Tiêu đen      1      1      8          4. Cà phê nhân      2      2      10          5. Gạo      3      4      10          6.Cao su      4      4      10          7. Chè      5      7      10          Nguồn: Khôi & Thắng, 2019  Quy mô manh mún và năng suất lao động thấp  Năng suất lao động của nông dân Việt Nam đang thuộc nhóm thấp nhất châu Á. Dù trong những năm qua, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam có tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) bình quân cao, với 5,2%/năm giai đoạn 2011-2018, cao hơn tốc độ tăng bình quân của khu vực công nghiệp và xây dựng (3%/năm) và khu vực dịch vụ (3,1%/năm), tuy nhiên khu vực này vẫn có mức NSLĐ thấp nhất trong các khu vực kinh tế, đến năm 2018 theo giá hiện hành đạt 39,8 triệu VND/lao động, chỉ bằng 38,9% NSLĐ của toàn nền kinh tế, bằng 30,4% NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng, bằng 33,7% khu vực dịch vụ. Trong các nước ASEAN, NSLĐ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Malaysia cao gấp 11,9 lần; Indonesia cao gấp 2,4 lần; Thái Lan cao gấp 2,1 lần và Philippine cao gấp 1,8 lần mức NSLĐ của Việt Nam (Tùng Đinh, 2020).  Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất lao động của ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thuộc nhóm thấp nhất châu Á là do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp của nông dân thấp, thể trạng người nông dân còn thấp và yếu, lao động trực tiếp trên đồng ruộng chủ yếu là người có tuổi và trẻ nhỏ.    Sản xuất qui mô nhỏ thể hiện qua diện tích canh tác bình quân dao động từ 0,2 đến 2 ha/hộ và chỉ đạt 0,34 ha/lao động. Kết quả khảo sát về qui mô sử dụng đất của nông hộ qua thời gian 10 năm, 2006-2016, cho thấy quy mô đất nhỏ, thay đổi ít, số hộ không trực tiếp sử dụng đất tăng từ 18,23% lên 21,38%, số hộ sử dụng từ 0,2 đến dưới 0,5 ha giảm từ 32,29% xuống còn 27,11%, số hộ có qui mô diện tích đất nông nghiệp dưới 0,2 ha chỉ tăng từ 21,17% lên  22,49%, số hộ có qui mô đất nông nghiệp từ 0,5 đến dưới 1 ha tăng chỉ từ 16,44% lên 16,75%; chỉ có khoảng 5% hộ nông dân có qui mô ruộng đất trên 3 ha, v.v… (Khôi & Thắng, 2019).   Diện tích bình quân đất nông nghiệp/người của Việt Nam tiếp tục giảm và ở mức thấp của thế giới, năm 2016 vẫn còn hơn 50% hộ có diện tích nhỏ hơn 0.5ha; điều đó đã và đang tác động trực tiếp đến những hạn chế trong việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất, khai thác lợi thế theo quy mô, cũng như việc triển khai ứng dụng các mô hình nông nghiệp tiên tiến (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng việc diện tích canh tác nhỏ lẻ khiến cho tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp bị hạn chế (Ayerst et al., 2020; Le, 2020).    Do sinh kế truyền thống của nông dân dựa vào sản xuất nông nghiệp, nghĩa là dựa vào đất, nên nhiều nông dân có tâm lý giữ đất phòng thân, khiến quá trình tích tụ và tập trung đất nông nghiệp khó khăn và chậm chạp. Giao dịch đất đai thấp (<5% số hộ), thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa phát triển, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp còn nhiêu khê. Do đó, thu hồi đất vẫn là hình thức diễn ra khá phổ biến khi Nhà nước cần tích tụ hay tập trung đất đai. Trong khi đó, diện tích đất nông nghiệp thu hồi để phát triển các khu công nghiệp có tỷ lệ được lấp đầy không cao, như với Hà Nội con số này chỉ là 44,7%, Đà Nẵng 49,6%, TP. HCM 56,4%; trong khi con số này của các thanh phố khác trên thế giới như Manila, Thượng Hải, Bắc Kinh, Los Angeles lần lượt là 90,2, 89,8, 99,0 và 97,6%.    Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn tới ngành nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Người dân cắt lúa non về cho bò ăn. Trong đợt hạn mặn khốc liệt năm 2020, 5 tỉnh ĐBSCL đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp về hạn hán và xâm mặn. Nguồn ảnh: Vietnamnet.   Mô hình sản xuất nông hộ chậm đổi mới  Hình thức tổ chức sản xuất chính trong nông nghiệp ở Việt Nam là nông hộ, chiếm 90% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Trong những năm qua, kinh tế hộ gia đình đã phát huy hiệu quả, nhưng cũng đã tới ngưỡng kịch trần của xu hướng phát triển theo chiều rộng. Các nông hộ chưa chú trọng đầu tư nâng cao giá trị, tìm kiếm thị trường, chỉ sản xuất cái gì mình có mà không theo tín hiệu của thị trường. Rõ ràng là, kinh tế hộ vẫn và sẽ mãi là hạt nhân của kinh tế nông thôn, nhưng rất cần nâng lên một tầm cao mới, một vị thế mới. Tiếc là, kinh tế hộ gia đình hiện nay, về cơ bản, vẫn là những gì hộ nông dân đã có từ thời sau đổi mới, sau Khoán 10; chưa có một nghiên cứu nào định hình được chân dung kinh tế hộ gia đình trong thời đại công nghiệp 4.0.  Liên kết ngang trong sản xuất kinh doanh giữa nông dân với nông dân (dưới dạng tổ nhóm sản xuất, hợp tác xã) để nâng cao lợi thế chưa được phát huy do chưa thể hiện được tính thiết thực với nông dân, đặc biệt là hợp tác xã, dù mô hình này đã rất thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở các quốc gia được coi là ‘cường quốc’ về nông nghiệp. Các hợp tác xã, đa phần là hợp tác xã kiểu cũ, được khoác cái áo ‘kiểu mới’, được đánh giá là kém hiệu quả trong việc cung cấp đầu vào và lo đầu ra nên trên thực tế không mấy hấp dẫn các hộ nông dân và đóng góp vào phát triển kinh tế nông thôn còn rất hạn chế (Cox&Le, 2014). Các mô hình kinh tế hợp tác còn thiếu đồng bộ trong triển khai luật, chính sách, thiếu vốn và trang thiết bị. Các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân gặp khó khăn trong đàm phán và ký kết hợp đồng với nhiều hộ, rủi ro đòi lại đất trước hạn, ‘bẻ kèo’ hợp đồng, chi phí đầu tư lớn (Thúy An, 2017). Vì vậy, một trong những vấn đề cấp bách là sửa chữa, bổ sung Luật Hợp tác xã 2012, sao cho nông dân thấy hợp tác xã thực sự là của họ, chứ không phải là một tổ chức của nhà nước, ‘của cán bộ’ nhằm quản lý họ, qua đó thổi một luồng sinh khí mới vào sản xuất nông nghiệp.      Một trong những vấn đề cấp bách là sửa chữa, bổ sung Luật Hợp tác xã 2012, sao cho nông dân thấy hợp tác xã thực sự là của họ, chứ không phải là một tổ chức của Nhà nước, ‘của cán bộ’ nhằm quản lý họ, qua đó thổi một luồng sinh khí mới vào sản xuất nông nghiệp.         Đầu tư vào nông nghiệp hạn chế  Mức đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế và dàn trải, chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc dân, nên cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Ví dụ như hệ thống thủy lợi của Việt Nam bị đánh giá là kém hiệu quả, không có hệ thống đo lường chất lượng nước, không có hệ thống điều khiển dòng chảy. Từ đó, năng suất nước thấp (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cũng chưa phát triển, đặc biệt là khâu bảo quản sau thu hoạch và logistics. Các ngành công nghiệp chế biến và chế biến sâu nông sản chưa phát triển, đa phần là quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu (Quyền Đình Hà, 2017). Điều đó dẫn tới chất lượng nông sản khi xuất khẩu thấp, giá trị gia tăng nhỏ. Việc hỗ trợ kết nối hình thành chuỗi liên kết sản xuất – phân phối các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vẫn còn gặp nhiều khó khăn (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Hệ thống kinh doanh nông sản chỉ tập trung vào một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, điều. Dù đã thành lập các “sàn giao dịch nông sản” nhưng hoạt động của các sàn này còn rất hạn chế, chưa thực chất (Nguyễn Thị Minh Hiền, 2016).   Có quá nhiều chính sách để thu hút nguồn lực vào nông nghiệp nhưng lại không phát huy được hiệu quả. Tác động tích cực của nhiều chính sách “cởi trói” trong nông nghiệp và nông thôn dường như đã tới hạn, thậm chí, một số chính sách lại cản trở sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Tín dụng cho phát triển nông nghiệp chưa thực sự đổi mới và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã và hộ nông dân tiếp cận vốn; tình trạng tín dụng đen vẫn tồn tại, làm suy kiệt sức sản xuất và bần cùng hóa không ít hộ nông dân.   Do cơ chế chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp chưa hiệu quả cùng với tình trạng đất đai manh mún nên vẫn chưa nhiều doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông lâm, thủy sản mới chiếm khoảng 1%. Trong đó, có không ít là các doanh nghiệp nhà nước do được ưu tiên tiếp cận vốn, số doanh nghiệp tư nhân chưa nhiều, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng lợi nhuận cao, dễ sinh lời từ đất đai, từ địa tô và các ‘lợi lộc’ khác.   Đời sống kinh tế người nông dân bấp bênh  Các số liệu điều tra gần đây cho thấy, dù bộ mặt nông thôn đã thay đổi nhiều, thu nhập và đời sống của phần lớn nông dân dù đã cải thiện nhưng vẫn còn thấp, tăng thu nhập giai đoạn 2002-2016 của hộ nông dân đạt 5.75%/năm, nghĩa là thu nhập của nông thôn tăng theo thời gian nhưng với tốc độ chậm, trong khi chi tiêu cũng tăng, nên khả năng tích lũy thực tế của hộ nông thôn rất thấp, năm cao nhất chỉ đạt trên 22 triệu đồng, chưa bằng 50% hộ thành thị. Tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn cao gấp 3,7 lần thanh thị, 40% hộ nông thôn không có tích lũy, 84% lao động nông nghiệp không có tiền để dành (Khôi & Thắng, 2019); trong đó, hộ thuần nông cho thu nhập thấp nhất, những hộ thuần làm nông lâm thủy sản có thu nhập/tháng/người bằng 29% thu nhập/tháng/người nông thôn, chỉ nhỉnh hơn nhóm người không làm việc gì! Tỷ lệ hộ nghèo tuy giảm nhanh, nhưng thiếu bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao. Tiềm lực tài chính như vậy, nên người nông dân rất khó tự đầu tư mở rộng sản xuất, tự nâng cao trình độ, hay tự ứng phó với những cú sốc về giá hay tai biến về thời tiết, dịch bệnh.   Chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn chậm, không hoàn thành mục tiêu của Đại hội Đảng XI là giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống 40-41% vào năm 2015. Tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn thấp, chỉ ở mức 2-3% nhưng thời gian lao động thực tế không cao, tình trạng này gần giống như lãn công trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, dù về bản chất thì hoàn toàn không phải như vậy. Việt Nam đang ở trong thời kỳ dân số vàng, nhưng thời kỳ này đang qua đi nhanh, chúng ta hầu như chưa chuẩn bị gì để sẵn sàng đón nhận thời kỳ ‘vàng’ quý giá này cho nông nghiệp, nên lao động nông nghiệp Việt Nam đa số vẫn còn ở trình độ thấp, thể hiện qua con số: có khoảng 70% số lao động chưa qua bất kỳ một khóa đào tạo chuyên môn nào; mới có 4% lao động qua đã qua đào tạo (Tổng cục thống kê, 2019), lao động có trình độ đại học chỉ chiếm khoảng 9%.  Do ít được đào tạo, nên lao động nông nghiệp thiếu kiến thức khoa học, thiếu kiến thức quản trị đồng ruộng, quản trị trang trại; lại thêm hệ thống thông tin thị trường chưa phát triển nên chưa giúp doanh nghiệp và nông dân có quyết định đúng để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao thu nhập cho người nông dân, nên phần lớn nông dân nước ta sản xuất ra sản phẩm hôm nay không biết ngày mai bán cho ai, ở đâu, giá cả thế nào, bao gói ra sao, thấy hàng xóm trồng thì trồng, thấy hàng xóm nuôi thì nuôi, ‘muôn sự tại trời’. Ngoài ra, lao động nông nghiệp vẫn còn dư thừa tương đối ở các vùng sâu vùng xa. Trong khi đó, ở các vùng ven đô, xu hướng đô thị hóa khiến một bộ phận nông dân mất cơ hội sản xuất nông nghiệp trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ cho việc chuyển đổi ngành nghề, tạo sinh kế mới phi nông nghiệp.    Điều đáng lưu ý là, xu hướng di cư ra khỏi khu vực nông thôn đang diễn ra mạnh nhưng số lượng tuyệt đối các hộ sống ở nông thôn vẫn tiếp tục tăng. Nông dân chuyển đổi sinh kế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, nhưng tỷ lệ lao động làm việc phi chính thức rất cao, khoảng 55% vào năm 2016. Tỷ lệ người già phụ thuộc (từ 65 tuổi trở lên) chiếm hơn 10% tổng dân số nông thôn và sẽ tiếp tục tăng cùng với việc hàng triệu lao động từ các khu công nghiệp sẽ quay về nông thôn do tác động của cuộc cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, nhiều khả năng cũng là một gánh nặng không nhỏ cho phát triển nông thôn. □  (Còn tiếp)  Nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ mũi nhọn phục vụ nông nghiệp như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến và chế biến sâu, và các lĩnh vực khoa học của kỷ nguyên số như IoT, Bigdata, AI, Blockchain, Robotics và gần đây là Tính toán lượng tử… ứng dụng vào nông nghiệp còn thiếu nhân lực trình độ cao nên chậm được triển khai; điều kiện vật chất kỹ thuật của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo còn bị tụt hậu, không đồng bộ so với nhu cầu, nhiệm vụ và so với mặt bằng chung của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về nông nghiệp của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới mà chúng ta đang hướng tới, dẫn đến tình trạng đào tạo nhân lực cho khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn chưa gắn lý thuyết với thực hành, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm.  ———————–  Dù phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ thì cũng phải tính đến hiệu quả, tính bền vững và sự phù hợp; tuyệt đối không nên phát triển các phương thức sản xuất nông nghiệp mới nào theo phong trào, ồ ạt, lấy thành tích và để khoe khoang là chính.  —  Tài liệu tham khảo   Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016). Kịch bản biến đổi khí hâu và nước biển dâng tại Việt Nam.  Đặng Kim Khôi & Trần Công Thắng (2019). Bức tranh sinh kế người nông dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập (1990-2018). NXB Nông nghiệp, Hà Nội.  Nguyễn Thị Minh Hiền. (2016). Báo cáo tóm tắt đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu giải pháp phát triển sở giao dịch hàng hóa nông sản ở Việt Nam. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo.   Perkin, D. H., Radelet, S., Lindauer, D. L.,  Block, S. A. (2013). Economic of Development (7th edition). W. W. Norton &Company, New York.  Quyền Đình Hà (2017). Báo cáo tóm tắt đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu đề xuất chính sách và giải pháp khuyến khích chế biến sâu một số nông sản chủ lực của Việt Nam (lúa gạo, cao su, cá tra). Đề tài Nghiên cứu Khoa học công nghệ cấp Bộ, Bộ Nông nghiệp và PTNT.  Tổng cục thống kê (2019). Niên giám thống kê 2019. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.  Tổng cục thống kê (2020). Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2020.   Tùng Đinh (2020). Ngành nông nghiệp chắc chắn xuất khẩu đạt trên 40 tỷ USD Báo Nông nghiệp Việt Nam (Báo Nông nghiệp Việt Nam, ngày 06/10/2020).  World Bank (2010). Vietnam – Economics of adaptation to climate change. Washington, DC: World Bank. Retieved September 23, 2020 from http://documents.worldbank.org/curated/en/2010/01/16441103/vietnam-economics-adaptation-climatechange       Author                Trần Đức Viên        
__label__tiasang NSF và khoa học Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai      Ngày nay Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) là một hình mẫu điển hình cho việc đầu tư vào khoa học cơ bản để nhiều quốc gia khác học hỏi. Nhưng ít ai biết rằng những ngày đầu thành lập cơ quan này trong những năm chiến tranh cũng đem lại những ý nghĩa đáng suy ngẫm, khi họ đứng trước lựa chọn giữa một tầm nhìn lâu dài cho khoa học hay mục tiêu đầy thực dụng.    Kỳ 1: Xác lập vị trí trong bức tranh khoa học phức tạp  Thời kỳ đầu của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF), các nhà lãnh đạo của quỹ mơ về những khoản đầu tư lớn của chính quyền liên bang cho nghiên cứu cơ bản, nhưng họ đã phải cố gắng tìm được cho quỹ mới thành lập này một vị trí trong bức tranh tài trợ khoa học phức tạp ở Mỹ.    Thứ tư ngày 10 tháng 5 năm 1950, từ 5 giờ 15 sáng, một đám đông đã bắt đầu tụ tập ở nhà ga của thành phố Pocatello, bang Idaho. Cái lạnh và việc phải dậy sớm không làm chùn bước đám đông của 700 người, họ tụ tập để được thấy tổng thống. Khi đoàn tàu xình xịch tiến vào, Tổng thống Harry Truman đã đứng sẵn ở toa cuối để vẫy chào đám đông. Chuyến đi Pocatello nằm trong một hành trình quanh miền Bắc nước Mỹ, trong đó ngài tổng thống ghé thăm nhiều thành phố dọc tuyến đường sắt.      Vannevar Bush, giám đốc OSRD trong Chiến tranh Thế giới II và là một trong các kiến trúc sư của NSF. Bức ảnh được ký tặng Hugh Dryden, giám đốc Hội đồng Cố vấn Quốc gia về Hàng không học (National Advisory Committee for Aeronautics).  Mặc dù trong hầu hết thời gian ở Idaho, Truman nói về nông nghiệp địa phương và các vấn đề kinh tế, riêng ở Pocatello, ông lại diễn thuyết trước đám đông về khoa học. Sáng sớm hôm đó, trên tàu đến Pocatello, ông đã ký Đạo luật Quỹ Khoa học Quốc gia 1950 (sau đây gọi tắt là đạo luật NSF). Nó thành lập cơ quan liên bang đầu tiên chuyên hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và giáo dục trên mọi ngành khoa học. Trước những người dân Idaho lạnh cóng, Truman đã thuyết minh tầm quan trọng của việc hỗ trợ nghiên cứu khoa học ở quy mô liên bang.    Quá trình hình thành và những năm đầu hoạt động của NSF là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển của chính sách khoa học Mỹ thời hậu chiến. Vai trò của khoa học trong Chiến tranh Thế giới II đã thuyết phục nhiều thành viên trong chính phủ rằng tài trợ công là cần thiết cho nghiên cứu khoa học. Sau khi thành lập, NSF trở thành một địa điểm quan trọng, nơi diễn ra các cuộc tranh luận của nước Mỹ hậu chiến về chính sách khoa học, tài trợ liên bang cho các cơ sở nghiên cứu dân sự, và tài trợ liên bang cho giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM).     Nguồn gốc từ trong chiến tranh     Tháng 6 năm 1940, để chuẩn bị cho khả năng nước Mỹ tham chiến, Chính phủ Mỹ lập ra Ủy ban Quốc gia về Nghiên cứu Quốc phòng (National Defense Research Committee – NDRC). Nó có vai trò bổ sung cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển hiện có của quân đội, bằng cách tuyển các nhà khoa học dân sự và các phòng thí nghiệm của các công ty. Vannevar Bush, chủ tịch Viện Carnegie ở Washington và là viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, trở thành người đứng đầu NDRC với nhiệm vụ đưa nghiên cứu khoa học Mỹ vào phục vụ cuộc chiến. Tháng 6 năm 1941, NDRC mở rộng thành Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Khoa học (Office of Scientific Research and Development – OSRD). Nếu như NDRC được thành lập bằng một mệnh lệnh hành chính và sử dụng ngân sách khẩn cấp của tổng thống thì OSRD được thiết lập dưới Cơ quan Quản lý Tình huống khẩn cấp (Office of Emergency Management), có ngân sách riêng và có trụ sở an toàn đặt trong Nhà Trắng. OSRD cũng mở rộng hoạt động của NDRC sang lĩnh vực y học và tăng cường năng lực phát triển và thử nghiệm vũ khí.      “Chỉ có chính phủ Mỹ mới có thể tạo ra lực đẩy cho nghiên cứu một cách tức thời. Bằng không, chi tiêu cho nghiên cứu ở các trường đại học và các viện nghiên cứu không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội dành cho nghiên cứu”.      Thông qua Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Khoa học, Bush cung cấp ngân sách lớn chưa từng có cho các nhà khoa học dân sự làm việc tại các trường đại học và phòng thí nghiệm của các công ty, giúp mở rộng và củng cố quan hệ của chính quyền liên bang với các cơ sở nghiên cứu đó. Với cơ chế chính là các hợp đồng nghiên cứu, Bush đảm bảo vai trò lớn hơn của các nhà khoa học so với trong các hợp tác trước đó với quân đội, khi họ hầu như chỉ là các cố vấn giúp định hướng ngân sách liên bang vào những dự án khoa học và công nghệ mà họ đánh giá có nhiều khả năng đem lại ưu thế chiến lược.    Khi chiến tranh kết thúc, OSRD đã chi gần nửa tỷ USD và ký 2300 hợp đồng nghiên cứu và phát triển với 321 công ty khác nhau và 142 tổ chức thuộc các trường đại học và tổ chức phi lợi nhuận. Các hợp đồng ưu tiên rõ rệt miền Đông Bắc công nghiệp hóa và các trung tâm đại học xuất sắc truyền thống. Bốn đối tác được tài trợ nhiều nhất là Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Viện Công nghệ California (Caltech), Đại học Harvard và Đại học Columbia; điều này cho thấy đường lối đỡ đầu mà OSRD thực hiện và giúp củng cố trong thời hậu chiến1.    OSRD điều phối các nghiên cứu dẫn đến việc sử dụng chiến thuật ra-đa sản xuất penicillin và phát triển bom nguyên tử. Tóm tại, nó cách mạng hóa mối quan hệ giữa nền khoa học Mỹ và nhà nước. Bằng việc chứng minh tầm quan trọng của tài trợ liên bang cho nghiên cứu khoa học, OSRD thắt chặt mối quan hệ tài chính giữa trường đại học, công nghiệp, và chính phủ. Thành công của OSRD làm hài lòng các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý, và họ bắt đầu vận động để tài trợ liên bang được tiếp tục sau chiến tranh.      Alan Waterman, giám đốc đầu tiên của NSF.     Những tầm nhìn đối lập hậu chiến     Bush và các nhà khoa học hàng đầu của OSRD không phải những người duy nhất có tầm nhìn ủng hộ tài trợ liên bang cho nghiên cứu khoa học. Hai năm 1942 và 1943, Harley Kilgore, thượng nghị sỹ đảng Dân chủ của bang West Virginia làm việc trong Ủy ban Các vấn đề Quân sự (Military Affairs Committee) của Thượng viện Mỹ, trình hai dự luật kêu gọi thành lập một cơ quan về huy động khoa học và công nghệ. Dù bản thân không phải một nhà khoa học, Kilgore tin rằng nước Mỹ cần tăng cường tài nguyên khoa học để phục vụ quốc phòng. Hai dự luật của ông phác thảo một cơ quan liên bang mới với vai trò cung cấp ngân sách và định hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ, điều phối các nghiên cứu cả của nhà nước lẫn tư nhân, tham gia vào các hoạt động quốc tế, và thúc đẩy đào tạo các nhà khoa học tương lai.      “Chỉ có chính phủ Mỹ mới có thể tạo ra lực đẩy cho nghiên cứu một cách tức thời. Bằng không, chi tiêu cho nghiên cứu ở các trường đại học và các viện nghiên cứu không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội dành cho nghiên cứu”.      Hai dự luật của Kilgore đều dừng lại ở ủy ban, nhưng tầm nhìn của ông về chính sách khoa học hậu chiến khiến Bush giận dữ. Trong một bức thư dài 12 trang gửi vị thượng nghị sỹ, Bush đưa ra các luận điểm phản đối của ông đối với dự luật của Kilgore. Sự chỉ trích lớn nhất nhằm vào nhận thức quá hạn hẹp của dự luật của Kilgore đối với lợi ích của khoa học và công nghệ cho xã hội. Ông cho rằng dự luật của Kilgore thúc đẩy khoa học nhân danh sự chuẩn bị về mặt quân sự, với cái giá là mục đích chính của khoa học: “để làm tăng tri thức và sự hiểu biết của con người… [và] mở rộng hiểu biết về môi trường nơi chúng ta sinh sống, và nhận thức của chúng ta về hệ thống rộng lớn và phức tạp của tự nhiên bao quanh ta2.”    Phê phán về dự luật của Kilgore giúp Bush định hình tầm nhìn của ông về chính sách khoa học hậu chiến. Ông trình bày các ý tưởng của mình trong một báo cáo vào tháng 7 năm 1945 với tiêu đề Khoa học – Ranh giới vô biên (Science – The endless frontier), để trả lời yêu cầu của Tổng thống Franklin Roosevelt về một kế hoạch để kéo dài thành công của OSRD sang thời bình. Đề xuất quan trọng nhất của ông là việc thành lập một quỹ nghiên cứu quốc gia.    Trong bản báo cáo, Bush giải thích một cách thuyết phục lý do chính phủ liên bang cần tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản trong thời hậu chiến. Cuộc chiến đã tàn phá các trung tâm tri thức ở châu Âu, vốn vô cùng quan trọng trong việc đào tạo các nhà khoa học thế hệ Bush. “Chúng ta không thể tiếp tục coi châu Âu điêu tàn là một nguồn tri thức cơ bản,” ông viết. “Trong quá khứ, chúng ta cống hiến nhiều công sức nhất vào việc áp dụng những tri thức được khám phá ở nước ngoài. Trong tương lai, chúng ta cần ngày càng quan tâm đến việc tự khám phá những tri thức này, đặc biệt bởi những ứng dụng khoa học trong tương lai sẽ phụ thuộc hơn bao giờ hết vào những tri thức cơ bản đó3.” Theo Bush, để đạt được mục tiêu đó, các trường đại học và các nhà khoa học Mỹ cần thêm nhiều tài nguyên, và những tài nguyên đó chỉ có thể đến từ chính phủ liên bang. “Nghiên cứu ở Mỹ cần lực đẩy mới. Chỉ có chính phủ mới có thể tạo ra lực đẩy đó một cách tức thời. Bằng không, chi tiêu cho nghiên cứu ở các trường đại học và các viện nghiên cứu không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội dành cho nghiên cứu4.”    Không hỏi ý kiến Kilgore, Bush sắp xếp để Warren Magnuson, thượng nghị sỹ đảng Dân chủ của bang Washington, trình một dự luật dựa trên các ý tưởng trong Khoa học – Ranh giới vô biên. Thứ năm ngày 19 tháng 7 năm 1945, Magnuson trình dự luật S. 1285, do OSRD soạn thảo dưới sự hướng dẫn của Bush. Kilgore được cho là cảm thấy bị “đâm sau lưng” bởi nước đi của Bush phá hỏng công sức của ông. Kilgore trình một dự luật mới, S. 1297, ngay thứ hai tuần sau đó5. Sân khấu đã được dựng, bắt đầu một cuộc tranh luận luật pháp kéo dài gần năm năm. Các bất đồng chính xoay quanh các quyền liên quan đến bằng sáng chế của nghiên cứu do chính phủ tài trợ, tài trợ cho khoa học xã hội, tính đa dạng về mặt địa lý của phân bổ tài trợ, và sự kiểm soát chính trị đối với hoạt động của quỹ6.      Các nhà lập pháp Mỹ ủng hộ NSF vì lo sợ thua kém Liên Xô, đặc biệt là sau khi Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik 1.  Ảnh: Bản sao của Sputnik 1 (phải) và một con tem Liên Xô năm 1957 (trái).  Đạo luật Quỹ Khoa học Quốc gia được Truman ký năm 1957 thể hiện một thỏa hiệp giữa hai phe. Nó kêu gọi thành lập một tổ chức mới với mục đích phát triển một chính sách quốc gia để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản và giáo dục trong khoa học tự nhiên. Cơ quan này có ba nhóm chức năng chính: tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản, tài trợ giáo dục khoa học, đánh giá và trao đổi nghiên cứu khoa học và thông tin khoa học. Đứng đầu NSF sẽ là một giám đốc do tổng thống bổ nhiệm, vị này sẽ chia sẻ việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định với Ban Khoa học Quốc gia (National Science Board), một cơ quan tư vấn mới, gồm 24 đại biểu từ cộng đồng khoa học.     Có cần một chính sách quốc gia cho khoa học?     NSF ra đời trong một bối cảnh phức tạp về nghiên cứu và phát triển công ở Mỹ, vốn lệch hẳn về phía các nghiên cứu tập trung vào an ninh quốc gia. Tại thời điểm NSF được thành lập, Bộ Quốc phòng và Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (Atomic Energy Commission – AEC) chiếm 90% trong ngân sách liên bang 1 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển năm 1949–1950. Mặc dù Bush hy vọng NSF trở thành cơ quan trung tâm trong chính phủ liên bang về nghiên cứu y học và quân sự, những cơ quan khác vẫn tiếp tục tham gia. Các đơn vị quân đội tiếp tục các chương trình nghiên cứu cơ bản riêng của họ; AEC và Cơ quan Nghiên cứu Hải quân (Office of Naval Research) tiếp tục tài trợ cho khoa học cơ bản liên quan đến nghiên cứu hạt nhân và nhu cầu vận hành của hải quân Mỹ; Viện Y tế Quốc gia (National Institute of Health) trở thành nhà bảo trợ chính cho nghiên cứu y học. Sự cạnh tranh đó, cùng với sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên, khiến cho NSF non trẻ chỉ nhận được một ngân sách ban đầu ít ỏi. Quốc hội Mỹ chỉ duyệt 225000 USD (tương đương 2,4 triệu ngày nay) cho NSF trong năm tài chính 1951.    Người được giao việc tuyển dụng và xây dựng bộ máy hoạt động của NSF với ngân sách eo hẹp đó là Alan Waterman, một nhà quản lý khoa học kinh nghiệm, từng làm việc cho Bush ở NDRC và từng là giám đốc khoa học đầu tiên của Cơ quan Nghiên cứu Hải quân sau khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc. Mái tóc ngắn bạc trắng, mặt vuông vức và dáng thể thao rắn chắc, Waterman 58 tuổi khi được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của NSF. Trong 12 năm – nhiệm kỳ giám đốc dài nhất trong lịch sử NSF cho đến nay, Waterman cẩn thận dẫn dắt sự phát triển của quỹ, đưa ra những quyết định góp phần định hình không chỉ sự phát triển của quỹ mà cả bức tranh tài trợ liên bang cho nghiên cứu dân sự.    Đạo luật NSF đặt ra chính sách khoa học và vai trò đánh giá [các nghiên cứu khoa học] của quỹ mới ra đời. Waterman đã thận trọng để không ôm đồm quá nhiều, quá vội vàng. Trong vài năm đầu của NSF, Waterman phối hợp chặt chẽ với Cục Ngân sách (Bureau of the Budget) để xác định phạm vi và tổ chức của quỹ. Cục Ngân sách, tiền thân của Cơ quan Quản lý và Ngân sách (Office of Management and Budget), được giao nhiệm vụ thực hiện các chiến lược của tổng thống thông qua việc đưa ra các chỉ thị về tổ chức cho các cơ quan chính phủ, và xác định thứ tự ưu tiên cho ngân sách. Các thành viên nhiều ảnh hưởng của cục quan tâm đến sự nở rộ của các chương trình nghiên cứu cơ bản ở nhiều cơ quan khác nhau và ở Bộ Quốc phòng. Họ coi NSF như một cơ hội để kiểm soát các chương trình liên bang về nghiên cứu và phát triển, và loại bỏ khả năng có các nghiên cứu trùng lặp bằng cách tập trung việc kiểm soát và đánh giá vào một cơ quan duy nhất.    Tuy nhiên, Waterman và Ban Khoa học Quốc gia nhận thức được rằng cơ quan non trẻ này sẽ gặp khó khăn lớn trong vận hành nếu Cục Ngân sách thành công trong việc dồn cho nó gánh vác một nhiệm vụ khổng lồ là điều phối và đánh giá toàn bộ các chương trình quốc gia về nghiên cứu và phát triển. Điều đó sẽ khiến NSF phải yêu cầu thông tin chi tiết về thứ tự ưu tiên tài trợ và năng lực nghiên cứu của mọi chương trình liên bang hiện có về khoa học. Họ lập luận rằng quỹ không có quyền hạn pháp lý để đánh giá và chỉ đạo các cơ quan ngang hàng, và những trách nhiệm đó thuộc thẩm quyền trực tiếp của Cục Ngân sách. Waterman cũng không đồng tình với Cục Ngân sách về mức độ kiểm soát của NSF đối với phương hướng của chính sách khoa học Mỹ. “Những người khăng khăng đòi hỏi chính sách phải là sản phẩm hoàn thiện dưới dạng một tuyên ngôn hay sắc lệnh không hiểu bản chất của chính sách trong lĩnh vực khoa học,” ông viết [sau này] trong một bài nhìn lại cho tạp chí Science. “Để thực hiện được, chính sách cần được phát triển trên cơ sở kinh nghiệm; hơn nữa, nó cần xét đến các nguyên lý nền tảng thiết yếu cho hiệu quả nghiên cứu trong khoa học8.”    Dưới sự lãnh đạo của Waterman, sự vận hành và việc xây dựng chính sách của quỹ được tổ chức xung quanh niềm tin rằng các nhà khoa học, chứ không phải các cơ quan chính phủ hay các nhà quản lý, là những người biết rõ nhất cách tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học. Do đó, quy trình đánh giá đề cương và duyệt tài trợ của quỹ dựa vào chuyên môn và tư vấn của các nhà khoa học, được thu thập qua các hội đồng trực tiếp hoặc phản biện gửi qua đường bưu điện. Cách xây dựng chính sách của NSF cũng dựa vào thông tin từ cộng đồng khoa học và các nghiên cứu chính sách cũng như thăm dò thống kê kỹ lưỡng nhằm đưa ra những khuyến nghị chung. Một thí dụ quan trọng về cách tiếp cận này trong thời kỳ đầu là quyết định của quỹ về việc hỗ trợ phát triển và vận hành các cơ sở nghiên cứu quốc gia.□    (Còn tiếp)     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn:  https://physicstoday.scitation.org/doi/pdf/10.1063/PT.3.4473  —–  Tài liệu tham khảo:   1. . Owens, Bus. Hist. Rev. 68, 515 (1994), p. 565.  2. uoted in M. Lomask, A Minor Miracle: An Informal History of the National Science Foundation, NSF (1976), p. 40.  3. . Bush, Science—The Endless Frontier: A Report to the President on a Program for Postwar Scientific Research, NSF (1945; reprint, 1990), p. 22.  4. ef. 3, p. 22.  5. ef. 2, p. 44.  6. . M. England, A Patron for Pure Science: The National Science Foundation’s Formative Years, 1945–57, NSF (1982); M. Solovey, Shaky Foundations: The Politics-Patronage-Social Science Nexus in Cold War America, Rutgers U. Press (2013).  7. . Waterman, Science 131, 1341 (1960), p. 1342.    Author                Quản trị        
__label__tiasang NSF và khoa học Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai (Kỳ 2: Ảnh hưởng ở tầm liên bang)      Những năm đầu hoạt động của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF) là một giai đoạn quan trọng với sự phát triển của chính sách khoa học Mỹ thời hậu chiến. Sau khi thuyết phục nhiều thành viên trong chính phủ rằng tài trợ công cần thiết cho nghiên cứu khoa học, NSF tiếp tục trở thành nơi diễn ra các cuộc tranh luận của nước Mỹ hậu chiến về chính sách khoa học, tài trợ liên bang cho các cơ sở nghiên cứu dân sự, và tài trợ liên bang cho giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM).      Các thành viên hội đồng KH quốc gia Mỹ vào tháng 7/1951. Vào tháng 3 năm đó, Alan T. Waterman được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của NSF. Tháng 1 năm 1952, NSF cấp ngân sách cho 28 khoản tài trợ đầu tiên, trong đó đơn vị đầu tiên được nhận là Viện Nghiên cứu ung thư. Tổng số khoản tài trợ ngay trong năm đầu tiên là 97, trong đó có nhà y sinh học Max Delbruck người được nhận giải Nobel vào năm 1969. Ảnh: NSF.  Những trung tâm nghiên cứu mới     Dù ngân sách của NSF vẫn ở mức khiêm tốn trong những năm đầu, các quyết định chính sách của quỹ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập nghiên cứu cơ bản do dân sự dẫn dắt trong bối cảnh nghiên cứu và phát triển quân sự áp đảo. Chi phí tăng cao để tiến hành nghiên cứu khoa học tối tân khiến nhiều nhà khoa học không tiếp cận được trang thiết bị cần thiết. Sau Chiến tranh Thế giới II, các cơ quan quốc phòng và các công ty đầu tư mạnh vào các cơ sở nghiên cứu, nhưng ở các phòng thí nghiệm đó chủ yếu là các nhà khoa học quân đội hoặc được công nghiệp tài trợ, làm việc vì những mục tiêu được nhiệm vụ đặt ra. Khi NSF bắt đầu nhận được những đề xuất xin tài trợ xây dựng những cơ sở nghiên cứu vật lý hạt nhân, thiên văn học và điện toán, lãnh đạo quỹ nhận ra một cơ hội không chỉ để hỗ trợ những dự án nghiên cứu riêng lẻ, mà còn để khuyến khích việc xây dựng và vận hành một cách toàn bộ những cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản do dân sự dẫn dắt.    Mặc dù nhiệm vụ ban đầu của quỹ không đề cập cụ thể đến các cơ sở nghiên cứu, tại cuộc họp vào tháng 5 năm 1955, Ban Khoa học Quốc gia chấp thuận một chính sách chính thức về đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu. Nó chỉ đạo NSF hỗ trợ các cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản lớn “khi nhu cầu là rõ ràng và thuộc vào lợi ích quốc gia, khi giá trị được xác nhận bởi một hội đồng chuyên gia, và khi chưa có ngân sách từ nguồn khác1.” Chính sách về cơ sở nghiên cứu tạo ra một mục ngân sách mới, “ngân sách đặc biệt”, để đảm bảo nguồn ngân sách cho các dự án lớn được tách khỏi nguồn tài trợ cho các nhà khoa học riêng lẻ và các dự án nhỏ. Khi trình chính sách mới lên Nhà Trắng, Waterman giải thích việc mở rộng tài trợ của NSF cho các cơ sở nghiên cứu cơ bản dân sự bằng cách chỉ ra việc nhiều cơ quan quốc phòng cũng cấp ngân sách xây dựng các cơ sở phục vụ nghiên cứu theo nhiệm vụ.    NSF hy vọng các cơ sở được tài trợ sẽ vừa cải thiện chất lượng nghiên cứu cơ bản trong những lĩnh vực phụ thuộc vào trang thiết bị chuyên môn đắt tiền, vừa giải quyết sự mất cân bằng địa lý trong phân phối trang thiết bị. Thời đó, các cơ sở nghiên cứu hàng đầu và trang thiết bị tốt nhất của Mỹ có xu hướng tập trung xung quanh các trường đại học hàng đầu ở bờ Đông và bờ Tây, và NSF nhận thấy các nhà khoa học ở những nơi khác trong nước Mỹ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận các trang thiết bị như kính thiên văn lớn và máy gia tốc hạt.      Tài trợ từ sớm của NSF cho các cơ sở nghiên cứu thiên văn cũng minh họa cho việc những ưu tiên của quỹ được định hình bởi nhu cầu của cộng đồng khoa học, nó cũng là một thí dụ đầu tiên về kiểu chính sách khoa học “từ dưới lên”.      Đề xuất đầu tiên của NSF về cấp ngân sách xây dựng được trình Quốc hội Mỹ cho năm tài chính 1956. Trong năm đó, quỹ cấp 125.000 USD tài trợ cho các cơ sở nghiên cứu sinh học và y học, và 397.500 USD cho các cơ sở toán học, vật lý và các ngành kỹ thuật2. Tài trợ cho các cơ sở chỉ chiếm 3% tổng cam kết tài chính của quỹ cho năm tài chính 1956, nhưng chúng hỗ trợ một loạt các dự án: những giai đoạn đầu tiên trong việc xây dựng một đài thiên văn quang học quốc gia trên đỉnh núi Kitt thuộc bang Arizona và một đài thiên văn sóng vô tuyến quốc gia ở Greenbank, bang Tây Virginia; một lò phản ứng hạt nhân ở MIT; một số trạm thực địa cho nghiên cứu sinh học; và các trung tâm điện toán tại Caltech, MIT, Đại học Bang Oregon, Đại học Washington, và Đại học Wisconsin3.    Đặc biệt, đầu tư từ rất sớm của NSF vào thiên văn học cho thấy vai trò quan trọng của tài trợ của quỹ cho nghiên cứu khoa học cơ bản; nó là một đối trọng cho các nguồn tài trợ của quân đội và tư nhân. Trái với các nghiên cứu theo nhiệm vụ, ở đó việc tìm hiểu khoa học được hướng đến những mục đích cụ thể, tài trợ của NSF cho các nhà thiên văn học cơ hội sử dụng các đài thiên văn bất kể họ đến từ đơn vị nào, cũng như cơ hội theo đuổi những nghiên cứu do tính tò mò thúc đẩy. (Xem bài “The contentious role of a national observatory” của tác giả Patrick McCray đăng trên Physics Today, số tháng 10 năm 2003, trang 55.) Tài trợ từ sớm của NSF cho các cơ sở nghiên cứu thiên văn cũng minh họa cho việc những ưu tiên của quỹ được định hình bởi nhu cầu của cộng đồng khoa học, nó cũng là một thí dụ đầu tiên về kiểu chính sách khoa học “từ dưới lên” mà giám đốc đầu tiên của Quỹ, Waterman bảo vệ.     Ảnh hưởng chính sách liên bang về giáo dục STEM     Tài trợ cho giáo dục STEM ở Mỹ cũng trở thành một khu vực đầu tư tăng trưởng nhanh của NSF trong thập kỷ đầu tiên. Trước năm 1958, chính phủ liên bang hầu như để cho từng bang tự cấp ngân sách và tài trợ cho giáo dục. Chênh lệch lớn trong ngân sách cho các trường công dẫn đến chênh lệch lớn trong chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các thị trấn, giữa các thành phố, và giữa các bang.    Mặc dù Chính phủ Mỹ đã thông qua nhiều biện pháp để cấp ngân sách cho các trường nông nghiệp và trường nghề trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đầu tư liên bang cho giáo dục vẫn là một vấn đề chính trị gây tranh cãi. Tuy nhiên, bối cảnh chính trị bắt đầu thay đổi khi những lo ngại về nhân lực làm khoa học bắt đầu bào mòn sự kháng cự lâu đời đối với ý tưởng ngân sách liên bang cho giáo dục. Sau Chiến tranh Thế giới II, các nhà khoa học bắt đầu liên hệ trực tiếp tình trạng giáo dục Mỹ với các vấn đề an ninh quốc gia. Trong Báo cáo Khoa học – Ranh giới vô biên vào tháng 7/1945, Bush cảnh báo rằng nước Mỹ sau chiến tranh có thể thiếu trầm trọng các nhà khoa học. Ông cũng bày tỏ sự lo ngại sâu sắc về tình trạng giáo dục toán và khoa học ở Mỹ khi nói rằng trường học đã thất bại trong việc cung cấp đủ các nhà khoa học giỏi mà nước Mỹ cần để củng cố quốc phòng. Bóng ma ngày càng lớn của sự cạnh tranh của Liên Xô trong những năm 1950 càng làm tăng tính khẩn cấp của cảnh báo của ông.      Kính viễn vọng vô tuyến hình cầu 300 feet tại Đài quan sát thiên văn vô tuyến quốc gia ở Green Bank, W.Va. Hoàn thành vào tháng 9 năm 1962, đây là kính viễn vọng vô tuyến di động lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Ảnh: NSF  Đạo luật NSF cung cấp một nền tảng và quyền hạn rộng để tài trợ giáo dục khoa học. Ngay sau khi thành lập, quỹ khởi động một chương trình tài trợ một loạt các hoạt động giáo dục khoa học, bắt đầu với Chương trình Học bổng Nghiên cứu Sau đại học (Graduate Research Fellowship Program) năm 1952. Mặc dù phần lớn các chương trình giáo dục đầu tiên của NSF tập trung vào bậc đại học, nhu cầu cải thiện lớn ở bậc trung học ngày càng trở nên rõ ràng. Lúc đầu, các quan chức NSF do dự, không muốn bước vào lĩnh vực giáo dục phổ thông, vốn dễ gây tranh cãi chính trị hơn. Nhưng họ nhận thức được nhu cầu trợ giúp các giáo viên khoa học, toán và kỹ thuật, vì những gì họ được đào tạo đã trở nên lỗi thời sau những phát triển nhanh chóng của khoa học trong chiến tranh. Một nghiên cứu được NSF tài trợ ở thời kỳ đó cho thấy trung bình, một giáo viên toán ở trường trung học công từng học toán ở đại học, nhưng không phải trong chuyên ngành toán4.    Củng cố các môn học STEM ở trung học bằng cách cải thiện đào tạo giáo viên trở thành một trọng tâm của quỹ. Năm 1954, các nhà khoa học, các nhà toán học, và các nhân viên NSF bắt đầu tổ chức những chương trình đào tạo cho giáo viên trung học và đại học, ở các trường đại học khắp nước Mỹ. Những chương trình này đặt mục tiêu cập nhật kiến thức của giáo viên về môn học với những tiến bộ khoa học mới nhất, đào tạo nâng cao giáo viên trong lĩnh vực môn học của họ, và giúp giáo viên làm quen với những chương trình học STEM mới nhất, trong đó có một số được NSF tài trợ phát triển5.    Nỗi sợ về sự cạnh tranh của Liên Xô, một nguyên nhân chính khiến các chương trình giáo dục trung học của NSF được Quốc hội Mỹ ủng hộ, vọt lên đỉnh vào ngày 4 tháng 10 năm 1957. Việc Liên Xô phóng thành công Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên bay quanh Trái đất, làm chấn động toàn nước Mỹ. Đợt phóng tiếp theo, ngày 3 tháng 11, với vệ tinh Sputnik 2 mang theo chó Laika, khiến Quốc hội Mỹ ở trong tình trạng báo động và yêu cầu các nhà khoa học, trong đó có Bush, điều trần công khai vào cuối tháng đó. Các nhà lập pháp muốn biết vì sao những tiến bộ Liên Xô có vẻ làm lu mờ tiềm lực của Mỹ, và có thể làm gì để Mỹ lấy lại vị trí số một thế giới. Trả lời những câu hỏi đó, Bush nhắc lại một trong những điểm then chốt trong Khoa học – Ranh giới vô biên: năng lực cạnh tranh về khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ phụ thuộc vào một hệ thống giáo dục và đào tạo khoa học mạnh.      Năm 1954, các nhà khoa học, các nhà toán học, và các nhân viên NSF bắt đầu tổ chức những chương trình đào tạo cho giáo viên trung học và đại học, ở các trường đại học khắp nước Mỹ. Những chương trình này đặt mục tiêu cập nhật kiến thức của giáo viên về môn học với những tiến bộ khoa học mới nhất, đào tạo nâng cao giáo viên trong lĩnh vực môn học của họ, và giúp giáo viên làm quen với những chương trình học STEM mới nhất, trong đó có một số được NSF tài trợ phát triển.      Chương trình Sputnik trở thành một biểu tượng mạnh về thiệt hại mà sự thiếu đầu tư vào giáo dục khoa học và nghiên cứu có thể gây ra cho an ninh quốc gia và uy tín của nước Mỹ. Quốc hội Mỹ trả lời bằng việc tăng tài trợ liên bang cho khoa học ở mọi lĩnh vực. Năm tài chính 1959, NSF nhận được ngân sách 132.940.000 đô la Mỹ, gần gấp ba lần của năm tài chính 1958. Chương trình giáo dục của NSF nhận được thêm nhiều nhất từ khoản tăng ngân sách hậu-Sputnik: 62.070.000 USD cho năm tài chính 1959, nhiều hơn 12 triệu USD so với ngân sách năm trước của cả quỹ6.    Mặc dù chương trình Sputnik thúc đẩy Quốc hội Mỹ cung cấp nguồn tài chính rất cần thiết cho các chương trình giáo dục hiện có của quỹ, nó cũng tạo thêm áp lực chính trị thúc giục chính quyền của Tổng thống Dwight Eisenhower lập ra một chính sách khoa học mạnh và dài hạn. Để soạn thảo nó, Nhà Trắng cần sự giúp đỡ của NSF, cơ quan liên bang tiên phong trong lĩnh vực và có kinh nghiệm đã được kiểm chứng trong xây dựng chương trình giáo dục khoa học. Ngày 27 tháng 1 năm 1958, Nhà Trắng công bố bản kế hoạch củng cố giáo dục Mỹ. Phát biểu kèm theo của Eisenhower giải thích rằng khi xây dựng chương trình này, chính quyền của ông đã tham khảo ban giám đốc của NSF và Phòng Giáo dục (Office of Education). Ông cũng ca ngợi những nỗ lực cải thiện giáo dục khoa học của NSF, gọi chúng là “một trong những cống hiến quan trọng nhất đang được tiến hành để cải thiện giáo dục khoa học ở Mỹ7.”    Các hoạt động giáo dục STEM của NSF được lấy làm hình mẫu cho những phần về STEM trong Đạo luật Giáo dục Quốc phòng 1958 (National Defense Education Act – NDEA) được Eisenhower ký ngày 2 tháng 9 năm 1958. Nó chuyển 1 tỷ USD cho Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi để dùng cho một chương trình cho vay theo nhu cầu và học bổng đại học, cho việc mở rộng các phòng thí nghiệm khoa học của trường học và giảng dạy ngoại ngữ, và cho việc thành lập các chương trình cải thiện giáo dục khoa học và toán của các bang. NDEA là thí dụ đầu tiên về một luật liên bang hoàn chỉnh về giáo dục, nó là nền móng cho một chiến lược liên bang với trọng tâm củng cố nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ, bắt đầu từ sau chiến tranh và tiếp tục đến tận ngày nay.     Nền tảng cho chính sách khoa học và giáo dục trong tương lai     Mặc dù NSF không lập tức trở thành đối trọng của nghiên cứu quân sự và nghiên cứu ứng dụng như nhiều người mong đợi, những đầu tư chiến lược trong những năm đầu của quỹ vào những lĩnh vực như giáo dục khoa học hay cơ sở hạ tầng nghiên cứu giúp cho ngân sách hạn chế của quỹ tạo được tác động vượt tầm. Những hạn chế ngân sách ban đầu cũng giúp lãnh đạo quỹ nhận thấy mối liên hệ không chắc chắn giữa nghiên cứu cơ bản và an ninh quốc gia. Vị trí của NSF trong bức tranh tài trợ liên bang liên tục cần được giải thích và tái khẳng định thông qua lăng kính của một bối cảnh địa chính trị và tài chính liên tục biến đổi.    Trong 12 năm đầu của quỹ, Waterman vạch ra một con đường phát triển vững chắc và được tính toán kỹ lưỡng. Trước những ý định bắt NSF gánh vác những trách nhiệm nặng nề, Waterman đã giữ được bản chất của quỹ với sứ mệnh cốt lõi: hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản và giáo dục. Dù thường bị các quan chức chính phủ cũng như nhiều nhà khoa học đồng nghiệp phê phán vì lối tiếp cận thận trọng, nhiều nhà quan sát đánh giá rằng NSF tồn tại được qua những năm có ngân sách eo hẹp là nhờ kế hoạch và sự thận trọng của ông. Ông đã chuẩn bị cho sự mở rộng nhanh chóng của NSF vào cuối thập kỷ.      Cũng như khoa học, các chương trình và tham vọng của NSF luôn tiến hóa và thay đổi để đáp ứng những tranh luận chính sách, dư luận, và nhu cầu của các nhà khoa học dân sự của nước Mỹ.      Sự lãnh đạo của Waterman cũng được Eisenhower kính nể. Trong một bức thư gửi Waterman vào ngày 6 tháng 1 năm 1961, chỉ hai tuần trước khi rời Phòng Bầu dục, Eisenhower ca ngợi công trình của quỹ trong nhiệm kỳ của mình. Eisenhower thổ lộ mong muốn “tri ân” Waterman và các nhân viên NSF vì công việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, và tự hào về việc ngân sách cho NSF đã tăng mạnh trong nhiệm kỳ của mình, từ 4,7 triệu USD năm 1953 lên 154,7 triệu USD năm 1960. Ông nhận xét rằng NSF đóng vai trò một “thước đo xuất sắc” cho phản ứng của nước Mỹ trước nhu cầu cấp bách “tăng cường nỗ lực khoa học8.”    Sáu mươi năm sau khi Eisenhower mãn nhiệm, NSF còn đóng vai trò thước đo cho thái độ của nước Mỹ đối với khoa học và những lo lắng về tài trợ của chính phủ cho khoa học cơ bản. Nhiều cuộc tranh luận có từ thời thành lập quỹ – như phạm vi tài trợ cho nghiên cứu ứng dụng, mức độ tài trợ thích hợp cho khoa học xã hội, phân phối địa lý của tài trợ nghiên cứu, v.v. – tiếp tục góp phần định hình chính sách của quỹ trong suốt 70 năm tồn tại. Những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội đưa đến những lo ngại mới. Những năm gần đây, sự quan tâm đến cơ hội tiếp cận và bình đẳng đã thúc đẩy nhiều sáng kiến khác nhau của quỹ tập trung khuyến khích sự tham gia của phụ nữ và các nhóm thiểu số vào nghiên cứu và làm việc trong STEM. Những căng thẳng địa chính trị mới khiến cho những thách thức về sự cân bằng giữa an ninh quốc gia và sự hợp tác, cởi mở trong khoa học lại trở nên cấp thiết. Cũng như khoa học, các chương trình và tham vọng của NSF luôn tiến hóa và thay đổi để đáp ứng những tranh luận chính sách, dư luận, và nhu cầu của các nhà khoa học dân sự của nước Mỹ.□     Nguyễn Hoàng Thạch dịch  Nguồn: https://physicstoday.scitation.org/doi/pdf/10.1063/PT.3.4473  ————–  Tác giả: Emily Gibson là nhà nghiên cứu lịch sử khoa học công nghệ và nhà phân tích chính sách khoa học, làm việc tại NSF ở Alexandria, bang Virginia. Bà đang viết một cuốn sách về lịch sử của Quỹ.  1 Ref. 6, England, p. 282.  2. NSF, National Science Foundation 6th Annual Report, 1956 (1956), p. 185.  3. Ref. 11, p. 56.  4. NSF, Inquiry into Satellite and Missile Programs, comments submitted to the US Senate Committee on Armed Services, Preparedness Investigating Subcommittee, 85th Congress, 21 February 1958, part 2, p. 2199.  5. H. Krieghbaum, H. Rawson, An Investment in Knowledge: The First Dozen Years of the National Science Foundation’s Summer Institutes Programs to Improve Secondary School Science and Mathematics Teaching, 1954–1965, New York U. Press (1969), p. 8.  6. Ref. 9, p. 1344.  7. Public Papers of the Presidents of the United States: Dwight D. Eisenhower, 1958, Office of the Federal Register, National Archives and Records Administration (1960), p. 128.  8. D. Eisenhower to A. Waterman (6 January 1961), “Correspondence” folder, box 19, Alan Tower Waterman Papers, Manuscript Division, Library of Congress.    Author                Emily Gibson        
__label__tiasang Nửa thế kỷ chính sách vì doanh nghiệp      Chính sách phát triển khoa học và công nghệ theo hướng ứng dụng nghiên cứu phục vụ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở Hàn Quốc được thể hiện rõ nét qua quá trình hình thành những nền tảng cơ bản, như công viên khoa học và những quỹ phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ    Chủ trương phát triển khoa học và công nghệ theo hướng phục vụ các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp được Chính phủ Hàn Quốc thúc đẩy từ cách đây gần nửa thế kỷ, với cái mốc đầu tiên là việc thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) năm 1966. Sự ra đời của Viện KIST được bắt đầu bằng cuộc khảo sát rất chi tiết về các lĩnh vực công nghiệp của Hàn Quốc. Một nhóm 80 người gồm các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia cơ khí, bao gồm người Hàn Quốc và nước ngoài, đã tiến hành điều tra, phân tích kỹ lưỡng trên 600 nhà máy công nghiệp, qua đó giúp Viện KIST hiểu rõ các vấn đề mà các ngành công nghiệp đang gặp phải, cũng như những tiến trình cần thiết để thúc đẩy những ngành này phát triển hơn nữa.  Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Việc thúc đẩy ứng dụng phát triển khoa học công nghệ vào các doanh nghiệp ở Hàn Quốc đòi hỏi những nỗ lực tập trung cao hơn nữa, nhằm tạo ra những môi trường thật sự thuận lợi cho các doanh nghiệp ứng dụng những kết quả nghiên cứu, đó là các khu công nghệ cao, và quy mô rộng hơn là các công viên khoa học.  Sự phát triển của Khu đô thị Khoa học Daedeok   Ý tưởng về công viên khoa học ở Hàn Quốc là một khu vực tập trung các trường đại học và các ngành công nghiệp, nơi các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu dễ dàng gặp gỡ và kết nối. Nhưng từ ý tưởng tới hiện thực hóa là cả một quá trình lâu dài.         Trong chuyến công tác tại Hàn Quốc vừa qua, đoàn công tác  của Bộ Khoa học và Công nghệ, dẫn đầu là Bộ trưởng Nguyễn Quân, đã đạt  được những thỏa thuận quan trọng trong hợp tác phát triển khoa học và  công nghệ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó định hướng tập  trung thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển các ngành công  nghiệp được thể hiện khá rõ qua danh sách các biên bản ghi nhớ hợp tác  (MOU):              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ Hàn Quốc, ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện KIST ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hội nhập Quốc tế và Viện Máy và Vật liệu Hàn Quốc (KIMM) ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Viện Đo lường Việt Nam và Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học Hàn Quốc ngày 30/10/2012              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan Xúc tiến Công nghệ Thông tin Hàn Quốc ngày 1/11/2012        Năm 1973, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng kế hoạch cho một tổ hợp với tên gọi Khu đô thị Khoa học và Trường đại học Daedeok, và ngay từ năm 1974 người ta đã bắt tay vào khởi công xây dựng hạ tầng cho nhiều viện nghiên cứu. Trong suốt những năm tiếp theo của thập kỷ 70 và 80 là thời kỳ tổ chức phát triển các viện nghiên cứu của Nhà nước tại nơi đây, với những viện hàng đầu như Viện Nghiên cứu Chuẩn Hàn Quốc và Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Hàn Quốc. Để thu hút nhân tài, người ta tiến hành những chính sách ưu đãi hấp dẫn, ví dụ như cấp nhà ở cho các nhà khoa học ở nước ngoài được mời về làm việc.  Những nỗ lực quy tụ chất xám của các nhà nghiên cứu này đồng thời cũng giúp tập hợp được các dự án nghiên cứu, theo lời ông Chan Jong Park, Giám đốc Trung tâm Thương mại hóa Công nghệ – Quỹ Innopolis. Đây là cơ sở để xúc tiến các hoạt động chuyển giao công nghệ. Sau khi đã tập hợp được một số viện nghiên cứu hoạt động ổn định nhất định, Hàn Quốc mới bắt đầu tìm cách thúc đẩy việc quy tụ các doanh nghiệp đầu tư.   Nhưng việc triển khai ứng dụng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu không diễn ra một cách hoàn toàn dễ dàng, quan hệ hợp tác giữa các ngành công nghiệp với các cơ quan nghiên cứu còn rời rạc, hoàn toàn không có các công ty đầu tư nước ngoài hay các trung tâm nghiên cứu của nước ngoài, và thiếu một hệ thống hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp, đồng thời thiếu một nhóm phụ trách thúc đẩy triển khai các chiến lược vạch ra.   Nguyên nhân của những vấn đề trên là Hàn Quốc còn thiếu những quy định pháp lý phù hợp làm nền tảng cho sự phát triển của Khu đô thị Khoa học Daedeok. Đó là lý do Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok ra đời năm 1993. Việc triển khai Luật này đã đem lại kết quả ấn tượng: những dòng đầu tư mạnh mẽ của các doanh nghiệp vào Khu Đô thị Daedeok, không chỉ trong sản xuất mà cả nghiên cứu. Bắt đầu xuất hiện nhiều những viện nghiên cứu có sự đầu tư của khu vực tư nhân như Trung tâm R&D Daelim Industrial Daedeok, hay Viện Nghiên cứu Daedeok của Tập đoàn Hóa dầu Honam.        Trong số những viện nghiên cứu được thành lập tại Khu Đô  thị Khoa học Daedeok, phải kể đến Viện Nghiên cứu Chuẩn Hàn Quốc, được  thành lập năm 1975, và kể từ 1991 được đổi tên là Viện Nghiên cứu Chuẩn  và Khoa học Hàn Quốc (KRISS).              KRISS là cơ quan cung cấp những tiêu  chuẩn được quốc tế công nhận cho các khách hàng trong nhiều ngành công  nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công  nghiệp Hàn Quốc trên thị trường trong nước cũng như toàn cầu.               KRISS  cũng tích cực phát triển những tiêu chuẩn và công nghệ đo lường mới  phục vụ những cải tiến công nghệ tiên tiến nhất trong các lĩnh vực công  nghệ nano, công nghệ         Với ưu thế là tận dụng được nguồn chất xám từ các viện nghiên cứu và các trường đại học hàng đầu (ví dụ như đại học KAIST bắt đầu lập cơ sở KAIST Daedeok năm 1990), các ngành công nghiệp tại Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển nở rộ. Các thành tựu khoa học và công nghệ của các tổ chức nghiên cứu không chỉ giúp các ngành công nghiệp cải thiện năng suất mà còn nâng cao chất lượng hàng hóa. Những viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học Hàn Quốc giúp các doanh nghiệp đạt được những tiêu chuẩn cao trong sản xuất hàng hóa, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh các thị trường trên thế giới.   Mô hình quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ: nền tảng mới cho sáng tạo  Mặc dù gặt hái được những thành công ấn tượng trong ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các ngành công nghiệp, nhưng thách thức đặt ra tiếp theo cho Hàn Quốc là làm sao hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, nguồn động lực cơ bản cho đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.   Để đạt được mục tiêu này, Hàn Quốc phải tiếp tục cải thiện hệ thống cơ sở pháp lý và chính sách khoa học công nghệ. Những cơ sở pháp lý như Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok năm 1993 vẫn còn hạn chế, vì nó chỉ có phạm vi phục vụ công tác quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển thành một tổ hợp công nghiệp. Nó chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết để đưa Khu đô thị Khoa học Daedeok phát huy những động lực thế mạnh, trở thành một đặc khu chuyên cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo.    Vì vậy, năm 2005, Luật Đặc biệt Hỗ trợ Đặc khu Nghiên cứu và Phát triển Daedeok được ban hành nhằm thay thế Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok, tạo cơ sở pháp lý để đưa Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển thành một trung tâm đổi mới sáng tạo, với tên gọi mới là Innopolis Daedeok. Cùng với đó là sự ra đời của Quỹ Innopolis, nhằm thúc đẩy thương mại hóa những kết quả nghiên cứu một cách mạnh mẽ hơn. Phạm vi quản lý của Quỹ Innopolis gồm 3 khu công viên khoa học: Innopolis Daedeok, Innopolis Gwangju và Innopolis Daegu (2 khu sau được thành lập năm 2011).  Theo ông Jae Goo Lee, Chủ tịch Quỹ Innopolis, hiện nay trong số 60 triệu USD tiền ngân sách Nhà nước giao xuống hằng năm, Quỹ dành khoảng 40 triệu USD cho việc hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại hóa những kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Trung bình, mỗi doanh nghiệp được Quỹ hỗ trợ khoảng 600 – 700 nghìn USD. Ngoài hỗ trợ về vốn, Quỹ còn cung cấp dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp về marketing, thiết kế sản phẩm, chiến lược đầu tư và kinh doanh (với nhiều cấp độ, từ lúc khởi nghiệp tới giai đoạn phát triển chín muồi).  Hệ thống thẩm định công nghệ của KOTEC  Ngoài việc ra đời Luật Đặc biệt Hỗ trợ Đặc khu Nghiên cứu và Phát triển Daedeok, năm 2005 còn đánh dấu một bước tiến mới của Hàn Quốc trong thực hiện mục tiêu thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới và sáng tạo, đó là việc Tập đoàn Tài chính Công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) phát triển thành công hệ thống thẩm định công nghệ KIBO (KTRS).   KOTEC là một tổ chức phi lợi nhuận được Chính phủ Hàn Quốc thành lập từ năm 1989 theo Luật Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ mới (năm 2002 được sửa đổi toàn diện thành Luật Tập đoàn Tài chính Công nghệ Hàn Quốc) nhằm cung cấp bảo lãnh tín dụng giúp hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ mới, thúc đẩy tăng trưởng những doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa cùng các hoạt động đầu tư mạo hiểm vào công nghệ mới.   Theo ông Yu Mun Jae, giám đốc hợp tác quốc tế của KOTEC, trước năm 2005, hoạt động cấp bảo lãnh của KOTEC bị hạn chế rất lớn vì thường phải căn cứ theo hồ sơ tín nhiệm tài chính của doanh nghiệp, trong khi tín nhiệm tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, thường rất sơ sài, hay thậm chí không hề có hồ sơ tín nhiệm tài chính.   Nhưng kể từ năm 2005, hệ thống KTRS đã cho phép KOTEC thẩm định được giá trị tương lai của các dự án đổi mới và thương mại hóa công nghệ dựa trên những đánh giá về triển vọng công nghệ, triển vọng kinh doanh và thị trường, từ đó đưa ra những kết luận định tính và định lượng theo thang điểm. Đây là những căn cứ để KOTEC có thể cấp bảo lãnh một cách hiệu quả và dễ dàng hơn. Với nguồn bảo lãnh này từ KOTEC, các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay vốn từ ngân hàng mà không cần đến hồ sơ tín nhiệm tài chính cũng như tài sản thế chấp.          Năm 2012 Chính phủ của Tổng thống Lee Myung Bak đầu tư khoảng 16 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguồn lực này của Chính phủ thì không thể đủ để thúc đẩy phát triển nền khoa học và công nghệ của cả quốc gia, mà cần khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân. Hiện nay, Hàn Quốc đứng thứ hai trên toàn thế giới về tỷ trọng đầu tư cho khoa học và công nghệ trên GDP là nhờ huy động được nguồn vốn đầu trực tiếp của người dân vào khoa học và công nghệ. Hiện nay, 70% nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ Hàn Quốc là các doanh nghiệp tư nhân.               Có được kết quả này là do Hàn Quốc luôn chú trọng áp dụng những quy định pháp luật cần thiết để tạo động cơ khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho khoa học và công nghệ. Thành công sẽ đến nếu Chính phủ có ý chí quyết tâm và các công ty có động cơ để tham gia tích cực.               Ngoài ra, để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ, một vấn đề rất quan trọng là nguồn nhân lực phù hợp. Đây là lý do Chính phủ thực hiện những chính sách tài trợ cho các trường đại học. Sự tài trợ này giữa các trường không giống hệ nhau mà linh hoạt tùy theo đặc thù phát triển của từng địa phương. Ví dụ, đối với Đại học Busan thì Chính phủ tài trợ khuyến khích phát triển ngành cơ khí, hay với Đại học Kyungpook ở miền Trung thì Chính phủ tài trợ khuyến khích phát triển ngành điện tử.    Phát biểu của Bộ trưởng Lee Ju-ho, Bộ Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ Hàn Quốc trong cuộc trao đổi với Tạp chí Tia Sáng, ngày 29/10/2012            Chứng nhận bảo lãnh từ KOTEC không chỉ giúp các doanh nghiệp vay được vốn từ ngân hàng, mà còn giúp các doanh nghiệp và dự án công nghệ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm nhà đầu tư. Điều này rất quan trọng đối với các lĩnh vực công nghệ mới có tiềm năng thương mại hóa cao nhưng rủi ro cũng lớn, thường đòi hỏi những khoản đầu tư mang tính mạo hiểm.  Tính tới cuối năm 2011, số lượng doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa ở Hàn Quốc được KOTEC thẩm định công nghệ và cấp chứng nhận đã lên tới gần 17 nghìn, với tổng giá trị thẩm định là hơn 200 nghìn tỷ won. Tính khách quan và hiệu quả hoạt động thẩm định, cấp bảo lãnh của KOTEC được thể hiện rõ nhất qua khả năng tự cân đối tài chính. Hiện nay, số tiền trong quỹ lên tới gần 2,2 nghìn tỷ won (xấp xỉ 2,02 tỷ USD) mặc dù kể từ năm 2010, Nhà nước không hề đóng góp vào quỹ một khoản nào.  Kết luận  Chính sách thúc đẩy ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ cho các doanh nghiệp ở Hàn Quốc là một quá trình bài bản và lâu dài. Trong đó, khởi đầu là việc hình thành quần thể các tổ chức nghiên cứu, kéo dài xuyên suốt thập kỷ 70 và 80, mà điển hình là sự hình thành Khu đô thị Khoa học Daedeok. Đây chính là nền tảng để tạo ra nguồn chất xám và những tri thức khoa học kỹ thuật phục vụ cho tiến trình thu hút và quy tụ các ngành công nghiệp của Hàn Quốc trong thập kỷ 90. Sự phát triển của các ngành công nghiệp này đã đem lại cho Hàn Quốc những thành tựu ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa đất nước mà chúng ta được chứng kiến hiện nay.   Thách thức kế tiếp mà Hàn Quốc muốn đạt được là thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư cho khoa học và công nghệ. Để làm được điều đó, Hàn Quốc đã tích cực triển khai các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo. Những quỹ này không chỉ đóng vai trò hỗ trợ về vốn, mà còn phát huy cả vai trò tư vấn trong khởi nghiệp và thương mại hóa sản phẩm.   Tuy nhiên, nguồn vốn hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo ở Hàn Quốc không bị giới hạn ở các quỹ, mà có thể mở rộng sang các nguồn tài chính thông thường khác nhờ vào hệ thống thẩm định công nghệ của KOTEC. Đây là một thành tựu quan trọng, giúp thẩm định giá trị tương lai của các công nghệ và sáng tạo mới, làm cơ sở để KOTEC cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp đầu tư vào những dự án này. Với nguồn bảo lãnh từ KOTEC, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng huy động được nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại mà không còn chịu những kiềm tỏa do hạn chế về hồ sơ tín nhiệm tài chính và tài sản thế chấp.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nửa thế kỷ chính sách vì doanh nghiệp      Chính sách phát triển khoa học và công nghệ theo hướng ứng dụng nghiên cứu phục vụ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở Hàn Quốc được thể hiện rõ nét qua quá trình hình thành những nền tảng cơ bản, như công viên khoa học và những quỹ phát triển ứng dụng KH&amp;CN.    Chủ trương phát triển khoa học và công nghệ theo hướng phục vụ các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp được Chính phủ Hàn Quốc thúc đẩy từ cách đây gần nửa thế kỷ, với cái mốc đầu tiên là việc thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) năm 1966. Sự ra đời của Viện KIST được bắt đầu bằng cuộc khảo sát rất chi tiết về các lĩnh vực công nghiệp của Hàn Quốc. Một nhóm 80 người gồm các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia cơ khí, bao gồm người Hàn Quốc và nước ngoài, đã tiến hành điều tra, phân tích kỹ lưỡng trên 600 nhà máy công nghiệp, qua đó giúp Viện KIST hiểu rõ các vấn đề mà các ngành công nghiệp đang gặp phải, cũng như những tiến trình cần thiết để thúc đẩy những ngành này phát triển hơn nữa.  Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Việc thúc đẩy ứng dụng phát triển khoa học công nghệ vào các doanh nghiệp ở Hàn Quốc đòi hỏi những nỗ lực tập trung cao hơn nữa, nhằm tạo ra những môi trường thật sự thuận lợi cho các doanh nghiệp ứng dụng những kết quả nghiên cứu, đó là các khu công nghệ cao, và quy mô rộng hơn là các công viên khoa học.                   Bộ trưởng Nguyễn Quân và Bộ trưởng Lee Ju-ho (Bộ Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ) ký biên bản hợp tác ghi nhớ ngày 29/10/2012         Trong chuyến công tác tại Hàn Quốc vừa qua, đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ, dẫn đầu là Bộ trưởng Nguyễn Quân, đã đạt được những thỏa thuận quan trọng trong hợp tác phát triển khoa học và công nghệ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó định hướng tập trung thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển các ngành công nghiệp được thể hiện khá rõ qua danh sách các biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU):              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ Hàn Quốc, ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện KIST ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hội nhập Quốc tế và Viện Máy và Vật liệu Hàn Quốc (KIMM) ngày 29/10/2012;              – MOU giữa Viện Đo lường Việt Nam và Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học Hàn Quốc ngày 30/10/2012              – MOU giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan Xúc tiến Công nghệ Thông tin Hàn Quốc ngày 1/11/2012          Sự phát triển của Khu đô thị Khoa học Daedeok   Ý tưởng về công viên khoa học ở Hàn Quốc là một khu vực tập trung các trường đại học và các ngành công nghiệp, nơi các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu dễ dàng gặp gỡ và kết nối. Nhưng từ ý tưởng tới hiện thực hóa là cả một quá trình lâu dài.   Năm 1973, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng kế hoạch cho một tổ hợp với tên gọi Khu đô thị Khoa học và Trường đại học Daedeok, và ngay từ năm 1974 người ta đã bắt tay vào khởi công xây dựng hạ tầng cho nhiều viện nghiên cứu. Trong suốt những năm tiếp theo của thập kỷ 70 và 80 là thời kỳ tổ chức phát triển các viện nghiên cứu của Nhà nước tại nơi đây, với những viện hàng đầu như Viện Nghiên cứu Chuẩn Hàn Quốc và Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Hàn Quốc. Để thu hút nhân tài, người ta tiến hành những chính sách ưu đãi hấp dẫn, ví dụ như cấp nhà ở cho các nhà khoa học ở nước ngoài được mời về làm việc.  Những nỗ lực quy tụ chất xám của các nhà nghiên cứu này đồng thời cũng giúp tập hợp được các dự án nghiên cứu, theo lời ông Chan Jong Park, Giám đốc Trung tâm Thương mại hóa Công nghệ – Quỹ Innopolis. Đây là cơ sở để xúc tiến các hoạt động chuyển giao công nghệ. Sau khi đã tập hợp được một số viện nghiên cứu hoạt động ổn định nhất định, Hàn Quốc mới bắt đầu tìm cách thúc đẩy việc quy tụ các doanh nghiệp đầu tư.                   Một nghiên cứu sinh Việt Nam giới thiệu các thành tựu công nghệ của Viện KRISS với đoàn công tác Bộ Khoa học và Công nghệ                     Trong số những viện nghiên cứu  được thành lập tại Khu Đô thị Khoa học Daedeok, phải kể đến Viện Nghiên  cứu Chuẩn Hàn Quốc, được thành lập năm 1975, và kể từ 1991 được đổi tên  là Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học Hàn Quốc (KRISS).              KRISS là cơ  quan cung cấp những tiêu chuẩn được quốc tế công nhận cho các khách hàng  trong nhiều ngành công nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh  tranh của các sản phẩm công nghiệp Hàn Quốc trên thị trường trong nước  cũng như toàn cầu.               KRISS cũng tích cực phát triển những tiêu chuẩn  và công nghệ đo lường mới phục vụ những cải tiến công nghệ tiên tiến  nhất trong các lĩnh vực công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ  thông tin và viễn thông.           Nhưng việc triển khai ứng dụng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu không diễn ra một cách hoàn toàn dễ dàng, quan hệ hợp tác giữa các ngành công nghiệp với các cơ quan nghiên cứu còn rời rạc, hoàn toàn không có các công ty đầu tư nước ngoài hay các trung tâm nghiên cứu của nước ngoài, và thiếu một hệ thống hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp, đồng thời thiếu một nhóm phụ trách thúc đẩy triển khai các chiến lược vạch ra.   Nguyên nhân của những vấn đề trên là Hàn Quốc còn thiếu những quy định pháp lý phù hợp làm nền tảng cho sự phát triển của Khu đô thị Khoa học Daedeok. Đó là lý do Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok ra đời năm 1993. Việc triển khai Luật này đã đem lại kết quả ấn tượng: những dòng đầu tư mạnh mẽ của các doanh nghiệp vào Khu đô thị Daedeok, không chỉ trong sản xuất mà cả nghiên cứu. Bắt đầu xuất hiện nhiều những viện nghiên cứu có sự đầu tư của khu vực tư nhân như Trung tâm R&D Daelim Industrial Daedeok, hay Viện Nghiên cứu Daedeok của Tập đoàn Hóa dầu Honam.  Với ưu thế là tận dụng được nguồn chất xám từ các viện nghiên cứu và các trường đại học hàng đầu (ví dụ như Đại học KAIST bắt đầu lập cơ sở KAIST Daedeok năm 1990), các ngành công nghiệp tại Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển nở rộ. Các thành tựu khoa học và công nghệ của các tổ chức nghiên cứu không chỉ giúp các ngành công nghiệp cải thiện năng suất mà còn nâng cao chất lượng hàng hóa. Những viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu Chuẩn và Khoa học Hàn Quốc giúp các doanh nghiệp đạt được những tiêu chuẩn cao trong sản xuất hàng hóa, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh các thị trường trên thế giới.      Mô hình quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ: nền tảng mới cho sáng tạo  Mặc dù gặt hái được những thành công ấn tượng trong ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các ngành công nghiệp, nhưng thách thức đặt ra tiếp theo cho Hàn Quốc là làm sao hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, nguồn động lực cơ bản cho đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.   Để đạt được mục tiêu này, Hàn Quốc phải tiếp tục cải thiện hệ thống cơ sở pháp lý và chính sách khoa học công nghệ. Những cơ sở pháp lý như Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok năm 1993 vẫn còn hạn chế, vì nó chỉ có phạm vi phục vụ công tác quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển thành một tổ hợp công nghiệp. Nó chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết để đưa Khu đô thị Khoa học Daedeok phát huy những động lực thế mạnh, trở thành một đặc khu chuyên cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo.    Vì vậy, năm 2005, Luật Đặc biệt Hỗ trợ Đặc khu Nghiên cứu và Phát triển Daedeok được ban hành nhằm thay thế Luật Quản lý Khu đô thị Khoa học Daedeok, tạo cơ sở pháp lý để đưa Khu đô thị Khoa học Daedeok phát triển thành một trung tâm đổi mới sáng tạo, với tên gọi mới là Innopolis Daedeok. Cùng với đó là sự ra đời của Quỹ Innopolis, nhằm thúc đẩy thương mại hóa những kết quả nghiên cứu một cách mạnh mẽ hơn. Phạm vi quản lý của Quỹ Innopolis gồm 3 khu công viên khoa học: Innopolis Daedeok, Innopolis Gwangju và Innopolis Daegu (2 khu sau được thành lập năm 2011).  Theo ông Jae Goo Lee, Chủ tịch Quỹ Innopolis, hiện nay trong số 60 triệu USD tiền ngân sách Nhà nước giao xuống hằng năm, Quỹ dành khoảng 40 triệu USD cho việc hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại hóa những kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Trung bình, mỗi doanh nghiệp được Quỹ hỗ trợ khoảng 600 – 700 nghìn USD. Ngoài hỗ trợ về vốn, Quỹ còn cung cấp dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp về marketing, thiết kế sản phẩm, chiến lược đầu tư và kinh doanh (với nhiều cấp độ, từ lúc khởi nghiệp tới giai đoạn phát triển chín muồi).   Hệ thống thẩm định công nghệ của KOTEC  Ngoài việc ra đời Luật Đặc biệt Hỗ trợ Đặc khu Nghiên cứu và Phát triển Daedeok, năm 2005 còn đánh dấu một bước tiến mới của Hàn Quốc trong thực hiện mục tiêu thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới và sáng tạo, đó là việc Tập đoàn Tài chính Công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) phát triển thành công hệ thống thẩm định công nghệ KIBO (KTRS).   KOTEC là một tổ chức phi lợi nhuận được Chính phủ Hàn Quốc thành lập từ năm 1989 theo Luật Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ mới (năm 2002 được sửa đổi toàn diện thành Luật Tập đoàn Tài chính Công nghệ Hàn Quốc) nhằm cung cấp bảo lãnh tín dụng giúp hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ mới, thúc đẩy tăng trưởng những doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa cùng các hoạt động đầu tư mạo hiểm vào công nghệ mới.                   Bộ trưởng Nguyễn Quân tặng Bộ trưởng Lee Ju-ho số báo Tia Sáng ra ngày 20/10/2012         70% nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Hàn Quốc là các doanh nghiệp tư nhân                Năm 2012 Chính phủ của Tổng thống Lee Myung Bak đầu tư khoảng 16 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguồn lực này của Chính phủ thì không thể đủ để thúc đẩy phát triển nền khoa học và công nghệ của cả quốc gia, mà cần khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân. Hiện nay, Hàn Quốc đứng thứ hai trên toàn thế giới về tỷ trọng đầu tư cho khoa học và công nghệ trên GDP là nhờ huy động được nguồn vốn đầu trực tiếp của người dân vào khoa học và công nghệ. Hiện nay, 70% nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ Hàn Quốc là các doanh nghiệp tư nhân.               Có được kết quả này là do Hàn Quốc luôn chú trọng áp dụng những quy định pháp luật cần thiết để tạo động cơ khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho khoa học và công nghệ. Thành công sẽ đến nếu Chính phủ có ý chí quyết tâm và các công ty có động cơ để tham gia tích cực.               Ngoài ra, để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ, một vấn đề rất quan trọng là nguồn nhân lực phù hợp. Đây là lý do Chính phủ thực hiện những chính sách tài trợ cho các trường đại học. Sự tài trợ này giữa các trường không giống hệ nhau mà linh hoạt tùy theo đặc thù phát triển của từng địa phương. Ví dụ, đối với Đại học Busan thì Chính phủ tài trợ khuyến khích phát triển ngành cơ khí, hay với Đại học Kyungpook ở miền Trung thì Chính phủ tài trợ khuyến khích phát triển ngành điện tử.     Phát biểu của Bộ trưởng Lee Ju-ho, Bộ Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ Hàn Quốc trong cuộc trao đổi với Tạp chí Tia Sáng, ngày 29/10/2012          Theo ông Yu Mun Jae, giám đốc hợp tác quốc tế của KOTEC, trước năm 2005, hoạt động cấp bảo lãnh của KOTEC bị hạn chế rất lớn vì thường phải căn cứ theo hồ sơ tín nhiệm tài chính của doanh nghiệp, trong khi tín nhiệm tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, thường rất sơ sài, hay thậm chí không hề có hồ sơ tín nhiệm tài chính.   Nhưng kể từ năm 2005, hệ thống KTRS đã cho phép KOTEC thẩm định được giá trị tương lai của các dự án đổi mới và thương mại hóa công nghệ dựa trên những đánh giá về triển vọng công nghệ, triển vọng kinh doanh và thị trường, từ đó đưa ra những kết luận định tính và định lượng theo thang điểm. Đây là những căn cứ để KOTEC có thể cấp bảo lãnh một cách hiệu quả và dễ dàng hơn. Với nguồn bảo lãnh này từ KOTEC, các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay vốn từ ngân hàng mà không cần đến hồ sơ tín nhiệm tài chính cũng như tài sản thế chấp.   Chứng nhận bảo lãnh từ KOTEC không chỉ giúp các doanh nghiệp vay được vốn từ ngân hàng, mà còn giúp các doanh nghiệp và dự án công nghệ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm nhà đầu tư. Điều này rất quan trọng đối với các lĩnh vực công nghệ mới có tiềm năng thương mại hóa cao nhưng rủi ro cũng lớn, thường đòi hỏi những khoản đầu tư mang tính mạo hiểm.  Tính tới cuối năm 2011, số lượng doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa ở Hàn Quốc được KOTEC thẩm định công nghệ và cấp chứng nhận đã lên tới gần 17 nghìn, với tổng giá trị thẩm định là hơn 200 nghìn tỷ won. Tính khách quan và hiệu quả hoạt động thẩm định, cấp bảo lãnh của KOTEC được thể hiện rõ nhất qua khả năng tự cân đối tài chính. Hiện nay, số tiền trong quỹ lên tới gần 2,2 nghìn tỷ won (xấp xỉ 2,02 tỷ USD) mặc dù kể từ năm 2010, Nhà nước không hề đóng góp vào quỹ một khoản nào.   Kết luận  Chính sách thúc đẩy ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ cho các doanh nghiệp ở Hàn Quốc là một quá trình bài bản và lâu dài. Trong đó, khởi đầu là việc hình thành quần thể các tổ chức nghiên cứu, kéo dài xuyên suốt thập kỷ 70 và 80, mà điển hình là sự hình thành Khu đô thị Khoa học Daedeok. Đây chính là nền tảng để tạo ra nguồn chất xám và những tri thức khoa học kỹ thuật phục vụ cho tiến trình thu hút và quy tụ các ngành công nghiệp của Hàn Quốc trong thập kỷ 90. Sự phát triển của các ngành công nghiệp này đã đem lại cho Hàn Quốc những thành tựu ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa đất nước mà chúng ta được chứng kiến hiện nay.   Thách thức kế tiếp mà Hàn Quốc muốn đạt được là thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư cho khoa học và công nghệ. Để làm được điều đó, Hàn Quốc đã tích cực triển khai các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo. Những quỹ này không chỉ đóng vai trò hỗ trợ về vốn, mà còn phát huy cả vai trò tư vấn trong khởi nghiệp và thương mại hóa sản phẩm.   Tuy nhiên, nguồn vốn hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo ở Hàn Quốc không bị giới hạn ở các quỹ, mà có thể mở rộng sang các nguồn tài chính thông thường khác nhờ vào hệ thống thẩm định công nghệ của KOTEC. Đây là một thành tựu quan trọng, giúp thẩm định giá trị tương lai của các công nghệ và sáng tạo mới, làm cơ sở để KOTEC cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp đầu tư vào những dự án này. Với nguồn bảo lãnh từ KOTEC, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng huy động được nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại mà không còn chịu những kiềm tỏa do hạn chế về hồ sơ tín nhiệm tài chính và tài sản thế chấp.        Thành tựu của Công viên khoa học Daedeok              Trong suốt 40 năm, Công viên Khoa học Daedeok đóng vai trò là một trụ cột cho tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc, đóng góp vào sự ra đời của những công nghệ mới. Ngày nay, đây là nơi tập trung nguồn lực lớn nhất cho nghiên cứu và phát triển, chiếm 15% chi tiêu R&D của quốc gia, và 11% số lượng các nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ ở Hàn Quốc.               Một số mốc thành tựu kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của Công viên khoa học Daedeok:             1986: Thiết bị TDX (Electronic Telephone Exchanger), tiên phong cho một chương mới trong lịch sử ngành viễn thông Hàn Quốc.    1993: Polybutene – mở ra một con đường mang tính cách mạng cho các tiến trình hóa học.        1995: Hanaro (Lò phản ứng nguyên tử mang tính nghiên cứu) – đưa Hàn Quốc vào danh sách những nước hàng đầu về công nghệ hạt nhân.    1996: CDMA (Hệ thống Liên lạc Điện thoại Kỹ thuật số) – thương mại hóa thành công ứng dụng tiêu chuẩn công nghệ thông tin toàn cầu.        2003: Factive – phát triển loại dược phẩm đẳng cấp quốc tế    2006: Haemirae – thiết bị dò tìm dưới đáy biển ở độ sâu 6000m              2007: KSTAR (Nghiên cứu Cao cấp Tokamak Siêu dẫn) – công nghệ tính toán phục vụ sản xuất và vận hành, được phát triển hoàn toàn từ Hàn Quốc     2008: KRISS-1 (Tiêu chuẩn Tần số Tia Nguyên tử)– chiếc đồng hồ nguyên tử hoàn toàn dựa trên công nghệ nội địa Hàn Quốc.          2009: Hubo 2 – Người máy mô phỏng con người đầu tiên có khả năng chạy ở Hàn Quốc.    2010: Siêu máy tính số 4 – Máy tính nhanh nhất và lớn nhất của Hàn Quốc        2011: Tàu Điện từ phục vụ Đô thị – giới thiệu mô hình phương tiện giao thông thân thiện với môi trường.    2012: Smart UAV – thiết kế và chế tạo thiết bị bay không người lái sử dụng cánh quạt nghiêng.                  Author                Quản trị        
__label__tiasang Nước Nhật kiếm tiền nhờ bán lò phản ứng      Ngay cả khi nước Nhật có kế hoạch giảm dần Điện Hạt nhân vì quá nguy hiểm cho việc sử dụng trong nước thì chính phủ lại đang ủng hộ ngành công nghiệp Nhật Bản đẩy mạnh việc bán kỹ thuật Điện Hạt nhân cho các nước khác.        Các tổ hợp công nghiệp Nhật Bản với sự cộng tác của chính phủ Tokyo, đang mở lại việc tiếp tục các dự án nhiều tỷ đôla, đặc biệt là ở các nước nhỏ, đói năng lượng như Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù có các chỉ trích trong nước Nhật của các nhóm bảo vệ môi trường và các chính trị gia thuộc phe đối lập.  Nhật đang đề cao kỹ thuật hạt nhân của mình ở nước ngoài trong khi ở trong nước thì cố gắng khống chế các vụ nóng chảy nhiên liệu hạt nhân đã làm cho trên 100 000 người phải rời bỏ nhà cửa. Nước Nhật biện hộ rằng kỹ thuật mới nhất của mình gồm những đảm bảo không có trong các lò phản ứng cũ hàng nhiều thập kỷ của nhà máy điện Fukushima Daiichi bị tai nạn, nhà máy điện này hiện vẫn đang tiếp tục rò rỉ phóng xạ.  Gần đây, thủ tướng Nhật, ông Yoshihiko Noda tuyên bố trước Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc: “Nhiều nước trên thế giới ngày nay đang nghiêm túc thăm dò việc sử dụng năng lượng hạt nhân và chúng tôi đã giúp họ trong việc tăng cường an toàn hạt nhân. Chúng tôi sẽ tiếp tục đáp ứng các mối quan tâm của các nước ấy.”  Chính phủ của ông Noda xem các dự án Điện Hạt nhân ở nước ngoài như cách để kích thích nền kinh tế hướng về xuất khẩu của Nhật, một nền kinh tế đã phải vật lộn nhiều ngay cả trước khi thảm hoạ thiên nhiên và hạt nhân xảy ra trong tháng Ba. Sự ủng hộ của Tokyo – gồm cả việc trợ giúp tài chính cho các quốc gia khách hàng – đã có ý nghĩa quyết định trong các thoả thuận đang được thương lượng, đặc biệt là khi niềm tin chung vào an toàn hạt nhân đã bị lung lay sau vụ Fukushima.        Hiệp hội Hạt nhân thế giới, một nhóm công nghiệp thương mại, nói rằng con số 443 lò phản ứng hạt nhân trên thế giới có thể tăng hơn gấp đôi trong 15 năm sắp tới.        Đầu tháng Chín, sau sáu tháng ngừng trệ tiếp theo trận động đất, chính phủ Nhật nối lại các cuộc đàm phán với các nhà chức trách Việt Nam về một dự án 1 nghìn tỷ yen (13 tỷ USD) để xây dựng hai lò phản ứng ở miền Nam Việt Nam. Các điều khoản hợp đồng có thể gồm cả một viện trợ tài chính của Nhật.  Dự án này có sự tham gia của một công ty được nhà nước bảo trợ mà cổ đông lớn nhất là Tokyo Electric Power, công ty vận hành nhà máy Fukushima Daiichi bị tai nạn. Các tổ hợp công nghiệp Toshiba và Hitachi đã cung cấp lò phản ứng cho Fukushima, cũng có tham gia đầu tư. Ichiro Takekuro, một cựu giám đốc của Tokyo Electric là chủ tịch công ty mới này có tên là Công ty Phát triển Năng lượng Hạt nhân Quốc tế của Nhật Bản.  Dự án ở Việt Nam, nếu được thực hiện, sẽ nằm trong một danh sách khoảng hai chục dự án Điện Hạt nhân mà các nhà sản xuất Nhật Bản đang dự thầu hay đang tìm cách tạo ảnh hưởng ở nhiều nước kể cả Mỹ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Litva.  Nỗ lực hạt nhân của Nhật Bản và những nhà sản xuất lò phản ứng hạt nhân ở các nước khác, kể cả Areva của Pháp, General Electric ở Mỹ, công ty quốc doanh Rosatom của Nga và nhiều tổ hợp được chính phủ hỗ trợ ở Trung Quốc như China National Nuclear vẫn tiếp tục tiến hành việc thương lượng các hợp đồng mới khá tương phản với tuyên bố gần đây của Siemens, tổ hợp công nghiệp lớn nhất châu Âu, theo đấy họ sẽ ngừng xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. Siemens, có trụ sở chính ở Munich, đã đáp lại quyết định của nước Đức năm nay về việc giảm dần năng lượng hạt nhân – chủ yếu do phản ứng trước thảm hoạ ở Nhật Bản.  Trong nước Nhật, các nỗ lực của Tokyo đã gây ra những phản kháng từ những người chống đối hạt nhân:  Trong tháng Chín, nhóm bảo vệ môi trường Bạn Trái Đất của Nhật Bản nói: “Việc chính phủ Nhật Bản đẩy mạnh xuất khẩu hạt nhân rõ ràng là một tiêu chuẩn hai mặt và là một sai lầm.” Đảng đối lập Dân chủ Tự do đã đề nghị có thêm những tranh luận về sáng kiến xuất khẩu của ông Noda và đảng Dân chủ cầm quyền, mặc dù dư luận trong cả hai đảng tiếp tục có nhiều bất đồng, Một nghị sĩ Dân chủ Tự do, ông Itsunori Onodera, chủ tịch một uỷ ban đối ngoại của quốc hội phụ trách việc thông qua các hiệp ước hạt nhân song phương nói: “Có người đặt câu hỏi: Tại sao Nhật Bản lại cố gắng xuất khẩu một thứ mà trong nước đã loại bỏ. Ngay cả khi Nhật Bản cuối cùng quyết định tiếp tục xuất khẩu hạt nhân thì cũng vẫn cần có thêm những tranh luận về vấn đề này.”        Chỉ có một phần năm trong số 54 lò phản ứng của Nhật Bản – trước đây đáp ứng khoảng 30 phần trăm nhu cầu điện năng – là vẫn còn hoạt động. Phần còn lại bị hư hỏng trong đợt sóng thần nay đang được cho chạy thử theo kế hoạch hay đã không được phép khởi động lại sau các đợt chạy thử ấy do có sự chống đối ở địa phương. Người ta không rõ là có nhà máy nào sẽ có lúc khởi động lại. Thêm vào sự bất định ấy, ngày 4 tháng Mười, một lò phản ứng ở Genkai miền Nam Nhật Bản đã tự động ngừng chạy do gặp những vấn đề trong hệ thống làm mát. Vì chính phủ nói rằng khó có thể có những lò phản ứng mới sẽ được xây dựng nên việc giảm dần Điện Hạt nhân ở Nhật là điều không thể tránh khỏi, khi các lò phản ứng cũ bị đóng cửa.          Nhưng các nhà phân tích công nghiệp cho rằng ba công ty công nghiệp hạt nhân hàng đầu của Nhật Bản  – Hitachi, Mitsubishi Heavy Industries và Toshiba – mà lợi nhuận tổng cộng trong ngành kinh doanh năng lượng và xây dựng cơ sở hạ tầng lên đến 242 tỷ yen (3,14 tỷ USD) trong năm tài chính vừa qua, đều tìm mọi cách để hướng ra nước ngoài hơn bao giờ hết. Những dự án đắt tiền như các lò phản ứng mới thường đi kèm theo các dịch vụ phụ trợ như hoạt động và bảo dưỡng nhiên liệu, đặc biệt tỏ ra hấp dẫn đối với các quan chức thương mại của Nhật Bản.  Nhật Bản vẫn có ý định tiếp tục xuất khẩu công nghiệp trong lúc nền kinh tế hướng về xuất khẩu của đất nước đang phải đối mặt với nhiều bão táp: đồng yen mạnh làm cho hàng hoá và dịch vụ của Nhật trở nên đắt đỏ trên thị trường quốc tế, thiếu hụt năng lượng sau sự cố Fukushima, cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ là những nước công nghiệp châu Á.  Năm 2010, xuất khẩu hạt nhân của Nhật Bản lên đến 15 tỷ yen. Trước tháng Ba năm 2011, đảng Dân chủ cầm quyền đã lấy việc mở rộng xuất khẩu hạt nhân làm tâm điểm của chính sách phát triển kinh tế của mình. Và khi ông Kan tìm cách ngừng các nỗ lực trong việc tiếp tục xuất khẩu hạt nhân tháng Bảy vừa qua, nhiều người trong đảng đã yêu cầu ông xét lại. Nay người thay thế ông Kan là ông Noda, cũng là đảng viên Dân chủ, còn tích cực hơn ông Kan trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hạt nhân. Bộ trưởng thương mại trong nội các Yoda, ông Yukio Edano, hiện chỉ đạo chính sách hạt nhân của Nhật, là người nhiều lần lên tiếng ủng hộ việc tiếp tục xuất khẩu hạt nhân.  Cho đến nay, một vài công ty Nhật Bản đã phải rút các đơn thầu sau sự cố Fukushima. Toshiba và Tokyo Electric đã phải rút lại một đề nghị mở rộng dự án Nam Texas ở phía Nam Houston. Liên doanh Toshiba – Tokyo Electric cũng từ bỏ đơn thầu để xây dựng nhà máy điện hạt nhân thứ hai của Thổ Nhĩ Kỳ sau khi chính phủ Thổ cho biết họ muốn có một kỹ thuật khác kỹ thuật lò phản ứng nước sôi mà Toshiba chuyên chế tạo đã được sử dụng ở Fukushima. Nhưng điều này có thể có lợi cho một công ty khác của Nhật Bản là Mitsubishi Heavy Industries, công ty này chuyên chế tạo các lò phản ứng nước áp lực, một kỹ thuật mà Thổ Nhĩ Kỳ tỏ ra quan tâm. Mitsubishi đã thắng các cuộc đấu thầu xây dựng ba lò phản ứng hạt nhân ở Mỹ, hai ở Texas và một ở Virginia.  Tuy nhiên, các chính trị gia Nhật Bản đã trì hoãn một vài dự án hạt nhân tiềm năng ở nước ngoài. Gần đây, quốc hội đã hoãn thông qua một hiệp ước hạt nhân với Jordan, nếu được thông qua, Nhật Bản có thể dự thầu một nhà máy điện hạt nhân đã lên kế hoạch ở đấy.  Một lý do: địa điểm xây dựng đề ra không có một hồ nước lớn nào nằm gần và trong trường hợp sự cố khẩn cấp, nhà máy không có cách nào đáng tin cậy để làm mát lò phản ứng nhằm ngăn chặn việc nóng chảy nhiên liệu.  Ông Odonera nói: “Sau Fukushima, chúng tôi cảm thấy rằng đấy có thể là một vấn đề.”        N.T. N.  dịch theo New York Times  Nguồn: http://www.nytimes.com/2011/10/11/business/global/  shunning-nuclear-plants-at-home-japan-pursues-building-them-overseas.html?    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nuôi khát vọng trong khó khăn      Ebook ngày nay đã trở nên phổ biến, đi đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh một ai đó, ở bất kỳ lứa tuổi nào, đang chăm chú đọc sách qua những chiếc máy tính bảng hay smart phone. Nhưng một công ty công nghệ thông tin còn khá non trẻ ở Hà Nội đang có tham vọng phát triển chuyên sâu hơn nữa sản phẩm này, biến nó thành một công cụ giáo dục hữu hiệu.     Đầu tháng tám, một phiên bản Alezaa mới chạy trên các thiết bị cầm tay (iPad, Samsung Galaxy Tab …) chào đời, trên đó những trang sách điện tử cho trẻ em có kèm hình ảnh, tất cả có thể phóng to, thu nhỏ tùy ý, và kèm theo đó là âm thanh trầm bổng của người kể chuyện. – Một  ứng dụng mà các bậc cha mẹ thế hệ @ (hoặc 7x, 8x) bận rộn khó có thể bỏ qua.  Những trang sách điện tử được tạo ra từ Alezaa cho phép hiển thị văn bản kèm hình ảnh hoặc đoạn video, trong đó các thông tin có thể được trình bày theo dòng thời gian. Tại mọi mốc thời gian cụ thể, người làm sách có thể chủ động chèn vào những Magic Card giúp hiển thị những biểu đồ, hình ảnh, video, đoạn chú thích, v.v. Người đọc những trang sách điện tử này cũng có thể dễ dàng tiến hành các thao tác tra cứu, ghi chú, và chia sẻ các thông tin cùng ghi chú này với bạn bè qua Email.    Với các ấn phẩm giáo dục, Alezaa càng chứng tỏ khả năng ứng dụng hiệu quả. Người sử dụng có thể thao tác nhanh chóng để tạo ra một bài giảng như một bài trình bày power point thông thường, nhưng đồng thời bài giảng này hoàn toàn có thể được chia sẻ với mọi người dùng máy tính bảng hoặc điện thoại di động, theo cách miễn phí hoặc thương mại hóa, cho phép “bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào đều có thể tiếp thu bài giảng từ những người thầy giỏi nhất trên thế giới”.  Người đưa ra thông điệp đó là Trần Trọng Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Vinapo, đơn vị đã nghiên cứu phát triển Alezaa và công cụ Alezaa.Build. Tia Sáng có một cuộc trao đổi nhanh với anh:    PV: Những khác biệt của Alezaa so với các công ty ebook khác ở Việt Nam và trên thế giới?  Trần Trọng Thành: Nếu như so sánh về sự hiển thị cuốn sách với người đọc trên các thiết bị cầm thay thì hầu hết trình đọc sách đều giống nhau, chúng tôi cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên, chúng tôi có cải tiến tốt hơn với sự hiển thị của truyện tranh.  Nét khác biệt rõ nhất là công cụ biên tập sách Alezaa.Build, với ưu điểm vượt trội là sự thuận tiện và đơn giản. Những cuốn sách điện tử được tạo ra từ Alezaa.Build rất dễ sử dụng với người đọc, đặc biệt là những cuốn có nhiều hình ảnh, khi xoay ngang, xoay dọc màn hình thiết bị đọc, ở mọi góc độ trang hiển thị sách điện tử tạo ra từ Alezaa đều tự điều chỉnh để cho bố cục dàn trang hợp lý, trong khi truyện tranh điện tử của Amazon Kindle chưa chú ý nhiều đến tính năng này.  Chúng tôi chú ý nhiều đến việc tạo ra những văn bản điện tử đòi hỏi tính tương tác đa chiều với người đọc, từ mắt thấy tới tai nghe, hoặc đòi hỏi truyền đạt một chuỗi thông tin theo các bước tuần tự qua thời gian.    Các thao tác tạo sách điện tử từ Alezaa.Build dễ dàng hơn so với các sản phẩm tương tự của nước ngoài, “chỉ cần những người có trình độ nghiệp vụ văn phòng bình thường” là có thể học cách sử dụng trong vòng ít giờ đồng hồ.   Vì vậy, Alezaa rất phù hợp để sử dụng làm các loại cẩm nang điện tử như sách học ngoại ngữ, chỉ dẫn du lịch, hướng dẫn nấu ăn, và các loại cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật. Đặc biệt là việc xây các bài giảng trực tuyến được dễ dàng hơn. Vinapo đang làm việc với một số trường đại học có tiếng ở Việt Nam như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế Quốc Dân … về vấn đề này. Đây là cách giúp bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào đều có thể tiếp thu bài giảng từ những người thầy giỏi nhất.  Khi xây dựng Alezaa, Vinapo hướng tới thị trường nào? Lợi thế của Vinapo trên thị trường đó?  Alezaa là công cụ đầu tiên bằng tiếng Việt và chắc chắn đây là một lợi thế cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, đích ngắm thực sự của Vinapo là thị trường quốc tế. Trong khi thị trường trong nước còn tương đối hạn hẹp, thì thị trường sách điện tử trên thế giới đã rộng và đầy tiềm năng, với mức tăng trưởng 30 – 40% mỗi năm, dự kiến năm 2014 sẽ vượt mức 10 tỷ USD.   Lợi thế cạnh tranh của Vinapo và các công ty Việt Nam là sự tập trung của đội ngũ kỹ sư thông minh, sáng tạo làm việc ngày đêm để cải tiến sản phẩm. Có thể nói nguồn lực công nghệ thông tin của Việt Nam là một mỏ vàng chưa được khai thác đúng mức.     Sự tự tin chinh phục biển lớn của Alezaa khiến tôi nghĩ các anh găp thuận lợi nhiều hơn khó khăn? Anh có thể nói qua một chút về đội ngũ nhân sự trong công ty, cũng như các hướng nghiên cứu hiện tại và trong tương lai?   Xin trích câu nói của Steve Job: “Những con người có đủ điên khùng để nghĩ rằng họ có thể thay đổi thế giới là những người dám làm đến cùng”.  Điểm khác biệt giữa công ty công nghệ và các công ty khác là ở chỗ là chúng tôi phải tuyệt đối sống bằng niềm tin (cười), dù nguồn thu ngày hôm nay vẫn là nước lã và khí trời. Bởi không ai có thể khẳng định chắc chắn khi nào sản phẩm của mình sẽ nổi tiếng và có chỗ đứng trên thị trường, vì vậy đội ngũ hạt nhân của công ty phải rất kiên trì, bền bỉ. Nhóm sáng lập công ty đã chung tay góp sức suốt 5 năm qua và chúng tôi vẫn phải tiếp tục đầu tư thêm.   Đội ngũ cán bộ của Vinapo hiện tại chưa tới 20 người, các lập trình viên vẫn làm việc ngày đêm, trong suốt 5 năm qua chúng tôi không có ngày nghỉ, việc ngủ lại ở văn phòng công ty là việc bình thường.   Tuy nhiên, nguồn lực luôn có hạn nên hiện nay công ty tập trung đi sâu vào một số ít sản phẩm mũi nhọn và bỏ dở những ý tưởng đầy tiềm năng khác. Những ý tưởng tham vọng như vậy sẽ đòi hỏi sự kết hợp nguồn lực của các nhóm công nghệ khác nhau, nhưng sẽ vẫn không tránh khỏi các rủi ro cố hữu. Thị trường công nghệ là nơi chứng kiến không ít những bài học thất bại vì những lý do khách quan hay chủ quan. Ví dụ như sản phẩm Web Showcase, một công cụ tạo trang web khá tiện dụng, là sản phẩm có tính thương mại chính thức đầu tiên của Vinapo sau 3 năm nghiên cứu phát triển, khi ra đời đã không gặp thời vì rơi đúng thời kỳ kinh tế trong nước và thế giới suy thoái, khiến lượng khách hàng quan tâm không nhiều như kỳ vọng.    Theo anh tình hình các công ty công nghệ ở Việt Nam thế nào? Chúng ta đang đứng ở đâu trên bản đồ thế giới?  Khá nhiều tổ chức, quỹ đầu tư trong nước và quốc tế lâu nay đã quan tâm đầu tư vào các công ty công nghệ thông tin, và từ đó đã hình thành nên một vài doanh nghiệp ít nhiều được biết đến, nhưng nhìn chung công ty công nghệ thông tin thành công và hoạt động bền vững không nhiều.   Có nhiều lý do ở đây, trong đó yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng. (Số lượng nhân lực và bằng cấp không phải khi nào cũng phản ánh đúng khả năng của những nhóm làm công nghệ thông tin thực thụ).   Trong những năm gần đây, Việt Nam phát triển quá nhanh, đặc biệt là trong thị trường chứng khoán, bất động sản, thực sự rất ít chuyên gia công nghệ có thể tập trung để nghiên cứu được khi bạn bè của mình rất thành công về tài chính ở các lĩnh vực khác.    Ngoài ra có những giai đoạn (1999-2007), một số công ty đã hành xử thiếu đạo đức kinh doanh, chỉ tìm cách giải ngân của đối tác đầu tư thay vì làm việc nghiêm túc. Hiện tượng này đã gây mất lòng tin của không ít nhà đầu tư, tạo thêm khó khăn cho ngành công nghiệp còn non trẻ này.   Còn việc chúng ta đang đứng ở vị trí nào thì thật khó trả lời, chỉ có một điều rõ ràng là ở các hội chợ công nghệ, hầu như không thấy sự có mặt của các công ty từ Việt Nam. Duy nhất gần đây tôi thực sự ấn tượng với sự xuất hiện của Tosy với “người máy đánh bóng bàn” và các sản phẩm đồ chơi khác.  Từ kinh nghiệm của Vinapo và những gì đã được thấy từ các công ty công nghệ thông tin khởi nghiệp, anh có kiến nghị gì về chính sách ưu đãi của Nhà nước?  Điểm yếu chung là các công ty này chỉ chuyên tâm nghiên cứu công nghệ. Nhược điểm này khiến họ cần liên kết với những đối tác khác, có năng lực tốt hơn trong thu xếp vốn, kế toán, marketing, nghiên cứu thị trường… v.v. Vì vậy, một cách hữu hiệu để Nhà nước có thể hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ là tạo ra một khu trung tập trung các công ty công nghệ, nơi các nhà đầu tư và các đối tác tiềm năng có thể dễ dàng đến tiếp xúc với các nhà công nghệ. Việc bố trí các doanh nghiệp gần nhau như vậy sẽ thuận tiện cho các nhà đầu tư tiếp xúc, nghe trình bày, và lựa chọn đối tác đầu tư phù hợp.  Nhà nước nên tạo ra những hội đồng chuyên môn khách quan giúp xét duyệt việc cho phép các doanh nghiệp công nghệ tham gia vào một trung tâm như vậy. Sau một thời hạn nhất định, những doanh nghiệp này sẽ phải trình bày về sản phẩm công nghệ của mình trước một hội đồng khoa học, trong đó có những thành viên là các chuyên gia có uy tín của nước ngoài, và các chuyên gia người Việt đang công tác tại nước ngoài. “Sau vài năm nếu không làm được, họ sẽ phải ra đi”. Tiêu chí đánh giá một công ty là công ty công nghệ cũng cần cải thiện, hiện tại chúng ta dựa quá nhiều vào số bằng cấp của nhân sự trong công ty, điều đó khá bất hợp lý, vì sự sáng tạo không liên quan nhiều đến bằng cấp hay các thành tích trong thi cử.  Chính sách ưu đãi về thuế của Nhà nước cho các công ty công nghệ cũng cần phải thay đổi. Trong gian đoạn đầu công ty công nghệ phải đầu tư nhiều, chưa có doanh thu nên việc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là hoàn toàn không có tác dụng, thay bằng việc đó Nhà nước nên áp dụng chính sách miễn giảm thuế thu nhập cá nhân cho nhân viên của các công ty này.       Ngoài ra, Việt Nam rất nên tham khảo học tập một mô hình tổ chức của một số quốc gia khác, trong đó có nhà trọ cho các sinh viên, đồng thời có cả những văn phòng nhỏ để các công ty khởi nghiệp vào thuê. Phụ trợ cho các công ty khởi nghiệp này là những công ty chuyên làm kế toán, marketing, và xúc tiến các loại thủ tục giới thiệu đầu tư và kinh doanh. Trong tổ hợp còn có các phòng họp lớn, là nơi các nhóm công nghệ và các công ty có thể thuê để trình bày về các ý tưởng của mình.  Xin cảm ơn anh!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Nút thắt cơ chế      Những phòng thí nghiệm trọng điểm có thực lực như Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu đã có những kết quả nghiên cứu chín muồi sẵn sàng để triển khai phục vụ cho nền kinh tế và xã hội, nhưng một rào cản rất lớn hiện nay là Nhà nước chưa có cơ chế pháp lý cần thiết cho việc triển khai ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu có sử dụng kinh phí của Nhà nước.&#160;     Nói tới các phòng thí nghiệm do Nhà nước đầu tư, người ta ít nhiều thường có sự lo ngại, nghĩ đến hiệu quả đầu tư vì sợ trang thiết bị mua về rồi ‘đắp chiếu’ để đấy. Tuy nhiên, với Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu, chủ trì bởi Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam (Viện HHCNVN) thì mức độ khai thác sử dụng các trang thiết bị lên tới 90%, theo khẳng định của PGS.TS. Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc của đơn vị kiêm Phó Viện trưởng Viện HHCNVN. Những hoạt động nghiên cứu được tiến hành liên tục và miệt mài nơi đây đã giúp đem về cho đơn vị nhiều kết quả đáng tự hào, cụ thể tiêu biểu là 8 bài báo công bố quốc tế, 1 bằng độc quyền Giải pháp hữu ích của Việt Nam, 1 bằng độc quyền sáng chế quốc tế (ngoài Việt Nam đã được đăng ký tại Mỹ, châu Âu, và Brazil), 4 giải thưởng về KHCN và rất nhiều những nhiệm vụ khoa học công nghệ khác với các cấp Nhà nước được đơn vị hoàn thành.       Một quá trình phát triển đã chín muồi  Có được những thành tựu phong phú và đáng kể như vậy trong khi đội ngũ nhân lực xuất phát điểm lúc ra đời năm 2003 chỉ có 5 thành viên, yếu tố quan trọng nhất phải kể đến là những nỗ lực theo đuổi một chiến lược phát triển thật sự đúng đắn và bài bản, đó là lấy con người làm trung tâm, luôn chú trọng đầu tư chuẩn bị thật đầy đủ về con người trước khi đầu tư cho các nguồn lực khác. Đến nay, đơn vị đã có 36 người, với trụ cột chính là PGS. TS. Vũ Thị Thu Hà, người từng đoạt giải thưởng Kovalevskaia năm 2011.   Từng tốt nghiệp tiến sĩ ở Pháp năm 1999, chị Hà đã không ngừng tạo những mối liên kết hợp tác giữa đơn vị với các chuyên gia, tổ chức khoa học nước ngoài. Cũng nhờ một trong những mối liên kết như vậy đã đem đến cơ hội giúp đơn vị nghiên cứu và đăng ký thành công bằng sáng chế quốc tế đầu tiên, trong đó 50% thuộc sở hữu của đơn vị, 50% thuộc đối tác Pháp. Sắp tới, đơn vị sẽ tiếp tục phát triển sâu hơn nữa mối quan hệ hợp tác với các đối tác Pháp để mở ra một phòng thí nghiệm liên kết quốc tế hoạt động trực tuyến, qua đó sẽ giúp đơn vị tăng cường mạnh mẽ cơ hội đào tạo người ở Pháp, số lượng công bố quốc tế, và sự giao lưu hợp tác với các chuyên gia quốc tế.    Tuy nhiên, sau những nỗ lực phấn đấu phát triển không ngừng trong gần 10 năm qua, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu không tự thỏa mãn dừng lại ở những giải thưởng KHCN, những bằng sáng chế trong nước và quốc tế, mà còn mong muốn được tiến hành triển khai ứng dụng những nghiên cứu đã chín muồi này vào thực tế. Điều này là hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật, và một số sản phẩm và công nghệ của đơn vị hiện nay đã có sẵn những địa chỉ ứng dụng cụ thể, đơn cử như sản phẩm hydroxit nhôm – hiện đã có đối tác Nhật sẵn sàng vào đầu tư liên doanh, đồng thời bao tiêu luôn cả đầu ra – mà hiện nay ở Việt Nam đang phải nhập khẩu hoàn toàn. Và không chỉ làm ra các sản phẩm công nghiệp, đơn vị còn có khả năng nghiên cứu xây dựng cả những dây chuyền công nghệ, ví dụ như công nghệ sản xuất sorbitol đã được sản xuất thử nghiệm từ 2003 tới 2010, dự kiến được dùng trong dự án nhà máy sản xuất sorbitol quy mô 30.000 tấn/năm tại Tây Ninh do Tập đoàn Hóa chất làm chủ đầu tư.  Việc triển khai những ứng dụng như vậy sẽ giúp công việc nghiên cứu của đơn vị có sự cọ xát, gắn kết, và phản hồi từ thực tiễn đời sống để cho ra những kết quả nghiên cứu hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu thiết thực của thị trường, các ngành công nghiệp, và xã hội, chưa kể còn đem lại nguồn thu giúp đơn vị chủ động mở rộng hơn nữa hoạt động và quy mô nghiên cứu.    Nút thắt cần tháo gỡ  Nhưng bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu không chỉ là sản phẩm từ công sức lao động trí tuệ của tập thể các chuyên gia và cán bộ của đơn vị, mà còn nhờ vào nguồn kinh phí đầu tư nhiều tỷ đồng của Nhà nước. Cụ thể là Nhà nước đã đầu tư cho Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu 67 tỷ đồng để gây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồng thời nguồn chi phí thường xuyên cũng không nhỏ (riêng chi phí sửa chữa hoặc thay thế mỗi chi tiết thiết bị có thể tốn kém tới hàng trăm triệu đồng), từ năm 2008 tới nay trung bình mỗi năm đơn vị được cấp chi 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, đơn vị còn nhận được nguồn kinh phí từ các đề tài nghiên cứu KHCN các cấp của Nhà nước thông qua đấu thầu, có năm lên tới hàng chục tỷ đồng, PGS.TS. Vũ Thị Thu Hà cho biết.  Như vậy, có thể nói rằng những sản phẩm nghiên cứu của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu cũng đồng thời là một tài sản của Nhà nước, và những đối tượng muốn khai thác các sản phẩm nghiên cứu này sẽ cần trả lại cho Nhà nước phần chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra. Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước vẫn chưa quy định rõ ràng về một cơ chế cho phép các cá nhân và tổ chức KHCN triển khai thương mại hóa các kết quả nghiên cứu có sử dụng kinh phí của Nhà nước, thiếu quy định hướng dẫn cho biết liệu có phải hoàn trả phần kinh phí này cho Nhà nước hay không, nếu có thì cách tính ra sao.   Do thiếu những quy định như trên nên những nghiên cứu KHCN dùng kinh phí Nhà nước dù có địa chỉ ứng dụng vẫn chưa thể được thương mại hóa. Đây là một sự lãng phí to lớn cho xã hội, là thiệt thòi cho các nhà khoa học và các tổ chức KHCN, đồng thời là sự cản trở sự phát triển lành mạnh của KHCN theo xu hướng gắn kết với những nhu cầu kinh tế xã hội trong thực tiễn. Và điều bất cập nữa là, trong khi chưa hóa giải nút thắt đầu ra này, thì ở đầu vào hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng khác vẫn đang tiếp tục được Nhà nước đầu tư vào các nghiên cứu ứng dụng KHCN.  Những bất cập to lớn này không chỉ trong phạm vi quản lý của Bộ KH&CN mà còn trực tiếp liên quan đến Bộ Tài chính trong lĩnh vực quản lý công sản, và có thể liên quan đến nhiều Bộ ngành khác có phạm vi quản lý tương ứng với những lĩnh vực ứng dụng của các sản phẩm KHCN vì mỗi lĩnh vực có thể sẽ cần một chính sách và mức độ ưu đãi riêng – ví dụ như những sản phẩm thay thế nhập khẩu như hydroxit nhôm của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc và hóa dầu là loại sản phẩm cần được ưu đãi đặc biệt – và tùy theo mức độ ưu đãi này mà Nhà nước cần đặt ra quy định mức hoàn trả chi phí cao hay thấp tương ứng. Vì vậy, để có được những quy định hướng dẫn cụ thể và rõ ràng sẽ cần một sự vào cuộc tích cực của các Bộ ngành, và trước mắt là một chủ trương quyết liệt từ Quốc hội và Chính phủ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Ở góc độ quốc gia thì con số 1.000 tỷ đồng dành cho nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn”      Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân đã giải đáp những thắc mắc về số kinh phí 1.000 tỷ đồng  dành cho nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông  nghiệp và việc áp dụng công nghệ biến đổi gene vào sản phẩm nông nghiệp trong chương trình  “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời” trên VTV 1 ngày 14-12 vừa qua.     – Thưa Bộ trưởng, báo cáo của Bộ Khoa học Công nghệ cho biết: Việt Nam hiện có khoảng 10.895 cán bộ khoa học công nghệ đang trực tiếp nghiên cứu công nghệ nông nghiệp. Tiền đầu tư chiếm hơn 1/3 kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ; còn kinh phí đầu tư thông qua Bộ NN&PTNT 5 năm qua trung bình 1 năm ngân sách nhà nước chi hơn 1.000 tỷ đồng cho nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp.   Một người dân quan tâm đến vấn đề này gửi thư về chuyên mục cho biết: Tôi là nông dân tôi thấy số tiền đó rất lớn, vậy mà tại sao nền khoa học công nghệ phục vụ cho nông nghiệp của chúng ta đến nay vẫn chưa thấy có thành tựu gì đáng kể? Xin mời Bộ trưởng trả lời câu hỏi này của người dân?  – Trước hết tôi xin đính chính số liệu hơn 10.000 người làm khoa học công nghệ đó là đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của Bộ NN&PTNT. Thứ hai, kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu không phải là hàng nghìn tỷ vì còn gồm cả cho chi thường xuyên và chi cho nghiên cứu phát triển.   Nếu tính trên 10.000 cán bộ nghiên cứu hay trên 100 Viện, Trung tâm nghiên cứu của Bộ NN&PTNT thì số tiền chia ra rất nhỏ. Đứng ở góc độ của người nông dân thì là số tiền lớn, nhưng nhìn ở góc độ quốc gia thì con số đó vẫn khiêm tốn, so với các nước cạnh chúng ta chỉ bằng 1/10 của họ.   Nếu nói ngành nông nghiệp của ta chưa phát triển gì đáng kể là chưa khách quan, bởi vì nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực bây giờ là nước có thứ hạng trong việc xuất khẩu gạo, 1 năm chúng ta xuất khẩu các mặt hàng nông sản và thủy sản đạt 30 tỷ USD, chiếm 20% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như hàng nông sản, thủy sản của chúng ta không đạt tiêu chuẩn quốc tế thì không thể xuất khẩu sang các nước đó được.   Về tổng thể mà nói chúng ta có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp lớn trong cả nước như công ty bảo vệ thực vật An Giang, hay ở phía Bắc có các đơn vị khoa học công nghệ ở Thái Bình, Nghệ An họ đã làm rất tốt việc đầu tư khoa học công nghệ cho nông nghiệp có hiệu quả lớn. Với những mô hình đó, tôi tin rằng một thời gian không xa nền nông nghiệp nước ta sẽ từng bước hiện đại không còn cảnh lạc hậu trong canh tác, làm ra nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.  – Còn nhớ cách đây 1 năm, cũng trong chuyên mục Dân hỏi Bộ trưởng trả lời vào tháng 6/2013, Bộ trưởng có nhắc đến áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến nhất của Nhật Bản, Israel để đảm bảo cho người nông dân có được sản phẩm có giá trị tối đa. Vậy Bộ KH&CN hiện đang tiến hành việc này như thế nào, có khó khăn gì trong quá trình áp dụng không, khi mà trong cả nước vẫn còn xảy ra hiện tượng được mùa mất giá đối với cà chua, thanh long, con tôm và cá ngừ?  – Việc bảo quản chế biến sau thu hoạch là quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, thủy sản của Việt Nam. Thời gian 1 năm đúng là dài, nhưng để làm chủ 1 công nghệ và đưa vào ứng dụng sản xuất công nghiệp thì thời gian cũng không phải dài.   Năm 2013, Bộ KH&CN đã tiếp cận công nghệ Cash của Nhật Bản và công nghệ Juran của Israel bảo quản rau quả và đã thí nghiệm thành công trên cá ngừ, tôm sú và quả vải thiều. Vụ vải vừa rồi, 1 container vải được bảo quản công nghệ Cash đã được đưa đến Nhật Bản và được đánh giá cao.   Tuy nhiên, để đầu tư thì chúng ta phải xây dựng thị trường, vấn đề là làm thế nào Nhật Bản chấp nhận nhập khẩu vải vào thị trường mới là vấn đề quan trọng. Việc này thì Chính phủ đã giao cho Bộ Công Thương làm việc với các đối tác Nhật Bản đến bạn tiếp nhận, tương tự như vậy với cá ngừ. Chúng ta đã làm chủ được thiết bị câu cá ngừ, thứ hai là công nghệ bảo quản cá ngừ công nghệ Cash.   Hiện chúng tôi đang chuẩn bị đầu tư nhà máy công nghệ bảo quản cá ngừ ở Phú Yên, chúng tôi hi vọng với việc làm chủ được thiết bị câu cá ngừ đại dương với nhà máy này sắp tới cá ngừ của Phú Yên và Bình Định sẽ bán sang Nhật Bản với số lượng nhiều và chất lượng tốt hơn. Riêng đối với quả vải, quả chôm chôm sau này sẽ tiến tới thanh long chúng ta có thể sử dụng công nghệ của Nhật và Israel để đảm bảo chất lượng cao hơn và xuất khẩu nhiều hơn.  – Một hộ kinh doanh cá thể chuẩn bị đầu tư vào ngành thực phẩm biến đổi gen gửi thư về chuyên mục bày tỏ sự băn khoăn: Việc cho phép sản xuất các loại lương thực, ngũ cốc biến đổi gen là điều lợi bất cập hại, bởi vì tuy giúp chúng bớt phụ thuộc vào nhập khẩu nhưng thay vào đó sẽ là phụ thuộc về giống, trong khi tác động của loại cây trồng này đến sức khỏe và môi trường vẫn chưa được kiểm định đầy đủ. Ý kiến của Bộ trưởng về vấn đề này là như thế nào?  – Cây trồng biến đổi gen có ưu điểm là có năng suất cao chống chịu được yếu tố sâu bệnh, khí hậu và năng suất ổn định. Tuy nhiên, lo ngại của bà con nông dân cũng có ý đúng là chúng ta bị phụ thuộc về giống bởi chúng ta chưa làm chủ công nghệ về giống với cây trồng biến đổi gen, vì thế lực lượng khoa học của chúng ta phải nhanh chóng làm chủ được các khoa học công nghệ để tự túc được giống.   Trên thực tế Viện Nghiên cứu ngô của chúng ta cũng tạo ra các sản phẩm biến đổi gen nhưng chúng ta chưa triển khai đại trà và quy mô lớn. Vì thế sau một thời gian khảo nghiệm thấy rằng cây ngô và đậu tương biến đổi gen được mở rộng diện tích, đồng thời Bộ Tài nguyên Môi trường cũng đã cấp phép an toàn sinh học đối với hai loại cây này.   Trước mắt, ngoài việc chúng ta mở rộng diện tích khảo nghiệm, trong tương lai các Viện nghiên cứu của chúng ta phải nhanh chóng làm chủ được công nghệ tạo giống và vẫn nghiên cứu tác hại [nếu có] của cây trồng biến đổi gene đối với sức khỏe con người.  – Một người dân từng đi thăm quan Nhật Bản về gửi thư về chuyên mục có hỏi: Tôi thấy ở Nhật Bản có nhiều trang trại trồng rau sạch công nghệ cao đem lại giá trị kinh tế không nhỏ. Ngoài ra tôi cũng được biết người Nhật đã đầu tư thử nghiệm trồng rau sạch thành công ở Lâm Đồng. Vậy tại sao đất của ta, nhân công của ta mà cuối cùng họ lại là người thu được thành quả như vậy?  – Vấn đề là chúng ta chưa có công nghệ, người Israel còn trồng lúa trên sa mạc và năng suất trên 10 tấn ha/vụ, cho nên ngay ở Đà Lạt chúng ta trồng rau, hoa nếu như không áp dụng khoa học công nghệ cao thì chúng ta không đạt năng suất chất lượng như người nước ngoài đầu tư vào đây.   Điều đó nói lên khoa học công nghệ đóng vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nếu như các doanh nghiệp không quan tâm đầu tư cho khoa học công nghệ thì chỉ có thể tạo ra những sản phẩm chất lượng năng suất thấp, chủ yếu là lấy công làm lãi.   Vì vậy, chúng tôi mong muốn bà con ở địa phương, các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư cho khoa học công nghệ, làm chủ công nghệ, trước mắt chúng ta phải mua công nghệ của nước ngoài nhưng phải nhanh chóng làm chủ, sáng tạo công nghệ đó để chúng ta làm được như các doanh nghiệp nước ngoài trên chính mảnh đất của chúng ta.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Ở lại nước ngoài làm việc là chảy máu chất xám?      Các nhà khoa học cần có môi trường và điều kiện phù hợp để toàn tâm cho chuyên môn và phát huy năng lực của mình. Vậy thì việc những nhà nghiên cứu làm việc và cống hiến trí tuệ cho khoa học ở nước ngoài có phải là chảy máu chất xám?     Ít nhất sẽ có hai quan điểm khi trả lời câu hỏi này. Quan điểm thứ nhất cho rằng mọi kết quả nổi bật của bất kì một cá nhân nào đó rốt cục cũng đều là những cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại, vì vậy những người có năng lực nhất định nên tìm đến một môi trường thích hợp để có điều kiện phát huy hết khả năng của mình, một cách tốt nhất. Đây là một quan điểm thiên về giá trị nhân văn mang tính phổ quát, coi cả nhân loại là chung một nhà, mà theo đó khái niệm chảy máu chất xám là vô nghĩa.  Quan điểm thứ hai ngược lại, mặc định phân chia thế giới thành các vùng, miền riêng biệt, và có sự phân biệt lợi ích dân tộc hay lợi ích quốc gia. Theo đó, nếu xem mỗi một con người là một phần của một quốc gia thì trí tuệ của họ sẽ là tài sản quốc gia, và rõ ràng, khi quốc gia không giữ được tài sản ấy thì đó là một sự mất mát.   Ngoài hai quan điểm chủ đạo này, còn một lối suy nghĩ khác, cho rằng hãy cứ để những người có năng lực ra đi và đến một lúc nào đó họ sẽ quay trở về. Suy nghĩ này tuy không phải là không có cơ sở nhưng nó phần nhiều dựa vào niềm tin và/hay sự kì vọng liên quan đến tính trắc ẩn của từng người mà thôi.           Sau khi học và làm việc ở Paris năm năm, tôi  quyết định về nước làm việc đơn giản vì những nhu cầu đời sống tình cảm  cá nhân, dù biết rằng sẽ phải đối diện với những vấn đề như điều kiện  làm việc hạn chế, đời sống kinh tế thấp, khiến khó có thể luôn toàn tâm  cho công việc chuyên môn. Thực tế đúng là như vậy, sau khi trở về dù  luôn luôn cố gắng thì cũng giống như bao người khác, bản thân tôi cũng  không thể thoát khỏi những băn khoăn về vấn đề thu nhập và các điều kiện  ngoại cảnh. Nhưng dù sao tôi và một số bạn đồng nghiệp vẫn là những  người may mắn, vì khi quay trở về nước năm 2009 thì đúng lúc Quỹ  NAFOSTED ra đời, cho chúng tôi một cơ hội để yên tâm làm việc hơn, nghĩa  là có thể vẫn sống được bằng nghề nếu làm tốt chuyên môn. Ngoài ra,  hằng năm dựa trên các kết quả làm việc của mình, tôi vẫn có thể xin được  các tài trợ để đi gặp gỡ bạn bè đồng nghiệp qua các hội nghị, hội thảo  quốc tế, và tiếp tục phát triển sự nghiệp khoa học của mình.        Quan điểm riêng của tôi thiên về quan điểm thứ hai, cho rằng mỗi quốc gia và dân tộc phải bảo vệ, giữ gìn và tìm cách làm giàu hơn những tài sản mà mình đang có, trong đó có tài sản trí tuệ/chất xám. Tuy nhiên, tài sản trí tuệ/chất xám chỉ tồn tại trong sự vận động nên không thể chỉ giữ khư khư một chỗ, mà phải tạo các điều kiện thuận lợi cho nó được phát triển, sinh sôi nảy nở. Nếu một quốc gia không làm được điều này thì việc giữ gìn, níu kéo các tài sản trí tuệ là vô nghĩa, và khi đó sự mất mát hay chảy máu chất xám là đương nhiên, không tránh khỏi.   Thông thường khi nói đến sự chảy máu chất xám người ta thường liên tưởng ngay tới những người đã thành danh, mà có khi chẳng mảy may nghĩ tới những kẻ khác, những người đang âm thầm làm việc và có tiềm năng trở thành những tài năng thành danh mới. Nếu như chúng ta không có chính sách xứng đáng, không tạo điều kiện phù hợp cho công việc của họ, thì mai này họ sẽ tìm đến một môi trường khác phù hợp cho sự phát triển của mình, để cống hiến tài năng của mình và rồi thành danh ở đó. Đây là tình thế rất mỉa mai cho chúng ta: để mất tài sản rồi mới biết mình có tài sản đó! Và nếu đợi đến khi ấy chúng ta mới mời mọc, níu kéo và giữ gìn những tài năng này thì không còn ý nghĩa nữa vì thực tế công trạng của họ đã được ghi nhận cho nơi làm cho họ thành danh rồi, đồng thời với danh tiếng ấy họ được tất cả mọi nơi chào đón, lôi kéo, vậy thì chúng ta cố giữ cho riêng mình cũng không được nữa.  Để tránh tình trạng này, chúng ta không nên quên rằng sự hùng mạnh của một quốc gia trên một lĩnh vực nào đó dựa trên nền tảng phát triển đồng đều của số đông chứ không phải là số ít. Vì vậy đừng quên giữ gìn/phát triển những dòng máu trí tuệ/chất xám đang âm thầm chảy tí tách một cách đúng mực. Nước chảy chỗ trũng, nên việc phát huy nội lực hay tập trung và phát triển trí tuệ chính là việc phải luôn luôn chủ động tạo ra những vùng trũng (môi trường thuận lợi) để định hướng những dòng chảy nhỏ đó thành một dòng chảy lớn có năng lượng cao.     Author                Quản trị        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí: Cần một đề tài mang tính liên hợp      So với thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay, sự đầu tư của nhà nước và chính quyền địa phương cho việc nghiên cứu về ô nhiễm không khí còn rất khiêm tốn1.  Sự đầu tư này quá nhỏ so với lợi ích từ việc giảm thiểu ô nhiễm không khí như giảm chi phí gánh nặng bệnh tật, sự ổn định xã hội, và nhiều lợi ích kinh tế khác.      Thiết bị quan trắc chất lượng không khí của cơ quan quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên. Nguồn: Báo Thái Nguyên.  Những năm gần đây, các nhà khoa học, người dân, và cho tới các cấp chính quyền đã quan tâm nhiều hơn đến ô nhiễm không khí. Với sự góp mặt của cổng thông tin quan trắc môi trường, mạng lưới quan trắc môi trường thủ đô cũng như sự góp sức của một số mạng lưới cảm biến như PamAir, bức tranh về mức độ ô nhiễm bụi mịn hiện ra ngày một rõ ràng hơn. Sự đầu tư cho mạng lưới quan trắc không khí quốc gia là việc làm cần thiết để có thể định lượng chính xác thực trạng ô nhiễm không khí toàn quốc.    Bên cạnh đó, gần đây các nhà khoa học trong nước đã có thêm nhiều công bố chất lượng trên tập san uy tín với chủ đề nghiên cứu mở rộng từ đo đạc nồng độ ô nhiễm và lượng phát thải, phân tích đặc trưng bụi cho tới phát triển mô hình mô phỏng, ứng dụng dữ liệu vệ tinh và tính toán sự phơi nhiễm ô nhiễm không khí. Những công bố khoa học này là những mảnh ghép quan trọng cho chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về thực trạng ô nhiễm không khí để có những giải pháp đúng đắn.      Hiện nay việc nghiên cứu về ô nhiễm không khí đang gặp nhiều khó khăn do những thiếu hụt trong dữ liệu quan trắc, kiểm kê và thiết bị đo đạc phân tích. Việc thiếu một bộ dữ liệu đồng bộ và liên tục sẽ cản trở sự phân tích xu thế ô nhiễm cũng như khó có thể đưa ra một bức tranh tổng thể về tình hình ô nhiễm.      Những khó khăn và thiếu hụt     Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch quốc gia (QĐ 1973/QĐ-TTg, 23/11/2021) về quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2021-2025, trong đó có đưa ra bốn chương trình ưu tiên bao gồm hoàn thiện chính sách pháp luật, đổi mới cộng nghệ sản xuất và thiết bị xử lý khí thải công nghiệp, đầu tư thiết bị quan trắc, kiểm kê nguồn khí thải và phổ biến thông tin về chất lượng không khí. Đây là một bước đi quan trọng trong việc quản lý chất lượng không khí. Tuy nhiên, theo tôi kế hoạch quốc gia cần đặt việc nâng cao chất lượng nghiên cứu về ô nhiễm không khí là ưu tiên hàng đầu. Bởi có đánh giá chính xác về hiện trạng, nguồn cũng như ảnh hưởng của các hiện tượng ô nhiễm dựa trên kết quả của những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện từ các trường đại học và viện nghiên cứu, chúng ta mới có thể đưa ra một lộ trình giảm thiểu ô nhiễm một cách hiệu quả cũng như đặt ra những mục tiêu thực tế và cụ thể. Hiện nay, việc nghiên cứu về ô nhiễm không khí đang gặp nhiều khó khăn do những thiếu hụt trong dữ liệu quan trắc, kiểm kê và thiết bị đo đạc phân tích.    Kế hoạch quốc gia đã đề cập chung tới dữ liệu quan trắc và kiểm thải, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Để có thể hiểu sâu sắc và giải thích được các hiện tượng ô nhiễm, chúng ta cần có nhiều dữ liệu chuyên sâu về thành phần hóa học của nguồn gây không khí (ví dụ hàm lượng một số kim loại nặng như chì, arsen, niken hay các hợp chất vòng thơm đặc biệt ở các khu công nghiệp). Một số dự án gần đây được sự tài trợ của nước ngoài đã phân tích thành phần hóa học của bụi, tuy nhiên dữ liệu đó chỉ mang tính chất thời vụ của dự án nên không tạo hệ dữ liệu liên tục. Sự thiếu một bộ dữ liệu đồng bộ và liên tục sẽ cản trở sự phân tích xu thế ô nhiễm cũng như khó có thể đưa ra một bức tranh tổng thể về tình hình ô nhiễm.    Nguyên nhân của những khó khăn về mặt dữ liệu này là do chúng ta thiếu nghiêm trọng các thiết bị đo đạc, đặc biệt các thiêt bị đo theo thời gian thực (real-time instruments). Các thiết bị hiện nay có thể đo những thành phần cơ bản của bụi như nông độ kim loại, ion, carbon đen, tổng hàm lượng carbon và một số các chất hữu cơ cũng như các khí theo từng giờ, thậm chí từng phút. Những thiết bị đo đạc này rất hữu ích trong việc xác định nhanh nguyên nhân ô nhiễm cũng như cảnh báo ô nhiễm. Sự thiếu hụt các thiết bị đo đạc đặc trưng lý tính của bụi như phân bố kích cỡ bụi, hình dáng cấu tạo, mật độ trọng lượng và độ háo nước của bụi đã làm hạn chế những nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế hình thành và lan truyền bụi. Xây dựng một siêu trạm quan trắc (supersite) bao gồm các thiết bị quan trắc hiện đại trong tương lai gần đang là mơ ước của các nhà nghiên cứu về ô nhiễm không khí tại Việt Nam.      TS. Lý Bích Thủy (Viện Công nghệ môi trường, ĐH Bách khoa HN) giới thiệu một số thiết bị phân tích mẫu không khí trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Nhật Hà  Một sự thiếu hụt đáng tiếc khác là về các thiết bị phân tích thành phần hóa học trong phòng thí nghiệm của các trường đại học và viện nghiên cứu. Từ việc tham khảo các kết quả công bố khoa học gần đây, chúng ta có thể thấy rằng các thiết bị đo ô nhiễm không khí của chúng ta hầu như không có gì ngoài các trạm quan trắc đo một số thông số ô nhiễm cơ bản, các thiết bị thu bụi và một số các cảm biến quang học. Trong khi việc đầu tư nhiều các thiết bị đo đạc và phân tích hiện đại đã trở thành phổ biến ở rất nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới. Đầu tư thiết bị phân tích và nâng cao khả năng phân tích rất tốn kém nhưng những lợi ích mang lại rất lớn và dài lâu vì không những có thể phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu không khí mà còn các ngành khác như nghiên cứu về ô nhiễm đất/nước, dược phẩm, và thực phẩm.    Tất nhiên để thực hiện nghiên cứu, thì không thể bỏ qua yếu tố con người. Nếu so sánh với các nước khác như Vương quốc Anh và với nhu cầu thực tế thì số lượng các nghiên cứu viên làm về ô nhiễm không khí trong nước còn rất mỏng. Hiện tại, chúng ta đã và đang xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh (đây là một chủ trương đúng đắn và cần thiết). Việc đào tạo các sinh viên giỏi là việc không thể thiếu trong quá trình xây dựng các nhóm nghiên cứu đó. Tuy nhiên số lượng sinh viên theo chuyên ngành ô nhiễm không khí rất ít và chưa được đào tạo một cách chuyên sâu về nghiên cứu. Do đó, chúng ta cần mở rộng và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo trong nước để thu hút sinh viên nhiều hơn.      Hiện nay có một số lượng đề tài nghiên cứu về ô nhiễm không khí hoàn toàn có thể gộp thành một đề tài lớn mang tính liên hợp. Việc tạo ra các đề tài lớn theo hình thức liên hợp này vừa tạo ra sức mạnh tài chính lớn, đồng thời tạo ra sự hợp tác, bổ trợ lẫn nhau giữa các nhóm.      Một chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia?     Dựa trên kinh nghiệm từ những dự án nghiên cứu ô nhiễm không khí tại Vương quốc Anh và Trung Quốc, tôi cho rằng nghiên cứu ô nhiễm không khí cần được đầu tư một cách liên tục và bài bản. Việc đầu tư nghiên cứu ô nhiễm không khí với kinh phí nhỏ và riêng lẻ như hiện nay có thể dẫn tới sự thiếu hiệu quả. Đặc thù của ngành môi trường nói chung đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa nhiều nhà khoa học từ cùng một chuyên ngành hoặc liên ngành. Thí dụ, để thu mẫu và thực hiện các chiến dịch thu mẫu là rất tốn kém, do đó nếu gộp các dự án nhỏ lại một chương trình nghiên cứu lớn hơn, các nhà nghiên cứu có thể chia sẻ lẫn nhau các mẫu và thiết bị nghiên cứu và cũng như dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Sự đồng bộ của dữ liệu về mặt thời gian cũng rất quan trọng để có thể đánh giá và xác nhận độ chính xác của những mô hình mô phỏng, từ đó cho chúng ta một bức tranh tổng thể về tình hình ô nhiễm không khí.    Trên thực tế, hiện nay có một số lượng đề tài nghiên cứu về ô nhiễm không khí và hoàn toàn có thể gộp thành một đề tài lớn mang tính liên hợp. Việc tạo ra các đề tài lớn theo hình thức liên hợp này vừa tạo ra sức mạnh tài chính lớn, đồng thời tạo ra sự hợp tác, bổ trợ lẫn nhau giữa các nhóm. Đây là điều từng được kiến nghị cách đây vài năm nhưng có vẻ như chưa trở thành hiện thực cho nghiên cứu ở Việt Nam2. Chúng ta cần có một chương trình nghiên cứu về ô nhiễm không khí với một sự tài trợ lớn và dài hơi. Các nhóm nghiên cứu cần hợp tác để kết hợp cùng nộp những đề tài nổi bật (hightlight topics) để các nhà tài trợ có thể lựa chọn một hoặc hai chủ đề lớn nghiên cứu cần ưu tiên trong năm. Tất nhiên bên cạnh các đề tài trọng điểm quốc gia thì các địa phương cũng cần phải có những tài trợ nhỏ hơn để nghiên cứu tình hình ô nhiễm không khí trên địa bàn. Thí dụ thành phố Hà Nội có thể tài trợ cho đề tài về mô hình cảnh bảo sớm ô nhiễm không khí cũng dự đoán các đợt bụi kéo dài ở Hà Nội.    Những chủ đề lớn ví dụ như xác định nguồn ô nhiễm không khí ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: các đề tại hiện tại mới đang tìm hiểu một vài khía cạnh như xác định hóa học của bụi sau đó dùng mô hình điểm ô nhiễm không khí nhận để tìm nguồn ô nhiễm. Để có thể hiểu sâu và chính xác hơn về nguồn ô nhiễm không khí, chúng ta cần kết hợp nhiều kỹ thuật phân tích, phát triển các mô hình mô phỏng cũng như nghiên cứu cụ thể cơ chế lan chuyền và hình thành các chất ô nhiễm.    Có thể thấy, chúng ta còn một chặng đường rất dài để có thể cải thiện chất lượng không khí đạt được mức khuyến nghị của tổ chức y tế thế giới (WHO). Nghiên cứu một cách bài bản về tình hình ô nhiễm không khí sẽ giúp chúng ta có những chính sách phù hợp để rút ngắn đáng kể chặng đường đó. Để đạt được điều đó, chúng ta cần đầu tư một cách mạnh mẽ trong việc tài trợ thiết bị nghiên cứu và các đề tài đủ lớn để giải quyết trọn vẹn từng vấn đề quan trọng và cần xây dựng các chương trình nghiên cứu cụ thể cũng như đào tạo thêm nhiều các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu ô nhiễm không khí.□  ———-  * TS. Vũ Tuân, nghiên cứu viên về chất lượng không khí, Đại học hoàng gia London, Vương quốc Anh  Tham khảo & Chú thích:  1. Trong bài viết gần đây trên Tia Sáng, tác giả Anh Vũ đã có một bài viết ngắn về những khó khăn trong nghiên cứu ô nhiễm không khí do đầu tư cho nghiên cứu còn rất hạn chế. Xem: Nghiên cứu ô nhiễm không khí: Đã được đầu tư tương xứng? https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Nghien-cuu-o-nhiem-khong-khi-Da-duoc-dau-tu-tuong-xung–25326  2. Hơn 5 năm trước, trong một bài viết trên Tia Sáng (2015), tác giả Ngô Đức Thế đã kiến nghị việc cấp các đề tài lớn theo hình thức consortium bằng cách gộp các đề tài nhỏ. Xem: Tái cơ cấu tài trợ và nâng cao hợp tác trong khoa học, https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/tai-co-cau-tai-tro-va-nang-cao-hop-tac-trong-khoa-hoc-8549    Author                Vũ Tuân        
__label__tiasang Ô nhiễm không khí Hà Nội: Những khoảng trống dữ liệu      Sau hơn 20 năm kể từ khi xuất bản những nghiên cứu đầu tiên về ô nhiễm không khí ở Hà Nội cũng như một số vùng lân cận, các nhà khoa học Việt Nam vẫn còn chật vật để có dữ liệu đầu vào.      Hà Nội trong những ngày ô nhiễm. Nguồn: vtv.vn    Câu chuyện dựa vào dữ liệu để ra quyết định không còn mới mẻ. Hãy thử hình dung đến một ngày nào đó, ngoài những tiêu chí thông thường như “đường xá thuận lợi, gần nhà trẻ, trường học, siêu thị…” thì người ta có thể cân nhắc thêm những yếu tố môi trường, từ chung chung như “rất ô nhiễm” đến như “nồng độ PM2.5, NOx, SO2” từ các loại bản đồ ô nhiễm không khí trước khi quyết định mua bán nhà cửa.    Tuy nhiên, từ nay đến khi đó còn là một khoảng cách rất xa, không chỉ vì những nghiên cứu gần gũi như thế vẫn còn đang trên đà thực hiện, ví dụ như “Mô hình hóa bản đồ PM2.5 cho thành phố Hà Nội” của PGS. TS Nguyễn Thị Nhật Thanh (ĐH Công nghệ, ĐHQGHN) hay “Đánh giá tác động của ô nhiễm PM2.5 bên ngoài lên sức khỏe” của TS. Nguyễn Thị Trang Nhung (ĐH Y tế công cộng, Bộ Y tế) vừa mới chỉ báo cáo một số kết quả sơ bộ vào giữa tháng 12/2020, khi Hà Nội rơi vào cao điểm ô nhiễm theo quy luật khí tượng. Quan trọng hơn là những người làm nghiên cứu về ô nhiễm không khí vẫn còn chưa có điều kiện tiếp cận các nguồn dữ liệu đầu vào tốt như mong muốn. “Cho đến hiện nay thì tất cả nguồn số liệu này tại Việt Nam còn tản mát, không nhất quán theo quy chuẩn lưu và công bố số liệu đang rất khó khăn, cả về chất lượng và nơi có thể tiếp cận”, TS. Nguyễn Thị Trang Nhung chia sẻ qua email với chúng tôi như vậy.      “Có hai nguyên nhân khiến người ta không muốn chia sẻ dữ liệu là vốn dĩ trước đây nhà nước không có thói quen công khai số liệu, bây giờ cũng không muốn vì sợ số liệu không đủ chất lượng, số liệu không đồng đều do thiết bị quan trắc cũng thường trục trặc, mỗi lần như thế phải ngừng vận hành mà ngừng vận hành thì trống dữ liệu thu thập” (TS Hoàng Dương Tùng).      Ai cần dữ liệu?     Nếu mang câu hỏi “anh/chị có cần dữ liệu?” cho bất cứ nhóm nghiên cứu nào thì có lẽ, ai cũng nhận được cái nhìn sửng sốt “chuyện đương nhiên như thế còn phải hỏi”. Từ nhiều năm nay, nhu cầu về những bộ dữ liệu được thu thập trong thời gian đủ dài, chính xác, đáng tin cậy đã tồn tại âm thầm trong lòng cộng đồng các nhà khoa học. Trong cuộc trò chuyện vào năm ngoái, giáo sư Hoàng Xuân Cơ (ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) cho biết, vào năm 2003, ông đã thực hiện một đề tài về việc sử dụng số liệu từ các trạm quan trắc để tìm hiểu xem những ai sử dụng số liệu đó. Điều ông phát hiện ra là “nhà quản lý cần số liệu nhưng là dữ liệu đã được xử lý để phục vụ cho việc quản lý chất lượng môi trường không khí quốc gia; nhà nghiên cứu dùng rất nhiều loại dữ liệu khác nhau để nghiên cứu, tìm ra quy luật của chúng và đưa ra những công cụ tiếp theo, phục vụ cho vấn đề quản lý; doanh nghiệp/tổ chức cần số liệu thông qua đặt hàng; còn cộng đồng cần dữ liệu đã qua xử lý như dưới dạng chỉ số ô nhiễm để có thể hiểu được chất lượng môi trường không khí nơi mình sinh sống như thế nào”.    Có một nguồn dữ liệu đầu vào như vậy là niềm mơ ước của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Không chỉ những người cần số liệu đưa vào các mô hình tính toán lan truyền ô nhiễm, lập bản đồ ô nhiễm hay tìm sự ảnh hưởng của ô nhiễm tới các vấn đề như sức khỏe, thu thập… mà những nhà nghiên cứu ở lĩnh vực khác cũng cần số liệu. “Nhiệm vụ kiểm kê phát thải, tính hệ số phát thải của một chất ô nhiễm nào đó hay quản lý chất lượng môi trường dưới góc độ tính toán khả năng nền của môi trường không khí… thì càng cần số liệu. Việc có nhiều số liệu từ nhiều nguồn khác nhau giúp mở rộng cơ hội nghiên cứu, ví dụ như đánh giá xu thế biến đổi của chất lượng môi trường không khí theo không gian, thời gian, hay ảnh hưởng của từng chính sách, phương thức quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí có thực sự hiệu quả hay không?”, PGS. TS Hoàng Anh Lê, trưởng bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường, trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), cho biết như vậy.      Ngày 27/5, Hà Nội tổ chức tiếp nhận 24 trạm quan trắc không khí tự động do Công ty TNHH THT (Hàn Quốc) tài trợ, đưa tổng số trạm quan trắc của Hà Nội lên con số 35. Ảnh: dangcongsan.vn.     “Về dữ liệu dùng để đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm không khí cần ít nhất hai nguồn chính: phân bố nồng độ ô nhiễm (mức độ ô nhiễm ở các vùng, cần chi tiết càng tốt) và mô hình bệnh tật và tử vong. Ngoài ra chúng tôi cần các số liệu phụ trợ nhằm giúp các đánh giá/ước tính chính xác hơn như dân số, mật độ dân số, bản đồ sử dụng đất, mật độ giao thông và lưu lượng xe. Mặc dù đây là những nguồn số liệu được thu thập theo ngân sách/hỗ trợ của nhà nước nhưng các nhóm như chúng tôi vẫn chưa được tạo điều kiện, nếu không nói là đang rất khó trong tiếp cận số liệu cho mục đích nghiên cứu phục vụ cho đề xuất chính sách và phục vụ cho người dân. Vì vậy chúng tôi đề nghị nên xây dựng quy trình công khai số liệu phục vụ cho các mục đích khác nhau như nghiên cứu hay quản lý” (TS. Nguyễn Thị Trang Nhung).  Là trưởng một nhóm nghiên cứu về thống kê y tế, hơn ai hết TS Nguyễn Thị Trang Nhung hiểu giá trị của dữ liệu với chất lượng nghiên cứu của mình. Một trong những mơ ước của chị là có thể hợp tác với nhiều nhóm khác để có thể tìm hiểu “tác động của ô nhiễm không khí lên các tế bào của con người, qua đó giúp giải thích các kết quả đánh giá mối liên quan của sự gia tăng ô nhiễm không khí lên các bệnh không lây như tiểu đường, ung thư, tim mạch hay là ảnh hưởng lên các biến chứng thai kỳ như sinh non, sinh con nhẹ cân”.  Tại Việt Nam, do những nghiên cứu liên quan đến tế bào hay bio-marker còn rất hiếm hoi nên chị chọn cách thực hiện hướng xác định mối liên quan giữa ô nhiễm không khí lên các bệnh không lây để khảo sát các tác động dài hạn (long term effect). Vì vậy điều chị cần là “độ chính xác của nguồn dữ liệu môi trường, cụ thể là phân bố nồng độ ô nhiễm, để có thể áp dụng các hướng dẫn của WHO trong tính toán tác động sức khỏe bên cạnh mô hình bệnh tật của địa bàn đánh giá” bên cạnh các số liệu phụ trợ khác.     Ở đâu nguồn dữ liệu?     Có thể thấy, điểm hội tụ của các nhà khoa học ở nhiều hướng nghiên cứu đều là cần số liệu thu thập đầu vào đủ tin cậy và đủ dài theo thời gian. “Muốn hiểu được diễn biến của chất lượng không khí như thế nào thì cần phải có chuỗi số liệu đủ dài, chuỗi số liệu ngắn hạn thì rất khó đánh giá”, PGS. TS Hoàng Anh Lê cho biết. Thế nào là đủ dài? “Đối với chất lượng môi trường không khí, chuỗi số liệu  cũng phải từ năm năm trở lên, hoặc ít nhất cũng phải ba năm liên tục thì mới có thể bắt đầu đánh giá được. Chuỗi số liệu như vậy hiện tại chỉ có thể có được từ các trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia. Có lẽ cũng rất nhiều người mong muốn có được bộ số liệu của trạm quan trắc chất lượng môi trường không khí quốc gia để đánh giá, thế nhưng các nhà khoa học cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập được nguồn số liệu này”.      Một bảng biểu thị chất lượng không khí Hà Nội và TPHCM vào tháng 9/2019 của Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc (Tổng cục Môi trường). Nguồn: Tổng cục Môi trường.  Vậy tại sao ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu chưa được cung cấp những dữ liệu cần thiết như vậy? Dưới góc độ của người từng làm quản lý trong lĩnh vực môi trường, TS. Hoàng Dương Tùng giải thích qua điện thoại “Ở Việt Nam thực sự chưa có thói quen chia sẻ dữ liệu môi trường, nhà nghiên cứu cũng không biết nguồn cung ở đâu để tiếp cận. Theo tôi hiểu, có hai nguyên nhân khiến người ta không muốn chia sẻ dữ liệu là vốn dĩ trước đây nhà nước không có thói quen công khai số liệu, bây giờ cũng không muốn vì sợ số liệu không đủ chất lượng, số liệu không đồng đều do thiết bị quan trắc cũng thường trục trặc, mỗi lần như thế phải ngừng vận hành mà ngừng vận hành thì trống dữ liệu thu thập”.    Từng đề cập đến trạm chuẩn đặt ở khuôn viên Tổng cục Môi trường trong cuộc trao đổi với chúng tôi vào tháng 3/2020, TS. Hoàng Dương Tùng cho biết, thiết bị hiện đại đó không chỉ đo được bụi PM2.5 mà còn đo được cả SO2, NO2, VOCs (hợp chất hữu cơ dễ bay hơi)… và cả điều kiện khí tượng nhưng nhưng ngặt một nỗi, chi phí vận hành vào khoảng tỷ đồng/năm. “Cơ chế tài chính của Việt Nam là mua được máy thì dễ nhưng để máy vận hành và chạy tốt thì khó vì khó đề nghị được kinh phí vận hành. Xin mãi mới được chừng 400 triệu đồng, tức là 40%, đùng cái nó hỏng, hỏng thì phải thay, thay bằng cách nào? Mỗi lần đề xuất phê duyệt tiền, nhanh cũng mất ba bốn tháng và quãng thời gian hỏng đó thì chúng tôi không có số liệu. Rồi đến kiểm chuẩn, vì có những yếu tố không thể kiểm chuẩn ở Việt Nam được, phải mang sang hãng sản xuất, người ta tháo ra mang về mất mấy tháng, nghĩa là thời gian đó không có số liệu”, anh bổ sung.  “Việc lắp một hay nhiều trạm còn tùy thuộc vào từng quy mô thành phố, ví dụ chúng ta có những thành phố nhỏ, thành phần môi trường tương đối đồng nhất thì chúng ta có thể lắp một trạm. Tuy nhiên với những thành phố lớn như thành phố Hà Nội, TP HCM thì không thể nói là một trạm đại diện cho chất lượng môi trường không khí toàn thành phố được. Theo tôi, đối với thành phố Hà Nội hay TPHCM, số trạm phải tăng lên. Mặt khác, ở hai thành phố này, các nguồn phát thải rất đa dạng và thay đổi liên tục nên giữa khu vực này với khu vực kia thì có lẽ phải có thêm trạm để rõ hơn về biến đổi chất lượng môi trường không khí.    Tuy nhiên việc lắp đặt các trạm phải đi kèm với việc đảm bảo được chất lượng số liệu, vốn phụ thuộc vào thiết bị, nguồn nhân lực vận hành thiết bị và nguồn kinh phí để vận hành, bảo dưỡng nó. Nhìn chung nguồn kinh phí này đối với Việt Nam thường khá eo hẹp, vì thế cứ “giật gấu vá vai”, cho nên chuỗi số liệu có thể thiếu ổn định, không liên tục” (PGS. TS Hoàng Anh Lê).    Trong khi chưa có được dữ liệu như mong muốn thì nhiều nhóm nghiên cứu đã tự tìm nguồn dữ liệu đầu vào cho mình, đó là phát triển các hệ thống ghi đo chi phí thấp (low-cost sensor). “Có lẽ cũng phải đầu tư vài tỷ mới có thể làm được trạm có thiết bị tương tự như trạm quan trắc quốc gia. Rõ ràng với các nhóm nghiên cứu thì rất khó, nếu không muốn nói là không thể có được một trạm quan trắc quy mô như vậy”, PGS. TS. Hoàng Anh Lê cho biết thêm.    Tuy vậy đây không phải là giải pháp hoàn hảo cho các nhà nghiên cứu. “Các quốc gia muốn phát triển công nghệ cảm biến trong quan trắc chất lượng không khí vì chi phí thấp hơn nhiều và cộng đồng hoàn toàn có thể tiếp cận để có được thiết bị này, nó giống như cái nhiệt kế để biết nhiệt độ của phòng là bao nhiêu. Hiện tại các cảm biến đo chất lượng không khí vẫn còn nhiều hạn chế, độ chính xác chưa cao. Tuy vậy càng ngày với sự tiến bộ của khoa học công nghệ giúp cho các cảm biến càng ngày có số liệu càng chính xác hơn. Nhưng tôi cho là về mặt ý nghĩa khoa học thì nó không hoàn toàn thay thế được các trạm quan trắc truyền thống. Ví dụ trường hợp với bụi, các cảm biến chỉ đưa ra cho chúng ta con số mà thôi, còn  nồng độ của một số chất ô nhiễm trong hạt bụi đó là bao nhiêu thì hệ thống đó chưa thực hiện được”, ông giải thích thêm.      Trong khi chưa có được dữ liệu như mong muốn thì nhiều nhóm nghiên cứu đã tự tim nguồn dữ liệu đầu vào cho mình, đó là phát triển các hệ thống ghi đo chi phí thấp (low-cost sensor).        Con đường nào cũng dẫn đến kiểm kê     Tất cả các cuộc trao đổi của chúng tôi với những nhà khoa học đang rất năng động trong nghiên cứu về ô nhiễm không khí ở Hà Nội rút cục đều quy về cụm từ “kiểm kê phát thải”, một phương thức mà theo họ không chỉ đem lại được số liệu chính xác hơn mà quan trọng hơn giúp các nhà quản lý có thể xác định được các nguồn phát thải và phần đóng góp của mỗi nguồn vào bầu không khí ô nhiễm của Thủ đô.    Đó là câu chuyện mà các nhà khoa học đã tư vấn cho các cơ quan quản lý môi trường nhiều năm qua. “Chúng tôi đã nói rất nhiều ý kiến về kiểm kê phát thải. Nó là công cụ bản lề cho các công cụ khác, đặc biệt cho công tác quản lý về chất lượng môi trường, không chỉ riêng không khí. Lâu nay, chúng ta rất loay hoay với quản lý môi trường vì chúng ta thiếu công cụ kiểm kê khí thải trong đó. Chỉ lúc đó chúng ta mới biết được nguồn nào là nguồn đóng góp chính, chủ yếu, nguồn nào là nguồn phát thải các chất nguy hại trong môi trường và mới có giải pháp quản lý cho đúng chứ không phải bây giờ đùng cái chúng ta đưa ra cấm loại phương tiện này, cấm phương tiện kia”, PGS. TS Hoàng Anh Lê nhấn mạnh đến vai trò của kiểm kê và cho biết, các nhà nghiên cứu ở những quốc gia đã tiến hành hoạt động này ở gần Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan… đều có những công bố về vấn đề rất hay và số liệu hết sức thuyết phục.    Về tổng thể, kiểm kê ô nhiễm không khí là một vấn đề hết sức phức tạp và tốn kém nhưng “đây là việc mà các quốc gia đều phải làm, bắt buộc phải làm, không làm không được”, TS Hoàng Dương Tùng nói. Dù được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nhưng hiện chưa địa phương nào ở Việt Nam triển khai kiểm kê ô nhiễm không khí cả.    Với một việc làm chưa có tiền lệ thì Việt Nam có phải tự ‘mò mẫm” thực hiện được không? Theo góc nhìn PGS. TS Hoàng Anh Lê, “chúng ta hoàn toàn làm được chứ không phải không làm được. Các nhà khoa học Việt Nam có đủ trình độ, phương pháp tính toán và có thể tiếp cận được các công cụ phục vụ cho kiểm kê phát thải”.      Về tổng thể, kiểm kê ô nhiễm không khí là một vấn đề hết sức phức tạp và tốn kém nhưng “đây là việc mà các quốc gia đều phải làm, bắt buộc phải làm, không làm không được”, TS Hoàng Dương Tùng nói.      Ở các đô thị lớn như Hà Nội, nguồn đóng góp vào ô nhiễm hết sức phức tạp, không chỉ những nguồn phát sinh tại chỗ như khí thải xe máy, ô tô, xây dựng, giao thông… đến đốt rơm rạ theo mùa vụ, sản xuất công nghiệp ở vùng lân cận hay những nguồn xuyên biên giới… Do đó chắc hẳn việc tiến hành kiểm kê sẽ phức tạp và tốn kém. Vậy Hà Nội có nên kiểm kê từng phần? “Việc nên hay không nên phụ thuộc vào mục tiêu của thành phố Hà Nội. Nếu Hà Nội đặt đầu bài là kiểm kê phát thải cho toàn thành phố thì cần có sự tham gia của tất cả các ngành, các lĩnh vực khác mà không chỉ có các đơn vị về môi trường”. Nhìn chung khá phức tạp và nguồn kinh phí lớn nhưng về mặt khoa học thì hoàn toàn làm được”, PGS. TS Hoàng Anh Lê nêu.    Dù công việc kiểm kê ô nhiễm đòi hỏi một lượng kinh phí lớn và cần nhiều ngành nghệ cùng tham gia nhưng điều thú vị của nó là đem lại một bức tranh toàn cảnh về ô nhiễm, “nhìn vào đó các nhà quản lý sẽ thấy ngay nguồn phát thải nào cần được giảm thiểu, ví dụ nếu thấy ô nhiễm quá từ nguồn giao thông thì phải có giải pháp tăng các phương tiện công cộng lên, hạn chế xe cá nhân xuống”, TS. Hoàng Dương Tùng lưu ý.    Đó là một con đường dài mà một người gắn bó với ngành môi trường kể từ khi làm việc tại Tổng cục Môi trường cho đến khi làm chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Hà Nội như TS. Hoàng Dương Tùng mong muốn thấy ở Hà Nội. “Tôi nghĩ làm được điều đó sẽ thay đổi rất nhiều trong nhận thức của nhiều người, từ người dân đến nhà quản lý. Sau khi thực hiện, các nhà quản lý sẽ phải công bố rộng rãi kết quả và công khai dữ liệu. Và điều đó sẽ có lợi cho họ bởi càng công khai bao nhiêu thì người dân càng có ý thức giữ gìn môi trường hơn còn nhà khoa học sẽ có nhiều dữ liệu tốt để nghiên cứu, qua đó đề xuất trở lại nhiều khuyến nghị với nhà quản lý”. □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phải có giai đoạn giao thời      Với tính chất của hệ thống mang tính chính trị hóa hiện nay, với những người được đánh giá là cây đa, cây đề trong khoa học nhưng thực sự không phải trong thế nắm quyền lãnh đạo và từ đó nẩy sinh lợi ích cục bộ, lạm dụng hệ thống chính trị thì tôi thấy mọi giải pháp cải tổ đều sẽ thất bại.    Tôi nghĩ phải có giai đoạn giao thời. Trong giai đoạn này, nên nhắm vào một vài bộ môn và tổ chức như sau:  – Trong từng bộ môn, sẽ định ra một nhóm nòng cốt chừng 10 người hoàn toàn dựa trên thành tích khoa học, từng người sẽ có lương hậu hĩnh (70 đến 100 ngàn USD một năm), họ sẽ tham gia giảng dạy tối thiểu (không quá 6 tiếng/tuần) ở đại học ( để tiếp xúc và hướng dẫn sinh viên trẻ) và hoàn toàn được tự do nghiên cứu. Họ cũng sẽ là nhóm đánh giá và quyết định chuyên môn của những người nộp đơn xin dự án của chính phủ. Nhiệm kỳ của họ là 5 năm và có thể kéo dài thêm. Nếu không có công trình họ sẽ bị nhóm trên loại bỏ (bằng phiếu của đa số) bất cứ thời điểm nào. Nhóm cần có ban tư vấn là các nhà khoa học gia nước ngoài có uy tín. Tư vấn có quyền đánh giá các công trình của từng người trong nhóm. Nhà nước dựa vào đánh giá của tư vấn để xem xét có nên tiếp tục nhóm hay không.      – Chính phủ đề ra các dự án nghiên cứu và nhóm nòng cốt trên sẽ xem xét và quyết định ai xứng đáng. Việc quản lý đề án là thuộc bộ, nhóm không tham gia nhưng nhóm này sẽ tổ chức đánh giá kết quả.   Sau 10 năm, sẽ hình thành Academy of Science, bổ nhiệm từ những người có công trình quan trong sau khi tham gia nhóm. Academy of Science sẽ chỉ có tính chất chuyên môn và cố vấn nhà nước, đánh giá và chọn những chuyên gia thắng đề án của nhà nước, giống như ở Mỹ.  Vừa rồi chính phủ mới cho lập nhóm toán của Ngô Bảo Châu, chúng ta nên hỏi xem nhóm đó làm việc như thế nào, và từ kinh nghiệm của họ mà rút ra bài học. Điều nên tránh là tập hợp những người trong nhóm vào một viện nghiên cứu.  Trên đây chỉ là ý kiến để suy nghĩ vì nó không nhằm vào việc tổ chức, mà thực chất là nhằm vào việc chọn ra những người có chuyên môn cao và trả lương xứng đáng để họ chú tâm vào nghiên cứu.   —  (*) Chuyên gia thống kê, Việt kiều Mỹ      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phân phối ngân sách nghiên cứu ở Úc: Các bộ không can thiệp      Mỗi năm, Nhà nước Úc chi ra khoảng 5-6 tỉ đô-la Úc cho các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng quốc gia (GDP) và được phân phối đến các nhóm nghiên cứu ở đại học hàng đầu và các viện nghiên cứu trên toàn nước Úc.&#160;     Hai cơ quan chính chịu trách nhiệm quản lí dự án và phân phối ngân sách nghiên cứu khoa học là NHMRC (National Health and Medical Research Council – Hội đồng y tế và y khoa quốc gia) và ARC (Australian Research Council – Hội đồng nghiên cứu khoa học quốc gia). NHMRC chủ yếu quản lí các dự án nghiên cứu liên quan đến các ngành y sinh học, còn ARC chủ yếu quản lí các dự án liên quan đến khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm. Hai cơ quan này có tên là “Council” (Hội đồng) vì cơ cấu tổ chức không giống như cơ cấu của một cơ quan Nhà nước. Chủ tịch và các thành viên trong hội đồng là các nhà khoa học làm việc bán thời gian và không lương.  Điều hành công việc hằng ngày là một nhóm cán bộ hành chính (những người này có lương) do Nhà nước tuyển dụng. Các quan chức Nhà nước từ các bộ hầu như không dính dáng và không can thiệp vào việc quản lí và phân phối tài trợ của ARC và NHMRC.    Tiền tài trợ cho nghiên cứu trên danh nghĩa là cấp cho nhóm nghiên cứu, nhưng nhà khoa học không trực tiếp quản lí số tiền này. Trong thực tế, ARC và NHMRC chuyển tiền tài trợ đến và ủy nhiệm cho trung tâm nghiên cứu (trường đại học hay viện nghiên cứu) trực tiếp quản lí số tiền này. Do vậy, số tiền mà các trung tâm nhận được thường cao hơn ngân sách của đề án nghiên cứu khoảng 15 đến 20%, tùy theo trung tâm. Chẳng hạn như nếu đề án được cấp 1 triệu đôla, thì ARC và NHMRC sẽ phải cấp cho trung tâm thực hiện đề án là 1.15 đến 1.2 triệu USD.   Một đề án nghiên cứu thường kéo dài từ 3 năm đến 5 năm. Mỗi năm, người chủ trì đề án nghiên cứu phải báo cáo cho NHMRC về tiến trình của nghiên cứu. Báo cáo này chỉ vỏn vẹn 3 trang giấy, và chỉ liên quan đến khoa học, chứ không liên quan đến phần tài chính. (NHMRC không trực tiếp kiểm tra xem nhà nghiên cứu chi số tiền tài trợ cho khoản nào).    Khi dự án kết thúc (năm thứ 3 hay thứ 5), người chủ trì đề án nghiên cứu phải soạn thảo một báo cáo sau cùng. Bản báo cáo này chỉ dài khoảng 10 trang (tùy theo số lượng bài báo khoa học công bố), nhưng phải bao gồm các khía cạnh như sau: nhắc lại mục tiêu cụ thể của đề cương nghiên cứu, mô tả đề án có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, thay đổi nhân sự (nếu có), số lượng ấn phẩm khoa học công bố (như bài báo khoa học, sách, chương sách…), tập san công bố, số lần trích dẫn (nếu có), bằng sáng chế, số nghiên cứu sinh đào tạo được, số nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ đã huấn luyện, và hướng nghiên cứu kế tiếp.    Vì nghiên cứu mang tính kế thừa và liên tục, cho nên nếu nhà nghiên cứu không công bố được bài báo nào trong thời gian thực hiện dự án, thì chắc chắn sẽ không bao giờ được tài trợ lần sau và có thể nói là sự nghiệp của nhà nghiên cứu sẽ bị gián đoạn.   Theo “Quản lý dự án nghiên cứu khoa học của Úc”    Author                Quản trị        
__label__tiasang Pháp chuẩn bị xây dựng cơ sở chôn vĩnh viễn rác thải nguyên tử      Kho chứa rác thải nguyên tử đầu tiên của châu Âu đang được xây dựng gần Lothringen (Pháp). Hầu như ở Pháp không có ai lên tiếng phản đối dự án này – hoặc tiếng nói phản đối khi mới manh nha đã bị chặn lại bằng tiền.      Hầu như chẳng mấy người ở châu Âu biết đến địa danh này. Bure là một vùng đất hẻo lánh nằm giáp ranh giữa Lothringen và Champagne, với dăm ba nóc nhà và những cánh đồng trải dài dường như vô tận. Vùng này không có trường học, nhà ga và cũng không có siêu thị – nhưng một công trường lớn đang hình thành ở đây và không lâu nữa, Bure sẽ nổi tiếng chí ít cũng là ở châu Âu. Tại đây người ta đang xây dựng kho chứa rác thải hạt nhân và toàn bộ rác hạt nhân của Pháp sẽ được chôn vĩnh viễn tại nơi này.     Một đường hầm sâu khoảng 500m xuyên qua khu vực hoàn toàn là đất sét. Một thang máy đã đi vào hoạt động và xuống tới độ sâu 500m. Những công nhân làm việc ở đây khoác áo bảo hộ có màu đèn neon, trên mũ cối có đèn chiếu sáng và ở thắt lưng đeo thiết bị để hít thở phòng khi có sự cố. Mathieu Saint-Louis, phát ngôn viên Cơ quan rác thải phóng xạ (Andra) cất tiếng, “Hân hạnh chào đón các bạn tới phòng thí nghiệm của chúng tôi”. Phòng thí nghiệm đặt ở độ sâu này nhằm thử nghiệm đất đá ở khu vực này. Năm năm nữa nơi này sẽ là công trường xây dựng kho chứa vĩnh viễn rác thải hạt nhân của toàn bộ châu Âu.   Phòng thí nghiệm trong lòng đất thực chất là một mạng lưới đường hầm dài tổng cộng 1.200m. Dọc theo tường của đường hầm có nhiều đường ống, dây cáp to buộc thành chùm, hệ thống thông gió chạy liên tục, nhiệt độ tại đây tương tự nhiệt độ ở phòng làm việc. Đây đó là những đường khoan chạy sang phía bên cạnh. Đường kính những lỗ khoan này dài bằng cả cánh tay. “Tới đây những bình chứa rác hạt nhân sẽ được tống vào những đường ống này” – Saint-Louis kể.  Chi phí cho phòng thí nghiệm này lên tới 1,5 tỷ Euro. Các nhà địa chất sẽ khảo sát, xác định tính chất loại đất sét ở vùng này.  Đất sét có đặc tính là có thể tạo hình và có độ khít cao, không bị rò rỉ.  Các nhà khoa học cho biết, ngay cả khi các thùng chứa rác hạt nhân bị hở thì phóng xạ cũng không thể thâm nhập vào nền đất hoặc nước ngầm, chí ít là cho đến khi lớp đất sét không có những kẽ nứt. “Hiện tại chúng tôi đang thử nghiệm về phản ứng của đất sét ở nhiệt độ nung chảy”, nhà khoa học Saint-Louis giải thích. Nhiệt lượng tỏa ra từ rác hạt nhân có thể diễn ra trong hàng chục năm và điều này được coi là khó khăn lớn nhất: lớp đất đá có thể bị khô kiệt, sẽ trở nên giòn và dễ nứt. Vì thế có nhiều khả năng người ta phải tạm trữ rác phóng xạ trong một thời gian lâu hơn nữa rồi mới chôn vĩnh viễn ở trong đường hầm dưới mặt đất.     Ở Pháp không có ai lên tiếng phản đối   Pháp được coi là “quốc gia nguyên tử” với 58 lò phản ứng nguyên tử chuyên sản xuất điện. Giá điện ở Pháp rẻ hơn ở Đức tới 40%. Ở Pháp hầu như không có ai lên tiếng phản đối dự án tàng trữ rác nguyên tử này. Các doanh nghiệp nguyên tử như Areva và EDF có doanh thu lên tới 8,9 hoặc 65,3 tỷ Euro được coi là những thế lực kinh tế hùng mạnh. Nước Pháp có khoảng 125.000 người làm việc trong ngành công nghiệp nguyên tử, ngành này tạo ra 410.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp.  Tại sao lại chọn Bure? Từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, Pháp đã bắt đầu tìm địa điểm để làm nơi chứa vĩnh viễn rác thải nguyên tử. Thoạt đầu người ta chọn ra bốn vùng. Nhiều ý kiến đã phản đối chọn vùng đất ở phía Tây nam nước Pháp vì đây là khu vực trồng nho làm rượu vang và người ta lo ngại chôn rác thải nguyên tử ở vùng này sẽ làm ảnh hưởng xấu tới tên tuổi rượu vang của nước này. Thời đó một ủy ban của chính phủ đã thừa nhận: “Xét cho cùng thì sự đồng thuận của người dân địa phương có ý nghĩa quyết định, điều này còn quan trọng hơn cả đặc tính địa chất của vùng đó”. Nhưng năm 1991, nước Pháp đã thông qua luật Bataille, mang tên người vận động cho nguyên tử trên nghị trường và cũng từ đó Chính phủ Pháp thay đổi chiến lược của mình.   Khi đó người ta đặt vấn đề xem xét, khảo sát ba khả năng: cất giữ rác thải lộ thiên, trong lòng đất cũng như dùng phương pháp “chuyển hóa bằng hóa chất”. Người ta dự định xây dựng hai phòng thí nghiệm – ở các mỏ. Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy. Chỉ có một khu mỏ thí nghiệm được xây dựng ở Bure. Yếu tố quyết định cho việc chọn địa điểm này là do nơi đây dân cư thưa thớt, theo ý kiến của cựu Thủ tướng Lionel Jospin. Luật Bataille đã dọn đường cho việc thực thi cái gọi là “biện pháp hỗ trợ tài chính”.           Pháp là một trong những nước ở châu Âu rất lệ thuộc vào các nhà máy điện hạt nhân, vốn đóng góp tới 75 % sản lượng  điện của nước này. Ảnh: nhà máy điện hạt nhân Cattenom          Để chặn đứng những ý kiến phản đối của người dân trong vùng ngay từ khi mới manh nha, Chính phủ Pháp không tiếc tiền của đổ vào vùng này. Nhờ sự khôn ngoan và các tấm séc hậu hĩnh, việc xây dựng kho chứa vĩnh viễn rác thải nguyên tử ở Bure không gặp một sự phản đối nào của cư dân địa phương. Thời kỳ đầu hai tỉnh Meuse và Haute-Marne mỗi tỉnh nhận được một khoản tiền là 9 triệu Euro một năm. Nay tăng lên tới 30 triệu Euro một năm. Michel Marie, một trong số ít ỏi những người lên tiếng phản đối tàng trữ rác nguyên tử tại đây cho rằng: “Chính phủ  đã vi phạm những nguyên tắc về dân chủ. Họ đã mua lương tri của người dân”. Theo ông này người dân địa phương không được quyền bày tỏ ý kiến và người ta đã dùng tiền để trám miệng dân. Nhiều dự án đáng ngờ đã được đầu tư xây dựng. Điển hình là: Bure chỉ có khoảng 80 người dân nhưng người ta đã xây dựng ở đây một phòng khánh tiết khá lớn. Tối đến hầu như rất ít người đi dạo nhưng đường làng tràn ngập ánh đèn lấp lánh không khác gì những thành phố lớn. Đường xá ở các làng lân cận được cải tạo, chỉnh trang đàng hoàng cũng nhờ dự án ở Bure.   Jean-Pierre Remmele, là chủ tịch thị trấn bé nhỏ Bonnet, ông là một trong những người khước từ những khoản tiền đổ về địa phương. Ít ra thì thời kỳ đầu là như vậy. “Chúng tôi không muốn chôn rác nguyên tử ở đây. Điều đó có nghĩa là 98% chất phóng xạ từ nguồn rác thải cực kỳ nguy hại sẽ tập trung ở đây”, vị chủ tịch giãi bày. Cuối năm 2009 khi Cơ quan rác thải nguyên tử gần trung tâm phòng thí nghiệm hiện nay được quyết định đặt tại khu vực 30 km vuông này, thị trấn duy nhất của bốn thị trấn có liên quan đồng thanh cương quyết phản đối.       “Từ đó bọn họ xùy chó vào tôi”, ông Remmele kể. Tỉnh trưởng triệu ông lên trao đổi với lời lẽ cảnh cáo. “Một số ủy viên hội đồng thị trấn sau khi đi tham quan phòng thí nghiệm đã thay đổi ý kiến. Thế là tôi không còn chọn lựa nào khác”, ông Remmele buồn bã than phiền. Cơ quan rác thải nguyên tử lại đưa ra một đề nghị cải tạo hệ thống cấp nước ăn đã bị xuống cấp với thời gian.  Bà Anne Lauvergeon, nguyên chủ tịch tập đoàn Areva cũng có mặt tại địa phương này, sau chuyến viếng thăm bà đã cho làm lại hệ thống chiếu sáng toàn bộ khu vực nhà thờ của địa phương.   Từ “Quỹ hỗ trợ tài chính” địa phương với 200 dân, mỗi năm một người nhận được một khoản tiền 500 Euro. Ông Remmele phân bua: “Tất nhiên khoản tiền đó được rót trực tiếp vào ngân sách của địa phương. Vả lại ở đây hầu như không còn có thêm việc làm nào”. Giờ đây nhà thờ Saint-Florentin nằm đối diện với tòa thị chính, cứ tối đến lại sáng ánh đèn.    Theo kế hoạch, đầu năm 2013, ở Pháp sẽ có cuộc thảo luận công khai về việc cất giữ vĩnh viễn rác thải nguyên tử. Một ủy ban quốc gia sẽ tổ chức cuộc thảo luận này. Thời gian cụ thể chưa được quyết, nhưng thực ra cũng chẳng còn có gì nhiều để quyết trong đợt thảo luận tầm cỡ quốc gia này. Hơn nữa, Chính phủ Pháp cũng không có nghĩa vụ phải căn cứ vào kết quả của cuộc thảo luận để quyết định vấn đề. Dự kiến đầu năm 2017, kho chứa rác nguyên tử sẽ được khởi công xây dựng và những thùng thép chứa rác nguyên tử sẽ được tập kết tại đây. Cho đến lúc đó loại rác phóng xạ này được bọc tạm thời bằng thủy tinh và tạm trữ ở cơ sở tái chế nguyên tử La Hague.       Xuân Hoài  dịch    Theo Wiwo, 5.2012    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát hiện một nhà khoa học Trung Quốc xuất sắc gian dối và đạo văn trong hơn 60 bài báo      Từng đối mặt với những cáo buộc về việc chỉnh sửa hình ảnh trong hàng chục bài báo quốc tế, nhà miễn dịch học Trung Quốc nổi tiếng Cao Xuetao đã được bào chữa cho hành vi sai trái nghiêm trọng, dẫu ông đã được lệnh hiệu chỉnh lại “những hình ảnh sai phạm” trong các bài báo và phải nhận nhiều án phạt. Nhiều học giả tham gia và theo dõi vào trường hợp của Cao thất vọng về kết quả điều tra, một số người cho biết Cao nên bị buộc từ chức.        Một thông báo ngắn xuất hiện trên website của Bộ KH&CN Trung Quốc (MOST) vào ngày 21/1/2021 cho biết, một nhóm chuyên gia từ nhiều bộ và cơ quan chính phủ đã kết luận một cuộc điều tra về dữ liệu bị nghi ngờ bóp méo trong các bài báo do nhà miễn dịch học Cao Xuetao, chủ tịch trường đại học Nankai University và là thành viên Học viện Kỹ thuật Trung Quốc, là đồng tác giả. Cao là một trong số những nhà khoa học hàng đầu Trung Quốc bị cáo buộc có hành vi sai phạm trong những năm gần đây.  Cuộc điều tra này đã được tiến hành vào tháng 11/2019 sau khi nhà vi sinh vật học Elisabeth Bik, một cố vấn độc lập tại San Francisco và là chuyên gia trong việc phát hiện những hình thức giả mạo, đặt nghi vấn về những hình ảnh trong một bài báo năm 2009 trên tạp chí The Journal of Immunology do Cao là đồng tác giả. Sau khi Bik gửi nhận xét về bài báo tới PubPeer, là một trang web cho phép người dùng thảo luận và đánh giá các nghiên cứu khoa học sau khi xuất bản, những người khác cũng đã điểm thêm những vấn đề trong các bài báo khác của Cao.  63 bài báo được MOST lập danh sách điều tra chứng tỏ là không có bằng chứng về gian dối, đạo văn hay sao chép, theo một đoạn trong bản thông báo trên trang của MOST, dẫu cũng có “việc làm sai những hình ảnh trong nhiều bài báo, phản ánh sự khuyết thiếu sao sát trong quản lý phòng thí nghiệm một cách nghiêm ngặt”.  Cao sẽ bị cấm tham gia vào các dự án KH&CN quốc gia, mất đi vai trò của một chuyên gia khoa học và bị cấm tuyển dụng học viên trong một năm. Thông báo này yêu cầu ông phải thực hiện việc hiệu chỉnh các bài báo bị cáo cuộc. Tuy nhiên ông vẫn được giữ vị trí là chủ tịch trường đại học Nankai, một trong những trường đại học uy tín bậc bất Trung Quốc (trên trang web tiếng Anh của trường ĐH Nankai, Cao vẫn được đưa vào danh sách như một trong hai hiệu trưởng danh dự của trường). Cao không phản hồi một email bình luận.      Nhà vi sinh vật học Elisabeth Bik, một cố vấn độc lập tại San Francisco và là chuyên gia trong việc phát hiện những hình thức giả mạo  Bik đặt câu hỏi về những phát hiện của Cao. Trong một loạt tweet ngày hôm qua trên mạng xã hội ngày 21/1/2021, chị trình bày một số bài báo do Cao là đồng tác giả trong đó việc dùng lại những hình ảnh có thể chứa nhiều lỗi không chủ đích nhưng vẫn có “nhiều bài báo của Cao có lỗi không giống như một ‘tình cờ’”, Bik viết và cho biết thêm là những sao chép “cho thấy một ‘ý định lừa dối’”. Những phê bình khác nhắm vào cuộc điều tra và những án phạt. “Tôi không vui vẻ gì với những phát hiện này của các nhà quản lý”, Huang Futao, một học giả về giáo dục đại học Trung Quốc làm việc tại trường đại học Hiroshima Nhật Bản, người cho là kết quả điều tra “không đúng mức”. Ở vị trí của mình, Cao phải được thiết lập như một ví dụ về tính kiêm chính trong nghiên cứu, Huang nói: “Ông ta nên từ chức” hoặc thôi vị trí ở trường đại học Nankai.  Huang cũng cho rằng cuộc điều tra này được thực hiện trong quãng thời gian quá dài và bản thông báo về cuộc điều tra còn thiếu chi tiết. Trung Quốc đã thông qua những quy định và ban hành nhiều hướng dẫn hướng đến đẩy lùi cơn thủy triều của những bài báo đáng ngờ nhưng Cao thoát khỏi vụ việc, Huang nói, có thể bởi vì vị trí và kết nối của ông. Việc tuân thủ những án phạt “phụ thuộc vào việc anh là ai,” Huang nhận xét.  Cao Cong, một chuyên gia chính sách khoa học tại trường đại học Nottingham ở Ninh Ba, Trung Quốc, gọi cuộc điều tra này là “vô cùng đáng thất vọng.” Không có những chi tiết về người thực hiện điều tra, những bằng chứng được xem xét hoặc cách đưa ra các kết luận như thế nào. “Ít nhất là nó làm mất uy tín cơ chế gìn giữ sự liêm chính học thuật”, Cao Cong nói.  Bốn bài báo của Cao Xuetao trong năm 2020 bị tạp chí the Journal of Biological Chemistry dò lại cùng với một bài báo xuất bản trong năm 2015, theo trang web Retraction Watch. Ba bài khác của Cao Xuetao cũng bị nghi ngờ vào năm ngoái.    Nhà khoa học thần kinh Rao Yi của trường đại học Y khoa Thủ đô  Ngoài trường hợp của Cao, thông báo của MOST cũng tìm thấy nhiều cá nhân có lỗi tương tự. Ủy ban điều tra tìm thấy sự gian dối trong hai bài báo của nhà khoa học thần kinh Rao Yi của trường đại học Y khoa Thủ đô, và không có bằng chứng về sự sai phạm trong năm bài báo của Geng Meiyu, Viện nghiên cứu Y học vật liệu Thượng Hải, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, với nội dung tập trung vào các bài thuốc truyền thống. Nghiên cứu của Geng dẫn đến việc tạo ra một loại thuốc điều trị bệnh Alzheimer mang tên GV971 đã được chấp thuận sử dụng tại Trung Quốc vào năm 2019 dẫu cho còn ít dữ liệu về hiệu quả. Đối tác thương mại của Geng là Green Valley Pharmaceuticals, đang lập kế hoạch thử nghiệm lâm sàng pha ba trên quy mô toàn cầu, theo Alzforum, một trang web dò theo thông tin liên quan đến việc điều trị bệnh Alzheimer.  Thanh Phương tổng hợp  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/01/high-profile-chinese-scientist-cleared-fraud-and-plagiarism-charges-involving-more-60  https://www.nature.com/articles/d41586-019-03599-w    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển AI ở Đông Nam Á và cơ hội của Việt Nam      Trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một trong những yếu tố nổi bật về đổi mới sáng tạo và phát triển vượt bậc ở khu vực Đông Nam Á.      Trường đại học Quốc gia Singapore (NUS), trường Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Cơ quan nghiên cứu KH&CN (A*Star) phố hợp tổ chức một triển lãm về AI. Nguồn: A*Star  Clarivate Analytics – công ty quản lý và điều hành những cơ sở dữ liệu, dịch vụ phân tích học thuật, sở hữu trí tuệ…, dự báo, Đông Nam Á sẽ mở ra nhiều hướng tiếp cận mới và mở rộng nhiều phạm vi phát triển mới về AI trong tương lai.  Những phát triển vượt bậc về AI trong năm năm trở lại đây tại khu vực Đông Nam Á khiến người ta phải tò mò và đặt dấu hỏi: sức mạnh của AI Đông Nam Á bắt nguồn từ đâu? Có những thách thức và cơ hội nào dành cho AI ở Đông Nam Á? AI giải quyết được vấn đề gì trong đời sống xã hội Đông Nam Á?…  Để trả lời những câu hỏi này, một số tổ chức nghiên cứu đã tiến hành những nghiên cứu độc lập về thực trạng cũng như xu hướng phát triển của AI Đông Nam Á, trong đó đáng chú ý “Nền công nghiệp máy tính: AI ở Đông Nam Á” (Industry Bytes: Artificial Intelligence in Southeast Asian) của Clarivate Analytics và “AI và tương lai Đông Nam Á (Artificial intelligence and Southeast Asia’s future) của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey.  Nét chung của hai báo cáo này là nhận định: Đông Nam Á là một khu vực dành nhiều đầu tư cho AI, đặc biệt là Singapore khi nhanh chóng xác định đây là một trong những mũi nhọn tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Với những tiến bộ đạt được một cách nhanh chóng về cả năng lực lẫn hiểu biết, AI Đông Nam Á đã có một hệ sinh thái đa dạng và bước đầu tác động đến đời sống xã hội thông qua những ứng dụng đầy tiềm năng trong nhiều lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, sản xuất nông nghiệp, vận tải, tài chính…  Singapore dẫn đầu trong nghiên cứu về AI  Sức mạnh nội tại của AI Đông Nam Á nằm ở những nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học. Với lợi thế là một công ty chuyên về lưu trữ và khai thác dữ liệu học thuật, Clarivate Analytics đã sử dụng số liệu của InCites, một nền tảng dữ liệu được xây dựng trên nền tảng Web of Science do họ quản lý, để có được cái nhìn khách quan về số lượng công bố, chỉ số trích dẫn, các cơ sở nghiên cứu về AI của Đông Nam Á.  Họ nhận thấy, các quốc gia Đông Nam Á có 24.548 bài báo quốc tế liên quan đến AI trong thời gian từ năm 2007 đến 2015 (bài báo sớm nhất là vào năm 1985). Singapore được coi là quốc gia có nhiều đóng góp nhất trong khu vực với 10.274 bài báo, tiếp theo là Malaysia 8.416 bài báo và Thái Lan 3.648 bài báo. Ba quốc gia này chiếm tới tổng số 86% công bố quốc tế của cả khu vực.  Những nghiên cứu về AI có địa chỉ Đông Nam Á cũng bước đầu nhận được sự chú ý của cộng đồng nghiên cứu AI thế giới. Theo báo cáo của Clarivate Analytics thì có 161 công trình được lọt vào tốp các bài báo được nhiều trích dẫn nhất, trong đó Singapore có 97 bài báo, Malayia có 52 bài báo.  Như vậy nếu xét trên cả hai phương diện số lượng xuất bản và số lượng trích dẫn thì Singapore không chỉ dẫn đầu khu vực trong nghiên cứu về AI mà còn có tầm ảnh hưởng trên thế giới. Vậy sức mạnh AI của Singapore nằm ở đâu? Phân tích địa chỉ của các bài báo, Clarivate Analytics nhận thấy, các cơ sở nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong năng lực nghiên cứu về AI của Singapore là trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS), trường Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Cơ quan nghiên cứu KH&CN (A*Star)…  Đây là kết quả của một chiến lược đầu tư mạnh mẽ của Chính phủ Singapore với mục tiêu biến đảo quốc này thành một trung tâm nghiên cứu tầm cỡ thế giới về AI. Kinh phí Singapore rót vào lĩnh vực AI hằng năm đều ở mức cao, ví dụ trong tháng 5/2018 vừa qua, Quỹ Nghiên cứu quốc gia Singapore (NRF) thông báo sẽ đầu tư 150 triệu đô la Singapore (tương đương 107 triệu đô la Mỹ) cho AI.SG – một chương trình quốc gia trong vòng 5 năm.  Bên cạnh Singapore, có một quốc gia khác đáng chú ý là Malaysia khi có những trường đại học lọt vào top 10 cơ sở nghiên cứu về AI xuất sắc nhất Đông Nam Á, đó là trường đại học Malaya, trường Đại học Công nghệ Malaysia, trường Đại học Putra Malaysia, trường Đại học Kebangsaan Malaysia và trường Đại học Sains Malaysia. Như vậy trong thời gian tới, Malaysia sẽ là đối thủ đáng gờm trong cuộc cạnh tranh có nhiều công trình được trích dẫn cao về AI cho bất cứ quốc gia nào, Thái Lan, Indonesia hay Việt Nam.  Đông Nam Á năng động trong ứng dụng AI  Ở khía cạnh ứng dụng, Singapore một lần nữa tỏ ra hết sức nhanh nhạy và hiện dẫn đầu khu vực về những thử nghiệm đưa AI vào quá trình quản lý điều hành, sản xuất trong các ngành công nghiệp, ví dụ ngành sản xuất bán dẫn, robotics, y dược, sinh hóa… cũng như ứng dụng trong các ngành viễn thông, dịch vụ tài chính, truyền thông, vận tải và logictics, chăm sóc sức khỏe, bán lẻ, du lịch, giáo dục… Đây cũng là một phần trong chiến lược chuyển đổi Singapore thành “Quốc gia thông minh” và hỗ trợ họ trong quá trình phát triển nền kinh tế số.  Tuy nhiên Singapore không chiếm vị thế độc tôn trong quá trình này. Việt Nam, Thái Lan và Indonesia đều là những quốc gia nhanh nhạy và đặt tham vọng phát triển nền kinh tế số, dựa trên những triển vọng mà AI có thể đem lại. Có thể nói đây cũng là những gương mặt giàu đổi mới sáng tạo với những ứng dụng trong công nghệ sinh học, chăm sóc sức khỏe, công nghệ cao và viễn thông, dịch vụ tài chính…  Nhiều startup ở các quốc gia này là những người đi đầu trong phát triển các ứng dụng AI và cách ứng dụng của họ hết sức linh hoạt, ví dụ ở Indonesia có Sale Stock – một dịch vụ thương mại điện tử đã dùng AI để dự đoán các xu hướng thời trang trên thế giới và lập kế hoạch sản xuất sản phẩm tương ứng; bệnh viện quốc tế Bumrunggrad của Thái Lan là viện nghiên cứu y học đầu tiên ngoài khu vực Bắc Mỹ triển khai chương trình phần mềm IBM Watson, một cấu trúc AI được phát triển để tối ưu hóa công việc chẩn đoán ung thư; startup Sero của Việt Nam cung cấp giải pháp quản lý canh tác điện tử để hỗ trợ nông dân kịp thời phát hiện sâu bệnh thông qua hệ thống AI phân tích hình ảnh và gửi tới người dùng thông qua ứng dụng trên điện thoại thông minh… Đây là một trong số rất ít những ứng dụng AI đang xuất hiện ngày càng nhiều ở khu vực Đông Nam Á.  Việt Nam có tận dụng được cơ hội?    Đào tạo về trí tuệ nhân tạo ở trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN). Nguồn: ĐH Công nghệ​  Được đánh giá là một trong những quốc gia Đông Nam Á nhanh nhạy về AI, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội mà ứng dụng AI mang lại. Thuận lợi lớn nhất mà hiện Việt Nam có trong tay là một đội ngũ nghiên cứu trẻ về AI được đào tạo bài bản ở nước ngoài và rất có ý thức trong việc phát triển nghiên cứu thành ứng dụng thực tế.  Dù không lọt vào top ba quốc gia có nhiều công bố quốc tế về AI như Singapore, Thái Lan và Malaysia nhưng Việt Nam cũng lọt vào top ba quốc gia có bài báo được trích dẫn cao, sau Singapore và tương đương Malaysia. Hơn thế, theo số liệu mà Clarivate Analytics thu thập được trong các năm 1997-2016, thì Việt Nam đứng thứ hai Đông Nam Á về số lượng bằng phát minh sáng chế với 7% của toàn khu vực (Singapore dẫn đầu với 77% ), xếp trên Indonesia 6%, Malaysia 5%…  Thuận lợi thứ hai của Việt Nam có là sở hữu một thị trường tiêu dùng đầy năng động với dân số trẻ, có nhu cầu khá lớn đối với các sản phẩm và hàng hóa kỹ thuật số: 84% người Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh (theo thông tin của công ty điều tra thị trường Nielsen Việt Nam) và hơn 54% người sử dụng dịch vụ Internet (theo thông tin của Hiệp hội tiêu dùng internet Việt Nam).  Thuận lợi thứ ba là ý tưởng phát triển nền kinh tế số đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Theo “Việt Nam ngày nay” (Vietnam Today) – báo cáo do Bộ KH&CN phối hợp với tổ chức Data 61 của Australia thực hiện, các ngành liên quan đến kinh tế số tăng trưởng nhanh ở Việt Nam như công nghệ tài chính (Fintech), viễn thông, chế tạo máy tính và đồ điện tử, dịch vụ công nghệ thông tin. Chính phủ đã đặt ưu tiên phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin trong Quy hoạch tổng thể về công nghệ thông tin với những ưu đãi về thuế, xây dựng cơ sở hạ tầng cho đào tạo để hỗ trợ hoạt động phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông.  Đây là cơ sở để AI Việt Nam phát triển như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế số. Tuy nhiên theo Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey, AI Việt Nam mới chỉ tập trung phát triển ứng dụng ở lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ truyền thông, dịch vụ tài chính, chăm sóc sức khỏe, bán lẻ còn một số lĩnh vực nhiều tiềm năng khác như vận tải và logistics, sản xuất công nghiệp, du lịch, giáo dục… vẫn còn ít người khai phá.  Để tận dụng cơ hội mà AI đem lại, Việt Nam cần quan tâm đến những vấn đề mang tính nền tảng để phát triển AI là cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao và sự chấp nhận của người sử dụng. Đây là ý kiến của một số diễn giả tại AI4life – Hội nghị quốc tế đầu tiên về trí tuệ nhân tạo do Việt Nam tổ chức vào tháng 5/2018. Nó cũng hoàn toàn trùng khớp với quan điểm của ông Ralph Haupter, chủ tịch Microsoft Asia khi đưa ra một số nhận định về tiềm năng phát triển của AI ở châu Á.  Ông giải thích: AI cần dữ liệu vì nó phụ thuộc vào dữ liệu để thực hiện các thuật toán phân tích với sáu nguyên tắc về đạo đức – công bằng, tin cậy và an toàn, bảo mật và quyền riêng tư, tính minh bạch và trách nhiệm; AI cần nhân lực tài năng để phát triển các chương trình AI mạnh mẽ và tinh vi hơn; AI cần sự chấp nhận của người sử dụng – những “cư dân bản địa của thời kỳ số” ngay tại quốc gia phát triển ứng dụng để hoàn thiện sản phẩm trước khi ra thị trường thế giới.  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phát triển CNTT trong xu thế toàn cầu hóa      Phát triển ngành CNTT ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa gồm 2 trọng tâm cơ bản: Xây dựng đội ngũ chuyên gia CNTT phục vụ ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam; Tập trung khả năng ứng dụng của CNTT vào các ngành dịch vụ gây ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của quốc gia.    Trong nền kinh tế hiện nay, giá trị gia tăng của kinh tế tri thức tập trung ở mảng dịch vụ. Đối với những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và EU, tỉ trọng khối dịch vụ trong nền kinh tế hiện nay thường chiếm từ 60 – 70% GDP. Các mảng dịch vụ chủ yếu trong tổng sản phẩm quốc nội GDP là dịch vụ tài chính, ngân hàng; dịch vụ CNTT (Công nghệ thông tin); dịch vụ bán lẻ. Các mảng dịch vụ này không độc lập với nhau mà có tương quan mật thiết. Hơn hết, CNTT là lĩnh vực cơ bản trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế vì nó được ứng dụng ở khắp nơi. Bằng việc ứng dụng CNTT, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh tương đối của mảng dịch vụ đó tăng lên. Điểm căn bản nhất của ngành CNTT là việc thông qua nó, các tri thức, bí quyết quản lý, vận hành… của các ngành dịch vụ được chuyển hóa từ bản chất vô hình của tri thức (intangible) sang hình thức thể hiện có thể kiểm chứng ở mức độ nào đó được (visible and partly  verifiable). Vì nền kinh tế tri thức dựa trên tài sản chính là tri thức – bản chất là vô hình. Thông qua CNTT, một phần tài sản này có thể nhìn thấy và thậm chí đánh giá, xác thực được sẽ là một cách tiếp cận cho việc lượng hóa (tới một mức độ nào đó) tài sản [tri thức] của mỗi con người, từng doanh nghiệp và các quốc gia.  Cơ cấu một nền kinh tế hiện nay gồm 3 thị trường chính: lao động, KH&CN và tài chính. Thị trường thứ nhất liên quan tới nhân lực trong ngành kinh tế nói chung. Phần nhân lực này chủ yếu tiếp cận và vận hành tài sản tri thức phổ thông. Bản chất của thị trường này có thể gói gọn trong “giáo dục và đào tạo”. Thị trường KH&CN, thông qua sự đầu tư vốn của Nhà nước và thị trường tài chính, tập trung vào lĩnh vực mũi nhọn, thể hiện giá trị tài sản tri thức có mức độ so sánh to lớn (Ví dụ: phát minh khoa học, bản quyền sáng chế…). Tài sản tri thức được tạo ra ở đây thông qua lực lượng lao động đầu ngành, tiếp cận và sáng tạo dựa trên mặt bằng của thế giới. Hoạt động chính của thị trường này là “nghiên cứu và phát triển” (R&D). Thị trường cuối cùng liên quan tới việc huy động vốn từ các nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện các dự án đầu tư của 2 thị trường đầu tiên.  Với bản chất của mình là việc thể hiện tài sản tri thức và vận dụng nó thông qua tốc độ, dung lượng, tính minh bạch và tính chia sẻ trên môi trường toàn cầu hóa thông tin hiện nay (điển hình là Internet), CNTT là một ngành ứng dụng có thể tham gia nâng cao hiệu suất lao động của mọi ngành kinh tế nói chung, kể cả 3 thị trường chính kể trên. Vì vậy một trong những bài toán đặt ra cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam là cần xây dựng lực lượng đội ngũ CNTT và vận hành lực lượng đó trong xu thế toàn cầu hóa của cả 3 thị trường ở trên sao cho hiệu quả. Cụ thể:  1.Đào tạo đội ngũ chuyên gia CNTT phục vụ việc xây dựng nguồn nhân lực CNTT nói riêng. Lực lượng chuyên gia CNTT đủ về chất có thể tăng sức cạnh tranh, hiệu suất lao động của các thành phần kinh tế qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, một đội ngũ nhân lực CNTT đủ về số lượng sẽ tăng cường lực lượng chuyên gia cho các ngành kinh tế khác. Bởi đặc tính minh bạch, chia sẻ và mức độ sẵn sàng của thông tin tri thức trong môi trường thông tin phổ cập hiện nay (ubiquitous), tài sản tri thức có thể dễ dàng được nhân rộng, phổ cập tới mọi tầng lớp trong xã hội khi nền tảng hạ tầng CNTT ở Việt Nam đủ mạnh, kỹ năng tìm kiếm và khai thác thông tin của lực lượng nhân lực phổ thông ở Việt Nam được tăng cường…  a.Trọng tâm của việc này xây dựng lực lượng chuyên gia của ngành CNTT cho Việt Nam. Ngành CNTT bao gồm 2 lĩnh vực chủ yếu: phần cứng và phần mềm. Với tiềm lực hiện có về công nghệ và vốn (tài chính) của Việt Nam, tập trung vào lĩnh vực công nghệ phần mềm là lựa chọn đúng đắn nhất. Với phần cứng, chi phí đầu tư vốn cho một nhà máy, dự án nghiên cứu rất lớn. Công nghệ nguồn cho các sản phẩm bán dẫn chỉ nằm trong tay một số nước phát triển (vài tập đoàn công nghệ hàng đầu). Khả năng cạnh tranh với thế giới trong lĩnh vực phần cứng là không khả thi. Trong lĩnh vực phần mềm, vấn đề hiện nay trên ngành công nghiệp phần mềm của thế giới là chất lượng phần mềm. Lực lượng chuyên gia CNTT của Việt Nam nên tập trung vào mảng này để tạo sự khác biệt.  b.Với việc đào tạo chuyên gia CNTT phục vụ cho các ứng dụng trong cách ngành kinh tế khác.  2.Đối với thị trường KH&CN, CNTT có thể hỗ trợ việc nắm bắt xu hướng phát triển của các ngành KH&CN trên thế giới. Việc này rất quan trọng đối với những nước hạn chế về vốn đầu tư, thị trường tài chính chưa đủ mạnh, như Việt Nam. Dù tổng lượng vốn đầu tư có hạn, chúng ta vẫn có thể có những quyết sách đầu tư hiệu quả, đúng hướng vào những ngành mũi nhọn tạo ra giá trị tài sản tri thức cao nếu có được những thông tin chính xác về xu hướng phát triển, nhu cầu của thế giới trong tương lai. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của CNTT, chi phí cho các dự án R&D cũng giảm đang kể. Theo quan điểm của người viết, mức độ ảnh hưởng của CNTT đối với thị trường KH&CN không rõ rệt như hai lĩnh vực kia. Đây là vấn đề mở, cần nhiều nghiên cứu thảo luận hơn trong tương lai.  3.Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… Đây là lĩnh vực rất sôi động diễn ra hằng ngày trên thế giới liên quan tới việc luân chuyển dòng vốn tư bản toàn cầu giữa các thị trường tài chính. Vì tính toàn cầu của nó, mức độ ảnh hưởng của mỗi làn sóng đầu tư gián tiếp vào hoặc rút ra tại các quốc gia có thể gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của nền kinh tế đó. Tiềm năng trong ngành dịch vụ tài chính là rất to lớn, giá trị gia tăng dựa trên các công cụ, dịch vụ tài chính rất đa dạng và tạo sự đột phá trong tính cạnh tranh tương đối giữa các tổ chức tài chính và các quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư. Hiệu quả đầu tư và thời cơ thực hiện là 2 yếu tố quan trọng sống còn. Bằng sự cộng tác giữa giới CNTT và chuyên gia tài chính trong nước, khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính của Việt Nam có thể được cải thiện đáng kể bằng sự hỗ trợ của ngành CNTT. Tập trung vào khả năng gia công một phần qui trình dịch vụ cho đối tác nước ngoài và qua đó nâng cao kỹ năng, tiếp cận mặt bằng tri thức và công nghệ trong lĩnh vực tài chính của nhân lực trong nước.  a.Giảm thời gian đưa ra quyết định do khả năng tính toán của các hệ thống thông tin và băng thông của hạ tầng viễn thông hiện nay.  b.Tăng cường tính chính xác và khả năng đánh giá rủi ro trong các quyết định tài chính… Điều này có thể thực hiện được bằng việc chuyển hóa các tri thức, bí quyết, kinh nghiệm trong việc đầu tư tài chính thành các phần mềm chuyên dụng, phân tích, đánh giá các dữ liệu và rủi ro tài chính.  c.Vì lợi thế của hệ thống hạ tầng viễn thông hiện nay cũng như bản chất của thị trường luân chuyển vốn hoạt động liên tục 24/24 giờ, việc phân tán/gia công qui trình các dịch vụ của các tập đoàn tài chính trên thế giới ra nhiều địa điểm có múi giờ khác nhau trên thế giới là điều không tránh khỏi. Với qui trình xử lý thông tin tài chính, lực lượng CNTT của Việt Nam có thể tham gia các qui trình cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực tài chính trên thế giới bằng việc đảm nhận một khâu trong qui trình phân bố nhân lực dựa theo dòng luân chuyển vốn tài chính, tiền tệ… giữa các quốc gia. Thông thường, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… trên thế giới có quan hệ hết sức mật thiết với yếu tố công nghệ (phần mềm, dịch vụ CNTT). Do vậy, nếu chúng ta chuẩn bị tốt nhân lực về CNTT (phần mềm và dịch vụ), khả năng nhân lực về tài chính, ngân hàng… sẽ được lợi nhiều khi các tập đoàn tài chính đa quốc gia gia công một khâu trong qui trình dịch vụ của họ tại Việt Nam.  Như vậy việc phát triển ngành CNTT ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa trên thế giới bao gồm 2 trọng tâm cơ bản: Xây dựng đội ngũ chuyên gia CNTT phục vụ cho ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam. Một nền công nghiệp phần mềm mạnh sẽ là đòn bẩy hiệu quả cho các ngành kinh tế khác; Tập trung khả năng ứng dụng của CNTT vào các ngành dịch vụ quan trọng, đang gây ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia. Ưu tiên là dịch vụ tài chính. Khả năng ứng dụng CNTT trong lĩnh vực tài chính có thể gồm 2 dạng: tăng cường công nghệ, kỹ năng quản trị tài chính cho các tổ chức tài chính trong nước; tham gia từng khâu trong các qui trình dịch vụ tài chính toàn cầu để nâng cao kỹ năng cho nhân lực CNTT và tài chính trong nước.   ————-  * Viện Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản   Nguyễn Trường Thắng *       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển công nghệ vũ trụ: Việt Nam bắt đầu nhập cuộc      Nghiên cứu, phát triển công nghệ vũ trụ không chỉ là sân chơi của những nước lắm tiền, nhiều của. Những ứng dụng của lĩnh vực này đã tác động trực tiếp đối với sự phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không là ngoại lệ. Những thành tựu ở lĩnh vực này gần đây của Việt Nam cho thấy chúng ta bắt đầu nhập cuộc.    Cuộc đua tốn kém  Kể từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik 1 của Liên bang Xô Viết được tên lửa R-7 mang vào không gian ngày 4/10/1957, đến nay đã có hàng vạn vệ tinh được phóng lên tạo thành một tấm thảm bao quanh Trái đất. Không chỉ những quốc gia đi đầu trong chinh phục vũ trụ như Mỹ, Nga, Nhật Bản, các nước châu Âu, những nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ đang chạy đua cùng công nghệ để được làm chủ khoảng không. Mặc dù là một nước chưa phát triển toàn diện về mặt khoa học so với Mỹ, Nga và các nước châu Âu, nhưng Trung Quốc đã có 1.800 hạng mục nghiên cứu không gian được ứng dụng vào các ngành sản xuất. Trong số 1.100 loại vật liệu mới mà nước này chế tạo có 80% được ứng dụng từ kỹ thuật không gian và là một trong 3 cường quốc trên thế giới có đủ khả năng phóng tàu vũ trụ có người lái.   Chúng ta vừa chứng kiến một sự kiện đặc biệt khi tháng 8 vừa rồi, sau hơn nửa năm ròng chu du hàng trăm triệu km trong không gian, phi thuyền mang theo xe tự hành Curiosity đã đáp thành công xuống bề mặt sao Hỏa. Đây là một dự án tổ hợp những tinh hoa công nghệ và được NASA đầu tư tới 2,5 tỷ USD.   Có thể nói, chinh phục vũ trụ là một cuộc khai phá tốn kém nhất trong các lĩnh vực công nghệ. Cần phải có những công nghệ tối tân nhất được trình diễn để vượt ra khỏi những giới hạn ở mặt đất. Không chỉ cần một khoản tiền khổng lồ (tính đến năm 2010, mức đầu tư vào không gian của Mỹ đạt khoảng 500-600 tỉ USD), cuộc chạy đua vào không gian còn đòi hỏi sự tốn kém không thể đo đếm cả về chất xám của cả một cộng đồng khoa học.  Việt Nam cần nhập cuộc  Tại buổi nói chuyện với sinh viên Việt Nam đầu năm 2012, Thái tử Bỉ Philippe đã nhấn mạnh, “Không phải ngẫu nhiên mà từ nửa cuối thế kỷ 20 cho đến nay, nhiều quốc gia đã đầu tư rất lớn vào việc nghiên cứu vũ trụ đặc biệt là công nghệ vũ trụ bởi lẽ càng vươn cao ra ngoài phạm vi không gian, con người càng không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhiều kết quả phục vụ lợi ích và sự phát triển của hành tinh chúng ta. Với xu thế phát triển khoa học hiện nay trên thế giới, công nghệ vũ trụ được xác định là một trong những công nghệ ưu tiên cần phát triển trong thế kỷ 21. Việt Nam cũng nằm trong xu thế này”.  Theo GS.TS Nguyễn Quang Riệu, trong thế kỷ 21, chinh phục vũ trụ sẽ là một trong những mục tiêu khoa học mũi nhọn của cộng đồng các nhà khoa học toàn cầu. Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc. Và thực sự là vài năm gần đây chúng ta đã bắt đầu tăng tốc để được chạm vào địa hạt của công nghệ vũ trụ.   Mốc đầu tiên đánh dấu sự kiện này chính là chúng ta đã chi 300 triệu USD để sở hữu VINASAT-1. Đây là vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam. Trước đó, chúng ta đã đàm phán mới 27 quốc gia, vùng lãnh thổ để có được vị trí 132 độ Đông trên quỹ đạo địa tĩnh. Việc phóng Vinasat 1 đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết định đúng đắn khi chỉ sau 4 năm đi vào hoạt động, công suất của vệ tinh đã được khai thác tối đa với hơn 90% dung lượng VINASAT-1 đã được sử dụng và đang đảm bảo cung cấp các dịch vụ truyền hình, truyền dữ liệu, truyền dẫn, thoại và Internet… Thực tế cho thấy Vinasat 1 dường như vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao. Do đó, Chính phủ đã quyết định đầu tư cho việc phóng VINASAT- 2 được thiết kế trên nền tảng khung A2100 với công nghệ hiện đại, có tuổi thọ thiết kế là 15 năm và hoạt động ở 131,8 độ Đông trên quỹ đạo địa tĩnh. Như vậy, Việt Nam hiện đang sở hữu 2 vệ tinh viễn thông và thường được ví như hai ngôi sao của Việt Nam trên bầu trời.    Từng bước làm chủ công nghệ    Cùng với việc Viện Công nghệ vũ trụ (trực thuộc Viện KHCN Việt Nam) được Thủ tướng Chính phủ kí quyết định thành lập năm 2006 với mục tiêu trở thành viện nghiên cứu đầu ngành về công nghệ vũ trụ, “trào lưu” phát triển lĩnh vực này đang nở rộ không chỉ tại những viện nghiên cứu lớn mà các trường đại học có tiềm năng như Trường ĐH Công nghệ (ĐHQGHN) đã mở mã ngành đào tạo công nghệ vũ trụ với sự hợp tác chặt chẽ với Viện Công nghệ vũ trụ, các trường ĐH và viện nghiên cứu của châu Âu; ĐH KH&CN Hà Nội đã liên kết với các trường đại học Pháp và Viện vật lý Việt Nam tổ chức tuyển sinh khóa học cử nhân và thạc sĩ vũ trụ và ứng dụng đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2012; đồng thời chúng ta đã có kế hoạch gửi những sinh viên ưu tú, có đam mê và dấn thân thực sự tới những đại học danh tiếng của nước ngoài đào tạo, khi về nước trở thành những hạt nhân nòng cốt cho lĩnh vực nghiên cứu này.  Việc Chính phủ xây dựng một trung tâm vũ trụ hiện đại tại Hòa Lạc như là một sự chuẩn bị cho việc phát triển những nhóm nghiên cứu và sản xuất các vệ tinh nhỏ, phục vụ cho các nhu cầu trong nước như: dự báo thời tiết, quan trắc, thăm dò, thu phát sóng truyền thanh – truyền hình, tìm kiếm cứu nạn… là “đầu ra” cho những sinh viên tốt nghiệp hoặc những nhà khoa học về nước làm việc.   Với Việt Nam, những lợi ích của việc phát triển công nghệ vũ trụ là rõ ràng. Tuy nhiên, chinh phục vũ trụ là một chặng đường dài, phải có sự chuẩn bị và khởi động chắc chắn cũng như chiến lược đầu tư lâu dài, trong đó con người là yếu tố quan trọng bậc nhất. Vì vậy cùng với quyết tâm của các nhà quản lý và lãnh đạo, sự nỗ lực của các nhà khoa học trong nước, chúng ta cần kêu gọi sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học Việt kiều. Hiện tại, nhiều người Việt đang công tác tại những trung tâm nghiên cứu vũ trụ lớn của thế giới như Phòng thí nghiệm Phản lực JPL (NASA), Trung tâm Vũ trụ châu Âu (ESO)…     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển điện hạt nhân: Ủng hộ hay phản đối?      Cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Fukushima Dai-ichi, nhà máy điện hạt nhân với 6 tổ máy nằm ở phía Bắc thủ đô Tokyo của Nhật Bản, đã làm dấy lên những quan ngại về vấn đề ứng phó sự cố hạt nhân và an toàn hạt nhân trong trường hợp thiên tai có mức độ tàn phá vượt quá dự tính của con người; nhiều vấn đề lớn của điện hạt nhân hiện chưa có lời giải đáp: chi phí ban đầu, công nghệ chôn cất chất thải lâu dài và ngăn ngừa việc phổ biến vũ khí hạt nhân.      Nhưng ngay cả khi những vấn đề này còn tồn tại, thì cũng không thể phủ nhận những ưu điểm khác của điện hạt nhân. Điện hạt nhân vẫn đang tiếp tục chứng tỏ khả năng của nó – vốn được đánh giá rất cao ở nhiều quốc gia trong việc cung cấp một nguồn điện liên tục, ổn định mà không phải phụ thuộc vào việc nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch. Và tất cả những ai hy vọng rằng xu hướng nóng lên của Trái đất sẽ được chặn đứng, cần nhớ một điều rằng nếu chúng ta ngừng sử dụng điện hạt nhân ngay ngày hôm nay để thay thế bằng các hình thức sản xuất điện khác, thì mỗi năm sẽ có thêm 2 tỷ tấn CO2 được thải vào môi trường.  Trên tờ The Economist, Ian Hore-Lacy đến từ Hội Hạt nhân Thế giới (World Nuclear Association), một hiệp hội xúc tiến phát triển điện hạt nhân, và Tom Burke đến từ E3G, một tổ chức môi trường, đại diện cho hai quan điểm đối lập về điện hạt nhân, đưa ra những lập luận cho họ để ủng hộ hay phản đối việc tiếp tục phát triển điện hạt nhân trên thế giới.  Thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu không có điện hạt nhân  Tom Burke, Tổ chức E3G                Lý do chính của điều này không phải vì ta sẽ tránh được những nguy cơ rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân ở trạng thái hoạt động bình thường hay trong các thảm họa hạt nhân, mà là vì tất cả những nước mới có vũ khí hạt nhân đều ngụy trang chúng dưới vỏ bọc của việc phát triển chương trình điện hạt nhân cho mục đích dân sự. Hiện nay số lượng quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân từ 5 đã tăng lên 9 và sắp tới sẽ là 10.  Cho tới nay, Hiệp ước Cấm phổ biến vũ khí hạt nhân chỉ hạn chế, chứ không thể ngăn chặn sự phổ biến của vũ khí hạt nhân. Những công nghệ và nguyên liệu được sử dụng trong chương trình điện hạt nhân không hề khác biệt so với những công nghệ và nguyên liệu cần thiết để chế tạo vũ khí hạt nhân. Một phần ba số quốc gia có chương trình điện hạt nhân dân sự đã từng thử phát triển vũ khí hạt nhân.  Ngay cả khi đặt nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân sang một bên, vẫn còn rất nhiều lý do khác cho việc ngừng sử dụng điện hạt nhân. Một trong số đó là sự giảm thiểu thiệt hại nặng nề về kinh tế do các tai nạn hạt nhân có thể gây ra. Ví dụ thảm họa tại Fukushima vẫn chưa chấm dứt nhưng đã có thể thấy rõ rằng thiệt hại cuối cùng của thảm họa này sẽ vượt quá 100 tỷ USD.   Những người ủng hộ việc sử dụng điện hạt nhân thường dựa vào hai lập luận chính: Điện hạt nhân là cần thiết để đảm bảo an ninh năng lượng; và điện hạt nhân góp phần vào việc giảm thiểu nguy cơ biến đổi khí hậu, vốn là mối đe dọa lớn nhất mà con người từng phải đối mặt. Tuy nhiên thật ngạc nhiên nếu biết rằng hiện nay điện hạt nhân chỉ đóng góp một phần nhỏ vào an ninh năng lượng – tính đến năm 2009 là khoảng 13%. Hơn nữa, tỉ lệ này đang giảm vì trong những năm gần đây, số lượng lò bị đóng cửa là lớn hơn số lượng lò được xây mới. Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) ước tính rằng các dự án xây mới lò phản ứng trong thời gian tới sẽ chỉ tương đương với số lượng lò phải ngừng hoạt động. Trong khi đó chỉ tính riêng trong năm 2010, năng lượng tái tạo đã đóng góp thêm 50 GW, tương đương với khoảng 40 lò phản ứng hạt nhân.   Như vậy, thực tế cho thấy rằng ngay cả trong trường hợp thế giới ngày càng phụ thuộc vào điện năng, thì đóng góp của điện hạt nhân vào tổng sản lượng điện cũng nhỏ tới mức chúng đang bị thay thế bởi năng lượng tái tạo, năng lượng hóa thạch và việc tăng hiệu quả sử dụng điện.   Tất nhiên, nếu so sánh với năng lượng hóa thạch thì điện hạt nhân là một lựa chọn tốt để giảm bớt lượng khí nhà kính thải vào khí quyển. Nhưng qua việc Trung Quốc, vốn là quốc gia đang phải đối mặt với cả hai vấn đề đảm bảo năng lượng và hạn chế sự biến đổi khí hậu hiện đang có chương trình điện hạt nhân phát triển nhanh nhất thế giới (dự tính tới năm 2020 nước này sẽ có sản lượng điện hạt nhân khoảng 70GW) thì điện hạt nhân cũng mới chỉ đóng góp khoảng 4% nhu cầu điện năng của Trung Quốc, khoảng 25% điện năng sẽ đến từ năng lượng tái tạo vào 70% còn lại là từ than và khí đốt. Như vậy, đóng góp của điện hạt nhân vào việc giảm khí thải nhà kính cũng là rất nhỏ nếu so với lượng khí thải từ điện than mà Trung Quốc đang sản xuất. Tất nhiên đây không phải là vấn đề của riêng Trung Quốc, nhưng rõ ràng rằng điện hạt nhân không thể giải quyết vấn đề giảm thiểu khí thải cho thế giới.   Cần tăng tính an toàn  Ian Hore-Lacy, Giám đốc truyền thông, World Nuclear Association                Sự phát tán chất phóng xạ trong tai nạn hạt nhân tại Fukushima là lớn ở mức chưa từng có, vì vậy việc truyền thông thổi phồng và đưa ra những thông tin không rõ ràng về tai nạn tại Fukushima là điều dễ hiểu. Tuy nhiên sự tập trung quá mức của báo chí đối với sự kiện Fukushima cho đến nay không có ai chết hay bị thương nặng vì nhiễm xạ, và chỉ có 3 nhân viên của TEPCO thiệt mạng trực tiếp vì động đất và sóng thần đã làm lu mờ cả những tin tức về hơn 20.000 người đã chết trong thảm họa thiên nhiên khủng khiếp này.  Tất nhiên việc đó không có nghĩa là chúng ta không rút ra những bài học từ sự kiện tại Fukushima. Chúng ta sẽ phải xem xét lại thiết kế của tất cả các lò phản ứng và đảm bảo chắc chắn việc làm mát sau khi lò phản ứng ngừng hoạt động, kể cả trong trường hợp thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất. Rất may là việc này đã được tính tới trong những thiết kế lò phản ứng hiện đại, vốn sử dụng chính các định luật vật lý tự nhiên như đối lưu để tự động làm mát lò phản ứng sau khi ngừng hoạt động. Điều đó có nghĩa là lò phản ứng không cần sử dụng tới điện năng hay thậm chí là sự can thiệp của con người trong vài ngày để hoàn tất việc làm nguội lò phản ứng.  Điện hạt nhân vẫn là cần thiết bởi một số nhân tố không thay đổi: Nhu cầu về một nguồn cung cấp điện năng liên tục và đáng tin cậy, tầm quan trọng về an ninh năng lượng sao cho nhiên liệu cho việc sản xuất điện không trở thành sự bất ổn hay những nguy cơ về địa chính trị, và sự cần thiết của việc giảm thiểu phát thải CO2 trong sản xuất điện. Điện hạt nhân đáp ứng rất tốt những nhân tố kể trên. Chỉ có than và khí tự nhiên có thể cạnh tranh với điện hạt nhân về giá thành sản xuất trên một kWh và về sự tin cậy và tính liên tục. Tuy nhiên việc sản xuất điện bằng than đã phát thải một lượng khí CO2 khổng lồ vào môi trường.  Vì vậy mục tiêu chủ yếu hiện nay là tăng tính an toàn của điện hạt nhân. Nhiều quốc gia đã đề cập đến việc xem xét lại các tiêu chuẩn về an toàn hạt nhân sau tai nạn tại Fukushima. Đây là điều rất có ý nghĩa trong thời điểm hiện tại tuy nhiên chúng cũng sẽ không thể khác nhiều so với những tiêu chuẩn hiện tại trong thiết kế lò phản ứng và kiểm soát an toàn hạt nhân, vốn khắt khe hơn nhiều so với những năm 1960 khi nhà máy Fukushima Dai-ichi được thiết kế.                              Việt Phương lược thuật (The Economist)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển KH&CN: Để chính sách không thành lực cản?      Thực trạng hoạt động KH&CN cho thấy, những cách hiểu khác biệt trong những chính sách, quy định nhằm ưu đãi cho các doanh nghiệp KH&CN, giữa các cơ quan quản lý và các nhà khoa học có thể dẫn tới việc thực hiện chính sách thiếu hiệu quả.    Do đó, hiểu đúng và giải tỏa những khác biệt mới có thể góp phần giải phóng tiềm lực KH&CN, theo nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân.    Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân.  PV: Đầu năm 2021, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư hướng dẫn số 03/2021/TT-BTC về ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo ông, thông tư này có những quy định gì khác với một vài nghị định trước đây về doanh nghiệp KH&CN?  Ông Nguyễn Quân: Thực tế là nếu theo dõi các chính sách KH&CN, bạn sẽ thấy chế độ ưu đãi thuế tương tự đã được quy định từ năm 2007 trong Nghị định 80/2007/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 96/2010/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN và thông tư liên tịch số 06 giữa ba Bộ KH&CN – Tài chính – Nội vụ. Điểm khác là lần này Bộ Tài chính ban hành thông tư theo quy định mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn chi tiết Nghị định 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN thống nhất cách hiểu theo ngành dọc sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn so với trước đây cho các doanh nghiệp khi làm thủ tục có liên quan với các cơ quan thuế.  Tuy nhiên, Thông tư 03 quy định mức ưu đãi thuế có phần không được như các quy định trước đây khi không nói rõ về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp KH&CN được hưởng, nên có lẽ họ chỉ được miễn giảm thuế tổng cộng 13 năm, còn thuế suất sẽ chịu như các doanh nghiệp khác. Trong khi các quy định trước đây cho phép doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi thuế như doanh nghiệp CNC hoặc doanh nghiệp đầu tư vào các khu CNC, ngoài thời gian miễn giảm thuế, còn được hưởng mức lãi suất ưu đãi 10% trong 15 năm hoặc suốt đời dự án. Điều này làm mất đi sự hấp dẫn đối với doanh nghiệp KH&CN và tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp KH&CN với doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp đầu tư vào khu CNC hoặc doanh nghiệp có dự án CNC. Chưa kể Thông tư 03 chỉ quy định ưu đãi thuế, trong khi các văn bản trước đây là thông tư liên tịch còn quy định chế độ chính sách đối với cán bộ khoa học của tổ chức KH&CN công lập khi chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp KH&CN, việc giao tài sản nhà nước cho doanh nghiệp KH&CN để sản xuất kinh doanh, chia sẻ lợi nhuận giữa doanh nghiệp KH&CN với tổ chức KH&CN và nhà nước…Những quy định này không còn hiệu lực sẽ lại gây khó cho các tổ chức KH&CN khi thành lập doanh nghiệp KH&CN cũng như khi chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN.  Như vậy thông tư 03 có một số quy định ưu đãi “thụt lùi” so với một số quy định đã có từ trước?  Đúng vậy. Ngoài ra hiện nay một số văn bản pháp luật còn thiếu đồng bộ, dẫn tới cách hiểu khác nhau và cách thực hiện khác nhau, từ đó hạn chế tính thực thi. Trong đó, vấn đề đầu tiên phải kể tới là chưa đồng bộ giữa các luật: trong Luật Doanh nghiệp chưa có quy định loại hình doanh nghiệp KH&CN, trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng không có ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp KH&CN mà mới chỉ có quy định ưu đãi cho Doanh nghiệp công nghệ cao (CNC). Chúng ta có tư duy (một kiểu luật bất thành văn) là các luật chuyên ngành mới có hiệu lực cao nhất, cho nên dù Luật KH&CN quy định về doanh nghiệp KH&CN, nhưng các cơ quan về thuế sẽ yêu cầu ưu đãi thuế phải theo luật Thuế, loại hình doanh nghiệp phải theo luật Doanh nghiệp. Luật KH&CN có quy định doanh nghiệp được ưu đãi như thế nhưng trong các luật chuyên ngành chưa quy định, nên trước đây đã phải “lách luật” và “vận dụng” là các doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi như các doanh nghiệp đầu tư vào khu CNC hoặc doanh nghiệp CNC, hoặc doanh nghiệp có dự án CNC.  Phải chăng vì chưa có sự thống nhất như vậy nên các cơ quan quản lý khác nhau có thể hiểu rất khác nhau khiến người ta sợ sai, có nơi mạnh dạn vận dụng có nơi không dám, cuối cùng là các doanh nghiệp khó được hưởng lợi?  Thực ra để được ưu đãi về thuế, với các doanh nghiệp KH&CN, việc giải trình với các cơ quan thuế hay kiểm toán hết sức khó khăn. Ví dụ cơ quan thuế đồng ý rồi nhưng sau này lại phải giải trình với cơ quan kiểm toán là bao nhiêu % doanh thu của tôi từ sản phẩm KH&CN. Và sẽ có tình huống làm khó doanh nghiệp: nếu sản phẩm này không đủ 30% doanh thu, ví dụ 29%, thì vẫn phải đóng thuế bình thường, trong khi 30% thì được miễn giảm thuế trên 100% doanh thu. Chưa kể thủ tục để được miễn giảm thuế nhiều nơi còn phiền hà nên nhiều doanh nghiệp cũng nói với tôi rằng “thà đóng thuế bình thường còn đỡ khổ hơn xin miễn thuế”.  Không chỉ trong việc ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp KH&CN, mà trong nhiều lĩnh vực khác của hoạt động KH&CN cũng có hiện tượng “lệch pha” của các chính sách, quy định, dẫn tới khó khăn vướng mắc trong việc thực thi.     Thông tư 03 quy định mức ưu đãi thuế có phần không được như các quy định trước đây khi không nói rõ về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp KH&CN được hưởng, nên có lẽ họ chỉ được miễn giảm thuế tổng cộng 13 năm, còn thuế suất sẽ chịu như các doanh nghiệp khác. Trong khi các quy định trước đây cho phép doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi thuế như doanh nghiệp CNC hoặc doanh nghiệp đầu tư vào các khu CNC, ngoài thời gian miễn giảm thuế, còn được hưởng mức lãi suất ưu đãi 10% trong 15 năm hoặc suốt đời dự án.  Vậy ông có thể nói cụ thể hơn về những “lệch pha” này?  Chẳng hạn như vẫn có sự khác biệt giữa Luật KH&CN và Luật Thuế thu nhập cá nhân hay Luật Viên chức. Ví dụ, Luật KH&CN có quy định là thu nhập từ đề tài dự án KH&CN được miễn thuế thu nhập cá nhân, nhưng trong Luật Thuế thu nhập cá nhân lại không có quy định đó. Nên rút cuộc các nhà khoa học đi làm đề tài vẫn phải khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân, những ai kiên trì xin miễn thì vẫn được miễn sau khi giải trình quyết toán thuế, còn không đủ kiên trì thì vẫn phải nộp thuế.  Hoặc đối với các nhà khoa học, trong Luật KH&CN đưa ra ưu đãi cho các nhà khoa học có trình độ cao, có thành tích đặc biệt như đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng quốc tế về KH&CN, chủ trì dự án quốc gia, trước đây trong Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định các nhà khoa học có thành tích đặc biệt như vậy có thể nâng lương vượt một bậc trong cùng ngạch, hoặc ưu tiên nâng ngạch không qua thi tuyển, nhưng trong Luật viên chức không có quy định ấy. Vì thế mặc dù đã có thông tư liên tịch giữa ba Bộ KH&CN, Tài chính, Nội vụ nhưng cuối cùng các ưu đãi trên không thực hiện được đối với ngạch viên chức cao cấp, vì ngạch này do Bộ Nội vụ quản lý và một số công chức của Bộ Nội vụ nói rằng trong Luật Viên chức không quy định.  Hoặc việc cấp kinh phí cho các đề tài, nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế quỹ cũng được quy định trong Luật KH&CN nhưng Luật Ngân sách nhà nước không quy định riêng cho KH&CN mà yêu cầu tất cả các nhiệm vụ sử dụng ngân sách đều phải tuân thủ quy trình như nhau – phải lập dự toán, có quyết định phê duyệt cấp bộ hoặc cấp tỉnh mới được đưa vào dự toán ngân sách trình Chính phủ và Quốc hội phê duyệt, và năm sau mới được cấp tiền. Như vậy, kể cả các nhiệm vụ cấp bách như khi có dịch Covid-19 muốn làm vaccine hay máy thở mà năm trước chưa có dự toán thì năm nay cũng khó có tiền, trừ khi được Chính phủ quyết định. Cách làm như vậy không phù hợp với đặc thù của KH&CN là cấp kinh phí phải kịp thời ngay khi nhà khoa học có ý tưởng nghiên cứu, khi thị trường có nhu cầu. Nhưng hiện nay vẫn duy trì cách làm cũ mà hầu như không quốc gia nào làm như thế, lý do là Luật Ngân sách chỉ có quy định chung: mọi dự án chỉ được bố trí kinh phí khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổng hợp vào dự toán ngân sách của bộ, ngành, địa phương. Trong khi đề tài, dự án KH&CN hoàn toàn khác với dự án đầu tư xây dựng cơ bản, phải chịu chung cơ chế với dự án xây dựng cơ bản, kể cả việc phải có định mức kinh tế kỹ thuật cho hoạt động nghiên cứu.  Chừng nào chưa có sự đồng bộ về pháp luật, chưa có đổi mới tư duy, thì làm khoa học vẫn bị ràng buộc như thế.    Minh Long I tập trung đầu tư công nghệ tiên tiến để tạo ra sản phẩm gốm sứ có chất lượng cao.  Nhiều người cho rằng một trong những nguyên nhân khiến chưa có sự đồng bộ về pháp luật hoạt động KH&CN là do chúng ta chưa chấp nhận sự rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Theo ông?  Nghiên cứu KH&CN có thể thất bại, tỷ lệ thất bại có thể cao hơn thành công, nhưng Luật Ngân sách nhà nước lại không có quy định nào liên quan đến đầu tư mạo hiểm. Tức là đã đầu tư bằng ngân sách thì phải thành công, phải đạt mục tiêu, phải có sản phẩm. Nhà khoa học muốn nghiên cứu, nhiều cái rất hay nhưng nếu nhận tiền ngân sách thì buộc phải thành công, phải có sản phẩm, như vậy dẫn tới tâm lý đối phó, hoặc là hợp thức hóa hồ sơ cho sản phẩm đã làm rồi, thành công rồi, hoặc là phải đơn giản hóa, tổng quát hóa sản phẩm cuối cùng của họ, ví dụ chỉ là bán thành phẩm, hoặc chỉ là dạng prototype, pilot để nghiệm thu đề tài đúng quy định, chứ chưa đủ điều kiện thương mại hóa thành sản phẩm quy mô thương mại để đưa vào cuộc sống.  Lẽ ra ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học cũng như là đầu tư của doanh nghiệp là phải chấp nhận đầu tư mạo hiểm. Trong Luật Công nghệ cao năm 2008 đã có quy định là nhà nước thí điểm thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm, sau đó có thể chuyển giao cho tư nhân, thoái vốn, nhưng đến nay chưa thực hiện. Mà khi nhà nước không thí điểm làm đầu tư mạo hiểm thì không thể biết cơ chế vận hành và tác dụng của đầu tư mạo hiểm để ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư mạo hiểm, đến giai đoạn cần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bây giờ vướng mắc lớn nhất của khởi nghiệp chính là không có quy định của pháp luật về đầu tư mạo hiểm, kể cả đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017 có nói đến quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, Nghị định 38/2018/NĐ-CP có một chương về quỹ đầu tư khởi nghiệp, tạo ra khung pháp lý, nhưng cho đến nay vẫn không có thông tư hướng dẫn chi tiết về quy trình thủ tục lập quỹ và cơ chế vận hành quỹ (ví dụ hồ sơ có những gì, nộp hồ sơ cho ai, bao nhiêu ngày phải cấp giấy phép, chia sẻ lợi nhuận theo nguyên tắc nào, thoái vốn ra sao, có cho phép nhà đầu tư nước ngoài vào không, nhà đầu tư nước ngoài thoái vốn và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài như thế nào…).  Được biết gần đây ông hỗ trợ trường ĐH Bách khoa Hà Nội hình thành quỹ khởi nghiệp. Xin ông cho biết việc vận hành các quỹ như thế nào?  Vừa rồi trường ĐH Bách khoa Hà Nội xây dựng một quỹ đầu tư khởi nghiệp đầu tiên hỗ trợ sinh viên và cựu sinh viên khởi nghiệp mới thấy khó khăn thế nào. Lãnh đạo trường ĐH Bách khoa cho biết đóng 1 triệu vào quỹ cũng không dám chứ chưa nói là đóng hàng tỉ, mặc dù trường có tiền, rất muốn đầu tư nhưng không được vì kiểm toán sẽ xuất toán ngay lập tức. Thế thì chỉ huy động vốn cá nhân thôi, mà dùng vốn cá nhân thì trường sẽ không thể được hưởng lợi nhuận của quỹ khi đầu tư thành công. Kinh nghiệm trên thế giới như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Israel… là quỹ mạo hiểm sẽ đem lại lợi nhuận vô cùng lớn, nhưng quy định của chúng ta không cho phép dùng ngân sách nhà nước đầu tư mạo hiểm. Vì thế người ta rất sợ làm, làm gì phải chắc chắn thành công thì mới làm. Các doanh nghiệp KH&CN hay các nhà khoa học đều thế thôi, làm đề tài phải thấy là chắc chắn làm được thì mới dám nhận, không dám chắc thành công thì hợp thức hóa để nghiệm thu, nhưng kết quả sau đó không dùng được có thể phải cất vào ngăn kéo.  Nhìn vào những điều đó để thấy là những ràng buộc hạn chế phát triển của KH&CN nước ta vẫn còn nhiều. Điều đó dẫn tới là ngành KH&CN vẫn chưa thể phát triển được tương xứng với tiềm lực và kỳ vọng của chúng ta.  Ví dụ trong đại dịch, nước ta là một trong những nước công bố nghiên cứu thành công vaccine rất sớm nhưng đến các khâu thử nghiệm lâm sàng thì chững lại vì đến giai đoạn này cần có sự đầu tư rất lớn của nhà nước chứ tư nhân không dám mạo hiểm và không đủ tiềm lực. Nếu không có nhà đầu tư kịp thời (kể cả nhà nước và tư nhân) thì sản phẩm không thể được cấp phép và ra thị trường, mất cơ hội chống dịch và mất thời cơ cạnh tranh. Không làm sớm, tới đây khi cả thế giới người ta tiêm được rồi thì mình sản xuất ra cũng không thể bán được và lại lỡ nhịp, thậm chí là lãng phí nguồn lực đầu tư.  Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, dù muốn hay không thì các sản phẩm của quốc tế vào Việt Nam ngày càng nhiều, các doanh nghiệp FDI mang công nghệ vào, nên phải gỡ những ràng buộc đó để thúc đẩy tiềm lực KH&CN của Việt Nam, phải thay đổi tư duy về đầu tư cho KHCN để không lỡ nhịp quá nhiều so với thế giới.  Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!  Theo: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/phat-trien-khcnde-chinh-sach-khong-thanh-luc-can/20210225102233237p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển KH&CN: Một số khuyến nghị      Căn cứ vào mô hình tăng trưởng về khoa học và công nghệ (KH&CN) và thực trạng hoạt động KH&CN của Việt Nam, có thể thấy hiện nay KH&CN của chúng ta đang ở mức độ hai và quyết tâm tiến tới mức độ ba (xem mô hình).  Để quyết tâm này thành hiện thực, chúng tôi khuyến nghị Chính phủ cần làm một số vấn đề như sau:      Công ty cổ phần robot Tosy – một trong khoảng 30 doanh nghiệp KH&CN ở Hà Nội, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ Đồ chơi quốc tế, New York, tháng 2/2011.  1. Hỗ trợ phát triển thị trường KH&CN thông qua thị trường chuyển giao công nghệ với trọng tâm là doanh nghiệp KH&CN:  Hiện nay Luật chuyển giao công nghệ đã được dự thảo theo hướng này, tuy nhiên còn chưa rõ mô hình kinh doanh của các tổ chức trung gian. Vì vậy, Chính phủ cần hỗ trợ hình thành:  a. Tổ chức hỗ trợ về năng lực chuyển giao công nghệ bao gồm mạng lưới các trung tâm chuyển giao công nghệ cốt lõi tại các vùng (Trung, Nam, Bắc) và các lĩnh vực cần thiết (Nông nghiệp, Quốc phòng, Phát triển đô thị). Có thể đặt các trung tâm này tại các khu công nghệ cao của các vùng và nhận được sự hỗ trợ của chính phủ trong các quan hệ quốc tế về đối tác và nguồn vốn. Các tổ chức này hoạt động tương tự như các văn phòng quản lý chương trình hỗ trợ phát triển năng lực KH&CN, trong đó, có hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực KH&CN của doanh nghiệp, xúc tiến hình thành mạng lưới chuyển giao công nghệ trong nước và quốc tế, là đối tác đầu mối cho một số hoạt động chuyển giao công nghệ liên quốc gia (ví dụ: Việt – Nhật, Việt – Mỹ, Việt – Úc, Việt – Lào…). Một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức này là mở rộng việc chuyển giao công nghệ ra toàn xã hội, khuyến khích các công nghệ được toàn dân sở hữu như công nghệ nguồn mở, dữ liệu mở về KH&CN… Một hoạt động khác là tài trợ đăng ký sở hữu trí tuệ cho các viện, trường, đơn vị KH&CN.  b. Tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ: đây là các tổ chức hoạt động phía trước của chuyển giao công nghệ hướng theo hợp đồng chuyển giao công nghệ. Vì đi theo các giao dịch kinh tế rõ nét, nên điều cần là các tổ chức này được chia phần tương xứng trong giá trị giao dịch. Phần này tại các nước là từ 5% đến 20% giá trị giao dịch. Để kích hoạt, Chính phủ nên hình thành mô hình này ngay trong các dự án do nhà nước đầu tư. Cụ thể, trong các hoạt động chuyển giao công nghệ từ quốc tế vào các dự án do nhà nước là chủ đầu tư tại Việt Nam, Chính phủ đặt hàng các tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ tham gia và được chia doanh thu, nên chú trọng khuyến khích các tổ chức tư nhân.    Mô hình trưởng thành năng lực về KHCN Việt Nam  2. Tạo sân chơi về thị trường phát triển và ứng dụng KH&CN thông qua việc hình thành các tiêu chuẩn KH&CN; thúc đẩy khởi nghiệp KH&CN; đào tạo nguồn nhân lực KH&CN (STEM).  c. Về tiêu chuẩn KH&CN: Hiện nay, chúng ta đang sử dụng các tiêu chuẩn KH&CN của quốc tế một cách tương đối tự do và ít có sự tích hợp, cập nhật. Chính phủ nên hỗ trợ các viện, trường và các tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn KH&CN của quốc tế cũng như tại Việt Nam.  d. Về thúc đẩy khởi nghiệp KH&CN: Chính phủ nên tạo ra các cơ chế để viện, trường đẩy mạnh việc khởi nghiệp KH&CN trong viện trường (mô hình spin-off), đồng thời phát triển thị trường đầu tư tài chính cho khởi nghiệp KH&CN. Trong việc phát triển khởi nghiệp, vừa chú trọng đến số lượng vừa chú trọng tới nhóm những lãnh đạo khởi nghiệp là yếu tố thành công quan trọng của khởi nghiệp.  g. Về đào tạo nguồn nhân lực KH&CN: giáo dục và đào tạo là một quá trình liên tục và dài hạn, vì vậy, Chính phủ cần kiến tạo và hỗ trợ các mô hình đào tạo KH&CN (giáo dục STEM) từ tiểu học tới đại học. Tương tự như phát triển tiếng Anh, để không bị lỡ cơ hội, việc này cần làm ngay từ bây giờ, không đợi đến khi chúng ta ở mức độ 3 sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng. Các cơ chế phát triển xã hội hóa giáo dục STEM cần được hình thành và ban hành. Nhiệm vụ phát triển giáo dục STEM cần được chia cho tất cả các viện, trường, tổ chức công nghệ và chính quyền địa phương.  3. Hỗ trợ chuyển đổi văn hóa ứng dụng KH&CN trên toàn xã hội, đặc biệt trong doanh nghiệp, thông qua sử dụng phương pháp kéo, làm mẫu từ các doanh nghiệp nhà nước, tìm và nhân rộng điển hình.  h. Phương pháp kéo (pull) thay vì đẩy (push) trong chuyển đổi văn hóa ứng dụng KH&CN: về cơ bản phương pháp này chú trọng tới đầu ra và tiêu chuẩn, các doanh nghiệp đạt được tiêu chuẩn đầu ra sẽ được tưởng thưởng thích đáng. Cụ thể, để được tham gia các dự án do Chính phủ đầu tư, các lợi ích do quan hệ của Chính phủ, các doanh nghiệp cần đạt được tiêu chuẩn về ứng dụng KH&CN. Chính phủ nên có chủ trương này và đưa ra các đầu đo để ưu tiên trong các hoạt động đầu tư và xúc tiến thay vì chỉ dựa vào thương hiệu và mối quan hệ của các doanh nghiệp.  i. Làm mẫu từ các doanh nghiệp nhà nước: các tổng công ty, các công ty liên quan đến KH&CN cần xây dựng lộ trình ứng dụng KH&CN và đưa rõ kế hoạch hành động để hướng tới mức trưởng thành số 3. Trong đó, các công ty không chỉ tự làm mà còn phải đưa ra mô hình kết hợp để phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp KH&CN. Chính phủ nên yêu cầu các công ty nhà nước có kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng dụng KH&CN; có đánh giá mức độ trưởng thành năng lực KH&CN và lộ trình cụ thể để nâng cao năng lực KH&CN lên mức ba trong khung thời gian phù hợp (tới 2020)  k. Tìm và nhân rộng điển hình: Các mô hình nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, tiếp thị KH&CN thành công cần được khuyến khích trên truyền thông cũng như được xét đến trong quá trình xây dựng chính sách KH&CN, tham gia vào mạng lưới phát triển KH&CN và công bố các kinh nghiệm cho xã hội.  ***  Trên đây là một số khuyến nghị chính phù hợp với quá trình trưởng thành năng lực KH&CN quốc gia. Có thể có các khuyến nghị khác phù hợp và chính phủ nên xem xét, nhưng điều quan trọng là chúng ta cần thống nhất về thực trạng của chúng ta và dựa trên mong muốn phát triển để định hướng, quản lý và điều chỉnh phù hợp.    Author                Nguyễn Thế Trung        
__label__tiasang Phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017 – 2025      Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017 – 2025.      Mục tiêu cụ thể của Chương trình là xây dựng được đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế. Phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng trong các cơ sở giáo dục đại học, góp phần hình thành các trường đại học nghiên cứu, phấn đấu đến năm 2025 mỗi lĩnh vực hình thành 15 – 20 nhóm nghiên cứu mạnh.  Bên cạnh đó, nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đến năm 2025, một số ngành đứng thứ 3 – 4 trong trong khối các nước ASEAN. Tăng số công trình khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín quốc tế (Danh mục thuộc cơ sở dữ liệu SCOPUS), trung bình hằng năm tăng 20 – 25%, đối với ngành Khoa học biển từ 10 – 15%.  Xác định hướng ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản   Nhiệm vụ của Chương trình là xác định định hướng ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng của 04 lĩnh vực khoa học cơ bản đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030, bao gồm những hướng chủ yếu: Lĩnh vực Hóa học (Hóa hữu cơ; hóa dược; hóa vô cơ; hóa lý thuyết và hóa lý; hóa Polyme và vật liệu; hóa phân tích); lĩnh vực Khoa học sự sống (nghiên cứu sự sống ở mức độ phân tử; nghiên cứu sự sống ở mức độ mô, tế bào; nghiên cứu sự sống ở mức độ cơ thể; nghiên cứu sự sống ở mức độ quần thể và sinh thái);  lĩnh vực Khoa học trái đất (địa chất; địa vật lý và vật lý địa cầu; địa lý; khí tượng, khí hậu; thủy văn và tài nguyên nước); lĩnh vực Khoa học biển (hải dương học và tương tác biển – khí quyển – lục địa; hóa học biển; sinh học và sinh thái biển; địa lý, địa chất, địa vật lý biển; cơ học và công trình biển).  Nhà nước sẽ đặt hàng các nhiệm vụ cấp quốc gia theo những hướng nghiên cứu ưu tiên cho các tổ chức KH&CN chuyên ngành, hướng đến các sản phẩm ứng dụng trong sản xuất và đời sống.  Chương trình cũng sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản của các cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, viện nghiên cứu có đào tạo trình độ tiến sỹ). Cụ thể, đầu tư các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản trọng điểm cấp bộ ngành trong từng lĩnh vực, tổ chức và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản cho các tiến sỹ trẻ, các nhiệm vụ nghiên cứu tiềm năng, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh gắn với các phòng thí nghiệm nêu trên. Có hình thức khen thưởng học sinh, sinh viên đạt giải tại các cuộc thi quốc gia và quốc tế; Đẩy mạnh triển khai việc đào tạo nguồn nhân lực sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) trong một số Chương trình đào tạo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010 – 2020 theo Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17/6/2010; Đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 – 2020 theo Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 17/4/2013), đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia theo nhóm, sau tiến sỹ (Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo Quyết định số  2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015) và thông qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp, thông qua hợp tác quốc tế.  Một trong những giải pháp thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu này là sẽ  thực hiện việc thưởng cho các nhà khoa học đã công bố bài báo quốc tế trong nghiên cứu cơ bản (ISI, SCI, SCIE); hỗ trợ kinh phí tham gia các hội thảo, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực theo quy định tại Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25/10/2014 về đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học; Đầu tư các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản ở các cơ sở giáo dục đại học; Đầu tư một số trang thiết bị lớn, hiện đại, đặc thù có cơ chế sử dụng chung, các trạm quan trắc, xử lý số liệu ở các viện chuyên ngành; Có phương án đầu tư và thuê tàu nghiên cứu về khoa học biển.  Ưu tiên tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản 4 lĩnh vực   Nhiệm vụ và giải pháp khác là Quỹ Nafosted ưu tiên, tăng cường tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản trong các lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển thông qua các Hội đồng chuyên ngành theo bốn lĩnh vực nêu trên; Tăng cường hợp tác quốc tế, cụ thể, hợp tác song phương (Quỹ nghiên cứu cơ bản Liên bang Nga,…) và các quốc gia có nền khoa học cơ bản tiên tiến khác ở Đông Á, EU, Bắc Mỹ; hợp tác đa phương, trong đó tập trung các chương trình của UNESCO như: Chương trình nghiên cứu cơ bản quốc tế (IBSP); Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB), Chương trình Hải dương học liên chính phủ (IOC), Chương trình Thủy văn quốc tế (IHP), Chương trình khoa học Địa chất quốc tế và công viên Địa chất toàn cầu (IGGP)… và các kênh hợp tác quốc tế khác có liên quan; Lồng ghép các nhiệm vụ và giải pháp của Chương trình với các chương trình đào tạo nhân lực trình độ cao, các chương trình KH&CN  cấp quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; các chương trình, nhiệm vụ về Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ), về Quy hoạch mạng lưới các viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học đến năm 2025 (Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ).  Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Phat-trien-khoa-hoc-co-ban-4-linh-vuc/304604.vgp    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển năng lượng nguyên tử: Không chỉ là hợp tác quốc tế      “Làm thế nào để hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng thực sự hiệu quả?”, câu hỏi ấy khó trả lời hơn người ta tưởng bởi cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một chính sách đột phá cho lĩnh vực này.      TS. Ayman Hawari, giám đốc Chương trình lò phản ứng hạt nhân của trường ĐH North Carolina (Mỹ) trao đổi với TS. Trần Chí Thành bên lò phản ứng PULSTAR của trường. Nguồn: North Carolina  Vấn đề ấy vẫn thường trực trong đầu những người làm năng lượng nguyên tử, ngay cả khi Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc 2021 đã kết thúc tại Đà Lạt. Bản chất của lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã là mở nhưng có lẽ, ít ai cũng có thể hình dung ra nó mở ngay trước mắt mình một cách rõ ràng và minh bạch như vậy. Ở phiên khai mạc hội nghị, lời mời hợp tác của Nga, Mỹ, Nhật Bản – những nơi đi đầu trong nghiên cứu và phát triển từ khoa học cơ bản của vật lý hạt nhân đến công nghệ hạt nhân của thế giới, đến cùng một lúc. Không khó để có thể nhận ra ngay rằng, đó là những cơ hội hợp tác hoàn toàn nghiêm túc và dài lâu.  Không dễ để các cường quốc như vậy thấy mình là một đối tác đủ năng lực nhưng lại càng không dễ để khai thác hiệu quả những mối quan hệ hợp tác ấy. “Vài ba năm sau những hồ hởi, vồ vập ban đầu, có nhiều dự án hợp tác đã dần tàn lụi và chỉ đi đến một việc là họ giúp ta đào tạo được một vài nghiên cứu sinh là hết”, một nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cho biết như vậy sau khi chứng kiến nhiều thành bại hợp tác quốc tế trong khoa học.  Vậy làm gì để việc hợp tác thực sự hiệu quả? có cách nào để Việt Nam có thể “hưởng lợi” về mặt khoa học, ngoài việc thuần túy gửi người ra nước ngoài đào tạo? triển khai hợp tác như thế nào trong điều kiện hạn chế về nguồn lực?  Việc trả lời những câu hỏi này hết sức quan trọng bởi nó còn liên quan trực tiếp đến một trong những vấn đề căn cốt của ngành năng lượng nguyên tử: làm thế nào để Việt Nam có thể đón nhận thêm vô vàn lợi ích của các kỹ thuật hạt nhân?  Đi cùng các ông lớn  Không phải bây giờ, xu hướng hợp tác mới đến với ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam bởi vốn dĩ, quá trình hình thành của ngành đã mang màu sắc quốc tế. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất ở giai đoạn hiện tại chính là việc Việt Nam đã có một đội ngũ các nhà khoa học, trong đó có một số nhà khoa học trẻ được đào tạo hoàn toàn trong nước, đang trên đường trở thành những chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành hẹp của mình. “Trong nghiên cứu về cấu trúc hạt nhân giàu neutron thì mình phải khẳng định một điều là tuy các thí nghiệm đều thực hiện ở nước ngoài nhưng vai trò của người Việt trong các thí nghiệm này ngày một được nâng cao, có những thí nghiệm mình đóng vai trò chính, ví dụ như báo cáo mà Bùi Duy Linh (Viện KH&KT hạt nhân) là tác giả thứ nhất”, TS. Phan Việt Cương, một nhà nghiên cứu về vật lý hạt nhân thực nghiệm ở VINAGAMMA, nhận xét như vậy trong phiên tổng kết của tiểu ban B (Vật lý hạt nhân, số liệu hạt nhân, máy gia tốc và phân tích hạt nhân) của hội nghị.  Năng lực được tích lũy theo thời gian chính là điểm mấu chốt để các mối hợp tác quốc tế đến với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Do đó, cơ hội tham gia vào các dự án tầm cỡ quốc tế do Mỹ, Nga hay Nhật Bản khởi xướng đang rộng mở. Trong phiên khai mạc hội thảo, ông Anthony Wier (Bộ Ngoại giao Mỹ) cho biết, công nghệ lò phản ứng mô đun nhỏ (SMR), “một trong những nỗ lực của Chính phủ Mỹ nhằm giải quyết vấn đề khủng hoảng khí hậu trong vòng 60 năm nữa”. Ra mắt vào tháng 4/2021, dự án đầu tiên về SMR sẽ triển khai ở khu vực Đông Nam Á, cụ thể hơn là tại Indonesia. Việc nghiên cứu SMR với sự tham gia của các đối tác quốc tế được Mỹ hy vọng sẽ tạo ra nhiều đổi mới sáng tạo và mang đến nhiều công nghệ mới. “Trọng tâm của dự án này là thiết kế chương trình xây dựng năng lực để tăng cường hợp tác với những quốc gia mới phát triển năng lực hạt nhân và tăng cường hợp tác kỹ thuật với những quốc gia đối tác về phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân cho nhiều quốc gia đang xem xét phát triển công nghệ SMR”, ông Anthony Wier nói.  Tham vọng phát triển công nghệ SMR, trong đó có cả lò phản ứng trên thiết bị nổi (FNPP), của Mỹ với Đông Nam Á có thể sẽ mở ra nhiều điều thú vị về KH&CN vì liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện NLNTVN, trao đổi sau hội nghị. “Hiện nay, mặc dù SMR không phải là nghiên cứu ưu tiên đối với những nước chưa có năng lượng hạt nhân như Việt Nam nhưng Viện cũng cố gắng tìm hiểu. Việc triển khai hợp tác nghiên cứu với Mỹ cũng tốt cho mình bởi nó sẽ giúp mình có được năng lực mới”, anh nhận xét về lợi ích tiềm năng của việc tham gia dự án. Là một chuyên gia về an toàn hạt nhân, anh nhận thấy công nghệ FNPP có nhiều điểm khác biệt cần khai phá, ví dụ như không được đặt cố định trên đất liền như lò phản ứng theo công nghệ truyền thống mà trên một nền tảng cơ động trên mặt biển nên có thể phải đủ sức chống chịu nhiều rủi ro tiềm năng trong những điều kiện thời tiết khác nhau như bão, gió…      “Để mối quan hệ hợp tác thật sự hiệu quả thì mình phải cố gắng giải quyết vấn đề của họ, qua đó từng bước đào tạo con người và lấy đó làm cơ sở để giải quyết vấn đề của mình, khi hội tụ đủ điều kiện. Trong đầu mình lúc nào cũng phải nghĩ đến điều đó”. (TS. Trần Chí Thành)      Nếu việc hợp tác với Mỹ được “đóng gói” vào SMR, một trong những quan tâm bậc nhất của Mỹ hiện nay trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, thì mối liên hệ của Việt Nam với Nga lại mang màu sắc khác và mở rộng ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau. “Viện Liên hợp hạt nhân Dubna là một viện đa ngành. Trước đây, chúng ta chỉ biết đến Dubna là một nơi chuyên về vật lý hạt nhân thì nay, quy tụ rất nhiều lĩnh vực khác nhau từ công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, khoa học môi trường, y học, vật lý chất rắn…”, giáo sư Trần Đức Thiệp, một chuyên gia vật lý hạt nhân thực nghiệm ở Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cho biết như vậy trong phiên họp của tiểu ban B.    Việt Nam tham gia thí nghiệm đầu tiên về chùm tia ion nặng của máy gia tốc U-400 với việc sử dụng quang phổ kế từ có độ phân giải cao (MAVR) trong phòng thí nghiệm Các phản ứng hạt nhân Flerov ở Dubna. Nguồn: JINR  Một trong những điểm khác biệt nữa là Dubna, nơi có lò phản ứng nghiên cứu IBR2 với luồng xung mạnh nhất thế giới và nhiều thiết bị khiến “chúng ta ngợp vì có thể chưa bao giờ thấy ở đâu” như giới thiệu của PGS. TS Nguyễn Nhị Điền (Viện NLNT VN), cũng có thể được coi là ‘ngôi nhà’ của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Giáo sư Lê Hồng Khiêm, đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Dubna, nhấn mạnh đến lợi thế này: “Mình là thành viên chính thức của Dubna, nên có quyền tự lựa chọn hướng nghiên cứu và chủ đề nghiên cứu. Mỗi năm, mình có quyền cử 40 đến 50 người sang đó làm việc trên các thiết bị hiện đại bậc nhất thế giới và được hưởng chế độ lương bổng theo quy định”.  Nhìn thấy ở Việt Nam một tiềm năng mới với dự án Trung tâm KH&CN hạt nhân quốc gia, TS. Grigory V. Trubnikov, Giám đốc Dubna, đã chủ động đề nghị được tham gia đầu tư một kênh ngang trên lò phản ứng nghiên cứu mới, dẫn dòng neutron để triển khai nghiên cứu và ứng dụng. “Đó là chuyện phức tạp và tốn kém nhưng Dubna có đủ kinh phí và năng lực tính toán để thiết kế kênh và lắp đặt thiết bị đi kèm để khai thác. Họ sẵn sàng đầu tư và đề nghị coi đó là phòng thí nghiệm chung hoặc một chi nhánh của Dubna tại Đông Nam Á”, TS. Trần Chí Thành nói và cho biết thêm “Việc hợp tác này có lợi cho mình bởi sự hiện diện của họ và việc triển khai nghiên cứu của họ sẽ nâng tầm của mình lên rất nhiều, thậm chí thu hút người làm nghiên cứu trong khu vực”.  Dubna từng áp dụng thành công những kế hoạch tương tự ở nhiều quốc gia thành viên. “Trong tương lai, Trung tâm của mình sẽ có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu trình độ quốc tế từ Dubna, nếu đây là phòng thí nghiệm mới của họ. Nhờ vậy, mình không chỉ khai thác tốt thiết bị mới mà còn trưởng thành lên. Theo kinh nghiệm của tôi, muốn đào tạo được chuyên gia có thể thiết kế thí nghiệm sử dụng các dòng neutron khai thác từ lò phản ứng nghiên cứu, phải mất từ 10 đến 15 năm học hỏi trong một tập thể quốc tế tốt”, giáo sư Lê Hồng Khiêm, một người ủng hộ nhiệt thành cho ý tưởng, mường tượng đến ngày có thể chủ động triển khai được những dự án vật lý hạt nhân lớn ngay tại Việt Nam.  Nhưng giữa mong muốn và thực tại vẫn còn một khoảng cách lớn…  Không thể hợp tác một chiều  Câu chuyện hợp tác không phải lúc nào cũng diễn ra theo đường thẳng tuyến tính, cứ đặt bút ký vào biên bản ghi nhớ là có thể gặt hái được thành công, ngay cả giữa những bên có trình độ tương đương nhau. Trong khi đó, mối quan hệ hợp tác về năng lượng nguyên tử giữa Việt Nam với Mỹ hay Nga, những quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực này, vốn dĩ đã khó ở thế thăng bằng. “Đương nhiên là mình yếu hơn, mình chưa thể ở mức ngang hàng với họ và chắc chắn là còn phải học hỏi họ”, TS. Trần Chí Thành không ngại ngần cho biết như vậy. “Tuy nhiên, để mối quan hệ hợp tác thật sự hiệu quả thì mình phải cố gắng giải quyết vấn đề của họ, qua đó từng bước đào tạo con người và lấy đó làm cơ sở để giải quyết vấn đề của mình, khi hội tụ đủ điều kiện. Trong đầu mình lúc nào cũng phải nghĩ đến điều đó”.  Có một điểm thú vị là dù ở cương vị nào thì góc nhìn của những nhà khoa học cũng giống nhau, khi nói đến điều mình mơ ước: một ngày nào đó, Việt Nam có thể đạt được trình độ tương đương các quốc gia phát triển. “Anh luôn phải nghĩ đến mục tiêu của mình, nghĩ đến việc mình có lợi ích gì về mặt khoa học không khi đi theo những con đường hợp tác đó và mình có quyết tâm không để đạt được trình độ khoa mọc đó”, TS. Phan Việt Cương, người có nhiều hợp tác với đồng nghiệp Pháp, Hàn Quốc…, chia sẻ.  Nhưng đường đến đó còn dài, nhất là với một quốc gia mà từ gần 40 năm qua, không triển khai một công trình năng lượng nguyên tử lớn ở tầm quốc gia nào và điều kiện nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn nhiều mặt. Vì thế, để hợp tác hiệu quả, trước mắt Việt Nam có thể tham gia những dự án lớn như dự án SMR của Mỹ ở Đông Nam Á, “tham gia giải quyết một mối quan tâm lớn về công nghệ của họ nhưng cũng có lợi ích cho mình”, TS. Trần Chí Thành giải thích. Hiện tại, SMR là một công nghệ mới mà người ta còn chưa hiểu rõ như công nghệ lò nước nhẹ truyền thống và việc tìm hiểu về nó sẽ đem lại rất nhiều know-how.  Rõ ràng, ngay cả trong câu chuyện SMR này thì sự tham gia của Việt Nam sẽ không thể diễn ra một chiều. “Mình phải dành nhiều công sức và có đóng góp về nội dung nghiên cứu cùng họ. Đó cũng là cách để đem lại hiệu quả trong công việc và mình có thể dần bình đẳng với họ”, TS. Phan Việt Cương nói.  Có rất nhiều cách để Việt Nam có thể tham gia đóng góp vào một dự án lớn ở tầm quốc tế như vậy, nhất là trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, Việt Nam không hề kém cạnh các quốc gia Đông Nam Á, nếu không muốn nói là nhỉnh hơn ở một số chuyên ngành hẹp. “Tôi nghĩ rằng, cách thức tốt nhất để mình có thể làm điều gì đó có ý nghĩa thực sự và có vai trò thực sự là Việt Nam và Mỹ cần trao đổi nhiều với nhau hơn nữa. Có thể hai bên cùng tổ chức hội nghị hội thảo, trao đổi chuyên gia, cán bộ nghiên cứu. Chỉ có qua trao đổi một cách thẳng thắn thì hai bên mới có thể tìm được những nội dung thiết thực để tập trung thực hiện”, TS. Trần Chí Thành nói.    Nhà nghiên cứu trẻ Hồ Văn Doanh (Viện nghiên cứu hạt nhân) trao đổi với giáo sư Sheldon Lansberger (trường Đại học Texas, Mỹ) bên lề Hội nghị lần thứ 13. Ảnh: Thanh Nhàn  Trong chương mới hợp tác với Dubna, cách thức thậm chí còn rõ ràng hơn. Rosatom, công ty mà Việt Nam hợp tác về dự án Trung tâm Nghiên cứu KHCN hạt nhân quốc gia, đã đồng ý cùng với Dubna và Việt Nam thiết kế lò phản ứng nghiên cứu mới. Để có thể tham gia cùng họ, nhóm nghiên cứu do PGS. TS Nguyễn Nhị Điền dẫn dắt đã thực hiện một đề tài trong vòng năm năm “Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng neutron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu cho Trung tâm KH&CN hạt nhân” (ĐTĐL.CN-50/15). Nhưng đây mới chỉ là một trong số những dự án cần được tiến hành khác, nếu nhìn về một tương lai dài rộng hơn. “Việc khai thác thật hiệu quả Dubna, một nơi có thiết bị tốt bậc nhất thế giới và là nơi mình đóng tiền niên liễm hằng năm, là tuyển được những người thực sự say mê khoa học và có năng lực làm việc cùng với họ trong vòng 10 năm. Khi ấy, mình không chỉ tham gia được các nghiên cứu của họ mà còn lập được cả nhóm nghiên cứu của mình ở đó và thực hiện nghiên cứu theo mục tiêu của mình”, giáo sư Lê Hồng Khiêm chia sẻ qua điện thoại.  Cần một chính sách đột phá  Giữa từng khía cạnh của câu chuyện hợp tác quốc tế, thật bất ngờ khi đâu đâu cũng nổi lên một vấn đề hoàn toàn “nội địa” – con người. Tất cả mọi nỗ lực mở rộng biên độ hợp tác của những người có trách nhiệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu một vài năm nữa, không có cách nào thu hút được người giỏi vào lĩnh vực này. Đó là nỗi day dứt từ lâu của những người trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. “Xã hội hiện tại có xu hướng khác, không quan tâm nhiều đến khoa học và khoa học không còn hấp dẫn đối với những người có năng lực nữa”, TS. Trần Chí Thành từng nêu tại lễ tổng kết chương trình KC05/16-20 vào cuối tháng 10/2021.      “Những gì diễn ra trong tương lai thách thức vô cùng với VINATOM. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục cơ chế như hiện nay, tôi rất lo là nhân lực sẽ giảm rất mạnh. Từ năm 2012, lúc nào chúng ta cũng bàn bạc về việc cần phải có một chế độ đãi ngộ đặc biệt cho người làm hạt nhân nhưng mãi vẫn không làm được…”. (Giáo sư Đào Tiến Khoa).      Những cơ hội hợp tác mới mở ra như những chuyến đi có thể dẫn đến thành công nhưng liệu có được coi là thành công khi rồi đây không thể bổ sung lực lượng tham gia. “Nếu không có người tâm huyết thực sự thì chắc khó phát triển được. Nếu cứ để mọi việc diễn ra một cách tự nhiên ‘trời sinh voi, trời sinh cỏ’ mà không có tác động về mặt chính sách thì có thể chúng ta tìm mãi, tuyển mãi thì cũng có được một vài người giỏi. Nhưng tất cả những gì đạt được sẽ chỉ mang tính rời rạc nhỏ lẻ, sự phát triển của một ngành không thể chỉ dựa vào nhiệt huyết của một vài cá nhân”, anh nói.  Mặc dù hiện tại, bằng nhiều cách, ngành năng lượng nguyên tử quy tụ được một đội ngũ nhà nghiên cứu nhưng việc không bổ sung nguồn sinh lực mới, ắt hẳn nó sẽ tự co sụp như hiện tượng diễn ra ở cuối vòng đời của các thiên thể trong vũ trụ. “Những gì diễn ra trong tương lai thách thức vô cùng với VINATOM. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục cơ chế như hiện nay, tôi rất lo là nhân lực sẽ giảm rất mạnh. Từ năm 2012, lúc nào chúng ta cũng bàn bạc về việc cần phải có một chế độ đãi ngộ đặc biệt cho người làm hạt nhân nhưng mãi vẫn không làm được…”, giáo sư Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân), từng phát biểu về hiện trạng tồn tại của ngành trong lễ tổng kết Viện năm 2020.  Không ai có thể dửng dưng trước viễn cảnh này. Tại sao cả một lĩnh vực KH&CN rộng lớn, có thể góp phần giải quyết nhiều vấn đề nóng của toàn cầu như năng lượng, ô nhiễm, đói nghèo, ung thư, sản xuất bền vững… lại chật vật ở nơi này? “Chúng tôi cảm thấy rõ là sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng chung cũng như giới quản lý với ngành có phần giảm đi từ năm 2016, khi chúng ta tạm dừng chương trình phát triển điện hạt nhân. Có thể là mọi người cho rằng đã làm vật lý hạt nhân là làm điện hạt nhân…”, giáo sư Đào Tiến Khoa thử lý giải nguyên nhân mà ông cho là dẫn đến nút thắt chính sách. Rõ ràng, cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc đầu tư cho năng lượng nguyên tử không thể trong ngắn hạn mà ra kết quả ngay được. Mới đây, trong lúc tổng kết tiểu ban B của hội nghị, PGS. TS Phạm Đức Khuê, Viện trưởng Viện KH&KT hạt nhân, đã chia sẻ với đồng nghiệp “Tôi nghĩ cần phải có những ưu đãi đặc thù cho ngành vì đây là vấn đề mang tính tiềm năng và tầm cỡ tiềm lực của đất nước, không vì hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi điều đó. Với năng lượng nguyên tử, chúng ta phải dành cho nó sự đầu tư lâu dài”.  Có lẽ, trong một vài câu nói, những người làm khoa học không thể nêu hết những mơ ước về chính sách của mình. Họ chỉ có những ví dụ về thành công và thất bại của chính sách mà chính họ hoặc đồng nghiệp của họ từng nếm trải, như câu chuyện của giáo sư Đào Tiến Khoa: “Năm 2015, tôi có dịp quay lại Dubna, gặp lại bạn bè sau ba mươi mấy năm. Họ kể lại với tôi câu chuyện rất cảm động là vào quãng năm 1997 – 1998, Dubna đã rơi vào trạng thái chỉ có thể trả lương tháng này mà không có tiền để trả lương tháng sau, nghĩa là gần như rơi vào trạng thái tuyệt vọng và gần như bên bờ suy sụp. Giới lãnh đạo Viện bằng cách nào đó đã liên lạc với ông Putin và ông Putin đã tổ chức một chuyến làm việc đặc biệt với Viện, gặp tất cả lãnh đạo khoa học và nghe hết mọi chuyện trong vòng một ngày. Ngay ngày hôm sau, ông đã ra một quyết định đặc biệt đầu tư cho Dubna, không ai được tranh cãi. Chính ông Putin đã cứu Dubna và đến nay Dubna vẫn trường tồn như một cơ sở nghiên cứu hạt nhân quan trọng của Nga và thế giới. Có lẽ, ở Việt Nam cũng cần phải có sự quan tâm đến ngành như vậy…”.  Hẳn thế, phép màu nào có thể vực dậy được một biểu tượng khoa học nếu không phải là một chính sách đặc biệt? □    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang “Phát triển thị trường công nghệ sẽ là ưu tiên số 1”      Bộ trưởng Bộ KH&amp;CN Nguyễn Quân cho biết,  mặc dù thị trường công nghệ Việt Nam mới được hình thành nhưng đã có  nhiều khởi sắc và hứa hẹn tiềm năng to lớn góp phần thương mại hoá các  sản phẩm KH&amp;CN. Vì vậy, Bộ trưởng nhấn mạnh trong thời gian tới  “phát triển thị trường công nghệ sẽ là ưu tiên số 1”.    Giao dịch thiết bị công nghệ đạt khoảng 20 nghìn tỷ đồng  Thời gian qua, nhiều hoạt động xúc tiến phát triển thị trường công nghệ đã được triển khai, điển hình là các chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) được tổ chức định kỳ ở quy mô quốc gia, vùng, địa phương và cả ở quy mô quốc tế, các sàn giao dịch công nghệ thực và ảo. Hoạt động này đã tạo môi trường gắn kết nhà khoa học, nhà quản lý với nhà sản xuất, kinh doanh được xã hội đánh giá là một trong những hình thức hoạt động có hiệu quả để thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN.  Theo thống kê của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, số lượng giao dịch mua bán công nghệ giai đoạn 2006-2010 đã tăng hơn 3 lần, tổng giá trị giao dịch thông qua các hợp đồng được ký kết đã tăng gần 2,5 lần so với giai đoạn 2001-2005 và đạt gần 6.000 tỷ đồng. Nếu tính cả công nghệ, thiết bị được giao dịch thông qua các Hội chợ sản phẩm mới thì tổng giá trị các hợp đồng mua bán công nghệ ước tính đạt khoảng 20.000 tỷ đồng.  Ngoài ra, các chợ công nghệ và thiết bị ảo, chợ công nghệ và thiết bị thường xuyên khác với vai trò hỗ trợ các hoạt động hậu Techmart cũng đã được triển khai ở nhiều địa phương như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Định, Nghệ An, Thái Bình, Lâm Đồng, Đồng Nai, đã thường xuyên cung cấp thông tin về công nghệ và thiết bị mới cho các doanh nghiệp có nhu cầu tìm mua và hỗ trợ các đơn vị có công nghệ, thiết bị cần chào bán để thỏa thuận ký kết hợp đồng.  Phó Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN quốc gia, bà Lê Thị Khánh Vân cho biết: Sự tăng trưởng số lượng và giá trị hợp đồng ký kết tại các kỳ Techmart Vietnam khẳng định công nghệ trong nước có tính cạnh tranh và thực sự trở thành hàng hoá.   Đẩy mạnh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu  Mặc dù, Techmart đã thu hút được nhiều tổ chức và cá nhân tham gia và tỷ lệ tăng trưởng giao dịch cao, nhưng thực tế vẫn tồn tại một số vướng mắc. Đó là, các tổ chức KH&CN chưa “mặn mà” chi phí vào hoạt động xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bởi thực tế, chưa có quy định nào bắt buộc các chủ trì đề tài sau khi nghiệm thu đề tài cần phải công bố với xã hội kết quả thông qua Techmart.  Theo bà Lê Thị Khánh Vân, những hợp đồng ký kết tại các kỳ Techmart triển khai được khoảng 30% do đối tác không có đủ kinh phí. Các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ lẻ quan tâm đến công nghệ và kết quả nghiên cứu không đủ tiềm lực để triển khai. Do công nghệ mới, đối tác cần nhiều thời gian để xem xét và đánh giá. Hơn nữa, nhu cầu của thị trường biến động, khi triển khai hợp đồng, thị trường không còn nhu cầu nữa hoặc bị hàng Trung Quốc lấn sân.  Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước cũng đánh giá thị trường công nghệ Việt Nam còn đang ở mức phát triển thấp; nguồn cung công nghệ trong nước còn nghèo nàn; số lượng và chất lượng giao dịch công nghệ còn hạn chế; mạng lưới tổ chức dịch vụ mua bán, chuyển giao công nghệ chưa phát triển…  Có những hạn chế này, theo các chuyên gia kinh tế là do trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội hiện nay của đất nước, hầu hết các doanh nghiệp nước ta chưa sẵn sàng và cũng chưa có nhiều động lực để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và đổi mới công nghệ. Đến nay, chỉ khoảng 0,1 – 0,3% doanh thu của các doanh nghiệp được đầu tư cho hoạt động này, trong khi đó đầu tư cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở Ấn Độ khoảng 5% và Hàn Quốc là 10% doanh thu của doanh nghiệp. Năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nước ta không cao. Công nghệ được mua bán chủ yếu trên thị trường là thiết bị, máy móc và dây chuyền công nghệ toàn bộ. Các giao dịch mua bán công nghệ ở dạng tài sản trí tuệ như các pa-tăng, li-xăng và bí quyết công nghệ còn rất hạn chế.   Bên cạnh đó ,các tổ chức KH&CN trong nước chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN trong nước được áp dụng vào sản xuất kinh doanh không cao. Ngay cả các đề tài có kết quả nghiên cứu khoa học được áp dụng vào sản xuất kinh doanh cũng không có nhiều đề tài đăng ký được văn bằng sáng chế; có nghĩa là các đề tài nghiên cứu dẫn đến công nghệ mới rất ít.  Phát triển các tổ chức trung gian  Trong thời gian tới để hỗ trợ các hoạt động giao dịch công nghệ triển khai thực hiện thành công và góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội hơn nữa, cần có các giải pháp thúc đẩy giao dịch công nghệ, cơ chế hỗ trợ cho các giao dịch chính thức tại Techmart và các sàn giao dịch ảo và thường xuyên.  Bà Lê Thị Khánh Vân cho rằng, cần kích cầu công nghệ, khuyến khích sử dụng công nghệ nội sinh bằng cơ chế tài chính. Cụ thể, Nhà nước nên hỗ trợ tài chính cho bên mua công nghệ nội sinh 30 – 50% tổng kinh phí mua công nghệ. Giải pháp này được Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc triển khai rất hiệu quả. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho người ứng dụng công nghệ, thiết bị mới vào sản xuất, đặc biệt khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích trao đổi thông tin, hợp tác về công nghệ; đào tạo đánh giá năng lực tiếp nhận và quản lý công nghệ cho các doanh nghiệp.  Cùng với đó, Nhà nước có chính sách hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu phát triển và các trường đại học thành lập đơn vị chuyên trách về chuyển giao công nghệ. Các công nghệ ký kết tại Techmart sẽ được hỗ trợ về kinh phí thực hiện chuyển giao từ 30% – 50% tổng giá trị công nghệ. Bên cạnh đó, Nhà nước nên hỗ trợ một phần kinh phí hoặc tạo điều kiện cho các công nghệ, thiết bị đạt Cup vàng Techmart triển khai dự án. Hỗ trợ các công nghệ mới tham gia Techmart đăng ký sở hữu trí tuệ.  Để KH&CN Việt Nam phát triển hơn nữa, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, Bộ KH&CN đã quan tâm tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo cho thị trường vận hành hiệu quả thông qua hệ thống pháp luật về thị trường công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng. Đồng thời là thúc đẩy cung – cầu công nghệ và các định chế trung gian, đặc biệt là quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới và chuyển giao công nghệ.  Hiện nay, Bộ KH&CN đã hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình phát triển thị trường công nghệ với nhiều nội dung mới, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng hệ thống các tổ chức dịch vụ trung gian (tư vấn môi giới, đánh giá và định giá công nghệ…) giúp kết nối và thúc đẩy mạnh hơn nguồn cung- cầu công nghệ trên thị trường.       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển thủy điện tràn lan vượt tầm kiểm soát      Trận lũ lụt ở Miền Trung vừa qua dẫn đến cái chết của 43 người dân, kèm theo là những hậu quả nghiêm trọng về mọi mặt đã được các phương tiện thông tin đại chúng cập nhật từng ngày có nguồn gốc sâu xa từ đâu? Tất nhiên, chúng ta hiểu đó là thiên tai, thứ mà mảnh đất Miền Trung từng phải gánh chịu từ bao đời. Nhưng nếu chúng ta không phát triển thủy điện tràn lan vượt tầm kiểm soát, thì thiên tai đâu có thể tàn phá dữ dội và kinh hoàng đến thế?      Sinh thời, GS. Nguyễn Đình Tứ từng có những phát biểu đánh giá về những tác động xấu tới môi trường của thủy điện, khi mà dạng điện năng này vẫn được coi là “năng lượng sạch” và các hồ chứa nước thủy điện được ca ngợi có nhiều mặt tích cực. Những dự án thủy điện lớn của Việt Nam dần dần được đưa vào thực hiện, khai thác và đã mang lại những lợi ích kinh tế to lớn không thể phủ nhận. Nhưng cùng với thời gian, chúng ta đã đi vượt xa cái ngưỡng cần dừng lại lúc nào không biết. Ví dụ, chỉ 2 tỉnh miền Trung là Quảng Nam và Thừa Thiên – Huế cùng hai tỉnh ở Tây Nguyên là Kon Tum và Đắc Nông hiện có gần 150 dự án thủy điện lớn nhỏ đã, đang và sẽ triển khai. Đó thực sự là một con số đáng lo ngại. Theo quy hoạch phát triển thủy điện cả nước đến năm 2015, xét đến năm 2025, vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà máy thủy điện đến năm 2015 khoảng hơn 18.000 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm trên 80 tỷ KWh. Trong đó, riêng 9 hệ thống các sông: Lô – Gâm, Đà, Mã – Chu, Cả, Vu Gia, Ba, Sê San, Srepok và Đồng Nai đã được quy hoạch phát triển các nhà máy thủy điện có tổng công suất khả dụng 15.383 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 63,87 tỷ KWh.   Quan niệm thủy điện là loại năng lượng sạch và rẻ đến nay chắc chắn không còn đúng nữa nếu đánh giá về tổng thể, không những thế việc phát triển loại hình năng lượng này còn tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường.   Trước hết để xây dựng các hồ thủy điện, những diện tích lớn đất đất đai thuộc thung lũng sông đã phải thay đổi mục đích sử dụng. Trong khi người Việt Nam từ lâu đời có đời sống gắn liền với các lưu vực và thung lũng sông. Cũng chính tại đó người nông dân đã sáng tạo nên nền văn minh lúa nước độc đáo. Sự phát triển của mạng lưới thủy điện đã đẩy không biết bao nhiêu gia đình thuần nông phải rời xa thửa ruộng, mảnh vườn đã bao đời gắn bó với họ. Đó thực sự là sự đảo lộn cuộc sống. Nhìn chung các căn nhà tái định cư, những mảnh đất đền bù… khó có thể so sánh với những gì từng thiết thân mà “người lòng hồ” đã phải rời bỏ, kể từ mồ mả cha ông đến những nét văn hóa mang bản sắc riêng của một vùng quê.  Thứ hai, cùng với việc phá rừng làm thủy lợi, đa dạng sinh học không chỉ của rừng, mà còn của cả hệ thủy sinh bị phá hủy, làm mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng. Mà cân bằng sinh thái luôn là chỉ thị của phát triển bền vững trong lĩnh vực khai thác tự nhiên. Rừng nhiệt đới bị phá hủy, đồng nghĩa với việc một phần lá phổi của hành tinh bị hủy hoại, một lượng lớn khí carbonic (CO¬2) không được cây xanh hấp thụ, trong khi đó một lượng lớn khí mêtan (CH4) được phát thải từ dưới đáy các hồ thủy điện, góp phần làm gia tăng hiệu ứng nhà kính – nhân tố quan trọng gây biến đổi khí hậu toàn cầu. Chỉ xét riêng từ góc độ này cũng đã thấy, thủy điện không còn là năng lượng sạch so với các loại hình năng lượng khác.  Thứ ba, việc đắp đập hồ thủy điện khiến cho bờ sông vùng hạ du bị phơi khô, đẩy nhanh quá trình phong hóa, làm giảm đáng kể độ bền cơ học của dải bờ. Do vậy, đến khi bị xả lũ đột ngột, bờ sông thường bị xói lở mạnh hơn rất nhiều so với khi chưa có đập thủy điện chắn phía thượng nguồn. Chính vì thế, nguy cơ sụp lở dải bờ sông, phá hủy nhà cửa của cư dân vùng hạ du là rất đáng kể.  Cuối cùng, đã có nhiều ý kiến về việc liệu các công trình thủy điện ở Miền Trung có vai trò gì không trong trận lụt kinh hoàng vừa qua? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lại phải dựa vào nội dung của khái niệm phát triển bền vững. Chúng ta cần đặt câu hỏi, nếu không có mạng lưới thủy điện dày đặc như ở Miền Trung hiện nay thì quy mô và sức tàn phá của trận lụt trong tháng 11 vừa qua có khủng khiếp đến vậy không? Thực ra, câu trả lời không khó. Mặc dù Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã nói: “Đến nay chưa có báo cáo nào nói có hồ nào đó xả lũ sai quy trình và các địa phương có hồ chứa đều khẳng định như vậy”, thì chúng ta có thể hiểu ngay, Phó thủ tướng đã nói về những báo cáo đơn lẻ của từng cơ sở. Mà vấn đề ở đây không phải là một phép tính cộng đơn giản thế.  Xét theo logic thông thường, lẽ ra làm hồ thủy điện là góp phần điều tiết lưu lượng nước sông, góp phần hạn chế lũ lụt và đảm bảo tốt hơn nguồn nước tưới cho đồng ruộng vùng hạ du vào mùa khô. Nhưng cách phát triển thủy điện vừa và nhỏ tràn lan như ở Miền Trung hiện nay đã vượt quá tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng, của các bộ ngành và Nhà nước.          Nước lũ nhấn chìm nhiều ngôi nhà ở thôn Tân An, xã Đại Lãnh ven sông Vu Gia (Quảng Nam) đầu tháng 10. Dư luận cho rằng việc thủy điện xả lũ đã làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt          Phát triển thủy điện là vấn đề lớn, không thể có cách tiếp cận vụn vặt, mà phải xét nó trên quy mô tổng thể. Mỗi nhà máy thủy điện dù lớn, dù nhỏ, trước khi được cấp phép xây dựng chắc chắn cần phải có đánh giá tác động môi trường. Quy trình vận hành hồ thủy điện cần thiết lập chuẩn mực. Ngoài ra, cần có kịch bản tình huống cho từng cấp độ xả lũ, kể cả đối với cấp độ xấu nhất là vỡ đập, thì ảnh hưởng của nó tới vùng hạ du như thế nào. Những phương án xử lý tình huống hiệu quả nhất đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, của xã hội cần được tính toán chi tiết cho những trường hợp đó. Đối với cả hệ thống thủy điện gồm hàng chục, hàng trăm nhà máy, thì buộc phải có một kịch bản tổng thể, không chỉ đơn thuần là phép cộng nữa. Phép tính tổng hợp này chắc chắn thời gian qua chưa được đặt ra ở Miền Trung. Hệ thống thủy điện chưa có quy trình điều phối tổng thể, chưa có cơ quan chỉ huy thống nhất. Chính vì thế, việc xả lũ dù đúng quy trình chăng nữa, nhưng mới dừng ở từng hồ đơn lẻ, nên vẫn có thể gây hậu quả nghiêm trọng như trận lụt vừa qua.  Trong bài phát biểu ngày 21/11/2013 tại Quốc hội Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận thực trạng yếu kém của việc quản lý thủy điện, đặc biệt là các đập thủy điện ở Miền Trung, gây thiệt hại nhân mạng và tài sản rất lớn trong mùa mưa lũ. Điều đó là chính xác. Có thể nói cho đến nay, chúng ta vẫn không có được những giải pháp hữu hiệu giải quyết nạn chặt phá rừng cũng như chưa kiểm soát, điều hành được toàn bộ hệ thống thủy điện đang phát triển tràn lan vì mục đích lợi nhuận của các doanh nghiệp là chính.  Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại vấn đề thủy điện một cách nghiêm túc. Hiên nay ở nhiều nơi trên thế giới người ta đã cảnh báo những hiểm họa mà thủy điện có thể đưa lại và nhắc đến nhiều thảm họa đã xảy ra. Có những nước như Mỹ, Nhật v.v.. đã quyết định phá bỏ các đập thủy điện, trả lại cho các con sông diện mạo vốn có của chúng, giúp khôi phục cân bằng sinh thái và nguồn lợi kinh tế của cộng đồng cư dân trong lưu vực sông. Dự kiến đến năm 2020, nước Mỹ sẽ phá bỏ các đập thủy điện khổng lồ. Dự án phá bỏ đập thủy điện này có tổng chi phí lên tới 450 triệu đô la Mỹ. Còn ở Nhật Bản, sau khi thắng cử vào tháng 9/2009, chính phủ của tân Thủ tướng Yukio Hatoyama đã ngừng ngay 48 trong số 56 dự án xây đập thủy điện trên toàn nước Nhật, trong số đó có Dự án xây đập Yamba với chi phí dự kiến lên đến 5 tỷ đô la Mỹ và hiện tại đã hoàn tất 70% khối lượng công trình.  Trong khi đó, với nhiều mặt yếu kém về kỹ thuật và quản lý, Việt Nam đã vươn lên thành nước đứng đầu Đông Nam Á về lĩnh vực thủy điện. Điều đó thật trớ trêu, vì cái cần đứng đầu chắc chắn không phải là thủy điện!   —  * Chủ tịch Hội Cổ sinh – Địa tầng Việt Nam    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển và bảo tồn dược liệu ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Vì sao chưa như mong đợi?      Dù có một hệ sinh thái dược liệu đa dạng phong phú và sự quan tâm của các cấp chính quyền nhưng ngành dược liệu Việt Nam vẫn chật vật.      Công nhân chăm sóc vườn sâm giống của Công ty Cổ phần sâm Ngọc Linh Kon Tum tại huyện Tu Mơ Rông. Ảnh: VGP/Bạch Dương     Nói riêng về sâm, nhiều người có thể sẽ ngạc nhiên khi Việt Nam không chỉ có sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam và Kon Tum mà còn có sâm dây, sâm cau, Đảng sâm, Đan sâm, sâm bố chính, sâm Nam núi Dành mọc ở nhiều tỉnh thành khác, trong đó nhiều loại có hàm lượng saponin không kém gì hồng sâm Hàn Quốc…Sự đa dạng và phong phú về các loại dược liệu ở Việt Nam, không chỉ được thể hiện trong ví dụ trên của Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng mà còn được nhấn mạnh trong hầu hết các bài phát biểu của nhà khoa học tại Hội nghị KH&CN phục vụ phát triển dược liệu vùng Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ được tổ chức ở Đà Nẵng vào 21/6 vừa qua. Theo các báo cáo, có hơn 5000 loài cây thuốc phân bố ở vùng này. Thậm chí, PGS.TS. Nguyễn Hữu Toàn Phan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên cho biết, hằng năm các nghiên cứu hợp tác với hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Tây Nguyên đều phát hiện ra loài mới, thậm chí là chi mới.  Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành một loạt văn bản pháp luật, các tỉnh cũng xây dựng đề án quy hoạch riêng nhằm bảo tồn và phát triển các cây thuốc quý. Trong đó có Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, quy hoạch tám vùng trồng ở Việt Nam và tập trung nhân giống, sản xuất 54 loại dược liệu có thế mạnh, phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng nơi. Bản thân nhiều tỉnh thành trên cả nước cũng xây dựng các quy hoạch để bảo tồn và phát triển dược liệu của mình. Các bộ, ngành cũng có các chương trình KH&CN nhằm đưa các ứng dụng KH&CN để giải quyết vấn đề này như Chương trình KH&CN trọng điểm, chương trình quỹ gene, chương trình công nghệ sinh học, Chương trình hỗ trợ tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng nông thôn miền núi và dân tộc, Chương trình hóa dược, Chương trình Nông nghiệp công nghệ cao…  Nhưng đối lập với tiềm năng được nhận định là “to lớn” và những “quan tâm” từ phía nhà nước, ngành dược liệu của Việt Nam vẫn chật vật, kể cả khối viện – trường lẫn khối doanh nghiệp. TS. Phan Phước Hiền, Viện Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dược liệu Sài Gòn – SMI cho biết, mặc dù thực hiện rất nhiều năm nhưng các chính sách vẫn gần như chỉ là trên giấy, chưa tạo ra được những kết quả thực tế, trong 1000 nhiệm vụ KH&CN, chỉ có 70 nhiệm vụ là về dược liệu. Hơn nữa, nhắc nhiều đến “chuỗi giá trị” dược liệu và doanh nghiệp có vai trò “đầu tàu” trong một loạt hội thảo, sự kiện, nhưng các ưu đãi trong Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 không hề đề cập tới doanh nghiệp, Quỹ Đổi mới KH&CN quốc gia của Bộ KH&CN được cho là rất khó tiếp cận đối với các công ty. Cuối cùng, số lượng sản phẩm có tiếng trên thị trường so với hàng nghìn dược liệu được ghi nhận chỉ như muối bỏ biển.  Trong buổi hội nghị, qua phát biểu của các diễn giả, có thể nhận ra bốn vấn đề chung của cả khối viện, trường – doanh nghiệp trong việc áp dụng KH&CN vào phát triển dược liệu mà các chính sách của nhà nước gần như còn bỏ ngỏ: Thiếu một cơ sở dữ liệu chung về các dược liệu phân bố trên cả nước; Thiếu quy hoạch vùng trồng dược liệu; Thiếu các quy chuẩn, tiêu chuẩn từ khâu giống, quy trình trồng trọt đến chế biến, đóng gói các sản phẩm từ dược liệu; Chưa tận dụng liên kết giữa các viện trường – doanh nghiệp.  Con số 5000 loài được lặp đi lặp lại trong các phát biểu tại buổi hội nghị nhưng PGS. Nguyễn Hữu Toàn Phan bất ngờ tuyên bố rằng đó chưa chắc đã là con số chính xác. Theo ông, từ trước đến nay các khu bảo tồn, vườn quốc gia ở khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đều có danh mục động thực vật của vùng này nhưng số liệu không hề khớp nhau. Không phải nơi nào cũng cập nhật dữ liệu mới và những dữ liệu cũ thì không thể kiểm chứng trên thực tế. Rất nhiều đoàn điều tra dược liệu công bố hàng trăm loài trên địa bàn mình khảo sát nhưng theo PGS. TS. Phan, đó chỉ là “ghi nhận”, hay nói cách khác, chỉ là “con số ảo” vì không hề có tiêu bản, mẫu vật, cũng không ghi lại địa chỉ phân bố của từng loài (mặc dù công nghệ định vị GPS, GIS đã phát triển). Chính vì vậy, việc nhầm lẫn giữa các loài với nhau là chuyện…bình thường. Chẳng hạn như, lan kim tuyến, được cho là một dược liệu quý và “khắc tinh với bệnh ung thư”, giá bán lên đến một trăm triệu đồng/kg khô, có hàng trăm loài với hoạt tính khác nhau nhưng chưa hề được đánh giá và kiểm định rõ ràng. Không có một cơ sở dữ liệu chính xác về động, thực vật sẽ ảnh hưởng lớn đến toàn bộ công việc nghiên cứu, bảo tồn, quy hoạch, quản lý và phát triển các vùng và loại dược liệu. Và như thế, quy hoạch trong Quyết định 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng năm 2013 nói trên vẫn chỉ là những phác thảo mơ hồ trên giấy mà khó đi vào hiện thực. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, vì vậy, giờ đây, việc tốt nhất mà họ có thể làm là quản lý cho những nơi này không bị xâm phạm bởi những người dân sống xung quanh. Còn các doanh nghiệp thì gần như mạnh ai người đó trồng. Chính Cục trưởng Cục quản lý Y dược Cổ truyền, Bộ Y tế Phạm Vũ Khánh cũng nói trong hội nghị rằng, khó có thể trồng theo quy hoạch mà doanh nghiệp hãy tự lựa chọn trồng cây gì phát triển tốt nhất mà đem lại giá trị cao nhất. Nhưng rủi ro của việc “mò mẫm”, “tự lựa chọn” là không tưởng. Trong hàng nghìn loài dược liệu được ghi nhận mọc ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, chưa đầy 2% trong số đó là có giá trị cả về mặt hoạt chất và thương mại. Bà Phạm Thị Thu Hương, Giám đốc Công ty CP Dược – Trang thiết bị Y tế Bình Định (Bidiphar) trình bày rằng, doanh nghiệp rất lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong việc trồng cái gì và trồng ra sao, rất cần tiếp cận những điều tra thực trạng về dược liệu của nhà nước mà không được.  Nhưng việc thiếu các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong quy trình nuôi trồng, sản xuất và chế biến sản phẩm mới là điều đáng nói. Phần lớn các đề tài nghiên cứu, đầu tư của nhà nước và các bộ, ngành của Việt Nam hiện nay mới tập trung vào mục đích bảo tồn còn kiểm định phân biệt dược liệu thật – giả, quy trình trồng theo GACP (tiêu chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái của Tổ chức Y tế thế giới) mới đang dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, thử nghiệm, gần như chưa áp dụng rộng rãi trên quy mô lớn. Cục trưởng Cục quản lý Y dược Cổ truyền, Bộ Y tế Phạm Vũ Khánh còn cho biết rằng, hiện nay các quy định về chất chuẩn (loại đo lường đặc biệt có độ đồng nhất và ổn định nhất định với một hoặc một số thuộc tính) chỉ có ở thuốc Tây còn Đông dược thì có nhiều vị không có chất chuẩn, có trường hợp có chất chuẩn nhưng không có ý nghĩa gì, còn thực phẩm chức năng thì gần như thả nổi. Trong khi đó, việc đầu tư vào tiêu chuẩn, quy chuẩn này là điều tối quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và tạo ra thương hiệu của những loại dược liệu mà chúng ta gọi là “quốc bảo”. Đây cũng là kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc phát triển hồng sâm và cây đinh lăng, đảm bảo rằng dù bất cứ ở quy mô nào, hộ gia đình, tổ hợp tác hay quy mô công nghiệp đều đảm bảo chất lượng sản phẩm. Nếu thiếu các quy chuẩn này, ngoài việc chất lượng dược liệu không ổn định, còn khuyến khích tạo ra các hình thức cạnh tranh không lành mạnh. Chẳng hạn như theo lời của bà Phạm Thị Xuân Hương, Tổng Giám đốc Công ty Dược Lâm Đồng Ladophar, hiện đang đầu tư chuỗi sản xuất Atiso từ khâu giống, vùng trồng (liên kết với người dân) theo chuẩn GACP, cho biết không thể nào cạnh tranh nổi với những doanh nghiệp “cứ nơi nào cao là trồng Atiso” hoặc “nhập từ nơi khác về bán”, giá rẻ nhưng không rõ chất lượng, không thể truy xuất được nguồn gốc. Bà Hương nhấn mạnh rằng, những hỗ trợ về mặt tài chính của nhà nước không cần thiết bằng những chính sách tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh.    Atiso là một trong số những dược liệu được trồng phổ biến ở Tây Nguyên. Ảnh: Internet     Theo lời của các nhà khoa học trong hội nghị, nói chung nguồn lực nghiên cứu và bảo tồn dược liệu của Việt Nam là “thiếu” và “yếu”, thậm chí đa số tự bỏ tiền túi ra nghiên cứu các chế phẩm từ dược liệu. Nhưng ngay cả khi không có nhiều hỗ trợ về mặt tài chính, nhà nước cũng chưa có các công cụ chính sách để tận dụng tối đa nguồn lực của các viện – trường, vườn quốc gia, khu bảo tồn cũng như của doanh nghiệp. Ví dụ như, không có cơ chế để các vườn quốc gia tạo ra các nguồn kinh phí để quay trở lại phục vụ R&D, giờ đây gần như họ cung cấp giống, kể cả những giống quý hiếm miễn phí hoặc với giá rẻ cho doanh nghiệp mà không có ràng buộc gì về bản quyền giống. Vùng đệm gần một triệu ha của sáu vườn quốc gia và năm khu bảo tồn ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ chỉ phục vụ cho việc trồng rừng mà không tìm cách quy hoạch để khai thác và trồng các dược liệu dưới tán rừng, đặc biệt là những dược liệu quý hiếm chỉ phân bố và phát triển trong vùng sinh thái hẹp như sâm Ngọc Linh, lan kim tuyến, thông đỏ nam…sẽ mất rất nhiều chi phí nghiên cứu và xây dựng quy trình trồng ở những vùng đất khác. Ngoài ra, các doanh nghiệp đều mong muốn hợp tác nghiên cứu với các viện – trường, thậm chí sẵn sàng bỏ ra gấp ba, gấp bốn lần đầu tư của nhà nước nhưng các dự án, chương trình dược liệu lớn hiện nay được cho là chưa tạo ra nhiều liên kết thực chất giữa khối công – tư. Bà Xuân Hương ở công ty Ladophar nói trên cho rằng, không phải dự án hợp tác nào hiện nay cũng điều tra, khảo sát máy móc, nhân lực của doanh nghiệp, đảm bảo rằng kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với điều kiện tiếp nhận của công ty nên gần như doanh nghiệp chỉ đứng tên mà không được hưởng những lợi ích thực sự.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phát triển y học chính xác: Cần sự đầu tư tổng thể      Cũng như với nhiều lĩnh vực mới khác, việc đưa y học chính xác (precision medicine) vào Việt Nam không chỉ cần hội tụ đầy đủ các yếu tố mang tính nền tảng như lực lượng, trang thiết bị, kiến thức chuyên sâu, dữ liệu lớn (big data) về hệ gene… mà còn cả thay đổi về quan điểm của các nhà quản lý trong hoạch định chính sách.      Y học chính xác một phương pháp điều trị phù hợp với từng người dựa trên sự tổng hợp, phân tích dữ liệu về gene.  Khái niệm y học chính xác xuất hiện trên thế giới từ một vài năm trở lại đây, gắn liền với Sáng kiến Y học chính xác (Precision Medicine Innitiative), một dự án nghiên cứu do cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama khởi xướng vào năm 2015 nhằm mục tiêu đem lại những tiến bộ trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế cho từng người dân nước này. Về cơ bản, y học chính xác là một phương pháp điều trị phân loại bệnh nhân vào các nhóm bệnh khác nhau với các quyết định điều trị, can thiệp và chỉ định thuốc phù hợp với từng cá nhân dựa trên sự tổng hợp, phân tích dữ liệu về gene. Nói một cách nôm na thì khi lý giải vì sao có nhiều điểm tương đồng về điều kiện dinh dưỡng, môi trường sống mà nguy cơ mắc bệnh của người này khác người kia, vì sao điều trị cùng một loại thuốc mà người nọ khỏi bệnh nhưng người khác không chuyển biến, trước đây người ta thường dẫn giải một cách chung chung là do “cơ địa” mà không biết rằng nguyên nhân sâu xa là do đặc trưng “không ai giống ai” về bộ gene của mỗi người quyết định.  TS. Dương Quốc Chính, trưởng khoa Khoa Di truyền và Sinh học phân tử (Viện Huyết học truyền máu Trung ương), giải thích: “Y học chính xác là kết quả của những kỹ thuật chẩn đoán, phân tích ở mức độ rất cao với đầy đủ bằng chứng về chẩn đoán bệnh lý, chẩn đoán ban đầu, chẩn đoán biến chứng, chẩn đoán tương tác giữa các yếu tố khác nhau lên bệnh lý, qua đó người ta có thể tìm được những căn nguyên gốc rễ của bệnh tật và căn cứ vào đó xem cái đích điều trị trên từng bệnh nhân là gì và định lượng được việc điều trị và theo dõi điều trị … Mục tiêu của y học chính xác là điều trị cho cá nhân chứ không phải điều trị bệnh.”  Y học chính xác là bước phát triển tiếp theo của y học cá thể hóa (personalized medicine), TS. Dương Quốc Chính cho biết, “với y học cá thể hóa, người ta đã phải xem xét tới rất nhiều yếu tố như bản chất sinh học (gene), điều kiện môi trường cũng như lối sống của bệnh nhân, còn Y học chính xác định lượng tất cả những điều đó trong điều trị”1.  Việc áp dụng y học chính xác như một thực hành hiện đại của ngành Y mở ra rất nhiều cơ hội chăm sóc sức khỏe và điều trị cho con người, đặc biệt trong ngăn ngừa và điều trị các bệnh về di truyền, ung thư, truyền nhiễm, bằng những biện pháp thân thiện với người bệnh. “Ngày trước, để phát hiện ra ung thư thường phải sử dụng các kỹ thuật xâm lấn như sinh thiết nhưng hiện nay, dựa trên kỹ thuật xâm lấn ở mức thấp để lấy mẫu và dùng kỹ thuật di truyền giải mã bộ gene, bác sỹ có điều kiện tiên lượng chính xác và cụ thể hơn các bệnh tật hiểm nghèo mà con người có thể mắc phải”, TS. Nguyễn Cường (Trung tâm nghiên cứu Tế bào gốc và công nghệ gene, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vimec) bổ sung thêm.  Ở các quốc gia đi trước như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Singapore, sự phát triển đồng bộ của ngành y và các ngành liên quan đã đem lại cơ hội phát triển y học chính xác thông qua việc hình thành một hệ sinh thái hài hòa và bổ sung lẫn nhau giữa cơ quan hoạch định chính sách, quỹ đầu tư [cho nghiên cứu và ứng dụng], các trường, viện nghiên cứu, các bệnh viện, trung tâm quản lý dữ liệu hệ gene, các nhà sản xuất dược (trong đó có cả các công ty spin-off, startup). Trên cái nền đó, các nhà di truyền, sinh học phân tử, miễn dịch, lâm sàng…; tin sinh học (bioinformatics); thống kê sinh học (biostatistics); dược học hệ gene (pharmacogenomics) có thể tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng về y học chính xác một cách hiệu quả.  Ở Việt Nam, liệu y học chính xác có “đất” để phát triển? Phần lớn các nhà nghiên cứu Việt Nam được hỏi đều đồng thuận: đây là xu hướng phát triển tất yếu của ngành Y, Việt Nam hoàn toàn có khả năng thúc đẩy nghiên cứu và từng bước áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sàng lọc, chẩn đoán và điều trị. TS. Nguyễn Văn Đô, trưởng khoa Khoa Sinh lý bệnh – Miễn dịch (ĐH Y Hà Nội) nhận xét, “Y học chính xác là vấn đề còn rất mới nhưng nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến nó. Đây là thuận lợi đầu tiên để chúng ta nghĩ về khả năng áp dụng một cách đồng bộ và tổng thể y học chính xác trong tương lai tại Việt Nam”.  Thiếu các nhà nghiên cứu tin sinh và dược học hệ gene  Việc áp dụng y học chính xác liên quan đến rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành hẹp, vì thế, phương thức thực hành mới của ngành y này chỉ có thể được triển khai một cách bài bản nếu hội tụ đầy đủ các chuyên gia thuộc các lĩnh vực, đặc biệt là các nhà tin sinh học và dược học hệ gene. Nhận xét về vai trò của các nhà tin sinh và dược học hệ gene, TS. Hoàng Văn Tổng, Trung tâm nghiên cứu Sinh Y Dược học (Học viện Quân y), nhận định, “tuy các nhà nghiên cứu về gene, bệnh học, miễn dịch… đủ sức đảm đương vấn đề kỹ thuật trong nghiên cứu và thực hành nhưng Việt Nam vẫn thiếu các nhà tin sinh hoặc thống kê sinh học đủ khả năng đảm nhận vai trò phân tích kết quả”.  Ngày nay, sự phát triển về công nghệ khiến cho các công cụ giải trình tự gene thế hệ mới (Next -generation sequensing NGS) ngày một hiện đại, thời gian xử lý ngắn đi và chi phí giảm xuống. “Máy móc có thể mua về, giải trình tự gene rồi cũng xong nhưng việc ‘đọc’, phân tích kết quả mới khó”, TS. Nguyễn Văn Đô nêu.  Theo tìm hiểu năm 2015, số lượng các nhà tin sinh học Việt Nam rất khiêm tốn với một số nhóm nghiên cứu rải rác ở ĐH Quốc tế (ĐHQG TPHCM), Viện Công nghệ sinh học, Viện Nghiên cứu Hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), ĐH Công nghệ (ĐHQGHN), Viện Di truyền Nông nghiệp, trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản… Do phần lớn các nhà tin sinh học đạt trình độ chuyên môn cao đều làm việc tại nước ngoài nên trong nước vẫn còn hiếm những người có chuyên môn sâu đủ khả năng xây dựng các nhiệm vụ nghiên cứu lớn. Đến nay, tình hình vẫn chưa được cải thiện là mấy vì chưa có trường đại học nào ở Việt Nam có chuyên ngành đào tạo về tin sinh học và việc bổ sung đội ngũ cũng chỉ trông chờ vào việc có thêm nhà nghiên cứu nào mới ở nước ngoài trở về hoặc từ nỗ lực tự đào tạo một cách đơn lẻ của một vài nhóm trong nước.  Dược học hệ gene, một lĩnh vực mới ngay cả với thế giới nên ở Việt Nam cũng rất ít người biết đến. Nhóm nghiên cứu của PGS. TS Lê Thị Lý  tại Khoa Công nghệ sinh học, ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TPHCM) là một trong những nhóm hiếm hoi liên quan đến phát triển dược phẩm dựa trên mối quan hệ bệnh – thuốc – hệ gene và PGS. TS Lê Đức Hậu (Trung tâm nghiên cứu Tế bào gốc và công nghệ gene, Vimec) đang tập trung vào giải một số bài toán như dự đoán phản ứng của thuốc theo đặc trưng sinh học, xác định thêm tác dụng và đích tác động của thuốc là những người đi tiên phong ở Việt Nam trong lĩnh vực này.  Trong khi chưa có một trung tâm cơ sở dữ liệu về gene, các nhà nghiên cứu Việt Nam vẫn thường sử dụng số liệu từ các ngân hàng gene trên thế giới để phục vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là các quần thể người trên thế giới rất khác nhau về mặt di truyền, các dữ liệu về nhân chủng học, di truyền học của các quần thể người trên thế giới được lưu trữ trên các cơ sở dữ liệu khác biệt so với các đặc điểm di truyền của người Việt Nam, thậm chí các đặc điểm di truyền của từng cá thể trong cùng một quần thể cũng rất khác nhau. Vì vậy, thành lập một cơ sở dữ liệu về gene là việc làm cấp thiết.    Các trường hàng đầu về dược như ĐH Dược Hà Nội, ĐH Y dược TPHCM cũng mới tập trung vào đào tạo các ngành truyền thống như dược lâm sàng, thiết kế thuốc… Do vậy, trong tương lai gần, việc bổ sung đội ngũ dược học hệ gene của Việt Nam sẽ chỉ từ hai nguồn: đào tạo ở nước ngoài và tự đào tạo thông qua việc thực hiện một số dự án nghiên cứu thuộc lĩnh vực này.  Cần một trung tâm dữ liệu hệ gene  Về bản chất, y học chính xác gắn liền với big data. Tính trung bình, kết quả giải trình tự gene mỗi người sẽ đem lại một lượng thông tin “thô” chừng vài trăm gigabyte và mỗi dự án giải trình tự gene cấp quốc gia sẽ đòi hỏi quy tụ số lượng lớn người tham gia, ví dụ Sáng kiến Y học chính xác Mỹ đặt mục tiêu có được bộ dữ liệu của ít nhất một triệu người dân. Việc lưu trữ hệ thống dữ liệu khổng lồ thu được từ việc giải trình tự gene các quần thể người như vậy đòi hỏi phải có những trung tâm quản lý dữ liệu cực lớn, không chỉ để “cất giữ” thông tin mà còn cho phép chia sẻ nó như một nguồn “tài nguyên” mở phục vụ nghiên cứu theo những phương thức quản lý đặc biệt 2.  Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã triển khai thành công y học chính xác, việc thành lập những trung tâm dữ liệu như vậy cần phải có sự tham gia từ cấp chính phủ và nguồn kinh phí lớn, không chỉ để mua máy móc thiết bị mà còn để tập hợp dữ liệu và khai thác hiệu quả chúng nhằm “tạo ra kiến thức, chính sách, cơ sở hạ tầng ngành y và cả văn hóa để qua đó, chúng ta có được nhiều biện pháp điều trị nhắm đích và cách phòng ngừa bệnh tật” như lời chia sẻ trên Nature của bà Kathy Hudson, Viện phó Viện nghiên cứu Y tế Mỹ (NIH), người phụ trách dự án Sáng kiến Y học chính xác Mỹ.  Một nền tảng dữ liệu như vậy đến nay vẫn chưa có ở Việt Nam, dù thuốc điều trị đích nhập khẩu đã có trên thị trường. Nguyên nhân một phần là việc nghiên cứu, giải mã hệ gene người Việt mới chỉ thực hiện ở quy mô đơn lẻ, lượng người tham gia lấy mẫu ít và chưa được chuyển thành dữ liệu ngành y với những liên quan về gene – bệnh, mặt khác theo đánh giá của TS. Nguyễn Văn Đô, “ngành Y vẫn chưa quan tâm đến vấn đề bộ gene của từng cá thể”.  Việc hình thành một trung tâm dữ liệu hệ gene ở quy mô lớn là điều khó với Việt Nam, nhất là khi các nguồn lực đầu tư và nguồn nhân lực vẫn còn hạn hẹp, tuy nhiên dưới cách nhìn của bà Kathy Hudson thì có thể bắt đầu với một data nhỏ, theo thời gian, data có thể mở rộng thành big data với sự sẵn sàng của cơ sở hạ tầng ngành Y.  Vậy nếu có một trung tâm dữ liệu gene ở quy mô nhỏ ban đầu, với một nguồn kinh phí khiêm tốn, Việt Nam có thể làm được gì? Với kinh nghiệm của một nhà nghiên cứu đã làm việc nhiều năm ở nước ngoài, TS. Hoàng Văn Tổng cho rằng, “Việt Nam có thể đi vào hướng nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của các nghiên cứu về y học chính xác trên thế giới để đi vào sàng lọc chẩn đoán và điều trị bệnh, đồng thời thúc đẩy hướng nghiên cứu cơ bản như xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền (trình tự DNA của cả bộ gene) của các nhóm quần thể người Việt, để làm cơ sở ứng dụng cho các nghiên cứu về y học chính xác sau này”. TS. Nguyễn Văn Đô lưu ý, điều kiện tiên quyết của trung tâm này “cần có data liên quan đến bệnh, giả sử làm phân tích về một loại bệnh thì ta phải nghiên cứu trên quần thể người Việt thì cái data đó mới có đủ cơ sở để kết luận”.  Hoạt động của trung tâm dữ liệu hệ gene sẽ đem lại cơ hội hợp tác liên ngành rất lớn giữa các nhà nghiên cứu y sinh, thống kê, phân tích và xử lý dữ liệu… và cả các nhà thực hành lâm sàng khi đưa vào ứng dụng. Điều đó cũng góp phần vào đào tạo, bổ sung những gương mặt mới vào đội ngũ nhân lực còn thiếu của Việt Nam.  Vì thế về lâu dài, việc khai thác hiệu quả trung tâm dữ liệu còn có thể đem lại những thay đổi về chiến lược phát triển ngành Y. “Ngành Y có hai mảng lớn là y học dự phòng và y học điều trị. Lâu nay chúng ta mới quan tâm đến khám chữa bệnh mà chưa có nhiều nghiên cứu lớn về y học dự phòng. Nếu có được những gợi ý từ kết quả nghiên cứu của trung tâm dữ liệu hệ gene, chúng ta có thể tham mưu nhiều hơn cho Bộ Y tế về mảng hoạt động lớn này”, TS. Nguyễn Văn Đô dự đoán.  Các nhà nghiên cứu dược học hệ gene Việt Nam có thể làm được gì? Y học cá thể là một bức tranh rất rộng từ đơn giản đến phức tạp, vì thế ở mức độ thấp, chúng ta có thể triển khai ngay các dịch vụ trên các bộ kít thương mại (bộ xét nghiệm nhanh bệnh tật) do các hãng dược phẩm nước ngoài cung cấp đối với các bệnh phổ biến và có các biến thể liên quan là như nhau đối với các chủng tộc khác nhau và có thể bắt tay vào các bệnh hiếm gặp hoặc những biến thể liên quan là đặc trưng của của người Việt, đồng thời triển khai ngay các dịch vụ xét nghiệm di truyền và điều trị trúng đích sử dụng các kít thương mại đối với các bệnh phổ biến và có các biến thể liên quan là như nhau đối với các chủng tộc khác nhau. Khi triển khai công việc này, chúng ta có một số thuận lợi về nguồn mẫu bệnh phổ biến và hiếm, có một số nhà khoa học được đào tạo bài bản từ nước ngoài, cập nhật tiến bộ khoa học qua các tạp chí và phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số khó khăn: thứ nhất, kinh phí thực hiện nghiên cứu thiếu hụt trong khi các nghiên cứu tương quan trên toàn hệ gene thường được thực hiện với hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn người với chi phí giải trình tự, xác định kiểu gene rất lớn; chưa có đủ cơ sở dữ liệu về gene. Với các tiếp cận của một người làm về Tin sinh học, sử dụng và đề xuất những công cụ tính toán mạnh và phù hợp để giải quyết các bài toán Y sinh, tôi và đồng nghiệp đã làm việc với rất nhiều các cơ sở dữ liệu về hệ gene. Do Việt Nam chưa có những cơ sở dữ liệu này (hoặc không công bố), nên tôi thường sử dụng những cơ sở dữ liệu rất lớn và đa dạng trên thế giới như NCBI, TCGA, CCLE hay GDSC và rất nhiều các cơ sở dữ liệu bổ trợ khác. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất những phương pháp/mô hình tính toán trên các dữ liệu này sẽ mang tính tổng quát cao và hoàn toàn có thể áp dụng được cho các dữ liệu của Việt Nam sau này. Yếu tố quan trọng nhất là chúng ta đang thiếu một chiến lược đầu tư nghiêm túc, dài hơi. Một ví dụ rất tiêu biểu là Thái Lan, họ đã đầu tư vào các phòng thí nghiệm trọng điểm về Y học cá thể hóa từ hơn 10 năm trước đây, và hiện nay họ đã có những kit xét nghiệm và điều trị trúng đích riêng đối với một số bệnh. PGS. TS, Lê Đức Hậu (Trung tâm nghiên cứu Tế bào gốc và hệ gene, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vimec).  —  1Y học cá thể hóa được nhắc đến đầu tiên với khái niệm Ayurvedic trong kinh Vệ đà nhằm hướng đến sự cân bằng giữa cơ thể, trí não và tinh thần. Việc điều trị phù hợp với prakriti (thể trạng) của mỗi bệnh nhân. Trong y học cổ truyền, việc thầy thuốc khám chữa bệnh dựa vào vọng (xem thân thể diện mạo), văn (nghe tiếng nói hơi thở), vấn (hỏi tường tận nguyên nhân), thiết (bắt mạch, sờ nắn cho biết mạch lạc) để kê đơn cho từng người bệnh cụ thể cũng là dạng sơ khai của y học cá thể hóa.  Xem thêm: https://www.nature.com/nature/journal/v537/n7619_supp /full/537S52a.html và phần ghi chép về y học trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839)  2Việc quản lý và điều hành những trung tâm dữ liệu này là việc không đơn giản, bởi vừa đảm bảo khả năng chia sẻ thông tin về hệ gene của mỗi cá nhân giữa các nhà nghiên cứu, các bệnh nhân…, vừa đủ tính năng bảo mật thông tin cá nhân. Theo cách làm của Sáng kiến Y học chính xác Mỹ, mỗi cá nhân được quyền quyết định ai có khả năng truy cập thông tin của họ, ví dụ như bác sỹ gia đình của họ, tuy nhiên các nhà quản lý không chấp nhận các nhà dịch vụ sức khỏe với tư cách trung gian truy cập thông tin.  Nguồn:http://www.nature.com/nature/journal/v537/n7619_supp/full/537S69a.html          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Phòng bệnh ở Việt Nam: Liệu chúng ta đã làm đủ tốt?      LTS: Là một đất nước có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều,…chúng ta luôn phải đối mặt với nguy cơ cao bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn* như sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng. Giờ đây, khi môi trường của Việt Nam bị ô nhiễm, tỉ lệ người bệnh không truyền nhiễm như ung thư, tim mạch, tiểu đường lại càng tăng cao. Làm cách nào để kiểm soát những bệnh này là câu chuyện của Y tế công cộng. Tuy nhiên, từ trước đến nay, khi nhắc đến việc chăm sóc sức khỏe người dân, chúng ta chỉ quan tâm đến Y học mà dường như bỏ qua lĩnh vực này, thực chất mới là lĩnh vực ảnh hưởng lớn nhất tới mạng sống của người dân. Series bài về Y tế công cộng này, với mong muốn “hóa giải” những hiểu nhầm trong lĩnh vực Y tế công cộng ở Việt Nam, được thực hiện dưới ý tưởng của GS. Klaus Krickeberg, một nhà toán học xác xuất thống kê nổi tiếng châu Âu và đã dành 40 năm phát triển ngành Y tế Công cộng cho Việt Nam.            Trung tâm Y tế xã huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tẩm hóa chất màn của người dân để chống dịch sốt xuất huyết.  Tháng trước, trước việc có nhiều dịch bệnh bùng phát trên nhiều tỉnh thành ở Việt Nam như sốt xuất huyết, sởi và bệnh tay chân miệng, Bộ Y tế đưa ra ba phương án giải quyết việc này như sau: (1) Giảm tình trạng quá tải ở bệnh viện để tránh lây nhiễm chéo bằng cách đưa bệnh nhân về tuyến dưới và các bệnh viện vệ tinh (2) Tuyên truyền cho bệnh nhân về cách thức giữ gìn vệ sinh, phòng chống dịch bệnh (3) Phát hiện sớm, cho bệnh nhân đúng phác đồ điều trị. Ông có bình luận gì về ba phương án này ?  Đây không chỉ là một mà là tập hợp của rất nhiều câu hỏi với những bản chất rất khác nhau và vì vậy khó có thể đưa ra một câu trả lời ngắn gọn. Ở đây đề cập ba bệnh nhiễm khuẩn nhưng cái chúng ta gọi là “giải pháp” không thể áp dụng như nhau cho cả ba trường hợp. Mặc dù ba phương án trên được tiến hành đồng thời nhưng mỗi phương án vẫn cần phải được nghiên cứu riêng biệt. Hơn nữa, nội dung của ba phương án trên thuộc về hai lĩnh vực khác nhau của khoa học sức khỏe, là Y tế công cộng và Y học. (1) Phương án điều chuyển bệnh nhân đang ở bệnh viện này sang một bệnh viện kiểu khác: Nếu làm một cách đồng loạt thì đó là một ý tưởng rất tồi tệ. Điều này chỉ có thể áp dụng cho một trường hợp riêng lẻ khi cơ sở điều trị ở bệnh viện kia tốt hơn ở bệnh viện này (điều này thuộc về lĩnh vực Y học). Một cách chung nhất, phương án này chỉ áp dụng trong trường hợp khẩn cấp, dành cho những bác sĩ đầu tiên tiếp nhận bệnh nhân có thể chuyển họ trực tiếp đến bệnh viện phù hợp nhất với anh ấy/cô ấy và nhờ vậy tránh việc điều chuyển trong khi đang điều trị. Còn việc lây nhiễm chéo như nhiều cán bộ y tế lo ngại, đều có thể xảy ra ở cả bệnh viện trung ương lẫn địa phương và đều có thể kiểm soát được (hoặc không kiểm soát được) ở mức độ giống nhau. Về dài hạn, bệnh viện của Việt Nam cần được quy hoạch tốt hơn để tránh tình trạng quá tải (điều này thuộc về lĩnh vực Y tế công cộng!). (2) Điều quan trọng nhất của phương án này là những thông tin về giữ gìn vệ sinh – cách thức hiệu quả nhất để phòng bệnh nhiễm khuẩn phải dễ dàng tiếp cận với tất cả mọi công dân ở tất cả mọi thời điểm. Những chiến dịch đặc biệt, truyền thông trên truyền hình, trên báo…đều không đủ bởi vì chúng chỉ tạo ra những mối quan tâm nhất thời cho cộng đồng. Việc giáo dục sức khỏe ở các Trạm Y tế xã và các bệnh viện nhỏ là rất tốt nhưng lại một lần nữa, không phải tất cả mọi người đều hưởng lợi từ nó mọi lúc. Một phương án tốt là in ra những tờ rơi nhỏ gọn với những thông tin thiết yếu và gửi định kỳ tới tất cả các hộ gia đình. Họ có thể lưu trữ và đọc bất kì lúc nào. Với những gia đình có thể truy cập Internet, Bộ Y tế cần phải cung cấp những thông tin đáng tin cậy và dễ thực hành trên một địa chỉ website. Hiện nay, những thông tin về sức khỏe trên Internet thường rất khó hiểu, không đáng tin cậy và phần lớn bị chi phối bởi nhiều công ty thương mại. Với riêng bệnh sốt xuất huyết, khác với tất cả các bệnh khác, đây là phương án đặc biệt quan trọng và sự tham gia mạnh mẽ và kịp thời của người dân hiện tại có vẻ vẫn là cách duy nhất để kiểm soát các chủng bệnh này(3) Đây là vấn đề thuộc về việc đào tạo bác sĩ. Giải pháp là cải thiện các môn học trong ngành Y, đặc biệt là trong 6 năm đầu (Vấn đề này thuộc lĩnh vực Y học!).Nói về phương án hai thì rất nhiều các cán bộ y tế của Việt Nam thường đổ lỗi cho sự thiếu ý thức của người dân là nguyên nhân gây ra bùng phát các dịch bệnh. Thật khó mà đổ lỗi cho người dân về việc thiếu nhận thức, không chỉ đối với các bệnh nhiễm khuẩn mà cả với rất nhiều các vấn đề sức khỏe khác. Việc nâng cao nhận thức của họ thuộc về trách nhiệm của những cơ quan chuyên trách, không chỉ là những cơ sở trực thuộc Bộ Y tế ở tất cả các cấp mà còn bởi nhiều hiệp hội và các sáng kiến của người dân. Nhiều quốc gia, như Đức chẳng hạn, có một cơ quan đặc biệt được tài trợ bởi ngân sách để làm việc này.     Tờ rơi phòng bệnh sốt xuất huyết của tổ chức Y tế Thế giới WHO.  Ở Việt Nam hiện nay, không phải là các bệnh nhiễm khuẩn mà chính là các bệnh không nhiễm khuẩn mới ảnh hưởng chính đến sinh mạng người dân như tim, mạch, tiểu đường, ung thư… Cứ 10 người tử vong thì 7 người là do các bệnh này. Việc phòng những bệnh này ở Việt Nam, theo ông là đã đủ tốt? Có câu tục ngữ “Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh”. Tuy nhiên, “Nhiều cán bộ y tế của Việt Nam luôn nghĩ rằng việc phòng bệnh luôn có nghĩa là phòng bệnh nhiễm khuẩn.Tôi thực sự nghĩ rằng Việt Nam làm chưa tốt việc phòng các bệnh không truyền nhiễm. Những cách phòng bệnh quan trọng nhất là bảo đảm một môi trường sống trong lành và thúc đẩy chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh. Cũng có những cách khác hiện đang được biết đến rộng rãi như sàng lọc (phát hiện sớm bệnh) và gần đây là phương pháp đoán nhận gene (gene prediction) và tư vấn di truyền học (genetic counselling). Phòng bệnh đối với những bệnh không truyền nhiễm là vấn đề kinh điển của Y tế công cộng. Nhưng hãy để ý những gì tôi vừa nói trong những câu hỏi trước, cần nhớ rằng việc phòng bệnh nhiễm khuẩn và không truyền nhiễm là hai lĩnh vực hoạt toàn khác nhau đòi hỏi những công cụ và phương pháp khoa học khác nhau. Ngoài ra còn có những bệnh không rõ nguyên nhân. Một vài trong đó không thể phòng bệnh và một số khác thì không thể chữa trị. Thực ra tôi thấy khi nhắc đến Y tế công cộng, người ta chỉ nghĩ đến hoạt động “phòng bệnh”. Ở Việt Nam rất rất ít khi dùng khái niệm Y tế công cộng mà thường chỉ dùng khái niệm Y tế dự phòng, thậm chí có cả chức danh Bác sĩ Y học dự phòng. Có những hoạt động nào của Y tế công cộng mà chúng ta đang bỏ quên hay không? Y tế công cộng bao gồm rất nhiều nội dung. Tôi đã đề cập đến một vài trong số đó. Hai câu hỏi đầu tiên chính là về phần “Giáo dục sức khỏe” và trong câu hỏi thứ ba tôi có nhắc đến “Sức khỏe môi trường” và “Sức khỏe dinh dưỡng”. Trong giải pháp thứ nhất của câu hỏi đầu tiên có xuất hiện khái niệm “Kế hoạch sức khỏe” và “Quản lý sức khỏe”. Còn có rất nhiều nội dung khác trong Y tế công cộng như “Y tế sức khỏe” bao gồm Bảo hiểm y tế, “Những điều kiện kinh tế – xã hội của sức khỏe”, “Nhân học Y tế”, “Dịch tễ học lâm sàng”. Phòng bệnh, cũng là một phần của Y tế công cộng nhưng nó liên quan và sử dụng công cụ của nhiều nội dung khác trong Y tế công cộng. Tôi thực sự nghĩ rằng có nhiều nội dung trong lĩnh vực Y tế Công cộng mà tôi vừa chỉ ra đang bị bỏ qua trong giai đoạn hiện tại. Điều này đặc biệt đúng với “Dịch tễ học lâm sàng”. Nói đến khái niệm này, ý tôi muốn nói về việc đánh giá hiệu quả của những phương pháp điều trị (clinical treatment) của các bác sĩ trên diện rộng. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu của một hệ thống y tế nhưng Việt Nam không hề quan tâm. Vì những lí do này, tôi gợi ý là chức danh “Bác sĩ Y học dự phòng” nên được gỡ bỏ và thay bằng “Bác sĩ Y tế công cộng”. Cách gọi mới này đưa ra một góc nhìn khái quát hơn và có ích hơn trong thực tiễn ứng dụng. Có lẽ tôi nên nói thêm về khái niệm “Dịch tễ học” mà tôi vừa mới đề cập. Ngay cả rất nhiều người đang làm trong lĩnh vực Y tế công cộng cũng lờ đi ý nghĩa của nó. Đó không phải là một môn khoa học về dịch bệnh như người ta tưởng. Từ đầu thế kỉ 20, nó đã có ý nghĩa là nghiên cứu về tác động của những “yếu tố” lên sức khỏe người dân. Trong ngành Dịch tễ học lâm sàng, chúng ta có thể nghiên cứu về tác động của một cách điều trị của các bác sĩ, cũng chính là một “yếu tố” tác động lên cộng đồng người bệnh (chúng ta hi vọng nó có thể cải thiện sức khỏe của bệnh nhân nhưng thường là không!). Cách điều trị lượng đồng căn là một ví dụ đáng quan tâm. Không có một nghiên cứu nào trong rất nhiều nghiên cứu đưa ra hiệu quả gì, dù là nhỏ nhất của nó, liệu pháp này hoàn toàn vô dụng. Dịch tễ học là nền tảng của tất cả mọi vấn đề trong Y tế công cộng nhưng thật kì lạ, nội dung này được đẩy xuống cuối cùng trong giáo trình về Y tế công cộng ở tất cả các trường đại học Việt Nam, thay vì phải đưa lên đầu tiên.   Xin cảm ơn ông! □Hảo Linh thực hiện  ———-  *GS. Klaus Krickeberg đề xuất dịch khái niệm “infectious disease” thành “bệnh nhiễm khuẩn” thay vì “bệnh truyền nhiễm” như cách các báo đài và nhiều cán bộ y tế vẫn nhầm lẫn. Bệnh truyền nhiễm (contagious, transmittable diseases) chỉ là những bệnh lan truyền trực tiếp từ người – người. Trong khi “bệnh nhiễm khuẩn” là những bệnh gây ra bởi những vi khuẩn, vi rút nhưng quá trình truyền bệnh không nhất thiết phải trực tiếp mà có thể qua vật trung gian (như nước, chuột, rận, muỗi anopheles).        Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng chống dịch bệnh: Tìm câu trả lời từ hệ gene người      Đại dịch Covid-19 không chỉ đặt ra nhiều câu hỏi về cơ chế lây nhiễm, khả năng miễn dịch… cho giới khoa học Việt Nam mà còn đưa ra viễn cảnh rộng lớn hơn: để ngăn ngừa, kiểm soát các loại dịch bệnh hiệu quả trong tương lai, chúng ta không thể bỏ qua hệ gene người.      Ảnh: AP  Với góc nhìn thông thường, mối liên hệ giữa hệ gene người và khả năng lây nhiễm bệnh tật do virus gây ra, ví dụ như virus corona – nguyên nhân gây đại dịch Covid-19, rất mỏng manh. Vậy tại sao để phòng chống các loại dịch bệnh truyền nhiễm như thế này, chúng ta cần phải nghiên cứu về hệ gene người? Giáo sư Trương Nam Hải (Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), nguyên chủ nhiệm chương trình KC04 “Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học” (Bộ KH&CN), giải thích, “Khi virus xâm nhập vào tế bào người, các protein gai của nó tương tác ái lực với các thụ thể người. Do đó ngoài thông tin về hệ gene của virus thì chúng ta phải có thông tin về cấu trúc thụ thể tế bào người cùng những thông tin khác về hệ gene người. Lúc này, chúng ta rất cần đến những hiểu biết rất cơ bản và chuyên sâu về hệ gene, đặc biệt là hệ gene người Việt. Việc nghiên cứu tổng thể như vậy giúp chúng ta có được một bức tranh rõ ràng và chính xác hơn ở mức độ phân tử về toàn bộ quá trình lây nhiễm, phát triển bệnh… đến điều trị”.  Đó là cách thức mà nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng, không chỉ trong cuộc chiến với virus corona. Nghiên cứu về hệ gene người không phải là vấn đề mới của thế giới và cũng không hẳn mới với Việt Nam. Những phác thảo đầu tiên về gene người đã được bắt đầu từ gần 20 năm, rải rác ở Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Đại học Y Hà Nội, ĐHQGTPHCM, Bệnh viện Bạch Mai… nhưng từ những nghiên cứu phân lập gene liên quan đến bệnh và xây dựng các chỉ thị phân tử chẩn đoán một số bệnh trên người đến việc nghiên cứu chính thức về hệ gene người hoàn chỉnh ở Việt Nam cũng phải đến 15 năm nữa. Để có được những hình hài ban đầu cho một lĩnh vực nghiên cứu mới trên những manh nha đó, Bộ KH&CN đã giao nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước về xây dựng dự án khả thi giải trình tự và phân tích hệ gene người Việt Nam cho Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, qua đó xây dựng một cơ sở nghiên cứu chuyên biệt mà nay là Viện nghiên cứu Hệ gene, một nơi nghiên cứu hàng đầu về hệ gene người Việt với những cách tiếp cận rất hiện đại.  Bước đầu khai thác hệ gene người  Dù không nhận được quá nhiều chú ý của truyền thông và xã hội, công việc về nghiên cứu hệ gene người Việt đã được bắt đầu một cách thầm lặng nhưng nghiêm túc. Mọi người mới bắt đầu chú ý đến điều này từ một cuộc hội thảo nhân dịp kỷ niệm 5 năm thành lập Viện nghiên cứu Hệ Gene vào năm ngoái. Thực ra, đến nay, các nhà nghiên cứu nơi này đã thực hiện nhiều dự án về giải trình tự và phân tích hệ gene ở quy mô khác nhau như hệ gene biểu hiện, hệ gene ty thể, cũng như nhiều gene như nhóm gene chức năng đa hình, đột biến liên quan đến các bệnh khác nhau ở người Việt Nam.  Đi sau thế giới nhiều năm nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam không rơi vào cảnh “trâu chậm uống nước đục” mà ngược lại, có thể học hỏi những gì thế giới đã làm và “thuận lợi trong việc tham chiếu hệ gene người chuẩn của thế giới trên các ngân hàng gene để khi tiến hành giải trình gene trên máy của mình rồi, chúng ta có thể so sánh đối chiếu trong quá trình lắp ráp toàn bộ hệ gene”, giáo sư Trương Nam Hải, người thường quan sát và chia sẻ công việc với các đồng nghiệp từ ngày thành lập Viện, cho biết.  Nhờ vậy, một trong những hướng nghiên cứu chủ đạo của các nhà nghiên cứu ở Viện cũng như đồng nghiệp ở trong nước là đi sâu vào tìm hiểu mối liên hệ giữa gene với bệnh di truyền trên người. Trên thế giới, nhờ ứng dụng công nghệ giải trình tự gene thế hệ mới, các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân gây ra trên 8.000 bệnh di truyền là do những bất thường trong 5.000 gene khác nhau trong cơ thể người. Với các nhà nghiên cứu Việt Nam, gợi ý này đã mở ra những dự án nghiên cứu hợp tác với nhiều đơn vị bên ngoài, ví dụ Khoa Nội tiết chuyển hóa di truyền Viện Nhi Trung ương để cùng tìm hiểu về một số bệnh lý ở trẻ nhỏ, vốn có đặc điểm là khó dự đoán so với bệnh trên người lớn, biểu hiện cũng phức tạp nên rất khó phát hiện nếu chỉ xét nghiệm gene đơn lẻ hoặc nhiễm sắc thể. “Do đó, chúng tôi cần xem xét toàn bộ hệ gene hoặc hệ gene biểu hiện của bệnh nhân thay vì tìm các gene gây bệnh thông thường”, theo nhận xét của PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Hệ Gene. Qua đó, họ đã xác định được các đột biến đã biết và các đột biến mới ở các bệnh nhân mắc một số bệnh và hội chứng hiếm gặp như bệnh siro niệu, hội chứng chậm phát triển, thiểu năng trí tuệ bẩm sinh, bệnh rối loạn chu trình chuyển hóa urê…    “Hệ gene là nơi tập hợp toàn bộ thông tin di truyền của cơ thể người được mã hóa trong DNA, vì vậy nó mang ý nghĩa quyết định với đặc điểm nhân chủng học cũng như các yếu tố về sức khỏe của một quần thể hay một cá thể.”  -Giáo sư Nông Văn Hải-    Từ việc nghiên cứu mối liên hệ giữa gene và bệnh di truyền trên người cũng giúp họ trở thành những người đầu tiên ở Việt Nam cũng như thế giới trả lời được chính xác câu hỏi tồn tại mấy chục năm qua: sự ảnh hưởng về gene trên thế hệ con của những người bị phơi nhiễm chất độc màu da cam (dioxin) như thế nào? PGS. TS Nguyễn Đăng Tôn, một trong những người thực hiện nghiên cứu này cho rằng, cách tiếp cận mới với sự hỗ trợ của thiết bị hiện đại hơn đã giúp họ tìm được đáp án ở các đột biến điểm, điều mà các nghiên cứu trước về miễn dịch, biến đổi sinh hóa, huyết học hoặc nghiên cứu điều tra trên người bị phơi nhiễm chưa làm được do phổ bệnh quá lớn và công nghệ trước đây chưa cho phép. “Những đột biến de novo chỉ xuất hiện ở con sau khi hình thành giao tử và trong giai đoạn hình thành sớm của quá trình phát triển phôi và không có ở trong bố mẹ. Chúng tôi nhận thấy có sự tương quan giữa thế hệ con với nồng độ chất độc dioxin và các đồng phân tương đương đo được trong máu của bố”, ông nói.  Những công việc tương tự như thế cũng được tiến hành tại nhiều đơn vị ngành Y với những chẩn đoán và điều trị ung thư, tuy nhiên phần nhiều trên những gene đơn lẻ. Trong khi đó, theo ý kiến của GS. Roy Perlis – Giám đốc Trung tâm Xuất sắc về Khoa học Di truyền, trường Y (ĐH Harvard) tại hội thảo “Sự kết hợp của giải mã gene và trí tuệ nhân tạo: Một cách tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe” do Bộ KH&CN tổ chức năm 2019 thì “khác với mô hình truyền thống ‘một gene, một bệnh’ trước kia, cấu trúc gene liên quan đến những căn bệnh nguy hiểm phổ biến như ung thư vú, tiểu đường loại II, tâm thần phân liệt,… rất phức tạp và do nhiều vùng gene khác nhau quy định”. Đó cũng là lý do mà giáo sư Trương Nam Hải nhấn mạnh đến ý nghĩa cần phải nghiên cứu cả hệ gene người để hiểu một cách trọn vẹn về bệnh, “việc ứng dụng kỹ thuật đơn giản trong chẩn đoán thì nhiều nơi đã làm được nhưng muốn làm được một cách chính xác thì phải có những nghiên cứu tổng thể, cho phép mình nghiên cứu cả hệ gene mới có thể trả lời được”.  Phác thảo các hướng nghiên cứu về gene người  Những kết quả bước đầu cho thấy nỗ lực của các nhà nghiên cứu hệ gene Việt Nam nhưng “trước một con voi khổng lồ là hệ gene người, chúng ta mới chỉ như thầy bói xem voi”, giáo sư Nông Văn Hải nói một cách thành thực về những điều đã đạt được. Là người chủ trì đề tài do Bộ KH&CN tài trợ “Giải trình tự và hoàn chỉnh hệ gene người Việt Nam làm trình tự tham chiếu”, hơn ai hết ông hiểu rõ những thứ có thể nghiên cứu khai thác từ hệ gene người cũng như những việc mà các đồng nghiệp trong và ngoài viện có thể làm được trong bối cảnh còn hạn chế về nguồn lực đầu tư của Việt Nam.    Giáo sư Nông Văn Hải giới thiệu về các nghiên cứu ở Viện nghiên cứu hệ gene với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.  Vì thế, trước câu hỏi của giáo sư Phan Tuấn Nghĩa, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Enzyme và Protein quốc gia “chúng ta cần khu trú vào nghiên cứu những gì để vẫn có thể khả thi, vẫn có thể tạo ra đột phá và vẫn có tính chiến lược?”, ông đã gợi mở một số hướng nghiên cứu mà Việt Nam cần cân nhắc: Chúng ta nên tiếp tục nghiên cứu hệ gene ty thể, nhiễm sắc thể Y bởi các bệnh lý hiểm nghèo hay nằm trên ty thể và nhiễm sắc thể Y; Nghiên cứu vùng mã hóa exome, vùng gene biểu hiện của các nhóm bệnh di truyền, ung thư bởi giá thành công nghệ các thiết bị liên quan đã giảm rồi và việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta chẩn đoán được các bệnh khá tốt; Nghiên cứu các hệ gene phiên mã; Nghiên cứu hệ gene di truyền ngoài nhiễm sắc thể…  Cái nhìn bao quát của giáo sư Nông Văn Hải đã hướng đến những vấn đề rất nóng về nghiên cứu hệ gene người trên thế giới, vốn được triển khai trong các nhánh rất nhỏ với những hệ ‘omics’, ví dụ proteomics (hệ protein học), “một con voi còn khổng lồ hơn nhiều so với con voi hệ gene người”, ông so sánh.    “Nghiên cứu hệ gene người là vấn đề liên quan đến tầm vóc và chiến lược của khoa học Việt Nam nên không phải là vấn đề riêng một nhóm nào và cũng không thể khu trú trong Viện Hàn lâm. Chúng ta nên tổ chức diễn đàn rộng hơn để trao đổi với các đồng nghiệp khác, qua đó có thể đề xuất với lãnh đạo vấn đề đầu tư phù hợp.”  -Giáo sư Phan Tuấn Nghĩa, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Enzyme và Protein quốc gia-    Tuy nhiên, để thực hiện được những hướng nghiên cứu này là cả một vấn đề rất lớn, đó là kinh phí đầu tư. Theo nhận xét của giáo sư Phan Tuấn Nghĩa, “mỗi đầu mục mà giáo sư Hải nêu thì đầu tư vài ba triệu đô la vẫn chưa là cái gì cả, nó cũng như là chúng ta đi bộ từ đây vào TPHCM trong hai ngày, không thể đi được”. Là một người mấy chục năm chỉ theo đuổi về emzyme và protein, ông chỉ ra, “nghiên cứu protein cấu trúc mà chỉ có vài ba triệu USD thì đừng bao giờ nghiên cứu về cấu trúc cả, không bao giờ nghiên cứu được”. Đây là lý do mà những nhà nghiên cứu như ông cũng nhận thấy “có quá nhiều vấn đề hay và thiết thực từ hướng nghiên cứu này” nhưng không có cách nào xoay xở nổi một khoản kinh phí lớn như vậy cho nghiên cứu cũng như các thiết bị đầu tay. Do vậy, ở Việt Nam những năm gần đây, nghiên cứu về protein người trầm lắng hơn nghiên cứu về hệ gene như bình luận của giáo sư Nông Văn Hải.  Bài toán cần khu trú nghiên cứu những gì khả thi nhưng vẫn mang tính chiến lược và có thể tạo ra đột phá mà giáo sư Phan Tuấn Nghĩa đặt ra quả thực khó có thể trả lời. Bởi trước khi có những ứng dụng về hệ gene người, ví dụ như xác định được mối liên hệ giữa gene và bệnh trên cơ thể người, các nhà nghiên cứu cần được tạo điều kiện để thực hiện những nghiên cứu mang tính nền tảng, qua đó lấp đầy những khuyết thiếu trong nghiên cứu cơ bản về hệ gene người Việt. “Muốn nghiên cứu và ứng dụng tốt thì ta phải có ngân hàng gene, và muốn có được dữ liệu xây dựng ngân hàng này thì chúng ta phải giải trình tự nhiều bộ gene hơn nữa, phải đủ đại diện của 54 dân tộc với số lượng tới cả triệu cá thể”, giáo sư Nông Văn Hải nói.  Đó là ước mơ của các nhà nghiên cứu hệ gene người Việt. Nhưng đó cũng là điều gần như khó đạt nhất tới ở thời điểm này.  Trước khi có được những giải pháp đầu tư hợp lý cho nghiên cứu ở Việt Nam, giáo sư Nông Văn Hải nhìn lại quá trình hình thành các dự án giải mã hệ gene người của thế giới và cho rằng, “cần có sự song hành của nhà nước và tư nhân. Bên cạnh nguồn lực của nhà nước, chúng ta vẫn nên nhận đầu tư của tư nhân với điều kiện họ phải làm thật và công việc dựa trên quy chế sòng phẳng: khi đầu tư cho khoa học thì tư nhân không nên đưa ra những yêu cầu lợi nhuận cho khoa học”. Tuy kinh phí bỏ ra không ít nhưng về lâu dài, việc đầu tư này sẽ có lãi, “chúng ta nên nhớ rằng, ở nước ngoài ‘ngành công nghiệp hệ gene’ đã ăn nên làm ra và nộp thuế cho chính phủ, ví dụ ở Mỹ, cứ 1 USD cho nghiên cứu hệ gene đã đem lại 141 USD cho nền kinh tế”, ông lưu ý đến hiệu quả dài hạn mà xã hội sẽ được hưởng từ những nghiên cứu hệ gene người.  Thanh Nhàn   Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/chinh-sach/phong-chong-dich-benh-tim-cau-tra-loi-tu-he-gene-nguoi/20200528085845816p1c785.htm    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng chống dịch tả lợn châu Phi: Đâu là giải pháp bền vững?      Thách thức mà dịch tả lợn châu Phi đang đặt ra cho ngành chăn nuôi Việt Nam cho thấy, bên cạnh những biện pháp kiểm soát tức thời thì việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học một cách bài bản không chỉ là giải pháp mang tính bền vững cho dịch bệnh này mà còn đem lại bài học kinh nghiệm để ứng phó với các bệnh dịch mới nổi khác.      Kiểm tra lợn mắc dịch tả châu Phi tại Thái Bình. Nguồn ảnh: Lê Văn Phan.  Đến nay, dịch tả lợn châu Phi đã càn quét qua 3.980 xã, thuộc 407 huyện của 55 tỉnh, thành phố, khiến ngành nông nghiệp buộc phải tiêu hủy 2.5 triệu con lợn (chiếm khoảng 7-8% tổng đàn lợn Việt Nam). Suốt từ thời điểm phát hiện dịch – Tết Nguyên đán 2019, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều chương trình dập dịch với 50 văn bản chỉ đạo khác nhau, hàng chục cuộc hội thảo trực tuyến nhưng vẫn khó kiểm soát dịch.  Dùng đủ thứ “võ”  Dù dịch đã tràn qua tất cả những khu vực có đàn chăn nuôi lớn của cả nước nhưng đa phần nạn nhân của loại ”giặc” này lại là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ với đặc điểm là bố trí chuồng nuôi lợn xen lẫn trong khu dân cư, mật độ chăn nuôi rất cao, điều kiện vệ sinh phòng bệnh kém và không bảo đảm an toàn sinh học. Hầu như chỉ những doanh nghiệp sở hữu hệ thống trại nuôi lớn, được đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ mới trụ lại được qua đợt bùng phát này, tuy nhiên ”thành công” này cũng là do bản thân họ cũng phải áp dụng liên hoàn “các thứ võ” khác nhau, tất cả đều chưa từng có kinh nghiệm ứng phó với loại dịch bệnh mới nổi này.  Tại Hội nghị “Bàn giải pháp nhằm ổn định, thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn với sự tham gia của các doanh nghiệp chăn nuôi lớn trong cả nước” do Bộ NN&PTNT tổ chức vào ngày 14/6/2019, các doanh nghiệp cho biết, các nguyên tắc an toàn sinh học đều được họ đặt lên hàng đầu, thậm chí trang trại được kiểm soát trong tình trạng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, công nhân phải trực chiến trong trại lợn hàng tháng trời, mới chống đỡ được với dịch. Ông Nguyễn Văn Bách, Giám đốc Công ty cổ phần kinh doanh Thuốc thú y Amavet cho biết, trong lúc chưa có thuốc hay vaccine thì doanh nghiệp này phải tìm mọi cách để “chung sống với dịch bệnh” như nhanh chóng tiêu hủy toàn bộ lợn dương tính với virus và lợn ở các ô chuồng bên cạnh, cô lập trại bị nhiễm, sau đó tiêu diệt virus bằng thuốc sát trùng. Mặt khác, ông cũng thay đổi hình thức chăn nuôi bằng cách nhanh chóng chuyển các trại lợn đang có nhiều nước và dễ lây lan bệnh dịch sang điều kiện khô và tách bạch chuồng trại.  Cũng chia sẻ kinh nghiệm đối phó tức thời với dịch bệnh, ông Phạm Duy Phẩm, đại diện Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương (Viện Chăn nuôi) cho biết, đến thời điểm này 3 trại của Trung tâm tại Thụy Phương (Hà Nội), Tam Điệp (Ninh Bình) và Kỳ Sơn (Hòa Bình) vẫn an toàn. Ngay khi dịch bắt đầu vào Việt Nam, Trung tâm đã đồng thời khử trùng nguồn nước, thức ăn, xây dựng nhiều lớp an toàn sinh học, thậm chí ngay cả… tiền khách hàng trả cũng phải được xử lý mầm bệnh.  Tuy nhiên, với nhiều doanh nghiệp khác thì mọi chuyện không suôn sẻ như thế. Trong cảnh bối rối trước sự bùng phát của dịch bệnh nên có doanh nghiệp áp dụng bất kỳ biện pháp nào có thể nghĩ ra như tiêm phòng dịch tả thường, khử trùng chuồng trại bằng nhiều loại dung dịch khác nhau, đồng thời đun nước sôi để dội chuồng trại, sau đó dùng đèn khò… khử trùng mọi ngõ ngách của trại lợn cho đến tăng cường các chế phẩm trong thức ăn để tăng sức đề kháng cho đàn lợn.  Kết quả đáng mừng là các đơn vị vẫn “bảo vệ đàn lợn giống lợn cụ kỵ, ông bà, sẵn sàng phục vụ cho việc khôi phục và phát triển sản xuất của các địa phương khi có điều kiện”, theo ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT. Do đó, hiện nay có khoảng 120.00 con giống cụ kỵ, ông bà của 45 đơn vị, được nuôi giữ ở 240 cơ sở.  Tái cấu trúc ngành chăn nuôi  Nhưng bệnh dịch không chỉ đe dọa các doanh nghiệp ở mức này. Hiện giờ họ còn lâm vào tình trạng khó khăn hơn nhiều: do dịch bao vây tứ phía nên họ không thể bán thịt lợn ra ngoài vùng dịch, mặc dù chính các trại này đang được đảm bảo an toàn. Ông Lê Quang Thành, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thức ăn chăn nuôi Thái Dương (quy định hiện nay cấm chuyển lợn ra khỏi vùng dịch) cho biết công ty đang gặp phải khó khăn về tài chính do không thể xuất lợn, còn phương án cấp đông thịt mà một số nơi bắt đầu áp dụng lại… bất khả thi vì chi phí cấp đông quá cao và sau này cũng rất khó, thậm chí là không thể bán vì người tiêu dùng Việt Nam không có thói quen mua thịt đông lạnh. Trước đây, công ty này đã từng đông lạnh thịt lợn và chịu lỗ vì không có mấy người mua. Đồng tình với ý kiến này, ông Nguyễn Như So, Chủ tịch hội đồng quản trị Dabaco, một ông lớn trong ngành chăn nuôi, cũng cho rằng phải có vốn dồi dào ở mức nghìn tỉ, doanh nghiệp mới đủ sức cấp đông lượng thịt lớn.  Tuy nhiên, nếu gỡ những khó khăn khẩn cấp như vậy là chưa đủ, bởi nhiều doanh nghiệp vẫn đang nơm nớp lo lắng không biết “còn cầm cự” với dịch đến bao giờ. “Bây giờ mình đang an toàn rồi nhưng không biết thế nào? [bởi vì mình] chỉ lo được nội bộ mình thôi, trong khi xung quanh dân vẫn tái đàn, không thể kiểm soát được”, ông Đỗ Hoàng Long, Công ty Japfa Comfeed nói. Ông đề nghị chính quyền phải kiểm soát được tình hình, chỉ cho phép những hộ đảm bảo an toàn sinh học mới được tái đàn và trong khi chưa có được điều này thì nhiều công ty đang suy nghĩ tới việc sẽ phải di chuyển các vùng chăn nuôi từ khu vực trung tâm có mật độ chăn nuôi dày đặc như Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long tới các vùng sâu vùng xa hơn.  Nhưng ngay cả chuyển lên núi cũng không giải quyết triệt để được vấn đề, mà sâu xa hơn, “cần có nghiên cứu cơ chế chính sách, giải pháp, theo hướng tổ chức lại ngành chăn nuôi theo hướng đảm bảo chặt chẽ các quy định về an toàn sinh học”, ông Nguyễn Hoài Dương, Giám đốc Sở NN&PTNT Đắk Lắk kiến nghị. Trên thực tế, các nước đã từng “chiến đấu” chống dịch tả lợn châu Phi cũng từng phải đứng trước thử thách cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chẳng hạn kinh nghiệm của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phải kiện toàn lại ngành nông nghiệp, như thông tin mà tờ Sciencemag mới đưa hồi giữa tháng năm vừa qua. Nhưng tổ chức lại như thế nào để không loại trừ các hộ chăn nuôi cũng là một thách thức, mà cần tới việc nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình các hợp tác xã (như một số hợp tác xã vẫn đang trụ lại được trong bão dịch này cho thấy khả năng đảm bảo các nguyên tắc an toàn sinh học nếu các hộ chăn nuôi được liên kết, tổ chức tốt). Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới, mà theo ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi phải mời các nhà khoa học, nhà quản lý, thảo luận để đề ra một chiến lược mới.  Doanh nghiệp vào cuộc cùng viện trường  Song song với các doanh nghiệp, phía các viện trường cũng đang dốc toàn lực đẩy nhanh các nghiên cứu hòng đánh giá toàn diện về dịch tả lợn châu Phi. Tại Hội nghị, GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, từ khi có dịch, trường đã triển khai hàng loạt nghiên cứu ở các khía cạnh: dịch tễ học bệnh lý và các phương pháp chẩn đoán, nghiên cứu môi trường, giải trình tự gene, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách và nghiên cứu vaccine dịch tả lợn châu Phi. Giữa những nghiên cứu đó, công trình nghiên cứu vaccine vô hoạt của Học viện do PGS.TS Lê Văn Phan và cộng sự tiến hành đã có kết quả khả quan bước đầu.  PGS.TS Lê Văn Phan cho biết, loại vaccine này đã được kiểm tra các chỉ tiêu vô trùng, an toàn, hiệu lực trong phòng thí nghiệm. Qua đánh giá trong phòng thí nghiệm, sau 21 ngày theo dõi cho thấy lợn được tiêm phòng an toàn và có một số tín hiệu tốt về hiệu lực vaccine. Thử nghiệm vaccine ngoài thực địa (trên cả lợn nái, lợn thịt tại ba địa điểm ở Thái Bình) cũng cho thấy lợn được tiêm hoàn toàn khỏe mạnh sau hơn hai tháng theo dõi, mặc dù lợn của các hộ chăn nuôi xung quanh đó không được tiêm phòng vẫn mắc dịch.    PGS.TS Lê Văn Phan (bìa phải), trưởng nhóm nghiên cứu vaccine phòng dịch tả lợn châu Phi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đang trao đổi cùng đoàn công tác của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường về việc thử nghiệm vaccine. Ảnh: NVCC.  Tuy nhiên, PGS.TS Lê Văn Phan cho biết, những kết quả ban đầu này chưa nói lên được điều gì bởi vẫn còn cần phải tiến hành nghiên cứu lặp lại ở nhiều đối tượng, trong thời gian dài, có thể lên tới vài năm, mới có được sản phẩm vaccine đưa ra thị trường. Có thể trong quá trình “thử và sai” này, các nhà nghiên cứu sẽ gặp nhiều rủi ro mà “nếu thành công thì rất vinh quang, nếu không thành công thì cũng có rất nhiều hệ lụy”, GS. TS Nguyễn Thị Lan chia sẻ.  Việc có những tín hiệu ban đầu trong nghiên cứu vaccine dịch tả lợn châu Phi không phải là “may mắn ngẫu nhiên”. Ngay từ những ngày đầu, chính nhóm nghiên cứu của PGS.TS Lê Văn Phan và cộng sự ở Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu phát hiện ra dịch bệnh và sau đó có công bố quốc tế đầu tiên về chủng virus này ở Việt Nam. Phòng thí nghiệm này cũng là một trong những nơi tiên phong nghiên cứu dịch bệnh mới nổi và có nhiều kinh nghiệm hợp tác quốc tế với những đơn vị nghiên cứu mạnh, dày dặn trong nghiên cứu vaccine.  Để vượt qua được chặng đường mạo hiểm đó, cơ quan nghiên cứu cũng không thể độc hành mà cần sự hỗ trợ của nhà nước và doanh nghiệp. Cho dù hiện nay nhà nước đã có quyết định thành lập hệ thống đề tài cấp quốc gia, cấp bộ về dịch tả lợn châu Phi và giao cho các nhà khoa học thực hiện, nhưng nếu sản phẩm chỉ dừng lại ở cánh cửa phòng thí nghiệm, thì sẽ có thể không bao giờ có được vaccine tới tận chuồng trại. Do đó, các trường cần nhận được sự hỗ trợ, liên kết của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y để tiến hành các bước tiếp theo.  Tuy nhiên, thái độ của các doanh nghiệp Việt Nam đều rất ngập ngừng trước khả năng hợp tác khi đều cho rằng nghiên cứu loại vaccine này khó thành công, vì đến nay chưa có quốc gia nào trên thế giới làm được. Thậm chí, Giám đốc Công ty Chăn nuôi Thái Dương bi quan cho rằng, có khi 10 năm tới vẫn còn chưa có vaccine.  Tình huống này cho thấy, việc liên kết tìm ra vaccine dịch tả châu Phi cần niềm tin của các bên. May mắn là điều đó đã xuất hiện từ các cơ quan quản lý nhà nước, “Bộ KH&CN khẳng định có tiền rồi, vấn đề là có đề cương lên hội đồng duyệt là triển khai thôi”, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến nói. Tới đây, Bộ NN&PTNT, Bộ KH&CN và Ủy ban KHCN và Môi trường Quốc hội sẽ họp bàn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quản lý nghiên cứu, sao cho tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà khoa học để sớm tìm ra vaccine. Vì vậy, ông Nguyễn Xuân Cường đã mời gọi các công ty lớn “nhảy vào cuộc” để liên kết với các nhà khoa học cùng tiến hành các thử nghiệm ở quy mô lớn hơn. Ông cho biết tới đây sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề để các công ty lớn có thể lắng nghe các nhà khoa học, thảo luận sâu hơn về các nghiên cứu này.  Trước dịch nghiêm trọng như tả lợn châu Phi và các dịch bệnh mới nổi khác, chỉ có tiến hành các nghiên cứu bài bản, tổng thể, với một chiến lược đầu tư nghiêm túc mới đưa ra được các giải pháp bền vững. Chẳng hạn, “nếu các nước khác nghiên cứu được vaccine rồi thì chúng ta cũng có thể nhập khẩu về, nhưng để biết có tác dụng hay không cũng cần nghiên cứu chủng virus để kiểm nghiệm và đánh giá để biết vaccine nào phát huy tác dụng, ngay cả việc nghiên cứu trình tự gene vẫn cần được tiếp tục để xác định xem có chủng virus nào khác xâm nhập vào Việt Nam hay không”, GS. TS Nguyễn Thị Lan nói.  Tại cuộc họp này, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết sẽ yêu cầu các cơ quan quản lý của bộ này tổng hợp bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp chăn nuôi lớn để biên soạn thành tài liệu và nhanh chóng gửi đi các cơ sở chăn nuôi, đặc biệt là các cơ sở nhỏ lẻ, để các trại này học tập. Trong bối cảnh có thể chưa biết hết những con đường truyền lây của dịch bệnh này, thì việc học kinh nghiệm này cũng có thể giúp các trại khác “cố giữ được đến đâu tốt đến đó”. Mặt khác, ông cũng chỉ đạo nghiên cứu phương án để gỡ khó lệnh cấm chuyển lợn nếu như doanh nghiệp vận chuyển lợn được chứng nhận an toàn và chở bằng xe đặc chủng.  Theo khoahocphattrien.vn    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phòng thí nghiệm VATLY, một hình mẫu về xây dựng nhóm nghiên cứu      Sau khoảng 15 năm hoạt động dưới sự lãnh đạo  của GS. Pierre Darriulat, Phòng thí nghiệm VATLY (Vietnam Astrophysics  Training LaboratorY – VATLY) đã trở thành một hình mẫu điển hình về xây  dựng nhóm nghiên cứu, hướng đến làm khoa học thực sự với chất lượng, uy  tín quốc tế.    Nói đến Phòng thí nghiệm VATLY là nói đến sự dày công xây dựng và tâm huyết của GS. Pierre Darriulat. GS. Pierre Darriulat sinh năm 1938 tại Paris, Pháp, học Đại học Bách khoa Paris (Ecole Polytechnique) năm mười tám tuổi. Sau hai năm phục vụ quân ngũ cho Hải quân Pháp, ông làm nghiên cứu sinh tại Đại học Paris XI và nhận bằng tiến sĩ năm 27 tuổi. Trong những năm đầu làm khoa học, ông nghiên cứu vật lý hạt nhân tại Trung tâm nghiên cứu Saclay (Pháp) và Đại học California, Berkeley (Hoa Kỳ). Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu vật lý hạt và dành hầu hết sự nghiệp tại Trung tâm Hạt nhân châu Âu (CERN, Geneva). Với những thành công và đóng góp cho ngành vật lý, GS. Pierre Darriulat đã nhận nhiều giải thưởng: Giải Joliot Curie năm 1973, “Giải thưởng lớn” của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (Grand Prix de l’Académie des Sciences) và được bầu là Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp năm 1986, Giải Commissariat à l’Energie Atomique năm 1987. Từ năm 1987 đến 1994, ông đảm nhiệm chức vụ Giám đốc nghiên cứu của CERN. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu vật lý chất rắn, nghiên cứu hiện tượng siêu dẫn của màng mỏng niobi. Những công trình nghiên cứu của GS. Pierre được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận và ông đã được mời thỉnh giảng tại các trường đại học uy tín như Harvard và Cambridge. Ông đã hai lần được mời trình bày báo cáo toàn thể tại hội nghị quan trọng nhất trong lĩnh vực Vật lý hạt (Leipzig năm 1984 và Glasgow năm 1994), tổ chức hai năm một lần. Ngoài ra ông còn được mời làm chủ tịch của nhiều ủy ban làm việc với những vấn đề như chính sách khoa học…  Năm 1997, GS. Pierre Darriulat được trao bằng Tiến sỹ danh dự tại Đại học Pavia – một trong những đại học danh tiếng và lâu đời nhất châu Âu, và được trao tặng Huân chương “Bắc đẩu Bội tinh” bậc Hiệp sỹ – huân chương cao quý nhất của Cộng hòa Pháp với những cống hiến cho khoa học của mình. Năm 2008, ở tuổi 70, GS. Pierre Darriulat một lần nữa được vinh danh với Giải thưởng André Lagarrigue trao cho các nhà khoa học đi tiên phong trong việc chế tạo và khai thác thành công các thiết bị khoa học lớn như máy gia tốc, hệ thiết bị đo tại các phòng thí nghiệm của Pháp và cộng đồng quốc tế có Pháp tham gia.  Trong thời gian sống và làm việc ở Việt Nam, không chỉ đóng góp cho việc xây dựng phòng thí nghiệm và đào tạo nhóm nghiên cứu, GS. Pierre Darriulat rất tích cực hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học thông qua trao đổi và viết báo. Ông đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Kỷ niệm chương “Vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ” năm 2007, được Chính phủ tặng Huân chương Hữu Nghị tại Lễ trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2014.  Phòng thí nghiệm về tia vũ trụ đầu tiên tại Việt Nam   Khởi nguồn từ tình yêu đặc biệt đối với Việt Nam, GS. Pierre Darriulat đã quyết định sống cùng người vợ Việt tại Hà Nội từ năm 1999. Nhờ sự giới thiệu của GS. Jean Trần Thanh Vân cùng sự ủng hộ nhiệt tình của TS. Võ Văn Thuận (lúc đó là Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, nay là cố vấn Chương trình Năng lượng hạt nhân), GS. Pierre Darriulat bắt đầu xây dựng Phòng thí nghiệm Vật lý tia vũ trụ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân. Với mong muốn xây dựng một phòng thí nghiệm có nhóm nghiên cứu đạt trình độ quốc tế, thúc đẩy giảng dạy và nghiên cứu khoa học cơ bản tại Việt Nam, Giáo sư đã mang về những trang thiết bị từ những thí nghiệm đã được hoàn thành tại CERN cùng sự ủng hộ rất lớn của hai nhà vật lý là GS. Jim Cronin và GS. Alain Watson, cha đẻ của Đài thiên văn Pierre Auger, tiến tới thành lập Phòng thí nghiệm Đào tạo Việt Nam Auger (Vietnam Auger Training LaboratorY – VATLY) nghiên cứu về tia vũ trụ đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2001.   Những năm qua, Phòng thí nghiệm thực hiện các nghiên cứu thông qua đào tạo, bắt đầu từ các sinh viên làm luận văn đại học rồi đến luận văn cao học và luận án tiến sĩ. Ngày đầu thành lập, Phòng thí nghiệm chỉ có hai cử nhân và một kỹ sư làm việc với GS. Pierre Darriulat nhưng đến nay đã có bốn tiến sỹ, một nghiên cứu sinh và một học viên cao học. Kết quả đạt được luôn song hành với những thí nghiệm, thực nghiệm tại Việt Nam, điển hình như: xây dựng các hệ đo thông lượng, phân bố góc thiên đỉnh hay độ bất đối xứng đông tây của muon tại Hà Nội với ba công bố quốc tế trên Nuclear Physics B năm 2002-2004. VATLY cũng tiến hành hợp tác nghiên cứu với một số phòng thí nghiệm ở nước ngoài như Viện Nghiên cứu Hạt nhân Orsay, Đại học Paris 6 hay Phòng thí nghiệm gia tốc tuyến tính Pháp trong khuôn khổ hợp tác với Đài thiên văn Pierre Auger.   Đặc biệt, trong khuôn khổ hợp tác với Đài thiên văn Pierre Auger (thí nghiệm lớn nhất trên thế giới nghiên cứu về tia vũ trụ, bao phủ hơn 3.000 km2 trên cao nguyên Argentina), VATLY đóng góp 10 bài báo trong tập san nội bộ của đài thiên văn này và là đồng tác giả của 43 công bố quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu tia vũ trụ năng lượng siêu cao, trong đó có bài báo về phát hiện mối quan hệ giữa nguồn phát của các tia vũ trụ này và các tâm thiên hà hoạt động, đăng trên tạp chí Science và được bình chọn là một trong 10 sự kiện vật lý của Hội Vật lý Mỹ năm 2007. VATLY cũng xây dựng các hệ thí nghiệm để đo đạc thời gian sống của muon hay mưa rào khí quyển diện rộng tại Hà Nội sử dụng phiên bản giống như detector mặt đất của Đài thiên văn Pierre Auger.  Năm 2010 là thời kỳ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của vật lý thiên văn vô tuyến trên thế giới với các đài thiên văn vô tuyến lớn và hiện đại nhất đi vào hoạt động, GS. Pierre Darriulat đã mua bằng kinh phí cá nhân một chiếc kính thiên văn vô tuyến loại nhỏ có đường kính 2,6 mét ghi nhận vạch phổ hydro có bước sóng 21 cm để phòng thí nghiệm VATLY có thể bắt đầu đào tạo và nghiên cứu thiên văn vô tuyến. Kính thiên văn vô tuyến nhỏ này rất phù hợp với điều kiện tại Hà Nội khi khó có thể sử dụng kính thiên văn quang học để nghiên cứu thiên văn do mây che phủ. Cũng từ đây, hướng nghiên cứu của Phòng thí nghiệm dần chuyển sang một hướng mới, đó là thiên văn vô tuyến.   Sau ba năm vận hành kính thiên văn vô tuyến, nghiên cứu về hoạt động của Mặt trời cũng như vẽ bản đồ hydro trong đĩa của Dải Ngân hà của Phòng thí nghiệm đã có hai bài báo công bố trên tạp chí Communication in Physics và hai bài đăng trên Solar Physics và tạp chí của Hội Thiên văn Úc. Phòng thí nghiệm vẫn tiếp tục hướng dẫn hai nghiên cứu sinh thực hiện theo hướng đồng hướng dẫn kết hợp với Đại học Paul Sabatier (Toulouse) và Đài thiên văn Paris nghiên cứu sự hình thành sao (RS Cnc) và sự hình thành và tiến hóa của các thiên hà (RX J0911) thời kỳ đầu của vũ trụ sử dụng hệ kính giao thoa vô tuyến của Đài thiên văn Plateau de Bure và Đài thiên văn ALMA.    Năm 2014, Phòng thí nghiệm chính thức đổi tên thành Vietnam Astrophysics Training LaboratorY, vẫn sử dụng tên viết tắt là VATLY, tuy nhiên tên tiếng Việt là Phòng thí nghiệm Đào tạo Vật lý thiên văn Việt Nam để nhấn mạnh định hướng nghiên cứu thiên văn vô tuyến của phòng. Cũng trong năm này, Phòng thí nghiệm có ba công bố quốc tế trên các tạp chí hàng đầu về thiên văn vô tuyến.   Ngôi nhà mới của VATLY  Đối với GS. Pierre Darriulat, người lãnh đạo phòng thí nghiệp VATLY, ngoài việc tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi với các trang thiết bị, phương tiện nghiên cứu tương đối hiện đại cùng các mối quan hệ hợp tác tốt với các phòng thí nghiệm hàng đầu trên thế giới, ông luôn tôn trọng và đặt niềm tin vào các thành viên trẻ. Đặc biệt, Giáo sư luôn quan tâm đến đời sống của họ và ông cố gắng tìm nguồn tài chính hỗ trợ từ bên ngoài để họ có thể yên tâm dành toàn bộ thời gian cho khoa học. Các thành viên của Phòng thí nghiệm VATLY, những học trò của GS. Pierre Darriulat, gọi Giáo sư là Bác Pierre không chỉ thể hiện sự kính trọng đối với một nhà khoa học lớn mà còn thể hiện sự quý mến ông như một người thầy tận tụy và luôn quan tâm đến học trò của mình.  Tính đến nay, dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo của GS. Pierre Darriulat, Phòng thí nghiệm VATLY đã đào tạo được sáu tiến sĩ, chín thạc sĩ và 12 sinh viên làm luận văn tốt nghiệp tại đây. Không chỉ đóng góp vào công việc đào tạo trực tiếp tại phòng thí nghiệm, GS. Pierre Darriulat và một số thành viên của VATLY còn tham gia giảng dạy đại học, cao học, hướng dẫn sinh viên một số trường đại học, các lớp học mùa hè tại Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn và TP Hồ Chí Minh.   Sau 15 năm hình thành và phát triển, Phòng thí nghiệm VATLY là một điển hình cho việc phát triển nhóm nghiên cứu xây dựng trên việc đào tạo thông qua công việc nghiên cứu sử dụng các trang thiết bị thí nghiệm tại Việt Nam để trang bị, nâng cao kiến thức, hợp tác nghiên cứu với các phòng thí nghiệm tiên tiến ở châu Âu, Mỹ, Nhật và khai thác sử dụng các số liệu đài thiên văn hay thí nghiệm lớn trên thế giới. Ở đây, định hướng phát triển không chỉ tốt về mặt chuyên môn mà còn là sự quan tâm đến cuộc sống cũng như sự phát triển đối với từng thành viên trong phòng thí nghiệm của GS. Pierre Darriulat trên cương vị của một người thầy, người lãnh đạo.   Để phù hợp với hướng nghiên cứu hiện nay, cũng như đóng góp được nhiều hơn cho khoa học của đất nước, đầu năm 2015, VATLY sẽ chuyển sang Trung tâm Vệ tinh Quốc gia (Vietnam Space Center – VNSC) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ngoài ra, chương trình hợp tác với Nhật Bản VNSC cũng là cơ hội tốt để VATLY có thể tham gia và đóng góp cho sự hợp tác này về phía Việt Nam.   Tại buổi gặp mặt chia tay Viện Năng lượng nguyên tử để sang VNSC, các thành viên của VATLY cũng như GS. Pierre Darriulat đã ôn lại những kỷ niệm khó quên trong thời gian làm việc tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân và gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Viện qua các thời kỳ đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện hết sức về mặt tinh thần cũng như tài chính cho công việc nghiên cứu của Phòng thí nghiệm. Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam cũng chúc Giáo sư và nhóm VATLY tiếp tục giữ được đam mê tâm huyết khoa học và có nhiều kết quả tốt trong nghiên cứu ở vị trí công tác mới.             GS. Pierre Darriulat là người từng lãnh đạo  nhiều thí nghiệm, một trong số đó được công nhận là thí nghiệm quan  trọng góp phần vào sự tiến bộ của vật lý trong nửa sau thế kỷ XX. Giáo  sư Pierre chính là người phát ngôn của thí nghiệm UA2, một trong hai thí  nghiệm đồng thời phát hiện các hạt boson truyền tương tác yếu và cũng  là thí nghiệm đưa ra bằng chứng cho sự phát ra các hạt quark và gluon  dưới dạng các tia hadron.                     Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương pháp luận cho các chỉ tiêu của chiến lược KH&CN      Việc đặt ra những mục tiêu định lượng trong Chiến lược phát triển  KH&amp;CN giai đoạn 2011-2020 (Chiến lược) đã cung cấp một trong những  cơ sở quan trọng để theo dõi, giám sát, đánh giá tiến trình thực hiện  Chiến lược. Tuy nhiên, một số mục tiêu đó còn chưa gắn với thực tiễn,  thậm chí còn thiếu cả tính thực tiễn lẫn lý luận, hoặc chưa có những  tiêu chí cụ thể làm cơ sở đánh giá, đo lường, điển hình như:      Đối với việc phát triển, nâng cấp các tổ chức nghiên cứu KH&CN, chúng ta đặt mục tiêu “đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ” (đến năm 2020 mục tiêu đặt ra là hình thành 60 tổ chức như vậy). Được biết việc thực hiện mục tiêu này bao gồm hai bước, một là xây dựng các tiêu chí (các tổ chức nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng sẽ được đánh giá theo những hệ tiêu chí khác nhau) làm cơ sở xem xét liệu một tổ chức nghiên cứu có đạt trình độ khu vực và thế giới hay không, hai là trên cơ sở đó xác định những tổ chức đã đạt trình độ khu vực và thế giới, hoặc chọn ra những tổ chức gần đạt tiêu chuẩn này để Nhà nước đưa ra chính sách hỗ trợ, tạo một cú hích cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển lên tầm khu vực. Tuy nhiên, đến nay khi năm 2015 đã cận kề, chúng ta vẫn chưa có được các tiêu chí cần thiết để đánh giá một tổ chức nghiên cứu như thế nào thì đạt trình độ khu vực và thế giới, khiến việc hình thành 30 tổ chức như mục tiêu đặt ra là điều hầu như không thể làm được.  Đối với hoạt động KH&CN ứng dụng trong thực tiễn phát triển kinh tế, một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra là “đến năm 2020, khoa học và công nghệ góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP.” Việc tính toán ước lượng tổng giá trị của phẩm công nghệ cao không phải là vấn đề khó khăn. Nhưng với khái niệm sản phẩm ứng dụng công nghệ cao thì cần phân biệt công nghệ cao đó là của nước ngoài hay của Việt Nam (do phía Việt Nam tự sáng tạo hoặc tiếp thu và làm chủ từ công nghệ nước ngoài), và phải làm rõ hàm lượng công nghệ cao trong sản xuất ra sản phẩm – có những sản phẩm có tổng giá trị kinh tế rất lớn, ví dụ như các loại sản phẩm khai khoáng có tổng giá trị cao nếu khối lượng khai thác rất lớn, trong khi hàm lượng công nghệ cao bên trong thì rất nhỏ. Việc làm rõ những thông số này là việc không dễ dàng, thậm chí không thể làm được bởi chưa có phương pháp luận. Mà như vậy thì kết quả đo lường thu được sẽ không có ý nghĩa đáng kể trong việc phản ánh nội lực của Việt Nam về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh tế.  Có thể thấy, cùng với việc đặt ra các mục tiêu định lượng cho Chiến lược là điều hết sức cần thiết phục vụ cho công tác đánh giá tiến trình thực hiện,  việc xây dựng phương pháp luận tính toán các chỉ tiêu của Chiến lược phải được hoàn thiện ngay từ khi các chỉ tiêu được công bố. Thậm chí, chúng ta phải áp dụng và tính toán thử để biết rõ hiện trạng, từ đó mới đặt ra mục tiêu phấn đấu được thể hiện trong Chiến lược.                                                                                                                                            TIA SÁNG                    Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương tây đang tụt hậu trong đầu tư cho nghiên cứu      Châu Á đã vượt Bắc Mỹ và châu Âu về đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Điều đáng mừng là chi phí cho nghiên cứu trên thế giới nhìn chung tăng.    Sự giầu có của các quốc gia phương tây ngày nay dựa phần lớn vào sự đầu tư mạnh mẽ cho các khâu nghiên cứu và phát triển trong quá khứ. Silicon Valley là một thí dụ tốt nhất về việc người ta đã biến những ý tưởng thành sản phẩm cụ thể như thế nào – và từ đó tạo cơ sở cho sự hình thành các doanh nghiệp làm ăn phát đạt.      Điều này cũng diễn ra với Hewlett-Packard, Intel, Apple hay Sun Microsystems, Netscape, Google – những doanh nghiệp tạo nên những lĩnh vực mới hoặc cải tạo, thay đổi những cái cũ kỹ lạc hậu.     Nhưng thế giới phương tây lại đang bị tụt hậu. Theo một nghiên cứu của Battelle Memorial Institute, một tổ chức công ích của Mỹ về nghiên cứu theo hợp đồng, thì châu Á đã vượt Bắc Mỹ và châu Âu về đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Năm 2013, nhà nước và các doanh nghiệp Bắc Mỹ đầu tư 479 tỷ đôla. Ở Châu Á, khoản đầu tư này là 555 tỷ đôla. Châu Âu lẹt đẹt theo sau với 364 tỷ đôla, trong đó nước Đức đóng góp phần lớn nhất, 92 tỷ đôla, xếp hàng thứ tư trên thế giới.      Nạn lạm phát ngoạm một phần khoản đầu tư thực tế của Mỹ và châu Âu vào nghiên cứu. Ngược lại, Trung Quốc đầu tư mạnh mẽ trong cuộc cạnh tranh quốc tế về đổi mới và sáng tạo. Điều đáng mừng là chi phí cho nghiên cứu trên thế giới nhìn chung tăng. Nhưng trong khi đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ở châu Á tăng mạnh mẽ thì ở Bắc Mỹ chỉ tăng một cách khiêm tốn còn châu Âu thậm chí trì trệ, dậm chân tại chỗ – tổng ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển của Châu Âu năm 2011 tăng 5,4%, trong khi mức tăng của cả thế giới là 9,6%.      Trung Quốc không chỉ áp dụng chiến lược tư bản nhà nước mà còn được hưởng lợi từ chi phí nghiên cứu của phương Tây. Thí dụ, với những công nghệ hàng đầu (được trợ cấp ngân sách để nghiên cứu), nhưng nhà tài trợ phương tây không đủ tiền hay thiếu sự kiên quyết, dũng cảm để hoàn tất, các tập đoàn của Trung Quốc sẽ bỏ tiền ra mua lại. Chẳng hạn, tập đoàn năng lượng của Trung Quốc Hanergy Holding đã mua với giá rẻ doanh nghiêp đi tiên phong về quang điện Miasolé ở California. Hãng cung cấp phụ tùng ô tô Wanxiang không những mua được Know-how rất có giá trị của hãng sản xuất ắc-quy Mỹ A123 Systems trong tình trạng bị phá sản mà còn mua luôn cả bạn hàng cũ của công ty này là nhà sản xuất ô tô chạy điện Fisker.     Những việc làm của các doanh nghiệp Trung Quốc đều chính đáng và các doanh nghiệp phương tây lý ra cũng có thể hành xử như vậy. Nhưng những nhà quản lý của các doanh nghiệp này lại thường có xu hướng muốn thu lợi tức thì trong khi các chủ sở hữu Trung Quốc lại có xu hướng nhìn xa và chấp nhận khoản lợi nhuận eo hẹp ban đầu. Nhờ vậy mà tập đoàn Lenovo (từng tiếp nhận mảng kinh doanh PC của IBM và gần đây nhất là tiếp nhận Motorola-Handy của Google) đã trở thành nhà sản xuất PC lớn nhất thế giới. Chuyên gia phân tích kỹ thuật có uy tín người Mỹ Mark Anderson tin rằng rồi đây cả mảng Smartphone và Tablet sẽ rơi vào tay người Trung Quốc vì cả Apple và Samsung về lâu dài sẽ không thể trụ vững trước đối thủ cạnh tranh Trung Hoa.     Còn nếu họ (người Trung Quốc) không mua được Know-how, Anderson nói tỉnh queo, thì họ sẽ bắt chước. Từ đó lại dư tiền để phục vụ đầu tư nghiên cứu ở các lĩnh vực khác. Vì thế các nhà điều hành ở Silicon Valley không khỏi lo lắng khi thấy Trung Quốc có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ đổi mới sáng tạo. Thí dụ trong lĩnh vực Internet: Nhiều công ty của Trung Quốc sao chép mô hình kinh doanh online từ Silicon Valley. Song ngược lại, các tập đoàn nước ngoài có mặt ở Trung Quốc quá lắm chỉ có thể hoạt động dưới dạng đối tác cấp thấp (Junior partner) .     Giờ đây ngành Internet khu vực hoàn toàn nằm trong tay người khổng lồ bản xứ, gã khổng lồ đó nhờ có sức mạnh tài chính thả sức thu gom các thị trường mới trên thế giới, thí dụ như ở Silicon Valley và ở châu Âu.      Cái vòng kim cô đã khép lại như vậy – và sự phồn vinh thì dịch chuyển.     Xuân Hoài dịch       Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương thức bảo lãnh tín dụng công nghệ của KOTEC      KOTEC đóng vai trò như tổ chức tín dụng của nhà nước hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp phục vụ tăng trưởng xanh, các doanh nghiệp công nghệ xanh xuất sắc, các nhà xuất khẩu nhỏ và vừa, và các doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây được coi là những doanh nghiệp có vai trò tiên phong trong tạo công ăn việc làm mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia trong tương lai.      Vai trò và phương thức hoạt động của KOTEC  Trước năm 2005, KOTEC chỉ là một trong vài tổ chức cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc – ngoài KOTEC ở Hàn Quốc còn có KODIT (Quỹ Bảo lãnh Tín dụng Hàn Quốc) và 16 quỹ bảo lãnh tín dụng cấp địa phương – và hệ thống thẩm định, xếp hạng tín dụng của KOTEC cũng không khác gì so với những tổ chức cấp bảo lãnh khác, với cách tiếp cận dựa trên hồ sơ tín dụng trong quá khứ của các doanh nghiệp có nhu cầu được cấp bảo lãnh, và khác biệt duy nhất của KOTEC khi đó là sự ưu tiên dành cho các doanh nghiệp công nghệ. Phương thức hoạt động này khiến có nhiều khoản bảo lãnh rơi vào những doanh nghiệp và dự án không có khả năng trả nợ.  Sau năm 2005, việc triển khai hệ thống thẩm định công nghệ KTRS (Kibo Technology Rating System) đã giúp KOTEC giảm được tỷ lệ bảo lãnh cho những doanh nghiệp không thanh toán được nợ, từ mức 10,1% của năm 2005 xuống còn 6,1% trong năm 2006, và duy trì quanh mức 5% cho tới nay. Tỷ lệ này có thể coi là thấp so với tỷ lệ default của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, thường trong khoảng 5,4 – 7,4%1.    Giá trị và cơ cấu bảo lãnh qua các năm (Đơn vị: 100 triệu won, %)            Năm      2009      tỷ lệ %      2010      tỷ lệ %      2011      tỷ lệ %          Tổng giá trị bảo lãnh đã cấp      175.713      100      169.336      100      166.271      100          Các doanh nghiệp   công nghệ      160.983      91,6      156.494      92,4      154.808      93,1          Các doanh nghiệp   có vốn đầu tư mạo hiểm      118.128      67,2      109.967      64,9      109.895      66,1          Các doanh nghiệp   công nghệ mới      95.746      54,5      89.697      53      85.102      51,2          Các doanh nghiệp   khởi nghiệp      65.772      37,4      64.504      38,1      66.527      40          Tổng giá trị bảo   lãnh có đánh giá công nghệ      149.282      85      151.181      89,3      151.914      91,4          Tổng dư nợ bảo lãnh cuối kỳ      171.448             174.261             173.154                   Trong vai trò là nhà cung cấp bảo lãnh, KOTEC phải có đủ vốn để đảm bảo thanh toán  mọi khoản nợ của doanh nghiệp được bảo lãnh trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ. Nhìn chung, KOTEC được nhận nguồn kinh phí từ Chính phủ và từ nguồn phí bảo lãnh được trả bởi các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp được bảo lãnh. Tuy nhiên, kể từ năm 2010 đến nay, KOTEC không cần đến nguồn tiền từ Chính phủ, và hoàn toàn tự chủ nhờ vào nguồn phí bảo lãnh.   Những doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa không vay được vốn theo các kênh tài chính thông thường (thường là do thiếu tài sản thế chấp) có thể tiếp cận KOTEC để được KOTEC thẩm định và xếp hạng. Những doanh nghiệp được xếp hạng B hoặc cao hơn sẽ được KOTEC cấp bảo lãnh. Bảo lãnh của KOTEC thường dành cho các khoản vay có mục đích nhằm đổi mới và thương mại hóa công nghệ, đồng thời bao gồm cả mục đích chi trả cho chi phí vận hành và trang thiết bị. Trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn không trả được nợ, KOTEC sẽ trả thay cho ngân hàng, và tìm cách phục hồi nguồn tiền từ các tài sản còn lại của doanh nghiệp.  Để đảm bảo hiệu quả của các khoản bảo lãnh KOTEC tập trung vào việc giám sát trước trong và sau khi các doanh nghiệp thực hiện khoản vay. Việc đánh giá tình hình doanh nghiệp hằng năm được tiến hành chặt chẽ sẽ giúp cho KOTEC quyết định gia hạn thời hạn bảo lãnh hoặc hủy bỏ thời hạn bảo lãnh tùy vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp.   Thúc đẩy tăng trưởng xanh        Với những doanh nghiệp hoạt động yếu kém, những doanh nghiệp chỉ đạt đánh giá hạng CCC thì KOTEC sẽ tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp. Nhờ quá trình tái cấu trúc này mà trong năm 2011 KOTEC đã thu hồi được 162.2 tỷ won khoảng 22.5% trong tổng số 719.4 tỷ won cần tái cấu trúc. Khoản tiền thu lại này lại được tái bảo lãnh cho 932 doanh nghiệp khởi nghiệp mới.        Một trong những mục tiêu của KOTEC là hỗ trợ cho các chính sách phát triển của Chính phủ Hàn Quốc, điển hình như chương trình tầm nhìn quốc gia hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xanh với tên gọi “Tăng trưởng xanh ít Carbon”. KOTEC là tổ chức tài chính duy nhất làm công tác thẩm định và cấp chứng chỉ công nghiệp xanh cho các doanh nghiệp. Có tới 65% tổng số doanh nghiệp có chứng chỉ công nghiệp xanh của Hàn Quốc giành được sự hỗ trợ từ KOTEC. Trong 3 năm từ 2011 tới 2013, dự kiến KOTEC cấp bảo lãnh cho ngành công nghiệp xanh với tổng giá trị là 10 nghìn tỷ won (9,24 tỷ USD).   Những doanh nghiệp có chứng chỉ công nghệ xanh hoặc doanh nghiệp xanh có thể đăng ký mức bảo lãnh tối đa là 7 tỷ won (6,49 triệu USD) cho mỗi doanh nghiệp. Ngoài ra, các công ty công nghệ xanh có chứng chỉ xuất sắc còn nhận được sự hỗ trợ đặc biệt của KOTEC qua hình thức “Bảo lãnh Đặc biệt cho Công nghệ Xanh Hi-tech”. Năm 2011, 787 doanh nghiệp thuộc diện này đã được KOTEC tài trợ hơn 500 tỷ won (460 triệu USD), thông qua các hình thức hỗ trợ đa dạng, như tăng định mức bảo lãnh tính theo số lượng các chuyên gia công nghệ xanh của doanh nghiệp (30 triệu won tính trên mỗi đầu chuyên gia), độ tuổi và trình độ chuyên gia, hỗ trợ chi phí R&D và chi phí đăng ký sở hữu công nghiệp.     Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp  Những doanh nghiệp khởi nghiệp trong vòng 5 năm đầu tiên có thể đăng ký xin bảo lãnh từ KOTEC. Tỷ trọng bảo lãnh tín dụng cho những doanh nghiệp này tăng từ 37.4 % tổng giá trị bảo lãnh của KOTEC năm 2009, lên 38.1% vào năm 2010, và đạt 40% trong năm 2011 với tổng giá trị bảo lãnh đạt 6,65 nghìn tỷ won (5.3 tỷ USD).        KOTEC tổ chức chương trình Khám  phá doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp với tần suất 2 lần trong 1 năm nhằm  giúp khám phá và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp mới. Chương trình  đã giúp quảng bá và hỗ trợ được 7.600 doanh nghiệp khởi nghiệp.              ——————-              Trong  năm 2011 KOTEC cũng bắt đầu triển khai chương trình Bảo lãnh đặc biệt  cho doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp tập trung vào các doanh nhân trẻ và  giải quyết vấn đề thất nghiệp trong giới trẻ. Tổng tiền hỗ trợ của  chương trình là 91.7 tỷ won (73 triệu USD) cho tổng số 1.225 doanh  nghiệp trẻ.        Với các doanh nghiệp khởi nghiệp (áp dụng với các doanh nghiệp có vốn đăng ký < 30 triệu won, và năm thành lập nhỏ hơn 5 năm) KOTEC đã hỗ trợ giảm tối thiểu số lượng đối tượng yêu cầu đồng bảo lãnh. Với những doanh nghiệp có kết quả báo cáo thẩm định công nghệ hạng BBB hoặc cao hơn, hệ thống đồng bảo lãnh chỉ đòi hỏi sự tham gia của người đại diện doanh nghiệp và người nắm vai trò quản lý chính. Tính trung bình, số lượng người liên quan hệ thống đảm bảo tín dụng giảm từ 1.61 người trong năm 2006 xuống chỉ còn 1.12 người trong năm 2011.   KOTEC cũng thiết kế các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp bao gồm các hoạt động cố vấn kinh doanh và bảo lãnh tín dụng để đảo bảo các doanh nghiệp tránh được các hoạt động thử và sai do thiếu kinh nghiệm. Người cố vấn doanh nghiệp từ KOTEC sẽ tham gia vào cả các hoạt động quản lý chung cũng như chi tiêu tài chính. Trong năm 2011 KOTEC đã tham gia cố vấn 1.679 trường hợp cho 928 doanh nghiệp khởi nghiệp và bảo lãnh tín dụng 18,8 tỷ won cho 379 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, KOTEC tổ chức chương trình Khám phá doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp với tần suất 2 lần trong 1 năm nhằm giúp khám phá và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp mới. Chương trình đã giúp quảng bá và hỗ trợ được 7.600 doanh nghiệp khởi nghiệp.  Để phù hợp với các doanh nghiệp khởi nghiệp KOTEC đã thiết lập hệ thống bảo lãnh rất linh hoạt, tùy theo đặc thù riêng của các loại doanh nghiệp khởi nghiệp khác nhau như doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp nội dung số về văn hóa giáo dục, doanh nghiệp khoa học và kỹ thuật, doanh nghiệp 40-50 (người chủ doanh nghiệp tuổi từ 40-54 với ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực khởi nghiệp), doanh nghiệp 1 người, doanh nghiệp chế biến. Trong năm 2011 KOTEC cũng bắt đầu triển khai chương trình Bảo lãnh đặc biệt cho doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp tập trung vào các doanh nhân trẻ và giải quyết vấn đề thất nghiệp trong giới trẻ. Tổng tiền hỗ trợ của chương trình là 91.7 tỷ won (73 triệu USD) cho tổng số 1.225 doanh nghiệp trẻ.  Thẩm định và bảo lãnh cho các sản phẩm tri thức và văn hóa  Trong bối cảnh nền kinh tế Hàn Quốc dần chuyển dịch sang các ngành cung cấp sản phẩm, dịch vụ tri thức và văn hóa, KOTEC cũng cân nhắc lựa chọn hỗ trợ những ngành và lĩnh vực sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng tri thức cao, ảnh hưởng lớn về kinh tế. Để nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động thẩm định các sản phẩm, dịch vụ tri thức và văn hóa, KOTEC đã liên tục nỗ lực cải thiện hiệu quả và năng lực thẩm định thông qua đào tạo cán bộ, tìm hiểu đặc thù của ngành, đồng thời xây dựng và phát triển một bộ tiêu chí đặc thù để thẩm định các nội dung văn hóa.            Trong năm 2011 KOTEC đã hỗ trợ 3.317 doanh nghiệp trong ngành dịch vụ tri thức và văn hóa với giá trị bảo lãnh đạt 658.8 tỷ won (526 triệu USD), tương đương 13.3% tổng giá trị bảo lãnh cho các doanh nghiệp trong mọi ngành.        Trong năm 2011 KOTEC đã hỗ trợ 3.317 doanh nghiệp trong ngành dịch vụ tri thức và văn hóa với giá trị bảo lãnh đạt 658.8 tỷ won (526 triệu USD), tương đương 13.3% tổng giá trị bảo lãnh cho các doanh nghiệp trong mọi ngành. Dự kiến sang năm 2013, tỷ lệ này sẽ tăng lên thành 14%. Các lĩnh vực nội dung tri thức và văn hóa điển hình được hỗ trợ bảo lãnh như Game online, điện ảnh, phim truyền hình, phim hoạt hình, game mobile, âm nhạc.   Từ năm 2009, KOTEC bắt đầu cung cấp hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất và đầu tư trong ngành công nghiệp dịch vụ văn hóa, qua hình thức bảo lãnh cho tới khi sản phẩm hoàn thiện. Nghĩa là KOTEC sẽ cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhằm đầu tư sản xuất các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, và một khi các doanh nghiệp này bắt đầu có doanh thu để trả nợ các ngân hàng thì các khoản bảo lãnh sẽ chấm dứt hiệu lực.   Hoạt động hỗ trợ theo hình thức bảo lãnh cho tới khi sản phẩm hoàn thiện được KOTEC thực hiện phối hợp với Bộ Văn hóa Hàn Quốc và ngân hàng Eximbank. Từ những nỗ lực tuyên truyền và quảng bá của KOTEC, ngoài Eximbank, hiện nay Hàn Quốc đã có thêm 4 ngân hàng khác tham gia vào hoạt động cho vay đầu tư sản xuất các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, trong đó có cả Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc. Năm 2011, KOTEC đã cấp bảo lãnh cho tới khi sản phẩm hoàn thiện cho 22 bộ phim và chương trình truyền thông, với tổng giá trị bảo lãnh là 26,1 tỷ won (24,1 triệu USD).  Mô hình bảo lãnh bằng cách vốn hóa tài sản doanh nghiệp có công nghệ xuất sắc  Để đa dạng hóa và phát huy được nhiều hơn nữa các nguồn lực tài chính (không chỉ giới hạn từ ngân hàng) hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, và để huy động được các nguồn vốn dài hạn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, KOTEC đưa ra giải pháp bảo lãnh với chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản của công ty (ABS). Các chứng khoán dạng này thường là trái phiếu doanh nghiệp, có thể phát hành dưới dạng có hoặc không có sự bảo lãnh của KOTEC. Nhờ đó mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể phát hành chứng khoán huy động vốn với các tài sản đảm bảo của công ty được hình thành trong tương lai.         Hỗ trợ Bảo lãnh Đặc biệt cho doanh nghiệp tạo nhiều công ăn việc làm              Các doanh nghiệp công nghệ có tiềm năng tạo ra số lượng việc làm lớn sẽ được KOTEC ưu tiên hỗ trợ đặc biệt, ví dụ như tăng định mức bảo lãnh cho doanh nghiệp 30 triệu won (27710 USD) trên mỗi đầu nhân viên và được phép nhận định mức bảo lãnh cho tối đa 10 người (tương đương 300 triệu won), kết hợp với giảm phí bảo lãnh.        Các công ty dạng này được gọi là các doanh nghiệp có mục đích đặc biệt (SPC). Để được lựa chọn, đó phải là những doanh nghiệp có năng lực công nghệ xuất sắc, được KOTEC xếp hạng công nghệ ở mức BB hoặc cao hơn. Riêng trong năm 2011 KOTEC đã phát hành 300 tỷ won giá trị trái phiếu thông qua hình thức trái phiếu doanh nghiệp đồng bảo lãnh cùng với các công ty chứng khoán (P-CBO). Và kế hoạch dự kiến sẽ phát hành 200 tỷ won giá trị trong năm 2012.  Việc bảo lãnh bằng cách vốn hóa tài sản của doanh nghiệp theo cách trên giúp phân tán rủi ro cho KOTEC, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thu hồi tiền bảo lãnh của KOTEC ngay khi doanh nghiệp có dấu hiệu bị mất khả năng thanh toán nợ.   Hoàn trả phí bảo lãnh cho doanh nghiệp và liên tục giản lược thủ tục  Khoản phí bảo lãnh mà các doanh nghiệp trả cho KOTEC sẽ được hoàn lại nếu doanh nghiệp trả xong nợ trước khi giai đoạn bảo lãnh hết hạn. Điều này vừa giúp tăng thêm nguồn lực cho doanh nghiệp, vừa tạo động lực để doanh nghiệp thanh toán nợ đúng hạn.  KOTEC đã phát triển một hệ thống tự động hoàn trả khách hàng phí bảo lãnh, trong đó doanh nghiệp chỉ phải thông báo một tài khoản cho KOTEC và tiền sẽ tự động được máy tính chuyển vào tài khoản này trong vòng 10 ngày sau khi doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết.    Quy trình nộp báo cáo tài chính và báo cáo thuế của doanh nghiệp cho KOTEC cũng được tiến hành trực tuyến, giảm thời gian thu thập các văn bản và sự phiền hà cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có thể tự in chứng thư phát hành bảo lãnh của KOTEC bằng giấy A4 thông thường, và bản thân thư bảo lãnh có thể được chuyển từ KOTEC tới khách hàng và các đối tượng liên quan thông qua Email.    Hằng năm, KOTEC đều tự cải thiện hệ thống để rút ngắn bớt lượng thời gian cần thiết để cập nhật các thông tin tài chính, bảo lãnh, và thuế của doanh nghiệp vào mạng lưới máy tính của mình.         Thanh Xuân – Đức Phú tổng hợp  ————  1. Bank Financing for SMEs around the World: Drivers, Obstacles, Business Models, and Lending Practic-es, Thorsten Beck, Asli Demirgüç-Kunt, María Soledad Martínez Pería, World Bank, Policy Research Work-ing Paper 4785, November 2008.        Định mức bảo lãnh              Đối với bảo lãnh tín dụng công nghệ, mức bảo lãnh tối đa của KOTEC cho mỗi doanh nghiệp thường là 3 tỷ won (2,78 triệu USD) cho mỗi công ty. Tuy nhiên, KOTEC có thể linh động tăng định mức bảo lãnh, tối đa là 10 tỷ won cho những trường hợp sau:                1.Tối đa 5 tỷ won (4,63 triệu USD)               Bảo lãnh cho các dự án hợp tác nghiên cứu công nghiệp               Bảo lãnh được tăng định mức theo giá trị thẩm định của KOTEC               Bảo lãnh cho các khoản vay mua vật liệu hoặc dịch vụ               Bảo lãnh đặc biệt theo quyết định của chủ tịch KOTEC cho những doanh nghiệp có hàm lượng công nghệ cao                Bảo lãnh thế chấp cho các doanh nghiệp thương mại điện tử               2. Tối đa 7 tỷ won (6,49 triệu USD)               Vay thương mại và vay xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ Ngân hàng Xuất – Nhập khẩu Hàn Quốc               Mở tài khoản L/C để nhập khẩu nguyên liệu thô phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu               Bảo lãnh thế chấp cho các doanh nghiệp thương mại điện tử hoặc Bảo lãnh theo hiệu quả thực hiện Hợp đồng của những doanh nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.               3. Tối đa 10 tỷ won (9,26 triệu USD)              Kinh phí mua trang thiết bị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với điều kiện hợp đồng bảo lãnh sẽ được thanh lý sớm sau khi các ngân hàng chứng khoán hóa những trang thiết bị này.                 Chương trình cố vấn và cấp bảo lãnh đặc biệt của KOTEC cho các doanh nghiệp khởi nghiệp được thiết kế thành 3 giai đoạn:               * Giai đoạn đầu tiên là cố vấn trước khi cấp bảo lãnh tín dụng, đối tượng là những doanh nghiệp sắp thành lập, doanh nghiệp được thành lập dưới 1 năm, hoặc doanh nghiệp chỉ gồm 1 cá nhân được thành lập dưới 3 năm. Trong giai đoạn này, KOTEC sẽ cử chuyên gia đến tư vấn về các hoạt động quản lý doanh nghiệp, đi sâu vào từng bộ phận cụ thể của doanh nghiệp. Nội dung tư vấn là tất cả những thông tin liên quan đến khởi nghiệp một doanh nghiệp, hướng dẫn làm thủ tục để được cấp bảo lãnh, và tư vấn về các giá trị trong kinh doanh.              * Giai đoạn thứ hai là cố vấn doanh nghiệp khởi nghiệp nhận bảo lãnh đặc biệt, đối tượng là các doanh nghiệp khởi nghiệp được thành lập dưới 1 năm, hoặc doanh nghiệp chỉ gồm 1 cá nhân được thành lập dưới 3 năm, đã được KOTEC xếp hạng CCC hoặc cao hơn, chưa từng nhận bảo lãnh của KOTEC hay các tổ chức khác. Gói bảo lãnh cho các doanh nghiệp này cao nhất là 100 triệu won cho mỗi doanh nghiệp (50 triệu won cho vốn lưu động), và nếu cần quá định mức này thì có thể được hỗ trợ qua các gói bảo lãnh khác. Các doanh nghiệp khởi nghiệp được KOTEC giảm 0,5% mức phí bảo lãnh, trong năm được miễn phí bảo lãnh, ngoài ra được miễn trừ các giới hạn áp dụng với doanh nghiệp bị xếp hạng có rủi ro tín dụng, và miễn trừ các điều khoản về đồng bảo lãnh, v.v.              * Giai đoạn thứ ba là cố vấn sau khi nhận bảo lãnh đặc biệt, đối tượng là một số doanh nghiệp được chọn trong số các doanh nghiệp được cấp bảo lãnh. Trong đó, KOTEC sẽ cử những chuyên gia quản lý cao cấp tới tiến hành đánh giá độc lập miễn phí các hoạt động của doanh nghiệp, tư vấn giảm trừ các khó khăn cho doanh nghiệp, và kết nối doanh nghiệp với đội ngũ những chuyên gia có năng lực chuyên sâu khác.            Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương thức chuyển đổi  viện nghiên cứu sang tự chủ      Tại Hội nghị toàn quốc về thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học ông lập, bà Keiko Sato, Phó giám đốc Nhóm Ngân hàng Thế giới đã đưa ra kinh nghiệm cải cách của các viện R&amp;D tại các nước thuộc khu vực Châu Âu và Trung Á (ECA).       Từ một điểm xuất phát chung  Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, các nước đang phát triển ở Châu Âu và Trung Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như: Tỉ lệ giữa đầu tư cho nghiên cứu và phát triển và GDP thấp, nhà nước gần như nắm độc quyền trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và phần lớn kinh phí nghiên cứu dành cho R&D đến từ ngân sách nhà nước, cán bộ nghiên cứu cũng là công chức, viên chức.  Từ một nền khoa học được kế hoạch hóa tập trung như vậy nên hoạt động R&D của các viện nghiên cứu của các nước ECA không gắn liền với doanh nghiêp, không có sự tham gia của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân vào quá trình ra quyết định chiến lược phát triển KH&CN nên các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng không đáp ứng được nhu cầu sản xuất hoặc thị trường. Chính vì vậy, khi bước vào giai đoạn tái cấu trúc hệ thống các viện nghiên cứu, không chỉ giảm quy mô và số lượng của các tổ chức nghiên cứu mà còn thay đổi cơ chế quản lí từ nhà nước bao cấp sang tư nhân hóa, các viện này phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trong đó, nổi bật là sự thiếu hụt về kinh nghiệm thị trường và thiếu một thế hệ các nhà khoa học trẻ năng động bởi đa số họ rời bỏ vị trí tại các nước ECA để làm việc tại các nước Tây Âu hoặc Mỹ trong khi bộ máy quản lí tại các viện nghiên cứu này đã trở nên “lỗi thời” (hầu hết các nhà quản lí khoa học đã quá 50 tuổi và được đào tạo từ nền giáo dục thời Xô-viết).    Minh bạch hóa và thương mại hóa  Một trong những cách giảm quy mô và số lượng của các viện nghiên cứu được áp dụng là sáp nhập các tổ chức nghiên cứu vào hệ thống các trường đại học. Ví dụ như Estonia (hiện nay đang đứng thứ 25/142 thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo) đã đóng cửa hầu hết viện nghiên cứu trực thuộc Xô-viết trước kia (23 viện), ngoại trừ các viện nghiên cứu về hai lĩnh vực thế mạnh của nước này là nông nghiệp và năng lượng. 17 Viện Hàn lâm được sáp nhập vào bốn trường đại học. Hiện nay, nước này chỉ có bảy viện nghiên cứu công lập. Còn tại Cộng hòa Séc, tất cả các viện nghiên cứu công nghiệp được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn và sau được tư nhân hóa hoàn toàn vào giữa những năm 1990, gắn liền với nhu cầu thị trường và cung cấp những dịch vụ phi nghiên cứu.         Việc công khai, minh bạch việc hỗ trợ ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học là điều đảm bảo cho kết quả chuyển đổi các viện nghiên cứu được triển khai một cách bền vững. – Bà Keiko Sato, Phó giám đốc Nhóm Ngân hàng Thế giới        Qua kinh nghiệm của những viện nghiên cứu tại các nước đang phát triển ở Châu Âu và Trung Á, báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra phương thức chuyển đổi bốn nhóm tổ chức khoa học như sau:  Với những viện nghiên cứu có đầu ra là sản phẩm công ích nên được điều hành theo cơ chế: nhà nước sở hữu và ký hợp đồng điều hành. Theo đó, Chính phủ sẽ ký hợp đồng với một tổ chức bên ngoài để điều hành viện nhưng vẫn duy trì quyền sở hữu.  Với những viện nghiên cứu có đầu ra là các sản phẩm phi công ích, việc tư nhân hóa là điều tối cần thiết bởi viện sẽ được tiếp cận với thị trường và sau đó sẽ được chuyển đổi thành công ty thương mại hoàn toàn  Với những viện nghiên cứu có đầu ra bao gồm cả sản phẩm công ích và phi công ích nhưng khả năng tiếp cận thị trường hạn chế và không có mấy cơ hội “sống sót” như một công ty tư nhân, có thể chuyển đổi thành một tổ chức phi chính phủ hoặc tư nhân hóa nội bộ thay vì đóng cửa.  Với những viện nghiên cứu cần phải đóng cửa, kêu gọi tư nhân hóa có thể được dùng như một phép thử với thị trường.  Bà Keiko Sato nhấn mạnh phải công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học bởi đây là điều đảm bảo cho kết quả chuyển đổi các viện nghiên cứu được triển khai một cách bền vững. Chất lượng nghiên cứu và phát triển của Hàn Quốc đã có bước tiến bộ rõ rệt khi nước này từ năm 1999 đã có cơ chế tài trợ dựa trên hiệu quả hoạt động của các viện nghiên cứu qua các công cụ kiểm tra, đối chiếu thông qua sự tham gia của tư nhân, giới học thuật, tổ chức xã hội dân sự và chuyên gia nước ngoài để đảm bảo quá trình đưa ra quyết định không bị ảnh hưởng bởi hành vi tham nhũng và các nhóm lợi ích.    Bà cũng đưa ra sáu lưu ý mà các viện cần ghi nhớ khi thực hiện chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu KH&CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đó là:     Cần xác định số liệu tài chính chính xác về tổ chức nghiên cứu để có thể dự báo khả năng sinh lời, phát triển của viện sau khi tái cấu trúc (bởi các viện nghiên cứu thường khai tăng số liệu tài chính như giá trị tài sản, đặc biệt là tài sản trí tuệ, số liệu lợi nhuận…để được định giá cao)  Chất lượng và mức độ cạnh tranh của những công nghệ mà viện nghiên cứu đang sở hữu phải được thẩm định bởi các chuyên gia độc lập bên ngoài, những người hiểu rõ không chỉ về công nghệ hiện thời mà còn cả về thị trường.  Nhóm cán bộ thực hiện việc cải cách cơ chế của viện cần được trao quyền để quản lý toàn bộ quá trình chuyển đổi (chứ không chỉ những nội dung liên quan đến chuyên môn kĩ thuật).  Không nên đặt ra những mục tiêu quá tham vọng. Hơn nữa, nó cũng không thực tế khi kì vọng những kết quả đáng kể sẽ diễn ra trong một thời gian ngắn, ít nhất thông thường phải mất từ bốn đến năm năm mới nhận thấy tiến triển.  Cần thống nhất một quy trình giám sát và báo cáo rõ ràng.  Truyền thông tích cực về chương trình chuyển đổi.    Hảo Linh (tóm lược từ báo cáo tại Hội nghị)      Author                Quản trị        
__label__tiasang Phương thức làm việc dân chủ và cầu thị của nhà quản lý khoa học      Ở nước ta, giới quản lý KHCN  thường xuyên bận bịu với các công việc hành chính, quản lý của mình  và gần như không có giao lưu công việc thực sự như trên với các nhà khoa  học ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Chưa nói là nhiều vấn đề  quan trọng vẫn đang được giải quyết theo cách truyền thống của ta, theo  con đường của quyết định và thông tư hành chính chỉ đạo từ trên xuống  dưới.  &#160;    Chúng ta đều biết Bộ Năng lượng của Hoa Kỳ (DOE) là một trong những bộ máy quan trọng nhất của chính phủ Mỹ, với chức năng và nhiệm vụ không chỉ tập trung vào việc duy trì, phát triển và khai thác các nguồn năng lượng cần cho kinh tế, đời sống… mà còn quản lý và lãnh đạo một mạng lưới 17 phòng thí nghiệm quốc gia trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng khác nhau, cùng với trung tâm nghiên cứu vũ trụ NASA. DOE không chỉ lãnh đạo, quản lý các ngành khoa học & công nghệ (KHCN) mũi nhọn của đất nước mà còn trực tiếp triển khai nhiều chương trình giáo dục khoa học (science education) để góp phần duy trì vị trí đi đầu của nền KHCN Hoa Kỳ trên thế giới. Cũng vì lý do đó mà các vị trí lãnh đạo quan trọng nhất của DOE đều được Tổng thống Hoa Kỳ mời đích danh từ các nhà khoa học lớn của đất nước (như Bộ trưởng đương nhiệm Steven Chu là một nhà vật lý từng giành giải Nobel). Tuy nhiên, tôi đã khá ngạc nhiên khi được biết là nhiều nhà khoa học đương chức tại các trường đại học, viện nghiên cứu cũng thường xuyên được mời vào làm việc có thời hạn tại các vị trí cố vấn trực tiếp của DOE để cùng các nhà quản lý giải quyết các vấn đề quan trọng, cũng như ra những quyết sách hợp lý trong các lĩnh vực KHCN.   Giáo sư David J. Dean, Giám đốc phân viện Vật lý của Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge, Tennessee, vừa chia sẻ cảm xúc về 2 năm làm việc trong vị trí cố vấn chuyên môn của DOE ở Washington, D.C như một khoảng thời gian đặc biệt, với những trải nghiệm rất đáng nhớ[1]. Bản thân là một nhà vật lý hạt nhân, nhưng GS Dean đã được mời tham dự góp ý, thảo luận và tư vấn giải quyết nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến quy hoạch năng lượng, xử lý quá trình thay đổi khí hậu, đẩy mạnh vai trò của tính toán hiệu năng cao trong các lĩnh vực cạnh tranh nhất của KHCN, cho đến việc giúp các nhà quản lý khẳng định vai trò của các nhà khoa học và của chính phủ Hoa Kỳ trong việc giải quyết các vấn đề năng lượng… Ngoài các vấn đề chuyên sâu trong các lĩnh vực KHCN, các nhà cố vấn như GS Dean còn trực tiếp tham gia tư vấn, giúp Chính phủ quy hoạch chính sách, chiến lược phát triển KHCN sao cho đội ngũ nhân lực KHCN luôn ở mức cạnh tranh cao nhất về trình độ và khả năng không chỉ tiến hành nghiên cứu khoa học ở trình độ cao mà còn triển khai đưa những thành tựu khoa học hiện đại vào ứng dụng những công nghệ mới nhất.      Ở nước ta, tôi thấy rằng giới quản lý KHCN thường xuyên rất bận bịu với các công việc hành chính, quản lý của mình và gần như không có giao lưu công việc thực sự như trên với các nhà khoa học ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Chưa nói là nhiều vấn đề quan trọng vẫn đang được giải quyết theo cách truyền thống của ta, theo con đường của quyết định và thông tư hành chính chỉ đạo từ trên xuống dưới. Mặc dù cộng đồng KHCN của chúng ta còn nhỏ bé và yếu kém so với quốc tế, nhưng chúng ta không thiếu các nhà khoa học ngày đêm tâm huyết với sự nghiệp phát triển, tiến bộ của đất nước. Phải chăng đã đến lúc Việt Nam cũng nên xét đến phương thức làm việc dân chủ và cầu thị như trên của DOE ?    ———————–  [1]  D.J. Dean, “The challenge of energy to science”, Nuclear Physics News, Vol. 21, No. 3, 2011,  p. 3.     Author                Quản trị        
__label__tiasang PTNTĐ: Cơ chế sàng lọc và tiêu chí đánh giá      Sau gần 10 năm triển khai với số tiền đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho các phòng thí nghiệm trọng điểm, đến nay Nhà nước cần một cơ chế sàng lọc để chỉ ra đâu là những phòng thí nghiệm trọng điểm hoạt động hiệu quả cần được chú trọng tạo điều kiện để phát triển tốt hơn, và đâu là những nơi không hiệu quả cần sớm được cải tổ hoặc trả về đơn vị chủ quản. Đây là quan điểm của PGS.TS Vũ Thị Thu Hà, Phó Viện trưởng Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu,&#160; trong cuộc trả lời phỏng vấn với Tia Sáng.    Trong khi đa số các phòng thí nghiệm trọng điểm chưa mang lại những sản phẩm, kết quả KH&CN tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước, đâu là bí quyết giúp Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu đạt được một số kết quả ấn tượng với các bằng sáng chế trong, ngoài nước và ứng dụng triển khai?  Bí quyết quan trọng là chúng tôi luôn chú trọng vào khâu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Khởi đầu chỉ với năm người, ngày nay chúng tôi đã có 40 người. Đó là một đội ngũ cán bộ chuyên môn có năng lực đồng đều, vừa có khả năng nghiên cứu cơ bản vừa làm triển khai ứng dụng công nghệ, biết vận hành các trang thiết bị hiện đại, và đều có tinh thần làm việc chuyên nghiệp. Khi có việc thì miệt mài không kể ngày đêm. Bên cạnh đó, yếu tố phát huy mối quan hệ hợp tác quốc tế bền vững nhằm rút ngắn khoảng cách trong nghiên cứu khoa học công nghệ và yếu tố gắn mục tiêu nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn cũng là hai bí quyết không phần quan trọng.  Nhà nước đã dành cho Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc hóa dầu sự đầu tư ở mức độ nào?  Ngoài những đầu tư ban đầu giống như đối với các phòng thí nghiệm trọng điểm khác, phòng của chúng tôi chỉ nhận được khoản đầu tư thường xuyên (gồm các khoản kinh phí cho nhiệm vụ thường xuyên, hoạt động của Hội đồng chuyên ngành, duy tu bảo dưỡng thiết bị, duy trì vận hành thiết bị) trong hai năm 2009 và 2010. Sau đó, khoản đầu tư này bị cắt đi với lý do phòng của chúng tôi thuộc Tập đoàn nên theo Thông tư liên tịch 211…, chúng tôi không nằm trong diện được hỗ trợ. Kinh phí nghiên cứu khoa học công nghệ với mục tiêu dài hạn cũng rất phập phù, lúc có, lúc không và cũng chỉ mang tính ngắn hạn. Chẳng hạn, chúng tôi đặt ra một số mục tiêu dài hạn, nhưng khi xét tài trợ, các cơ quan quản lý chỉ xét tài trợ trong hai năm vì lý do là “xưa nay người ta vẫn làm thế, chưa có tiền lệ nào xét nhiệm vụ khoa học công nghệ (dưới dạng đề tài Nhà nước) thực hiện dài hơn hai năm”. Trong điều kiện như vậy, những năm qua, hầu như chúng tôi hoàn toàn phải tự gánh vác, lấy nguồn thu từ các sản phẩm nghiên cứu của mình để trả lương cho cán bộ nghiên cứu, duy trì vận hành bộ máy, vận hành trang thiết bị, duy tu, bảo dưỡng, thay thế phụ tùng.  Có lẽ hoàn cảnh phải tự thân vận động là một tác nhân buộc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu phải làm ra nhiều sản phẩm nghiên cứu để có nguồn thu tự nuôi mình. Liệu đây có phải là mô hình cần áp dụng phổ biến cho các phòng thí nghiệm trọng điểm khác?  Đã là cơ sở nghiên cứu khoa học thì mục tiêu cuối cùng đều là hoạt động có hiệu quả, đóng góp cho sự nghiệp khoa học công nghệ của đất nước, có nhiều kết quả nghiên cứu được áp dụng thành công. Phòng của chúng tôi cũng vậy, chúng tôi đang thực hiện mục tiêu này, chỉ có điều là chúng tôi phải nỗ lực hết sức mình và ngay cả với sự cố gắng và kết quả đạt được như vậy, chúng tôi vẫn không hoàn toàn yên tâm. Thật vậy, tôi cho rằng việc các tổ chức KH&CN phải tự vận động tìm kiếm nguồn thu qua sản phẩm nghiên cứu là điều cần thiết. Tuy nhiên, ngay cả với những phòng thí nghiệm làm nghiên cứu ứng dụng như chúng tôi cũng vẫn cần được Nhà nước hỗ trợ một khoản nhất định để có thể theo đuổi những nghiên cứu có tính dài hơi, có tầm chiến lược. Hoặc thậm chí với những ứng dụng công nghệ có thể thương mại hóa, chúng tôi cũng vẫn cần có nguồn kinh phí để có thể đầu tư nghiên cứu triển khai và làm ra sản phẩm – các doanh nghiệp thường chỉ bỏ tiền ra mua kết quả nghiên cứu sau khi sản phẩm đã thực sự định hình. Ngoài ra, việc duy tu bảo dưỡng các thiết bị nghiên cứu (không phải là thiết bị dịch vụ để có thể lấy thu bù chi), nâng cấp thiết bị, bổ sung các thiết bị mới cho phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới đòi hỏi những khoản tiền không nhỏ mà nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì không thể thực hiện được.  Vì sao doanh nghiệp là đơn vị chủ quản, ví dụ như Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, không thể thay thế Nhà nước cáng đáng việc tài trợ cho phòng thí nghiệm trọng điểm?  Mục đích của các doanh nghiệp thường gắn với lợi nhuận và thường đòi hỏi hiệu quả kinh tế thấy ngay được. Điều đó không hoàn toàn phù hợp với hoạt động của các tổ chức nghiên cứu, đặc biệt là các phòng thí nghiệm trọng điểm của quốc gia, là nơi cần tiến hành những nhiệm vụ KH&CN phục vụ cho sự nghiệp khoa học công nghệ của ngành, quốc gia, hoặc làm ra những sản phẩm nghiên cứu ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu chưa thể thương mại hóa ngay, hay các sản phẩm không thuộc phạm vi, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế, trong cuộc họp liên ngành về đánh giá hoạt động của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu diễn ra trong năm 2014, các cơ quan quản lý đã đề nghị giải pháp giao Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc hóa dầu để Bộ Công thương làm cơ quan chủ quản.   Tuy nhiên, với nguồn lực hạn chế, bằng cách nào Nhà nước có thể đầu tư một cách quy mô, bài bản và lâu dài cho tất cả các phòng thí nghiệm trọng điểm?  Chắc chắn chúng ta sẽ phải đầu tư một cách có chọn lọc. Những phòng thí nghiệm được coi là trọng điểm và được Nhà nước ưu tiên tài trợ phải là nơi thể hiện được một định hướng phát triển thuyết phục cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu giàu năng lực, có kinh nghiệm và khát vọng cống hiến. Năng lực, kinh nghiệm đó không chỉ thể hiện qua bằng cấp, mà nhất thiết phải được minh chứng qua những sản phẩm nghiên cứu cụ thể, như các công trình công bố quốc tế trên các tạp chí ISI, hoặc các sáng chế được đăng ký trong và ngoài nước, số lượng công nghệ đang được ươm tạo.  Như vậy, chúng ta cần tiến hành đánh giá năng lực, hoạt động của các phòng thí nghiệm trọng điểm một cách thực chất. Ở Việt Nam công tác đánh giá này được thực hiện ra sao?  Cứ 2 năm một lần các phòng thí nghiệm trọng điểm đón các đoàn kiểm tra của Bộ KH&CN phối hợp với một vài Bộ, ngành liên quan, và cứ 4 năm một lần sẽ có các đoàn kiểm tra liên ngành quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, các hoạt động kiểm tra này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc xuống nghe báo cáo và đề xuất của đơn vị, chưa có sự xem xét, đánh giá kỹ lưỡng về chuyên môn. Ví dụ, việc đánh giá chỉ mới dừng lại ở việc đếm số lượng công bố quốc tế, mà không xem kỹ liệu các công trình nghiên cứu đó liệu có thực sự do phía Việt Nam thực hiện (trong đó tên của phòng thí nghiệm ở Việt Nam được ghi nhận) hay thực chất là công trình thực hiện tại nước ngoài với phần đóng góp của Việt Nam không thực sự đáng kể.  Bên cạnh đó, một số tiêu chí đánh giá được xây dựng chưa phù hợp với thực tiễn, chẳng hạn với những phòng thí nghiệm mới đi vào hoạt động với một thời gian chưa đủ dài thì không thể nào áp dụng tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế, số tiền thu được từ việc chuyển giao công nghệ hoặc triển khai sản xuất .  Hiện nay các cơ quan quản lý dựa vào chuẩn mực nào để đánh giá đâu là một phòng thí nghiệm hoạt động kém hiệu quả?          Thông qua Quỹ Nafosted hoặc các chương trình của Nhà nước, chúng ta có thể cung cấp cho các phòng thí nghiệm trọng điểm những gói tài trợ dài hạn – theo tôi, khung thời gian có thể lên tới 8 năm – trong đó hằng năm đều có những mục tiêu, kế hoạch cụ thể mà đơn vị được tài trợ phải hoàn thành. Hằng năm Quỹ sẽ có vai trò giám sát, đảm bảo các phòng thí nghiệm được tài trợ thực hiện đúng theo những mục tiêu đã cam kết.            Lẽ ra chúng ta cần lập ra những bộ tiêu chí chuẩn phù hợp với đặc thù của từng ngành, dựa vào đó có thể chỉ ra trong từng ngành, đâu là những phòng thí nghiệm hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, đến nay chúng ta chưa thực sự đặt ra các chuẩn mực rạch ròi như vậy. Chính vì thế, sau 10 năm chúng ta vẫn hoàn toàn chưa tiến hành một cuộc sàng lọc để chỉ ra đâu là những phòng thí nghiệm trọng điểm hoạt động không hiệu quả cần được cải tổ hoặc trả về cơ quan chủ quản, và đâu là những phòng làm tốt cần được hỗ trợ, tạo điều kiện để tiếp tục phát huy.  Hiện nay chính là thời điểm phù hợp cho một cuộc sàng lọc như vậy?  Nếu chúng ta không sớm tổ chức việc sàng lọc thì hậu quả là tiền của Nhà nước vẫn tiếp tục đổ vào những nơi hoạt động kém hiệu quả. Mặt khác, nguồn đầu tư sẽ bị dàn trải, trong khi nhu cầu bảo trì và thay mới thiết bị là rất lớn – chẳng hạn ở Phòng thí nghiệm Công nghệ lọc hóa dầu, chúng tôi lâu nay vẫn thường phải tự bỏ tiền để thay mới hàng loạt linh kiện (mà mỗi linh kiện tốn kém hàng trăm triệu đồng). Phòng thí nghiệm trọng điểm nào không có nguồn kinh phí để bảo trì và thay mới thì sau 8-10 năm, các trang thiết bị đó sẽ hầu như không thể sử dụng một cách hữu hiệu được nữa.  Việc tài trợ đầu tư mới cho các phòng thí nghiệm trọng điểm nên được tiến hành theo cách nào để đảm bảo tính chính xác, công bằng, khách quan?    Trước hết cần tổ chức tốt công tác xây dựng các bộ tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của các phòng thí nghiệm trọng điểm trong từng ngành, từng lĩnh vực, làm công cụ để các cơ quan quản lý biết được đâu là những phòng thí nghiệm trọng điểm phù hợp để được tài trợ. Chúng ta nên áp dụng kinh nghiệm quốc tế, đó là tài trợ cho các tổ chức nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm, thông qua quỹ khoa học – ở Việt Nam đó có thể là Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (Nafosted) và rất nhiều Chương trình khác đang chuẩn bị vận hành mà cơ cấu hoạt động cũng tương tự như Quỹ. Các hội đồng ngành của Quỹ gồm những chuyên gia am hiểu về đặc thù hoạt động của các phòng thí nghiệm trong ngành của mình, sẽ biết được đâu là những định mức và khung thời gian tài trợ hợp lý. Để đảm bảo sự khách quan và chất lượng chuyên môn của các hội đồng của Quỹ, ngoài các chuyên gia trong nước, nên mời các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài có uy tín tham gia.    Trước mắt khi chưa được tài trợ những khoản kinh phí dài hạn, đâu là cách để Quỹ Nafosted có thể hỗ trợ phòng thí nghiệm của bà một cách hữu hiệu nhất?    Chúng tôi mong muốn được Quỹ hoặc các Chương trình tài trợ những dự án nghiên cứu có sự hợp tác giữa phòng thí nghiệm và các doanh nghiệp tại bất kỳ thời điểm nào trong năm, ngay khi xuất hiện nhu cầu. Hiện nay các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư kinh phí cho những nghiên cứu đã định hình được sản phẩm, nhưng với những nghiên cứu chưa ra được sản phẩm thì họ không dám đầu tư vì ngại rủi ro. Vì vậy, chúng tôi cần Quỹ tài trợ cho những nghiên cứu ở giai đoạn ban đầu, tuy chưa định hình ra sản phẩm, nhưng được doanh nghiệp cam kết tiếp nhận kết quả nghiên cứu nếu đáp ứng yêu cầu đề ra.  Với cách làm này, các bên sẽ đều có lợi: phòng thí nghiệm có nguồn kinh phí để triển khai nghiên cứu làm ra sản phẩm, doanh nghiệp được mua sản phẩm nghiên cứu sau khi đã định hình mà không bị các rủi ro, và Quỹ đạt được mục tiêu tài trợ cho nghiên cứu mà không phải bỏ ra nhiều tiền vì chỉ phải tài trợ trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu. Yếu tố thời điểm tài trợ cũng rất quan trọng vì với những nhu cầu phát sinh trong hoạt động sản xuất, nhu cầu áp dụng và triển khai công nghệ, doanh nghiệp không thể ngồi chờ đến năm kế hoạch để nhà khoa học được gửi đăng ký đề xuất, chờ thêm một năm nữa để cơ quan quản lý xét duyệt đề xuất. Tương tự như vậy, với các hướng nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, trong xu thế hiện nay, số lượng các công bố quốc tế của những hướng nghiên cứu đang được quan tâm, tăng lên từng ngày. Nếu không được tài trợ kịp thời để triển khai ý tưởng, cơ hội công bố của chúng ta có thể sẽ trôi qua vì trở nên lỗi thời do vấn đề đó vừa được công bố.   Xin trân trọng cảm ơn bà!                 Author                Quản trị        
__label__tiasang Putin tăng đầu tư cho khoa học lên 150%      Tổng thống Nga Vladimir Putin đã cam kết sẽ tăng cường đầu tư cho khoa học lên 150% so với mức đầu tư hiện nay vào cuối năm 2018, theo thông tin từ văn phòng báo chí của tổng thống Nga Putin.      Các nhà khoa học trường đại học liên bang Moscow tạo ra một loại kháng sinh mới. Nguồn: Russia news today.     Phần kinh phí tăng lên này sẽ được tính vào khoản ngân sách chưa được phân bổ cho chương trình KH&CN 2014-2020 của Nga và do đó, sẽ đưa tổng ngân sách đầu tư cho khoa học của Nga từ 40 tỷ ruble lên 60 tỷ ruble (tương đương từ 644 triệu USD đến gần 1 tỷ USD).  Một phần quan trọng của kế hoạch đầu tư này sẽ là chính phủ sẽ phân bổ kinh phí cho các trường đại học, đặc biệt là các nơi mang tầm chiến lược như trường Đại học Liên bang Moscow, trường đại học liên bang Saint Petersburg…, qua đó góp phần đưa nghiên cứu trong trường đại học trở thành niềm tự hào quốc gia trong những năm  tới – mục tiêu mà chính phủ Nga mới đề ra.  Trước năm 2017, Viện Hàn lâm Khoa học Nga đảm nhiệm vai trò chính trong việc thúc đẩy và thực hiện nghiên cứu khoa học và nhận được rất nhiều hỗ trợ, đầu tư. Nhưng trong những năm gần đây, tình thế đã thay đổi với việc chính phủ bắt đầu tập trung vào phát triển khoa học trong các trường đại học. Tổng thống Vladimir Putin đã tuyên bố: “Chúng tôi muốn đảm bảo số lượng kinh phí của ngân quỹ quốc gia được cấp cho nghiên cứu cơ bản của các trường đại học trong nước và các trung tâm R&D liên kết với họ sẽ tăng lên gấp rưỡi trong giai đoạn 2018-2019. Cần phải trao thưởng cho các nhà khoa học trên cơ sở các hoạt động nghiên cứu và kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học trong hiện tại chứ không phải những nỗ lực trong quá khứ của họ”.  Theo chương trình đầu tư của chính phủ liên bang cho KH&CN trong giai đoạn 2014-2020, số lượng ngân sách chính phủ đầu tư cho khoa học lên tới 228,7 tỷ ruble (tương đương 3,7 tỷ USD). Phần lớn kinh phí trong khoản ngân sách này đã được phân bổ, phần còn lại chỉ vào khoảng 40 tỷ ruble. Theo phát biểu gần đây nhất của Putin thì ngân sách sẽ được tăng lên gấp 1,5 lần, nghĩa là vào khoảng 60 tỷ ruble.  Không giống như những năm trước đây, việc phân bổ ngân sách nghiên cứu khoa học cho các trường đại học Nga này sẽ được tiến hành trên cơ sở cạnh tranh. Đây là quyết định mới của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và khoa học và Cơ quan liên bang quản lý các tổ chức khoa học – tổ chức mới được chính phủ liên bang thiết lập nên để quản lý tài sản của Viện Hàn lâm KH&CN Nga.  Dưới các quy định của kế hoạch mới này, ngân sách sẽ được phân bổ trên cơ sở của các đề xuất. Một ủy ban đặc biệt của Liên bang sẽ lựa chọn những đề xuất xuất sắc nhất và những dự án hứa hẹn nhất cho khoa học Nga và để các trường đại học Nga thực hiện.  Nhưng một vài nhà khoa học Nga đã lập tức chỉ trích quyết định này của chính quyền Liên bang. Alexander Kuleshov, chuyên gia hàng đầu về toán học và công nghệ thông tin và là giám đốc của Viện nghiên cứu Các vấn đề truyền động thông tin Kharkevich (Viện Hàn lâm Khoa học Nga) bình luận: “Sự gia tăng của ngân sách đầu tư cho khoa học và việc áp dụng một mô hình tài chính cạnh tranh là một thông tin tốt”. Dẫu sao, ông lo ngại rằng việc ưu tiên các trường đại học có thể ảnh hưởng đến kinh phí đầu tư cho nhiều nhà khoa học xuất sắc trong các viện nghiên cứu, do đó có thể dẫn đến việc tạm ngừng nghiên cứu hoặc thậm chí là “đóng băng” nghiên cứu của họ.  Còn theo Eugene Onishchenko, hiệu phó trường đại học kinh tế Moscow, việc chính phủ chi phối mạnh mẽ dẫn tới kinh phí đầu tư cho các trường đại học cũng có thể là một mối đe dọa cho nghiên cứu. Ông cũng cho biết thêm, các đề xuất khoa học có thể rơi vào tình trạng thiếu minh bạch vì chúng có thể phải được xét duyệt trong những điều kiện đặc biệt.  Anh Vũ dịch  Nguồn: http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20180413111636641       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quan hệ Việt Nam – Israel: Nhiều tiềm năng đang bỏ ngỏ      Sau 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt  Nam – Israel, vẫn còn nhiều tiềm năng lợi thế của Israel – đất nước có  nền công nghệ cao phát triển, đặc biệt trong nông nghiệp – mà Việt Nam  chưa tận dụng khai thác đúng mức. Đó là ý kiến của bà Meirav Eilon  Shahar, Đại sứ Israel tại Việt Nam, trả lời phỏng vấn của Tạp chí Tia  Sáng.     Đề nghị bà cho biết sự hợp tác về khoa học và công nghệ có tầm quan trọng như thế nào trong mối quan hệ Việt Nam – Israel?  Israel luôn mong muốn được thúc đẩy mối quan hệ với Việt Nam một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực. Chúng ta cần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau kể cả trên những lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, và nghệ thuật, v.v. Tuy nhiên, trong quá trình tăng cường hiểu biết lẫn nhau đó, chúng ta nhận biết các giá trị được đối tác coi trọng. Đối với Israel, chúng tôi đặc biệt coi trọng khoa học & công nghệ trong phát triển đất nước, đồng thời coi đây thế mạnh của mình trong hợp tác với các quốc gia khác. Không phải ngẫu nhiên mà khi Tổng thống Israel Shimon Peres sang thăm Việt Nam vào tháng 11 năm 2011 – chuyến thăm Việt Nam chính thức đầu tiên của một nguyên thủ Israel – ông chỉ mang theo hai bộ trưởng là Bộ trưởng KH&CN [nay là Bộ Khoa học, Công nghệ, và Vũ trụ] và Bộ trưởng NN&PTNT. Về phía Việt Nam, chúng tôi thấy rằng các bạn cũng rất coi trọng sự hợp tác về khoa học và công nghệ với Israel, thể hiện cụ thể qua việc Bộ trưởng Bộ KH&CN được Thủ tướng giao làm Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam – Israel.    Vì sao Israel coi trọng phát triển khoa học và công nghệ, và ưu tiên cho chính sách xuất khẩu các sản phẩm công nghệ?  Israel là một đất nước nhỏ không có nhiều tài nguyên nên chúng tôi buộc phải chú trọng khoa học và công nghệ để tồn tại và phát triển. Tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển so với GDP ở Israel cao nhất trên thế giới. Nhờ vậy, đất nước chúng tôi có một nền khoa học và công nghệ tương đối mạnh, với nền tảng vững vàng trên một số lĩnh vực cơ bản như vật lý, hóa học. Với thế mạnh này, trong mọi lĩnh vực sản xuất người Israel đều tìm cách ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên vì Israel là một thị trường nhỏ với dân số chỉ có 8 triệu người nên các doanh nghiệp buộc phải hướng tới xuất khẩu để phát triển, và phải hướng tới xuất khẩu đi xa do quan hệ của Israel với các nước láng giềng xung quanh vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn. Trong bối cảnh như vậy, Israel phải chú trọng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thay vì những hàng hóa thương mại thông thường.     Bà có thể cho một vài ví dụ về những thành tựu và tiềm năng trong hợp tác ứng dụng khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Israel?  Hiện nay đã có một số dự án ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp, tận dụng kinh nghiệm của Israel trong ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi. Ví dụ như Dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung của Công ty CP Thực phẩm TH triển khai tại Nghệ An mà ngày 5/7 vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp đến tham quan. Công nghệ Israel chính là bí quyết giúp dự án thành công trong chăn nuôi bò sữa trong điều kiện thời tiết nóng bức như ở Việt Nam, với số bò sữa lên tới 30 nghìn con, chế biến tới 500 tấn sữa/ngày, và trong tương lai dự kiến sẽ tiếp tục được mở rộng quy mô. TP. Hồ Chí Minh cũng đang thực hiện một dự án tương tự tận dụng công nghệ và thiết bị từ Israel, triển khai dưới dạng mô hình mẫu trước khi nhân rộng ra toàn thành phố.  Còn ở Cần Thơ, GS. Eilon M. Adar từ Đại học Ben-gurion đang giúp Việt Nam phát triển công nghệ nuôi trồng tôm đực. Đây là lĩnh vực có nhiều triển vọng vì Việt Nam rất quan tâm tới ngành nuôi tôm, cá lồng, và phía Israel đã tổ chức những cuộc seminar để các chuyên gia Việt Nam có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm. Ngoài ra còn nhiều lĩnh vực tiềm năng khác trong ứng dụng công nghệ nông nghiệp của Israel, ví dụ như công nghệ tưới tiêu rất phù hợp và cần thiết với điều kiện đất chật, người đông ở Việt Nam, hay công nghệ sau thu hoạch – giúp xuất khẩu các nông sản khó bảo quản của Việt Nam như vải thiều, sang các thị trường xa như Châu Âu, thay vì chỉ xuất sang Trung Quốc và các nước láng giềng. Bên cạnh đó, công nghệ sinh học cũng là một thế mạnh của Israel mà Việt Nam nên tận dụng khai thác.     Việt Nam và Israel cần làm gì để có nhiều hơn nữa những dự án hợp tác khoa học và công nghệ được triển khai thành công trong thực tế?  Đây là một quá trình tự nhiên, đầu tiên là các bên gặp gỡ, tìm hiểu năng lực và các mối quan tâm của nhau, từ đó dẫn tới những kế hoạch và triển khai trong thực tế. Những ký kết hợp tác ở tầm Chính phủ và các Bộ, ngành là rất quan trọng, giúp mở đường cho những bước phát triển hợp tác tiếp theo, nhưng chúng sẽ không đạt được kết quả đáng kể nếu thiếu sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân và giới khoa học.     Đâu là rào cản mà chúng ta cần vượt qua?  Vẫn đang tồn tại tình trạng quan liêu ở phía Israel cũng như Việt Nam. Chúng tôi đã và đang cố gắng khắc phục những tồn tại ở phía mình. Đồng thời, Israel cũng đang đề nghị Việt Nam cùng tham gia một thỏa thuận tự do thương mại. Thỏa thuận này sẽ giúp giảm thiểu các rào cản thương mại, kéo theo đó là giảm thiểu cả những thủ tục hành chính quan liêu. Hiện nay, chúng tôi đang chờ được Bộ Công thương Việt Nam phản hồi về đề xuất này.   Các nhà đầu tư Israel nhìn nhận gì về cơ hội đầu tư ở Việt Nam?  Có nhiều yếu tố cần cân nhắc dưới góc nhìn của nhà đầu tư như chính sách thuế, mức độ quan liêu của bộ máy hành chính, chi phí, giá thành, trình độ nhân lực, v.v. Đã có những nhà đầu tư Israel đến rồi đi. Tuy nhiên, triển vọng đầu tư và kinh doanh giữa Israel với Việt Nam đang ngày càng sáng lên. Năm 2012, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, tổng kim ngạch thương mại giữa Israel và Việt Nam theo tính toán của chúng tôi đạt 1,1 tỷ USD, tăng cao gấp đôi năm trước. Bên cạnh đó, số lượng lĩnh vực đầu tư và số lượng nhà đầu tư cũng tăng mạnh. Có thể thấy rằng khu vực tư nhân cũng như Chính phủ Israel đều rất coi trọng cơ hội hợp tác với Việt Nam và coi Việt Nam là đối tác quan trọng nhất trong nhóm các nước ASEAN.    Mục tiêu gì là cấp bách nhất mà bà mong muốn đạt được nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác Israel – Việt Nam trong giai đoạn sắp tới?  Vẫn còn rất nhiều tiềm năng hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Israel chưa được tận dụng khai thác, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Chúng ta đã có nhiều mối quan hệ hợp tác trong phạm vi giữa hai Nhà nước và giữa các đối tác trong khu vực tư nhân với nhau. Tuy nhiên, còn chưa có nhiều những hoạt động hợp tác giữa các trường, viện nghiên cứu. Điều tôi mong muốn và nỗ lực thực hiện là kết nối quan hệ hợp tác giữa các trường, viện nghiên cứu của hai nước, tạo ra thật nhiều cơ hội gặp gỡ, trao đổi giữa các chuyên gia. Chính họ sẽ tạo ra những cầu nối, đưa công nghệ hiện đại của Israel đến với nhiều hơn những địa chỉ ứng dụng trên các lĩnh vực hợp tác sẵn có và cả những lĩnh vực mới – chẳng hạn như y tế – đáp ứng các nhu cầu thiết thực trong quá trình phát triển của Việt Nam.  Xin cảm ơn bà!        Một số thành tựu trong công nghệ về năng lượng,               nước, và nông nghiệp của Israel:   Năng lượng   Năng  lượng mặt trời: Israel có tổ hợp nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế  giới, được xây dựng tại sa mạc Mojave, với tổng năng suất 354 MW/năm. Do  không có dự trữ dầu và có mối quan hệ căng thẳng với các nước láng  giềng xuất khẩu dầu nên Israel luôn chú trọng phát triển năng lượng mặt  trời, trở thành quốc gia sử dụng năng lượng mặt trời trên đầu người cao  nhất thế giới.   Công nghệ sản  xuất hệ thống quang điện của Israel là rất cao, điển hình như công nghệ  của công ty SolarEdge cho sản phẩm đạt hiệu quả cao hơn 25% so với bất  kỳ hệ thống quang điện nào khác trên thế giới.   Năng  lượng từ chất thải: Quy trình của công ty ArrowBio giúp loại bỏ việc  cần phải tách chất thải rắn đô thị, đạt tỷ lệ tái chế 90%. Còn ưu điểm  của công nghệ tế bào nhiên liệu vi khuẩn của Công ty Emefcy là sản xuất  điện và hydro với chi phí thấp trong quy trình hóa-điện-sinh học từ xử  lý nước thải sử dụng.    Công  nghệ tái chế nước cống của Israel có thể sản xuất ra vật liệu recyllose,  có thể được sử dụng để sản xuất 454 – 511 lít ethanol/tấn recyllose.   Quản lý nước    Khử  mặn: Israel khởi đầu công nghệ khử mặn bằng phương pháp thẩm thấu ngược  nước biển (SWRO) và là nơi có nhà máy SWRO lớn nhất thế giới, hàng năm  sản xuất 130 triệu m3, vận hành với chi phí hiệu quả nhất thế giới với  công nghệ này.   Quản lý nước  bằng công nghệ thông tin của TaKaDu: TaKaDu dùng những số liệu ngẫu  nhiên về thời tiết, âm thanh, vị trí địa lý từ các cảm biến để tạo ra  một mạng nước thông minh, cho phép nâng cao khả năng cung cấp nước, dự  đoán trước và tiết kiệm nguồn lực trong sản xuất.   Tưới  nhỏ giọt: Giúp đạt 70-80% hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp, mức  hiệu quả cao nhất hiện có trên thế giới (các hệ thống tưới tiêu thông  thường chỉ đạt hiệu suất 40%).   Tưới  nước lợ: Nước lợ được tái chế từ các ao cá để tưới cho cây trồng trong  các điều kiện khác nhau, từ cà chua trong nhà kính tới nho trồng trong  sa mạc.   Chăn nuôi – trồng trọt   Chăn nuôi bò sữa: Bò sữa của Israel có sản lượng sữa cao nhất thế giới, trung bình mỗi năm đạt 11.461 kg/con (số liệu năm 2008)    Hạt  giống: 40% nhà kính trồng cà chua ở Châu Âu sử dụng những hạt giống lai  kéo dài vòng đời do Israel sản xuất, trong đó có giống cà chua để được  lâu nhất trên thế giới do các nhà nghiên cứu Haim Rabinowitch và Nachum  Kedar của ĐH. Hebrew phát triển.   Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM): Công nghệ này cho phép giảm thuốc trừ sâu xuống còn 30 – 40%.    Nuôi trồng thủy sản: Hệ thống chu kỳ khép kín ở Israel cho sản lượng tăng gấp 40 lần so với nuôi trong ao ngoài trời.                Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý đại dịch tiếp theo?      Nhiệm vụ của các nhà hoạch định chính sách là phải phá vỡ vòng tuần hoàn của dịch bệnh và đại dịch đã ám ảnh nhân loại trong nhiều thiên niên kỷ bằng các khoản đầu tư dài hạn trên toàn cầu. Chúng ta không có nhiều thời gian để mất. Đó là ý kiến của Richard Hatchett, nhà dịch tễ học người Mỹ và là giám đốc điều hành của Liên minh tiêm  chủng toàn cầu (CEPI) viết trên tờ Die Welt của Đức.      Một con virus toàn cầu tiếp theo có thể gây chết người nhiều hơn là COVID-19. Đó là lý do tại sao chúng ta phải rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng corona để chống lại các đại dịch trong tương lai.  COVID-19 đã xóa sổ hàng triệu sinh mạng và đe dọa sinh kế trên toàn cầu. Thế giới hiện có cơ hội phá vỡ chu kỳ đau khổ này bằng cách chuẩn bị cho đối phó với các mối đe dọa đại dịch mới trong tương lai. Chúng ta phải rút ra từ những bài học trong hai năm qua để tối ưu hóa các công cụ của mình để có thể phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các đại dịch sau này.  Tin tốt lành là chúng ta biết phải làm gì. Sự phát triển nhanh chóng vaccine chống lại COVID-19 là bằng chứng về tiến bộ khoa học tiên tiến trong thế kỷ 21 như thế nào.  Do năng lực của mình trong ngành công nghệ sinh học và cam kết vì sức khỏe toàn cầu, nước Đức có vai trò đặc biệt khi cần chuẩn bị tốt hơn cho toàn thế giới và tạo điều kiện cho các biện pháp công bằng hơn trong tương lai.  Xuất phát từ quan điểm về kinh tế, những lý do để chuẩn bị tốt hơn trước đại dịch có ý nghĩa thuyết phục và áp đảo. Riêng tại Đức, đại dịch COVID 19 và các biện pháp ngăn chặn nó đã tiêu tốn gần 300 tỷ euro. Đồng thời, nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái sâu nhất kể từ Thế chiến II.  Trên thế giới, thiệt hại kinh tế lên tới hàng nghìn tỷ euro, và số người chết – hiện vẫn ở mức trung bình 50.000 người mỗi tuần – đã lên tới 4,9 triệu người. Các khoản đầu tư cần thiết để ngăn chặn các đại dịch trong tương lai sẽ lên tới hàng tỷ USD. Tuy nhiên, nó có thể tiêu tốn hàng nghìn tỷ USD chi phí và quan trọng hơn là ngăn chặn được cái chết cho hàng triệu người.  Khi SARS-CoV-2 xuất hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc vào tháng 12/2019, thế giới bị bất ngờ và hoàn toàn không có sự chuẩn bị; các chính phủ ở khắp mọi nơi đều gặp khó khăn việc kiểm soát sự bùng phát của dịch bệnh. Điều này không được phép tái diễn. Thông qua ứng dụng công nghệ mRNA của các công ty công nghệ sinh học như BioNTech và CureVac cũng như những tiến bộ khác trong công nghệ tiêm chủng, giờ đây chúng ta có thể đặt mục tiêu giảm thiểu đáng kể, nếu không muốn nói là loại bỏ các nguy cơ của dịch bệnh và đại dịch trong tương lai. Lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có thể khẳng định điều đó  Tiêu diệt bệnh tật ngay khi nó hình thành  Cải thiện khả năng giám sát toàn cầu, khả năng giải trình tự gene, đầu tư vào năng lực sản xuất và giảm thời gian phát triển vaccine sẽ giúp loại bỏ các bệnh mới hình thành trước khi chúng có thể gây hại.  Tốc độ là điều rất quan trọng. Chúng ta mất 314 ngày kể từ khi công bố trình tự gene coronavirus vào tháng 1/2020 cho đến khi BioNTech / Pfizer nộp dữ liệu thử nghiệm vaccine lâm sàng giai đoạn 3 cho các cơ quan quản lý – đây là một bước đột phá trong ngành, so với việc việc phát triển sản phẩm có thể mất hàng thập kỷ. Tuy nhiên ngay cả thời gian này vẫn còn quá dài.  Về lâu dài, mục tiêu đầy tham vọng của chúng ta là rút ngắn khoảng thời gian này xuống chỉ còn 100 ngày. Nếu điều này xảy ra trong đại dịch hiện tại, thì chúng ta đã có vaccine vào tháng 5/2020 chứ không mãi đến tháng 12. Được như vậy có thể tránh được hàng triệu ca tử vong và nền kinh tế của chúng ta cũng sẽ được phục hồi nhanh hơn nhiều.  Đức là một trong những nước trên thế giới có thể thực hiện phản ứng nhanh như vậy. Đức không chỉ có các công ty hàng đầu thế giới về phát triển vaccine mà còn có các tổ chức khoa học nổi bật trên thế giới như Viện Robert Koch và Viện Y học Nhiệt đới Bernhard Nocht (BNITM).  Với Trung tâm Nhận thức về Đại dịch và Dịch bệnh của WHO, có trụ sở tại Berlin, Đức hiện cũng là nơi có trung tâm toàn cầu để điều phối mọi hoạt động đối phó của chúng ta với các nguy cơ dịch bệnh mới nổi. Trung tâm khai trương vào tháng chín; Người lãnh đạo trung tâm, Chikwe Ihekweazu, là chuyên gia về sức khỏe cộng đồng có trình độ nghiệp vụ cao.  Chuẩn bị với các nguyên mẫu vaccine  Chuẩn bị với các nguyên mẫu vaccine Do sự can thiệp của con người vào tự nhiên ngày càng tăng, các bệnh mới xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn. Những dịch bệnh tới đây có thể gây tử vong nhiều hơn so với COVID-19. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu vaccine chống lại các mối đe dọa đã biết – chẳng hạn như sốt Chikungunya, Nipah và Lassa – đồng thời phát triển một kho vaccine nguyên mẫu để có thể nhanh chóng thích ứng khi xuất hiện các loại virus liên quan.  Liên minh tiêm chủng toàn cầu CEPI (Coalition for Epidemic Preparedness Innovations) đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Đây là tổ chức toàn cầu duy nhất dành riêng cho việc phát triển vaccine chống lại các bệnh mới nổi và điều hành hơn 30 chương trình vaccine chống lại các mối đe dọa liên quan, bao gồm cả COVID-19. Các công ty và nhà khoa học sáng tạo của Đức luôn đi đầu trong nhiều chương trình Một nơi tưởng nhớ những người đã mất vì đại dịch COVID-19 ở nghĩa trang Green Wood, Blooklyn, Mỹ. nghiên cứu của chúng tôi, bao gồm IDT Biologika, BNITM, GISAID, Viện Robert Koch và Viện Paul Ehrlich.  Là thành viên sáng lập của CEPI, Đức cũng là nhà tài trợ lớn nhất của CEPI. Sự hỗ trợ này rất quan trọng đối với những nghiên cứu và phát triển có tính đột phá của chúng tôi cũng như cam kết của chúng tôi trong việc tiếp cận công bằng với vaccine trong thời kỳ đại dịch hiện nay. Qua đó đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của một số loại vaccine COVID-19 và cung cấp các liều vaccine trên toàn thế giới thông qua sáng kiến Covax, trong đó CEPI là đơn vị đi đầu.  Hiện chúng tôi đang đề nghị Đức hỗ trợ kế hoạch hành động năm năm trị giá 3 tỷ euro của chúng tôi và đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn chuẩn bị cho đại dịch tiếp theo quan trọng này. Điều này cho phép chúng tôi tăng cường và bổ sung đầu tư quốc gia để thúc đẩy ranh giới của nghiên cứu và phát triển vaccine và giành thắng lợi trong cuộc chiến chống lại các bệnh truyền nhiễm mới nổi.  Quá khứ đã chỉ ra rằng mầm bệnh có thể tàn phá quy mô tương đương một xung đột quân sự trên toàn cầu. Tuy nhiên, các nỗ lực y tế công cộng quốc gia chỉ có thể có hiệu quả nếu được xây dựng trên nền tảng sức khỏe toàn cầu. Do đó, nhiệm vụ của các nhà hoạch định chính sách là phải phá vỡ vòng tuần hoàn của dịch bệnh và đại dịch đã ám ảnh nhân loại trong nhiều thiên niên kỷ bằng các khoản đầu tư dài hạn trên toàn cầu. Chúng ta không có nhiều thời gian để mất.  Xuân Hoài dịch  Nguồn: https://www.welt.de/debatte/kommentare/article234573920/Globale-Gesundheit-So-bekommen-wir-die-naechste-Pandemie-in-den-Griff.html?source=k325_controlTest_autocurated         Author                Quản trị        
__label__tiasang QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHCN CỦA ÚC VÀ NEW ZEALAND      Qua mô hình quản lý khoa học được coi là tiên tiến hàng đầu thế giới của NEW ZEALAND, chúng ta có thể tìm được phần nào lời giải đáp chu những vấn đề tốn rất nhiều công sức tranh cãi trong quá trình đổi mới cơ chế, chính sách họat động KH&amp;CN ở Việt Nam.    1. Bộ chuyên ngành đóng vai trò gì?  Như nhiều nước công nghiệp phát triển, cơ quan Bộ có quy mô rất nhỏ (làm việc tại trụ sở chính của Bộ Khoa học Công nghệ New Zealand chỉ có 80 cán bộ) do công tác quản lý nhà nước chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là hoạch định chính sách. Nếu như ở Việt Nam, cấp Bộ đã tách ra khỏi các hoạt động về quản lý trực tiếp doanh nghiệp và đang bước vào giai đoạn tách ra khỏi các hoạt động quản lý các cơ quan hành chính sự nghiệp (viện, trường, trung tâm, trạm, trại…) thì ở các nước này, các Bộ đã bước sang giai đoạn cao hơn là tách ra khỏi hoạt động trực tiếp quản lý và cấp vốn và một phần lớn các hoạt động cung cấp dịch vụ công.  Việc cấp vốn và quản lý vốn cho khoa học công nghệ được tiến hành thông qua tổ chức là Quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ (RDC ở Úc và FRST ở New Zealand), không trực thuộc các Bộ. Các cơ quan phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo (trường Đại học) và phục vụ nghiên cứu (các Viện nghiên cứu) cũng hoạt động độc lập.  Đối với nhiều dịch vụ công như khuyến nông, thú y,… các Bộ chuyển sang hỗ trợ cho các đơn vị tư nhân hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Các cộng đồng, hiệp hội ngành hàng trực tiếp tiến hành cung cấp dịch vụ và người sử dụng trả tiền. Bộ chỉ tập trung vào các dịch vụ công đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và không đem lại lợi nhuận như nghiên cứu thông tin thị trường, kiểm dịch động, thực vật, bảo vệ chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (Ở Úc, trong số 4000 cán bộ của Bộ Nông nghiệp có khoảng 3000 cán bộ kiểm dịch trực tiếp làm việc tại các cửa khẩu, nhà ga, sân bay…).  Trong công tác quản lý nhà nước, Bộ không có trách nhiệm xây dựng kế hoạch mục tiêu cụ thể về sản xuất như xác định diện tích, sản lượng hàng năm như ở Việt Nam mà tập trung vào xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người sản xuất và kinh doanh hoạt động. Ngoài ra, Bộ còn chỉ đạo và tham gia các hoạt động hỗ trợ nông dân khi gặp thiên tai, dịch bệnh, quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, đàm phán tìm thị trường xuất khẩu, thiết lập chỉ tiêu chất lượng…  2. Quyền lực của Dân thể hiện trong quản lý nghiên cứu như thế nào?  Ở cấp Bộ có sự phân chia rành mạch giữa Bộ trưởng, là chính khách theo nhiệm kỳ của Chính phủ, và Đổng lý Văn phòng, là cán bộ quản lý chuyên nghiệp, trực tiếp điều hành và quản lý hoạt động thường ngày của Bộ.  Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng, Đổng lý Văn phòng và các cấp phó trong Bộ thể hiện được ý đồ chiến lược của Bộ trưởng thành các kế hoạch hành động, các quyết định… để điều hành hoạt động hàng ngày của Bộ. Họ là các cán bộ được thuê theo hợp đồng, không nhất thiết có chuyên môn kỹ thuật chuyên ngành mà phải có kỹ năng quản trị.  Trong Bộ, đơn vị đại diện ở cấp cao nhất là Hội đồng Quản lý Bộ gồm đại diện các bộ phận kinh tế quan trọng nhất trong ngành (đại diện của Nhà nước, đại diện của người sản xuất, người kinh doanh, người quản lý…). Người đại diện của Nhà nước do Bộ trưởng bổ nhiệm, các thành viên khác do các tổ chức của nhân dân và ngành nghề đề nghị và Bộ trưởng quyết định. Hội đồng Quản lý Bộ họp định kì hàng năm để quyết định về các định hướng quan trọng và giám sát hoạt động của Đổng lý Văn phòng.  Như vậy ở cấp cao nhất đã có sự phân vai rõ ràng giữa người chủ (Bộ trưởng đại diện cho dân và Hội đồng Quản lý Bộ là đại diện của các tác nhân chính trong ngành) và người chịu trách nhiệm điều hành Bộ (Đổng lý Văn phòng, các Phó Đổng lý Văn phòng và các Cục, Vụ trưởng).  Nhờ sự phân quyền rõ ràng như vậy nên Bộ trưởng không cần trực tiếp ngồi tại Văn phòng Bộ, không mất thời gian vào công việc sự vụ, có thể tập trung sức lực vào các hoạt động định hướng chiến lược, các quan hệ ngoại giao cấp cao và làm việc với dân. Ngược lại, các cấp quản lý chuyên môn là người trực tiếp ngồi tại cơ quan Bộ, toàn quyền và chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định cụ thể.  Ở cấp cơ sở, các Viện nghiên cứu của New Zealand và Úc hoạt động theo hình thức vừa là Viện nghiên cứu của Nhà nước, vừa là các doanh nghiệp phục vụ thị trường. Đứng đầu các đơn vị này cũng có sự phân quyền rõ rệt. Đại diện cho phía chủ là Hội đồng quản trị. Thành viên của Hội đồng quản trị phần lớn là đại diện của nhân dân. Bên cạnh đó là đại diện của Nhà nước do Chính phủ chỉ định (thường là đại diện của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học Công nghệ), đại diện của các đối tượng sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như các doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội ngành nghề… Trong Hội đồng quản trị có một số ít thành viên là các nhà khoa học. Bên dưới Hội đồng quản trị là bộ phận quản lý điều hành Viện. Đứng đầu là Tổng giám đốc điều hành (CEO), thường là cán bộ quản lý chuyên nghiệp do Hội đồng quản trị thuê. Đa số CEO là các nhà quản trị kinh doanh hoặc quản lý kinh tế. Dưới CEO là các Giám đốc chuyên ngành quản lý các bộ phận chuyên môn như Bộ phận quản lý Khoa học (thường là người có chuyên môn khoa học), Bộ phận quản lý kinh doanh (thường là người có chuyên môn về quản trị kinh doanh), Bộ phận nhân sự (thường là người có chuyên môn quản lý), các Bộ phận hỗ trợ như Tài chính, Hành chính, Luật… Với sự tách bạch về quản lý như trên, trong các Viện cũng có sự phân biệt rõ ràng giữa chủ đầu tư và người quản lý như ở cấp Bộ.  Hội đồng quản trị họp 1 đến 2 lần một năm, xác định các định hướng, chiến lược về nghiên cứu, lựa chọn các ưu tiên nghiên cứu, đánh giá hiệu quả công tác nghiên cứu do cơ sở và người sử dụng trực tiếp phản ánh cho thành viên của Hội đồng quản trị. Căn cứ định hướng chỉ đạo đó, các cấp quản lý chuyên trách, là người làm thuê, chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong quá trình điều hành trực tiếp các hoạt động hàng ngày của Viện. Những người này vừa được hưởng mức lương cứng, vừa được thưởng thêm lợi nhuận nếu Viện hoạt động có hiệu quả trong khi các thành viên của Hội đồng quản trị chỉ được hưởng phụ cấp cao và không được chia lợi nhuận do đây là cơ quan nhà nước.  Ở các cơ quan chịu trách nhiệm cấp vốn cho nghiên cứu như RDC ở Úc và FRST ở New Zealand, cách thức quản lý cũng phân vai rõ ràng tương tự như ở cấp Bộ.  Như vậy, cả ở cấp Bộ và cơ sở, quyền lực của Dân được thực hiện trực tiếp thông qua đại diện của mình trong Hội đồng Quản lý ở các cơ quan tương tự như nhà đầu tư quản lý công ty thông qua đại diện trong Hội đồng Quản trị vậy.  3. Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ lấy từ nguồn nào?  Hàng năm vốn đầu tư cho KHCN của Úc là 1,2 tỷ đô la Úc, của New Zealand là 477 triệu đô la New Zealand. Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ được cung cấp từ cả Chính phủ và nhân dân. Ngoài ra, bản thân doanh nghiệp khoa học cũng tham gia tích lũy vốn đầu tư trở lại cho khoa học công nghệ. Sau 30 năm cải cách, hiện nay nguồn vốn của nhà nước trong nhiều trường hợp đã giảm xuống dưới 50% và dự tính trong tương lai gần mức đóng góp của các nguồn khác sẽ tăng lên 75% do người sử dụng tiến bộ khoa học đóng góp ngày càng tăng và dưới hình thức một loại thuế khoa học công nghệ thu từ các cơ sở sản xuất theo từng ngành hàng.               Hình 1: Mô hình phân bổ đầu tư trong quá trình nghiên cứu  và ứng dụng khoa học công nghệ tại Úc và New Zealand          Vốn nghiên cứu từ cả hai nguồn nhà nước và tư nhân được giao cho các quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ. Đây là các cơ quan hoạt động độc lập chuyên làm nhiệm vụ “đặt hàng” và “mua” kết quả nghiên cứu của các Viện, Trường. Các quỹ này đều được tổ chức dưới hình thức như một quỹ đầu tư do một Hội đồng quản lý bao gồm đại diện của Nhà nước (Bộ Tài Chính, Bộ Khoa học và Công nghệ) và đại diện của người sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (các công ty đóng thuế khoa học công nghệ). Dưới Ban quản lý này cũng là một Tổng giám đốc điều hành (CEO) chịu trách nhiệm quản lý, điều hành quỹ và chịu trách nhiệm trước Hội đồng. Các quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu, đặt hàng nghiên cứu, đề tài, dự án…  Các đơn đặt hàng không tiến hành dưới dạng các đề tài riêng biệt hàng năm như ở Việt Nam mà được xây dựng thành các chương trình dài hạn 3-5 năm, từ ý tưởng ban đầu cho đến sản phẩm cuối cùng để có thể ứng dụng đưa vào sản xuất. Mỗi một chương trình được chia thành các bước đi có sản phẩm trung gian cụ thể. Các hợp đồng được ký kết với các Viện lớn theo chương trình và có thể chia nhỏ cho các quan nghiên cứu cấp dưới hoặc cho các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành khác theo từng công đoạn.  Ngân sách nhà nước thường được đầu tư cho các bước đầu tiên khi nghiên cứu chỉ mang tính chất lý thuyết và vốn của doanh nghiệp được tập trung đầu tư vào các giai đoạn cuối gắn với ứng dụng. Ngoài ra, cách tổ chức quỹ như vậy còn khuyến khích các Viện tự bỏ vốn đầu tư vào hướng nghiên cứu có triển vọng và cho phép họ thu tiền bản quyền tác giả lâu dài. Mặt khác, nếu thấy kết quả có khả năng ứng dụng cao vào sản xuất, các công ty, doanh nghiệp tư nhân có thể hợp đồng thêm với các viện nghiên cứu ở giai đoạn cuối cùng để đa dạng hóa sản phẩm khoa học và đưa nhanh vào ứng dụng.  Cách quản lý và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, viện nghiên cứu và tư nhân như trên giúp tránh được hai vấn đề thường gây tranh cãi ở Việt Nam. Đó là sự phân bổ đầu tư giữa nghiên cứu cơ bản (của nhà nước) và nghiên cứu ứng dụng (đang xã hội hoá) và mối quan hệ giữa Viện lớn (các viện hàn lâm, viện mẹ) và các đơn vị trực thuộc.  4. Làm thế nào quản lý hiệu quả và tạo động lực cho cán bộ khoa học ?  Theo ý kiến của các nhà quản lý ở hai nước, cách đánh giá cán bộ tốt nhất không phải là từ dưới lên (nhân viên đánh giá lãnh đạo) như Việt Nam làm mà nên là ngược lại (lãnh đạo nhận xét nhân viên).  Đầu năm và giữa năm, lãnh đạo cấp trên có trách nhiệm giao nhiệm vụ cho người dưới quyền căn cứ theo kế hoạch hoạt động của đơn vị, chức năng và nhiệm vụ của cá nhân thành điều khoản giao việc (TOR). Sáu tháng một lần các cấp quản lý đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới và tính thành điểm rõ ràng để làm căn cứ đề bạt, sa thải, tăng lương…  Trong trường hợp cán bộ không làm tròn trách nhiệm ở mức độ nghiêm trọng, cấp quản lý trực tiếp có trách nhiệm nhắc nhở và theo dõi việc sửa chữa. Trong vòng 3 tháng nếu cán bộ đó tiếp tục sai phạm, không làm tròn nhiệm vụ thì sẽ bị hạ cấp hoặc đưa ra khỏi cơ quan. Đây là hình thức đánh giá chính trong toàn hệ thống dựa trên kết quả công việc và quy định chung.  Ngoài ra, hàng năm, các cán bộ đồng nghiệp trong viện có thể góp ý cho nhau thông qua một loại phiếu điều tra. Phiếu hỏi những người có liên quan trong đơn vị về quan hệ hợp tác giữa cán bộ và đồng nghiệp. Sau đó kết quả được gửi lại cho chính đương sự nhằm mục đích góp ý xây dựng một cách khách quan, không dùng làm căn cứ để đánh giá, đối xử với cán bộ.  Do có cơ chế thưởng phạt rõ ràng nên đội ngũ cán bộ liên tục được đổi mới. Hàng năm vẫn có cán bộ bị đưa ra khỏi cơ quan hoặc được tuyển vào.  Ở Úc, lương cho đội ngũ cán bộ then chốt được nhà nước đảm bảo. Ngoài ra, Viện dùng nguồn tài chính từ các đề tài đấu thầu cạnh tranh để chi trả cho các hoạt động nghiên cứu, vận hành bộ máy, chi phí hành chính… và phần còn lại được dùng để thưởng thêm vào lương cán bộ.             Đơn vị: triệu $ Úc   Biều đồ 1: Đầu tư hàng năm cho R&D giai đoạn 2005 – 2006 của Úc        Ở New Zealand, toàn bộ nguồn thu của các viện là từ đề tài và đấu thầu cạnh tranh bao gồm cả lương, hoạt động nghiên cứu, chi phí hành chính và quản lý đơn vị… So giữa hai nước, cách làm của New Zealand khuyến khích và đào thải mạnh hơn nên khả năng thu hút cán bộ từ quốc tế rất mạnh. Ví dụ, Viện Nghiên cứu cây ăn quả New Zealand hiện nay có hơn 500 cán bộ cao cấp nằm ở 10 trung tâm, trụ sở với các phân viện ở Mỹ, Úc, Tây Ban Nha…  5. Đổi mới quản lý KHCN ở Úc và New Zealand diễn ra như thế nào?  Cũng như Việt Nam, Úc và New Zealand phải trải qua một quá trình dài vất vả đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức các cơ quan nghiên cứu. Trước năm 1992, ngành nông nghiệp New Zealand có trên 60 Viện và Trung tâm nghiên cứu (không kể các trường Đại học). Công tác quản lý khoa học chồng chéo giữa Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Nông nghiệp. Hiện nay, cải cách hoàn tất, số lượng các viện nghiên cứu giảm xuống còn 4 (Viện chăn nuôi gia súc và gia cầm, Viện Nghiên cứu cây ăn quả, Viện Giống cây trồng và chế biến thực phẩm, Viện sử dụng đất nước bền vững).  Một trong những thay đổi lớn là chuyển từ cấp vốn theo kiểu phân bổ đề tài hàng năm trước đây sang đầu tư cho các chương trình nghiên cứu dài hạn cho các sản phẩm khoa học cụ thể. Các cơ quan chịu trách nhiệm đặt hàng nghiên cứu (RDC ở Úc và FRST ở New Zealand) bàn bạc với các viện để xây dựng các chương trình đầu tư dài hạn. Trên cơ sở đó, hai bên ký hợp đồng cho toàn bộ chương trình để cấp vốn cụ thể và đánh giá hàng năm.  Một sự đổi mới khác là chính phủ thu thuế khoa học công nghệ từ các cơ sở sản xuất để đầu tư lại cho cơ quan nghiên cứu. Và do phải sống bằng nguồn thu từ thuế trực tiếp của người sử dụng công nghệ nên các viện nghiên cứu phải rất chú ý đến yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Nhờ đó mối liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và nghiên cứu được hình thành một cách tự nhiên.  Trong quá trình đổi mới, Úc và New Zealand cũng phải từng bước điều chỉnh để các viện nghiên cứu không quá sa đà vào cung cấp dịch vụ kỹ thuật và tư vấn để tăng thêm thu nhập mà lãng quên công tác nghiên cứu. Để thực hiện điều này, cả hai nước áp dụng chính sách để các viện nghiên cứu chỉ thông qua các hoạt động nghiên cứu là đủ khả năng thu hồi mọi chi phí hoạt động và có tái sản xuất mở rộng (gồm chi phí tiền lương, quản lý bộ máy, mua sắm tài sản và các chi phí khác…) Mặt khác, các viện được hưởng lợi ngày càng nhiều từ tiền sáng chế và bản quyền. Chính sách này khuyến khích viện vào hoạt động nghiên cứu hơn là làm dịch vụ kỹ thuật thuần tuý.  6. Các đề tài nghiên cứu được xác định và lựa chọn như thế nào?            Những cậu bé thổ dân New Zealand làm quen với laptop        Chính phủ định kỳ thông báo các định hướng nghiên cứu muốn tiến hành. Căn cứ vào đó, các Bộ đề ra các mục tiêu chiến lược cho ngành (Ví dụ Bộ Nông nghiệp hướng vào nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường…).  Các cơ quan cấp vốn (RDC của Úc và FRST của New Zealand) có trách nhiệm đề ra các chương trình sản phẩm cụ thể mà nhà nước muốn có và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên cho cả nước, từng địa phương, và từng lĩnh vực. Các cơ quan này có thể xác định tên đề tài và sản phẩm cụ thể hoặc có thể chỉ nêu định hướng để các Viện đề xuất nghiên cứu.  Các viện, trường dựa trên định hướng của Bộ/ngành, yêu cầu của các thành phần kinh tế trong ngành và lợi thế so sánh của đơn vị mình, chủ động đề xuất, xây dựng kế hoạch nghiên cứu của mình và tham gia đấu thầu cạnh tranh.  Ở cả ba cấp, kế hoạch được xây dựng trong 3 năm hoặc 5 năm với các sản phẩm và mục đích rõ ràng kèm theo giải pháp thực hiện cụ thể (cán bộ, tài chính, chính sách, cách thức quản lý…). Kế hoạch này đều phải thông qua Hội đồng Quản lý các cấp trong kế hoạch hàng năm và báo cáo tiến độ kết quả thực hiện vào cuối năm.  Cách xác định và lựa chọn đề tài nghiên cứu như trên giúp tránh được sự chồng chéo giữa các cơ quan cấp vốn, đảm bảo sự chủ động và thích ứng của các viện nghiên cứu, định hướng được các hoạt động nghiên cứu theo chương trình lớn từ trên xuống dưới và thể hiện thành các sản phẩm cụ thể ngay từ đầu để phối hợp đầu tư.        * * *  Phương thức tổ chức phối hợp hài hòa giữa các đại diện của người dân làm chủ trong các hội đồng quản lý, và đội ngũ cán bộ quản trị làm thuê, đội ngũ cán bộ khoa học nhiệt tình và hăng say nghiên cứu là những yếu tố quyết định thành công trong hoạt động KH&CN của Úc và New Zealand.  Ảnh trên cùng: Điêu khắc “Fractal” tại Quảng trường Liên bang (Úc)  Đặng Kim Sơn      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý khoa học năm 2009: NHỮNG CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC      Việc nhiều Viện nghi&#234;n cứu, Trường đại học từng bước lấy chuẩn mực quốc tế l&#224;m thước đo chất lượng nghi&#234;n cứu thực sự l&#224; một chuyển biến t&#237;ch cực trong đổi mới quản l&#253; khoa học của đất nước tr&#234;n tiến tr&#236;nh hội nhập.    Bước đầu tiên thực sự đáng giá là Trung tâm thông tin tư liệu thuộc Bộ KH&CN đã mua quyền truy cập điện tử tới hơn 2000 tạp chí khoa học quốc tế (từ ScienceDỉrect), tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học đăng ký sử dụng, và danh sách này – được cho biết – sẽ tiếp tục được mở rộng. Đây là cửa sổ không thể thiếu để các nhà khoa học trong nước tiếp cận thông tin khoa học quốc tế. Số lượng và tốc độ tăng số người đăng ký truy cập nói chung và ở các cơ sở cũng cho chúng ta kiểm tra chính sách khoa học có hướng được mọi người nâng cao trình độ tới hội nhập? Quyền truy cập tới cơ sở dữ liệu của Viện thông tin khoa học tại Mỹ (Institute for Scientific Information – ISI) cũng đã được mua.  Mặc dù Trung tâm hỗ trợ đánh giá KH&CN thuộc Bộ KH&CN còn chưa thành công trong việc thu thập thông tin chuyên gia (mà trọng tâm là danh mục công trình khoa học từ năm 2000 tới nay) của phần lớn các đối tượng cần quan tâm (tại sao ?), một số cơ quan khoa học đầu tầu trong nước đã tập hợp được những thống kê khoa học chính thức đầu tiên dựa trên chuẩn mực quốc tế để đánh giá tiềm lực khoa học của cơ quan mình và có các chính sách thích hợp.  Viện KH&CN VN và ĐHQG TP.HCM đã có được danh sách các bài báo công bố quốc tế công bố những năm gần đây được phân loại theo 3 mức: SCI, SCI Expanded, tạp chí và sách có số hiệu quốc tế ISSN hay ISBN. Các bài báo công bố trong nước cũng được thống kê riêng. Viện KH&CN VN còn thống kê cả số sáng chế được đăng ký, tuy số sáng chế còn ít và chưa thấy có sáng chế đăng ký quốc tế.  Các con số thống kê đã cho thấy, Viện KH&CN VN với số biên chế 2265 người có được tổng cộng 725 bài báo quốc tế chuẩn ISI (SCI & SCI mở rộng) trong thời gian gần 5 năm (2004-6/2008), và ĐHQG TP.HCM với gần 2200 giảng viên có 251 bài ISI trong thời gian gần 3 năm (2006-10/2008).  Xếp hạng theo tỷ lệ (số bài báo ISI /số biên chế) của 4.5 năm cho 29 Viện thành viên trong Viện KH&CN VN, thì các Viện đứng đầu có thứ tự là:  1.Viện Toán (1.68), 2.Vật lý (1.05), 3.Sinh học Tây nguyên (0.83), 4.Hóa học (0.54), 5.Vật lý TP HCM (0.51), 6.Hóa học các HCTN (0.50), 7.Khoa học Vật liệu (0.45), 8.Sinh thái TN sinh vật (0.30), 9.Công nghệ sinh học (0.28), 10.Kỹ thuật nhiệt đới (0.26), 11. Cơ học (0.24), 12. Tài nguyên MT biển (0.23), 13. Hải dương học (0.17), 14. Vật lý địa cầu (0.17), 15. Bảo tàng TN VN (0.16), 16. Công nghệ thông tin (0.16), 17.Công nghệ môi trường (0.16), … Có 3 Viện không có bài báo ISI nào, 4 Viện chỉ có 1 bài, và 1 Viện có 2 bài.  ĐHQG TP.HCM là cơ quan đầu tiên đã đưa ra danh sách cụ thể các bài báo công bố quốc tế ISI của các nhà khoa học công khai lên Internet. Đây là một việc làm hết sức cần thiết theo thông lệ quốc tế mà các cơ quan khoa học khác ở VN cần noi theo.  Thống kê của ĐHQG TP.HCM đã cho cả hệ số ảnh hưởng IF- tạp chí cho từng bài báo. Điều này có tác động khuyến khích các nhà khoa học phấn đấu công bố được trên các tạp chí uy tín có IF cao. Vì số bài báo các cơ sở của chúng ta chưa nhiều, việc thống kê chi tiết ra từng ngành hẹp có thể chưa cần ngay, nhưng cũng nên tạm chia ra 7 nhóm ngành chính như Bộ KH&CN đang làm là: Toán, Lý, Tin học, Cơ học, Hóa, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất. Thống kê riêng số bài báo cho từng ngành như vậy và cả số IF tạp chí trung bình cho từng ngành sẽ có ý nghĩa thực tiễn hơn, do những khác biệt nhất định giữa các ngành.  Chúng ta không chỉ cần phải lưu tâm tới số lượng và chất lượng (qua uy tín tạp chí) các công bố quốc tế, của từng ngành, từng cơ sở, mà còn cả số người có năng lực công bố quốc tế (tác giả chính).  26% số công bố quốc tế ISI của ĐHQG TP.HCM là công bố nội lực (bài báo hoàn toàn của tác giả VN). Đây cũng là một tiêu chí quan trọng vì tỷ lệ công bố nội lực của chúng ta hiện rất yếu so với quốc tế, và các bài báo nội lực hoàn toàn là bản quyền lao động sáng tạo của KHVN, thể hiện rõ hiệu quả của chính sách khoa học quốc nội. Nếu xét thưởng cũng nên chú ý tới điểm này (Hàn Quốc chỉ xét thưởng cho tác giả chính bài báo đăng tạp chí quốc tế uy tín) và một thực tế hiện nay là các tác giả bài báo cộng tác thường được tài trợ từ các cơ sở nước ngoài (qua học bổng, tiền lương, điều kiện làm việc), còn các tác giả bài nội lực thì được rất ít hỗ trợ trong nước. Hiện nay một tỷ lệ lớn số công bố quốc tế của chúng ta do các NCS ở nước ngòai mang lại. Từ việc công bố chung với thầy ở nước ngoài vươn tới tự công bố nội lực độc lập từ trong nước là bước tiến lớn của các TS trẻ, mà cần được chính sách trong nước quan tâm hỗ trợ thích đáng.   Các bài báo công bố quốc tế thường có 3 loại: bài nội lực, bài hợp tác quốc tế có ghi địa chỉ VN của tác giả VN, bài hợp tác có người VN tham gia nhưng không ghi địa chỉ VN (bởi vậy không được thống kê trong danh sách của ISI cho VN). 80% số công bố quốc tế ISI có ghi địa chỉ tác giả VN là các bài hợp tác quốc tế (chưa kể số những bài khác có tác giả VN tham gia nhưng không ghi địa chỉ VN – mà chỉ khi chúng ta tự khai mới biết được). Phần lớn số công bố cộng tác đó là được thực hiện ở nước ngoài, từ NCS, TTS của chúng ta, mà quyền cho phép ghi địa chỉ VN hay không phụ thuộc nhiều vào thầy hay chủ nhà nước ngoài.  Có ý kiến cho rằng chỉ bài báo quốc tế có ghi địa chỉ cơ quan mới được coi là thành tích của cơ quan. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, khai số công bố quốc tế của tất cả mọi người có biên chế trong cơ quan, dù bài báo có ghi địa chỉ nước ngoài hay cơ quan cũ sẽ phản ánh được tiềm lực nghiên cứu khoa học hiện có của cơ quan. Điều đó cũng phản ánh  thành công của chính sách chiêu hiền đãi sĩ của cơ quan: đất lành chim đậu.  Thống kê ban đầu vủa Bộ KH&CN cho thấy 17 phòng thí nghiệm trọng điểm, với số vốn đầu tư trung bình hơn 4 triệu USD/1 phòng, chỉ cho được 3 bài báo quốc tế. Khi dư luận quan tâm và Bộ tiến hành kiểm tra, một số Phòng thí nghiệm đã khai bổ sung. Tuy nhiên các báo cáo kết quả cần được thẩm định, tối thiểu nhất là xem tác giả và địa chỉ bài báo cụ thể có phải là bài nội lực và thực hiện tại VN hay ở nước ngoài, nhưng chính xác hơn là phải có các nhà chuyên môn kiểm tra nội dung bài có dùng đúng thiết bị đã cho ở VN ?  Các nhà quản lý của Bộ GD&ĐT đã bắt đầu đề cập yêu cầu luận văn TS phải có bài báo công bố quốc tế. Tuy nhiên phải bắt đầu từ đòi hỏi đó cho các chức danh GS, NCVCC, rồi đến PGS, NCVC, thầy hướng dẫn, cho các lĩnh vực KHTN & KT (thậm chí việc xét ưu tiên cho các nhà khoa học có thành tích công bố quốc tế và sản phẩm công nghệ có giá trị cũng chưa được quan tâm). Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt.  Quyết định về việc áp dụng thí điểm phương thức lập dự toán kinh phí đề tài NCCB của Quỹ PTKH&CN QG vừa mới ban hành đã có những chính sách hỗ trợ tài chính hợp lý để các nhà khoa học có năng lực không chỉ có thể tập trung vào chuyên môn mà còn có kinh phí để nhận đào tạo lực lượng trẻ như thông lệ quốc tế (trước nay ở ta thì việc nhận người và đào tạo TS là đặc quyền của các chức sắc dù khả năng chuyên môn yếu xét theo chuẩn mực quốc tế).   Tuy nhiên để có được những chuyển biến toàn diện và thực sự, quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng cấp Nhà nước, cấp Bộ-Ngành cũng cần phải có các cải cách tương tự: yêu cầu công bố quốc tế, bằng sáng chế, sản phẩm mới và quy trình mới có giá trị thực thụ, tài chính minh bạch, và đào tạo TS trẻ thông qua nghiên cứu. Cần phải nhấn mạnh rằng, các công bố quốc tế của chúng ta trong các lĩnh vực ứng dụng, đặc biệt là các công bố từ nội lực, là rất yếu so với quốc tế. Một thống kê của GS Nguyễn Văn Tuấn cho thấy số công bố nội lực trên lĩnh vực khoa học sự sống – lĩnh vực chiếm tới 1/3 số công bố quốc tế ISI của VN – chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ 2% (so với mức chung vốn đã nhỏ 20%). Cần có sự thay đổi mạnh văn hóa nghiên cứu KH ở VN, đặc biệt là nghiên cứu ứng dụng.  Việc lập mới các Hội đồng chuyên môn dựa theo thành tích công nghệ và bài báo chuẩn mực khách quan quốc tế, trên cơ sở các thông tin mà Trung tâm hỗ trợ đánh giá KH&CN có trách nhiệm thu thập, là yếu tố quyết định hàng đầu cho tiến bộ của KH&CN VN. Tuy nhiên có thể thấy sức cản lớn từ một số chức sắc đặc quyền đặc lợi và lạc hậu muốn duy trì hiện trạng. Chúng ta vẫn thường phê bình sự bất cập của công tác quản lý, nhưng đã chưa lưu ý tới trách nhiệm của các chuyên gia “đầu ngành” trong các Hội đồng chuyên môn này đối với thực trạng hiện nay của KHVN.  Các yếu kém của chúng ta trong giáo dục, phát hiện và xử lý phẩy khuẩn tả, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, dự báo thời tiết, lũ lụt … đều có liên quan ở các mức độ khác nhau tới năng lực đội ngũ cán bộ khoa học và chất lượng nghiên cứu khoa học ở VN hiện nay.1    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý rủi ro ?      &#160;Với chức năng là “cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân, và doanh nghiệp”, dòng vốn điều lệ 1000 tỷ được bổ sung đều đặn hằng năm từ Ngân sách Nhà nước của Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia (Quỹ) được kỳ vọng sẽ cung cấp nguồn tài chính quý giá cho các dự án nghiên cứu ứng dụng tiềm năng, giúp chúng được hiện thực hóa trong đời sống thay vì nằm im đắp chiếu lãng phí. Đây là tin vui lớn cho các nhà khoa học và các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên để Quỹ vận hành được thành công, một trong những vấn đề then chốt cần sớm được giải quyết tốt là: cơ chế quản lý rủi ro.      Những rủi ro cố hữu     Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ luôn tiềm ẩn những rủi ro khách quan cố hữu. Nghiên cứu có thể thất bại. Ứng dụng sản xuất có thể thất bại. Kinh doanh cũng có thể thất bại. Tất cả những rủi ro này trong nghiên cứu ứng dụng khiến nhà khoa học và các doanh nghiệp cùng dè dặt khi bỏ tiền túi ra đầu tư, các ngân hàng cũng dè dặt khi quyết định cho vay.  Sự ra đời của Quỹ là để san sẻ giúp rủi ro cho tất cả các bên liên quan: Có nguồn bảo lãnh từ Quỹ, các ngân hàng sẽ yên tâm hơn khi cho doanh nghiệp và cá nhân vay đầu tư nghiên cứu cải tiến công nghệ. Đồng thời, khi có nguồn vốn vay rẻ ưu đãi từ Quỹ, hoặc khi được Quỹ bảo lãnh khoản vay (nghĩa là Quỹ sẽ trả tiền thay trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán), nhà khoa học yên tâm hơn để nghiên cứu, doanh nghiệp yên tâm hơn khi đầu tư. Nhưng bản thân Quỹ cũng sẽ phải gánh thêm một rủi ro khác: rủi ro hoạt động. Nếu người quản lý Quỹ đưa ra các quyết định về cho vay, hỗ trợ lãi suất, và bảo lãnh, theo lề thói xin – cho, thay vì dựa trên một quy trình phân tích đánh giá khoa học và một hệ tiêu chí minh bạch rõ ràng hoặc do ý chí chủ quan của người có thẩm quyền, do những tiêu cực nảy sinh trong điều hành quản lý, thì rủi ro hoạt động là rất lớn – đồng tiền từ Quỹ có thể bị dùng kém hiệu quả, thậm chí dùng sai mục đích.         Quản lý rủi ro như thế nào?  Hằng năm, Quỹ sẽ được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước để luôn bảo đảm có vốn điều lệ 1000 tỷ. Như vậy, tất cả các rủi ro chúng ta đề cập trên đây, thực chất đối tượng phải gánh vác ở đây là Ngân sách Nhà nước, hay nói cách khác là túi tiền của những người dân đóng thuế. Do vậy, những người quản lý Quỹ phải báo cáo, giải trình định kỳ với Chính phủ, đồng thời, phải có cơ chế chịu trách nhiệm thật rõ ràng trên một cơ sở khoa học về quản lý rủi ro đáp ứng các tiêu chí chặt chẽ, minh bạch, công khai, để qua đó có thể kiểm tra và giải trình được một cách công bằng và khách quan.   Muốn vậy, người ta phải lượng hóa được các rủi ro, đồng thời xác định rõ mức rủi ro nào là chấp nhận được, mức rủi ro nào thì phải xử lý, và mức phí bảo lãnh tối thiểu là bao nhiêu. Từ đó mới có thể xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý, và theo dõi rủi ro. Trong đó phân công rõ ai làm gì, như thế nào, đảm bảo trên lẫn dưới đều không thể lạm quyền.   Để làm được việc này, trước mắt có thể tạm tham khảo cơ chế quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại quốc tế lớn. Về lâu dài, nên xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro, kết hợp với đào tạo nhân lực quản lý rủi ro (đội ngũ chuyên gia trong nước trong lĩnh vực này nhìn chung còn rất mỏng) thông qua các chương trình hỗ trợ hợp tác từ các tổ chức kinh tế tài chính có uy tín, như World Bank hay IMF.                                                TIA SÁNG    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản lý tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp      Hội thảo “Quản lý tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp” do Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO), Viện Sáng chế và Sáng kiến Nhật Bản (JIII) tổ chức tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là cơ hội tốt để chia sẻ kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý, khai thác và bảo vệ có hiệu quả tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.    Việc định giá tài sản trí tuệ để giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn loại tài sản này đang đóng một vai trò quan trọng làm tăng khả năng cạnh tranh và góp phần vào sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp. Các đại biểu đã trình bày các chuyên đề về quản lý tài sản trí tuệ, các phương pháp định giá tài sản trí tuệ; khai thác và sử dụng có hiệu quả thông tin sáng chế trong doanh nghiệp; một số vụ tranh chấp về sở hữu trí tuệ và cách giải quyết.  P.V      Author                Quản trị        
__label__tiasang “Quẩn quanh” với công nghệ cao      Sau hơn 20 năm được đầu tư phát triển, lĩnh vực công nghệ cao Việt  Nam vẫn trong tình trạng gần như chưa có gì. Mặc dù lượng đầu tư không  nhỏ, song việc tiếp cận, chuyển giao và sở hữu được những CNC dường như  đang quá xa “tầm với” của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực  này…    Vẫn là gia công, lắp ráp  Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu (XK) khoảng 3,4 tỷ USD các sản phẩm công nghệ cao (CNC). Năm 2011, chỉ riêng Công ty Samsung Việt Nam đã đạt 5 tỷ USD, song giá trị gia tăng nội địa ước tính chỉ đạt 5-10%. Các doanh nghiệp (DN) Việt Nam không đủ năng lực và công nghệ để sản xuất sản phẩm CNC. Theo thống kê, toàn ngành công nghiệp điện tử (CNĐT), một “mũi nhọn” của lĩnh vực CNC, hiện có khoảng 300 DN, trong đó 1/3 là DN FDI. Hoạt động chính là lắp ráp sản phẩm điện tử gia dụng với gần 70% tổng số vốn toàn ngành, sản xuất linh phụ kiện điện tử chiếm 20% và điện tử chuyên dụng chiếm khoảng 10%. Đặc biệt, tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử rất thấp, bình quân là 13% và chủ yếu là… bao bì. Tỷ lệ nội địa hóa của lắp ráp tivi trung bình đạt hơn 40%. Các sản phẩm khác thuộc nhóm gia dụng khoảng 35%. Mặc dù có sản phẩm gia dụng có tỷ lệ này lên hơn 70% theo số linh kiện nhưng nếu tính về giá trị chỉ đạt 30%.   Nguồn cung cấp linh kiện và các sản phẩm phụ trợ cho ngành CNĐT chủ yếu là nhập khẩu (NK) và một phần sản xuất trong nước, nhưng phần lớn lại do các DN FDI thực hiện. Các DN trong nước chưa cung cấp được các chi tiết điện tử đặc thù. Tỷ trọng XK của các DN Việt Nam chiếm không đáng kể. Hàng CNĐT đã XK đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, thậm chí được ghi danh trên bản đồ sản phẩm điện tử thế giới (thí dụ như nhà máy Samsung đặt tại Bắc Ninh) nhưng giá trị gia tăng rất thấp vì hầu hết nguyên phụ liệu phải NK và chủ yếu chỉ thực hiện lắp ráp. TS Nguyễn Thị Tuệ Anh, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư, cho rằng: “DN Việt Nam chưa tham gia được chuỗi cung cấp đầu vào hay chuỗi giá trị của các DN FDI. Mặc dù gọi là lĩnh vực CNC, nhưng phần “cao” lại không nằm ở Việt Nam mà nằm ở nước khác vì hoạt động hầu như chỉ “quẩn quanh” gia công, lắp ráp với hàm lượng chất xám rất thấp…”.   Sau khi gia nhập WTO, do chính sách bảo hộ của Nhà nước từng bước được gỡ bỏ, nên các DN FDI đã ngừng sản xuất lắp ráp để nhập thành phẩm từ các nước ASEAN vào tiêu thụ trong nước. Do đó, chiến lược phát triển CNĐT của Việt Nam cần được điều chỉnh để tránh mắc tiếp sai lầm. TS Trần Quang Hùng, nguyên Tổng thư ký Hiệp hội DN điện tử Việt Nam cho rằng: “Khi Việt Nam nhập WTO phải giảm thuế, sản xuất trong nước ít lợi nhuận nên các DN FDI rút dần. Nhà đầu tư nước ngoài đến đây để kiếm lợi nhuận chứ không phải giúp chúng ta xây dựng CNĐT hay chuyển giao lại CNC nhằm hướng tới sự phát triền chung”.    Dự án CNC “im lìm” trong khu CNC    Tính đến hết năm 2011, Ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc đã cấp phép đầu tư cho 61 dự án, với tổng vốn đầu tư 31.287 tỷ đồng, có 18 dự án đã đi vào hoạt động. Trong năm 2012, Ban quản lý Khu CNC Hoà Lạc sẽ tập trung hoàn tất giải phóng mặt bằng, song hiện có tới 9 dự án tại Khu CNC Hoà Lạc có khả năng bị thu hồi giấy phép, một nửa trong số đó là các dự án thuộc lĩnh vực CNC (công nghệ thông tin, truyền thông….). Nhiều DN thuộc lĩnh vực CNC đầu tư tại Khu CNC Hoà Lạc “tạm thời” chưa triển khai dự án, mặc dù đã nhận được giấy chứng nhận đầu tư. Công ty CPCN Tinh Vân và Công ty CPCN NCS là hai DN đã nhận giấy phép đầu tư vào khu này từ đầu năm 2011. Công ty CPCN Tinh Vân được cấp phép đầu tư với Dự án “Trung tâm Xây dựng nội dung số” với tổng vốn đầu tư 378,95 tỷ đồng trên diện tích 1,78 ha, dự kiến hoàn tất vào tháng 6-2013. Công ty CPCN NCS với Dự án “Trung tâm Nghiên cứu phát triển phần mềm NCS Hoà Lạc” với tổng vốn đầu tư 385 tỷ đồng, diện tích 1,1 ha.   Tuy nhiên, đến thời điểm này, cả hai DN trên đều chưa phát đi thông tin nào cho thấy đang triển khai dự án. Trên cổng thông tin của Khu CNC Hòa Lạc, chỉ có thông tin khá chung chung “Dự án đã hoàn thiện quy hoạch chi tiết 1/500, đã bàn giao mốc giới và đang cùng hoàn thiện thiết kế để đầu tư hạ tầng chung. Dự kiến, Dự án sẽ hoàn thành xây dựng và lắp đặt thiết bị máy móc vào năm 2013”. Đại diện Công ty CPCN Tinh Vân cho biết, thời điểm này DN đang phải tìm mọi cách để tồn tại, nên chưa thể tập trung mọi nguồn lực thúc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. Còn trên website của NCS, thông tin cập nhật nhất được đăng tải về Dự án Trung tâm Nghiên cứu phát triển phần mềm NCS Hoà Lạc là từ tháng 11-2010.   Ông Trần Đắc Trung, Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư (Khu CNC Hòa Lạc), cho biết, việc rà soát lại các dự án đã được cấp phép đầu tư tại Khu CNC Hòa Lạc đang được tiến hành. Mới đây, Ban quản lý đã làm việc với chủ đầu tư một số dự án, mà đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Tháng 6 tới, nếu dự án nào không triển khai, hoặc triển khai đối phó, sẽ bị thu hồi giấy phép đầu tư. Đã đến lúc cần đổi mới về cách nghĩ, cách làm, và mức đầu tư để có sự phát triển phù hợp với nhu cầu và điều kiện. Ngoài hai dự án trên, một số dự án khác như: Trung tâm sản xuất phần mềm và dịch vụ giá trị gia tăng trên nền mạng IP (Công ty VNG) Trung tâm Nghiên cứu phát triển phần mềm máy tính và sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, viễn thông (Công ty Misa)… cũng đang trong tình trạng “để đó”.    Hướng nào phát triển CNC?    Hằng năm, QH phân bổ khoảng 2% tổng chi ngân sách, tương đương khoảng 0,5% GDP, cho khoa học – công nghệ (KH&CN) nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và áp dụng thành tựu để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó tập trung nhiều cho CNC nhưng so với nhiều nước trên thế giới vẫn là rất thấp. Tổng Giám đốc Công ty TNHH TENMA Việt Nam Katsuhiro Zenke, thẳng thắn: “Các hãng nước ngoài thường chiếm ưu thế về kinh nghiệm cũng như công nghệ và nắm hầu hết thị phần, vì thế việc cung cấp linh kiện của các hãng này thường từ các đơn vị trong hãng hay được hãng ủy quyền sản xuất. Trong khi đó, với công nghệ và kinh nghiệm hiện tại, DN Việt Nam sẽ không dễ dàng tham gia vào chuỗi cung cấp này”.       Theo ông Hoàng Văn Phương, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương), đây là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng XK bình quân khoảng 17,7%/năm (giai đoạn 2001-2010), tuy nhiên sự chênh lệch tỷ trọng XNK lại rất đáng lưu tâm. Thí dụ, năm 2010 XK chiếm hơn 4% tổng XNK, nhưng NK lại chiếm tới 6,15%. Các DN FDI không coi Việt Nam là nơi có nền tảng CNC mà chỉ coi đây là nguồn cung lao động giá rẻ và giá thuê đất thấp. Bên cạnh đó, hiệp hội ngành nghề lại không có khả năng tiếp cận các DN FDI hoặc thiết lập liên kết nhóm để cải thiện tình trạng hợp tác. Theo ông Phương, chúng ta nên thiết lập nền tảng đối thoại hợp tác công tư cùng FDI cho mục tiêu cải thiện thông tin trong lĩnh vực này và thúc đẩy các DN FDI tăng cường hợp tác với chuỗi cung ứng trong nước, chia sẻ công nghệ. Thiết lập một cơ quan tầm quốc gia để thực hiện chuyển giao công nghệ quốc gia. Đầu tư mạnh hơn nữa cho nghiên cứu – chuyển giao do tỷ lệ hiện nay khoảng 0,5% là quá thấp trong môi trường công nghệ phát triển nhanh…  Còn theo TS Trần Quang Hùng, trên thực tế, CNC nói chung mà đặc biệt là CNĐT Việt Nam lạc hậu từ 10 đến 20 năm so khu vực và thế giới. Việc phát triển CNC cần phải có chính sách điều chỉnh hợp lý, tránh mắc tiếp những sai lầm, có định hướng rõ ràng, không nên phát triển theo chiều rộng mà chỉ nên đầu tư theo chiều sâu. DN chỉ nên chọn một chuyên ngành, tập trung vào sản xuất loại sản phẩm mình có thế mạnh, nhằm tạo ra sức cạnh tranh cao để có thể tham gia hệ thống sản xuất khu vực…  Cần tạo mối liên kết chặt chẽ với DN FDI để sản xuất hỗ trợ, tăng khả năng huy động nhiều nguồn tài chính và hỗ trợ hơn nữa để các DN lĩnh vực này tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi và dài hạn cho đầu tư phát triển. Trong Đề án phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2015, Bộ KH&CN cũng đã hình thành và đưa vào hoạt động hệ thống các quỹ trong lĩnh vực KH&CN (Quỹ đổi mới CNC Quốc gia, Quỹ đầu tư mạo hiểm CNC Quốc gia…), chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành liên quan phê duyệt danh mục, mục tiêu, nội dung và sản phẩm chủ yếu của các chương trình KH&CN hướng tới CNC trọng điểm, xây dựng cơ chế tổ chức thực hiện, cơ chế quản lý tài chính đặc thù đối với các chương trình phát triển CNC…       Author                Quản trị        
__label__tiasang Quản trị dữ liệu ở Việt Nam: Hướng tới xây dựng khung khổ pháp luật      Từ góc độ của Bộ Luật dân sự, quyền riêng tư được coi là quyền nhân thân, thì trong nền kinh tế dữ liệu, một khi dữ liệu cá nhân là tài sản có giá trị thì quyền đối với dữ liệu đó phải được coi là quyền tài sản, theo đó chủ thể dữ liệu phải được chia sẻ các lợi ích từ việc khai thác và chia sẻ.    Luật An toàn thông tin cũng đã đề cập đến vấn đề này nhưng mới dừng ở một số quyền cơ bản và tối thiểu của chủ thể dữ liệu cũng như còn thiếu hẳn các cơ chế thực thi quyền một cách thực tế và hiệu quả. Do vậy, Chính phủ Việt Nam quan tâm xây dựng một khung khổ pháp luật hoàn thiện về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư.    Nhiều ngân hàng đang xây dựng hoàn thiện khung Quản trị dữ liệu. Ảnh: internet.  Vì sao cần xây dựng chiến lược quốc gia về quản trị dữ liệu?  Trong thời đại mới đang mở ra (được gọi là kỷ nguyên số hay nền kinh tế dữ liệu), dữ liệu và thông tin đã và đang trở thành tài nguyên và hàng hóa vô cùng giá trị (được ví như dầu mỏ trong công nghiệp hay tiền trong ngân hàng). Các quốc gia đã và đang ý thức ngày càng rõ hơn về vấn đề này, do đó, đồng thời với quá trình chuyển đổi số (digital transformation), đang tìm cách chạy đua để tăng năng lực cạnh tranh trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả dữ liệu và thông tin phục vụ phát triển kinh tế – xã hội hay thậm chí phấn đấu trở thành nền kinh tế dữ liệu hàng đầu.  Tại Việt Nam, Bộ TTTT đã xây dựng Đề án và Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến 2025, định hướng 2030 trình Chính phủ phê duyệt. Về thực chất, đó là quá trình chuyển đổi về kỹ thuật thông qua xây dựng hệ thống hạ tầng và sử dụng công nghệ số ngày càng đổi mới, cập nhật để giải quyết mọi vấn đề của đời sống kinh tế – xã hội ở tầm quản trị quốc gia cũng như quản trị tổ chức và doanh nghiệp. Quá trình này, đương nhiên, trở nên không còn ý nghĩa nếu thiếu nguồn tài nguyên sống còn là dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu lưu trữ ở dạng số. Hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc không chỉ vào chất lượng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật mà còn cả chất lượng của nguồn tài nguyên dữ liệu.  Liên quan đến dữ liệu là thông tin cá nhân, vốn là nguồn tài nguyên quan trọng và có giá trị nhất, yếu tố chất lượng và hiệu quả sẽ chỉ được bảo đảm nếu các khâu của quản trị dữ liệu và quản lý dữ liệu đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu về An toàn dữ liệu và Bảo vệ quyền riêng tư. Theo đó, nếu An toàn dữ liệu có xu hướng được bảo đảm dựa trên các yếu tố kỹ thuật thì Bảo vệ quyền riêng tư lại đòi hỏi sự hoàn thiện của các quy định và cơ chế thực thi pháp luật. Chẳng hạn, trong thời gian qua, một vấn đề lớn đang đặt ra đối với thể chế quản trị của các quốc gia là: Trong khi các công ty sử dụng công nghệ và dịch vụ nền tảng đã thu thập, xử lý, khai thác dữ liệu, thông tin cá nhân của người dùng trên khắp thế giới để kinh doanh và kiếm lợi nhuận khổng lồ, phần lớn các doanh nghiệp khác, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có điều kiện tham gia dẫn đến mất dần năng lực cạnh tranh; đồng thời, hàng tỷ người dùng là các cá nhân đứng trước nguy cơ bị lạm dụng và bóc lột bởi cả dữ liệu cá nhân là tài sản cũng như quyền riêng tư của họ không được bảo vệ.  Chính vì thế, sau khi Liên minh châu Âu ban hành luật Bảo mật thông tin (GDPR) như là một tiêu chuẩn có tính mẫu mực về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư trong kỷ nguyên số, nhiều quốc gia như Anh, Canada, Singapore v.v.. đã xúc tiến xây dựng Chiến lược quốc gia về quản trị dữ liệu.  Hướng đi nào cho Chiến lược quốc gia về dữ liệu ?  Về nguyên tắc, các chiến lược quốc gia này hướng tới ba đối tượng chủ thể chính để triển khai với các nội dung có liên quan như sau:  – Thứ nhất, đối tượng người dân: Các giải pháp nhằm bảo đảm cho mọi người dân có sự tin cậy khi cung cấp dữ liệu, thông tin cá nhân để xử lý, sử dụng bởi bên thứ ba, đồng thời tạo cơ hội để mọi người dân tham gia hiệu quả, công bằng vào nền kinh tế vận hành trên cơ sở dữ liệu.  – Thứ hai, đối tượng doanh nghiệp: Các giải pháp nhằm bảo đảm cho mọi doanh nghiệp có thể vận hành và cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế ngày càng phát triển dựa trên cơ sở dữ liệu (data-driven economy); đồng thời bảo đảm đạt tăng trưởng năng suất lao động của nền kinh tế nói chung thông qua sử dụng hiệu quả dữ liệu.  – Thứ ba, đối tượng Chính phủ: Các giải pháp nhằm bảo đảm sự cải thiện không ngừng việc cung cấp dịch vụ công thông qua thu thập, chia sẻ và sử dụng hiệu quả dữ liệu; đồng thời bảo đảm đạt được sự quản trị đúng đắn và nhất quán để mọi dữ liệu được sử dụng và chia sẻ trên tinh thần hợp tác thiện chí và công bằng giữa các bên liên quan.  Tham khảo thực tiễn thế giới như trên, với quan điểm tận dụng thời cơ lớn của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để phát triển Việt Nam thành một trong những nền kinh tế số hàng đầu trong khu vực, rõ ràng Chính phủ Việt Nam nên sớm ưu tiên xây dựng Chiến lược dữ liệu quốc gia song hành với Đề án/Chương trình chuyển đổi số quốc gia  Hoàn thiện khung khổ pháp luật như thế nào?  Ở tất cả các quốc gia, dù đi theo hướng tiếp cận về chính sách và pháp luật thế nào, (chẳng hạn có sự khác nhau giữa Liên minh châu Âu và Hoà Kỳ như đã trình bày ở phần trên của Báo cáo), liên quan đến quản trị quốc gia về không gian mạng, đều có sự phân biệt và phân định ba lĩnh vực như sau:  – Thứ nhất, vấn đề bảo vệ An ninh mạng (Cyber security). Bảo vệ An ninh mạng là sự bảo đảm an toàn của hệ thống mạng hay cơ sở hạ tầng thông tin mạng để chống lại mọi sự tấn công mạng (Cyber attack), tội phạm mạng (Cyber crime) và chiến tranh mạng (Cyberwarfare). Nó đòi hỏi cả các biện pháp kỹ thuật, công nghệ và pháp lý được triển khai ở hai cấp độ quốc gia và tổ chức, doanh nghiệp, tuy nhiên vai trò chủ động và trọng yếu thuộc về các lực lượng chức năng của Cơ quan nhà nước.  Việt Nam đã có Luật An ninh mạng (ban hành năm 2018), theo đó các đơn vị chức năng của Bộ Công an đã được thành lập để đảm đương nhiệm vụ bảo đảm an ninh mạng. Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần trên của Báo cáo, Luật này có đối tượng trùng lắp và phần nào chồng chéo với Luật An toàn thông tin và các luật khác, đặc biệt khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến phần nội dung vượt quá khung khổ kỹ thuật như dữ liệu cá nhân hay thông tin nhạy cảm (thông tin liên quan đến bí mật, uy tín của cơ quan, lãnh đạo Đảng và Nhà nước).  – Thứ hai, vấn đề bảo vệ An toàn thông tin (Data security): An toàn thông tin liên quan đến tính chính xác, toàn vẹn của dữ liệu, bảo mật chống truy cập trái phép dữ liệu, tính sẵn có và sẵn sàng để sử dụng của dữ liệu. Nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin sẽ chủ yếu được thực thi ở cấp độ tổ chức và doanh nghiệp, tuy nhiên không thể thiếu sự phối hợp, hỗ trợ và giám sát quan trọng của các Cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyền.  Luật An toàn thông tin mạng (ban hành năm 2015) đã đề cập chủ yếu vấn đề này, tuy nhiên còn thiếu hay chưa đầy đủ, toàn diện và cụ thể về các yêu cầu, tiêu chuẩn và biện pháp, đặc biệt chưa có nội dung bảo đảm an toàn thông tin trong các giao dịch xuyên biên giới, sự phối hợp ở cấp độ hiệp hội và vai trò của cơ quan lãnh đạo hay đầu mối của Nhà nước về bảo đảm an toàn thông tin mạng.  – Thứ ba, vấn đề bảo vệ Quyền riêng tư (Privacy): Có thể nói trong cả ba lĩnh vực được đề cập thì bảo vệ quyền riêng tư có ý nghĩa quan trọng cũng như tính chất nhạy cảm nhất. Bảo vệ quyền riêng tư, về bản chất, là bảo vệ con người, vừa là chủ thể vừa là tài nguyên quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế số, sự thành công của các doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào tính hiệu quả của sử dụng, khai thác và chia sẻ dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, khi nói tới tôn trọng quyền riêng tư đối với dữ liệu cá nhân thì không chỉ là để bảo vệ quyền của người khác (bên khách hàng là chủ thể dữ liệu hay người tiêu dùng) mà chính là bảo vệ sự an toàn của chính mình (bên cung cấp dịch vụ, thu thập, xử lý dữ liệu). Bởi nếu dữ liệu cá nhân không được bảo vệ, không chỉ chủ thể dữ liệu sẽ ngừng các giao dịch mà còn có quyền khiếu nại và khởi kiện đòi chấm dứt vi phạm và bồi thường thiệt hại.  Tại Việt Nam, khung khổ pháp luật để bảo vệ quyền riêng tư được tạo ra bởi Bộ Luật dân sự hay thậm chí các chế tài của Luật Xử phạt vi phạm hành chính hay Bộ Luật hình sự không thể đầy đủ và có tính hiệu quả khi xét tới các giao dịch liên quan trong môi trường là không gian mạng. Đặc biệt, đối tượng cần bảo vệ lại là dữ liệu được thu thập, xử lý, lưu giữ, chia sẻ bằng công nghệ số. Ngoài ra, nếu từ góc độ của Bộ Luật dân sự, quyền riêng tư được coi là quyền nhân thân, thì trong nền kinh tế dữ liệu, một khi dữ liệu cá nhân là tài sản có giá trị thì quyền đối với dữ liệu đó phải được coi là quyền tài sản, theo đó chủ thể dữ liệu phải được chia sẻ các lợi ích từ việc khai thác và chia sẻ. Luật An toàn thông tin cũng đã đề cập đến vấn đề này nhưng mới dừng ở một số quyền cơ bản và tối thiểu của chủ thể dữ liệu cũng như còn thiếu hẳn các cơ chế thực thi quyền một cách thực tế và hiệu quả.  Với các phân tích ở trên, chúng tôi khuyến nghị Chính phủ Việt Nam quan tâm xây dựng một khung khổ pháp luật hoàn thiện về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư. Đề xuất này, xét trong bối cảnh khung pháp luật hiện hành có liên quan như đã trình bày ở phần trên của Báo cáo, có thể không nhất thiết hướng đến xây dựng và ban hành một đạo luật riêng theo mô hình của GDPR, tuy nhiên, mà có thể là một văn bản riêng ở cấp nghị định Chính phủ. Vấn đề ở chỗ cần có sự phân định rõ ràng và rành mạch phạm vi và đối tượng điều chỉnh của quy định pháp luật, đó là bảo vệ quyền con người, bảo vệ nguồn tài nguyên dữ liệu quan trọng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế số.  Luật sư Nguyễn Tiến Lập và nhóm nghiên cứu Viện nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS)  Theo KHPT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quảng Ninh cần tăng đầu tư cho KHCN      Sáng ngày 5/10, Bộ trưởng Nguyễn Quân cùng các lãnh đạo khác của Bộ KH&amp;CN đã có buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh về các vấn đề liên quan đến phát triển khoa học công nghệ và tham gia kí kết chương trình phối hợp hoạt động giữa Bộ KH&amp;CN và UBND tỉnh giai đoạn 2011-2015    Bộ trưởng đã nghe ông Đặng Huy Hậu – Phó chủ tịch UBND tỉnh báo cáo tóm tắt những chỉ số kinh tế xã hội của Quảng Ninh năm 2010 và định hướng phát triển năm 2011. Hiện nay, tỉnh đang là trung tâm sản xuất than (chiếm 96% sản lượng than của cả nước), trung tâm sản xuất điện với 5 nhà máy điện đang hoạt động, trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng (xi măng, gạch ngói, gạch nung), trung tâm cảng biển với 5 cảng biển và 4 nhà máy đóng tàu cỡ lớn; đồng thời cũng là trung tâm du lịch với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn.   Tuy vậy, theo ông Phạm Minh Chính – Bí thư tỉnh ủy, thách thức đặt ra đối với tỉnh hiện nay là việc phát triển du lịch đang bị đe doạ do ô nhiễm môi trường từ các ngành công nghiệp chủ lực (khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng) gây ra. Ngoài ra, những ngành công nghiệp đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng kinh tế (khai khoáng, đóng tàu, điện, xi măng) lại là những ngành công nghiệp trung ương, trong khi công nghiệp địa phương chiếm tỉ trọng không đáng kể. Quảng Ninh cũng đối diện với nguy cơ phát triển không bền vững do quá phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên tự nhiên: trong 10.000 tỉ đồng nguồn thu 6 tháng đầu năm thì 67% đến từ than và 9% là từ đất. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu kém, với 55% dân số của tỉnh làm nông nghiệp nhưng chỉ đóng góp 5% vào GDP và chỉ số ICOR khá cao (8,5 so với 6,5 trung bình của toàn quốc).   Trước thực tế này, ông Phạm Minh Chính cho biết trong những năm tới, Quảng Ninh có kế hoạch tập trung phát triển dịch vụ du lịch, công nghiệp phụ trợ và công nghiệp chế biến. Đây là hai loại hình phù hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng. Để tiến hành đổi mới toàn diện và tạo động lực cho những ngành kinh tế trên thì ngoài vấn đề vốn, nhân lực, đóng góp của khoa học công nghệ là rất cần thiết. Theo ông Phạm Minh Chính, vướng măc chủ yếu hiện nay của tỉnh là ở khâu quản lý, xây dựng thương hiệu. Nhiều đặc sản của Quảng Ninh hiện nay vẫn chưa có chỗ đứng ngay trên tỉnh nhà do không tạo dựng được thương hiệu đạt chuẩn. Việc đưa ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, tiêu dùng cũng đặc biệt được nhấn mạnh để đảm bảo phát triển bền vững, hài hòa giữa các ngành công nghiệp.   Qua những ý kiến và  đề xuất của lãnh đạo tỉnh, Bộ trưởng Nguyễn Quân khẳng định Bộ Khoa học Công nghệ sẽ hết sức hợp tác hỗ trợ Quảng Ninh về nguồn lực, trong đó có đào tạo con người và tham mưu chính sách cụ thể trong định hướng phát triển liên quan tới KHCN của tỉnh. Bộ trưởng đề nghị địa phương tăng đầu tư ngân sách cho khoa học công nghệ bằng cách đa dạng hóa nguồn thu xã hội, đặc biệt cần khuyến khích các doanh nghiệp tham gia. Việc lồng ghép các chương trình phát triển khoa học công nghệ trọng điểm của địa phương với chương trình quốc gia cũng được đưa ra như một giải pháp tận dụng tối đa hỗ trợ của Nhà nước và đảm bảo sự nhất quán trong chính sách giữa quốc gia và địa phương.   Chiều cùng ngày, Bộ trưởng đã có buổi làm việc với Sở KH&CN tỉnh Quảng Ninh và đến thăm nhà máy gạch Viglacera Hạ Long.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ đầu tư khoa học Hà Lan tê liệt vì bị tấn công bằng mã độc      Các hacker đã công khai một loạt những tài liệu nội bộ của Tổ chức nghiên cứu khoa học Hà Lan (NWO) trên trang web đen, sau khi cơ quan này từ chối trả tiền cho một vụ tấn công bằng mã độc, bắt đầu từ ngày 8//2/2021. Cuộc tấn công này đã làm đứt đoạn hoàn toàn việc tiếp nhận hồ sơ xin tài trợ, quá trình bình duyệt và việc thông tin của NOW tới các bên gửi hồ sơ xin tài trợ, những người được chấp thuận tài trợ và các trường đại học.        Việc dùng mã độc tấn công các tổ chức, công ty và ngay cả bệnh viện đã ngày một trở nên phổ biến, và một số tổ chức đã quyết định chọn cách làm dễ hơn để khôi phục hệ thống máy tính hoặc ngăn ngừa phát lộ dữ liệu bí mật. NWO từ chối làm điều đó. “Về cơ bản, NWO là một phần của các cơ quan thuộc chính phủ Hà Lan nên không sẵn sàng trả tiền chuộc”, họ cho biết trong một thông cáo báo chí. “Dẫu cho NOW vô cùng tiếc về tình trạng không may mắn của các tài liệu cá nhân nhạy cảm bị lan truyền, rò rỉ… NWO sẽ không thay đổi quan điểm của mình.” Tổ chức đầu tư cho nghiên cứu này cho biết những tài liệu bị đánh cắp có thể sẽ xuất hiện công khai “trong một tương lai gần”.    NWO, nơi quản lý gần một tỉ euro, là cơ quan cấp quỹ khoa học chính của Hà Lan. Họ đã thông báo về cuộc tấn công này vào ngày 14/2 và cho biết không thể sử dụng được email, các ứng dụng khác hoặc thậm chí cả điện thoại của mình nữa; cả một số tổ chức liên kết với hoặc do NWO quản lý cũng trong tình trạng này như Sáng kiến nghiên cứu giáo dục Hà Lan và Ủy ban Vùng cực châu Âu. NWO phải hủy bỏ nhiều hội thảo cho đến ít nhất là 15/3 và cho biết không thể nhận thanh toán hóa đơn; cách tốt nhất cho những bên xin tài trợ và bên được duyệt kinh phí liên hệ là thông qua một trang hỏi đáp (Trang web của cơ quan này không bị ảnh hưởng bởi cuộc tấn công). “Chúng tôi lấy làm tiếc về sự phiền phức ảnh hưởng đến việc tiếp nhận hồ sơ xin tài trợ”, người phát ngôn của NOW cho biết.  Hệ thống tiếp nhận hồ sơ xin tài trợ của NOW vận hành trên một máy chủ bên ngoài không bị ảnh hưởng nhưng NOW cho biết, nó đã bị đóng cửa vô thời hạn để đề phòng khi vụ việc đang được điều tra. Các vòng cấp tài trợ mới và quá trình bình duyệt các vòng cũng bị tạm dừng. NWO đang làm việc với một công ty bảo mật để khôi phục hệ thống của họ, nhưng không rõ sẽ mất bao lâu.  Trong những tài liệu của NOW bị tin tặc phơi này gồm dữ liệu cá nhân, người phát ngôn cho hay. NOW vẫn đang cố gắng tìm ra những thông tin gì khác mà tin tặc đã lấy được, cố gắng tìm hiểu là liệu các hồ sơ xin tài trợ và đánh giá hồ sơ kín có bị tin tặc đánh cắp hay không.  Tháng trước, các tin tặc hướng đến một cơ quan cấp quỹ khác, Tổ chức Nghiên cứu và Đổi mới Anh, nhưng tác động của nó ở quy mô nhỏ hơn trường hợp của NWO; UKRI tuần trước cho biết là đã khôi phục được dữ liệu của mình một cách nhanh chóng mà không phải trả tiền, đồng thời cho biết thêm là “không có bằng chứng về bất kỳ dữ liệu bị đánh cắp từ các hệ thống của chúng tôi”. Trường đại học Amsterdam và trường đại học Khoa học ứng dụng Amsterdam đều bị tấn công trong mấy tuần gần đây. Không có chỉ dấu là các tin tặc hướng đích một cách đặc biệt vào lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục đại học, người phát ngôn của NOW cho biết.  Một cuộc tấn công phức tạp khác đã diễn ra với một tổ chức nghiên cứu và giáo dục khác là trường đại học Maastricht – cũng ở Hà Lan, vào cuối năm 2019 khiến họ rơi vào thế bế tắc. Trường này cuối cùng đã phải trả một khoản tiền chuộc là 30 bitcoin, tương đương 200.000 euro vào thời điểm đó, để các hệ thống của họ khỏi bị phong tỏa.  NOW cho biết cuộc tấn công đã sử dụng mã độc DoppelPaymer, vốn là loại mã độc từng xuất hiện vào tháng 6/2019 như lời cảnh báo gần đây của FBI. “Trước khi các hệ thống bị nhiễm mã độc, những kẻ tấn công đã đánh cắp dữ liệu để sử dụng trong các kế hoạch tống tiền và sau đó gọi điện thoại đến nạn nhân để gây áp lực buộc họ phải trả tiền”, FBI viết.  Tô Vân tổng hợp  Nguồn: https://www.sciencemag.org/news/2021/02/dutch-research-funding-agency-paralyzed-ransomware-attack-refuses-pay  https://newsopener.com/science/dutch-research-funding-agency-paralyzed-by-ransomware-attack-refuses-to-pay-up/    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy định số công bố ISI nên dựa trên tính đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu      Góp ý về những đổi mới cần thiết nhằm xây dựng một quy chế quản lý khách quan và minh bạch hơn cho Quỹ Nafosted, PGS. TS Trần Thanh Hải (Đại học Mỏ – Địa chất) cho rằng, khi quy định số lượng bài báo ISI với các đề  tài được Quỹ tài trợ, chúng ta cần chú ý đến tính đặc thù của từng lĩnh  vực nghiên cứu để có mức tiêu chuẩn phù hợp.      Để có được cái nhìn khái quát và rộng hơn trong khâu đánh giá, thẩm định, theo tôi việc mời các chuyên gia nước ngoài tham gia vào công tác này cùng các đồng nghiệp Việt Nam là việc làm cần thiết. Họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với các công bố quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu của mình hơn các đồng nghiệp Việt Nam nên việc đưa ra những đánh giá về mục tiêu đề tài, phương pháp nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài là khá chính xác. Đặc biệt, không chỉ góp phần tăng cường thêm độ chuẩn xác trong việc đánh giá các hồ sơ đề tài, tiếng nói của các chuyên gia quốc tế còn đem lại một kênh tham khảo tốt để các thành viên Hội đồng khoa học nhìn nhận lại năng lực đánh giá của chính mình.   Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng ta không nên phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá các hồ sơ đề tài của chuyên gia nước ngoài mà cần xem xét tính khả thi của nó trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, điều mà các chuyên gia nước ngoài có thể không hiểu rõ. Do vậy, để có được phương án tốt nhất cho đánh giá của Quỹ Nafosted, tôi cho rằng với mỗi đề tài cần có ba phản biện, trong đó có hai chuyên gia Việt Nam và một chuyên gia nước ngoài. Việc mời phản biện độc lập nước ngoài tham gia cũng tùy thuộc vào tính chất của từng đề tài.   Về công bố trên các tạp chí ISI, theo thống kê của Quỹ Nafosted, các đề tài đã được nghiệm thu đều có ít nhất hai bài báo ISI và có chỉ số ảnh hưởng IF ở mức trung bình khá, đây là một tín hiệu đáng mừng cho khoa học Việt Nam. Tuy vậy có một vấn đề đặt ra là khi quy định số lượng bài báo ISI với các đề tài được Quỹ tài trợ, chúng ta cần chú ý đến tính đặc thù của từng lĩnh vực nghiên cứu để có mức tiêu chuẩn phù hợp. Ví dụ đối với ngành khoa học Trái đất, để xuất bản được hai bài trong một đề tài thực hiện trong vòng ba năm là khá khó khăn bởi kết quả nghiên cứu còn phụ thuộc vào một số yếu tố khách quan như khảo sát thực địa, thu thập thông tin và đặc biệt là phân tích mẫu. Đối với các nhà khoa học trẻ mới thành danh, có thể tạo quy định riêng về cơ chế tài trợ như không nhất thiết phải có đủ hai bài báo trong danh mục ISI mà chỉ nên đặt mức tối thiểu một bài cộng với một số công bố khác dạng báo cáo hội nghị quốc tế và/hoặc bài báo đăng trên tạp chí uy tín quốc gia…   Đối với các nhà khoa học, việc Quỹ Nafosted hỗ trợ họ tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế là hết sức quan trọng. Tuy vậy, với các quy định hiện nay của Quỹ Nafosted, việc hỗ trợ kinh phí vẫn còn quá hạn chế về số lượng hoặc số lần tham dự cho một cá nhân. Thời gian xem xét tài trợ cũng còn khá dài và đòi hỏi nhiều thủ tục hành chính, trong khi đó thời gian công bố tài trợ (nếu có) lại khá gần với thời điểm diễn ra hội thảo nên nhiều nhà khoa học đã bị động và không kịp làm các thủ tục tham dự hội nghị. Để khắc phục vấn đề này, Quỹ có thể nghiên cứu và lựa chọn một số phương thức hỗ trợ hiệu quả hơn như quy định cụ thể về kinh phí dành cho việc tham dự hội thảo quốc tế nằm trong tổng kinh phí cấp cho đề tài nghiên cứu với ít nhất hai cuộc hội thảo mà chủ trì đề tài trình bày báo cáo, đi kèm với nó là quy định rõ ràng đối tượng được hưởng hỗ trợ. Quỹ cũng cần mở rộng việc tài trợ cho các nhà khoa học trẻ dù họ không là chủ trì hoặc thành viên các đề tài do Quỹ tài trợ đi tham dự các hội nghị quốc tế, nếu các báo cáo của họ có ý nghĩa đối với khoa học, an ninh quốc phòng hoặc kinh tế nước nhà.          Vào ngày 19/9 vừa qua, tám Hội đồng khoa học  Quỹ Nafosted trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật nhiệm kỳ  2015-2017 đã chính thức ra mắt. Tại phiên họp  đầu tiên, các nhà khoa  học đã thảo luận về cơ chế đánh giá, thẩm định đề tài nghiên cứu và  những đổi mới cần thiết nhằm góp phần đem lại một quy chế quản lý khách  quan và minh bạch hơn cho Quỹ Nafosted.           Thanh Nhàn ghi           Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ khoa học của Nhật Bản: Tiếp sức giữa đường cho các nghiên cứu      Kinh phí của Nhật Bản dành cho KH&amp;CN  được phân bổ cho các đề án và chương trình KH&amp;CN do nhiều Bộ và cơ  quan quản lý. Việc phân bổ này do MOF (Bộ Tài chính) quyết định, dựa  trên đánh giá của Hội đồng Chính sách KH&amp;CN (SCTP, là tổ chức cố vấn  của Hội đồng Chính phủ) về các đề án và chương trình KH&amp;CN do các  Bộ đề xuất.       Phần lớn kinh phí KH&CN mỗi Bộ nhận từ Nhà nước lại được giao cho một số tổ chức và viện nghiên cứu thực hiện và được quản lý sử dụng thông qua các quỹ khoa học.     Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học          Theo Dự thảo Đề án đổi mới toàn diện và  triệt để cơ chế quản lý và chính sách khoa học công nghệ, Bộ KH&CN  kiến nghị việc tài trợ kinh phí cho các nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN  sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua các quỹ KH&CN, và đó được coi là  một đổi mới có tính đột phá nhằm khắc phục những bất cập trong cơ chế  và chính sách tài chính KH&CN hiện nay.              Nhưng cho đến nay Bộ Tài chính vẫn muốn duy trì hình thức tài trợ kinh  phí nghiên cứu chủ yếu qua hệ thống các cơ quan tài chính, với lý do:  Hiện chúng ta đã có Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ Đổi mới công  nghệ quốc gia được thành lập năm 2011 (đến nay vẫn chưa hoạt động vì  chưa ban hành được cơ chế hoạt động) và Quỹ KH&CN trong doanh  nghiệp, với nhiệm vụ tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay và thu hút thêm  nguồn lực của xã hội để đầu tư phát triển KH&CN. Tuy vậy trên thực  tế Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia mới chỉ thực hiện được nhiệm vụ tài  trợ vốn chủ yếu từ NSNN, thực chất là đang làm thay nhiệm vụ của NSNN.  Còn nguồn lực thu hút của Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp rất ít. Do  vậy  trước khi tính đến việc thành lập các quỹ phát triển KH&CN mới  có nguồn vốn từ NSNN cần xem xét lại hiệu quả của các quỹ KH&CN hiện  có, sớm đưa Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia vào hoạt động. Và dường như  đã bỏ qua một số sự thật là:              – Viện tài trợ nghiên cứu từ NSNN qua hệ thống tài chính là một trong  những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng các đề tài, dự án nghiên cứu  chậm triển khai.              – Sau gần 3 năm hoạt động, Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia đã góp phần  rất quan trọng tạo ra bước nhảy vọt trong chất lượng nghiên cứu cơ bản,  được các nhà khoa học coi đó là một ngôi nhà chung của mình.               – Quỹ KH&CN trong doanh nghiệp hiệu quả thấp do nhiều nguyên nhân,  trong đó chủ yếu là Bộ Tài chính không muốn nâng mức trích lợi nhuận sau  thuế của doanh nghiệp để đầu tư cho đổi mới công nghệ lên trên 10%;  đồng thời không có quy định sàn trích nộp không được dưới 5% theo kiến  nghị của Bộ KH&CN; ngoài ra không ít doanh nghiệp than phiền tiền  mình bỏ ra để lập quỹ nhưng khi cần chi tiêu cho việc đổi mới công nghệ  thì vướng mắc rất nhiều thủ tục khiến họ chẳng mấy mặn mà với việc gây  quỹ.               Cơ chế hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Bộ KH&CN đã  nhiều lần xin ý kiến Bộ Tài chính và một số các cơ quan liên quan nhưng  đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi.              Tại một số cuộc hội thảo gần đây do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp  với Bộ KH&CN tổ chức để chuẩn bị nội dung cho Hội nghị Trung ương  sắp tới bàn về KH&CN, hầu hết các ý kiến đều cho rằng: cho đến nay  chúng ta mới đề cập đến việc tài trợ kinh phí nghiên cứu qua các quỹ  KH&CN là quá chậm, vì đó là cách làm tiên tiến, có nhiều ưu điểm,  các nước có nền KH&CN phát triển và ngay cả những nước trong khu vực  như Thái Lan, Singapore, Malaysia…đã thực hiện từ nhiều năm nay.              Để góp phần vào nhận thức về sự cần thiết của việc tài trợ nghiên cứu  qua các quỹ KH, chuyên đề về quỹ KH&CN ở số báo này, xin giới thiệu  mô hình quỹ KH&CN của một số nước và ý kiến của một số nhà khoa học  về vấn đề này.         Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học  của Nhật chủ yếu dành cho các đề tài nghiên cứu cơ bản thực hiện bởi các cá nhân hoặc những nhóm nghiên cứu ở các đại học hoặc các viện nghiên cứu, hướng đến sản phẩm chủ yếu là các bài báo công bố trên các tạp chí khoa học.   Quỹ tài trợ nghiên cứu do cơ quan phát triển KH&CN Nhật Bản (JSPS) và Bộ giáo dục, KH&CN, văn hóa, thể thao (MEXT) là hai cơ quan tổ chức và quản lý phần kinh phí KH&CN liên quan đến đông đảo người làm nghiên cứu ở Nhật Bản.   Quỹ JSPS là một tổ chức hành chính độc lập thành lập năm 1932, theo luật Nhà nước hoạt động cho các tiến bộ trong mọi lĩnh vực của khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn. Quỹ do JSPS quản lý gồm: quỹ cho các chương trình nghiên cứu khoa học với kinh phí cỡ vừa và nhỏ (dưới 1 triệu USD) dành cho cá nhân hoặc nhóm nhỏ các nhà khoa học ở đại học hoặc viện nghiên cứu; Quỹ khuyến khích nghiên cứu khoa học dành cho cá nhân các giáo viên phổ thông từ cấp tiểu học hoặc cho mọi công dân với thời gian 1 năm, kinh phí dưới 3 nghìn USD.  Quỹ do MEXT quản lý gồm các chương trình, trong đó có các chương trình kinh phí lớn, quãng từ 1 triệu USD trở lên cho mỗi đề tài mỗi năm:  Nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên: Là các lĩnh vực đặc biệt có thể tạo ra những hướng cơ bản và mới của khoa học hoặc đóng góp cho kinh tế và xã hội Nhật Bản, thời gian 3-6 năm với kinh phí từ 200 nghìn đến 6 triệu USD/đề tài.   Quỹ tài trợ cho nhà khoa học trẻ: Cho người dưới 37 tuổi, thời gian 2-3 năm, gồm loại A với kinh phí từ 5 đến 300 nghìn USD/đề tài và loại B với kinh phí dưới 5 nghìn USD/đề tài.   Nghiên cứu thử nghiệm: Các nghiên cứu dựa trên ý tưởng khởi đầu của sự phát triển một đề tài hoặc một hướng nghiên cứu, thời gian 3 năm trở lại với kinh phí dưới 50 nghìn USD/đề tài.  Quỹ tài trợ cho các mục tiêu đặc biệt: Các đề tài nghiên cứu quan trọng hoặc đột xuất.  Các đề tài được cấp kinh phí bởi Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học thường được đề xuất và thực hiện bởi những nhóm người làm việc ở nhiều đại học hay viện nghiên cứu khác nhau trên cả nước nhưng cùng theo đuổi một mục tiêu trong một lĩnh vực khoa học. Mỗi đề tài nhỏ và vừa thường gồm vài ba thành viên, và các đề tài lớn về các lĩnh vực ưu tiên thường gồm quãng vài chục thành viên.   Tổ chức và quản lý của quỹ khoa học   Quá trình tổ chức và quản lý các đề tài nghiên cứu ở Nhật, cũng như ở nhiều nước châu Âu, Mỹ, Úc  và Việt Nam, bao gồm ba bước chính: viết và nộp đề cương, tuyển chọn, và quản lý tiến trình.   Quy định đề cương nghiên cứu  Việc đăng ký, nộp đề cương và tuyển chọn đề tài của Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học được tiến hành hằng năm. Đề cương được nộp vào tháng 10, tuyển chọn trong vòng 6 tháng, và kết quả được công bố vào cuối tháng 4 năm sau, ngay sau khi bắt đầu năm tài chính và năm học mới (và kinh phí hằng năm được chuyển đến trong tháng 6).   Hồ sơ và hướng dẫn đăng ký có trên trang Web của MEXT và JSPS để cho mọi cá nhân và nhóm nghiên cứu có thể dễ dàng lấy về chuẩn bị. Các đại học thường thu đề cương quãng hai tuần trước hạn nộp JSPS, có bộ phận chuyên trách kiểm tra phát hiện những sai sót so với quy định để giúp hoàn chỉnh đề cương. Sau đó, các đại học sẽ nộp các đề cương lên MEXT hoặc JSPS. Gần đây, các đề cương nghiên cứu sau khi hoàn chỉnh được nộp trực tiếp bởi nhà khoa học qua trang Web của MEXT hoặc JSPS. Việc này tăng tốc độ, sự tiện lợi và tiết kiệm công sức, tiền bạc để in và gửi bưu điện một số rất lớn tài liệu tới cơ quan quản lý và rồi từ cơ quan quản lý đến các thành viên của ủy ban xét tuyển.    Tuyển chọn đề cương  Để thực hiện việc tuyển chọn, Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học JSPS có ủy ban xét duyệt gồm khoảng 4700 người được giới thiệu từ các lĩnh vực khoa học.   Việc xét tuyển được tiến hành qua 2 vòng. Vòng một mỗi đề cương đăng ký được đánh giá độc lập bởi từ ba đến sáu phản biện. Vòng hai, các đề cương được chọn sau vòng một sẽ được đánh giá ở các cuộc họp của các nhóm nhỏ gồm từ vài đến hai mươi phản biện. Đối với các loại đề tài lớn như các COE hay đề tài trong lĩnh vực ưu tiên, nếu qua được vòng một người viết đề tài phải đến trình bày trực tiếp và trả lời các câu hỏi của một hội đồng ở vòng hai. Điều đáng chú ý và có thể khác với ở Việt Nam là thời gian trình bày và hỏi luôn được cố định, buộc người nói phải chuẩn bị kỹ để thuyết phục được hội đồng. Thông thường gần một nửa số hồ sơ qua được vòng một và gần một nửa của số này được chọn sau vòng hai.   Các tiêu chuẩn chính để tuyển chọn đề tài luôn được công bố rõ ràng: mục tiêu, nội dung và kế hoạch nghiên cứu rõ ràng; phương pháp nghiên cứu chứng tỏ được tính khả thi; và người làm có kết quả nghiên cứu tốt trong những năm ngay trước khi viết đề cương. Các đề cương phải nêu rõ danh sách các bài báo tạp chí và hội nghị đã công bố từng năm trong 5 năm cuối của từng thành viên, để người thẩm định thấy rõ trong từng năm đó mỗi người đã làm nghiên cứu và thu được kết quả gì, công bố ở đâu. Điều quan trọng và đáng chú ý nhất, là nói chung kinh phí chỉ cấp cho những đề tài dựa vào các công việc đã và đang được tiến hành, đã đi được một phần của con đường và kinh phí được cấp để giúp đi tiếp. Do vậy, kết quả nghiên cứu trong 5 năm cuối của các thành viên đóng vai trò rất quyết định trong việc tuyển chọn đề tài. Việc đòi hỏi kết quả 5 năm cuối sẽ tránh được các trường hợp chỉ làm nghiên cứu trong quá khứ xa xưa (những người này có thể viết các loại đề tài thử nghiệm). Ngoài ra, các thành viên chính của đề tài phải nêu rõ xưa nay đã làm các đề tài nào, nhận bao nhiêu tiền và kết quả được đánh giá ra sao.  Báo cáo và đánh giá kết quả     Việc báo cáo của các đề tài nghiên cứu cơ bản khá đơn giản. Cuối mỗi năm tài chính, các đề tài nộp báo cáo nêu rõ các kết quả đạt được, chủ yếu là danh sách các bài báo đã được công bố và các bằng sáng chế, được khai báo theo những mẫu chặt chẽ để có thể dễ dàng đánh giá giá trị. Vào năm cuối đề tài sẽ có báo cáo tổng kết toàn bộ hoạt động và kết quả. Với mỗi đề tài lớn, sau hai năm đầu thực hiện đều có kiểm tra, có trình bày báo cáo trước một hội đồng và được xếp hạng. Tùy theo đánh giá đề tài có thể bị giảm hoặc tăng kinh phí, hoặc bị ngừng hẳn.  Minh bạch trong quản lý, điều hành và thực hiện các đề tài KH&CN  Trong những năm gần đây, cả METI và MEXT đều nhấn mạnh đến việc công khai hóa toàn bộ kinh phí cũng như việc điều hành, quản lý các đề tài nghiên cứu, nhất là công khai toàn bộ các kết quả nghiên cứu (chủ yếu bằng tiếng Nhật) trên các trang Web của mình. Ý nghĩa sâu xa của việc này là họ cho rằng tiền nghiên cứu lấy từ thuế của nhân dân, nên kết quả cũng phải trả về cho nhân dân bằng cách công bố công khai chứ không bí mật như trước đây. Vì vậy những ai cần đọc chi tiết các kết quả đều có thể trực tiếp tải xuống với sự đồng ý của người quản lý.   Ở Nhật, kinh phí đề tài, dù lớn hay nhỏ, đều không được dùng như một loại thu nhập thêm cho bất kỳ ai. Những khoản chi tiêu chính gồm có thiết bị, tham gia hội nghị, hợp tác khoa học, hỗ trợ sinh viên, và một phần nhỏ cho chi khác. Tất cả kinh phí đều được sử dụng qua hệ thống tài vụ và người làm không bao giờ động đến tiền mặt. Bộ phận tài vụ của mỗi cơ sở đảm bảo việc chi tiêu theo đúng quy định. Đặc điểm chính là kinh phí đề tài luôn minh bạch. Người thực hiện đề tài và người quản lý luôn có thể theo dõi tình hình tài chính của đề tài trong cơ sở dữ liệu qua truy nhập mạng. Cơ quan quản lý được nhận chừng 15% tổng kinh phí đề tài, chi cho nhà cửa, điện nước, liên lạc, công tác quản lý…   ***  Một trong những cách làm tốt những việc phức tạp là cố gắng hiểu thật kỹ xem thiên hạ đã làm việc ta muốn làm ra sao, và từ hoàn cảnh cụ thể của mình để định ra đường đi. Chính sách khoa học-công nghệ và việc quản lý kinh phí các đề tài nghiên cứu ở Việt Nam thông qua các quỹ khoa học đã có và sắp hình thành chắc chắn cũng cần làm như vậy.      —  Theo Quản lý đề tài nghiên cứu ở Nhật – Hồ Tú Bảo số 13 tháng 7 năm 2008  * Viện KH&CN Tiên tiến Nhật Bản; Viện KH&CN Việt Nam         Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ khoa học Singapore: Thủ tướng trực tiếp chỉ đạo      Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia Singapore (NRF) ra đời theo Luật về Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia năm 2006. Dưới đây là nội dung các điều khoản về việc quản lý quỹ theo luật này:    Trách nhiệm của quỹ  Quỹ sẽ được điều hành, quản lý bởi một Hội đồng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ.   Hội đồng Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia   Hội đồng có tên gọi “Hội đồng Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia” gồm số lượng các thành viên theo quyết định của Thủ tướng.   Các thành viên của hội đồng sẽ được thủ tướng bổ nhiệm và điều hành trong thời gian được bổ nhiệm (không quá 3 năm) theo sự quyết định của Thủ tướng trong mọi trường hợp.  Phân ban: Chức năng và nhiệm vụ của hội đồng là:  Điều phối các hoạt động nghiên cứu và phát triển dưới sự chỉ đạo và đề xướng của Chính phủ cho các cơ quan công lập cho tới các tổ chức, học viện hoặc các cá nhân ở Singapore, và tạo điều kiện hợp tác, giao lưu, trao đổi khoa học giữa các bên.   Nghiên cứu và hạch toán ngân sách cần thiết cho hoạt động nghiên cứu và phát triển chung cũng như đặc thù.   Phát triển chính sách và kế hoạch cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển của Singapore vì lợi ích quốc gia.  Phê duyệt các thu chi tài chính của Quỹ.          NRF được quản lý bởi Hội đồng Nghiên cứu,  Đổi mới, và Doanh nghiệp (RIEC), có chủ tịch là Thủ tướng.               NRF có ngân  sách điều hành khoảng 11,7 tỷ USD, hoặc 3,4% tổng chi tiêu của Văn phòng  Thủ tướng năm tài khóa 2012                Nguồn: http://www.mof.gov.sg/budget_2011/expenditure_overview/pmo.html        Tư vấn cho Thủ tướng trong các vấn đề liên quan tới quản lý và điều hành của Quỹ mà Hội đồng cân nhắc là thích hợp hoặc Thủ tướng đưa ra ý kiến cho Hội đồng xem xét.   Báo cáo lên Thủ tướng không muộn hơn 30 ngày trước khi kết thúc mỗi năm tài chính của Quỹ về tình hình ngân sách của Quỹ để chuẩn bị cho năm tài chính tiếp theo của Quỹ.  Báo cáo lên Thủ tướng 1 bản báo cáo thường niên của Quỹ không quá 30 ngày sau khi kết thúc mỗi năm tài chính; và  Thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trên cùng các trách nhiệm và chức năng khác nhằm quản lý, điều hành hoạt động của Quỹ theo quy định.   Hội đồng thực hiện quyền và nghĩa vụ trong phạm vi chức năng và trách nhiệm của mình theo quy định của Luật pháp, trong từng trường hợp tuân theo sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ.  Hội đồng nghiên cứu, tư vấn và đổi mới  Đây là một hội đồng có tên “Hội đồng nghiên cứu, sáng tạo và tư vấn” gồm các thành viên ở cả khu vực công lập và tư nhân do Thủ tướng quyết định, và chức năng của họ là:  a) Đưa ra các tư vấn và hướng dẫn cho Chính phủ trong việc hoạch định chính sách và luật pháp dựa trên tất cả các hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới ở Singapore.  b) Chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới trên mọi lĩnh vực ở Singapore bằng việc nhận diện và đề xuất các hoạt động của chương trình nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Singapore trên bình diện quốc tế và chỉ báo cho cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân về việc các cơ hội kinh doanh mới dựa trên việc sử dụng thành quả của các hoạt động nghiên cứu và phát triển hoặc đổi mới.  Về tài chính  1. Hội đồng sẽ:  a) Thực hiện và giữ các bản kê khai hợp lệ cũng như hồ sơ của mọi giao dịch, công việc có liên quan tới Quỹ.  b) Phải làm mọi thủ tục cần thiết để đảm bảo rằng mọi chi trả của Quỹ đều được thực thi đúng và có căn cứ.  c) Đảm bảo duy trì kiểm soát với mọi tài sản, chứng từ của Quỹ.  2. Hội đồng sẽ chọn một cơ quan công lập làm phòng kế toán của Quỹ có trách nhiệm lưu trữ kê khai và hồ sơ hợp lệ, ngoài ra chuẩn bị các báo cáo về tài chính của Quỹ theo mỗi năm tài chính.  Báo cáo tài chính và kê khai kiểm toán  1. Hội đồng sẽ phải chuẩn bị cho Tổng kiểm toán một bản kê khai tình hình tài chính của Quỹ trong một năm vào thời điểm sớm nhất có thể trước khi kết thúc năm tài chính của Quỹ và sau đó Tổng kiểm toán sẽ kiểm toán hoặc căn cứ để kiểm toán các báo cáo, kê khai đó và phản hồi lại.  2. Năm tài chính của Quỹ sẽ kéo dài 12 tháng và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 hằng năm, trừ năm tài chính đầu tiên của Quỹ bắt đầu từ ngày đầu tiên theo quy định của Luật này và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 của năm tiếp theo.   3. Tiền thù lao của kiểm toán do Quỹ chi trả.   4. Ngay sau khi các kê khai và báo cáo tài chính của Quỹ được kiểm toán theo quy định của luật này, một bản sao báo cáo tài chính đã qua kiểm toán cùng với một bản sao báo cáo của kiểm toán sẽ được nộp cho Hội đồng.  5. Tổng kiểm toán không phải là kiểm toán của Quỹ, một bản sao báo cáo tài chính và bất kỳ báo cáo nào của kiểm toán sẽ được chuyển cho Tổng kiểm toán ngay tại thời điểm nộp các bản sao trên cho Hội đồng.  6. Thủ tướng sẽ nhận được một bản sao báo cáo tài chính đã qua kiểm toán của Quỹ một bản báo cáo đã trình bày trước Quốc hội của kiểm toán.  Điều khoản về thủ tục tài chính  Luật về thủ tục tài chính (điều 109) sẽ được áp dụng cho Quỹ trong trường hợp không trái với bất kỳ điều khoản nào của luật này.   Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://statutes.agc.gov.sg     Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ khoa học Thái Lan: Nằm ngoài sự quản lý hành chính của Chính phủ      Quỹ nghiên cứu khoa học Thái Lan (TRF) ra đời sau khi có Luật Hỗ trợ nghiên cứu từ 1992. Về mặt pháp lý, quỹ thuộc hệ thống Chính phủ nhưng lại nằm ngoài sự quản lý hành chính của Chính phủ. Sự tự do này tạo ra điều kiện lý tưởng để hỗ trợ nghiên cứu.    Nền tảng  Hiểu rõ về vai trò quan trọng của nghiên cứu đối với sự phát triển của một quốc gia, ngày 23 tháng 4 năm 1991, nội các Anan Punyarachun họp và quyết định mở một Hội đồng gồm TS Phaichitr Uathavikul – Chủ nhiệm văn phòng Thủ tướng Chính phủ, GS.TS Sanga Sabhasri – Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và GS.TS Sippanondha Ketudat – Bộ trưởng Bộ Công nghiệp để nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu ở Thái Lan nhằm khuyến khích thúc đẩy những kết quả nghiên cứu hữu ích.  Nội các chấp thuận đề xuất về Luật Hỗ trợ nghiên cứu từ tháng 6 năm 1991, Luật này đã được thông qua và đăng trên Công báo của Chính phủ vào ngày 2 tháng 4 năm 1992.  Sau đó, Chính phủ bổ nhiệm Chủ tịch và các thành viên Ủy ban điều hành của Quỹ. Vào 30 tháng 3 năm 1993, Ủy ban điều hành Quỹ bổ nhiệm vị trí Giám đốc của Quỹ và bắt đầu khởi động quá trình hoạt động. Một năm sau đó, Chính phủ bổ nhiệm Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng thẩm định, hội đồng này sẽ theo dõi và thẩm định ngân sách cho các dự án nghiên cứu.  Tầm nhìn  Chương trình Phát triển kinh tế xã hội quốc gia lần thứ 9 (2002-2006) đề ra mục tiêu đầu tư cho nghiên cứu ở mức 0.40% GDP. Khi đó dự báo GDP Thái Lan sẽ chạm mức 6 nghìn tỷ baht vào 2006. Như vậy, nghiên cứu khoa học cần được đầu tư tối thiểu 24 tỉ baht cho việc tổ chức ít nhất 240 nghiên cứu,và đây là cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu chất lượng cao, bao gồm cho cả các viện nghiên cứu và các tổ chức quỹ nghiên cứu.   Mục đích của Quỹ nhằm giúp tạo dựng một hạ tầng cơ sở mạnh cho khoa học Thái Lan. Chính sách, ngân quỹ, công tác phí, các viện nghiên cứu, nghiên cứu viên, và văn hóa nghiên cứu đều là những lĩnh vực mà Quỹ cần chú trọng. Sự phát triển yêu cầu củng cố đầu tư cho nghiên cứu cả về chất lượng và số lượng. Trong năm tài chính 2006 Quỹ đã đầu tư lên tới 9 tỉ baht. Để mang về nguồn lợi lớn nhất cho quốc gia, nên đầu tư gấp 5 lần số đó. Và ngoài ra, số lượng các nhà nghiên cứu cần được hỗ trợ còn gấp khoảng 10 lần ở thời điểm hiện tại, và nhiều viện nghiên cứu tốt cần được mở rộng. Cuối cùng, chiến lược này cần tạo ra sức hút nhân tài cho sự nghiệp nghiên cứu. Về mặt này, hệ thống tổ chức cho nghiên cứu chuyên nghiệp và quản lý nghiên cứu nên được giới thiệu ở Thái Lan.  Mục tiêu  Mục tiêu của Quỹ nghiên cứu khoa học Thái Lan là:  Xây dựng những nhà khoa học chuyên nghiệp và củng cố cộng đồng khoa học.   Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển quốc gia, bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.  Khuyến khích phổ biến và sử dụng các kết quả nghiên cứu.   Duy trì quỹ cho khoa học và hệ thống phát triển quốc gia.  Cấu trúc quản lý  Quỹ có một văn phòng chịu trách nhiệm về các hoạt động văn phòng chung và 7 phân ban đảm trách các hoạt động khác nhau về phân bổ ngân quỹ khoa học. Cũng trong chủ trương khuyến khích khoa học ở các khu vực khác nhau của Thái Lan phát triển, Quỹ lập ra một văn phòng đại diện đầu tiên ở Chiang Mai là “Văn phòng nội vùng của Quỹ”. Văn phòng này đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 1998.   Các dạng trợ cấp nghiên cứu:  Quỹ phân chia trợ cấp ngân sách cho nghiên cứu khoa học thành hai dạng chính:  Nghiên cứu ứng dụng trực tiếp: Các dạng này của nghiên cứu được gọi là “nghiên cứu và phát triển” (R&D). Nó có thể là dạng nghiên cứu khoa học hoặc công nghệ nhằm phát triển phương pháp hoặc sản phẩm; các nghiên cứu nhân văn được sử dụng cho việc điều chỉnh về thể chế, hoặc nghiên cứu chính sách quốc gia. Những nghiên cứu kiểu này được quy chung vào dạng “nghiên cứu và phát triển”.Vì vậy các dự án nghiên cứu và phát triển có thể thực sự được củng cố và đạt tới chất lượng cao hơn, dưới đây là các quỹ cho hỗ trợ nghiên cứu và phát triển ở các lĩnh vực:  – Phát triển dự án.  – Dự án thí điểm.  – Cải tạo kỹ thuật tân tiến.  2. Nghiên cứu cơ bản: Là những nghiên cứu nhằm tìm kiếm kiến thức, các lý thuyết, nội hàm hoặc công nghệ mới. Mảng này không chú trọng vào việc sử dụng thực tiễn của kết quả. Có hai kiểu nghiên cứu cơ bản. Kiểu thứ nhất là nghiên cứu hoàn toàn mới do các nhà nghiên cứu đề xuất. Kiểu thứ hai được gọi là định hướng nghiên cứu khoa học cơ bản. Đây là nghiên cứu cơ bản được định nghĩa bởi Quỹ nghiên cứu khoa học Thái Lan. Mục tiêu của quỹ là hỗ trợ Nghiên cứu và phát triển nhằm đẩy mạnh nghiên cứu ở những lĩnh vực mà còn tương đối yếu. Tuy vậy, kết quả đầu ra ở cả hai dạng đều như nhau. Kết quả mong đợi là những xuất bản phẩm trên các tạp chí chuyên ngành của thế giới.    Thu Quỳnh dịch  Nguồn: http://www.budutani.com/engtrf.html    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quỹ NAFOSTED: Cần mở rộng khung tiêu chuẩn công bố quốc tế      Các tiêu chí đánh giá xét duyệt công bố khoa học của Quỹ Nafosted hiện nay mang ba đặc điểm là: (1) Thiên về công bố bằng Anh ngữ, (2) Thiên về áp dụng chuẩn mực phù hợp với khoa học tự nhiên (qua xét tạp chí thuộc hệ thống ISI và SCOPUS), (3) Thiên về khoa học hiện đại và đương đại. Điều này gây ra sự thiếu công bằng cho một số ngành. Vì vậy, việc mở rộng danh mục tạp chí quốc tế uy tín được Quỹ chấp thuận là điều cần thiết.      Các nhà nghiên cứu vẫn đang tranh luận về việc nghiên cứu một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, ví dụ như người Khơ Mú liệu có quá khó để công bố quốc tế hay không. Ảnh: Cema.gov.vn.  Ba đặc điểm nêu trên trong hệ tiêu chí đánh giá xét duyệt của Quỹ Nafosted gây bất lợi cho các nhà nghiên cứu một số ngành, đặc biệt là các ngành khoa học nhân văn cũng như các ngành nghiên cứu Việt Nam truyền thống. Ví dụ, danh sách tạp chí ISI của Thomson thì ngành Ngôn ngữ có 52 tạp chí, Văn học có 68 Tạp chí, mà nội dung học thuật của chúng chủ yếu là lý thuyết ngôn ngữ, lý thuyết văn học, và nghiên cứu cụ thể các ngôn ngữ mạnh và các nền văn học lớn. Rất khó để các tạp chí này đăng các nội dung về các chuyên ngành hẹp quan trọng với Việt Nam và Đông Nam Á, như Nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc, Việt ngữ học, tiếng Việt lịch sử, Văn học Việt Nam, Văn học Đông Nam Á…  Các tiêu chuẩn mà Quỹ đề ra cũng ít đề cập khối Pháp ngữ, Nga ngữ, khối Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Chẳng hạn, nếu xét trong ngành Hán học (Sinology) có các ngành hẹp như Văn tự học (văn tự học chữ Hán, và văn tự học chữ Nôm), văn bản học, văn hiến học, bi kí học, mộc bản học,…; mỗi chuyên ngành ấy có phương pháp riêng, đối tượng riêng, và một truyền thống học thuật riêng, thường chỉ phù hợp với “sân chơi” của bốn nước Nhật, Trung, Hàn, và Đài Loan, nơi có truyền thống trích dẫn và hệ tiêu chuẩn rất khác, không phù hợp trong “cuộc chơi” của ISI và SCOPUS (xem danh mục Chỉ số trích dẫn khoa học đề xuất ở dưới).  Vì vậy chúng tôi đề xuất mở rộng danh sách tạp chí các trường đại học; đa dạng hóa các ngôn ngữ xuất bản (gồm 7 ngôn ngữ chính: tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Hàn và tiếng Anh), đa dạng hóa các hình thức xuất bản (gồm chuyên luận, chương sách, bài nghiên cứu), và các ấn phẩm khoa học được xuất bản bởi các Viện Hàn lâm, các viện nghiên cứu mạnh.      Thiết nghĩ, đẩy mạnh công bố quốc tế là việc nhất thiết phải làm. Nhưng, các tiêu chuẩn hoặc quá cao với tình hình thực tế trong nước, hoặc quá xa so với các đặc điểm của từng chuyên ngành sẽ khiến cho không ít nhà khoa học nản lòng.         Quan điểm của chúng tôi là mỗi chuyên ngành phải có bảng xếp hạng các tạp chí của riêng ngành mình, căn cứ trên tư vấn của hội đồng chuyên ngành. Cần xem xét, căn cứ trên tình hình thực tiễn của Việt Nam, đặt ra mục tiêu phù hợp để có thể nâng dần trình độ các nhà nghiên cứu trong nước. Ví dụ, với xếp hạng (ranking) hiện tại của Đại học Quốc gia là 1578 thì ta lấy tiêu chuẩn công bố trên tạp chí của các đại học trong tốp 1000 trên thế giới là đã vượt 578 hạng, nếu lấy tốp 500 thì đã vượt 1078 hạng; với xếp hạng của Viện Hàn lâm KH&CN là 674 trên 79531 thì lấy tiêu chuẩn công bố trên tạp chí của các viện trong tốp 500 trên thế giới có lẽ là mục tiêu phù hợp và khả thi.  Các đề xuất cụ thể  1. Mở rộng danh sách tạp chí các trường đại học hàng đầu thế giới từ top 100 lên top 1000, hoặc tối thiểu là mở rộng trong top 5002. Xin lưu ý, các trường xét đến ở đây có được xếp hạng cao chủ yếu là nhờ các nghiên cứu từ lĩnh vực khoa học tự nhiên. Nếu lấy chuẩn 1000 thì vẫn cao hơn 578 hạng so với vị trí 1578 (xếp hạng thế giới) của Đại học Quốc gia Hà Nội.  2. Mở rộng các danh mục Chỉ số trích dẫn khoa học (ngoài các danh mục AHCI, SSCI, Scopus, chúng tôi đề xuất một số hệ Chỉ số trích dẫn khoa học của một số quốc gia như sau:  – Parcourir les collections – Persée (Danh mục 246 bộ sưu tập tạp chí khoa học xã hội của cộng đồng Pháp ngữ xếp theo 22 ngành)4. Ngoài ra có một biệt lệ cho tạp chí Mousson (gió mậu dịch) Social Science Research on Southest Asia- của Universite d’Aix-Marseille, mà chính những người như GS Trịnh Văn Thảo vẫn thường đăng bài.  (link: http://moussons.revues.org/).  – CSSCI (Chinese Social Sciences Citation Index – Chỉ số trích dẫn khoa học xã hội Trung Quốc). Hệ thống trích dẫn được xây dựng bởi Đại học Thanh Hoa (48/100 thế giới)5.  – THCI Core (Taiwan Humanities Citation Index Core -Cốt lõi Chỉ số trích dẫn khoa học nhân văn Đài Loan)6 và TSSCI (Taiwan Social Science Citation Index – Chỉ số trích dẫn khoa học xã hội Đài Loan)7.  – KSSCI (Korean Social Science Citation Index – Chỉ số trích dẫn khoa học xã hội Hàn Quốc, link:) và KSCI (Korean Science Citation Index, Chỉ số trích dẫn khoa học Hàn Quốc, danh sách gồm 600 tạp chí)8.  – RSCI (Russian Science Citation Index – Chỉ số trích dẫn khoa học của Liên bang Nga, hay  РИНЦ (Российский Индекс Научного Цитирования)9.  3. Mở rộng các danh sách ấn phẩm khoa học do các nhà xuất bản danh tiếng công bố (theo 6 hệ ngôn ngữ).  Các nhà xuất bản hàng đầu bằng Anh ngữ: theo danh mục xếp hạng của SENSE RANKING OF ACADEMIC PUBLISHERS, chia làm 5 hạng, trong đó có thể chọn 70 nhà xuất bản hàng đầu thế giới thuộc 3 nhóm A, B, C; theo danh mục của Publisher Global (cơ sở dữ liệu của gần 10000 nxb trên toàn thế giới, trong đó có 441 nhà xuất bản Academy)10.  Các nhà xuất bản hàng đầu của Pháp: gồm PUF11 (hệ thống các nhà xuất bản đại học) – hệ thống này có bộ Que-sais je? và “Revue d’histoire littéraire de la France” rất nổi tiếng, l’Harmatan; Le Seuil12, Gallimard13, có truyền thống từ đầu thế kỷ với hệ thống NRF, Temps moderne, Debat và các sách học thuật; Nhà xuất bản Klincksieck14 với các tạp chí nghiên cứu nhân văn như Revue de littérature comparée, …  Về cơ bản tôi đồng ý với đề xuất của TS. Trần Trọng Dương. Tuy nhiên, tất cả các tạp chí quốc tế được bổ sung vào danh mục hiện hành của Quỹ Nafosted chỉ nên được chấp nhận trên nguyên tắc đó là các tạp chí được bình duyệt (peer review) bởi những nhà khoa học quốc tế có uy tín, do các hội đồng ngành của Quỹ thống nhất lập danh sách cụ thể. Tôi không đồng tình với đề nghị Quỹ chấp thuận các công bố khoa học được xuất bản bằng tiếng Việt (“Chuyên luận bằng Việt ngữ (monograph của một tác giả, có ISBN) được hội đồng chuyên ngành, hoặc hội đồng Chức danh quốc gia thừa nhận”). Với các xuất bản của các trường đại học, chỉ nên giới hạn trong danh mục 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Ngoài ra, nên bổ sung các tạp chí sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha là một trong các ngôn ngữ chính của thế giới, thay vì bổ sung các tạp chí sử dụng tiếng Hàn Quốc. GS.TS Phạm Quang Minh (Đại học KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội).    Các nhà xuất bản hàng của Trung Quốc đại lục, Hồng Kong, và Đài Loan, bao gồm15:  – Các nhà xuất bản tổng hợp: 1 商务印书馆; 2 人民出版社; 3 人民文学出版社; 4 作家出版社; 5 译林出版社; 6 中华书局; 7 社科文献出版社; 8 大象出版社; 9 中央编译出版社; 10 国家藏书楼出版社;  Các nhà xuất bản cho ngành Khoa học kỹ thuật: 1 科学出版社; 2 清华大学出版社; 3 机械工业出版社; 4 电子工业出版社; 5 化学工业出版社; 6 建筑工业出版社; 7 人民邮电出版社; 8 中国水利水电出版社; 9 中国电力出版社; 10 北京科学技术出版社;  – Các nhà xuất bản cho ngành kinh tế: 1/ 1 中国金融出版社; 2 中国财经出版社; 3 中信出版社; 4 中国经济出版社;  – Các nhà xuất bản chuyên về pháp luật: 1 法律出版社; 2 中国法制出版社; 3 中国政法大学出版社; 4 人民法院出版社;  – Các nhà xuất bản chuyên về giáo dục, học thuật: 1 清华大学出版社; 2 中国人民大学出版社; 3 北京大学出版社; 4 高等教育出版社; 5 人民教育出版社;  Các nhà xuất bản hàng đầu của Nga (chỉ lựa chọn theo danh sách các nhà xuất bản thiên về Khoa học được nêu ở đây): New Literary Observer Publishing House, Moscow University Press, Izdatelstvo VES MIR (Moskow), TVP Science Publishers, Meditsina Publishers, Praxis Publishers16.  10 nhà xuất bản hàng đầu của Nhật: Nhà xuất bản Đại học Rikkyo 立教大学; Iwanamishoten 岩波書店 (Nham ba thư điếm); Heibonsha 平凡社 (Bình phàm xã); Shogakukan 小学館(Tiều học quán); Shueisha 集英社 (Tập anh xã); Shinchosha 新潮社 (Tân trào xã); Kadokawashoten 角川書店(Giác xuyên thư điếm); Benseishupansha 勉誠出版社 (Miễn thành xuất bản); Shinwasha 森話社 (Sâm thoại xã). Kasamashoin 笠間書院 (Lập giản thư viện); Izumishoin 和泉書院(Hòa tuyền thư viện);  Hozokan 宝蔵館 (Bảo tạng quán); Junshusha 春秋社(Xuân thu xã).  Ngoài ra là một số các nhà xuất bản hàng đầu của Hàn Quốc theo sự xem xét đánh giá của các hội đồng ngành.  4. Đa dạng hóa các hình thức xuất bản (Quỹ hiện nay chỉ dùng một dạng sản phẩm khoa học duy nhất để xét duyệt đầu vào là bài nghiên cứu được công bố trên tạp chí Quốc tế có chỉ số. Trong khi đó, với khối ngành Nhân văn, được đánh giá hàng đầu là hình thức chuyên luận, tiếp đến mới là các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học):  – Chuyên luận quốc tế (monograph của một tác giả, hoặc đồng tác giả, hoặc đồng chủ biên, có ISBN, có peer review) – ngoài chuyên luận quốc tế, nên cân nhắc chấp nhận kết quả các chuyên luận bằng Việt ngữ (monograph của một tác giả, có ISBN) được hội đồng chuyên ngành, hoặc hội đồng Chức danh quốc gia thừa nhận.  – Chương sách trong một chuyên luận quốc tế (đồng tác giả, có peer review, ISBN).  – Các bài tạp chí được đăng trong các tạp chí chuyên ngành, nhưng được xuất bản bằng chỉ số ISBN (tức các tạp chí dạng sách, ví dụ Ngôn ngữ học luận tùng của Bắc Đại, được xuất bản bởi Thương vụ ấn thư quán, Tạp chí Hán học quốc tế được xuất bản bởi Đại tượng xuất bản xã, Tạp chí Ngôn ngữ của Viện Hàn Lâm Khoa học Nga… Xin chia sẻ thêm, ngành Văn học- Ngôn ngữ trước đây (2016) đã có trường hợp không được xét duyệt vì lý do này, dù Hội đồng Khoa học đã làm văn bản đề xuất cân nhắc!)  5. Các xuất bản phẩm được ấn hành bởi một số viện khoa học của các nước: Trong số 7953 viện của tất cả các chuyên ngành khoa học của tất cả các nước trên toàn thế giới17, chúng ta có thể cân nhắc lấy tiêu chuẩn là các tạp chí của các viện trong tốp 500, hoặc mỗi chuyên ngành chọn các tạp chí trong tốp 50. Cũng xin lưu ý thêm là Viện Hàn lâm KH&CN ở hạng 674, Viện Hàn lâm KHXH không có mặt trong danh mục xếp hạng này, trong khi đó Taiwan Academia Sinica có một truyền thống khoa học lâu đời đứng ở vị trí 29 (trên 7953 viện), vì sao đến giờ hàng chục tạp chí của cơ quan khoa học này không được chưa vào danh mục? Vấn đề vẫn là ở hệ tiêu chí!  6. Cuối cùng, chúng tôi có đề xuất lập các danh sách tạp chí quốc tế được công nhận riêng cho từng chuyên ngành, trong đó có chuyên ngành Hán Nôm. Trong nước, Hán Nôm được coi là một trong tám chuyên ngành nhỏ của Ngôn ngữ học. Thực chất đây là một ngành khoa học lớn, độc lập, giao giới giữa Sinology Vietnamese Studies, và rất nhiều chuyên ngành nhỏ khác nhau. Phần lớn các tạp chí quốc tế có uy tín của ngành này, ngoài một số tạp chí như Sino-Platonic Papers, hiện đều nằm ngoài tất cả các danh mục hiện nay, cũng như các danh mục đề xuất trên đây18.  Trên đây là một số kiến nghị bổ sung mang tính chất cá nhân trên cơ sở tham khảo ý kiến một số nhà khoa học và Hội đồng Khoa học Liên ngành Văn học – Ngôn ngữ học*. Những đề xuất này sẽ không tránh khỏi bất cập, bởi người viết chỉ làm việc trong một chuyên ngành hẹp, với phông tri thức cũng còn nhiều thiếu sót so với tình hình thực tế. Rất mong được các nhà khoa học và bạn đọc góp ý để có thể có được cái nhìn bao quát hơn về tình hình công bố khoa học của Việt Nam, cũng như đưa ra các giải pháp hợp lý cho tư vấn chính sách. Thiết nghĩ, đẩy mạnh công bố quốc tế là việc nhất thiết phải làm. Nhưng, các tiêu chuẩn hoặc quá cao với tình hình thực tế trong nước, hoặc quá xa so với các đặc điểm của từng chuyên ngành sẽ khiến cho không ít nhà khoa học nản lòng.  Đồng ý với tác giả về việc không nên giới hạn các tạp chí xuất bản bằng tiếng Anh và chỉ chấp nhận danh mục tạp chí ISI và SCOPUS. Tuy nhiên, khi xem xét mở rộng danh mục các tạp chí để phù hợp với các chuyên ngành có tính đặc thù phải lưu ý tới xu hướng phát triển của khoa học thế giới ngày nay là liên ngành và đa ngành, ranh giới giữa các chuyên ngành rất mỏng manh. Lâu nay, tư duy đào tạo ở Việt Nam vẫn là chuyên ngành, thậm chí đào sâu cách biệt giữa các chuyên ngành, và đòi có những tạp chí cho các chuyên ngành chuyên sâu có tính đặc thù. Ví dụ đối với các chuyên ngành hẹp như Hán Nôm, vẫn có thể có công bố quốc tế đăng ở các tạp chí về lịch sử ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ/giáo dục… Bên cạnh đó, việc mở rộng danh sách các tạp chí công bố quốc tế cho KHXH&NV ra ngoài khuôn khổ ISI và SCOPUS nếu được xem xét áp dụng với Quỹ Nafosted thì nên được nhìn nhận trên bình diện rộng hơn, áp dụng cả trong tiêu chuẩn tối thiểu bảo vệ luận án tiến sỹ, phê duyệt thành viên hội đồng hướng dẫn và đánh giá luận án tiến sỹ, tiêu chuẩn công nhận giáo sư và cho việc công nhận chất lượng các đề tài khoa học khác ngoài Quỹ Nafosted, bởi các tiêu chuẩn có tính quốc gia thì nên thống nhất thay vì mỗi quỹ/tổ chức khoa học/hội đồng làm một kiểu. PGS.TS Nguyễn Văn Chính (Khoa Nhân học, ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia HN)  ——  * Bài viết được hoàn thành là nhờ các ý kiến của Hội đồng Khoa học liên ngành Văn học- Ngôn ngữ học, và nhiều nhà khoa học khác: GS. TSKH Trần Ngọc Thêm, GS. TS. Lê Huy Bắc, PGS. TS. Nguyễn Thị Oanh, PGS. TS. Đoàn Lê Giang, PGS. TS. Nguyễn Thị Hiền, TS. Nguyễn Tuấn Cường, TS. Phùng Ngọc Kiên… Ở một khía cạnh, quý vị là đồng tác giả của bài báo này. Nhân đây người viết xin gửi lời cảm ơn.  Nguồn thông tin và ghi chú:  1 http://research.webometrics.info/en/ search/Rankings/Vietnam  2(http://www.webometrics.info/en/search/Rankings/Vietnam%20national%20university) hoặc của Times Higher Education World University Rankings: https://www.timeshighereducation.co.uk/world-university-rankings/2016/world-ranking#/sort/0/direction/asc  3 http://www.scimagojr.com/  4 http://www.persee.fr/disciplines.  Danh mục các tạp chí ngôn ngữ học tại: http://www.persee.fr/collections?d=113  Danh mục các tạp chí văn học tại: http://www.persee.fr/collections?d=114  5 http://www.shu.edu.cn/Default.aspx? tabid=4605.  Chỉ số trích dẫn cập nhật nhất đã công bố của Đại học Thanh Hoa là vào năm 2015, với 533 tạp chí (của tất cả các chuyên ngành khoa học), xem tại: http://www. shu.edu.cn/Portals/81/CSSCI%EF%BC%882014-2015%EF%BC%89%E6%9D% A5%E6%BA%90%E6%9C%9F%E5%88%8A%E7%9B%AE%E5%BD%9511415056.pdf  6 http://www.hss.ntu.edu.tw/model. aspx?no=66  7 http://www.hss.ntu.edu.tw/model. aspx?no=67  8 http://ksci.kisti.re.kr/kjcr/indicator/ jourList.ksci  9 Đây là sản phẩm hợp tác của Thomson Reutersvới Thư viện Khoa học điện tử Nga (eLibrary.RU): http://wo info.com/products_tools/multidisciplinary/rsci/. Danh sách tạp chí nằm ở cuối trang: http://wokinfo.com/media/pdf/RSCI_Journal_List.pdf?utm_source=false&utm_medium=false&utm_campaign=false. Bản tiếng Nga ở: http://elibrary.ru/project_risc.asp  10 http://www.publishersglobal.com/directory/subject/academic-publishers/1/  11 https://www.puf.com/  12 http://www.seuil.com/thematique/revues-350?tri=titre  13 http://www.gallimard.fr/Revues  14 http://www.klincksieck.com/revues/ rlc/  15 http://www.maigoo.com/goomai/ 151736.html  16 http://www.publishersglobal.com/directory/russia/publishers-in-russia/  17 http://research.webometrics.info/en/ world  18 Tạp chí Manuscript Culture2 (nghiên cứu Văn hóa thủ sao bản của Châu Á- Châu Phi và Châu Âu) của Hamburg University (ranking 140) ở vị trí rất cao nhưng vẫn nằm ngoài tiêu chí hiện hành của Nafosted. Tạp chí European Journal of Sinology3 không thấy có trong danh mục của ISI; hai nhà xuất bản in cho tạp chí này là European University Press/ The University Press Bochum cũng không trong danh mục 10 nxb được chấp thuận bởi Quỹ. European University cũng không nằm trong top 100 thế giới, mà nằm ở vị trí 853. Tạp chí International Sinology của Đại học Ngoại ngữ Bắc kinh 北京外国语大学 cũng không được xét đến vì trường này không nằm trong top 100 và sử dụng chỉ số trích dẫn theo kiểu Trung Quốc (không theo ISI) đó là CSSCI 中文社会科学引文索引. Tạp chí Hán học thế giới xuất bản dưới dạng sách, mã ISBN, 1 năm 2 số. Hán tự nghiên cứu của Đại học Kyungsung (Hàn Quốc), là hàng đầu về văn tự học của Hàn Quốc với hội đồng cố vấn và các ủy viên từ Mỹ, Canada, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, nhưng vị trí của trường này là 3566. Số hạng 3566 đó không phản ánh được tính chất chuyên môn hẹp của tạp chí. Quốc tế Hán học (của Đại Ngoại ngữ Bắc Kinh) là hàng đầu ở Đông Á hiện nay thì xếp hạng của trường này là 3732. Tờ Chinese Studies (Trung Quốc học) của Viện Hán học thế giới (thuộc Viện KHXH Thượng Hải) thì hiện nay Quỹ không chấp nhận vì không tình đến các Viện Nghiên cứu. Tạp chí Nghiên cứu văn hiến Đông Á 東亞文獻研究 xuất bản ở Hàn Quốc bằng tiếng Trung Quốc, do Trung Quốc và Hàn Quốc phối hợp tổ chức, cũng không đáp ứng bất kỳ tiêu chí nào của quỹ. Còn nhiều tạp chí khác nữa có thể nêu ra ở đây, chúng tôi xin được đề cập sâu hơn ở bài viết khác.    Author                Trần Trọng Dương        
__label__tiasang Quỹ NAFOSTED: Dự kiến sẽ có danh mục tạp chí mới vào tháng 9      Tám hội đồng khoa học chuyên ngành trong lĩnh vực KHTN&KT của Quỹ NAFOSTED hiện đang tranh luận và bàn thảo về việc lựa chọn danh mục các tạp chí quốc tế có uy tín mới. Dự kiến vào tháng 9 tới sẽ có danh mục này, TS. Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc điều hành Quỹ NAFOSTED cho biết.      Một số tạp chí quốc tế thuộc tập đoàn xuất bản Springer Nature. Nguồn: Springer Nature.  Đã thành thông lệ, Quỹ NAFOSTED căn cứ vào các bài báo xuất bản trên các tạp chí quốc tế trong danh mục tạp chí quốc tế có uy tín thuộc cơ sở dữ liệu Web of Science, Scopus… làm tiêu chí đánh giá đầu vào – tiêu chí xét chọn các hồ sơ đề xuất tài trợ, và đánh giá đầu ra – tiêu chí nghiệm thu đạt hay không đạt của các đề tài được tài trợ kinh phí. Nếu yêu cầu đầu vào là bắt buộc phải có công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín trong vòng 5 năm thì với yêu cầu đầu ra là phải có ít nhất hai bài báo trên tạp chí quốc tế có uy tín (kèm một bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín). Trong trường hợp đề tài có bài báo trong dnh muc trên tạp chí ISI có uy tín thì có thể thay thế cho hai bài báo thông thường. Đây cũng là một trong những nỗ lực để Quỹ khuyến khích các chủ nhiệm đề tài nâng cao chất lượng công bố từ đề tài do quỹ tài trợ.   Cũng với mục tiêu này, vào tháng 6/2020, Quỹ NAFOSTED đã mời tám hội đồng khoa học ngành bàn luận về danh mục các tạp chí khoa học quốc tế chuyên ngành và cách loại bỏ các tạp chí kém chất lượng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu của các đề tài. Theo thông báo trên trang web của Quỹ, các hội đồng khoa học ngành đã đi đến thống nhất ban đầu: đề nghị các nhà khoa học không đăng bài báo trên các tạp chí chất lượng kém bắt buộc phải trả phí mới được đăng bài; các hội đồng khoa học ngành cần xem xét kỹ lưỡng chất lượng các tạp chí và nội dung các công trình công bố của các đề tài khi đánh giá hồ sơ đăng ký và đánh giá kết quả thực hiện các đề tài do Quỹ tài trợ; các hội đồng khoa học ngành và cơ quan điều hành Quỹ tiếp tục rà soát danh mục tạp chí có uy tín.  Hiện tại, các hội đồng ngành đang bàn luận để cập nhật, phân loại và xếp hạng, qua đó lập danh mục tạp chí mới. “Dự kiến đến tháng 9 thì Quỹ mới có thể có được danh mục này nhưng về cơ bản thì quan điểm của Quỹ và các hội đồng là dựa trên bảng cập nhật của Web of Science, Scimago…, loại bỏ các tạp chí không phù hợp để đảm bảo chất lượng công bố do Quỹ tài trợ”, TS. Đỗ Tiến Dũng nói.  Trong đợt bàn luận về danh mục tạp chí quốc tế có uy tín này, các hội đồng ngành có xem xét đến trường hợp của các tạp trí truy cập mở (open access) không? Theo thông báo của Quỹ NAFOSTED, truy cập mở là một trong những xu thế xuất bản hiện nay của thế giới nhằm tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nhà khoa học ở các nước kém phát triển, có thể tiếp cận, tìm hiểu các công trình khoa học mới mà không phải mất phí truy cập. Trong nhiều phiên họp của các quỹ khoa học toàn cầu mà Quỹ tham gia đều có đề cập đến xu hướng này và coi đó là một hình thức xuất bản cần được hỗ trợ, thúc đẩy. Tuy nhiên, thế giới đang thảo luận về việc phân loại tạp chí truy cập mở có chất lượng và truy cập mở ngụy tạo, “săn mồi” chỉ quan tâm đến việc thu phí xuất bản nhưng lại sơ sài trong bình duyệt. Do đó, các hội đồng khoa hoc chuyên ngành cần trao đổi kỹ lưỡng về tạp chí truy cập mở trước khi đề xuất phương án phù hợp.   Do hiện tại chưa có danh mục tạp chí quốc tế có uy tín mới nên việc áp dụng các tiêu chí đánh giá hồ sơ xét duyệt tài trợ đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHTN và kỹ thuật đợt 1 năm 2020 vẫn được các hội đồng ngành tiến hành dựa trên danh mục tạp chí ban hành ngày 9/8/2019. Khi nghiệm thu các đề tài trên cơ sở các bài báo là kết quả của đề tài, các hội đồng sẽ dựa trên danh mục tạp chí có hiệu lực vào thời điểm công bố bài báo. .  Trong đợt xét duyệt này, có 178 đề tài được xét duyệt tài trợ, trong đó chiếm số lượng lớn nhất là ngành vật lý 51 đề tài, tiếp theo là hóa học 31 đề tài; cơ học 22; khoa học sự sống – sinh học nông nghiệp 18; khoa học trái đất và môi trường 16; toán học, khoa học thông tin và máy tính 15; khoa học Sự sống – Y sinh Dược học 10.□          Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Quỹ NAFOSTED: Những điểm sáng trong đợt phê duyệt tài trợ thứ hai năm 2019      Đợt tài trợ thứ hai năm 2019 cho các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật của Quỹ NAFOSTED cho thấy có nhiều điểm sáng trong những đề tài được tài trợ.      TS Raja Das, trưởng nhóm nghiên cứu Vật liệu nano cho ứng dụng điện tử và năng lượng tái tạo (ĐH Phenikaa) là một trong ba nhà khoa học nước ngoài có đề tài do NAFOSTED tài trợ. Nguồn: ĐH Phenikaa  Theo thông báo của Quỹ NAFOSTED vào đầu tháng 1/2020, có 192 đề tài thuộc 8 lĩnh vực nghiên cứu (bao gồm Toán học 22, KH Thông tin & Máy tính 12, Vật lý 55, Hóa học 30, Khoa học Trái đất và Môi trường 19, Khoa học sự sống – Sinh học Nông nghiệp 22, Cơ học 23, Khoa học sự sống – Y sinh Dược học 9) được Quỹ tài trợ. Đánh giá về chất lượng của đợt xét duyệt lần này, TS. Đỗ Tiến Dũng, giám đốc Quỹ NAFOSTED, cho biết, số lượng các hồ sơ được bình duyệt nhiều hơn tới gần 20% so với những đợt trước (trung bình mỗi năm Quỹ tài trợ cho 350 đề xuất, mỗi kỳ phê duyệt khoảng 170 đề tài) và theo đánh giá của các hội đồng chuyên ngành thì còn nhỉnh hơn về chất lượng, tính khả thi. Mặt khác, nhiều nhà khoa học từng đạt được kết tốt từ việc thực hiện những đề tài do Quỹ tài trợ trong những năm trước đã thuyết phục được các thành viên hội đồng. Đây là một trong những kết quả mà cộng đồng khoa học Việt Nam đạt được sau gần 10 năm tham gia những hoạt động tài trợ và hỗ trợ của Quỹ.  Ở góc độ một nhà khoa học đã có nhiều tham gia vào hoạt động của Quỹ, GS. TS Phan Văn Tân (chủ tịch Hội đồng khoa học ngành Khoa học Trái đất và Môi trường nhiệm kỳ 2017-2019) cho biết, ông và các thành viên hội đồng ngạc nhiên vể số lượng đề xuất lên tới 38 hồ sơ, “một con số bất ngờ với ngành này và chất lượng các đề xuất cũng đồng đều”. Dù sau khi cân nhắc nhiều điều kiện, cuối cùng hội đồng chỉ chọn 19 hồ sơ nhưng “số lượng hồ sơ bị loại chủ yếu là do cách trình bày chưa rõ ràng chứ không hoàn toàn bởi ý tưởng không hay, đây sẽ là yếu tố quan trọng để họ rút kinh nghiệm trong những lần gửi đề xuất tới”. Trong số các chủ trì đề tài lần này, bên cạnh những khuôn mặt đã từng hoàn thành tốt các đề tài trước cũng có những khuôn mặt mới lần đầu tiên tham gia – một thông tin đáng mừng với ngành khoa học trái đất, vốn có nhiều điểm khác biệt về quá trình nghiên cứu so với những ngành khoa học khác.  Bên cạnh đó, một điểm sáng quan trọng trong đợt phê duyệt đề tài lần này của Quỹ NAFOSTED là sự xuất hiện của ba chủ trì đề tài là nhà khoa học nước ngoài làm việc tại Việt Nam: TS Kazuhito Mizuyama (Trường Đại học Duy Tân) với “Nghiên cứu và phân tích ma trận S cho tán xạ nucleon-hạt nhân trong vùng khối lượng trung bình sử dụng hàm Jost mở rộng”, TS Raja Das (Trường Đại học Phenikaa) với “Phát triển một thế hệ hạt nanocomposite tiên tiến dựa trên các hạt nano từ tính định hướng ứng dụng trong điều khiển phân phối thuốc vào cơ thể bằng từ trường và điều trị ung thư” – vật lý và TS Bijeesh Kozhikkodan Veettil (Trường Đại học Duy Tân) với “Nghiên cứu sự thay đổi của hệ sinh thái ven biển (rừng ngập mặn, cỏ biển và rạn san hô) ở Việt Nam trong những thập niên gần đây bằng cách sử dụng kỹ thuật viễn thám và học máy”- khoa học trái đất. Tuy không phải là lần đầu tiên Quỹ NAFOSTED tài trợ cho nhà khoa học nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhưng việc tới ba nhà nghiên cứu ở hai trường đại học tư nhân cho thấy bắt đầu có tín hiệu về một môi trường nghiên cứu cởi mở và không phân biệt đối tượng tài trợ, bất kể là nhà nghiên cứu làm việc tại cơ sở tư nhân hay người nước ngoài. “Việc có nhà khoa học nước ngoài được tài trợ là điều bình thường ở các quỹ trên thế giới. Bản thân nhiều nhà khoa học Việt Nam dù hoạt động trong nước hay nước ngoài vẫn có điều kiện nhận được tài trợ từ các quỹ quốc tế. Với NAFOSTED, các hội đồng đều thực hiện đánh giá trên cơ sở khoa học và chất lượng đề xuất”, TS. Đỗ Tiến Dũng lý giải nguyên nhân vì sao các hồ sơ đề xuất này được phê duyệt, đồng thời cho biết thêm, trước đây, tuy chưa là chủ trì đề tài thì nhiều nhà khoa học nước ngoài đã tham gia vào các nghiên cứu do Quỹ tài trợ.        Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Quỹ NAFOSTED: Tác động đối với ngành toán học      Trong 10 năm qua (2008-2017), các hoạt động tài trợ của Quỹ đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu toán học trên cả nước, đặc biệt trong giới cán bộ trẻ. Một trong những tác động tích cực nhất là các nhà toán học bắt đầu có thể an tâm làm nghiên cứu, đồng thời thu hút được những sinh viên trẻ tham gia nghiên cứu nhằm đảm bảo một sự phát triển toán học bền vững cho tương lai.      GS. TS Ngô Việt Trung. Nguồn: vietnammoi.vn  Đã có 267 đề tài ngành Toán được Quỹ xét duyệt hỗ trợ. Hầu hết các trường đại học có đào tạo toán học trong cả nước đều có đề tài được hỗ trợ. Các cơ sở có số đề tài được Quỹ hỗ trợ nhiều nhất là Viện Toán học (VHLKH&CN VN), trường Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQGHN), trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  Kết quả nghiệm thu cho thấy chỉ có 5 đề tài không hoàn thành nhiệm vụ. Tỷ lệ số đề tài hoàn thành chỉ tiêu công bố đúng thời hạn trên 80%, cao nhất trong các ngành khoa học. Các đề tài đã công bố 954 bài báo trong danh mục ISI. Như vậy, trung bình mỗi đề tài công bố khoảng 3,5 bài báo so với yêu cầu phải có tối thiểu 2 bài ISI.  Theo sách Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2014 thì ngành Toán đã công bố 1.203 bài báo ISI trong giai đoạn 2010-2014. Điều này cho thấy có một sự gia tăng rõ rệt số lượng công bố ISI trong những năm gần đây do ảnh hưởng của Quỹ. Ngành Toán cũng là ngành có số lượng công bố quốc tế nhiều nhất trong giai đoạn 2010-2014, chiếm 12,06% tổng số công bố ISI của cả nước. Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điều là ngành Toán là một trong những ngành có tỷ lệ số lượng công bố trên đầu người tham gia nghiên cứu thấp nhất trong các ngành khoa học trên thế giới.   Chất lượng công bố của các đề tài ngành Toán chỉ đạt mức trung bình trên thế giới. Phần lớn các bài báo công bố trong các tạp chí vùng miền hay tạp chí chuyên ngành có uy tín thấp. Theo thống kê của Quỹ có 88,6% số bài báo ngành Toán đã nghiệm thu đăng trong các tạp chí được xếp hạng Q1+ Q2 + ½ Q3 trở lên của SCIMAGO (đây sẽ là giới hạn các tạp chí được Quỹ xét nghiệm thu trong thời gian tới). Chỉ có 9,8% số các bài báo được đăng trong các tạp chí được xếp hạng ½ Q1 trở lên. Tuy nhiên cũng cần phải ghi nhận là danh mục các tạp chí toán học của SCIMAGO không chính xác, trong đó có quá nhiều tạp chí liên ngành không được cộng đồng toán học thế giới coi là tạp chí toán học. Những tạp chí này thường có chỉ số trích dẫn cao hơn hẳn các tạp chí toán học thực thụ và thường được xếp hạng cao. Vì vậy, danh mục Q1 ngành Toán của SCIMAGO không thực sự phản ánh các tạp chí có uy tín trong toán học (có thể thấy điều này khi so sánh với danh mục các tạp chí toán học có uy tín của Quỹ khoa học Quốc gia Úc). Tuy nhiên, ngành Toán đã có một số công trình thu được những kết quả đột phá, điển hình như các kết quả nghiên cứu của PGS. Phạm Hoàng Hiệp, GS. Nguyễn Hữu Việt Hưng và GS. Nguyễn Đông Yên đã được trao tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu (với tỷ lệ phiếu bầu gần tuyệt đối).    Ngay từ khi Quỹ bắt đầu hoạt động đã có hiện tượng đăng bài ở các tạp chí phải trả tiền mới được đăng. Chất lượng các tạp chí này rất thấp và quy trình phản biện thường có những điểm đáng ngờ như báo chí quốc tế đã phân tích. Không có lý gì lại trả tiền để đăng bài ở các tạp chí này trong lúc có nhiều tạp chí nghiêm túc nhận đăng bài cùng chuyên ngành mà không phải trả tiền. Vì vậy, Hội đồng ngành Toán đã nhất trí biểu quyết không chấp nhận nghiệm thu các bài báo đăng theo hình thức này để đảm bảo chất lượng nghiên cứu.  Hội đồng ngành Toán luôn luôn coi trọng “đầu vào”, lấy khả năng hoàn thành chỉ tiêu công bố làm tiêu chuẩn tối cao để xét duyệt đề tài, không phân biệt chức danh, học vị, độ tuổi hay vùng miền. Chính nguyên tắc này đã giúp cho ngành Toán đạt tỷ lệ hoàn thành đề tài rất cao. Để đảm bảo tính công bằng, Hội đồng ngành Toán đánh giá năng lực và chất lượng nghiên cứu của từng thành viên đề tài để có những đề xuất hợp lý về hỗ trợ kinh phí cho Quỹ, trong đó ưu tiên các đề tài ở các địa phương và đề tài của các cán bộ trẻ. Trong toán học không có kỹ thuật viên, nhưng Hội đồng ngành Toán vẫn chấp nhận mỗi đề tài có thể có nhiều nhất một kỹ thuật viên không phải là nghiên cứu sinh có độ tuổi dưới 30 với mục đích đào tạo cán bộ trẻ. Việc giới hạn độ tuổi cũng như số lượng một kỹ thuật viên nhằm tránh hiện tượng cho người ăn theo đề tài như đã từng xảy ra trong đợt xét duyệt đề tài đầu tiên.  Do mới hoạt động nên phương thức hoạt động của Quỹ còn có một số hạn chế. Trước đây kinh phí cho đề tài phụ thuộc chủ yếu vào số lượng đăng ký công bố. Điều này đã dẫn đến việc các nhà khoa học chạy theo số lượng công bố mà không quan tâm đến chất lượng công bố. Chất lượng công bố được phản ánh qua uy tín của tạp chí đăng bài. Quỹ đã có chủ trương nâng cao chất lượng công bố thông qua việc tính gấp đôi các bài báo đăng trong các tạp chí ISI có uy tín. Tuy nhiên, việc phân chia này còn quá cứng nhắc do chỉ có hai mức 1 và 2. Nên có thêm mức 1,5 công trình để có một sự phân chia phản ánh đúng hơn chất lượng giữa các tạp chí (có thể lấy Q1 của SCIMAGO làm giới hạn). Đồng thời cũng cho phép tính 0,5 công trình cho các công trình đăng trong các tạp chí có uy tín và hạn chế số “điểm” công trình quốc gia không vượt quá 1/4 tổng số công trình công bố. Đây là cách làm mà Hội đồng chức danh đã được khẳng định là tương đối hợp lý trong những năm gần đây.  Hiện nay, kinh phí đề tài giảm đi nhiều dẫn đến kinh phí nhân công lao động trung bình chỉ đủ khoảng 10 tháng/2 năm cho mỗi thành viên so với định mức 17 tháng/2 năm trong quy chế. Điều này làm giảm tầm quan trọng của các quy định trong quy chế, đồng thời cũng không hỗ trợ đầy đủ cho các nhà khoa học. Cuối cùng, không nên bắt các đề tài không hoàn thành phải xuất toán. Đầu tư cho khoa học cơ bản thực ra là một loại đầu tư mạo hiểm. Không có gì đảm bảo các nhà khoa học giải quyết được các vấn đề đặt ra. Có thể phạt các chủ nhiệm đề tài không hoàn thành nhiệm vụ không được Quỹ hỗ trợ 2 năm tiếp theo. Trách nhiệm để cho một đề tài không hoàn thành còn thuộc vào công đoạn xét duyệt của hội đồng ngành. Như thế mới giữ được kỷ cương xét duyệt đầu vào cho tất cả các hội đồng ngành.¨    Author                Ngô Việt Trung        
__label__tiasang Quỹ Nafosted: Tài trợ đã đủ mạnh và đa dạng?      Sau 10 năm góp phần xây dựng một môi trường học thuật minh bạch, khách quan, bình đẳng theo tiêu chuẩn quốc tế và thông thoáng, gọn nhẹ về cơ chế tài chính, Quỹ Nafosted đã trở thành một mô hình quản lý khoa học hiệu quả của Việt Nam. Nhưng có lẽ để mang đến những bước phát triển đột phá cho khoa học Việt Nam trong thời gian tới thì Quỹ Nafosted không chỉ cần có thế.      Phòng thí nghiệm của Viện Tế bào gốc (ĐHQG TPHCM). Ảnh: Viện Tế bào gốc.  Vậy Quỹ Nafosted cần đổi mới những gì? Câu hỏi này không chỉ đặt ra với ban quản lý Quỹ mà còn với cả các thành viên hội đồng khoa học ngành và các nhà khoa học – những người được tham gia trực tiếp vào các hoạt động tài trợ của Quỹ những năm qua. Do đó, không phải chờ đến lúc tổ chức hội thảo “Đánh giá hoạt động tài trợ/hỗ trợ của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia giai đoạn 2008-2018, tổ chức vào ngày 28/11/2018 mà tại rất nhiều phiên họp xét duyệt hồ sơ đề xuất và họp tổng kết trước, họ đã đưa ra những góp ý, kiến nghị hết sức thẳng thắn, thậm chí gai góc. Tất cả đều mong muốn Quỹ đổi mới phương thức tài trợ, chất lượng tài trợ, đối tượng tài trợ để rút cuộc đạt được mục tiêu là việc tài trợ cho khoa học ngày càng phải trở nên hiệu quả hơn.  Phương thức tài trợ chưa đa dạng  Một vài năm trước, một phó giáo sư trẻ khu vực phía Nam có bày tỏ băn khoăn với Tia Sáng: Quỹ Nafosted dường như rất cởi mở và thiện chí với các nhà nghiên cứu trẻ mới về nước thông qua việc sẵn sàng tài trợ cho họ làm những nghiên cứu ban đầu nhưng sau đó, câu chuyện tài trợ chỉ bỏ lửng ở đó, Quỹ chưa có chiến lược đầu tư dài hạn để góp phần thúc đẩy và nâng cao năng lực của họ, mặc dù trong số đó không ít người có công trình xuất bản trên các tạp chí uy tín.  Đó cũng là quan điểm của PGS. TS Đặng Hoàng Minh (Đại học Giáo dục, ĐHQGHN) – một thành viên của Hội đồng khoa học ngành Tâm lý học, giáo dục, nêu tại hội nghị ngày 28/11 thông qua trường hợp của chính mình, “cá nhân tôi cách đây 10 năm 15 năm là nhà khoa học trẻ từng được Quỹ tài trợ” để có thể theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu và đặt ra câu hỏi, “bây giờ tôi đang đi đến thời giữa sự nghiệp, quỹ có đi cùng với tôi hay không?”. Theo quan điểm của chị, “đi cùng” ở đây có nghĩa là “đầu tư kinh phí nhiều hơn để cùng nhà khoa học hướng tới phát triển ở mức cao hơn”, “nâng cao [năng lực] hơn”. Trên thực tế, trong gần 10 năm qua, tổng kinh phí tài trợ cho các đề tài của chị luôn dao động ở các mức 650 triệu đến 870 triệu và “không tăng lên so với chỉ số lạm phát”. Rõ ràng với một nhà khoa học trẻ, thực hiện đề tài với mức kinh phí như vậy rất có ý nghĩa nhưng với một nhà khoa học trưởng thành, việc mở rộng phạm vi đề tài nghiên cứu, đặc biệt những đề tài mang tính liên ngành, quy tụ nhiều người tham gia để hướng tới đăng bài trên những tạp chí uy tín thì mức kinh phí này chưa thật thỏa đáng.  Để góp phần giải quyết vấn đề này, PGS. TS Đặng Hoàng Minh đã nêu một phương thức mà nhiều quỹ quốc tế đã áp dụng một cách hiệu quả, đó là trường hợp một số quỹ của Mỹ đã chọn cách chia ra rất nhiều gói tài trợ, tương ứng với nhiều mức độ khi tài trợ cho nghiên cứu cơ bản: mức cao nhất có kinh phí đầu tư từ 500.000 đến 1 triệu USD, thời gian thực hiện trong vòng 3 đến 5 năm (chỉ dành cho các nhà khoa học xuất sắc, các nhóm nghiên cứu lớn và các đề tài quy mô lớn); các mức sau có kinh phí và thời gian thực hiện thấp dần… Việc học hỏi và áp dụng một phương thức tài trợ đã được chứng thực thành công ở nhiều quỹ quốc tế sẽ là cơ hội tốt để Quỹ Nafosted có thể hạn chế được rủi ro, nếu có.  Đây không phải là lần đầu tiên, vấn đề đổi mới phương thức tài trợ theo nhiều mức được đề cập tới. Trong bài viết “Tài trợ nghiên cứu theo mô hình ba mức” trên Tia Sáng vào tháng 12/2016, TS. Trần Đình Phong (trường Đại học KH&CN Hà Nội) đã nêu phương án tài trợ tương tự theo cách làm của Hội đồng Khoa học châu Âu (European Research Council ERC): 1. các tiến sĩ trẻ tài năng với khoản đầu tư tối đa là 1,5 triệu Euro cho năm năm (ERC starting grant); 2. các tiến sĩ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm việc, đã chứng minh được tài năng với khoản đầu tư lên đến hai triệu Euro cho năm năm (ERC consolidator grant); 3. các nhà nghiên cứu đã khẳng định được tài năng và dẫn đầu các phòng thí nghiệm lớn với kinh phí khoảng 2,5 triệu Euro cho năm năm (ERC advanced grant).  Khi đề xuất với Quỹ Nafosted về một phương thức tài trợ mới, cả PGS. TS Đặng Hoàng Minh và TS. Trần Đình Phong đều chung một cách nhìn: cách đầu tư như hiện nay của Quỹ nên được coi là mức đầu tiên nhằm hình thành một cộng đồng khoa học đủ về số lượng. “Liệu mình có nên chia các mức tài trợ như thế hay không để vẫn có thể phân phối các nguồn lực một cách đúng đắn mà vẫn phát triển được sân chơi rộng cho tất cả nhà nghiên cứu? Tôi nghĩ là Quỹ phải nghĩ đến những mục tiêu đó để 10, 15 năm tới không chỉ có được sức ảnh hưởng lớn hơn mà còn đem lại ý nghĩa phát triển sự nghiệp cho các nhà khoa học trẻ”, PGS. TS Đặng Hoàng Minh nói.  Tài trợ chưa hợp lý cho nhân lực nghiên cứu   Bằng cách này hay cách khác, Quỹ Nafosted cũng đang tích cực học hỏi cách làm của nhiều quỹ đầu tư quốc tế nhằm tăng cường chất lượng đầu tư cho khoa học. Với sự ra đời của Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực KH&CN quốc gia, Quỹ có nhiều cơ hội hỗ trợ các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu trẻ, trong các hoạt động: tham dự hội thảo quốc tế, nghiên cứu ngắn hạn tại nước ngoài, hỗ trợ kinh phí công bố quốc tế. Theo số liệu của Quỹ Nafosted, từ năm 2009 đến nay đã có 560 lượt nhà khoa học Việt Nam nhận được hỗ trợ tham dự hội thảo quốc tế, 92 lượt người tham gia các khóa thực tập nghiên cứu ngắn hạn. Để phong phú thêm các hình thức tài trợ, Quỹ đã tìm cách mở rộng mối quan hệ quốc tế với nhiều quỹ nước ngoài như Quỹ Flander (Bỉ), Quỹ Khoa học Đức, Viện Hàn lâm Anh quốc và Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoàng gia Anh… Kể từ năm 2017, Quỹ bắt đầu triển khai việc đầu tư vào các nhóm nghiên cứu mạnh, chủ yếu là cấp thêm kinh phí thực hiện đề tài có quy mô lớn hơn và thời gian thực hiện dài hơn.  Những nỗ lực mở thêm các phương thức tài trợ này của Quỹ Nafosted được nhiều nhà khoa học đánh giá là tốt và tiến bộ nhưng chưa đủ. Từ năm 2013, GS. TS Đào Tiến Khoa (Viện KH&KT hạt nhân), thành viên Hội đồng khoa học ngành Vật lý, đã nhắc đi nhắc lại câu hỏi “tại sao Quỹ không có khoản tài trợ cho postdoc?” từ năm 2013 và băn khoăn “không hiểu tại sao mãi chúng ta không giải quyết được vấn đề này”. Hậu quả của việc thiếu tài trợ cho những tiến sĩ trẻ muốn làm postdoc trong nước để tiếp tục phát triển khả năng nghiên cứu là rất nhiều nhóm nghiên cứu trong nước rơi vào tình trạng thiếu nhân lực vì không mời được postdoc – thành viên năng động nhất của các nhóm nghiên cứu, hoặc có rồi lại để mất khi họ xin được học bổng ở nước ngoài. Để thoát khỏi khó khăn này, ông nêu giải pháp: “đã đến lúc chúng ta cần có một hỗ trợ dưới dạng học bổng postdoc fellowship như nhiều quỹ quốc tế đã áp dụng hay lương (payment), hỗ trợ ít nhất trong 12 tháng để người ta có thể yên tâm nghiên cứu với một mức lương nào đó”.  Trong Kỷ yếu kỷ niệm 10 năm hình thành và phát triển của Quỹ Nafosted, GS. TS Nguyễn Xuân Phúc (Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Hội đồng khoa học ngành Vật lý, cũng đề xuất “hình thức khích lệ thích đáng cho postdoc trong nhóm nghiên cứu, tạo điều kiện để một số chủ nhiệm đề tài có uy tín có điều kiện xem xét chấp nhận các yêu cầu thực tập postdoc trẻ nước ngoài để góp phần thúc đẩy quá trình quốc tế hóa các nhóm nghiên cứu trong nước”.   Trước những yêu cầu của thực tế này, Thông tư số 09/2015/TT-BKHCN quy định quản lý hoạt động nâng cao năng lực KH&CN do Quỹ hỗ trợ, trong đó có hình thức hỗ trợ postdoc, được phê duyệt như một giải pháp để Quỹ Nafosted tháo gỡ khó khăn, trong việc hỗ trợ postdoc được tính vào tiền công thực hiện đề tài do Quỹ tài trợ. Tuy nhiên từ đó đến nay, cơ chế tài chính về hình thức hỗ trợ postdoc vẫn còn chưa rõ ràng và nhà khoa học vẫn chờ đợi một hỗ trợ thỏa đáng, đúng với những đóng góp vào công trình nghiên cứu của postdoc – nhân tố quan trọng của một dự án nghiên cứu chỉ sau chủ nhiệm đề tài (với các nhóm nghiên cứu quốc tế, postdoc thường giữ vai trò quan trọng thứ hai sau giáo sư trưởng nhóm).   Với những thành công đã đạt được trong 10 năm qua, Quỹ Nafosted đang đứng trước nhiều cơ hội đổi mới để làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tài trợ, hỗ trợ nghiên cứu của mình. Nếu không có đổi mới trong phương thức tài trợ thì theo TS. Trần Đình Phong, chúng ta “chỉ có thể triển khai những ý tưởng khoa học rời rạc, những đề tài có thí nghiệm quan trọng chủ yếu được thực hiện ở nước ngoài, và hơn cả là chỉ tạo ra các nhóm nghiên cứu ‘đồng hàng thẳng tiến’, có thể liên tục ‘trúng’ tài trợ của Nafosted và có bài báo ISI nhưng khó xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh có vị trí đáng kể trong cộng đồng khoa học quốc tế”.¨  Đề xuất đổi mới của các hội đồng khoa học ngành và nhà nghiên cứu với Quỹ Nafosted  “Đối với lĩnh vực KHXH và NV, tôi đề xuất cần chú trọng là đạo đức nghiên cứu. Không một quỹ quốc tế nào lại không yêu cầu đạo đức nghiên cứu trong các đề tài có các đối tượng nghiên cứu là con người. Để làm được điều này, tuy không cần thêm một hội đồng đạo đức nghiên cứu nhưng Quỹ Nafosted phải yêu cầu các quy trình về đạo đức nghiên cứu với các chủ nhiệm đề tài khi nghiên cứu về y sinh hay tâm lý học liên quan rất nhiều đến con người. Nếu không, điều gì đảm bảo tất cả nghiên cứu được Quỹ tài trợ đấy không làm tổn hại đến con người? Tôi nghĩ rằng nếu một đề tài nào, ví dụ như ngành của tôi tâm lý học, mà sau đấy bị kiện là ảnh hưởng đến con người thì bên đầu tiên phải chịu trách nhiệm pháp lý là Quỹ vì Quỹ là cơ quan tài trợ. Tôi nghĩ, Quỹ nên quan tâm đến vấn đề này để trong vòng 10, 15 năm tới, có những cơ sở hỗ trợ nhiệm vụ tài trợ cho nghiên cứu của mình”. (PGS. TS Đặng Hoàng Minh).  “Đối với nhóm nghiên cứu mạnh có hướng nghiên cứu cập nhật với khu vực và thế giới, cần có tài trợ để đầu tư trang thiết bị nghiên cứu nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu.” (Hội đồng khoa học ngành Hóa học)   “Việc xem xét các đề xuất lần sau của chủ nhiệm đề tài cần gắn liền với kết quả đề tài trước và cần thể hiện rõ nét sự phát triển của nhóm nghiên cứu”. (Hội đồng khoa học ngành Sinh học nông nghiệp)   “Không nên yêu cầu các đề tài không hoàn thành phải xuất toán vì đầu tư cho khoa học cơ bản là một loại đầu tư mạo hiểm. Giữ phương án không cho phép các chủ nhiệm đề tài không hoàn thành nhiệm vụ đăng ký đề tài trong hai năm tiếp theo. Khi xét các đề tài mới, các hội đồng khoa học ngành sẽ chú ý đến lịch sử thực hiện đề tài của các chủ nhiệm có đề tài nghiệm thu không đạt”. (Hội đồng ngành Cơ học và kỹ thuật)   “Việc Quỹ Nafosted quy định sau hai năm thực hiện đề tài phải có công bố quốc tế đôi khi cũng gây áp lực cho chủ nhiệm đề tài phải có bằng được sản phẩm để nghiệm thu, vì thế đôi khi họ phải chọn cách đăng bài trên tạp chí có chất lượng thấp hơn năng lực công bố để tránh rủi ro. Ràng buộc bởi quy định này làm giảm cơ hội công bố trên tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao của nhà khoa học. Theo tôi, chúng ta có môt giải pháp thỏa đáng: chủ nhiệm một số đề tài có khả năng công bố tốt có thể đề xuất với Quỹ và hội đồng khoa học ngành là cho phép kéo dài thời gian nghiệm thu. Khi đó, hội đồng khoa học ngành sẽ là người thẩm định và Quỹ có thể xem xét gia hạn để họ có sản phẩm tốt”. (TS. Nguyễn Việt Cường, Hội đồng khoa học ngành Kinh tế)    Author                Thanh Nhàn        
__label__tiasang Quỹ NAFOSTED: Tỷ lệ cạnh tranh trong lĩnh vực KHXH&NV từ 50 đến 60%      Theo TS. Đỗ Tiến Dũng, giám đốc điều hành Quỹ NAFOSTED, năm năm sau khi nêu yêu cầu phải có công bố quốc tế, số lượng các hồ sơ trong lĩnh vực KHXH&NV gửi tới Quỹ đã bắt đầu có dấu hiệu gia tăng và số lượng hồ sơ được các hội đồng khoa học ngành phê duyệt luôn xấp xỉ mức 50 đến 60%.      “Vai trò của các loại hình nhà đầu tư khác nhau đối với doanh nghiệp niêm yết và đối với thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập” là một trong những đề tài ngành Kinh tế học được phê duyệt lần này. Nguồn: VnReview.  Trong thông báo kết quả xét duyệt đợt hai vào ngày 14/11/2019, Quỹ cho biết đã nhận được 58 hồ sơ và tuyển chọn được 38 đề tài thuộc năm chuyên ngành và liên ngành: Triết học – Chính trị học – xã hội học; Kinh tế học; Sử học – Khảo cổ học – Dân tộc học; Tâm lý học – giáo dục học; Văn học – Ngôn ngữ học (không có hồ sơ nào của ngành Luật học, Văn hóa học – nghệ thuật – thông tin đại chúng và truyền thông), xấp xỉ lượng hồ sơ của đợt xét duyệt đầu của năm. “Dĩ nhiên so với số lượng các hồ sơ giai đoạn trước, khi Quỹ chưa đặt yêu cầu phải có công bố quốc tế thì số lượng hồ sơ nhận được hằng năm của Quỹ lớn hơn nhiều”, TS. Đỗ Tiến Dũng cho biết.   Theo số liệu của Quỹ thì trước đây, các hồ sơ gửi đến hằng năm đều dao động ở mức 100 đến 150 hồ sơ và tỷ lệ cạnh tranh cũng xấp xỉ mức như hiện nay. Tuy nhiên, số lượng xuất bản quốc tế từ các đề tài được Quỹ tài trợ đều ở mức thấp, không chỉ trên các tạp chí thuộc danh mục ISI mà còn trên các tạp chí quốc tế khác. Lý giải về điều này, một nhà nghiên cứu dấu tên cho biết, “nó phản ánh một tình trạng chung của ngành KHXH&VN Việt Nam là từ lâu, các nhà nghiên cứu không đủ năng lực công bố hoặc không có ý thức công bố quốc tế. Mặt khác, bản thân Quỹ cũng chưa chính thức đặt ra yêu cầu nên họ cũng chưa muốn phải ‘cố’ đạt cho bằng được”.  Tình trạng này chỉ thay đổi rõ nét kể từ khi Quỹ chính thức áp tiêu chuẩn phải có công bố đối với các đề tài do Quỹ tài trợ. Mặc dù ban đầu ít có ý kiến ủng hộ nét đổi mới này nhưng hiện tại, quan điểm phải có xuất bản quốc tế đã bắt đầu được chấp nhận rộng rãi trong giới học thuật, tương tự như với ngành KHTN&KT những năm 2009-2010. Nhận xét về chuyển biến đó, TS. Đỗ Tiến Dũng cho biết, “các chủ trì đề tài đều rất ý thức về yêu cầu mới và chỉ khi thấy mình có đủ năng lực công bố và xuất bản quốc tế, họ mới đề xuất hồ sơ lên Quỹ”. Dù chưa đến hạn nghiệm thu các đề tài mà Quỹ tài trợ nhưng “ở thời điểm hiện tại, chúng tôi thấy triển vọng đạt được yêu cầu rất lớn”, anh nói thêm.  Nhìn vào số lượng các đề tài được phê duyệt hằng năm thì chuyển biến này vẫn chưa thật đồng đều trong nhiều lĩnh vực. Các ngành Luật học, Văn học – Ngôn ngữ học, Văn hóa học vẫn luôn “lép vế” khi có số lượng hồ sơ đăng ký và phê duyệt ở mức thấp nhất, có năm chỉ có một đề tài trong khi ngành Kinh tế học luôn chiếm ưu thế, tương tự như với ngành Vật lý và Hóa học thuộc lĩnh vực KHTN&KT. Đợt xét duyệt lần hai này, Kinh tế có 27 đề tài được thông qua trong khi mỗi ngành Sử học – Khảo cổ học – Dân tộc học và Văn học – Ngôn ngữ học chỉ vỏn vẹn 1 đề tài. Xét về tiêu chuẩn đầu ra thì số lượng xuất bản quốc tế của ngành Kinh tế thường ở mức cao nhất, ngay cả trước thời điểm có yêu cầu vào năm 2015 của Quỹ cũng vậy.   Tuy nhiên, để thúc đẩy chất lượng của các đề tài do Quỹ tài trợ, không chỉ có nỗ lực của các nhà khoa học mà còn cần cả sự hoàn chỉnh trong các tiêu chí đánh giá của Quỹ. Trong nhiều phiên họp của các hội đồng ngành KHXH&NV, một số thành viên hội đồng ngành như GS. TS Bùi Thế Cường (ngành Triết học – Chính trị học – Xã hội học), PGS. TS Nguyễn Thị Hiền (ngành Văn hóa học – Nghệ thuật – Thông tin đại chúng và truyền thông), TS. Trần Quang Tuyến (ngành Kinh tế học)… đã nêu vấn đề mở rộng danh mục tạp chí quốc tế của Quỹ, ví dụ bổ sung số lượng tạp chí của 100 trường đại học hàng đầu châu Á, châu Âu sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho các nhà nghiên cứu hơn.  Cân nhắc các ý kiến đóng góp, Quỹ NAFOSTED đang bổ sung một số tạp chí vào danh mục tạp chí quốc tế uy tín ngành KHXH&NV và sẽ công bố vào những ngày tới.    Author                Anh Vũ        
__label__tiasang “Quỹ sẽ trở thành chỗ dựa tin cậy của các nhà nghiên cứu”      Quỹ Phát triển Khoa học &amp; Công nghệ Quốc gia chính thức hoạt động từ cuối năm 2008 được giới khoa học trong nước đánh giá như là một cuộc cách mạng trong quản lý khoa học của Việt Nam.  Tạp chí Tia Sáng có cuộc trao đổi với ông Phan Hồng Sơn – Giám đốc điều hành Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) về những kết quả đạt được trong hai năm qua và hướng hoạt động tới của Quỹ.        Xin ông cho biết bối cảnh ra đời của Quỹ?  Trong khi tại nhiều nước, Quỹ Khoa học Quốc gia đảm nhận vai trò quan trọng trong việc xét duyệt tài trợ ngân sách Nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu thì từ nhiều năm qua, việc tài trợ và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta chủ yếu được thực hiện thông qua các Bộ, ngành. Đó là lý do lãnh đạo Bộ KH&CN vào đầu những năm 2000 đã đề nghị với Chính phủ  triển khai mô hình mới, đó là hệ thống các Quỹ để  đa dạng hóa các kênh tài trợ cho các hoạt động  khoa học và công nghệ nói chung. Đến năm 2003, Chính phủ đã quyết định thành lập NAFOSTED.  Vì sao được thành lập từ năm 2003 nhưng đến năm 2008 Quỹ mới có được những quy định về tài trợ cho nghiên cứu?   Do Quỹ Khoa học là mô hình mới ở nước ta, nên cùng với việc học tập các mô hình Quỹ ở nước ngoài, chúng tôi phải nghiên cứu, tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học về phương thức hoạt động của Quỹ cho phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo các chuẩn mực quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Không dễ gì để có được sự đồng thuận của các nhà khoa học và một số nhà quản lý của các Bộ, ngành. Vì thế, phải sau gần 5 năm chuẩn bị các điều kiện cần thiết, kiên trì bàn bạc, thuyết phục, được sự ủng hộ của các nhà khoa học tâm huyết, thực sự đam mê nghiên cứu và trước nhu cầu hội nhập quốc tế trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chúng tôi mới ban hành được những quy định tài trợ nghiên cứu của Quỹ mang nhiều nét đổi mới như vậy.  Hội đồng khoa học ngành của NAFOSTED (gồm các thành viên là các nhà khoa học có thành tích nghiên cứu tốt, hơn 20% là các tiến sĩ dưới 40 tuổi) được thành lập là một sự kiện quan trọng trong giới khoa học. NAFOSTED đã phải vượt qua những sức ép, lực cản nào để thành lập được những Hội đồng khoa học ngành như vậy?  Chúng tôi không gặp nhiều khó khăn trong thành lập các Hội đồng khoa học ngành. Ngay từ đầu Quỹ quyết tâm đổi mới phương thức hoạt động nên chúng tôi xem chất lượng của các Hội đồng khoa học ngành, phẩm chất của các thành viên và cách thức làm việc của họ đóng vai trò quan trọng và sẽ quyết định sự thành bại của Quỹ. Vì về mặt chuyên môn, để chọn được những đề cương nghiên cứu tốt, Quỹ phải dựa vào ý kiến tư vấn của các thành viên Hội đồng khoa học ngành.   Khi lựa chọn các thành viên của các Hội đồng ngành chúng tôi đưa ra một loạt tiêu chí về năng lực khoa học (họ vẫn đang làm nghiên cứu tích cực và có thành tích xuất sắc); tính đại diện (đại diện được cho các thế hệ, giới, ngành); sự công tâm, khách quan trong việc đưa ra các ý kiến.   Xin ông cho biết tỉ lệ các nhà khoa học trẻ (dưới 40 tuổi) được tài trợ nghiên cứu?    Sau 2 năm có khoảng 500 hồ sơ nghiên cứu được tài trợ trong đó tới hơn 60% là các nhà khoa học trẻ (dưới 45 tuổi) đang tham gia các đề tài nghiên cứu được Quỹ tài trợ. Thời gian vừa qua Quỹ thu hút được một số các nhà khoa học trẻ mới về nước tham gia. Tuy nhiên, để thu hút được nhiều hơn nữa các nhà khoa học trẻ Việt Nam đang ở nước ngoài, bên cạnh Quỹ tài trợ nghiên cứu, cần nhiều yếu tố khác nữa như môi trường, điều kiện làm việc tại các cơ sở nghiên cứu…  Đâu là những khó khăn thường gặp của các nhà khoa học đang thực hiện đề tài nghiên cứu được tài trợ? Quỹ giúp họ giải quyết vướng mắc như thế nào?   Theo cảm nhận của tôi, các nhà khoa học nhận được tài trợ của Quỹ không có nhiều vướng mắc. tôi có cảm tưởng họ đang miệt mài nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có nghe được một số phản hồi về việc giải ngân tiền tài trợ Quỹ cấp cho họ. Có một số tổ chức chủ trì vẫn quản lý theo tư duy trước đây. (Hợp đồng tài trợ nghiên cứu theo hình thức 3 bên: Quỹ tài trợ, cơ quản chủ trì và nhà nghiên cứu). Việc giải ngân kinh phí Quỹ đã cấp ở những đơn vị này chưa được linh hoạt và thuận tiện như chủ trương của Quỹ. Cán bộ của Quỹ đã tới làm việc với các tổ chức chủ trì này để thống nhất phương thức giải ngân, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học.   Nói thêm về cơ chế tài chính, trước đây nghiên cứu cơ bản được tài trợ rất ít, nhiều nhà khoa học gọi vui là tiền “xóa đói giảm nghèo”, và thường dàn trải cho nên không đem lại nhiều hiệu quả. Hiện nay chúng tôi thực hiện cơ chế tài chính mới: áp dụng quy định mới về lập dự toán đề tài nghiên cứu cơ bản, thông qua đó các nhà khoa học được trả công một cách xứng đáng hơn. Chủ nhiệm đề tài có thể nhận tiền công tới 13 triệu đồng/tháng. Tiền tài trợ cho các đề tài có thể là 400-500 triệu, không phải 100 triệu như trước. Cách quản lý cũng khoa học hơn: chúng tôi không tính công lao động của các nhà khoa học theo các chuyên đề như trước mà căn cứ vào kết quả cuối cùng. Chúng tôi tài trợ nhiều hơn và cũng đòi hỏi nhiều hơn: các kết quả nghiên cứu phải được công bố quốc tế.     Các giảng viên trẻ tham gia nghiên cứu có than phiền về việc không có đủ thời gian dành cho nghiên cứu?   Các giảng viên không than phiền về việc thiếu thời gian dành cho nghiên cứu với Quỹ. Tuy nhiên trong cộng đồng thì có nhiều ý kiến xung quanh việc các nhà nghiên cứu ở các trường đại học thì có ít thời gian dành cho nghiên cứu hơn các nhà nghiên cứu tại các Viện do phải đảm nhận công tác giảng dạy. Chúng tôi thấy đây là vấn đề mang tính hệ thống: các Viện nghiên cứu của chúng ta chuyên về nghiên cứu, các trường đại học thì giảng dạy. Hệ thống này theo mô hình của Liên Xô trước đây, hoàn toàn khác hệ thống đại học nghiên cứu của một số nước phương Tây.                   Theo thống kê năm 2009, các đề tài nghiên cứu được Quỹ tài trợ từ các Viện chiếm 60%, còn các trường đại học là 40%. Quỹ rất khuyến khích các giảng viên, giáo sư ở các trường đại học tham gia nghiên cứu và mong muốn số lượng các giảng viên nhận được tài trợ nghiên cứu sẽ còn tăng lên. Điều này phù hợp với chủ trương đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ở các trường đại học. Các trường đại học cũng đang điều chỉnh cơ chế tạo thuận lợi cho các giảng viên: tham gia đề tài nghiên cứu sẽ được giảm bớt gánh nặng  từ các công việc khác.   Một số nhà nghiên cứu nhận được tài trợ của Quỹ có thông báo về việc Quỹ sẽ đi kiểm tra tài chính giữa năm. Điều này có đúng không? Tại sao Quỹ lại có quyết định này?    Theo tôi, có sự hiểu lầm ở đây. Xin nhắc lại là chúng tôi không tiến hành kiểm tra giữa năm. Theo quy định về quản lý ngân sách Nhà nước, Quỹ chỉ kiểm tra việc chi tiêu kinh phí đã cấp để căn cứ vào đó báo cáo quyết toán hàng năm với Bộ Tài chính và chỉ thực hiện mỗi năm một lần. Theo đó, Bộ phận kế toán của Quỹ tới làm việc với bộ phận kế toán của tổ chức chủ trì đề tài, không làm việc trực tiếp với chủ nhiệm đề tài. Các nhà khoa học trước đây vẫn than phiền về các thủ tục hành chính rườm rà, mất thời gian. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với điều này. Do vậy, khi đề ra các quy chế quản lý tài chính Quỹ, chúng tôi cố gắng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà khoa học, tránh gây phiền hà cho họ.   Với những nhóm nghiên cứu không hoàn thành các mục tiêu đề ra, Quỹ sẽ giải quyết như thế nào?   Trong nghiên cứu tất yếu có rủi ro. Có những nhóm nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra, có những nhóm không thành công ngay. Nhưng theo kinh nghiệm quản lý Quỹ ở một số nước mà tôi biết, khi các nhà khoa học không đạt được mục tiêu đặt ra thì người quản lý Quỹ thông qua đó đánh giá năng lực của họ và không ưu tiên tài trợ cho những người này ở những lần xin tài trợ sau đó.   Ngoài cấp kinh phí cho các nhóm nghiên cứu thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản, NAFOSTED còn tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. Tính tới thời điểm hiện nay, đã có bao nhiêu doanh nghiệp được quỹ tài trợ?  Hiện nay, căn cứ vào Nghị định 119 về hỗ trợ hoạt động nghiên cứu trong các doanh nghiệp, bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể nộp hồ sơ yêu cầu tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong những lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, như: phát triển hoặc ứng dụng công nghệ cao, đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ sản xuất sạch bảo vệ môi trường, năng lượng mới… Quyết định tài trợ của Quỹ dựa vào tư vấn của hội đồng khoa học bao gồm các nhà khoa học và các chuyên gia bên công nghiệp. Kinh phí tài trợ không quá 30% tổng giá trị dự án của doanh nghiệp đề xuất. Trong vòng hai năm qua, Quỹ hỗ trợ cho khoảng 50 doanh nghiệp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam chưa có năng lực nghiên cứu công nghệ và họ cũng chưa thiết tha với việc này. Chúng tôi mong muốn có nhiều doanh nghiệp tham gia và cũng muốn nhận được các đề tài của doanh nghiệp có giá trị thực tiễn hơn nữa.   Năm 2010, ngoài tài trợ cho các nghiên cứu trong ngành khoa học tự nhiên, NAFOSTED bắt đầu xét duyệt đề tài nghiên cứu của ngành khoa học xã hội. Đâu là những khó khăn trong xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học xã hội?        Nếu trong khoa học tự nhiên các nhà khoa học tiếp cận gần với chuẩn mực quốc tế nên khi đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế họ dễ dàng chấp nhận và ủng hộ thì trong khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu chưa tiếp cận gần với các chuẩn mực quốc tế như bên tự nhiên, cho nên khi đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học còn nhiều bàn cãi.         Khó khăn của Quỹ là thiết lập các chuẩn mực cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội được cộng đồng chấp nhận nhưng đồng thời phải hướng tới việc nâng cao chất lượng nghiên cứu. Vừa qua, chúng tôi đã đề ra quy chế quản lý tài trợ nghiên cứu khoa học xã hội nêu rõ mong muốn của Quỹ và yêu cầu về chất lượng. Tuy nhiên, nếu trong khoa học tự nhiên các nhà khoa học tiếp cận gần với chuẩn mực quốc tế nên khi đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế họ dễ dàng chấp nhận và ủng hộ thì trong khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu chưa tiếp cận gần với các chuẩn mực quốc tế như bên tự nhiên, cho nên khi đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học còn nhiều bàn cãi. Mục đích hoạt động của Quỹ là phục vụ cộng đồng các nhà khoa học, do vậy chúng tôi phải lắng nghe nguyện vọng của họ. Chúng tôi thấy rằng các yêu cầu về chất lượng nghiên cứu trong khoa học xã hội phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, và vì vậy  đánh giá theo các chuẩn mực quốc tế chưa được áp dụng như trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, hiện mới chỉ yêu cầu công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí trong nước hoặc dưới hình thức sách chuyên khảo, đồng thời khuyến khích công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế.  Quỹ có những chính sách ưu đãi nào với những hướng, đề tài nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao?   Không có ranh giới rõ ràng giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Khái niệm này chủ yếu phục vụ công tác thống kê để biết quốc gia này đầu tư ở mức nào cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Trong khoa học rất khó để nói nghiên cứu này có giá trị ứng dụng ngay hay chưa. Việc công bố các kết quả nghiên cứu là việc của các nhà nghiên cứu cơ bản. Còn ứng dụng được các nghiên cứu cơ bản này hay không cần phải có nhiều bước tiếp theo, không  phải chỉ là việc của các nhà nghiên cứu cơ bản. Cần phải có sự phối hợp với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mạo hiểm…   Sau hai năm hoạt động, theo đánh giá của ông, những thành công mà NAFOSTED đạt được là gì?  Thành công thứ nhất đó là chúng tôi đã bước đầu xây dựng được phương thức quản lý hoạt động khoa học theo chuẩn mực quốc tế góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam. Thứ hai, việc NAFOSTED hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế đã góp phần tạo dựng được môi trường học thuật lành mạnh, các nhà khoa học có động lực nghiên cứu, có điều kiện thuận lợi theo đuổi nghiên cứu.   Ông mong muốn NAFOSTED sẽ phát triển như thế nào trong tương lai?  Chúng tôi mong muốn trong tương lai Quỹ sẽ trở thành biểu tượng về chất lượng trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, có uy tín trong cộng đồng nhờ vào tính khách quan, trở thành chỗ dựa tin cậy của các nhà nghiên cứu trên cả nước. Về lâu dài, Quỹ mong muốn đóng góp trong việc xây dựng nền tảng cho nền khoa học Việt Nam; duy trì chất lượng và năng lực khoa học của quốc gia. Khi đánh giá năng lực khoa học của một quốc gia người ta thường căn cứ vào chỉ số công bố quốc tế. Vừa rồi một số nhà khoa học dựa vào tiêu chí này làm phép so sánh cho thấy Việt Nam thua xa các nước trong khu vực. Điều này cũng làm chúng ta phải suy nghĩ, “Vì sao các nhà khoa học Việt Nam đạt được thành tích tốt ở nước ngoài nhưng tại Việt Nam họ không phát huy được năng lực của mình”.  Cảm ơn ông.              Ngọc Tú   thực hiện      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy trình bổ nhiệm chức danh của “fellowship”      C&#225;i kh&#225;c giữa xin việc v&#224; xin chức danh ở đ&#226;y l&#224; những người xin việc kh&#244;ng phải l&#224; những người đang thất nghiệp hay muốn chuyển chỗ l&#224;m, m&#224; l&#224; những gi&#225;o sư đ&#227; th&#224;nh danh, những nh&#224; khoa học l&#227;nh đạo một nh&#243;m nghi&#234;n cứu. V&#236; thế, qui tr&#236;nh của việc bổ nhiệm chức danh n&#224;y c&#243; rất nhiều điều đ&#225;ng n&#243;i về c&#225;ch chấn chỉnh lại đội ngũ khoa ở &#218;c- một m&#244; h&#236;nh m&#224; Việt Nam c&#243; thể &nbsp;tham khảo trong qu&#225; tr&#236;nh tổ chức lại hoạt động khoa học.    Nhu cầu cho chương trình fellowship  Nước Úc chỉ có 20 triệu dân, nhưng có những thành tựu rất đáng tự hào về hoạt động khoa học trên trường quốc tế, với nhiều người đoạt giải Nobel. Nhưng đó là những thành tích của 40 hay 50 năm về trước, còn trong thời gian gần đây thì tình trạng xuống dốc trong các đại học và viện nghiên cứu đã được báo động nhiều lần. Tình trạng chảy máu chất xám càng ngày càng trầm trọng, Ngoài con số hàng ngàn chuyên gia bỏ xứ sang Mỹ và Âu châu làm việc, còn có hàng trăm các nhà khoa học trình độ tiến sĩ, giảng sư, và giáo sư bỏ Úc sang làm việc tại Mỹ với khả năng hồi hương rất thấp vì thiếu ngân sách cho nghiên cứu khoa học và cơ cấu sự nghiệp không rõ ràng. Chẳng riêng gì Mỹ, mà ngay cả nước láng giềng đang lên như Singapore cũng đang chiêu dụ các nhà khoa học Úc sang làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu của họ. Hệ quả là hoạt động khoa học của Úc xuống cấp.   Chính phủ ý thức được tình trạng khoa học nước họ đang trên đà tụt hậu, nên năm nay Quốc hội dự trù một ngân sách lên đến 5 tỉ USD để chấn hưng và phát triển khoa học. Ngân sách khổng lồ này được dự trù cho 5 năm, với nhiều chương trình cụ thể như xây dựng cơ sở vật chất, chấn chỉnh đội ngũ giáo sư, cung cấp học bổng cho nghiên cứu nước ngoài làm nghiên cứu tại Úc, và cung cấp ngân quĩ cho các nhà khoa học Úc thực hiện các dự án nghiên cứu ở nước ngoài, nhất là các nước Á châu.  Một trong những phương cách để chấn hưng và phát triển khoa học là chấn chỉnh lại đội ngũ nhà khoa học là thiết lập một số chương trình Fellowship (giống như cấp “học bổng” hay nói đúng ra là lương bổng và chi phí nghiên cứu cho các nhà khoa học chuyên nghiệp). Các chương trình này bao gồm NHMRC Fellowship (National Health and Medical Research Council) chủ yếu dành cho các nhà khoa học thực nghiệm như y sinh học, ARC Fellowship (Australian Research Council) chủ yếu dành cho các nhà khoa học tự nhiên, Australia Fellowship chủ yếu dành cho việc “chiêu dụ” các nhà khoa học Úc đang ở nước ngoài, và nhiều chương trình cho các nhà khoa học trẻ.            Ở Úc ARC và NHMRC là hai cơ quan có trách nhiệm quản lí ngân sách khoa học. Thật ra, đây không phải là “cơ quan” đúng nghĩa, mà là một hội đồng khoa học, mà thành viên là các nhà khoa học trong nước thay nhau đứng ra quản lí và điều hành. Mỗi năm, Chính phủ giao cho hai hội đồng một ngân sách, và việc phân phối tiền cho các dự án nghiên cứu được tiến hành theo những qui trình được cộng đồng khoa học nhất trí. Do đó, chương trình fellowship cũng do hai hội đồng này quản lí. Chính phủ hoàn toàn không can thiệp vào quyết định của hai hội đồng này.          Chương trình fellowship này nhắm vào 5 mục tiêu chính như sau: 1. Khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú cho Úc. 2. Đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng (tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền”). 3. Xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ. 4. Khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành lâm sàng, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của Úc. 5. Khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan Chính phủ và công ty kĩ nghệ.   Tóm lại, mục tiêu chính của chương trình fellowship là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” cho Úc để nâng cao tính cạnh tranh của Úc trên trường quốc tế.  Tuyển dụng những nhà khoa học ưu tú từ đâu?   Nguồn thứ nhất là từ các giáo sư đang công tác tại đại học và viện nghiên cứu của Úc. Tất nhiên, cũng có thể tuyển từ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ và Âu châu. Mỗi năm, fellow gửi thông báo đến những nơi vừa kể để mời các giáo sư và giảng sư đệ đơn xin làm (chữ fellow rất khó dịch, nên tôi đành để nguyên văn). Có 3 loại fellow chính (từ thấp đến cao): research fellow, senior research fellow, và principal research fellow. Người đệ đơn lần đầu không có quyền xin chức principal research fellow, cho dù người đó từng đoạt giải Nobel, vì chức danh này chỉ dành cho những senior research fellow xin đề bạt.            Không dễ định nghĩa và cũng chẳng ai qui định trên giấy trắng mực đen như thế nào là “nhà khoa học ưu tú”, nhưng qua trao đổi cá nhân với nhau, các nhà khoa học đều nhất trí rằng nhà khoa học ưu tú là người đứng trong nhóm “top 5%” trong một lĩnh vực chuyên môn ở bình diện quốc tế (chứ không phải quốc gia).          Được bổ nhiệm làm fellow không chỉ là một vinh dự cho cá nhân nhà khoa học, mà còn là một niềm hãnh diện của trường đại học nơi ứng viên công tác. Thật ra, đối với trường đại học họ “rảnh tay” và tiết kiệm một số tiền khá lớn, vì họ không phải trả lương cho nhà khoa học khi nhà khoa học đã được bổ nhiệm NHMRC fellow! Còn đối với nhà khoa học, họ không phải kí hợp đồng mỗi năm với trường đại học, vì mỗi fellowship được Chính phủ “nuôi dưỡng” đến 5 năm. Nói tóm lại, cả đôi bên – đại học và nhà khoa học – đều có lợi!  Qui trình bình duyệt (phản biện)  Nói chung qui trình xét duyệt đơn fellowship cũng không khác gì qui trình xét đơn tài trợ, tức phải qua bình duyệt (hay nói theo ngôn ngữ trong nước là “phản biện”). Trong qui trình này, việc chuẩn bị tờ đơn fellowship hết sức khó khăn và đóng một vai trò cực kì quan trọng. Cái khó khăn không chỉ vì những qui định bất di bất dịch về số chữ, số trang, mà ở chỗ ứng viên phải đi ngược về quá khứ cả hai mươi năm về trước để  liệt kê tất cả những ấn phẩm khoa học (không tính những bài báo trong hội nghị khoa học) đã công bố, hệ số ảnh hưởng của tập san (impact factor) là bao nhiêu, số lần trích dẫn bao nhiêu, và trong trường hợp bài báo có nhiều tác giả, ứng viên phải nêu rõ vai trò của mình trong bài báo là gì. Ngoài phần ấn phẩm khoa học, ứng viên còn phải liệt kê tất cả những lần được các hội nghị khoa học nước ngoài mời giảng, nói chuyện, hay chủ tọa; giải thưởng cấp quốc gia và quốc tế, hoạt động gì trong các hội đoàn khoa học quốc tế; đóng vai trò gì trong bình duyệt bài báo hay tham gia ban biên tập tập san nào, ở đâu, chỉ số ảnh hưởng ra sao; đào tạo bao nhiêu thạc sĩ và tiến sĩ (không kể cử nhân); đào tạo bao nhiêu hậu tiến sĩ; thành tích thu hút tài trợ từ nước ngoài và trong nước ra sao; có đóng góp gì cho chính sách khoa học quốc gia và quốc tế; có đóng góp gì cho cộng đồng và quần chúng; v.v…   Cụ thể như trung bình một đơn xin làm fellow của NHMRC dài khoảng 100 trang tốn đến 2-3 tháng trời. Vì thế, đối với nhiều người, soạn thảo một đơn xin làm fellow là một cơn ác mộng (nightmare). Tất cả các tiêu chuẩn và qui trình duyệt đơn đều được công bố trên mạng. Theo qui trình này, khi nhận được đơn, NHMRC sẽ thành lập một số ủy ban chuyên ngành để duyệt đơn. Mỗi ủy ban có 6 thành viên, được tuyển chọn từ các nhà khoa học. Thông thường những thành viên này là những người đã được bổ nhiệm fellow của NHMRC, nhưng cũng có khi chính những thành viên này cũng là những người đang đệ đơn xin chức fellow. Như đề cập trên, chính sách của chính phủ Úc là các quan chức Nhà nước không can thiệp vào qui trình bổ nhiệm; tất cả việc bổ nhiệm và điều hành ngân quĩ đều do chính các nhà khoa học cùng nhau thực hiện theo các qui tắc đã được cộng đồng khoa học chấp thuận.  Nhiệm vụ chính của các ủy ban này là tuyển duyệt các đơn và thực hiện cuộc phỏng vấn. Khi nhận được đơn từ các ứng viên, ủy ban sẽ gửi đơn đến 4 chuyên gia (trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài) để bình duyệt. Cũng như phản biện một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ nghiên cứu, ứng viên sẽ không biết các chuyên gia này là ai. Ứng viên có quyền đề cử chuyên gia bình duyệt và phải nêu lí do. Những người từng đứng tên tác giả với ứng viên trong các ấn phẩm khoa học hay những người có quan hệ mật thiết (như thầy / cô cũ) sẽ không có tư cách để bình duyệt đơn. Ứng viên cũng có quyền liệt kê các chuyên gia mà ứng viên không muốn họ duyệt đơn mình và phải nêu lí do. Tuy nhiên, rất ít khi nào ủy ban gửi đơn cho các chuyên gia mà ứng viên đề cử, vì họ thừa biết các chuyên gia này là bạn bè hay đồng nghiệp thân cận với ứng viên, nên chắc chắn họ sẽ có những ý kiến thiếu khách quan. Đôi khi (rất hiếm), ủy ban lại gửi đơn cho chính chuyên gia mà ứng viên đề nghị không nên duyệt đơn!  Dựa vào đề nghị của 4 báo cáo bình duyệt, ủy ban sẽ loại những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Thông thường, số ứng viên bị loại bỏ trong vòng một này là 70-80%, tức chỉ có 20-30% được mời phỏng vấn (hay vào vòng hai). Cuộc phỏng vấn rất quan trọng, vì nó có thể đem lại thành công hay thất bại cho ứng viên. Có thể xem cuộc phỏng vấn là một cơ chế để sàng lọc ứng viên. Nên nhớ rằng, tất cả các ứng viên được mời phỏng vấn đều là những người đã đạt tiêu chuẩn fellow, nhưng đơn giản vì NHMRC không đủ ngân sách cho tất cả ứng viên, nên họ phải sử dụng cuộc phỏng vấn để … loại bớt ứng viên sao cho vừa đủ ngân sách.            Theo thống kê, mỗi năm NHMRC nhận được khoảng 2000 đơn, nhưng chỉ có 500 ứng viên lọt vào vòng 2 (phỏng vấn). Sau khi phỏng vấn, chỉ có 50 đến 100 ứng viên (tùy theo ngân sách trong năm và tùy theo chương trình) được bổ nhiệm làm NHMRC fellow. Tuy con số không nhiều, nhưng nó cũng tốn chính phủ từ 50 triệu đến 100 triệu USD, một số tiền rất lớn. Tất nhiên, những người phụ trách điều hành NHMRC phải nói rằng nếu ứng viên không được bổ nhiệm thì điều đó không có nghĩa là ứng viên không thuộc vào hàng ưu tú. Nhưng có mấy ai nghe lời giải thích (mang chút an ủi) này! Trong thực tế, sự thất bại chẳng làm thay đổi công việc hay vị thế của ứng viên, vì họ vẫn là giáo sư, vẫn là những người lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, vẫn hoạt động bình thường; có khác chăng là họ không được – hay thất bại trong phấn đấu để được – “kết nạp” vào câu lạc bộ các nhà khoa học ưu tú.           Nếu ứng viên được bổ nhiệm là NHMRC fellow, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm (lên đến gần 1 triệu USD). Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu. Nói cách khác, với một NHMRC fellowship trong tay, ứng viên bây giờ là người chọn đại học, chứ không phải đại học chọn ứng viên. Vì số tiền khá lớn và kéo dài đến 5 năm, cho nên ủy ban bình duyệt xem đây là một sự đầu tư tri thức, hay một cuộc đánh bạc. Mà, đã là đầu tư, thì họ phải cẩn thận xem xét khả năng đầu tư sẽ đem lại tối đa lợi ích. Chính vì thế mà họ phải xét đến thành tựu trong quá khứ, hiện tại và tương lai của ứng viên. Những thông tin trong đơn cũng chưa đủ, nên họ cần phải trực tiếp phỏng vấn ứng viên để xác định và xác minh các thông tin, cũng như tư cách của ứng viên xem có xứng đáng với chức danh hay không. Do đó, cuộc phỏng vấn đóng vai trò rất quan trọng, vì kết quả phỏng vấn có thể là yếu tố chính quyết định sự thành bại của ứng viên.  Nhìn người lại nghĩ đến ta  Tình hình hoạt động khoa học ở nước ta trong những năm gần đây bắt đầu có nhiều chuyển biến tích cực. Các bộ liên quan đến hoạt động khoa học đã bắt đầu áp dụng những chuẩn mực quốc tế để trong việc đào tạo tiến sĩ và đánh giá năng suất của các nhà khoa học. Nhưng cách tổ chức các hoạt động khoa học ở nước ta, theo tôi, vẫn còn nhiều bất cập.   * Trong khi cả nước có một trung tâm khoa học và công nghệ, thì các bộ, thậm chí các cục thuộc Chính phủ, cũng có những viện nghiên cứu riêng. Các nghiên cứu khoa học vẫn chủ yếu được thực hiện tại các viện nghiên cứu, trong khi đó đóng góp các đại học còn quá khiêm tốn dù ở đây có đội ngũ giáo sư và nghiên cứu sinh khá hùng hậu. Đó là chưa kể đến tình trạng chảy máu chất xám rất trầm trọng ở trong nước, với nhiều nghiên cứu sinh không chịu (hay không được tạo điều kiện và cơ hội) về nước tham gia nghiên cứu. Rõ ràng, nhu cầu tổ chức lại đội ngũ nghiên cứu khoa học là rất cấp bách trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.  Hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mỹ, Âu châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có ích. Theo các mô hình này, các viện nghiên cứu nhỏ hay trung bình (dưới 50 người) của các bộ và cục nên sáp nhập với các đại học, nhưng vẫn giữ định hướng nghiên cứu của họ. Cách làm này vừa tạo ra môi trường để các giáo sư trong trường cộng tác với viện nghiên cứu, và sử dụng các nhà khoa học của viện trong công tác giảng dạy và đào tạo nghiên cứu sinh.  * Qui trình phân phối ngân quĩ cho nghiên cứu khoa học cũng cần nên xem xét lại, hay tốt nhất là thay đổi. Hiện nay, các bộ như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu như “đơn đặt hàng” và các nhà nghiên cứu đệ đơn xin ngân sách nghiên cứu. Theo tôi, cách làm theo kiểu đơn đặt hàng này quá máy móc, công thức hành chính, làm hạn chế tầm hoạt động của nhà nghiên cứu. Với cách làm này, nếu một nhà nghiên cứu không có kinh nghiệm làm theo đơn đặt hàng của bộ chắc sẽ … thất nghiệp. Các nhà nghiên cứu nên được khuyến khích tự do tìm tòi và thực hiện những nghiên cứu mà họ muốn. Tất nhiên, dự án các nghiên cứu này phải được duyệt nghiêm chỉnh, và cho dù họ có muốn theo đuổi công trình nghiên cứu, nhưng không chứng minh được khả năng và triển vọng thành công thì công trình sẽ không được hỗ trợ.  Nước ta đang hội nhập quốc tế, và theo tôi hội nhập phải bắt đầu từ nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ. Chúng ta đang có một lực lượng nhà khoa học trẻ được đào tạo từ nước ngoài, nhưng tiềm năng của họ chưa được khai thác vì nhiều người chưa có cơ hội nghiên cứu khoa học. Chúng ta cần có một ngân quĩ hay chương trình để tập trung các nhà khoa học trẻ và nâng đỡ họ thành những nhà khoa học quốc tế. Ở các nước tiên tiến và phương Tây, Nhà nước có khá nhiều chương trình huấn luyện hậu tiến sĩ, và các quĩ dành cho các nhà khoa học trẻ “đang lên”, tức có tiềm năng trở thành lãnh đạo trong tương lai. Tôi tin rằng những tiêu chuẩn của Úc rất cần được tham khảo khi thiết lập một chương trình như thế.  * Một trong những vấn đề mà Nhà nước hay nhắc đến trong năm qua là phương thức nào để thu hút các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài về nước tham gia nghiên cứu. Bàn thảo cũng đã nhiều, nhưng việc thực hiện vẫn chưa đi đến đâu. Theo tôi, một cách để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước là làm như Úc, tức là thiết lập các chương trình fellowship. Các fellow được bổ nhiệm sẽ được sung vào các trường đại học và viện nghiên cứu, và họ được tạo điều kiện ưu tiên cho nghiên cứu khoa học. Tất nhiên, các fellow này phải có chương trình nghiên cứu khả thi và các chương trình này phải được bình duyệt một cách nghiêm chỉnh như cách làm ở Úc hay ở Mỹ.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Quy trình hoạch định–thực thi–đánh giá chính sách KH&CN ở Hàn Quốc      Những nội dung được chia sẻ tại cuộc Hội thảo Kinh nghiệm của Hàn Quốc về Đánh giá và Đổi mới Công nghệ là một cơ hội để các nhà lập pháp và quản lý nghiên cứu cải thiện quy trình dự báo, hoạch định, thực hiện, và đánh giá các hoạt động KH&amp;CN của Việt Nam. Dưới đây là bài viết của phóng viên Tia Sáng, trên cơ sở nội dung trình bày của TS. Byoungsoo Kim, Trưởng  Ban chiến lược và Hợp tác Quốc tế viện KISTEP của Hàn Quốc.       Ở không ít các quốc gia trong đó Việt Nam cũng không là ngoại lệ, ba khâu hoạch định, thực thi, và đánh giá các chính sách, nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết với nhau. Đặc biệt hoạt động đánh giá chính sách nhiều khi còn mang tính hình thức, dẫn đến hiện tượng chính sách có lúc rập khuôn từ giai đoạn này qua giai đoạn khác, trùng lắp nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý, và có những mục tiêu còn xa rời thực tế. Trong khi đó, kinh nghiệm Hàn Quốc qua chia sẻ của TS. Byoungsoo Kim cho thấy ba khâu hoạch định, thực thi, và đánh giá chính sách, nhiệm vụ KH&CN có sự gắn kết liền mạch thành một chu kỳ khép kín.  Để làm được điều này, trước hết các nội dung hoạch định, thực thi, và đánh giá chính sách, nhiệm vụ KH&CN ở Hàn Quốc được xác định một cách rạch ròi, cụ thể. Đầu tiên, khâu hoạch định được căn cứ trên những đánh giá kết quả thực thi các mục tiêu đặt ra trước đây và những dự đoán về các thay đổi trong tương lai. Từ đó đặt ra các mục tiêu cho giai đoạn tới, và đề xuất những phương thức thực hiện có hiệu quả nhất. Khâu hoạch định có thể bao hàm từ chính sách, các chương trình, tới từng dự án cụ thể, tùy vào yêu cầu của người làm chính sách.  Tiếp theo, khâu thực thi không chỉ hiện thực hóa các mục tiêu và phương thức thực hiện mà khâu hoạch định đã đề ra, mà còn thường xuyên theo dõi những thay đổi trong môi trường KH&CN, từ đó kịp thời áp dụng những điều chỉnh phù hợp. Cuối cùng là khâu đánh giá, được thực hiện xen kẽ trong cả khâu hoạch định (là các nghiên cứu đánh giá tổng kết thực trạng và đánh giá tiền khả thi cho các mục tiêu dự định đặt ra) và thực thi, nhằm đảm bảo tính hiệu quả của chính sách và nhiệm vụ KH&CN. Điều quan trọng trong công tác đánh giá là chỉ ra giải pháp cho các vấn đề tồn tại, và được xem xét bởi tất cả các bên liên quan. Khâu đánh giá luôn được coi là quan trọng nhất trong việc đảm bảo tính hiệu quả và thích hợp của tất cả mọi hoạt động KH&CN.  Chu trình khép kín hoạch định – thực thi – đánh giá được thực hiện trên cả ba cấp độ hoạt động KH&CN, bao gồm các chính sách KH&CN, các chương trình R&D, và từng dự án cụ thể. Nó đảm bảo từng cấp vận hành hiệu quả đạt được mục tiêu tự thân và cũng như khuôn khổ cấp trên đặt ra – các dự án đáp ứng hiệu quả mục tiêu của chương trình, các chương trình đáp ứng hiệu quả mục tiêu của chính sách.           Quan điểm của KISTEP về sự cần thiết và cơ sở pháp lý cho hoạt động dự báo KH&CN               Hoạt động dự báo KH&CN ở cấp quốc gia cần được quy định trong hệ thống luật pháp, được một cơ quan chuyên trách thực hiện theo định kỳ và kết quả dự báo cũng được thẩm định theo định kỳ;              Hoạt động dự báo cần được bắt buộc với tất cả mọi hoạt động KH&CN tại các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức Nhà nước;              Các công nghệ then chốt trong tương lai phải là vấn đề chính trong hoạt động R&D;              Mỗi quốc gia cần nghiên cứu và vạch ra Bản đồ phát triển (Roadmap) Công nghệ cho mình.        Hội đồng KH&CN Quốc gia (NSTC) là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chu trình khép kín đối với các chính sách KH&CN trong khi các Bộ, ngành, cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm với các chương trình, dự án R&D. Tuy nhiên, Viện Đánh giá Hoạch định KH&CN Hàn Quốc (KISTEP) là cơ quan đứng đằng sau NSTC đảm đương công việc hoạch định, theo dõi việc điều phối thực hiện, và tiến hành các hoạt động điều tra, đánh giá. KISTEP cũng là cơ quan dự thảo Quy hoạch Căn bản về KH&CN Quốc gia (National Science & Technology Basic Plan) 5 năm một lần để Chính phủ trình Quốc hội, và trên cơ sở đó soạn Quy hoạch Hành động Tổng thể về KH&CN trình Chính phủ, từ đó từng Bộ, ngành lập kế hoạch KH&CN cho các chương trình, dự án cụ thể.    Cứ 5 năm một lần, KISTEP tiến hành đánh giá dự đoán những thay đổi trong môi trường KH&CN cũng như kinh tế – xã hội của Hàn Quốc và quốc tế, từ đó đưa ra những mục tiêu KH&CN cần được ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo. Công việc này được bắt đầu triển khai từ 2 năm trước khi kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống Hàn Quốc để kịp trình lên khi nhiệm kỳ mới của Tổng thống bắt đầu. KISTEP cũng là cơ quan xây dựng bản đồ phát triển công nghệ quốc gia, đánh giá việc thực thi các chính sách, thường xuyên theo dõi các xu hướng phát triển KH&CN, và đánh giá năng lực các đơn vị thực hiện nhiệm vụ KH&CN tùy theo yêu cầu thực tế.  Tuy nhiên, nhiệm vụ trọng yếu nhất của KISTEP là trình NSTC dự thảo kế hoạch phân bổ ngân sách Nhà nước cho các hoạt động KH&CN của quốc gia. Các Bộ, ngành có thể tham gia ý kiến, đề xuất với NSTC về nhiệm vụ và ngân sách KH&CN cho đơn vị mình, nhưng KISTEP là cơ quan được NSTC trao đổi thường xuyên nhất để xây dựng bản dự thảo kế hoạch phân bổ ngân sách cuối cùng gửi sang Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc. Theo TS. Byoungsoo Kim, “ngoại trừ trước những sức ép đặc biệt do ngân sách Nhà nước eo hẹp, Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc thường nhất trí tới 95% nội dung bản dự thảo kế hoạch của NSTC” – đây là khác biệt rất lớn giữa Hàn Quốc và Việt Nam, nơi lâu nay một phần đáng kể nội dung kế hoạch phân bổ Ngân sách Nhà nước cho KH&CN do Bộ KH&ĐT lập không trùng với đề xuất của Bộ KH&CN.  Để đảm bảo sự phát triển KH&CN một cách hài hòa giữa các ngành công nghiệp và với những lợi ích chiến lược về kinh tế, xã hội, v.v, NSTC hết sức coi trọng tiếng nói tham vấn của KISTEP. Qua thời gian, những dự đoán 5 năm một lần của KISTEP đã được chứng minh tính xác đáng. Ví dụ như kết quả lần dự đoán 5 năm đầu tiên nhằm đưa ra tầm nhìn về phát triển KH&CN Hàn Quốc trong giai đoạn 1995 tới 2015, được cơ quan tiền thân khi đó của KISTEP là STEPI nghiên cứu khảo sát từ tháng 6 năm 1992 tới tháng 5 năm 1993 trong đó áp dụng phương pháp Delphi để tổng hợp ý kiến từ các chuyên gia, thực tế cho thấy 42,4% những dự án R&D được đề xuất đến nay đã hiện thực hóa thành công và 29,8% thành công được một phần.   “Nếu không có những dự báo này định hướng và hoàn toàn phó mặc cho sự may rủi thì xác suất thành công sẽ rất nhỏ”, TS. Byongsoo Kim nhận định. Nhờ những dự đoán được thực hiện từ 20 năm trước mà Chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách ưu tiên hợp lý, ưu tiên đầu tư vào những sản phẩm công nghệ mũi nhọn giàu tiềm năng – căn cứ trên dự đoán và đề xuất của STEPI, mỗi năm Chính phủ Hàn Quốc đầu tư R&D cho mỗi sản phẩm công nghệ số tiền là 10 triệu USD – và kết quả là ngày nay Hàn Quốc đạt được  thành công to lớn của một số ngành công nghiệp như các ngành chế tạo màn hình điện tử (trên TV, máy tính, điện thoại thông minh, v.v), điện thoại di động, linh kiện DRAM, đóng tàu, v.v. Theo số liệu năm 2009, sản phẩm màn hình điện tử của Hàn Quốc chiếm tới 46% thị phần toàn cầu, điện thoại di động chiếm 30%, và DRAM chiếm tới 55%. “Nhiều người nói rằng thành công của đất nước chúng tôi là một phép lạ, nhưng đây thực chất là kết quả của những nỗ lực không ngừng của người Hàn Quốc, trong đó có phần đóng góp quan trọng của những người làm công tác dự đoán và hoạch định chính sách KH&CN từ 20 năm trước”, TS. Byoungsoo Kim khẳng định.                          Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyền tự chủ của viện nghiên cứu theo mô hình tam giác tri thức      Quyền tự chủ của các viện nghiên cứu phải đi cùng trách  nhiệm giử vững sự quân bình của các bên của tam giác tri thức – một yếu  tố cơ bản của nền kinh tế tri thức, và trách nhiệm liên đới của các cơ  quan chủ quản nếu thế quân bình không được giử vững. Thiếu sự quân bình  này sẽ đưa đến sự biến dạng của viện nghiên cứu thành công ty kinh doanh  hoặc thành trung tâm đào tạo tư thục “phi lợi nhuận.”      Khái niệm về quyền tự chủ  Trong những năm đầu thế kỷ, châu Âu cũng từng sôi nổi nhiều với câu chuyện trao quyền tự chủ  cho các đại học công lập và các viện nghiên cứu. Một tiền đề cho  câu chuyện này là chất lượng của các đơn vị này có thể được cải tiến một cách tuyến tính so với mức độ tự chủ được trao. (Reicher & Tauch 2005 , Sursock & Smidt 2010 ).  Ta nên hiểu về việc trao quyền tự chủ như thế nào? Có phải đó là trao quyền tự do cho tất cả những cá nhân có trách nhiệm thực hiên công việc được giao. Tự chủ có phải là tự do hay không? Và tự do đó là gì? Hay là đó chính là quyền tự trị và tự quản của một tổ chức? Rồi nhiệm vụ của đơn vị, trách nhiệm đối với cơ quan chủ quản cũng như đối với xã hội có được đảm bảo hay không khi nhiệm vụ và trách nhiệm được chuyển giao cho một cá nhân hay một tập thể chịu trách nhiệm lãnh đạo tiến hành nhiệm vụ đó?           “Quyền tự chủ, khi thực hiện với tinh thần trách nhiệm (responsibility) và trách nhiệm-liên đới (accountability) chắc chắn sẽ dẫn đến sự xuất sắc trong học thuật, quản trị và quản lý tài chính của các tổ chức. Nếu nó không dẫn đến điều này, ta có thể kết luận một cách an toàn là quyền tự chủ đó đã bị lạm dụng.” (Triết lý Giáo dục của Trường Đại học Mumbai).        Các dự thảo của Hiệp ước Bologna năm 2003 (P. Nyborg 2003 ) cho thấy việc tự quản về tài chính và tự do học thuật của  một tổ chức là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển giáo dục và nghiên cứu khoa học tạị Châu âu. Họ định nghĩa như sau:  Quyền tự chịu trách nhiệm trong học thuật (academic autonomy) là quyền tự do quyết định về các vấn đề học thuật như chương trình đào tạo, giáo trình và các công cụ giảng dạy, phương pháp sư phạm, kỹ thuật đánh giá học tập của sinh viên.  Quyền tự trị (administrative autonomy) là quyền tự do trong việc quản trị của cơ quan, đơn vị đối với cơ quan chủ quản. Đó là quyền tự do được quản lý các công việc theo hướng tác động và khuyến khích các tư duy cầu tiến, sáng tạo (initiatives) trong công việc và phát triển con người đang công tác cho cơ quan, và như vậy phát triển cơ quan theo chiều hướng năng động và sang tạo. Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong  những việc quản trị, và quyền tự do tuyển nhân sự và quyết định lương của các nhân sự này là một thành phần của quyền tự trị.  Quyền tự quản về tài chính là quyền tự do của một cơ quan trong việc sử dụng một cách cẩn trọng các nguồn tài chính cơ quan đó vận động được, đảm bảo được các ưu tiên  nhiệm vụ của cơ quan. Trách nhiệm (responsibility) và Trách nhiệm – liên đới (accountability) là hai mặt của một bàn tay tự quản.  Sự tự chủ của các tổ chức nghiên cứu được thiết kế gần giống như sự phân quyền (decentralized management), tuy nhiên trách nhiệm liên đới (accountability) chính là khung văn hoá đảm bảo sự thành công của việc tự quản của một đơn vị.Phải chăng quyền luôn luôn đi với trách nhiệm, mà nếu trách nhiệm không được đảm bảo thì quyền này sẽ đi đến đâu?Có ảnh hưởng gì cho cơ quan, đơn vị được giao quyền?  Tam giác tri thức  Vấn đề cấp bách của Việt Nam nói riêng, và ngay ở tại một số quốc gia ở Châu Âu nói chung,  là chất lượng của đào tạo sau đại học, cũng như chất lượng nghiên cứu khoa học và công nghệ là một yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước. Điều này càng rõ trong lúc chúng ta hội nhập quốc tế và khi nền kinh tế tri thức đang ngày càng trở nên quan trọng với mọi quốc gia. Không đào tạo được lớp trẻ tinh hoa gắn với sự phát triển đất nước, không có những tập thể nghiên cứu giỏi về khoa học và công nghệ ở trình độ cao của thế giới, chúng ta sẽ không vượt ra khỏi việc chỉ lắp ráp và gia công sản phẩm hoặc bán tài nguyên sẽ cạn kiệt một ngày nào đó.  Điều đáng lo ngại là nghiên cứu khoa học và công nghệ của ta đang tụt hậu quá xa so với các nước trên thế giới, và rất xa so với các nước trong khu vực. Báo chí một vài năm qua đã đưa ra nhiều số liệu về sự tụt hậu này với thống kê từ những nguồn đáng tin cậy. Cũng vậy, chất lượng đào tạo sau đại học của ta rất đáng báo động và không thu hút được các sinh viên có năng lực thực sự. Không chỉ là sự tụt hậu mà điều nguy hiểm nữa là bản chất và giá trị của nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học trong nước đang bị biến đổi một cách lệch lạc so với chuẩn mực chung trên thế giới.  Thực tiễn phát triển giáo dục ở các nước tiên tiến trên thế giới đã cho thấy nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học có mối liên quan hữu cơ mật thiết với nhau. Nội dung chính trong đào tạo sau đại học, đặc biệt với đào tạo Tiến sĩ, là học các kiến thức nâng cao và làm nghiên cứu khoa học. Mặt khác, các sinh viên cao học và nghiên cứu sinh là nguồn nhân lực quan trọng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra thông qua các luận án tốt nghiệp. Do vậy, một đất nước không thể có một nền khoa học công nghệ tốt nếu không có một nền đào tạo sau đại học tốt, và ngược lại.  Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghiệp cũng có quan hệ hỗ tương với nhau trong việc làm cho một đất nước trở nên giàu mạnh thật sự về cả vật chất và trí tuệ.Sự phát triển của công nghiệp cần có nghiên cứu khoa học để cách tân các qui trình và sản phẩm, có ý nghĩa sống còn trong một thị trường cạnh tranh.Ngược lại, công nghiệp có tài lực để có thể đầu tư cho các nghiên cứu khoa học vốn mang tính rủi ro nhưng nếu thành công sẽ mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với kinh phí đầu tư.          Để tạo đà xoay chuyển sự yếu kém của nghiên cứu khoa học  cần có một  quyết sách cho phép một số cơ chế và chính sách nghiên cứu  khoa học có  tính đột phá.Thứ hai, cần có các mô hình tổ chức nghiên cứu  khoa học  mới để áp dụng các cơ chế và chính sách đặc biệt đó. Thứ ba,  việc đột  phá cần tập trung vào một số đơn vị với một số lĩnh vực mũi  nhọn cụ thể  để có thể tạo nên một hiệu quả nhất định ban đầu.           Theo những số liệu được công bố, tỷ lệ kinh phí đầu tư ở Nhật Bản trong những năm gần đây cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển (R&D) là 14%, 23% và 63%, trong đó các doanh nghiệp đóng góp và thực hiện khoảng 74% phần nghiên cứu phát triển. Sự tham gia tích cực của doanh nghiệp vào nghiên cứu phát triển và hợp tác với các cơ quan nghiên cứu đã cho phép họ luôn sáng tạo được tri thức mới, liên tục cách tân và do đó tạo ra sức mạnh cạnh tranh. Trong khi đó có thể thấy là các tập đoàn nhà nước và công ty của ta hầu như chưa nhận thức được vai trò của nghiên cứu khoa học và đầu tư cho nghiên cứu phát triển như ở các nước tiên tiến, và chuẩn bị sớm cho việc cạnh tranh với các công ty và tập đoàn công nghiệp từ bên ngoài vào trong một tương lai rất gần.  Các điều kiện cần để phát triển nghiên cứu khoa học có chất lượng thật sự, và cũng là các nguyên nhân chính của sự yếu kém về nghiên cứu khoa học trong nước hiện nay, là: (1) lực lượng những người làm nghiên cứu giỏi; (2) điều kiện làm việc tốt và mức lương ổn định và thỏa đáng; và (3) cơ chế và chính sách quản lý và hoạt động hiệu quả.  Ba điều kiện nói trên lại tác động qua lại với nhau. Lương bổng và điều kiện làm việc tốt đòi hỏi những người làm nghiên cứu phải có năng lực thật sự để mang lại hiệu quả cho sự đầu tư. Mặt khác để thu hút lực lượng tinh hoa được đào tạo ở nước ngoài trở về thì cần phải có một môi trường làm việc tiên tiến và mức thu nhập sao cho họ có thể yên tâm làm nghiên cứu trong nước.  Như vậy cả ba vấn đề nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học, và phát triển công nghiệp qua nghiên cứu cách tân (hoặc đổi mới sáng tạo – innovations), cũng như ba điều kiện về lực lượng nghiên cứu, lương bổng, và môi trường làm việc, đều có quan hệ hửu cơ  kiểu con gà-và-quả trứng. Do đó không thể tách rời từng vấn đề, hoặc đáp ứng từng điều kiện, một cách riêng rẽ mà cần phải làm đồng bộ và tiến dần từng bước.  Sự tương tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, và cách tân này cũng như các điều kiện phát triển các tương tác này như nói trên được thể hiện qua mô hình “Tam giác Tri thức” (Knowledge Triangle) mà hiện nay Cộng đồng Liên Minh Châu âu đang theo đuổi vì tam giác này chính là yếu tố cơ bản của nền kinh tế (dựa vào) tri thức. Theo đó đào tạo chất lượng cao, nhất là ở bậc sau đại học cần có kiến thức chuyên sâu cập nhật mới nhất từ các nghiên cứu khoa học, và từ các công nghệ, phương pháp đến từ cách tân (hay đổi mới sáng tạo) trong doanh nghiệp, công nghiêp. Các cách tân này cũng chính là sản phẩm của sự gắn kết viện nghiên cứu, đại học và doanh nghiệp. Trọng tâm của một tam giác tri thức chính là vai trò quản trị của viện nghiên cứu, như là một hạ tầng cơ sở của Tam giác này.Đây là một mô hình được sử dụng để làm kim chỉ nam trong việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các Viện.  Quyền tự chủ của viện nghiên cứu theo mô hình tam giác tri thức  Quyền tự chủ cho các viện nghiên cứu là một điều kiện tiên quyết quan trọng đối với tam giác tri thức để thực hiện được. Quyền tự chủ cho phép các viện nghiên cứu triển khai các nhiệm vụ của mình, xác định vai trò của mình trong cộng đồng khoa học, và đồng thời triển khai mô hình hợp tác chiến lược với doanh nghiệp, phản ánh sức mạnh tương đối và cân bằng cần thiết của mỗi bên của tam giác kiến thức.  Nếu quyền tự chủ là tự chủ về tài chính hoặc chỉ nặng về việc tự quản về tài chính thì việc kinh doanh các sản phẩm từ nghiên cứu khoa học là trọng tâm của hoạt động của Viện nghiên cứu thay vì chất lượng nghiên cứu và đào tạo sau đại học. Từ từ, việc kinh doanh này sẽ biến viện nghiên cứu thành một công ty (thường được gọi là tổ chức khoa học công nghệ) với các lo toan như một công ty kinh doanh thuần tuý. Sự khác biệt phải chăng chỉ là công ty này có một phòng nghiên cứu phát triển (R&D), lúc đầu còn quan trọng nhưng dần dần sẽ chỉ là một bộ phận phát triển, rồi có thể sẽ mất đi. Đây là một việc rất bình thường với các viện nghiên cứu có mục đích kinh doanh, nhất là kho có sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân, từ các quỹ đầu tư công nghệ. Một Viện nghiên cứu có thể làm kinh doanh một cách bền vững mà không bị biến dạng thành công ty không? Đa từng có một điển hình nào không? Hay ngay cả các Trung tâm nghiên cứu mạnh nhất như Xerox Palo Alto Research Center (PARC) cũng không thể tồn tại dưới sức ép của kinh doanh?          Việc cân bằng của các bên của tam giác tri thức đòi hỏi phải có một chiến lược và tầm nhìn đồng thời một tập thể lãnh đạo mạnh, đủ tầm vóc để đối phó với sự không thành công nhất thời trong quá trình triển khai chiến lược hoạt động.        Một viện nghiên cứu khoa học với sứ mệnh đóng góp cho nền khoa học và công nghệ với các thành quả khoa học chắc không nên rơi vào hoàn cảnh này. Tự chủ không phải là tự quản tài chính với tất cả mọi cách; không phải có nghĩa là Viện này không còn lệ thuộc vào kinh phí của cơ quan chủ quản, mà phải là tự quản tài chính một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Trong đó trách nhiệm nghiên cứu chất lượng cao, có ảnh hưởng xã hội, có giá trị cho xã hội phải là ưu tiên. Nếu không, Viện nghiên cứu sẽ trở thành một công ty kinh doanh, có thể thành công về tài chính, nhưng cũng có thể mất đi hoàn toàn và khi đó, ai là người làm nghiên cứu, đơn vị nào sẽ làm nghiên cứu? Tại sao lại đầu tư cho cái rủi ro rất cao này chỉ vì để giảm đầu tư cho khoa học và công nghệ trong tức thời?  Nếu tự quản về tài chính được đi kèm theo tự trị về đào tạo, và nguồn thu từ đào tạo được sử dụng như nguồn thu cho sự nghiệp của một viện nghiên cứu (hoặc ngay cả của một đại học) thì dần dần viện/trường sẽ trở về dạng của một trung tâm thuần đào tạo để làm ra lợi nhuận mà rất nhiều trường đạị học tư thục đang đi theo. Cách tân từ nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học sẽ mất đi vì lợi nhuận không đủ đáp ứng chi phí cho nhân sự nghiên cứu khoa học dài hơi, và cho cách tân đầy rủi ro.  Nếu không tự chủ và tự quản hay tự trị thì các viện/trường sẽ trở về mô hình như hiện nay: hoặc là thuần nghiên cứu khoa học hoặc chỉ là đào tạo, và hố chia doanh nghiệp và đại học mãi mãi không lấp đầy được. Kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, và kinh phí sẽ từ từ tóm nhỏ lại đến lúc không còn khả năng phát triển một nguồn nhân lực, và vòng xoay sẽ nhỏ dần cho đến cực tiểu?  Kết luận  Việc giao quyền tự chủ cho viện nghiên cứu khoa học cần phải đi kèm theo trách nhiệm và trách nhiêm – liên đới của viện nói trên và cơ quan chủ quản. Khi nói đến trách nhiệm, thì vai trò lãnh đạo tạo sự quân bình cho các bên của tam giác tri thức là cần thiết. Cần có một lộ trình chiến lược làm rõ các ảnh hưởng của việc tự quản tài chính đi kèm theo quyền tự trị và tự trách nhiệm lên các mục tiêu nghiên cứu khoa học, mục tiêu đào tạo, và cách tân công nghệ với kế hoạch dài hạn có thước đo hàng năm để đánh giá mức độ trách nhiệm với xã hội, với đất nước.   ———  Chú thích:   1: S. Reichert & C. Tauch. Trends IV: European Universities Implementing Bologna.  European University Association 2005.  2:  Sursock & H. Smidt. Trends 2010: A Decade of Change in European Higher Education. European University Association 2010.   3: P. Niborg, 2003. Institutional Autonomy and Educational Governance. Council of Europe Conference, Implication of Bologna Process in South-East Europe. Strasbourg, Dec. 02-03.      Author                Quản trị        
__label__tiasang Quyết định cuối cùng là của hội đồng      Các chủ nhiệm đề tài có quyền cho điểm  bài báo của mình trên mức điểm tạp chí trong danh sách tạp chí của Quỹ  nhưng phải giải trình chất lượng của bài báo và lý do tại sao không công  bố ở tạp chí nằm trong danh sách tạp chí có điểm cao hơn. Hội đồng khoa học  ngành sẽ thẩm định và quyết định cách tự cho điểm của chủ nhiệm đề tài  có được chấp nhận hay không. Quyết định cho điểm của hội đồng khoa học ngành là quyết định cuối cùng.      Bất kỳ danh sách lựa chọn tạp chí nào dựa trên phương thức thống kê cũng đều không hoàn hảo vì sẽ bỏ qua một số trường hợp ngoại lệ nhất định. Để giảm bớt những bất cập nảy sinh, chúng ta có thể làm như sau:  Ấn định một danh sách tạp chí chung cho tất cả các chuyên ngành, nhưng mỗi chuyên ngành có thể thêm bớt một vài tạp chí trong danh sách đó và do hội đồng khoa học ngành quyết định, nhưng số lượng thêm bớt không vượt quá một biên độ nhất định. Biên độ đó có thể là 5-10% số lượng tạp chí mà các tác giả Việt Nam hay công bố, ví dụ ngành Toán có khoảng 50 tạp chí mà các tác giả Việt Nam hay công bố thì biên độ đó thuộc khoảng từ hai đến năm tạp chí. Tỷ lệ này do Quỹ Nafosted quyết định.  Các chủ nhiệm đề tài có quyền cho điểm bài báo của mình trên mức điểm tạp chí trong danh sách tạp chí của Quỹ nhưng phải giải trình chất lượng của bài báo và lý do tại sao không công bố ở tạp chí nằm trong danh sách tạp chí có điểm cao hơn. Hội đồng khoa học ngành sẽ thẩm định và quyết định cách tự cho điểm của chủ nhiệm đề tài có được chấp nhận hay không. Nếu chấp nhận hay không cách tự cho điểm của chủ nhiệm đề tài thì hội đồng khoa học ngành cần giải trình lý do. Và quyết định cho điểm của hội đồng khoa học ngành là quyết định cuối cùng.  Cách bầu các thành viên hội đồng khoa học ngành từ các chủ nhiệm đề tài cũng có những hạn chế nhất định, vì quy tắc dân chủ bao giờ cũng có khuynh hướng “dân túy”, tức là dễ có khuynh hướng bầu vào hội đồng những người “dễ tính”, thiếu ý thức nâng cao chất lượng các đề tài. Vì vậy vẫn cần thiết kết hợp giữa bầu và quyết định độc lập từ Quỹ. Quỹ có thể cần có những người tư vấn về quyết định độc lập của mình. Những người tư vấn này do Quỹ lựa chọn căn cứ vào sự công tâm, hiểu biết và nhất định phải có tinh thần ủng hộ nâng cao chất lượng nghiên cứu để khoa học Việt Nam hội nhập toàn diện với thế giới. Họ sẽ tư vấn cho Quỹ việc lựa chọn các thành viên của các HĐKH chuyên ngành bên cạnh danh sách các nhà khoa học được cộng đồng bầu chọn.  * Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam  Đọc thêm:   Nhiều ý kiến trái chiều về danh sách “Tạp chí ISI uy tín”  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9120&CategoryID=36  Nâng cao vai trò của các hội đồng ngành  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=9128&CategoryID=36      Author                Quản trị        
__label__tiasang Rác công nghệ, vì sao vẫn lọt?      Báo cáo của Cục Cảnh sát  Môi trường cho thấy, hàng năm có tới hàng triệu tấn hàng nhập khẩu vào  Việt Nam, qua các cảng biển, cửa khẩu biên giới phía Bắc và Tây nam,  trong số đó, khá nhiều các mặt hàng là máy móc thiết bị lạc hậu cũ hỏng  hoặc có chứa chất nguy hại vượt nhiều lần tiêu chuẩn Việt Nam cho phép.    Người ta vẫn nhắc đến bài học đắng cay từ việc nhập khẩu thiết bị, công nghệ (TBCN) của ngành xi măng ở thập niên 90 của thế kỷ trước.  Chỉ trong 7-8 năm, các địa phương đã ồ ạt nhập về hơn 50 dây chuyền sản xuất xi măng công nghệ lò đứng của Trung Quốc, để rồi chẳng bao lâu sau, đến năm 2004, nhiều nhà máy phải khai tử vì công nghệ lạc hậu, lãng phí năng lượng, gây ô nhiễm môi trường và quan trọng hơn là không có hiệu quả kinh tế.   Bài học đó chưa kịp lắng xuống thì ngành xi măng đã lại mắc ngay vào một sai lầm mới là phong trào làm xi măng lò quay, cũng với TBCN lạc hậu của Trung Quốc. Vì hàng của Trung Quốc quá rẻ, lại mua được ngay, cộng với thị trường trong những năm 2004-2005 trở về trước luôn trong tình trạng thiếu nên đã thúc đẩy phong trào đầu tư làm xi măng bằng mọi giá. Bài học của sự nóng vội này đến nay vẫn còn nguyên giá trị.  Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu TBCN của nước ta từ thị trường Trung Quốc gần đây liên tục tăng. Cụ thể là nửa đầu năm 2011, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này tăng lên gần 1,6 tỷ USD so với hơn 1 tỷ USD nửa đầu năm 2010. Trong đó, chiếm số lượng lớn là thiết bị trong ngành dệt may, da giày, các loại máy đóng gói, thiết bị điện, máy công cụ…   Trong khi đó, báo cáo của Cục Cảnh sát Môi trường cho thấy, hàng năm có tới hàng triệu tấn hàng nhập khẩu vào Việt Nam, qua các cảng biển, cửa khẩu biên giới phía Bắc và Tây nam, trong số đó, khá nhiều các mặt hàng là máy móc thiết bị lạc hậu cũ hỏng hoặc có chứa chất nguy hại vượt nhiều lần tiêu chuẩn Việt Nam cho phép.  Tháng 9-2011, Bộ KH&CN đã chính thức vào cuộc khi ban hành công văn số 2035/BKHCN-KHTC cảnh báo về danh mục 2.255 DN bị loại bỏ do sử dụng công nghệ, máy móc lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường của Trung Quốc. Trước đó, bảng danh mục này đã được Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng nước này vào ngày 11-7-2011. Các DN này thuộc 18 ngành nghề, trong đó có 154 DN sản xuất sắt, thép, 87 DN than luyện, 171 DN sản xuất hợp kim, 782 DN sản xuất xi măng, 599 DN sản xuất giấy, 4 DN sản xuất bột ngọt, 144 DN nhuộm và in…   Bộ KH&CN đề nghị các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các đơn vị trực thuộc hướng dẫn DN khi ký hợp đồng, mua sắm thiết bị cần tìm hiểu kỹ để tránh nhập khẩu nhầm các dây chuyền, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường từ chính những DN mà Trung Quốc đã thông báo loại bỏ.  Câu hỏi lớn đặt ra là tại sao lại có tình trạng nhập khẩu công nghệ cũ? Có thể thấy ngay đó là do giá mua quá rẻ và trình độ KHCN của nước ta còn thấp, nên dễ bị đối tác nước ngoài “qua mặt”. Nguy cơ Việt Nam trở thành bãi rác công nghệ là có thật. Bằng chứng là đã có không ít lo ngại từ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam được giới khoa học lên tiếng vì có trình độ công nghệ chỉ tương đương những năm tám mươi của thế kỷ trước.  Một nguyên nhân nữa xuất phát từ “kẽ hở” trong chính sách nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu công nghệ. Khi DN nhập khẩu dây chuyền cũ thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ hoặc hợp tác, thì thuế suất chỉ bằng 0%; trong khi đó, nếu DN đặt hàng chi tiết ở nước ngoài thì phải đóng thuế từ 10 đến 15%. Vậy là, để “tiết kiệm” 10-15%, không ít đơn vị nhắm mắt đưa công nghệ cũ về mà không tính tới hiệu quả kinh tế – môi trường về lâu dài. Việc áp thuế xuất nhập khẩu vô lý như trên vô tình tạo sức ép cạnh tranh không lành mạnh cho các DN cơ khí trong nước đang chịu thuế xuất nhập khẩu các linh kiện lắp ráp từ 15% đến 20%.  Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh cho rằng, “biệt dược” cần đưa ra để ngăn chặn tình trạng này là “gác” thật chặt việc chuyển giao, tiếp nhận công nghệ, trang thiết bị của các dự án đầu tư. Thực tế, đề xuất này của ông Tân có thể thực hiện không mấy khó khăn bởi hiện nay, việc tìm kiếm thông tin về công nghệ nhập khẩu rất dễ dàng, nhất là tại các quốc gia có nền công nghệ phát triển. Cơ sở dữ liệu về công nghệ được cập nhật thường xuyên và công khai, nên có thể kiểm tra lúc nào cũng được.  Có một thực tế khác, là nếu các dự án không thuộc những lĩnh vực “nhạy cảm” thì không bắt buộc thẩm định công nghệ. Chính vì vậy, cần có quy định chi tiết, đầy đủ hơn nữa đối với các dự án đầu tư mức độ nào, vốn bao nhiêu, hoạt động trong lĩnh vực gì… sẽ phải tiến hành thủ tục nêu trên. Quy định chi tiết sẽ giúp đơn vị có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư có cơ sở chặn luồng rác công nghệ đang ồ ạt nhập vào Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng phải nâng chế tài xử phạt đối với hành vi cố tình nhập công nghệ cũ.     Author                Quản trị        
__label__tiasang R&D: Khoa học cơ bản và vai trò của tư nhân      Nghiên cứu khoa học cơ bản từng có một thời gian là bộ phận quan trọng trong đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) của các tập đoàn công nghệ Hoa Kỳ. Nhưng giờ đây, các công ty này đang dần từ bỏ các phòng thí nghiệm lớn, chuyển đổi trọng tâm từ nghiên cứu sang phát triển.      Nhà khoa học nghiên cứu sóng ánh sáng tại Trung tâm nghiên cứu chiến thuật Hải quân Mỹ. Nguồn: USNI/ US Naval Institute.  Sự nổi lên và sụp đổ của hệ thống R&D tư nhân  Vannevar Bush thường được biết đến là cha đẻ của hệ thống R&D hiện đại. Là cố vấn khoa học đầu tiên cho Tổng thống Mỹ khi đó là Franklin Roosevelt, ông đã chắp bút viết một bản báo cáo quan trọng mà sau này sẽ trở thành nền tảng của nền công nghiệp công nghệ-thông tin khổng lồ đặc biệt thành công của Hoa Kỳ. Bản báo cáo, được công bố năm 1945 với cái tên phô trương “Khoa học -Một biên cương vô tận”, Bush đã vạch ra tầm nhìn mới cho chính sách khoa học thời kỳ hậu chiến. Hệ thống mới đặt yêu cầu tách biệt nghiên cứu khoa học cơ bản – do chính phủ tài trợ – với ứng dụng công nghệ; để lại liên kết chúng với nhau bằng liên kết giới học thuật với nền công nghiệp và quân sự (bởi vì đang là thời chiến).  Ý tưởng về nghiên cứu và phát triển (R&D) như hai hoạt động riêng rẽ đã ra đời như vậy. Các trường đại học dưới kế hoạch của Bush thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản; những thành quả từ đó được nền công nghiệp phát triển thành sản phẩm có thể tiếp thị trên thị trường. Nhanh chóng sau đó, các công ty bắt đầu tự tổ chức theo mô hình tương tự, chia đôi bộ phận các nhà khoa học áo trắng với các kỹ sư của họ.  Cách tiếp cận này đã đem lại thành công vượt bậc. Phòng thí nghiệm Bell của AT&T giành được 6 giải Nobel trong những phát minh về laser và bán dẫn. IBM giành được 3 giải, 2 giải trong đó đến từ Phòng thí nghiệm Nghiên cứu tại Zurich. Trung tâm thực nghiệm Palo Alto (PARC) của Xerox chế tạo nên các thiết bị đặc trưng cho máy tính điện tử, bao gồm chuột máy tính, giao diện đồ họa và giao thức kết nối mạng máy tính Ethernet. Bên ngoài các nghiên cứu có giá trị ứng dụng, các nghiên cứu cơ bản thuần túy cũng hưởng lợi: một ví dụ tiêu biểu là nghiên cứu đạt giải Nobel thử nghiệm các bằng chứng về Vụ nổ lớn từng được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bell.  Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này cũng không đem lại những lợi thế xứng đáng với công sức đã bỏ ra. Việc phát minh ra bóng bán dẫn của phòng thí nghiệm Bell đã tạo điều kiện cho Intel và Microsoft phát triển các sản phẩm thương mại có giá trị rất cao. Tương tự, Xerox PARC dù phát minh ra giao diện đồ họa và giao thức Ethernet nhưng người hưởng lợi lại là Apple và Microsoft. Các nhà nghiên cứu của IBM đi tiên phong trong việc sử dụng từ trở khổng lồ để tăng dung lượng đĩa cứng nhưng đã sớm để rơi ngành kinh doanh này vào tay các công ty như Seagate hay Western Digital.  Đến những năm 1980, các tập đoàn lớn đã chuyển sang chia nhỏ hợp đồng, đầu tư hay mua lại các nghiên cứu từ các trường đại học – trong khi thu nhỏ quy mô, đóng cửa hay chuyển đổi mô hình phòng thí nghiệm lớn. Mô hình phòng thí nghiệm lớn sụp đổ: Phòng thí nghiệm Bell hay Xerox PARC giờ chỉ còn là cái bóng của chính mình.  Định vị mới về R&D       Vannevar Bush (1890-1974), người đặt nền móng cho hệ thống R&D Mỹ sau Thế chiến II. Ông là giá đốc đầu tiên của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Nguồn: Pinterest.  Các công ty giờ nhặt nhạnh những sản phẩm có giá trị ngắn hạn hơn là đầu tư cho nhà khoa học nghiên cứu những ý tưởng lớn. Hiện tượng ngày càng phổ biến là các doanh nghiệp chỉ tập trung vào các thương vụ mua bán sáp nhập, hợp tác với các trường đại học hay mua lại các dự án đầu tư khởi nghiệp mới nổi. Nền tảng phân biệt giữa nghiên cứu và phát triển của Bush đang dần biến mất trong công nghiệp công nghệ thông tin hiện đại. Liệu điều này có nghĩa là thời đại các công ty tạo ra các ý tưởng lớn đã chấm dứt?  Không hẳn như vậy, theo báo cáo của TheEconomist, cách tiếp cận R&D phải thay đổi vì nghiên cứu dài hạn là một sự xa xỉ mà chỉ có độc quyền mới có đủ khả năng tài chính để đầu tư. Trong quá khứ, các công ty lớn thống trị lĩnh vực của riêng mình. Tập đoàn AT&T điều hành mạng điện thoại, IBM thống trị việc kinh doanh máy tính phần cứng và Xerox đồng nghĩa với công nghệ photocopy. Các công ty tự xem chi phí đổ vào nghiên cứu khoa học cơ bản là một cái giá nhỏ để đổi lấy quyền lực độc quyền như vậy.  Ngược lại, các công ty công nghệ ngày nay không còn được tổ chức theo chiều dọc nữa. Qua việc sử dụng mạng lưới các nhà cung cấp và lắp ráp được thuê ngoài, các bộ phận nghiên cứu đã bị chia nhỏ. Thêm vào đó, bản chất của công nghệ thông tin đã thay đổi rất nhiều kể từ thời kỳ của Bush. Khi đó, khoa học máy tính gần gũi với khoa học cơ bản hơn nhiều ngày nay. Nghiên cứu máy tính cũng rất tốn kém và cồng kềnh, khiến cho những nhà lập sách như Bush tin rằng chu kỳ phát triển của loại sản phẩm này phải rất dài. Nhưng ngày nay, nhiều câu hỏi lớn về máy tính đã được trả lời – đủ để các công ty có thể phát triển các công nghệ mới dựa trên nền tảng cũ với chi phí thấp hơn và lợi nhuận cao hơn. Như trường hợp thành công của Apple hay Samsung đều là thành quả của thiết kế giao diện mới dựa trên các nền tảng công nghệ có sẵn.  Kết quả sau cùng là sự tách biệt giữa R với D mà Bush từng hình dung nay hầu như đã không còn phù hợp: Mô hình R&D cổ điển đang mất đi dấu “&” ở giữa. Các nhà khoa học từ Intel, Microsoft hay IBM giờ không còn tập trung vào nghiên cứu công nghệ cơ bản, mà chuyển hướng sang cái gọi là “khoa học dịch vụ” – cung cấp nhanh chóng những giải pháp công nghệ mới như phương pháp đánh giá thị trường; hay các công nghệ phục vụ tương tác số phục vụ các doanh nghiệp và người tiêu dùng.  Sự hợp nhất của R với D cũng giải quyết một thiếu sót trọng tâm trong chiến lược của Bush: làm thế nào để biến những ý tưởng thành những giá trị thương mại. Ý tưởng ở đây là đưa ý tưởng mới thành sản phẩm càng nhanh càng tốt để không phải “chuyển giao” công nghệ cho đối thủ khác. Theo đó, các tập đoàn ngày nay đặt ra chiến lược sản phẩm có sẵn, lựa chọn đầu tư các dự án khả thi và đề nghị các nhà khoa học phải bám sát quy trình sản xuất đến hoàn thiện. Nghiên cứu sẽ tốt hơn nếu “phát triển càng gần với thực tế thị trường cạnh tranh,” Sean Maloney, một giám đốc điều hành của Intel cho biết. “Người của chúng tôi phải xăm mấy lời đó trên thanh quản của họ.”  Bởi vậy nên dù các công ty lớn của Mỹ vẫn chi hàng tỷ đô la cho R&D, không có công ty nào có ý định lấp đầy vị trí bị bỏ trống bởi phòng thí nghiệm Bell Labs hay Xerox PARC. Ngược lại, mô hình mới đang đẩy “D” lên vị trí quan trọng hơn với nhiều “R” và các công ty đang biến điều này thành một lợi thế cạnh tranh. Amazon là một ví dụ cực đoan hơn của vấn đề: Tập đoàn này đứng đầu danh sách đầu tư tư nhân vào R&D trong năm 2017, chi 22,6 tỷ USD, theo dữ liệu công bố của Cisco và Bloomberg. Nhưng đầu tư “R&D” của Amazon không thực sự là R&D – báo cáo của tập đoàn này mô tả khoản đầu tư này là “Công nghệ và Phát triển nội dung”, vốn bao gồm cả hoạt động R&D truyền thống với việc duy trì các nền tảng dịch vụ sẵn có.  Những mô hình mới đang thể hiện tính ưu việt của “D” trên “R”. “Đó có phải là một điều xấu không?” Shane Robison, người giám sát chiến lược công nghệ của HP nói. Dù HP vẫn làm một số nghiên cứu cơ bản, Dick Lampman, người đứng đầu phòng thí nghiệm HP cho biết thêm, nhưng theo ông, nếu dành thời gian để “quan tâm đến mô hình mới, ta quên mất yêu cầu để xây dựng ý tưởng hay và biến nó thành một sản phẩm thú vị.”  Nhà nước và tương lai khoa học cơ bản    Cuộc Tuần hành vì Khoa học (March for Science) ở Washington D.C hôm 22/4/2017 kêu gọi bảo vệ khoa học chống lại các chính sách của chính quyền Trump, thu hút 1 triệu người tham gia khắp thế giới. Nguồn: Joseph Gruber / Alamy Stock Photo  Xu hướng suy giảm đầu tư R&D của nhà nước là hiển hiện trong những năm gần đây. Số liệu của viện Brookings chỉ ra từ đỉnh cao năm 1960, đầu tư nhà nước cho R&D giảm từ 2,23% còn 0,77% GDP. Từ 10% tổng ngân sách, đầu tư cho R&D cũng suy giảm còn 3%, xuống dưới 40 tỷ USD trong năm 2015.  Điều này xuất phát từ quan điểm của những nhân vật theo quan điểm cực hữu, cho rằng Mỹ đã chi ra quá nhiều ngân sách cho nghiên cứu khoa học và đáng ra có thể giao lại cho các công ty tư nhân tự nghiên cứu những gì họ cần. Chẳng hạn như của Matt Ridley. Trong cuốn sách Sự tiến hóa của vạn vật (The Evolution of Everything, Harper, 2015), ông ta đưa ra quan điểm rằng những tiến bộ kỹ thuật là ngẫu nhiên và có tính “tiến hóa tự nhiên”, qua đó cho rằng chính phủ là nhân tố cản trở sự phát triển tự nhiên đó của khoa học và sáng tạo. Một quan điểm gần đây về “đổi mới sáng tạo song song” (parallel innovation), cho rằng tiến bộ khoa học công nghệ xuất phát từ sự cạnh tranh tự do của các cá thể trong xã hội nên đầu tư công là một sự “độc quyền” khoa học và không cần thiết.  Nhưng những quan điểm trên đã nhanh chóng bộc lộ những sai lầm rõ rệt. Sự chuyển dịch đầu tư R&D của tư nhân và suy giảm trong ngân sách đầu tư R&D nói chung và khoa học cơ bản nói riêng của nhà nước là hai nhân tố làm suy giảm sự phát triển của khoa học cơ bản tại Mỹ. Báo cáo của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) chỉ ra các thành tựu khoa học lớn trong năm 2014 không có thành tựu nào thuộc về các nhà khoa học Mỹ. Trong các công nghệ mới như AI, Trung Quốc dường như cũng đang vượt lên trước Hoa Kỳ.  Ảnh hưởng của chúng cũng tác động lên ngành công nghiệp. Dưới Đạo luật Bayh-Dole 1980, liên hệ giữa khoa học do chính phủ tài trợ với nền công nghiệp được củng cố bằng việc cho phép các nghiên cứu được chính phủ tài trợ được cấp bằng sáng chế để có thể áp dụng trong sản xuất. Vì vậy nên khi Google lần đầu chào bán cổ phiếu của mình năm 2004, Đại học Stanford nhận được một khoản 200 triệu USD giá trị bởi các nghiên cứu của các nhà đồng sáng lập Google về thuật toán tìm kiếm đã được NSF tài trợ một phần. Các công nghệ bên trong Iphone của Apple như Siri, Microchips hay GPS đều là sản phẩm nghiên cứu của các cơ quan khoa học nhà nước.  Nathan Myhrvold – nhà sáng lập của Microsoft Research, một trong những phòng thí nghiệm tư nhân lớn nhất hiện nay – nhắc lại thực tế rằng cả ông và Bill Gates “hiểu rằng nếu các nhà nghiên cứu của chúng tôi không tập trung vào những đổi mới công nghệ ngắn hạn thì chúng tôi sẽ không thể tạo ra lợi nhuận nhanh chóng và chúng tôi sẽ không thể giải thích những chi tiêu cho R&D với các nhà đầu tư của chúng tôi.”  Đầu tư cho R&D sẽ tiếp tục là chủ đề tranh luận ở Mỹ trong nhiều năm tới. Nhưng thực tế là xu hướng coi trọng D hơn R là không thể tránh khỏi trong khối doanh nghiệp, thì vai trò của nghiên cứu khoa học nhà nước vẫn phải là quyết định trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật trong kỷ nguyên mới.  Tuấn Quang tổng hợp   Nguồn: The Economist, Strategic Management Journal, Scientific American, Business Insider…       Author                Quản trị        
__label__tiasang S4VN hướng tới góp phần minh bạch hóa môi trường học thuật      Trong khoảng một năm nay, nhóm Trắc lượng khoa học Việt Nam (viết tắt là S4VN), gồm ba nhà nghiên cứu Việt Nam tại Đài Loan là Huỳnh Hữu Hiền, Phạm Hiệp, Trần Danh Nhân, đã chủ động tiến hành thống kê thông tin trắc lượng khoa học của các cơ sở giáo dục đại học trong nước và công bố 15 cơ sở giáo dục đại học có thành tích tốt nhất, đồng thời cung cấp miễn phí những thông tin này cho công chúng qua trang web www.scientometrics4vn.com của nhóm.    Tạp chí Trắc lượng khoa học (Scientometrics)  Tạp chí Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với nhóm S4VN qua email. Nhóm có thể cho biết động lực và quá trình xây dựng dự án Trắc lượng khoa học Việt Nam?  Trong khoa học, để có những đánh giá đúng đắn về chất lượng các nghiên cứu mà không bị chi phối bởi các quan điểm thiên kiến, người ta cần tới các dữ liệu trắc lượng khoa học (scientometrics) và phản biện đồng nghiệp (peer review). Vì vậy, ngay từ năm 2014, khi cùng học tại Đài Loan, nhóm chúng tôi đã thảo luận về các thống kê trắc lượng khoa học của Việt Nam, đặc biệt là thành quả nghiên cứu của các trường đại học. Cho đến năm 2015, một số dữ liệu trắc lượng khoa học đã được nhóm lần đầu tiên thu thập và công bố chi tiết khi phản biện một kết quả đo lường trong đánh giá thành quả khoa học ở Việt Nam. Các dữ liệu đó được nhiều nhà khoa học đánh giá cao và phản hồi ý kiến tích cực. Qua đấy, chúng tôi nhận thấy thông tin về dữ liệu trắc lượng khoa học thực sự là một nhu cầu cần thiết đối với các nhà khoa học và các cơ quan quản lý. S4VN (viết tắt của Scientometrics for Vietnam) ra đời ngày 26/10/2015 nhằm góp phần đáp ứng những nhu cầu ấy.  Những dữ liệu nào được S4VN thống kê và hiện nay đã làm được đến đâu?  Các chỉ số chính về trắc lượng khoa học được nhóm S4VN thống kê và công bố gồm: tổng số bài báo ISI, tổng số trích dẫn, chỉ số H đối với từng phân ngành (theo phân loại của Web of Science, Thomson Reuters), các chỉ số phản ánh tác động khoa học và năng suất nghiên cứu như tổng số lượt trích dẫn (không kể tự trích dẫn), chỉ số H nội lực. Đến nay, nhóm đã tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về các chỉ số trong trắc lượng khoa học; thống kê thông tin trắc lượng khoa học của 15 cơ sở giáo dục đại học trong nước có thành tích công bố tốt nhất; so sánh công bố ISI của Việt Nam với các nước trong ASEAN; mô tả việc sử dụng ISI trong hoạt động KHCN ở Việt Nam1.  Trên thế giới, bộ môn trắc lượng khoa học ra đời từ 1960 với một số dấu mốc như: sự ra đời của Viện Thông tin khoa học (Institute of Scientific Information) năm 1960, tạp chí Trắc lượng khoa học (Scientometrics) năm 1978 và đã có những đóng góp không nhỏ tới việc đánh giá các công bố khoa học. Hầu hết các cơ quan chuyên môn về quản lý khoa học như Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ (NSF), Academia Sinica (Đài Loan) các tổ chức liên quốc gia như World Bank, United Nation đều có bộ phận chuyên trách về trắc lượng khoa học. Ở Việt Nam, vài năm gần đây, nhiều nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài đã khá quen thuộc với các khái niệm về trắc lượng khoa học, một số văn bản về quản lý khoa học đã nhắc tới các chuẩn mực khoa học quốc tế như ISI, Scopus… nhưng những thông tin bài bản về bộ môn này vẫn còn rất thiếu.  Qua việc thống kê, so sánh kết quả trắc lượng khoa học trong nước với khu vực và thế giới, khoa học Việt Nam đang đứng ở đâu so với khu vực và quốc tế?  Dữ liệu thống kê của S4VN (tính đến ngày 02/01/2016) đã cho thấy số lượng công bố và mức độ tác động khoa học của Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể. Cụ thể, nếu trước đây, Việt Nam có số lượng công bố ISI xếp thứ 62 (năm 2010) thì nay đã vươn lên thứ 55 (năm 2015). Việt Nam cũng có thế mạnh trong một số phân ngành, ví dụ: đang xếp thứ ba khối ASEAN về công bố quốc tế ở các phân ngành Động thực vật học, Miễn dịch học và dẫn đầu ASEAN về các công bố ISI của ngành Toán học (tổng số công bố của ngành toán Việt Nam xếp vị trí 37 toàn cầu và hơn Singapore sáu bậc). Tuy nhiên, tính tổng số công bố quốc tế, Việt Nam vẫn xếp sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.  Xếp hạng thế giới công bố ISI giữa Việt Nam và các nước ASEAN theo phân ngành toán học  Những dự định trong thời gian tới của nhóm S4VN là gì?  S4VN sẽ từng bước mở rộng thống kê các chỉ số trắc lượng khoa học hữu ích, nhằm hỗ trợ cho tiến trình hoạch định của các nhà hoạch định chính sách cũng như tôn vinh các nhà khoa học có nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học Việt Nam.  Những khó khăn mà nhóm gặp phải khi tiến hành dự án này?  Tất nhiên có khó khăn vì S4VN hoạt động không có nguồn tài trợ và vẫn phải hoàn thành nhiều công việc khác nhưng chúng tôi không muốn nói quá nhiều về khó khăn của mình. S4VN quan tâm nhiều hơn đến khó khăn chung của cả nền khoa học và giáo dục đại học Việt Nam. Cụ thể, S4VN thấy rằng, các nhà khoa học Việt Nam vẫn thiếu một môi trường làm việc phù hợp và nguồn hỗ trợ tài chính tương xứng để hoàn toàn tập trung cho nghiên cứu khoa học; còn khó khăn lớn nhất với các nhà hoạch định chính sách là thiếu thông tin tin cậy về trắc lượng khoa học.  Nhóm S4VN cần những điều kiện gì để làm tốt hơn cho dự án trắc lượng khoa học này?  Sự chung tay minh bạch hóa các dữ liệu thống kê liên quan đến đánh giá thành tích khoa học từ các cấp sẽ là sự hỗ trợ lớn nhất đối với dự án của S4VN.  Xin cảm ơn những chia sẻ của nhóm.  Ý kiến đánh giá của một số nhà khoa học về dự án S4VN  * Nhóm S4VN đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu thông tin khoa học với những dữ liệu khách quan về hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các lĩnh vực khoa học khác nhau của Viêt Nam, rất cần được tham khảo rộng rãi trong cộng đồng khoa học nước nhà, bao gồm cả những ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Giới quản lý truyền thông khoa học và công nghệ rất nên vào cuộc trực tiếp hỗ trợ và quảng bá dự án startup này của các bạn trẻ.  GS.TS. Đào Tiến Khoa  – Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân.  * Hiện tại, giáo dục đào tạo (đặc biệt đào tạo trình độ cao) và KHCN nước ta đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi lớn về đổi mới để bắt kịp nhu cầu phát triển KT-XH cũng như theo kịp trình độ quốc tế, vì vậy rất cần những chính sách tốt, cập nhật theo xu thế chung của thế giới nhưng phải phù hợp với thực trạng tại Việt Nam. Trong quá trình làm chính sách, các số liệu thống kê đầy đủ, tin cậy và hiện đại theo chuẩn mực thế giới là thông tin quan trọng để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề căn bản: ta đang ở đâu, có những thế mạnh nào, tương quan so sánh với các nước khu vực ra sao? Vì vậy, tôi đánh giá rất cao nỗ lực và sự tâm huyết của nhóm trong thống kê và so sánh công bố công trình khoa học quốc tế (bài báo ISI) của Việt Nam theo các phân ngành với các nước trong khu vực.  PGS.TS Tạ Hải Tùng – Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ định vị sử dụng vệ tinh tại Đông Nam Á (NAVIS), Đại học Bách khoa Hà Nội.  * Sự ra đời của Dự án rất có ý nghĩa trong nâng cao chất lượng khoa học ở Việt Nam. Một số nhà khoa học xã hội thường cho rằng ngành khoa học này của nước ta có “đặc thù” và “nhạy cảm” để lý giải cho sự non yếu. Thực chất, nhiều cơ quan thuộc khoa học xã hội đã thiếu chiến lược hội nhập để đạt chuẩn quốc tế. Bởi vậy, các tổ chức và nhà khoa học nên tham khảo các thông tin này. Ngoài ra, từ ý tưởng của dự án này, nên mở rộng, có những thống kê khác về trắc lượng khoa học của các đề tài cấp bộ, cấp nhà nước.  PGS. TS Vương Xuân Tình – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.  Chú thích:  1. Các thống kê, mô tả này của nhóm S4VN đã được nhiều cơ sở khoa học, nhà khoa học uy tín trích dẫn lại (Tia Sáng).    Author                Thu Quỳnh        
__label__tiasang Sáng kiến Vành đai và con đường: Trung Quốc đang vẽ lại bản đồ khoa học thế giới      Sáng kiến Một vành đai và một con đường – siêu dự án của Trung Quốc với cơ sở hạ tầng ở quy mô toàn cầu, sẽ chuyển đổi cuộc sống và công việc của hàng triệu nhà nghiên cứu.       Sáng kiến Một Vành đai và một con đường. Nguồn: Conversation.  Một buổi sáng tháng 11 lạnh giá, dù cách gia đình ở Bangladesh 3000km, Ashraf Islam không lấy đó làm phiền mà chỉ nghĩ đến các cơ hội nghiên cứu mà anh có khi tới Bắc Kinh làm nghiên cứu sinh về kỹ thuật loại bỏ chất hữu cơ khỏi nước thải, một vấn đề đang nhức nhối ở đất nước mình. “Dù ở nhà, chúng tôi có những cơ sở nghiên cứu tốt nhưng các cơ sở nghiên cứu ở đây hoàn toàn khác do với những gì chúng tôi đã từng sử dụng trước đây”, Islam nói.   Một nghiên cứu sinh khác là Htet Aung Phyo từ Myanmar nhận được học bổng do Trung Quốc tài trợ để nghiên cứu về cách sử dụng vi khuẩn để tách chiết đồng từ quặng nghèo. Nếu dự án của anh thành công, sẽ có thể hỗ trợ công việc của những người công nhân mỏ ở Myanmar, một vài mỏ trong số đó do một công ty Trung Quốc khai thác. Một kết quả mang tính đột phá sẽ đem lại nhiều việc làm hơn cho người dân đất nước anh. “Điều đó giải thích tại sao tôi đang ở đây”, anh nói một cách tự hào.  Phyo và Islam là hai trong số 1.300 sinh viên từ hàng chục quốc gia đang dành trên 4 năm nghiên cứu và học tập tại Bắc Kinh với mục tiêu giải quyết các vấn đề khoa học ở đất nước mình. 200 học bổng được trao hằng năm từ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) kết hợp với Viện Hàn lâm Khoa học thế giới (TWAS) ở Trieste, Ý. Nhưng đây không phải là chương trình học bổng thông thường mà là một phần trong Sáng kiến Vành đai và con đường (The Belt and Road Initiative BRI), chương trình cho vay vốn và đầu tư lớn nhất thế giới, bao gồm cả một số tài trợ, vốn được Trung Quốc phân chia cùng 126 quốc gia.  Trên khắp thế giới, chính quyền Trung Quốc cùng các công ty và doanh nghiệp địa phương thuộc các quốc gia đối tác xây dựng đường bộ, thiết kế đường sắt cao tốc, khai thác các nguồn nhiên liệu hóa thạch dự trữ, chuyển đổi thành nguyên liệu cho các nhà máy điện, lắp đặt hàng trăm ngàn camera giám sát, xây dựng các cảng biển và hàng không. Đây là một phần của một kế hoạch khổng lồ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhằm chuyển đổi các mạng lưới thương mại toàn cầu thành một thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa của quốc gia này.  Trung Quốc hiện dành một khoản hơn 1 nghìn tỉ USD để cho ít nhất 100 quốc gia thuộc nhóm BRI vay làm đường bộ, đường sắt cao tốc, nhà máy điện, cảng biển và hàng không. Các công ty Trung Quốc thậm chí còn xây dựng cả các thành phố mới, như Port City Colombo, vốn được kỳ vọng là một trung tâm tài chính hàng hải ở Đông Á, sau thủ đô của Sri Lanka. Các quốc gia BRI được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng mới này và ngược lại, Trung Quốc là tìm kiếm thị những thị trường mới cho hàng hóa và dịch vụ của mình cũng như những con đường mới và đường sắt mới để vận chuyển chúng.  Ông Tập Cận Bình và các lãnh đạo Trung Quốc khác thấy khoa học như yếu tố trung tâm trong việc xây dựng những cây cầu với các quốc gia khác và Bai Chunli, Chủ tịch CAS, cũng nhấn mạnh trong Bản tin của CAS (CAS Bulletin) vào năm ngoái như vậy: “KH, CN và đổi mới sáng tạo là yếu tố cốt lõi lèo lái sự phát triển của BRI”.  Các trường đại học của Trung Quốc – cùng với mạng lưới rộng lớn của các viện nghiên cứu thành viên CAS – đang tỏa rộng khắp toàn cầu. Họ đang đề xuất hỗ trợ khoa học và ký các thỏa thuận hợp tác trên một mức độ chưa từng thấy, kể từ khi Mỹ và Liên Xô chạy đua cấp học bổng cho các nhà nghiên cứu trong các quốc gia liên minh trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Vào ngày 19/4/2019, Bai loan báo, CAS đã đầu tư hơn 1,8 tỷ nhân dân tệ (khoảng 268 triệu USD) cho các dự án KH&CN – một phần của BRI.  Tại Sri Lanka, Trung Quốc đồng tài trợ cho một trung tâm nghiên cứu nước ngọt an toàn và hỗ trợ điều tra khủng hoảng về bệnh thận ở các cộng đồng dân cư nông thôn của đất nước này. Tại Pakistan, họ đồng bảo trợ một loạt các trung tâm nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu về các chủ đề từ lúa gạo đến trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật đường sắt. Tại trung tâm châu Âu, một công viên khoa học Trung – Bỉ tạo điều kiện cho các công ty mở rộng quy mô thương mại về các thiết bị y tế, điện Mặt trời và nhiều loại công nghệ tiên tiến khác. Còn ở Nam Mỹ, Trung Quốc là đối tác của Chile và Argentina, tham gia vào các trung tâm nghiên cứu vật lý thiên văn và tăng cường khả năng truy cập vào một số khu bảo tồn quý giá bậc nhất thế giới. Về tổng thể, khía cạnh khoa học của BRI tác động đến hàng chục nghìn nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh, hàng trăm trường đại học.   Sự đầu tư của Trung Quốc đem lại thay đổi sâu sắc trong những nước thu nhập trung bình và thấp, vốn mong muốn nhận được sự hỗ trợ về khoa học. Và vì Trung Quốc vươn lên vị trí của một siêu cường khoa học, nó cũng mang đến một tầm nhìn khác biệt so với những quốc gia đang dẫn đầu về khoa học khác.     Trung tâm nghiên cứu lúa lai Sino-Pakistan được mở cả Karachi (Pakistan) và Hàng Châu (Trung Quốc) trong sự hỗ trợ của Viện nghiên cứu lúa Trung Quốc. Nguồn: youlinmagazine.com  Đó là ý tưởng win – win lan tỏa khắp các dự án BRI, theo đánh giá của Theresa Fallon, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á châu Âu và Nga ở Brussels. Mỗi đầu tư lớn đều mang đến những lợi ích không chỉ cho quốc gia thực hiện dự án mà còn cho cả Trung Quốc, vốn hi vọng sẽ gia tăng hiệu quả khoa học và kinh tế từ các khoản đầu tư. Trung Quốc thấy mình như một đối tác phù hợp với các quốc gia nghèo bởi trước đây mình từng là quốc gia nghèo, Li Yin – phó giám đốc bộ phận hợp tác quốc tế của CAS tại Bắc Kinh, nói.  Cách tiếp cận của Trung Quốc thông qua BRI đã giúp họ có được nhiều người ủng hộ trong các quốc gia nhận được đầu tư, trong đó có Tổng thống Sri Lanka Maithripala Sirisena và Thủ tướng Pakistan Imran Khan. Trong bài diễn văn chiến thắng bầu cử vào năm ngoái, Thủ tướng Khan nói, ông muốn học hỏi cách Trung Quốc trỗi dậy từ một quốc gia nghèo thành một siêu cường mới nổi.   Nhưng cũng có cách nhìn khác về sự vươn lên của khoa học Trung Quốc khi cho rằng những quốc gia thu nhập trung bình và thấp đang mộng du trong vòng tay của một quốc gia chuyên quyền và chủ nghĩa thực dân kiểu mới, và tất cả những vấn đề mở rộng hợp tác, bao gồm các thỏa thuận công nghệ và liên minh khoa học đều nằm trong quỹ đạo đó. Trong câu chuyện đó, các quốc gia đang lún sâu vào hàng tỷ USD nợ nần của Trung Quốc và đang trao những điều chính yếu của các nguồn tài nguyên đáng giá và nhạy cảm về mặt kinh tế còn chưa biết hết. Một lo ngại khác là các dự án BRI có thể là nguyên nhân tàn phá môi trường khi mở các tuyến đường thông thương làm ảnh hưởng đến môi trường sống dễ bị tổn thương vùng núi phía Bắc Pakistan và nhiều vùng khác, làm đập trên những con sông khắp Đông Nam Á và Nam Mỹ.  Từ góc độ khoa học, mục tiêu toàn thể của BRI hết sức rõ ràng: khôi phục vị trí của Trung Quốc như một trong số những nền văn minh vĩ đại nhất thế giới, và được các quốc gia khác chiêm ngưỡng như một quyền lực khoa học. Nhưng theo Christopher Cullen, nhà nghiên cứu về lịch sử khoa học Trung Quốc tại Viện nghiên cứu Needham ở Cambridge, Anh, giờ vẫn còn quá sớm để nói về những thỏa thuận hợp tác của Trung Quốc với các quốc gia khác sẽ tiến triển như thế nào.  Nhiều ngả đường  Như đã được biết đến từ hơn 2.000 năm trước, con đường tơ lụa gắn kết vùng Viễn Đông với châu Âu, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhắc đến tuyến đường thương mại cổ đại này từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên chỉ đến khi ông Tập Cận Bình trở thành Chủ tịch Trung Quốc vào năm 2013, ông mới ưu tiên cho mục tiêu này và đưa nó trở thành BRI. “Đại dương trở nên bao la là do hợp nhất được tất cả các dòng sông,” ông từng nói như vậy trong sự kiện mở màn BRI tại Indonesia và Kazakhstan.  Đại dương này thậm chí còn trở nên rộng lớn hơn trong kế hoạch của ông Tập Cận Bình. Trong vòng 6 năm qua, BRI đã lớn mạnh để hợp thành một mạng lưới toàn cầu với các lộ trình trên biển và đất liền, với tâm điểm là Trung Quốc. Và ngay cả với những người am hiểu thì cũng không thể biết được toàn bộ mục tiêu của BRI bởi chính quyền Trung Quốc chưa tiết lộ danh sách các dự án đã thực hiện lẫn đang được lập kế hoạch. Nhưng ước tính, tổng kinh phí đầu tư cho BRI vào khoảng 1 đến 8 nghìn tỷ USD.  Là một hợp phần của sáng kiến khổng lồ này, Trung Quốc đang tạo ra Con đường tơ lụa thương mại trên biển thế kỷ 21 – một vòng luân chuyển trên đại dương kết nối những chuyến tàu của quốc gia này với các quốc gia tiếp giáp ở các đại dương lớn, bao gồm cả châu Phi và Nam Mỹ. Sau đó là Vành đai kinh tế con đường tơ lụa (Silk Road Economic Belt), một mạng lưới phức tạp gồm sáu  hành lang kinh tế trên đất liền nối Trung Quốc với một số quốc gia châu Á và các thành phố lớn của châu Âu qua đường sắt, đường bộ và đường biển.  Mặc dù có nhiều vấn đề đặt ra xung quanh BRI, các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Pakistan và Sri Lanka vẫn nói, xét trên mọi khía cạnh thì họ thu được nhiều lợi ích khoa học. Bất kỳ điều gì xảy ra, di sản khoa học gần nhất của BRI với Sri Lanka và Pakistan là có được một lượng lớn các nhà khoa học trình độ cao – điều mà sự hỗ trợ của phương Tây không đạt được. “Trung Quốc thành công nơi chính phương Tây thất bại”, Sujithra Weragoda, giám đốc Dự án nghiên cứu Trung Quốc – Sri Lanka nói.  Những dấu hiệu của BRI dưới góc độ khoa học sớm đến sau chuyến thăm Trung Á của ông Tập Cận Bình vào tháng 9/2013. Năm tiếp theo, CAS đầu tư vào việc nâng cấp một kính viễn vọng ở Viện nghiên cứu Thiên văn Ulugh Beg, Uzbekistan nhằm chuẩn bị cho kế hoạch hợp tác giữa viện nghiên cứu này với Đài quan sát thiên văn Tân Cương của Trung Quốc. Uzbekistan không có kinh nghiệm về kính viễn vọng, giám đốc đài quan sát Shuhrat Ehgamberdiev nói trên CAS Bulletin, vì vậy các kỹ sư Trung Quốc đã thực hiện phần quan trọng bậc nhất về kỹ thuật. Đây là khởi đầu cho nhiều dự án lớn hơn của CAS.  Hợp phần khoa học của BRI do Bai vạch kế hoạch. Được đào tạo tại Trung Quốc về tinh thể học tia X, Bai đã nghiên cứu cùng John Baldeschwieler tại Viện công nghệ California tại Pasadena vào giữa những năm 1980 về kính hiển vi điện tử quét truyền qua. Baldeschwieler kể, ngay ở giai đoạn đầu sự nghiệp của Bai thì ông đã nhận thấy nhà khoa học này có thể tiến xa và từng dự đoán là một ngày nào đó, Bai có thể trở thành chủ tịch CAS.   Dưới sự lãnh đạo của Bai, khoa học trong BRI đã được phát triển theo ba hướng song song: 1. Tại Trung Quốc, CAS lập năm trung tâm xuất sắc tại các viện nghiên cứu thành viên, mỗi trung tâm đón nhận 200 nghiên cứu sinh mà CAS đào tạo hằng năm; 2. Bên ngoài Trung Quốc là chín trung tâm nghiên cứu và đào tạo ở châu Phi, Trung Á, Nam Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á – thông thường quốc gia sở tại đồng tài trợ, ví dụ, Phòng thí nghiệm liên hợp về Khí hậu vũ trụ Trung Quốc- Brazil ở São José dos Campos theo dõi những thay đổi khí hậu vũ trụ và phát triển các mô hình dự báo khí hậu. Tại Bangkok, Trung tâm Hợp tác đổi mới sáng tạo CAS hỗ trợ, kết nối các trường đại học và các công ty công nghệ của Thái Lan làm việc với đối tác Trung Quốc, song song với việc tạo một vị thế trong vùng cho Trung Quốc. Từ các trung tâm này, hàng trăm mối quan hệ hợp tác giữa CAS và các trường đại học Trung Quốc với các đối tác nước ngoài nở rộ; 3. Vành đai và con đường số, một nền tảng cho phép các quốc gia tham gia chia sẻ dữ liệu, bao gồm các hình ảnh vệ tinh cũng như dữ liệu mang tính định lượng về hiểm họa thiên nhiên, nguồn nước, các di sản văn hóa, một phần của dự án hợp tác của họ với Trung Quốc.     Bai Chunli, chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, là người đứng đằng sau hợp phần khoa học trong Sáng kiến Vàng đai và con đường. Nguồn: Pang Xinglei/Xinhua/Alamy  Để nắm bắt được các hoạt động này cũng như nhiều hoạt động liên quan khác, CAS thành lập một siêu ủy ban về khoa học vào năm 2016. Mạng lưới này do Liên minh các tổ chức khoa học quốc tế thuộc vùng Vành đai và con đường (ANSO) vận hành, bao gồm 37 thành viên trải rộng khắp toàn cầu, từ Viện Hàn lâm Khoa học Nga đến trường đại học Chile. UNESCO cũng là một thành viên sáng lập. ANSO đã lên kế hoạch hỗ trợ và thiết lập nghiên cứu về phát triển bền vững trong các quốc gia thuộc BRI, bao gồm cải thiện an ninh lương thực và giảm thiểu tình trạng khan hiếm nguồn nước.  Những điểm rắc rối  Khi các dự án về cơ sở hạ tầng đã hoàn thành và Trung Quốc bắt đầu gia tăng các hoạt động khoa học ở nước ngoài, nhiều mối quan ngại đang bắt đầu xuất hiện về cách thức thực hiện công việc của mình.  Một trong những lo ngại là cách Trung Quốc đang xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho Vành đai và con đường số. Mỹ và một số quốc gia khác đã cảnh báo đặc biệt về những nghị định đã được ký kết với gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei nhằm hình thành mạng lưới thông tin di động 5 G thế hệ mới khi cho rằng có thể dẫn đến khả năng trao cho chính quyền Trung Quốc cơ hội giám sát bởi Huawei đang cung cấp cho các quốc gia BRI những công cụ giám sát – bao gồm công nghệ nhận diện hình ảnh. Dẫu vậy thì Huwei vẫn một mực phủ nhận là cài đặt những đường truy cập trong các thiết bị đó để cho những người sử dụng “không chính đáng”, có thể là chính quyền Trung Quốc.   Một trong những lo ngại lớn nhất trong khối các quốc gia BRI là những tác động về môi trường của các dự án, vốn làm thay đổi cảnh quan của hàng chục quốc gia. Nhóm bảo tồn thiên thiên WWF nêu những kết nối BRI chính giữa châu Á và châu Âu băng qua 1.739 khu vực đã được nhận diện là có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến 265 loài có tên trong Sách đỏ, bao gồm 81 loài nguy cấp  như Linh dương saiga (Saiga tatarica), hổ (Panthera tigris) và gấu trúc lớn (Ailuropoda melanoleuca).  Một dự án cũng khiến các nhà môi trường lo ngại là tuyến đường sắt dài 350 km trị giá 3,8 tỷ USD từ Hungary tới Serbia đang được lập kế hoạch. Nó cũng thu hút sự chú ý của các nhà cầm quyền EU và vẫn đang chờ đợi được phê duyệt. Thêm vào đó, Trung Quốc không thông qua Hiệp ước Đánh giá tác động môi trường trong bối cảnh xuyên biên giới (Espoo Convention), vốn đòi hỏi các thành viên đánh giá tác động môi trường và y tế của các dự án phát triển tại giai đoạn đầu.  Pervez Hoodbhoy, một nhà vật lý tại trường Forman Christian ở Lahore, Pakistan, cho biết một số hợp tác khoa học của Trung Quốc đang đánh giá tác động môi trường của một số dự án cơ sở hạ tầng BRI. Anh nói: “Việc thiếu thực sự nghiên cứu về một khung điều chỉnh cho các dự án BRI và điều đó khiến chúng tôi cứ phải đoán xem điều gì đang xảy ra và có thể xảy ra. Cần phải thực hiện các nghiên cứu về những vấn đề này”. Còn Aban Marker Kabraji, giám đốc Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN) khu vực châu Á ở Bangkok thì cho rằng, “việc không có biện pháp bảo vệ môi trường chỉ làm tăng nguy cơ rủi ro cho môi trường, tạo áp lực lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt và khiến các cộng đồng phải di dời”.   Một rào cản cho môi trường là các viện nghiên cứu ở cả Trung Quốc và các quốc gia BRI đều rất miễn cưỡng thực hiện những thứ có thể làm chậm tiến độ xây dựng, ông Qi Ye – Giám đốc Trung tâm  chính sách công Brookings -Tsinghua ở Bắc Kinh, nói. Các công ty Trung Quốc thường “vận hành trong một môi trường nơi chính quyền địa phương hoặc bên hợp đồng cần hoặc muốn có kết quả ngay”. Các đánh giá tác động môi trường mang tính chiến lược cần có thời gian để thực hiện cho đúng và có thể sẽ dẫn đến kết quả là thay đổi các thông số kỹ thuật ban đầu – tất cả những điều này đều có thể dẫn đến khả năng trì hoãn các dự án. Do đó “đây không phải là một lựa chọn phổ biến”, Qi nói thêm.  Một vấn đề khác là các hợp đồng có thể quy vấn đề đánh giá tác động môi trường cho trách nhiệm của nước chủ nhà. Bởi các quốc gia nghèo thường ít có năng lực giám sát hoặc đánh giá trong khi những dự án xây dựng đôi khi được thúc đi trước mà không có sự xem xét kỹ lưỡng, theo quan điểm của các nhà vận động môi trường.    Một thử nghiệm thiết bị truyền thông 5G của công ty công nghệ Huawei ở London vào năm nay. Nguồn: Simon Dawson/Bloomberg/Getty  Có những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang bắt đầu giải quyết những quan ngại này. Những tổ chức nghiên cứu bảo tồn của Trung Quốc, như Học viện nghiên cứu Đôn Hoàng, và các nhà môi trường như Ma Keping của Viện Nghiên cứu thực vật (CAS) ở Bắc Kinh, cũng từng cảnh báo về những tác động môi trường của mạng lưới rộng lớn về các tuyến đường xuyên lục địa vài năm trước.  Wang Xudong, giám đốc Học viện nghiên cứu Đôn Hoàng, cho biết các đồng nghiệp của ông đã lập bản đồ được 130 Di sản văn hóa thế giới dọc theo lộ trình Con đường Tơ lụa, trong đó có cả các phần thuộc BRI. “Tại Trung Quốc, cấm các hoạt động khai thác, phát triển gần các địa điểm khảo cổ hoặc khu vực xung quanh”, Wang nói và cho biết thêm là các quốc gia tham gia BRI có thể bắt đầu thiết lập các khu vực bảo vệ theo cách Trung Quốc đã làm. “Các quốc gia có thể tránh làm đường bộ hoặc đường sắt gần tâm chấn động đất hoặc gần các di sản văn hóa”.  Các lo ngại về môi trường quanh BRI đang bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. IUCN với chủ tịch là nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Zhang Xinsheng đã từng cam kết nghiên cứu về những tác động môi trường của các dự án xây dựng BRI ở hai quốc gia: Sri Lanka và Pakistan. Nhóm nghiên cứu bao gồm các quan chức Chính phủ Trung Quốc đã tới hai quốc gia này vào tháng 2/2019. Người ta kỳ vọng nghiên cứu này sẽ có ảnh hưởng ở Trung Quốc bởi nó được thực hiện theo yêu cầu của Hội đồng Trung Quốc về Liên kết quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển – một tổ chức gồm các chuyên gia môi trường hàng đầu thế giới, để báo cáo Chính phủ Trung Quốc.   Do đó, Chính phủ Trung Quốc đã nhóm họp một diễn đàn trong hai ngày – động thái đầu tiên của họ- tại Bắc Kinh để thảo luận những vấn đề lo ngại về môi trường quanh BRI, dẫn đến một hội thảo của lãnh đạo các quốc gia BRI mang tên Diễn đàn Vành đai và con đường.  Arthur Hanson, tư vấn quốc tế chính cho hội đồng hợp tác môi trường Trung Quốc, cho rằng một tham vọng của ông là có thể thuyết phục được các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực hiện những yếu tố cốt lõi trong những đánh giá tác động xã hội và môi trường của dự án BRI, cùng với việc đảm bảo sự tham gia của công chúng trong quyết định về dự án và mở dữ liệu để mọi người có thể truy cập.    Andrew Small, học giả Trung Quốc với German Marshall Fund, một think tank tại Washington DC, cho biết, theo kinh nghiệm của ông, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đang bị những chỉ trích tác động và sẽ cố giải quyết chúng. Vì khi BRI hình thành, Trung Quốc sẽ còn phải trông chờ vào việc hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có cả  các trường đại học và các nhóm bảo tồn, Small nhận xét.  Nhìn xuống phía Nam  Vì Trung Quốc gia tăng đầu tư cho khoa học ở các quốc gia BRI, nó chuyển đổi cách các nhà nghiên cứu trên khắp hành tinh nhìn về tương lai. Trung Quốc nổi lên như một đối tác khoa học cho thế giới đang phát triển. Trong khi đó các thế hệ các nhà nghiên cứu trước ở châu Phi, châu Á và cả Nam Mỹ được đào tạo ở các quốc gia phương Tây và hiểu biết của họ bắt nguồn từ đây, không thể nói là điều tương tự sẽ xảy ra với thế hệ hiện tại.  Nhiều nhà khoa học cao niên nói với Nature cho rằng các đồng nghiệp trẻ, đặc biệt là những tiến sĩ hoặc postdoc học tại Trung Quốc giờ đang thiếu mối liên hệ với khoa học phương Tây. “Vì nhiều người trẻ tới Trung Quốc thay vì Mỹ, mối liên kết giữa họ với phương Tây sẽ yếu đi,” Kamini Mendis, một chuyên gia về sốt rét ở Sri Lanka và từng làm việc cho WHO, nhận xét.  Nhưng còn một khía cạnh khác trong câu chuyện này: viễn cảnh những cuộc chạm trán khoa học Trung Quốc với những quốc gia khác có thể, theo một nghĩa hẹp, bắt đầu thay đổi cả Trung Quốc. Tại một cuộc họp tại Bắc Kinh vào tháng 11 năm ngoái với các nghiên cứu sinh từ các quốc gia BRI, Nature đã thử đặt câu hỏi là liệu có bất kỳ ai muốn tăng thêm thời gian nghiên cứu tại đây không. Họ có ý định sống và làm việc tại Trung Quốc lâu dài – như những nhà khoa học nước họ đã làm như vậy khi học tập ở châu Âu và Bắc Mỹ? Khán phòng rơi vào im lặng cho đến khi một quan chức Viện Hàn lâm chỉ ra rằng quy định nêu rõ họ phải trở về quê hương khi hoàn tất chương trình tiến sỹ. “Chúng tôi không muốn là nguyên nhân dẫn đến nạn chảy máu chất xám ở quốc gia khác”, bà nhấn mạnh.  Nhưng khi bà chưa nói hết ý mình, một nhà nghiên cứu của Viện Hàn lâm xen vào. “Anh định hỏi là nếu các nghiên cứu sinh ở lại đây thì có lẽ Trung Quốc sẽ trở thành một xã hội đa văn hóa hơn phải không? Điều đó có thể không phải là điều quá xấu đâu”.   Thanh Nhàn dịch  Nguồn: https://www.nature.com/immersive/d41586-019-01124-7/index.html  Từ năm 2005, Trung Quốc đã cam kết cho các quốc gia Nam Mỹ vay 140 tỷ USD. Theo một cơ sở dữ liệu do Đối thoại Liên Mỹ ở Washington DC và trường Đại học Boston, trong năm 2018, tổng số đã lên tới 7,7 tỷ USD. Hiện Trung Quốc là đối tác lớn nhất thứ hai ở Mỹ Latinh và ngược lại, khu vực này nhận được khoản đầu tư lớn thứ hai của Trung Quốc ở nước ngoài. Venezuela được hưởng lợi nhiều nhất, với 67,2 tỷ USD – nhiều nhất là ở ngành công nghiệp dầu mỏ, theo sau là Brazil, Ecuador và Argentina. Năng lượng là lĩnh vực có nhiều đầu tư nhất, 96,9 tỷ USD, sau đến cơ sở hạ tầng với 25,9 tỷ USD.    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sao không làm như Senegal ?      Hiện nay, lương của c&#225;c nh&#224; khoa học v&#224; giảng vi&#234;n đại học ở Việt Nam qu&#225; thấp so với thế giới, kh&#244;ng chỉ so với những nước hiện gi&#224;u hơn ta nhiều như Mỹ hay Th&#225;i Lan, m&#224; ngay cả so với những nước ngh&#232;o như Senegal hay Pakistan.     Theo một thống kê của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam, Pakistan và Senegal năm 2007 tính theo PPP (purchasing power parity – điều chỉnh theo giá cả sinh hoạt từ con số GDP) lần lượt là 2589USD, 2594 USD và 1692 USD, có nghĩa là Pakistan nghèo gần như Việt Nam (và mất ổn định hơn Việt Nam) còn Senegal nghèo hơn Việt Nam. Tôi từng đi công tác tại Dakar (Thủ đô của Senegal) năm 2007 và có cảm nhận rõ ràng là Dakar chưa phát triển bằng Hà Nội hay Sài Gòn. Thế nhưng lương giảng viên đại học trung bình ở Dakar được khoảng 1500 USD một tháng (và các giảng viên đại học ở Senegal đã từng bãi công đòi tăng lương từ mức trung bình dưới 1000 USD lên mức như vậy). Pakistan còn trả lương cho các nhà khoa học cao hơn nữa, và họ mời nhiều nhà khoa học nước ngoài đến giảng dạy với mức lương cạnh tranh với Âu-Mỹ. Trong khi đó, lương của các giáo sư đầu ngành của Việt Nam  kể cả phụ cấp cũng không quá 500-600 USD một tháng. Gần đây TP. HCM có dự án trả “mức lương đặc biệt” cho các chuyên gia Việt kiều được mời về công tác tại Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán, nhưng cái mức đặc biệt đó cũng không quá 1000 USD một tháng, không bằng học bổng của một nghiên cứu sinh ở nước ngoài.   Lương của những người làm khoa học ở Việt Nam cũng quá thấp so với những người có trình độ tương đương làm các ngành khác. Ví dụ một chuyên viên kiểm toán làm cho một công ty kiểm toán nước ngoài ở Việt Nam có mức lương một vài nghìn USD một tháng, một kỹ sư tin học lành nghề cũng dễ dàng có lương trên 10 triệu VND một tháng. Chẳng nhẽ một giáo sư lại không có hiệu quả lao động bằng họ? Nếu quả thật là hiệu quả lao động của các giáo sư kém vậy, thì cái chức danh giáo sư có nghĩa lý gì? Còn nếu như giáo sư là quan trọng, thì tại sao lại bị đối xử kém như vậy?  Các nước khác trên thế giới khác với Việt Nam ở chỗ nào? Ở chỗ họ thực sự coi trọng chất xám, coi trọng khoa học, thể hiện cụ thể bằng việc trả lương xứng đáng cho các nhà khoa học và giảng viên đại học. Đó cũng là con đường mà Hàn Quốc đã lựa chọn từ cách đây mấy chục năm khi nước này còn nghèo. Tại sao Việt Nam không làm được như họ? Theo tôi không có nguyên nhân khách quan nào (nếu Senegal còn làm được, không có cớ gì mà Việt Nam không đủ tiền để làm), mà chỉ toàn những nguyên nhân chủ quan như: mặc dù được coi là quốc sách hàng đầu, động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, nhưng trong thực tế, từ nhiều năm nay, nhiều cấp lãnh đạo chưa thực sự coi trọng khoa học, và chúng ta chưa đủ quyết tâm chính trị hay bản lĩnh trí thức để đấu tranh và xây dựng một chế độ đãi ngộ hợp lý hơn. Chúng ta đã nhiễm thói “ăn giả làm giả” nên sẽ khó chuyển sang chế độ “ăn thật làm thật” trong khoa học.  Hồi nhỏ, tôi có hay nghe thấy một bác thợ thủ công hàng xóm hát nghêu ngao “ít tiền thì ít thù lao, ít cơm ít gạo thì tao ít làm”. Hồi đó tôi nghĩ bác này hơi “phản động”, nhưng sau mới thấy câu hát của bác là chân lý hết sức giản dị. Nếu Nhà nước trả quá ít tiền cho các nhà khoa học, thì điều tất yếu là họ cũng ít làm. Các giảng viên đại học lương không đủ nuôi vợ con, ắt hẳn sẽ phải nghĩ nhiều việc tay trái, ít có thời giờ cho sinh viên và cho khoa học. Hậu quả là một sự giảm sút hiệu quả lao động, lãng phí chất xám rất lớn trên phạm vi toàn quốc.   Nếu nói về khía cạnh kinh tế, cái tiền “tiết kiệm” được do trả lương ít không bù lại được cái sự lãng phí do hiệu quả lao động giảm đi có khi chỉ còn dưới 1/10 tiềm năng, thì việc trả lương thấp (cộng với các điều kiện làm việc kém) như hiện nay là một chính sách phản kinh tế, vô cùng lãng phí tiềm năng khoa học.  Việc thay đổi cơ chế đãi ngộ trong khoa học theo tôi sẽ rất phức tạp, sẽ không tránh khỏi nhiều tranh cãi và bất bình, nhưng đó là một việc hết sức cần thiết, và nếu chúng ta có quyết tâm chính trị thì chắc chắn sẽ thực hiện được, sẽ không thiếu gì những biện pháp thực tế và khả thi.    ———  * GS Đại học Toulouse    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sắp có Thông tư liên tịch định giá tài sản trí tuệ      Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết sắp tới, Bộ  KH&amp;CN sẽ cùng với Bộ Tài chính ban hành “Thông tư hướng dẫn định giá  tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách nhà nước”, sau đó sẽ tiếp tục có  những văn bản khác quy định việc phân chia lợi ích sau khi tài sản trí tuệ đã được định giá, được chuyển giao hoặc góp vốn.    – Bộ trưởng có thể nêu rõ những phương pháp chính để xác định giá trị tài sản trí tuệ (TSTT)  một cách hiệu quả nhất?    Bộ trưởng Nguyễn Quân: Về kỹ thuật xác định giá trị TSTT, chúng ta có thể đưa ra các phương pháp xác định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định giá TSTT có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Về phương pháp trong Dự thảo Thông tư, các cán bộ nghiên cứu cũng đưa ra 3 phương pháp theo thông lệ quốc tế. Đó là phương pháp chi phí, phương pháp thị trường và phương pháp thu nhập. Tùy thuộc vào thị trường và TSTT, có thể áp dụng một trong 3 phương pháp này.  Tuy nhiên, có những loại TSTT đã có thị phần trên thị trường, ví dụ như thương hiệu Coca-cola, Microsoft được xác định theo phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập. Nhưng có những TSTT chưa có thị phần, chưa được người tiêu dùng biết đến thì phải cần đến phương pháp chi phí để giữ được giá trị tài sản do Nhà nước đầu tư, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các chủ sở hữu của các TSTT đó như các Viện nghiên cứu, các trường đại học hoặc các nhà khoa học.  Như vậy việc đưa ra các phương pháp đúng, trong đó, quy định, trình tự, thẩm quyền và thủ tục đúng giúp việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu được tốt hơn.  – Theo Bộ trưởng, lý do tại sao trong thời điểm này lại có Thông tư ra đời về xác định giá trị TSTT? Thông tư  sẽ giải quyết được những  hạn chế nào trong công tác SHTT?  Lẽ ra Thông tư  phải ra đời song hành với Luật sở hữu trí tuệ SHTT năm 2005, tuy nhiên đây là một vấn đề khó nên chúng tôi cũng đã giao cho các cơ quan có chức năng giải quyết của Bộ KH&CN nghiên cứu nhưng đến nay mới hình thành được Thông tư này. Bởi nếu không có Thông tư hướng dẫn định giá TSTT sử dụng ngân sách Nhà nước thì toàn bộ kết quả nghiên cứu từ các đề tài, dự án sử sụng ngân sách Nhà nước đã thành công không thể đi vào thị trường, và nếu đã đi vào thị trường thường đi bằng con đường không chính thức. Khi đó, cả Nhà nước lẫn nhà khoa học đều chịu thiệt thòi do không bảo đảm được quyền lợi của cả ba bên Nhà nước- Nhà khoa học – Doanh nghiệp.  Như chúng ta đã biết TSTT được hình thành từ ngân sách Nhà nước thì chủ sở hữu  là Nhà nước, nếu Nhà nước không giao quyền sở hữu cho người khác hoặc nhà khoa học hay thị trường thì không thể đem tài sản này chuyển giao cho sản xuất kinh doanh thông qua doanh nghiệp. Vì vậy chúng ta cũng không đảm bảo được quyền lợi cho các nhà khoa học khi tham gia vào quá trình chuyển giao khoa học công nghệ cho doanh nghiệp.  Trên thực tế, ở các nước phát triển, các nhà khoa học có thể sống được bằng chất xám của mình là nhờ có Nhà nước đã hỗ trợ cho họ định giá được TSTT, được giao quyền sở hữu . Nhờ vậy, họ có thể góp vốn vào doanh nghiệp và trở thành cổ đông của doanh nghiệp, hoặc có thể bán lại cổ phần cho doanh nghiệp, hoàn lại một phần cho ngân sách Nhà nước đầu tư, phần còn lại là quyền lợi của nhà khoa học được hưởng.  Như vậy Thông tư này đã giải quyết được vấn đề mang tính thị trường của KH&CN, tức là thương mại hóa kết quả nghiên cứu đảm bảo quyền lợi của những người tạo ra TSTT.  –   Vậy lộ trình trong thời gian tới sẽ được triển khai như thế nào thưa Bộ trưởng?  Chúng tôi sẽ cùng với Bộ Tài chính ban hành Thông tư  định giá TSTT, sau đó sẽ có những văn bản khác quy định việc phân chia lợi ích sau khi TSTT đã được định giá, được chuyển giao hoặc góp vốn. Ban hành những quy định cụ thể về thẩm quyền của Nhà nước đối với việc định giá, việc giao quyền sở hữu, sau đó là việc quản lý kinh phí, quản lý nguồn tiền đã thu được từ việc chuyển nhượng hoặc góp vốn từ TSTT.  Chắc chắn trong năm 2014, tất cả các công việc trên sẽ được hoàn thành vì năm 2014 Luật KH&CN đã bắt đầu có hiệu lực.  –   Bộ trưởng đã nói: “Có trường hợp TSTT của Nhà nước bỏ ra 10 tỷ nhưng khi ra đến thị trường lại chỉ bán được 1 tỷ, nhưng cũng có những đề tài như của Giáo sư Trâm nghiên cứu hết 1 tỷ nhưng ra thị trường được trả tới 10 tỷ”. Vậy vấn đề này nói lên điều gì?  Thông qua định giá này, chúng tôi thấy được hiệu quả đầu tư của ngân sách Nhà nước cho KH&CN, Nhà nước bỏ ra 1 liệu có thu được hơn 1 hay không. Còn những đề tài đã ra thị trường, Nhà nước sẽ thu được thông qua thuế, thông qua phần hoàn trả trực tiếp cho ngân sách, và việc hỗ trợ cho tổ chức công nghệ, các nhà khoa học để họ có thể tiếp tục kết quả nghiên cứu mới.  –  Liệu Bộ KH&CN có dự kiến những khó khăn khi gặp phải và sẽ có hướng giải quyết như thế nào thưa Bộ trưởng?  Khó khăn lớn nhất nằm ở các cơ quan hỗ trợ cho việc định giá bởi người có thầm quyền ở đây là các Bộ trưởng, các Chủ tịch UBND các tỉnh thành phố nhưng họ không thể định giá một cách định tính được. Họ phải dựa vào cơ quan hỗ trợ là các tổ chức dịch vụ trong thị trường KHCN. Tuy nhiên hiện nay trong thị trường KHCN, nguồn cung – cầu tuy đầy đủ nhưng các định chế trung gian, các tổ chức dịch vụ trong thị trường vẫn còn thiếu khá nhiều.Vì vây, để phục vụ cho xã hội trong nền kinh tế thị trường với hàng triệu doanh nghiệp, cần phải đầu tư để hình thành một hệ thống các tổ chức dịch vụ trong thị trường, giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, giúp cho người có thẩm quyền có thể xác định được giá trị thực, giá trị đúng của TSTT, khi đó có thể tiến hành chuyển giao, cho phép chuyển nhượng hoặc góp vốn.    –  Xin cảm ơn Bộ trưởng!    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sau khủng hoảng kinh tế 2008: Tài trợ R&D thậm chí còn cao hơn trước      Một bức tranh toàn cảnh về đầu tư cho R&D cho thấy những xu hướng trái ngược trong lĩnh vực công và tư nhân ở nhiều khu vực trên thế giới.      Biểu đồ mức đầu tư cho R&D  Vào khoảng thời gian này mười năm trước, nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng trên diện rộng- cuộc khủng hoảng gắn liền với sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Mỹ Lehman Brothers, mở màn vào ngày 15/9/2008. Vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử này kéo theo một vấn đề quen thuộc: sự thắt chặt hầu bao trên toàn thế giới, trong các chính phủ, doanh nghiệp và các hộ gia đình. Không ai biết cuộc suy thoái sẽ kéo dài bao lâu.  Một thập kỷ sau, tạp chí Nature nhìn lại việc đầu tư cho nghiên cứu trên khắp thế giới – cả đầu tư chính phủ và đầu tư tư nhân để đánh giá xem, thực sự suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến nó như thế nào.  Bức tranh tổng thể  Dữ liệu từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy một sự thật ngạc nhiên: dù có bị ảnh hưởng ban đầu ngay sau khủng hoảng thì về tổng thể, việc tài trợ cho nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn duy tri được sự tăng trưởng ổn định.  Trong số 36 quốc gia của tổ chức OECD – trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều quốc gia châu Âu, tài trợ cho R&D từ các doanh nghiệp chỉ giảm mạnh trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng sau đó đã phục hồi và đã tăng dần.Kinh phí của chính phủ nhìn chung đã tăng ngay hai năm sau cuộc khủng hoảng, điều đó đã phản ánh những nỗ lực kích thích nền kinh tế của chính phủ thông qua việc đầu tư cho khoa học.  Tuy nhiên, việc đầu tư này cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia: một số vẫn đang quay cuồng trong khủng hoảng kinh tế, thậm chí ngay cả những quốc gia đã phục hồi cũng buộc phải thay đổi trong cách nghiên cứu được tài trợ.    Nokia nhận khoản vay 500 triệu Euro từ Ngân hàng đầu tư Châu Âu để nghiên cứu công nghệ 5G  Châu Âu: Những mức tài trợ khác nhau   Các xu hướng tài trợcho R&D khác nhauở châu Âu cho thấy sự chênh lệch kinh tế giữa các quốc gia.  Ở các quốc gia như Đức, Đan Mạch và Vương quốc Anh, nơi có nền kinh tế mạnh và nhiều lĩnh vực phát triển theo hướng đổi mới sáng tạo, cả khu vực công và tưđều vẫn mạnh tay tài trợ cho R&D. Ví dụ, từ năm 2008 đến năm 2016, Đức đã tăng 46% đầu tư công, tức là  từ 23 tỷ USD lên 34 tỷ USD.  Với các nước Trung và Đông Âu, chẳng hạn như Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan, tài trợ R&D của cả chính phủ và tư nhân tăng đều đặn sau khủng hoảng.  Tuy nhiên, phần lớn sự ổn định này là nhờ vào các quỹ của Liên minh châu Âu, thường trao các khoản kinh phí thông qua các dự án nghiên cứu cho các quốc gia thành viên để giúp rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực trên khắp châu Âu. Những khoản tiền này đã bù đắp đáng kể cho các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng, theo nghiên cứu “Chính sách nghiên cứu và đổi mới sáng tạo châu Âu như các nhân tố của hội tụ hay phân kỳ sau cuộc khủng hoảng 2008” (EU Research and Innovation Policies as Factors of Convergence or Divergence after the Crisis)trên tạp chí Science and Public Policy.   Nhưng các nước Nam Âu bị ảnh hưởng nặng nhất bởi suy thoái kinh tế, như Hy Lạp và Tây Ban Nha, kinh phí R&D từ chính phủ giảm mạnh và vẫn chưa hồi phục hoàn toàn. Tài trợ công của Tây Ban Nha giảm 25% từ năm 2009 đến năm 2016, từ 9,6 tỷ USD xuống còn 7,1 tỷ USD. Kết quả là nhiều quốc gia ở Nam Âu đã trở nên ngày càng phụ thuộc vào các quỹ của châu Âu.  Do đó, khoảng cách giữa các quốc gia trong mức đầu tư cho khoa học đang tăng lên, theo Teemu Makkonen, một nhà kinh tế học tại Đại học Đông Phần Lan ở Joensuu:“Nếu bạn có ít tiền, thì dĩ nhiên bạn phải cắt giảm chi tiêu,” ông giải thích.  Hoa Kỳ: Chính phủ làm gương tài trợ  Giống như xu hướng chung của các nước OECD, ban đầu việc chi tiêu tư nhân cho R&D ở Hoa Kỳ đã giảm khoảng 10%, từ 259 tỷ USD năm 2008 xuống 233 tỷ USD trong năm 2010.  Ngược lại, chi tiêu của chính phủ đã tăng 8%, từ 124 tỷ USD năm 2008 lên 134 tỷ USD năm 2010. Sự thay đổi này chủ yếu là do Đạo luật thu hồi và tái đầu tư Mỹ, nỗ lực lập pháp của chính phủ Mỹ để khởi động nền kinh tế bằng cách đầu tư vào đổi mới.  Thúc đẩy đầu tư cho R&D của chính phủ đã dẫn đến chuyển biến trong lĩnh vực tư nhân. Sau năm 2010, đầu tư tư nhân bắt đầu tăng và đến năm 2016, đầu tư tư nhân đã đạt 319 tỷ USD.  Tuy nhiên, kể từ đó đầu tư của chính phủ đã giữ nguyên, thậm chí giảm tỷ lệ phần trăm trong GDP, từ 0,88% năm 2009 xuống còn 0,62% vào năm 2015.  Theo đánh giá của Julia Lane, một nhà kinh tế tại Đại học New York,các nhà khoa học Mỹ hiện nay còn phải chứng minh tác động rộng hơn, đặc biệt là lợi ích kinh tế, của nghiên cứu khi nộp đơn xin tài trợ của chính phủ. Các trường đại học cũng phải tự chứng minh cả  những liên kết nghiên cứu – kinh tế xã hội đó, Lane nói. Tuy vậy, “họ đã rất thành công trong việc xin tài trợ từ cơ quan lập pháp tiểu bang”, bà cho biết thêm.  Nhưng các nguồn kinh phí khác cũng đã xuất hiện để rót tiền đầu tư vài R&D. Lane nói: “Các quỹ từ thiện đã thực sự đảm trách nhiệm vụ này”. Các tổ chức như Quỹ Alfred P. Sloan, Quỹ Bill và Melinda Gates đã đóng góp hàng triệu đô la cho các ngành khoa học trong vài năm qua.  Đông Á: Sự tăng trưởng chậm chạp  Ngoại trừ trường hợp Nhật Bản, việc đầu tư cho R&D trong lĩnh vực tư từ năm 2008 đến 2009giảm 11%, nghĩa là từ 116 tỷ USD xuống 103 tỷ USD, các nước thuộc tổ chức OECD ở Đông Á, chính phủ và doanh nghiệp đều duy trì tăng trưởng mức tài trợ nghiên cứu.  Tuy nhiên có hiện tượng mới xảy ra: khi tổng số tiền tài trợ đã tăng lên hàng năm thì tốc độ tăng trưởng đã chậm lại ở một số nơi.  Ở Hàn Quốc, một trong những nhà đầu tư hàng đầu thế giới về nghiên cứu, tài trợ công cho R&D tăng 11% từ năm 2008 đến năm 2009, nhưng chỉ tăng 1% từ năm 2017 đến năm 2018. Theo đánh giả của So Young Kim – một nhà nghiên cứu chính sách tại Viện KH&CN tiên tiến (KAIST) Daejeon, Hàn Quốc, sự thay đổi đó khiến kinh phí của các quỹ cũng hạn chế và các nhà nghiên cứu trẻ rất khó cạnh tranh với các nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm.  Khoảng cách giữa tài trợ chính phủ và tư nhân cho R&D của họ cũng ngày càng tăng. Năm 2009, đầu tư tư nhân cao hơn đầu tư công 20 tỷ USD, khoảng cách này tăng lên mức 42 tỷ USD trong năm 2016.  Điều đó là dấu hiệu tốt bởi các nhà đầu tư tư nhân đã đánh giá đúng vai trò của R&D trong việc góp phần tăng sức cạnh tranh của họ trên toàn cầu. Nhưng điều đó dẫn đến một thực tế: “Hiện tại thì việc R&D chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sẽ mang lại những kết quả thiết thực nhất”- nghĩa là những lĩnh vực dễ đem lại  cho họ khả năng thu hồi vốn, Kim nói. “Vì thế các nhà khoa học Hàn Quốc đang kêu gọi tài trợ cho khoa học cơ bản, có thể từ chính phủ và tư nhân”.   R&D trong 10 năm tới  Không ai biết chắc chắn về tương lai của tài trợ cho nghiên cứu.Makkonen nói, nếu châu Âu muốn thúc đẩy sự gắn kết và tinh thần bình đẳng trên khắp lục địa thì cần rót thêm kinh phí để các nước vẫn còn trong vòng ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tếlàm bàn đạp phát triển.  Đối với Hoa Kỳ, Lane nói, mức tài trợ của chính phủ còn phụ thuộc vào việc có thay đổi trong chính sách của tổng thống hay không. Hiện tại thì chính quyền đã “làm hết sức mình để… giết chết khoa học”, cô nói.  Còn ở Hàn Quốc, Kim cho biết, kể từ sau cuộc khủng hoảng, nhận thức của công chúng về khoa học đã thay đổi rất nhiều, phần lớn là do hậu quả tàn phá môi trường của các dự án do chính phủ tiền nhiệm thông qua. Sự thay đổi nhận thức đó có thể đã góp phần vào sự gia tăng (mặc dù chậm) trong chi tiêu cho nghiên cứu của chính phủ.  “Bây giờ, công chúng có xu hướng ngày càng chỉ trích những gì các nhà khoa học đang làm”, cô nói. “Vậy ai sẽ lên tiếng chúng ta cần thêm tài trợ cho khoa học? Không chỉ là những nhà khoa học có thể đem lại cơ hội đảo ngược xu hướng tài trợ mà cần phải có sự hỗ trợ từ công chúng. Tuy nhiên chúng ta chưa chắc có được cơ hội này”.  Hoàng Nam dịch từ https://www.nature.com/articles/d41586-018-06634-4  Nguồn: Báo KH&PT    Author                Quản trị        
__label__tiasang Sẽ cơ bản khắc phục tình trạng lạm phát đề tài      Để trả lời một số nội dung chính trong phản hồi của bạn đọc với bài viết “Đổi mới quan điểm và phương pháp xây dựng kế hoạch KH&amp;CN” (Tia Sáng, số 19 ngày 20/9/2014), phóng viên Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Nguyễn Quân.      Thưa Bộ trưởng, vì sao tỉ lệ cơ cấu chi 2% ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ (KH&CN) cần phải điều chỉnh?  Những năm trước đây, Bộ KH&CN hầu như không có vai trò trong việc phân bổ cơ cấu chi 2% ngân sách nhà nước dành cho KH&CN, mọi việc đều do Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính quyết định. Vì vậy, việc phân bổ và sử dụng ngân sách đã có nhiều điều không thật phù hợp:  Chi phí Dự phòng và An ninh Quốc phòng trong ngân sách dành cho KH&CN mấy năm gần đây tăng một cách đột ngột từ khoảng 11- 15% các năm trước năm 2010 lên đến 32% vào năm 2014 (bằng gần 1/3 ngân sách thực chi cho KH&CN) khiến ngân sách thực chi cho R&D ngày càng hạn hẹp.   Vốn đầu tư phát triển [để xây dựng hạ tầng cơ sở cho KH&CN] chiếm khoảng 36% ngân sách cho KH&CN, quá nhiều so với vốn sự nghiệp khoa học.           TỶ LỆ CƠ CẤU CHI DỰ KIẾN CỦA 2% NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC               CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂM 2020          Tỉ lệ vốn đầu tư phát triển chi cho Trung ương và địa phương là 50/50. Trong khi các viện nghiên cứu ở Trung ương rất thiếu vốn để xây dựng các phòng thí nghiệm và các cơ sở nghiên cứu trọng điểm thì ở hầu hết các địa phương, hiệu quả sử dụng nguồn vốn này rất thấp, thậm chí có nơi còn sử dụng tùy tiện, sai mục đích như dùng vốn này để làm đường, xây dựng trường học… Chẳng hạn, Hà Nội đã lấy gần 300 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển cho KH&CN để phục vụ cho việc xây dựng đường vành đai 3. Cũng theo các số liệu từ quyết toán ngân sách địa phương, trước năm 2010, tỉ lệ chi ngân sách cho KH&CN đúng mục đích ở các địa phương trên cả nước chỉ hơn 20%. Gần đây, qua chỉ đạo và kiểm tra của Bộ KH&CN, tỉ lệ này đã nâng lên được hơn 60% vào năm 2013.   Thực trạng đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả hoạt động khoa học thấp, nên cần thiết phải điều chỉnh lại tỉ lệ cơ cấu phân bổ ngân sách KH&CN hiện nay.  Vậy xin Bộ trưởng cho biết, việc điều chỉnh sẽ chủ yếu dựa trên những căn cứ nào?   Hiện nay, theo Luật KH&CN 2013, Bộ KH&CN được quyền đề xuất tỉ lệ cơ cấu chi ngân sách dành cho KH&CN gồm cả vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp khoa học [để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và các quỹ Quốc gia]. Căn cứ vào những số liệu thống kê về hiệu quả sử dụng ngân sách KH&CN của các Bộ, ngành, địa phương từ năm 2010 đến nay do Tổng cục Thống kê và cơ quan chức năng Bộ KH&CN khảo sát điều tra; tiềm lực KH&CN và nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội từ nay đến 2020, Bộ KH&CN đã thống nhất với Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính xác định lại tỉ lệ cơ cấu chi 2% ngân sách nhà nước cho KH&CN. Theo đó, tỉ lệ chi cho dự phòng và an ninh quốc phòng sẽ giảm dần để đến năm 2020 chỉ còn dưới 15%; giảm tỉ trọng vốn đầu tư phát triển xuống còn 30% và tăng vốn sự nghiệp khoa học lên 55% tổng chi ngân sách dành cho KH&CN. Tăng vốn đầu tư phát triển của Trung ương và giảm của địa phương theo tỉ lệ 60/40 để tăng kinh phí đầu tư cho các phòng thí nghiệm trọng điểm và các cơ sở nghiên cứu ở Trung ương. Tỉ lệ cơ cấu phân bổ trên sẽ được thực hiện từng bước và cố gắng đạt được vào năm 2020. Riêng trong năm 2015, sẽ giảm tỉ lệ ngân sách cho dự phòng an ninh quốc phòng từ 32% xuống khoảng 25%, tỉ lệ giữa vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp vào khoảng 35/40. Còn tỉ lệ vốn đầu tư và phát triển giữa Trung ương và địa phương tạm thời vẫn giữ nguyên là 50/50.  Theo Bộ trưởng, cần có những giải pháp gì để việc sử dụng ngân sách sự nghiệp khoa học có hiệu quả trước một hiện trạng số lượng đề tài nghiên cứu ở các cấp ngày càng tăng. Chẳng hạn như một cơ quan cấp Bộ trong 5 năm đã thực hiện tới 2.525 nhiệm vụ khoa học, trong đó có trên 50 đề tài, khoa học cấp Nhà nước?  Trước đây, hằng năm, khi Bộ KH&CN thông báo hướng dẫn làm kế hoạch thì các viện, trường, doanh nghiệp ở Trung ương, địa phương đề xuất với Bộ KH&CN rất nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu mà chỉ căn cứ vào năng lực của viện, trường hay nhà khoa học chứ không xuất phát từ nhu cầu của đời sống hay đặt hàng của doanh nghiệp, chúng tôi vẫn gọi đó là kiểu “rải bươm bướm”.   Nhưng nay, với những quy định của Luật KH&CN 2013, việc xét duyệt các chương trình, đề tài nghiên cứu được thực hiện chặt chẽ hơn. Như với các chương trình, nhiệm vụ cấp Quốc gia và cấp Bộ thì các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền (Bộ, ngành, địa phương…) phải đề xuất với Bộ KH&CN và sẽ được thực hiện theo cơ chế đặt hàng, đồng thời cơ quan nào đề xuất đặt hàng sẽ phải có trách nhiệm tiếp nhận lại kết quả nghiên cứu để ứng dụng vào sản xuất. Điều đó có nghĩa là nếu trước đây, một viện, trường, thậm chí một cá nhân cũng có quyền đề xuất đặt hàng, thì giờ đây, họ chỉ được đề xuất, còn việc chọn lựa các đề xuất đặt hàng phải là các cơ quan có thẩm quyền, nghĩa là cơ quan quản lý vừa có quyền lực vừa có nguồn kinh phí đảm bảo.   Vậy hai Viện Hàn lâm và hai Đại học Quốc gia có được quyền đề xuất đặt hàng các chương trình, đề tài cấp quốc gia không?  Hai viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cũng không đủ điều kiện đề xuất đặt hàng vì dù là một cơ quan thuộc chính phủ nhưng họ cũng chỉ là một đơn vị sự nghiệp khoa học. Ngân sách nhà nước dành cho các tổ chức đó chỉ để chi thường xuyên và lương cho đội ngũ cán bộ, triển khai các đề tài dự án KH&CN sau khi được tuyển chọn hoặc giao trực tiếp. Các trường đại học, kể cả hai Đại học Quốc gia cũng vậy. Các đề xuất nhiệm vụ của các viện nếu thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ nào thì phải gửi qua các Bộ đó và được xem xét để đề xuất đặt hàng với Bộ KH&CN.  Xin Bộ trưởng cho biết cụ thể hơn về quy trình và thủ tục xét duyệt đề tài đặt hàng?   Quy trình này bao gồm bốn công đoạn: công đoạn đầu tiên là đề xuất nhiệm vụ, mọi tổ chức, cá nhân thấy có vấn đề KH&CN gì cần làm thì đề xuất để các cơ quan quản lí có thẩm quyền xét duyệt. Công đoạn thứ hai là đề xuất đặt hàng: trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương và nhiệm vụ, khả năng cân đối ngân sách các cơ quan quản lý (Bộ, tỉnh, thành phố) sẽ xác định danh mục nhiệm vụ phù hợp. Với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tác động lớn đến sự phát triển chung, cần có sự liên kết giữa các Bộ, ngành, viện nghiên cứu mới thực hiện được, thì các Bộ, ngành đề xuất đặt hàng nhiệm vụ cấp quốc gia với Bộ KH &CN. Công đoạn thứ ba là đặt hàng: Bộ KH&CN sẽ tổ chức hội đồng tư vấn để đánh giá, nếu đề xuất đặt hàng đó thực sự ở tầm quốc gia và phù hợp với chiến lược quốc gia, quy hoạch phát triển KH&CN thì Bộ sẽ tiến hành việc công khai tuyển chọn các tổ chức/nhà khoa học đủ năng lực nhận nhiệm vụ thực hiện. Công đoạn thứ tư là nhận đặt hàng : Bộ KH&CN, các Bộ và UBND địa phương sẽ ký hợp đồng với các tổ chức KH&CN trúng tuyển hoặc được giao trực tiếp để  tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN.   Khi chương trình, đề tài nghiên cứu đã được đánh giá, nghiệm thu, Bộ KH&CN sẽ bàn giao kết quả nghiên cứu cho cơ quan đề xuất đặt hàng và họ phải chịu trách nhiệm tiếp nhận và ứng dụng vào sản xuất. Do vậy buộc các Bộ, ngành khi đề xuất đặt hàng, phải cân nhắc rất kĩ việc kết quả nghiên cứu sẽ được giao cho công ty, viện nghiên cứu, doanh nghiệp nào và liệu các đơn vị đó thực sự có khả năng đưa các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng không, và phải có nguồn kinh phí hỗ trợ họ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ.   Thưa Bộ trưởng, hẳn là cùng với một quy trình  xét duyệt chặt chẽ như vậy, chúng ta phải đổi mới việc thành lập các hội đồng xét duyệt và nghiệm thu đề tài đặt hàng?  Để tổ chức xét duyệt, nghiệm thu một đề tài nghiên cứu phải thành lập ba hội đồng: Hội đồng tư vấn để xác định nhiệm vụ, Hội đồng tuyển chọn, xét giao trực tiếp và Hội đồng đánh giá nghiệm thu. Và điều quan trọng hơn là, nếu như trước đây việc thành lập hội đồng khoa học có nhiều bất cập như: không có quy định tiêu chí nhà khoa học được mời tham gia làm thành viên các hội đồng; số lượng thành viên hội đồng không thống nhất (lúc có 15 người, lúc chỉ có bảy người)… Nay, Bộ KH&CN quy định, thành viên của các hội đồng phải là những người đủ điều kiện quy định thuộc cơ sở dữ liệu chuyên gia của Bộ KH&CN, ví dụ phải có trình độ TS, PGS, GS; có kết quả khoa học (phát minh, sáng chế, công bố quốc tế, giải thưởng khoa học, đã từng chủ trì đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước trong những năm gần đây; có phẩm chất đạo đức, không vi phạm quy định của Nhà nước v.v…        Lựa chọn các thành viên của Hội đồng                 Hiện nay, cơ sở dữ liệu của Bộ KH&CN đã có hơn 2.000 chuyên gia. Đó là cơ sở để lựa chọn các thành viên của hội đồng xét duyệt và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu theo đặt hàng. Khác với trước đây, thành viên của các hội đồng từ tư vấn ban đầu đến tuyển chọn, nghiệm thu thường do một chuyên viên của Bộ đề xuất mà hầu như không dựa trên một tiêu chí, chuẩn mực nào. Do vậy sẽ tránh được những hiện tượng không lành mạnh như: nhà khoa học nào trung thực, thẳng thắn thì có thể không được mời tham gia hội đồng, còn những người năng lực hạn chế, thậm chí có trường hợp chưa làm nghiên cứu bao giờ nhưng “dễ dãi, thân quen” thì có thể lại được mời…              Những quy định mới trong việc thành lập hội đồng bắt đầu được thực hiện từ khi Luật KHCN bắt đầu có hiệu lực.                                                                              Bộ trưởng Nguyễn Quân          Việc thực hiện cơ chế quỹ và cơ chế khoán được coi là đổi mới có tính đột phá trong quản lý khoa học, xin Bộ trưởng cho biết những nội dung chính của hai cơ chế này?  Đúng vậy, bởi việc thực hiện tốt hai cơ chế đó thì hiệu quả nghiên cứu KH&CN sẽ được nâng cao. Với cơ chế quỹ, khi ký được hợp đồng nhận đề tài, nhà khoa học sẽ được cấp tiền ngay, không phải chờ đợi. Nếu hết năm chưa sử dụng hết số tiền được cấp thì được chuyển sang năm sau và chỉ quyết toán một lần khi kết thúc hợp đồng, không như trước đây quyết toán theo năm tài chính nên có trường hợp gần cuối năm mới được cấp tiền, không ít trường hợp chưa kịp mua sắm vật tư, thậm chí chưa triển khai được đề tài đã phải quyết toán. Với cơ chế khoán, nhất là cơ chế khoán đến sản phẩm cuối cùng, các nhà khoa học sẽ chủ động hơn, được toàn quyền quyết định các định mức và nội dung chi, không phải tuân thủ theo quy định của Nhà nước. Ví dụ, Nhà nước quy định mức chi bồi dưỡng nhà khoa học tham dự các hội thảo khoa học là 70.000 đồng/buổi/người nhưng đề tài được khoán đến sản phẩm cuối cùng có thể chi đến 500.000đ/buổi/người và chứng từ thực chi là 500.000đ chứ không phải như bây giờ là phải ký nhiều chứng từ để hợp thức hóa. Các hóa đơn, chứng từ khoán là thực chi và chỉ có giá trị trong nội bộ cơ quan chủ trì đề tài để thanh tra, kiểm toán có căn cứ để xem xét khi xảy ra thắc mắc, kiện cáo chứ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN không quan tâm đến chứng từ đó khi quyết toán đề tài. Do vậy họ không phải quá mệt mỏi và “dối trá” trong việc hợp lí hóa các chứng từ, hóa đơn.         Hai hình thức khoán:                  Theo quy định của Luật KH&CN có hai hình thức khoán:              Khoán một phần đối với những đề tài nghiên cứu mà nhà khoa học không xác định được sản phẩm cuối cùng. Trường hợp này, các chi phí cho con người (nghiên cứu, tiền công lao động, đi công tác, hội nghị, hội thảo…) sẽ được khoán, còn việc mua sắm các thiết bị, vật tư, đoàn đi công tác nước ngoài thì các hóa đơn chứng từ, định mức, nội dung chi vẫn theo quy định của Nhà nước. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ (không nghiệm thu được) thì chủ nhiệm đề tài phải hoàn trả lại ngân sách nhà nước ít nhất là 10% (tối đa là 100% nếu “không làm gì”). Đối với những đề tài mà nhà khoa học xác định rõ sản phẩm cuối cùng thì hội đồng khoa học sẽ thẩm định và khuyến cáo nên sử dụng hình thức khoán đến sản phẩm cuối cùng. Khi thực hiện hình thức khoán đó thì việc nghiệm thu và quyết toán chỉ căn cứ vào sản phẩm cuối cùng của đề tài, không yêu cầu hóa đơn chứng từ trung gian. Tuy vậy, khi nhận hình thức khoán này thì chủ nhiệm đề tài không được phép điều chỉnh tổng kinh phí và nếu không có được sản phẩm cuối cùng theo yêu cầu của hợp đồng đã kí với Bộ KH&CN sẽ phải hoàn trả cho ngân sách nhà nước tối thiểu là 30%, tối đa là 100%  tùy theo mức độ sai phạm do chủ quan của chủ nhiệm đề tài.                                                                                       Bộ trưởng Nguyễn Quân          Tôi tin rằng nếu thực hiện tốt những giải pháp kể trên, về cơ bản sẽ khắc phục được tình trạng “lạm phát” chương trình, đề tài nghiên cứu KH&CN. Từ đó, ngân sách nhà nước chi cho KH&CN sẽ được sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả cao hơn hiện nay.  Xin cảm ơn Bộ trưởng !    VĂN THÀNH thực hiện    Author                Quản trị        
__label__tiasang “Sếp” của nhà khoa học: Họ là ai?      Một nhà khoa học đầu tàu được quốc tế công  nhận về lĩnh vực phù hợp với viện nghiên cứu, có sức thu hút nhân tài,  có tài điều hành tổ chức nhân sự và nhất là có tư duy độc lập.      Trước hết họ phải là người am hiểu những yếu tố cần thiết cho một môi trường nghiên cứu khoa học: tự do ngôn luận là căn bản nhất, trong đó bao gồm tự do chọn lựa đề tài, tôn trọng nhân tài, tuyệt đối trung thực trong việc chọn lựa nhân sự, phân bổ nhân sự và nguồn tài chính, có lòng tin vào các nhà khoa học chân chính…  Dĩ nhiên được như vậy người lãnh đạo phải có trình độ khoa học tối thiếu nhất là phải có xung quanh mình những nhà khoa học chân chính giữ vai trò cố vấn.  Trẻ chưa nên “leo cao”?  Có ý kiến cho rằng, nhà khoa học chỉ nên tập trung vào chuyên môn mà không nên “mơ” làm quản lý? Thực ra, không nhất thiết phải như vậy. Vấn đề tùy ở giai đoạn đời và kinh nghiệm bản thân của nhà khoa học. Ta thường thấy tại Việt Nam, nhà khoa học trẻ mới có bằng tiến sĩ về nước mà “nhảy” lên làm quản lý là không hợp lý.  Nhà khoa học trẻ nên tập trung làm chuyên môn vì khoa học cần sức trẻ, cần thời điểm sung mãn của trí tuệ. Qua thời gian nhà khoa học dần dần có tuổi, năng lực sáng tạo giảm đi, kinh nghiệm giao tế dồi dào, uy tín xã hội được xác định, thì việc chuyển qua làm quản lý là hợp lý hơn. Cái sai lầm rõ nét của Việt nam là hoặc cơ cấu nhà quản lý không có trình độ hoặc nếu có chút trình độ lại chưa có kinh nghiệm trong chức vụ…  Và chính sách cơ cấu nhân sự phản ảnh trạng thái thiếu lòng tin ở trí thức, một tầm nhìn cục bộ, một phong cách lạc hậu, một hướng đi hoàn toàn ngược lại với cách xử lý của các nước văn minh…  Nhà khoa học làm quản lý: Cái mất rất lớn  Người làm khoa học có khó khăn trong quản lý, nhưng việc này là thứ yếu vì họ sẽ cải tiến trong thời gian ngắn sau khi quen việc. Nhưng cái ngược lại mới là trầm trọng. Người làm quản lý sẽ không có thời gian làm khoa học.  Trong 40 năm giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Bỉ, tôi may mắn gần gủi được hai người thầy là hai nhà khoa học nỗi tiếng thế giới. Một người chuyên về cấu trúc hàng không không gian, một người khác chuyên về cấu trúc xây dựng.  Hai thầy tôi trong 40 năm đã liên tục từ chối lên làm trưởng khoa (Dean), vì họ cho rằng làm quản lý sẽ mất thì giờ và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của họ sẽ bị ảnh hưởng không tốt. Ông Ch. Massonnet chuyên về cấu trúc xây dựng cuối cùng năm năm trước ngày hưu trí đã phải chấp nhận vai trò ấy. Ông thường than vãn với tôi: từ ngày làm quản lý, ông phải bớt đi suy tư nghiên cứu khoa học. Số công trình nghiên cứu công bố quốc tế giảm sút nhanh chóng, ê kíp nghiên cứu của ông mất ngay vị trí hàng đầu trước đây.  Người thế nào mới xứng đáng quản lý các nhà khoa học?  Một nhà khoa học đầu tàu được quốc tế công nhận về lĩnh vực phù hợp với viện nghiên cứu, có sức thu hút nhân tài, có tài điều hành tổ chức nhân sự và nhất là có tư duy độc lập. Đó và những viện đã có sẵn, thông thường là đa lĩnh vực rất chung chung. Ngày nay, Việt Nam ta nên thành lập nhiều cơ sở nghiên cứu mũi nhọn có điều kiện đi tắt đón đầu.  Ở đây vấn đề nhân sự ban đầu là thiết yếu. Phải có một nhà khoa học có tầm cỡ quốc tế, đã thành công trong nghiên cứu khoa học mũi nhọn mà giao công việc với sự ủng hộ đầy đủ, niềm tôn trọng chân thành. Ở đây tôi nghĩ đến các nhà khoa học người Việt đang thành công ở nước ngoài. Vấn đề là phải có chế độ hợp lý nhất là tạo dựng được môi trường thân thiện nuôi dưỡng được lòng tin của các nhà khoa học. Hiện nay tại Việt Nam trong những năm gần đây, lòng tin ở một môi trường Việt Nam thỏa đáng và thân thiện thay vì được cải tiến đã bị giảm sút…  Tại Hoa Kỳ có một luật bất thành văn là không bổ nhiệm những giáo sư được đào tạo tại trường mà phải kéo về những nhà khoa học đến từ xa, Châu Âu, Châu Á hay ít ra cũng phải tư một trường đại học khác với sở tại. Đây chính là tính khách quan vô tư trong việc bổ nhiệm. Tại Châu Âu, luôn có một cơ quan thẩm định quốc tế tham gia trực tiếp góp cho ý kiến trong việc chọn lựa giáo sư hay lãnh đạo cơ sở nghiên cứu!    Author                Quản trị        
